Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

 

Cõi nhân gian và tiểu thuyết gia

“Anh nghe điện thoại tối nay nhé. Shipper chuyển sách em tặng đấy”. Rất thân tình và không màu mè. Nguyễn Phúc Lộc Thành vẫn vậy. Tôi thì không tin mưa rét sườn sượt đêm tối này trường thiên tiểu thuyết sẽ đến tay.

“Biết là sách, nên cháu phải cho vào túi nilon không ướt mất”.

Nhìn thằng bé shipper cười, mắt lấp loá dưới đường mưa lạnh tối mò mò mà tôi cứ ngẩn ngơ.

Ôm Cõi nhân gian vào lòng, tôi trèo lên gian nhà chung cư lửng chừng trời…

Tôi viết status như thế sau khi nhận Cõi nhân gian của Nguyễn Phúc Lộc Thành (NPLT). Cũng như câu chuyện nhận sách của nhiều bạn bè văn chương thân thiết khác, tôi không ồn ã gấp gáp đọc băng đêm. Phần vì sức khỏe đang khật khừ, phần cũng do thói quen. Cứ túc tắc, nhẩn nha thưởng thức bộ trường thiên tiểu thuyết của NPLT với nhiều kỷ lục hiếm và đặc biệt, trong giới văn chương nước nhà, dịp này.

Cõi nhân gian – Tập 1, hầu như không chỉnh sửa, được tác giả viết năm 1993, ít nhiều đã khẳng định tên tuổi của NPLT từ những ngày Nhà văn sống và làm việc tại Nga (Liên Xô cũ). Cõi nhân gian (CNG) – Tập 1 dày 363 trang, vốn gây ấn tượng dư luận và đã lọt vào chung khảo giải thưởng Hội Nhà văn năm 1994. Lối văn trần thuật, đời sống, bộc bạch tận cùng của CNG có thể ví như “Phiên bản phim ảnh chữ” quy chiếu rõ ràng thực trạng ngõ ngách xã hội, đang dò dẫm cố tìm điều mới mẻ trong nửa cuối thập kỷ tám mươi, thế kỷ trước. Với đầy đủ các mặt trái bày ra ở buổi sớm nhá nhem thời mở cửa.

Sự ngỡ ngàng về cuốn sách “xém” giải thưởng danh giá này là bao dấu ấn ngạc nhiên bởi lối văn lịch lãm hoàn toàn dùng ngôi thứ nhất – tiểu thuyết với giọng tả và kể, tiết chế ngẫm ngợi một cách tối đa. Tốc độ câu chuyện “Vào đời” nhanh và mải miết. Lối viết đậm đặc, lồng nhiều chi tiết bất ngờ khiến độc giả luôn hứng thú không thể buông lơi sách bởi cá tính rõ rệt thú vị trong các tuyến nhân vật, từng trang sách, như: ông Tám – Vũ Phan Long, cô Bảo, chị Trung Anh, Hưng, Vân, Bính, Sinh, chị Minh, chị San,… xoay quanh nhân vật Hương, hiền lành, chân thật, sống như nghĩ, thật như lòng mình hết thảy thiện lương. Thủ pháp – không thủ pháp, kỹ thuật mà rất tự nhiên, như được chảy tràn ra trong cách hành văn, cũng như kết cấu các tuyến nhân vật ở Cõi nhân gian Tập 1. Thật không hề ngạc nhiên khi Cõi nhân gian 1993 ngày ấy đã được đặt lên kệ của Thư viện Trường đại học danh giá vào bậc nhất thế giới – Trường Harvard, Hoa Kỳ. Và nghe kể, CNG được hàng chục trường đại học lớn ở Mỹ lấy làm tài liệu khảo cứu và giảng dạy cho các sinh viên.

Cõi nhân gian – Tập 2 được viết tiếp từ tháng 6 năm 2021. Chắc phải do cắc cớ gì mạnh mẽ lắm mới khiến Nhà văn ngồi vào bàn tiếp tục công trình để ngỏ này… Tôi thiển nghĩ, đây là một sự dũng cảm và dấn thân của Tiểu thuyết gia, khi bắt tay viết tiếp tác phẩm từng gây tiếng vang, dấu mốc sự nghiệp sáng tác của một đời văn. Tập 2 khởi đầu với giọng văn trần thuật và sâu sắc, vẫn tuyến nhân vật ấy, những bối cảnh cũ ấy, tuy một số cái tên đã kết thúc vai trò, “chết” hoặc biến mất lâm sàng trong các hoàn cảnh của tác phẩm (Hưng – em trai nhân vật chính Hương, ông Tám, Minh – vợ đầu của Hương, cô giáo Nghĩa, thằng Cẩu…). Tính bất ngờ, sự gieo mỏ, thủ pháp đồng hiện thuần thục, luôn xuất hiện trong thi pháp tả thực về hành động các nhân vật xuất hiện trong tập này (bà Tám – vợ của ông Vũ Phan Long, cô Hoan, chị Hồng, thằng Thắng, Quân ba số, anh Thông, chị Thảo, Hoàng – con trai của phó liên thành phố Nam, Vy – vợ Hương, anh Hảo viện thơ, anh Quang – Giám đốc Sở văn chương và nghệ thuật, Quận trưởng – Yên (sau tiến thân thành Chủ tịch liên thành phố), ông Nam, ông Công, bà Hoài, cháu Hương, bé Lương…) xoay quanh cuộc sống, công việc, tính cách của nhân vật chính tên Hương. Độc giả cũng sẽ rất ngạc nhiên, khâm phục về câu chuyện “hàn”, tiếp nối – gắn, giữa các sự việc, trường đoạn, tình tiết nhiều đầu mối của tác phẩm diễn ra sau đấy, mãi gần ba thập niên sau.

Cảm phục và ngưỡng mộ là cảm giác khi tôi bắt đầu hồi hộp nhâm nhi Cõi nhân gian Tập 2. Giọng văn vẫn dùng ngôi thứ nhất – có vẻ hoạt và tốc độ hơn nhiều ở Tập 1. Tình tiết cuộc sống trong tác phẩm đậm đặc, xảy ra gấp gáp, đa dạng, ấn tượng bất ngờ hơn. Sự biến đổi tình huống như cái đà Tập 1 đã chừa đất cho rất nhiều đề pa. Thực sự ngưỡng mộ khi các nhân vật: Hưng, ông Tám, cô Minh, gã Bính, cô giáo Nghĩa, gã Sinh, chị San… không còn tham gia trong Tập 2 mà tác phẩm chẳng hề bị hẫng, bị nhạt đi. Bằng thủ pháp linh hoạt cài cắm nhiều tầng chi tiết diễn ra cứ lớp lớp nảy sinh trường đoạn nhân vật mới – tự nhiên mọc ra, như: bà Tám, cháu Hoan, cháu Ngọc, bé Lương, quận trưởng Yên, chị Thảo, chị Hồng, thằng An, thằng Vụ, Hồng Anh con chị Thảo, chị Thụy An – Giám đốc Trung tâm truyền thông, Giám đốc sở Văn chương và Nghệ thuật – Quang, Chánh văn phòng – cô Loan… dần ẩn hiện và ngay lập tức khắc dấu đậm nét bản ngã và tính cách.

Vẫn cách bộc lộ thói người gắn với xuất phát điểm vùng miền, văn hóa ấy thôi mà dưới ngòi bút tài tình của tác giả được kẻ vẽ một cách đầy đủ, tròn vai. Nhân vật Trường, con của người đàn ông dòng họ Trần Đình làm nghề đạp xích lô vùng quê Cổ Lễ – Nam Định, mong lên thành phố tìm vận may nơi ống cống. Nếu không nhờ sự sớt chia tình nghĩa đồng bào của Hương thì không toàn thân xác để trở về quê, chỉ vài thưa gửi đã thấy Trường đúng là con người thật thà trung thực (… thế mà ở những tập sau, lại thay đổi không ngờ!); Như nhân vật Bảo bị dòng đời xô đẩy vào công việc tận cùng thấp hèn xã hội nhưng không hề đồng hóa, mất đi bản chất cốt lõi “đàn bà” tốt đẹp trong cô. Chút tự sự, vài cử chỉ thường nhật là thấy ngay đức hy sinh đẹp đẽ cho tình yêu, cho người mình gửi trọn yêu thương; Nhân vật bà Tám (Nguyễn Thị Ánh) tuy xuất hiện ít ở Quyển 2 nhưng chỉ qua dăm cuộc điện thoại, vài cái lắc đầu đã bộc lộ bản lĩnh mưu lược và quyền biến. Ý chí đặc biệt khác người trước mỗi hoàn cảnh cam go, không hổ là phu nhân của một cộm cán đã từng khét tiếng giang hồ. Nội dung của Tập 2 trải ra từ Vào đời 21 đến Vào đời 41 (Vào đời được tác giả khế ước như là một chương tác phẩm) Tập 2 – Cõi nhân gian, được viết từ ngày 17.6 đến 29.6.2021. Tức là chỉ trong có 13 ngày – Kinh hoàng. Một tốc độ viết chóng mặt. Sau này tôi biết tác giả kể đã làm việc hơn 16 tiếng đồng hồ mỗi ngày.

Tập 3 và Tập 4 từ Vào đời 42 đến Vào đời 81. Hai tập điểm xuyết các công việc thành lập Công ty Thiên Lương, kể về thuở khởi nghiệp muôn vàn khó khăn bập bõm ban đầu với chuyên môn hoạt động là lĩnh vực taxi tải hạng nhỏ Thiên Lương đầu tiên ở Hà Nội sau phát triển đến Sài Gòn rồi Hải Phòng, Quảng Ninh… đồng thời đánh dấu sự khai trương khách sạn Hotel Ruby và siêu thị Thiên Lương. Với nỗ lực không ngơi nghỉ của nhân vật chính Hương, một cơ ngơi doanh nghiệp hình thành và bắt đầu phát triển. Từng ngày, từng ngày sự chèo chống khôn khéo của Hương bằng ý chí vươn lên không ngừng trong kinh doanh đã đạt thành quả không ngờ và đồng thời cuộc sống của anh cũng dần ổn định với sự kết duyên lần hai với người vợ tên Vy. Hoàn cảnh xã hội thời manh nha mở cửa; Tệ nạn xã hội nảy sinh theo xu thế tự nhiên thị trường; Các cá nhân đảm nhận những chức vụ từ người gác cổng đến anh cán bộ thường thường tới những quan chức bậc trung trong các cơ quan công quyền xuất hiện nhiều tính xấu tham nhũng vặt đến những thèm thuồng vật chất cùng các thói ti tiện chơi nhiều, làm ít. Lúc nào cũng chỉ nhăm nhăm sàng sảy của công, được tác giả đề cập và điểm xuyết một cách tài tình, rõ nét ở các Tập 3 và 4 này.

Quyển 3 Cõi nhân gian gồm – Tập 5 và Tập 6 – từ Vào đời 82 đến Vào đời 121. Tác giả dành hai tập của quyển này để viết kỹ, sâu hơn quá trình phát triển Tập đoàn Thiên Lương. Mở rộng nhiều chi nhánh, xác định độc quyền và manh nha sự vô đối trong kinh doanh lĩnh vực taxi tải, taxi gia đình và xe cho thuê tự lái trên địa bàn hầu khắp các thành phố lớn trong cả nước. Tập đoàn đã xúc tiến những bước cơ bản để đầu tư sang các lĩnh vực kinh doanh khác. Nắm giữ nhiều vốn điều lệ của Nhà sản xuất rượu vang ThapCham Red Wine – được Nhà nước vinh danh sản phẩm rượu đặc biệt mang thương hiệu. Các khu nghỉ dưỡng và bất động sản với những dự án quy mô mấy chục ngàn dân cư từng bước được đặt nền móng khởi công (Ecupuss)… Song song với những dự án phát triển mới đặt ra cho nhân vật Hương – linh hồn của Tập đoàn Thiên Lương, những khó khăn mới nảy sinh. Những phức tạp thường nhật trong các gia đình nhỏ của gia đình lớn mà ông bà Công Hoài đứng chủ; Các mối quan hệ máu mủ, thâm tình khéo léo bộc lộ, sáp nhập cùng “tham gia” trong nhiều quan hệ giằng rịt nguồn cơn, gia đình và xã hội, hé mở diễn biến dần càng phức tạp trong hai tập 5 và 6 (Bé Hân con riêng của Hưng khi còn sống, với cô Thanh hàng xóm của gia đình Hương; Mối quan hệ giữa An – chồng của cháu Hương với Hồng Anh con gái của chị Thảo, tình nhân của nhân vật chính Hương; Bộc lộ tình cha con giữa An với ông Sinh – Một kẻ giang hồ, tội phạm truy nã, ẩn danh dưới lốt nhà tư bản Việt kiều chủ Tập đoàn Red Sun – David Trần; Thân phận của thằng Cẩu, con rơi giữa ông Tám – Vũ Phan Long khi còn sống với chị San (Mery Trần)…; Mối quan hệ nhân tình nhân ngãi nhuốm màu phe phái ô dù giữa những người đảm trách các chức vụ trong hệ thống công quyền với thế giới ngầm – Chủ tịch liên thành phố Yên với bà Tám; Các mối quan hệ tình ái buông tuồng như tấn trò cười của Giám đốc Sở Văn chương và Nghệ thuật – Quang với nhân vật Hòa, Thụy An, Hồng…).

Nhân vật Sinh, San (David Trần, Mery Trần) xuất hiện với thân phận hoàn toàn khác, báo hiệu một sự cạnh tranh khốc liệt trong kinh doanh cùng ân oán đời sống nảy sinh nhiều năm trước, kèm mối thâm thù dai dẳng trong lòng giữa nhân vật Sinh và Hương với những hố mâu thuẫn khó san lấp xa xưa đến việc “Giật” bé Nam cháu nội từ tay ông Sinh; Câu chuyện qua mặt ông Sinh của Hương khi cứu bà Hoài khỏi tù tội vì gây thương tích cho thằng An (con trai ông Sinh); Đến việc vô tình gây tai nạn giao thông làm chết cô Yến, em gái ruột của ông Sinh…

Mở rộng kinh doanh với sự phát triển con đường tiến thân chính trị của nhân vật Hương được Tiểu thuyết gia chú trọng và điểm xuyết dầy dặn ở Quyển 3. Hương đã chuyển cơ quan cũ từ Trung tâm Văn chương nghệ thuật sang Sở Văn chương và Nghệ thuật. Lời của nhân vật Quang: “Ừ. Đồng nghiệp về đây với tôi nhé. Tôi khoái đồng nghiệp thật lòng. Đồng nghiệp chẳng bon chen. Chẳng vỗ ngực. Chẳng quỵ lụy. Đến tiền mà đồng nghiệp cũng chẳng cần, chỉ cần mỗi danh dự. Lạ nhỉ. Đồng nghiệp có phải là người không cơ chứ? Rồi anh nhìn tôi từ đầu đến chân – Quyết nhé. Nhưng mà mất tương đối đấy, đồng ngiệp có dám chịu chi hay không đấy?”. Và suy nghĩ của Hương: “Tôi quyết định, sẽ dùng tiền để tiến thân bằng con đường chính trị. Tôi thênh thang, giờ mới bốn ba tuổi. Cơ hội còn rộng mở phía trước. Mười tám năm đảng viên, cựu rồi. Lại tiến sĩ, giờ học vị như thế, giới lãnh đạo sở chỉ có nằm mơ. Đúng. Tôi làm ra tiền để làm gì? Nhiều tiền để làm gì? Sẽ dùng tiền ấy để mua lấy danh dự cho tôi và cho cả dòng họ Nguyễn Thiện này. Tiền giá trị lắm, có ai chê tiền đâu, vì nó mua được rất nhiều thứ, trong đó bao gồm cả quyền chức và danh vọng. Tôi sẽ bàn kỹ với em về việc này. Nó là bước ngoặt vô cùng quan trọng của đời tôi.”

Cuộc sống sóng gió tựa đò đầy của Hương gắn liền với những mối quan hệ phức tạp ít nhiều mang dấu ấn bản năng, bị động với hàng tá đàn bà, mà sâu đậm nhất là mối quan hệ với chị Thảo, cô Bảo, chị Trung Anh, chị San, Hoan… tình dục được tiểu thuyết gia tiếp cận một cách khéo léo và mềm mượt. Diễn đạt rất văn chương ẩn dụ, nhưng các tình tiết vẫn không kém phần gay cấn, mê đắm, cuốn hút và bản thể.

“Chúng tôi như đôi nai vàng mùa đói, loạng quạng cùng vồ lấy miếng cỏ sương. Tôi đưa môi đi tìm ngọc thực, thứ thức ăn của đất trời, rải kín khắp cơ thể, trên mướt mải màu da phù dung của chị. Mùi hương của cỏ nhục, rất phồn sinh, cứ bừng bừng thơm dưới tấm ngực trần nơi tôi”- Trang 38 (Vào đời 84)

“… Tôi vồ lấy chị, cơ thể trần trụi ngàn ngạt hương cỏ nhục, khi ấy đang bừng bừng lên những cơn thơm. Như bữa ăn của thánh Giuda, bao nhiêu cơn hạn hán lâu nay nằm trong chiếc tô đời xứt mẻ, tôi chan cả vào chị” – Trang 64 (Vào đời 46).

“Tôi và em điên dại. Tôi hưởng ứng sự điên dại đó của em, nhưng thật tội lỗi, lại bằng thứ cảm xúc từ màu da phù dung và mùi hương cỏ nhục ấy. Nồng thơm và quyến dụ. Thứ cảm xúc đó từ em, hay là từ đâu tôi cũng chẳng biết nữa, nó như những con sóng tình vô bờ, cứ ào ạt từng cơn lên thân xác tôi mà chiếm hữu, mà hành hạ. Em là nữ hoàng của đời thằng đàn ông dại dột và tội lỗi như tôi, đêm nay. Đến tận bây giờ, tôi mới để ý, em có vòng ba nở nang, vòng hai thon thả và vòng một nhỏ nhắn. Em là mẫu phụ nữ đa dâm trên giường, đa tài trong bếp và đa tình, theo nghĩa cao cả với cõi nhân gian này”. – Trang 272 (Vào đời 65).

“Bảo ôm ghì lấy tôi. Tôi biết cái ôm này là dành cho người ruột thịt đi xa lâu ngày trở lại, không đượm màu sắc dục. Tôi nâng mặt cô lên, rồi đặt môi mình lên đôi môi nhơ nhớp bùn đời của cô… những cảm xúc ân ái như chết lâu rồi, gặp tôi, giờ lại đang rung lên mãnh liệt. Tôi hồ như nghe thấy cả tiếng tơ non của thịt da, run run trong vòng tay tôi, mềm ấm và nở nang…” – Trang 381 (Vào đời 76)

“Mùi hương cỏ nhục cuộn lên từng chập. Màu da phù dung nồng thơm. Tưởng như, chúng tôi đang hút kiệt năng lượng của nhau, để hấp thụ và duy trì tột cùng trạng thái cảm xúc không bến bờ, không ngơi nghỉ. Như lên cơn điên, chị lao vào cấu xé tôi. Tôi như kẻ tiều phu trong đêm nay được lạc giữa khu rừng nguyên sinh chị. Cứ ngụp lặn trong tươi tốt chị mà vẫy vùng đến ngộp thở” – Trang 399 (Vào đời 78)

Cũng lạ là các tuyến nam nhân vật như anh VG – Một người sống ở một vùng quê nông thôn đẹp đẽ; Một thần tượng thơ nổi tiếng nước nhà (không thấy tác giả điểm tên) ngày xưa Hương gặp tận bên Viện thơ Maxim Gorki, giờ suốt ngày anh đi thuyết trình thơ cả nước; Hay nhân vật Hảo – Trưởng Viện thơ, thông minh, dí dỏ, đẹp trai, chân thành, cá tính mà “thường nhật” không hề vương phải con đường tình ái như Hương. Có lẽ Tiểu thuyết gia muốn trừ ra, phàm những người nông dân quê kiểng hay làm công việc chuyên nghiệp lĩnh vực thơ ca là miễn dịch với những thứ sân si ở cuộc đời này. Lạ, không có rôm rả, “mả” như nhân vật Hương khù khờ gai gẳng.

Những trang văn rất đẹp và quyến rũ (sex thiền – lời tác giả bộc bạch) được trải thăng hoa như cõi tận cùng của ngày mai và ở một thiên đường xám báo trước ngày tận thế vũ trụ trong sự dâng hiến, tận hưởng, vô cùng bản thể.

“Tôi buồn thấu ruột. Trời lạnh, nhưng vẫn xanh mênh mông. Tuyệt nhiên, tôi chẳng thấy khoảng không gian nào tươi tắn, cảm giác như cả bốn bề héo úa đang bủa vây lấy tôi. Tôi chờ làm xét nghiệm. Rồi đành về chờ đợi kết quả xét nghiệm sau bốn mươi tám giờ nữa. Đúng là địa ngục… Tôi buồn lắm, đành lê lết mang cái thân về với em. Về đến nhà tôi bỏ ăn bỏ uống, chỉ nằm. Em lo lắng và hoang mang. Em không hiểu xảy ra chuyện gì đối với tôi. Em hết lòng chiều chuộng, ve vuốt. Tôi như một khúc gỗ mục. Cả đêm em ôm tôi. Rồi em lên cơn chồng vợ…” Trang 402 – Vào đời 78.

Tôi rất thích thú và nổi gai khi đọc những câu văn ấn tượng:

“Vô tội như cánh đồng hoa thuốc phiện”;

“Chị nuôi con bằng những dòng nước mắt”

Cứ nghĩ Quyển 4 – Gồm Tập 7 và Tập 8 là sự vun vén những cái kết tròn vạnh hay khả dĩ của các nhân vật quan trọng tồn tại phần lớn được đề cập trong trường thiên tiểu thuyết. Không ngờ ở đây còn tiếp tục mở ra các cuộc chiến thương trường khốc liệt nhuốm màu máu và nước mắt, một mất một còn. Thiên Lương đứng bên bờ sụp đổ và mất trắng nhiều triệu đô la khi xuất hiện Tập đoàn kinh tế tư bản Red Sun của Davit Trần (ông Sinh) từ Canada về nước, thọc tay vào các thương vụ thoái vốn, mua cổ phần của công ty Infacus Huế – đang phá sản. Infacus đã bắt tay cùng Tập đoàn sở hữu vốn quốc gia ABX hòng tạo cú lừa ngoạn mục đối với Thiên Lương. Cũng với sự tráo trở hiểm độc của Red Sun, tại Đại hội cổ đông rượu vang ThapChamRedWene đã công bố chủ sở hữu Nhà nước thoái xong 41 % vốn bằng hình thức mua bán thỏa thuận. Đối tác mua từ ABX, theo cách rất “bí hiểm”, là: Tập đoàn tài chính Red Sun… các tình tiết hỉ nộ ái ố của nhân vật chính Hương, Thiên, anh Quang – Giám đốc Sở Văn chương và Nghệ thuật, Tú – Chánh văn phòng Sở Văn chương và Nghệ thuật, chị San, Thanh, Tính… được tiểu thuyết gia điểm xuyết một cách sinh động và lấm láp, trong tập này. Có lúc lại dở khóc dở cười (như cuộc sống bê tha nhơ nhớp của nhân vật Quang với đám giả sư ở động Cư xá Lạc Hồng Viên), nói nên thực trạng thoái hóa của một bộ phận cán bộ mang danh trí thức các cơ quan nhà nước, bây giờ.

Các tình tiết, nút thắt của CNG được cởi và giải quyết tròn trịa trong Tập 8 với việc thanh thiên hóa mối quan hệ giữa ông Yên và bà Tám. Thì ra trước đây họ đã là vợ chồng, đã có giấy hôn thú và tấm giấy kết hôn này được bà Tám (tên thật là Nguyễn Thị Ánh) giữ gìn như tấm bùa hộ mệnh hòng áp chế những mưu đồ tàn độc của ông Yên đối với bà và con cái. Hai người đã từng có con chung là Lưu Thế Hoa hiện đang làm công tác đoàn thanh niên tại thành phố Nam Ninh – Trung Quốc. Cái chết bi thảm của nhân vật San đồng thời giải quyết câu chuyện phá án thành công của Bộ Công an nội địa về Tập đoàn Red Sun với những chứng cứ nhập khẩu hàng trôi nổi gắn mác hàng thương hiệu. Davit Trần cao chạy xa bay sau khi gây ra cái chết thương tâm cho vợ mình là chị San; Dự án Ecupuss khởi công thông đồng bén giọt khi Hương giải quyết thấu đáo mâu thuẫn với dân cư Tây Đà trong việc di rời 50 ngôi mộ nằm trong quy hoạch đất dự án, mà nút thắt là cái chết bí ẩn của nhân vật Lung, tay chân – ông Sinh – Tập đoàn Red Sun cài vào hòng kích động gây cản trở thực hiện khởi công dự án Ecupuss; Kết quả một lần dâng hiến sau chờ đợi, kìm nén yêu thương hết mực nhiều năm của cô Hoan đối với Hương là cái thai trong bụng cô khi bệnh ung thư đang khởi phát… câu chuyện nhân văn về việc quyết để sinh con của Hoan đem đến sự cảm động, sẻ chia cho mọi người đọc.

… Cuối cùng cái gì đến sẽ phải đến. Sự kết thúc cuộc đời bằng hành động tự sát không toàn thây của nhân vật Yên – Đặng Thục Yên – Chủ tịch Liên thành phố. Kẻ tha hóa, biến chất, mưu lược, quyền biến, gian hùng, ác độc. Từ nhân vật này ta thấy thấp thoáng… đâu đó, trong lớp công chức xã hội mà nhân dân, Nhà nước, Chính phủ ta đang hằng ngày tầm soát, thanh lọc, đào bỏ, đốt… phơi bày họ ra khỏi guồng máy. Ông Yên tự sát đồng thời kéo bức màn kín lại về những cái chết bí ẩn như vụ tai nạn trên đèo Sài Hồ của anh Vân. Vụ chết đuối không thể tin được của Lung giữa sông Hồng; Sợi dây treo cổ chị Thảo khiến nhân vật Hương và mọi người, đầy ngờ vực… tất cả mãi mãi đi vào bóng tối, nhưng cũng đã gợi mở suy đoán cho độc giả ra kẻ rắp tâm thanh trừng, thủ ác là ai?! Ai mới có thể dám làm những chuyện động trời khi đang tâm thuê người phóng hỏa hòng đốt chết vợ và đứa con trai vừa gặp mặt sau 30 năm lưu lạc. Ai mới đủ táng tận lương tâm làm những chuyện độc ác như thế để duy trì tham vọng chính trị của mình bằng mọi giá. Những trang đời sống của Đặng Thục Yên, từng trường đoạn… khiến độc giả đọc đến, đều rùng mình ớn lạnh.

Bằng sự tài tình cứng cỏi trong văn pháp, tiểu thuyết gia đã hiển hiện cho độc giả thấy gần hai nghìn trang của bộ trường thiên tiểu thuyết cùng khắp muôn nẻo thuở manh nha vật vã chuyển mình xã hội, với đầy rẫy đau thương mất mát ban đầu hòa nhập kinh tế thị trường của đất nước ta. Rất nhiều sự trải nghiệm về người, hoàn cảnh, sự việc, năm tháng đã qua và diễn tiến những năm tháng tới. Nhiều cay đắng phận người từng xuất hiện trong các mặt của đời sống xã hội, để tác giả chắt ra cả ngàn trang viết dung dị và sinh động. Những áng văn hay, hiện thực và trần thuật. Ở đó tôn vinh tình người, tính nhân văn trong mọi ngõ ngách hành xử, đáng khâm phục của nhiều cá nhân xã hội lấp lánh trong những trang văn. Nhân vật Hương là mẫu người tuy thực tế kháng thể đào luyện ra anh vẫn còn va vấp. Cuối cùng sự nhân văn, tính thiện lành trong con người anh đã thắng thế cái ác, thói vô cảm, va đập, ánh xạ từ ở ngoài kia… Nhân vật Hương là một thành công trong xây dựng nhân vật điển hình của Tiểu thuyết gia. Phải chăng đây cũng là hình mẫu người mà tâm ý tác giả muốn nhân cách hóa để xã hội noi theo.

19/3/2022

Phan Đình Minh

Theo https://vanvn.vn/

 

Phong cách phê bình văn học của Nguyễn Hoài Nam

Nguyễn Hoài Nam tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1997, hiện đang công tác tại Trung tâm Truyền hình Nhân Dân, Báo Nhân Dân. Anh  đã cho ra đời tác phẩm phê bình văn học “Từ trang sách đến gương mặt văn chương” (Nxb. Hội Nhà văn, 2021) dày 239 trang gồm 29 bài viết và chia nội dung ra làm hai phần. Phần 1: “Từ trang sách” (18 bài) và phần 2: “Đến gương mặt văn chương” (11 bài).

Chia nội dung như thế cho có vẻ tách bạch nhưng thực ra giữa chúng có mối liên hệ tác phẩm và tác giả biện chứng với nhau. Nhưng phần 1 sẽ nghiêng về nhấn mạnh việc đánh giả tác phẩm và phần 2 sẽ nghiêng về khắc họa một số chân dung nhà văn.

Qua những trang viết, Nguyễn Hoài Nam đã cho người đọc nhận thấy, đây là văn phong của một người viết chuyên nghiệp, có phong cách, có giọng điệu riêng; là người có khả năng bao quát thể loại văn học; có khả năng khái quát, chốt trúng vấn đề; lập luận chặt chẽ, nhận định, đánh giá tác phẩm và tác giả sắc sảo đồng thời còn là người có quan điểm phê bình rõ ràng, thẳng thắn.

Bao quát vấn đề văn học rộng; đánh giá, nhận định sắc sảo và thẳng thắn

Nguyễn Hoài Nam quan tâm đến nhiều thể loại, ở thể loại nào anh cũng có bài viết: từ tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ đến cả tự truyện, tản văn. Anh chú ý đến nhiều thế hệ tác giả: tuổi đời từ 1x đến 9x, từ Trương Tửu (1913) đến Trọng Khang (1994), từ thời Tự lực văn đoàn đến nay, rải đều gần thế kỷ. Anh không chỉ quan tâm tác phẩm trong nước mà còn ở nước ngoài. Mỗi bài viết của anh cho thấy các tri thức được tích lũy từ sự đọc. Có thể dẫn ra một số minh chứng sau.

Quan tâm đến vấn đề lịch sử thơ, Nguyễn Hoài Nam đã viết bài “Những tập thơ làm thành lịch sử”. Theo anh, lịch sử thơ sẽ là lịch sử của các tập thơ hay, có tính nghệ thuật cao chứ không phải bài thơ hay và do đó “chúng có thể đánh dấu mốc nào đó trong tiến trình lịch sử”.

Tôi nhận thấy, để có những nhận định riêng, Nguyễn Hoài Nam không chỉ đọc một nền thơ Việt Nam trải dài gần thế kỷ (từ thời Thơ Mới đến khoảng thời gian thập kỷ 90 của thế kỷ 20) mà còn phải đọc tất cả các bài viết đánh giá, tranh luận chung quanh các tác giả và tác phẩm, thậm chí cả những ý kiến đối lập, trái chiều ấy.

Cuối cùng, bằng sự “thành thực với chính mình” và những dòng lập luận thuyết phục, Nguyễn Hoài Nam cũng đã “cả gan” đưa ra danh sách 5 tập thơ (đã đạt giải thưởng văn chương) cắm mốc lịch sử thơ là: tập “Mấy vần thơ” của Thế Lữ (1935), tập “Tinh huyết” của Bích Khê (1939), tập “Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm (1959), tập “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên (1960), tập “Sự mất ngủ của lửa” của Nguyễn Quang Thiều… Sự “cả gan” này cho thấy bản lĩnh, chính kiến của nhà phê bình.

Trong bài “Bên lề một diễn trình đổi mới”, Nguyễn Hoài Nam đã đề cập văn chương của hơn ba mươi năm đổi mới ở phương diện sáng tác (văn xuôi và thơ) bao gồm một seri danh sách dài gồm hai “làn sóng” tác giả (những người viết sinh 1950-1960 và sinh năm 1980-1990) có thành tựu nghệ thuật. Sau khi đồng thuận với ý kiến của nhà phê bình tài hoa Chu Văn Sơn, Nguyễn Hoài Nam còn bổ sung một nhận định xác đáng về “sự vắng khuyết của cái mà trong lịch sử phát triển của nhiều nền văn chương, thường được gọi là sự đối đầu thế hệ” (tr. 117). Theo tôi hiểu: “sự đối đầu thế hệ” ở đây chính là sự thay thế hệ giá trị cũ của văn học bằng hệ giá trị mới.

Bài “Chiến tranh nhìn từ phía hậu cảnh” đã cho người đọc thấy Nguyễn Hoài Nam bao quát quán chiếu rất nhiều tác phẩm cùng đề tài viết về chiến tranh bao gồm cả các tác phẩm nước ngoài và trong nước, bởi đây là một đề tài lớn. Nội dung những tác phẩm “viết chiến tranh” trong nước có thể liên quan đến “chiến tranh trong chiến tranh; ca ngợi đất nước anh hùng hay để nhận thức sự kinh hoàng, nỗi đau khổ mất mát mà chiến tranh gây nên số phận dân tộc hoặc như một sự trút xả nỗi bức xúc tự thân…”. Sau khi so sánh với một số tác phẩm văn xuôi nước ngoài như tiểu thuyết “Bản giao hưởng Pháp” của Nemirosky[1] và tiểu thuyết Bẫy 22 của nhà văn Mỹ Joseph Heller[2], Nguyễn Hoài Nam nhận thấy văn học (văn xuôi) những tác phẩm viết về chiến tranh” từ phía hậu cảnh của chúng ta muốn có sự độc đáo, sự “lạ”, sự “lớn” về chiều kích triết lý tư tưởng thì: “tài năng, tính độc sáng của người viết đương nhiên là một phẩm chất tối cần thiết để tạo nên sự “lạ” cho tác phẩm. Nhưng cũng cần thiết không kém là bản lĩnh nhân văn, là cái nhìn về chiến tranh hoàn toàn độc lập của nhà văn. Là sự không lệ thuộc, sự được “tẩy rửa” khỏi những áp đặt từ bên ngoài, có thể nói vậy. Nếu được như thế thì từ “lạ” đến “lớn”, đối với một tác phẩm văn học mà xét, có lẽ không phải là con đường quá dài.” (tr.135)

Chỉ để biết cảnh và người Hà Nội bây giờ so với cảnh và người Hà Nội trước đây thế nào, Nguyễn Hoài Nam đã dõi theo nhiều nhà văn có tác phẩm cùng viết về đề tài Hà Nội. Đó là Nguyễn Việt Hà với “Ba ngôi của người“, Lê Minh Hà với “Phố vẫn gió”, Nguyễn Huy Tưởng với “Sống mãi với Thủ đô“, Chu Thiên với “Bóng nước Hồ Gươm”…

Tôi rất hiểu, để viết bài “Tự truyện, trước giông bão của dư luận”, Nguyễn Hoài Nam đã phải đọc rất nhiều, thu nạp tri thức từ hàng ngàn trang sách. Tức là ít nhất anh đã phải đọc một số tự truyện của các văn nghệ sĩ nổi tiếng Việt Nam xuất hiện rải rác khoảng vài chục năm trở lại đây như “Lê Vân – yêu và sống” (Lê Vân – Bùi Mai Hạnh), “Hồi ký Phạm Duy” (thực ra đây là tự truyện của Phạm Duy chứ không phải hồi ký),… cũng như phải đọc những tác phẩm nước ngoài như “Lời bộc bạch của một thị dân” của Marai Sandor, “Hội hè miên man” của Ennest Hemingway, “Đời tôi” của Marcel Reich Raniki, “Người tình” của Marguerite Duras,… Tôi thấy mình bị thuyết phục khi Nguyễn Hoài Nam đã đưa dẫn chứng những cuốn được coi là tự truyện của tác giả nước ngoài kể trên để khuyên độc giả không nên quá tin vào những cái gọi là “sự thật” trong tự truyện, cũng như trong hồi kí vì trong nhiểu trường hợp rất khó xác minh. “Ấy là chưa kể đến việc, khi những sự thật đời tư kia được viết ra không nhằm để nói rằng nó là sự thật đúng như đã xảy ra, mà chỉ là nguyên liệu cho một mục tiêu sáng tạo nghệ thuật cao hơn, thì tính đáng ngờ của sự thật càng trở nên rõ nét” (tr. 111).

Nhan đề “Tản văn, nhìn lướt từ một thể loại nhỏ” có những chữ như “lướt” và “nhỏ” khiến cho người đọc có cảm giác nội dung vấn đề đưa ra bàn luận rất khiêm tốn. Nhưng kỳ thực, cái sự đọc và sự nghĩ trong bài viết của Nguyễn Hoài Nam lại không hề khiêm tốn một chút nào. Một bài viết chỉ 8 trang về một thể loại nhỏ nhưng anh đã bao quát cả mấy chục tên tuổi viết tản văn của Việt Nam và cả Trung Quốc cùng những tác phẩm của họ trong một thời gian dài. Danh sách các nhà văn viết thể loại ấy có trong bài phê bình nếu tôi gom lại thì rất dài nên xin không nhắc lại. Thậm chí, anh còn điểm danh, ghi nhận những đóng góp của cả những tác giả có những tản văn lẻ như nhà sử học Cao Huy Thuần, nhà khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, họa sĩ Phan Cẩm Thượng, nhạc sĩ Dương Thụ, đạo diễn Nguyễn Việt Linh… Điều đó chứng tỏ rằng, tầm bao quát tác phẩm và thành tựu trong một thể loại của Nguyễn Hoài Nam là rất rộng. Còn chiều sâu của sự đọc ấy là những nhận định sắc sảo về một số tác giả có thành công ở thể loại này, đặc biệt nhấn mạnh trường hợp tập tản văn “Nhân trường hợp chị thỏ bông” sáng giá của Phan Thị Vàng Anh. Cuối cùng, Nguyễn Hoài Nam kết luận “tản văn là thể văn dễ viết nhưng khó hay” và đồng tình với chia sẻ của Đỗ Phấn – người viết nhiều tản văn là: “cần phải có một nội lực chữ nghĩa kinh người thì may ra mới viết được gọi là tàm tạm” (tr.104).

Anh có cái nhìn về văn chương của Ma Văn Kháng với đề tài phụ nữ như sau: “Khước từ việc phải đánh giá tốt/ xấu về mặt đạo đức, khi viết về người đàn bà ở cả hai cái nhìn-và-thấy này, Ma Văn Kháng giữ một lập trường trung tính, một thái độ bình thản của người thấu suốt lẽ đời: cuộc đời là thế, con người là thế, người đàn bà là thế, tất cả đều có thể “Có”, mà “Có” thì ắt là hợp lí” (tr. 41)

Nguyễn Hoài Nam cũng tỏ ra là người ưa đổi mới khi anh luôn cổ súy những tác giả có sáng tạo trong cách viết và tự tin đưa ra những nhận định của mình.

Trong bài “Từ chiến tranh đến hòa bình, lời thú của con chim và khẩu súng máy”, Nguyễn Hoài Nam đã đánh giá tác phẩm “Con chim joong bay từ A đến Z ” của nhà văn Đỗ Tiến Thụy là: “hơn mười năm nỗ lực tự tháo dỡ mình, tự phá vỡ mình để tìm kiếm thêm cho mình một cách viết khác, một cái viết khác” (tr. 31) và “đã tìm ra được một nội dung đích đáng cho những kĩ thuật tự sự, nhất là trên phương diện đa bội hóa giọng kể. Tôi thậm chí có thể khẳng định rằng: để cho con chim joong và khẩu đại liên trở thành nhân vật người kể chuyện là một sáng tạo độc đáo của anh” (tr. 33).

Tác giả trẻ Huỳnh Trọng Khang viết tiểu thuyết “Mộ phần tuổi trẻ” khi mới hai mươi tuổi. Tôi cũng đã đọc tác phẩm này, dẫu trong nội dung tác phẩm còn vài sơ suất nhỏ nhưng có sáng tạo về cấu trúc tác phẩm. Và, Nguyễn Hoài Nam đã có những dòng khen ngợi: “Một nỗ lực kiến tạo cấu trúc tiểu thuyết khác lạ. Nó đòi hỏi rất nhiều dụng công, từ điểm nhìn hồi cố, kí ức của người kể chuyện thải ra như một bức tranh lập thể, trong đó có sự chồng chéo của những khoảng thời gian lệch nhau, sự liền mạch của những sự kiện xảy ra ở rất xa nhau, sự giao thoa giữa những tư liệu lịch sử khả tín với hư cấu văn chương” (tr. 53). Anh cũng đánh giá cao sự “chịu đọc” của người viết trẻ này: “Cái đọc của tác giả ở đây đã trở thành cái viết, nó tham gia vào văn bản ở mọi cấp độ” (tr.53). Anh khẳng định “Mộ phần tuổi trẻ” đã cho thấy “một kiểu người viết và một kiểu viết khác” và đây là một “vệt sáng của văn xuôi trẻ”.

Nguyễn Hoài Nam nhận xét tác phẩm “Gần như là sống” của Đỗ Phấn là: “một kiểu tiểu thuyết – tản văn” (Đỗ Phấn vốn rất sở trường ở thể tản văn). “Tiểu thuyết có chuyện mà không có truyện. Nó miên man trôi đi theo nhịp sống bình thường hằng ngày và dòng ý thức của nhân vật. Sự kiện chỉ được kể lướt qua. Nhưng cảm giác của nhân vật về sự kiện xảy ra với mình, trên mình thì được viết kĩ lưỡng bằng một lối văn tinh tế giàu biểu cảm” (tr. 21).

Tạo được phong cách và giọng điệu riêng

Nguyễn Hoài Nam không chỉ quan tâm đến việc “viết về nội dung” mà còn chú ý đến cách “viết nội dung”. Bài viết của anh có sự kết hợp hài hòa giữa phê bình hàn lâm và phê bình nghệ sĩ. Anh bước đầu tạo được phong cách và giọng điệu riêng. Phong cách và giọng điệu chính là dấu ấn tạo nên thương hiệu của mỗi nhà văn hoặc nhà phê bình.

Nguyễn Hoài Nam có quan điểm phê bình rõ ràng: “Làm phê bình, với tôi, quan trọng nhất là sự trung thực, và quan trọng nhất là trung thực với chính mình. (…) đừng viết ra những gì mình không/ chưa tin tưởng. Như thế, theo tôi cần thiết hơn là khách quan, “công tâm” một cách giả tạo… (bìa 4).

Trong một bài viết, để bảo đảm tính khoa học, bao giờ anh cũng giải thích khái niệm các thuật ngữ một cách rõ ràng; trích dẫn, dẫn nguồn chính xác; lập luận chặt chẽ mang tính nghiêm túc của phê bình học thuật. Bên cạnh đó, anh có ý thức dụng công đến việc đặt nhan đề và viết câu văn ấn tượng, có màu sắc riêng.

Tôi nghĩ, các “tít” bài viết của anh khá ấn tượng, có khả năng mời gọi độc giả lưu ý, dừng mắt và thậm chí trong vài trường hợp còn có khả năng “câu view”. Chẳng hạn: Nếu chỉ đọc nhan đề: “Những người đàn bà của nhà văn Ma Văn Kháng” thì rất có thể độc giả nghĩ rằng bài này sẽ viết về những vấn đề tình ái của một nhà văn nổi tiếng nghiêm túc. Nhưng người đọc đã nhanh chóng xua tan sự hiểu lầm ở phần mở đầu. Hóa ra đây là 5 người đàn bà tương ứng với 5 loại phụ nữ trong tác phẩm “Những người đàn bà” của Ma Văn Kháng. Và như vậy, nhan đề hoàn toàn thống nhất với nội dung chứ không phải là chuyện “treo đầu dê, bán thịt chó”.

Nhan đề: “Hà Nội qua hai phiên bản khác” cũng khiến người đọc tò mò: phiên bản là gì? Sao lại là phiên bản khác? Ngay khi đọc mở đầu, người đọc đã biết bài viết này so sánh hai cái nhìn, hai tâm thế cảm nhận về Hà Nội của hai tác giả đồng tuế, cùng sinh ra lớn lên ở Hà Nội, cùng có tác phẩm viết về Hà Nội là Lê Minh Hà (nhà văn hải ngoại) và Nguyễn Việt Hà (nhà văn công giáo).

Nhan đề: “Đầu chày đít thớt ông đâu ngán”, hay là Vũ Bão cười cũng lạ tai. Thì ra, Nguyễn Hoài Nam đã dùng một câu thơ trong bài thơ “Vịnh Vũ Bão” của Xuân Sách (một nhà thơ có tài vẽ chân dung, thần thái của văn nghệ sĩ bằng thơ khá chuẩn xác) để bắt đầu cho “cái viết” về ông nhà văn “hoạt kê đa phong cách” quê Thái Bình này.

Nhan đề “Hai ông Trương, một Tự lực văn đoàn” cũng khiến người đọc đặt ra câu hỏi: hai ông Trương là hai ông nào? Và độc giả thỏa mãn với câu tự trả lời: À, đây là hai cây bút phê bình xuất sắc nhất một thời: Trương Tửu (1913-1999) và Trương Chính (1916-2004).

Nhan đề “Trần Hùng thơ và những giấc mơ thơ” cũng thật ấn tượng bởi tính nhạc và cụm từ “Trần Hùng thơ”. Sao không phải là “thơ Trần Hùng” mà lại là “Trần Hùng thơ”? Sự lạ này khiến người đọc lưu tâm và nhận ra: Thơ với Trần Hùng “không phải là một danh từ, tức nó không chỉ/trỏ một loại vật thể mà người ta có thể có được bằng lao tâm sáng chế hoặc gia công tạo tác. Thơ, chính là một động từ chỉ/trỏ một trạng thái sống, một hoạt động sống thường trực và tự nhiên của Trần Hùng, tự nhiên như thở, như nghĩ, như cảm giác. (Tôi dùng cụm từ “Trần Hùng thơ” trong nhan đề bài viết là theo nghĩa này)” (tr. 80)

Nhan đề đảo bổ ngữ lên trước động từ: “Bạn tôi, nhìn từ phía góc nghịch” cũng gây sự chú ý. Góc nghịch là gì? Từ điển có đất nghịch, nghịch tặc, nghịch ngữ, nghịch dụ, nghịch ngầm… Đất nghịch là thế đất tam giác có vấn đề; nghịch ngữ, nghịch dụ là biện pháp tu từ tạo sự tương phản; đứa trẻ nghịch ngầm chắc chắn sẽ lắm chiêu trò hơn những đứa trẻ khác; vậy suy ra: góc nghịch là góc không bình thường. Tuy nhiên, đọc rồi mới thấy, Nguyễn Hoài Nam đang viết về một họa sĩ, nhà báo, nhà văn khác thường nhưng không tầm thường.

Bên cạnh những nhan đề gợi sự tò mò thì lại có những cụm bài ấn tượng với những “tít” ngắn gọn, gọi thẳng tên đề tài, đảo vị ngữ lên đầu câu như: “Viết cách mạng, trường hợp Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Tuân”; “Viết Hà Nội, trường hợp Đỗ Phấn”; “Viết miền núi, trường hợp Cao Duy Sơn”… (Lưu ý, Nguyễn Hoài Nam không dùng: Viết về cách mạng, Viết về miền núi, Viết về Hà Nội là có tính lý do).

Bên cạnh sự dụng công khi đặt nhan đề, Nguyễn Hoài Nam còn quan tâm đến cách viết – “viết nội dung” (chữ dùng của Hoàng Ngọc Hiến). Chẳng hạn, khi “vẽ” chân dung một bạn văn, anh sử dụng giọng điệu hài hước với câu văn giễu nhại rất dài kéo theo sự xuất hiện một seri ngôn từ truyện chưởng: “Bố vợ nhìn thấy con rể in sách kìn kìn xem ra cũng… chạnh lòng. Nhưng chẳng sao, đại tôn sư cỡ Đào Hoa đảo chủ Hoàng Dược Sư khi thấy “Lạc anh chưởng pháp” vàng danh thiên hạ của mình không qua mặt được “Hàng Long thập bát chưởng” của ông con rể Quách Tỉnh đen thùi lùi thì cũng còn nổi cáu kia mà!” (tr.234)

Phong cách phê bình của Nguyễn Hoài Nam vừa hàn lâm, vừa bình dân, vừa  học thuật vừa nghệ sĩ. Chẳng hạn, trước khi giải thích thuật ngữ một cách khoa học, anh lại có những câu văn rất khẩu ngữ: “Có lẽ nguồn cơn của mọi sự thể là ở chỗ thiên hạ cứ hay mắc cái bệnh mù mờ vui tính, hay nhầm lẫn lung tung trước hai khái niệm, dẫu gần nhau những vẫn cứ khác nhau là hồi ký (autobiography) và tự truyện (memoir)” (tr. 107)

Dấu ấn “viết nội dung” còn thể hiện ở những câu văn có những cụm từ đối nhau chan chát:

“Những nhân vật cứ chập chờn chấp chới nửa khôn nửa dại, nửa mê nửa tỉnh, nửa tinh nửa lú trong sách của y, đôi khi chính là cái Ta giữa cuộc đời đầy nhọc mệt này” (tr.238). “Hướng ra bên ngoài, đó là diễn ngôn xưng tụng. Hướng vào chính mình, đó là diễn ngôn tự thán” (tr. 137) “Nhân vật của cuốn tiểu thuyết thuộc về kiểu con người trung bình cộng giữa đặc sệt và loãng toẹt, phi thường và vô vị, rạng ngời và xám xịt” (tr. 139).

Tương tự như trên, câu văn sau đây cũng có sự hài hòa giữa nhận định về nội dung và cách viết nội dung: “Dường như ở bất cứ lĩnh vực nào của đời sống, ở bất cứ nơi nào có sự trái khoáy của việc lẫn lộn giữa cái thật và cái giả, cái đẹp và cái xấu, cái tử tế và cái nhem nhếch, cái hợp lý và cái phi lý… là Vũ Bão đều xuất hiện và cất lên tiếng cười” (tr.183).

Những trang viết của anh có nhiều câu văn biểu cảm. Chẳng hạn, đó có thể là câu văn có sự kết hợp các từ trái nghĩa với những từ láy động từ rất phù hợp để nói về những hoạt động: “Hà Nội của ngày hôm nay, trên và dưới, trước và sau, hùng hục, sùng sục, quần quật trong công cuộc mưu sinh, làm giàu, hưởng thụ và cả tự hủy” (tr. 15). Hoặc có thể là câu văn có nhiều từ láy tính từ rất phù hợp để diễn tả cái xấu.“Cái xấu của sự bấn loạn, xộc xệch, nhớn nhác, nhem nhếch, lôi thôi đang ngày một loang rộng” (tr.15,16). Có câu dài đến 7 dòng với 7 lần sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ “không phải vì” để nhấn mạnh nội dung “mà vì…” (tr. 117).

Ngoài ra, người đọc dễ dàng nhận thấy những câu văn tu từ, diễn đạt giàu hình ảnh kiểu như: Nếu coi tập “Về Kinh Bắc” “như một giấc mơ-thơ mang năng lực xoa dịu những vết thương đang hoác ra từ cơn địa chấn dữ dội nhất trong cuộc đời Hoàng Cầm thì năm đêm của nhịp Một – Khấn Nguyện, có thể nói, chính là năm mảnh mơ- thơ linh diệu nhất của một đời thơ” (tr. 78). “Đỗ Phấn cứ trở đi trở lại giữa quá khứ và hiện tại, bằng một giọng văn rất nắn nót, nhưng lại nửa ngậm ngùi, nửa dí dỏm, tựa như cái người một mắt thì rưng rưng trầm ngâm, mắt kia thì nheo nheo chế giễu” (tr. 103).

Tóm lại, có thể thấy Nguyễn Hoài Nam là một người viết phê bình văn học có nghề. Anh chịu đọc nên có khả năng bao quát, quan sát rộng tình hình văn học cả trong và ngoài nước; có những đánh giá, nhận định sâu sắc, thẳng thắn trên tinh thần “trung thực với chính mình”, chỉ viết ra những gì mình thật sự tin tưởng. Anh đang tạo dựng và hình thành một phong cách phê bình mang thương hiệu Nguyễn Hoài Nam.

Chú thích:

1. Nemirosky, “Bản giao hưởng Pháp”, Lê Ngọc Mai dịch, Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn, 2008.

2. Joseph Heller, Bẫy 22, Lạc Khánh Nguyên dịch, Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn, 2018.

21/3/2022

Hoàng Kim Ngọc

Theo https://vanvn.vn/

 

Tiểu thuyết “Năm lá quốc thư” của Hồ Anh Thái – Từ góc nhìn văn hóa

Bốn mươi năm ông viết văn cũng là khoảng thời gian ông gắn bó với nghề ngoại giao. Đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay là sự sắp đặt của số phận? Hồ Anh Thái viết về ngành ngoại giao, người ngoại giao, cũng là viết về mình, về những buồn vui, được mất, mà hơn ba mươi năm ông có được trong tư cách một nhà ngoại giao chuyên nghiệp.

Kể từ truyện ngắn đầu tay Bụi phấn đăng trên Văn nghệ Quân đội (1979) đến nay Hồ Anh Thái đã có hơn bốn mươi năm cầm bút. Ông thuộc vào số những nhà văn có sức viết, sức sáng tạo bền bỉ, mạnh mẽ nhất trong văn học đương đại Việt Nam. Tác phẩm của ông, từ truyện ngắn, tiểu thuyết, đến tiểu luận, đều mang lại cho người đọc một hứng thú riêng. Rất riêng, dường như chỉ có ở ông. Nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đã được dịch và xuất bản ở ngoài nước, trong đó có những tác phẩm, như Người đàn bà trên đảo, Trong sương hồng hiện ra đã có mặt ở hơn mười quốc gia trên thế giới. Ông là một trong sáu nhà văn hiện đại Việt Nam được giới thiệu trong bộ Từ điển tiểu sử văn chương(*) ở Mỹ. Ở Hồ Anh Thái, nhà ngoại giao, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa phương Đông, đã hợp nhất thành một thể bất phân. Trong văn học Việt Nam đương đại, điều này dường như chỉ có ở Hồ Anh Thái. Tác phẩm của ông chứa đựng nhiều giá trị văn hóa sâu sắc. Đó là một thứ văn hóa đã phần nào thể hiện được sự tổng hợp Đông – Tây, truyền thống và hiện đại. Trong đó, hai yếu tố nổi trội là văn hóa Ấn Độ và văn hóa Việt Nam. Đa văn hóa, liên văn bản là hình thức kết cấu thường gặp trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, Năm lá quốc thư là một tác phẩm như vậy.

1.Năm lá quốc thư – chuyện của người trong nghề nói về nghề

Năm lá quốc thư là tiểu thuyết được Nhà xuất bản trẻ xuất bản vào cuối năm 2018, khi Hồ Anh Thái vừa kết thúc nhiệm kỳ Phó Đại sứ quán Việt Nam ở Indonesia. Trong văn học hiện đại Việt Nam, đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên, và duy nhất cho đến nay, viết về ngành ngoại giao, người ngoại giao. Nó là kết quả sáng tạo của một dự định, được Hồ Anh Thái ấp ủ từ những ngày đầu viết văn. Trước đó, ông đã thể nghiệm ở hai truyện ngắn Lá quốc thư I (1994), Lá quốc thư II (1995). Trong Lời nói đầu tiểu thuyết Năm lá quốc thư, ông viết: “Ngay từ buổi đầu viết văn, tôi đã tâm niệm sẽ viết một cuốn tiểu thuyết về các nhà ngoại giao. Bốn mươi năm qua ý tưởng ấy cứ ở mãi trong đầu, cho đến bây giờ mới viết ra được” (trang 5). Bốn mươi năm ông viết văn cũng là khoảng thời gian ông gắn bó với nghề ngoại giao. Đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay là sự sắp đặt của số phận? Hồ Anh Thái viết về ngành ngoại giao, người ngoại giao, cũng là viết về mình, về những buồn vui, được mất, mà hơn ba mươi năm ông có được trong tư cách một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Năm lá quốc thư được ông định danh là tiểu thuyết. Điều đó chứng tỏ, ông đã có một ý thức nghệ thuật rõ ràng, “sử dụng quyền hư cấu để đưa người đọc bước vào một khung cảnh thuần túy tiểu thuyết” (trang 5). Đó là một sự cẩn trọng, tinh tế, khi viết về nghề mà cả đời ông gắn bó, về những người mà ông đã gần gũi, sẻ chia. Là một thể loại có tính dân chủ, tiểu thuyết cho phép ông thể hiện một cái nhìn gần, “không khoảng cách” (M. Bakhtin), với tâm thế của người đối thoại. Những gì ông thể hiện trong Năm lá quốc thư là một thế giới mở, pha trộn, đan xen, hư và thực, hư cấu (Fiction) và phi hư cấu (Non Fiction). Từ những nhân vật như Đại sứ 1, Đại 2, Đại sứ 3… cho đến tôi, nàng, ông Trưởng phòng tổ chức, tòa Đại sứ, Nước Cộng hòa Dân chủ Malastan, Nước Cộng hòa Sinkistan… đều là những sáng tạo nghệ thuật. Tuy nhiên, đó không phải là sản phẩm của một hư cấu, tưởng tượng thuần túy. Đó là sáng tạo, là “bịa một cách nghệ thuật”, dựa trên một hiện thực đầy ắp chi tiết, sự kiện, mà tác giả là một phần của hiện thực đó. Đọc Năm lá quốc thư không ít người trong nghề ngoại giao đã nhận ra bóng dáng của một vài người bạn học cùng khóa ở trường Đại học năm xưa, hay một ai đó mà mình đã gặp trong giới ngoại giao. Kết cấu của Năm lá quốc thư phảng phất kết cấu của tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi, ra đời gần mười năm trước đó. Đức Phật, nàng Savitri và tôi như tên gọi, là câu chuyện về ba nhân vật Đức Phật, Savitri và tôi. Mạch ngầm văn bản là xung đột giữa đạo và đời; giữa nhập thế và giải thoát; giữa khổ hạnh và dục lạc; xưa và nay. Cũng như thế, Năm lá quốc thư là những chuyện kể về năm lá quốc thư, mà giữa chúng không có nhiều khác biệt. Những lời viết trong lá quốc thư, không dành cho riêng ai, ngay cả khi đã được ghi rất rõ: “Tôi trân trọng thông báo việc bổ nhiệm ông/ bà…” Đằng sau những dòng chữ ấy, tuyệt nhiên không hiện lên bất cứ số phận, phẩm chất của một ai. Đó là hình thức giao tiếp mang tính công thức, nghi lễ của văn hóa ngoại giao, một thứ văn hóa chỉ những người trong nghề, sành nghề, mới hiểu. Tiểu thuyết Năm lá quốc thư, bởi thế, không phải là câu chuyện về năm lá quốc thư, mà Đại sứ Việt Nam trình lên nguyên thủ các quốc gia. Không có thông điệp gì từ nội dung năm lá quốc thư. Đó chỉ là một thông lệ quốc tế, nghi thức ngoại giao. Nội dung của tác phẩm được thể hiện ở những câu chuyện về năm lần trình quốc thư, gắn với công việc, con người cụ thể. Tác phẩm có bố cục được bài trí theo trật tự tuyến tính, từ Lá quốc thư thứ nhất, Lá quốc thứ thứ hai… cho đến Đoạn kết là Lá quốc thư thứ năm. Ứng với một lá quốc thư là một chương của tiểu thuyết, có khả năng tồn tại độc lập như một truyện ngắn, một hồi ức mang dáng dấp tự truyện. Các hình thức điện ảnh, thi ca, âm nhạc đến võ đạo, báo chí, tiểu luận… được tích hợp một cách sáng tạo. Ẩn chứa trong đó là những câu chuyện văn hóa, không chỉ là văn hóa ngoại giao, mà còn là văn hóa của người làm ngoại giao. Và xa hơn là văn hóa của một quốc gia, một dân tộc.

2.Nhà ngoại giao và văn hóa ngoại giao

Trong Năm lá quốc thư, nhân vật kể chuyện là “Anh” thuộc kiểu người “biết tuốt”, giữ vai trò kết nối câu chuyện xung quanh năm lá quốc thư thành một chỉnh thể nghệ thuật sinh động, thống nhất. Lối viết của Hồ Anh Thái là lấy điểm nhìn diện. Mỗi chi tiết, sự kiện được kể, đều có sức khơi gợi, mở ra khoảng trống cho tư duy, tưởng tượng của người đọc. Tính đối thoại, vì vậy, là một đặc điểm nổi bật của Năm lá quốc thư. Từ câu chuyện về ông Đại sứ 1 không biết tiếng Anh, luôn sử dụng một thứ ngôn ngữ của văn hóa làng xã, chỉ thích uống rượu vodka Nga với cá trích nướng, đến câu chuyện Đại sứ 2 hiểu canh gà Thọ Xương trong câu ca dao “Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương” là “ngày xưa ở làng Thọ Xương lừng lẫy với đặc sản món súp gà “Chicken soup Thọ Xương Village” (trang 77)… đã hé mở phần nào về người ngoại giao, khác xa những gì người đọc tưởng tượng. Bên cạnh các Đại sứ 1, 2, 3, là những ông quản trị, hành chính, tạp vụ… làm việc trong Đại sứ quán. Họ hiện lên nhếch nhác, hành xử như những người thiếu văn hóa. Cũng như các vị Đại sứ, họ là sản phẩm của một nền văn hóa nông nghiệp, sản xuất tiểu nông. Nền văn hóa đó chứa đựng nhiều giá trị làm nên diện mạo, bản sắc văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, bước vào thời hiện đại, kiểu tư duy, lối sống, cách ứng xử… của văn hóa tiểu nông đã lỗi thời, trở thành lực cản cho quá trình hội nhập của đất nước. Thay đổi, trước hết là trong nhận thức, là yêu cầu bức thiết của quá trình hội nhập, toàn cầu hóa. Sứ mệnh văn hóa của nhà ngoại giao là kết nối các nền văn hóa, đưa đất nước hội nhập với các quốc gia trên thế giới. Các Đại sứ, các nhân viên trong Đại sứ quán, phải là người am hiểu văn hóa, có văn hóa, “phải là nhà văn hóa”. Nhìn vào họ, phía sau họ luôn hiện diện văn hóa của quốc gia, dân tộc. Nó thể hiện từ trang phục, nghi thức giao tiếp… đến quan điểm, lối sống, cách ứng xử trong cuộc sống, công việc. Trong Năm lá quốc thư, mỗi nhân vật được khắc họa đều có đặc điểm, diện mạo riêng. Ông Đại sứ 1, là Bộ trưởng Công nghiệp, trước khi nghỉ hưu được đưa đi làm đại sứ để hạ cánh an toàn. Ông Đại sứ 2, trước khi trở thành đại sử là một phiên dịch trong cơ quan ngoại giao. Đại sứ 3 là một phụ nữ, được bổ nhiệm nhờ ưu thế giới tính, giỏi ăn nói, khéo che đậy mưu mô. Họ có thừa tham vọng, mưu mô, toan tính. Cái thiếu ở họ là một nền tảng văn hóa, ý thức tự trọng và tinh thần phụng sự đất nước. Đại sứ 2, rất giỏi kết nối với các doanh nghiệp nước ngoài để trục lợi. Ông đã khước từ lời mời của giám đốc nhà hát nước bạn đưa nhà hát tuồng Việt Nam sang biểu diễn, bằng một ngôn ngữ ngoại giao: “Vấn đề này chúng ta sẽ trao đổi cụ thể sau”. Với ông, “Các loại ca vũ kịch của ta có gì mà xem. Chẳng thấy nhân văn nghệ thuật gì ở những cái múa may, những cái vung tay “như ta đây”, những câu hát hò réo rắt bất tận” (trang 79). Nhận thức ấy đã cho thấy những khoảng trống văn hóa ở một vị đại sứ.

Gắn bó với nghề ngoại giao hơn ba mươi năm trên nhiều cương vị, có dịp đến nhiều quốc gia trên thế giới, Hồ Anh Thái nhìn thấy nhiều vấn đề của ngành ngoại giao và những người làm ngoại giao trong cơ quan Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài. Trong đó, tư duy nhiệm kỳ là vấn đề nổi bật, chi phối hoạt động, ứng xử của những người làm ngoại giao. Một nhiệm kỳ đại sứ chỉ ba năm. Mọi toan tính của đại sứ và những người cộng sự chỉ bó hẹp trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy: “Người đi luân chuyển thì quyền lợi và trách nhiệm cũng mang dấu ấn nhiệm kỳ. Cái gì thuộc về quyền lợi thì hưởng cho nhanh, cho kịp trong vòng ba năm mình công tác. Hưởng thụ nhanh trong vòng ba năm” (trang 331). Suy nghĩ đó đã dẫn tới toan tính, ứng xử “Chọn việc nào dễ mà làm. Việc nào xương quá thì nhường lại cho nhiệm kỳ sau. Có những việc cứ nhiệm kỳ trước đẩy lại cho nhiệm kỳ sau, đẩy mãi, hàng chục năm vẫn chưa thực hiện được” (trang 332). Đại sứ nhiệm kỳ sau thường “phủ nhận những gì thuộc về nhiệm kỳ trước” (trang 333), sẽ thay mới mọi thứ có thể thay, sắm mới mọi vật dụng có thể sắm. Ẩn kín trong chiêu bài làm mới cơ quan đại sứ là những toan tính cá nhân. Trong cái nhìn của Hồ Anh Thái, lối tư duy nhiệm kỳ không chỉ có ở ngành ngoại giao. Nó đã trở thành một hội chứng, nhiễm vào mọi giới, mọi lĩnh vực trong xã hội Việt Nam. Gốc rễ của nó là ở tầm nhìn ngắn, chỉ thấy cái lợi trước mắt của cá nhân, thiếu một tầm nhìn xa, rộng. Đó là tư duy, lối sống tiểu nông đã ăn sâu, bám chặt trong cách cảm, cách nghĩ, lối hành xử của con người Việt Nam từ bao đời nay. Thay đổi tư duy lối sống ấy là hết sức khó khăn. Song nhất thiết phải thay đổi. Nhận thức đó càng sâu sắc hơn khi tầm nhìn văn hóa được mở rộng.

3. Văn hóa Việt Nam – thay đổi để hội nhập, phát triển

Gắn với nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, văn hóa Việt Nam có thiên hướng trọng tĩnh hơn trọng động. Ngại thay đổi, không muốn thay đổi. Dị ứng với cái khác, cái mới, là tâm lý phổ biến trong tình cảm, lối sống của con người Việt Nam. Trong môi trường văn hóa làng xã, điều đó khó nhận biết, và dường như không có nhiều tác động. Đi nhiều, tiếp xúc nhiều, mới thấy sự lỗi thời của lối sống ấy. Trong Năm lá quốc thư, lối ứng xử ấy bắt gặp ở mọi người, từ Đại sứ đến những nhân viên trong cơ quan đại sứ: “Ăn gì của người ta cũng không vừa miệng, ăn gì cũng chê” (trang 109), “Đi ra nước ngoài, sang đến ngày thứ ba thì đã có người kêu lên: Trời ơi ba ngày rồi không được ăn cơm… Ám ảnh cơm Việt cứ tăng dần đậm dần theo thời gian tạm trú ở nước ngoài, thành một thứ thèm thuồng khao khát đến mức quay quắt gay gắt” (trang 113). Hội chứng thèm cơm Việt, theo Hồ Anh Thái, có nguyên nhân ở tình cảm gắn bó với làng quê của người nông dân Việt Nam: “Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương” (trang 113). Tuy nhiên, “hội chứng ám ảnh cơm Việt” còn có gốc rễ ở lối sống “Khư khư bám giữ những gì cố hữu của mình, coi cái của mình là nhất, dè dặt và cảnh giác với cái mới, sợ cái mới, không sẵn sàng mở lòng đón nhận những cái khác lạ” (trang113). Từ góc nhìn của một nhà văn hóa, nhà ngoại giao, Hồ Anh Thái đã thể hiện cái nhìn phản tư, nhận thức lại các giá trị văn hóa truyền thống. Đó là cái nhìn của tỉnh táo, khách quan, không bị ảnh hưởng bởi tâm lý đám đông. Từ câu chuyện về văn hóa ẩm thực của người làm công tác ngoại giao, Hồ Anh Thái đã truyền đi thông điệp về sự cần thiết phải thay đổi tư duy, thay đổi lối sống của con người Việt Nam. Thay đổi để tồn tại, hội nhập vào thế giới hiện đại. Một khi con người Việt Nam chưa vượt qua thái độ kỳ thị, dị ứng với cái mới, cái khác mình, ngoài mình, thì rất khó để học hỏi, tiếp thu, hội nhập một cách sâu rộng vào thế giới hiện đại, văn minh.

Sống trong tình trạng khép kín của không gian làng xã hàng ngàn năm đã hình thành ở con người Việt Nam một thói quen tùy tiện trong ứng xử, bất chấp chuẩn mực, luật pháp, miễn sao có lợi cho mình. Trong Năm lá quốc thư, không khó để người đọc nhận ra lối sống ấy. Nó có các Đại sứ 1, 2, 3 cho đến nhân viên tạp vụ, ông quản trị, ông biệt phái. Họ trục lợi từ những cái vặt vãnh, như mua giấy vệ sinh, mua xoong nồi, chảo rán… cho đến việc “Nghĩ ra các hội thảo, chủ đề thật kêu nhưng thực ra vô thưởng vô phạt. Nghĩ ra những cuộc đi khảo sát tình hình địa phương. Nghĩ ra, vẽ ra, bày ra. Nghĩ ra mọi lý do để mua sắm… Mục đích của nó là tiêu tiền” (trang 214).  Một ông biệt phái của cơ quan ngoại giao, có thói quen bòn từng cuộn giấy vệ sinh của cơ quan, ăn cắp vặt, “Sang phòng làm việc của người khác, đứng bàn bạc một lúc, thấy cái bút hay hay cái bật lửa hay hay là ông lặng lẽ cầm đi. Có khi phòng tiếp khách mất cái ấm siêu tốc đun nước. Có khi bếp tập thể mất cái máy xay sinh tố. Có khi phòng họp mất cái bình nước lọc” (trang 204). Nhân cách, lòng tự trọng ở những con người ấy đã không còn. Nhiều người trong cơ quan Đại sứ vào nhà hàng, khách sạn nước bạn mua hóa đơn khống về thanh toán, “Hơi một tí là cán bộ chạy đến quán ăn nhà hàng cửa hiệu để mua hóa đơn. Không ăn không mua chỉ xin mua hóa đơn” (trang 210). Họ bất chấp điều đó làm ảnh hưởng đến thanh danh những người bạn nước ngoài: “Căn cứ vào hóa đơn thì các ông quan chức nước bạn chịu oan tày trời. Các ông suốt lượt đều được sứ quán mời ăn mời uống, đánh chén tưng bừng. Mời đi mời lại. Oan cho các bạn quá” (trang 207). Đó là căn bệnh đã lây nhiễm trong số đông người Việt, đủ ngành đủ giới, từ trong nước đến ngoài nước. Dường như ai cũng tìm cách bớt xén, từ ngân sách đến thời gian: “Sáng ra, sáu giờ sáng lấy xe chở con đến trường. Tám giờ quay về chở vợ ra chợ. Chiều vừa ngồi làm việc một lúc thì hai rưỡi lại đánh xe ra, đi đón con. Cái xe như là xe riêng của nhà anh ta. Thời gian làm việc cũng chỉ để đi đưa đón vợ con là hết. Thỉnh thoảng lại xin nghỉ, em phải đến trường làm thủ tục trả học phí cho con, em phải đến trường họp phụ huynh cho con” (trang 282). Ai cũng nhận ra điều đó, song không ai lên tiếng. Lối sống “dĩ hòa vi quý”, “chín bỏ làm mười” trong văn hóa làng xã đã biện minh cho thái độ dửng dưng trước những sai trái, miễn sao có lợi cho mình. Những người như nhân vật “Nàng” sống ngay thẳng trung thực, dám đấu tranh với những hành vi tiêu cực của bà Đại sứ, đã bị vu oan, cô lập, trục xuất về nước, trong sự dưng dưng của mọi người. Thói hám lợi, nỗi sợ hãi, tâm lý đám đông… đã ăn sâu trong không ít người trong giới ngoại giao. Bước ra từ cuộc sống thời bao cấp, đối mặt với kinh tế thị trường, con người luôn có nguy cơ bị tha hóa. Cái xấu cái ác có mặt ở khắp nơi, thậm chí lấn át, đe dọa cái tốt. Người muốn sống tốt cũng trở nên khó khăn, thậm chí là lạc loài, dễ gặp tai họa. Khi con người cá nhân trỗi dậy, cũng là lúc con người dễ bị tổn thương, dễ bị tha hóa. Công tác ở nước ngoài trong tư cách Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, không ít người đã trở thành “Đại sứ bạt mạng toàn quyền”. Họ để cái tôi cá nhân lên trên tất cả, đánh mất sứ mệnh của mình trước đất nước, nhân dân. Chạy chức, chạy quyền đã không còn là hiện tượng cá biệt. Thêm vào đó là lối ứng xử “Trăm cái lý không bằng một tý cái tình”, “cha truyền con nối”… trong văn hóa làng xã. Ông Bộ trưởng Công nghiệp sắp đến ngày nghỉ hưu, được bố trí làm đại sứ là thể hiện sự quan tâm của cấp trên, mà không ít người trong đó đã từng chịu ân huệ của cha chú của ông Bộ trưởng. Tuổi tác, ân huệ, quan hệ… là những thứ ông có. Thứ ông thiếu là khả năng của một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Con đường tiến thân của Đại sứ 2, Đại sứ 3 và nhiều người trong cơ quan đại diện cũng không có nhiều khác biệt. Họ có thể đi trên con đường quen thuộc “rầm rập tài tử giai nhân vận động xin xỏ lóp bi. Lại tường đông ong bướm đi về ra hiệu đánh tiếng”18. Cũng có thể, họ thuộc vào những người có số mà “Có thời người ta gọi đấy là 5C: Con Cháu Các Cụ Cả. Có khi được cụ thể thành nhà mặt phố bố làm to, trứng rồng lại nở ra rồng” (trang 326). Đó là biểu hiện của một cơ chế lỗi thời. Những kẻ tà tâm đã nhân danh một lối ứng xử “thấu lý đạt tình” trong văn hóa truyền thống để trục lợi.

Trong Năm lá quốc thư, bên cạnh gam màu xám xịt, những câu chuyện được kể trong Lá quốc thư thứ tư và Lá quốc thư thứ năm đã mang đến cho người đọc một cảm giác tươi mới. Cùng với hình ảnh Đại sứ 4, Đại sứ 5 – “Anh”, sự gắn kết của hai nhận vật “Nàng” và Roza giúp người đọc có niềm tin vào sự trường tồn của cái thiện, cái đẹp. Đó là những giá trị văn hóa mang tính vĩnh hằng. Đây không hẳn là lối kết thúc có hậu, thường gặp trong cổ tích ở nhiều nước phương Đông, như Việt Nam, Ấn Độ. Tất cả vẫn chưa có gì rõ ràng. Vẫn còn đó hình ảnh ông biệt phái, lợi dụng hộ chiếu ngoại giao, đưa hàng cấm qua cửa khẩu hải quan; bà Tham Tán tham lam, lắm lời, ít học; ông phụ trách quản trị “kéo qua cửa khẩu biên giới một va li đựng thịt lợn và rượu” (trang 321). Vẫn một giọng kể điềm tĩnh, khách quan, Hồ Anh Thái đã giúp người đọc hiểu rõ hơn về những vất vả, khó khăn và phẩm chất cần có của một nhà ngoại giao chân chính. Nhân vật Đại Sứ Bốn là một phác thảo đẹp về giới ngoại giao Việt Nam, điển hình cho thế hệ đã đi qua chiến tranh. Không được đào tạo một cách bài bản hệ thống, nhưng bù lại, ông có “Một tinh thần tự học bền bỉ và rất cầu thị… Đấy là một ông đại sứ tuổi sáu mươi tóc bạc… Thế hệ ông không được học hành ngoại ngữ một cách bài bản. Xếp bút nghiên lên đường chiến đấu. Chiến đấu xong rồi, hòa bình rồi, lúc ấy họ mới được chuyển ngành sang mặt trận ngoại giao” (trang 313). Khác với các Đại sứ 1, 2, 3 trước đó, Đại Sứ Bốn là người từng trải, lịch lãm, biết hài hước đúng lúc, luôn quan tâm người khác. Làm Đại sứ ở một nước Tây Á, nơi có địa chính trị phức tạp, ông đã giúp nước bạn hiểu hơn về văn hóa và con người Việt Nam. Ông đã thể hiện văn hóa ngoại giao vừa theo đúng nghi thức, nghi lễ, vừa thể hiện sự linh hoạt, thân thiện trong từng ứng xử.

Kết luận:

Nhận thức lại các giá trị văn hóa truyền thống là một cảm hứng đã được Hồ Anh Thái thể hiện ở nhiều tiểu thuyết trước đó, như: Người đàn bà trên đảo (1988), Trong sương hồng hiện ra (1990), Cõi người rung chuông tân thế (2002)… Nói tới văn hóa là nói tới những gì thuộc về con người, do con người, góp phần nâng cao giá trị cho con người. Nơi nào có con người nơi đó có văn hóa. Tuy nhiên, giá trị văn hóa không phải là bất biến. Nó vận động đổi thay theo thời gian. Có những cái trong quá khứ là giá trị nhưng đến nay đã lỗi thời, phản giá trị. Trong Năm lá quốc thư, điều đó đã được Hồ Anh Thái soi chiếu từ những câu chuyện “bếp núc” trong giới ngoại giao. Ông cẩn trọng qua từng cái nhìn, từng con chữ. Sự nhạy cảm, khả năng quan sát của một nhà văn và năng lực phân tích của một nhà văn hóa kết hợp với những trải nghiệm phong phú, sâu sắc của nhà ngoại giao, đã giúp ông có được cái nhìn đa chiều về văn hóa, không chỉ riêng ở giới ngoại giao. Nhiều vấn đề đã được mở ngõ qua cái kết-mở ở Lá quốc thư thứ năm. Ở đó có những vấn đề quốc gia đại sự, có những vấn đề gắn với số phận con người. Mỗi người đọc tự tìm cho mình một thông điệp văn hóa ẩn chứa trong đó.

Chú thích:

(*) Bộ Từ điển Tiểu sử Văn chương của nhà xuất bản Mỹ, Gale – Cengage Learning, đã ra đến tập thứ 348. (Dictionary of Literary Biography, Volume 328: Southeast Asian Writers).

21/3/2022

Nguyễn Văn Hạnh

Theo https://vanvn.vn/

 

Tể tướng Hồ Sĩ Dương – Cuốn tiểu thuyết lịch sử có giá trị về một danh nhân nổi tiếng xứ Nghệ

Tâm thế nhìn lại lịch sử một cách tỉnh táo, chiêm nghiệm quá khứ để rút ra những bài học cần thiết cho cuộc sống hiện tại đã làm cho tiểu thuyết lịch sử ngày càng chiếm được cảm tình sâu sắc của bạn đọc. Phần lớn tiểu thuyết lịch sử thể hiện sâu đậm lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí quật cường, tấm lòng nhân ái, bao dung của con người Việt Nam, đề cao các anh hùng dân tộc, các vĩ nhân có công lao trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Đó cũng là những giá trị vững bền có tính truyền thống của văn chương dân tộc.

Trong sự vận động của văn xuôi Việt Nam sau 1986, bộ phận tiểu thuyết lịch sử đã có nhiều thành tựu, nhiều sáng tạo, cách tân mới mẻ. Nhiều tiểu thuyết lịch sử đặc sắc được dư luận đánh giá cao như Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, Tám triều vua Lý, Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Du, Thông reo ngàn Hống của Nguyễn Thế Quang…Tâm thế nhìn lại lịch sử một cách tỉnh táo, chiêm nghiệm quá khứ để rút ra những bài học cần thiết cho cuộc sống hiện tại đã làm cho tiểu thuyết lịch sử ngày càng chiếm được cảm tình sâu sắc của bạn đọc. Phần lớn tiểu thuyết lịch sử thể hiện sâu đậm lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí quật cường, tấm lòng nhân ái, bao dung của con người Việt Nam, đề cao các anh hùng dân tộc, các vĩ nhân có công lao trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Đó cũng là những giá trị vững bền có tính truyền thống của văn chương dân tộc.

Tể tướng Hồ Sĩ Dương của Hồ Ngọc Quang (tiểu thuyết lịch sử dày hơn 700 trang, khổ 15×22 cm, NXB Hội Nhà văn, 2021) cũng có phần gặp gỡ với cách nhìn chung của các cây bút tiểu thuyết lịch sử, nhưng đồng thời cũng có nét riêng trong cách khai thác tư liệu, thể hiện hình tượng con người và cuộc sống. Nếu như các tiểu thuyết lịch sử thời gian gần đây thường chọn những nhân vật anh hùng, vĩ nhân nổi tiếng, đã được chính sử ghi chép lại, được tâm thức cộng đồng trân trọng, đề cao như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tông, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ – Quang Trung… thì Hồ Ngọc Quang lại chọn một nhân vật chưa phải nhiều người biết, nhưng là danh nhân tiêu biểu của một vùng đất – xứ Nghệ, tiêu biểu của một dòng họ – họ Hồ Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu: tể tướng Hồ Sĩ Dương. Trong chính sử và một số cuốn sách, những ghi chép về Hồ Sĩ Dương (1621-1681) không nhiều (Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ thực lục; Lịch sử Nghệ An của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nghệ An, Nxb Chính trị Quốc gia, 2012;  Nghệ An đất phát nhân tài của Ninh Viết Giao, Nxb Nghệ An, 2017, tái bản).

Các tài liệu cho biết Hồ Sĩ Dương (còn có tên là Hồ Á Ngọc, Hồ Khả Trí) là hậu duệ Thái thủy tổ Hồ Kha, quê ở làng Quỳnh Đôi, xã Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (nay là xã Quỳnh Đôi). Thời Lê Trịnh ông làm quan ở kinh đô trải 4 triều vua: Lê Thần Tông (1649 – 1662), Lê Huyền Tông (1662 – 1671), Lê Gia Tông (1671 – 1675), Lê Hy Tông (1675 -1705); 2 đời chúa: Thanh Đô vương Trịnh Tráng (1623 – 1657), Tây Đô vương Trịnh Tạc (1658 – 1682). Ông đi thi từng 3 lần đỗ Giải nguyên, đỗ Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân kỳ thi năm Nhâm Thìn (1652), đỗ Đông các kỳ thi năm Kỷ Hợi (1659). Ông thăng tiến nhanh trên con đường quan lộ, làm tới chức Tham tụng (Tể tướng), Công bộ Thượng thư, Đông các Đại học sĩ, trưởng phái bộ đi sứ sang Trung Quốc (1673), khi mất được phong Thiếu bảo Duệ quận công. Hồ Sĩ Dương là nhà quân sự thao lược, 4 lần cầm quân Nam chinh tiến đánh quân chúa Nguyễn ở vùng Nghệ Tĩnh thắng lợi, thu hồi được nhiều huyện phía Nam sông Lam; 2 lần cầm quân Bắc tiến tiểu trừ tàn quân nhà Mạc là Mạc Kính Vũ và tù trưởng Ma Phúc Lan nổi loạn ở biên giới. Hồ Sĩ Dương cũng được ghi nhận là nhà ngoại giao tài giỏi, nhiều lần được vua Lê chúa Trịnh cử đi đón tiếp sứ thần phương Bắc; năm 1673, được cử làm chính sứ đi Trung Quốc, rất được vua nhà Thanh nể trọng. Ông cũng là tác giả của nhiều bộ sách quý như Trùng san Lam Sơn thực lục, Hoan Châu phong thổ ký, Hồ Thượng thư gia lễ, Hồ tộc phổ ký, tham gia biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ thực lục… Với quê hương, ông là người có công lập ấp, khai cơ, tuyển mộ dân nghèo lập ra 5 làng (4 làng của huyện Quỳnh Lưu và 1 làng của thị xã Hoàng Mai hiện nay).

Tể tướng Hồ Sĩ Dương của Hồ Ngọc Quang cũng bám sát và khá trung thành với các sự kiện, các mốc chính trong cuộc đời của vị tể tướng tài ba, giàu lòng nhân ái. Lại là người cùng dòng họ, chắc chắn Hồ Ngọc Quang có thêm nhiều tư liệu khai thác từ gia phả dòng họ Hồ – một dòng họ nổi tiếng của đất Nghệ An, cũng như các câu chuyện truyền tụng trong dân gian ở nhiều xã của huyện Quỳnh Lưu – nơi Hồ Sĩ Dương được thờ tự là thành hoàng làng. Nhưng trong tư cách nhà văn, phần sáng tạo của Hồ Ngọc Quang là không nhỏ. Hồ Ngọc Quang đã biến những ghi chép khô khan trong chính sử về Hồ Sĩ Dương thành hình tượng nhân vật Hồ Sĩ Dương – một biểu tượng sáng chói của tinh thần hiếu học, của ý chí, nghị lực vượt khó, của sự kiên trì mục đích và ứng xử thông minh, mềm dẻo – từ một cậu bé con nhà nghèo ở một vùng đất nghèo, từng bước khẳng định tài năng, trở thành vị tể tướng rường cột của triều đình Lê Trịnh.

Cuốn sách bắt đầu từ những năm cậu bé nghèo Hồ Á Ngọc đi những bước chập chững vào đời, học giỏi, tài hoa nhưng cũng ngây thơ, hiếu thắng và kết thúc khi Quận công tể tướng Hồ Sĩ Dương hồi hưu về làng trong sự nuối tiếc của vua, chúa và triều đình, trong sự kính trọng, chào đón của gia đình, quê hương. Con đường hoạn lộ hanh thông, thăng tiến nhanh, không bị giáng chức lần nào – điều hiếm thấy trong bối cảnh xã hội phong kiến đang suy tàn. Nhưng tác giả cũng không miêu tả hành trình trưởng thành của Hồ Sĩ Dương như một con đường trải đầy hoa mà cũng lắm những gian nan, trắc trở. Có sai lầm cá nhân như đi thi hộ bạn tại kỳ thi khoa Mậu Tý (1648) ở Thanh Hóa, bị tước học vị giải nguyên của hai tỉnh và sung đi lính. Có những ghen tỵ, hiềm khích, tìm cách hãm hại nhau của đám quan trường bất tài trong bối cảnh mâu thuẫn triền miên giữa Cung vua và Phủ chúa. Nhưng Hồ Sĩ Dương, bằng tài năng, trí tuệ của mình, bằng lòng chính trực và cả sự khôn khéo, ra sức phò vua, giúp nước, đã từng bước tạo được uy tín, khẳng định chỗ đứng của mình. Cuốn sách toát lên một chân lý: trong bối cảnh xã hội loạn lạc, môi trường sống vẩn đục, người trí thức chân chính có bản lĩnh, tài năng thực sự vẫn có cách để tìm đi trên con đường sáng, khi họ biết đặt lợi ích của dân, của nước lên trên hết.

Bên cạnh nhân vật Hồ Sĩ Dương như một biểu tượng đẹp của con người xứ Nghệ, của đất học xứ Nghệ, Hồ Ngọc Quang cũng khá thành công trong việc tạo dựng bối cảnh lịch sử và khắc họa tính cách nhiều nhân vật phụ. Gia đình, quê hương là bệ đỡ trên những bước đường của Hồ Sĩ Dương: một người mẹ Hoàng Thị Tâm giàu tình mẫu tử, nhẫn nhục hy sinh vì con cái; một người vợ Trương Thị Thành hiếu thảo, chịu thương, chịu khó nuôi chồng ăn học, nuôi con nên người. Rồi những người thầy nhân đức, những vị quan thanh liêm, chính trực cưu mang, giúp đỡ Hồ Sĩ Dương như thầy Mạc Phúc Thanh, Liêu quận công Nguyễn Cảnh Quế, Tổng trấn Nghệ An Đào Quang Nhiêu, Ngự sử quan Phạm công Trứ… Nhiều gương mặt trong bộ máy chính quyền Lê Trịnh cũng hiện lên sinh động: Một anh lính cận vệ Lê Chinh nhanh nhẹn, hoạt bát, trung thành; Một Thám hoa, Đông các Đại học sĩ Nguyễn Đăng Cảo, tài hoa nhưng kiêu ngạo, danh vọng, sự nghiệp đang chói sáng thì đứt gánh nửa đường; Một Ninh quốc công Trịnh Toàn – em ruột Tây Đô vương Trịnh Tạc – tài cao nhưng nóng nảy, bốc đồng, cuối cùng bị dèm pha, hạ ngục và chết một cách oan uổng; Một chúa Trịnh Tạc quyết đoán, quyền biến nhưng bụng dạ nhỏ nhen, hẹp hòi…Theo chân các nhân vật, đặc biệt là nhân vật chính, không gian nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết cũng mở ra rất rộng, từ quê hương Quỳnh Đôi đến vùng chiến sự hai bên bờ sông Cả, từ kinh đô Thăng Long đến thủ phủ Bắc Kinh của triều đình phong kiến Mãn Thanh…

Viết tiểu thuyết lịch sử trước hết là để dựng lại quá khứ, nhưng mục đích không phải để người đọc chìm đắm trong quá khứ. Lịch sử là cái đã qua, nhưng lịch sử vẫn đồng hành với con người trong hiện tại. Cuốn tiểu thuyết của Hồ Ngọc Quang cũng đi trên con đường ấy. Tể tướng Hồ Sĩ Dương là lời nhắn nhủ chúng ta về truyền thống cha ông, truyền thống con người xứ Nghệ – trước hết là truyền thống hiếu học, ý chí vượt lên hoàn cảnh, lập thân, lập nghiệp bằng tài năng, đức độ của mình. Nó cũng là lời nhắc nhở về mối quan hệ tâm – tài, về sự gắn bó với quê hương, với nhân dân của những kẻ sĩ, trí thức đích thực.

Tất nhiên, bên cạnh những thành công, cuốn tiểu thuyết sẽ hoàn chỉnh hơn nếu tác giả khắc phục được một vài hạn chế: một số lời thoại của nhân vật quá hiện đại, cách nói năng, dùng từ chưa thật phù hợp với bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XVII, cần có thêm sự dụng công trong miêu tả trang phục, cảnh quan, môi trường sống gắn liền với nhân vật, chú ý hơn trong khắc họa thế giới nội tâm, nhất là với nhân vật chính Hồ Sĩ Dương…Tuy nhiên, với những gì được thể hiện, Tể tướng Hồ Sĩ Dương có thể xem là một cuốn tiểu thuyết lịch sử có giá trị, khắc họa sinh động chân dung một danh nhân nổi tiếng của xứ Nghệ, vùng đất địa linh nhân kiệt từng sản sinh ra nhiều bậc anh hùng, nghĩa sĩ kiệt xuất, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

22/3/2022

Đinh Trí Dũng

Theo https://vanvn.vn/

 

Lắng trong dòng đời bài hát buồn và đẹp

Cuối muộn mùa đông năm 2021, tôi nhận được tập thơ Tiếng chim về cũ của nhà thơ Mai Thìn gửi tặng. Tên tập thơ gây một thoáng ngạc nhiên, kích thích trí tưởng tượng của người đọc. Những dòng chữ lập tức cuốn hút. Những ý tưởng, những tâm tư, những tâm trạng của tác giả bỗng nhiên trở nên gần gũi, như thể là lời tâm sự tin cậy của người thân gặp lại sau những ngày cách xa… Thơ Mai Thìn gợi đến cảm giác buồn và đẹp, vốn là nơi từ đó thơ sinh ra, cũng là chỗ từ đó thơ tìm đến.

Với tập thơ này, Mai Thìn như đã thấm thía lẽ đời. Những khát khao, những đam mê thời hoa niên… hình như thu bớt chiều cao lại, hướng tới chiều sâu, hướng đến sự chiêm nhiệm, ngẫm nghĩ. Mọi việc đã không còn là vô cớ, như thể ngày nào bất chợt buồn vui, mà là như “hạt nước về nguồn’, “tiếng chim về cũ”, qua bao nhiêu trải nghiệm để thấu triệt trong cảm nhận, minh định trong suy tư, lắng sâu trong xúc cảm…

Đấy là cảm thức của một người từng trải. Nếu đọc chậm và biết dừng lại, và ở những điểm dừng lại ấy, biết nối dài những suy nghĩ của riêng mình từ những câu thơ vốn đã giàu suy tưởng kia, chúng ta sẽ cảm nhận được sự lan tỏa của ngôn từ trong thơ Mai Thìn.

Chẳng hạn, cảm giác day dứt về quê hương, nhất là khi đã “gần hết một đời”. Trong ký ức của Mai Thìn, An Nhơn quê anh, nơi “những bông lúa cũng biết làm thơ”, nhưng cũng như bao miền quê khác đầy những biến động, những ly tán, những mất mát và cả những tha thứ, hóa giải:

chúng tôi lớn lên cùng An Nhơn

lớn lên cùng tiếng còi tàu ngát hương sen mùa cũ

con voi đá chung tình trước bao ly tan

… chốn binh đao

hóa giải những oan thù

(An Nhơn)

“Lớn lên cùng tiếng còi tàu ngát hương sen mùa cũ”, là cảm thức về thời gian đã qua, trộn lẫn giữa hai thực thể ấn tượng nhất của tuổi thơ: cái nghe thấy (tiếng còi tàu), và cái cảm thấy (hương sen mùa cũ). Nhưng bạn thấy đấy, tại nơi “những bông lúa cũng biết làm thơ”, tại nơi “đêm hát bội trăng lay đầu ngọn gió” ấy, cơn bão chiến tranh đã tràn qua. Một bên bom đạn gầm rú, bên kia là “những bông lúa biết làm thơ”. Không cần miêu tả thì cũng biết tất cả không còn nguyên vẹn. Vậy nên, cần một sự bao dung lớn lao để vượt qua hận thù, bởi vì trong minh triết của cha ông “hận thù nên cởi không nên buộc”. Tan cơn bão, có một triệu người vui thì cũng có chừng ấy người buồn. Sự khác biệt này cần được hóa giải. Câu thơ “chốn binh đao/ hóa giải những oan thù” của Mai Thìn như một lời tâm huyết, “một lời buồn” xoa dịu vết thương sâu trong tâm khảm mỗi người. Cho dù trên mảnh đất chất đầy đau thương, hận thù cần rất nhiều bao dung, nhân hậu khi sự bình yên vẫn còn là một khát vọng, thì quê hương là nỗi niềm khôn nguôi:

mây thương nhớ vắt qua làng đợt đợt

như nỗi niềm bao kẻ xa quê

(Làng Vĩnh Phú)

Là một người thích suy tư, ngẫm nghĩ, gần hết một đời/…đầu đã bạc/ mỏi chân tìm lại ngàn xưa (Tiếng chim về cũ), mỗi khi nhớ về cái “chái bếp của mẹ”, nơi lưu giữ nguyên vẹn những ấm áp, thanh sạch của tuổi ấu thơ, sau những truân chuyên, lấm láp cát bụi, Mai Thìn như muốn “cặn lắng” thanh lọc tâm hồn mình:

Từng ngày tôi nhặt từ tôi

những điều thừa

loại khỏi tôi

những cái bây giờ không thuộc về tôi nữa

(Chỉ còn lại cái tên)

giờ tôi về ngồi đây

bên cái chái bếp trống tuềnh trống toàng

không còn ai

chỉ còn gáo nước long răng

chỉ còn gốc cau lồi lõm

dạy tôi gột cho sạch

những hạt bụi đường

những hạt bụi đời…

(Bên chái bếp của mẹ)

Có thể hình dung một cuộc đời không mấy nhẹ nhõm, một tuổi thơ không mấy dễ dàng, nên những gì đã qua như thể vẫn còn nhói buốt: Tôi nợ cuộc đời này/ Cả những thương đau  (Tiếng vọng đầu). Và những hạt bụi đường/ Những hạt bụi đời/…Cả những thương đau… như một bè trầm không thể  tránh ở mỗi cuộc đời, một lời hát buồn không muốn có. Cho nên, đến cả một cành mít trong rừng Mộ Điểu đã từng “nhuốm tang thương” hai thế kỷ trước như cũng đang muốn có mặt với hiện tại:

những cành mít còn sót lại sau hơn hai thế kỷ

qua bao cuộc bể dâu tận diệt của lòng người

vẫn nhẫn nại lắt lay

vì một thế giới quá cần nhân hậu, quá cần chở che

mà sống

(Buổi chiều trong rừng Mộ Điểu)

Cái “nhẫn nại lắt lay” kia như thể sự sống từ một thực tại bất toàn “quá cần nhân hậu, quá cần chở che”. Điều cần nói là, đến tuổi nhìn lại, rất đáng ghi nhận ở Mai Thìn tinh thần tích cực của một ngòi bút luôn vươn đến sự thanh sạch. Với anh, quá khứ dù gần dù xa, nhưng luôn luôn hiện diện như nơi tìm về để tri ân, hoặc như để cứu rỗi, để tự trấn an: tiếng chim ca/ về cũ; ánh mắt cười/ năm cũ (Hội An); kẽo kẹt tiếng mọt/ vọng ngày xưa (Lau dọn ký ức); Gió xíu xít hay tiếng chim về cũ (Trong vườn nhà Nguyễn Huệ); Đôi vợ chồng còng làm tổ dưới răng cưa/ kể cho tôi nghe/ chuyện năm xưa (Về một chiếc xe tăng trên bãi biển)… Quê nhà là cây thị già đầu xóm/ cao ngút ngao con sáo đá chập chùng/ tuổi thơ tôi hay đi khèo trộm/ trưa bây giờ nằm võng vẫn còn thơm (Bóng quê nhà). Một quá khứ luôn kết nối với hiện tại, luôn muốn được có mặt trong hiện tại. Mai Thìn dặn con dù đi đến đâu, dù đến xứ sở nào, cũng không bao giờ được rời xa “mái nhà ta”:

rồi đây con có thể đi xa

đến những nơi có nhiều hơn cái nhất

nhưng đừng quên

trên thế giới này có mái nhà ta

(Trên thế giới này có mái nhà ta)

Với tâm thức ấy, chưa bao giờ Mai Thìn vơi cạn mơ ước được đóa hoa thơm dâng tặng quê hương (Tiếng chim về cũ). Chưa bao giờ hết náo nức sinh sôi: Những chiếc lá ngô trên bãi sông Hồng/ hát/ hát mãi bài ca sinh nở/ đất đai rùng mình đón nhận phù sinh (Những chiếc lá ngô trên bãi sông Hồng). Chưa bao giờ ngừng tâm nguyện dâng hiến: lọc mạch nguồn/ dâng cho đời vị ngọt (An Nhơn)… Đó chính là vẻ đẹp của sự sống, của cuộc sống…

Tập thơ Tiếng chim về cũ của Mai Thìn xuất bản khi anh đến tuổi đủ bản lĩnh để có thể “hát một lời buồn” cho những ngày đã qua, cho những gì đang diễn ra trong hiện tại. Trong cái ngưng đọng của thời gian, sau những ngày “miên chảy”, Mai Thìn như đang muốn lắng trong dòng đời/ bài hát buồn và đẹp (Thời gian không buồn chảy), với một ngòi bút luôn biết thắp lên những niềm hy vọng.

Hà Nội, 23/1/2022

Lê Thành Nghị

Theo https://vanvn.vn/

 

Tình yêu văn hóa miệt vườn thấm đẫm thơ 1-2-3 Nguyễn Đinh Văn Hiếu

Xuất thân thầy giáo mang tâm hồn thi sĩ, sinh ra và lớn lên ở vùng đất Trà Vinh phong phú, đa dạng về văn hóa, nên thế giới thơ 1-2-3 của Nguyễn Đinh Văn Hiếu vừa nghiêm cẩn vừa lãng mạn, vừa nắm bắt những vấn đề thế sự vừa có chiều sâu suy nghiệm tâm thức. Có ba đề tài trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ anh: cội nguồn quê hương, tình yêu gia đình và lứa đôi, những trăn trở về đời sống xã hội hiện đại…

Bước vào làng văn, đối với người sáng tác, bút danh rất quan trọng. Điều tối kỵ là trùng bút danh những bậc đi trước có tên tuổi trên văn đàn. Dù biết họ tên khai sinh là do ông bà cha mẹ mình đặt, ai cũng muốn giữ làm kỷ niệm, nhưng khi đã xuất hiện trong thế giới sáng tạo thì phải có ý thức chọn cho mình cái bút danh khác biệt, có thể lấy tên thật, có thể lấy tên mới nhưng tuyệt đối tránh trùng lắp. Với nhà thơ trẻ Nguyễn Đinh Văn Hiếu cũng vậy.

Khi nhận được chùm thơ 1-2-3 đầu tiên khá thú vị ký tên Nguyễn Văn Hiếu từ Trà Vinh gửi cho Văn Học Sài Gòn, tôi tìm cách liên lạc với anh. Trong làng văn đã từng có những nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa kỳ cựu ký tên Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Hiếu, Văn Hiếu nên tôi góp ý với anh nên đổi bút danh. Tôi hỏi mẹ anh họ gì. Anh bảo họ Đinh. Thế là cái tên Nguyễn Đinh Văn Hiếu đã xuất hiện trên thi đàn. Điều đó cho thấy anh là người nhanh nhạy, ý thức được trách nhiệm cầm bút từ cái bút danh. Tôi cũng cảm thấy rất vui như khi góp ý để những bút danh khác được trình làng: Trần Võ Thành Văn, Doãn Minh Trịnh, Lê Đỗ Lan Anh, Văn Lê Tám, Võ Hoàng Phương, Lê Tuyết Lan,…

Thơ 1-2-3 là thể thơ mới thuần Việt, vừa tự do vừa quy phạm, không phải người làm thơ nào cũng dễ đồng cảm và thể hiện, nếu không tìm tòi khám phá, đam mê thử sức. Xuất thân thầy giáo mang tâm hồn thi sĩ, sinh ra và lớn lên ở vùng đất Trà Vinh phong phú, đa dạng về văn hóa, nên thế giới thơ 1-2-3 của Nguyễn Đinh Văn Hiếu vừa nghiêm cẩn vừa lãng mạn, vừa nắm bắt những vấn đề thế sự vừa có chiều sâu suy nghiệm tâm thức. Có ba đề tài trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ anh: cội nguồn quê hương, tình yêu gia đình và lứa đôi, những trăn trở về đời sống xã hội hiện đại.

Đất mới phương Nam huyền thoại là đề tài và thi hứng không bao giờ cạn. Bằng sự nâng niu, trân trọng mảnh đất nơi mình sinh trưởng, Nguyễn Đinh Văn Hiếu đã tái hiện sinh động đời sống văn hóa miệt vườn, mà giới hạn ở đây là Trà Vinh quê hương với những địa danh, câu chuyện mộc mạc và bí ẩn. Đó là truyền thuyết ao Bà Om “Mây mẩy vòm ngực căng tròn mồ hôi áp dính lần nếp áo/ Cổ thụ cuồn cuộn nổi hòn bao ngần ấy vẻ đẹp trần gian/ Từ cuộc thi hồi nảo hồi nào thay đổi tục lệ cưới xin”. Đó là sự mê hoặc của “Vọng cổ xuống hò váng mặt sông lênh láng cống xự xang/ Dấu chân cha ông mở đất hiện trong hình hài bãi tiên/ Mặc kệ con vịt con gà, vải vóc sau xuồng vừa bị cuỗm”. Và đó là sự giao hòa, quyến rũ của thiên nhiên, ẩm thực lẫn nghệ thuật và nhan sắc:

Theo em qua Long Bình một tối mưa

Rượu Xuân Thạnh đầu bờ mới nhắm đã tê đầu lưỡi

Miếng tôm khô Vinh Kim mặn mòi thấm dịu bờ môi

Rẽ giồng cát hai bên xanh mượt đưa anh vào phum sóc

Hôi hổi nồi canh xiêm lo rau rừng khói bốc đến tận lòng

Kèn trống rộn ràng xui điệu Răm Vông phập phồng mưa ấm.

Ẩn sâu dưới lớp bụi thời gian hay đang hiện hữu trong đời sống thì mọi giá trị văn hóa đều là cơ sở kiến tạo thế giới này. Đó cũng là chất liệu phong phú muôn đời cho thi ca. Nhà thơ có bổn phận khai quật, bảo tồn những giá trị văn hóa ấy bằng ngôn ngữ riêng mình. Biết lắng “Nghe thời gian hóa đá xa xăm” Nguyễn Đinh Văn Hiếu đã tái hiện vẻ đẹp ngôi chùa Khmer cổ kính lớn nhất miền Tây ở Trà Vinh:

Sấp hôm mai gom lại dưới mái vòm

Trời cong vút ngàn năm trầm tích

Lớp lớp rêu phong phủ bào thân gạch vữa

Phật nghiêng tai nghe trần thế sắc không

Chùa Vàm Ray chiều đổ chụp mênh mông.

Và cả những di sản văn hóa phi vật thể kỳ bí dưới góc nhìn của nhà thơ cũng khác biệt:

Khi đèn lồng gió lên cao

Ok-om-bok trăng tròn gương mặt thiếu nữ

Điệu Lâm Thôn uốn cong từng ngón tay thon

Long Bình hò dô dậy khúc sông thúc ghe ngo tóe sóng

Vị cốm dẹp trộn dừa béo ngọt môi ngon

Em kiêu kỳ bước ra từ huyền thoại ao Vuông.

Cảm thức được vẻ đẹp văn hóa cội nguồn, Nguyễn Đinh Văn Hiếu tỏ lòng thành kính với tổ tiên: “Nhớ mấy thuở cha ông chèo ghe đặt lợp/ Khai phá Gia Định – Nhà Bè lau sậy hoang vu/ Thành hình hài nên hòn ngọc long lanh”.

Không chỉ nhớ ơn người xưa khẩn hoang mở đất tạo dựng hình hài đất nước hôm nay, anh còn biết ơn và thấu hiểu nỗi lòng của người sinh trưởng nên mình:

Những giọt ấm nồng không để gọi tên

Giọt nước mắt má giấu hằng thế kỷ

Ướt lòng con hôm mai khi chăm chút đàn con

Con có thấy đâu má quay mặt về phía không

Để ngăn lệ chảy trong bờ mi sâu hoắm

Sao giờ đau thắt ngực ngày sau?

Chẳng hiểu do đâu người Nam Bộ hay gọi mẹ bằng má, nghe mênh mang như sông nước Cửu Long. Hình ảnh của bà má cũng có gì đó khác biệt như văn hóa đất mới phương Nam, mà Nguyễn Đinh Văn Hiếu dựng chân dung và lý lịch: “Học hết lớp ba trường làng, mười một tuổi đi ở đợ/ Đọc truyện Quỳnh Dao, Hồ Biểu Chánh lúc việc lơi”, rồi từ văn học tới ảnh hưởng của sân khấu cải lương: “Tóc thả đen dài như tóc Thanh Nga/ Con vừa tròn tháng má nách hai bên hai bao lúa”. Từ trong khó nhọc của “Sợi dây thâm tình rung nhịp yêu thương” má đã dạy cho con sự tự lập vững chãi để “Một ngày má buông tay, xa ngái/ Con cựa mình, quẫy đạp, vịn bóng má bước đi…”.

Thơ không ở đâu xa mà ngay chính trong ngôi nhà mình, là tình cảm của ông bà cha mẹ, là những kỷ niệm đẹp nuôi dưỡng chúng ta nên người. Chẳng những văn bản hóa thành thơ mà Nguyễn Đinh Văn Hiếu còn cho thấy những góc nhìn tinh tế của một thi sĩ giàu lòng yêu thương và trắc ẩn, như với cây me trước nhà nơi ba má từng hẹn hò nhau hay những ngày tuổi thơ trốn học bắn bi:

Tuổi nhỏ dại khờ, con chỉ biết mê chơi

Thường trốn học đi bắn bi cùng chúng bạn

Tụm bảy tụm năm chơi trò năm mười, đánh trận

Ba lo lắng, bỏ làm thuê đi kiếm từ đầu trên xóm dưới

Roi đét vào mông con nước mắt lưng tròng

Ngọn roi đời rát điếng hơn cả roi ba.

Hướng về thế hệ trước nữa, Nguyễn Đinh Văn Hiếu cũng có những bài thơ xúc động, đầy tình yêu thương của người cháu với ông bà:

Ngày tuổi nhỏ, ông thường dẫn con đi từ sớm

Đút từng muỗng cơm thịt sườn xé nhỏ chan nước tương

Ngậm viên nước đá tắm vị cà phê đăng đắng

Ngồi nghe ông nói chuyện cùng bạn bè đông tây kim cổ

Âm ấm giọng say sưa lời thấm đẫm không gian quê

Rồi một ngày hình bóng ông mãi đẩu đâu mây trời thăm thẳm.

Điều bất ngờ, khác sự chăm chút, sảng khoái của người ông thì với người bà lại nghiêm khắc roi vọt mà anh “đau” ngọt khi lớn lên:

Bà không đánh mà con đau nhoi nhói

Những lúc giành giật đồ chơi em

Bốc vội miếng bánh em cầm trên tay vì đói

Bà biểu nằm cúi giữ thăng bằng cây roi trên đít

Con thút thít trườn dài úp mặt chờ roi

Giây phút lặng chờ con đâu biết bà đau!

Lắng lòng nghiệm sinh về thế hệ trước, chuyển sang thơ tình yêu lứa đôi Nguyễn Đinh Văn Hiếu bay bổng trong từng nhịp điệu con chữ: “Bước khoan thai dìu dặt đón xuân sang/ Phố phường thay áo màu tươi thắm/ Ríu rít chuyền cành chim gọi nhau”. Một khung cảnh mùa xuân an vui và thơ mộng mang tinh thần văn hóa miền Tây sông nước dù đổi mới đồng lên phố nhưng vẫn giữ bản sắc riêng: “Trăm bướm hoa từ tà áo bay ra/ Dìu dặt nồng nàn phồng phập hoan ca/ Anh khảy đàn, em chuyển điệu nam xuân”. Không gian văn hóa miệt vườn ấy còn đậm đặc trong những bài thơ tình khác của anh:

Trăng ẩn mình treo nỗi nhớ hớ hênh

Mấy đận hẹn hò em vui trăng rải vàng gốc mạ

Triền đê ướt lời thề tay luồn tay chẳng ấm sương sa

Ngồi nhìn sông đêm từ con rạch hết nước ròng nước lớn

Trăng trầm mình giấu nỗi nhớ khúc sông sâu

Giong cánh buồm anh say sóng mắt suốt canh thâu.

Hết hẹn hò nhớ nhung bên con rạch nước ròng nước lớn như “trăng trầm mình” đến khi mừng vui đón được em dìa trong “vách lá hóa dinh thự nguy nga” cũng đầy sắc thái thiên nhiên và con người Nam Bộ:

Hí ngựa ô ngoài ngõ đón em dìa

Khớp bạc anh tra, yên vàng cương gấm kiệu vang

Mặc kệ nẻo xa, ta bà rừng rú nước thiêng

Vòng núi mộng đồi mơ nhẩn nhơ suối đợi sang rừng nhớ

Biển hẹn hò dắt nhau mắt nhấn chìm trong mắt trong môi

Một phen theo nhau dìa vách lá hóa dinh thự nguy nga.

Nguyễn Đinh Văn Hiếu còn dành nhiều vần thơ tinh tế, ấm áp cho vợ cho con. Như khi mùa Giáng sinh đến, anh chia sẻ với cách nhìn hồn nhiên của tuổi thơ:

Giáng sinh lung linh diệu kỳ từ đâu hả mẹ?

Con chỉ muốn nhận quà từ tay ông già Noel

Để chúng bạn trầm trồ tròn xoe mắt

Buổi sáng mùa đông, mẹ góp tiền mua dịch vụ

Con tí tửng ôm quà về sà vào lòng mẹ thỏ thẻ:

“Quà của bà già Noel gửi ông già Noel tặng con!?”

Với người Nam Bộ, cải lương không chỉ là nghệ thuật giải trí mà còn là đặc sản văn hóa tinh thần ăn sâu tiềm thức, thậm chí còn “hóa thân” cười khóc với từng số phận: “Đến lúc mang thai, em thường vuốt ve cái bụng/ Nói âm thầm một mình đủ thứ trên đời cho bào thai nghe/ Anh mở Đời cô Lựu, em ngượng ngùng: thương cô Lựu quá anh!”

Nhà thơ lớn Chế Lan Viên từng viết rằng “Anh là tháp Bay-on bốn mặt/ Giấu đi ba, còn lại đấy là anh”, bây giờ bạn thơ trẻ Nguyễn Đinh Văn Hiếu trước bốn quân bài thì đủ cả “Anh là cơ rô và chính anh cũng chuồn bích”. Nhận thức được mọi hỉ nộ ái ố đều có trong con người mình chứng tỏ đã trưởng thành. Nhận thức ấy của anh cả khi đối diện trang viết “Trống rỗng, hụt hẫng/ Chỉ còn trang giấy trắng với sóng chữ cuộn trào” lẫn trên sân khấu đời người: “Vai diễn thứ nhất, thứ hai, thứ ba khóc cười nhân thế/ Vai diễn thứ mười, năm mươi, một trăm nhân thế khóc cười/ Hóa vai diễn hết mình – em trở thành tuyệt sắc lung linh”. Thế nhưng không phải hạnh phúc bao giờ cũng vẹn tròn với người nghệ sĩ:

Vai tuồng nào cho đời em?

Em nhập vai nữ hoàng trong tích hương xa

Nàng tiểu thư đài các kiêu kì vở tuồng xã hội

Cởi lớp phấn son, xiêm y, trâm cài, mũ mão

Ngồi đối diện mình trống trơ trống tróc

Em sắm vai gì trong vở đời sóng gió ba đào?

Hỏi cũng là đã trả lời. Sự đồng cảm, thấu hiểu đằng sau ánh hào quang hư ảo của vai tuồng ấy anh còn chia sẻ với người nghệ sĩ phiêu bạt mang âm thanh dâng hiến cho đời:

Tìm tiếng đàn hay tiếng lòng tri kỷ phương xa?

Đêm Đôn Châu nghiêng mình thao thức

Nghẹn vầng trăng chếch bóng cuối trời

Vẳng đàn tranh người nghệ sĩ lấy viễn xứ làm nhà

Tình tình tình “Biên cương lá rơi Thu Hà em ơi”

Tang tang tang – tình quê rưng rức lệ Châu sa…

Công nghệ hiện đại mang lại cho con người nhiều tiện ích, nhưng sự lạm dụng nó cũng đã làm mai một dần những vẻ đẹp dung dị của đời sống văn hóa cổ truyền. “Âm thanh từ loa di động nhai mòn cả nhựa đường/ Người bán hàng đeo tai nghe vô tư lướt mạng” một cách vô cảm đã làm mất dần tiếng rao ngọt ngào quen thuộc, cũng như “Giờ trẻ hát duyên phận, đường cong, đắp mộ cuộc tình/ Kèm những lời tán dương độc địa của người lớn/ Đồng dao giấu mình vào bùn quánh đất quê”. Không chỉ tiếc nuối, cảnh tỉnh mà thơ Nguyễn Đinh Văn Hiếu còn lưu giữ, đánh thức những giá trị văn hóa dân gian qua những trò chơi tuổi thơ như “Từng nấc, từng nấc – dù vấp – không vội không vàng/ Nấc thang lò cò liền lạc nối nhau/ Từng bước thật nhỏ trong đời đưa con dần ra đường lớn”.

Ngoài đời sống văn hóa thì đời sống xã hội đầy vui buồn cũng là mối quan tâm trong thơ 1-2-3 của Nguyễn Đinh Văn Hiếu: “Nhiều lần trong ngày lên cơn ớn lạnh/ Mưa lũ miền Trung ngập tới nóc nhà/ Chỗ nào hai đứa mình ngồi hát lý mười thương?” Không chỉ đời sống tinh thần biến mất mà cả sinh mệnh con người cũng vùi lấp trong cơn thịnh nộ của thiên tai:

Tai ương từ đâu buồn phủ trắng trời  

Mưa trút đầy, lũ lênh láng dòng trôi

Không dò nổi đầu nguồn, cuối nguồn con nước chảy

Đất lở chảy tràn bùn sệt ôm lấy chân người

Rừng phòng hộ tiêu điều sụt một mảng đồi vùi lấp

Sự thâm độc của con người hơn thâm độc của thiên nhiên.

Sao lại “Sự thâm độc của con người hơn thâm độc của thiên nhiên”? Có lẽ mỗi chúng ta đều có thể tự trả lời cho “Tang thương này đau vọng đến trời xanh” khi mà “Nỗi đau điếng đến xé lòng xót bao mạng người đã ra đi/ Mênh mênh mang mang nước cuốn hay vùi sâu bùn đất”!

Một sự ngẫu nhiên là Nguyễn Đinh Văn Hiếu tìm đến thơ 1-2-3 khi loài người lâm nạn đại dịch Covid-19 bùng phát. Những người làm công tác y tế đã trở thành nhân vật trung tâm chống dịch. Họ cũng trở thành nguồn cảm hứng cho văn học nghệ thuật, nhất là những người phụ nữ mặc áo blouse ở tuyến đầu: “Sáng rực hình ảnh thơ blouse trắng thiên thần/ Không tìm được từ ngữ nào đủ khả năng lột tả/ Khoảng trắng thơ… dành suy tôn và ca tụng em”. Đẹp hơn nữa khi một mùa thu khác thường lại đến: “Em khoác áo thu trắng thay cho áo thu vàng/ Khi ngày nối ngày các ca nhiễm Covid-19 nhiều hơn/ Không thiết thời gian để lo những điều thường nhật”. Đại dịch cũng là khoảng thời gian tĩnh lặng để con người nhìn lại mình trong cuộc đời này như Nguyễn Đinh Văn Hiếu cảm thức:

Có phút giây bỗng rơi tự do

Bồng bềnh những ý nghĩ mông lung, vô định

Chênh chao nụ cười, ánh mắt, nỗi buồn

Miên man miên man giữa cõi bờ hư thực

Cảm giác hụt hẫng chới với không gian, thời gian

Ta rơi tự do trong chính suy nghĩ của mình.

Khi ý thức được sự chênh chao, hụt hẫng “rơi tự do trong chính suy nghĩ của mình” chứng tỏ con người đã trưởng thành. Trưởng thành trong cách nghĩ. Trưởng thành trong cách ứng xử với đời sống và trang văn. Nhờ sự trưởng thành ấy, nhà thơ trẻ Nguyễn Đinh Văn Hiếu từng bước khẳng định mình qua thơ 1-2-3 với chiều sâu tâm thức và thấm đẫm tình yêu văn hóa miệt vườn đã sinh trưởng nuôi dưỡng nên anh, một tài năng thơ đáng quý của đất Trà Vinh!.

23/3/2022

Phan Hoàng

Nguồn: Báo Văn Nghệ 12/2022

Theo https://vanvn.vn/

  Cõi nhân gian và tiểu thuyết gia “Anh nghe điện thoại tối nay nhé. Shipper chuyển sách em tặng đấy”. Rất thân tình và không màu mè. Nguy...