Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Suy ngẫm cùng Hải Trung về thơ vua

Suy ngẫm cùng
Hải Trung về thơ vua

“Thơ vua và suy ngẫm” của Nguyễn Phước Hải Trung chỉ “khai thác” một số lượng nhỏ – rất nhỏ thơ của ba nhà vua Triều Nguyễn – trong đó, nhiều bài được khắc chạm công phu trên Điện Thái Hòa và cả trong những bản in hiện được lưu giữ tại Viện Hán Nôm, đồng thời trở thành một tác phẩm mỹ thuật – đã thấy đây là những giá trị văn hoá nên được lưu truyền, trước hết là với những du khách đã và sẽ đến thăm Cố Đô Huế.
Trong những giá trị văn hoá “người xưa” để lại cho Cố Đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới, lâu nay du khách trong và ngoài nước thường mới chỉ chú ý đến các công trình kiến trúc (lăng tẩm, Hoàng Thành Huế, đình chùa…), cảnh quan (sông Hương, nhà – vườn…) văn hoá ẩm thực (mè xửng, tôm chua, bún bò Huế…) mà không mấy người biết đến một kho báu “phi vật chất” chưa có điều kiện “khai thác”. Đó là hơn một vạn bài thơ của các nhà vua Triều Nguyễn sáng tác trong hơn sáu chục năm. “Điều kiện” nói ở trên, trước hết là khả năng chuyển ngữ và in ấn, do nguyên bản đều là chữ Hán; phần nữa là do nhận thức một thời có phần đơn giản, ấu trĩ rằng thơ phú của vua chúa – nhất là vua Triều Nguyễn – chỉ biết thưởng hoa vịnh nguyệt, có giá trị gì mà “khai thác”! Quả là cũng có ông vua bà chúa như thế, nhưng mặt khác, dần dà người ta hiểu ra, thơ vịnh trăng với hoa mà viết cho hay vẫn là giá trị được lưu truyền dài lâu. Chỉ cần nêu một dẫn chứng đủ rõ: bài thơ “Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác Thiền Sư về đóa hoa mai bất ngờ nở trong đêm đã có biết bao nhà nghiên cứu “khai thác” mỗi độ Xuân đến  …
Những năm gần đây, với tinh thần đổi mới tư duy trong mọi hoạt động văn hoá xã hội được khởi phát từ 1986, nhiều nhà văn và nhà nghiên cứu đã lần lượt cho công bố những tác phẩm về Triều Nguyễn. Đây không phải là việc “chiêu tuyết” (rửa sạch nỗi oan ức) cho người xưa, có khi là gượng ép hoặc do một “động cơ” không trong sáng như một số người đã chỉ ra ở đâu đó mà là kết quả của một quá trình nghiên cứu công phu, một cách nhìn khoa học và công bằng. Tiểu thuyết “Từ Dụ Thái Hậu” ( 2 tập) của Trần Thùy Mai và mới đây là “Cuộc đời xa khuất” chủ yếu viết về vua Tự Đức của Lê Hoài Nam là những tác phẩm như thế, tuy mức độ thành công khác nhau…
Trong khi tiểu thuyết “Từ Dụ Thái Hậu” như mở “một cánh cửa vào hậu cung Triều Nguyễn”, thì “Thơ vua & suy ngẫm” của Nguyễn Phước Hải Trung vừa xuất bản lại mở cánh cửa chuyên sâu về văn học nghệ thuật của chính các nhà vua Triều Nguyễn – chủ yếu là vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Tác phẩm dày trên 300 trang, bìa cứng, gồm 23 bài kèm nhiều tranh, ảnh màu chụp nguyên bản các bài thơ, hiện vật, công trình kiến trúc liên quan. Nếu quả đúng “văn là người” như một danh nhân đã nói thì qua những thi phẩm của các nhà vua, chúng ta có thể hiểu được thế giới tinh thần của các Hoàng đế Triều Nguyễn tiêu biểu – yếu tố quan trọng nhất định hình nhân cách và mọi hoạt động người đứng đầu đất nước; do đó, qua đây, chúng ta hiểu thêm thực trạng xã hội đương thời.
Tác giả đã dẫn tư liệu của Viện Hán Nôm cho biết, “trong 63 năm (từ 1820 đến 1883), các hoàng đế Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức  đã “ngự chế” 15.097 bài thơ văn dài ngắn khác nhau… Đó là một số lượng trước tác cực kỳ lớn, thực sự đã tạo nên một kỷ lục thi ca trong lịch sử văn chương của Việt Nam”. Về quan điểm nghệ thuật, tác giả cho rằng, tuy mỗi nhà vua có phong cách riêng của mình, “nhưng cùng chung một mạch rễ truyền thống từ thi dĩ ngôn chí và văn dĩ tải đạo”. Chúng ta thấy rõ điều đó qua “tự bạch” của các nhà vua.
“…Những thơ ta làm đó phần nhiều là mình tự dạy mình về đạo kính trời yêu dân, so sánh lúc tạnh lúc mưa để xem thời tiết, không có lời hoa hòe chải chuốt để cho người ta thích nghe…” (Minh Mạng)
“…Này, thơ:ở trong bụng là chí, nói ra là thơ, thơ để tả tính tình, chính giáo hóa, là lòng của trời đất đó..” (Thiệu Trị)
Có lẽ vì thế, trong hầu hết bài khảo cứu, tác giả không đặt trọng tâm vào việc phân tích nghệ thuật thơ mà “suy ngẫm” nhiều về đạo lý, về trách nhiệm của người đứng đầu đất nước đối với với xã hội, với đời sống muôn dân qua những vần thơ. Xét về khía cạnh này, vua Minh Mạng thực sự tiêu biểu và những vần thơ, những suy tư của nhà vua từ gần hai thế kỷ trước vẫn có ý nghĩa thời sự.
***
Nguyễn Phước Hải Trung (con trai của nhà thơ Hải Bằng – người đã có nhiều năm gắn bó với Quảng Bình), với kiến văn một tiến sĩ văn học, lại có thuận lợi trải qua nhiều năm nghiên cứu tại Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố Đô Huế, chỉ riêng một bài thơ “Tự huấn” (tự răn mình) của vua Minh Mạng, tác giả  đã dẫn giải, “suy ngẫm” thành một tiểu luận dài 10 trang sách. “Tự huấn” gồm 8 câu chữ Hán; ở đây (cũng như toàn bộ thơ trích dẫn tiếp) chỉ giới thiệu bản dịch:
“Đạo vua phải lắng nghe / Luôn phân biệt tà chính / Tin dùng lẽ thẳng ngay / Chớ nghe lời xu nịnh / Kẻ gian lo nhà mình / Người trung chăm triều chính / Sai một li – một dặm / Ngày đêm lòng như kính”
Bài thơ “tự răn mình” nhưng cũng có thể nói đây là “tuyên ngôn” của nhà vua về nguyên tắc ứng xử trong chính sự quốc gia, về  cách dùng người, chọn người cộng tác. Theo Nguyễn Phước Hải Trung, vua Minh Mạng xem bài thơ là “quân đạo” (đạo của vua) và đã nhiều lần “triển khai” qua các chiếu chỉ; ví như chiếu cầu lời nói thẳng mùa thu năm 1820 đã viết: “Trẫm nghe đường ngôn luận mở rộng thì nước mới trị… Vua muốn nghe lỗi của mình, tất phải đợi ở tôi ngay. Vậy cho các văn võ ở Kinh từ Tứ phẩm trở lên, các quan thành dinh trấn ở ngoài đều lo cố gắng, đua nhau đối đáp rõ rệt, hoặc lỗi chính ở trẫm, về kính đức nối sáng có thiếu, về nhân ân yêu giữ chưa tròn… Lại phàm nghe thấy chính sự  có thiếu sót, dân tình có khổ sở, đều cho dùng phong bì mà tâu thực lên… để vua tôi sửa chữa lẫn nhau…”
Nhà vua không chỉ khuyên răn hay ra lời kêu gọi mà đã chứng tỏ “quân đạo” của mình bằng hành động cụ thể. Năm 1830, khi hai quan đại thần là Phan Thanh Giản và Trương Đăng Quế “dâng lên vua một bài tụng với những lời hoa mỹ…ngợi ca vua chuyên cần chính sự; vua Minh Mạng… phê thẳng vào bài văn: Trẫm có thích nịnh ngoài mặt đâu? Vậy ném trả lại và truyền chỉ quở mắng”.
Có lẽ không cần dẫn thêm bằng chứng về sự nghiêm minh của vua Minh Mạng, kể cả với con cháu trong hoàng tộc, do có nhiều sách báo đã nói đến. Nhà vua cũng đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp và đời sống nông dân, nên Nguyễn Phước Hải Trung đã viết liền mấy tiểu luận về chủ đề này:“Bức thư pháp ngự bút và ngự đề của vua Minh Mạng về nhà nông”, “Ngạn ngữ nhà nông qua chùm thơ của vua Minh Mạng”, “Thơ vua về lễ Tiến xuân, một điển lễ trọng nông”. Nguyễn Phước Hải Trung nhận định:
“Trong lịch sử trung đại, vua Minh Mạng có lẽ là một nhà thơ viết nhiều nhất về nông nghiệp, về nông dân. Đề tài này tràn ngập trong sáng tác của nhà vua với hàng trăm bài…”
Không có điều kiện để phân tích nghệ thuật thơ về phương diện ngôn ngữ nguyên bản (chữ Hán), chỉ xin trích bài dịch “Vị nông ngâm” ít nhiều có chất thơ viết năm 1832, “do vua Minh Mạng ngự chế và ngự bút (theo lối thư pháp thảo thư) treo tại Hoàng cung Huế, sau đó in lại trong BAVH…” :
“ Đêm đón mưa vui trận trận qua / Hạt tuôn từng đợt gió ngân nga / Hắt hiu giá rét mùa xanh lá / Lõm bõm đồng sâu áo bạc tà / Mặc ấm ghi ơn người dệt vải / Ăn no nhớ nghĩa kẻ đồng xa / Bao đời trọng nỗi gian nan ấy / Chẳng lúc nào ngơi tiếng ngợi ca.”
Hình như nhiều người đã được đọc bài thơ này; tuy vậy, đọc “Vị nông ngâm” thời điểm hiện nay lại có ý nghĩa như một lời nhắc nhở chúng ta, mặc dù xu hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang mạnh mẽ tiến bước, không gì ngăn được, nhưng xin chớ quên nông nghiệp và nông dân luôn là chỗ dựa, là cơ sở bảo đảm an ninh cho đất nước, nhất là trước những biến động khó lường của thế giới, môi sinh…mà Dịch Covid-19 đang làm đảo điên các khu công nghiệp là bằng chứng nóng hổi.
Trong khoảng 4000 bài thơ của vua Minh Mạng, đặc biệt có một bài giúp chúng ta “đính chính” ngộ nhận của nhiều người rằng Triều Nguyễn có luật “tứ bất lập”, trong đó có điều quy định  không lấy trạng nguyên. Nguyễn Phước Hải Trung có đủ căn cứ để minh chứng điều đó chỉ là suy đoán của hậu thế, do các kỳ thi từ thời Minh Mạng trở về sau không chọn được trạng nguyên. Điều dễ thấy là không một tác giả nào đưa ra được tư liệu chứng tỏ Triều Nguyễn có luật “tứ bất lập”; nhận định của hai nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Quang và Huỳnh Công Bá cho rằng “vua Gia Long  cho đặt lệ không lấy trạng nguyên” càng dễ bác bỏ, do dưới triều Gia Long chưa tổ chức thi Đình mà chỉ mới thi Hương với học vị cao nhất là cử nhân! Bài thơ của vua Minh Mạng “Kêu gọi khích lệ sĩ tử tại kỳ thi Hội” khi đến xem kỳ thi năm 1838 là một bằng chứng bổ sung khó tranh cãi:
“Hôm nay rét lạnh đã ban than / Đem hết tinh hoa kiếm trạng nguyên / Năm lạnh bách tùng lên tươi tốt / Cùng nhau gắng sức báo ơn trên.”
Như vậy, mặc dù nhà vua khao khát tìm nhân tài muốn có trạng nguyên, nhưng rút cuộc kỳ thi Đình năm đó chỉ lấy được 2 người “Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân” (còn gọi là Hoàng Giáp). Bài thơ không chỉ bác bỏ sự suy đoán không có căn cứ về lệ “tứ bất lập” mà “còn nói lên khoa cử vào thời bấy giờ rất chú trọng tính khách quan, một lối tư duy đào tạo hướng đến thực chất…” Nguyễn Phước Hải Trung đã nhận xét như thế sau khi giới thiệu bài thơ của vua Minh Mạng và “số liệu” cụ thể nhiều kỳ thi, dù vua muốn có Trạng nguyên, nhưng không ai đủ 10 điểm thì nhất quyết không chọn. Mãi đến kỳ thi năm 1851 (thời Tự Đức) mới có 2 người đạt 9 điểm đỗ Bảng nhãn là Phạm Thanh (người Thanh Hóa) và Vũ Duy Thanh (Ninh Bình)…
Trong ba nhà vua đã dẫn ở trên với hơn vạn bài thơ, vua Thiệu Trị có số lượng ít nhất (3200 bài); tuy vậy, theo nhà nghiên cứu cứu Hán Nôm Lê Nguyễn Lưu (người đã dịch và in tuyển 1000 bài thơ Đường) thì về nghệ thuật thơ, thơ của vua Thiệu Trị còn hay hơn vua Minh Mạng và Tự Đức. Đặc biệt ông có nhiều bài thơ được khắc hay khảm nổi bằng ngà, xương hay đồi mồi trên những ô hộc tại Điện Long An. Trong tập “Ngự chế cổ cách thi pháp” gồm 157 bài với nhiều hình thức chơi chữ khác nhau rất trí tuệ, trong đó kỳ công nhất là bài thơ “Vũ trung sơn thuỷ” được khảm trai (cẩn xà cừ) hiện đang treo trên vách điện Long An (Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế), chỉ 56 chữ mà biến hoá tài tình. Trong một bài viết trước đây, Nguyễn Phước Hải Trung cho biết, năm 1994, Nguyễn Tân Phong đã giải mã đọc thành 64 bài tứ tuyệt và tiếp đó, G.S Nguyễn Tài Cẩn lại đọc được thành 64 bài bát cú. Đây là thể thơ hồi văn liên hoàn, nghĩa là xuất phát từ điểm nào cũng có thể đọc thành câu, thành bài. Bây giờ, một số nhà thơ chuộng “cách tân” hình thức cũng “chơi” trò thách đố chữ nghĩa, nhưng dễ gì sánh được với vị vua hơn hai thế kỷ trước.
Trong tác phẩm mới xuất bản, Nguyễn Phước Hải Trung giới thiệu“một bài thơ trường thiên luật đặc sắc… một đỉnh cao của “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”…” cũng là một kiểu “chơi chữ” nghệ thuật tài tình của vua Thiệu trị cùng 3 hoàng đệ và đại thần Lâm Duy Nghĩa.“Bài thơ có hình thức xướng họa đặc sắc, tài tình vì người xướng thơ, ra chủ đề phải làm chủ “cuộc chơi xướng họa”, người họa thơ phải ứng đối lại tức thì… rồi tiếp tục xuất đối lại một vế tiếp theo…” Ở đây chỉ xin dẫn mấy câu kết thúc trong bài thơ dài 36 câu (trong đó vua Thiệu Trị viết 20 câu xướng thơ và kết thúc):
“Sách vở bút nghiên nghĩ thấm sâu/ Lời đẹp việc hay khuyên tiến tấu / Nước gìn đạo giữ hãy truyền lưu/ Nương cùng sương khói thơ đề vịnh/ Vui hứng chan hòa ý nối câu”.
Về “ông vua thi sĩ” Tự Đức với số lượng kỷ lục khoảng 4.600 bài, Nguyễn Phước Hải Trung chọn bình bài “Mạn ca” có lẽ do bài thơ không chỉ giúp chúng ta hiểu thêm thế giới tinh thần của nhà vua mà còn phản ánh nội dung cốt lõi “hệ tư tưởng văn hoá thời Nguyễn.” Theo Nguyễn Phước Hải Trung, “Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo là ba tôn giáo có vị trí quan trọng, chi phối mạnh mẽ đến hệ tư tưởng văn hoá thời Nguyễn. Đặc biệt sự gặp gỡ của tính thiện, tính nhân của ba tôn giáo này được xem là điểm mấu chốt để tạo nên sự “đồng nguyên”, “đồng quy” trong suốt chiều dài lịch sử thời trung đại của Việt Nam..”
“Mạn ca” (Khúc hát tản mạn) thể hiện tinh thần “tam giáo đồng nguyên” ấy gồm 17 câu chữ Hán (bài dịch do cần diễn giải rõ ý thành 20 câu),“nhưng tính cô đúc của những lẽ đời giản dị được Tự Đức trình bày rất mạch lạc”:
“Sông dài biển rộng dặm xa xôi,
Sánh với con mương cũng nước thôi.
Sóng gió yên bình thì biển lặng,
Gió lên mương rãnh tựa ngàn khơi.
Từng khắc thời gian cùng cõi sống,
Ai nào thanh thản suốt trong đời.
Trừ phi thần tiên thì chẳng biết,
Quý, tiện, hiền, ngu ai cũng người.
Hạc diệc có chân dài ngắn khác,
Báo dê da chẳng thể giống vằn.
Mải mê triều thị như mây nổi,
Gặp họa ganh gì kẻ roi chăn.
Chuyện ngựa Tái Ông ai cũng rõ,
Bao nhiêu mưu chước sáng tiêu tan.
Sáng ra ngẫm lại không hề biết,
Tự hỏi rằng sao lắm bẽ bàng.
Tâm kia lại bị hình chi phối,
Trong cõi phù sinh vất vả này.
Suốt cả một đời danh chẳng để,
Chỉ mang tiếng xấu giữa trời mây.”
Bài dịch khá hay, giữ nguyên được từng cặp câu thơ mang tính “tương phản vốn có trong sự vật mà nguyên lý chung nhất là sự đối lập và thống nhất giữa “có và không”…” Tính triết lý trong mỗi cặp câu thơ thật giản dị, dễ hiểu mà sâu sắc, giúp con người sống phải tử tế hơn. Thì đó, biển rộng – sông dài khác xa mương rãnh, nhưng cũng chỉ là nước thôi! Nhà vua “tản mạn” chuyện biển và mương rãnh, nhưng suy ngẫm một chút thì hiểu ngay đây là lời nhắc nhủ con người phải biết sống khiêm nhường; dù “anh” đang có chức to quyền lớn như vua chúa cũng chớ có vênh váo – “con vua thất thế lại ra ở chùa” – dân gian từ xưa đã nói vậy! Và “Quý, tiện, hiền, ngu ai cũng người”- cái lẽ giản dị này của cõi nhân sinh muôn thuở, nếu đừng sao nhãng, sẽ giúp cho con người biết cách sống tốt đẹp hơn…
Chỉ “khai thác” một số lượng nhỏ – rất nhỏ thơ của ba nhà vua Triều Nguyễn – trong đó, nhiều bài được khắc chạm công phu trên Điện Thái Hòa và cả trong những bản in hiện được lưu giữ tại Viện Hán Nôm, đồng thời trở thành một tác phẩm mỹ thuật – đã thấy đây là những giá trị văn hoá nên được lưu truyền, trước hết là với những du khách đã và sẽ đến thăm Cố Đô Huế…
20/9/2022
Nguyễn Khắc Phê
Theo https://vanvn.vn/

Thế giới hiện thực dưới ngòi bút Nguyễn Bình Phương

Thế giới hiện thực dưới ngòi bút
Nguyễn Bình Phương

Thế giới hiện thực dưới ngòi bút của Nguyễn Bình Phương là thế giới “thậm phồn”, được cơi nới mọi chiều kích, tận cùng và vô cùng. Ở đó, cái tôi đa bản thể – đời sống của hiện thực tinh thần, chảy trôi, chênh vênh trong vũ điệu bất tín, ngổn ngang thật giả, đúng sai, thực ảo. Một “cõi đời lẩn quẩn” cứ đi về trong các tiểu thuyết của ông, giao thoa trong cái nhìn nhân văn nhưng luôn chuyển động riêng khác và mới mẻ. Một ví dụ xoàng (*) – cuốn tiểu thuyết vừa đoạt giải thưởng Hội Nhà văn cuối năm 2021, là một minh chứng.
Sự mời gọi của các phạm trù đối lập
Nguyễn Văn Sang học hành tử tế, làm tiến sĩ ở Liên Xô, về làm nghề dạy, không đủ trang trải cuộc sống, vợ thì bỏ theo trai, mong có cái Tết ấm áp, anh đã đánh liều cú chót buôn 4 cân chè Đại Từ về Thái Nguyên, nhưng vô tình bắn chết quân nhân nên anh đã bị kết án tử hình chỉ trong vòng hơn một tháng. Sau này, một trong hai người con trai của Sang đã phỏng vấn, ghi âm lại những người có liên quan đến cuộc đời và cái chết của bố mình. Chuyện cuộc đời Sang và xử bắn Sang chẳng có gì là lạ. Nói như Chánh án tòa án tối cao, đó chỉ là một ví dụ xoàng, một án tử hình trong vô vàn án tử hình. Ấy vậy mà, trong tay Nguyễn Bình Phương, một nhà văn vốn nổi tiếng với sự chăm chút, nghiêm túc từng chi tiết, cái chết của Sang không hề xoàng xĩnh chút nào bởi sự đan bện, va quệt của vô vàn câu chuyện, kiếp sống và nhân sinh. Sang trở thành cái trục chính, làm nền cho sự bất ổn, thoái hóa của cuộc sống “đâm chồi nẩy lộc”.
Truy tìm về cuộc đời và cái chết của Sang, các vấn đề của đạo đức, truyền thống giữa tốt – xấu, thiện – ác, đúng – sai, hay – dở, luân lí – loạn luân, phẩm hạnh – mất trinh tiết, chung thủy – ngoại tình,… được Nguyễn Bình Phương đưa ra phán xét lại, đặt chúng đúng vị trí mà chúng hiện tồn. Nhà văn bới những cuộc đời lên ở nhiều giác độ: trực tiếp – gián tiếp, chủ quan – khách quan, gần – xa… rồi lật trần bản chất thông qua sự bổ trợ, phản biện, đối cực. Sự sinh động của mỗi lời kể, lúc đổi tráo ngôi, lúc đối thoại, lúc chỉ là những lời độc thoại,… đã gắn vào cuộc đời Sang những yếu tố vừa thực vừa ảo, đầy bí ẩn, mời gọi. Ánh sáng và bóng tối cuộc đời Sang theo đó cũng làm cho các phạm trù đối lập liên tục chuyển đổi, khó có thể tìm ra căn nguyên, chân lí, kết quả cuối cùng. Mỗi người là một mảnh ghép tạo nên bức tranh điển hình cho cõi người méo mó, kì dị.
Trong sự đối thoại không có hồi kết giữa cái tốt với cái xấu, cái thiện với các ác, Nguyễn Bình Phương vẫn chậm rãi kể chuyện như cách mà ông đã kể trong cuốn tiểu thuyết gần đây – Kể xong rồi đi. Một ví dụ xoàng kể xong rồi đi, để lại mặt bằng bừa bộn, rỗng tuếch đạo đức, người đọc tự chắp nối, lượm vá, tự giải đáp những bất thường. Chỉ khi người đọc giải mã được giá trị của tác phẩm lúc đó người đọc mới thấy được ý nghĩa của sự cào bằng đối thoại: đặt mọi hệ giá trị lên một bàn cân, sự nặng lại không thuộc về bên nào, mà nó thuộc về ý – thức – làm – người – cái nhân vị hằng trường ẩn lấp này sẽ trồi lên khi lương tâm được đánh thức.
Cái nhân vị hằng trường được Nguyễn Bình Phương giấu nhẹm trong tận cùng của sự đổ vỡ, phi lí. Mặt bằng là sự đối thoại “trơ trẽn” giữa các thể loại người nhưng bề sâu là nền tảng đạo đức, nhân phẩm. Nhân vật khách – con trai của Sang, đi tìm lại vết dấu của người bố mà thuở nhỏ anh chưa thể cảm nhận được ngoài cái hôm dặn dò bố đi thì nhớ mang theo khẩu súng cho oai, qua cái máy ghi âm của anh, bao tính cách, phận người được bày ra. Lúc này, cái máy ghi âm tồn tại như một con người, một nhân chứng góp phần hoàn thiện những mảnh ghép của cuộc sống. Người đọc men theo đó mà quán chiếu mà ngẫm ngợi mà thức tỉnh mà chua xót mà đắng cay.
Tiếng nói của quá nhiều nhân cách
Các nhân vật của Nguyễn Bình Phương thường hiện lên với đầy đủ góc cạnh, diện mạo, thông qua sự phức hợp của nhiều điểm nhìn. Nhân vật này kể, phán xét nhân vật kia, các tổ hợp điểm nhìn liên tục vặn xoắn vào nhau và phơi lên những gì đã và đang hiện hữu. Thế giới nội tâm, thân phận, tình yêu, lẽ sống,… được lần lượt khám phá, lật trở, không có kết quả cuối cùng mà chỉ có những đối thoại lúc tương hỗ lúc đối kháng lúc đồng thuận lúc phản biện. Mỗi nhân vật mang trong mình hơn một/ nhiều nhân cách tạo nên một hiện thực chông chênh, hỗn loạn, phức tạp, đầy phi lý.
Sang đã có lần tâm sự với Quyết: “…gia đình giống cốc nước đầy, ai khéo lắm cũng chỉ giữ được một quãng, trước sau rồi cũng sánh đổ” [tr.74]. Quả đúng vậy, sự thối nát, mục rữa đến từ bên trong. Cái thành trì máu mủ vững bền của gia đình đã bị đồng tiền và danh lợi thao túng. Tình cảm vợ chồng cũng bị chi phối bởi đồng tiền, vì mấy cục vàng mà chủ cửa hàng sẵn sàng đẩy vợ mình vào cửa ngõ của sự bán thân. Vì tiền, vì cái nhà mà Vân – cô con dâu cả, tìm mọi cách phủ dụ lão Chính – bố chồng, bất chấp mối quan hệ loạn luân. Cũng vì tiền mà vợ của Sang đã bỏ theo người đàn ông khác… Chị gái Uyên một lần đến nhà chơi đã dặn Uyên: “Nhà rộng thì lạnh, cố mà giữ cho nó ấm áp” [tr.16]. Một người như Uyên, đã từng khiến đời Sang vơi bớt cô lẻ, nhưng cũng bị vấy bẩn, đổi thay bởi cuộc đời. Uyên giữ ấm áp ngôi nhà bằng cách mất đi một người đàn ông thì bù đắp vào một người đàn ông khác. Cái sự vờn nhau giữa ông Chính và bà Uyên như đẩy mọi sự tha hóa lên đến đỉnh điểm.
Như vậy, bản tính thú – người của lão Chính đã kéo theo những hệ lụy buồn đau: cả gia đình què quặt, dị dạng tâm hồn, đều sống kiếp người không ra người, ngợm không ra ngợm. Những cử chỉ, lời nói thản nhiên, tỉnh queo đến rợn người túa ra từ những thành viên trong gia đình lão Chính dưới dạng đối thoại phản đối thoại: “Ông anh tôi đi vừa khéo” (lời Quyết nói với Uyên), “Nhân quả đấy” (lời Uyên nói với lão Chính), “Ừ, nhân quả đấy” (lời lão Chính đáp trả)…
Dạng đối thoại không nhằm vào câu chuyện đang nói, không có mối liên hệ giữa người nói và người nghe nhưng nó gián tiếp bộc lộ bản chất của nhân vật. Sự không bình thường về tâm lí lẫn cử chỉ, hành động của gia đình lão Chính chính là phiên bản, là lát cắt thu nhỏ của xã hội hỗn độn bi hài. Những câu chuyện rời rạc, đứt đoạn giữa xưa – nay, quá khứ – hiện tại, cõi sống – cõi chết,… trong Một ví dụ xoàng được Nguyễn Bình Phương thu về một mối – ấy là sự đi vắng của tình người.
Nguyễn Bình Phương viết cái gì cũng ra tấm ra món. Khoản nào cũng hấp dẫn, ấn tượng. Ông không đao to búa lớn, xoáy vào trung tâm mà thường bám vào cái ngoại vi, mượn cái ngoại vi đả phá, giải trung tâm. Ở góc nhìn bên lề, ở góc nhìn hẹp, góc nhìn từ gia đình lão Chính, ông nới rộng ra vô biên, đó là các vấn đề về chiến tranh, chính trị, pháp luật, văn hóa, giáo dục, đạo đức, tình dục,… Tất cả đều vận động, châu tuần trong kĩ thuật “đảo thuật”, đánh tráo không thời gian, ngôi kể, điểm nhìn nhưng vẫn đảm bảo được tính hệ thống, liên tục của sự hỗn độn, gợi mở, không hoàn kết: “Trong cái đầu lồ chồ hóc hiểm kia còn muôn vàn những câu chuyện phấp phỏng chờ đợi đến lượt mình. Muốn chuyện khác lên tiếng thì chuyện này cần dừng lại, dứt khoát phải dừng lại” [tr.202]. Đấy là cái bình thường, tự nhiên nhưng đầy bất ổn, nghịch lí của cuộc đời mà Một ví dụ xoàng gửi gắm.
Nguyễn Bình Phương sinh tại Thái Nguyên, hiện đang là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Ông là cây bút tiểu thuyết nổi bật của văn học Việt Nam đương đại. Hơn 30 năm qua, Nguyễn Bình Phương luôn bền bỉ sáng tác bằng phong cách nghệ thuật độc đáo với 10 cuốn tiểu thuyết ấn tượng.
Cuốn tiểu thuyết mới nhất của Nguyễn Bình Phương “Một ví dụ xoàng” được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2021 với 100% số phiếu.
(*). Nguyễn Bình Phương, Một ví dụ xoàng, NXB Hội Nhà văn, 2021.
21/9/2022
Hoàng Thụy Anh
Nguồn: Báo Nghệ An
Theo https://vanvn.vn/

Phạm Thị Kim Khánh - Một tiếng thơ nữ quyền

Phạm Thị Kim Khánh
Một tiếng thơ nữ quyền

Tôi gọi cả bốn tập thơ của Kim Khánh là bốn tập ‘tự tình’ với cùng một biểu đạt chính là nội cảm mãnh liệt về khát vọng tình yêu.
Ta hẹn nhau từ mùa nào/ Mà ngày ngày mùa gặp gỡ/ Mà mùa mùa đều rạng rỡ/ Mà đêm nào cũng sầu nhớ/ (Mùa của ta).
Chả còn ranh giới “mùa”, chỉ còn “mùa của ta”, vì chỉ cần gặp gỡ nhau thôi thì “rạng rỡ” đã không dấu nổi, từ trong tim, trong dạ hiện ra ánh mắt, nụ cười. Chẳng cần xuân hạ thu đông gì hết, cứ “ngày ngày gặp gỡ” thì mùa mùa đều rạng rỡ! Ai zà, nàng chẳng cần mùa, bất chấp mùa. Tình yêu của nàng không có “mùa”, khi tìm thấy tình yêu của mình, khoảng cách thời gian, không gian dường như không tồn tại, ngỡ như đã có hẹn từ kiếp trước, chính người trong cuộc cũng thấy ngỡ ngàng: Ta hẹn nhau từ mùa nào! Mãnh liệt đến thế là cùng. Tôi gọi cả bốn tập thơ của Kim Khánh là bốn tập “tự tình” với cùng một biểu đạt chính là nội cảm mãnh liệt về khát vọng tình yêu. Có thể nhận thấy thơ Kim Khánh giàu tự tình, hướng nội, cảm xúc thì mãnh liệt với cách biểu đạt ẩn ý, sắc sảo.
Đọc Vườn tháng Giêng, tập thơ đầu tay của tác giả, bắt gặp lời tự tình ở ngay bài thơ đầu:
Bàn tay xuân dịu dàng/ băng bó vết thương mùa đời cào xước/ Làn môi xuân dịu dàng/ hôn lên nỗi đau thời gian làm sẹo./ Đánh thức trong ta mầm khát khao ngủ quên/ Xóa trên trán ta ưu tư vết nhăn nghi hoặc/Đổ lá cũ, bóc vỏ ngày cằn cỗi/ Ta đơm mầm nảy nụ dâng xuân./ (Lời của cây).
Một “thân thể” đầy thương tích, bầm dập vì “mùa đời cào xước”, có chỗ đã thành sẹo, có chỗ còn rớm máu, cho thấy cả một quá trình nhẫn nại chịu đựng. Nhưng rồi một ngày kia “xuân” xuất hiện, “bàn tay xuân dịu dàng băng bó vết thương”, “làn môi xuân dịu dàng hôn lên nỗi đau“. Những cử chỉ tình yêu đã “đánh thức” khát khao vẫn “ủ mầm”, “ngủ quên” bấy lâu trong thân thể và một sức sống bừng bừng thức dậy: Xóa trên trán ưu tư vết nhăn nghi hoặc/ Đổ lá cũ, bóc vỏ ngày cằn cỗi. Có bóng dáng nàng Súy Vân nổi loạn, nàngThị Mầu trẻ trung, táo bạo truy tìm hạnh phúc ở đây. Hình ảnh “đổ lá cũ, bóc vỏ ngày cằn cỗi” có cách diễn đạt thật ấn tượng, thể hiện thái độ dứt khoát, quyết liệt. Hai động từ “đổ” và “bóc” diễn tả triệt để hành động rũ bỏ,đoạn tuyệt với ngày tháng cũ bị đè nặng bởi nhịn nhục chịu đựng, để tự cởi trói, giải thoát cho mình, để được sống với niềm đam mê,hòa nhập, tận hiến cho khát vọng sống: Ta đơm mầm nảy nụ dâng xuân!
Kể từ đấy, không ai khác,nàng thơ tự mình “đánh thức lãng quên”, “vực dậy yếu mềm” và giác quan lúc nào cũng “rì rào… rì rào” thổn thức trước những tín hiệu của tình yêu và sự sống. Các tập thơ nối tiếp nhau, rất nhanh, phô diễn một thái độ sống cuồng nhiệt: Em ùa vào tháng Hai/ Xoay tít một vòng sực nức/ Trĩu nặng chùm chùm hoa mãn khai vàng ngọc/ Dâm da chi chít hoa/ Náo nức ong về (Tháng hai). Tác giả “tự thú” về hành trình tìm lại chính mình, có chút nuối tiếc cho những tháng ngày xưa, song, chủ yếu là bộc lộ ý thức tận hiến cho hiện tại: Sau bao ngày lưu lạc/ Hồn hoang mang đi tìm/ Lang thang con đường vắng/ Lạc vào vườn tháng Giêng. Chỉ ngẫu nhiên “lạc vào vườn tháng giêng” thôi mà lập tức, tất cả các giác quan: thị giác, khứu giác, linh giác… dâng trào xúc cảm tận hưởng: Lá phô lời non tơ/ Hoa nói lời sực nức/ Yến oanh mùa rạo rực/ Tìm nhau trong vườn xuân… (Vườn tháng Giêng).Tháng Giêng thành tín hiệu hồi sinh, thành thông điệp của sự sống vĩnh cửu: Lây phây mưa rây hạt/ Gieo mươn mướt trên cây/ Mát lành đâu từ mây/ Tỏa về theo gió thoảng (Tín hiệu). Có thể nói, Kim Khánh đã tạo ra cả một thế giới tự nhiên phồn thực trong Vườn tháng Giêng. Ở đấy, thiên nhiên phô diễn đến tận cùng sức quyến rũ của chức năng bảo tồn sự sống.
Tuy nhiên, không khó để nhận thấy, xúc cảm tình yêu trong thơ Kim Khánh không phải thứ rung cảm đầu đời mà là thứ rung cảm chiêm ngẫm của kẻ đã đi qua bão dông, đã trầy xước bởi những vết cào của “mùa đời”. Vì vậy, trong những rung cảm kia có hiểu biết về những quy luật, có tính toán thiệt hơn, được mất, nhưng lạ chưa, đứng trước cám dỗ của tình yêu, sự khôn ngoan đành khuất phục, nhường chỗ cho ngây thơ, khờ dại, để trái tim được sống với những “khát khao mộng mị”, để giải thoát cơn khát: Chị nhủ: đời đen bạc/ Đừng cả tin mơ hồ!/ Nhưng chị ơi, nghi ngờ/ Thì cả đời em khát! (Chị và em). Mượn ý thơ trong bài “Dại yêu” của Đoàn Thị Lam Luyến, tác giả bày tỏ quan niệm sống, cuộc sống không tình yêu giống như con người phải sống giữa sa mạc. Vì vậy, mặc dù “thuộc lòng” bài học từ đàn chị, “em” vẫn “cãi lại”, vẫn bảo vệ cho cái lý của mình, vẫn chấp nhận “dại yêu” vì không thế thì “cả đời em khát”. Không ai cưỡng được sự vận hành của tạo hóa, đó là quy luật sinh tồn, Kim Khánh thẳng thắn tuyên ngôn về quyền được yêu như ý nghĩa của truy cầu hạnh phúc: Đừng để đời đắm đuối/ Đừng dời bước khỏi bờ/ Thì chị ơi nguyên vẹn/ Vẹn nguyên con số 0 ! (Chị và em). Thành thực với chính mình cũng chính là thành thực với cuộc sống. Con đường của tình cảm là con đường của sự chân thành, vì vậy, những bối rối, lúng túng của chân thành luôn đáng yêu:
Tim lỗi nhịp nóng ran khi bắt gặp cái nhìn/ Cứ lúng túng mỗi khi anh ướm hỏi/ Vẫn chẳng thể lý giải điều anh nói:/ Tự bao giờ? Sao lại thế? Bao lâu?/ (Chân thành)
Khát vọng tình yêu đồng nghĩa với khát vọng sống đã tạo ra một thế giới sắc dục trong thơ Kim Khánh. Yếu tố nhục cảm đậm đặc trong tập Vườn tháng giêng. Tuy nhiên, sex vào đến thơ chị thăng hoa trong thế giới cảm xúc lãng mạn của thiên đường tình yêu: Đêm ấy trăng khỏa trần trên sóng/ Sóng dưới trăng cũng dứt tấm màn đen/ Ngực sóng vồm lên, trào ra dào dạt/ Ào theo trăng lướt thướt phía bãi bờ…(Hoài niệm). Nhìn hoa mận nở mà liên tưởng tới da thịt ngọc ngà, ngắm vườn tháng hai mà thấy mắt biếc thanh xuân và, lập tức xúc cảm tình yêu ào tới, đắm say: Trong sương hoa mận nở/ Tình thơ cất tiếng chào/ Trắng trong như bột lọc/ Ngan ngát vườn tháng Hai/ Mắt ngời như giếng ngọc/ Tình trong như suối nguồn (Hoa mận).
Cuồng nhiệt sống, cuồng nhiệt yêu với Kim Khánh không đồng nghĩa với vội vàng,hời hợt mà ngược lại, quan tâm chăm chút hơn,nâng niu trân trọng từngsắc nắng, màu non, mùi hương mơ hồ: Rét không còn ngọt xé/ Nắng chưa kịp hanh vàng/ Lộc chưa xòa lá xanh/ Đêm về trăng chưa tỏ/ Mơ hồ hương bưởi vương (Tháng Giêng). Dễ hiểu vì sao từng phút giây phải chờ đợi người yêu, với người ấy dài như thiên thu. Một ngày xa dài như một kiếp (!), nàng lấy “kiếp” hoa quỳnh để ví với nỗi đau chờ đợi. Lần đầu tiên trong thi ca có sự so sánh nỗi khắc khoải chờ đợi người yêu như “chết đi sống lại” thế này: Sáu ngày rồi đấy, anh biết không? Là bao đời hạt sương trước gió/ Bao kiếp quỳnh hoa chào đời rồi từ bỏ/ Bao lần cánh chuồn chao mặt nước buông lơi/ Bao đời bao kiếp ánh sao rơi…(Đợi).
Trái tim tận hiến cho tình yêu khiến nhiều bài thơ tình của Kim Khánh dễ thương như hạt cải cứ gieo xuống là nở ra vạt thương vàng rực, chẳng lộng lẫy kiêu kỳ mà vẫn có sức hút kỳ lạ:
Mưa đừng mưa phía lửa nhen/ Gió ơi đừng thổi phía đèn mới khêu/ Mây đừng che nẻo trăng lên/ Sương đừng giá lá non mềm, nhé sương/ Nắng đừng rát phía con đường/ Đứng trưa, nắng quái người thương đi về./ (Cầu).
Với Kim Khánh, tình yêu đúng là không có tuổi. Đọc thơ chị khiến người ta giật mình vì độ trẻ trung, yêu đời, yêu cuộc sống, phải gọi, đó là bản lĩnh sống:
Nghĩ dại chứ, nhỡ ngày mai ta chết/ Tình đầy bồ chưa đổ ra xay/ Hạt gạo trắng ẩn mình trong vỏ trấu/ Bát cơm tình yêu chưa ấm dạ đời…/ (Nghĩ dại).
Thơ Kim Khánh vừa chỉn chu vừa bay bổng trong cách nghĩ, vừa truyền thống vừa sáng tạo trong biểu đạt. Đặc biệt nhất là quan niệm khỏe khoắn và tự tin trong tình yêu và cuộc sống của chị. Dường như đây sẽ là cá tính thơ Kim Khánh bởi nó xuyên suốt cả bốn tập thơ. Ả nàng vốn là con cháu mụ Dạ Dần, từ trong nôi ả nàng đã hít thở không gian của những giai điệu xường, rang lãng mạn, tha thiết: Anh ở Mường Dồ xa lắc/ Anh ở Mường Dồ xa lơ/ Mường Dồ có bảy con suối/ Mường Dồ có tám con khe/ Bảy con suối anh bắc cầu đá/ Tám con khe anh bắc cầu lim/ Anh đón em về bằng câu xường đẹp: “Thương thiệt, thường nồng em ơi! Thương mơi em à…”. Không gian của núi cao, sông sâu, thoáng đãng và mộng mơ xứ Mường Trong đã tạo nên điệu hồn khỏe khoắn; những giai điệu thương nhớ của vùng văn hóa thiêng Đẻ đất đẻ nước đã nhập vào tâm hồn, bay lượn trong tâm thức tạo nên nội cảm lấp lánh hoa Pôông trăng bốn mùa trong thơ Kim Khánh.
Kim Khánh trình làng thơ hơi muộn, không sao, cô ấy đã là độc giả của chính mình suốt từng ấy năm, để rồi một ngày, cô ấy “xim” (tiếng Mường nghĩa là tình tự) cùng ta và người đọc nghe chuyện ả nàng mà có khi quên cả tình tự.
22/9/2022
Hỏa Diệu Thúy
Theo https://vanvn.vn/

Làng quê của một hồn thơ

Làng quê của một hồn thơ

Nhà thơ, cựu chiến binh Trần Quang Quý từng tham gia chiến đấu ở Khu 4 và trên chiến trường miền Tây Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Sau khi giải ngũ, ông đã trải qua nhiều công việc: Phóng viên, Tổng biên tập báo, Phó giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội… Ông từng nhận được một số giải thưởng văn chương uy tín, như: Giải nhì thơ Tạp chí Văn nghệ quân đội; 2 lần đoạt giải thơ tuần báo Văn nghệ; 2 lần được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam… và đặc biệt là Giải thưởng Nhà nước về Văn học-nghệ thuật năm 2016…
Gia tài văn chương của Trần Quang Quý chủ yếu là thơ. Trần Quang Quý rất ít khi đăng đàn lập ngôn về thơ cách tân, thơ đổi mới hay thơ hậu hiện đại, tân hình thức, hiện thời plus… Có lẽ ông thích sống thơ, thở thơ, thức thơ và ngủ cũng thơ, hơn là cao đàm khoát luận về thơ. Ông có mối bận tâm của riêng mình trong tư cách một nhà thơ đích thực. Trong hầu hết các diễn đàn về thơ, Trần Quang Quý dường như chưa bao giờ nói bất cứ điều gì về thơ mình. Thơ của ông hay, dở ra sao, thuộc khuynh hướng, trường phái nào là việc của công chúng tiếp nhận, của các nhà lý luận, phê bình văn học và thời gian. Chính ông đã từng chia sẻ: Tôi ăn ngủ chữ, tháp tùng chữ bước vào những số phận/ những ngóc ngách cuộc đời, những giao thoa chưa cất thành lời/ những cuộc phối sinh ngữ nghĩa/ và khi ấy, những con chữ như không còn là chữ/ hồn chữ thiên di/ vương quốc chữ tự do bay ngoài trang sách (Đời chữ).
Thơ Trần Quang Quý có một giọng rất riêng, khó trộn lẫn với bất cứ ai dù họ thuộc thế hệ nào. Phần lớn thơ ông có xuất phát điểm là tình yêu đã trở thành nỗi khát thèm thường trực với quê hương, đất nước; với những người nông dân cần cù “một nắng hai sương“, suốt đời “bán mặt cho đất, bán lưng cho giời” ở miền đất nghèo trung du Phú Thọ quê ông cũng như các miền quê khác, nơi ông từng có dịp đặt chân đến. Có thể nói cảm thức làng là mạch nguồn xuyên suốt trong các tập thơ của ông, như: Con đường chiều quê xiêu xiêu gánh rạ/ Thăm thẳm bờ đê dốc hun hút gió/ Cối trầu trong khuya cầm canh đèn đỏ/ Cựa mình hạt ơi!/…/ Ta nghe sương rơi ta nghe mưa rơi/ Mà nghe mẹ thở nghẹn từng âu lo (Hát gọi hạt giống). Hoặc: Lớp gạch già lõm mặt/ Cánh cổng lăn kẽo kẹt đời người/…/ Thế giới vào làng luồn mái tam quan/ Có bầy chim cắp mùa lên tổ/ Có những nỗi đời lót trong rơm rạ/ Có một nỗi lòng giắt một nỗi quê/…/ Cổ tích làng tôi đựng trong chiếc mủng/ Mẹ bưng tháng năm lệch ngõ/ Bưng những hạt thóc lép đi qua cơn gió/ Bưng những nỗi đời đi giũ ở bờ sông (Cổ tích làng) v.v…
Với một người suốt đời đau đáu nỗi làng, thương những người thân yêu của mình nơi làng quê, cũng như những người nông dân ở các làng quê Việt Nam khác như thương chính bản thân, thì thơ viết về làng của Trần Quang Quý không còn là thơ theo nghĩa thông thường nữa, mà là máu tim ông chắt ra, âu cũng là xương thịt làng của ông vậy. Làng và người nông dân sống ở những ngôi làng ấy trong thơ Trần Quang Quý, dứt khoát không phải là cái cớ hời hợt, thoáng qua, cho những kẻ si tình à ới thành câu, ghép vần, tạo nhịp… Trái lại, làng và người làng, thực sự đã là một phần máu thịt của cuộc đời ông. Làng trong niềm vui được mùa, bưng bát cơm trên tay mà chan đầy mồ hôi và nước mắt. Làng bị quăng quật, bằm dập trong ngày ba tháng tám, khi giáp hạt, những lúc thiên tai nước trắng mặt người, nhưng muôn đời làng vẫn cứ tồn tại trong cái bản thể của nó. Người dân làng trong thơ ông là: Tất cả cùng hái gặt trên cánh đồng này/ Và cánh đồng đã gặt hái họ.
Làng trong thơ Trần Quang Quý vừa thân quen, gần gũi, mộc mạc, thuần phác như bao làng quê truyền thống của Việt Nam, vừa đầy thân phận. Viết về sức sống làng một cách có ý thức và bền bỉ hàng chục năm trời mà không hề ngẫu hứng, bột phát nhất thời, không bị lặp lại chính mình là một việc khó. Làng trong thơ Trần Quang Quý được nâng lên ở một tầm cao mới trong chiều sâu nhân bản của nó: Làng đã đóng đinh tôi vào cánh cửa/ Mỗi ngày khép mở giữa câu thơ. Hay: Cổ tích làng tôi đựng trong chiếc mủng/ Mẹ bưng tháng năm lệch ngõ/ Bưng những hạt thóc lép đi qua cơn gió/ Bưng những nỗi đời đi giũ ở bờ sông…
Rõ ràng làng trong thơ Trần Quang Quý không đơn giản chỉ là một vùng đất cho những người nông dân quần cư, rồi sinh con, đẻ cháu; cũng không đơn giản là một mẫu số chung chỉ về một số nét văn hóa nào đấy mà người ta có thể chỉ mặt đặt tên được. Làng trong thơ ông như một thực thể tồn tại có thân phận hẳn hoi, một thân phận tổng thể và tổng hòa những thân phận cá nhân và những mối quan hệ xã hội của những người nông dân Việt Nam được chưng cất lên từ hàng ngàn năm lịch sử và được định vị lại trong tấm căn cước vĩnh cửu qua thơ của Trần Quang Quý: Lớp gạch già lõm mặt/ Cánh cổng lăn kẽo kẹt đời người. Hay: Có những nỗi đời lót trong rơm rạ/ Có một nỗi lòng giắt một nỗi quê…
Vậy nên làng tồn tại trong thơ Trần Quang Quý không chỉ dừng lại ở cấp độ ý thức của một công dân làng, mà còn tồn tại cả trong vô thức của một thi sĩ sinh ra từ làng. Chính cái vô thức ấy mới là phần rường cột, căn cốt tạo nên một phong cách thơ mang đậm chất Trần Quang Quý mà chúng ta từng đọc. Theo ý kiển chủ quan của tôi, cảm quan làng, hình bóng làng, tâm thức làng và giá trị làng là tất cả những gì làm nên một Trần Quang Quý nghệ sĩ đích thực về làng và của làng. Có thể nói, không phải Trần Quang Quý làm thơ về làng mà chính làng làm nên thơ Trần Quang Quý.
Từ làng quê mở rộng ra đất nước. Người đọc bắt gặp những lần ngược miền Tây Bắc, nhà thơ cũng đầy hứng khởi, say sưa chia sẻ tận đáy lòng những buồn vui, cảm nhận của mình trước một thiên nhiên hùng vĩ của non nước Việt Nam: Nào rượu nào rượu, ta với sông Đà!/ Nâng một chén nghìn sau còn chảy (Uống rượu với sông Đà). Rồi: Vạm vỡ ngực núi/ Tây Bắc nắn ánh mắt ta thành những gợn sóng/ Tây Bắc nắn cảm giác ta xoáy những vòng váy lượn/ Em hây hẩy núi đồi/ Ngựa chùng chân quỳ gối/ Lam khói lên. Lam khói biếc ta rồi… (Nhớ một chiều Tây Bắc). Khi vào đến tận miền Tây sông nước Nam Bộ, Trần Quang Quý vẫn mang theo đủ đầy sự hứng khởi vừa vạm vỡ, vừa tinh tế của một tấm lòng sẻ chia, một tâm hồn nhạy cảm. Có thể nói trong thơ Trần Quang Quý, mỗi vùng đất, miền quê ông từng đặt chân tới đều có nhiều cái để ta đáng yêu, đáng quý, nhưng cũng không ít điều khiến nhà thơ phải suy tư, trăn trở. Với một nội lực sáng tạo như ông, ở đâu, cái gì cũng đều có thể trở thành đề tài cho vần thơ cất cánh và tỏa sáng.
Làng quê trong thơ Trần Quang Quý tuy không mới, nhưng đã không lặp lại cảm quan thẩm mỹ nghiêng về tính chất ngợi ca; bởi ông đã nhìn thấy ở những người nông dân từ xa xưa cho đến tận hôm nay như một thực thể tồn tại trong sự vận động đa chiều với nhiều sắc màu của thân phận dưới một cảm quan thẩm mỹ mới. Đấy chính là nỗ lực vượt qua rào cản của cái cũ và vượt qua chính mình để Trần Quang Quý có được những thành công về thơ cách tân trên cơ sở truyền thống dân tộc mà vẫn rất hiện đại. Giải thưởng Nhà nước mà ông vừa được trao tặng đợt IV, 2016 vừa rồi là một minh chứng sinh động nhất ghi nhận những đóng góp của ông trong tiến trình đổi mới thơ ca nước nhà.
10/1/2018
Đỗ Ngọc Yên
Theo https://vanvn.vn/

Cái đẹp trong tâm thức của Tanizaki

Cái đẹp trong tâm thức của Tanizaki

Hình mẫu phụ nữ thường thấy trong sáng tác của Tanizaki là người được sùng bái nhưng lại tàn tệ với người yêu mình. Điều đó thể hiện trong “Truyện Shunkin”.
Tanizaki Junichiro từ lâu đã gần gũi với độc giả Việt Nam qua những tác phẩm như Mong manh hoa tuyết, Chữ Vạn, Nhật ký già si, Hai cuốn nhật ký… Thời gian gần đây, hai truyện dài của ông, Truyện Shunkin và Người mẹ của tướng Shigemoto tiếp tục được giới thiệu tới công chúng yêu mến văn hóa Nhật Bản dưới tên gọi Truyện dài Tanizaki.
Khi cái đẹp thành đức tin
Tanizaki Junichiro (1886-1965) là một trong những tác gia vĩ đại của Nhật Bản thời kỳ cận-hiện đại. Sinh thời, ông nhận được vô số giải thưởng của Nhật Bản cũng như quốc tế.
Trái ngược với nhà văn cùng thời Yasunari Kawabata – người theo trường phái bảo tồn những giá trị truyền thống, đề cao vẻ đẹp của nghệ thuật truyền thống thì dường như Tanizaki hướng tới chủ nghĩa duy mỹ Âu hóa ngợi ca cái đẹp cơ thể, sự khát khao nhục dục nguyên thủy của người phụ nữ hiện đại giữa thời cuộc làn sóng văn hóa phương Tây đang du nhập vào thế kỷ 20.
Ông từng có thời gian tìm hiểu tâm lý học và sau đó đã vận dụng nhuần nhuyễn những kiến thức đó vào miêu tả những khoái lạc dị hoặc, những lệch lạc tính dục trong sáng tác.
Hình mẫu người phụ nữ được ưa chuộng trong những sáng tác của ông là kiểu hình femme fatale – người phụ nữ được sùng bái nhưng lại tàn tệ với người yêu mình. Độc giả sẽ thấy mô típ này ở nàng Mitsuko trong Chữ Vạn, cô gái thanh lâu trong Xâm mình, nàng Ikuko trong Hai cuốn nhật ký và nhất là hình ảnh nàng Shunkin trong Truyện Shunkin.
Shunkin là một nhân vật có thật trong lịch sử, nàng sinh ra trong một gia đình thương gia khá giả ở Osaka. Nàng tinh thông cầm nghệ, giỏi nhất là đàn koto và shamisen. Hồng nhan bạc mệnh, nàng chẳng may bị lòa năm lên chín. Sasuke, một người học việc trong nhà nàng, vì ngưỡng mộ tài hoa của thiếu nữ bất hạnh đã xin làm người hầu riêng cho nàng.
Shunkin không những không cảm kích trước tấm lòng của Sasuke, mà ngày đêm nhiếc móc, hành hạ chàng, đối xử không khác gì nô lệ. Sasuke quan tâm đến Shunkin từng li từng tí, mọi việc nàng muốn, chàng đều sẽ làm cho nàng. Tình cảm Sasuke dành cho Shunkin không chỉ đơn thuần là tình yêu nam nữ, đó còn là niềm ngưỡng vọng, lòng trân quý một vưu vật hiếm khi có được.
Ngay cả khi Shunkin bị mù, Sasuke cũng không coi đấy là khiếm khuyết. Mọi thứ thuộc về Shunkin đều hoàn hảo. Thậm chí, đến khi bập bõm tập đàn, chàng còn trốn vào tủ quần áo, lần mò gảy từng dây đàn trong bóng tối chỉ vì muốn trải qua những gì Shunkin phải chịu.
Tôn thờ cái đẹp đến mức cuồng si, độc giả có thể dễ dàng bắt gặp qua hình ảnh chú tiểu Mizugochi trong Kim Các tự của Yukio Mishima. Cậu phóng hỏa đốt chùa, cũng chính là một cách bảo vệ báu vật của đời mình thì Sasuke cũng làm điều tương tự.
Khi Shunkin chẳng may bị bỏng đến hủy hoại dung nhan, chàng đã tự làm mù đôi mắt của chính mình, để giữ vẹn nguyên hình ảnh nữ thần. Và từ đó, “chỉ có gương mặt trắng đẹp tuyệt trần của Shunkin – vẹn nguyên như hai tháng trước – đang tỏa sáng lung linh trước ông như hào quang rạng ngời của đức Phật”.
Một lần nữa, nhân vật của Junichiro hiện lên trong ánh sáng của thánh thần, giống với hình ảnh Mitsuko trong Chữ Vạn. Cái đẹp trở thành đức tin cao cả cho những con chiên ngoan đạo, khiến họ một lòng sùng bái.
Vẻ phong tình trong thế giới văn chương Tanizaki
Junichiro còn đem phức cảm Oedipus – một thuật ngữ của Sigmund Freud dùng để miêu tả những ám ảnh của con trai dành cho người mẹ – vào trong những sáng tác của mình, như Mộng phù kiều, Sắn dây núi Yoshino hay trong Người mẹ của tướng Shigemoto.
Hình ảnh hư ảo của người mẹ hòa lẫn với bóng dáng người tình trở đi trở lại trong từng trang viết của ông. Mẫu thân của tướng Shigemoto, nàng Ariwara bị đặt trong tam giác tình yêu giữa quan Đại nạp ngôn Kunitsune – người đã gần tám mươi tuổi và quan Tả đại thần Shihei và chàng Heiju.
Trong cơn hứng chí ở bữa tiệc tại tư gia của quan Đại nạp ngôn, Shihei đã ngỏ lời xin nạp phu nhân của ngài Kunitsune làm thiếp. Tưởng chừng ngài Đại nạp ngôn sủng vợ hơn trời sẽ chối đây đẩy nhưng có ai ngờ, ông cụ lại đồng ý trong nháy mắt. Từ đó, nàng Ariwara trở thành tâm điểm của những mối tình rối như tơ vò.
Khép lại những trang văn của Junichiro, độc giả không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ phong tình mà ông đã tạo nên trong thế giới văn chương của riêng ông. Tác phẩm của ông đi sâu vào những điều cấm kị, được khoác lên vẻ ngoài lãng mạn, không hổ danh là người kể chuyện có duyên nhất trong những cây viết tiền chiến.
22/9/2022
Hiểu Yên
Nguồn: Zingnews
Theo https://vanvn.vn/

Gõ cửa "Quán văn" Hoàng Đăng Khoa

Gõ cửa "Quán văn"
Hoàng Đăng Khoa

Với vốn kiến thức rộng và sâu, có cảm giác như Hoàng Đăng Khoa có thể trò chuyện sòng phẳng với bất kì ai, về bất kể vấn đề gì. Anh là người biết cách kích gợi để các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình nói về họ, tác phẩm của họ, họ của hiện tại và họ của tương lai. Trong một không gian thân tình, cởi mở, mang tính học thuật, chuyên môn, Hoàng Đăng Khoa đã cuốn những khách văn của mình vào câu chuyện của họ, câu chuyện của chính anh và câu chuyện của văn chương nước nhà…
Nếu để ý một chút về cách đặt tên các tập tiểu luận – phê bình, đối thoại văn chương của Hoàng Đăng Khoa, chúng ta nhận thấy sự xuất hiện của nhiều động từ: “gặp”, “phiêu lưu”, “song hành”, “đối thoại”. Điều này phần nào nói lên được phong cách phê bình của anh là phê bình dấn thân, nhập cuộc, thích kiếm tìm, khám phá, đào xới vấn đề. Ngay từ những bài phê bình đầu tiên được công bố, người đọc đã thấy ở anh sự chuyên tâm, bản lĩnh, tài hoa của một cây bút có nghề. Và nay, với Song hành & đối thoại, cuốn sách mới nhất của anh do Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2018, Hoàng Đăng Khoa không những củng cố và khẳng định cá tính phê bình, mà còn trình hiện ấn tượng, thuyết phục ở một tư cách mới: tư cách người dẫn chuyện thông minh, có duyên trong những cuộc song thoại văn chương, học thuật.
Song hành & đối thoại tập hợp 21 cuộc đối thoại của Hoàng Đăng Khoa với các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, dịch giả – những người thuộc thế hệ 7x, 8x, 9x đã và đang dự phần vào đời sống văn học Việt Nam đương đại. Nơi quán văn này, chủ quán và khách văn được lắng nghe nhau, tranh biện nhau, từ đó những tri kiến, phổ quan tâm, ý tưởng, mỹ cảm được cọ xát, khai mở. Đó không đơn thuần là những cuộc đối thoại song phương, mà thật sự là những cuộc đối thoại đa phương, đa chiều. Những cuộc đối thoại văn chương ấy hiển lộ sinh động chân dung của cả chủ quán lẫn khách văn, và trên hết là bức tranh muôn màu của văn học nước nhà hôm nay.
Với lối dẫn chuyện có nghề, Hoàng Đăng Khoa buộc các đồng nghiệp của mình phải ngẫm suy, trăn trở để cùng anh đào xới, lật trở vấn đề. Trong mỗi cuộc trò chuyện, anh luôn đặt mình vào ba tư thế: nhà sáng tác, nhà phê bình và độc giả. Với tư cách người đọc, anh thể hiện sự hứng khởi, niềm say mê, ngỡ ngàng, thích thú trước những trang viết của các nhà văn, nhà phê bình; trong cái nhìn của nhà phê bình, anh sẵn sàng bộc lộ thẳng thắn những chủ kiến, nhận định cá nhân của mình; ở vị trí người sáng tác, anh thể hiện sự đồng cảm, lắng nghe và thấu hiểu những ý tưởng văn chương, những tìm tòi sáng tạo của đồng nghiệp. Vì vậy trong từng câu hỏi anh đặt ra, chúng ta có thể thấy được cái tinh nhạy của người sáng tác, cái sắc sảo của người phê bình, và đặc biệt là cái tò mò, hiếu kì của một độc giả ham tri nhận.
Cùng với mỗi câu hỏi là những nhận định sắc sảo, có chủ đích, nhưng không có tính áp đặt, mà thường có tính chất gợi mở, mời gọi, kích thích và cả khiêu khích đối thoại. Hoàng Đăng Khoa biết “lẩy” ra những vấn đề mà người được hỏi quan tâm, am tường, những vấn đề nằm trong vùng hứng thú của họ. Với nguồn mỹ cảm sâu sắc, sự tinh anh của một nhà thơ, khả năng phát hiện vấn đề nhạy bén, sự thẩm định văn chương tinh tế của nhà phê bình giàu cá tính, Hoàng Đăng Khoa không ngần ngại chia sẻ, tranh biện, phản biện. Anh chọn đúng người, trúng vấn đề và biết cách khơi chuyện, cài cắm trong nhận định của mình ý kiến của dư luận, để biến mỗi câu hỏi, từng vấn đề trở thành những câu chuyện có phần phổ quát, chung cho nền văn học hôm nay. Với vốn kiến thức rộng và sâu, có cảm giác như Hoàng Đăng Khoa có thể trò chuyện sòng phẳng với bất kì ai, về bất kể vấn đề gì. Anh là người biết cách kích gợi để các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình nói về họ, tác phẩm của họ, họ của hiện tại và họ của tương lai. Trong một không gian thân tình, cởi mở, mang tính học thuật, chuyên môn, Hoàng Đăng Khoa đã cuốn những khách văn của mình vào câu chuyện của họ, câu chuyện của chính anh và câu chuyện của văn chương nước nhà.
Là người trực tiếp tham gia vào đời sống văn học đương đại với tư cách là nhà thơ và nhà phê bình, Hoàng Đăng Khoa thấu hiểu những vấn đề tồn tại, những giới hạn trong sự viết, những thách thức với nghề, từ đó chia sẻ quan điểm của mình, mong tìm kiếm sự đồng cảm, vẫy gọi sự đối thoại của người trong cuộc lẫn người ngoài cuộc. Các cuộc trò chuyện của anh thường neo vào một vấn đề được khởi sinh từ những sáng tác, những công trình nghiên cứu, phê bình, dịch thuật mới nhất của đồng nghiệp; sau đó, anh mở rộng ra nhiều vấn đề cốt tủy trong đời sống văn học đương đại. Những vấn đề nổi cộm được anh đưa ra bàn thảo là: chủ nghĩa hậu hiện đại và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn học Việt Nam; sự khả thủ và giới hạn của lý thuyết hiện đại phương Tây trong nghiên cứu, phê bình các hiện tượng văn học Việt Nam; câu chuyện bếp núc của nhà văn với những ý tưởng, dự án văn chương cùng không ít những trăn trở, thách thức trong thời đại công nghệ số; vấn đề nữ quyền và dòng văn học nữ giới; văn học hải ngoại và hành trình đi về của các nhà văn; dịch giả và khát vọng truyền bá văn hóa; văn chương thị thường và lối phê bình “hàng xén”; sứ mệnh của nhà phê bình trong việc định hướng thẩm mỹ, định giá văn chương; những hiện tượng văn học nổi bật, những lối tiếp cận, lý thuyết mới… Đặt ra những vấn đề này, Hoàng Đăng Khoa không chủ đích (và cũng bất khả) đẩy những cuộc đối thoại văn chương đến chỗ hoàn kết, mà chỉ là để ngỏ, khai phóng, kích gợi nhiều cuộc đối thoại khác tiếp tục mở ra.
Tìm gặp được một người đọc mình, hiểu mình đã khó, tìm gặp được một người biết lật mở, khơi gợi những vấn đề cốt tủy của mình, kích tạo niềm cảm hứng cho mình… lại càng khó gấp bội. Nhưng Hoàng Đăng Khoa và quán văn của anh đã và đang là địa chỉ đáng tin cậy của những khách văn hữu duyên. Và trước khi gõ cửa, bước vào quán văn ấy, hãy luôn chuẩn bị tâm thế, sẽ không có trà ngon rượu thơm, không có lời tán dương hoa mỹ sáo rỗng, không có câu hỏi dễ dãi, cạn cợt, hay những kết luận vội vàng, chủ quan, tự tin; nhưng khi bước ra khỏi quán văn ấy, trở về, sẽ thấy mình được tiếp truyền năng lượng, cảm hứng sáng tạo, thấy một cách trực quan sinh động tiếng nói văn chương của mình được vọng đáp, câu chuyện văn chương của mình được dự phần vào đời sống văn học nước nhà hiện thời.
22/9/2022
Nguyễn Văn Hùng
Theo https://vanvn.vn/

Nhụy Nguyên - Trôi giữa hai chiều kích thời gian

Nhụy Nguyên - Trôi giữa
hai chiều kích thời gian

Gấp tập truyện ngắn của Nhụy Nguyên trên tay, bạn đọc có thể sẽ còn băn khoăn, vương vấn, bất an về nhiều vấn đề. Chính điều này thôi thúc chúng ta không ngừng đọc lại anh. Mỗi lần đọc lại sẽ ngộ ra thêm những điều mới mẻ. Tôi tin rằng, đọc truyện ngắn Nhụy Nguyên là một duyên nghiệp ở đời, bởi anh không cầu danh tiếng cũng không cầu sự phát hành rộng rãi. Nhiều năm qua, tôi có khuyên anh nên in phổ biến những tác phẩm của mình đến bạn đọc, để cùng với bạn đọc hành trình qua bến mê khổ lụy này.

“Hoa dại như là niềm ân nghĩa. Nhìn hoa nghiệm ra
sự hiện hữu của những gì tưởng đã tan loãng hư vô” [Nhụy Nguyên]
Tôi đọc và dõi theo văn chương Nhụy Nguyên cũng ngót ngét gần mười năm qua. Thế nhưng viết một gì đó về/cho anh thật khó. Cứ có cảm giác ngôn từ của anh thuộc về một cảnh giới khác, một cõi khác giữa cuộc đời trần tục này, cuộc đời mà tôi vẫn hằng ngày nghiệm trải. Nhụy Nguyên kiệm lời và cũng kiệm viết, có bản thảo tiểu thuyết anh đã đưa tôi xem vài năm qua, rồi lại mang về, hứa sẽ xuất bản, rồi lại lỡ hẹn bao lần để chỉnh sửa, thế rồi cũng bỏ quên luôn bởi thấy chưa ưng ý hoặc vì một lí do nào đó chỉ riêng mình anh biết. Tôi cứ tiếc mãi, vì có nhiều bản thảo theo tôi, nếu mạnh dạn in sớm vào thời điểm được viết, nhất định sẽ để lại một vài dư chấn trên văn đàn. Tính cẩn trọng của anh có lẽ vừa liên quan đến khí chất, lại vừa liên quan đến tư tưởng Phật giáo mà anh suốt đời tu tập. Nhụy Nguyên gần như là một cư sĩ, người mong mỏi được sống thiện lành giữa chúng ta. Với anh, ngôn từ vốn bất lực, thứ văn chương đích thực luôn vô ngôn và kiệm lời, đúng với tinh thần của những thiền sư. Anh cho rằng ngôn ngữ vốn vi diệu và do vậy nó có chức năng gây ảo giác và ảo tưởng cho người muốn sắp đặt chúng. Thơ Haiku của những thiền sư Nhật Bản như Basho chẳng phải cũng đã tối giản hóa chỉ còn 17 âm tiết hay sao? Thơ Nhụy Nguyên không viết theo thể hài cú (haiku), nhưng anh cũng ngày càng kiệm lời, đến mức một bài đôi khi chỉ còn hai câu lục bát không dài hơn haiku là bao. Trong tập thơ Khi người ta cúi mặt [Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011], tác phẩm gần nhất anh chính thức xuất bản, lắm bài thơ chỉ là 14 âm tiết: “Một ngày xác chữ lên ngôi – Huyệt thơ rỗng suốt cuộc đời thi nhân” (Huyệt thơ); Hay như bài Ánh tà gần đây: “Liếc dao lên trăng/ Âm mưu giết cái đẹp”. Trong những nghiên cứu trước, tôi từng xem thơ Nhụy Nguyên là thứ thơ theo hướng chủ nghĩa cực hạn (Minimalism). Thơ ca của anh vừa mới lại vừa cũ, tạo ra một thứ tân cổ điển mới dưới tinh thần của mỹ học chiết trung hậu hiện đại.
Trong làng văn ở Cố đô Huế hiện nay, trong thế hệ cầm bút mới từ 8x trở đi, Nhụy Nguyên là người rất đáng đọc. Văn chương của anh trầm tích văn hóa và tư tưởng, tạo ra một thứ nội lực riêng, bản sắc chữ nghĩa vượt ra/lên được những mốt tân kì thời thượng đương thời, nhưng cũng không bảo thủ, cũ kĩ nhàm chán. Văn xuôi trẻ ở Huế, nếu chọn ra một vài gương mặt thực sự có sức nặng về mặt tư tưởng, Nhụy Nguyên cần ưu tiên trước hết, bên cạnh một vài đồng nghiệp ưu tú khác đáng để bạn đọc kì vọng. Họ xứng đáng vượt lên khỏi giới hạn của tính địa phương, để vươn tầm ra văn đàn cả nước. Điểm đáng tiếc của họ, đó là người thì quá hàn lâm, người thì lại quá viết cho theo kịp thị trường. Riêng Nhụy Nguyên, giới hạn của anh là viết quá cẩn trọng, đôi khi lạc bước giữa thời thế. Bởi trên văn đàn hiện nay, với tốc độ phát triển nhanh chóng của nghệ thuật, chậm chạp là một giới hạn, từ một câu chuyện rất mới đã trở thành cũ kĩ trong thời gian ngắn. Song Nhụy Nguyên luôn ước muốn đưa tác phẩm ra khỏi những ràng buộc của thời thế. Vậy nên anh có những bản thảo tiểu thuyết và truyện ngắn viết hơn chục năm rồi mà đến nay vẫn chỉ là bản thảo.
Bẵng một thời gian lâu, tôi thấy anh đóng cửa phòng văn tu học, không thấy viết lách gì nữa, tưởng chừng như anh đã gác bút thực sự, thì bỗng nhiên năm cuối năm 2018 – đầu năm 2019 anh cho xuất bản 1 tập truyện ngắn, 1 tập tùy bút, 1 tập cảm luận, và 4 tập tiểu luận thiên về khoa học và đạo Phật. Trong các tác phẩm đó, tôi đặc biệt chú ý đến tập truyện ngắn của anh với tựa đề Trôi trên dòng thời gian trắng xóa [Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2018] (những trích dẫn trong tiểu luận này, nếu không có chú thích gì thêm, thì đều từ nguồn này). Tập truyện ngắn gồm 14 truyện ngắn, với dung lượng khá khiêm tốn, nhưng thực sự là một thử thách đối với bạn đọc. Trôi trên dòng thời gian trắng xóa như một công án thiền, cần đọc thông qua tâm nhãn, hơn là sự thụ cảm thông thường bằng lí trí và xúc cảm. Văn chương của Nhụy Nguyên là thứ văn chương khó đọc, nhiều chỗ trở nên đánh đố bạn đọc bởi nhiều phạm trù triết mỹ thâm sâu, đòi hỏi bạn đọc phải có một tầm đón đợi nhất định mới có thể thông hiểu. Bản thân tôi cũng phải đọc đi đọc lại ba lần tập truyện này, mới dám ngồi xuống và viết gì đó. Thậm chí, nhiều chỗ, nhiều tình tiết, nhiều truyện đọc mãi mà vẫn như đứng ngoài khung cửa của sự thông hiểu, không thể dám lạm bàn nhiều. Điều tôi cứ mãi băn khoăn, đâu là “con mắt văn chương” của Nhụy Nguyên, đâu là “phiến đá cửa vào” để chúng ta có thể khám phá thế giới chữ nghĩa của anh? Bản sắc ngôn ngữ và tư tưởng của Nhụy Nguyên thể hiện ở đâu?
Nhụy Nguyên là một thanh âm khác lạ trên văn đàn hiện nay, bởi văn chương của anh gần như trôi giữa hai chiều kích thời gian, tính cổ điển, thâm trầm của triết học Phật giáo, hòa lẫn với tính hậu hiện đại tân kỳ của triết học giải cấu trúc. Phàm ở đời, thật cổ điển hay thật tân kỳ đã là thành công, nhưng văn chương Nhụy Nguyên một lúc đã đạt được cả hai giá trị đó. Anh là điểm nối giữa những gì ngày mai với những gì của ngày hôm qua, giữa bề sâu và bề nổi, giữa tính dân tộc với tính hiện đại trong văn chương.
1. Quá khứ chưa xong xuôi hoàn tất trong truyện ngắn Nhụy Nguyên
Tập truyện ngắn Trôi trên dòng thời gian trắng xóa, như đã trình bày là một tập truyện ngắn có tính chất tư tưởng. Tác giả viết như một sự chứng nghiệm những mệnh đề triết học về nhân sinh và vũ trụ, dưới tinh thần Phật giáo. Đạo Phật đưa lại cái nhìn đúng về vũ trụ nhân sinh, như khoa học lượng tử minh tường và thừa nhận. Văn chương Nhụy Nguyên là thứ văn chương tự ăn mình, tự chiêm nghiệm, như con tằm ăn lá dâu nhả ra tơ, rồi cũng vì sợi tơ của mình mà chấp nhận chết đi. Truyện ngắn của Nhụy Nguyên cũng như thơ, luôn là nỗi đau bản thể, sự chiêm nghiệm cõi người và kiếm tìm con đường giải thoát để đạt hạnh phúc đích thực. Anh chưa bao giờ viết để giải trí, viết một cách dễ dàng để mua vui hay chiều lòng độc giả. Anh viết trước hết là cho chính mình.
Chiều kích quá khứ truyền thống trong tập truyện hiện lên rõ ràng, thông qua hệ thống tư tưởng, triết lý mà Nhụy Nguyên lĩnh hội. Mọi truyện viết về một mảng hiện thực khác nhau, cốt truyện, bút pháp cũng khác, nhưng tất cả như những bông hoa có cùng chung gốc, cái gốc ấy là học thuyết tâm linh huyền nhiệm. Hơn chục năm qua, tôi thấy anh ngày càng kiên trì với con đường đã chọn. Ăn chay trường, thiền tỉnh giác khá miên mật, ngay cả một con kiến bu vào ly cà phê anh cũng không cho tôi giết đi, Nhụy Nguyên luôn là một cư sĩ lựa chọn sống cuộc đời khác lạ. Nền tảng triết mỹ ấy là cách sống của anh, chứ không đơn thuần chỉ là một lối viết. Đúng với đoạn đề từ trên bìa 4 của tập truyện: “Tư tưởng Phật pháp được Nhụy Nguyên vận dụng uyển chuyển, huyền ảo trong mỗi truyện ngắn, xuyên vào nội giới, lóe vệt sáng phản chiếu bể trầm luân mà ở đó hạnh phúc đích thực không hiện diện trên gương mặt đam mê bản thể và những cái bóng lội qua sự sáng suốt tịch lặng của gương tâm”.
Có thể nói, đặc trưng nghệ thuật mang tính truyền thống cổ điển nhất trong truyện ngắn Nhụy Nguyên đó phải là những tư tưởng căn cốt về triết lý nhân sinh trong mối tương quan với vũ trụ. Nhiều truyện có yếu tố như một dạng công án thiền, là sự cắt nghĩa, diễn giải chân tướng về vũ trụ nhân sinh dưới hệ thống hình tượng khác nhau. Nếu như truyện Phật ở ngoài khơi xa kêu gọi một sự tự tỉnh thức, thoát khỏi sự ràng buộc của dục vọng vô minh đầy những ẩn dụ triết học: “phải biết làm bạn với chính mình. Một mình làm bạn với chính mình mà không có điều kiện gì cả có nghĩa bạn thực sự hài lòng với chính mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào” [tr.27]; thì truyện Vung tay chạm đến vô cùng là câu chuyện tự nhiên theo tiến trình [nguyên] nhân – [kết] quả. Nhân vật Nõ đào được đầu tượng Hộ pháp bằng vàng, nhưng lại đem bán một phần nhỏ xíu trên chóp đỉnh của bức tượng trong khi đang cầu con, “tình cờ” anh bị tai nạn vào đầu. Nhưng mạch truyện diễn tiến hồ như câu chuyện chân thật và xúc cảm được kể ở đâu đó quanh ta. Truyện Không thể nói ra khá huyền ảo, khi người kể chuyện là một con chó, nhưng nó là ẩn dụ cho sự luân hồi từ kiếp người thành kiếp vật. Câu chuyện giữa những con chó nâng niu sự sống đến hơi thở chót khiến độc giả lạc vào không gian người từ lúc nào không hay.
Cả tập truyện phảng phất không khí của quá khứ cổ điển, khi nhiều tích xưa, truyện cũ được nhà văn một lần nữa viết lại. Truyện ngắn Apsara và dòng kinh sám hối đưa bạn đọc quay về với đất nước Chămpa, khi cô công chúa người Việt như là nguyên nhân của cuộc chiến giữa hai nước. Nhụy Nguyên đã khéo léo khai quật cả một không gian sử thi huyền thoại, đầy rẫy những biểu tượng văn hóa Chăm trong quá khứ: “Người ta khoác lên thân nàng tấm lụa trắng muốt. Bây giờ chỉ còn ba hầu nữ. Nàng theo đến tòa tháp lớn hình linga. Đỉnh hổng. Nhìn lên thấy khoảng trời tròn điểm vài ngôi sao mọc vội. Phía trong độc nhất bệ thờ sát tường. Trên bệ là linga-kosa bằng vàng ròng, chóe lên. Một cái đầu thần Siva lồi ra ở đoạn trên của linga…” [tr.199]. Nhụy Nguyên là một người từng học lịch sử, anh có niềm đam mê với những di chỉ khảo cổ học và văn hóa Chăm để viết nên bản thảo tiểu thuyết về nàng Tiên Thiên vũ nữ. Do vậy, trong truyện anh đã dựng lên được một quá khứ kiến trúc vàng son của vương quốc  Chămpa. Sự hiểu biết về văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo Chăm đã giúp nhà văn tái tạo nên một thế giới nghệ thuật quá khứ đầy sống động, cụ thể.
Truyện ngắn 7 bước thiền lại đưa chúng ta đi xa hơn, quay về với quá khứ xa xôi hơn, khi Đức Từ Bi đắc đạo và hoằng truyền giáo lý tối thượng. Câu chuyện viết về thời đại mà những tiểu vương ở Ấn Độ vẫn còn cát cứ, thực chất họ vẫn sống trong những xã hội chiếm hữu nô lệ đầy man dã. Vị vua Pasenadi đi tuyển mà thực chất là lùng bắt khắp nơi gái đẹp về làm cung nữ. Govinda là tên tay sai sẵn sàng bắt bớ mọi người con gái đẹp đem về cho vua. Bút pháp của Nhụy Nguyên làm sống dậy một không gian xa xôi, tưởng chừng như đã chìm trong lãng quên, không gian Ấn Độ cổ đại đầy huyền hoặc mà đấng Giác ngộ đã từng sống. “Vạn vật có sinh có diệt. Hạnh ái mẫn của Ngài thấm vào những cánh sala chuyển kiếp sau một đêm tiết hương cho sự an tịnh của khu rừng. Đêm xuống, hương sala dịu nhẹ, ngọt, len vào giấc thiền. Những sa môn ngồi quán hơi thở vô tình nương hoa sala chìm vào an lạc” [tr.92]. Câu chuyện viết về mối tình giữa nàng Malyahassa với chàng Asidana. Chàng giác ngộ theo Đức Từ Bi, bỏ lại nàng Malyahassa dấu yêu. Người vợ thì chịu khổ nạn ở kiếp này bởi thói dâm dục của vị vua Pasenadi, tuy nhiên theo đó, qua pháp nhãn nhìn thấy tương lai của đấng Giác ngộ, nàng đã tẩy chướng nghiệp và có thể đổi lấy một duyên lành ở kiếp sau. Những địa danh, tên riêng, chức phẩm của xã hội Ấn Độ cổ đại đã được Nhụy Nguyên làm sống lại trong truyện. Bạn đọc như lạc vào một thời đại mà đấng Giác ngộ còn là người rất trẻ. Và hơn hết là khung cảnh của một giai đoạn pháp nạn oan khiên bởi sự ganh ghét độ kị từ những giáo thuyết khác lợi dụng vương quyền.
Mỗi truyện ngắn của Nhụy Nguyên, dẫu không cần quay về với quá khứ xa xưa như hai ví dụ trên, cũng mang chiều kích hướng về quá khứ. Những câu chuyện có thể diễn ra ngày hôm nay, của thời hiện đại này, nhưng chúng ta luôn thấy quá khứ đổ bóng lên nó. Kiếp này luôn phản chiếu kiếp kia, nhiều kiếp xa xưa kia, hướng theo luật nhân – quả và thuyết luân hồi của nhà Phật mà nay trở thành đối tượng nghiên cứu đầy hấp lực của vật lý lượng tử và khoa học hiện đại; và ngay cả triết học, đỉnh cao của nó vẫn phải là triết học về tâm thức. Đúng như trong truyện Buông có những lời này: “Một vị sự từng dạy, lúc tâm tĩnh vắng sẽ sực nhớ ra điều xa xưa kể cả trong tiền kiếp” [tr.81]. Trong truyện Trôi qua miền sáng, những nhân vật chính là hai mẹ con đều đã chết (đứa con chết trước, nó không biết và cứ trò chuyện với người mẹ, trong lúc người mẹ thì đang biểu hiện với con chó; con chó cũng chết và làm bạn với đứa bé. Người mẹ thì chết sau hơn con mình, khi vụ hỏa hoạn do người đàn ông hút thuốc phiện gây cháy). Ở gần cuối truyện, bạn đọc mới biết được sự thật kinh dị này. Hóa ra tất cả những gì người kể chuyện xưng “tôi” kể (người con), là quá khứ diễn ra khi hai mẹ con còn sống, chưa bị tên đàn ông giết hại. Tóm lại, mọi truyện ngắn của Nhụy Nguyên luôn đổ bóng và trì níu vào quá khứ, để giải thích và chiêm nghiệm cho thực tại hôm nay.
Hệ thống hình tượng trong truyện ngắn của Nhụy Nguyên cũng mang tính cổ điển rõ nét. Trong nhiều truyện, anh miêu tả về thói quen thưởng trà đầy truyền thống trong sự đối sánh với thiền học, nhiều câu được viết nên bởi sự tinh tế, tài hoa: “Tôi cũng không ngạc nhiên trước thái độ của sư: không hỏi tôi con ai trong làng, không cần biết tên tôi và tại sao tôi có thú thưởng trà? Vị thiền phải chăng như ấm trà đặc, vài ngụm đầu đắng, uống thêm ngọt dần và hạnh phúc lan tỏa [tr.86]. Trong nhiều truyện khác là sự xuất hiện của cây hoa mai, như một niềm gợi nhắc đến bài thơ Cáo tật thị chúng nổi tiếng của Mãn Giác thiền sư. Không gian truyện ngắn của Nhụy Nguyên nở vàng sắc mai cổ điển. “Những gốc mai phía sau nhà, không phải ở vườn trước. Một hôm tôi lạc vào khu vườn của sư. Ngày cuối đông mai chưa hé nụ, tôi ngỡ ngàng run rẩy trước vẻ kiêu hãnh của những cây mai mới nhú lộc xanh tươi mơn mởn” (Buông) [tr.80]. Đó là những cây mai vàng cuối đông mọc ở chùa làng. Những cây mai còn gắn liền với mảnh vườn quê hương và bóng hình của mẹ. “Cây mai cao vút tận nóc nhà, tôi phải bắc thang trẩy lá. Mạ đứng dưới ngó lên, nói anh chị tính bán, mạ không cho… Tôi bùi ngùi. Cây mai quá thân thương. Tết nào cũng ra như thăm ân nhân. Bây giờ chợt nghĩ khác, phải chăng tôi quý nó bởi còn mạ” (Mưa hoa bên sườn đồi) [tr.145].
Truyện ngắn Nhụy Nguyên bắt rễ vững chắc vào quá khứ. Thế mạnh và cũng là điểm làm nên sự khác biệt trong bút pháp văn xuôi, trước tiên đó là khả năng tái hiện không gian văn hóa quá khứ, với những mệnh đề ý niệm về cõi nhân sinh. Tuy nhiên, đó là thứ quá khứ không xong xuôi hoàn tất. Có nhiều truyện anh viết lại những sự kiện lịch sử cũ, với những nhân vật lịch sử có thật như Phật Thích Ca, công chúa Huyền Trân, vẫn những không gian và hệ thống hình tượng cổ điển, ngôn ngữ và địa danh, tên riêng cũng đầy truyền thống, nhưng sự vật/việc đã được tái diễn giải theo một tinh thần mới – tinh thần hậu hiện đại.
2. Nghệ thuật (hậu) hiện đại trong truyện ngắn Nhụy Nguyên
Điểm làm bạn đọc bất ngờ khi tiếp xúc với truyện ngắn Nhụy Nguyên, đó là sự tân kỳ, hơi thở đương đại trong hình thức thi pháp của tác phẩm. Đây rõ ràng là nét cách tân nghệ thuật của tác giả, nhưng nó cũng liên tục đặt ra những giới hạn và thách thức cho sự diễn giải từ phía người đọc. Bạn đọc phổ thông, và nhất là những Phật tử mong muốn khi đọc truyện phải thấy ngay bài học giáo huấn, cốt truyện trong sáng, mạch lạc rõ ràng phải nhận lấy sự thất vọng khi tiếp nhận. Nhụy Nguyên có một khoảng cách lớn với văn chương thuyết giáo, văn chương minh họa và văn chương thị trường. Đó có thể cũng là lí do mà nhiều năm qua, mặc dù anh được giới lí luận phê bình chuyên nghiệp đánh giá cao, nhưng vẫn không bật lên được trên văn đàn như một tác giả bestseller, hay thậm chí là một người được bạn đọc quen mặt, chờ đón.
Truyện ngắn Nhụy Nguyên trong Trôi trên dòng thời gian trắng xóa thực sự khó đọc, bởi anh đã dụng nhiều cách tân trong nghệ thuật tự sự, hướng theo mô hình đa thanh, đối thoại và giải cấu trúc hậu hiện đại. Bạn đọc dẫu cẩn thận đọc kĩ, đọc chậm vẫn dễ dàng bị lạc lối giữa mê cung của trần thuật. Trong rất nhiều truyện, anh sử dụng kĩ thuật tự sự nhiều người kể, trong đó liên tục đảo vai trần thuật giữa ngôi thứ nhất (“tôi” kể) với ngôi thứ ba (người trần thuật toàn tri và bị giới hạn). Những ngôi kể xen lẫn nhau này có trường nhìn, quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau, khiến bạn đọc trở nên bối rối trong tiếp nhận.
Đơn cử truyện ngắn đầu tiên của tập truyện là Mầm nhói, đây thực sự là một truyện ngắn mê lộ trong trần thuật. Giá trị nhân văn của truyện thể hiện ở lỗi lầm của nạn phá thai, về “những đứa trẻ không thấy mặt trời. Những đứa trẻ được tắm lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng như sự gội rửa nỗi oan bằng nước thánh” thông qua đồi An Hài, ngọn đồi/nghĩa trang thai nhi do Giáo xứ thuộc xã Hương Hồ lập từ 1992, nơi chôn cất hơn 40 ngàn phôi thai, phần lớn là hậu quả của nạn phá thai. Nhụy Nguyên từng chia sẻ, bản thân anh – khi còn mịt mù vô định trong nghiệp thức tục trần, đã từng “phủi đi giọt sương long lanh trên thành vực sâu đời người”… Giữa các khổ là sự chung vai tiếp sức giữa hai ngôi kể thứ nhất và thứ ba, tức là giữa “tôi” kể và một người kể toàn tri trần thuật về “hắn”. Nhưng sự phức tạp còn nằm ở chỗ, có nhiều “hắn” và có nhiều “tôi” cùng song hành cùng kể, dưới những điểm nhìn khác nhau, không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng phát hiện hắn là hắn nào và tôi là tôi nào. Chỉ tính riêng truyện này, có thể lập ra một bảng như sau để bạn đọc dễ hình dung sự phức tạp trong nghệ thuật trần thuật mê lộ của Nhụy Nguyên.

Khổ

Ngôi kể

Điểm nhìn

Nhân vật

Nội dung tóm lược

1

Thứ ba

Bị giới hạn, bên ngoài

Kể về nhân vật “hắn”

Hắn quyết định đi đến Đồi Anh Hài

2

Thứ ba

Không giới hạn

Kể về nhân vật “cô gái”

Cô đến đồi để tìm con đã từng gửi chôn ở đây

3

Thứ nhất

Bị giới hạn, bên trong

Kể về nhân vật “tôi”

Nhân vật tôi cùng cô gái lên đồi tìm con (có thể là người quản trang)

4

Thứ nhất

Bị giới hạn, bên trong

Kể về nhân vật “tôi”

Tôi trò chuyện với ông quản trang, nghe những câu chuyện bi thảm đau lòng

5

Thứ ba

Không giới hạn

Kể về nhân vật “hắn” và cô gái trong một trung tâm phá thai

Hắn khuyên cô gái trẻ chớ phá thai

6

Thứ nhất

Bị giới hạn, bên trong

Kể về nhân vật “tôi”, nhưng tôi này là một (linh thai) thai nhi bị phá

Kể về trải nghiệm đớn đau tàn khốc của thai nhi

7

Thứ ba

Không giới hạn

Kể về cô gái đi lên đồi Anh Hài tìm mộ con

Hoài niệm về kí ức phá thai

8

Thứ nhất

Bị giới hạn, bên trong

Kể về nhân vật “tôi”, nhưng “tôi” này là một chàng trai từng khuyên bạn gái phá thai

Kí ức về việc khuyên bạn gái phá thai

9

Thứ ba

Không giới hạn, bên ngoài

Nhân vật kể chuyện khách quan không xưng ngôi

Miêu tả toàn cảnh lễ cầu siêu cho anh hài

10

Thứ ba

Bị giới hạn, bên trong

Kể về cuộc trò chuyện giữa “hắn” và cô gái

Những ám ảnh tội lỗi, những ác mộng kì dị

11

Thứ nhất

Bị giới hạn, bên trong

Kể về nhân vật “tôi”

Nhân vật tôi chứng kiến hai người đi trong đêm tối

12

Thứ ba

Không giới hạn

Kể về nhân vật “hắn”

Hắn bước đi trên đồi Anh Hài

Như vậy, tác giả đã cố tình tạo ra một mê lộ trần thuật vô cùng phức tạp, với sự chồng lớp và xen vai ngôi kể, điểm nhìn và nhân vật trần thuật khác nhau. Sự phức tạp thách thức bạn đọc luôn diễn ra thường trực mỗi lần đọc qua đoạn. Bạn đọc luôn phải băn khoăn xem đây là ai, tôi hay hắn chính là ai, câu chuyện được kể có đáng tin cậy hay không, có mâu thuẫn với những lời kể của những người kể khác hay không. Tác giả không hề giới thuyết hay cho bạn đọc những tín hiệu rõ ràng nào về người kể chuyện như lời dẫn hay tên riêng cho những nhân vật. Thời điểm sự việc diễn ra, không gian sự kiện diễn ra cũng khá mơ hồ, không được người kể chuyện trình bày cụ thể. Sự chồng lớp về không – thời gian nghệ thuật rõ ràng là một dụng ý của tác giả, như cách mà những nhà văn hiện thực huyền ảo/hậu hiện đại bậc thầy như G.G.Márquez từng phát minh ra trong những kiệt tác cuối thế kỉ XX. Người kể chuyện/tác giả cố tình làm chúng ta bị lạc lối giữa văn bản, bởi cuộc đời giờ là một mê cung của sự phi lý. Đây chính là nghệ thuật tự sự của văn chương hậu hiện đại, nhằm phá bỏ đi tính mạch lạc, logic của thực tại. “Ta” hay “tôi”, “hắn” vừa là chính mình, nhưng lại luôn là kẻ khác, kẻ ở ngoài ta. Triết học Phật giáo và triết học giải cấu trúc gặp gỡ chính ở tinh thần ấy. Thế giới vô ngã của Phật giáo cũng chính là thế giới giải trung tâm hay đa trung tâm của hậu hiện đại.
Trong những truyện khác, Nhụy Nguyên công nhiên sử dụng thủ pháp siêu hư cấu (metafiction) của văn chương hậu hiện đại, để nói về những hư cấu của mình (hư cấu về những hư cấu), cũng như sự tự ý thức của nhân vật. Trong truyện Phật ở ngoài xa, hai người kể chuyện ở hai khổ công nhiên trình bày với bạn đọc: “Tự thấy không xứng đáng xưng “tôi” nữa, tôi xin gọi mình bằng “hắn” [tr.35]. Đây phải chăng cũng là hành trình vô ngã, chuyển hóa cái tôi, để đặt một cái nhìn phản tư từ bên ngoài? Hay là khi con người nhận ra lầm lỗi, nhất là những phát sinh từ trong ý niệm nội tâm, đó là bắt đầu của cuộc tự chuyển hóa/ tịnh hóa bản thể giữa mênh mông vũ trụ.
Nhiều truyện khác, Nhụy Nguyên đưa vào các yếu tố huyền ảo, nhằm khúc xạ hiện thực dưới một góc nhìn khác như các truyện Mầm nhói (linh hồn của thai nhi), Bóng thuyền ảnh hiện (con người không giấu nổi cái đuôi bởi chưa/không thể tiến hóa, hay là một sự phi lý của tiến hóa), Không thể nói ra (người kể chuyện là con chó)… Nhưng truyện có yếu tố huyền ảo kinh dị nhất, đúng với tinh thần hậu hiện đại nhất là Trôi qua miền sáng. Câu chuyện kể về cuộc đời bi đát của hai mẹ con, trong đó người mẹ bị rơi vào hoàn cảnh “người – vợ – gái – điếm” nhẫn nhục vì con nhưng cũng không giữ được mạng sống cho con mình. Câu chuyện kể về người đàn ông tàn bạo dùng vũ lực với hai mẹ con. Nhưng chỉ đến cuối truyện, bạn đọc mới biết được thực ra cả hai mẹ con đều đã chết. Họ (và cả con chó) đều là những nạn nhân bị tên đàn ông giết chết. Người kể chuyện xuyên suốt từ đầu tác phẩm thực ra là những hồn ma. Người kể chuyện hồn ma như thế là người kể chuyện không đáng tin cậy, vì họ là những thực thể siêu nhiên. Tuy vậy, đây hoàn toàn không phải là tác phẩm doạ ma độc giả, mà là một truyện ngắn có tư tưởng nữ quyền, đứng về phía bên lề, phe yếu thế như phụ nữ, trẻ em, gái điếm… Truyện Không thể nói ra cũng là một cách đứng về phía ngoại biên (loài chó), nhằm chống lại đại tự sự con người. Dưới ánh mắt của loài chó, dẫu chúng không hề có ý trách móc, song người thân và hàng xóm của chúng hiện lên đầy phi lý và lạnh lùng.
Tôi cũng đặc biệt nhấn mạnh đến tính liên văn bản (intertextuality) trong truyện ngắn Nhụy Nguyên. Trong nhiều truyện ngắn khác nhau, anh cố tình sử dụng những kiểu loại văn bản không tương hợp, rời rạc, mỗi văn bản kể về một chuyện khác nhau, phong cách và ngôi kể, điểm nhìn cũng khác. Nhưng đặc trưng liên văn bản đáng chú ý đó là sự kết hợp văn bản hội họa vào trong văn bản truyện ngắn. Kiểu liên văn bản này vừa tân kỳ lại vừa rất cổ điển, khiến ta hoài nhớ đến kiểu tranh phương Đông thi trung hữu họa, họa trung hữu thi. Trọn vẹn cả 14 truyện đều kết thúc bởi một bức tranh theo nhiều phong cách hội họa khác nhau. Có bức gắn với tinh thần thiền học, có bức dưới tinh thần minh họa, siêu thực, hay ấn tượng. Những bức tranh này gợi nhắc đến nhiều vấn đề nội dung và tư tưởng của truyện. Những văn bản tranh là sự bổ nghĩa, vẫy gọi trí tưởng tượng của người đọc.
Bút pháp hậu hiện đại của Nhụy Nguyên còn thể hiện ở lối viết tự động, mang tính thủ pháp tâm thần phân liệt của hậu hiện đại. Trong truyện Máu đang lọc bởi sự lặng yên, Nhụy Nguyên viết về những sự kiện, kiếp người diễn ra trong bệnh viện. Đây là một truyện được viết trên tinh thần của triết học giải cấu trúc khi ngay từ đầu tác phẩm, tác giả đã chia thành các phần khác nhau, nhưng sau phần mở đầu thì đã đến ngay phần kết thúc, rồi mới quay lại phần vào truyện (tất cả những phần này đều được ghi chú cụ thể trên văn bản). Do là một truyện được viết trong bệnh viện, nên các sự kiện giăng mắc, trộn lẫn vào nhau không hề theo một trật tự hay logic nào. Kiểu cảm nhận thế giới này rất đặc trưng của người bệnh nhân thần kinh phân liệt, hay là một người bị mê sảng trong cơn đau tột cùng của thể xác. Nhà văn viết như một hành vi đớn đau. Bạn đọc khi tiếp nhận chỉ có thể cảm nhận được các thông tin đang diễn ra, chứ khó thể xâu chuỗi lại bất kỳ một cốt truyện mạch lạc nào. Các chi tiết, sự kiện của đời sống, của Phật pháp hòa chen vào những hành vi khám chữa bệnh trong bệnh viện. Cả truyện hoàn toàn không có lời của người kể chuyện, cũng không rõ ai là nhân vật đang nói, không có xuống dòng hay chỉ dẫn trong phần thân truyện: “Làm gì có chuyện y tá chăm bệnh nhân ở mức bất bình thường như vậy. Đợi ông già khỏe hơn thì mở mồm đi kẻo đứa khác hốt mất đó. Hà. Hôm nay Sở về kiểm tra có y tá tới hỗ trợ lau chùi khỏe thật… Bạch Thầy. Bác sĩ cũng suy tim à? Mô Phật. Hỏi thế gian ai không già bệnh chết. Ông đang khám thai tự dưng khuỵu. Người nhà bệnh nhân K. Người nhà bệnh nhân K. Nhắc lại. Không có. Vợ vừa đi vệ sinh…” [tr.136-137]. Cả một câu chuyện là những câu nói, sự kiện rời rạc, đẳng lập được lắp ghép bất tương hợp vào nhau như thế.
Tính đương đại của truyện ngắn Nhụy Nguyên không chỉ được thể hiện trên phương diện thi pháp hình thức, mà còn được thể hiện trong những nội dung quan thiết ngày hôm nay. Trôi trên dòng thời gian trắng xóa có nhiều chuyện đề cập đến biển đảo trước những dã tâm, âm mưu nhòm ngó của đế quốc phương Bắc. Truyện ngắn Dấu son trên hải đảo kể về việc cứu/bắt được hai thuyền viên “lạ”, vốn là những thành viên các đội tàu lấn chiếm trên biển Đông. Họ mang danh ngư dân nhưng kì thực là dân quân hoặc là quân đội chính quy.
– “Trung đoàn đánh cá của anh có nhiều thuyền gặp bão không?
Tôi bộ khờ khạo thêm chữ “trung” trước chữ “đoàn”…
– Họ trở về hết rồi. Tàu của chúng tôi va phải đá ngầm.
– Anh hẳn là một trí thức, thừa biết trên bản đồ nước anh khởi nguồn đã không hề có hòn đảo này” [tr.122].
Hoặc: “Dĩ nhiên là không phải loại ngư dân trang bị đánh bắt hải sản bằng thứ vũ khí hiện đại giấu dưới khoang thuyền” (Con mắt nhìn vào) [tr.213].
Tinh thần dân tộc hướng về phía biển đảo thể hiện thái độ công dân của nhà văn. Mặc dù hướng nội, nặng về quá khứ, chủ trương từ bi cửa Phật, nhưng truyện ngắn Nhụy Nguyên không đứng ngoài thời cuộc, không thờ ơ “mũ ni che tai” trước những vấn đề lớn lao mà thời đại đang đặt ra đối với vận mệnh tổ quốc. Tinh thần Phật giáo của Nhụy Nguyên, chính vì thế là một tinh thần đạo pháp nhập thế, đạo pháp gắn với đời sống và chủ quyền lãnh thổ dân tộc. “Linh hồn người, cũng thường hằng chới với trong con mắt vàng vào những ngày bão tố, hay, ngư dân thành mục tiêu khi mà ranh giới quốc gia chưa được láng giềng tôn trọng… Ngày xưa quân xâm lăng đã tấn công từ phía biển. Lịch sử lùi chưa xa nên khi thi công phần móng lộ thiên hằng trăm bộ hài cốt…”. (Con mắt nhìn vào) [tr.204]. Dĩ nhiên trong truyện ngắn này tác giả còn gửi gắm “những “con mọt” trong chánh pháp”, những tầng công phu vượt thoát khỏi những khuôn sáo vốn dĩ bị ngôn ngữ khoanh vùng kìm hãm một thế giới nội tâm lồng lộng vốn có ở bất cứ ai. Một sự gửi gắm đầy sức sống và ngần ngại cả những ẩn ức từ nghiệp duyên và tình ái. Có đến hai truyện tác giả viết về các ngôi chùa giữa đảo, các nhà sư tham gia giữ chủ quyền thiêng liêng tổ quốc cùng với quân và dân. “Nhìn về phía đảo. Nhỏ tôi quen đang trên đó cùng những người lính. Hòn đảo thiêng liêng nhô ra như một tấm bình phong của tổ quốc. Máy nổ ầm ào. Chùa xa dần. Tôi đưa tay vẫy. Sư trụ trì khoác chiếc áo phước điền đã bạc đứng trên bờ cát mênh mang” (Dấu son trên hải đảo) [tr.127]. Hai chiều kích tương lai và quá khứ hòa quyện, soi rọi vào nhau, như hai mặt của một tờ giấy trong truyện ngắn Nhụy Nguyên.
Gấp tập truyện ngắn của Nhụy Nguyên trên tay, bạn đọc có thể sẽ còn băn khoăn, vương vấn, bất an về nhiều vấn đề. Chính điều này thôi thúc chúng ta không ngừng đọc lại anh. Mỗi lần đọc lại sẽ ngộ ra thêm những điều mới mẻ. Tôi tin rằng, đọc truyện ngắn Nhụy Nguyên là một duyên nghiệp ở đời, bởi anh không cầu danh tiếng cũng không cầu sự phát hành rộng rãi. Nhiều năm qua, tôi có khuyên anh nên in phổ biến những tác phẩm của mình đến bạn đọc, để cùng với bạn đọc hành trình qua bến mê khổ lụy này.
Trường An, 5/2/2019
Yến Thanh
Theo https://vanvn.vn/

Suy ngẫm cùng Hải Trung về thơ vua

Suy ngẫm cùng Hải Trung về thơ vua “Thơ vua và suy ngẫm” của Nguyễn Phước Hải Trung chỉ “khai thác” một số lượng nhỏ – rất nhỏ ...