VĂN THƠ NHẠC
Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026
Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tiếng “cây” trong ngôn ngữ Việt Nam khi dùng theo nghĩa bóng là chỉ các bậc tài nghệ trong nghề. Cây làm bàn, cây sáng kiến, cây lý luận, cây truyện ngắn, cây tiểu thuyết… Hiện giờ tiếng “cây” đó đang bị ô nhiễm vì đời sống kinh tế khó khăn – một điều đáng buồn. Viết về Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi muốn gọt sạch lớp bụi ô nhiễm, lấy lại chính xác nghĩa bóng của từ để gọi anh: Cây ký.
Rộng dài và xanh biếc Trường Sa
Rộng dài và xanh biếc Trường Sa
Tôi may mắn được đọc bài thơ Viết cho Trường
Sa của Hoàng Thanh Hương trên Tạp chí Văn Nghệ Gia Lai, số 3/2019.
Bài thơ không hiện đại, cách tân về thi pháp thể loại và ngôn từ, nhưng
đã để lại trong tôi những ấn tượng chân thật về hiện thực và con người mà tác
giả là chủ thể vừa thể hiện cái tôi trữ tình ngôi thứ nhất của chính
mình, vừa thể hiện cái tôi trữ tình nhập vai vào người lính và hoàn cảnh
để tâm tình, chia sẻ. Bài thơ làm hiện lên mối quan hệ tình cảm không chỉ giữa
tác giả với những người lính đảo mà cao hơn chính là mối quan hệ giữa người lính
đảo và những người thân của họ nơi đất liền đang tiễn biệt, hướng về nhau da diết,
thương yêu...
Xuất xứ bài thơ được tác giả trải nghiệm và xúc động sáng tác
trong chuyến công tác theo tàu Trường Sa 571 của Lữ đoàn 146 vùng 4 Hải quân đi
thay thu quân, chúc Tết cán bộ, chiến sĩ ở Trường Sa.
Cảm giác ngỡ ngàng đầu tiên hiện ra trong tâm tưởng và xôn
xao thị giác của tác giả là các hòn đảo Sinh Tồn, Nam Yết, Sơn Ca, Đá Thị, Đá
Nam, Song Tử… Những cái tên tạo thành quần đảo quen thuộc trong sách vở mà ngỡ
ngàng trong ánh nhìn trực quan lần đầu tiên chiêm cảm của nhà thơ nơi trùng
khơi bát ngát của biển trời Tổ quốc muôn đời, tạo thành xúc cảm thiết tha, luyến
lưu, nồng ấm:
Em đã đến những Sinh Tồn, Song Tử
Nam Yết, Sơn Ca, Đá Thị, Đá Nam
Ngày tháng hẹp bỗng chừng như dài rộng
Giữa những thương yêu, lưu luyến, ấm nồng.
Có lẽ xúc động nhất là trên chuyến tầu ấy có biết bao người
lính biển đang phải bâng khuâng chứng kiến bao nhiêu người vợ, người yêu và con
thơ của mình đang dứng trên bờ tiễn mình ra đảo với ánh mắt buồn đẫm lệ và những
cánh tay vẫy chào cho đến khi con tầu xa hút giữa trùng khơi, chỉ còn một chấm
xanh hy vọng “Giữa những thương yêu, lưu luyến, ấm nồng”. Đến đây, tôi chợt
liên tưởng đến bài thơ Không đề của Nguyễn Bính cũng tả cảnh tiễn biệt
của kẻ ở người đi, nhưng trong hoàn cảnh khác: “Hôm nay dưới bến xuôi đò/ Yêu
nhau qua cửa tò vò nhìn nhau/ Anh đi đó, anh về đâu/ Cánh buồm nâu,
cánh buồm nâu, cánh buồm…”. Người con gái đứng trên bờ nhìn con thuyền
mang người yêu dần xa hút, đến khi chỉ còn nhìn thấy thấp thoáng một chấm nâu
giữa biển xanh vô định: “cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…”.
Đến đảo là đến với sự sống và sự sinh tồn khác, đến với kinh
nghiệm quan hệ người khác, mang ý nghĩa nghiệm sinh và triết mỹ hơn. Mọi nhỏ nhặt
tầm thường tan biến để nhường cho mọi bí ẩn tươi non sinh nở. Chỉ có con người
và cảnh vật lồng vào nhau trong cảm quan sinh thái thiên nhiên và nhân văn
tương hợp. Tác giả đã liền cảm nhận điều đó một cách cụ thể và chân thật:
Đêm đảo xa nghe dặt dìu câu hát
Rằng người ơi người ở đừng về
Hoa bàng vuông như từng đóm lửa
Thức nở cùng anh lính gác canh khuya.
Đảo và người lính trở thành những biểu tượng của sự sống và sự
bất tử mà lá cờ Tổ quốc là hình tượng cụ thể nhất của tinh thần dân tộc và ý thức
bảo vệ toàn vẹn lãnh hải thiêng liêng của người chiến sĩ hải quân nhân dân:
Em đã đến những đảo chìm đảo nổi
Giữa biển khơi muôn sóng trập trùng
Cờ Tổ quốc căng bay trên cột mốc
Anh giữ biển trời cho em những bình minh.
Người lính đảo cách ly với đất liền, cách biển mấy ngày sông,
nhưng họ không cô đơn và càng không cô độc. Vì người lính đảo thường trực trong
lòng mình bao hình ảnh thân thương, cao hơn, người thân nơi quê nhà là điểm tựa
tinh thần cho từng sinh mệnh người lính, mà tiếng còi tàu là âm thanh nhắc
thức ngày đêm để thường trực trong họ tình yêu Tổ quốc kỳ diệu:
Nơi bốn phía mênh mông sóng nước
Đêm mơ về hương tóc người thương
Nhớ màu mắt ngày tiễn anh ra đảo
Tiếng còi tàu nhói thức đã bao đêm.
Trường Sa mãi rộng dài và xanh biếc trong tâm thức mọi người.
Đến đây, Hoàng Thanh Hương đã một lần nữa nhập hồn vào những người lính đảo để
từ tình yêu con người cụ thể vươn đến tình yêu Tổ quốc rộng dài, không phải chỉ
riêng mình mà chính là của cả mọi người khi hướng về Trường Sa yêu dấu. Yêu một
người là để yêu mọi người, yêu biển trời dài rộng của mình đây là cách nói khái
quát, hội tụ của tác giả để khẳng định những điều lớn lao, cao đẹp khác:
Em đã yêu một người lính biển
Em yêu quê hương Tổ quốc rộng dài
Máu đã đổ giữa trùng khơi muôn sóng
Cho biển trời xanh thắm hôm nay
Trong bút ký Ngọn sóng khơi xa của mình, in
trên Tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam, số 11 (16 /3/2019),
Hoàng Thanh Hương cũng đã chân thành tâm sự: “Chúng tôi rời đảo về đất liền đem
theo nỗi thương nhớ Trường Sa chập chờn trong từng giấc ngủ, với bao khuôn mặt
thân thương nhòa trong màu hoa muống biển tím rưng rưng giữa nước trời xanh biếc,
những cái xiết tay thật chặt, những choàng ôm thắm thiết rồi vội vàng quay đầu
đi giấu giọt nước mắt lưu luyến mỗi khi chia tay nhau nơi cầu cảng… Những bàn
tay cứ giơ lên vẫy mãi, những ánh mắt căng lên hướng về nhau như muốn thâu lại
trọn vẹn những dáng vóc mới gặp mà đã như hóa thân quen”. Bài thơ Viết cho
Trường Sa của Hoàng Thanh Hương đã đọng lại trong lòng người đọc bằng tình
cảm và suy nghĩ giản dị, nhưng không giản đơn, trái lại, nó là tiếng nói thi ca
phản ánh đúng những gì mà người lính đảo suy nghĩ và mọi người suy nghĩ. Và
chính nhà thơ đã cảm xúc và suy nghĩ như thế!
Vỹ Dạ, 4/4/2019
Hồ Thế Hà
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thơ Trần Hoàng Vy viết cho thiếu nhi
Thơ Trần Hoàng Vy viết cho thiếu nhi
Đọc thơ viết cho thiếu nhi của Trần Hoàng Vy, tôi
thấy anh đã sử dụng nhiều yếu tố của thi pháp ca dao, đồng dao để viết được những
bài đồng dao mới rất hay…
Thơ viết cho thiếu nhi rất khó. Bởi thế, trong số các nhà thơ
hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam có được mấy người thành công trong sự nghiệp sáng
tác dành cho thiếu nhi (!). Người ta thường nghĩ rằng, một tác phẩm viết cho
thiếu nhi, trước hết phải có tính giáo dục. Điều này là một thuộc tính của văn
học thiếu nhi, nhà thơ trước hết phải là nhà giáo dục. Tất cả những gì thuộc về
“cái tôi” trong thơ trữ tình đều phải nhường chỗ cho “Cái trẻ con” trong thơ
thiếu nhi. Nhà thơ trữ tình buông thả hồn thơ trong mọi nẻo đường cảm xúc thì
nhà thơ viết cho thiếu nhi phải tự trói buộc với trẻ. Nhà thơ phải nhập thân
vào trẻ, cảm nhận hiện thực như trẻ, nói tiếng nói của trẻ, sống trong thế giới
thần thoại của trẻ; nhưng đồng thời nhà thơ phải đứng ngoài trẻ, tỉnh táo và có
trách nhiệm dẫn dắt trẻ; và trên hết, nhà thơ vẫn phải là nhà thơ, tức là người
sáng tạo cái đẹp bằng ngôn từ. Cho nên viết cho thiếu nhi, dù là thơ có mục
đích giáo dục, thì thơ vẫn phải là thơ, và là thơ hay, thiếu nhi cũng hấp dẫn với
cả người lớn. Ôi, làm thơ cho thiếu nhi khó biết bao nhiêu! Tôi tự hỏi,
Nhà thơ Trần Hoàng Vy đã vượt qua cái khó trở thành nhà thơ của trẻ như thế
nào?
1. Nhà thơ – nhà giáo dục
Tất nhiên nhà thơ không phải là nhà giáo. Bởi nhà giáo là người
có nhiệm vụ giáo dục trẻ theo mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa, phương
pháp sư phạm ở trường. Nhà thơ giáo dục trẻ bằng cái đẹp của thơ ca. Thiếu phẩm
chất này thơ viết cho trẻ không có chỗ đứng. Thực ra, tự thân văn chương đã
mang chức năng giáo dục. Nhưng nhà thơ đem đến cho tâm hồn trẻ cái đẹp, sự khám
phá cái đẹp, từ đó hình thành nên những phảm chất và giá trị nhân văn nơi trẻ.
Tập thơ 98 bài thơ thiếu nhi hướng đến các cháu tiểu
học, lứa tuổi mà tâm hồn còn rất trong trắng, lứa tuổi đang sống trong thế giới
thần thoại, cổ tích, con người và vạn vật cùng một bản thể. Các cháu vui chơi với
vật nuôi, với cỏ hoa, với thiên nhiên như vui chơi với người. Thơ ca thông qua
đó để dạy cho trẻ tri thức xung quanh, dạy cho trẻ những phẩm chất nhân bản,
hình thành cho trẻ những truyền thống dân tộc, gúp trẻ tiếp cận với thế giới hiện
tại. Thơ Trần Hoàng Vy nói những điều như vậy thật tự nhiên, hấp dẫn và mới lạ.
Ở phố chẳng bao giờ thấy khói
Khói cơm chiều như khói ở quê
Ờ phố toàn mái tôn, mái ngói
Đâu mái tranh nghèo khói tỉ tê?
Nhớ khói, căn bếp của bà ấm
Gió mùa đông xao xác phên gầy
Màu khói ám, củ khoai lang nóng
Cứ lan dần trên những ngón tay…
Cháu xa quê, lần về thơ thẩn
Ngắm khói, ngắm tóc bà như mây
Sợ khói bay, sợ bà… đi mất
Nên chụp ảnh bà giữa khói cay…
(Khói bếp)
Tôi đọc bài thơ mà lòng bồi hồi xúc động nhớ lại hình ảnh bà
tôi ngày xưa ở quê nghèo, và chắc chắn bạn đọc nào ở quê, đã từng được bà yêu
thương chăm sóc, không thể không lặng người đi trước những tứ thơ tuyệt hay.
Bài thơ vừa là tâm trạng, vừa là câu chuyện của cháu một lần về thăm bà; quan
sát tinh tế, kể tự nhiên và bày tỏ chân thành. Đằng sau những yếu tố của cấu
trúc thi ca là cái đẹp của tình bà, là sự khám phá cái đẹp trong khói bếp, là
ngôn ngữ trần thuật sắc nét, có sức làm bùng nổ cảm xúc và lay động sâu xa trái
tim bạn đọc. Bài thơ chứa đựng một thông điệp tế nhị. Hãy giữ lấy cái đẹp ấy,
hãy giữ lấy tình cảm thân thương ấy dù cuộc sống thành thị có là mất đi bao điều
tinh tế quý giá của tâm hồn Việt.
Trần Hoàng Vy giúp các cháu khám phá nhiều vẻ đẹp của tình
gia đình và thông qua đó là những bài học nhẹ nhàng thấm thía.Tiếng ve nhắc
cháu về thăm ông (Cám ơn tiếng ve), Ông thay bà đón cháu ở nhà trẻ, lỉnh kỉnh mọi
thứ, nhưng cũng là đầy ắp tình thương (Ông đi nhà trẻ). Ông thay cô giáo giải
đáp cho cháu những điều trái ngược mà cháu không hiểu, chẳng hạn tại sao trâu
thì biết bơi, còn bò thì “Qua sông không được/ cứ kêu ụm bò…”( Ông ơi). Điều
này chắc chắc các cô giáo ở thành phố không thể trả lời cho cháu được. Ông cũng
dạy cháu những bài học từ cổ tích, thật giản dị cụ thể :”Gieo gió thì phải gặt
bão/ Tham tàn phải gặp tai ương/ Làm người hiền phải thử thách/ Người tài phải
lắm gian nan”(Cổ tích).
Hình ảnh người cha, người mẹ cũng được khắc họa ấn tượng
trong tâm hồn trẻ qua những sinh hoạt đời thường: Bố làm con ngựa, Quà của
ba, Con dế của bố, Sợi tóc bạc của mẹ, Dê con quỳ bú mẹ. Có khi chỉ một
chi tiết rất nhỏ cũng đủ giúp trẻ nhận ra bao nhiêu tình yêu thương của mẹ.
Vở mới thơm giấy mới
Nắn nót mẹ đề tên
Bé bắt đầu lớp mới
Chăm ngoan nhé đừng quên
(Quyển vở mới)
Trần Hoàng Vy cũng dành nhiều bài rất hay nói với các cháu về
tình quê hương, tình người, tình yêu tổ quốc: Quê hương, Nhớ Quê, Chợ
quê, Chợ tết, Hồ Dầu Tiếng, Sông Vàm Cỏ, Hoàng sa, trường sa (Đảo),
“ta phải đòi đảo ta”.Người hành khất, Dì lao công, chú phi công (Đu quay),
cô giáo (Cô giáo bệnh, Tóc cô)
Những buổi bình minh nhuộm đỏ
Con thuyền đưa trẻ qua sông
Mái chèo vỡ đôi hạt nắng
Đến trường con chữ bềnh bồng
Buổi trưa vó đăng lộng gió
Lục bình xanh ngắt ven sông
Con cá quẫy mình trong vó
Dòng sông sóng vỗ phập phồng…”
(Sông
Vàm cỏ)
Những chi tiết đời thường vào thơ thật tự nhiên, dung dị,
nhưng dưới ngòi bút tài hoa của Trần Hoàng Vy, chúng hiện lên là những hình ảnh
thơ tuyệt đẹp: lục bình xanh ven sông, con cá quẫy trong vó, những cần vó,
bè đăng vươn lên trong nắng gió, con thuyền đưa trẻ qua sông…. Tứ thơ này thì
khó có nhà thơ nào khác vượt được Trần Hoàng Vy khi viết về sông nước:”Con thuyền
đưa trẻ qua sông/ Mái chèo vỡ đôi hạt nắng”.Tôi cũng đã nhiều lần có mặt trên
những con đò chở học trò qua sông buổi sáng có nắng lấp lánh trên sông, nhưng
chỉ thấy mũi con đò rẽ sóng, rẽ vầng mặt trời long lanh dưới nước, chưa thể nhận
ra điều thú vị này của “Mái chèo vỡ đôi hạt nắng” trên sông. Đó là cái đẹp và
là những giá trị chỉ có thơ ca mới có. Vì thế dù cuộc sống có thế nào thì nhà
thơ vẫn lừng lững diễm tuyệt trong không gian và thời gian, bởi vì nhà thơ giúp
ta nhận ra cái đẹp mật ngay trong cái đời thường.
2. Những bài học từ thiên nhiên
Thơ viết về thiên nhiên, hoa trái, mùa màng là một mảng rất
hay của Trần Hoàng Vy. Nếu so sánh với thơ thiên nhiên của thơ cổ điển, cùa thơ
Lãng Mạn (1930-1945) và ca dao viết về thiên nhiên, bạn đọc sẽ nhận ra chỗ độc
đáo thơ thiên nhiên Trần Hoàng Vy viết cho trẻ.
Trần Hoàng Vy giúp các cháu học biết về sự vật xung quanh,
nhưng cũng đồng thời khơi gợi trong các cháu cảm thức về cái đẹp trong thế giới
thần thoại. Đó là chỗ sâu xa của giáo dục nhân bản. Nhiều bài thơ có thể làm cả
bạn đọc người lớn kinh ngạc về vẻ đẹp của thiên nhiên sự vật mà ta đã có lần bắt
gặp đâu đó.
Cánh sen khép cửa
Che nhụy, che hoa
Mưa qua lại nở
Hương se chan hòa
Có con ếch cốm
Che dù lá sen
Làm lăn hạt nước
Tưởng đêm lên đèn
Cao giọng học bài
Ộp à ộp ộp
Sau khi cho trẻ nhận biết về sen, nhà thơ cho trẻ thưởng thức
cái cái đẹp hương sen. Bài thơ về sen chưa có gì đặc biệt. Câu chuyện phát triển
bằng một tình huống bất ngờ. Đó là sự xuất hiện của con ếch cốm dưới lá sen. Có
lẽ con ếch xoay mình làm rung rinh lá sen, và hạt nước trên lá sen lăn qua lăn
lại. Và Tứ thơ độc đáo sáng lên:” Có con ếch cốm/ Che dù lá sen/ Làm lăn hạt
nước/ Tưởng đêm lên đèn”. Nhân tiếng ếch kêu ồm ộp, nhà thơ nhắc nhở các cháu
việc học bài.
Tập thơ còn có nhiều bài về các loài cây, loài hoa trái: Cây
dừa, cây chuối, rừng sim, Hoa mai, chùm phượng sớm, bằng lăng, hoa gạo đỏ, Hoa
cỏ hôi, Hoa dã quỳ, Thạch thảo, Lộc vừng, Quả thanh trà, quả mít, Hoa mồng gà,
Hoa lan hài, đóa sen, Hoa đồng tiền. Thơ về bốn mùa, mưa nắng có nhiều
bài hay, để lại những ấn tượng sâu nặng nghĩa tình: Tháng Ba, Nắng thu,
Mưa, Mong mưa, Mùa xuân, Ngựa gọi xuân…
Lúa đồng mỏi mắt mong mưa
Sợi dây lang rũ ngọn lưa thưa gầy
Lá nằm thiêm thiếp trên cây
Bụi gai xấu hổ giăng đầy lối qua
Trở mình tiếng sấm thật xa
Ông mây còn mãi tà tà rong chơi
Giữa trưa đang nắng, mưa rơi
Trẻ con réo gọi, mưa rời rạc buông
Mong mưa lũ trẻ … tắm truồng
Ngàn cây thức dậy, đổi buồn làm vui
(Mong mưa)
Bài thơ nói được nỗi lòng người dân quê trong cơn nắng hạn.
Hình ảnh thơ cực tả những cơn nắng làm héo rũ lòng người:” Sợi dây lang rũ
ngọn lưa thưa gầy/ Lá nằm thiêm thiếp trên cây/ Bụi gai xấu hổ giăng đầy lối
qua”. Phải là nhà thơ gắn bó cả đời mình với đồng quê mới có thể viết được những
câu thơ hay xót ruột đến thế, và hẳn nhiên, những tứ thơ này cũng có sức gợi
trong lòng trẻ tình yêu thương với cuộc sống ở quê.
Trong thế giới tâm hồn trẻ thơ thì loài vật là gần gũi và
đông đảo nhất. Trần Hoàng Vy cũng có nhiều bài thơ hay khám phá cái đẹp của thế
giới loài vật. Nhạc khúc vườn, Dàn kèn ếch, Ban nhạc đêm và Hòa
âm vườn là những bài thơ khá tuyệt (tuy nhiên, chỉ những bạn đọc đã sống ở
miền quê mới thưởng thức được cái diệu kỳ của thơ).
Bắt đầu tiếng trống Uềnh Oang
Vĩ cầm của Dế, tiếng đàn của Ve
Nhạc đêm trình diễn… sau hè
MC… cậu Cóc tiếng nghe đều đều
Vạc Sành tiếng hát rất phiêu
Con Xiển Tóc vỗ…cánh điều hoan hô
Fan là chuối với tần ô
Lá trầu, bụi xả, chậu ngò, rau răm…
(Ban nhạc đêm)
Máy lạnh là …lá rì rào
Trưa hòa âm bước lạc vào vườn mơ
Ve kim lảnh lót bất ngờ
Tiếng con dồng dộc lay bờ tổ rơm
Chim sâu lích chích thử đờn
Giọng chiền chiện giống tiếng hờn Nam ai
Em nằm trên võng lắng tai
Dòng sông gió chảy trượt dài vào mơ…
(Hòa âm vườn)
Hai bài thơ này giới thiệu với các cháu nhiều loài vật của vườn
quê, ban ngày cũng như ban đêm. Và nếu chỉ đem đến cho các cháu tri thức về
thiên nhiên quanh mình như vậy cũng đã đủ cho mục đích giáo dục. Nhưng nhà thơ
Trần Hoàng Vy còn đem các cháu vào thế giới âm nhạc với khả năng thẩm âm và thưởng
thức âm nhạc rất tinh tế. Trong dàn đồng ca hợp xướng của muôn loài, thanh sắc
của từng nhạc công vẫn hiện lên thật mượt mà, độc đáo và ấn tượng. Tiếng
con dồng dộc lay bờ tổ rơm/ Chim sâu lích chích thử đờn/ Giọng chiền chiện giống
tiếng hờn Nam ai…”,” Fan là chuối với tần ô/ Lá trầu, bụi xả, chậu ngò, rau
răm…”. Thế giới thiên nhiên của muôn loài hiện lên thật kỳ thú.
Và không chỉ có Dàn kèn ếch, Ban nhạc đêm và Hòa
âm vườn, trong 98 bài thơ thiếu nhicòn nhiều con vật khác, mỗi con vật lại
đem đến một điều thú vị riêng. Con vạc sành “Như chiếc lá… dán trên tường”, hải
âu giữ biển. Con vịt, con cún, gió, bưởi, bòng vui ơi là vui khi mưa đến (Mưa sớm). Chim
bói cá lẫn trong lá xanh, vút một cái mỏ đã xâu được cá. Con vện, mèo khoang,
con gà tre ngây ngô biết bao trong những trò tinh nghịch. Hình ảnh con dế đi lạc
thật đáng thương. Con gấu ở sở thú lại gợi cho các em nhiều bài học vệ sinh,
đom đóm bay đêm lại là hình ảnh đóm đi học, thắp sáng quê hương (Đom đóm đi học), Con
diều hâu gợi bài học lòng yêu thương đối mặt với cái ác. “Tiếng cu gáy” là
một bài thơ về đồng quê đẹp xôn xao mùa thu, đầy màu sắc, ánh sáng và âm thanh
của một vùng quê thanh bình.
Cúc cù cu… cúc cù cu
Tiếng con cu gáy gọi thu trở mình
Chợt vàng đồng ruộng lúa xinh,
Mùa đang mẩy hạt, uốn mình giăng câu
Tiếng con cu gáy hồi lâu
Xôn xao gió, nắng trên đầu vàng hoe
(Tiếng cu gáy)
Tập thơ cũng có những bài thơ hướng trẻ từ thiên nhiên đến đời
sống xã hội. Nhà thơ đem đến cho trẻ nhiều bài học thú vị. Cháu sẽ nhặt lá cây
mai ngày nào để mai nở hoa đúng dịp tết (Chim chính, bé và lão mai). Một vỏ ốc
biển tưởng như vô ích lại trở thành giá trị trong bàn tay con người (Vỏ ốc biển).
Ngôi sao trên biển cũng là ngôi sao trên mũ, thức cùng chú hải quân (Ngôi sao). Xóm
giã bàng gợi ra nhiều suy nghĩ về những con người lao động. Cái đồng
hồ nhắc nhở về giá trị của thời gian đối với đời người. Nuôi heo đất để ủng
hộ ngư dân (Em nuôi con heo đất).Chiếc xe đạp con lại dạy các cháu sự cẩn
thận và lòng nhân ái. Câu chuyện của ông cháu trên xe buýt tưởng đã rất quen,
nhưng nhà thơ cũng khám phá thêm những giá trị nhân văn mới (Trên xe bus). Biển nhắc
bài học đừng xây nhà trên cát. Đồ chơi công nghệ (Cái Ipad) cũng thấm thía bao
tình cảm gia đình.
3. Thơ viết cho trẻ
Nhà thơ Trần Hoàng Vy đã có nhiều tác phẩm đặc sắc viết cho
thiếu nhi, đồng thời anh cũng đạt nhiều giải thưởng từ địa phương tới trung
ương. Vì thế, viết về thơ của anh mà nói chuyện khen chê, tôi nghĩ, chắc anh chỉ
cười (!). Tôi chọn cách chia sẻ với anh những cảm nghĩ của mình về thơ viết cho
trẻ. Biết đâu, tôi có thể hiểu biết thêm về những gì nhà thơ Trần Hoàng Vy đã
đóng góp cho văn chương thiếu nhi Việt Nam.
Đọc thơ viết cho thiếu nhi của Trần Hoàng Vy, tôi thấy anh đã
sử dụng nhiều yếu tố của thi pháp ca dao, đồng dao để viết được những bài đồng
dao mới rất hay. Đồng dao nhiều bài dạy cho trẻ về sự vật xung quang (Cái bống
là cái bống bang; Ông trăng xuống chơi cây cau; Con tôi buồn ngủ buồn nghê…), Trần
Hoàng Vy cũng có những bài dạy cho trẻ về sự vật mà đồng dao không có (Nghỉ hè,
trái rừng về phố, Mưa sớm, Chim chích, bé và lão mai, Tháng Ba…). Đồng dao có
bài là một câu chuyện ngộ nghĩnh và đa nghĩa: Con mèo mà trèo cây cau, Con
vỏi con voi / cái vòi đi trước…Trần Hoàng Vy cũng có nhiều bài thơ kể chuyện sống
động : Đom đóm đi học, Dàn kèn ếch, Khúc nhạc vườn, Người hành khất,
Khói bếp, Chợ tết . Nhiều bài trong tập 98 bài thơ thiếu nhi có
thể dùng hát ru như hát ru của ca dao (Tiếng cu gáy, Làm chị, Chợ quê, Cây chuối)
Đồng dao còn có những bài hát không có nghĩa nhưng có hình ảnh
ngộ nghĩnh được trẻ hát trong các trò chơi như rồng rắn đi đâu, Thiên đàng
địa ngục, Chi chi chành chành.
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương
Ma vương thượng đế
Dắt dế đi tìm
Ú tim thằng bé
U… ập
Tôi lại ước ao nhà thơ Trần Hoàng Vy sáng tác những trò chơi
và những bài đồng dao đi kèm chơi trò chơi ấy. Và nếu có thêm những bài thơ kể
truyện như ca dao (Con mèo mà trèo cây cau hay Thằng cuội ngồi gốc ây
đa, Cái cò các vạc, cái nông/ sao mày dẵm lúa…) thì thơ thiếu nhi của anh
sẽ có nhiều cơ hội đi sâu vào thế giới tâm hồn trẻ thơ.
Nhưng ngay trong tập 98 bài thơ thiếu nhi này, tôi
cũng thấy nhiều bài đáng được đưa vào sách giáo khoa cho các cháu học, vì giá
trị giáo dục và giá trị thẩm mỹ rất cao. Xin chúc mừng nhà thơ Trần Hoàng Vy
nhân dịp anh phát hành tập thơ.
19/12/2019
Bùi Công Thuấn
Theo https://vanhocsaigon.com/
Nhà thơ Phan Hoàng: Thay đổi cảm hứng bầu trời
Nhà thơ Phan Hoàng:
Thay đổi cảm hứng bầu trời
Điều để Phan Hoàng có thể Chất vấn được thói quen,
tìm được cơn bão mới là nhà thơ quyết tâm dứt bỏ nhiều điều tưởng như rất đỗi
thân thiết với cuộc đời mình. Cái thế giới trần gian phàm tục không thể
thay đổi dù chúng ta có cố gắng dùng toàn bộ trí lực. Thay đổi chỉ đến từ bên
ngoài, nói đúng hơn là đến từ cái siêu tại, đến từ cái bầu trời thần thánh mà
chúng ta bỏ quên từ rất lâu, rất lâu trong tâm hồn chúng ta…
Đối với những người dậy sớm, còn điều gì tuyệt diệu hơn khi
trên đầu mình một con đường rực sáng đang lộ dần ra, dưới chân mình là những
con đường đính đầy sương lóng lánh. Vũ trụ giống được tái sinh trở lại khi cảm
hứng trần tục của chúng ta biến đổi, thậm chí không cần biến đổi mà chỉ cần rũ
bỏ những thói quen thân thiết với bóng tối.
Điều “chỉ cần” ấy hầu như rất nhiều những ai gọi là nhà thơ đều
không làm được. Phía trước Phan Hoàng, phía sau Phan Hoàng, và cả vùng xung
quanh nhà thơ này, theo cảm nhận của riêng tôi, không mấy người hiểu được cái lẽ
tự nhiên huyền diệu ấy của cảm hứng. Cái cảm hứng trần tục, lơ mơ, khao khát trở
về tuổi thơ một cách buồn cười, hay những cung bậc cảm xúc nhẹ bẫng chế ngự họ
hoàn toàn. Mà không phải chế ngự, tôi nói sai, nó là hoà làm một, thành hơi thở,
thành nhịp sống trong những ngôn từ mà chúng ta quen gọi ấy là thơ!
Trong cái nền hoang vu thơ ca ấy, Phan Hoàng đã im lặng khá
lâu. Dường như nhà thơ hiểu rằng, chỉ cần lên tiếng, rất dễ sẽ bị đồng hoá
nhanh chóng với miền hoang vu ấy!
Đối với những dục năng đang ngùn ngụt trong đất, không có gì
mạnh mẽ hơn, thân thiết hơn, và đôi lúc còn là duy nhất đối với chúng: Đó chính
là những thói quen. Cuộc sống lặp đi lặp lại, không cảm hứng, không tươi mới,
không ước mơ. Nó lặp đi lặp lại những thời gian sống cũ kỹ, những thời gian sống
đã bị hút sạch tuỷ sống, hút sạch cảm giác sống, hút sạch những gì tươi đẹp vì
chúng ta đã sống qua nó một lần. Đấy đấy, cuộc đời đã trôi qua một lần.
Dòng sông đã trôi qua một lần. Không thể lấy lại, không thể sống lại chính đoạn
đời đó, chính khúc sông đó. Điều ấy ai cũng hiểu. Thế nhưng sức mạnh của thói
quen – sức mạnh của sự lười nhác, mệt mỏi, lo sợ, thoái lui đã tóm lấy chúng ta
và xoay ngược chúng ta lại, bắt chúng ta đối mặt triền miên với những điều đã
đi qua đời sống chúng ta từ rất lâu, rất lâu. Thường các nhà thơ đều ôm mặt đứng
khóc ở đây. Nước mắt của họ chảy dài trên các tờ báo bằng những bài thơ xinh
xinh thổn thức. Giữa thời khắc bi kịch của thơ ca hiện đại, tôi thấy cuộc chiến
khắc khoải của Phan Hoàng:
… bỏ đi bỏ đi bỏ đi…
Nhiều khi mắc cười tôi chất vấn tôi
tại sao con người cứ tự đánh lừa mình bằng những
thói quen
không học nổi con sông biết thích nghi đổi dòng băng băng về
phía trước?
(Chất vấn thói quen)
“Bỏ đi bỏ đi bỏ đi…”- Như một lời thơ nhật tụng khi phải đối
mặt với những thói quen u tối của tinh thần. Bỏ đi một thói quen trong đời sống
thường nhật đã khó, bỏ đi một thói quen u mê trong tâm hồn còn khó hơn rất nhiều.
Và đa số chúng ta đều không làm được điều đó một cách trọn vẹn bởi vì cái thời
gian để chúng ta nhận biết được đâu là thói quen u mê, đâu là dòng sống thực sự
trong tâm hồn chúng ta mất gần hết cuộc đời. Dường như chỉ khi bắt đầu đổ ngã,
chúng ta mới kịp nhận ra một chút gì đó thực sự về cuộc sống vì phần lớn thời
gian sống chúng ta ăn uống, vui chơi và than khóc. Vậy làm thế nào để nhận biết
được một cách nhanh chóng điều đó? Làm thế nào để từ bỏ những thói u mê trong
tâm hồn? Phan Hoàng có một câu trả lời trong thơ ca của mình.
cơn bão nổi mạnh dần lên
thế giới ký tự mới mở ra
mỗi hơi thở nồng nàn bạt ngàn tín hiệu
(Cơn bão ký tự mới)
Đây là câu trả lời. Cần một cơn bão lớn, cơn bão của lòng can
đảm, cơn bão của cảm hứng vô độ. Cần bão tố, cần một sức mạnh vô biên để đảo
ngược lại số phận đã bị nô dịch vào những thói quen. Chúng ta hình dung tâm hồn
mình giống như một rừng cây rậm rạp. Hoa cỏ nở tưng bừng. Cây lá xanh tươi khoe
sắc. Nhìn xa giống như một cánh rừng hoa tràn ngập những cảm xúc mới mẻ và yêu
kiều. Thế nhưng đến gần lại, sâu bên trong rừng, dưới những lớp lá mục dày, những
xác thú chết thối rữa vẫn còn ở đấy. Và bao nhiêu những điều u tối, nhơ nhớp
không thể gọi tên dưới đáy sâu tâm hồn. Vậy thì cơn bão cảm hứng đâu? Cơn bão
vô độ của lòng quả cảm đâu? Cơn bão sẽ thốc tất cả khu rừng lên, lay giật từng
thân cây cành lá, thổi bay sạch những xác thú thối rữa. Và cho dù cành cây có bị
bẻ gãy, lá cây xanh có bị bứt tung bay thì chúng ta cần phải hiểu, sau cơn bão
cảm hứng ấy, chúng ta được sống, được cảm xúc bằng những vết thương trinh bạch
nhất của đời mình.
Điều để Phan Hoàng có thể chất vấn được thói quen, tìm được
cơn bão mới là nhà thơ quyết tâm dứt bỏ nhiều điều tưởng như rất đỗi thân thiết
với cuộc đời mình. Cái thế giới trần gian phàm tục không thể thay đổi dù chúng
ta có cố gắng dùng toàn bộ trí lực. Thay đổi chỉ đến từ bên ngoài, nói đúng hơn
là đến từ cái siêu tại, đến từ cái bầu trời thần thánh mà chúng ta bỏ quên
từ rất lâu, rất lâu trong tâm hồn chúng ta. Lâu đến nỗi mặc dù nó thuộc về bản
chất của chúng ta, nhưng khi quay lại, chúng ta thấy nó lạ lẫm hoàn toàn. Ấy đấy,
cảm hứng phải làm lại, không ở đâu hết mà ở chính trong tâm hồn mỗi chúng ta “thay
đổi cảm hứng bầu trời/ thay đổi tư duy từng ngọn núi con sông” (Ký ức hoa
hồng).
Tác giả Nguyễn Quyến là nhà thơ, nhà báo đang sống và làm việc
tại Hà Nội. Bài viết trên là lời tựa trong lần in thứ nhất của tập thơ Chất
vấn thói quen do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tháng 01.2012.
Hà Nội, 20/12/2011
Nguyễn Quyến
Theo https://vanhocsaigon.com/
Trần Anh Thái, con đường của trường ca
Trần Anh Thái,
con đường của trường ca
Nhà thơ Trần Anh Thái sinh năm 1953 ở Tiền Hải, Thái
Bình. Hiện là nhà thơ, nhà báo quân đội. Năm 2008, tập trường ca Trần Anh Thái
tập hợp ba trường ca viết vào ba thời kỳ khác nhau gồm có Đổ bóng xuống mặt
trời, Trên đường và Ngày đang mở sáng đã được NXB Hội Nhà văn xuất
bản. Nhà thơ Trần Anh Thái là tác giả thơ nổi trội về thể loại trường ca đã được
khẳng định tại các giải thưởng văn học, cùng sự thẩm định của các nhà nghiên cứu-phê
bình văn học, được một số nhà nghiên cứu đánh giá là tác giả làm hồi sinh thể
loại trường ca đầu thế kỷ 21. Trường ca Đổ bóng xuống mặt trời (năm
1999) đã giành giải thưởng Văn học của Bộ Quốc phòng, giải nhất cuộc thi thơ
báo Văn Nghệ.
Trong bóng tối của những điều chưa biết là ánh sáng. Ánh sáng
ở nơi chưa có con đường. Trần Anh Thái từng nghiệm sinh như thế. Nên muốn
đến được với ánh sáng, người ta phải tự tìm đường cho mình. Trần Anh Thái là một
hành nhân bền bỉ đi tìm ánh sáng thơ ấy. Ngọn đuốc tuệ của tôn giáo thơ đã là một
hấp lực vừa nâng đỡ vừa thúc giục Trần Anh Thái tìm ra con đường của riêng
mình. Đó là trường ca.
Có thể nói, rất ít “cái kể” trong trường ca Trần Anh Thái. Cốt
truyện sự kiện bị phân rã và cốt truyện tâm lý được đẩy lên đến cao trào. Nó
làm nên nét khác biệt của trường ca Trần Anh Thái so với trường ca trước đó. Cấu
trúc tự sự trong trường ca của anh dựa hoàn toàn vào cảm xúc, lấy cảm xúc làm mạch
chủ đạo, mạch sự kiện chỉ nảy sinh nhờ liên tưởng. Trong khi, cấu trúc tự sự
trong trường ca trước Trần Anh Thái lấy sự kiện làm mạch chủ đạo, mạch cảm xúc
chỉ nảy sinh như trữ tình ngoại đề. Nên ngay từ tên trường ca, đã thấy dấu hiệu
của cái đã xảy ra, của quá trình: bài ca, khát vọng, đường tới, đi tới, sư
đoàn,…
Sự khác biệt về mặt cấu trúc tự sự của Trần Anh Thái so với
thế hệ đi trước không giản dị ở chỗ ngay từ cái tên tác phẩm đã thấy cái
đang xảy ra, cái đồng hiện (đổ bóng, trên đường, đang mở) mà là ở cấu trúc
bề sâu của văn bản tự sự. Ở một góc độ nào đó, có thể nói, thơ Trần Anh Thái là
một độc thoại triền miên. Vọng trắng, Độc thoại trắng là âm điệu chủ
đạo, một chủ âm trong thơ Trần Anh Thái. Tất cả thơ anh bị xoáy hút bởi một cắc
cớ: Anh tìm lửa đâu soi đâu ngày tháng. Đọc từ đó, có hai cặp đối ứng của
lửa: lửa khởi hoang – lửa chiến tranh trong Đổ bóng xuống mặt trời; lửa
chiến tranh – lửa hòa bình trong Ngày đang mở sáng. Nếu đặt thêm Trên đường,
với tư cách như một tuyên ngôn nghệ thuật, vào tổng thể trường ca Trần Anh
Thái, sẽ được một cấu trúc “kép”, hai tầng bậc của khởi nguyên “ba ông đầu Rau”
của lửa. Đó là ba trường ca ở bề mặt, là “tam vị nhất thể” lửa khởi hoang – lửa
chiến tranh – lửa hòa bình ở bề sâu. Cái căn bản làm nên hồn thơ Trần Anh Thái.
Ở Đổ bóng xuống mặt trời, nhân vật trữ tình sống với
làng quê qua huyết thống, qua huyền thoại được nghe kể lại và cũng là người trực
tiếp tham gia chiến tranh. Những ngọn lửa đầu tiên của ba ông Đầu rau dựng làng
da diết bao nhiêu thì ngọn lửa đầu tiên của chiến tranh hủy diệt đất nước nhức
nhối bấy nhiêu trong tâm cảm nhân vật trữ tình. Trong cái vinh quang lập làng lập
nước luôn có nỗi đau của sự hy sinh. Trong niềm vui chiến thắng vệ quốc luôn có
nỗi buồn của sự mất mát. Vì vậy, song hành với lửa khởi hoang và lửa
chiến tranh là lửa nhang trên ban thờ. Đó là biểu thị của lòng biết
ơn tiên tổ, sự gắn kết con người với truyền thống: Những nén nhang đền Vọng
sáng đêm ngày/ Ban thờ mỗi ngôi nhà cháy đỏ. Làng sinh thành, sinh sôi và làm
nên đất nước.
Khi đất nước lâm nguy, những đứa con của làng cảm tử lên đường
nhập ngũ gìn giữ mảnh đất cha ông. Gương mặt họ nhòa đi trong lửa đạn chiến
tranh: Gió khét lẹt mùi bom dầm mồ hôi thuốc súng. Mồ các anh cỏ xám màu
thuốc đạn buồn bã gục vào nhau. Để rồi, “chiến tranh đi qua dọc con đường đầy
hoa tươi và vòng tang trắng”, gương mặt thời gian có thể nhòa đi nhưng với những
người lính trở về: Nỗi cô đơn nảy mầm khi ánh ngày tỏa sáng. Bủa vây tâm hồn
người lính hậu chiến là nỗi ám ảnh của đêm đen quá khứ. Chiến tranh là đêm dài
mất ngủ. Chiến tranh không chỉ hiển hiện ở nơi xa xôi, nó đau đáu trong ngôi
làng đất Việt. Người lính hy sinh rồi một ngày sẽ hòa mình vào đất sa trường
nhưng đất làng mất đi người con nỗi đau luôn đọng lại, dằng dai: Ba mươi lần
người đời sắm ngựa hồng, giày nhung vàng mã…/ Chị chẳng có cho mình/ Nắm đất thắp
nhang riêng…/ Cây vàng mã mua cất vào góc tủ/ Chị sợ đốt rồi hương khói sẽ bay
đâu. Với những câu thơ xé lòng như thế, quầng lửa sa trường ác nghiệt hơn hay đốm
lửa lập lòe ban thờ ác nghiệt hơn? Người lính hậu chiến trở thành “tượng đá suy
tư” trong nỗi cô đơn tuyệt đỉnh của mình. Họ trở thành “những loài hoa lặng lẽ
nở về đêm”.
Đổ bóng xuống mặt trời đã được kết cấu như thế. Từ cái gốc
đêm suy tư mọc ra các cành nhánh vươn về huyền thoại lập làng và chiến tranh giữ
làng. Ở hai cành giao thành lùm tán ấy, ánh lửa ngời lên. Ngày đang mở sáng tiếp
nối từ gốc cội ấy. Sinh sôi từ ngọn lửa ủ sâu trong đất, trường ca bổ khuyết
cho nhánh vươn về chiến tranh với việc mở rộng cảm nhận về chiến tranh sang cả
chiến tuyến bên kia và tiếp thêm sức sống cho nhánh vươn về huyền thoại với việc
mở rộng cảm nhận về đời đang hiện sống. Tất cả làm cho cội cây kia vươn thành cổ
thụ với sức sống mạnh bền.
Không còn là ngọn lửa trực hiện, lửa trong Ngày đang mở sáng
là lửa của niềm đau, của nước mắt. Đó là thứ lửa cháy bỏng của nước,
không bật lên ánh lửa mà sôi chảy thành dòng ở đáy sâu. Cái
lạ nhất của trường ca là có một nguồn mạch không có dấu ấn của đề tài “quan
phương”, của chất liệu bậc cao làm thành chất sử thi của trường ca: tình yêu
trong sự vây bọc của đời thường. Đây là một thể nghiệm táo bạo, gợi mở khả năng
chiếm lĩnh những phạm vi ngoài giới hạn của trường ca truyền thống, góp phần mở
rộng biên độ thể loại. Đặt trong nguồn thơ Trần Anh Thái, sự có mặt của mạch
thơ là một bổ trợ cần thiết trong việc chiêm nghiệm về đời sống, nó là nhựa
ấm góp phần cho nhánh vươn về huyền thoại, trong xu thế làm nổi bật cái hiện
sống của cuộc đời, sáng lung linh hơn bởi những quả lửa.
Cái nổi bật và làm nên thành công của Ngày đang mở sáng thuộc
nhiều hơn ở mạch về niềm đau của chiến tranh: Tôi nghe lạnh giữa hai bờ cuộc
chiến/ Cái chết nối hàng/ Cái chết tiễn đưa nhau. Xác quân thù xác bạn gục vào
nhau, thơ Ngày đang mở sáng cất lời tang thương của cuộc chiến nồi
da xáo thịt. Không ai có ý phủ định chính nghĩa cuộc chiến nhưng không ai được
quyền phủ định sự hy sinh để có chính nghĩa. Bởi cái giá của cuộc chiến ấy
là: Xác chết chồng xác chết đợi ngày. Trong tư cách người lính, anh nhận
ra một thế hệ các anh: Kẻ thắng trận hai tay ông mặt khóc/ Thương
tích tạc vào gió thổi ngàn sau. Và với riêng anh: Tôi đã viết như tôi
đã chết/ Nước mắt tạc vào gió thổi ngàn sau. Thương tích là lửa mà nước
mắt cũng là lửa, cháy bỏng, rát bỏng. Cái vô hình được đưa ra để lột hiện cái hữu
hình. Với chiến tranh, nếu Bảo Ninh làm được thế nào ở văn xuôi, thì với thơ,
Trần Anh Thái là một lời hô ứng.
Có thể nói, từ Đổ bóng xuống mặt trời đến Ngày
đang mở sáng, Trần Anh Thái đã đi xong chặng đường hậu chiến. Tái nhận thức được
đặt ra và chỉ ra một cách sâu sắc, riết róng. Trên đường là cuộc thám
phá vào quan niệm thơ, khẳng định ý hướng từ Đổ bóng xuống mặt trời và
nhen nhúm cho khát vọng khai phá những mảnh đất mới cho trường ca. Kết quả của
nỗ lực ấy là Ngày đang mở sáng. Và chính ở chỗ này, ngoài mô hình văn bản
được tổ chức trên nền tảng cảm xúc, đã được coi như một đóng góp của Trần Anh
Thái cho trường ca, anh tiếp tục ham muốn khơi mở trường ca vào những vấn đề của
thế sự, đời tư. Liệu trường ca đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Câu trả
lời nằm ở chỗ có hay không việc trường ca viết được và viết hay mà không cần
nương vào âm hưởng hùng ca (mà dấu vết vẫn còn rất rõ trong Ngày đang mở
sáng). Nghĩa là Trần Anh Thái còn tiếp tục trên đường. Còn đi xa đến đâu, ấy
còn do năng lượng lửa thơ anh có đủ cháy lên mơ mộng nghệ thuật.
21/12/2019
Đoàn Ánh Dương
Theo https://vanhocsaigon.com/
Tính mở trong "Một mai gió chở tôi về" của Hoàng Vũ Thuật
Tính mở trong "Một mai gió
chở tôi về" của Hoàng Vũ Thuật
Bàn về thơ Hoàng Vũ Thuật, có người ví như một khối
vuông ru bích, có người lại xem như một cấu trúc đèn led hiện đại muôn màu huyền
ảo, đan xen sáng tối, trùng trùng những hình ảnh tưởng tượng… Với riêng
tôi, mỗi bài thơ Hoàng Vũ Thuật như một ô cửa nhỏ mà nếu vội vàng lướt qua, ta
sẽ bỏ lỡ cả một thế giới…
Trong tập thơ Tháp nghiêng, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật
đã từng tâm niệm: “Những con chim sẻ bay về phương bắc/ anh một mình
lên phương nam/ nơi có hồ nước mắt em ngăn ngắt xanh”. Đây cũng chính
là tuyên ngôn nghệ thuật rất kín đáo của nhà thơ. Hơn nửa thế kỷ một lòng với
thơ ca, bay “một mình, một bóng”, ông luôn có ý thức tìm tòi, đổi mới, tạo nên
một lâu đài thơ cho riêng mình. Ta bắt gặp ở đó những vần thơ ăm ắp tình đời,
tình người, đậm chất suy tưởng, siêu thực, một thứ triết lý sâu xa mà cũng rất
gần gũi, dung dị, đời thường. “Một mai gió chở tôi về” là một ví dụ.
1. Lâu nay bạn đọc thường bắt gặp những vần thơ lấy cảm hứng
từ chất liệu đời sống cụ thể, mà người ta thường gọi là đề tài “nóng hổi mang
tính thời sự”, phản chiếu một vấn đề nào đó đang diễn ra… thì trong Một
mai gió chở tôi về lại bàng bạc một giọng điệu trữ tình, một góc khuất
thân phận, đời thường trong tình cảm con người. Góc khuất ở đây chính là cảm
quan về tình yêu, niềm vui và nỗi buồn rất cá thể giản đơn và gần gũi, phản chiếu
con người ông, từ đó nhìn thấy thế giới rộng lớn đang trải trong thơ: “anh là hạt
muối được vớt lên từ lòng biển/ mặn trên môi em/ như một phiến hoa hồng
trầm cảm/ chiếc gai biết nói/ xuyên thủng cả nụ cười nước mắt/ ngày
ra đi/ cuộc sống đã đóng băng trong chiếc quan tài trống rỗng/ …/ chúng
ta thường xuyên tranh cãi/ như sóng vẫn thường xuyên tranh cãi với bờ/ những
nỗ lực cho cuộc đời vo tròn giống hạt nước trên lá sen/ tới khi rớt xuống/ cái
gì rồi cũng phải qua đi…” (Phiến hoa hồng trầm cảm )
2. Ông giúp cho độc giả hiểu thêm rằng, thơ không phải là cái
nhìn thấy, cái nghe được bằng lối kể lại, tường thuật lại. Báo chí, nhiếp ảnh
thời sự, tranh tuyên truyền đã làm việc đó. Thơ cao hơn mọi hiểu biết, sờ thấy
hay trông thấy. Thơ đằng sau sự hiểu, cao hơn sự hiểu. Cho nên Hoàng Vũ Thuật
luôn dùng biểu tượng, trò chơi ẩn dụ tạo nên tính đa chiều trong thơ. Ông nói
việc này, chuyện này, nhưng để độc giả hiểu chuyện khác, việc khác. Ta có thể
thấy trong nhiều bài như Biến tấu, Ẩn ngữ, Mặc định, Hoài nghi, Người hành
khất, Viết ở quán coffe Sơn ca…
3. Có một con người thứ hai mơ hồ trong thơ Hoàng Vũ Thuật,
không bằng câu chữ mà bằng cảm xúc, không bằng xương bằng thịt mà bằng ấn tượng,
ma mị. Người ấy là ai? Nhân vật linh diệu ấy như đang đối thoại với ông, đi bên
ông. Có phải là tâm hồn ẩn khuất như người tình, như hình với bóng trong ông?
Tôi nghĩ, giải mã được vấn đề này là tìm được chìa khóa vạn năng để mở ra cánh
cửa thơ Hoàng Vũ Thuật. Nhân vật ấy, không ai khác chính là ông. Một trái tim
lãng đãng đa tình, lại rất lý trí khi cần thiết. Sự phân thân này, không phải
là chia ra hai ngăn trong tâm hồn thi sĩ, trái lại rất thống nhất, đồng điệu.
Đó là tâm cảm chua xót, niềm đau khi con người đang bị cuộc sống xâm hại: “thượng
đế là ai/ chúng ta đón câu trả lời của thế hệ ngoài thế hệ/ ngoài khu
vườn nhỏ bé/ ngoài chen lấn giành giật/ ngoài cướp bóc hãm hiếp nụ cười
tiếng nói/ ngoài đọa đày hơn cả đọa đày/ ngoài ngoài nữa/ thượng
đế chính ta” (Thượng đế).
Đó là niềm khát khao được sẻ chia đồng cảm giữa cuộc đời
đầy biến động và mong manh như làn gió: “em đến không năm mươi năm
sau/ nơi anh nằm bình yên trên thảm cỏ/ tóc và mây thi nhau trắng
xóa/ mây rồi sẽ bay/ tóc em thì dừng lại/ đừng khóc làm
chi/ mà cũng đừng buồn/ chẳng có gì dài lâu chẳng có gì vĩnh viễn/ …/ ai
đưa em về lay phay mưa rơi/ ai đưa em về đường dài chơi vơi” (Năm
mươi năm sau).
4. Thơ ông trữ tình, nhưng đầy triết lý. Tính triết lý trong
thơ Hoàng Vũ Thuật không đao to búa lớn, không hô hào sáo rỗng, không cao giọng
mà nhẹ nhàng thủ thỉ như một lời tâm tình. Ông nói về thời cuộc, về nhân tình
thế thái bằng ngôn ngữ trừu tượng nhưng không đánh đố, chơi trò ú tim với người
đọc. Chỉ cần ta khẽ khàng lật giở từng trang thơ, hòa mình trong từng con chữ,
tự khắc “những phần chìm của tảng băng thơ Hoàng Vũ Thuật” sẽ hiện lên rưng rức,
sống động, như cây vẫn xanh ngoài lời.
5. Theo dõi ông trên các báo, tạp chí văn nghệ và các phương
tiện truyền thông khác, bạn đọc đều thấy các nhà thơ, nhà phê bình trong và
ngoài nước đều nhìn nhận Hoàng Vũ Thuật là người luôn ráo riết đổi mới thơ mà
nhiều nhà thơ cùng tuổi đã bỏ qua. Ông không viết theo lối cũ, chạy theo thời
thượng chung chung, cảm xúc giống nhau hoặc lẫn vào nhau – vốn là di chứng một
thời còn sót lại của nền văn học sắp sẵn, khuôn mẫu, định hướng nghệ thuật một
chiều. Vì thế thơ ông được độc giả muôn nơi và người phê bình tin cậy tìm đến.
Hình ảnh người nghệ sĩ tài hoa của mảnh đất miền Trung gió Lào cát trắng ngày
ngày cặm cụi, cần mẫn gieo lên những mầm xanh giữa hoàng hôn cuộc đời luôn là
nguồn cảm hứng lớn lao cho độc giả và những người viết trẻ.
Tôi đã đọc đâu đó trong một cuốn giáo trình, rằng đầu những
năm 60 của thế kỉ trước, nhân dịp người Nga phóng con tàu vào vũ trụ, người ta
đã phát động một cuộc trưng cầu ý kiến lớn rằng, liệu con người có cần đến văn
học nghệ thuật nữa không? Ngày hôm nay, giữa thời đại công nghệ số và trí tuệ
nhân tạo, câu hỏi đó lại tiếp tục xuất hiện và câu trả lời vẫn chỉ một: “Dù
con người có bay lên vũ trụ đi chăng nữa, thì trong con tàu vũ trụ ấy vẫn cần một
nhành hoa lila”. Đó cũng là lí do mà những người nghệ sĩ như nhà thơ Hoàng
Vũ Thuật cứ cặm cụi viết, cặm cụi in, cặm cụi gửi tặng độc giả gần xa, mặc đây
đó vẫn có người thờ ơ, kẻ lạnh lùng, nhìn nhận đánh giá chưa đúng mức thoả
đáng.
TP.HCM, 8/12/2019
Vi Huyền Vi
Theo https://vanhocsaigon.com/
Cảm thức thời gian trong thơ Mai Văn Phấn
Cảm thức thời gian
trong thơ Mai Văn Phấn
“Tiếng thở dài bay đi lớp bụi thời gian, ta sửng sốt thấy
hồn vía tổ tiên trong nét hoa văn đình làng, trống đồng, ngọn tháp… Những thân
phận khóc cười đêm ngày làm kén ở hồn ta” – Mai Văn Phấn.
Tác phẩm của Mai Văn Phấn: – Giọt nắng (thơ, NXB Hải Phòng,
1992); – Gọi xanh (thơ, NXB Hội Nhà văn, 1995); – Cầu nguyện ban mai (thơ, NXB
Hải Phòng, 1997); – Nghi lễ nhận tên (thơ, NXB Hải Phòng, 1999); – Người cùng
thời (trường ca, NXB Hải Phòng, 1999); – Vách nước (thơ, NXB Hải Phòng, 2003);
– Hôm sau (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2009); – và đột nhiên gió thổi (thơ, NXB Văn học,
2009); – Bầu trời không mái che (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2010); – Thơ tuyển Mai
Văn Phấn (thơ cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn, 2011); – hoa giấu mặt (thơ,
NXB Hội Nhà văn, 2012); – thả (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2015); – Tĩnh lặng (NXB Hội
Nhà văn, 2018); – Thời tái chế (NXB Hội Nhà văn, 2019).
Mai Văn Phấn thuộc thế hệ những nhà thơ từng thấm đẫm nước mắt
của chiến tranh Việt Nam và khá nổi tiếng bên cạnh Nguyễn Quang Thiều, Trương
Đăng Dung, Hồ Thế Hà, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Lương Ngọc, Inrasar, Giáng Vân,
Đoàn Thị Lam Luyến… Là thế hệ chuyển giao nhiệm vụ của lịch sử, họ phải gánh chịu/chứng
kiến sự hủy diệt của hàng tấn bom đạn vô nghĩa ngay từ thời khắc họ được/bị
sinh ra; và họ cũng là những người được/bị sống để tiếp tục xác nhận những hậu
quả tàn ác, dai dẳng của chiến tranh để lại trên nhiều phương diện cho đến tận
hôm nay. Họ ra đời trong những khoảnh khắc kì lạ, gắn liền với những chiến dịch
chấn động địa cầu. Sinh mệnh của họ dù không muốn cũng phải cùng chịu đựng những
khổ đau của dân tộc ở thời điểm này. Mai Văn Phấn cũng là một trong những trí
thức ưu tú đã từng bị khủng hoảng sâu sắc trước những biến động của lịch sử ấy.
Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng và được nhận nhiều giải thưởng
danh giá của quốc tế (đến nay, tháng 10. 2019, thơ ông đã được dịch ra hơn 30
ngôn ngữ và đang tiếp tục được dịch ra các ngôn ngữ khác nữa). Thời gian là vấn
đề muôn thuở của chân lý vĩnh hằng, có sức ám gợi mãnh liệt từ triết học đến
thi ca nhân loại. Hiện thể thời gian trong tác phẩm là một trong những phạm trù
thẩm mỹ góp phần khẳng định phong cách riêng và tài năng nghệ thuật của Mai Văn
Phấn.
1. Vòng cung thời gian hay là nghệ thuật xóa mờ
ranh giới thời gian và con người.
Ở phương Tây, các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Proust,
Gide, Virginia Volf, Joyce, Dos Passos, Faulkner, Shakespeare… đều đã có cách
biểu đạt, cách huỷ hoại thời gian vật lý theo những cách khác nhau. Nhà thơ có
thể cắt bỏ quá khứ và tương lai, rút gọn thời gian vào khoảnh khắc trực giác của
tâm cảm. Dos Passos biến thời gian thành một ký ức hạn chế và máy móc. Proust
và Faulkner chặt đầu thời gian. Họ tước bỏ tương lai của thời gian, tước bỏ chiều
lựa chọn và hành động tự do của con người. Shakespeare lại biểu đạt thời gian
hai mặt, nỗ lực chiến đấu, nỗ lực đối thoại, tranh biện với thời gian, không tiếc
nuối thời gian… Ở Việt Nam, tạm không nhắc đến các bậc thi tài trong văn học
Trung đại, các nhà thơ cùng thời với Mai Văn Phấn cũng đã có những quan niệm,
những biểu đạt thời gian khác nhau. Mỗi nhà thơ đều có một phong cách riêng,
góp phần làm sinh động/ tự hào thêm cho đời sống thi ca Việt không chỉ đối với
bạn đọc trong nước mà còn ở nước ngoài. Chẳng hạn, hầu hết các bài thơ của
Trương Đăng Dung cũng là những triết lý về thời gian (Thời gian đi trên những lối
mòn không thể thấy. Thời gian ở trong máu, không lời/ ẩn mình trong khoé mắt,
làn môi/ trong dáng em đi nghiêng nghiêng như đang viết lên mặt đất thành lời/
về kiếp người ngắn ngủi; Sợ thời gian rình trong từng sợi tóc)…, nhà thơ có sự
nuối tiếc thời gian vùn vụt trôi qua, đôi khi đến sợ hãi. Thời gian trong thơ
Trương Đăng Dung chính là con người, là thời gian gắn liền với nỗi cô đơn lặng
lẽ, là quá trình sống, suy ngẫm về cuộc đời và cái chết, là sự trăn trở, tác động
dữ dội của những hệ tư tưởng Châu Âu trong tâm thức con người Á Đông. “Đó là sự
lặng lẽ của một tâm hồn, của một con người nặng lòng với ký ức, nặng lòng với
những duyên nợ nhân gian. Lặng lẽ để chuẩn bị cho những đợt sóng ngầm dữ dội của
dòng sông không biết trôi về đâu. Lặng lẽ và kiếp người” [1]. Còn trong thơ Hồ
Thế Hà, ám ảnh thời gian sống khá mãnh liệt. Một bài thơ ra đời như một minh chứng
cho phương châm tiết kiệm thời gian sống dành cho lao động nghệ thuật của ông.
Thời gian hiện tại trong thơ Hồ Thế Hà gắn bó mật thiết với không gian tâm tưởng…
Và rõ hơn cả là thời gian sáng tạo của thi sĩ ẩn trong cấu trúc câu thơ. (Thời
gian uống từng giọt giọt nước/ không gian ép từng xác xác lá/ triệu năm phục
sinh mùa!). Tác giả ít dùng đến từ thời gian “nhưng ý thức tiết kiệm thời gian
để sáng tạo, để dành niềm vui cho bè bạn, cho những cuộc chơi thi sĩ và hơn cả
là cho đời sống chung của xã hội con người hiện tồn trong các bài thơ”[2]. Thơ
Mai Văn Phấn cũng đã góp thêm một phương cách thể hiện trực diện với thời gian,
song hành với thời gian, không tiếc nuối thời gian. Bởi mỗi sát – na trôi qua
ông đã tận hiến nghiêm túc, có ý nghĩa trong sáng tạo nghệ thuật, trong hành xử
đẹp với những con người sống bên cạnh mình, trong xã hội. Những cống hiến và
khát vọng của Mai Văn Phấn xứng đáng được bạn đọc dành cho nhà thơ nhiều sự mến
mộ. Nhìn chung, thơ ông mang “căn tính” dân tộc. Xuyên suốt ý tưởng trong
các tập thơ của ông là ước mơ tự do, bình đẳng và dân chủ của dân tộc Việt Nam.
Đó là một khối cảm xúc cô đọng được biểu đạt bằng ngôn từ thông qua thế giới nội
tâm, đồng thời hiển thị những bức tranh sống động về lịch sử, về xã hội đương
thời. Mỗi tập thơ của ông đều chất chứa khát vọng của dân tộc, đồng thời là một
cánh cửa mới được mở ra, giúp người đọc thưởng ngoạn thế giới. Nhiều người cho
rằng, thơ cũng như con người Mai Văn Phấn góp phần giúp người đọc hiểu cuộc sống
và nhiều tầng văn hóa.
Cảm thức thời gian trong thơ Mai Văn Phấn có sự chuyển biến từ
thời gian đơn tuyến, không gian hình học phẳng sang thời gian đa tuyến tính,
không gian đa chiều qua các giai đoạn sáng tác. Vậy điều gì đã góp phần tạo nên
điểm riêng về nghệ thuật biểu đạt thời gian trong thơ Mai Văn Phấn? Thế kỷ 20 với
xu hướng phương Tây hóa toàn cầu đã ảnh hưởng đến châu Á, trong đó có Việt Nam.
Song song với văn hóa là sự phát triển của khoa học tự nhiên và công nghệ, các
mô hình xã hội dân chủ, quyền con người, những hệ hình tư tưởng mới của châu
Âu… có tác động mạnh mẽ đến các trí thức Việt Nam. Các vấn đề về tôn giáo như
Ki-tô giáo, đạo Phật… góp phần xóa nhòa ranh giới Đông Tây xét về mặt tâm linh.
Theo đó, quan niệm về thời gian sống chết của con người, của vũ trụ trong tác
phẩm nghệ thuật vì vậy cũng dần mất ranh giới. Đồng thời, quá trình dung hợp
các xu hướng nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại đến Việt Nam có ảnh hưởng từ nội
dung đến hình thức thơ Mai Văn Phấn. Tất cả những điều đó đã thấm quyện trong
thơ dù ông có ý thức tạo ra kiểu thời gian nghệ thuật của riêng mình hay không
thì tất cả những yếu tố này cũng hiện hình trong thơ như là một minh chứng sống
động của thi sĩ. Ngay từ tiêu đề các tập thơ (đó là chưa kể tiêu đề các bài thơ
cụ thể) đều đã cho thấy thơ Mai văn Phấn ngập tràn thời gian. Các từ chỉ thời
gian trực tiếp đã cho thấy một khoảng tĩnh lặng lạ lùng, bí ẩn với thời gian của
Mai Văn Phấn trong thơ. Có 10/14 tác phẩm chúng tôi khảo sát đều có từ biểu
đạt thời gian ngay từ tiêu đề.
– Giọt nắng (thơ, NXB Hải Phòng, 1992)
– Gọi xanh (thơ, NXB Hội Nhà văn, 1995)
– Cầu nguyện ban mai (thơ, NXB Hải Phòng, 1997)
– Người cùng thời (trường ca, NXB Hải Phòng, 1999)
– Hôm sau (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2009)
– đột nhiên gió thổi (thơ, NXB Văn học, 2009)
– Vừa sinh ra ở đó (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2013)
– thả (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2015)
– Tĩnh lặng (NXB Hội Nhà văn, 2018)
– Thời tái chế (NXB Hội Nhà văn, 2018)
Trong các tập thơ đó, Mai Văn Phấn có nhiều bài thơ có tiêu đề
trực tiếp và gián tiếp nói đến thời gian:
– Trực tiếp dùng từ “thời gian” để khái quát quan niệm về
thời gian: Vòng cung thời gian, Đối thoại với thời gian…
Thơ Mai Văn Phấn có sự hòa hợp với thời gian, thích nghi với
sự vận hành của thời gian, chủ động đón đợi thời gian, bình tĩnh chờ thời gian
đến, cảm nghiệm, trải nghiệm thời gian trong từng cung bậc cảm xúc của con người.
Nhà thơ không sợ hãi trốn chạy khỏi thời gian, cũng không chạy đua hay đố kỵ với
thời gian, không tiếc nuối thời gian. Thi sĩ thấy rõ mình đang hành xử đúng mực
với từng sát- na thời gian, chiêm nghiệm, trải nghiệm; chơi với nó một cách thú
vị như trò xúc xắc. Thời gian trong thơ ông chính là con người!
Níu thời gian cong. Bốn mùa đổ từng khoảnh khắc. Sóng nước
dâng cao nơi vàng rực hoa quỳ. Lãng đãng con thuyền ngõ vắng. Tiếng gọi mơ hồ
dâng ngọn tháp vút cao. Vài gương mặt trôi đi làm nhầm lẫn cảm quan, ý nghĩ, nhầm
lẫn thứ tự trang sách, rối tung tàn tro và đám cỏ gai. Những điều vô tình bất
ngờ hé lộ.
Bất ngờ dưới vòng cung thời gian, em và anh gồng mình chống đỡ,
những mũi tên độc bị chặn lại trong vòm trời rách toạc. Tâm bão cách chúng ta
chỉ một tầm nhìn. Áp tai vào vách lũ bình yên.
Từ một điểm bất kỳ tới chỗ con mèo chơi với miếng giẻ lau là
đường chân trời. Mặt đất đang dần co lại. Vòm thời gian cong quá sẽ vỡ. Hơi thở
thác nước dựng em chất ngất, mát khôn nguôi.
Chạm âm thanh em, môi anh vỡ trăm ngàn quả chuông khác nữa.
Không gian mở ra những nếp gấp rộng thênh.
Con chim xoải cánh trong mưa, không ảo giác lao đầu xuống nước.
Nơi mũi tên rơi, mặt đất rung lên đẩy ta tới một đích khác.
(Vòng cung thời gian)
Thấu cảm với vẻ đẹp của thời gian cũng như sự vô tình, độc lập
của thời gian nên Mai Văn Phấn đã chơi với nó như những người bạn có nhiều cung
bậc cảm xúc, nhiều biến ảo sắc thái thú vị qua mỗi mùa, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi
năm. Thời gian có hình thù cụ thể, có cảm xúc, lúc yêu thương vỗ về, lúc giận hờn
vô cớ đột ngột ra đi, lúc trở về nũng nịu êm ái như trẻ thơ, lúc đỏng đảnh, đam
mê, ham muốn như thiếu nữ dậy thì đang yêu, lúc lãng mạn sướt mướt qua những
khu vườn, khoảng không, vũ trụ bao la; lúc trở về với màu sắc sặc sỡ, thơm tho,
đầy hấp dẫn, đầy thân thương của tuổi thơ qua hình ảnh quả hồng, quả na chín
trên bàn thờ tổ tiên…Ấn tượng đầu tiên với người đọc là cảm thức về thời gian
tuần hoàn theo Mùa đầy ắp trong thơ Mai Văn Phấn. Ở đây chúng tôi chỉ dẫn ra/tạm
thời phân nhóm một số bài thơ tiêu biểu được nhiều bạn đọc quan tâm chú ý.
+ Bạn tâm giao Xuân:
Rượu xuân, Gió xuân, Cuối xuân đầu hè, Nước mùa xuân, Dấu
hiệu mùa xuân, Mười bài tập mùa xuân, Đêm lập xuân, Mùa xuân, Giai điệu
xuân, Gặp mùa xuân, Đầu năm, Đêm đầu năm, Lập xuân, Đón giao thừa, Sáng mồng một,
Ngày đầu năm, Giữa xuân, Vẫn còn tết, Nắng xuân, Khát vọng đầu năm, Cuối tháng
giêng, Mưa xuân tới, Mùa, Sáng xuân, Xuân còn trong đất, Mưa đầu mùa, Mưa xuân,
Cuối xuân, Đêm giao mùa, Xuân tràn, Xuân đi, Tháng Giêng, Tắm đầu xuân…
+ Bạn tình đỏng đảnh: Thu
Thu chậm, Bầu trời thu, Hạt mưa thu, Trưa mùa thu, Nắng tháng
Tám, Thu chín, Cuối thu, Thu, Nắng cuối thu, Trung thu năm nay, Tiễn mùa
thu,Thu qua,Chớm đông, Trời trở lạnh, Gió mùa về, Trong sương mù, Khúc cảm mùa
thu, Gom nhặt cuối mùa, Thoáng thu, Thu về, Nỗi nhớ mùa thu, Ký sự mùa
thu, Đầu thu, Nhịp thu về, Quyền lực mùa thu, Những bông hoa mùa thu, Thu đến,
Ngày thu ở nước Nga, Sắp hết thu, Sang thu, Sáng lập thu, Cảm giác mùa thu,
Thu đầy…
+ Bạn ấp ủ niềm yêu thầm kín: Đông
Mùa đông đến, Đêm đông, Giữa mùa đông, Sáng mùa đông,
Đêm lạnh, Gió đông,…
+ Bạn đam mê và đầy năng lượng : Hạ
Mưa cuối hạ, Sáng mùa hè, Mùa hạ rất gần, Ngày nóng nực,
Giữa hạ, Nắng lên cao, Ngày hè, Trời nắng nhìn ra vườn, Thay mùa, Tiếng trưa,
Mùa nhãn chín,Quả bàng chín trong đêm,…
+ Kẻ vô tình: Sát na
Ngày tháng: Ngày đẹp trời, Ngày mới, Ngày nắng đẹp,
Ngày mưa vào lễ Phật, Ngày nồm, Ngày thanh minh, Thanh minh ngày nắng, Ngày
biển động, Ngày ngắn, Ngày mới, Ngày mai trời lạnh, Ngày sắp hết, Một
ngày, Ngày cuối, Đầu tháng…
Sáng: Kinh cầu ban mai, Lúc mặt trời mọc, Dấu vết bình
minh, Buổi sáng lên Yên Tử, Vô tình trong nắng sớm, Mở trong bình minh
khác, Giả thiết cho buổi sáng hôm sau, Có mặt trời, Trong sương sớm,
Dậy sớm, Sương sớm, Rạng đông, Gần sáng, sớm, Sáng nay, Sáng sớm, Nắng
lên, Rạng sáng, Sớm nay, Mặt trời lên, Nắng mới, Mặt trời lên nhanh,
Trời nắng, Mưa ban mai, Hừng đông mép nước, Bình minh, Ngày rạng,
Lại khởi đầu, Ban mai thanh sạch, Còn sớm,…
Chiều: Chiều, Chiều Trà Cổ, Con sông về chiều, Nắng
chiều, Chiều tà,…
Hoàng hôn: Hoàng hôn, Qua hoàng hôn, Trời tối, Hoàng
hôn đến, Mặt trời sắp lặn, Tối dần,…
Đêm: Bầu đêm, Đêm, Đêm hoa nở, Tiếng côn trùng đêm, Bóng
đêm, Đêm mưa, Biến tấu đêm mưa, Đêm qua mơ, Đêm bắt đầu, Đêm, Đêm đến vội, Đêm
đến rồi, Nửa đêm tỉnh dậy, Đêm xuống nhanh, Đêm tối ra vườn, Đêm qua nghĩa
trang, Nửa đêm mưa tạnh, Biển lẫn vào đêm, Đêm trăng, Sông đêm, Chiều
xuống, Bão đêm, Trăng lên …
Hôm qua: Tờ lịch hôm qua, Ngoảnh lại góc phố hôm
qua,…
Hiện tại: Bây giờ mưa phùn, Người cùng thời, Thời tái
chế,…
Khoảnh khắc, giao mùa, giao ngày: Sát na, Mũi tên bóng
tối, Triều xuống, Thủy triều lên, Mùa Trăng, Tỉnh dậy trong mưa, Giấc mơ, Chuyển
mùa, Hai thời đại, Hạt mưa giao thừa, Ngày và đêm, Gió đầu mùa, Tin
nhắn lúc giao thừa, Hai mùa…
“Mùa màng”: Ngày mùa, Mùa hái quả, Mùa gặt, Sau
mùa gặt, Hát giữa hai mùa, Bài hát mùa màng, Đợi mùa, Mùa vải, Đã
sang vụ mùa, Mùa hoa mận, Mùa ổi,…
Từ khảo sát số lượng các bài thơ trên có thể có người cho rằng
Mai Văn Phấn yêu mùa Xuân. Thực chất không phải như vậy. Đọc các tập thơ mới thấy
ông tận hiến với tất cả các mùa, dừng chân hầu hết với các điểm thú vị của tất
cả mọi dạng kiểu thời gian. Ông yêu tất cả mọi sắc thái biến chuyển có khi chậm
chạp nặng nề, có khi đột ngột dữ dội, có khi âm thầm tha thiết, có khi đỏng đảnh
kiêu kì, có khi ngây thơ hồn nhiên ríu rít như đứa trẻ, có khi lạnh lùng kinh
hãi như một cảnh sát viên đang đứng sau lưng tội phạm, có khi như một người từng
trải, nhiều kinh nghiệm luôn đứng bên cạnh con trẻ để nhắc nhở, khuyên bảo họ
hãy sống có ý nghĩa hơn, hãy tận hiến không vô nghĩa trong từng khoảnh khắc, từng
sát – na của thời gian. Dẫu vậy, những giây phút tĩnh lặng nhất của ông vẫn đọng
lại rõ ở những bài thơ ông viết về mùa Thu. Đây có lẽ cũng là mùa ông dành nhiều
sự luyến lưu nhất, phù hợp nhất với phong cách con người Mai Văn Phấn. (Bao lần
xanh biếc rong chơi/ Mấy lần úa rụng tiếng người vọng theo/ Thôi em! Ðừng vặn!
Ðừng khêu! Ðáy thu thắp sáng trên nhiều ngọn cây/ Anh vừa đọng xuống thu gầy/
Ðã đông thành đá phủ đầy rêu xanh – Khúc cảm mùa thu). (Hoặc: Hôn
em/ Toàn thân anh/ Chín rực – Cuống của mùa thu). (Hay: Nỗi nhớ biến
thành sương khói/ Lá khô thoát xác bay lên/ Tôi thì nồng nàn như đất/ Để
em linh ẩn chùa chiền – Thoáng thu).
Nhìn lại lịch sử thi ca chúng ta thấy rõ các kiểu thời gian
phổ biến trong thơ là thời gian lịch sử, thời gian hiện tại với cảm nhận cá
nhân, thời gian hoài niệm. Biểu tượng của thời gian trong thơ có thể là buổi
chiều: hoàng hôn, chiều tà gợi nỗi buồn, gợi khoảnh khắc cuối ngày; là buổi
sáng: bình minh, tương lai huy hoàng, tươi sáng, sự bắt đầu; là mùa xuân: mùa bắt
đầu một năm và tượng trưng cho sức trẻ… Thời gian có thể được biểu đạt trực tiếp
qua các chân lý ngay chính trong những câu thơ có từ “thời gian”, hoặc cũng có
thể được biểu đạt bằng cách dùng từ chỉ thời gian: buổi sáng, trưa, chiều tối,
mùa xuân, hạ, thu đông… nhưng thời gian cũng có thể được thể hiện bằng hình ảnh
biểu tượng gián tiếp mang tính ước lệ, là những thời khắc trăn trở với hiện hữu
của thân phận con người. Trong thơ Mai Văn Phấn, thời gian được hiện thể bằng cả
hai phương pháp này. Ông đã chơi với thời gian, xóa nhòa ranh giới giữa các
mùa, xóa nhòa ranh giới thời gian và con người bằng sự nhạy cảm lãng mạn, khắc
khoải về sự thay đổi của cuộc sống trong xúc cảm thi sĩ. Có thể đây là thi giới
nghệ thuật, còn phần riêng trong đời sống thực của nhà thơ có thể khác, nhưng
Mai Văn Phấn đã diễn đạt được vòng quay về thời gian sống của con người bằng
nghệ thuật ngôn từ. Ông lặn sâu vào thời gian, lúc thì đứng trong thời gian,
khi thì đứng ngoài/ trên thời gian để quan sát, chiêm nghiệm, thưởng thức, chơi
đùa theo các thế đi với nó như người chơi cờ, nhưng mặc nhiên không tính toán
được thua. Trong trò chơi ấy con người được hiện hữu như một chủ thể chủ động,
nỗ lực tác động lên trò chơi để được sống như là mình, như cách ông đã nghĩ về
thời gian Ngày và Đêm là:
Nơi mình ngồi đánh cờ
Được thua
Đom đóm đang tụ lại
(Ngày và Đêm – Mai Văn Phấn)
2. Tĩnh lặng với thời gian
Tĩnh lặng có lẽ vẫn là thời gian có ý nghĩa nhất đối với con
người. Đó là thời gian để con người lắng đọng, sống chậm hơn, có điều kiện để sống
cho mình và chia sẻ cảm xúc sống với người. Con người sống bên nhau trong thực
tế bằng xương bằng thịt nhưng nhiều khi chưa hẳn đã thấu hiểu, đã chia sẻ được
cùng nhau. Họ cần những khoảng lặng với vô vàn những câu hỏi động, hay nói cách
khác họ chỉ gặp và an ủi được nhau trong những phút tĩnh lặng với thời gian.
Tĩnh lặng với thời gian trong thơ Mai Văn Phấn gắn liền với những khắc khoải của
nhà thơ về tồn tại, về đời người. Những khoảnh khắc tĩnh lặng trong thơ ông
không phụ thuộc nhiều vào quy luật tuần hoàn của vũ trụ, không bị chi phối nhiều
bởi vòng cung thời gian.
Bên cạnh những bài thơ trực tiếp dùng từ chỉ thời gian ngay ở
tiêu đề, Mai Văn Phấn còn có nhiều bài thơ, nhiều câu thơ được vận dụng khéo
các kiểu từ loại khác có tính kí hiệu mô tả thời gian như: mặt trời,
trăng, tờ lịch, bông cúc trắng, mùa lá rụng, hoa sen, sen tàn, tàn phai,
kiếp, phai nhạt, cá… Ví dụ: Đích: Chiếc lá mùa
xuân/ Rơi/ Trúng mùa hè; Những con ve: Râm ran/ Như
kêu cả/Năm sau; Hoa sen rụng: Trông xa/ Cánh sen/ Phủ kín gốc; Bông
cúc trắng: Hoàng hôn/ Chầm chậm/ Nhuộm thẫm; Xác con bướm: Dựng/ Rưng
rưng/Gió thu; Trăng sáng gốc cây: Trên bàn thờ/ Quả hồng/ Vừa chín; Sen
tàn: Trăng sáng/ Mặt đầm/ Lửa cháy. Lá rụng: Gió thu/ Giữ mãi/ Mới thả
xuống đất; Cuống của mùa thu: Hôn em/ Toàn thân anh/ Chín rực; Con
nhện: Giăng cố đường tơ, Ngày mai/ Hết thu; Cá: Ngoi lên mặt nước/ Gió
mùa/ Về từ chiều qua; Nhớ em: Ánh trăng/ Đổ lên người/ Cũng nặng…
Nhưng có thể nói trong nhóm này Con mắt nghiêng là tác phẩm điển
hình, độc đáo của Mai Văn Phấn diễn tả quá trình trải nghiệm sự biến chuyển
tĩnh lặng của thời gian. Nội dung bài thơ từ khổ 1 đến khổ 99 đều chan chứa những
trăn trở lặng thầm của nhà thơ về thời gian, về tác động độc lập của thời gian
lên vạn vật, lên vũ trụ. Trong những khoảnh khắc đó chỉ có con người mới ý thức
được nó đã lặng thầm phá hủy, cộng tác, vô tình chia rẽ, đồng thời đang tìm
cách dấn thân với chính cuộc đời con người như thế nào. Những giây phút tĩnh lặng,
suy ngẫm về giá trị của thời gian được chuyển tải trong một kết cấu bài thơ dài
99 khổ, 3 câu theo kiểu này thì ở Việt Nam chỉ có ở thơ Mai Văn Phấn. (1.Góc
vườn/ Nước đổ xuống phiến đá/ Hoàng hôn trôi nhanh … (Lược bớt 97 khổ
thơ). 99.Được mùa/ Đàn kiến tha thức ăn/ Lên tay Phật – Con
mắt nghiêng).
Xét về mặt tư tưởng, thơ Mai Văn Phấn có cội nguồn xuất phát
từ nhiều quan niệm khác nhau của ông về thời gian, về thế giới. Ông ý thức rõ sự
dung hợp của các nền văn hóa Đông – Tây đang ảnh hưởng đến Việt Nam và ứng xử với
nó theo nhiều cách khác nhau tùy vào mỗi khoảnh khắc. Tĩnh lặng với thời gian
trong thơ ông trước hết là ở ý thức về kiếp sống, về sự tồn tại ý thức khác biệt
của thi sĩ trước mọi dịch chuyển của thời gian. Bước chân thời gian tồn tại
cùng cảnh huống theo mỗi nơi ông đi qua, mỗi khoảnh khắc cảm xúc chợt đến. Thời
gian trong thơ ông vì vậy không chỉ là thời gian tuyến tính, luân phiên theo
quy luật vũ trụ, quay vòng nhanh chóng trôi qua vận mệnh con người mà còn là thời
gian đa tuyến tính, thời gian của những mảnh vỡ tâm hồn của con người thời hiện
đại. Nó cũng là những khoảnh khắc, từng sát na tĩnh lặng, thiền định trong đời
sống nghệ sĩ. Đó cũng có thể là thời gian của những buổi chiều hoàng hôn, của
mùa thu chờ đợi, những khoảnh khắc giao mùa, khoảng thời gian cách xa cách, đổ
vỡ tê tái lòng của con người được thể hiện trong tâm cảm. Thời gian gắn với chủ
thể thi sĩ từng trải với nhiều câu hỏi hỏi khó dành cho văn hóa, lịch sử dân tộc;
sự dịch chuyển không ngừng của thế giới. Thời gian tĩnh lặng luôn có mặt trong
hành trình ông tìm kiếm những điều không thể thấy trong đời sống thật. Nhiều
tác phẩm có sự xuất hiện của tư duy triết học Phật giáo, tạo sinh thêm một thế
giới sống độc đáo trong thơ. Ở đó, con người tồn tại trong thời gian hiện thực
và chuyển hóa song song thành thời gian vĩnh hằng trong không gian vô tận. Thời
gian trong thơ Mai Văn Phấn như một phương thức tồn tại của thế giới nghệ thuật.
Nó có vai trò quan trọng trong việc tái tạo thực tại nghệ thuật, tổ chức nên nội
dung và hình thức tác phẩm để khám phá thế giới và con người theo cách riêng của
thơ. Nó vừa là khách thể vừa là chủ thể, vừa là phương tiện phản ánh. Thời gian
trong thơ ông còn chịu sự chi phối bởi tư tưởng triết học, mỹ học của thời đại,
dân tộc, của riêng tác giả. Nó không giống với thời gian khách quan, ngay cả
khi ông muốn diễn tả một sự kiện trong thời gian một chiều, thì quy trình vận
hành của nó cũng không trùng khít với thời gian tự nhiên mà luôn đi theo tâm trạng
của tác giả trước sự biến chuyển của sự vật. Cách thể hiện thời gian nghệ thuật
của ông vì thế mang tính cảm xúc và ý nghĩa nhân sinh, quan niệm nhân văn, tính
chủ động trong sáng tạo của tác giả, góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về
bản chất thực tại đối với con người.
Trang sách
Mở mặt đất chữ
Rừng núi
Sông hồ
Những con đường chữ.
(Lược bớt… 43 khổ thơ. 45.
Tôi thỉnh chuông
Màu vàng
Màu trắng lan đi…
Nó đi cho tới khi
Chỉ còn một đốm trắng –
(Tĩnh lặng – Muôn pháp về một, một đi về đâu? – CÔNG ÁN
THIỀN)
Theo quan điểm nhà Phật mạng sống của con người được tính bằng
hơi thở. Một hơi thở ra mà không hít vào được là kết thúc một sinh mệnh. Trong
ý nghĩa đó, không ai có thể điều khiển, kìm hãm thời gian theo ý muốn của mình.
Thời gian cứ thế ám ảnh, khiến nhà thơ dường như lúc nào cũng thao thức muốn
chuyển sự hữu hạn thành vô hạn. Thơ Mai Văn Phấn thể hiện khao khát làm sao để
không có sự tàn phá của thời gian lạnh lùng, không có nỗi phiền muộn của con
người bởi khả năng phá hủy sắc đẹp, tuổi trẻ và nhiều thứ quý giá khác do thời
gian gây ra. (Bát nước và tôi màu trắng/ Mặt đất ngả vàng/ Cánh đồng phía trước/
Cùng chiếc chuông/ Vàng sậm – Tĩnh lặng, Muôn pháp về một, một đi về đâu?
– CÔNG ÁN THIỀN). Con người cần giác tỉnh vô thường trong cái hữu hạn thân
như ánh chớp có rồi không -Thiền sư Vạn Hạnh; đời người qua nhanh như
ba sinh thấm thoắt như ngọn đuốc trước gió – Tuệ Trung Thượng Sĩ. Sinh
mệnh con người như chỉ trong giấc mộng, đừng mơ màng, khát vọng hưởng thọ trăm
năm – Ý của Trần Thái Tông. Con người có cảm giác sợ hãi khi thời gian cứ
trôi chảy, sinh mệnh con người theo đó mà lụi tàn. Không chỉ thân sắc bị hủy hoại
trong hư không, (thân như bóng chớp có rồi không), vỡ tan như bóng nước mà tâm
thức cũng trở nên u tối như quỷ ám của kiếp người. Vì thế các thi sĩ thường diễn
đạt cảm thức về thời gian bị thu ngắn lại trong thơ qua những hình ảnh sinh động
từ các biểu tượng. Nếu xét từ thuyết luân hồi nghiệp báo, thân mệnh con người
không dừng lại đó. Thời gian cũng chịu quy luật tuần hoàn theo chu kỳ Âm
dương khiên đức bản tiên nhân (Âm dương hoạ phúc vốn xoay vần). Mai Văn Phấn
hiểu rõ rằng, chính trong cái thịnh suy mà con người giác ngộ luôn có những
rung động trực cảm và có thể có những thăng hoa nghệ thuật sẽ để lại cho đời
mãi mãi. Đó là sự hiện thể của tốc độ thời gian vận hành qua các cá thể, qua mỗi
sát – na, con người phải trở lại để đối diện, tĩnh lặng trước những thăng trầm được và mất của
thế gian. (Ánh sáng trên trang sách/ Thu thế giới/ Và tôi/ Thành một
– Tĩnh lặng, Muôn pháp về một, một đi về đâu? – CÔNG ÁN THIỀN). Tại những
phút tĩnh lặng nhất của tâm hồn, tâm thức con người được mở rộng, được tiếp cận
cái vô hạn bao la của trời đất, trong cái tĩnh lặng của hư không, thời gian có
thể nhập vào giác tính con người. Khi ý thức con người đã được giác ngộ,
đối diện với những khoảng tâm thức tĩnh lặng, đời sống tinh thần sẽ được tham
gia vào những chuyến du hành tâm tưởng thú vị. Thơ Mai Văn Phấn vì thế đã góp
phần giúp người đọc hiểu rõ các giá trị tư tưởng thẩm mỹ của nghệ thuật đích thực
luôn có giá trị trường tồn vững bền theo thời gian.
3. Đối thoại với thời gian
Thời gian và sự biến đổi của vũ trụ, của thế giới luôn là vấn
đề quan trọng được các thi sĩ quan tâm. Bản chất của đối thoại là hỏi, nghe, trả
lời, đồng ý. Con người khi đã ra đi nhưng những cuộc đối thoại có ý nghĩa với đời
sẽ luôn ở lại. Mỗi nhà thơ đều trải nghiệm, đối thoại với thời gian theo cách của
mình. Trong hành trình đi tìm cái không thể nhìn thấy, các thi sĩ thường bị
ngăn cách với thời gian, với thế giới về mặt ý hướng, mục đích và sự hiểu biết.
Bức tường ngăn cách bất khả thấu của thời gian vừa thử thách họ, vừa gọi mời họ
đối thoại, vừa khuyến khích họ tìm cách vượt qua. Thời gian với nhà thơ Mai Văn
Phấn không chỉ là thực tại khách quan mà còn là sự hiện diện của một thứ
quyền uy huyền bí vượt trên mọi danh xưng hiện hữu. Nỗi sợ phải chết, nỗi cô
đơn và bất lực của con người trước quy luật thời gian luôn song hành với con
người trong khát vọng trở thành bất tử. Kể cả khi chết đi rồi con người vẫn
chưa thôi trực tiếp đối mặt với những đau thương ai oán của thời gian kiếp người.
Nhà thơ tự do sống trong thời gian sáng tạo nhưng thời gian của vũ trụ vẫn cứ
phải luôn tồn sinh bên cạnh họ. Trước các tạo vật dù đều là con chung của Chúa
nhưng với những sắc tộc, màu da và chính kiến khác nhau, họ vẫn dành nhiều thời
gian Ngày Đêm lãng phí để tìm cách hủy diệt lẫn nhau. Máu xương, tội ác vung
vãi khắp địa cầu dù bao nhiêu đại hồng thủy có kéo đến cũng không quét trôi hết
được. Tội ác loài người kiên trì hiện hữu trước thời gian. Thời gian còn là kẻ
xấu xa dám hủy diệt những thi vật xinh đẹp mà vũ trụ tạo dựng. Thời gian cũng
giúp nhà thơ bừng ngộ trước vẻ đẹp vĩnh cửu của thi ca. Trong thơ Mai Văn Phấn
có phải thời gian cũng là một thực tại huyền bí thách thức tâm cảm của người đọc?
(Không gọi được ai, lạc vào ai
Rượu hút cạn
Ngón tay rỗng buốt
Nín thở nghe nước xiết
Phơi khô ươn ái sông dài
Chảy qua thân
Nặng trĩu bờ vai rậm rịch
Bước chân hốc mắt đi tìm
Oan khiên con đò tự vẫn
Dâng ngang ngực
Nước mắt lửa kéo cày
Hoàng hôn chất ngất hạt giống
Sương giăng dài cơn mơ
(Đối thoại với thời gian)..
Ta chỉ có thể cảm nhận được tinh chất của thời gian khi đang
sống đẹp và không thể hình dung hết bản tính của thời gian khi con người không
còn khả năng để sáng tạo, để nối kết với thế giới quanh mình nữa. Có phải đã đến
lúc con người cũng cần đối thoại với thời gian như là một cách để tìm về nơi
trú ẩn của tâm hồn? Thế gian đang ngập tràn nước mắt, biển cả dù mênh mông cũng
không chứa hết, là lí do níu giữ con người lại phía sau. Đây là những thông điệp
Mai Văn Phấn muốn đối thoại với thời gian. Ba vệt thẫm kéo dài con
đường/ Đầu gút cột vào mù tít/ Níu chúng tôi lại phía sau…(lược bớt 3 khổ
thơ). Sáng đâm chồi từng vệt/ Tối đâm chồi từng vệt/ Non tơ ngọn tóc /
Hút cằn khổ đau/ Đèn vụt lóe cắt không gian thành thửa/ Ánh sáng chảy
thông bổn phận. (Đối thoại với thời gian). Nhiều lúc dù không cố ý
viết về thời gian nhưng cảm thức thời gian vẫn luôn hiện hữu trong thơ ông. Những
câu thơ diễn tả cảm nghiệm về thời gian độc đáo trong các tác phẩm cũng là những
điểm nhấn của trò chơi này. (Muôn hạt sương/ Từ đêm tối/ Sóng reo ngoài
bãi/ Dồn đại dương/ Đi qua tôi/ Nước thấm vào tôi/ Những
cánh đồng/ Dấu chân gặp nhau/ Cây trong vườn vươn dậy – Nước
đang chảy qua trái đất); Trong thơ Mai Văn Phấn có quá trình dịch chuyển từ thời
gian của nhịp sống thuần nông thôn sang lối sống đô thị trong từng khoảnh khắc.
Tâm lí tĩnh tại tiếp nhận thời gian kiểu trung cổ chuyển sang tâm lí âu lo của
thời hiện đại xuất hiện trong những tập thơ gần đây của Mai Văn Phấn. Thời gian
trong thơ ông phản ánh quan niệm thẩm mĩ lấy chính sự vận hành của cuộc sống
con người làm thước đo cho tạo hóa, cho mọi biến đổi, dịch chuyển. Từ những kết
hợp từ lạ, Mai Văn Phấn đã cho người đọc thấy rõ uy lực của thời gian luôn thường
trực trong mỗi khoảnh khắc biến đổi của đời sống. Đó có thể là thời gian tàn
phá sinh thái, là sự hủy diệt kinh khủng đến cả những sinh vật đẹp đẽ nhất vốn
được tạo hóa mang lại. Thời gian mang đến tuổi già, cái chết, sự vô tình lãng
quên khắc nghiệt của con người. Bản thân thời gian cũng chính là chủ thể đối
thoại với cuộc sống của hiện tại. Thời gian là sự “có mặt” của tác giả trong mỗi
khoảnh khắc biến chuyển của vũ trụ: Bây giờ mưa phùn, Người cùng thời,
Thời tái chế,… Tiếng thở dài bay đi lớp bụi thời gian, ta sửng sốt thấy hồn
vía tổ tiên trong nét hoa văn đình làng, trống đồng, ngọn tháp… Những thân phận
khóc cười đêm ngày làm kén ở hồn ta… (NGƯỜI CÙNG THỜI). Mai Văn Phấn đã sống
với thời gian hiện tại, đo đếm từng nhịp thời gian bằng ngôn từ. Mỗi khoảng lặng
của mỗi tập thơ đều thể hiện mỗi khoảng khắc ngậm ngùi nhân văn, sự cô đơn khủng
khiếp của con người khi hiểu rõ về giới hạn sự tồn tại. Cuộc sống con người
luôn phải chịu những áp lực mạnh mẽ và quyết liệt của trật tự xã hội. Trật tự
xã hội bị đảo lộn, hiện thực thế giới đầy rẫy bất an kéo theo đó là sự hoang
mang, lo lắng của mỗi người. Sống trong đó, con người luôn có những khát khao
cháy bỏng. Họ khát khao được thoát ly khỏi cuộc sống hiện tại, khát khao được sống
là chính mình, được hòa hợp với tự nhiên… không phải vướng bận bởi những điều
vô nghĩa. Ý nghĩa cuộc sống con người như thế không gì khác ngoài sự đam mê hay
khao khát mãnh liệt một điều gì đó trong cuộc đời. Một ngày nào đó điều này có
khả năng sẽ chế ngự trái tim, linh hồn và thể xác chúng ta. Nó có thể cháy mãi
tới khi ta chết. Nếu con người biết trải qua nỗi khao khát, đam mê sâu sắc ấy
theo hướng thiện thì họ sẽ không sống vô ích. Nếu hành xử ngược lại, nỗi khao
khát, đam mê sâu sắc có thể trở nên độc ác bất nhân ngay cả với chính bản thân
mình. Có thể vì điều này mà Mai Văn Phấn đã dành trọn thời gian sống của mình
cho tình yêu đời, yêu con người, tận hiến với cái đẹp nghệ thuật. Thơ ông giúp
người đọc thức tỉnh sự trân trọng đối với từng giây phút của thời gian sống. Thời
gian trong thơ ông không chỉ gắn với một khối thống nhất, tĩnh tại, tuần hoàn,
lặp đi lặp lại của thế giới, mà còn được kiến tạo lại với ý thức phải tách mình
ra như một cá thể sáng tạo độc lập, có tiếng nói, cảm nhận riêng, có phương
pháp biểu đạt riêng. Thời gian có sự tách biệt qua các thời, có sự không đồng
nhất giữa con người và vũ trụ. Thời gian vũ trụ chỉ có bốn mùa, thời gian con
người biến đổi theo bản năng sống mong muốn luôn được kéo dài thêm. Mai Văn Phấn
không cố ý kéo dài thời gian sống sinh học theo ham muốn thực thể sống, ông cố
tình lồng ghép vào trong mỗi bài thơ ý thức về thời gian sáng tạo. Ông đối thoại
với thời gian, thể hiện sự biết rõ về nó, tìm cách sống nhiều hơn thời gian,
nhiều hơn cả không gian theo xúc cảm tâm – linh – hồn của ông. Đọc thơ ông vì
thế có thể nhận thấy một sự vật quen thuộc nào đó như chiếc lá, quả hồng,
con mèo, con quạ… luôn được ông nối kết với thời gian sống chung của vũ trụ,
trong mối tương thông giữa các dân tộc qua bàn tay của người thợ cao tay ngôn
ngữ. Ông biết nhìn thời gian hiện hữu như một đứa trẻ ngây thơ luôn có mặt bên
cạnh một người lớn khổng lồ, đó là sự tồn vong, hiện hữu của thế giới, của trái
đất, của gia đình chung Nhân loại. Chính vì vậy, thời gian trong thơ ông không
chỉ là thời gian đặc trưng của lãnh thổ nằm trong vùng nhiệt đới Việt nữa mà còn
mang tinh thần của thời đại, có cội nguồn văn hóa cả phương Đông lẫn phương
Tây. Thời gian vì vậy mạnh mẽ sinh sôi ban đầu, rồi tàn lụi theo quy luật và lại
và hứa hẹn sinh sôi, sống tiếp với các xu hướng đối thoại, tranh luận không cần
che giấu trong tâm thức hướng thiện của nhà thơ.
Tôi đau giấc mơ cây cỏ úa vàng, trút xuống từng cơn thiếu
máu. Lá khô đưa tôi về một thời mất máu, một thời khinh rẻ máu, một thời gian lận
máu, một thời lợi dụng, tụng ca máu. Một vong linh không rõ giới tính đu lên cuống
một chiếc lá và xưng danh từng là giọt máu. Ngọn cây và con chim sâu gần đó vội
vã lắc đầu, rồi không tranh luận với vong linh ấy nữa – THỜI TÁI CHẾ,
Chương II: THẪM ĐỎ.
Thời gian có khả năng góp phần sáng tạo, đồng thời cũng có sức
hủy diệt tới không ngờ. Nó góp phần giúp nhà thơ xác nhận đúng đắn hơn giá trị
về quyền sống, quyền tự do của con người trong thời đại mới, biểu đạt rõ hơn sức
mạnh của tình yêu, của hiện tại và sức cám dỗ của nghệ thuật chân chính. Mai
Văn Phấn có cách đối thoại, tranh luận trong vẻ khiêm nhường, hướng về các đối
tượng giao tiếp văn bản. Nhà thơ cho người đọc cảm nhận được sự nỗ lực phi thường
trong đời sống tâm hồn thi sĩ khi đối diện với những khoảnh khắc thời gian dịch
chuyển của vũ trụ. Đây cũng là biểu hiện của một tâm hồn yêu nghệ thuật cháy bỏng
đầy suy tư của nhà thơ trong môi trường văn hóa dân tộc Việt Nam hiện đại. Thấu
hiểu triết lý vô thường của triết học Phật giáo và sự tồn tại của triết lý Phật
giáo bên cạnh Ki tô giáo và các thuyết giáo liên quan đến vận mệnh con người,
Mai Văn Phấn thể nghiệm thời gian nghệ thuật khá sinh động. Trong thơ ông, thời
gian hiện thực của trần thế vốn vô cùng ngắn ngủi và chớp nhoáng, trôi nhanh, hối
hả, luôn được gắn liền với các sự kiện mà con người nỗ lực để hoàn thành. Ông
đã tìm cách chiếm lĩnh nó để sáng tạo ra một kiểu thời gian, một thước đo thời
gian mới theo cách của nhà thơ, đó là thời gian hy vọng thực hiện được hạnh
nguyện làm người trong xã hội. (Giọt máu ấy bây giờ có hình hạt sương mang ánh
sao khuya, giọt mưa trong lành buổi sớm, vệt nước cam em bé vừa uống lỡ rớt xuống
cằm. Nước mắt đọng trong khóe mắt đợi chờ, hy vọng – THỜI TÁI CHẾ, Chương
II: THẪM ĐỎ). Nhà thơ đã cảm nhận, đã hy vọng, đã tìm cách mô tả về con người
qua mục đích, hành động thực tiễn để chuyển hóa thân phận khổ đau của loài người.
Bằng cách này, dường như Mai Văn Phấn đã đi cùng nhịp đập thời gian của cuộc sống.
Thời gian trong thơ ông vì thế có khi được tái hiện thông qua việc quy về thời
gian sự kiện, thể hiện ít nhiều tính liên tục của nó; có hệ thời gian đủ cả
ngày tháng năm, có lúc còn được tính bằng sát-na. Thời gian được tính bằng
sát-na giúp người đọc liên tưởng đến những sự kiện có liên quan trong sinh hoạt
bình thường của con người trong thực tại. Nếu con người cứ mải mê vọng trần, thời
gian theo đó có thể hủy diệt tất cả (Sát – na). Sự hệ luỵ của con người là do vọng
niệm khởi lên trong một sát-na. Trong khoảnh khắc đó, con người dễ trượt ra
ngoài tầm kiểm soát của ý thức, dẫn đến các hành động gây khổ đau cho chính
mình và xã hội. Mai Văn Phấn muốn người đọc hiểu thêm rằng con người nguyên nó
đã luôn bị trói buộc từng giờ, từng phút qua các không gian sinh hoạt chật hẹp,
nên nhà thơ đã không đơn giản mô tả hay liệt kê lại những thời khắc của các sự
kiện, mà luôn đặt chúng trong một không gian chung với Thế giới con người tương
thông. (Thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch/ quay về tắm bằng ngọn đèn/ thử đưa bờ
vai về phía ánh sáng – Tắm đầu năm).
Đến đây có thể lý giải được vì sao trong cuộc đối thoại ấy,
Mai Văn Phấn có nhiều đối thoại hay với thời gian Đêm. Đêm, khởi điểm của
một ngày gắn liền biết bao câu chuyện, bao vụ việc, và cả những hồi tưởng thường
có thói tật thức dậy trong đêm. Đêm là khởi điểm của thời gian tâm trạng rõ nét
của nhà thơ. Trong những thời khắc ấy, con người như tự đối thoại/ tự thú với
những nghiệp nhân, nghiệp quả do bản thân tạo ra trong đời sống. Khi không gian
như đi vào tĩnh lặng thì tâm trạng con người càng cố vận động để đối thoại với
cô đơn. (Rửa mặt trong bóng tối: Nghe họa mi hót/ Thấy mặt mình/ Sạch hơn).
Đêm dài cứ trôi qua mà nhà thơ thì chưa thực hiện xong tâm nguyện của
mình với cuộc đời. (Sông đêm: Chảy qua làng/ Giấc mơ/ Đọng phù sa). Phật
giáo quan niệm thời gian như một dòng chảy liên tục, con người sống theo bản
năng dễ bị cuốn hút theo dòng chảy đó. Thời gian là một sự vận động vô thủy vô
chung của luân hồi và nghiệp báo. Con người ngụp lặn, khổ đau trong những chu
lưu đó với vô lượng kiếp. Mỗi kiếp là một chu kỳ sinh, lão, bệnh, tử. Kiếp này
tạo nhân, kiếp sau thọ quả, có khi nhân quả cùng thời trong một kiếp. Thời gian
của một đời người chỉ là một sát-na trong dòng chảy sinh tử luân hồi. Con người
cứ thế ngây thơ bị thời gian cuốn trôi mãi với các nghiệp chướng. Nếu thân mạng
người mất đi, muôn kiếp chỉ trở lại tùy theo duyên nghiệp mình tự tạo ra khi
còn sống. Thời gian theo quan niệm này vận động theo nghiệp nhân quả. Đọc hết
các tập thơ của Mai Văn Phấn, chúng ta sẽ nhận ra quy luật vận động thời gian
luân chuyển tuần hoàn này tác động mạnh đến đời sống tâm hồn con người như thế
nào. Đọa lạc hay thăng hoa của mỗi người là do chính bản thân ta quyết định.
Khi tâm và thân ra khỏi vùng tâm lý không hệ luỵ sáu trần thì sẽ có cơ hội đến
với thế giới chân như. Đó chính thời gian để con người sống với thế giới đại
quang minh của từ bi và trí tuệ. Sự chuyển hóa này khiến con người thoát
ly sinh tử, không sợ hãi trước chân trời của cái chết mà tìm cách sống có nghĩa
như là một phương pháp kéo dài thời gian sống; xem cái chết cũng như là một nghệ
thuật sống khác. Thời gian của sáng tạo nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn vì thế
trở thành thời gian vĩnh hằng của tự do vô giới hạn, do tâm thức đạt đạo vận
hành trong ý thức, không ai kiểm soát được. Đó là một phương tiện phản ánh hiện
thực của nhà thơ, nơi ông đã sống, đã luôn có ý hướng với nó trong tư thế đối
thoại, dự cảm đến tương lai. Đối thoại với thời gian, như một cách đối thoại với
tư duy các hệ hình tư tưởng tôn giáo, Mai Văn Phấn đã tạo sinh một thế giới sống
mới trong thơ. Nơi ấy, con người tồn tại trong thời gian hiện thực và luôn chuyển
hóa song song thành thời gian sáng tạo nghệ thuật.
Có lúc Mai Văn Phấn tự thấy thơ cứ đến, chơi với nhà thơ bất
kỳ lúc nào, có khi ông còn mơ thấy nó, tỉnh dậy chép lại. Ông làm thơ có căn,
như căn đồng. Xét riêng với cảm thức thời gian, Mai Văn Phấn như đang chơi trò
cá cược. Thực chất, cá cược không phải là bản chất của trò chơi. Nhưng những
người biết cá cược đều là những kẻ đam mê, tận hiến; một số ít trong đó là những
“tay chơi” sành điệu, lịch lãm. Đam mê đến nỗi có khi quên cả bản thân, dám
đánh cược tất cả tài sản của mình cho trò chơi mình yêu thích. Chơi như “nghiện”!
Thơ Mai Văn Phấn có sự đam mê “khủng khiếp” ấy! Ông trải nghiệm thời gian đúng
nghĩa xét về mặt nghệ thuật cũng như trong đời sống thực tiễn, như một người thợ
cao tay ngôn ngữ không giống ai. Mỗi bài thơ thời gian của Mai Văn Phấn như một
cú gieo súc sắc về mặt hình thức bên ngoài nhưng bên trong nó, xét về mặt bản
chất thì đó là quá trình dịch chuyển của thời gian từ đơn tuyến đến đa tuyến.
Trong trò chơi của ông, hoàn toàn không phải là để khẳng định ngẫu nhiên, mà để
góp phần chia nhỏ trò chơi thành những khả năng, tạo tiền đề cho cuộc sống con
người. Vì thế, sẽ là vô ích khi tự hỏi rằng liệu đây có phải là cách biểu đạt ý
nghĩa thần học, triết học hay chỉ là sự biện giải cho các hệ tư tưởng tôn giáo
trong thơ Mai Văn Phấn? Vì thơ xét về khả năng tồn tại và sự tồn tại thực thể của
ông không liên quan mấy đến sự tồn tại hay không tồn tại của Chúa hay của Phật!
Trò chơi của ông vì vậy mang tính nhân loại. Nó cũng là một trong những phương
pháp đề cập tới hai cách thức tồn tại của con người. Các thế chơi phải lựa chọn
này của Mai Văn Phấn gắn bó mật thiết với những dấu hiệu của lý tưởng khổ hạnh ở
Con người! Và trong thực tiễn xã hội đang cuống cuồng làm tiền, chơi tiền, thì
làm thơ, chơi thơ theo cách của thi sĩ tài năng này là đáng nể trọng. Mai Văn
Phấn có lí do khi ông tham gia trò chơi này một cách kiên trì, nhẫn nại nhưng đầy
đam mê kiêu hãnh, đầy thử thách, như hòn đá thử vàng!
Tài liệu tham khảo:
[1]. Mai Thị Liên Giang, Thi sĩ và những điều có thể, Tạp
chí Sông Hương, số 218, 2007;
[2]. Mai Thị Liên Giang, An trú miền đọc, NXB Hội nhà
văn, 2018, tr.24;
[3]. Gilles Deleuze, Nietzsche và triết học, NXB Tri thức,
2013.
Quảng Bình, 23/10/2019
Mai Thị Liên Giang
Nguồn: Tạp chí Dạy và Học ngày nay, kỳ 2-11/2019
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường Tiếng “cây” trong ngôn ngữ Việt Nam khi dùng theo nghĩa bóng là chỉ các bậc tài nghệ trong nghề. Cây làm bàn, ...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...
.gif)
.gif)
.gif)
.gif)
.gif)
.gif)