Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

 Sử thi Phượng Hoàng: Mong một thế giới có ánh sáng, tự do và tình yêu bất tử

Vượt qua rào cản về ngôn ngữ, qua bản dịch của nhà thơ Nguyễn Thị Thùy Linh, tập thơ “Sử thi Phượng Hoàng” thực sự chạm đến từng trái tim người đọc với những bài thơ nhân văn chứa đựng tình yêu thương con người đầy sâu sắc giữa một thế giới còn hỗn loạn, đa mang.

Lấy tựa đề bài thơ “Sử thi Phượng Hoàng” làm tựa đề cho tập thơ của chính mình, dường như nhà thơ muốn qua tập thơ nhắn gửi đến mọi người những quan niệm về sự bất tử, ánh sáng, và thời gian. Thông qua hình tượng loài chim gắn liền với mặt trời và sự bất diệt. Hình tượng “Phượng Hoàng” được tác giả khắc họa trong không gian đa chiều từ vực sâu, địa cầu, đường biên địa ngục song hành cùng thời gian bất tận. Cứ thế, hình ảnh “phượng hoàng đẫm máu” “khát cháy” thiêu thành tro dưới tầng phế tích giúp người đọc thực sự cảm nhận được sự bất tử của con người theo chu trình lặp lại của thời gian. Dù bị mất tiếng nói, tước đoạt nhân quyền, sự thật, tra tấn... thì con người vẫn tiếp tục tái sinh, giữ trọn lời thề: Lập lại thế giới mới, không chịu cúi đầu.

Nhìn vào thực tại, một thế giới còn nhiều nhiễu nhương, nhưng nhà thơ vẫn có thể nhìn thấy ngọn lửa khát khao của con người. Ngọn lửa khát khao về sự bất tử, ánh sáng cuộc sống sẽ trường tồn cùng thời gian. Một thế giới mới sẽ luôn vận động cùng chu kỳ thời gian ngày càng tốt đẹp và hưng thịnh hơn. Khi con người vẫn luôn kiên cường như loài chim phượng hoàng.

Vậy trong mắt một nhà thơ người Ý gốc Anbani, thế giới hiện tại như thế nào. Đọc bài “Những đứa trẻ già nua”, chắc người đọc nhận ra. Con người trên trái đất này dù khác màu da, nơi chốn, cách thức tồn tại... nhưng tựu chung đều có sự đồng cảm nhân loại. Thật khó mà cầm nước mắt trước hình ảnh: “Trên mặt đất bỏng rát/ Những đứa trẻ khom mình, đôi tay chai sạn/ Cai quản thế gian hoạn nạn/ Nụ cười cứng đơ, tâm hồn rách nát/ Chập chững đi về phía bình minh không ánh sáng/ Như kẻ tật nguyền, lạc lối giữa ngã ba mịt mờ/ Hơi thở bất lực/ Mí mắt mỏi mòn, đông cứng/ Trong những giọt lệ đỏ tươi”. Một tâm hồn rộng lớn và nhân văn thế nào mà có thể viết lên những câu thơ sắc, nóng đến vậy. Nó như quả bom làm nổ tung những tình cảm bị đóng băng của con người, quét qua những bàng quan, vô tâm và lạnh lùng. Nó khiến con người như được thức tỉnh trong nỗi đau nhân loại. Cùng thương và đau chung cùng những đứa trẻ vô tội. Nhà thơ ANGELA KOSTA viết bằng cả tâm can của một người mẹ đầy yêu thương những đứa trẻ còn thơ dại nhưng đang chịu những nỗi đau của hơn một cuộc đời. Không còn nụ cười thơ dại, sự ngây thơ hồn nhiên đầy bản năng. Một thế giới “bạo cuồng, ác nghiệt”, “bụi bặm giả dối”, “tiếng bom dưới gầm trời run rẩy”, “tiếng khóc than”... Ngoài việc là tác giả đa năng với sự nghiệp trải dài trên nhiều lĩnh vực văn học, nhà thơ ANGELA KOSTA còn luôn có những hoạt động thiện nguyện vì hòa bình và cộng đồng. Có lẽ xuất phát từ những điều nhà thơ thấy và cảm nhận. Qua những bài thơ đầy nhân văn, nhà thơ muốn chia sẻ, mong muốn sự đồng cảm từ bạn đọc. Để từng chút một có thể gieo vào, nhân lên sự thấu hiểu, yêu thương của con người hướng tới đồng loại của mình. Thế nên, nhà thơ luôn hy vọng: “Mơ một tia hy vọng mỏng manh/ Dang đôi cánh gãy/ Ôm ấp những đứa trẻ già nua.” Dường như, trong bài thơ nào của nhà thơ ANGELA KOSTA hiện thực khắc nghiệt nhất cũng không thiếu được những khao khát đầy hy vọng về một thế giới nhân văn, tốt đẹp hơn.

Trong bài thơ “Khải Huyền”, nhà thơ tiếp tục kể tội cái ác, ví như núi lửa hận thù đủ sức hủy diệt tất cả: “Cuộc tàn sát những người vô tội/ Trái đất rỉ lệ/ rên xiết trong những vết thương sâu/ vẫn đang bốc cháy/ dưới bàn chân vô hồn của những kẻ đói khát quyền lực/Mù lòa bởi tham vọng”. Nhân danh con người, nhà thơ  ANGELA KOSTA đã mạnh mẽ đưa đến một tiếng nói đanh thép kể tội những kẻ tham vọng quyền lực tàn sát những người dân vô tội. Nhiều nơi trên trái đất xinh đẹp của chúng ta vẫn đang có những việc, tội ác như vậy. Tham vọng quyền lực trở thành tội ác khi khiến cho“Hàng triệu con người/ Tan trong vòng xoáy dung nham/ Biến mất mãi mãi”. Bài thơ như vén bức màn che sự thật về những xung đột chiến tranh trên trái đất này.

Đọc thêm những bài thơ như “Mẩu bánh mỳ”, “Khúc dẫn nhập”, “Thần thánh hóa quỷ vương”...Ta tiếp tục cảm nhận được những đau xót, phẫn nộ trước lòng tham con người khi gây ra những thảm cảnh cho đồng loại. Nhưng sau hết, nhà thơ vẫn cháy lên những hy vọng, mong muốn một thế giới sẽ tốt đẹp nhân văn hơn.

Không chỉ có những vần thơ sục sôi, da diết về một thế giới bên ngoài đầy tính thời sự nóng bỏng đầy chân thực, nhà thơ còn đưa bạn đọc đi sâu vào thế giới nội tâm, tình cảm thiêng liêng gắn kết thân thiết của mỗi con người. Có thể vượt qua những vùng đất và đại dương, ta đồng cảm với tình mẫu tử trong bài “Gửi mẹ yêu”. Cảm xúc như từ tình mẫu tử trào lên trên từng mặt chữ: “Giờ này mẹ đang ở đâu?/Con muốn hôn lên mắt mẹ dịu dàng lần nữa!/ Muốn vuốt ve đôi tay ấm áp của Người/ Cảm nhận từng nếp nhăn tuổi già tới sớm/ Không cầm lòng nổi trước thân thể héo hon/ Mái tóc bạc chứng kiến nỗi đau đớn mỏi mòn”. Hình ảnh người mẹ trong bài thơ được hiện lên trong nỗi nhớ người con chân thực đầy gần gũi với đôi tay ấm áp, nếp nhăn tuổi già, thân thể héo hon, mái tóc bạc. Ta thấy như đó là hình ảnh chung của mỗi bà mẹ trên trái đất này khi con dần lớn. Người mẹ là người song hành ôm ấp, nâng niu khi con chỉ là một giọt máu và lớn dần trong bụng mẹ. Người banh da xẻ thịt đưa con đến với thế giới này. Qua nỗi nhớ người con mà ta như cảm nhận cả tình yêu người mẹ. Không phải tự nhiên mà con yêu mẹ sâu sắc đến vậy! Theo bước chân tuần tự của thời gian, tình yêu đó lớn dần theo từng tuổi con, tuổi mẹ. Một tình yêu độc nhất không gì có thế thay thế hay lớn hơn. Người như nữ thần, vì sao sáng lấp lánh. Dù người đi rồi... mãi mãi...Cuộc đời không còn mẹ. Những khoảng trống không gì có thể lấp đầy. Lòng người tiếc nuối mãi giây phút được mẹ yêu thương che chở. Đọc bài thơ này, bạn đọc có lẽ không kìm được nước mắt. Bởi nhà thơ đã nói ra nỗi lòng của tất cả người con trên thế gian này. Nhất là những người đồng cảnh không còn mẹ. Thơ ca là như vậy đó. Nó vượt qua mọi không gian và thời gian để kết nối cảm xúc, tìm kiếm sự chia sẻ, đồng cảm.

Mạnh cả đề tài xã hội, tình cảm gia đình, tưởng chừng như khó tìm ở tác giả này những câu thơ viết về tình yêu. Nhưng không, đọc bài “Trống rỗng” ta lại thấy được những cảm xúc mãnh liệt của tâm hồn đầy tính nữ sống hết mình với tình yêu. Trong sự ngăn cách của tình yêu, lần đầu tôi thấy một nhà thơ nữ dùng hình ảnh “bức tường cao sừng sững/chạm tới bầu trời” để diễn tả. Bức tường sừng sững ấy như không có một tia hy vọng hàn gắn nào có thể vượt qua đến nỗi bầu trời nhìn thấy cũng phải kinh ngạc, “vũ trụ như chết lặng”, “thế giới ngừng trôi”, “Ngay cả trái đất cũng không chịu nổi/ Nỗi đau trường cửu sục sôi”. Một tình yêu đến từ kiếp nào giờ đây lại không thể chạm đến với nhau. Để “nỗi nhớ anh/ thiêu đốt từng khoảnh khắc”.

Có lẽ, những vần thơ này đã chạm đến ký ức của rất nhiều đôi lứa. Trên thế gian này, bao tình yêu lỡ dở thì bấy nhiêu sự đồng cảm. Đồng cảm từ nỗi đau xa cách nên những nỗi nhớ thiêu đốt tâm can. Tạo hóa đã tạo lên những mối lương duyên nhưng chẳng thể thêm cho đôi lứa thêm chữ nợ nên những mất mát của mỗi người lại chân thực đến thế. Có mấy ai mà người yêu đầu cũng là người duy nhất nên có lẽ những vần thơ như những dòng ký ức khiến lòng người đắm chìm vào nỗi nhớ. Hình như, ta cũng từng trải qua nỗi đau như vậy, giữ một nỗi nhớ như vậy để giấu tận sâu trong tâm hồn mình.

Mỗi bài thơ của ANGELA KOSTA như một bản giao hưởng chinh phục trái tim bạn đọc bởi chiều sâu tư tưởng, chiều dài thời gian và chiều rộng của mọi nhân tình thế thái cuộc đời. Những hình ảnh thơ mạnh mẽ đủ sức khơi gợi thăng hoa những cảm xúc từng được nén chặt trong lòng người đọc. Những bài thơ với nhiều cung bậc cảm xúc. Từ da diết, dịu dàng, nỉ non đến hùng hồn, phẫn uất đầy xa xót. Để lòng người như được tưới những đồng cảm yêu thương và chia sẻ. 

Theo những bước đi tuần tự, lặp lại của thời gian, một thế giới mới sẽ thay thế nhưng chỉ cần đọc thơ của nhà thơ ANGELA KOSTA, người đọc như được trở về một thế giới đầy nhân văn tràn ngập tình yêu, tình cảm gia đình. Một thế giới vẫn còn tiếng bom, loạn lạc và con người làm vật hy sinh của tham vọng quyền lực của chính mình. Cái ác, cái thiện song hành. Để bạn đọc thấu hiểu và chia sẻ, nhân lên những yêu thương, gạt đi những tham vọng đẩy con người vào đau khổ. Để con người biết trân trọng hơn hòa bình, tự do và hạnh phúc. Một thế giới mới chỉ có yêu thương.

Tiểu sử Nhà thơ ANGELA KOSTA:

Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS,  BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh.

Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Chỉ tính riêng năm 2024, tác phẩm đã được xuất bản trên 150 tờ báo và tạp chí quốc gia và quốc tế, với: thơ, bài viết, phỏng vấn, sách, bài đánh giá, v.v. Bà đã nhận được nhiều giải thưởng từ nhiều tạp chí và báo khác nhau. Ngày 16 tháng 1 năm 2025, Trung tâm nghiên cứu và dịch thơ quốc tế, Tạp chí biên dịch thơ quốc tế (Đa ngôn ngữ), Hội đồng quản trị của Liên minh tạp chí thơ thế giới – TRUNG QUỐC tuyên bố: đã được Ủy ban điều hành quốc tế bỏ phiếu của IPTRC bổ nhiệm là Nhà thơ quốc tế xuất sắc nhất năm 2024.

Tiểu sử của dịch giả: Nguyễn Thị Thùy Linh

Nguyễn Thị Thùy Linh, sinh năm 1991, là nhà thơ và dịch giả văn học. Hiện sống và làm việc tại Hải Phòng, Việt Nam. Tác phẩm xuất bản: Tập truyện dịch thiếu nhi “Búp bê song sinh tới Trái đất” của nhà văn Milutin Đuričković (Serbia) (Nxb Hội Nhà văn, 2016),  Tập thơ dịch “Đôi cánh của bóng tối” của nhà thơ Raed Anis Al-Jishi (Ả rập Xê út) (Nxb Hội nhà văn, 2018)… Ngoài ra, cô còn dịch thơ và truyện ngắn của nhiều tác giả nước ngoài khác và giới thiệu trên các báo và tạp chí văn học của Việt Nam. Thơ ca cô được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau và được in trên các báo, tạp chí và ấn phẩm văn học in chung của quốc tế (như “World Poetry Yearbook 2024”- NXB Rubini, Cộng hòa Síp; “Anthology of  Vietnam”- NXB Common Literature Period, Ấn Độ, Tuyển tập “Thơ châu Á - Hàn Quốc), Tuyển tập “Dưới sắc thời gian: Những đường chân trời không tên” – NXB GEER, Tirana… Giải thưởng: Giải Nhất cuộc thi Thơ lục bát “Tổ quốc và Đạo pháp” năm 2016. Giải Nhì cuộc thi thơ 2015-2016 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Các chứng nhận và bằng khen quốc tế cho những đóng góp trong văn học và tác phẩm truyền cảm hứng được cấp bởi Tạp chí SINDH COURIER (Pakistan), Tạp chí Wordsmith International Editorial, Học viện Văn hóa và Văn học quốc tế…

20/4/2026

Angela Kosta

Cù Thị Thương

Nguyễn Thị Thùy Linh dịch

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy

Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.

Trần Chấn Uy làm thơ như một nhu cầu, nắm bắt khoảnh khắc để rồi anh viết ra những câu thơ hay. Gặp gỡ anh thường xuyên, có khi đi công tác cùng anh, những buổi gặp gỡ bạn bè trên mọi miền đất nước, anh đọc thơ. Lạ, rất nhiều người sợ nghe thơ, nhưng bằng giọng đọc thơ của chính mình, Uy đã lôi kéo người nghe. Và bài thơ tôi nghe nhiều nhất trong những chuyến đi: “Trong ngực em/ Như có tiếng ngựa phi/ Anh lồng lên như ngựa phi nước đại/ Gặp tuổi tròn trăng chớm thì con gái/ Ngã vào vai anh em hát: “Sờ một tí đi tù/ Sờ hai tí đi tù/Sờ ba tí đi tù chung thân.” (Ái Lả).

Với anh em văn nghệ sĩ Khánh Hòa, Trần Chấn Uy là gương mặt nổi bật. Sinh ra ở Hà Tĩnh, nhưng gần 50 năm sống và làm việc tại Nha Trang, anh tự nhận mình đã “thành người Nha Trang”.  Sinh năm 1958 tại Hà Tĩnh, Trần Chấn Uy tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, đi dạy học ở Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang (1981–1990). Và khi ở Đài Phát thanh – Truyền hình Khánh Hòa, giữ vai trò biên kịch, đạo diễn, rồi Phó Giám đốc Trung tâm sản xuất chương trình, anh đã thực hiện đúng vai trò của nhà thơ và nhà báo.

Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Nha Trang – Khánh Hòa, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa. Gia tài thơ của Trần Chấn Uy khá dày dặn, trải dài: Tình ca hát một mình (1990); Chân trời khát (1996); Trăng lạnh xứ người (2003); Giấc ngủ khuyết vầng trăng (2005); Bên dòng sông đa tình (2012); Bóng làng (2018); Người về từ nẻo cỏ may (2022)..Trong năm 2021, anh được Giải 5 năm Văn học Khánh Hòa cùng rất nhiều giải thơ khác.

Thơ ông không cầu kỳ về hình thức, nhưng giàu cảm xúc và mang một giọng điệu riêng: vừa hào sảng, vừa lắng sâu, vừa từng trải mà vẫn thiết tha. Có thể thấy rõ điều đó qua những câu thơ như một tiếng thở dài của ký ức: “Quen lối cũ, bước chân ngập ngừng lắm/ Cây si già trước ngõ bỗng rưng rưng/ Ta đã đánh mất một thời say đắm/ Để bây giờ anh hóa người dưng”. Ở đây, trong sâu thẳm, thơ chính ở chỗ dám đối diện với mất mát, dám gọi tên những đổ vỡ của chính mình.

Trần Chấn Uy làm thơ tình nhiều, và đó cũng là nơi thơ ông chạm đến trái tim người đọc rõ rệt nhất. Những mối tình trong thơ ông không ồn ào, mà âm ỉ, day dứt: “Vẫn biết con đường em đi không có anh/ Mùa lá rụng, em cùng ai dạo phố…” Hay: “Ta biết rồi em sẽ sang đò?/ Trái tim rỉ máu sẽ mang cho…” (Ta về châm lửa bài thơ ấy)

Là người từng đi qua chiến tranh, thơ Trần Chấn Uy còn mang một chiều sâu khác: ký ức và mất mát. “Sau chiến tranh, tôi tới Sài Gòn/ Giữa bát ngát phố phường và điệp trùng cao ốc/ Giữa những con đường bóng loáng bánh xe bon/ Nơi nào cha tôi ngã xuống sau dãy tường đổ nát?/ Tôi cắn răng nghe môi mình mặn chát/ Những viên gạch lát đường run rẩy dẫn tôi qua” (Nơi nào cha tôi ngã xuống).

Ông nhìn về cuộc đời: “Đêm muộn, sương ướt áo/ Tóc bạc thêm mấy phần/ Cuộc đời như mộng ảo/ Xa vời bóng cố nhân”. (Vầng trăng trong đáy chén)

Những câu thơ không tô vẽ, không bi lụy, nhưng lại ám ảnh bởi sự thật đến nao lòng. “Chị đi lính khi chưa kịp lấy chồng/ Vồng ngực trẻ bánh giầy chúm chím/ Mùa chớm xuân chị cũng vừa chớm chín/ Áo Tô Châu run rẩy trái đào non/ Tôi tiễn chị nơi bờ cỏ chân cồn/ Cánh đồng làng sáng ấy bỗng xanh hơn/ Chị lặng lẽ nhìn tôi lặng lẽ/ Hàng mi cong khẽ chớp một ánh buồn.” (Chị) Những câu thơ thật sự buốt lòng: ”Vồng ngực trẻ bánh giầy chúm chím”, và có lẽ chỉ Trần Chấn Uy mới viết ra những vần thơ như vậy.

Khi đã rời công việc quản lý, Trần Chấn Uy có nhiều thời gian hơn cho những chuyến đi. Và thơ ông, theo đó, mang dấu ấn của những cuộc hành trình. Có khi là một thoáng buồn rất nhẹ: “Đêm muộn, sương ướt áo/ Tóc bạc thêm mấy phần…” Có khi lại là sự tinh nghịch, phóng túng: “Với tay về phía hư không/ Vốc đầy nắm gió bỏ chồng đi hoang”

Ở ông, cái hào sảng không chỉ là khí chất, mà còn là cách sống: sống hết mình, yêu hết mình, và viết cũng hết mình. Và đây: “Vô tình tên của phố phường/ Tạm Thương – thương tạm, con đường ngày xưa/ Nơi ta từng đợi cơn mưa/ Chờ em suốt cả bốn mùa, chờ em./ Nơi người thao thức đêm đêm/ Lắng nghe nhịp bước bên thềm, người đi.” (Gặp nhau ở ngõ Tạm Thương)

Thơ Trần Chấn Uy chinh phục người đọc bằng cảm xúc thật và một nhân cách thơ rõ ràng. Thơ ông là tiếng lòng của một người dám sống, dám yêu, dám đau. Và chính điều đó khiến thơ ông còn ở lại lâu trong lòng người đọc.

22/4/2026

Khuê Việt Trường

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc

Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.

Ở bình diện thể loại, tác phẩm được xem như một trường ca mang tính biểu tượng, trong đó hệ thống hơn 36 loài hoa vận hành như những mã ký hiệu văn hóa. Những hình ảnh tưởng như bình dị lại mở ra chiều sâu nhân sinh: “những con người bình dị như những bông hoa thủy sinh… thủy chung cùng phèn mặn, kiên gan bom đạn thuốc khai hoang”. Ở đây, thiên nhiên không chỉ được miêu tả mà còn được nhân hóa và biểu tượng hóa, trở thành phương tiện để diễn giải lịch sử và thân phận con người. Tác giả đã cất công sưu tầm hình ảnh trên 20 liệt sĩ và những con người đã trở về sau cuộc chiến. Góp phần làm cho tác phẩm thêm chân thực và xúc động.

Trong chương một – Hoa thủy sinh, tác giả triển khai một thi pháp sinh thái đặc sắc. Những loài như bèo, lục bình không chỉ mang đặc tính sinh học mà còn gợi mở những tầng nghĩa xã hội: “khi viết về bèo… là những phận bèo trôi dạt, mà khát khao sinh sôi”, hay với lục bình: “tự do và vô ưu, trôi trôi và trôi, nở nở và nở”. Cách lặp cấu trúc cú pháp này tạo nên một nhịp điệu ám ảnh, đồng thời khắc họa tính chất vừa mong manh vừa bền bỉ, rất gần với cuộc sống đời thường.

Sang chương hai – Hoa tôi gặp trên đường thiên lý, trường ca chuyển từ không gian sinh thái sang không gian lịch sử – xã hội, nơi mỗi loài hoa gắn với một số phận cụ thể. Những câu thơ như: “trao may mắn duyên tình cho kẻ khác, tuổi thanh xuân nào muốn đi tu…” hay “hòa bình chồng con hy sinh hết, giờ mẹ mới thật tu đây” đã khắc họa sâu sắc bi kịch và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Ở đây, tác giả xây dựng một diễn ngôn về chủ nghĩa anh hùng mang tính nhân bản, không tách rời đau thương khỏi vinh quang.

Đặc biệt, hình ảnh dừa được triển khai như một biểu tượng ký ức gia đình – dân tộc, với những câu thơ giàu tính tự sự:

“ông cố tôi giữ tài liệu cách mạng…

ông ngoại tôi treo cờ Tổ Quốc trước tầm súng giặc…

cháu tôi bị trói dưới gốc dừa chết còn rất trẻ…”

Chuỗi hình ảnh này tạo nên một trường liên tưởng lịch sử, nơi ký ức cá nhân hòa vào ký ức tập thể, làm nổi bật chiều sâu của mất mát và sự tiếp nối giữa các thế hệ.

Không dừng lại ở quá khứ chiến tranh, chương ba – Hoa thời hậu chiến – mở ra một góc nhìn khác của hiện thực. Những câu thơ như: “Tôi lớn lên thời bao cấp… đồng ruộng mênh mông mà dân chịu đói” hay “những đứa trẻ thời hậu chiến, chiều cao không quá một mét năm mươi” đã phản ánh một cách chân thực những nghịch lý của đời sống. Ở đây, trường ca mang màu sắc tự sự đời thường, khi tác giả nhìn lại quá khứ không chỉ để ca ngợi mà còn để chiêm nghiệm. Tác giả dẫn người đọc ngược dòng chảy để cảm nhận những được mất sau ngày giải phóng. Những câu thơ như tiếng nấc nghẹn của tác giả: … “Hoa đậu biếc mà không biếc, hoa thường xuân không xuân, hoa giành giành không giành nổi chút danh phận cho mình…”

Trường ca đã làm rung động trái tim giới nhạc sĩ: Bùi Khánh Nguyên đã cho ra đời hai bài hát dựa trên ý thơ của chị. Bài-Xuyến Chi và Hoa của nước. Nhạc sĩ Trần Quốc Dũng đã phổ bản nhạc: Hai lần làm mẹ. Những bản nhạc này đã được công chúng đón nhận.

Một điểm đáng chú ý là chất liệu khoa học được tích hợp tự nhiên vào tác phẩm. Việc tác giả “am hiểu tường tận từng loài hoa, ngọn cỏ” và cung cấp đặc điểm của hơn 36 loài đã tạo nên một diễn ngôn lai ghép giữa văn chương và sinh học, góp phần làm giàu thêm giá trị nhận thức của trường ca. “của nước là tre”

“Trăm năm hoa mới nở ..” “của nước là mắm là đước là vẹt là gừa..hoa ẩn mình li ti không dễ gì nhìn thấy mà biến ảo thần kỳ. Phận bèo trôi dạt mà khao khát sinh sôi, giấu uẩn khúc trong những bào thai mắt thường…”

Về tổng thể, “Hoa của nước” có thể được xem như một bản đồ ký ức bằng thơ, nơi mỗi loài hoa là một điểm neo của lịch sử, mỗi câu thơ là một lớp trầm tích của thời gian. Những câu như “đường độc đạo tiến về thành phố đầy xương trắng” hay hình ảnh “hoa Dã Quỳ… giặc cột tóc chị vào gốc cây… đốt cháy chị tan vào đất mẹ” không chỉ gây ấn tượng thị giác mà còn khơi dậy một trải nghiệm cảm xúc mạnh mẽ, buộc người đọc phải đối diện với những thăng trầm của lịch sử dân tộc.

Việc trình bày song ngữ Việt – Anh cũng mở rộng khả năng tiếp nhận, đưa tác phẩm vào một không gian đối thoại liên văn hóa, nơi những giá trị bản địa có thể được chuyển tải ra ngoài biên giới ngôn ngữ. Trong giai đoạn hiện nay rất cần những tác phẩm thi ca được chuyển tải sang nhiều ngôn ngữ để có sức lan tỏa nhịp cầu văn hóa thế giới .

Dẫu không phải là một nhà phê bình chuyên nghiệp, người viết bài này tiếp cận tác phẩm với tư cách một bạn đọc, nhưng chính trải nghiệm đọc đã cho thấy “Hoa của nước” là một công trình nghiêm túc, giàu giá trị nghệ thuật và nhân văn. Đây không chỉ là một trường ca về hoa, mà là một trường ca về con người Việt Nam – kiên cường, hy sinh và luôn hướng tới  chân, thiện, mĩ . Trân trọng sự làm việc cần mẫn của chị và hai cộng sự đắc lực (con gái và con trai nhà văn) đã dịch thuật chuyển tải hết ý tưởng của tác giả qua ngôn ngữ Anh. Xin chân thành cảm ơn món quà của chị. Tôi trích bốn câu thơ, có lẽ rất tâm đắc chị đã trân trọng viết lên đầu tác phẩm .

Trên đường thiên lý tôi đi

Nước cuốn theo bao câu chuyện thần kỳ

Cảm ơn những bông hoa thủy sinh

Cho tôi hiểu máu trộn bùn có màu gì 

(Trầm Hương)

22/4/2026

Lê Thi

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ

(Tham luận đọc tại cuộc tọa đàm thơ DỌC TRỜI HOA LỬA của Lương Minh Cừ)

Rất vui khi nhận được tập thơ DỌC TRỜI HOA LỬA của Nhà thơ Lương Minh Cừ qua Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn mang đến gửi tôi. Đây là món quà thơ đầu xuân Bính Ngọ dày dặn mà anh giải phóng quân – Cựu chiến binh Lương Minh Cừ thai nghén sinh ra từ những năm 70 thế kỷ 20 cho tới bây giờ, và thơ Lương Minh Cừ đang độ xuân thì dù anh đã bước sang mùa xuân thứ bảy mươi lăm rồi.

Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.

Đọc 54 bài thơ trong tập thơ này, tôi thấy có đến 34 bài như tác giả nói đó là: Những bài thơ còn sót lại trong đáy ba lô, tứ tán khắp nơi mà dần dần mới tìm ra và sao chép lại. May cho anh vì đó là hồn cốt của DỌC TRỜI HOA LỬA. Người lính Lương Minh Cừ gác bút, cầm súng đánh giặc mà câu thơ cứ ngân nga dịu vợi, tạo ra cái chất anh hùng ca nhân văn cuộc đời và tình yêu. Từ làng quê Thái Bình ở Đồng bằng Bắc bộ, cùng đồng đội vượt Trường Sơn đến với chiến trường Nam bộ, cái chất thơ con trai đồng bằng trong từng bài thơ vẫn cứ bay bổng lâng lâng, hiển hiện như cánh cò đồng nội mênh mông.

Bình minh ở đây đẹp như phim màu
Với bầu trời cao trong xanh vời vợi
Và sáng nay trong làn nắng mới
Có những sư đoàn xuất kích trước bình minh

(Bình minh biên giới)

Thế mới lạ, ở cái chốn gai góc ấy, trước lúc ra trận mà vẫn lạc quan tinh tế lạ thường. Từ lúc hành quân đến khi vào sát ngay bốt đồn địch, nhà binh Lương Minh Cừ bình tĩnh lạ thường và người chiến sĩ ấy đã bắt gặp ánh mắt từ trái tim thiếu nữ, tạo nên những áng thơ bật dậy mà xốn xang con tim:

Em gái ra bìa rừng đón chúng tôi
Em không nói vì nhà kề bên bốt giặc
Không nói được bằng lời thì nói bằng ánh mắt
Đôi mắt em như một ngọn đèn

(Trái tim ngọn đèn)

Quả là một sự tinh tế lạ thường. Câu thơ anh trong ánh mắt cô giao liên sáng lên như một ngọn đèn dẫn đường vượt qua sống chết mong manh. Chính trong sự im lặng ấy, hơi nóng trái tim đã muốn nói thay lời, lý trí trong tâm can đã bật ra trong tiếng thơ:

Nghĩ gì mà cứ lạ lùng mãi thế hả em
Điều khó hiểu là điều đơn giản nhất
Giữa cuộc chiến tranh này, em đã cho chúng tôi hiểu về tình yêu của đất
Hơi nóng trái tim đã nói thay lời.

(Trái tim ngọn đèn)

Chính trong ánh mắt ấy – đó là tín hiệu của sự sống đang tỏa ra từ những trái tim ấm áp. Câu thơ của người lính đã dội vào tâm trí con người ra trận, bởi ánh mắt long lanh, cùng sự nóng hổi của con tim đang thay lời muốn nói:

Sau trận chống càn bỗng gặp lại em
Nỗi mừng vui cứ ùa về bất chợt
Giữa ánh lửa chập chờn, mắt em long lanh như giọt nước
Bờ vai tròn, khẩu súng cứ xoay nghiêng

(Sau trận càn và cô du kích)

Phút nghỉ ngơi giữa hai đầu trận đánh vẫn trong vùng máu lửa, đôi mắt con gái cứ làm xốn xang bao rung cảm, bồi hồi mà thầm kín đến lạ trước người lính trẻ, trong khi em: "Bờ vai tròn khẩu súng cứ xoay nghiêng". Ở khổ thơ này xảy ra hai tình huống: Tại sao khẩu súng không cầm lên với tư thế sẵn sàng chiến đấu hay hướng nòng súng xuống đất mà khẩu súng cứ xoay nghiêng? Một sự vân vê tinh tế của người con gái đã tạo ra cảm xúc câu thơ: "Bờ vai tròn khẩu súng cứ xoay nghiêng". Chính câu thơ ấy đã tạo nên cái đỉnh của bài thơ đẹp. Cũng từ cái phút chốc lạ lùng ấy, anh đã nhận ra:

Trong nồng nàn hương rạ đồng khô
Nghe rất nhỏ có tiếng cười khúc khích
Thì ra người vừa bắn vào đồn địch
Lại là em nữ du kích Đức Hòa

(Đêm pháo kích Đức Hòa)

Câu thơ rất thật nhưng ý tứ bật ra sự cảm phục những người con gái đồng bằng sông Cửu Long bình dị. Lẽ bình thường ấy lại là cô du kích Đức Hòa:

Em như ngôi sao xanh
Sáng giữa bầu trời dọc ngang chớp giật
Em dẫn chúng tôi vượt qua đồn giặc
Ngôi sao xòe chỉ hướng tiền phương.

(Cô gái giao liên)

Một sự liên tưởng đẹp, không phải ngôi sao đỏ, sao vàng mà ngôi sao xanh dịu vợi trong màn đêm của những ngày tháng khốc liệt, giữa sống chết mong manh vẫn tin vào sự sống. Bản lĩnh và ý chí của người cầm súng vẫn vững niềm tin trong những vần thơ đẹp, mặc dù:

Pháo giặc bắn cầm canh tiếng nổ ném vào đêm sâu
Tắt đi rất nhanh trong hương đồng gió nội

Dù trong hoàn cảnh của pháo gầm đạn xé, sự chuyển tiếp ý tứ trong cái nhìn thực tế của chiến trường đã thể hiện ý chí sâu sắc của bản lĩnh trong tư thế của người vào trận. Câu thơ của người lính như dặn lòng mình bình tĩnh trước gian nguy. Bài thơ Đêm như một minh chứng, triết lý nhân văn. Sự sống chiến trường với tiếng thơ từ mặt trận vụt lên bởi khẩu súng trong tay biết nói, tạo nên vần thơ hay:

Chúng tôi ít lời vì khẩu súng trong tay biết nói
Vì cuộc chiến tranh đâu chỉ mới bắt đầu

(Đêm)

Điều đặc biệt trong thơ Lương Minh Cừ thời kì chiến tranh đầy cam go ác liệt ấy, hình ảnh người con gái luôn luôn là hình ảnh đẹp, là chan chứa yêu thương. Đọc qua tập thơ Dọc trời hoa lửa ta dễ nhận ra tình cảm dành cho phái nữ chiếm rất nhiều trong tập thơ này. Đây nhé, xin dẫn hai khổ thơ ở bài thơ tình thứ nhất, trong nhiều bài thơ tình, người lính từ năm 1972 đã viết:

Yêu mà không cần nói
Có phải vậy không em
Anh tin cây thốt nốt
Hiểu được lời con tim

… và rồi:

Tóc thề em xõa rũ
Vòm ngực tròn thơ ngây
Hàng mi dài cong chớp
Đưa anh về chân mây

Và ở giảng đường hôm nay trong giờ phút này, nơi đây có nhiều du học sinh trên đất nước Ăng Co đang theo học, các bạn đang có một người lính tình nguyện năm xưa bây giờ là thầy giáo hiệu trưởng Trường Đại học Cửu Long kính yêu của các bạn. Các bạn thân mến, năm xưa khi các bạn chưa sinh ra, Nhà giáo Lương Minh Cừ đã đến nước bạn cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cho các bạn ở tỉnh Xoài Riêng, đã làm nên bài thơ tình đẹp của mối tình hữu nghị. Trong khổ kết bài thơ ở thời điểm đó mà viết như thế này thì táo bạo lắm vì những lý do tế nhị:

Ơi cô gái Khơmer
Một đời anh nhớ ấy
Vòm ngực em bỏng cháy
Xin gửi trái tim mình

(Bài thơ tình thứ nhất gửi Tha Ny)

Và rồi lời động viên nhắn gửi, mối tình phải đành đoạn chia tay khi đất nước của em đang chồng chất đau thương:

Bây giờ hãy lau nước mắt đi em
Cầm lấy súng đứng vào mặt trận
Lửa chính nghĩa đã cháy lên vô tận
Vào mùa này bên ấy đã sang khô

(Vào mùa này bên ấy...)

Tôi vẫn tâm đắc với bài thơ anh viết sau chiến tranh "Lời hát gửi về cây thùy dương" từ chiến trường biên giới Tây Ninh, lời tâm sự với người yêu trên xứ Bạch dương xa xôi khi người lính vẫn đang cầm súng trên chiến hào biên giới:

Đánh giặc xong rồi anh sẽ hát em nghe
Bài hát về cây thùy dương năm ấy
Những năm đại bác gầm, những cánh rừng lửa cháy
Thùy dương ơi anh sẽ đón em về

Giọng thơ mượt mà dịu vợi, tạo nên hình bóng người thương xa xôi trên đất khách quê người bằng những lời tâm tình qua cây thùy dương mà trái tim tuổi trẻ thầm nhắc: "Đánh giặc xong rồi anh sẽ hát em nghe". Câu thơ nghe sao mà xao xuyến bồi hồi.

Khi em biết nhìn về phía trước
Nơi có chùm sao yêu dấu của mình
Những chùm sao mở lối vào hạnh phúc
Không bất ngờ lại mọc giữa trái tim

(Chùm sao yêu dấu)

Khi biên giới chưa im tiếng súng, tiếng thơ Lương Minh Cừ gửi về nơi hậu phương "Ở nơi em bông lúa trổ hương thầm" sao mà xao xuyến vậy:

Ở biên giới này chúng tôi hành quân
Những mũi súng hướng chân trời mở cửa
Những mũi súng hóa thành tia chớp lửa
Ở nơi em bông lúa trổ hương thầm

Biên giới này giữa cuộc chiến tranh
Giữ Tổ quốc thiêng liêng, chúng tôi đánh giặc
Nên Vàm Cỏ vẫn ngàn năm xanh sắc
Ánh mắt em cười lấp lánh sắc phù sa

(Khúc hát mùa xuân)

Cả 54 bài thơ trong Dọc trời hoa lửa, anh viết về thời hoa lửa chiếm đến ba phần tư số bài thơ, bởi đó là phần hồn cốt tác phẩm của tháng năm tuổi trẻ. Ý chí, lý tưởng, ước mơ, hoài bão, tình yêu thương bắt đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ nơi chiến trận chắp cánh nên tình yêu những vần thơ, vững vàng niềm tin yêu dù trong hoàn cảnh nào.

Điều còn lại một phần trong tập thơ này, anh viết về những nơi anh đến với những cảm nhận đẹp, ấn tượng, nhưng nổi trội hơn cả vẫn là bài "Mùa xuân ở miền đất hát chèo và cây lúa" – Thái Bình quê anh. Ở miền quê luôn luôn nhung nhớ trong tâm trí anh, nơi tuổi thơ đẹp đẽ, nơi có Mẹ, Cha tạo nên con người Lương Minh Cừ – một nhân cách đẹp của thơ. Anh đã viết về quê chèo, quê lúa, quê anh mượt mà đằm thắm lắng sâu:

Phù sa sông Hồng nhuộm dây nón quai thao
Quai nón buộc lòng anh với bờ với bến
Mùa xuân về như lời ước hẹn
Em "sắp qua cầu" sao gõ nhịp "lưu không"

Quả là hay… và anh nhớ Mẹ:

Cứ đến mùa hoa nhãn trắng bờ đê
Những đàn ong tự bay về hút mật
Anh thương Mẹ ra đồng đi chân đất
Nắng rát mặt người, cái rét cắt thịt da

(Mùa xuân ở miền đất hát chèo và cây lúa)

Có tình thương nào thương hơn thế nữa không? Ở đây, càng đi xa, càng lớn lên thì tình yêu quê hương, gia đình, cha mẹ càng đong đầy nhung nhớ. Bài thơ càng đọc càng thấy yêu quê hơn, nơi quê anh "Tiếng trống năm ba mươi còn lay động đến bây giờ", nơi tiếng hát chèo "Em sắp qua cầu sao gõ nhịp lưu không" mà vang vọng tâm can, tạo nên tứ thơ sâu sắc mà đẹp hồn nhiên.

Những cảm nhận trên của riêng tôi với nhà thơ Lương Minh Cừ khi mạn phép bay ngang DỌC TRỜI HOA LỬA của anh. Đó là một sự ghi nhận trên văn đàn thi ca mà anh đã gặt hái thành công nhất. Xin cảm ơn Nhà thơ – Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lương Minh Cừ đã cho chúng ta đi Dọc trời hoa lửa và cảm ơn quý vị trong niềm vui hôm nay.

Tp.HCM, 21/4/2026

Nguyễn Vũ Quỳnh

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo

Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.

Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, tác phẩm đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng...

(Đọc trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim (NXB Hội Nhà văn, 2026) của Châu La Việt)

Một nguyên tắc kiến tạo tượng đài, theo mỹ học tạo hình hiện đại, phải vừa là nơi gặp gỡ, tương tác giữa ánh hồi quang từ quá khứ và những ánh xạ của cuộc sống đương đại, để tạo nên dải quang phổ có độ tán sắc ánh sáng văn hóa. Không gian tượng đài, không chỉ để làm phông nền cho hình tượng, còn khơi gợi ra sự liên tưởng thẩm mỹ về tầm cao tôn kính, chiều sâu triết lý, bề xa nhận thức. Các tượng đài nhân vật anh hùng thường là những biểu tượng có hai lớp nghĩa: Một, là những hình tượng có trong huyền thoại hoặc lịch sử, theo thời gian được bồi đắp nhiều lớp phù sa văn hóa, có tính cộng đồng cao, trở thành một “căn cước dân tộc”. Hai, tập trung khái quát cao độ những ý nghĩa lịch sử - xã hội, nhìn vào đó sẽ thấy phần nào nội dung bản chất thời đại. Trong trường ca mới nhất của Châu La Việt có tên Mặt trời nồng ấm trong tim dựng lại chân dung một con người lịch sử: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Tô Quyền. Các phạm trù chiến công, nhân cách, tình người và ký ức cộng đồng thống nhất hòa làm một để tôn vinh một hình tượng bất tử. Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, tác phẩm đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.

Âm hưởng anh hùng ca vang vọng là giọng điệu chủ đạo, nhưng không phải kiến tạo bằng chất liệu của những trận đánh, những chiến dịch, mà chủ yếu từ tinh thần cống hiến, đạo đức cách mạng và tình người. Nhân vật chính (Tô Quyền) hiện lên như một con người biết khát, biết đói, rưng rưng trước hành động của người mẹ nhường bát cơm trắng cho con, còn má bóc củ khoai bùi; biết nhớ nhà, rất đau đớn trước sự hy sinh của đồng đội... Hình tượng nghệ thuật được đẩy về miền đời thường dân dã, tác giả như cái bản lề khép mở hai không gian: vùng chiến tranh khói lửa và những nét sinh hoạt dung dị đong đầy những khát khao rất con người. Nằm giữa vùng giao thoa hai con sóng sử thi và đời tư, hình tượng vừa cao hơn mặt sóng, vừa “dập dềnh” giữa hai không gian huyền thoại và cá nhân, sinh động, mời gọi.

Theo nguyên tắc “thiêng hóa”, không gian vật lý trải dài từ miền Bắc đến miền Đông Nam bộ, từ Trường Sơn đến Tây Ninh, được “mã hóa” thành không gian ký ức, hiện lên những thử thách cực kỳ ác liệt. Dải Trường Sơn như “chảo lửa”, nơi con người bị thử thách đến tận cùng, để luyện “vàng” ý chí. Đạn bom thử thách, còn có cả cái dữ dằn của tự nhiên thử thách: Nhưng đá có thể nung, còn lòng người không thể chảy/ Trong cái nắng bốn mươi độ, ông vẫn đi như một pho tượng đồng. Cũng miền đất Tây Ninh ấy lại là miền “đất thánh” của tình người, nơi lòng dân, thiên nhiên rừng núi hòa vào nhau thành một thành lũy thép tinh thần vững chắc. Những chương viết về các chiến dịch Junction City, Bàu Ròng, Gò Dầu... không theo lối kể lể, mà được “thơ hóa” bằng nhịp điệu, hình ảnh, ẩn dụ. Bom đạn không phá được rừng, ngược lại, rừng học cách che người bằng chính những vết thương của mình. Thiên nhiên cũng thành một chủ thể lịch sử, đồng hành cùng con người trong cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước.

Ký hiệu học (Semeiology) đang là hướng nghiên cứu triển vọng của nhiều chuyên ngành có nhiệm vụ tìm hiểu, cắt nghĩa các biểu tượng (symbol), vì xét đến cùng văn hóa là thế giới của biểu tượng. Là sự kết tinh các giá trị mang bản sắc văn hóa nên biểu tượng mang tính thông điệp rất rõ. Trên thực tế, con người luôn sống và hoạt động trong thế giới biểu tượng. Cuộc sống luôn là sự giải mã để hiểu và tuân theo ý nghĩa biểu tượng. Là sản phẩm của thời đại, làm nên diễn ngôn thời đại, biểu tượng mang tính thời đại rất rõ. Trôi theo dòng lịch sử, con thuyền biểu tượng vừa tô điểm vừa cho thấy một hình dung về độ nông sâu ý nghĩa, giá trị, tầm vóc thời đại của các giai đoạn lịch sử. Trường ca này, ngay tên gọi cũng đã xác lập hướng triển khai vươn tới các biểu tượng. Không chỉ có một, mà có nhiều biểu tượng “mặt trời đỏ” đã trở thành trục liên kết nâng đỡ thi phẩm. “Mặt trời nồng ấm trong tim” giàu sức gợi, đa nghĩa, là lý tưởng cách mạng, là tình phụ tử, nghĩa đồng bào, tình đồng chí, cũng là nguồn năng lượng tinh thần giúp Tô Quyền vượt qua mọi thử thách. Người cha mang theo hình ảnh đứa con trai trong lồng ngực trên suốt mọi nẻo đường dặm dài kháng chiến. “Mặt trời” đứa con không chỉ chiếu sáng con đường chiến đấu, còn sưởi ấm nhân cách người cha. Còn thêm nét nghĩa trao truyền lý tưởng và trách nhiệm công dân trở thành dòng chảy liên tục ở mọi thế hệ. Không chỉ viết về một cá nhân, trường ca còn viết về sự kế tục, về mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai trong vận mệnh lịch sử. “Mặt trời” ở đây không chỉ là ánh sáng lý tưởng, còn là sự sống, nguồn năng lượng tinh thần, là dấu nối giữa riêng - chung, giữa cá nhân - dân tộc, giữa cha - con, thế hệ trước và thế hệ sau...

Trường ca xử lý tinh tế mâu thuẫn nghệ thuật: Kiến tạo không gian tâm lý đi liền với sự phá bỏ khoảng cách không gian vật lý. Xây dựng hình tượng người mẹ miền Nam - người “Má Tây Ninh”, đã tạo nên một điểm tựa cảm xúc để tránh cho tác phẩm sa vào nguy cơ khô cứng, một chiều. Cũng đúng với quy luật của chiến tranh cách mạng: Người lính sống trong lòng dân, chiến đấu vì dân. Khi Tô Quyền nghẹn ngào: Má ơi, cho con gọi má là Mẹ.../ Để con gửi vào lòng nỗi nhớ mẹ nơi xa, thì không gian địa lý Bắc - Nam bị xóa nhòa, và mở ra không gian tâm lý nồng nàn ấm áp tình quân dân. Có tình nghĩa nào thiêng liêng hơn tình nghĩa mẹ con đâu? Trường ca đã chạm tới cốt lõi tư tưởng của Bác Hồ: Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân!

"Mặt trời nồng ấm trong tim" làm bừng sáng bức chân dung người Mẹ Tây Ninh, cũng là người Mẹ Việt Nam bao bọc cách mạng như bao bọc những đứa con ruột thịt

Với thứ ngôn ngữ “tạo ánh sáng” của niềm kính trọng, yêu thương, trường ca “điêu khắc” tượng đài tinh thần người chiến sĩ Tô Quyền ở hai tư cách: người cha (với con); người con (với nhân dân) sinh động và cảm động. Qua đó làm nổi lên một “phông nền” văn hóa Đảng anh hùng - Nhân dân vĩ đại. Tượng đài Tô Quyền còn ánh xạ để toát lên vẻ đẹp chân dung các chiến sĩ đồng đội cao cả, sáng ngời phẩm chất hy sinh vì dân, vì nước. Dù là người chỉ huy mưu lược, là “tấm lá thép của Đảng”, nhưng không có đồng chí đồng đội, ông cũng không thể làm nên chiến công. Dù là người cha được hình tượng con trong lồng ngực tiếp thêm sức mạnh, nhưng không có những người “Mẹ” Tây Ninh, ông cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ. Tô Quyền tự nguyện, và đã tự nhiên trở thành người con của đất đai xứ Tây Ninh yêu dấu, là người anh của bao người em đất miền Đông Nam bộ anh hùng. Chi tiết người anh ấy lặng lẽ gửi tiền lương ít ỏi cho Năm Tâm - một người em gái, một nữ đồng chí kiên trung, như là một điều rất đỗi tự nhiên, thường ngày mà cao cả, thiêng liêng vô cùng.

Cảm động hơn cả, là tái hiện, làm bừng sáng bức chân dung người Mẹ Tây Ninh, cũng là người Mẹ Việt Nam bao bọc cách mạng như bao bọc những đứa con ruột thịt. Hình tượng thân thiết ấy như một trục cảm xúc xuyên suốt trường ca. Tiếng gọi Mẹ của đứa con (Tiếng gọi Mẹ rung lên dưới hầm sâu Tây Ninh) không chỉ “rung lên” ở một nơi chốn cụ thể, mà “rung lên” khắp mọi không gian đất nước, “rung lên” trong mọi trái tim, cả trong tâm thức cộng đồng. Để khẳng định: tình mẫu tử vượt qua mọi địa lý, vượt qua mọi bom đạn. Đó cũng là tình với Nhân dân, với Đảng, với Cách mạng làm nên điểm tựa chiến thắng.

Qua vị mặn giọt nước có thể hình dung ra đại dương. Từ một ngôi sao Tô Quyền, có thể nhìn ra cả bầu trời khát vọng hòa bình, lồng lộng gió tự do, chan hòa ánh sáng văn minh của Đảng anh hùng, Nhân dân vĩ đại. “Lòng dân” là trung tâm, cái lõi hạt nhân tư tưởng của trường ca - là những bà má giấu cán bộ dưới hầm, nhường củ khoai, bát cơm; là những đứa trẻ bắt cá trở thành chiến sĩ an ninh... Vốn quý nhất là lòng dân không còn là lời nhân vật (Tô Quyền), đã thành lời chân lý vươn lên tầm phổ quát của một tư tưởng. Cụ thể trong trường ca này, thì với người anh hùng và mọi chiến sĩ (an ninh) phải lấy dân làm gốc, lấy mưu làm vũ khí, lấy sự tin yêu làm lá chắn. Đó cũng là đạo lý truyền thống, là nguyên lý thắng lợi, là chân lý lịch sử - thời đại.

Thế giới hình tượng trường ca đã chuyển hóa lịch sử thành hơi ấm, sức nóng của năng lượng tình yêu; đã miêu tả người anh hùng thành con người bình dị; đã biến ký ức thành ánh sáng dẫn đường, soi đường. Tác phẩm là một diễn ngôn tưởng nhớ - tri ân - giáo dục, nhắc nhở về một định lý sống: Những giá trị tinh thần văn hóa lớn lao hôm nay đang hưởng, chính là được kết nên từ vô vàn hy sinh thầm lặng, từ đạo đức, niềm tin, lẽ sống có từ hôm qua. Muốn “vươn mình” vào tương lai, phải luôn nhớ và luôn được những “mặt trời nồng ấm” hôm qua sưởi nắng đạo lý cách mạng.

Kết cấu đa giọng điệu, có giọng căng thẳng, hồi hộp (truy tìm kẻ phản bội ở ngay trong cơ quan đầu não); có giọng rắn rỏi, quyết tâm (khi giáp mặt kẻ thù); có giọng trữ tình sâu lắng (đêm Trường Sơn, ký ức về làng Xuân Cầu, mẹ già, người vợ tảo tần...) tạo cho trường ca thấm đẫm cảm xúc của đời sống thực tế thời chiến. Bố cục 12 chương, mỗi chương tương ứng một lời đối thoại: với mình; với người vợ, với con; với thiên nhiên, đất nước; với quá khứ lịch sử; với cuộc sống đời thường; với miền Bắc; với mẹ... nhìn tổng thể, trường ca có dáng dấp một bản tổng phổ âm nhạc có âm chủ hùng ca trang trọng, náu trong đó có cả tình ca, tụng ca, tráng ca, hoan ca, có những đoạn chùng xuống lắng đọng chất bi ca. Vượt khỏi mọi đường biên, không còn là đối thoại cụ thể, trường ca đối thoại với lịch sử, với thời đại, để ký gửi một quan niệm: Sức mạnh cách mạng hôm qua và hôm nay trước hết là sức mạnh của tình yêu, của đạo đức, của bổn phận và trách nhiệm, trên hết là tình người.

24/4/2026

Nguyễn Thanh Tú

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026

 

Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người

Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.

Abstract: Composed mainly in the Khmer language, and has been widely disseminated through local Khmer literary and art magazines and published poetry collections, contemporary not only reflects the personal emotions, feelings, and thoughts of individual poets but also serves as a collective narrative space that preserves memory, expresses ethnic identity, affirms the cultural distinctiveness of the Southern Khmer people. By employing survey and analytical methods to examine selected works by contemporary Khmer poets such as Sang Set, Thach Phach, and Thach Do Ni, and drawing upon theories of ethnic identity and collective narrative, this study reveals that Khmer poetry functions both as a repository of communal memory and as a cultural discourse through which the Khmer community affirms their position within the multi-ethnic society of Southern Vietnam. The research contributes to a deeper recognition of the significance of contemporary Khmer poetry in preserving and promoting ethnic cultural identity in the current context.

Keywords: ethnic identity; contemporary Khmer poetry; collective narrative

1. Đặt vấn đề:

Vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc luôn được quan tâm nghiên cứu từ trước đến nay. Trong dòng chảy chung ấy, văn hóa của các tộc người thiểu số luôn được xem là một phần quan trọng. Ý thức vai trò của cá nhân trong việc bảo tồn vốn văn hóa của cộng đồng, nhiều trí thức, học giả người Khmer luôn bằng các hành động thiết thực để thể hiện trách nhiệm của bản thân. Trong số đó, có thể nhận thấy sự đóng góp của các tác giả thơ ca Khmer thông qua các sáng tác bằng chính ngôn ngữ của dân tộc mình.

Thơ ca Khmer đương đại nổi lên như một hiện tượng văn học đặc biệt, trở thành không gian chung để các tác giả thể hiện tâm tư, tình cảm của mình, hòa tiếng nói cá nhân và tiếng nói chung của dân tộc để góp phần định vị bản sắc văn hóa tộc người Khmer trong không gian văn hóa đa tộc người ở Nam Bộ. Đây không chỉ là sự vận động của thi pháp thơ, mà còn là quá trình khẳng định căn tính tộc người thông qua diễn ngôn nghệ thuật. Tuy nhiên, so với số lượng lớn tác phẩm hiện có, thơ Khmer vẫn chưa được quan tâm đúng mức cả ở góc độ phê bình văn học lẫn nghiên cứu khoa học. Thực tế ấy cho thấy khoảng trống học thuật, từ đó đặt ra nhu cầu cấp thiết cho những nghiên cứu chuyên sâu hơn.

 

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê và phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ ca Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni nhằm làm rõ vai trò của thơ ca như không gian tự sự tập thể - nơi ký ức, ngôn ngữ và bản sắc văn hóa Khmer được lưu giữ, biểu đạt và khẳng định. Cách tiếp cận của nghiên cứu dựa trên lý thuyết căn tính tộc người (ethnic identity) và tự sự tập thể (collective narratives), nhằm góp phần nhận diện sâu sắc hơn vai trò của văn học dân tộc thiểu số trong đời sống văn hóa đương đại ở Nam Bộ.

3. Kết quả và thảo luận

Tiếp cận lý thuyết tự sự tập thể và căn tính tộc người trong nghiên cứu văn học

Tự sự tập thể (collective narrative)

Tự sự tập thể là một khái niệm được hình thành từ sự giao thoa giữa nghiên cứu về tự sự học (narratology) và lý thuyết ký ức tập thể (collective memory). Đó là một kiểu kể chuyện bằng tiếng nói chung của một nhóm người chứ không phải giọng riêng lẻ của một cá nhân, tiếng nói ấy đại diện cho một tập thể có chung trải nghiệm và ký ức. Natalya Bekhta (2020) nhấn mạnh rằng, tiếng nói cộng đồng có một vị thế đặc biệt với tư cách là người phát ngôn cho tập thể và tác giả gọi đó là tự sự tập thể. Theo các tư duy ấy, ta có thể hiểu tự sự tập thể là một hình thức diễn ngôn giúp cộng đồng có thể khẳng định bản sắc của mình chứ không chỉ đơn thuần là một phép cộng dồn của các ý kiến cá nhân. Tự sự tập thể là chiếc chìa khóa quan trọng duy trì sự kết nối cộng đồng trong đó những câu chuyện mang tính tập thể ấy chính là chiếc cầu nối cho sự hợp tác xã hội (S.Gokhale, Bulbulia, & Frean, 2022). Tự sự không chỉ là phương tiện lưu giữ ký ức, mà còn giúp lựa chọn, thiết lập lại ký ức cộng đồng theo nhu cầu, giá trị và thực tiễn cuộc sống đương thời. Kết quả nghiên cứu góp phần lý giải tính “tập thể” của văn học nghệ thuật như một kho lưu trữ biểu tượng cho bản sắc và căn tính cộng đồng trong các nền văn hóa (López, Alphen & Carmona, 2025). Có thể nói, tự sự tập thể là khái niệm công cụ có chức năng giải mã cách thức văn bản văn học kiến tạo bản sắc cộng đồng, đồng thời cũng khẳng định vai trò xã hội của văn học như một “kho lưu trữ ký ức tập thể” và một “diễn ngôn khẳng định căn tính”.

Căn tính tộc người (ethnic identity)

Michael Bamberg (2009, tr.132) cho rằng, căn tính “biểu thị nỗ lực khu biệt và tích hợp ý nghĩa của bản thể theo các chiều kích xã hội và cá nhân khác nhau về giới tính, tuổi tác, chủng tộc, nghề nghiệp, băng nhóm, tình trạng kinh tế xã hội, dân tộc, giai cấp, quốc gia hoặc lãnh thổ khu vực”. Định nghĩa này cho phép nhận diện căn tính là bản chất, là cái riêng của một cộng đồng. “Căn tính dân tộc chính là giá trị căn bản làm nên bản sắc riêng của mỗi tác giả trong sáng tạo văn học. Nó cũng chính là căn nguyên cho sự khác biệt, làm giàu có thêm đời sống tinh thần của con người. Căn tính dân tộc nằm trong mỗi cá thể của cộng đồng, được hình thành và phát triển từ trong lòng mẹ, trong quá trình lớn lên và nhận thức về thế giới xung quanh, trong sự rèn luyện và tích lũy để hình thành tư duy, lối sống, lý tưởng thẩm mỹ…” (Mai Văn Phấn, 2019). Trong suốt chiều dài lịch sử với những chuyển biến không ngừng của mọi mặt xã hội, căn tính cũng không ổn định mà diễn ra quá trình kiến tạo liên tục (Hall, 1990). Mỗi tác phẩm văn học là một sản phẩm tinh thần của mỗi tác giả tạo nên một không gian đủ để người sáng tác và độc giả có thể kiến tạo và nhận diện câu chuyện theo cách riêng của mình. Cũng chính vì thế nên văn học được cho là có lợi thế lớn trong việc khai thác căn tính tộc người (Nguyễn Hồng Anh, 2024). Bởi lẽ “Các nhà văn sáng tạo là những đồng minh quý báu của chúng ta, và các bằng chứng của họ được đánh giá cao, bởi lẽ giữa lưng chừng trời họ biết được nhiều điều mà những triết lý của chúng ta không dám mơ tới” (Freud, 1908). Căn tính dân tộc trong nhà văn đã được hình thành, trải nghiệm và tích lũy qua quá trình lâu dài tạo nên nền tảng văn hóa vững chắc được thể hiện qua những màu sắc đặc trưng trong sáng tác khác với những dân tộc khác. Chính vì thế, căn tính dân tộc cho phép chúng ta nhận diện bản sắc văn hóa, tầm vóc của từng dân tộc, nhận ra diện mạo của từng nhà văn trong hành trình sáng tạo (Mai Văn Phấn, 2019). Tác phẩm văn học như một không gian biểu đạt căn tính, đó chính là những bản tuyên ngôn văn hóa, nơi căn tính tộc người được tái khẳng định (King, 2000). Như vậy, căn tính tộc người trong thơ ca Khmer Nam Bộ cũng không chỉ dừng ở việc bảo lưu các yếu tố truyền thống, mà còn là một tiến trình kiến tạo mang tính liên tục và đối thoại. Thơ ca trở thành phương tiện để cộng đồng vừa khẳng định sự khác biệt, vừa định vị mình trong bối cảnh văn hóa đa tộc người ở Nam Bộ.

Khái quát về thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ

Thơ ca Khmer phản ánh phong phú nhiều phương diện trong bức tranh đời sống con người với khoảng 68 thể thơ khác nhau. Nhạc tính trong thơ Khmer được tạo nên từ quy luật gieo vần trong một khổ thơ và liên khổ thơ cùng sự kết hợp của hiệp vần và hiệp âm.

Hiện nay, lực lượng sáng tác thơ ca Khmer khá đông đảo, các tác giả là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật địa phương và cộng tác viên ở các báo, tạp chí. Đáng chú ý, có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu gồm: Châu Ôn, Trần Thanh Pôn, Sang Sết, Thạch Phách, Đào Chuông, Chau Mu Ni Sok Kha, Thạch Đờ Ni, Thạch Sok Khă Phép, Trần Văn Đài…

Tính đến nay, đã có hơn 1.000 bài thơ Khmer công bố trên các đặc san, báo, tạp chí tiếng Khmer ở các tỉnh vùng Nam Bộ. Bên cạnh đó, còn có các tập thơ song ngữ Khmer - Việt được xuất bản như: Nợ quê (2014) - Thạch Đờ Ni; Bước đến thành công (2019), Hoa hướng dương (2023), Ao Bà có bông, ao ông có quả (2023) - Sang Sết; và tập thơ tiếng Khmer Gặp em đêm Đôn Ta (2019) - Thạch Phách. Số lượng công bố phong phú cho thấy niềm đam mê, sự dày công chuẩn bị và sự tích cực vào cuộc của các tác giả Khmer trong lĩnh vực này. Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn các tập thơ của tác giả Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni với số lượng 190 bài để thực hiện khảo sát và phân tích.

Biểu hiện của không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người trong thơ ca Khmer Nam Bộ

Tiếng nói tập thể trong thơ ca Khmer Nam Bộ

Xuất phát từ đặc trưng tính cộng đồng của cư dân nông nghiệp lúa nước, những sáng tác thơ ca Khmer mặc dù bắt nguồn từ cảm xúc cá nhân nhưng vẫn mang tinh thần của cộng đồng, tập thể. Vì thế, trong thơ ca Khmer đương đại, ngôn ngữ và giọng điệu tập thể như một sự biểu đạt của tiếng nói cộng đồng được thể hiện rất rõ. Điều này thể hiện qua việc sử dụng đại từ ngôi thứ nhất số nhiều​và các từ ngữ chỉ tập thể: Trong một nghiên cứu của mình về tự sự tập thể (we-narratives), Fludernik nhấn mạnh rằng đại từ ngôi thứ nhất số nhiều đã tạo nên “giọng kể tập thể”, điều đó đã xóa nhòa ranh giới giữa cái “tôi” và cái “ta” chỉ còn lại dáng dấp của một chủ thể cộng đồng. Bằng cách đó, qua thơ ca các cộng đồng khác nhau có thể khẳng định sự hiện diện tập thể và bản sắc của mình (2017). Trong nghiên cứu về tự sự tập thể, Gokhale và cộng sự (2022) cũng nhấn mạnh rằng các câu chuyện chung (collective narratives) có khả năng củng cố sự gắn kết xã hội và thúc đẩy hành động tập thể. Khi khảo sát 190 bài thơ Khmer của các tác giả Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni chúng tôi ghi nhận sự xuất hiện của đại từ số ngôi thứ nhất số nhiều​​và các từ ngữ chỉ tập thể xuất hiện nhiều lần như bảng sau:

Bảng 1: Tần suất xuất hiện các đại từ/ ngữ chỉ tập thể trong thơ Khmer 
Nguồn: tác giả thống kê

Bảng thống kê cho thấy, trong thơ ca Khmer việc sử dụng nhiều đại từ ngôi thứ nhất số nhiều 134 lần với 79,8% và các từ ngữ chỉ tập thể 34 lần với 20,2% thể hiện diễn ngôn tập thể. Mỗi tác giả khi sáng tác thơ không chỉ thể hiện tiếng nói cá nhân mà còn đại diện cho cả tộc người tạo nên giọng kể chung mang ý thức cộng đồng. Sự xuất hiện rất nhiều lần của những đại từ như “chúng ta” không chỉ mang ý nghĩa nói về con người của hiện tại mà còn để nói đến những thế hệ đi trước và thế hệ tương lai, thể hiện tính liên tục của truyền thống và ký ức cộng đồng. Tự sự tập thể ở đây chính là sự lên tiếng của cộng đồng về chính mình để thơ ca Khmer trở thành một “nơi lưu giữa ký ức tập thể”, một diễn đàn tự sự tập thể, nơi căn tính tộc người được khẳng định qua ký ức chung, ngôn ngữ chung. Đặc trưng này thể hiện sự gắn bó hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái chung chúng ta, gợi lên cảm nhận rằng thơ ca Khmer luôn hướng đến cái chúng ta cộng sinh. Đó cũng chính là đặc trưng trong quan niệm văn hóa truyền thống của người Khmer Nam Bộ - nơi con người không tách khỏi tập thể mà luôn gắn với gia đình, cộng đồng và phum sóc.

Biểu tượng văn hóa - không gian chung của cộng đồng người Khmer Nam Bộ trong thơ ca

Trong thơ ca Khmer Nam Bộ, không gian không chỉ được hiểu là giới hạn địa lý mà còn là trường tự sự của căn tính tộc người. Đó là nơi những sinh hoạt cộng đồng được kiến tạo và tái hiện qua tiếng nói tập thể. Các biểu tượng quen thuộc như phum sóc, ngôi chùa, cánh đồng, dòng sông, lễ hội... không đơn thuần là hình ảnh dân gian, mà trở thành tọa độ văn hóa xác lập ranh giới giữa “chúng ta” - cộng đồng Khmer - với các tộc người khác trong không gian văn hóa Nam Bộ đa tộc người. Ký ức tập thể được lưu giữ thông qua các biểu tượng và nghi thức xã hội. Khi đi vào văn học, những biểu tượng này trở thành “mã văn hóa” giúp cộng đồng vừa lưu giữ ký ức, vừa khẳng định sự hiện diện của mình trong hiện tại (Halbwachs, 1950). Tự sự tập thể được kiến tạo qua các biểu tượng đặc thù, nhờ đó duy trì sự liên tục của văn hóa và tái tạo bản sắc trong bối cảnh biến đổi của xã hội (López, Alphen & Carmona, 2025).

Đọc thơ của các tác giả Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni ta sẽ thấy hình ảnh ngôi chùa xuất hiện trong thơ ca Khmer rất chân thật như một trung tâm văn hóa tinh thần của cộng đồng, đó không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo mà còn là nơi kết nối cộng đồng trong các dịp lễ hội, là trường học, là nơi gặp gỡ của con dân phum sóc trong những dịp quan trọng. Qua khảo sát 190 bài thơ của các tác giả, biểu tượng ngôi chùa xuất hiện rất nhiều (47 lần). Điều đó khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò của ngôi chùa trong đời sống văn hóa, đời sống tinh thần của người Khmer và cũng giải thích được lý do tại sao nhiều người cho rằng ngôi chùa chính là ngôi nhà thứ hai của người Khmer. Với tư duy ấy, ngôi chùa Khmer từ một “điểm quy chiếu linh thiêng” lại trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. Cho nên đọc thơ ca Khmer ta sẽ thấy ngôi chùa còn là nơi hẹn ước, nơi chứng nhân cho tình yêu đôi lứa - một điều mà có lẽ ít được đề cập trong thơ của các tộc người khác.

ថ្ងៃនេះបុណ្យភ្ជុំម៉ុមអុំទៅណា/ ទៅវត្តទៅផ្សារប្រាប់បងព្រលឹង/ បើអូនទៅវត្តបងសូមទូកពឹង/ ខ្លាចអីថ្ងៃហ្នឹងអុំជាមួយបង។ - Hôm nay Phchum Ben, em đi đâu thế/ Đi chợ, đi chùa cho anh hay nhé/ Anh xin đi ké nếu em đến chùa/ Đừng ngại chi em, ta cùng chèo xuồng (Trích Nếu em đến chùa, tập thơ Gặp em đêm Đôn Ta của Thạch Phách).

Có thể nói, các lễ hội truyền thống cũng chính là nét văn hóa mang đậm bản sắc của người Khmer. Mỗi bài thơ về lễ hội như Ok Om Bok, Chôl Chnăm Thmây hay Sen Đôn Ta và nhiều lễ hội khác là một bức tranh với sắc thái vui tươi mang nhiều hy vọng đã trở thành biểu tượng mang tính gắn kết cộng đồng. Trong thơ ca Khmer, không gian lễ hội truyền thống chính là không gian tự sự được vận hành như một hệ mã văn hóa đa tầng. Ở nơi đó chứa đựng các biểu tượng, nghi thức và các trò chơi dân gian tạo thành một thể thống nhất nhằm xác lập và tái sản xuất căn tính tộc người. Không dừng lại ở nhiều hình ảnh về lễ vật, ẩm thực, trang phục, điệu múa mà những bài thơ về lễ hội còn thể hiện tính biểu tượng qua những hình ảnh và ngôn ngữ như một kho tư liệu cảm thức: Sự đủ đầy về các lễ vật cúng không chỉ biểu trưng cho sự no đủ, phồn thịnh mà còn là sự kết nối giữa cái tục và cái thiêng. Hay hình ảnh điệu múa Romvong dưới ánh trăng tròn tượng trưng cho sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên vạn vật và với vũ trụ. Đơn cử như bài thơ Hẹn mùa Ok Om Bok sau của tác giả Sang Sết: គោមហោះបោះពួយឡើងខ្ពស់/.../ ប្រទីបជ្វាលាភ្លឺដូចថ្ងៃ/.../ ទាញព្រ័ត្ររុញឈើរត់-/ ក្បួនហែដ៏ល្អប្រជាំរាត្រី/ ចូលលេងសិល្បៈរាំច្រៀងសប្បាយ/.../ បុណ្យអកឆ្នាំក្រោយសន្យាជួបគ្នា/ រាំក្រោមច័ន្ទថ្លានៅស្រះគូស្រី។

(Đèn gió tung bay lên cao vút/ Hoa đăng lấp ánh tựa ban mai/ Kéo co, đẩy gậy, chạy tiếp sức/ Diễu hành tạ lễ dưới trăng đầy/ Điệu múa uyển chuyển cùng nhịp hát/ Hẹn mùa Ok tới lại gặp nhau/ Ao Bà Om có trăng ngà nghênh đón) (Trích tập thơ Hoa hướng dương (Sang Sết).

Những hình ảnh quen thuộc ấy một lần nữa đi vào thơ khiến cho những bài thơ về lễ hội trở thành “neo ký ức” liên thế hệ, không chỉ với ý nghĩa nhắc nhớ về không gian quen thuộc với không khí trang trọng của những nghi thức và nhộn nhịp, nô nức của những lúc vui chơi mà đó cũng chính là lúc kết nối các thế hệ với nhau để sợi dây tình thân, sợi dây trao truyền văn hóa sẽ luôn liền mạch không dứt. Mỗi dịp lễ hội là mỗi dịp con cháu nhớ về tổ tiên, ông bà như nhớ về nguồn cội của chính mình. Đó chính là giá trị của lòng biết ơn, tình yêu thương đồng thời cũng là sự tự ý thức trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc: តាអើយប្របួយផ្លែច្រើន​/ ចូលឆ្នាំចម្រើនផ្ការីកជាថ្មី/ ចៅមកដោយចិត្តរីងរៃ/ ក្ដុកក្តួលពេកក្រៃព្រោះអាល័យតា។ - Nội ơi! Trái mắn oằn cành/ Xuân về hé nụ hoa lành đầu năm/ Cháu về với quả tim bầm/ Nghẹn buồn bên gối. Nội nằm… giấc thu! Trích bài thơ Nội ơi, tập thơ Nợ quê (Thạch Đờ Ni).

Văn hóa phum sóc là nét đặc trưng mang tính biểu tượng trong văn hóa tổ chức đời sống xã hội của người Khmer. Trong không gian văn hóa phum sóc mọi sinh hoạt của cộng đồng từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần được tiếp diễn qua nhiều thế hệ. Hình ảnh phum sóc hiện lên đa sắc màu trong thơ của tác giả Sang Sết và Thạch Đờ Ni với không gian làng quê yên bình có cánh đồng, dòng sông với hàng dừa, thốt nốt rồi hoa sen, hoa súng. Trong không gian ấy các tác giả đã thể hiện một cách sống động các hoạt động của con người diễn ra nhộn nhịp từ đời sống hằng ngày đến mùa lễ hội. Đặc biệt là hình ảnh thay da đổi thịt của phum sóc với những mái ngói đỏ tươi, những con đường mới chạy dài làm đẹp thêm hình ảnh quê hương. Trong thơ của tác giả Thạch Phách, phum sóc thường gắn với những ký ức về tuổi thơ với hình ảnh tuổi thơ đi chăn bò dưới chân núi, hình ảnh những ruộng rau, ruộng bí trổ hoa vàng, những bóng cây cổ thụ che rợp khoảng sân hay hình ảnh căn nhà mái lá có mẹ ngồi nấu cơm:

ឱកំពង់ជ្រៃភូមិកំណើតខ្ញុំ/ ដើមឈើធំៗកាច់​​រាងរេរាំ/ ស្គរយាមសៀលកូនធ្លាប់ចំណាំ/ ឆ្នាំងបាយម៉ែដាំរង់ចាំបុត្រថ្លៃ។ Kom Pong Chrei quê hương tôi đó/ Có hàng đại thụ gió đong đưa/ Trống chiều vang xa, lòng vẫn nhớ/ Nồi cơm mẹ nấu đón chờ con. Trích Nhớ quê, tập thơ Gặp em đêm Đôn Ta (Thạch Phách)

Khẳng định ngôn ngữ Khmer như một công cụ duy trì bản sắc

Ngôn ngữ chính là chiếc chìa khóa quan trọng để duy trì và khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc. Vấn đề sáng tác văn học bằng tiếng dân tộc thiểu số đã nhận được nhiều sự quan tâm từ trước đến nay. Nhà ngôn ngữ học B.Worf từng nhấn mạnh rằng “ngôn ngữ không chỉ là phương tiện để diễn đạt tư tưởng mà còn là một hình thức chi phối phương thức của những tư tưởng của chúng ta” (A.A.Belik, 2000). Trước làn sóng hội nhập văn hóa đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc giữ gìn ngôn ngữ dân tộc lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết như tục ngữ Khmer có câu “Chữ viết mất, dân tộc tan/ Chữ viết phát triển, dân tộc vẻ vang”. Chính vì thế, việc sử dụng ngôn ngữ Khmer trong sáng tác thơ ca chính là một hành động văn hóa cụ thể nhằm góp phần khẳng định căn tính tộc người. Bàn về vấn đề này nhà thơ Thạch Đờ Ni (2024) đã có chia sẻ rằng: “Trong tổ chức định hướng sáng tạo, các hoạt động sáng tác đặc thù này đã được các nhà quản lý chú trọng nên việc sáng tác văn học nghệ thuật bằng tiếng Khmer đang dần dần được quan tâm nhiều hơn. Từ đó, nhiều văn nghệ sĩ Khmer đã nhiệt tình tham gia hoạt động sáng tác văn học nghệ thuật, tạo cho văn nghệ sĩ Khmer nói riêng văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số nói chung có một không gian thuận lợi để gởi gắm đứa con tinh thần, và bạn đọc cũng như khán giả có thể tiếp cận, tìm hiểu văn hóa, văn nghệ của dân tộc mình thông qua sáng tác văn học nghệ thuật. Từ đó, sáng tác văn học nghệ thuật Khmer vùng Tây Nam Bộ có một diện mạo mới, ấn tượng hơn, đặc sắc hơn. Đặc biệt là văn nghệ sĩ có vốn văn hóa, tiếng nói, chữ viết của dân tộc Khmer thỏa sức thể hiện bản lĩnh, tài năng của mình, nhằm góp phần tạo nên sự phong phú cho nền văn học Việt Nam”.

Việc các tác giả như Thạch Phách, Sang Sết hay Thạch Đờ Ni cùng rất nhiều tác giả khác đã lựa chọn sáng tác thơ bằng tiếng Khmer, hoặc song ngữ Khmer - Việt cho thấy sự tự ý thức sâu sắc về bản sắc văn hóa và vai trò của ngôn ngữ trong sáng tạo nghệ thuật của mình. Sự lựa chọn ấy cho người sáng tác sự tự tin trong thể hiện phong cách cá nhân và tư duy cảm xúc, thẫm mỹ và đó cũng chính là một cách để khẳng định căn tính tộc người Khmer trong không gian văn hóa đa tộc người ở Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung. Ý thức ấy, tinh thần ấy không chỉ dừng lại ở việc lựa chọn ngôn ngữ khi sáng tác mà cũng được các tác giả chuyển tải qua không ít bài thơ nhằm giáo dục thế hệ sau về việc học chữ dân tộc mình: អក្សរខ្មែរជាទ្រព្យប្រាដក/ នៅអនាគតនឹងបានថ្លៃថ្លា/ អក្សរទាំងនេះលក់ទិញពុំបាន/ មានតែសូធ្យរៀនបង្កើនបញ្ញា/ យើងខំសិក្សាចេះចាំអក្ខា/ ទើបបានថ្លៃថ្លាសម្បូណ៌រុងរឿង។ (Chữ Khmer là di sản quý/ Đưa tương lai đến sáng ngời/ Chữ viết không mua bán được/ Chỉ học mới biết, mới khôn/ Con cháu cố gắng học/ Đưa dân tộc đến vinh quang) (Trích Chữ Khmer, tập thơ Bước đến thành công (Sang Sết).

Thơ ca Khmer như diễn ngôn văn hóa và phương tiện bảo tồn căn tính tộc người

Diễn ngôn văn hóa trong văn học thể hiện ở việc chọn lọc ngôn từ, hình ảnh mang nét đặc trưng của người Khmer. Những hình ảnh ấy như mã văn hóa thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của cộng đồng trong bối cảnh xã hội đa tộc người được tái hiện bằng một giọng kể chung về chính bản thân mình từ những hình ảnh gần gũi như con cá, con cua, cây sen cây súng bờ kênh, ao nước, đồng ruộng, vườn rau hay ngôi chùa, ngôi miếu Neak Ta trong phum sóc… Bằng cách đó, thơ của các tác giả Sang Sết, Thạch Phách, Thạch Đờ Ni luôn thể hiện một niềm tự hào, một khát khao mãnh liệt trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa của dân tộc mình. Điều này hoàn toàn phù hợp với một nhận định của Laude Levi Strauss rằng “Người ta không thể quyết định đi về đâu nếu trước tiên người ta không biết mình từ đâu đến”. Như vậy, có thể nói rằng, thơ ca Khmer Nam Bộ là diễn ngôn văn hóa mang tính tự sự tập thể, vừa là sản phẩm của ký ức cộng đồng, vừa là phương tiện bảo tồn căn tính dân tộc. Qua mỗi sáng tác thơ, các tác giả đã góp phần vào việc lưu giữ di sản văn hóa trong dòng chảy lịch sử, khẳng định vai trò của văn học như một hình thức hành động văn hóa - nơi ngôn từ trở thành không gian bảo tồn, đối thoại và kháng cự trước sự phai nhạt của bản sắc trong thời đại toàn cầu hóa. Hơn thế nữa, vai trò bảo tồn căn tính tộc người còn thể hiện ở việc thơ ca Khmer có khả năng khơi dậy tinh thần trách nhiệm của thế hệ trẻ với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc, và khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người hôm nay.

4. Kết luận:

Kết quả nghiên cứu thơ ca Khmer đương đại từ 190 sáng tác của các tác giả tiêu biểu như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni, có thể khẳng định rằng, thơ ca Khmer thể hiện đậm nét sự hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái chung tập thể để nói lên tiếng nói của cộng đồng và nhờ đó, thơ ca Khmer trở thành “bảo tàng ngôn từ” lưu giữ ký ức và khẳng định căn tính tộc người trong không gian văn hóa đa dạng ở Nam Bộ. Bằng việc sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và các từ ngữ chỉ tập thể cùng với việc lựa chọn khắc họa các hình ảnh, biểu tượng văn hóa và sử dụng ngôn ngữ Khmer trong thơ, các tác giả đã góp phần đã kiến tạo một diễn ngôn văn hóa. Ở không gian ấy, các tác giả thơ Khmer đại diện cho cả cộng đồng nói tiếng lên nói chung, kể lại câu chuyện của chính mình, khẳng định sự tồn tại và giá trị văn hóa của dân tộc giữa dòng chảy hội nhập và đa văn hóa. Với những kết quả trên, bài viết hy vọng góp một phần trong việc khẳng định vai trò của thơ ca Khmer đương đại với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người. Đồng thời, nghiên cứu này cũng mong muốn gợi mở những hướng khai thác mới đối với thơ ca Khmer đương đại - một bộ phận có thể nói chưa nhận được sự quan tâm đúng mức trong dòng chảy văn học Khmer ở Nam Bộ hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

1. A.A.Belik. (2000). Cultural studies - Theories of cultural anthropology (Văn hóa học - Những lý thuyết nhân học văn hóa). Journal of Culture and Arts.

2. Bamberg, M. (2009). Identity and narration (Bản sắc và tự sự) In J. P. Peter Hühn, Handbook of narratology (Cẩm nang Tự sự học). Berlin: Walter de Gruyter.

3. Bekhta, N. (2020). We-narratives: collective storytelling in contemporary fiction (Tự sự “chúng ta”: Lối kể chuyện tập thể trong tiểu thuyết đương đại). Ohio State University Press.

4. Fludernik. (2017). The many in action and thought: towards a poetics of the collective in narrative (Số đông trong hành động và tư duy: Hướng tới một thi pháp về cái tập thể trong tự sự). Narrative.

5. Freud, S. (1908). Creative writers and Day-Dreaming (Nhà văn sáng tạo và sự mộng tưởng ban ngày). In the standard edition of the complete psychological works of Sigmund Freud. Trong (Toàn tập các công trình tâm lý học của Sigmund Freud). London: Hogarth Press.

6. Halbwachs, M. (1950). La Mesmoire collective (Ký ức tập thể). Presses Universitaires de France.

7. Hall, S. (1990). Cultural identity and diaspora (Bản sắc văn hóa và cộng đồng ly tán). In J. Rutherford. Identity: Community, Culture, Difference (Bản sắc: Cộng đồng, Văn hóa và Sự khác biệt). Lawrence & Wishart.

8. King, T. (2000). The truth about stories: A native narrative (Sự thật về những câu chuyện: Tự sự của người bản địa). Minneapolis: University of Minnesota Press.

9. Lopez , C., Alphen, F. v., & Carmona, L. (2025). Narratives and collective memory (Tự sự và ký ức tập thể). Current Opinion in Psychology.

10. Mai Văn Phấn. (2019). Căn tính dân tộc và toàn cầu hóa trong sáng tạo văn học. Tạp chí Văn nghệ quân đội. http://vannghequandoi.com.vn/.

11. Nguyễn Hồng Anh. (2024). Nostalgia and the identity of the Vietnamese diaspora community in the works of Viet Thanh Nguyen (Hoài niệm và căn tính của cộng đồng di dân Việt Nam trong tác phẩm của Viet Thanh Nguyen). Journal of Social Sciences.

12. S. Gokhale, C., Bulbulia, J., & Frean, M. (2022). Collective narratives catalyse cooperation (Các tự sự tập thể thúc đẩy sự hợp tác). Palgrave Macmillan. https://www.researchgate.net/.

13. Thạch Đờ Ni. (2024). Thơ ca Khmer trong dòng chảy lịch sử dân tộc. Tạp chí Văn hóa và phát triển. https://vanhoavaphattrien.vn/.

14. Trường Lưu, Huỳnh Ngọc Trảng. (1993). Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.

24/4/2026

Lê Thị Diễm Phúc - Phạm Tiết Khánh - Châu Thúy An

Nguồn: Tạp chí VHNT số 636, tháng 3-2026

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

  Sử thi Phượng Hoàng: Mong một thế giới có ánh sáng, tự do và tình yêu bất tử Vượt qua rào cản về ngôn ngữ, qua bản dịch của nhà thơ Nguyễn...