VĂN THƠ NHẠC
Thứ Ba, 10 tháng 3, 2026
Chấn thương và hành trình truy tìm căn tính Việt trong tiểu thuyết "Sóng ngầm" của Linda Lê
Chấn thương và hành trình truy tìm
Nhà văn Linda Lê vừa đột ngột qua đời sáng ngày 9.5.2022 tại Paris ở tuổi 59. Bà là cây bút người Pháp gốc Việt hàng đầu, tác giả nhiều tác phẩm nổi tiếng và rất có giá trị. Sự ra đi bất ngờ của bà đã gây chấn động văn đàn Pháp, Việt Nam lẫn nhiều nơi trên thế giới với niềm tiếc thương khôn nguôi. Tưởng nhớ nhà văn Linda Lê, Vanvn.vn xin trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu của PGS-TS Thái Phan Vàng Anh về tiểu thuyết Sóng ngầm của bà…
Ngòi bút nhà văn Nguyễn Công Hoan lực lưỡng, dũng khí, lạ lùng
Ngòi bút nhà văn Nguyễn Công Hoan
lực lưỡng, dũng khí, lạ
lùng
Nhà văn Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903,
mất ngày 6 tháng 6 năm 1977. Thọ 74 tuổi.
Khối lượng sáng tác của Nguyễn Công Hoan thật đồ sộ, từ 1920
– ấy là năm mà người viết lời bạt này mới chào đời, Nguyễn Công Hoan đã sáng
tác liên tiếp hơn nửa thế kỷ, đến bây giờ thống kê chưa đầy đủ mà đã tới hơn 30
truyện dài, hơn 200 truyện ngắn và mấy chục bài nghiên cứu, phê bình văn học
nghệ thuật.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan, khi thiếu thời đã từng ở lâu Hà Nội.
Không kể sau này, khi Cách mạng tháng Tám thành công và từ 1954, nhà văn đã sống
và làm việc ở thủ đô, từ sơ học đến trung học cậu bé và chàng thanh niên Nguyễn
Công Hoan đều đi học, trọ học ở trung tâm thành phố, các quận Hoàn Kiếm, Ba
Đình ngày nay. Không phải ngẫu nhiên, các truyện ngắn, đề tài thành phố của nhà
văn đều bắt nguồn từ đời sống Hà Nội ở thời kỳ ấy.
Một gia tài tác phẩm lớn lao của Nguyễn Công Hoan mà thời
gian sống và ảnh hưởng của nhà văn phản ánh trong sáng tác đã trải dài cả thế kỷ,
là những mốc, những chứng tích, những nguyên vật liệu mắt thấy tai nghe cho những
lập luận, kết luận của cả một thời kỳ văn học.
Các tác phẩm Kiếp hồng nhan và tập Xã hội ba
đào ký của Nguyễn Công Hoan được in vào đầu thập kỷ 20 – đến nay sắp sang
những năm 90, thế mà ngạc nhiên xiết bao – bạn đọc có thể đọc một truyện ngắn
trong Kiếp hồng nhan viết ở những năm tháng xa xôi ấy, với truyện ngắn Chiếc
xe lam, một trong những sáng tác sau cùng, khi nhà văn vào Sài Gòn giải phóng
năm 1975, không hề thấy khoảng cách thời gian ở truyện ngắn Chiếc xe lam với
truyện ngắn Sóng vũ môn. Tại sao Nguyễn Công Hoan không lúc nào cũ, trong
khi ngày nay bạn đọc khó lòng còn để mắt thêm một lần đọc các tác phẩm văn
chương biền ngẫu hay văn chương tín điều, trung hiếu tiết nghĩa, thiện ác đơn
giản của giai đoạn văn học quốc ngữ thời kỳ đầu.
Bí quyết ấy có thể cắt nghĩa dễ dàng. Được chắt lọc từ ý
nghĩa tư tưởng đời sống xã hội, văn Nguyễn Công Hoan đã sáng tạo bằng tiếng nói
hàng ngày của xung quanh. Ở Nguyễn Công Hoan, tả chân, tả thực kia và Nguyễn
Công Hoan hiện thực sau này chỉ là rút kinh nghiệm sai đúng hay thiếu sót rồi bổ
sung, phát triển tuyệt nhiên không phải trăn trở “lột xác”, “nhận đường”. Khi
cách mạng chuyển giai đoạn, khi đất nước thoát vòng nô lệ, dân tộc được độc lập,
tự do thì bút pháp nhà văn càng được tăng lực.
Một khi sáng tác đã là chứng tích, là chất liệu tấm gương
phát triển văn học và khi một sáng tác vào cuộc sống đã gợi lên những tác động
khác nhau thì bao giờ cũng đem lại những lập luận, những lý giải giúp ích cho
nhận định của mỗi giai đoạn văn học. Ở nước ta, hiếm có những cây bút hơn được
Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan trong đời văn đã trải những tranh luận quyết
liệt. Riêng Nguyễn Công Hoan, một số tác phẩm, ở từng giai đoạn khác nhau đã là
mấu cứ cho những tranh cãi gay go nhưng rất cần thiết cho phong trào và lực lượng
văn học Việt Nam qua các thời kỳ.
Ít nhất cũng đếm được 4 cuộc quan trọng.
1. Bây giờ các nhà nghiên cứu thường nhắc đến thời kỳ Mặt trận
Bình dân 1936 – 1939, cuộc tranh luận của phái văn học Vị nghệ thuật và phái
văn học Vị dân sinh mà sau cùng lực lượng văn học Vị dân sinh do một số nhà lý
luận phê bình tiến bộ chủ trương đã thắng lợi. Chất liệu để có được cuộc tranh
luận mà chân lý nghệ thuật tiến bộ lần đầu tiên đã thắng lợi trên bình diện văn
học nước ta, đó là tập truyện ngắn Kép Tư Bền, rồi đến tiểu thuyết Bước
đường cùng của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
2. Cuối thời kỳ Bình dân, cuộc tranh luận về thuyết bảo thủ
hay tự do trong luân lý gia đình đã thông qua tiểu thuyết Cô giáo Minh và Đoạn
tuyệt của Nhất Linh. Người ta ít nhắc đến cuộc tranh luận này, sự việc đã xảy
ra khi sắp có chiến tranh thế giới lần thứ hai, vấn đề bị nhạt hẳn tính chất xã
hội. Số người tham gia không rộng khắp các báo ba kỳ, mà chỉ bài của tác giả Cô
giáo Minh cùng một số người ủng hộ ở báo Tiểu thuyết thứ bẩy, báo Tin văn với một
bên là hai cây bút Tự lực văn đoàn. Rồi cũng không ngã ngũ.
3. Tiểu thuyết Danh tiết và tiểu thuyết Thanh
đạm (1942) hai truyện đều được in khi đã bắt đầu chiến tranh thế giới thứ
hai, thực dân Pháp đặt lại cơ quan kiểm duyệt từng bài báo, từng trang sách.
Bây giờ có một bài đọc sách ngắn khoảng nửa gang tay chữ trên báo Cờ giải
phóng, cơ quan tuyên truyền của Đảng Cộng sản Đông Dương, in litô phát hành bí
mật, phê bình tư tưởng bảo thủ trong tiểu thuyết Thanh đạm. Rất tiếc khi nước
nhà độc lập, các nhà phê bình nghiên cứu văn học vẫn cứ nguyên tinh thần bài đọc
sách ngắn ngủi ấy mà nói lại. Tôi không có ý bênh vực sẵn cho tiểu thuyết Thanh
đạm. Nhưng, ừ thì tác phẩm ấy có thể chứa đựng tư tưởng bảo thủ, nhưng phải được
lý giải rằng bảo thủ thế nào, cái gì không thể chỉ im lặng và lặp lại một bài
điểm báo thông thường.
4. Tiểu thuyết Đống rác cũ (Tập I, in 1963) cuốn tiểu
thuyết sau cùng của Nguyễn Công Hoan gây dư luận khác nhau. Nhưng trong một
tình hình khá là bi hài. Tiểu thuyết này gồm hai tập, Nhà xuất bản Văn học in
xong tập I, nhưng cũng chưa phát hành rộng cuộc tranh luận đã tùm lum. Thế là tập
II không tiếp tục ra đời. Cho tới nay cũng không mấy bạn đọc biết câu chuyện đầu
và đuôi thế nào, chỉ mới đọc các bài báo chê Đống rác cũ tự nhiên chủ
nghĩa. Nêu lại vấn đề này, tôi cũng không đơn giản đòi khôi phục giá trị tiểu
tuyết Đống rác cũ. Mà chỉ muốn có phê bình, có sự nghiên cứu, phân tích,
đánh giá nhiều chiều, nhiều mặt một tác phẩm để tiến tới chân lý được. Hay làm
lại một hoạt động văn học bình thường, lành mạnh trong tình hình hiện nay.
Tư tưởng và văn phong Nguyễn Công Hoan, từ sáng tác đầu tiên
đến tác phẩm sau cùng, xuyên suốt một nét. Tác phẩm Nguyễn Công Hoan đã tới với
người đọc, gây phản ứng và tác động mạnh mẽ đến độ nhiều cuộc tranh luận đã nổ
ra. Một đời viết, tác phẩm chồng lên kể hàng trăm, hàng trăm tác phẩm trải 4 trận
phê bình ra trò, mỗi cuộc một nội dung khác nhau đã có thể thấy ngòi bút nhà
văn lực lưỡng, dũng khí, lạ lùng.
Nhân dịp phát hành tiểu thuyết Một kiếp người, tôi xin
chép lại một kỷ niệm của tôi về tiểu thuyết ấy với nhà văn. Tuy câu chuyện nhỏ,
cũng thật rõ nét con người, thái độ làm việc, cả đến trang nghiêm túc nhất
nhưng lúc nào cũng vui tính của nhà văn.
Bấy giờ vào khoảng 1967.
“Cục địch vận Quân đội nhân dân tổ chức gặp mặt văn nghệ sĩ
làm việc sáng tác phục vụ nhiệm vụ địch vận. Các vùng bị tạm chiếm miền Nam
đương ngập ngụa sách vở phản động, văn chương đồi trụy. Ta cần tìm cách thổi luồng
gió mới vào. Các anh ấy đề nghị chúng tôi viết những truyện – viết theo lối
sách chưởng, tình báo, lãng mạn đương thịnh hành, nhưng nội dung lành mạnh, có
tính chiến đấu. Và ký tên khác. Để in công khai trong thành hoặc in ngoài chiến
khu, đem lồng bìa giả, bí mật đưa vào các đô thị.” Chưa ai làm gì thì anh Nguyễn
Công Hoan đã xong một tiểu thuyết trên một trăm trang bản thảo. Hồi kháng chiến
chống Pháp anh đã viết một truyện theo yêu cầu như thế do Quân đội in, quyển tiểu
thuyết tên là Xổng cũi, ký tên tác giả Nguyễn Văn Lung, (anh cắt nghĩa
Lung là lung tung thiên ấy mà).
“Tôi đọc quyển tiểu thuyết vừa ráo tay của anh rồi nói:
– Nhưng đoạn anh tả tình yêu chưa được.
– Sao?
– Anh cho trai gái Sài Gòn bây giờ còn viết thư tình như thư
tình trong truyện của anh từ hồi “min nớp xăng cà cộ”. Có cả sợi tơ lòng, đài
gương, dấu bèo, nhạn én đổi thay, tháng ngày thấm thoát.”
Anh vỗ đùi, cười to:
– Ờ nhỉ, cái việc ấy lâu nay mình không có thực tế. Hỏng!
Anh bằng lòng với nhận xét ấy của tôi và tự giải thích theo
cách hài hước riêng. Rồi anh bỏ cả cuốn tiểu thuyết. Không phải là việc dễ dàng
đâu.
Một số nhà văn khác trạc tuổi anh bấy giờ, còn có chủ trương
viết biền ngẫu lối cổ như vậy. Nhưng chịu nghe, anh Nguyễn Công Hoan vẫn trẻ
trung như thường.
Ít lâu sau, Nguyễn Công Hoan viết hẳn lại cuốn tiểu thuyết ấy.
Chính là cuốn tiểu thuyết có hôm nay trên tay bạn đọc. Thoạt đầu Nguyễn Công
Hoan lấy tên là Nếu không có anh. Nhưng anh bảo tiểu thuyết này còn đưa bên địch
vận xem, nếu chưa được và cần sửa nữa, anh cũng sẽ sửa và có ký tên “lung tung
thiên” cũng chẳng sao, miễn là tác phẩm của anh đến được với bạn đọc cần thiết
nhất của anh.
– Nguồn: Trong “Nguyễn Công Hoan – Cây bút hiện thực xuất sắc”
– Trung tâm Hỗ trợ Sinh viên Khiếm thị
– Lời nói đầu in trong tiểu thuyết Một kiếp người (tên của
tác giả Nếu không có anh) NXB Hà Nội, Hà Nội, 1989.
11/5/2022
Tô Hoài
Theo https://vanvn.vn/
Hiện thực trung thực trong tiểu thuyết Đoàn Tuấn
Hiện thực trung thực
trong tiểu thuyết Đoàn Tuấn
Khi đọc bản thảo Lời nguyện cầu cho những
linh hồn phiêu bạt của Đoàn Tuấn tôi rất ngỡ ngàng rồi như có một
niềm vui mơ hồ đến với mình. Cảm giác được gỡ bỏ một điều
gì đó. Tôi biết mình không còn phải lăn tăn điều có hay không viết một cuốn
sách về chiến trường K. Tôi không phải làm điều đó vì tác phẩm của Đoàn Tuấn
đã làm rồi.
Nhiều lần trò chuyện với các đồng nghiệp từng tham gia chiến
đấu ở chiến trường Campuchia tôi thường nói: Hiện thực ở K thời đánh Pôn Pốt mới
là bối cảnh của tiểu thuyết. Ở đây có đầy đủ những xung đột mà nhân loại đã trải
qua. Tàn bạo và nhân ái, dân tộc và quốc tế, diệt chủng và hồi sinh. Các chủ
nghĩa cực đoan, cứu giúp và xâm lược… tất cả đan xen với nhau để bộc lộ ra đến
tột cùng tính cách con người. Những chuyện độc lạ như có những quân tình nguyện
đào ngũ, lấy vợ người Campuchia, sống lẩn khuất giữa hai chiến tuyến, là đối tượng
săn lùng của cả ta và địch. Bối cảnh như vậy mà các ông chỉ làm thơ…
Cũng đã có những tác phẩm văn xuôi, nhưng nó chưa đặt dấu ấn
rõ ràng của cái hiện thực bi tráng và rùng rợn này trong lòng người đọc.
Tôi không trực tiếp tham gia cuộc chiến này mà chỉ vài lần được
cử đi như một người viết thâm nhập thực tế. Nhưng cái hiện thực đó cứ ám ảnh giục
tôi muốn viết một điều gì đó về nó. Tôi tìm đọc các hồi ký của cựu chiến binh
chiến trường K. Nhưng hồi ký xúc động và chân thật. Tôi nhận ra có nhiều điều
khác giữa những người lính chống Mỹ và người lính chống Pôn Pốt. Những suy nghĩ
của cựu binh chiến trường K không hoàn toàn giống những suy nghĩ của thế hệ
chúng tôi. Như khi gọi “đồng hương” thời chống Mỹ là để chỉ người cùng một tỉnh,
một huyện. Còn ở chiến trường K, “đồng hương” là cả nước Việt Nam. Tôi cũng trở
lại Campuchia nhiều lần, để suy ngẫm thêm những điều đã có trong đầu mình. Tóm
lại tôi muốn viết một cuốn sách về vùng đất này, về cuộc chiến này, nhưng vì
nhiều lý do khác nhau đến nay tôi vẫn chưa làm được.
Khi đọc bản thảo Lời nguyện cầu cho những linh hồn
phiêu bạt của Đoàn Tuấn tôi rất ngỡ ngàng rồi như có một niềm vui mơ hồ đến
với mình. Cảm giác được gỡ bỏ một điều gì đó. Tôi biết mình không còn phải lăn
tăn điều có hay không viết một cuốn sách về chiến trường K. Tôi không phải làm
điều đó vì tác phẩm của Đoàn Tuấn đã làm rồi. Một ví dụ: Tôi định mở đầu cuốn
sách của mình bằng chuyện một ủy viên hội đồng xét xử vụ tham mưu phó trung
đoàn quan hệ tình dục với một phụ nữ Campuchia. Bản án lúc ở cấp quân đoàn dự định
chỉ xử chung thân. Nhưng chỉ đạo của cấp cao nhất phải xử tử hình để giữ nghiêm
quân lệnh trên đất bạn. Bản án được thi hành ngay. Người ngồi ghế ủy viên Hội đồng
xét xử là một chủ nhiệm chính trị, khi rút quân về nước đã ghé thăm mộ người đồng
đội tử tù rồi từ đó phát triển các tình tiết của câu chuyện và tính cách của
nhân vật. Đó là một sự kiện ám ảnh tôi. Nhưng trong Lời nguyện cầu… của
Đoàn Tuấn có đến 5 vụ án như vậy, tác giả đã viết tường tận vì là người trong
cuộc.
Tác phẩm Lời nguyện cầu những linh hồn phiêu bạt không
ghi thể loại, nhưng theo tôi đó là một cuốn tiểu thuyết gần nhất với nghĩa thực
của nó dù các nhân vật, các sự kiện đều là thật, là rất gần với thật.
Hai nhân vật chính của tiểu thuyết là tác giả Đoàn Tuấn và
người đồng đội tên là Ánh sau này là nhà sư Phteah Saniphap. Họ cùng chiến đấu ở
chiến trường Campuchia, rồi ra quân, rồi xuất ngoại. Đoàn Tuấn trở lại khoa văn
Đại học Tổng hợp Hà Nội rồi sang Liên Xô học tại một trường điện ảnh danh tiếng.
Còn Ánh thì về địa phương, tham gia công tác đoàn rồi đi lao động ở Đức. Về nước,
Ánh lấy vợ, sinh con, tạo ra cơ ngơi ổn định, kinh tế gia đình vững vàng, nhưng
lòng anh không yên, luôn nghĩ về đồng đội, về nơi anh từng chiến đấu. Anh quay
lại Campuchia, đi tu, thực hành hạnh nguyện làm lễ cầu hồn, cầu siêu cho những
linh hồn của ta và của địch được siêu thoát.
Hai tuyến nhân vật chính đó đan xen nhau, bổ trợ cho nhau làm
nên cốt cách của câu chuyện. Mỗi lần Ánh, nhà sư Phteah Saniphap đến cầu siêu ở
một nơi nào đó, thì trận đánh của quân tình nguyện Việt Nam với quân Pôn Pốt được
tái hiện cụ thể, rành rọt như nó vừa xảy ra hôm qua. Còn tác giả Đoàn Tuấn lại
đi gặp những cựu binh đã trở lại đời thường ở Việt Nam với bao nhiêu di chứng của
chiến tranh. Cứ như vậy chương bên này, chương bên kia tác phẩm đã cuốn hút người
đọc với một giọng văn tỉnh táo, chân thật, với bút pháp chỉnh chu, bố cục chặt
chẽ.
Một thế hệ mà “Balô tuổi trẻ toàn đồ dùng thiết yếu cho chiến
trận. Nhưng tâm hồn non nớt của chúng tôi va chạm với máu, thuốc súng, sắt thép
và cái chết, cũng bị tổn thương. Có ai nhìn thấy những vết thương ấy? Có ai
giám định những vết thương lúc nào cũng rỉ máu ấy? Và chẳng ai xếp hạng những vết
thương ấy. Không phụ cấp, không đền bù, vết thương trên cơ thể có thể thành sẹo,
nhưng vết thương tâm hồn lẽ nào vô nghĩa? Có ai băng bó cho chúng tôi không?
Hay tự chúng tôi băng bó cho nhau? Và chúng tôi còn sống trở về, chắc có bao
người đã chết thay. Chúng tôi không thể bình yên được. Phải đi nơi đó. Băng bó
cho những linh hồn còn đau đớn giữa rừng hoang. Nhưng chẳng lẽ mình chỉ băng bó
cho người bên mình? Người bên kia họ cũng đau đớn lắm chứ? Tất cả đã chết rồi,
còn hận thù gì nữa…”
Trong một lần dự lễ cầu siêu ở biên giới tỉnh
Ratanakiri, giáp với Kon Tum và Gia Lai của Việt Nam, Đoàn Tuấn hỏi Ánh:
“Pháp danh của ông tiếng Khmer nghĩa là gì?/ Phteah Saniphap có nghĩa là ngôi
nhà hòa bình./ Tác giả nói: Ông đi tìm linh hồn người chết. Tôi đi tìm linh hồn
người sống.
Vậy là công việc của hai nhân vật đã được xác định. Họ tâm sự:
– Bọn mình lao vào cuộc chiến Biên giới Tây Nam đúng lúc đất
nước vừa mới trải qua ba mươi năm chiến tranh. Mùi vị hòa bình chưa kịp nếm. Rồi
ra quân giữa lúc đất nước khó khăn cùng kiệt. Mỗi người tản mạc một phương, thằng
nào cũng cắm đầu vào kế mưu sinh, không ngẩng mặt lên được, giờ mới có chút dễ
thở. Tôi định cùng mấy anh em đi tìm đồng đội năm xưa, xem bây giờ họ sống ra
sao.
– Đấy là việc ông nên làm. Đồng đội mình khi về các tỉnh đều
khó khăn. Sức lực không còn, không nghề nghiệp, không có tiền. Lại còn gánh vác
gia đình, chăm cha mẹ già, nuôi con nhỏ… Làm sao kể hết gian lao, không đi thăm
đồng đội lại xa nhau biền biệt. Những ký ức không ai nhắc tới. Đừng để họ chết
trong buồn thảm, cô đơn.
Thế rồi Đoàn Tuấn lên tận Lào Cai tìm gặp đồng đội người
H’mông. Ánh, nhà sư Phteah Saniphap đến các trường bắn cũ nơi tử hình đồng đội,
cầu siêu cho những người xấu số. Họ có những năm người. Những người bị kết án tử
hình vì phạm tội hiếp dâm phụ nữ Campuchia. Nhà sư gọi hồn và trò chuyện với từng
người.
Rồi tác giả sang Cao Bằng thăm đồng đội người Tày, nhưng đồng
đội Cương đã mất trước đó hai tháng. Chuẩn úy, giải ngũ làm cửu vạn ở Móng Cái,
chết vì lao xuống dòng nước lũ cứu người. Người cứu được còn mình thì bị nước
cuốn đi. Nhà sư thì lên Preah Vihear cầu siêu cho những linh hồn lính Khmer Đỏ
bị chết vào cuối tháng giêng năm 1979…
Cứ như vậy, hai người đồng đội, một ở Campuchia, một ở Việt
Nam họ đi làm các việc mà lương tâm họ thúc giục phải làm. Nhờ kết cấu này mà
tiểu thuyết cuốn hút người đọc, đưa người đọc từ trạng thái này sang trạng thái
khác một cách tự nhiên, không có gì gượng ép.
Từ lễ cầu hồn bên sân bay S’tung T’reng của nhà sư đến việc
thăm anh Rich ở Mai Châu của Đoàn Tuấn. Mai Châu mùa em thơm nếp xôi, nơi
nhộn nhịp khách du lịch, đối với tác giả ở đó chỉ có hai thắng cảnh là hai người
đồng đội Mạc Văn Tường và Hà Văn Rich. Anh Rich bị thần kinh vì mảnh đạn trong
đầu chưa lấy ra được, tay trái trúng đạn thì bị khèo. Giấy chứng thương bị mất
nên chữa trị qua loa. Hành trình của anh là bị thương, đi viện rồi về nhà luôn.
Tuy bị khèo tay, nhưng chơi đàn hay có tiếng, chơi đàn ở các bản trong huyện
Mai Châu, có lúc đi các tỉnh xa. Dân các bản nuôi anh, chơi đàn xong người ta mời
ăn uống có khi ngủ lại luôn, gần đây anh hay bị đau đầu, nhiều lúc đập đầu vào
cột nhà máu chảy đầm đìa. Đoàn Tuấn đến thăm thấy ngôi nhà cháy dở nằm giữa vườn,
khung cảnh chẳng khác gì cái phun bỏ hoang bên Campuchia.
Anh Rich, sao anh đốt nhà? Tác giả hỏi/ Mình nhớ Along Veng
quá, cái đêm đốt Along Veng mình cũng vừa đi vừa thầm hát. Đoàn Tuấn cũng đến
khổ với Rich vì anh thương gọi điện lúc 1 giờ đêm lúc thì 3 giờ sáng vì cứ tưởng
Tuấn có phép màu cấp lại cho anh cái giấy chứng thương, Rồi trong tiệc rượu
Rich nói: Tôi bị thương là vì đánh giặc không giỏi, đúng không? Không chết là
may, giờ về nhà lại bắt đền chính phủ. Tôi nghĩ mình phải đòi tiền thằng Pôn Pốt
mới đúng./ Pôn Pốt chết lâu rồi./ Chết thì thôi không bắt đền nó nữa. Mình bị
thương cái đầu hơi ngớ ngẩn, ông trời đã cho mình có vợ. Thế là đền bù rồi. Từ
hôm nay vợ con không được lên xã, lên huyện đòi chính sách gì nữa. Nào nâng
chén !
Nhà sư Phteach Saniphap lên dãy Dangrêc cùng với một người
lính Pôn Pốt năm xưa, tên là Bua Thong. Trận đó đơn vị của Bua Thong chết gần hết.
Anh bị thương không thuốc chữa đành liều tìm đến viện quân y 21 của quân khu 5.
Khi gần khỏi Bua Thong trốn viện vì sợ các bác sĩ phát hiện ra nhân thân. Bác
sĩ Việt Nam nói với anh: Chúng tôi biết anh là lính Pôn Pốt nhưnng chúng tôi vẫn
chăm sóc cho anh như một bệnh nhân, không phân biệt ta hay địch. Vết thương sắp
khỏi anh không nên trốn. Ra viện, anh về làm dân thường. Đơn vị quân tình nguyện
đánh tiêu diệt đại đội của Bua Thong là đơn vị của Ánh, nhà sư. Bây giờ Bua
Thong dẫn Ánh đến cầu siêu cho những linh hồn của đại đội anh ta. Nhà sư đọc một
bài khấn dài kể lại diễn biến của trận đánh đó.
Cùng lúc đó Đoàn Tuấn đi tìm một nhân vật đặc biệt xứ Lạng. Khu
Năm dằng dặc Khúc ruột ông Hoàng Kiên. Một cựu binh đặc sắc mà cả trung đoàn ai
cũng khâm phục ông Kiên là người tán gái giỏi nhất. Anh lý lẽ: Người yếu nhất
là người thích chinh phục người khác, còn người mạnh nhất là người chinh phục
được chính mình. Có người hỏi anh đã có người yêu đủ 63 dân tộc chưa? Anh chỉ
cười. Nhưng có một điều ai cũng biết điểm chung của những cuộc tình của Kiên là
không một người phụ nữ nào nói xấu anh. Anh sống chân tình, hòa thuận với mọi
người và khi chia tay anh thường để lại hết tài sản, tay không ra khỏi nhà. Đồng
đội hỏi sao anh hạnh phúc vậy. Kiên trả lời: Khi quan hệ với phụ nữ, các ông
luôn bất hạnh. Vì sao? Vì các ông tính toán quá nhiều. Đối với phụ nữ các ông
chỉ được quyền cho, không được quyền nhận. Và khi cho các ông không được phép
cân nhắc. Hoàn toàn vô tư. Đừng bao giờ đặt mục đích quan hệ tình dục lên hàng
đầu. Luôn hết lòng vì họ. Hết lòng như đối với chính cha mẹ mình. Và khi tạm biệt
họ các ông nên trút hết cho họ đến đồng xu cuối cùng. Ra đi người không, nhẹ
nhàng và vừa đi vừa huýt sáo…
Ở Kampong Speu có một gia đình trí thức Khmer. Mặc dù trong
nhà có người con đi tu, nhưng ông Som Him phải thỉnh cho được nhà sư Phteah
Saniphap về cầu siêu cho những người trong gia đình bị tàn sát dưới thời Son
Sen và Pôn Pốt. Dưới thời Pôn Pốt các nhà sư bị cho là kẻ ăn bám. Hàng chục
nghìn nhà sư bị hành quyết. Hàng ngàn ngôi chùa bị phá nát. Nhà sư Som Manbun
con trai ông Som Him kể: Họ làm thịt chó bắt chung tôi ăn. Lại bắt cả uống rượu
nữa. Lúc hứng lên họ còn bắt chúng tôi đốt kinh Phật. Nhiều người không chịu nổi,
đã tự vẫn. Nhưng tôi tự nhủ, các quyển kinh đó có trong đầu mình cả. Mình vừa
làm vừa khấn Phật gia hộ để mình còn sống. Tôi tin sẽ có ngày trở về phục hồi đạo
pháp…
Ông Som Him là chuyên viên cao cấp của Bộ Y tế từng tháp tùng
Hoàng thân Norodom Sihanuok lần tướng Lon Nol nhưng cảm thấy bất an nên xin nghỉ
sớm. Ông nói tư tưởng kỳ thị dân tộc của Pôn Pốt có phần giống Lon Nol. Người gốc
Việt, gốc Chăm, gốc Hoa bị giết nhiều nhất. Mấy đứa con ông bị giết vì có nước
da trắng. Chúng muốn xây dựng một nước Campuchia toàn người Khmer thuần chủng,
thành lập nhà nước Đại Khmer bao gồm cả người Khmer ở Thái Lan và Việt Nam. Để
đạt được mục đích của mình họ kích động máu dân tộc cực đoan, tiêu diệt các dân
tộc khác. Nhà sư hỏi: tại sao họ tàn ác vậy. Ông Som Him trả lời: Tôi nghĩ vì họ
sợ hại. Tàn ác là biểu hiện của sự sợ hãi. Và những kẻ độc tài thường hay hoang
tưởng. Những nhà cầm quyền trên thế giới nếu có biểu hiện hoang tưởng trong lời
nói và việc làm thì nhân loại cần phải cảnh giác.
Tác giả tìm đến một đồng đội tên là Thanh. Từ ngày xuất ngũ đồng
đội mới đặt cho biệt hiệu Thanh gàn. Vì Thanh gàn nghe tiếng đồng đội nào bị chết
là đi viếng, không đi một mình luôn hô hào anh em đồng đội cùng đi. “Alo. Tin
buồn đây. Thằng Quang “dô” ở Quảng Nam chết rồi” hay: “Chào bạn. Tôi vừa nhận
được tin ông Kham ở Phú Thọ vừa mất”, “Này đồng hương, ông Năng ở Bình Định vừa
chết. Anh em bảo gửi vòng hoa. Nhưng ngày kia mới chôn, Mai anh em mình bay vào
Bình Định luôn đi”. Cứ nghe điện thoại của Thanh gàn là biết có đồng đội chết,
chuẩn bị đi viếng.
Thanh lý giải: Nếu không có đồng đội ở đó, chắc mình phải có
mặt, và biết đâu mình sẽ chết. Nhưng mình vẫn ngạc nhiên làm thế nào mà mình sống
sót? Khi làm lính mình chỉ bị thương nhẹ. Khi làm chỉ huy trung đội đánh không
biết bao nhiêu trận, mình cũng không việc gì. Trong khi ấy đồng đội bị thương
và hy sinh rất nhiều. Chắc mọi người chết thay cho tôi. Hay phải chăng tôi được
thiên thần phù hộ? Nhiều đêm tôi thầm hỏi. Nhưng không tìm ra câu trả lời. Tôi
cũng không có ai để hỏi. Chỉ biết tôi còn sống. Đồng đội tôi bao nhiêu người nằm
dưới đất. Và tôi cảm thấy để nhẹ lòng, để thanh thản sống, chỉ bằng cách quan
tâm đến đồng đội mình. Không kể thân hay sơ, biết hay không biết. Mình đến với
tấm lòng chân thành, đồng đội vừa nằm xuống họ cảm thấy được an ủi. Họ đã sống
cuộc đời vất vả, và khi ra khỏi cuộc đời này họ được ra đi trong vòng tay ấm áp
của người thân, của tình đồng đội.
Trong lúc nhà sư Phteah Saniphap đến bên sông Bassac cầu siêu
cho những người Việt bị Lon Nol sát hại năm 1970 rồi lên Kratié cầu siêu cho
các y tá bị lính Pôn Pốt sát hại thì Đoàn Tuấn cùng các đồng đội đưa một người
mẹ từ Hà Nội vào Gia Lai để đưa hài cốt liệt sĩ Minh hồi hương. Gia cảnh người
mẹ liệt sĩ này rất nghèo và uẩn khúc. Đồng đội góp được 50 triệu đồng rồi cử đến
các địa phương như Quảng Nam, Bình Định lại bổ sung thêm người cùng đơn vị để đến
nghĩa trang liệt sĩ huyện Ia Grai. Khi hương đã thắp lên mộ liệt sĩ, đồng đội đứng
sau người mẹ. Giọng mẹ nghẹn ngào: Minh ơi! Sau khi con hy sinh, bố con mất
theo, các em con hư hỏng cả. Một đứa chết vì HIV, một đứa ở tù, một đứa đang bị
truy nã. Mình mẹ mải mưu sinh không còn thì giờ dạy dỗ chúng…
Nghe lời khấn của người mẹ chúng ta cảm nhận chiến tranh tàn
khốc đến cỡ nào.
Từ Kratié, nhà sư lên Preah Vihear, đến điểm cao 547 để làm lễ
cầu siêu cho gần một trăm người lính của sư đoàn 307 chết khát năm 1983. Trận
đó nhà sư cũng tham dự nhưng may thoát chết. Nhà sư có nhờ tác giả viết bài văn
tế đồng đội chết khát trận 547. Sau hai ngày chiến đấu, quân ta không dứt điểm
được căn cứ địch. Những téc nước do xe tăng T54 kéo trúng mìn vỡ toang, các can
nước màu vàng là mục tiêu cho bọn Pôn Pốt trên cao điểm xạ. Sư đoàn ra lệnh rút
quân, trận đánh thua, quân ta thương vong nhiều, rồi sau đó đến chuyện chết
khát. Văn tế viết:
“…Nhưng lính rút đi/ vẫn mang súng đến cùng/ gặp địch vẫn /
kiên gan nỏ súng/ Nhưng lính phải / đầu hàng/ khuất phục/ Một kẻ thù/
Dội lửa lên đầu lính / Ấy là nước / Nước mùa khô cạn kiệt/ Không có
nước/ Lính chết ngồi chết rục/ Kiến bò lên/ Côn trùng cắn khắp người/ Họng cháy
khô/ Không nói được nữa rồi/ không chịu nổi/ Bao người cũng muốn/ Đưa mũi
súng vào thái dương/ và / bóp/ óc phót ra/ Thoát kiếp đọa đầy…”
Trận đánh này đã hằn sâu vào ký ức của mọi người lính trên
chiến trường K. Năm 1984, khi về làm Tư lệnh quân khu 5, trực tiếp chuẩn bị
đánh 547 lần nữa, tướng Nguyễn Chơn đã chỉ thị hậu cần quân khu huy động các
vòm tôn Mỹ để lại, hàn lại thành các tex nước, từ Đà Nẵng chở lên chiến trường,
không phải hàng chục mà hàng trăm tex như vậy, rải đều ở các hướng bộ đội sẽ tấn
công, bơm đầy nước vào. Trận đánh này thắng dồn dã, quân ta làm chủ 547.
Có một bác sĩ chủ nhiệm quân y sư đoàn, khi giải ngũ thường bỏ
nhà đi lang thang hoặc chiều chiều lên đê ngồi một mình. Người ta đồn ông bị ma
ám. Ông nói: “Tôi là người thần kinh vững vàng, đầu óc minh mẫn, luôn làm việc
tốt giúp thiên hạ. Tôi hiểu tôi chứ. Nhưng các ông biết không. Tôi bị ám ảnh
cái nghĩa trang. Nghĩa trang sư đoàn mình”.
“Cắt chân, cắt chân”. Lúc ăn cũng thấy cắt chân. Lúc ngủ cũng
mơ thấy cắt chân. Tôi quay cuồng trong mỗi việc cắt chân. Tôi cố giữ lại cho
anh em nhưng không được. Dù có thuốc tê, nhưng khi cắt, tôi có cảm giác như cắt
chính thịt, xương mình… Khi cắt chân xong, tranh thủ lúc anh em chưa tỉnh, tôi
xách cái chân ra nghĩa trang. Tôi không muốn nhờ y tá. Sợ họ chôn cẩu thả. Tôi
muốn tự tay mình chôn. Tha lỗi cho tôi. Tôi chôn một phần thân thể, một phần
linh hồn đồng đội nơi này. Khác với mộ đắp cao, mộ chân tay đều bằng. Làm sao
nhớ được. Tôi đánh dấu mộ chân, mộ tay của đồng đội. Nhỡ khi họ tỉnh hỏi chân
tay tôi đâu, mình còn có chỗ chỉ.
Người bác sĩ ấy luôn nhớ về nghĩa trang tay chân đồng đội.
Nghe anh em đi thăm chiến trường K về kể nơi ấy đã thành thị trấn, có khách sạn
hẳn hoi. Ông có một mơ ước. Mơ ước nhỏ thôi là hôm nào sang lại K đến vị trí trạm
phẫu sư đoàn dựng tấm bia. Trên tấm bia này không ghi gì cả. Chỉ khắc đôi bàn
chân. Tác giả hỏi: Mục đích anh dựng bia làm gì? Vị bác sĩ trả lời: Mình không
biết nữa. Mà cũng chẳng để làm gì. Thật đấy. Ít ra cũng để an lòng mình, an
lòng anh em thương binh. Cái chân cái tay cũng biết nghĩ đấy! …
Có một người lính trinh sát kể:
– Bọn tôi mười trinh sát Sư, mà phải mười tay thiện chiến nhất.
AK bảng gập. Theo sau là một đại đội bộ binh yểm trợ. Nhiệm vụ là giải cứu Sư
đoàn trưởng Heng Samrin bị Pôn Pốt giam vì chúng phát hiện âm mưu đảo chính…
Câu chuyện của người lính trinh sát dài và có nhiều tình tiết
ly kỳ. Tóm tắt các anh vào được nơi giam giữ sư trưởng Heng Samrin. Trói được bọn
lính gác, đưa được sự trưởng ra nửa đường thì bị lộ. Địch nổ súng khắp nơi. Ông
Heng Samrin vấp ngã, chân đau đi khập khiểng. Người trinh sát không chần chừ xốc
ông lên lưng. Đạn địch bay chiu chỉu. Ông to con nhưng không hiểu sức lực đâu
mà anh cõng ông chạy hơn cây số. Cứu thoát được một người sau này là lãnh tụ cuộc
hồi sinh của dân tộc Khmer. Về sau ông Heng Samrin có hỏi thăm, nhưng anh dấu
tên mình. Làm việc nghĩa thì nên khiêm nhường. Khi giải ngũ, người lính trinh
sát lên Thái Nguyên trồng chè và thường kể chuyện cõng ông Heng Samrin. Một hôm
anh hỏi Đoàn Tuấn: Dạo này ông có đi công tác ở Campuchia không?/ Có việc gì
anh?/ Tôi có cân chè ngon muốn biếu ông Heng Samrin. Mỗi lần sắp kể chuyện cõng
Heng Samrin chị vợ lại gào lên “Giời ạ! Suốt ngày lúc nào cũng Heng Samrin
thôi. Cõng ông ấy có một lần mà kể hàng chục năm không chán. Giờ thử sang bên ấy
xem! Ông ấy có cho mình cõng nữa không? Người vợ muốn đưa anh trở về thực tại.
Nhưng tấm lòng anh vẫn như xưa, phải gửi một cân trà ngon biếu ông ấy./ Làm sao
để ông ấy biết người gửi?/ Chỉ cần nói một người lính trinh sát sư đoàn 10 là
ông ấy nhớ ngay…
Chương cuối của tiểu thuyết Đoàn Tuấn dựng cảnh nhà sư Phteah
Saniphap gọi hồn Pôn Pốt. Không biết tác giả lấy tài liệu ở đâu, nhưng chân
dung nhà độc tài hiện lên rõ ràng với những chi tiết thật cụ thể, thuyết phục
người đọc. Cuộc trò chuyện bắt đầu: ”Chào ông Pôn Pốt/ Chào nhà sư Phteah
Saniphap/ Trước tiên xin chúc mừng ông. Con gái ông, cô Sar Patchath vừa làm lễ
thành hôn/ Khi tôi mất cháu mới mười tuổi. Nó là con gái duy nhất của tôi với
người vợ thứ hai/ Ông có hai người vợ? Người vợ đầu bị bệnh tâm thần phân liệt.
Tôi đã đưa bà ấy đi chữa ở nhiều nơi, kể cả ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Nhưng đều
không đỡ. Tôi kết hôn với bà hai sau khi bà cả mất./ Về cuộc sống gia đình, mọi
người đầu dành cho ông những lời tôn trọng. Song còn một số vấn đề trong cuộc đời
của ông, chúng tôi muốn tìm hiểu. Ông có vui lòng trả lời? / Nhà sư cứ tự
nhiên.”
Cứ như vậy qua câu chuyện, chân dung kẻ sát nhân, chân dung cả
một thời đen tối hiện ra.
“- Người Campuchean nghĩa là gì? Đó là người Campuchean thuần
chủng. Da đen, tóc xoăn. Đó là giống người vượt trội, hơn hẳn các dân tộc khác
xung quanh / Thế còn tên gọi người Khmer?/ Tên ấy pha tạp nhiều dân tộc. Khmer
gốc Chàm, người Khmer gốc Việt, gốc Hoa, gốc Thái .v.v. Tôi không thích/ Từ đó
dẫn tới chiến dịch thanh lọc sắc tộc? Tôi chỉ muốn người Campuchean sống trên đất
Campuchia. Những dân tộc khác không cần thiết. Họ là những phần tử xấu. Phương
châm của chúng tôi là: để các người sống chúng tôi không có lợi, giết các người,
chúng tôi không mất gì.”
Cuộc đối thoại kéo dài hàng chục trang. Pôn Pốt kể về những
việc làm của ông ta, thanh lọc dân tộc, thanh lọc Đảng với những biện pháp cực
đoan, tàn bạo nhất. Nhà sư hỏi: “Nhưng thưa ông, trong tiểu sử ông cũng không
phải là người Campuchean – người Campuchean thuần chất như cách ông gọi. Ông
sinh ra trong một gia đình có bố là người Hoa, mẹ là người Khmer?/ Đó là chuyện
trẻ con, chuyện ngày xưa. Tôi học nhiều, đi nhiều nơi trên thế giới, tôi càng tự
hào về sự vĩ đại của dân tộc Campuchean. Tôi luôn nung nấu lòng căm thù ngoại
bang. Và tôi luôn nuôi dưỡng ý tưởng phải thanh lọc quốc gia, thanh lọc dân tộc./
Và thanh lọc đảng nữa?/ Khẩu hiệu của chúng tôi là: Thanh lọc Đảng, thanh lọc
quân đội, thanh lọc cán bộ. Trong đảng, trong quân đội, trong chính quyền chúng
tôi có nhiều người là gián điệp của CIA, của KFB, của Việt Nam …/ Ông có vẻ nhầm
giữa chủ nghĩa dân tộc cực đoan với chủ nghĩa yêu nước/ Nghĩa là thế nào?/ Theo
tôi hiểu lòng yêu nước gắn với tình yêu đối với người khác. Còn chủ nghĩa dân tộc
cực đoan thường gắn với lòng thù hận với các dân tộc khác./ Điều này còn có thể
tranh luận dài.”
Pôn Pốt giải thích về chủ trương xây dựng một xã hội
Campuchia không tôn giáo, không tiêu tiền, không có đời sống gia đình, trẻ em 7
tuổi phải tách khỏi cha mẹ, không thành thị vì chủ nghĩa tư bản chỉ phát triển ở
thành phố. Trục xuất dân ra khỏi thành phố còn làm suy giảm quyền lực của ông
Sihanouk. Chỉ có đời sống công xã. Bếp ăn cộng đồng. Ăn tập trung, không ăn ở
nhà riêng. Không ai được kiếm ăn riêng. Tất cả mọi sinh vật đều do Ăngkor quản
lý. Ai không tuân theo sẽ bị trừng phạt, xác sẽ biến thành phân bón.
Pon Pôt nói về quan hệ với Trung Quốc, với Việt Nam. Coi cách
mạng văn hóa Trung Quốc là chuẩn mực. Coi phát động chiến tranh với Việt Nam là
quốc sách.
Và đây là đoạn cuối của cuộc đời Pon Pôt.
“- Vì sao ông từ chức Tổng Tư lệnh Khmer Đỏ?/ Tôi từ chức vào
năm 1985 do vấn đề sức khỏe. Hơn nữa tôi muốn làm vậy để ủng hộ Son Sen/ Nhưng
sau này không ngờ Son Sen và đồng bọn của ông ta phản bội tôi./ Việc này cụ thể
ra sao, thưa ông?/ Trong thời gian tôi đi Trung Quốc chữa bệnh thì phe Sihanouk
và phe Son Sen bắt đầu đàm phán với Chính phu Hun Sen. Họ dự định tiến hành bầu
cử. Dân chúng đang căm ghét Khmer Đỏ, bầu cử thì chúng tôi thất bại./ Ông có
hành động gì khi đó?/ Tôi ra lệnh giết Son Sen. Giết tất cả các thành viên gia
đình cũng như các phụ tá của ông ta… / Nhưng sau đó chính ông bị Ta Mok quản
thúc./ Ta Mok chắc sợ tôi sẽ hành quyết nên ông ta ra tay trước. Ông ta vu cho
tôi phản bội phong trào. Tôi tổ chức cuộc chạy trốn cùng gia dình và mấy vệ sĩ.
Lúc đó tôi đã yếu. Các vệ sĩ phải cõng tôi. Ta Mok cho quân đuổi theo. Họ bắt
tôi giam giữ ở Along Veng. Tôi cầu cứu Noon Chea và Khiêu Samphan. Nhưng hai
người bạn cũ của tôi cũng chống lại tôi/ Những ngày cuối cùng của ông thế nào?/ Tôi bị đột quỵ, liệt nửa người. Căn bệnh ung thư không có thuốc chữa. Tôi lại
bị hẹp động mạch chủ, phải thở oxy./ Hình như khi ông chết người dân không ai
khóc?/ Không ai khóc tôi và tôi cũng không khóc ai/ Khi chết ông tiếc điều gì?/
Con gái tôi còn quá nhỏ/ Dư luận nói khi hỏa thiêu, cánh tay ông vẫn nắm lại,
giơ lên?/ Họ đồn vậy thôi, khi chết cơ thể cứng lại, gặp trời nóng chân tay co
lại là bình thường. Còn giơ lên? Vì họ đặt tôi nằm trên đống củi…”
Tôi đã đọc tác phẩm gần 300 trang này một mạch. Những câu văn
xúc tích, những đối thoại sinh động đã ám ảnh tôi, đưa tôi đến gần hơn với sự
thật, một sự thật mà tôi từng nghe, từng đọc, từng đến tận nơi nhưng lại còn rất
mơ hồ, có lúc còn ngại tiếp cận với nó bởi sự tàn bạo, vô nhân tính quá sức tưởng
tượng của con người. Và cũng trong cái hiện thực đen tối đó lòng yêu thương, sự
chở che đùm bọc nhau, tình đồng loại, đồng bào lại sống lên làm ta cảm động,
làm ta tin vào sức mạnh không thể vùi đạp được của con người dù vào bất cứ hoàn
cảnh nào.
Cảm ơn những điều cuốn tiểu thuyết đã mang đến cho bạn đọc với
những tình tiết trung thực cùng tấm lòng của tác giả.
Nhận biết hiện thực một cách trung thực là phẩm chất đầu tiên
của nhà văn.
11/4/2022
Thái Bá Lợi
Theo https://vanvn.vn/
Kim Anh - Thức bước thời gian
Kim Anh - Thức bước thời gian
Thơ chị mang cái tôi riêng, giọng điệu riêng độc
đáo của một hồn thơ rất mực đàn bà vừa phóng khoáng lại vừa kín đáo, dung dị; vừa
mạnh mẽ, bản lĩnh lại vừa dịu dàng, tinh tế; vừa có nỗi ẩn ức, nghi ngại, trắc ẩn,
lại vừa có sự quyết đoán, trí tuệ, nhân hậu; vừa mang âm hưởng dân gian, lại vừa
rất hiện đại…
Tập thơ “Thức bước thời gian” (Nxb Hội nhà văn,
2022) của nhà thơ Bùi Kim Anh – người chị mến thân cùng “chiếc nôi” Văn khoa Sư
phạm đã mang đến cho tôi bao cảm xúc. Ngoài giảng dạy, dân văn Sư phạm là hội
viên Hội Nhà văn Việt Nam nhiều thế hệ, có Nguyễn Khoa Điềm, Ma Văn Kháng, Phạm
Tiến Duật, Tô Nhuận Vĩ, Trần Hòa Bình, Trần Quang Đạo, Nguyễn Thị Mai, Trần Thị
Trâm… đam mê sáng tác và nghiên cứu.
Bùi Kim Anh sinh ngày 25.2.1948 tại quê lúa Thái Bình và gắn
bó cả đời với Hà Nội. Tốt nghiệp Khoa ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chị
gắn bó với nghề dạy văn phổ thông trung học “xê dịch” từ ngoại thành (Trường Cổ
Loa) hành trình hướng về nội thành từ Trường Bạch Mai đến Trường PTTH Hoàn Kiếm
– Trần Phú – trung tâm Thủ đô cho đến khi nghỉ hưu. Cô giáo Bùi Kim Anh được kết
nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1998.
Song hành cùng nghề giáo là sự nghiệp văn chương. Ngoài tập tản
văn “Sống chậm”, Bùi Kim Anh dành trọn vẹn hành trình sáng tác của mình
cho thơ. Trình làng tập thơ đầu tay “Viết cho mình” năm (1995) và sau gần
30 năm chị là tác giả của 11 tập thơ: “Cỏ dại khờ” (1996), “Lối
mưa” (1999), “Bán không cho gió” (2005), “Lời buồn trên đá” (2007),
“Lục bát cuối chiều” (2008), “Bắc lên ngọn gió mà cân” (2010), “Đi
tìm giấc mơ” (2012), “Nhặt lời cho bóng lá” (2015), “Hình như
mùa đã lỡ” (2017) và “Thức bước thời gian” (2022).
“Thức bước thời gian” dày 191 trang, khổ 20cm x 20cm, với
120 bài thơ theo như tác giả “bật mí” là vì gắn với tập sách thứ 12.
Điều dễ nhận thấy là hầu hết các bài thơ đã chụm lại làm rõ
chủ đề tập thơ “Thức bước thời gian”. Có thể nói thời gian là thông điệp chính
nhà thơ muốn trải lòng khi đã chạm đến tuổi “thất thập ngũ niên”. Ý niệm thời
gian từ cụ thể đến khái quát thể hiện từ nhan đề từng bài thơ, như: Ánh hoàng
hôn mùa đông, Buổi sáng nơi ngõ hẹp, Chỉ còn là đêm, Chiều Buôn Mê, Chiều nắng
hạ, Chiều thứ 7, Cho một chiều dành lại, Chủ nhật với hoa cúc, Đêm Nha Trang…
Nhà thơ đã quá nhạy cảm để nhận biết sự chảy trôi của thời
gian: “Không viết cho mùa thu nữa/ ánh hoàng hôn mùa đông tím lịm/ những
ngày tháng mùa đông sương mờ/ bài ca ánh mặt trời mang bốn mùa đi xa/ ta còn mơ
mộng mãi/ những lời thơ viển vông// những câu chuyện theo con nước dòng sông/ cứ
quẩn vào rong rêu củi rác/ ta mặc lòng mà miên man thời gian (Ánh hoàng
hôn mùa đông).
Nhà thơ cảm nhận màu thời gian “thời gian đóng dấu màu
chì lên thơ ta” (Chỉ có tiếng gió); biến đổi thời gian qua cảnh vật thiên
nhiên “chiếc lá bàng như một chấm đỏ run rẩy… Khi những chiếc lá cuối năm quăn
nếp nhăn rơi trên lối phố” (Chiếc lá cuối đông); “cây bàng đầu ngõ đợi
sang lá đỏ” (Chiều thứ 7). Thời gian như “đang vội vã hoán đổi/ mùa vô
tình và ta vô tình” (Đủ cảm giác ngày đông)… Chị quá nhạy cảm để nhìn lá cảm nhận
dấu hiệu tuổi tác “bạn sẽ hiểu tuổi già/ khi bước chân nhức mỏi” (Chiếc lá
cuối đông); “quanh ta có bao kẻ vô tình tự an ủi già rồi/ có ai nỡ trách
người già” (Đủ cảm giác ngày đông)…
Sự an nhiên trước sự chảy trôi cuộc đời: “bình thản mùa đông
gió lạnh về/ bình thản khẩu trang khoác áo ấm đi ra phố… ta ngồi bình thản
trong căn nhà đóng cửa/ lo lắng nào ngoài kia” (Bình thản). Thơ chị chẳng
né nỗi đau, niềm đau, nỗi buồn “buồn ta già với bơ vơ gió mùa/ lẻ loi một mối
buồn thừa” (Lẻ loi một mối buồn thừa); “tôi buồn nhặt lại buồn tôi… lúc buồn
tôi gọi tôi ơi” (Lúc buồn tôi gọi tôi ơi)… Nhà thơ đón nhận nỗi buồn cũng hết sức
bình thản: “buồn ta âu đã mấy người/ cười thế khóc thì cũng thế” (Buồn
ta âu cũng mấy người); “đánh thức buổi sáng bằng tiếng đàn piano gõ từng nhịp
như đếm/ trẻ nhà bên không đi học tập đàn” (Buổi sáng ơi ngõ hẹp).
Cũng có khi nhà thơ rơi vào tâm trạng hẫng hụt thời gian “viết
mãi chưa hết cuộc đời/ ngã lại dậy đi / xoá rồi lại viết” (Đi mãi chưa hết
căn nhà). Thơ có sự thảng thốt: “nghe được cả tiếng thì thầm mách bảo/ đợt lá
rơi cuối cùng của mùa cây/ như cả tiếng nứt vỏ cho mầm xanh non nhú/ chậm lại
đi/ lẽ nào chiếc lá…”. Bài thơ “Đừng hẹn nữa ngày mai” như một lời cầu
khiến “một ngày đã qua và một ngày không trở lại/ mặc con người cứ ghi và cứ
tính/ mặc đồng hồ quay hai mươi tư tiếng/ tóc thời gian trắng lại nhuộm màu/ một
ngày thôi cũng là quá muộn/ mây thiên di cảm xúc cũng rời đi/ lẳng lặng thời
gian dòng đời biến động/ chớ để ngày mai/ đừng hẹn nữa ngày mai/ nếu có thể
thương nhau hôm nay/ không gặp nữa khóc cười chốc lát/ bao nhiêu là cỏ mọc/
quanh ta hoa nở hoa tàn/ vẹn nguyên không gian trời đất/ vẹn nguyên vòng quay
thời gian/ lòng người liệu có vẹn nguyên/ giật mình ngoái lại/ xin đừng hỏi/ thời
gian đặt ở đâu/ ta là ai/ xin đừng hỏi/ cùng sống hết lòng hôm nay đã”… An
nhiên với cuộc đời kể cả khi “một bàn tay rất nhẹ / dắt đi” và điểm vịn tựa
chính là thơ “làm thơ như ngồi thiền/ trong đêm ta nhìn thấy/ một lối nhỏ màu
rêu/ một bàn tay rất nhẹ / dắt đi”…
Chân dung tự họa của người đàn bà thơ với nhiều trạng thái.
Khi dịu dàng, đằm thắm “em nghĩ về mùa thu của em/ có hai miền yêu riêng
không tụ lại/ em làm thơ trong giấc ảo một mình” (Đêm nơi thanh thản); lúc
thanh thản bên “những bông cúc nhỏ và những bình hoa nhỏ” (Chủ nhật với
hoa cúc); khi “tôi thu tôi trong vạt váy hoa phô sắc lời vô duyên mắc lại” (Căn
nhà cũ). Cô đơn như “đặc sản” thường trực với thi nhân “luẩn quẩn một ta tha
thiết một ta” (Cho lời âu yếm cũ). Có lúc rơi vào tâm trạng mệt mỏi “ký ức
đè nặng tim ta/ nhịp tim quen tăng cao chững lại/ người đàn bà kiên nghị trong
ta mệt mỏi” khiến “câu thơ đã hồi phục rồi cũng đau” và “tiếng thở dài” đã “có
khẩu trang che” (Chỉ có tiếng gió). Cũng có lúc thơ xót xa, trắc ẩn, thậm
chí bế tắc “ai cũng bảo chết đi cho đỡ khổ/ sướng đâu tới đâu chỉ đau đớn
nặng lòng” (Con nam mô gì nữa)…
Trong mọi tâm trạng, nhất là những lúc rối lòng nhất, thơ như
người bạn tâm tình để thi nhân “Yên tĩnh làm thơ” (Chủ nhật với hoa cúc).
Tự thấy “ta thuộc về thơ đâu cần trọn vẹn/ cứ để lời dở dang lơi lỏng nỗi niềm” (Câu
kết bài thơ); “đi tìm suốt một đời cho thơ/ hoang đường những giấc mơ khó bỏ” (Cho
thơ lời âu yếm cũ)…
Thơ chị khắc khoải tâm trạng, chứa chất bao nỗi niềm, buồn
đau, nghịch cảnh… Nhưng bên cạnh đó là một tâm thế khác đầy nội lực vươn lên,
chiến thắng nghịch cảnh khi chị trải lòng với Hà Nội, bạn hữu và những người
thân yêu. Thơ chị vì thế luôn dào dạt cảm xúc. Hà Nội là một phần máu thịt “cho
tôi chạm ký ức xưa Hà Nội” (Căn nhà cũ). Chị yêu Hà Nội thao thiết với vẻ
trầm tĩnh, lắng sâu với “ly cà phê pha kiểu hôm nay/ nơi này không có dáng mẹ/
Hà Nội phố chật chội/ cà phê phố cổ lặng lẽ” (Cà phê phố cổ); Hà Nội là “nơi
có những người đàn bà thấp nhỏ như phố xưa Hà Nội/ căn nhà cũ ân cần chật chội
vụng về chén trà mạn phôi pha” (Căn nhà cũ). Hà Nội xanh bền trong chị “tôi
chạy vội/ người trên đường chạy vội/ mưa nhanh hơn bước chạy/ Hà Nội mùa thay
lá/ tôi dẫm lên mưa lá/ gió tạt chao quang gánh/ người đàn bà nghiêng theo rau/
rớt xuống lòng đường/ tôi chạy vội/ bỏ lại đằng sau cơn dông” (Ghi theo
mưa). Bài thơ “Hà Nội ơi đêm lạnh” là tâm trạng chuyển mùa để thấy “Hà
Nội vào đông yên ắng lạ/ chỉ những hàng cây xao xác không đâu/ ngày muộn rồi muốn
hẹn thơ lúc đêm sâu/ khoác vai trên phố vắng/ lời yêu đương có hòa âm gió lạnh/
có một Hà Nội năm tháng bền lâu”. Hà Nội bền găm ký ức người con yêu Hà Nội
dù là tuổi thơ đến khi mái đầu điểm bạc xóa “thơ thẩn tuổi thơ lang thang trắng
mái đầu/ ta nhớ mẹ gầy như phố nhỏ/ hàng cây bên đường lá non tơ/ bạn ôm cặp chờ
ta đi học/ hai bím tóc dài thương nhớ/ nơi đâu// đừng cười ta/ người đàn bà làm
thơ bao tuổi vẫn dại khờ/ cứ luẩn quẩn thu sang đông tới/ cứ giá như để rồi
không thể/ trắng bợt mái đầu thơ vẫn xanh xao (Hà Nội ơi đêm lạnh)…
Thơ về Hà Nội đâu chỉ cảnh sắc thiên nhiên, trầm tích văn hóa
mà có một Hà Nội mới đậm tính thời sự cùng cả nước gồng mình chống đại dịch
covid19 với “Phiếu đi chợ”, “Phố giãn cách”, “Sau một đêm”… Chị có nhiều
bài thơ ám ảnh về đại dịch đã làm xáo động cuộc sống bình thường “Hà Nội thức
sau một đêm/ tinh mơ nháo chợ nháo siêu thị/ chẳng cần thịt sạch rau sạch/ chẳng
hỏi của ta của đâu/ nhanh tay/ nhanh tay/ chỉ một đêm/ chỉ một sáng/ đổi thay
phố xá/ con người tha vi rút cùng du lịch/ vi rút bám vào sinh sôi/ lời chửi rủa/
lời thóa mạ/ lâu không dùng râm ran/ tà áo dài tháng Ba bay trên trang
facebook/ những người đàn bà lo chợ ngày dịch bệnh không quên làm đẹp”. Nhà thơ
quan sát “bên đường đôi người yêu không đeo khẩu trang nói gì khi bị phạt” (Phố
giãn cách); chạnh buồn khi “công viên khóa lâu rồi/ không tỉa tót cỏ xanh
màu cỏ dại/ người đi bộ ngóng mỏi/ người chạy quanh hồ sớm nay cũng không/ góc
phố chợ mua bán cỏn con/ một hai hàng liệu mai còn bán”. Những khái niệm
giãn cách, cách ly cũng khiến “thơ ơi sao đi không đợi/ câu chữ nhiều rồi tình
cũng không/ đã gần bao giờ mà cách ly/ thơ nhiễm dịch đâu mà nghi ngại/ thì cứ
tự mình cảnh giới/ tự mình giãn cách thêm ra”… Cầm “Phiếu đi chợ”, nhà
thơ cảm nhận như “gọi nhau về với ngày xưa ấy” – ký ức thời bao cấp “cái
thời bốc thăm/ rủi và may” trong một “mảnh giấy gấp” – cái thời “tem phiếu
lưu dấu ấn một thời” với “rổ rá xếp hàng/ lo tem phiếu/ rau thịt
chia… tem phiếu phân nhiều ít thấp cao”. Dẫu bao bộn bề trong cuộc chiến căng
mình đó thì thơ chị vẫn là chất Hà Nội đằm sâu, lắng đọng trong tâm hồn thơ
giàu nội lực bởi “tháng Ba vẫn còn đó sắc xuân” (Sau một đêm); “những ngày vắng
chợt nhớ thương con phố… phố giãn cách vẫn mua được bó cúc vàng đẫm màu nắng/
bó hoa trên tay có là cần thiết” dẫu “hôm nay chưa đến ngày rằm” (Phố
giãn cách). Đọc câu thơ này của chị tôi bỗng nhớ “Hỡi những người yêu hãy ghé
mua hoa” (Tố Hữu). Thời giãn cách mỗi người lắng chậm lại để yêu thương và
chị thấy “trước bàn phím soi sáng lại chính mình” và sẽ buồn lắm nếu “một ngày
không thơ” (Dự báo)…
Thơ viết về cha mẹ luôn ấm áp như một nơi vịn tựa tin yêu “tôi
là miếng cắt non từ mẹ/ sinh mệnh nhỏ nhoi thuộc về tôi từ đấy/ định hình/ vẽ một
cung đường mẹ uốn tôi/ lưu nét cô đơn của mẹ/ tôi làm thơ” (Mẹ &
tôi); “tóc bạc rồi con vẫn cần có mẹ… nén nhang này con thắp tới mẹ không/
quần áo bạc tiền đốt thành tro thưa mẹ” (Con nam mô gì nữa); “vọng về
cha một nén tâm hương/ lời con gửi đêm nay/ nghĩa trang làng mờ hơi sương gió/
người con gái xa cha từ ngày ấy lọt lòng” (Gửi cha ngày thanh minh)…
Thơ chị có nỗi đau thế sự với tấm lòng bao dung, nhân ái, nhà
thơ đồng cảm với người làm xe ôm, người gánh hàng rong, người đàn ông già mài
dao kéo…
Là tập thơ thứ 11, Bùi Kim Anh đã định hình, thủy chung, vẹn
nguyên tạo nên một phong cách sáng tác. Thơ chị mang cái tôi riêng, giọng điệu
riêng độc đáo của một hồn thơ rất mực đàn bà vừa phóng khoáng lại vừa kín đáo,
dung dị; vừa mạnh mẽ, bản lĩnh lại vừa dịu dàng, tinh tế; vừa có nỗi ẩn ức,
nghi ngại, trắc ẩn, lại vừa có sự quyết đoán, trí tuệ, nhân hậu; vừa mang âm hưởng
dân gian, lại vừa rất hiện đại…
Bùi Kim Anh làm nhiều thể thơ: thơ tự do; thơ 6 chữ (Buồn ta
âu cũng mấy người); thơ 8 chữ; thơ lục bát (Lục bát hai câu, Chi bằng ta gọi
mình hay…)
Làm thơ lục bát hay, nhưng không đơn giản nếu không nắm chắc
vần luật, thanh điệu. Thơ lục bát Bùi Kim Anh khá độc đáo “bây giờ tôi dựa
vào tôi/ hoàng hôn dựa vạt nắng rơi cuối chiều” (Lục bát hai câu); “sang
hè ngại lúc qua đường/ nấp bóng râm lại ngại vương vấn mùa”; “cái câu lục bát
loang toang/ nối vần thôi lại ngỡ sang nhất mình” (Đã quen mất nết đi rồi); “xoàng
xĩnh xếp chật tủ rồi/ xa xỉ thì đắt, túi vơi cạn nguồn” (Dạo phố đồng tiền
cỏn con); “lá đa nhặt ở sân đình/ bày ra hong cái nỗi tình buồn khô” (Lẻ
loi một mối buồn thưa…)
Câu thơ rất gợi bởi hình ảnh đối lập “ta không ngủ khiến đêm
phải thức” (Giấc đầu tiên của năm).
Dù âm tiết trong một dòng thơ kéo dài, nhưng nhà thơ vẫn chú
ý phối vần điệu, thanh điệu:
Tôi thu tôi trong vạt váy hoa phô sắc lời vô duyên mắc lại
Phố cũ và hàng cây lâu đời còn mãi
Và những người đàn bà trong căn nhà cũ” (Căn nhà cũ)
Ở các tập thơ trước, ngoài tập Đi tìm giấc mơ (chữ
in hoa), các tập “tóc trắng nắng mai”, “hình như mùa đã lỡ”, nhà thơ Bùi Kim
Anh thường không viết hoa chữ đầu tên tập thơ; chữ mở đầu mỗi dòng thơ; hạn chế
dấu câu, thì đến tập thơ “thức bước thời gian” hạn chế tối đa dấu câu
(ngoài mấy bài có dấu… và một bài có dấu chấm cuối bài); tên tập thơ không viết
hoa; tên bài thơ chữ in hoa. Có lẽ đây là chủ ý của chị, nhưng thực ra, tôi vẫn
chưa quen…
Xin chúc mừng nhà thơ Bùi Kim Anh bước vào tuổi 75 với cuốn
sách thứ 12 đậm đà phong cách sáng tác riêng của chị:
Thất thập ngũ niên gieo mây trắng/ Mười hai mơ thức gặt
giấc mai.
11/5/2022
Lê Thị Bích Hồng
Theo https://vanvn.vn/
Thơ Phùng Cung và những ám ảnh văn hóa Việt
Thơ Phùng Cung và những
ám ảnh văn hóa Việt
Đọc thơ Phùng Cung, dường như những ám ảnh
của văn hóa Việt không chỉ ám ảnh chính ông mà còm ám ảnh cả người
tiếp nhận. Đến với thơ Phùng Cung ta không chỉ tìm thấy trong đó vẻ đẹp của một
thế giới nghệ thuật thơ kỳ ảo mà còn thấy trong đó những vẻ đẹp của văn
hóa Việt.
1. Trong tâm thức của người Việt Nam, dù sống nơi đâu và ở bất
cứ hoàn cảnh nào cũng lưu giữ trong mình những ký ức văn hóa Việt. Nó như một sợi
dây vô hình, thiêng liêng níu giữ và liên kết mỗi người với dân tộc, với đất nước,
quê hương. Những ký ức văn hóa ấy không chỉ là những hoài niệm, những nhớ
thương mà còn là những ám ảnh của vô thức và tâm linh như một tâm thức hiện
sinh thao thiết luôn ngân lên như những tiếng gọi hồn.
Đọc thơ Phùng Cung, dường như những ám ảnh của văn hóa Việt
không chỉ ám ảnh chính ông mà còm ám ảnh cả người tiếp nhận. Đến với thơ Phùng
Cung ta không chỉ tìm thấy trong đó vẻ đẹp của một thế giới nghệ thuật thơ kỳ ảo
mà còn thấy trong đó những vẻ đẹp của văn hóa Việt. Đó là hình ảnh một
“cánh bèo” trong cái “ao làng” chật hẹp, tưởng chừng đã có cuộc sống bình an,
nào ngờ cũng “lênh đênh”. Và như thế, “cánh bèo” bỗng chốc đã hóa thân thành một
số phận, một định mệnh, một cuộc đời, chứ không chỉ đơn thuần là một thứ cỏ cây
ở một làng quê Việt vốn an lành. Thơ Phùng Cung tưởng chừng như giản dị, dân dã
mà ẩn chứa nhiều chất triết lý, nhân sinh là vì thế!? Vì vậy, mỗi khi đọc thơ
ông, lòng ta cứ thấy ngùi ngùi, đắng chát
Lênh đênh muôn dặm
nước non
Dạt vào ao cạn
Vẫn còn lênh đênh.
(Bèo)
Chất văn hóa Việt trong thơ ông không chỉ dung dị, bình thường
như cỏ cây vốn có ở làng quê mà còn là kết tinh những trải nghiệm đắng cay của
kiếp người. Vì vậy, nó tuyệt nhiên không phải là một thứ văn hóa màu mè, làm
dáng, sáo rỗng, giáo điều của những lý thuyết xám xịt, hỗn độn Đông Tây mù mờ,
huyễn hoặc ta vẫn thường nghe mà nó là hơi thở, là máu thịt, là tim óc, là sự sống
của thi nhân nên dù xa cách đã lâu khi về làng, giữa bao nhiêu sự đổi thay của
thế cuộc ông vẫn nhận ra “người làng” dù chỉ nhìn qua “dáng lạt bó rau”
Bạc tóc trở về quê
Bỡ ngỡ tìm đò bến mới
Nhìn dáng lạt bó rau
Nhận được người làng.
(Người làng)
Tứ thơ thật bất ngờ và cũng thật độc đáo. Đó là sự độc đáo của
một sáng tạo lạ lùng mà nếu không có tài năng và sự trãi nghiệm văn hóa thì
không thể tạo nên những hình ảnh thơ mang dấu ấn văn hóa thú vị đến thế!?
2. Người ta thường viện dẫn những lý thuyết cao xa, siêu phàm
khi nói đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Nhưng với Phùng Cung điều ấy
được ông khái quát bằng một hình ảnh thơ bình dị “Nhìn dáng lạt bó rau / Nhận
được người làng”. Chỉ cần một câu thơ giản đơn như thế cũng cho ta cảm nhận
rõ bản sắc văn hóa của dân tộc ở mỗi vùng miền. Cái “dáng lạt bó rau” ấy của
làng quê Phùng Cung chắc chắn sẽ không lẫn vào bất cứ cái “dáng lạt bó rau” của
bất cứ miền quê nào khác. Bởi nó không chỉ là “dáng lạt bó rau” đơn thuần, mà
chính là sự kết tinh của hành trình sống, hành trình lao động để tồn sinh và đã
làm nên dáng người quê ông mà biểu hiện sinh động nhất cho sự kết tinh này là
dáng hình người mẹ với những giọt mồ hôi “đăm đăm nhỏ giọt” đỡ cho ông “đứng dậy
làm người”.
Mồ hôi mẹ
Tháng ngày đăm đăm
nhỏ giọt
Con níu – giọt mồ hôi
Đứng dậy làm người.
(Mẹ)
Câu thơ với ngôn từ chân mộc, giản dị nhưng ẩn chứa trong sự
bình dị ấy là tư tưởng nhân bản cao cả, sâu sắc. Có người con nào lại không được
lớn lên từ những giọt mồ hôi gian khổ, tảo tần sớm khuya của mẹ. Nhưng có người
con nào đã thấu cảm hết được giá trị những giọt mồ hôi mà từ đó ta lớn khôn “đứng
dậy làm người”. Để rồi, có khi nào ta tự hỏi nếu không có những giọt mồ hôi của
mẹ để ta níu vào thì cuộc đời mình rồi sẽ ra sao!? Phải chăng đây cũng là một
gía trị làm nên bản sắc văn hóa Việt!?
Câu thơ của Phùng Cung làm tôi nghĩ đến câu thơ của nhà thơ
Phùng Quán:
Có những phút ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.
Ở hai nhà thơ cùng có bút danh bắt đầu là từ “Phùng” (Phùng
Cung / Phùng Quán), lại sinh ra gặp lúc bất phùng thời. Nhưng người thì “níu mồ
hôi mẹ”, người thì “vịn câu thơ” để “đứng dậy” làm người chứ không hề dựa vào một
thứ quyền lực nào cả. Song, họ không chỉ làm người bình thường mà làm một thi
sĩ tài năng đã để lại cho đời những câu thơ đẹp góp phần tôn vinh văn hóa Việt.
Và có thể khẳng định chắc chắn rằng, chính vì không dựa vào sức mạnh của quyền
lực mà chỉ dựa vào sức mạnh của văn hóa Việt, của những câu thơ nên các ông mới
trở thành những con người hữu dụng. Bởi quyền lực thường làm con người ta tha
hóa, vong thân, hư hỏng và dễ đánh mất cái thiên lương của mình. Chính văn hóa
và thơ ca là một giá trị làm nên sự bất tử của các ông, những nhà thơ mà dù số
phận có nghiệt ngã đến đâu thì vẫn không vùi dập được họ. Bởi lẽ, nói như
Cyprian Norwid, một nhà thơ Balan: “Thế giới này rốt cuộc chỉ còn lại hai thứ,
chỉ hai thứ thôi: thi ca và lòng nhân ái… không còn gì khác” còn Lê Đạt thì cho
rằng: “Thơ là chóp của của kim tự tháp văn hóa”. (1)
Quả thật, thơ và văn hóa đã trở thành một cuộc hợp hôn diệu kỳ
trong thơ Phùng Cung. Đó là cuộc hợp hôn lạ lùng của văn hóa Việt. Chính vì vậy,
đọc thơ Phùng Cung ta thấy hiện lên cảnh vật của làng quê Việt mà vẻ đẹp của nó
như những chiếc neo găm giữ hồn ông. Đó là một chiếc “Ao con” của làng: Lá
tre rụng / Nhuộm hoàng hôn đỏ gạch / Tiếng cuốc bèo da diết / gọi ngày
mai. (Ao con). Hay một “tiếng gọi đò” trong đêm cũng khiến lòng ông xao
xác:
Đêm về khuya
Trăng ngả màu hoa lý
Tiếng gọi đò
Căng chỉ ngang sông.
(Đò khuya)
Đó còn là hình ảnh của những con người gắn bó cả đời mình với
những phong tục tập quán, sinh hoạt lễ hội truyền thống ở làng quê mà ông vô
cùng trân quí. Nó như một thứ thần dược nuôi sống tâm hồn ông và nuôi sống thơ
ông.
Lúp xúp quê xanh
Dãi yếm bắc cầu một thuở
Gió bạc cánh
Chưa hết vòng kim cổ
Làng cách làng Từng quãng – phong dao.
(Quê xanh)
Ai đã từng đọc ca dao Việt Nam sẽ thấy hình ảnh chiếc yếm đào
trong ca dao đã ám ảnh chúng ta như thế nào!? Nó đã trở thành cảm hứng chủ đạo
của biết bao bài ca dao về tình yêu đôi lứa. Nó vừa là hạnh phúc cũng vừa là nỗi
đau, là hy vọng nhưng cũng là nỗi thất vọng, nó lững lờ mà cũng rất diễm ảo… Và
những chiếc yếm thắm gợi tình ấy cũng là sợi dây kết nối tình yêu và hôn lễ, với
“nghi ngút khói – gia tiên” mang đậm ký ức văn hóa Việt. Và những điều ấy đã trở
thành một tâm thức văn hóa ám ảnh trong thơ Phùng Cung:
Tấm yếm lụa
Trót phơi cành khế
Anh để mắt giùm em kẻo gió bay.
(Vãn xuân)
Nhưng bao trùm lên tất cả nỗi ám ảnh văn hóa Việt trong thơ
Phùng Cung đó là những cảm nhận tinh tế về không – thời gian của làng quê Việt
bàng bạc trong thơ ông. Đó là nỗi khắc khoải của một làng quê lúc “vào
hè”: Tu hú trên ngọn sung chùa / Giật mình, sổng giọng (Vào hè). Hay
một “Đêm cuối thu”: Chó sủa – dông dài / Gió chuyển canh / Trái thị cuối
thu / Thơm – mùi – trăng úa / Ao khuya nước thở thì thầm (Đêm cuối thu).
Đó còn là một buổi chiều: Đuôi nắng uể oải / Vườn ổi chín – đùa (Chiều
xuống). Hay một đêm chợt nghe / trong gối vọng tiếng ru / lắng tai mới rõ
/ tiếng tóc mình chuyển bạc. (Nghe đêm). Đây là những câu thơ thần kỳ nói về
qui luật vận động tất nhiên mà đầy cay nghiệt của thời gian. Câu thơ không chỉ
nói đến thời gian vật lý mà còn nói đến thời gian tâm lý mà nếu không có một sự
nghiệm sinh thì không thể viết được những câu thơ tài hoa đến thế!?
Và từ thế giới đầy biểu cảm của thời gian ta chợt nhận ra thế
giới đầy ưu lo của không gian trong thơ Phùng Cung. Đó là không gian văn hóa Việt
vốn có tự ngàn đời của làng quê Việt được tác giả cảm nhận một cách tinh tế. Đó
là một không gian không chỉ có rộng, cao, sâu mà còn là một không gian đầy màu
sắc, mùi vị có khả năng đánh thức cả ngũ quan của con người: Không gian ngập
mùi ổi chín / Mùi – năm ngoái / Đầy nước ao bèo / Mây trắng lênh đênh (Gặp
thu) mà ông khái quát thành “mùi làng” như hiện thân của một bản sắc văn hóa thật
độc đáo mà ông “nguyện mang theo / đến ngày trăm tuổi”. Điều ấy cho thấy
văn hóa Việt đã ám ảnh tâm hồn ông đến dường nào: Gió chui khe bếp / Cời đồng
giấm / Khói trấu muổi / Nao nao một mùi làng (Mùi làng). Và đó cũng là một: không
gian đứt nỗi sững sờ / Khăn điều đãy gấm / Ngẩn ngờ mấy chiều (Giăng tơ)
Với chiều sâu tâm thức từ những ký ức văn hóa, không gian văn
hóa Việt trong thơ Phùng Cung còn là không gian văn hóa tâm linh với những biểu
tượng văn hóa thiêng liêng của làng quê Việt Nam đã làm nên một hệ giá trị bất
biến của văn hóa Việt. Đó là cái “giếng đình vắng ai” (Gặp thu);
là “lũy tre xóa bóng” (Chiều xuống); là “Ao khuya nước thở thì thầm”
(Đêm cuối thu); là chuyến đò đêm nơi “làng khuya” đã găm lại trong lòng thi
nhân biết bao hoài niệm.
Lỡ đò khuya mới về làng
Ngõ quen bước vội
Va – dấu chân em
Khô bùn để lại
Ao tím hoa bèo
Ngóng giọt – trăng khuya.
(Làng khuya)
Hay hình ảnh con đường làng “ngàn năm/ năng nhẹ bước âm
dương” của biết bao cuộc đời người dân quê với kiếp sống nhọc nhằn trên cõi
nhân gian, an nhiên trở về trong lòng đất mẹ và “Mặt đất nhẫn nhục nhọc nhằn/
xóa mọi dấu chân” (Đường làng). Để rồi, tất cả lại lặng thầm, hòa tan cùng
tro bụi của phận người ở chốn hư vô.
Nắm xương treo – trong đất
Nhìn chẳng tới
Hiu hắt gió – cỏ may
Gài – nỗi nhớ
Tím – chiều Đông Bắc
(Viếng mộ)
Song nỗi ám ảnh văn hóa Việt trong thơ Phùng Cung không chỉ dừng
lại ở sự cảm nhận với những hoài niệm về cảnh vật, con người, phong tục tập
quán, sinh hoạt lễ hội ở làng quê Việt mà nó đã kết tinh thành lẽ sống của cuộc
đời như ông đã tâm nguyện:
Khi tôi chết
Tôi thèm cái lặng lẽ
Ngoài vòng hương, nhạc
Nếu tái sinh
Tôi chẳng ước ao gì khác
Chỉ mong được như kiếp trước
Xó bếp đói, no
Bờ ao tắm mát
Phận cánh cò
Mưa – nắng – phong dao.
(Thanh thản)
3. Thiết nghĩ, những trích đoạn thơ trong bài đã nói lên nỗi
ám ảnh của văn hóa Việt trong thơ Phùng Cung mà mọi lời bình giải cũng trở nên
vô nghĩa và bất lực. Tình yêu văn hóa Việt, yêu cảnh sắc làng quê Việt của thi
nhân như thế là tuyệt đỉnh. Tình yêu ấy đã hóa thân thành máu thịt, nhân cách,
ánh sáng của tâm hồn ông và đã tan chảy trong thơ ông, tạo nên sự bất diệt của
thơ ông như chính sự bất diệt của nền văn hóa Việt mà ông đã yêu thiết tha dù
cuộc đời có trải qua những năm tháng nhọc nhằn, bất hạnh. Để rồi, cũng như thân
phận con cò trong cao dao Việt, Phùng Cung tự nhận mình chỉ là “phận cánh cò”
luôn khao khát một lẽ sống cao đẹp, không nhuốm mùi hôi tanh của chốn bùn
nhơ: Có xáo thì xáo nước trong / Đừng xáo nước đục đau lòng cò con. Bởi
nói như nhà thơ Hoàng Cầm: “Phùng Cung không giống như một số “nhà thơ” khác,
cũng có đôi chút tiếng tăm, chỉ đứng ngoài mà nhìn vào cảnh với người ở vùng
quê. Anh chính là từ máu thịt làng quê mà sinh ra, lớn lên bằng củ khoai, con ốc
và những tiếng khóc lời kêu của hàng xóm láng giềng. Anh thấm đậm hồn quê, nên từng
chữ, từng câu của anh đều như chạy nhảy leo trèo, bơi lội trước mắt tôi”(2).
Còn Phùng Quán, khi nói về thơ Phùng Cung thì cho rằng: “Đọc thơ anh, có bài chỉ
vài câu, tôi bỗng thấy thiên nhiên quanh tôi vụt giàu có lên bất ngờ và trở nên
đẹp đẽ đến xao xuyến tận đáy lòng – những vẻ đẹp từ trước đến nay tôi vẫn nhìn
nhưng không thấy” (3)
Phải chẳng vẽ đẹp trong thơ Phùng Cung là vẻ đẹp của văn hóa
Việt vốn đã trở thành những nỗi ám ảnh trong tâm thức của ông. Thơ Phùng Cung
vì vậy đã góp phần làm cho “giòng sinh mệnh” của văn hóa Việt mãi mãi tồn sinh
như chính sự tồn sinh của dân tộc, của nhân dân, trong suốt trường kỳ lịch sử dựng
nước và giữ nước.
Chú thích:
(1) Lê Đạt, Đối thoại với đời và thơ, Nxb. Trẻ, 2008,
tr. 115
(2) (3) Phùng Cung, Xem đêm (thơ), Nxb. Hội Nhà
văn, Hà Nội, 2011, tr.214, 186
12/5/2022
Trần Hoài Anh
Theo https://vanvn.vn/
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
Chấn thương và hành trình truy tìm căn tính Việt trong tiểu thuyết "Sóng ngầm" của Linda Lê
Chấn thương và hành trình truy tìm căn tính Việt trong tiểu thuyết "Sóng ngầm" của Linda Lê Nhà văn Linda Lê vừa đột ngột qua đờ...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...



