Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Nhà thơ Lê Thành Nghị: "Đi xa nhớ về, khổ đau càng muốn về…"

Nhà thơ Lê Thành Nghị: "Đi xa nhớ
về, khổ đau càng muốn về…"

Nhà thơ, nhà phê bình văn học Lê Thành Nghị tác giả của 5 tập thơ và các tập tiểu luận phê bình văn học chia sẻ: Hà Tĩnh quê ông đang những ngày chống lũ, nhiều cảnh đời, cảnh người khiến ông xem mà ứa nước mắt. Đó là một vùng đất đã đi vào thơ ca, nhạc họa, nhưng cũng là nơi hứng chịu những đợt thiên tai khủng khiếp.
Có lẽ bởi quá nhiều gian khổ, thiên tai, có lẽ bởi phải chống chọi trong những cơn hoạn nạn, nên đó cũng là mảnh đất đầy nhớ thương cho những người con xa xứ vọng về. Đó cũng là những ngày mà trong những trang thơ, trang văn của ông, quặn thắt những nỗi niềm mùa lũ, và những nhớ thương cứ day trở trong ký ức hiện về…
Kể về mảnh đất Hà Tĩnh quê mình, giọng ông lạc đi bởi nhìn cảnh những ngôi nhà chìm trong lũ, trái tim ông đau đớn. Dễ hiểu vì sao, lâu nay, Lê Thành Nghị vẫn viết đều đặn, cả thơ và phê bình tiểu luận. Thơ ông vẫn luôn đầy chất lãng mạn, trữ tình, đầy thiên nhiên, luôn có dòng sông, mặt hồ, luôn có hàng cây, bầu trời, ngọn gió… Nhưng nếu là sông thì đó là dòng sông chảy trôi phiền muộn, nếu là hồ thì đó là hồ lặng nắng mê man, nếu là hoa thì đó là hoa tím được bao nhiêu trước mãi mãi hoang tàn…
Một sự lắng trải qua những đắp đổi của thời gian, của tâm trạng, của sự thức ngộ. Nếu không có bão lũ, thiên tai, thì mảnh đất ấy đẹp ngút ngàn. Thiên nhiên trong thơ ông hiện lên thanh sạch, không phải là những gì nhìn thấy mà là những gì cảm nhận thấy. Đó là thiên nhiên đã lọc qua nhiều cung bậc của tâm hồn.
“Những rừng tràm bao la giữa lòng tôi/ Mùa đông cứ tắt dần trên lá đỏ/ Thung lũng chứa được bao nhiêu gió/ Rụng hết lá đi rừng tràm ơi!/ Mùa xuân về trong gương bạn tôi soi/ Một cặp mắt đen tròn, sâu thẳm/ Lòng hồi hộp rồi lòng yên tĩnh/ Lúm đồng tiền trên má con trai.” (Rừng tràm cuối mùa đông).
Lê Thành Nghị sinh tại Can Lộc, Hà Tĩnh. Gia đình ông có truyền thống nho học từ xưa. Cụ nội, ông nội đều đỗ tú tài về mở lớp dạy học trong làng. Cha ông là một nhà giáo thường đi dạy học ở các địa phương trong tỉnh.
Ông từng theo cha xuống Thạch Kim, về Nghèn học, mỗi năm một nơi cho đến hết những năm cấp 1. Những năm học phổ thông cấp 3 Phan Đình Phùng, rồi cấp 3 Can Lộc, Lê Thành Nghị luôn là học sinh giỏi văn nhất các khóa học.
Ông đã từng đoạt giải Nhất kỳ thi học sinh giỏi văn lớp 9 và lớp 10, đoạt giải kỳ thi học sinh giỏi toàn miền Bắc năm 1965, 1966. Ông tốt nghiệp xuất sắc khoa Ngữ văn, Trường Đại học tổng hợp Hà Nội và sớm trở thành một cán bộ nghiên cứu Văn học của Viện Văn học. Đầu năm 1972, ông nhập ngũ.
Mấy năm phục vụ trong binh chủng Thông tin liên lạc, ông hoàn thành nhiệm vụ và lành lặn trở về đầu quân cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tại đây, ông được cử sang Liên Xô (cũ) làm nghiên cứu sinh, bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ tại Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp (năm 1981) rồi lại về làm việc tại tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Lê Thành Nghị thừa nhận rằng, ông hết sức yêu mến nền văn học Nga, ông hết sức yêu mến thơ Chế Lan Viên và Nguyễn Đình Thi, nhưng người khơi gợi trong ông tình yêu văn chương không ai khác chính là ông hoàng thơ tình, người đồng hương của ông – nhà thơ Xuân Diệu.
Ông kể lại: “Năm tôi học lớp 5 ở trường Cấp 2 Thụ Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh, nhà trường mời nhà thơ Xuân Diệu từ  Nghèn (Trảo Nha) về nói chuyện thơ với giáo viên, học sinh của trường. Tôi không nhớ Xuân Diệu đã nói gì về thơ, chỉ biết rằng, sau đó, mỗi buổi sáng đi bộ trên con đường quen thuộc đến trường, tôi nhận ra được nhiều điều mới mẻ, có khi chỉ là một bông hoa nhỏ xíu tim tím trong lùm cỏ, có khi là bầy sẻ đồng ríu rít bên vạt lúa chín, có khi là mùi bùn hăng ngái từ ao sen làng…
Sau buổi nói chuyện ấy, nhà trường phân công một tốp học trò 5 em lít nhít đi tiễn thi sĩ họ Ngô về Nghèn, trong đó có tôi. Hồi đó, thù lao mà nhà trường trả cho nhà thơ Xuân Diệu là mấy bị khoai lang mà tôi tin rằng, nếu không có mấy cậu học trò đi về cùng xách thì nhà thơ Xuân Diệu chắc sẽ đành “bỏ của chạy lấy người” mà thôi.
Cả một quãng thời gian đi bộ 8 cây số từ Cầu Trù lên Nghèn, dù nhà thơ Xuân Diệu đôi lúc có hỏi chúng tôi một vài điều gì đó rất qua loa nhưng ấn tượng về ông đối với tôi thực sự rất lớn, nó nuôi dưỡng cho tâm hồn tôi trong suốt những năm học phổ thông. Sau này, khi đã đi theo văn nghiệp, tôi có nhiều dịp gặp ông và nhắc lại,  Xuân Diệu ngúc ngắc cái đầu nói là… không bao giờ quên kỷ niệm ấy “.
Với tình yêu văn học từ rất sớm, với những kiến thức mà ông tích lũy được, lại được làm việc trong cùng một nhà với những Thanh Tịnh, Vũ Cao, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Phạm Ngọc Cảnh, Thu Bồn, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Anh Ngọc… không những học được những bài học về nghề mà còn là những bài học làm người.
Những bài viết về chân dung của họ như các bài viết về Phạm Ngọc Cảnh, Thu Bồn, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng… sau này của Lê Thành Nghị vừa chứa đựng sự hiểu biết kỹ lưỡng về những đóng góp văn chương cũng như nết ăn, nết ở, nết viết… của từng người.
Người đọc thích thú những bài viết này ở chỗ, Lê Thành Nghị quá trân trọng những đóng góp dù to, dù nhỏ của họ, lại hé mở cho người đọc thấy hình ảnh đậm nhạt của mình như một người trong cuộc. Một cách viết chân dung văn học rất ấn tượng, chỉ điểm qua những nét đặc trưng của tính cách rồi đi sâu phân tích những cái hay của tác phẩm của họ với những nhận xét thấu đáo, thuyết phục.
Lê Thành Nghị là người được đào tạo để làm công tác lý luận phê bình văn học. Nhiều năm ông đảm nhiệm công tác lý luận phê bình văn học của tạp chí VNQĐ, cũng như của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đã viết ba tập sách về thể loại này: Văn học, sáng tạo và tiếp nhận (1995), Trước đèn thơ (2005), Còn lại sau ngôn từ (2014).
Ở mảng sách này, Lê Thành Nghị phát huy sở trường của mình là người sáng tác, vì vậy văn phê bình của ông được viết mềm mại, cảm nhận của ông rất tinh tế, nhận định của ông rất thuyết phục và đặc biệt là sự tôn trọng công việc của người sáng tạo.
Chẳng hạn những bài viết về Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Xuân Diệu; Nguyễn Khoa Điềm; những bài viết về các cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Thi (Ở xã Trung Nghĩa), của Nguyễn Khải (Gặp gỡ cuối năm), Nguyễn Trí Huân (Chim én bay), của Xuân Đức (Trở lại bến đò xưa lặng lẽ), của Văn Lê (Mùa hè giá buốt); các bài viết về Tagor, về Xuân Thiều, Dũng Hà, Hà Minh Đức, về thơ hôm nay… trong các tập sách vừa nêu trên đây của ông.
Lê Thành Nghị cũng được đánh giá là người cần mẫn, ông cần mẫn với công việc, với thi ca. Thực tế, gọi Lê Thành Nghị với chức danh nhà thơ e không đúng với vai trò của ông bây giờ, vì ông vừa viết phê bình văn học, vừa làm thơ, mà xem ra mặt nào ông cũng bỏ hết tâm trí của mình, mặt nào, thơ hay phê bình ông cũng có thành tựu, được đồng nghiệp ghi nhận.
Nhưng theo tôi, ông là nhà thơ đích thực thuộc về số không nhiều những nhà thơ đúng với nghĩa của từ này. Năm 2012 ông nhận được giải thưởng Nhà nước cũng với những đóng góp ở lĩnh vực thơ.
Ông là tác giả của 5 tập thơ trong đó có 2 tập từng được giải thưởng của Hội Nhà văn (Mưa trong thành phố và Mùa không gió), và mấy năm trước ông đem tặng bạn bè tập thơ đầy đặn Sông trôi không lời mà tôi tin ai đã đọc nó đều có thể đồng ý với tôi về nhận xét trên đây.
Năm nay, 2016, ông lại vừa in tập thơ Khoảng giữa những giọt sương, gồm 60 bài. Một tập thơ được viết trong khoảng thời gian sáu, bảy năm qua, đầy đặn chất trữ tình và nặng trĩu những suy tư về con người, về lẽ sống, về tình yêu… được nhiều đồng nghiệp tìm đọc.
Nhưng như một người trải đủ những vui buồn trong giới, có đủ những kinh nghiệm ứng xử nghề nghiệp với thành công và thất bại, ông tự tin từng bước một khẳng định mình trong sự nghiệp, không quá đề cao công việc của mình, xem đó cũng là một cái nghề bình thường như bao nghề khác, và dành hết đam mê cho nó.
Tuy nhiên, với bản tính của một người ít khi nói về mình, nói theo cách hiện đại là ông ít tự PR cho mình, ít đến chốn đông người, ít ngồi quán xá bia rượu, nên thành công đến với Lê Thành Nghị, vì vậy, cũng ít sự ồn ào.
Ông tự nhận mình là một người sống khá “tẻ”, theo nghĩa đen, vì ông không biết đánh cờ, không biết uống rượu, không biết hút thuốc, cũng chẳng có điều tiếng trong chuyện tình cảm. Nhưng không phải ông không đa cảm, vì nhà thơ nào mà chả xao lòng trước cái đẹp, nhưng dường như với Lê Thành Nghị, bao nhiêu nỗi niềm ông gửi hết vào thi ca, vào câu chữ.
Ông âm thầm tự làm lắng lại các xúc cảm để dồn nó lên ngòi bút, như một cách tự thắp lửa cho trái tim mình. Đến đây tôi hiểu vì sao ông viết “Sông mất một đời trôi đi dại dột/ Tôi mất một đời để quên một người”. Thế nghĩa là với ông không hề có những thứ tình cảm dễ dãi, thoáng qua.
Quên một người, có thể người đó là người trong mơ ước từ thuở trẻ, có thể là người đáng căm ghét đã gặp bất đắc dĩ trong đường đời. Nhưng quên để nhớ, quên một để nhớ tất cả. Có phải đó là điều ông muốn chuyển đến chúng ta, vì biết trong cuộc đời chúng ta, cũng từng hiện hữu ít nhất một người như vậy.
Lê Thành Nghị được coi là một trong những người vẹn tròn trong nhiều lĩnh vực. Với ông giang hồ ta chỉ giang hồ vặt, mơ mộng đến đâu rồi cũng phải có một chốn đi về. Giờ đây, tuy đã nghỉ hưu nhưng “con nhà lính” nên ông vẫn lập cho mình một “thời gian biểu” kín mít: lướt web, đọc sách, viết lách, tập thể thao…
Có công việc, họp hành, ông tự lái ô tô riêng để thử sức bền của tay chân, sắc bén của thị giác, tinh nhạy của tinh thần hòa cùng phố phường tấp nập. Nhưng rồi, ông bảo, dường như mọi bình yên của mình bị xáo trộn, bởi vì sau tất cả, vẫn còn có tuổi thơ, vẫn còn có một miền quê, một miền quê bão lũ thiên tai, những con người khổ sở chống lũ, chống hạn, chống những khắc nghiệt của thời tiết.
Ông ở giữa thủ đô nhưng vọng về trong ký ức những hoài niệm. Gia đình ông cũng tham gia làm từ thiện cho bà con vùng lũ để bớt chút nào những nhọc nhằn mà bà con đồng hương phải chịu đựng, như cách nói của nhạc sĩ An Thuyên trong bài hát “Hà Tĩnh mình thương”: “Đi xa càng muốn về, khổ đau càng muốn về”.
Còn riêng ông, khi cơn lũ về là những ký ức lại hiện về đầy day trở, và tâm hồn nhà thơ không yên ổn, lại có một mơ ước thật giản dị, cho riêng mình, cho gia đình, cho quê hương: “Tôi đã bao lần ngồi trong nắng sớm/ Chẳng chờ đợi gì ngoài một giọng chim/ Tôi đã bao lần trên con đường vắng/ Chẳng chờ đợi gì ngoài khoảnh khắc lặng yên/ Tôi đã bao lần trôi trên suối tím/ Chẳng ước ao gì ngoài được trôi êm“…
24/10/2020
Trần Hoàng Thiên Kim
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn trung úy, đồng chí ở đâu

Nhà văn trung úy, đồng chí ở đâu?

Suốt thế kỷ 20 Việt Nam phải tiến hành 4 cuộc chiến tranh. Trong hàng triệu thanh niên nhập ngũ có hàng ngàn người tiềm ẩn năng lượng văn chương. Trải qua những tháng năm cầm súng chiến đấu, đầm mình trong khói lửa đạn bom, chứng kiến bao nhiêu tình huống hùng tráng bi thương, hiện thực chiến tranh ngổn ngang đã thôi thúc họ cầm bút. Họ viết bằng nhu cầu tự thân, viết bằng cảm quan của người lính, viết về chính những trải nghiệm của mình và đồng đội.
Những người vừa cầm súng vừa cầm bút có mặt từ kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, chiến trường K và mặt trận biên giới phía Bắc. Nhiều người bị thương, có người đã anh dũng hi sinh. Nhờ gắn bó với đơn vị, với chiến trường như thế nên họ luôn giàu vốn sống. Do đó ngay cả khi xuất ngũ trở về đời thường thì họ vẫn viết từ nguồn nguyên liệu quá khứ và tình cảm của người lính. Những tác phẩm viết về chiến tranh luôn được đón nhận nồng nhiệt, bởi trong đó ôm chứa không chỉ những thông tin thẩm mĩ, mà còn là thông tin thời sự, là tri thức chiến tranh, đúng “tầm đón đợi” của độc giả. Nhờ thế một thời kì dài, văn học đề tài chiến tranh với nhân vật người lính làm trung tâm trở thành dòng chủ lưu trong nền văn học nước nhà. Và những người lính viết văn được độc giả gọi bằng một danh hiệu trìu mến “nhà văn áo lính”.
Đọc một cách hệ thống dòng văn học chiến tranh của Việt Nam dễ nhận thấy các tác phẩm đều tươi ròng chất sống, diện phản ánh rộng từ mặt trận tới hậu phương. Bên cạnh cảm hứng chủ đạo là cổ vũ tinh thần dân tộc, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, tôn vinh sự cao cả của chiến tranh chính nghĩa…, thì các “nhà văn áo lính” cũng không né tránh những vấn đề gai góc của xã hội, lên án quyết liệt cái ác, cái xấu như sự hèn nhát, phản bội trong chiến tranh, bệnh ấu trĩ máy móc, thói lưu manh cơ hội trong cuộc sống đời thường… Dù ngợi ca hay phê phán thì những tác phẩm của “nhà văn áo lính” luôn đề cao tính Chân – Thiện – Mĩ, tuân thủ tôn chỉ vì đất nước và con người Việt Nam. Bằng thế giới quan của “nhà văn áo lính”, mỗi tác giả một giọng điệu, một phong cách nhưng có nét chung là luôn giản dị mà tài hoa, chân phương mà trữ tình, khỏe khoắn mà tinh tế, lãng mạn mà chân thực, quyết liệt mà bao dung, dữ dội mà nhân ái… Tổng hòa những nét này đã tỏa nên một trường thẩm mĩ rất riêng, được độc giả gọi là “chất lính”. Và dòng văn học đề tài chiến tranh với phần lớn tác phẩm do những “nhà văn áo lính” viết đã đồng hành cũng đất nước suốt hơn nửa thế kỉ qua, giữ vai trò đặc biệt trong đời sống văn hóa tinh thần; nhiều tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong nhà trường có vai trò tích cực trong việc định hướng thẩm mĩ và xây dựng lí tưởng sống cho thanh niên nhiều thế hệ, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm. Bước vào thời kì Đổi mới, xã hội có những biến động lớn. Văn học Việt Nam cũng đã hội nhập, nhiều trào lưu, trường phái văn chương đua nở và tâm thế của độc giả văn chương cũng thay đổi. Các đề tài văn học đã trở nên bình đẳng, cạnh tranh sòng phẳng với nhau với tư cách là các tác phẩm nghệ thuật. Và chiến tranh vẫn được coi là “siêu đề tài”, là nguồn nguyên liệu nhiều tầng vỉa vẫy gọi các nhà văn khai thác.
Thế nhưng trên thực tế số lượng tác phẩm viết về chiến tranh ngày càng thưa vắng. Nguyên nhân là các nhà văn kinh qua trận mạc đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Số lượng tác giả trẻ trên cả nước mặc dù rất đông, có thể viết rất hay ở những đề tài xã hội, nhưng với đề tài chiến tranh thì họ vẫn e dè. Đó là điều dễ hiểu, bởi theo nguyên lí sáng tạo, nhà văn chỉ có thể viết hay về cái mà mình thân thuộc. Xét theo nguyên lí ấy thì những tác giả trong quân đội sẽ có lợi thế hơn, bởi họ có điều kiện tiếp xúc, nghiên cứu tài liệu, và quan trọng hơn, là có tình cảm của người lính, yếu tố cốt tử tạo nên cảm xúc khi viết về đề tài chiến tranh.
Cũng như ở nước Nga, qua mỗi cuộc chiến tranh vệ quốc chúng ta đều có một thế hệ “nhà văn trung úy”, ghép mình vào đội ngũ “nhà văn mặc áo lính” hùng hậu của đất nước. Nhờ chủ trương đúng đắn của quân đội, nhiều tác giả trưởng thành từ mặt trận sau giải phóng và các tác giả trẻ ở các đơn vị đã được chọn lựa cử đi đào tạo chuyên ngành tại các trường Viết văn Nguyễn Du, Học viện Văn học Gorky…, trở thành những nhà văn chuyên nghiệp, có tác phẩm xuất sắc đóng góp cho văn chương đương đại; nhiều người giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan văn học của đất nước. Nếu thống kê các thế hệ “nhà văn áo lính” trưởng thành từ chiến tranh chúng ta sẽ có một danh sách dài lên tới hàng trăm. Nhưng để điểm danh đội ngũ “nhà văn áo lính” trưởng thành sau chiến tranh, thì chỉ có vài chục, tập trung chủ yếu ở các cơ quan văn nghệ, báo chí của Tổng cục Chính trị, còn ở đơn vị thì vô cùng hiếm hoi, có thể đọc từng tên: Đó là Trần Hoài, đại diện Báo Quân đội Nhân dân tại miền Trung; Nguyễn Minh Đức, Trường Sĩ quan Lục quân 2; Nguyễn Minh Cường, Trường Sĩ quan Chính trị Bắc Ninh; Nguyễn Phú, Học viện Biên phòng; Lê Mạnh Thường, Cảnh sát biển Việt Nam; Hồ Kiên Giang, Quân khu 9… Nhưng những tác giả này đều tuổi trên bốn mươi và đều mang quân hàm cấp tá. Và điều đáng phải suy nghĩ là phần lớn các tác giả ở các đơn vị trong quân đội hiện nay mới chỉ xuất hiện với tư cách là tác giả của truyện ngắn, bút kí và những bài thơ nhỏ lẻ viết về nhiều đề tài khác nhau; có lẽ vì điều kiện công tác, họ chưa thể toàn tâm toàn ý để viết những tác phẩm dài hơi như tiểu thuyết, trường ca về đề tài chiến tranh và người lính.
Trước thực tế đội ngũ mỏng và thưa như vậy, liệu những tác giả trẻ trong quân đội có thể tiếp nối sứ mệnh viết về chiến tranh và người lính thành công như các thế hệ tiền bối hay không? Câu hỏi này chỉ có những người làm công tác quản lí văn hóa văn nghệ có thể trả lời. Còn tôi, với tâm thế và tình cảm của một người làm công tác biên tập, tôi luôn dõi xuống các đơn vị để tìm kiếm những tác giả trẻ với câu hỏi tha thiết: “Nhà văn trung úy, đồng chí ở đâu?”.
25/10/2020
Đỗ Tiến Thụy
Theo https://vanhocsaigon.com/

Hình thức và nội dung nhìn từ khoa học tri nhận

Hình thức và nội dung
nhìn từ khoa học tri nhận

Căn cứ vào các cách con người không gian hoá hình thức, dựa vào quan niệm cho rằng, các ánh xạ ẩn dụ không hoàn là võ đoán, trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh, bài viết lần lượt phân tích hai ẩn dụ không gian: (i) Càng nhiều hình thức thì càng nhiều nội dung và (ii) Càng gần thì tầm tác động càng lớn .
1. Dẫn nhập
Do nhiều lý do khác nhau, hình thức và nội dung, mối quan hệ giữa chúng, là những vấn đề đã được nhiều ngành khoa học quan tâm và lý giải rất khác nhau. Quan điểm Maxism lý luận rằng, nội dung quyết định hình thức, hình thức tác động lại bình diện nội dung. Còn cấu trúc luận lại biện giải, nội dung và hình thức thống nhất ngay trên mặt hình thức của nó. Liên quan đến vấn đề này, từ lâu ngôn ngữ học đã đề cập đến mối quan hệ giữa âm và nghĩa, giữa  cái biểu và cái được biểu đạt và thường nhìn nhận đó là mối quan hệ có tính võ đoán, ngoại trừ các trường hợp mô phỏng âm thanh như róc rách (tiếng suối chảy), xình  xịch (tiếng xe lửa chạy), meo meo (tiếng mèo kêu)… và mô phỏng cấu âm, tức trong cách phát âm có liên quan đến biểu trưng ngữ nghĩa, đơn cử như trường hợp liên hội giữa phát âm chúm môi vần um trong bụm, chụm, chúm, núm, túm, xúm, khúm núm… và hiệu quả ngữ nghĩa thường gợi lên tính chất chụm lại, gom lại. Hay vần ứt, như bứt, nứt, đứt, sứt, bứt, vứt, rứt… liên hội đến nghĩa lìa khỏi (từ cùng vần không tiện nhắc đến, chỉ chất thải ra của con người cũng nằm trong trường nghĩa này).
Khoa học tri nhận nhìn nhận vấn đề có khác với truyền thống.
Trước hết, những trải nghiệm của con người là kết quả của một sự tương tác với chính cơ thể mình, với môi trường tự nhiên và với tha nhân được ngôn ngữ chuyển tải hoàn toàn có thể giải thích được. Chẳng hạn, các ẩn dụ nguyên cấp như Tình thương là hơi ấm, Nhiều hơn thì hướng lên, Gần nhất thì trước nhất, là kết quả của mối quan hệ đồng xuất hiện trải nghiệm. Nói cụ thể, hơi ấm liên quan đến tình thương, trải nghiệm chung của đứa bé được cha mẹ cho bú mớm, bế bồng, ôm ấp, vỗ về, ở đây tình thương cùng xuất hiện với hơi ấm; tương tự, đối với một vật thể, như một đống gạo, một đống củi khi ta thêm nhiều gạo vào, nhiều củi vào thì nó sẽ cao hơn lên, nghĩa là ở đây có mối tương quan trải nghiệm về gia tăng số lượng và gia tăng độ cao; khi bạn rơi vào một trạng thái không bình thường, chẳng hạn đang ngủ có trộm vào nhà, để tự vệ bạn vớ bất kỳ một vật dụng gì gần bạn nhất, khi buồn hay đau khổ bạn thường nghĩ đến hoặc chia sẻ với những người thân cận nhất.
Thứ đến, dù nói hay viết, mọi giao tiếp đều xảy ra trong thời gian và theo trật tự tuyến tính, mà thời gian thường được ẩn dụ hoá dưới dạng thức không gian, rõ nhất là dưới hình thức văn tự. Nói khác, con người ý niệm hoá hình thức ngôn ngữ dưới dạng thức không gian nên một số ẩn dụ không gian hoàn toàn có thể áp dụng trong giao tiếp. Thực tế là, trước một nội dung X bao giờ chủ thể giao tiếp cũng phải đắn đo lựa chọn một hình thức biểu đạt Y thích hợp. Do vậy, với ngôn ngữ học tri nhận, không có loại câu đồng nghĩa thật sự mà về nguyên tắc hình thức khác, nội dung khác, thay đổi về hình thức sẽ làm thay đổi ngữ nghĩa, dù có thể đó chỉ là sự thay đổi rất tinh tế.
Cuối cùng, với  ẩn dụ đường dẫn (conduit metaphor), mối quan hệ giữa hình thức  và nội dung được hình dung là mối quan hệ giữa vật chứa và vật được chứa, trong đó theo suy luận thông thường, hễ  vật chứa nhỏ thì thường có nội dung nhỏ, vật chứa lớn thì  nội dung lớn.
Bài viết này dựa vào cách mà con người không gian hoá, đặc biệt dựa vào các ẩn dụ không gian hoá để xem xét một số cách tạo nghĩa cho hình thức ngôn ngữ.
2. Càng nhiều hình thức càng nhiều nội dung (More of form is more of content)
Cũng giống như một số ngôn ngữ, tiếng Việt hay dùng một số biện pháp cơi nới hình thức biểu đạt để mở rộng nghĩa theo những chiều kích khác nhau.
2.1 Hãy so sánh các phát ngôn sau: Cô ấy khóc./ Cô ấy khóc, khóc và khóc và khóc. Phát ngôn sau chỉ ra mức độ khóc nhiều hơn và liên tục hơn so với phát ngôn trước. Hay Thằng bé đi, đi mãi, đi mãi, chỉ ra việc đi nhiều hơn, lâu hơn rất nhiều so với Thằng bé đi.
2.2. Thông thường, với hạt nhân nghĩa đẹp, chúng ta sẽ có các dạng thức phát triển sau: (i), Đẹp ơi là đẹp; Đẹp đẹp là; rất ư là đẹp (ii), kéo dài nguyên âm  chính đẹ- ẹ- ẹ- ẹ- ẹp.Từ hạt nhân nghĩa nhỏ (i), có thể nói nhỏ ơi là nhỏ, nhỏ nhỏ là, nhỏ rí, nhỏ  rí ri, nhỏ chút chun, rất rất rất nhỏ (ii), kéo dài rấ- ấ-ấ- ấ- ất  nhỏ, rất  hoặc nhỏ-ỏ-ỏ – ỏ. Trong phương ngữ Nam Bộ để chỉ mức độ lớn từ hạt nhân nghĩa bự, cũng có thể nói (i), bự ự ự ự ự (ii), bự chảng, bự chảả ả ả ng bành ky.
Rõ ràng các dạng thức kéo dài hoặc mở rộng hình thức đã làm cho nghĩa của hạt nhân mở rộng, đặc trưng đẹp sẽ đẹp hơn, nhỏ sẽ nhỏ hơn, bự sẽ bự hơn.
2.3. Phổ biến nhất là biện pháp lặp: Người người so với người, nhà nhà so với nhà, ngày ngày so với ngày, gật, gật và gật so với gật, thương thương quá, so với thương, (đen) sì sì so với (đen) sì, vội vội vàng vàng so với vội vàng.
Hình thức lặp lại đã biển đổi một danh từ, từ số đơn sang số phức, một động từ với nghĩa đơn nhất thành liên tục và hoàn thành, một tính từ làm cho nghĩa của nó gia tăng.
2.4. Đối với hiện tượng láy, tình hình có phần phức tạp hơn. Loại láy hai có thể nhận diện yếu tố gốc, bên cạnh việc hệ thống này vẫn tuân theo nguyên lý đang phân tích như lạnh lẽo, lạnh lùng, so với lạnh; nhỏ nhoi, nhỏ nhắn, nhỏ nhặt so với nhỏ, tức  là các tổ hợp hai tiếng có nghĩa được khuếch tán hơn nhiều so với từ một tiếng, còn có lệ ngoại, dường như càng nhiều hình thức càng ít nội dung như tim tím (hơi tím) so với tím, đèm đẹp so vói đẹp. Các dạng thức láy có thể nhận diện yếu tố  gốc  còn lại nhìn chung đều cho thấy càng nhiều hình thức biểu hiện càng nhiều nội dung như những trường hợp điển hình sau đây:
Ví dụ: tí → tí ti → tí tì ti→ tí tỉ tì ti ; sạch → sạch sanh → sạch sành sanh → sách sạch sành sanh; xốp → xốp xộp → xốp xồm xộp → xốp xộp xồm xôm.
2.5. Ở dạng điển hình, thông thường lượng thông tin của diễn ngôn càng lớn, càng quan trọng, càng khó dự đoán thì hình thức ngôn ngữ càng dài, càng phức tạp.
Hãy so sánh:
(i)  – Ở sân bay tôi đã gặp một cô gái rất dễ thương.
(ii)- Ở sân bay tôi đã gặp một cô gái có mái tóc vàng bồng bềnh, với cặp mắt ướt, buồn rười rượi mà ngay cái nhìn đầu tiên, tôi biết, tôi đã phải lòng cô ấy.
(iii)- Kể nhau nghe cái gió chuyển mùa, bài hát sướt mướt, một cuốn sách hay, rên rỉ về một nỗi buồn và không đưa ra lời hứa hẹn.
(vi)- Kể nhau nghe cái gió chuyển mùa, bài hát sướt mướt vừa nghe được chiều nay, một cuốn sách hay tìm thấy được trong gánh ve chai, hay rên rỉ về một nỗi buồn quéo râu ria, vô cớ đến chiếm đoạt từng tế bào và không đưa ra lời hứa hẹn nào rằng sẽ ra đi sớm (Nguyễn Ngọc Tư, Đong tấm lòng).
Dễ thấy, lượng thông tin, tính phức tạp, độ nổi trội và tính bất ngờ của các định ngữ ở(ii) so với (i),ở (vi) so với (iii) là rất rõ ràng, nói khác ở đây có sự tương quan về lượng giữa nội dung và hình thức diễn ngôn.
3. Càng gần thì tầm tác động càng lớn (Closeness is trengh of effect)
G.Lakoff và M. Johnson (2003) cho rằng, trong tiếng Anh khi ai đó hỏi, ai là người thân cận nhất, thì cũng có nghĩa là họ muốn biết những ai có tầm ảnh hưởng, tầm tác động mạnh mẽ nhất. Thế có nghĩa là, về mặt khái quát, nhận định này có liên quan đến những trải nghiệm về cự ly, khoảng cách và tầm tác động, nó chi phối đến nhiều phương diện của tư duy mà rõ nhất là các ẩn dụ ý niệm không gian trực tiếp hay gián tiếp chi phối mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của ngôn ngữ.
3.1 Dễ thấy nhất là là hiện tượng khoảng cách gần của các yếu tố hình thái cú pháp và tầm tác động của chúng đến nghĩa của phát ngôn. Nói cụ thể, nếu nghĩa của hình thái A ảnh hưởng đến hình thái B thì về mặt vị trí A càng gần B bao nhiêu thì tầm tác động về nghĩa của hình thái A đến hình thái B càng mạnh bấy nhiêu.
Đối với tiếng Việt, có thể minh hoạ, trường hợp ta có các hình thái A B  C D… trên hình tuyến, có một yếu tố x bất kỳ, nếu muốn bổ nghĩa cho hình thái nào thì phải đặt x  ngay bên cạnh yếu tố đó, chẳng hạn:
– Để phổ biến một số Nghị quyết vừa  được Quốc hội thông qua trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Uỷ ban Nhân dân yêu cầu các Quận, Huyện lập kế hoạch triển khai bao gồm: kinh phí, thời gian, địa điểm, danh sách báo cáo viên, gửi về cho văn phòng Uỷ Ban trước ngày 15 tháng 05 năm 2020.
Diễn đạt phát ngôn trên không chuẩn, có người sẽ bắt bẻ, Nghị quyết được Quốc hội thông qua không phải trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Sở dĩ có chuyện hiểu nhầm vì ngữ đoạn Quốc hội thông qua tác động trực tiếp lên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh do vị trí của chúng kế cận nhau, trong khi lại sắp xếp ngữ đoạn bổ nghĩa và được bổ nghĩa quá xa nhau, và hậu quả là” xa mặt cách lòng”. Ý của người viết là Để phổ biến trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh một số nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua…
Ta tiếp tục quan sát hai ví dụ sau:
(i) – Lọt vào vòng bơi chung kết là mục tiêu của kình ngư đang đeo quân hàm đại uý quân đội, tại giải vô địch thế giới diễn ra vào tháng 8 tới, tại Kazan, Nga. (Báo)
(ii) – Mục tiêu của kình ngư đang đeo quân hàm đại uý quân đội là lọt vào vòng bơi chung kết tại giải vô địch thế giới diễn ra vào tháng 8 tới, tại Kazan, Nga. (Báo)
Cả hai phát ngôn đều không sai. Nhưng có khác nhau về sắc thái nghĩa. Không kể sự khác biệt về độ nổi trội thông tin (Lọt vào vòng bơi chung kết so với Mục tiêu của kình ngư), phát ngôn sau, do sắp xếp các định ngữ liên tục và hợp lý, nói như ngôn ngữ học tri nhận là đã khai thác một cách hiệu quả nguyên lý vị trí từ càng gần thì tác động ngữ nghĩa càng lớn, ở đây vòng bơi chung kết gần với tại giải vô địch thế giới hơn, gần với diễn ra vào tháng 8 tới hơn, gần với tại Kazan, Nga hơn, do vậy thông tin không bị gián cách và mạnh mẽ hơn.
Xét tiếp phát ngôn: – Giải ngoại hạng Anh chỉ duy nhất có ở Việt Nam trên VTC. (Dẫn lại của Nguyễn Đức Dân, 2013, Từ câu sai đến cây hay). Không kể việc xếp tiêu điểm thông tin nhằm mục đích quảng cáo không hợp lý, tác động của ngữ đoạn chỉ duy nhất có ở Việt Nam, là nguyên nhân dẫn đến câu mơ hồ.
Và hẳn phát ngôn: Việc Quốc hội Myanmar bác bỏ sửa đổi 2 điều trong hiến pháp hiện hành trên thực tế làm tiêu tan mọi cơ hội và triển vọng để bà Aung San Suu Kyi, lãnh đạo Liên đoàn Quốc gia vì dân chủ trở thành tổng thống trong cuộc bầu cử dự kiến vào cuối năm nay, sẽ mạch lạc hơn do có chú ý đến vị trí nổi trội và tầm tác động của các yếu tố gần so với : Việc Quốc hội Myanmar bác bỏ sửa đổi 2 điều trong hiến pháp hiện hành trên thực tế làm tiêu tan mọi cơ hội và triển vọng để lãnh đạo Liên đoàn Quốc gia vì dân chủ, bà Aung San Suu Kyi trở thành tổng thống trong cuộc bầu cử dự kiến vào cuối năm nay. (Báo)
3.2  Tính chất gần/ xa và tầm tác động đến nghiã của  các yếu tố cú pháp  trên hình tuyến trong tiếng Anh về mặt gây khiến (causation) cũng đã được một số nhà ngôn ngữ học tri nhận chú ý đến.
Ví dụ : (i)- Sam killed Harry. (ii)- Sam caused Harry to die.
Ở (i) ta có 3 yếu tố : Sam/ Killed/ Harry (Sam giết Harry), động từ giết nằm gần Harry, tác động trực tiếp đến bị tác thể, là nguyên nhân duy nhất, một sự kiện duy nhất, do vậy, sự gây khiến mang tính chất trực tiếp hơn. Nói cụ thể, chỉ có một hình thức đơn nhất, từ kill vừa để chỉ nghĩa gây khiến vừa để chỉ nghĩa tác động, tức là một hình thái từ đảm nhận hai vai nghĩa. Trong khi ở (ii), ta có 4 yếu tố : Sam/ caused/ Harry/ to die (Sam làm cho Hary chết), có hai sự kiện riêng biệt, cái chết của Harry và những việc làm của Sam khiến cho Harry chết, sự gây khiến ở đây có tính gián tiếp.Thậm chí, có thể nghĩ đến nghĩa nhẹ nhàng: Sam đã mang lại, đã đưa đẩy Harry đến với cái chết so với Sam giết Harry. Sở dĩ nói được như vậy, vì có đến hai từ riêng biệt làm cho (cause) và chết (die) chỉ nguyên nhân và hậu quả.Hiển nhiên, điều này làm  cho mối quan hệ giữa hai sự kiện nguyên nhân và hậu quả yếu hơn rất nhiều so với phát ngôn trước. Tương tự, ta có các trường hợp: I taugh Greek to Harry và I taugh Harry Greek; Bill sent a walrus to Joy và Bill sent Joy a walrus… Thật ra, những ngữ liệu ở đây có thể được soi sáng từ nguyên lý, hễ hình thức ngôn từ nào chỉ ra sự gây khiến càng gần với hình thức chỉ ra sự tác động thì mối liên hệ gây khiến càng mạnh, hoặc xa hơn, là dùng lý thuyết ảnh tượng( imagery) tức một hình thức biểu trưng, kết quả của sự nội suy dựa vào những trải nghiệm cơ thể của con người để phân tích.
3.3 Trong tiếng Anh hình thức phủ định do từ đảm nhiệm trong câu và hình thức phủ định do phụ tố đảm nhiệm trong từ cũng có sự khác biệt về nghĩa do ảnh hưởng của tầm tác động gần.
Hãy so sánh (i)- I am not happy. Và (ii) I am unhappy. Thoạt nhìn, dễ tưởng, nghĩa của chúng không khác nhau. Nhưng hãy chú ý vị trí của hai yếu tố phủ định.Tiền tố un đứng liền sát happy nên nghĩa phủ định mạnh hơn, unhappy có nghĩa là buồn; trong khi từ not đứng tách biệt với happy dẫn đến mức độ phủ định yếu, nghĩa not happy có tính trung hoà, có thể chẳng vui mà cũng chẳng buồn.
4. Kết luận
Thừa nhận ẩn dụ là hoạt động của tư duy, xảy ra trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, Khoa học tri nhận có tham vọng giải quyết một số vấn đề cơ bản nhất về nghiên cứu tâm trí con người. Nếu hình dung phần lớn ẩn dụ đều được hình thành và lệ thuộc vào bản chất cơ thể của chúng ta, vào sự tương tác của chúng ta với môi trường vật chất và thói quen văn hoá thì có thể dựa vào các ẩn dụ nguyên cấp để xem xét các ý niệm trừu tượng, bởi như tri nhận luận xác tín, ý niệm trừu tượng có phần lõi cụ thể và được mở rộng bằng con đường ẩn dụ. Với nhận thức như vậy, chúng tôi hiểu, những phân tích bên trên liên quan đến nội dung và hình thức ngôn ngữ chỉ là những ghi nhận sơ khởi.
26/10/2020
Trịnh Sâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đọc tập thơ "Sóng xô từ đất" của Quang Chuyền

Đọc tập thơ "Sóng xô
từ đất" của Quang Chuyền

Quang Chuyền là thi sĩ của những ưu tư. Tôi nảy ra ý này khi đọc dứt 68 bài thơ trong tập Sóng xô từ đất, tác phẩm thứ 18 của ông do Nxb Hội nhà văn ấn hành, thượng tuần tháng 10.2020. Sở dĩ tôi gọi ông là thi sĩ của những ưu tư bởi gần như cả tập thơ là một tập hợp những nỗi niềm: Đất cất tiếng người, Mùa dịch bệnh Covid-19, Viết cho Trà My, Nghe sóng, Trước mặt trời, Phía ngoài khung cửa, Ghi chép một vùng quê… Vui có ưu tư của vui, buồn có ưu tư của buồn, ít nhiều bài nào cũng có, rất đặc trưng Quang Chuyền.
Thơ Quang Chuyền, giới hạn trong tập Sóng xô từ đất, căn bản là ngắn: 4 câu, 6 câu, 9 câu, đôi bài 20 câu. Thực ra dài ngắn chẳng mấy quan trọng, vấn đề cốt yếu là đủ. Đọc thơ, có lúc thấy thiêu thiếu một chút lại là đủ; thừa thừa lại thấy thiếu. Dĩ nhiên cái thiếu, thừa và đủ ấy đều tương đối. Thế nào là đủ, ở đây tôi cho chính là âm ba. Tác giả không nói tuột ra mà nhấn nhá lúc gần lúc xa, theo lối ẩn ngôn, gợi lên nơi người đọc những nghĩ suy, ám ảnh. “Ai tính giá núi sông nước Việt/ bằng máu, mồ hôi?/ chạm vào đất nghe rõ/ đất cất lên tiếng người” (Đất cất tiếng người); “Có gió ắt có sóng/ biển động nơi thường tình/ lắng tai thầm nghe rõ/ sóng vỗ từ lặng thinh” (Nghe sóng); “Vu oan giá họa cho người/ ngỡ đâu che được mặt trời bằng tay/ mặt trời soi rõ bụi bay/ gian manh rồi cũng có ngày phơi ra” (Trước mặt trời); “Ngồi trong khung cửa nhìn ra/ phố phường thấp thoáng người qua dập dìu/ người ơi có thấy một điều/ở nơi tấp nập thường nhiều lẻ loi” (Phía ngoài khung cửa).  
Tôi dẫn ra mấy bài thơ này để minh họa cho cái âm ba trong thơ Quang Chuyền. Mới bập vào đôi ba câu ngỡ tưởng ông lộ hàng, nhưng té ra là thi sĩ chơi chiêu. Người làm thơ nào cũng có chiêu. Nhà phê bình gọi là bút pháp hay thi pháp gì đó, tôi tay ngang gọi chiêu. Chiêu của Quang Chuyền nằm ở kỹ năng chốt hạ. Ví như mấy bài thơ tôi dẫn ở trên, các chốt hạ “đất cất lên tiếng người”, “sóng vỗ từ lặng thinh”, “gian manh rồi cũng có ngày phơi ra”, “ở nơi tấp nập thường nhiều lẻ loi”…rõ là đã tạo âm ba, khiến người đọc phải nghĩ suy, cảm ngộ. Các bài: Tro và than, Ghi ở Thủ Thiêm, Điều khó nói, Sau tiếng trống kèn, Trong sắc gạch xây Vạn Lý Trường Thành… căn bản đều vậy.
Thơ là hồn cốt của một người. Người sao thì thơ vậy. Đọc tác phẩm Sóng xô từ đất, trước mắt tôi hiển hiện một người đàn ông vâm váp, lúc nào cũng ưu tư. Tôi thích chiều sâu triết lý trong thơ qua lối biểu đạt đằm chất người của ông. Đằng sau lối dụng ngôn ấy, thiết nghĩ thi sĩ đã phải lao tâm khổ tứ rất nhiều, đúng nghĩa lao động nghệ thuật, để viết ra. “Tự dưng hàng xóm cách ngăn/ tự dưng phố xá đang gần thành xa/ tự dưng nhà đóng cửa nhà/tự dưng người chết không hoa viếng người (Mùa dịch covid-19 năm 2020); “Con chết vì tắc thở/trong hòm xe chật người/ thiên đường con tìm kiếm/ biết bao giờ tới nơi!” (Viết cho Trà My); “Anh có khỏe không?/ lời cửa miệng/ mỗi khi nhắc máy. Gọi xa gần/ yếu khỏe miễn là nghe tiếng bạn/ có nghĩa trời chưa xóa dấu chân” (Hỏi thăm). Tông này còn có: Cây ngô, Chữ còn lưu lại, Thơ đi, Thơ Bùi Giáng, Nhớ nhà thơ, Anh còn câu hát, Thương nhớ Văn Lê, Nhớ bạn Trường Lâm… Đọc thơ ông, có lúc có cảm giác viết như không, vẻ như chẳng có gì, đọc kỹ lại thấy có gì. Thơ Quang Chuyền hay là bởi vậy.
Chủ quan tôi nghĩ trong sâu thẳm Quang Chuyền biết rõ sứ mệnh nhà thơ. Ưu tư là gánh nặng bề trên đặt lên vai mọi thi sĩ, trong đó có ông. “Chợt thấy cần buông bỏ/ mọi lụy phiền trong tâm/chợt thấy cần buông bỏ/ khát khao không thể cầm/ xin cuộc đời lưu giữ/ đôi môi tươi nụ cười/ xin cuộc đời lưu giữ/ đức tin đừng phai phôi” (Chợt nghĩ). Tôi không biết cặp từ “phai phôi” ông chủ ý hay viết cho hợp vần, nhưng ngẫm đi ngẫm lại thì thấy “phai phôi” đắc địa lắm. Nó làm cho câu thơ, và cả bài thơ tươi hẳn ra. Nó cũng cho thấy con người thi sĩ trước sau thủy chung trọn vẹn. Tôi kết thúc bài viết tại đây.
25/10/2020
Cao Chiến
Theo https://vanhocsaigon.com/

Hoàng Vũ Thuật - Người thơ qua hai thế kỷ

Hoàng Vũ Thuật - Người
thơ qua hai thế kỷ

Tôi biết anh – nhà thơ Hoàng Vũ Thuật khi tôi còn bé tí, khi tôi đứng trên làng cát Bảo Ninh không tìm ra nhà dù từ chỗ tôi đứng cách nơi tôi ở chỉ qua ba ngôi nhà. Anh dẫn tôi về như một chiến công vì ba tôi và các đồng nghiệp cũng lo tôi mất tích. Từ bé đến lớn tôi luôn được nghe thơ anh, đọc thơ anh, tôi cứ xem như đó là lẽ đương nhiên, vì anh là nhà thơ, tôi là nhà giáo, nhà giáo dạy văn thì đọc thơ của nhà thơ mà với mình có quá nhiều kí ức. Tôi nghe anh đọc những bài thơ mới sáng tác, tôi đọc thơ anh qua những tập thơ anh tặng cho ba tôi và tôi: Lặng im mùa hạ (1985), Gửi những ngọn sóng (1986), Tháp nghiêng (2004), Ngôi nhà cỏ, Màu (2010), Mùi (2014), Cây xanh ngoài lời (2017).
Tôi đã từng viết bài “Gửi những ngọn sóng – sóng hồn anh” vào năm 1986, và vào năm 2007, anh nhắc tôi là viết về Tháp nghiêng đi. Và tôi đã viết về Tháp nghiêng (đăng báo Văn nghệ). Từ lâu tôi vẫn nghĩ về một nhà thơ Hoàng Vũ Thuật rất nghiêm túc trong lao động nghệ thuật, trong trăn trở, suy tư và anh thực sự đã sáng tạo cho mình một thế giới thơ mang nét riêng của mình. Ngay từ Gửi những ngọn sóng đã phần nào thể hiện chân dung đích thực của anh, không ồn ào phô trương, không náo nhiệt thời thượng mà xáo động, nồng nhiệt, cháy bỏng từ bên trong. Và có nhiều bài phải đọc lại nhiều lần mới cảm nhận hết cái mạch sóng ngầm ấy. Anh cởi mở trong tế nhị sâu kín. Anh say đắm mà không buông thả. Nhịp thơ không gò bó, câu nệ, sức thơ dồi dào, mãnh liệt mà đằm thắm, thâm trầm trong cảm và nghĩ, trong phát hiện và biểu hiện…
Lấy tên bài thơ Tháp nghiêng đặt tên cho cả tập với 45 bài thơ thể hiện chủ ý của nhà thơ và anh đã nhắc lại với tôi tên tập thơ vừa đau đáu, vừa da diết bởi “Làm sao níu được bước chân thời gian?/ giữ lại chút mơ hồ làn sương mỏng/ và sợi tóc/ di sản ái tình ngày qua” (Di sản). “Làm sao níu được bước chân thời gian?” để gặp lại một Hoàng Vũ Thuật của hơn 20 năm trước tha thiết sống, tha thiết yêu, hăm hở đến với nàng thơ bằng trái tim đa tình, đa cảm, bằng giọng điệu thủ thỉ tâm tình, nhẹ nhàng sâu lắng, bằng sự tự tin của tuổi trẻ, bằng nhiệt tình cháy bỏng muốn đốt cháy mình trong ngọn lửa thơ ca. Thời gian đã để lại dấu ấn trong Tháp nghiêng  “Không bến nước, không sân đình/ Mình tôi đợi với bóng mình thành hai… Đợi ai, ai đợi, ai nào!/ Mà tôi quanh quẩn ra vào quên tôi” (Đợi); “Một bên anh, một bên em / Một biển thắm, một trời đêm mịt mùng… Một sinh thành, một tái tê/ Một đi mà ở, một về mà không” (Đếm). Đọc Tháp nghiêng hay Những đám mây lơ lửng có thể nhận ra nỗi cô đơn trong Hoàng Vũ Thuật từ triết lý nhân sinh, từ những gì nhà thơ cảm và nhận được trong cuộc sống hiện tại, trong quá khứ và cả tương lai. Dường như nhà thơ cô đơn và buồn còn vì sự “lệch pha” của chính nhà thơ với cuộc đời thường nhật, và ngay cả nhà thơ cũng nhận ra mình “không bình thường”, “đãng trí”, “ngớ ngẩn”: “365 ngày, ngày nào anh cũng quên…/ 365 ngày, ngày nào anh cũng nhớ…/ 365 ngày, ngày nào anh cũng muộn…/ 365 ngày, ngày nào anh cũng nhầm.. / 365 ngày, ngày nào anh cũng nợ” (Ba trăm sáu lăm ngày)… Nhà thơ không vô tâm, không quay lưng với lời đồn đại, mà nhận ra cái tôi của mình cô đơn trong sự vây bủa của lời đồn đại, của sự nhập nhòa giữa trắng – đen – phải – trái, của “bia miệng”, của những điều tưởng như đơn giản mà không giản đơn chút nào: “Tôi tất bật với cuộc đời tất bật/ Kiếp dã tràng vật lộn gió cùng mưa/ Tôi còn đây, họ vẽ chuyện hôm qua/ Họ tính chuyện ngày mai chưa tới/ Tôi hèn nhát/ Ngu ngơ/ Dữ dội. Tôi thâm trầm/ Khôn ngoan/ Nông nổi/ Tôi cuồng mê/ Rối rắm/ Đa tình...” (Lời đồn đại). Một nhà thơ với gần nửa thế kỷ sống cùng thơ, một nhà thơ từng in dấu chân mình trên khắp mọi miền đất nước, từng ngơ  ngác, vụng dại trước thời buổi kinh tế thị trường cũng đã thấm mệt vì lời đồn đại và rồi cô đơn nghĩ đến Cõi chết. Giọng thơ của Hoàng Vũ Thuật cứ là lạ, vừa như có vừa như không, vừa như rơi vào trạng thái vô thức… “Cái tôi” thi nhân trăn trở, suy tư, chiêm nghiệm, day dứt và thăm thẳm một nỗi buồn “rồi một mình/ Và tôi/ Và phố bài thơ đơn độc/ Một mình người hỡi/ Xin người đừng nghe nữa những giọng trầm/ Lạc nhịp/ Lênh đênh” (Đơn độc). Nỗi buồn này đã từng in dấu trong Gửi những ngọn sóng. Và nhiều khi ta đọc được nỗi buồn trong trái tim  quá nhạy cảm, biết dự cảm và linh cảm được cả nỗi cô đơn: “Tim ơi xin đừng khóc/ Cành cây tự giãi bày/ Sống – nghĩa là xa cách/ Duyên cớ nào ai hay?” (Lá và cành). Cho nên “Cái vành nôi yên tĩnh đời con” của một thời, giờ đã trở lại trong Tháp nghiêng không chỉ là tâm thức, là tiềm thức mà còn là vô thức. Hoàng Vũ Thuật tỏ ra sắc sảo khi viết về những hoài niệm, và thơ anh thật giàu liên tưởng, nhiều khi cái phi lý đi qua tâm tưởng nhà thơ để thành cái có lý “Bao mùa hoa đi qua/ Bao làn hương đã chết/ Hoa phượng nở tình cờ/ Để riêng mình tôi biết” (Hoa phượng tình cờ)
Anh viết về bạn bè, về thơ như chính những gì đang diễn ra hàng ngày quanh anh. Trong ký ức của tôi, bạn của Hoàng Vũ Thuật là những nhà thơ Hải Kỳ, Ngô Minh, Lý Hoài Xuân, Mai Văn Hoan… Họ “cùng một lứa bên trời”, từng hào hứng, rung cảm và xao xuyến khi vừa làm xong một bài thơ, họ say sưa đọc thơ suốt đêm, vô tư với nàng thơ và nàng thơ ban tặng cho họ những mùa quả ngọt “Không cần biện minh/ Không cần bày tỏ/ Câu thơ sinh ra quằn quại thế nào/ Cả lâu đài, cả túp lều cỏ/ Đã vào thơ ai biết khi nào!” (Nhà thơ). Viết về nàng thơ, nhà thơ như quên đi tất cả, quên cả nỗi buồn, quên cả lời đồn đại, quên cả cuộc sống thường nhật mà thăng hoa, mà bay bổng, mà sống trong trạng thái vô thức, mà khơi dậy tiềm thức “Những con chim sẻ rồi ngủ trong lùm tre cổ xưa/ anh mãi thức/ vì anh biết/ cuối chân trời, em là bài thơ duy nhất/ trụi trần như tình yêu/ như trái chín/ như mặt người tinh khôi” (Thơ).
Vẫn sử dụng thể thơ tự do, chỉ có một số bài theo thể lục bát, thể 5 chữ, thể 7 chữ, mà cách viết của Hoàng Vũ Thuật trong Tháp nghiêng có gì là lạ. Lạ từ cấu tứ, lạ từ hình ảnh, lạ từ kết cấu, lạ từ câu thơ. Có phải vì “Chiều nay em quay nghiêng làm chi, cái dáng ngôi tháp cổ” – ngôi tháp cổ hay là anh – thi nhân – đang quay nghiêng làm nên điều kì diệu từ chính những câu thơ, những con chữ lạ lùng với những điệp khúc như nhắc nhở, như khắc sâu, như trái phá “Vươn về phía con người, ngôi tháp/ Tự tin/ Hy vọng/ Tự tin… Giữa triệu triệu thiên hà/ Vững bền/ Trường tồn/ Vững bền” (Tháp nghiêng). “Tại sao/ Tại sao/ Tại sao” (Kiếp hoa). “Ai bên cửa sổ để ngõ nụ cười…/ Ai giơ bàn tay, bàn tay năm ngón” (Ai bên cửa sổ). “Vì sao, Tại sao?/ Để giải nghĩa những điều vô cớ…/ Vì sao, Tại sao?/ Cánh chim bay ngược chiều gió thổi” (Những câu hỏi không phải trả lời). “Rồi sẽ thành cây/ Rồi sẽ thành rừng/ Rồi sẽ...” (Lời đồn đại). “Sao không cát bụi…/ Sao không ngọn gió…” (Sao không là). “Thế kỷ trước/ hoài nghi/ trải đời trên cỏ xước/ Sông chầm chậm trôi/ khắc khoải/ không ngày/ không tháng/ không năm” (Thế kỷ trước). Kết cấu trùng điệp, ngôn ngữ trùng điệp tạo nên điểm nhấn trong hình ảnh, trong thi tứ và cũng là điểm nhấn của chính phong cách nhà thơ. Sau Những bông hoa trên cát, Thơ viết từ mùa hạ, Gửi những ngọn sóng, Đám mây lơ lửng, thì Tháp nghiêng đã định hình, định danh một phong cách, một sự đột phá, một sự đổi thay trong chính Hoàng Vũ Thuật. Con người từng trầm lắng dấu kín nỗi đam mê với nàng thơ từ thế kỷ trước giờ trở nên cởi mở, chân thành trong bao điều trăn trở. Cái tôi thi nhân không chỉ tìm về kí ức từ mái nhà xưa mà khao khát giải bày, khao khát nhập cuộc, khao khát đổi mới thơ, khao khát cùng nàng thơ đi không mỏi mệt trên con đường thơ ca mà đời anh đã chọn. Anh không chỉ chọn thơ ca vì nó là tiếng lòng, là cảm xúc, mà còn là quý phái, là sang trọng, là tình yêu cháy bỏng; nên vừa sau cơn hoạn nạn anh đã gửi lòng mình qua những dòng thơ trong căn phòng bệnh viện, dường như thơ ca đã hồi sinh anh sau cơn tai biến và với anh “chiếc lá cuối cùng” không chỉ là niềm hy vọng mà còn là tình yêu cuộc sống cháy bỏng “Chiếc lá bông cẩn … / đặt lên môi tôi khô khát/ một nụ hôn xanh” (Lá).
Sau bước đột phá từ Tháp nghiêng (2003), chỉ trong vòng vài năm, anh đã định hình, định danh cho mình trong liên tiếp những tập thơ Ngôi nhà cỏ, Màu (2010), Mùi (2014), Cây xanh ngoài lời (2017). Chưa nói đến bước đột phá, sự đổi thay, mà nói đến bề dày sáng tác thì anh là người khẳng định vị trí tiên phong, vị trí đỉnh cao, vị trí đổi mới cho thơ ca Việt. Từ một nhà thơ với giọng điệu trữ tình tâm tình, ngọt ngào sâu lắng của thế kỷ XX, anh đã chuyển mình cùng văn chương thời kì hậu hiện đại trong sự khẳng định phong cách thơ qua những đổi mới về hình thức và nội dung. Thể thơ tự do được anh sử dụng sáng tạo đến mức không giới hạn, liên tiếp mấy tập thơ gần như mất hẳn chữ viết hoa, từ ngữ thì tối giản đến mức có thể và giọng điệu của thơ anh không lẫn vào đâu được.
Bạn đọc chưa kịp hiểu hết ý tứ trong Tháp nghiêng, thì đã bàng hoàng trước Ngôi nhà cỏ. Rồi giật mình trước Màu và Mùi. Và khoảng 7 năm sau là một Cây xanh ngoài lời kết tinh những gì là tinh hoa nhất, phong cách nhất, riêng nhất của nhà thơ. Anh như cậy đại thụ thơ ca trong tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại. Nếu đọc anh bằng thi pháp thì mỗi tập thơ là một thi pháp thơ riêng; nếu đọc anh bằng phong cách thì ta có thể nhận ra phong cách thơ anh qua các nét chính: Thi hứng, Ngôn ngữ, Thể loại.
Thi hứng trong Ngôi nhà cỏ được đánh dấu bằng những khoảnh khắc thời gian, những khoảnh khắc mà nhà thơ không thể quên “vào lúc ba giờ chiều tháng giêng/ ngày mười” (ba giờ chiều tháng giêng ngày mười), giờ và ngày được nhắc đi nhắc lại. Rất hiện đại. Nhà thơ không ẩn dụ như kiểu “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” (Truyện Kiều – Nguyễn Du), hay “Cuối trời mây trắng bay, Lá vàng hiu hắt quá” (Thơ tình cuối mùa thu – Xuân Quỳnh). Mà giờ, ngày cụ thể, giờ ngày đóng đinh trong tứ thơ của anh. Giờ, ngày chính xác đến mức không thể xóa nhòa trong trí nhớ. Thường con người sẽ nhớ kĩ những khoảnh khắc thời gian bởi kí ức ngọt ngào hoặc kinh hoàng. Với anh, là kí ức mà anh nhận ra rất rõ, rất hình tượng “sông bắt đầu chảy trong huyết quản/ mặt trời mọc nơi đáy ngực/ rừng cổ điển lót thảm dưới lưng/ biển cuộn mình vỏ ốc”. Rõ ràng là sự sống đang tái sinh, cái nhìn của thi nhân thật kì diệu, con người phải trải qua những nỗi đớn đau “thập tử nhất sinh” mới ngộ ra cái điều tưởng chừng đơn giản nhất mà cũng khó khăn nhất. 53 bài thơ trong Ngôi nhà cỏ không có một chữ viết hoa nào, kể cả tiêu đề, mỗi bài như một sự thức giấc trước bình minh của thi nhân sau một đêm lặng thầm, một đêm trăn trở, một đêm với nhiều giấc mơ trong ngôi nhà cỏ: “ngôi nhà cỏ/ cái tổ người thời mặt trời chưa chín…/ ngôi nhà cỏ/ cái tổ lũ trẻ tóc hun tháng sáu… ngôi nhà cỏ/ cái tổ thời hai ba/ nở theo gió/ giọt giọt môi sinh/ thấm ướt ngày dại khờ/ thấm ướt câu thơ khờ dại” (ngôi nhà cỏ). Ai cho tôi câu thơ khờ dại để tôi được trẻ lại như anh – nhà thơ Hoàng Vũ Thuật. Thơ ca sang trọng, quý phái, đặt trong ngôi nhà cỏ nó trở nên giản dị, hiền hòa như dòng suối róc rách chảy, như tiếng mẹ cha gọi ta thức giấc mỗi sớm mai, như đàn trâu đủng đỉnh ra sông uống nước lúc chiều tà, như cái thời ta yêu đương khờ dại vào cái tuổi trăng tròn… Những câu thơ của anh đã đánh thức trong ta cái vô thức, tiềm thức và cả ý thức về thời gian, không gian, đời người. Tôi đang đọc anh bằng vô thức để tìm đến ý thức sáng tạo văn chương của anh. Vì sao phải gò mình đặt câu, tìm chữ, vì sao phải mất công tìm ra vần điệu, cứ để dòng thơ, câu thơ, ý thơ tuôn chảy như đời thường, như cuộc sống nó vấn dĩ vẫn vậy. Hoàng Vũ Thuật đã đưa thơ ca vượt ra khỏi những giới hạn, khuôn phép, kéo gần với cuộc sống của cái thời Internet, hiện đại mà gần gũi, giản dị mà cao sang.
“tôi có một ngày không để làm gì/ ngày nằm ngoài lốc lịch/ không thấy ngôi nhà tôi ở/ cuốn sách cầm tay” (vô thức). Ai cho ta cái cảm thức diệu kì này, nhà thơ, anh là người đã cho độc giả cái nguyên sơ, để con người vô vi, con người không quẫy đạp, con người không vùng vẫy, con người không cần toan tính… hãy tìm cho mình những giây phút vô thức, không thể có nguyên một ngày như cái gọi là “tượng trưng và ước lệ” của thi ca, thì ít nhất cũng có vài phút, vài giờ để nhận ra mình đã chạm đến cõi vô thức vì đã vô vi trước cuộc đời. Vô vi – không làm gì, không làm gì không có nghĩa là không làm gì, mà con người sẽ làm gì hay không làm gì khi đã nắm vững quy luật.
Cảm hứng thi ca trong “Ngôi nhà cỏ” là vô tận, với thể thơ tự do, thoát hết mọi gò bó về câu chữ, với ngôn ngữ giản dị đến mức gần gũi như lời nói hàng ngày trong giao tiếp của mỗi người “anh đi chợ/ chẳng vì để mua/ chẳng vì để bán… anh đi chợ/ chẳng vì để bán/ chẳng vì để mua” – kết cấu đầu cuối tương ứng như nhịp chân em, như vó ngựa ở sườn núi cao, như tiếng người mua bán. Chợ vùng cao trong thơ anh hiện lên gần gũi, sinh động. Người ta vẫn nhắc đến cái rộn ràng, sinh động trong “Chợ Tết” của nhà thơ Đoàn Văn Cừ trong phong trào thơ Mới, bạn đọc cũng sẽ nhớ Hoàng Vũ Thuật về một phiên chợ vùng cao cũng rộn ràng, đông vui, nhưng thi nhân không mua, không bán mà để ngắm nhìn em, để biết về phong tục cưới xin của nam nữ ở vùng núi cao và anh thi nhân – si tình “chợ sáng dẫu tan/ anh đợi em dưới chân nhà sàn” (anh đi chợ). Tài hoa đến thế là cùng. Đa tình cũng đến thế là cùng.
Đến với Màu và Mùi, bạn đọc sẽ nhận ra vẫn dòng chữ đầu tiên đến dòng chữ cuối cùng của cả hai tập thơ không hề có một chữ viết hoa, ngoại trừ danh từ riêng. Không viết hoa, dẫu có xuống dòng, không viết hoa cả tiêu đề dẫu mỗi tập có đến vài chục bài thơ. Tên của mỗi tập thơ cũng gợi cảm nhận về khứu giác, thị giác. Thơ không chỉ đọc, mà phải sử dụng các giác quan để cảm nhận. Quyết tâm làm mới thi ca đã khiến anh trăn trở, anh khẳng định, và anh đặt chân trên con đường thơ ca mượt mà mà cũng không thiếu chông gai, nếu không định hình, định danh về phong cách thì chính nó sẽ cứa đứt bàn chân anh khi bước đi trên con đường thi ca nhiều “hoan lạc” mà cũng có lúc “hoang vu”.
“mắt trân trân ngó lên trần nhà/ trần nhà màu đen/ con thằn lằn tặc lưỡi ba tiếng/ tôi quay sang trái/ đen và đen và đen/ tôi quay sang phải/ đen và đen và đen/ tấm ra trải giường điệp điệp/ không màu/ còn tôi/ màu gì/ con thằn lằn bò quanh chờ điều gì đấy” (màu). Bạn đọc đã nhận ra màu gì trong bài thơ này của anh? Màu hay không màu? Sao nhìn thấy trần nhà màu đen, bốn phía màu đen mà ra trải giường không màu, và anh màu gì. Đen và đen sao thấy con thằn lằn. Thi ca là vậy, tâm thức con người là vậy. Ngỡ như có mà ngỡ như không. Vậy hãy để cho cái vô thức chảy trong bạn, để đến lúc nó bật thành lời và đấy chính là sự sáng tạo của người Nghệ sỹ. Người ta đã mất công lý giải hiện tượng Paganini (1782 – 1840), trên thực tế đấy là nhờ vào năng khiếu thiên bẩm và quá trình tập luyện gian khổ của ông, chứ không thế gán cho ông là hội chứng Marfan hay Ehler-Danlos – những hội chứng làm tăng thêm tính ưu việt trong một số kỹ năng của con người. Với cảm nhận của tôi thì với những trí tuệ, tâm hồn lớn, họ có thể sáng tác cả khi họ đang ngủ, khi rơi vào trạng thái vô thức. Nhiều Nghệ sỹ đã bất ngờ trước những sáng tác cực hay của họ bởi trạng thái vô thức đó… Với Hoàng Vũ Thuật, điều này cũng không ngoại lệ. Nếu ai đã từng đọc những câu thơ của anh khi anh bị bạo bệnh thì mới biết sự hồi sinh của con người về thể xác và tâm hồn là sự diệu kì nhất mà nhân loại đã từng biết đến. Con người – hai tiếng ấy mới thiêng liêng làm sao.
“tôi đứng lên bằng cánh tay/ đi lại bằng cánh tay/ thiếu nó tôi sẽ ngã/ thì ra con người có thể dựng ngược mình lên” (thế giới và tôi), ai đã từng đến thăm anh trong những ngày anh bị bạo bệnh thì sẽ đọc những câu thơ này bằng chính sự đau đớn, sự cố gắng, sự nỗ lực của anh để chiến thắng bệnh tật, mà hơn hết là chiến thắng bản thân. Mọi lý thuyết về sự trường sinh của con người là vui vẻ, là yêu cuộc sống chỉ có thể đúng với những người đang bình thường, còn khi con người bị tai biến, bị rơi vào cái cảnh “và tôi cười nửa miệng/ nói nửa miệng/ âm thanh nghiêng nghiêng/ những tiếng đầu đời/ theo cách nói người thượng cổ/ thì đã sao nào” thì sẽ nhận ra chính thi ca đã cứu anh, thi ca là điểm tựa cho anh đứng thẳng, và tâm hồn thi ca, con người thi ca đã vượt lên tất cả để trở về với đời sống thường nhật bằng cách mà mỗi ai cũng nghĩ sự tồn tại của mình là bình thường. Anh lý sự thật giản dị “thế giới còn phải làm lại từ đầu, huống gì một con người / thế giới sắp xếp tưởng đã ngăn nắp quy củ / thế rồi xáo tung hết thảy”, rồi anh khẳng định mình một cách tự tin: “tôi cũng là thế giới / tự đảo lộn mình / đi đứng nói cười kiểu của mình”. Đã có ai rơi vào tình cảnh “cười nửa miệng, nói nửa miệng, đi lại bằng cánh tay” mà lý sự như nhà thơ Hoàng Vũ Thuật chưa? Chắc là chưa, vì lúc này con người đau ốm sẽ đau đớn trước những thay đổi về ngoại hình đến khó chịu, rồi còn phải lo cho cái tôi lành bệnh, làm sao có thể lý sự một cách lạc quan với tầm nhìn vĩ mô như thế. Từ cái tôi đau ốm, nhà thơ nghĩ đến sự đổi thay của nhân loại, của thế giới trong hàng thế kỷ qua. Quả là lớn lao và ý nghĩa.
Khi anh ký tặng tôi tập thơ Màu (2012), chữ của anh run run những nét như người mới bắt đầu biết cầm cây bút, vậy mà 5 năm sau chữ của anh đã chân phương trở lại khi ký tặng tôi tập thơ Mùi và Cây xanh ngoài lời. Ngay cả mỗi lần gặp anh tôi vẫn nói, sự kì diệu nào đến với nhà thơ vậy?
Tập thơ Màu là minh chứng cho tình yêu cuộc sống, niềm tin vào cuộc sống, lo nghĩ về những sự thay đổi từ con người đến vũ trụ và nhân loại, triết lý về nhân sinh là cứu cánh cho sự tái sinh của anh theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Dường như trong đau đớn, cảm nhận thi ca đã chạm vào vô thức của anh, để bật thành những dòng chữ với cảm thức rất riêng, rất mới của thi nhân. Có lẽ khi đứng giữa lằn ranh của cuộc sống bình thường và những tai biến khiến con người không thể bình thường, anh đã ngộ ra cái bản thể; con người và vũ trụ vốn vận hành có quy luật, và những xáo trộn cũng là minh chứng cho sự vận hành trong quy luật vẫn có những đột biến. Viết ra được nhận thức đó bằng thơ ca là không dễ, nhà văn viết tiểu thuyết, viết truyện ngắn có thể sử dụng kết cấu để ngỏ, cũng như giọng điệu đa thanh và các thủ pháp nghệ thuật khác để diễn tả cái đột biến. Còn nhà thơ Hoàng Vũ Thuật, anh đã làm gì để bạn đọc nhận ra sự đột biến của một quy luật vốn quen thuộc, đây là sự khám phá và sáng tạo của anh. Và anh đã làm được điều đó. Những câu thơ viết ra như là “ngu ngơ” mà thật đa nghĩa: “ta ngù ngờ u mê ương dại/ thế giới là ai/ và ta nữa là ai”. Thơ ca cũng vậy, nếu bạn cứ đi mãi trên con đường quen thuộc thì mãi bạn không nhận ra cảm hứng thi ca đang bị cái quen thuộc, cái nhàm chán xóa nhòa.
Sau hơn một thập kỉ tìm kiếm, khẳng định và không ngừng đổi mới, tập thơ “Cây xanh ngoài lời” (2017) như là kết tinh những tinh hoa trong hành trình sáng tạo của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật. Nếu những tập thơ đầu tay anh viết về Tổ Quốc, về mẹ, về nhân dân với giọng hào sảng của một thi nhân luôn đặt vận mệnh của đất nước lên hàng đầu, thì đến đây vẫn giọng hào sảng đó nhưng đã kết tinh và lắng đọng những suy tư, tình cảm thiêng liêng trong cái nhìn đầy nhân văn của thi nhân. Tôi cho rằng bài thơ “Tôi muốn nói bằng tiếng nói Tổ quốc tôi” của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật là bài thơ hay nhất của cả tập thơ, của cả đời thơ, của cả những bài thơ cùng viết về đề tài này của nhiều nhà thơ khác. Thường thì khi Tổ quốc phải đương đầu với giặc ngoại xâm, các nhà thơ yêu nước đều viết về Tổ quốc với khẩu khí của một dân tộc có truyền thống yêu nước quật cường. Từ bài thơ thần đầu tiên “Nam quốc sơn hà”, rồi “Bình Ngô đại cáo”… được xem là những bản tuyên ngôn độc lập; và văn học hiện đại vẫn thường nhắc đến bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, chương thơ “Đất nước” trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, thì ta thấy cách viết về Tổ quốc của Hoàng Vũ Thuật đã kế thừa trong đó những tinh hoa của bao đời và làm mới nó bằng chính sự chứng kiến, trải nghiệm và sáng tạo.
Ngay khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đưa ra một nhận định quá chính xác “tôi hằng tin ngôn ngữ làm nên Tổ quốc”. Ngôn ngữ làm nên Tổ quốc là một chân lý hiển nhiên, nếu ai đó muốn đổi thay, muốn lai căng và pha tạp tiếng Việt thì kẻ đó không xứng đáng là một công dân Việt. Nhạc sĩ Phạm Duy cũng từng viết trong bản “Tình ca”: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi…”.
Ta hãy đọc trên những dòng thơ của Hoàng Vũ Thuật:
“tôi hằng tin ngôn ngữ làm nên Tổ quốc
tiếng đầu tiên
mẹ
hiền
nước
việt
tiếng trầm hùng
& tiếng thiết tha
âm thầm hơn mọi lời ca”
Nếu tính bằng câu thơ thì 9 dòng thơ này chỉ viết trong 4 câu, nhà thơ đã sử dụng các khoảng trắng trong những dòng thơ cùng cách xuống dòng để làm nên cái nhịp điệu, cái âm thanh, cái giọng điệu cho chính khổ thơ đầu tiên này. Mỗi dòng như một tiếng gõ vào nhịp tim của bạn đọc, mỗi khoảng trắng của dòng thơ như làm nên một miền liên tưởng, và Tổ quốc được gắn với mẹ hiền, âm vang của nó nằm trong những chữ tượng thanh: trầm hùng, thiết tha…
Sau lời khẳng định như dao chém vào đá: “tôi hằng tin ngôn ngữ làm nên Tổ quốc”, là hình tượng người mẹ hiền Việt Nam được như thơ viết liên tục trong 10 dòng thơ, vừa gợi về kí ức những người mẹ Việt Nam tảo tần khuya sớm, vừa gợi về những tích trầu cau, tiếng kẽo kẹt của tao nôi. Các hình tượng thơ lung linh bởi cách sử dụng ngôn từ thật chọn lọc và đắc địa: “lá trầu tươi hình trái tim, trái cau hình giọt máu… những âm thanh Tổ quốc kẽo kẹt”, đúng là tình yêu “tiếng nước tôi” đã làm nên sự bay bổng, diệu kì trong thơ Hoàng Vũ Thuật.
28 dòng thơ tiếp theo, mỗi dòng thơ là một sức gợi, gợi về nét văn hóa nông nghiệp của người Việt, gợi về những sự tích, những câu chuyện cổ, gợi về những tác phẩm văn chương yêu nước… tất cả đều qua sách vở và qua sự truyền thụ kì diệu của người thầy. Anh vốn là thầy giáo dạy văn, anh cũng là người yêu thích văn chương, quý trọng những thầy giáo dạy văn (trong đó có ba tôi), và để viết những dòng thơ dạt dào cảm xúc mà thấm đẫm suy tư, cùng cái nhìn thấu suốt về lịch sử của đất nước với những giá trị tinh hoa ngàn đời, thì trong anh – Hoàng Vũ Thuật phải có một bề dày văn hóa sâu đậm đến thế nào đó, phải có một thủ pháp điêu luyện thế nào đó thì anh mới viết những dòng thơ thơ bay bổng như thế để khi đọc lên thấm vào tận tâm can con người. Quá tuyệt vời!
“Tổ quốc là thánh thiện”, là đẹp, là văn hóa xóm làng, là văn hóa gia đình, là nhân văn là bất diệt… 24 dòng thơ trôi chảy trong vô thức, trong tiềm thức và trong cả ý thức của thi nhân và độc giả. Trong cái bộn bề của hiện thực hôm nay, nhà thơ cũng dũng cảm viết về những kẻ có thể bán rẻ Tổ quốc, phá hoại Tổ quốc… Và sau này người ta sẽ nhắc đến anh: tình cảm yêu nước thiêng liêng trong bài thơ “tôi muốn nói bằng tiếng nói của Tổ quốc tôi” của Hoàng Vũ Thuật là dấu mốc son mới trong thơ ca yêu nước Việt Nam.
Quả thật, sau Tháp nghiêng, Ngôi nhà cỏ, Màu và Mùi, đến Cây xanh ngoài lời có một sự thay đổi lớn trong thơ Hoàng Vũ Thuật. Quyết tâm đổi mới thơ bằng thể loại, ngôn ngữ, kiên trì viết thơ không có chữ viết hoa để gián tiếp khẳng định với độc giả hành trình đổi mới, sáng tạo của mình, và sau gần 15 năm không mệt mỏi trên hành trình sáng tạo đó, con đường anh đi đã thành, nói như Lỗ Tấn: “trên trái đất này làm gì có đường, người ta đi mãi thành đường đó thôi”. Hoàng Vũ Thuật đã làm được điều đó.
“chẳng xa lạ gì cả/ những câu thơ viết ra như kí hiệu của lời/ là mưa nhưng không là giọt mưa bạn thấy/ có một vòm trời xám xịt mênh mông giữa thân thể tôi/ đang rơi mưa/ tắm gội mạch nguồn mát rượi/ những gì tôi nói giản dị tới mức không thể giản dị/ nhưng bạn chớ nghe/ khi tôi lặng im đấy là ngôn ngữ nhận biết/ thơ đã viết bằng mắt và hơi thở của tóc/ ý niệm của chân/ tôi đoán sự thật bằng cái ngu ngơ của người đãng trí/ chối từ hiện hữu đi tìm giấc mơ” (những câu thơ của tôi)
Con đường anh đi đã thành đường, mới hơn những gì mới nhất trong tiến trình thơ ca Việt Nam. Anh là nhà thơ đi qua hai thế kỷ; thế kỷ XX, XXI văn chương Việt Nam có nhiều biến động, trong quá trình vận động đó sự thay đổi của anh là hợp quy luật, là điều mà độc giả đón đợi, là điều mà nhà thơ khẳng định bản lĩnh của mình về phong cách thơ. Anh đã khẳng định sự nghiệp thơ ca của mình cùng với văn học dân tộc. Anh sững sững trong nền thơ ca hiện đại. Và với Người thơ hai thế kỷ, tôi vẫn còn nhớ những câu thơ trong bài thơ “Mùa thua trước”: “Xa lắm thời em lên chín tuổi”, cùng cái giọng điệu ngọt ngào: “Thời ấy đâu rồi hỡi mùa thu/ Ta như mây lãng đãng bên hồ/ Thoáng hiện ra rồi thoáng bay mất/ Để đến bây giờ còn ngẩn ngơ…”.
Huế, 6/7/2018
Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn Văn Chinh và sự "Không giống ai" từ những thiên truyện ngắn

Nhà văn Văn Chinh và sự "Không
giống ai" từ những thiên truyện ngắn

Hơn ba mươi năm, ngót bốn mươi năm trôi qua, ông nhà văn Văn Chinh của bây giờ vẫn giữ được sự “không giống ai” mà Nguyễn Tham Thiện Kế từng nhận thấy.
Trong cuốn chân dung văn học “Miền lưu dấu văn nhân” (NXB Hội Nhà văn, 2013), ở bài viết về Văn Chinh, nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế kể lại rành rẽ cái ấn tượng hơn ba mươi năm trước của mình, năm 1980, khi gặp Văn Chinh ở một trại sáng tác do Hội Văn nghệ Vĩnh Phú tổ chức: “Chiếc túi đen ka-ki thêu một bông hoa cúc tí xíu, đựng bản thảo ngoắc ghi-đông. Ba-lô quần áo cũng buộc luôn đó. Áo sơ-mi cộc tay, mỏng như xô màn, đóng không hết khuy để lộ ra mảng ngực nâu bóng, căng tràn nhựa sống. Quần vải tổng hợp màu rượu chát, từng được chạy qua bàn là phẳng căng nhưng chủ nhân ưa ngồi xổm nên nó đã kịp xoắn lại như lò xo ngang ống chân gân guốc” (“Văn Chinh và đối cực”). Chân dung một nhà văn tỉnh lẻ thời bao cấp, vừa nồng nã bụi đất quê lại vừa phơi phới cái ngang tàng Lương Sơn còn được Nguyễn Tham Thiện Kế nhấn thêm vào một nét nữa, nét khụng khiệng kiểu cụ lý ở giữa chốn đình trung: “Khi ăn, Văn Chinh chọn ngay mâm chính giữa, ngồi vị trí trang trọng, cầm đũa huơ lên, cười bên này ngóng bên kia rồi mới bàn chuyện văn chương. Toàn bàn những chuyện không giống ai. Bao giờ cũng bắt đầu một câu quen thuộc, trịnh trọng nhuốm gây sự: Xin được hỏi ông (bà)… đây là nghị quyết hay là bản báo cáo tình hình sản xuất. Nếu là văn chương thì con người đâu?”.
Hơn ba mươi năm, ngót bốn mươi năm trôi qua, ông nhà văn Văn Chinh của bây giờ vẫn giữ được sự “không giống ai” mà Nguyễn Tham Thiện Kế từng nhận thấy. Năm 2018, nhà văn Văn Chinh tròn 70 tuổi, ông cho công bố tập truyện ngắn có cái tên “Thần thức dưới rêu phong” (NXB Hội Nhà văn) gồm nhiều truyện được ông viết ở nhiều giai đoạn khác nhau trong đời cầm bút, nên về cơ bản cũng có thể xem như một tuyển tập mang tính đại diện nhất định cho diện mạo và phong cách truyện ngắn của mình. Có thể nói ngay rằng: những truyện ngắn này đã có công góp vào cái “không giống ai” cho Văn Chinh, vì bản thân chúng cũng rất… không giống ai.
Không giống ai, bởi trước hết, về cấu trúc, hầu hết các truyện ngắn của Văn Chinh đều lệch/ chệch hoặc đi hẳn ra ngoài các mô hình cấu trúc truyện ngắn phổ biến. Những khái niệm mà ta thường gặp trong phân tích truyện ngắn, như: “một lát cắt của hiện thực đời sống”, “khoảnh khắc truyện ngắn” hay “cao trào”, “thắt nút”, “mở nút”, v.v… đều khó mà áp được vào các truyện ngắn của ông. Cách kể chuyện của Văn Chinh, từ nhập đề, đến dẫn dắt câu chuyện và kết thúc, mang khá đậm hơi hướng, cung cách của truyện kể truyền miệng, kiểu “đêm hè mẹ kể con nghe”, hoặc truyện kể của những nghệ nhân hát rong thời xa xưa nơi góc đình quán chợ. Chúng “mềm” về bố cục, mềm tới mức luôn có xu hướng chảy tràn và làm loãng cốt truyện bởi những trữ tình ngoại đề hoặc những tình tiết mới, được nảy sinh theo một cách bất ngờ và khá “mất trật tự”. Đấy là nét duyên của Văn Chinh, khi ông có thể khiến độc giả được hưởng thụ cái khoái thú của “miên man đọc” trong sự chế định của “rề rà kể”. (Khi viết “Thay lời giới thiệu” cho tập truyện ngắn này, nhà văn Sương Nguyệt Minh nhận định: “Cái sự rẽ dọc rẽ ngang miên man này cũng là cái khác lạ làm nên giọng điệu Văn Chinh. Tuy nhiên, cái ranh giới giữa trữ tình ngoại đề nghệ thuật với “khoe” kiến thức triết học, sử học, văn hóa… rất mong manh, không phải lúc nào ông cũng dẫn dắt được mạch cảm xúc nghệ thuật”). Nhưng đấy cũng chính là nguyên do khiến không ít lần người đọc có cảm giác hẫng hụt khi truyện ngắn Văn Chinh đi đến cái kết của nó. Kết truyện, nhưng câu chuyện không chịu khép lại, nó cứ ở đấy, ngổn ngang những người và việc, dở dang như sự đời vốn chẳng mấy khi được chu toàn như ta muốn, xộc xệch như những thiên đường không bao giờ hoàn hảo. “Ai biết mộ liệt sĩ ở đâu”, “Mừng nỗi buồn qua”, “Chiếc đồng hồ một kim”, “Chị Mỵ làng Minh Quang”, “Con tàu tuổi thơ”, “Mùi trần”, “Ghi chép của ngài Appin về con ngựa hãn huyết”, v.v… là những truyện ngắn như thế. Thử lấy ví dụ bằng truyện “Ghi chép của ngài Appin về con ngựa hãn huyết”, giải Ba truyện ngắn 2011–2012 của báo Văn nghệ, theo tôi, được cấu thành từ một chủ ý tạo nên nhiều nghi vấn và… chưng hửng. Ngay dưới nhan đề truyện, tác giả chua một dòng lạc khoản: “Gửi tác giả Tô-tem sói”, nhưng rốt cuộc, đọc mãi nghĩ mãi tôi vẫn không dò ra được cái mối liên văn bản giữa tác phẩm của Khương Nhung với câu chuyện lưu lạc đầy ly kỳ mà con ngựa hãn huyết nòi Mông Cổ kể lại với ngài Appin? Chưa hết, cứ theo như phi lộ vào truyện thì ngài Appin sang Mông Cổ là để xem ở những nước hay gây chiến thì “hoàng gia được cái gì, thường dân được cái gì trên những cái chết của các chiến binh”, nghĩa là một lý do hết sức nghiêm trọng, và quả thật, câu chuyện mà con ngựa hãn huyết được đánh số 054 ấy kể lại cũng đầy vẻ nghiêm trọng, khi phần nào nó phơi bày được những cái nhếch nhác quái quỷ mà chiến tranh, và những sự kiện còn hơn cả chiến tranh, đã gây nên trong đời sống của đại chúng cần lao. Thế nhưng, phần kết truyện, lời đáp cho mối băn khoăn của ngài Appin lại là một cú chơi khăm với cái nghiêm trọng, khi Tổ của con 054 dặn cháu mình rằng: “hễ thấy trong người rậm rật thì hãy tạm ngừng ăn nếu trong đàn không có ả nào động dục, chớ để rậm rực lâu ngày tất sinh tính ác”. Một cách lý giải đầy trào tiếu về “tính ác” như là cái căn rễ của hành vi phát động chiến tranh. Và bởi thế, mới có câu khép lại thiên truyện mà thật ra là chẳng khép lại cái gì, của ngài Appin: “Đêm ấy… lần đầu tiên tôi biết trong việc ngủ với đàn bà là có tinh thần nhân đạo, nên sướng hơn mọi bận. Kể cả trừ đi phần tương tác là người nước ngoài, vẫn còn sướng hơn”.
Tôi muốn nói thêm về một đặc điểm nữa, khá trội bật, ở những truyện ngắn loại này của Văn Chinh: chúng “ngắn”, nhưng lại mang tham vọng ôm trọn những hiện thực dài rộng, có khi đến cả một đời người. Những cuộc trăm năm nhân thế với biết bao cơn chìm nổi ấy, đương nhiên, miền dư địa đầy vẫy gọi của nó phải là tiểu thuyết. Còn thể loại truyện ngắn, với trên dưới mười trang sách in, sẽ là một thách thức không nhỏ cho người viết trong việc bày binh bố trận, dàn dựng cảnh huống, lọc lựa chi tiết trước sau để tạo lập một cấu trúc văn bản chặt chẽ, tuy nhỏ gọn mà vẫn đủ sức dung chứa những ba động lớn của cuộc đời. Truyện ngắn của Văn Chinh, nói chung, thỏa mãn đòi hỏi ấy. Thế nhưng, nó vẫn không khỏi gợi lên cái mà ở trên, tôi tạm chỉ định bằng cụm từ “mất trật tự”. Tôi sẽ lấy truyện“Ai biết mộ liệt sĩ ở đâu”, giải Ba truyện ngắn 2005–2006 của tạp chí Văn nghệ Quân đội, làm ví dụ. Truyện ngắn này không kể một cuộc đời, mà kể đến năm cuộc đời: người mẹ không chồng mà chửa, đứa con không cha, ông bố dượng đầy “chất nghệ”, ông bố đẻ “một vị tướng có tài, chỉ mỗi tội thích ngủ với gái non”, và ông bố hờ chẳng được tích sự gì ngoài việc làm kẻ “tráng men” cho đứa khác, rồi chết. Tác giả cố tình để giọng của người kể chuyện và giọng của nhân vật nhòe lẫn với nhau, rất khó bóc tách.
Không giống ai, bởi ở tuyển tập này Văn Chinh còn có một mảng truyện ngắn mà ở lời “Tựa”, ông tự gọi là “viết lại”, học theo cách “Chuyện cũ viết lại” của văn hào Lỗ Tấn. Bộ ba truyện “Thị” – “Puellae” – “Gái”, rồi các truyện “Dưới rêu phong”, “Trái tim bốc khói”, “Cựu hoàng”, “Văn tự án liệt truyện”, v.v… là những truyện khá tiêu biểu. Viết lại của Văn Chinh không nhằm vào một văn bản cụ thể, mà là liên và xuyên văn bản. Đặc biệt, khi sự viết lại diễn ra ở khu vực của thư tịch lịch sử, như truyện ngắn “Dưới rêu phong”, Văn Chinh hiện diện như một nhà văn đang hăm hở tranh cãi với sử gia về cái gì là sự thật: sự thật của việc một vương triều sụp đổ, sự thật trong tâm hồn một bà hoàng hậu mà sau bao nhiêu thế kỷ, thành tượng thờ rồi, ánh mắt “còn thèm khát thế kia!”. Không những thế, có thể nói, “Dưới rêu phong” còn là một sự giải ảo lịch sử của Văn Chinh: những rồng bay phượng múa huyền hoặc, những sơn son thếp vàng lung linh về hai triều Đinh, Lê trong tâm thức hậu thế đã bị nhà văn gột sạch bằng cách kể chuyện thấm đẫm tinh thần trào tiếu nhưng lại tàn nhẫn như lột vỏ củ hành. Lột hết lớp này đến lớp khác, lột đến đâu cay mắt đến đấy, để rồi cuối cùng sự thật hiện ra, trơ khấc. Rằng triều đại khai mở cho nền độc lập dân tộc thật ra vô cùng hoang sơ, cái gọi là vương pháp chưa hề được thiết định chặt chẽ, những thúc đẩy bản năng của con người có khi còn mạnh hơn sức ràng buộc của đạo đức và các lợi ích chính trị xã hội. Thế nên cái việc ăn, uống và giao cấu chốn cung đình mới phóng phiếm buông tuồng đến thế, đàn bà mới thọc tay vào chính sự sâu đến thế, và sự chuyển giao quyền lực giữa hai triều đại mới nhanh gọn và nhiều thảm khốc đến thế
Vẫn là nhà văn Sương Nguyệt Minh bình luận: “Đọc văn Văn Chinh tôi thấy trong ông có hai con người. Một con người có cái cách bộc trực nồng nhiệt, có cái vẻ khệnh, vênh vênh râu, có cái bốp chát chân thành tức thì, có cái lọc lõi trải đời, có cái sự chịu đọc, có cái thất thần thảng thốt, có cái “sục sặc không yên” (chữ Vương Trí Nhàn dùng). Một con người có cái khờ dại đáng yêu, có cái yếu đuối mặc cảm cứ gồng lên”. Như thể để chứng minh bình luận ấy, nhà văn Văn Chinh cho biết, tuyển tập truyện ngắn “Thần thức dưới rêu phong” này là cú chuẩn bị cho sự ra mắt một tác phẩm mà ông ấp ủ đã lâu, cuốn sách cuối cùng của một đời cầm bút: tiểu thuyết “Nằm ngửa đấm với”. Nằm ngửa đấm với, hình ảnh ấy có thể “đọc” như một nỗ lực chân thành nhưng đầy tuyệt vọng, chính vì thế mà nó hài hước, thậm chí như trêu ngươi. Và đương nhiên, cũng là một sự không giống ai.
28/10/2020
Bảo Trân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chế Lan Viên - Làm thơ là một sự phi thường

Chế Lan Viên - Làm thơ là
một sự phi thường

Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Chế Lan Viên (1920 – 2020) vừa được Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 27.10 tại Hà Nội. Có rất nhiều điều đáng nói về một hồn thơ đã viết nên Điêu tàn từ năm 17 tuổi, rực sáng trên văn đàn 1930 – 1945 mà trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân phải thốt lên kinh ngạc: “… ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…” Nhưng Chế Lan Viên không dừng lại ở Điêu tàn, đến tận Di cảo 1, Di cảo 2 của ông, người ta vẫn phải sửng sốt thêm một lần nữa về ông, một trong những đại diện tiên phong cho chất trí tuệ, đa diện, nhiều chiều, mang tầm triết luận.
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20.10.1920 tại Diễn Châu (Nghệ An). Quê ông ở xã Thanh An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, nhưng Bình Định cũng được xem là quê hương thứ hai.
Đến với thơ rất sớm, nhưng cho đến khi vào Quy Nhơn sinh sống, gặp nhà thơ Yến Lan, ông mới ý thức được ý nghĩa của thơ và từ đó thêm bút danh Lan Viên, mang họ Chế. Bút danh Chế Lan Viên bắt đầu từ đó. Chế Lan Viên tham gia nhóm thơ cùng Yến Lan, Hàn Mặc Tử và Quách Tấn. Cái tên “Bàn thành tứ hữu” (nhóm bốn người bạn ở thành Đồ Bàn – Bình Định) có từ đó. Nếu Hàn Mặc Tử cho rằng “Làm thơ tức là điên” thì Chế Lan Viên coi “làm thơ là một sự phi thường…”.
Hơn 10 tuổi đã đến với thơ, nhưng năm 17 tuổi Chế Lan Viên mới trình làng tập thơ Điêu tàn (1937). Tựa Điêu tàn là Tuyên ngôn của Trường Thơ Loạn do ông và Hàn Mặc Tử lập ra. Kể từ tập thơ đầu tay ấy, Chế Lan Viên đã dần định hình một phong cách thơ giàu chất chính luận, suy tưởng, trí tuệ qua các tập: Gửi các anh (1954), Hoa ngày thường, chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Hoa trước lăng Người (1976), Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1985), Tuyển tập Chế Lan Viên (2 tập, 1985), Di cảo 1 (1994), Di cảo 2 (1995)…
Hành trình chuyển động từ cái tôi sử thi…
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 chủ yếu được sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Thuộc thế hệ nhà thơ xuất hiện từ phong trào Thơ mới cùng các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Anh Thơ, Vân Đài, Nguyễn Xuân Sanh, Tú Mỡ, Yến Lan, Chế Lan Viên bước vào cuộc kháng chiến vệ quốc với quyết tâm “phải làm một cuộc chuyển quân, một cuộc chuyển thơ từ nơi êm đềm, ẩm ướt của lòng mình đến các nơi cằn khô cháy bỏng, đến các chiến trường”.
Chế Lan Viên – nhà thơ song hành cùng thời đạiChế Lan Viên: Vẫn nở tiếp những mùa ánh sángHội thảo về nhà thơ, nhà giáo Chế Lan Viên
Vì thế, vượt qua phút “ngập ngừng”, “xao xuyến”, với tư duy mạnh mẽ, Chế Lan Viên đã chuyển hướng thơ từ “Điêu tàn” qua bước đệm “Gửi các anh” còn quá mong manh, nói như nhà văn Vũ Thị Thường chả khác cái vỏ, cái xác khô teo của con tằm mới ăn một, ăn hai – bỏ lại, để 10 năm rút ruột nhả tơ óng có tên “Ánh sáng phù sa”. Rồi từ đó nhà thơ tự tin định hình một phong cách thơ rất riêng Chế Lan Viên với “Hoa ngày thường, chim báo bão” đến “Những bài thơ đánh giặc”, “Đối thoại mới”, “Hoa trước lăng Người”, “Hái theo mùa”, “Hoa trên đá”… Ông nhanh chóng nhập vào đội ngũ những người mở đường mạnh mẽ, táo bạo, tạo ra một thời đại thi ca mới cách mạng.
Tính sử thi chi phối làm cho nền thơ chống Mỹ có dáng dấp một “dàn đồng ca”, một “dàn hợp xướng” lớn. Nền thơ sinh thành trong bối cảnh tinh thần đặc biệt thể hiện trong câu thơ giàu triết lý của ông “Những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt/ Nụ cười tiễn đưa con ngàn bà mẹ như nhau”.
Nhận thức sâu sắc sứ mệnh của một nền thơ sinh ra trong máu lửa, mỗi nhà thơ là một chiến sĩ “Đứng ngang tầm chiến lũy”; thơ thành “hầm chông giết giặc” phục vụ thời chiến nên “một câu thơ ba phần làm nhiệm vụ”; “Nhiệm vụ thơ nặng hơn trang giấy, các bài thơ. Cái thai nặng hơn bà mẹ”(Ngày vĩ đại)…
Chế Lan Viên sử dụng tần suất đậm đặc các biểu tượng trong thơ chống Mỹ: “Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào Cửa Bắc/ Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng” (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng).
Tính sử thi chi phối cảm xúc sáng tác. Tổ quốc được nhắc tên niềm hoan ca “Tổ quốc là núi thẳm đèo cao tột cùng hoang đảo/ Một giới tuyến ta với thù đọ pháo”, “Tổ quốc nay là từng ngã ba khu phố/ Là một góc phi trường ta đánh giữ/ Tổ quốc là nơi đâu ta sống rất anh hùng” (Xuân 68 gửi miền Nam Tổ quốc). Tình yêu mang đậm chất sử thi là tình yêu vĩ đại, lớn lao với Tổ quốc, nhân dân “Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông” (Sao chiến thắng)…
Cũng chính trong những năm tháng nước sôi lửa bỏng này, các nhà thơ đều cảm nhận sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân. Chế Lan Viên triết luận về sức mạnh hùng hậu của nhân dân qua hình ảnh khái quát “Nhân dân không có thanh gươm vung một cái đến trời mây/ Nhưng họ gánh lịch sử đến nghìn lần lớn hơn đời họ” (Thơ bổ sung).
… đến cái tôi phi sử thi
Thơ viết về chiến tranh sau 1975 đã có nhiều nét mới từ cảm hứng đến chất liệu và giọng điệu. Khi chất liệu sử thi nhạt dần, con người cá nhân được nhìn nhận trong tính toàn vẹn, có chiều sâu và hướng theo cái nhìn thế sự.
Trong các nhà thơ lớp trước đã có đóng góp tích cực cho thơ kháng chiến chống Mỹ, có lẽ Chế Lan Viên là nhà thơ có những lời thơ thống thiết về sự bất lực của thơ trước thực tế. Lời thơ đã từng cất “tiếng hét ở chiến hào”, “Mỗi trang thơ đều dội tiếng ta cười”… đã ngậm ngùi nhìn vào số phận người “Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời/ Tôi ú ớ/ Người ấy nhắc tôi những câu thơ tôi làm làm người ấy xung phong/ Mà tôi xấu hổ/ Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay/ Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ” (Ai? Tôi?)…
Sự nhạt dần cảm hứng phi sử thi đã được Chế Lan Viên đề cập trong sứ mệnh của thơ ca. Nền thơ cách mạng ngoài việc phản ánh hiện thực cách mạng, kháng chiến, đời sống tình cảm con người, còn phải “đề cập, giải đáp không ít những vấn đề của tư tưởng”. Chế Lan Viên là người đã phát biểu nhiều nhất những suy nghĩ về thơ, đặc biệt là dưới dạng “Thơ về thơ”, như Sổ tay thơ, Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ… nghĩ, Thơ bình phương/ Đời lập phương.
Nhà thơ khẳng định: “Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh/ Không phải chỉ “ơ hời” mà còn đập bàn, quát tháo, lo toan” (Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ…).
Vì thế, hình thức thơ cũng phải thay đổi cho phù hợp: “Xưa tôi hát mà bây giờ tôi tập nói/ Chỉ nói thôi mới nói hết được đời” (Sổ tay thơ).
Có thể thấy, Chế Lan Viên là một nhà thơ đã đem tới một cách nhìn mới từ những suy nghĩ nghiêm túc và sâu sắc về nghề thơ, về sứ mệnh của thơ “Thơ cần có ích”. Thế hệ trẻ từ đó cũng có những suy nghĩ sâu sắc về sứ mệnh của thơ với cuộc kháng chiến “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh), “Bài hát của chúng tôi/ Là bài ca ống cóng” (Thanh Thảo), “Thơ bỗng sắc hơn gươm” (Tần Hoài Dạ Vũ), “Mài thơ như kiếm sắc” (Trần Quang Long)…
Khi yếu tố sử thi nhạt dần, cái tôi trữ tình thiếu đi chất tráng ca, nhưng bù lại nó đã tìm thấy tiếng nói khác đầy ắp tâm trạng, nỗi trăn trở, sự day dứt, lo âu đầy trách nhiệm về chiến tranh vệ quốc, về hy sinh, mất mát, về nhu cầu, khát vọng của con người. Thơ nói riêng và văn học nói chung đã hé mở khát vọng bức thiết, đòi hỏi quan tâm đến mỗi số phận cá nhân. Mối quan tâm cộng đồng đã nhường chỗ cho số phận cá nhân. Đó chính là cơ sở để thức tỉnh ý thức cá nhân và tinh thần nhân bản sẽ trở thành nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo bao trùm của nền văn học sau năm 1975.
28/10/2020
Lê Thị Bích Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà thơ Lê Thành Nghị: "Đi xa nhớ về, khổ đau càng muốn về…"

Nhà thơ Lê Thành Nghị: "Đi xa nhớ về, khổ đau càng muốn về…" Nhà thơ, nhà phê bình văn học Lê Thành Nghị tác giả của 5 tập thơ v...