Thứ Tư, 8 tháng 7, 2026

Cô gái Quảng Trị với nồng cay tiêu Cùa

Cô gái Quảng Trị
với nồng cay tiêu Cùa

Đọc 14 bài bút ký của nữ nhà báo Đào Khoa Thư, trong tập bút ký “Mùa bình thường” in chung với nhà báo Đào Tâm Thanh, do Nxb Thuận Hóa ấn hành tháng 7 năm 2025, tôi thật sự khâm phục cách viết khoáng hoạt của cô gái trẻ. Không gian được đề cập là mảnh đất quê nhà thân thương và những đất nước mà cô đặt chân đến để học tập, công tác, giao lưu, trải nghiệm. Lời văn tươi mới tràn đầy cảm xúc, lối viết chân thực, cởi mở, ngắn gọn cho ta thấy bao điều mới mẻ. Đọc lần lượt từng bài bút ký, thật thích thú với bao điều hấp dẫn qua từng câu chuyện kể về cuộc sống đời thường và các sự kiện diễn ra rất bổ ích.   

Nữ nhà báo Đào Khoa Thư quê ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; cựu học sinh chuyên Anh, Trường PTTH chuyên Lê Qúy Đôn của tỉnh; cựu sinh viên Học viện Ngoại giao - Hà Nội; từng làm phóng viên, biên tập viên báo Việt Nam New (tờ báo tiếng Anh của TTXVN); báo Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh. Cô vinh dự được nhận học bổng Fulbright và tốt nghiệp thạc sĩ tại Đại học New York - Mỹ.

Nhà báo Đào Khoa Thư nguyên phóng viên Thời sự quốc tế, Báo Tuổi Trẻ; từng tháp tùng Thủ tướng để đưa tin nguyên trang, như bài “Bế mạc ASEAN 37, chiều 15-11-2020 - hướng đến vai trò hạt nhân khu vực”; “25 năm quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ những bước tiến dài trong ¼ thế kỷ” - Tuổi trẻ 11-7-2020; “Làm cố vấn của tổng thống (Indonesia) là phụng sự Tổ quốc” - Tuổi trẻ 2-9-2020; “ASEAN đoàn kết để vượt biến cố lịch sử” - Tuổi trẻ 27-6-2020; “Việt Nam chủ động, trách nhiệm và dẫn dắt” - Tuổi trẻ 27-6-2020; “Dù ai là Tổng thống, Việt - Mỹ vẫn bền chặt” - Tuổi trẻ 23-11-2020…Ngày 20 tháng 7 năm 2020 Hội đồng giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại tặng giải Nhất thể loại báo in cho tác phẩm “Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều: Hãy cho hòa bình một cơ hội”, ngôn ngữ Tiếng Anh cho nhóm tác giả, trong đó có Đào Khoa Thư.

Nếu như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có bài thơ “Mùa bình thường” với những câu thơ mang hình ảnh chân thực, sống động: “Nhà văn ngồi viết văn/Nhà sử học bận rộn với quá khứ/Viên quan tòa mặc áo thụng nói lời ngay thẳng/ Tôi chỉ mong mùa bình thường/ Đủ cả hoa và rác như thói thường vẫn thế/Có điều lương tâm ta trong/Sống bình thường và khao khát xa xôi…”. Nhạc sĩ Văn Cao có nhắc đến “mùa bình thường” trong ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” có ca từ giản dị, réo rắt, vui tươi: “Rồi dập dìu, mùa Xuân theo én về/Mùa bình thường, mùa vui theo én về”. Còn nhà báo Đào Khoa Thư mở đầu tập bút ký là bài “Mùa bình thường”, tác giả kể hồn nhiên chuyện sinh viên, nghiên cứu sinh ở rải rác khắp New York, có sự tham gia của cô gái từ San Francisco bay sang bờ Đông thăm thú vào một ngày cuối tuần. Họ hẹn hò và tổ chức gặp mặt để “có dịp trổ tài nấu những món quen thuộc: nem rán, thịt đông, canh bóng thả, su hào, cà rốt tỉa hoa rồi xào cùng dầu hào, nấm hương thơm nhức mũi” mỗi người tự “đạo diễn” một món ruột ưa thích của mình để góp chung vào cổ bàn “tiệc” cây nhà lá vườn khao nhau, tạo sự ấm áp, xích lại gần hơn, vơi đi phần nào nỗi nhớ quê nhà canh cánh trong lòng: “Mọi người ngồi quây bên mâm cỗ dã chiến. Cái bếp điện mi ni vẫn kêu rè rè ở bên để giữ nóng cho món cá om dưa nồng nàn mùi quen thuộc…khi cả lũ đã no kềnh và chuẩn bị dừng đũa, người chị ngăn lại rồi lật đật chạy vội vào bếp bưng ra nồi miến nấu măng trộn lẫn lòng gà nghi ngút khói”. Tết đến xuân về trong ngôi nhà Việt là những ngày rộn ràng, thiêng liêng nhất trong năm. Gia đình đoàn tụ, mỗi người một việc, trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị món ăn thức uống đón ba ngày Tết. Ấm áp nhất là đêm giao thừa, các thành viên trong gia đình ngồi quây quần quanh nồi bánh chưng xanh sôi sùng sục, hơ đôi bàn tay giá lạnh cuối năm vào bếp lửa, nghe lòng ấm áp làm sao. Tùy theo phong tục sở thích từng địa phương mà làm nên những loại bánh truyền thống. Riêng Quảng Trị nổi tiếng nhất là món bánh bột lọc “bọc con tôm”, món bánh bao nhân thập cẩm từ người già đến trẻ nhỏ đều thích.

Ở Mỹ trong Lễ Tạ ơn, nhiều gia đình nấu các món ngon để đánh dấu thời gian bắt đầu Mùa Vọng. Nhóm sinh viên cũng chung tay tổ chức bữa tiệc mang hơi thở một gia đình đa sắc màu thời hội nhập: “Cô bạn người Argentina chuẩn bị món bánh chocotorta và một chai rượu trứ danh, anh bạn Mỹ vật lộn với món gà tây nướng ăn kèm khoai nghiền, chị Pakistan lặn lội lên khu Queens mua bằng được món kabab gà cay thơm, tôi đong bột, kích hoạt men cho món bánh bao thập cẩm nhân thịt bò băm…Mỗi lần được trò chuyện với gia đình, người thân, bạn bè, được thấy quê nhà qua từng bức ảnh chụp mảnh vườn, góc phố an bình, chưa phải Tết nhưng lòng tôi đã vui như Tết đến từng ngày…”. (Lòng vui như Tết đến từng ngày). Dọc dài trên đất nước ta có những loại cây trái khác nhau, nó trở thành món đặc sản nổi tiếng ở các vùng miền. Tỉnh Quảng Trị gió Lào, cát trắng có tiêu vùng Cùa ở Cam Lộ được chào đón trong khuôn khổ chương trình “Quảng bá địa phương Việt Nam tại Hoa Kỳ”. Tiêu Cùa nồng cay, thơm ngon kết hợp được với các loại đồ ăn khắp năm châu bốn bể. Khi cô đến Campuchia được người bạn Khmer đãi món Prohoc, còn gọi là mắm bò hóc: “Nhắm mắt nhắm mũi đưa vào miệng và ngạc nhiên sao cái tổ hợp lổn nhổn ấy lại trở nên beo béo, bùi ngùi, đậm đà vị mắm…Rắc chút bột tiêu thơm nồng vào bát mắm Prohoc, món mắm thêm đậm đà. Bạn tôi nhón chút tiêu Cùa bỏ vào bibibap. “Thử xem thế nào?”, nó nói và bất ngờ thốt lên: “Cay quá”, rồi cười thật mãn nguyện”.

Hành trang cô mang theo những lần ra nước ngoài luôn có món đặc sản “nồng cay Quảng Trị”. Một lần cô đến thăm bố nuôi là một người nông dân ở vùng núi  Đông Bắc Nhật Bản, cô tặng một gói tiêu Cùa: “Tôi còn nhớ như in buổi sáng đã xa, bát mì ramen trứ danh của tỉnh Kitakata vùng Tohoku trở nên thơm ngon nhờ chút tiêu xay từ vùng Cùa quê hương tôi. Buổi sáng tuyết phủ kín sân và trong nhà đồ ăn thơm phức, nồng cay mùi hồ tiêu Việt khiến ai cũng phải xuýt xoa” (Và luôn mang theo “nồng cay Quảng Trị”). Cô đã từng đi qua những nơi đặt đại bản doanh của nhiều tập đoàn dệt may nổi tiếng và đến Hàng Châu, thủ phủ tơ lụa của Trung Hoa. Hàng Châu là một công xưởng, gia công, cung cấp hàng lụa, hàng thời trang cho cả thế giới với nhiều loại giá cả. Cô nhớ Việt Nam, có: “Lụa Hà Đông từng được chọn để may triều phục và đặc biệt được ưa chuộng dưới triều nhà Nguyễn, từ vua Khải Định đến vua Bảo Đại đều sai sứ thần ra tận làng lụa Hà Đông mua sa, mua gấm về dùng…Đám cưới ngày xưa, cô dâu về nhà chồng, người mẹ tự tay dệt cho khổ lụa làm của hồi môn, “Em mặc yếm thắm, em thắt lụa hồng, em đi trẩy hội non sông” (Hiu hiu nhớ lụa). Khi mới học lớp hai, cô nghe mẹ đọc bài thơ “Êmily, con…” của nhà thơ Tố Hữu với bao cảm xúc bùi ngùi. Mười lăm năm sau cô ngồi bên con sông Pôtômac chảy êm đềm, nhìn dòng sông và ngẫm ngợi. Ngày 2/11/1965, anh Noman Morixon bế con gái yêu là bé Êmily mới 18 tháng tuổi đến Lầu Năm Góc. Anh đặt con gái xuống đất, rồi tự thiêu bên bờ sông Pôtômac, cách Bộ quốc phòng Mỹ và nơi làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Namara vài chục bước chân, để phản đối chiến tranh Việt Nam. Sự kiện này làm chấn động nước Mỹ và cả thế giới yêu chuộng hòa bình: “Tôi đã cố công tìm dọc bờ sông Pôtômac, đâu là nơi Morixon đặt con gái Êmily ngồi xuống và viết lá thư cho vợ”…Êmily con ơi/Trời sắp tối rồi/Cha không bế con về được nữa/Khi đã sáng bừng lên ngọn lửa/Đêm nay mẹ đến tìm con/ Con hãy ôm lấy mẹ mà hôn/Cho cha nhé/Và con cũng nói dùm với mẹ/Cha đi vui/ Xin mẹ đừng buồn…” (Ngẫm ngợi bên dòng sông Pôtômac). Tháng 8/2017 cô và 14 bạn trẻ đại diện cho thanh niên các nước Đông Nam Á quan tâm ứng phó rủi ro thiên tai và kiến tạo hòa bình, tổ chức tại Thủ đô Manila - Philippines. Bản báo cáo chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2017 xuất bản bởi tổ chức Germanwatch thuộc Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Cộng hòa Liên bang Đức đã chỉ ra rằng: - Philippies nằm trong top 5 quốc gia hàng đầu gánh chịu hậu quả nặng nề của các hiện tượng thời tiết cực đoan, Việt Nam nằm ở vị trí số 8. “Nhằm giảm thiểu những rủi ro về thiên tai, bên cạnh những nỗ lực của chính phủ, người dân Philippies cũng đã có những sáng kiến dựa trên nền tảng sức mạnh cộng đồng. Điều đó là những biện pháp hữu hiệu và có khả năng áp dụng được vào Việt Nam, mà cụ thể là các tỉnh miền Trung trong bối cảnh thiên tai diễn biến phức tạp và khó lường như hiện nay” (Giảm thiểu rủi ro thiên tai từ kết nối thông tin và liên kết cộng đồng).

Ấn tượng nhất khi cô đến Nhật Bản là sự nhiệt thành, thân thiện, ân cần và rất mực mến khách. Chia tay Kitakata Green Hotel, cô phục vụ phòng, người đầu bếp và vài nhân viên khác xếp hàng đứng tiễn: “Họ vẫy tay, cúi đầu chào, những ánh mắt còn dõi theo mãi là những gì đậm nét nhất mà tôi nhớ về Nhật Bản. Nước Nhật khắc kỷ và trang nghiêm. Người Nhật kỷ luật và cần Mẫn” (Những ánh mắt ở lại). Trong khuôn khổ chương trình giao lưu thanh niên Nhật Bản - Đông Á (JENSYS 2.0), cô cùng sinh viên ngành Báo chí Việt Nam đến thăm và ở lại thành phố Kitakata, thành phố đứng thứ hai về sản phẩm nông nghiệp trên toàn lãnh thổ Nhật Bản, với các sản phẩm nổi tiếng: mì ramen, rượu Sake, nước tương…Qua trao đổi và quan sát thực tế, cô biết nông dân Nhật Bản không sử dụng hóa chất công nghiệp dùng cho nông nghiệp, chỉ sử dụng sản phẩm vi sinh, hữu cơ để giữ nước, giữ chất cho cây. Vì vậy cho ra những hạt gạo no tròn, căng bóng, đầy chất dinh dưỡng. Người nông dân Nhật Bản không chỉ cắm mặt với đất, còn là kỹ sư, là chủ doanh nghiệp, nắm bắt nhanh xu hướng mới trong sản xuất mới tồn tại và phát triển. Việt Nam có đến 70% dân số ở vùng nông thôn, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế trụ cột của đất nước. Và cô mong mỏi: “tương lai gần, sự hợp tác giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản trong ngành nông nghiệp sẽ đem lại hiệu quả thực chất, để người nông dân Việt Nam có thể sống được, sống tốt với nghề nông, và nghề nông sẽ trở thành “một sự lựa chọn” trong cuộc đời của những người trẻ” (Tôi chọn làm nông dân). Trong chuyển trải nghiệm thành phố Manila - Philippin, diện tích lớn hơn Singapore, dân số gấp đôi Cộng hòa Irelend. Có công viên Rizal với cột cờ kiêu hãnh, là quãng trường nhạc nước sáng đèn mỗi đêm. The Manila Hotel xây dựng từ năm 1912 với lối kiến trúc Tây Ban Nha. Khu thành cổ rộng 64 ha do người Tây Ban Nha xây từ những năm 70 của thế kỷ 14, được UNESCO công nhận là di sản thế giới.

Sau khi trải nghiệm những nơi nổi tiếng, mọi người được thưởng thức các món ăn thức uống ngồn ngộn trên bàn tiệc … tất nhiên là có món: cơm tẻ!. “Trong buổi tiệc chiêu đãi ngày hôm sau, một cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines đã “bật mí” với tôi rằng:“Gạo Việt Nam đấy!”. Bác còn ân cần giải thích thêm rằng gạo nước ta rất được ưa chuộng ở nước bạn vì phù hợp với khẩu vị, tơi, xốp và hơi mềm” (Mainila, xa mà gần). Năm 2011, cô là một trong 60 thành viên trẻ tham dự Diễn đàn thanh thiếu niên châu Á - Thái Bình Dương ở Hàn Quốc về môi trường. Được tham quan công viên sinh thái rừng ngập mặn Gyeongancheon, Trung tâm năng lượng xanh Suji, Đài quan sát Paldang. Việc giáo dục về môi trường ở Hàn Quốc đã nhận được sự quan tâm không chỉ của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ mà còn từ những người dân. Trong lần trải nghiệm này, cô nhận thức rằng “Lời cam kết bảo vệ môi trường một cách triệt để …Và khi các thành viên đến từ Đài Loan, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam lần lượt đọc vang lời cam kết bằng ngôn ngữ của dân tộc mình, tôi chợt nhận ra, trong hành trình bảo vệ màu xanh cho Trái đất, mình không hề đơn độc” (Bảo vệ môi trường trong tầm tay của bạn). Năm 2012 cô là học sinh duy nhất tỉnh Quảng Trị thành viên của Diễn đàn Tuổi trẻ Việt Nam (Vietnam youth forum - VYF), một sự kiện được tổ chức thường niên vào trung tuần tháng 7, gồm 29 bạn trẻ đến từ khắp mọi miền đất nước và một số du học sinh đang học tập ở những ngôi trường danh tiếng trên thế giới, như: Ha vard, Princeton, Columbia, Cambridge…tụ họp tại khách sạn Khăn Quàng Đỏ - Thủ đô Hà Nội. Xuyên suốt chủ đề: “Tôi đi tìm điểm tựa”. Diễn đàn nhằm giúp người trẻ tìm ra được điểm tựa của bản thân để khởi đầu cho các khát vọng. Với tinh thần lắng nghe, được lắng nghe và phản biện: “Những vấn đề đưa ra đều mang tính thời sự và gợi nhiều suy nghĩ như: Có nên xây dựng casino ở Việt Nam?; Thực trạng đói nghèo trên thế giới và khái niệm đói nghèo đa chiều…Người trẻ tập làm doanh nhân xuất khẩu cá tra và ô tô trước những biến động khắc nghiệt của thị trường. Sẵn sàng trở thành những người làm chủ đất nước với quyết định hợp lý, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội…từ đó xác định rõ trách nhiệm và vị trí tuổi trẻ hôm nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu của mình…Diễn đàn là cầu nối để các bạn có thể trao đổi, chia sẻ kỹ năng hoạt động cộng đồng. Diễn đàn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ từ các tổ chức, nhà tài trợ, nhà bảo trợ” (Khi người trẻ tìm thấy điểm tựa).

Đến tuổi trưởng thành tung cánh bay xa làm người công dân toàn cầu, cô nhớ như in những kỷ niệm lúc còn nhỏ. Ấy là ngày đầu tiên được ba dắt tay đến Trường Tiểu học Nguyễn Tất Thành để nhận lớp. Lớp 1/2 mà ba ngỡ phòng 12 nên ngồi trong đó chờ, hóa ra là nhầm!. Rồi cô mất tập trung trong giờ học, ăn chậm, mắc tật nói chuyện riêng, giờ ngủ trưa lại “buôn chuyện”, “kiện” cô giáo vì kiểm tra môn Sức khỏe “chỉ có” điểm 8!. Ôi chao ơi, biết bao điều thơ dại của trẻ con gợi nhớ lại đến buồn cười!. Nhờ có cô thủ thư nhà trường mà cô sớm tiếp xúc với những tác phẩm văn học thế giới, vượt qua sự hạn hẹp của sách giáo khoa, như: “Heidi - Cô bé trên núi cao”, “Túp lều bác Tôm”… Lúc nhỏ có người nói cô lớn lên sẽ làm công việc mình mơ ước. Cô Liên, thầy Phiến đã giúp cô nhận ra khả năng viết lách của mình mà gắng sức trau dồi: “Để rồi bẵng đi một thời gian dài thử sức với nhiều điều mới lạ, tôi lại quay về với việc viết lách như thầy cô đã từng tin tưởng”. (Nơi trở về với tôi - trẻ  con của những ngày rất xa). Lúc học cấp Tiểu học,  cô xem học sinh Trường THPT chuyên Lê Qúy Đôn là thần tượng: “Các anh chị ấy là ai, ở đâu đến, sao họ giỏi giang vậy, thông minh vậy, đẳng cấp vậy?”. Cô tự đặt câu hỏi: “Mình có thể vào trường chuyên Lê Qúy Đôn được không, sức vóc mình kham nổi không?”. Cô ước mơ: “Nếu được học trong một ngôi trường danh tiếng nhường ấy, quả là một hạnh phúc vô bờ”. Mơ được, ước thấy. Học xong Trung học cơ sở, cô thi đủ điểm vào cả hai lớp Anh và Văn - Trường THPT chuyên của tỉnh. Thoạt đầu, cô chọn học Văn, sau đó xin chuyển sang lớp Anh. Cô đã trải qua hai lớp mới tìm được đúng niềm đam mê và sở thích của mình trong học tập. Trước khi ra Hà Nội học trường Đại học Ngoại giao, lòng cô trào dâng niềm xúc động: “Ba năm trôi qua, bao kỷ niệm đong đầy dưới mái trường mà tôi rất mực yêu dấu ấy, làm sao bút giấy nào ghi hết được. Xin được cúi đầu tạ ơn những thầy cô suốt bao năm tháng đã dạy dỗ tôi và bạn bè tôi nên người. Xin tri ân Trường THPT chuyên Lê Qúy Đôn - Quảng Trị” (Bên trời mây trắng). Thế kỷ 19 người Pháp đã đưa bánh mì vào Nam Việt Nam. Bánh mì là một loại baguette với lớp vỏ ngoài giòn tan, ruột mềm, bên trong là nhân, như: chả lụa, thịt, cá hoặc thực phẩm chay, kèm theo một số nguyên liệu phụ khác: pa tê, bơ, rau, ớt, trứng và đồ chua. Châu Âu là nơi sản sinh ra các loại bánh làm bằng bột mì, mỗi loại mang cốt cách, hình dáng và sắc màu khác nhau: “Bánh mì fjellbrod của Na Uy rắn và khô, bánh mì focaccia của Ý mặn mòi và đậm hương thảo mộc, bánh mì xoắn bretzel của Đức, bánh mì zsemle của Hunggary nhỏ nhắn đáng yêu, bánh mì pitka của Bulgary cuộn tròn trong ổ. Nếu bạn đến thăm nước Nga, những người thương yêu sẽ đón bạn bằng bánh mì và muối. Mỹ tục này đã trở thành một phần trong lễ tân quan trọng của Liên bang Nga khi đón các nguyên thủ quốc gia. Sự bình đẳng và lòng bác ái khi tự thân bánh mì là dành cho tất cả, từ lão nông dân, anh sinh viên nghèo đến những bậc quý tộc, vua chúa” (Bánh mì tự bạch).

Khép lại 14 bài bút ký, tôi bổng thấy mình như trẻ ra, hiểu biết hơn về những đất nước mà nữ nhà báo Đào Khoa Thư đặt chân đến học tập, giao lưu, trải nghiệm. Và tôi rất khoái món tiêu vùng Cùa nồng nàn, thơm cay Quảng Trị quê cô.

18/10/2025

Nguyễn Xuân Sang

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Tượng đài một anh hùng

Tượng đài một anh hùng

Trường ca Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh (NXB Quân đội nhân dân, 2025) của tác giả Châu La Việt đã kiến tạo thành công nhiều biểu tượng về cuộc kháng chiến chống Mỹ một cách hệ thống, đa dạng về cấu trúc, sâu sắc về ý nghĩa, giàu có về tín hiệu thẩm mỹ.

Khái niệm biểu tượng có hai lớp nghĩa: Một, là những ký hiệu có trong lịch sử, theo thời gian được bồi đắp nhiều lớp phù sa văn hóa, lắng đọng, kết thành hình tượng bao chứa lượng tri thức văn hóa sâu rộng, có tính cộng đồng cao, trở thành "căn cước văn hóa" mỗi dân tộc. Hai, tập trung khái quát cao độ những ý nghĩa lịch sử - xã hội, nên nhìn vào biểu tượng sẽ thấy nội dung bản chất thời đại. Soi cách hiểu này vào trường ca Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh (NXB Quân đội nhân dân, 2025) cho thấy, tác giả Châu La Việt đã kiến tạo thành công nhiều biểu tượng về cuộc kháng chiến chống Mỹ, một cách hệ thống, đa dạng về cấu trúc, sâu sắc về ý nghĩa, giàu có về tín hiệu thẩm mỹ. Ngay tên gọi cũng mang ý nghĩa biểu tượng: "đất lửa Tây Ninh" - vùng đất ác liệt nhất, nơi đụng đầu lịch sử quân ta và quân Mỹ. "Lửa" luôn đa nghĩa. Hai chữ "đất lửa" đã nói một cách khái quát cao nhất về độ nóng bỏng, sự hủy diệt của đạn bom; sự kiên cường, dũng cảm của các chiến sĩ Quân Giải phóng. "Tiếng chim rừng" gợi về cuộc sống bình yên, về hòa bình. Một tên gọi tạo ấn tượng, vừa khái quát cao độ nội dung, thế giới hình ảnh, vừa nói lên phong cách tác phẩm: sự tương phản triệt để giữa lòng yêu nước, tinh thần quyết tâm đuổi giặc sẽ vượt qua mọi tình huống ác liệt nhất. Để rồi bật ra một ý chung nhất: Tình yêu sự sống nở hoa trên lửa đỏ chiến tranh. Ý này lại có mạch nguồn từ "cổ mẫu" có trong văn hóa phương Đông: được tái sinh từ lửa, chim phượng hoàng (một vật tổ) càng mạnh mẽ, tươi sáng, rực rỡ hơn, để rồi càng bay cao bay xa trong bầu trời tự do, mơ ước. Cũng là một ẩn dụ kín đáo, tinh tế về hình tượng được ngợi ca.

Một yêu cầu cơ bản của nghệ thuật điêu khắc tượng đài là tìm ra một không gian tương xứng, không chỉ để làm nổi lên hình tượng, còn khơi gợi ra sự liên tưởng thẩm mỹ ở người thưởng thức. Tượng đài Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Tô Quyền (biệt danh hoạt động ở chiến trường là "Tư Tô Lâm" - ông yêu các con và lấy tên con đầu lòng làm biệt danh của mình) được "nhà điêu khắc" Châu La Việt đặt vào hai mảng không gian hôm qua - lịch sử dựng nước, giữ nước và hôm nay - tiếp bước, kế thừa truyền thống. Người anh hùng ấy ra đi từ làng Xuân Cầu xinh đẹp và văn hiến, không chỉ phù hợp với logic thực tế, mà cả với logic nghệ thuật. Một không gian vùng đất thiêng giàu có bản sắc được "điêu khắc" bằng ngôn ngữ của thơ: Thả gàu múc giếng khơi trong mát/ Uống ngụm nước thấm sâu tâm hồn/ Đi khắp bốn phương uống trăm ngọn nước/ Không nơi nào bằng nước giếng quê hương; Trao cho cháu bó hoa và ông căn dặn/ Hãy xứng đáng với truyền thống quê hương/ Dù nơi đâu cũng đừng quên cháu nhé/ Mình là con em của Xuân Cầu yêu thương.

Theo quy luật hồi ức, quay trở về ngày hôm qua với không gian hậu phương: Như bao vợ của những người ra trận/ Một tay bà chăm sóc đàn con/ Đứa lớn đứa bé con trai con gái/ Tuổi ăn tuổi ngủ tuổi cắp sách đến trường; Thằng anh lớn lên, nhường tấm áo cho em/ Con chị học xong, sách cho em học tiếp... Người chồng lại hoạt động bí mật nên Bà thầm lặng không một lời than thở. Đó cũng là một hy sinh lớn lao của người vợ nơi hậu phương - bà Đặng Thị Cam, vợ ông Tô Quyền. Như cái bản lề khép mở thế giới hôm qua và hiện tại hôm nay, nhân vật Tô Quyền (Tư Tô Lâm) được kiến tạo theo nguyên tắc trữ tình hóa. Là những liên tưởng, tưởng tượng của người chồng về ngôi nhà, vợ con: Ôi nếp nhà giản dị chốn làng quê/ Đêm trăng thanh kê chõng tre hóng mát/ Người mẹ nhìn lũ con múa hát/ Nuốt nước mắt vào lòng nhớ chồng ở nơi xa. Với người lính nơi sống chết, có gì thiêng liêng hơn căn nhà của mình đâu; có gì yêu thương hơn vợ con mình đâu. Ngày xưa giọt mắt người "chinh phụ" đã đẫm bao trang sách. Ở đây, giọt nước mắt ấy được người chồng "nuốt vào lòng". Vơi đi chất bi kịch để đậm đà hơn chất lý tưởng, chất anh hùng. Bởi những hy sinh ấy vì Tổ quốc độc lập, vì đất nước tự do.

Không gian làng quê khép lại, không gian chiến tranh mở ra, được đặc tả cận cảnh, rắn rỏi, gân guốc, mạnh mẽ. Là lúc "chém vè tránh giặc". Là cảnh Đội hầm lên nổ súng tiến công. Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn: "chỉ củ khoai, củ sắn". Nhưng nhờ sống "bình dị giữa lòng dân", chiến đấu vì dân, bảo vệ dân, được dân che chở: Các má gọi ông "thằng Tư Tô Lâm"... Người anh hùng hiện lên với tất cả những phẩm chất tuyệt vời nhất về ý chí vượt qua thời điểm khó khăn nhất: Gian xơn xi ty 53 ngày đêm/ Súng hết đạn, người cầm hơi chút cháo/ Chất độc hóa học, máy bay và phi pháo; Không ai tin được một ngày mười trận bom/ B.52, bom phát quang, chất độc/ Rừng cây xanh úa vàng tận gốc... Nghệ thuật tương phản, đối lập được khai thác triệt để: người lính an ninh anh hùng, quả cảm trong hoàn cảnh khó khăn nhất (súng hết đạn, cầm hơi chút cháo) "vẫn kiên gan quyết đánh trả đến cùng" kẻ thù dã man, hung bạo nhất (một ngày mười trận bom, chất độc hóa học, máy bay, phi pháo)...

Một nguyên tắc kiến tạo tượng đài, theo mỹ học tạo hình hiện đại phải vừa là nơi gặp gỡ, tương tác giữa ánh hồi quang từ quá khứ và những ánh xạ của cuộc sống đương đại, để tạo nên dải quang phổ lung linh hấp dẫn có độ tán sắc ánh sáng văn hóa rộng. Nếu lịch sử mang "hồn núi sông" là ánh hồi quang quá khứ, thì những nhân vật trong trường ca như Anh hùng Tô Quyền hay chiến sĩ - nghệ sĩ Tô Lan Phương là sự ánh xạ của hôm nay, tràn trề sức trẻ và tình yêu: Tuổi hai mươi như tia nắng mặt trời/ Những gương mặt sáng ngời lý tưởng/ Chọn sân khấu nơi miền Nam lửa đạn/ Người chiến sĩ và khúc hát trên môi. Như bao thanh niên khác, theo lời Tổ quốc gọi, đã lên đường vào Nam chiến đấu giữ nước. Nơi đến là vùng "đất lửa Tây Ninh" nóng bỏng, ác liệt, nơi có những người cha, người chú của mình như Tô Quyền đang chiến đấu, nên người nghệ sĩ ấy cũng đồng thời phải là người lính trực tiếp cầm súng. Truyền thống cách mạng quê hương là điểm tựa vững vàng: Em đã mang cây đào thắm đỏ ấy/ Những tháng ngày vượt nắng lửa Trường Sơn/ Em đã mang cây đào như lửa cháy/ Trong tim mình những năm tháng chiến trường... "Cây đào như lửa cháy" là một biểu trưng ý nghĩa về sự kế thừa, tiếp nối giữa hai thế hệ chống Pháp và chống Mỹ. Còn là biểu tượng tỏa ánh sáng công lý, chân lý và cả đạo lý, kết thành niềm tin thời đại: Chính nghĩa yêu nước sẽ chiến thắng phi nghĩa xâm lược!

Cùng điểm xuất phát làng quê Xuân Cầu văn hiến, yêu nước; điểm gặp gỡ là chiến trường, hai hình tượng nhân vật cùng tương hỗ, khúc xạ vào nhau, cho nhau để tôn lên, làm rực rỡ thêm biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: Cũng những ngày ấy có một người Xuân Cầu/ Ông đã tới với chiến trường rất sớm/ Nơi ông đến đất Tây Ninh nóng bỏng/ Ông sẽ yêu như chính quê hương mình... Hai không gian nghệ thuật trữ tình (vùng quê Xuân Cầu và vùng đất Tây Ninh) đồng hiện theo sự quy chiếu của hai cái tôi tâm trạng để cùng tỏa ra thứ ánh sáng nhân văn về tình yêu cội nguồn, tình đồng hương, cao hơn cả tình yêu nước, tình đồng chí. Tình quê Nam bộ nở hoa giữa tình yêu đất nước.

Hai người lính, hai thế hệ ngẫu nhiên gặp nhau trong không gian thật đặc biệt: Chú với cháu cùng quê hương Xuân Cầu/ Vườn nhà cháu ngày xưa chú thường sang hái quả/ Chú cũng họ Tô, là đội trưởng thiếu nhi từ nhỏ/ Đi trải truyền đơn, đi canh gác cho ông cháu họp hành. Ngoài tình đồng chí, đồng hương, còn là nghĩa tình chú cháu chung không gian hoài niệm ngày xưa... Giữa họ, tình anh em chú cháu họ hàng, tình đồng hương hòa vào tình yêu nước để tạo nên sức mạnh của lòng quả cảm đuổi giặc thù.

Hài hòa với cảnh quan chung, tượng đài còn phải hài hòa với lòng người. Tất cả cùng nâng đỡ nhau vì cái đẹp chung của nghệ thuật hướng về cuộc sống. Trở về Tây Ninh, giữa sắc xanh của trời, của cây, của niềm tự hào yêu thương, nhà thơ "điêu khắc" những tượng đài người anh hùng trong tâm tưởng của riêng mình, cũng là của chung độc giả:

Khắc ghi để sáng mãi chân lý lịch sử, để trao truyền đạo lý "uống nước nhớ nguồn". Đó cũng là nguyên lý của đổi mới, phát triển: kế thừa, phát huy, nâng cao các giá trị văn hóa dân tộc.

18/10/2025

Nguyễn Thanh Tú

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Nhẹ nhàng bài ca cuộc sống nơi "Những cơn mưa thu" của Thanh Tám

Nhẹ nhàng bài ca cuộc sống nơi
"Những cơn mưa thu" của Thanh Tám

Thanh Tám, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Lai Châu là cây viết truyện ngắn khá quen thuộc với bạn đọc. Một số truyện ngắn của Thanh Tám đã được đăng tải trên các trang báo sang trọng Báo Văn nghệ, Trang báo điện tử Vanvn.vn của Hội Nhà văn Việt Nam. Một trong những truyện ngắn của em, tôi tin rằng nhiều người thiện cảm, đó là truyện ngắn Những cơn mưa thu. Một câu chuyện gọn gàng, xinh xắn, gợi trong lòng độc giả những ấm áp, yêu thương như giọng văn nhẹ nhàng, truyền cảm của tác giả vậy.

Truyện ngắn Những cơn mưa thu đã in ở Tạp chí Văn nghệ Lai Châu mở đầu bằng hình ảnh “Mưa rả rích kéo dài cả tháng. Những cơn mưa rừng như thế này làm cho tiết trời ngày hạ trở lên lành lạnh”, từ giọng văn, hình ảnh đến ngôn ngữ, gợi lên trong lòng người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, thanh tao. Bỗng nhiên, tôi bỗng nhớ câu văn của Thạch Lam trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, đoạn mở đầu cũng êm ả “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru” … Truyện ngắn Những cơn mưa thu của Thanh Tám mở ra trong không gian mưa thu, mưa rừng với hình ảnh nhân vật Dịu, Dịu đang khóc vì nhớ mẹ, muốn gửi gắm qua câu chữ “tất cả những cảm xúc của người con xa xứ về người mẹ thân yêu ở miền mây trắng nơi quê nhà”. Mẹ Dịu đã mất, lẽ thường vợ chồng Dịu và con gái sẽ về quê thắp hương ngày giỗ mẹ. Nhưng lần này, chỉ Khâm (chồng Dịu) và con gái về quê. Dịu không về được vì lý do sức khỏe, lại đang thời kỳ thai nghén. Ai là phụ nữ hẳn đều hiểu, thông cảm sâu sắc cho lý do này, nghén là một giai đoạn trong thai kỳ, thường là trong ba tháng đầu. Khi đó, phụ nữ nào nghén nhẹ cũng mệt mỏi, nghén nặng thì nôn, không muốn ăn. Đã hai tháng nay, Dịu ở vào tình trạng đó, “không nuốt nổi một chút thức ăn nào vào bụng. Chỉ cần thức ăn đi qua họng thì lập tức nó quay lại nơi bắt đầu và trào ra. Đến cả sữa Dịu cũng không uống được” nên đành lỡ ngày “húy nhật” của mẹ. Dịu tha hồ khóc khi vắng chồng con, tha hồ khóc bởi nhớ thương và thấy mình có lỗi với mẹ. Vâng, cảm giác tội lỗi ấy cũng là một lẽ thường tình. Nhất lại là tình cảm mẫu tử, giữa mẹ và con gái, yêu thương, gắn bó có một không hai trong cuộc đời này. Và thổn thức trong mưa rừng mùa thu, Dịu nhớ lại những kỷ niệm của 10 năm trước, khi đó Miền anh trai Dịu và Khâm (khi đó là bạn Miền, nay là chồng Dịu) cùng nộp đơn lên dạy học ở Lai Châu, sau khi nộp đơn nhiều nơi ở các tình miền xuôi mà không được tuyển dụng “các tỉnh miền xuôi dư thừa giáo viên do đào tạo ồ ạt” và cả hai anh được nhận công tác tại Lai Châu. Mảnh đất đó, trong ý thức của người dân miền xuôi nói chung và bố mẹ Dịu nói riêng, là một vùng núi xa lắc. Thời đó, giao thông chưa thuận tiện bởi đường sá chưa tốt, cho nên cái cảm giác xa vời vợi càng ám ảnh cha mẹ của Dịu. Chính vậy, “các cụ” giận anh Miền, giận cả Khâm bởi Khâm là người thông báo cho Miền biết thông tin anh xem được trên ti vi là Lai Châu đang thiếu giáo viên, đang có nhu cầu tuyển dụng… Khi nhận giấy báo trúng tuyển, Miền vui bao nhiêu thì cha mẹ anh buồn và lo lắng bấy nhiêu. Mẹ thương con đi xa tận tỉnh biên giới, cha vừa thương vừa lo một nỗi lo rằng con trai đến nơi rừng thiêng nước độc, chuyện vợ con sẽ ra sao khi gia đình anh đang ở tình trạng “độc đinh”. Mẹ khóc cả tuần, cha giận lây sang cả anh Khiêm. Những nỗi lo và sự phản ứng có vẻ tiêu cực ấy lại chính là thước đo tình yêu thương của cha mẹ dành cho con cái. Hiểu tấm lòng cha mẹ, nhưng hai thanh niên Miền và Khiêm vẫn quyết chí ra đi, lập nghiệp ở một tỉnh vùng biên giới.

Rồi một ngày không xa, Dịu lại đi học sư phạm, sau chuyến thăm anh trai ở Lai Châu, thấy tình đồng nghiệp, tình thầy trò, tình làng nghĩa xóm của cư dân nơi anh trai công tác rất ấm áp, Dịu đã nghe theo các anh, nghe theo tiếng gọi của trái tim mình và lại lên Lai Châu dạy học, rồi nên duyên vợ chồng với Khâm. Anh Miền cũng yên bề gia thất tại mảnh đất biên giới Lai Châu. Sau khi mẹ mất, anh Miền muốn đón cha lên nhưng cha anh từ chối vì còn ở quê chăm lo hương khói cho mẹ, chỉ mong các con giỗ tết về thăm là vui rồi.

Câu chuyện được kể với giọng điệu nhẹ nhàng, chân chất. Cốt truyện gọn, bố cục mạch lạc, tình huống không gay cấn nhưng có sự hấp dẫn đối với độc giả. Người đọc hồi hộp cùng Dịu khi Dịu chưa biết thưa chuyện với cha mẹ như thế nào bởi phản ứng khá dữ dội của cha mẹ khi con trai lên Lai Châu dạy học, giờ Dịu lại lên Lai Châu…Người đọc vui cùng niềm vui của Dịu khi ước mơ thành hiện thực. Đất Lai Châu mến khách, học sinh Lai Châu ngoan ngoãn, đáng yêu. Và Lai Châu, trở thành nơi gắn bó với anh em Dịu, vợ chồng Dịu, vợ chồng anh Miền.

Yêu nghề, yêu trẻ nên Miền, Khâm, Dịu vừa dạy, vừa dỗ học sinh, vừa làm công tác tuyên truyền với phụ huynh học sinh “đến nhà học sinh vận động bố mẹ bọn trẻ cho bọn trẻ đến lớp vào đầu năm học mới”. Các thầy cô miền xuôi lên lập nghiệp vùng cao còn lên nương cắt lúa, thu ngô giúp phụ huynh, tạo thiện cảm để “dân vận” cho học sinh được đi học. Sự kiên nhẫn và kỳ công còn thể hiện rõ rệt khi các thầy cô đến tận nhà phụ đạo kiến thức cho học sinh, bất chấp thời tiết mưa hay nắng. Không chỉ dạy trẻ, anh Miền còn đi dạy phổ cập cho thanh niên chưa tốt nghiệp trung học cơ sở.

Dịu nhớ lại ngày ấy, khi Dịu lên thăm anh trai vào một ngày Lai Châu mưa như thác đổ, anh Miền và thầy hiệu trưởng đi dạy phổ cập, cô tranh thủ đọc sách, rồi có lúc cùng anh trai đi dạo quanh bản làng, trong sắc đẹp của hoàng hôn, gặp các chị phụ nữ dân tộc Lự răng đen nhánh như hạt na, thân thiện, gần gũi. Rồi tình yêu nghề của anh Miền, anh Khâm đã truyền lửa cho Dịu. Sau khi tốt nghiệp, cô lên Lai Châu cùng hai anh, bởi lời căn dặn và cái bắt tay thật chặt của anh Khâm, Anh nói nhỏ: “Em đi đường bình an. Năm học mới, các trò nhỏ được gặp lại cô Dịu!” với ánh mắt chứa chan hy vọng… và chính những cặp mắt trong veo của bọn trẻ ở bản Ma Sao, cặp mắt hiền hiền chứa chan hi vọng của anh Khâm cứ bám chặt lấy Dịu… và bởi duyên kỳ ngộ, họ cùng trở thành công dân tốt, giáo viên tâm huyết, trách nhiệm nơi vùng cao, được học sinh tin yêu, phụ huynh quý mến.

Trong đêm mưa rừng, Dịu nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp, mặc mưa rơi, tâm trạng khá dần lên với những hy vọng tươi sáng bởi “Dịu biết, chỉ ít ngày nữa thôi thì những cơn mưa dai dẳng kia sẽ kết thúc nhường không gian cho mùa thu rộn rã tiếng trống ếch khai trường”. Vâng, đã là quy luật “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”. Bất luận trong hoàn cảnh nào, chỉ cần con người ta có niềm tin thì tương lai sẽ tươi sáng. Tiếng trống khai trường là âm thanh của rộn rã niềm vui cuộc sống. Kết thúc truyện ngắn như vậy, Thanh Tám gieo vào lòng người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, một niềm tin vào ngày mai tươi sáng, giúp người đọc hiểu và thêm yêu mảnh đất, con người Lai Châu.

19/10/2025

Đỗ Nguyên Thương

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

"Công chúa Ngọc Anh - Bể khổ kiếp nhân sinh"

"Công chúa Ngọc Anh
Bể khổ kiếp nhân sinh"

Văn học lịch sử vốn được xem là mảng khó viết bởi vừa đảm bảo tính chính xác vừa phải tạo được tính hấp dẫn lôi cuốn. Người viết văn học lịch sử không thể xuyên tạc, tô vẽ hay làm méo mó đi nội dung câu chuyện. Chính vì khó viết nên văn học lịch sử luôn là đề tài thu hút nhiều người đọc, bởi đó là cơ hội để người đọc và người sáng tác chiêm nghiệm lại quá khứ, suy ngẫm về tương lai, trăn trở về những hưng thịnh của thời đại, là một dòng chảy làm tái sinh những giai thoại dựa trên sự kiện lịch sử. Người viết văn học lịch sử là người phục dựng lại những bí ẩn còn chìm sâu trong bức màn thời gian, làm sáng tỏ những giá trị nghệ thuật mang tính truyền thống hay tín ngưỡng.

Một trong số những tác giả bén duyên với truyện văn học lịch sử là nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga, chị sinh năm 1976, Tiến sĩ Ngữ Văn, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tỉnh Hải Dương; Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh Hải Dương, hiện là Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc Hội Thành phố Hải Phòng.

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga mang trong mình cốt cách quyết liệt, cá tính mạnh mẽ của nữ chính trị nghị trường pha lẫn nét mềm mại trong tâm hồn của người phụ nữ. Chị là một người trẻ tiên phong trên con đường gai góc, khám phá và đào sâu nền văn chương giai đoạn năm 1954-1975 về thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam. Từ sự bộc trực, nhiệt huyết và khả năng cảm thụ văn học sâu sắc, những tác phẩm truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga cũng trở nên tinh tế, tròn đầy.

Với tập truyện lịch sử “Đêm trắng Thăng Long”, bao gồm truyện: Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc; Quỳnh hương điện ngọc; Mây trắng Tràng An; Chuông chùa Chân Giáo; Nước cờ thế sự; Hoa nước mắt; Dư vang trong đá; Đêm trắng Thăng Long; Chuông ngân rừng trúc; Công chúa Ngọc Anh”. Đây là tập truyện giàu giá trị văn học nghệ thuật, khai thác chiều sâu rung động thông qua ngôn ngữ cảm xúc. “Công chúa Ngọc Anh” là một truyện tiêu biểu trong số đó.

Với phương châm “Lấy tác phẩm làm trọng tâm nghiên cứu”, là sự chồng xếp những lát cắt giữa hiện thực và giải thiêng, Nguyễn Thị Việt Nga đã đưa câu chuyện bi thương trở nên sống động với nhiều thông điệp ý nghĩa, chạm vào tầng sâu tâm thức người đọc.

Bằng lối dẫn dắt tinh tế, nhà văn đã tái hiện lại một công chúa Ngọc Anh với tâm lý phức tạp của khát vọng, hạnh phúc, mất mát, chia lìa. Nàng là một giai nhân tuyệt sắc, vẻ đẹp long lanh kiều diễm với đôi môi thắm như hoa yên chi, nhưng đằng sau vẻ đẹp đó là nỗi buồn sâu thẳm. Nàng vốn mang tấm lòng mộ Phật, sống ẩn mình với câu kinh tiếng kệ, vẫn tưởng cuộc đời công chúa đã an yên nơi cửa Phật nhưng rồi trong cơn binh biến, nàng đã phải trở lại Kinh thành nhưng lòng vẫn mong trở về chùa Đại Giác để cầu nguyện cho cha lấy lại cơ đồ.

Hình ảnh nàng lên kiệu khi bóng chiều tĩnh lặng, tiếng chuông Thiên Mụ đổ dài họa lên khung cảnh bi thương, trĩu nặng. Một vẻ đẹp pha lẫn nét u buồn trước nhân tình thế thái mà thân gái liễu nhi phải dãi dầu gió bụi. Thế nhưng đằng sau gánh nặng trăn trở quốc gia, còn một nỗi niềm khuất sâu trong lòng công chúa, khi nàng gặp gỡ, đàm đạo cùng Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành, để những ngơ ngẩn, thổn thức trong nàng bỗng nhiên trỗi dậy. Nỗi buồn xáo động tâm can khi công chúa đến yết bái Thiền sư ở chùa Thiên Mụ. Đây cũng là định mệnh mà nàng đã bước vào, như bước chân vào con đường bi kịch, để những thanh tịnh trầm an bỗng bị hất tung như mảnh rèm voan trong gió lạnh.

Và rồi nỗi bất an ấy ngày càng lớn dần, trở thành hệ trọng và u uất khi đức vua Minh Mạng khuyên nàng xuất giá. Mặt hoa ủ dột, lòng trĩu nặng không yên bởi người mà nàng nghĩ đến, mong được cùng chung gối mộng lại là một Thiền sư. Nỗi đau buồn dù chế ngự trong tâm nhưng thăm thẳm tựa non trùng, ủ ê như sóng cuộn. “Tiếng chuông trùm lên cảnh vật, vang mãi, vang mãi, qua đồi Hà Khê, qua núi Ngự Bình”, tiếng chuông như “khơi sâu vào nỗi lòng thổn thức” của nàng công chúa, khiến cho mày châu vóc ngọc phút chốc xanh xao.

Để rồi khi nhận ra mình đã mang khối tình trao cho vị Thiền sư nơi cửa Phật, oan trái bỗng chợt trùng trùng càng làm cho công chúa Ngọc Anh trở nên phiền não bội phần. Nỗi nhớ thương, mong mỏi khiến nàng mất đi an ổn. Thế nhưng thay vì nhận ra sai lầm, nàng lại ngày đêm theo đuổi mối tình vô vọng. Dù đã bị Thiền Sư từ chối khi nàng đến trong Chính điện nhưng nàng vẫn cứ say mê, trượt ngã trong phiền não. Chỉ cần nhìn thấy Thiền sư, nàng đã xao động tâm can. Chỉ cần chiếc áo cà sa của Người lướt qua, nàng đã thấy như bị thôi miên, đổ ngã. Mỗi khi nhắc đến Thiền sư, nàng lại như mê sảng. Nỗi nhớ mong tơ tưởng đã làm cho nàng bấn loạn gầy gò. Vì tình yêu mà nàng không nghĩ đến ranh giới giữa người tu sĩ và kẻ tục trần. Mối tình mù quáng, si mê ấy đã khiến nàng quên hết những điều tâm nguyện nơi cửa Phật, chỉ mong được Thiền sư đón nhận mối tương duyên. Nàng không còn nhận ra giới hạn và đạo lý cần phải giữ, chỉ mong mỏi được Thiền sư hồi đáp mối tình sâu nặng. Tình yêu của nàng ngập tràn bi lụy, đắm đuối đau thương bởi đáp lại nàng, chỉ là thái độ dửng dưng, lạnh nhạt và né tránh.

Không buông bỏ, không tỉnh thức, công chúa càng lúc càng dấn sâu vào mối tình hư mộng khi nàng cầu xin nhà vua tác hợp cho mình nên duyên cùng Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành, một mong muốn khiến ai nghe qua cũng phải kinh hoàng thảng thốt. Một nàng công chúa lại muốn nên duyên với một quốc sư, không những trái luân thường đạo lý mà còn mang tội với đời khi phá vỡ đường tu của người phạm hạnh.

Trong sự tuyệt vọng khôn cùng, nàng nghĩ rằng với oai lực của bậc quân vương sẽ làm cho Thiền sư phải tuân theo mệnh lệnh. Thế nhưng một lần nữa, công chúa Ngọc Anh phải đành thất vọng khi Thiền sư một mực giữ vững tâm nguyện tu hành. Sự cương nghị, vững như núi Tu Di của Người đã làm cho nàng vô cùng đau khổ. Nàng như một người mất trí, cứ khóc than, mê sảng. Ngày qua ngày, thân ngọc héo hon, sắc ngọc bơ phờ như hoa tàn, liễu úa. Trong mắt nàng, lầu son gác tía không đổi được một ánh mắt ấm của Thiền Sư, vạn người cung kính cũng không bằng một lần Thiền sư xuất hiện. Trong lòng nàng chỉ có bóng Thiền sư, tâm trí nàng chỉ có mỗi Thiền sư là lẽ sống.

Và rồi, nàng càng trở nên u ảm khi Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành rời chùa Thiên Mụ ra đi, để giữ một đời sống Đạo.

Gạt bỏ mọi lời khuyên nhủ của cung nữ Xuân Lan, phớt lờ mọi lời tác hợp với các vương tôn công tử, lòng Ngọc Anh chỉ tơ tưởng, nhung nhớ Thiền sư, mặc cho Người đã rời xa cách biệt. Trong tuyệt vọng, nàng quyết thân chinh gót ngọc để tìm đến nơi trú ngụ của Thiền sư, cho thỏa lòng thương nhớ. Tình yêu của công chúa Ngọc Anh như một ngọn lửa, như dòng nước xoáy, trỗi dậy ào ạt và mãnh liệt. Khi diện kiến Thiền sư nơi chùa Từ Ân, như từ vô lượng kiếp, cảm xúc trong nàng trỗi dậy, ánh mắt nàng như nước hồ thu, vừa rực sáng vừa long lanh ngấn lệ. Nàng bỏ xuống thân thế hoàng gia để làm một người bình thường với ước nguyện được yêu thương như bao người khác. Nàng đau khổ, van xin, dại khờ, trách cứ…nhưng rồi những gì nàng nhận được vẫn chỉ là sự thờ ơ, từ chối của Thiền sư.

Nàng quỳ trong im lặng, một hình ảnh làm lay động lòng người, vừa thương cảm xót xa, vừa lắc đầu tiếc nuối, bởi đó là sự mù quáng, mê lầm của con người trong thế giới ba sinh, là tình yêu mê cuồng, bi lụy. Chỉ vì yêu mà con người có thể mang hết lòng dạ để sống chết với tình mà không phân biệt đúng sai, tội lỗi.

Nàng khóc cạn nước mắt nhưng Thiền sư vẫn bình thản quay đi. Người về chùa Đại Giác để né tránh sự luyến lưu từ công chúa. Trong chút hy vọng cuối cùng, công chúa đã đến tìm người và van xin Thiền sư cho nàng được nắm lấy bàn tay, như chiếc phao cứu sinh cho người sắp đuối. Nàng chỉ mong được nhìn thấy bàn tay người nàng yêu thương, chỉ bấy nhiêu đó cũng đủ để nàng thỏa lòng ước nguyện. Và khi Thiền sư đưa tay ra, như một đóa hoa sen, nàng đã nắm lấy tay Người, “vừa hôn vừa khóc như mưa”.

Tình yêu của công chúa dành cho Thiền sư không có gì cưỡng lại bởi trong lòng công chúa, Người là liều thuốc hồi sinh mà cũng là thuốc độc, chỉ một hình ảnh của Người cũng có thể làm nàng vỡ tan hay sống dậy. Thế nhưng điều đắng cay oan nghiệt không dừng lại ở đó mà nó đã đi đến một kết cục bi thương, khi Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành tự thiêu thân trong lửa đỏ. Ngọn lửa kết thúc mối tình oan nghiệt của công chúa Ngọc Anh và giữ trọn đức hạnh của Người. Thiền sư ra đi, Ngọc Anh mới thảng thốt nhận ra, trong đau đớn và hối hận, nàng như một kẻ mất hồn, lạc lõng giữa u buồn, đổ nát. Nàng chỉ còn lại một mình đơn độc, xung quanh nàng mọi thứ trở thành vô nghĩa khi người nàng yêu thương không còn ở trên đời. Sau khi lo hậu sự cho Thiền sư tại chùa Đại Giác, Ngọc Anh đã uống thuốc độc quyên sinh để kết thúc mối tình oan nghiệt.

Bằng ngòi bút tài hoa, nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga đã kể lại câu chuyện tình bi thương, dằn vặt của một nàng công chúa với hình ảnh tả thực đầy mỹ cảm. Bút pháp mềm mại và lời văn bay bổng, mượt mà, từng mạch truyện được phác họa thâm trầm, liền mạch và sống động, toát lên sự dữ dội trong tình yêu của nàng công chúa. Một tình yêu giữa thế giới tục trần, miên viễn với say đắm, si mê, chấp ngã, tận cùng, để rồi cứ phải trôi lăn trong nỗi đau của tan hợp và hoại diệt.

Đối lập với công chúa Ngọc Anh, người ta lại nhìn thấy một vị Thiền sư tĩnh lặng như sơn mộc. Giữa bể khổ vô thường, Người vẫn giữ cho mình một lòng an nhiên tự tại, khước từ mọi cám dỗ hồng trần, nương về cõi Phật. Trong mắt Người, những danh vọng, tài sắc như bọt nước thoáng qua, không thể đánh động lòng người mộ đạo. Sự kiên định của Thiền sư khi công chúa Ngọc Anh đến chùa Thiên Mụ, mặc cho công chúa thẫn thờ, ngưỡng mộ, Người vẫn giữ lòng không động, lặng im.

Trái tim đa sầu đa cảm của công chúa Ngọc Anh như gió va vào núi. Người chỉ đáp lại bằng sự điềm nhiên và lặng lẽ, kiên cố hành trì chính niệm trước ủy mị tư tình. Nhưng càng xa cách và viễn ly ái dục, xem những lời than thở, vật vã của Ngọc Anh như gió bụi thoáng qua thì càng làm cho nàng trở nên sầu thương và khó dứt. Trước tình cảnh đó, Thiền sư chỉ lẳng lặng quay đi, sự im lặng của Người như bức tường thành vững chãi, như hoa sen trắng giữa bùn lầy. Khi hay tin sư phụ của Thiền sư là Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc, trụ trì chùa Từ Ân viên tịch, Người đã nhân dịp này rời khỏi chùa Thiên Mụ, một chuyến đi để dứt trừ sợi dây luyến ái vô minh mà Ngọc Anh đang cố tình buộc chặt. Người đi để giữ trọn đạo tu hành, rời xa phù hư ảo ảnh để sống đời tỉnh giác.

Trái ngược với những héo hon sầu khổ của công chúa Ngọc Anh, con đường của Thiền sư hướng đến là bình an và vô nguyện. Người chỉ mong một đời thành tựu theo chính pháp. Ánh mắt Người luôn hướng đến chúng sinh chứ không đặt ở cung hoàng điện ngọc.

Nhưng Thiền sư cũng là một con người, đứng trước nỗi đau bám riết và tình yêu vô bờ bến của công chúa Ngọc Anh, Người đã không thể lạnh lùng để nhìn số phận của nàng ngụp lặn trong bể khổ. Khi bàn tay Người đưa ra như lòng từ bi để cứu vớt sự sống cho công chúa, để rồi sau đó, Thiền sư đã chọn cho mình con đường tự thiêu để giữ tròn tâm Đạo. Khi Tịnh Thất chìm trong lửa đỏ, người ta đã đọc được một bài kệ của Thiền sư trên vách gỗ:

THIỆT đức rèn kinh vẹn kiếp trần

THÀNH không vẩn đục vẫn trong ngần

LIỄU tri mộng huyễn chân như huyễn

ĐẠT đạo mình vui đạo mấy lần

Bài thơ như khép lại cuộc đời một Thiền sư tài năng đức độ mà cũng mở ra cánh cửa giải thoát cho một bậc tu hành không còn sa vào những cám dỗ nơi trần thế. Người đã rũ bỏ thân xác tục phàm để về cõi an nhiên, xem trần gian là cõi tạm. Trong lửa đỏ, Người không lưu luyến, không sợ hãi, bước qua thế giới vô thường với tâm không vẩn đục. Câu chuyện đã đưa đến cao trào cảm xúc khi biết rằng Thiền sư đã chọn con đường tịch diệt bằng cách hỏa thiêu. Và những câu hỏi được đặt ra: “Phải chăng công chúa Ngọc Anh đã đẩy nhà sư đến tận cùng lựa chọn?”, “Phải chăng vì tình yêu mù quáng của nàng đã khiến nhà sư hỏa thiêu nhục thể?”. Những nỗi tiếc thương, dằn vặt pha lẫn chút trách hờn, day dứt…nhen nhúm trong lòng người đọc vì không làm chủ được lòng mình mà nàng đã gây ra tội lỗi, dẫn đến số phận nghiệt ngã cho mình và kinh động con đường hạnh nguyện của Thiền sư.

Bằng ngôn từ hài hòa uyển chuyển, “Công chúa Ngọc Anh” là một tác phẩm mang vẻ đẹp liễu tri huyễn mộng, là hơi thở cuộn trào trong khát vọng tồn sinh đầy ngổn ngang tự sự, là tuyệt vọng, si mê. Từng cánh hoa, chiếc lá cũng chở đầy ưu tư, da diết. Công chúa Ngọc Anh như hiện thân của con người ở kiếp lao trầm, lặn ngụp trong yêu đương mộng mị, nàng chưa thể vượt qua ngưỡng ái tình, chưa đủ tĩnh tâm để thoát khỏi vòng tục lụy nên phải mang một kết cục bi thương.

Nếu công chúa Ngọc Anh là một khía cạnh của si mê, mù mịt thì hình ảnh của Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành lại hiện lên như sự minh triết an trầm, nhắc nhở chúng ta cần quán thân bất tịnh, tỉnh táo để nhận ra hư ảo của tình yêu, sẽ phần nào làm cho con người bớt đi niềm luyến ái. Câu chuyện như một lời cảnh tỉnh: “Ái tình là điều khiến con người dễ lầm đường lạc lối”, vì yêu cái đẹp của Thiền sư mà bất chấp khổ đau, để rồi khi vướng vào vòng si mê thì không thể thoát ra, khó lòng buông bỏ và sáng suốt.

Dù có ý kiến cho rằng công chúa Ngọc Anh và mối tình với Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành chỉ là câu chuyện hư cấu, tuy nhiên nếu chỉ dựa trên trí tưởng tượng thì “Công chúa Ngọc Anh” vẫn là một tác phẩm giàu triết lý nhân sinh. Truyện đề cao giá trị của đời sống tinh thần tín ngưỡng và sự sâu dày trong tầng thức. Kiến tạo tư duy đổi mới lịch sử thông qua văn học bằng cách tìm kiếm sức nặng của tri thức trong cội nguồn truyền thống.

Bằng giọng văn riêng biệt, sâu sắc và lắng đọng, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh công chúa Ngọc Anh với vẻ ngoài mềm yếu nhưng lại sẵn sàng bứt phá gia phong để tìm đến tình yêu. Nó làm trỗi dậy thao thức và ngẫm ngợi cái khôn cùng, sợ hãi, chông chênh đến ngờ vực, như hành trình đồng niệm nỗi đau khi bị khước từ, lạnh nhạt. Nguyễn Thị Việt Nga đã phô bày niềm sùng bái, ngưỡng mộ, suy tư đầy ngổn ngang trăn trở của một kiếp người. Tất cả đan xen vào nhau để tạo thành một vòng tròn luân hồi không kết dứt.

“Công chúa Ngọc Anh” của nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga là một tác phẩm văn học hội tụ đầy đủ tính nghệ thuật xã hội, nghệ thuật lịch sử với cấu trúc ngôn ngữ tổng quan, từ đó thể hiện được tính thi pháp nội sinh đầy sáng tạo. Những bối cảnh đẹp lay động lòng người được lột tả qua từng câu từ tinh tế, vừa mỏng manh mềm mại, vừa luồn sâu vào những trăn trở, mãnh liệt, cô đơn, nơi giới hạn giữa tình yêu và lễ giáo. Và Thiền sư như biểu tượng của sự tĩnh lặng giữa vô thường, nơi cái đẹp đến từ thanh tịnh và giải thoát. Câu chuyện mang thông điệp sâu sắc về triết học Phật giáo, nhấn mạnh tầm quan trọng của tỉnh thức trong ngũ dục lục trần, giữa mê và ngộ để không phải rơi vào nghịch cảnh đắng cay. Hành động quyên sinh của công chúa Ngọc Anh là tận cùng oan nghiệt, là kết quả từ nỗi si mê, vì nỗi si mê này mà dẫn đến kết cuộc đầy bi kịch.

Sử dụng khả năng cảm thụ nghệ thuật sâu dày, vốn từ phong phú, nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga đã biến chữ trở thành chất liệu để khâm liệm, là dòng chảy để tái sinh, kiến tạo qua không gian thị giác, buộc người đọc phải dừng lại và chiêm nghiệm. Truyện lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga thoát ra khỏi ranh giới của cũ kỹ đơn điệu, không cứng nhắc khô khan, cũng không cầu kỳ phức tạp mà là sự đan xen vừa đủ giữa cấu trúc “Mô tả, trần thuật, đối thoại, trữ tình”. Đặc điểm nhìn vào bên trong nhân vật để tái hiện quá khứ một cách đa thanh, là một cách vận hành hữu sinh, nơi con chữ luôn chắt lọc và dao động. Chú trọng khai thác thủ pháp biểu đạt nội tâm, giàu mỹ học, mang cái đẹp của một trí thức dấn thân, Nguyễn Thị Việt Nga đã đưa lịch sử trở thành câu chuyện gần gũi và đồng điệu, khai phá tính duy mỹ chuyên sâu của người sáng tác.

21/10/2025

Võ Đào Phương Trâm

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Cung ngà xưa - Tiếng vọng ký ức trong miền tiếp nhận hôm nay

Cung ngà xưa - Tiếng vọng ký ức
trong miền tiếp nhận hôm nay

Đặt trong bối cảnh văn hóa, “cung ngà” còn gợi đến truyền thống âm nhạc dân tộc, nơi tiếng đàn, tiếng sáo từng là phương tiện gắn kết cộng đồng. Người miền Trung – đặc biệt là Huế và xứ Quảng – vốn sống trong không gian khắc nghiệt, thường tìm đến âm nhạc như một nơi trú ngụ tinh thần. Vì vậy, bài thơ không chỉ là ký ức cá nhân, mà còn mang dấu vết của ký ức tập thể.

CUNG NGÀ XƯA

Thơ Ngã Du Tử

Này em hỡi cung ngà còn vang vọng

Những âm thanh quá khứ có ươm chồi

Không mặc cả cùng tháng năm dĩ vãng

Mùa tương lai tươi lại cuộc đời ơi.

Nghe tiếng gọi bên kia bờ sông nhớ

Ai vô tình thả nốt nhạc tình rơi

Có tha thiết hay bâng khuâng từ đó

Tôi thương người thảng thốt một dòng trôi.

Cung ngà thắp cho đời thêm son phấn

Hoàng hôn còn ôm ấp dáng bình minh

Nghe trần thế bao chuyện tình chưa kể

Lòng lắng nghe ký ức gọi đời mình.

Và tạ lỗi một thời xuân nông nổi

Đã qua rồi miền nhớ thuở còn xanh

Một lần đến biết bao điều chiêm nghiệm

Cung ngà xưa về đậu mảnh đất lành.

(Trích từ tập thơ: Vàng Gieo Tâm Thức của Ngã Du Tử, NXB Thuận Hóa, tháng 12/2024).

Đọc Cung ngà xưa của Ngã Du Tử, tôi chợt nghe vang lên trong tâm tưởng một điệu nhạc xa xăm, vừa như từ tiếng đàn cổ, vừa như từ hồi ức của chính mình. Bài thơ khơi dậy nỗi buồn dịu dàng về thời gian, về tuổi trẻ đã qua, nhưng không chỉ để tiếc nuối, nó mở ra một hành trình chiêm nghiệm. Theo hướng Mỹ học tiếp nhận (Rezeptionsästhetik), tôi cho rằng tác phẩm này sống động ở chỗ nó không cố định một ý nghĩa duy nhất, mà mời gọi độc giả nhập cuộc, tự mang theo ký ức riêng để cùng ngân lên với “cung ngà” xưa.

Chủ đề và cảm hứng trung tâm:

Chủ đề tổng quát của bài thơ là dòng chảy thời gian và ký ức con người. Ở tầng sâu, Ngã Du Tử không chỉ hồi tưởng một thời tuổi trẻ, mà còn đặt lại câu hỏi về ý nghĩa tồn tại: điều gì còn đọng lại khi “âm thanh quá khứ” đã tàn phai? Chủ đề cụ thể là sự hoài niệm và chiêm nghiệm về tuổi xuân, được diễn tả qua biểu tượng “cung ngà”. Ở đây, “cung ngà” không chỉ gợi đến một nhạc cụ, mà còn như một chiếc cầu nối giữa quá khứ – hiện tại – tương lai. Nó vừa là âm vang, vừa là ánh sáng, vừa là “chứng nhân” cho hành trình đời người.

Nghệ thuật và nhạc tính:

Về hình thức, bài thơ sử dụng thể thơ tám chữ, bốn khổ, song nhạc điệu lại giàu chất ngân vang nhờ sự lặp lại, nhịp chậm rãi và nhiều từ láy giàu âm hưởng… Những thanh bằng – trắc được phối hợp nhịp nhàng, tạo nên âm sắc vừa tha thiết, vừa man mác.

Ngôn ngữ thơ giàu biểu tượng:

“Cung ngà” – Trung tâm của hồi ức, biểu trưng cho tiếng gọi nội tâm. “Hoàng hôn” và “bình minh” – vòng tuần hoàn thời gian, vừa gợi sự tàn phai, vừa khơi dậy một khởi đầu mới. “Tạ lỗi một thời xuân nông nổi” – không chỉ là lời thú nhận, mà còn là dấu hiệu trưởng thành trong chiêm nghiệm. Nhạc tính của bài thơ khiến độc giả không chỉ “đọc” mà còn “nghe” được. Đây chính là hiệu ứng thẩm mỹ mà lý thuyết tiếp nhận gọi là sự cộng hưởng giữa văn bản và trải nghiệm cá nhân: Mỗi người sẽ tìm thấy trong “cung ngà” của thi sĩ tiếng vọng của chính thanh xuân mình.

So sánh tương đồng:

Trong dòng thơ thế giới, tôi nhận thấy Cung ngà xưa có một sự tương đồng đáng kể với Rainer Maria Rilke (Áo, đầu thế kỷ 20), đặc biệt trong Duino Elegies. Ở Rilke, âm thanh và ký ức thường trở thành kênh giao tiếp với cõi siêu hình: tiếng gọi của thiên thần, tiếng ngân vang giữa hữu hạn và vô hạn.

Tương tự, ở Ngã Du Tử, “cung ngà” không chỉ là một âm thanh vật chất, mà là “tiếng gọi bên kia bờ sông nhớ”. Nếu Rilke đặt cái hữu hạn của đời người trong thế tương giao với cái vô tận của vũ trụ, thì nhà thơ Đất Quảng đặt tiếng vọng của quá khứ trong thế đối thoại với hiện tại và tương lai. Cả hai đều dùng âm thanh như một ẩn dụ để con người nhìn lại chính mình, và vì vậy thơ của họ mang tính “siêu cảm giác” – vượt khỏi ranh giới thời gian thông thường.

So sánh khác biệt:

Tuy nhiên, nếu so với T.S. Eliot (Anh – Mỹ, thế kỷ 20), đặc biệt trong trường ca The Waste Land, ta sẽ thấy một khác biệt cơ bản. Eliot cũng viết về ký ức, về sự hoang tàn của thời gian, nhưng ông thường đặt nó trong một bối cảnh lịch sử – văn hóa rộng lớn, với những mảnh vỡ hỗn độn của văn minh. Thơ ông có xu hướng hoài nghi, bi quan, đầy tính phân mảnh.

Ngược lại, Ngã Du Tử nhìn về quá khứ với tâm thế dịu dàng và giàu nhân bản hơn. Dẫu có “tạ lỗi một thời xuân nông nổi”, bài thơ không gợi cảm giác sụp đổ, mà hướng tới sự an ủi: “Cung ngà xưa về đậu mảnh đất lành”. Nếu Eliot để lại dư vị trống rỗng, thì Ngã Du Tử của chúng ta để lại dư vị hàn gắn. Đây là sự khác biệt căn bản: thơ Việt vẫn gắn bó thường xuyên với hồn quê, với khát vọng yên bình, ngay

cả khi hồi tưởng quá khứ.

Đối thoại với văn hóa – lịch sử Việt:

Đặt trong bối cảnh văn hóa, “cung ngà” còn gợi đến truyền thống âm nhạc dân tộc, nơi tiếng đàn, tiếng sáo từng là phương tiện gắn kết cộng đồng. Người miền Trung – đặc biệt là Huế và xứ Quảng – vốn sống trong không gian khắc nghiệt, thường tìm đến âm nhạc như một nơi trú ngụ tinh thần. Vì vậy, bài thơ không chỉ là ký ức cá nhân, mà còn mang dấu vết của ký ức tập thể.

Đọc bằng nhãn quan này, ta thấy Cung Ngà Xưa như một bản hòa âm của lịch sử sống: Nó cho phép người đọc từ nhiều thế hệ khác nhau nhận ra bóng dáng mình – người từng đi qua chiến tranh, kẻ từng mất mát tuổi xuân, hay cả người trẻ đang tìm cách đối diện với thời gian.

Đa tầng nghĩa trong tiếp nhận hôm nay:

Theo Mỹ học tiếp nhận, Hans Robert Jauss và Wolfgang Iser –Những người đặt nền tảng ở Đức – đã nhấn mạnh rằng tác phẩm vănhọc không bao giờ là một thực thể đóng kín. Nó chỉ thực sự sống khibước vào mối quan hệ với độc giả, với “tầm đón đợi”

(Erwartungshorizont) của họ. Cung ngà xưa minh chứng điều ấy. Với người lớn tuổi, bài thơ là sự đồng vọng với chính thanh xuân họ đã bỏ lại. Với người trẻ, đó có thể là lời nhắc nhở: hãy biết lắng nghe và trân trọng hiện tại, kẻo rồi sẽ phải “tạ lỗi” cùng tuổi trẻ. Với độc giả quốc tế, đây là minh chứng cho một tinh thần Việt Nam: biết hoài niệm mà không bi lụy, biết tiếc nuối mà vẫn gìn giữ niềm tin. Chính sự đa tầng nghĩa này làm cho bài thơ mở ra nhiều con đường tiếp nhận khác nhau, và nhờ vậy, nó không bị trói buộc trong một thời điểm lịch sử duy nhất.

Kết luận:

Cung ngà xưa là một thi phẩm giàu nhạc tính, mang sắc thái hoài niệm sâu lắng, vừa chan chứa chất triết lý, vừa gợi mở tính tiếp nhận. Trong dòng chảy thơ Việt đương đại, nó có thể coi như nhịp cầu nối giữa truyền thống trữ tình với tinh thần hiện đại hóa. Nếu như Rilke cho thấy sự tương đồng ở chiều kích siêu hình của ký ức, thì so với Eliot, Ngã Du Tử lại khác biệt ở niềm tin và sự dịu dàng hướng về đời sống. Và trên hết, từ quan điểm Mỹ học tiếp nhận, bài thơ cho thấy sức mạnh của văn học: Nó không chỉ là tiếng nói cá nhân của một nhà thơ Đất Quảng, mà còn là tiếng vọng của ký ức chung – Nơi quá khứ và hiện tại giao hòa trong cung bậc tinh khôi của con người Việt.

(Viết lúc Miền Trung chuyển mùa, 2025)

25/10/2025

Trần Như Luận

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Nước sông Sa Lung chưng cất bầu rượu thơ

Nước sông Sa Lung
chưng cất bầu rượu thơ

Nhà thơ Nguyễn Hữu Thắng lớn lên bên dòng sông Sa Lung xanh trong. Có phải dòng sông Sa Lung là dòng sông thơ ca của đất Rồng - Vĩnh Long?. Tuổi thơ anh vô tư ngụp lặn vẫy vùng bơi lội tắm mát trong dòng sông ấy, nên anh rất yêu thơ, tập tành sáng tác thơ và thành công thơ khá sớm.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chia tay xã Vĩnh Long, huyện Bến Hải, tân sinh viên Nguyễn Hữu Thắng nhập học khoa Ngữ Văn, trường Cao đẳng Sư phạm, số 04 Trần Cao Vân, thành phố Huế, tỉnh Bình Trị Thiên. Những năm tháng mộng mơ ngồi trên ghế giảng đường sư phạm bên dòng Hương giang, anh có thơ đăng đều đặn trên trang văn nghệ báo Dân và tạp chí Văn nghệ Bình Trị Thiên, lấy bút danh Nguyễn Hoài Chung. Năm 1977 khi mới 20 tuổi, Nguyễn Hữu Thắng vinh dự là hội viên trẻ nhất của Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Bình Trị Thiên. Thấm thoắt mới đó đã gần 50 năm, chàng sinh viên thư sinh trắng trẻo mơ mộng ngày nào, nay thành “lão nhà thơ 67 mùa lá vàng rơi”. Sự nghiệp đời anh hanh thông là niềm mơ ước của lứa bạn đồng niên; bước đầu là người thầy giáo mẫu mực dạy Văn, đến nhà quản lý, rồi nhà lãnh đạo. Ở vị trí nào, anh cũng đều hoàn thành xuất sắc vị trí đảm nhiệm. Dù thơ là “nghề tay trái” nhưng sức viết của anh thật đáng nể phục. Hình như trong anh có sẵn một “bồ chữ” đầy, nên khi vừa nắm bắt thông tin, sự kiện, tứ thơ chợt đến, anh hoàn thành một bài thơ khá nhanh. Thơ anh tràn trề sinh lực, dồi dào cảm xúc, bút pháp linh hoạt, nắm chắc các thể loại thơ, gieo vần nhuần nhuyễn. Thơ chính luận thì ngôn ngữ thơ nghiêm ngang nhưng lối viết nhẹ nhàng, dễ hiểu; thơ đời thường thì lời thơ hài hước, tếu táo, bông đùa nhưng lại khá sâu sắc. Anh chung thủy với các thể thơ truyền thống. Phần lớn nhà thơ “trung ương” hay nhà thơ “địa phương” một đời xuất bản hơn một tập thơ là sự cố gắng rất lớn. Vậy mà Nguyễn Hữu Thắng xuất bản liên tục đến 7 tập thơ riêng, được đánh giá là những tập thơ chất lượng, với hơn ngàn bài thơ. Hiện anh là Chủ tịch Hội Đồng Nghệ thuật phân hội VHNT Quảng Trị.

Trong tập thơ thứ 7 mang tựa đề: “Căn cước niềm tin” gồm 75 bài, do Nxb Thuận Hóa ấn hành tháng 7. 2023. Thơ Nguyễn Hữu Thắng hay nhắc nhớ về vĩ tuyến 17, ranh giới nỗi đau chia cắt giữa hai miền Nam - Bắc. Nhà thơ tự hào là con dân giới tuyến 17 lịch sử. Nơi đó có chiếc cầu Hiền Lương  mang hai màu sơn xanh và vàng chia đôi hai miền. Đầu cầu phía Bắc có lá cờ đỏ sao vàng rộng chín sáu mét vuông tung bay trên đỉnh cột cờ cao ba mươi tám mét, như là biều tượng niềm tin. Nhà thơ đau nỗi đau chia cắt hai miền và đặt câu hỏi: “Bến Hải ơi, giới tuyến tạm thời/ Tạm thời chi mà cách xa đằng đẵng/ Hiền Lương ơi, một vạch sơn giới hạn/ Giới hạn chi mà nghẽn lối, ngăn đường” (Một thời Bến Hải)

Quê Nguyễn Hữu Thắng ở Vĩnh Linh đất thép, địa đầu giới tuyến, tiền đồn miền Bắc XHCN nên Đế quốc Mỹ ném bom hủy diệt không kể ngày đêm: “Chẳng thể nào quên được người ơi/ Thuở quê hương chìm trong lửa đạn/ Bom cháy, bom bi, pháo chùm, pháo hạm/ Đêm đêm pháo sáng đỏ trời/ Thuở ấy chúng tôi lên chín, lên mười/ Một chiều thu xa nhà đi sơ tán/ Người lớn gọi đây “kế hoạch K8”/ Đưa chúng tôi ra gặp Bác Hồ…K8 một thời để tôi có hôm nay” (Ký ức K8). Trong những năm tháng chiến tranh đánh phá ác liệt từ vĩ tuyến 17 trở ra, trẻ con đến người già sợ nhất con ác quỷ B52 thả bom rải thảm, san bằng mặt đất bán kính đến vài km, tang tóc kể sao cho hết: “B52 rải thảm đất Vĩnh Linh/ 37 lần chiếc/ Mỗi chiếc ba mươi tấn bom/ Vĩnh Lâm, Vĩnh Thủy, Vĩnh Sơn/ Dải đất bờ Bắc Hiền Lương/ Bom nối bom, nhà cháy nối nhà/ …B52 lần đầu dội xuống Vĩnh Linh/ Nơi tuyến đầu miền Bắc/ Địa đạo, chiến hào khoét sâu vào lòng đất/ Người vẫn kiên cường bám trụ giữ quê hương (Có ai còn nhớ ngày này). Thời kỳ chiến tranh ác liệt, tôi sống ở quê ngoại gần bến phà Long Đại (quê nội ở Huế), nằm trong tọa độ bắn phá của máy bay Mỹ. Nhà tôi cách bến phà Long Đại khoảng 1km đường chim bay, đêm đêm trú ẩn dưới căn hầm chữ A. Từng tốp máy bay Mỹ rú rít điên cuồng ném bom xuống bến phà, nhằm ngăn chặn những đoàn xe quân sự âm thầm hành quân vào Nam. Lúc đó anh em chúng tôi liều ngóc đầu lên miệng hầm, coi các loại đạn pháo phòng không vút lên trời đêm bủa vây thần sấm Mỹ, những luồng đạn đẹp như những luồng pháo hoa hôm nay mừng ngày Tết. Đầu năm 1968 ưu tiên con cán bộ miền Nam tập kết, ba anh em tôi cho đi sơ tán đợt đầu ra Thanh Hóa. Năm 1970 nhà thơ Nguyễn Hữu Thắng đi K8 sơ tán ra tỉnh Thái Bình, khi đang học lớp 4, đạt giải Nhất học sinh giỏi văn toàn tỉnh.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Thắng chọn bài thơ “Căn cước niềm tin” làm tựa đề tập thơ. Niềm tin trong cuộc sống mang đến cho ta nguồn sức mạnh để hành động, nếu không có niềm tin, sẽ không làm được gì cả. Với cảm nhận trực quan nhạy bén, nhà thơ ngợi ca hình ảnh những cán bộ chiến sĩ công an ân cần làm “căn cước công dân” là loại giấy tờ tùy thân cho cư dân thành phố, nông thôn, miền xuôi, miền ngược: “Ngày nối ngày, đêm lại nối đêm/ Chiến dịch làm căn cước/ Cho anh hiểu thêm thế nào là hạnh phúc/ Khi được nhận về mình căn cước của niềm tin. (Căn cước niềm tin).

Nhà văn Andersen người Đan Mạch nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra”. Quả đúng như vậy, hơn bốn mươi năm trôi qua nhưng nhà thơ Nguyễn Hữu Thắng vẫn nhớ như in những năm tháng mới ra trường làm “Người kỹ sư tâm hồn” tại thị xã Đông Hà sau giải phóng. Biết bao khó khăn vây bủa thầy giáo trẻ: Trường lớp dựng tạm lợp bằng mái tôn cũ, thiếu sách giáo khoa, trò đói nên nhặt từng mảnh bom dọc đường đến lớp bán phế liệu, còn thầy đói cồn cào tay phấn cứ run run. Tôi và nhà thơ lúc ấy cùng cảnh ngộ, nghĩ về quá khứ không khỏi bùi ngùi xa xót: “Bếp tập thể bữa sắn, bữa khoai/ Tháng chậm lương chia nhau từng nắm gạo/ Đứng trước học sinh vẫn nụ cười hiền hậu/ Vẫn say sưa bài giảng tiết cuối cùng/ Mấy dãy nhà tôn tạm gọi là trường/ Ghế không đủ ngồi, học trò thay nhau đứng/ Thầy giảng bài mà cồn cào đói bụng/ Mượn áo nhau san sẻ rách, lành” (Ký ức Đông Hà).

Hầu hết nhà thơ các thế hệ đều làm thơ ca ngợi Mẹ. Mẹ không chỉ là người “mang nặng đẻ đau” mà Mẹ còn đảm đang, tần tảo, thương yêu chồng con quên cả bản thân mình. Trong thơ Nguyễn Hữu Thắng hình ảnh Mẹ mình vẫn manh áo vá, đội nón lá, lội ruộng, gánh gồng nuôi anh ăn học thành tài. Bây giờ con trai mẹ “chăn ấm nệm êm” là nhờ công ơn trời biển của mẹ: “Con như cây lúa trên đồng/ Nhờ ơn gieo cấy vun trồng mà nên” (Vu lan nhớ mẹ). Bên cạnh thơ tự sự trữ tình, nhà thơ sắp bước vào tuổi “thất tuần” nên đôi lúc trầm tư, chiêm nghiệm cuộc đời: “Người già thường tỉnh giấc trong đêm/ Nhìn đồng hồ biết ngày còn xa ngái/ Đêm cứ dần dài ra/ Giấc ngủ thì ngắn lại/ Người già thường nghĩ về quá khứ/ Giấc ngủ cứ ngắt ra từng quãng/ Thấy dáng mình ở phía thanh xuân” (Đêm của người già). Tôi tin những lúc tỉnh ngủ, nhà thơ Nguyễn Hữu Thắng nhẹ nhàng bật đèn pin nằm nghiêng người làm thơ, che ánh sáng sợ đánh thức giấc mộng của “một nửa” nằm bên. Những bài thơ như những dấu mốc đáng nhớ: “Câu thơ trên đỉnh tháp”, “Những gương mặt, những linh hồn”, “Ghi trong ngày hội trường”, “Có một nàng dâu Quảng Trị”, “Khúc ca từ những mái trường”, “Đầu xuân trở lại Tân Kỳ”, “Bản làng nhớ mãi tên anh”, “Sinh nhật đích tôn”, “Ngày quốc tế đàn ông”, “Về quê nói trạng”…

Tôi thích cái lối viết ẩn dụ, hóm hỉnh, ngôn từ bình dị nhưng khiến những vần thơ lục bát của anh hấp dẫn lạ thường: “Tôi về hỏi đám trẻ con/ Chúng đều ngơ ngác mắt tròn nhìn tôi/ Xa làng từ thuở đôi mươi/ Nay về làng trẻ còn tôi đã già” (Về làng); “Tép đồng nấu với me chua/ Khoai deo hầm đậu mạ vừa dọn ra/ Xa quê thèm ruốc, thèm cà/ Linh tinh ba thứ gọi là ngày xưa ” (Hương vị quê nhà); “Cho anh vay một nụ cười/ Lãi suất anh trả bằng mười nụ hôn/ Nụ cười hãy giữ nghe em/ Mỗi ngày anh lại vay thêm để giành” (Nụ cười); “Tiền còn một ít để tiêu/ Thơ còn một ít để phiêu với đời/ Tim còn một ít bồi hồi/ Bạn còn một ít - những người tâm giao” (Còn một ít); “Nợ em một thoáng vô tình/ Đường đời xuôi ngược không nhìn thấy nhau/ Chợ chiều ế một buồng cau/ Chợ mai ế một mớ trầu chờ têm” (Nợ mùa đông); “Có ai bán cái dửng dưng/ Tôi mua một mớ lận lưng dùng dần/ Có ai mua cái phân vân/ Để tôi bán rẻ giá gần như cho” (Dửng dưng); “Tôi ngồi gác trán lên tay/ Gác đêm lên gối, gác ngày lên mơ/ gác buồn lên những câu thơ/ Gác vui lên những hẹn hò ngóng trông/ Cuối cùng đất gác lên tôi/ Tôi nằm dưới đất hát lời cỏ hoa” (Gác); “Một đời đi đó đi đây/ Về hưu trở lại nơi này bến quê/ Rặng bần vẫn trái sum suê/ Bờ sông vẫn gió, sóng kê mũi thuyền” (Bến quê); “Đêm nay trời lạnh mùa đông/ Câu thơ ngày ấy đem hong tình già” (Lửa mùa đông); “Có lần anh quệt má em/ Bàn tay luống cuống chạm lên mi dài” (Nhọ nồi); “Va len tin một ngày thôi/ Còn anh giành trọn cuộc đời yêu em/ Yêu từ mồng Một, tháng Giêng/ Yêu qua tháng Chạp, yêu liền năm sau” (Cho ngày va len tin); “Tôi đi mấy vạn ngày đàng/ Bạc đầu còn nhớ mấy lằn roi tre/ Tôi thành giám đốc, giáo sư/ Nhờ ơn trách phạt thầy cô thuở nào”(Có ai còn nhớ)…

Bên cạnh mê thơ, nhà thơ còn say môn “túc cầu”. Hầu hết các trận bóng đá của đội tuyển Việt Nam trên đấu trường quốc tế, anh đều có thơ cập nhật. Anh chuẩn bị cho xuất bản tập thơ: “Bóng đá và thơ”.  

Hiện nay thơ in nhiều, nhưng chất lượng phần lớn không như mong đợi. Thơ viết cứ nhàn nhạt, gieo vần lủng củng, tứ thơ không rõ ràng, xa rời thực tế cuộc sống, bó hẹp trong không gian chật chội, không bắt kịp thời đại kỷ thuật số và kỳ vọng của xã hội. Tập thơ “Căn cước niềm tin” là món quà tinh thần có giá trị cho những người yêu thơ hứng thú thưởng thức cái hay trong mỗi bài thơ.

Bởi vậy, ngày 29 tháng 11 năm 2023, Chủ tịch tỉnh Quảng Trị Võ Văn Hưng tặng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị năm 2023: Giải A cho tập thơ: “Căn cước niềm tin” của tác giả Nguyễn Hữu Thắng. Hy vọng thời gian tới, bạn yêu thơ Nguyễn Hữu Thắng sẽ được đón đọc những tập thơ mới đầy hấp dẫn của anh.

27/10/2025

Nguyễn Xuân Sang

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Người thơ xứ Quảng: "Ảo hương lãng đãng bên trời cũ"

Người thơ xứ Quảng: "Ảo
hương lãng đãng bên trời cũ"

Nhà thơ Xuân Trường - tên thật Nguyễn Trường - là một tâm hồn phiêu bạt. Ông sinh ngày 12/12/1949 (theo giấy khai sinh) nhưng thực tế là năm 1945 (tuổi Ất Dậu), tại xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Tuổi thơ ông lớn lên trong nghèo khó, cha mất sớm vì giặc Pháp, và các con phải sống dựa vào đôi bàn tay tảo tần của người mẹ.

Hành trình cuộc đời ông là một chuyến đi dài: từ xứ Quảng, ông vào Quy Nhơn học tiếp, rồi xuôi về Sài Gòn theo học Đại học Khoa học. Để mưu sinh, ông vừa học vừa làm, đồng thời tích cực tham gia phong trào sinh viên yêu nước. Hoàn cảnh đưa đẩy, ông ra Bình Định dạy học, rồi lập gia đình và chuyển lên sinh sống tại Pleiku. Sau năm 1975, ông tham gia công tác tại Ủy ban Quân quản Thị xã Pleiku, rồi lần lượt trải qua nhiều vị trí tại các ngành Lâm nghiệp, Cải cách hành chính, Xúc tiến đầu tư cho đến khi nghỉ hưu. Dù ở đâu, hồn thơ Xuân Trường vẫn luôn "ảo hương lãng đãng bên trời cũ".

Gắn bó với đại ngàn và một mối tình đẹp

Gần 35 năm gắn bó với vùng đất Tây Nguyên đã cho ông những cảm nhận tinh tế về vẻ đẹp nên thơ và hùng vĩ nơi đây:

“Chiều Yarung làm bằng sương khói thác
Với nguyên sinh thăm thẳm của đại ngàn
Và trong xanh sông Ba mùa hóa đá
Thương ta ngồi mường tượng thuở hồng hoang”
(Thư gửi Kông Chro)

Cũng chính tại mảnh đất này, ông viết nên câu chuyện tình yêu đẹp như cổ tích với người bạn đời của mình. Đó là một nữ sinh ông quen biết từ thời Quy Nhơn. Khi ông vào Sài Gòn học, cô lên Pleiku dạy học, họ giữ liên lạc qua thư từ. Tưởng chừng xa cách sẽ khiến mối tình nhạt phai, nhưng rồi theo lời ông kể: "Một ngày nọ cô gái ấy có thư bảo tôi đi đến hôn nhân... Khi về đến Pleiku tôi thực sự xúc động trước sự thủy chung của người mình yêu. Ngày cưới, xe đi qua vùng chiến trận dưới chân đèo An Khê, nghe như tiếng đạn pháo xuyên qua hạnh phúc của mình. Vất vả, sợ hãi rồi cuối ngày cũng đến Pleiku, cô gái ấy chính là người bạn đời của tôi bây giờ".

Hành trình thơ âm thầm và bền bỉ

Đến nay, Xuân Trường đã xuất bản 5 tập thơ: Chùm thương nhớ, Tìm xưa, Không gian em, Nắng trầm tư và Chiếc cằm nũng đôi. Hành trình thơ của ông cũng có những thăng trầm riêng. Ông làm thơ từ thời đi học, nhưng sau 1975, do môi trường công tác không thuận lợi, thơ ông chỉ âm thầm lặng lẽ. Phải đến khi chuyển sang ngành Lâm nghiệp, được đi nhiều và gần gũi với cuộc sống đồng bào dân tộc, nguồn cảm hứng mới lại trỗi dậy mạnh mẽ. Tập thơ Chùm thương nhớ đã giúp ông được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai.

Nỗi niềm canh cánh với quê nhà

Dù gắn bó sâu nặng với Pleiku, trong thơ Xuân Trường, nỗi nhớ quê hương xứ Quảng vẫn là một điều da diết, được gửi gắm qua những vần thơ đầy xúc động:

“Ta về quê cũ hôn lên gió
Đưa đón mây quê để tiễn mùa
Ảo hương lãng đãng bên trời cũ
Ngọt ngào cay đắng đã thành xưa”

Và trên mỗi bước đường đời, quê nhà vẫn là nguồn cảm hứng bất tận:

“Nắng đan vòm nhớ quê nhà
Mây xanh chia nắng con phà làm đôi
Nụ cười nghiêng mát phía tôi
Ai quăng con sóng bồi hồi sang em”

Triết lý sống và làm thơ

Ở tuổi lục tuần, Xuân Trường vẫn giữ được sự trẻ trung, hồn nhiên nhờ lối sống chân thành, nhiệt tình với bạn bè và nhiệt huyết với thơ. Với ông, thơ là lẽ sống: “Thơ chưa thật sự nuôi tôi ngày nào, nhưng thiếu thơ thì đời tôi như trở thành vô nghĩa. Tôi đến với thơ một cách tự nhiên, vô tư, như một cách dấn thân yêu đời vậy thôi. Tôi nghĩ rằng trong thời kỳ văn minh của con người hiện nay, mọi thứ đều vô cùng đa đoan trong cuộc sống thường ngày, nên thơ rất cần để giải tỏa áp lực và làm nhẹ lòng mình”.

Sài Gòn, 28/8/2008

Phan Huỳnh

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Cô gái Quảng Trị với nồng cay tiêu Cùa

Cô gái Quảng Trị với nồng cay tiêu Cùa Đọc 14 bài bút ký của nữ nhà báo Đào Khoa Thư, trong tập bút ký “Mùa bình thường” in chung với nhà ...