Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

 

Nguyễn Bỉnh Khiêm trong dòng chảy văn hóa dân tộc

Sách Lịch triều hiến chương loại chí viết về Trạng Trình Quốc Công như sau: “Vua Mạc tôn như bậc thầy, khi trong nước có việc quan trọng vẫn sai sứ đến hỏi ông. Có lúc còn triệu ông về kinh để hỏi mưu lớn. Ông học rộng, hiểu sâu nghĩa lý Kinh Dịch, mưa nắng, họa, phúc việc gì cũng biết trước”. Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có nhiều môn đệ tiếng tăm lẫy lừng như Nguyễn Dữ, Lương Hữu Khánh, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quyện, Giáp Hải, Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung, Nguyễn Văn Chính… Những người này có sở học đạt đến trình độ uyên bác và đều là danh thần vang tiếng một thời. Ngày nay nhìn lại, chúng ta thấy bóng dáng Nguyễn Bỉnh Khiêm rất lớn, là cây đại thụ che mát cả một khoảng sân rộng của lịch sử và văn học  thời kỳ trung đại.

Xuất thế để… hành đạo!

So sánh về thái độ “nhập thế” để hành đạo với đời thì Nguyễn Bỉnh Khiêm có phần giống với Phan Bội Châu, vì cả hai đều bất mãn thời cuộc mà buổi đầu “ẩn chí đợi thời”, chẳng màng thi thố tài năng.

Trong lúc, về sau, Phan Sào Nam với than vắn thở dài rằng “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài” nhưng vì bất đắc dĩ với chữ “danh” để mà hành sự, vậy nên phải quy lụy quan trường tòng theo lời răn của Khổng Tử: danh phải chính để cho ngôn được thuận. Thì trước đó, trong thời buổi Lê suy, “không còn cảnh tượng thái bình”, “khắp nơi chỗ nào cũng máu chảy thành sông, xương chất thành núi”, Trình Quốc công không chịu ra thi, mà ẩn sĩ chờ thời. Phải đến khi nhà Mạc thay Lê, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới ra ứng thí. Và chỉ cần xắn tay vẩy bút, cả hai người đều đã đỗ giải nguyên.

Về thái độ “xuất thế” để lánh đục tìm trong, thì Nguyễn Bỉnh Khiêm lại có phần giống Tam nguyên Yên Đỗ. Vì, Bạch Vân Cư Sĩ cáo quan ẩn dật sau tám năm ngao ngán lộng thần nơi chốn quan trường, thì Nguyễn Khuyến cũng chỉ làm quan được mười năm rồi cáo quan. Và, cả hai từ quan nhưng đều canh cánh trong lòng bởi trách nhiệm kẻ sĩ. Thế mà cách ứng xử sau đó lại khác. Nguyễn khuyến dù day dứt “Ơn vua chưa chút báo đền/ Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn trời” nhưng lại có phần cự tuyệt khi dặn con: “Đề vào mấy chữ trong bia/ Rằng: Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu” (Di Chúc). Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm, “vì muốn tác động đến thời cuộc và vì sự ràng buộc của nhà Mạc đối với những sĩ phu có uy vọng, ông đã trở lại tham chính” (Từ điển văn học, Bộ mới, NXB Thế Giới, tr 1108). Rồi sau đó phải đến bảy mươi tuổi Nguyễn Bỉnh Khiêm mới treo mũ từ quan.

Vì vậy, có thể thấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một hiện tượng khá đặc biệt trong liệt sử trung đại. Trong con người, ông là người nhập cuộc với triết lý Khổng giáo. Trong sáng tác, nhất là khi về ẩn, lập “quán”, xây chùa, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa có thiên hướng thế sự vừa nhuốm nhiều màu sắc tư tưởng Lão Trang.

Đoạn “trung chuyển” trong “dòng chảy” thơ Nôm dân tộc

Xét về vị trí của các tác giả trong dòng chảy văn học, nếu Nguyễn Trãi là người kết tinh thời kỳ vàng son văn hóa Lý – Trần, thì Nguyễn Bỉnh Khiêm là người theo sau, kế thừa tinh hoa Nguyễn Trãi và đạt đến đỉnh cao, thêm một bước hoàn thiện cả về tư tưởng, bút pháp, và thể loại cho thi ca dân tộc. Chỉ cần so sánh Nôm đủ cho ta thấy điều đó: Nếu Quốc âm thi tập (được xem là tập thơ viết bằng chữ Nôm sớm nhất của văn học nước nhà), mặc dù được Nguyễn Trãi ý thức cách tân “Nôm hóa” thơ thất ngôn Đường luật chữ Hán bằng nhiều câu thơ lục ngôn, song vẫn còn đậm đặc yếu tố cổ điển. Thì đến Bạch Vân quốc ngữ thi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “lột xác” cho thơ Nôm dân tộc, “Việt hóa” rất nhiều, từ ngôn từ, mỹ cảm cho đến tâm thức… Tất cả đều nhuốm màu thế sự, thấm đẫm hơi thở thời đại, đậm đặc đạo lý luân thường. Mà phải chờ khá lâu sau đó, chờ đến áng thơ Nôm trác việt kết tụ linh hồn dân tộc Truyện Kiều (Nguyễn Du) và thơ Nôm của “bà Chúa” Hồ Xuân Hương, dòng chảy thơ Nôm Việt Nam mới thật sự thăng hoa, đạt đến đỉnh cao của sự hoàn hảo. Nhìn bao quát ra như thế để thấy rằng, trong dòng chảy ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm là chiếc cầu nối, là một mắt xích quan trọng, là vị trí khó có thể thiếu trống.

Bạch Vân quốc ngữ thi là đoạn trung chuyển của dòng chảy ấy, mà tiêu biểu nhất là bài thơ Nhàn (Thú nhàn). Bài thơ này của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ lâu đã được đưa vào giảng dạy ở chương trình Ngữ văn lớp 10. Đây được xem là bài thơ khá đặc biệt vì nó kết tinh tư tưởng sâu sắc quan niệm sống của những bậc đại hiền triết thức giả Á Đông xa xưa. Những chiêm nghiệm sống ấy của tác giả ngày nay vẫn còn nguyên những giá trị thực tiễn với nhiều thâm thúy sâu sắc trong cách nhìn và quan niệm nhân sinh sâu sắc.

Nhà tiên tri “số 1” của dân tộc

Nhiều giai thoại và sử sách ghi lại Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà tiên tri với nhiều lời “sấm” truyền, những lời mách bảo nhằm hạn chế chiến tranh đổ máu, hạn chế dịch bệnh. Theo Wikipedia tiếng Việt: “Ông cũng được sử sách và người đời thừa nhận rộng rãi với tư cách là một nhà dự báo, hoạch định chiến lược kỳ tài, với tầm nhìn địa chính trị đi trước thời đại nhiều thế kỷ. Những lời cố vấn nổi tiếng của ông dành cho các tập đoàn quyền lực phong kiến Mạc, Lê-Trịnh, Nguyễn (nói theo lời của danh sĩ Nguyễn Thiếp là phiến ngữ toàn tam tính) đã có ảnh hưởng to lớn, mang tính bước ngoặt đối với tiến trình của lịch sử dân tộc và từ đó tác động lớn tới quan hệ địa chính trị của cả khu vực Đông Nam Á trở về sau”. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có một tầm nhìn chiến lược thấu suốt về chủ quyền của đất nước trên biển Đông ngay từ thế kỷ 16.

“Sấm Trạng Trình” từng mách bảo nhà Mạc chạy lên Cao Bằng lập nghiệp. Từng khuyên Trịnh Kiểm “giữ chùa thờ Phật được ăn oản”, căn cớ lập nên nhà Lê. Từng khuyên chúa Nguyễn Hoàng lập nên vùng đất Thuận Hóa với câu nói ẩn ý nổi tiếng “hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân”. Tại xã Nam Tân (Nam Đàn, Nghệ An) còn lưu lại câu chuyện về khe Bò Đái, gắn liền với câu sấm truyền đời được cho là của Trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Đụn Sơn phân giải/ Bò Đái thất thanh/ Nam Đàn sinh thánh”. Cũng phải chăng vì lý do này mà trong Cao Đài Tam Thánh (thờ tại Tòa thánh Cao Đài tỉnh Tây Ninh), người ta lại chọn Nguyễn Bỉnh Khiêm đứng cạnh nhà cách mạng Trung Quốc Tôn Dật Tiên và đại văn hào Pháp Victor Hugo…

Triết lý ý vị từ bài thơ “Nhàn” 

Bài thơ này của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ lâu đã được đưa vào giảng dạy ở chương trình Ngữ văn lớp 10. Đây được xem là bài thơ khá đặc biệt vì nó kết tinh tư tưởng sâu sắc quan niệm sống của những bậc đại hiền triết thức giả Á Đông xa xưa Những chiêm nghiệm sống ấy của tác giả ngày nay vẫn còn nguyên những giá trị thực tiễn với nhiều thâm thúy trong cách nhìn theo chiết tự Hán học.

Thứ nhất, sự thâm thúy của bài thơ thể hiện ở nhan đề “Nhàn”, mặc dù nó được người đời sau đặt. Trong Hán tự, chữ “nhàn” được ghép bởi bộ “nhân” (“nhân” đứng, là người, đứng bên trái tự) hội ý với bộ “môn” (là cửa), trong bộ “môn” có bộ “nguyệt” (là trăng). Khi hội ý như thế, chữ “nhàn” có nghĩa là: người thảnh thơi ngắm trăng rọi vào khung cửa. Như vậy, lúc nào mà chúng ta có những giây phút giao hòa với thiên nhiên như thế mới gọi là nhàn. Ngày nay, để có được những phút giây như thế thực là rất hiếm lắm thay.

Trong bài thơ có câu này: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”. Nơi vắng vẻ là nơi nào? Là nơi “sơn lâm” (rừng núi) mà cái lẽ đời người ta thường nói “Bần cư tại thị vô nhân vấn/ Phú tại sơn lâm hữu khách tầm”. Đọc câu thơ này của Nguyễn Bỉnh Khiêm tôi lại nhớ đến một Hán tự khác, đó là chữ “tiên” (ông Tiên, ông Bụt). Theo sự hội ý của từ này thì “tiên” không phải là người trên trời mà là người trên núi (sơn). Vì chữ “tiên” được ghép bởi bộ “nhân” (như nói ở trên) và bộ “sơn” (đúng bên phải). Nghĩa là người sống trên núi thì được gọi là tiên. Mà dân gian ta hay nói “sướng như tiên”. Vậy thì xem ra Nguyễn Bỉnh Khiêm đâu có… dại!

Ở cặp câu kết, tác giả viết: “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống/ Nhìn xem phú quý tựa chiếm bao”. Tôi xin không bàn câu thơ sau, mà chỉ bàn đến câu nói về… “tửu đạo”.  Rượu, ừ thì uống chứ. Uống một cách ung dung, tự tại, chẳng ai cấm, không ai ép. Nhưng mà uống dưới gốc cây kia, uống như cụ Nguyễn Khuyến để vừa ngoạn cảnh thu Bắc bộ kia. Chứ tuyệt nhiên không uống ở… nhà hàng, quán bar, vỉa hè, đường phố như cách nhìn  kiểu “lô nhô loài người” của nhạc Trịnh. Uống dưới “cội cây” là uống giữa thiên nhiên, uống để tịnh trí, tịnh tâm, tịnh dưỡng.

Nói đến đây tôi lại nhớ đến chữ “hưu” (nghỉ hưu, hưu trí) trong chữ Hán. Chữ này gồm bộ “nhân” (cũng như đã nói trên) ghép với bộ “mộc” (cây, bên phải). Nghĩa là, theo người xưa, nghỉ hưu, về hưu là về ở dưới gốc cây, về với vườn tược, thiên nhiên. Chứ không phải về ở… trại dưỡng lão, về với… bốn bức tường lạnh giá và với chiếc tivi nóng hổi thế sự. Không phải về để mà… nuôi cháu giữ chắt đàn đàn đống đống như bao cụ ông cụ bà ngày nay!.                                          

24/8/2025

Trần Ngọc Tuấn

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Cảm nhận thơ Trần Xuân Hóa từ một góc nhìn đa cảm

Nhà thơ Trần Xuân Hóa vừa gửi tặng tôi tập thơ thứ hai của anh. Chúng tôi vốn là đồng hương, đồng đội, lại từng cùng chung trường lớp, chia nhau những tháng ngày sơ tán thời chiến tranh ác liệt. Khi trưởng thành, mỗi người một hướng quân hành, nhưng rồi lại cùng chung một chiến trường. Phải đến khi tuổi đời không còn trẻ nữa, nhờ có thơ ca và niềm đam mê văn chương mà chúng tôi mới có dịp gặp lại. Thế nhưng, tình cảm bạn bè giữa chúng tôi thì vẫn vẹn nguyên như thuở nào: chân thành, sôi nổi và cùng hướng về những vẻ đẹp tinh túy nhất của nghệ thuật

Đọc tác phẩm của Trần Xuân Hóa, người đọc dễ dàng bị cuốn hút bởi cái "tình" trong thơ anh. Có thể gọi một cách giản dị đó là "thơ tình", song chữ "tình" ấy trong thơ anh được phân chia khá rõ rệt: tình yêu quê hương đất nước, tình yêu gia đình, tình yêu thiên nhiên, tình yêu lứa đôi và tình đồng đội.

Đọc và ngẫm nghĩ, tôi đặc biệt ấn tượng với góc nhìn đa cảm trong thơ Trần Xuân Hóa. Khó có thể ngờ một người đàn ông mạnh mẽ là thế, khi chạm vào những rung cảm trữ tình của đời thường lại trở nên mềm mại, sâu lắng đến vậy:

“Đôi bàn tay cứ yên lặng ngậm ngùi
Mà hai trái tim vội vàng đến lạ”

Hay:

“Không có em đến chiều cũng lạ
Tôi một mình đâu níu nổi ngày xưa”

Tác giả không hề lạm dụng sự đa cảm, nhưng mỗi khi cảm xúc chạm vào trái tim, thơ anh lại rung lên như một sợi dây đàn đầy xúc động:

“Ta muốn ôm tháng ba
Hôn lên vùng kỷ niệm
Những chiều mưa tim tím
Mưa con gái sân trường”

Người xưa thường nói: "Ở đời, hễ đa sầu đa cảm thì ắt sau này vất vả". Tôi không biết điều đó có hoàn toàn đúng không, nhưng chính sự đa cảm ấy lại dễ khiến người ta trở nên đồng điệu, biết cảm thông, sẻ chia và gánh vác cùng nhau.

Trần Xuân Hóa cũng vậy. Gặp một cảnh đời, một bóng hình người mẹ, hay một điều trái ngang trông thấy, anh đều hướng trái tim mình về đó:

“Chắc hành trình mẹ đã lắm trái ngang
Nước mắt ảnh như nhòa lên thân phận
Có phải mẹ đã vấp đời qua lận đận
Mà đơn thân rong ruổi bước độc hành”

Có lẽ, một tâm hồn đa cảm sẽ luôn tìm thấy sự đồng điệu trong thơ. Vì thế, thơ Trần Xuân Hóa dành cho đồng đội cũng thật dạt dào. Những ký ức chiến tranh, những trận đánh, những chiến dịch trong anh vẫn đầy ắp như một kho tàng sống động.

Đồng đội hy sinh nơi đâu, thân xác còn hay mất, nấm mộ thất lạc phương nào – tất cả đều khiến anh rưng rưng, nghẹn ngào:

“Linh thiêng bạn hãy dùng giằng
Níu chân mình lại - tỏ rằng bạn đây
Tháng năm thao thức hao gầy
Tìm chưa được bạn một ngày chưa yên”

Và khi sự đa cảm đã thấm đẫm vào cỏ cây, đất trời, cũng là lúc tâm hồn thi sĩ bừng lên một niềm hân hoan rạng rỡ. Đúng là "Người vui, hoa cũng thơm hơn mỗi ngày":

“Chào xuân đến với muôn hoa khoe sắc
Nghe đất trời êm ái phút giao hòa
...
Xuân hãy đến tiếp cho người đôi cánh
...
Cho nhân gian sức lực để bắt đầu...”

Có lẽ, chúng ta có thể ngồi hàng giờ để cùng nói về những cung bậc cảm xúc trong thơ Trần Xuân Hóa. Hy vọng rằng, trong những tập thơ sau, chúng ta sẽ lại được gặp một tâm hồn đa cảm ấy, ngày càng thăng hoa, đầy đặn và lung linh hơn nữa trên con đường văn chương.

25/8/2025

Trần Trí Thông

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Mỹ cảm của kiểu tự sự trong suốt trong tập tản văn “Nỗi buồn trong suốt” của Nguyễn Đức Phú Thọ

Tản văn là một thể loại dễ tiếp cận với mọi mặt của đời sống thông qua những lát cắt hiện thực, nhưng trung tâm tinh thần của thể loại này lại là cái tôi tư tưởng, cảm xúc của người nghệ sĩ. Tản văn vừa đậm chất trữ tình, vừa mang bản chất tự sự. Mỗi tác phẩm là một cách diễn giải về “Thế giới như tôi thấy”, đồng thời cũng là một tấm gương phản chiếu cấu trúc nội tâm của nhà văn.

Nỗi buồn trong suốt của Nguyễn Đức Phú Thọ là một tập tản văn như thế. Đây có thể là một thử nghiệm về kỹ thuật viết ở địa hạt mới của nhà thơ trẻ, cũng có thể là một sự kế thừa và phát triển từ tác phẩm đầu tay, Nỗi buồn đập cánh (tập thơ, 2011). Xuyên suốt tác phẩm là mỹ cảm của sự giản dị, trầm lắng khác xa với nhịp sống ồn ào vội vã bên ngoài trang sách. Phú Thọ không triết lý, không gồng mình mà bằng sự tinh tế thiên phú, sự trong vắt của ngôn từ, sự chạm đáy của cảm xúc đã mở ra những đường bay của nghệ thuật.

Cấu trúc của Nỗi buồn trong suốt (tản văn, Nxb. Hội Nhà văn & Cty sách Đông Tây, 2017) gồm ba mươi phiến đoạn được đặt tên khác nhau và ba mươi bức thư cùng được gọi là Thư muộn. Tuy nhiên, 30 đoản khúc Thư muộn lại được đặt ở vị trí trung tâm, sâu nhất trong thế giới nội quan của chủ thể trữ tình. Điều đặc biệt là mỗi phiến đoạn hay mỗi bức thư ấy tự thân lại là một kết cấu hoàn chỉnh và đồng thời nó cũng là một mảnh ghép về cuộc đời nhân vật, về thế giới nội tâm sâu sắc, phong phú, tinh tế và đặc biệt là sự trong veo hiếm có. Câu chuyện nội tâm được xé vụn rồi dán lên trang giấy theo mạch của cảm xúc vô định, thời gian và không gian không còn là trục quy chiếu mà cảm xúc của nhân vật là hệ tọa độ, là la bàn định vị. Song, về cơ bản chúng ta có thể “tự sắp xếp” lại theo logic thông thường, dựa trên những dữ liệu mà tác giả đã rải rác vung ra theo sự dẫn dắt của những hoài niệm, cảm xúc. Toàn bộ câu chuyện như là lời tự thuật về bản thân dưới hình thức một quyển nhật ký, những bức thư viết cho chính mình, nơi mà không cần sự rào đón, sự khách khí, sự dòm ngó của bất kỳ ai, viết là để trải lòng, để đối diện với chính mình, viết như là một hình thức tự giải thoát, tự chữa lành.

Mở đầu tập tản văn “tôi” viết về quán tên tên Trầm, chìm đắm trong màu xanh (lặp lại 18 lần), đôi mắt “tôi” càn lướt, tô màu, tạo khối cho hiện thực rồi phóng xa ra phố (Ở phố, màu xanh thật bất an) rồi phóng sâu vào nội tâm, kỷ niệm (Chợt màu xanh khẽ nhói lên… Đẹp và xanh thơ dại). Tác phẩm khép lại ở phiến đoạn thứ sáu mươi, ở “Dưới vòm hoa giấy, tôi ngồi”, ở “màu trắng tinh tươm” nơi quán tên Phố vắng, ở niềm vui thinh lặng như vốn có, ở niềm tin an trú, bình yên sẽ theo về. Dụng tâm của cách mở đầu và kết thúc ấy cho ta thấy một vòng tròn chuyển hóa, một sự trưởng thành sau bao nhiêu quan sát, chiêm nghiệm và tự vấn.

“Mình”/“Tôi” là một người trẻ, với tuổi thơ không trọn vẹn: một người cha thiếu tình yêu, thừa đòn roi, một người mẹ tận tâm nhưng u buồn và qua đời sớm, một người bà chăm sóc và một con chó ân nhân. “Mình”/“Tôi” đi qua thời gian và tuổi thơ bị lạc mất, bị đánh cắp, bị ép chín sớm, trở thành người hết tuổi thơ. K.D.N.Q. và một vài cái tên khác như Vy, Jun,… hoặc một người chị không tên nào đó, và một người em gái tên My là những khảm ghép nên thế giới của tôi. Những cái tên ấy là những mối quan hệ tình cảm khác nhau, duy chỉ có D. là nam giới, là người “mình”/“tôi” chưa bao giờ gặp, và luôn ghen tỵ bởi D. có được K…

Mỗi cái tên ấy lặp đi lặp lại, choán hết cuộc đời và ký ức “mình”/“tôi”, mỗi ký tự là một thế giới trong “tôi”, nhưng chính tất cả các ký tự ấy cũng ghép thành thế giới của “tôi”. Trong đó K. được xem là trung tâm (xuất hiện 191 lần) và các nhân vật khác đều biết K., mọi vấn đề của “mình”/“tôi” dường như bị xoay chuyển bởi K.K. chưa một lần hiện diện, nên không rõ mặt, có thể là mối tình đầu của tôi, K. gắn với những kỷ niệm về mưa (lặp lại 41 lần), trong một niềm gắn bó giao cảm khó giải thích, và không thể giải thích bằng ngôn ngữ. Sự trong suốt của mối tình như tấm gương luôn soi chiếu những cảm xúc và kỷ niệm trong “mình”/“tôi”, đến khi K. ra đi thế giới trở nên mù mờ và trống rỗng, “nỗi buồn đau trở về thân thuộc” (Thư muộn 30) và đó cũng là lúc “Khi chẳng biết thế nào là vui nữa” (Thư muộn 29). Cột chặt trong tâm trí của “mình” là “K”, từ trong lý trí hay trong giấc mơ, từ quá khứ hay thực tại, từ ý thức đến vô thức. K. là hiện thân của một nội tâm sống động, một quá khứ chưa thể hoàn thành và một tương lai ngoài tầm với, một giấc mơ dịu dàng.

Tất cả những phiến đoạn Thư muộn (30 lần) đều viết về K. những bức thư không bao giờ gửi, có phải vì vậy mà gọi là thư muộn? Muộn khi K. đã bước ra khỏi đời “tôi” hay K. đã về bên kia thế giới? Muộn vì chưa kịp nói hay những bộn bề ray rứt là hệ lụy sau cùng? K. là một cái gì đó không rõ ràng bởi hai người quá hiểu nhau nên chẳng nói nhiều, chỉ dựa lưng vào nhau cùng đọc sách, cùng ngắm mưa khi hai người hòa hợp ở cạnh nhau. Nhưng đến lúc K. ra đi không một lời từ giã, không một lý do. Đó là điều căn bản khiến “tôi” trở đi trở lại, tự vấn bản thân đến ráo riết để tìm một lý do. Dù “tôi” chấp nhận được tất cả song lắm lúc quá mệt mỏi, “tôi” ước bản thân bị lừa dối:

“Sự ra đi của K. sẽ giản đơn biết bao. Nếu tất cả chỉ là sự lừa dối. Đó phải chăng là lỗi của mình? Mình trẻ con ư? Hay mình đã vô cùng nông nổi? Và chẳng thể là chỗ dựa? Nên khổ đau K. chịu đựng một mình? K. trả lời đi. Sao K. cứ vô tình, im lặng? Giờ đây, mình chỉ thấy rã rời. Mình chỉ muốn ngủ vùi. Mà tâm trí cứ trở mình nằng nặng. Mỗi giờ. Mỗi phút. Mỗi giây. K. chính là quá khứ? Tương lai? Hay mọi thứ về K. vẫn chính là hiện tại?” (Thư muộn 24).

Khi đã mất K. tôi trở nên lạc lõng, không còn là chính mình, mệt mỏi vùng vẫy muốn thoát ra khỏi cuộc đời đó, khỏi trạng thái đó, nhưng có thể K. không còn là tình yêu mà là máu thịt, và sống động như bản thể, K. là giấc mơ suốt đời tôi đeo đuổi, đến tận cùng “mình” có thể đạt được?

Nhiều năm sau, ngay cả khi được D. báo tin K. đã ra đi vĩnh viễn, bao bận rộn và hành trình cuộc đời vẫn miên viễn mở ra nhưng với “mình” K. vẫn ở đó, thân thuộc, bình yên. Những người bạn như Q., N. và ngay cả Jun, được biết đến như người gắn bó tình yêu với “mình” để đến “những miền đất mới, những chân trời bát ngát chân mây…” (Hành trình) đã hơn một lần hỏi “mình” về K.: “Tôi còn nhớ K. không?” và “tôi” đã có Câu trả lời thành thật với lòng mình, “Làm sao có thể quên, bởi chính ta vẫn cố tình không nhớ. Chúng ta rồi sẽ tìm được câu trả lời, vào ngày đẹp trời nào đó. Còn lúc này, tôi muốn được lặng yên” (Câu trả lời). Có lẽ đây cũng là câu hỏi lớn nhất mà tôi phải đối diện, có dám đối diện thì mới tìm thấy bình yên thật sự!

Vẻ “trong suốt” hấp dẫn bạn đọc nhất ở Phú Thọ là giọng điệu. Nhà văn đã thiết lập vị thế và tâm thế ngay khi họ lựa chọn cách xưng hô, cách thể hiện. Chủ thể trữ tình trong Nỗi buồn trong suốt hầu hết xưng là “mình” (618 lần), và thỉnh thoảng xưng “tôi” (269 lần). Cách tự xưng “mình” là một chiến lược tự sự, khác với kiểu xưng “tôi” rất phổ biến trong tản văn Việt Nam đương đại. “Mình” khác “tôi” không chỉ ở giọng thủ thỉ, ở sự chủ động phơi bày thế giới nội tâm, ở mỹ cảm của sự dịu dàng, trong trẻo mà, hơn hết, “mình” còn có năng lực cộng thông, kết nối với tinh thần của người đọc. Những nỗi niềm rất riêng tư của lối diễn ngôn độc thoại, tự kể, tự chất vấn, tự giải bày của chủ thể trữ tình thông qua cách xưng “mình” như một cuộc trò chuyện thân thuộc. Người đọc hòa vào với câu chuyện được kể và như chìm đắm vào trong thế giới ấy như thể là nội tâm của chính mình. Chính cách tự sự giàu tính liên tưởng, tăng khả năng lan tỏa và giảm thiểu khoảng cách trần thuật đã đặt chủ thể trần thuật, câu chuyện được kể và người tiếp nhận trong thế tương giao, dòng ý thức vẫy gọi nhau theo kiểu “đi tìm thời gian đã mất”.  

Bên cạnh việc lựa chọn ngôi kể, giọng kể và những điều được kể mới thực sự giúp khơi nguồn, nảy nụ những mỹ cảm của sự thấu cảm và tinh tế nơi người đọc. Dù là viết về tình bạn hay tình yêu, tình thân hay tình sơ, dù ngọt ngào êm ái hay đau đớn đắng cay, qua ngòi bút giàu cảm xúc của nhà văn trẻ đều toát lên sự ấm áp của tình người đáng tin cậy. Dẫu viết về nỗi đau chất chứa nỗi đau về “người đàn ông” làm khổ đời “mẹ tôi” cũng chỉ khắc khoải trong câu hỏi bất lực: “Ngồi lẳng lặng giữa niềm vô vọng. Mình muốn hỏi tại sao? Sao chẳng thể ra đi? Sao phải tốt với người đàn ông ấy? Người đàn ông chỉ có lỗi lầm. Chỉ gieo thêm nước mắt. Chẳng dám nhìn vào sự thật. Người sống như đã chết cả đời. Sao mẹ chẳng nghỉ ngơi? Sao phải chịu đựng nhiều đến thế?” (Thư muộn 19). Hay những mất mát trong tình yêu “tôi” cũng chỉ có thể để nó gặm nhấm trong suốt những đêm dài, trong sự trằn trọc, mệt nhoài, hỗn độn, rồi tự chìm vào đêm tối: “Mình trôi ngược về miền ký ức. Bằng tất cả sức lực còn lại. Chờ đợi giấc mơ. Để thoát ly thực tại. Mình muốn giải phóng mọi ẩn ức. Mình chẳng thể chết. Mình sẽ vượt qua nỗi sợ. Giữ lại K. nơi sự sống này. Chẳng cần biết vì sao. Mình phải sống. K. có hiểu không? Chưa bao giờ đánh mất K., dù lắm lúc, mình lạc trong ý nghĩ” (Thư muộn 13).

Khi đọc tập tản văn, tôi đã cố gắng kết nối những ký hiệu để tạo lập mạng lưới đời sống của nhân vật, nhưng làm sao có thể vá víu những mảnh vỡ ký ức? Một người sống theo tiếng gọi của trái tim nhưng trái tim ấy đã quá nhiều vết xước, quá mệt mỏi, “mình”/“tôi” xem K. là chiếc la bàn định vị cuộc đời, nhưng K. mãi là điều gì đó xa xôi, mơ hồ không rõ cứa cắt tâm hồn vì những mộng ước tươi đẹp không còn. Những đợi chờ, bồn chồn, nghi ngại qua đi, K. lại trở về trong suốt: “K. là một giấc mơ” (Thư muộn 23).

Nỗi buồn trong suốt toát lên vẻ đẹp thánh thiện của tâm hồn, của cảm xúc. Trước hết, nó nằm ở lối tự sự không hẳn là giãi bày, không phải là phân trần hay biện hộ, đơn giản chỉ là ghi lại như một thói quen, hay như bản thân câu chữ ấy đã hiện lên trong trí não. Đó có thể là nỗi buồn lan tỏa từ cảnh vật, chạm vào da thịt, đọng vào khóe mắt, rồi từ đôi mắt ấy lại ôm trùm vạn vật; một nỗi buồn dịu, buồn mà không sầu. Hay nỗi nhớ miên man như dòng suối nhỏ miệt mài: nỗi nhớ mẹ, nhớ tuổi thơ, nhớ K., nhớ Jun và bao nhiêu điều khác, mỗi thứ nhắc nhở theo kiểu riêng. Một cơn mưa cũng có thể làm ướt những điều xưa cũ, đánh thức những mộng đẹp không thành, một khung ảnh, một góc phố… cũng gợi dậy bao nhiêu điều, lắm lúc cảm tưởng như ký ức trong “tôi” là vô tận, tự động chảy tràn lên trang giấy. Đặc biệt nỗi nhớ dù cho lặp đi lặp lại bao nhiêu lần (nhớ K.) cũng vẫn luôn tươi nguyên sống động, bởi mỗi thời khắc, mỗi không gian nỗi nhớ ấy lại có khuôn mặt, hình hài riêng, rồi tự thân chuyển hóa thành khí thở, mây trời mà “tôi” lắm lúc đã không còn ý thức. Vì chẳng bao giờ toan tính, đặc biệt là trong tình yêu, nên với “tôi”, “đứng trước tình yêu thì kinh nghiệm trở nên vô nghĩa”, nhưng có lẽ, không chỉ trong tình yêu, mọi cảm xúc trong tập tản văn luôn tươi mới tinh nguyên, đầy màu sắc và hình khối. “Mình”/“Tôi” luôn tâm niệm “yêu thương, gắn kết là đích đến của muôn đời” (Mùa hư ảo) nhưng cách yêu thương của “mình”/“tôi” cũng khác người chỉ lặng lẽ nhớ nhung, lặng lẽ đợi chờ, lặng lẽ truy vấn, lặng lẽ mệt mỏi và lặng lẽ vượt qua…Và nếu có niềm vui thanh nhẹ dịu dàng cũng len lén được nhen lên từ sự lặng lẽ ấy.

Khi xã hội ngoài kia luôn vẫy gọi và kiến tạo nên những mẫu người năng động, cuốn theo nhịp sống hối hả, thì Nỗi buồn trong suốt lại khuyến khích một lối sống năng tĩnh, phô ra sức hấp dẫn, vẻ đẹp của sự lặng yên. Đó là lặng yên của không gian cảnh vật, và cũng là sự lặng yên của nội tâm để lắng nghe chính mình, để những hồi ức có cơ hội trở mình, để từng mảnh vụn ký ức lại sống dậy trong tâm trí: “Có những ngày nắng tràn cả vào cơn mơ giấc ngủ. Những bóng nắng sáng lòa, từng giọt mông lung (...). Những giọt nắng rơi về giữa tâm tư bao hình ảnh sáng lòa. Nhưng tất cả lung linh, vô định. Những bóng người đã vĩnh viễn xa ta” (Miền nắng). Sự lặng yên ấy không mang màu sắc của cô lập hay từ khước thế giới, mà là một lựa chọn mỹ học: chậm lại để cảm nhận sâu hơn, tinh tế hơn. Dưới ngòi bút của Nguyễn Đức Phú Thọ, sự lặng yên trở thành một không gian tiếp nhận cảm xúc, là bầu khí quyển bao trùm lên toàn bộ thế giới nghệ thuật, nơi từng giọt mưa, từng cái nhìn, từng nhịp thở đều trở thành chất liệu cho dòng tự sự thấm đẫm tình người.

Chính trong sự lặng yên ấy, các tầng sâu của tâm trí được đánh thức, các cung bậc cảm xúc tinh vi nhất được chưng cất, hiện hình. Càng lặng yên, nhân vật “mình”/“tôi” càng có khả năng lắng nghe âm vang của những điều chưa kịp nói, những mối quan hệ chưa kịp hóa giải, những khúc mắc của tình yêu, tình thân còn day dứt. Càng lặng yên, tác phẩm càng đánh thức ở người đọc một tâm thế đồng cảm, chậm rãi bước vào thế giới của hồi ức, của ký ức bị vỡ vụn nhưng vẫn lung linh ánh sáng của niềm thương và nỗi nhớ. Tài năng của Phú Thọ là gọi ra được tên của những nỗi niềm cảm xúc bằng tất cả sự chính xác và tinh tế, nó tràn ra một cách dễ dàng, có lẽ, đằng sau sự dễ dàng ấy là một quá trình rèn luyện công phu. K. Paustovsky từng nói “truyện hay đến một mức nào đó thì thành thơ”, tản văn của Phú Thọ có lẽ đã chạm đến cái ngưỡng của sự chuyển động ấy, với ngôn ngữ giàu sức gợi, giàu hình ảnh, tràn đầy màu sắc và hình khối được thoát thai từ lối tư duy của một nhà thơ, đó thực sự là những bài thơ văn xuôi mượt mà.

Sự tĩnh lặng sâu xa trong cảm thức của tác giả dù cho kỷ niệm có vài vết xước, dù cho tuổi thơ sớm mất mát tình yêu, dù cho thời hoa mộng trải qua nhiều chia rẽ thì ngòi bút vẫn ngọt ngào tí tách dòng chảy của cuộc sống, dù cho cuộc sống ấy “có muộn phiền, có những giọt nước mắt hòa tan vào mưa, trong suốt” (Mưa). Sự yên lặng, tịch liêu là không gian chủ đạo, song đó không phải là sự tịch liêu chìm vào hư vô, thoát khỏi bản ngã để tiến tới vô ngã như cảm thức “sabi” trong thơ haiku mà sự tĩnh lặng như là nếp nghĩ, nếp sống rất đời của một tâm hồn rất trẻ đầy khao khát và tự vấn. Tự sự trong suốt ở đây, vì thế, cũng là một hành vi đạo đức - viết là để giữ lại cái đẹp của đời sống, để sống chậm lại, để con người không lạc mất chính mình giữa dòng đời vội vã.

Nỗi buồn trong suốt không chỉ là một tập tản văn ghi lại những hồi ức, cảm xúc, ký ức cá nhân mà còn là một hành trình nghệ thuật của cái tôi đang kiếm tìm bản thể giữa những đổ vỡ và chênh vênh của tuổi trẻ. Mỹ cảm của kiểu tự sự trong suốt mà Nguyễn Đức Phú Thọ kiến tạo chính là ở sự tinh tế, trong sáng của cảm xúc, ở giọng kể trầm lắng, giàu chất thơ và giàu tính đối thoại liên tầng giữa ký ức và hiện tại, giữa nhà văn và bạn đọc. Những phiến đoạn, những bức thư muộn như những ngấn tích tâm hồn của người kể chuyện, đồng thời, cũng là khối pha lê trong suốt để người đọc chiêm nghiệm.

Ở cột mốc thứ hai trong hành trình sáng tạo, Nguyễn Đức Phú Thọ không chỉ khẳng định phong cách trữ tình, thiên về nội tâm, giàu mỹ cảm, tinh tế trong cảm xúc và ngôn ngữ trong thơ ca, mà còn nỗ lực mở ra hướng đi mới với tản văn, nơi anh thử nghiệm một kiểu tự sự trong suốt, mang tính đối thoại nội tâm mạnh mẽ. Có thể nói, từ Nỗi buồn trong suốt, cá tính sáng tạo của anh được định hình. Đó là mỹ học của sự tinh tế, giản dị và trong trẻo. Con đường phía trước còn dài, mong rằng tinh thần không ngừng tự vấn, không ngừng thử thách bản thân sẽ tiếp tục là động lực thôi thúc nhà văn trẻ khám phá những miền khác của nghệ thuật và con người.

25/8/2025

Nguyễn Thị Tuyết

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Thơ tình Nguyên Bình đắm đuối

Các nhà thơ từ cổ chí kim không nhiều thì ít đều viết thơ tình, điều đó không có gì lạ; vì tâm hồn họ lãng mạn, mơ mộng, tôn thờ phái đẹp. Nhà thơ Nguyên Bình không nằm ngoài số đó. Anh viết văn làm thơ từ thời sinh viên, cả trước và sau năm 1975. Những bài thơ tình, anh không dám trao tay cô nữ sinh xinh đẹp xứ Huế anh yêu say đắm: Vẫn mãi “Là bài thơ còn hoài trong vở/Giữa giờ chơi mang đến lại mang về” thơ Đỗ Trung Quân.

Thơ tình Nguyên Bình đắm đuối, mê say, nồng cháy. Nay nhà thơ chậm rãi bước qua bảy mươi hai mùa lá vàng rơi, thú nhận: “Tôi yêu em đến cuồng điên/Một trăm năm nữa lụy phiền em không?” (Lụy phiền). “Em hãy dịu dàng yêu kiều thầm lặng/Tôi sẽ trao thơ đến tận muôn đời” (Sương khói). “Đã đầy đầy một vòng tay/Tròn ba vạn sáu ngàn ngày yêu em” (Đã đầy). “Thơ là sợi tóc chẻ đôi/ Em cầm một nửa cột tôi đêm ngày” (Thơ tình). Thế là đã rõ, trong cuộc đời nhà giáo - nhà thơ Nguyên Bình chỉ tôn sùng hai thứ: Thơ và Ái Tình.

Nhà thơ Nguyên Bình là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tên thật Nguyễn Bá Bỉnh, sinh năm 1953, tại thôn La Chữ, xã Hương Chữ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Thôn La Chữ nằm sâu bên trái đường quốc lộ 1A, cách trung tâm thành phố Huế hơn chục km về hướng Bắc; nhà thơ Nguyên Bình sinh ra và lớn lên trên mảnh đất hiếu học “bao la chữ nghĩa” ấy. Sau khi tốt nghiệp khoa địa lý, trường đại học sư phạm Huế, thầy giáo trẻ độc hành vào  phương Nam lập nghiệp.

Nhà thơ Nguyên Bình say mê “cày ải” trên “cánh đồng” chữ nghĩa không mệt mỏi, kết quả cho ra đời những tác phẩm văn học: Truyện ký “Những mùa trăng cũ”, “Tiền kiếp” thơ, năm 2019. “Hoa vàng trên áo xanh” thơ, năm 2020. “Dòng nhựa thơm nguyện ước” thơ, năm 2021. “Giấc mơ tôi” thơ, năm 2021. “Phù vân” thơ, năm 2021. “Khắc bóng thời gian” thơ, năm 2021. “Quyền năng của ngôn ngữ từ trái tim” cảm nhận văn học - tập 1, năm 2021. “Bài luân vũ của giao cảm thi ca” cảm nhận văn học - tập 2, năm 2022. “Thắp nến tôi để giành” thơ, năm 2022. “Giao cảm văn chương” cảm nhận văn học - tập 3, năm 2024. Chủ biên 2 tuyển tập thơ: “Hương mùa gió lạ”, năm 2023 (gồm 108 tác giả) và “Mở cửa mùa xuân”, năm 2025 (gồm 99 tác giả). Ngoài ra có một số tập thơ anh tự in và lưu hành nội bộ: “Thầm lặng yêu người” , “Mùa hoa giã quỳ”, “Cung đàn tình thơ”, “ nhặt nhạnh ý đời” (thơ Haiku). Nhà thơ Nguyên Bình viết thơ tình chiếm 70%, chủ yếu hoài niệm về tình yêu tuổi hoa niên; thơ Triết luận chiếm 15%, thể hiện quan niệm nhân sinh, suy tưởng về mối quan hệ xã hội; thơ Thiền khoảng 15 %, thể hiện cảm thức tôn giáo, ý thức ứng xử tinh thần. Được biết, tác giả có 100 bài thơ tình được phổ nhạc; có hơn 300 trang viết về các tập thơ, các bài thơ đã in.

Viết về đề tài tình yêu, mỗi nhà thơ có cách khai thác nhân vật trữ tình khác nhau. Nhà thơ Nguyên Bình lấy thi liệu là đối tượng nữ đang ôm cặp đến lớp với đôi tà áo dài trắng như đôi cánh bướm tinh khôi, hay người đẹp trong mộng để gây nên chất men xúc tác. Theo Bạch Cư Dị “Tình là cái gốc của thơ”. Mới mùa xuân mát mẻ, chim ca hoa nở đó, mùa hạ vội vàng tới. Khi hoa phượng đỏ thắp những chùm lửa cháy bập bùng trong sân trường, cộng với tiếng ve ngân thổn thức biết mùa hè đã đến “gieo mầm ly biệt”. Cuộc đời học trò vô tư sắp kết thúc, để chọn một con đường tương lai đang chờ phía trước: “Trang sách học trò chưa hết bâng khuâng/Em úp mặt vào trong vạt áo/Mùa cứ trôi nhuộm buồn chân sáo/Sắp hết rồi những bước tung tăng”(Mùa qua). Khi đang yêu tâm hồn ngập tràn một trời mơ ước, mang tâm trạng “rơm rớm nhớ, lưa thưa buồn”. Tình yêu của chàng trai về cô gái chưa có gì nắm bắt cụ thể, chỉ chút tình suông, vẽ mộng lên bốn bức tường lớp học, con đường xưa em qua chỉ còn lại những dấu chân mờ. Chàng thở than: “ Có ai khờ dại yêu liều như tôi/Ơi à năm tháng đầy vơi/Tôi đem phơi áo hong lời nguyện xưa” (Như chưa bao giờ). Nhà thơ Đỗ Trung Quân cũng mang tâm trạng tương tự: “Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu/ Nên có một gã khờ/Ngọng nghịu đứng làm thơ”. Nhà bác học Lê Qúi Đôn nhận định: “Thơ phát khởi từ lòng ta”, so sánh khi đọc thơ tình của Nguyên Bình quả không sai. Những bài thơ tình anh viết dạt dào cảm xúc bắt nguồn từ tâm trạng yêu đương mãnh liệt, khởi từ lòng anh nhưng không có tên nhân vật cụ thể, không có địa chỉ cụ thể, không có hoàn cảnh cụ thể, không có thời gian cụ thể và không có không gian cụ thể. Chủ thể trữ tình trong thơ anh mông lung, mờ ảo, bồng bềnh mây, lãng đãng sương, thực thực, hư hư: “Ra phố thèm nhắm mắt/ Mộng du trên vỉa hè/chạy quanh triền cơm áo/Tôi gặp tôi u mê/Chẻ đôi câu thơ đắng/Tôi đứt lìa giấc mơ/Nửa thân ôm hoang phế/Nửa hồn treo ngác ngơ” (Chẻ thơ). Hình ảnh mùa thu thật đẹp, cây trút lá vàng, thơm hương cốm mới, trăng rằm sáng tỏ, ánh nắng vàng tươi, tiếng trống trường ngân vang báo hiệu ngày khai gỉang năm học mới. Trong sắc thái mùa thu vàng dịu dàng ấy, giữa anh và em có biết bao kỷ niệm đẹp “cùng chung lối về”, “cùng thưởng thức ly chè ướp hương thề”, anh gửi ngàn câu thơ em cất giữ nêm chật trong cặp sách học trò. Vì ngại ngùng nên lời yêu em, anh chưa dám thổ lộ, để: “Mùa thu chia ly mùa thu vấn vương/Em lấy chồng xa khi tình đang chớm/Chiếc lá bơ vơ thở dài sầu muộn/Mùa thu nghẹn lòng…ta chợt mất nhau” (Thu hoang đường). Trong tình yêu, giận dỗi là chuyện thường tình, nó như chất gia vị để nêm nếm tình yêu thêm hương vị đậm đà hơn. Anh muốn em phụng phịu, làm mặt giận để anh có cớ chiều chuộng em, vì anh yêu em hơn mọi thứ trên đời: “Có một điều anh nhớ em gần chết/Nhớ như điên khùng da diết khôn nguôi/Đã ba hôm hay hơn thế mất rồi/Giận đi em để anh còn dành dỗ” (Không giận cũng buồn). Những vần thơ khi yêu thật đắm say, thổn thức, khơi mạch nguồn thơ tuôn chảy, nhen lên ngọn lửa hồng tình ái. Anh là nhà thơ giàu tình cảm, không có bạc vàng châu báu, chỉ biết nâng niu lòng thơm thảo trao em: “Anh lại viết cho em/ Những bài thơ nho nhỏ/Gói ghém vào trong đó/Chút gió, chút mây, chút hương cỏ cây” (Thơ tình). Dù cách xa nhau, nhưng anh biết giờ này em vừa mới thức dậy chải đầu soi gương, chuẩn bị đến nhà thờ dự lễ. Em hãy xưng tội giùm anh: “Chàng làm thơ yêu em/Quên trời quên đất/Quên Chúa lòng lành/Quên Phật từ bi” (Em đi xem lễ). Anh yêu em, yêu trong mộng tưởng, như lấp lánh ánh sao, là sóng biếc dạt dào, đêm từng đêm khát khao bờ môi mềm dịu ngọt: “Dù sao cũng đã một lần/ Yêu nhau mà chẳng nợ nần gì nhau” (Niệm khúc). Nhà thơ Xuân Diệu từng thở dài: “Yêu là chết ở trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu/Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu/Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết!” (Yêu). Còn nhà thơ Nguyên Bình yêu em đang độ trăng tròn, em duyên dáng đếm bước giữa sân trường rực nắng, đẹp như một bông hoa. Định bụng ngày ra trường anh sẽ thổ lộ tình yêu với em. Nhưng có ngờ đâu mẹ cha ép uổng, em đành nuốt lệ theo chồng để hồn anh giông bão. Thời gian thoi đưa, mới đó đã: “Ba mươi bảy năm cách trở, tôi về đơn lẻ một mình/Hỏi ai một câu ấp ủ/Sao xưa em phụ tình tôi” (Tìm gặp). Cõi lòng anh tan nát mà hỏi vậy thôi, chỉ để giải bày cho lòng nhẹ vơi chút nào, chứ mong chi một lời giải đáp từ em. Vì em hóa thành bóng chim tăm cá khuất bóng cuối chân trời góc bể gần bốn chục năm rồi! Tình yêu không đáp ứng được tình yêu nó cào xé, đớn đau, thương nhớ biết nhường nào!.

Tôi may mắn có dịp tiếp xúc với nhiều nhà thơ ở ba miền, mỗi người một tính cách, một giọng điệu thơ và một sự đam mê thơ khác nhau. Riêng nhà thơ Nguyên Bình chung thủy với “nàng thơ” thật mãnh liệt. Anh chủ động điều khiển các con chữ tinh anh linh hoạt phù hợp theo tứ thơ, câu thơ, bài thơ mình khai triển. Anh nắm chắc cách gieo vần các thể thơ nhằm tạo nên sự biểu đạt cao nhất. Thơ tình Nguyên Bình ngôn ngữ tinh tế, lấp lánh sự lãng mạn thanh cao. Ít có nhà thơ nào giành phần lớn viết thơ tình như nhà thơ Nguyên Bình. Mỗi bài thơ tình của anh dạt dào, nồng nàn, đắm đuối đề cao cái đẹp của tình yêu lứa đôi.

30/8/2025

Nguyễn Xuân Sang

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Mưa đỏ và khoảng lặng của tình yêu

“Mưa đỏ” đã tái hiện trận chiến 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị, nơi người lính vừa kiên cường vừa giàu tình cảm, nhưng những mạch tình yêu trong phim chỉ thấp thoáng, chưa đủ sức vang để cân bằng với khốc liệt chiến trường.

Với nền điện ảnh Việt Nam, đề tài chiến tranh cách mạng luôn đặt ra nhiều thử thách lớn khi phải cần bằng các yếu tố như phản ảnh đúng lịch sử nhưng phải tạo nên sức hấp dẫn nghệ thuật đủ sức chạm tới công chúng, đặc biệt với thế hệ trẻ sinh ra, lớn lên trong hòa bình. Trong bối cảnh đó, Mưa đỏ của Điện ảnh Quân đội nhân dân đã cho thấy nỗ lực và thành công khi góp thêm một dấu ấn đặc biệt bằng việc tái hiện cuộc chiến đấu 81 ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị. Bộ phim đưa khán giả trở về giai đoạn lịch sử bi tráng, nơi người lính hiện lên vừa kiên cường trong chiến đấu, vừa giàu tình cảm trong đời thường. Qua đó, tác phẩm không chỉ làm sống lại ký ức về sự hy sinh của cha anh, mà còn nhắc nhở thế hệ hôm nay trân trọng giá trị của hòa bình.

Trong Mưa đỏ, đạo diễn Đặng Thái Huyền tập trung khắc họa sức mạnh tập thể, sự khốc liệt của chiến trận và tinh thần dũng cảm của những chiến sĩ giải phóng quân. Bên cạnh đó, phim còn lồng ghép nhiều chi tiết đời thường, từ những phút sinh hoạt ngắn ngủi trong khoảng lặng hiếm hoi giữa các trận đánh đến những sẻ chia giản dị giữa đồng đội với nhau. Chính sự đan xen ấy khiến hình tượng người lính hiện lên trọn vẹn hơn: không chỉ dũng cảm trong chiến đấu, mà còn là những con người bình thường biết yêu thương, biết lo lắng, thậm chí biết sợ hãi trước ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết giữa khốc liệt của chiến tranh.

Bên cạnh khắc họa tinh thần chiến đấu, Mưa đỏ còn gợi mở khía cạnh tình yêu của người lính trong thời chiến. Đó là mối tình trong sáng giữa cô lái đò Hồng và chiến sĩ Cường, là tình cảm thầm lặng của Quang, người lính phía bên kia, dành cho Hồng, hay tình yêu chân thành của tiểu đội trưởng Tạ gửi gắm nơi hậu phương qua những dòng thư dặn dò, thậm chí khuyên vợ nên đi bước nữa nếu chẳng may anh không trở lại. Những lát cắt ấy đem đến cho Mưa đỏ sắc thái tình cảm cần thiết, cho thấy giữa khói lửa chiến tranh, con người không chỉ biết chiến đấu mà còn biết yêu thương và nuôi dưỡng hy vọng.

Tuy nhiên, những mạch tình yêu này chỉ hiện diện thoáng qua, với thời lượng ít ỏi. Chúng chưa đủ độ sâu để làm đối trọng với sự khốc liệt của chiến trường, nên chưa tạo được sức vang lớn trong tâm khảm khán giả. Đây là một thiếu hụt đáng tiếc, bởi điện ảnh chiến tranh hiện đại cho thấy chính tình yêu, dù ngắn ngủi, lại thường trở thành điểm tựa giúp người xem cảm nhận sâu sắc hơn giá trị của hòa bình. Chính nhà văn Chu Lai, tác giả kịch bản Mưa đỏ, sau khi xem phim cũng thẳng thắn thừa nhận: “Tất nhiên còn nhiều sạn, chẳng hạn thời lượng dành cho súng đạn nhiều hơn cho tình yêu, nếu cân bằng hơn thì tốt”.

Với điện ảnh thế giới, những bộ phim chiến tranh tiêu biểu như Pearl Harbor (Trân Châu Cảng, 2001), Atonement (Chuộc lỗi, 2007) hay All Quiet on the Western Front (Phía tây không có gì lạ, 2022) đều dành nhiều đất cho tình yêu và đời sống cá nhân bên cạnh khói lửa chiến trận. Nhờ vậy, nhân vật không chỉ hiện diện như những chiến binh trong bom đạn, mà còn như những con người với yêu thương, khát vọng và mất mát.

Trong khi đó, Mưa đỏ vẫn thiên nhiều hơn về tính tập thể và không khí bi tráng, khiến tầng sâu cá nhân chưa thật sự được khai mở. Nếu bộ phim mạnh dạn trao thêm không gian cho những cung bậc tình cảm ấy, sức truyền cảm sẽ còn lớn hơn, bởi trong tận cùng mất mát, chính tình người mới làm sáng lên ý nghĩa của hy sinh.

Một điểm đáng chú ý trong Mưa đỏ, đạo diễn Đặng Thái Huyền đã để nhân vật cất lên đúng giọng quê hương của mình. Hải với giọng Quảng Nam, Tạ nói giọng Thanh Hóa, Cường nói giọng Hà Nội, Bình nói giọng Nam Bộ… Chính sự đa thanh ấy khiến mỗi âm sắc trở thành một dấu ấn văn hóa, giúp khán giả vừa nghe vừa như nhìn thấy quê hương trong từng câu nói. Thủ pháp này góp phần dựng nên một tiểu đội đa dạng, sinh động và giàu bản sắc, để tiếng nói không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là linh hồn của ký ức vùng miền.

Tuy vậy, dù nhiều nhân vật trong Mưa đỏ đã được khắc họa trọn vẹn qua giọng nói mang đậm dấu ấn địa phương, vẫn tồn tại những chi tiết chưa thật sự hài hòa với mạch cảm xúc chung của bộ phim. Không ít khán giả bày tỏ sự nuối tiếc khi nhân vật Hồng - cô lái đò chở bộ đội qua sông Thạch Hãn lại nói bằng giọng miền Nam. Nếu Hồng được thể hiện bằng giọng Huế hoặc Quảng Trị, địa phương gắn liền trực tiếp với chiến trường Thành cổ, thì hiệu ứng thẩm mỹ và cảm xúc chắc chắn sẽ mạnh mẽ hơn, đồng thời tăng cường sự cộng hưởng ngôn ngữ với không gian lịch sử và ký ức tập thể. Việc thiếu vắng sự gắn kết này khiến cho tầng sâu cảm xúc của bộ phim chưa đạt tới độ trọn vẹn như mong đợi.

Một điểm đáng chú ý khác của Mưa đỏ là cảnh những pha hành động chiến đấu giữa các chiến sĩ giải phóng và quân địch. Phim sử dụng nhiều cảnh cận chiến tay đôi với lối quay dồn dập, tạo cảm giác căng thẳng và cuốn hút. Ẩn sau cách dàn dựng này là ý đồ của đạo diễn muốn ca ngợi tinh thần quả cảm, sự gan dạ của những người lính khi đối mặt trực diện với kẻ thù. Tuy nhiên, chính lựa chọn ấy cũng khiến không khí phim mang sắc thái bạo lực khá giống với các cảnh chiếu đấu trong phim Hollywood.

Đây là một hướng tiếp cận giàu kịch tính, góp phần tăng sức hấp dẫn cho bộ phim, đặc biệt với khán giả trẻ vốn quen với nhịp điệu nhanh và hiệu ứng mạnh của điện ảnh hiện đại. So với những tác phẩm cùng đề tài trước đó, cách thể hiện này mang tính đột phá và tạo nên một diện mạo mới cho phim chiến tranh. Tuy nhiên, với khán giả lớn tuổi hay các cựu chiến binh từng trực tiếp tham gia chiến đấu, những cảnh quay dữ dội ấy lại dễ khơi gợi ám ảnh về chiến tranh.

Cùng đề tài về chiến tranh nhưng mỗi bộ phim Việt Nam lại chọn cho mình một cách tiếp cận khác nhau. Đừng đốt (2009) của đạo diễn Đặng Nhật Minh khai thác cuộc chiến qua những trang nhật ký, từ đó khắc họa một câu chuyện giàu cảm xúc cá nhân và nhân bản. Mùi cỏ cháy (2011) của đạo diễn Nguyễn Hữu Mười đi sâu vào góc nhìn tuổi trẻ với tình bạn, tình đồng đội và cả những rung động tình cảm, qua đó khắc họa bi kịch và khát vọng đời thường của một thế hệ. Trong khi đó, Mưa đỏ thiên nhiều hơn về tính tập thể và không khí bi tráng, nhưng lại ít để lại dư vang ở tầng tình cảm cá nhân. Đây chính là điểm đặt ra cho các nhà làm phim: cần tìm sự cân bằng giữa quy mô hoành tráng và chi tiết nhân văn, để ký ức chiến tranh vừa được tái hiện trung thực, vừa chạm đến trái tim khán giả.

Có thể nói, Mưa đỏ là bộ phim mang tính đột phá của điện ảnh Việt Nam. Tác phẩm thành công cả về doanh thu lẫn hiệu ứng xã hội, một thành quả hiếm khi đạt được với những bộ phim cùng đề tài. Đây là dấu ấn đáng ghi nhận, bởi bộ phim vừa kế thừa truyền thống sử thi của điện ảnh chiến tranh, vừa mạnh dạn thử nghiệm phong cách dàn dựng hiện đại để chinh phục khán giả hôm nay. Tuy vậy, chính trong sự giằng co giữa hai mục tiêu đó, tác phẩm cũng gợi mở nhiều suy tư cho con đường của điện ảnh chiến tranh Việt Nam: làm thế nào để vừa trung thực với ký ức quá khứ, vừa truyền đi sức lay động của những thân phận con người. Ở phương diện này, Mưa đỏ không chỉ cho thấy quyết tâm làm mới mà còn mở ra cơ hội để phim chiến tranh tiến gần hơn tới sự cân bằng giữa hoành tráng và nhân văn, giữa ký ức lịch sử và hiện tại để phù hợp với xu hướng điện ảnh hiện đại.

31/8/2025

Tiểu Vũ

Nguồn: Tạp chí Một Thế Giới

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Tư tưởng nhân dân anh hùng

1. Vì tình yêu quê hương đất nước, Trần Bảo Định đến với văn chương. Nhà văn Long An để lại dấu ấn đáng kể trong sinh hoạt văn chương từ những năm 2010 đến nay. Bên cạnh bộ sách Đất và người Nam Bộ mến yêu gồm 14 tập truyện ngắn, Trần Bảo Định còn có 6 tập thơ, 5 tập tiểu luận phê bình. Năm 2024, nhà văn trình làng tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện gồm 3 tập (thượng, trung, hạ) do Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. Tái hiện diễn trình lịch sử vùng đất Nam Bộ từ hồi một 1620, hồi hai 1859, đến hồi ba 1900, tuyển tập có thể xem như trường thiên tiểu thuyết ca ngợi tinh thần đấu tranh yêu nước anh dũng của nhân dân Nam Bộ, như lời giới thiệu của Nhà xuất bản: “Chính các anh hùng vô danh mới thể hiện toàn bộ chủ đích nghệ thuật của Trần Bảo Định, cho thấy tư tưởng: nhân dân anh hùng!”

Với trường ca Mặt đường khát vọng (Nxb Giải phóng, 1974), nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã định nghĩa đất nước trong các chiều kích khác nhau, từ đó khẳng định quan niệm “đất nước của nhân dân” và trách nhiệm của nhân dân đối với đất nước. Với Đất Việt trời Nam liệt truyện, Trần Bảo Định cho thấy đất nước chính là nhân dân. Nhân dân là chủ thể và nền tảng của đất nước. Cơ hồ, Nguyễn Khoa Điềm lấy nước làm trọng, Trần Bảo Định lấy dân làm gốc. Hai nhãn quan tương hỗ biện chứng. Nguyễn Khoa Điềm nhìn từ dân thấy nước, Trần Bảo Định nhìn từ nước thấy dân. Vì thế, Mặt đường khát vọng là lịch sử thiêng liêng của đất nước, còn Đất Việt trời Nam liệt truyện là lịch sử oanh liệt của nhân dân. Mặt đường khát vọng là trang quốc sử, còn Đất Việt trời Nam liệt truyện là trang dân sử trong văn chương. Bởi “được nuôi dưỡng trong bầu sữa dân gian, nhà văn Trần Bảo Định mang lại góc nhìn riêng về lịch sử Nam Bộ xưa nay: liệt truyện của người bình dân hay dân gian triết và dân gian sử”. Theo đó, hình tượng nhân dân anh hùng hiện lên trang văn từ chính góc nhìn của người lao động bình dân.

2. Nhìn vào lịch sử dân tộc, bạn đọc dễ dàng nhận thấy hịch khí đấu tranh yêu nước vốn có trong lòng người Việt. Tinh thần yêu nước và bảo vệ đất nước đã trở thành bản sắc giống nòi. Kế thừa truyền thống đó, Đất Việt trời Nam liệt truyện của Trần Bảo Định, với quy mô chiều kích rộng lớn về không-thời gian, không chỉ hàm chứa quan niệm đất nước của nhân dân mà còn phát triển thành tư tưởng nhân dân anh hùng. “Nhân dân anh hùng” trên trang văn Trần Bảo Định không đơn thuần là một quan niệm mà còn biểu hiện ra như hệ thống tư tưởng. Bởi tư tưởng này phủ bóng lên trang viết và tỏa ra bóng mát trên nhiều phương diện văn hóa, lịch sử, xã hội… Cần khảo cứu toàn diện hơn về tư tưởng nhân dân anh hùng, nhưng về cơ bản tư tưởng này là kết quả hợp nhất của tinh thần thời đại và tinh thần dân tộc (nhân nghĩa, nhân đạo, nhân bản). Chính vậy, Đất Việt trời Nam liệt truyện vừa biểu hiện dòng sinh mệnh văn hóa dân tộc vừa là sự kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa Việt trên vùng đất mới. Qua tuyển tập này, bạn đọc sẽ nhận ra âm hưởng địch khái của Nam quốc sơn hà, hịch khí của Dụ chư tì tướng hịch văn, nam nhi chi chí của Thuật hoài, nhân nghĩa chi cử của Bình Ngô đại cáo, và tuyên bố đanh thép “đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” trong lời truyền chống quân Thanh xâm lược. Trần Bảo Định cho thấy nghĩa khí đó tiếp tục lan tỏa, trổ hiện ra trên mảnh đất Nam Bộ bằng cách “liên văn bản” với Kê kinh, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Minh Tân tiểu thuyết… Đẹp thay! Tất cả hịch khí đó đều được hàm chứa trong câu ca dao dung dị của xứ sở: Tham chi đồng bạc con cò/ Bỏ cha, bỏ mẹ theo phò Lang Sa. Có thể nói, tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện là nỗ lực kết dệt, tôi luyện và khêu sáng truyền thống anh hùng của giống nòi, không chỉ trong lịch sử hơn ba trăm năm của đất Đàng Trong, mà còn gợi nhắc đến lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt.

3. Để xây dựng tư tưởng nhân dân anh hùng, trang văn của Trần Bảo Định khởi đi từ tinh thần dân tộc với cốt lõi gồm có hành động nhân nghĩa, quan niệm nhân đạo và nền tảng nhân bản. Như sự tiếp nối “nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân”, những truyện ngắn như Phận má hồng, Hỡi ai còn nhớ! (tập Thượng) khắc họa xúc động bóng hình hai vị công nữ Ngọc Vạn, Ngọc Khoa trên tiến trình lịch sử mở mang bờ cõi. Qua tuyển tập này, bạn đọc sẽ hiểu sâu sắc hơn quan niệm “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, cũng chính là quan niệm lấy dân làm gốc. Bởi dân có thể nâng thuyền cũng có thể lật thuyền. Sau nữa, tinh thần “điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo” được cụ thể hóa hết sức khẳng khái qua hình tượng “dân binh Gia Định chủ động đánh giặc, không trông cậy vào quân triều đình rúc cổ rụt đầu trong Đại đồn” (tập Trung, tr.19). Âu Dương Lân nói: “Thà sống ngắn có lợi cho nước cho nhà, vẫn hơn sống dài hại nhà hại nước” (tập Trung, tr.103). Câu nói hệch hạc chẳng hoa mĩ đã biểu hiện bộc trực nghĩa khí dân đen. Hay nói như cụ Đồ Chiểu: Nhớ câu kiến ngãi bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng (Lục Vân Tiên). Đó chính là nhân nghĩa Nam Bộ vốn phổ truyền khắp miền sông nước Cửu Long giang.

Nhân nghĩa lại dựa trên nhân đạo, biểu hiện thành vẻ đẹp tình thương rộng lớn. “Tiếng chuông ngày rằm ở chùa Vĩnh Tràng vang lên giữa trưa đầy hương bưởi làng Mỹ Phong, một vùng đất dân tình trọng lễ nghĩa và từ rất lâu, họ chịu ảnh hưởng giáo dục ở những nhà nho yêu nước, như Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, Phan Hiến Đạo, Phan Văn Trị, Học Lạc...” (tập Hạ, tr.53). Nho đạo ấy cần được xác định như nhân đạo dân gian của người bình dân, và nhân đạo này ảnh hưởng đến lối học của giới trí thức, góp phần tạo nên biểu hiện của học phong phương Nam. Mà nếu nhìn rộng hơn, ta sẽ thấy dòng mạch trao truyền chí ít khởi đi từ lối học “tri ngôn dưỡng khí” trọng tâm ở chữ Thành của Sùng Đức tiên sinh Võ Trường Toản. Trong đời sống bình dân, nhân đạo ấy lấy tình thương làm cốt lõi. Thương nên có thể bỏ qua. Chuyện Hai Siêu Đất (tập Hạ) vừa tình thương trong đạo vợ chồng, vừa tình thương dành cho tha nhân. Sở dĩ thương vì thấu cảm, nhờ thấu cảm nên có thể đặt mình ở giữa mọi người. Bấy giờ có thể thể tất! Tình thương và khí khái như thế có sức cảm hóa to lớn. Điều này có thể thấy trong truyện ngắn Người phụ nữ ấy (tập Hạ). Sau câu nói “Tụi bây là quân cướp nước và bán nước, nhứt định sẽ bị những người cộng sản chúng tao đánh đổ” và sự hi sinh của Nguyễn Thị Bảy (tập Hạ, tr.181), Đốc phủ Phan Văn Chương bỏ vinh hoa phú quý vào chiến khu cùng nhân dân chống thực dân Pháp. Nhân đạo và khí khái bình dân có sức mạnh lay động lòng người. Theo đó, Đất Việt trời Nam liệt truyện, với tư tưởng nhân dân anh hùng đậm đà tinh thần dân tộc, làm rõ nhãn quan đạo đức bình dân miền sông nước Cửu Long. Nhãn quan đạo đức ấy bền vững đẹp tươi trong sinh hoạt thường ngày, trong lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ đất nước.

4. Bên cạnh tinh thần dân tộc, tư tưởng nhân dân anh hùng của tuyển tập còn được nung nấu trong tinh thần thời đại. Ở hồi thứ nhất từ năm 1620, tinh thần thời đại biểu thị qua việc mở cõi, hỗn dung văn hóa, khẳng định dấu ấn dân tộc Việt trên đường tiến về phương Nam. Hồi thứ hai từ năm 1859 đến hồi thứ ba từ năm 1900, tinh thần thời đại đối diện làn sóng xâm lược, thực dân hóa của thực dân phương Tây, càng không ngừng thay đổi để thích ứng với không khí thời đại, góp phần thúc đẩy vận động đấu tranh yêu nước. Từ cuộc đấu tranh của những nhà nho từ quan về với nông dân nghĩa sĩ chống giặc nửa sau thế kỉ XIX đến vận động “Minh Tân” phát triển toàn diện xã hội tạo tiền đề cho đấu tranh chống thực dân Pháp đầu thế kỉ XX, bạn đọc sẽ nhận ra dịch chuyển hệ hình tư tưởng đấu tranh yêu nước từ thế hệ của Trương Định, Đỗ Trình Thoại, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Hữu Huân, Âu Dương Lân, Võ Duy Dương, Phan Văn Đạt, Nguyễn Trung Trực… đến thế hệ của Đặng Thúc Liêng, Trần Chánh Chiếu, Huỳnh Đình Điển, Nguyễn An Khương, Nguyễn An Ninh… và không khí đấu tranh yêu nước sôi nổi ở làng Phước Lại quận Cần Giuộc tỉnh Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An) qua hình tượng người phụ nữ kiên trung bất khuất Nguyễn Thị Bảy. Ở bót Pô-lô (thành phố Chợ Lớn), giặc phải khâm phục tôn gọi bà là Hoàng hậu đỏ. Ở khám Phú Mỹ, bà bị giam chung với Nguyễn Thị Minh Khai – cả hai đều mang án tử hình, bà được chị em tù gọi là bà Cố Hỷ. “Theo lịnh, cai ngục Toản dẫn chị Bảy giam chung phòng với chị Năm Bắc. Gặp lại, hai chị em rất vui mừng dù đang chung cùng cảnh ngộ bị giặc tuyên án tử” (tập Hạ, tr.189). Đúng như câu thơ của Nguyễn Thị Minh Khai: Vững chí bền gan ai hỡi ai/ Kiên tâm giữ dạ mới anh tài, người phụ nữ ấy xứng danh nữ anh hùng. Qua từng truyện ngắn, bạn đọc sẽ nhận ra sóng gió thời đại và tinh thần bất khuất của những thảo dân Nam Bộ xưa; đồng thời thấy vận động mau lẹ của trời đất con người phương Nam từ những ngày thân sơ thất sở khăn gói vào Đàng Trong cho tới khi giặc dữ tràn tới quê hương khiến cho: Bến Nghé của tiền tan bọt nước/ Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây/ Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng/ Nỡ để dân đen mắc nạn này? Câu hỏi của cụ Đồ Chiểu trong Chạy Tây còn tiếp nối trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;/ Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ. Trong khi quân binh vương triều ngó mặt làm ngơ thì những người nông dân anh hùng đã hưởng ứng lời kêu gọi chống ngoại xâm. Cho đến nửa đầu thế kỉ XX, ánh sáng cách mạng vô sản đã trở thành câu trả lời cho truy vấn của cụ Đồ Chiểu năm xưa, càng thổi bùng khí khái oanh liệt quả cảm của nhân dân Nam Bộ. Có thể thấy, từ nửa đầu thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX, trọng tâm chính trị xã hội của đất nước đã xoay chuyển từ vương triều Nguyễn sang nhân dân cần lao. Đồng thời, bạn đọc cũng sẽ nhận thấy bước phát triển về ý hệ và đường lối đấu tranh cách mạng (từ chỗ chỉ là “dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ” đến thế hệ thanh niên cao vọng của Nguyễn An Ninh, và đỉnh cao là sự ra đời, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam). Từ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đến Đất Việt trời Nam liệt truyện là quá trình gìn giữ, trao truyền và phát huy sáng đẹp tư tưởng nhân dân anh hùng của người và đất Nam Bộ. Tế văn của Nguyễn Đình Chiểu đã dựng đài bất tử cho nghĩa sĩ vị quốc vong thân; liệt truyện của Trần Bảo Định đã tạc bia ghi công cho các anh hùng bình dân Nam Bộ.

5. Tựu trung, tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện là biểu tượng cho chủ nghĩa anh hùng của người lao động bình dân Nam Bộ qua các thời kì lịch sử khác nhau. Tuyển tập này còn là dân gian sử, hàm chứa dân gian triết, biểu thị dân gian tính và khí phách oanh liệt của đất và người Nam Bộ mến yêu. “Đất Việt trời Nam liệt truyện vì thế không chỉ là bản anh hùng ca của một cá nhân, một dòng họ, một vương triều, mà hơn hết là bản anh hùng ca của người bình dân Nam Bộ. Sử quan triều đại có thể bỏ qua song bao nhiêu anh hùng bình dân vô danh hẳn còn sống mãi trong tâm hồn người dân Nam Bộ về sau” (Lời Nhà xuất bản). Hào sảng, trượng nghĩa, khí phách là vẻ đẹp của những anh hùng vô danh xuất thân bình dân và trọn đời gắn bó bình dân. Qua những hình tượng như thế, trang văn bộc lộ tư tưởng nhân dân anh hùng. Đây là bài học quý giá cũng như món quà tinh thần mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc giúp cho thế hệ hôm nay và mai sau biết “hướng thiện”, “hướng thượng” và hun đúc hoài bão cuộc đời xứng đáng với người xưa. Một trận khói tan/ Nghìn năm tiết rỡ (Nguyễn Đình Chiểu).

Đà Lạt, 1/6/2025

Võ Quốc Việt

Nguồn: VNQĐ

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Nhà lý luận phê bình Đỗ Nguyên Thương và tập thơ “Tìm về miền ký ức”

Tôi quen nhà giáo, nhà Lý luận Phê bình văn học Đỗ Nguyên Thương thật tình cờ trong buổi Tọa đàm về Thơ 1-2-3 do nhà thơ Phan Hoàng chủ trì có sự phối hợp của Hội nhà văn Cần Thơ và khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn tường Đại học Cần Thơ.

Tôi và chị có những điểm chung: cùng học Đại học Sư phạm 1 Hà Nội, cùng dạy Văn trường chuyên, cùng làm công tác thanh tra giáo dục, cùng có học sinh đạt giải quốc gia môn Văn, cùng viết Lý luận phê bình và làm thơ. Chị đã thử sức mình ở nhiều thể loại: Lý luận phê bình, thơ, truyện, ký nhưng thế  mạnh của ngòi bút Đỗ Nguyên Thương vẫn là Lý luận phê bình bởi nó gắn liền với nghề dạy Văn, về phân tích giới thiệu tác giả, tác phẩm trong và ngoài nước có trong chương trình, và đặc biệt là những chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi Văn cấp quốc gia. Chị đã xuất bản tác phẩm Lý luận phê bình “Đi tìm vẻ đẹp văn chương”  3 tập  và một tập thơ được đông đảo bạn đọc đón nhận. Và giờ đây chị lại thử sức ở thể loại thơ mới, thơ 1-2-3 với tập “Tìm về miền ký ức”.

Thơ 1-2-3 là một thể thơ mới do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng và thể nghiệm gần bốn năm nay, đã có hàng nghìn bài thơ và hàng trăm tập thơ 1-2-3 ra đời của các tác giả trong và ngoài nước hưởng ứng. Song, để làm một bài thơ 1-2-3 cho hay ở thể loại này không phải dễ. Vì nó có quy định nghiêm ngặt về số câu (6 câu) số chữ tối đa ở mỗi câu, kể cả đầu bài (Khổ 1 là 1 câu- đầu đề bài thơ, tối đa 11 chữ. Khổ 2 có 2 câu, mỗi câu tối đa 12 chữ, và Khổ 3 có 3 câu, mỗi câu tối đa 13 chữ. Câu đầu và câu cuối phải có sự hô ứng để làm rõ chủ đề bài thơ). Một bài thơ hay cần nhiều yếu tố, nhưng có ba yếu tố quan trọng như nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã nói:

Túi nhà thơ có ba ngăn

Tứ, Từ, Tư đủ quanh năm tiêu xài.

(Một là có Tứ thơ mới lạ, hai là Từ ngữ dùng đúng lúc, đúng chỗ, ba là tính Tư tưởng của bài thơ phải cao và đẹp). Thơ Đỗ Nguyên Thương dù viết về đề tài nào, thể loại nào cũng đằm thắm một tình yêu đôn hậu, chân tình, tạo được sự lắng đọng nơi trái tim người đọc. Một hồn thơ  như thế luôn chứa đựng những buồn, vui, sướng, khổ về nhân tình thế thái.

Riêng tên tập thơ 1-2-3 “Tìm về miền ký ức” đã toát lên chủ đề của những bài thơ. Đó là những kỷ niệm đẹp về quê hương với bốn mùa xuân hạ thu đông rất đáng yêu. Đó là những kỷ niệm về tuổi học trò, tình đồng nghiệp gắn với bảng đen phấn trắng. Đó là tình bạn, tình yêu, là những ước mơ, hy vọng đẹp. Mỗi bài thơ như một lát cắt về cuộc sống và con người trong quá khứ và hiện tại, tương lai. Ký ức là hành trang theo ta suốt đời, là nguồn sữa mẹ nuôi ta trên mỗi chặng đường. Bài “Ký ức” có thể coi là tuyên ngôn của tập thơ:

 Ký ức

Là những gì hôm qua mà hôm nay còn thức

Chẳng chịu ngủ yên năm tháng qua rồi

Có buồn, có day dứt, có vui

Có hình ảnh người thân và rất nhiều cảnh vật

Nuôi lớn trong ta như sữa mẹ tinh thần.

Những ký ức ấy hiện lên vẻ đẹp đáng yêu qua cách cảm, cách nghĩ thấm đậm tình đời, tình người rất trong sáng và nhân văn qua “Đôi mắt nhìn đời”:

Đôi mắt nhìn đời

Nhìn đời qua lăng kính yêu thương

Mọi sự vật lung linh hơn dáng hình sẵn có

Xung quanh đều là bạn, cả lá hoa cây cỏ

Ai cũng đẹp hơn và thánh thiện hơn nhiều

Thế giới diệu kỳ - thế giới thật đáng yêu.

Tình cảm này, hồn thơ này qua “lăng kính yêu thương” sẽ lan tỏa khắp tập thơ, nó như chất xúc tác để gắn kết tính hiện thực, tính lãng mạn và tính thẩm mỹ và từ đó toát nên tính tư tưởng cao đẹp, không gượng ép hô hào kiểu khẩu hiệu.

Đỗ Nguyên Thương viết Lý luận phê bình văn học là chính, và chị đến với thơ như một sự tình cờ để giãi bày những ẩn ức, vui buồn của cuộc đời. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường chị đã rất yêu thơ. Giấc mộng văn chương vẫn đeo bám chị trên mỗi chặng đường. Chính tình yêu nghề và sự đam mê văn chương là ngọn lửa thắp nên niềm đam mê để chị viết khỏe, để cảm xúc thơ luôn thăng hoa qua tư duy hình tượng kết hợp hài hòa với tư duy logic.

Ở “Tìm về miền ký ức”, người đọc thấy rõ hơn những rung động của con tim trước vẻ đẹp của quê hương đất nước. Đó là những cung đàn vang ngân của tâm trạng. Đó là những bức tranh về thiên nhiên khi mơ màng, lung linh ẩn hiện như tranh thuỷ mặc, khi điệp trùng hùng vĩ như núi cao, biển rộng, khi thủ thỉ như lời tâm sự lứa đôi hiện ra ở các bài: Mưa mùa hạ, Nói với mùa xuân sắp đến, Mùa đông và nước hoa, Đông lạnh cần hơi ấm, Chiều Trung du, Hồ mờ sương, Mộc Châu mãi xanh trong ký ức, Về quê đất Tổ đi anh, Về Ngã ba Đồng Lộc… Những bài thơ là những bức tranh nội tâm với nhiều gam màu thương nhớ. Hãy lắng nghe lời tâm tình trước Mưa mùa hạ. Mưa của thiên nhiên và mưa của tình yêu đôi lứa?

Mưa mùa hạ

Gõ vào mái tôn nhà hàng xóm

Gõ vào khung cửa sắt nhà mình

Âm thanh mạnh mẽ, hào sảng và khô đanh

Làm dịu mát những ngày hè nóng bức

Và anh làm dịu khát trong em là có thực, bốn mùa.

Ở khổ 1 là câu thơ đầu bài mang tứ thơ “Mưa”, và từ đó nhà thơ triển khai bằng hai câu tả thực ở khổ 2: Mưa gõ vào mái tôn hàng xóm và gõ vào khung cửa sắt nhà mình. Tiếng gõ của mưa làm bừng tỉnh không gian, đánh thức giác quan và sự rung động để dẫn đến khổ 3: Là những nhận định mang hình hài lý trí “âm thanh mạnh mẽ, hào sảng và khô đanh/Làm mát những ngày hè nóng bức”. Và câu kết mới là “điểm sáng thẩm mỹ”, khép lại tứ thơ: “Và anh làm dịu khát trong em là có thực, bốn mùa”. Câu 6 góp phần “hô ứng” với câu 1 – đầu đề bài thơ. Và người đọc thấy mưa chỉ là cái cớ để chị mượn nói về tình yêu - một tình yêu đích thực, khát khao suốt năm tháng (bốn mùa). Có thể xem đây là cơn “mưa tình” rất đẹp, nó làm dịu mát tâm hồn ta với bao hy vọng đợi chờ trong xa cách nhớ thương. Bài thơ được đưa lên đầu tập thơ làm đọc giả muốn đọc tiếp một mạch để khám phá vẻ đẹp của các bài thơ khác. Thơ 1-2-3 có được những bài đầy liên tưởng ẩn dụ như vậy không nhiều.

Trong mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương để thương để nhớ, và nếu Quê hương nếu ai không nhớ/Sẽ không lớn nỗi thành người (Đỗ Trung Quân), thì chị đã cho ta thấy một tình quê hương, đất nước nồng nàn, tha thiết. Bàn chân chị đặt đến vùng đất nào là những địa danh vùng đất ấy ùa vào trang thơ. Nào Đền Hùng, đất Tổ, Việt Trì (Phú Thọ) hay Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), Mộc Châu (Sơn La). Nào Hồ Xuân Hương (Đà Lạt), đường lên Tây Tiến  hay miệt vườn Tây Nam Bộ…Cảnh sắc thiên nhiên và con người cứ hiện lên qua mỗi vần thơ như một đoạn phim quay cận cảnh, thật đáng yêu dường nào. Trong hành trang nỗi nhớ của những kỷ niệm xưa, Đỗ Nguyên Thương luôn khắc sâu về những vùng đất chị đã qua và nơi chị trở lại. Nơi đó không biết giờ này ra sao, nỗi hoài niệm cứ dâng lên tầng tầng lớp lớp. Nếu không có tâm hồn lộng gió bốn phương và cái nhìn đầy nhân ái, làm sao có được những vần thơ như thế. Nguồn sữa nuôi dưỡng thơ chị chính là tình yêu đời, là nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, là sự hiến dâng tự nguyện cho hạnh phúc cộng đồng, về tình yêu đôi lứa. Từ những rung động vi mô đến những rung động vĩ mô của con tim đều ẩn chứa trong thơ chị. Bài “Về quê” là tiếng mời gọi tâm tình nhỏ nhẹ rất nữ tính: “Về quê/Về quê em đi anh/Nắng vẫn nắng và hoa sen khoe sắc/Gió vẫn tự tình khúc hát trung du/Khúc nắng hạ dọn dẹp đợi mùa thu/Như em đợi anh, bất chấp hè nắng gió”. Đó cũng là tiếng gọi của quê hương, tiếng gọi của tình yêu với người xa xứ.

Nhà Lý luận phê bình văn học Đào Thái Sơn đã viết “Bản chất của văn học là phản ánh đời sống bằng hình tượng, chính vì vậy mà hình tượng nghệ thuật là linh hồn của tác phẩm văn học nghệ thuật”. Hình tượng trong thơ chị ẩn chứa trong ánh mắt và con tim của nhân vật trữ tình, có khi hiện ra dễ thấy một cách chân thực và mang tính triết luận: “Một cuộc đời ý nghĩa khi hoàn thiện giấc mơ vui”, hay “Trong em, anh là hòn sỏi nhỏ sức mạnh vô song”, hoặc “Ánh sáng từ biển tri thức vô bờ tan lạnh giá con tim”…Những câu thơ về tình yêu như thế ghim được vào trái tim người đọc. Lại có khi hình ảnh, màu sắc, nhạc điệu thơ ẩn hiện như con “rồng thần” khó nắm bắt. Khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, nhìn kỷ vật đơn sơ mà thấy lòng nghẹn đắng một miền xanh ký ức, để rồi “Có tiếng nhói phía sau lồng ngực/Nghẹn ngào/Thương…”. Tôi có cảm giác như thấy những giọt nước mắt của cái tôi trữ tình đang lặng thầm chảy ngược vào tim. Hoặc những câu thơ gợi nhiều liên tưởng “Bên cây xanh thấy lãi nhiều ngày” (Vui một ngày là lãi một ngày)

Ở mảng thơ thời áo trắng sân trường, tuy không mới nhưng chị đã tìm được tứ thơ và có cách thể hiện một cách hồn nhiên, chân tình gần gũi ở các bài: Sân trường ngày hiến chưng nhà giáo Việt Nam, Một ngày vui tại trường em… và đó chính là những vần thơ  “nhịp cầu nhân vạn dặm yêu thương”… để vui cùng thầy cô bè bạn ngày nhà giáo Việt Nam 20-11 hàng năm, để được ôm hôn bè bạn cùng trang lứa, để được các em học sinh vây quanh như đàn chim tìm về tổ ấm của lớp mình năm xưa.

Trong miền ký ức sâu thẳm của tập thơ, có nỗi nhớ, niềm thương, niềm tin và những khát khao, hy vọng. Nó cứ trải dài theo mỗi bước chân của chị trên mỗi cung đường. Sáu mươi ba bài thơ 1-2-3 của chị không bị câu thức bởi luật thơ. Chị đã cố gắng nén năng lượng chữ ở mỗi câu thơ. Có câu chỉ một chữ có câu 2,3,4,,6,7 chữ, ít có câu tối đa 13 chữ. Hình ảnh, nhịp điệu của cảm xúc trữ tình được diễn đạt một cách dễ hiểu, luôn toát lên lòng lạc quan yêu đời.

Gương mặt thơ Đỗ Nguyên Thương qua thơ 1-2-3 đến với bạn đọc đã để lại nhiều cảm mến. Chị đã đánh thức con tim của bao người về những miền ký ức đẹp xa vời qua ngôn ngữ vừa dân dã vừa hiện đại, có sự kết hợp khéo léo giữa ngôn ngữ đời thường với ngôn ngữ văn chương. Điều đó đã góp phần làm cho nhiều bài thơ nổi gió, bay cao như giai điệu vút lên ở những bản nhạc. Tôi tin rằng thơ chị sẽ còn bay xa và vang vọng hơn nữa. Mong rằng thơ 1-2-3 của chị luôn là một “hằng số bất biến” “mặc định” những thông điệp yêu thương đa sắc đa thanh tắm mát hồn người. Xin trân trọng giới thiệu tập “Tìm về miền ký ức” của nhà giáo, nhà Lý luận phê bình văn học Đỗ Nguyên Thương cùng bạn đọc.

3/9/2025

Lê Xuân

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

  Nguyễn Bỉnh Khiêm trong dòng chảy văn hóa dân tộc Sách Lịch triều hiến chương loại chí viết về Trạng Trình Quốc Công như sau: “Vua Mạc t...