Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

 

Đất rừng phương Nam - Trung thành hay không trung thành, hư cấu hay không hư cấu?

Mấy ngày qua, quan sát các ý kiến, các tranh luận trái chiều về bộ phim “Đất rừng Phương Nam”, tôi nhận thấy có mấy ý tranh luận như sau:

- Phim nên trung thành hay không trung thành với tác phẩm văn học?

- Phim nên hư cấu hay trung thành với bối cảnh lịch sử?

- Phim có hình ảnh người Hoa nổi bật hay hình ảnh người Nam bộ nổi bật?

Là một người nghiên cứu phim, tôi xin phép chia sẻ quan điểm của mình về những vấn đề này. Lẽ ra tôi chia sẻ điều này sớm hơn nhưng vì một vài lý do, tôi chọn chia sẻ “chậm một chút” dù tôi đã đi xem phim từ những suất chiếu sớm, trước khi phim có sự điều chỉnh như bản đang được chiếu rạp hiện nay. Tất cả những ý kiến dưới đây được đúc kết từ việc nghiên cứu của tôi và xin phép chỉ chia sẻ suy nghĩ của mình và không tranh luận. Mỗi chúng ta đều bình đẳng như nhau trong việc tiếp nhận một tác phẩm văn học, nghệ thuật. Do đó, tôi nghĩ mỗi khán giả đều có thể tự trải nghiệm việc xem phim và có những đánh giá riêng theo kinh nghiệm của từng người.

1. Phim cải biên là cải biên, không có chuyện trung thành hay không trung thành

Phim cải biên (tiếng anh là film adaptation) là thuật ngữ dùng để gọi tên các bộ phim lấy chất liệu từ các nguồn khác nhau: từ văn học, phim truyền hình, phim điện ảnh có trước, sự kiện có thật, nhân vật lịch sử… Do đó, tôi sử dụng một thuật ngữ duy nhất cho kiểu phim này là “cải biên”, không dùng thuật ngữ “chuyển thể” hay “phóng tác”. Đối tượng nghiên cứu của phim cải biên có cả phim remake, phim tiểu sử nên không thể dùng từ chuyển thể trong những trường hợp đó. Và ngay cả phim remake, khi được làm lại là đã có sự cải biên về bối cảnh.

Tôi đọc đâu đó thấy có ý kiến cho rằng, chuyển thể thì mới trung thành với nguyên tác còn lấy cảm hứng thì không cần. Theo tôi, không có bộ phim nào lấy chất liệu từ tác phẩm văn học có thể “trung thành” với tác phẩm văn học được vì mỗi loại hình nghệ thuật có ngôn ngữ riêng của nó. Điện ảnh, sân khấu, hội hoạ có những “quy tắc”, “đặc điểm” riêng để xử lý các chất liệu có trước. Một cuốn tiểu thuyết dài trung bình khoảng 300 trang thì không thể nào được xử lý đầy đủ trong một bộ phim điện ảnh có dung lượng khoảng 120 trang kịch bản được. Đó là chưa kể số lượng chữ trong 120 trang kịch bản ít hơn rất nhiều so với 120 trang tiểu thuyết.

Mỗi chúng ta đều là người đọc độc lập thì nhà làm phim cải biên trước hết cũng là người đọc. Khi là người đọc, mỗi người có một cách đọc khác nhau. Ví dụ, khi bạn đọc một tác phẩm văn học, bạn bị thu hút bởi câu chuyện của nhân vật A, thông điệp B nhưng nhà làm phim bị thu hút bởi câu chuyện của nhân vật C, thông điệp D thì họ sẽ tập trung khai thác vào câu chuyện của C và thông điệp D. Chúng ta không thể lấy cách đọc, cách hiểu của mình để chê hay phê phán cách đọc hay cách hiểu của người khác. Do đó, khi nghiên cứu phim cải biên, điều mà chúng ta cần quan tâm là tinh thần của tác phẩm văn chương được kể, được diễn giải ra sao trong tác phẩm điện ảnh. Tinh thần của tác phẩm văn chương là điều được gợi ra từ tác phẩm văn chương mà nhiều người đồng thuận bởi vì mỗi tác phẩm văn chương có thể gợi ra nhiều vấn đề khác nhau. Nhà làm phim có thể thay đổi, hư cấu nhưng người xem vẫn nhận ra nhà làm phim lấy chất liệu từ tác phẩm văn chương nào và việc cải biên của nhà làm phim nhằm mục đích gì.

Ví dụ, phim Loạn (Ran) của Kurosawa Akira, nhà làm phim thay đổi toàn bộ tên nhân vật, thậm chí cải biên vua Lear thành lãnh chúa người Nhật, đổi con gái vua Lear thành con trai… nhưng người xem đều nhận ra phim Loạn cải biên từ Vua Lear của Shakespeare. Điều quan trọng là tinh thần đối thoại của nhà làm phim với tác phẩm văn chương và tinh thần của tác phẩm văn chương được nhiều độc giả tán đồng khi đưa lên phim. Trong khi đó, có nhiều bộ phim cũng ghi là lấy chất liệu, cảm hứng từ tác phẩm văn chương nhưng ngoài tên nhân vật ra, người xem không thấy được tinh thần của tác phẩm văn chương thể hiện trên phim. Chẳng hạn, gần như không ai nói Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là câu chuyện về tình tay ba nhưng có phim lại xoáy sâu vào vấn đề đó khiến cho tinh thần của tác phẩm văn chương bị nhìn sai lệch, gây nên tranh cãi. Nếu bộ phim thay đổi tên của các nhân vật, không sử dụng tên của các nhân vật trong “Truyện Kiều" chắc chắn không ai nghĩ rằng phim lấy cảm hứng từ Truyện Kiều. Do đó, việc gây tranh cãi với những bộ phim lấy chất liệu từ văn học hay các sự kiện có thật, các nhân vật có thật không phải ở việc trung thành hay hư cấu mà ở tinh thần được truyền tải, tức là những vấn đề chung được nhiều người đồng thuận khi đọc tác phẩm văn học, khi tiếp cận các sự kiện có thật cũng như khi ấn tượng về một nhân vật lịch sử nào đó mà trong nghiên cứu, chúng tôi gọi là “ký ức tập thể”.

2. Sức mạnh của phim ảnh là góp phần kiến tạo ký ức tập thể cho cộng đồng

Năm 2017, bộ phim đoạt giải Oscar phim hoạt hình xuất sắc nhất đã đem đến cho khán giả một thông điệp sâu sắc về ký ức. Tên gọi “Coco” của phim không phải là tên của nhân vật chính mà là tên gọi của bà cố Miguel, người lưu giữ ký ức cuối cùng về ông cố tổ của gia tộc cậu bé. “Coco” cũng là hình ảnh ẩn dụ về một người lưu giữ ký ức tập thể. Nếu người đó chết đi hoặc mất trí nhớ, và không còn ai trong cộng đồng thế giới người sống lưu giữ ký ức đó thì nó sẽ bị xoá bỏ. Đó là lý do tại sao Hector, cha của Coco đứng trước nguy cơ bị tan biến hoàn toàn, khi ông đã ở thế giới người chết.

Cũng trong năm 2017, Hàn Quốc công chiếu bộ phim “Tiếng Anh là chuyện nhỏ” (I can speak) để công bố trước thế giới về một sự thật khủng khiếp khi người Nhật chiếm đóng Triều Tiên. Đó là ký ức “Nô lệ tình dục” của những người phụ nữ Triều Tiên bị ép phải phục vụ cho quân đội Nhật thời thế chiến thứ II. Những người phụ nữ này đang đứng trước nguy cơ biến mất theo quy luật sinh, lão, bệnh, tử hoặc chứng lãng quên của người già. Lịch sử có thể không đưa thông tin này vào sách hoặc nếu có cũng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả sự kiện. Do đó, để đoạn ký ức này được lưu lại một cách chân thực và sống động, khắc ghi đậm nét trong ký ức tập thể, kể cả những người chưa từng biết đến chiến tranh, các nhà làm phim đã sản xuất bộ phim “Tiếng Anh là chuyện nhỏ” như một diễn ngôn chính trị, xã hội dành cho cộng đồng người Hàn Quốc nói riêng và thế giới nói chung.

Những vấn đề liên quan đến ký ức cộng đồng được nhà xã hội học Émile Durkheim (1858–1917) bàn đến trong cuốn Những hình thức cơ bản của đời sống tôn giáo (Elementary Forms of the Religious Life, 1912). Tuy nhiên, phải đến năm 1925, thuật ngữ ‘ký ức tập thể’ (collective memory) mới xuất hiện lần đầu tiên trong công trình Những bộ khung xã hội của ký ức (The Social Frameworks of Memory) của Maurice Halbwachs (1877–1945), một học trò của Émile Durkheim. (1)

Ký ức tập thể theo khái niệm của Halbwachs là “tập hợp thông tin được tổ chức thành ký ức của hai hay nhiều thành viên của một nhóm được chia sẻ với nhau. Ký ức tập thể có thể được chia sẻ, được tiếp tục và được kiến tạo bởi những nhóm nhỏ và lớn.” (2) Theo Halbwachs, “cá nhân sẽ không thể nhớ lâu và liền mạch khi ở bên ngoài bối cảnh nhóm của họ”. (3) Chẳng hạn, những người nước ngoài sẽ biết đến chiến tranh Việt Nam như những thông tin mà họ đọc được từ sách lịch sử, còn người Việt Nam sẽ nhớ về chiến tranh Việt Nam nhờ những câu chuyện mà họ được nghe kể từ bố mẹ và bố mẹ họ được nghe kể từ ông bà…Và do đó, ký ức về chiến tranh Việt Nam ở người Việt Nam sẽ dai dẳng hơn, chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc hơn.

Điều này cũng có nghĩa là “những thành viên trong nhóm sẽ cung cấp chất liệu cho các cá nhân, khơi gợi cá nhân nhớ lại những sự kiện đặc biệt và quên đi những cái khác”. (4) Các nhà làm phim về vua Lý Thái Tổ đã dựng nên bộ phim hoạt hình “Người con của Rồng” để khơi gợi và kiến tạo ký ức cho trẻ em Việt Nam nói riêng và người Việt Nam nói chung về huyền thoại vua Lý Thái Tổ. Rõ ràng rằng, ký ức tập thể không nhất thiết phải là những sự kiện mà các cá nhân phải trải nghiệm qua hoặc được chứng kiến trong cộng đồng bởi nó là một dòng chảy liên tục trải qua các giai đoạn lịch sử, người giữ ký ức của nhóm này sẽ truyền lại cho nhóm sau. Vì vậy, “ký ức của một xã hội kéo dài bằng ký ức của các nhóm tạo ra nó. Không có căn bệnh hay sự lãnh đạm nào khiến nó quên đi nhiều sự kiện và nhân vật quan trọng trong quá khứ. Có chăng chỉ là những nhóm giữ ký ức dần biến mất mà thôi.” (5)

Như vậy, theo Halbwachs , ký ức tập thể sẽ rất khác với lịch sử bởi sự đa dạng và sinh động của nó. Lịch sử tập trung vào các sự kiện, thời gian, nơi chốn và thường hoàn kết khi chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Các nhà viết sử luôn tỏ ra khách quan khi cố gắng mô tả thật chi tiết các sự kiện và so sánh với lịch sử các nước khác. Lịch sử mà các sử gia muốn tạo ra là duy nhất bởi anh ta tin rằng quan điểm của mình không thuộc về bất kỳ nhóm nào, ở quá khứ lẫn hiện tại. Trong khi đó, cùng một sự kiện lịch sử có thể có nhiều ký ức tập thể của các nhóm cộng đồng khác nhau và trải dài liên tục theo thời gian.

Mặc dù thuật ngữ ký ức tập thể đã được đề xuất từ khá lâu nhưng những vận dụng nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn mới thực sự được chú ý gần đây. Nghiên cứu ký ức tập thể sẽ tập trung vào một bộ những hình ảnh, ý tưởng, cảm giác về quá khứ trong những nguồn mà các cá nhân có thể chia sẻ. Điều này có nghĩa là sách lịch sử hay phim ảnh đều có giá trị như nhau trong việc chia sẻ ký ức. (6)

Do đó, tôi không có thang đo nào để nói sự hư cấu trong “Đất rừng Phương Nam” nói riêng và trong các phim lịch sử hay lấy bối cảnh lịch sử nói chung bao nhiêu là đủ, bao nhiêu là sai lệch bối cảnh vì bản thân các sự kiện lịch sử cũng có những tranh cãi, nhiều góc nhìn, dẫn chứng, tư liệu. Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra hoạt động Thiên Địa hội, Nghĩa Hòa đoàn ở Nam Bộ với rất nhiều thông tin, tài liệu từ những nhà nghiên cứu uy tín. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những ý kiến cho rằng Thiên Địa hội có những dư âm. Vì vậy chúng ta cần nhận định bối cảnh lịch sử và các nhóm, hội, các nhân vật được bộ phim đưa ra có cần thiết trong việc truyền tải tinh thần của bộ phim hay không hay chính các nhà làm phim cũng vừa muốn hư cấu, vừa sợ sai lệch lịch sử nên đã dẫn đến xung đột trong cách kể chuyện của mình. Trong bài phỏng vấn trên báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh vào ngày 24 tháng 07 năm 2023 (tức là thời điểm phim chưa ra mắt) với tiêu đề "Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng Đất rừng phương Nam là 1 phép thử", đạo diễn Nguyễn Quang Dũng đã đề cập đến vấn đề này: “tính chính xác phải ở mức chấp nhận được, sai sót sẽ tạo cảm giác khó chịu, ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm của người xem. Tôi và êkíp tự ý thức được chuyện này. Trong suốt quá trình làm phim, êkíp đã tìm kiếm thông tin, đối chiếu hình ảnh lịch sử để phục dựng chính xác nhất.”

Còn biên kịch phim cũng từng nói rằng mục đích đưa các nhóm hội người Hoa vào là để cho thấy sự đa dạng của các nhóm hội yêu nước tại miền Nam thời bấy giờ và cho thấy hành trình yêu nước của cậu bé An, tạo ra con đường thống nhất cho chống Pháp về sau. Tôi không có ý kiến gì về quan điểm này. Tuy nhiên, trong thực tế khi bộ phim làm ra, khán giả vẫn thấy vai trò nổi bật của các nhóm người Hoa thông qua hình ảnh phục trang, thoại, lời thề… Đồng ý là thời kỳ đó có hội nhóm như vậy nhưng điều quan trọng là cần thận trọng trong việc xây dựng hình ảnh các nhóm hội như vậy trong phim vì chắc chắn những hình ảnh này sẽ tác động đến cảm xúc, tinh thần cho người xem hay nói cách sẽ tác động đến ký ức tập thể về hình ảnh Nam bộ cho khán giả.

Khi một tác phẩm văn học hay điện ảnh được đưa ra thì người sáng tạo hết vai trò hay “tác giả đã chết” như cách nói của Roland Barthes, vì vậy khán giả sẽ diễn giải tác phẩm nghệ thuật thông qua cách họ đọc hiểu văn bản. Tác giả không thể có mặt để nói thay cho khán giả. Khán giả sẽ căn cứ vào những gì họ nhận thấy trong phim và trong ký ức của mình để đánh giá tinh thần của bộ phim. Bộ phim gây tranh cãi là bởi vì khán giả nhận thấy sự nổi bật của người Hoa trong vai trò dẫn dắt các phong trào yêu nước thời bấy giờ, điều này xung đột với ký ức của họ về vùng đất Nam bộ chứ chưa cần nói đến lịch sử. Bên cạnh đó, căn tính Nam bộ của bộ phim cũng chưa rõ nên dễ bị những hình ảnh khác lấn át. Nếu đã hư cấu lịch sử thì cần phải nhất quán. Có nghĩa là có thể trong lịch sử có những hội nhóm như thế nhưng trong sáng tạo, nhà làm phim có quyền làm giảm vai trò của họ lại, làm nổi bật căn tính của con người Nam bộ lên chứ không nhất thiết vừa hư cấu vừa sợ sai lệch bối cảnh lịch sử.

Dù phim lấy chất liệu từ nguồn nào cũng sẽ có những tác động đến “ký ức tập thể” của khán giả. Vì vậy, không nên nghĩ rằng "tôi làm phim chỉ để giải trí" để có thể thoải mái đưa ra bất kỳ thông tin gì, hư cấu bất kỳ điều gì mà bỏ qua tác động của phim đối với ký ức của khán giả. Quyền lực của bộ phim rất lớn, nhất là những phim lấy chất liệu lịch sử. Do đó, nhà làm phim phải hết sức thận trọng vì ký ức tập thể đi cùng với căn tính cộng đồng. Ví dụ, trong “Đất rừng phương Nam" nhà làm phim muốn truyền tải tinh thần yêu nước và căn tính Nam bộ được thể hiện xuyên suốt từ tác phẩm văn học của nhà văn Đoàn Giỏi đến phim truyền hình “Đất phương Nam” của đạo diễn Vinh Sơn thì phải đẩy mạnh những yếu tố này trong phim sao cho phù hợp với ký ức của khán giả về tinh thần yêu nước và căn tính Nam bộ. Việc đẩy mạnh này có thể hư cấu lịch sử nhưng với ký ức cộng đồng thì lại được chấp nhận và thậm chí là được cổ vũ.

Thực ra người xem không quan tâm nhiều lắm đến việc sai lệch chi tiết, tình tiết mà họ quan tâm đến tinh thần của tác phẩm văn chương hoặc các sự kiện lịch sử được truyền tải hiệu quả chưa hơn. Nếu hình ảnh phim tạo ra xung đột với ký ức khán giả thì sẽ khiến khán giả tranh cãi. Tôi nghĩ vấn đề gây tranh cãi ở “Đất rừng phương Nam" không phải nằm ở tên gọi các nhóm hội nhóm người Hoa có chính xác không mà nằm ở hình ảnh người dân Nam bộ, vai trò của người Nam bộ trong kháng chiến và ở chất Nam bộ trong lòng khán giả. Căn tính của vùng đất Nam bộ được thể hiện trong phim trong phim xung đột với căn tính của vùng đất Nam bộ trong ký ức tập thể nên mới dẫn đến nhiều ý kiến trái chiều.

Tôi cho rằng, phim ảnh có vai trò rất lớn trong việc kiến tạo ‘ký ức tập thể cho cộng đồng’. Do đó, bên cạnh tìm hiểu lịch sử thì cần phải tìm hiểu ký ức tập thể của con người, vùng đất mình muốn khai thác. Nếu không rõ về ký ức của họ thì người xem cũng sẽ nhìn thấy sự không rõ ràng đó. Phải hiểu bối cảnh lịch sử, cảnh quan, việc khai thác bối cảnh lịch sử đó để làm gì.

3. Bối cảnh và cảnh quan không phải lúc nào cũng đồng nhất

Khi làm bất kỳ tác phẩm nào đều cần sự nghiên cứu cụ thể và sau khi nghiên cứu cần trả lời được câu hỏi tại sao tôi khai thác sự kiện lịch sử theo hướng này mà không chọn cách khác. Nếu không có chuyên gia tư vấn hoặc không nghiên cứu kỹ thì khi khán giả phản biện, nhà làm phim dễ rơi vào tình huống không có căn cứ để chứng minh cho mục đích của mình. Quan trọng là người làm phim phải nắm nhiều thông tin để khai thác sao cho phù hợp với phim. Sau khi tham khảo, nhận tư vấn của chuyên gia thì nhà làm phim sẽ là người quyết định bộ phim sẽ lựa chọn đi theo hướng nào.

Ví dụ trong nghiên cứu cảnh quan trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu có đưa ra hai thuật ngữ là “cảnh quan" (landscape) và “bối cảnh" (setting). Trong phim, nhà làm phim có quyền dựa vào cảnh quan để xây dựng bối cảnh. Bối cảnh được tạo ra theo mục đích của nhà làm phim còn cảnh quan thì có câu chuyện lịch sử, đời sống riêng của nó và phù hợp với ký ức tập thể của cộng đồng dù họ có xem phim hay không.

Nhiều bộ phim trên thế giới đã dùng sức mạnh điện ảnh trong việc kiến tạo ký ức tập thể để thay đổi ký ức về cảnh quan trong việc xây dựng lại bối cảnh trong phim. Ví dụ bộ phim Indochina (1992), xây dựng bối cảnh người Pháp tại Đông Dương đẹp đẽ nhưng trong ký ức tập thể của người dân Việt Nam, thực dân Pháp đã đô hộ, đã đánh đập, khai thác bóc lột người Việt Nam đến tận cùng. Khu rừng cao su trong Indochina là khu rừng của tình yêu nhưng trong ký ức của người Việt, đó là nơi “đi dễ khó về". Vì thế, nếu xem phim không tỉnh táo sẽ bị “những thứ đẹp đẽ” tác động đến điểm nhìn, khán giả bị tin theo. Điều này rất nguy hiểm.

Để tránh gây tranh cãi thì bối cảnh và cảnh quan cần có sự hỗ trợ để làm nổi bật vai trò của nhau. Chẳng hạn, vùng đất Nam bộ với hệ thống sông ngòi và thiên nhiên trù phú đã che chở người dân trong các cuộc kháng chiến như thế nào, đã đồng hành cùng người dân trong đời sống gian khổ của họ như thế nào, đã nuôi dưỡng những câu hò điệu lý để phát triển tâm hồn người dân như thế nào thì sẽ gây xúc động hơn. Nếu câu chuyện có sự hoà hợp giữa cảnh quan và bối cảnh thì sẽ dễ dàng thuyết phục khán giả.

4. Làm phim có cần phải nghiên cứu lịch sử nếu lịch sử có thể hư cấu?

Nhà làm phim cần hiểu lịch sử để biết cần làm gì cho sự hư cấu của mình, chứ không phải bám sát vào sự kiện lịch sử để cảm thấy bị gò bó sự sáng tạo. Khán giả không trông đợi việc bám sát lịch sử, mà chờ đợi mục đích của nhà làm phim, xem nhà làm phim nói gì từ sự kiện lịch sử đó. Ví dụ bộ phim “Cơ trưởng Sully", khán giả đâu quan tâm sự kiện phi công đã cứu sống toàn bộ hành khách khi đáp xuống sông Hudson ra sao vì những điều đó họ có thể đọc được trên báo chí, xem các cuộc phỏng vấn. Điều khiến họ muốn xem phim chính là tâm lý nhân vật, những vấn đề nhân văn đằng sau sự kiện ấy.

Phim ảnh, văn chương khác với lịch sử ở chỗ lịch chú trọng ghi chép sự việc xảy ra, theo góc nhìn của người chép sử, còn phim ảnh mượn sự kiện để nói đến vấn đề khác. Muốn học lịch sử thì cần tìm tài liệu nghiên cứu để đọc. Phim ảnh không lấy lịch sử để đưa đến sự kiện đó cho khán giả, mà mục đích là mượn lịch sử để nói điều gì đó về con người, tính nhân văn, tinh thần yêu nước hoặc những vấn đề phức tạp trong tâm lý nhân vật... Chúng ta có thể thoải mái hư cấu nhưng cần phải biết mục đích của việc hư cấu, đích đến của phim có làm khán giả động lòng, thỏa mãn, xúc động hay không và có phù hợp với ký ức tập thể về hình ảnh vùng đất, con người, câu chuyện…của vấn đề lịch sử chúng ta đang khai thác hay không.

Tôi nghĩ, qua trường hợp “Đất rừng Phương Nam”, giới làm phim vẫn nên cởi mở với sự sáng tạo của mình nhưng cần đội ngũ tư vấn về lịch sử: câu chuyện, sự kiện, lịch sử của những trang phục trong phim. Có những cái sẽ nghĩ đúng về mặt lịch sử nhưng không đúng về ‘căn tính dân tộc’, có thể làm liên tưởng đến những dân tộc khác. Phục trang trong phim cũng là vấn đề thú vị. Ví dụ trước đây, nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, có bộ phim dựa vào các tư liệu lịch sử để nói rằng phục trang trong phim hoàn toàn đúng lịch sử nhưng phim bị tẩy chay vì khán giả nhìn thấy phục trang trong phim không khác gì phục trang Trung Quốc. Trong khi đó, một bộ phim điện ảnh khác có sự điều chỉnh phục trang không đúng về mặt tư liệu lịch sử nhưng lại đúng về cảm nhận, ký ức của người Việt Nam về hình ảnh người Việt nên được đón nhận. Rõ ràng chúng ta sẽ thấy có sự mâu thuẫn giữa lịch sử và căn tính khi đưa lên phim.

Một ví dụ khác nhiều người biết là "Truyện kiều" của cụ Nguyễn Du lấy chất liệu từ Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Cho dù Cụ Nguyễn Du đề cập đến bối cảnh là thời nhà Minh nhưng nếu khi đưa Truyện Kiều lên sân khấu hoặc điện ảnh, các nhân vật đều mặc áo dài hoặc áo tấc, áo ngũ thân...nhưng chẳng ai phản đối. Trong khi đó, nếu để các nhân vật mặc phục trang nhà Minh có thể lại dẫn đến những tranh cãi dù có thể phim hợp với bối cảnh được miêu tả.

Như vậy, chúng ta cần để ý đến hình ảnh phim đưa đến công chúng thông qua phục trang ra sao. Trong ký ức tập thể, áo bà ba và khăn rằn phù hợp với “chất Nam bộ” được kiến tạo trong lòng công chúng. Tuy nhiên trong phim “Đất rừng phương Nam”, hình ảnh nút áo ngang xuất hiện quá nhiều qua các nhân vật không phải người Hoa như: bé An, Út Lục Lâm, bác Ba Phi…và thậm chí là lính Pháp nên khán giả không thấy được hình ảnh Nam bộ trong lòng họ. Nhiều người chứng minh áo nút ngang là của người Việt trước đây cũng dùng nhưng ít người chứng minh được nguồn gốc, ảnh hưởng. Điều gây tranh cãi không phải là áo đó người Việt có mặc hay không mà hình ảnh những chiếc áo trong phim khiến chúng ta liên tưởng đến người người Hoa nhiều hơn người Việt. Nếu chúng ta muốn bộ phim đậm chất Việt hơn thì có thể cải biên những yếu tố đó cho phù hợp với câu chuyện phim muốn truyền tải.

Sau khi có những tư vấn, nhà làm phim cần xác định mình muốn đưa đến điều gì, ‘ký ức tập thể’ gì cho cộng đồng, chứ không nên nghĩ ‘làm phim giải trí, hư cấu, vì vậy đừng nên tranh cãi những gì chúng tôi đưa ra’. Dù muốn dù không, nhà làm phim vẫn phải hiểu khi đưa một bộ phim đến khán giả, tác động của phim đến cộng đồng là rất lớn.

Nguồn tài liệu trích dẫn:

(1) Jeffrey K. Olick, Collective Memory, International Encyclopedia of The Social Sciences, 2nd edition, Tr.7-8

(2) Haim Weinberg, The Paradox of Internet Groups: Alone in the Presence of Virtual Others, tr. 143

(3) Jeffrey K. Olick, Collective Memory, International Encyclopedia of The Social Sciences, 2nd edition, Tr.7-8

(4) Jeffrey K. Olick, Collective Memory, International Encyclopedia of The Social Sciences, 2nd edition, Tr.7-8

(5) Maurice Halbwachs, The Collective Memory Reader, Oxford University Press, 2011, tr. 144

(6) Iwona Irwin Zarecka, Frames of Remembrance: The Dynamics of Collective Memory.

21/10/2023

Đào Lê Na

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Trương Nam Hương Tạ ơn Hà Nội trọn đời

Với Hà Nội, Trương Nam Hương đã viết, vẫn viết cho những đứa con xa đất Thủ đô, ngược dòng cảm xúc. Thơ về Hà Nội của ông là tiếng thơ khắc khoải, sóng luôn vỗ đến nao lòng.

Mặt hồ giữa phố như nghiên mực/ Sông thảo hoa văn một nét rồng/ Hoa sữa thơm nồng lên giấy điệp/ Bốn mùa thao thức tuổi rêu phong”. Chỉ với bốn câu thơ trong bài tứ tuyệt Bốn nét phác Hà Nội, Trương Nam Hương đã cho thấy sự khác biệt của một tài thơ.

Rủ nhau thăm cảnh Kiếm hồ/ Thăm cầu Thê Húc, thăm chùa Ngọc Sơn/ Đài Nghiên Tháp Bút chưa sờn/ Vì ai gây dựng nên non nước này”, (ca dao). Hồ Gươm, không chỉ là “lẵng hoa” giữa lòng Hà Nội, mà còn ôm vào mình biết bao huyền sử. Quần thể di tích hiện hữu cùng năm tháng minh chứng cho “kho báu” thiêng liêng ấy.

Trước khi vào Đền Ngọc Sơn (lúc đầu gọi là chùa, trên đảo Ngọc), ai chưa từng để ý tòa tháp ấy? Dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng ẩn dụ hoài bão lớn lao: “Tả Thanh thiên”, tức Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Ngọc Bội (tên cũ là núi Độc Tôn), bên hồ Hoàn Kiếm.

Trương Nam Hương tưởng tưởng ra Hồ Gươm như một “nghiên mực”. Đã có bút thì phải có mực mới viết được. Có hiểu bối cảnh lịch sử lúc cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (thường gọi là Thần Siêu), xây dựng vào năm 864 mới thấm ý nghĩa người xưa gửi gắm. Đó là khí phách Hà Nội.

Và nữa, đó là sông Hồng, với huyền sử Rồng bay lên. Hoa sữa – một thời là một trong những loài hoa đại diện cho tình yêu, đã đi vào bài hát Hoa Sữa của nhạc sỹ Hồng Đăng. Hà Nội là thơ, là âm nhạc, là hội họa, “Bốn mùa thao thức tuổi rêu phong”.

Viết về Hà Nội không dễ, viết ngắn về Hà Nội càng khó và để “nằm lòng” cùng thời gian, càng cực khó. Cố nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh từng nhắc đến yếu tố “may mắn” khi sáng tạo là ở điểm này. Thấu cảm Hà Nội và với tài thơ của mình, nhà thơ Trương Nam Hương mới có được thi phẩm Bốn nét phác Hà Nội.

Trương Nam Hương có bố người Huế, mẹ Bắc Ninh, tuổi thơ gắn bó với Hà Nội. Sau thời gian ngắn ở Huế, Biên Hòa, gia đình ông định cư tại TP. Hồ Chí Minh: “Ruổi rong khắp bốn phương trời/ Câu thơ hành khất theo người hành hương/ Ta gom nhặt giữa đời thường/ Nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của cha”, (Câu thơ ngày về).

Do vậy, trong thơ Trương Nam Hương có ngọt ngào Kinh Bắc; thâm trầm cố đô Huế; hào hoa, thanh lịch Hà Nội; hào sảng, cưu mang của đất phương Nam. “Trong tôi có chút sâu đằm/ của Kinh Bắc với thâm trầm Cố đô/ sông Hồng hắt đỏ lên thơ/ tôi buông lục bát xanh bờ Hương Giang”, (Gửi hai dòng sông quê).

Trương Nam Hương “thờ phụng” Hà Nội như thờ phụng một linh hồn. Trương Nam Hương viết khá nhiều về Hà Nội, tình cảm, tâm thế của ông thuộc về Hà Nội. Có thể kể đến Trăng phố, Hà Nội một thời, Mùa xanh, Hà Nội anh về, Viết ở Nghi Tàm, Rơm rạ một thời tôi, Lộc vừng Hồ Gươm, Với sông Hồng, Ký ức phố, Góc nhớ Hà Nội...Có thể nói, Hà Nội “ám ảnh” trong tâm hồn thơ ông.

Trương Nam Hương sống ở Hà Nội vào thời kỳ đất nước chưa thống nhất, cuộc sống biết bao gian khó: “Một thời Hà Nội lo toan/ Gạo ngô thì thiếu, hoa xoan lại thừa/ Một thời. Ôi, một - thời – xưa/ Áo phong phanh gió bốn mùa buồn vui”, (Hà Nội một thời)

Nhưng ta vẫn gặp một Hà Nội bình yên, thân thương và rộng lượng. “Nhớ Hà Nội những đêm báo động/ Mặc bom rung dế vẫn gáy trong hầm/ Hoa sữa còn thơm, biết mình còn sống/ Mẹ khóc thầm trong giá rét căm căm”, (Thành phố tuổi thơ tôi).

Đến bây giờ Trương Nam Hương vẫn chưa quên những niềm vui trẻ con, chọc bàng chín, nhảy tàu điện ra Bờ Hồ xem chợ Tết, dỏng tai nghe hát xẩm....Đó là một phần ký ức.
Những quả sấu giòn rơi trưa tháng sáu
Hà Nội ơi nhớ quá tuổi lên mười
Ta nhón nhẩy bước cào cào châu chấu
Suối ve trào vòm phượng - nắp vung sôi

(Thành phố tuổi thơ)
Năm 1985, Trương Nam Hương trở lại Hà Nội lần đầu, anh xúc động: “Anh xa đất Bắc mười năm/ Tay em Hà Nội xin cầm hơi lâu/ Hỏi mùa hoa sữa đi đâu/ Câu thơ ngồi khóc, mắt nâu lại buồn”, (Chiều Hà Nội và em). Và thổn thức: “Ly kem Thủy Tạ mười năm trước/ Còn mãi thơm tho đến tận giờ/ Anh đứng bên kia cầu Thê Húc/ Nhìn áo em hồng nắng lấp lơ… “, (Nhớ mùa Đông Hà Nội).

Người ta đã từng tổ chức rất nhiều triểm lãm về Hà Nội, như “Triển lãm Hà Nội những năm đầu thế kỷ 19” (năm 2018), “Hoài niệm Hà Nội phố” (năm 2018), “Xưa và Nay, đổi thay đường phố Hà Nội” (năm 2023)....; đặc biệt, các triển lãm “Thương nhớ thời bao cấp" (năm 2018), "Ký ức Hà Nội" (năm 2018), “Hà Nội 1972 – Khát vọng hòa bình” (năm 2022), "Hà Nội 1967 - 1975" (năm 2023 của nhiếp ảnh gia người Đức Thomas Billhardt)... Tất cả những hình ảnh đó có trong bài thơ Hà Nội một thời của Trương Nam Hương.
Một thời Hà Nội hiên ngang
Giữa bom rơi. Hứng quả bàng chín rơi
Một thời Hà Nội cùng tôi
Mũ rơm, lọ mực, nếp xôi đến trường
Một thời Hà Nội thảo thương
Sẻ chia lát đậu, thìa đường, mớ rau
Một thời Hà Nội buốt đau
Khâm Thiên trắng xót mái đầu khăn tang

(Hà Nội một thời)
Đó là một thời lung liêng trong tâm hồn thơ Trương Nam Hương. Ông sống cùng gian khó mà tự hào, kiêu hãnh...Đến bây giờ, Trương Nam Hương vẫn “Tạ ơn Hà Nội trọn đời/ Nuôi tôi thương khó. Tôi thời trong veo”, (Hà Nội một thời). “Chỉ sông Hồng thương mẹ hát đơn côi/ Phù sa đỏ như miếng trầu mẹ quyệt/ Ăn hạt gạo mãi giờ con mới biết/ Có sông và đời mẹ ở bên trong”, (Với sông Hồng).

Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây... có vị trí “đặc biệt” trong thơ Trương Nam Hương; đó là không gian nghệ thuật trong thơ ông. Nhìn sương khói Hồ Hoàn Kiếm ông lặng nhớ về tuổi thơ, về mẹ của mình: “Nhớ lặng thầm thôi không dám gọi/ Sợ làm tóc mẹ giật mình rơi/ Bao nhiêu sợi trắng dâng như khói/ thảng mặt Hồ Gươm lạnh bốc hơi”, (Nhớ mùa Đông Hà Nội). Và ông bồi hồi: “Anh ra đền Ngọc Sơn ngồi/ Là si lựa chỗ không người để gieo”, (Viết ở Hồ Gươm).

Hồ Gươm hiện lên trong thơ ông với một lời mời: “Lên cầu Thê Húc đi em/ Nhớ thăm thẳm nhớ một đêm gió lùa/ Rễ si rét đến run mùa/ Môi em đào nụ giao thừa - Mùa Xuân”, (Lời mời đêm giao thừa).

Còn đây là những câu thơ tình anh viết ở Hồ Tây: “Bao tình nhân đến Hồ Tây/ Khéo thôi kẻo dẫm dấu giày anh xưa/ Áo lưng lửng lẳn eo mùa/ Thun thăn váy lá bỏ bùa ai đây”, (Trăng phố). “Mùa hư ảo hay tình em ảo thế/ Anh xoay ngang khẽ chạm sóng Tây Hồ/ Có ánh mắt nhìn anh qua thế kỷ/ Thấy anh giờ dắt nhớ tuổi anh xưa!”, (Góc nhớ Hà Nội).

Tài thơ Trương Nam Hương bộc lộ từ sớm. Khi mới ngoài 20 tuổi Trương Nam Hương đã xuất bản Khúc hát người xa xứ, (NXB Trẻ, 1990) và cho đến nay ông đã có 12 tác phẩm. Về thành tựu, Trương Nam Hương đã có 10 giải thưởng; giải nào cũng danh giá, nhưng phải kể đến Giải thưởng Văn nghệ Quân đội (1989-1990) và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, (năm 1991), nhiều giải thưởng của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và các giải thưởng khác.

Về đề tài Hà Nội, ông đã đạt Giải Nhất Cuộc thi thơ Thăng Long - Hà Nội, trái tim tôi, của báo Sài Gòn Giải phóng (năm 2010), nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Có thể nói thế này, nếu thi ca là một “tôn giáo” thì Trương Nam Hương từ lâu đã được chọn là một tông đồ. Ngoài thơ và dịch thơ, ông không “sân si” một lĩnh vực nào khác. Dẫu “thế giới xô lệch” và văn chương đang “bươn bả” với nhiều xu hướng, phong cách nhưng Trương Nam Hương vẫn vậy, bình thản, thánh thiện. Ông tiếp tục sáng tạo thi ca những gì thuộc về nhân bản.

Nhớ xưa Hà Nội anh về/ Gặp Thu môi cốm váy xòe heo may”, (Hà Nội anh về). Với Hà Nội, Trương Nam Hương đã viết, vẫn viết cho những đứa con xa đất Thủ đô, ngược dòng cảm xúc. Thơ về Hà Nội của ông là tiếng thơ khắc khoải, sóng luôn vỗ đến nao lòng.

Khi tôi viết những dòng này, Hà Nội vào Thu. Dù tròn “lục thập hoa giáp” nhưng trái tim Trương Nam Hương vẫn dào dạt, trẻ trung lắm. Hà Nội vẫn chờ Hương đấy!.

21/10/2023

Ngô Đức Hành

Nguồn: https://vlr.vn/

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Ngọn gió lành đã gặp giữa chiêm bao

Không chủ đích làm thơ, và càng không có ý định tìm kiếm bất kỳ danh vọng gì ở thơ, Phan Nhật Tiến bắt gặp thi ca thật tình cờ như một run rủi của số phận. Chính ông cũng không ngờ, khi chậm rãi năm tháng hoàng hôn kiếp người, thơ lại trở thành một văn bản vui buồn cho đời ông.

Nói cách khác, những vần điệu ngỡ chừng bơ vơ và lạc lõng trong vài cuốn sổ tay nhuốm bụi thời gian, bỗng giúp ông thức dậy nhiều kỷ niệm và hồi sinh nhiều rung động, mà tập thơ “Mỏm đá đợi trăng” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ấn hành có thể xem như một ví dụ.

Phan Nhật Tiến vốn là một người lính. Bom đạn của chiến tranh, không khiến ông sợ hãi. Bôn ba của hòa bình, cũng không khiến ông chùn chân. Tất cả gian nan chỉ giống như thử thách trên hành trình ung dung và độ lượng, để ông thốt lên: “Ngồi bên nhau ôn lại khoảng đời/ Ánh điện đọng nơi vết sờn vai áo/ Chén cơm thơm nhớ về hạt gạo/ Bao người đi cho một bước chân về”.

Nghĩ đi rồi nghĩ lại, thấy duyên nợ chữ nghĩa rất khó đoán. Có người chăm chú từ trai trẻ mà đến tuổi già lại xa lạ với thi ca. Ngược lại, có người thời trai trẻ không vương vấn gì mà tuổi già lại được thi ca nâng đỡ. Đấy cũng là một thứ phúc phần, được giải bày với âu lo, được chia sẻ với ngậm ngùi, được tương tác với xa xôi. Phan Nhật Tiến mang tâm trạng như vậy để đánh cược cùng trái tim mình bằng những khoảnh khắc “Bến đợi em vời vợi câu chờ”.

Cảm hứng trong thơ Phan Nhật Tiến hầu hết là cảm hứng bất chợt. Cảm hứng chóng đến và mau tan, vì vậy anh luôn chộp lấy để nắc nỏm trước cảnh vật vừa chứng kiến “Vén trời thi sĩ tìm thơ/ Tím chiều mỏm đá đợi chờ trăng lên” và bịn rịn trước cơn mưa khó đoán định “Giọt nào rưng rức nỗi mình/ Đợi trăng về vịn mối tình xa xưa”.

Khi đã chấp nhận thơ giăng mắc lòng mình, thì nỗi xao xuyến bỗng thành nỗi dày vò, thì niềm bâng khuâng bỗng thành niềm xao xác. Phút giây thoáng qua đôi khi gửi lại những lắng đọng khôn nguôi “Nơi đặt nôi xưa tôi ngồi nghe yên lặng/ Mưa dầm dề qua mắt mẹ ngấm hồn đau” và cả những ý nghĩ tinh quái “Có phải sợ nắng phai sắc má/ Mà em đội nón ở trong nhà?”.

Trong dặm dài thương khó sinh tồn, có ước mơ sương khói và cũng có gửi gắm mây bay. Gắng gượng níu giữ mộng mị dĩ vãng, không khác gì nhiệm vụ bất khả thi. Cho nên, Phan Nhật Tiến học cách tự tại hơn sau những rung lắc nhịp sống hiện đại “Như bài thơ không chắp nổi vần/ Cứ ẩn hiện bao hình cắt nối/ Có những âm thanh thoảng như tiếng gọi/ Đánh lừa anh trong giấc ngủ nồng” và bình thản hơn sau những xô lệch được mất trần gian “Giơ tay níu lấy câu kinh/ Vịn vào tiếng mõ mong mình thoát ra”.

Thơ Phan Nhật Tiến dung dị như chính ông, nép mình lại để nhớ nhung “Sóng lay tình cũ dâng trào/ Tóc hương em thả tôi vào bến mơ” và thu mình lại để ân cần “Ấm lòng nhau lúc mưa nặng hạt/ Em hóa ngọn gió lành anh gặp giữa chiêm bao”. Đó là một lối đi của thi ca, một lối đi chân thành với bản thân.

23/10/2023

Lê Thiếu Nhơn

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Lê Thị Kim và khoảng sân sau bí ẩn của thơ

Được xem là gương mặt tiêu biểu của văn chương TP.HCM trưởng thành sau ngày đất nước thống nhất, Lê Thị Kim đã ghi dấu ấn trong nhiều tác phẩm. Vừa qua, Hội Nhà văn TP.HCM đã tổ chức tọa đàm Nhà thơ Lê Thị Kim - Sâu thẳm tình đầy, để tôn vinh và tri ân chị.

Tại buổi tọa đàm, nhiều thế hệ cầm bút phương Nam đã đến chung vui với Lê Thị Kim, để cùng nhìn lại hành trình sáng tạo của người đàn bà tài hoa và lận đận, nhưng luôn giữ được nguồn năng lượng tin yêu cuộc đời.

Các tác phẩm của Lê Thị Kim: Thành phố tháng Tư (thơ, in chung với Nguyễn Nhật Ánh, 1986), Khi tình yêu đến (thơ, 1988), Đóa quỳ hư ảo (thơ, 1991), Sương bụi tình yêu (thơ, 1997), Em lạc đâu sao kim (thơ/họa, 2020)…

Níu thơ ca và hội họa để không bị quỵ ngã

Nhà thơ - họa sĩ Lê Thị Kim tên thật là Lê Thị Ngà, sinh năm 1950, tại Thanh Hóa, trong một gia đình gia giáo, coi trọng học hành. Tố chất nghệ sĩ của người cha đã ảnh hưởng rất nhiều đến chị trong sáng tác thi ca lẫn hội hoạ. Cha của chị là người hướng các con đi tới nơi tới chốn trên con đường học hành.  

Chị luôn tự hào khi nói về cha mình: "Sinh thời, tuy là giáo viên dạy toán và Pháp văn, nhưng cha tôi là người rất yêu thơ và hội họa. Ông từng có nhiều bài thơ viết trong sổ tay và là tác giả của nhiều bức tranh. Chính ông là người đã hướng tôi đến với văn chương ngay từ khi còn thơ ấu. Tôi nghĩ, thơ chính là vỏ ốc để trú ẩn giữa sóng gió của cuộc đời, là khoảng sân sau bí ẩn để cất giấu kỷ niệm và sống với những ký ức giàu yêu thương, là chỗ để tìm lại chính mình, lắng nghe lòng mình để bước tiếp những bước đi của cuộc đời"

Hơn 40 năm làm thơ, chị có 4 tập thơ riêng. Con số không nhiều, nhưng nhắc đến tên tuổi chị hầu như ít độc giả yêu thơ nào không biết. Câu thơ tình nổi tiếng của chị được rất nhiều cô gái tuổi đang yêu chép vào trang sổ: "Đừng nhìn em như thế/ Cháy lòng em còn gì/ Sự nồng nàn của bể/ Cuốn mất lòng em đi...". Bài thơ được nhiều nhạc sĩ cùng phổ nhạc. Trong năm 1980, chị được tặng thưởng thơ hay báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) cho 3 bài thơ được giới sinh viên thời đó rất thích: Thu, Vòm me mùa Hạ, Tôi và cỏ.

Nhà văn Lại Văn Long chia sẻ, không nhiều người biết rằng bên cạnh những thành công rực rỡ về nghệ thuật, khoa học hoặc kinh doanh, Lê Thị Kim là một số phận chịu nhiều thử thách. Người phụ nữ xinh xắn, nhỏ nhẹ, khiêm nhường... với những sáng tác thơ lẫn họa tưởng chừng mong manh ấy lại có ý chí vượt khó đáng khâm phục, một Lê Thị Kim sâu thẳm tình đầy.

Trước khi là nhà thơ, Lê Thị Kim từng là kỹ sư hóa học. Số phận đặt chị vào hoàn cảnh mẹ góa con thơ khi người chồng sớm ra đi, chị níu vào thơ ca, hội họa để không bị quỵ ngã. Chị phải đứng dậy để nuôi con.

Có một dạo, thơ Lê Thị Kim viết đầy chua xót, đớn đau: "Vì con đi hết đường này/ thôi đành phận số cát bay đá mòn/ mẹ như một cánh lá non/ khi cha bặt vắng mẹ còn hư vô/ vì con mẹ phải tự ru/ thôi thì ráng nốt kiếp hư vô này". Chị gửi hết những yếu đuối, đớn đau vào thơ để mạnh mẽ nuôi con.

Hai con trai của chị, con đầu hưởng gen tháo vát kinh doanh, con trai hưởng gen nghệ thuật. Lớn lên cùng tình yêu thơ ca, hội họa của mẹ, Nguyễn Trọng Hiếu vẽ và có nhiều tranh được các nhà sưu tập chọn mua. Hiếu bị yếu chân từ nhỏ, phải chống nạng, làm mọi việc đều khó khăn hơn bình thường, nhưng vẫn dành nhiều thười gian vẽ tranh, bán tranh, làm từ thiện, cùng mẹ chia sẻ với những phận đời bất hạnh.

Thơ sao tranh vậy

Thơ Lê Thị Kim ngọt ngào, tỏa được cái chất ôn hòa vốn có. Tranh của chị lãng mạn, điệu đà và ấm áp như chính tính cách - dù qua lắm phen bị dập vùi, vẫn không thay đổi. Bản chất dịu dàng trời cho đã giúp Lê Thị Kim có được cái nhìn thiện cảm, tích cực nhất với những gì chị chạm vào.

Nhà thơ Bùi Phan Thảo (Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP.HCM) nhận xét: "Thơ Lê Thị Kim luôn giữ nét đài các, giọng thơ nhẹ nhàng mà duyên dáng, ngôn từ ngọt ngào. Thơ của chị luôn phảng phất nỗi buồn và nỗi buồn của Lê Thị Kim là do đời đem đến, không cần làm dáng vẫn nên thơ. Chính nét dịu dàng, sự đằm sâu cũng là một tố chất để nâng đỡ chị trong đời, trong thơ, để chị đầy bản lĩnh sống và nhìn đời với đôi mắt trong veo".

Với tư cách họa sĩ, chị được những người có chuyên môn, những nhà sưu tập tranh đánh giá là tài hoa. Gia tài tranh của chị trên dưới 500 bức, chị đã 2 lần được mời tham gia cuộc triển lãm tranh tại Mỹ. Tại Việt Nam, chị đã tham gia nhiều cuộc triển lãm, trong đó phải kể đến Âm thanh từ lồng ngực trái, chị triển lãm cùng con trai Nguyễn Trọng Hiếu.

Trong cuộc triển lãm tranh đó, số tiền tranh bán được khoảng 200 triệu đồng, hai mẹ con đã dùng vào việc thiện nguyện, trong đó trao tặng quỹ Mô-tô học bổng là 79 triệu đồng; trao cho 1 bệnh nhân ung thư 80 triệu đồng. Số còn lại chị dùng vào các hoạt động thiện nguyện khác.

Về các hoạt động thiện nguyện, Lê Thị Kim đã thực hiện rất nhiều năm qua, trái tim của người đàn bà thơ tài hoa dễ khóc, dễ cười dễ cảm thông chia sẻ ấy luôn rung lên những nhịp gấp của một tấm lòng nhân hậu. Nhưng ý định bán tranh làm thiện nguyện của chị trong buổi tọa đàm vừa qua vẫn khiến không ít bạn bè cảm động. Nhất là trong vòng một năm qua, chị đã vào ra bệnh viện liên tục, có lúc tưởng như thập tử nhất sinh.

Người đàn bà đa đoan này đang đứng bên bờ dốc cuộc đời. Nhưng tình yêu với thơ ca, với hội họa, tình thương với những số phận không may mắn vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu. Chị là thế, người đàn bà làm thơ vẽ tranh, thích tô son điểm phấn điệu đà, nhưng chính tâm hồn và tấm lòng khiến chị càng đẹp hơn trong mắt mọi người.

Họa sĩ "mát tay"
Có triển lãm, Lê Thị Kim thu về được 12 nghìn USD. "Vào thời điểm ấy, số tiền này rất đáng kể. Bởi vì lương căn bản của một kỹ sư như tôi, trung bình mỗi tháng chỉ có 50 USD thôi. Do vậy, gia đình tôi đã sống được bằng tiền bán tranh trong 2 năm liền, khỏi phải lo nghĩ xa xôi. Nếu bạn xem tranh của tôi, bạn sẽ thấy hình những cô gái cổ dài, thậm chí rất dài, như hươu cao cổ vậy. Ấy là "đặc trưng" tranh của Lê Thị Kim đó" - chị chia sẻ.

23/10/2023

Khôi Nguyên Thảo

Nguồn: Thể thao và Văn hóa
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Nguyễn Vũ Quỳnh - Lời quê như sợi dây thiêng…

Đọc "Ru lại lời quê" của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, chỉ bốn chữ thôi thì "lời quê" đã vô tình chạm vào hai câu kết trong truyện Kiều: "Lời quê chắp nhặt dông dài/ Mua vui cũng được một vài trống canh". Chạm chút thôi! Bởi anh không dám “chắp nhặt dông dài” và không “mua vui” mà suy tư về một thời để nhớ. Vậy lời quê không đơn giản là những gì quê mùa, đơn mộc. Lời quê như là sợi dây thiêng liêng, đã cột chặt quá khứ vào hiện tại, và làm nên nỗi nhớ trong hồn người, bây giờ và mai sau...

Và câu hỏi được đặt ra: Tại sao phải ru lại? Bởi "lời quê" đã mất mát quá nhiều sau thời kỳ kinh tế thị trường. Nguyễn Vũ Quỳnh đã "ru lại" lời quê bằng những áng thơ sâu sắc, mang đậm hồn cốt quê hương. Đó là những dòng lục bát nhuần nhị mà sâu sắc, những câu thơ thất ngôn, ngũ ngôn vv... trọn vẹn và ngọt ngào chảy qua tấm lòng người đón nhận, như dòng suối mát chảy về đồng ruộng đang khao khát vào mùa...

Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh là người con của đất xứ Thanh yêu thương, lớn lên gác lại bút nghiên đi vào quân ngũ. Anh đến vượt Trường Sơn những ngày khói lửa bom đạn mà vẫn lạc quan tinh tế về hình ảnh người chiến sỹ mở đường bằng những lời thơ của người lính từ nhà quê đi ra không còn tả hay hơn được nữa:

ĐăcKarông lạnh lắm sốt mùa Đông

Em xuống tắm cả dòng sông nỗi nóng

(Trường Sơn gửi lại mai sau)

Và:

Tổ quốc ơi tiếng ru hời

Còn vang vọng đến cỗng trời Trường Sơn

Chiến tranh còn chỗ nào hơn

Mà ta vẫn có nụ hôn chiến trường

(Tiếng thơ trên đèo Phu La nhích)

Cái chất thơ đẹp trong quảng đời trai trẻ mười chin đôi mươi của Nguyễn Vũ Quỳnh viết trong chiến tranh mà ý nhị hào hoa, lạc quan và lãng mạn đến rất thơ có kém cạnh ai đâu. Những năm tháng xa quê lên đường đi chiến đấu, mang theo nỗi nhớ da diết trong lòng. Những dòng thơ chở nặng ân tình ra đời từ đó...

Đi dọc chiều dài thơ anh trong 8 tác phẩm đã được xuất bản thì có đến 6 tác phẩm thơ. Từ "Khúc hát xa quê" in 2006 đến "Ru lại lời quê" in năm 2023, thì cái từ khóa "thôn quê" trong anh càng hiện ra rõ rệt. Đó là một làng quê đẹp đẽ   nơi chôn nhau cắt rốn của thi sỹ giàu chất quê nơi cánh đồng tuổi thơ và dáng mẹ hiền tần tảo nuôi con. Vì thế anh luôn hướng về:

Dẫu đi trăm nẻo đường xa

Thềm xưa vẫn dáng mẹ ta trở về

(Trở về)

Một sự trở về đầy niềm tin trong lòng, nhờ thế giá trị làng quê Việt được anh thể hiện qua hai câu thơ mang dấu ấn rất riêng:

Quê ơi! Thơm đến thật thà

Quê từ bếp núc mà ra bây giờ...

(Thương miền quê xa)

Nghe đã da diết trong lòng, nhưng vẫn chưa đủ. Tôi vô cùng cảm khái hai câu kết trong bài "Thương miền quê xa" như sau:

Về quê cộng với người ta

Vẫn là hai đứa thành ra chúng mình

Đó là một đúc kết có hậu và hữu duyên. Chúng mình là tình yêu. Tình yêu lớn lên từ đó rồi rời xa nhau. Lời "ru lại" bây giờ là rủ rê, ân cần tha thiết nhất:

Về nhé em, về đi thôi

Về quê trên đỉnh bồi hồi gặp xưa

(Về nơi tiếng trống trường ngày xưa)

Vâng, cái tuyệt đỉnh của sự trở về là gặp lại ngày xưa, người xưa. Ngày xưa của chúng mình trong trẻo quá, người xưa của chúng mình thơ ngây, chân thật quá. Nó đánh thức ký ức và an ủi những ai trắc trở trên đường đời. Rồi một hôm bên dấu tích giếng xưa, nhà thơ đã nhớ về:

Bên giếng xanh ngắt khóm trầu

Cây cau đứng đợi cúi đầu soi gương

Khuya về chấp chới chiêm bao

Nụ cười bên giếng lật nhào trời quê

(Giếng quê)

Ôi, cái cúi đầu mới đẹp làm sao! Một thi ảnh vừa nhà quê, vừa chân thực, vừa thơ mộng đã quyến dụ trái tim thi sĩ. Giếng quê là tấm lòng ngọt ngào của thiếu nữ dành cho mình, bây giờ trở lại giếng không còn nữa, nhưng hình ảnh trầu cau cho người đọc một nỗi buồn man mát từ cổ tích bay ra. Từ đó, tôi hiểu rằng niềm tin là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất. Nhà thơ khẳng định rằng:

Nơi các dòng sông xuôi về biển cả

Ta vẫn ngược dòng trở lại bến quê

Sông mải miết như cuộc đời của mẹ

Nơi tuổi thơ mình ký ức tràn lên...

(Ký ức tràn lên)

Rồi anh thành kính thưa với mẹ rằng:

Mẹ ơi! Còn đến hôm nay

Vì con có cả đời này với quê

(Dan díu với quê)

Quả thật, nếu cả đời này không quê là nỗi bất hạnh, nên anh dành cả đời này cho quê là đạo lý mà người Việt luôn nhắc nhở nhau.

Đã từng đi qua cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc hiểu hết sự hy sinh và mất mát của cả dân tộc, nỗi đau chiến tranh bom đạn tàn khốc. Bây giờ cuộc chiến ấy đã qua bốn mươi sáu năm rồi nhưng cuộc chiến với Covid vừa rồi đã cướp đi sinh mạng của hàng chục ngàn người dân, nỗi đau ấy đến dòng sông cũng bật khóc:

Đi qua phố cuối chiều

Dòng sông như bật khóc

Lá bay mùa tang tóc

Mây trời buồn lang thang

(Mắt phố buồn)

Bài thơ “Nếu không” cho người đọc một nỗi buồn man mát, sáng trong nhưng dào lên là một chi tiết thú vị mà người thơ tiếc ngẩn tiếc ngơ:

Tương tư nơi bến sông chờ

Bần thần ngoảnh lại sửng sờ đang trưa

Giận thay lúc ấy cơn mưa

Nếu không nay đã... còn chưa bây giờ

Ồ! Chỉ tại cơn mưa vô cớ kia đã làm lỡ một cơ hội chăng? Có lẽ là như vậy, chỉ có mưa mới giữ chân người ấy không kịp đến cuộc hẹn, mà tôi đồ rằng ấy là lần hẹn của “cuộc chia ly màu đỏ" trong thơ Nguyễn Mỹ thời chiến tranh Cách Mạng. Thế rồi chiến tranh đi qua, người lính ấy trở về ôm ấp tình quê hương, anh chợt gọi tên một nỗi niềm lạ lẫm mà thân quen:

Dáng ai xa nơi phía cuối triền đê

Cứ nghiêng ngửa ùa vào ta lạ thế

Năm tháng đi qua bao mùa hoa khế

Chuyến xe chiều về phía cuối làng ta

(Phía sau cánh đồng)

Cuộc sống đã an bài, nhà thơ của chúng ta đã chọn bình an cho tâm hồn. Đó là cách duy nhất để được sống trong tình người, tình yêu xứ sở:

Thôi đừng trách nữa tình yêu

Thắp đèn đốt đuốc mà thiêu nỗi buồn

Mưa rơi chẳng ướt cánh chuồn

Con tim lỗi nhịp cánh buồm chơi vơi

(Nhớ về quê xưa)

Chơi vơi một chút thôi, để rồi trở về với tin yêu chủ đạo của hồn người. Tình quê luôn dang rộng vòng tay đón bước đứa con xa. Trầm lắng trong tĩnh lặng, nhà thơ nhận ra một lẽ đời suy nghiệm:

Đâu phải đời bão giông

Mà tiếng mưa rụng xuống

Đâu phải hoa rau muống

Nhuộm tím chiều hoàng hôn

(Đâu phải)

Vâng, đâu phải thế! Nhưng nhà thơ cũng phải làm tròn bổn phận với lòng mình là "Đưa người ta không đưa qua sông" (Thâm Tâm), bằng cách gọi:

Đò ơi! Đỏ một khoảng chiều

Chờ tôi lẩy một câu Kiều làm tin

Đất cằn càng tím hoa sim

Trong nỗi đau, tiếng đàn kìm vẫn trong

(Đò ơi)

Trong tâm thế ấy, tôi cho rằng tiếng gọi "Đò ơi!", đã vang lên trong lòng tác giả, nhưng cũng vang trong tâm thức muôn người. Bởi nói như Pushkin:"Cuộc sống là cánh đồng màu mỡ để cho thơ bén rễ sinh sôi". Nguyễn Vũ Quỳnh hiểu điều đó, cả đời yêu văn chương, và đắm đuối với thi ca, nhà thơ đã bén rễ, đã lao động quên mình trên cánh đồng chữ nghĩa đầy gian lao. Cuối cùng đã cho ra một trải nghiệm, một đúc kết vô giá:

Sóng ngầm bão tố mưa sa

Thơ là rượu đã chắt qua lẽ đời!

(Hôm nay và mai sau)

Rượu ấy, đã lọc qua lẽ đời đục trong. Bây giờ chỉ còn thơ là thứ giọng điệu mà thi sĩ phải hát, phải bật lên khúc nhạc của hồn mình, để gọi ra những cảm xúc, những rung động sâu xa, dành tặng quê hương và tặng cuộc đời...

Tp. HCM, 24/10/2023

Nguyễn Thánh Ngã
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Chế Lan Viên – Tôi trong đau vẫn làm viên muối bể

Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của nền Văn học Việt Nam thế kỷ XX, với trên 50 năm cầm bút nhà thơ đã để lại cho nền văn học nước nhà một sự nghiệp đồ sộ với nhiều thể loại gồm thơ, văn, tiểu luận, phê bình… Riêng về thơ, ông đã để lại 13 tập thơ với trên một nghìn bài. Những vấn đề về thơ Chế Lan Viên đã được các nhà nghiên cứu phê bình quan tâm suốt hơn tám mươi năm qua.

Ông cũng là nhà thơ luôn tìm tòi, sáng tạo, trăn trở về thơ cho đến những ngày cuối đời, trong khi các nhà thơ cùng thời, cùng tầm cỡ với ông đã dừng lại với những thành tựu đã ổn định. Mặc dù nhà thơ đã rời xa cõi thế trên ba mươi năm nhưng thời gian ngày càng khẳng định vị trí và tầm vóc của ông đối với văn học nước nhà. Đóng góp về thơ của Chế Lan Viên vô cùng phong phú, đa dạng tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết nhỏ này chúng tôi chỉ điểm lại những suy ngẫm về thơ của ông, tức là những vấn đề mang tính lí luận văn học được ông đặt ra qua những bài thơ, câu thơ tiêu biểu nhằm bổ sung cho bạn đọc những khía cạnh mang tính lí luận văn học trong quá trình tiếp nhận thơ Chế Lan Viên và văn học nói chung với mấy vấn đề dưới đây.

Những vấn đề về mối quan hệ giữa Hiện thực cuộc sống – Nhà văn – Tác phẩm

Nhiều nhà nghiên cứu phê bình đều thống nhất cho rằng Chế Lan Viên là người viết nhiều những câu thơ, đoạn thơ về thơ nhất, chưa kể đến các cuốn sách mang tính tiểu luận, phê bình như: Suy ngẫm và bình luận, Phê bình văn học, Nghĩ cạnh dòng thơ. Trước Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên đã nổi tiếng với tập thơ Điêu tàn, khi ông mới 17 tuổi, còn đang đi học nhưng giọng thơ của một người già trước tuổi, tiếc thương cho một vương quốc Chiêm Thành huy hoàng, than khóc cho những bóng ma Hời ảo não. Nhưng Cách mạng tháng Tám đã làm thay đổi nhà thơ, đem đến cho nhà thơ nguồn sống mới để ông “sáng mắt sáng lòng”, đi từ “thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”. Sự bắt nhịp của nhà thơ với thời đại mới được thể hiện rõ nhất trong những năm  60 của thế kỷ XX, tiêu biểu trong đó là tập thơ Ánh sáng và phù sa. Ngay từ nhan đề tập thơ đã cho ta thấy nguồn năng lượng mới, nguồn sống mới đã bồi đắp tâm hồn nhà thơ đồng thời ông cũng xác định rõ trách nhiệm của nhà thơ, của người nghệ sĩ trước cuộc đời nhất là trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới khi ấy. Tuy nhiên những vấn đề mang tính lí luận mà Chế Lan Viên đặt ra đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Người nghệ sĩ phải là người gắn bó với cuộc đời, phải mở lòng mình đề đón nhận cuộc đời, phải rút ngắn khoảng cách cuộc đời và nghệ thuật…

Tập thơ Ánh sáng và phù sa ra đời năm 1960, trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, cùng với các tập Trời mỗi ngày lại sáng của Huy Cận, Sông Đà của Nguyễn Tuân, Mùa lạc của Nguyễn Khải… Tuy nhiên Chế Lan Viên có hướng đi riêng với những vần thơ giàu cảm xúc và triết luận. Trong đó không thể không kể đến bài thơ Tiếng hát con tàu, một bài thơ xuất sắc nhất của tập thơ và cũng tiêu biểu cho phong cách thơ Chế Lan Viên. Bài thơ thể hiện trách nhiệm của người nghệ sĩ khi đến với cuộc đời, nhất là những vùng xa xôi của Tổ quốc và chỉ có thể đến đó  Khi lòng ta đã hoá những con tàu, hình ảnh con tàu hay chính là tiếng gọi của Tổ quốc, của trái tim, tiếng gọi của sự hòa nhập và lên đường như ngay trong lời Đề từ của bài thơ:

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu

Bài thơ đặt ra bằng những câu hỏi tu từ, hay đó là cách nhà thơ tự hỏi mình để thể hiện sự nhận thức về mối quan hệ cuộc đời – nghệ thuật, chỉ có hiện thực cuộc sống phong phú mới là ngọn nguồn của nghệ thuật chân chính. Chế Lan Viên dùng các hình ảnh: gió ngàn đang rú gọi, những vành trăng…

để nói đến một miền Tây Bắc hay miền xa xôi của Tổ quốc, chính những hình ảnh đó mới đem lại cảm hững sáng tác mới mẻ cho nhà thơ, cho người nghệ sĩ chân chính bởi Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép.

Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?
Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia

Trong bài thơ còn rất nhiều lần Chế Lan Viên khẳng định Tây Bắc và hiện thực cuộc sống phong phú nơi đây chính là mẹ của hồn thơ, là ngọn nguồn của mọi cảm hứng sáng tạo.

Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?
Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ
Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội
Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga

Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ
Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa
Nay trở về, ta lấy lại vàng ta

Bên cạnh bài thơ Tiếng hát con tàu, còn rất nhiều bài thơ trong các tập thơ khác Chế Lan Viên cũng đề cập đến mối quan hệ cuộc sống và nghệ thuật hay để “Cuộc sống đánh vào thơ trăm nghìn lớp sóng” chứ không thể là những lời trống rỗng. Người nghệ sĩ phải gắn bó chan hòa với cuộc sống, phải thấy sức mạnh từ cuộc sống, phải buồn vui cùng với những nỗi buồn vui của nhân dân, phải có cách nhìn đời, nhìn người đa diện, nhiều chiều:

Phá cô đơn ta hòa hợp với người

Lấy cái vui cuộc đời đánh bại mọi đau thương

Xưa tôi hát mà nay tôi tập nói

Chỉ nói thôi mới nói hết được đời

Nhà thơ luôn trăn trở phải “Phát giác sự việc ở bề chưa thấy” hay ở bề sâu, bề xa . Ông cũng không cho phép mình viết những câu thơ hời hợt, dễ dãi, mỗi câu thơ phải là “Muối lắng ở ô nề và thơ đọng ở bề sâu”(Đối thoại mới).

Mối quan hệ Nhà văn – Tác phẩm – Bạn đọc

Cùng với mối quan hệ Hiện thực cuộc sống – Nhà văn – Tác phẩm như chúng tôi đề cập trên, Chế Lan Viên cũng rất quan tâm đến vấn đề tiếp nhận của người đọc, đó là điểm đáng lưu ý ở Chế Lan Viên so với nhiều nhà thơ cùng thời. Chế Lan Viên có rất nhiều bài thơ, tập thơ thể hiện sự quan tâm đó của mình như: Nghĩ về thơ, Sổ tay thơ, Thơ và bạn đọc, Nghề chúng ta, Thơ về thơ… Sự hình thành và phát triển của lý thuyết tiếp nhận nhằm khẳng định hoạt động văn học với các khâu Nhà văn – Tác phẩm – Bạn đọc ngày càng được chú ý đúng mức. Sự ra đời của lý thuyết tiếp nhận cho thấy sự dịch chuyển vị trí trung tâm từ tác phẩm sang người đọc, từ đó có thể nhận thấy lịch sử văn học không chỉ đơn thuần là các tác giả, tác phẩm mà cả lịch sử tiếp nhận của người đọc cũng phải được quan tâm đúng mức, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn cho rằng: “Nói đến việc tạo nghĩa một tác phẩm văn học, nếu chỉ nói đến tư tưởng, ý đồ sáng tạo, chủ đích của tác giả vẫn chưa đủ. Nếu không có người đọc với toàn bộ kiến thức, sự lịch lãm, với quan điểm đạo đức, thẩm mỹ riêng tiếp nhận văn bản tác phẩm thì văn bản đó vẫn không có hiệu lực của văn bản nghệ thuật: lý thuyết tiếp nhận xuất hiện. Với lý thuyết tiếp nhận, người đọc được đặt đúng địa vị của mình; hành động đọc là hành động tạo nghĩa cho văn bản”.  Nhà văn sáng tạo ra tác phẩm mới chỉ là hệ thống kí hiệu trên giấy chỉ khi nào có sự tiếp nhận tác phẩm mới có đời sống thực sự của nó, Giôn Điuây phân biệt sản phẩm nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật, tương ứng với sáng tác của nhà văn và tiếp nhận của người đọc, “chỉ khi nào được công chúng thưởng thức, tiếp nhận thì mới trở thành tác phẩm nghệ thuật”. Bên cạnh đó nhiều nhà lí luận rất đề cao vai trò của bạn đọc, họ coi đó là quá trình đồng sáng tạo, một số nhà văn còn để ngỏ kết thúc của tác phẩm hoặc đưa ra các phương án kết thúc để người đọc lựa chọn. Từ những tiền đề trên, lý thuyết tiếp nhận ra đời nhằm khẳng định vai trò quan trọng của người đọc trong cả quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, điều đó được Chế Lan Viên thể hiện rất rõ:

Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi,
Còn một nửa cho mùa thu làm lấy.
Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá.
Nó không là anh, nhưng nó là mùa.

(Sổ tay thơ)

Nghệ sĩ là người nào biết giãn cách họ với ta bằng tác phẩm

Đem tất cả cái Bên Trong tạo hình thức Bên Ngoài

(Tạo hóa tạo hình)

Cho đến những năm tháng cuối đời, mặc dù phải đấu tranh với bệnh tật những Chế Lan Viên luôn luôn trăn trở về trách nhiệm của người cầm bút đồng thời qua Di cảo thơ ông cũng mong mỏi sự đồng cảm  của người đọc, sự tiếp nhận của bạn đọc trowng tương lai: “Nhìn trang sách biết mình hữu hạn” và “Một nghìn câu thơ thì chín trăm câu dang dở, và ai đón thơ anh ở cuối con đường” hay “Đừng đuổi thơ tôi, vì một chiều tà nào ngả bóng/ Hãy kiên lòng, sẽ thấy nắng mai lên”.

Mặc dù đã hơn ba mươi năm nhà thơ đi xa cõi thế nhưng những gì Chế Lan Viên nêu ra về thơ đến nay chúng ta vẫn cần phải tiếp tục suy nghĩ có như vậy việc tiếp nhận di sản thơ đồ sộ mà ông để lại cũng như văn chương nói chung mới có ý nghĩa thực sự. Để khép lại bài viết nhỏ này tôi xin dẫn lại lời tâm sự của ông với bạn đọc, với cuộc đời: Tôi trong đau vẫn làm viên muối bể/ Để mặn lòng những kẻ muốn vô tư.

24/10/2023
Nguyễn Quỳnh Anh
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

Người đàn bà với ý nghĩ nhiều hơn thời gian đã nghĩ

Người đàn bà với ý nghĩ
nhiều hơn thời gian đã nghĩ

“Câu thơ một chữ cái
Câu thơ bắt nhịp nỗi buồn”
(Một ngày trái mùa xuân – Trần Thị Huê)
Trần Thị Huê xuất hiện không ồn ào, phô trương. Thơ chị gánh vác những đằm lặng của người “đàn bà đã cũ”. Chị viết như để giải thoát khỏi ràng buộc của cuộc sống, để được là chính mình. Đọc “Thế giới ngủ trong đường viền”, giọng thơ tự thuật, tâm tình của chị từng xuất hiện ở các thi tập trước, nhưng nay đậm nét, độc đáo hơnKhai mở phần vô thức, có thể nói, là tín hiệu thám mã những ám tượng, hấp dẫn của diễn ngôn “chảy qua cơn mê” và cảm quan phái tính của người đàn bà thơ “đợi bàn tay che kín nỗi buồn” trong “Thế giới ngủ trong đường viền”.
Thơ luôn tạo sinh những luật chơi. Sự chơi có vai trò quan trọng đối với quá trình cách tân thơ, đưa đến cái hay, cái mới và xác lập mối quan hệ tương tác giữa tác giả - tác phẩm - người đọc. Thi sĩ hoàn toàn linh hoạt, tự do, chủ động, bày biện các chiều cạnh của thế giới theo luật chơi của mình. Càng nhiều khoảng lặng, điểm dừng, điểm đứt gãy, trật khớp thì sự vẫy gọi, làm đầy văn bản càng lớn. Từ người chơi, người tham gia và kể cả luật chơi đều không ngừng dịch chuyển, biến đổi theo tính chất tắc kè hoa của ngôn ngữ. Tất nhiên, để giải phóng và thăng hoa cảm xúc, sự liên tưởng ở người đọc, thi sĩ phải là người đầu tiên ý thức sáng tạo luật chơi. Sự chơi của thơ sẽ rơi vào khiên cưỡng, áp đặt nếu thi sĩ chỉ là “thợ thơ”. Xuất phát điểm của thơ và cái đích của thơ, xét cho cùng, đều bắt nguồn từ vóc hình “tự nhiên” của nó. Nhưng nó (thơ) chỉ thực sự có hồn, có cảm xúc, tạo sự lay động khi thi sĩ biết vượt lên trên thủ thuật luyện chữ, khắc chữ. “Thế giới ngủ trong đường viền” của Trần Thị Huê đã có những cuộc “vọc” chữ khá thú vị. Tập thơ là chuỗi dài các cuộc đối thoại giữa người đàn bà thơ với anh, với vạn vật xung quanh. Lúc nào người đàn bà thơ cũng chủ động tạo các cuộc đối thoại, muốn “nói với”, “nói cùng”, phơi bản thể mà tâm sự, giãi bày. Nói với anh, với vạn vật, thực chất là người đàn bà thơ đang tự đối thoại với nỗi đơn độc của mình. Đó là dạng đối thoại trong độc thoại. Đối thoại theo hướng “vô âm”. Chị để người đàn bà thơ đối diện, chất vấn đồng thời với hai con người, hai phía thời gian, nhằm tạo ra nhiều tiếng nói, nhiều điểm nhìn. Rồi chị huy động mọi cảm xúc của người đàn bà thơ đặt lên cảm xúc của người đàn ông, của vạn vật mà xác tín bản thể: “Em vẽ lên trang giấy những mảng màu khác lạNói với dòng kẻMàu nguyên gốc tô hết con đườngCho dù anh khó lòng cắm hoa vào đó/ Người ta chỉ đi qua/Và tựa lưng vào cái khác/ Mảng màu nói thật lòng/ Chỉ vẽ hết con đường gần như anh đã biếtBản nhạc buồn/ Hôn lên ánh mặt trời uống vật cản ngày em không thể nuốt/ Ngày xanh ngồi bên câu thơNgổn ngang ý nghĩ/ Ý nghĩ lớn đầu ngón tayĐủ để nói với anhMàu nguyên gốc tựa như ánh bình minh lớn lên từ biểnNhẫn nại trước phong ba/ Và biết cõng cánh chuồn trong nắng/ Trước yên bìnhNgày mới không tên” (Ngày mới không tên).
Thời gian đêm được chị đẩy lùi về miền hồi ức, nơi người đàn bà thơ đã từng có một tình yêu đẹp. Rồi chị dùng không gian đặc đêm lôi kéo người đàn bà thơ ra khỏi miền ấy, để người đàn bà thơ đối diện với thực tại đầy chua xót, bẽ bàng. Không - thời gian đêm vì thế như là nhân chứng làm rõ phận đời của người đàn bà thơ. Đồng hiện không -  thời gian giữa quá khứ và hiện tại, giữa ngọt ngào, hạnh phúc với đơn chiếc, trống vắng, chị phản ánh rõ nét hơn thế giới nội tâm của người đàn bà thơ, vừa đa cảm, phức tạp vừa khó dò đoán, suy xét. Một mặt, người đàn bà thơ muốn lãng quên khuôn mặt người đàn ông, mặt khác, lại muốn đào xới, lật tung. Câu chuyện về người đàn ông cứ vắt từ đêm này sang đêm khác, không nguôi thổn thức: “Em kể anh ngheNhững dấu chấm than dài trên trang giấy/ Những câu chuyện dành riêng cho anh phía ấy đơn côiĐêm tròn xoe đôi mắtĐêm dài trên mái tócĐêm mảng màu xanh thắmĐêm của suối mát trong lànhĐêm không phải con tàu anh đi cùng chuyếnĐêm/ Là em phía ấy lặng thầm” (Đêm). Qua những câu như: “Căn nhà chật bóng tối”, “Dán sẵn vào bức tường chết”, “Những bậc thang có chữ số”, “Những dòng chữ tựa cọng rơm rối”, “Khuôn mặt cửa sổ sao phủ kín trời”... có thể hình dung người đàn bà thơ đang ngồi trước văn bản vào những đêm khuya, bên ô cửa sổ nhỏ “lạnh ngắt”, trong một căn nhà có cầu thang được đo “bằng lời nói” mà ngẫm nghĩ về thân phận và cuộc sống. Xét về mặt không gian, điểm nhìn của người đàn bà thơ bị giới hạn, trói buộc. Ngay cả nhan đề tập thơ “Thế giới ngủ trong đường viền” cũng đã thể hiện sự chật chội. Không gian riêng tư của người đàn bà thơ được chị thu hẹp lại, gói lại, có đường, có viền, có nét và đậm tính nữ: “Thế giới ngủ trong đường viền của chiếc túi xách”. Xét về mặt thời gian tâm lý, vạn vật không cố định một chỗ, mà đang trương nở và bị khuấy đảo. Kết cấu dạng “dài hơn”, “nhiều hơn”, “chật”, “khâu”, “vá”, “xếp”, “gọi”, “chẻ đôi”, “chia hai phía”... là những căn cước thấu hiểu tâm trạng của người đàn bà thơ. Người đàn bà thơ đã lấy cuộc đời mình ra mà làm “sống động” những ký tự: “Là em phía ấy lặng thầmNhững chùm hoa không còn biết nởNhững bài thơ không còn biết hátNhưng chuyện buồn cứ thế mãi ngân lênCăn nhà chật bóng tối/ Căn nhà khép lạiMùa trăng vãn tiếng ve ngânVà rồi mọi chuyện qua đi/ Những tiếng động vồ vập/ Những cầu thang ai chia lối khác” (Đêm); tự cô đặc mình trong đường viền của bức tranh cuộc đời, tự xem mình là kẻ đứng phía sau, là kẻ bên lề: “Chừng ấy năm đi dưới bàn chânNghe xát và êm khoảng khuyết/ Chân viết hẳn một nét huyền chảy dài mi mắtTóc khâu hoài niệm trăng ngọt nằm nghiêng” (Thế giới ngủ trong đường viền). Chuỗi đơn chiếc này láy đi láy lại, dồn ép “nỗi đoạn trường” của người đàn bà thơ: “Nghiêng về đơn phương đặt vào bàn tay trốngPhương trời cứ ráo riết gió thổi cứ xoay quanh vành môi trái timDán sẵn vào bức tường chếtNăm canh chạy dài/ Mất hút” (Dài hơn cuộc đời anh đang có).
Những chấn thương tâm hồn sinh tạo ảo giác, khiến cho các sự vật hiện tượng xung quanh người đàn bà thơ đều biến dạng. Xuất phát từ điểm nhìn của ô cửa nhỏ nhưng sự tưởng tượng, sự vỡ bung nội cảm trong người đàn bà thơ quá lớn, khiến thế giới cứ chập chờn thực ảo. Lúc này, những xung năng vươn dậy, làm méo mó, xô lệch, đứt gãy mọi thi ảnh. Trang giấy, ô cửa sổ, chiếc cầu thang, căn nhà không thể chứa hết nỗi niềm của người đàn bà thơ. Nỗi niềm căng chật, trườn ra bên ngoài: “Chuông gọi nói mỗi câuMọi ràng buộc xếp gọn dưới đáy ba lôNghiêng về đơn phương đặt vào bàn tay trốngPhương trời cứ ráo riết gió thổi cứ xoay quanh vành môi trái timDán sẵn vào bức tường chếtNăm canh chạy dài/ Mất hút” (Dài hơn cuộc đời anh đang có). Không - thời gian đêm (lặp lại đến 53 lần) trở thành khoảng nối giữa bên trong và bên ngoài, có và không, thực và mơ, có lý và phi lý. Người đàn bà thơ xem đêm như là trò chơi. Nhưng người đàn bà thơ không thể nào quán xuyến được luật chơi. Đêm cố hữu, đậm đặc lên cơ thể và ngôi nhà của người đàn bà thơ. Đêm bám riết lấy cơ thể của người đàn bà thơ, chồng chất suốt năm canh, và chồng từ đêm này sang đêm khác: “Đêm dài không thể ghép nguyên nụ hôn”, “Gợi mắt buồn trắng đêm”“Đêm dài của ngàn vì sao đang bủa vây bàn tay nhỏ b锓Đêm dài trên mái tóc”, “Để cho tóc rối úa màu với đêm”, “Bốn mùa và đêm rơi vào đáy mắt”, “Làn môi vẽ con đường son đỏ/ Gợi mắt buồn trắng đêm” (Nẻo có đôi)... Tuy nhiên, khoảnh khắc hiện hữu, được là chính mình ấy càng làm cho cơn mộng ảo thêm phần tê tái. Người đàn bà thơ bị đêm bủa vây, giăng kín. Càng hạn định, người đàn bà thơ càng muốn nổi loạn, bứt phá và vượt thoát. Người đàn bà thơ tìm mọi cách chơi/đùa/nghịch với đêm, áp thân thể lên đêm, lấy thân thể giao hòa với đêm để cảm nhận từng sát na hiện hữu. Thân thể lẫn tâm hồn bươn khỏi không gian chật hẹp, tìm đến sự vô biên của thời gian, sự rộng lớn của vũ trụ: “Mắt đêm gãy đôi”, Gọi đêm tràn ra ngoài khung cửa”, “Đêm tràn phố thị ướt ngôi nhà hướng về phía núi”,... Do vậy, đối thoại cũng là phương tiện để người đàn bà thơ tự tạo ra sự gây hấn với bản thân. Lằn ranh gây hấn ấy nảy nở những góc nhìn “biến dạng”, “phi lý”. Trần Thị Huê đặt các thi ảnh có lý bên cạnh các thi ảnh phi lý rồi phá vỡ, nhảy cóc liên tục. Những ý tưởng nhảy cóc, những màu sắc siêu thực cứ cuộn vào nhau, gối lên nhau, lăn lộn cùng nỗi niềm của người đàn bà thơ. Lẽ sinh tồn của vạn vật xung quanh chính là hiện thân bóng hình và thân phận người đàn bà thơ: “Đồng hồ treo tường lạc giọng”, “Mảng màu nói thật lòng/ Chỉ vẽ hết con đường gần như anh đã biết” (Ngày mới không tên), “Chỉ có làn nước trong veo neo vào tận cùng của đáy cốc/ Và rồi nhẫn nại tập đi” (Ngọn cỏ bắt đầu biết mọc), “Mặt trời hái nhiều nếp nhăn xếp đầy tay”, “Không gian khâu ngàn vết thương”,… Có lúc đành lòng đến là tê tái: “Đêm cứ mang em ra làm trò đùa mãi thế”; thậm chí phải nhận sự trả giá của đêm: “Em vô tư người đàn bà vô tư chẳng biết mắt đêm đã gãy”; và hành trình phía trước dẫu “Đường đi trong chiếc guốc/ Đường đi chìm vào khoảng lặng im” (Người đàn ông của chị); song người đàn bà thơ của chị chưa bao giờ ngừng khát khao khẳng định tiếng nói của trái tim, vẫn rất kiêu hãnh, ngạo nghễ về nỗi cô đơn của mình và thổ lộ cái “nhân vị đàn bà”: “Mặt trời quay về hướng núiChị cuộn mái tóc dài che khuôn mặt/ Che số phận của mình và người đàn ông giấu mặtChị đã cưới sau mưa” (Người đàn ông của chị). Ở đó, người đàn bà thơ biết “nói thật lòng”, biết thỏa thuận theo lí lẽ riêng: “Nếp vải chừa lề/ Đủ dành cho hạnh phúc” (Sợi chỉ). Như thế, thái độ hiện sinh của người đàn bà thơ là thái độ thặng dư giá trị, vẻ đẹp của nỗi buồn: “Chỉ ước cắm vào mình minh những cánh hoa thơm”, “Tay bưng mặt trời còn lại phía cao vút cát vàng”, “Bản nhạc của tôi thành chong chóng bay lên”,…
Nội hàm tiếng nói trong “Thế giới ngủ trong đường viền” được mở rộng, không chỉ là tiếng nói của người đàn bà thơ mà còn là tiếng nói của những thân phận đàn bà: “Em hóa thành câu thơ/ GọnCâu thơ một chữ cáiCâu thơ bắt nhịp nỗi buồn” (Một ngày trái mùa xuân). Nếu độc giả dùng lý trí để giải mã, khó có thể cảm thụ được những khoảnh khắc vong thân, khát vọng “vá lành cơn khát” của “đôi môi thèm son” rất đỗi nhân bản trong thế giới vô thức của người đàn bà thơ. Vì “Thế giới ngủ trong đường viền” của Trần Thị Huê là thế giới của “ý nghĩ nhiều hơn thời gian đã nghĩ”.
20/3/2020
Hoàng Thụy Anh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

  Đất rừng phương Nam - Trung thành hay không trung thành, hư cấu hay không hư cấu? Mấy ngày qua, quan sát các ý kiến, các tranh luận trái...