VĂN THƠ NHẠC
Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026
Đọc "Giọt nắng tràn ly" - Nghĩ về tư duy sáng tạo và tiếp nhận thơ ca
Đọc "Giọt nắng tràn ly" - Nghĩ về tư
Trần Lê Khánh là một
cái tên “lạ” trong giới văn học nghệ thuật ngoài miền Bắc bởi còn ít người biết
và đọc thơ anh. Cho đến thời điểm nhà thơ “Hà Nội tiến” với buổi tọa đàm về “Xứ” –
tập thơ sẽ xuất bản vào năm 2020, tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội vào ngày
25.9.2019, thì thơ anh mới bắt đầu thực sự tạo ra sự chú ý ở độc giả yêu thích
thơ ca và giới truyền thông tại “cái nôi” văn học-nghệ thuật của cả nước, dù
trước đó anh đã cho ra mắt năm tập thơ: “Lục bát múa” (2016), “Dòng
sông không vội” (2017), “Ngày như chiếc lá” (2018), “Lục
bát múa trọn bộ” (2018), “Giọt nắng tràn ly” (2019). Cái
tên Trần Lê Khánh trở nên bớt lạ nhưng tập thơ “Giọt nắng tràn ly” lại
tạo ra một dư vị “lạ” đối với tác giả bài viết này. Edgar Allan Poe cho rằng:
Viết văn giống như giải một bài toán trí tuệ [6]. Điều đó đúng đối với thơ Trần
Lê Khánh và “Giọt nắng tràn ly”.
Bức tranh thế giới bằng ngôn từ trong thơ Nguyễn Duy
Bức tranh thế giới bằng
ngôn
từ trong thơ Nguyễn Duy
Trong văn học có một
loại hình ngôn ngữ mà khi phân tích tác phẩm, giới nghiên cứu, phê bình thường
bỏ qua. Từ đầu thế kỷ XX, người ta đã chỉ ra đó là “ngôn ngữ thế giới quan”, một
loại “hình thức bên trong” của tư duy. Nó là bức tranh thế giới bằng ngôn từ được
kiến tạo từ ngôn ngữ của một cộng đồng xã hội nào đó và được sử dụng trong giao
tiếp như một cấu trúc biểu nghĩa. Ví như dùng ngôn ngữ của cộng đồng kì thủ để
suy ngẫm, nhà thơ sẽ thấy vận nước như một “bàn cờ”: Tan chợ vừa nghe
tiếng súng Tây/ Một bàn cờ thế phút sa tay. Vận nước có thể xem là
“bàn cờ thế”, thì phong trào cách mạng cũng có thể xem là “cuộc cờ”, nhà cách mạng
là “kì thủ” và quần chúng cách mạng là những “quân cờ”: Thiên binh vạn
mã đuổi nhau hoài/ Tấn công, thoái thủ nên thần tốc/ Chân lẹ, tài cao ắt thắng
người.
Trước mắt ta là bức tranh
thế giới bằng ngôn từ được kiến tạo theo ngôn ngữ của cộng đồng kì thủ và nó được
sử dụng như một ngôn ngữ giao tiếp trong bài Chạy Tây của Nguyễn
Đình Chiểu và Học đánh cờ của Hồ Chí Minh. Có bao nhiêu lĩnh vực
giao tiếp lời nói, có bấy nhiêu ngôn ngữ thế giới quan. Có bao nhiêu ngôn ngữ
thế giới quan, có bấy nhiêu bức tranh thế giới bằng ngôn từ. Nó là “mã”, là cấu
trúc ngôn ngữ điều hành tư duy của chủ thể nghệ thuật. Đó là ngôn ngữ phái
sinh, thuộc loại siêu ngữ tồn tại liên không gian thành hiện tượng quốc tế,
xuyên thời gian thành các “cổ mẫu”. Nó tồn tại trong vô thức, tiềm thức của các
chủ thể lời nói trong giao tiếp. Đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh,
càng phá vỡ, đập vụn các cấu trúc bề mặt thành những mảnh nhỏ, ngôn ngữ hiện đại
và hậu hiện đại càng có xu hướng tái cấu trúc, tái tổ hợp các loại hình cấu
trúc cổ xưa đã trở thành “mẫu gốc”, lặp đi lặp lại qua nhiều thời đại văn hóa.
Những ai đã đọc thơ Nguyễn
Duy đều có thể nhận ra, ngay từ khi viết những câu thơ đầu tiên lặng lẽ gửi
loài người, ông đã chọn cho nhân vật trữ tình trong thơ mình ngôn ngữ làng quê,
ngôn ngữ sinh hoạt để kiến tạo các bức tranh thế giới bằng ngôn từ.
Trên bức tranh thế giới
được kiến tạo bằng ngôn ngữ làng quê ấy, “nhà” là từ khóa quan trọng nhất được
sử dụng để hình tượng hóa không gian sinh hoạt thường nhật của con người. Ở
đây, nhà chỉ là nhà tôi đó, không cổng và không cửa, là nhà ta xơ xác (…) gian
ngoài thông thống gian trong. Nhà có nơi thờ cúng để có lúc ngồi buồn nhớ mẹ ta
xưa. Trong nhà có xó bếp là nơi đời ta khởi đầu, lại có cả bếp rượu giữa nhà,
bè bạn vây quanh trong ngày họp mặt, cha già như trẻ lại. Trong nhà chỉ có “người
nhà”: cha tôi, chú tôi, bà tôi, mẹ tôi, vợ và các em tôi. Người nhà với người
nhà chỉ có quan hệ máu mủ ruột rà, không có đồng chí chung câu quân hành. Người
nhà chỉ làm “việc nhà”: cha cuốc đất một đời chưa xong, để rồi cha và ông cùng
man mác kiếp trâu cày; bà thì xúc tép đồng Quan, đi gánh chè xanh Ba Trại/
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn, rồi thì ru mẹ; mẹ thì
ru con, ru cái lẽ ở đời; các em thì vác cuốc vác cào/ rủ nhau bước thấp
bước cao ra đồng.
Nhà cũng là “quê”, nên mới
có quê nhà ở phía ngôi sao. Nhà cũng là “làng”, để thành làng tôi; về làng là về
nhà. Làng chỉ có “cảnh làng”: đình nhà Lê rêu phủ đã bao đời, cống Na, chùa Trần,
chợ Bình Lâm, đền Sòng, cánh hoa tím bờ giậu, sáo sậu vắt vẻo cành tre, tiếng
xe thồ lọc xọc, và trên sân trường thì đứa chơi đáo, đứa nhảy vòng… khiến
tung tăng tôi ngắm tôi nhìn/ con sông có bóng con thuyền thả câu. “Cảnh đồng”
là phần quan trọng nhất của cảnh làng. Ngoài đồng có bãi tha ma vắng, có gò đống
tổ tiên, có rơm rạ, có mùi bùn nằng nặng ngấu, có vỏ ốc trắng những luống cày
phơi ải/ bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua. Làng chỉ có “dân làng tôi”. Dân
làng là “bà con”, giống như người nhà. Cũng như người nhà, dân làng chỉ làm “việc
làng”, việc gì cũng là việc nhà quê, việc nhà nông muôn thuở: hàng xóm xay lúa
ù ù, chày cối thậm thịch. Tất cả hòa vào nhau thành vong linh làng mạc. Cái
“vong linh” ấy hiện hình trong kiếp người của cha, của ông, của bà, của mẹ: bà
và mẹ hóa cánh cò cánh vạc/ cha và ông man mác kiếp trâu cày.
Không có bất kì từ ngữ
nào của ngôn ngữ khác, ví như ngôn ngữ thương trường hay ngôn ngữ nhà binh, lọt
được vào bức tranh quê cổ truyền được thơ Nguyễn Duy chạm khắc bằng ngôn từ
sinh hoạt, ngôn từ làng quê. Ở đây, tính liên tục, liền mạch như là thuộc tính
quan trọng bậc nhất của ý niệm về không gian nhờ sự đầy ắp những sự vật và đối
tượng đồng loại, đồng chất nên không bị phá vỡ. Nhân vật trữ tình của Nguyễn
Duy cũng nói chuyện chiến tranh, chuyện nước gặp tai ương, cũng nói việc nước,
đường nước và tôi đi lính lâu không về quê ngoại. Nhưng trong thơ ông, “nhà” và
“làng” vẫn là từ khóa để định nghĩa về “chiến tranh” và “việc nước”: chiến
tranh như trận cháy làng/ bà con ta trắng khăn tang trên đầu. Ở đây, làng và
nhà không phải là điểm nối dài của “mặt trận”, mà ngược lại, mặt trận mới là điểm
nối dài của nhà và làng. Nếu nhân vật trữ tình trong thơ hiện thực xã hội chủ
nghĩa nhìn nhà ra “pháo đài”, nhìn làng thành “chiến lũy” thì nhân vật trữ tình
trong thơ Nguyễn Duy thấy căn hầm chữ A là ngôi nhà (lòng) dân: đường
Thanh Hoá… đường Nghệ An…/ tới đâu cũng gặp những gian hầm kèo/ hứng bom đỡ đạn
đã nhiều/ vẫn lặng thinh với cỏ rêu bên đường/ (…) thương ai dỡ những mái
nghèo/ dựng căn hầm vẫn dựng theo dáng nhà/ nhà dân che nắng mưa sa/ chắn che
cái chết cũng là nhà dân/ (…) ngả lưng trong hầm chữ A/ nhìn lên lại thấy mái
nhà lợp tranh…
Không gian nghệ thuật là
không gian hư cấu, giả tưởng, không gian của các giá trị. Thước đo giá trị của
bức tranh thế giới bằng ngôn từ trước hết thể hiện ở ý niệm về quảng tính chia
không gian thành to – nhỏ, rộng – hẹp. Trên bức tranh thế giới bằng ngôn từ của
Nguyễn Duy, bầu trời tròn rộng bao la không thể sánh với mái tăng – bầu trời
vuông, vì bầu trời vuông là “mái nhà”: nghiêng nghiêng hai mái hai miền
quê xa và khoái nào bằng phút ngả lưng/ mở trang thư dưới bóng rừng đung đưa/
trời tròn còn có lúc mưa/ trời vuông vuông suốt bốn mùa nắng xanh.
Thước đo giá trị của bức
tranh thế giới bằng ngôn từ còn thể hiện ở ý niệm về chiều và trục chia không
gian thành trên – dưới, thấp – cao. Bức tranh không gian của Nguyễn Duy có một
thước đo giá trị riêng. Ở đây, trời tròn ở trên không thể sánh với trời vuông ở
dưới, Hằng Nga trên trời có được chút thi vị là nhờ võng trăng của người lính
trẻ. Ở đây, cái thế giới có giá trị là đất cát, là cỏ dại, là dòng sông Mẹ, là
những bát ngát cánh đồng, chứ không phải là trời rộng trên đầu; là Mẹ trường tồn,
là dân, là những gì chìm nổi với chúng sinh, chứ không phải là Cha anh minh vòi
vọi bên trên. Cho nên, một ông vua muốn tồn tại trên bức tranh bằng ngôn từ của
Nguyễn Duy như một giá trị thì phải là ông vua lỉnh kỉnh đồ nghề trong căn
phòng gỗ sồi không sơn phết, không chạm trổ, hay ông vua yêu nước chỉ còn là nắm
xương tàn: mặt trời vẫn mọc đằng đông/ lăng minh quân vẫn dựng trong
lòng người/ bao triều vua phế đi rồi/ người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ.
Cuối cùng, thước đo giá
trị của bức tranh thế giới bằng ngôn từ thể hiện ở ý niệm về phương và hướng
chia không gian thành sau – trước, gần – xa. Đọc thơ Nguyễn Duy, tôi thường bị
thôi miên bởi những nhan đề: nhan đề các bài thơ, nhan đề các tập thơ, tuyển tập
thơ và nhan đề dành cho các phần được chia nhỏ trong các tuyển tập thơ và các tập
thơ ấy. Tính theo nhan đề, Nguyễn Duy là tác giả của các tập và các tuyển tập
thơ: Cát trắng, Ánh trăng, Mẹ và em, Đãi cát tìm vàng, Đường xa, Quà tặng,
Về, Vợ ơi, Quê nhà ở phía ngôi sao, Tuyển thơ lục bát, Thơ (tuyển tập).
Thơ (tuyển
tập) của Nguyễn Duy chia thành bốn phần với bốn tiêu đề Đường làng – Đường
nước – Đường xa – Đường về. Tập Bụi được chia thành hai phần với hai tiêu đề:
Giữa đám đông và Một mình. Tập Quê nhà ở phía ngôi sao cũng
được chia thành hai phần với hai tiêu đề: Làng ta ở tận làng ta và Cõi
về. Có phải những nhan đề kia đã lấy ngôn từ mà vẽ ra cả một bức tranh thế
giới với ý niệm rõ ràng về phương và hướng mang ý nghĩa giá trị với con người tồn
tại trong không gian rồi không? Nhưng nhan đề chỉ là tác phẩm “gói lại”. Phải đọc
vào tác phẩm mới thấy cái nhan đề “mở ra”.
Tác phẩm của Nguyễn Duy mở
ra một bức tranh ngôn từ lấy làng, nhà, cõi về làm trung tâm giá trị. Nhà, làng
là điểm khởi đầu của một con đường. Từ đường làng ra đường nước đã là đường xa:
xa hun hút một con đường/ bạn bè lận đận tận phương trời nào. Từ đường làng đến
đêm Bắc bán cầu vần vụ trắng thì đường xa càng xa mờ mịt, nên nhìn từ xa… Tổ quốc.
Nhưng con đường chỉ là không gian ngoại thân. Thơ Nguyễn Duy vẽ ra một không
gian khác tồn tại trong lòng người. Không gian ấy lấy cõi về làm trung tâm. Từ
cõi về, nhìn thấy cõi trời và cõi mình. “Một mình” cũng làm thành một cõi. Một
mình với cõi mình thì cõi trời, cõi người là những cõi xa. Ngay trong cõi mình,
ta với mình cũng đã xa xôi lắm.
Với nhân vật tôi trữ tình
trong thơ Nguyễn Duy, cái hướng đáng sợ nhất là phía trước. Nó biết rõ đời mình
khởi đầu từ xó bếp. Phía trước, với nó, là hướng mờ mịt, vô thường: mặt trận dời
vào sâu/ ngày mai ta dừng chân nơi nào/ khoảng trống phía trước vẫn bỏ ngỏ/ đâu
biết những gì chờ ta đằng kia. Nó xem đi một bước là một bước đặt bàn chân vào
lửa: mười tám tuổi ra đi/ bước thứ nhất đặt bàn chân vào lửa/ đường chiến tranh
biết chỗ nào dừng. Với nó, đi mà không về là bước đi đầy bi kịch: người bạn tôi
không về tới nơi này/ anh gục ngã bên kia cầu xa lộ/ anh nằm lại trước cửa vào
thành phố; tuổi hai mươi trắng răng cười/ trắng con đường Chín, bạn tôi không về.
Cảm nhận của nó về đường
xa, phương xa, từ cõi trời, cõi người cho tới cõi mình, luôn gắn với cảm giác về
phương xa xứ lạ, về sự lưu lạc. Hãy nghe nó nói về cảm giác lần đầu nhìn thấy
tuyết ở xứ người: lần đầu gặp tuyết trắng/ bạc tóc người xa nhà/(…) ối giời ơi…
nõn nà ghê/ màu trong sạch đến khả nghi là thường/ cô đơn tiếng quạ nhểu buồn/
đàn chim di trú tha hương phương nào. Nghĩa là với nó, đường xa cũng đầy bất an
và đáng sợ như phía trước: trông người xưa ngẫm người nay/ đường xa nghĩ nỗi
sau này… cũng kinh. Cho nên, bức tranh không gian trong thơ Nguyễn Duy lúc nào
cũng âm vang tiếng lòng thôi thúc buông bỏ phương xa, tha thiết với cõi về.
Khái niệm cõi về ở đây cũng đa nghĩa như các khái niệm đường nước, đường xa.
Ở những bài như Nghe
tắc kè kêu trong thành phố, Khúc hát hòa bình hay Gặp một người
lính trẻ, cõi về là nơi không còn khói lửa bom đạn để được sống lặng yên
như cây cỏ trong vườn. Trong Đường xa, Về làng, Cầu Bố, Đò Lèn, Tuổi
thơ và rất nhiều bài khác, cõi về là quê nhà ở phía ngôi sao, nơi có bếp
rượu giữa nhà bè bạn vây quanh với dòng sông Mẹ và những ngổn ngang gò đống tổ
tiên nhà. Cõi về dịu và nhẹ nhất là cõi em. Vì chỉ ở đó mới
không nhàm tai nghe rối tiếng ồn để dọn tai ta lắng tiếng thầm thế gian, để mỗi
năm Tết có một lần/ mời em li rượu tay nâng ngang mày. Nhưng có gì lạ quá đi
thôi/ khi gần thì mất xa xôi lại còn. Hình như chính ở lòng mình, về với cõi
mình mới thực sự là cõi về. Trong hàng loạt bài thơ, như Kính gửi tuổi
học trò, Gửi về Lam Sơn, Tuổi thơ, nhất là Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ…,
cõi về là trở lại, tìm về bản nguyên hồn nhiên thơ trẻ để được ngạo nghễ khúc đồng
dao nhăng cuội/ lời trẻ con phấp phới ngũ hành kì.
Trên bức tranh thế giới bằng
ngôn từ của Nguyễn Duy, không gian không tồn tại ngoài thời gian. Ở đó, hình tượng
không – thời gian được kiến tạo bằng cùng một loại ngôn ngữ thống nhất để tạo
nên cấu trúc biểu nghĩa như một chỉnh thể. Thơ Nguyễn Duy đặt hình tượng thời
gian vào dòng lưu chuyển tuần hoàn vĩnh hằng của cái bất diệt và sự phôi pha.
Đó là dòng chảy tự nhiên của thời gian được tri nhận bằng cảm quan của con người
nông nghiệp. Năm là đơn vị được sử dụng để tính đếm dòng thời gian này. Việc
nhà được ghi nhớ theo năm: cha con xa cách bấy lâu/ mấy năm mới uống với
nhau một lần. Nó còn là dấu mốc của việc nhà trong dòng chảy của việc nước: những
năm bom đạn như gieo mạ/ lại chiếc xe thồ đi về Nam/ cha tôi qua cầu Bùng cầu
Ghép/ tôi nhìn theo chớp lửa nhập nhoằng.
Vòng đời của cây cỏ cũng
được tính bằng năm: năm qua đi, tháng qua đi, tre già măng mọc có gì lạ đâu.
Năm dùng để tính tuổi và tuổi là dấu mốc của đời người: bảy tuổi tôi…/
mười tuổi tôi…/ mười bảy tuổi…/ mười tám tuổi ra đi/ bước thứ nhất bước chân
vào lửa. Rồi tuổi được dùng như loại từ để tạo ra danh từ làm thành cột mốc
chia đời người theo các đơn vị vĩ mô: tuổi thơ – tuổi trẻ – tuổi già. Tuổi thơ
là con dấu chìm chạm trổ tận trong xương. Tuổi trẻ là tuổi học trò đồng nghĩa với
trang thơ; nhưng tuổi trẻ cũng là thời trai anh đi qua/ những ngả đường
đạn bom thăm thẳm lắm. Đến đây, chữ thời trở thành cột mốc đánh dấu bước
ngoặt lớn nhất của đời người. Biết thời trai anh đi qua tức là ngộ ra trời cho
sống ta cũng già em ạ và ta già ta hóa trẻ con.
Có cả một vòng quay thời
gian đời người trên bức tranh thế giới bằng ngôn từ trong thơ Nguyễn Duy. Ở đó,
chữ thời còn là cột mốc đánh dấu bước ngoặt thời gian thế sự. Nó chia thời gian
thành thời ta mê hát đồng ca/ chân thành và say đắm với thời dù dối nữa cũng
không lừa được nữa. Và thời gian thế sự cũng chảy trôi như dòng nước lưu chuyển
dưới chân cầu của chữ thời: này em buồn mà làm gì/ thời trong leo lẻo lỡ đi qua
rồi/ cái thời loang lổ đang trôi/ thôi thì thong thả tới thời trắng tinh.
Bức tranh nào cũng phải
có khung. Khung giúp người xem tranh hình dung nó như một cấu trúc biểu nghĩa
toàn vẹn. Đó là lí do có thể gọi bức tranh thế giới bằng ngôn từ trong thơ là
ngôn ngữ thế giới quan. Bức tranh thế giới bằng ngôn từ trong thơ Nguyễn Duy –
với không gian thu hẹp lấy nhà làm trung tâm, với thời gian của cái bất diệt và
phôi pha trong vòng luân chuyển tuần hoàn như dòng sông Mẹ – được đặt vào khung
huyền thoại. Chỉ huyền thoại mới lấy thời gian luân chuyển tuần hoàn để đóng
khung cho lời nói.
Bức tranh thế giới bằng
ngôn từ trong thơ Nguyễn Duy có cái khởi nguyên của truyền thuyết. Đó là cái có
nguồn cội từ xa xưa trong đời sống tâm linh của dân tộc, đã hóa thân vào cánh
cò, vào sắc mây, vào câu ca dao để bà ru mẹ, mẹ ru con, nên ngàn năm
trên dải đất này/ cũ sao được cánh cò bay la đà/ cũ sao được sắc mây xa/ cũ sao
được khúc dân ca quê mình. Bức tranh ấy có cả cái mạt thế của thời thần
tượng giả xèo xèo phi hành mỡ/ ợ lên nhồn nhột cả tim gan.
Nhưng hễ ở đâu, thế giới
chuyển qua thời mạt pháp, thơ Nguyễn Duy liền tạo ra cái chết tái sinh để đưa
nó vào khung lưu chuyển luân hồi của huyền thoại, tỉ như ta già ta hóa trẻ con,
hoặc sông Mã ơi/ hạt cát dạt bến nào/ điệp khúc sông trong lòng nguyên
vẹn/ giọt nước có biệt tăm ngoài biển/ ngày ngày/ làm mây bay về nguồn, hay dù
có sao/ đừng thở dài/ còn da lông mọc còn chồi nẩy cây. Thơ Nguyễn Duy khi
quằn quại bi hùng, khi giễu nhại hài hước, bài nào cũng man mác một nỗi buồn
tuy nhẹ nhàng mà xót xa tê tái nhưng không hề có âm hưởng bi thương là vì thế.
3/1/2021
Lã Nguyên
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Lê Xuân với "Cảm nhận về vẻ đẹp văn hóa văn nghệ dân gian"
Lê Xuân với "Cảm nhận về
vẻ
đẹp văn hóa văn nghệ dân gian"
Nhà văn Lê Xuân
sinh năm 1945 tại Thanh Hóa, hiện sống và làm việc tại thành phố Cần Thơ. Có thể
gọi ông là nhà giáo, nhà báo, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đều đúng
cả. Ở lĩnh vực nào ông cũng có nhiều đóng góp và thành công đáng ghi nhận. Nói
về lao động nghệ thuật sáng tác và biên khảo tính đến nay ông đã góp mặt trên
30 tác phẩm và có nhiều tác phẩm in riêng thuộc nhiều thể loại như thơ, tiểu luận,
khảo cứu và nhận định văn học.
Những cống hiến cho hoạt
động văn học, báo chí của ông đã đem lại nhiểu giải thưởng xứng đáng. Chứng tỏ
những nổ lực không mệt mỏi của nhà báo, nhà văn… Lê Xuân đã được công chúng yêu
văn học và giới chuyên môn ghi nhận. Cuộc đời và những đóng góp cho hoạt động
nghệ thuật của Lê Xuân có lẽ dành riêng cho ông một tác phẩm có qui mô với vài
trăm trang mới có thể trình bày đủ ý. Trong khuôn khổ bài viết, tôi chỉ ghi lại
những nhận định của mình khi đọc tác phẩm ông vừa gửi tặng cách đây không lâu
có tựa đề: Cảm nhận về Vẻ đẹp Văn hóa văn nghệ dân gian (Tiểu
luận – khảo cứu), Nhà Xuất bản Văn hóa – Văn nghệ tháng 2 năm 2020.
Cuốn sách là một ấn phẩm
trình bày bắt mắt, dày 200 trang. Đây là những trang viết đầy tâm huyết, với
tình yêu dành cho những di sản văn hóa của dân tộc ta từ bao đời nay. Tôi gọi cốt
lõi của dòng chảy văn hóa đó là “Hồn Việt”. Cuốn sách được trình bày mạch lạc
qua ba phần:
– Phần 1: Bàn luận về ca
dao dân ca tục ngữ.
– Phần 2: Đình chùa, lễ hội
ẩm thực, đờn ca tài tử
– Phần 3: Hình ảnh 12 con
giáp trong tục ngữ, ca dao dân ca.
Nhìn chung những bài viết
của Lê Xuân ở lĩnh vực nào cũng rất hấp dẫn và đầy sức thuyết phục bằng ngôn ngữ
giản dị, trong sáng dể hiểu. Ông đã đưa ra những dẫn chứng, cứ liệu, minh chứng
mang tính khoa học. Chứng tỏ ông đã dày công nghiên cứu, bỏ ra nhiều công sức để
sưu tầm, biên khảo với tất cả lòng nhiệt thành, yêu quý và trân trọng những tài
sản tinh thần vô giá mà tổ tiên ta đã lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
trong quá trình dựng nước, giữ nước và mở cõi… ở nhiều vùng miền trên dải đất
hình chữ S thân thương, đặc biệt là những nơi Lê Xuân đã có dịp đặt chân tới đều
để lại dấu ấn trong những bài viết của ông về con người, di sản và lễ hội nơi
đây. Qua tác phẩm của ông người đọc như được cùng ông trở về với cội nguồn dân
tộc. Những câu ca dao, những làn điệu dân ca, điệu lý, những câu hát ru… là những
nét đặc trưng bản sắc văn hóa vùng miền. Ở đó chúng ta cũng được ôn lại những
kinh nghiệm quý báu trong đời sống của tiền nhân về lao động sản xuất, đối nhân
xử thế, nhận biết thời tiết… mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Kho tàng tục ngữ,
ca dao, dân ca và những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là nguồn mạch âm ỷ
chảy trong huyết quản của mỗi người dân Việt Nam từ bao đời nay. Khi tượng hình
đến khi chào đời và cả tuổi ấu thơ với những câu hát bên nôi là lời ru của bà của
mẹ cho chúng ta đắm mình trong bầu sữa ca dao dân ca. Rồi những năm tháng trên
ghế nhà trường hay đến lúc trưởng thành, trong cuộc sống, chúng ta cũng vận dụng
những kinh nghiệm quý báu từ tục ngữ ca dao. Không ít nhà văn, nhà thơ trong
sáng tác cũng mang đậm hồn dân tộc ít nhiều có ảnh hưởng từ nguồn mạch dòng chảy
văn hóa cội nguồn. Như vậy con người việt Nam ta từ lúc tượng hình trong bào
thai của mẹ, được chào đời đến lúc đi vào cõi vĩnh hằng đều được vỗ về ca dao
dân ca. Và có một điều chắc chắn là người Việt không ai là không thuộc ít nhiều
câu tục ngữ, ca dao để vận dụng trong cuộc sống hằng ngày. Bởi đó là những kinh
nghiệm đúc kết từ thực tiễn của cha ông ta và được lưu truyền từ dời này sang đời
khác và tin rằng còn mãi đến mai sau.
Mở đầu tác giả Lê Xuân có
lời giới thiệu nhẹ nhàng và rất đỗi chân thành đến với bạn đọc bằng giọng văn
giàu xúc cảm, lôi cuốn người đọc từ những câu chữ đầu tiên trong tác phẩm của
ông: “Từ ấu thơ tôi đã được tắm mình trong lời ru của bà, của mẹ qua mỗi vần ca
dao và những chuyện kể xen lẫn tiếng võng đưa kẽo kẹt của những buổi trưa hè
hay khi hoàng hôn buông xuống. Tôi chìm vào giấc ngủ nhẹ êm mơ tới những cô
Tiên, ông Bụt và được bay đến nhiều bến bờ xa lạ của những miền sông nước mênh
mông hay miền núi cao xanh thẳm của Tổ quốc”. Và rồi khi ông lớn lên được đặt
chân đến nhiều nơi, được tiếp cận với nhiều nét văn hóa của các vùng miền ông
rút ra một điều: “Cha ông ta dù cực khổ đến mấy vẫn lạc quan yêu đời, vẫn truyền
dạy lại cho con cháu những bài học về lẽ sống”. Cũng như tác giả, ai trong
chúng ta cũng được thừa hưởng những nét đẹp, kinh nghiệm sống của tổ tiên từ tục
ngữ ca dao dân ca… đó là vốn quý từ cha ông ta qua văn hóa dân gian để mỗi ngày
bồi đắp, làm giàu thêm cho tâm hồn và trí tuệ. Ông viết: “Vì thế, mỗi lần đọc một
câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ hay nghe một làn điệu dân ca, thưởng thức một
món ăn, hoặc xem một mái đình, một ngôi chùa, nhà cổ nào đó tôi đều ghi lại những
cảm nhận của mình. Và như tìm được sự tiếp nối, đồng cảm giữa quá khứ với hiện
tại trong dòng chảy văn hóa hôm nay”. Những làn điệu dân ca mang đặc trưng văn
hóa của mỗi vùng đều làm ông xao xuyến. Đọng lại trong tâm hồn ông nhiều cảm
xúc khó quên và những nơi tác giả đi qua đều để lại dấu ấn , thể hiện trên từng
trang viết của Lê Xuân. Và cũng theo ông thì những âm điệu tha thiết của dân ca
đưa trẻ vào giấc ngủ, hay để trai gái tỏ tình,… người ta hát để bày tỏ tình cảm,
để tăng niềm phấn khích trong lao động và cả khi tiễn đưa người thân về nơi an
nghỉ cuối cùng. Lê Xuân tỏ ra am hiểu về đặc điểm, âm điệu của dân ca, tiết tấu
của từng vùng miền. Ví dụ:“Bài ca dao “Trống cơm” khi chuyển sang dân ca quan họ
Bắc Ninh ta thấy có tiếng đệm, tiếng lót để tạo nên giai điệu riêng: (Tình bằng)
có cái trống cơm/ Khen ai khéo vỗ( ấy mấy) vông nên vông. Hát dăm Nghệ Tĩnh thì
thường theo nhịp 3/2 để diễn tả động tác lao động chắc khỏe. Hát ru em có giai
điệu khoan thai nhẹ nhàng.”
Lê Xuân viết về hình tượng
trầu cau trong ca dao bằng câu từ dung dị mà lôi cuốn người đọc bởi cách lập luận
chặt chẽ và hành văn thuần Việt, trong sáng dễ hiểu. Ông dẫn chứng nhiều ca dao
quen thuộc nhưng mỗi lần đọc lại cũng đưa đến nhiều cảm xúc cho chúng ta. “ Sự
tích trầu cau không biết từ bao giờ nhưng nó mãi mãi tượng trưng cho khát vọng
hạnh phúc và hôn nhân”…” Bởi vì :“Miếng trầu là đầu câu chuyện”, “ Miếng trầu
nên dâu nhà người”… Trầu cau có mặt trong mọi sinh hoạt vui buồn hàng ngày của
người bình dân: lễ tết, ma chay, cưới hỏi, tân gia: Người ta đã nhắn nhủ nhau:
“Ai về tôi gửi buồng cau
Buồng trước kính mẹ buồng
sau kính thầy”
Bàn về ca dao Lê Xuân tiếp
tục với nguồn mạch cảm xúc trong các bài viết: Thách cưới trong ca dao, vẻ đẹp
của tình yêu trong bài ca dao “Con mình con ta”, Nỗi nhớ và lời trách đáng yêu
trong bài ca dao ”Thiếp nhớ chàng”…
Cũng với lời dẫn gợi mở
nhẹ nhàng: “Ca dao là cây đàn muôn điệu của tâm hồn người bình dân. Mọi cung bậc
tình cảm, mọi trăn trở, ước mơ kỳ vọng, ta đều có thể tìm thấy ở đó. Nhưng dưới
chế độ phong kiến bao luật lệ khắt khe đã trói buộc đời sống tình cảm của con
người”. Nên có lẽ vì thế mà để thể hiện tình yêu đời yêu người đôi khi phải thể
hiện dưới hình thức dí dỏm hài hước pha lẫn chút xót xa của một câu chuyện về một
đôi trai gái nghèo. Chúng ta hãy lắng nghe cô gái thách cưới:
“Cưới em có cánh con gà
Có dăm sợi bún có vài hạt
xôi
Cưới em còn nửa anh ơi
Có một đũa đậu, hai môi
rau cần”
Nói về nỗi nhớ và lời
trách đáng yêu trong bài ca dao “Thiếp nhớ chàng” (Đây là bài viết đạt giải
khuyến khích cuộc thi bình ca dao của tạp chí Thế Giới Trong Ta năm 2002-2003)
Lê Xuân trich dẫn những câu ca dao đầy ý nghĩa:
“- Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi
đống than”
-“Mình nhớ ta như cà nhớ
muối
Ta nhớ mình như cuội nhớ
trăng”
Lê Xuân tiếp tục đưa người
đọc trở về với ca dao dân ca. Mỗi chúng ai cũng từng lớn lên bằng lời ru của
bà, của mẹ… dẫu cuộc sống còn đó những lo toan nhưng chúng ta cũng được vỗ về bằng
lời ru tưởng đã ngủ yên trong tiềm thức. Khi có dịp trở về chúng ta chợt nhận
ra những nét nghĩa mới theo thời gian và vốn hiểu biết của chúng ta. Bởi vì ca
dao và tục ngữ có thể hiểu bằng nghĩa đen hoặc nghĩa bóng vì vốn có tính đa
nghĩa nên chúng ta có thể khám phá nhiều tầng nghĩa của nó tùy theo ngữ cảnh…”
Và có lẽ vì thế nó mới tạo nên sự thú vị cho người tiếp nhận, tạo nên sự đa
nghĩa cho hình tượng văn học” như những câu ca dao sau đây:
“Gái thương chồng đương
đông buổi chợ
Trai thương vợ nắng quái
chiều hôm”
(Bàn thêm về câu ca dao:
Gái thương chồng- trang 36)
Tác giả Lê Xuân đưa ra những
dẫn chứng, cứ liệu đưa người đọc đi vào dòng cảm xúc trước vẻ đẹp của ca dao
qua các bài phân tích, gợi mở lý thú như bài : Tình nặng lí sâu trong câu tục
ngữ “Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình” (trang 40), rồi bài Bàn thêm về
câu tục ngữ “ Ăn vóc học hay” (trang 44). Ông viết về hình ảnh mười hai con
giáp trong ca dao tục ngữ, hình ảnh cây cầu trong ca dao Nam Bộ… Ngoài ca dao,
dân ca Lê Xuân cũng dành nhiều tâm huyết cho việc khảo cứu về các đình chùa, lễ
hội, ẩm thực, đờn ca tài tử. Đó là đời sống văn hóa tinh thần, là yếu tố không
thể thiếu trong văn hóa dân tộc suốt chiều dai thời gian dựng nước, mở cõi, di
dân. Những giá trị tinh thần đó chứa đựng hồn cốt dân tộc. Nó trở thành bản sắc
riêng không mai một mà ngược lại nó phát triển phong phú phù hợp với vùng miền
và thời gian, chứng tỏ sức sáng tạo không ngừng của của dân tộc ta từ xưa đến
nay.
Nói đến ca dao tục ngữ
hay truyện ngụ ngôn, cúng ta thấy hình ảnh các con vật mà quen thuộc, nhất là
mười hai con giáp không thể thiếu trong văn học dân gian. Được xem là hình ảnh
hoán dụ dễ thương để chủ thể trữ tình ký thác tâm tình, gửi gắm nỗi niềm hay
thông điệp đến với khách thể trữ tình. Hình ảnh mười hai con giáp được Lê Xuân
trình bày ở phần 3 của cuốn sách với các bài viết lí thú, hấp dẫn . Như bài viết
về hình ảnh con chuột trong ca dao tục ngữ với cách lí giải, dẫn chứng và lời
khuyên được xem là bài học từ những kinh nghiệm rút ra từ vốn sống của tiền
nhân đúc kết nhiều đời qua ca dao tục ngữ:
“Chớ ham mèo chuột anh ơi
Cửa nhà tan nát, miệng đời
mỉa mai”
… Và đây là một kinh nghiệm:
khi con chuột bỗng dưng xuất hiện báo hiệu tin vui, sắp có khách đến thăm nhà:
“Thứ nhất đom đóm vào nhà
Thứ nhì chuột rúc, thứ ba
hoa đèn”
Dân tộc ta trưởng thành từ
nền văn minh lúa nước với hơn 70% dân số là nông dân, gắn bó với ruộng đồng nên
hình ảnh con trâu rất gần gũi với đời sống của người dân. Nên con trâu được xem
như vốn quý của kinh tế gia đình. Lê Xuân đã trích dẫn:
“Tậu trâu, lấy vợ làm nhà
Trong ba việc ấy thật là
khó thay”
Với quan niệm này, khi
nào hoàn thành ba việc ấy mới được xem là người trưởng thành chín chắn và ổn định
kinh tế với mái ấm gia đình.
Tiếp tục với những bài viết,
Lê Xuân đã trình bày lần lượt đầy đủ hình ảnh mười hai con giáp trong ca dao tục
ngữ. Bài nào ông cũng tỏ ra am hiểu, trình bày mạch lạc, bằng ngôn ngữ khúc chiết
,mạch lạc, dể hiểu và đôi khi còn dí dỏm dễ thương làm cho người đọc tiếp cận
các hình tượng văn học một cách nhẹ nhàng, thú vị. Phần cuối sách là phần phụ lục
ông giới thiệu với bạn đọc hình ảnh những đình chùa, cầu, chợ, lễ hội …và hoạt
động văn hóa diễn ta ở một số vùng miền mà tác giả Lê Xuân đã ghi lại được bằng
hình ảnh qua các chuyến điền dã của mình.
Như chúng ta đã biết văn
hóa dân gian mà ca dao, dân ca, tục ngữ là văn học truyền miệng qua nhiều thế hệ
và có sự biến tấu của từng vùng miền khác nhau tạo nên tính phong phú cũng như
sự đa nghĩa thâm thúy sâu xa cũng như nhiều chiều kích tâm trạng nên ngoài
nghĩa đen vốn có của nó đọc lên ai cũng hiểu thì còn có những nghĩa bóng, chứa
đựng ý tứ và thông điệp gửi gắm trong đó để người đời không ngừng tìm tòi khám
phá .Vì thế những phân tích lí giải của tác giả dù rất cố gắng bằng cả tâm huyết
và tài hoa của mình cũng chưa thể làm hài lòng hoàn toàn cho tất cả bạn đọc. Điều
đáng quý là ông đã đóng góp cho bạn đọc vẻ đẹp, ý nghĩa, những nét nghĩa nổi trội
và nhất là vốn sống hướng về cái đẹp mà văn hóa dân gian mang lại . Những ý kiến
của ông đưa ra có mục đích gợi mở để người đọc có thêm một hướng tiếp cận với
những di sản văn hóa mà ông cha ta để lại để yêu quý văn hóa dân gian và tiếp tục
có những khám phá mới. Ngay từ lời mở đầu lê Xuân đã gửi đến bạn đọc những lời
chân thành: “Những trang viết về văn hóa, văn nghệ dân gian ở tập sách này là một
món quà tôi gửi tặng quê hương, tặng những con người và vùng đất tôi đã đi qua.
Đây là những cảm nhận cá nhân ở một góc độ nhất định về văn hóa, văn nghệ dân
gian. Vì trình độ còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót. Rất
mong các nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian và bạn đọc góp ý”. Đây là những
lời bộc bạch khiêm tốn của ông .Nhưng theo thiển ý của tôi, Lê Xuân nghiên cứu
khảo luận rất tâm huyết, am hiểu sâu sắc về đặc trưng thể loại văn hóa và vững
vàng trong quan điểm nhận định. Là cây bút có trách nhiệm với vốn quí, tài sản
vô giá của dân tộc ta.
Có thể chưa phải câu ca
dao nào cũng được ông bình một cách thấu đáo nhưng thành công hơn hết là ông đã
truyền cảm hứng tình yêu “Hồn Việt” từ cảm xúc của ông lan tỏa đến người đọc
chúng tôi. Vâng tác giả ơi! Đây quả là một món quà quý cho những ai yêu mến Hồn
Viêt cũng có thể gọi là “hồn dân tộc” qua những di sản văn hóa tinh thần mà cha
ông ta đã tích lũy bao đời để lại cho chúng ta. Cuốn sách là một góc nhìn của một
người dành nhiều thời gian cho các hoạt động khảo cứu. Chúng ta trân trọng những
đóng góp quý báu của ông. Văn hóa, văn nghệ dân gian là một món ăn tinh thần với
đầy đủ các chức năng giải trí, giáo dục thẫm mỹ, kinh nghiệm sống và dự báo…
thông qua hình tượng nghệ thuật đưa cái đẹp vào cuộc sống, góp phần hướng con
người đến chân-thiện- mỹ để cuộc sống tinh thần thêm phong phú để cảm thấy cuộc
đời có ý nghĩa hơn!
Cuốn sách của tác giả lê
Xuân là kết quả của nhiều chuyến điền dã, thể hiện sự lao động nghệ thuật
nghiêm túc của ông trong thời gian dài. Đây là một công trình nghiên cứu xứng
đáng với giải thưởng mà hội văn nghệ dân gian Việt Nam trao tặng. Chứng tỏ công
sức nghiên cứu và trí tuệ lao động nghệ thuật của anh đã được ghi nhận .Mong
tác giả lê Xuân nhiều sức khỏe, phát huy năng lực sáng tạo để tiếp tục có những
đóng góp mới cho hoạt động văn hóa nghê thuật như một người cần mẫn vén lớp bụi
thời gian hé lộ những mảng màu đẹp từ những viên ngọc quý của tiền nhân trong
kho tàng văn hóa dân tộc.
Sài Gòn, 31/12/2020
Hoàng Thị Bích Hà
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Có mái tóc hoa râm lặn lội tìm giống người
Có mái tóc hoa râm
lặn lội
tìm giống người
Có người nói: ông
Lê Chí sống lặng lẽ, vẻ hơi buồn buồn nỗi buồn thế sự. Tôi muốn nói: Đất nước
mình vẫn luôn có nỗi buồn thương trăm năm ngàn năm đấy thôi. Tôi biết là nhà
thơ Lê Chí đang ờ ờ chan chứa… rồi ngâm ngợi, thì thầm…
Xong việc ở Thành phố Hồ
Chí Minh hay thành phố Vũng Tàu, có khi là thành phố Phan Thiết, tôi thường đi
luôn vào miền Tây Nam Bộ, để tiết kiệm thời gian, thì đi tiếp đến Rạch
Gía hay Hà Tiên, Cà Mau hoặc Bạc Liêu, có lần còn ra mấy hòn gần đảo Phú Quốc.
Làm một thôi một hồi, mươi ngày hoặc vài tuần thế rồi theo xe đò quay lại từng
chặng bất chợt… Bay về đến Hà Nội thốt nhiên tự hỏi mình mà như hỏi ai: Đi thế
thì được gì nhỉ? Chịu, không thể trả lời cho rành rẽ được..
Đi là đi thế thôi. Có một
sự vẫy gọi từ đâu đó, rất rõ mà cũng thật xa mờ, mông lung.
Lại cũng như một thói
quen, như một phản xạ tự nhiên, đã vào đến đấy, không đi tiếp Tây Nam Bộ thì
vào đây làm gì? Thế là đi thôi. Lại nhớ thơ Phạm Tiến Duật: Cứ đi cứ
đi, đường nhiều cái lạ…
Lần ấy tôi được ngồi với
nhà thơ Lê Chí. Sự ít lời của ông hóa ra lại rất hợp. Nước sông đang dâng từ từ,
phía bên kia bờ cũng hưng hửng sáng lên dần theo ánh mặt trời, đỏ sông, vàng
nhà và xanh trong trời tít tắp, rạng rỡ, cao cao. Xung quanh chúng tôi người ngồi
uống cà phê sáng như tự nhiên cũng trầm lắng lại cả. Ở đây có nghi lễ đón bình
minh vậy sao? Tôi định hỏi nhà thơ, thấy ông lặng lẽ đăm chiêu, nên cũng lắng
mình lại. Lát sau, như đã dứt được khỏi cảnh này, giọng ông trầm chậm vừa đủ
nghe: Nguyên An uống đi, ở đây vậy đó.
Cái chữ “vậy đó” của nhà
thơ đã như một thứ chìa khóa giúp tôi mở cửa ngôi nhà thơ của ông rồi.
Tôi nhìn xung quanh, rồi
dõi mắt ra xa xa, thấy chập chờn nhiều người, nhiều gương mặt, mà không thật rõ
một ai, đâu như là Lê Văn Thảo, như Nguyễn Khoa Đăng, như Lê Sơn, lại như có cả
Trần Hoài Giao, loáng thoáng lụm cụm Sơn Nam, thoáng cái lại thấy ai như Trương
Nam Hương đang cười cười nữa…và cả mấy ông bạn trẻ trung tân kỳ mơi mới quen
quen ở hội nghị hội thảo nào…Trong đầu chợt hiện lên mấy câu: rối rắm sắc
màu siêu thực/ nhốn nháo thời trang nhếch nhác tình ca/ lạm phát đại ngôn/ dư
thừa hứa hẹn/ lòng ơi, xa cách đôi bờ… định hỏi: Anh Lê Chí, anh viết
vậy là sao? Nhưng thấy anh cũng như đang nhìn mình nhìn ai mà như chả nhìn ai,
thì im lặng lại, lẩm nhẩm tiếp:
dấu hiệu mùa xuân
phải đâu đến sớm
tấm lòng ta như đất giục
xanh trời,
rồi nhớ:
những mái tóc hoa râm
ngày ngày lặn lội
tìm hạt giống người
Người đi tìm hạt giống
người, hay thơ đi tìm hạt giống người đây? Thơ Lê Chí đấy, là độc thoại, cũng
là đối thoại giãi bày.
Hạt giống nào trên sông
mùa nước nổi?
Không thể phân biệt được
người và thơ Lê Chí, chẳng thể nào trả lời được câu hỏi đã nhiều lần chợt đến ở
trên, tôi thả cho chân và mắt, tay và mũi… được tự nhiên tự do ngập vào cảnh
quan của nhà thơ Lê Chí:
xuồng ba lá chông chênh
giăng câu thả lưới
chợ sớm miệt đồng cá sặc
cá linh
rau ngổ, rau dừa, cù nèo,
rau nhút
thời khẩn hoang thấp
thoáng đâu đây
lủ khủ rùa vàng,rùa sen,
rùa nắp
ri cá, ri voi, hổ đất, hổ
hành
lù khù diệc, cò, ốc cao,
cúm núm
Khi viết ra mấy dòng này,
chắc gì nhà thơ Lê Chí đã tự xác định viết ra thế, là để tả cho được phần nào
cái đặc sắc trong kho sản vật miền Tây Nam Bộ nước ta? Không xác định rõ từ đầu,
mà viết ra vậy, như là từ ấn tượng. Mà đã là ấn tượng, thì rõ ràng, rờ rỡ,… mà
nhiều khi cũng xô bồ trùng điệp như một đoạn phóng sự ký sự cảnh quan, một cảnh
phim thời sự nghệ thuật đặc tả như vậy, hóa ra lại thành đặc sắc của thơ ông rồi.
Chuyện này xin nói lại:
Đã chắc gì nhà thơ biết trước?
Một lần khác ông viết thả
bút, hồn nhiên mà vui bất ngờ:
rưng rưng hoa đỏ chiều
phơ phất
mờ khói nhang bay bạc mái
đầu
thổn thức gieo xanh lòng
đất
chiều vội vàng như giấu
niềm đau!
Thế là ông đi tìm hạt giống,
đã thấy, nên gieo xanh lòng đất rồi đấy ư?
Có phải hạt giống
người ấy là đây:
phiêu bồng thảo theo
dòng vô định
lắt lay điên điển hoa
vàng
thiên nhiên dạy ta bài học
mùa xuân đang còn ở xa
(mùa xuân ở xa)
Và đây nữa:
thương quá những mùa rơm
Tết
hạt gạo trắng tinh thơm tận
đáy lòng
lãng đãng khói giữ hồn
năm tháng
nghe tiếng cười rung buổi
hoàng hôn
(nhớ đồng)
Dường như nhà thơ từng trải
qua mấy chặng học đường rồi chiến tranh, sang ngày hòa bình rồi mà chưa hết giặc,
đã không còn đói mà vẫn còn quặn thương đau này… muốn nhắc với ta: có hạt giống
kiên trì vững chí, có hạt giống yêu thương vô vàn, dường như đã dễ bị lẫn bị
quên?
Nhà thơ thì làm được gì
giữa buổi chen lấn bán mua này ngoài việc nhắc nhở và gieo mầm xanh kia, có phải
Lê Chí đã có lúc nghĩ nên viết ra thế không nhỉ?
Nhưng nếu có vậy, thì
cũng là sự thường. Tôi nhận ra có âm điệu buồn buồn tiêng tiếc trong thơ ông và
nhiều người khác nữa. Cái thời này nó thế, ai như Hoàng Ngọc Hiến nói vậy, từ
cách đây vài chục năm. Tôi nghi ngờ: Hình như anh hơi mặc cảm? Ông nhún vai: Có
thể, nhưng cảm giác này là thật, là tự nhiên… Và vì thế, nó là “thực tế khách
quan”? Hoàng Ngọc Hiến cười nhẹ, ý nhị: Thơ hay là thơ tự nhiên. Lê Chí nhắc:
Thì có bấy nhiêu bài trong dăm tập đó, Nguyên An đọc đi,
Đọc Lê Chí, thấy ông với
đương đại, thì có gì ngác ngơ, rồi bình tâm quan sát mà giãi bày, lại cũng có
gì thắc thỏm, lo âu. Đó là một phiên bản của vóc dáng, tâm trạng con người và cả
nghệ thuật của thơ ông. Sự định vị này của tôi về ông, rất mong bạn đọc cùng đọc
thơ của Lê Chí mà trao đổi thêm. Đọc đi, trong những ngày Tết tấp nập hối hả
này, tôi nghĩ tâm trí bạn sẽ thêm va động, một cái Tết có sự trầm tư cũng hay
chứ sao!
Kia, nhà thơ Lê Chí đang
đi và tìm hạt giống. Ông có vẻ hồ hởi hơn khi rời xa thị thành. Vẫn là cảnh nối
cảnh của náo nức sự sống trên đồng trên bãi trên sông của Tây Nam Bộ, đấy là:
quê tôi vẫn như ngày ấy
chiếc xuồng bơi theo dấu
câu hò
bông sậy xám bông bồn bồn
cũng xám
Ông buông tiếp một dòng nữa:
người đi xa nghe đất dặn
dò
(kí ức quê nhà)
Hay ở một khổ thơ khác
đang viết:
vượt thác băng rừng ầm ào
sóng bạc
ước mơ xanh chớp đỏ chiến
trường
năm thắng buồn vui khúc
hát
Ông lại “chốt chặn” luôn
theo:
đất nước mình đâu cũng
quê hương
Cái ý tứ của mấy câu này
dễ làm ta nhớ đến Nguyễn Mỹ: Giấc mơ xanh còn mãi của tôi/
Là Ô Loan đầm nước sáng ngời/ Tôi như con sóng nhoài trên biển/ Mẹ
gọi về đây nghỉ chút thôi… còn câu đất nước mình đâu cũng quê hương của
Lê Chí, nếu tách ra, ta biết ngay rằng ý này không mới, nhưng đặt nó vào đúng vị
trí, là câu thứ tư của khổ thơ này, ta lại thấy: nhà thơ Lê Chí trên con đường
đi tìm hạt giống của mình, ông đã tìm được, hạt giống xanh ấy vốn ở quê hương,
đang là quê hương.
Trở lại mấy trích dẫn ở
trên, và tìm đọc thêm thơ Lê Chí ở các sách báo khác nữa, ta hiểu ra: Đó là một
vùng quê lam làm vui sống, với sản vật trù phú, và cả bao nhiêu chuyện, bao
nhiêu điều đáng nghĩ với bấy nhiêu vấn đề đang được lo toan, định liệu, mà làm
dần…
Mùa nước nổi này trong đó
có sao không?
Thật ra thì tôi từng hỏi
Lê Chí nhiều chuyện về cỏ cây vườn tược mùa này mùa kia. Nhưng không hiểu
sao, mùa nước nổi trong đó có sao không? vẫn là câu tôi hay hỏi
ông và một số bạn trong đó hơn. Háo hức muốn gặp thì hỏi, hơi lo nước to quá
thì hỏi…Hỏi riết, nghe mãi, thấy mãi mới hiểu dần ra, đại thể: Lũ nhiều, nước
sông rạch lên to, ấy là lũ giàu xin chớ lo quá. Lũ
giàu, là lũ to, nước mang theo nhiều tôm cá, ba ba…và phù sa nữa, hên
lắm; còn lũ nghèo, là ngược lại, dân sông nước kiếm cá tìm tôm hay
rùa… đều coi như gặp khó, dân trồng bắp, làm vườn lại càng thấp thỏm về hoa ít
trái nhỏ bán rớt giá, ai mua?
Đọc thơ Lê Chí càng băn
khoăn. Ông kể: dân không giàu lên được, thì nhà thơ cũng phải làm nước đá mà
bán cho có tiền xài mỗi ngày thôi.
ôi nhà thơ bán từng lon
nước đá
giá bao nhiêu sự tinh khiết
vô cùng
câu thơ sống tận đời vất
vả
nước đá và nhà thơ
năm tháng bão bùng
(bài thơ nước đá)
Trên con đường sáng tạo
thi ca, là con đường hun hút xa mà với Lê Chí, thì có nhiều u buồn và thắc thỏm
mà bâng khuâng nhớ nhung với ngỡ ngàng, hơn là reo ca thì phải. Lê Chí độc đáo
mà không cô độc cô đơn dẫu tuổi già đến dần dần, ông đã ít đi lại, ông bớt quảng
giao. Ông viết: lời nào mang hết nỗi đau/ tập tễnh ra đồng với khoai với
lúa/ nắng mưa dẫu dài/ chênh vênh dò bước qua cầu… mấy
dòng thơ như bức tự họa này dễ làm ta thấy nhà thơ nhòe lẫn với những ông già
muôn năm thủa nào. Có lẽ ấy là sự ngẫu nhiên thả bút của ông chăng? Tôi thấy mấy
câu này thì lại là sự giãi bày phần hồn bên trong của Lê Chí hơn, dù ông cũng
như kể lể:
học cách của sen
mày mò tìm thơ từ rơm rạ
sinh bùn
chuyện trò cùng bông hoa
hoang dã
chẳng có gì sang trọng lắm
đâu
cũng như cá, như rau, củ
hành, tép sả
chiếc võng mẹ đưa, chiếc
chiếu em nằm
không biết quanh
co dối trá
thơ sạch như đôi
tay người thầy thuốc
sáng tinh mơ
đã gặp em cười
Không ồn ào mà lặng lẽ. Sự
lặng lẽ của người chăm chỉ sau nhiều trải nghiệm, chiêm nghiệm, ấy là Lê Chí. Vậy
nên thơ ông tự nhiên đã tạo ra âm hưởng và vang ngân. Tôi bỗng lại tiếc là Lê
Chí và nhiều nhà thơ ta ở xa mấy trung tâm… À, mà Cần Thơ cũng là một trung tâm
kinh tế, văn hóa của cả một vùng mênh mông và đặc sắc đấy chứ. Chả biết
trách ai, thì tự trách mình, là sao cứ ai hỏi ông Lê Chí chuyện nọ xọ chuyện
kia , mà gần đây mới tìm đọc thơ ông được có vậy.
Đọc các tập thơ của Lê
Chí, những là: cô gái đánh xe bò, mùa xuân đến sớm, những con đường
lặng im, khuya xa, hoa quỳnh, thời gian, hạc, nhớ, đời, 9 tập, thấy ngút
ngàn quá! Ông Lê Chí tự ngẫm về mình mà như mời gọi:
sinh ra trên đất khô cằn
như cây lúa ít mưa nhiều
nắng
con đường thơ lầy lội bão
giông
mải miết đi về phía biển
(Dấn thân)
Thơ Lê Chí có ngữ điệu vầy
vậy, dễ thấy hiền hiền, mà xem ra, có nhiều bài sắc ngọt. Phần thơ sắc ngọt này
của ông, xin hẹn một dịp khác, ta làm món nhắm nữa. Tôi thấy thơ Lê Chí có bài
này hơi lạ về giọng điệu, tiết tấu… so với chính ông. Đây cũng là thơ Tết đấy,
xin chép ra đôi đoạn để anh em cùng thưởng thức.
mùa lại mùa trĩu quả
xanh màu xanh ngút ngàn
chim chuyền rung bóng lá
hoa đón mùa xuân sang…
thương hàng cây mới lớn
biết che mát con đường
đàn chim dang cánh rộng
ngong ngóng nhìn đại dương
giữa đường hoa trăm sắc
hương ngậm ngùi xa bay
ngọn gió ru lời hát
nhắc ai người qua đây…
Bây giờ đã sang đầu tháng
11 lịch ta, mùa nước nổi miền Tây Nam Bộ đã sắp qua hết rồi, cái Tết nữa lại đến
kia, mùa lại mùa trĩu quả/ xanh màu xanh ngút ngàn/ chim chuyền trong
bóng lá/ hoa đón mùa xuân sang…Lê Chí viết thế, thơ như một khúc ca.
Khúc ca này gợi ta nhớ đến
bài Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao…và cũng nhớ đến bài tùy
bút xuân của Lê Chí nữa:
về Cây Dương
mà chẳng gặp cây dương
chỉ thấy những hàng xoài
rất trẻ
sao anh nói cùng em như
thế
để bây giờ em tìm ngẩn
ngơ
để bất ngờ
em gặp rất…Cần Thơ
mùa xuân tới những khu vườn
vui quá
từng chum trái căng đầy
buông thong thả
quà mười năm mặt đất tặng
cho đời
(dấn thân)
Vốn là người trầm tư, mà
khi Tết đến xuân về, thơ Lê Chí, như người Lê Chí bỗng vui đến lạ.
Vào mấy ngày cuối cùng của
năm 2019, nhà thơ Lê Chí gọi điện báo tin với tôi, là ông sắp in xong tập thơ mới
nữa, thơ song ngữ Việt – Anh, do nhà thơ – dịch giả Nguyễn Bá Chung và nhà thơ
Fred Marchant chọn dịch. Mười hôm sau, tập thơ mới có tên là Nếu…/ If… của
ông đã đến tay tôi.
“Đọc, coi có được
không…”, tôi lướt qua lời dặn này mà đọc ngay. Rồi mừng cho ông, là có được một
tập thơ dịch (chứ không chỉ là một vài bài thơ hay một hai chùm bài được dịch
như số đông nhà thơ đương đại ở ta). Nỗi mừng này cũng hàm nghĩa cảm ơn hai dịch
giả, bởi các ông đã chọn được những bài “gan ruột” của Lê Chí, rồi qua lao động
chuyển ngữ thơ, không, chuyển cả tâm trí, cả con người Lê Chí đến bạn đọc Anh
ngữ một bức chân dung tâm hồn của một nhà thơ đặc sắc Việt Nam ở miền Tây Tổ quốc
ta.
Lê Chí đi tìm hạt giống
người để gieo thơ, để tâm sự. Ông đã tìm và được hòa nhập ở quê hương Nam Bộ,
quê hương Việt Nam, nay lại được giao hòa với bạn yêu thơ nước ngoài nữa. Mong
và tin rằng qua thơ anh, mọi người hiểu và yêu quý Việt Nam hơn.
Thơ Lê Chí toàn nói chuyện
riêng của ông và của những người ra trận, và vì rất riêng như thế, nên giá trị
khái quát thời thế của thơ ấy lại thật rõ ràng, và có sức gợi dẫn sâu xa:
năm tháng chiến tranh bom
đạn đầy trời
mặt đất âm thầm ra trận
có nghĩa gì một câu hờn
giận
ai biết mai rồi chia xa
cho dẫu bây giờ
cho dẫu hôm qua
xin đừng có trong lòng ta
khoảng tối
bởi em biết
như tình yêu không nói
nói làm chi
lồng ngực gan lì
(Tình yêu)
Và đây nữa:
mấy mươi năm buồn vui
thao thức
đêm đêm giấc ngủ chưa
thành
mặt nạ mặt người nhốn
nháo
hàng quảng cáo đáng ngờ
rập rình phiên tòa không
người đối thoại
lương tâm trú ẩn nơi nào
bầu trời bao dung lơ đãng
máu thịt đâu rồi
khí hậu khôn lường
lòng người có như khí hậu?
Thơ và người Lê Chí đấy,
khắc khoải lo toan. Và ông hình dung, hy vọng:
thời gian quằn mình
thời gian hốt hoảng
hòa bình
xin đừng hoang phí
con Rồng cháu Tiên
ôm nhau mà khóc
ôm nhau mà cười….
(hòa bình, xin đừng hoang
phí)
Có người nói: ông Lê Chí
sống lặng lẽ, vẻ hơi buồn buồn nỗi buồn thế sự. Tôi muốn nói: Đất nước mình vẫn
luôn có nỗi buồn thương trăm năm ngàn năm đấy thôi. Tôi biết là nhà thơ Lê Chí
đang ờ ờ chan chứa… rồi ngâm ngợi, thì thầm:
ngày từng ngày lặng lẽ
hạt giống nẩy mầm
không thể nào khác được
bài thuốc dưỡng sinh từ cỏ
cây tình đất tình người
dẫu nắng dẫu mưa
mùa đang kết trái
dẫu muốn dẫu không đời
đang bước tới
từng viên gạch ta xây
thành phố trong lòng
(thành phố tròng lòng)
Thêm một tập thơ này mà đọc,
ta biết là Lê Chí mải miết tìm hạt giống người, thì ông đang gặp. Những người
này đã ở quanh nhà thơ lâu nay và ở cả những miền xa ngái nữa. Thơ và người như
ông, dẫu bề ngoài có vẻ lặng lẽ, nhưng vẫn có phẩm tính liên kết tự nhiên mà.
Nhà thơ Lê Chí, tên thật
là Lê Chí Trường, sinh năm 1940, quê ở Phú Hưng, Cái Nước, Cà Mau, hiện sống ở
thành phố Cần Thơ. Ông tham gia kháng chiến chống Mỹ từ năm 1970, làm việc ở Tiểu
ban Văn nghệ thuộc khu ủy Tây Nam Bộ. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm
1977. Nhà thơ Lê Chí nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa
III và IV, Ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV, Phó Chủ tịch Hội
đồng thơ khóa V, Giám đốc Nhà xuất bản Mũi Cà Mau (1983 – 1988), Trưởng Ban
Công tác Nhà văn Việt Nam khu vực Đồng bằng sông Cửu Long…
Các tác phẩm chính đã xuất
bản của nhà thơ Lê Chí: Cô gái đánh xe bò (1976), Mùa
xuân đến sớm (1976), Những con đường lặng im (1986), Hoa
quỳnh (1989), Ngẫm nghĩ cà phê (1990), Khuya
xa (1990), Ngày ấy (1996), Thời gian (2012), Hạc (2013),
Nhớ (2017), Đời (2017), Nếu… (thơ
song ngữ Việt – Anh, 2019).
7/1/2021
Nguyên An
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Các nhà văn đang bỏ trống văn học sinh thái
Các nhà văn đang
bỏ trống
văn học sinh thái
Vài ba năm gần đây,
trong đời sống nghiên cứu, phê bình ở ta đã nhắc đến khái niệm “phê bình sinh
thái”, “văn học sinh thái”. Một số Hội thảo khoa học cũng đã diễn ra ở các Viện,
các trường đại học. Câu chuyện này cũng đã ít nhiều được đưa tin trên các
phương tiện truyền thông đại chúng…
Tuy nhiên, nhìn vào thực
tiễn hoạt động nghiên cứu, phê bình và sáng tác văn học, hầu như chỉ có phía
nghiên cứu phê bình ít nhiều hưởng ứng, còn giới sáng tác hầu như ít có cộng hưởng.
Đây là điều đang có vẻ khó lý giải…
Trước nhất, xin nói vắn tắt
về lai lịch và khái niệm của chúng. Như chúng ta biết, vấn nạn tàn phá, hủy hoại
môi trường đã diễn ra trên quy mô toàn thế giới từ lâu, đặc biệt từ khi thế giới
bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần hai, ngay sau thế chiến thứ nhất. Lúc
này, tư duy kinh tế đi theo con đường duy lợi, bất chấp tất cả, lấy năng suất
lao động làm thước đo giá trị lao động; lấy kinh tế, sự giầu có về của cải vật
chất làm thước đo giá trị sống; lấy sự giầu sang của cải làm hạnh phúc. Điều
này làm thay đổi tư duy, biến con người rơi vào chủ nghĩa kinh tế thuần túy,
duy lợi, kỹ trị.
Đi cùng với nó là những
cuộc khai thác đất, nước, biển, núi, bầu trời một cách điên cuồng của con người.
Kéo theo hệ lụy: Bà Mẹ Trái đất bị hủy diệt từng ngày, gây ra ô nhiễm, mất cân
bằng sinh thái, hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên, khí thải CO2, lũ lụt, động
đất, cháy rừng, nước biển dâng, bụi mịn…Con người đang giết chết chính con người.
Con người đang giết chết bà mẹ Trái Đất.
Vào những năm 70 của thế
kỷ XX, các trí thức, văn nghệ sĩ tiến bộ phương Tây, đứng trước nguy cơ môi trường
bị tàn phá và hủy diệt hàng ngày hàng giờ đó, đã cùng nhau gióng lên tiếng
chuông cảnh báo về thảm họa môi trường, thức tỉnh nhân loại và các chỉnh phủ của
các quốc gia trên toàn hành tinh hay nhận thức lại về môi trường, thay đổi tư
duy, điều chỉnh chính sách quản lý và phát triển xã hội. Xét trong bối cảnh đó,
lý thuyết “Phê bình sinh thái” ra đời, cùng với nó “Văn học sinh thái” cũng ra
đời như một cặp song sinh, đặt vấn đề không chỉ trong nhận thức, trong hoạt động
nghiên cứu, phê bình mà còn đối với cả hoạt động sáng tác.
Về phê bình sinh thái
(Ecocriticism), nữ GS người Mỹ Cheryll Glotfelty là người đầu tiên nêu lên định
nghĩa: “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và
môi trường tự nhiên” (1970). Từ bấy trở đi, ý thức phê bình sinh thái dần phát
triển, đến những năm 90 của thế kỷ 20, phê bình sinh thái trở thành một trào
lưu phê bình văn học, rộng ra là văn hóa, có mặt cùng với các trường phái phê
bình khác.
Theo đó, khái niệm”văn học
sinh thái” (Ecoliterature) cũng được đặt ra nhằm để chỉ các sáng tác văn
chương lấy ý thức phê bình sinh thái làm điểm tựa lý thuyết và nguồn cảm hứng
cho mình.
Nhìn chung, tuy nhiệm vụ
khác nhau, nhưng cả phê bình sinh thái và văn học sinh thái đề cập mấy khía cạnh
dưới đây:
Điểm đầu tiên, cả hai đều
tiến hành phê phán tinh thần lấy nhân loại làm trung tâm (chủ nghĩa nhân loại
trung tâm – Anthropocentrism). Đây là một cái nhìn tồn tại đã có từ rất lâu
trong lịch sử tinh thần nhân loại, đặc biệt khi chủ nghĩa Phục hưng Phương Tây
(đề cao con nguwoif là tối thượng) và tiếp theo là chủ nghĩa ánh sáng thế kỷ 18
ra đời (đề cao chủ nghĩa duy lý); ngoài ý nghĩa tích cực, mặt trái của nó là đẩy
con người đến đỉnh cao của sự kiêu ngạo đối với thiên nhiên, biến thiên nhiên
nhiên là đối tượng khai thác, cho phép ứng xử đối với thiên nhiên một cách bất
chấp, bằng mọi giá để thỏa mãn khoái lạc vật chất. Cần có một nhận thức lại rằng
con người và thiên nhiên, vũ trụ phải cùng chung sống hài hòa, trở thành bầu bạn
của nhau, tùy thuộc lẫn nhau, chứ không cho phép cái nào cao/thấp hơn cái nào.
Theo đó, phê bình sinh
thái và văn học sinh thái cùng đề cao tinh thần sinh thái nhân văn, ở mọi nơi mọi
lúc, đối với bất kỳ ai, bất kỳ quốc gia dân tộc nào. Con người cần có ý thức
thường trực đối với không gian mà mình đang sống. Nếu anh tàn hủy tự nhiên, đó
là cách con người tự ăn thịt chính mình. Ai đó đã từng lên tiếng như vậy. Theo
đó, văn học cần phê phán những mặt trái của nền văn minh hiện đại: chống rác thải
công nghiệp, rác thải sinh hoạt không có khả năng phân hủy, hạn chế dùng túi
nilon, kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật/thực phẩm, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, vấn đề
rác/nước thải công nghiệp. khí thải CO2; chính sách phát triển công nghiệp sạch,
chính sách năng lượng…
Đề cao tinh thần trách
nhiệm đối với sinh thái, phê bình và văn học sinh thái nhấn mạnh “nơi chốn” và
“ý thức nơi chốn”mà con người sinh ra, lớn lên, gắn bó; thể hiện khát vọng về
lý tưởng sinh thái và cảnh báo nguy cơ sinh thái… Tất cả những điều này, có thể
gọi bằng khái niệm “Đạo đức sinh thái”. Một người có đạo đức sinh thái, phải biết
đau xót và nổi giận trước những sự hủy hoại sinh thái của con người, phải biết
tìm cách lên tiếng để phản đối, ngăn chặn những sự hủy diệt sinh thái bằng mọi
giá.
Nhìn vào văn học Việt
Nam, nếu lấy mốc năm 2000, có thể nói chúng ta chưa hề có phê bình sinh
thái, và càng chưa có văn học sinh thái. Đương nhiên, bằng một cách tự phát,
chúng ta cũng có ít nhiều tiếng nói đề cập đến vấn đề sinh thái. Thí dụ, căn cứ
vào lòng yêu thiên nhiên, sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, giữa cảnh
và tình…thì chúng ta đã có một truyền thống lâu dài từ văn học dân gian đến văn
học trung đại. Đến thời văn học chiến tranh sau 1954, bên cạnh truyền thống đó,
văn học của ta còn lên tiếng tố cáo tội ác hủy diệt của kẻ thù về phương diện
sinh thái: sử dụng chất độc da cam, hủy diệt các cánh rừng, nguồn nước, nguồn đất,
nguồn không khí, gây ra biết bao thảm cảnh và hậu quả lâu dài cho người dân nước
Việt. Sau này, khi đi vào văn học đổi mới, một số rất ít các nhà văn trong nước
được xem như những người đầu tiên có ý thức về vấn đề sinh thái, suy tư về nó
và đặt ra một cach hết sức nghiêm túc, có chiều sâu, đó là nhà văn Nguyễn Minh
Châu với “Sống mãi với cây xanh” (1983), “Phiên chợ Giát” (1987), Nguyễn Huy
Thiệp với “Muối của rừng” (1987), Trần Duy Phiên với “Trăm năm còn lại” (1996)…
Từ bấy đến nay, hầu như
chúng ta chưa thấy có tiếp tục một gương mặt văn học sinh thái nào đáng kể. Đây
là điều rất tiếc. Những ngày vừa qua liên tục các cơn đại hồng thủy ở miền
Trung, thiệt hại về người và của là vô cùng thảm khốc, hậu quả của nó còn lâu
dài. Lúc này, tôi thấy một tiếng nói tuy đơn lẻ thôi, nhưng rất quý, đó là bài
viết của nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Tâm với nhan đề: “Khi môi trường sống
rơi vào khủng hoảng: văn chương đã ở đâu”. Ở bài viết này, sau khi lập luận về
tính cần thiết phải có trách nhiệm nhập cuộc của các nhà văn về vấn đề môi trường,
anh đề nghị cần phải có một nỗ lực “nghiên cứu xanh”, “viết xanh” trong nền văn
chương của chúng ta.
Việt Nam chúng ta đang phải
đối mặt với nạn ô nhiễm, hủy hoại môi trường chưa từng thấy. Nguyên nhân do sức
ép kinh tế, dân số, do ý thức người dân thấp, do quản trị xã hội yếu, và nguyên
nhân do biến đổi khí hậu toàn cầu… Tất cả đang nhằm vào hoàng hành dữ dội môi
trường sinh thái của chúng ta. Nếu tình hình không được cải thiện, cả môi trường
đất, nước, không khí, cả bầu trời, rừng và biển, bao nhiêu gắng gỏi tạo dựng cơ
đồ Tổ quốc sẽ suy sụp từng mảng, không thể cứu vãn nổi.
Bà Mẹ Trái Đất vốn rất
nhân từ, đời đời che chở con người. Ấy thế mà đã nhiều lúc phải nổi giận vì sự
vô ơn của chính những đứa con của mình. Đã đến lúc tất cả chúng ta cần thức tỉnh,
trong đó những văn nghệ sĩ, trí thức cần phải dẫn đầu.
Hà Nội, 28/12/2020
Văn Giá
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Đọc "Giọt nắng tràn ly" - Nghĩ về tư duy sáng tạo và tiếp nhận thơ ca
Đọc "Giọt nắng tràn ly" - Nghĩ về tư duy sáng tạo và tiếp nhận thơ ca Trần Lê Khánh là một cái tên “lạ” trong giới văn học nghệ ...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...
-
Trần Mộng Tú ngỡ ngàng dung dị đời thơ Đọc thơ Trần Mộng Tú tôi như được nghe câu chuyện cuộc đời bà đang kể với với chính mình. Bà thành th...
-
Ban mai thơm mắt nắng: Giao thoa những cảm xúc tươi non Cầm trên tay tập thơ “Ban mai thơm mắt nắng” của Vũ Trần Anh Thư, một cảm giác tươ...



