Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

Mùa xuân và những khúc hoan ca trong thơ Xuân Diệu thời thơ mới

Mùa xuân và những khúc hoan
ca trong thơ Xuân Diệu thời thơ mới

Chủ nghĩa lãng mạn được xây dựng trên cái nền tư tưởng không bằng lòng với thực tại và hiện tại, cái thực tại mà con người bị tha hoá trong nỗi đau thương xa rời bản thể và nhân tính. Văn chương lãng mạn Việt Nam đầu thế kỷ XX khá gần gũi với văn chương  lãng mạn Pháp, dẫu vậy do phát triển trong bối cảnh xã hội thuộc địa nó có những sắc thái riêng. Các nhà thơ lãng mạn Pháp tự hào: không gì làm cho người ta lớn lao bằng một niềm đau thương lớn (A.Muyxê). Các nhà thơ lãng mạn Việt Nam cũng thổ lộ là con một “người mẹ hay sầu”và “mắt thường đẫm lệ” (Huy Cận). Xuân Diệu bước vào Thơ Mơi muộn nhưng gây ấn tượng mạnh vì ông không khóc, không buồn mà trên môi nở nụ cười nồng ấm, tươi trẻ khao khát yêu thương, khao khát giao cảm với đời.
Hồn thơ ông giao cảm với đời bằng một sự hoà quyện vừa truyền thống vừa tân kỳ. Nó mới mẻ trong sự khám phá các cảm giác cá nhân từ phương Tây dội đến bên cạnh sự mơ mộng với sinh cảnh thiên nhiên đầy màu sắc truyền thống của thi ca Á Đông. Nguyễn Đăng Mạnh nói ông là nhà thơ “giao cảm với đời” là muốn ám chỉ cái sắc thái pha trộn, vừa song hành, vừa tích hợp đó. Cái đóng góp, cái nét riêng của thơ ông trong phong trào Thơ Mới là đóng góp cuả một cá thể giàu tình yêu và niềm vui ham sống, là cảm quan mùa xuân pha vài yếu tố nhục thể vào một dòng chảy giải phóng con người khỏi sự ràng buộc các lề luật trói buộc của một ý thức hệ bảo thủ. Trong phong trào Thơ mới Xuân Diệu là người đến muộn. Tuy nhiên, bằng một cảm quan mới mẻ và một nghệ thuật cao diệu ông nhanh chóng trở thành đỉnh cao, trụ cột của cả phong trào, với hai tập thơ tiêu biểu là “Thơ Thơ“  ”Gửi hương cho gió”.
Đối tượng phổ biến trong thơ ông là tuổi trẻ, tình yêu và mùa xuân.
Thơ Xuân Diệu là thơ của tuổi trẻ. Đó là tiếng nói của thanh niên, của cái tôi cá nhân thấy mình có sức mạnh, có quyền vui sống. Với ông vũ trụ, đất trời đẹp là đẹp ở sự tươi nguyên mới mẻ, trẻ trung: “Son sẽ trời như mười sáu tuổi - má hồng phơn phớt mắt long lanh“ (Rạo rực ).
Tuổi trẻ, đó là nơi bắt đầu, là mùa xuân  của đời người. Tuổi trẻ là căn nguyên khơi gợi niềm cảm xúc đắm say của ông. Nó làm ông ”xôn xao như một vạn cây rừng” và nao lòng  “bằng muôn cánh yêu đương”…
Đặc trưng của tuổi trẻ là tình yêu! Thơ tình là đặc sản của Xuân Diệu. Ông là người dõng dạc tuyên ngôn ngay từ khi đặt bước chân vào thi đàn: ”Làm sao sống được mà không yêu” (Vì sao). Tình yêu là trung tâm, đỉnh điểm của sự giao cảm. Trong tình yêu, Xuân Diệu bao giờ cũng nồng nàn, sôi nổi. Ông là người nói được đầy đủ nhất mọi cấp độ của tình yêu, từ những kỷ niệm thoáng qua nhỏ nhất: một tà áo, một làn mi, đến những khao khát nồng đượm rộng lớn, sâu xa “mùa hoa thơm ngát của hồn tôi”:
Tà áo mới cũng say mùi gió nước
Rặng mi dài xao động ánh dương vui
(Xuân đầu)
Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi
(Nguyên đán)
Trong tình yêu thời gian luôn là nỗi băn khoăn, ám ảnh da diết, ông sợ thời gian qua mau nên luôn  giục giã  “Em ơi em, tình non sắp già rồi”.  Để đạt được tận cùng, vô biên trong sự giao cảm với đời, Xuân Diệu đã mở rộng tối đa phạm vi các giác quan. Thơ ông tràn đầy ấn tượng tươi mới về sự vật, có thể gọi Xuân Diệu là nhà thơ của chủ nghĩa cảm giác.
Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực! 
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài! 
Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai! 
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt! 
(Xa cách)
Xuân Diệu như muốn tranh đoạt quyền của tạo hóa để “ôm”, “riết”, “say”, ”cắn”, ”hút”, “ăn”... để kéo cả thế giới vào trong tâm hồn đầy xúc cảm của mình:
“Ta uống mê man hơi thở con người/ Ta bấu vào da thịt của đời/ Ngoạm sự sống để làm êm đói khát” (Thanh niên). Ngay cái việc dùng nhiều từ thuộc lĩnh vực khẩu ngữ thông tục gắn với sinh hoạt đời thường mà ta gặp nhiều ở hai tập thơ của Xuân Diệu thời kỳ này cũng nói rõ sự gắn bó với thực tại, sự ham sống, ham thụ hưởng của ông tạo nét riêng khác nhiều tác giả lãng mạn thời bấy giờ, nó cũng góp phần làm phong phú Thơ mới trong chu trình gắn bó với đời sống, với cộng đồng.
Trong tình yêu vô hạn với cuộc đời ông dành nhiều tình cảm cho mùa Xuân. Nhà thơ có nói đến mùa hạ, mùa thu và cả mùa đông nhưng với mùa xuân, điệu thơ luôn đưa đến cho người đọc một xúc cảm hân hoan, tràn đầy. Thơ vừa tả thực cảnh xuân lại vừa tượng trưng biểu cảm tình xuân lai láng. Mùa xuân tươi tắn đầy màu sắc và âm thanh “Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui”, rồi ”Gió thơm phơ phất bay vô ý, Đem đụng cành mai sát nhánh đào” (Nụ cười xuân). Mùa xuân của ông cũng mơn man cảm giác nhục thể. Xuân đẹp, xuân qua mau nên nhà thơ luôn giục giã “mau với chứ”, ”vội vàng lên với chứ”, chung qui như muốn  hưởng tận cùng những sắc điệu tình yêu - mùa xuân:
Và non nước và cây và cỏ rạng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
- Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi
(Vội vàng)
Cảm xúc cao độ với mùa xuân - tình yêu, Xuân Diệu thể hiện cái tôi cá nhân một cách mãnh liệt và tròn đầy, khẳng định cái đẹp của cuộc đời trần thế, của hiện tại và kêu gọi tuổi trẻ phải tận hưởng những “miếng ngon nhất“, những “Vàng son đang lộng lẫy buổi chiều xanh” của cuộc đời luôn biến đổi. Với Xuân Diệu “Sự thật ngày nay không thật đến ngày mai“ (Phải nói).
Quan niệm về thế giới đổi thay - một cái nhìn đầy tính triết lý đã chi phối thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu. Một khi ý thức về sự đổi thay của vạn vật thì khẳng định hiện tại, khẳng định cuộc đời trần thế với niềm vui  là có ý nghĩa nhiều nhất. Khác với các nhà thơ mới khác, bất hoà trước thực tại, họ tìm về quá khứ, thoát lên tiên hoặc bay tới tương lai, Xuân Diệu lại bám vào hiện tại, khao khát  hoà với cuộc đời bằng một tâm thế “muốn ở mãi giữa vườn trần, chân hóa rễ để hút mùa dưới đất“. Có lúc Xuân Diệu muốn gọi những năm tháng đã qua trở về với hiện tại ”Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ! Hãy trở về đây! và đem trở về đây!” Trở về đây có nghĩa là về với thực tại, với những “giây, phút” tràn đầy cảm xúc nhạy bén của ông:
Một phút gặp thôi là muôn buổi nhớ
Vài giây trông khơi mối vạn ngày theo
Cảm xúc cao độ với mùa xuân - tình yêu hiện tại của ông thể hiện rất rõ trong bài thơ “Lời kỹ nữ”. Nếu  trong “Tiếng hát Sông Hương” (Tố Hữu) cô gái sống nhiều với tương lai qua lời nhắn gửi của tác giả thì người kỹ nữ trong “Lời kỹ nữ” mong được sống tròn đầy trong hiện tại.                                                             
Trong sự nghiệp văn học của ông, phần thơ ca thời trước cách mạng rất có ý nghĩa, nó đã góp phần khẳng định sự thắng lợi của phong trào Thơ mới và góp phần không nhỏ cho sự nghiệp thơ ca mà ông khẳng định vững chãi sau này. Ông rất xứng đáng với danh hiệu “người mới nhất trong các nhà thơ mới“ (Hoài Thanh),“ Là người mang đến cho thơ mới nhiều cái mới nhất“ (Vũ Ngọc Phan). 
Xuân Diệu cũng như một vài nhà thơ xứ Nghệ khác mang trong mình dòng máu lai pha giữa đằng ngoài và đằng trong, có sẵn cái kiên cường, chí tiến thủ cuả cha kết hợp với cái phong khoáng chân chất của mẹ. Ông đưa vào thơ mình hai nguồn sữa đó, vừa nồng nàn vừa mơ mộng, có sự chân chất nồng nàn của tâm hồn ông đồ vùng đồng bằng Hà Tĩnh kết hợp sự phóng khoáng hồn nhiên của tấm lòng người phu nữ miền biển Quy Nhơn. Ông đi vào cách mạng bằng sự hòa hợp tiếp nối nhanh chóng khác các nhà thơ cùng thế hệ mang cái buồn đau chán chường theo Cách mạng mong đổi đời. Thi nhân Hà Tĩnh với sự có mặt của các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Thái Can, Quỳnh Dao đã góp phần tạo nên một dấu ấn ở dòng thơ này. Trong chừng mực nào đó có thể xem Xuân Diệu là ngọn cờ đầu của phong trào Thơ Mới Việt Nam 1932-1945, nơi lưu giữ phần nào tâm hồn một thế hệ công dân Việt Nam trong chặng đầu của thế kỷ XX.
12/12/2018
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Nguyễn Du, một cách nhìn mới về lịch sử

Nguyễn Du, một cách nhìn mới về lịch sử

(Đọc Nguyễn Du - tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Thế Quang, NXB Hội Nhà văn và CT Sách Phương Nam 2010)
Chúng ta đã từng gặp nhiều danh nhân văn  hóa qua các trang chân dung văn học, nay ta lại gặp Nguyễn Du dưới sắc bút của Nguyễn Thế Quang, một hậu sinh đồng hương với Nguyễn. Nhà giáo Nguyễn Thế Quang trong hơn 10 năm đầy biến động của gia cảnh, nghề nghiệp và bệnh tật đã trăn trở tìm tòi sáng tạo nên những trang văn xúc động người đọc.Viết về Nguyễn không dễ vì bao nhiêu  sách báo đã nói về ông. Không có một tình yêu, một hiểu biết sâu đậm nhất định về đối tượng, người viết sẽ ngợp khi chọn đề tài này.Tình yêu và sự trải nghiệm, đặc biệt là sự dày công đã giúp tác giả vượt qua giới hạn thử thách trên.
Nguyễn Du trong tác phẩm này có những điều làm người đọc muốn suy ngẫm. Nguyễn trong mắt nhìn của thế kỷ XXI, có phải là người ngày xưa? Nguyễn của một gia thế lừng lẫy. Nguyễn của một tài năng đa dạng xuất chúng. Nguyễn của một số phận long đong bất như ý . Nguyễn của một nghị lực phi thường... Dẫu là một nhân cách lớn nhưng sống buồn bã, tâm trạng u uất là điều có thật trong tâm sự Nguyễn Du.Cần đối chiếu hành trạng của Nguyễn, cần có cái nhìn toàn diện để hiểu và giải thích rõ cái tâm sự u hoài tại sao đeo đẳng ông mãi thế, dẫu có khi làm đến bậc Á khanh và đã khiến một vị đại hoàng đế như Gia Long phải thốt lên “Ta quý những người có cốt cách như khanh”. Tác phẩm của Nguyễn Thế Quang vẽ lên nỗi buồn lớn của Nguyễn Du không dừng lại ở cái nguyên nhân bé nhỏ là vì đồng sự ghen ghét hay mặc cảm về cái sự “ tôi trung không thờ hai chúa” mà ở cái nỗi niềm lớn lao hơn. Đó là tấm lòng yêu thương con người, là phẩm cách của  một tâm hồn  cao thương, cảm thấy những nghịch lý, những nghịch cảnh tồn tại ở mọi thời, mọi nơi, như là một định mệnh không tài nào thay đổi được. Ở quê hương thì bao dân lành bị bọn gian thần hãm hại (người anh Nguyễn Nể bị bức tử), ở chốn quan trường, cũng như nơi cung đình từ quan lớn đến quan bé toàn những kẻ xảo trá luôn tìm cách sát hại lẫn nhau, “nhai thịt người ngọt xớt như đường” (cái chết tức tưởi của đại thần Nguyễn Văn Thành trước những thủ đoạn bỉ ổi của Lê Văn Duyệt và Lê Chất), ngay đến nhà vua cũng luôn tâm niệm  thà hy sinh bậc trung thần chứ không thể để cho sự nguy hại len lỏi quanh ngai vàng. Biết bao kẻ thác oan vì cái tư duy lắt léo và tàn bạo đó: Vũ Trinh, Nguyễn Văn Thuyên ,Lê Quang Định, Đặng Trần Thường, Ngô Nhân Tĩnh..., con số dài thêm theo các trang sách.Tìm đến xứ người, mảnh đất các nhà nho luôn hướng về một thuở, cũng đầy rẫy những bất công. Tấm lòng nhân mênh mông với những suy tư pha mùi thiền, mùi đạo ở ông luôn cảm thấy bất lực, đau đáu một câu hỏi không lời đáp. Đó mới chính là cái điều sâu kín tạo nên nỗi u hoài day dứt khôn nguôi trong đời sống và là hạt nhân trong các sáng tác của Nguyễn, một con người mang nỗi niềm thời đại. Ở đây, Nguyễn đã gặp những tâm hồn lớn trong gia tài văn hóa nhân loại.
Tác phẩm có bốn phần kết cấu theo thời gian nhưng tựu trung tập trung vào mấy thời kỳ mà Nguyễn trải qua sau ngày Gia Long thống nhất đất nước: thời gian ở quê và làm cai bạ Quảng Bình, thời gian làm quan ở triều đình ,thời gian đi sứ Trung Hoa. Lich sử trong tác phẩm Nguyễn Thế Quang là một lich sử được tái tạo cả sự kiện lẫn con người. Một triều đình đầy rẫy những mâu thuẫn. Nguyễn đã nghĩ về cái lồng quan phương đó “Đặt chân vào chốn quan trường con người không còn là mình nữa,muốn dừng không được, muốn tốt không tốt được,nhảy ra thì bị chém, leo lên thì thất đức mà tai hoạ sẽ đổ lên đầu“ (trang370). Chính vì vậy cuối sách tác giả đã để cho Nguyễn và các họ hàng làm lể xin tổ tông chuyển đổi long mạch để dòng họ từ đấy “khỏi phải có ai ra làm quan”.Lời nguyền hiệu nghiệm cho đến bây giờ!
Tiểu thuyết bám sát các sự kiện được truyền bá bấy nay nhưng Nguyễn Thế Quang không sao chép lại, ông thổi vào những sự kiện bao tâm tư dồn nén nên có sức lay động mạnh người đọc.Ngoài ra với khả năng và sự cho phép của thể tài tác giả có những sáng tạo đầy tính thẩm mỹ khắc hoạ rõ con người Nguyễn: cảnh Nguyễn trò chuyện với Nguyễn Văn Thành trong ngục, cảnh Nguyễn lập đàn tế Khuất Nguyên trên sông Mịch La, cảnh Nguyễn gặp lại Hồ Xuân Hương sau  chục năm xa cách, cảnh Nguyễn đối thoại với Gia Long... Chúng tôi cho đó là những đoạn văn dày công tìm tòi và sáng tạo nhiều chi tiết cũng như ngôn ngữ rất đắt, gây hiệu ứng thẩm mỹ cao ở người đọc. Cái khó khi viết về danh nhân văn hóa, viết về những con người như Nguyễn Du không nhất thiết yêu cầu người viết phải có tầm văn hóa, tầm sống như nhân vật, nhưng ít ra phải hiểu phải yêu tầm sống đó! Nguyễn Thế Quang trong tác phẩm đã thành công khi tái tạo nỗi niềm tâm sự khá phức tạp của Nguyễn Du Nguyễn trong tác phẩm chủ yếu là Nguyễn của những nỗi niềm, những tâm trạng. Nguyễn trong tác phẫm trước hoàn cảnh thường có một “tâm trạng kép” vừa lo âu vừa mừng rỡ, lo vì bị bức hại, mừng vì tai qua nạn khỏi,lo cho mình và lo cho cả họ tộc, phủ định  nhưng vẫn phải làm tròn chức phận không thể thoái thác. Nguyễn chủ động trong tư duy nhưng có lúc thụ động trong hành động.Đó là cái tâm trạng mà có lần ông tự thán “hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên”. Phải chăng vì trạng thái nước đôi đó mà sau này Nguyễn Công Trứ đã “phê” Nguyễn thông qua lời nhận xét khắt khe về Thúy Kiều, nhân vật mà Nguyễn có nhiều ký thác “Bán mình trong bấy nhiêu năm/ Dễ đem chữ Hiếu mà lầm được ai”.
Gia Long là một chân dung khá nổi bật trong tác phẩm.Chỉ vài nét chấm phá về tâm trạng và cử chỉ mà bức phác hoạ về ông vua khai sinh triều Nguyễn này hiện lên khá rõ nét. Gia Long tài năng, quyết đoán nhưng xảo quyệt, cực quyền và tàn bạo. Lần đầu trong văn chương“ông vua này” hiện lên không phải như một sơ đồ mà như một ông vua thật.Đối với các quan lại, Gia Long chỉ rõ xung quanh toàn là kẻ nịnh hót ,người chân chính rất ít, bởi vậy vua rất quý trọng Nguyễn Du, quý nhưng không tin lắm, quý nên tặng giấy, bút, mực nhưng không quên căn dặn: viết để yêu thương thì được, nhưng kích động chống triều đình thì sẽ bị lấy đầu! Đúng là tâm lý của một  hoàng đế với kẻ sĩ. Thật khó mà quên được cách suy nghĩ của vị vua này với quân sĩ cũng như với kẻ thù: “Muôn vàn cảm tạ các tướng sĩ, dân binh đã không tiếc thân mình để hôm nay ta có giang sơn này” [...] Ngài lại nhớ đến hình ảnh Quang Toản,Quang Duy, Quang Thiệu ngồi trong cũi từ Kinh Bắc giải về.”Không phải quân lính ta bắt bọn nó mà dân chúng bắt được đóng củi nạp cho ta .Đó là điều tệ hại nhất  của bất kỳ tướng lĩnh, quân vương nào. Bị đóng củi bởi tay đối thủ là lẽ thường tình nhưng bị dân bắt đem nạp thì thật cay đắng.Cha bọn nó đã đánh tan hàng chục vạn quân Thanh giữ yên giang sơn này, kinh thành này dân chúng đều biết ơn.Thế mà bọn nó lại không dược dân che chở. Vì sao vậy?” [...] “Nhưng rõ ràng không được lòng dân thì chẳng đế vương nào có sức mạnh” (trang13).
Viết Nguyễn Du, Nguyễn Thế Quang ngoài việc tái tạo một thời biến động của lịch sử nước nhà với những sự kiện, những nhân vật đã từng để lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức cộng đồng, tác giả còn cố gắng “biến lịch sử thành những cái cớ để gửi đến con người hiện tại những thông điệp về giá trị đạo đức tinh thần” (*). Tác phẩm đầu tay nhưng  đã thể hiện năng lực văn chương của tác giả và một tấm lòng yêu mến di sản văn hóa - lịch sử nước nhà đáng trân trọng.
Chú thích:
(*) Phan Trọng Thưởng - Mẫn cảm của người nghệ sĩ và chức năng dự báo của văn học - Báo Văn Nghệ số 29 (17-7-2010).
29/7/2010
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Hoàng Vũ Thuật, một chặng đường thơ

Hoàng Vũ Thuật, một chặng đường thơ

Hoàng Vũ Thuật là nhà thơ trưởng thành từ thời chống Mỹ, mảnh đất khói lửa Quảng Bình làm nền cho những vần thơ bi tráng một thời  và chính cái chất bi tráng đó phần nào tạo được nét riêng trong cái nền thơ chùng hào hùng thời bấy giờ. Cho đến nay anh đã đi một chặng đường dài trên con đường thơ với một hoài vọng, tự tin riêng và quả thật diện mạo thơ của anh bây giờ đã khác trước rất nhiều. Đã có mươi đầu sách, mỗi đầu sách là một cố gắng tự đổi thay để bắt gặp cái khuynh hướng chung của thơ đương đại và anh đã theo kịp. HVT có thơ đăng khá nhiều trên báo viết cũng như báo mạng trong cũng như ngoài nước.Sự hội nhập đó cũng phần nào nói lên cái nét riêng năng động, nhạy cảm của anh so với các bạn thơ cùng lứa!
1. Những thoáng phiêu diêu tâm linh:
Không khó tìm thấy cái nét mới trong thơ anh khi ta tiếp cận bất cứ bài thơ nào ,tuy nhiên cáí sự thành công, cái nét riêng, cái phẩm tính thi ca trong bộn bề câu chữ đọng lại nơi hồn người đọc lại không hiện lên vội vã hào nhoáng mà có phần đằm sâu, buộc người đọc phải lưu ý làm quen với cách cảm thụ mới không quá thiên về ý thức, về tư  tưởng như cũ. Trước  kia thơ anh cũng như các nhà thơ cùng trang lứa ngồn ngộn chất sống và chi tiết đời thực, nay đã có phần hoà trộn thực tại với những cảm thức tâm linh. Cái nét mơ hồ, thoáng đôi chút linh giác vô thức, sự ngụ ý triết lý trừu tượng đằng sau những cảm nhận cụ thể đã làm nên cái sương khói khiến người đọc lắng đọng, muốn tìm tòi suy cảm sau những buồn vui vội vã.Trước sự mất còn của một sinh thể tác giả thấy “nghi lể phục sinh lộng lẩy/ giữa lạnh lẽo đêm dài/... thiên thần/ thiên thần /tôi thảng thốt trong mê/sau nghìn năm vẫn thấy mình đang bay/ trên chiếc khăn nâu huyền thủy/”. Cõi đời vô thủy vô  chung, đời như giấc mơ lớn “xử thế nhược đại mộng”, mà người xưa từng nhắc đến nay tác giả cùng chung một cảm khái “... ba vạn chín nghìn bậc ta chưa hết một nghìn/ thôi ngủ đi ngày mai biết đâu rồi khác/ ta gõ tiêng chuông cho số kiếp lạc loài/ mây trắng chở về miền thiên hư/”... Băn khoăn về cõi thực, nghĩ suy về cõi ảo... đó cũng là niềm day dứt của bao thế hệ thi ca Á Đông chứ không phải riêng HVT hôm nay... Và bức tranh ngôn ngữ về cõi vĩnh hằng xui ta nghĩ đến một “cõi về” khác  bằng màu sắc trong tranh của Lêvitan (Nga).
“tôi mơ thấy mùa thu/
dưới võng mềm đất ủ/
và mẹ già tay ru/
đưa tôi vào giấc ngủ”
(giấc mơ...)
Nhiều suy tưởng tâm linh, hình tượng thơ cua HVT không đi theo lối cụ thể - lịch sử mà trong nhiều bài nặng về linh giác - tâm thức.
“... người ơi. Người hay trăng muộn/ mọc xế góc đời ta đây/ ta mong manh. Và ta lơ lửng/ vô hồn giữa những đám mây” 
(vầng trăng hiền thục)
Hay:
nàng lơ đãng nàng không nhìn rõ/ vòng luân hồi xô đẩy đêm nay/ ta chỉ là linh hồn cây cỏ/ ta muốn ngừng hơi thở sau cùng/ để ánh sáng vầng trăng khâm liệm/ chôn đời ta dưới gốc trần gian”
(cây trần gian)
Khi cảm thức đã lấp đầy hư ảo thì cú pháp cũng xô đẩy bộn bề. Chín sự vật vờ mông lung của tâm thức, tạo nên cú pháp:
đây vầng trăng. Đám mây cổ
lang thang nét hoa văn.Và gió
và gương mặt hiền thục hiện về
mùa thu bỏ quên đôi guốc đỏ
(vầng trăng hiền thục)
Câu thơ tự do, lối vắt dòng không mới, dùng nhiều ẩn dụ - cũng vậy,nhưng lẫn một ít chất siêu thực trong thủ pháp cấu tứ,  đó là nét mơ hồ là bề sau đầy thi vị của hình tượng thơ!
Cố nhiên ở nhiều bài thơ HVT vẫn xử dụng lối cấu tứ quen thuộc, lối viết duy cảm, chuộng cách tả thực và suy lý theo một thế giới quan lôgic, nhất nguyên, đôi khi phảng phất hơi thơ cổ: tiếng gà vắt ngang rặng tre sớm/ đánh thức hương vườn chín/ trên thềm/ lấm chấm / dấu chân rêu. Vẫn gợi cảm và làm tập thơ thêm đa dạng. Nhưng ở đây chúng tôi chỉ muốn lẩy ra một vài nét mới trong bộn bề thơ anh để thấy con đường sáng tạo của anh vẫn chưa dừng lại và độc giả còn có thể chờ đợi một cách lạc quan về  một  hồn thơ đang độ chín .
2. Cái Tôi nhọc nhằn thế sự:
Đọc thơ HVT rất khó thấy rõ cái hình hài cụ thể của hiện thưc, anh cũng có nhắc đên những hàng cây, những bến đò, những con phố..., nhưng đó chỉ là những cái bóng hiện về trong tâm tưởng. Đi trong cuộc đời trăn trở suy nghĩ, và những bức ảnh nhân thế chỉ là cáí cớ để anh bày tỏ nhưng suy cảm của mình. Đó là cái mạnh nhưng cũng là cái khó của thi sĩ. Tả cụ thể nói được nhiều chi tiết, dễ nhận biết, thể hiện nội tâm dễ trừu tượng, khó lĩnh hội và đôi khi chênh vênh trên nhịp cầu siêu thưc. HVT cố gắng thử sức mình theo dấu chân các nhà thơ lớn đương đại, có bài thành công, có bài không, nhưng đó là hướng đi đáng trân trọng. Theo ý chúng tôi đó mới chính là lối đi của thơ, phẩm tính trở về cái bản chất của thơ mà người đời trông đợi: tâm trạng cuả nhà thơ trước cuộc đời.
HVT bước đi trong cuộc sống đầy tâm sự, không vô tư hay yếm thế, mà đầy dự cảm:
một cái gì đó hiện hữu sẽ tốt lên rất nhiều
cho mỗi thời khắc sống hướng về phía trước
anh đã bước lên không mệt mỏi
bằng đôi chân nối dài
mảnh ghép quả cảm
(một cái gì đó)
Với anh, dẫu tôn trọng cái nét riêng của cá thể thì trong cuộc đời đầy biến thiên, con người vẫn nối tiếp những bước đi của lịch sử để mà tiến về phía trước dẫu trải bao vật vả, khó khăn và mất mát chăng nữa.
ngôi tháp sống với thế giới riêng của mình/ bước chân lịch sử đang đến đi qua rồi lại đến
dấu rêu xanh mảng tường vỡ viên gạch bào mòn gió mưa
... đời chật hệt căn nhà bộn bề trăm thứ tiện nghi/ tôi tự ném mình qua cửa sổ
như quả chanh vắt/ khô
(tháp nghiêng)
Cộc sống với nhiều nghịch lý, nhà thơ bước đi nhiều trăn trở, và nhìn lại thời gian trôi cháy không thể không thấy những nét phí pham, những dòng đời đáng tẩy xoá, nhưng không ngừng vươn tới-một thức nhận của con người không mệt mỏi trước ngưỡng cửa chân lý:
ánh sáng mở ra phía bên này
như trang giấy với nhiều dòng gạch xóa
ánh sáng hệt nét mắt buồn
nhìn ngày tháng cạn dần trôi đi
gạch xóa lên trang giấy đời tôi
(di sản)
Trước ánh sáng chân lý, anh ngộ ra một điều, nhà thơ là một hành nhân lãng du tha hương lạc lối đang tìm về với những gì gần gũi mà thân thuộc, từ cõi ảo trở về với bến thực: một ngôi nhà con, một giếng cát đầy, một thân cau, một lá trầu cay, một tiếng sơn ca khuya khoắt, một tia nắng ấm mai này...
...cành cây vươn ra khi anh quỵ xuống
con suối hiện ra cơn khát trưa hè
à ơ đẫm ướt anh và cơn mê
mấy độ tha hương lạc lối tìm về
trong ánh sáng ảo
Nghịch lý cuộc đời, nhưng hữu lý trong sáng tạo, khi anh suy ngẫm về một hiện hữu sự sống và cái chết, cái mất đi cái còn lại:
nằm dưới kia
một ông vua một hoàng hậu một người hầu
một thanh gươm một tuấn mã một mê nón
một lệnh truyền một trống giục một lời van
một trung thực một đớn hèn một điên loạn
một ngọn lửa một đêm tối một chiều tà
một vận hạn một thức thời một nguyền rủa
tất cả dưới kia...
(lăng tẩm)
Sắc sắc không không, hào quang vương đế một thời qua đi, trên di hài cũ còn lại chùm hoa mần trầu.Tứ bài thơ không mới nhưng hình ảnh “đọng”, tương phản giữa quá khứ và hiện tại, giữa “câm lặng” và “lên tiếng” cuối bài “xoáy” vào người đọc một cảm giác lạ:
trầm mặc thành quách/ câm lặng
lên tiếng/ bên ngách tường/ xoáy/ chùm hoa mần trầu.
Nhà thơ đi qua thời  gian, đi qua không gian chiêm nghiệm một lối đi trong cuộc đời:
... năm ngày lặn giữa cánh rừng/ trườn qua lối mòn vắng dấu chân/ gai nghìn tuổi xẻ đôi lòng tay
lá trăm năm mài mòn vòm ngực/ anh là con thú ngồi liếm vết thương
...vnăm đêm ngụp trong đám tinh vân// nhào lộn với bầu trời đen đặc/đôi cánh tả tơi đôi cánh mọc dậy
chấm sao linh ứng vỡ oà/anh là chim bão khản giọng mùa qua
(năm ngày đêm).
Bài thơ là một ẩn dụ cả về đường đời lẫn đường thơ. Có nhà thơ thế kỷ trước ví thi sĩ như con chim bồ nông tự cắn vỡ ngực mình đem sự sống cho thơ. Nhà thơ thời nay thấy mình như con thú ngồi liếm vết thương sau chuyến băng rừng đầy gai góc, như chim báo bão khản giọng sau bao đêm ngụp lặn trong bầu trời đen mong tìm một lối đi ,một nghiệm sinh cho Thơ! Cay đắng vất vã nhưng hy vọng không nguôi tàn: từng ngày từng ngày từng ngày/ từng đêm từng đêm từng đêm/ cây khô lại mướt sao tàn lại hiện...
Trong chặng đường mới của thơ anh, cuộc sống hiện lên không còn đơn giản, một chiều, mà là một thế giới có nhiều nghịch lý, cuộc đời “không là một thang gác pha lê mà có nhiều đinh và nhiều dằm gỗ”( Langxtơn Hiugơ), nhà thơ là một  hành nhân nhiều trăn trở, anh muốn tìm về một một bến “thiện” trong đời thực, không nép mình vào những khuôn sáo cũ, muốn chọn một lối riêng.
3-  Những câu thơ hoa vỡ:
Tuy không có nhiều bài thơ nghĩ về nghề, nhưng trong một số ý tứ độc giả vẫn nhận chân được những suy nghĩ của anh về nghệ thuật, về người nghệ sĩ. Thơ không thề tách rời  cuộc sông, mãi mãi mang ơn Đời:
bông hoa vỡ ngàn cánh máu
rỏ xuống lót ổ câu thơ
bào thai thiên thần
(hoa vỡ)
Thơ phải thể hiện nhịp thở cuộc sống, dẫu trực tiếp hay gián tiếp, dẫu êm ái hay dữ dội, thơ luôn phập phồng hơi thở cuộc sống, Chính sự phập phồng đó tạo nên chân giá trị của Thơ.
con thuyền neo hai bờ sông mắt/ những câu thơ phía bên kia tường/ vọng tới mái ngói đã ngủ
... phố hệt người đàn bà/ im lìm giữa cát và sóng/ câu thơ cơn gió chướng/ phập phồng vạt áo tơ
Vượt lên kỷ niệm một thời, gián tiếp qua những bức Chân dung thơ của Nhà thơ Xuân Sách, tác giả muốn gửi gắm một tâm sự, một ai điếu cho quá khứ,rút ra những bài học cho sáng tạo nghệ thuật hôm nay. Những thăng trầm hiện trên trang giấy:
....hiện ra trên trang giấy những gương mặt/ chằng chịt đường gân thớ thịt căng phồng
.. .cái thời/ trên gương mặt ấy/ chân lý đường cong/ cái nhíu mày/ đủ cho người ta đi thụt lùi ra cửa
...vtrên trang giấy gương mặt ông vẽ/ máu thấm bao cánh hoa/ không còn hương sắc/ những cánh hoa/ bốc cháy/ nơi miền đất chết
....gương mặt của cõi người/ ôngđể tang từng số phận
(Chân dung)
HVT nhà thơ có quan niệm sống và quan niệm thơ ca nhất quán và cấp tiến. Anh không chọn lối đi bằng phẳng dễ dãi, vì như vậy “sức sáng tạo vì thế bị chững lại”. Anh đề cao cá tính sáng tạo, dấu ấn cá nhân -  nhân tố tạo sức sống bền lâu cho thơ ca:
“... Chúng ta đều nhận thức tác phẩm văn học mang dấu ấn cá nhân thường là tác phẩm giàu năng lượng sáng tạo, thu hút người đọc và sức sống bền lâu. Bởi vì bản sắc xã hội của mỗi người là những hạt nhân tích cực góp phần làm nên cá tính sáng tạo. Không nhà văn nào khi cầm bút lại không say sưa với những chi tiết đời thường nhỏ nhặt, khuất lấp đâu đó, trái nghịch đâu đó, nhưng đó là những nét có khả năng khái quát tô đậm bức tranh rộng lớn, thấm đẫm thân phận của một cộng đồng, một dân tộc. Tôi e rằng cứ chăm chăm vào cái lớn lao, say mê với viễn cảnh bao la trời đất dễ dàng không nhìn thấy nơi mình đang đứng, bóng dáng cụ thể của chính mình”.
Sầm Sơn - Thanh Hóa, 29/9/2009
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Trường ca Việt, một cách nhìn

Trường ca Việt, một cách nhìn...

Khoảng mấy năm gần đây trong nền văn chương nước nhà thể tài trường ca đã gây được sự chú ý của không ít tác giả cả trên hai phương diện lý luận lẫn sáng tác. Các tác giả Trần Thiện Khanh, Nguyễn Văn Dân, Lại Nguyên Ân, Chu Văn Sơn có cuộc trao đổi khá lý thú về Trường ca trên tạp chí Thơ 11-2009. Xin được góp thêm vài suy nghĩ  về  thể tài này.
1- Về khái niệm Trường ca.Trường ca cũng như nhiều thể tài khác trong văn chương theo quan niệm của M.Bakhtin là những khái niệm “không bao giờ bị đông cứng”… Trường ca, bởi vậy, để dễ tìm hiểu những đặc điểm trong sự phát triển đương đại nên xem là một thể loại văn chương đang biến chuyển và còn chưa định hình.
Không định nghĩa theo lối «duy danh», nhưng căn cứ vào sự kết hợp hai khái niệm «Trường» - «Ca» đã gợi ý cho chúng ta đây là một thể loại mà dung lượng câu chữ phải dài (trường), phải có yếu tố ngôn ngữ và có nhạc điệu (ca). Trong ý nghĩa nguyên thủy, nó không nhất thiết là Thơ, loại nghệ thuật nào có hai yếu tố trên đều có thể gọi là trường ca (nghĩa rộng). Chẳng hạn trong âm nhạc, trường ca (ca từ và âm nhạc) thường có độ dài lớn hơn nhiều so với ca khúc, cấu trúc tự do đi liền mạch được liên kết chặt chẽ bằng nhiều khúc đoạn. Thí dụ, trường ca Hội trùng dương của Phạm Đình Chương, Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi, Sông Lô của Văn Cao, Đóa hoa vô thường của Trịnh Công Sơn, Ta tự hào đi lên ôi Việt Nam của Chu Minh, gần đây là trường ca mang tên Người Việt của nhạc sĩ Minh Châu...  Tác phẩm văn xuôi - Những linh hồn chết - của Gô gôn được ông đặt tên trường ca trên ý nghĩa rộng rãi này, tác phẩm dài hơi, ngôn ngữ có tính nhạc!.
Lịch sử phát triển trường ca quả đã có nhiều thay đổi.Trong truyền thốngnghĩ đến trường ca là nghĩ đến “tác phẩm thơ có dung lượng lớn thường có cốt truyện tự sự hay trữ tình”, nó có nhiều phân nhánh nhưng chủ đạo là thể loại có cốt truyện lãng mạn với đề tài lịch sử cộng đồng. Dần dần trong trường ca các đề tài cá nhân, triết lý, đạo đức được tăng cường, các yếu tố kịch, trữ tình được khai thác dồi dào. Giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của trường ca là thời đại của chủ nghĩa lãng mạn đầu thế kỷ 19. Sang thế kỷ 20 trường ca phát triển theo hướng trữ tình, đề cao các phương diện tâm lý, triết lý,các xúc cảm tâm linh. Dù là thời hoàng kim hay lúc phân rã thì trường ca, “với tư cách một thể loại tổng hợp trữ tình - tự sự hoành tráng, cho phép kết hợp những chấn động lớn, những xúc cảm trầm sâu và những quan niệm về lịch sử, vẫn chiếm được vị trí nhất định trong thi ca thế giới, là thể loại mà bất cứ nhà thơ lớn nào cũng đều muốn thử sức” (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
Ở Việt Nam, thời cổ đại có những trường ca  nổi tiếng của các dân tộc anh em như Đam San, Đam Di,Xing Nhã..., thời trước CM cũng có một số trường ca gây được ấn tượng (trường ca của Phạm Huy Thông), trong hai cuộc Kháng chiến và sau ngày thống nhất thì thể loại này nở rộ. Trong cách nghĩ phổ biến đây là thể loại văn học mà nội dung chủ yếu ca ngợi những hiện tượng mang tính lý tưởng cao đẹp và phủ định những gì phản tiến bộ,u tối, trong trường ca nhà thơ lí giải những vấn đề liên quan đến số phận của Dân tộc ,của Cộng đồng,của Con Người, (có thể của cả những cá thể như tình yêu, tình bạn, lòng vị tha, đức hy sinh...) nhưng luôn có ý nghĩa xã hội rộng lớn.Về cấu trúc, trường ca  gồm nhiều chương, khúc mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố: tự sự, trữ tình và cả kịch. Nhân vật của trường ca có thể là một anh hùng, một vị tướng với nhiều chiến công lỗi lạc, mà cũng có thể là một con người với tất cả cái riêng tư. Tuy nhiên số phận đầy thử thách, khát vọng lớn lao, niềm tin yêu, lòng quả cảm vô song... là những yếu tố thẩm mĩ hàng đầu mà trường ca hướng đến. Đặc tính nổi bật của trường ca cổ điển là sự hướng đến “tinh thần cao cả", trường ca sau này (CN hiện thực xã hội chủ nghĩa) gắn với cảm hứng sử thi, với tính cách vĩ đại của nhân dân của dân tộc.
2- Về sự phát triển thể tài này trong văn chương Việt: Có ý kiến cho rằng trường ca hiện đại phát triển theo hướng trữ tình hoá (cốt truyện phát triển theo tâm trạng chủ thể), Thể loại trường ca tự sự (có cốt truyện phát triển theo hành trạng nhân vật, hoàn cảnh khách quan) không còn nữa vì đã có tiểu thuyết và điện ảnh làm thay việc kể chuyện, phản ánh hiện thực! Trên thế giới nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chú ý đến sự phân hoá của thể tài này. Họ cho rằng: Trường ca hiện đại thường phát triển theo hướng trữ tình, tâm lý, triết lý, các xúc cảm riêng tư đặt trong tương quan với những biến thiên lịch sử, trong khi yếu tố cốt truyện được giảm thiểu. Tuy nhiên ở Việt Nam, xét sự phát triển của thể loại này, trên cái nền chung các trường ca  tiêu biểu hiện đại ta thấy có hai khuynh hướng, một vẫn theo truyền thống nặng về tính tự sự kết hợp trữ tình, một phía khác nhiều tác phẩm theo khuynh hướng cách tân thiên về trữ tình.Có thể kể tên một số tác phẩm tiêu biểu Bài ca chim chơ rao - Thu Bồn,Theo chân Bác –Tố Hữu, Con đường của những vì sao - Nguyễn Trọng Tạogần đây Người anh cả của toàn quân(Trường ca vềTướng Giáp) – Hoàng Bình Trọng... thuộc loại thứ nhất.Các trường ca này  đều có nhân vật ,có cái sườn tự sự, thậm chí cả kịch tính. Đó là Bác Hồ, Tướng Giáp,hai cán bộ Hùng và Rin,hai chiến sĩ Mùa và La, 10 cô gái Đồng Lộc.., rất nhiều mảng tự sự về hai cuộc kháng chiến làm nền cho hành trạng các nhân vật, đan xen bên cạnh những suy cảm trữ tình của tác giả. Các trường ca Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh,Những người đi tới biển - Thanh Thảo, Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm, Trầm tích – Hoàng Trần Cương,Trường Sơn - Nguyễn Đức Mậu, Đổ bóng xuống mặt trời và Ngày đang mở sáng – Trần Anh Thái... thuộc loại thứ hai. Các trường ca này chủ yếu thể hiện những suy tưởng, những cảm xúc của chủ thể trữ tình.Mạch trữ tình la cái sườn chính xâu chuỗi các khúc đoạn, yếu tố tự sự được giảm xuống thứ yếu, chỉ còn đọng lại trong một vài chi tiết có tính liên tưởng. Sự khác biệt này ta có thể tìm thấy qua lời thổ lộ cuả hai tác giả Nguyễn Trọng Tạo và Trần Anh Thái.
Nguyễn Trọng Tạo cho rằng: “Tôi đã kết cấu trường ca đan xen tự sự và trữ tình. [...] Những  cô gái trong trường ca này là thanh niên xung phong tham gia chiến đấu ngay dưới mưa bom bão đạn quân thù,và chàng trai làngười lính lái xe chở đạn vào chiến trường, qua hai nhân vật này tôi muốn làm hiện lên thân phận và tâm trạng của người công dân trong cuộc chiến tranh vệ quôc” ( Tựa - Con đường của những vì sao). Còn Trần Anh Thái: “... tôi trung thành với khát vọng trên đường tìm kiếm cõi thẳm sâu chân thực trong chính bản thân mình…” (phát biểu ở Hội thảo về Trường ca TAT)
Phân chia như vậy là sát với sự phân hóa, sự đổi mới của trường ca hiện đại trong bối cảnh xã hội VN nơi những hiện thực lớn lao luôn  tạo tiền đề giá trị trực tiếp cho nội dung tác phẩm. Hiện tình văn chương VN luôn là sự đan chéo, phân hóa để hội nhập, nếu chỉ quan sát một số hiện tượng đổi thay rồi khái quát lên mà không thấy sự tiếp nối e khi đi sâu tìm hiểu đặc điểm nội dung cũng như các biểu trưng nghệ thuật sẽ khiên cưởng. Vì rằng: đường biên thể loại giữa trường ca tự sự và trường ca trữ tình hiện đại trong văn chương Việt có thể vạch ra được. Đó là tính đa dạng trong khả năng chiếm lĩnh bản chất hiện thực, là sự phản ánh con người trong cái nhìn đa diện, cũng như sự thể hiện hiện thực qua các đặc trưng nghệ thuật hiện đại của trường ca tự sự rất khác ở các tác phẩm trường ca trữ tình.
Trong sự hiện hữu của các thể tài thơ, trường ca, thơ dài với truyện thơ các đặc điểm cần phân biệt. Đều là những tác phẩm dài hơi, truyện thơ có nhân vật, có cốt truyện, tác giả thường khuất lấp đằng sau, thơ dài thì chủ yếu bày tỏ những suy cảm của tác giá - cái tôi trữ tình bộc lộ trực tiếp. Hai thể tài này có đường biên khá rõ, dễ phân biệt. Nhưng giữa thơ dài và trường ca hiện đại đều lấy cái mạch trữ tình làm cái sườn chính để phát triển, nếu lấy cái chỗ đứng ,cái sự phát ngôn của tác giả làm tiêu chí phân  biệt thì đôi khi không rõ ràng, bị nhầm lẫn, vì chúng đều liên kết với nhau xung quanh chủ đề bằng những suy cảm trữ tình, tâm lý, triết lý của tác giả dẫu có nhiều chương đoạn phân khúc chăng nữa.Ở đây cái chỗ dựa duy nhất để bám vào mà phân biệt, đó là một tư duy hướng về tinh thần cao cả với cảm hứng sử thi, ca ngợi những gì mang tính lý tưởng cao đẹp, với tính cách vĩ đại của nhân dân, dân tộc, “sự biểu hiện tư duy của một dân tộc dưới tất cả mọi hình thức và trong tất cả mọi phương thức của nó” (Hêghen - Mỹ học, những văn bản chọn lọc - Nxb KHXH Hà Nội 1996, tr176). Nói một cách khác cái tôi trữ tình, trực cảm đều có trong thơ dài và trường ca trữ tình, nhưng khác về chất, cái tôi trữ tình trong trường ca chính là chủ thể trữ tình mang sắc thái cộng đồng, thể hiện tính lý tưởng tính cao đẹp của cộng đồng ,sắc thái cá nhân không lộ rõ như trong thơ trữ tình.
3- Về đặc điểm nghệ thuật của hai loại trường ca hiện hành, chúng ta có thể tìm thấy những điều riêng biệt dựa vào ý kiến của Hêghen khi ông bàn về trường ca trữ tình và tự sự sử thi. Ông cho rằng “...nội dung của trường ca trữ tình không phải là đối tượng trong sự vận động hiện thực của nó, mà là sự vận động bên trong của tư duy nhà thơ, những biến đổi sôi động hay yên ắng, dòng chảy êm đềm hay hành tiến mãnh liệt, cũng như những bước nhảy đột ngột biểu hiện ra ở sự vận động bên ngoài của nhịp điệu và sự hài hoà ở các từ [...] nó phải nhào nặn một cách nghệ thuật sự vận động của thời gian dưới những hình thức khác nhau.” (Y.N. nhấn mạnh) (sđd, tr191). Còn tự sự sử thi (trường ca tự sựvới đặc điểm có nhân vật phát triển trên cái sườn tự sự, biểu trưng nghệ thuật là “trình bày diễn biến của chúng theo sự triển khai chủ yếu về mặt không gian” (sđd, tr191). Hay nói một cách khác trường ca trữ tình nổi bật ở chiều sâu tâm lý, tầm cao triết lý với các xúc cảm mới mẻ thăng hoa trong mối liên hệ với những chấn động lịch sử lớn lao. Nó thuộc loại nghệ thuật vận động thời gian  có sự thể hiện bên ngoài qua giọng điệu phong phú và hài hoà ngôn từ... Trường ca tự sự thuộc loại nghệ thuật triển khai chủ yếu về mặt không gian, nổi bật chung là tính hoành tráng lịch sử của các sự kiện,cùng bối cảnh hoạt động và tâm lý nhân vật.
Đối chiếu các trường ca tiêu biểu gần đây,Trường ca về Tướng Giáp -Hoàng Bình Trọng và các trường ca Ngày đang mở sáng, Trên đường trở đi  – Trần Anh Thái  ta sẽ có những minh chứng cụ thể.
Trường ca về Tướng Giáp của Hoàng Bình Trọng, có rất nhiều chất tự sự men theo cuộc đời vị tướng. Nhiều chi tiết tác giả kể rất thực, rất bình thường nhưng tổng hợp lại rất hoành tráng mang được tư thế hiên ngang của dân tộc trong lòng nhân loai. Trần Đăng Khoa cho rằng ở trường ca này tác giả “... đã tạo dựng cả một chiến trường ngổn ngang và bề bộn [...] Hoàng Bình Trọng bám sát từng chi tiết có thật trong cuộc đời chỉ huy trận mạc của vị tướng thiên tài [...] là cái giấy thông hành để dân tộc ta có thể hiên ngang đi vào cõi mênh mông bát ngát của xứ người...” (Y.N nhấn manh). Bên cạnh, các trường ca Ngày đang mở sáng, Trên đường trở đi của Trần Anh Thái, cốt truyện sự kiện bị phân rã và cốt truyện tâm lý được đẩy lên đến cao trào. Trần Anh Thái tổ chức trường ca nương theo dòng cảm xúc. Sự thăng trầm dồi dào, mãnh liệt của tâm trạng tạo nên giọng điệu chính của trường ca, mà có nhà phê bình cho là gịọng điệu của “Lửa“. Cái làm nên khác biệt của trường ca Trần Anh Thái là sự phá vỡ những nguyên tắc cấu trúc của trường ca truyền thống, cấu trúc trong trường ca của anh dựa hoàn toàn vào cảm xúc, lấy cảm xúc làm mạch chủ đạo, mạch sự kiện chỉ nảy sinh nhờ liên tưởng như lời nhận xét của Chu Văn Sơn “không bám vào những sự kiện chính sử, mà kết hợp chính sử với dã sử để tạo ra một không khí huyền sử đậm nét. Trường ca Trần Anh Thái mạnh ở yếu tố trữ tình” .
Chúng tôi lưu ý sự phát triển hai khuynh hướng trường ca đương đại VN: trường ca trữ tình và trường ca tự sự, mong làm nổi rõ sự phong phú đa dạng chung của thể loại này – dàn “đại pháo” - của nền Thơ Việt, lấy đó làm cơ sở, cổ súy cho một sự phát triển đa dạng các phong cách sáng tác, các tác giả tìm gặp và phát triển được cá tính sáng tạo của mình.
27/1/2010
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/

XXXXXXXXXXNhà văn của những mảnh đời bất hạnh

Nhà văn của những mảnh đời bất hạnh!

(Đọc “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác...”* của Nguyễn Ngọc Tư)
Trong số các nhà văn Việt Nam từng nhận giải thưởng văn học Asean Nguyễn Ngọc Tư có một vẻ riêng, không phải chị là nhà văn nữ trẻ nhất, mà chính vì cái tâm niệm  đựơc  thể hiện trong bài viết kỷ niệm về sự kiện này – giải thưởng năm 2008, chị nói “... nếu vẽ một biểu tượng của nghề viết  mà tôi đeo đuổi , tôi sẽ vẽ hình ảnh của giọt nước mắt” [...] “những tác phẩm của tôi chưa có được sức mạnh của nước mắt nhưng tôi vẫn đang cố gắng hết mình”**.Chính bởi cái tín niệm nghệ thuật đó chi phối nên các tác phẩm của chị đều nghiêng đến những số phận, những mảnh đời bất hạnh.“ GIÓ LẺ và 9 câu chuyện  khác”,  tập truyện mới phát hành cuả Nguyễn Ngọc Tư là một minh chứng .
Tác phẩm không xuất hiện một nhân vật “số đỏ”, hay một con người hãnh tiến nào hết và hoàn cảnh sống trong tác phẩm cũng  tầm thường ,nhàn nhạt nếu không nói là vô vị.Tuy nhiên với cái nhìn nghệ thuật trên phương diện thẩm mỹ thì cuộc sống hiu hắt ở cái Xứ Sầu  lại đem đến cho tác giả nhiều ấn tượng để viết thành văn. Nhờ cái “tài Văn” của tác giả mà những câu chuyện đơn giản  bổng trở nên lấp lánh , xoáy sâu vào tấm lòng người đọc , làm vương vấn maĩ dẫu khi trang sách đã gấp.         
Đây là câu chuyện về xóm nghèo Thổ Sầu hàng ngày đón khách du lịch tham quan. Niềm vui vì thu hoạch kinh tế du lịch cho lớp người này nhưng u buồn và chua xót cho lớp người kia ,vì cứ phô bày mãi cái nghèo đói, cái hoang dã ra cho người ta tìm hiểu, xoi mói, người ta ngạc nhiên, thương xót thì quả thật cũng vạn bất đắc dĩ!(Thổ Sầu )Một cảnh núi lở làm tan hoang một vùng dân cư  và bao nhiêu ngang trái ,thô kệch ngẫu nhiên phơi ra.Cuộc sống lang chạ ê chề một cách tự nhiên hiện lên bất khả kháng trong đổ nát, hổn độn làm ngơ ngác cả những tâm  hồn bé dại (Núi lở).
Tập truyên gợi buồn vì chúng ta gặp nhiều thân phận không may mắn. Một nỗi buồn khôn khuây trùm lên gia đình nọ khi trong cơn mê bà nội nhắc lại cái chết của thằng hai Ut Hơn phiá bên kia chiến tuyến bị người anh bắn chết. Nỗi đau lớn qua đi,đứa con nhỏ sót lại của Ut Hơn dẫu được cả gia đình yêu thương đùm bọc, cuộc sống thơ ngây của nó vẫn có nhiều vết gợn (Vết chim trời). Một nỗi buồn khác vây lấy đoàn tàu chở hai cha con về quê xa, nơi có người đàn bà đang chờ cha thằng bé về làm đám cưới  . Thằng nhỏ Sói đã xuống một  ga lẻ bỏ đi , mặc người cha khốn khổ tìm kiếm trong hoảng loạn đau đớn.Nó thương cha lắm nhưng mà việc làm của cha nó, nó không san sẻ được (Ấu thơ tươi đẹp ). Rồi cái chết của Vĩnh một thanh niên ưa phiêu lãng  sau những tháng ngày lang bạt hoan lạc tiêu phí cả thời trai, muốn đi tìm cảm giác lạ  trên núi Puvan  , chờ xem “hoa sầu” nở để rồi nhận  một cái chết vô nghĩa , trốn chạy những tháng ngày trống rỗng đang đợi chờ trước mặt (Sầu trên đỉnh Puvan) ). 
Nhiều số phận không may mắn như mặt nước đầm  hắt hiu buồn  nhưng lại nổi lên những đóa hoa súng sáng trong ,tươi tắn  - những tâm hồn binh dị , tinh tế , phong phú.
Như chính Ngọc Tư thổ lộ, chị hướng ngòi bút đến những thân phận nhỏ bé, những mảnh đời bất hạnh   nhưng ẩn sâu bên dưới là một nguồn năng lượng trầm tích khiến cuộc đời không mất đi hy vọng. Người đọc thông cảm với  nỗi day dứt theo tháng ngày của người anh trước cái chết không may của người em, cho dù đứng bên kia chiến tuyến, hay tâm trạng băn khoăn của người cha trước ý nghĩa mập mờ của một câu thành ngữ khơi dậy trong ông một mặc cảm về sự kém hiểu biết, ít vốn sống của mình.Tấm lòng trắc ẩn của người ông trước đồng tiền kiếm được trên sự nhọc nhằn tủi hổ cuả dân làng...Những trang miêu tả tâm lý của tác giả đằm sâu và tinh tế: cô gái lái xe đã khước từ  công việc quen thuộc êm, nhàn vì phải tiếp xúc hàng ngày với ông chủ hào hoa nhưng nhạt nhẽo và giả tạo.Một nhà nghiên cứu VHDZ cao tuổi sau những tháng ngày bươn trãi sưu tầm  khi  chia tay với một nữ cộng tác viên trẻ trung,phóng khoáng bỗng dâng trào nỗi nhớ nhung thuần khiết và một xúc cảm đằm thắm .Tất cả đều đứng ở bờ ranh của sự trong sáng và u tối ,của cái thiện và cái ác, “cái tài”  của Nguyễn Ngọc Tư  là   nơi mấp mé bờ vực đó vẫn giữ cho nhân vật một nét của thiên lương, để rồi chỉ chờ chút gió lành của cuộc sống thoáng qua là bùng lên ánh sáng của nhân phẩm.
Ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư  trong tập truyện hướng nhiều đến trẻ em và phụ nữ .Những cậu bé như Vĩnh , Sói,và các em bé không tên khác hiện lên trong các truyện là những em bé nhạy cảm với nỗi u buồn về sự mất mát của bạn bè, người thân nhưng luôn tự chủ trong hành động.Hơn một lần chúng ta đã gặp và cảm động với những người phụ nữ đau thương mà nhân hậu ở vùng đất Cực Nam qua tác phẩm khá nổi tiếng “Cánh đồng bất tận”  của chị  .Trong tập truyện này vẫn hiện hữu những con người đáng mến đó nhưng ở nhiều lối rẽ khác của cuộc đời .Thật khó nguôi quên hình ảnh người đàn bà bất hạnh trong cuộc sống gia đình đến với người đàn ông yêu thương giữa mùa mưa bão ( Một chuyện hẹn hò ). Tình cảm chân thật mãnh liệt đã vượt khỏi những khắc nghiệt của  lề thói cũng như sự hung bạo của thiên nhiên . Họ đến với nhau trong lo âu nhưng dịu ngọt, hiến dâng cho nhau một tình yêu đầy thảng thốt .Cái hình ảnh người đàn ông lao theo thất vọng  trong mưa lũ và cái cảnh người đàn bà  chới với  cô độc, giữa đầm nước mênh mông, sóng cồn lên giận dữ  đã gợi lên trong tâm thức người đọc một  đau xót khôn nguôi về thân phận người phụ nữ nơi miền đất hẻo lánh, dẫu bao năm tháng đã đi qua với sóng gió bao cuộc chiến chinh nhỏ to chìm nổi!
Đặc biệt hình tượng cô gái câm trong truyện “Gió lẻ”.Cảm nhận về thiên truyện này cũng như với “Cánh đồng bất tận”    trước đây cuả người đọc không hoàn toàn giống nhau. Nếu người đàn ông từng trải trong “Cánh đồng bất tận” đã tìm cách trả thù đời một cách tàn nhẫn qua mối quan hệ với phụ nữ, cho đến khi đứa con gái yêu thương bị nạn ông mới thức tỉnh, thì trong “Gió lẻ” cô gái câm chỉ là một con chim sẻ nhỏ ngờ nghệch ngây thơ cho đến cuối chặng đường, mới  tự phát  làm được một việc có ích là kéo tay lái của Dự cứu “đại ca Buồn ” khỏi bị tông xuống vực.Trong cả hai thiên truyện đều không có người tốt một cách đích thực và hoàn cảnh sống đầy đủ  “tính Người” dù chỉ thoáng qua,  chỉ có mầm mống của cái thiện ẩn chứa trong bao số phận, có dịp mới bùng lên.Từ một cô bé ngây thơ  trong sáng bị đẩy vào đời bởi  ông Tám Nhân Đạo, rời khỏi miệt rừng hoang vu cô trôi nổi nhếch nhác  trong các bến bãi cuộc đời, có lúc tưởng đã mất tăm,  có lúc như được gặp một hạnh phúc may mắn  nơi Dự- người “lơ” xe vô gia đình , nhưng lại sa vào  bàn tay đại ca Buồn lái xe một cách vô cảm nhưng hữu lý trong cuộc đời bơ vơ bất lực trước mọi  mưa gió của cô .Một cơn ghen trần thế mơ hồ xuýt gây thành án mạng. Nhưng trong giây phút hiểm ngheò cái “tính thiện” của cô gái bừng tỉnh,cô đã gan dạ mạnh mẽ “giằng tay lái của Dự và kiệt sức níu chiếc xe trôi nghiêng về phía mình , phía không ông”.Cái phút xuất thần mạnh mẽ , thiên lương nơi em bừng trổi dậy để rồi tắt đi vĩnh viễn theo số phận !Cái phút giây đó làm cho em thành Người đúng bản chất , làm cho cuộc đời không mất hy vọng.Hai kẻ đi vào “bóng tối vô tận” , kẻ thứ ba “chơi vơi bên mép vực rã rời trong gió lẻ , sương mù, đá và cây”. Còn lại trong lòng người đọc không chỉ một nỗi xót thương dằng dặc mà còn một “đốn ngộ” về thiên lương về nhân phẩm trong những mảnh đời tưởng như đã bị bao bất hạnh làm thui chột nhân tính
Thông điệp mà thiên truyện gửi đi : Xin đừng đẩy những con người bé nhỏ vào nơi vô định. Hãy xót thương và tin tưởng cái tốt có ở khắp mọi nơi dù le lói hay bừng sáng .
Người không may mắn trong cuộc đời tìm được nơi tập truyện  bao  bầu bạn cùng cảnh ngộ. Kẻ may mắn yêu hơn cuộc sống mình đang thụ hưởng ,nhưng biết  thông cảm hơn với bao đồng loại đang khốn khó.
Tập truyện khẳng định thêm phong cách văn chương Nguyễn Ngọc Tư : bình dị , chân thật, trong sáng , đậm đà hương vị miền Cực Nam từ chi tiết , hình ảnh đến ngôn ngữ. Ta từng biết những nhân vật Nam bộ thẳng thắn, ngoan cường , yêu ghét đến tận cùng gan ruột ở các tác phẩm thế hệ trước như Anh Đức, Trần Hiếu Minh,Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng... nay Nguyễn Ngọc Tư  bổ sung vào đấy những thân phận bé nhỏ, mảnh mai mà giàu tình thương và hy vọng.
Tập truyện cũng ghi nhận một tiếp cận  của Nguyễn Ngọc Tư  vào trào lưu mới ở lối kết cấu đồng hiện (Sầu trên đỉnh Puvan, Núi lở, Gió lẻ  ) và sự hoá thân vào các ngôi 1, ngôi 3, và loài vật để kể chuyện (Vết chim trời, Ấu thơ tươi đẹp, Một chuyện hẹn hò) làm thay đổi tiết tấu  tự sự ở từng thiên truỵện cho thêm phần dí dỏm, hứng thú. Nhưng dễ nhận dạng một phong cách viết truyện khá ổn định của Nguyễn Ngọc Tư, chị  không ồn ào chạy theo các mẫu mã tân kỳ mà âm thầm nuôi dưỡng một cá tính sáng tạo lấy sự chân tình ,sự xót thương làm căn bản, lấy hương vị nắng gió của một miệt đất quê Nam bộ đầy gian lao trắc trở nhưng cũng lắm sắc màu làm điểm trang, Nguyễn Ngọc Tư nối tiếp cái cách thể hiện quê kiểng chơn chất mà sâu lắng của các nhà văn Sơn Nam,Đoàn Giỏi... , nhưng nó là cái phía này ồn ào sóng nước bổ sung cho cái phía kia trầm mặc núi non  của quê Việt.
Văn chương chân chính mang lại cho  độc giả niềm hạnh phúc lớn lao là sau khi đọc xong tác phẩm đều muốn  tự soi rọi bản thân  để nâng mình lên, đó là hiệu ứng cao cả và thiêng liêng  giúp nó luôn đứng vào thứ hạng bậc cao trong kho tàng đời sống tinh thần nhân loại.Chẳng thế mà khi  gặp những trắc trở trong cuộc đời có tác giả  đã  thốt lên : Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy!  Văn chương nhiều lúc được xem như vị cứu tinh trong cuộc đời gian khó.Có được vị thế đó là nhờ trực tiếp hay gián tiếp nó luôn tìm cách  khơi dậy những suy cảm của độc giả về cái thiện và cái ác ,về  nỗi đau và niềm vui trong cúộc sống. Nó vừa có sự thuyết phục tức thời vừa có sự ám ảnh  lâu dài đến đời sống tinh thần con người. “Gió lẻ...” đã ít nhiều mang đến cho độc giả  cảm nhận đó.
Chú thích: 
* Nhà Xuất bản Trẻ 9-2008
** Bài phát biểu tại lễ nhận giải văn học ASEAN 2008.
18/12/2008
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Hồn thơ sâu lắng tình đời

Hồn thơ sâu lắng tình đời

Thơ hiện đại thường được chia thành các loại: thơ tư tưởng, thơ trữ tình, thơ ngôn ngữ, để phân biệt loại này nặng về suy nghĩ, loại kia nặng về tình cảm, loại nọ nặng về vẻ đẹp của ngôn ngữ. Đó chỉ là một cách cảm nhận tương đối!
Thơ của Trần Nam Phong, chúng tôi nghĩ thuộc loại thứ hai, loại trữ tình vì quả thật trong thơ anh tình cảm trĩu nặng, lan tỏa trong sự đa dạng đề tài mà trong đó sâu sắc nhất là tình yêu: tình yêu đối với mẹ, tình yêu với bạn bè, gia đình, tình yêu với quê hương, tình yêu đối với lịch sửt! Thơ Trần Nam Phong, điều nổi bật trước tiên đến với người đọc là sự chân thât, buộc người đọc lấy sự chân thật mà hiểu mà cảm chứ không phải sự “thông thái” thường tình. Có một cái gì đấy bàng bạc trong tình yêu ở Thơ anh, trĩu nặng một nỗi niềm, một suy tư chứ không phải là thứ tình yêu vui tươi, nhẹ nhàng ta thường gặp. Thơ anh phảng phất một nỗi buồn  mà như nhà triết học người Anh- Alanh Wats có nói:  nỗi buồn là một vẻ đẹp để phân biệt con người với các loài, phân biệt người cao thượng với người tầm thường.
         Trước đây Tổ Hữu cũng đã từng viết “ Buồn ta buồn của muôn đời, buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn, buồn ta ấy lửa đương nhen, buồn ta ấy rượu lên men say nồng”; sự lo lắng về cuộc đời, trách nhiệm với con người đôi khi làm cho tâm hồn thi sĩ có một nỗi buồn không phải bi quan mà một nỗi buồn giúp người ta đứng lên mạnh mẽ .Từ tập Viết chớ sen lên (1)cho đến tập thơ mới Thức dậy một dòng sông(2), tiếng thơ của Trần Nam Phong say đắm, lan tỏa, với bất cứ đề tài gì, thể thơ gì người đọc cũng đều thấy có một sự trầm tích sâu lắng suy tư về cuộc đời về con người.
         Chỉ một lần thăm quê, nhìn hàng cau, bụi chuối, nghe tiếng gió ngoài đê mà lòng tác giả cuộn lên bao suy tư, từ hiện tại nghĩ về quá khứ, từ người còn nhớ đến người mất, từ hiện thức nghĩ về ước mơ.Và nhà thơ đượm bâng khuâng về sự đổi thay, thời gian trôi đi niềm vui chưa trọn vẹn, từ “kiếp này” nghĩ đến “kiếp xưa” tâm tình còn phảng phất heo may trong nụ cười của Mẹ:
     ...Mẹ cười, tóc bạc phơ bay/Ngoài đê tiếng gió heo may đã về, để rồi mong ước:  Bao giờ xanh lại ngày xuân/ Cho đời mẹ bớt tảo tần nắng mưa.
 Anh viết về tình yêu  không nhiều nhưng cũng để lại một dấu ấn riêng:
...Đêm nay trăng thức ngoài hiên/Đợi em xem có nỗi niềm nào không
...Gió là gió của hai ta/Trăng là trăng của thật thà môi em
      Anh viết nhiều về thế sự, về nỗi đời, về sự thay đổi chìm nổi của kiếp người...  Khi con người trải qua mất mát, lên xuống, con người gặp nhiều trắc trở, nên luôn lo lắng suy tư về lẽ đời và trong khi suy nghĩ nhiều về các nghịch cảnh nhà thơ cũng nghĩ đến, gọi tên một “đấng từ bi” nào đấy mong làm vơi đi nỗi buồn, mong con người sống giàu tình yêu hơn.  Thẩn thơ áo tím, áo nâu/ Nào ai biết được cao sâu cõi người/  Hãy tin trong Phật có trời/ Tin lòng chung thủy của người mình yêu.
                 Nỗi bâng khuâng triết lý về “đạo” về “duyên kiếp” trong thơ anh có lẽ là ở lòng hướng thiện, sự công bằng nhân ái của con người. Trong cái mâu thuẫn của sự đời anh đứng về phía lương thiện về cái tốt đẹp để suy tư và hy vọng
 ... Mưa chay có thấm cửa thiền/Làm sao mang được vô biên kiếp này
Một tác giả đã nói về anh “từ quê ra phố nhầu nhĩ cuộc đời, nhầu nhĩ tâm tư (Van.vn.vn) có quá chăng, nhưng quả thực cuộc sống đô thị với bao nhiêu phức tạp cũng có đôi khi làm bụi mờ tâm hồn trong sáng bắt đầu của người thi sĩ đồng quê, tuy nhiên bao thăng trầm không xóa được, không làm phai mờ được tình yêu quê hương, khi tỉnh cũng như khi mơ chan chứa trong thơ anh.
...Bàn cờ con tốt làm vua/Kim tiền, chứng khoán bỏ bùa nhà sư
Thổ thần nhảy múa thực hư/Khói lên nghi ngút ngất ngư hầu đồng
...Thị vàng thơm tận giấc mơ/Hội làng cô tấm cài nơ hoa cà
Đang đêm vọng tiếng tù và/Hình như phía bụi tre ngà trổ măng
(Giấc mơ tuổi thơ)
          Tình quê luôn là một vệt dài sâu nặng trong thơ từ cổ chí kim, đến anh vẫn có cái gì riêng tư được tạo nên từ sự phối sinh tình cảm giữa một hồn thơ chân chất, với một vùng quê thanh nghèo mà giàu truyền thống, quê hương trong anh bởi vậy hiện lên thật đẹp, tuy vất vả về thiên nhiên khắc nghiệt, thăng trầm về đời sống kinh tế nhưng vẫn  luôn tỏa ánh sáng vời vợi.
               Cuộc đời, tình yêu , trong thơ anh chảy một dòng với lịch sử. Lịch sử cũng như tổ tông, vẻ đẹp, bề dày của lịch sử nuôi dưỡng tâm hồn con người hiện đại .Trần  Nam Phong nhận thức được điều đó, tự hào và luôn tìm về với lịch sử để nuôi dưỡng hiện tại. để kiên cường và hy vọng sống.  Chỉ từ một con kênh nhỏ anh nổi hiện tại với quá khứ làm nổi bật những thăng trầm của lịch sử và không nguôi hy vọng .
 Ơn dòng sông chảy mạch nguồn nước Việt
Ơn tiền nhân vì Tổ quốc khơi dòng
Ơn bông lúa biết cúi đầu niệm hạt
Thức dậy mùa màng từ những dòng sông.
              Phía sau nỗi buồn là hy vọng. Đọc Thơ Trần Nam Phong như uống nước chè ngon, sau vị chát là vị ngọt, sau những vần thơ phảng phất nỗi trăn trở là những hy vọng. Lòng thi sĩ luôn băn khoăn một lẽ sống, cuộc sống lớn lao mà mình bé nhỏ, nên trĩu nặng một ưu tư Người đi ra bể tìm sông/ Ta về nhặt cái mênh mông cõi người.Lo lắng suy tư thấy rõ trách nhiệm của một kiếp người, sức sống quê hương, sự giáo dục của cha anh trong quá khứ đã rèn luyện cho tác giả một tư cách công dân một lòng tin bền bĩ:   Hãy tin trong nhiễu có điều/ Trong mây có móc, trong chiều có giông…
Đời sống tinh thần mãnh liệt, tính cần cù nhẫn nại của đời trước còn truyền lại cho đời sau, tạo một cốt tính để thích nghi hoàn cảnh! Kỳ Anh mảnh đất phên dậu trong lịch sử, để lại nhiều tiếng vọng hào hùng, nhiều chiến tích bất tử. Trần Nam Phong gắn bó văn hóa xứ quê và không phải điều đó không ảnh hưởng ít nhiều trong sự chuyển dịch âm hưởng đời sống vào thi ca tạo một nét vững vàng riêng mà quê hương mang lại.
Sức vóc cha ông
Hóa dòng sông khát vọng
Cho tôi được gọi
Dòng Sông Nước Việt muôn đời 
Tôi tin quê như tin về Đất Tổ
(Thức dậy một dòng sông)
Thế tài thơ anh quen thuộc là lục bát, một thứ lục bát nhuần nhụy tự nhiên trong trẻo như hồn đất, hồn quê nhuần thẩm trong tâm hồn anh (Nguyễn Việt Chiến), anh cũng có viết thơ tự do và có những thành công nhất định, tuy nhiên đóng lại vẫn là thơ lục bát. Nhiều người khen thơ lục bát của anh tươi mát uyển chuyển, quả đúng như vậy, hình như loại thơ này hợp với thể tạng của tâm hồn anh, sự dung dị tâm hồn có thể dung nạp được ngôn ngữ chân quê mộc mạc tạo nên một nét riêng dân dã của thơ anh.
Thơ anh viết tự nhiên không dụng công lập tứ như nhiều tác giả đương đại mà chỉ trực tiếp thể hiện những tình cảm nặng trĩu miên man của mình, tuy nhiên nhiều lúc vẫn bột phát những tứ thơ khá đa dạng làm cho bài thơ có ấn tượng với người đọc. Đó là khi anh sử dụng lối tương phản giũa xưa và nay, tương phản giữa cảnh đời và lòng người, giữa thế sự và lịch sử ,giữa thiên nhiên và cuộc đời giữa yêu và ghét...,những câu thơ tự nhiên nhưng để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc.
Thơ anh viết trong những ngày đau yếu, đọc thơ anh chúng tôi chợt nhớ đến câu thơ của Trinh Đường Anh vịn câu thơ mà đứng dậy, anh đến với chúng tôi cùng những nỗi niềm chân thành, thương cảm.
Chú thích:
(1), (2) Hai tập thơ do NXB HỘI NHÀ VĂN xuất bản các năm 2022 và 2024.
28/9/2025
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Mùa xuân và những khúc hoan ca trong thơ Xuân Diệu thời thơ mới

Mùa xuân và những khúc hoan ca trong thơ Xuân Diệu thời thơ mới Chủ nghĩa lãng mạn được xây dựng trên cái nền tư tưởng không bằng lòng với t...