Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

 

“Con người” của Phương Đặng: Định dạng con người – định dạng thơ

Văn chương ra đời và tồn tại- dù cụ thể hoặc sâu xa, nguyên nhân mà cũng là kết quả- là từ con người, vì con người, cho con người. “Vì”, “cho” đã đành, sao nói “từ”? Là bởi, khi thoát khỏi sự mông muội, khi trí khôn hình thành, con người tuyệt đối bất định, ngay chính trong từng khuôn mẫu đời sống mỗi thời. Mọi nền triết thuyết, thi ca mấy ngàn năm qua chỉ nhằm khám phá, giải mã con người. Và mãi tiếp diễn.

Có điều, ngay chính xuất phát điểm và đích đến của văn chương như thế, chính nỗ lực khám phá, giải mã con người của nó, đã góp phần làm con người khó nhận diện hơn, và càng bất tường với chính mình. Tức, con người thách đố với đối thủ của nó: văn chương.

Triết gia- văn hào Pháp Jean- Paul Sartre từng viết: “Muốn viết mới hãy tự mô tả mình”. Lý lẽ thấu đáo này, nhiều nhà văn nhà thơ đã vận dụng. Nhưng thế nào là “tự mô tả mình” vẫn cứ mơ hồ. Vì, họ thường mô tả cái ảo của mình chứ ít khi viết đúng mình, đúng con người thật- con người thành tố của tự nhiên. Họ khó thể viết “ra” mình và lạc lối: con người yêu thương mình hơn họ tưởng. Trong những mơ hồ của thế gian, mơ hồ lớn nhất là về mình.

Tôi đọc Phương Đặng, nhà thơ nữ rất trẻ, từ xuất phát điểm đó, trong sự tò mò, bởi tên tập thơ “Con người”. Và tôi ngưỡng mộ: khi thiên thu văn chương vẫn không thể giải rốt ráo về con người, Phương Đặng của thế kỷ 21 mạnh dạn đi vào câu đố muôn thuở, bằng sự tự tin đáng kinh ngạc của thế hệ chị: tôi là tôi!

1. Định dạng lại con người:

Vẫn những vấn đề muôn thuở về con người: tình yêu là gì, hạnh phúc- bất hạnh là gì, bản chất của sự sống cái chết là gì, con người sống theo thói quen chết bởi thói quen thế nào, con người ảo tưởng về mình ra sao…, tất tần tật, bằng sự nhận chân và thẳng thắn đến ngạc nhiên. Chị không hề giải mã kiểu véo von, mơn trớn, xu nịnh con người, mà chỉ đích danh con người là ai, trong miên viễn mây qua ngàn vạn năm.

Đây, Phương Đặng, từ mình, “lật tẩy” con người lâu nay sống bởi thói quen trong tồn tại, trong các khuôn định xã hội, một phát hiện thật tường minh và bối rối:

Em mệt mỏi với những cái khuôn xã hội này tạo nên

Dành cho em, dành cho anh, và những người khác

Em mệt mỏi vì bị phán xét dựa trên những chuẩn mực

Những thứ được coi như thể chúng thực sự tồn tại.

Em mệt mỏi phải làm hài lòng anh

Phải làm hài lòng em

Làm hài lòng chúng ta

Hài lòng bọn họ.

Và khao khát hướng tới tự do, cuộc vượt thoát đã đặt ra dứt khoát:

Tự do khỏi anh

Tự do khỏi em

Tự do khỏi chúng ta

Tự do khỏi bọn họ

Tự do khỏi tâm trí họ

Tự do khỏi những suy nghĩ của chính chúng ta.

(Nhiều như em yêu anh).

Thêm một đoạn nữa, cái bối rối này:

Nhưng em đã một mình quá lâu

Một mình không có nghĩa là cô đơn

Nhưng em đã cô đơn rất lâu

Em không chắc rằng mình vẫn còn biết cảm giác

Được quan tâm là như thế nào.

Và giống như

Nó không đúng

Nếu như anh đang phải chắp vá những gì em phải

chắp vá cho mình

(Một giọt)

Chưa thấy người thơ nữ nào trực diện rốt ráo, riết róng như thế. Có chăng nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở khía cạnh khát tình, uất ức về bất bình đẳng giới… Nhưng đó là chuyện khác.

Con người trong mối quan hệ với xã hội, với thế giới đã được đặt ra từ phạm vi hẹp nhất- quan hệ gia đình- nơi dễ tìm thấy đồng thuận, tác động qua lại thiết thân; nơi dễ dàng gặp sự thỏa hiệp vì lợi ích chung, hoặc sự xu phụ cảm xúc mang vẻ đẹp cao thượng kiểu, vì nhau, cho nhau. Nhưng cái “khung” này lại bất lực vì sự dối trá, vụ lợi của chính nó: hai người thực sự là hai thế giới biệt lập, những “chắp vá” liên minh tình cảm nếu đạt lợi ích nào đó thì cũng đang phủ nhận con người, trói buộc con người vào “thiết chế” phải là chứ không là. Lựa chọn xuất phát điểm này, Phương Đặng có cơ hội bóc tách thấu đáo nhất con người. Không phải để “đấu tranh” mà là “nhận chân”. Định dạng để khai mở những bế tắc, bi kịch trong vô vàn quan hệ, đối diện với thực trạng cuộc sống.

Về tình yêu, điều ám ảnh lớn của con người chẳng hạn. Có thực không, khái niệm đó, và nó như thế nào, gương mặt tình yêu là gì? Liệu có nhầm lẫn gì chăng?

Anh đã tìm thấy em

Và em đã tìm thấy anh

Hay chúng ta đã gặp

Sự phóng chiếu chính mình

(Sự đáng yêu trên khuôn mặt anh).

Rồi:

Anh không muốn em

Anh muốn một ai đó đã được tạo ra bởi tâm trí anh

Và rồi em xuất hiện

Anh bắt em phải đóng vai con người đó

Và chúng ta nói với nhau

Rằng chúng ta yêu nhau.

(Câu chuyện).

Hay, ta là ai trong thế giới này, trong rất nhiều những mâu thuẫn nội tại; căn nguyên những bất như ý, đau khổ không thuần nhận thức mà rất sinh học- nỗi khát thèm xu phụ, sở hữu:

Tại sao tôi lại cảm thấy bất ổn với cơ thể của mình

nó đã tận tụy phục vụ tôi suốt 31 năm qua?

Không ai

Tự lấy tay đấm vào tường

Và trách cái tay tại sao lại đau.

(Nhầm lẫn).

Hoặc:

Bạn sẽ ngừng ăn ngay một món ăn chán ngán

Hoặc khi đã quá no

Nhưng lại không thể ngừng ăn quá khứ của mình

Ngay cả khi nó đã choán hết chỗ trong đầu óc của bạn

Và sinh sôi nảy nở nhanh hơn cả vi khuẩn?

Bạn làm gì với một món ăn đã không còn hấp dẫn

Thì hãy làm đúng điều đó với quá khứ!

Hãy ngừng coi quá khứ là quá khứ của bạn

Hay cuộc đời là cuộc đời của bạn!

Nó chỉ là quá khứ thôi!

(Quá khứ) v.v…

Có thể tình cờ thôi, con người phát hiện được mình. Tôi nghĩ Phương Đặng bắt đầu từ điều đơn giản nhất, kiểu: “Ngay cả một chiếc đồng hồ đã chết/ Vẫn đúng hai lần mỗi ngày.” (Đồng hồ chết). Hiện tượng, sự vật diễn ra trước mắt ta hàng ngày, thật tự nhiên và vốn không hàm chứa bất kỳ triết lý nào. Chỉ con người tự làm rối rắm: cái đồng hồ ghi dấu thời gian, nó chết là thời gian ngừng trôi, nhưng ý nghĩ con người vẫn trôi theo thói quen nhận thức, để bắt cái công cụ ngoài ta- một tiện ích góp phần tước bỏ khả năng vốn có từ chính mình- đáp ứng hiện thực con người muốn thấy. Nhận ra sự nhầm lẫn ấy- cũng là nhận ra sự mất mát, một nhận ra khai phóng! Và mọi thứ rộng mở thênh thang vào chính mình, vào căn cốt vị kỷ hoặc tự ti, bé mọn:

Mơ ước chỉ là một tên gọi đẹp đẽ

Cho mong muốn kiểm soát

Số phận của chính mình

Cho ham muốn rằng bất hạnh có thể xảy ra với ai

Nhưng không bao giờ là mình.

Khi dừng mơ ước

Là khi ta bắt đầu trân trọng cuộc sống của mình.

(Lời nói dối)

Hiểu mình

Là cách ta hiểu thế giới

Những gì mới ta thấy được ở thế giới

Vẫn luôn ở đó từ ngày hôm qua

Từ năm trước

Từ muôn vàn thế kỷ đã qua.

(Hiểu).

Tôi trích dẫn đã khá nhiều. Những lật xới, tranh biện, phân vân, phủ định, xác tín trên từng ngóc ngách con người, đầy ắp, xuyên suốt tập thơ gần 130 bài của Phương Đặng. Tất cả thấu triệt, không một chút khoan nhượng. Tất cả, như một ám ảnh không thể không gỡ bỏ các hư ảnh bề ngoài, bên trong; qua nhận dạng của người khác hay sự nhầm lẫn chính nó, lừa dối chính nó. Không phải để lý giải các vấn đề về con người qua nhận diện tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, phân tâm học…, mà là cuộc tìm kiếm cái “ta” từ  “phi ta”, một thực hành đơn giản nhất lại tỏ ra khá hiệu quả trong định dạng con người.

2. Nhưng sao lại là Phương Đặng?

Phương Đặng vừa ngoài ba mươi, là thế hệ cầm bút trẻ bây giờ; một thế hệ mới, quá khác. Họ tự tin và lớn bổng lên.

Đương nhiên ở tuổi trong, ngoài ba mươi, văn chương trong nước, thế giới luôn có những tài năng lớn. Những Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu… Hay, F. Kafka, M. Solokhov, Thomas Mann… đều lẫy lừng từ tuổi dưới 30 (F. Kafka sau khi mất mới tạo cơn địa chấn văn chương thế giới, nhưng năm 29 tuổi ông đã viết “Hóa thân”, 31 tuổi viết “Vụ án”…).

Không có gì tự nhiên cả. Những tài năng văn chương sớm phát lộ đều có căn nguyên. Phong trào Thơ mới của Việt Nam chẳng hạn. Từ du nhập văn hóa phương Tây, rồi chữ Quốc ngữ đã thay thế chữ Nho- giải phóng thơ Đường “tức cảnh sinh tình” suốt ngàn năm, giải phóng văn chương biền ngẫu, thay cái “ta” thành cái “tôi”. Chữ Quốc ngữ và văn minh phương Tây bừng sáng tức khắc, bởi thế hệ này, từ cái tôi thân phận vừa tự hào về đất nước, dân tộc mình, vừa mặc cảm những khuôn phép ngái ngủ, “vong quốc nô”, đã vỡ tung: họ đề huề hiện diện. Cả mảng triết học, nghệ thuật, những Trần Đức Thảo, Văn Cao, Phạm Duy, Đặng Thế Phong, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Gia Trí…, rồi sau này, những Trịnh Công Sơn, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, Tô Thùy Yên… Và rất nhiều nhà văn, nhà thơ lớn trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ … Có thể gói gọn một điều có tính quy luật: nhân tài thường xuất hiện trong thời loạn!

Vậy thời khắc Phương Đặng và thế hệ chị là gì, cuộc xuất hiện này? Đương nhiên là thời bình, rất lâu rồi, khi họ chưa sinh ra. Nhưng là thời bình đặc biệt: thời hội nhập, thời “thế giới phẳng”, công nghệ số; thời tuổi trẻ toàn thế giới không khác biệt mấy về phương tiện, khát vọng với tư duy toàn cầu, các thuật ngữ 4.0, trí tuệ nhân tạo… Phương Đặng làm thơ từ trước năm 20 tuổi, cũng như vài bạn trẻ giờ 24, 25 đã in tiểu thuyết khá chững chạc: Huỳnh Trọng Khang với “Mộ phần tuổi trẻ”, “Những vọng âm nằm ngủ”; Mạc Yên với “Miên trạng”, hoặc Phan Đức Lộc với những truyện ngắn, thơ của Vũ Lập Nhật…

Nhưng, với tập thơ, Phương Đặng khác biệt thế hệ mình ở lựa chọn- duy nhất và quyết liệt- là khám phá con người. Hẳn chị tin rằng, mọi thay đổi, diễn ngôn,  trước hết, cái gốc vấn đề, là thay đổi nhận thức về con người.

Điều quan trọng là, chị không bị lướng vướng “thân phận nữ” và thản nhiên đi qua “dòng thơ nữ quyền”: khi con người căn cốt chưa giải phóng khỏi những tù hãm chính nó thì “nữ quyền” có ý nghĩa gì? Xét cho cùng, cuộc “nổi loạn” các thế hệ thơ đàn chị và thơ nữ trẻ hiện nay, việc “phô bày” thân thể, xổ toẹt kỵ húy; công khai khát thèm chuyện tính dục; cả táo tợn kiểu giũ váy vào miếu thiêng truyền thống…, như một chút hả hê, chút “tự sướng”, thực chất càng bộc lộ lớn hơn bao giờ hết sự bất lực và mặc cảm giới!

Cái gốc của vấn đề, chính từ sự bất toàn trong mỗi con người, và mỗi nhìn nhận, khát khao, ước muốn, đau khổ, phẫn nộ về sự “bất bình đẳng”, cầu xin, v.v… bao giờ cũng được rọi xét bằng những định kiến. Như, những “nghi ngờ” cái gọi là tình yêu, là gia đình đầy “ước muốn” đã trích dẫn phần trên, thực ra đều xuất phát từ nhận diện căn cốt từ đầu:

Nhân danh tình yêu

Giống cách những con vật vẫn làm

Ta tìm cách đánh dấu lãnh thổ của chính mình

Lên người khác.

Nhưng ngay cả những nơi bị đánh dấu

Cũng chẳng hề thuộc về ai

Những ranh giới chỉ tồn tại trên bản đồ

Trong tâm trí

Và cách con người sắp xếp thế giới.

(Một nửa 1)

Hay:

Ta muốn những đứa con đẹp

Muốn một gia đình đẹp

Nhưng đẹp và xấu chẳng còn nghĩa lý gì

Khi đẹp chỉ là những tiêu chuẩn.

Thoát khỏi tiêu chuẩn

Gia đình chỉ là gia đình

Con chỉ là con

Bạn đời chỉ là bạn đời

Một ai đó chỉ là chính họ

Bất cứ cái gì chỉ đơn giản là chính nó

Khi thoát khỏi tiêu chuẩn

Tình yêu bắt đầu.

(Đơn giản)

Và, không chỉ bất toàn cả trong ý nghĩ, định kiến, con người luôn chuyển động với chính nó trong từng ý niệm: “Một mối quan hệ cũng như bốn mùa quanh năm:/ Nó thay đổi liên tục/ Kể cả khi một mùa đông tới/ Nó cũng không thực sự giống những mùa đông trước/ Nếu nó có giống thì chỉ bởi vì/ Bạn vẫn đem theo hai chữ “mùa đông” trong tâm/…/Cho dù đó là con bạn, bạn đời của bạn/ Hay bố mẹ bạn, hay chính bạn/ Đừng mắc kẹt vào ý niệm rằng người đó có một cái tên/ Nên người đó sẽ luôn luôn y nguyên/ Như một thời điểm nào đó./ Họ cũng thay đổi/ Như những cái cây phải thay lá, ra hoa/ ra quả./…/ Tháo gỡ những ý niệm sẽ là sự bắt đầu đích thực.” (Đủ tình yêu). Từ nhầm lẫn này, con người thường bơ vơ, lạc lối rồi mải miết đi tìm, dù là kẻ cô đơn, kẻ ham vui, kẻ nghiện ngập, kẻ tức giận, kẻ tuyệt vọng…, bỏ “mọi công sức tìm kiếm/ Là để né tránh/ Cơn khủng hoảng của chính mình/ Có tên gọi là/ Tôi là ai?/ Tôi cần một ý nghĩa cho cuộc đời”. Thực ra: “Thứ hắn cần tìm/ Có sẵn ở bên trong.” (Đi tìm).

Còn gì nữa trong sự tỉnh thức đến tận cùng này? Sự sống và cái chết- một thiên thu ám ảnh khác của loài người chăng? Đây:

Cái chết chỉ là ảo tưởng, là hình dung

Không có cái chết nào cả!

Chống lại cái chết

Cũng chính là chống lại sự sống.

Vì sự sống và cái chết không hề tách rời

Chúng là hai nửa của chân lý

Tự do là khi ta chấp nhận cái- gọi- là- chết.

(Hồi chuông)

Nếu sự sống, cái chết “không hề tách rời” như chân lý, thì cái đẹp cũng không thể cắt ghép mà thành:

Ta không thể lấy một nửa gọi- là- đẹp của mình

Để lắp vào một nửa gọi- là- đẹp của người khác

Hay lấy một nửa cái- gọi- là- đẹp của con tê giác

Đắp vào một nửa cái- gọi- là- đẹp của một con công

Hai nửa đẹp chỉ tạo nên quái gở.

(Một nửa 1).

Và đây là bản chất sự dối trá:

Dối trá có rất nhiều bộ mặt khác nhau

Và nó luôn cố gắng trở thành

Thứ mà nó không bao giờ có thể trở thành

Có lẽ chính nó cũng không biết điều này

Bởi nếu nó biết thì nó đã chết.

(Sự thật). v.v…

Giờ chúng ta biết vì sao Phương Đặng đã đi qua tạng thơ “nữ quyền”: chị vốn có nó! Từ sự thấu tường con- người- nữ chính mình, tất nhiên không hẳn dễ dàng gì. Chị đã “chú ý” mình, “nhận ra” mình, chứ không “đi tìm”, “tranh đấu”, không “nổi loạn” để bộc lộ, khơi gợi sự chú ý từ người khác.

3. Định dạng thơ:

Như cách nói thường nghe bây giờ “hai trong một”, hay cách diễn trình của Phương Đặng về sự sống- cái chết, về dối trá- sự thật, về sự bất khả 2 nửa cái đẹp: định dạng con người (bằng thơ) không thể tách rời với định dạng thơ.

Con người, vốn mỏng mảnh và ưa xu phụ, thường thích mơn man ve vuốt, thích mơ mộng- cũng là một thuộc tính của  nỗi sợ hãi và khát thèm- xưa nay dễ dàng nghe lọt tai những véo von xưng tụng hoặc sầu thương chia sẻ, tạng thơ “truyền thống” vần vè, tiết tấu, nhạc tính, “có sao nói vậy người ơi”. Ở tầng lớp học vấn nào đó, thích kín đáo hơn từ khơi gợi khá thời thượng (những thời thượng ở ta thôi) dạng “siêu thực”, “tượng trưng”, “biểu hiện”…; hoặc, tuy không nhiều bạn đọc, một số tác giả bí hiểm câu chữ diễn tả sự bí hiểm, hoặc gợi chú ý từ sắp xếp kiểu “tân hình thức”… Tất cả đều làm con người- bạn đọc thích. Nó không nhàm, xưa nay, nếu ngòi bút có tài, biết cách biến hóa, diễn tả khác, điều con người muốn đọc; một cảm tinh tế, một suy nghiệm sâu…

Phương Đặng đã cởi bỏ, không phải lớp áo quen thuộc ấy của thơ, mà là tạo dựng một- thơ- khác, cho con- người- khác. Cái hợp lý “hai trong một” chứ không phải nội dung nào hình thức nấy. Việc rốt ráo định dạng con người không thể được làm bằng thao tác kỹ thuật thuần túy. Tức cũng ngoài ý muốn chủ quan của nhà thơ. May cho Phương Đặng, hoặc cũng đã tới thời điểm phù hợp: không cần phân định rạch ròi trường phái, chủ nghĩa sáng tác, văn chương đã và đang hình thành, hoàn thiện xu thế xóa nhòa ranh giới thơ và văn xuôi, nội dung và hình thức- tức một hình thức không thuần biểu hiện nội dung mà nó đã là nội dung, can dự chính thức thành nội dung; và một nội dung của bài thơ hay thường sẽ được viết tiếp trong bạn đọc. Ví dụ:

Đi vào vùng không biết

Là tình yêu lớn nhất ta có thể dành cho mình.

Buông bỏ quá khứ,

Buông bỏ nỗi sợ về tương lai,

Buông bỏ ý niệm về cái mình không được là,

Đã từng là,

Phải là,

Sẽ là.

(Không biết)

Ý nghĩa, độ ngân vọng của đoạn thơ không bàn. Chỉ thấy trên nền chữ đầy tính bạch hóa của nó, vấn đề dần cô đọng đến nén lại theo trình tự nhận thức sự “buông bỏ”: quá khứ, tương lai (can dự thời gian, kinh nghiệm và hy vọng), các ý niệm cái mình không được: “đã từng” (quá khứ), “phải là” (hiện tại) rồi “sẽ là” (tương lai)- một cách tăng cấp cụ thể sự “buông bỏ”. Vào “vùng không biết” là biết “buông bỏ”. Buông bỏ luôn cái chưa biết- “sẽ là”, chính là tìm thấy cái “sẽ là”, cái sinh sôi tất yếu, là tình yêu “tìm thấy” dành cho mình. Có thể tách bạch nội dung và hình thức không? Và đã có thêm một từ “sẽ là” đang được viết tiếp trong bạn đọc. Đoạn thơ lại mở đến vô cùng vì nó biết cách để trở lại “vùng không biết” khá mơ hồ ban đầu.

Tập thơ có duy nhất một bài Phương Đặng quan niệm về thơ:

Giây phút mà bạn sẵn sàng để viết

Dù thậm chí còn chưa bắt đầu

Tác phẩm đã hoàn thiện.

Bởi vì tác phẩm không được làm ra

Trong lúc bạn đang thực hiện nó.

Tác phẩm đã ra đời

Từ trong khoảnh khắc bạn đã nhúng mình

Hoàn toàn vào hiện tại.

Mẹo để hoàn thành một tác phẩm là:

Tuyệt đối

Không được nghĩ rằng

Mình sẽ viết nó.

(Bài thơ ra đời từ bắp ngô)

Tất nhiên, chẳng phải “mẹo” mực gì: nhà thơ chỉ nói cái chớp sáng bừng lên của ý tưởng sáng tạo, cái “khoảnh khắc” đủ sau điều kiện cần. Nó cũng khá siêu hình. Vấn đề là con người sáng tạo có chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận và ân hưởng món quà ấy không, kiểu luôn còn “Trong chậu đất của những cái cây đã chết/ Thượng Đế vẫn gửi/ Những mầm cây”. (Mầm cây không biết tên).

Phương Đặng đã trung thành với tín niệm nghệ thuật này của mình. Không cưỡng cầu. Như chị tin lựa chọn duy nhất đúng: con người hãy là nó, tự nhiên nhất. Và bài thơ sinh ra, đôi khi chỉ là một ý tưởng tình cờ vụt hiện, chứ không phải hình thức thơ một câu, hai câu, ba câu…: “Bạo lực có bản chất là chối bỏ” (Bạo lực). “Tôi ngừng nói/ Khi nhận ra sự im lặng mới là khó hơn cả.” (Ngừng nói). “Còn muốn là còn đau khổ.” (Muốn). “Hạnh phúc là đau khổ trá hình/ Khi ta chỉ muốn hạnh phúc mà thôi.” (Hạnh phúc). “Ngay cả một chiếc đồng hồ đã chết/ Vẫn đúng hai lần một ngày.” (Đồng hồ chết)… Nó hiện lên, và đủ.

Những câu thơ, bài thơ đã được sinh ra với một sứ mệnh cụ thể. Bằng ngôn ngữ sáng tỏ nhất, lạnh lùng, sắc lẻm, không câu nệ bất kỳ khung khổ hình thức nào. Nó là thơ- con- người với nỗ lực cuối cùng hướng tới: con- người- là, dù con người luôn mong muốn: phải là, sẽ là… Một nỗ lực thuần khiết, chân thành, dung dị và không lớn tiếng.

Có thể đọc “Con người” của Phương Đặng tuần tự từ đầu đến cuối, ngót 130 bài nối tiếp cuốn hút. Có thể giở bất kỳ trang nào, bài nào. Tất cả đều sáng lên trong ta ánh sáng sự thấu triệt. Như một kiểu “Tâm kinh”- cho chính chị. Tôi cũng thấy cái ánh sáng ấy, cho chính mình.

Tôi dùng từ “ngưỡng mộ” nhà thơ Phương Đặng là vậy. Về chặng nhất quán “định dạng con người- định dạng thơ” này. Có thể chặng tiếp theo sẽ khác. Hoặc chỉ vậy, không có chặng nào nữa: chị đã hoàn thành sứ mệnh!.

9/1/2022

Lê Hoài Lương

Theo https://vanvn.vn/

 

Bản sắc, như là mỹ học của cái khác

Trong bài viết “Bản sắc, như là mỹ học của cái khác”, Hoàng Đăng Khoa đã đặt ra nhiều vấn đề về bản sắc của sáng tạo. Mỗi một nhà văn nếu luôn ý thức trong mình về “mỹ học của cái khác”, “vỡ lẽ mình có một khuôn mặt một giọng nói”, hẳn nhiên, anh ta sẽ “vừa đi vừa tỏa hương đất hương người hương chữ Việt”.

Trong Chân dung và đối thoại, nhà thơ Trần Đăng Khoa mặc dù coi nhà văn Nam Cao là một thiên tài, là niềm tự hào của cả dân tộc ta ở thế kỷ XX, và mặc dù cho rằng văn chương Nam Cao rất gần với văn chương Chekhov và Lỗ Tấn, nhưng rồi lại hạ bút, rằng khoảng cách tầm cỡ giữa Nam Cao với ông Tây và ông Tàu kia hình như vẫn còn xa nhau lắm, vì trong khi người ta quan tâm đến nỗi đau ở cõi tinh thần thì Nam Cao lại phải để tâm trí nhiều đến cái bụng, văn chương chỉ luẩn quẩn xung quanh miếng ăn thì cũng khó mà lớn được.

Trong bài trả lời phỏng vấn trên tạp chí Văn nghệ quân đội (tháng 6/2019) bàn câu chuyện văn chương viết về lịch sử, nhà văn Hoàng Quốc Hải xác định, rằng người viết có tài năng và nhân cách chọn điểm rơi của nhân vật thường là từ trái tim lên đỉnh đầu, còn với cây bút tầm thường thì thường nhặt điểm rơi từ cạp quần nhân vật trở xuống.

Lại nhớ, năm 2008, khi nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đoạt giải văn chương ASEAN, có một bài báo (tôi không nhớ tên tờ báo và tên tác giả) nói, đại ý, rằng văn chương Việt Nam không nên mang chuông đi đánh xứ người bằng những tác phẩm đề tài vụn vặt u tối, vô hình trung tiếp thị đến bạn bè quốc tế một hình ảnh Việt Nam nhếch nhác đói nghèo.

Tôi nghĩ, “tầm cỡ” hay “tài năng và nhân cách” của nhà văn không phụ thuộc vào “đề tài” anh ta lựa chọn, mà phụ thuộc vào cách anh ta tiếp cận và xử lý đề tài đó. Tất thảy những gì thuộc về cuộc đời cuộc người này đều là nguồn đề tài đắc dụng của văn chương, và mọi đề tài đều bình đẳng trên một mặt sân giá trị.

Vậy, khoảng trống nào chưa được lấp đầy nơi sinh thể văn chương Việt Nam?

Nhiều người cho đó nhất định là chiều sâu và tầm cao tư tưởng của tác phẩm, bởi vì Việt Nam làm gì khai sinh ra được một học thuyết triết học “made in Việt Nam” nào, mà ngôi nhà văn chương muốn cao rộng thì nhất thiết phải có một căn đế tư tưởng triết học vững chắc.

Nhiều người lại cho đó đích thị là những tượng đài văn chương nội địa, bởi tác phẩm đỉnh cao là thứ vừa kích thích người ta hướng đến vừa khiêu khích người ta vượt qua, và bàn đạp/ hộp dậm nhảy có khả năng tạo sức bật mạnh nhất chính là… đôi vai của người khổng lồ.

Những đoan quyết này không phải là không có lý. Tuy nhiên, thiết nghĩ, tư tưởng của tác phẩm văn chương phải là tư tưởng được đốt cháy thành cảm xúc, được rung ngân ở các bậc tình cảm, rồi được tượng hình bằng ngôn từ nghệ thuật, dưới bàn tay điêu luyện của nghệ sỹ sáng tạo, chứ không phải là những triết thuyết khô khan nằm thẳng đơ vô hồn trên trang giấy. Và, thế nào là tượng đài thì còn tùy vào đôi mắt của người nhìn.

Cách đây vài năm, một nhà văn 7x chia sẻ với tôi, rằng anh ta đang khởi viết một tiểu thuyết mới, anh ta muốn tẩy trắng yếu tố dân tộc tính, vì tin đó là cách để tác phẩm dễ có cơ may được chuyển ngữ, và một khi được chuyển ngữ thì dễ tạo sức đồng cảm nơi bạn đọc quốc tế.

Có thật không, thường người ta đọc tác phẩm được viết bởi một nhà văn ở một đất nước xa xôi xa lạ là với động cơ tâm thế kiếm tìm những gì gần gũi tương đồng với mình? Địa cầu là một thế giới đa nguyên, thiên hình vạn trạng, chằng chịt những ranh giới hữu hình và vô hình. Mỗi con người sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như ngọn đèn con chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ, như cách nói của nhà văn Thạch Lam. Bản chất của con người là hiếu kỳ, là thích cảm giác lạ, là ham hố phiêu lưu, là liên tục có nhu cầu thay đổi thực đơn văn hóa tinh thần.

Phải thế chăng mà Trăm năm cô đơn của nhà văn Colombia Marquez, Đồi gió hú của nhà văn Anh Emily Bronte, Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên của nhà văn Mỹ Laura Ingalls Wilder, Sông Đông êm đềm của nhà văn Nga Sholokhov, Trên sa mạc và trong rừng thẳm của nhà văn Ba Lan Henryk Sienkiewicz… trở thành những món văn lạ vị mà mãn vị đối với người đọc muôn nơi khắp chốn?

Bản sắc văn hóa của một dân tộc thực ra là một thứ diễn ngôn, liên tục được dựng, được kiến tạo và tái tạo, trên một nền tảng ít nhiều cố định. Nhà văn tài năng là người biết, bằng tác phẩm, vừa phơi lộ và phát huy căn cốt văn hóa sẵn có, vừa tự tạo bản sắc văn hóa, vừa tiếp nạp và đồng hóa các truyền thống văn hóa khác để làm đầy những khuyết lõm nơi phông nền truyền thống văn hóa của dân tộc mình. Nhà văn Marquez từng chia sẻ, rằng làng Aracatara – nguyên mẫu của làng Macondo trong Trăm năm cô đơn – vừa là ngôi làng tuổi thơ của ông, vừa tương tự như thứ ông đọc thấy ở Faulkner và các nhà văn vùng sông Mississippi khác. Cuốn tiểu thuyết gây sốt trên toàn thế giới và một trong những lý do dẫn đến điều này mà tác giả thường nghe đấy là tác phẩm viết về đời sống riêng của người dân Mỹ Latinh, một cuốn sách được viết từ bên trong. Có nghĩa là, làng Macondo không hoàn toàn có sẵn, cũng không sở hữu những đặc tính thuần nhất, nó chỉ trở nên biệt lạ qua biệt tài dựng chuyện và kể chuyện của nhà văn Marquez.

Bản sắc văn hóa của một dân tộc, không nghi ngờ bàn cãi, hiện tồn trước nhất, sinh động nhất ở ngôn ngữ – một ngữ cảnh văn hóa – của dân tộc đó. Tác phẩm văn chương đủ vạm vỡ khi nhà văn đủ sức cất lên tiếng nói riêng biệt độc đáo của dân tộc mình trong cộng đồng nhân loại.

Tiếng nói theo ta khắp nơi, cả trong sinh hoạt thầm kín của nhục dục và giấc ngủ, vì ngôn ngữ là hồng tâm của tim người – nhà văn Mĩ William Gass đã nói như thế.

Bất cứ dân tộc nào còn mang món nợ tinh thần chưa trang trải xong, trong lòng dạ tràn đầy năng lượng sáng tạo, những nét riêng và những của trời phú, dân tộc ấy nhất thiết phải mang ngôn ngữ độc đáo riêng để phản ánh mọi việc mọi chuyện của xứ sở mình – nhà văn Nga Gogol đã nói như thế.

Hành động yêu nước nghiêm túc nhất của một công dân với tư cách một người viết là cúc cung tận tụy bảo vệ và mở mang bờ cõi chữ của dân tộc mình – nhà thơ Lê Đạt đã nói như thế.

Mới hay, tác phẩm văn chương lớn, có khả năng vượt lên trên bờ cõi và giới hạn, trở thành tác phẩm chung cho cả loài người, như nhà văn Nam Cao từng khát khao hướng đến, đương nhiên phải phản ánh được bản chất mênh mông sâu thẳm phổ quát của con người, tuy nhiên tính địa vực của tác phẩm cũng rất quan trọng. Để kiến tạo tính địa vực một cách ấn tượng thuyết phục, nhất là trong bối cảnh thế giới phẳng, không cho phép nhà văn mặc cảm nhược tiểu, cũng không cho phép anh ta tự tôn tự luyến tự huyễn quá đà. Ngoài trời là trời, khơi vẫy nhà văn tìm đến những cơ hội gặp gỡ liên thông văn hóa, để củng cố và đắp bồi màu dân tộc. Đến lượt, màu dân tộc nếu đủ sáng bừng sẽ hòa mà không lẫn vào bảng màu muôn hồng ngàn tía của nhân loại.

Một khi nhà văn Việt dựng được những câu chuyện của mình, tận tâm tận lực lao động tiếng Việt để viết nên những cuốn sách của mình, vỡ lẽ mình có một khuôn mặt một giọng nói, thì khi đó văn chương Việt sẽ tự tin minh triết bản lĩnh đi ra thế giới. Vừa đi vừa tỏa hương đất hương người hương chữ Việt.

10/1/2022

Hoàng Đăng Khoa

Theo https://vanvn.vn/

 

Khái Hưng từ vị trí “Nửa chừng xuân”

Xã hội hiện đại hôm nay có thể không còn dị nghị lời ra tiếng vào với những phụ nữ quyết định làm “mẹ đơn thân”. Nhưng để có lựa chọn bản lĩnh và chủ động ấy, thật ra, cần một lộ trình dài hơi, không ngừng táo bạo và cởi mở của lịch sử, văn hóa và bối cảnh xã hội.

Văn chương, theo cách riêng của mình, cũng khiến lộ trình này thêm phần kịch tính, thậm chí có khi tạo ra bước ngoặt. Văn sĩ Khái Hưng, nói không quá lời, là người đã tạo ra bước ngoặt đó, người khiến công chúng văn chương và xã hội phải lắng nghe mình, trước tiên và cao trào nhất, nhờ sự kiến tạo kiểu nhân vật “mẹ đơn thân” giữa lúc chẳng mấy ai nghĩ rằng đó sẽ là thực tế không hề hiếm sau gần một trăm năm.

1. “Nửa chừng xuân”, tiểu thuyết của Khái Hưng, xuất hiện lần đầu trên tuần báo Phong Hóa số 36 (ra ngày 3-3-1933), kéo dài đến số 63 (ra ngày 8-9-1933). Cũng trên Phong Hóa, sau khi đăng quảng cáo “Nửa chừng xuân (Đời cô Mai) sẽ bắt đầu bán vào quãng tết” (số 80, 5-1-1934) thì đến số 86 (23-2-1934), Tựa “Nửa chừng xuân” của Nhất Linh đã xuất hiện ngay ở trang hai. Nhắc lại như thế để hình dung rõ hơn về những diễn biến dồn dập, sinh động và đầy hiệu quả liên quan đến tiểu thuyết “Nửa chừng xuân”, và rộng hơn, đến “cặp đôi” Khái Hưng – Nhất Linh trên Phong Hóa, cơ quan ngôn luận của Tự lực văn đoàn mà hai ông là thành viên chủ chốt.

Khái Hưng (1896-1947) điển hình cho thế hệ chuyển đổi từ Nho học sang Tây học, một kiểu trí thức duy tân chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực văn hóa văn chương. Xuất thân trong gia đình quan lại ở Cổ Am (Vĩnh Bảo, Hải Phòng), Khái Hưng được học chữ Hán từ nhỏ nhưng rồi, cùng với những thay đổi mạnh mẽ của thời cuộc, ông chuyển sang học chữ Pháp ở trường Paul Pert. Sau thất bại trong công việc mở đại lý bán dầu hỏa, đầu thập niên 1930, Khái Hưng lên Hà Nội dạy học ở trường Tư thục Thăng Long và trở nên thân thiết với đồng nghiệp Nhất Linh Nguyễn Trường Tam. Từ đây, Khái Hưng – Nhất Linh nhanh chóng tạo thành một sự kết hợp đặc biệt mà nhờ nó, Tự lực văn đoàn ra đời, phát triển thành nhóm văn chương quan trọng nhất của giai đoạn hiện đại hóa văn học Việt Nam.

Khái Hưng có một sự nghiệp văn học lớn, quan trọng mà đến nay, trong hầu hết tất cả các giáo trình, công trình, tài liệu nghiên cứu, viết về ông, bởi nhiều lí do khác nhau, vẫn chưa khái quát, đánh giá, hệ thống hóa một cách đầy đủ nhất. Tạm dừng lại chặng Khái Hưng năng nổ và tựu thành nhất (với sự cổ vũ không hề nhỏ của anh em nhà Nguyễn Tường trong Tự lực văn đoàn), ta có thể nhắc đến các tác phẩm: “Hồn bướm mơ tiên” (1933), “Nửa chừng xuân” (1934), “Anh phải sống” (viết chung với Nhất Linh và Hoàng Đạo, 1934), “Gánh hàng hoa” (viết chung với Nhất Linh, 1934), “Tiêu sơn tráng sĩ” (đăng báo 1934), “Đời mưa gió” (viết chung với Nhất Linh, 1935), “Tiếng suối reo” (tập truyện, 1935), “Dọc đường gió bụi” (tập truyện, 1936), “Trống Mái” (tiểu thuyết, 1936), “Tục lụy” (kịch, 1937), “Gia đình” (tiểu thuyết, 1937), “Thoát ly” (tiểu thuyết, 1938), “Đợi chờ” (tập truyện, 1939), “Hạnh” (tập truyện, 1940), “Thừa tự” (tiểu thuyết, 1940), “Đẹp” (tiểu thuyết, 1941), “Đồng bệnh” (kịch, 1942), “Thanh Đức” (tên gọi phổ biến hơn là “Băn khoăn”, tiểu thuyết, 1943), “Cái ve” (tập truyện, 1944)…

“Nửa chừng xuân” nằm ở điểm khởi động của giai đoạn Khái Hưng bùng nổ. Sau “Hồn bướm mơ tiên”, “Nửa chừng xuân” là cuốn tiểu thuyết gây tiếng vang lớn, một hiện tượng “sách bán chạy” vào thời kì đó. Cuốn sách cũng đi theo mô hình đăng báo rồi sách rất phổ biến của Tự lực văn đoàn. Ngay khi kết thúc đăng nhiều kì trên Phong Hóa, “Nửa chừng xuân” được in ở An Nam xuất bản cục (tiền thân của Nhà xuất bản Đời Nay nổi tiếng về sau). Ngày 25-5-1934, Phong Hóa đăng thông cáo cho biết “Bắt đầu từ nay, Tự  lực văn đoàn đặt giải thưởng hằng năm để tặng những tác phẩm (tiểu thuyết, phóng sự, khảo luận, thi ca, kịch, sử ký…) có giá trị và hợp tôn chỉ của đoàn.

Giải thưởng năm 1935 sẽ tặng riêng tiểu thuyết: Giải nhất: 100 đồng; Giải nhì: 50 đồng. Tiền thưởng này lấy ở tiền lãi cuốn “Nửa chừng xuân” mà ông Khái Hưng đã biếu Tự lực văn đoàn. Nếu bán hết “Nửa chừng xuân” thì đủ tiền đặt giải thưởng trong bốn, năm năm, mỗi năm hai giải thưởng như trên”. Thông cáo này không chỉ là mánh lới quảng cáo ngầm “Nửa chừng xuân” mà còn cho thấy các yếu nhân của Tự lực văn đoàn tin vào thắng lợi tất yếu trên thị trường văn chương của cuốn tiểu thuyết này. Tại sao “Nửa chừng xuân” lại có khả năng đó?

2. Có thể nói “Nửa chừng xuân” đã báo hiệu những tiếng nói dữ dội, dứt khoát hơn trong việc biểu dương cái mới và triệt tiêu cái hủ tục, lạc hậu mà Tự lực văn đoàn đang ngày một quyết liệt cả trong văn chương lẫn những hoạt động thực tế. “Đời cô Mai” tạo tiền lệ cho “Đời cô Loan” (Đoạn tuyệt, 1936) dệt nên một trong những câu chuyện dữ dội, lạ lùng bậc nhất của văn học Việt Nam hiện đại: phụ nữ sẵn sàng chấm dứt những trói buộc hôn nhân môn đăng hộ đối, để tự định đoạt lấy cách hạnh phúc và giá trị của mình. Đây là một cuộc đấu tranh giữa cũ – mới và là cuộc đấu tranh bởi người nữ.

Tình thế người phụ nữ trực tiếp tham gia hoán cải môi trường sống, đương nhiên, sẽ làm mất mặt xã hội đạo đức kiểu Nho giáo và dự báo trước những chông gai, biến cố khó lường. Là hiện thân của “gái mới”, Mai không chỉ biết cách ăn vận “quần trắng áo màu trông có vẻ đẹp lộng lẫy […] ở quê ra tỉnh mới hơn một năm, nàng đã phục sức được hệt một thiếu nữ tân thời” mà đáng kể hơn, Mai còn có học thức, “rất thông minh”, “biết yêu người ở ngoài vòng lễ nghi”, luôn có chủ kiến trong mọi việc. Và đặc biệt, trong và sau cuộc tình với Lộc, Mai không hề nhượng bộ trước đòi hỏi vô lý của lề lối đạo đức cũ. Trên Phong Hóa, Nhất Linh nêu ra một so sánh để khẳng định điểm riêng mới của “Nửa chừng xuân”: “Bọn trẻ, nhất là về phái yếu, đương ở vào thời kì náo nức ham sống, sống một cách hoàn toàn sung sướng, nếu gặp sự cản trở về đường tình ái, tất nhiên là thất vọng, chán nản […] Cô Mai trong “Nửa chừng xuân” cũng thất vọng nhưng cô khẳng khái không chịu khuất phục bằng cách quyên sinh, cũng không chịu khuất phục bằng cách trở về cái cũ – việc mà cô có thể làm được, cô cứ cứng cỏi mà sống yên lặng không than vãn, vui lòng hy sinh hạnh phúc ở đời” (Phong Hóa số 86, ra ngày 23-2-1934). Như vậy, sức hấp dẫn, đắt hàng của “Nửa chừng xuân” là bởi đã đáp ứng rất đích đáng những “đơn hàng” khẩn thiết của số đông đang hướng theo lối sống mới, đoạn tuyệt với đời cũ.

Để đoạn tuyệt với đời cũ, Khái Hưng và Tự lực văn đoàn cũng phải xuất phát từ quy luật vận động tạo lập giá trị mới. Khát khao cách tân văn hóa đồng nghĩa với quá trình khắc phục, chối bỏ những giá trị cũ đã tồn tại đến mức bảo thủ. Để làm được điều này, ít nhất họ phải dựa trên hai nền tảng: Thứ nhất là nhận thức mang tính triết học về vai trò con người cá nhân. Thứ hai là nhu cầu thẩm mỹ, tìm kiếm những cái đẹp mới, trong đó có thẩm mỹ văn chương. Ở điểm thứ hai này, ta nhận ra xu hướng chống lại quan niệm về tiêu chuẩn uyên bác trong văn chương trung đại, hướng tới việc phá vỡ tính chất đăng đối (mà đối ngẫu trong tổ chức văn xuôi là biểu hiện rõ nhất), giải phóng ngôn ngữ ra khỏi tính chất kinh viện.

Một cách thức quảng bá “Nửa chừng xuân” rất đáng để văn đàn hôm nay học theo!

Với Khái Hưng, bởi có năng khiếu hội họa, ông đã chuyển hóa cái nhìn họa sĩ trong từng câu văn miêu tả thiên nhiên lẫn tâm trạng. Trong khi miêu tả tâm trạng, Khái Hưng thường đưa lời bình luận trực tiếp của người kể chuyện. Hệ thống nhân vật trong “Nửa chừng xuân” đi theo trục bổ đôi ngay từ đầu: một tiêu biểu cho lối sống mới, hướng đến tự do hôn nhân, tự lập thân (Mai); một đại diện cho lề thói đạo đức cũ, coi trọng môn đăng hộ đối, ép buộc con cái sống theo khuôn mẫu gia phong lạc hậu, bất nhân (bà án, Lộc).

Thông qua trục đối thoại, xung đột cũ – mới càng hiện lên rõ nét, những khát vọng và sức sống mạnh mẽ của lớp người trẻ như Mai, Huy sẽ được đề cao trong khi nếp nghĩ cũ kĩ, trái khoáy của Lộc, bà án sẽ bị lật mặt giả dối. Trên đà tiến của xã hội đang từng ngày canh tân, toàn bộ “Nửa chừng xuân” là một cuộc đối thoại lớn với thời đại, với thế hệ còn bám víu những luật lệ cũ. Đứng đằng sau chuyển biến đó, như Khái Hưng nhận định, chính là nền giáo dục mới, “một nền giáo dục có thể gọi là lãng mạn”. Chấp nhận trạng thái “nửa chừng xuân” (theo ngôn ngữ hiện nay chính là “mẹ đơn thân”) để tiếp tục sống cảnh tự do, tự trọng và tự lập, Mai là một hình mẫu lý tưởng để những người trẻ đương thời nhận diện và vươn tới. Dĩ nhiên, nó quá khó.

3. Trong số những tiếp nhận đầu tiên về “Nửa chừng xuân”, cũng đã có độc giả tập trung nhận diện lối viết, ngôn từ của Khái Hưng. Độc giả Tế Xuyên cho rằng Khái Hưng chịu ảnh hưởng của J. Rousseau lẫn G. Sand và tỏ ra “thích lối văn giản dị, êm đềm”. Cùng quan điểm, độc giả N. T. Luật nhận định: “Văn ông hơn người ở chỗ bình dị, trôi chảy, không dùng khóe văn vụn vặt, không khoe chữ như các ông văn sĩ khác”.

Những phát hiện tinh tế, chính xác của độc giả đương thời không chỉ đúng với “Nửa chừng xuân” mà dường như cũng khá chuẩn xác với văn chương Khái Hưng. Lối viết nhẹ nhàng nhưng đa dạng góc nhìn tâm lý của Khái Hưng sẽ là sự bổ sung cần thiết cho sự dữ dội, quyết liệt của Nhất Linh. Trong ý nghĩa đó, nhìn lại Tự lực văn đoàn, người xứng đáng với danh hiệu tiểu thuyết gia nhất, người có công xây dựng thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại chắc chắn phải là Khái Hưng.

11/1/2022

Mai Anh Tuấn

Theo https://vanvn.vn/

 

Đinh Thường và những câu thơ dưới vòm trời nhân nghĩa

Giản dị như con người tác giả, tập thơ “Chạy đâu khỏi nắng” (NXB Hội Nhà văn, 2020) in khổ phổ thông 13 x 20cm, bìa trước và sau là những tàu lá chuối đan nhau, nắng xuyên qua vệt lá. Có khi nào, ở đâu lá chuối lành đâu. Chỉ có tình neo lại.

Ở tập thơ thứ tư này của Đinh Thường, ta bắt gặp rất nhiều câu thơ ăm ắp nghĩa tình. Nghĩa tình ấy đã theo người thơ đi suốt cuộc đời, thường trực mọi lúc mọi nơi, trong từng ý nghĩ và trở thành xương sống cho tập thơ mới nhất này.

Là ủy viên BCH Hội Nhà văn Hải Phòng (HP) năm 2013, là ủy viên BCH Hội Liên hiệp VHNT HP từ năm 2015, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2017, Chủ  tịch Hội Nhà văn HP năm 2018, nhưng Đinh Thường vẫn nhận mình là “tay ngang”, dù hằng đau đáu sáng tác, hết lòng vì hoạt động của Hội nghề nghiệp. Thoạt tiếp xúc tưởng anh hơi khô khan, nguyên tắc, song thực chất Đinh Thường duyên ngầm cả sự đa tình cũng thầm kín. Anh rời quê hương Kinh Bắc năm 1976 sang Sóc Sơn học chuyên môn ngành công an tại Trường An ninh 1 – Bộ Nội vụ, 2 năm. Năm 1979, anh về công tác tại phòng Trinh sát kỹ thuật Công an Hải Phòng. Từ 1988 chuyển sang BĐBP Hải Phòng cho đến khi nghỉ hưu 2013, cấp bậc Thượng tá.

Và từ đây, người quân nhân có điều kiện tập trung cho thơ, như một bản ngã tiềm ẩn. Không đa tình sao được, khi anh sinh ra và lớn lên nơi huyền thoại Từ Thức gặp Tiên. Chàng trai Tiên Du bôn ba khắp nước vẫn không phai chất trữ tình của người quan họ.

Giờ đây trải qua một vòng hoa giáp, thứ tình cảm cao quý ấy càng sâu nặng rồi cứ lặng lẽ thấm vào thơ anh, tạo nên một kiểu thơ đạo đức trữ tình, làm nên tư tưởng chủ đạo xuyên suốt tập thơ này: “Cái điều nhân nghĩa xưa nay/ Kiếp người đeo đuổi vạn ngày chưa xong” (Chão chuộc vào sân); “Việc nhà, việc nước, việc mình/ Chuyện thơ, chuyện nghĩa, chuyện tình… cũng đây“; “Văn đàn duyên bén đường xa/ Chung nhau chén nghĩa đến ba bảy đường” (Tội chi không uống); “Cuộc đời nặng nghĩa trả vay/ Nghĩa tình đeo đẳng qua ngày dại khôn” (Một vòng hoa giáp).

Nó không chỉ làm nên chất nhân văn mà còn cho thấy ý thức công dân rất cao của người cầm bút, là ánh sáng dẫn đường cho chất thơ trong anh khai mở: “Bâng khuâng nhặt nắng chiều xanh/ Nghĩa nhân gom góp vá lành thời gian” (Nhặt nắng Truông Bồn); “Cánh vàng dệt mộng trời cao/ Vẫn mang hồn gió dạt dào yêu thương” (Bài ca trở về).

Sợi dây linh diệu ấy níu Đinh Thường trở về quê nhà Bắc Ninh yêu dấu: “Chiều nay trở lại quê nhà/ Xôn xao cỏ níu hồn ta nắng tràn”, “Đời trai như một cánh diều/ Tình quê dây giữ, chọn chiều liệng chao” (Bài ca trở về).

Nó thổi hồn vào những câu thơ anh viết về  thành phố cảng thân yêu – quê hương thứ hai – nơi anh đã gắn bó máu thịt 40 năm qua: “Bốn mươi năm với Hải Phòng/ Mặn mòi ý nghĩ khơi dòng yêu thương”, “Đảo xa, biển rộng là nhà/ Trái tim thắp lửa  giục ta hát cùng/ Tình quê giọng nói cũng chung/ Nghe như nhịp sóng trập trùng hồn tôi” (Với Hải Phòng).

Tình dệt nỗi nhớ giăng mắc khắp các vùng đất anh từng sống và chỉ thoáng đi qua: Gia Lai, Cốc Pó (Cao Bằng), Hà Giang, Truông Bồn (Nghệ An),… hay một cánh rừng…

Tình đồng chí thủy chung gắn kết trái tim anh với đồng đội, khiến anh không bao giờ nguôi quên những người ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc và số đông bạn bè đã để lại tuổi thanh xuân nơi cột mốc biên cương: “Chiến tranh qua đi, công sự đã mấy mùa xanh cỏ dại/ Bạn tôi những ai nằm lại giục trời biên giới trắng hoa lau?”, “Thời gian qua đi cương vực âm vang bản hùng ca thời hiện đại/ Bạn tôi những ai bạc đầu sức trẻ gửi biên cương” (Bài học biên cương).

Gốc nghĩa tình đánh thức lương tâm con người thức dậy: “Cúi đầu, ngực trống ầm ào/ Nghe như tiếng pháo nã vào lương tâm” (Chiều Vị Xuyên).

Mà lương tâm vốn là chìa khóa của tư duy. Nhờ thế, tác giả lặn sâu vào nỗi đau tột cùng trước phút lâm chung của bà mẹ liệt sỹ  mấy chục năm đằng đẵng kiếm tìm hình hài còn lại của núm ruột yêu thương nơi phương trời xa lắc nhưng hoàn toàn vô vọng. Để rồi anh bật lên những câu thơ run rẩy chạm đến trái tim bạn đọc: “Và phút lâm chung giơ tay bắt gió/ Đường về trời, mẹ thống thiết gọi tên anh” (Niềm tin của mẹ).

Là tiếng nói của lương tri, giúp trái tim Đinh Thường thổn thức, các giác quan mở rộng để có thể nghe tiếng kêu cứu ai oán của những cánh rừng đang bị tàn phá đến kiệt quệ: “Tôi nghe tiếng ai oán của những cánh rừng bị phá/ Dòng lũ xâm lăng quét sạch quê nghèo” (Nghe tiếng lửa reo).

Ý thức rất rõ trách nhiệm công dân của nhà thơ, Đinh Thường thường trực tự vấn lương tâm, hoài nghi và đặt ra nhiều câu hỏi. Có câu hỏi lớn về thế sự – trăn trở âu lo âu trĩu nặng của tác giả trước sự băng hoại đạo đức của con người, mang ý nghĩa cảnh báo xã hội rất cao: “Một bộ phận ung thư con người sẽ chết/ Ung thư tâm hồn…đạo lý còn không?” (Điều cảnh báo).

Có những câu hỏi liên tiếp đặt ra hướng về vấn đề rất lớn là chủ quyền quốc gia: “Bốn ngàn năm biển bao phen loang máu đỏ/ Có khi nào ta hỏi biển khát mãi vì đâu?” (Biển khát mãi vì đâu?); “Ai bắt tay chống lại nỗ lực thống nhất hai miền đất Việt?/ Ai hậu thuẫn bè lũ diệt chủng gây chiến nơi biên giới Tây Nam/ Ai phát động chiến tranh xâm lược sáu tỉnh biên giới phía Bắc?/ Và ai chiếm đóng Hoàng Sa đưa lưỡi bò âm mưu độc chiếm biển Đông?” (Đốt đuốc đi rê chân người); “Bốn mươi năm trước chúng ta hành quân lên biên giới/ Khái niệm bạn- thù càng nghĩ càng đau” (Bài học biên cương).

Có câu hỏi quan trọng về những điều còn tồn nghi trong sách sử: “Chợt nhớ đến tồn nghi trong sử sách/ Đường Lâm đây? Hay châu Ái? châu Hoan?” (Khúc vọng Đường Lâm).

Lại có câu hỏi thấm đẫm nhân văn hướng về những phận người bé nhỏ suốt đời quay quắt bởi đói, nghèo đeo bám: “Nhọc nhằn đeo đẳng nhà nông/ Bao nhiêu tần  tảo vẫn không đủ đầy” (Nghe chuối lật tàu).

Tác giả tự vấn bản thân vì những lúc có phần vô cảm, vô trách nhiệm mà cố tình làm ngơ, cả tin huyễn hoặc trước cái xấu cái ác: “Ta hay huyền hoặc, cả tin lời giao hảo/ Lấp liếm làm ngơ, bao biện phút mơ hồ“.

Lại có câu hỏi nhằm thức tỉnh mỗi cá nhân: “Ngày chồng đêm/ Ta rơi vào miền lục vấn/ Ta đâu rồi? Ta còn giống ta không?”, “Ta liệu có yên bình/ Khi vạn vật chẳng bình yên?” (Chạy đâu khỏi nắng).

Có thể nói, sự xuất hiện của hệ thống câu hỏi đã tăng thêm sức nặng cho “Chạy đâu cho nắng”, khiến tác phẩm đậm giá trị hiện thực và ít nhiều  màu sắc triết lý. Nó cho thấy tác giả từng trải, nắm được quy luật nghiệt ngã của cuộc sống nhưng vẫn không nguôi thao thức việc đời: “Quy luật đất trời dễ gì thay đổi/ Ấm no hay không chính ở con người!” (Ánh mắt già làng).

Là lãnh đạo Hội Nhà văn của thành phố trực thuộc Trung ương, Đinh Thường giàu nhiệt huyết vì sự phát triển của thi ca nói riêng, của nghiệp văn nói chung. Với quan niệm, giá trị bao trùm của văn chương “chính là hướng con người tới chân thiện mỹ”, “Nghiệp văn rong ruổi con đường vị tha” (Nghiệp văn), thi sĩ khát khao sáng tạo để hoàn thành sứ mệnh của người nghệ sỹ. Khát vọng đổi mới thơ thúc giục anh, vì thế có lần người thơ hiếu học và cầu thị ấy đã thử nghiệm  nắm bắt cái hiện thực vô hình (Hình như… ở Mã Pí Lèng), cố gắng tạo ra những câu thơ lạ về hình thức, vận dụng những thể loại thơ văn xuôi hiện đại những mong làm mới thơ mình. Nhưng  kẻ “tập tành văn chương” khiêm nhường ấy lại cảm thấy lực bất tòng tâm, muốn tăng cường bút lực và bút hồn cho mình, để góp phần thay đổi thơ ca, song kết quả  mới chỉ có được những câu thơ vặn vẹo…

Từng trải và khiêm nhường, tác giả đã lựa chọn khôn ngoan là trở về với kho báu truyền thống. Phát huy những giá trị của nền văn hóa dân gian, dựa vào tư duy dân gian, dựa vào ý tưởng của những tục ngữ: “Chạy đâu khỏi nắng”, “đốt đuốc đi rê chân người”, “tưởng những vuông tròn”, “ruộng cạn đồng sâu”, “Nhất đông chợ Giá”, “nhiều no ít đủ”,” đất lành chim đậu”; nương theo những câu hát qua cầu, anh đã gặt được thành công đáng kể: những câu thơ mang triết lý dân gian, mang vẻ đẹp lấp lánh của tư duy truyền thống: “Ấm no nhớ thuở cơ hàn/ Yên bình xót buổi cơ hàn đạn bom” (Chão chuộc vào sân); “Quy luật đất trời dễ gì thay đổi/ Ấm no hay không chính ở con người!”, “Già làng treo cái nhìn lên gác mái/ Lo chum bắp vơi dần, thương con trẻ đường xa” (Ánh mắt già làng); “Biển Hồ mắt nhớ biếc xanh/ Mang Yang tóc gió đụng vành trăng nghiêng” (Nhớ Gia Lai); “Chiều lơi mộng giấc kinh thành / Nương theo hồn đá giữ lành hương xưa” (Chiều Cổ Trai).

Dĩ nhiên, bên cạnh những câu có hồn, có nghề vẫn còn những câu nặng về kể lể, non và vụng về kỹ thuật, chưa rõ dấu ấn cá nhân: “Sông Nho Quế khúc vơi đầy/ Đáy soi rừng thẳm càng tầy xanh trong” (Giữ đá làm sang); “Mộ bia thắm những tuổi tên/ Bao nhiêu dang dở từ đêm bạo tàn” (Nhặt nắng Truông Bồn); “Trời cao dang rộng cánh bay/ Phá rào vô cảm, đắp xây nghĩa tình” (Chạy đâu khỏi nắng).

Nhưng khép lại tập thơ, vẫn còn dư âm của những câu thơ chở đạo rút ra từ gan ruột và ăm ắp nghĩa tình. Với “Chạy đâu khỏi nắng”, thi sĩ của “Trái tim trước biển vẫn hừng hực yêu“(1) đã có những đóng góp nhất định cho nền thơ Hải Phòng và thi ca đương đại. Bởi, “Lối sống nghĩa tình là đạo lý, là căn cước dân tộc, căn cước văn hóa quan trọng nhất trong hệ thống giá trị của Việt Nam” (2).

Chú thích:

(1). Câu thơ của Đinh Thường trong tập “Trái tim trước biển” (NXB Hội Nhà văn, 2011).

(2). Hữu Thỉnh, “Bến văn và những vòng song” (NXB Hội Nhà văn, 2020), tr. 37.

Hà Nội, 11/9/2021

Trần Thị Trâm

Theo https://vanvn.vn/

 

Thơ để đọc và thơ để nghe

Một bài thơ hay là một thực thể – có thể là bằng văn bản nằm ngay trước mắt, có thể là được đọc hay ngâm vang lên bên tai, thậm chí, với cách hiểu của tôi, tôi luôn cho rằng thơ là một thể loại văn học gần nhất với nghệ thuật, mà ở đây là âm nhạc. Thơ luôn vang lên trong ta, dù ta đọc hay xem nó trong im lặng hoàn toàn. Vâng, và tôi đảm bảo là cũng một câu thơ thôi, nhưng người Hà Nội cảm nhận nó theo âm hưởng tiếng miền Bắc, còn người Huế chẳng hạn, sẽ cảm nhận nó bằng âm hưởng tiếng Huế, các bạn cứ cố hình dung mà xem…

Tôi có một từng trải lý thú: Đã đi nói chuyện thơ cho nhiều đối tượng người nghe khác nhau, nhưng mấy lần tôi nói cho các bạn trong Hội người mù nghe là xúc động nhất, và có lẽ thành công nhất. Vì đơn giản các bạn ấy không bị phân tán bởi cái nhìn của mắt, mà chỉ toàn tâm toàn ý tập trung vào cái tai nghe… Họ ngồi nghe chăm chú và say sưa!

Tôi không phải là một người quá cực đoan, nên về điều này tôi cho rằng:

1. Thơ là ngôn ngữ, nên dĩ nhiên phần quan trọng của nó là nó mang thông điệp trong từng từ ngữ. Và điều này rất đúng khi ta đọc thơ bằng văn bản và chỉ bằng văn bản mà thôi. Ta sẽ cảm nhận cái hay của thơ từ những từ ngữ cụ thể và có thể nhận ra từ ngữ dùng như thế trong trường hợp đó thì hay ở đâu… ta có thể sửa và đưa ra những phương án khác v.v…Ví dụ thú vị cho điều này có lẽ là câu chuyện về hai từ “thôi, xao” (“đẩy, gõ”) thời Đường.

Chuyện kể rằng thời nhà Đường bên Trung Hoa có nhà thơ Giả Đảo, vốn là một vị hòa thượng, và ông này làm thơ kỹ lưỡng đến mức trong một bài thơ của ông có câu “nhà sư… cửa dưới trăng”, ở chỗ bỏ trống này là do Giả Đảo vô cùng phân vân không biết nên dùng từ “gõ” (cửa) hay “đẩy” (cửa)… đến nỗi ông mải nghĩ không để ý nên cứ đứng chắn giữa đường của một đoàn quân đang hành quân, lính tráng thấy một người như điên, đứng huơ chân múa tay đang làm động tác gì đó cản bước đoàn quân nên liền gô cổ ông lại và dẫn đến vị chỉ huy, may sao ông quan chỉ huy ấy lại là nhà thơ Hàn Dũ lừng danh, và khi nghe Giả Đảo tường trình vụ việc liền vui vẻ góp ý cho nhà thơ này là nên dùng chữ “xao” cho câu thơ trên. Vì “xao” vừa tượng hình tượng thanh hơn “thôi”, lại vừa hợp lý hơn vì đến nhà thăm bạn thì phải “gõ” cửa chớ sao lại “đẩy” cửa cho được! Vì cái duyên chữ nghĩa này mà mấy lần Hàn Dũ đã giới thiệu và khuyến khích Giả Đảo hoàn tục để tiếp tục lai kinh ứng thí.

Nói như thế để thấy từ ngữ trong thơ có thể mang nghĩa và việc tìm nghĩa cho nó để nó có tính biểu cảm là kỳ khu và dụng công vô cùng, không ai có thể coi thường mà ném ra những từ ngữ miễn là nó có nghĩa hợp lý.

Nhưng ví dụ chính xác nhất cho thứ thơ chỉ tận dụng phần ngữ nghĩa của từ ngữ chính là các loại thơ hiện đại hiện nay. Các bạn sẽ thấy thơ của các nhà thơ hiện đại (hậu hiện đại thì đúng hơn) là một thứ ngôn ngữ dùng hình ảnh (nhiều khi rất tinh tế) để chở các ý tưởng (nhiều khi rất sâu sắc và có tính khám phá)… nhưng họ gần như không dùng đến phần phi ngữ nghĩa của các từ ngữ (chẳng hạn những từ phụ, từ hư, từ đệm, hô ngữ…) và đặc biệt là không cần sự hỗ trợ của nhạc tính, sự lay động của những yếu tố vô nghĩa, phi lý tính trong ngôn ngữ…

Loại thơ này thực sự có những giá trị cao quý và được một số người tâm đắc. Trường thơ rộng bát ngát, cũng như mâm cơm có nhiều món, đủ đáp ứng mọi thứ khẩu vị. Ta không nên và không thể bắt mọi người không được thích và chọn ăn thứ đặc sản của họ.

2. Nhưng theo thiển ý của tôi, thơ là gồm cả phần ngữ nghĩa như đã nói trên đây và không thể thiếu phần phi ngữ nghĩa. Tôi cũng chưa cực đoan đến mức coi thơ như âm nhạc, chẳng hạn, ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tuyệt vời như vậy, nhưng nếu nó chỉ được tồn tại bằng văn bản, như là tác phẩm văn học, thì, lạy Chúa, nó chỉ còn lại 49% giá trị không hơn…

Nhưng thơ là một loại “động vật lưỡng thê”, có hai đời sống. Những bài thơ hay nhất từ thuở thơ Đường cách nay hơn ngàn năm đến nay vẫn khiến chúng ta xúc động vô cùng… nhưng nếu đưa cho các bạn yêu thơ duy lý (nhất là ở phương Tây) thì họ không công nhận đâu. Nhưng những câu thơ trong “Thanh minh” của Đỗ Mục – trong nguyên bản đã hay, và vẫn hay trong bản dịch Việt ngữ:

“Thanh minh lất phất mưa phùn

Khách đi đường thấm nỗi buồn xót xa

Hỏi thăm quán rượu đâu là

Mục đồng chỉ lối Hạnh Hoa thôn ngoài”

Không có một tư tưởng nào, một triết lý nào, và cả các thủ pháp tu từ cũng không nốt… mà những ai đồng cảnh ngộ như nhân vật của thơ cứ nhớ đến hình ảnh trong đó là đồng cảm dễ sợ…

Hoặc một bài như “Lương Châu từ” tả cảnh một đồn biên ải heo hút tận trên đỉnh núi chơ vơ ở chót biên cương phía Tây của Trung Quốc ngày xưa… cái “nhất phiến cô thành vạn nhận san” ấy và câu thơ kỳ lạ: “Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan”…đã khiến bao đời nay hễ ai nhớ đến hình ảnh ấy cũng buồn thấm buồn thía…

Và đó là thơ hay. Vì nó khiến ta xúc động và có thể không hiểu, không cần phải cắt nghĩa vì sao…

Trở lại với cái phi ngữ nghĩa và sự lay động của nhạc tính, tôi xin kể một kỷ niệm:

Trong lần được dự một cuộc hội thảo trên biển, tôi may mắn cùng dịch giả, nhà văn Thái Bá Tân và cố nhà thơ Phạm Hổ cùng hơn 300 nhà thơ đến từ nhiều đất nước châu Âu và cả Mỹ, lênh đênh trên con tàu lớn của Hy Lạp, đi từ Địa Trung Hải, vào biển Êgiê, băng qua Hắc Hải… đến với các hải cảng của mấy nước nằm quanh Hắc Hải như Ođetxa của Ukraina, Kônxtanta của Rumani, Varna của Bungari, Istanbul và Izmia của Thổ Nhĩ Kỳ… và 9 đêm lênh đênh trên biển là 9 cuộc hội thảo về thơ bất tận.

Lần ấy, do trình độ tiếng Anh còn hạn chế, tôi chỉ làm được vài việc nhỏ, trong đó tôi muốn truyền đạt đến các đồng nghiệp Âu – Mỹ cái hay của thơ lục bát Việt Nam. Và tôi đã chọn bài thơ “Ngậm ngùi”, một kiệt tác của nhà thơ Huy Cận để minh họa cho ý mình. Thoạt đầu, tôi đọc diễn cảm bài thơ, đoạn, tôi ngâm theo thể ru con và cuối cùng hát. Bài hát do nhạc sĩ Phạm Duy phổ bài thơ này… Và điều tôi muốn chuyển tải đến cho các bạn đồng nghiệp quốc tế là vẻ đẹp của tiếng Việt và đặc thù của thể thơ truyền thống thuần túy Việt Nam và đậm chất phương Đông. Có vẻ như các bạn quốc tế thích thú vì âm hưởng phong phú của tiếng Việt “nói thì như ngâm thơ, ngâm thơ thì như hát…” nên có mấy bạn nhà thơ nữ (Ba Lan thì phải) còn thích thú xin phép tôi ghi âm lại và… phát trên đài phát thanh của họ… Chẳng biết rồi họ có làm thế không, nhưng sự lay động của thơ Việt ở đây đã chứng minh cho điều tôi nói ở trên về sức truyền cảm nằm ngoài ngữ nghĩa của thơ, vì đơn giản tôi không có bản dịch bài thơ này ra tiếng Anh và dĩ nhiên mọi người không biết đích xác nội dung nó nói cái gì…

Thơ để đọc và thơ để nghe giống và khác nhau là như thế đấy.

12/1/2022
Anh Ngọc
Theo https://vanvn.vn/

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

Tư duy khoa học trong "An trú miền đọc" của Mai Thị Liên Giang

Tư duy khoa học trong "An trú
miền đọc" của Mai Thị Liên Giang

Từ “Chủ thể tiếp nhận và Lịch sử tiếp nhận Thơ mới” đến “An trú miền đọc”, Mai Thị Liên Giang đã khẳng định tiếng nói của một nhà nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp. Nếu “Chủ thể tiếp nhận và Lịch sử tiếp nhận Thơ mới” cho chúng ta cái nhìn rõ nét, trọn vẹn về phong trào Thơ mới thì “An trú miền đọc” lại mang đến nhiều sắc thái khúc xạ từ sự đa dạng các đối tượng: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình,… Sự kết hợp giữa tư duy khoa học lý luận chặt chẽ, sắc sảo cùng với văn phong chỉn chu nhưng không kém phần tinh tế, nữ tính, “An trú miền đọc” hoàn thành khá tốt chức năng nghiên cứu phê bình, thẩm định, tránh được lối diễn giải chủ quan cá nhân cực đoan.
“An trú miền đọc” gồm 26 bài. Trong đó có: 8 phê bình thơ, 1 phê bình truyện thơ nước ngoài, 6 phê bình văn xuôi (3 văn xuôi Việt Nam và 3 văn xuôi nước ngoài), 3 nghiên cứu phê bình lý thuyết văn học, 7 phê bình tác phẩm lý luận, phê bình, 2 phê bình về sự kiện văn học. Chỉ ra như vậy để thấy đối tượng nghiên cứu phê bình của chị khá rộng. Nhưng tựu trung ở hai dạng: phê bình tác phẩm và nghiên cứu phê bình lý thuyết; ở hai hướng tiếp cận: tiếp cận tác phẩm văn học từ văn bản và từ người tiếp nhận.
Xem văn bản là trung tâm luận giải, xác thực, Mai Thị Liên Giang dễ dàng gọi tên và chỉ ra trò chơi của những con chữ mà các nhà thơ, nhà văn đã dựng nên trong tác phẩm nhằm gia tăng tính đa nghĩa. Cách chị khảo sát và phân tích cấu trúc ngôn từ, hệ thống và ý nghĩa của các biểu tượng, âm thanh, không gian, thời gian, tính liên văn bản, trò chơi hội thoại, lạ hóa, ẩn dụ kép,… trong thơ của Trương Đăng Dung, Hồ Thế Hà, Hoàng Vũ Thuật, Phan Hoàng, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Hoan,… cho thấy một khả năng đọc kĩ lưỡng và diễn giải hết sức thấu đáo. Bản chất của thơ là sự quyến rũ, mê hoặc, hài hòa giữa cảm xúc và ngôn từ. Tìm ra điểm tương hợp ấy trên cơ sở khơi thông ngôn từ, Mai Thị Liên Giang chỉ ra hấp lực riêng của mỗi nhà thơ. Các hình thức nghệ thuật mà chị vận dụng không hề cứng nhắc, khiên cưỡng, hay áp đặt, ngược lại, nó làm tỏa sáng tính thơ. Trong trò chơi ngôn ngữ, Trương Đăng Dung “như đang tìm kiếm ý nghĩa sự tồn tại của chính mình, như một cách để tạo nghĩa cho chính thế giới mà con người tồn tại trong đó”. Đọc thơ Hồ Thế Hà, chúng ta “như được tham gia vào một trò chơi với đầy đủ mọi cung bậc trạng thái hỷ nộ ai ố”. Nguyễn Quang Thiều lại khá sâu sắc trong “Nhịp điệu châu thổ mới”. Ông biết đẩy vào đó “những dự phóng, một số kiến tạo trước như thể nhà thơ đã từng có mong đợi về một thế hệ người đọc với tầm đọc mới”,…
Với phê bình văn xuôi, hướng phê bình của Mai Thị Liên Giang cũng bắt đầu từ tác phẩm, tác động trực tiếp đến tác phẩm thông qua các thủ pháp nghệ thuật như: nghệ thuật xây dựng nhân vật theo kiểu mảnh vỡ trong tiểu thuyết của Hữu Phương, tính đối thoại tập thể trong sáng tác của Tô Hoài trước năm 1945, cấu trúc song hành trong giọng điệu thánh ca ở tiểu thuyết “Đứa trẻ mồ côi” của Mórizs Zsigmond,… Kỹ năng đọc có phương pháp đã giúp chị thâm nhập sâu vào tác phẩm, tiếp cận được giá trị nghệ thuật và dấu ấn của nhà văn. Nhắc đến Franz Kafka, chúng ta luôn thấy những trở trăn, băn khoăn về phận người, về “sự tha hoá, nỗi lo âu, sự lưu đày, và cái chết” mà nhà văn trao gửi trong tác phẩm. Diễn giải nỗi cô đơn thời gian trong ‘Lâu đài’, Mai Thị Liên Giang nhận định cốt lõi thế giới phi lý của Franz Kafka là “niềm khao khát luôn nỗ lực đi tìm sự thật về thế giới và mong muốn con người được sống như kiếp người, được hoà hợp với gia đình, xã hội và tìm được bản thân mình trong một thế giới có ý nghĩa”.
Ở các bài phê bình tác phẩm lý luận, phê bình, với hệ thống lý luận vững vàng, chị chỉ ra các phương pháp đọc phê bình của Hoàng Thụy Anh, Trần Huyền Sâm, Lý Hoài Thu, Phan Tuấn Anh, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Phạm Ngọc Hiền,… Vận dụng thi pháp học, kí hiệu học, văn hóa học, phê bình nữ quyền, mỹ học tiếp nhận,… chị xác tín bút pháp phê bình của Hoàng Thụy Anh thiên về phê bình ngôn ngữ học. Lý thuyết và phê bình nữ quyền là góc nhìn để chị khẳng quyết: “Trần Huyền Sâm đã viết phê bình theo lối viết thân thể mà các nhà nữ quyền đã cổ xúy như Antoinette Fouque, Heslène Cixous, Julia Kristeva và luôn có sự suy xét sáng tạo riêng của một nhà phê bình nữ Việt Nam”. Phát hiện phương pháp pháp phê bình truyền thống và hiện đại trong “Văn nhân quân đội” từ kiểu phê bình ấn tượng, thi pháp học, kí hiệu học, văn hóa học, tường giải học, mỹ học tiếp nhận, chị đưa ra nhận xét: “Lý Hoài Thu vừa đi sâu vào bản tính nhà văn để tìm ra bản chất văn học quân đội vừa tìm đến những điều kiện tiên nghiệm từ xã hội mang tính chất thực hành của văn học, đến chủ trương ngôn ngữ khách quan của mỗi tác giả, vừa có xu hướng nhấn mạnh tới vai trò của nhà văn trong quá trình tạo nên tác phẩm”. Bàn luận về công trình “Gabriel García Márquez và nỗi cô đơn huyền thoại”, chị chỉ ra kĩ thuật và hiệu ứng ứng dụng các lý thuyết trong tư duy phê bình đối thoại của cây bút phê bình trẻ, đầy tài năng – Phan Tuấn Anh và đi đến kết luận: “Những kiến giải sinh động của Phan Tuấn Anh có giá trị khơi mở những con đường nghiên cứu khoa học mới cho những người yêu văn học Mỹ Latin. Đó là điểm tư duy “cùng tiến” mới trong bút pháp phê bình của các nhà phê bình trẻ hiện nay trên thế giới, khác với một số nhà phê bình lí luận khác trong lịch sử chỉ luôn cho mình là đúng”. Ở mô hình nghiên cứu phê bình lý thuyết, chị bàn về thuật ngữ chủ thể tiếp nhận, quan điểm tiếp nhận, quan niệm về sự đọc,… giúp người đọc có cái nhìn đúng đắn về mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận. Nghiên cứu phê bình lý thuyết tiếp nhận của các nhà văn tên tuổi như Hans Robert Jauss, Claudio Magris, Jacque Derrida, chị vừa giới thuyết vừa chỉ ra phương pháp khám phá, áp dụng tối ưu nhất vào nghiên cứu văn học Việt Nam: “Việc áp dụng những thành tựu lí luận văn học vào nghiên cứu văn học Việt Nam là quá trình tìm tòi góp phần hoàn thiện hệ thống quan điểm về tác phẩm văn học và phương thức tồn tại của nó. Bởi trên con đường nghiên cứu tác phẩm chúng ta vẫn phải luôn dừng lại trước không ít những vấn đề cơ bản,… những vấn đề còn đang bỏ ngỏ, những cuộc đối thoại không có giới hạn… của một hệ thống quan điểm phức tạp, khó thuần nhất của lí luận văn học”. Như thế, chúng ta thấy có tính liên thông, phụ trợ giữa hai hướng phê bình (tác phẩm và lý thuyết) ngay trong các bài viết của chị. Các bài nghiên cứu phê bình lý thuyết của chị đã làm sáng tỏ nhận định văn bản tác phẩm văn học luôn vận động bởi chủ thể tiếp nhận. Văn bản tác phẩm văn học là văn bản mở. Bàn về công trình lý luận “Tác phẩm văn học như là quá trình” của Trương Đăng Dung, chị đã nhấn mạnh: “Quá trình văn học là quá trình tác động tương hỗ với hai yếu tố: ảnh hưởng thông qua văn bản và sự tiếp nhận thông qua người đọc. Văn bản là mối quan hệ giao tiếp, sự đọc là quan hệ đối thoại… Tác phẩm văn học được hình thành từ quá trình mở về phía chủ thể tiếp nhận”. Do đó, đối với hướng phê bình tác phẩm, chúng ta thấy chị luôn đặt mình trong tâm thế của người đọc “hàn lâm”, chủ động tìm những cách đọc tối ưu nhất, bật lên được điểm sáng của tác phẩm một cách thuyết phục. Cách chị tiếp cận tác phẩm dưới góc độ văn hóa học là một ví dụ. Ngôn ngữ là sản phẩm chung của xã hội, nhưng một khi nằm trong tay nhà văn, ngôn ngữ sẽ bị chi phối bởi phông văn hóa của riêng anh ta. Theo chị, hành trình tìm đặc trưng diễn ngôn văn hóa của nhà văn cũng chính là hành trình giải mã quan điểm, tư tưởng của nhà văn: “Trong quá trình đọc tác phẩm văn học, không có gì thông thường hơn bằng sự thể nghiệm các mã kí hiệu và văn hóa ẩn trong ngôn ngữ”. Đó là lý do để Mai Thị Liên Giang quy chiếu góc nhìn văn hóa vào sáng tác của Hoàng Vũ Thuật và cho rằng: “Văn hóa có mặt trong thơ Hoàng Vũ Thuật như một yếu tố tự nhiên chi phối tác giả trong việc lựa chọn ngôn từ và kiến tạo văn bản”. Và chị cũng đã tìm ra phương pháp phê bình của Lý Hoài Thu dựa trên nền tảng này: “Văn hóa trong văn học quân đội chính là môi trường sống của con người, của các nhân vật về cả mặt tinh thần và vật chất. Sức sống văn hóa trong văn học quân đội chính là ở chỗ nó chấp nhận cộng sinh văn hóa, tiếp biến văn hóa để đi đến giao thoa, hội nhập. Văn học quân đội như vậy… cũng đã góp phần bảo lưu và sáng tạo văn hóa dân tộc”.
Có thể nói, rất nhiều lý thuyết lý luận văn học được chị vận dụng trong “An trú miền đọc” như: thi pháp học, tự sự học, cấu trúc luận, lý thuyết chấn thương, lý thuyết hậu hiện đại, mỹ học tiếp nhận, hiện tượng học, phê bình sinh thái, phê bình nữ quyền,… Trong tay chị, các lý thuyết không phải là bản sao, áp đặt, quy chụp lên tác phẩm, mà được “tiêu hóa”, “giãn mạch” rất khéo léo, nhờ đó, chị dễ dàng thám mã tác phẩm, gọi hồn tác phẩm và bổ sung hướng tiếp cận mới.
Sự đọc đòi hỏi một quá trình kiên trì, thường xuyên, không có điểm dừng. Trong ngôi nhà văn chương, mỗi bạn đọc đều tự tìm một “miền an trú” hợp với cái “gu” thẩm mỹ của mình. Trước bộn bề tác phẩm giả (kém chất lượng) – thật (chất lượng) như hiện nay thì việc phân biệt, lựa chọn sản phẩm văn chương đích thực không hề dễ chút nào. Lúc này, trách nhiệm hướng dẫn, định hướng các giá trị thuộc về các nhà phê bình. Nhưng, đánh thức năng lượng của tác phẩm là việc làm không hề dễ. Nó đòi hỏi nhiều yếu tố cần có của một nhà phê bình chuyên nghiệp. Ngoài ra, bên cạnh việc luận bàn, đánh giá, thẩm định tác phẩm một cách thấu đáo, khách quan, khoa học, người viết phê bình cần thể hiện cá tính, lối viết riêng ngay trong sản phẩm mà mình tạo ra. Bởi lẽ, người viết phê bình cũng là người sáng tác. Anh ta sáng tạo lại tác phẩm bằng những định vị mang “tính lưỡng thê” (Đỗ Lai Thúy). “An trú miền đọc” của Mai Thị Liên Giang thực hiện khá đảm đang vai trò này. Chị đã bày tỏ chính kiến của mình ngay trong tác phẩm: “…thực tế, ở nước ta trong các hiện tượng văn học, các công trình nghiên cứu thường có hiện tượng cộng sinh giữa các phương pháp. Đây là điều tất yếu cho sự phát triển của quá trình lí giải tác phẩm văn học nếu đi từ cội nguồn của triết học, lí luận văn học và mỹ học”. Có lẽ xuất phát từ quan niệm này mà những bài viết của chị đều chú ý đến tính chất giản nở của ngôn ngữ thơ, tính văn học và cấu trúc tác phẩm, từ đó, xác định cá tính sáng tạo của nhà văn và phương pháp nghiên cứu phê bình của các cây bút nghiên cứu phê bình.
“An trú miền đọc” được trình bày trên tinh thần đối thoại, phản biện, khước từ lối phê bình xã hội học cực đoan, cho thấy tư duy khoa học, bản lĩnh vững vàng trước các vấn đề chị đặt ra. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhận diện được bóng dáng một bút pháp mềm mại, nhẹ nhàng, nữ tính ngay trong “An trú miền đọc”. Đặc điểm của phê bình là sự tranh luận. Tranh luận là điều cần thiết để bồi đắp nghĩa cho một tác phẩm, một thể loại, một giai đoạn hay một trào lưu. Khi chỉ ra những mặt hạn chế, bao giờ chị cũng trình bày hết sức khéo léo, vừa đủ. Thơ Nguyễn Quang Thiều có nhiều luồng tranh cãi. Chị không luận bàn về chủ thể tiếp nhận trong thơ Nguyễn Quang Thiều, nhưng cách chị đưa ra vấn đề để giải quyết xem ra hợp lý, ổn: “Điều quan trọng là cách nhà thơ ứng xử với những lời khen chê đó không phải bằng tranh luận ồn ào để khẳng định đúng sai mà bằng những thành quả lao động sáng tạo nghệ thuật. Chúng ta hiểu rằng ‘đấy reo vang của vải’ và ‘đấy bệnh câm của vải’ vẫn luôn phải tồn tại cạnh nhau. Và chúng ta cũng sẽ bất hạnh nếu không có được một nhịp điệu sống đa dạng như nhịp điệu châu thổ mới, nhịp điệu sống của loài người”. Và điều này hoàn toàn đúng với những thành quả mà nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã đạt được hôm nay. Ngoài những ghi nhận đóng góp của Trần Huyền Sâm ở chuyên luận “Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại”, xuất phát từ cảm quan của phận nữ, chị cũng chia sẻ và gửi gắm những đồng cảm của mình với tác giả trước diễn ngôn nam quyền: “Thực chất, nhà văn nam giới ít viết về tuổi dậy thì, kinh nguyệt, trinh tiết, tình dục, mang thai, nạo thai, đau đẻ… nhưng họ cũng là người luôn phải quan tâm đến các vấn đề này”. Phê bình sinh thái đang là hướng nghiên cứu có sức lôi cuốn rất mạnh mẽ. Không chỉ luận bàn về những đóng góp của chuyên luận “Rừng khô, suối cạn, biển độc và văn chương”, mà chị còn đồng hành với Nguyễn Thị Tịnh Thy trước những khiếm khuyết của hướng nghiên cứu phê bình sinh thái hiện nay. Cốt lõi của phê bình sinh thái là tinh thần nhân văn. Tinh thần nhân văn này đã se duyên, kết nối cuộc gặp gỡ, tri âm giữa Nguyễn Thị Tịnh Thy và Mai Thị Liên Giang về ý nghĩa sinh thái. Chỉ có thái độ hòa hợp, trân quý với sinh thái thì mới tạo dựng nền móng bền vững về một ngôi nhà chung: “Nhà phê bình hay nhà văn luôn phải có ý thức rồi mai này ai cũng sẽ sống trong thân cây, bên cạnh thế giới loài vật như sống trong cơ thể mình vậy!”. Không có sự cắt nghĩa nào tuyệt đối, bởi mỗi một góc nhìn đều cấp ý nghĩa mới cho văn bản. Như chị đã khiêm tốn trần tình ngay trong “An trú miền đọc”: “Chúng tôi cũng chỉ từ góc độ của tính thỏa thuận để đối thoại với văn bản. Có lẽ sự đọc theo kiểu này còn tạo thêm những khoảng trống ngôn ngữ luôn chờ đợi những cuộc đối thoại mới hơn…”. Do vậy, sự xuyên thấm giữa tư duy lí luận sắc sảo và cảm xúc tinh tế của người nghệ sĩ trong “An trú miền đọc” được thể hiện rất rõ qua văn hóa tranh luận, đối thoại và tính dự báo. Đây là nét riêng, làm nên bút pháp phê bình của Mai Thị Liên Giang.
Đồng hành với những nữ phê bình như Bích Thu, Tôn Phương Lan, Lưu Khánh Thơ, Lý Hoài Thu, Trần Huyền Sâm, Thái Phan Vàng Anh, Lê Hồ Quang, Lê Thị Bích Hồng, Cao Thị Hồng, Hỏa Diệu Thúy, Cao Kim Lan,… Mai Thị Liên Giang đã chứng minh được bút lực và phong cách của mình. Nội lực mà “An trú miền đọc” có được khởi từ một quá trình lao động miệt mài, nghiêm túc và tận tụy của chị. Dừng chân trước “An trú miền đọc”, đó là phương cách tối ưu để mỗi người đọc mã hóa và phát huy vai trò chủ thể đồng sáng tạo.
12/1/2022
Hoàng Thụy Anh
Theo https://vanvn.vn/

  “Con người” của Phương Đặng: Định dạng con người – định dạng thơ Văn chương ra đời và tồn tại- dù cụ thể hoặc sâu xa, nguyên nhân mà cũn...