Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

 

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chua ngọt một đời cầm bút

Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, phối hợp cùng gia đình nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, vừa tổ chức thành công buổi ra mắt hai tác phẩm mới: “Chua ngọt đời văn” và “Kẻ khôn hơn vua”. Trong không khí ấm áp và nhiều cảm hứng của buổi giao lưu, một số tham luận giá trị đã được trình bày, góp thêm những góc nhìn sâu sắc về hành trình sáng tác của ông.

Văn Chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ, nhà lý luận phê bình Lê Thiếu Nhơn như một tiếp nối của cuộc trò chuyện đẹp này.

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn sinh ngày 31/10/1945 tại Sóc Sơn, Hà Nội. Thuở thiếu niên đam mê bóng đá, nhưng ông không có cơ hội trở thành cầu thủ chuyên nghiệp. Năm 1963, sau khi tốt nghiệp trung học ở Trường Chu Văn An, ông cùng 8000 bạn bè đồng trang lứa tham gia đoàn thanh niên xung phong Tháng Tám, tạm biệt Thủ đô để tỏa về những vùng khó khăn góp tay xây dựng cuộc sống mới. Ông được phân công nhiệm vụ ở Trạm cơ giới trồng rừng Dốc Đỏ đóng trên địa bàn Đông Triều, Quảng Ninh. Nơi đây, ông tập tành viết lách, và chính thức chào sân văn chương bằng truyện ngắn “Đêm sương muối” đoạt giải ba cuộc thi viết do Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức năm 1968.

Cùng thế hệ với Tô Ngọc Hiến, Lê Hường, Nam Ninh, Chử Văn Long, Trần Dũng, Phạm Ngọc Chiểu, Lưu Nghiệp Quỳnh, Đỗ Bảo Châu… trưởng thành trong dòng chảy văn học công nhân, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn được điều chuyển về Công ty Ô tô lâm sản Hà Nội năm 1970. Loanh quanh 36 phố phường vài tháng, ông phát hiện mình cần thực tế để viết, nên đăng ký tình nguyện vào Hương Sơn, Hà Tĩnh làm lái xe tiếp vận cho chiến trường miền Nam. Non sông thống nhất, ông được tuyển chọn nhân sự cho Cục Báo chí và Xuất bản miền Nam, chính thức có mặt tại đô thị phương Nam tháng 11/1975 và định cư đến bây giờ.

Hồi ký “Chua ngọt đời văn” của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn không viết theo trình tự thời gian. Ông thông qua 11 cuộc trao đổi với các đồng nghiệp thân thiết, để kể lại quá trình sáng tạo của bản thân, từ câu chuyện “Nhà văn có thể sống bằng nghề?” đến câu chuyện “Nên có cách để nhà văn bớt yếu thế”. Trong hồi ký, ông bày tỏ quan niệm: “Tôi viết văn chỉ với mục đích sống bằng nghề và vì một xã hội tốt đẹp hơn, nên luôn bắt đầu ở mức thấp nhất, vừa với sức mình, để còn đi đường dài… Từ khi quyết định chọn khiêm tốn thử sống bằng nghề, tôi mới ngộ ra, văn chương càng ít hoang tưởng thì hành trình sáng tác càng thoáng”. Đồng thời, trong hồi ký, ông cũng phác họa bức tranh sinh hoạt văn chương một thời: “Khi bắt đầu nổi lên với mấy tiểu thuyết “Những khoảng cách còn lại”, “Đứng trước biển”, “Cù lao Tràm”, tôi hay được các hội văn nghệ, nhà máy, xí nghiệp, trường đại học mời đến nói chuyện hoặc thảo luận về văn học. Hồi ấy, chưa có văn hóa phong bì. Nói chuyện xong, thường được đãi bữa nhậu, rồi kèm theo quà. Ở các tỉnh, họ đưa lên xe chục ký gạo, lạc, đậu xanh hay vài ký tôm khô, kèm giấy chứng nhận hợp pháp để khỏi bị quản lý thị trường tịch thu. Còn ở thành phố Hồ Chí Minh, thì họ cho bột ngọt, thịt cá hộp, thùng mì tôm…”.

Chủ trương sống bằng nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn xin rời biên chế để ưu tiên toàn bộ tâm sức cho chữ nghĩa. Ông không chỉ viết văn, mà lấn sang cả sân khấu, điện ảnh và truyện hình. Tạm tổng kết gia tài Nguyễn Mạnh Tuấn cho đến khi ra mắt hồi ký “Chua ngọt đời văn”, ông có 9 tập truyện ngắn, 12 tiểu thuyết, 17 kịch bản phim chiếu rạp, 23 kịch bản phim truyền hình nhiều tập, 2 kịch bản sân khấu và 2 bộ truyện thiếu nhi 11. Để có được khối lượng tác phẩm đồ sộ như vậy, không thể không nhắc đến một may mắn của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn là nhận được sự thấu hiểu và sự hỗ trợ hết mực từ bạn đời – nhà thơ Hà Phương. Nhờ khả năng thu vén mọi sự lớn nhỏ của người vợ tào khang, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn yên tâm đọc rồi viết và viết rồi đọc. Thậm chí, nhà thơ Hà Phương còn lo liệu phát hành sách cho chồng, làm phiên dịch cho chồng mỗi khi làm việc với đối tác quốc tế.

Hồi ký “Chua ngọt đời văn” đầy ắp chi tiết lôi cuốn của một tác giả nhiều trải nghiệm văn chương. Bởi lẽ, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn không chỉ có những tác phẩm ăn khách, mà ông cũng là người duy nhất trong giới cầm bút đương thời phải mất 7 năm theo đuổi một vụ kiện để lấy lại danh dự, vì những kẻ tung ra tài liệu giả mạo để cáo buộc bôi nhọ ông vi phạm bản quyền kịch bản phim “Hải đường trắng”. Khi hai tiểu thuyết “Đứng trước biển” và “Cù lao Tràm” bùng lên một hiện tượng xã hội, ông cũng trải qua ngày tháng sống giữa sự phản ứng gay gắt và sự ủng hộ ấm áp. Hơn thế nữa, sức ảnh hưởng từ trang viết đã giúp ông có cơ hội gặp gỡ những lãnh đạo hàng đầu quốc gia như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Định…

Trong hồi ký “Chua ngọt đời văn”, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn hé lộ ông từng đính hôn với Chín Huệ, em gái của đồng nghiệp Dương Thanh Bình ở Cục Báo chí Xuất bản miền Nam. Ông đã về Thới Bình, Cà Mau hạnh ngộ Chín Huệ và hứa hẹn trăm năm. Dù hoàn cảnh trớ trêu khiến đám cưới không thành, nhưng tính cách Chín Huệ cùng với thái độ sống của nguyên mẫu Năm Trầu (chị vợ của nhà thơ Lê Điệp) đã được ông hun húc tinh thần các nhân vật trong tiểu thuyết “Cù lao Tràm” lừng lẫy. Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn tiết lộ nguồn tư liệu để một người gốc Bắc như ông có thể viết được “Cù lao Tràm” mang không khí sông nước Cửu Long: “Chủ yếu ở những cuốn sách về đất và người Nam bộ của các học giả trong, ngoài nước đang nằm im trong Thư viện tổng hợp TP.HCM. Tôi chỉ may mắn đọc được và chuyển thể thành tiểu thuyết. Do một mình không đủ sức gánh vác, nên tôi nhờ chị Năm Trầu ở Bến Tre và em Chín Huệ ở Cà Mau chia sẻ”.

Sống bằng nghề, thì thu nhập của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn như thế nào? Tập truyện ngắn đầu tay “Tôi vẫn trở về nhà máy cũ” do Nhà xuất bản Thanh Niên in năm 1978, được trả nhuận bút 4000 đồng (lương cán sự bậc 5 lúc ấy được 72 đồng) đủ để ông mua một căn nhà mặt tiền trên đường Hai Bà Trưng khu vực trung tâm TP.HCM. Nhuận bút tiểu thuyết đầu tay “Những khoảng cách còn lại” in năm 1980 với tổng số 160 nghìn bản, đủ để ông mua một miếng đất 1200 mét vuông khu vực làng hoa Gò Vấp, hiện tại làm trường mầm non Hoa Mai do con gái của ông điều hành.

Nhuận bút nước ngoài trả cho nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, hoàn toàn không giống như sự đồn thổi hay sự tưởng tượng. Tiểu thuyết “Đứng trước biển” dịch sang tiếng Pháp năm 1983 được trả nhuận bút là một chai rượu vang thương hiệu Bordeaux, dịch sang tiếng Nhật năm 1984 được trả nhuận bút là một hộp bút loại xịn ở xứ sở Phù Tang. Tiểu thuyết “Những khoảng cách còn lại” dịch sang tiếng Nga năm 1989 được trả nhuận bút 3500 rúp (thời giá tương đương 1,2 triệu đồng Việt Nam, mua được 4 chỉ vàng).

Còn nhuận bút kịch bản phim nước ngoài cũng oái oăm như nhuận bút sách. Năm 2008, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn nhận được 1,4 tỷ đồng cho kịch bản phim truyền hình “Huyền sử thiên đô” 72 tập, 700 triệu đồng cho kịch bản phim truyền hình “Thái sư Trần Thủ Độ” 35 tập. Cùng lúc, ông được hãng phim BiFrost của Mỹ mời sang đảo du lịch Cebu của Philippines và lo toàn bộ chi phí ăn ở đi lại, để viết kịch bản phim. Trong vòng ba tháng, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn viết được hai kịch bản phim “Nước mắt phương xa” và “Thủ lĩnh”, mỗi kịch bản phim được trả 14 ngàn USD (thời giá tương đương 450 triệu đồng Việt Nam).

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn sử dụng chất liệu văn chương rất linh hoạt. Từ tiểu thuyết, ông dễ dàng chuyển thể sang điện ảnh, và ngược lại. Ví dụ, tiểu thuyết “Những khoảng cách còn lại” được ông viết thành kịch bản phim “Xa và gần”, còn kịch bản phim “Biển sáng” thì ông viết thành tiểu thuyết “Đứng trước biển”. Có sở trường đặc biệt ở dòng văn chương mang tính luận đề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn thú nhận, hầu hết tác phẩm của ông đều được sáng tác theo đơn đặt hàng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp trớ trêu, như năm 1987, ông được Ty Thủy lợi Đắk Lắk đón đưa nồng nhiệt hơn cả tháng để viết về thành tựu xây dựng hồ đập. Thế nhưng ông chỉ viết được kịch bản phim tài liệu 45 phút “Giọt nước cao nguyên”, và dành phần lớn kết quả chuyến đi cho tiểu thuyết “Yêu như là sống” phản ánh thanh niên đô thị lập nghiệp trên những đồi cà phê. Ông khẳng định: “Nếu Nhà nước đặt viết về những điều tốt đẹp của Nhà nước, tôi sẽ viết về những điều tốt đẹp mà tôi thấy. Trường hợp chẳng có điều gì tốt đẹp, tôi sẽ viết về những ước muốn tốt đẹp, cuộc đấu tranh cho những điều tốt đẹp. Cho đến nay, đơn đặt hàng của các hãng phim, các đài truyền hình và nhà xuất bản, đến tay tôi, toàn yêu cầu viết tác phẩm chính luận chống tiêu cực, chống tham nhũng, lên án sự tha hóa của con người, của lớp cán bộ có chức có quyền nhưng mất phẩm chất”.

26/11/2025
Lê Thiếu Nhơn

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa lạ vừa quen trong hai tác phẩm mới

Từ chuyện cung đình thời Lý đến những bí mật hậu trường đời văn – hai cuốn sách mới của Nguyễn Mạnh Tuấn mở ra một thế giới phong phú, đầy suy nghiệm. Trong bài viết dưới đây, nhà văn Lại Văn Long dẫn người đọc khám phá một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa quen vừa mới.

Đọc “Kẻ khôn hơn vua” và “Chua ngọt đời văn”

Cuối năm 2025 này, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn - tác giả của những tiểu thuyết nổi tiếng thời cận đổi mới như: “Những khoản khắc còn lại” (1980); “Đứng trước biển” (1982); “Cù lao tràm” (1985) v.v... lại gây chú ý cho đồng nghiệp, bạn đọc bằng việc ra mắt hai cuốn sách “nặng ký” là “Kẻ khôn hơn vua” (NXB Hồng Đức) và “Chua ngọt đời văn” (NXB Đà Nẵng).

I.  Kẻ khôn hơn vua

Tác phẩm đồ sộ với 722 trang in khổ 16cm x 24cm. Đây là tiểu thuyết về Tô Hiến Thành (1102 - 1179) - một đại công thần tham gia triều chính qua 4 đời vua: Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông. Tô Hiến Thành văn, võ song toàn, lại “trung quân ái quốc” và lập được nhiều công lớn. Nhưng vì “khôn hơn vua”, lại cương trực nên bị vua coi là bất kính, đày ra biên ải và chịu nhiều sóng gió... tác giả muốn qua nhân vật này để đọc giả nghiền ngẫm về những bài học khôn dại chốn cung đình, để hiểu vì sao thời nào cũng có bi kịch của người tài! Tác phẩm này được viết rất công phu, thể hiện niềm đam mê, tài năng và sức lao động bền bỉ, đáng khâm phục của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn đã ở tuổi 80. Nhưng sách cũng có những “hạt sạn”, như:

1. Ở lời tựa đầu sách (trang 3) nói rằng: “Tô Hiến Thành là tác giả Bộ luật Đại Việt, bộ luật của xã hội Việt Nam thời phong kiến có giá trị đến tận ngày nay”. Thông tin này cần xem lại vì các tài liệu cho thấy thời Lý chỉ có bộ “Hình Thư”, ban hành năm 1042 dưới triều vua Lý Thái Tông (vị vua thứ hai của nhà Lý) tức là trước 60 năm so với năm sinh 1102 của Tô Hiến Thành cho nên Tô Hiến Thành không thể là tác giả được! Đây cũng là bộ luật đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Hơn 400 năm sau thì có thêm Bộ luật Hồng Đức do vua Lê Thánh Tông ban hàn.

2. Tể tướng Đỗ Anh Vũ đã gọi Tô Hiến Thành là “nhà ngoại cảm” (trang 73), hay trang 189 có câu “sĩ quan quân cấm vệ”, “Tư lệnh cấm quân Đỗ Duy Cao”... trang 603 lại có chức “phó tư lệnh Hoàng Cung” v.v... Những chữ này hiện đại quá, không hợp với ngôn ngữ của gần 900 năm trước! (Xin nói thêm thì khi tôi tra trên mạng thì chỉ huy lực lượng cấm quân bảo vệ vua, bảo vệ kinh thành là “Điện tiền chỉ huy sứ” chứ không phải là tư lệnh, chức vụ này có từ thời vua Lê Đại Hành (thời tiền Lê) đến thời Lý, vì Lý Công Uẩn từng giữ chức này).

3. Ở trang 468, Tô Hiến Thành lại hét lên một câu “đi trước thời đại nhiều thế kỷ” là: “Các người là quân từ đâu vào, sao dám vi phạm lệnh “Ngừng bắn”? Theo chúng tôi chữ “ngừng bắn” dùng cho chiến tranh bằng súng đạn thì hợp hơn là những cuộc chiến bằng vũ khí thô sơ là gươm, giáo, cung tên... có thể thay “ngừng bắn” bằng “đình chiến” hợp lý, hợp thời hơn...

4. Kinh ngạc nhất là ở trang 618, một vị phán quan tuyên rằng: “Tội lỗi của Đỗ Anh Vũ sau khi cân nhắc những yếu tố giảm nhẹ được phiên xử phúc thẩm phán quyết thanh án tử hình, tru di tam tộc... Nhưng sang phiên giám đốc thẩm, xét thấy Đỗ Anh Vũ có nhân thân tốt, biết ăn năn hối cải, nhiều lần lập công chuộc tội... là cơ sở để Hội đồng xét xử coi là tình tiết giảm nhẹ”... Đọc đoạn này y chang một bản án của thời hiện đại, vì thời nhà Lý gần 900 năm trước chắc chắn không có tòa án 3 cấp: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm như vậy! Tiểu thuyết có quyền hư cấu, nhưng không thể hư cấu đến mức làm biến dạng lịch sử. Nó không khác gì hư cấu Lý Thường Kiệt đánh tan quân xâm lược Tống bằng máy bay, xe tăng, tàu ngầm v.v... Đây không chỉ là sơ sót của tác giả mà có phần lỗi của biên tập NXB. Nếu sách được tái bản, rất mong những “hạt sạn” này sẽ không còn nữa!

5. Trên mạng mới có những clip ca ngợi Tô Hiến Thành, trong đó GS Lê Văn Lan - một sử gia nổi tiếng phát biểu rằng: “Chúng ta đang cố gắng đề xuất Tô Hiến Thành thành danh nhân văn hóa thế giới”... (như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh)... và con cháu họ Tô cả nước đang rất tự hào về cụ Tổ Tô Hiến Thành (được đặt tên đường, trường học và có đền thờ ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước). Vì thế, tác phẩm “Kẻ khôn hơn vua” sẽ góp phần để thêm nhiều người, nhiều thế hệ biết đến tài năng, nhân cách công minh chính trực và những đóng góp lớn của Tô Hiến Thành cho sự phát triển nước ta thời Lý, cho lịch sử Việt Nam và cho cả giáo dục truyền thống yêu nước, thương dân, liêm khiết đối với sinh viên và học viên các trường đào tạo cán bộ, quan chức nhà nước!

II. “Chua ngọt đời văn”

Là cuốn sách tạo nhiều cảm hứng cho người đọc, nhất là với những người có đam mê sáng tác văn chương. Tác phẩm này có thể gọi là “bản tổng kết” nửa thế kỷ cầm bút của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn với những điều đặc biệt mà rất hiếm nhà văn nào có được. Xin đưa ra vài ví dụ:

1. Nhuận bút tập truyện ngắn đầu tay “Tôi vẫn đi về nhà máy cũ” (NXB Thanh Niên in 12.500 cuốn năm 1978) được trả 4.000 đồng. Trong khi lương cán sự bậc 5 của tác giả ở Cục Báo chí - Xuất bản miền Nam lúc đó 72 đồng. Số tiền này giúp nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn mua được một căn nhà 3 tầng mặt tiền đường Hai Bà Trưng, quận 1, TPHCM. Tính theo giá bây giờ thì căn nhà đó phải cỡ 3 triệu USD, tức là hơn gấp đôi tiền thưởng giải Nobel Văn chương! Hay hơn nữa là sau đó gần một năm, người bán xin được trả lại 4.300 đồng cả vốn lẫn lãi, lấy lại nhà. Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn đã tặng hết số tiền rất lớn đó cho một thương binh (Hà Nhuệ) giúp anh này xây lại căn nhà bị quân xâm lược Trung Quốc phá sập 1979! Nhưng cũng từ việc nhân nghĩa này đã giúp nhà văn được thêm nhiều “lộc” trong sáng tác, quảng bá tác phẩm khắp cả nước và ra nước ngoài.

2. Nguyễn Mạnh Tuấn là nhà văn hạnh phúc nhất, vì tháng 8/2007 được Michael - chủ hãng phim BiFrost của Mỹ mời sang thiên đường du lịch CeBu của Philippines để viết kịch bản phim “Cô gái không số” cho hãng này. Trong suốt 3 tháng ở đây, nhà văn được mang theo vợ để vừa làm phiên dịch vừa nấu ăn, giặt giũ cho mình. Ngoài danh thơm được Holywood đặt hàng mà hầu hết các biên kịch trên thế giới đều ao ước, thì anh cùng vợ được đi du lịch miễn phí 5 sao suốt 90 ngày kèm 21.000USD nhuận bút.

3. Có sự nghiệp văn chương đồ sộ, lừng lẫy, với 9 tập truyện ngắn, 2 đầu sách cho thiếu nhi, 12 tiểu thuyết + “Chua ngọt đời văn” là 13, 11 kịch bản phim điện ảnh, 5 kịch bản phim video chiếu rạp, 23 kịch bản phim truyền hình (khoảng hơn 500 tập phim), 2 kịch bản sân khấu v.v... Ngoài tài năng thiên bẩm, niềm đam mê thì nhà văn phải có ý chí, nghị lực phi thường mới có thể viết ra hàng vạn trang tiểu thuyết, kịch bản như vậy! Đó là về “lượng”, còn nói về “chất” thì đa số các tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tuấn đều được viết theo đặt hàng của các nhà xuất bản uy tín, các đài truyền hình lớn và cả đặt hàng từ Mỹ, Nhật... Nếu các tác phẩm đó không có giá trị, chắc chắn không có nhiều giải thưởng và không đối tác nào chịu bỏ tiền ra mua! Các tiểu thuyết như: “Đứng trước biển”, “Cù lao tràm”, “Những khoản khắc còn lại” v.v... đều được in từ 14 đến 16 vạn bản... Những con số mà không chỉ các nhà văn, mà cả các nhà xuất bản, các cơ quan dân vận, tuyên truyền đều mơ ước!

4. Nguyễn Mạnh Tuấn là nhà văn được hàng chục triệu độc giả, khán giả nhiều thế hệ hâm mô, trong đó có cả những vị lãnh đạo thành phố, Trung ương như: Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Thọ, Hà Xuân Trường (Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương) v.v... đúng là được “vua biết mặt, chúa biết tên”...

5. Bởi quá nổi tiếng nên nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn không tránh khỏi những ganh ghét, nên vướng vào vụ kiện tranh chấp bản quyền vở cải lương “Tướng cướp Bạch Hải Đường” của soạn giả Nguyễn Huỳnh với kịch bản phim “Hải Đường Trắng” của Nguyễn Mạnh Tuấn. Suốt 7 năm bị vu cáo là “ăn cắp” bản quyền, cuối cùng cũng được minh oan, nhưng nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn thấm thía tình đời, tình người khi biết một số đồng nghiệp, đàn anh “đáng kính” đã giấu mặt giật dây vụ kiện đó. Ở chuyện này, Nguyễn Mạnh Tuấn còn chịu khổ với một nhà văn “siêu quyền lực” tên được được viết tắt là T.A. Vị tiền bối này từng giữ những trọng trách quốc gia trước khi là nhà văn có những tác phẩm nổi tiếng. Tác giả bài này cũng có nhiều dịp tiếp xúc với cụ T.A và thấy nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn nói về cụ hoàn toàn chính xác, nhất là khi kể vào năm 1976 cụ có bài thơ chịu “lận đận” vì kêu gọi cảnh giác cao độ với láng giềng phương Bắc... thì người đọc càng yêu quý cụ T.A và nể cáo tâm, cái tầm của Nguyễn Mạnh Tuấn khi vẫn đề cao, tôn trọng người từng... làm khổ mình!

5. Trong cuốn “Chua ngọt đời văn” cũng nhắc đến nhà văn Nguyễn Khải đến thăm nhà văn Nguyễn Minh Châu từ Hà Nội vào một ngôi chùa ở Vũng Tàu lặng lẽ, “côi cút” sống những ngày cuối đời rất buồn thảm với căn bệnh ung thư. Nguyễn Khải trong câu chuyện này hiện lên thật đẹp. Rất nhiều nhà văn, giáo sư văn chương nổi tiếng thường lui tới tòa soạn Báo Công an TPHCM trong những năm 1990 thời các Tổng biên tập như: Nguyễn Anh Linh (Minh Kiên), Huỳnh Bá Thành, Hà Phi Long (được nhắc tên trong cuốn “Chua ngọt đời văn”)... Trong số đó có hai nhà văn mà tác giả bài viết này rất kính nể về tài năng, nhân cách, đức độ là Anh Đức và Nguyễn Khải. Đọc sách của Nguyễn Mạnh Tuấn xong, lại càng kính nể, khâm phục nhà văn Nguyễn Khải!

Kết: Nguyễn Mạnh Tuấn mong muốn tác phẩm của mình được bạn đọc nhớ đến sau 3 năm đọc là đạt yêu cầu. Nhưng 41 năm rồi tôi vẫn nhớ những chi tiết ám ảnh trong “Đứng trước biển” được đọc thời sinh viên, như một ông cán bộ nuôi cả bầy heo inh ỏi trong căn nhà phố sâu hun hút, tối tăm như đường hầm phải bật điện 24/24. Hồi đó tôi cứ tưởng tượng ra đó là những con heo “yêu quái”, ăn thịt những sinh vật nuôi nhốt thiếu ánh mặt trời đó có thể bị điên loạn... Hay khi Nguyễn Mạnh Tuấn tả về một cô gái ăn chơi, thích bận quần Jean: “Cái mông cong vút, nảy nảy như mông ngựa cái!”. Điều gây thắc mắc cho tôi và nhiều người là tại sao đến giờ này Nguyễn Mạnh Tuấn vẫn chưa được giải thưởng nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật? Trong khi nhiều người được các giải thưởng này lại không được nhiều công chúng nghệ thuật biến đến, không có những thành tựu sáng tác xuất sắc như anh

Xin kính chúc tiền bối Nguyễn Mạnh Tuấn - một nhà văn đương đại mà tôi rất ngưỡng mộ, kính phục thật nhiều sức khỏe ở tuổi ngoài 80 và giữ được lửa đam mê văn chương, dù anh đã viết hẳn một chương “Rửa tay gác... bút”!.

25/10/2025
Lại Văn Long

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Nước mắt trong Lục Bát Mẹ

Nhà thơ Đỗ Thành Đồng vừa làm lễ kỷ niệm 5 năm ngày mất của mạ, và dịp này anh ra mắt tập thơ thứ 9 “Lục bát mẹ”. Hơn 100 trang sách với 42 bài thơ lục bát viết về mẹ (mẹ anh sinh năm 1942), mỗi bài thơ là một cung bậc cảm xúc, cũng là những khúc ru của một người con hiếu đạo đối với mẹ ở nơi cõi Phật.

Những tập thơ đầu anh không ra mắt mà chỉ là giới thiệu, đến Đá anh ra mắt một cách khá bài bản. Và các tập tiếp theo, anh lại “lặng lẽ dâng cho đời” những giọt mật thơm giữa muôn vàn hoa trái. Như một lẽ tự nhiên của sự biến hóa trong cõi dân gian, vật chất sinh ra và vận động không ngừng, đến Đá trở nên vững chãi. Rồi sau đó lại biến chuyển thông qua lăng kính của một kiến trúc sư về thẩm mỹ học, qua tôi luyện lại tiếp tục sinh ra Lục Bát Đời, sự nung nấu qua thời gian mà sinh ra Lục Bát Mẹ. Vài điểm xuyết như thế để thấy, Đỗ Thành Đồng luôn vận động và kiến tạo thơ mình một cách vững vàng trên thi đàn văn học đương đại.

Buổi ra mắt trong một không gian gia đình, đầm ấm, không rộn ràng nhưng chứa nhiều cung bậc văn chương. Theo cách đếm thông thường, tôi đã bật khóc ít nhất là 5 lần. Nhà thơ Nguyễn Tiến Nên đã nghẹn ngào khi đọc mấy câu thơ trong “Con hư”, với một lời trách cứ đầy xót xa:

chiều nay rét tím cong mồ

mạ nằm dưới nớ ướt khô răng chừ

con là một đứa con hư

giữ không được mẹ giống như bạn mình

mạ ơi giữa cõi phù sinh

may con còn mạ bóng hình lương tri!

Những câu thơ mang nhiều biểu cảm lạ lùng, như một tiếng nấc bật lên giữa đời thường. Xuất phát từ một chi tiết nhỏ của mạng xã hội, vốn quen thuộc và bình dị “bạn khoe ảnh mẹ trên phây”, đủ khơi lên trong anh nỗi chạnh lòng sâu thẳm. Hình ảnh nụ cười mẹ bạn “tỏa ánh sáng ngày giá đông” gợi sự ấm áp, sum vầy nhưng đã mang đến cho anh cảm giác hụt hẫng. Và ông xúc động nói “Đỗ Thành Đồng đã làm được một điều phi thường vốn xưa nay hiếm, còn tôi thì đã ngoài 70 mà vẫn chưa ra trò trống gì, khi viết một câu thơ về mẹ cũng chưa nên hồn”, mặc dù mẹ ông cũng đã rời xa ông hơn 11 năm.

Nhà thơ Mai Văn Hoan, khi đọc đến “Mẹ kiêng” cũng đã lắng lòng trong giây lát:

tháng ba cá trích tươi xanh

đứng nhìn một lúc mẹ đành về không.

Những câu thơ sao cứ xoáy vào tâm can nhân tình đến thế, bởi người mẹ cả một đời cơ cực, tần tảo vì chồng vì con mà quên hết bản thân mình. Không có tiền mua cá, nhưng rồi nghĩ đến chồng con mà đành vay mượn:

phần cha con đã chục tròn

lẽ nào phần mẹ chỉ còn nước kho

mẹ cười con chớ có lo

mẹ kiêng cá trích ăn vô bệnh liền

Tôi đã đọc đi đọc lại 5 lần tập thơ, cứ mỗi lần đọc lại có một sự rung cảm rất riêng. Riêng bởi vì trong đó “vừa có mình vừa có ta”, và hơn ai hết, tôi cũng là đứa con chịu mồ côi mẹ khi mới vừa tuổi 42, trẻ hơn nhiều so với tuổi khi mồ côi mẹ của tác giả. Cũng như mẹ bao người, mẹ tôi có bao giờ giữ cho mình được má phấn môi son, và là phụ nữ nhưng chẳng bao giờ biết đến “môi son” là gì:

trời cho một chút môi son

mẹ đem phơi nắng vì lon gạo đầy.

Cuộc đời mẹ tần tảo là thế, cho nên khi chạm đến lòng trắc ẩn của 2 câu thơ, tự nhiên nước mắt cứ rơi. Cũng trong cảm xúc ấy, trong “Mạ lo”, anh lại đưa người đọc vào một miền kí ức khác:

sinh con má nỏ kịp thơm

đã quang gánh níu đã rơm rạ đè.

Hình ảnh lưu lại trong tiềm thức của nhiều người, khi nhìn thấy sự lam lũ, sự cơ cực của mẹ, và cũng là tiềm thức chung:

mỗi lần rét quắn đọt cây

là khi mẹ nứt nẻ đầu gót chân

Và trong “Nhớ mạ”, anh đã dùng phép “đếm” để làm nổi bật sự vất vả của mẹ:

mạ ơi từng đốt ngón tay

mạ còn ám cả tháng ngày gian truân

Hình ảnh người mẹ một nắng hai sương, cày sâu cuốc bẩm vì sự khôn lớn và vì giấc mơ con chữ của con, mà mẹ quản chi mưa nắng, giá rét, đặc biệt là khi xuống ruộng cày cấy cho vụ đông xuân trong tiết trời buốt lạnh. Và có lẽ gót chân của mẹ chẳng bao giờ đẹp đẽ, thậm chí có khi tứa ra cả máu tươi. Tiếp nối cảm xúc ấy, tác giả lại “thương ngày tết xưa”:

chân trần giẫm nát cơn mưa

sáng ba mươi tết cơm chưa đủ nồi.

Đi trong ngày, đi trong đêm, đi xuyên suốt cả năm, thế mà đến ngày cuối cùng của một năm, trước thềm của năm mới, mẹ đã hết lo đâu, phải chăng mẹ lại lo nhiều hơn những ngày thường. Không lo sao được khi “cơm chưa đủ nồi” mà con thì đang đói. Có người mẹ nào mà chẳng đứt cả ruột gan vì miếng cơm manh áo của con chưa đủ đầy, trong khi trời đất đã sắp vào xuân.

Làm lụng vất vả quanh năm, vậy nên khi miêu tả về dáng mẹ, nhà thơ viết:

lặng nhìn trăng khuyết cuối trời

tự nhiên thương lắm dáng người mẹ cong (trăng mẹ)

Câu thơ cứ thế tuôn trào, và rồi người đọc cũng cứ thế nước mắt lại rơi:

kiếp trăng khi khuyết khi tròn

mẹ thì năm tháng khuyết mòn cả đêm.

Những người mẹ của một thời lam lũ, vậy nên chẳng có khi nào “tròn” trong sâu thẳm tiềm thức của con.

Trong bài “con thèm”, theo nhà thơ Mai Văn Hoan, cái thèm của Đỗ Thành Đồng không giống ai và không mấy ai xây dựng được hình tượng “thèm” này, và nhà thơ khi chia sẻ đến đây cũng đã rơm rớm nước mắt vì sự đồng cảm:

con thèm cái chúm ngón tay

mạ bắt con chấy mỗi ngày cho con.

Hình ảnh này tôi lại nhớ đến mẹ tôi, cứ hở tay ra là lại chụm đầu con để bắt chấy. Mà sao ngày ấy chấy nhiều đến thế không biết nữa?

Nói về sự dạy dỗ của cha mẹ với con cái một thời, cũng trong cảm xúc “con thèm” nhà thơ dựng nên một hình ảnh rất đáng suy ngẫm trong tâm tưởng:

con thèm một nhánh ổi non

mạ bứt hết lá để còn làm roi

Tôi cũng đã bao lần nếm đòn roi của mẹ, nhưng cớ sao cái đòn roi ấy nó thân thương đến thế, và buộc nhà thơ phải “thèm”. Đây không chỉ là một thứ hoài niệm không thôi, mà còn là một lát cắt xuyên qua thời gian, khi coi đòn roi như là một thứ “xa xỉ” với trẻ thời hiện đại.

Trong “nhặt rét”, hình ảnh “bỏng tay” là một tứ thơ hay và có sự biến ảo lạ thường, cái tưởng chừng như vô lý nhưng lại hết sức có lý:

con ngồi vén lớp mưa bay

nhặt từng ngọn rét bỏng tay kiếp người

Với mẹ, 60 tuổi hay đến cả trăm tuổi trên đầu, con vẫn là con ngoan của mẹ, mẹ vẫn lo cho con. Ấy thế cho nên:

con đau biết gọi mẹ ơi

mẹ đau chỉ biết cả đời cắn răng (nỗi đêm)

Hay trong “núm vú”, tôi thực sự xúc động và lại bật khóc:

ngày xưa con ngứa răng non

cắn vào cơn đói mẹ mòn mỏi đêm...

Khi con ngồi “đợi mẹ” sau một ngày lam lũ ngược xuôi ngoài chợ, “xáo” từng mớ gạo để may sao có ra “lon” gạo lời, mang về nấu bữa cho con, nhà thơ lại rưng rưng:

chợ chiều cắp thúng mẹ đi

xáo từng mớ gạo cho hy vọng ngày

Trong sự lo toan nhưng cũng rất đỗi tự hào, rằng mẹ mình chính là một nhà nông đích thực, và dù vất vả đến mấy, mẹ vẫn luôn thường trực điểm sáng trên môi:

nông dân chỉ có nụ cười

mẹ hôn đá sỏi bằng lời ru con

Còn trong “đường tu”, tôi cho rằng đây là một bài thơ mang hơi hướng thiền. Vì cái đói của con mà mẹ “sát sinh” chẳng tha thứ gì, mẹ biết đó là “tội lỗi”, nhưng chỉ mong con khôn lớn mỗi ngày và cứ từ bi trong tâm mình:

đã không gõ mõ tụng kinh

mẹ còn phạm giới sát sinh mỗi ngày

mẹ ơi Phật ở trong tâm

lời ru của mẹ vẫn chầm chậm rơi…

Và cuối cùng, nhà thơ lắng lại bằng những lời ru của mạ, mà trong tập thơ này, anh đã nhắc đến 35 lần chữ “ru”:

con dù bèo dạt mây trôi

trăm năm thơ vẫn đọng lời mạ ru (đọng)

Trong tâm trí nhà thơ, cũng như bao người con, mẹ luôn ở bên con, mà dõi theo từng bước đi, từng lát cắt khi đục khi trong của cuộc sống, và mẹ chính là sự hiện thân của “sắc xanh”:

mẹ nằm dưới thảm cỏ non

bao nhiêu gót mẹ hãy còn sắc xanh (gót mẹ).

Đọc và ngẫm trong Lục Bát Mẹ, mỗi câu thơ như một giọt nước lăn dài trên khóe mắt của người đọc, và đó là những giọt nước rung cảm, rung động và rung tứ khi trái tim đã chạm đến được với trái tim.

Ba Đồn, 26/11/2025   

Hoàng Xuân

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Đọc tác phẩm “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu dưới góc nhìn từ đời thường

Tôi chợt nảy ra ý định viết đôi dòng cảm nhận về tập thơ “Biên bản thặng dư” (BBTD) của nhà thơ Phùng Hiệu (PH) sau khi tham khảo các bài viết của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình tiếng tăm trong cả nước (Nguyễn Quang Thiều, Lê Thiếu Nhơn, Bảo Trung v.v) về BBTD (Nxb HNV 2019). Là một cây bút không chuyên, tôi muốn trình bày cách tiếp cận BBTD dưới dưới góc nhìn từ đời thường.

Đại thi hào Gớt nói: “Thế giới rộng lớn, phong phú và cuộc sống đa dạng tới mức sẽ chẳng thiếu gì nguyên cớ để làm thơ. Nhưng tất cả các bài thơ phải được viết ra “vì nguyên cớ” (nhân cơ hội), nghĩa là hiện thực phải tạo ra nguyên cớ, chất liệu để làm việc đó. Cơ hội riêng lẻ trở thành chung và nên thơ bởi vì nó được nhà thơ gia công. Tất cả thơ của tôi đều là những bài thơ “vì nguyên cớ” (nhân cơ hội); chúng được hiện thực thôi thúc và vì thế có cơ sở”.

Tôi nghĩ nhà thơ Phùng Hiệu cũng vậy, anh lăn lộn nhiều trong cuộc mưu sinh, vừa là nhà báo, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, địa ốc và là người làm thơ trong một hiện thực xã hội CÓ VẤN ĐỀ. Vậy nên, chất liệu thi ca ngồn ngộn giữa đời thường, phản ánh ngổn ngang cái hiện thực sáng tối, đậm nhạt để tạo thành vòng xoáy nhận thức và cảm xúc trong tâm hồn nhạy cảm của một công dân có trách nhiệm. Thơ Phùng Hiệu bật ra những vần điệu trầm hùng và chát đắng trong hoàn cảnh như vậy. Trong suốt quá trình nghiền ngẫm tập thơ, trong tôi chợt lóe lên tia chớp: phải phân loại các bài thơ trong BBTD thành những nhóm nội dung, mặc dù sáng tác của anh là một thể thống nhất không nên tách rời. Nhưng không sao, tôi nghĩ một vài lát cắt đôi khi cũng làm rõ hơn những gì mà tác phẩm chứa đựng bên trong.

Tôi tạm xếp chung những bài có dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất Tôi, Ta, ở đó, nhà thơ nhận diện chính mình khi quan sát thế giới hổn tạp của thời đại, bao gồm : 1.Nhấp phím. 2. Ngôn ngữ lên ngôi. 3. Sự thật không thể bị giết chết. 4. Kẻ hở bình minh. 5. Nghịch lí viên gạch. 6. Giấc mơ hiện thực. 7. Sự giao cảm của tưởng thức. 8. Lửa - trên nóc nhà thế giới. 9. Âm vang của câu ca dao. 10. Ném đá. 11. Ngụy tạo. 12. Phía sau bức tường giải tỏa. 13. Sự lãng mạn của cái ác. 14. Nói với ngài. 15. Di Nguyện.

Nhóm thứ hai gồm 16 bài, là quá trình nhận diện hiện thực phủ phàng tạo giá trị thặng dư, bao gồm:1.Quét rác. 2. Tiếng nấc trong khu rừng cao su. 3. Biên bản thặng dư. 4. Cuộc mưu sinh. 5. Dấu chấm. 6. Tết của người công nhân góa phụ. 7. Phía sau ánh đèn lừa dối. 8. Sự mất tích của người công nhân. 9. Sa thải một cơn mơ. 10. Em vẫn lớn lên. 11. Dấu chân Bình Lộc. 12. Đằng sau tờ vé số. 13. Sau lưng tiếng kẻng công trường. 14. Phố ngập. 15. Bước tha phương. 16. Đứt cáp.

Nhóm thứ ba là những khúc thương ca cho đất nước nhược tiểu, bao gồm: 1. Em giữa miền Trung. 2. Bão lòng. 3. Quy hoạch tự do. 4. Nghĩ về quê hương tôi. 5. Tiếng rên gạch cát. 6. Với mẹ. 7. Điểm danh quá khứ. 8. Cánh chim bám biển. 9. Các anh không về mắt đảo rưng rưng. 10. Biên bản chủ quyền.

Mời bạn cùng tôi dạo đọc thơ anh:

1. Nhận diện

“Nhấp phím/ những con chữ nhảy múa trên cánh đồng ngôn ngữ/ cho cảm xúc tuôn, cho lãng mạn trào/ mơ về em/ ta mới biết cuộc đời còn có tình yêu và câu thơ sót lại”. (BBTD, tr 9).

Vâng, cái sót lại sau cùng vẫn là tình yêu và câu thơ, sau bao lần nhà thơ nhấp phím xâm nhập vào mọi ngõ ngách của thế giới đương đại đa chiều hỗn mang, để niềm tin vào cuộc đời trong tâm hồn thi nhân vẫn là giá trị vĩnh hằng, được nhà thơ khẳng định một lần nữa trong bài Ngôn ngữ lên ngôi:

“Tôi nghĩ thế giới này có thể mất đi/ Nhưng còn lại vần thơ nhân cách”. (BBTD tr11).

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận định: “Đây thực sự là một định nghĩa thơ của nhà thơ Phùng Hiệu” (BBTD, tr 6).

Nhà thơ nhận diện sự thật của xã hội đương đại như một tai ương, thế giới mà anh đang sống đầy dẫy dối lừa, công lý bị bóp méo tàn nhẫn:

“Tôi đi tìm công lý/ Tin chắc ở phía chân trời có ánh bình minh.” Thế mà, hỡi ôi, nhà thơ lại băt gặp: “Nhưng khi vừa đến chân trời tôi chạm phải bóng đêm”.

Nơi đó, “lương tri lộ diện”, cái lộ diện chắc chắn ko phải là những tia nắng ấm tốt lành, mà chỉ là “hành trình giả tạo”. Khi vấp phải nghịch lý viên gạch, Phùng Hiệu viết:

“Khi những viên gạch vỡ ra/ là lúc bức tường bê tông rắn lại” Anh thấy gì?

“Trên công trường quy hoạch tự do/ Những viên gạch tiếp tục vỡ ra, Hành trình chưa khép lại”. BBTD, tr 21)

Hành trình nào? Có phải là hành trình số phận của con người đang chen lấn, ép sát vào nhau giữa những bức tường bê tông tua tủa mọc lên từ “những cánh tay quen thuộc tìm về”? Để rồi, trong anh, đau đáu một giấc mơ, giấc mơ chua chát:

“Giấc mơ tôi được làm người/ một con người thật sự tự do” nhưng khốn khổ thay, giấc mơ ấy chỉ “được hình thành trong tiểu thuyết chiêm bao”

Tại sao vậy? đây là câu trả lời, như một lời buộc tội, như một cáo trạng cho các quan tòa:

“Bạch ngài/Một khi thế giới vô hình không đủ sức dọa nạt ác nhân/ Thì hữu hình tất nhiên trả giá.” Đó là những “đố kị, tranh giành, đua chen, đốp chát”, khi mà “con người luôn ném đá về nhau”.

Vậy thì, cái gì còn lại, cái gì đáng để tôn vinh, tôi nín thở lắng nghe nhà thơ giải bày:

“Hãy trở về với lãng mạn trường thi/ Để một ngày ta nhận thấy, Để một năm ta nhận ra, Sự lãng mạn không mang đến nguy hại cho con người/ Chỉ có thể làm nên tên tuổi.”

Tôi thở phào nhẹ nhỏm, dẫu sao, chúng ta và nhà thơ cũng còn một con đường, một lối đi nhân cách. Xin phép được mượn lời tác giả Bảo Trung trong bài báo “Ánh sáng phía sau dòng lệ” (GDTĐ, tr 26): “Phùng Hiệu tìm đến sự giải thiêng cho những sự thật, lật tẩy để thanh tẩy bao ngụy tín trong cuộc sống đang tăng tốc phi mã trong vòng xoáy của vật chất, của những toan tính thực dụng…”

2. Hiện thực tạo giá trị thặng dư trong BBTD

Mười sáu bài thơ, như là một tập hợp đầy bản lĩnh của nhà thơ, phản ánh hiện thực xã hội Việt đương đại. Xin được trích trong bài tựa của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều :

“Anh đã dối mặt với những bất hạnh và bất công mà không hề sợ hãi và anh đã thi ca hóa được những thô nháp, trần trụi của đời sống. (“Sự thật của nhà thơ” , BBTD, tr 7).

Tôi đồng cảm với tác giả bài viết, và cho rằng, Phùng Hiệu lượm nhặt chất liệu cuôc sống hết sức chọn lọc và tinh tế. Đôi mắt anh bừng sáng để xoáy sâu đến tận cùng khi nhìn về những mảng tối nhạt nhòa của bóng đêm. Những mảnh đời rách bươm, những bàn tay tóe máu nhọc nhằn lao khổ được anh thi ca hóa, không phải để làm nền cho thơ anh khác lạ, hiếm hoi trong trường chữ nghĩa hiên nay, mà chính là cứu cánh cho lương tri hướng về những con người lao động nghèo khổ, những người không hề biết mình đổ mồ hôi và máu xương để cho các thế hệ hôm nay và mai sau lập BBTD, là bản cáo trạng cho xã hội đầy dẫy bất công:

"Chị quét cả đời nhưng rác chảy về đâu? …Đến cuối cuộc đời người ta quét chị ra/ Vì ngỡ rác trong khu nhà ổ chuột! (Quét rác. BBTD, tr 13)

Phùng Hiệu đã nhìn thấu suốt cả cuộc đời chị công nhân quét rác, và nhà thơ cũng cho chúng ta thấy cách đánh giá của anh về những chủ nhân ông của chị, sử dụng chị để tạo ra giá trị thặng dư, đã coi chị là cái gì, sẽ đền ơn đáp nghĩa với chị như thế nào? Không có một tâm hồn mẫn cảm và đầy cảm thông, không cùng sống chết với những con người lam lũ, người ta không thể nào viết lên những câu thơ nhu thế.

“Chị bấu vào chỉ số thặng dư/Tờ văn bản được ghi bằng nước mắt/…Anh lê những bước chân về phía công trường/ Lót vào lòng nắm xôi lên giá.”/….Em cầm tuổi mười lăm/ Bước vào nhà máy/…Được cấp bằng “chiến sĩ tăng ca”….Thặng dư/ Thặng dư/Thặng dư./ ..Áp đặt lên những mảnh đời vô sản/ Biên bản ….thặng dư…”

Chúng ta còn có cơ hội thốt lên lời nào nữa? Những câu thơ của nhà thơ Phùng Hiệu đã là cục máu bầm của tình trạng xuất huyết nội, nhà thơ viết bằng chính bàn tay cầm công cụ của những người vô sản hiện đại, có khác gì của các tầng lớp vô sản thế kỉ trước? Vậy thì làm sao? Nói lên cái gì? Lí thuyết nào cứu rỗi cho họ? bàn tay nào nâng họ lên khỏi những vũng sình nhầy nhụa mồ hôi và nước mắt? Thượng tầng xã hội ru ngủ họ những gì? Hay bất công và lợi ích nhóm vẫn là những bàn tay bạo Chúa?

Và đây là thân phận các nàng Kiều thời đại, Phùng Hiệu không lột tả tâm tư nhức nhối của Kiều, nhà thơ thấy các em như là một biểu trưng cho thất nghiệp, cái trinh trắng rủ bỏ nhân cách vì bó tay trước cuộc đời, bởi bàn tay các em nhỏ bé yêu ớt quá, mà thế lực đồng tiền quá là “vĩ đại”, nó ngốn ngấu tất cả:

“Em cầm tấm bằng phổ thông rong ruổi…./ ở đây không nói chuyện học đường…./trong ánh đèn lừa dối/ nhan sắc được phô trương bằng những đường cong thân thể…/ em hiện diện như một nàng tiên chơi trò chuyển nhượng…” (Phía sau ánh đàn lừa dối. BBTD, tr 29.)

Tôi tạm dừng trích dẫn thơ Phùng Hiệu mà xin mượn lời nhà thơ Lê Thiếu Nhơn:

“Đọc tập thơ “Biên bản thặng dư”của Phùng Hiệu, cảm giác nặng lòng khó tránh khỏi. Thế nhưng, qua những câu chua chát lại thấy vẻ đẹp của nước mắt, qua những lời ai oán lại thấy sức mạnh của tình thương….” (Phùng Hiệu - Niềm riêng rét cóng từng ngọn lửa tàn - Lê Thiếu Nhơn, BBTD, tr 85.

3. Thương ca nhuợc tiểu

Mảng cảm xúc dành cho quê hương trong BBTD trầm hùng giai điệu của một bản thương ca, gióng giả lay động trái tim hàng triệu con dân nước Việt:

Thế kỉ trôi qua/ Biển Đông chưa có ngày yên ả/ Năm 1956/ Hoàng sa mất một phần máu thịt/… Năm 1974/ Bảy mươi tư người Việt hy sinh…../ Năm 1988/ Gạc ma hóa thành biển lửa…/ Năm 2013/ Với âm ưu đường lưỡi bò dối trá…/

Hiểm họa xâm lăng từ phương Bắc ngàn đời luôn đe nặng lên đầu dân tộc Việt. Bao nhiêu lần đánh thắng kẻ thù là bấy nhiêu lần cống nạp, các vương triều quật cường Đại Việt xưa đã hiên ngang giữ vững cõi bờ. Nay, ý đồ bá quyền đại Hán lại đang thực hiện âm mưu thôn tính dần dần bờ cõi nước Nam. Đất và biển ngàn năm đang bị đe dọa, chúng đang tràn ngập lãnh thổ:

"Rồi một ngày bô xít Tây Nguyên/…Đất cát kêu gào đau rát giọt tài nguyên. Rồi một ngày chất thải Formosa….Biếtt bao giờ lãnh thổ được bình yên?"

Câu trả lời là đây, nhà thơ đã đến Colin, hòn đảo giữa Trường sa dài rộng hiên ngang:

“Mặc cho những họng súng quân thù luôn khát máu/ ….Sáu mươi bốn anh hùng hóa đá giữ biên cương.” (Các anh không về mắt đảo rưng rưng.” (BBTD. Tr 74)

Những ngư dân bám biền cũng trở thành những người hùng giữ nước trong thơ Phùng Hiệu:

“Xác con thuyền chìm dần xuống đáy tự do/ Anh trồi lên bằng tinh thần “chiến binh bám biển”. (Cánh chim bám biển. BBTD. Tr72)

Ngoài ra, nhà thơ còn viết về người mẹ Việt Nam muôn đời lao nhọc nuôi nấng cả dân tộc lớn lên, (Với mẹ, Tr 59) những phút suy tư về thân phận quê hương nhược tiểu, (Nghĩ về quê hương tôi. Tr. 52) những cảm xúc đẹp thăng hoa từ câu ca dao ngàn năm vọng lại… (Âm vang của câu ca dao. TR 44)

Khi mới cầm trên tay và lướt đọc qua, ta những tưởng BBTD là một tập thơ gai góc, khó cảm thấu, khó nhập tâm. Thế nhưng, đi sâu vào những cảm thức mới mẻ trong thơ Phùng Hiệu, ta lại thấy ngời lên cái thiện tâm, vị tha, nhân bản và là tiếng nói của những nhà thơ biết đem thơ đến cho con người bằng tất cả yêu thương và hiến tặng.

Trân trọng giới thiệu BBTD đến với bạn đọc gần xa. Mong đón nhận những tập thơ hay của Phùng Hiệu trong thời gian tới. Chúc nhà thơ tiếp tục thành công trên sự nghiệp văn chương của mình.

Bà Rịa, 27/11/2019
Nguyên Bình

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Julio Cortázar và tập truyện ngắn bị “bỏ quên”

Mới đây, A Certain Lucas đã tái xuất sau nhiều thập kỷ, mở ra cánh cửa khám phá nhà văn vĩ đại người Argentina Julio Cortázar cũng như ảnh hưởng vượt khỏi châu Mỹ của cây bút này.

Trong bất kỳ bài viết nào về Julio Cortázar, có hai yếu tố không thể bỏ qua: ông là một trong những tên tuổi quan trọng nhất khi văn chương Mỹ Latinh bùng nổ vào thập niên 1960, và tiểu thuyết Hopscotch chính là kiệt tác của ông. Theo cách nghĩ đó, tập truyện A Certain Lucas có nhiều khả năng không mấy nổi bật: sáng tác vào cuối sự nghiệp, được dàn dựng lỏng lẻo, thiên về giải trí thay vì cho thấy tầm quan trọng trong việc khai thác lịch sử, tiểu sử và cả văn nghiệp của nhà văn này. Nhưng ở khía cạnh nào đó, nó lại cho thấy một mặt rất khác về di sản của ông mà không nhiều người biết.

Trước hết, mặc dù không thể phủ nhận Cortázar là yếu nhân của thời kỳ bùng nổ văn học Mỹ Latinh (có lẽ chỉ sau Gabriel García Márquez trong việc đưa độc giả Anh ngữ đến với nền văn chương vốn xa lạ này), nhưng ông cũng có nhiều sự khác biệt so với các đồng nghiệp đương thời. Khi trả lời một cuộc phỏng vấn vào năm 1974, ông chia sẻ: "Tôi mang tính quốc tế sâu sắc" – điều đó có nghĩa tác phẩm của ông trải dài khắp thế giới về cả chủ đề lẫn tầm ảnh hưởng, giống như chính bản thân ông mà rồi ta biết ngày nay khi có độ lùi thời gian

Sinh tại Bỉ vào năm 1914, có cha mẹ là người Argentina, Cortázar đã thông thạo nhiều thứ tiếng từ năm 4 tuổi khi gia đình chuyển về thủ đô Buenos Aires. Ông sống ở đó đến năm 30 tuổi trước khi trở lại châu Âu cho đến cuối đời. Thuở nhỏ, ông yêu thích Jules Verne (Hai vạn dặm dưới đáy biển...) và muốn trở thành một người thủy thủ chu du khắp thế giới như nhiều nhân vật của tác giả này, nhưng bệnh hen suyễn đã giữ ông lại và đưa ông đến với cuộc phiêu lưu sách vở. Có thể nói ông chịu ơn rất nhiều từ những nhà văn đồng hương: từ Jorge Luis Borges, ông học được sự nghiêm khắc về mặt trí tuệ và nghệ thuật, trong khi từ Robert Arlt, ông lại tìm thấy sự gợi cảm và hoang dã. Bằng việc kết hợp những xung lực tương phản này, Cortázar đã tạo dựng nên nét đặc sắc nhất của riêng bản thân.

Tuy vậy nói thế là chưa đầy đủ, bởi ông cũng chịu ảnh hưởng từ các cây viết quốc tế, mà đặc biệt nhất là Edgar Allan Poe - người có những truyện ngắn chặt chẽ, kỳ ảo và đầy sức ảnh hưởng. Cây viết người Mỹ đã cho Cortázar biết ông nên viết một truyện ngắn theo motif nào. Từ khởi đầu này, như nhiều người đồng ý, những truyện ngắn trải dài từ hiện thực đến kỳ ảo khó tin chính là thành tựu văn học xuất sắc nhất của ông.

Khi xuất bản tiểu thuyết đầu tay The Winners vào năm 1960, ông đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của các trào lưu văn học châu Âu thời bấy giờ, đặc biệt là chủ nghĩa siêu thực. Cuốn sách là câu chuyện ngụ ngôn sắc sảo về chuyến du ngoạn của những kẻ ngốc rời khỏi Buenos Aires. Ảnh hưởng nói trên còn rõ nét hơn (nếu không nói nhất) trong tác phẩm tiếp theo mà Cronopios and Famas (1962), một tập hợp các tác phẩm văn xuôi phi lý hoàn toàn khác biệt với The Winners, là một điển hình.

Chỉ một năm sau, một sự đổi mới về phong cách lại được nhìn thấy ở Hopscotch - cuốn tiểu thuyết tâm lý đồ sộ đã giúp ông nổi tiếng khắp thế giới. Giống như trò chơi cùng tên, cuốn sách là sự chuyển đổi qua lại giữa các địa điểm mà trong trường hợp này là Argentina và châu Âu. Hình thức của tác phẩm cũng phản ánh sự chuyển động này, với việc người đọc có thể lựa chọn đọc theo bất cứ trình tự thời gian nào, từ đó đưa ra những cách đọc riêng, có thể không giống vời trình tự các chương đặt ra ở phần đầu truyện.

Nếu là một nhà văn khác, Cortázar có thể đã nối tiếp thành công của Hopscotch bằng một cuốn sách đồ sộ, hấp dẫn, nhưng ông luôn quan tâm đến tự do nghệ thuật hơn thành công đại chúng. Nhà văn Argentina này yêu nhạc jazz vì nó ngẫu hứng chứ không “cố định”, và Thiền tông vì nó vui tươi chứ không trang nghiêm. Là một người viết, ông biến hóa không ngừng trong những thập kỷ tiếp theo: Từ một tác phẩm Gothic ấn tượng mang tính thử nghiệm (62: A Model Kit, 1968), tiểu thuyết chính trị hiện thực (A Manual for Manuel, 1973) đến vô số tuyển tập, một số pha trộn nhiều thể loại đến mức các nhà phê bình đã xếp chúng vào loại “hỗn tạp”. Cortázar, người thích đặt tên cho mọi thứ, gọi chúng là “bọt biển”.

Nằm giữa một miếng bọt biển ấy là một tập truyện ngắn mang tên A Certain Lucas xuất bản vào năm 1979. Năm 1984, nó được dịch sang tiếng Anh bởi dịch giả Gregory Rabassa. Trong đó chứa đựng những giai thoại cá nhân, những câu chuyện châm biếm, những bài giảng giả tạo, những tiểu phẩm phi lý hài hước… xoay quanh nhân vật chính chính là Lucas. Điều đặc biệt là không có cốt truyện chính nào ở đây cả.

Chẳng hạn, cuốn sách có một bài thơ feuilleton châm biếm về sinh thái học xuất hiện bên cạnh một truyện ngắn kiểu Poe về ngành vận chuyển xác chết ở Argentina những năm 1930. Không dừng ở đó, nó còn một câu chuyện về một nghệ sĩ piano có 26 ngón tay, tài năng đến mức thính giả phải đeo thêm tai để nghe anh ta chơi, trong khi một chương là một câu đố vỏn vẹn bốn dòng. Cũng không thể không thấy một bài châm biếm kiểu Swift [Jonathan Swift, tác giả của Gulliver du ký - ND] về một nhà hàng sang trọng ở Paris và một đề xuất theo chủ nghĩa Dada [1] về việc đổi mới môn bơi lội Olympic bằng cách thay nước bằng bột yến mạch.

Cortázar từng tuyên bố: "Một cuốn sách không gì hơn là khoảnh khắc mà tác giả hoàn thành một tập truyện, tập hợp chúng lại và gửi đi in". Với tác phẩm này, người ta có cảm giác cuốn sách chỉ là hình thức giữ chúng lại với nhau, trong khi điều thực chất nhất lại là tuổi tác cũng như quan điểm. Điều đó có thể chứng minh trong câu đầu tiên mở ra cuốn sách: "Giờ thì Lucas đã già cả rồi". Nó nghe như một nốt trầm buồn bao trùm lên mọi thứ theo sau. Khi xuất bản A Certain Lucas, Cortázar 65 tuổi và sẽ qua đời 5 năm sau đó vì bệnh bạch cầu.

Ở một trong những câu chuyện dài nhất và đẹp nhất, Lucas phải để vợ mình ở lại bệnh viện giữa đêm để tìm cho bà một chiếc váy ngủ. Khi đang lạc lối, ông tình cờ tìm thấy tòa nhà mà bản thân đã không gặp lại trong 20 năm và đột nhiên "nhìn thấy những câu thần chú, ngửi thấy sự thật” như tiên đoán trước kết cục rồi sẽ xảy ra. Bên cạnh đó cũng có câu chuyện nhẹ nhàng về một gia đình nghệ sĩ lạc lõng, và một trang hồi tưởng về những nghệ sĩ piano vĩ đại mà Lucas yêu mến. Trong truyện cuối - câu chuyện ngụ ngôn hài hước về một con ốc sên đi khắp thị trấn để tìm người yêu nhưng không bao giờ tìm thấy, ông đã kết hợp giữa sự kỳ quặc và u sầu theo cách gợi nhớ đến tác phẩm Alice ở xứ sở thần tiên của Lewis Carroll. Đó cũng là một cuốn sách vui nhộn khác về tuổi già.

Từ những điều trên, A Certain Lucas khó có thể được ca ngợi là một kiệt tác của Cortázar, nhưng nó hoàn toàn xứng đáng được trao giải thưởng “giống Cortázar nhất” hay “mang đậm tinh thần của Cortázar nhất” – một tác phẩm được sáng tạo từ tinh thần tự do, và ở một khía cạnh nào đó, đây là đóng góp vĩ đại nhất của ông cho văn học thế giới bên cạnh danh xưng như “tứ trụ” bên cạnh Marquez, Llosa, Fuentes cũng như kiệt tác mang tên Hopscotch.

Chú thích:

1. Chủ nghĩa Dada là một phong trào nghệ thuật và văn hóa tiên phong, ra đời ở Zurich, Thụy Sĩ vào năm 1916, trong bối cảnh Thế chiến I. Phong trào này mang tính phản kháng mạnh mẽ, bác bỏ các giá trị truyền thống của xã hội tư sản, chính trị và nghệ thuật đương thời. Đặc điểm chính của Dada là sự ngẫu nhiên, phi lý, châm biếm và có xu hướng "chống nghệ thuật".

1/12/2025

Trần Ngọc Tuấn

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Tìm hiểu đặc trưng truyện ngắn Nam Cao dưới góc nhìn thi pháp hiện đại

Khi đọc truyện ngắn hiện đại, điều nhiều người quan tâm là yếu tố nào làm nên sự khác biệt giữa các tác giả. Thực ra không phải chỉ ở đề tài, chủ đề, nội dung tư tưởng, ngôn ngữ hay bố cục, kết cấu tác phẩm..., mà là ở giọng văn/giọng điệu mới chủ yếu làm nên sự khu biệt về phong cách tác giả.

Với truyện ngắn hiện đại, giọng văn biến hóa và phong phú vô cùng. Nó làm nên phong cách nghệ thuật riêng của các tác giả. Điều này đã được nhà thi pháp học M.M.Bakhtin nói đến từ lâu trong cuốn “Lý luận và thi pháp tiểu thuyết” (Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, 1992): “Cái bản chất mâu thuẫn của xã hội đang hình thành vốn không thể chứa đựng được những ý thức độc thoại, trực quan, bình lặng, tự tin, cần phải thực hiện một cách gay gắt và đồng thời những đặc tính của thế giới va chạm vào nhau, bị mất thế cân bằng tin tưởng càng cần phải khắc họa đặc biệt đầy đặn và sắc nét. Những điều ấy đã tạo nên tiền đề khách quan cho sự đa bình diện, đa giọng điệu”. Và truyện Nam Cao trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 là một hiện tượng tiêu biểu cho điều này. Tính đa thanh, phức điệu của truyện ngắn Nam Cao thể hiện trên nhiều bình diện.

Lối kể chuyện bằng nhiều giọng điệu

Đa giọng điệu ở truyện Nam Cao trước hết là ở lối kể chuyện nhiều giọng. Nhà văn sử dụng một lối ngôn ngữ mang tính tạo hình và đa thanh. Ngôn ngữ đa thanh nhấn mạnh vào người khác, hướng về một tiếng nói khác, tiếng nói của tác giả hướng về tiếng nói của nhân vật, tiếng nói của nhân vật này hướng về tiếng nói của nhân vật khác. Các giọng này ở nhiều cấp độ: Giữa truyện với truyện; giữa các phần trong một truyện và nhỏ nhất là trong một đoạn của truyện. Tùy theo nội dung tư tưởng của từng truyện mà giọng chủ đạo nổi lên bên cạch các giọng khác. Chẳng hạn, một số truyện như: Lão Hạc, Từ ngày mẹ chết, Mua nhà, Dì Hảo… giọng nghiêm nghị thể hiện phẩm chất cao quý, tình mẫu tử, đức hy sinh của nhân vật qua sự trân trọng chân thật của người kể. Ngược lại, với những truyện như: Cái mặt không chơi được, Cười… giọng chủ đạo là hài hước, chua chát để kể về bộ mặt lạnh như nước đá, ngượng nghịu và vô duyên, những cảnh trớ trêu đành phải “cười trừ” vì cơm áo hàng ngày…

Sự đan cài giữa các giọng văn trong cùng một tác phẩm

Quán xuyến trong phần lớn các tác phẩm của Nam Cao là sự đan cài giữa các giọng trong cùng một tác phẩm, một đoạn văn. Chí Phèo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Cười, Quên điều độ, Những chuyện không muốn viết, Lang rận… là những truyện có tính chất này. Ở đoạn đầu của truyện Chí Phèo: “Hắn vừa đi vừa chửi… Thế thì có khổ hắn không?” ta thấy có sự đan xen giữa hai giọng: Giọng nhà văn và giọng Chí Phèo. Hoặc ở một đoạn khác, lúc Chí Phèo cầm vỏ chai đến nhà Bá Kiến lần đầu tiên: “Thôi thì cứ đóng cái cổng cho thật chặt… Mới ngoa ngoắt làm sao”. Phân tích đoạn này, ta thấy các giọng lần lượt sau: Giọng của các bà, giọng của tác giả, giọng của người láng giềng và cuối cùng là giọng Chí Phèo. Giọng điệu cả hai đoạn văn trên và rất nhiều đoạn khác thường khai thác dưới hình thức “song thanh khác phương hướng”. Giọng của người kể thường mang sắc thái trêu trọc, mỉa mai, biếm phỏng. Giọng trêu chọc của người kể chuyện cứ tăng dần từng nấc và đến lúc nào đấy, ngôn ngữ nhân vật bật ra dưới dạng thức một ngôn thoại trực tiếp. Chuyện hướng về nhân vật với tính chất đối thoại, nhưng gây ấn tượng mạnh ở chỗ nó cũng đang hướng về người đọc.

Trong loại “song thanh cùng phương hướng”, giọng của người kể và giọng của nhân vật hòa quyện đến mức không thể phân biệt được nữa. Ta bắt gặp ở một số truyện như: Giăng sáng, Điếu văn, Đời thừa… Xin trích đoạn sau đây trong truyện Trẻ con không được ăn thịt chó: “Bây giờ thì mọi thức đã xong rồi… Hắn lảm nhảm bênh vực cho cái dự định của hắn như thế mãi, tuy chẳng có ai phản đối”. Chúng ta thấy ngôn ngữ người kể chuyện xê dịch giữa hai thái cực: Giữa thứ ngôn ngữ thông báo khô khan, có tính chất văn bản (bây giờ thì mọi thức đã xong rồi) và ngôn từ của nhân vật. Khi ngôn từ người kể chuyện hướng về ngôn từ của nhân vật thì nó trình bày với giọng đồng tình, cảm thông (chẳng cần múc làm gì cho rếch bát… Ăn thịt chó chứ có phải ăn bát đâu mà cần). Hai thứ ngôn ngữ đó hòa làm một. Chứng tỏ lối kể của Nam Cao là lối kể không có “viễn ảnh” – nói theo thuật ngữ của nghệ thuật học. Người kể chuyện ở ngay cạnh nhân vật và biến cố đang xảy ra. Nam Cao đã “đa thanh hóa” giọng điệu tự sự, giọng tác giả và giọng nhân vật đan cài vào nhau, tiếng nói của tác giả và tiếng nói nhân vật phụ họa nhau, có khi tranh cãi nhau quyết liệt. Giọng căng thường được thể hiện bằng lối đặc tả, trong đó sự kiện diễn biến dồn dập trong một thời gian gấp gáp, cụ thể, những lời đối thoại gây kích thích hành động và luôn hàm chứa trong nó nhiều giọng điệu luân phiên nhau, có khi hòa hợp khó phân biệt giữa giọng kể và giọng nhân vật. Giọng chùng là những lúc hồi ức về một quá khứ xa vời, một hành động diễn ra chậm chạp, một chuỗi suy nghiệm tính toán, những cảnh gợi liên tưởng hơn là kích thích hành động. Thủ pháp tạo giọng thường là dùng câu dài với những điệp ngữ xoắn xuýt, những kết từ, liên từ và lối tăng cấp tiệm tiến. Chính chất giọng chùng và căng này đã làm cho tấm bi kịch của một số nhân vật của Nam Cao hiện lên hồn một (Giăng sáng, Đời thừa, Một bữa no…).

Đời sống và tiếng nói riêng của nhân vật tạo nên sự đa giọng điệu

Trong truyện ngắn của Nam Cao, nhân vật sống thật và có tiếng nói riêng. Nhân vật với đầy đủ bản chất của nó như sinh hoạt, tính cách, dị dạng, ngôn ngữ… là hình tượng trung tâm của truyện. Nhân vật không phải là khách thể của lời văn tác giả, mà là chủ nhân có toàn vẹn giá trị và toàn quyền về lời nói của mình. Sự độc đáo của Nam Cao trong tính chất đa giọng điệu là việc khắc họa nhân vật. Nhân vật trong sáng tác của Nam Cao được miêu tả một cách thực tế chứ không phải biểu hiện, tức là không hòa nhập làm một với tác giả, không trở thành “cái loa” cho tiếng nói của tác giả. Khi xây dựng nhân vật, Nam Cao không nhằm xây dựng một tính cách mà ông chủ yếu khắc họa một tư tưởng. Tư tưởng tiến hành một cuộc sống độc lập trong ý thức nhân vật. Không phải nhân vật sống mà tư tưởng sống. Nam Cao không miêu tả cuộc đời của nhân vật mà ông miêu tả cuộc đời của tư tưởng nhân vật đó (những Chí Phèo, Lão Hạc, Dì Hảo, Hộ, Điền…).

Nam Cao lấy sự phân tích tâm lý làm chính để xây dựng truyện, dựng nhân vật. Dù nhân vật là nông dân hay trí thức, kẻ lưu manh hay người lương thiện, ngòi bút của tác giả khơi gợi đến cái phần nhạy cảm, phần nghĩ của chúng, bắt chúng phải tự bộc lộ. Chính vì vậy mà nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao nhiều tư tưởng, đa giọng điệu. Thi pháp truyền thống, khi xây dựng nhân vật bao giờ cũng tuân theo những nguyên tắc đồng nhất giữa các mặt: Ngoại hình và phẩm hạnh, ngôn ngữ và tính nết, hành động và suy nghĩ… Nam Cao tiến hành ngược lại. Nhân vật của ông có thể bề ngoài xấu xí nhưng tâm hồn đẹp (mụ Lợi trong Lang Rận), tâm địa xấu xa nhưng được trang mã khá đẹp (Kha trong Truyện tình), có khi chỉ một phương diện tâm hồn vừa đẹp vừa xấu (Điền, Hộ…). Ông nhận thức con người với tính chất phức tạp không cùng của nó, và mô tả chúng theo nguyên tắc không đồng nhất.

Sự xung khắc về tư tưởng dẫn đến sự đa giọng điệu

Sự xung khắc về tư tưởng đã dẫn đến sự đa giọng trong hình tượng nhân vật. Hãy tưởng tượng ra một đoạn văn đối thoại giữa hai người, trong đó những câu đối đáp của người tiếp chuyện thứ hai bị bỏ trống, nhưng làm sao cho ý nghĩa chung không bị suy suyển. Người trò truyện thứ hai hiện diện vô hình và tiếng nói của anh ta cũng vô hình, nhưng dấu vết sâu sắc của người đó lại quy định tất cả những lời nói hữu hình của người trò chuyện thứ nhất. Có thể nói truyện của Nam Cao đầy những kiểu đối thoại với “nhân vật vô hình” như thế, cho nên trong mỗi lời của nhân vật không phải là một giọng mà là đa giọng, là đối thoại ngầm. Chúng ta có thể gặp trong Chí Phèo, Dì Hảo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Điếu văn, Giăng sáng, Đời thừa…

Chẳng hạn trong Điếu văn tác giả là nhân vật xưng “tôi” viết về người đã khuất trong đoạn văn sau: “Chao ôi! Giá anh đã được ăn bát chè kia!... Có lẽ nào như thế được?”. Nỗi xót xa, niềm cảm thương của tác giả ở đoạn văn này sở dĩ dâng lên đầy ứa đến không cùng là bởi có sự đan xen giữa các giọng và sự đối thoại giữa chúng khá lý thú. Thứ nhất là sự đối thoại giữa nhà văn và “nhân vật vô hình” (người đã khuất): Thể hiện giọng điệu chân thành thương cảm của nhà văn đối với người đã khuất đang nói đến. Thứ hai là đối thoại với “nhân vật vô hình” khác (nhân vật vô hình ở đây có thể là tình cảnh khốn cùng, một kẻ nào đó, cả vợ của người đã khuất): thể hiện giọng điệu bất đồng, phản kháng… Nhà nghiên cứu Trần Đăng Xuyền cho rằng “nhân vật vô hình chủ yếu chính là thời gian đã mất”. Điền (Giăng sáng), Hộ (Đời thừa)  thường quay về quá khứ với những hồi ức tốt đẹp của mình. Nhìn ra “con người vô hình”, đứng trên “con người vô hình” trong một số trường hợp để thấy được bản chất thật của mỗi nhân vật và bênh vực cho nó, đó là tính nhân đạo ẩn giấu ở bên trong sự cảm thông, xót xa, tuy rằng lớp vỏ bên ngoài là miệt thị, là đay mỉa…

Sử dụng thủ pháp bộc lộ nội tâm

Trong hầu hết các tác phẩm, Nam Cao sử dụng biện pháp bộc lộ nội tâm bằng chính dòng suy nghĩ và câu hỏi mà nhân vật đặt cho mình, tự vấn mình. Những câu hỏi đó chỉ đặt ra mà không trả lời. Những dấu hỏi thường đặt ra sau mỗi sự kiện, mỗi biến cố, trước mỗi hoàn cảnh. Điền (Giăng sáng) tự vấn: “Hắn xẻn từ đồng xu uống nước trở đi. Hắn chịu nhục với mọi người như thế bởi vì đâu? Chẳng phải vì vợ con ư? Vợ hắn có nên tệ với hắn không? Hắn hà tiện vì ai!”. Chí Phèo, Đời thừa, Một đám cưới, Xem bói, Điếu văn, Từ ngày mẹ chết… đầy ấp những câu hỏi có tính chất này.

Thật ra thì đây không phải là những câu hỏi đòi sự trả lời, mà trong bản thân đã hàm ý trả lời - tự chất vấn chính sự khẳng định của "nhân vật vắng mặt" đồng tình hoàn cảnh. Nhà thi pháp Nga M.M.Bakhtin cho rằng: "Ngay sự truyền đạt một khẳng định người khác dưới hình thức câu hỏi cũng dẫn đến xung đột của hai sự lý giải trong một từ. Bởi vì chúng ta không chỉ hỏi mà chúng ta còn xem sự khẳng định của người khác là có vấn đề”.

Thủ pháp viết câu chưa hoàn kết tạo nên nhân tố đa giọng điệu

Bên cạnh việc đặt câu hỏi, hình thức viết câu chưa hoàn kết trong truyện cũng tạo nên yếu tố đa giọng điệu. "Ở khắp nơi, nhất là những chỗ có chấm lửng, hình như có thể nghe được những câu đối đáp của người khác có thể dự kiến. Và những đoạn này có thể triển khai thêm dưới hình thức đối thoại. Nhưng ở đây phức tạp hơn. Nếu ở lời nói ra mang giọng điệu tranh luận với "người khác" thì ở đây lại có hai tiếng nói: một tiếng tự tin thái quá và một tiếng khác quá rụt rè, nhượng bộ tất cả, đầu hàng hoàn toàn”.

Đặc sắc về đa thanh, phức điệu của Nam Cao trùng với quan niệm trên. Không ở tác giả nào mà việc sử dụng dấu chấm lửng, viết câu chưa hoàn kết lại thể hiện rõ và nhiều như thế ở trong truyện ngắn Nam Cao. Chính vì sự đan xen các giọng đến mức tối đa, vừa hướng đến một sự hồi đáp, vừa kích thích gợi mở đối với nhân vật đối diện. Sự chồng chất các giọng, sự luân phiên các giọng như dòng suối chảy, nó trở thành một “đà quán tính” có tính chất quy luật mà khi viết những câu văn, đoạn văn đến đó buộc tác giả không thể dừng lại hoàn toàn. Âm vang của nó chưa dứt, những lời đối thoại đang còn và quan trọng nhất là tư tưởng của nó chưa hoàn kết. Tất cả đều nằm dưới hình thức thể hiện của dấu ba chấm (…). Chỉ cần thống kê truyện Lão Hạc thì đã có 14 đoạn có dấu ba chấm trong tổng số 21 đoạn của truyện. Trong 40 lời đối thoại thì có đến 17 câu dùng hình thức quãng trống này. Truyện ngắn Lão Hạc có giọng của ông Giáo và giọng của người thuật chuyện… Giọng người thuật chuyện đóng vai trò thứ yếu, mang sắc thái cảm thông, chia sẻ. Giọng nhân vật ông Giáo ngược lại, có trạng thái hơi ngỡ ngàng, bất đồng và ít nhiều miệt thị. Vì thế mà truyện ngắn Lão Hạc đượm tính nhân văn ngay cả những đoạn văn tưởng chừng như đang mạt hờn, khinh bạc…

Tính chất phức điệu về ngôn ngữ

Điểm cuối cùng là tính chất phức điệu về ngôn ngữ. Trong truyện ngắn Nam Cao, thành phần ngôn ngữ nhân vật không có những phương ngữ hay biệt ngữ thật nổi bật. Mặt khác, do quan tâm truyền đạt những dao động, những biến thiên của tâm lí, tâm trạng, nên Nam Cao tạo nên được một ngôn ngữ ít nhiều có tính chất phức điệu, tổ chức được những mạng lưới phức tạp gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong, ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ tự sự, ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật, có khi cả những đan xen, nhòe lẫn vào nhau của hai ngôn ngữ ấy. Điều này hoàn toàn khác với ngôn ngữ của các tác giả Tự lực văn đoàn. Họ như một chủ thể đưa ra một kiểu loại ngôn ngữ chuẩn mực, nhưng nó trở lên đơn điệu vì tất cả đều được phục vụ cho một “cái loa” tư tưởng, và càng đơn điệu hơn khi nó trở thành phổ biến. Vấn đề cũng khác với các tác giả Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng. Các tác giả này có xu thế “điều tra xã hội học” cho nên đưa lại thành phần ngôn ngữ nhân vật, nhất của các tầng lớp dưới đáy xã hội, đem lại cho ngôn ngữ tác phẩm những phong vị mới, chất lượng mới. Nhưng chính mang tính chất “điều tra xã hội học” này mà các tác giả khi miêu tả nhân vật, ngôn ngữ của họ thể hiện rất rõ, và điển hình cho một loại cá tính, một loại người trong giai cấp cụ thể.

Bảo rằng truyện Nam Cao gần như có đủ các chất liệu “hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lí và trữ tình, nghịch dị và nhàm tẻ, thô thám và chất thơ...”, thì đó chính là sự đa thanh, phức điệu theo cách chúng tôi trình bày ở trên. Những “gam” giọng này đan bện vào nhau, tạo thành một hòa âm tuyệt vời của phong cách truyện ngắn Nam Cao.

1/12/2025

Trần Ngọc Tuấn

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trên quê hương Đất Tổ

Phú Thọ - Đất Tổ Vua Hùng là miền đất cội nguồn của dân tộc Việt Nam, là nơi gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và nhiều di sản văn hoá đặc sắc. Bởi thế, hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trên quê hương Đất Tổ là việc làm hết sức có ý nghĩa, luôn được Đảng, chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp tỉnh quan tâm.

Nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lịch (áo đen giữa hàng thứ 2) sau buổi biểu diễn hát Xoan trình diễn tại Triển lãm di sản văn hóa và danh thắng Việt Nam tại Hải Phòng tháng 11.2025

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đã và đang được các nhà sử học, khảo cổ học, các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, nghiên cứu quan tâm. Đối với người Việt, Phú Thọ không chỉ là một địa danh địa lí mà còn là biểu tượng văn hoá - lịch sử. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, các di tích gắn với truyền thuyết dựng nước, lễ hội Đền Hùng hay các làn điệu dân ca như Hát Xoan, Hát Ghẹo đều là những thành tố bền vững của bản sắc dân tộc. Việc bảo tồn và phát huy những giá trị này mang ý nghĩa lớn lao, bảo vệ văn hóa Đất Tổ là bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận và vinh danh .

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trên quê hương Đất Tổ, trước hết, là giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, gìn giữ cội nguồn để thế hệ hôm nay hiểu được tổ tiên đã sinh sống, lao động và xây dựng quê hương đất nước như thế nào. Văn hoá chính là sợi dây liên kết các thế hệ, là điểm tựa tinh thần trong quá trình phát triển. Văn hoá còn có vai trò giáo dục truyền thống. Lễ hội Đền Hùng với tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” đã trở thành dịp để con cháu cả nước hướng về cội nguồn.

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba

Những di sản như Hát Xoan, hát Ghẹo không chỉ là nghệ thuật trình diễn mà còn là bài học về đạo lý làm người, về chữ TRUNG, chữ HIẾU… về sự gắn kết và cố kết cộng đồng; khiến cho đời sống tinh thần phát triển và niềm tự hào dân tộc được nhân lên

Không thể không tự hào khi Phú Thọ hiện có hai di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận: Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Để bảo tồn các di sản này, tỉnh đã mở rộng các câu lạc bộ dân ca, tổ chức lớp truyền dạy Hát Xoan cho thiếu nhi ở nhiều địa phương, đồng thời hỗ trợ nghệ nhân trong công tác đào tạo thế hệ kế cận.

Không thể không tự hào khi văn hoá truyền thống ngày nay còn đóng góp vào phát triển du lịch, từ đó thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương. Một Đất Tổ giàu bản sắc chính là nền tảng để Phú Thọ trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Đặc biệt vào dịp đầu năm, dịp lễ hội tri ân, tưởng nhớ các Vua Hùng. Trong nhiều năm qua, lãnh đạo tỉnh Phú Thọ đã triển khai nhiều hoạt động nhằm gìn giữ và lan toả các giá trị văn hoá truyền thống.Trước hết, công tác bảo tồn di tích lịch sử văn hoá. Khu Di tích lịch sử Đền Hùng,  Trung tâm văn hoá tâm linh của cả nước thường xuyên được trùng tu, bảo vệ, quản lý một cách khoa học. Các đền, chùa, lăng Hùng Vương được đầu tư sửa chữa, tôn tạo, nâng cấp hệ thống hạ tầng nhưng vẫn giữ nguyên nét cổ kính, tôn nghiêm. Bên cạnh đó, nhiều di tích khác như đền Mẫu Âu Cơ (Hạ Hòa cũ), đền Lăng Sương (Huyện Thanh Thủy cũ) và  đền Tam Giang (Thành phố Việt Trì cũ)… cũng được khảo sát, phục dựng, góp phần hoàn thiện bức tranh văn hoá cội nguồn trầm mặc, linh thiêng.

Cùng với đó, tỉnh đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng phong tục, lễ hội truyền thống ở các làng quê, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần và gắn kết cộng đồng và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Bên cạnh Hát Xoan, phong tục thờ Mẫu, hát Ghẹo, các trò diễn dân gian, nghi thức lễ hội truyền thống tại nhiều làng quê cũng được quan tâm bảo lưu. Tỉnh đã tổ chức công tác sưu tầm, số hoá và ghi chép lại các nghi lễ, các bài hát dân ca để lưu giữ lâu dài.

Không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn, Phú Thọ còn nỗ lực phát huy giá trị văn hoá trong thực tiễn đời sống. Phát huy giá trị văn hoá trong phát triển du lịch và đời sống hiện đại. Lễ hội Đền Hùng được tổ chức quy mô mỗi năm, kết hợp với nhiều hoạt động như hội trại văn hoá, trình diễn dân gian, triển lãm văn hoá, nghệ thuật, thu hút hàng triệu lượt du khách.

Phú Thọ còn chủ động tham gia các sự kiện giao lưu quốc tế, quảng bá văn hoá ra thế giới; giới thiệu Hát Xoan, trưng bày ảnh và tư liệu về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, qua đó nâng cao vị thế của văn hoá Đất Tổ trên bản đồ di sản nhân loại và hình ảnh Đất Tổ trở nên gần gũi, hấp dẫn hơn đối với du khách trong và ngoài nước.

Nhìn chung, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc ở Phú Thọ đã góp phần gìn giữ bản sắc Việt Nam, giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Bảo tồn văn hoá không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn của mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, những người sẽ tiếp tục viết tiếp lịch sử quê hương. Hưởng ứng những hoạt động ý nghĩa đó của tỉnh, Trung tâm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc tỉnh Phú Thọ, trong những năm qua đã triển khai khá nhiều hoạt động như biểu diễn văn hóa, văn nghệ các dân tộc; hội thảo khoa học, nghiên cứu đề tài khoa học; xuất bản tập san, viết nhiều bài nghiên cứu có giá trị đăng tải trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương. Bên cạnh đó là các hoạt động điền dã, tham quan, giao lưu, kết nghĩa … để hiểu sâu hơn về những di tích lịch sử trên quê hương Đất Tổ và các vùng lân cận, các tỉnh bạn, ngõ hầu trau dồi khả năng nghiên cứu, trau dồi tình cảm và niềm tự hào chính đáng với quê hương đất nước. Hoạt động để lại ấn tượng nhiều nhất trong nhũng năm qua là biêu diễn văn hóa, văn nghệ tại Đền Hùng vào dịp giỗ Tổ hàng năm. Được sự quan tâm và tạo điều kiện của lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; của Liên hiệp các Hội KHKT tỉnh, của các cơ quan chức năng có liên quan, hoạt động này đã đạt được những thành tựu đáng kể. Năm đầu tiên, quy mô chủ yếu gói gọn trên địa bàn tỉnh; những năm sau, có sự tham  gia của nhiều Trung tâm bạn và năm 2024 có 14 tỉnh, thành phố (tinh theo đơn vị hành chính cũ) tham gia biểu diễn. Buổi khai mạc đã đón được lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo ngành và nhiều nghệ nhân danh tiếng tham gia. Các tiết mục trình diễn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, đạt được kết quả tốt đẹp; để lại ấn tượng khá sâu sắc trong lòng độc giả và du khách thập phương. Khi đạo diễn, biên tập, trình diễn hoặc cổ vũ cho các tiết mục văn nghệ đặc sắc, mỗi nghệ sĩ luôn mang theo vào từng lời ca, điệu múa ý thức của công dân yêu nước, ý thức của những người con may mắn được sinh ra, lớn lên, làm việc, cống hiến  và làm đẹp cho quê hương Đất Tổ.

Tất cả các hoạt động của tỉnh nói chung và Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc nói riêng đều nhằm mục đích nâng cao, vun đắp và phát huy giá trị văn hóa của nét đẹp truyền thống quê hương. Những năm tiếp theo, chắc chắn tỉnh Phú Thọ tiếp tục thực hiện các họat động thiết thực, có ý nghĩa và giàu giá trị nhân văn như: Tôn trọng và thực hành các giá trị văn hoá truyền thống; tham gia giữ gìn di tích, góp phần xây dựng và bảo tồn môi trường văn hoá; tìm hiểu lịch sử quê hương, quảng bá mạnh mẽ các làn điệu dân ca, các phong tục đẹp và chủ động giới thiệu văn hoá Đất Tổ đến bạn bè trong và ngoài nước.

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc trên quê hương Đất Tổ không chỉ là gìn giữ quá khứ mà còn là gìn giữ linh hồn dân tộc, là nền tảng để Phú Thọ phát triển bền vững. Những di sản như Đền Hùng, Hát Xoan hay tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ thuộc về Phú Thọ mà thuộc về toàn thể người Việt Nam. Vì vậy, mỗi người hôm nay cần chung tay gìn giữ và lan toả, để bản sắc văn hoá Đất Tổ mãi mãi trường tồn, trở thành niềm tự hào của dân tộc trong quá trình hội nhập và phát triển.

2/12/2025

Đỗ Nguyên Thương

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

  Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chua ngọt một đời cầm bút Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, phối hợp cùng gia đình nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, vừa tổ ...