Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2026

Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung

Dấu ấn Bắc Hà qua
thơ Nguyễn Ngọc Tung

Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sĩ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung, nguyên Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), hội viên hội nhà văn Việt Nam chuyên ngành thơ. Tôi có duyên cùng đoàn văn nghệ sĩ trong đó có nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung lên thăm Bắc Hà từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 10 tháng 5 năm 2026. Ba ngày trải nghiệm đi thực tế là ba ngày mưa, những cơn mưa không ồn ào nhưng ít nhiều cũng ảnh hưởng đến việc tham quan du lịch, trải nghiệm để có kiến thức thực tế bổ sung cho các bài viết của mình. Một trong những dự kiến không được hiện thực hóa là xem đua ngựa và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vườn hoa cẩm tú cầu. Tuy nhiên, có một số trải nghiệm để lại ấn tượng đẹp trong lòng bạn đọc đó là việc đi thăm chợ Cán Cấu và chợ Bắc Hà, đó là việc tìm hiểu thực tế ẩm thực Bắc Hà qua chợ phiên và qua homestay nơi chủ nhà mến khách đã dành những tình cảm ưu ái thể hiện qua các món ăn mang đậm nét bản sắc địa phương dành cho du khách… 

Tất cả những kiến thức thực tế ấy đi vào trang viết của các văn nghệ sĩ, có thể là những trang văn xuôi, có thể là những bài thơ, bài ký, tản văn v.v… dù dưới dạng thể loại nào thì mỗi bài viết của các văn nghệ sĩ đều đong đầy cảm xúc.

Trong dòng chảy cảm xúc ấy, “Bắc Hà ngày trở lại” có một nét dáng riêng. Bài thơ lấy chất liệu từ hiện thực Bắc Hà ba ngày mưa, sắc màu trong thơ cũng chân thật như sắc màu của cuộc sống; âm thanh trong thơ cũng chính là âm thanh của cuộc sống, nhà thơ chỉ là người chọn lọc chi tiết tiêu biểu để cảm xúc thăng hoa thành câu chữ

Ngày xưa

Mẹ địu con lên núi 

Địu cái chữ lên bản

Đồng bào Giáy, Dao Đỏ, H’Mông, …

Đón mẹ trong vòng tay thương mến.

Miền ngược miền xuôi

Đều con Lạc, cháu Hồng

Trồng lanh dệt vải, trồng sắn, trồng ngô

Cùng chia nhau hạt muối

Cùng uống rượu bát, rượu cần

Ăn mèn mén, thắng cố

Cùng học chữ

Cùng hát múa quanh ảnh Bác Hồ.

Bao mùa hoa đào nở? 

Bắc Hà đã đổi thay

Mẹ đã thành mây trắng 

Chợ vẫn chật tiếng cười

Nhà em giờ đã phố

Chẳng còn vách đất, nhà tranh

Điện thay trăng

Lớp học tươi ngói đỏ

Đường rộng mở bê tông

Rộn ràng ô tô, xe máy

Gương mặt Bắc Hà rạng rỡ mùa xuân.

Bắc Hà trong sương

Anh cùng em đi chợ tình

Núi Mẹ Con đứng bồng mây trắng

Thung lũng hoa, em cười như nắng

Cầu tre cong vành trăng

Ruộng bậc thang dâng mùa no ấm

Ngày hội thổ cẩm 

Tiếng khèn du dương

Hội đua ngựa

Em là quán quân 

Ta dắt nhau lên dinh thự cổ 

Chạm vân tay người năm cũ phương nào?

Bắc Hà xôn xao

Hoa đào ngậm sương bừng sắc thắm

Cô giáo H’Mông 

Chiều nay thêu hoa văn thổ cẩm

Có thêu tôi vào nỗi nhớ Bắc Hà?

Những vần thơ tự do, nhịp điệu được dẫn dắt bởi cảm xúc không cố định, không dồn nén, không rập khuôn trong các thể loại thơ truyền thống. Ở đây là thơ tự do tái hiện cả quá khứ và hiện tại, có cả hiện thực, có cả hình dung kết hợp trải nghiệm thực tế và trí tưởng tượng phong phú.

Khổ thơ đầu tiên xuất hiện hình tượng người mẹ năm xưa từ miền xuôi đem cái chữ lên miền ngược để dạy cho học trò đồng thời chính là đem niềm vui, đem ánh sáng lên cho những bản làng heo hút chính là Bắc Hà ngày xưa. Bắc Hà là vùng đất hội tụ nhiều dân tộc Giáy, Dao Đỏ, H’Mông, …, điểm chung đều là người Việt Nam giàu tình cảm, mến khách, đồng bào đã đón mẹ trong vòng tay yêu thương bởi dù miền núi hay miền xuôi thì đều là con Lạc, cháu Hồng. Chính vì nét đẹp truyền thống của người Việt Nam như vậy cho nên người mẹ đã nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống của đồng bào miền núi, nhanh chóng làm quen với công việc quen thuộc của đồng bào trồng lanh, dệt vải.. nhanh chóng làm quen với ẩm thực Bắc Hà, với mèn mén, với rượu ngô với rượu cần uống bằng bát…, Để rồi mẹ cùng với dân bản học cái chữ trong một không gian thật đẹp, thật đặc biệt, thật vui, thật ý nghĩa Cùng học chữ/ Cùng hát múa quanh ảnh Bác Hồ.

Câu thơ của Nguyễn Ngọc Tung thật giàu sức gợi. Đó chính là một cách diễn tả chân thật mà sâu sắc về việc Bác Hồ luôn luôn là người dẫn đường chỉ lối, luôn luôn là trung tâm đoàn kết, luôn luôn tỏa ra một ánh sáng ấm áp, yêu thương, hội tụ cháu con ở khắp các vùng miền để cùng diệt giặc dốt, để cùng phát triển, để cùng tiến hóa đến xã hội văn minh. Nguyễn Ngọc Tung điểm lại hành trình của mẹ xưa kia bằng một nét phác thảo chấm phá rất nhanh, rất gọn để làm nền, làm đòn bẩy, làm cầu nối cho hiện tại và hiện tại mới chính là trọng tâm của cảm xúc, hiện tại mới chính là hiện thực ùa vào trang thơ của các văn nghệ sĩ. Hiện tại không còn rừng, bản nguyên sơ như ngày xưa nữa, hiện tại làng đã trở thành phố và con người cũng trở nên văn minh hơn, cuộc sống vật chất đầy đủ hơn, cuộc sống tinh thần phong phú hơn. Điều đó được thể hiện qua tiếng cười Chợ vẫn chật tiếng cười. Vâng, tiếng cười luôn là biểu tượng của hạnh phúc đủ đầy. Người mẹ - cô giáo của bản làng năm xưa không còn nữa Mẹ đã thành mây trắng/ Chợ vẫn chật tiếng cười.

Hiện tại dấu ấn của quá khứ vẫn còn đó, quá khứ bắc cầu cho hiện tại và chắc chắn sẽ là cầu nối đi đến tương lai, một tương lai tươi đẹp, sáng sủa hơn. Làng đã lên phố, điện đã thay trăng, thay đèn, những lớp học nhà tranh, vách đất ngày xưa đã thay bằng một hệ thống điện, đường, trường, trạm… với đầy đủ tiện nghi khiến cho bất cứ ai trải nghiệm Bắc Hà cũng cảm nhận được đầy đủ sự sung túc qua hình ảnh Rộn ràng xe máy ô tô… khiến cho gương mặt Bắc Hà bốn mùa đều là mùa xuân tươi tốt Gương mặt Bắc Hà rạng rỡ mùa xuân.

Và trong khung cảnh hiện thực đẹp đẽ ấy tác giả đã dệt nên một hình tượng đẹp đẽ trong thấp thoáng sương sớm anh cùng em đi chợ tình…Chợ tình là một không gian văn hóa thể hiện một nét đẹp văn hóa rất riêng của Bắc Hà (toàn quốc cũng chỉ có một số địa phương có chợ tình). Đó là một không gian mang nét đẹp truyền thống không chỉ dành cho những đôi trai gái ở lứa tuổi đang yêu mà bất cứ ai có người yêu cũ ở lứa tuổi nào cũng có thể được gặp nhau ở chợ tình. Như vậy không gian ấy là không gian của hiện thực cũng là không gian của hoài niệm; của hiện tại cũng là của quá khứ; của những ánh mắt, nụ cười rạng rỡ hôm nay nhưng cũng sẽ ẩn chứa những nụ cười, những ánh mắt đằm thắm của những câu chuyện ngày xưa …

Nắm được nét đẹp đặc trưng văn hóa vùng miền, Nguyễn Ngọc Tung đã xây dựng nên một hình ảnh thật đẹp ở trong thơ, hình ảnh con đường dẫn anh và em đi đến chợ tình cũng đẹp tựa như mơ vậy, có núi mẹ bồng con, có lô nhô đỉnh núi thấp thoáng trong sương, trong mây, có thung lũng hoa rực rỡ sắc màu và đẹp nhất vẫn là có nụ cười em tỏa nắng….

Tôi đặc biệt yêu thích cách miêu tả về tiếng cười trong thơ của Nguyễn Ngọc tung; Tiếng cười nói chung chung thì rộn rã, tiếng cười người đang yêu là tiếng cười tỏa nắng…tiếng cười chính là biểu tượng của một không gian hạnh phúc ngập tràn. Không chỉ vậy, Bắc Hà còn có ruộng bậc thang, có làng dệt thổ cẩm, có ngày hội thổ cẩm, hội đua ngựa…

Khổ cuối của bài thơ nhắc đến hình tượng cô giáo trẻ Chiều nay thêu hoa văn thổ cẩm/ Có thêu tôi vào nỗi nhớ Bắc Hà?

Cái kết của bài thơ thật đẹp, thật ấn tượng, nhà thơ không nói Bắc Hà đằm sâu trong nỗi nhớ mà là một câu hỏi tu từ, hỏi xem Cô giáo H’Mông khi đan thổ cẩm Có thêu tôi vào nỗi nhớ Bắc Hà? Chính câu kết độc đáo ấy góp phần làm bừng sáng bài thơ, góp phần cho dư âm của bài thơ ngân dài, ngân dài như tiếng chuông, tiếng khèn… của Bắc Hà những ngày mưa mùa hạ vây.

Bắc Hà, 21/5/2026

Đỗ Nguyên Thương

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm

Tiếng thơ Phùng Văn
Khai sẽ đi qua trăm năm

Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.

1. Đến đầu năm 2025, sau khi công bố gần chục cuốn tiểu thuyết lịch sử và hai tập thơ, nhà văn Phùng Văn Khai bất ngờ cho trình làng văn tập sách dày dặn và sang trọng “Thơ danh nhân – chân dung văn nghệ sĩ”.

Khoảng 120 bài thơ, tức 120 gương mặt các nhà văn, nghệ sĩ Việt Nam từ cận đại đến đương đại, được Phùng Văn Khai “phác hoạ” bằng thơ, mãi gần cuối sách, Phùng Văn Khai mới khẽ khàng ra hai bài thơ viết tặng mẹ và hai bài thơ nhỏ tặng vợ. Phùng thi sĩ dành duy nhất một bài “Tự vẽ mình”:

… “Rồi thì lấm láp vẹo xiêu/ Đứng lên ngã xuống cuối chiều đầu hôm/ Bao nhiêu đồng đất, rạ rơm/ Tay bứng bát cháo, bát cơm với đời/ Một mình ngồi khóc hoa rơi/ say rồi lại hát với người tình thâm”.

2. Bây giờ – đầu năm 2026, với tập thơ “Thơ viết cho mình” của anh, tôi dần ngộ ra “Say rồi lại hát với người tình thâm”, là anh hướng tới ai?

À, đó là hai tập ký chân dung văn học “80 gương mặt văn nghệ sĩ Quân đội” và “86 gương mặt văn nghệ sĩ”. Và, điều đặc biệt nữa từ Phùng Văn Khai như cơn gió lốc ập đến với tôi – đó là tập thơ gan ruột “Thơ viết cho mình” này.

Điều duy nhất tôi phàn nàn về tập thơ này của anh chính là cái tên/ tựa sách. Tại sao nhà thi sĩ họ Phùng phải ngẩn người “buông rèm” bằng cái tên cười buồn thế. Tại sao anh không “ném thẳng” những câu thơ đầy gió máy ấy cho chúng tôi – những người yêu thơ nồng nhiệt và quá đỗi yêu đời như anh? Tại sao bây giờ anh mới “ào ạt” viết cho mình những câu thơ máu – lửa, những câu thơ không thể thành thực hơn, những câu thơ bi – phẫn, những câu thơ đòi vượt thoát, những câu thơ câm nín sóng ngầm, những câu thơ như tầng than ủ lửa…

3. Tôi đã từng giật mình về thơ của người bạn viết Phùng Văn Khai. Lần đọc được bài thơ “Lau sông Hồng” ấy – bạn đã là một nhà văn lớn, một nhà văn quan trọng trong tôi!

“Tôi sợ mình không đến được trăm năm

Kính cẩn vái lau sông Hồng nghìn tuổi

Kính cẩn dọn mình chiêm hái lau sông”

… “Một sông Hồng một tôi lau thơm thắm

Tiếng gà khuya ràng rạng ánh ngày”

(Lau sông Hồng)

Xin kinh ngạc một nhà thơ quân đội đã thành kính một cách không thể thành kính hơn với sông Mẹ, với quê Cha – đất Tổ. Anh đã trong sáng và thanh sạch trong tư cách một công dân khiêm cung và khiêm ái – thực hành tín lễ – nghi lễ vái sông, lau sông. Điều này, trong trí nhớ của tôi, có lẽ chưa từng xuất hiện trong các nhà văn hiện đại kể từ thuở Chử Đồng Tử vùi mình trong cát ẩm sông Hồng.

4. Giờ đây, với gần 80 bài thơ viết cho mình, nhà thi sĩ Phùng Văn Khai có được tâm thái và tâm thế phản biện thơ mình, phản biện chính mình chăng?!

Phần Thơ từ ký ức, như là nhà thơ ngồi lại đối thoại, chất vấn,… với những sự vật – hiện tượng – địa danh đã đi qua. Phần Thơ viết cho mình, như là nhà thơ trò chuyện, gửi gắm, nhắn gửi và như một tuyên ngôn một lát với đời.

Thơ ấy, người ấy một ngày trùng khớp: nồng ấm mà chừng mực, nhẹ nhàng mà sốt sáo, trung thực mà ước lệ, suy tư mà luỵ tình…

Vài dòng gửi gắm sau nhiều lần đọc Thơ viết cho mình của Phùng Văn Khai, cũng là tự thành thực với lòng mình, với bạn văn chương vậy.

26/5/2026
Ngô Kim Đỉnh

Nguồn: VanVn

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử

Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng
hôn uống cạn và thơ ca bất tử

"Người nghệ sĩ không chết, họ chỉ chuyển địa chỉ từ thế giới hữu hình sang sinh sống trong lòng những câu thơ." - Khuyết danh

Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng? Câu trả lời có lẽ nằm ở tình tri kỷ và thế giới vô biên của thi ca – nơi những tâm hồn nghệ sĩ tìm thấy nhau và gửi gắm phần tinh túy nhất của đời mình.

Đúng như lời định mệnh đã gọi tên, bài thơ "Viết cho Anh Quốc Thành" của Xuân Trường chính là minh chứng sống động cho sự chuyển dịch thiêng liêng ấy. Tác phẩm không đơn thuần là một bài điếu ca tiễn biệt người bạn lãng du, mà là nén tâm hương thắp bằng ký ức, một sự thăng hoa đầy kiêu hãnh của những linh hồn đồng điệu. Ở đó, cái chết không phải là sự kết thúc bi lụy, mà là điểm khởi đầu cho một chuyến viễn du mới vào cõi bất tử của văn chương.

VIẾT CHO ANH QUỐC THÀNH

(Xuân Trường)

Biết nhau từ dạo anh đi "Vá vầng trăng"
rồi mười bảy năm xa anh, xa An Khê, chưa lần gặp lại
bây giờ anh đã đi xa...
về đâu anh, thăm thẳm cõi vô cùng
mà bước chân lãng du thi ca anh sẽ không bao giờ dừng lại
trong mất mát hôm nay ta sẽ còn mãi trong nhau...

này đây bao luyến thương bạn bè còn ở lại
Câu thơ rưng rưng lưu lạc phía vô cùng
còn đâu anh
những chiều nhà hàng thủy tạ
ta uống cạn hoàng hôn, cho trăng nhu nhú đêm lên
những nụ cười nở vào nhau cho tâm hồn kết nối

anh sinh ra trên nền đá ong Bình Định
tôi sinh ra nơi miền nắng lửa mưa dầu Quảng Nam
và thơ ta không ngoài nắng mưa gian khó
vậy mà thấm đậm tâm giao

Tôi nhớ đêm giao lưu ở Cam Ranh
Nhạc sĩ Giao Tiên nâng cánh thơ Quốc Thành
bay phiêu lưu qua miền hoa cát
cho bao lòng ấn tượng đến hôm nay

Khi chưa có ngày thơ Việt Nam
đêm mười hai ta hay ngồi nhà thủy tạ An Khê
rằm tháng giêng ta lại xuống núi Nhạn Tuy Hòa
vẫn chưa đi hết đắm say theo bước chân lang bạt
ôi nhớ quá những ngày trai tráng ấy anh ơi!

những lúc nhớ anh lòng tôi trỗi dậy
âm vang đâu đây những giọng điệu Quốc Thành
Đó là những tin yêu mà lòng tôi đã gặp
Lại là nghìn trùng xa cách giữa hôm nay

Câu thơ viết trên mùi thơm con cá đá...
Món ăn ngon nhất ở An Khê mà chẳng đâu bằng
Anh đã mời tôi năm ấy
Xin ngàn lần ngon mãi trong tôi

Đời vô thường ta hữu hạn anh ơi
Trên tất cả cũng chỉ là đưa tiễn
Xin chúc anh an nhiên miền miên viễn
Để hồn cùng vô hạn với thi ca

Mở đầu bài thơ, người đọc lập tức bị cuốn vào không gian sinh tử và tri kỷ đầy lay động. Xuân Trường gọi tên bạn bằng một hoài niệm vừa ngạo nghễ vừa xót xa: "Biết nhau từ dạo anh đi 'Vá vầng trăng'". "Vá vầng trăng" – một hình ảnh thơ mộng, lãng tử và đậm chất kỳ vĩ của người nghệ sĩ Quốc Thành ngày nào. Tựa đề tác phẩm "Vá vầng trăng" của Quốc Thành năm ấy, qua nét bút tiễn biệt của Xuân Trường, nay đã trở thành một chứng tích kiêu hãnh cho một đời nghệ sĩ tài hoa, ngạo nghễ. Nhưng cái ngạo nghễ ấy bỗng chốc rơi thỏm vào khoảng trống của hiện tại: mười bảy năm xa cách chưa kịp gặp lại, thì nay bạn đã đi xa.

Đối diện với niềm đau mất mát, nhà thơ không bi lụy mà chọn cách nhìn xuyên qua màn sương tử biệt. Thể xác gửi lại trần gian, nhưng "bước chân lãng du thi ca anh sẽ không bao giờ dừng lại". Cụm từ "thăm thẳm cõi vô cùng" hay "phía vô cùng" được lặp lại như một sự định vị mới cho linh hồn người ra đi. Bạn không mất đi, bạn chỉ đang mang theo "câu thơ rưng rưng lưu lạc" để tiếp tục cuộc hành trình xuyên qua các tinh cầu.

Ngược dòng thời gian, bài thơ mở ra một miền ký ức vàng son của tình tâm giao miền Trung đầy nắng gió. Xuân Trường khéo léo khắc họa chân dung hai người con đất Quảng: một sinh ra trên nền đá ong Bình Định, một lớn lên nơi nắng lửa mưa dầu Quảng Nam. Chính cái gian khó, nhọc nhằn của quê hương đã tôi luyện nên những hồn thơ đậm đà sương gió, để rồi họ gặp nhau, thấm đẫm tâm giao.

Người đọc làm sao quên được những buổi chiều tại nhà hàng thủy tạ An Khê, nơi hai tâm hồn thi sĩ đã "uống cạn hoàng hôn, cho trăng nhu nhú đêm lên". Câu thơ bừng sáng một khí chất hào sảng, một tư thế chiếm lĩnh thiên nhiên và thời gian vô cùng lãng mạn của tuổi trẻ. Ký ức ấy còn thơm nồng "mùi thơm con cá đá" – món ăn giản dị, đậm đà của vùng đất An Khê. Đưa một món ăn dân dã vào lời tiễn biệt, Xuân Trường đã biến cái hữu hình thành cái vô hình, biến hương vị trần thế thành biểu tượng vĩnh cửu của lòng hiếu khách và tình bạn thủy chung. Hương vị ấy không chỉ là đặc sản của đại ngàn An Khê mà đã hóa thành mùi hương của ký ức, một thánh đường lưu giữ nghĩa tình sắc son giữa ngút ngàn dâu bể.

Những đêm thơ thăng hoa có sự nâng cánh của nhạc sĩ Giao Tiên tại Cam Ranh, hay những bước chân lang bạt xuống núi Nhạn Tuy Hòa… tất cả hiện về như một cuốn phim quay chậm, sống động và tràn đầy sinh lực của một "ngày trai tráng ấy anh ơi!".

Để rồi, từ đỉnh cao của ký ức rực rỡ, bài thơ khép lại bằng những chiêm nghiệm triết lý về sự vô thường và sự bất tử của cái đẹp: "Đời vô thường ta hữu hạn anh ơi / Trên tất cả cũng chỉ là đưa tiễn". Lời thơ buông xuống nhẹ nhàng như một tiếng thở dài thấu suốt nhân sinh. Con người ai rồi cũng phải đi qua chiếc cầu sinh tử, ai rồi cũng phải sắm vai người đưa tiễn hoặc người ra đi. Nhưng vượt lên trên định mệnh ngặt nghèo đó, nhà thơ đã gửi gắm một lời chúc thanh thản: "Xin chúc anh an nhiên miền miên viễn / Để hồn cùng vô hạn với thi ca".

Cái chết đã hoàn toàn bị khuất phục trước cái đẹp. Thể xác có thể hòa vào cát bụi, nhưng hồn thơ Quốc Thành, giọng điệu Quốc Thành và tình tri kỷ giữa hai ông đã kịp hóa thân vào vũ trụ bao la, trở thành một phần của cõi vĩnh hằng.

"Viết cho Anh Quốc Thành" là một bài thơ chạm đến góc sâu thẳm nhất của lòng người bằng ngôn từ trau chuốt, nhạc điệu trầm hùng và cảm xúc chân thành. Xuân Trường đã thay mặt những người bạn còn ở lại, vẽ nên một bức tranh tiễn biệt đầy màu sắc lãng mạn. Bài thơ để lại một dư âm ấm áp: dẫu cuộc đời có dâu bể, dẫu nghìn trùng có xa cách, thì tình tri kỷ và cái đẹp của văn chương vẫn luôn là ngọn hải đăng soi sáng, sưởi ấm cho những linh hồn lãng du trên mọi dặm đường miên viễn.

Sài Gòn, 27/5/2026
Thuy Anh

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể

Nghìn nghi lễ tình: Một thi
pháp nghi lễ của bản thể

Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?

Thơ ở đây không phải phương tiện bộc lộ cảm xúc, thơ là một thực hành ý thức. Nó vận hành như một nghi lễ, nghĩa là một chuỗi động tác lặp lại nhằm chuyển hóa trạng thái nội tâm.

Khi viết, “Ngồi trong bình lặng thơ ơi / Cõi hoang ta hãy quy hồi trong ta” (Ngồi trong bình lặng, tr. 17), Nhật Chiêu không mô tả một tâm trạng, ông thực hiện một thao tác bản thể. “Quy hồi” không phải hoài niệm, mà là hành động thu tâm, đưa cái tôi phân tán trở về trung tâm tự tại. Ở bình diện này, thơ được hiểu như một phương thức tự nhận thức. Câu “Ta nhìn từ phía sau ta” (tr. 18) đặt chủ thể vào tình thế phân thân, vừa sống vừa quan sát mình sống. Đây không phải một ẩn dụ ngẫu hứng, mà là cấu trúc nền của tập thơ. Con người chỉ thực sự ý thức khi có khả năng tách mình khỏi dòng chảy vô thức. Thơ, vì vậy, trở thành hình thức tỉnh thức. Thơ sinh ra không để giải thích đời sống, mà để làm sâu thêm chiều kích tồn tại của đời sống.

Nhan đề Nghìn nghi lễ tình (bài mở đầu phần Xuân khúc, tr. 35) không phải một cách nói cường điệu. “Nghi lễ” ở đây là nguyên tắc tổ chức thi pháp. Nghi lễ bao hàm ba yếu tố, lặp, nhịp và chuyên chú. Nhưng ở cấp độ sâu hơn, nghi lễ không chỉ tổ chức hành vi ngôn ngữ mà còn tổ chức trạng thái hiện hữu của chủ thể. Sự lặp không tái tạo cái đã có, mà tạo ra một hiện tại mới của ý thức. Mỗi lần lặp vì thế không phải trở lại, mà là một biến đổi vi tế của chủ thể trong chính hành vi phát ngôn. Ta thấy rõ điều này qua cấu trúc điệp, “Lụa xé bung mình…” (Ôm cõi tuyệt trần, tr. 26), “Mắt người…” (Đủ cho ta tạ lòng người, tr. 22), “Yêu người…” (Xuân khúc, Hạ khúc,Thu khúc,Đông Khúc tr.35-tr.40). Sự lặp không nhằm nhấn mạnh cảm xúc, nó tạo thành nhịp tụng. Câu thơ vận hành như một bài kệ, nơi ngôn từ không chỉ truyền tải nghĩa mà còn thiết lập một trường năng lượng tinh thần. Đặc biệt, “Hiến sinh em nhé xuân thì / sắc thân ta tặng/ nghìn nghi lễ tình” (Nghìn nghi lễ tình – Xuân khúc, tr. 35), tình yêu được đặt trong ngữ cảnh của hiến sinh. Tình yêu ở đây không còn là sự chiếm hữu, mà là sự dâng hiến. “Sắc thân”, một khái niệm mang chiều sâu Phật học, được nhìn như một hiện hữu tạm thời có thể trao tặng. Nghi lễ, vì thế, không chỉ là hình thức, nó là cách chuyển hóa dục tính thành ý thức.

Ở chiều kích này, cần phân biệt “nghi lễ” với “nghi thức”. Nghi thức là hình thức đã được quy định sẵn, có thể lặp lại một cách máy móc mà không đòi hỏi chuyển hóa nội tâm. Nghi lễ, ngược lại, là hành vi mang tính nội chứng, mỗi lần lặp là một lần ý thức được tái sinh. Trong Nghìn nghi lễ tình, sự lặp không tạo ra khuôn mẫu mà tạo ra chuyển động. Chính vì thế, tập thơ không vận hành như một hệ thống biểu tượng đóng kín, mà như một thực hành luôn đang xảy ra. Nhật Chiêu không dựng nên một nghi thức thẩm mỹ, ông kiến tạo một nghi lễ của bản thể. Cũng cần phân biệt “tỉnh thức” với “giải thoát”. Giải thoát là một đích đến siêu hình, còn tỉnh thức là trạng thái đang diễn ra trong từng khoảnh khắc sống. Thơ Nhật Chiêu không hứa hẹn cứu rỗi, nó chỉ giữ cho ý thức không chìm vào quên lãng. Ở bình diện này, vô thường không bị phủ định mà được nhìn thẳng và “chơi” cùng.

Một trục quan trọng của tập thơ là cấu trúc phản chiếu. Không chỉ “Ta nhìn từ phía sau ta” (Ngồi trong bình lặng, tr. 18) mà còn “Ta mơ mình tạo ra mình” (Trò chơi linh thánh, tr. 68). Chủ thể vừa là người kiến tạo vừa là sản phẩm của chính mình. Cấu trúc này mở ra một suy tưởng gần với truyền thống hiện sinh, nơi con người không được cho sẵn một bản chất cố định mà phải liên tục tự kiến tạo mình trong hành vi ý thức. Tuy nhiên, khác với hiện sinh bi kịch phương Tây, chủ thể thơ Nhật Chiêu không bị ném vào phi lý, mà ở trong một trạng thái chơi - tỉnh thức - chấp nhận vô thường. Nếu ý thức hiện sinh phương Tây thường mang theo nỗi lo âu về tính phi lý của tồn tại, thì ở đây ý thức được giải phóng khỏi bi kịch bằng thái độ “chơi”: ý thức không còn là gánh nặng tự vấn, mà trở thành năng lực tự do hoá chính kinh nghiệm tàn phai. Ông viết, “Tự mình chơi cuộc tàn phai” (Tự mình chơi cuộc tàn phai, tr. 24). Chữ “chơi” là then chốt. Vô thường không phải là bi kịch, nó là một cuộc chơi linh thánh, một thái độ rất gần thiền học.

Trong tập thơ, tình yêu không bị giới hạn ở quan hệ giữa hai cá nhân. Nó là cơ hội để bản thể mở rộng. Khi viết, “Mắt người là sóng trùng khơi / cho ta làm một chân trời được không” (Đủ cho ta tạ lòng người, tr. 22), cái tôi không còn cố thủ trong ranh giới của mình, nó muốn trở thành “chân trời”, tức là mở rộng đến vô biên. Chiều kích khai ngộ càng rõ trong “Sắc – không là một vĩnh hằng / trò chơi linh thánh cầm bằng trẻ thơ” (Trò chơi linh thánh, tr. 68). Trong chiều kích này, cặp phạm trù “sắc – không” được đặt ngay trong thơ tình, khiến tình yêu trở thành một kinh nghiệm nhận ra tính không của mọi hình tướng. Nhưng “không” ở đây không phủ định “sắc”, nó giải phóng “sắc”khỏi ảo tưởng bền vững, để mỗi hình tướng được sống trọn trong khoảnh khắc hiện tiền của nó. Ngay cả sự tàn phai cũng được chấp nhận, “Mưa không mặt nạ thì rơi với tình” (Mưa không mặt nạ, tr. 47). Mưa không phân biệt cao thấp, tình cũng không phân biệt được – mất. Tình yêu trở thành một phương thức nhận ra tính bình đẳng của hiện hữu.

Dẫu vậy, cần đặt ra một khả năng phản biện: liệu Nghìn nghi lễ tình có phải chỉ đơn thuần là một sự thiền hóa thơ tình? Nghĩa là, tình yêu được phủ lên một lớp ngôn ngữ Phật học, còn cấu trúc cảm xúc vẫn giữ nguyên tính trữ tình cá nhân? Nếu chỉ dừng ở việc đưa vào những phạm trù như “sắc không”, “hiến sinh”, hay “vô thường”, tập thơ có thể bị hiểu như một dạng thiền ngữ thi ca, nơi triết lý được đặt lên trên cảm xúc như một lớp diễn ngôn minh triết. Nhưng điều làm Nhật Chiêu khác với một “thiền ngữ thi ca” thuần túy nằm ở cấu trúc vận hành của thơ ông. Tư tưởng ở đây không được trình bày như một mệnh đề giáo huấn, nó xuất hiện qua nhịp điệu lặp, qua thao tác tự phản chiếu, qua những động từ hành động như “quy hồi”, “chơi”, “tặng”, “ôm”. Thiền không phải nội dung của thơ, thiền là phương thức tồn tại của chủ thể trong thơ. Nếu thiền ngữ thường hướng đến sự kết luận tĩnh tại, thì thơ Nhật Chiêu giữ lại độ mở của nghi lễ, nó không khẳng định chân lý mà đặt người đọc vào một chuyển động ý thức. Chính vì vậy, Nghìn nghi lễ tình không phải sự thiền hóa cảm xúc, mà là sự chuyển hóa cảm xúc thành một thực hành bản thể.

Nếu cần chỉ ra một sáng tạo nổi bật về mặt thi pháp, đó là cách Nhật Chiêu kiến tạo một hệ hình biểu tượng vận hành xuyên suốt thay vì những hình ảnh rời rạc. Chiếc bóng mang đi (tr. 59) là điểm kết tinh của cấu trúc ấy: “Ta mang theo ta làm gì chiếc bóng…”. Ở đây, “bóng” không còn là hiện tượng quang học mà trở thành một phạm trù hiện sinh. Bóng là độ lệch của bản ngã, là dấu hiệu rằng con người không bao giờ trùng khít với chính mình. Khi “bóng” đặt trong tương quan với “bóng trăng”, “bóng tối”, “bóng bên trong u ẩn”, một chuỗi chuyển vị được thiết lập: từ ngoại giới sang nội giới, từ hình ảnh sang ý thức. Cấu trúc người, bóng, ánh trăng, nội tâm vì thế không chỉ là tổ hợp thi ảnh, mà là một hệ quy chiếu về bản ngã và ảo ảnh. Chủ thể trong thơ không đối diện thế giới như một thực tại khách quan, họ đối diện chính sự phân thân của mình trong thế giới ấy.

Nếu biểu tượng tạo chiều sâu nội tại, thì liên văn bản mở ra chiều rộng văn hóa. Tuy nhiên, Nhật Chiêu không dựng liên văn bản bằng phô diễn tri thức. Ông không trưng dẫn, ông đối thoại. Tiếng vọng của Truyện Kiều trong câu “Lời Tiên Dung, tiếng khóc Kiều” (Tiếng lòng ơi tiếng nước ơi tr.104) không đơn thuần là điển tích, mà là cách đặt tình yêu cá nhân vào trường cảm thương của văn hóa Việt, nơi yêu luôn gắn với thân phận và lưu lạc. Khi Kiều trở lại, nàng không còn là nhân vật tự sự, nàng trở thành ký ức tập thể về bi kịch.

Ngược lại, tinh thần của Trần Nhân Tông trong Đi đứng ngồi nằm tr.101 gợi một tư thế an nhiên, nơi thiền không phát ngôn như giáo lý mà như nhịp sống thường nhật. Nếu Kiều đại diện cho truyền thống cảm thương và Trần Nhân Tông đại diện cho truyền thống tỉnh thức, thì hai dòng ấy không đối lập mà tạo thành một trục căng của văn hóa Việt: một bên là ý thức về thân phận, một bên là khả năng siêu vượt nội tâm. Nghìn nghi lễ tình đứng trên trục căng ấy. Nó không phủ nhận cảm thương, nhưng chuyển hóa cảm thương thành hành vi ý thức.

Liên văn bản trong bình diệnh này, vì vậy, không nhằm tạo nền uyên bác, nó chứng thực một nền văn hóa đã được nội tâm hóa đến mức tự nhiên. Tri thức không đứng ngoài thi pháp, mà hòa vào cấu trúc vận hành của ý thức. Đây không phải liên văn bản của trích dẫn, mà là liên văn bản của ký ức hiện sinh: truyền thống không đứng ngoài chủ thể, mà vận hành như một chiều sâu vô thức của chính kinh nghiệm yêu và tỉnh thức.

Một đặc điểm quan trọng khác là độ mở của cấu trúc thi ca. Những câu hỏi như “Cho ta làm một chân trời được không” hay “Em về chưa em về chưa” trong bài Bên nắng bên râm tr.92 không chờ lời đáp. Những câu hỏi này không nhằm tìm câu trả lời. Chúng thiết lập một cấu trúc tham dự. Câu hỏi trong Nghìn nghi lễ tình vận hành như một nghi thức mở, nơi ý nghĩa chỉ xuất hiện khi có ý thức khác bước vào. Thơ vì thế không phải là một văn bản hoàn tất, mà là một nghi lễ đang chờ được tiếp diễn. Ở cấp độ thi pháp, đó là một cấu trúc tự phản tư: nghi lễ chỉ hoàn tất khi có người tham dự. Thơ trong Nghìn nghi lễ tình cũng vậy, nó chỉ hoàn tất khi ý thức người đọc bước vào chuyển động của nó.

Vì vậy, Nghìn nghi lễ tình không phải là thơ tình theo nghĩa trữ tình cá nhân. Nó là một thực hành thi ca, nơi yêu và tàn phai được chuyển hóa thành hành vi tự nhận thức. Nếu cần tóm lược trong một mệnh đề mỹ học: Nhật Chiêu không dùng thơ để nói về tình yêu, ông dùng tình yêu như một cấu trúc nghi lễ để bảo toàn ý thức giữa phù thế. Con người trong thế giới ấy vừa sống vừa chứng kiến mình sống, vừa yêu vừa ý thức mình yêu. Khi thơ trở thành nghi lễ, nó không còn là một thể loại văn chương, mà là một phương thức tồn tại. Thơ, vì thế, không đứng ngoài đời sống, nó là cách đời sống được thực hành trong ý thức.

27/5/2026

Phạm Diệu Hương

Nguồn: Tạp Chí Thời Đại

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

"Chân cứng đá mềm" bỏ bùa độc giả

"Chân cứng đá
mềm" bỏ bùa độc giả

‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.

“Chân cứng đá mềm” tiếp nối mạch kể chuyện về cuộc đời nhiều thành tựu lắm thăng trầm của đạo diễn Xuân Phượng, sau “Gánh gánh gồng gồng” và “Khắc đi khắc đến”. Đọc “Chân cứng đá mềm”, bên tai tôi cứ văng vẳng lời tự bạch rất chi là ấn tượng của không ít người: Tôi chỉ có một ưu điểm và một nhược điểm. Ưu điểm là nhớ lâu; còn nhược điểm là… thù dai. Giữa đôi bờ nhớ - quên, yêu - ghét, thương - giận, đạo diễn Xuân Phượng tuổi 97 sẽ ứng xử ra sao để “gánh nghiệp” cập bến văn chương?

Nếu hạnh phúc và ý nghĩa của đời người là sự lựa chọn sống thì “Chân cứng đá mềm” là một minh chứng sống động. Giữa thời buổi chiến tranh, không ít người mưu cầu sự yên lành cho gia đình, bản thân thì nhân vật chính, lại là phụ nữ, dám chấp nhận đánh đổi ấm êm để được sống với khát vọng, lí tưởng của mình. Năm ba mươi bảy tuổi, từ trưởng phòng khám bệnh thuộc Ủy ban Liên lạc văn hóa với nước ngoài, lương cao, cuộc sống ổn định, an nhàn, người phụ nữ ấy đã quyết định đổi nghề, trở thành một phóng viên, một người làm phim tài liệu chiến trường với bao nguy hiểm, chết chóc, gian nan và đồng lương sụt giảm.

Không đơn thuần lãng mạn, lí tưởng nhất thời, mà là sự tri nhận thấu lí đạt tình để hồi đáp lời hiệu triệu của Joris Ivens - người thầy điện ảnh đầu tiên của tác giả: “Giữa năm 1967 này, các bạn đang rất cần những phiên dịch, những bác sĩ. Nhưng cần gấp hơn nữa là một đội ngũ những người phóng viên chiến trường để ghi lại tại chỗ những tội ác mà kẻ thù đã giáng xuống đất nước các bạn, để ghi tại chỗ sức chiến đấu ngoan cường bảo vệ từng tất đất của dân tộc Việt Nam”.

Tình nguyện gia nhập đời làm phim, lại làm phim chiến trường, hơn ai hết, đạo diễn Xuân Phượng dự cảm được bao thiệt thòi quyền lợi, bao hi sinh gian khổ, bao gánh nặng gia đình với ba đứa con thơ dại… Quyết định dấn thân ấy cũng là vẻ đẹp chung của cả một thế hệ: “Mưa bom, bão đạn, lòng thanh thản/ Nhạt muối, vơi cơm, miệng vẫn cười” (Tố Hữu).

Cảm giác tác giả “Chân cứng đá mềm” luôn trong trạng thái của một người mắc nợ: nợ Tổ quốc, nợ đồng đội, nợ bao bạn bè quốc tế dám bênh vực, cống hiến, hi sinh cho đất nước mình. Cũng vì tâm lí ấy, nhà văn Xuân Phượng - một nhân chứng sống, một người lưu giữ kí ức, đến thời điểm thích hợp sẽ kể lại, phục hiện chân xác quá khứ, lịch sử bản thân, dân tộc. Đó cũng là cách để nhà văn trả nợ, đáp tạ bao bạn bè mà phần đông đã không còn hiện diện trên cõi đời này, đáp tạ Tổ nghiệp đã ưu ái cho mình một cuộc đời rực rỡ.

Bên cạnh hạnh phúc, sự háo hức, nhiệt tình vì được sống một cuộc sống đúng theo mong ước của mình, trong “Chân cứng đá mềm”, không ít lúc ta thấy người trong cuộc cũng mềm chân mỏi chí, “lao đao, choáng váng” khi trực diện bao khó khăn nguy hiểm, bao mất mát tang thương, bao bất như ý của thời chiến lẫn thời bình. Vượt qua bao nghịch cảnh để bước trên con đường mình đã chọn với vẹn nguyên đam mê buổi đầu là tâm thế của người tiên cảm chức phận “một đời gánh nghiệp”. Bao kỷ niệm không thể nào quên, bao khó khăn tưởng chừng bất lực của một nửa thế kỉ làm phim được kể lại là một phần quan trọng làm nên ý nghĩa, hạnh phúc đích thực của đời người - đời văn tác giả.

Gần 300 trang sách, “Chân cứng đá mềm” đưa bạn đọc qua một thời, bắt đầu từ 1967 với bến phà Quán Hàu, khép lại là năm 1979 ở Sài Gòn, từ thời chiến tranh đầy đạn bom chết chóc đến thời hòa bình, thời bao cấp với bao khó khăn, thiếu thốn. Tạo bối cảnh bằng “Thay lời tựa” với ba phiến đoạn “Câu chuyện bắt đầu từ hơn nửa thế kỉ trước”, “Những bước đầu vượt khó”, “Chập chững bộ phim đầu tiên”. Phần chính của cuốn sách xoay quanh bốn đề tài “Lên rừng”, “Xuống biển”, “Bạn bè phương xa”, “Ai bảo đi làm phim là khổ”. Cuối cùng là “Thay lời kết” như vĩ thanh một chặng hành trình.

Tận dụng thế mạnh của nghệ thuật thứ bảy trong ngôn từ và hình ảnh, người viết “Chân cứng đá mềm” bỏ bùa bạn đọc qua lối cận cảnh: Thượng tướng Chu Văn Tấn - Hùm Xám Bắc Sơn rất đỗi đời thường; những chiếc xe ô tô “vừa đi vừa đẩy” có một không hai; những lớp học dưới hầm trú ẩn nhung nhúc đỉa; những gương mặt thầy, bạn năm châu luôn “mang theo mình một mảnh Việt Nam”…

Cách tổ chức cuốn sách khá bắt mắt, lối kể giản dị mà lôi cuốn khiến người đọc dùng dằng, nửa không muốn dừng mạch đọc, nửa muốn gấp sách lại để tự ngẫm, tự vấn, phản tỉnh.

Đọc “Chân cứng đá mềm”, ta có một điểm tựa để thương hiểu, tin yêu, hi vọng, để không rơi vào bi kịch lãng quên. Những người Việt hôm nay và mai sau biết ơn “cuộc dấn thân với bao chuyện vui buồn cay đắng” này, nhờ đó không bị đứt lìa cuống rốn lịch sử thương đau mà đầy kiêu dũng, để mạnh mẽ chạy tiếp sức cùng tác giả trong hành trình đi tìm chân giá trị, ý nghĩa cho bản thân, cộng đồng.

29/5/2026

Bùi Thanh Truyền

Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại

Dịch văn học và sự kiến tạo
hạng mục của văn học dịch trong
văn học Việt Nam đương đại

Bước sang thế kỷ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mỹ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.

Sự phát triển của lý thuyết dịch thuật đương đại ngày càng chứng minh rõ ràng vai trò quan trọng của văn học dịch và hoạt động dịch văn học trong cấu trúc tổng thể của nền văn học. Trong tiểu luận Văn học dịch trong đa hệ thống văn chương Itamar Even-Zohar đã đưa ra một đề xuất lí thuyết quan trọng về việc cần nghiên cứu văn học dịch như là bộ phận của nền văn học đích, cùng cách thức mà nó kiến tạo hạng mục trong đa hệ thống văn chương bản địa. Quan niệm này có được sự hồi ứng tri thức đáng kể của các nhà nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hướng tiếp cận đa hệ thống (còn được biết đến với tên gọi lí thuyết phức hệ) trong nghiên cứu văn học và văn hóa do Even-Zohar chủ trương. Ở Việt Nam, bên cạnh việc chuyển dịch các công trình tiêu biểu của Even-Zohar, đã có các nghiên cứu nhiều gợi mở về thực tiễn văn học từ cách tiếp cận này. Với khả năng đem lại một cách thức khảo tả mang tính lịch sử và cấu trúc về (vai trò của) văn học dịch trong đa hệ thống văn chương như vậy, khi rọi ánh sáng vào thực tiễn văn học Việt Nam từ sau năm 1975, nhất là từ công cuộc Đổi Mới năm 1986, hướng tiếp cận đa hệ thống theo đó không chỉ góp phần mô tả hệ thống và khách quan lịch sử dịch văn học và văn học dịch mà hơn thế, còn giúp hình dung các quy tắc nghệ thuật của đa hệ thống văn chương nhìn từ hoạt động dịch, truyền dẫn và giao thoa hệ thống ở Việt Nam đương đại.

1. Vai trò của văn học dịch trong việc định hình văn học Việt Nam hiện đại

Nền văn học Việt Nam hiện đại được viết bằng chữ quốc ngữ khởi sinh ở giao thời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là hệ quả của hành động dịch, khi theo sau sự xâm lược của thực dân Pháp, mảnh đất này đã vượt ra ngoài đường biên khu vực Đông (Nam) Á để hiện diện trong mạng lưới giao lưu văn hóa toàn cầu. Một hệ thống các giao thoa thành hình dựa trên các hành động dịch và truyền dẫn đã khảm nên bức tranh văn học mới. Ở đó, thông qua chuyển dịch sang chữ quốc ngữ, nền văn học hiện đại có sự góp mặt của cả văn học cổ truyền dân tộc bằng chữ Hán và chữ Nôm, văn học nước ngoài (chủ yếu là văn học Pháp, Trung Quốc và Nhật) và cả văn học quốc ngữ mới theo mẫu hình Âu Tây. Tác động của việc truyền dẫn cũng làm thay đổi phong cách ngôn ngữ văn chương, khiến thơ cũ thất thế trước Thơ Mới, kịch hát nhường chỗ cho kịch nói, và nhất là ở văn xuôi, bạch thoại thay thế cho văn ngôn. Tất cả làm nên tính đại chúng của văn chương, khẳng định vai trò xã hội của văn nghệ sĩ trí thức. Từ một lĩnh vực đặc tuyển dành cho số ít người, văn chương thành ra một lĩnh vực phổ thông đại chúng, và theo đó, văn chương không chỉ chuyên chú vào những giá trị từ chương và luân lí mà còn hướng tới những nhu cầu giải trí và ý thức hệ. Hiện diện văn chương trở thành hiện diện xã hội. Giao thoa hệ thống đã thay đổi căn bản cấu trúc nền văn học thông qua hoạt động dịch văn học cùng sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong đa hệ thống văn học Việt Nam. Từ đó, nó kéo văn chương vào trung tâm của các hoạt động đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội ở Việt Nam thuộc địa.

Thành công của Cách mạng tháng Tám cùng viễn kiến về một nền văn nghệ mới khiến cách thức tiếp cận văn học dịch và hoạt động dịch văn học thay đổi theo quan điểm của chính quyền cách mạng. Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, di sản dịch thuật văn học phương Tây trước năm 1945 bị loại trừ như chính bộ phận văn học lãng mạn được hình thành theo mẫu hình phương Tây hiện đại. Đứng trên lập trường cộng sản, văn học dịch ở miền Bắc trong thời chiến chủ yếu đến từ các nền văn học Liên Xô, Trung Quốc và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Cố nhiên, nó cũng đến từ một bộ phận nhỏ văn học “tiến bộ” của các nền văn học tư sản phương Tây, nơi bộ phận văn học này tự nhiệm phơi bày và tố cáo tội ác của chủ nghĩa tư bản và các chế độ xã hội hình thành trên tinh thần tư bản chủ nghĩa. Ngược lại, ở nửa phía Nam, hoạt động dịch thuật diễn ra sôi động, phong phú và đa dạng trong các lựa chọn nền văn học nguồn, dù dòng chính vẫn đến từ thế giới tư bản phương Tây. Việc tham chiếu tới mô hình dân chủ phương Tây khiến cho các lĩnh vực xuất bản và báo chí và giáo dục phát triển đa dạng ở các đô thị lớn. Sự khác biệt quá rõ ràng về mặt ý thức hệ này đã tạo thành thách thức cho việc hòa nhập di sản văn chương và học thuật ấy vào không gian văn hóa và văn học định hướng xã hội chủ nghĩa sau ngày thống nhất đất nước. Dù càng ngày người ta càng nhận thức được nhu cầu chính đáng cùng những cơ hội và lợi ích mà việc chuyển dịch di sản này vào đời sống đương đại đem đến cho một Việt Nam thống nhất đang tham dự sâu rộng vào quá trình toàn cầu hóa.

2. Văn học dịch trong đa hệ thống văn hóa xã hội Việt Nam sau chiến tranh

Bước ngoặt xã hội hóa hoạt động văn hóa và xuất bản từ Đổi Mới đã làm thay đổi triệt để tính chất và diện mạo nền văn học kế hoạch, tập trung và bao cấp trước đó. Xuất bản “bung ra”, như một từ khóa phổ biến đương thời, để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu đa dạng của công chúng văn học nghệ thuật. Đối diện với một thế giới rộng lớn thời mở cửa và đặt chân lên một đời sống đang biến đổi chóng vánh, người ta có nhu cầu vin vào cái cũ để vững tin và tự vệ nhưng đồng thời cũng mở lòng hơn với cái mới. Nhờ đó, văn học dịch lại tái xuất khá rầm rộ. Có ba mô hình dịch thuật văn học chính yếu hiện diện ở Việt Nam lúc này. Thứ nhất, có thể gọi tên là “mô hình truyền thống”, dịch thuật và tiếp nhận văn học Pháp. Mô hình này duy trì và mở rộng các giá trị, các điển phạm văn học Pháp, vốn đã được biết đến, phát huy ảnh hưởng và để lại dấu ấn sâu đậm trong văn hóa văn học Việt Nam hiện đại. Thứ hai, có thể gọi tên là “mô hình chuyển tiếp”, dịch thuật và tiếp nhận văn học phi chính thống (các tác phẩm có tính chất xét lại, phản tư, “sám hối” hoặc từ các dòng bàng thống) của văn học Nga và Trung Quốc xã hội chủ nghĩa. Mô hình này xuất phát từ các hấp lực và tác động xã hội mạnh mẽ mà bộ phận văn học phi chính thống đem lại cho đời sống văn hóa tinh thần ở các nước xã hội chủ nghĩa sở tại đang tìm hướng cải cách để vượt qua khủng hoảng. Khi được chuyển dịch sang Việt Nam đang tiến hành công cuộc Đổi Mới, nó thích ứng với tính chính trị chuyển đổi đương thời, đem đến những gợi ý, những trải nghiệm gián tiếp giúp bạn đọc hình dung về cơ hội và thách thức, nỗi đau và niềm hân hoan mà cuộc cải cách xã hội tất yếu đang diễn ra trước mắt. Thứ ba, có thể gọi tên là “mô hình tham chiếu”, dịch thuật và tiếp nhận các nền văn học châu Mỹ (Mỹ Latin và văn học Anh - Mĩ). Mô hình này hướng tới những giá trị, những thực hành chưa biết tới. Ở đó, văn học huyền ảo Mỹ Latin đem đến một kinh nghiệm hậu thực dân trong việc kiến tạo bản sắc văn hóa dân tộc và ý thức nghệ thuật của nhà văn, đem đến cho nhà văn Việt Nam một gợi ý để thoát li vòng kim cô phản ánh nghệ thuật, mở ra cánh cửa để bước vào thế giới của hư cấu nghệ thuật. Cũng như vậy, các nền văn học Anh - Mĩ đem đến gợi dẫn về vai trò và vị trí của tính giải trí, của văn hóa đại chúng, của sự tương liên giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác. Sự giao thoa giữa các mô hình dịch thuật và giữa dịch thuật với các thực hành văn hóa khác, đã góp phần quan trọng trong việc thay đổi quan niệm về thực tại và vị trí của tính giải trí trong văn học, theo đó, định hình tính chất của văn học Đổi Mới và Đổi Mới văn học ở Việt Nam.

3. Văn học dịch trong đa hệ thống văn hóa xã hội Việt Nam toàn cầu hóa

Bước sang thế kỷ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỷ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mỹ, Anh, Đức, Ý, Mỹ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á. Quốc tế hóa văn học thời toàn cầu hóa đang dần trở thành xu thế chủ yếu của văn học Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XXI. Ở đấy, văn học dịch ở trung tâm của hoạt động giao lưu văn học đã dần hiện lên như yếu tố quyết định sự hình thành mô hình văn học mới Việt Nam chứ không phải ý thức về dân tộc thời thuộc địa, các chính sách trong các cuộc chiến tranh, hay ý thức về vai trò công chúng của nhà văn những năm hậu chiến khủng hoảng cùng những năm Đổi Mới cam go thử thách ý chí toàn dân tộc. Quan trọng hơn, hoạt động dịch thuật giờ đây lại thuộc về khu vực tư nhân, gắn với sự trỗi dậy của các công ti cổ phần hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh văn hóa và truyền thông. Chỉ có một phần rất nhỏ các dịch phẩm đến từ chủ trương của các think tank hay các tổ chức có sự bảo trợ của nhà nước. Có sự hình thành một thế hệ dịch giả chuyên nghiệp, sống bằng nghề dịch như cách nhà văn sống bằng nghề viết, cùng đông đảo dịch giả không chuyên - đến từ sự phổ biến của hệ thống giáo dục quốc tế và sự phát triển của đào tạo ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp - tham gia dịch thuật vì yêu thích văn học nghệ thuật. Tất cả góp phần dân chủ và dân sự hóa hoạt động dịch văn học và văn học dịch.

Khi không còn sự ước thúc của tính chính trị chuyển đổi như mấy chục năm cuối thế kỷ XX, bước sang thế kỷ XXI, dịch văn học bước vào con đường thênh thang của giao lưu và chuyển giao văn hóa, của sự trỗi dậy và ý thức về vai trò quan trọng của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Các mô hình dịch thuật mới sinh thành theo cùng sự chuyển biến của đời sống và chính sách. Có thể nhắc tới một số mô hình dịch thuật phổ biến. Lợi nhuận nằm ở trung tâm của mô hình thứ nhất, có thể gọi tên là “mô hình best-seller”, gắn với văn học đương đại, hướng vào các tác phẩm được dán nhãn bán chạy trên các tờ báo lớn, các trang bán sách chuyên nghiệp, chiếm top rank trên các trang đánh giá và phê bình sách uy tín, bất chấp tác phẩm đó thuộc loại hình nào, hư cấu hay phi hư cấu, văn học tinh hoa hay văn học đại chúng. Sự vinh danh nằm ở trung tâm của mô hình thứ hai, có thể gọi tên là “mô hình giải thưởng”, vừa gắn với đời sống văn học đương đại vừa lần lại lịch sử các giải thưởng danh giá hàng đầu. Văn học dịch Việt Nam tiếp cận nhanh nhạy và khá hệ thống với các tác giả và tác phẩm thuộc loại này, từ Nobel văn chương cho tới Goncourt, Fémina, Renaudot, Grand prix du roman de l’Académie française trong văn học Pháp ngữ, Booker, Man Booker và International Booker trong văn học Anh ngữ, Miguel de Cervantes trong văn học Tây Ban Nha ngữ, cùng hàng loạt giải thưởng danh giá đến từ các nền văn học lớn như National Book, Pulitzer, Neustadt của Mỹ, Whitbread (Costa Book) của Anh và Ireland, Giller của Canada, Miles Franklin của Úc, Deutscher Buchpreis của Đức, Mao Thuẫn, Lão Xá và Lỗ Tấn của Trung Quốc, Akutagawa và Naoki của Nhật… và các tổ chức văn học uy tín trên thế giới, như Women cho tác phẩm hư cấu dành cho nhà văn nữ của Anh, Hugo dành cho tác phẩm khoa học viễn tưởng và giả tưởng, Edgar dành cho văn học trinh thám, Newbery, Carnegie và Hans Christian Andersen cho văn học thiếu nhi… Những giá trị cổ điển/ điển phạm nằm ở trung tâm của mô hình thứ ba, là mô hình tiếp biến từ các “mô hình truyền thống” và “mô hình tham chiếu” từ thời Đổi Mới, hướng tới việc chuyển dịch và giới thiệu các tác phẩm mẫu mực, làm nên bản sắc và tinh hoa văn học của đất nước mà tác phẩm thuộc về nói riêng và của cả gia tài văn học thế giới nói chung. Bạn đọc Việt Nam được biết tới những đỉnh cao, những đại diện, những biểu hiện độc đáo của các nền văn học trên thế giới là nhờ vào hoạt động dịch thuật ở mô hình này. Cuối cùng, những trải nghiệm cá nhân nằm ở trung tâm của mô hình thứ tư, có thể gọi tên là “mô hình gặp gỡ”, hướng tới việc chuyển dịch những tác phẩm bất kỳ đem lại cảm hứng, sự sẻ chia, sự cần thiết, niềm vui, và cả việc xoa dịu nỗi buồn của dịch giả. Hoạt động dịch thuật trước nhất là dành cho cá nhân dịch giả, cùng đó và sau đó mới là sự lan tỏa đến bạn đọc. Hai mô hình thứ ba và thứ tư cùng các xu hướng dịch thuật khác làm đa dạng văn học dịch và hoạt động dịch văn học. Song mô hình thứ nhất và mô hình thứ hai mới là các mô hình định hình tính chất và diện mạo của văn học dịch và dịch văn học ở Việt Nam hơn hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Sự cộng hưởng giữa thị trường, danh tiếng và thị hiếu đám đông nhấn mạnh vào tính đại chúng và tính toàn cầu của văn học khi văn học dịch đi vào trung tâm và kiến tạo hạng mục trong đa hệ thống văn chương Việt Nam đương đại.

4. Kết luận:

Tóm lại, nửa thế kỉ tính từ ngày đất nước hòa bình thống nhất, văn học dịch và dịch văn học ở Việt Nam đã phát triển qua ba chặng đường. Mười năm đầu sau hậu chiến ghi nhận nỗ lực vượt thoát khủng hoảng đời sống xã hội của văn học dịch khi nó lặng lẽ đem đến những giá trị cổ điển của văn học thế giới qua khe cửa hẹp của chính sách xuất bản bị bóp nghẹt bởi các khó khăn về kinh tế, và lập trường ý thức hệ. Mười lăm năm tiếp theo, trong không khí chuyển đổi sục sôi mà Đổi Mới mang lại, văn học dịch chuyển mình và hình thành các khuynh hướng, các mô hình dịch thuật. Từ “truyền thống” đến “chuyển tiếp” và “tham chiếu”, văn học dịch nới rộng kinh nghiệm thẩm mĩ cho văn học Việt Nam, đem đến cho nhà văn và bạn đọc Việt Nam những trải nghiệm nghệ thuật mới, hàm chứa trong đó nhiều năng lượng sáng tạo và cả những thôi thúc cách tân văn học nghệ thuật. Sang thế kỉ XXI, Việt Nam gia nhập quỹ đạo toàn cầu hóa, giao lưu văn hóa rộng mở theo đó khiến cho văn học dịch và hoạt động dịch văn học càng có nhiều cơ hội phát triển. Văn học dịch chiếm giữ vị trí trung tâm hệ thống văn học Việt Nam. Giao thoa hệ thống nhờ sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch không chỉ tăng khả năng tương tác giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác ở trong nước mà còn kết nối văn học Việt Nam vào mối quan tâm chung của nền văn học toàn cầu. Sự nổi lên của tính đại chúng và tính toàn cầu như một hệ quả của việc văn học nước ngoài du hành tới Việt Nam năm mươi năm qua, vì vậy, có thể xem như cơ hội và thách thức cho văn học Việt Nam, khi đối diện với tính chính trị bản sắc và chủ nghĩa dân tộc toàn cầu, để định vị tiếng nói và bản sắc địa phương trong một thế giới thường trực biến đổi.

30/5/2026

Đoàn Ánh Dương

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên và thông điệp của cha ông về sự vẹn toàn giang sơn

 

Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên
và thông điệp của cha ông về
sự vẹn toàn giang sơn

Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên là một trong những huyền thoại đẹp nhất, sâu nhất và bền bỉ nhất trong tâm thức người Việt. Câu chuyện ấy không chỉ trao cho dân tộc một cách hình dung thiêng liêng về nguồn gốc chung, mà còn gửi gắm một quan niệm rất sớm về giang sơn: giang sơn không chỉ có núi rừng, đồng bằng, làng mạc, ruộng lúa, mà còn có biển cả, cửa sông, bến thuyền, ngư trường, đảo xa và những cộng đồng cư dân sống đời đời với sóng nước.

MỞ ĐẦU:

Từ huyền thoại nguồn cội đến thông điệp về sự vẹn toàn giang sơn

Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, hiếm có huyền thoại nào vừa giản dị, vừa bao quát, vừa có sức sống lâu bền như truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên. Đó không chỉ là câu chuyện kể về nguồn gốc cộng đồng người Việt; không chỉ là lời giải thích bằng trí tưởng tượng dân gian về sự ra đời của giống nòi Lạc Việt; mà sâu xa hơn, đó là một bản thông điệp văn hoá được gửi lại từ buổi đầu dựng nước. Trong thông điệp ấy, người Việt nhận ra mình cùng chung một bọc sinh thành, cùng chung huyết thống thiêng liêng, cùng chung cội nguồn dân tộc; đồng thời cũng nhận ra giang sơn này không chỉ là một dải đất, một vùng đồng bằng, một miền núi, một cửa sông, mà là sự cộng hưởng của nhiều không gian sinh tồn: rừng và biển, núi và nước, miền cao và miền xuôi, đất liền và đại dương.

Chi tiết mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, trăm trứng nở thành trăm người con, rồi năm mươi người con theo mẹ lên rừng, năm mươi người con theo cha xuống biển đã trở thành một trong những biểu tượng đẹp nhất của văn hoá Việt Nam. Ở lớp nghĩa quen thuộc, đó là huyền thoại về nguồn gốc “đồng bào” cùng sinh ra từ một bọc. Nhưng nếu nghiền ngẫm sâu hơn, có thể thấy trong cấu trúc biểu tượng ấy còn hàm chứa một tư duy rất sớm về sự vẹn toàn của giang sơn. Sự chia đôi những người con (năm mươi - năm mươi) không phải là một cuộc phân ly làm đứt gãy cộng đồng, mà là một sự phân công khai mở không gian sống. Một nửa lên rừng để mở đất, giữ núi, gây dựng bản mường, nương rẫy, làng xóm nơi miền cao. Một nửa xuống biển để làm chủ sóng nước, mở cửa giao thương, bám ngư trường, dựng bến thuyền, giữ cửa biển và hải đảo. Từ đó, giang sơn không bị chia cắt, mà được nối dài; cộng đồng không bị phân rã, mà được nhân rộng; Tổ quốc không thu hẹp trong một không gian cư trú, mà mở ra từ núi rừng đến biển cả.

Chính ở đây, truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên vượt lên trên chức năng của một huyền thoại dân gian thông thường. Truyền thuyết này không chỉ kể chuyện cha mẹ tổ tiên, mà còn phác họa một quan niệm về lãnh thổ, về căn tính và về sứ mệnh cộng đồng. Trong quan niệm ấy, rừng là giang sơn, biển cũng là giang sơn. Miền ngược là đất nước, miền xuôi cũng là đất nước. Đồng bằng phì nhiêu là máu thịt của quốc gia, nhưng cửa biển, bến thuyền, đảo xa, ngư trường, vùng nước mặn cũng là máu thịt của quốc gia. Nếu mẹ Âu Cơ đưa năm mươi người con lên rừng, thì cha Lạc Long Quân đưa năm mươi người con xuống biển. Sự cân bằng ấy không chỉ là chi tiết nghệ thuật, mà là một biểu tượng văn hoá: tổ tiên đã đặt biển ngang hàng với rừng, đặt không gian biển trong chính cấu trúc nguồn cội của dân tộc.

Đó là thông điệp có ý nghĩa đặc biệt khi nhìn từ yêu cầu phát triển đất nước hôm nay. Trong suốt chiều dài lịch sử, người Việt vừa là cư dân nông nghiệp lúa nước, vừa là cư dân của sông ngòi, cửa bể, vịnh biển, đầm phá và hải đảo. Những dòng sông đã đưa phù sa về đồng bằng, nhưng cũng mở đường ra biển. Những cửa biển không chỉ là nơi thuyền cá ra khơi, mà còn là điểm kết nối giao thương, tiếp xúc văn hoá, phòng thủ đất nước. Những làng chài, bến cá, thương cảng, lễ hội cầu ngư, tục thờ cá Ông, thờ thần biển, thờ các vị tiền nhân khai mở vùng duyên hải… tất cả đã tạo nên một lớp trầm tích văn hoá biển bền bỉ trong đời sống dân tộc. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, khi nói về cội nguồn, chúng ta thường nhấn mạnh nhiều hơn đến không gian đất liền, núi rừng, đồng bằng, trung tâm chính trị - nông nghiệp; trong khi không gian biển đôi khi chưa được đặt đúng với tầm vóc biểu tượng vốn có của nó trong chính huyền thoại khởi nguyên.

Bởi vậy, trở lại với truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên hôm nay không phải chỉ là trở lại với ký ức dân gian. Đó còn là một cách đọc lại chiều sâu văn hoá của dân tộc để soi sáng những vấn đề hiện đại. Khi biển ngày càng trở thành không gian chiến lược của phát triển quốc gia; khi kinh tế biển, du lịch biển, văn hoá biển, đô thị biển, cảng biển, logistics, nghề cá, bảo tồn hệ sinh thái biển và bảo vệ chủ quyền biển đảo đều trở thành những vấn đề hệ trọng; thì hình tượng năm mươi người con theo cha xuống biển càng có sức gợi lớn. Nó nhắc nhở rằng biển không phải là phần ngoại vi của Tổ quốc. Biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên hay phát triển dịch vụ. Biển là không gian sinh tồn, không gian văn hoá, không gian chủ quyền, không gian ký ức và không gian tương lai của dân tộc Việt Nam.

Nói cách khác, từ truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, có thể nhìn thấy một lời căn dặn xa xưa nhưng chưa bao giờ cũ: muốn giang sơn vẹn toàn thì không được lãng quên biển; muốn quốc gia phát triển bền vững thì không thể để văn hoá biển chỉ nằm trong ký ức; mỗi con sóng không chỉ mang vị mặn của đại dương, mà còn vọng lại tiếng gọi từ cội nguồn dân tộc.

I. Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên: huyền thoại nguồn gốc và cấu trúc biểu tượng của sự vẹn toàn

Mỗi dân tộc, trong hành trình tự nhận thức về mình, thường có một huyền thoại nguồn gốc. Ở đó, lịch sử và tưởng tượng, ký ức và khát vọng, hiện thực và biểu tượng đan cài vào nhau, tạo nên một câu chuyện không chỉ để kể lại quá khứ, mà còn để gìn giữ căn tính cộng đồng. Với người Việt, truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên chính là một huyền thoại như vậy. Câu chuyện ấy không phải là lịch sử theo nghĩa biên niên, nhưng lại mang trong mình một thứ “sự thật” sâu xa hơn: sự thật của ký ức văn hoá, của ý niệm cộng đồng, của niềm tin rằng dân tộc này có chung một cội nguồn thiêng liêng, chung một bọc sinh thành, chung một sứ mệnh gìn giữ và mở mang giang sơn.

Điểm độc đáo của truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên nằm ở cấu trúc biểu tượng hết sức hàm súc. Lạc Long Quân thuộc nòi Rồng, gắn với nước, với biển, với thế giới thuỷ phủ, với sức mạnh sâu thẳm của đại dương. Âu Cơ thuộc dòng Tiên, gắn với núi, với cao nguyên, với không gian thanh sạch, cao xa, mềm mại mà linh thiêng. Một bên là Rồng, một bên là Tiên; một bên là biển, một bên là núi; một bên là cha, một bên là mẹ; một bên là chiều sâu của nước, một bên là chiều cao của trời đất. Chính sự kết hợp ấy đã tạo nên một huyền thoại vừa đẹp về hình tượng, vừa sâu về ý nghĩa: dân tộc Việt được sinh ra từ sự giao hoà của những không gian tưởng như khác biệt, từ sự gặp gỡ giữa những nguồn năng lượng văn hoá tưởng như đối cực nhưng lại bổ sung cho nhau.

Trong cấu trúc đó, chi tiết bọc trăm trứng có vị trí đặc biệt. Hai chữ “đồng bào” mà người Việt vẫn dùng để gọi nhau không chỉ là một khái niệm xã hội, mà bắt nguồn từ một biểu tượng văn hoá: cùng sinh ra từ một bọc. Đây là một trong những cách diễn đạt cảm động nhất về ý thức cộng đồng của người Việt. Trước khi có những khái niệm hiện đại về quốc gia, dân tộc, công dân, biên giới, chủ quyền, người xưa đã gửi gắm vào huyền thoại một thông điệp giản dị mà bền vững: người Việt, dù ở đâu, dù lên rừng hay xuống biển, dù sống nơi miền ngược hay miền xuôi, đều là anh em một nhà, đều có chung một nguồn sinh thành.

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở ý nghĩa “đồng bào”, ta mới chạm đến một lớp nghĩa của truyền thuyết. Lớp nghĩa sâu hơn nằm ở chi tiết sau đó: Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con, năm mươi người theo mẹ lên rừng, năm mươi người theo cha xuống biển. Đây là một chi tiết từng được tiếp nhận chủ yếu như cuộc chia tay giữa hai nhân vật huyền thoại. Tuy nhiên, dưới góc nhìn văn hoá, chi tiết ấy có thể được hiểu như một cấu trúc biểu tượng về sự phân bố không gian sinh tồn của cộng đồng Việt cổ. Đó không đơn thuần là sự chia lìa, mà là sự mở rộng. Không phải tách đôi dân tộc, mà là phân công để khai phá giang sơn. Không phải mất mát, mà là sự lan toả của một cộng đồng từ cội nguồn chung đến những vùng đất, vùng nước khác nhau.

Sự cân bằng năm mươi - năm mươi trong truyền thuyết rất đáng suy ngẫm. Dân gian không kể rằng phần lớn đi theo mẹ, phần nhỏ đi theo cha; cũng không kể rằng núi rừng giữ vai trò trung tâm còn biển cả chỉ là phần phụ thuộc. Con số năm mươi chia đều cho hai phía cho thấy một ý niệm cân bằng: rừng và biển đều quan trọng; núi và nước đều là không gian của quốc gia; miền cao và miền duyên hải đều cần được khai phá, bảo vệ, sinh sống và phát triển. Trong trí tưởng tượng huyền thoại của người Việt, giang sơn ngay từ buổi đầu đã không phải là một không gian đơn tuyến. Đó là một chỉnh thể gồm nhiều vùng sinh thái, nhiều phương thức sống, nhiều hướng mở mang, trong đó biển cả có vị trí ngang hàng với núi rừng.

Chính vì vậy, có thể nói: truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên hàm chứa một tư duy rất sớm về sự vẹn toàn của giang sơn. Sự vẹn toàn ấy không chỉ là vẹn toàn về huyết thống cộng đồng, mà còn là vẹn toàn về không gian lãnh thổ. Một dân tộc không thể chỉ nhận núi rừng là của mình mà quên biển cả; không thể chỉ coi đồng bằng là nơi cư trú chính mà xem hải đảo, cửa biển, ngư trường là vùng xa lạ; không thể chỉ nhìn Tổ quốc bằng đường biên trên đất liền mà quên những vùng nước, bãi triều, bến cá, con tàu và những con người ngày ngày sinh tồn trên sóng. Truyền thuyết đã đặt vấn đề ấy bằng ngôn ngữ biểu tượng: một nửa con cháu Lạc Hồng thuộc về biển.

Đọc theo hướng đó, năm mươi người con xuống biển” không còn là chi tiết phụ trong một câu chuyện nguồn gốc. Đó là một biểu tượng lớn. Biểu tượng ấy nói rằng biển không phải phần rìa của đất nước; biển không phải nơi chỉ để đến khi cần đánh cá hay giao thương; biển không phải miền xa xôi nằm ngoài trí nhớ văn hoá. Biển nằm ngay trong căn tính khởi nguyên của người Việt. Người cha của dân tộc - Lạc Long Quân - là người của nước, của biển, của thế giới Rồng. Năm mươi người con theo cha xuống biển là những người mang theo bọc nguồn cội ra phía sóng gió, đem huyết thống Lạc Hồng gieo vào không gian biển cả. Từ đó, biển trở thành nơi cư trú, nơi sinh kế, nơi thử thách, nơi phòng thủ và cũng là nơi lưu giữ một phần linh hồn dân tộc.

Ở một tầng nghĩa khác, cuộc chia con còn thể hiện quan niệm về sự thống nhất trong đa dạng. Cộng đồng Việt không chỉ hình thành từ một kiểu không gian sống, một phương thức mưu sinh hay một dạng văn hoá duy nhất. Người Việt vừa có văn hoá lúa nước, vừa có văn hoá sông nước; vừa có văn hoá núi rừng, vừa có văn hoá biển; vừa có ký ức nương rẫy, bản làng, vừa có ký ức bến thuyền, cửa sông, ngư trường... Chính sự đa dạng ấy làm nên sức sống của cộng đồng. Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên vì thế không cổ vũ một sự đồng nhất cứng nhắc, mà khẳng định một cộng đồng có thể phân bố trên nhiều không gian khác nhau nhưng vẫn không mất đi nguồn gốc chung.

Đây là một điểm rất quan trọng khi nhìn vào thực tiễn lịch sử Việt Nam. Trên dải đất hình chữ S, rừng và biển không tách rời nhau. Nhiều vùng đất Việt được cấu thành bởi thế “tựa núi nhìn biển”, bởi sự gặp gỡ của sông ngòi, cửa biển, đồi núi, đồng bằng, vịnh đảo. Những con sông khởi nguồn từ núi đổ ra biển không chỉ mang phù sa, mà còn mang theo dấu vết của trao đổi văn hoá. Các cửa biển không chỉ là nơi kết thúc của dòng sông, mà là nơi mở đầu của những quan hệ rộng lớn hơn với đại dương. Vì vậy, khi người xưa hình dung một nửa con cháu lên rừng, một nửa xuống biển, họ đã phác họa bằng trực giác văn hoá một sự thật địa - văn hoá của đất nước: Việt Nam là một quốc gia không thể tách rời núi, sông và biển.

Trong huyền thoại ấy, hình tượng người mẹ Âu Cơ đưa con lên rừng thường gợi về nguồn mạch sinh thành, về sự che chở, về đất đai, cây cỏ, nương rẫy, bản làng. Còn hình tượng người cha Lạc Long Quân đưa con xuống biển lại gợi về sức mạnh, sự dấn thân, khả năng đối diện với hiểm nguy. Biển cả trong cảm thức dân gian không bao giờ là không gian dễ dàng. Biển vừa rộng mở, vừa bất trắc; vừa hào phóng, vừa dữ dội; vừa nuôi sống con người, vừa thử thách con người. Người xuống biển không chỉ cần sức khoẻ, mà cần bản lĩnh, kinh nghiệm, lòng can đảm, sự đoàn kết và niềm tin. Năm mươi người con theo cha xuống biển, vì vậy, có thể được nhìn như biểu tượng của những người nhận lấy phần sóng gió của giang sơn.

Chính ở đây, truyền thuyết có một chiều sâu nhân văn đặc biệt. Truyền thuyết không ca ngợi biển như một khái niệm trừu tượng, mà gửi gắm vào biển hình ảnh con người. Biển không chỉ là không gian thiên nhiên, mà là nơi có những phận người gắn bó với con nước, con thuyền, bến cá, mùa gió, mùa bão. Trong lịch sử lâu dài của dân tộc, biết bao thế hệ cư dân ven biển đã sống bằng nghề cá, nghề muối, nghề đóng thuyền, nghề buôn bán đường biển; đã lập làng ở cửa sông, ven vịnh, bên bãi triều; đã dựng đình, dựng miếu, tổ chức lễ hội cầu mùa, cầu ngư, thờ thần biển, thờ những người có công khai phá vùng duyên hải. Họ chính là những người con xuống biển” trong đời sống lịch sử cụ thể, tiếp nối biểu tượng huyền thoại bằng lao động, mồ hôi, niềm tin và cả sự hy sinh.

Vì thế, thông điệp về sự vẹn toàn giang sơn trong truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên không chỉ có giá trị tinh thần, mà còn có giá trị định hướng. Nó nhắc rằng một quốc gia muốn bền vững phải biết chăm lo cho mọi không gian sinh tồn của mình. Rừng núi cần được bảo vệ, biển cả cũng cần được gìn giữ. Miền cao cần được phát triển, vùng duyên hải cũng cần được đầu tư. Người dân nơi đồng bằng, đô thị cần được quan tâm, cư dân biển đảo, làng chài, cảng cá cũng cần được đặt vào vị trí xứng đáng trong chiến lược phát triển. Nếu bọc trăm trứng là biểu tượng của sự chung nguồn, thì năm mươi lên rừng, năm mươi xuống biển là biểu tượng của trách nhiệm chung đối với toàn bộ giang sơn.

Ở phương diện văn hoá, truyền thuyết này còn cho thấy năng lực tổ chức ký ức cộng đồng của cha ông. Thay vì diễn đạt bằng khái niệm trừu tượng, dân gian chọn cách kể một câu chuyện. Câu chuyện ấy đi vào tâm thức qua lời ru, bài học, lễ hội, tín ngưỡng, qua những câu nói thân thuộc như “đồng bào”, Con Rồng cháu Tiên”, giống nòi Lạc Hồng”. Chính nhờ hình thức truyền thuyết, thông điệp về cội nguồn và giang sơn được lưu truyền qua nhiều thế hệ một cách dung dị, tự nhiên mà sâu sắc nhất. Đó là sức mạnh của văn hoá dân gian: làm cho những tư tưởng lớn trở nên gần gũi, tự nhiên, thấm sâu vào tâm hồn cộng đồng.

Từ điểm nhìn hôm nay, có thể khẳng định rằng truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên không chỉ thuộc về quá khứ. Nó vẫn tiếp tục đối thoại với hiện tại. Khi đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, khi kinh tế biển được xác định là một động lực quan trọng, khi các địa phương ven biển đang tìm kiếm mô hình phát triển bền vững, khi du lịch không còn chỉ là tiêu dùng dịch vụ mà ngày càng gắn với trải nghiệm văn hoá, thì việc đọc lại truyền thuyết nguồn cội có thể mở ra nhiều gợi ý đáng suy nghĩ. Trong đó, gợi ý quan trọng nhất là: muốn phát triển biển một cách bền vững, cần bắt đầu từ việc trả lại cho biển vị trí xứng đáng trong căn tính văn hoá dân tộc.

Sự phát triển ấy không thể chỉ tính bằng số lượng khách du lịch, doanh thu dịch vụ hay hạ tầng nghỉ dưỡng. Phát triển biển bền vững phải bao gồm cả việc gìn giữ ký ức biển, tôn vinh cư dân biển, bảo tồn hệ sinh thái biển, nâng cao đời sống vùng ven biển, phát triển du lịch văn hoá biển, giáo dục ý thức về biển đảo và xây dựng những biểu tượng có khả năng kết nối cộng đồng. Khi một địa phương ven biển biết kể câu chuyện của mình bằng chiều sâu văn hoá, nơi ấy không còn là một điểm đến thông thường. Nó trở thành không gian ký ức, không gian trải nghiệm và không gian tự hào.

Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên không chỉ cho ta biết người Việt đã hình dung về nguồn gốc của mình như thế nào, mà còn cho thấy người Việt đã sớm hình dung về giang sơn của mình ra sao. Đó là một giang sơn có núi và biển, có mẹ và cha, có rừng sâu và sóng cả, có những người ở lại khai mở đất liền và những người ra khơi giữ lấy phần nước mặn. Từ bọc trăm trứng đến năm mươi người con xuống biển là một hành trình biểu tượng: từ sự thống nhất huyết thống đến sự thống nhất lãnh thổ, từ ký ức sinh thành đến trách nhiệm phát triển, từ huyền thoại cội nguồn đến khát vọng tương lai.

Và chính trong hành trình ấy, ta nhận ra một điều: biển đã có mặt trong tâm thức Việt Nam từ buổi đầu huyền thoại. Biển không chờ đến thời hiện đại mới trở thành không gian chiến lược. Biển đã nằm trong lời kể đầu tiên về dân tộc. Biển đã gắn với hình tượng người cha Lạc Long Quân. Biển đã đón năm mươi người con của bọc trăm trứng. Biển, vì thế, không chỉ là địa lý; biển là cội nguồn. Không chỉ là tài nguyên; biển là máu thịt. Không chỉ là không gian phát triển; biển là một phần linh hồn của Tổ quốc.

II. Năm mươi người con xuống biển: biểu tượng khởi nguyên của ý thức văn hóa biển Việt Nam

Nếu phần năm mươi người con theo mẹ lên rừng” gợi lên hình ảnh khai mở núi non, lập bản dựng mường, gây dựng đời sống nơi miền cao, thì phần năm mươi người con theo cha xuống biển” lại mở ra một chiều kích khác của căn tính Việt Nam: chiều kích biển cả. Đó là nơi sóng gió, bất trắc, mênh mông; nơi con người không thể chỉ dựa vào sức mạnh cá nhân, mà phải dựa vào kinh nghiệm cộng đồng, vào sự hiểu biết tự nhiên, vào lòng quả cảm và tinh thần đoàn kết. Bởi vậy, trong truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, hình tượng năm mươi người con xuống biển không chỉ là một chi tiết kể chuyện, mà là biểu tượng khởi nguyên của ý thức văn hóa biển Việt Nam.

Điều đáng chú ý là trong cuộc chia con ấy, người cha Lạc Long Quân đã chọn biển. Lạc Long Quân vốn thuộc nòi Rồng, gắn với nước, với sông, với biển, với thế giới thủy linh. Nhưng việc người cha đưa năm mươi người con xuống biển không chỉ đơn thuần phù hợp với lai lịch huyền thoại của nhân vật. Đằng sau đó là một tầng nghĩa sâu hơn: biển được đặt trong quan hệ trực tiếp với người cha của cộng đồng. Người cha không dẫn con đến nơi bình yên nhất, mà dẫn con về phía sóng gió. Người cha không trao cho con phần dễ dàng của giang sơn, mà trao cho con phần rộng mở nhưng bất định, giàu tiềm năng nhưng đầy hiểm nguy. Điều đó khiến hình tượng Lạc Long Quân mang dáng dấp của một người khai mở biển cả: người dẫn đường, người bảo trợ, người truyền cho con cháu bản lĩnh đối diện với đại dương.

Trong cảm thức dân gian, biển chưa bao giờ là không gian hiền lành một chiều. Biển vừa là nguồn sống, vừa là thử thách. Biển cho cá tôm, muối mặn, bến thuyền, đường giao thương, nhưng biển cũng có bão tố, sóng dữ, thủy triều, những chuyến đi không hẹn ngày về. Người sống với biển phải hiểu biển, nương theo biển, kính sợ biển, đồng thời phải đủ can đảm để ra khơi. Không phải ngẫu nhiên mà trong nhiều cộng đồng cư dân ven biển, các nghi lễ cầu ngư, tục thờ thần biển, tín ngưỡng thờ cá Ông, thờ tiền nhân khai phá vùng duyên hải đều gắn với tâm thức vừa biết ơn, vừa kính cẩn, vừa khẩn cầu trước biển. Biển không chỉ là tài nguyên tự nhiên; biển là một thế giới linh thiêng, nơi con người cảm nhận rõ nhất sự nhỏ bé của mình trước thiên nhiên và cũng là nơi con người bộc lộ rõ nhất ý chí vượt lên giới hạn.

Từ góc nhìn ấy, năm mươi người con theo cha xuống biển có thể được xem là hình ảnh biểu tượng của những thế hệ cư dân đầu tiên nhận lấy phần gian khó của giang sơn. Họ không đi vào những vùng đã ổn định, mà đi về phía mở rộng. Họ không chỉ tìm nơi cư trú, mà còn kiến tạo một phương thức sống. Họ học cách đọc hướng gió, nhìn con nước, chọn mùa cá, dựng bến thuyền, làm lưới, đóng ghe, nhận biết bão giông qua sắc trời, tiếng sóng, mùi gió. Họ biến vùng nước mặn thành không gian sinh tồn, biến cửa biển thành nơi tụ cư, biến bãi triều thành nguồn sống, biến đường biển thành con đường giao tiếp với thế giới bên ngoài. Ở tầng nghĩa biểu tượng, họ chính là những người đầu tiên đặt dấu chân văn hoá Việt xuống phía biển.

Điều này cho thấy ý thức biển của người Việt không phải là một ý thức muộn màng. Dĩ nhiên, trong lịch sử cụ thể, quá trình cư trú, khai thác và làm chủ biển của người Việt diễn ra lâu dài, phức tạp, gắn với nhiều vùng văn hoá và nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Nhưng ở bình diện huyền thoại, biển đã xuất hiện ngay trong câu chuyện khởi nguyên. Nó không phải một phần được thêm vào sau này. Nó không đứng bên lề ký ức dân tộc. Nó hiện diện từ thuở đầu, gắn với hình tượng người cha, với một nửa con cháu, với sự phân công mở mang giang sơn. Chính vì thế, có thể nói rằng truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên đã lưu giữ một trực giác văn hoá rất sâu: dân tộc Việt Nam muốn tồn tại và phát triển thì không thể thờ ơ với biển.

Năm mươi người con xuống biển cũng là biểu tượng của một dạng sức mạnh đặc biệt: sức mạnh của sự dấn thân. Nếu cư dân nông nghiệp cần sự kiên nhẫn, cần khả năng gắn bó lâu dài với đất, với mùa vụ, với chu kỳ gieo trồng, thì cư dân biển cần một bản lĩnh khác: bản lĩnh ra khơi. Ra khơi là rời khỏi bờ, rời khỏi sự chắc chắn của đất dưới chân, để bước vào một không gian không có đường cố định, không có ranh giới hữu hình, không có sự bảo đảm tuyệt đối. Người đi biển đối diện với cái mênh mông, với sự bất định, với những biến động có thể xảy ra chỉ trong khoảnh khắc. Vì vậy, văn hoá biển luôn là văn hoá của lòng can đảm, của kinh nghiệm, của sự linh hoạt, của khả năng thích ứng và của tinh thần cộng đồng rất cao.

Trong hình tượng năm mươi người con xuống biển, ta có thể cảm nhận thấp thoáng bóng dáng của bao thế hệ ngư dân Việt Nam sau này: những người thức dậy từ khi trời còn tối, đẩy thuyền ra sóng, gửi lại trên bờ người thân, nhà cửa, ruộng vườn; những người đi qua mùa biển lặng và mùa giông tố; những người hiểu rằng mỗi chuyến ra khơi là một lần mưu sinh, nhưng cũng là một lần khẳng định sự hiện diện của con người trên biển. Họ không nói nhiều về chủ quyền bằng ngôn từ lớn lao, nhưng chính sự có mặt bền bỉ của họ trên ngư trường, chính những mẻ lưới, những con tàu, những bến cá, những làng chài đã tạo nên một thứ chủ quyền sống động: chủ quyền của lao động, của cư trú, của ký ức và của máu thịt.

Văn hóa biển, vì thế, không thể tách khỏi con người biển. Khi nói đến biển, không thể chỉ nói đến tài nguyên, hạ tầng, luồng lạch, cảng biển, bãi tắm hay dịch vụ du lịch. Phải nói đến những cộng đồng cư dân đã sống cùng biển, thờ biển, sợ biển, yêu biển, làm giàu từ biển và cũng nhiều lần chịu mất mát vì biển. Biển trong văn hoá Việt Nam không phải là một bức tranh phong cảnh tĩnh tại, mà là một không gian sống động của con người. Biển có tiếng mái chèo, tiếng máy thuyền, tiếng gọi nhau trong sương sớm, tiếng chợ cá, tiếng chuông chùa ven biển, tiếng lễ hội cầu mùa, tiếng người mẹ tiễn con ra khơi... Chính đời sống ấy làm cho biển trở thành văn hóa.

Từ truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, có thể nhận thấy một mạch liên tục giữa huyền thoại và đời sống. Hình tượng Lạc Long Quân đưa con xuống biển là hình ảnh khởi nguyên; còn trong lịch sử, các cộng đồng cư dân ven biển là sự tiếp nối cụ thể của hình ảnh ấy. Họ không mang tên năm mươi người con” trong sử sách, nhưng họ là những người đã hiện thực hóa biểu tượng ấy bằng sự tồn tại bền bỉ qua nhiều thế hệ. Mỗi làng chài được dựng lên bên cửa biển, mỗi lễ hội cầu ngư được tổ chức, mỗi ngôi miếu thờ thần biển, mỗi bến thuyền, mỗi cảng cá, mỗi con tàu vươn khơi đều là một mảnh nối dài của ký ức Lạc Long Quân.

Ở đây, cần nhấn mạnh một điểm: ý thức văn hoá biển không đồng nhất với ý thức khai thác biển. Khai thác chỉ là một phương diện. Ý thức văn hóa biển sâu hơn nhiều. Đó là nhận thức rằng biển là một phần cấu thành đời sống quốc gia; rằng biển cần được hiểu, được tôn trọng, được bảo vệ, được phát triển hài hoà; rằng cư dân biển cần được đặt vào vị trí trung tâm của chính sách biển; rằng các giá trị tín ngưỡng, lễ hội, tri thức dân gian, nghề truyền thống, ẩm thực, ký ức lịch sử và không gian tâm linh ven biển đều là tài sản văn hoá quý báu. Một quốc gia có biển không đương nhiên trở thành quốc gia mạnh về biển. Chỉ khi biển đi vào tư duy phát triển, vào giáo dục, vào văn hoá, vào quy hoạch, vào đời sống tinh thần của cộng đồng, khi ấy ý thức biển mới thực sự trở thành sức mạnh.

Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, với chi tiết năm mươi người con xuống biển, cho ta một điểm tựa tinh thần để xây dựng ý thức ấy. Bởi truyền thuyết không nhìn biển như không gian xa lạ, mà nhìn biển như phần thân thuộc của nguồn cội. Điều đó có ý nghĩa lớn trong bối cảnh hiện nay, khi phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển đảo là nhiệm vụ chiến lược; khi các địa phương ven biển đang đứng trước yêu cầu vừa khai thác tiềm năng, vừa bảo vệ môi trường, vừa nâng cao đời sống cư dân, vừa xây dựng bản sắc điểm đến. Nếu chỉ nhìn biển bằng con mắt kinh tế ngắn hạn, dễ dẫn đến khai thác cạn kiệt, phát triển manh mún, thương mại hóa thô sơ. Nhưng nếu nhìn biển từ chiều sâu văn hóa, biển sẽ được tiếp cận như một không gian tổng hợp: vừa kinh tế, vừa sinh thái, vừa quốc phòng, vừa tâm linh, vừa du lịch, vừa giáo dục truyền thống.

Điểm đặc biệt của văn hóa biển là nó luôn gắn với tính mở. Biển mở ra giao thương, mở ra trao đổi, mở ra tiếp xúc văn hoá, mở ra những chân trời khác. Một cộng đồng biết sống với biển thường cũng là cộng đồng biết thích ứng, biết tiếp nhận, biết biến đổi. Các vùng ven biển trong lịch sử thường là nơi gặp gỡ của nhiều luồng văn hoá, nhiều dòng hàng hóa, nhiều lớp cư dân, nhiều kinh nghiệm sống. Ở đó, con người vừa giữ bản sắc riêng, vừa phải học cách đối thoại với cái khác. Biển vì thế không chỉ tạo ra sinh kế, mà còn tạo ra tầm nhìn. Người nhìn ra biển thường không chỉ nhìn thấy sóng trước mặt, mà còn thấy những chân trời xa hơn.

Trong biểu tượng Lạc Long Quân, có thể nhận ra phẩm chất ấy. Người cha của biển không chỉ đại diện cho sức mạnh, mà còn đại diện cho chiều sâu và sự mở rộng. Rồng là linh vật của nước, nhưng cũng là biểu tượng của quyền năng, của sự biến hoá, của khả năng vượt thoát khỏi giới hạn thông thường. Hình tượng Rồng trong tâm thức Việt Nam gắn với mưa thuận gió hoà, với sự phồn sinh, với uy lực bảo hộ cộng đồng. Khi người Việt tự nhận là “Con Rồng cháu Tiên”, họ không chỉ tự nhận một nguồn gốc cao quý, mà còn tự nhận trong mình có phần sức mạnh của nước, của biển, của sự linh hoạt và biến hoá. Năm mươi người con xuống biển, theo nghĩa đó, không phải đi vào một không gian thấp hơn núi rừng, mà đi vào một không gian mang quyền năng sáng tạo và thử thách.

Chính vì vậy, nếu muốn phát triển văn hóa biển hôm nay, cần khơi dậy không chỉ ký ức về biển, mà cả niềm tự hào về biển. Trong nhiều trường hợp, du lịch biển chỉ được quảng bá bằng bãi tắm, hải sản, nghỉ dưỡng, vui chơi. Những yếu tố ấy cần thiết, nhưng chưa đủ để tạo nên chiều sâu điểm đến. Một điểm đến biển có bản sắc phải giúp du khách cảm nhận được câu chuyện của vùng biển ấy: vùng biển này đã nuôi sống những ai, đã chứng kiến biến cố nào, đã lưu giữ tín ngưỡng gì, đã tạo nên tính cách con người ra sao, đã góp phần thế nào vào lịch sử quốc gia. Khi biển có câu chuyện, du lịch biển mới có linh hồn.

Có thể nói, hình tượng năm mươi người con xuống biển mang trong mình ba tầng ý nghĩa liên kết chặt chẽ. Ở tầng cội nguồn, đó là biểu tượng của một nửa cộng đồng Lạc Hồng gắn với biển. Ở tầng lịch sử văn hoá, đó là biểu tượng của các thế hệ cư dân ven biển đã khai phá, sinh tồn, bảo vệ và làm giàu từ biển. Ở tầng hiện đại, đó là biểu tượng gợi mở yêu cầu phát triển biển một cách bền vững, có chiều sâu văn hoá và có trách nhiệm với tương lai. Ba tầng ý nghĩa ấy gặp nhau trong một thông điệp: biển không chỉ để khai thác, mà để gắn bó; không chỉ để phát triển, mà để gìn giữ; không chỉ để nhìn ra xa, mà để nhớ về cội nguồn.

Từ truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, người Việt có thể tự hào rằng mình không chỉ là cư dân của đồng bằng lúa nước, không chỉ là cộng đồng của làng quê sau lũy tre, mà còn là hậu duệ của những người đã xuống biển từ thuở khai nguyên huyền thoại. Trong huyết mạch dân tộc có phù sa của sông, hương rừng của núi, nhưng cũng có vị mặn của biển. Trong dáng hình Tổ quốc có những cánh đồng, những dãy núi, những đô thị, nhưng cũng có bờ biển dài, đảo xa, cửa vịnh, ngư trường và những con tàu hướng ra khơi. Năm mươi người con xuống biển là lời nhắc nhở rằng phần biển ấy không bao giờ được phép bị lãng quên.

Vì vậy, nếu phần thứ nhất của truyền thuyết giúp người Việt nhận ra mình là “đồng bào”, thì phần năm mươi người con xuống biển giúp người Việt nhận ra rằng đồng bào ấy cùng chung trách nhiệm với toàn bộ giang sơn, từ rừng đến biển. Đó là một tư tưởng vừa cổ xưa vừa hiện đại. Cổ xưa vì nó được gửi gắm trong huyền thoại nguồn cội; hiện đại vì nó còn nguyên giá trị trong mọi chiến lược phát triển hôm nay. Khi một quốc gia hướng ra biển, quốc gia ấy không chỉ cần tàu lớn, cảng sâu, hạ tầng mạnh, mà còn cần một nền văn hoá biển đủ sâu để nâng đỡ mọi bước đi. Và nền văn hoá ấy, với người Việt, có thể bắt đầu từ một hình ảnh giản dị mà thiêng liêng: người cha Lạc Long Quân dẫn năm mươi người con xuống biển.

III. Biển là máu thịt của quốc gia: giá trị hiện đại của thông điệp tổ tiên

Từ truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, có thể đi đến một nhận thức có ý nghĩa nền tảng: biển không chỉ là một không gian địa lý, mà là một phần cấu thành căn tính quốc gia. Trong huyền thoại nguồn cội, biển đã hiện diện cùng với hình tượng Lạc Long Quân và năm mươi người con xuống biển. Trong đời sống lịch sử, biển hiện diện qua các làng chài, bến thuyền, cửa sông, thương cảng, đồn phòng thủ, lễ hội, tín ngưỡng, nghề cá, nghề muối, nghề đóng thuyền, những chuyến giao thương và những cuộc ra khơi. Trong hiện tại, biển hiện diện như một không gian chiến lược của phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền, mở rộng giao lưu, gìn giữ môi trường và kiến tạo bản sắc du lịch. Nhìn từ cả ba tầng ấy, có thể nói: biển là máu thịt của quốc gia.

Nói biển là máu thịt quốc gia không phải là một cách nói tu từ. Đó là một nhận thức chính trị, văn hoá và phát triển. Một quốc gia có biển nhưng không hiểu đúng biển sẽ chỉ nhìn thấy ở biển tài nguyên để khai thác, mặt nước để vận tải, bãi cát để làm du lịch. Nhưng một quốc gia biết đặt biển vào chiều sâu văn hoá của mình sẽ nhìn thấy ở biển không gian sinh tồn của cộng đồng, đường mở ra thế giới, tuyến phòng thủ từ xa, kho ký ức của cư dân duyên hải, nơi giao thoa giữa thiên nhiên và con người, giữa kinh tế và chủ quyền, giữa quá khứ và tương lai. Biển, vì thế, không thể được nhìn bằng một lát cắt đơn lẻ. Biển phải được nhìn như một chỉnh thể sống động.

Từ lời gửi gắm của tổ tiên qua huyền thoại năm mươi người con xuống biển”, thông điệp đầu tiên còn nguyên giá trị hôm nay là: không được coi biển là ngoại vi của đất nước. Trong một thời gian dài, do đặc điểm cư trú và sản xuất nông nghiệp, tư duy đất liền có thể chiếm vị trí nổi bật trong đời sống xã hội. Làng quê, đồng ruộng, lũy tre, con sông, bến nước là những hình ảnh rất thân thuộc của văn hoá Việt. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng nếu chỉ nhìn Việt Nam bằng không gian đồng bằng và đất liền, ta sẽ làm nghèo đi căn tính của chính mình. Việt Nam còn là một quốc gia ven biển, một quốc gia có bờ biển dài, có hệ thống đảo, vịnh, cửa sông, đầm phá, cảng biển, ngư trường, cộng đồng cư dân biển và những lớp văn hoá biển đa dạng. Biển không nằm ở rìa của Tổ quốc; biển là một phần làm nên dáng hình Tổ quốc.

Từ nhận thức ấy, bảo vệ biển trước hết là bảo vệ sự toàn vẹn của giang sơn. Biển không chỉ cần được bảo vệ bằng lực lượng, phương tiện và hệ thống pháp lý; biển còn cần được bảo vệ bằng ý thức cộng đồng. Một khi người dân hiểu rằng biển là máu thịt của quốc gia, thì bảo vệ biển không còn là việc của riêng lực lượng thực thi nhiệm vụ trên biển, không chỉ là câu chuyện của các văn bản chiến lược, mà trở thành một phần của giáo dục công dân, của văn hoá cộng đồng, của trách nhiệm thế hệ. Từ học sinh nơi miền núi đến người dân thành thị, từ cư dân đồng bằng đến người sống nơi hải đảo, mọi người đều cần nhận thức rằng biển là không gian chung của Tổ quốc. Sự vẹn toàn giang sơn không thể thiếu rừng núi, cũng không thể thiếu biển đảo.

Tuy nhiên, bảo vệ biển không thể tách rời phát triển biển. Một vùng biển chỉ thực sự được giữ vững khi nơi đó có đời sống kinh tế xã hội bền vững, có cư dân gắn bó, có sinh kế ổn định, có hạ tầng phù hợp, có hoạt động giao thương, nghề cá, dịch vụ, du lịch, cảng biển, logistics, công nghiệp và đô thị biển phát triển hài hoà. Chủ quyền không chỉ được khẳng định bằng những mốc giới pháp lý, mà còn bằng sự hiện diện sinh động, liên tục, bền bỉ của con người. Mỗi làng chài có đời sống ổn định, mỗi cảng cá hoạt động hiệu quả, mỗi con tàu ra khơi an toàn, mỗi điểm du lịch biển phát triển văn minh, mỗi cộng đồng ven biển giữ được bản sắc và môi trường sống của mình đều góp phần làm cho biển trở thành không gian sống thực sự của quốc gia.

Ở đây, truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên gợi cho ta một quan niệm rất cân bằng: biển không chỉ là nơi để “giữ”, mà còn là nơi để “sống”, để “mở mang”, để “phát triển”. Năm mươi người con theo cha xuống biển không phải chỉ đứng canh bên bờ sóng. Họ xuống biển để cư trú, khai phá, lao động, thích nghi, kết nối. Họ làm cho biển trở thành một phần đời sống. Đó là một gợi ý quan trọng cho hiện tại: phát triển kinh tế biển không thể chỉ được hiểu như khai thác tài nguyên biển; càng không thể phát triển theo lối ngắn hạn, manh mún, làm tổn thương môi trường, làm nghèo đi sinh kế truyền thống hoặc phá vỡ cấu trúc văn hoá cộng đồng ven biển. Phát triển biển phải là phát triển có văn hoá, có chiều sâu, có tầm nhìn dài hạn.

Kinh tế biển hiện đại bao gồm nhiều lĩnh vực: nghề cá, nuôi trồng thuỷ sản, cảng biển, vận tải biển, logistics, công nghiệp ven biển, năng lượng biển, du lịch biển, đô thị biển, dịch vụ biển. Nhưng nếu thiếu một nền tảng văn hóa, các lĩnh vực ấy có thể phát triển rời rạc, cạnh tranh lẫn nhau, thậm chí xung đột với nhau. Nghề cá có thể bị thu hẹp trước áp lực đô thị hoá; du lịch có thể làm biến dạng làng chài; cảng biển và công nghiệp có thể gây sức ép lên môi trường; các dự án dịch vụ có thể làm mất không gian văn hoá truyền thống. Vì vậy, phát triển biển bền vững đòi hỏi một cách tiếp cận tổng hợp, trong đó văn hoá không phải phần phụ trợ, mà là nền tảng định hướng.

Văn hóa biển giúp trả lời những câu hỏi căn bản: vùng biển này có ký ức gì, cư dân nơi đây sống ra sao, họ thờ phụng ai, họ có tri thức dân gian nào, họ kể câu chuyện gì về biển, họ có lễ hội nào, họ đã trải qua những biến cố nào, họ muốn phát triển theo cách nào để không đánh mất mình. Khi trả lời được những câu hỏi ấy, quy hoạch và phát triển mới tránh được sự áp đặt từ bên ngoài; du lịch mới không biến địa phương thành sân khấu hời hợt; đầu tư mới không chỉ nhìn thấy đất đai và lợi nhuận, mà còn nhìn thấy cộng đồng, di sản, môi trường và tương lai.

Ở phương diện này, thông điệp từ truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên có thể được hiểu như một lời nhắc về phát triển cân bằng. Nếu năm mươi người con lên rừng và năm mươi người con xuống biển là biểu tượng cho sự cân bằng không gian, thì trong hiện tại, phát triển đất nước cũng cần sự cân bằng giữa các vùng, các hệ sinh thái, các nguồn lực, các phương thức sinh kế. Không thể phát triển vùng duyên hải chỉ bằng cách bê nguyên mô hình đô thị hoá đất liền ra biển. Không thể biến mọi bãi biển thành không gian nghỉ dưỡng giống nhau. Không thể để các vùng biển mất đi bản sắc trong khi chính bản sắc mới là lợi thế cạnh tranh lâu dài. Càng bước vào thời đại toàn cầu hoá, các điểm đến càng phải khác biệt; càng phát triển hiện đại, càng cần giữ chiều sâu văn hoá để không trở thành bản sao nhạt nhoà của nhau.

Biển còn là không gian của ký ức lịch sử. Dọc theo bờ biển Việt Nam, có biết bao địa danh gắn với những biến cố lớn của dân tộc: những trận thủy chiến, những thương cảng cổ, những bến tàu kháng chiến, những tuyến vận tải trên biển, những cửa biển từng là nơi đón nhận giao thương và cũng là nơi đối diện ngoại xâm. Biển vừa mở ra cơ hội, vừa đặt ra thử thách. Chính vì vậy, văn hoá biển của người Việt luôn có hai chiều: chiều sinh kế và chiều bảo vệ; chiều giao thương và chiều phòng thủ; chiều mở cửa và chiều giữ nước. Hai chiều ấy không tách rời nhau. Một dân tộc biết ra khơi cũng là một dân tộc biết giữ lấy bờ cõi. Một cộng đồng biết làm ăn với biển cũng phải biết ứng xử có trách nhiệm với biển.

Nếu nhìn từ truyền thuyết, có thể nói Lạc Long Quân đưa năm mươi người con xuống biển không chỉ để mưu sinh, mà còn để giang sơn có người ở phía biển. Đó là một trực giác đặc biệt sâu sắc. Bởi trong mọi thời đại, khoảng trống về cư trú, khoảng trống về kinh tế, khoảng trống về văn hoá đều có thể trở thành khoảng trống về chủ quyền. Ngược lại, nơi nào có cộng đồng gắn bó, có sinh kế bền vững, có hệ thống văn hoá, tín ngưỡng, lễ hội, có hạ tầng phát triển và có sự hiện diện thường xuyên của nhà nước, nơi đó không gian biển được củng cố bằng cả sức mạnh vật chất lẫn sức mạnh tinh thần.

Nếu nhìn thật sâu, ta sẽ thấy thông điệp của tổ tiên trong truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên không hề cũ. Tổ tiên không nói bằng khái niệm kinh tế biển”, du lịch biển”, chủ quyền biển đảo”, phát triển bền vững” như ngôn ngữ hôm nay. Nhưng bằng hình ảnh Lạc Long Quân đưa năm mươi người con xuống biển, tổ tiên đã nói một điều rất lớn: biển thuộc về giang sơn, con cháu Lạc Hồng phải có mặt nơi biển, phải sống với biển, giữ biển, khai mở biển và truyền lại biển cho các thế hệ sau. Đó là một thông điệp giản dị mà sâu xa, cổ xưa mà hiện đại, huyền thoại mà thiết thực.

KẾT LUẬN:

Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên là một trong những huyền thoại đẹp nhất, sâu nhất và bền bỉ nhất trong tâm thức người Việt. Câu chuyện ấy không chỉ trao cho dân tộc một cách hình dung thiêng liêng về nguồn gốc chung, mà còn gửi gắm một quan niệm rất sớm về giang sơn: giang sơn không chỉ có núi rừng, đồng bằng, làng mạc, ruộng lúa, mà còn có biển cả, cửa sông, bến thuyền, ngư trường, đảo xa và những cộng đồng cư dân sống đời đời với sóng nước. Từ bọc trăm trứng, người Việt nhận ra mình là đồng bào; từ năm mươi người con lên rừng và năm mươi người con xuống biển, người Việt nhận ra Tổ quốc là một chỉnh thể vẹn toàn, nơi rừng và biển đều thiêng liêng, đều quan trọng, đều cần được khai mở, gìn giữ và phát triển.

Chính vì vậy, chi tiết năm mươi người con theo cha xuống biển không nên chỉ được hiểu như một đoạn kể trong huyền thoại. Đó là một biểu tượng lớn. Biểu tượng ấy nói với chúng ta rằng biển đã có mặt trong ký ức dân tộc từ buổi đầu; rằng người cha Lạc Long Quân không đứng ngoài không gian biển, mà thuộc về biển, dẫn con cháu về phía biển, trao cho họ phần sóng gió, rộng mở và nhiều thử thách của giang sơn. Nếu năm mươi người con theo mẹ lên rừng là hình ảnh của sự khai mở đất liền, thì năm mươi người con theo cha xuống biển là hình ảnh của ý chí làm chủ biển cả. Hai nửa ấy không chia cắt dân tộc, mà làm nên sự toàn vẹn của dân tộc. Hai nửa ấy không đối lập, mà bổ sung cho nhau để giang sơn có chiều sâu của núi và chiều rộng của biển.

Thông điệp ấy đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, biển ngày càng trở thành không gian chiến lược của kinh tế, quốc phòng, giao thương, du lịch, môi trường và văn hóa.

Sau cùng, trở lại với truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, ta nhận ra một điều giản dị mà lớn lao: tổ tiên đã không trao cho con cháu một giang sơn khép kín. Tổ tiên trao cho con cháu một giang sơn mở ra cả rừng sâu và biển rộng. Năm mươi người con lên rừng để giữ lấy phần núi, năm mươi người con xuống biển để giữ lấy phần sóng. Từ đó, Tổ quốc có dáng hình trọn vẹn. Và hôm nay, mỗi vùng biển Việt Nam đều có thể trở thành nơi nhắc nhớ lời căn dặn ấy: hãy yêu biển như yêu đất, hãy giữ biển như giữ rừng, hãy phát triển biển như phát triển một phần máu thịt của quốc gia.

1/6/2026

Nguyễn Thị Viêt Nga

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung

Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sĩ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình...