Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

Những điểm không chính xác trong lý thuyết kinh dịch và ngũ hành

Những điểm không chính xác trong
lý thuyết kinh dịch và ngũ hành

A. Giới thiệu sơ lược
Kinh Dịch là văn bản ký hiệu có nguồn gốc là một truyền thuyết mơ hồ, được cho là xuất hiện từ thời Phục Hy, với những ký hiệu trên lưng con vật có tên Long Mã hiện ra ở sông Hoàng Hà rồi tạo ra bức vẽ gọi là Hà đồ. Nhiều giả thuyết cho rằng Kinh Dịch xuất hiện và phát triển qua các thời Trung Hoa cổ đại. Kinh Dịch được xây dựng trên cặp giá trị âm dương, hay còn gọi lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái tạo ra 64 quẻ, sau này được thêm các thoáng từ, hào từ nhằm mô tả các hiện tượng trong cuộc sống, kết hợp cùng với lý thuyết ngũ hành để làm cơ sở lý luận để dự đoán, giải thích và áp dụng vào cuộc sống. 
B. Những điểm không chính xác trong lý thuyết kinh dịch
1. Đơn vị thời gian để tính toán quá lớn, tạo sai số rất lớn, kết quả không chính xác
Thập nhị địa chi (tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi) là cách quy ước các tháng trong năm, các giờ trong ngày đêm của văn hóa Trung Quốc và một số nước Á Đông theo Âm lịch. Không hiểu vì sao suốt mấy ngàn năm từ khi kinh dịch xuất hiện chỉ kể từ mốc của thời Chu Văn Vương (năm 1046 TCN) đến bây giờ các nhà kinh dịch vẫn chấp nhận lý thuyết kinh dịch một cách mù quáng với quy ước đơn vị thời gian 2 giờ đồng hồ để tính toán, tức khoảng thời gian giữa hai địa chi. Với người cổ xa xưa chúng ta có thể cảm thông, do các phương tiện giao thông, cách tính toán thô sơ, lạc hậu, phương tiện lan truyền thông tin so với ngày nay rất chậm… Nhưng ở thời hiện đại hôm nay, thông tin tính bằng giây, và hầu như các vị “thầy kinh dịch” đều ít nhiều có biết về lý thuyết sai số áp dụng cho các môn khoa học. Vậy mà không hiểu sao các vị lại áp dụng kinh dịch một cách cuồng mê khi chấp nhận một thứ đơn vị thời gian 2 tiếng đồng hồ (120 phút=7.200 giây) để dự đoán và kết luận về tương lai của người đang sống và cả người qua đời trong các môn tử vi, phong thủy, bốc dịch bói toán,… dựa trên lý thuyết kinh dịch. Đó là chưa kể đến sự sai số của các cách tính các bộ lịch... mà các vị đang sử dụng để bấm bấm đốt tay, miệng lẩm nhẩm, lẩm nhẩm ra vẻ cao siêu huyền bí,… Lịch Âm chúng ta đang dùng thời nay, được cho là bộ lịch có từ thời nhà Hạ (năm 2070 TCN – 1600 TCN) thuộc Trung Quốc bây giờ, trong khi kinh dịch lại được cho xuất hiện từ thời nhà Chu (năm 1046 TCN – 256 TCN), tức là cách sau nhà Hạ xa nhất hơn cả ngàn năm, gần nhất hơn 500 năm tính từ khởi đầu của nhà Chu (năm 1046 TCN). Nhân đây xin trích dẫn vài thông tin thay đổi về quy ước giờ trong Âm lịch qua các thời kỳ ở Trung Quốc:
Vào thời Xuân Thu ở Trung Quốc, không chia ngày ra 12 giờ. Trong Tả truyện thiên Chiêu vương ngũ niên có câu: Nhựt chi số thập, cố hữu thập thời (số ngày là mười, cho nên có 10 giờ). Đến đời Hán Vũ đế (Tây Hán) mới chia ngày làm 12 giờ với những tên như sau: 1. Dạ bán (nửa đêm); 2. Kê minh (gà gáy); 3. Bình đán (rạng đông); 4. Nhựt xuất (mặt trời mọc); 5. Thực thời (giờ ăn); 6. Ngung trung (gần trưa); 7. Nhựt trung (trưa); 8. Nhựt điệt (xế); 9. Bô thời (cơm chiều); 10. Nhựt nhập (mặt trời lặn); 11. Hoàng hôn (chạng vạng); 12. Nhân định (người an nghỉ).
Ví dụ: câu “Nãi dữ thống ẩm, tự bô chí điệt” - (乃與痛飲, 自晡至昳)
Đến đời Đông Hán, mới lấy thập nhị chi: Từ Tý... đến Hợi để gọi 12 giờ từ nửa đêm này đến nửa đêm hôm sau.
Theo sách Cai dư tùng khảo (đời Thanh), trước thời Xuân Thu đã có chia ngày ra 15 giờ, ban ngày nhiều giờ hơn ban đêm. Sách Hoài Nam tử thời Hán cũng có nói đến việc chia ngày ra 15 giờ.
Ngoài ra từ thời cổ xưa, dựa theo đồng hồ nước (lậu khắc) cũng có sự phân chia ngày ra 100 khắc, ngày đông chí có 40 khắc, đêm 60 khắc. Ngày hạ chí ngược lại. Ngày xuân và thu chia đều nhau 50 khắc cho ngày 50 khắc cho đêm. Một vài thông tin để thấy thời xa xưa, cách chia các giờ trong ngày đêm cũng qua nhiều đổi thay… nên dẫn đến sự sai lệch là lẽ thường tình.
Về tháng đầu năm ở Trung Quốc cổ đại, mỗi đời chọn mỗi cách không thống nhất, đời Hạ lấy tháng mạnh xuân (nay là tháng giêng âm lịch), đến đời Ân lấy tháng 12; đời Chu lấy tháng 11; đời Tần lấy tháng 10; đầu đời Hán cũng thế; đến Hán Vũ đế mới sửa lại theo đời Hạ, tức là tháng giêng như hiện nay. Các nhà nho nói gọn lại: “Hạ kiến dần, Ân kiến sửu, Chu kiến tý, Tần kiến hợi”, mặc dù các đời ấy chưa lấy địa chi để ghi tháng. (Theo Âm lịch thì Dần gán cho tháng giêng, Sửu tháng 12, Tý tháng 11, Hợi tháng 10,…)
2. Tốc độ vận hành tăng nhanh qua các thời kỳ
Một điều nữa, các vấn đề trong xã hội hôm nay cho kết quả nhanh hơn rất nhiều do sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật, giao thông, truyền thông,… so với kết quả rất chậm của thời cổ xưa đang còn lạc hậu. Với các ngành khoa học máy tính, giao thông, hàng không, vũ trụ, truyền thông, chứng khoáng, tiền kỹ thuật số,… thì đơn vị thời gian làm thay đổi các kết quả được tính theo giây, thậm chí còn nhỏ hơn nhiều nữa. Điều này cho thấy đơn vị thời gian 7.200 giây (2 giờ đồng hồ) để phán xét và dự đoán cho chu kỳ đổi thay của mỗi số phận con người là không chính xác và không còn hợp lý. Vì với rất nhiều hài nhi sinh ra trong cùng một khoảng thời gian 120 phút, cùng giờ ngày tháng năm, cùng một không gian lại rất ít điểm chung giống nhau, cụ thể và phi lý như những cặp song sinh, hay những trẻ thụ tinh nhân tạo (thông thường được lựa chọn một trai một gái), vì vậy khi còn nằm trong bụng mẹ đã khác về giống… và trong tương lai sẽ có rất nhiều khác biệt… Hay vấn đề bi thảm của nhân loại khi số người chết cùng một thời điểm lên đến hàng ngàn hàng triệu người ở Hiroshima, Nagasaki khi bị bom nguyên tử, nạn diệt chủng người Do Thái, vụ thảm sát ở quảng trường Thiên An Môn, người Campuchia bị diệt chủng bởi tội ác của Khmer đỏ do Pol Pot lãnh đạo, nạn đói năm 1945 ở miền Bắc Việt Nam… cách đây 5 năm là nạn dịch Covid-19 khiến hàng chục triệu người chết và nhiều vụ thiên tai, nhân tai, chiến tranh, dịch bệnh,… gây ra cái chết tập thể trên trái đất này, thì thử hỏi ngày tháng năm sinh của hầu hết các nạn nhân đó là khác nhau nhưng lại chết cùng một thời điểm, vấn đề này kinh dịch có giải thích được không? Hay phải dựa vào thuyết nhân quả, cộng nghiệp của Đạo Phật để lý giải!
Người xưa nói “sai một li đi một dặm”, quả thật không sai. Thời nay, trong mỗi phút, mỗi giây xảy ra rất nhiều sự kiện, nếu chúng ta chấp nhận đơn vị thời gian là 120 phút (7200 giây) như trong lý thuyết kinh dịch để tính toán sẽ rất lỗi thời và vô cùng thiếu chính xác. Theo kinh Hoa Nghiêm thì cái này sinh thì cái kia sinh sinh, cái này diệt thì cái kia diệt, vạn pháp trùng trùng duyên khởi, nguyên nhân này tạo ra kết quả và kết quả này là nguyên nhân cho kết quả khác... cứ như vậy vòng lặp đến vô cùng. Trong dự báo thời tiết, người ta đã nói đến hiệu ứng cánh bướm (butterfly effect), chỉ một cái đập cánh của con bướm có thể góp phần tạo ra cơn lốc cách đó hàng vạn cây số... Rõ nhất là trong thị trường chứng khoán, tác động môi trường, ảnh hưởng kinh tế toàn cầu, giao thông công cộng hay chiến tranh thế giới, các mầm bệnh lây nhiễm… chỉ cần một tác nhân nhỏ tưởng chừng vô hại nhưng chính nó lại là nguyên nhân góp phần gây nên hiểm họa lớn.
Ôi liên tưởng thấy cái hình ảnh các “thầy phong thủy” của thời chuyển đổi số, tay bấm đốt, miệng lẩm nhẩm, mắt láo liêng la kinh của các vị tựa như các phù thủy, thầy mo,… đã khiến cho các sắc dân da vàng từ triều đình đến dân đen đốt áo giấy vàng mả, dâng sao giải hạn, ngày giờ tốt xấu… suốt cả ngàn năm và còn xây mồ mả, xây lăng mộ một cách cẩu thả không theo quy hoạch nào ngoài quy hoạch của các vị “thầy địa”, mà mỗi ông tự gán cho mình cái mác “thầy phong thủy” lại điểm chỉ long mạch mỗi phách khác nhau, không những các lăng mộ đầu chân đảo ngược chĩa vào nhau tứ tung khiến cho đường vào nghĩa địa rất khó đi với người tảo mộ và khó khăn rất nhiều trong việc lo mai táng cho người đời sau khi đưa đến huyệt, người thăm viếng mộ nhiều khi vừa bước vừa nhảy lò cò mất cả sự trang nghiêm đối với người đã khuất,… không những vậy, về độ lớn của các lăng mộ còn vĩ đại nhất trái đất, điều đó cho thấy sự bất hợp lý với quy luật phát triển, vì trong khi đất ngày mỗi chật dần và dân số ngày mỗi tăng, chúng ta không theo xu thế văn minh như thiêu tử thi, quy hoạch nghĩa địa tự phát ở làng quê thì sẽ còn nhiều bất cập vẫn tiếp diễn. Điều bất hợp lý trên hiện nay vẫn còn xảy ra ở nghĩa địa các làng quê, vùng ngoại ô và ngay cả trong các thành phố. Trong khi các nền văn minh cổ xưa khác họ đã hỏa táng,… mà đất nước, dòng tộc, gia đình vẫn có cuộc sống sung túc an lành. Cách đây hơn 2500 năm, khi đức Phật Thích Ca nhập diệt cũng đã được hỏa táng…
Kinh dịch là sản phẩm của trí óc con người cổ xưa, theo nhan đề chúng ta có thể hiểu về mặt ngôn ngữ là cuốn sách về quy luật biến dịch của trời đất để con người biết thuận theo lẽ trời, “thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong” (Mạnh Tử). Người xưa nghiên cứu kinh dịch là những bậc đạo sĩ, ẩn tu, giữ giới may ra có cảm ứng cùng trời đất. Lý thuyết kinh dịch đã tồn tại mấy ngàn năm, nhưng giai đoạn thực nghiệm của nó theo lý thuyết thống kê, quy nạp rất mơ hồ, sau này các nhà dịch học lại mượn kinh dịch để bói toán cho các cá nhân, dòng họ,… để kiếm sống đã khiến kinh dịch bị hiểu lầm chỉ là môn bói toán.
Những vị mượn kinh dịch để giúp người, trường hợp người đó là kẻ bất thiện (hầu hết kẻ bất thiện do làm điều gian dối, hại cộng đồng nên lòng bất an, sợ hãi, và có tiền để đút lót kẻ tiếp tay cái ác là những vị bói toán, phong thủy, bùa chú,… không theo chánh đạo).
Thời đức Phật còn tại thế, Mục Kiền Liên bồ tát là đệ nhất thần thông nhưng cũng không thể cứu được mẹ của mình, mà phải nhờ đến mười phương chư Phật và chúng tăng hiệp lực cầu nguyện để cứu mẹ mình thoát nghiệp quả. Nhắc tích Mục Kiền Liên bồ tát cứu mẹ để gửi đến các vị thầy bói toán, kinh dịch chớ dại can thiệp vào nhân quả, can thiệp vào vòng vận hành của nhân quả tương tục,… cho dù giả sử các vị có năng lực thật sự. Nhưng đối với các vị có năng lực thật sự và theo chánh đạo, thì vị đó đã hiểu thấu đạo lý nhân quả do công phu tu tập nên sẽ biết việc gì nên làm và việc gì không nên làm.
Ở các nước văn minh, bất kỳ một phát minh khoa học nào, trước khi được ứng dụng rộng rãi luôn phải được thí nghiệm thực nghiệm qua nhiều giai đoạn. Ngay như học thuyết tương đối (1905) mà nhà vật lý Albert Einstein phát minh đã gây nhiều tranh cãi cho đến khi được ông Arthur Eddington chứng minh bằng kết quả thực nghiệm của mình (1915). Hay các kết quả ứng dụng trong lãnh vực Y học ở các nước văn minh đã phải được kiểm chứng qua rất nhiều giai đoạn thí nghiệm và thực nghiệm sau đó mới được hội đồng khoa học đệ trình phê duyệt để áp dụng vào cuộc sống… Nhưng kinh dịch mà các nhà dịch học chúng ta cứ tự đắc đệ nhất thiên hạ, bách chiến bách thắng không cần thực nghiệm cứ vậy mà phán như thánh, áp đặt vào các cá nhân, dòng tộc, xã tắc,... Nếu không may, cá nhân đó là chức sắc cung đình thì điều gì xảy ra? Cái nhân các vị gieo và cái quả mà xã hội gặt hái như trò chơi may rủi khi tung đồng xu hay tung xúc xắc trong lý thuyết ngẫu nhiên của toán học chuyên ngành xác xuất thống kê đã khiến cả xã hội chúng ta mê tín đốt vàng mả áo giấy,… dâng sao giải hạn, ngày giờ tốt xấu,… các vị chưa hả dạ sao? Thử hỏi mấy nhà dịch học nghề bói toán kiếm tiền, kiếm danh xưa nay, có ông nào, bà nào có hậu vận tốt không, may lắm là không bị đọa vào cõi ngạ quỷ…? Các ông bà tự cho mình cái quyền can thiệp vào thiên cơ, nhân quả của người khác, trong khi nhân quả của quý vị treo lơ lững chờ ngày đổ ập xuống. Tôi tin rằng, rồi các vị sẽ bị báo ứng theo luật nhân quả!
3. Sự khác biệt qua cảm nhận thoán từ, hào từ trong các quẻ kinh dịch
3.1. Thoán từ, hào từ là văn bản cố định, trong khi ngôn ngữ là hệ sinh thái phát triển sinh động theo sự phát triển của các ngành khoa học, y học, triết học, kinh tế, xã hội học,…
Khi lời thoán, lời hào cách đây mấy ngàn năm được phiên qua thời hiện đại với sự phát triển như vũ bão về mọi mặt, thử hỏi lời thoán, lời hào trong các quẻ kinh dịch có đáp ứng theo kịp không?
Ví dụ: những người chuyển giới, thụ tinh nhân tạo, hiến tạng, chứng khoán, người máy, trí tuệ nhân tạo,… các lời thoán, lời hào từ xa xưa trong kinh dịch có đáp ứng và mô tả không?
Khi xã hội vận động, chuyển biến và khoa học phát triển với vận tốc tăng nhanh, qua tốc độ của các phương tiện giao thông, tốc độ thông tin gần như lập tức qua internet và các nền tảng mạng xã hội,… dẫn đến tốc độ thu nhận thông tin của não bộ con người cũng tăng nhanh. Trong khi Kinh dịch xuất hiện trong một xã hội lạc hậu, tốc độ giao thông, tốc độ thông tin,… đang còn thô sơ. Thử hỏi khả năng tương thích về “hệ điều hành”, “nhân” của hai môi trường, hai hệ sinh thái cách xa mấy ngàn năm có tương đồng, có phù hợp không?
3.2. Chênh lệch trình độ cảm nhận ngôn ngữ của các “thầy kinh dịch”
Các vị theo học kinh dịch ngày nay hầu hết là tự phát, không có trường lớp văn bằng chính thống nào công nhận, nên hầu hết các vị không chịu trách nhiệm cho hậu quả xảy ra!? Trình độ người theo học Kinh dịch chênh lệch nhau rất nhiều, rất ít người có trình độ về ngôn ngữ và khả năng cảm nhận ngôn ngữ, đặc biệt là từ Hán Việt… nên nhận thức của các vị về lời thoán, lời hào trong quẻ kinh dịch sẽ khác nhau rất nhiều. Dẫn đến mỗi người phán mỗi kiểu, mỗi phách rất lạc nhịp…
C. Sự phi lý trong lý thuyết ngũ hành
Năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ
Tương sinh: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
Tương khắc: Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy.
Kim được cho là kim loại, Thủy được cho là nước, Mộc được cho là cây xanh, gỗ, Hỏa được cho là lửa, Thổ được cho là đất.
Trong tứ đại vật chất: Đất nước gió lửa, không thấy nêu ra kim loại, cây xanh.
Sự phi lý khi độc đoán Mộc sinh Hỏa, trong thiên nhiên, tự nhiên vốn đã có nhiệt độ qua ánh sáng mặt trời, và nhờ ánh sáng (nhiệt độ) là một trong các điều kiện cần thì cây mới phát triển. Vậy sao gọi là Mộc sinh Hỏa? Khi chỉ thấy các vụ cháy nhà trong sinh hoạt hàng ngày… Nếu không có khí oxy làm sao mộc (gỗ) cháy được? Hơn nữa, Hỏa đã tự có trong thiên nhiên ở các dạng thể khí, thể lỏng,…
Nước là một trong tứ đại vật chất. Nước là nguồn gốc sự sống quan trọng thứ 2 chỉ sau không khí.
Sự phi lý khi áp đặt Kim sinh Thủy. Vậy Thủy do Kim sinh có phải là nước trong tứ đại vật chất, và loại thủy do kim sinh có quan trọng như nguồn nước thiên nhiên trong cuộc sống không? Trong khi các cổ thư từ rất xưa đều nhắc đến nước (thủy) như một vật chất tiên nghiệm quyết định sự sống. Kinh Thánh có đoạn: “Thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước”, hay vị triết gia cổ xưa đã nhắc đến bốn đại vật chất là đất, nước, gió, lửa như một đặt định bất khả tri. Còn trong kinh Khởi thế nhân bổn, đức Phật Thích Ca thuyết cho ngài Vàsettha về sự thành hoại của thế giới, và nước (màu đen sẫm) đã được nhắc đến đầu tiên, rồi sau đó là đất rồi đến nấm, cây leo,…
D. Kết luận và giải pháp
Thật ra, để đòi hỏi một sự chính xác tuyệt đối cho các vấn đề trong một xã hội là không tưởng, vì chúng ta đang ở trong những đối đãi thuộc hệ hình tương đối. Ngay cả ngôn ngữ chúng ta đang dùng để diễn đạt sự vật hiện tượng cũng ở bình diện tương đối. Nhưng sự sai số trong cách tính toán luôn được chấp nhận trong một quy luật khắc khe, chứ việc sai số như cái cách mà kinh dịch chọn đơn vị thời gian là 120 phút quả là không thể chấp nhận được. Cũng như cách suy diễn vòng tương sinh tương khắc của thuyết ngũ hành là quá khiêng cưỡng và không phù hợp thực tế. Nên, tôi nêu ra vấn đề với mục đích để các nhà nghiên cứu kinh dịch tìm cách hạn chế sai số và tính hợp lý trong đời sống.
Tôi không phải người say mê cuồng tín nghiên cứu về Kinh dịch, tôi cũng không phủ nhận và cũng không công nhận lý thuyết kinh dịch. Trong bài viết này tôi không bàn đến vũ trụ quan (hình nhi thượng) của lý thuyết kinh dịch… Những nhận xét trên chỉ là một kết quả suy nghiệm rất bình thường, mà hầu như ai ai nếu để tâm trí tư duy một cách lôgic sẽ nhận thấy. Tôi nêu lên vấn đề chỉ mong cho xã hội tốt đẹp hơn, văn minh hơn và người dân bớt đi những chi phí vô lý, khi đời sống đại đa số người dân đang còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Hơn nữa, điều này gây ra một sự mê tín và sợ hãi rất nguy hại trong tâm thức của nhiều thế hệ trong xã hội; điều đó sẽ làm suy yếu tinh thần dân tộc và cản trở sự phát triển của xã hội.
Kinh dịch thời xưa chỉ dành cho các đạo sĩ, họ là những vị ẩn thân tu luyện, giới luật nghiêm khắc để mong thấu đạt và cảm ứng cùng trời đất nhằm giúp đời khi cần thiết. Bây giờ kinh dịch cũng như các môn khác như yoga, thiền, mật tông,… trở thành một phong trào, điều này sẽ gây ra những hiểm họa khó lường...
Tôi nhận thấy rất cần những bộ óc vĩ đại, bao dung, trí tuệ siêu việt nghiên cứu chia nhỏ đơn vị thời gian trong kinh dịch, càng nhỏ thì độ chính xác càng cao để áp dụng vào lý thuyết kinh dịch,… có một gợi ý thử: ngày nay đã có các phần mềm ứng dụng trong công nghệ thông tin về kinh dịch, vậy thì cứ trong mỗi đơn vị thời gian của một địa chi chúng ta thử chia thành 12 địa chi nhỏ, và cứ như vậy đến khi đơn vị thời gian có được trong phạm vi sai số hợp lý, rồi dùng giải thuật đệ quy để xử lý thì kết quả hy vọng sẽ có độ chính xác cao hơn,… có như vậy, may ra mới loại bỏ được các trò mê tín mà các thầy kinh dịch làm nghề kinh doanh đã khiến biết bao gia đình tán gia bại sản, gây nên tình trạng bất ổn và kéo dài thêm sự lạc hậu cho xã hội!
Điều kỳ lạ đến khó hiểu, khi tôi đặt vấn đề khiêng cưỡng trong vòng tương sinh tương khắc của ngũ hành và cách áp dụng đơn vị thời gian 2 giờ (120 phút) là quá lớn trong kinh dịch sẽ cho sai số rất lớn với một vài người có nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết kinh dịch trong dự đoán, bói toán, tử vi, phong thủy,… họ đều im lặng và lãng tránh. Giựt mình tôi nhớ đến tác phẩm “Đường về nô lệ” của Friedrich Hayek. Buồn thay! Buồn thảm thay!.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ sách của tác giả Kim Định
2. Lão Tử Đạo đức kinh, Nguyễn Duy Cần
3. Kinh dịch, Ngô Tất Tố dịch và chú giải
4. Kinh dịch, đạo của người quân tử, Nguyễn Hiến Lê
5. Dịch học tinh hoa, Thu Giang Nguyễn Duy Cần
6. Tử vi đẩu số toàn thư, Hi Di Trần Đoàn
7. Kỳ môn độn giáp, Đàm Liên
8. Phong thủy đại sư Lưu Bá Ôn
9. Sáng thế ký, Kinh Cựu ước.
10. Kinh Trường a hàm, Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ dịch
11. Kinh Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch
12. Tập san Văn sử địa.
Huế 2/5/2005
Lê Huỳnh Lâm
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Mùa thu trong thơ Bích Khê

Mùa thu trong thơ Bích Khê

Khi trần gian này chưa bị thế tục hóa, mỗi thi sĩ như một nhà truyền giáo cho tâm hồn mình, mà kinh thư chính là ngôi lời của trái tim, là tiếng nói của thần linh, là sự giao cảm cao sâu của những tầng tâm thức. Đời sống nội tại của một người làm thơ như chính bài thơ hiện hữu. Bài thơ không bị dối trá hóa, không bị mỹ miều hóa, không bị khó hiểu hóa, không bị phi thơ hóa,… trong cảm quan như vậy, thơ như thượng thanh khí vượt qua rào cản sợ hãi, ô trọc và sự tầm thường hóa thi ca đang tràn ngập như hiện nay. Điều này cũng góp phần lý giải vì sao, trong những xã hội bị chủ nghĩa thực dụng nửa vời xâm nhập số đông con người đã lãng quên thơ, ngay cả những giáo viên sống bằng nghề văn cũng quay mặt với thi ca, hay đúng hơn là họ phản bội chính cái bao tử của họ. Vì sao tôi phải dẫn dắt vấn đề này khi đang nói về mùa thu trong thơ Bích Khê? Vì Bích Khê theo nhận định của Hàn Mặc Tử là một thi sĩ thần linh. Chúng ta xúc phạm thơ là xúc phạm “thần linh”, xúc phạm điều thiêng liêng nhất của con người! Thơ với Bích Khê:
Ta là thơ! Phàm tục hãy qui y
Ta sáng suốt chiếu ra mầu Phật tánh
Trong tâm hồn thi nhân mùa thu như một chất xúc tác đã gợi lên một cảm giác mơ hồ, xa xăm, tâm của thi nhân có thể đạt đến vô trú. Nhớ những ngày thu, trên con đường chỉ còn gió và lá như bước chân người lãng đãng phía trời xa. Cảm giác buồn lạnh của hơi thu thúc giục người thơ phải chuyển động. Vậy là thi sĩ thần linh của phái tượng trưng đã di hành cùng mùa thu.
Mùa thu là tượng của thi nhân, là hương của thơ, là men của tình ái, là sắc của họa, là nhạc của đất trời, là nguồn cơn sầu tận của những bước chân cô đơn.
Thượng thanh khí trong tâm hồn Bích Khê đã hòa điệu cùng mùa thu để những khúc nhạc du dương được huy động bằng thần lực vào trong ngôn ngữ:
Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tay êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
Âm hưởng bốn câu thơ trên nghe như dòng suối đang chảy róc rách trong cánh rừng vàng ngập sắc thu, tiếng đàn tỳ bà trên đỉnh núi lảnh lót lan theo dòng nước chảy, hòa cùng một hồn trăng phiêu diêu.
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Trong bài mộng cầm ca Bích Khê đã mô tả mùa thu như một người thiếu nữ, có đôi mắt trong như ngọc bích, đôi mắt ấy là nỗi ám ảnh khi những hàng lông mi đã kéo trường liên tưởng của tác giả đến với ánh tơ đêm rờn rợn.
Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?
Vú non non? Da dịu dịu, êm êm?
Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?
Lưới lông mi rờn rợn ánh tơ đêm!
Kỹ thuật điệp từ và điệp âm trong thơ Bích Khê đã đạt đến nghệ thuật, âm hưởng trôi chảy tự nhiên gió thổi mây bay.
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của hồn thu đi lạc ở trong mơ...
Người đời thường lầm tưởng mộng và mơ là thuộc tính của thi sĩ, nhưng kỳ thật cái mộng mơ của thi sĩ Bích Khê đã vượt lên cả sự thật nhầy nhụa, cái sự thật trần truồng mà thất tình, lục nhục của con người thường nói chính là cái bản năng con của loài người. Bích Khê đã chiêm ngắm thế giới quan của mình bằng chính sự rung động, bằng trái tim tinh huyết, bằng cả thần trí và ánh sáng của mặt trời.
Trong bài Cuối thu, tác giả như đã thể nhập vào không gian của mùa thu để thế giới bên ngoài và bên trong không còn ranh giới:
Đêm nay hồn lặng làm sao
Cảnh thu ôm cả chiêm bao vào lòng
Trời lam ứ đặc tình thu
Ô kìa mây bạc nặng lùa về tây!
Lại là một nỗi buồn của mùa thu, trong bài Lòng em, cũng chính là nỗi lòng của tác giả:
Nơi đây: làng cũ buồn thu quạnh!
Anh có khi nào trở lại chưa?
Chỉ hai câu thơ trong bài Tỳ bà, thi sĩ Bích Khê đã vẽ nên một mùa thu man mác buồn, một nỗi buồn của thi nhân, sự trở về của linh ngã trước hư vô hay về với cõi lòng miên man sầu lữ thứ, mà sắc vàng của mùa thu là chìa khóa để đi vào cánh cửa của tâm vô trú.
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông
Sinh thời, Hàn Mặc Tử đã xem văn thơ Bích Khê như đóa hoa thần dị. Trong lời đề tựa cho tập Tinh huyết, Hàn Mặc Tử đã nhận xét: “Thơ lúc ấy sẽ ham thích hết sức những cái gì thanh cao, như hương thơm nhơn đức của vị á-thánh, hay say mê điên dại cái gì hết sức tội lỗi mà người thế gian chưa từng phạm tới…”. Nhận định trên cũng dành cho thi sĩ Bích Khê, một tín đồ thi ca, một tâm hồn thuần khiết, một người thơ trọn vẹn giữa cõi trần đầy phiền lụy.
Huế, 31/8/2012
Lê Huỳnh Lâm
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Đọc thơ Trần Tịnh Yên - Người thủy táng trong ký ức phù sa

Đọc thơ Trần Tịnh Yên - Người
thủy táng trong ký ức phù sa

Tập thơ “Ký ức phù sa” của Trần Tịnh Yên phải chăng là bãi bồi hoài niệm của những nỗi buồn. Như Trịnh Công Sơn đã nói “Buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”, và buồn là một trong những căn tính bản nguyên của con người. Để rồi sau những hoài công kiếm tìm lời giải cho giấc mơ cuộc đời, tác giả đã nhận ra:
Những giấc mơ
chẳng bao giờ được giải mã
Tôi hoả táng tình mình
trong ký ức phù sa!
(Ký ức phù sa)
Tất cả mọi thứ rồi sẽ trôi theo dòng thời gian bất tận, còn lại chăng là một chút ký ức được lưu giữ não bộ, vậy mà con người vẫn đố kỵ, thù hận,… để cuộc đời mãi là bóng đêm cô độc khi hư vô ngự trị trên cõi người:
Ngày sẽ không còn
thánh thần hoang thai nấm độc
Vũ khúc của bầy sói
trên xác cừu non
vấy máu cô đơn
Vậy đó, khi mà thánh thần hoang thai nấm độc thì bầy sói nhảy múa, hát ca trên xác cừu non và khi tiếng mọt nghiến trên nóc nhà băng rã thì mỗi cá thể bước vào cơn lưu đày triền miên trong hành trình hư ảo:
Ngày sẽ không còn
tiếng mọt nghiến trên nóc nhà băng rã
Lưu đày chính bản thể mình
trên thân phận phù hư
(Nguyệt Quế)
Cảm nhận hạt muốn hư vô để thuỷ táng mình, chính là cảm nhận nỗi bơ vơ của kiếp người giữa biển đời mênh mông không bờ bến, trong “Phiên bản tôi” tác giả như nhận ra sự bất lực của chính mình:
Ngày lại ngày
đi qua âm bản cũ
Đời treo quán biển thiên thu
Cắn vỡ nỗi buồn giáp xác
Giữa bất diệt của sóng khuya
Gieo quẻ âm dương vào ngực gió
Dọc đường phù sa
Thuỷ táng mình
Trong hạt muối hư vô
Hình ảnh được tác giả lập lại nhiều lần trong tập thơ là ngực, trong “Có những mùa thu không vàng” có những câu:
Cầm tiếng thở qua đêm tóc rối
Sông hóa mây bay
Ngực người trở gió
Giật mình
Thu đã rêu phai
Hay trong “Ký ức Phù sa” nhà thơ đã che đậy những tiên cảm của mình sau ngực lá:
Tiên cảm về những lời yêu em
Giấu sau ngực lá
Và trong “Cổ tích sông”, tác giả đã dùng hình ảnh của ngực để làm biểu tượng cho sức sống của làng, với những hình ảnh gần gũi, thân thuộc của người Việt như: cơi trầu, lưỡi cày, cây lúa, giếng cổ, cây đa,… như chìm vào dấu tích xa xưa.
Sông cởi hồn
chảy qua ngực làng căng sữa
… Ngày ấy
lưỡi cày cũng biết đổ mồ hôi
bên cây lúa nghén đòng
hạt nước nảy mầm trong giếng cổ
Nơi cây đa gọi tâm linh về
khua mòn mười hai bến nước
Trong bài “Kén gió” Trần Tịnh Yên lại đưa ra hình ảnh ngực gai, chúng ta hãy hình dung những cây xương rồng đang vươn lên giữa nắng gió và cát trắng và ở đây mặt đất như là một bầu vú lớn của tạo hoá ban tặng muôn loài:
Gieo hạt trăng non vào vết nứt thời gian
nảy mầm trên lưng ngày sấm động
Cắn vỡ chân trời hồng thuỷ
Cắm cành xương rồng vào ngực gai
Gió và nước vốn không có hình tướng, vậy mà tác giả đã nhìn thấy ngực gió, nơi mà những cơn bão đen đang ngụ cư; cơn bão đen mà tác giả muốn nói đến phải chăng là sự lan truyền mãnh liệt của cái xấu đang trỗi dậy trong tâm thức xã hội, khi mọi giá trị bị đỗ vỡ:
Dự báo
về cơn bão đen
ngụ cư trên ngực gió
(Ngụ cư)
Trong những hình ảnh về ngực của nhà thơ, có lẽ hình ảnh ngực non là gợi lên cho người đọc sự liên tưởng đến một thiếu phụ quên cài cúc áo:
Em hồn độc mộc
lênh đênh sông dài
Ngực non
cúc áo quên cài
Thơ về núi
nhớ tóc mai lưng trời
(Blue đêm)
Các hình ảnh về “ngực” của nhà thơ như muốn gợi lên cho chúng ta một sức sống tiềm tàng trong tự nhiên. Trong tập thơ có nhiều bài lục bát và những bài thơ tự do có những hình ảnh mới được diễn đạt bằng ngôn ngữ của những thập niên trước, mặc dù tác giả đã cố gắng làm mới mình sau những heo may cũ.
Tôi nhận về
từ dị bản của dòng sông
Những tín hiệu
được lập trình
từ heo may cũ
Dự báo
về cơn bão đen
ngụ cư trên ngực gió
Sẽ đánh đắm mùa thu
đang mắc cạn
trong đồng tử lũ
Ký ức phù sa là nỗi nhớ dai dẳng về cội nguồn và những trăn trở trong hành trình đi tìm bản thể chính mình giữa hữu thể và thời gian mà tác giả gọi đó là tiếng kêu chiều của ngộ nhận hư vô.
Huế, 8/10/2008
Lê Huỳnh Lâm
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Nỗi niềm Nắng và Mưa

Nỗi niềm Nắng và Mưa

Có những bài thơ được đọc lên ở quảng trường, đọc ở chiến trường, có những bài thơ đọc cho cuộc khóc tang bi thiết, có bài thơ đọc trong những cuộc tiệc vui, có bài thơ chỉ đọc cho người một người nghe,…Thơ Triệu Nguyên Phong đọc trong cuộc chia tay với hiện tại, để trở về với khung trời ký ức xa xăm. Đọc tập thơ Nắng và Mưa trong những ngày mưa lạnh cuối mùa, tôi liên tưởng đến gương mặt của gã lãng du miền thôn dã, phải chăng “Nắng và mưa” của Triệu Nguyên Phong là nắng mưa của một thời trẻ dại? Chúng ta hãy cùng tác giả trở về phương trời ký ức khi “Bóng chiều” đổ xuống:
Chim ơi!
đừng hót nữa
trời đã chuyển mùa rồi
kỷ niệm buồn như thể
giọt cà phê đang rơi
Những giọt kỷ niệm đã rơi vào tâm cảm của tác giả, gợi lên hình ảnh những bóng đời trong hẻm nhỏ đìu hiu:
Ừ thôi
không nhớ nữa
con hẻm nhỏ đìu hiu
đi qua nhiều mưa nắng          
những bóng người liêu xiêu
Và trong những chiếc bóng liêu xiêu đó, bóng mẹ già đã rưng rưng trên ánh mắt tê tái:
Mẹ về
bóng ngả
mây trôi
Mang theo giọt nước
thầm rơi mắt người
Giọt nầy…
mẹ thả vành nôi
Giọt này đọng lại
bên trời dáng con…
(Mẹ…)
Trong “Hoa đồng tiền”, mùi hương của ký ức đã gieo nên vần thơ:
vần thơ
nhớ mùi hương
hoa Đồng Tiền cài tóc
vương nắng chiều.
Từ cái buổi vương nắng chiều, nhớ mùi hương chàng thi sĩ đã biết đợi chờ:
Đáng yêu
là phút đợi chờ
Đáng kiêu
là chút ơ hờ dỗi duyên
Đang thương
nụ hôn bắt đền
Bắt anh
gối chiếc chăn mềm
sương sa.
(Đáng yêu)
Hình ảnh người con gái của một thời xa xưa ở Cố đô Huế, đã được nhắc đến trong “Huế xưa”:
Trường Tiền
một thuở em sang
Tiếng guốc gõ
gió mơn man lối về
Chiều quen
Tím một câu thề
Lòng ta thành cổ
bộn bề nhớ thương.
Không chỉ có nắng mưa, thơ của Triệu Nguyên Phong còn có cả gió, những cơn gió lang thang vô định, những cơn gió thời gian xoá nhoà cuộc người, như tâm sự của tác giả trong “Cơn giông chiều”:
Bỗng chiều
đọng giọt mưa giông
Khảm lên nỗi nhớ
Cho bồng bềnh sương
Mắt cay xót bụi con đường
Gió phai màu tóc vô thường
… người đi
Và trong “Lời gió ru” hay lời con ve gọi mùa hè:
Phượng chờ
đỏ cả lối về
Con ve nhớ nắng
gọi hè miên man
Bóng mây theo gió lang thang
Ta giang tay đón…
lá vàng
chiều rơi
ảnh cánh hoa phượng đỏ chính là chất xúc tác để tác giả liên tưởng đến vành môi của người tình xưa, sự liên tưởng đó đã được biểu hiện trong “Giao mùa”:
Bâng khuâng
gói chút tình trao
Nửa xuân còn lại
chạm vào mắt xanh
Tình nghe hót tiếng
vàng anh
Giao mùa
phượng đỏ
thắm vành môi xưa
Trong những vui buồn với cuộc đời, tác giả đã rút ra những cảm nghiệm trong “Nỗi buồn trắng”:
Thật - hư - lẫn - lộn
Phai - tàn - đắng - cay
Và những chân giá tri cuộc sống đã bị người đời xoá nhoà ranh giới, sự nhập nhằng đó càng bùng phát mạnh trong thời hiện đại và ám ảnh tác giả:
Chút vàng thau lẫn một màu
Đãi cho hết những xưa sau tuổi đời
(Đãi vàng)
Đọc hết tập thơ, sau những tình cảm riêng, những tâm sự bộc bạch mà rất chân thật, bất chợt tôi phát hiện hình ảnh khí phách của gương mặt chân chất được dấu kín đằng sau rượu và thơ, cùng một vạch ngang trong đêm tàn cô độc:
Rượu và thơ
ướp mặt ta
Vạch ngang đêm
mảnh trăng già hư hao
Tiếng con mối gặm rì rào
Quên
rồi ngủ thiếp
rơi vào cõi không.
(Không)
Nắng và mưa là những nỗi niềm trăn trở của tác giả về một kiếp người, mà trong nỗi đau thắm đượm những tình cảm rất bình thường:
Nắng rơi qua mắt ngọc
Rồi thấm vào hồn nhau
Tình như mê như tỉnh
Ngày không muốn qua mau
Nhưng thời gian không đợi
Quên tóc bạc bao mùa
Em qua sông thuở nọ
Tình bỗng trổ cơn mưa
(Nắng và mưa)
Triệu Nguyên Phong hiện là thành viên của câu lạc bộ thơ Sông Bồ, tên thật của tác giả là Trương Nhã. Trước tập thơ “Nắng và mưa” của Nhà xuất bản Thuận Hoá, tác giả đã ra mắt bạn đọc tập “Say Đắng” do Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành. Thơ Triệu Nguyên Phong cũng như lời thổ lộ của tác giả trong bài “Thơ tôi”:
Thanh âm xưa
đừng gọi tôi
Trái tim chừ đã
nửa vời sắc hương
Tình rơi rụng
giữa lưng chừng
Câu thơ cũng lạc
cuối đường mây bay
Ôm người
không kín vòng tay
Làm sao đi hết
tháng ngày đục trong
Mắt tình chao
con nước ròng
Ngậm buồn sợi tóc
long đong mấy mùa
Thơ tôi
gieo ngọn gió lùa
Men tình ủ mấy
cho vừa cơn giông
Thơ tôi
mang kiếp bụi trần
Người trăm năm
vẫn trắng ngần
trong tranh.
Huế, 28/1/2008
Lê Huỳnh Lâm
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Những vần thơ in bóng quê nhà

Những vần thơ in bóng quê nhà

(Đọc tập thơ “Viết dưới bóng quê nhà” của Lê Văn Ngăn)
Sự khác biệt trong mỗi chúng ta, ngoài dáng vẻ bên ngoài còn có tính cách bên trong. Với lĩnh vực thi ca, để có được một tính cách riêng, ngoài tài năng, đòi hỏi nội lực sáng tạo và sức lao động miệt mài của tác giả. Nhà thơ Lê Văn Ngăn đã đến với người yêu thơ từ rất lâu, nhưng mãi đến hôm nay tập thơ “Viết dưới bóng quê nhà” mới chính thức ra mắt, làm nên một tính cách Lê Văn Ngăn với âm điệu nhẹ nhàng, chậm rãi nhưng đầy ắp tình người, tình hoài hương, qua bức “Thư về quê hương”:
Nơi tôi có một mái nhà từ quá khứ, người mẹ đêm đêm thức dậy dưới nền trời sao, nhen lên bếp lửa đầu ngày
…đêm đêm, theo đợt gió mùa thổi mãi ngoài hiên tôi thầm gởi lời mong quê hương tôi thêm nhiều hạnh phúc.
Như lời “Giới thiệu” của tác giả, cũng chính là nỗi niềm của người con đối với mẹ già:
mẹ vẫn lấy chữ nghĩa trộn với mồ hôi của mình
Để đến một ngày anh đã “leo lên bờ vực tối, sống ngang hàng giữa mọi người” và giữa những đêm khuya khoắt, người con thi sĩ vẫn hằng nhớ đến mẹ hiền:
Giờ đây, trong những dòng chữ tôi viết giữa đêm khuya
dường như vẫn lấp lánh nước mắt của người đã khuất.
Sinh ra và lớn lên dưới đáy xã hội, tác giả đã trải nghiệm qua những đau khổ mà anh đã cảm nhận được từ một người phu xe, cũng chính là người cha già nuôi anh khôn lớn:
Có một người phu xe
Quay cho đủ số vòng quay đau khổ
(Tả thực)
Và anh đã nghiệm ra một điều:
Đừng bao giờ quên
hạnh phúc đôi khi phải vượt qua một chặng đường bất hạnh.
(Tả thực)
Hình ảnh bếp lửa quê nhà đã khắc sâu trong tâm trí nhà thơ, và người đã nhen nhóm bếp lửa chính là mẹ hiền, để:
Mỗi buổi mai, lúc nền trời những vì sao chưa tắt
bao nhiêu bếp lửa đã sáng lên trên hành tinh này
và bếp lửa của mẹ, từ tuổi thanh xuân đến tuổi xế chiều
vẫn cháy chập chờn trong căn bếp nhỏ
Mẹ đã khởi đầu sự sống cho con cái mình
bằng một ngọn lửa như thế.
(Một ví dụ về nối tiếp)
Như một quy luật của tự nhiên, nỗi ám ảnh đau đớn về sự ly biệt là đặc tính của con người và ngọn lửa hy vọng tiếp nối chính là sự kế thừa về tình yêu thương đã được tác giả biểu hiện:
Con sợ đến một ngày, trong âm vang đều của tiếng mưa đêm
con sẽ đứng vào chỗ trống mẹ vừa để lại
một mình nhen lên ngọn lửa buồn buồn
Ngày ấy, nếu không dựa vào quá khứ
chắc con khó lòng nối tiếp sự sống cho những đưa bé mới ra đời.
(Một ví dụ về nối tiếp)
Trong thăm thẳm hình bóng quê nhà ấy, hình ảnh người mẹ đã thường trực trong tâm thức người con, để mỗi đêm trên chuyển tàu ký ức trở về ngôi “Nhà cũ” Lê Văn Ngăn đã gọi to:
Mẹ ơi, Mẹ ơi
anh thường gọi to trước căn nhà cũ
và bỗng nhiên, từ bóng tối mênh mông
có tiếng người thân yêu vội vàng đáp lại
có cánh cửa vội vàng bật mở
có ánh sáng vội vàng dậy lên cây lá quanh vườn.
Mẹ ơi, Mẹ ơi
anh sợ sẽ đến ngày anh gọi to như thế
nhưng dưới lòng đất, mẹ anh không thể nào đáp lại.
(Nhà cũ)
Và hình ảnh cảm động của người mẹ tảo tần nuôi con ăn học đã được tác giả khắc họa trong bài “Mẹ, con và ngọn đèn dầu”:
Trong đêm, người mẹ gánh gánh hàng qua xóm nhỏ
và người con trai cầm ngọn đèn đi trước dẫn đường
Dưới mưa phùn, người mẹ mỉm cười
thầm nghĩ những ngày sắp xuân hàng bán đắc hơn những ngày bình thường
đứa con trai sẽ có thêm chút tiền ăn học
mái nhà sẽ sáng lên vài cành hoa mới.
Dưới mưa phùn, người mẹ mỉm cười
nhưng người con trai chợt rưng rưng nước mắt
Chẳng bao lâu nữa mẹ sẽ qua đời
và anh sẽ không còn cầm ngọn đèn dẫn mẹ gánh gồng kiếm sống
Bấy giờ, trong vũ trụ mênh mông
anh biết tìm mẹ ở nơi nào.
Rồi từ những quê xứ xa xôi, anh đã nghĩ thật nhiều về người mẹ già , trong bức “Thư gửi mẹ và những nắm tro tàn” anh đã tâm sự:
Trước khi nằm nguội lạnh và lặng im,
tro tàn đã là ngọn lửa ấm dưới nền trời giá rét
đã giúp mẹ nấu các thức ăn để bán kiếm tiền
đã giúp con áo cơm và sách vở.
Sau nhiều năm cách xa, con lại trở về bên căn bếp của mẹ
bên nắm tro tàn nguội lạnh và lặng im
Mẹ đã qua thời thanh xuân ơi, xin mẹ đã đến lúc ngồi nghỉ
con sẽ thu vén gọn gàng nắm tro tàn của ngọn lửa vừa qua
như thu vén kỷ niệm một người đã từng giúp mẹ con chúng ta sống sót
Mẹ đã qua thời thanh xuân ơi, xin mẹ đã đến lúc ngồi nghỉ
con sẽ đem tro tàn đặt dưới gốc hoa
và hoa sẽ ra bông trong tiết lập xuân sắp đến
và mẹ sẽ ngồi ngắm nhìn thầm nhủ: tro tàn cũng làm nên vẻ đẹp.
Có những người sinh ra trong yên bình, cũng có những người con sinh ra trong cảnh loạn lạc, có thể những người đó, không có một sự chăm sóc bình thường như những trẻ sơ sinh khác, nhưng dù sao chúng ta cũng không thể nào được quên và cũng không thể nào nhớ được những người bên cạnh chúng ta, từ giây phút mỗi người vừa lọt lòng mẹ chào đời, điều đó mãi mãi là những câu hỏi của tác giả, mà câu trả lời vẫn còn ở phía trước:
Lúc tôi mới lọt lòng mẹ
người ý tá nào đã tắm gội cho tôi lần đầu
Người ấy bây giờ ở đâu
còn sống hay đã chết.
(Những câu hỏi chưa được trả lời)
Đôi khi có những thời khắc, sự chia sẻ của đồng loại trước nỗi cô độc mà chúng ta chưa cảm nhận, để rồi có những lúc bên nhau mà cứ ngỡ lạ xa, phải chăng đó là sự phi lý mãi tồn tại giữa thế gian này:
Đêm tối trời ở thị trấn xa xôi ấy
người đàn ông nào đã đi cùng tôi một đoạn đường
Người ấy bây giờ ở đâu
còn sống hay đã chết.
Mỗi ngày, xuôi ngược dọc đường đời
tôi có thể đi bên cạnh người đã giúp mình
nhưng vẫn ngỡ đấy là người xa lạ.
(Những câu hỏi chưa được trả lời)
Mỗi bài thơ của Lê Văn Ngăn là một nỗi niềm trăn trở ẩn chứa trong sâu thẳm tâm hồn của nhà thơ. Những trăn trở ấy, đã được thi hoá bằng những hình ảnh bình dị giữa đời thường, qua những tiết nhịp du dương, mở ra cho người đọc một cánh cửa bước vào phương trời sơ nguyên:
Tôi sẽ không bao giờ khép lại cánh cửa tâm hồn đã mở
…xin đừng quên nhìn vào bên trong ký ức
Nơi ấy,
tôi còn giữ nguyên vẻ đẹp thuở ban đầu.
(Mở ra một cánh cửa)
Đọc tập thơ “Viết dưới bóng quê nhà” của nhà thơ Lê Văn Ngăn, tôi như mường tượng ra gương mặt trầm buồn của một người con âm thầm gửi về mẹ, gửi về quê hương những cảm xúc sâu kín, trong cảm xúc đó là những cơn đau nhói lòng và những hạnh phúc đã được đánh đổi bằng cả cuộc đời khốn khó, như những chiêm nghiệm của anh đã được diễn đạt trong bài “Tả thực”:
Đừng bao giờ quên
hạnh phúc đôi khi phải vượt qua một chặng đường bất hạnh.
Huế, 26/1/2008
Lê Huỳnh Lâm
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Những điểm không chính xác trong lý thuyết kinh dịch và ngũ hành

Những điểm không chính xác trong lý thuyết kinh dịch và ngũ hành A. Giới thiệu sơ lược Kinh Dịch là văn bản ký hiệu có nguồn gốc là một truy...