Chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam hiện đại
Bài viết này xin phép được tiếp tục trình bày một xu hướng vận
động chủ đạo của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam sau 1975: dân tộc hóa
ca khúc Việt Nam.
Xu hướng này hình thành từ những thập niên 50 của thế kỉ trước,
giúp âm nhạc dân gian vừa bảo tồn vừa phát triển mạnh mẽ, tạo ra những ca khúc
có sức sống bền lâu và có diện phủ sóng lớn như Xa khơi, Tiếng hát giữa rừng
Pác Bó (Nguyễn Tài Tuệ); Câu hò bên bến Hiền Lương (Hoàng Hiệp); Chiếc
khăn piêu (Doãn Nho); Quảng Bình quê ta ơi (Hoàng Vân); Mẹ
yêu con, Bài ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý); Bài ca dâng Bác (Trọng
Loan); Em về với người (Thế Nhân); Đợi (Huy Thục); Những
cô gái quan họ (Phó Đức Phương); Tiếng đàn bầu (Nguyễn Đình
Phúc, thơ Lữ Giang)...
Sau ngày đất nước thống nhất, xu hướng trên càng phát triển mạnh
mẽ. Các nhạc sĩ đã đẩy mạnh việc đưa chất liệu dân gian vào những ca khúc tân
nhạc và tạo ra nhiều thành tựu. Giờ đây, bên cạnh nhạc thính phòng, nhạc trẻ,
dòng nhạc mang âm hưởng dân gian ngày càng khẳng định chắc chắn vị trí trong nền
âm nhạc nước nhà, được đông đảo công chúng trong và ngoài nước yêu thích. Có thể
kể đến tác ca khúc tiêu biểu như Làng quan họ quê tôi (Nguyễn Trọng Tạo,
thơ Nguyễn Phan Hách, 1978); Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm (Trần
Hoàn, thơ Đỗ Quý Doãn, 1981); Đất nước lời ru (Văn Thành Nho, thơ
Nguyễn Khoa Điềm, 1984); Trở về dòng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp, thơ
Trương Nam Hương, 1984); Huyền thoại mẹ (Trịnh Công Sơn, 1985); Gửi
về quan họ (Đức Miêng, 1985); Sao em nỡ vội lấy chồng (Trần Tiến,
1990); Ca dao em và tôi (An Thuyên, 1993); Lời ru (Lê Minh,
những năm 90 của thế kỷ XX); Bài ca đất phương Nam (Lư Nhất Vũ, thơ
Lê Giang, 1997); Chảy đi sông ơi (Phó Đức Phương, 1997); Tình đất (Tuấn
Phương, 1998); Người ơi hãy về (Tuấn Phương, 2000); Quê em mùa
nước lũ (Tiến Luân, 2000); Khúc hát sông quê (Nguyễn Trọng Tạo,
2002); Khách đến chơi nhà (Lê Minh, 2005); Bà tôi (Nguyễn
Vĩnh Tiến, 2005); À í a (Lê Minh Sơn, 2005); Tìm em câu ví sông
Lam (A Páo, 2019), Tìm về (Tiến Minh, 2025); Phù Đổng Thiên
Vương (Hồ Hoài Anh, 2025)...
Trên thực tế, ca dao, tục ngữ được các nhạc sĩ sử dụng với tần
số lớn nhất trong ca khúc dân gian đương đại. Điều này xuất phát từ thành tựu về
ngôn ngữ của văn học dân gian chủ yếu tập trung ở mảng thơ ca. Mặt khác, tục ngữ
cô đọng hàm súc và giàu triết lí, còn ca dao là tiếng hát trái tim của người
lao động, rất giàu chất trữ tình và có nhạc tính cao. Ca dao chính là những bài
hát không có nhạc đệm, người xưa ngẫu hứng hát lên khi tức cảnh sinh tình. Sau
đó nhờ những người lao động có tâm hồn nghệ sĩ dày công trau chuốt, uốn nắn mà
mỗi miền quê lại có những khúc dân ca sâu lắng, ngọt ngào, mang màu sắc riêng.
Sự kết hợp chặt chẽ giữa nhạc và thơ đã nâng cánh cho những câu ca dao đẹp bay
xa hơn, đi sâu hơn vào những vùng khuất lấp trong trái tim và trở thành những
câu thơ trong trí nhớ con người.
Là văn hóa nội sinh, văn hóa bản địa, văn hóa dân gian nói
chung, ca dao, tục ngữ nói riêng luôn là nơi lưu giữ nhiều nhất những mã, những
cốt văn hóa truyền thống, thể hiện rõ nét bản sắc độc đáo của dân tộc Việt. Do
vậy để đổi mới và nâng cao tính dân tộc, các nhạc sĩ đã cố gắng vận dụng linh
hoạt, sáng tạo những chất liệu dân gian (đặc biệt những giá trị tinh hoa) vào
trong các ca khúc của mình.
Dễ nhận thấy nhất là việc dùng âm nhạc phương Tây để biến những
bài đồng dao thành những ca khúc thiếu nhi. Đồng dao chính là thể loại văn học,
dân gian dành riêng cho trẻ nhỏ, có ngôn từ mộc mạc, giai điệu đơn sơ, không có
những quãng cách xa, không có những âm vực rộng, dễ hát, dễ thuộc, được trẻ thơ
yêu thích vì cách cảm, cách nghĩ phù hợp với lối tư duy, phô diễn của các em.
Những năm 90 của thế kỷ XX, nhạc sĩ Phạm Tuyên là người vận dụng đồng dao để
sáng tác văn học cho thiếu nhi thành công nhất. Vị nhạc sĩ gạo cội của làng âm
nhạc Việt Nam đã có hàng loạt bài hát được các em yêu thích như Bà còng đi
chợ, Cái cò đi đón cơn mưa, Con chim chích chòe, Gánh gánh gồng gồng, Rềnh rềnh
ràng ràng...
Dĩ nhiên, để sáng tác ca khúc cho các lứa tuổi khác, việc tiếp
nhận tinh hoa của văn học dân gian đòi hỏi tinh tế hơn, sao cho những mã nghệ
thuật dân gian mang hồn cốt Việt phải hóa thân, phải hòa tan một cách nhuần nhụy
vào ca từ, giai điệu của từng câu hát.
Trên thực tế, những ca khúc trữ tình của dòng nhạc dân gian
có thể được hình thành trên cơ sở một ý tưởng trong thành ngữ dân gian (Gà trống
nuôi con - Lê Minh Sơn, Kẻ cắp bà già - Hoàng Thùy Linh); một biểu
tượng (Trầu cau - Phan Huỳnh Điểu, Con cò - Lưu Hà An); một gợi
ý từ nhân vật trong các câu chuyện cổ (Cô Tấm ngày nay - Ngọc Châu, Giọt
đàn Thạch Sanh - Tuấn Khanh); từ một làn điệu dân ca (Câu giã bạn -
Trọng Loan, Khách đến chơi nhà - Lê Minh); một câu tục ngữ, hay một
điển tích dân gian (Chú Cuội chơi trăng - An Thuyên, Vầng trăng cổ
tích - Phạm Đăng Khương; điển tích vọng phu trong Người đàn
bà hóa đá - Trần Lập, trong Vọng phu của Lê Minh, thơ Việt
Dũng)...
Những nhà soạn nhạc cũng có thể khéo léo cắt dán chất liệu
dân gian để đưa vào một vị trí nào đó như tên bài hát, mở đầu, ở giữa hay kết
thúc ca khúc. Qua khảo sát chúng tôi thấy, dân ca quan họ và hát ru được sử dụng
nhiều nhất và đạt hiệu quả thẩm mĩ lớn nhất trong ca khúc dân gian đương đại. Đặc
biệt là hát ru, thể loại đã góp phần sinh thành một dòng chảy sâu lắng mãi mãi
lưu dấu thời gian. Trước 1975 có Mẹ yêu con (Nguyễn Văn Tý), Lời
ru trên nương (Trần Hoàn, thơ Nguyễn Khoa Điềm), Địu con đi nhà trẻ (Đào
Ngọc Dung)... Sau 1975 là Lời mẹ ru (Trịnh Công Sơn), Câu hát mẹ
ru (Phạm Tuyên), Đất nước lời ru (Văn Thành Nho), Hát ru
người mẹ lính (An Thuyên), Lời ru Âu Lạc (Nguyễn Minh
Sơn), Tìm về lời ru (Đào Đăng Hoàn)... Chưa kể còn biết bao mảnh vỡ từ
lời ru của mẹ đã lặn sâu vào từng con chữ tạo nên trong lòng người những nỗi niềm
giăng mắc khôn nguôi. Bởi đó là khúc hát của tình mẫu tử, là dòng sữa mẹ thứ
hai nuôi dưỡng tâm hồn bé thơ khôn lớn nên người, là sợi dây thiêng liêng gắn kết
mỗi chúng ta với quê hương xứ sở. Xin hãy lắng nghe lời ca của một bài hát ru
thời hiện đại:
Ngậm lời ru mẹ ngày xưa
Bà đưa mẹ đến giấc trưa say nồng
Mà nay mẹ bế mẹ bồng
Mẹ ru con cả tấm lòng thương yêu
Lời ru bay bổng cánh diều
Thân cò lặn lội sớm chiều sang sông
Lời ru ai đó ngóng trông
Muốn về quê mẹ mà không có đò...
(Lời ru, nhạc Lê Minh, lời Hoàng Hạnh)
Trên cái nền hát ru mênh mang, sâu lắng, da diết buồn là tình
mẫu tử thiêng liêng, là hình ảnh thân cò lặn lội, là cánh diều tuổi thơ, là nỗi
niềm của người con gái lấy chồng xa nhớ mẹ, là nghĩa tình chồng vợ thủy chung,
là hình ảnh dòng sông bến nước con đò... Tất cả những trầm tích văn hóa từ một
chuỗi bài ca dao đồng loạt phát sáng tạo hiệu ứng lớn bất ngờ đã nối kết trái
tim bao thế hệ...
Có cả một hệ thống những ca khúc dân gian đương đại đạt chất
lượng cao được hình thành trên cơ sở việc chiết xuất tinh hoa văn hóa quan họ
nói chung và dân ca quan họ nói riêng mà một trong những nhạc phẩm xuất sắc nhất
là Làng quan họ quê tôi của Nguyễn Trọng Tạo (thơ Nguyễn Phan Hách).
Trong phút giây thăng hoa, phiêu bồng, người nghệ sĩ tinh tế và đa tài đã khéo
léo đưa được những giá trị tinh hoa mang hồn vía Kinh Bắc vào bài hát, nhờ thế
mà có được một giai phẩm tuyệt vời thấm đẫm hồn làng, hồn đất, khiến bao kẻ tha
hương nghe xong rưng rưng, nhất tâm những muốn tìm về: Làng quan họ quê
tôi/ Tháng Giêng mùa hát bội/ Những đêm trăng hát gọi/ Con sông Cầu làng bao
xanh/ Ngang lưng làng quan họ xanh xanh/ Làng quan họ quê tôi, những chiều bao
thương nhớ/ Tiếng ca đầu ngọn gió, nón quai thao nói gì người ơi/ Nón quai thao
như nói nói gì người ơi!…
Sau 1975, tác giả An Thuyên có một loạt tác phẩm xuất sắc nhờ
tựa trên những chất liệu dân gian: Ca dao em và tôi, Em chọn lối này, Cầu
thang chín bậc, Neo đậu bến quê… Lê Minh có Khách đến chơi nhà, Về hội
Lim, Lời ru (thơ Minh Hạnh). Đức Miêng có Gửi về quan họ, Trầu cau
quan họ, Chiếc nón ba tầm; Trần Tiến có Ngẫu hứng giao duyên, Trung Đức với Nhớ
về hội Lim; Nguyễn Chung với Tìm em trong chiều hội Lim, Minh Dương với Quan
họ anh về (thơ Nguyễn Thiện)… Hóa thân vào những khúc hát đương đại, các
chất liệu dân gian đồng loạt phát sáng tạo nên những giá trị mới làm cho người
nghe vừa thêm yêu mến quê hương, đất nước vừa được nâng cao nhạc cảm.
Tiêu biểu là Khách đến chơi nhà - nhạc Lê Minh, lời
Đỗ Việt Dũng. Nương vào bài quan họ cổ cùng tên, Khách đến chơi nhà cuốn
hút công chúng, có diện phủ sóng rất rộng chính là nhờ sự tích hợp khéo léo cả
một hệ thống chất liệu dân gian đắt giá: một không gian quan họ, một không khí
quan họ, một cảnh sắc quan họ... và một bầu khí quyển nên thơ của canh hát quan
họ với lề lối mời nước, mời trầu, với những làn điệu đã trở thành kinh điển: Khách
đến chơi nhà, Người ở đừng về, Ra ngõ mà trông, Qua cầu gió bay... Cùng
bao nhiêu giá trị văn hóa đặc sắc vùng Kinh Bắc, mà rộng hơn là cả một vùng văn
hóa Bắc Bộ: lòng hiếu khách, cách nói phong tình, buông lơi, tình tứ: rỗi hơi
ai lại phải lòng, người dưng nhớ người dưng... Rồi lối ăn mặc nền nã của người
gái ngoan quan họ: váy chùng cửa võng, áo tứ thân, khăn mỏ quạ và ánh mắt đắm
đuối thả thương thả nhớ tưởng vô tình mà rất đỗi hữu tình: Khách đến chơi
nhà rằng mấy khi khách đến chơi nhà/ Giót lời hát xuống chén trà mời nhau/ Để
anh say một miếng trầu dẫu rằng vẫn biết qua cầu gió bay/ Giá em đừng hát hay,
giá em đừng nền nã/ Đừng áo tứ thân, đừng khăn mỏ quạ/ Đừng nói câu người ơi
người ở đừng về? Trót buông ánh mắt ngập ngừng để người dưng nhớ người dưng thế
này/ Giá miếng trầu đừng cay/ Giá chén trà đừng chát/ Giá người ngoan đừng hát/
Thì dỗi hơi ai lại phải lòng để bây giờ ra ngõ ấy mấy trông ra ngõ mà trông…
Để viết về làng quê Việt thì không gì tối ưu bằng sử dụng chất
liệu dân gian. Điều đó cắt nghĩa vì sao nhiều tác giả thời kì Đổi mới như Trần
Tiến, An Thuyên, Lê Minh, Lê Minh Sơn, Nguyễn Vĩnh Tiến... đã rất thành công.
Theo Trần Tiến, nhiều bài hát của ông như Sao em nỡ vội lấy chồng, Thượng
đế buồn được làm theo “đơn đặt hàng” nhưng nhờ biết tựa vào văn hóa truyền
thống nên chúng không chỉ chiếm được tình cảm của đông đảo khán giả mà còn có sức
sống rất bền lâu.
Nếu Sao em nỡ vội lấy chồng được hoài thai nhờ gợi
ý từ câu ca dao Nam Bộ: Bướm vàng đậu trái mù u/ Lấy chồng càng sớm lời
ru càng buồn thì Thượng đế buồn lại được ra đời nhờ ánh sáng
toát ra từ câu tục ngữ Trời sinh voi, trời sinh cỏ, mà người nghệ sĩ tài
hoa thời đại hội nhập đã có được bằng con đường phản tiếp nhận. Chất liệu dân
gian như những viên quặng quý đã được những người nghệ sĩ cao tay tôi luyện, biến
thành những thỏi vàng ròng. Còn Trở về dòng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp,
thơ Trương Nam Hương, 1984) mang âm hưởng dân ca Nam Bộ. Với lối hát nhẹ nhàng,
mộc mạc, thủ thỉ như lời kể chuyện gợi nhớ những khúc hò ru, hò đưa em hoặc dân
ca ngũ cung... gợi về tình yêu quê hương, gợi về nỗi nhớ tuổi thơ bên dòng sông
quê hương êm đềm. Mà không hình thức nghệ thuật nào có sức lan tỏa lớn như âm
nhạc. Nhờ thế, những bài hát Việt giàu chất dân gian, giàu chất nhân văn có thể
bay cao, bay xa, giúp công chúng hiểu biết thêm về cái hay, cái đẹp và thắp lên
trong họ niềm tự hào về nền văn hóa dân tộc Việt ngàn đời.
Tìm em câu ví sông Lam của A Páo là một bài hát trữ tình
sâu lắng, ngọt ngào được khán thính giả yêu thích là nhờ dựa trên những làn điệu
dân ca xứ Nghệ. Bài hát gợi nhớ câu ví dặm về mối tình truyền kiếp lỡ làng - một
mô típ quen thuộc trong ca dao - dân ca Nghệ Tĩnh thuở nào: Anh đến tìm
hoa thì hoa đã nở/ Anh đến tìm đò thì đò đã sang sông. Đôi trai gái trong Tìm
em câu ví sông Lam cũng trao nhau thương nhớ, cũng thề thốt hẹn hò: Một
câu ví anh trao/ Nửa câu ví em thương/ Củ sắn củ khoai mồ hôi chát mặn/ Thương
anh rồi nhớ đợi nghe em… Nhưng khi chàng trai trở về thì người ấy đã sang
sông lấy chồng, khiến tình duyên đứt gánh, anh ngẩn ngơ một mình lặng lẽ đi tìm
câu ví sông Lam, mong thấy lại chút hương xưa…
Bài hát Tìm về mà tác giả Tiến Minh viết (2025) dành cho bộ phim truyền hình đình đám Cha tôi người ở lại lại hay ở một khía cạnh khác. Qua giọng hát ngọt ngào của nghệ sĩ ưu tú Thái Sơn, ca khúc càng trở nên vô cùng cuốn hút. Những câu dân ca (trong đó có hát ru) chứa chan tình mẹ, tình cha, tình người, tình đất, dường như đã đánh thức cả một vùng ký ức xanh trong bao trái tim tưởng đã ngủ quên, khiến những kẻ tha hương thổn thức và khao khát trở về: Theo câu dân ca tìm về/ Để lại thấy bóng quê cha ngồi/ Se gió rơi tiếng sáo diều thảnh thơi/ Hương lúa non mới lên đồng lả lơi/ Theo câu dân ca tìm về/ Theo yêu thương ta tìm về/ Tuổi thơ theo suốt dọc triền đê/ Ngẩn ngơ em hé nụ tình quê/ Ới a tìm về lời ru/ Năm canh trường mẹ ôm giấc ngủ/ À ơi ơi à/ Gió đưa la đà/ Vẫn đi theo những chặng đường con qua/ Bến sông con đò/ Vẫn đây trông chờ/ Nếu thương nhau tìm về bên nhau/ Nhé người.
Gần đây nhất, ngày 20/9/2025, ca sĩ trẻ Đức Phúc vừa giành giải
thưởng lớn tại cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision tổ chức ở Liên bang Nga với
bài Phù Đổng Thiên Vương. Bài hát được khơi nguồn từ truyền thuyết Thánh
Gióng - một trong 3 truyền thuyết đứng đầu kho tàng truyền thuyết Việt Nam
và lấy cảm hứng trực tiếp từ bài thơ Tre Việt Nam của nhà thơ Nguyễn
Duy.
Hóa thân vào các ca khúc trữ tình đương đại, chất liệu dân
gian được tái sinh tạo thêm những giá trị mới đã góp phần nuôi dưỡng và phát
triển nền âm nhạc dân tộc theo đúng định hướng tiên tiến và đậm đà bản sắc,
giúp cho các bài hát dân ca đương đại ca từ đã đẹp, giai điệu lại mềm như lụa,
có thể chạm vào đáy sâu tâm hồn biết bao người...
Như vậy, chính những bài hát đậm đà chất dân gian đã tích cực
góp phần nâng cao tính dân tộc cho nền âm nhạc Việt. Nhờ chất dân gian mà tân
nhạc - hình thức văn hóa có nguồn gốc phương Tây xa lạ đã được Việt hóa để thật
sự trở thành âm nhạc của Việt Nam.
Hướng vận động này một lần nữa khẳng định, muốn đi xa thì phải
trở về. Chúng ta chỉ có thể bằng nhân loại khi đi sâu vào tâm hồn của dân tộc
mình. Vì thế có thể nói rằng, trở về cội nguồn dân tộc đó chính bí quyết làm
nên thành công của dòng âm nhạc dân gian hiện đại. Để bảo tồn và phát huy vốn
âm nhạc dân gian cổ truyền, bên cạnh việc phổ biến rộng rãi những bài dân ca
truyền thống, hay đặt lời mới cho những làn điệu dân ca cổ, việc đưa chất liệu
dân gian vào các nhạc phẩm dân gian đương đại để làm mới chúng, chính là một hướng
đi thực sự hữu hiệu.
Cũng thuộc xu hướng đưa chất liệu dân gian vào các tác phẩm
âm nhạc đương đại, nhưng bài hát À Lôi - bản rap của Doble 2T và
Masew (2023) lại là một trường hợp có nhiều khác biệt. Tác phẩm từng gây bão
trên mạng xã hội bởi sự độc lạ. Tuy cũng đưa những yếu tố dân gian truyền thống
vào âm nhạc đương đại nhưng nếu các tác giả chọn thể loại nhạc quê hương, trữ
tình thì À Lôi chọn ráp - một thể loại rất tân kỳ mới du nhập vào Việt
Nam chưa lâu. À Lôi là một câu nói đặc trưng của dân tộc Tày nghĩa
là Hả, trời ơi, chỉ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng. Quả thật, hầu hết đều thấy
ngỡ ngàng, khi chứng kiến ca sĩ đọc rap trên nền nhạc sáo mèo, hòa cùng nhạc điện
tử. Còn nữa: trong MV ca dao, tục ngữ, tiếng dân tộc đứng chung với tiếng Anh,
lối nói hiện đại đứng cạnh lối nói bình dân, ca sĩ đọc rap trong trang phục dân
tộc, giữa phong cảnh miền núi phía Bắc đẹp đến nao lòng… Có thể nói, đây một hướng
tìm tòi, một thử nghiệm táo bạo. Bước đầu MV đã tức thời tạo được hiệu ứng lớn
(nhất là với giới trẻ). Song độ bền vững của nó còn phải chờ sự kiểm chứng của
thời gian…
Sau 50 năm kể từ ngày đất nước thống nhất (1975 - 2025), dòng âm nhạc dân gian đương đại phát triển rực rỡ với hàng loạt bài hát đã trở thành những khúc ca đi cùng năm tháng, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới nền âm nhạc nước nhà theo đúng định hướng: vừa nâng cao tính dân tộc, vừa đưa âm nhạc truyền thống gần hơn với giới trẻ và hội nhập ngày một sâu rộng vào dòng chảy chung của âm nhạc thế giới.
8/11/2025
Trần Thị Trâm
Nguồn: Báo Văn Nghệ
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/