Thứ Hai, 2 tháng 11, 2026

Cây đào phai bên bờ rào đá

Cây đào phai bên bờ rào đá

Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu trên biển, người không rõ tung tích. Nghe đâu hồi đó A Châu cũng trên chuyến tàu ấy…
Bọn nhóc trong xóm không gọi anh là Ngô Bằng Châu, mà gọi tắt là A Châu. Gọi riết rồi thành quen.
Mười bốn tuổi thất học. Bỏ nhà đi bụi. Theo chuyến xe khách vào nam. Trước khi đi, A Châu không một lời bàn bạc với gia đình, không một mẩu tin để lại. A Châu chỉ nhắn vội với O Dẫn khi đang phát cỏ ở vườn chuối.
“Nhờ O nói với Bọ cháu là thằng Châu đi vô nam xin việc làm vài năm rồi về. Chớ có tìm”. Thế là đi. Đằng đẵng gần ba mươi năm. Bọn nhóc xóm bây giờ đứa nào đứa nấy cũng đã yên bề gia thất, làm ăn khấm khá.
A Châu trở về, da sạm, gương mặt hốc hác với hai gò má nổi cao.Tóc buộc gọn một túm sau gáy. Lối vào nhà gần ba mươi năm chẳng mấy thay đổi. Vẫn vườn chuối bên cạnh. Đi dọc con đường mòn giữa hai rặng tre dẫn xuống con dốc nhỏ là Rào Bùng. Rào Bùng chảy từ hướng núi Bồng Lai. Mỗi mùa mưa lũ nước từ trong núi cuồn cuộn đổ về, từ một ngọn Rào xanh trong hiền hòa trở nên đục ngầu, hung hãn, làm xói lở hết doi đất sỏi pha cát hai bên bờ. Hằng năm người ta phải gia cố bằng những cọc tre, xếp thêm bờ rào đá để không cho nước xâm lấn vào đất canh tác. Ấy thế mà những năm lụt to, từng mảng đất nứt hoác ra, như chiếc bánh bị sấn từng miếng rất ngọt cuộn trôi ra biển. Doi đất hẹp dần. Ngôi nhà trở nên sát mép ngọn Rào. Cheo leo. Nguy hiểm. Nhìn vào nom như một bức tranh, khi mùa hè. Rặng tre đung đua kẽo kẹt, đổ bóng râm xuống mái nâu giản dị. Mùa thu, khói mơ màng bay lên, lá tre vàng ươm xoáy tít trong gió trước khi đáp xuống mặt nước. Và mùa đông, sương từ sông là đà trên những vạt ớt đỏ. Cây đào phai bên bờ rào đá năm nào cũng nở. Nở bất chấp. Nở không vì ai. Mọi thứ có thể trôi đi. Nhưng ký ức vẫn còn neo đậu. Có thể một ngày nào đó ký ức cũng sẽ mờ dần, khi ông ngày càng già đi và lú lẫn. Nhưng bây giờ ông vẫn nhớ rõ mồn một cây đào này là do A Châu trồng năm nó mười ba tuổi. Nó theo ông ra xây bờ rào đá và tiện thể trồng cây đào rừng này ở đây. Nó bảo “Mạ rất thích đào phai, con xin được gốc lớn này từ nhà chú Thứ, khéo chăm thì qua năm có hoa thôi”
Ông Thoản sống mũi cay xè khi nghe A Châu nhắc đến người vợ đầu của ông. Bà ấy mất vì bệnh phổi. Khi đó A Châu mới bảy tuổi. Năm tháng gà trống nuôi con, ông Thoản quyết định đi thêm bước nữa cho con có mẹ và ngôi nhà cũng bớt hưu quạnh. Đó là bà Thiển vợ ông bây giờ. Chồng bà cũng mất đận đi rừng lấy gỗ. Bà có một đứa con trai riêng, nhỏ hơn A Châu hai tuổi. Cám cảnh, rổ rá cạp lại, bà con làng xóm động viên mãi, hai bên mới mở lòng về ở với nhau, có thêm được hai mặt con, một trai, một gái. Giá mà cuộc sống cứ thế trôi đi trong êm đềm lặng lẽ của sự thấu hiểu cảm thông và chia sẻ thì tốt biết nhường nào. Nhưng sự đời mà. Chuyện con anh con em, con chúng ta đã phá vỡ sự êm đềm ấy. Đó là lúc thằng Chình ôm cái đầu đầy máu khóc lóc chạy về mách mạ “ A Châu lấy đá ném con”. Bà Thiển liếc xéo A Châu với vẻ mặt hậm hực, không nói không rằng, lôi thằng Chình đi ra trạm xá, lát sau trở về một mảng tóc trên đầu bị húi sạch, miếng băng gạc trắng phếu nổi cộm lên. Trong lúc chờ bà Thiển dọn cơm, ông Thoản kéo đầu thằng Chình lại “ Nghịch mô mà để toác đầu ra rứa”
Giọng bà Thiển từ dưới bếp vọng lên “Hỏi thằng con giai quý hay lam hay làm của ông ấy, nó kể cho mà nghe”
– Răng rứa Châu?
– Thằng Chình chặt phá cành đào làm ná, con nói không được chặt, nó vẫn lỳ ra đấy. Bọ xem cây đào có còn ra thể thống gì nữa không, cành lớn cành bé đều gãy sạch.
– Ối dào, khoai sắn còn chưa có đổ vô mồm, đào với chả mai. Chăm lo vạt bắp kia cho tốt thì hơn.
– A Châu lần sau không được đánh em nữa nghe không, con làm anh thì nhường nhịn em út chút xíu có chi mô…
– Đấy, ông cứ dạy bảo con kiểu thế thì chỉ có lớn mà chẳng có khôn. Phải người khác á, không một trận nhừ tử thì cũng giam cho rục xương đừng hòng cơm nước chi. Ừm…mà cũng phải thôi, có ruột rà máu mủ chi mô mà thương mà xót… tôi mà đánh mắng nó thì người đời lại độc mồm độc miệng bảo mẹ ghẻ con chồng, nói nó vài câu thì y như rằng cãi lại nhem nhẻm… tui là tui thua rồi đấy…
– Thôi mà, trẻ con nghịch dại, từ từ bày vẽ cho nó…
– Ôi dồi ôi, tui tay xách nách mang, sáng mài đũng quần ở chợ lo buôn lo bán, chiều lại đồng áng đến tối mịt… tưởng ông hiểu tui hóa ra cũng chỉ như rứa thôi…
Bà Thiển khóc rống lên như chết cha chết Mạ, được phen cho hàng xóm lắm chuyện, thấp thỏm bờ rào…
Một tháng cứ vài vụ to nhỏ xảy ra, không với thằng Chình thì cũng thằng Mẳn, con Mẹt… và lần nào A Châu cũng là người mang tội. Có bận A Châu nhịn ăn ra đồng, nó ngước mắt về phía thung lũng, nơi những ruộng ngô thấp thoáng vây quanh. Mạ nó ở đó. Mùa lau trắng xóa bời bời. Tiếng vạc kêu đồng khắc khoải. Hoàng hôn ở đó càng tô buồn lên mắt nó. Một nỗi buồn thăm thẳm trùm xuống tuổi mười bốn. Những ngày, nó nằm trên chiếc đò ngang, thả trôi theo ngọn Rào Bùng. Màu xanh lam của nước, của núi, của nền trời xoa dịu những vết roi hằn trên mông và lưng nó. Bọ đã đánh nó, vì tội để trâu phá nát đám hoa màu của thôn, bị phạt hai yến lúa. Rõ ràng nó đã dặn thằng Chình trông nom trâu cẩn thận để nó đi kiếm ít củi mang về đun nấu.
Nước mắt A Châu khô cong bởi gió, để lại những vệt trắng lờ mờ. Nó liếm thấy vị mặn. Nó đói và thèm một bát khoai xéo nóng hổi. Hồi đó Mạ nó nấu món này ngon lắm.
“Cho cu Thí (Tên hồi nhỏ của A Châu) của Mạ nhiều lạc nì. Ăn cho no rồi học hành cho ngoan hỉ”. Trường học tiện đường, Mạ A Châu bao giờ cũng nựng cằm con trai trước khi bóng dáng khuất vào lớp rồi mới đi ra ruộng.
Cơn ho dăng dẳng kéo dài, vòm ngực thít chặt lại. Bàn tay nhỏ nhắn của A Châu vuốt vuốt liên tục trên cổ Mạ. Nước mắt bà chảy dài, cầm lấy tay A Châu dặn. “Nhớ ráng học hành, sống làm người tử tế nghe con”. Mùa đông năm đó, A Châu mồ côi Mạ.
Những tiếng bấc tiếng chì ậm ực mãi rồi cũng bật ra. Trút hết mọi kìm nén bấy lâu. Bà Thiển cầm chiếc đòn gánh lia một cú dài, chiếc đòn gánh nẩy bật lên trúng vào cẳng chân A Châu đau điếng. Trời mùa lạnh, manh áo che thân chưa âm, cơm độn thêm khoai sắn cũng ăn không đủ no. Với sức ăn tuổi đậy thì, lưng bát cơm mỗi bữa có thấm bõ bèn gì đâu. Ngày ở đồng, A Châu cố lấp đầy cái bụng đói của mình bằng mầm đậu, khoai lang sống đào lên, dăm con cua con cá bắt được nướng trên lửa khét mù. Có đau bụng thì chỉ cần nhai vài đọt lá chè xanh rồi cũng xong. Tự ốm tự lành. Ơn trời!
Có bận, nhớ mạ quá, A Châu ra mộ ngồi thi thỉ một mình. Nó đã lên kế hoạch cho một chuyến đi xa. Chỉ mạ nó biết. Mạ sẽ phù hộ cho nó thôi.
Thằng A Châu về, nó về thật rồi, không phải đồn đại mô. Làng xáo xác lên, kéo nhau qua nhà ông bà Thoản  coi rõ thực hư.
– Ầy hầy… mi đây thiệt à A Châu… khỏe mạnh rắn rỏi ri mà làng cứ đồn bậy đồn bạ…
– Mấy lâu biệt tăm biệt tích, rứa đã vợ con chi chưa?
– Hồi đó choa hết nước mắt vì mi, khi nghe tin lật tàu… đêm đó cả xóm tập trung ở nhà mi đông lắm…
“ Bọ cháu mô rồi mấy O mấy bác? A Châu liếc nhìn khắp một lượt, là người cứng rắn lắm nhưng cũng không giấu được đôi mắt đỏ hoe vì xúc động…
Gần ba mươi năm rồi còn gì. Những người làng, nét mặt thân quen còn đó nhưng lưng đã còng xuống và tóc bạc hết trên đầu. Người còn người mất.
–  A Châu, bọ mi tuy tai lãng nặng nhưng được cái sức khỏe còn dẻo dai lắm, bảy lăm có khi hơn rồi mà có ai được như bọ mi mô. Ông đang kê đá ngoài bờ rào đó tề.
A Châu nhìn theo hướng tay O Dẫn. Một dáng người lom khom đang vần xếp mấy tảng đá thành từng hàng dài. Cây đào phai cạnh đó phủ trùm hết một khoảnh đất canh tác, một phần nhoài nhánh ra sông.
“Bọ ơi”!
Ông Thoản, tai như rỗng ra, nghe rõ tiếng gọi sau lưng mình. Ông quay người lại, con mắt vừa mới mổ đục thủy tinh thể, cố gắng căng ra hết cỡ để nhìn cho rõ  con người đang đứng trước mặt mình. Chỉ một lát thôi, ông như muốn khuỵch xuống, tay chân run bắn, chiếc cần cổ chạy lên chạy xuống những đường gân không tự chủ. “ A Châu, thằng A Châu…thằng A Châu về rồi, hắn chưa chết. Đó! Tui đã nói rồi, con tui không đời nào chết được. Ông Thoản khóc rống lên, ôm chặt A Châu. Sự vui mừng đột ngột khiến ông loạn xạ y như chú cò gầy nhảy tâng tâng trên luống đất cày.
Giữa sân, chiếc làn nhựa đỏ lăn ra những ống đương “ Một loại họ nứa dùng để chẻ lạt làm bánh, hoặc để đan lát), bà Thiển nói to “ mau gọi anh chị em của nó tập trung về đây. Thằng A Châu về rồi…
Chiếc bàn thờ nhỏ nằm sâu trong cùng gian trái nhà. Không di ảnh. Chỉ một bình hoa và bộ ấm trà mộc.
“Bọ không tin mi chết, nên bọ nhất quyết không thờ, bọ chỉ khấn vọng gia tiên phù hộ độ trì cho con, dẫn lối con về nhà…”. Tết nào bọ cũng pha trà mời vọng và không quên cắm lên đây một cành đào. Bọ phải sống dai, sống tốt để chờ mi về…Mi thấy chưa chừ mi còn gầy hơn cả Bọ, chỉ được cái cao hơn thôi…”
– Con ra thăm Mạ tí. A Châu xách chiếc túi vải đựng những thứ quà từ miền nam mang ra… Ngày xưa Mạ nói rất thèm ăn hoa quả “trong tê”.
Núi, cánh đồng và dòng sông vẫn thế. Xanh biếc. Khác là hai bên đường dẫn ra sông Son nhà cửa mọc lên nhiều, ruộng đồng thu hẹp hơn. Dãi đất ven sông người ta còn trồng hoa, dựng nhà lá, nhà gỗ để làm du lịch, trâu bò, ngan ngỗng, vịt, gà…đều trở thành thú cưng của du khách. A Châu cảm nhận rõ luồng gió mới đang thổi qua vùng đất yên bình. “Chỉ cần giữ nguyên vẻ đẹp tự nhiên vốn có này cũng đã là một nguồn đầu tư lớn.” A Châu thầm nghĩ khi tận hưởng bầu không khí khoáng đạt giữa vùng xanh biếc đến tận cùng này.
Các cơ sở chế biến hải sản sạch để phục vụ du lịch, làm quà biếu tặng, không ai qua được A Châu. Một trong những thương hiệu uy tín ở trong nam. Với tính cách trầm ổn, không ồn ào, A Châu không thích phô trương, khoe mẽ… anh đã tạo dựng được công ăn việc làm cho mấy chục nhân công ở xưởng. Hàng năm thu nhập khấm khá, vợ con đề huề. Lần này đáng ra vợ con anh cũng theo về, nhưng Tết nhất cận kề, hàng hóa lu bu, mỗi ngày cả hàng ngàn đơn đặt…
Anh nói vợ, ra Tết sẽ đón Bọ vô nam chơi và hỏi xem mấy đứa em có theo anh vô nam làm cùng không. Anh em bảo ban nhau làm ăn, chứ ruộng đồng mãi thì có được mấy xu, quanh năm khí hậu khắc nghiệt, mùa màng thất thường…
Anh tính về từ lâu, nhưng ngặt mấy ao tôm cần anh phải bắt tay chỉ việc. Ổn đâu vào đấy rồi anh mới đi được. Nói thẳng ra, ban đầu mang tâm lý tự ti e ngại của một đứa con nhà nghèo, chưa công thành danh toại thì chưa muốn trở về. Đành rằng còn cha còn mẹ ai mà chẳng thương, nhưng muốn lo toan được thì phải có tiền đồ. Sau mười mấy năm bôn ba trên biển, A Châu cũng tích cóp được ít tiền, mở xưởng khô cá, nước mắm riêng, dần dần có thêm các đại lý. Và Loan là một trong số các cô gái thầm để ý A Châu, bởi tính cách hiền lành, chịu thương chịu khó. Ông già cô cũng thích cậu ấy. Thế là ngầm nhờ bạn ông mối lái, mấy tháng sau thì đám cưới. Nhà tía vợ có mấy công ruộng, ông cho hai vợ chồng con gái cải tạo làm hồ nuôi tôm. Cuộc sống khấm khá lên rất nhanh. Nhoằng cái thêm một, rồi đến hai thập niên trôi qua. Từ cậu bé đen nhẻm gầy guộc ăn không đủ no, nay đã là ông chủ, tóc trên đầu bạc nhiều hơn xanh.
“Thằng A Châu về rồi liệu nó có đòi chia chác đất đai không?” tiếng thì thầm nhỏ to trong nhà cũng đủ để A Châu nghe.
Bà Thiển già đi trông thấy, cũng đúng thôi, người lúc nào cũng đây lo toan, chân đi chẳng mấy chạm đất. Người thế đâm ra khổ. A Châu thấy bà đáng thương nhiều hơn để giận.
Bao nhiêu năm giờ con mới về, thấy con  mạnh khỏe rứa là dì mừng. Thôi con ngồi chơi với mọi người đi, dì đi nấu cơm. Thằng Chình, ra vườn bắt gà vô đây hỉ.
A Châu nhìn ra vạt đất rộng trước mặt nhà, rồi lại nhìn quanh khắp khu vườn một lượt. Trước kia quanh đây toàn những hố bom. Là Bọ, dì Thiển và mấy đứa con ôm vác từng trạc đất vùi lấp lại. Như kiến tha lâu rồi cũng đầy tổ, qua bao nhiêu năm, nương vườn giờ bằng phẳng, rộng lớn hẳn. Mấy đứa em được Bọ mạ chia đất cho ở riêng cạnh đấy. Thế cũng yên tâm, người già cần có con cái quây quần, lỡ hôm đau mai ốm.Tự dưng A Châu thấy rưng rưng. Thương dì và các em một đời lam lũ. Suy cho cùng, dì vẫn là một người tốt, mồm miệng bù loa dăm ba điều thế thôi chứ hành động của dì lại khác.
“Cơm nước xong rồi, dọn ăn thôi kẻo đói hỉ. Mâm cơm nghi ngút khói được bê lên và dì không quên đặt một mâm nhỏ lên bàn thờ của Mạ A Châu, cùng với đĩa hoa quả mà anh mang về. Dì Thiển nhấc chiếc ba lô cũ kỹ của A Châu gác lên nóc tủ. Chợt thấy ngậm ngùi và thoáng hổ thẹn với lương tâm vì những suy nghĩ ban đầu.
“Nay về rồi thì ở lại quê mà sinh sống thôi con ạ. Không mô bằng nơi chôn nhau cắt rốn”. Phần đất hương hỏa từ đường kia là chờ con về chăm nom đó.
– Dạ không đâu dì. Từ lúc về tới giờ, mọi người mới để ý thấy anh cười. “ Ở đâu mà cho mình cuộc sống tốt thì cứ sống thôi dì ạ. Ở lâu rồi cũng hóa quê hương”
– Ừ, biết vậy, nhưng dì muốn con về sống gần bọ mạ và các em cho ấm cúng gia đình.
– Bọ ạ, dì ạ và các em nữa. Lần này con về…
A Châu nói những ý định của mình và lấy ra trong ba lô những xấp tiền mệnh giá cao nhất. Đây là chút tấm lòng của con, Bọ và dì cầm đi mà sửa sang nhà cửa vườn tược, rồi chăm lo sức khoẻ cho mình nữa. Còn phần các em, vô đó anh em con sẽ bảo ban nhau làm ăn. Tết nhất lại kéo nhau về. Bọ và dì cứ yên tâm hỉ.
Không ngờ cuối đời gia đình ông lại có niềm hạnh phúc lớn lao như vậy. Ông đi đến bàn thờ của Mạ A Châu, rưng rưng thắp nén nhang trầm thì thầm khấn.
Ngoài bờ rào đá, những nụ hoa bắt đầu bung nhẹ lớp vỏ lụa màu nâu bóng.Từ phía núi Bồng Lai, ngọn Rào Bùng vẫn âm thầm chảy giữa hai bên xóm làng xanh ngút ngô khoai. Giữa cánh đồng ai đó vừa đốt rác, những lọn khói lảng bảng bay lên. Cả một vùng ký ức tuổi thơ quay về khiến A Châu cay xè đôi mắt. Rưng rưng!.
13/5/2026
Trác Diễm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Dốc gió

Dốc gió

Hẹn tới hẹn lui, cuối cùng tôi cũng gác lại được mọi việc theo Bạch Lan lên xe rong ruổi núi đồi. Tây Giang mùa này đẹp lắm, trẩu nở trắng rừng, Lan nhắn.
Tôi háo hức, nhớ chùm hoa như mây lơ lửng giữa đại ngàn trong bức hình Lan gửi, lại mê những cung đường ngoằn ngoèo núi tựa núi, mây gối mây. Nay hoa vô ưu nở dọc suối, không đi được thì chờ năm sau, Lan lấp lửng… Tôi còn chần chừ được sao.
Đúng là trẩu nở trắng rừng, hai đứa vừa ồ à, vừa ôi a, kiểu mê không lối thoát. Hơn hai mươi năm ngắm trẩu dọc dãy Trường Sơn, tớ chỉ mơ một lần chạm được chùm bông thôi, Lan nói. Thì hái, khó gì! Tôi mạnh miệng. Nhưng trẩu là giống kỳ lạ, hoa cứ nở từ đỉnh của những nhánh, mà nhánh lại vươn cao, thành thử từ xa nhìn, trẩu cứ như từng chùm mây trắng bồng bềnh trên sắc xanh dịu dàng của lá.
Dựng xe sát lề, ngó tới ngó lui, cuối cùng cũng tìm được một chùm bông không quá cao. Nhưng làm sao để với tới, với chúng tôi là cả một câu chuyện. Hai đứa cởi giày, cởi cả mũ bảo hiểm, nhảy loi choi vẫn không biết cách nào chạm vào được “giấc mơ trắng”, đành ngồi bệt, tay chống cằm thèm thuồng. Bất chợt một chiếc xe bán tải dừng đột ngột, hạ kính, cần giúp gì không em ơi? Tôi ngớ ra một chút, nhận thấy tình trạng thảm hại của hai đứa, bật cười bẽn lẽn. Vừa lúc đó, cửa xe bên kia bật mở, một người đàn ông bước xuống, trùi trụi nắng gió. Quânnnnn… Tôi há miệng kinh ngạc. Là anh ư? Là anh thật sao? Bốn mắt chúng tôi nhìn nhau, suýt nữa thì Quân gần như lao tới ôm tôi.
Trạm dừng nghỉ xinh xắn không níu bước chúng tôi được lâu, Quân bặm môi, ngửa cổ như toan tính một điều gì đó. Cho xe lên xe, chúng ta cùng đi, Quân nói. Tôi lắc đầu, Lan nó không chịu được ô tô, với em cũng muốn ngắm núi rừng… Quân trầm ngâm hồi lâu, đường dốc núi xa lắm đấy em. Quân định nói thêm gì đó, lại thôi. Cả hai rơi vào khoảng không chơi vơi đủ để nghe tiếng gió luồn qua vực thẳm. Nhìn những cung đường ẩn mây lượn sóng giữa đỉnh trời, tôi biết thật không dễ dàng với một người trẻ hăm hở sống như anh. Hay anh đã có nàng sơn nữ nào níu bước? Tôi hồ nghi nhìn Quân, anh nhếch nhẹ môi, nụ cười trở nên khó hiểu, một vết thương chưa lành, một cuộc chạy trốn, hay gì gì đó nhiều lắm mà tôi không đủ năng lực nhìn thấu đối phương. Thật ra, đã bao giờ tôi hiểu hết anh đâu, cũng như việc chúng tôi rời nhau đoạn trước của cuộc đời, chưa từng có lời chia tay chính thức, chỉ nước mắt, nước mắt cho tôi và sự im lặng nơi anh.
Khi chúng tôi rời quán thì Lan đã có trên tay chùm trẩu trắng muốt dịu dàng cùng nụ cười ngời nắng. Xem nè xem nè, Lan cuống quýt như đứa trẻ được quà, miệng xuýt xoa, mắt rờ rỡ. Tôi cầm chùm bông như quả tú cầu mây ấy, trước tầm mắt, hoa mãn khai có cuống nhụy hồng đậm, hoa vừa nở nhụy vàng kem bắt mắt, từng đóa như những ngôi sao rung rinh.
Cảm ơn anh nhiều nghe, Lan vẫy tay chào, anh chàng vừa hái giúp chùm bông thoắt cái đã ngồi sau tay lái, hẹn Đỉnh Quế nhé! Tôi đưa mắt nhìn Lan, quen à? Xứ ni của tui mờ bà, Lan cười toe, nụ cười của người chiến thắng. Quân nhìn tôi, chiếc xe chở anh trườn đi trong tiếng gió gào. Một cơn gió tạt ngang sườn khiến áo khoác tôi căng phồng, từng lớp gió rượt nhau luồn qua khe núi tạo nên thứ âm thanh sắc ngọt, mây vón lại rồi như bị gió cán mỏng, bay là đà tạo thành những chiếc khăn voan ôm choàng cổ núi, những bông trẩu rung lên lả tả trong vạt nắng mỏng. Không gian như bị gió bào, rộng thênh thênh không điểm tựa dù trước mắt tôi là núi. Phía không cùng ấy, chỉ cần với nhẹ, đã có thể chạm được Quân. Không. Tôi không nghĩ lại gặp Quân ở đây, ngay đỉnh dốc Gió này, khi mà mọi thứ tưởng đã ngủ yên.
Hai người chưa hết duyên, Lan nói trong tiếng gió vụt qua mặt. Tôi bám vào hông Lan, như một phản xạ đương nhiên của người không quen vượt núi đèo, đầu tôi ù ù tiếng gió. Tôi và Quân còn duyên thật ư? Tôi tưởng lửa lòng đã tàn lạnh, và những người đàn ông, dù vô tình hay hữu ý, đều chưa thật tâm muốn nhen lại, thắp lên một niềm tin yêu mới trong tôi. Là tôi không đủ tốt, hay phước tôi chưa đủ dày? Là gì đi nữa thì tôi vẫn là con người của muôn năm cũ, đầy kiêu hãnh.
Cậu hoàn toàn có thể yêu ai đó, cho riêng mình, mẹ, các con, họ đều có cuộc đời của riêng họ. Sống đủ lâu, tớ nhận ra rằng, mọi thứ rồi cũng vào lãng quên, kể cả chúng ta, vậy nên, đừng chần chừ nữa, yêu đi. Lan xúi. Yêu ai, tôi hỏi, không biết hỏi Lan hay hỏi mình. Tôi từng chứng kiến người bạn đơn thân yêu một người đàn ông đang vợ, là anh ta không hạnh phúc, là không thể ly hôn, là hầm bà lằng các thứ. Tôi nhìn người, ngẫm mình, thấy rằng điều đó quá sức chịu đựng. Người đàn ông ấy, dĩ nhiên vẫn bên vợ, vẫn giữ hình ảnh một gia đình hoàn hảo. Còn người phụ nữ thì sao? Thì đành chịu thôi, ai biểu số mình hẩm hiu. Tôi nghe chua chát, luôn dặn lòng, đàn ông với mình phải như “đồ lót”, không phải thứ để khoe khoang, nhưng đủ tốt để thấy thoải mái, và nhất là, không dùng chung với ai.
Tôi không biết đã đi qua bao nhiêu đèo dốc, lên dốc liên tục, xuống dốc liên tục, những tấm biển báo với độ dài hàng cây số khiến tôi choáng ngợp, biên giới gần ngay đây thôi, dòng ký tự loằng ngoằng nói với tôi điều đó. Những công trình thi công dở dang, bụi bay mù mịt choán hết tầm nhìn. Tôi kinh hoàng nhìn những chiếc “hổ vồ” lao đi trong gió bụi, không một tiếng còi cảnh báo cho xe đối diện khi qua những khúc cua. Quen rồi, cậu để ý đi, chỉ xe phố, xe lạ tới đây mới bấm còi, còn dân trên này chẳng ai làm điều đó, toàn khúc cua tay áo, bấm có mà liệt còi, tiếng Lan hòa trong tiếng gió. Lan chỉ cho tôi những lùm bướm bạc dọc đường, loại cây nhỏ mọc gần nhau, hoa vàng, lá đài màu trắng trông như những cánh bướm bay rập rờn trong sắc xanh miên mải của rừng. Tít trên kia là chùm phượng núi đỏ rực, kiêu sa ngạo nghễ. Chẳng hiểu sao tôi thấy nó cô đơn như loài bỉ ngạn, Lan cười ngất, chưa nghe ai liên tưởng thế bao giờ.
Lại dốc, lại gió, lại những vòng cua ngặt, giọng chúng tôi lào thào qua làn khẩu trang. Núi lớp chồng lớp sừng sững oai hùng, mây gối mây bồng bềnh tiên cảnh, mỗi tội dòng A Vương đã bị chặn dòng, đáy sông từng lớp đá ngửa mặt khô khốc nhìn trời, chao ôi buồn đến nao lòng con sông một thời thơ mộng trong những câu thơ Bạch Lan viết. Tôi tưởng tượng cây trẩu đứng ngay mé sông, gió lùa khiến từng cánh rơi như rải ngọc xuống mặt sông hiền hòa, những cánh hoa tuy đã rụng khỏi cuống vẫn vẹn nguyên hình hài xoay xoay trong làn nước mát. Bây giờ sông như suối cạn, cánh hoa trôi về đâu? Cánh hoa trôi về đâu? Tôi bất giác buột miệng hỏi. Lan không nói. Tôi cũng không thể nhìn vào mắt cô ấy lúc này, nhưng cảm giác nuối tiếc ấy có lẽ khó lòng giấu được qua cái lắc đầu bất lực.
Tự khi nào tôi luôn xót những cánh hoa tàn? Tự khi nào tôi đâm cám cảnh cho những điều tưởng như hiển nhiên trong cuộc sống? Tôi là ai, tôi ở đâu giữa cuộc đời này? Một cuộc hôn nhân không tình yêu, một mái nhà không đủ ấm cho các con, và còn gì nữa? Sống không hạnh phúc đã là có tội với bản thân rồi, buông đi, Lan vẫn nhắc.
Tôi lại nhớ lời con gái chất vấn, sao mẹ không nhổ quách đi cho rồi, chiếc răng khôn chết tiệt ấy, khôn gì không biết chỉ thấy toàn gây đau đớn. Tôi đã bật cười, giữ nó trông khuôn mặt mẹ sẽ đầy đặn hơn. Là tôi nghĩ, nếu rút chân răng đi rồi, khuôn lợi sẽ bị teo lại, hai má hóp đi trông già nua xấu xí. Bộ đẹp quan trọng đến thế sao? Để trông dễ nhìn thôi mà phải chịu đau đớn âm ỉ, con thà vứt sạch, con gái cong môi. Tôi chỉ biết cười, tự khi nào tôi nuôi dưỡng suy nghĩ điên rồ ấy? Giữ lại cuộc hôn nhân không tình yêu còn đớn đau hơn giữ chiếc răng không thực hiện đúng chức năng.
Vẫn dốc. Tây Giang đãi tôi món dốc, dốc và gió. Mùa này còn đỡ, mùa mưa thì kinh khủng, cậu có thể bay từ núi này qua núi nọ như chim mà không cần đôi cánh, Lan tếu táo. Tôi nhìn sườn đèo, hình dung lưng núi cong vòm hứng gió, những cú tạt dọc rồi luồn lách trong khe sâu bỗng thổi bùng đột ngột, tay lái loạng choạng trong màn mưa dày. Mưa Tây Giang âm ỉ, như nước mắt chia tay người mình yêu đậm sâu ý, Lan lại cố ý pha trò, như ngoáy sâu vào tâm can tôi. Đối diện đi, hoặc dừng lại mọi cảm xúc, hoặc cho nhau cơ hội nếu còn duyên đủ nợ, tui thấy mệt giùm cho hai người.
Quân đã ly hôn, dĩ nhiên không phải do tôi. Tôi đã rời cuộc đời anh cho tới ngày gặp lại trong ngỡ ngàng của hai kẻ bại trận. Và dù tôi đã từng cố gắng giúp anh làm một điều gì đó cho bọn trẻ nhà anh, nhưng vô ích. Quân đã đi đâu đó, thật lâu, những mấy năm rồi chúng tôi không gặp nhau, như biến mất khỏi cuộc đời, thì bỗng nhiên, lúc nãy đây thôi, ở một nơi xa lạ không từng nghĩ tới, chúng tôi đã gặp lại nhau.
Chẳng có gì là ngẫu nhiên, trăm triệu hạt mưa không hạt nào rơi nhầm chỗ, đấy là nhân duyên hội tụ, phải tin chứ! Lan nói trong tiếng gió. Tôi không biết mình có thật sẵn sàng cho cuộc gặp tới đây. Tôi còn biết đi đâu ở đâu để tránh gặp anh khi Tây Giang hùng vĩ là thế nhưng chỉ độc một con đường. Khi lên đây, tôi không từng nghĩ mình cần sửa soạn một trái tim lành lặn để làm một điều gì đó.
Hay… hay là quay về. Tôi ngập ngừng đập vai Lan. Hình như gió khiến cú đập vai của tôi nhẹ bẫng, Lan vẫn giữ tay ga, trả số, chiếc xe khựng lại một chút rồi vù vù vượt đi hòa vào tiếng gió, không kịp nghe mùi hoa rừng thoang thoảng.
14/5/2026
Hồ Loan
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chùm truyện cực ngắn của Trần Vinh

Chùm truyện cực ngắn của Trần Vinh

Khi tỉnh dậy, người mẹ thì thầm với đứa con câu đầu tiên: – Con yêu! Điều mẹ hồi hộp và mong chờ nhất không phải là trai hay gái mà là hình hài của con đầy đủ bình thường. Mẹ cảm ơn con!.
MẢNH TRỜI
Trời mưa.
Cha cầm cây dù.
Con có mảnh trời tạnh ráo.
LƯNG CHA
Đi học, con ngồi sau xe trùm kín nép vào lưng cha.
Đến cổng trường, thấy áo cha ướt con mới biết trời mưa.
TIỀN HỌC
Người đàn ông nài nỉ tạm ứng được một phần tiền công liền vội vàng chạy đến lớp học thêm.
Một học sinh bước ra cầm tiền rồi phàn nàn:
– Sao sáng nay bố không đưa tiền luôn cho con? Thấy các bạn nộp tiền mà con xấu hổ không biết dấu mặt vào đâu.
– À… bố… bố đã để sẵn tiền trong túi rồi mà quên mất. Bố xin lỗi nhé!
LY NƯỚC
Nó có thói quen trước khi đi ngủ uống một ly nước ấm với vị chua ngọt của chanh và mật ong. Nhiều người khen nó có làn da sáng mịn.
Đã 3 đêm rồi, nó cảm thấy thiêu thiếu thứ gì đó mà chưa nghĩ ra. Thì ra mẹ nó bị ốm, 3 đêm rồi không dậy nổi để pha li nước ấm chua ngọt đưa vào phòng cho nó.
TỰ HÀO
Đứa con phàn nàn:
– Ba ạ, bây giờ con đã là một học sinh lớp 9 rồi mà cứ phải ngồi sau xe để ba chở con đi học thì xấu hổ quá, cả trường cười vào mặt con đấy.
Thế là đứa con được tự do một mình một xe đạp điện đi học. Hôm ấy đang trên đường đi học thì chiếc xe đạp điện bị sự cố. Đứa con luống cuống lo sợ không kịp giờ kiểm tra giữa kỳ. Ngay lúc đó có một người dừng xe lại và giọng nói quen thuộc vang lên:
– Nào, con lên xe ba nhanh lên cho kịp giờ.
Đứa con quá bất ngờ. Thì ra người đàn ông luôn trùm kín đồ bảo hộ, sáng nào cũng đi làm qua cổng trường lại chính là ba của nó.
Người cha phóng xe chở con vào thẳng cổng trường. Đứa con bỗng vô cùng tự hào trước ánh mắt của bạn bè và thầy cô giáo.
HÌNH HÀI CON
Trên bàn đẻ, người sản phụ mặt tái nhợt, sức đuối dần vì những cơn đau dữ dội kéo dài bất thường. Người sản phụ ấy đã lượng được sức mình nên sẵn sàng đánh đổi sinh mạng, nhường quyền sống cho đứa con.
Đến giới hạn sinh tử cuối cùng, đứa con mới chịu chào đời. Bản năng làm mẹ trỗi dậy, người mẹ chỉ kịp ngước nhìn con. Trong khoảng khắc đó khuôn mặt người mẹ ửng hồng, ánh mắt long lanh hạnh phúc, miệng thều thào: “Con… bình… thường…” rồi chìm vào cơn mê. Trên môi người mẹ vẫn còn lại nụ cười.
Khi tỉnh dậy, người mẹ thì thầm với đứa con câu đầu tiên:
– Con yêu! Điều mẹ hồi hộp và mong chờ nhất không phải là trai hay gái mà là hình hài của con đầy đủ bình thường. Mẹ cảm ơn con!
TRƯỞNG THÀNH
Đi học mẫu giáo về, bé Út sà vào lòng mẹ rồi thủ thỉ:
– Mẹ ơi, tại sao anh Hai đi học về mà không được mẹ ôm?
– À… đó là vì anh Hai con khôn lớn rồi.
Mấy năm sau, Út lại hỏi mẹ:
– Mẹ ơi, vì sao anh Hai đi làm lâu rồi mà sao không thấy về hả mẹ?
– À… vì anh Hai con đã trưởng thành.
Thì ra quá trình nuôi con khôn lớn trưởng thành cũng là quá trình cha mẹ và con cái từ từ rời xa nhau.
GÀ MẸ
Sáng sớm gà mẹ dẫn đàn con mới nở ra vườn kiếm mồi.
Chó đốm nhe răng gầm gừ xông tới.
Đàn gà con bé xíu không chạy kịp.
Gà mẹ bỗng xù lông giang cánh hoá thành đại bàng rồi tung chân cào thẳng vào mặt chó đốm.
Chó đốm hoảng sợ, cụp đuôi bỏ chạy vào nhà.
GÀ NHIỀU ĐẦU
Gà mẹ dẫn đàn gà con đi tìm mồi.
Một gã diều hâu sà xuống.
Gà mẹ xù lông giang cánh ôm lấy đàn con.
Từ trong đôi cánh gà mẹ bỗng mọc ra nhiều cái đầu nhỏ xíu.
Gã diều hâu bất ngờ, hoảng sợ rồi bay đi.
16/5/2026
Trần Vinh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Vũ môn

Vũ môn

Chiều gần tàn, hoàng hôn như những bọng mỡ gà trên chảo lửa, quắt queo, xám ngắt. Chớp tựa mảng xương cá khô khốc vắt ngang dọc trên tầng không ám một màu tro nguội. Lão Hiến lại đi, vừa quá giang được đến thị trấn thì giông to gió lớn. Lão nghĩ bụng sẽ vào tiệm thuốc bảo vệ thực vật và nói lúa nhà lão bị đạo ôn cổ bông nặng quá. Hãy bán cho lão một chai thuốc sâu loại lớn và nặng liều. Lão đặt lên bàn một sấp dày cộp toàn tiền lẻ từ một đến năm nghìn, nhanh chóng nói cô nhân viên bán cho mình một chai BMW 747.
Thứ mơ ước đã có trong tay, lão tập tễnh cố đi nhanh, định bụng tìm một bờ mương nào đó có nhiều nước và lau sậy. Lão sẽ ngửa cổ thưởng thức nó như bọn trẻ con nhấm nháp ly cô ca cô la mát rượi rồi lăn xuống mương. Mưa tạnh, trời tối nhanh, lão băn khoăn chưa biết đi hướng nào thì Tịnh lù lù xông đến. Nó giật chai thuốc, xốc ngược lão lên vai rồi bế lão quay lại hàng vừa mua và giễu lão qua nhiều hàng nữa. Đi đến đâu nó cũng chìa mặt lão ra cho người ta xem, mếu máo “Ông này là bố tôi, ông ấy bị tâm thần, nghĩ thuốc sâu là nước uống nên bố tôi mua gì các cô không được bán”.
Ruột gan lão lộn lên, hốc mắt cay xè. Thế mà thằng này lại nhận lão là bố. Không phải! Lão chỉ có ơn với mẹ con nó thôi nhưng bao năm nay bà Út và Tịnh đã trả xong cả rồi. Thời trẻ, lão oanh tạc muôn phương. Cưới vợ được ít hôm, lão quyết lên đường sang bên kia biên giới kiếm sống. Vợ lão van nài, bảo làm thuê quanh làng tiền ít nhưng còn được nhìn thấy nhau. Lão gạt đi, nói không liều thì quanh năm nghèo khó. Lão dứt áo ra đi, vợ trẻ sụp xuống hiên nhà, khóc nấc.
Lão đi liền hai năm mới trở về một bận, xây cho vợ được cái bếp nhưng không đủ để gieo vào người bà một mầm sống đã lại đi. Cùng làng có vài người đi với lão đều chọn nghề canh sòng bạc. Một dạo, cảnh sát Campuchia càn quét, lão biết chắc bị bắt sẽ ở tù vì nhập cảnh trái phép nên ồ ạt cùng mấy chục người liều mạng nhảy xuống sông. Ai cũng tin lão không về nữa vì cảnh sát vớt lên tận mấy chục xác người, có tất thảy người đi cùng mà chỉ có lão là trôi mất xác. Một ngày đẹp trời, lão gầy còm, đen nhẻm xuất hiện trong sự thất kinh của vợ và dân làng. Giây phút hạnh ngộ chìm trong nước mắt và những nỗi tủi hổ xót xa. Lão đứng trước di ảnh mình điên cuồng chất vấn rồi cầm dao toan đâm chết kẻ đang chung sống với bà. Bà ôm lão lại, quỳ mọp dưới chân để cho gã kia chạy. Hắn ta không đi, nửa đêm quay lại tính đưa bà chạy trốn. Lão ngoan độc dạng chân giữa nhà, bắt hắn muốn có được bà thì phải chui qua háng hắn. Bà cắn môi òa khóc, cố thốt ra những lời cay đắng, rằng đau khổ lúc mất chồng mới làm bà xiêu lòng thoáng chốc, tìm đến hắn như kẻ thế thay. Hắn thất vọng quay đầu đi thẳng, còn lão quyết trả thù bà bằng những bài học đạo đức được rao giảng từ ngày này sang ngày khác. Giữa nhà, lão treo lên một chiếc kẻng đồng mỏng. Mỗi bữa đến giờ ăn, lão lại gõ lên đó những tiếng leng keng buốt lạnh. Bữa nào bà lỡ dọn cơm ra trước khi lão đánh kẻng, lão sẽ dùng hết sự “hoạt ngôn” mà mình có để chì chiết và đay nghiến phẩm hạnh của bà.
Đứa bé xuất hiện khi lão và bà đang trên đỉnh của sự tan vỡ, nỗi nghi ngờ như lũ mọt ăn gỗ đục ruỗng tâm hồn lão. Đứa trẻ nào phải con lão. Lão khẳng định chắc nịch khi cái bụng bà đã lặc lè tám tháng. Ánh mắt bà hằn lên vẻ tuyệt vọng. Lão căm thù ánh mắt ấy. Vẻ chết lặng của bà khiến lão cảm thấy lão không là gì cả. Lão giận dữ ra khỏi nhà lúc trời đã vào đêm, mưa tong tong nhỏ giọt từ mái tranh khô xác.
Rời nhà, lão lên lán nương dự định ở vài ngày cho đỡ chướng tai gai mắt. Vừa đến ngày thứ hai, lũ quét hung hãn dội về cuốn phăng mấy ngôi nhà dưới thấp. Anh em biết chuyện, khuyên lão về còn nom dòm vợ con. Ừ thì lão về, vừa đến cầu lại gặp Tịnh gầy nhẳng, bé teo chơi vơi giữa dòng nước dữ. Bà Út gào con thảm thiết nhưng không ai dám liều lĩnh. Toàn bọn hèn, hùm ăn không hết thịt mà cứ đứng tồng ngộc trên bờ chỉ trỏ. Thế là lão nhảy, nước bùn xộc vào miệng tanh ngòm, cả người lão lao vun vút như chiếc xe đạp đang tuột dốc thì mất phanh, vết bớt giữa lưng tê tái. Lạ là cái bớt mỗi khi lão gặp chuyện lại nhôn nhốt, nóng ran như bị ai chích điện dù lão đang đằm mình dưới sông lạnh. Chợt nhớ đến hồi nhảy sông trốn thoát ở Campuchia, lão xoay ngang người, thả cho trôi. Lúc trôi ngang lão thấy Tịnh như con nhái bén bám vào cây chuối. Lão vội giang tay rộng, chân thọc xuống  nước căn hướng Tịnh mà đến.
Khi còn cách Tịnh một hai mét, lão đánh liều phi thân như con rái cá chồm sang. Loay hoay mãi, đến khi cả lão với Tịnh nhũn ra không còn tí sức  mới kiếm được một chỗ nước lặng để dạt vào. Bà Út tưởng Tịnh đã chết liền khóc như rồ dại. Thấy thằng bé mặt tái xanh bò lại gọi “mẹ mẹ” yếu ớt thì mới choàng tỉnh. Bà dập đầu côm cốp xuống đất tạ ơn. Ơn với huệ, lão chả thiết, lão đứng lên tìm đường về nhà. Lối mòn dẫn lên nhà lão trơn tuột bởi bùn non, đám cỏ tranh cao lút đầu người gãy nát. Nhà lão trống thênh, lũ đã quét hết lớp ván thưng xung quanh nhà. Dưới đống đổ nát, chiếc dép tổ ong của vợ nằm chỏng chơ. Lão ú ớ chạy quanh gọi vợ, khản cả tiếng mà vợ lão không đáp lời. Lão lao xuống đồi, ngã lăn lông lốc lại lồm cồm bò dậy. Không kêu thành tiếng được, lão hét, một tiếng hét chói tai khiến dân làng phải chú ý. Người ta ùa đến, đốt đuốc soi trong đêm để tìm bà tận ba ngày mà bất lực. Đến ngày thứ tư, nước lũ dưới xuôi rút cạn mới thấy vợ lão dạt vào bãi ngô. Bụng bầu tám tháng trương to, lặc lè như bụng trâu chết đuối. Người ta không cho lão đến gần, lão bất chấp xé người, gạt ra đám đông, xác người mặt nhớt đen, lỗ rỗ bởi cá rỉa không động đậy mà ộc máu. Lão quỳ xuống, lăn lê, tay đưa ra lại rụt vào. Người làng quấn vợ lão vào áo tơi mưa, trằn qua trằn lại khiến bụng bà vang lên tiếng “bục” lạ lẫm. Không khí đặc lại, hơi ẩm tanh lợm và nặng trịch tan ra. Ai nấy sợ hãi dừng tay, tản ra ngơ ngác nhìn vệt sẫm quẫy lên, phun sùng sục như bị nén khí lâu ngày chỉ chờ phút giải thoát. Từng vệt nước thẫm chảy cạn, đến khi cởi quần, ai nấy bàng hoàng, kinh hãi phát hiện dưới háng của bà có đứa trẻ đã trồi hẳn ra và còn nằm nguyên trong bọc nước ối. Khi vừa chạm vào, cái bọc vỡ ra, da thịt đứa bé đã lợt lạt và bắt đầu phân hủy. Vậy mà trên lưng nó vẫn nhìn rõ lắm một cái bớt đã hóa màu tím thẫm.
Từ ngày mất vợ con, lão hóa điên hóa dại, gặp đất ăn đất, gặp kiến ăn kiến. Bà Út thương không chịu được đã đón lão về trả ơn. Hôm đầu, bà thắp một nén nhang để lão cắm lên bát hương của vợ đã được bà xin về nhà thờ cúng. Lão tru lên, lắp bắp vò đầu bứt tóc và điên cuồng đập phá. Vợ lão còn sống sờ sờ, đêm nào cũng ngồi với lão trên tấm chiếu trải giữa sân, hôm thì chải tóc, hôm lại phe phẩy cây quạt quạt cho lão giữa hè oi bức. Con trai lão đã 15 tuổi, lớn lắm rồi, chẳng mấy chốc mà cưới vợ rồi sinh con đẻ cái cho lão ẵm bồng cháu chắt. Thấy lão phát rồ, bà Út với Tịnh phải đưa lão ra ngoài, nhanh chóng tìm thợ về lắp cửa để cách biệt phòng thờ không cho lão vào trong nữa. Bà cũng chịu khó đưa lão đi các nơi chữa bệnh, thầy thuốc nói bệnh phát do tâm, tâm an người mới ổn. Bà đành đưa lão về, nghe kể có loài cá chép sống lâu hóa rồng sẽ chữa được bách bệnh. Thế là Tịnh nuôi cá, thả vào ao toàn cá chép hồng rực. Chăm nuôi tốt, chúng lớn thôi thổi nhưng màu hồng càng lúc càng nhạt đi. Bà Út vẫn kiên trì mỗi ngày hấp một con cùng đỗ đen và nài nỉ lão cố ăn cho hết. Dù những con cá chẳng thể hóa được thành rồng  ấy không làm cho đầu óc lão minh mẫn lại thì nó cũng khiến lão bớt đau, an ủi lão cố sống nốt phần đời rệu rã với tỉ ti thứ bệnh khoác lên thân thể già nua ọp ẹp.
Tịnh cứ thế vác lão đi, lão quẫy đạp trên lưng nó chẳng khác nào đứa trẻ giở trò ăn vạ. Mệt quá, Tịnh thả lão ngã vật ra cỏ còn nó ngồi phệt dưới đất khóc tu tu. Lão ngơ ngác nhìn Tịnh, bất chợt, Tịnh như phát cuồng quay lại túm cổ áo lão, day đi day lại “ Muốn chết lắm phải không, vậy tôi cho bác chết”. Lời vừa tuôn khỏi miệng, nó bật dậy, một tay túm ngang lưng còn tay kia ôm ngang đùi, vật như bao gạo. Tịnh chạy phăm phăm lại phía hồ nước, rất nhanh, nó dùng hết sức bình sinh cõng lão nhảy tùm xuống. Lão vốn bơi giỏi, nhưng từ ngày gặp biến cố, khả năng bơi lội của lão dường như đã mất. Lão ngợp nước, chìm xuống lại trồi lên, quẫy đạp loạn xạ. Bóng nước loang loáng tan ra dưới ánh sáng nhờ nhợ của trăng rằm bị mây che phủ. Chợt, lão thấy vợ về tay ôm một đứa trẻ. Bà đứng nghiêng người, chỉ để cho lão nhìn một nửa gương mặt đứa bé quấn trong tã. Mắt lão kéo màng vẩn đục, càng đau mắt lão càng đục. Bà chỉ lẳng lặng đứng nhìn lão, mãi mới mở miệng nói “ Đi thôi”. Cả người lão căng cứng, lão ú ớ gọi tên, cố vươn tay ra với lấy bà, nhưng bà như một dải lụa, phất phơ trước mắt lão rồi nhẹ hẫng vụt lên không trung, lặng tắt.
Tịnh cắn răng đứng sát mép bờ chờ đợi, chờ ham muốn sống trong lão hồi sinh. Tự nhiên, lão không quẫy nữa, Tịnh hốt hoảng bơi ra thì thấy lão đã nằm ngửa, chân thọc xuống nước khua nhẹ tìm hướng vào bờ. Lão lồm cồm bò lên vệ cỏ, nằm vật ra thở hồng hộc. Không thở nữa, lão lại trân trối nhìn trăng rồi co người lại khóc rấm rứt. Nín khóc, lão quờ tay sang Tịnh, hổn hển “Mày đi mua cho tao chai rượu”. Tịnh bất ngờ quá, chồm lấy lão vồ vập hỏi “ Bác muốn uống rượu, bác không muốn chết nữa phải không?” Lão lặng im, Tịnh kéo tay lão đứng dậy đi về làng. Sau hôm ấy lão hiền đi, không còn nhăm nhe dọa chết. Lão cũng không ăn cá nữa, dù bà Út có nói thế nào lão cũng nhất quyết không ăn. Lão minh mẫn bảo bệnh vậy rồi, có ăn thế ăn nữa cũng không chữa được. Bà Út sửng sốt vì lão nói tỉnh bơ cứ như người chưa bị bệnh bao giờ. Nhiều đêm, lão không ngủ, ánh mắt hấp háy vọng vào gian thờ đóng kín. Một hôm, bà Út thấy lão tập tễnh mở cửa phòng, bóng tối chầm chậm tan ra, lão đứng lặng thinh không bật đèn cứ thế mò mẫm nhóm hương. Ngoài trời đổ mưa, tiếng ếch nhái xôn xao khắp mặt ao phẳng lặng.
Mưa tạnh, trời rót nắng vàng ươm. Tiếng kẻng leng keng gọi cá được Tịnh phấn khởi gióng lên nhưng không còn cảnh cá nhôn nhao chao lượn, quây tròn lấy nhau chờ mồi. Mưa lớn, nước dâng nhưng để đến bờ thì còn xa lắm. Ấy vậy mà từng đàn cá chép vẫn lựa nước, theo nhau thoát ra ngoài, đi cho bằng sạch. Bà Út an ủi Tịnh đừng buồn đừng tiếc, bởi cá chép muốn hóa rồng đều phải vượt vũ môn.
19/5/2026
Hà Hồng Nguyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đường về Cổng Trời

Đường về Cổng Trời

Chú Thòong đã ở bên tôi suốt cả mấy tháng mùa thu hanh heo khô quắt cho đến những ngày mưa phùn rét mướt. Chú hay bày trò cho đoạn đường đến trường của tôi ngày một gần hơn. Những ngày được về nhà, hai chú cháu thường đi rừng nhặt hạt dẻ, chú nhìn khói bếp bay mờ mịt dưới những gốc mận nở hoa trắng xóa mơ tưởng.
– Chú Thòong… chú…
Tôi thốt lên khe khẽ khi nhìn thấy người đàn ông đi từ dưới cánh sân khấu lên trong những tràng pháo tay không dứt của cả hội trường. Tư lệnh chào đáp lại rồi trịnh trọng mời ngồi dãy ghế đầu dành cho đại biểu. “Ai vậy?”, “Phó tư lệnh cảnh vệ, thiếu tướng Phan Thọ, sao?”, “Không” tôi ấp úng ngồi xuống, cảm xúc xâm lấn khó tả. Có cảm giác nào đó từ trong sâu thẳm khiến tôi gọi tên một người mà tôi luôn nhớ tới. Hôm nay là buổi lễ chia tay cho các chiến sĩ đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về với quê hương.
– Nhà mày ở đâu?
– Qua Cổng Trời là đến.
– Dân Na Ngoi mà cũng đòi đi học à?
Mỗi lần nói đến Cổng Trời và đoạn đường đi bộ về nhà vào dịp cuối tuần là tôi lại không yên. Chẳng có con đường nào mà lại đi đến sốt ruột như con đường này. Rừng càng về chiều càng tối. Đường dốc trơn trượt. Đứa trẻ mười tuổi một mình giữa đường cứ cắm mặt dưới đất, đơn độc mà đi. Lòng thấp thỏm bao nỗi sợ. Tôi sợ gặp đám du côn chặn đường, sợ đối diện với cha, biết được tôi bị đám trai bản khác đuổi đánh hay chặn đường gây chuyện, chắc chắn ông sẽ bắt tôi nghỉ học.
Tôi đã vượt qua được chướng ngại vật thứ nhất sau khi học hết lớp 2 ở bản, tôi phải băng rừng lội suối gần 20 km để theo học lớp 3 cũng phải đi bộ gần mất hai ngày đường. Ở bản có hai đứa đi học, mỗi lần đến trường hai đứa phải cõng trên vai 5 cân gạo rồi bẻ măng đắng dọc đường làm gậy chống để đến nơi còn có mà ăn. Lâu dần thằng Nới nản, bỏ học khiến tôi đôi lần đối diện với con đường dằng dặc phía trước cũng thoáng chần chừ.
Buổi đầu đi học trường dân tộc nội trú, tôi như con chim bị đưa ra khỏi cánh rừng quen thuộc của mình. Đôi khi nhớ nhà không chịu nổi, tôi trốn học, chạy bộ gần 20 km đường đèo để về đến Cổng Trời. Nhưng rồi từ khúc quanh vào bản, tôi nhìn xuống con dốc sâu hun hút mờ mịt trong sương, lòng lại nôn nao.
Việc tôi được đi học là việc từ trước giờ chưa có xảy ra ở bản làng thâm sơn cùng cốc này.
Việc hy hữu đó là nhờ chú Thòong.
Chú Thòong đến ở xóm tôi vào đúng một đêm mưa to gió lớn. Nước dưới Khe Tạt hung dữ như một con trâu điên hồng hộc đâm đầu vào hết đám cây bụi cỏ bên suối, nhổ tung chúng lên rồi nhấn vào dòng nước đang cuồn cuộn chảy. Hết lũ quét, cha tôi tìm thấy chú nằm ngất cạnh một gốc cây to. Chú chẳng nhớ nổi mình đến từ đâu, đi đâu nên cha tôi thương tình cho chú ở lại phụ việc vặt trong nhà và trông nom lũ em cho mẹ tôi xuống suối.
Chú Thòong chân cao chân thấp, tuổi thật chắc thua ba tôi nhưng mái tóc lù xù, bộ đồ rách rưới khiến chú nom như một kẻ dở người. Chú ngủ ở nhà dưới bên cạnh cái bếp lửa ở giữa nhà, trên cái sạp đựng đủ các loại củ quả dự trữ như bí đỏ, bí xanh, ngô, khoai, sắn các loại.
Từ bữa tôi bị bắt nạt dọc đường, cha tôi giao luôn nhiệm vụ kèm tôi đến trường cho chú, kiểu có người lớn bọn nó đỡ dọa tôi hơn chứ thực ra chú Thòong thì nào có làm được gì.
Từ ngày có chú, tôi không chán việc phải đi học. Tôi đi trước, chú Thòong đi sau, tấp ta tấp tểnh trên những con đường xuống dốc.
– Tiến, Tiến cố gắng đi học nhé Tiến… – chú Thòong nói cờ lăm cờ lay mãi mới được một câu như thế.
– Cha nói chỉ học đến lúc biết chữ thôi là nghỉ, không cần hơn.
– Bậy… bậy nào! Thế giới là ở nơi những con… con chữ ấy đấy. Có nó chúng ta sẽ đi được trăm ngàn vạn dặm chứ không phải qua một con dốc như thế này.
– Là ra đến Hà Nội phải không ạ?
– Còn xa xa hơn cả thế…
– Đến chú còn không biết chú tên chi, từ đâu đến đây mà đòi… – Tôi cười vỗ vỗ vào lưng chú – Được rồi, sau này cháu sẽ bảo vệ chú.
– Tên Thò…ong … Nhất nhất định nhé…
Tôi gật đầu.
Tôi đã nghĩ mãi những lời bâng quơ của chú Thòong thốt ra. Lời chú Thòong hôm đó có thể đúng, có thể sai nhưng đã gieo vào lòng một đứa trẻ miền biên viễn như tôi một ước mơ cháy bỏng.
Chú Thòong đã ở bên tôi suốt cả mấy tháng mùa thu hanh heo khô quắt cho đến những ngày mưa phùn rét mướt. Chú hay bày trò cho đoạn đường đến trường của tôi ngày một gần hơn. Những ngày được về nhà, hai chú cháu thường đi rừng nhặt hạt dẻ, chú nhìn khói bếp bay mờ mịt dưới những gốc mận nở hoa trắng xóa mơ tưởng:
– Tiến sau này lớn lên làm homestay cho bản mình chắc sẽ có nhiều người đến du lịch.
– Ai mà lên đến đây – tôi cười trước cách nói ngây thơ của chú Thòong…
– Sau Tiến đưa họ lên…
– Thôi được – tôi miễn cưỡng.
Tôi đã hứa với chú Thòong rất nhiều những điều vu vơ như thế vì nghĩ những điều đó làm sao có thể được. Người đến với bản tôi nhiều nhất là các cô giáo cấp 1 rồi cũng đi sau khi họ vận động trẻ con đi học không thành. Rồi đến những người đi rừng xin trú chân qua một đêm và đi.
Khi tôi quen với đoạn đường dốc dài, với những bài tập chạy, tập leo trèo, nhảy hố, vượt tường và khả năng phán đoán địa hình, thời tiết thì chú Thòong đột ngột biến mất như khi chú đến. Đêm đó, cả làng bị thức giấc bởi những tiếng súng nổ dồn dập liên hồi. Một đợt truy bắt tội phạm ma túy lớn nhất từ trước giờ đã làm mọi thứ xáo trộn. Những người đàn ông ngày ngày đi rừng đã trở thành đồng phạm của bọn buôn bán ma túy khi nhận cõng hàng qua biên giới qua đường tiểu ngạch. Người ta còn phát hiện ra trong những cánh rừng giáp biên vẫn có những cánh đồng trồng cây anh túc. Đến khi họ bị bắt đi, cả bản tôi vẫn chưa hết bàng hoàng.
Chú Thòong biến mất trong dịp ấy. Cả nhà tôi bần thần, nhưng người sốc nhất vẫn là tôi. Bố tôi sau khi kiếm tìm chú suốt mấy ngày trời không tìm ra tung tích, mỗi bữa ăn đều buông lời phàn nàn vì đã lỡ để chú Thòong theo sát tôi vào những ngày đến trường: “Biết chừng nó lại rủ rê thằng Tiến nhà mình đi xách hàng cấm”, “biết đâu…biết đâu”… Tôi lúc đó chỉ muốn hét lên rằng, tôi không tin chú Thòong có thể làm việc gì đó xấu. Tôi gào lên tôi chỉ lo chú Thòong có thể đã bị người ta sát hại hay chú bị đánh ngất ở đâu đó khi bọn xấu muốn bịt đầu mối, nhưng tôi không có đủ lý lẽ để có thể biện hộ cho chú. Tôi vùng đứng dậy, nước mắt lã chã chạy xuống cả một đoạn dốc dài.
Mùa đông buồn tê tái. Gió lạnh thun thút thổi làm gục mọi ý chí muốn ra khỏi nhà của cha tôi. Mẹ tôi đẻ thêm em bé. Cha tôi nhìn bốn đứa trẻ lít nhít tuổi nhau thở dài: “Hết đợt mưa này, thằng Tiến theo tao vào rừng”.
Tôi ngồi bên liếp cửa nhìn ra ngoài trời ướt sũng không biết vui hay buồn. Nhà sáu miệng ăn, các em còn chưa đủ sức trèo lên cây hồng hái trái chín giúp mẹ thì làm sao tôi có thể tiếp tục được đi học.
– Thằng Tiến hái đi một gùi hồng mai xuống thị trấn đem cho bà Xơn mà lấy tiền đóng học phí.
Lời mẹ nói nhỏ tưởng như rì rầm mà có sức mạnh kinh khủng đẩy tôi ra khỏi hiện thực phũ phàng đang diễn ra trước mắt. Bố tôi ngồi im. Tôi hết nhìn bố sang nhìn mẹ, định mở miệng nói “con nghỉ học” nhưng rồi ngay lập tức trước mắt tôi hiện ra con đèo trước mắt, Cổng Trời mờ mịt sương giăng. Tôi muốn đi ra ngoài thế giới rộng lớn đó, tôi muốn cho người ta biết, phía sau cổng trời đó, bản mường tôi như một người đẹp say ngủ đang chờ người đánh thức.
Tốt nghiệp THPT, tôi đăng ký nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện, tôi được chọn về làm nhiệm vụ cận vệ. Tôi đã rất tự hào khi biết để tìm ra những tân binh ưu tú nhất trong hàng chục nghìn thanh niên trúng tuyển nghĩa vụ quân sự không phải là điều dễ dàng. Đôi cánh chú Thòong chắp cho tôi, tôi đã dang rộng bay cao rồi. Tôi đã thực hiện được giấc mơ của mình là trở thành một người lính cảnh vệ hoàn thành nhiệm vụ và được xuất ngũ. Ngày mai đây, tôi lại trở về với Cổng Trời của mình. Về để viết tiếp giấc mơ của chú về Cổng Trời đang như một người đẹp say ngủ cần tôi đánh thức.
– Hạ sĩ Vừ Văn Tiến!
Một tiếng nói vang lên sau lưng khiến tôi giật mình. Tôi đứng bật dậy, xoay mình, dơ tay lên ngang đầu. Trước mắt tôi là chú Thòong, chú Thòong trong bộ đồ quân phục đang dang rộng vòng tay ôm chầm lấy tôi mắt ngấn nước. Tôi òa khóc. Đã vào trong quân ngũ, nếm mật, nằm gai chịu đựng bao nhiêu thử thách, nước mắt tôi cũng không rơi như thế này. Tôi úp mặt vào vai chú. Chú vỗ vỗ vào lưng tôi nghẹn ngào: “Cái thằng nhóc này…”, rồi chú cũng khóc.
Sau này, tôi mới biết, cuộc chia tay không báo trước của chú có kế hoạch từ trước, ngay sau khi có vụ vây bắt ma túy lớn đó xảy ra.
– Thế đấy – chú Thòong vỗ vai tôi – Đến lúc phải về rồi chứ?
– Vâng ạ – tôi đưa tay lên lau nước mắt – Cháu đã thực hiện được giấc mơ của mình là đi thật xa, giờ đã đến lúc cháu phải trở về để thực hiện lời hứa của mình.
– Ngày mai, ta cùng về lại Cổng Trời.
– Rõ!
Trời vừa chớm sang chiều, Cổng Trời đã xẩm xẩm tối. Dưới cánh rừng hoa mận trắng, hoa cải vàng có hai người lính vừa bước xuống xe. Người lính già đi trước, người lính trẻ theo sau cùng đi lên đèo. Họ bước vội vã xuyên qua những tán cây vội vàng. Xa xa, phía cuối con dốc, chỗ khúc quanh vào bản, sau những rặng hồng chín rực như lửa, Cổng Trời dần hiện ra trong mù sương khiến hai người vội vàng. Thật chẳng có con đường nào mà lại đi đến sốt ruột bằng con đường trở về nhà đến thế…
21/5/2026
Trần Quỳnh Nga
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nơi ấy là cửa biển

Nơi ấy là cửa biển

Đêm khuya lắm rồi mà Vui vẫn chưa ngủ. Vui ngồi dựa lưng vào đầu giường. Trên đùi là chiếc Ipad với giao diện của trang Facebook. Vui dán mắt vào màn hình, chăm chú đọc dòng chữ vừa hiện lên sau tiếng “tích”:
Cửa biển: Ông đi ngủ đi, bên ấy đã là 2 giờ đêm rồi đấy?
Vui mổ cò trên bàn phím, rồi nhấn enter:
Nhớ quê hương: Chưa ngủ. Già rùi. Khó ngủ lắm.
Cửa biển: Ngủ đi, mai còn lấy sức mà làm.
Những dòng hội thoại cứ thế nối tiếp nhau:
Nhớ quê hương: Tui làm cái nghề “Quanh năm xoong chảo đen xì/ Nước sôi ùng ục thấy gì tương lai”. Ngủ sớm hay ngủ muộn chả ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới đâu bà ơi.
Cửa biển:  He, thế thì chém tiếp chút nữa, rồi tôi phải tập trung làm việc, 8 giờ rồi, muộn mất.
Nhớ quê hương: Tôi có quà cho bà đây, nhận nhé: “Ngày xưa thắt đáy lưng ong/ Giờ đây đi chật cửa phòng vậy sao/ Thôi về nhớ tập thể thao/ Ăn ít 1 chút cho hao … mỡ phần”- haaaaa…
Cửa biển: Trả hàng này: “Bắc cước Tỷ mới luyện 1 năm//Thế mà khối kẻ đã bị băm/ Đệ mà loạng quạng thì đừng trách/ Kẻo lại kêu: “Trời, Tỷ chơi khăm”.
Nhớ quê hương: hiiii, bà vẫn ứng khẩu nhanh đấy nhỉ. Làm thơ tặng bà xong, tôi cười đến nỗi miệng chưa ngậm lại được. Bây giờ con ngan nhà tôi mà tỉnh dậy nhìn thấy, có khi tưởng tôi điên, kakakaka…
Vui bật cười. Giật mình nhìn sang bên. “Con ngan” nhà Vui vẫn ngủ say sưa. Vui chát tiếp một lúc nữa, đến khi cô bạn thoát mạng Vui mới tắt máy đi ngủ.
Cửa Biển là cô bạn thân học hồi cấp 2 mà Vui mới tìm lại được sau hơn hai mươi năm bặt tin. Cửa Biển chỉ là nickname, nhưng Vui lại thích coi đó là tên thường gọi của cô ấy, vì nó khiến cho Vui cảm thấy thân thiết hơn, gần gũi hơn với quê hương mình. Vui thấy cái tên ấy còn có gì đó mang đặc trưng tính cách của con gái đất Cảng, những thứ rất riêng mà Vui chỉ cảm nhận được chứ không thể diễn tả bằng lời. Mỗi lần thấy cái tên đó hiện trên dòng status, Vui lại thấy gương mặt cô bạn cười rạng ngời, cái cười kiêu hãnh kiểu: “Vâng! Tôi là con gái Hải Phòng!”.
Kéo chăn đến ngang ngực, Vui nhắm chặt mắt, nhưng niềm vui tưởng nhỏ nhoi ấy khiến cho đầu Vui vẫn tỉnh như sáo. Đã gần một tháng nay, lịch sinh học của Vui bị đảo lộn hết cả. Trước đây, cứ sau một ngày làm việc mệt nhọc, buổi tối Vui bật TV xem kênh VTV4 một lúc rồi đi ngủ ngay. Nhưng những ngày này, hôm nào Vui cũng thức khuya, thậm chí Vui còn mong ngày làm việc chóng kết thúc để Vui còn lên mạng chát với bạn bè. Cái facebook này hay thật, nhờ nó mà người ta có thể tán chuyện với nhau dù ở cách xa hàng chục nghìn cây số. Nhờ nó mà người ta có thể tìm thấy nhau dù bặt tin đã mấy chục năm ròng.
Trước đây, mấy đứa con suốt ngày dán mắt vào điện thoại, Vui ghét. Càu nhàu. La lối. Bọn chúng vẫn không thôi. Vui vào thử xem có gì mà bọn chúng nghiện thế. Vui lấy nick là “Nhớ quê hương”, upload cái bản mặt phèn phẹt, kèm quả kính cơn đen sì mà Vui tự chụp bằng điện thoại lên làm hình đại diện. Rồi một ngày đẹp trời, bỗng dưng có cái nick “Cửa Biển” nhảy vào: “Hây, Vui béo phải không”. Vui bấm, xem cái hình đại diện, nhận ngay ra là cô bạn học hồi nhỏ, tên My. Mừng quá, chát luôn. Qua My, Vui tìm lại được biết bao bạn bè, có người cùng ở Đức mà Vui không biết, chỉ cách thành phố nơi Vui sống có ba trăm cây. Có người làm việc ở Úc, ở Ấn Độ… còn phần đông vẫn ở Việt Nam. Mà chả ở đấy thì ở đâu. Quê cha đất tổ ở đấy, sinh ra, lớn lên ở đấy, già thì đào sâu chôn chặt ở đấy. Mấy ai xa quê như Vui đâu.
Tìm lại được bạn bè, dù chỉ được trò chuyện và nhìn thấy nhau qua màn hình điện thoại hay máy tính, Vui vẫn thấy thật hạnh phúc và ý nghĩa. Vui thấy như vừa tìm lại được quê hương. Mới đấy mà đã hơn ba chục năm rồi. Lớp Vui xưa là lớp chọn của trường nên bạn bè Vui ở Việt Nam khá thành đạt, đứa là Tiến sĩ, Thạc sĩ, đứa làm giám đốc này, trưởng phòng nọ. Mấy đứa đang ở Úc và Ấn Độ thì toàn làm việc tại Đại sứ quán, Lãnh sự quán Việt Nam. Vui lại buồn. Bao năm vất vả mưu sinh xa quê từ thuở mười sáu tuổi, giờ kinh tế mới gọi là tạm ổn. Vui nén tiếng thở dài, nhìn sang bên cạnh, “con ngan Tây” nhà Vui vẫn say giấc nồng.
Vui cứ nằm như thế, hai tay đan vào nhau gối dưới đầu, mắt chăm chắm nhìn lên khoảng không trước mắt. Bao ký ức của những ngày thơ ấu, tưởng quên, nay lần lượt sống dậy. Vui nhớ những tháng năm học trò. Nhớ ngôi trường với dãy nhà cấp bốn cũ kỹ rêu phong. Nhớ lại từng gương mặt thầy cô, bạn bè trong tấm hình mà bạn Vui post lên facebook hôm trước. Thầy Quang chủ nhiệm và dạy môn Văn. Vui học kém Văn nên bố mẹ gửi học thêm ở nhà thầy cùng Sỹ và Lê Anh. Ba đứa bọn Vui có lần còn lục nồi cơm nguội nhà thầy. Cô giáo dạy Toán mà bọn Vui gọi là cô Nguyệt trẻ, bởi đúng là cô trẻ so với tuổi, vóc dáng đẹp, làn da trắng mịn và khuôn mặt xinh một cách quý phái. Cô nghiêm khắc nhưng cũng rất tâm lý và thương yêu học sinh nên đứa nào cũng quý cô. Rồi cả thầy Phồn dạy Vật Lý, thầy Dưỡng dạy Sinh học. Từng gương mặt các thầy cô và những giờ học cứ thế lần lượt hiện lên trong đầu Vui. Nhớ sao cái buổi sáng giữa mùa thu, đương giờ chào cờ, thầy Kim đang nhận xét thì một cơn gió heo may ào tới. Và một trận mưa lá phượng trút xuống sân trường. Học sinh đồng loạt ồ lên thích thú. Nhiều thầy cô giơ tay hứng lấy những lá phượng vàng ươm. Thầy Kim ngừng lời, dành những phút tĩnh lặng để mọi người cùng tận hưởng cái khung cảnh và khoảnh khắc thiên nhiên tuyệt đẹp ấy.
Rồi Vui nhớ lại những chiều được nghỉ học đi chơi. Cả bọn kéo nhau lén chui qua rào thép gai để vào sân bay quân sự gần trường, leo lên những chiếc máy bay đã cũ kỹ hư hỏng, giả làm phi công. Có hôm bị các chú bộ đội phát hiện, bọn chúng ù té chạy, có thằng bị dây thép gai cào chảy máu cả lưng. Ấy thế mà chẳng chừa. Như thể cái gì càng bị cấm thì càng có sức hút. Vui nhớ từng con đường mòn, từng lỗ rào, từng rạch nước nơi bọn Vui “đột kích” vào sân bay. Cái sân bay ấy đến giờ vẫn được gọi bằng tên mà Pháp đặt từ hồi xây dựng năm 1912. Cái sân bay ấy chính là nơi ghi dấu chiến công oanh liệt của quân ta: phá hủy 59 chiếc máy bay và nhiều phương tiện quân sự của Pháp lúc bấy giờ, để làm nên chiến thắng Cát Bi rực lửa vào lúc 0 giờ 45 ngày 7 tháng 3 năm 1954 ấy. Vui nhớ như in những con số, bởi ngôi trường Vui học mang tên Cát Bi.
Hằng năm, mỗi dịp kỷ niệm chiến thắng này là một lần bọn Vui được các thầy cô ôn lại để ghi nhớ những phút giây hào hùng, oanh liệt ấy. Giờ đây nghĩ lại, Vui bỗng thấy thật tự hào về cái vùng đất nơi Vui được sinh ra và lớn lên. Hai mươi mấy năm xa rồi. Vui đã đi qua biết bao thành phố đông đúc, hiện đại của phương Tây, vậy mà từng cảnh vật, từng âm thanh vẫn hằn sâu trong Vui. Vui nhớ những con phố đơn sơ nhưng lúc nào cũng nhộn nhịp, rộn rã tiếng nói cười. Nhớ cả những buổi sáng ồn ã trong dãy tập thể của công nhân nhà máy. Nhớ tiếng khoá cửa lục cục, tiếng chào hỏi nhau xôn xao, tiếng líp xe đạp kêu lách tách, ro ro theo những bóng áo xanh xa dần, trong đó có cả cha mẹ Vui. Ôi, nhớ… Mới nhớ có ngần ấy thôi, ruột gan Vui đã thấy cồn cào. Mắt Vui bỗng cay xè. Và rồi dòng nước ấm tràn ra hai bên thái dương của Vui.
Có một hôm, sau khi nghe Vui bộc bạch tâm tư và nỗi nhớ quê hương, Cửa Biển an ủi:
– Ông đừng buồn, hãy thử nghĩ và tìm cách quay trở về xem sao. Ông có quyền trở về bất cứ khi nào ông muốn cơ mà. Và nếu có thể, hãy nghĩ xem mình còn làm được gì hơn nữa cho quê mình.
– Tôi hỏi thật, nếu giờ tôi về làm tiệm ăn ở Việt Nam, bà thấy có được không? – Vui đột nhiên chuyển mạch câu chuyện sang hướng khác.
– Tiệm ăn Nhật, giống như cái ông đang làm ở Đức ấy hả?
– Ừ.
– Ơ, được quá đi chứ, Hải Phòng mình hình như chưa có cái nào. Mà làm tiệm ăn ở cái thành phố đông đúc này, đã ai không trụ nổi đâu. Luôn đi thôi?
– Luôn thì đã sướng, tôi còn vướng những ba toa đằng sau, tôi muốn chúng được học hành tử tế bên này, tương lai mai sau tính tiếp. Con ngan nhà tôi thì đơn giản, mấy lần tôi dò ý, thấy không phản ứng chuyện về sống ở Việt Nam. Hắn bảo tôi đi đâu, hắn đi đó.
– Nhất ông rồi. Vậy thì vấn đề còn lại của ông là phải cân nhắc, tính toán thật kỹ thôi. Trai Hải Phòng sợ gì sóng gió, vất đâu chả kiếm được ăn.
– Làm đủ ăn không tính làm gì, tôi có dự định lớn hơn, tính mở cái gì đó ở Việt Nam để các em tôi làm ăn, chứ chúng còn lông bông lắm.
Thế là, câu chuyện của hai người bạn quay hẳn sang chủ đề làm kinh tế. Nếu giữa thành phố Cảng, và rồi ở nhiều thành phố khác của Việt Nam mọc lên những nhà hàng chuyên cá ngừ thì sao nhỉ, với những món ăn đúng phong cách Nhật và cả những món cá đặc trưng, truyền thống của Việt Nam? Làm thế nào để ngư dân Việt Nam có tàu vỏ sắt hoặc tàu lớn hiện đại hơn, vững chãi hơn để vươn khơi bám biển. Nếu họ biết cách đánh bắt, bảo quản cá ngừ đại dương theo đúng tiêu chuẩn thì con đường nào, phương cách nào để những con cá ấy được xuất sang Nhật Bản mà vẫn còn tươi nguyên?
Bấy nhiêu câu hỏi họ đặt ra là bấy nhiêu bước trong bản kế hoạch dần được định hình. Vui chỉ băn khoăn: Liệu Vui có thuyết phục được thầy Kato Hitoshi đồng ý hợp tác, chuyển giao phương pháp đánh bắt, bảo quản cá ngừ đại dương hay không mà thôi.
Những băn khoăn lo lắng, Vui không dám nói ra với Cửa Biển. Trước khi thoát mạng, Vui không quên dặn cô bạn liên lạc sớm với Hải, một người bạn cùng lớp hiện đang làm cán bộ quản lý ở một tỉnh miền Trung.
Sau đêm ấy, Vui mất ngủ thêm mấy đêm liền. Khi đã cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng lại tất cả mọi vấn đề, Vui quyết định bay sang Nhật thăm thầy Kato sớm hơn thường lệ, cũng là để xin ý kiến và bàn chuyện với thầy.
Thầy Kato đang là Giám đốc điều hành của một công ty xuất nhập khẩu và kinh doanh chuỗi cửa hàng hải sản tại Nhật. Thầy còn là một thành viên tích cực của Hội hữu nghị Nhật – Việt tại Sakai. Sau khi nghe Vui trình bày dự định và kế hoạch, thầy không giấu được vẻ vui mừng:
– Ồ, vậy là thầy trò ta cùng tư tưởng, chí hướng rồi.
Thầy dành suốt buổi hôm ấy để phân tích với cậu học trò quý mến của mình về vấn đề mối quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữa Nhật Bản – Việt Nam. Thầy cung cấp thêm cho Vui nhiều thông tin hơn về việc hợp tác đánh bắt cá trên biển Đông.
Nghe thầy nói, Vui không kìm nổi vẻ sung sướng, bật hẳn người lên:
– Thầy, vậy là con lại gặp vận may rồi.
Thầy Kato góp ý cho kế hoạch của Vui, không quên nói với Vui rằng, sức mạnh lớn nhất không gì khác chính là nội lực của chính bản thân mình. Thầy hứa sẽ ủng hộ và giúp Vui thực hiện những dự định tốt đẹp ấy.
Khi chia tay Vui, giọng thầy đột nhiên lắng xuống, đầy xúc động:
– Thầy bất ngờ khi con quyết định sớm thế. Dù có đi đâu, cuối cùng rồi cũng phải về nhà thôi, con ạ.
– Xong cả rồi, bà ạ.
Vui hồ hởi khoe với cô bạn khi đèn chat phía cô ấy bật xanh. Chưa kịp chờ bạn trả lời, Vui tiếp:
– Một mình tôi về trước, vào thẳng miền Trung với thằng Hải luôn rồi mới quay ra đó với các bà.
– Đi bước nào chắc bước đó nhé.
– Biết rồi, bà cứ nhắc thừa. Tôi sẽ về đó đúng ngày Tết Độc lập luôn, để được sống trong cái không khí tưng bừng mà bao lâu nay tôi chỉ thấy trên TV thôi, xem cảm xúc thế nào. À mà này, sao bà lại lấy nick là Cửa Biển? Cái tên của bà làm tôi luôn thấy ấm lòng mỗi khi nhắc đến.
Một khoảng lặng khá dài trôi qua, trước khi những dòng chữ mới hiện lên:
– Vì ở nơi ấy, tất cả các dòng sông đều cuồn cuộn uốn mình trước khi hối hả ùa ra biển lớn, để lại mỡ màu phù sa bồi đắp cho những bãi bờ. Vì đấy là nơi dang rộng vòng tay chở che cho những con thuyền mỏng manh vào trú đậu, tránh cơn bão tố phía khơi xa. Đấy cũng là nơi dịu dàng và ân cần chào đón những con tàu hân hoan trở về sau chuyến hải hành dài vạn dặm. Nơi ấy là cửa biển.
Cảm giác rạo rực dâng đầy trong Vui sau dòng tin nhắn ấy. Mắt Vui nhòe đi. Vui thấy hiện lên hình ảnh những con tàu đánh cá lừng lững vươn khơi. Vui thấy những ngư dân vững vàng hiên ngang nơi đầu sóng. Vui thấy những khoang tàu đầy ắp cá tôm về bến mỗi bình minh. Những con cá ngừ da xanh ngắt được chuyển đến các cửa hàng, được đi máy bay sang Nhật. Vui đứng đó, giữa vòng tay thân thương, yêu mến của bạn bè, giữa rừng cờ hoa rực rỡ của ngày Tết Độc lập. Tim Vui nghẹn lại. Vui không còn là người Nhớ quê hương nữa.
Vui phải về. Vui phải về thôi!.
25/5/2026
Đặng Thị Thúy
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nàng dâu ghê gớm

Nàng dâu ghê gớm

Nếu mọi người vẫn muốn tin vào những lời ma mị để kẻ ngoài dắt mũi làm khổ gia đình, thì đó là việc của các anh các chị. Nhưng với tư cách là con cháu trong nhà, em không cho phép bất kỳ ai đem cụ nhà mình ra làm trò cười thêm một lần nào nữa. Từ giờ phút này, việc gì đúng đạo lý em làm, việc gì sai trái em kiên quyết không đồng ý!
Màn kịch của lão thầy bói “Kính Đen” cuối cùng cũng khép lại trong ê chề. Tất cả những lời phán truyền hùng hồn, những nghi lễ rình rang suốt mấy ngày qua bỗng chốc tan thành mây khói, ngay giây phút nhát cuốc cuối cùng xới vào lòng đất lạnh: Không có tiểu quách, cũng chẳng có dấu tích nào cả. Dưới nấm mồ chỉ là lớp đất sét nâu xỉn, trơ trọi như một lời mỉa mai cay nghiệt vào sự mê muội của người đời. Lão thầy cùng đám đồ đệ vội vàng cuốn gói, lủi thủi rời đi trong nhục nhã.
Anh Minh – Trưởng họ, đứng lặng đó, gương mặt tái mét không còn một giọt máu. Cả cơ thể cường tráng và dáng vẻ phấn chấn khi nãy bỗng chốc rũ xuống như nhành cỏ héo trước ngọn lửa lớn. Không chỉ là nỗi nhục nhã vì bị lừa gạt, mà một nỗi sợ hãi vô hình bao trùm lấy tâm trí anh. Những lời thao túng về “vận hạn”, về “người âm quở trách” của lão thầy trước đó giờ như những bóng ma lởn vởn, khiến lòng tin bấy lâu nay trong anh hoàn toàn vụn vỡ.
Giữa lúc anh Minh đang chơi vơi như người chết đuối, thì người lái máy xúc khoảng 40 tuổi đã lặng lẽ quan sát mọi việc từ sáng đến giờ tiến lại gần. Gã đặt bàn tay thô ráp lên vai anh Minh, thì thầm bằng giọng ra vẻ thấu cảm:
– Em biết có một thầy này cao tay lắm, em sẽ giới thiệu giúp anh. Anh yên tâm, chắc chắn gia đình sẽ tìm thấy các cụ thôi.
Như người sắp chết chìm vớ được cọc gỗ, anh Minh bừng tỉnh, nắm chặt lấy bàn tay sạm nắng của người lái máy xúc như thể nếu không gã sẽ biến mất:
– Thầy ở đâu? Chú làm ơn giới thiệu giúp tôi. Chú giúp gia đình tôi với chú nhé!
– Vậy tối nay em sẽ đưa các anh qua gặp thầy.
Câu nói ấy như một liều thuốc tiên. Anh Minh bỗng chốc “xanh tươi” trở lại sau cơn héo rũ ban chiều.
Tối hôm ấy, sau một ngày kiệt sức dưới cái nắng đầu mùa oi ả, đại gia đình vừa dùng xong bữa cơm muộn, anh Minh đứng dậy, nói giọng nghiêm nghị của người ra lệnh:
– Các chú tranh thủ uống nước rồi theo tôi đi có việc ngay!
Anh Ánh, chú Tuân và Hoàng vội vã buông chén nước uống dở. Anh Minh quơ vội cái áo khoác lên vai rồi nhanh chóng giục mọi người. Chiếc xe lao đi trong đêm, ánh đèn pha xé toạc màn sương đang bắt đầu bảng lảng giăng trên những cánh đồng trũng. Bên trong xe, một bầu không khí đặc quánh sự ngột ngạt. Anh Minh ngồi ở ghế phụ, mắt dán chặt vào những vệt sáng lướt qua cửa sổ, tay liên tục vân vê chiếc điện thoại như chờ đợi một phép màu.
Hoàng – vốn là một thầy giáo, người từ trước tới nay không tin vào chuyện bói toán, không nhịn được anh lên tiếng:
– Anh Minh này… mình có vội vàng quá không? Tay lái máy xúc đó liệu có chắc chắn, hay lại là một gã “cò mồi” khác dẫn mình đến cho một lão “Kính Đen” thứ hai?
Câu hỏi của Hoàng như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào sự kỳ vọng đang bùng cháy của anh Minh. Tuân ngồi ghế sau cũng dè dặt hùa theo:
– Em cũng lo lắm. Hồi sáng mình mất mặt với dân làng thế là đủ rồi. Giờ mà lại bị lừa nữa, thiên hạ cười cho, lại bảo nhà mình có tiền mà không có trí.
Anh Minh không quay đầu lại, giọng anh khản đặc nhưng đanh thép:
– Các chú thôi đi! Còn nước còn tát. Lòng tôi đang như lửa đốt đây này. Nếu không tìm được các cụ làm sao tôi yên lòng được chứ. Thật giả đến nơi sẽ rõ.
Câu nói của anh Minh khiến Hoàng thoáng lặng người. Anh nhận ra phía sau sự cố chấp ấy là cả một gánh nặng trách nhiệm mà người anh trưởng đang gồng gánh.
Anh Ánh ngồi cạnh Tuân, vốn là người ít nói nhất, chỉ khẽ thở dài. Anh gầy gò, nay mặt mày lại càng hốc hác, dáng vẻ thất thần như kẻ mất hồn. Anh cũng giống anh Minh, không chỉ đơn thuần đi tìm mộ, mà đang đi tìm một lối thoát cho sự hoảng loạn đang gặm nhấm tâm trí sau những lời hù dọa ác độc của lão Kính Đen.
Xe dừng lại ở bên một ngôi làng cổ. Gã lái máy xúc đã đợi sẵn, đứng tựa lưng vào gốc đa già, đốm thuốc trên tay lập lòe đỏ rực giữa màn đêm.
– Đến rồi, các anh đi bộ theo em. Thầy không thích tiếng động cơ làm phá vỡ không gian yên tĩnh nơi đây.
Cả nhóm đi bộ vào một con ngõ sâu hút, lát gạch nghiêng đã rêu phong. Trái ngược với điện thờ nguy nga, sặc sỡ của lão ‘’Kính Đen’’, nơi ở của thầy này hiện ra là một ngôi nhà ba gian mái ngói cổ kính, sân gạch rải rác lá rụng. Không có tiếng chuông khánh rộn ràng, chỉ có mùi thơm thanh khiết của hoa mộc thoảng trong gió đêm.
Dưới hiên nhà, một người đàn bà có vóc dáng đậm đà, vững chãi đang thong thả pha trà. Cô ta có móng tay nhọn hoắt sơn trắng tinh và đôi môi đỏ chót tựa như được quét sơn. Đôi mắt một mí cụp xuống, cô ta khoảng hơn 40 tuổi, toát lên một vẻ bí ẩn vừa sắc sảo vừa khó đoán. Đó là cô Liên. Thấy nhóm người đi vào, cô không ngẩng đầu lên, chỉ thản nhiên rót nước vào bốn chiếc chén nhỏ:
– Các anh đường xa vất vả, uống chén nước cho tịnh tâm đã. Chuyện dưới đất, cứ để lòng mình yên thì đất mới mở lời.
Anh Minh bước lên định quỳ xuống, nhưng cô Liên đã giơ tay ngăn lại. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào anh, dịu dàng nhưng dường như xuyên thấu tâm can:
– Anh đang sợ? Sợ lời phán của kẻ khác, hay sợ chính sự hoài nghi của mình?
Anh Minh bỗng khựng lại, đôi vai run lên bần bật. Câu nói của cô như nhát dao gỡ bỏ lớp vỏ bọc mà anh dày công che đậy. Cõi tâm anh bấy lâu nay quả thực đang lạc lối trong nỗi sợ hãi mà lão Kính Đen đã gieo rắc.
Sáng hôm sau, anh em con cháu trong gia đình tôi đã tề tựu đông đủ. Không khí buổi sớm vốn dĩ thoáng đãng, mát mẻ là thế, vậy mà lòng người ai nấy đều nặng trĩu những bồn chồn lo âu. Chúng tôi đợi hơn một tiếng đồng hồ mới thấy chiếc xe ô tô trắng từ từ tiến đến rồi đỗ xịch.
Từ trong xe, cô Liên bước ra. Nhìn cô ta chẳng khác nào một diễn viên đang chuẩn bị lên sàn diễn với phục trang cầu kỳ, cứ thế lừng lững, lặng lẽ đi vào giữa những ánh mắt đang nín thở dõi theo.
– Con chào thầy!
Anh Minh cùng mấy người nữa vội vã chắp tay, khom lưng cung kính. Một vài người đứng đó, vẻ mặt ngạc nhiên xen lẫn e dè, im lặng quan sát. Cô Liên lẳng lặng đi thẳng về phía trước, nét mặt lạnh tanh, uy nghiêm đến phát sợ. Gã lái máy xúc và hai đệ tử lục đục xách đồ lễ theo sau. Theo cái chỉ tay đầy quyền uy của cô Liên, hàng loạt đồ mã xanh đỏ, mũ quan, hoa quả, xôi chè được bày biện ra choáng ngợp cả một khoảng đất. Con cháu chúng tôi răm rắp ngồi xuống phía sau lưng “thầy” như những quân cờ đã được sắp đặt sẵn.
Cô Liên lấy từ trong túi ra chiếc áo choàng dài màu gụ, thứ trang phục mang vẻ u tịch của chốn tu hành. Những nén nhang được thắp lên, khói mù mịt cả một góc trời. Tiếng mõ bắt đầu điểm:
– Choeng… choeng… choeng…
Tiếng chuông quyện vào khói hương nghi ngút, cùng tiếng cúng bái ngân nga, trầm bổng đầy ma mị. Bỗng nhiên, cô Hoa – cháu gái cụ tôi, miệng méo sệch, mắt trợn ngược, ú ớ không thành tiếng. Chị Kha, vợ anh Minh, thấy vậy liền lao đến mếu máo:
– Ối cụ ơi! Con là cháu dâu của cụ đây. Chúng con lặn lội đi tìm để rước cụ về nhà mới, cụ có linh thiêng thì chỉ bảo cho con cháu với cụ ơi!
Chị Kha cứ thế ôm lấy đứa cháu chồng, vừa khóc lóc vừa kể lể đầy vẻ nịnh bợ. Cô Liên đứng bên cạnh, gương mặt lạnh băng, đôi mắt lim dim rồi phán một câu xanh rờn:
– Cụ về nhập vào cô ấy đấy!
Nghe thế, cả nhà cuống quýt xúm xít vái lạy như tế sao. Nhưng trong khi Hoa vẫn còn đang ú ớ không ra lời, mặt mũi ngơ ngác, thì cô Liên lại đột ngột đổi giọng, âm sắc trở nên khàn đục, đầy ghê rợn:
– Cụ thoát rồi! Bây giờ là vong khác nhập!
Anh Minh nghe vậy thì hồn siêu phách lạc, giọng líu cả lại vì sợ:
– Thế… thế người đang nhập này là ai hả cô?
Ánh mắt cô Liên bỗng trở nên bí hiểm, đầy vẻ đe dọa. Cô ta hạ thấp giọng, từng lời thốt ra như luồng gió lạnh buốt:
– Người này là quan cai quản cụ của anh. Họ đang ngăn trở, không cho gia đình tìm thấy cụ đâu.
Cô Liên chưa dứt lời, anh Minh đã run như cầy sấy, mặt cắt không còn giọt máu, miệng lắp bắp không rõ tiếng:
– Vậy… vậy bây giờ phải làm thế nào hả cô… Xin cô làm phúc chỉ đường cho nhà con…
– Phải lập đàn cúng lớn để bắt lấy cái vong ấy nhốt lại! – Cô Liên chém tay vào không trung. – Nếu không, nó sẽ theo về quấy quả, ám quẻ cho các anh tan cửa nát nhà đấy. Nguy hiểm lắm!
Anh Minh run rẩy đến mức đứng không vững, vội vã khẩn khoản:
– Gia đình con trăm sự nhờ cả vào cô. Xin cô ra tay cứu giúp, tốn kém bao nhiêu nhà con cũng chịu ạ!
Cô Liên khẽ lắc đầu, vẻ mặt tỏ ra vô cùng nan giải:
– Khả năng của tôi cũng có hạn, tôi chỉ cúng bước khởi đầu được thôi. Phải là chị tôi – người có đủ pháp lực trấn áp mới bắt nổi cái vong này. Chị tôi cũng phải kết hợp với sư thầy ở đền… mới nhốt được nó lại. Sau đó mới dùng đến máy xúc mà đào. Và anh nên nhớ cho kỹ…
Cô ta dừng lại một nhịp, nhìn xoáy vào mắt anh Minh như muốn thôi miên:
– Ở cái đất này, chỉ có tôi mới nhìn thấy cụ. Còn lại, tất cả các anh đều đã bị màn sương mù che mắt hết cả rồi!
Cả không gian lặng đi. Những khuôn mặt cúi gập xuống, nỗi lo âu hiển hiện rõ mồn một. Tôi và Hoàng nhìn nhau, lòng nặng trĩu một nỗi bất an tột độ. Những lời phán kia chẳng khác nào những mũi dao tẩm độc, nhắm thẳng vào sự yếu mềm để bào mòn tâm trí, khiến người ta chết dần chết mòn trong nỗi sợ hãi vô hình. Tôi nhìn anh Minh – người đang hoàn toàn bị khuất phục trước những kịch bản tâm linh ác ý kia, rồi nhìn sang những người thân đang thất thần, gương mặt xám xịt như tro tàn. Một tiếng thở dài não lòng bật ra từ lồng ngực tôi. Trong cái mê cung của những âm mưu núp bóng thần thánh này, liệu ai sẽ là người đủ tỉnh táo để thoát ra?
Chiều hôm ấy, tôi đang ở khu từ đường thì nghe tiếng quát tháo ầm ĩ phía nhà trên. Dự cảm có chuyện chẳng lành, tôi vội vàng đi lên. Đập vào mắt tôi là một cảnh tượng hỗn loạn: anh Minh và anh Ánh mỗi người nằm thượt ra một giường, gương mặt hốc hác đầy vẻ kinh hãi. Chị Kha và chị Mi đang xúm xít quanh chú Thi – con trai thứ hai của chú chồng tôi. Vì quá khiếp sợ trước những lời phán truyền, chú mượn rượu giải sầu đến mức say khướt, ngồi không vững, giọng khản đặc luyên thuyên vô nghĩa. Thế nhưng, hai người chị dâu lại quả quyết rằng “cụ” đang nhập, cứ thế tung hứng rồi sum xoe khép nép gọi chú là “cụ”. Trong cơn say bét nhè, chú Thi cũng bắt đầu lên giọng bề trên để dạy bảo con cháu.
Nhìn cảnh tượng nực cười đến xót xa ấy, lồng ngực tôi như có ngọn lửa bùng lên. Sự im lặng bấy lâu nay đã vỡ òa thành một quyết tâm sắt đá. Tôi nhận ra mình không thể đứng nhìn thêm một giây phút nào nữa, không thể để mặc gia đình này tiếp tục rơi xuống hố sâu của sự cuồng tín và bị kẻ khác dắt mũi thêm được nữa.
Tôi nhìn chị Kha, hỏi bằng giọng sắc lạnh:
– Có chuyện gì mà mọi người ầm ĩ cả lên thế ạ?
Chị Kha chỉ tay vào chú Thi, vẻ mặt sùng bái xen lẫn hù dọa:
– Cụ về đang nói chuyện! Cụ bảo nếu không nhờ cô Liên cúng cho thì cái vong ấy sẽ về bắt vài mạng nhà mình đấy thím à!
Tôi nhìn sang chú Thi, gương mặt chú tái nhợt vì rượu, người lảo đảo không trụ vững. Tôi tiến lại vỗ vai chú, nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát:
– Chú say rượu quá rồi. Chú về nhà nghỉ đi.
Chú Thi trợn mắt quát:
– Tao không nói chuyện với mày! Mày là con cháu tao…
Không để chú nói hết câu, tôi chỉ thẳng tay vào mặt chú, giọng đanh lại đầy uy quyền:
– Chú say lắm rồi. Chú về nhà nghỉ ngay cho tôi!
Trước sự quyết liệt đột ngột của tôi, chú Thi im bặt, lóng ngóng hai tay đan vào nhau, đầu cúi gằm như kẻ mắc lỗi. Chị Kha thấy “kịch bản” bị phá hỏng, môi run lẩy bẩy, cố tỏ vẻ ngây ngô hòng che đậy sự lúng túng:
– Thím… thím quát tháo cụ như vậy là hỗn đấy? Cụ đang về dạy bảo mà… Thím làm như vậy sẽ bị quở trách đấy…
Tôi quay sang nhìn thẳng vào mắt chị, không chút kiêng dè:
– Chị thôi đi! Chị không thao túng tâm lý tôi được đâu. Đừng cố tình lấy cái danh người chết để gán cho người say rượu nói linh tinh nữa. Cụ nhà mình khi sinh thời là người khôn ngoan, đức độ, không bao giờ mượn lời của một kẻ say rượu bét nhè để dạy bảo con cháu luyên thuyên như thế cả. Chị đừng có đem linh hồn của cụ ra mà hù dọa mọi người rồi làm trò cười như thế nữa!
Bị nói trúng tim đen, chị Kha cứng họng, mặt tím tái lại vì vừa thẹn vừa giận. Chị ta không còn lý lẽ nào khác, bèn chống nạnh, cao giọng lấy vị thế dâu trưởng ra đè nén:
– Thím… thím đừng cậy bỏ tiền ra mà lấn át mọi người. Nên nhớ thím chỉ là dâu thứ thôi. Việc thờ cúng, mời thầy là quyền của vợ chồng tôi, thím không có quyền can thiệp!
Tôi cười nhạt, ánh mắt đanh lại đầy bản lĩnh:
– Chị nhắc đến quyền hạn, vậy sao chị không nhắc đến trách nhiệm? Chị ạ, em tin chắc chắn rằng cụ sẽ không bao giờ quở trách em. Bởi vì ở cái nhà này, ai tốt xấu thế nào mọi người đều biết, các cụ linh thiêng cũng sẽ thấu cả. Em gánh vác công việc nhà chồng ra sao, phụng dưỡng bố mẹ lúc ốm đau thế nào, trời đất đều biết. Em không mời thầy về cúng bái rùm beng, nhưng tuần rằm mồng một, giỗ chạp Tết nhất, em chưa bao giờ để lạnh lẽo khói hương.
Tôi tiến lên một bước, giọng nghẹn lại vì uất ức nhưng vẫn đầy uy lực:
– Còn anh chị thì sao? Tự nghĩ lại đi! Bỏ mặc bố mẹ lúc ốm đau, thậm chí bố mẹ nhắm mắt xuôi tay cũng không thấy mặt đâu. Công việc gia đình thì thoái thác hết cho các em. Giờ anh chị lại mang thầy về cúng bái rồi cho rằng như mình mới là có hiếu với các cụ. Anh chị tỉnh lại đi, đừng có dùng cái danh Trưởng tộc để che đậy cho sự ích kỷ của mình nữa!
Chị Kha mặt tím lại, chỉ lắp bắp không rõ tiếng. Đúng lúc đó, Hoàng từ dưới từ đường nghe tiếng chạy đến, giọng anh vang lên dứt khoát:
– Em thực sự không hiểu nổi các anh các chị nữa! Em đã cố nhắm mắt để mọi người mời hết thầy này đến thầy kia về cúng bái, dù em thừa biết cúng bái chẳng phải cho người chết, mà chỉ để yên lòng các anh các chị. Nhưng hết bài học từ cô Hương, ông Dũng rồi đến gã ‘’Kính Đen”, sự việc đã sờ sờ ra đó mà mọi người vẫn không chịu rút kinh nghiệm? Bây giờ lại tiếp tục dẫn dắt cả nhà lún sâu theo cô Liên này sao?
Hoàng dừng lại một nhịp, ánh mắt quét qua những gương mặt đang bàng hoàng, rồi tiếp tục bằng giọng đanh thép:
– Người ta bảo “tái tam ba bận”, đằng này các anh các chị mời đến sáu, bảy thầy cúng rồi nhưng đều xôi hỏng bỏng không hết. Hễ ai bảo đâu có thầy giỏi là lại lao vào như thiêu thân, cuồng tín đến mức mất cả lý trí!
Hoàng gằn giọng:
– Nếu mọi người vẫn muốn tin vào những lời ma mị để kẻ ngoài dắt mũi làm khổ gia đình, thì đó là việc của các anh các chị. Nhưng với tư cách là con cháu trong nhà, em không cho phép bất kỳ ai đem cụ nhà mình ra làm trò cười thêm một lần nào nữa. Từ giờ phút này, việc gì đúng đạo lý em làm, việc gì sai trái em kiên quyết không đồng ý!
Cả gian nhà lặng phắc, chỉ còn tiếng gió rít qua khe cửa và mùi khói nhang nồng nặc đến nghẹt thở. Anh Minh và anh Ánh đang nằm bệt trên giường cũng phải giật mình ngồi dậy, gương mặt hốc hác hiện lên vẻ bàng hoàng. Họ ngơ ngác nhìn người em trai vốn dĩ bấy lâu nay luôn giữ thái độ nhẹ nhàng để giữ hòa khí, nay bỗng chốc trở nên kiên nghị đến lạ kỳ.
Nói rồi, Hoàng dắt tôi bước qua đống vàng mã xanh đỏ đang bày bừa giữa nhà. Phía sau lưng, tiếng chị Kha vẫn lu loa xỉa xói, cố vớt vát lấy chút quyền uy đang rạn vỡ:
– Anh Minh, chú Ánh thấy chưa? Các anh để chú thím ấy lộng quyền thế à? Nếu chú thím ấy không đồng ý cúng, xảy ra chuyện gì với cái nhà này thì ai sẽ chịu trách nhiệm đây?
Anh Minh không đáp lời, chỉ cố ngồi dậy rồi hắt ra một tiếng thở dài thườn thượt. Hoàng nắm tay tôi đi thẳng ra cổng. Anh dừng lại, hít một hơi thật sâu làn không khí trong lành của buổi chiều – thứ không khí thuần khiết không còn đặc quánh mùi khói hương u tịch. Tôi nhìn anh, khẽ hỏi:
– Anh không sợ mọi người nói mình ghê gớm sao?
Hoàng nhìn tôi, một nụ cười hiếm hoi xuất hiện trên gương mặt mệt mỏi:
– Thì anh thà để em mang tiếng là nàng dâu ghê gớm, còn anh làm thằng em ngang bướng. Ít nhất, chúng ta còn giữ được cái đầu tỉnh táo để phụng thờ tổ tiên đúng cách.
Tôi thở phào, lòng nhẹ bẫng. Đúng vậy, đôi khi người ta phải chấp nhận đóng vai “ghê gớm” để bảo vệ những giá trị thực sự. Chúng tôi cứ thế bước đi, để lại sau lưng cái mê cung lầm lạc đang tự sụp đổ trong chính nỗi sợ hãi của nó.
Nắng cuối ngày nhảy nhót trên những tán lá bưởi xanh mướt. Đi bên cạnh Hoàng, tôi thấy đôi vai anh như vừa trút bỏ được một gánh nặng ngàn cân. Tôi ngoái lại nhìn ngôi nhà từ đường, nơi tổ tiên ngự trị, bỗng thấy thương cho các cụ vô cùng. Có lẽ ở cõi vĩnh hằng, các cụ cũng đang đau lòng khi thấy con cháu dùng tên tuổi mình làm bình phong cho những nỗi sợ hãi hèn nhát và sự lười biếng trong tâm hồn.
Người ta cứ mải miết đi tìm những “ngôi nhà mới” bằng gạch đá, tiểu quách dưới lòng đất sâu, nhưng lại để mặc cho ngôi nhà tâm linh của chính mình trở nên hoang lạnh, phủ đầy cỏ dại của sự mê muội. Anh Minh, anh Ánh, chị Mi, chị Kha… họ không chỉ lạc lối giữa cánh đồng tìm mộ, mà đang lạc ngay trong chính đức tin lệch lạc của mình. Họ bám víu vào cô Liên, vào gã Kính Đen… như những người lữ hành khát cháy giữa sa mạc, mải miết đuổi theo ảo ảnh mà cứ ngỡ là nguồn suối mát.
Tôi siết chặt tay chồng, cảm nhận hơi ấm của thực tại. Tôi hiểu rằng hiếu thảo không nằm ở mâm cao cỗ đầy hay những lời phán truyền huyền bí. Nó nằm ở cách chúng ta sống tử tế với nhau khi còn tại thế, và giữ cho hương hỏa tổ tiên được thanh sạch, không vấy bẩn bởi những toan tính u tối.
Chúng tôi bước tiếp về phía cánh đồng rộng lớn, nơi gió bắt đầu thổi lồng lộng, quét sạch những tàn dư của mùi khói nhang ngột ngạt phía sau lưng. Cánh đồng bát ngát hiện ra trước mắt, như một chân trời mới của sự thanh thản và bình yên.
27/5/2026
Nguyễn Thị Bích Vượng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Cây đào phai bên bờ rào đá

Cây đào phai bên bờ rào đá Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời nà...