Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

"Lời gió" của Đậu Hoài Thanh: Rưng rưng câu hát gọi người

"Lời gió" của Đậu Hoài Thanh: Rưng
rưng câu hát gọi người

Tập thơ “Lời gió” không còn là tiếng nói cá nhân, tâm tư riêng của nữ nhà thơ Thượng tá Đậu Hoài Thanh nữa. Tập thơ trở đầy cảm xúc rung động từ trái tim đến trái tim này khiến người đọc thấy bóng dáng mình trong đó với nhiều cung bậc tình cảm…
Có lẽ vì sinh ra trên mảnh đất Nghi Xuân, Hà Tĩnh hưởng khí thiêng núi Hồng, tắm nước sông Lam trong lành đẹp như tranh vẽ; lớn lên trong cái nôi dân ca nổi tiếng của đất nước ca trù Cổ Đạm, có điệu ví giặm ngọt lừ mê hoặc, nên Nhà thơ, Nhạc sĩ Đậu Hoài Thanh đã mang sẵn trong người – thấm đẫm trong máu một niềm đam mê thơ ca say đắm.
Có lẽ cũng nhờ cái duyên trời ban được làm con dân cùng quê hương của nhà đại thi hào Nguyễn Du danh nhân văn hóa thế giới ấy mà nhà thơ, nhạc sĩ Đậu Hoài Thanh đã thành công khi đứng trên tư cách là một nhà thơ, chị đã có nhiều bài thơ được phổ nhạc (nhạc của chính tác giả Đậu Hoài Thanh). Nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như: Cát Vận, Nguyễn Ngọc Khuê, Mạnh Chiến, Ngọc Thịnh, Vũ Hùng, Vũ Quốc Nam, Lê Xuân Hòa vv… đã phổ thơ của Đậu Hoài Thanh. Và thật tuyệt vời là trong số các ca khúc đã được phổ nhạc ấy, có rất nhiều ca khúc đạt những giải thường cao của Hội Nhạc sĩ Việt Nam tại các cuộc thi sáng tác tổ chức hàng năm hoặc các cơ quan ban ngành và các địa phương phát động.
Có được mùa gặt hái ấy là nhờ cả một cánh đồng thơ được tác giả Đậu Hoài Thanh nâng niu gieo trồng, dày công chăm sóc bền bỉ không quản đêm ngày. Mặc dù vừa gánh vác trách nhiệm của đơn vị, vừa đảm đang thiên chức làm vợ, làm mẹ nhưng tính cả tập thơ “Lời gió” nóng hổi trên tay bạn đọc đây thì trong 6 năm, nhà thơ đã cho ra mắt độc giả 5 tập thơ liên tiếp có nội dung và chất lượng được bạn đọc đón nhận và yêu thích. Các tập thơ của chị ngày một chuyên nghiệp, vững vàng, sâu sắc với nhiều nội dung phản ánh phong phú ở nhiều góc nhìn của cuộc sống.
Nhà thơ Đậu Hoài Thanh càng sáng tác càng có bản lĩnh nghệ sĩ hơn. Đến tập thơ thứ 5 này, nữ tác giả đã thoát ly được “cái Tôi riêng tư bé nhỏ” của thân phận cá nhân trong những tập thơ đầu. Trong giai đoạn sáng tác mới này, chị đã hóa thân, nhập hồn vào được với nhân vật trữ tình trong bài thơ để độc truyền được cảm xúc, chiếm lĩnh được tâm hồn và trái tim độc giả.
Đặc biệt, tập thơ “Lời gió” còn ghi một dấu ấn mạnh mẽ đó là tập thơ của một nữ sĩ quan công an với một loạt bài thơ rất hay và chất lượng về ngành nghề của mình (ví dụ như: Lính biển, Lời Bác trong tim chúng con, Hát về em người chiến sĩ Công an nhân dân, Tổ quốc nhìn từ đỉnh Trường Sơn, Giữ trọn niềm tin, Nghề của chúng mình…).
Tập thơ “Lời gió” không còn là tiếng nói cá nhân, tâm tư riêng của nữ nhà thơ Thượng tá Đậu Hoài Thanh nữa. Tập thơ trở đầy cảm xúc rung động từ trái tim đến trái tim này khiến người đọc thấy bóng dáng mình trong đó với nhiều cung bậc tình cảm: “Những cung bậc của nghĩa tình đằm thắm” (Hà Nội vào thu). Người đọc thấy trái tim mình cùng đồng hành với nhà thơ thấm đẫm tình quê ngọt ngào khi được trở về căn nhà ấu thơ của cha, của mẹ thả hồn trong: “Tiếng ve trầm bổng nao nao/Đêm khuya soi bóng trăng vào mải mê” (Tuổi thơ nhớ cha). Người đọc cùng chênh chao với nhà thơ trong ngọn gió giao mùa, cùng “Mơ nào một chút nắng cho tim khỏi buốt đỡ lành lạnh đêm” (Lời ru mùa đông).
“Mãi trong nhau” là một bài thơ tình thật hay và sâu sắc. Chỉ 3 khổ thơ thôi đủ chất chứa một mối ẩn tình cực kỳ sâu nặng: “Bóng chim muôn dặm còn xa thẳm/ Tình lặng tủi hờn cuộc bể dâu”. Mà cũng chỉ có thể là nhà thơ nữ mới có 2 câu kết đắm say, ngây ngất nữ tính đến vậy: “Mây trời xin gửi về bên ấy/ Một nụ hôn nồng mãi đậm sâu”.
Nhà thơ, nhạc sĩ Đậu Hoài Thanh là một chiến sĩ công an, chồng chị cũng lại cùng ngành, anh mặc sắc phục sĩ quan cảnh sát. Làm vợ một người lính, ai không có những đêm dài cô quạnh? Nếu Đoàn Thị Điểm có Chinh phụ ngâm để tỏ lòng“Đưa chàng lòng dằng dặc buồn”, thì nhà thơ nữ – người vợ chiến sĩ này cũng có những câu thơ thật nao lòng: “Anh chưa về, em chỉ còn một nửa/ Những buồn vui thơ thẩn một mình” (Nghề của chúng mình), “Lá vàng rụng kín bên hè/ Mượn câu thơ để vỗ về cô liêu” (Heo may).
Xin chúc mừng nhà thơ, nhạc sĩ Đậu hoài Thanh đã thành công trong tập thơ mới này. Một tập thơ lấy tựa đề “Lời gió”, nghe cái ý như hư vô thoảng qua mà lại mênh mông thăm thẳm, trĩu nặng tình cảm quê hương, cao dày tình mẹ nghĩa cha, trách nhiệm tròn đầy với chồng với con mà vẫn không quên giữ vững bản lĩnh của một chiến sĩ công an nhân dân; và trên hết là tinh thần trách nhiệm công dân, niềm tự hào được là con dân nước Việt.
Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc tập thơ mới của tác giả Đậu Hoài Thanh. Tập thơ đây đó có thể còn có một đôi chút sơ suất, thiếu sót, kính mong bạn đọc lượng thứ.
Hà Nội, 20/5/2023
Nguyễn Thị Anh Thư
Theo https://vanhocsaigon.com/

Giao cảm mùa xuân trong thơ 1-2-3

Giao cảm mùa xuân trong thơ 1-2-3

Mùa xuân là mùa của sự sống bừng nở. Đất trời như thay áo mới, dòng chảy cuộc sống vừa rạo rực vừa mê say. Thơ trong/ về mùa xuân vì thế mà thường dạt dào cảm xúc, hân hoan và tươi sáng. Xuân hiện diện trong thể thơ 1-2-3 non trẻ, vừa trong trẻo, vừa nồng đượm, vừa tinh tế vừa khoáng đạt, đã ít nhiều lan tỏa năng lượng xanh cho độc giả yêu thơ!
Đó là buổi sáng đầu năm, thiên nhiên nguyên khôi tinh khiết. Ánh bình minh mang đôi chân của đứa trẻ “chập chững bước ra” từ cánh cửa bầu trời, cội mai vàng “ấp e rửa mặt”, cành sấu “ dậy thì” có tiếng bầy chim rộn rã. Cảnh như thế, còn người thì “ viên mãn nụ cười xuân”.
Sớm đầu năm tỉnh thức giấc nồng
Ánh bình minh non tơ chập chững bước ra từ kẽ trời
Lau khô dòng nước mắt đêm lạnh lẽo
Cội mai vàng điểm nụ ấp e rửa mặt
Bầy chim trên cành sấu dậy thì gọi ta bừng tỉnh
Vội tìm em viên mãn nụ cười xuân.
(Thơ Mai Xuân Thắng tham dự Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Đó là âm thanh trong trẻo của mùa xuân, tựa như bắt nhịp cho bản hòa âm của tâm hồn,  kết nối giữa con người và thiên nhiên tươi đẹp. Màu trắng trinh của hoa bưởi, hương thơm của muôn loài hoa xuân đánh thức ký ức tuổi trẻ trở về. Dường như trong thơ có lời nhắn nhủ kín đáo: Quá khứ chỉ lùi xa mà không biến mất. Lưu giữ kí ức với lòng trân trọng, hạnh phúc sẽ nảy mầm ở hiện tại và hoa trái cho tương lai:
Một thanh âm trong trẻo cất lên
Hơi thở của ta hòa vào vũ trụ
Mùa xuân đang dâng hương
Khóm bưởi trắng làm ta rưng rưng
Giọt ký ức vẫn còn nồng nàn
Anh có gọi tuổi mình về xanh ký ức em không?
(Thơ Hà Vinh Tâm tham dự Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Đôi khi, mùa xuân trong thơ là một ấn tượng, là cảm thức không- thời gian tâm tưởng. Ở đó, mùa xuân đồng nghĩa với cái đẹp, với tình yêu. Vì thế mà xuân “nồng nàn”, “đắm đuối” và người đang yêu chẳng thể cưỡng lại mê lực đó, để rồi bị/ được “cuộn vào”.
Phác nét bán nguyệt khuôn mặt em mái phố.
Tiếng rì rầm của dòng sông đêm mất ngủ.
Những vì sao mùa nào cũng xanh.
Lặng nhớ đôi mắt em buổi ấy
Chạm ngón tay lên cánh hồng run rẩy
Cả mùa xuân đắm đuối cuộn anh vào.
(Thơ Trần Thị Bảo Thư tham dự Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Nếu khởi đầu mùa xuân phương Nam đặc trưng bởi tín hiệu “Cội mai vàng điểm nụ ấp e” thì khởi đầu mùa xuân xứ Bắc có đặc sản là “sương”. Sương giăng mắc để cảnh vật thêm hư ảo, để con người thêm chút se lạnh mà muốn gần nhau hơn- vì thế mà “đường link” xuất hiện. “Đường link” của mùa xuân chở “bát ngát cỏ hoa nồng nàn hương đất”,  “đường link” của bầu bạn “hiện hữu vòng ôm ấm”, “đường link” của tình yêu ngọt ngào “nụ hôn mùa xuân”: 
Cảm ơn đường link ban mai
Trong mang mang hơi sương tháng giêng
Có bàn tay nhẹ nâng bàn tay nàng chạm nút home
Dẫn dụ đường link bát ngát cỏ hoa nồng nàn hương đất
Miên ảo đường chân trời. Hiện hữu vòng ôm ấm
Người vén sương đặt lên môi nàng nụ hôn mùa xuân.
(Thơ Vũ Trần Anh Thư tham dự Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Từ “ mái phố” đến “đỉnh núi mây bay”, “ trên biển mây”… mùa xuân có muôn vàn cách để ban tặng cho cảnh vật và con người vẻ đẹp đầy sức sống. Cheo leo nơi sườn núi, bản Mông“ nhóm lửa đón mặt trời”, hoa văn “thổ cẩm” và “tiếng khèn” trở thành nét văn hóa bản địa đặc sắc:
Trên đỉnh núi mây bay
Những tơ sương bảng lảng
Bản Mông nhóm lửa đón mặt trời
Em thổ cẩm niềm vui, tôi man mác tiếng khèn
Hội ngộ rồi chia xa, hẹn ngày trở lại
Khi trái tim hồng vẫn hòa nhịp vạn nẻo đường xuân.
(Thơ Đỗ Mạnh Hùng tham dự Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Hay “Phan xi păng bồng bềnh cánh buồm mang hồn gió”, kì vĩ mà không rợn ngợp, tráng lệ mà ấm áp tình đời:
Trên biển mây mùa xuân
Phan xi păng bồng bềnh cánh buồm căng hồn gió
Chiêu dương tỏa hào quang khai mở thiên đường.
Vũ trụ bao la thu lại tầm nhìn
Khoảng cách nghìn trùng hóa vòng tay dấu yêu gần gụi
Triệu đóa hồng đào cài lên ngực núi – đính ước lễ Tình nhân.
(Thơ Hà Phi Phượng tham dự Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Viết về mùa xuân, thơ 1-2-3 đủ sức để biểu hiện nét tinh tế trong cận cảnh, sự lộng lẫy khoáng đạt trong viễn/ đại cảnh. Và dù không gian nào, thơ cũng thấm đượm tình yêu của chủ thể trữ tình, do đó có sức lan tỏa đến người đọc, như làn gió ấm nồng tươi trẻ đang“ hòa nhịp vạn nẻo đường xuân”.
10/2/2024
Hà Phi Phượng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Hình dung nhà thơ Trần Nguyệt Ánh trong "Vọng núi"

Hình dung nhà thơ Trần
Nguyệt Ánh trong "Vọng núi"

Trong lần dự ra mắt sách “Đàn bà thơ” tôi đã gặp Trần Nguyệt Ánh, nhà thơ gốc Thái Bình sinh sống ở thị xã Buôn Hồ, Đắk Lắk. Ấn tượng trong tôi đó là một nhà thơ xinh đẹp, khả ái. Thế rồi tôi nhận được tập thơ “Vọng núi” tác giả gửi tặng qua bưu điện. Một tập thơ in đẹp với những bức tranh minh hoạ cũng rất thơ. Lại có lời giới thiệu của nhà thơ Phan Hoàng, người đề xướng loại thơ 1-2-3 ở đầu sách và phần lời bạt có 2 bài viết của nhà phê bình Khang Quốc Ngọc và nhà thơ Trương Nhất Vương.
Thật đáng quý!
Nhưng tôi có thói quen là cứ đọc thơ đã, tự mình cảm nhận và khám phá. Rồi sau đó mới đọc các bài viết liên quan. Đọc xong tập thơ, tôi hình dung ra Trần Nguyệt Ánh từ những gì mà những bài thơ của tác giả gợi nên.
Trước hết, đây là nhà thơ của vùng Tây Nguyên hùng vĩ. Hình ảnh Tây nguyên khá nổibật trong cả tập thơ. Không chỉ nghe thấy “Âm vang Tây Nguyên ngập tràn hương sắc” (Muốn hoá thân thành chim phí bay khắp bầu trời), nghe thấy “Bản hoà tấu cồng chiêng vút lên”, nghe thấy “Tiếng đàn Chapi…”, nghe thấy “Âm vang đại ngàn hoà vũ khúc đêm xoang”,… Bạn còn nhìn thấy “đỉnh Chư Yang Sin”, thấy “Trời Tây Nguyên căng đầy nhựa sống”, thấy “Tây Nguyên hồn nhiên đất đỏ ba dan/ Tựa lưng núi lòng ta ngập tràn hương sắc” (Ta ru mình trên ngọn núi Chư Yang Sin), thấy gùi tre, thấy nhà rông, thấy tượng nhà mồ,… Có khi vừa nhìn thấy, vừa nghe thấy, vừa cảm nhận bằng khứu giác (ngửi thấy) như trong bài thơ này:
Chiều trôi, hoàng hôn lao mình trên dốc
Là lúc khăn phiêu em da diết nhớ người
Tiếng chim chơ rao quắt quay gọi bạn
Lúa mới thơm nồng rượu cần Ban Mê
Cúc quỳ tô má em ngời sắc xuân thì
Cùng nắm tay nhau đi hết nấc thang nhà sàn quê mẹ
Và bài thơ này nữa, có mùi, có vị, có hương, có âm thanh, màu sắc:
Ống cơm lam cho ta biết bản sắc quê mình
Ngọt mùi nếp nướng thơm nồng trong nứa
Ấp ủ hương tình nồng đượm đất Tây Nguyên
Rượu cần thơm mát ngọt say lòng khách lạ
Tiếng cồng chiêng rộn rã khúc giao mùa
Tinh hoa đại ngàn hoà vũ khúc đêm xoang
“Vọng núi” thấm đẫm màu sắc, âm thanh, hương vị của Tây Nguyên, của đại ngàn qua con mắt thơ của Trần Nguyệt Ánh.
Không chỉ có vậy! Bạn sẽ gặp một Trần Nguyệt Ánh luôn dành tình cảm yêu thương, biết ơn cha mẹ, biết ơn đấng sinh thành đã cho nhà thơ có cuộc sống trên quê mới Tây Nguyên. Mẹ cha “Người là điểm tựa cho con nương náu bình yên”. Hình ảnh người mẹ thật đẹp, thật ấn tượng trong lòng người con hiếu thảo:
– Ánh mắt mẹ sáng bừng trang cổ tích
– Mẹ đội cả bầu trời nâng cánh ước mơ con
– Tấm lưng mẹ uốn cong cả hoàng hôn
Tần tảo ngược xuôi cho đời con thơm thảo
(Ngày đã cạn ngày)
– Tuổi thơ con hạnh phúc vuông tròn
Đổi những tháng ngày mẹ cha ngày đêm cơ cực
(Con cúi nhặt bàn chân cha trong mùa đông cũ)
Các bài thơ “Mẹ tất tả gánh cong chiều xóm núi”, “Đi xa vương vấn hương làng quê ngấm tận lòng mình”, “Tìm lại mình trong kí ức mùa thu”, “Tìm bóng dáng xưa trong quang gánh mẹ”, “Hạnh phúc bàn tay người gieo trồng”, “Mẹ quên tuổi mình trên vòm lá quê hương”,… là tấm lòng biết ơn của người con với cha mẹ kính yêu của mình.
Một nội dung cũng khá đậm nét là lòng biết ơn đối với các chiến sĩ đã hi sinh vì Tây Nguyên,vì đất nước. Người giàu tình cảm gia đình, cũng là người biết ơn sâu sắc các anh hùng liệt sĩ đã cho mình cuộc sống trong hoà bình, hạnh phúc. Các bài thơ “Mẹ đợi anh về bên mâm cơm chiều”, “Em hát anh nghe bài ca Đất nước”, “Khi biết anh, em đã quá nửa đời”, “Tháng Bảy tri ân gợi về miền kí ức”, “Anh lên đường theo tiếng gọi non sông” là tấm lòng, là tình cảm dành cho những “Dũng sĩ kiên cường”.
Nhà thơ còn nói đến đại dịch Covid-19, đến quê hương năm tấn Thái Bình, đến những con voi thuần hoá, tượng nhà mồ, đến công việc làm thơ, viết lách,… Nhưng có lẽ chủ đề mà tác giả dành cho nhiều bài thơ nhất. Ấy là chủ đề tình yêu. Cũng là hợp lí thôi. Vì tác giả còn đang trẻ. Những bài thơ liên quan đến chủ đề này thường nói đến nhân vật Anh. Nhưng hình như Anh này là người mang đến nhều nỗi buồn hơn là niềm vui.
Mặc dù có lúc người viết đã thừa nhận: “Và anh đến như mùa xuân phồn thực”, và thú nhận: “Đã hơn một lần chết đuối trong mắt anh”. Thế nhưng cuộc tình hình như không suôn sẻ. Bởi vì “Anh trượt dài lạc bến yêu”, anh “vô tâm pha màu đen, chàm, xám…” làm hỏng “Bức tranh màu hạnh phúc hai ta”. Rồi “Anh mải mê hái những vì sao tận cuối chân trời/ Hòn vọng phu em ngàn năm bạc đầu Tô Thị” (Em độc hành hun hút phía không anh). Chính “Anh hoá lốc đời cuốn sạch mọi niềm tin”, chính anh khiến “Em trả giá lòng thuỷ chung bằng cực hình tê tái”. Và Anh khiến cho em “Tàn đêm vắng uống cạn niềm cay đắng”, anh để cho “Em tin rằng nếu có kiếp sau/ Trọn đời này se chỉ nước mắt mình vá tình đầu dang dở”… Có vẻ hơi “sến” chút nhưng không sao! Mỗi người có một cách ứng xử với tình đầu tan vỡ…
May mà người viết không gục ngã, không bi quan gặm nhấm nỗi buồn. Cô đã tìm lại được “nụ cười đánh rơi”, đã tìm thấy “sợ tơ nhiệm màu” nối lại giấc mơ, đã tạm “quên quá khứ một thời ngây ngất nắng” (Có một chiều gió bỗng bỏ cuộc chơi). Tây Nguyên đã cho cô niềm yêu đời, yêu cuộc sống. Và người giaù lòng thương mến, không thể không nói lời cám ơn tự đáy tim:
Cám ơn mảnh đất đã cho ta nguồn cội
Nơi cho ta hưởng trọn yên ấm, hoà bình
Nơi chiến tích năm xưa từng găm đầy bom đạn
Máu thấm đất dày, phủ đầy cánh rừng bất tận đau thương
Yêu lắm quê mình những người con dũng cảm kiên trung
Từ bàn tay cần cù, tô đẹp vùng đất Tây Nguyên hùng hậu!
“Vọng núi” cũng là để góp phần nhỏ bé tô đẹp vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ, ân tình!.
Sài Gòn, 31/12/2023
Vũ Nho
Theo https://vanhocsaigon.com/

Góc tâm linh trong thơ Nguyễn Bính

Góc tâm linh trong thơ Nguyễn Bính

Nếu nói về sự chí thú với các thuần phong, mĩ tục ở làng quê thì Nguyễn Bính không thể so với nhà thơ đồng hương Đoàn Văn Cừ. Thi nhân họ Nguyễn không có một bài thơ nào nghi ngút khói hương, vang rền chiêng trống như thi sĩ họ Đoàn. Tuy nhiên, cái tâm, cái tình của Nguyễn Bính với chốn cửa thiền, chỗ cửa thánh và nơi bàn thờ gia tiên, cũng đủ làm thành một góc tâm linh riêng có trong thơ ông.
Tiếng chuông “giải thoát” nơi cửa thiền
Trong bài thơ “Quê tôi”, có ý nhắn gửi “một người phồn hoa” nào đó đang “đi nghỉ mát những đâu/ Đồ Sơn, Tam Đảo, nhà lầu xe hơi”, Nguyễn Bính viết “Quê tôi có gió bốn mùa/ Có giăng giữa tháng, có chùa quanh năm/ Chuông hôm, gió sớm, giăng rằm/ Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi”.
“Quê tôi” tiêu biểu cho làng quê đồng bằng xứ Bắc, vừa duyên dáng, lãng mạn lại vừa cổ kính, cổ điển. Duyên dáng, lãng mạn vì ở đó có rất nhiều giăng gió, cổ kính, cổ điển vì còn có chùa quanh năm. Có lẽ viết thế, ngoài chuyện kín đáo khoe quê hương mình, Nguyễn Bính còn như bảo khéo với “người phồn hoa” rằng, ông cũng “thanh đạm”, “âm thầm”, kín đáo, duyên dáng như quê ông, chứ có đâu rộn ràng phô trương như người nơi “Đồ Sơn”, “Tam Đảo” với những nhà lầu, xe hơi thời thượng. Đang mê đắm với những “Chuông hôm, gió sớm, giăng rằm”, sực nghĩ đến cái ngày sớm “Đem thân đi với giang hồ/ Sân ga phẳng lặng, bến đò lênh đênh”, Nguyễn Bính chợt như nấc lên “Mai ngày tôi bỏ quê tôi/ Bỏ trăng bỏ gió chao ôi bỏ chùa”.
Vì sao trong ba cái tiêu biểu cho quê mình là trăng, gió và chùa, thì “bỏ chùa” lại khiến ông day dứt, đau đớn thốt lên “chao ôi” như vậy?
Ai cũng biết, cái bộ tam “đình-đền-chùa” chẳng biết tự bao giờ đã là chốn tâm linh của người dân quê làm ruộng, trồng lúa. Đền thờ người có công với làng với nước, được xem như là Thánh. Đình thờ Thành Hoàng làng, cũng là nơi diễn ra sinh hoạt của cộng đồng cư dân làng. Chùa là nơi thờ Phật (Bụt) “Chuông làng nào làng ấy đánh/ Thánh làng nào làng ấy thờ”, “đẩt Vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” đã thành tục ngữ, thành ngữ, như tín điều khó suy suyển của mỗi cộng đồng làng xã xưa. Bỏ chùa là bỏ cái hương hỏa, cái linh thiêng nhất, vậy nên mới nghĩ đến “bỏ chùa” mà tác giả quê tôi đã phải đau xót mà nức lên hai tiếng “chao ôi”.
Chùa là nơi ký thác linh hồn, gửi gắm đức tin, mong tìm giải thoát. Đi lễ chùa là hướng thượng, hướng thiện, tịnh hóa thân tâm, nên người đi lễ, thường là đàn bà con gái, rất chú ý đến lễ phục. Cũng do tôn thờ cái đẹp, cái gia đạo như thế mà chàng trai trong bài thơ “Chân quê” mới đau khổ khi phải hạ mình mà “Van em hãy giữ nguyên quê mùa/ Như hôm em đi lễ chùa”. Giữ nguyên quê mùa là em cứ giữ cái yếm lụa sồi, cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen truyền thống để cho “vừa lòng anh”. Cái “chao ôi” ở bài thơ trên, cũng như cái “van em” ở bài thơ này, tuy khác nhau về hoàn cảnh song cùng phản ánh tâm thế giữ gìn nét đẹp truyền thống, có tính chất “hương đồng gió nội” của Nguyễn Bính. Nếu mất nó, hay để nó mai một đi thì, nói dại, sẽ như có tội với quê hương, đất nước.
Đi lễ chùa còn là một thi ảnh nhiều lần xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính, mà lần nào xem ra cũng đẹp, cũng tươi tắn, gợi cảm, dù có phảng phất một chút buồn dịu nhẹ của “những người muôn năm cũ”: “Trên đường cát mịn một đôi cô/ Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa/ Gậy trúc dắt bà già tóc bạc/ Tay lần tràng hạt miệng Nam mô” (Xuân về); “Có những ông già tóc bạc phơ/ Rượu đào đôi chén bút đề thơ/ Những bà tóc bạc hiền như Phật/ Sắm sửa hành trang trẩy hội chùa (Thơ xuân).
Cùng với cảnh chùa, thì tiếng chuông chùa cũng không chỉ một lần vang vọng trong thơ Nguyễn Bính. Trên bước giang hồ vô định, mỗi khi nghe tiếng chuông, nhà thơ như tìm thấy ở đó một sự đồng cảm, một niềm an ủi xoa dịu đi phần nào nỗi cô đơn của kẻ tha hương, nhất khi bóng chiều buông, lòng người chùng xuống: “Trăng chiều rụng xuống lòng sông/ Có nhà sư nữ đi trong chuông chiều” (Hai buổi chiều); “Gió chiều cầu nguyện đâu đây/ Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu/ Sư già quét lá sau chùa/ Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông (Chùa vắng). Thiếu tiếng chuông từ bi quen nghe, nhà thơ bồn chồn vào ra như mất một cái gì trân quý lắm “Mấy chiều vắng bặt hơi chuông/ Sư bà khuyên giáo thập phương chửa về” (Trời trở gió). Thậm chí có lần Nguyễn Bính còn trách (mà cũng có ý thầm ghen) với “con nhà nho cũ” Bùi Hạnh Cẩn, khi ông anh bên ngoại này đang giữa chừng giang hồ với mình đã bỏ cuộc về quê yên phận làm một “Uyên Minh họ Bùi”: “Cắm sào sông Mã xứ Thanh/ Tôi buồn khi biết đò anh quay về/ Cát lồng nước lạnh trăng khuya/ Sông Vân bến cũ nằm nghe chuông chùa”.
Ở truyện thơ “Cây đàn tỳ bà” (1944), dài 1548 câu, kể về chuyện tình buồn giữa nàng Triệu Ngũ Nương và chàng Thái Bá Giai, thì chùa cùng tiếng chuông xuất hiện nhiều lần, song mỗi lần là mỗi biến thái. Ở phần đầu truyện, đoạn Thái sinh chuẩn bị vào kinh ứng thi, cảnh chùa xuất hiện vẫn với dáng vẻ truyền thống, rất Nguyễn Bính “Tháng Giêng vừa Tết đầu xuân/ Xanh um lá mạ, trắng ngần hoa cam/ Mưa xuân rắc bụi quanh làng/ Bà già sắm sửa hành trang đi chùa”. Nhưng rồi lần theo mỗi bước truân chuyên của Ngũ Nương đi tìm chồng, thì hình ảnh chùa cùng tiếng chuông cũng mang nhiều sắc thái, cung bậc.
Ấy là “Chuông chùa ràn rạn xa nghe/ Đinh nghinh tân chủ khách về song song” như điềm báo một điều không hay sắp xảy ra, khi Thái sinh đỗ trạng và được mời đến dinh quan thừa tướng đương triều. Ấy là cảnh “Mưa bay đồi núi phai nhoà/ Tiếng chuông sơn tự, canh gà ải quan” nghe như phảng phất cái cảnh “Canh khuya thân gái dặm trường” của Thúy Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư ngày nào. Thế rồi “Trống chiêng rộn rã nẻo xa/ Dường như ở đó người ta hội chùa” ấy là khi Ngũ Nương đang có mặt ở kinh đô Tràng An. Bị chồng, bây giờ là quan lớn phụ tình, Ngũ Nương trong tận cùng đau khổ:
Nàng đi trong bóng chiều mờ
Nàng đi trong tiếng chuông chùa ngân nga
Nàng đi với chiếc tỳ bà…
Nàng đi hạc nội mây ngàn
Bóng đêm vùi lấp bóng nàng rồi thôi
Tiếng chuông từ bi, tiếng chuông cứu khổ tắt dần và nàng Ngũ Nương cũng từ từ biến vào hư vô, như một tiếng thở dài không có hồi kết của một kiếp tài hoa, nết na, mà mệnh bạc.
Sau này, tức là sau thời Thơ Mới, tiếng chuông từ bi, giải thoát còn đôi lần đồng vọng trong thơ Nguyễn Bính. Ấy là cái “giọng chuông mờ” đầy ẩm ướt trong bài “Mưa xuân II”: “Bãi lạch bờ dâu sẫm lá tơ/ Làng bên ẩm ướt giọng chuông mờ/ Chiều xuân lưu luyến không đành hết/ Lơ lửng mù sương phảng phất mưa”. Trong bài “Tiếng trống đêm xuân”, giữa đoạn diễn tả cái náo nức của “hội xuân gió loạn đuôi cờ”, ông vẫn không khỏi chạnh lòng “Thương nàng Thị Kính oan khiên/ Đã nương cửa Phật chưa yên tội đời”.
Tiếng chuông “cứu rỗi” nơi giáo đường
Ngoài tiếng chuông “giải thoát”, nơi cửa thiền, thì có một lần trong thơ Nguyễn Bính tiếng chuông “cứu rỗi” nơi giáo đường đã được gióng lên, đúng lúc 12 giờ trưa – “Chuông ngọ”.
Bài thơ mở đầu bằng “lạy Chúa” (Jê-su-ma, lạy Chúa tôi!), vốn là câu cửa miệng của mỗi con chiên ngoan đạo: “Lạy Chúa con xin chúa một giờ”. Vì sao lại phải xin chúa cái giờ ấy? Vì “Mười hai giờ ngọ của tình xưa/ Chúng con hai đứa Uyên và Bính/ Thường hẹn hò nhau mỗi buổi trưa”. Hai đứa hẹn hò nhau cái gì ở mỗi buổi trưa ấy? “Khi bóng cây xanh trước ngõ tròn/ Là giờ hắn sẽ nhớ thương con”. Thì ra, đây là câu chuyện của “tình xưa” tác giả hồi tưởng lại. Theo đó, Bính hẹn hò với người yêu tên Uyên, cứ đến giờ ấy, tức giờ Ngọ, giờ “bóng tròn” chuông đổ, là hai đứa giáp mặt nhau. Còn nếu không gặp được thì cũng “nhớ thương nhau”, dành tình cảm cho nhau, cùng ngước nhìn lên nơi cao xanh mà cầu nguyện cho linh hồn của một tình yêu đã tan vỡ.
Vấn đề ở đây là, tại sao họ lại hẹn nhau ở 12 giờ trưa giữa thanh thiên bạch nhật, mà không phải là lúc đêm buông. Khi bóng tối (không với nghĩa vụng trộm), chẳng đã là, vẫn luôn là, và muôn thuở là “đồng minh” đáng tin cậy của tình yêu!
Bất cứ ai, nhất là dân xứ đạo cũng biết rằng, nơi nào có nhà thờ, nơi đó có tiếng chuông. Tiếng chuông nhà thờ, cũng như tiếng chuông chùa, được người có đạo xem là rất linh thiêng và tôn quý. Vì nó hằng nhắc nhở tín hữu Ki-tô hãy hướng tới Thiên Chúa, hãy mến Chúa – yêu người, yêu như Chúa yêu. Hãy tin tưởng rằng Chúa vạn năng sẽ ra tay cứu rỗi, nếu ai đó gặp chuyện khúc mắc trên đường đời. Ba lần mỗi ngày, đã thành lệ chuông nhà thờ sẽ vang lên vào đầu buổi sáng, giữa buổi trưa và cuối buổi chiều, ứng với ba lần báo giờ Kinh Truyền Tin. Còn như lời Thánh Vịnh trong kinh Cựu Ước thì “Sớm trưa chiều, tôi than sầu rên rỉ, Người sẽ nghe tiếng tôi”. Với người con trai trong bài thơ này, nỗi đau tình yêu tan vỡ như là cộng hưởng với nỗi đau của Chúa Jêsu khi chịu nạn treo mình trên cây thập giá: “Khi ấy là giờ Ngọ, mà cả và trời đất liền tối tăm mù mịt, mặt trời xem chẳng đang, Chúa sinh nên muôn vật chịu nạn cùng chịu xấu hổ dường ấy” (Lời kinh ngắm nguyện mùa thương khó).
Vì đã hẹn ước với nhau như vậy, nên nay đúng giữa trưa khi nghe thấy “Chuông ngọ, từng hồi chuông ngọ đổ/ Từng hồi chuông ngọ đổ chơi vơi”, thì cái nỗi đau xưa lại như sống dậy. Cụm từ “chuông ngọ” được tác giả láy đi láy lại nhiều lần, khiến ta như liên tưởng đến cảnh chuông nhà thờ đổ liên hồi, hết lớp này đến lớp khác dội vào lòng kẻ thất tình. Thế nên trong giây phút “cách mặt khuất lòng” tuyệt vọng ấy, chàng trai tìm đến với Chúa “Con nghe chuông đổ rồi con khóc/ Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!”. Vừa cầu Chúa trong đau xót, luôn thể anh ta cũng thầm trách móc đấng bề trên tối cao “Cái hôm hắn bước lên xe cưới/ Khóc lả người đi Chúa biết không?”. Chúa lòng lành, chúa vạn năng, sao Chúa lại không biết đến nỗi đau bị đoạn tình của chúng con mà ra tay cứu rỗi?
Bài thơ kết thúc bằng hai câu cùng với một dấu than “Chúng con ngoại đạo hay ngoan đạo/ Vẫn biết và tin có “Chúa lòng!”. Tình yêu của đôi trẻ chớm nở ở buổi ban đầu với phép màu của nó đủ vượt qua mọi khác biệt tôn giáo và văn hóa nhưng không vượt qua được thành kiến của người đời. Ở bài thơ này, có thể hiểu là cha mẹ Uyên đã ép nàng phải lấy người nàng không yêu, vì chắc người đó giàu sang, danh vọng hơn Bính. Vậy nên mới có cảnh nàng “khóc lả người đi” lúc nên xe cưới về nhà chồng.
Tuy nhiên, cứ theo văn cảnh bài thơ thì dù bị đoạn tình, nhưng hai người vẫn dành cho nhau một khoảng tình cảm, ấy là giờ Ngọ “là giờ hắn sẽ nhớ thương con”. Bính là kẻ ngoại đạo, song cũng như Uyên người có đạo, vẫn “biết” và “tin” có “Chúa lòng”. Chúa lòng là “Chúa lòng lành” mà cũng có thể hiểu rằng đó là Chúa trong lòng của hai ta. Vì như ai đó bảo rằng, tình yêu cũng là một thứ tôn giáo mà “em”, hay “nàng” chính là Chúa tể của tôn giáo ấy. Ngẫm ra cũng thấy có lý.
Hồi chuông ngọ, gióng lên một lần duy nhất trong thơ Nguyễn Bính, từ lâu đã tắt tiếng. Bính và Uyên thì từ lâu cũng đã thành người thiên cổ. Song dư âm, cùng dư chấn của nó thì còn đồng vọng mãi trong thơ và lan tỏa trong lòng bạn đọc. Tiếng chuông ấy chẳng những thi vị hóa mà còn thiêng liêng hóa tình yêu – cái thứ tình cảm cao đẹp nhất, mà Thượng đế đã ban cho con người. Không thể không tin rằng lời nguyện cầu hợp nhất trong cùng một đức tin, cũng như tình cảm chan chứa, chân thành, trong trắng của đôi trẻ, nhất định sẽ nhận được sự thưởng thưởng xứng đáng, cùng sự an ủi, cứu rỗi nơi Thiên giới.
Bài thơ “Chuông ngọ” chẳng biết đích xác Nguyễn Bính viết khi nào, ở đâu, em Uyên có phải là nàng Tú Uyên trong “Người con gái ở lầu hoa không”? Song, ở bài “Trường hận ca”, viết cuối năm 1943, Nguyễn Bính vẫn không thôi “khóc” nàng: “Cây nào cũng đứng bóng trưa/ Chuông nào cũng đổ trúng giờ mười hai/ Rừng nào cũng nở hoa mai/ Nơi nào cũng có hai người yêu nhau/ Nhưng mà bất cứ ở đâu/ Riêng tôi vẫn đắp mối sầu thành non/ Vẫn hằng khóc phấn than son/ Vì trong thiên hạ không còn Tú Uyên”. Không còn Tú Uyên, không còn người con gái ở lầu hoa, thì chỉ có nhà thơ khóc người trong mộng, chứ thiết nghĩ thiên hạ vốn vô tâm, vô tình, như nàng Thúy Vân năm xưa trách chị Thúy Kiều là “nực cười” vì “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”!
Song, cho dù Uyên là ai, thì điều đó có gì quan trọng. Chỉ biết rằng, với Chuông ngọ, ta được thấy thêm một góc thơ tình nhuốm màu tâm linh Thiên chúa giáo khá độc đáo của Nguyễn Bính.
Nếu như nhà chùa, nhà thờ, là chốn tâm linh của cả cộng đồng làng, thì bàn thờ gia tiên là góc tâm linh của mỗi gia đình người Việt. Đã là người Việt thì ở đâu, đi đâu cũng có ban thờ gia tiên, dù đó là sơn son thếp vàng của người có điều kiện, hay đơn sơ giản dị của người nghèo khó. Ngay cả ở những gia đình Công giáo thời nay, bên cạnh bàn thờ Chúa thì vẫn có bàn thờ gia tiên. Đấy chính là biểu hiện của triết lý “nhập gia tùy tục”. Nghĩa là để ngự tại bền vững thì Công giáo của trời Tây cũng phải thích ứng với tín ngưỡng bản địa phương Đông, phía trời Nam. Chốn thừa tự, hay góc tâm linh này, cũng có mặt trong thơ Nguyễn Bính không phải chỉ một lần.
Trong bài thơ dài “Lỡ bước sang ngang” không phải vô tình mà Nguyễn Bính lặp lại hai lần lời người chị dặn dò em trước khi giã biệt gia đình bước chân về nhà chồng “Em ơi em ở lại nhà/ Vườn dâu em đốn mẹ già em thương”. Trong cái “trăm đường xót xa” của người chị thì cái xót xa nhất là “Miếu thiêng vụng kén người thờ/ Nhà hương khói lạnh chị nhờ cậy em”.
Vì sao người chị lại phải hạ mình nhờ cậy em như vậy?
Là người Việt, ai cũng biết rằng giữ gìn mồ mả và thờ cúng người thân đã khuất được xem là việc hệ trọng và thiêng liêng vào hàng bậc nhất. Vậy nên bàn thờ gia tiên, nơi diễn ra “hương khói” là góc thiêng của mỗi gia đình. Hương khói cùng những lời cầu khấn trong ngày giỗ, tết hay tuần tiết, là sợi dây vô hình chắp nối, cộng thông giữa cõi dương và cõi âm, giữ người trần với thần linh. Vậy nên nếu để bàn thờ lạnh hương khói trong ngày tuần tiết, giỗ tết là chuyện không thể chấp nhận, là vô phúc, là đại bất hiếu.
Chuyện hương khói nơi bàn thờ ấy thường là do người mẹ lo liệu. Song, nay mẹ đã già yếu vì đã trải qua nhiều “một nắng hai sương” thì đương nhiên sẽ là bổn phận của chị. Ấy thế mà nay chị lại “sang ngang”, nên muốn ký thác lại cái nghĩa vụ, cái bổn phận lẽ ra là của mình cho em. Ngoài chuyện chăm vườn dâu, phụng dưỡng mẹ già thì em sẽ thay chị săn sóc, phụng thờ cái “miếu thiêng” ấy. Thiết nghĩ, tâm trạng chị dặn em này chẳng khác mấy với tâm trạng “trao duyên” của nàng Kiều xưa, dù khác nhau về hoàn cảnh, về duyên cớ. Nàng Kiều xưa “Dùng dằng khi bước chân ra/ Cực trăm nghìn nỗi dặn ba bốn lần”, còn người chị nay thì cũng dùng dằng không kém vì “Một vai gánh lấy giang san/ Một vai nữa gánh muôn ngàn nhớ thương”. “Giang san” ở đây là giang san nhà chồng mà mình sẽ ghé vai vào, muôn vàn nhớ thương là ngoái nhìn lại nhà mình, lo cho chuyện hương khói nơi cửa nhà mình.
Cái sự linh thiêng của bàn thờ gia tiên trong ngày tết còn được Nguyễn Bính khắc họa trong hình ảnh bà mẹ quê trong bài “Cái tết của mẹ tôi”. Nếu để ý ta thấy hình ảnh người mẹ xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính lần nào cũng đẹp, song ấn tượng nhất là những ngày xuân tết. Bà tiêu biểu cho sự đảm đang, chu đáo, của người phụ nữ Việt truyền thống đã thành chuẩn mực. Để chuẩn bị cho ngày tết, từ lâu mẹ đã nuôi lợn, trữ gạo, mo gói bánh, rồi thì lau rửa bàn thờ, đi chợ tết, đồ xôi, giết gà, làm cỗ, dặn con…
Nguyễn Bính chỉ kể, chỉ tả, song với bút pháp tự sự bậc thầy, mà hình ảnh bà mẹ quê hiện lên mới đẹp làm sao. Đẹp ngay trong dáng vẻ tất bật tần tảo chợ búa, bếp núc. Đẹp trong cái nền nếp đạo đức cổ truyền Á-đông: “Suốt đêm giao thừa, mẹ tôi thức/ Lẩm nhẩm câu kinh Đức Chúa Ba”. Nhưng đẹp nhất là hình ảnh bà vào sáng mồng một Tết Nguyên đán, thể hiện trong cái đi nhẹ nói khẽ, rất mực giữ gìn, thành kính trước bàn thờ gia tiên nhà chồng, cũng là nhà mình:
Mẹ tôi thắt lại chiếc khăn sồi,
Rón rén lên bàn thờ ông tôi
Đôi mắt người trông thành kính quá
Ngước xem hương cháy đến đâu rồi
Hình ảnh của ông bố cũng cũng rất đẹp, song vì đây là “cái tết của mẹ tôi” nên “thầy tôi” chỉ xuất hiện trong một khổ thơ với vai trò khá khiêm tốn của người “giải quyết khâu oai”. Là trụ cột tinh thần của gia đình, lại là người có chữ nghĩa, mà là thứ chữ của Thánh hiền, nên việc của ông là “lấy một tờ hoa tiên/ Bút lông dầm mực, viết lên trên/ Trên những gì gì, tôi chẳng biết/ Giữa đề năm tháng, dưới đề tên”. Có lẽ đây là một bài thơ “khai xuân” viết theo lối chữ thảo, có cả dòng “lạc khoản” để dán lên cột, hay đặt ở ban thờ cạnh mâm ngũ quả, cặp bánh chưng.
Ta sẽ càng trân trọng, yêu quý tác giả cái tết của mẹ tôi, nếu biết được rằng Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ khi ông mới ba tháng tuổi “Còn tôi trời bắt làm thi sĩ/ Mẹ chết khi chưa kịp bạc đầu”. Ông sống được và làm thơ là nhờ sự bú mớm, cơm cháo của người thân và hàng xóm “Còn tôi sống sót là may/ Mẹ hiền mất sớm trời đầy làm thơ”. Vậy nên, không lạ gì khi hình ảnh mẹ ông là sự “tổng hòa” hình ảnh của các bà mẹ Việt truyền thống, đẹp người đẹp nết, đầy chất lý tưởng. Phải là những người yêu quê, yêu cội nguồn, giàu tâm linh lắm mới có thể khắc họa lên hình ảnh người mẹ bình dị mà giàu sức chứa, sức gợi, làm rung động lòng người lâu dài đến vậy. Cứ mỗi khi năm mới đến, người ta lại “thỉnh” Nguyễn Bính, thỉnh Đoàn Văn Cừ về trên những trang báo Xuân, trong đó thế nào cũng có bài “Cái tết của mẹ tôi” và “Chợ Tết”.
Nguyễn Bính không là Phật tử, không có thơ thiền. Nguyễn Bính cũng không phải là một Ki-tô hữu, không rành Thánh kinh. Vậy mà trong thơ ông đã nhiều lần xuất hiện tiếng chuông từ bi cứu khổ, và hơn một lần tiếng chuông thánh thiện cứu rỗi. Ông xa quê, xa gia đình từ sớm, song không xa bàn thờ gia tiên trong tâm tưởng. Điều này chứng tỏ trong Nguyễn Bính thường trực có một cõi tâm linh ẩn sâu, chỉ chờ có dịp chạm đến là nó thức dậy, ngân lên, cộng hưởng.
Thiết nghĩ, người đời yêu Nguyễn Bính, thuộc thơ Nguyễn Bính vì nhiều lẽ, song trước nhất bởi ông là “thi sĩ của thương yêu”, mà tâm linh là cái góc trong trẻo, thánh thiện và nhân văn nhất trong thơ ông.
25/2/2024
Phạm Công Trứ
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Trôi" - Vùng nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

"Trôi" - Vùng nhà
văn Nguyễn Ngọc Tư

Từ những năm đầu thập niên 2000, Nguyễn Ngọc Tư đã ghi dấu ấn trên văn đàn. Cùng với nhiều thế hệ cầm bút khác nhau, có thể nói, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã góp phần ít nhiều làm phong phú, sôi động văn học Nam Bộ trong đời sống văn học nước nhà buổi đương thời – nhất là, đã giúp bạn đọc gần xa hiểu thêm, yêu mến hơn những tác phẩm văn chương đậm đà bản sắc văn hóa Nam Bộ. Trôi – tập truyện mới nhất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư vừa được nhà xuất bản Trẻ ấn hành quý IV năm 2023 – cho thấy, nhà văn Cà Mau này đã và đang tiếp tục miệt mài cùng chữ nghĩa; cũng như tiếp tục mở rộng biên giới sự nghiệp văn chương của mình.
1. Trôi – tập truyện mới nhất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư – quen mà lạ. Chất Nam Bộ (biểu hiện ở giọng điệu, ngôn từ) trong tập truyện này vẫn còn đậm đà nhưng bạn đọc cơ hồ thấy quá trình “đô thị hóa” trong quan niệm nghệ thuật, tư duy nghệ thuật và tất nhiên cả trong bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư. Quen phần vì có dấu vết hình bóng những nhân vật mà bạn đọc đã biết (như hình tượng người đàn bà ngoại tình) nhưng lạ vì dường như làn sương bí ẩn, thủ pháp mờ hóa, khuynh hướng huyền ảo khiến cho văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư dao động giữa hư và thực, giữa thực và hư; khiến cho trang viết của cô không còn nhắm đến việc kể một câu chuyện mà nhằm tạo ra một cảm thức, một trạng thái liên miên nghĩ tưởng nào đó khi đối diện với các “vấn đề” đời sống do cô đề cập đến. Kể không phải để cho thành chuyện, kể để tạo ra cảm giác. Và, cảm giác này, nên được hiểu là thứ trạng thái thuộc về tầng sâu, trạng thái nhập nhằng giữa ý thức – tiềm thức – vô thức.
“Mơ người” – câu chuyện khoác lên vẻ bí ẩn như hành trình phá án, như thể loại trinh thám. Nhưng, đúng hơn, đó là hành trình đi sâu vào tâm lý, khám phá miền u uẩn trong tâm hồn con người. Những con người bí ẩn, kỳ quặc, thậm chí biến thái (như nhân vật Tường). Kiểu nhân vật này dường như báo hiệu một “đại dịch” u buồn của nhân tính. Nguyễn Ngọc Tư không quy kết, chẳng lý giải và hình như, cũng không nghĩ đến việc lý giải hành vi kỳ lạ của Tường khi lẻn vào nhà người khác chỉ để nhìn người ta ngủ. “Ngắm thật lâu những người ngủ sâu, ta có thể nhìn thấy giấc mơ của họ” (tr.18). Không giải thích cho hành động kỳ quặc đó, Nguyễn Ngọc Tư chỉ lặng lẽ nhớ lại, rà soát lại những kỷ niệm. Cuộc sống của nhân vật xưng anh, với Tường, với dượng Lê và người mẹ tự dưng một ngày biến mất không rõ tung tích. Tất cả những nhân vật trong truyện Mơ người đều hư vô, không đầu đuôi. Dường như Nguyễn Ngọc Tư không chuyển tải hiện thực cuộc sống nào, cô chỉ muốn tạo ra một cảm thức mơ hồ về cuộc sống. Ngôn từ của Nguyễn Ngọc Tư như thể thôi miên! Trôi, vì thế, chính là cảm thức trôi!
2. Trôi – mà có lẽ, nhiều tác phẩm sau này của Nguyễn Ngọc Tư – cơ hồ đều là những phát hiện. Truyện là chuỗi trần thuật của những phát hiện ấy. Thế nên, đọc Trôi cần nhấn nhá, nghiền ngẫm, thấm ngấm… Những chi tiết được tác giả phát hiện phần nhiều đều là những gì mà cô đã ngộ ra được giữa dòng đời. Con người – hay những dạng sống nào khác nói chung, thí dụ như lục bình – đều là những sinh vật mắc kẹt. Đến nỗi, sống tức là mắc kẹt. “Sau này khi bụi lục bình mắc kẹt vào chính nó (trên đường đi nó sinh con đẻ nhánh, kết cụm kết bè và rồi tự cầm tù mình trong một con kinh nào đó), anh nhớ lời của vợ, rằng mắc kẹt là chung cuộc được mặc định, không ngoại lệ nào, kể cả những thứ có sinh mệnh nổi trôi” (tr.24). Nếu chỉ vin vào nhân vật, cốt truyện, … e rằng bạn đọc khó phát hiện thông điệp của tác giả. Thế nhưng, trong suốt quá trình tiếp nhận, bạn đọc sẽ thường xuyên rơi vào những chi tiết mang tính phát hiện và bộc lộ nhãn quan của người viết về đời sống, về con người, về chính mình. Có lẽ, thông điệp và tư tưởng của tác phẩm chính là ở những chi tiết như thế!
Nhưng, cách Nguyễn Ngọc Tư gửi thông điệp không phải như cách người ta nghĩ có đầu có đuôi. Cảm giác, cô chỉ gửi một nửa thông điệp! Những chi tiết, những suy ngẫm như thế chỉ trưng ra đó, nửa phần bí ẩn, nửa phần dở dang. Loại thông điệp để cảm chứ không phải để suy lý. “Chẳng cuộc trôi nào là vô tình hết, bản thân sự nổi trôi là thông điệp, tín hiệu, thư mời của chân trời. Sớm hay muộn thì cũng có kẻ nhận lời” (tr.39). Cuộc đời “ông cố” của đứa chắt trong truyện “Khởi đầu của gió” và hàng loạt thanh niên trong làng được nhà văn so sánh với hàng loạt đồ vật trôi nổi xô dạt vào bãi biền. Sống cho thành đời tức là sống như là trôi dạt. “Nước lớn ròng để lại trên bùn nhão vô số những món đồ trôi dạt. Cố nhìn vào chúng, đoán xóm mình nằm ở giữa biển và thị tứ nào đó, chỉ không rõ khoảng cách với hai nơi nọ bao xa” (tr.38). Bến bờ không quan trọng, không nghĩa lý, chỉ có sự trôi dạt từ bến này sang bãi nọ mới đáng kể, đáng chú ý.
Chính vì vậy, Ngọc Tư không lôi kéo sự chú ý của độc giả vào nhân vật và suy nghĩ của nhân vật mà lôi kéo sự chú ý của bạn đọc vào cuộc trôi dạt của nhiều thứ khác nhau: con búp bê hư, trái banh da, chiếc dép, kẹp cài tóc, bông bần, trái mắm, ông nược, cái chân giả,… cho tới mỗi con người trong cái xứ sở nào đó cũng lần lượt rời quê, rời khỏi bến bờ ban đầu để trôi dạt về muôn ngàn phương hướng. Đời tức là trôi dạt và cũng vì vậy, người ta hay nói cuộc đời ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, thực có lý lắm! Và, thường thì, không ai biết từ đâu mà trôi đến đây, cũng không ai biết đời mình sẽ trôi về đâu – về đâu…? Đó là huyền nhiệm của đời chăng!
3. Truyện “Trôi” trong tập cùng tên dễ khiến người ta liên tưởng đến cảnh sạt lở ngày càng xảy ra phổ biến ở khu vực miền Tây Nam Bộ. Nhiều bản tin đề cập nhà này nhà nọ chỉ ngủ đêm sáng đã mất trắng gia tài sự sản. Những vạt đất ven sông, kinh, rạch dần dà trôi tuột vào lòng nước, biến mất, tiêu tan. Nhưng liệu có phải Ngọc Tư đề cập chuyện thời sự xã hội. Khó nói! Nhưng có thể thấy, “Trôi” trong tập cùng tên khiến bạn đọc lờ mờ nhận ra bóng hình quê hương tan rã. “Ông già Ba Hào, người cả đời không ra khỏi nhà vì chẳng nỡ xa mớ của cải chồng chất quanh mình, cũng đành chịu trôi trên cái ghế cẩn xà cừ, khóc nấc từng hồi khi rẻo đất ông ngồi cứ chia tách không thôi, mang theo mớ tủ bàn chạm trổ, những món đồ sứ cổ” (tr.59). Còn Chị Vẹn trôi với đống củi trâm bầu ướt; Tư Điền trôi cùng cái máy may của vợ; Chương móm trôi với bộ bàn đá có mặt kẻ ô cờ; cậu Chín Cung thì có qua nhiều thứ không biết trôi theo cái nào; thằng nhỏ Mười Hai thì không có gì để trôi theo nên trôi một cách bơ vơ;…
Những nền nếp đời sống vốn có dần dà phân hủy. Lòng người tan rã khiến những khúc sông, những miền quê lần hồi tan rã. “Nhưng những gì còn sót lại của một cù lao phân rã không là bao. Vài ba mái nhà lấp ló trên mặt nước, một vài cái lu, những rẻo đất đủ rộng cho một người ngồi thì cũng có, lại trôi đờ đẫn đằng xa. Mãi mới có mảnh đất trôi gần, đúng lúc nó rùng mình nứt hai. Nó từng là vườn sau nhà ai đó, mình có thể nhìn thấy mấy bụi khoai báng lúp xúp cao ngang đầu gối. Cú chia tách tạo vài lượn sóng vỗ vào vách thẳm bên dưới chỗ mình ngồi” (tr.68). Vách thẳm đó là sự sụp lún của đời người, là gánh nặng chấp niệm nếu một mai không chống đỡ nổi trọng lượng của chính nó thì nó sẽ tự sụp đổ. Mỗi người gánh lấy chấp niệm của riêng mình để từ đó mất dần liên hệ với nhau. Mối liên kết người gãy đổ, tình thân đứt đoạn, đó là nguồn cơn tan rã. Cuộc sống con người tưởng chừng như bục vỡ.
Cấu trúc đối lập giữa nhân vật “em” và nhân vật xưng “tôi” trong truyện “Trôi” cơ hồ tạo ra thế đối lập giữa thực dụng và hư huyễn, giữa mất và còn, giữa cái ăn được và cái không ăn được. Tưởng chỉ nói bâng quơ, nhưng nếu bạn đọc ngẫm lại, thấy rằng: không chờ đến lúc tan rã, chẳng chờ đến khi trôi theo dòng nước mới rơi vào tình thế mất/còn, ăn được/không ăn được, thực dụng/hư huyễn, … mà thường trực trong đời sống chẳng phải chúng ta vẫn phải liên tục chọn lựa như vậy sao? “Trôi” chỉ là cái tình thế giúp Nguyễn Ngọc Tư xây dựng để cuộc sống hiện ra bản chất bộn bề, ngổn ngang, xáo trộn, dịch chuyển thường xuyên … ẩn chứa trong ấy, lòng người bị căng xé, dồn nén, ép buộc phải trôi về phía nào đó. Nhưng, cho dù trôi về phía nào thì cũng tức là đánh mất phần còn lại.
4. Ẩn ức về người đàn bà ngoại tình! Hình tượng người đàn bà trong truyện của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư hoặc thương khổ bởi chồng con; hoặc người đàn bà phụ bạc, dan díu, ngoại tình. Hình tượng này liệu phản ánh ẩn ức gì trong tâm lý sáng tạo? Hẳn phải chờ thêm những cứu xét từ khoa phân tâm để minh định rõ hơn. Nhưng, có thể nói ngay, từ người đàn bà bỏ chồng trong Cánh đồng bất tận cho đến nay, từ người mẹ bỏ con, người vợ bỏ chồng trong truyện Mơ người và người đàn bà bỏ chồng trôi theo ông chủ vựa trái cây trong truyện Trôi đều nhất quán một nghĩa lý: tình người và lòng người thật có những làn sương mờ phủ muôn vàn sợi khói ảo không thể thấu hiểu cho đến ngọn ngành. “Vợ mình trôi cùng với ông chủ vựa trái cây bên Láng Sen, cả hai quấn chung trong một tấm vải trải giường, người ta kể lại vậy, nhưng mình cãi cổ nói với tôi là đi chợ Vàm, đâu mà qua tận bên mé đó. Em gái lúc ấy hay nhìn vào đầu mình, cười rũ, “đầu đồ ngu ông mọc sừng kìa”” (tr.65) Và, cái hiện tượng dan díu ấy, đôi khi thấy vậy thì biết vậy, thật không thể nhất thời đánh giá. Vì khi bạn đọc thử mổ xẻ thì chỉ càng thấy thêm nhiều ẩn khuất, nhiều ẩn tình đa đoan mơ hồ và khó nói.
Nhìn rộng hơn, bạn đọc sẽ thấy rằng hình tượng người đàn bà ngoại tình xuất hiện khá nhiều trên văn đàn thế giới. Lev Tolstoy với Anna Karenina, Gustave Flaubert với Bà Bovary, Tanizaki Junichiro với Hai cuốn nhật kýRobert James Waller với Những chiếc cầu ở quận Madison, Paolo Coelho với Ngoại tình,… Phải chăng, hình tượng người đàn bà ngoại tình biểu thị những góc khuất, những mâu thuẫn, những đối nghịch ngổn ngang vốn có trong tâm khảm con người (bất kể dân tộc, giới tính, tuổi tác). Và, Nguyễn Ngọc Tư vì thế cũng chẳng ngoại lệ. Hơn ai hết, người cầm bút luôn là người thường trực đối diện với những đối nghịch ngổn ngang trong lòng mình. Rồi, khi người cầm bút nhìn ngó cuộc đời, ba đào thế sự càng khiến cho những đối nghịch nội tại đó trỗi dậy sóng cồn, càng sâu càng tĩnh lặng trên chiều mặt nổi. Trước khi những nhân vật trong truyện Trôi thực sự trôi theo con nước thì người tạo nhân vật đã trôi trước đó rồi!
5. Bạn đọc có thể nhìn thấy sự lạc trôi của Nguyễn Ngọc Tư qua: tốc độ kể, nhịp kể. Hai biểu hiện này của văn phong Nguyễn Ngọc Tư khiến ta liên tưởng đến về lục bình bồng bênh trên mặt nước. Hoàn toàn lạc lỏng, hoàn toàn bơ vơ – tâm trí người cứ trôi vô định – vô định. Vẫn như thế, một cảm thức mà thôi, Nguyễn Ngọc Tư gieo vào tâm khảm bạn đọc. Và, cảm thức đó, cũng khiến ta cảm giác như đang ở trong tình thế của những ngày tháng tàn lụi. Kiểu như sống trong những ngày tàn tháng lụn, dần kết thúc cái gì đó chẳng rõ. “Và khi hồi nhớ những cú rơi ghi được từ máy quay dính theo bụi lục bình, thử nhét một vài thứ vào bao tải sao cho gần giống một người trưởng thành, ngắm nó chìm vào lòng hồ, anh bỗng nghĩ có giả lập được chính xác đến mấy thì cảm giác khi rơi, chới với ấy, thảng thốt ấy, rồi yên tĩnh ấy, anh không thể nào mô phỏng” (tr.31). Ta bần thần nhận ra: cũng tốc độ kể, nhịp kể và giọng điệu kể tưởng như tương đồng mà lại khác. Cái cách kể như thế có thể bạn cũng nhận ra ở Nương trong Cánh đồng bất tận, ở Đậm trong Giao thừa, ở người đàn bà đuổi theo đám thợ gặt trong Cái nhìn khắc khoải, … nhưng ở Trôi lại khác. Bạn nhận ra phong cách tự sự này là phong cách tự sự đang phân hủy. Sự phân hủy của cảm giác, của tri giác, của tư tưởng, … Trôi ở đây phải chăng nên được hiểu như ý thức đang dần tàn lụi. Mỗi truyện ngắn trong tập Trôi đều kết thúc trong im lặng, chưng hửng, hụt hẫng, hoặc không gì cả.
Mỗi truyện trong tập Trôi đều có tính độc lập tương đối. Thế nhưng, giữa chúng, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư chìa ra một chi tiết bé xíu để bạn đọc thấy rằng giữa các truyện trong tập thống nhất và liên đới với nhau. Phải chăng, cuộc sống cũng thế thôi, cũng chỉ là một cuộc đời chung chung. Nói rằng tách rời nhau cũng không phải, nói rằng dính líu với nhau cũng không đúng, mà chỉ là những liên kết mơ hồ (ví dụ như người vợ trong truyện “Giữa đây và kia” là người mẹ bỏ chồng bỏ con ra đi không một lý do trong truyện “Mơ người”). Có thể hơi vội vàng và cần thêm cứu xét, nhưng ta có thể nói Nguyễn Ngọc Tư đang dần dịch chuyển đến chặng đường khác trên con đường văn chương của mình.
Chí ít, từ Biên sử nước đến Trôi, độc giả có thể nhận ra một Nguyễn Ngọc Tư khác. Trong hình thức văn chương phảng phất nhiều dấu ấn của chặng đường trước, nhưng có một nhà văn Nguyễn Ngọc Tư khác đã dần hình thành từ tư duy nghệ thuật đến quan niệm nghệ thuật về thế giới và quan niệm nghệ thuật về con người. Điều đó cho thấy: sự dịch chuyển về hình thức nghệ thuật theo sau sự dịch chuyển về tư tưởng nghệ thuật. Tập truyện Trôi của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, khiến người đọc nhận ra: đời sống vốn khó lòng cắt nghĩa. Một khi thực hiện việc cắt nghĩa tức là đã thiên lệch mất rồi. Có lẽ, bởi vậy, tác giả trong tập truyện này chẳng khi nào cắt nghĩa, đánh giá, phán đoán đời sống. Nhà văn nữ họ Nguyễn chỉ đóng vai người quan sát, ghi nhận và tường thuật. Chuyện vậy, thì kể ra vậy; người đọc hiểu sao hiểu. Quyền hiểu đó, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trao lại cho người đọc. Chẳng phải cuộc sống vốn dĩ thế sao! Cùng hoàn cảnh, người này nói khác và người kia, có khi nói khác. Sự khác nhau của đời, hóa ra chỉ là sự phản ánh cái khác nhau ở tâm người mà thôi!.
27/2/2024
Trần Bảo Định
Theo https://vanhocsaigon.com/

Giai thoại không chỉ mình ta biết

Giai thoại không chỉ mình ta biết

Tự tạo ra giai thoại thì bao giờ cũng cần một sắc độ mờ, một mức độ chồng lấn, còn sự sáng rõ sẽ xua tan mất huyền thoại. Truyền thuyết và giai thoại có nhiều dị bản sẽ tạo ra huyền thoại. Đứng ở sau màn sương huyền thoại, đối tượng có khả năng trở nên siêu phàm.
1. Nhiều thế hệ người đọc Việt Nam đã đọc truyện Người đầu bếp già của K. Paustovsky, nhưng vẫn xin kể lại vắn tắt.
Ông đầu bếp già đang hấp hối và muốn được xưng tội với một ai đó, không phải là thầy tu. Cô con gái ra trước cổng, mời được người đầu tiên đi ngang qua. Ông già xưng tội xong, và mong ước được thấy lại người vợ thời thanh xuân, khi họ lần đầu gặp gỡ. Điều ao ước như không tưởng được vị khách qua đường sẵn lòng thực hiện. Vị khách ngồi xuống chiếc đàn dương cầm và chơi một bản nhạc. Âm nhạc đó khiến ông già thấy lại cảnh sắc khu vườn và mặt trời mùa xuân cùng người con gái mà ông yêu. Âm nhạc làm được tất cả. Trước khi nhắm mắt, câu cuối cùng ông già hỏi tên vị khách. Thì ra đó là nhạc sĩ thiên tài Mozart.
Phải kể lại sơ lược kiệt tác nhỏ của Paustovsky vì sau khi truyện ra đời vào thập niên 1930 thì việc sao chép nó trở nên quá phổ biến. Chỉ tính riêng ở Việt Nam đã có cả mấy thế hệ mê Paustovsky và có một số người viết mô phỏng lối viết của ông mà thành mấy ông Pau tầm cỡ Việt. Có cả những câu chuyện mượn hồn của nó mà đắp ra ngoài “tấm da hàng thịt” như truyện Người trồng hoa và chàng tu sĩ.
Bây giờ ta thử đọc một giai thoại đời mới: một đêm giao thừa có chàng nhạc sĩ xa quê đi một mình trên đường, rồi được một gia đình nào đó mời vào vui tết cùng họ. Nỗi niềm xa xứ âm ỉ trong lòng chàng được dịp bùng ra. Chàng ngồi vào bên chiếc dương cầm và cứ thế ứng tác một ca khúc mới. Gia đình nọ hoan hỉ tấm tắc tụng ca bài hát đã nói đúng nỗi lòng cô quạnh đêm đông. Họ hỏi tên và lúc ấy mới biết tên chàng, về sau là một nhạc sĩ danh tiếng. Nhạc sĩ của những ca khúc Việt.
Thao tác đúng kiểu của Paustovsky: một người qua đường vô danh, ghé vào một căn nhà lạ, xuất thần sáng tác, sức mạnh của âm nhạc tuyệt vời khiến cho người nghe cảm nhận được những điều tưởng như không thể, đến đỉnh cao của cảm xúc thì mới tiết lộ danh tính của nghệ sĩ, hóa ra đó là một tài danh.
2. Một người viết khác trước khi kể giai thoại thì đã cẩn thận bày tỏ tình thân thiết vô cùng với một ca sĩ, để chứng tỏ chuyện ta sắp kể là kiểu chuyện mắt thấy tai nghe. Một ca sĩ hàng đầu, thời chiến tranh bỗng nhiên có một người lính đến thăm nhà. Anh lính mang theo những kỷ vật thời chiến: một chiếc lược làm từ mảnh xác máy bay Mỹ, một cát tút quả đạn pháo bằng đồng sáng bóng được chế thành bình hoa. Đấy là quà của anh em trong đơn vị, những người mê giọng hát của ca sĩ, giữa nơi đạn bom khốc liệt, họ nhớ đến chị. Rồi người lính chia tay ca sĩ, đi vào chiến trường. Từ đó ca sĩ lưu luyến nhớ về anh, băn khoăn về số phận anh, đã hy sinh hay sau chiến tranh lưu lạc về đâu…
Phải nói là kiểu giai thoại này đã có một công thức: nghệ sĩ tình cờ gặp người hâm mộ, người hâm mộ thường là người lính hoặc công nhân nông dân trong chiến tranh, những công nông binh ấy được tiếp thêm sức mạnh từ nghệ thuật, rồi họ không bao giờ gặp lại và nghệ sĩ luôn khắc khoải trong lòng về số phận của họ… Công thức tức là rất dễ chế tác. Dễ chế tác tức là không phải tốn nhiều tâm lực, không quá công phu. Mà đã thiếu công phu thì như cách nói bình dân, nó rất… nghĩa lộ.
Những giai thoại như thế, người viết dễ dãi thường lấp lửng hàm ý mình là người thân của nghệ sĩ, mình được biết theo kiểu “độc quyền”. Hoặc để tăng độ tin cậy, họ sẽ đổ cho việc chính nghệ sĩ kể lại câu chuyện này. Cả hai khả năng đều có thể. Người viết hoặc là tự chế tác, hoặc là nghệ sĩ lúc trà dư tửu hậu đã kể ra. Chuyện trà dư tửu hậu đúng ra nghe đâu phải bỏ đó, vì nó chưa được chính người nói biên tập lại. Cho nên việc nghe thế rồi chép lại nguyên xi là hành động hấp tấp và bất cẩn. Nó để lộ dấu vết hư cấu vụng, nó nôm na, thậm chí là sao chép chuyện của những người khác nữa có cùng một công thức, một motif.
Riêng cái truyện Người đầu bếp già là một tác phẩm độc đáo vô song, dập khuôn từ đấy không còn gọi là sao chép nữa mà phải dùng những lời lẽ nặng nề hơn.
3. Như ở trên đã nói, rất nhiều khi giai thoại là do chính đương sự thêu dệt ra cho mình. Một tài năng làm thơ từ thiếu thời, sau này ở độ lão thời, khi thì kể với báo chí là mình được nhà thơ danh tiếng nọ cho lọt vào mắt xanh, lúc thì lại kể chính mình đã sửa thơ cho bậc thầy của mình. Đại loại thế, báo chí in ra mỗi báo một phách, độ vênh là rất đáng kể, nhưng thần đồng biết mà không bao giờ nói lại cho sáng rõ. Tự tạo ra giai thoại thì bao giờ cũng cần một sắc độ mờ, một mức độ chồng lấn, còn sự sáng rõ sẽ xua tan mất huyền thoại.
Huyền thoại, đúng vậy. Truyền thuyết và giai thoại có nhiều dị bản sẽ tạo ra huyền thoại. Đứng ở sau màn sương huyền thoại, đối tượng có khả năng trở nên siêu phàm.
Một nhà thơ lão thành chẳng hạn. Càng lão thì hình như ông càng thích nói chuyện giới tính. Ông nói với tờ báo A rằng ông mê một chị hàng xóm mặc váy yếm từ đầu thế kỷ XX. Ông khi ấy mười hai tuổi dậy thì. Năm sau ông nói với báo B rằng ông dậy thì năm mười một tuổi. Năm sau nữa ông nói với báo C dậy thì lúc mười tuổi. Cứ thêm một năm thì ông hạ tuổi dậy thì xuống, bớt đi một năm. Báo chí không đọc của nhau. Nhà thơ cao niên dù không nhớ nhớ quên quên cũng cứ để yên thế, không đính chính. Đính chính thì còn đâu là giai thoại đang có xu hướng hóa thành huyền thoại. Tam sao thất bản là đặc điểm của huyền thoại. Người tự tạo huyền thoại hiểu hơn ai hết quy luật này.
4. Huyền thoại sau khi rời bệ phóng thì nở bung ra như pháo hoa thành nghìn vạn đốm sáng. Nghìn vạn thì không cái nào giống cái nào, nó luôn có độ sai khác mà người đời không bao giờ thắc mắc. Tôi từng viết về việc một vị còn kể về hành trình vượt khó thoát nghèo của mình rằng thời tuổi thơ ở nhà quê không có đèn điện, gia cảnh khó khăn đến mức thiếu cả dầu thắp sáng. Chú bé muốn học bài ban đêm phải bắt đom đóm bỏ vào một cái lọ thủy tinh thay đèn. Vị này học gạo nhưng chắc ít đọc sách, bởi nếu có đọc thì không thể không biết đấy là giai thoại về Mạc Đĩnh Chi ở cuối thế kỷ XIII. Dập khuôn giống như hệt, chỉ có cập nhật bằng đèn chai thủy tinh, trong khi Mạc Đĩnh Chi ở thế kỷ xa xưa thì bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng. Đấy là giai thoại chỉ có thể gắn với một tầm cỡ như Mạc Đĩnh Chi, khó có thể là ai khác. Hoặc nếu có thì là người đời sau bắt chước tiền nhân mà thôi. Đã là bắt chước thì có trưng ra cũng chỉ như bức tranh chép lại.
Tạo tác ra giai thoại về người nổi tiếng. Nếu gia công khéo léo công phu thì cũng được những câu chuyện lạ, mua vui cũng được một vài trống canh. Nhưng hầu hết đều sơ sài thô vụng và cũng gây cười, cười vì cái sự đơn giản nôm na, vì cái sự thấy người sang bắt quàng làm họ.
Nhiều khi cũng chẳng sang lắm đâu. Một chuyên gia làm giai thoại văn nghệ sĩ kể chuyện nhạc sĩ nọ phổ thơ của một vị quan chức. Người viết gọi nhạc sĩ là anh xưng em, “thân” mà. Cái ông làm thơ kia là người yêu trẻ thương dân anh ạ. Ông ấy được hai nhà thơ danh giá giới thiệu vào hội nhà văn anh ạ. Ông ấy được kết nạp vào hội nhà văn cùng một đợt với em anh ạ.
Tranh thủ anh ạ để khoe rằng mình thân với nhạc sĩ, thân với ông thơ, và mình cũng được làm hội viên nhà văn. Chỉ có điều trèo lên thang hăm hở mà không nghĩ đến lúc phải xuống thang. Đấy là không biết rằng chỉ sau đó không lâu thì ông thơ thẩn được đôn lên kia đã phải làm củi vào lò, anh ạ.
Đấy, có rất nhiều thứ ta tưởng chỉ ta biết, hóa ra nó là kiệt tác ở đâu đó, nó ngấm vào ta và ta tưởng nó là cái biết của riêng ta.
Có nhiều thứ ta tưởng chỉ ta biết, hóa ra nó là công thức đại trà.
Có những thứ những người, ta tưởng là sang, hóa ra không sang đến thế.
28/2/2024
Hồ Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/

Kiếp sau

Kiếp sau

Stephen King là nhà văn chuyên viết truyện kinh dị người Mỹ. Truyện ngắn “Afterlife” được xuất bản lần đầu trên tạp chí Tin House số Summer Reading (#56) tháng 6 năm 2013, và được sửa và in trong tập The Bazaar of Bad Dreams (New York: Scribner, 2015) 193–206.
William Andrews, một nhân viên ngân hàng đầu tư ở Goldman Sachs, qua đời chiều ngày 23 tháng 9 năm 2012. Đó là cái chết đã được dự tính; vợ và các con đã trưởng thành của ông ở bên giường. Tối hôm đó, khi cuối cùng bà cũng cho mình một khoảng thời gian được ở một mình, tránh dòng họ hàng và khách viếng không ngớt, Lynn Andrews gọi cho người bạn lâu năm nhất, vẫn sống ở Milwaukee, của bà. Sally Freeman là người đã giới thiệu bà với Bill, và nếu có ai xứng đáng được biết sáu mươi giây cuối cùng của cuộc hôn nhân ba mươi năm của bà, thì đó là Sally. “Anh hôn mê gần như cả tuần rồi – do thuốc – nhưng sau cùng thì tỉnh. Mắt anh mở, và anh nhìn mình. Anh cười. Mình cầm tay anh và anh hơi nắm chặt lại. Mình cúi xuống hôn má anh. Khi mình đứng lên, anh đã đi rồi.” Bà đã đợi hàng giờ để nói ra điều này, và nói được nó ra, bà bật khóc. *** Bà cho rằng nụ cười của ông là dành cho bà cũng là điều tự nhiên, nhưng sai lầm. Trong lúc ông nhìn lên vợ và ba đứa con đã lớn của mình – trông họ cao không tưởng, những sinh linh khỏe mạnh sống trong một thế giới mà ông đang rời bỏ – Bill cảm thấy cơn đau ông chung sống trong mười tám tháng qua rời cơ thể ông. Nó đổ ra như nước tràn khỏi xô. Vậy nên ông mỉm cười. Với cơn đau đã đi, không còn nhiều ở lại. Cơ thể ông có cảm giác nhẹ như một sợi bông. Vợ ông cầm tay ông, vươn xuống từ thế giới cao và khỏe mạnh của bà. Ông còn dành lại một chút sức lực, và giờ thì ông sẽ dùng hết nó bằng cách siết chặt những ngón tay bà. Bà cúi xuống. Bà sắp hôn ông. Trước khi đôi môi bà có thể chạm vào làn da ông, một cái lỗ xuất hiện ở chính giữa tầm mắt ông. Nó không phải lỗ đen mà là lỗ trắng. Nó lan ra, xóa nhòa thế giới duy nhất mà ông biết kể từ năm 1956, khi ông ra đời tại bệnh viện nhỏ của quận ở Hemingford ở Nebraska. Trong năm ngoái, Bill đã đọc rất nhiều về hành trình từ sự sống đến cái chết (trên máy tính của ông, luôn cẩn thận xóa lịch sử để không làm Lynn khó chịu, bà vốn liên tục lạc quan đến phi thực tế), và trong khi với ông nó đa phần là nhảm nhí, cái gọi là hiện tượng “ánh sáng trắng” lại có vẻ khá hợp lý. Thứ nhất, nó được ghi nhận trong mọi nền văn hóa. Thứ hai, nó có một chút uy tín khoa học. Một lý thuyết ông từng đọc cho rằng ánh sáng trắng là kết quả của việc máu đột ngột dừng lưu thông đến não. Một lý thuyết khác, thú vị hơn, thừa nhận bộ não đang tiến hành một hoạt động rà quét toàn bộ cuối cùng trong nỗ lực tìm ra một trải nghiệm có thể so sánh được với cái chết. Cũng có thể nó chỉ là phản ứng cuối cùng. Dù nguyên nhân là gì thì Bill Andrews cũng đang trải qua nó. Ánh sáng trắng xóa nhòa gia đình ông và căn phòng thoáng khí mà từ đó nhân viên nhà xác sẽ sớm đem thi thể bất động được trùm kín của ông đi. Trong những nghiên cứu của mình, ông đã trở nên quen thuộc với cụm từ viết tắt TNCT, nghĩa là trải nghiệm cận tử. Trong nhiều trải nghiệm như vậy, ánh sáng trắng trở thành một đường hầm, đứng ở cuối là những thành viên đã mất trong gia đình, hay bạn bè, hay thiên thần, hay Jesus, hay một vị thần nhân từ nào khác. Bill không mong đợi một ủy ban chào đón. Điều ông mong đợi là phản ứng cuối cùng sẽ mờ dần vào bóng tối của sự quên lãng, nhưng điều đó không xảy ra. Khi ánh sáng mờ đi, ông không ở thiên đường hay địa ngục. Ông ở trong một hành lang. Ông nghĩ có thể nó là luyện ngục, một hành lang được sơn xanh công nghiệp và gạch sàn vừa xước vừa bẩn cũng có thể là luyện ngục, nhưng chỉ khi nó kéo dài mãi mãi. Hành lang này dài sáu mét dẫn tới một cánh cửa có tấm biển đề GIÁM ĐỐC ISAAC HARRIS. Bill đứng ở nơi ông vẫn đứng một lúc, kiểm kê lại mình. Ông đang mặc bộ đồ ngủ ông mặc khi chết (ít ra ông cũng cho rằng mình đã chết), và đi chân trần, nhưng không có dấu hiệu gì của căn bệnh ung thư, thứ ban đầu chỉ nếm cơ thể ông, rồi ngấu nghiến đến mức không còn gì ngoài da bọc xương. Trông ông như trở lại hồi gần chín mươi ký, hạng cân của ông (phải công nhận là hơi mềm) trước khi ung thư tấn công. Ông cảm nhận được mông và lưng dưới của mình. Các vết loét giường đã biến mất. Tốt. Ông hít một hơi thật sâu và thở ra mà không ho. Quá tốt. Ông bước một đoạn xuống hành lang. Bên trái ông là một bình chữa cháy với một dòng graffito kỳ lạ ở phía trên: Muộn còn hơn không! Bên phải ông là một bảng tin. Trên đó ghim một số bức ảnh kiểu cũ có mép răng cưa. Phía trên chúng là biểu ngữ viết tay đề DÃ NGOẠI CÔNG TY 1956! ĐÃ THẬT LÀ ĐÃ! Bill xem xét các bức ảnh, có hình các giám đốc điều hành, các thư ký, nhân viên văn phòng, và một bầy trẻ con dính đầy kem đang nô đùa. Có một nhóm đàn ông đang chăm sóc món thịt nướng (một người phải đội mũ hề đầu bếp bắt buộc), đàn ông và phụ nữ chơi quăng móng ngựa, đàn ông và phụ nữ chơi bóng chuyền, đàn ông và phụ nữ bơi trong hồ. Đám đàn ông mặc quần bơi nhìn ngắn và bó gần như khêu gợi với con mắt thế kỷ hai mươi mốt của ông, nhưng rất ít người có bụng bia. Họ có vóc dáng của những năm năm mươi, Bill nghĩ. Đám phụ nữ mặc áo tắm một mảnh Esther Williams kiểu cũ, loại áo khiến họ trông như thể không có mông mà chỉ có một đường cong mịn phình ra phía trên đùi sau. Bánh mỳ xúc xích đang được tiêu thụ. Bia đang được uống. Mọi người có vẻ đều có một khoảng thời gian hết sức vui vẻ. Trong một bức ảnh ông thấy cha của Richie Blankmore đang đưa cho Annmarie Winkler một viên marshmallow nướng. Điều này là vô lý, bởi vì cha của Richie là tài xế xe tải và ông chưa từng đến một buổi dã ngoại của công ty trong cuộc đời mình. Annmarie là cô gái ông hẹn hò ở trường đại học. Trong một bức ảnh khác ông thấy Bobby Tisdale, một người bạn cùng lớp đại học hồi đầu những năm bảy mươi. Bobby, tự gọi mình là Tiz the Whiz, qua đời vì đau tim khi vẫn đang ở tuổi ngoài ba mươi. Có lẽ năm 1956 cậu đã ở trên trái đất, nhưng nhẽ ra mới mẫu giáo hay lớp một, thay vì uống bia bên bờ hồ Gì-cũng-được. Trong bức ảnh này trông Whiz tầm hai mươi, bằng tuổi cậu khi Bill quen cậu. Trong bức ảnh thứ ba, mẹ Eddie Scarponi đang đập một quả bóng chuyền. Eddie là bạn thân nhất của Bill khi gia đình ông chuyển từ Nebraska đến Paramus, New Jersey, và Gina Scarponi – một lần bị thoáng thấy đang tắm nắng ở sân trước trong chiếc quần nhỏ trắng mỏng tang và chỉ mặc mỗi vậy – là một trong những tưởng tượng yêu thích của Bill khi ông còn tập lấy bằng thủ dâm. Người đội mũ hề đầu bếp là Ronald Reagan. Bill nhìn gần hơn, mũi ông gần như dí lên bức ảnh đen trắng, và không thể nghi ngờ gì. Tổng thống thứ bốn mươi của Hoa Kỳ đang lật burger trong một buổi dã ngoại của công ty. Nhưng công ty nào? Và chính xác thì Bill đang ở đâu? Cơn khoái cảm của ông vì được trở lại lành lặn và không còn đau đớn đang dần biến mất. Thay vào đó là một cảm giác xáo trộn và bất an ngày càng hiện rõ. Nhìn thấy người quen trong những bức ảnh này thật là khó hiểu, và việc ông không biết phần lớn trong số họ cùng lắm chỉ đem lại chút an ủi nhỏ nhoi. Ông nhìn đằng sau mình, và thấy cầu thang dẫn lên một cánh cửa khác. In trên cánh cửa này bằng chữ cỡ lớn màu đỏ là ĐÃ KHÓA. Vậy là chỉ còn văn phòng của ông Isaac Harris. Bill bước xuống đó, ngần ngại, rồi gõ cửa. “Cửa mở.” Bill bước vào. Đứng cạnh chiếc bàn bừa bộn là một người mặc quần cạp cao rộng thùng thình níu bằng dây đeo quần. Mái tóc nâu của ông bết vào hộp sọ và rẽ ngôi giữa. Ông đeo kính không vành. Bốn bức tường được phủ bằng hóa đơn và ảnh gợi cảm khoe chân lỗi mốt khiến Bill nghĩ về công ty vận tải mà cha của Richie Blankmore làm việc. Ông từng đến đó mấy lần với Riche, và phòng văn thư trông giống như thế này. Theo tấm lịch trên tường, hôm nay là tháng 3 năm 1911, chẳng hợp lý gì hơn năm 1956. Bên phải Bill khi ông bước vào có một cánh cửa. Bên trái là một cánh cửa khác. Không có cửa sổ, mà chỉ có một đường ống bằng kính đi xuống từ trần nhà và đung đưa trên một giỏ giặt là Dandux. Chiếc giỏ chất đầy một đống giấy tờ màu vàng trông giống hóa đơn. Cũng có thể chúng là giấy nhớ. Tài liệu xếp cao hơn nửa mét trên chiếc ghế đặt trước bàn. “Bill Anderson, đúng không?” Người đàn ông đi ra sau bàn và ngồi xuống. Không có đề nghị bắt tay. “Andrews.” “Phải. Tôi là Harris. Vậy là một lần nữa anh ở đây, Andrews.” Với mọi nghiên cứu của Bill về cái chết, nhận xét này thật ra có ý nghĩa. Và nó khiến ông nhẹ nhõm. Miễn là ông không phải quay lại như một con bọ hung hay gì đó. “Vậy đây là luân hồi? Chuyện là thế à?” Isaac Harris thở dài. “Anh luôn hỏi cùng một điều, và tôi luôn trả lời cùng một câu: không hẳn.” “Tôi chết rồi, đúng không?” “Anh thấy mình đã chết?” “Không, nhưng tôi thấy ánh sáng trắng.” “Ồ phải rồi, ánh sáng trắng nổi tiếng. Anh ở đó và giờ anh ở đây. Đợi một phút, chút thôi.” Harris sục sạo giấy tờ trên bàn, không tìm thấy thứ ông muốn, và bắt đầu mở ngăn kéo. Từ một ngăn ông lấy ra thêm vài tập hồ sơ và chọn một. Ông mở nó, lật một hai trang, và gật đầu. “Tự nhắc mình chút thôi. Nhân viên ngân hàng đầu tư, phải không?” “Phải.” “Vợ và ba con. Hai trai, một gái?” “Chính xác.” “Xin thứ lỗi. Tôi có vài trăm khách hành hương, khó mà nhớ ai với ai được. Tôi vẫn định xếp mấy tập hồ sơ này theo thứ tự gì đó, nhưng đấy quả thật là công việc cần thư ký, mà vì họ chưa bao giờ cho tôi một…” “Họ là ai?” “Không biết. Mọi liên lạc đến qua cái ống.” Ông gõ nó. Cái ống lắc lư, rồi dừng lại. “Chạy bằng khí nén. Đồ hiện đại.” Bill nhấc đống hồ sơ trên ghế dành cho khách lên và nhìn người đàn ông đằng sau chiếc bàn, nhướng mày. “Cứ để xuống sàn,” Harris nói. “Giờ thì thế là được rồi. Thật ra mấy ngày tới tôi sẽ sắp xếp. Nếu đây là ngày. Cũng có thể là đêm – nhưng ai dám chắc? Ở đây đâu có cửa sổ, anh cũng thấy đấy. Còn không có cả đồng hồ.” Bill ngồi xuống. “Sao lại gọi tôi là khách hành hương, nếu đây không phải luân hồi?” Harris nghiêng người ra sau và chắp tay sau gáy. Ông nhìn lên chiếc ống khí nén, thứ có thể từng là món đồ hiện đại ở một thời điểm nào đó. Khoảng năm 1911 chẳng hạn, dù Bill nghĩ đến năm 1956 những thứ như vậy có thể vẫn còn tồn tại. Harris lắc đầu và cười khúc khích, dẫu không phải một cách thích thú. “Giá mà anh biết các anh đã trở nên tẻ nhạt đến thế nào. Theo hồ sơ, đây là cuộc gặp thứ mười lăm của chúng ta.” “Tôi chưa bao giờ đến đây trong đời,” Bill nói. Ông ngẫm nghĩ. “Trừ khi đây không phải cuộc đời tôi. Đúng không? Đây là kiếp sau của tôi.” “Thật ra, nó là của tôi. Anh là khách hành hương, còn tôi thì không. Anh và những gã khác diễu đến và diễu đi khỏi đây. Anh sẽ dùng một trong những cánh cửa kia và đi. Tôi ở lại. Ở đây không có phòng tắm, bởi vì tôi không còn phải thực hiện các chức năng vệ sinh. Không có phòng ngủ, bởi vì tôi không còn phải ngủ. Tất cả những gì tôi làm là ngồi đây và gặp khách du lịch các anh. Các anh đến, các anh hỏi cùng những câu hỏi này, và tôi đáp cùng những câu trả lời này. Đấy là kiếp sau của tôi. Nghe thú vị không?” Bill, đã gặp mọi chi tiết thần học trong dự án nghiên cứu cuối cùng của ông, quyết định rằng ông đã nghĩ đúng trong lúc còn ở hành lang. “Anh đang nói về luyện ngục?” “Ồ, chẳng ngờ gì. Câu hỏi duy nhất mà tôi có là tôi sẽ ở đây trong bao lâu. Tôi muốn nói với anh là cuối cùng tôi sẽ phát điên nếu tôi không thể đi tiếp, nhưng tôi không nghĩ mình có thể làm vậy, chẳng hơn gì chuyện tôi không thể đi ngoài hay chợp mắt. Tôi biết tên tôi chẳng có ý nghĩa gì với anh, nhưng trước đây ta đã thảo luận vấn đề này – không phải mọi lần anh xuất hiện, nhưng nhiều lần.” Ông phẩy tay với đủ lực làm mấy tờ hóa đơn dính trên tường xao động. “Đây là – hoặc từng là, tôi không chắc thật ra thì thế nào mới đúng – văn phòng trên trần thế của tôi.” “Năm 1911?” “Đúng thế. Tôi vẫn hỏi anh có biết sơ mi thắt eo là gì không, Bill, nhưng vì biết anh không biết, tôi sẽ nói anh nghe: áo blouse nữ.” Hồi đầu thế kỷ, tôi với cộng sự, Max Blanck, sở hữu một doanh nghiệp gọi là Triangle Shirtwaist Factory. Kinh doanh có lãi, nhưng đám nữ công nhân lại là cái gai nhọn trong mắt. Lúc nào cũng lẻn ra ngoài hút thuốc, và – cái này tệ hơn – ăn cắp, rồi chúng nó sẽ giấu trong ví hoặc gài dưới váy. Thế nên chúng tôi khóa cửa để giữ chúng nó trong ca làm việc, và khám xét lúc ra về. Chuyện dài nói ngắn là một hôm cái nơi chết tiệt đấy bốc cháy. Tôi với Max thoát ra bằng cách trèo lên mái và xuống cầu thang thoát hiểm. Nhiều đứa không may mắn đến thế. Nhưng hãy thành thực mà thừa nhận rằng lỗi là ở chúng nó. Việc hút thuốc trong nhà máy đã bị cấm nghiêm ngặt, nhưng nhiều đứa vẫn cứ hút, và chính một điếu thuốc đã làm ngọn lửa bùng lên. Sở cứu hỏa nói vậy. Tôi với Max phải ra tòa vì tội ngộ sát và được tha bổng.” Bill nhớ lại chiếc bình chữa cháy trong hành lang, với dòng chữ Muộn còn hơn không in phía trên nó. Ông nghĩ: Ông bị tuyên có tội trong tòa phúc thẩm, ông Harris, không thì ông đã chẳng ở đây. “Bao nhiêu phụ nữ đã chết?” “Một trăm bốn mươi sáu,” Harris nói, “và tôi thương tiếc từng người một, anh Anderson.” Bill chẳng buồn sửa tên mình. Hai mươi phút trước ông còn đang hấp hối trên giường; giờ thì ông bị cuốn hút trước câu chuyện cũ ông chưa từng nghe trước đây. Điều đó thì ông lại nhớ. “Không lâu sau khi tôi với Max xuống cầu thang thoát hiểm, bọn họ ùa lên nó. Cái thứ chết tiệt đó không chịu được sức nặng. Nó sập và đổ hai chục người từ ba chục mét xuống mặt đường lót đá. Bọn họ chết hết. Bốn mươi người khác nhảy từ cửa sổ tầng chín và mười. Một số bắt lửa. Bọn họ cũng chết hết. Đội cứu hỏa có lưới cứu sinh, nhưng bọn họ rơi toạc qua và nổ tung trên vỉa hè như những túi máu. Cảnh tượng khủng khiếp, anh Anderson, khủng khiếp. Một số nhảy xuống trục thang máy, nhưng hầu hết… chỉ… bị thiêu cháy.” “Giống 11 tháng 9 với ít thương vong hơn.” “Các anh luôn nói vậy.” “Và ông đang ở đây.” “Đúng thế. Đôi lúc tôi băn khoăn không biết có bao nhiêu đàn ông cũng đang ngồi trong những văn phòng như thế này. Cả phụ nữ. Tôi dám chắc có cả phụ nữ, tôi vẫn luôn nhìn về phía trước và thấy không có lý do gì mà phụ nữ không thể ngồi vào những vị trí điều hành cấp thấp, và làm thế một cách đáng ngưỡng mộ. Tất cả chúng tôi trả lời cùng những câu hỏi và gửi đến cùng những vị khách hành hương. Các anh nghĩ gánh nặng sẽ nhẹ bớt đi mỗi lần một người trong số các anh quyết định đi vào cánh cửa bên phải thay vì cái đó” – ông chỉ sang trái – “nhưng không. Không. Một cái hộp mới đến từ cái ống – vút – và tôi lại có một gã mới để thay thế gã cũ. Có khi hai.” Ông nghiêng người về phía trước và gằn giọng. “Đây là công việc khốn nạn, anh Anderson!” “Là Andrews,” Bill nói. “Và nghe này, tôi rất tiếc ông cảm thấy như vậy, nhưng chúa ơi, có trách nhiệm một chút với hành động của mình đi! Một trăm bốn mươi sáu phụ nữ! Và ông đã khóa cửa.” Harris đập bàn. “Chúng nó ăn cắp của bọn tôi!” Ông nhấc tập hồ sơ lên và lắc lắc về phía Bill. “Xem lại anh đi! Ha! Chó chê mèo lắm lông! Goldman Sachs! Gian lận chứng khoán! Lợi nhuận hàng tỷ, thuế hàng triệu! Hàng triệu tiền bẩn! Bong bóng nhà đất nghe có quen không? Bao nhiêu lòng tin của khách hàng anh đã lợi dụng? Bao nhiêu người đã mất tiền dành dụm cả đời của họ nhờ lòng lam và sự thiển cận của anh?” Bill biết Harris đang nói về điều gì, nhưng tất cả (chà… hầu hết) những lời xảo ngôn đó đều vượt quá trách nhiệm của ông. Ông cũng ngạc nhiên như bất cứ ai khi thế thời đảo lộn. Ông thôi thúc muốn nói có sự khác biệt lớn giữa chịu cảnh đói nghèo và bị thiêu sống, nhưng sao phải xát muối vào vết thương? Bên cạnh đó, có lẽ nó còn nghe có vẻ tự cho mình là đúng. “Đừng nói nữa,” ông nói. “Nếu ông có thông tin tôi cần thì sao không đưa nó cho tôi. Cho tôi chi tiết về chuyện này, rồi tôi sẽ khuất mắt ông.” “Tôi không phải cái đứa đã hút thuốc,” Harris trầm giọng ủ ê. “Tôi không phải cái đứa đã đánh rơi que diêm.” “Ông Harris?” Bill có thể cảm thấy bốn bức tường như đang siết lại. Nếu phải ở đây mãi mãi mình thà tự bắn mình còn hơn, ông nghĩ. Chỉ khi nào điều ông Harris nói là đúng, ông mới không muốn, chẳng hơn gì chuyện ông không muốn đi vệ sinh. “Được, được thôi.” Harris thở phì qua miệng thành tiếng, nhưng không hẳn là bật môi. “Chuyệnlà thế này. Đi qua cánh cửa bên trái và anh sẽ được sống đời mình lần nữa. A tới Z. Từ đầu tới kết thúc. Chọn cánh cửa bên phải và anh biến mất. Phụt. Như ngọn nến trong gió.” Thoạt đầu Bill không nói gì. Ông không có đủ khả năng để nói và không chắc ông có thể tin tưởng đôi tai mình. Nó quá tốt để có thể trở thành sự thật. Đầu tiên tâm trí ông xoay sang em trai Mike, và vụ tai nạn xảy ra khi Mike tám tuổi. Tiếp theo, sang vụ chôm chỉa ngu ngốc khi Bill mười bảy. Chỉ là đùa giỡn, nhưng nó có thể đã làm hỏng kế hoạch đại học của ông nếu bố ông không can thiệp và nói chuyện với đúng người. Chuyện với Annmarie trong nam sinh cư xá… thứ vẫn ám ảnh ông trong những khoảnh khắc lạ lùng, ngay cả sau ngần ấy năm. Và dĩ nhiên, vấn đề quan trọng— Harris đang mỉm cười, và nụ cười không một chút dễ chịu. “Tôi biết anh đang nghĩ gì, bởi vì tôi đã nghe tất cả từ anh trước đây. Về chuyện hồi nhỏ anh và em trai anh đã chơi trốn tìm như thế nào, anh đóng sầm cửa để nhốt thằng bé ở ngoài và vô tình làm đứt đầu ngón tay út của nó ra sao. Cái thôi thúc chôm chỉa, cái đồng hồ, rồi chuyện cha anh đã tác động như thế nào để đưa anh ra—” “Đúng vậy, không tiền sự. Ngoại trừ với bố tôi. Ông không bao giờ cho phép tôi quên điều đó.” “Còn cô gái trong nam sinh cư xá.” Harris nhấc tập hồ sơ. “Tên cô ta ở đâu đấy trong đây, tôi đoán vậy, tôi đã làm hết sức để giữ đống tài liệu dễ thấy – khi tôi cần tìm – nhưng sao anh không nhắc tôi nhỉ.” “Annmarie Winkler.” Bill có thể cảm thấy má ông nóng lên. “Đấy không phải cưỡng hiếp, nên đừng nghĩ như thế. Cô ấy quàng chân qua người tôi khi tôi nằm lên cô ấy, và nếu như thế không phải là đồng thuận thì tôi chẳng biết thế nào mới phải.” “Cô ta có quàng chân qua người hai gã đến sau không?” Không, Bill thôi thúc muốn nói, nhưng ít nhất chúng tôi cũng không thiêu sống cô ấy. Và im lặng. Ông đang chuẩn bị đánh một cú putt trên sân thứ bảy hoặc đang làm việc trong xưởng gỗ hoặc đang nói chuyện với con gái (giờ là sinh viên đại học) về luận án tốt nghiệp của con bé, và ông sẽ tự hỏi giờ này Annmarie ở đâu. Cô đang làm gì. Cô còn nhớ gì về cái đêm ấy. Nụ cười của Harris dãn ra thành điệu nhếch mép ghẹo gái. Nó có thể là một công việc khốn nạn, nhưng rõ ràng vẫn có một vài phần ông thích thú. “Tôi có thể thấy đấy là câu hỏi anh không muốn trả lời, vậy sao chúng ta không bỏ qua nhỉ. Anh đang nghĩ về tất cả những điều anh sẽ thay đổi trong hành trình tiếp theo của anh trên chiếc đu quay vũ trụ. Lần này anh sẽ không đóng sầm cửa vào ngón tay của em trai anh, hay cố đánh cắp đồng hồ ở chợ Paramus—” “Là chợ New Jersey. Tôi đoan chắc nó có ở đâu đấy trong hồ sơ của ông.” Harris lật phần phật tập hồ sơ của Bill và tiếp tục. “Lần tới anh sẽ từ chối làm tình với cô bạn gái nửa hôn mê của anh trong khi cô ta nằm trên sofa trong tầng hầm nam sinh cư xá, và – cái này quan trọng! – anh sẽ đến thay vì trì hoãn buổi hẹn nội soi, vì giờ anh đã quyết định – cứ sửa nếu tôi nói sai – rằng bị sỉ nhục vì một cái camera thông lên lỗ hậu dù sao cũng tốt hơn một chút so với chết vì ung thư ruột kết. Bill nói, “Nhiều lần tôi đã gần nói cho Lynn biết chuyện ở cư xá. Tôi chưa bao giờ có đủ can đảm.” “Nhưng có cơ hội, anh sẽ sửa chữa.” “Dĩ nhiên – có cơ hội, ông sẽ mở khóa cửa nhà máy chứ?” “Chắc chắn tôi sẽ, nhưng không có cơ hội thứ hai nào cả. Rất tiếc phải làm anh thất vọng.” Trông ông không có vẻ lấy làm tiếc. Harris trông mệt mỏi. Harris trông buồn chán. Harris trông cũng đắc thắng một cách hẹp hòi. Ông chỉ vào cánh cửa bên trái Bill. “Chọn cái đó – như anh vẫn làm vào mỗi dịp khác – anh sẽ bắt đầu lại từ đầu, như một cậu bé ba cân trượt khỏi tử cung mẹ anh vào đôi bàn tay bác sĩ. Anh sẽ được bọc trong vải thô và đưa về nhà ở một trang trại ở miền trung Nebraska. Khi bố anh bán trang trại năm 1964, anh sẽ tới New Jersey. Ở đó anh sẽ làm đứt đầu ngón út của đứa em trai trong khi chơi trốn tìm. Anh sẽ đến cùng một trường trung học, cùng những khóa học, và có cùng điểm số. Anh sẽ đến Đại học Boston, và anh sẽ thực hiện cùng hành vi nửa cưỡng hiếp đó trong cùng tầng hầm của nam sinh cư xá. Anh sẽ nhìn hai anh em cư xá làm tình với Annmarie Winkler, và dù anh nghĩ anh nên ngăn chặn điều đang diễn ra, anh sẽ không bao giờ thu đủ dũng cảm đạo đức để làm như vậy. Ba năm sau anh sẽ gặp Lynn DeSalvo, và hai năm sau nữa anh sẽ cưới. Anh sẽ đi theo cùng một con đường sự nghiệp, anh sẽ có cùng những bạn bè đó, anh sẽ có cùng những bất an sâu thẳm về hoạt động kinh doanh của công ty… và anh sẽ giữ cùng một sự im lặng. Cũng vị bác sĩ ấy sẽ giục anh nội soi đại tràng khi anh sang tuổi năm mươi, và anh sẽ hứa – như anh vẫn luôn hứa – rằng anh sẽ để ý đến vấn đề nhỏ nhặt đó. Anh sẽ không làm thế, và kết quả là anh sẽ chết vì cùng một căn bệnh ung thư.” Nụ cười của Harris khi ông thả tập hồ sơ xuống chiếc bàn bừa bộn giờ nở rộng gần như chạm đến mang tai. “Rồi anh sẽ lại đến đây, và chúng ta sẽ lại có cuộc trò chuyện này. Lời khuyên của tôi sẽ là chọn cánh cửa còn lại và thế là xong, nhưng dĩ nhiên quyết định là của anh.” Bill lắng nghe trong lúc ngày càng hoảng loạn. “Tôi sẽ không nhớ gì? Không nhớ gì?” “Không hẳn là không nhớ gì,” Harris nói. “Có lẽ anh đã để ý mấy bức ảnh ở hành lang.” “Buổi dã ngoại của công ty.” “Phải. Mỗi vị khách đến với tôi đều nhìn thấy những bức ảnh chụp từ năm sinh của họ, và nhận ra một vài gương mặt quen thuộc giữa những người lạ. Khi sống cuộc đời mình lần nữa, anh Anderson – giả sử anh quyết định như vậy – anh sẽ có cảm giác déjà vu khi lần đầu anh thấy những người này, cảm giác như anh đã sống qua tất cả trước đây. Dĩ nhiên, anh đã sống. Anh sẽ có một cảm giác thoáng qua, gần như một sự chắc chắn, rằng còn nhiều… có thể nói là chiều sâu trong cuộc đời anh, và trong sự tồn tại nói chung, hơn là anh tin trước đây. Nhưng rồi nó sẽ qua.” “Nếu tất cả đều như vậy, không có khả năng cải thiện, thì tại sao chúng ta lại ở đây?” Harris nắm chặt tay và đấm vào đầu cái ống khí nén đang treo lơ lửng trên giỏ giặt là, khiến nó lắc lư. “KHÁCH MUỐN BIẾT SAO TA Ở ĐÂY! MUỐN BIẾT CỐT LÕI LÀ GÌ!” Ông đợi. Không có gì xảy ra. Ông xòe tay chống lên bàn. “Khi Job muốn biết điều đó, anh Anders, Đức Chúa hỏi Job có ở đó không khi ngài – Đức Chúa – tạo ra vũ trụ. Tôi đoán anh không cho đó là câu trả lời. Vậy nên hãy cân nhắc cụ thể vấn đề. Anh muốn làm gì? Hãy chọn một cánh cửa.” Bill đang nghĩ về ung thư. Cơn đau của ung thư. Trải qua toàn bộ điều đó một lần nữa… ngoại trừ việc ông sẽ không nhớ mình đã trải qua nó. Vậy đấy. Giả sử Isaac Harris nói thật. “Không ký ức gì hết? Không thay đổi gì hết? Ông có chắc không? Làm sao ông dám chắc?” “Vì lúc nào cũng là cuộc trò chuyện này, anh Anderson. Lần nào cũng vậy, với tất cả các anh.” “Là Andrews!” Ông rống lên, làm cả hai đều bất ngờ. Bằng một giọng thấp hơn, ông nói, “Nếu tôi cố gắng, thực sự cố gắng, tôi chắc chắn mình có thể giữ lại gì đó. Ngay cả khi chỉ là chuyện xảy ra với ngón tay Mike. Và có thể một sự thay đổi cũng đủ để… tôi không biết…” Để đưa Annmarie tới rạp chiếu phim thay vì tới bữa tiệc thác loạn đó, thế nào? Harris nói, “Có một câu chuyện dân gian kể rằng trước khi sinh ra, mỗi linh hồn con người đều biết mọi bí mật của sự sống và cái chết và vũ trụ. Nhưng sau đó, ngay trước khi sinh ra, một thiên thần cúi xuống, đặt ngón tay lên môi đứa bé, và thì thầm ‘Shhh.’” Harris chạm vào nhân trung của mình. “Theo câu chuyện đó, đây là dấu vết mà ngón tay của thiên thần để lại. Mỗi người đều có một.” “Đã bao giờ ông thấy thiên thần chưa, ông Harris?” “Chưa, nhưng tôi từng thấy một con lạc đà. Ở vườn thú Bronx. Chọn một cánh.” Trong lúc suy nghĩ, Bill nhớ lại một câu chuyện họ phải đọc ở trường trung học: “Cô gái và con hổ.” Quyết định này chẳng hề khó khăn. Mình phải giữ lại chỉ một điều, ông tự nhủ trong khi mở cánh cửa dẫn trở lại cuộc sống. Chỉ một điều. Ánh sáng trắng của sự trở về bao bọc lấy ông. *** Bác sĩ, người sẽ bỏ Đảng Cộng hòa và bầu cho Adlai Stevenson vào mùa thu (một điều mà vợ ông sẽ không bao giờ được biết), cúi gập người xuống như một anh bồi bàn bày đĩa thức ăn và ngẩng lên bế gót một đứa trẻ trần truồng. Ông vỗ mạnh lên nó và tiếng thét ré lên. “Bà có một bé trai khỏe mạnh, bà Andrews,” ông nói. “Trông khoảng ba cân. Chúc mừng.” Bà Andrews đỡ đứa bé. Bà hôn lên đôi má và vầng trán ướt của nó. Họ sẽ đặt tên thằng bé là William, theo tên ông nội nó. Khi thế kỷ hai mươi mốt đến, thằng bé vẫn đang ở tuổi ngoài bốn mươi. Ý tưởng này thật choáng váng. Trong tay mình bà ôm không chỉ một cuộc sống mới mà còn cả một vũ trụ của những điều khả dĩ. Không gì, bà nghĩ, có thể tuyệt vời hơn.
4/9/2026
Stephen King
Nguyễn Huy Hoàng dịch
Theo https://vietnamthuquan.eu/

"Lời gió" của Đậu Hoài Thanh: Rưng rưng câu hát gọi người

"Lời gió" của Đậu Hoài Thanh: Rưng rưng câu hát gọi người Tập thơ “Lời gió” không còn là tiếng nói cá nhân, tâm tư riêng của nữ ...