Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

Ý Nhi và những bến bờ của sáng tạo

Ý Nhi và những
bến bờ của sáng tạo

Trong thế giới này xuất hiện một nữ thi nhân
với những bài ca nâng chúng tôi hướng thượng
vượt bản thân lên cõi tinh thần
đem lửa thếp vàng vách nhà tù tăm tối
và đem trời cao vào tận buồng tim
lời tro nguội bỗng biến thành lửa cháy. - HARRY MARTINSON
Những câu thơ trên đây của Harry Martinson (1904-1978), nhà thơ Thụy Điển được giải thưởng Nobel văn chương năm 1974, trích từ thiên sử thi khoa học giả tưởng Aniara – về con người, thời gian và không gian (bản dịch của Hoàng Hưng), nói lên điều kỳ diệu khi xuất hiện một người nghệ sĩ hát thơ, được tôn vinh làm nữ tư tế của Thần Ánh sáng. Thơ ca tự nó là một niềm bí ẩn; thế giới vừa mới mẻ hơn, vừa lạ lùng hơn từ khi có thơ ca, đặc biệt là những câu thơ cất lên từ một tâm hồn nữ.
Không phải ngẫu nhiên mà Ý Nhi nhắc lại những câu thơ ấy khi bà trở thành nhà thơ Việt Nam đầu tiên nhận được giải thưởng Cikada(1), giải thưởng văn học dành cho các nhà văn châu Á do Thụy Điển thành lập nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Martinson. Thật tự nhiên, những câu thơ từ Bắc Âu tìm thấy sự đồng cảm nơi những nhà thơ Đông Á xa xôi trong quan niệm về điều kỳ diệu của thơ ca, cũng như trong cách nhìn về sự có mặt của một nhà thơ trong cõi đời này.
1. Ý Nhi đã khởi đầu con đường dài nửa thế kỷ với thơ ca như thế nào?   Đó là khi đôi mắt bé thơ mở to ngắm nhìn thị xã Hội An thương hồ mà trầm mặc? Đó là nhờ ảnh hưởng của dòng tộc Huỳnh Quế Sơn, những người đã rời bỏ đô thị Hội An, ngược sông Thu Bồn, khai thiên lập địa ở nơi rừng thiêng nước độc? Khí phách, niềm tin và sự lãng mạn đã đem cho họ không chỉ sản nghiệp mà còn là những vần thơ ghi lại trong một thi tập được lưu giữ từ đời cụ tổ cho đến hôm nay. Đó là khi cô gái mười tuổi nắm tay mẹ và em giã từ quê hương, lên tàu ra phương Bắc xa xôi? Đó là khi người thiếu nữ “mặc áo rộng thùng thình và tóc tết đuôi sam” lang thang trên đất cảng Hải Phòng? Đó là khi mối tình văn khoa chớm nở trong khung trời đại học Hà Nội? Hay phải đợi cô gái đó lớn lên thành một người đàn bà thì nhà thơ mới trọn vẹn tìm thấy hình ảnh chính mình?
Những sáng tác đầu tiên của Ý Nhi trong Nỗi nhớ con đường (NXB Văn Học, 1974, in chung với Lâm Thị Mỹ Dạ), Đến với dòng sông (NXB Tác Phẩm Mới, 1978), Cây trong phố chờ trăng (NXB Hà Nội, 1981, in chung với Xuân Quỳnh) có thể xem là những bài thơ Dự cảm. Như những nhà thơ cùng thế hệ, Ý Nhi cũng khởi đầu con đường nghệ thuật của mình từ những vần thơ tức cảnh và thuật cảm, với sự tinh tế của nhận biết, sự dào dạt của hình ảnh. Thiên nhiên ở đó xanh trong như hồn người, cái tôi nhòa lẫn trong lòng thung đầy bướm, những giọt mưa đọng đầy nhị hoa hay cây bàng vừa nhuốm lửa.
Nhưng từ rất sớm, thơ Ý Nhi đã xuất hiện những điềm bất tường về đời sống cùng với những dự cảm bất an. Trong yên bình của hàng cây hoa nở trắng hay những ngôi nhà cao rộng, nhà thơ lại nghĩ đến một ngày biển động và con thuyền trên biển chơi vơi, đến nỗi lo âu về con đường xa tít tắp và chân trời ngút mắt. Người con gái mang về từ phố biển cánh buồm ngoài khơi, tiếng sóng vỗ ì ầm vách đá, tự biết tâm hồn mình không còn vẹn nguyên như cũ, khi “phố biển giữa lòng em như thác/ sóng gió theo về/ náo động một mùa thu” (Từ phố biển em về).
Những xáo động, âu lo, run sợ đó dự báo hình ảnh tương lai của nhà thơ, khi cảm hứng và tài năng hình thành cùng với những biến đổi của đời sống: Đột ngột đến rồi đi cơn rét cuối mùa/ Cây chanh nhỏ đã bắt đầu tụ quả/ áo con gái đã dần sang mùa hạ/ chỉ chút gì nán níu của ngày đông. (Tháng Ba). Dù sao, những biến đổi đó còn mong manh, chưa đủ âm vang trong một cõi lòng ít nhiều khép kín.
Người đàn bà ngồi đan (NXB Tác Phẩm Mới, 1985), Ngày thường (NXB Đà Nẵng, 1987), Mưa tuyết (NXB Phụ Nữ, 1991), Gương mặt (NXB Trẻ, 1991) là những mốc đánh dấu sự Bừng nở của thơ Ý Nhi. Ở đây có cả sự bừng tỉnh của ý thức về cá nhân lẫn sự bừng tỉnh của ý thức về thực tại. Và sự bừng tỉnh đó dẫn đến sự bừng nở trong nghệ thuật. Những năm 1980 là thời gian Ý Nhi viết được nhiều bài thơ hay nhất.
Trong những câu thơ Ý Nhi viết sau chiến tranh vẫn còn đan cài niềm hy vọng xen lẫn với sự phân vân, lưỡng lự, thậm chí hoang mang. Cảm hứng và ngôn ngữ thơ đã có dấu hiện rạn vỡ nhưng chưa mang tâm thức lạc loài, một dấu hiệu  của thế hệ những trí thức trẻ sau chiến tranh:
Đã đóng kín rồi cửa sổ những ngôi nhà
đã xao xác bao vòm đại thụ
ánh sáng cô đơn ngọn đèn ngoài phố
bao con đường vắng bóng người qua
thuyền đã về nép dưới chân đê
lá đã rụng trong vườn cây ngoài cửa. […]
Đêm mùa đông ầm ào tiếng gió
ai hát xa vời lẩn khuất trong mơ
trang sách mở ra khép lại tự bao giờ
những hàn gắn ồn ào
cách chia lặng lẽ
bước chân khua vang
bước âm thầm nức nở
như vẫn còn xao động cuộc đời ta.
(Thư mùa đông)
Những bài thơ viết về biền cát quê hương, về Hải Phòng, Thái Nguyên, sông Trà… bắt đầu mở rộng tầm cảm và tầm nghĩ của nhà thơ. Tứ thơ không còn đi từ ngoại giới vào nội tâm mà là sự phóng chiếu của tâm cảm:
Tôi cách xa nơi này hai mươi năm
thiếu nữ đã là người đàn bà tuổi bốn mươi
cam chịu và cuồng nộ
mong mỏi và buồn nản
đem cho và nhận về
kiếm tìm và đánh mất
giản đơn và rối ren, lớn lao và hạn hẹp
tôi đứng kề bên giới hạn của mình
như đứa trẻ lên mười trong giờ thể thao
đứng run sợ trước con cừu gỗ
nhưng tôi không còn nhiều thời gian cho do dự
không còn nhiều thời gian cho sai lầm
tôi đi trên đoạn đường còn lại
không nguôi quên
nguồn sáng mặt trời chảy như xối qua cánh rừng hai mươi năm cũ.
(Về Thái Nguyên)
Cả một đoạn thơ dài chỉ có câu cuối là họa cảnh, mà là cảnh trong ẩn dụ, còn là tự họa chính mình trong giằng xé của những nghịch lý và đối cực. Và nhà thơ biết từ đây mình sẽ tách khỏi những người cùng thế hệ, một mình đi trên đoạn đường còn lại cho đến hồi kết cục:
Tôi là đứa trẻ muốn kêu to lên để nghe thấy lời mình trong biển
là người đàn bà tìm về kết cục
tôi đang đứng kề bên cái vạch mỏng manh
của thủy chung và phản trắc của tan vỡ và hy vọng của hằn thù
và tha thứ.
(Biển chiều)
Bài thơ Người đàn bà ngồi đan có lẽ ra đời trong mạch thơ đó. Tại sao bài thơ chỉ hơn 20 câu này trở thành một tác phẩm tiêu biểu cho thi ca thời Đổi mới? Phải chăng vì nó không chủ yếu giãi bày, không tuyên ngôn hô hào, không một chiều cảm xúc mà hóa giải những cảm xúc đối nghịch: nhẫn nại và vội vã, đau thương và hạnh phúc, tin tưởng và ngờ vực, hân hoan và lo âu, chán chường và hy vọng. Bài thơ của ngày thường nhưng không chỉ là bức tranh tâm cảnh mà còn là một ứng xử với cuộc đời, vừa như chấp nhận nó, lại vừa như hờ hững đối với nó. Nói theo ngôn ngữ hiện tượng luận, bài thơ này vừa phô bày những chiều kích của tâm hồn, vừa che giấu những niềm hồ nghi, những bí mật không thể đoán định.
Giữa chiều lạnh
một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ
dưới chân chị
cuộn len
như quả cầu xanh
đang lăn
những vòng chậm rãi.
(Người đàn bà ngồi đan)
Trong văn bản công bố lần đầu, câu thơ cuối vốn chỉ có hai dòng: cuộn len như quả cầu xanh/ đang lăn những vòng chậm rãi. Nhờ thay đổi hình thức ngắt nhịp, câu thơ biểu hiện rõ hơn nhịp chậm của thời gian qua vòng quay chậm của cuộn len. Không phải người đàn bà đang ngồi trong buổi chiều, mà chính sự hiện hữu của chị đang làm ra buổi chiều ấy.
Trong các tập Ngày thường, Mưa tuyết, Gương mặt, tác giả ngày càng kín đáo khi phô diễn cái tôi: Lòng chợt ước ao/ một tiếng gõ bất thường/ sau cánh cửa. (Ngày thường 1). Bà gửi lòng mình qua cảm hứng về thân phận của những văn nhân – tinh hoa một thời Hà Nội: Dương Bích Liên, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyên Hồng, Nguyễn Minh Châu… Vì những nhà thơ luôn đồng bệnh với Đan Thiềm, nói theo ngôn ngữ Nguyễn Huy Tưởng, rồi thơ bà sẽ đi xa cả về tâm thức lẫn không gian để khám phá vẻ đẹp của những tài năng và tài hoa trong cờ vua, bóng đá, hội họa, thi ca.
Những năm về sau, dành tâm sức cho truyện ngắn và chân dung văn học, Ý Nhi vẫn không hoàn toàn rời bỏ thơ ca. Dù vậy, nhìn cả quá trình thơ bà, có thể xem Vườn (NXB Văn Học, 1998) như một khúc Coda của sự nghiệp và những bài thơ sau này như vẫn được viết ra dưới bóng mát của Vườn. Sau khi trải qua Dự cảm và Bừng nở, Vườn đánh dấu những ngày tháng Lắng đọng của thơ Ý Nhi. Đây phải chăng là giọng thơ của một người được chứng ngộ? Người đã đi qua những độ đường không cây, những miền viễn xứ tuyết giá, đã thăm dò đời sống qua những trải nghiệm, giờ sẽ tự nghiệm chính mình. Đến cái tuổi không còn bị cám dỗ và ám ảnh của những cuộc phiêu lưu, người ta trở về với một góc vườn, nơi có tán cây và tiếng chim khuyên:
Đôi lần
em nhìn tán cây mà ứa nước mắt
vì màu xanh
Đôi lần
em nghe tiếng chim khuyên mà ứa nước mắt
vì sự trong trẻo
Rồi em khóc vì đốm nắng lan trên vạt cỏ
vì bông hoa trắng như hạt lệ
vì phiến đá dần tan trong ly nước mùa hè
Rồi em nhớ miên man tới bến sông chiều
tới cơn mưa trên mái đầu trần
tới chiếc võng đơn sơ ngoài hiên vắng
lời bản tình ca cầu ước sum vầy.
(Vườn)
Giờ là lúc có thể nhìn lại những quãng đường thơ Ý Nhi đã đi qua. Có cần gọi tên cho thơ bà: thơ lãng mạn, thơ hiện sinh, hay thơ tân cổ điển? Thiết nghĩ, không có tên gọi nào bao quát được cho những chặng đường đó. Chắc chắn bà có chịu ảnh hưởng của những trào lưu thi ca hiện đại. Nhưng đối với thế hệ của bà ở miền Bắc thời đó, Thơ Mới lãng mạn cũng như thơ miền Nam là những điều cấm kỵ, không dễ tiếp nhận. Trong một chiều hướng khác, có lẽ nhờ người cha – giáo sư, nhà nghiên cứu sân khấu Hoàng Châu Ký, người chồng – giáo sư, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Lộc và những năm đại học, mà Ý Nhi có một vốn liếng khá nhuần nhuyễn về thơ ca cổ điển, điều hiếm thấy nơi những nhà thơ cùng thế hệ. Đâu phải ngẫu nhiên mà bà viết được bài thơ mang suy tưởng sâu sắc Nguyễn Du, 1813, biểu hiện nỗi cảm khái của người nghệ sĩ trước những biển dâu, tàn phai và hoang phế:
Nào còn đâu
những lâu đài đồ sộ nghìn xưa
những thành quách tưởng muôn đời bền vững
ta bước giữa những con đường mới
những đền đài mới
lòng kinh sợ
như đứa trẻ đi trong mưa lạc lối
Những bạn bè cũ đã cáo quan
ăn măng trúc măng mai ngồi câu bên sông vắng
làm thơ thưởng hoa
làm thơ vịnh nguyệt
coi cuộc đời như phù vân
Các bạn gái ngày xưa
nay tay dắt tay bồng
vẻ đẹp chóng tàn phai
không ai còn mặc áo màu thiên thanh
không ai còn cài hoa trên tóc
không ai còn hát bài hát cũ.
Ý Nhi ít làm thơ lục bát, thơ năm chữ và tám chữ nhiều hơn, nhưng nhiều nhất là thơ hợp thể và thơ tự do. Bà đưa ngôn ngữ đời sống vào thơ rất tự nhiên:
Sau một mùa đông không hề buốt giá
Hoa loa kèn nhiều và rẻ
Đến nỗi
Tôi không còn muốn cắm hoa như lệ thường.
(Hà Nội, tháng 5.1987)
Đó thực là một câu văn xuôi, nó đã thành thơ nhờ nhịp điệu.
Hẳn nhiên thế hệ đó không phải chỉ có bà muốn vượt thoát ra khỏi vùng từ trường thẩm mỹ của một thời đại. Điều thú vị là, một mặt, dù mang hình thức tự do, thơ Ý Nhi vẫn mang tính cấu trúc trong sự liên kết của những hình ảnh và từ ngữ song song hay đối lập. Mặt khác, tính cấu trúc đó lại trở nên linh hoạt nhờ nhịp điệu luôn biến hóa của thơ. So với văn bản công bố trước đây, trong Tuyển tập này (Ngọn gió qua vườn, NXB Phụ Nữ, 2019), tác giả đã thay đổi nhịp điệu của hầu hết các bài thơ, cả thơ tám chữ lẫn thơ tự do. Hình như bà nhận ra rằng những câu thơ dài, “êm ả” của 20, 30 năm trước không còn thích hợp với nhịp điệu hôm nay.
Khác với Xuân Quỳnh, cảm thức về cá nhân trong thơ Ý Nhi không tuôn chảy dào dạt. Xuân Quỳnh thả cảm xúc ra, đẩy cảm xúc tới, đi hết cõi lòng mình, muốn nói một lần cho tất cả, như linh cảm không còn nhiều dịp để nói nữa. Ý Nhi nén lòng mình lại, luôn giữ một chút gì đó trong lòng, chưa bày tỏ hết. Thơ Ý Nhi không vụ cái mềm mại nữ tính của cảm xúc. Hồ Anh Thái thật tinh tế khi viết: “Dường như lạm dụng cảm xúc là điều gì đó hiếm thấy trong thơ Ý Nhi…”. Nguyễn Đức Tùng thì nói cô đọng mà xác đáng: “Ý Nhi vượt qua chủ nghĩa thương cảm”. Nói theo thuật ngữ của B. Eikhenbaum, thơ Xuân Quỳnh chủ yếu là thơ điệu ngâm, thơ Ý Nhi chủ yếu là thơ điệu nói. Điều đó giải thích vì sao thơ Xuân Quỳnh được Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc rất hay (Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu); còn thơ Ý Nhi thì kén phổ nhạc: bài Trong ánh chớp của phận số không thuộc những ca khúc hay nhất của Phú Quang.
Làm thơ sớm hơn Xuân Quỳnh và Ý Nhi một chút, ở miền Nam, có hai nữ thi sĩ nổi tiếng là Minh Đức Hoài Trinh và Nhã Ca. Thơ điệu ngâm của Minh Đức Hoài Trinh tràn đầy cảm hứng lãng mạn và hiện sinh, bà trở thành đồng tác giả những tình khúc để đời của Phạm Duy (Đừng bỏ em một mình, Kiếp nào có yêu nhau…). Thơ Nhã Ca là thơ điệu nói, hàm súc, triết lý, hầu như chưa có ai phổ nhạc, hay đúng hơn nó không muốn phổ nhạc.
Nếu văn chương là một cuộc hành trình không ngơi nghỉ, thì đối với Ý Nhi, thơ ca là một bến bờ sáng tạo, quan trọng nhất nhưng không phải là duy nhất.
2. Với một người cầm bút, sự tự biểu hiện nhiều khi không đủ để trang trải hết thông điệp muốn gửi đến cuộc đời. Người ta không chỉ muốn tỏ lòng mình mà còn muốn tái hiện trần gian dưới đôi mắt của mình. Thơ dù trút hết gan ruột cũng không làm đủ đầy đời sống trong ngôn ngữ.  Nhà văn xuôi có khi là một nhà thơ không thành đạt, mà cũng có khi là nhà thơ đã thỏa nguyện. Phải chăng Ý Nhi thuộc về trường hợp thứ hai.
Năm 1998, sau mười năm vào sống ổn định ở Sài Gòn, Ý Nhi viết truyện ngắn đầu tiên và năm năm sau, bà in tập truyện ngắn Có gió chuông sẽ reo (NXB Trẻ, 2013). Hình như bà thỏa nguyện với thơ mà chưa thỏa nguyện với văn chương nói chung.
Thật lạ, những nhân vật bà chăm chút nhất bây giờ không phải là những người nữ bà quen thuộc tính nết mà là những người đàn ông trung niên nhiều trải nghiệm trong cuộc đời, giờ nhìn lại đời mình khi đời đã xanh rêu, dù đôi khi họ không giấu được rằng “thực ra họ chỉ là những đứa trẻ”.
Nói Sài Gòn làm cạn nguồn thơ bà, nơi đây đất của văn xuôi và thời của văn xuôi cám dỗ bà, thì không đủ lý. Vì truyện ngắn của bà tuy nói chuyện thời nay nhưng điểm nhìn vẫn thiên về hoài niệm. Nỗi buồn tưởng đã hóa giải trong thơ bà, giờ lại tràn sang văn xuôi. Những ánh mắt thoáng hiện buồn bã. Những nụ cười tỏ mờ buồn bã. Dưới ngòi bút kể chuyện của Ý Nhi, đời chẳng qua là một phòng chờ, chờ ở sân bay, chờ ở bệnh viện hay ở một nhà ga, chờ tàu xuôi hay chờ tàu ngược thì cũng vậy thôi. Những người đàn ông với dáng ngồi cô độc, khổ não; họ ngồi đó chờ cái gì, chờ ai, và biết khi nào gặp?
Đọc Cỏ, Biển, Tiếng chuông, Một giờ sáng… ta bắt gặp mô-típ những cuộc hôn nhân thất bại, khiến ta tự hỏi hạnh phúc có thật hay hạnh phúc chỉ là thoáng chốc, mong manh, tạm thời; khổ đau mới là vĩnh cửu, dài lâu, bất tận? Ngòi bút Ý Nhi nhạy cảm với những cuộc chia tay, những chọn lựa nhầm lẫn, những cuộc tình đã đến hồi khô tạnh, những lừa dối và phản trắc gây tai họa mà không dẫn tới hận thù.
Thơ Ý Nhi viết hay về tuổi trẻ và tình yêu; truyện Ý Nhi viết hay về tuổi già và tình bạn, nhất là khi tình bạn hóa thân thành tình yêu hay tình yêu chỉ còn là tình bạn. Người già trong truyện bà như người đi lạc, lạc loài và lạc lõng trên thế gian này. Một nhân vật của bà đã tự trào: “Mình bây giờ là kẻ đi lạc, chẳng làm sao mà hiểu nổi mọi thứ ở đây, làm cái gì cũng không phải, nghĩ cái gì cũng không đúng, nói như bọn trẻ là chẳng giống ai.” (Mix).
Nhân vật sở trường của Ý Nhi là những con người nhỏ bé không tên tuổi, hay tên chỉ là một mẫu tự, những người đa cảm dễ bị tổn thương, những người trí thức hoang mang và sầu muộn, những nhà thơ trẻ sinh bất phùng thời, những người từng “có một mảnh đạn nằm đâu đó trong cơ thể mình…, không nằm trong đầu mà nằm trong tâm khảm.” (Quán chữ cái). Những khuôn mặt in dấu truân chuyên của họ ứng với những đồ vật đã qua thời gian sử dụng: chiếc đồng hồ, cái điện thoại, chiếc túi du lịch, bộ ấm chén, những cuốn sách cũ…
Niềm vui mà tác giả ban phát hay đền bù cho nhân vật hình như cũng là niềm vui của chính tác giả: thưởng ngoạn những khúc ca hay, những bức tranh đẹp, một trận túc cầu hấp dẫn. Điều đó đủ tiếp sức cho họ kéo lê kiếp sống mệt mỏi này.
Có thể mượn lời của người kể chuyện nói về một nhân vật – nhà văn trong truyện Ý Nhi để nói về chính văn phong của bà: “Người ta gọi những nhân vật của ông là loại nhân vật nhỏ bé, loại nhân vật không tên tuổi, không tiếng tăm, không biến cố. Họ là bất cứ ai trong đám đông ngoài kia. Những mơ ước, những lo âu, những chờ đợi của họ thật bình thường, thậm chí tầm thường. Người ta bảo văn của ông dẫn dụ người đọc như tiếng rì rầm của những cơn mưa nhỏ về đêm. Người ta bảo không thể kể lại câu chuyện của ông nhưng cũng không thể rời bỏ cuốn sách khi đã cầm nó trên tay…” (Món quà).
Như thế, truyện ngắn Ý Nhi có thể xem như thuộc loại hình văn xuôi tâm lý – đời thường. Đó là những tác phẩm mà cốt truyện tan biến trong sinh hoạt và dòng tâm trạng của nhân vật. Nếu văn bản thơ Ý Nhi có nhiều khoảng trống, thì văn bản truyện ngắn của bà đan kết những lời kể, lời độc thoại và đối thoại không đứt đoạn. Những truyện viết về sau (Có người gõ cửa, Con ngựa trên bãi biển, Người đứng bên kia đường…) cho thấy tác giả vận dụng kỹ thuật chồng lắp thực tại và ảo giác, ý thức nhân vật hòa trộn với tiềm thức và vô thức, ám tượng và ám thanh, tưởng tượng và hoang tưởng; văn bản trở thành một bức tranh đan dệt bằng những sợi tơ mỏng manh của hiện thực và phi thực.
3. Sáng tác truyện ngắn, một thể loại văn-xuôi-hư-cấu, không phải là bất ngờ cuối cùng Ý Nhi đem đến cho bạn đọc. Sau Có gió chuông sẽ reo, Ý Nhi lại thử sức với văn-xuôi-phi-hư-cấu qua thể loại chân dung văn học, một thể loại chưa mấy thịnh hành ở nước ta: ít có nhà văn xem việc tái hiện chân dung tinh thần của đồng nghiệp như một niềm hứng thú lớn lao đủ để người ta dồn cả tâm sức vào đó. Điều ấy một phần do khó khăn về  tư liệu, hạn chế về hoàn cảnh, nhưng cái chính vẫn là do quan niệm: người ta ngại chạm vào chỗ riêng tây của cá nhân, ngại phơi bày những điều uẩn khúc trước mắt thiên hạ, ngại những mối quan hệ bình ổn bị sứt mẻ…
Nhà văn viết chân dung văn học đã ít, nhà văn nữ viết thể loại này lại càng hiếm hoi. Không phải là người nữ không nhìn sâu được vào thế giới bên trong của đồng nghiệp – trái lại là đằng khác, nhưng có lẽ vì người nữ vốn cẩn trọng hơn nên vẫn giữ một khoảng cách nhất định trong những ứng xử nghề nghiệp. Ở nước ta, hình như chưa có cây bút nữ nào viết ra những tập chân dung như Những gương mặt – những câu thơ (NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2008) và Kỷ niệm không có mưa (NXB Đà Nẵng, 2018). Trong Từ bến sông Thương của Anh Thơ có hiện ra đời sống và tính cách của một số văn nghệ sĩ, nhưng đó là hồi ký, không phải chân dung văn học. Những tập tiểu luận phê bình của các cây bút nữ tài hoa thường điểm xuyết những nét chân dung của các tác gia đương đại, nhưng đó chủ yếu vẫn thuộc văn phong khoa học.
Ý Nhi viết về số phận và tâm tình của những nhà văn, hoạ sĩ đương đại trong quan hệ với cá tính sáng tạo của họ. Bà không chủ ý nói về cái thời của mình, nhưng những bài viết vẫn có thể quy chiếu về một bối cảnh. Bà cũng không nhằm biểu hiện cái tôi như khi làm thơ, nhưng với tư cách chứng nhân tham dự, bà không thể giấu được cảm xúc của một tâm hồn bè bạn. Đọc những trang miêu tả cảnh Nguyên Hồng lúc nào cũng vội vã, tất bật với cái làn cói buộc trên chiếc xe đạp cũ, cảnh Xuân Diệu lúi húi đếm tiền sau một buổi nói chuyện thơ, cảnh Xuân Quỳnh vừa trao đổi công việc văn chương vừa tranh thủ giặt áo quần ngay ở cái vòi nước của cơ quan, người ta thấy dấu vết của một thời chưa xa lưu lại với biết bao tình thương yêu trong kỷ niệm.
Những ai am hiểu văn học Việt Nam đương đại đều biết Ý Nhi từng nhiều năm liền làm công tác biên tập ở một nhà xuất bản lớn, đã góp phần cho sự ra đời của nhiều tác phẩm giá trị. Nhưng có lẽ ít ai biết rằng bà đã từng có thời gian làm một công việc có thể là rất nhàm chán đối với những người sáng tác, là nghiên cứu – phê bình văn học. Nhưng chính nhờ trải qua công việc có thể thành chỗ sa lầy của một tư chất nghệ sĩ đó mà bà vừa có sự thấu cảm với chuyện bếp núc trong nghề văn, vừa có cái tinh nhạy khi nắm bắt và khắc hoạ những chân dung văn học.
Có phần giống với văn bản thơ, viết về phong cách những người nghệ sĩ, Ý Nhi thường kết hợp những nét đối cực trong một thể thống nhất để làm nổi bật lên cá tính sáng tạo của họ. Bà thấy trong tranh Dương Bích Liên “một thế giới giản dị mà sang trọng, êm ả mà hừng sáng, dịu nhẹ mà huy hoàng. Ông đã lưu lại vẻ đẹp trong ngần từ một đời sống đầy cơ cực, dằn hắt, đau đớn.” (Rời thành phố vào sáng sớm). Dưới mắt bà, Phan Thị Thanh Nhàn “vừa duyên dáng vừa vụng về, vừa sâu sắc vừa nông nổi, vừa chi chút vừa hào phóng. Tất cả những đức tính tưởng như trái ngược ấy đều có nơi Nhàn, tạo nên sức hấp dẫn của Nhàn, một sức hấp dẫn đầy nữ tính.” (Bạn cũ ơi là cũ). Theo Ý Nhi, “thơ Trần Vũ Mai là sự va đập, dồn đẩy giữa niềm vui và nỗi khổ, giữa tin cậy và hồ nghi, giữa hân hoan và cay đắng, giữa hy vọng và tuyệt vọng.” (Tay em lạnh mà không run sợ). Bà hình dung “một Phạm Thị Ngọc Liên vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ, vừa cả tin vừa tự tín, vừa mê đắm vừa sáng suốt, vừa hồn nhiên vừa cay đắng.” (Hình dung về Phạm Thị Ngọc Liên). Bà cắt nghĩa sự lặng lẽ của Tôn Nữ Thu Thuỷ là “sự lặng lẽ giấu kín trong nó những lo âu, đau đớn, những đam mê, khao khát.” (Sự lặng lẽ của Tôn Nữ Thu Thủy). Để có những câu văn đọng lại trong tâm trí người đọc như vậy, người viết phải nhập cảm vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm và “thuộc” tính cách của tác giả.
Hầu như Ý Nhi chỉ viết về những nhà thơ, nhà văn, họa sĩ mà bà quen biết lâu năm, đồng cảm với số phận để có thể tái hiện thần thái và  cái tình từ con người cũng như tác phẩm của họ: Nguyên Hồng, Bùi Giáng, Bùi Xuân Phái, Thái Tuấn, Nguyễn Minh Châu, Trang Thế Hy, Hoàng Trung Thông, Tô Thùy Yên, Chim Trắng… Trước khi được tái hiện trong những bài chân dung này, những đời văn ấy đã từng đi vào thơ và truyện Ý Nhi như những niềm tương ngộ. Họ đã đến với bà không chỉ như những đối tượng để miêu tả mà còn như những nguồn cảm hứng kích thích sự sáng tạo.
Do khuôn khổ của cuốn sách, Tuyển tập này không đưa vào những bài chân dung văn học của tác giả. Nhưng thiết nghĩ, muốn hiểu đời văn Ý Nhi, không thể không khảo sát đóng góp của bà trong lĩnh vực này. Chân dung văn học làm cho đời văn Ý Nhi đa dạng hơn mà lại cho thấy tính nhất quán trên hành trình nghệ thuật: khi cái tôi đi đến cùng con đường của nó, nó sẽ được những cái tôi khác đón chào nơi bến bờ của sáng tạo.
Tài liệu tham khảo:
[1] Lê Thành Nghị (2019), “Bông cúc nhỏ nơi vườn khuya lặng lẽ”, Tạp chí Văn Hiến, tháng 7- 2019.
[2] Ý Nhi (2008), Những gương mặt, những câu thơ, Nxb. Văn Nghệ, Tp. Hồ Chí Minh.
[3] Ý Nhi (2000), Thơ, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.
[4] Ý Nhi (2010), Tuyển tập, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
[5] Ý Nhi (2014), Có gió chuông sẽ reo, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
[6] Ý Nhi (2019), Ngọn gió qua vườn, Nxb Phụ Nữ, Hà Nội.
[7] Lê Hồ Quang (2015), “Thơ Ý Nhi, hành trình trong lặng lẽ”, trong Âm thanh của tưởng tượng, Nxb Đại học Vinh, Tp. Vinh.
[8] Chu Văn Sơn (1987), “Thơ của tâm hồn xao xác giữa ngày yên”, Báo Văn Nghệ số 36, ngày 5-9-1987.
[9] Mai Sơn (2017), “Một vẻ đẹp khác”, trong Sự quyến rũ của chữ, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh.
Chú thích:
(1) Nguyên nghĩa là Con ve sầu, tên một tập thơ của Harry Martinson.
Bài đã đăng Tạp chí Nghiên Cứu Văn Học (Viện Văn học), số 01-2020.
11/3/2020
Huỳnh Như Phương
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ

Thân phận con người
trong thơ Lưu Quang Vũ

Xét trên bình diện phổ quát, thân phận con người cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ cũng là vấn đề thường gặp trong văn chương của nhiều thi nhân mà tên tuổi của họ đã trở nên gắn bó với nền văn hóa dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính… Vấn đề đặt ra ở đây là trong thơ Lưu Quang Vũ  chân dung con người cô đơn được tái hiện như như thế nào?
1. Trong bài thơ Giấc mộng đêm Lưu Quang Vũ với trí tưởng tượng bay bổng của mình đã mơ được gặp Thi hào Nguyễn Du và nghe tiền nhân căn dặn: “Anh chớ ngại con đường gian khổ nhất/ Đau nỗi đau của mỗi trái tim người/ Để thơ anh mang lửa đến cho đời/ Trên chữ “tài”, chữ “tâm” kia phải “lớn”. Thực ra, đây chính là những lời tự vấn đầy trăn trở bật lên từ thẳm sâu tiềm thức của Lưu Quang Vũ – một thi sĩ có trái tim vô cùng nhạy cảm và luôn đau đáu, nồng nàn, da diết những yêu thương với cuộc đời và con người. Suốt một đời cầm bút, sáng tác trên nền tảng tinh thần lấy chữ “tâm” làm điểm tựa cơ bản cho nên dẫu chỉ có mặt trên “cõi tạm” bốn mươi năm ngắn ngủi nhưng Lưu Quang Vũ đã để lại một sự nghiệp văn chương đầy ấn tượng trong đó có sự thành công của thơ ca. Song nếu với kịch – một thể loại mà ngay từ những vở công bố đầu tiên đã khiến tên tuổi của Lưu Quang Vũ tỏa sáng, từ đó ông trở thành kịch gia lừng danh nhất trên văn đàn Việt Nam ở thế kỷ XX thì sự nghiệp thơ ca của Lưu Quang Vũ cũng như số phận của chính tác giả đã chịu nhiều nỗi truân chuyên. Lưu Quang Vũ từng ngậm ngùi chia sẻ: “Hàng vạn người biết đến tên Lưu Quang Vũ nhờ sân khấu, nhưng mình không thích bằng có năm trăm người yêu thơ mình. Mình chỉ mong in được một tập thơ thôi…” (Lưu Quang Vũ, Di cảo, 2018, Nxb.Trẻ, Hà Nội, tr.390). Lời tâm sự chân thành cho thấy đối với Lưu Quang Vũ, thơ mới chính là thể loại mà ông đam mê nhất, nhưng cũng đồng thời hé lộ bi kịch đau đớn của người cầm bút. Song, cùng với năm tháng, vẻ đẹp vĩnh hằng trong thơ Lưu Quang Vũ cũng như bản lĩnh, nhân cách nghệ sĩ với “một trái tim trung thực” của ông ngày càng tỏa sáng. Âu đó cũng là điều tuân theo quy luật mà không cường quyền, bạo lực và sự phi lý nào có thể phủ nhận: nghệ thuật đích thực bao giờ cũng là viên ngọc phát ánh hào quang trong tro bụi thời gian. Những vần thơ cất lên từ trái tim chưa bao giờ yên ổn vì tình yêu thương con người của Lưu Quang Vũ như một liên khúc thanh âm phủ đầy nốt lặng, trầm buồn, vang ngân xuyên thấu thời gian, mãi mãi thắp lên trong tâm thức bạn đọc những nỗi buồn, niềm vui, những sẻ chia đau khổ, hạnh phúc cho con người và vì con người – quan tâm đến thân phận con người với tất cả những vui buồn, được mất, hạnh phúc, khổ đau, vinh quang, cay đắng trong kiếp nhân sinh đầy biến đổi và bất an và đó là một trong những hệ giá trị nhân văn sâu sắc nhất khiến thơ Lưu Quang Vũ có sức cuốn hút, say lòng bạn đọc bao thế hệ.
2. Sinh thời Lưu Quang Vũ mới in được nửa tập thơ, kể từ sau khi nhà thơ đi vào cõi vĩnh hằng cho đến hôm nay, thơ ông đã được xuất bản nhiều lần, tập trung phần lớn ở các tập: Lưu Quang Vũ, Thơ tình, (NXB Văn học, 2002), Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (tuyển thơ, Nxb Hội Nhà văn, H.2010), Di cảo Lưu Quang Vũ, (Lưu Khánh Thơ tuyển soạn, Nxb. Trẻ, H.2018). Đọc thơ Lưu Quang Vũ có thể nhận thấy ngọn gió mang nỗi đau về thân phận con người thổi xuyên suốt thơ ông – đó là ngọn gió “không ngừng lo âu không ngừng phẫn nộ/ bởi vô biên là khát vọng của con người” (Những đám mây ban sớm). Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh khốc liệt, do đó cũng như nhiều người cùng thời, Lưu Quang Vũ nếm trải “ngọn gió dữ của rừng già khắc nghiệt”, chứa chất trong lòng muôn nỗi buồn, sự lo âu và những trăn trở, khát vọng. Nhưng khác nhiều người, Lưu Quang Vũ đã dám sống và dám bộc bạch thật lòng mình. “Bởi như gió, anh phóng túng, tự do. Dám sống đúng mình, dám nghĩ đúng mình. Anh không thể yên ổn trong những cái mực thước, khuôn phép, vừa phải, lừng chừng”. (Phạm Xuân Nguyên, 2014, Nhà văn như Thị Nở, Nxb.Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.248). Khi Lưu Quang Vũ tự hỏi: Anh chẳng mang cho đời những tiệc vui ảo ảnh/ Nỗi buồn chân thành đời chẳng nhận hay sao? (Anh đã mất chi, anh đã được gì?), hoặc chân thành bộc bạch: Tình yêu trong lòng tôi chẳng ích lợi cho ai/ Còn những gì mọi người cần tôi chẳng thiết (Có những lúc) thì cũng chính là thời khắc nhà thơ thấm thía nỗi đau “bị chối bỏ” của thân phận nghệ sĩ, nhận diện rõ hơn giá trị nhân vị, ý nghĩa sự tồn sinh của mỗi cá nhân, sẵn sàng tâm thế đối diện với sự thật nghiệt ngã của cuộc sống vốn tồn tại nhiều điều phi lý. Và tất cả những điều trên là cơ sở để chúng ta suy ngẫm, luận giải vì sao vấn đề thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ lại ám ảnh nhiều nỗi buồn đến thế?! Đó là nỗi buồn về con người – nạn nhân đau khổ bởi chiến tranh; đó là nỗi buồn vì đổ vỡ niềm tin, con người cô đơn, tuyệt vọng; đó là con người mang tâm trạng “lưu đày” ngay chính trên quê hương xứ sở của mình;là nỗi lo âu về sự hữu hạn, mong manh của kiếp người trong dòng chảy vô thủy vô chung của thời gian…Đằng sau nỗi buồn dằng dặc, đầy khắc khoải trong thơ Lưu Quang Vũ về thân phận con người phải chăng tiềm ẩn lớp lớp thông điệp cần được “đọc”, được tiếp tục khám phá bằng tấm lòng “tri âm”, đồng điệu, để từ đó có thể khẳng định tầm tư tưởng nhân văn sâu sắc cũng như tài năng, nhân cách và bản lĩnh của một nhà thơ – nhà văn hóa lớn của dân tộc ở thế kỷ XX đầy biến động.
Đọc thơ Lưu Quang Vũ, có thể nhận thấy đối với nhà thơ chiến tranh quả thực “ không phải trò đùa”. Giữa dàn đồng ca hào hùng, lãng mạn tụng ca khí thế của một thời cả nước lên đường: đường ra trận mùa này đẹp lắm (Phạm Tiến Duật), Súng nhỏ súng to chiến trường chật chội/ Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu (Chính Hữu),  Lưu Quang Vũ riêng mình sớm nhận diện bản chất thực của chiến tranh “giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều/ Rách tan cả những làn sương đẹp phủ” (Gửi một người bạn gái). Trong tâm thức của Lưu Quang Vũ, cho dù ở đâu và bất cứ ở thời đại nào chiến tranh cũng mang gương mặt lạnh lùng, hắc ám của tên đao phủ, là gieo rắc cái chết thương tâm khắp nơi, là sự đổ máu, và những phá hủy tàn khốc cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Ngay trong tập thơ đầu đời Hương cây đã thấy những mất mát bởi chiến tranh đã chi phối âm hưởng buồn man mác trong nhiều bài thơ (Qua sông Thương, Phố huyện, Phủ Lý tháng hai, Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa, Mùa xoài chín, Chia tay), và dòng cảm thức về thân phận con người trong chiến tranh càng ngày càng đậm nét ở những tập thơ sau này của Lưu Quang Vũ như Viết cho em từ cửa biển, Đất nước đàn bầu, Mắt của trời xanh, Những đám mây ban sớm, Những bông hoa không chết.
Như bức họa về chiến tranh phủ đầy gam màu tối u buồn, trong thơ Lưu Quang Vũ hình ảnh con người và cái chết thê thảm vô nghĩa luôn được tô đậm một cách có chủ ý nghệ thuật. Lưu Quang Vũ đã không cường điệu hóa hiện thực, nhà thơ cảm nhận chiến tranh và cái chết bằng cảm xúc rất thật của mình. Cái chết thương tâm được tái hiện cực thực, tỷ mỉ, chi tiết mang đến cho bạn đọc một ấn tượng khó phai mờ, một cảm giác tê điếng, hãi hùng, đau đớn: những người chết trong đêm thân gãy nát/ óc chảy ròng trên gạch/ những người chết cháy đen miệng há mắt mở trừng/ tay chân vặn vẹo thịt xương/ lòng ruột mắc trên dây điện/ phố Khâm Thiên ầm ầm đổ sụp/ tiếng người la khủng khiếp đêm dài/ mặt trời lên trên bãi thây người/ mặt dập vỡ ngực trần thủng hoác/ những đống tóc gân đầu mình lẫn lộn/ những xác tím bầm lạnh buốt sương đêm (Khâm Thiên);  Người chết vùi thân dưới hố bom.(Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh nói về những cuộc chia tay thời loạn); Xác người trôi trên biển sóng xô tan/ huyệt bom tối ầm ào cơn gió hú (Em – tình yêu những năm đau xót và hy vọng); Bao đầu người bêu trên cọc gỗ (Đất nước đàn bầu); Xác gục giữa bùn lầy/ thái dương rỉ máu (Những đám mây ban sớm);  Xác nguỵ nằm ruồi muỗi bâu đầy/ những đôi mắt bệch màu hoa dại/ những gương mặt trẻ măng xanh tái/ những bàn tay đen đủi chai dầy (Cơn bão); Những đứa trẻ con bị giết/ nằm kín hàng hiên / mùi xác chết u ám cả bầu trời (Sông Hồng – năm mẹ sinh em);  Ta có thằng bạn học/ hy sinh chôn dưới nền nhà (Sông Hồng – lời từ giã của Trung đoàn Thủ đô) ; Hùng chết giữa trời cao/ Trong chiếc Mig bị quân thù bắn cháy/ Dù không mở, bọn mình tìm chẳng thấy/ Xương thịt Hùng lẫn với đất nâu (Giấc mộng đêm)… Như vậy, trong thức nhận của Lưu Quang Vũ sự lạnh lùng tàn bạo là một thuộc tính của chiến tranh và vì vậy chiến tranh dù bất luận vì lý do gì đều gieo rắc chết chóc đau thương cho nhân loại, không trừ một ai và lứa tuổi nào, cho dẫu đó có là mẹ già hay em nhỏ trong nôi…chiến tranh giáng xuống số phận con người hậu họa khôn lường, vết thương do chiến tranh để lại trong lòng mỗi người khó có thể hàn gắn được.  Trong lúc nhiều nhà thơ cùng thời vì nhiều lý do khác nhau không nói (hoặc không dám nói) đến cái chết trong thơ mình, hoặc có nói đến thì cũng oai hùng hóa về cái chết thì trong thơ Lưu Quang Vũ, ta bắt gặp nhiều lần ông nhắc đến cái chết.  Cái chết trong thơ Lưu Quang Vũ  như một thảm họa mặc định của chiến tranh, cái chết mang đầy nỗi ưu lo về phận người, trong suy niệm của Lưu Quang Vũ, chiến tranh luôn mang lại đau thương vô hạn cho con người mà cái chết là tận cùng nỗi đau thương đó. Khi vấn đề sự sống và cái chết của con người được đặt lên hàng đầu và trở thành một hệ giá trị nhân văn, có giá trị thức tỉnh nhân loại chấm dứt chiến tranh, hướng đến hòa bình vì hạnh phúc của con người thì thiết nghĩ Lưu Quang Vũ rất xứng đáng được tôn vinh là “đại sứ hòa bình” bởi thơ ông khiến bạn đọc ghê sợ chiến tranh và tội ác, thêm trân quý sự sống, trân quý từng phút giây hiện hữu của mỗi con người.
Chiến tranh không chỉ khiến con người phải chết một cách vô nghĩa mà còn đày đọa con người trong biết bao cảnh đời ly tán, loạn lạc, đói nghèo lam lũ. Đi từ những nỗi đau riêng trong sự nghiệm sinh của chính cuộc đời mình, Lưu Quang Vũ đã đến với nỗi đau chung của phận số con người, của cộng đồng thấm đẫm nỗi niềm xót xa, thương cảm:
Thổi xoã tóc đoàn người chạy giặc/ những dòng người kéo đi xé ruột/ đội chiếu, ôm chăn, đeo làn, vác bọc/ chút gia tài nghèo cực địu trên lưng/ bao gia đình dắt díu chị bồng em/ những quần áo khói bom lấm rách/ những cụ già vịn nhau dò dẫm/ máu ròng ròng trên những chiếc cáng thương(Khâm Thiên); Cả dân tộc cởi trần đứng trên bùn ướt/ Đầu đội mưa bom, tay cầm khẩu súng trường/ Những lòng người chia cắt đến tan hoang/ Những núi rào gai và vỏ đạn/ Đồng bãi hoang liêu, phố phường gạch vụn/ Bao cỏ ngọt bị giày đinh dẫm đạp/ Bao tha ma gò đống ngổn ngang nằm (Những Đám Mây Ban Sớm); Những mặt vàng sốt rét/ Những bộ xương đói khát vật vờ đi (…) con trai chinh chiến liên miên/ Con gái mong chồng, hoá đá (Đất nước đàn bầu);  giải đất tối tăm giải đất nghèo hèn/ chỉ còn những cơn gió lang thang/ chỉ còn cái đói (Sông Hồng – năm mẹ sinh em);
Người mẹ nghèo đầu ô/ chiếc xe nôi trẻ thơ/ lỗ chỗ đầy vết đạn/ chiếc dương cầm nhà ai/ tiếng dây đứt trong đêm chờ giặc (Sông Hồng – lời từ giã của Trung đoàn Thủ đô); Nhưng mãi mãi chẳng bao giờ sống dậy/ những tháng năm đã mất/ những nhịp cầu gẫy gục/ những toa tầu sụp đổ tan hoang (Những đứa trẻ buồn)…
Cuộc sống của con người trong và sau chiến tranh ủ rũ thảm hại! Tất cả còn lại chỉ là đống hoang tàn, đổ nát, đầy tử khí. Con người tồn tại vật vờ giữa cõi dương gian mà tối tăm, mù mịt, nghẹt thở như ở chín tầng địa ngục. Có cái gì như uất nghẹn trong lồng ngực…Cảm xúc thẩm mỹ được đẩy lên đến cao trào, ào ạt, triền miên dồn dập đầy ắp hình ảnh pha trộn giữa ảo và thực… Có cảm giác nhà thơ như đắm đuối chìm trong một cơn ác mộng. Thi giới Lưu Quang Vũ là thi giới của tưởng tượng phong phú, điệp điệp lớp lớp hình ảnh sống dậy từ tiềm thức…Từ góc nhìn tích cực, nhân bản của chủ nghĩa hiện sinh có thể thấy thơ Lưu Quang Vũ đã truyền được sang người đọc nỗi đau đớn tột cùng, niềm day dứt khôn nguôi khi ngẫm về chiến tranh và những điều phi lý của nó đổ xuống những kiếp người bé nhỏ, đáng thương.
Là một người từng tham gia cuộc chiến, hơn ai hết Lưu Quang Vũ thấu hiểu “nỗi buồn chiến tranh” thăm thẳm đến chừng nào. Trong nhiều bài thơ của Lưu Quang Vũ người lính hiện lên trong hình hài là nạn nhân của chiến tranh. Họ không hề thi vị, lãng mạn, kiêu hùng, cũng chẳng hề mang mặt nạ yêu đời, lạc quan. Dù “thắng” hay “thua” họ đều mang gương mặt của kẻ “chiến bại”, cuộc đời chinh chiến của họ phải đánh đổi bằng rất nhiều mất mát, đau thương, thiệt thòi – đây cũng là cảm thức về thân phận con người rất khác biệt của Lưu Quang Vũ so với nhiều nhà thơ khác cùng thời: Cuộc chiến tranh dằng dặc/ rừng đầy muỗi độc/ chiến hào lở loét khói bom/ những đôi giày thủng đầy bùn/ những tấm vải mưa ướt sung/ những con vắt đói chui vào lung/ lá thư nhà đọc mãi đến thuộc lòng/ đêm trắng sương lùa củi tắt/ mộ bạn đá hoang gió lạnh/ chôn bao trìu mến của ta (Những đứa trẻ buồn); Tuổi trẻ, ước mong, những gì quý nhất/ đều trôi qua trong bụi xám chiến hào/ triệu con người lên sống rừng sâu/ khoét núi làm đường chặt cây nhóm lửa/ võng bạt, lán tranh, đất bùn nhầy nhụa/ những đường dây, binh trạm, những sư đoàn / những mô đất con đổi bằng tính mạng trăm người/ bằng pháo kích, lưỡi lê bằng chân tay vật lộn (Cơn bão)… Nhớ không em năm 1954/ mùa hè nóng bỏng như lửa/ lính mũ đỏ rượu say chai vỡ/ lính Bắc Phi nhớ quê ngồi khóc (Năm 1954)… Chúng ta ra đi chiến tranh mùa đông/ Ta kịp biết gì đâu/ Vừa hết trẻ con đã là người lính/ (…)Tuổi trẻ ta đã qua bạn bè ta đã chết/ Ta đã vượt bao đèo cao chót vót/ Bao điều nhà trường chẳng dậy cho ta/ Nghĩ lại giễu cười những giấc mộng tuổi thơ/ Giờ trong ta vui buồn đều nín lặng/ Một thế hệ cứng đi như thỏi sắt (Những bông hoa không chết).
Thơ Lưu Quang Vũ biểu hiện nội tâm tan nát của con người thời loạn, con người khủng hoảng niềm tin, không biết bấu víu vào đâu. Tham gia chiến tranh trong vai trò người lính, phải biền biệt xa gia đình và những người thân yêu, chấp nhận mất mát, hy sinh, đói khát, bệnh tật và những thử thách nghiệt ngã nhất của hoàn cảnh. Song đớn đau nhất của những người lính không phải ở chỗ họ phải chịu gian khổ, cơ cực, mất mát, hy sinh mà là sự day dứt, là lời sám hối vang lên từ sâu thẳm lương tâm khi phải cầm súng xả đạn vào con người, cho dẫu họ là “kẻ thù”, là người bên kia chiến tuyến: Bao phố làng đổ sụp/ cổ nghẹn lòng thù hận/ nhìn bao em bé mồ côi/ mà sao chiều nay/ giết xong quân giặc/ chẳng thấy lòng thảnh thơi nhẹ nhõm/ chỉ nỗi buồn trĩu nặng/ dâng lên như đá trên mồ. (Những đứa trẻ buồn); Mai đây bão táp lùi xa/ những lớp người vĩ đại/ hay chỉ là những thế hệ đáng thương?/ sẽ xuýt xoa thán phục biết ơn/ hay kinh hãi trước bạo tàn bắn giết?(…) Các anh ơi, đừng trách chúng tôi/ các bà mẹ, tha thứ cho chúng tôi/ chúng tôi chẳng thể làm khác được/ quả đồi cháy như một phần quả đất/ bao đời người ta đã giết nhau/ với các anh tôi oán hận gì đâu/ nhưng còn có cách nào khác được (Cơn bão)…Đó là những cảm xúc rất Con Người, rất chân thật, nó cho chúng ta thấy nỗi khổ tâm của người lính tham gia chiến trận khi thức nhận, ngộ ra một bi kịch trên cả bi kịch: muốn sống làm người nhân đạo, tử tế cũng không phải dễ dàng. Chiến tranh với quy luật nghiệt ngã và tính chất khốc liệt của nó buộc con người nhiều khi không còn cách lựa chọn nào khác là phải “nhắm mắt đưa chân” để rồi cuối cùng phải nói lời “xin lỗi về những lầm lẫn dĩ vãng” (Nguyên Sa). Có lẽ bắt nguồn từ chủ nghĩa cảm thương sâu sắc đầy tính nhân bản của người Việt Nam:  nghĩa tử là nghĩa tận. Không ai nỡ đối xử tệ bạc với người đã mất cho dù đó là kẻ thù của mình khi sống, những chia sẻ chân thành của Lưu Quang Vũ là hiện thân sinh động của tư tưởng nhân văn cao đẹp, bắt nguồn từ trong truyền thống đối nhân xử thế vô cùng tốt đẹp của dân tộc. Vì lẽ đó, những giá trị văn hóa này đồng thời cũng thuộc một hệ giá trị tư tưởng, nó cần được khẳng định trong  sự nghiệp thơ của Lưu Quang Vũ.
Xuất phát từ tư tưởng tiến bộ của thời đại Lưu Quang Vũ đã thể hiện khát vọng thiết tha con người hãy đón nhận con người làm bạn. Ở đây hồn thơ Lưu Quang Vũ đã đồng điệu cùng hồn thơ Quang Dũng – một nhà thơ đầy cá tính của thế hệ đi trước. Trong bài thơ mang tên Chabbi Chabbi đối tượng quan tâm của Quang Dũng là người lính bên kia chiến tuyến, là “kẻ thù” của cộng đồng dân tộc. Đi ngược lại với lập trường phân biệt ranh giới địch/ta, cũng như không khí hào hùng của khá nhiều bài thơ kháng chiến đương thời, trong Chabbi Chabbi là sự lắng sâu âm hưởng trầm buồn của nỗi niềm khắc khoải phận người. Qua hình ảnh những người lính Âu Phi – những con người bị bủa vây bởi muôn vàn bi kịch của đời sống: chiến tranh, chia ly, cái chết, nỗi cô độc và sự lãng quên …chúng ta có thể thấy vang lên từ đây tiếng nói phản kháng chiến tranh cùng câu hỏi khẩn thiết: phải làm sao cho nhân loại thoát khỏi nỗi đau và sự mất mát nhiều khi đến phi lý do chiến tranh gây ra? Đằng sau mỗi câu thơ là thông điệp hiện sinh, là tiếng thở dài xót xa cho nhân quần, cho mỗi kiếp người mà đường biên giữa sống/chết, hạnh phúc/bất hạnh thường hiện hữu như sợi tơ mong manh giữa “cõi nhân gian bé tí” (từ dùng của Nguyễn Khải) và hư ảo… Phải chăng ở những nhà thơ có trái tim rộng mở tình yêu thương đối với con người và tư tưởng nhân văn tiến bộ sâu sắc thường gặp nhau ở những điểm chung mà Lưu Quang Vũ và Quang Dũng là những trường hợp không ngoại lệ!
Hàn Mặc Tử từng viết “Người thơ phong vận như thơ ấy”, điều này rất đúng khi xem xét mối quan hệ giữa “thơ” của Lưu Quang Vũ và “phong vận” của thi nhân.  Đọc Lưu Quang Vũ có thể nhận thấy rất rõ thơ đối với ông như một nhu cầu tự thân của thế giới nội tâm. Lưu Quang Vũ làm thơ là để diễn tả tâm trạng và những cảm xúc cao độ mà ông trải nghiệm trong cuộc sống, thơ là phương tiện chủ yếu để “người thơ” bộc bạch nỗi niềm, tình cảm. Dường như có một đại dương tình cảm luôn nồng nàn, sôi sục trong “con người bên trong con người” của Lưu Quang Vũ, chỉ mong được trào ra dữ dội, mong được dâng hiến đến tận cùng. Nhưng hiện thực cuộc sống với muôn mặt tương phản không đơn giản như vậy. Đối diện với nhiều thử thách của cuộc sống, trải nghiệm những vui buồn, hạnh phúc, thất vọng,  khổ đau… Lưu Quang Vũ thức nhận chính mình: Tôi lại là đứa trẻ lang thang/ đi tới bao miền xa lạ / ta đi giữa cỏ hoang và gỗ đá/ giữ trong lòng ngọn thác trắng trào sôi/ một tình yêu không biết nói cùng ai/ đến điên dại đến nghẹn ngào đau đớn/ mặt anh vỡ trong tấm gương thất vọng/ em ơi ngày ấy em đâu?/ hoa cúc xanh tuổi nhỏ chết từ lâu (Em – tình yêu những năm đau xót và hy vọng).
Sự thất vọng và đổ vỡ niềm tin khiến con người dễ rơi vào trạng thái cô đơn. Cảm thức cô đơn, nhiều ưu tư, trăn trở thậm chí có lúc u uất đến “nghẹn ngào đau đớn” cứ trở đi trở lại trong thơ Lưu Quang Vũ như  một trong những cảm hứng chủ đạo chi phối nhiều bài thơ của ông: Ngã tư tháng chạp, Móng tay trên đá, Hoa Tigon, Liên tưởng tháng hai, Mưa dữ dội trên đường phố trên mái nhà, Hoa cẩm chướng trong mưa, Mặt trời trong nước lạnh, Người con giai đến phòng em chiều thu, Em – Tình yêu những năm đau xót và hy vọng, Gửi Hiền mùa đông, Không đề I, Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa,  Lời cuối, Bầy ong trong đêm sâu, Mấy đoạn thơ, Giấc mộng đêm, Nếu đó là tội lỗi, Gửi một người bạn gái…
Xét trên bình diện phổ quát, thân phận con người cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ cũng là vấn đề thường gặp trong văn chương của nhiều thi nhân mà tên tuổi của họ đã trở nên gắn bó với nền văn hóa dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính… Vấn đề đặt ra ở đây là trong thơ Lưu Quang Vũ  chân dung con người cô đơn được tái hiện như như thế nào?
Viết về Lưu Quang Vũ, Lưu Khánh Thơ đã nhận xét: “Bản năng thi sĩ của ông giàu có trong những nỗi buồn, cô đơn, tuyệt vọng” (Lưu Quang Vũ, 2010, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Nxb.Hội Nhà văn , Hà Nội, tr.7)
Quả đúng là như vậy, dường như nỗi buồn, sự cô đơn đã đánh thức tiềm năng sáng tạo của Lưu Quang Vũ. Trái tim nhạy cảm dễ “vỡ” của thi sĩ đã không thể ngủ yên trước “cuộc sống anh không chấp nhận/ mà thương đến xót xa lòng” (Vẫn thơ tình về người đàn bà không có tên II). Đọc Lưu Quang Vũ có thể thấy thi giới ông tràn ngập nỗi cô đơn – cô đơn như “dự phóng sáng tạo” bật lên từ ám ảnh thẳm sâu vô thức. Trạng thái cô đơn được Lưu Quang Vũ phác họa sinh động, đa dạng, phong phú, nhiều cung bậc: Tuổi thơ buồn như một mảnh vườn hoang /Nơi ấp ủ con dế mèn cô độc (Đất nước đàn bầu); Sao tôi lại muốn em tin/ Khi chính tôi cũng chẳng tin ai cả/ Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ/ Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào/ Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao (…) Tôi là người lính cô đơn ở giữa trung đoàn/ Bao lâu rồi vẫn chỉ có thế thôi/ Nỗi cô đơn hoàn toàn cô đơn khủng khiếp/ Trước và sau trong và ngoài cuộc đời và trang sách…. (Mấy đoạn thơ); Cả cuộc đời là ở sân ga/ Trước chuyến đi vô tận/ Cuộc lên đường tối tăm đơn độc/ Người ta chết có một mình/ Đó là điều buồn nhất (Lời cuối); Chẳng có chi phía trước để mong chờ/ Chỉ còn lại một màu hoa gay gắt/ Cái màu hoa cô độc/ Nở âm thầm trong giá buốt heo may (Những đêm hoa vàng); Một nhà ga cô quạnh/ Một người đàn bà ướt lạnh/ Đứng chờ anh (Không đề I); Anh có hẹn đâu, anh chả nói câu nào/ Anh chỉ buồn thôi, em chỉ buồn thôi, ai biết? (Bầy ong trong đêm sâu), Em u buồn em có nhận hay không/ Em gầy như huệ trắng xanh/ Ngọn lửa nhỏ giữa hai vực thẳm/ Em tê dại em âm thầm kiêu hãnh/ Em cô đơn như biển lạ lùng ơi (…)/ Mai em đi mùa hạ cũng qua rồi/ Tôi ở lại một mình trên phố vắng (….) Đêm phòng không tiếng nổ vỡ khắp trời/ Thời đau khổ chung quanh đều đổ nát/ Nỗi cô độc đen ngòm như miệng vực/ Tôi muốn đi tới vách cùng em(…)Tôi tan nát tôi kinh hoàng sợ hãi / Em cô đơn rồ dại của tôi ơi! (Lá thu);  Phải xa em anh chẳng còn gì nữa /Chẳng còn gì, kể cả nỗi cô đơn (Em vắng)…
Chiêm nghiệm, suy ngẫm về văn hóa của nhân loại, chúng ta thấy rất rõ nhiều khi cô đơn không phải là điều đáng sợ, mà còn là điều rất đáng trọng. Cô đơn chỉ đáng sợ khi ta tuyệt tình với vạn vật và mọi người xung quanh, khi chỉ biết sống quay quắt với bản thân mình. Nhưng nếu coi cô đơn là môi trường cần thiết để ta sống thật lòng mình, tìm lại chính mình trong sự thật và sự thiện, để từ đó hứng khởi sáng tạo, trở thành một con người vững chãi thì ta hãy dũng cảm đối diện với sự sô đơn. Sự trốn chạy khỏi nỗi cô đơn là trạng thái tâm lý chỉ làm ta suy yếu, tránh né chính mình, không dám sống trọn vẹn là mình. Lý thuyết hiện sinh đã khẳng định cô đơn là một yếu tính của thân phận con người. Nếu chối bỏ, không thừa nhận sự cô đơn chính là đã vô tình tước bỏ những phẩm tính Người trong mỗi Con Người. Cô đơn như người bạn đồng hành mang đến một sức mạnh nội tâm để thanh luyện tâm tình, hướng tới sự thông giao mầu nhiệm với thế giới xung quanh. Do đó, thực chất của cô đơn là tập trung năng lực để sáng tạo,  cô đơn được coi như một giá trị tinh thần. Những giây phút tĩnh lặng như một điều kiện để an dưỡng tinh thần ; để định tâm và tu tập ; để khám phá bản thân sâu rộng hơn qua những gì mình đã, đang sống và cảm nhận. Chiêm nghiệm thơ Lưu Quang Vũ chúng ta thấy vấn đề con người cô đơn không nằm ngoài những giá trị nhân văn trên. Đề tài về sự cô đơn trống vắng cũng là một đề tài thường gặp trong thơ của nhiều thi nhân mang tầm vóc nhân loại như Puskin, Lecsmantop, Exinhin, Onga Becgon… Thơ Lưu Quang Vũ không nằm ngoài quỹ đạo của tư duy thơ mang tính phổ quát toàn nhân loại. Do vậy, sự hiện hữu cái Tôi cô đơn bản thể trong thơ Lưu Quang Vũ là giá trị chứng tỏ tư duy thơ của ông đã bắt kịp với dòng chảy của tư duy thơ nhân loại.
Một trong những ám ảnh sâu sắc trong thơ Lưu Quang Vũ là bi kịch thân phận nghệ sĩ cô đơn.  Lưu Quang Vũ là nhà thơ luôn nhận thức và khám phá chính bản thể mình. Đọc thơ ông chúng ta thấy thân phận con người nghệ sĩ của chính ông.  Lý do cơ bản khiến thơ Lưu Quang Vũ xuất hiện bi kịch thân phận nghệ sĩ cô đơn là bởi nhà thơ với tất cả trách nhiệm và sự trân quý cuộc sống đã không thừa nhận sự tồn tại của những điều phi lý, phi nhân văn đang diễn ra trong cuộc sống.
Trong quan niệm của Lưu Quang Vũ, những mất mát mà con người phải chịu trong chiến tranh là phi lý: Đêm chiến tranh/ Thành phố không đèn/ Má em tựa vào tay anh gầy guộc/ Tóc em trắng trong cơn mơ thảng thốt/ Chúng mình chẳng nhận ra nhau/ Đứng giữa hai ta là những người đã chết/ Bóng họ che đen sì cả mặt/ Những vết thương rách nát/ Những nụ cười từ lâu đã tắt/ Như tuổi trẻ sớm tàn trong cơ cực của ta (…) Những khổ đau dằng dặc/ Những tai ương đang diễn ra khủng khiếp/ Có chút gì nghĩa lý hay không? (…) Có ai nghe lời nói thật của ta đâu/ Đêm tối quá không tìm nhau được nữa.” (Mặt trời trong nước lạnh); Sự thật phũ phàng, bạc bẽo, không gian tối tăm bóp nghẹt cuộc sống là phi lý: Khi người ta mặc cả máu người/ thay tình nghĩa như thay áo lót/ khi chung quanh ngổn ngang xác chết (…)  thù hận mênh mông mặt đất bùn lầy/ em chập chờn đi trên đổ nát/ thành phố bờ đá dựng/ những bánh xe lăn vỡ/ những hầm hố những nhành hoang huyệt mả (…) bầy ruồi chết ngạt trong tủ kính/ những mặt nạ khóc ròng trong rạp xiếc (Em III), sự phi lý có lúc nằm trong Cuộc đời như một mụ già dâm đãng/ Một núi giây thừng bẩn thỉu rối ren (Có những lúc)…Nhà thơ không dung nạp, không thỏa thuận sự phi lý, ông viết về sự phi lý để bày tỏ thái độ phản kháng lại sự phi lý. Nhưng làm sao hết được sự phi lý, bất công khi cuộc sống vẫn cuồn cuộn chảy theo quy luật. Bản thân Lưu Quang Vũ đã từng bộc bạch: Đã có lần tôi muốn nguôi yên/ Khép cánh cửa lòng mình cho gió lặng/ Nhưng vô ích làm sao quên được/ Những yêu thương khao khát của đời tôi. (Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi). Dẫu biết rằng mình “lực bất tòng tâm”, muốn an phận cho bình yên cuộc sống riêng mình nhưng cuối cùng trái tim nghệ sĩ với tình yêu tha thiết với con người và cuộc đời vẫn khiến ông tiếp tục vượt lên trên những mệt mỏi, hoài nghi để suy tư, trăn trở, yêu thương, khát vọng, sống và viết… Nhưng càng hướng đến lý tưởng sống bao nhiêu, thi nhân lại càng thất vọng bấy nhiêu, và càng thất vọng  thì con thuyền cô đơn càng đẩy ông xa bờ…cứ như thế, một nghịch lý luẩn quẩn, bế tắc không gì có thể giải tỏa đã khiến nhà thơ rơi vào trạng thái tuyệt vọng:  Anh muốn ác mà không sao ác được/ cứ yêu thương chờ đợi ích gì không? (Em III), Giờ khắp nơi những tấm gương trong/ Đã vỡ vụn sau dập vùi bom đạn/ Người con giai yêu em/ Đã chết ngoài mặt trận (Gửi Hiền mùa đông), Mông lung không đoán được ngày mai/ Máu chảy thành sông thây chất núi/ Bè bạn tan hoang mình rã rời (Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời loạn); Gã đàn ông quầng mắt tối đen/ Trong cuốn sách buồn/ Nói với tôi lời buồn bã: Con người chỉ là ống sậy cô đơn/ Trái đất giữa không trung/ Như một giọt nước mắt (….) Nỗi cô đơn tuyệt vọng… (Hoa cẩm chướng trong mưa;  Có những lúc tâm hồn tôi rách nát/ Như một chiếc lá khô như một chồng gạch vụn/ Một tấm gương chẳng biết soi gì/ Một đáy giếng cạn không một hốc mắt đen sì/ Trời chật chội như chiếc lồng trống rỗng (Có những lúc); Tôi mua hai hào thuốc lá/ ngồi hút mà buồn thiu/ cuộc đời chẳng ra làm sao/ có đáng cho mình đau đớn? (Ngã tư tháng chạp); Thôi chẳng chờ mong nữa/ Chẳng đua chen với cuộc đời này/ Xin chối từ cái bàn tiệc đắng cay/ Lòng tốt ai cần dùng đến/ Thơ không đâu dùng/ Anh như thằng Bờm/ Chẳng thiết trâu bò chẳng thiết lim/ chỉ nhận nắm xôi cười ngặt nghẽo (Ngã tư tháng chạp).
Thông thường, khi nỗi cô đơn đã chạm đến bến bờ của tuyệt vọng thì mọi hiện hữu cũng trở thành vô nghĩa;  Song,ở Lưu Quang Vũ,  ngay trong sự tuyệt vọng nhất của thi nhân người đọc vẫn thấy thơ ông tha thiết hướng về tình yêu thương con người và cuộc sống, bởi vì  khi tuyệt vọng được chưng cất thành thơ đồng nghĩa với việc nhà thơ đã bất tử hóa cuộc sống, truyền vào nó một giá trị mỹ cảm, mang lại niềm tin cho con người. Phải chăng nhà thơ muốn gửi đến chúng ta thông điệp cho dù dư vị của nó thế nào cuộc sống vẫn rất xứng đáng để con người yêu quý, nâng niu, trân trọng: Dù tiếng tôi chỉ một người nghe/ Tôi phải đốt lên một cái gì/ Cho sáng rực giữa chênh vênh vực thẳm/ Dẫu bao lần người làm tôi thất vọng/ Tôi vẫn yêu người lắm lắm người ơi/ Tình yêu tôi như một tiếng chuông dài…(Có những lúc) . Chính vì vậy, dẫu đơn độc đến tột cùng, thi nhân vẫn kiên cường theo đuổi giấc mơ: Tôi thức suốt trong nỗi buồn của đất/ Tôi nguyên chất tôi đi tìm đôi cánh/ Để cuối cùng gặp được biển khơi/ Mặn xé lòng là muối biển đấy thôi/ Lên ghềnh đá chênh vênh tôi viết/ Những dòng chữ không sóng nào xoá được/ Những dòng chữ như móng tay day dứt/ Trên vỏ dưa xanh thắm của mùa hè/ Cho kẻ không nhà mái lá chở che( Móng tay trên đá); Dù con người là cô đơn/ Các ác là dày đặc/ mỗi bài thơ của chúng ta/ phải như một ô cửa/ mở tới tình yêu (liên tưởng tháng hai). Tinh thần trên cho thấy  bản lĩnh nghệ sĩ cao cường của Lưu Quang Vũ- một bản lĩnh mà nếu không có một sự nghiệm sinh bền bỉ, một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và một trí tuệ mẫn tiệp thì không bao giờ đạt được.
Đặc biệt cảm thức về thân phận cô đơn của người nghệ sĩ được thể hiện sâu sắc trong bài thơ Nếu đó là tội lỗi: Một con người không phải chỉ là một cái tên trong hộ khẩu/ Một con tốt trong bàn cờ/ Một viên gạch một cái đinh/ Để treo biển hàng và đặt ghế/ Con người chưa được làm người/ Bao lệnh cấm đang đè lên thế giới/ Cấm yêu thương cấm khát vọng cấm tự do/ Bao con chim bị nhốt ở trong tù/ Bao giải băng đen che kín mắt/ Khi bè bạn gặp nhau có người theo dõi/ Thầm thì không dám nói to. Ý thức về nhân vị của người cầm bút, tư tưởng muốn phá bỏ những rào cản phi lý để người nghệ sĩ được cất tiếng nói thành thật với lòng mình, được tự do bay bổng trong bầu trời sáng tạo nghệ thuật – đó là khát vọng chưa bao giờ nguôi ngoai của nhà thơ Lưu Quang Vũ.
Bi kịch: Khi những bài thơ anh viết ra/ Chỉ một mình anh đọc là sự phi lý đến khó hiểu, là nỗi đau đớn “bị ruồng bỏ” không chỉ của riêng nhà thơ, đó là nỗi nhức nhối chung của những người cầm bút coi văn chương là lẽ sống của đời mình. Sở dĩ lúc đương thời thi sĩ đã không thể cho ra mắt bạn đọc được một tập thơ theo tâm nguyện là bởi sự “dấn thân” lựa chọn con đường đi khác biệt đã khiến thơ ông trở nên “lạc điệu” trong dàn “đồng ca” thơ của một thời đất nước chìm trong chiến tranh, tao loạn. Chính sự khác biệt, độc đáo của tư duy thơ đã mang đến “hệ lụy” cho thơ  Lưu Quang Vũ, để rồi cũng như nhiều nghệ sĩ chân chính khác dám “lội ngược dòng” đã đi vào cõi bất tử, Lưu Quang Vũ cũng đã thực sự cô độc trên hành trình thơ của mình. Nhưng cuối cùng, đúng như nhà thơ đã khẳng định: Không sợ ngục tù bạo lực/ Dù khổ sở dù phiền hà/ Thơ không bao giờ câm lặng/ Như nhịp đập của trái tim trung thực/ Là nhân chứng của anh/ Là ngọn lửa trắng trong/ Trên lịch sử tối tăm trên tro bụi (Nếu đó là tội lỗi).
3. Có thể nói, trước khi trở thành một nhà viết kịch lừng danh ở những năm 80 của thế kỷ XX thì Lưu Quang Vũ đã là một nhà thơ hiện hữu trên thi đàn với một phong cách riêng, độc đáo và giàu cá tính sáng tạo. Thơ Lưu Quang Vũ từ khi mới xuất hiện đã thể hiện một cách nhìn mới, một cách nghĩ mới, một thi pháp mới khác với bầu khí quyển của thơ ca đương thời. Vũ trụ thi ca của Lưu Quang Vũ, vì thế là vũ trụ thi ca của một thi giới riêng thấm đẫm vị nhân sinh với những day dứt, băn khoăn và khắc khoải về thân phận con người. Trước đây, bởi giới hạn của hệ hình tư duy ấu trĩ một thời, đọc những bài thơ khác lạ, không mang “âm hưởng hào hùng” người ta thường nghĩ thơ Lưu Quang Vũ gieo rắc nỗi buồn đau bi lụy. Nhưng với độ lùi thời gian, hôm nay chiêm nghiệm những vần thơ Lưu Quang Vũ để lại, chúng ta cảm nhận rất rõ nỗi buồn thương, chia sẻ sâu sắc về thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ mãi mãi như một điểm tựa tinh thần quý giá đồng hành cùng độc giả trên hành trình cuộc sống đầy trắc ẩn. Câu nói của André Maurois: “Nghệ thuật là thứ chống lại định mệnh” quả thật luôn có ý nghĩa với trường hợp Lưu Quang Vũ. Dẫu định mệnh nghiệt ngã với số phận của một thiên tài nhưng sự nghiệp thơ ca đầy ấn tượng của ông đã, đang và sẽ thắp lửa trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ; Tấm lòng bao dung vị tha và tình yêu Con Người tha thiết, nồng nàn, trong sáng, tinh khôi như pha lê của Lưu Quang Vũ sẽ tiếp tục được nối dài thêm đến vô cùng; và điều đó như một sự chia sẻ, tri âm sâu sắc cùng thi sĩ với khát vọng nhân văn ông nhắn gửi mai sau: Bao bài ca xáo trộn trong tôi/ Có tiếng khóc của con chim gẫy cánh/ Tiếng đau rên của ngôi nhà đổ sập/ Tiếng con thuyền không về được bờ quen/ Tiếng mưa rơi trên ngọn cỏ yếu mềm/ … (Tôi chẳng muốn kỷ niệm về tôi là một điệu hát buồn).
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Thái Đỉnh (2008), Triết học hiện sinh, Nxb.Văn học, Hà Nội
2. Phạm Xuân Nguyên (2014), Nhà văn như là Thị Nở, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.
3. Nguyễn Bá Thành (2015), Toàn cảnh thơ Việt Nam, Nxb.Đại học Quốc gia, Hà Nội.
4. Lưu Quang Vũ(2002), Thơ tình, Nxb. Văn học, Hà Nội.
5. Lưu Quang Vũ (2002), Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (tuyển thơ, Nxb Hội Nhà văn, H.2010), Di cảo Lưu Quang Vũ, (Lưu Khánh Thơ tuyển soạn, Nxb. Trẻ, H.2018) Lưu Quang Vũ (2018), Di cảo, Nxb. Trẻ, Hà Nội
6. Jean Paul Sartre (2016), Thuyết hiên sinh là một thuyết nhân bản, Nxb. Tri thức, Hà Nội.
12/3/2020
Cao Thị Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nguyễn Văn Vĩnh và những bài báo về thiết chế làng xã

Nguyễn Văn Vĩnh và những bài
báo về thiết chế làng xã

Trong những gương mặt trí thức tiêu biểu giai đoạn đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam như Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh,… nếu xét riêng về những đóng góp trong lĩnh vực phát triển chữ quốc ngữ vào buổi đầu, người ta nhắc nhiều tới học giả Nguyễn Văn Vĩnh.
Cuốn sách đầu tiên
Nhắc tới Nguyễn Văn Vĩnh, nhiều thế hệ độc giả lớp trước hẳn sẽ nhớ tới những tác phẩm dịch thuật tiêu biểu từ tiếng Pháp của ông như Tuyển tập những bài thơ ngụ ngôn của La-phông-ten, Những kẻ khốn nạn của Vích-to Huy-gô và Ba chàng ngự lâm pháo thủ của Alếchxanđrơ Đuy-ma (cha). Trong cuộc đời mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã làm chủ bút tới 7 tờ báo, nhưng có một điều đáng chú ý, cho tới giờ, vẫn chưa có bất cứ một cuốn sách nào giúp độc giả hôm nay tiếp cận với hệ thống trước tác của ông. Theo thống kê của ông Nguyễn Lân Bình, cháu nội của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, trong đời mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết tới 2500 bài báo, riêng trong tờ Nước Nam mới, tờ báo tiếng Pháp và cũng là tờ báo cuối cùng Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút, ông đã viết tới 500 bài. Theo nhiều ý kiến đánh giá của các chuyên gia tiếng Pháp và của cả chính người Pháp, những bài báo đó đã được Nguyễn Văn Vĩnh viết bằng một thứ tiếng Pháp hết sức điêu luyện và giàu tính nghệ thuật.
Thực trạng tồn tại nhiều ý kiến đánh giá không thống nhất và đôi khi hàm chứa nhiều cảm tính về trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh đã là động lực thôi thúc ông Nguyễn Lân Bình quyết tâm tổ chức biên soạn bản thảo cho các cuốn sách in lại toàn bộ trước tác của Nguyễn Văn Vĩnh. Theo dự kiến ông Bình chia sẻ, sẽ có khoảng 9 tập sách với các chủ đề khác nhau mà lúc sinh thời, học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã bàn bạc khá kỹ lưỡng như: thiết chế làng xã, phụ nữ, in ấn – xuất bản, văn hóa, phong tục tập quán, giáo dục, v.v… Với tập sách đầu tiên, đã hoàn thành bản thảo và có giấy phép xuất bản, dự kiến ra mắt độc giả vào tháng 7 tới, ông Nguyễn Lân Bình đặt cho nó tên gọi Lời của người man di hiện đại. Đây chính là cuốn sách tập hợp 26 bài viết liên tục của học giả Nguyễn Văn Vĩnh trên báo Nước Nam mới bàn về các vấn đề liên quan tới thiết chế làng xã.
Viết báo để người Pháp hiểu văn hóa Việt
Năm 1921, Nguyễn Văn Vĩnh nhận làm chánh hương hội danh dự cho ngôi làng vốn là quê hương ông, làng Thượng Dực, phủ Hà Đông, trước là huyện Thường Tín, bây giờ là Phú Xuyên, Hà Nội. Ở vị trí này, cộng với óc quan sát và vốn tri thức, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết một loạt bài bàn về những vấn đề liên quan tới thiết chế làng xã. Nhiều nhà nghiên cứu khi đọc những bài viết này đã cho rằng, Nguyễn Văn Vĩnh có tư tưởng chống đối thực dân Pháp, nhưng lại cũng có ý kiến đề xuất hướng suy nghĩ khác. Chẳng hạn, dịch giả Trịnh Lữ, người đã từng say mê các bản dịch từ Pháp văn sang Việt văn của học giả Nguyễn Văn Vĩnh cho rằng, mục đích của cụ Vĩnh khi viết những bài báo đó cốt là muốn những người Pháp đang nắm quyền cai trị tại các làng xã Việt Nam cần phải hiểu văn hóa làng xã, thiết chế làng xã, để từ đó không can thiệp hay làm phá vỡ những giá trị vô cùng tốt đẹp mà phải mất hàng ngàn năm người Việt mới gây dựng được.
Chẳng hạn trong bài đầu tiên, ông lý giải thế nào được gọi là một cái làng. Ông giải thích rất rõ “làng” trong tiếng Tây là thế nào, dưới làng là gì, giới hạn một làng là như thế nào, hết làng thì đến xóm, dưới xóm là ngõ. Ông cũng phân tích luôn về những quy định chia cắt địa lý đó ở một cái làng vào thời điểm lịch sử tương ứng của Việt Nam. Không chỉ vậy, Nguyễn Văn Vĩnh còn chỉ ra, với một cái làng, ngoài việc được phân chia về địa lý, còn có những định chế riêng về quản lý hành chính. Khi đề cập tới chuyện này, Nguyễn Văn Vĩnh lên án chính quyền thuộc địa. Ông cho rằng, việc có những hương, lý, kỳ, mục, kỳ hào, đinh tuần như ở làng xã Việt Nam thời đó đã có từ thời nhà Chu. Nhưng khi người Pháp có mặt ở Việt Nam, để thuận lợi cho việc cai trị, họ đã làm hỏng hoàn toàn hệ thống quản lý hành chính này. Từ đó, người Pháp đã đẩy rất nhiều người nông dân muốn tìm đến vị trí quản lý hành chính ở làng xã, đầu tiên là vì danh (mà bản chất người nông dân là rất háo danh), sau đó đi đến chỗ kèn cựa (mà bản chất của người nông dân là nhỏ nhen, do điều kiện, phương thức tồn tại của họ) đã làm hỏng hoàn toàn ý nghĩa đích thực của bộ máy quản lý hành chính. Không chỉ thế, trong phần này, học giả Nguyễn Văn Vĩnh còn chỉ ra rất rõ cách tổ chức và phân bổ quyền lợi ra sao đối với hệ thống hương lý, đinh tuần. Chẳng hạn, trong một làng, nếu có 100 mẫu ruộng thì 100 mẫu đó được phân chia cho canh tác như thế nào. Bao nhiêu mẫu cho nhà chùa, bao nhiêu mẫu cho hoạt động cộng đồng, bao nhiêu mẫu cho hệ thống an ninh (tức là đinh tuần), bao nhiêu mẫu mà sản lượng của nó để nuôi bộ máy hành chính chứ không hề có lương của nhà nước. Và cụ Nguyễn Văn Vĩnh có giải thích, để chia được các khoản tài chính đó, người ta dựa vào nguyên tắc nào. Tuy nhiên, đó là những gì diễn ra trước khi người Pháp vào Việt Nam. Còn khi người Pháp có mặt, họ đã làm hỏng điều này.
Quan sát cách người Pháp nhìn nhận và đánh giá về làng ở Việt Nam, học giả Nguyễn Văn Vĩnh cũng nhận ra những điểm cần phải làm rõ. Chẳng hạn, ông thấy khi người Pháp nhìn thấy một ngôi chùa trong làng thì họ cho rằng làng đó theo đạo Phật, hay khi thấy ngôi đình thì lại kết luận làng đó theo đạo Khổng. Rồi khi thấy có nhà thờ thì người Pháp lại khẳng định làng đó theo Công giáo. Ông cho rằng, người Pháp sẽ cảm thấy vô cùng hoang mang khi chứng kiến, có những làng sẽ có tất cả những hạng mục công trình tín ngưỡng như chùa, đình và nhà thờ. Bởi họ không hiểu một điều, theo cụ Vĩnh xác định, tôn giáo ngàn đời truyền thống của người Việt Nam là đạo thờ tổ tiên. Nhưng trong phong cách thờ tổ tiên của người Việt, có nhiều phương thức, vô tình lại trùng hợp với tín ngưỡng của Phật giáo, vì thế, người ta bảo rằng, người Việt Nam theo đạo Phật.
Tư tưởng vượt thời đại
Gần 100 năm trước, Nguyễn Văn Vĩnh, trong những bài báo của mình, đã  lưu ý tới vấn đề nhập cư. Điều này thể hiện rất rõ trong các quy định chia ruộng căn cứ theo đầu người và định ra các suất đất canh tác. Chẳng hạn, nếu ai đó ở nơi khác vì thấy điều kiện canh tác ở làng này tốt hơn chỗ mình, có thể xin làm dân ngụ cư. Nếu làng đó đồng ý, họ sẽ cấp đất cho người này trồng trọt, nhưng người đó sẽ phải đóng thuế cao hơn so với những người có khẩu trong làng. Cũng từ đó, cụ Vĩnh chỉ ra tình trạng lạm dụng quyền lực của những người nắm giữ vận mệnh dân làng và cả thói tinh ranh, ma quái của những người nhập cư đã làm hỏng đi rất nhiều đặc điểm tốt đẹp trong phương thức tồn tại của một cái làng.
Ngày hôm nay, trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, chúng ta đang đau đầu trước rất nhiều vấn đề nảy sinh của công cuộc đô thị hóa. Nhưng ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, trong các bài viết về làng xã của mình, cụ Nguyễn Văn Vĩnh đã chạm tới vấn đề đô thị hóa. Cụ phân tích rõ về tác động của vấn đề này tới đời sống nông thôn ra sao. Theo học giả Nguyễn Văn Vĩnh, bản chất của người nông dân vốn rất ngại làm ruộng. Do đó, ngay khi có hơi hướng của sự đô thị hóa, lập tức sẽ rất nhiều người nghĩ tới chuyện đi làm công nhân. Họ sẵn sàng làm thuê cho những người ở nơi khác đến chỉ để thoát khỏi cảnh con trâu đi trước cái cày theo sau. Học giả Nguyễn Văn Vĩnh khẳng định, tất cả những nghiên cứu của ông viết trong thời gian đó đều phục vụ một mục đích duy nhất, cụ mong muốn, nhà cầm quyền (tức chính quyền thực dân) hãy mở to mắt lên để nhìn vào thực tế của nông thôn Việt Nam. Từ đó, hãy bỏ đi những áp đặt mang tính cứng nhắc với các quy định đặt ra cho người nông dân, để không chỉ giữ lại bản sắc của người nông dân Việt Nam, mà còn tránh đi những khủng hoảng và đổ vỡ về sau.
Cái nhìn phương pháp luận
Ngoài 26 bài bàn về thiết chế làng xã, ông Nguyễn Lân Bình còn đưa thêm 3 bài khác, trong đó, cụ Nguyễn Văn Vĩnh lý giải một hiện tượng rất thú vị. Đó là chuyện, ở những vùng quê cấy được lúa mùa, phụ nữ đẹp hơn những vùng chỉ cấy được lúa chiêm. Đồng chiêm theo cách gọi của người nông dân là đồng trũng. Theo học giả, ở những vùng cấy được lúa mùa thì vụ mùa là vụ chính. Tới dịp Tết, tiết trời lạnh, hiếm mưa, khan nước, người nông dân vùng này không phải chịu cảnh lội ruộng khổ sở cấy lúa. Vì lẽ ấy, họ ăn và chơi Tết thảnh thơi hơn rất nhiều so với người nông dân vùng đồng chiêm trũng. Cũng từ đây mới nảy sinh ra thói quen đã đi vào ca dao, dân ca: “Tháng giêng là tháng ăn chơi – Tháng hai cờ bạc tháng ba rượu chè”. Nhưng hẳn nhiên người dân đồng chiêm không thể bắt chước được người dân vùng cấy lúa mùa. Vì dù họ có làm lụng cực nhọc, vất vả hơn rất nhiều thì sản lượng thu về cũng không thể bằng đồng mùa. Chính vì sự khó nhọc của khí hậu và địa lý đó mà phụ nữ ở đồng chiêm thường xấu và cũng ít tài lẻ hơn phụ nữ ở đồng mùa. Và cũng nhờ cái sự thư thả của đồng áng mà theo cụ Nguyễn Văn Vĩnh, phụ nữ ở đồng mùa cũng thích những chuyện cầu cúng, hội hè như lên đồng, đi chùa, đi hội hơn.
Chưa hết, cũng ở 3 bài này, học giả Nguyễn Văn Vĩnh còn bàn về cách thực hiện hoạt động tài chính rất độc đáo của người tiểu thương Việt Nam. Cụ so sánh việc này với hệ thống tài chính của người Pháp để xét sự giống và khác giữa chúng. Cụ giải thích rất cụ thể chuyện lập bát họ, chơi họ, những điều kiện cần đảm bảo khi lập bát họ là gì, ai là người được cầm cái của bát họ, cách gọi những thành viên tham gia bát họ là như thế nào, mức độ đóng góp của mỗi người bao nhiêu, việc chiết khấu trong mỗi bát họ được thực hiện ra sao, trong trường hợp bát họ bị vỡ, việc hoàn trả lại tiền cho người chơi cần làm thế nào, v.v… Từ việc chỉ ra cụ thể những điều đó, cụ so sánh việc chơi họ của tiểu thương người Việt với hệ thống tài chính của các nước phương Tây và kết luận, lối kiếm tiền của những người chơi họ ở nông thôn Việt Nam không thua kém gì về mặt lợi ích, tức khả năng sinh sôi lợi nhuận của đồng tiền, nhưng lại rất phù hợp với điều kiện sinh hoạt, lối sống, phong tục tập quán của người Việt Nam. Không những thế, cụ Vĩnh còn chỉ ra sự vận dụng một cách áp đặt và cứng nhắc của bộ máy hành xử pháp chế mà người Pháp đem vào Việt Nam khi xử lý một vụ kiện tụng liên quan tới chuyện vỡ bát họ.
Với những quan sát và phân tích sắc sảo, mang tính phương pháp luận về các vấn đề liên quan tới thiết chế làng xã ở Việt Nam ở đầu thế kỷ 20, giai đoạn nước ta đang nằm trong ách cai trị của chính quyền thực dân Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh đã khẳng định những giá trị đặc sắc về mặt tổ chức rất quan trọng trong ngôi làng Việt, đơn vị hành chính có tính cốt lõi của xã hội Việt Nam truyền thống. Đặt trong bối cảnh hôm nay, không thể phủ nhận, đó là những tư tưởng mang tầm thời đại. Và theo chúng tôi, có không ít những giá trị trong các tư liệu trước tác của Nguyễn Văn Vĩnh sẽ cần được tìm hiểu kỹ lưỡng, để không chỉ đánh giá về ông công bằng hơn, mà còn góp phần gợi mở trong việc tổ chức quản lý của đời sống cộng đồng hôm nay.
14/3/2020
Dương Kim Thoa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Trịnh Công Sơn và khát vọng hòa bình

Trịnh Công Sơn
và khát vọng hòa bình

Chẳng phải nỗi buồn chiến tranh và niềm mong mỏi hòa bình da diết trong những Trịnh Khúc kia đã có sức lay động mãnh liệt đến cõi lòng một người từng đi qua chiến tranh… và lan tỏa trong tâm hồn tôi, níu giữ trái tim tôi từ thời thơ bé?
Tôi nghe nhạc Trịnh từ nhỏ – những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ trước. Hồi ấy phương tiện nghe nhìn còn thô sơ, thiếu thốn lắm chứ không phải như bậy giờ. Tôi hay sang nhà ông cậu họ, nghe ké Khánh Ly hát Ca khúc da vàng qua chiếc cassette cũ. Nghe để có cái mà nghe giữa cái thời mà đối với bọn trẻ con nông thôn chúng tôi, âm nhạc hãy còn là một cái gì xa xỉ lắm chứ chẳng phải vì hiểu biết hay tâm đắc gì.
Ông cậu tôi vốn là sinh viên ở Sài Gòn trước năm 1975, một người trí thức từng kinh qua chiến tranh mà cho đến tận bây giờ dư chấn của cuộc chiến thảm khốc ấy chừng như vẫn còn nặng trĩu trong tâm trí cậu, hiện hữu trong một ánh mắt buồn xa xăm. Tôi để ý thấy mỗi lần nghe nhạc Trịnh, cậu hay nằm vắt tay lên trán, vẻ mặt trầm tư, thỉnh thoảng lại buông ra một tiếng thở dài, mắt ngân ngấn nước. Tuổi thơ “như đá ngây ngô”(1), tôi chẳng thể nào lí giải nổi vì sao cậu lại như thế, cũng chẳng hiểu gì về những ca từ của Trịnh. Vậy mà những khúc hát trầm buồn, khắc khoải kia đã vận vào tôi lúc nào không biết. Chỉ biết rằng mỗi khi có nhạc Trịnh mở lên ở đâu đó, dù đang làm việc gì tôi cũng cố gắng dừng lại để lắng nghe, nghe bằng tất cả niềm háo hức và say mê tuổi nhỏ.
Khi lớn lên, tôi bắt đầu nghe nhạc Trịnh một cách có ý thức. Những trải nghiệm xen lẫn buồn vui; hạnh phúc, đắng cay của cuộc đời giúp tôi tự tạo cho riêng mình một cách để hiểu Trịnh. Thế giới của Trịnh lúc này rộng lớn, sâu thẳm hơn rất nhiều lần so với những cảm nhận ngu ngơ của tôi thời thơ bé. Nhạc Trịnh trong tôi là những giai điệu, những ca từ bình dị mà quyến rũ: lúc trong sáng hồn nhiên như “nỗi niềm cổ tích”(2); lúc trữ tình êm ái như tiếng đàn rơi trên tay người thiếu nữ; lúc lại ma mị, khói sương như vọng về từ  huyền sử xa xăm. Nhạc Trịnh trong tôi là tiếng nức nở phận người trong sự bủa vây của lạc lõng, cô đơn, tuyệt vọng. Nhạc Trịnh trong tôi là tiếng ca say đắm về tình yêu – phép màu xoa dịu mọi niềm đau. Nhạc Trịnh trong tôi là tấm lòng thao thiết hướng đến thế giới ngoài kia “ Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”(3)…
Trong vô vàn những cảm xúc, suy tư về Trịnh; lạ thay nỗi ám ảnh vây phủ tâm hồn tôi vẫn là những khúc hát da vàng như tiếng thở dài khắc khoải mà tôi đã nghe từ chiếc cassette cũ của ông cậu hồi nhỏ. Tôi nhận ra trong những ca khúc mà ngày xưa tôi chẳng hiểu gì ấy chứa đựng một nỗi đau chiến tranh nhức nhối, một khát vọng hòa bình thiết tha.
Ai đó thật có lí khi cho rằng chỉ có những người trực tiếp cảm nghiệm nỗi đau thương trong chiến tranh mới thực sự hiểu hết ý nghĩa, thấy hết giá trị của hai tiếng “hòa bình”. Trịnh Công Sơn là một trong những người như thế. Ông như được sinh ra để mang trong mình sứ mệnh của sự hóa giải: hóa giải buồn đau, thù hận, cay đắng, xót xa bằng khát vọng hòa bình cháy bỏng trong những ca khúc của mình.
Trong vô vàn những cảm xúc, suy tư về Trịnh; lạ thay nỗi ám ảnh vây phủ tâm hồn tôi vẫn là những khúc hát da vàng như tiếng thở dài khắc khoải
Thế hệ Trịnh Công Sơn là “thế hệ lạc lõng”, “thế hệ bỏ đi” theo cách nói của văn hào người Mỹ E. Hemingway. Đó là thế hệ của những con người bị ném vào lò lửa chiến tranh trở ra là những con người  lầm lì, hoang hoải, bơ vơ. Với trái tim nghệ sĩ mẫn cảm, đa đoan, Trịnh Công Sơn hiểu hơn ai hết cái giá khủng khiếp mà con người phải trả cho cuộc chiến. Vì thế mà trong những ca khúc của ông, đặc biệt là Ca khúc da vàng, bóng ma chiến tranh cứ lởn vởn, chập chờn tạo thành một nỗi âu lo thường trực. Chiến tranh là đổ nát, hoang tàn “Hàng νạn tấn bom trút xuống đầu làng/ Hàng νạn tấn bom trút xuống ruộng đồng/ Ϲửɑ nhà Ѵiệt Nɑm cháу đỏ cuối thôn”(4); là tiêu điều, chết chóc “Một ngày mùa đông/ Trên con đường mòn/ Một chiếc xe tang /Trái mìn nổ chậm/ Người chết hai lần/ Thịt da nát tan”(5); là đói khát, vất vưởng“Ghế đá công viên, dời ra đường phố/ Người già co ro, buồn trong mắt đỏ/ Người già co ro, nhìn qua phố chợ/ Khi chiến tranh về, đốt lửa quê hương”(6) để rồi nó trở nên đầy ám ảnh trong hình bóng còm cõi, già nua của bà mẹ Việt Nam “Nhớ tới một đời đã xới vun, hôm nay bỏ vườn với xóm thôn/ Chân mẹ già sao run quá, qua xương trắng với máu hồng”(7).
Càng thấm thía nỗi đau chiến tranh, khát vọng hòa bình càng trở nên thao thiết trong những ca khúc của Trịnh. Ông mong mỏi ngày quê hương “không có đạn bay” cho “tiếng chân trẻ rộn ràng”, cho “tay mẹ nồng nàn” và “trời đất yên vui”(8). Ông mơ ngày đất nước thanh bình để được rong ruổi khắp mọi miền, sẻ chia niềm vui sum họp “Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi không ngừng/ Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam/ Tôi đi chung cuộc mừng/ và mong sẽ quên chuyện non nước mình”(9). Ông trông chờ ngày thống nhất “Đêm sông Hương nhung nhớ/ Ngày Cửu Long mơ/ Mơ một ngày Hồng Hà góp hội trùng dương”(10) để được nối vòng tay lớn xây dựng lại quê nhà “Chờ lúa thơm lên dưới những bàn tay dân mình/ Chờ lòng yêu thương đất nước quyết đi xây thanh bình”(11). Có hiểu được khát vọng hòa bình đau đáu trong tim Trịnh, ta mới hiểu được niềm vui bất tuyệt trong giây phút với tay tới hòa bình “Rừng núi loan tin đến mọi miền/ Gió Hoà bình bay về muôn hướng/ Ngày vui con nước trôi nhanh/ Nhịp sống bao la xóa bỏ hận thù”(12).
Khát vọng hòa bình trong những ca khúc Trịnh Công Sơn chẳng phải là cái gì quá lớn lao, xa vời. Trái lại, nó nhỏ bé, giản dị, đơn sơ như chính cuộc đời của bao nhiêu người dân Việt nghèo khổ, lam lũ thời ấy. Nó đơn giản chỉ là ước mong được đi lại, cười đùa ngay trên mảnh đất mình sinh ra mà không phải sợ hãi, âu lo; chỉ đơn giản là giấc ngủ bình yên không phải giật mình vì tiếng súng. Vậy mà biết bao người Việt thời Trịnh Công Sơn đã phải đợi chờ trong mỏi mòn, tuyệt vọng; thậm chí có người đến khi nhắm mắt xuôi tay vẫn không thể tìm thấy được. Bất chợt tôi nhớ đến “giấc mộng bình thường” mà Phạm Duy từng nói đến trong câu hát phổ từ thơ Huy Cận “Ngủ đi mộng vẫn bình thường/ À ơi có tiếng thùy dương đôi bờ”(13). Người Việt trông mong một cuộc sống bình thường bởi họ đang phải ngụp lặn trong một thời đại bất bình thường. Nỗi trông mong ấy vì thế mà trở nên thiêng liêng, cảm động biết chừng nào.
Bây giờ thì tôi đã có thể lí giải được vì sao ngày trước ông cậu tôi thường vẫn hay thở dài và trầm tư mỗi khi nghe nhạc Trịnh. Chẳng phải nỗi buồn chiến tranh và niềm mong mỏi hòa bình da diết trong những Trịnh Khúc kia đã có sức lay động mãnh liệt đến cõi lòng một người từng đi qua chiến tranh như cậu hay sao? Và phải chăng đó cũng chính là điều kì diệu khiến nhạc Trịnh lan tỏa trong tâm hồn tôi, níu giữ trái tim tôi từ thời thơ bé? Xin cảm ơn Trịnh đã cho tôi hiểu thế nào là sự tàn khốc của chiến tranh, hiểu được giá trị của hòa bình để từ đó biết trân quý những gì mình đang có. Xin ông trên chín tầng trời, hãy tiếp tục làm người du ca phiêu lãng, nguyện cầu cho quê hương được mãi mãi thanh bình.
Chú thích:
(1) Lời ca khúc “Rồi như đá ngây ngô” của Trịnh Công Sơn.
(2) Chữ dung của Nguyễn Tuân.
(3) Lời ca khúc “Mưa hồng ” của Trịnh Công Sơn.
(4) Lời ca khúc “Đại bác ru đêm” của Trịnh Công Sơn.
(5) Lời ca khúc “Ngụ ngôn mùa đông” của Trịnh Công Sơn.
(6) Lời ca khúc “Người già em bé” của Trịnh Công Sơn.
(7) Lời ca khúc “Người mẹ Ô Lý” của Trịnh Công Sơn.
(8) Lời ca khúc “Xin cho tôi” của Trịnh Công Sơn.
(9) Lời ca khúc “Tôi sẽ đi thăm” của Trịnh Công Sơn.
(10) Lời ca khúc “Lại gần với nhau” của Trịnh Công Sơn.
(11) Lời ca khúc “Chờ nhìn quê hương sáng chói” của Trịnh Công Sơn.
(12) Lời ca khúc “Ta đã thấy gì trong đêm nay” của Trịnh Công Sơn.
(13) Lời ca khúc “Ngậm ngùi” của Phạm Duy.
15/3/2020
Hồ Tấn Nguyên Minh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ý Nhi và những bến bờ của sáng tạo

Ý Nhi và những bến bờ của sáng tạo Trong thế giới này xuất hiện một nữ thi nhân với những bài ca nâng chúng tôi hướng thượng vượt bản thân...