VĂN THƠ NHẠC
Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026
Trở lại cánh đồng thơ của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Trở lại cánh đồng thơ
Nhà thơ Y Phương ở miền non nước Cao Bằng đã từng tâm niệm: “Thơ cũng giống như tình yêu. Không có sự run rẩy thì không có thơ“. Quả thực, thơ ca thực sự là kết tinh, là ngọc đọng, là phiến Kỳ nam trong rừng trầm hương, là hạt minh châu trong biển hạt trai, là tinh hoa trong vườn phương thảo.
Những nụ hôn chữa lành
Những nụ hôn chữa lành
(Đọc tập thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế của Phạm Đình Phú)
Có những câu thơ chỉ cần đọc một lần đã in dấu trong lòng. Có
những nụ hôn chỉ trao một lần trong đời, nhưng cháy mãi trong thơ. Tập
thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế của nhà thơ Phạm Đình Phú là một trường
hợp đặc biệt: một người lính từng vào sinh ra tử, một bác sĩ lăn lộn nơi đạn
bom, chữa lành hàng ngàn vết thương, nay trở về chắt lọc cảm xúc đời mình thành
những vần thơ dịu dàng, thiêng liêng và đẹp đến ngẩn ngơ.
Không chọn những chủ đề hùng tráng, nhà thơ đi vào một hình ảnh
nhỏ: nụ hôn – tưởng chừng riêng tư, mềm yếu, nhưng lại ẩn chứa sức mạnh
tinh thần sâu sắc, như chính cuộc đời ông: một đời lính, một đời thầy thuốc lặng
thầm, một đời yêu thương.
Ngay từ những bài đầu, ông đã dựng lên hình tượng nụ hôn
thiêng liêng giữa chiến trường – nơi cái đẹp và cái chết cùng hiện diện:
"Liệt sĩ Anh hùng - nữ cứu thương
Thơm lừng ‘nụ gió’ ướt môi hường…" (Cháy mãi)
Nụ hôn ấy không phải để chiếm hữu, mà là lời tiễn biệt cuối cùng, là nghĩa tình
vượt qua ranh giới sống - chết. Hình ảnh "nụ gió" nhẹ như
hơi thở, nhưng chính là phép thiêng giữ lại chút ấm áp cuối cùng nơi người nằm
xuống. Câu thơ giản dị mà khắc khoải nao lòng.
Cũng trong mạch cảm xúc ấy, nhà thơ thăng hoa bằng những liên
tưởng táo bạo mà vẫn dịu dàng như lời thì thầm bên tai người yêu:
"Miên man ánh mắt chập chờn
Môi mím chặt nhưng không ghì được sóng" (Anh hư thế)
Ở đây, "sóng" không chỉ là ẩn dụ cho cảm xúc dâng trào, mà
còn là đam mê, khao khát được sống và được yêu, dù đang giữa chiến hào đầy chết
chóc. Môi mím chặt, nhưng vẫn không thể kìm nén cơn sóng lòng. Câu thơ mang vẻ
đẹp của sự kềm nén và bùng vỡ, của cái lặng thầm rất lính và cái da diết rất
người.
Một trong những câu thơ đẹp nhất tập thơ về nụ hôn là:
"Cho nhận cháy nhau quá đỗi ngọt ngào
Hơi thở phập phồng nghe lòng hoang dại" (Yêu em đi)
Nhà thơ nói thay lời một vong hồn nữ liệt sĩ, nhưng lại chan chứa sự sống. Tình
yêu ở đây vượt qua ranh giới vật lý và thời gian. "Cháy nhau" –
cách diễn đạt mạnh mẽ, đầy nhục cảm nhưng không hề dung tục, ngược lại, chạm tới
sự thần thánh hóa của tình yêu và đức hy sinh.
Nhà thơ còn có những câu nhẹ nhàng hơn, nhưng chứa đựng chiều
sâu của sự chờ đợi và hồi tưởng:
"Vành môi chín mọng nguyên trinh
Anh như chết lặng
Nghe tình lên ngôi!" (Nụ xuân)
Tình yêu ở đây không ồn ào, không gào thét. Nó đến trong khoảnh khắc ngỡ ngàng,
khi vẻ đẹp chín đúng lúc khiến trái tim phải cúi đầu quy phục. Câu "Nghe
tình lên ngôi!" là sự lên ngôi của vẻ đẹp thuần khiết, của xúc cảm
chân thành không tô vẽ.
Tình yêu trong tập thơ này không chỉ là cảm xúc đôi lứa. Đó
còn là tình đồng đội, tình quê, tình đất nước:
"Chiến trường hiện về trong ánh mắt
Tổ quốc trên vai
Quê hương gửi gắm chí trai…" (Dang dở)
Hay:
"Bạn đồng môn
Biền biệt cách xa…
Má kề môi thay lời sẻ chia thầm thì thân ái" (Ấm lòng những nụ hôn
như thế)
Nụ hôn trong thơ Phạm Đình Phú không giới hạn trong một
"kiểu yêu". Đó là biểu tượng của kết nối, của niềm tin, của một thời
rất thật đã đi qua. Và mỗi nụ hôn như thế, dù là của mẹ, người yêu, đồng đội
hay chính Tổ quốc, đều ấm lòng, đều thiêng liêng.
Không quá lời khi nói rằng, nhà thơ Phạm Đình Phú đã xây nên
một tượng đài thơ bằng chất liệu "nụ hôn". Ở tuổi 80, ông không chọn
hồi ký, không chọn khẩu hiệu, mà chọn một cách tiếp cận tinh tế, đầy thi ca và
nhân văn. Trong cách viết ấy, ông không hô khẩu hiệu mà thủ thỉ; không áp đặt
mà khơi gợi; không bi lụy mà thấm đẫm yêu thương.
Ấm lòng những nụ hôn như thế không chỉ là hành trình thi
ca, mà còn là bức khắc họa bằng ngôn ngữ đậm tính nhân văn về tâm hồn người
lính, về tình yêu và sự sống giữa lằn ranh sinh tử. Ông không "phô diễn kỹ
thuật", nhưng những câu thơ ngấm vào người đọc bằng chính sự từng trải,
trung thực và tinh tế.
Một tập thơ đáng đọc. Đáng nhớ. Và đáng trân quý.
NHỮNG NỤ HÔN
Kính tặng nhà thơ Phạm Đình Phú
Cuối chiều - Tìm lại - Nụ xưa
Ngất ngây - Khao khát – Cơn mưa dại khờ
Nụ xuân - Không phải trong mơ
Dành riêng anh để - Đôi bờ - Còn không
Nụ em chiêm trũng - Ấm nồng
Lần theo đốm lửa - Sang sông - Bến đò
Hãy ngủ đi và ước mơ
Niềm thiêng - Dang dở - Tình xưa ùa về
Yêu em đi! - Ánh trăng quê
Tại anh hư thế - Lối về còn vương
Gửi cho anh - Cháy - Nụ hường
Niềm xưa - Thương nhớ yêu thương lạ kỳ
Đợi anh! Nụ gió đương thì
Cận kề chưa kịp gửi đi - Hỡi người!
Nụ hôn - Thế hệ chúng tôi
Ấm lòng như thế - một thời đạn bom
Trời cho, Ai mất ai còn
Cờ sao - Khát vọng - Các con chuyện trò
Hương tình - Kỷ niệm trong mưa
Nụ Xuân trọn vẹn Tháng Tư - nhớ người.
Chú thích: Những cụm từ in đậm là tên những bài thơ trong tập
thơ.
13/7/2025
Nguyễn Thị Thanh Long
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Vai trò của chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến
Vai trò của chúa Trịnh
với thương cảng Phố Hiến
Suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam, địa danh Phố Hiến vừa
thân thương vừa thân thuộc trong trí nhớ mọi người. Phố Hiến từng là một thương
cảng lớn sầm uất và quan trọng bậc nhất của xứ Đàng ngoài (miền Bắc Việt Nam).
Phố Hiến rất quan trọng với các thương đoàn từ khắp nơi trong
khu vực và thế giới tới giao thương với Việt Nam. Một thương cảng lừng danh
khác là Hội An, theo các nhà nghiên cứu cũng ra đời sau Phố Hiến. Trong hệ thống
các đô thị cổ Việt Nam, Phố Hiến luôn đứng ở top đầu, đối sánh và bổ sung, nâng
tầm cho Thăng Long - Kẻ Chợ. Trong các bộ sử sách của Việt Nam và về Việt Nam,
các học giả trong và ngoài nước đều đánh giá cao Phố Hiến. Có rất nhiều nhà
nghiên cứu, nhà sử học đến từ Trung Quốc, Hà Lan, Nhật Bản, Anh, Pháp, Mỹ,
Australia... viết về Phố Hiến đã tạo những dấu ấn sâu sắc mang tầm vóc quốc tế.
Giới nghiên cứu văn hoá lịch sử trong nước cũng ghi nhận nhiều tên tuổi lớn với
những công trình nghiên cứu toàn diện về Phố Hiến. Đây cũng là một niềm tự hào
lớn của người Hưng Yên. Trong bài viết này, chúng tôi bước đầu thống kê và đặt
ra một số vấn đề trong việc khẳng định trên tinh thần khoa học lịch sử về công
lao của các chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến với một giai đoạn lịch sử sôi động,
phức tạp, còn nhiều góc khuất nhưng cũng là một giai đoạn lịch sử không thể
tách rời trong tiến trình lịch sử Việt Nam.
Sách Đại Nam nhất thống chí mô tả Phố Hiến: “Nơi
đây phong vật phồn thịnh, nhà ngói như bát úp” đã cho thấy đặc trưng lớn nhất của
Phố Hiến chính là trung tâm cảng thị lớn, ra đời từ động lực phát triển kinh tế
trong nước và mang đậm chức năng của một trung tâm kinh tế lớn của đất nước. Phố
Hiến còn đảm đương vai trò thực hiện các hoạt động kinh tế đối ngoại của đất nước.
Nơi đây được đặt cơ quan công quyền, thay mặt triều đình đảm đương trách nhiệm
như một tiềm đồn, một vòng thành bảo vệ, che chắn cho kinh đô Thăng Long. Có thể
thấy rằng, vị trí, chức năng, vai trò của Phố Hiến bao trùm nhiều lĩnh vực
chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế xã hội, bởi vậy dân chúng nhiều đời
luôn truyền tụng câu ca:“Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Đã có nhiều
cuộc hội thảo khoa học về Phố Hiến. Có nhiều chương trình nghiên cứu, phân
tích, lịch đại, đồng đại, so sánh, đối chiếu, đặt vấn đề nghiên cứu Phố Hiến
trong tiến trình lịch sử bằng các phương pháp khoa học, sử học kết hợp với khả
cứu các thư tịch, tài liệu, văn bia, sắc phong... để soi tỏ trầm tích lịch sử đến
hiện đại của Phố Hiến.
Trong các đấu mốc lịch sử về Phố Hiến, vai trò của các chúa
Trịnh là rất quan trọng. Mặc dù vấn đề nội chiến, loạn lạc trong thời Lê - Trịnh
khiến triều đình luôn gặp khó khăn về quốc khố trong việc phục vụ chiến tranh,
song các chúa Trịnh luôn tỏ ra rất sáng suốt trong việc khuyến khích các thương
nhân phát triển kinh tế để đóng góp vào nền kinh tế quốc gia. Chúa Trịnh Doanh
từng nhận định: “Ngày nay tài lực của nhân dân thiếu hẳn đi, chỉ còn trông chờ
vào bọn phú thương chuyên chở lưu thông từ chỗ có đến chỗ không thì mới tạm đủ.”
Vai trò của các Chúa Trịnh đã khuyến khích toàn diện sự phát
triển của Phố Hiến nhất là với giới thương nhân. Triều đình liên tiếp khen thưởng
cho các thương nhân có công trong việc luân chuyển và mua bán các loại hàng hoá
ích nước lợi dân. Giai đoạn này, triều đình Lê - Trịnh đã bắt đầu đẩy mạnh giao
thương với phương Tây, sử dụng các mặt hàng từ các làng nghề trong nước đổi lấy
vũ khí và tiền bổ sung quốc khố. Các Chúa Trịnh rất coi trọng quan hệ với Nhật
Bản, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho thương thuyền Nhật Bản thông qua cảng thị
Phố Hiến. Trong bức thư chúa Trịnh Tráng gửi cho triều đình Nhật Bản có đoạn:
“Đại nguyên soái Tổng quốc chính Thanh Đô vương nước An Nam đã xây dựng lại đất
nước, khôi phục trung ương, xa thư quy về một mối, lân bang giao hiếu hoà hợp,
rộng ban ân trạch, tạo thành nghĩa lớn. Nay nhân vào tiết hạ, thấy các thuyền
trưởng của quý quốc Nhật Bản là Giác Tàng (Suminokura) và Mạt Cát (Sueyoshi), tổng
cộng 20 chiếc đến nước chúng tôi buôn bán. Chúng tôi muốn phát triển, không dừng
lại ở việc buôn bán nhỏ nên thăm hỏi kĩ càng. Nghe nói quốc chủ Nhật Bản vào
lúc tuổi xuân đang độ, đức tính khoan hoà, tôi muốn kết là nước anh em. Về đạo
nghĩa nhân ái thì trước tiên lấy chính nghĩa làm mối giao kết ban đầu”.
Lời văn trong thư của chúa Trịnh Tráng đã cho thấy quan điểm
của triều đình Lê - Trịnh là luôn muốn mở rộng bang giao với các nước bên
ngoài. Đây chính là điểm tiến bộ của triều đình Lê - Trịnh trong bối cảnh
đất nước nội chiến liên miên.
Vấn đề nội thương của Phố Hiến cũng hết sức phát triển trong
thời Lê - Trịnh. Các loại hàng hoá sản xuất trong nước hầu như đều có mặt ở các
bến sông, bãi chợ Phố Hiến. Với vị trí địa lý đặc biệt của mình, từ thời Trần,
bến chợ Xích Đằng đã có sự thông thương buôn bán với Đàng trong theo đường biển
vào các vùng đất Hoan Châu (xứ Nghệ ngày nay). Từ việc giao thương buôn bán ấy,
nhiều thương nhân đã đến định cư, xây dựng dịch quán, kho xưởng ở Phố Hiến.
Chính đây là cầu nối quan trọng nhất để các loại hàng hoá qua lại, giao thương
tới kinh thành Thăng Long. Hàng hoá từ các làng nghề trên cả nước được trao đổi,
buôn bán tại 2 trung tâm lớn là Phố Hiến và Thăng Long đã cho thấy tình chất đặc
biệt của Phố Hiến, nhất là vai trò cảng thị - giao thương đường thuỷ. Sách
Đại Nam nhất thống chí viết: “Xích Đằng có bốn bến đò: đò Kệ Châu, đò Quan
Xuyên, đò Nhân Dục và đò Phương Trà... giáp bờ sông Nhị còn có chợ Xích Đằng.
Sau khi Phố Hiến mở rộng về phía Đông, Đông Bắc và lỵ sở của huyện Kim Động
chuyển về Đằng Châu thì chợ Nhân Dục ở đây trở thành chợ lớn trong tỉnh”.
Vấn đề các phường hội ở Phố Hiến với những đặc trưng của nó
càng cho thấy sự liên hệ mật thiết trong giao thương và sự phân phối giữa hàng
hoá xuất khẩu và hàng hoá tiêu thụ nội địa chính là sự điều tiết cần thiết vào
mạch máu kinh tế toàn quốc. Phố Hiến đã sớm hình thành các khu phố mang tính chất
hội nhóm như: Khu phố Bắc Hoà do các thương nhân người Hoa lập nên. Khu phố Nam
Hoà do các nhóm thợ gốm, thợ mộc từ phía Nam sông Hồng xây dựng các xưởng nghề
thủ công sản xuất các mặt hàng tại chỗ cung cấp cho các khu vực thương nhân dấu
tích vẫn còn đến hôm nay. Giới khảo cổ đã tìm thấy nhiều bằng chứng về các lò gốm,
lò rèn, xưởng mộc tại khu vực quanh Văn Miếu Xích Đằng và chùa Nễ Châu.
Sự phát triển giao thương của Phố Hiến đã khuyến khích, kích
cầu các làng nghề lân cận phát triển theo. Nhiều sản phẩm thủ công nổi tiếng từ
các làng nghề đã góp vào sự phong phú, hình thành bộ mặt thương nghiệp Phố Hiến.
Đó là làng đan thuyền Nội Lễ (Tiên Lữ); làng thuốc Nghĩa Trai (Văn Lâm); làng dệt
Phong Cốc, Hương Quất, Mậu Duyệt, Triều Dương... góp phần tạo sự liên thông các
mặt hàng hoá sử dụng cho thị trường nội địa và xuất khẩu.
Quan hệ buôn bán giao thương giữa Phố Hiến và các cảng thị
trong nước sớm hình thành và ngày càng phát triển. Địa danh Phố Hiến được rất
nhiều nơi trong nước và ngoài nước biết đến. Các sách vở biên chép trong nhiều
thế kỷ đều nhận định vai trò quan trọng của Phố Hiến. Các thương nhân nước
ngoài như Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc..., thu mua hàng hoá, nhất là các mặt
hàng thủ công, gốm sứ đi bán ở khắp nơi thu lợi nhuận rất cao đã tạo sức hút lớn
và sự phát triển của các làng nghề. Với đầu óc và bản chất của mình, các thương
khách Trung Quốc đã mau chóng khai thác mọi lợi thế từ Phố Hiến. Thương nhân
các nước khác cũng mau chóng tìm các lợi thế để kinh doanh buôn bán ở Phố Hiến.
Nhiều thương điếm được thành lập như: Thương điếm Nhật (1604); thương điếm Hà
Lan (1637); thương điếm Anh (1672); thương điếm Pháp (1680)...đã càng tạo ra bộ
mặt phồn thịnh và sức hút lớn, vai trò quan trọng của Phố Hiến trong nền kinh tế
chính trị các nước.
Từ những thống kê trong suốt chiều dài khởi thủy và phát triển
của thương cảng Phố Hiến, đều thấy rất rõ vai trò của các chúa Trịnh mang tính
quyết định. Đây là một điều đặc biệt cần được nghiên cứu trên tinh thần khoa học
lịch sử, nhất là tính đến ngày nay, việc khẳng định những đóng góp toàn diện của
các chúa Trịnh trong thời đại Lê - Trịnh vẫn còn nhiều hạn chế, phiến diện, thiếu
công bằng đối với các chúa Trịnh.
Tại sao các đời chúa Trịnh đều rất quan tâm đến thương cảng
Phố Hiến? Một câu hỏi tưởng dễ trả lời song chúng ta thường đã trả lời một cách
xơ cứng, máy móc mà không đi vào chiều sâu của địa chính trị, các vấn đề về
quân sự quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước thời kỳ đó. Một câu
hỏi khác là tại sao, trong bối cảnh nhà Mạc tiếm quyền, đối đầu với vua Lê chúa
Trịnh trên nửa thế kỷ; các chúa Nguyễn rời bỏ và dần dần đối đầu với vua Lê
chúa Trịnh hàng trăm năm mà các chúa Trịnh ngoài việc phải tổ chức các hoạt động
quân sự triền miên, vẫn luôn dành tâm huyết và tài lực để ổn định, phát triển mạnh
mẽ các hoạt động của thương cảng Phố Hiến? Tại sao, triều đình Lê - Trịnh luôn ở
thế lưỡng đầu chế trong củng cố quyền lực trung ương và các địa phương, các
chúa Trịnh vẫn rất chú trọng tới giao thương với các nước lân bang, khu vực
Châu Á và Châu Âu với những chính sách linh hoạt, đặc thù đã tạo ra quốc lực
cho đất nước và cải thiện đời sống sung túc cho nhân dân? Những câu hỏi đó
chúng ta phải có trách nhiệm trả lời một cách nghiêm túc, công bằng nhất.
Khi tiếp cận bộ sách Bài sử khác cho Việt Nam của
nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường, chúng tôi đã phát hiện ra nhiều tư liệu mới,
cách nhìn mới trên tinh thần khoa học lịch sử. Từ những điểm nhìn xa hơn, khách
quan hơn, thậm chí là khác hơn, đã thực tế kéo gần hơn việc định vị, đánh giá
công trạng và hành trạng, thành tựu, thậm chí là những khiếm khuyết hạn chế của
vua Lê chúa Trịnh, từ đó có câu trả lời một cách thấu đáo hơn với những câu hỏi
trên. Đó là sự cạnh tranh quyết liệt giữa nhà Mạc ở phía Bắc, các chúa Nguyễn ở
phía Nam và vua Lê chúa Trịnh giữ vai trò trung ương ở giữa. Nhà Mạc và các
chúa Nguyễn một mặt là các đối thủ chính trị hùng mạnh một mặt vẫn luôn bị coi
là “giặc cỏ”, “ngụy triều”, “loạn đảng”… nhưng trên thực tế các thế lực này đều
xác lập danh vị riêng, thiết lập bộ máy triều chính từ trung ương đến địa
phương không khác gì vua Lê chúa Trịnh. Nhà Mạc thậm chí còn liên tiếp mở các
khoa thi với thành tựu ghi nhận có giá trị đến ngày nay. Các chúa Nguyễn tổ chức
bộ máy chính quyền mạnh mẽ, chặt chẽ, hiệu quả, tiền đề cho công cuộc mở rộng
cương vực lãnh thổ về phía Nam đã đi vào sử sách. Với thực tiễn đó, các chúa Trịnh
nếu không mau chóng nắm bắt những xu hướng lớn của thời đại, không dẫn dắt bách
tính thị tộc thực hiện những công cuộc đổi mới mạnh mẽ kể cả về sĩ, nông, công,
thương trên các vùng đất cai quản của mình và đương nhiên thương cảng Phố Hiến
là một vị trí quan trọng hàng đầu để các chúa Trịnh khẳng định quyền thế của
mình với thiên hạ.
Các chúa Trịnh khởi phát ở vùng đất Thanh Hóa. Đất Thanh Hóa,
từ xưa đến nay vẫn luôn như một quốc gia thu nhỏ. Khi phải cạnh tranh với nhà Mạc
ở phía Bắc và các chúa Nguyễn ở phía Nam, yếu tố thương cảng Phố Hiến càng đặc
biệt quan trọng, nhất là vấn đề hậu cần kỹ thuật, mua sắm vũ khí, vận chuyển
lương thảo, nhất là tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật với phương Tây đã trở
thành vấn đề then chốt trong khẳng định quyền lực của các chúa Trịnh. Phố Hiến
không chỉ có một vị trí địa lý cảng biển - đồng bằng - thành thị mà còn có yếu
tố là một biên cảng ngoại giao với các nước trong khu vực và phương Tây - một sự
khẳng định sức mạnh văn minh trước các đối thủ chính trị là nhà Mạc và các chúa
Nguyễn nên càng trở lên đặc biệt quan trọng. Bởi vậy, vai trò của các chúa Trịnh
với thương cảng Phố Hiến phải được xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, trên
tinh thần khoa học lịch sử mới có thể đưa ra không chỉ câu trả lời đúng đắn mà
còn là sự khẳng định những đóng góp lớn lao của các chúa Trịnh, triều đại Lê -
Trịnh trong tiến trình lịch sử.
Có thể khẳng định, trong suốt quá trình hình thành và phát
triển của Phố Hiến, ở nhiều giai đoạn khác nhau đều có vai trò rất quan trọng với
đời sống toàn diện của đất nước, nhất là vai trò của các chúa Trịnh trong tiến
trình đó mà những trầm tích của nó vẫn còn nhiều giá trị tới hôm nay. Từ nền tảng
ấy, với những đóng góp toàn diện của các Chúa Trịnh trong khoảng thời gian 249
năm giúp vua Lê điều hành triều chính, ổn định quốc gia, phát triển toàn diện đất
nước, chúng ta rất cần sự ghi nhận trên tình thần khoa học lịch sử, trước mắt cần
tổ chức một Hội thảo khoa học lịch sử về các danh nhân, danh thần, danh tướng họ
Trịnh có công với nước để từ đó đề xuất thực hiện đặt tên phố, tên đường, tên
trường; thực hiện các công trình tượng ngoài trời, phù điêu, tác phẩm nghệ thuật
về những đóng góp tiêu biểu, đặc sắc của các Chúa Trịnh với đất nước.
Đối với thương cảng Phố Hiến, từ những nguồn tư liệu lịch sử
đáng tin cậy, từ nguyện vọng của các nhà khoa học lịch sử, nhà nghiên cứu và sự
tri ân của nhân dân với công trạng của các Chúa Trịnh, chúng ta cần tổ chức một
số cuộc đi điền dã, tiếp cận tư liệu trong nước và ngoài nước một cách khách
quan, khoa học, toàn diện, có chiều sâu, đặt trong bối cảnh chính trị đương thời
và thời đại mới hôm nay để tiến hành cuộc Hội thảo về họ Trịnh trong tiến trình
lịch sử. Điều đó không chỉ cần thiết với đời sống học thuật mà còn là nền tảng
để chúng ta có những bước đi tiếp theo, có những đóng góp về văn hóa lịch sử từ
những con người cụ thể, những triều đại có công trong tiến trình lịch sử dân tộc.
Chúng tôi sẽ còn trở lại với những đóng góp, vị thế và sự tác
động lớn lao với lịch sử của các chúa Trịnh trong những bài viết tiếp theo.
13/7/2025
Phùng Văn Khai
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Văn chương và những ngộ nhận đáng buồn
Văn chương và những
ngộ nhận đáng buồn
Tôi đã đọc một số bài thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từ
những năm trước, nó như có tính “dự báo”, “dọn đường” cho trường ca “Lò mổ” ra
đời tạo được tiếng vang. Và thi ca với sứ mệnh thiêng liêng của nó, qua trường
ca “Lò Mổ” cũng sẽ vượt qua biên giới của lý trí để tới với bạn bè năm châu bốn
biển.
Ở bài viết nhỏ này tôi chỉ đưa ra những cảm nhận cá nhân sau
những ồn ào tranh cãi về “Lò Mổ”, trân trọng mọi ý kiến, tuyệt nhiên không nhằm
“bốc thơm” hay “châm chọc” một ai.
Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho biết, anh viết trường ca
“Lò mổ” từ năm 2016 và đến nay sau nhiều lần chỉnh sửa vẽ tranh mới hoàn thành.
Trong buổi ra mắt sách khá hoành tráng ở NXB Hội Nhà văn Việt Nam – 65 Nguyễn
Du, Hà Nội, anh cho biết lý do viết trường ca “Lò mổ” là khi cùng cha ghé qua
lò mổ ở ngoại ô Hà Đông: “Đó là lần đầu tiên trong đời tôi tiếp xúc với một
không gian u ám, tàn khốc, nơi chứng kiến cảnh giết chóc những con vật”; rồi
trong cơn ác mộng… tôi nhìn thấy những con bò xếp hàng, trò chuyện và bước tới
để nhận cái chết. Tôi nghe thấy tiếng những con bò rống vang khi bị chọc tiết,
tôi nhìn thấy máu chảy xối xả… tôi nhìn thấy linh hồn những con bò bay qua ô cửa
sổ lò mổ …”. Như vậy là cái bi thương ấy cứ ám ảnh anh và anh cầu mong sau
cái chết đó là sự nẩy mầm của sự sống.
Sau khi ra mắt sách, đã có nhiều bài viết ca ngợi và cũng có
những tiếng nói “phản biện” với một tâm thế mang dấu ấn cá nhân của một cách đọc
“chụp mũ” cùng với sự đố kỵ. Việc khen chê một tác phẩm là chuyện bình thường
trong giới học thuật xưa nay. Song, để khen cho đúng, chê cho đúng không phải
chuyện dễ. Có lẽ ta nên nhớ lời nhà hiền triết Tuân Tử (313 – 235 trước Công
nguyên), người Trung Hoa, đã dạy: “Người chê ta đúng là thầy ta, người
khen ta đúng là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”. Khen
đúng, chê đúng giúp ta được bài học để bước tiếp. Còn khen chê không đúng thì
quả là điều đáng buồn. Nó làm vàng thau lẫn lộn, đưa người ta vào “ma hồn trận”
để “ma đưa lối quỷ dẫn đường” (Nguyễn Du). Nguyên nhân của những tranh
cãi nằm ở nhiều phía, chủ quan và khách quan.
Trước hết là ở cách đọc. Ở trường ca “Lò Mổ”- một tác
phẩm có sự kết hợp giữa Thơ và Họa đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc.
Đọc lần thứ nhất chỉ là cách đọc “bì phu” (sờ vào da của tác phẩm). Ta phải đọc
lần hai, còn gọi là cách đọc “cốt nhục”, đi vào phần xương thịt của tác phẩm. Rồi
đọc lần 3, hoặc lần thứ “n” – cách đọc “hút tủy” tác phẩm thì mới từng bước thấy
hết cái “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) của hình tượng thơ mang lại. Cái buồn,
cái đau, cái ác, cái xấu bị đẩy lên tận cùng để cái đẹp, cái tốt nảy mầm vươn
ra ánh sáng, để “Sự sống lại bắt đầu từ cái chết” như nhà văn Nguyễn Khải đã
nói. Tính nhân văn được đưa lên một tầm cao mới. Nó là “tảng băng chìm” đang từ
từ nhô lên mặt biển sau giông tố.
“Lò Mổ” không phải là tác phẩm dễ đọc, nó như một món “hàng
hiệu” kén khách. Tùy vào trình độ và tâm thế mà người đọc lĩnh hội được những
gì. Lâu nay một số bạn đọc quen với với lối thơ truyền thống, có vần điệu du
dương, hình ảnh lấp lánh, dễ nhớ dễ thuộc, nên khi bắt gặp một loại thơ tự do
viết theo lối mới thì có cảm tưởng như khi ăn cơm ta nhai phải hạt sạn, điều đó
cũng dễ hiểu. Vì thế đã có nhà thơ tự xưng “dịch thơ Việt ra thơ Việt” cho dễ
nghe, dễ nhớ.
Khi tôi đọc trường ca ta này lần đầu, đọc xong tôi nhắm mắt lại
như bị “ma ám”, mộng mị khi bay lên chín tầng mây, có khi như rớt xuống địa ngục
cùng con bò và tay đồ tể. Nhưng khi tỉnh lại đọc lần hai, lần ba cho hình tượng
thơ thấm vào hồn thì lúc đó khó dứt ra và ta thấy hân hoan chào đón chú Bê con
chào đời trong ánh sáng. Phải sống, phải trải nghiệm mới hiểu hết trường ca
này, và ta sẽ thấy những liên tưởng “ngoài tác phẩm” đem tới nhiều điều thú vị.
Bởi nhà thơ vốn là một họa sĩ thuộc trường phái “hiện sinh” nên đã đem vào trường
ca nhiều “ẩn dụ liên tưởng”. Và nếu ai ít vốn sống về các lĩnh vực hội họa, mỹ
thuật, âm nhạc…thì khó thẩm thấu hết thông điệp mà nhà thơ gửi vào tác phẩm qua
các hình tượng nghệ thuật đa chiều, đa nghĩa, nhiều khi rất siêu thực.
Sự kết hợp giữa Thơ và Họa trong “Lò Mổ” là một sự tìm tòi mới
lạ về hình thức, nó khác với loại “truyện tranh thiếu nhi”. “Lò Mổ” chuyển tải
một nội dung về thân phận con người và cuộc sống với tất cả sự ái, ố, hỉ, nộ và
bi thương như cuộc đời vốn có. Vì vậy có thể một số người hôm nay cho “Lò Mổ”
có nhiều hạt sạn thì biết đâu sau một thời gian được bạn đọc thẩm định, rồi “mặc
định” thì bạn sẽ điều chỉnh lại cách đọc, cách cảm để thấy những mặt thành
công, sự cách tân thể loại cùng những hạn chế của trường ca này. Nhưng dù sao
đi nữa thì khi chúng ta đọc và cảm cũng nên “Lấy hồn ta để hiểu hồn người” như
nhà Phê bình văn học Hoài Thanh đã nói. Song, thời đại đã mở của với trí tuệ
nhân tạo AI, với ChatGPT thì không những thơ ca mà nhiều loại hình nghệ thuật
còn đổi mới và tiến xa hơn nữa. Cái vỏ của thơ ca cũng phải nới rộng biên độ để
có thể chứa đựng những nội dung mới, khái niệm mới.
Với “Lò Mổ” là sự kết hợp rất hài hòa giữa Thơ và Họa, giữa nội
dung và nghệ thuật qua 18 chương của trường ca được tóm lược qua 18 bức tranh
mang tên “Nguyện cầu”, phản ánh khá rõ chủ đề của từng chương, và khi xâu chuỗi
lại nó là một tổng thể khá hoàn chỉnh của một câu chuyện được diễn tả bằng “thơ
tự do” bằng bút pháp thơ “hậu hiện đại”, mang hơi thở “phân tâm học” của Freud,
điều mà ta không dễ gì đọc lướt để hiểu hết thông điệp của tác giả. Đọc, liên
tưởng, phản biện… các tầng nghĩa chìm sẽ từ từ hiện lên, và ta “đồng sáng tạo”
cùng tác giả. Loại thơ này rất kén người đọc.
Vì vậy sau khi “Lò Mổ” ra mắt, đã có nhiều bài viết trên các
báo, Tạp chí, facebook cá nhân của một số tác giả đã có nhiều “phản biện”,
tranh cãi, tạo nên một không khí thẩm định tác phẩm đa sắc màu. Nếu tác phẩm cứ
đèm đẹp nằm yên trong ao làng thì có ích chi. Chính nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
đã có những lời tự bạch, tâm sự với bạn đọc về sự ra đời của tác phẩm và ý định
của nhà thơ về một xu hướng sáng tác đa văn bản, nhiều liên tưởng của sự kết hợp
giữa Thơ và Họa.
Những ngày qua, có người hỏi tôi về các ý kiến tranh luận
quanh trường ca “Lò Mổ”. Tôi thấy vui buồn lẫn lộn. Nhưng trên hết, tôi nhận ra
rằng: Vẫn còn nhiều người dành sự quan tâm nghiêm túc với văn chương. Đó là điều
đáng mừng. Song, trong những tranh luận đó, cũng có những ngộ nhận, đáng tiếc
thay lại đến từ những người cầm bút.
Sự ngộ nhận về chính trị.
Một số người cho rằng trường ca “Lò Mổ” có hơi hướng của
“cách mạng màu” hay mang tư tưởng “diễn biến hòa bình”. Theo tôi, nhận định như
vậy là quá vội vã, thậm chí là áp đặt. Tôi không viết chính trị, tôi viết văn học.
Và như thế hệ của tôi đã trải qua, ai trong chúng tôi cũng biết đâu là ranh giới
để tự gìn giữ mình mà vẫn không đánh mất ngòi bút trung thực.
Không nên gán ghép những suy diễn chính trị vào một tác phẩm
văn học phản ánh hiện thực. Văn học, suy cho cùng, là tiếng nói của con người
trước cái Thiện, cái Ác, là nơi người viết đối thoại với thời đại, chứ không phải
một công cụ tuyên truyền hay đả kích phiến diện. Chừng nào còn đòi hỏi văn học
phải thuần phục một màu duy ý chí, chừng đó văn chương còn nghèo đi và xã hội
càng thiếu đi một “tấm gương phản tư”
Và câu chuyện đố kỵ.
Đây mới thật sự là điều khiến tôi trăn trở. Không ít người
trong giới cầm bút vẫn còn mang tâm lý “văn mình, vợ người”, luôn muốn mình nổi
trội hơn người khác. Hôm qua còn là bạn, hôm nay thấy người kia đoạt giải hay
được độc giả mến mộ, liền sinh lòng ganh ghét, xa lánh, nói xấu, thậm chí vùi dập
nhau bằng lời mỉa mai. Tôi không trách, nhưng tôi tiếc.
Bởi một người viết thật sự, thì trái tim phải rộng hơn những
toan tính thiệt hơn ấy. Văn chương không nuôi được ai, nhưng nó nuôi lớn nhân
cách của người cầm bút. Năm 2010, tôi đã có hai bài thơ trào phúng đăng trên
website Hội Nhà văn Việt Nam: “Kẻ đố kỵ” và “Kẻ hãnh tiến”. Xin trích một đoạn
trong bài “Kẻ đố kỵ” – như một tấm gương phản chiếu:
“Kẻ đố kỵ thời nay đầy rẫy/Ghen ghét người, vạch lá tìm
sâu/Cho mình giỏi còn người đời dốt hết/Nhìn bạn bè bằng nửa con ngươi/Kẻ đố kỵ
hay khoe khoang ầm ĩ/Luôn thổi phồng thành tích cá nhân/Và với ai cũng bới lông
tìm vết/Ném đá giấu tay hại cả bạn mình/Kẻ đố kỵ hay ngồi lê mách lẻo/Buôn “dưa
lê” đủ chuyện trên đời/Thấy ai hơn mình liền hằn học/Cố phịa ra điều xấu hại
người/Kẻ đố kỵ lắm mưu gian kế hiểm/Khi giấu đầu, khi lại hở đuôi/Người khác khổ
đau, hắn cười khoái trá/Chẳng biết mình cũng chỉ một loài tôm”*
(*“Loài tôm cứt lộn lên đầu” – thành ngữ dân gian)
Thói đố kỵ rất dễ dẫn đến sự dối trá. Và điều ấy, sớm hay muộn,
sẽ quay lại làm hại chính ta. Nhà văn Edmondo De Amicis – nhà thơ, nhà báo người
Ý, từng viết: “Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trong tim. Đó là một con rắn độc.
Nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim bạn.”
Nhà văn, nhà viết kịch người Nga Yuri Olesha (1899–1960) có một
tiểu thuyết để đời mang tên “Đố Kỵ” (Envy, 1927). Đó là một tác phẩm đậm chất
thơ nhưng chua xót, thể hiện đúng bi kịch của sự ganh ghét trong xã hội hiện đại.
Nhà phê bình Joseph Epstein thì nhận xét: “Trong bảy mối tội đầu của con người,
chỉ có đố kỵ là không đem lại bất kỳ sự thỏa mãn hay vui thú nào.”. Chữ envy bắt
nguồn từ tiếng Latin invidia – nghĩa là “mất thị giác”. Trong “Thần khúc” của
Dante (1265–1321), hình phạt dành cho kẻ đố kỵ là bị khâu mí mắt bằng dây chì,
như một biểu tượng cho sự mù lòa và tầm nhìn hạn hẹp của tâm hồn.
Văn chương cần sự đổi mới nhưng không thể tách rời chân thật.
Nội dung và hình thức trong văn chương là hai mặt của một đồng
xu. Nhà phê bình văn học người Nga Nicolaieva từng viết: “Không có hình thức
nào không chứa đựng nội dung, và không có nội dung nào tồn tại ngoài hình thức.
Phá bỏ hình thức là phá bỏ nội dung, và ngược lại.”
Trường ca “Lò Mổ”, nếu có gì đáng nói, thì chính là nằm trong
chuỗi 18 bức tranh mang tên “Nguyện cầu”, nơi ngôn từ đã được dồn nén đến tận
cùng. Nhà văn Xsedrin từng nói một câu bất hủ: “Văn học nằm ngoài những định luật
của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết.”
Đã một thời có những tác phẩm từng bị cấm như Thơ Mới hay các
tác phẩm của nhóm “Nhân văn giai phẩm”, rồi cuối cùng vẫn được “giải thiêng”,
được nhìn nhận lại dưới ánh sáng đổi mới. Văn chương chân chính không sợ bị vùi
lấp. Bởi người viết có thể chịu thiệt, nhưng cái đẹp, cái thật thì không thể chết.
Hãy để thời gian và bạn đọc làm trọng tài. Sau những ồn ào,
sau những tranh cãi, xin hãy để trường ca “Lò Mổ” tự bước đi bằng giá trị văn
chương của nó. Cứ để tháng năm lắng lại, ta sẽ biết đâu là quặng, đâu là ngọc,
đâu là vàng, đâu là thau. Và rồi những tranh cãi cuối cùng cũng theo ta về La
Mã, chỉ còn tình người, tình bạn đọng lại, như khi ta vui mừng chào đón một chú
Bê con kháu khỉnh chào đời.
Tôi tin rằng trường ca “Lò Mổ” sẽ còn để lại dư ba. Và có thể,
từ những tranh luận này, chúng ta sẽ khơi lại được một không khí học thuật từng
im vắng quá lâu.
13/7/2025
Lê Xuân
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Nụ hôn - Biểu tượng của ký ức và lòng nhân hậu
Nụ hôn - Biểu tượng của
ký ức và lòng nhân hậu
Ấm lòng những nụ hôn như thế – tập thơ mới của Đại tá,
Thầy thuốc ưu tú, nhà thơ Phạm Đình Phú –
không chỉ là một cuốn sách về tình yêu – tình người, mà là một khúc tưởng niệm
giàu nhân văn. Qua lăng kính thẩm bình thơ của hai nữ nhà thơ Minh Hạnh và Nguyễn
Thị Phương Nam, người đọc có thể cảm nhận được những “nụ hôn” mang hình dáng đất
nước: có hương cau tuổi học trò, có khói bom chiến địa, có nước mắt tìm nhau
sau hòa bình... Và trên hết, có một trái tim người thi sĩ luôn thổn thức trước
những gì đẹp nhất và đau nhất của con người. Nhân dịp CLB Thơ Phương Nam chuẩn
bị ra mắt tập thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế, Văn chương TP. Hồ Chí
Minh xin trân trọng giới thiệu hai bài viết này.
“Ấm lòng những nụ hôn như thế” –
Khi nụ hôn trở thành ngôn ngữ của nhân văn
Khi nói đến “nụ hôn” trong thi ca, người ta thường nghĩ đến
những rung động lứa đôi, những khoảnh khắc nồng cháy của tình yêu. Nhưng trong
tập thơ “ẤM LÒNG NHỮNG NỤ HÔN NHƯ THẾ”, nhà thơ Phạm Đình Phú đã làm một điều đặc
biệt hơn thế: ông nâng nụ hôn lên thành biểu tượng của tình người.
Từ nụ hôn tiễn biệt của người mẹ, đến nụ hôn lặng thầm của nữ
cứu thương trên chiến trường; từ nụ hôn thơ trẻ đầu đời của những cô gái đồng
chiêm trũng, đến nụ hôn trong giấc mơ người lính đã khuất... Tất cả hiện lên
như những nhịp tim chưa bao giờ ngủ yên, như thanh âm dịu dàng của ký ức trong
một thời đạn bom:
"Nụ hôn cô y tá tặng người chiến sĩ trước phút lâm chung
Không cần giấy phép nhưng ấm lòng mãi mãi."
(Trích “Ấm lòng những nụ hôn như thế”)
Tác giả đã chọn “nụ hôn” làm chủ đề xuyên suốt cả một tập
thơ. Với trải nghiệm từng đứng nơi ranh giới sinh tử, việc ông chọn nụ hôn hẳn
đã là một sự chọn lựa kỹ lưỡng và đầy dụng tâm.
Nhà thơ Phạm Đình Phú không đi theo lối gợi cảm thông thường
mà ông chưng cất từng nụ hôn thành giọt nhân văn tinh túy, để mỗi bài thơ không
chỉ là lời thì thầm yêu đương, mà là tiếng gọi từ quá khứ, là cái nhìn sâu sắc
về chiến tranh, cùng niềm tin âm ỉ của những thế hệ đã đi qua bom đạn nhưng vẫn
giữ được nét dịu dàng trong tâm hồn.
Trong bài “Yêu em đi”, ông để một vong hồn nữ liệt sĩ thì thầm:
"Tĩnh lặng Nghĩa trang Đài
Yêu… em… đi!
Thì thầm thanh tịnh ánh ban mai…"
(Trích “Yêu em đi”)
Không ai đọc mà không rưng rưng.
Ngôn ngữ của ông giản dị, gần gũi, nhưng ẩn chứa tầng sâu cảm
xúc từng trải, đúng như cốt cách của người lính nói ít làm nhiều. Ông không lạm
dụng mỹ từ mà chọn lối thơ hồi tưởng, thơ thủ thỉ như một cuộc trò chuyện từ
trái tim đến trái tim.
Và vì thế những câu thơ như:
"Đôi dép râu thương nhớ, nằm mồ côi
Khi đối diện trước em anh hư thế"
(Trích “Anh hư thế”)
Hay:
"Nụ hôn mặn chát mồ hôi
Hương đồng gió bể dành cho anh"
(Trích “Nụ em đồng chiêm trũng”)
Điều làm nên sự khác biệt sâu sắc của “Ấm lòng những nụ hôn
như thế” nằm ở chỗ đây là thơ ký ức, được viết bởi một người lính, một bác sĩ
đã từng đi qua chiến tranh. Nụ hôn trong thơ ông vừa là lời chào, lời tiễn, lời
xin lỗi, lời hẹn và cả lời vĩnh biệt. Có lẽ vì thế mà ông viết về nụ hôn với một
trái tim thổn thức, vì một điều gì đó sâu xa hơn cả tình yêu đôi lứa: đó chính
là tình người.
“Ấm lòng những nụ hôn như thế” không chỉ là một tập thơ viết
về nụ hôn. Đó là một nụ hôn thi ca được đặt trong suy tư, trăn trở của một thời,
như một cách tri ân, một lời tiễn biệt và cũng là một niềm hy vọng.
Trong nhịp sống hối hả hôm nay, khi ngôn từ dễ rơi vào sáo
mòn, tập thơ này như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng: Có những nụ hôn không chỉ dành
cho đôi lứa mà dành cho cả một dân tộc, như một cái ôm chạm sâu vào ký ức.
Đọc thơ ông tôi không chỉ thấy lòng mình được “ấm” mà còn thấy
lòng mình được thức tỉnh. Bởi tình yêu lớn nhất đôi khi chỉ cần một nụ hôn ấy
làm đau đáu biết bao thế hệ. Nụ hôn ấy ấm mãi khát khao cháy bỏng được sống được
yêu. Nụ hôn ấy là niềm tin cho ngày mai tươi sáng. Nụ hôn làm ấm lòng, trăn trở
những người đang sống và nhất là những người cầm bút như chúng tôi.
Đôi điều cảm nhận khi đến với
tập thơ “Ấm lòng những nụ hôn như thế”
“Những nụ hôn” ấm nồng tình cảm
Từ thuở lọt lòng cha mẹ trao anh
Ông bà nâng niu đứa cháu hiền lành
Đi, đi mãi không quên thời thơ dại.
“Những nụ hôn” tuổi trăng tròn hò hẹn
“Mười tám” đôi mươi tim rạo rực dạt dào
Gửi cho em, nào “hương bưởi, hương cau”
“Những nụ hôn” cháy nồng như nắng hạ.
“Những nụ hôn” sau mùa thi cuối khóa
Bên nữ bên nam chan chứa tình thương
Tạm biệt nhau, “nụ hồng xua” nỗi nhớ
Để ngày mai ta xa cách bốn phương.
Tổ quốc lâm nguy sẵn sàng ra trận
“Chiến đấu hết mình dưới cờ sao!”
Có “nụ hôn ngào ngạt em trao”
Đến anh chiến sĩ đi vào thiên thu.
Bao năm kháng chiến không ngừng nghỉ
Có những nụ hôn vội vã chiến hào.
Bao đồng đội hy sinh vì nghĩa lớn
Thương tuổi trẻ hẹn hò mà chưa kịp hôn nhau.
Ơi em nữ cứu thương với “nụ hôn đầu”
Ôi yêu thương người con gái trẻ
Mảnh bom thù xé nát trái tim em
Thôi “em ở lại với rừng xanh” em nhé!
Hòa bình rồi sao anh không trở lại
Em đi tìm “hơn bốn lăm năm” qua
“Hòa vào đất nụ hôn đầu tươi rói”
Em đưa anh về, gần mẹ, gần cha.
“Ấm lòng những nụ hôn như thế”
Những nụ hôn ngọt ngào
chứa đựng tính nhân văn.
Chú thích: Những cụm từ trong ngoặc kép là tên một số bài thơ trong
tập “Ấm lòng những nụ hôn như thế”.
Xin cảm ơn tác giả, nhà thơ Phạm Đình Phú với tác phẩm mới “Ấm
lòng những nụ hôn như thế”.
10/7/2025
Nguyễn Thị Phương Nam
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Khát cháy của Nguyễn Đức Hạnh: Thơ như lửa và nước mắt
Khát cháy của Nguyễn Đức Hạnh:
Thơ như lửa và nước mắt
PGS. TS Nguyễn Đức Hạnh, nguyên Giám đốc NXB Đại học Thái
Nguyên, là người tài hoa. Anh vừa là nhà Lý luận - phê bình sắc sảo, vừa là nhà
văn, nhà thơ viết nhanh, viết khỏe và rất có cá tính. Chỉ tính riêng về mảng
thơ, “Khát cháy” đã là tập thơ thứ năm của anh. Trước đó là các tập "Núi
khát" (2000), "Vết thời gian" (2014), "Khoảng lặng"
(2016) và "Thầm" (2020).
"Khát cháy" (NXB Văn học, 2025) gồm 95 bài là thành
quả của 5 năm sáng tác. Tập thơ in dưới dạng song ngữ Việt – Anh với phần tiếng
Anh do nhà thơ – dịch giả Võ Thị Như Mai thực hiện. Tập thơ như một bản giao hưởng
về những khát vọng nhân sinh, nơi cái đẹp được khai sinh từ chính vết nứt của đời
sống. Ở đó, người đọc tìm thấy không chỉ nỗi đau thời đại mà còn cả ánh sáng của
lòng trắc ẩn.
"Khát cháy" của Nguyễn Đức Hạnh không đơn thuần là
một tập thơ - đó là lời thú tội của một tâm hồn dám sống đến tận cùng những mâu
thuẫn: giữa nỗi đau và vẻ đẹp, giữa phản kháng và chấp nhận, giữa tro tàn và lửa
ấm. Như chính hình ảnh "ống cơm lam nướng vụng" mang đầy tính biểu tượng,
thơ ông cháy đen trong thực tại nhưng vẫn dẻo thơm tựa hạt gạo nếp quê hương.
Có thể nhận thấy, Nguyễn Đức Hạnh đã góp vào thi đàn Việt Nam
một giọng điệu riêng - giọng của kẻ "ngậm mưa" giữa bão giông, của
người nhóm lửa từ chính đống tro tàn ký ức. "Khát cháy" xứng đáng là
tập thơ cần được đọc chậm, để mỗi câu chữ thấm qua vết nứt tâm hồn, như cách nước
mắt mẹ thấm vào rơm rạ mùa đông năm nào...
Trong dòng chảy thơ ca đương đại đang ngày càng nghiêng về
phô diễn kỹ thuật, sự chân thành đến tàn khốc của Nguyễn Đức Hạnh là lời nhắc
quý giá: Thi ca chỉ thực sự tồn tại khi nó cất lên từ máu và nước mắt của một đời
người.
Và để cảm nhận rõ hơn điều đó, mời bạn đọc hãy cùng đến với
chùm thơ dưới đây – những mảnh ghép đa chiều về thân phận con người trong dòng
chảy khắc nghiệt của đời sống. Từ nỗi đau thấm đẫm tình mẫu tử (Mẹ ơi con nhóm
lửa rồi), đến những suy tư về thân phận nghệ sĩ (Nghĩ về thơ trong ngày mưa nhiều),
mỗi bài thơ như một vết cắt sâu vào hiện thực, nhưng vẫn ẩn chứa ánh sáng của
niềm tin.
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Đức Hạnh vừa gai góc ("Ống cơm lam
nướng vụng / Cháy đen rồi còn cố bùi thơm"), vừa dịu dàng ("Khu vườn
nhỏ có cây khế nhỏ / Quả chín rơi ngọt cả tay cầm"). Tác giả phơi bày sự
thô ráp của số phận ("Lưới số phận đã quăng / Nhảy múa kiêu hãnh gì cũng
là kiếp cá"), nhưng đồng thời cũng nhen nhóm yêu thương ("Anh là củi
còn em là lửa/ Đêm đêm che gió nhóm yêu thương").
Đọc thơ Nguyễn Đức Hạnh, ta bắt gặp một tâm hồn vừa bầm dập vừa
kiên cường, một trái tim biết đau nhưng không ngừng khát khao hướng về sự trong
trẻo nguyên sơ. Như chính nhan đề tập thơ - "Khát cháy" -
đó là tiếng lòng của một thi sĩ dám sống đến tận cùng, dám viết bằng máu và nước
mắt.
N.H chọn thơ và giới thiệu.
MẸ ƠI CON NHÓM LỬA RỒI
Thiếu phụ mùa đông vẩy triệu giọt lạnh lùng
Thất tình nên nghiệt ngã?
Sông co ro. Người xuýt xoa. Lửa hồng thương kêu lép bép
Phố đêm nghiêng thõng tiếng đàn bầu
Ao chuôm thở làn khói ấm
Cá lỡ hẹn hò nên lặn rất sâu
Trong ổ rơm nhìn trăng gầy quá
Giống quả ổi cuối cùng trên cây mùa đông
Cột tre kêu làm nứt đêm dài
Lá chuối khô giống bàn tay cha chai, ấm
Nhà dột mang hết xoong nồi ra hứng
Mẹ hứng bằng đôi mắt trũng sâu
Mưa đong đầy rồi tràn ra ngoài mắt mẹ
Ướt sũng con đang ngắm ngọn đèn dầu
Giờ nhà không dột nữa
Đêm đêm mẹ vẫn ngồi cắn chắt ngày xưa ...
Bóng những giọt mùa đông vẫn chảy vào mắt mẹ lúc lành lúc vỡ
Nóng như hạt muối đang thở, muối ướp tiếng thở dài
Mẹ lần tràng hạt
Những mùa đông tròn xoe trên tay mẹ
Mẹ ơi! Con nhóm lửa rồi
Sưởi cho bao mùa đông lăn thành giọt lệ
Lăn đi đâu cũng mặn vào lòng,
Càng mặn càng trong.
TÔI LÀ ỐNG CƠM LAM NƯỚNG VỤNG
Tôi là ống cơm lam nướng vụng
Cháy đen rồi còn cố bùi thơm
Vỏ ống tre quê hương
Xanh lặng lẽ bụi cây ai biết
Tình yêu tụ thành gạo nếp
Mắt mẩy thơm thức ngó đêm dài
Nước là lệ của mẹ, mồ hôi của cha
Lửa số phận đốt đau không khóc
Ống cơm lam vỡ trôi qua vực chiến tranh
Dập trong mùa giáp ranh
Hoàng hôn đánh ban mai oà khóc
Niềm vui méo, nỗi buồn tròn - hai chiếc bát
Đựng nỗi niềm tôi mời mẹ, mời em
Đũa gian lao gắp tôi đến nát
Em là muối ớt
Tôi chấm tôi vào cùng trăm năm
Ngon cũng khóc mà đắng cay cũng khóc
Ống cơm lam xấu đen còn mơ ước
Tặng dẻo thơm chẳng ai thấy trong lòng
Buồn thì ra bến
Thả mình trôi khỏa đục tìm trong.
NGHĨ VỀ THƠ TRONG NGÀY MƯA NHIỀU
Hồ trong vì người không xả rác vào?
Hồ vẫn trong khi đầy rác?
Trong hay đục do mình ...
Trong rừng khiếu, sáo, vẹt véo von
Thiên hạ vỗ tay la hét
Hồ mùa thu hát bằng ánh trăng vỡ nát
Chỉ một hòn sỏi nghe rồi khóc
Cái đẹp đau thường nói một mình
Trong bao người hát múa
Ai cùng tôi ngậm mưa?
Phim doanh thu vài trăm tỉ chắc gì hay?
Cuốn sách ế không bán được chắc gì dở?
Bài vè có ngàn người vỗ tay
Lá cỏ của Uýt Man có mười người đọc, hai người xé ...
Tự ngắm rồi thương mình từng múa may theo tiếng kèn hư danh
Tâm biển khơi hóa ao tù thì tài mặt trời thành đom đóm...
Dắt hai câu thơ hay-dở về nhà
Thơ dở hóa cáo. Thơ hay hóa gà...
NÓI VỚI EM KHI TÓC BẠC
(Tặng Yến Nga)
Chặt vui buồn dựng hàng rào xanh
Buông bỏ nở hoa lặng lẽ
Khu vườn nhỏ có cây khế nhỏ
Quả chín rơi ngọt cả tay cầm
Căn nhà bé dựng cuối xa xăm
Mưa cứ ghé rồi ôm trong vắt
Lấy gió đan tấm lưới xanh ngát
Bao hương thơm của hoa dại lạc đường
Anh là củi còn em là lửa
Đêm đêm che gió nhóm yêu thương
Có than hồng bùng trong vất vả
Khoai nướng cứ thơm. Kệ được, mất vô thường
Khu vườn lạc vào tác phẩm
Nhân vật biết cười biết khóc thật khó khăn
Hạnh phúc như bài ca đợi tận đáy biển
Hái bó hoa hồng chợt rỏ máu tay cầm
Khu vườn ru căn nhà ngủ
Bao loài cây vẫn thức đợi chờ
Những quả chín như mặt trời xấu hổ
Sưởi môi nhau ngọt đến sững sờ.
NGẮM BẦY CÁ MÀ NGHĨ ....
Con cá dưới sông nhìn theo sóng
Con cá trên đĩa nhìn theo đũa
Chúng mình - hai con cá
Áp vui buồn đánh dấu môi nhau
Trên sông
Mặt trời đàn ông đa tình
Sáng vuốt ve trưa thiêu đốt
Mặt trăng đàn bà cố nén đam mê
Làm sao mà không khuyết?
Thi sĩ là con cá dị biệt biết hát
Làm sao không cô đơn?
Mắt không chớp suốt trăm năm
Cát đâm vào nên hay khóc
Lưới số phận đã quăng
Nhảy múa kiêu hãnh gì cũng là kiếp cá
Hát đồng ca vui quá ...
Này sông này lưới này dao
Bơi tung tăng mãi rồi vào nơi đâu?.
15/7/2025
Nguyên Hùng
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Xuân Trường mưa mai trong nắng chiều
Xuân Trường mưa
mai trong nắng chiều
(Đọc tập thơ “Hai vệt nắng chiều”, NXB Hội Nhà văn)
Cầm trên tay tập thơ mới của nhà thơ Xuân Trường “Hai vệt
nắng chiều” (NXB Hội Nhà văn), tôi cứ bần thần về câu ca dao non cao biển
rộng: “Ra đi thì sự đã liều/ Mưa mai chẳng quản, nắng chiều cũng cam”. Câu
ca ấy, thiên lý lắm, diệu vợi lắm, và nó đặc biệt hun hút ở khúc ruột miền
Trung, nơi hơn bảy thế kỷ trước là dặm ngàn Ô Lý trong bước vu quy của Huyền
Trân công chúa, và sau đó là những thế kỷ khốc liệt, trong mỗi hạt lúa củ
khoai, ngoài trầm tích của nắng lửa mưa dầu là bóng dáng những cung kiếm binh đao.
Sự khốc liệt ấy như định mệnh của một vùng đất, ít nhiều len lỏi trong mỗi số
phận con người, ở Xuân Trường càng rõ nét hơn, trong sự mẫn cảm của đời sống
ngang dọc, và bao quát hơn, trong bi hùng của thế hệ anh. Quê hương Xuân Trường
ở bên sông Vu Gia và ngoài ra, anh có những dấu chân tuổi thơ, tuổi trẻ duyên hải
cao nguyên lang bạt kỳ hồ. Đọc câu thơ tưởng chừng giản dị: “Cám ơn mỳ Quảng
hương vị còn ấm đến cuối tô”, tôi nửa đùa nửa thật với anh, cái sợi mì Quảng
trong văn hóa lịch sử trung đại, nó vấn vít mênh mang lắm, thuở vua Lê mở cõi,
địa danh “Quảng Nam thừa tuyên” kéo dài từ Hải Vân đến cả Nam Cù Mông và còn
ngược lên Tây An Khê. Cái sự thơm ngon ấm áp mà anh diễn tả, nó vừa hiện thực với
nhà thơ trong cơn mưa chiều cụ thể, nó vừa chứa đựng những trầm tích đất đai
sông núi, triều đại, thời cuộc, nó vừa ăm ắp kỷ niệm “tôi đã ăn vụng tuổi
thơ mình mà mùi thơm còn trong da thịt hôm nay!”. Đi dọc hành trình thơ
Xuân Trường, ta bắt gặp rất nhiều vùng đất, chênh chao tao loạn, sum vầy tụ họp,
nhưng những trong trẻo của ban mai, của tuổi thơ như ẩn nấp đâu đó lại hiện về “chấp
nhận những niềm vui/ mà trời đất cho ta trong chặng cuối”. Tuổi thơ từ “Chợt
con cá niên quẫy đuôi vào thơ”, đến “Nơi dế trĩu cành dâu khi nước lụt xâm
xấp/ tháng mười trắng đồng Mỹ Hảo”, đến sự lầm tưởng nghi ngờ của cô bạn học
qua hòn đá vu vơ ném trúng vai: “Oan và đau đã làm thành nỗi nhớ em!”. Khi
cô bạn quay lại, tưởng anh là thủ phạm vì nụ cười của anh, do đó nụ cười từ nỗi
oan đã biến thành niềm thơ day dứt. Nhà thơ vẫn giữ nụ cười ấy, tươi tắn đến nhức
nhối, trong trẻo đến dại khờ, không thể mờ phai dù thời gian kéo dài từ tóc
xanh đến tóc bạc, và nó thật dễ thương như cội rễ của ký ức, bản lai diện mục của
thơ vậy! Trong dâu bể của cuộc đời, khi “nhan sắc sang sông”, có dịp gặp lại
người cũ, anh may mắn được nàng “phúc thẩm” vụ án oan tuổi thơ, tình yêu đầu đời,
bằng mấy từ “thật thà như rứa” rất nôm na nhưng quá chừng thần thánh!
Nhà thơ dù sao cũng may mắn “trắng án” nhưng bánh xe cuộc đời đã quay bằng những
quy luật riêng của nó, để lại chàng bên đường câu thơ tuyệt diệu: “Mà đổi
thay có thay đổi bao giờ!”.
Bên cạnh xứ Quảng quê hương với những mặn ngọt chua cay đắp bồi
trong trí tưởng, trong tình cảm, bước chân cuộc đời Xuân Trường xê dịch nhiều
nơi, trong đó có những miền đất đáng nhớ như Quy Nhơn: “Nón vẫn trắng sân trường
mưa con gái”; Tây Nguyên: “Gió ngang mùa khẽ gọi/ Thuở hồng hoang quay về/
Tiếng đại ngàn thổn thức/ Ôi nhạc chiều đê mê”… Như những đa tình nhà thơ,
yêu hoa và yêu phụ nữ, trên rừng anh thổn thức với dã quỳ: “Em đã vàng sang ta
bao nỗi nhớ không tên” , xuống biển anh hào hiệp với đỉnh Kê Gà: “Bồng bềnh
em, bồng bềnh tôi/ Nước mây hai đứa một đôi bồng bềnh/ Cánh buồm trở gió chênh
vênh/ Chờ em tôi cứ dần quên tuổi mình!”. Nếu nụ cười trong tuổi thơ-tình
đầu của Xuân Trường là nụ cười được kết án“thật thà như rứa” thì nụ cười xế chiều
của anh, có kín đáo hơn xíu “Chờ em tôi cũng dần quên tuổi mình” thế nào cũng
không ngoài nhận định “thật thà như rứa!”. Tôi nhớ Raxun Gamzatop đã viết
trong Daghextan của tôi, dẫn lời minh triết: “Người đàn ông chỉ
có thể quì trong hai trường hợp: để uống nước nguồn và để hái hoa”. Đặt
câu này trong bối cảnh tâm hồn thơ mây trời gió nước của Xuân Trường, rẽ Đông
ghé Tây, đi Bắc về Nam, qua Hạ Lào sang Phnông Pênh v.v… đều bắt gặp những khúc
xạ lấp lánh, nơi thẳm sâu của người đàn ông biết bao nhiêu vực thẳm đèo cao,
truông dài phá rộng, giông sớm bão chiều... Gọi tên thi sĩ Xuân Trường, tôi cảm
nhận, với con người ấy, giờ đã ở độ “thất thập nhi tùng tâm sở dục, bất du
củ”, chặng đường dài trong đời sống, tình bạn, tình thơ, rất đáng mến trọng.
Cho nên trong thơ anh, bản ngã tâm hồn hiển lộ tung hoành trong khúc chiết, nồng
nhiệt trong chân thành, bộc trực trong mặc trầm.
Trước “Hai vệt nắng chiều”, Xuân Trường đã cho xuất
bản nhiều tập thơ “Chùm thương nhớ” (1999); Tìm xưa (2000); “Không gian em
(2005); Nắng trầm tư (2008); “Chiếc cằm nũng đôi” (2013). Những năm gần
đây, anh đoạt nhiều giải thưởng: Giải Nhì viết về ngành cao su; Giải Nhì Thơ
Haiku; Giải Tư cuộc thi thơ Nhà văn & Tác phẩm. Bên cạnh thế mạnh là những
bài thơ dài, anh lắng lại trong khuôn khổ nghiêm nhặt của haiku, vẫn tạo được đầy
nội lực “Mây bay đỉnh núi/ Bìm bịp kêu chiều/ Tiếng mẹ quê xa” (Thơ
haiku 1); “Núi ngậm mặt trời/ Nhả ra hoàng hôn/ Vòng quay luân hồi” (Thơ
haiku 2). Hơn 60 bài thơ trong “Hai vệt nắng chiều”, Xuân Trường chia
thành ba phần: Dấu chân ngày cũ, Miền xưa thương nhớ và Ngang
chiều mây trắng. Nhưng đọc thơ anh, tôi vượt qua kết cấu chỉn chu mực thước ấy,
để chú ý hơn vào hai bài thơ giữa tập: Yêu và Chiều xuân uống rượu một mình.
Anh đã nói rất thật (và cũng rất ảo diệu): “Thôi chúng mình hãy vượt qua
ngôn ngữ để yêu nhau/ biểu hiện thấu cảm bằng những gì rất thực/ bằng mắt môi-
bằng va chạm châu thân/ bằng chết điếng vào nhau/ những miếng cắn thiên thần/ bằng
mất hút xác ve sau ân ái/ bằng bập bùng tâm thức đến muôn sau/ một hành trình
như vậy ta yêu nhau”. Con người bộc trực đến bạo liệt ấy, cũng là con người
mặc trầm đến tĩnh tại: “Rót chiều đầy một ly xuân/ Nâng lên-tôi lại-ngập
ngừng-mời tôi/Ngụm buồn-dâu bể đắng môi/ Ngụm vui- nắng giấu bên trời trốn mây/
Trở mình mùa hẹn gì đây/ Mà nghe gió cứ thổi ngày qua mai/ Xôn xao sợi tóc ngắn
dài/ Hỏi nhau đen-trắng xuân phai bao lần/ Xuân trời quay lại thanh tân/ Xuân
lòng đi mãi, rồi bâng khuâng chiều/ Tôi hỏi tôi đã bao điều/ Trả lời -một ngụm-
thật nhiều có không”.
Lật câu ca dao thời mở cõi, tách riêng hai cụm từ "mưa
mai" và "nắng chiều", nhận ra trong mưa mai có nắng chiều, trong
nắng chiều không thiếu mưa mai, khí chất những cuộc dấn thân, trong mạch lạc chứa
đựng mơ màng, trong chon von hàm ẩn thăng bằng, trong tuổi già dung lượng trẻ
trung. Hình như còn nhiều điều để khám phá trong thơ Xuân Trường, ở thời đoạn
mà anh từng tự nhận “bình minh và hoàng hôn chất vấn nhau”.
16/7/2025
Nguyễn Thanh Mừng
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Trở lại cánh đồng thơ của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Trở lại cánh đồng thơ của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh Nhà thơ Y Phương ở miền non nước Cao Bằng đã từng tâm niệm: “Thơ cũng giống như tình yêu...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...

.gif)
.gif)
.gif)

