VĂN THƠ NHẠC
Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026
Những đóa hoa rừng của Hà Vinh Tâm
Những đóa hoa
Trẻ trung và xinh đẹp, nhẹ nhàng và đằm thắm, đó là không chỉ hình dáng mà cả chất thơ trong thi phẩm Đan những giấc mơ của người thơ Hà Vinh Tâm, do NXB Hội Nhà văn ấn hành quý III/2018.
Kho báu lớn nhất của nước Nga: Đó là nền văn học
Kho báu lớn nhất của
nước Nga: Đó là nền văn học
Cuộc sống đó là sự khám phá không ngơi nghỉ. Chúng ta
bước đi, tự khai thông cho mình những con đường và trên những con đường đó lúc
thì ta gặp được những bông hoa, lúc thì là những con người và đôi khi còn gặp cả
những hố sâu mà chúng ta có thể rơi xuống; một đôi khi trong những bài ca của
gió chúng ta còn nghe được những lời hay ý đẹp. Và cứ như thế. Cứ như thế chúng
ta tự trang bị cho mình điều này, lẽ kia.
Trong chặng đường đời ấy chúng ta để lại gì ở phía sau. Và điều
gì nữa chúng ta sẽ gặp được trên đoạn đường đi tiếp. Nhưng đôi khi như một sự
tình cờ chúng ta phát hiện ra một trong những viên đá quý hiếm hoi mà tia sáng
lấp lánh của chúng, phận số không cho phép chúng ta được gặp lại hai lần. Nhưng
nếu chúng ta không nâng vật báu đó lên khỏi mặt đất, có một người khác nhất định
sẽ làm việc này không một chút do dự. Những khám phá và những phát hiện may mắn
như thế giá trị biết bao, mong chúng ta đừng bỏ qua. Những cơ may đó sẽ còn lại
với chúng ta tận đến khi đôi chân chúng ta không khước từ bước đi trên con đường
đời. Và thậm chí khi những lần phát hiện như thế làm tràn đầy trong ta sự bình
yên, tăng thêm cho ta sức mạnh để bước tiếp trên con đường đời, dù không bước
ra thế giới bên ngoài, chúng ta sẽ bước tiếp vào thế giới bên trong.
Giữa những khai phá xuất sắc mà chúng ta luôn luôn thực hiện,
có một khám phá trở thành một phép màu thực sự. Viên kim cương này phát hào
quang rực rỡ đến độ làm bừng sáng lên tất cả những thành tựu còn lại của một xứ
sở lớn nhất trên thế giới. Tôi tự cho phép mình nói về nền văn học Nga – đó là
báu vật đẹp nhất mà xứ sở này có được. Đó là cốc mật ngọt đã tìm thấy mà trong
công thức pha chế ra nó được giữ gìn trân trọng trong chiều sâu của tâm hồn
Nga. Vượt lên tất cả có thể Gogol đã diễn tả trong trích đoạn sau đây từ cuốn
tiểu thuyết “Những linh hồn chết” của ông: “Bất cứ một dân tộc nào còn mang món
nợ tinh thần chưa trang trải xong, trong lòng dạ tràn đầy năng lượng sáng tạo,
những nét riêng và những của trời phú; dân tộc ấy nhất thiết phải mang ngôn ngữ
nói và viết độc đáo riêng để phản ánh mọi việc, mọi chuyện của xứ sở mình.
Không có từ chữ nào tinh tế, mạnh mẽ phóng ra từ con tim đang sôi réo, đang động
đậy như những gì người Nga đang nói và viết ra”.
Như chúng ta đã thấy (hoặc nói đúng ra, như chúng ta đã cảm
nhận được) trong những dòng trên mang cốt cách đặc biệt riêng của Gogol. Những
lới khẳng định ấy như bao bọc chúng ta trong ánh lấp lánh vàng của một cội nguồn
mà theo quán tính chúng ta muốn một lần nữa được ngụp lặn và tiếp tục được nuôi
dưỡng bới những từ những chữ Nga. Chính vì sự biết ơn trước nền văn học của đất
nước rộng lớn ấy câu lạc bộ sách “Abako” quyết định đầu năm nay tổ chức kỷ niệm
lần thứ 10 ngày cho ra đời loạt bài bàn tới văn học Nga.
Chúng ta sẽ bắt đầu từ tiểu thuyết “Những linh hồn chết”. Tác
giả của nó, Nikolai Vasilevist Gogol đã viết tác phẩm này trong thời gian du
hành ở châu Âu. Cái giọng hài hước quen thuộc của ông trong tác phẩm “Quan
thanh tra” trước đó khiến Gogol thành vật thí mạng của cơ quan kiểm duyệt,
nhưng đã trở thành khá quen thuộc với độc giả. Chính vì thế Gogol muốn làm phác
thảo trước cho cuốn tiểu thuyết mới của ông, thể hiện trong sách cho bạn đọc thấy
sự cần thiết của những đổi thay tất phải đến với xã hội Nga mục ruỗng như thế
nào, để cơ quan kiểm duyệt không thể sinh chuyện được.
Tiểu thuyết ban đầu được đặt tên là “Cuộc du ngoạn của
Chichikov” sẽ kể lại câu chuyện về một nhân vật tên là Pavel Ivannovist
Chichikov, đã cứng tuổi.. Nhân vật đi tới một tỉnh nọ để tìm gặp những tay địa
chủ có thể tặng hay bán cho ông những xác chết, tức những nông dân đã chết (được
gọi chung là “những linh hồn”) nhưng qua thanh tra vẫn được coi là những người
còn sống. Thời ấy ở đế chế Nga công việc thanh tra diễn ra thưa thớt, nông dân
thì chết nhiều và địa chủ vẫn phải nộp thuế. Chichikov đã lợi dụng khe hở này.
Có lẽ bạn sẽ đặt câu hỏi để làm gì những thây ma đó và những
người chết kia sẽ mang lại lợi lộc cho ai nếu họ đã là xác chết giá lạnh.Nhưng
cái mà ngài Chechikov cần tới không phải là những thi thể. Điều quan trọng là
ông ta cần tới những cái tên trong cuộc thanh tra. Để làm gì à? Chính bạn cần
phải đọc cuốn tiểu thuyết để khám phá ra cái ý định nhẫn tâm của nhân vật chính
này. Sự ma mãnh của ngài Chichikov đã bộc lộ ngài hoàn toàn có năng lực tìm ra
những người để thực hiện ước muốn của mình; con người có thể đạt tới bờ bến nào
của sự nhẫn tâm khi anh ta khai thác bất cứ hoàn cảnh nào để kiếm lợi lộc cho
mình.
Có thể coi “Linh hồn chết” đó là cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu
tiên của Nga. Vậy có ngạc nhiên không khi chính cha đẻ của nó lại coi đấy không
phải là tiểu thuyết mà là một trường ca ở dạng văn xuôi. Và chúng ta hiểu được
nguyên nhân vì sao !Thứ văn xuôi tài hoa và sống động của văn hào hoàn toàn cuốn
hút người đọc. Ngoài điều đó ra, người thuật chuyện trong tác phẩm lý thú này
đã sắm vai trò còn tích cực hơn nhân vật chính. Với thời gian Gogol kêu gọi những
bạn đọc đã trở thành người đối ẩm với mình hãy cùng ông truyền giảng bài học
văn chương, chỉ ra đâu là “những nhân vật loại hai”, hoặc thậm chí đâu là “những
nhân vật loại ba”. Và về loại nhân vật cuối được miêu tả ít kỹ lưỡng hơn, ít những
chi tiết đặc biệt hơn. Nhiệm vụ của ông tựu trung là ở chỗ để dành sự chú ý của
độc giả tới tích truyện, tuy khá dài nhưng luôn luôn giữ được không khí bí ẩn
và đích ngắm nhờ vào những chi tiết dần dần được tác giả hé lộ. Độc giả hoàn
toàn sửng sốt và gắng để biết điều gì sẽ diễn ra tiếp theo , thậm chí khi các
nhân vật vướng vào những công việc tưởng như chán phèo, ví như việc di chuyển
các khung cửa trong phòng khách.
Những nhân vật trong cuốn tiểu thuyết đầy ắp những điều bất
ngờ, muôn hình muôn vẻ, thậm chí còn mang chất biếm họa. Trong các nhân vật ấy
có cả những mẫu người lịch thiệp có thừa cũng như những kẻ thô nháp, cục cằn. Một
số tình huống của chuyện kể như găm vào trí nhớ của chúng ta, ví như việc miêu
tả tiếng chó sủa khi chào đón nhân vật chính trong chuyến ông ta về làng
Corobochca trong đêm mưa khuya khoắt.
Nói chung, “Linh hồn chết” là một tác phẩm tuyệt vời của
Gogol. Trong sách khi thì nhà văn nói về Tổ quốc của mình, khi thì về nỗi xúc động
và niềm tự hào về nước Nga.- một nước Nga bị làm cho bại hoại, trì trệ hiển hiện
trong toàn bộ cuốn sách. Nhưng Goglol vẫn bộc lộ qua từng trang, từng trang
tình yêu của mình với nước Nga ấy. Nếu không nhắm tới cái đích như chúng ta vừa
kể, liệu nhà văn dồn công sức lao động khổng lồ làm gì để mong có những sự đổi
thay? Nhiều đoạn của “Những linh hồn chết“ sẽ còn đọng mãi trong ký ức
người đọc. Mỗi đoạn được đọc to lên với niềm khoái cảm khó lòng diễn tả hết. Ví
như đoạn văn dưới đây :
“Hỏi vì sao người ta xây dựng cái làng Corobochca lâu đến như
vậy? Coroboshca sẽ có một đời sống thôn dã hay không phải như thế ! Trên
thế gian này chẳng phải là ngây thơ mà người ta gột dựng lên nó: một thoáng vui
biến ngay thành một thoáng buồn và nếu chỉ đứng lâu mà ngắm nhìn nó thì đến
thánh cũng phát điên lên… Thôi hãy bỏ qua, bỏ qua. Nói về việc ấy để làm gì? Thử
hỏi để làm gì vào giữa những giây phút thảnh thơi, vô lo nghĩ, không bận bịu
này bỗng nhiên lại để những ý nghĩ ấy hiện lên? Ngay cả nụ cười cũng không kịp
thoáng qua trên gương mặt, khiến ta biến thành một người khác trong đám người,
một thứ ánh sáng khác rọi chiếu gương mặt ta…”.
22/8/2020
Tô Hoàng dịch
Theo https://vanhocsaigon.com/
Hứng khởi đọc thơ và hứng thú sáng tạo từ ngọn lửa thơ 1-2-3
Hứng khởi đọc thơ và hứng
thú sáng tạo từ ngọn lửa thơ 1-2-3
Tình cờ tôi biết đến trang Văn Học Sài gòn, mở ra đọc
và bị cuốn hút. Tôi gửi chùm thơ đầu tiên và được đăng. Thật là vui. Sau đó nhà
thơ Phan Hoàng có động viên và nhắn, làm thơ 1-2-3 đi em. Tôi hỏi lại,
thơ 1-2-3 là gì vậy? Từ đó, tôi bắt đầu tìm hiểu và viết những bài đầu tiên một
cách hào hứng. Bởi một lẽ, tôi đang cảm thấy nhàm chán với chính bản thân, đang
loay hoay muốn viết cái gì đó khác đi, tươi mới hơn. Thật thú vị khi thơ 1-2-3
giúp tôi làm được điều đó.
Tôi còn nhớ bài thơ đầu tiên viết và được đăng trên trang Văn
Học Sài gòn. Bài thơ như sau:
Hãy khơi dậy trong em ngọn lửa thi ca
Đừng để sự trống rỗng nuốt chìm cảm xúc
Chỉ có thể là tình yêu châm bùng bằng mật ngữ
Đừng lặng im khiến bốn mùa nhòa nhạt
Lá hoa cây cỏ ngác ngơ
Trổ lên đi niềm tin dưới bóng những giấc mơ.
Ngọn lửa thơ 1-2-3 bắt đầu như thế. Từ những ngày đầu bay bổng
ngôn ngữ về tình yêu về cuộc sống về những giấc mơ, tôi dần mở rộng nhãn quan,
chủ đề. Không chỉ là những cảm hứng lãng mạn, thơ tôi dần hướng tới những đề
tài gai góc hơn. Mỗi tháng tôi gửi một vài chùm với sự say mê và niềm vui khám
phá. Thật hạnh phúc khi một ngày thơ tôi được động viên, được ghi nhận bằng một
tặng thưởng thơ tháng 6.2020.
Hoà theo dòng chảy thơ ca đương đại, thơ 1-2-3 đã diễn ra hết
sức sôi nổi, rất nóng từ ngọn lửa Văn Học Sài Gòn lan tỏa ra. Các bạn thơ
của tôi cũng không nằm ngoài dòng chảy đó. Có những cái tên đã trở nên quen thuộc
vì những bài thơ 1-2-3 ấn tượng như: Trần Thị Hồng Anh, Hà Phi Phượng, Đinh Hạ,
Nguyễn Doãn Việt, Lê Tuyết Lan…
Nhớ lắm những câu thơ tài hoa này:
Dưới tán rừng ngàn năm
Cổ thành Angkor Thom nhuộm hoàng hôn Khmer rực rỡ
Kết tinh vạn trí tuệ cao siêu, vạn bàn tay tài nghệ
Lặn vào đá trường tồn triều đại minh quân
Người hành hương trong trầm mặc linh thiêng
Bí ẩn nụ cười Bayon tỏa hào quang nhân từ, độ lượng.
(Hà Phi Phượng)
Hay của tác giả Đinh Hạ:
Bi ai thằng hề
Mang mặt nạ cười
Mà lòng đang khóc không người vỗ tay
Lang bạt mưu sinh
Cánh màn đau khép lại ngày
Giang hồ tay nải đựng đầy bi ai.
Và đây những câu thơ thật ấn tượng, gieo vào người đọc những
cảm xúc bâng khuâng:
Này là hoa hồng đỏ, cài áo lễ Vu Lan
Chuông chùa trầm mặc vàng ươm nắng chiều
Đa già soi bóng hồ sen vắng
Vu Lan nhớ mẹ thương cha, một đời chảy xuôi một đời bao dung
độ lượng
Hoa hồng đôi dòng nước mắt xót xa.
(Trần Thị Hồng Anh)
Thơ 1-2-3 chỉ mới xuất hiện vài tháng trên trang Văn Học Sài
Gòn mà đã không thể nào kể hết được những câu thơ hay, những chùm thơ đặc sắc.
Hứng khởi sáng tạo và hứng thú đọc thơ là những gì mà thơ
1-2-3 mang lại cho chúng tôi, những người yêu thơ và yêu cái đẹp cái thiện trên
đời. Cảm ơn Văn học Sài Gòn rất nhiều!.
Hà Nội, 23/8/2020
Đỗ Thu Hằng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thế giới thơ Thiều - Một lối vào
Thế giới thơ Thiều - Một lối vào
Cái đẹp của thơ Thiều không tựa vào vần điệu, tựa vào
những ngôn từ lấp lánh của vàng Mỹ Ký, hay lối làm văn màu mè, mà là những câu
chữ, hình ảnh giản dị, bình thường, nhưng được người kể chuyện nhìn bằng một
cái nhìn thơ mộng. Đó là cái đẹp của sự sinh thành, của sự trở thành, vừa mộc mạc
vừa huyền bí, và vừa có tính chất tiên tri. “Tôi đã đánh mất tôi một nửa/Tôi tự
sinh cho tôi thêm một nửa nữa” (Dưới trăng và một bậc cửa). Như vậy, cái đẹp
không chỉ là mộc mạc tiền hiện đại nữa, mà chủ yếu là huyền bí của sự trở
thành. Đó chính là cái khác. Thơ Thiều không phải là mỹ học của cái đẹp, mỹ học
của cái siêu tuyệt, mà là mỹ học của cái Khác…
Dây vĩ cầm cuối cùng trăng đêm vụt đứt
Bức phông đen tụt xuống lõa lồ
Ôi vở kịch cuộc đời…
Màn cuối
Tiếng hề cười
Băm chả những u mê
Nguyễn Quang Thiều
(Con bống đen đẻ trứng)
Thơ Việt Nam, từ đầu thế kỷ đến nay, đã hai lần thay đổi hệ
hình: từ tiền hiện đại sang hiện đại và từ hiện đại sang hậu hiện đại. Lần thứ
nhất từ mô hình thơ nghĩa à chữ sang chữ à nghĩa, dù vẫn là thiểu số, nhưng coi
như hoàn tất. Lần thứ hai từ mô hình thơ chữ à nghĩa sang chữ à nghĩa à chữ,
thì còn đang tiếp diễn, định hướng nhưng chưa hẳn đã định hình. Có điều những
chuyển đổi ấy, không nối tiếp mà gối tiếp, nên trong mỗi dòng thơ, thậm chí
trong mỗi nhà thơ, tồn tại cùng lúc cả ba hệ hình. Bởi thế, đọc thơ Nguyễn
Quang Thiều, nhất là định dạng thơ ông, tôi phải lần giở đường đi của thơ, để
tìm vào một lối vào thơ ông.
Thơ hiện đại Việt Nam, ngay từ chào đời, đã dính phải “chấn
thương sinh đẻ.” Bấy giờ mỹ học Thơ Mới, mỹ học của cái Đẹp, còn tuyệt đối thống
trị. Thơ Nguyễn Xuân Sanh Xuân Thu Nhã Tập bị phê phán là hũ nút. Đến đầu Kháng
chiến chống Pháp, mỹ học Thơ Mới đó lại được chính thống hóa, nên thơ không vần
Nguyễn Đình Thi mới bị quy chụp nặng nề, cả về tư tưởng lẫn thi pháp. Còn Thanh
Tâm Tuyền ở thành thị miền Nam lẫn Trần Dần, Lê Đạt thời Nhân văn và hậu Nhân
văn ở miền Bắc đều bị cái diễn ngôn quyền uy ghẻ lạnh. Tuy nhiên, các nhà thơ
thiểu số này đã đóng góp cho thơ hiện đại những thành tựu độc sáng, như tư duy
thơ đứt đoạn (Nguyễn Xuân Sanh), thể thơ tự do với tư cách là một thể loại/hình
thức của nội dung (Nguyễn Đình Thi), nhịp điệu hình ảnh, nhịp điệu tư tưởng
(Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền), mô hình sáng tạo chữ đi trước nghĩa (Trần Dần,
Lê Đạt)… Những cách tân hiện đại chủ nghĩa như vậy tưởng đã đến thiên đỉnh, nên
Tô Thùy Yên và Phùng Cung đã rẽ ngang một bước làm thơ hiện-đại-cổ-điển, Điều
này, vô hình trung, đã biến Trần Dần, Thanh Tâm Tuyền thành nhà hiện-đại-hiện-đại,
kết thúc thế hế hệ thứ nhất của thơ hiện đại Việt Nam.
Các nhà thơ hiện đại thế hệ thứ hai, những cây bút ra đời thời
hậu chống Mỹ, cụ thể hơn thời Đổi mới và Mở cửa, gặp phải bức tường của người
đi trước. Trước hết, thơ tự do, thể chủ đạo của thơ hiện đại, lúc này đã từ thể
loại/hình thức của nội dung trở thành thể thơ/hình thức của hình thức, nghĩa là
cạn kiệt tính thẩm mỹ. Còn mô hình thơ hiện đại: chữ đi trước nghĩa thì hình
như khó hiểu, lại càng khó thực hành sáng tạo. Như vậy, sự phát triển theo chiều
ngang, cả chiều kích xã hội lẫn chiều kích ngôn ngữ, đều khó kéo dài. Nên, muốn
vượt tường chỉ còn cách lên cao, hoặc xuống sâu, tức đi theo chiều dọc. Mai Văn
Phấn, Inrasara có lúc muốn đi vào chiều tâm linh của tâm thức Việt, Chăm qua
các lễ hội hoặc nghi lễ vòng đời của hai tộc người này. Dương Kiều Minh sống với
các triết lý dân gian. Nguyễn Linh Khiếu bám chắc vào triết luận phồn sinh phồn
thực. Còn Trương Đăng Dung muốn dìm câu thơ mình vào bề sâu triết học
Heidegger…
Tuy nhiên, các nhà thơ trên còn chưa chạm đến điểm linh đài,
hay chỗ nhạy cảm nhất của tâm thức thời đại, để tạo nên một đối trọng (chứ
không phải đối lập) nghệ thuật hay xã hội. Theo tôi, nếu cắt ngang một nhát cắt
vào thân thể cây thơ đương đại, thì có thể thấy cấu trúc văn học nói chung và
thơ nói riêng hiện nay là một sơ đồ ba vòng…
Thơ tiền hiện đại là vòng tròn số 1, chiếm vị trí trung tâm,
gồm các nhà thơ chính thống hoặc phong trào, xoay quanh các hội nhà văn trung
ương hoặc địa phương. Thơ hiện đại là vòng tròn số 2 ôm lấy vòng tròn thứ nhất
và mỏng hơn nhiều so với vòng tròn này. Các nhà thơ hiện đại thế hệ hai này
cũng có thể là thành viên của các tổ chức chính thức, ít nhiều lệch chuẩn,
nhưng chưa thể trở thành một đối trọng nghệ thuật như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng
Đình Hưng… nên chưa tạo ra một thúc đẩy thẩm mỹ cho xã hội và, quan trọng hơn,
cho bản thân họ. Thơ hậu hiện đại là vòng tròn thứ 3, mới định hướng nhưng (có
thể còn) chưa định hình. Bởi vậy, tôi thể hiện nó bằng những nét đứt. Các nhà
thơ hậu hiện đại của ta hiện nay còn đang ở giai đoạn dọn mặt bằng. Họ đả phá
các quan niệm cũ về thơ, chức năng thơ, ngôn ngữ bằng một đối lập cực đoan: tự
gọi thơ mình là thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa như nhóm Mở miệng. Hoặc đơn giản
áp dụng các thủ pháp hậu hiện đại như trò chơi, giễu nhại, cắt dán, trích dẫn để
lật tẩy thơ cũ. Bởi vậy, người ta có thể thấy ở thơ họ, Lý Đợi, Bùi Chát, Nguyễn
Thế Hoàng Linh, mới chỉ hậu hiện đại ở cấp độ thủ pháp chứ chưa hẳn ở cấp độ bản
thể. Và, do đó, thành tựu nghệ thuật của/ở họ chưa đủ sức thuyết phục. Tuy
nhiên, cấu trúc trên không phải là tĩnh, mà là động. Bởi vậy, thỉnh thoảng vẫn
có những yếu tố từ vòng 1 chuyển qua vòng 2, từ vòng 2 chuyển sang vòng 3, và
không loại trừ ngược lại.
Trở lại với Nguyễn Quang Thiều. Thực ra, tôi với anh vốn có
nhiều duyên nợ. Duyên nhất là tôi cùng anh đều sinh ra ở miền mây trắng, xứ
Đoài, bên dòng sông Đáy, tôi khúc trên (Quốc Oai), anh khúc dưới (Ứng Hòa). Độ
trước, do nghĩ thơ Thiều là thơ hiện đại, sêm sêm như thơ Dương Kiều Minh, Mai
Văn Phấn, nên tôi cũng không đọc. Gần đây, tình cờ đến tay tôi Dưới trăng và một
bậc cửa (Hội Nhà văn, 2020). Một tập gồm thơ dài và trường ca được tác giả viết
trong mấy chục năm qua, nên có thể coi là tiêu biểu của thơ Thiều. Thấy lạ từ
nhan đề, phụ bản tranh và in ấn, tôi tò mò đọc. Một thế giới thơ hiện ra trước
mắt tôi vừa bí ẩn vừa hấp dẫn, đúng hơn hấp dẫn vì bí ẩn. Trước đây, trong Thi
nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhiều lần tần ngần đứng trước những phòng thơ đóng
kín cửa của Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh, rồi lặng lẽ bỏ đi. Ngày nay, lý thuyết
văn học phát triển, các nhà phê bình có nhiều lối lọt vào dù chỉ qua một khe
sáng. Hơn nữa, phê bình bây giờ không chỉ có một kiểu: căn cứ đầu vào để biết kết
quả đầu ra, mà còn có thể chui vào “hộp đen” để biết cả diễn trình sáng tạo và
cái lò xo đằng sau nó. Thơ Thiều ấn tượng tôi ở sự đứt gãy và không có những
liên lạc logic. Ở cái nhan đề Dưới trăng và một bậc cửa, thì hai yếu tố trước
và sau liên từ và không đồng đẳng về từ loại và, do đó, về luận lý. Tên những
bài thơ trong tập cũng vậy, không tóm tắt hay báo trước gì cho nội dung bài như
cách làm quen thuộc của giới thi sĩ. Nhiều bài lại được phân chia thành 1, 2,
3… hoặc khúc 1, khúc 2, khúc 3… hoặc (hồi tưởng) tháng Giêng, tháng hai, tháng
ba… cũng ít liên lạc với nhau. Mỗi bài thơ đều có tranh minh họa của tác giả
cho chính thơ mình. Ấy vậy mà giữa thơ và tranh cũng không thấy sự “minh họa”
cho nhau. Đặc biệt bản thân những bức tranh ấy cũng là sự lắp ghép đầy ngẫu hứng.
Trước một sự phân mảnh triệt như vậy chỉ có thể cảm hiểu được bằng lối đọc phi
tuyến tính. Thế giới nhìn thấy bị vỡ vụn, sau những ngày tháng hoang mang, người
ta đi tìm cách sắp xếp lại những mảnh vỡ vô nghĩa ấy vào những tổng thể vô hình
như cấu trúc, hay vô thức tập thể để tái lập nghĩa. Riêng thế giới thơ Thiều,
tôi thấy lối tiếp cận cấu trúc luận hay phân tâm học ấy chưa đủ.
Thực ra, chìa khóa mở vào thơ Thiều được thi sĩ treo ngay nơi
cánh cửa theo cái kiểu “kiển tố vừa đố vừa giảng.” Đó là thiên tuyệt bút Trong
căn phòng của một người bại liệt thay cho lời tựa. Tuổi thơ của Thiều gắn liền
với những tháng năm người bà bị liệt nằm chỗ. Khi cảm giác về thể xác mất dần,
thì, lần đầu tiên, ý thức cá nhân của bà trỗi dậy. Bà muốn xem mặt mình. Thiều
phải bưng chiếc gương để bà soi. Nhìn thấy hình dạng mình trong gương, bà vừa
thích thú, vừa kinh hãi. Nhân việc người bà “cố định nghĩa mình bằng dụng cụ –
chiếc gương không mang lại kết quả,” Nguyễn Quang Thiều nhớ đến thời thơ ấu
mình cũng từng “tôi nhìn tôi trong gương như vậy.” Ông so sánh hành vi này với
các họa sĩ vẽ chân dung tự họa. Ở đây, sự giống nhau chỉ là những “ký hiệu [thị
giác – ĐLT] đơn giản,” “cắt đứt mọi quan hệ sống còn giữa anh ta và tác phẩm.”
Rồi Thiều thấy bà và cả chính anh nữa tìm thấy sự tồn tại của mình bằng giọng
nói, tức ngôn ngữ. Đây là một hiện thực khác, hiện thực tinh thần, “hiện thực của
một bài thơ.” Đến đây người đọc có thể thấy hình ảnh cậu bé và người bà, tuổi
thơ và tuổi già (tức đã trở lại là anh nhi) hòa nhập vào nhau và nguồn gốc của
thơ Thiều.
Bằng việc để một viên phấn rồi lấy một viên phấn khác đè gãy
nó (1), rồi cất viên phấn đi và nhìn vào chỗ trước đây từng có viên phấn (2),
cuối cùng nhắm mắt nhìn vào chỗ đã có viên phấn và tưởng tượng (3), Nguyễn
Quang Thiều đã đưa ra ba định nghĩa về lịch sử (1) có tuyến tính, về văn xuôi
(2) phi tuyến tính và về thơ (3) cái nhìn của cái nhìn, “cái nhìn thứ ba.” Cái
nhìn này là “khoảnh khắc của ánh sáng, của tia chớp làm cho chúng ta thấy toàn
bộ [ĐLT nhấn] đời sống và phong cảnh quanh ta. Nỗi cô đơn [ĐLT nhấn] của ta
trong đêm tối đã có nơi nương tựa và nó nhận ra con đường của nó.” Rồi Nguyễn
Quang Thiểu dẫn giải thêm thơ có khả năng lưu giữ những khoảnh khắc của đời sống
(Charles Simic, nhà thơ Mỹ, giải Pulitzer, 1990) và, quan trọng hơn, nối liền một
con người với toàn thể nhân loại qua hàng triệu năm (Joseph Brodsky, nhà thơ Mỹ
gốc Nga, giải Nobel Văn học, 1987). Như vậy, thơ Thiều, hay thơ như Thiều quan
niệm, không phải là miêu tả sự vật, thậm chí kinh nghiệm về sự vật, mà là nhớ lại
sự vật. Và thông qua sự nhớ lại đó, sự vật được kết nối với toàn bộ. Bởi vậy,
nhìn vào mỗi sự vật đơn lẻ, thậm chí một mẩu của vật ấy, người ta thấy được
toàn bộ vũ trụ như trong một bức ảnh toàn đồ (hologram). Điều này khiến cho mỗi
sự vật/phân mảnh có giá trị tự thân, tuy vẫn không tách rời tổng thể, hay chính
nó là tổng thể. Thơ Nguyễn Quang Thiều, vì thế, là thơ hậu hiện đại. Khác với
các nhà thơ hiện đại cùng lứa với ông, và cũng khác cả với những nhà thơ hậu hiện
đại thuộc nhóm Mở miệng.
Nhác trông, có thể tưởng thơ Thiều thuộc loại hình thơ thị
giác, như thơ Bích Khê trong tập Tinh huyết trước 1945. Nhất là khi thơ ông thường
in kèm theo mỗi bài thơ một bức tranh như một thứ cận-văn bản (paratexte).
Nhưng đọc kỹ mới thấy không phải là thơ thị giác, mà thơ của trí nhớ thị giác.
Trí nhớ thị giác vốn có ở trẻ nhỏ, hoặc những người có trí nhớ siêu phàm. Nhãn
thức ở họ xác định sơ bộ đối tượng một cách riêng lẻ, rồi không đưa ngay thông
tin này đến trung tâm ý thức, mà giữ lại như một ký tức tạm thời, Phật giáo gọi
là Sở tàng. Sau đó nếu gặp lại thực thể ấy ở đâu và bất cứ lúc nào cũng dễ dàng
nhận biết được đó là yếu tố hợp thành của hệ thống nào, mà không cần thông qua
ý thức xử lý thông tin. Ở trình độ cao hơn, đó là nhìn bằng năng lực tâm linh,
Phật học gọi là Tuệ/Huệ nhãn, hoặc Thiên nhãn thông, còn khoa học thì gọi là
giác quan thứ 6 hoặc ngoại cảm. Chính loại trí nhớ trực giác này đã dẫn đến đột
sinh Tuệ giác. Đây là đặc trưng quan trọng của lý thuyết đột sinh trong vật lý
hạ nguyên tử lẫn trong sự phát triển tâm thức Thiền. Một công cụ có sức cuốn
trôi tâm hồn chúng ta theo dòng chảy siêu thức, đưa ta vào thế giới nội tâm, mà
ở đó tác động của một số định luật cơ bản của Vật lý bỗng tan biến. Những quang
cảnh mà ta bắt gặp ở đây chính là hình ảnh tổng thể vũ trụ phản chiếu vào ta.
“Một đời sống làm chúng ta hình dung đầy đủ hơn về vũ trụ. Nó chứa đựng một sự
thật lớn: chúng ta là Vũ trụ, là Sự sống, Ý thức và Trí tuệ của nó. Cũng như Đức
Phật, sau 49 ngày ngồi thiền dưới gốc Bồ Đề đã chứng đắc và giác ngộ được chân
lý Thành – Trụ – Hoại – Diệt của chu trình miên viễn của Tự nhiên, dẫn đến khái
niệm Vô thường và thuyết Luân hồi Tái sinh.
Ấn tượng trực tiếp và toàn bộ Dưới trăng và một bậc cửa là một
cái nhìn bi thảm về cuộc sống. Có vẻ như hiện nay, chu trình vũ trụ đã đến giai
đoạn Hoại – Diệt. Nhân loại sau các thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ nhôm đã đến đồ
nhựa, thậm chí đồ… đểu. Nhưng khác với các nhà triết học/học triết thường nói đến
thời mạt pháp, mạt thế một cách to tát và đầy luận lý, Nguyễn Quang Thiều, nhà
thơ, đi từ những sự vật, cụ thể và trực quan để ám gợi đến cái ngày tận thế
kia. Có điều bao giờ thi sĩ cũng để một chút ánh sáng cuối đường hầm. Chỉ cần
tên các bài thơ theo mục lục, ta đã thấy có một sự vận động của thời gian, của
màu sắc, của sự vật từ tối đến sáng: Đoản ca về buổi tối, Bài ca những con chim
đêm, Nhân chứng của một cái chết, Con bống đen đẻ trứng, Chuyển dịch màu đen,
Nhịp điệu châu thổ mới, Cây ánh sáng… Như vậy, Dưới trăng và một bậc cửa là một
thi phẩm có cấu trúc, điều kiện tiên quyết để một tác phẩm thơ trở thành một
thi giới, một thế giới nghệ thuật, Nhưng cấu trúc thơ Thiều lại mô hình hóa sự
vận động, sự đang trở thành của vũ trụ, của thiên nhiên, của con người và vạn vật,
nên nó là một cấu trúc mở, cấu trúc động. Rồi mỗi bài thơ, thậm chí mỗi câu, mỗi
chữ cũng âm vang cái cấu trúc tổng thể đó.
Đoản ca về buổi tối là một bài thơ ma, một thế giới hồn ma.
Buổi tối là nơi dương suy âm thịnh, “Khi những ngọn đèn lần lượt tắt và chúng
ta đi/Những người chết trở về thành phố.” Chúng chiếm lấy và điều khiển thể xác
ta theo kiểu “xác Trương Ba hồn ma anh hàng thịt.” Rồi chúng mượn đời sống của
chúng ta để lâu dần trở thành chúng ta, hòng thực hiện những điều đen tối. Điều
ấy không phải ai cũng nhận ra. Bi kịch này, có lẽ, là bi kịch lớn nhất của loài
người, bởi nó do chính con người tự tạo ra để tự hủy diệt mình.
”Những người chết trở về mượn nhà cửa, đồ đạc
và những pho tượng của người sống
Mượn công việc của người sống, mượn lý do của người sống
và đôi khi mượn cả giấy khai sinh của chúng ta
Bởi thế máu vẫn chảy, lời thù hận vẫn vang lên
cùng với lời thú tội và lời xin lỗi
Sự phản bội vẫn diễn ra trong khuya khoắt
cùng tình yêu đau đớn, thủy chung”
(Đoản ca về buổi tối)
May mà trong những đêm tối ấy, mượn gương mặt và tâm hồn trẻ
thơ, những thiên thần đã cứu vớt con người đang rơi vào tàn lụi. Ở đây, trong sự
cứu chuộc thế giới, thiên thần và trẻ thơ là một.
Nhân chứng của một cái chết kể lại một câu chuyện tưởng tượng
mà có thể là sự thật nằm sâu trong vô thức tập thể của nhà thơ. Đó là một cơn
mưa lớn, nước của 100 năm dồn lại, đổ xuống Hà Đông, nơi nhà thơ đang sống. Cơn
giận dữ này của trời xanh nhấn chìm toàn bộ thị xã. Nước lũ làm nổi lên toàn bộ
những lầm lạc, tội lỗi, tối tăm, đau đớn và hy vọng vốn ẩn khuất của thị xã bộc
lộ ra. “Đêm nay mưa như sông trời đổ xuống thị xã. Những ngọn đèn lần lượt tắt
và những ô cửa lần lượt mất hút. Và đêm nay, tôi ngồi, cúi đầu cúi xuống trước
cây nến đang cháy. Khi tôi ngước nhìn lên cây nến, tôi thấy có gì đang xảy ra với
thị xã chúng ta. Nước đang chảy chan hòa như dòng sáp từ một cây nến khổng lồ
đang cháy phía xa. Cháy như buổi hoàng hôn đau đớn cuối cùng. Và như buổi rạng
đông còn giá lạnh đầu tiên” (Nhân chứng của một cái chết). Nhà thơ chứng kiến
cơn mưa giống như một tiểu hồng thủy hủy diệt tất cả, chỉ còn lại một người đàn
ông và một người đàn bà không quần áo, run rẩy đứng trên cây cầu của thị xã. Họ
được cứu thoát không phải để làm nhân chứng cho cái chết của thị xã, mà để sau
trận mưa trời giáng ấy, họ quay về xây dựng lại thị xã, và xây dựng lại chính
con người.
Con bống đen đẻ trứng là một bài thơ viết về sự sụp đổ của thế
giới hiện đại. Người cha đưa đứa con chạy trốn trong đêm, khỏi cuộc sống bẩn thỉu,
điên rồ, mất nhân tính. Họ đi qua một thế giới tự hủy diệt, tìm về những người
thân đã trở thành xa lạ, rồi tìm về cánh đồng của tổ tiên, nơi có dòng sông
thanh sạch cuối cùng và những con cá bống, biết giúp con người hồi sinh:
”Nấu một nồi cơm nếp hoa vàng
Đơm lặng lẽ vào mo cau cổ tích
Và mang ra bến sông
Đó là lúc con bống đen
Nổi lên giữ dòng sông Đáy
Đôi mắt sáng hai vầng Nhật – Nguyệt
Đẻ cho ban mai một dải trứng hồng”.
(Con bống đen đẻ trứng)
Thậm chí, mỗi câu thơ, mỗi ngôn từ đều chở dư âm của cấu trúc
đó:
”Con gián xòe cánh bay
Chuyến vận hành mông lung mang theo ổ trứng”.
(Dưới trăng và một bậc cửa)
Điều đặc biệt là trong cái thế giới Carnival này, nhà thơ sắm
vai kép, vừa là người tham dự vào sự lụi tàn hay triển nở, vừa là người kể lại
quá tình đang trở thành đó bằng trí nhớ thị giác của một nhà thơ – cậu bé.
Nguyễn Quang Thiều, cũng như tôi, là một cậu bé quê. Tuổi thơ
Thiều sống trong sự quay vòng của mùa vụ, của đất trời: xuân sinh, hạ trưởng,
thu liễm, đông tàng. Cánh đồng quê anh được bồi đắp bởi phù sa sông Đáy vừa trồng
lúa, vừa trồng rau. Cậu bé gắn bó máu thịt với xóm làng. Bởi vậy, Thiều hiểu được
tiếng lặng im của đất, tiếng yêu thương, nhẫn chịu và khổ đau của cha, mẹ, dân
làng. Tất cả những tiếng nói ấy đều được nói lên bằng những câu chuyện trầm ấm
bên bếp lửa, những vần thơ mộc mạc, da diết. Tất cả được “cất trong rương thơm
ký ức lên mười.” (Nhịp điệu châu thổ mới). Biết bao cậu bé, để nhẹ vượt vũ môn
trở thành người lớn, đã nhả bỏ viên ngọc tuổi thơ. Thiều, ngược lại, đi làm thi
sĩ chỉ để tiếp tục sống cuộc sống của Cậu Bé xưa. Dĩ nhiên, từ cậu bé đến Cậu
Bé là một hành trình Tuệ giác.
– Và Cậu Bé đi gọi tên linh hồn của đất
Bằng những cách gieo âm tiết của riêng mình
– Hồi sức những âm tiết đơn, sinh sôi đa bào
Mang ý nghĩa mới tiếng gọi, tái sinh mãi tiếng vọng
(Nhịp điệu châu thổ mới)
Thơ Nguyễn Quang Thiều, bởi vậy, hẳn không chỉ được làm bằng
cảm xúc và trí tuệ, mà bằng trí nhớ thị giác/thiên nhãn thông/giác quan thứ 6.
Như ông trả lời một bạn thơ hỏi: “Mình cứ viết như một ai đó đọc vang lên trong
đầu.” Và ai đó, tôi nghĩ, chính là cậu bé ngồi đắm chìm bên bờ sông Đáy thuở
nào, nay khát khao muốn được, một lần nữa, ngụp lặn trong chính dòng nước ấy.
Có một nhà thơ khác nói với tôi, thơ Nguyễn Quang Thiều không
phải là thơ. Tôi bảo, phải, thơ Thiều không phải là thơ, mà là phản thơ. Nhưng
phản thơ theo cái nghĩa phản tiểu thuyết của các nhà Tiểu thuyết Mới ở châu Âu,
tức không theo cái chuẩn thông thường của thơ, mà vượt qua nó, để trở thành lệch
chuẩn, siêu chuẩn, tiến tới vô (chứ không phải không) chuẩn. Hẳn nhà thơ kia thấy
thơ Thiều không thuộc vào một thể loại quen thuộc nào cả. Thơ ông vượt qua Thơ
Mới, thơ tự do, và đứng chênh vênh giữa thơ văn xuôi và văn xuôi nghệ thuật. Bờ
thứ ba của dòng sông. Nhưng, thơ Thiều vẫn giữ được cái thẩm mỹ, một thuộc tính
của thơ. Cái làm cho thơ trở thành thơ.
Đây là thế giới trăng và dưới trăng:
”Tràn đến bậc cửa rồi
Những chiếc lá non mạ bạc
Đang múc từng thìa trăng
Những bóng cây say đổ vào nhau
Dạt dào những lớp sóng trăng
Con dế mèn lãng mạn
Con gián khát thèm
Những mối tình đang đến và chia xa
Những bối tóc góa bụa xổ tung cười ngất
Những xé rách, những vá liền, những phân tán
Những khô cong và những…”
(Dưới trăng và một bậc cửa)
Dưới trăng mọi thứ đều đẹp, và vẻ đẹp ấy đang bị hủy diệt.
Vào một đêm trăng, nhà thơ đi tìm những vẻ đẹp ấy. Sau bao nhiêu tuyệt vọng và
lạc đường, cuối cùng chàng đã vượt qua được một bậc cửa để đến với ánh trăng, vẻ
đẹp muôn đời và bí ẩn.
Cái đẹp của thơ Thiều không tựa vào vần điệu, tựa vào những
ngôn từ lấp lánh của vàng Mỹ Ký, hay lối làm văn màu mè, mà là những câu chữ,
hình ảnh giản dị, bình thường, nhưng được người kể chuyện nhìn bằng một cái
nhìn thơ mộng. Đó là cái đẹp của sự sinh thành, của sự trở thành, vừa mộc mạc vừa
huyền bí, và vừa có tính chất tiên tri. “Tôi đã đánh mất tôi một nửa/Tôi tự
sinh cho tôi thêm một nửa nữa” (Dưới trăng và một bậc cửa). Như vậy, cái đẹp
không chỉ là mộc mạc tiền hiện đại nữa, mà chủ yếu là huyền bí của sự trở
thành. Đó chính là cái khác. Thơ Thiều không phải là mỹ học của cái đẹp, mỹ học
của cái siêu tuyệt, mà là mỹ học của cái Khác. Thực ra, cho đến nay, nhiều người
còn hiểu lầm về cái khác. Cái khác như một phạm trù xã hội – chính trị chuyển
sang phạm trù mỹ học cũng phải chuyển đổi qua ba hệ hình: tiền hiện đại là cái
khác bộ lạc, cái khác là thù địch cần phải loại trừ (A B); cái khác hiện đại là
sự thấp kém, thiểu số, ngoại vi so với chủ nghĩa châu Âu trung tâm (A ≠ B); cái
khác hậu hiện đại là khác với chính bản thân nó (A = A, A ≠ A). Thơ Thiều, Dưới
trăng và một bậc cửa, là một thế giới đang vận động, đang trở thành, một thế giới
bao gồm những thế giới tồn tại song song. Thế giới hậu hiện đại.
Chùa Thầy, 23/5/2019
Đỗ Lai Thúy
Theo https://vanhocsaigon.com/
Văn học về đề tài an ninh và một hướng tìm tòi
Văn học về đề tài an
ninh và một hướng tìm tòi
Từ sau năm 1986, văn học về đề tài an ninh đã có những
chuyển đổi về chất mà tác phẩm phi hư cấu là thể hiện thành công của một hướng
tìm tòi mới của các nhà văn trong ý thức đổi mới tư duy nghệ thuật. Đường biên
của hiện thực được mở rộng hơn. Con người được đào sâu về tâm lý, tính cách. Và
nhân vật vừa là cái bóng lại vừa là nhân chứng của lịch sử. Qua tâm hồn nhân vật,
lịch sử như được viết lại bằng văn…
1. Trước cách mạng văn học về đề tài này đơn thuần chỉ là truyện
trinh thám. Nhưng ngay cả ở thể truyện này, một trong những tác giả tiêu biểu
nhất là Phạm Cao Củng thì như Vũ Ngọc Phan nhận xét trong Nhà văn hiện đại rằng
“nó chỉ là một loại văn bình thường, loại mà hạng trung lưu, trí thức thích đọc”…
Sau cách mạng, an ninh là một đề tài đã mới lại có những cái
khó riêng bởi nhiều vấn đề hấp dẫn nhưng người viết chưa được phép thể hiện.
Trước đây, có một số quan niệm cho rằng “những tác phẩm viết về đề tài công an
thường là “dao găm, súng lục” nên hầu hết những tiểu thuyết tình báo, tiểu thuyết
trinh thám hay tiểu thuyết điều tra hình sự đều bị xếp chung vào một loại rồi gọi
một cách xô bồ là truyện vụ án “và xem nó như một thứ văn chương giải trí,
không thuộc dòng văn học đích thực” (Lời giới thiêu cuốn Những người bạn đồng
hành). Đó là chưa kể một thời văn chương còn coi nặng chuyện đề tài, đánh giá
giá trị của một sáng tác còn thông qua lăng kính của các tính (tính Đảng, tính
giai cấp), các chức năng (giáo dục, nhận thức), chưa coi mối quan hệ giữa văn học
chính trị trong chừng mực nào đấy là bình đẳng. Văn học về đề tài an ninh trong
tình hình ấy, cũng bị sức ép từ nhiều phía… và bệnh sơ lược, công thức là không
tránh khỏi, chưa có tác phẩm gây được dấu ấn
Sau chiến tranh, đặc biệt từ đổi mới, văn học an ninh đã có
những thay đổi quan trọng. Điều đáng ghi nhận đầu tiên là khi chức năng giải
trí được đặt lại đúng vị trí của nó thì đề tài này được coi bình đẳng như mọi đề
tài khác. (Mà thực tế những tác phẩm văn học dịch về đề tài này trước đây
như Nam tước Phôn Gôn rinh, Chiếc khuy đồng, Rừng thẳm tuyết dày… vẫn rất
hút khách). Mà không chỉ giải trí bằng những gay cấn trong các việc điều tra vụ
án, văn học về đề tài an ninh còn cung cấp cho người đọc những sử liệu trước
đây còn nằm trong khuất lấp. Một số áp lực được giải tỏa. Nhà văn được phép
khai thác vào những miền đất trước đây có thể bị coi là vùng cấm; chất lượng,
giá trị của tác phầm được đánh giá khách quan hơn. Mặt khác, phạm vi đề tài
cũng không đơn thuần chỉ là truyện trinh thám mà ngoài vấn đề viết về cuộc chiến
đấu “vì an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên” cả trong chiến tranh và hậu chiến,
hòa bình, nhiều tác phẩm còn viết về những điệp viên nổi tiếng trong mạng lưới
tình báo cách mạng mà điều kiện lịch sử giờ đây đã cho phép. Sự ra đời của tác
phẩm dạng này đã mở ra một hướng đi tiềm năng cho văn học. Một điều đáng chú ý
khác là đội ngũ các nhà văn về đề tài an ninh càng ngày càng đa dạng, không chỉ
là nam mà còn có cả nữ, không chỉ là người đã đứng tuổi, cao niên mà còn nhiều
cây bút trẻ mới bước vào nghề. Cuộc chiến đấu trên mặt trận an ninh tuy thầm lặng
nhưng hết sức nguy hiểm và ác liệt vì nó không chỉ là cuộc chiến đấu giữa ta và
địch, là cuộc đấu tranh chống lại cái ác, chống tham nhũng, bất công, mà còn là
cuộc đấu tranh với chính bản thân mình. Nhà văn của ngành an ninh không hoàn
toàn nhất thiết phải viết về đề tài an ninh và ngược lại, các nhà văn khác vẫn
có thể viết về đề tài an ninh. Nằm trong văn mạch chung, đối tượng mà nhà văn
hướng tới là con người và đề tài chỉ là nơi cho nhà văn trải nghiệm. Vì thế, đổi
mới, hội nhập thực sự là một thử thách đối với người cầm bút. Và những đổi mới
của văn học về đề tài an ninh cũng nằm trong xu hướng ấy.
Lê Tri Kỷ, rồi Văn Phan, Ngôn Vĩnh, Lương Sĩ Cầm, Trần Diễn…
có thể coi là những người đã đặt những viên gạch đầu tiên để rồi cùng nhiều nhà
văn thuộc nhiều thế hệ khác nhau như Khổng Minh Dụ, Mai Vũ, Nguyễn Xuân Hải,
Tôn Ái Nhân, Nguyễn Như Phong, Từ Kế Tường, Nguyễn Ngọc Mộc, Nguyễn Như Phong,
Hữu Ước, Phùng Thiên Tân, Trần Tử Văn…, trẻ hơn là Như Bình, Nguyễn Đình Tú, Di
Li, Tống Ngọc Hân, Nguyễn Xuân Thủy… đã xây nên mảng văn chương này trong nền
văn học cách mạng. Cho đến hôm nay, văn học về đề tài an ninh đã có diện mạo
riêng: có tiểu thuyết phi hư cấu, có tiểu thuyết trinh thám, có tiểu thuyết
tình báo, với những sáng tác từng nhận được những giải thưởng cao…
2. Ở thể loại tiểu thuyết, Ván bài lật ngửa (1988) của
Trần Bạch Đằng viết về anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Ngọc Thảo được
chuyển thể thành phim gây nên một cơn sốt hồi thập niên tám mươi. Đây là cuốn
tiểu thuyết đầu tiên trong chuỗi sách viết về các nhà tình báo cách mạng của
văn học viết về đề tài an ninh; nó có sức hấp dẫn thật sự của những tác phẩm
nghệ thuật mang yếu tố ly kỳ vốn là sở thích của các độc giả trẻ, lại viết về
nhân vật có thật, vốn là sở thích của lứa tuổi trung cao niên thích tìm hiểu về
lịch sử. Và cuốn tiểu thuyết này thuộc thể loại phi hư cấu – thể mà chúng tôi
hướng tới trong bài viết nhỏ này. Đương nhiên xây dựng nhân vật trên cơ sở
nguyên mẫu ngoài đời là một việc bình thường của nhà văn. Vấn đề ở chỗ nguyên mẫu
vốn là những nhân vật lịch sử, gắn với sự kiện lịch sử, có vai trò quan trọng
trong sự kiện, vậy, cho phép khả năng nhà văn hư cấu đến mức nào để một khi trở
thành nhân vật văn học, có sức sống riêng, nó vẫn không làm hỏng nguyên mẫu nổi
tiếng ngoài đời? Xu hướng này vào đầu thế kỷ mới đã được nhiều nhà văn chú ý và
trong đời sống văn học bấy giờ, sau Phạm Ngọc Thảo trong Ván bài lật ngửa của
Trần Bạch Đằng, là Lê Hữu Thúy trong Điệp viên giữa sa mạc lửa của Nhị
Hồ, là Vũ Ngọc Nhạ – Hai Long trong Ông cố vấn của Hữu Mai, là Mười
Hương trong Trần Quốc Hương – người thầy tình báo của những huyền thoại, là
Phạm Xuân Ẩn trong Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời, là Đại
tướng Mai Chí Thọ… của Nguyễn Thị Ngọc Hải. Đây là những tiểu thuyết
(trong số đó một số cuốn là ký chân dung và hồi ký – tự truyện) mà tôi được đọc
liên quan đến đề tài an ninh. Hai trong số đó là Ông cố vấn đã giành
Giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn, Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời đã
giành giải cao của Bộ Công an và Hội Nhà văn trong cuộc thi tiểu thuyết và
ký Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống, gây được tiếng vang
cả trong và ngoài nước.
Ông Cố vấn của Hữu Mai là tác phẩm của một nhà văn quân
đội viết về nhà tình báo cộng sản Vũ Ngọc Nhạ – người đã làm cố vấn cho hai đời
tổng thống chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Thể hiện “hồ sơ của một điệp
viên”, Ông cố vấn đã thực sự hấp dẫn người đọc bằng những tình tiết
ly kỳ mà xác thực của một điệp viên tài ba, mưu trí và dũng cảm trong thời kỳ sống
và hoạt động trong vai một cố vấn nhưng thực chất lại là một điệp viên cộng sản
nằm vùng. Trải qua bao phen thử thách, Hai Long vẫn vững vàng, bản lĩnh, càng
ngày càng tỏ ra khôn khéo, từng bước một, chiếm giữ được lòng tin và tình cảm của
“đối phương”. Từ việc tạo được niềm tin với anh em nhà họ Ngô bằng tờ
trình Bốn nguy cơ đe dọa của chế độ, đến việc chính quyền Ngô Đình Diệm bị
đảo chính, rồi cụm tình báo bị vỡ trong dịp tết Mậu Thân; từ việc Hai Long cùng
đồng đội bị bắt, bị xử tù chung thân và bị đày ra Côn Đảo, mặc dù Hai Long kiên
quyết không khai, từ chối mọi sự dụ dỗ, mua chuộc nhưng sau đắc cử, Nguyễn Văn
Thiệu vẫn đưa Hai Long về khám Chí Hòa. Được trao trả tù binh sau hiệp định
Paris, ông nối lại hoạt động và đã có mặt ở dinh Độc lập với tư cách là người của
lực lượng thứ ba trong ngày 30 tháng tư. Chân dung nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ qua
nhân vật Hai Long không chỉ thỏa mãn của nhiều nhà báo phương Tây từng tham dự
phiên tòa của chính quyền Sài Gòn trước đây xử ông mà còn gợi cho người đọc
lòng cảm phục về một điệp viên tầm cỡ. Và hiệu ứng của Ông cố vấn còn
được nối dài sau khi tác phẩm được chuyển thể thành kịch bản Văn học dựng thành
phim.
Tiếp sau Hữu Mai, Nguyễn Thị Ngọc Hải là tác giả cuốn Phạm
Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời, tác phẩm viết về Phạm Xuân Ẩn – một “điệp
viên hoàn hảo” như cách gọi về ông của nhà văn-nhà báo người Mỹ Larry Berman,
cũng là tên một cuốn sách của tác giả này viết về ông. Trước năm 1975 Phạm Xuân
Ẩn là phóng viên của hãng Reuters, Time, là cộng tác viên của hai nhật
báo The New York Herald Tribunne và The Christian Secience, nổi
tiếng là nhà phân tích quân sự – chính trị, thân thiết với nhiều nhân vật quan
trọng của chế độ Sài Gòn, được người Mỹ trọng dụng. Việc ông được cử đi Mỹ học
nằm trong ý đồ chiến lược của Mười Hương, người phụ trách tình báo của Đảng: muốn
đánh thắng kẻ thù, phải hiểu kẻ thù, phải nắm được văn hóa của nước đó. Và những
năm học đại học báo chí bên Mỹ là một cơ hội rất thuận lợi để Phạm Xuân Ẩn thấm
được văn hóa Mỹ phục vụ cho công việc của một nhà tình báo giàu năng lực, sau
khi ông trở về nước. Sau năm 1975 ông là thiếu tướng, một nhà tình báo chiến lược,
Anh hùng lực lượng vũ trang của ta. Nguyễn Thị Ngọc Hải đã dựng lại chân dung một
nhà tình báo mà như giáo sư Thomas Bass gọi ông là “kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ”
một cách chân thực, sống động bằng thao tác của một người viết văn bởi chị “đam
mê lục lọi tâm hồn con người để tìm cho ra vẻ đẹp lạ lẫm, âm thầm, dung dị rất
riêng trong họ” mà nói như Lary Becman “Bà là người hiểu rõ chủ nghĩa nhân văn
của ông ấy (Phạm Xuân Ẩn) hơn ai hết”… Nguyễn Thị Ngọc Hải đã nắm lấy nét đặc sắc
ở một con người mang trong mình ba nền văn hóa ấy làm cơ sở để từng bước một
triển khai vấn đề, cho nhân vật suy nghĩ, ứng xử và chọn giải pháp thích hợp
trong hành động, vượt qua được những thử thách nghiệt ngã, hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ của một người tình báo. Và người điệp viên ấy bước chân vào tác phẩm
văn học phi hư cấu đã trở thành một nhân vật văn học có sức sống riêng: nhân vật
đó hấp dẫn người đọc bằng sự lịch lãm, trí tuệ, bằng cách làm việc thông minh,
tận tụy và cách hành xử rất có tình người. Cả Ông Cố vấn của Hữu Mai
và Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời của Nguyễn Thị Ngọc Hải đều
cho ra được câu trả lời một cách xác đáng về nỗi băn khoăn của rất nhiều người:
làm thế nào mà các chiến sỹ tình báo của chúng ta “chui” sâu vào được đến vậy
mà không bị lộ và làm sao nước Mỹ giàu mạnh đến vậy mà vẫn chịu thua trong cuộc
chiến tranh Việt Nam? Cả Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn (cùng Phạm Ngọc Thảo –
Nguyễn Thành Luân, Lê Như Thúy – Lê Nguyên Vũ và một số khác) đều là những điệp
viên hoạt động dưới sự chỉ đạo của Mười Hương – một nhà chỉ huy tình báo có tầm
nhìn chiến lược. Mười Hương đánh giá cao vai trò của văn hóa trong việc tạo ra
hiệu quả công việc và luôn nhắc nhở cộng sự “tranh thủ cơ hội để phân hóa, thuyết
phục; sống thật nhất với con người mình mới là vỏ bọc dày nhất, kín đáo nhất.
Và nếu bị bắt thì nhất định phải giữ khí tiết, không khai báo. Đó cũng là người
đã cho rằng: tình báo Việt Nam lấy văn hóa bản địa để cảm hóa và chiến thắng
quân thù. Cả Hữu Mai và Nguyễn Thị Ngọc Hải đã cho nhân vật sử dụng lối ứng xử
và văn hóa yêu nước như một thứ quyền lực mềm, tạo sự tài trí, thông minh cho
nhân vật một cách hợp lý khi họ bị đặt vào những tình huống gay cấn mà nếu
không cao tay nhân vật sẽ khó thoát khỏi những sơ lược, công thức dễ gặp, và
đương nhiên, sức hấp dẫn của tác phẩm sẽ bị kém đi.
3. Như vậy là từ sau năm 1986, văn học về đề tài an ninh đã có
những chuyển đổi về chất mà tác phẩm phi hư cấu là thể hiện thành công của một
hướng tìm tòi mới của các nhà văn trong ý thức đổi mới tư duy nghệ thuật. Đường
biên của hiện thực được mở rộng hơn. Con người được đào sâu về tâm lý, tính
cách. Và nhân vật vừa là cái bóng lại vừa là nhân chứng của lịch sử. Qua tâm hồn
nhân vật, lịch sử như được viết lại bằng văn. Khi môn lịch sử đang không được học
sinh ở cấp phổ thông mặn mà thì chính tiểu thuyết lịch sử và tác phẩm phi hư cấu
là một cách đưa lịch sử dân tộc, lịch sử chiến tranh đến với các em một cách hấp
dẫn hơn.
25/8/2020
Tôn Phương Lan
Nguồn: Văn Nghệ số 34/2020
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thơ 1-2-3 đọc là thú, đọc là ham và muốn cầm bút
Thơ 1-2-3 đọc là thú,
đọc là ham và muốn cầm bút!
Thơ 1-2-3 khiến người đọc không có cảm giác nhàm bởi
nghĩa của câu từ đều rất mới nhưng không dị biệt. Với đà cộng hưởng sáng tạo,
lan tỏa mạnh mẽ như hiện nay, tin rằng thơ 1-2-3 sẽ có tiếng nói quan trọng lâu
bền trong đời sống thi ca và văn học, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa
tinh thần người Việt…
Sự thăm thẳm nội tâm chưa hẳn đã nằm trong cách dàn trải con
chữ. Tôi đã khẳng định như thế khi đọc thể thơ 1-2-3 trên trang web
vanhocsaigon.com do một số văn nghệ sĩ, trí thức Văn Học Sài Gòn chủ trương.
Vanhocsaigon.com (VHSG) có thể nói là một diễn đàn văn học đã
và đang thu hút được lượng độc giả quan tâm khá đông tại thời buổi văn hóa mạng
dày đặc, đa chiều. Và tôi đã tìm thấy sự thỏa đáng trong quá trình chọn lựa nguồn
thông tin về văn học nói riêng cũng như văn hóa nghệ thuật tại đây.
Chỉ trong khoảng thời gian vài tháng trước, tất cả số lượng
bài viết được đăng lên VHSG tôi đọc còn có thể nhớ được tên từng tác giả. Vậy
mà giờ đây chỉ riêng số lượng tác giả tham gia sáng tác thơ 1-2-3 đã đến hàng
trăm người, mỗi người dăm bảy chùm, mỗi chùm dăm bảy bài liên tục xuất hiện.
Nhiều tác giả thơ chưa kịp lên mặt trang lần thứ hai. Tôi nhẩm tính con số hưởng
ứng thể thơ mới này cũng đã là một thành quả đáng ghi nhận.
Riêng cá nhân tôi, thơ 1-2-3 là loài hoa lạ xuất hiện trong
vườn hoa đủ các sắc màu vốn đã cắm rễ ăn sâu vào tiềm thức con người từ bao
nhiêu thế kỷ. Thể thức mới này cũng không phải đánh đố người sáng tác, tư duy
không khu bó trong một quy tắc chật chội. Thơ 1-2-3 được phóng chữ theo cảm hứng
hướng ngoại nhưng sự quyết định bài thơ có nâng cánh bay lên hay không thì còn
chờ vào người viết có biết gạn lọc câu từ để cô đọng nội tâm làm bung bật tỏa nắng
cả bài thơ.
Tuy ngắn, có luật chơi nhưng tựu chung thơ 1-2-3 vẫn tự do, vẫn
phóng khoáng, vẫn đa chiều, vẫn lãng mạn, vẫn bao hàm được yếu tố chia sẻ cõi
riêng của mỗi con người với nhau. Đọc là thú, đọc là ham và muốn cầm bút. Điều
đáng lưu tâm là thơ 1-2-3 giúp cho người sáng tác tránh được sự vô tình đạo
văn, vì ngay tên bài thơ cũng là câu thơ và đoạn thơ thứ nhất hoàn toàn độc lập.
Người làm thơ hay đặt tên bài thơ, thậm chí cả tên tập thơ một cách dễ dãi dẫn
tới trùng lắp với tên những bài thơ xuất hiện trước của tác giả khác.
Lúc đầu tôi đọc thơ 1-2-3 cảm giác còn lạ lẫm, e dè như đi
vào mảnh đất chưa có dấu chân người, nhưng khi đọc kỹ vài lượt bài thơ 1-2-3
nào đó thì tôi thấy nhạc tính rộn ràng, sáo diều vi vút, thấy cả hình ảnh quê
hương Việt Nam dập dìu trên những ruộng đồng sải cánh cò bay, thấy mái nhà quê
nằm yên bình dưới trăng dìu dặt “Một ngày ruổi rong sa mạc đời bỗng khát/ Mơ
cánh đồng quê nhà rười rượi gió đẫm trăng” của Nguyễn Doãn Việt; ta lại bắt
gặp đâu đó hình ảnh đài các của Phạm Thị Kim Khánh – người đàn bà và cây đàn
violin “Chị không chơi mà chải chuốt âm thanh/ Vút vắt vẻo lưng trời ngăn ngắt”.
Thơ 1-2-3 khiến người đọc không có cảm giác nhàm bởi nghĩa của
câu từ đều rất mới nhưng không dị biệt. Đọc thơ của nhiều tác giả tôi còn thấy
những mảnh đời lắt lay sống mòn, tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ, hay cơn cuồng nộ
trước đại dịch đã có thể viết thành những bài thơ 1-2-3 chất chứa sức nặng của
nghệ thuật diễn ngôn: “Người hối hả ra khỏi vùng cách ly bệnh dịch/ Kẻ rước lậu
ngoại kiều gây sóng gió quê hương” của Phạm Phương Lan. Tôi còn được thấy
cả thắng cảnh đất nước Nga hùng vĩ đang bày ra tươi đẹp ẩn hiện trong thơ 1-2-3
của nhà thơ Phan Hoàng “Saint Petersburg hạ ấm chuyển thu lạnh mây mưa đá/
Ánh vàng cung điện trầm tư sông Neva in bóng vĩ nhân”. Và thơ của rất nhiều bạn
thơ khác như Mai Thìn, Hà Phi Phượng, Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Trọng Văn,
Trương Mỹ Ngọc, Võ Hoàng Phương, Võ Văn Trường, Trần Thế Vinh, Lê Đỗ Lan Anh,
Bình Địa Mộc, Khang Quốc Ngọc, Lê Tuyết Lan,… kết thành trào lưu làm phong phú
thể thơ mới thuần Việt đương đại mà từ lâu thi đàn cần có.
Một điều đặc biệt nữa là dòng thơ 1-2-3 chuyển tải được tâm
tư tình cảm, phong cảnh, công việc đời thường nhưng lại… rất thơ. Hồn cốt chữ
chính nằm ở sự công phu chắt lọc tìm tòi ngôn ngữ uyển chuyển nhưng không thiếu
tính hiện đại của thể thơ mới. Nếu dễ dãi bài thơ sẽ chỉ thành những câu văn
không đầu không cuối, vô hồn vô cảm, hoặc bài thơ sẽ rơi vào tình trạng đại
ngôn, xóc chữ lung tung khiến cho độc giả chẳng cảm chẳng hiểu được gì. Nhưng
không! Đối với thơ 1-2-3 ai đã đọc cũng sẽ thấy trùng trùng cảnh trí, bề bề cảm
xúc, và điều đáng nói về cấu trúc là mỗi câu chỉ tối đa 11-13 từ trở lại nhưng
mỗi cụm từ gánh trách nhiệm giải quyết thỏa đáng tư tưởng nghệ thuật của người
viết lẫn cảm nhận của người đọc. Với đà cộng hưởng sáng tạo, lan tỏa mạnh mẽ
như hiện nay, tin rằng thơ 1-2-3 sẽ có tiếng nói quan trọng lâu bền trong đời sống
thi ca và văn học, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần người Việt.
Việt Trì, 21/8/2020
Vũ Thanh Thủy
Theo https://vanhocsaigon.com/
Aleksanrd Grin - Người kể chuyện cổ tích
Aleksanrd Grin
Người kể chuyện cổ tích
Thuở nhỏ và thời niên thiểu, hẳn bạn đã một lần lật giở
những trang truyện ký thác nhiều ước vọng, nhiều mộng mơ “Cánh buồm đỏ thắm”.
Aleksanrd Grin đấy!
Trong đời mình, nhà văn Grin – Aleksandr Stepanovist
Grinnhevsky lưu lại một số ngày và chết cũng tại Crưm-Cũ.
Grin – con người với số phận nặng nề, truân chuyên đã tạo ra
trong những câu chuyện kể của mình một thế giới chưa từng có, đầy ắp những điều
hấp dụ, những mối quan hệ giữa người và người tuyệt vời, những ngày hội
hè ở biển không thể quên. Grin – một người kể chuyện cổ tích nghiệt ngã mà cũng
là một nhà thơ của những eo biển và những nơi neo đậu các con tầu. Những chuyện
kể của ông khiến đầu óc lắc đảo nhẹ nhàng bởi mùi thơm của những bông hoa tươi
vừa bung nở và những ngọn gió buồn vừa thoáng thổi qua đâu đây.
Trong suốt đời mình hầu như Grin sống tại các khu nhà trọ, trải
qua công việc lao động cực nhọc mà rẻ tiền; nghèo túng và không bao giờ được ăn
no.
Ông từng là thủy thủ, phu bốc vác, người dọn dẹp trong nhà tắm
công cộng, nhưng trước hết ông là người không thành đạt.
Cái nhìn của ông ngây thơ và trong trẻo, hệt như ở một chú
bé.
Ông không lưu tâm tới thế giới xung quanh và lúc nào cũng như
sống giữa các đám mây, những bờ sông, bãi biển vui vẻ, nhộn nhịp.
Chỉ vào những năm cuối đời, trước khi xuôi tay nhắm mắt ,
trong chữ nghĩa, trong các câu chuyện kể của ông, lần đầu tiên Grin mới để ý tới
những gì gần gụi trong cuộc sống của chúng ta.
Chất lãng mạn của Grin giản dị, vui vẻ, lấp lánh sáng. Chất
lãng mạn ấy đánh thức trong con người ta khát vọng được sống một cuộc đời muôn
màu muôn vẻ, được thả sức phiêu lưu và “xúc động cao cả “ với những cuộc đời
vốn chỉ giành riêng cho các nhà thám hiểm, đám thủy thủ lênh đênh trên
các đại dương và người nào ưa thích lang thang đây đó. Chất lãng mạn ấy dấy lên
nhu cầu được nhìn thấy và được hiểu biết toàn bộ hành tinh này. Lòng mong ước ấy
mới cao thượng và tuyệt đẹp làm sao. Grin đã thỏa mãn ước nguyện ấy bằng tất cả
những gì ông đã viết ra.
Ngôn ngữ của ông lấp lánh sáng. Lật từ trang này qua trang
khác tôi tình cờ gặp được mấy trích đoạn sau:
“Đâu đó tít cao trên đầu một viên đạn lạc rít gió từ giọng
kim chuyển qua giọng trầm lặng lẽ lao nhanh, để vẽ một đường vòng cung rồi
rơi vô hại trên bãi cát cạnh một chú kiến đang bận rộn, âu lo kéo lê theo mẩu
cây rất cần thiết với chú”.
“Anh ta lắng nghe người lính kèn biểu diễn.Đó là thứ thi ca kỳ
lạ của cuộc đời lính, khúc bi ca của những làng quê bị bỏ lại phía sau lưng, sự
thảm sầu của những chiếc lưỡi lê đã được chuốt sạch”.
“Mùa đông đã chết. Mùa xuân bước đôi chân trần màu hồng, táo
tợn đến thay nó ở một khe rãnh ẩm ướt, nơi có một bà lão già nằm sấp bụng, cũng
giống như một lớp tuyết đang tan. Trong cơn hấp hối cuối cùng bà lão thở ra những
làn hơi lạnh lẽo yếu ớt và không còn hy vọng gì”.
Grin nghĩ ra những bài ca cổ cho đám thủy thủ hát lên sau bữa
ăn:
Đừng thét gào, đừng dọa dẫm nữa
Trái đất đã dọa chúng ta từ lâu lắm rồi
Ở phía nam kia
Có một thiên đường sáng lán
Dẫu sao anh em chúng ta cũng bơi tới đó
Ông cũng nghĩ ra những bài hát khác, vui vẻ hơn:
Cho phép kể bạn nghe
Cho phép kể
Trong cơn bão cánh buồm đã được cuộn lại ra sao
Ra sao cánh buồm được cuộn lại!
Ôi, cuốn cả bạn lại trong lá cờ
Để trao vào tay bạn khúc giây chão sũng ướt
Trao cho bạn khúc giây chão sũng ướt
Tại Crưm-Cũ chúng tôi đã tới thăm ngôi nhà của Grin. Ngôi nhà
xám ngoét đứng trong khu vườn rậm mọc rặt loại cỏ nở những chấm hoa nhỏ li ti.
Trong lớp cỏ vẫn còn mướt xanh, dù là đã cuối thu, rải rác đây đó còn nhặt được
những chiếc lá của cây bồ đề. Những chú ong cuối mùa rù rì bay lượn.
Ngôi nhà nhỏ đã bị trưng tập, trở nên ắng lặng. Phía sau ô cửa
sổ che phủ bởi một lớp sương mù nhẹ mỏng hiển hiện những ngọn núi.
Trên cái bối cảnh đơn giản, buồn bã đó chỉ còn lại một phù
điêu gỗ treo trên một bức tường trắng – chân dung Edgar Po.
Chúng tôi không trao đổi gì với nhau, cho dù trong đầu đầy ắp
ý nghĩ. Với nỗi xúc động nghẹ lời chúng tôi đưa mắt ngắm nhìn những tiện nghi
quá đơn sơ của một con người được trời ban cho một óc tưởng tượng mạnh mẽ và
trong sạch.
Crưm-Cũ dường như ngay lập tức đã biến đổi sau lần chúng tôi
nhìn thấy nơi cư ngụ của Grin và được nghe câu chuyện kiệm lời về cái chết của
ông.
Grin, một nhà văn cô độc tới tận cùng trong tiếng vang rền
chưa từng biết tới của những năm cách mạng khiến chúng ta phải nghĩ nhiều đến
cái chết của con người ta. Ông van xin có ai đó đã từng đọc sách của ông, tìm đến
với ông, cho dù chỉ là một người thôi, để nói lời cám ơn và sau hết hưởng
lấy niềm vui dẫu muộn màng của sự giao tiếp giữa con người với nhau, mà vì nềm
vui này ông đã làm việc.
Nhưng cũng đã muộn rồi. Không còn một ai kịp đến cái thành phố
tỉnh lẻ mặn mòi, nằm xa cách những nhánh đường sắt đó nữa.
Grin cầu mong để chiếc giường ông nằm được kê sát khung cửa sổ,
để ông luôn luôn được nhìn thấy những ngọn núi xa xa. Có thể, sắc màu của những
ngọn núi ấy, cái màu xanh in trên đường chân trời kia sẽ làm ông khuây khỏa nỗi
nhớ những vùng biển thân yêu mà ông phải giã biệt.
Chỉ có hai người đàn bà , hai tù nhân của cảnh thanh bần ở cạnh
bên Grin trong ngày ông vĩnh biệt cõi đời- vợ và bà mẹ của ông.
Trước lúc rời khỏi Crưm-Cũ chúng tôi ra thăm ngôi mộ của
ông. Một tảng đá, những bông hoa đồng nội và một bụi mận gai..và đó là tất cả.
Một nhánh đường còn nhận ra được đưa ta tới ngôi mộ.
Tôi chợt nghĩ rằng, qua nhiều năm nữa khi tên tuổi của Grin sẽ
được nhắc tới với sự yêu thương, con người ta sẽ nhớ tới nấm mộ này, nhưng phải
đạp xéo lên hàng triệu cành gai rậm rạp, làm nhàu nát hàng triệu bông hoa đã mọc
vống cao mới tìm ra tảng đá xám bạc, bình thản kia.
Tôi tin rằng – người bạn đồng hành nói, khi chúng tôi từ
thành phố ra tới con đường xe đưa thư còn lại từ ngày xưa – lúc này là thời kỳ
tốt đẹp nhất trong cuộc sống của nhân loại. Nếu trước kia người ta có thể quên
đi các nhà tư tưởng, các nhà văn và các nhà thơ, thì bây giờ là lúc người ta
không thể sống như vậy và sẽ không thể như vậy. Chúng ta đang sống bởi những
giá trị của quá khứ, những giá trị giống như thứ nước cốt nho, nhất định thứ nước
cốt nho ấy sẽ biến thành thứ rượu vang tuyệt hảo. Thứ nước cốt nho như vậy
trong những chuyện kể của Grin có rất nhiều.
Tôi đồng ý với anh bạn.
Chúng tôi rời khỏi núi. Vầng mặt trời đã báo hoàng hôn. Tia hồi
quang như làm bừng thức những cánh rừng. Đêm đã len lỏi trong các hẽm núi. Những
chiếc lá khô sào sạc như muốn ru ngủ chim chóc và những chú chuột đồng.
Một ngôi sao đầu tiên run rẩy hiện ra và dừng lại trên vòm trời.
Hệt như một chú ong vàng bối rối bởi đất đai đã vào thu, vội lặng lẽ bay vút
lên cao.
Tôi ngoái lại và nhận ra, trong làn ánh sáng chưa tắt hẳn,
cái hẽm núi có gò đất nơi Grin yên nghỉ. Ngôi sao bỗng như vụt sáng lên phía
trên đầu chúng tôi.
27/8/2020
Konstantin Pautovsky
Tô Hoàng dịch
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Những đóa hoa rừng của Hà Vinh Tâm
Những đóa hoa rừng của Hà Vinh Tâm Trẻ trung và xinh đẹp, nhẹ nhàng và đằm thắm, đó là không chỉ hình dáng mà cả chất thơ trong thi phẩm Đ...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...





