Thứ Năm, 5 tháng 11, 2026

Giữ nhịp cho hoa

Giữ nhịp cho hoa

Gió bấc tràn về, những chiếc lá vàng còn lại an phận rời cành. Hạt mưa mong manh hơn, nhỏ dần, thưa dần, bầu trời như được nới rộng thêm…

Đó cũng là lúc cây trong vườn dụi mắt, ngơ ngác nhìn quanh, những nụ hoa nhu nhú bắt đầu cựa mình trong từng nách lá. Hơi thở của đất dường chưa từng biết bị mùa đông vừa ép chặt, nén xuống, nên cứ thoải mái, nhẹ nhàng, tỏa hương ấm áp. Màu vàng chưa vội đi hết, nhưng màu xanh đã đến, bình yên vận hành tiếp nối theo quy luật tạo hóa.

Cây mai có tuổi đời bằng với thời gian chấm dứt bom đạn trên vùng đất từng được mệnh danh là ‘’thung lũng tử thần”. Về quê sau ngày hòa bình, ông Bảy liền trồng nó ngay trước sân, chính diện với ngôi nhà cổ không còn nguyên vẹn. Cha ông, một nông dân nghèo khổ nhưng luôn thích có cành hoa mai chưng Tết. Tết năm nào cha cũng ra chợ mua một vài cành về cắt ra, cắm gọn gàng vào cái chai thủy tinh, trân trọng đặt trên chiếc bàn vuông kê giữa nhà. Nhớ cha, đó cũng là cách để ông Bảy thấy gần gũi hơn với mái nhà đã bị bỏ quên khá lâu trong chiến tranh.

Cây mai, từ ngày trổ bông cũng là lúc ông Bảy cảm thấy mình có thêm một nguồn năng lượng mới. Đó là đam mê, cũng là niềm vui, được chăm sóc cho hoa mai nở đẹp đúng vào dịp Tết. Ông thường nói, vạn thọ, cúc… chưa nghĩ đến, nhưng Tết mà không ngắm được hoa mai rực vàng thì buồn quá, như không có Tết. Thậm chí, cạnh đó, về hướng Bắc, có cây xoài to, ông Bảy cũng đốn mất, để giành giữ một vùng sáng đầy đủ cho cây mai thoải mái phát triển. Ông luôn nói, nhìn nó thiếu ánh sáng, lép mất một bên thì chẳng khác nào lở sinh ra đứa con dị tật, khó chịu quá. Vì vậy, khi bằng nửa tuổi đời ông Bảy, cây mai có dáng hình không chê vào đâu được. Cành lá sum suê, tròn đều như một công trình kiến trúc thời cổ Hy Lạp.

Ông Bảy mang ấm trà ra sân, đặt lên chiếc bàn đá chờ đợi, rồi ông quay vào vặn nhỏ âm thanh chiếc loa kẹo kéo. “Gửi gió cho mây ngàn bay, gửi bướm muôn màu về hoa, gửi thêm ánh trăng… màu xanh lá thư… về đây với thu trần gian…”. Âm thanh mềm mượt như đang nhẹ nhàng rơi ra từ bức tường rêu phong còn ẩm mốc. Sương chưa vội về nguồn, mặt trời còn mắc kẹt đâu đó phía bụi tre sau nhà. Đàn gà đã rủ nhau ra vườn từ rất sớm.

– “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”… Hèn gì người ta trả gần trăm triệu vẫn không chịu bán.

Bạn già với biệt danh “Tuấn Lửa” vừa nói, vừa bước chầm chậm đi vào sân, chỉ tay lên cây mai trước hiên. Giọng ông bao giờ cũng vậy, nói ngân nga như đang hát bội. Đã quá quen với nếp sống của hai ông bạn hưu trí, Tuấn Lửa tự tay rót hai tách trà như mình là chủ.

– Tranh thủ nhấp chút trà Ô-Long chính hiệu, bữa nay ngày hết tết đến rồi, ai cũng bận rộn tíu tít. Anh thì lo chuẩn bị cho vườn ăn Tết, còn em chút nữa phải qua tít bên tê sông để đặt cọc heo Tết cho yên tâm.

– Năm nay lập Xuân trễ, ngắt lá sớm hơn mấy ngày là vừa… Nhấp chút trà thơm ấm, dễ chịu, ông Bảy nói như nhắc nhở chính mình.

– Anh cũng nên tính lại đi, tuổi ngày càng già, chân tay đâu còn được như xưa, con cháu thì đứa nào cũng bị cuốn vào việc cuối năm không kịp thở.  Anh thuê quách ai đó ngắt bớt lá mai cho khỏe. Cả một vườn mai thế này mà ôm hết vào người là mất sức đấy, chưa nói nguy hiểm.

– Những gì buông bỏ được thì tôi đã buông bỏ. Những gì cần giữ lại thì phải cố gắng giữ lại. Hồi trẻ ngập đầu với xô bồ việc lớn nhỏ, mình thường quên đi những khoảng lặng cần sống chậm lại cho riêng mình. Giờ phải bù trừ chứ em, tuổi này rồi, không thì lãng phí lắm. Em nghe ông Huy ở xóm dưới kể chuyện chưa, thay vì phải mất cả tuần lễ, ông thuê người ngắt lá mấy cây mai chỉ trong ba ngày là xong. Trả tiền công không đau bằng khi quét dọn thấy nụ mai lẫn lộn trong lá. Ông Huy chắp lưỡi trước khi kết lại, “lượm mấy nụ mai lên ngắm nghía mà nghe xa xót, hoa chi của họ mà họ đau”.

Lửa trong “Tuấn Lửa’’ dường đã nguội dần theo tuổi. Hồi trẻ hở ra là bị ông phản biện không chừa một ai, kể cả ông lớn trên huyện. Thậm chí, có lúc trợn mắt, to tiếng để cố bảo vệ mình. Ông Bảy tính khác hẳn nhưng hai người lại chơi thân với nhau như anh em. Dù không nói ra, trong sâu thẳm mỗi người đều cảm nhận cuộc sống cần được điều hòa, bổ sung từ nhiều hướng đối nghịch. Nhưng phải đến khi tuổi lên tiếng, ông Tuấn mới thực sự trở thành người bạn biết chuyển lửa từ bên ngoài vào thắp sáng cho tâm hồn bên trong. Nghe anh Bảy nói, ông không vội vã mà trầm ngâm, ung dung nhấp chút trà rồi mới nhỏ nhẹ:

– Anh nói phải, nhưng cũng không nên trách lớp trẻ bây giờ suốt ngày phải quần quật lao đầu vào công việc. Áp lực cuộc sống mỗi ngày mỗi lớn, dường như con cháu muốn có được những khoảng lặng như chúng ta cũng đành chịu.

Mặt trời đã gỡ gai tre nhô lên khỏi mái ngói tươi đỏ. Có tiếng gọi vọng từ bên kia hàng rào: ‘’Đến giờ rồi chú Tuấn ơi, tranh thủ còn về lo nhiều việc nữa”. Ông Tuấn như vẫn còn tiếc tách trà thơm nóng, đứng lên uống cạn rồi mới chịu gác lại gặp gỡ thường ngày không hẹn cũng đến.

Ai nói ‘’vững như kiềng ba chân’’ chứ ông Bảy chỉ biết tin vào chiếc ghế gỗ bốn chân vững như núi Thái Sơn. Từng bậc ghế cao thấp như cầu thang, dễ lên xuống, nên dù là cành mai thấp ngang đầu hay cao chênh vênh, ông đều giữ được thế thăng bằng để ung dung ngắt lá. Cứ thế, chiếc ghế được di chuyển nhẹ nhàng quanh cây mai tròn tán, đôi mắt ông Bảy không rời từng nách lá đang nhu nhú những nụ mai lớn nhỏ, tròn vo sức sống. Bàn tay ông chậm rãi, tỉ mẩn, chi ly đến không gian, thời gian như cũng chững lại, không muốn phá vỡ khoảng lặng quý giá của đời người. Cả tiếng chim hót xa xa nghe cũng trong veo như tâm trí không còn bận bịu với việc chuẩn bị cho Tết.

“Phải một tay giữ cành cho vững, tay kia mới rứt lá được, gỡ chậm rãi, nhẹ nhàng ngược với chiều lá vươn ra. Nụ mai dòn, dễ rơi hơn lá nên không được đụng mạnh vào đó. Quên hết mọi chuyện vặt vãnh đi, cả củi nấu bánh tét chưa kịp khô, tiền chia heo Tết chưa kịp đặt cọc, hay vườn cây chưa kịp bón phân…cũng không nên vướng bận, phải tách ra mới toàn tâm toàn ý lo cho mai được. Thực ra, không có bàn tay con người thì lá vẫn rụng, hoa vẫn nở, mầm mới vẫn vươn xanh theo quy luật. Nhưng ông trời cũng chướng lắm, mưa nắng, nóng lạnh thất thường, cứ mọi sự tùy duyên mà không tác động giữ nhịp cho hoa thì cũng bằng không. Mai nở sớm trước Tết hay ra giêng mới bung vỏ lụa thì còn gì là Tết nữa”.

Ông Bảy vừa ngắt lá mai vừa nhớ từng lời Nội dặn dò khi tập cho ông ngắt mấy cành mai dưới thấp. Việc đã biết từ nhỏ và thành thói quen hơn nửa đời người mà ông vẫn không thể coi thường. Dường như ông Bảy không nghe không thấy bất kỳ điều gì đang diễn ra xung quanh. Chiếc loa phóng thanh rộn lên ngoài cây me đầu xóm, tiếng máy xe nổ ầm ào ngang qua ngõ, con gà mái tục tác sau nhà, cả mùi thơm cá rô chiên từ trong bếp thoảng ra cũng không làm ông bị chi phối. Tuổi già dặn ông cứ khỏe làm mệt nghỉ, nên thỉnh thoảng lại thấy ông dừng tay, xuống ngồi nhâm nhi tách trà, ngước nhìn rất lâu những cành mai sạch lá như ngắm một kỳ công vừa được tạo dựng.

Ngày thứ hai…

Chỉ còn lại mấy lá mai cuối cùng trên cành, như những đơn vị thời gian cũ rụng xuống để chuẩn bị đón niềm vui mới. Ông Bảy thường đùa, đó là nghi lễ “tống cổ nghinh tân”, nên cần phải có mồi, rượu. Vậy là ông bật chế độ im lặng được cài từ sáng sớm cho máy di động, gọi ông Tuấn. Chưa kịp cảm nhận hết những gì nụ mai đang cựa mình thì thầm đã thấy ông Tuấn lững thững vào sân, tay bưng theo dĩa cua đồng rang muối vàng hươm, thơm lựng.

- Nhất sinh đê thủ bái mai hoa… Vẫn cách nửa đọc, nửa như đang ngâm thơ, ông Tuấn trịnh trọng đặt dĩa mồi lên bàn đá:

- Em theo dõi kỹ lắm, thấy anh gần xong là em lo mồi ngay.

Ông Bảy lặng lẽ vào nhà bưng ra hũ rượu ngâm củ đinh lăng màu vàng tươi. Rồi rót, cụng ly, và nhấm từng ngụm theo kiểu ‘’vô tửu bất thành lễ’’ của mấy cụ già xưa. Thấy ông Bảy thở phào nhẹ nhõm, nhưng không ai cảm nhận hết niềm vui của một người vừa thả ra nhiều nỗi lo để nhận vào trạng thái bình yên rất lạ. Ông như nói với chính ông và những bông mai đang còn ẩn mình đâu đó:

– Chỉ những lúc biết sống chậm lại để lắng nghe mình, ta mới cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp kỳ diệu của sự chi ly, tỉ mẩn trong từng ngóc ngách cuộc sống muôn màu. Em thấy đó – ông Bảy chỉ đống lá mai vàng xanh được quét dồn lại dưới gốc cây – sự già cỗi ra đi là để có tái sinh, lẽ sống thuận thiên là vậy.

– Anh cứ quen dày vò nội tâm, em sống nhẹ nhàng lắm, vui được giờ nào cứ vui, khi nào trời gọi thì thanh thản dạ, mọi thứ đều chóng đến chóng qua… Thôi, thêm vài ly nữa rồi anh em mình nghỉ ngơi cho khỏe…

Hoàng hôn rải đều trên nền đất sẩm tối, nhưng trên cao, quanh ngọn mai vừa được trút sạch lá, vẫn còn phảng phất một mảng sáng dịu nhẹ. Bạn Tuấn đã về, bà Bảy cũng vừa gọi chồng vào ăn tối, nhưng ông Bảy vẫn còn ngồi lại một mình với sân vườn yên vắng. Chưa bao giờ ông thấy tự do và hạnh phúc như lúc này. Ông đang nghĩ đến những ngày Tết con cháu từ nơi xa tụ về, trong nhà, ngoài vườn rộn tiếng cười vui. Cây mai bừng sáng, vàng rực cả một vùng trời trước sân, thỉnh thoảng một bông mai rụng xuống nền gạch, và mầm lá mới lại rạo rực cựa mình đâu đó cùng xuân. Còn ông, người giữ nhịp cho hoa, thanh thản ngồi nhấm tách trà thơm nhìn trời đất, mở toang lòng mình cho hạnh phúc ùa tràn vào cùng mùi hoa thơm và thiên nhiên tươi xanh.

12/2/2026

Tiêu Đình

Theo https://vanhocsaigon.com/

Hơi thở của đất

Hơi thở của đất

Thằng Lâm giận ba nó quá trời. Đã tính toán xuống ba héc ta xoài cát Hòa Lộc, nay ba đổi ý lẹ quá. Ba giao Lâm đi Bến Tre đặt cây xoài giống xong hết rồi. Chuẩn bị đưa cây xoài về đặt xuống, ba biểu nó gọi điện cho người ta hồi lại bớt số lượng cây  chỉ trồng hai héc ta xoài cát Hòa Lộc, còn chừa một héc ta trồng thử nghiệm chuối Nam Mỹ.

Ba ơi! Là ba, thằng Lâm mở internet cho ba coi, chuối cấy mô Nam Mỹ ở Đồng Nai đang ế nhệ không có người mua, rớt giá thê thảm nên có ai dụ ba mua cây giống phải hông ba? Ba trồng vài cây có trái ăn chơi con chịu, ba trồng chi một héc ta bán ai mua. Thị trường Cần Thơ này nếu so ra, chuối già hương thơm ngon hơn tuy nhỏ trái, nhưng đưa ra chợ bao nhiêu hết bấy nhiêu. Ba trồng chi cái loại người ta đang ế ẩm hổng biết nữa.

Ông Sáu cười cười rồi đưa Lâm qua nhà Chủ tịch xã. Quý à! Mày nói cho thằn Lâm nghe dự định mà tao với mày bàn hôm trước. Phải tìm hướng mới cho bà con trong xã đi lên tấn tới chớ.

Quý rót trà mời cha con ông Sáu uống rồi từ từ giải thích. Chú nói rồi hai cha con về suy nghỉ không nóng vội vì còn đang trong giai đoạn thử nghiệm chưa có đầu ra, chỉ tiêu thụ chuối thị trường các chợ tại Cần Thơ, chưa đủ tiêu chuẩn vào siêu thị vì còn nhiều thứ phải làm lắm.

Chú Sáu à! Con cũng lo lo trong bụng lắm, nên con thống nhất với Lâm thử nghiệm vài ngàn mét vuông coi sao đi chú. Con có trồng thử mấy chục cây sau nhà nhưng chưa nắm kỹ thuật, bây giờ giống thì không lo đã có công ty bên In đô nê sia cung cấp.

Bây giờ tao nói vầy hai đứa bây nghe nha! Tao quyết tâm trồng một héc ta chuối Nam Mỹ thử nghiệm và tao chịu trách nhiệm, nếu bán được thì thôi, không được tao chịu, không trách đứa nào hết.

Lâm đưa xoài cát Hòa Lộc về đặt cây trên phần đất hai héc ta đã chuẩn bị. Ông Sáu đưa chuối về trồng ngay hàng thẳng lối, khoảng cách đều rang hai mét một cây nhìn đẹp lắm, bà cong trong xóm cười cười xì xầm cha này già rồi liều mạng. Con trai bà Hai Cồ đi làm mướn ở Đồng Nai về chơi, nghe ông Sáu trồng chuối Nam Mỹ, nó nói ở Đồng Nai ế phải đem đi cho bò, cho heo ăn cũng không hết, ổng trồng chi vậy trời!.

Mỗi ngày, hai cha con đi chăm sóc vườn cây, Lâm quan tâm nhiều hơn đến vuông xoài Hòa Lộc, khi sang khu trồng chuối nó không mặn mà gì cho lắm, nhưng chiều lòng ông Sáu nó vẫn làm cỏ, vẫn tưới mà nơm nớp sợ ế. Ông Sáu kêu đứa cháu ngoại mở internet in tài liệu trồng chuối cở chữ bự để coi, nhưng mà sao còn rối lắm. Chỉ có một điều ông thấy hợp lý nhất là chỉ để một cây chuối mẹ và một cây chuối con để cây đủ sức nuôi trái. Đúng rồi, các loại chuối khác cũng vậy thôi, tuyển cây con bỏ bớt thì nuôi trái đủ dinh dưỡng.

Quý thường xuyên ghé nhà xem coi ông Sáu trồng chuối Nam Mỹ mà lo. Làm sao giúp ông Sáu, rồi còn giúp bà con trong xã nữa chứ. Quý lên facebook đăng nhu cầu tìm kiếm người hỗ trợ, tìm người thu mua. Rồi một ngày Quý nhận được thông tin từ người bạn đang lập gia đình và định cư bên Hàn Quốc nhận lời giới thiệu đến một công ty. Công ty Mặt trời xanh Hàn Quốc đồng ý cử chuyên gia sang hỗ trợ với điều kiện nếu áp dụng đúng quy trình, chất lượng trái đạt tiêu chuẩn và trọng lượng, họ sẽ thu mua lại.

Vườn chuối bắt đầu ra những bắp non đầu tiên, Lâm và Quý lên tận sân bay đón một anh chàng người Hàn Quốc chỉ ngoài 20 tuổi, mặt còn búng ra sữa về nhà, nó nói tiếng Anh như gió. Ông Sáu và thằng Lâm cứ hả hả, nó cười chuyển qua tiếng Việt lơ lớ nhưng còn nghe được. Nó mở máy tính xách tay lôi về một nùi tài liệu tiếng Hàn, rồi nó chuyển sang tiếng Việt đưa cho Lâm và ông Sáu coi. Thằng nhỏ dễ thương hết biết, nó ở chung nhà với ông Sáu, ăn cơm Việt, đi làm vườn như đi làm việc, nó làm tám giờ một ngày, còn lại ngoài giờ ăn cơm nó tranh thủ đọc sách đủ thứ về văn hóa Việt. Nó chỉ tận tình từ thiết kế hệ thống tưới, kỹ thuật xới gối, bón phân, cắt lá, xử lý bệnh…

Chuối được bón phân, chăm só theo quy trình, những buồng trái bắt đầu trổ ra từ những bắp non, bình quân một buồng từ  mười một đến mười hai nải chuối. Vậy mà thằng nhỏ bắt cắt bỏ chỉ để sáu nải, nải chuối thứ sáu nó bắt cắt hết chừa hai trái như chuối chót của Việt Nam. Nó bắt đếm mỗi nải chuối chỉ chừa mười trái, nếu thiếu mười trái không sao nếu dư mười trái phải cắt bỏ. Nó giải thích như vậy chuối sẽ tập trung dưỡng chất nuôi trái đạt chất lượng, kích cở của trái sẽ đạt quy chuẩn xuất sang thị trường các nước.

Nó nói nếu có đầu ra nên đầu tư dây chuyền thu hoạch sẽ giảm được công lao động, nó mở phim Hàn Quốc cho xem quy trình thu hoạch từ vườn vào bể rửa, đóng gói. Ông Sáu, Quý và Lâm xem mà thấy ham quá, nhưng hơi hao tiền, làm sao đây?

Quý đăng hình ảnh, đăng thông tin tìm kiếm đầu ra mỗi ngày. Có chuối rồi bây giờ phải tìm cách bán chứ ? Mấy tháng trời, chuối sắp đến lúc thu hoạch rồi hổng lẽ chịu trận như Đồng Nai nữa sao? Rồi một ngày có người đặt hàng dè dặt vài tấn. Thôi vậy cũng an ủi rồi, số còn lại chia ra đi các chợ bán cũng được. Quý an ủi ông Sáu, ừ thì vậy đi, rồi tính nữa. Ly Zang Um lên đường về nước sau bốn tháng chuyển giao kỹ thuật trồng chuối. Ừ! Mới đó mà mến cậu bé siêng năng, lễ phép. Nó nói khi về nước nó phải làm một báo cáo với Công ty Mặt trời xanh về việc chuyển giao kỹ thuật trồng chuối Nam Mỹ tại Thới Hưng. Nếu báo cáo chứng minh quy trình đạt yêu cầu  Công ty Mặt trời xanh, việc thu mua sẽ được tiến hành, nếu diện tích trồng đáp ứng nguồn cung cấp sẽ có một số công ty khác của Hàn Quốc thu mua. Chuyện Ly Zang Um nói quả là có thật, tháng sau có người điện thoại với Quý hẹn sang xem vườn chuối để ký hợp đồng trồng chuối và thu mua.

Vậy đó! Từ một héc ta thử nghiệm, rồi  năm héc ta cho mùa sau, bây giờ không chỉ một mình ông Sáu trồng chuối Nam Mỹ, toàn xã Thới Hưng có hai trăm bốn mươi bốn héc ta trồng chuối, họ đã được chính quyền tạo điều kiện vay vốn, được hình thành tổ hợp tác, họ nhập máy móc và thực hiện quy trình sau thu hoạch theo hệ thống dây chuyền từ vườn đến bể rửa, phân loại, sơ chế đóng gói rồi chuyển vào công ten nơ để đi các nước Trung Đông, Bắc Phi và cả Trung Quốc.

Mùa thu hoạch chuối, xã Thới Hưng rộn rã tiếng cười, xe công ten nơ về la liệt dài theo lộ giao thông chờ chuyển chuối. Lâm có vợ, cất nhà ra riêng không còn ở chung với ông Sáu. Thỉnh thoảng có đoàn nhà báo, hay nông dân nơi khác đến học tập kinh nghiệm ông Sáu bắt đầu câu chuyện: Hồi đó tui và thằng Lâm giận nhau, nhờ thằng Quý nó giúp tui giải hòa và tìm đầu ra mới có ngày nay.

Người ta quay đi tìm Quý, bây giờ Quý đã là bí thư xã. Nhưng khi ai hỏi anh về việc đưa chuối về Thới Hưng anh lại chỉ khiêm tốn nói về ông Sáu là người đi đầu của phong trào nông dân sản xuất giỏi. Anh tìm cách nói về những người nông dân gắn bó với đất và nói về họ với một sự trìu mến đáng trân quý. Anh nói việc làm của anh không phải để nổi tiếng, hay để báo cáo. Đơn giản anh sinh ra lớn lên với mảnh đất quê hương Cờ Đỏ, ngày nhỏ đi học ngang qua xóm, có đói bụng sà vào nhà nào cũng có cơm ăn, người dân trong xã coi nhau như gia đình. Mà đã là gia đình thì còn tính toán làm gì.

Tôi cùng mấy anh chị trong đoàn sau khi đi thực tế ở huyện Cờ Đỏ về  cứ bâng khuâng về người cán bộ tên Quý đã mạnh dạn cùng bà con tìm một hướng đi mới cho người nông dân ở quê anh.

Nhưng khi tình cờ gặp lại Khoái đang theo học cao học tại Đại học Cần Thơ tôi mới bất ngờ hơn về Quý. Trời ơi! vậy là chị mới biết có một phần thôi, Quý là em họ tui, nó chịu làm, chịu học lắm đó. Nó có nói về hệ thống trại cây giống theo dạng cổ phần chưa? Chị biết không có tất cả hơn hai mươi trại cây giống từ Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng mang tên Thới Hưng chưa? Chuyện này sao hổng nghe Quý nói gì hết ta, chắc phải trở lại Thới Hưng lần nữa rồi.

Tôi kể cho Khoái nghe, chỉ có nghe Quý nói đang chuẩn bị đưa Thanh Nhãn của Bạc Liêu về trồng và ước mơ có một xưởng sấy nhãn xuất khẩu mà thôi. Khoái cười ha hả, bà chị ơi! Đã có một héc ta thu hoạch trái đầu tiên rồi, một ki lô gam nhãn có ba mươi lăm trái. Tui đã ăn thử rồi ngon, giòn, tuy không thơm bằng Long nhãn hay Nhãn xuồng Tiền Giang nhưng Quý nó nhắm vào xuất khẩu thì loại này làm được.

Vậy là phải trở lại Cờ Đỏ thật rồi, trước mắt tôi lại hiện lên đâu đó những dãy nhà xưởng, những dây chuyền đóng gói cơm nhãn sấy đủ loại để rồi nó hiện diện trên các kệ trưng bày của siêu thị, rồi nó lên đường ra thế giới. Ừ! Thú vị thật một cán bộ xã không có thước đất trong tay, nhà chỉ có tiệm tạp hóa cỏn con nép bên dốc cây cầu nhỏ qua làng, vậy mà Quý đã có nhiều suy nghỉ và quyết tâm giúp người nông dân quê mình mang hơi thở của đất đi ra thế giới.

13/2/2026

Nguyễn Kim Thanh

Theo https://vanhocsaigon.com/

Dành cả thanh xuân để yêu… mùa thu

Dành cả thanh xuân
để yêu… mùa thu

Diệp Anh ngồi lặng im nhìn dòng người ngược xuôi hối hả, có mấy ai cảm nghiệm được rằng mùa thu luôn vội vã đến và mau chóng ra đi. Quán cà phê nhỏ, ở góc phố nhỏ này đã chứng kiến bao mùa thu cô và Thái cùng ngồi đây và cùng cảm nhận mùa thu từ sự dịu mát của đất trời. Diệp Anh nhìn cây sấu già, nó già đến mức dường như không thể già hơn, và cô cố gắng nhìn theo những chiếc lá vàng rơi chao đảo trong một cơn gió chiều lơ đãng ngang qua.

Hôm nay là ngày thứ tư cô và Thái không gọi điện thoại và nhắn tin cho nhau, tóm lại là tất cả những gì thuộc về sự tiến bộ của công nghệ 4.0 trên điện thoại smartphone đều bằng không. Bao năm yêu nhau, họ chưa bao giờ giận nhau quá một ngày. Chỉ có “ trận” này là khó, có thể mãi mãi không có mùa thu nào mình còn được ở bên Thái nữa, Diệp Anh chủ quan nghĩ vậy. Cô tin như thế, cô thấy tim nhói đau, cảm giác vừa đau vừa khó chịu như thể bị thử máu vậy. Điều mà Diệp Anh lo lắng nhất lúc này đó là không biết ăn nói thế nào với bố mẹ, biết rằng mẹ cô sẽ là người buồn nhất vì lâu rồi mẹ cô đã coi Thái như con trai trong nhà. Nói như các cụ, chỉ còn ba tuần nữa là bố mẹ Thái đến nhà cô “nói chuyện người lớn” và đầu sang năm sẽ tổ chức đám cưới cho được tuổi. Thực lòng, Diệp Anh sợ nhất là mẹ buồn, bà là người yếu đuối cả về sức khỏe và tinh thần. Cả đời bà, từ khi lấy chồng lúc 22 tuổi cho đến giờ đã ngoài ngũ tuần, chỉ một lòng một dạ vì chồng vì con. Đối với bà, gia đình quan trọng hơn chính bản thân mình, sau đó là gian bếp và cái tủ lạnh 650 lít to đùng mặc cho ngoài kia giông gió bão bùng hay những việc kinh thiên động địa. Giờ phải nói thế nào cho mẹ mình hiểu rằng nếu tình yêu không đủ lớn thì sẽ không thể nào đi chung đường và cùng nhìn về một hướng.

Xem lại tin nhắn trên điện thoại từ mấy hôm rồi Diệp Anh đeo tai nghe, tiếng nhạc buồn nhưng không bi lụy, một lần nữa cô thấm thía những ca từ trong bài hát “ Nơi mình dừng chân” Hôm đó Diệp Anh đã nhắn tin lại sau khi nghe bài hát này “ Anh ơi, bài hát hay quá,y như những lời mình muốn nói với nhau. Mình dừng chân đi anh, em mỏi rồi”. Thái gửi hình mặt khóc, Diệp Anh nhắn tiếp “ Có lẽ mình đã hiểu lầm nhau, hai đứa có lý tưởng riêng, có nhiều điều không thể hòa hợp. Tuy nhiên, em chưa bao giờ hối tiếc những ngày tháng qua. Thanh xuân của chúng ta vô cùng ấm áp và cháy bỏng”. Thái gửi bài hát “ Xin lỗi” những ca từ rất ngọt ngào nhưng không kém cay đắng “ Xin lỗi cơn đau vừa xa lạ. Xin lỗi nỗi vui còn vương lại. Nụ cười đôi khi đắng cay…lòng này…” Diệp Anh nhắn lại “ Anh không cần xin lỗi đâu, là tại em ngu ngốc, hiếu thắng và ích kỷ thôi mà. Chúc anh những ngày hạnh phúc và bình yên” Thái nhắn lại “ Cám ơn em. Tình yêu thanh xuân của tôi”.

Thế là, quen nhau 9 năm, yêu nhau đã 7 năm hai tháng tám ngày và chỉ đợi ngày cưới trong hoan hỉ cát tường bỗng dưng được đánh dấu bằng một cuộc chia tay trong chóng vánh, vội vã, không ủy mị, không nước mắt, không có lý do gì là kinh khủng khiếp cả. Những lời chia tay cũng thật sáo rỗng, nhạt nhẽo lãng xẹt. Tình yêu đến không bất ngờ nhưng nó ra đi quá bất ngờ, thậm chí nhanh như một nốt nhạc.

Diệp Anh xin nghỉ phép hai ngày và một ngày cuối tuần nữa với mong muốn ổn định tinh thần. Ông sếp khó tính vẫn ký nhưng mặt nặng chịch, ông bảo “ Còn một đống tài liệu cô phải dịch nữa đấy. Cô nhớ buổi từ thiện vào cuối tháng, chuyển danh sách các em được mổ cho chị Ánh trước nhá” “ Ok anh! Em chưa sai deadline bao giờ. Em đã dành cả thanh xuân để cống hiến cho cái công ty này rồi đấy thôi.”

Những chiếc lá sấu vàng rơi được gió nô đùa nên cứ bay vòng vèo mãi mới chạm khẽ khàng xuống mặt đất. Không biết Diệp Anh đã nhìn theo bao chiếc lá rơi trong chiều đầu thu này. Đây cũng là quán cà phê chứng kiến tình yêu của họ với câu nói tỏ tình của Thái “ Anh muốn em là tình yêu cuối cùng của cuộc đời anh. Đừng trả lời không với anh đấy nhé” và một nụ hôn ngượng ngùng của Thái cũng làm Diệp Anh rối bời. Suy nghĩ miên man, Diệp Anh gọi thêm một ly cà phê phin, sau khi đã uống cạn một ly trà đào. Cô nhìn những giọt cà phê chậm rãi rơi, lòng thảng thốt buồn nghĩ về Thái, chàng trai đã dành cả tuổi thanh xuân yêu mình và giờ đã nhanh chóng trở thành dĩ vãng thấy cứ sai sai thế nào í. Có lẽ, những mâu thuẫn và hụt hẫng mơ hồ di chuyển dần trong dòng chảy của cảm xúc đã qua đi, giờ ngoái lại mới thấy sự hiện hữu hay mất đi đều có căn nguyên của nó. Diệp Anh cầm điện thoại, chụp ảnh gốc sấu già ở góc phố và viết mấy dòng trạng thái “ Có ai chia tay vào mùa thu không? chỉ có những kẻ ngu ngốc và lố bịch như mình thôi. Chia tay với mùa thu ư! nói thành lời là điều không thể, mình thề đấy !!!” Thực tình, Thái của cô trước đây đã từng rất tuyệt, anh nhiệt thành và lãng mạn, tinh tế đến mức biết cả những điều người khác chưa kịp nói ra… Lúc nhớ Diệp Anh, Thái có thể  đi bộ mấy km từ công ty anh đến nhà cô chỉ để nhìn ngắm cô, đưa cho cô lọ ô mai và gói bò khô. Hay đi công tác về, anh thường gặp cô ngay, chỉ là để nắm tay cô thật chặt… có khi chỉ một câu nói cũng làm Diệp Anh run lên vì hạnh phúc.

“Em biết không, em có thể tìm anh ở ba nơi” Thế là Thái đèo cô lòng vòng qua ba nơi đó. Diệp Anh gục đầu vào vai Thái và khóc, Thái hỏi thì cô trả lời “ Em khóc do thương anh, anh làm ở cả ba nơi thế này, một ngày đến mười mấy tiếng đồng hồ rồi còn gì” Thái bảo “ Anh kiếm tiền cho dư giả, còn cưới em cho thật đàng hoàng chứ!” Diệp Anh nói “ Anh biết rồi mà, bố mẹ chỉ có mình em, tài sản là của em hết anh còn lo gì” Thái bảo “ Đàn ông mà lợi dụng nhà vợ là kẻ cơ hội, là thằng hèn”. Nghĩ đến đó Diệp Anh không khỏi băn khoăn, Thái có hèn không khi cuộc cãi vã hôm nọ với cô chỉ vì bảo vệ sếp mình. Thái biết ông sếp đó bản chất thế nào nhưng Thái vẫn tôn thờ ông  ta. Nếu chỉ cần ai nói về ông ta dù là nói sự thật không mấy tốt đẹp về ông ấy là Thái có thể nổi khùng lên. Sự thật là ông ta khôn, ông ta giàu, ông ta tham, ông ta thù vặt, ông ta không vì cái chung của tập thể mà chỉ vơ vét cho cái túi của riêng mình. Thái bênh ông ta chằm chặp. Tại ông ta quá giàu có à? Hay tại ông ta quyền cao chức trọng và cho Thái chút bổng lộc? Thế là cuộc tình kéo dài  bảy năm hai tháng tám ngày kết thúc hết sức bất ngờ bằng việc Diệp Anh kể cho Thái rằng, một người bạn của cô biết sếp Thái, tóm lại ông ta là người cơ  hội, thủ đoạn và vô cảm. Thế là Thái đùng đùng bỏ về…lý do kết thúc cuộc tình này nói một cách nghiêm túc là nhạt như nước ốc.

Đôi lúc cô nghĩ đến nhân cách của Thái, Thái thường khúm khúm với người có tiền, có quyền, ngưỡng mộ kẻ nào lắm mưu sâu kế  hiểm, thủ đoạn tinh vi, anh nhanh chóng kết giao với những người có địa vị, đặc biệt là những người có nhiều tiền. Thái sợ những kẻ nghèo khó, nhếch nhác, Thái không  thích trẻ con chỉ vì chúng làm tốn tiền của người lớn và hay quấy khóc, phiền phức…Sao mãi gần đây Diệp Anh mới nhận ra điều đó nhỉ. Đã từng có người nói với cô Thái là kẻ sống thủ đoạn và có thừa tiểu xảo… nhưng cô đã bỏ qua tất cả, yêu mà! mù quáng cũng là chuyện thường tình. Cô chỉ biết mình vui khi ở bên Thái, Thái thông minh, tế nhị, hài hước và luôn biết Diệp Anh cần gì, nói câu gì vào lúc nào…

Cô xem lại những clip Thái gửi cho cô về hai con mèo ở nhà anh. Chúng nhắng nhít ghê. Con Đậu Phộng và con KenLy bằng tuổi nhau nên đôi khi chúng hạnh họe nhau, chẳng ai chịu ai cả nhưng con KenLy đanh đá hơn nên hay dành phần thắng. Thảo nào mà Thái yêu chúng đến  thế! Diệp Anh nhớ lại những dạn nứt mơ hồ cũng bắt đầu bằng chủ đề mèo, cô cảm thấy anh vừa ích kỷ, vừa hời hợt. Hôm đó, cả hai ngồi đợi vào rạp xem phim. Diệp Anh nói đủ chuyện, trong đó cô nói về cuốn “Kiếp sau” của nhà văn Marc Levy. Thái bảo “ Làm gì có kiếp sau, sống kiếp này còn chưa xong em đã lo kiếp sau, cứ y như bà già”. Diệp Anh hỏi “ Vậy, cứ cho là có kiếp sau đi, thì anh sẽ là gì của em?” Trong thâm tâm cô muốn anh trả lời “ Anh vẫn yêu em và sẽ vẫn cưới em”. Thế nhưng, như một gáo  nước lạnh hắt vào người, Thái trả lời “ Kiếp sau anh sẽ là con mèo của em” Diệp Anh bảo “ Thế nhưng em đâu có nuôi mèo” Thế là cô giận hờn mà bỏ về. Thái phải mất cả ngày hôm sau để giải thích câu nói đùa của mình. Anh nói rằng kiếp sau anh muốn là mèo chẳng qua là để luôn được ở bên cô, được cô ve vuốt và chẳng phải làm gì cả, rằng anh không bao giờ muốn rời xa cô…vân vân và vân vân

Cho đến giờ Diệp Anh lờ mờ hiểu rằng, Thái đã trưởng thành, anh không cần chỗ dựa về vật chất và tinh thần nữa chăng? Cũng có thể tình yêu này đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, hay cả hai đã có sự di chuyển về  mặt cảm xúc và sự đau đớn đã vỡ òa, tan biến như sự kỳ diệu của cuộc sống. Nó luôn có lý do tồn tại hoặc biến mất.

Hôm nay đã là ngày thứ tư, đã qua 96 giờ mất mát và buồn bã, phải kết thúc sớm tình trạng này. Diệp Anh tự nhủ như thế nhưng cô phải vùng vẫy trong sự đau đớn và tủi thân, trái tim, cơ thể cô như xước xát. Cô  không tin là anh không nhớ cô, cần cô… Diệp Anh không tin rằng anh có thể xa cô lâu đến thế… Thái thật sự biến mất ư? Nằm mơ cô cũng chưa bao giờ nghĩ đến điều này. Cô sẽ phải giải thích thế nào với bố cô. Một con người gia trưởng và nguyên tắc đến khắt khe. Cô hình dung rằng ông sẽ nói giọng đầy trách cứ “ Thấy chưa, bố đã bảo… để bố làm mối cho mấy đám con nhà khá giả, đàng hoàng thì không nghe, giờ thế này, ai làm người nấy chịu”. Cô còn phải đối diện với một khoảng thời gian trống vắng, cô phải tập thói quen không có anh hàng ngày dù chỉ là qua tin nhắn.

Mùa thu ngọt ngào đi qua như sự giục dã của thiên nhiên, có thể chỉ là chút nắng màu vàng nhạt đỏng đảnh khẽ đậu trên vai áo ai đó, có thể chỉ là những chiếc lá vàng rủ nhau rơi se sẽ như một bản tình ca, có thể chỉ là một cơn gió mát dịu lễnh đễnh ngập ngừng qua ô cửa nhỏ cũng làm cho ai đó có xúc cảm với mùa thu, chắc rằng sẽ thấy hồi hộp, thổn thức  như một buổi hẹn hò. Vậy đó, đừng tiếc mùa thu khi bạn đã cảm nhận nó rồi, bạn nhé. Cũng như vậy, Diệp Anh không tiếc thanh xuân khi cô đã dám dấn thân cống hiến, đã dệt bao hoài bão, ước mơ để tâm hồn mình an nhiên, rộng lượng hơn với cuộc đời, với đất trời.

Cô nhớ Thái, nhớ những cảm xúc mỗi khi đọc xong một cuốn sách hay. Người đầu tiên cô chia sẻ bao giờ cũng là anh, có khi cô vừa khóc vừa nhắn tin. Thường thì đó là những câu chuyện tình đầy ám ảnh, đau đớn và lãng mạn như “ Bên kia phía nửa đêm” của  Sidney Sheldon, hay cuốn “Giamilia Truyện núi đồi và thảo nguyên” của Tsinghiz Aitomatop, rồi cuốn “ Chữ A màu đỏ” của Nathaniel Hawthorne… Thái trả lời khi cô sụt sùi “ Trông rõ là hổ, báo, cáo, chồn mà nước mắt lại cá sấu”. Lúc đó Diệp Anh thấy một khoảng trống tồn tại. Cô chỉ có thể chứng minh sự hiểu biết về văn học của mình với một người bạn gái học cùng từ thời phổ thông, giờ cô ấy là giáo viên dạy văn Trung học cơ sở. Đôi khi nghĩ đến sở thích của cô và Thái, cô đành gác lại lòng ngờ vực của mình và tự hỏi rằng Thái- người yêu cô là ai nhỉ, tại sao anh ấy không có cảm giác rằng cô đang trải qua sự coi thường và biên giới cảm xúc của cô ngày càng bị kéo lê theo chiều dọc vậy.

Chiều đang trôi thật chậm, Diệp Anh phải trở về với gia đình, trở về  với túi tài liệu đầy những giấy note xanh, hồng, vàng, tím mà cô đã phải mang về nhà làm bù vì sự mất não trong những ngày xa Thái. Tạm biệt quán quen thân yêu, tạm biệt cây sấu già nua bao năm nay nó vẫn già và xấu… Tạm biệt tình yêu tuổi thanh xuân, chắc rằng cô sẽ chôn cất nó như một mối tình quá lớn và có thể cho đến kiếp sau nó vẫn còn vương vấn chút buồn vui mang theo từ cõi nhân gian này.

Diệp Anh xóa hết dữ liệu của Thái trên điện thoại (mặc dù biết rằng đầu mình vẫn nhớ như in). Cô nhâm nhi vị đắng đót cuối cùng của ly cà phê, khẽ nhắm mắt tận hưởng một làn gió vô tình thổi tới làm những chiếc lá của cây sấu già tiếp tục  rơi như vô tận. Mùa thu thật nên thơ, lãng mạn, mùa thu buồn như sắp phải chia tay một mối tình. Nhưng những chiếc lá rơi chỉ là bắt đầu cho những chiếc lá non già đi và thay vào đó là mầm non, chồi biếc… Như là chân lý! mùa thu đẹp và lãng mạn theo cách riêng của mình. Diệp Anh cũng chia tay mối tình của mình nhưng cô không muốn nó giống bất kỳ một cuộc chia tay nào của bất kỳ một mối tình nào đã từng tồn tại và tan biến…

14/2/2026

Đoàn Thị Phương Nhung

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Thoang thoảng hương chè ký ức

Cái cách bà Sáu nhớ về chồng luôn khiến người trong xóm tôi xót xa. Cứ mỗi buổi sáng sớm bà sẽ đun một ấm nước nhỏ, lấy một ít lá chè rồi cứ thế đun trần, chờ hương trà bay đi phảng phất khắp xóm cũng là lúc lũ trẻ chúng tôi mụ mị dậy đi học.

Bà sẽ nhẹ nhàng thay trên bàn thờ tách cúng ông, đều đặn mỗi ngày đều thay trà mới cho ông vì ngày còn sống ông sáng nào cũng thích nhâm nhi một tách trà. Không thể nào quên được một ít bánh chè lam. Ở xứ Tuyên Quang của chúng tôi, bộ đôi bánh chè lam với trà chè cứ phải nói là đặc sản. Rồi cứ đến khi chiều tà, bà hay ngồi phía trước căn thềm nhỏ, nhìn xa xôi vô định vào cái đồi chè cao ngất trước nhà, nơi mùi lá chè non thổi vào thơm phức và không gian xa vắng đang yên tĩnh, đôi mắt nheo lại trên gò má nhăn nheo. Mẹ tôi mỗi khi thấy vậy lại bảo:

– Chắc bà lại nhớ ông. Ông và bà trước cứ giờ này lại ngồi trước hiên buôn chuyện già.

Ngày ông Sáu mất bà không khóc mà chỉ đứng chết lặng. Trong khi các con bà gào khóc bên linh cữu thì bà chỉ ngồi im bất động một góc nhà. Mẹ tôi bảo dường như cả ông và bà đều biết khi nào ông mất, nghe cứ như tâm linh, nhưng trước khi ông mất ít hôm, đột nhiên ông đi thăm khắp những người quen ở cái đất Chiêm Hóa này, lại dặn dò nếu ông ra đi thì chăm sóc bà hộ ông. Tôi còn nhớ như in ngày đó, khi tôi đang ngủ trưa thì ông ghé chơi nhà, nói chuyện với mẹ tôi rất lâu, vì nhà tôi ở sát nhà ông, rồi tôi thấy mẹ tôi khóc… Hôm sau, ông mất.

Sau khi ông mất căn nhà nhỏ của ông bà thường được các con ghé lại nhà. Nhà có ba cô con gái mà ồn ào thành cái chợ. Miếng đất nhỏ bỗng thành thước đo đong đếm tình người. Ngaỳ ông còn sống, họ nhất quyết không về thăm lấy một lần, lấy chống rồi theo chồng, khi có việc gì cần tiền lại về bòn rút của vợ chồng ông bà, thương con bà Sáu còn dấm dúi cho chứ ông cấm tiệt. Nay ông mất, lại đua nhau về năn nỉ ỉ ôi mẹ để cho mảnh đất, dù bà Sáu còn sống sờ sờ nhưng cứ đòi bán mà thậm chí về phần nuôi bà thì lại không thấy ai lo.

Nhà tôi ở sát nhà bà, ngày trước ông bà bà tôi mất sớm, mẹ tôi cũng được một tay bà cưu mang nuôi lớn nên mẹ luôn xem bà như mẹ ruột của mình. Tôi cũng vẫn hay sang nhà bà, nghe bà kể chuyện, để bà ngồi quạt mát phe phẩy giữa cái nóng trưa hè rồi thiếp đi lúc nào không hay. Bà vẫn hay kể cho tôi nghe chuyện về bà và ông, một mối tình đầu của cả hai kéo dài đến cả những năm tháng cuối cùng của cuộc đời.

Bà bảo rằng bà thương ông trước, thương hết biết bao nhiêu mùa cao su thay lá ở Tuyên Quang. Bà bảo rằng bà không thích đòi hỏi từ ông bất cứ gì để tạo mối gắn kết giữa hai người bởi vì chuyện tình cảm vốn không phải là một điều ràng buộc. Bà lúc nào cũng vậy, đôi mắt lúc nào cũng tinh anh, nụ cười trở nên nồng cháy như cái màu sắc chói lửa, ánh nhìn mỗi khi bà nhìn ông luôn mang một cảm xúc buồn buồn khó tả.

Bà gặp ông trong những ngày cuối đông đầu xuân khi rừng cao su nơi mảnh đất Tuyên Quang rộng lớn bắt đầu vào những ngày mùa cây trút lá. Bóng dáng của chàng thanh niên mặc quân phục màu lính cao kều đứng tựa lưng vào một thân cây, vô ý đến nổi để mủ cao su dây vào trong chiếc áo lính với đôi mắt buồn xa xăm khiến bà xao xuyến lạ.

– Em tên gì?

– Em tên là Thảo.

Rừng cao su khi ấy nhìn thấy hút tầm mắt như ôm trọn hai bóng dáng nhỏ bé gieo mình chào nhau giữa một nơi xa lạ. Kể cả khi cho đến sau này khi hai người bắt đầu trở nên thân thuộc, ông kể cả những khi tỏ ra quan tâm nhất đến một người thì gương mặt lúc nào cũng tỏ vẻ lạnh lùng. bà biết rằng ông ít nói nhưng trái tim của ông mênh mang như cánh rừng Na Hang nơi hai người lần đầu gặp gỡ. Cho tới giờ mỗi khi rảnh rỗi, những khi cuộc đời đổ vào bà những biến cố không ngờ, bà vẫn hay tìm về cánh rừng ấy, ở đó sẽ có một chàng trai đứng chờ bà. Cứ như tinh linh của khu rừng, khi bà cần chàng trai ấy luôn xuất hiện, hướng về bà một ánh mắt lạnh nhạt đến nỗi xa xăm, nhưng chỉ cần bà vấp ngã sẽ luôn dừng lại. Người ấy sẽ không bao giờ lại và đỡ bà dậy đâu nhưng sẽ luôn đi chậm hơn để bà theo kịp. Cái ấm áp đi đôi với lạnh lùng.

Bà bảo rằng bà thích đi dạo vào mùa cao su thay lá. Bà giữ trong lòng đó đương mùa bà gặp ông, bà nói ra con đường khi lá rụng luôn là con đường đẹp nhất. Sắc màu từ đương xông sẽ chuyển sang ánh vàng sau đó khoác lên mình một màu đỏ rực như ánh chiều bắt đầu buông trên cánh rừng. Hai hàng cây thẳng tắp hai bên để lộ con đường cho bà thênh thang bước. So với lứa tuổi ấy, bà vẫn còn hồn nhiên như cách mọi người bảo vệ bà trong viên ngọc lấp lánh khiến ông cũng cảm thấy muốn bảo bọc bà. Vô thức như thế nào ông bắt đầu chú ý từng điểm nhấn ở những nơi mình đi qua chỉ để gọi bà chỉ cho bà một điều gì đó mà ông cho là đẹp. Trên cái cây mà ông đang đứng, từng mảng địa y màu trắng bám đầy trên thân,lại có những mảng rêu màu xông như cộng sinh. Chỉ thế thôi cũng khiến bà xoắn xít tò mò:

– Sao chúng lại cộng sinh với nhau vậy anh?

– Vì mùa đông nhiệt độ khá thấp nên chúng thường bảo bọc lấy nhau. Mùa rụng lá như thế này, khi lá rụng xuống dưới gốc, tự phân hủy cũng lại thành nguồn dinh dưỡng cho cây. Công nhân cũng sẽ ngừng lấy mủ bắt đầu công đoạn chăm sóc cây lấy nhựa cho năm sau.

Ánh mắt tròn vo của bà khiến ông cảm thấy từng lời mình nói ra đều được trân trọng. Điểm cuối của khu rừng là một chiếc hồ rộng lớn, giao với bầu trời xông um tạo thành một biển xông thăm thẳm màu. Nhìn bà thích thú bên khu hồ, ông buột miệng:

– Nếu em thích nơi có nước như vậy, anh sẽ đưa em đến thác Nặm Me chơi.

Bà để ý tuy lời nói có phần buông ra lạnh nhạt và vội quay đi nhưng đôi bờ tai của ông trở nên ửng đỏ. Lần hẹn sau gặp lại, khi trong khuôn viên dưới mái đình, hai người đứng chờ từng cơn mát rượi và cả bóng nắng bắt đầu nhảy nhót trên mặt hồ, bà lại thả hồn mình. ông đứng nhìn bà, mong sự thơ ngây sẽ làm ông quên đi những khó khăn khiến ông trở nên chai sạn.

“Là bà để ý đến ông trước, nhưng rồi lại không dám nói ra. Đợi đến hôm đó lại gặp được ông, không hiểu sao thử mạnh dạn làm bạn rồi có thể “gặp lại nhiều lần” như bây giờ”.

Bà giơ máy ảnh lên chụp ông, mái tóc của ông có phần hơi dài lòa xòa che cả mắt, một nhánh cây vắt ngang phía sau như làm nền cho bóng chàng trai đổ dài trong tấm hình. Bản thân vốn lạnh lùng, không quen đối diện tình cảm, kể cả khi tim đánh từng hồi trong ngực nét mặt vẫn bình thản vô cùng. ông đèo bà về trên con đường từ con thác hùng vĩ nhưng lại đẹp ngất trời lại ngược về rừng cao su bắt đầu thay lá mới. Đã hơn năm năm trôi qua hai người vẫn đèo nhau đi như thế cho đến khi bà nói ra lòng mình. Một chiếc lá lại rơi để một mùa xông non lại bắt đầu, bà chợt nghe:

– Có lẽ là ông hơi ích kỉ, nhưng, cho đến những mùa cao su thay lá tiếp theo,

Em vẫn có thể đi cùng ông ngắm chứ, em Thảo?

Đó là khởi đầu cho mối tình của hai người cho đến khi ông lại tiếp tục lên đường hành quân vì tiếng gọi của Tổ Quốc. Bà ở lại nơi hậu phương để ngóng tin ông trở về cho đến khi đất nước hòa bình, ông và bà ở bên nhau được dăm năm thì ông mất trong một cơn bạo bệnh.

Những đêm nóng trời, bà hay lấy cái chõng tre rồi hai bà cháu lại ra phía trước sân cạnh cây lê mà ngồi hóng gió mát. Cái cây ấy lạ lắm, mỗi lần chỉ ra đúng một quả, lại rất mau chín, tôi hay vòi bà hái xuống mà ăn. Những lúc ấy bà thường bảo:

– Nếu thèm để bà đi chợ, nó đã cô đơn một mình ở trển thì bây để nó an phận tuổi già đi. Phá nó làm gì.

Lúc đó tôi không hiểu lắm những điều bà nói, chỉ độc nghĩ thương quả lê côi cút. Vì trông nó giống hệt cây lê cô đơn nổi tiếng ở bên Xuân Trường. Khi tôi lớn lên một chút, khi sức khỏe bà yếu dần đi thì tôi bắt đầu nhận ra không biết tự lúc nào trong nhà bắt đầu có nhiều những cuộc cãi vã, chủ yếu xoay quanh việc muốn bán mảnh đất cắm dùi mà bà đang ở. Dì lớn dành phần sân, dì út lại dành mảnh đất ngôi nhà nhỏ, cứ thế rồi bao điều tiếng tung ra, bà tôi bó gối ngồi một góc sân nhìn cây lê chẳng nói gì.

Rồi bà tôi ốm nặng, nhà chật kín gia đình các dì ấy nhưng toàn những tiếng tranh chấp, những lời phần trăm sẽ về tay ai, rồi quay cả qua bà đòi bà cho một tiếng phân xử đúng sai. Không ai quan tâm bà dường như không nói được nữa, mà cũng dường như việc sức khỏe yếu dần ấy khiến mọi tranh chấp trở nên căng thẳng hơn. Những phút cuối cùng. bà đuổi tất về nhà, tối lại bắt chõng ngồi ngoài sân một mình nhìn cây lê tư lự.

– Cây lê này khi còn sống ông trồng. Trước sai trái lắm, các dì đông vậy mà đến vụ là chia đủ cả. Khi ông mất, “hắn” dỗi ra độc mỗi một trái. Nhìn nó, tao lại nhớ đến ông.

Tôi chợt hiểu bà muốn giữ lại mảnh đất này vì những kỉ niệm của cả gia đình

chứ không phải vì không thương con cháu đến phút cuối vẫn bo bo giữ tiền như cậu dì đã nói. Ba cô con gái lại đem giấy tờ vay nợ ngày nào cũng đến nỉ non, bà không đành lòng nên bán đi một phần đất, căn nhà bị tiếm đi một nửa, nhưng các dì cười khề khà:

– Bà còn ở một mình sao hết căn nhà được, bỏ đi một phần, nhỏ cho an toàn.

Mẹ tôi khi ấy dường như không chịu đựng được nữa, cũng trước lấy danh nghĩa con gái nuôi, sau với phận người lớn hơn ra chiều khuyên bảo:

– Tôi bàn với các chị như thế này, bà Sáu lạ mẹ các chị, xét cho cùng dù thương bà tôi cũng chỉ là người ngoài. Tài sản bà Sáu có cũng sẽ vì thương các chị mà để lại cho các chị nhưng các chị phải sống sao cho xứng đáng với những gì được nhận chứ. Thôi thì các chị thay phiên nhau chăm dưỡng bà những ngày tháng còn lại, rồi tự khắc sẽ được đền đáp chữ hiếu xứng đáng.

Dù không hài lòng nhưng các cô con bà cũng thuận nghe theo, vì không biết cãi đâu cho được, rồi cứ thế chia nhau ra mỗi người một tháng nuôi bà. Nhưng được non tuần bà lại về căn nhà nhỏ, quẩn quanh trong nhà, cố gắng giấu mình tới mức nghĩ rằng một bóng dáng nhỏ thó của bà cũng đủ để người qua đường bắt gặp nhưng cũng không thoát khỏi ánh mắt của mẹ tôi. Tại mẹ khi bà vắng nhà vẫn hay tạt qua quét dọn bàn thờ ông để căn nhà bớt hiu quạnh. Có lẽ lòng tham của mỗi con người chưa đủ để có thể níu kéo sự hiếu thảo quay trở lại. Phải đến tận hôm sau các con bà mới biết bà đã bỏ về nhà, lại ì xèo cả xóm, lại thấy người ta bu lại thì ỉ ôi mẹ bỏ nhà ra đi không nói một tiếng làm tìm hết làng trên xóm dưới. Lúc ấy mẹ tôi chỉ bảo:

– Bà đi cả ngày trời các chị mới biết thì các chị có quan tâm tới mẹ không?

Bà chỉ có mỗi nhà này để ở, các chị không về tìm tự dưng đi khắp nơi rồi than van làm gì?

Thấy người ta xì xào các cô lại lườm nguýt mẹ tôi rồi bỏ về, không quên văng lại một câu:

– Cô coi mẹ như ruột thịt thì để phần cô. Gớm, mẹ xem cái ngữ này, nó cũng nhắm vào cái nhà của mẹ thôi. Mẹ liệu mà nhắm mắt xuôi tay xem con ruột là hơn hay cũng để phần người dưng nhé.

Rồi cứ thế những tháng ngày còn lại bà cứ quanh quẩn dọn dẹp cần mẫn, khi bà buồn mẹ lại hối tụi tôi sang chơi, thi thoảng cũng thấy các cô con gái tạt ngang nhưng thấy mẹ tôi đứng ngoài sân ngó vào thì lại lủi đi đâu mất. Ít năm sau, vào một ngày thu sang như năm ấy, bà lại sang nhà tôi, và mẹ tôi lại khóc…

Bà mất và các cô con gái lại kéo về khóc vang cả một xóm. Mẹ tôi quấn vành khăn tang được bà ủy thác không nhìn lấy một lần nhưng cũng không có quyền ngăn các cô cúi lạy. Lại sau ít hôm các cô kiện cáo lên chính quyền đua nhau mảnh đất, mẹ chỉ xin cho di ảnh ông bà về thờ. Các cô lại như bắt được vàng rồi quay sang thân tình với mẹ nói ở chung nhà chồng khổ lắm, và thông cảm các thứ, mẹ tôi chỉ im lặng. Rồi phần mặt phía chỗ trồng cây lê mở đường, xây công viên, đất đội giá lên cao, bán bây giờ non cả tỷ. Bà ra đi trong một chiều hạ, những cơn tranh chấp kéo dài cả năm rồi cũng thuận đường trao tay người chủ mới. Ngày cây lê côi cút bị đốn đi, tôi và mẹ có sang nhà, mảnh đất đã sang tên, quả lê độc nhất rơi theo từng nhát bổ. Lúc ấy tôi thấy lòng mình nhẹ tênh, ít ra, bà đã không thấy được cảnh cây lê đổ gục.

Tôi dần lớn lên, vì học ở tận trong nam xa xôi rồi tốt nghiệp, làm đủ nghề lang bạt hiếm khi có dịp về lại quê hương Tuyên Quang đầy kí ức màu cũ như một thước phim buồn. Cũng đã lâu lắm rồi tôi mới lại về quê trong một lần đón tết vùng cao. Năm nay đi công tác qua Tết không dự tính ngày thế là được một năm ăn Tết ở vùng cao. Mọi bận toàn ở dưới xuôi, nhiều cái không biết về Tết vùng cao đặc sắc nhường này, có thể vì quên, có lẽ vì đã lâu quá rồi không về, mọi thứ trở thành lần đầu tiên như mới gặp. Vì đặc thù công việc, tôi không quá ở lâu một chỗ, và bởi thế, một cái Tết mà tôi có dịp đi đến mấy nơi, và cũng cảm nhận được gần như sự đa dạng sắc màu trong ngày Tết của những dân tộc nơi đây.

Tôi dừng chân tới một điểm trường lấy tin họa may thế nào lại đến ngay đúng lúc đang vào ngày hội Tết dân tộc của học sinh nơi đây. Cảnh sắc nơi đây dường như chìm trong cái hư ảo của sương sớm, không khí se lạnh và những cành đào đang điểm tô những ánh hồng ven đường vào trường. Tôi tưởng rằng mình đã lên từ sớm nhưng học sinh trong trường đã tề tựu gần như đầy đủ, gương mặt chúng trông rất hào hứng với mùa lễ hội. Có đủ các trò vui như kéo co, đá kiện ăn điểm, leo cột hoặc đi cầu tre trên cạn… Một đặc điểm rõ ràng nhất là những trò chơi ở đây rất đơn sơ, hầu như là vật dụng tự làm nhưng có thể thấy và phản ánh được sự khéo léo của các em học sinh. Đặc biệt là vì trường học ở đây là sự giao thoa cùa nhiều nền văn hóa của các em học sinh đến từ các dân tộc như Tày, Nùng, Dao và cả dân tộc Kinh nên lễ hội ẩm thực cũng rất đa dạng, trong lễ hội ẩm thực không chỉ có thắng cố, còn có rau rừng, rau đắng và các thầy cô còn hướng dẫn các em gói bánh chưng xanh, sắp bày mâm ngũ quả. Có thể nói khi tôi đi ngang qua “phiên chợ ẩm thực” kì thú này không chỉ nhìn thấy rất nhiều hương vị lạ mà còn thấy được sự đa dạng sắc màu ngày Tết và cả đặc trưng của từng dân tộc.

Con xe đưa tôi đến với Tuyên Quang vào buổi trưa ngày hôm sau, đoạn đường gập ghềnh với hai bên đầy những hoa mà tôi không biết tên khiến con đường vào với bản trở nên thơ mộng hơn rất nhiều. Tôi đi thăm một người đồng nghiệp cũ đã lấy vợ rồi sinh sống ở đây, ngay giữa buôn người Tày này. Vừa nhìn thấy tôi anh bạn đã vội:

– Còn tưởng cậu lên không kịp, vừa kịp lễ gội đầu.

– Ơ hay tuy tớ trên xe suốt nhưng đâu có bẩn lắm mà vừa nhìn thấy mặt đã vội xua đi tắm.

– Cái cậu này, phong tục quê vợ, thật tình.

Hỏi ra mới biết lễ hội gội đầu là đặc trưng của người dân nơi đây, sẽ bắt đầu vào ngày cuối cùng trong năm với dụng ý xua tan hết mọi điều không may mắn của năm cũ theo dòng nước mà trôi đi hết. Sau đó họ sẽ chuẩn bị những bát nước gạo chua xối lên đầu để cầu may mắn. Khi lễ gội đầu kết thúc thì cũng là lúc tôi kịp thấy anh bạn tôi đã nhảy vội lên một chiếc thuyền, hào hứng tham gia lễ đua thuyền giữa nam và nữ. Khiếp, mới mấy năm đã cứ như người dân nơi đây rồi. Tôi nhớ có lần tôi ăn Tết ở Điện Biên, người Thái trắng ở đây cũng đãi tôi món bánh Khẩu Xén, nhưng tôi lên trễ quá nên không thấy được công đoạn làm, với bánh tôi ăn khi ở đó thì làm bằng sắn củ còn ở đây thì làm bằng gạo nếp cẩm, nếp hương. Nhìn thấy cảnh mọi người hò nhau buông chày giã bánh thấy rất thú vị, những thứ mình làm ra bao giờ cũng ngon hơn đầy rẫy bánh kẹo dưới phố có sẵn. Tôi nghe nói lại đây là thứ bánh tượng trưng cho cảm tạ đất trời…

Hai món bánh tôi thường thấy nhất trên mâm cỗ đó là bánh Khẩu sli và bánh Khảo được làm từ gạp nếp hương thơm dẻo cùng lạc và mật mía. Món bánh ngon ngọt cắn vào vừa miệng, tôi nghe bác trưởng bản bảo là món truyền thống không thể thiếu trong mâm cỗ ngày Tết của dân tộc nơi đây.

– Mồng một ăn chay, kiêng không ăn thịt mỡ nên cũng một phần không thể thiếu được các loại bánh trái.

Tết của các dân tộc vùng cao thường khá đặc sắc và mang đậm nét văn hóa bản địa, cũng có rất nhiều điểm khác so với dưới xuôi dù đều mang văn hóa truyền thống rõ nét. Ngày Tết ngoại trừ văn hóa ẩm thực bản địa còn có các truyền thống như lễ dựng nêu vào hăm sáu tháng chạp hằng năm khi chủ lễ thường sẽ đốn một cây tre to, chặt đốt rồi cắm ở bãi đất báo hiệu nơi diễn ra lễ hội năm mới. Hoặc các trò chơi dân gian như đua ngựa, đi cầu tre cạn, kéo co hoặc các trò như thổi khèn, dệt vải, lanh… Tất cả đều tạo nên một cái Tết cổ truyền đầy đặc sắc mà tới giờ tôi mới có dịp được biết đến. Tất cả là nét bỡ ngỡ của tôi vì trước khi đi học xa tôi vẫn thường đón những cái tết rất khác, mỗi nơi lại có một đặc trưng khác nhau.

Khi tận hưởng hương vị tết đột nhiên tôi lại nhớ quê nhà. Đoàn xe công tác đã về lại với xuôi nhưng tôi vẫn xin phép cho tạt ngang nhà mình để thăm mẹ ít hôm đặng thắp nén hương cho ông bà như một cách nhớ về những người xưa cũ. Hương trà mà ông thích vẫn được đun đều vào mỗi sáng ở nhà tôi, cái hương ngai ngái nhưng khiến người ta thèm thuồng. Mẹ vẫn dặn tôi thường xuyên lau bàn thờ và cứ mỗi khi rảnh lại kể về ông bà Sáu với sự yêu thương và biết ơn khi mẹ mất đi người thân đã cưu mang như thế nào. Bỗng dưng tôi nhìn lên di ảnh, ông bà dường như đang rất hạnh phúc, cuối cùng họ lại được ở cạnh nhau, như thế là hạnh phúc rồi.

15/2/2026

Lê Hứa Huyền Trân

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Hộp bưu phẩm đi lạc

Đó là một chiếc hộp carton màu xám, hình chữ nhật. Không có gì nổi bật. Điều duy nhất đặt biệt là một chiếc dây duy băng màu xanh non thắt hình chữ thập. Một góc hộp hơi móp có lẽ vì bị va đập. Sáng hôm đó, khi vừa mở cửa bưu cục, bác bưu tá thấy chiếc hộp nằm ngay ngắn trên bậc thềm. Không ai biết nó đến từ đâu.

Nhưng một điều khiến bác phải nhíu mày là dòng chữ: “Gửi ai đó đang buồn. Mình tặng bạn một điều tốt lành.”

Không có tên người gửi, cũng chẳng có địa chỉ người nhận rõ ràng. Trên mặt hộp, chỉ có thêm một dòng chữ nắn nót: “Nơi Niềm Vui – Ngõ Sẻ Chia – Quận Yêu Thương – Thành phố Hạnh Phúc.” Suốt mấy chục năm làm nghề, bác chưa từng thấy một địa chỉ nào đặc biệt như vậy. Nhưng không hiểu vì sao, bác lại không nỡ bỏ chiếc hộp vào kho lưu. Chẳng biết điều gì đó khiến bác bối rối, như thể hộp ấy đang cố gắng gọi bác. Thiết tha.

Một ai đó đang buồn ư? Người ta có thể buồn vì trăm ngàn lí do nhưng biết tìm ai đang buồn mà gửi cho họ bây giờ?

À đúng rồi. Người đang buồn thì chưa chắc đã cô đơn nhưng người cô đơn thì chắc chắn là đang buồn rồi. Bác suy nghĩ một hồi rồi quyết định giao hộp đến căn nhà nhỏ nơi cuối phố. Trong căn nhà ấy có một ông họa sĩ già sống đơn độc đã lâu. Chẳng bao giờ người ta thấy nhà ông lão có người đến thăm nom. Cũng không thấy ai nhắc đến con cái của ông. Ông thường ngồi bên khung cửa sổ đầy hoa giấy, cả ngày vẽ những bức tranh mà chẳng ai mua. Mỗi ngày giao thư đi ngang qua nhà ông lão, bác đều thấy ông đeo tạp dề ngồi ở vị trí đó, trên tay cầm một cây cọ vẽ. Bên cạnh là một bức tranh đang vẽ dở.

Bác tiến đến gõ cửa, trao chiếc hộp cho ông lão với ánh mắt ngập ngừng. Ông lão nhận lấy, ngạc nhiên vô cùng nhưng khi ôm hộp bưu phẩm trong lòng, đọc những dòng chữ trên đó ông chợt mỉm cười như đã hiểu.

Trong phòng tranh ngập ánh chiều, ông lão mở chiếc hộp. Bên trong chỉ có một mảnh giấy nhỏ nằm trơ trọi giữa lòng hộp cùng một viên đá cuội khá to được vẽ một chiếc mặt cười trên đó. Nét vẽ vụng về nhưng thật thà, đáng yêu vô cùng. Ông lão cầm viên đá cuội trong tay, đưa lên cao ngắm nghía. “Mong rằng bạn luôn vui vẻ”. Dòng chữ được viết trên mảnh giấy màu xanh đáng yêu ấy như ánh nến lung linh thắp sáng trong căn nhà nhỏ tối tăm, chật hẹp đã lâu không có ai ghé qua.

Ông im lặng hồi lâu. Rồi như có điều gì chợt nảy lên trong tâm trí, ông lấy một chiếc toan nhỏ khổ vuông, kéo ghế, trầm ngâm. Những nét cọ mềm rơi trên toan như tuyết sớm đầu đông. Khi nét vẽ cuối cùng chạm xuống, ông lão mỉm cười như vừa tìm được ánh sáng đi lạc đã lâu. Bức tranh hiện ra với một căn nhà nhỏ đơn sơ, có ánh đèn vàng lấp lánh hắt ra từ cửa sổ. Trong phòng có ba người quây quần bên mâm cơm, không rõ mặt, nhưng ánh sáng và không khí trong bức tranh khiến người ta cảm thấy ấm áp lạ thường. Ông đặt bức tranh vào hộp, dán lại bằng băng dính cũ kỹ, rồi viết thêm một dòng: “Mong con tìm thấy hơi ấm trong bức tranh này.”

Chiếc hộp lại được mang ra bưu điện, và lần này bác bưu tá quyết định nhờ người quen chuyển nó tới một mái ấm. Nơi ấy có lũ trẻ sống thiếu cha mẹ, thiếu cả những cái ôm chẳng được gọi tên.

Vy là cô bé được chọn mở hộp. Cô bé được người ta bỏ lại trước cửa cô nhi viện này khi mới được một tháng tuổi. Cùng là một mảnh giấy nhưng chỉ có một dòng chữ van lơn đáng sợ: “Xin hãy cưu mang” và một vài bộ quần áo sơ sinh. Con bé nhỏ người, tóc buộc lệch, hay ngồi lặng im trong góc phòng. Khi mở hộp và nhìn thấy bức tranh, nó nín lặng một lúc. Rồi cẩn thận nhấc bức tranh ra khỏi hộp như sợ làm vỡ một giấc mơ.

“Gia đình ư?” nó hỏi cô giáo bằng giọng thầm thì. Cô gật đầu, và cô bé đã ôm bức tranh vào lòng suốt cả đêm hôm đó, như muốn giữ một điều mà mình chưa từng chạm tay tới.

Sáng hôm sau, Vy trở lại phòng. Nó lấy trong tủ ra một chú gấu bông cũ. Lông đã sờn, nhưng sạch sẽ. Chú gấu có đôi mắt tròn long lanh. Đó là món quà duy nhất nó được nhận lúc sinh nhật năm tuổi đúng dịp một đoàn từ thiện đến thăm cô nhi viện này cách đây hai năm. Gấu đã ngủ với nó suốt từ bấy đến nay. Gấu từng nghe nó kể chuyện, từng ở bên cạnh mỗi khi nó buồn.

Vy đặt chú gấu vào hộp. Nó viết thêm vào mảnh giấy nhỏ:“Gấu này ôm ấm lắm đấy. Mình tin rằng bạn sẽ thích nó.”

Chiếc hộp lại được dán lại và gửi tiếp. Vì thiếu địa chỉ rõ ràng, chiếc hộp lại trở  về bưu điện cũ. Bác bưu tá già nhận ra chiếc hộp ngay lập tức. Vẫn là nó. Nhưng bên trong ngoài viên đá cuội giờ đã có thêm một bức tranh gia đình, một chú gấu bông, và thêm một điều gì đó khiến bác cảm thấy sống mũi mình cay cay.

Bác lặng lẽ ngắm nghía từng đồ vật đã được đặt vào trong đó. Ngồi trong phòng làm việc lúc trời vừa tối khi mọi người đã về hết. Bác cảm thấy mình cần làm một điều gì đó ngay lúc này. Rồi bác chợt nhớ đến bé Mai Hoa, con gái của một đồng nghiệp cũ, đang chiến đấu với căn bệnh suy tim giai đoạn cuối tại Bệnh viện Nhi thành phố. Cô bé đã ở trong danh sách chờ hiến tạng từ lâu nhưng hy vọng ngày càng mong manh. Cô bé vừa mất bố vì tai nạn lao động hồi năm trước. Cô bé không khóc. Chỉ nhìn ra cửa kính, lặng im.

Tối hôm đó, bác về nhà, mở tủ áo cũ. Trong góc tủ là một chiếc khăn len màu hồng nhạt, vợ bác từng đan dở trước khi bà mất. Chiếc khăn được đan cho đứa cháu gái chưa kịp chào đời. Bác cầm nó lên, áp vào ngực. Mùi quế khô nhẹ nhàng như liễu rủ bên hiên.

Bác đặt chiếc khăn vào hộp. Viết thêm một dòng ngắn ngủi: “Chiếc khăn này từng đợi một cô bé can đảm. Nay nó đã tìm thấy con.”

Sáng hôm sau, bác đến bệnh viện. Mẹ bé Mai Hoa bất ngờ khi thấy hộp quà từ một người lạ. Cô bé cảm ơn rối rít.

Khi mở ra, cô bé lần lượt thấy một viên đá cuội mỉm cười giống nụ cười tươi như cầu vồng của mẹ âu yếm khi ở bên cô bé, tiếp theo là bức tranh gia đình. Cô bé lặng lẽ nhìn thật lâu, rồi khẽ nói: “Trước đây con cũng đã từng có một gia đình như thế…”

Rồi đến chú gấu bông. Cô bé ôm gấu trong lòng và tựa đầu vào vai mẹ, rất khẽ.

Cuối cùng là chiếc khăn len màu hồng nhạt. Mẹ quàng lên cổ cho em. Vừa vặn. Xinh xắn.

Mảnh giấy cuối cùng nằm gọn trong đáy hộp. Mai Hoa lấy ra, đọc chậm rãi: “Thế giới vẫn còn những người chưa từng gặp con, nhưng luôn yêu con. Hãy sống như một cái cây bất chấp ngày đông gió lạnh.”

Tối hôm ấy, cô bé ngủ rất ngoan. Lần đầu sau nhiều tháng, cô bé không còn mơ những viên thuốc nhiều màu đắng ngắt, không mơ thấy ánh đèn lạnh lẽo trong phòng phẫu thuật, cũng không thấy gương mặt bố em hiện về nhìn em đầy lo lắng. Em chỉ thấy một con đường tràn ngập nắng vàng tươi xinh.

Hai ngày sau, bác sĩ thông báo, trái tim của một bé gái cùng tuổi với Mai Hoa, không may bị tai nạn và chết não đã được gia đình đồng ý hiến tặng. Họ chỉ có một mong ước duy nhất đó là trái tim của con gái họ sẽ vẫn tiếp tục đập trong lồng ngực của một đứa trẻ nào đó.

Ca phẫu thuật diễn ra thành công. Sức khỏe của cô bé ngày một tốt lên. Cô bé được trở về nhà sau thời gian theo dõi tích cực.

Mai Hoa nhìn chiếc hộp đang nằm ngoan ngoãn trên kệ sách. Trống rỗng nhưng ấm áp.

Cô bé không biết bạn nhỏ ấy là ai, ở đâu. Nhưng Mai Hoa hiểu rằng, một ngày nào đó, sẽ lại có một trái tim đang cần một chiếc hộp như thế…

Và bây giờ, điều cô bé muốn làm đầu tiên sau nhiều ngày nằm viện đó là với tay lấy một chiếc bút và một mẩu giấy nhỏ viết dòng chữ đầu tiên chuẩn bị cho một hành trình mới:

“Gửi bạn nhỏ nào đó đang buồn…”.

16/2/2026

Phạm Phương Liên

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Cuộc hẹn cuối cùng

Bà Sa trào nước mắt. Bà buồn tủi quá, muốn quay trở lại. Nỗi nhớ căn nhà nhỏ giữa đỉnh trời quanh năm mây phủ, nhớ bếp lửa đỏ giữa nhà rừng rực mùi gỗ dờ ong. Nhớ chiếc ghế gỗ bách xanh thơm lừng, nhớ chõ xôi nếp lên hương thơm điếc mũi, nhớ mấy vò rượu hoa bà chắt đủ sương trời, hái đủ trăm hoa, sao vàng hạ thổ phơi trăng để ứa ra những giọt mật rượu.

​​​“Cúi đầu uống một ngụm

tan biến ngàn năm sau

trong mảy may hiện tại

ngắm thế gian luỵ sầu”

​​Đôi chân mỏi rã rời, hai vai bải hoải nặng trĩu. Giờ thì Bà Sa mệt rũ ra. Mệt đến thở cũng không được. Bà đành dừng. Điệu múa cổ theo nhịp khèn của ông Si thổn thức rời đôi chân. Bà Sa như cột gỗ chỉ chực ngã phịch xuống. Chân tay, đầu, ngực như của ai. Cả trái tim cũng nặng trĩu như hòn đá suối. Cơn mệt mỏi dịu dàng khiến bà không cưỡng được, chỉ muốn nằm lại trên phản gỗ bách xanh rồi xuôi hai tay, duỗi hai chân ngủ một giấc như khi ngấm rượu hoa. Bà sẽ ngủ vùi nồng nã, ngủ cho say như chết, mặc ngoài kia trống khèn của ông Si, thằng Thào Mông đang giục dã gọi hồn bà quay về.

​​Nhưng bà Sa không thể nào quay lại tấm phản gỗ bách xanh của ông Si. Bà cố đi từng bước nhỏ xíu mà không tới được. Có một bóng người cao lớn vạm vỡ không rõ mặt thoảng vào tai bà: “theo tôi, đi lối này” rồi kéo bà Sa tuột nhanh như gió. Bà Sa bước thấp bước cao chân không chạm đất, hoảng hốt quay đầu ngoái lại gọi “Ông Si, ông Si ơi…”. Ông Si đang say điệu khèn tình làm sao thấu được lời bà. Không được nữa rồi, ngôi nhà thân thương nhỏ xíu như chiếc chuồng chim bốn bề mây phủ trắng xoá bỗng chốc mờ nhoà trước mắt bà Sa. “Ông Si ơi, ông Si ơi”. Tiếng gọi của bà Sa lọt thỏm như tiếng rơi của một bậu sương già, ngay lập tức xoá trắng. Thân hình mỏng manh của bà Sa rơi, rơi, rơi… chấp chới hun hút xuống một không gian mênh mông sâu thẳm.

​​Không biết bà Sa rơi trong bao lâu, cảm giác hụt hơi tức ngực ù tai chóng mặt làm bà Sa như chết giấc. Cuối cùng bà cũng chạm chân xuống con đường ướt át, chạm vào những phiến đá mát lạnh, nhẵn thín như thạch lựu. Sương mù làm cho bà Sa không nhìn rõ cảnh vật xung quanh. Mờ ảo phía trước một vệt sáng như ánh đèn soi từ trong hang sâu hắt ra một màu vàng rợi. Hơi lạnh xộc lên làm bà Sa tỉnh táo trí óc. Bây giờ bà mới dụi mắt nhìn kỹ. Bà đang đi trên con đường hắt ánh sáng màu vàng. Hai bên núi non cây cối sẫm màu trùng điệp. Một mùi hương lạ lùng như thứ trầm ải nằm lâu nơi cây gỗ mục nát trong rừng sâu thốt nhiên lên hương kì lạ váng vất lỗ mũi thính nhạy của bà Sa. Bà Sa mê mùi hương, có thứ hương thơm nào mà mũi bà không đánh hơi được. Cái máu ủ rượu hoa lại trào lên mãnh liệt, bắt hai lỗ mũi liên tục phập phồng và đôi mắt tinh anh như hai ngôi sao xa của bà sáng lên rừng rực. À! Bà tìm ra rồi, bà nhìn thấy rồi. Bà Sa dụi mắt không tin vào mình nữa. Trời ơi, hoá ra thứ hương kỳ lạ này là của loài hoa còn lạ lùng hơn nở đầy hai bên con đường bà đang đi. Hoa nở bạt ngàn, rộ một màu đỏ thẫm lẫn trong điệp trùng cây cối thẫm màu.

Ở Mường Hoa, bà Sa chưa bao giờ nhìn thấy loài hoa này. Bà đã trèo lên tận đỉnh fanxipăng, đã đạp chân qua bao thung lũng tam giác mạch, qua hàng trăm quả đồi lềnh si, bà chưa bao giờ nhìn thấy loài hoa lạ thế. Hoa mọc từ đâu dưới màn sương đục mờ, ngoi lên nở bát ngát, rải từng thảm dày đỏ ối hai bên con đường vằng vặc những phiến đá óng vàng. Màu hoa nhìn kỹ trong ánh sáng mù mờ của sương, đỏ như một vết cắt sâu nhức nhối tâm can. Bà Sa muốn dừng lại hái một bông hoa đỏ kỳ lạ. Bà muốn hít thật sâu thứ hương trầm ải nơi bông hoa lạ mọc nơi thâm sơn cùng cốc. Bàn tay bà vươn ra chạm nhẹ vào những bông hoa đỏ mịn như nhung. Bà đưa tay lên mũi, thứ hương trầm ải tinh khiết triệu năm nơi cây gỗ mục rừng già khiến cho mọi mạch máu trong cơ thể bà ào ạt tuôn chảy. Bà cố nhưng không thể nào với sâu xuống để hái lấy một bông mà đưa lên mũi hít hà.

Bà dụi mắt nhìn kỹ, thì ra con đường này không chỉ có mình bà. Còn thấp thoáng những bóng người trên đường, trước và sau. Họ đi như lướt, như bay trong im vắng lặng lẽ của thứ hương trầm ải. Bà chạy vội lên để nắm lấy vạt áo của người đi trước, nhưng họ không nghe thấy bà gọi. Bà chậm lại để đón người bước sau. Bà muốn nắm lấy tay họ để hỏi đây là đâu. Nhưng sao không ai nhìn thấy bà, sao mọi người cô độc và buồn bã thế. Không ai nói với ai một lời trên con đường đó. Mỗi bóng người là một kẻ độc hành.

​Bà Sa trào nước mắt. Bà buồn tủi quá, muốn quay trở lại. Nỗi nhớ căn nhà nhỏ giữa đỉnh trời quanh năm mây phủ, nhớ bếp lửa đỏ giữa nhà rừng rực mùi gỗ dờ ong. Nhớ chiếc ghế gỗ bách xanh thơm lừng, nhớ chõ xôi nếp lên hương thơm điếc mũi, nhớ mấy vò rượu hoa bà chắt đủ sương trời, hái đủ trăm hoa, sao vàng hạ thổ phơi trăng để ứa ra những giọt mật rượu. Ôi vò rượu của bà cả đời ủ chỉ để trao cho người ấy một chén nhỏ đánh thức cái ký ức chưa từng ngủ yên trong góc sâu của tâm hồn bà. Nhưng hoá ra bà dành cả đời để làm điều vô nghĩa, để giữ một cái ký ức không có thật, một ảo ảnh bà tưởng tượng ra và bao năm bà bị chính mình đánh lừa tâm trí mình. Ô hay! Bà Si bật cười. Nỗi nhớ ông Si như một cơn đau thốc ngược quặn xói vào tim khiến bà Sa lảo đảo gục ngã.

Bà Sa cười mình đến rơi nước mắt. Bà vừa hát điệu bạn tình với ông Si, bà vừa uống rượu hoa với chồng, bà vừa nhảy múa mê sảng trong điệu khèn tình mê hoặc. Tại sao tìm thấy được người để trao chén mật rượu hoa thì bà lại như người chợt tỉnh dậy sau một cơn mộng dài. Bà mặc kệ thằng Thào Mông thả hối hận buồn thương trong tiếng trống điên rồ. Bà đã đổ chén rượu hoa cuối cùng vào cuống họng để nhún nhảy như con chim bách xanh. Bà không còn thấy cần phải trao chén rượu hoa cho thằng Thào Mông. Bà không cần rượu hoa giúp bà quên đi một cơn mộng, hay giúp thằng Thào Mông đánh thức một kỷ niệm đã chết khô. Bà không cần phải dùng nhung nhớ cả đời ủ rượu hoa để hồi quang lại cái kí ức bà suốt đời ôm giữ như một cơn mộng đã tan mà vẫn cố tình giữ lại những mảnh vỡ.  Tình yêu là cái chi chi mà mất một đời lạc lối bà mới nhận chân ra nó. Tại sao phải đến lúc này, lúc thần chết đến và bứng bà đi như bứng một vốc sương vỡ vụn, như thổi lên trời một bông lềnh si đỏ ối bên thung, như vỡ một vò rượu hoa bà ủ cả đời, thì bà mới nhận ra ông Si, chồng bà mới là người đáng để bà yêu nhất.

Tại sao mất rồi bà Sa mới nhận ra, mới biết mình đã ném tan báu vật xuống vực sâu. Trớ trêu thay, sống cùng ông Si, bên cạnh ông mỗi ngày mà bà như mất trí, bà lầm lạc, quên đường, như con ngựa quên chuồng, như đôi gà quên về đậu dưới ràn. Như lửa quên bếp. Bà Sa vỗ vỗ vào trán mình xót xa. Bà Sa đấm đấm vào đầu mình đau đớn. Bà khóc to mà ông Si đâu có nghe nữa. Cả tiếng khèn ông Si năm xưa đã mê dụ bà đưa chân về làm vợ của ông để quên đi tiếng trống của thằng Thào Mông nuốt hẹn giờ cũng bặt tăm.

Bà Sa đấm vào ngực mình vật vã. Ô hay, sao Bà Sa từng không muốn nghe tiếng khèn tài hoa nhất bản Mường Hum. Ngoài ông Si ra, có ai thổi khèn tài như thế. Tiếng Khèn của ông Si làm cho hoẵng trốn sương trong hốc núi phải thò mặt ra, khiến cho hươu đang phi nước đại phải dừng chân ngập ngừng nghển cặp sừng rậm ngước trăng. Tiếng khèn ông Si làm cho lũ dê rậm rịch trong chuồng, ngựa gõ móng, bò cọ sừng vào sàn, lũ lợn lòi bò từ rừng ra nằm rạp bụng xuống mà nghe. Tiếng khèn ông Si mê hoặc cả đồi tam giác mạch đến nỗi khi cất lên, những mầm hoa lách tách bật mở hé môi cười xinh cho vạn vật ngất ngây. Tiếng khèn ông khiến cây lềnh si cũng rụng rời hoa, rơi đỏ đường mỗi lần xuống chợ. Tiêngs. Khèn khiến trai gái bản tìm nhau tự tình, nên chồng nên vợ sinh con đẻ cái đầy ắp tiếng cười bên thung hoa. Nước mắt bà Sa chảy ròng ròng trên mặt. Bà Sa nức nở muốn ngoái lại, muốn đi ngược đường, muốn trở về bản mường hoa, muốn trèo lên đỉnh sương nơi có ngôi nhà sàn nhỏ như chuồng chim câu của bà để tìm tiếng khèn của chồng mình mà nói với ông một lời chồng vợ. Lời báu vật ấy, bà để quên trên chái bếp một cách ngu khờ, khiến đôi chân lạc lối suốt đời tìm một thứ ảo giác đánh lừa tuổi trẻ.

Làm sao để quay lại được.

Làm cách nào để lấy lại thứ đã đánh mất

Làm thế nào để buông mất mát mà quay về.

Trên con đường gập ghềnh những phiến đá màu vàng, phủ đầy hai bên lối đi là loài hoa đỏ rưng rức như máu, tiếng khèn ông Si mỗi lúc một bặt trôi xa. Bà Sa có gào khóc, quay đầu chạy ngược trở lại thì tiếng khèn vẫn rời bỏ bà mà bay lượn đâu đó trên không trung. Tiếng Khèn ông Si giây phút cuối như oán trách buồn giận bà Sa suốt kiếp vợ chồng năm nào cũng một mình xuống thung hoa đi chợ. Chợ tình mỗi năm mở một lần, bà Sa đánh rơi tiếng khèn ông Si sau vách liếp nhà. Bà Sa vùi tiếng khèn của ông Si trên chái bếp. Bà Sa quên tiếng khèn ông Si như bồ hóng quên ống trúc. Tiếng khèn ông Si bị mạng nhện của bà Sa quấn chằng chịt bịt hết lỗ rồi, làm sao còn cất lên điệu nhớ điệu thương. Tiếng khèn ông Si khóc nghẹn không biết bao nhiêu mùa trăng một mình ở nhà đợi bà Sa rời chợ trở về. Bà Sa nào tìm được tiếng trống của thằng Thào Mông. Chỉ có tiếng khèn của ông Si tắt lịm sau chái bếp, để bà Sa mãi miết đi tìm hoa ủ rượu, thứ rượu một đời chỉ dành để xoá kí ức.

​Bây giờ bà Sa có khóc bao nhiêu nữa cũng vô ích. Nước mắt chảy vòng quanh, ướt đầm đầm lên vạt áo cũng không làm bà Sa quay trở lại được căn nhà sàn thơm nức gỗ bách xanh của ông Si. Bà muốn níu một bóng người đang lảo đảo trên con đường màu vàng, xin họ hãy giúp bà, chỉ cách cho bà để quay lại mà sao không làm được. Con đường dài mãi như vô tận. Hoa đỏ ngập lối toả thứ hương trầm ải ma mị như dìu người lữ hành trôi vào miền hư vô.

​​​​***

Cuối cùng bà Sa cũng tới được bờ sông lớn nước cuồn cuộn chảy xiết. Đáy sông không biết sâu bao nhiêu mà nước sông màu xanh tím, càng nhìn càng đen thẫm. Nước dưới sông bốc hơi lên phả ra từng đụn khói trắng xoá. Những cuộn khói không ngừng cuộn lên. Bà Sa đứng vắt mình bên bờ sông, ngực vẫn đau thắt. Bà đưa một tay đỡ lấy ngực trái, nơi trái tim như đang có muôn vàn bàn tay thò vào bóp nghẹt. Bây giờ bà đứng lại đây, trầm mình xuống dòng sông cuộn khói kia, hay vượt sông đi tiếp? Muốn qua sông, phải đi bằng cách nào. Bà Sa cố ngoái lại lần nữa về ngọn núi Mường hoa. Nhưng phía sau con đường chỉ còn mờ mịt khói trắng. Bà Sa lòng đau như cắt. Con sông xanh đen trước mặt vẫn liên tục trào sôi… Bà Sa đứng chơ vơ, nước mắt ròng ròng: “Sông ơi, sông chảy về đâu. Xin hãy chỉ đường cho tôi quay về nhà”. Dòng sông ngừng cuộn khói, qua màn sương đục, bà Sa nhìn thấy thấp thoáng một cây cầu.

Mừng như người vừa tìm thấy ánh sáng cuối con đường, bà Sa chạy vội về phía cây cầu. Đầu chân cầu hiện ra một cái quán nhỏ lợp mái ngói âm dương trông rất cổ. Trên quán, có một cây lềnh si thật cổ quái mọc ngược. Rễ của cây lềnh si toả ra từng chùm ngoằn nghèo trùm lên chiếc quán nhỏ làm thành một mái vòm bằng rễ. Rễ lềnh si bò từ trong mái lá đâm tua tủa xuống thành những bức rèm cây che gió quần quật bốn phía. Chiếc quán cây kỳ lạ. Không biết cây mọc từ đâu rễ cây xuyên mấy tầng trời mà trùm lên làm thành chiếc quán nhỏ cổ quái này. Phía trong quán, những chiếc đèn lồng làm từ những chùm hoa đỏ bên đường hắt ánh sáng đỏ mờ ảo. Trong quán một người đàn bà tóc trắng ngồi bên bếp lửa lớn. Trên bếp đặt một chiếc nồi khói bốc nghi ngút toả hương thơm rất mạnh. Bà Sa dụi mắt, tiến lại gần.

Dòng người đột nhiên dài ra như vô tận. Bà Sa cố chen chân lên trước nhưng càng chen càng tụt lại phía sau. “Dòng chảy định mệnh sẽ thứ tự đưa từng người đến nơi cần đến. Ai chuyển kiếp đều phải đi qua nơi này”. Bà Sa thoảng giật mình khi một giọng nói cổ quái mơ hồ cất lên. Bà vội hỏi: “Thì ra ngươi vẫn theo ta từ bấy đến nay. Ngươi bảo ta đi lối này. Ta theo ngươi bây giờ ta lạc đường mất rồi, ta không thể trở về nhà của ta để cùng nhảy múa với chồng ta. Ngươi thật là đáng trách. Sao ngươi lại dẫn ta đi đâu”. Giọng nói mơ hồ vang lên. “Bà đừng cố chấp, bà đang đi trên con đường Hoàng Tuyền, trước mặt là cầu Nại Hà bắc qua dòng sông Vong Xuyên. Ai rồi cũng sẽ phải tới đây, đi trên con đường này, trên chiếc cầu này, qua dòng sông này để chuyển kiếp. Bà đã sống trọn vẹn một cuộc đời của mình với đầy đủ buồn vui khổ đau và hạnh phúc. Giờ là lúc bà trên đường đi tới cuộc hẹn cuối cùng. Hãy kiên nhẫn chờ đợi đến lượt gặp Mạnh Bà để uống bát canh vong tình của bà ấy. Uống xong bát canh mất trí, bà sẽ thoát kiếp mà tự do bay lượn trong nhân gian. Đến lúc đấy bà muốn thành một bông lềnh si trên Thung Hoa, hay một làn trầm hương nơi cây gỗ mục. Bà có thể tự do như một câu sli trên đồi. Hay làm một con chim xanh trong gió… Đến lúc ấy tự do sẽ là đôi cánh cho bà sải rộng khắp thế gian…”. Bà Sa thoáng chút rùng mình sợ hãi. Đây là đâu, cả đời bà ủ rượu, đi chợ tình, có nghe ai nhắc đến con đường Hoàng Tuyền, sông Vong Xuyên, cầu Nại Hà đâu. Mạnh Bà là ai. Những cái tên bà chưa từng được nghe bao giờ. Bà thảng thốt gọi: “Ông Si ơi, ông Si ơi, sao không đi tìm tôi như mỗi lần ông và con ngựa Dáy vẫn xuống chợ đi tìm tôi”. Bà Sa một đời có ông Si xử lí mọi rắc rối. Nhưng nay ông Si không còn đi tìm bà nữa rồi. Trên con đường Hoàng Tuyền nêm chật bóng người, bà Sa cô đơn vô tận. Trước bến sông Vong Xuyên nước cuộn thăm thẳm bà Sa thấy lạnh lẽo vô đối. Chiếc cầu Nại Hà sừng sững như cắt đứt quá khứ với hiện tại. Bước sang bên kia sẽ dẫn bà đi về đâu…. Ông Si ơi ông có tìm được tôi để đưa tôi về…

Dòng người từ đâu mọc lên như vô tận. Những người đi trước lần lượt ghé vào quán nhỏ. Người đàn bà tóc trắng ngồi bên bếp lửa canh nồi canh trong quán nhỏ dài như một áng mây buồn. Những ngón tay thon trắng ngần của bà cầm sẵn chén canh bốc khói. Ai đi qua đều ghé quán đón chén canh của bà, ngửa cổ uống một hơi, rồi biến mất sau cây cầu Nại Hà.

Bà Sa vẫn ở cuối dòng người. Thời gian xếp hàng vào quán Mạnh Bà đủ cho bà Sa hồi cố lại tất cả những kỷ niệm dù là nhỏ nhất. Bà nhớ ngày đi chợ tình, vì say tiếng trống của thằng Thào Mông mà đôi má bồ quân của bà đỏ rừng rực. Nghe nó đánh trống mà lửa say đốt lên trong mắt bà. Nhảy múa cùng tiếng trống của thằng Thào Mông xong, bà như uống phải rượu mơ, như say hoa lềnh si, chung chiêng mơ tỉnh, thẹn thùng cùng Thằng Thào Mông vào rừng trải khăn tự tình dưới bóng cây lềnh si đỏ chói. Thằng Thào Mông nói bà Say giống như một bông đào rừng nở sớm, mới hé thôi mà nhuỵ thắm, cánh tươi, e lệ trong sương. Hai đứa nằm hít nhau, ngửi nhau, cắn nhau, hừng hực nhau, quấn riết lấy nhau từng miếng ngọt lịm rồi hẹn mùa chợ năm sau thằng Thào Mông dắt ngựa tía bắt bà về nhà nó làm vợ. Nhưng mùa chợ sau mẹ bà Sa mất đúng phiên. Bà Sa nghẹn ngào đưa tang mẹ, làm ma cho mẹ mà trong lòng lửa đốt vì cái hẹn tình năm ngoái nghẹn lại trong tim.

Tang mẹ xong, đếm từng ngày đến mùa sau nữa, hai má bà Sa lại đỏ lựng, thẹn thùng xuống chợ tìm thằng trai đánh trống… Bà đi đến mòn đường chết cỏ, bà đi hết ba mùa trăng… chả thấy thằng trai đánh trống dắt ngựa tía xuống chợ cướp bà về như đã hứa. Bà Sa ôm cây lềnh si khóc đến nỗi ba mùa hoa, lềnh si rụng hoa đỏ đất mà nào có thấy bóng dáng thằng trai đánh trống đâu.

​Hai má bà Sa bớt đỏ, đôi mắt bà Sa không còn lửa cháy bập bùng. Nhưng ông Si không nản. Ông vẫn múa khèn trước mặt bà mỗi phiên chợ. Vẫn địu bà say lả trên con ngựa Dáy về bản. Vẫn lên nương gom cho bà những lù cở đầy hoa. Đêm đến vẫn ngồi dưới khung cửa sổ nơi buồng bà ngủ để thổi điệu bạn tình… Bọn con gái trong bản mê tiếng khèn ông Si như đổ điếu. Đến rủ ông Si đi chơi hội ném còn nhảy lửa nhưng ông Si cứ ngồi dưới bậu cửa sổ nhà bà Sa mà thổi điệu khèn si. Bọn con gái kéo ông Si đi trẩy hội mùa xuân, ông Si chỉ đi khi có bà Sa ở đó. Nghe mãi điệu khèn tình mê đắm của ông Si, bà Sa mềm lòng. Một đêm trăng sương, bà Sa tụt cầu thang xuống nhà. Bà hỏi ông Si: “Có thể yêu một người đến quên ăn quên ngủ thế sao”. Ông Si dừng khèn nhìn bà Sa trả lời: “Có thể yêu một người đến bỏ thân mình. Có thể chết vì một người mình yêu mà không thấy luyến tiếc. Sống mà không có được người mình thương thì coi như không sống nữa, chết từ lâu rồi”. Bà Sa khóc. “Có thể cho tôi đến chợ tình một năm một lần gặp người cũ được không”. Ông Si nói: “Có thể dành cả đời để đi chợ tình tìm người cũ. Nhưng mỗi năm chợ chỉ có một ngày. Nhớ người cũ một ngày thôi thì có gì mà không được”. Nhưng ông Si đã nhầm, với một người cố chấp, nỗi nhớ người cũ như bếp than đỏ lựng, dụi bớt thì vẫn ngún lửa bên trong, âm ỉ dày vò, có bao giờ hết đâu mà tàn.

Lễ cưới của bà Sa, ông Si mổ lợn mổ dê thết đãi cả bản say tuý luý. Hai vợ chồng nhảy múa cùng nhau với điệu khèn hạnh phúc. Bà Sa mặc váy thổ cẩm, chiếc váy bà dệt từ ba năm trước để chờ thằng Thào Mông đến cướp bà về. Chiếc váy thổ cẩm thêu tay kì công đính trên đó bao nhiêu bạc trắng bạc xoè của cha mẹ bà để lại cho con gái ngày cưới chồng. Bà Sa uống say nhảy hăng đến nỗi văng cả đồng bạc trắng hoa xoè vào khèn của ông Si. Ông Si nhất quyết giữ lại đồng bạc của váy vợ trong cây khèn quý. Tiếng khèn từ đó vướng đồng bạc trắng hoa xoè mà tiếng đâm ra vướng vất, có lúc như vấp phải đá vực, chặn bởi lũ ống, âm thanh trở nên gai góc, sâu thẳm và trầm luân hơn. Ông Si không cho bà Sa dốc khèn tìm lại đồng bạc trắng hoa xoè. Ông nói vật tìm đến vật phải có lí do. Lễ cưới cũng là lần đầu tiên và duy nhất bà Sa nhảy múa cùng ông Si. Cô dâu nhảy múa cùng chú rể cho đến tàn đêm… khi khách khứa say lả tả, ngủ đường, ngủ cổng la liệt rồi cô dâu chú rể mới dừng khèn, dừng múa, uống với nhau mềm môi rượu hoa.

​Ký ức dội ngược vào trí não bà Sa như những cơn đau thấu tim gan.

Bà Sa thấy ông Si chất bà lên lưng con ngựa dáy từ chợ trở về. Lần nào xuống chợ, bà Sa cũng như bông hoa rừng rực ngậm sương. Tan chợ, bà như bông lềnh si héo, rã cánh tàn nhuỵ. Lần nào đến chợ cũng mang theo tiếng hát. Tan chợ nước mắt đẫm như sương mùa thu… Chỉ mình ông Si biết bà chết úa trong lòng mỗi lần xuống chợ về. Và cũng chỉ mình bà Sa biết ông Si đã nuốt hờn ghen vào trong tim chỉ để dành hết tình thương cho bà. Ông Si thương bà như thương cái khèn ông Si phủ bụi nơi chái hiên. Thương bà như thương mối tình cố chấp của ông, không lấy được người mình yêu, thì cả đời coi như không sống nữa. Nhưng sống với một người mình yêu, mà trái tim người đó chỉ nhớ người khác thì khác nào điệu khèn của ông như đàn gảy tai trâu, bà Sa đâu có nghe để còn thấy hay thấy đẹp nữa. Sống thế có còn ra sống nữa không.

Ông Si không trả lời được.

Nghiệp yêu của ông nặng quá, đời này ông sinh ra có lẽ chỉ để làm một việc là yêu thương bà.

Bà Sa ngồi thụp xuống bưng mặt khóc nức nở. Bà không muốn đi qua sông Vong Xuyên, bà không thiết bước qua cầu Nại Hà, bà không muốn bước trên con đường Hoàng Tuyền này nữa. Bà đứng lên cắm cổ chạy ngược lại. Mặc cho những cánh tay vô hình can ngăn, mặc cho những lực cản vô hình chực chờ kéo giật ngược bà trở lại. Bà vẫn cắm đầu, ngược đường, ngược gió, chạy xiêu bạt cả những thảm hoa bỉ ngạn nhỏ máu tơi bời dưới chân.

Bà cần quay ngược trở lại

Bà cần phải trở về nhà

Bà sẽ ngồi trên chiếc ghế gỗ bách xanh cạnh bếp, nắm lấy tay ông Si, quỳ xuống trước mặt ông Si, gục đầu trước bàn chân toẽ những ngón sần sùi quanh năm bấm lên núi đá đi tìm bà mà nói rằng: “Tôi sai rồi. Tôi lầm rồi. Tôi ngu dại quá lắm rồi. Người tôi yêu mới là ông, chồng ơi. Tôi lầm rồi. Cả đời này tôi xin làm trâu ngựa cho ông, đốt bếp cho ông hơ tay, nấu xôi cho ông ăn, khâu áo thổ cẩm cho ông mặc, ủ rượu hoa cho ông uống ông Si ơi, chồng ơi”.

​Bà Sa giật mình ngừng khóc vì bát canh nghi ngút khói ai đó đã chìa ra trước mặt bà. Bà Sa sợ hãi nhìn lên. Ô hay, bà đã chạy ngược trở lại con đường này cơ mà. Bà đã quay đầu chạy trốn rồi, sao chạy mãi, đi mãi không về tới nhà mà rốt cuộc lại ở đây, cuối cùng trước mặt bà vẫn là quán nhỏ trên cầu Nại Hà. Cây Lềnh si trên mái quán đang rùng mình trút. những đợt mưa hoa. Hương lềnh si thơm lên nhức nhối. Người đàn bà tóc trắng như tuyết, môi cắn chỉ đỏ như máu, đôi mắt lá răm hạt huyền đen thăm thẳm vẫn kiên nhẫn đứng đợi bà: “Uống hết bát canh này đi rồi bà sẽ lại tinh khôi như sương sớm, không nhớ không thương không hối tiếc gì nữa. Bà là vị khách cuối cùng của quán đấy. Uống canh rồi qua cầu đi, bà sẽ thấy nhẹ nhõm xinh đẹp và tươi tắn như bồng Lềnh Si chớm nở trên vòm trời kia. Uống đi nhé, ngoài kia trời tối rồi, quán tôi cũng đến lúc đóng cửa. Bà là vị khách cuối cùng đấy”. Bà Sa tuyệt vọng nhìn người đàn bà tóc trắng. “Bà là ai, sao tôi phải uống bát canh này”. Người đàn bà tóc trắng cười. Hương thơm từ thần khí của bà toả ra ngan ngát. “Bấy mươi kiếp rồi vẫn không dứt được nghiệp sao”. Bà Sa gào lên: “Khoan đã, cho tôi trở về gặp chồng tôi lần cuối. Chỉ cần nói xong với ông ấy rằng tôi đã sai với chồng tôi. Cả đời tôi nhầm lẫn. Hoá ra, người đáng để tôi yêu là ông ấy. Tôi yêu ông ấy, tôi chỉ yêu ông ấy thôi, tôi không nhớ gì thằng Thào Mông nữa. Tôi nợ ông ấy cả kiếp này rồi. Chỉ cần chồng tôi hiểu được điều đó, tôi cam lòng uống canh này rồi đi mà không còn lưu luyến gì nữa”. Người đàn bà tóc trắng nhặc bông lềnh si vừa rụng, vắt lấy giọt mật đỏ nhỏ vào nồi canh đang sôi cười lớn: “Trải qua bao nhiêu kiếp rồi mà vẫn nặng nợ thế ư. Nghiệp còn nặng lắm, mau uống bát canh này đi cho nhẹ nhàng mà chuyển kiếp. Bà có quay lại cũng không tìm được chồng bà nữa. Ông Si qua đây cũng không nhận ra bà đâu. Mau uống bát canh này. Canh Mạnh Bà tôi chưng bằng nước mắt, nỗi đau, hạnh phúc, buồn khổ. Chừng ấy thứ trộn lẫn vào nhau sẽ giúp bà gột rửa hết đau khổ, nhẹ lòng mà tái sinh kiếp khác, lại trong trẻo tinh khôi như sương”. “Không! Không! Không”. Bà Sa khóc to. “Tôi sẽ đứng đây chờ gặp chồng tôi. Tôi cần phải nói ra cho ông ấy điều này, không cả đời tôi ân hận lắm”.

Trong quán nhỏ, tóc bà Sa trắng như mây bồng bềnh chấm gót. Bà đưa bát canh cuối cùng cho một vị khách cuối cùng. Vị khách kiếp nào bà cũng chờ đợi để được gặp. Vị khách đó không kiếp nào không đi qua đây. Vẫn bộ quần áo chàm xanh thêu cổ và ống tay, nốt thêu cũ kỹ thân thương từ thủa nào bàn tay bà còn lanh lẹn khéo léo. Vẫn dáng người thanh mảnh ấy, chiếc mủ nồi đội lệch, vẫn cây khèn quý cầm trên tay. Cây khèn vang lên âm thanh lanh canh của đồng bạc trắng hoa xoè rơi trong bụng khèn. Bà Sa khóc, nỗi đau như cơn gió trở, thốc ngược vào hồn bà, như cái thoi dệt vải nơi khung cửi ai đó đâm xuyên thấu tim. Cơn đau làm cho bà Sa đứng không vững, nước mắt rơi lõm tõm vào bát canh nghi ngút khói. Luật âm dương ở quán Nại Hà không cho phép bà nhận ra người cũ. Bà chỉ có thể im lặng nhìn họ, ngắm họ, nói với họ vài ba câu của Mạnh Bà trước khi họ uống bát canh vong tình.

Nhưng vị khách cuối cùng ấy đi vào quán mà không cần nhìn bà lão trước mặt. Không kiếp nào mảy may lấy một lần ngước nhìn bà… Cho dù bà đã thầm gọi tên, đã đánh thức kí ức, đã lục tung ba hồn bảy kiếp để gọi tên trong tâm thức. Lần này, vị khách chậm rãi đưa chiếc khèn lên lắc lắc thật mạnh cho đồng bạc trắng hoa xoè rơi ra. Đồng bạc va vào bát canh bà Sa đang bưng làm sứt mất một miếng mẻ ở miệng bát. Canh trong bát sánh ra bỏng rát tay bà Sa. Vị khách đưa tay đón bát canh. Lần nào bà cũng hỏi: “Ông muốn uống bát canh vong tình này không. Uống xong ông không còn nhớ gì kiếp trước nữa”. Vị khách thở dài lặng lẽ: “Xin bà mau ban canh cho tôi”. Vị Khách ghé miệng vào chỗ mẻ của bát canh ghé môi uống từng ngụm nhỏ. Uống cạn bát canh lã chã nước mắt cay đắng của bà Sa, người đàn ông chậm rãi nhặt lấy đồng bạc trắng trên chiếc váy năm xưa cho vào miệng nhai. Máu tứa ra từ làn môi rách toác của vị khách. Bà Sa không ngừng khóc. Nước mắt cảu người đàn bà tóc trắng, môi cắn chỉ đỏ tươi, mắt lá răm thăm thẳm rơi thầm chảy ngược vào tim.

Ôi ông Si ơi, là tôi đây. Sao ông không nhận ra tôi. Sao tôi chỉ được phép đứng đây, câm lặng trao cho ông bát canh trong câm lặng. Ôi ông Si, là tôi không thể nói với ông được một lời thanh minh nào nữa. Cái sự mất của tôi với ông là vô phương cứu chữa mất rồi.

​Ôi bà Sa cố chấp ơi, ngươi đứng đây mấy mươi kiếp chỉ mong được gặp vị khách cuối cùng. Chỉ mong người ấy nhận ra bà một lần để bà có thể giải nỗi oan tình với người ấy rồi thoát kiếp mà đi.

Bà Sa cố chấp. Chính bà cũng không biết người đàn bà tóc trắng năm xưa trên cầu Nại Hà bà gặp lần đầu chính là bà đấy sao. Bấy mươi kiếp trải qua, vẫn là bà đứng giam cầm trong cố chấp đời mình. Vẫn là bà trong vòng luân hồi lục đạo. Tam sinh tam thế, hay nhiều hơn nữa cũng xoay quanh trong cơn dục vọng khổ đau mà bà tự sinh ra rồi tự luẩn quẩn dính mắc trong luân hồi. Chỉ là trong một trắc ẩn nào đó, trong một sự si mê cũng cố chấp không kém nào đó, Diêm Vương vì quá đáng thương bà mà cho bà một hình tướng khác để trải qua lịch kiếp… bà có là ai đi nữa thì trong lịch kiếp của mình, bà vẫn phải nấu bát canh vong tình trao cho người đến sau mà thôi. Bà của trăm năm trước, và bà của trăm năm sau không nhận ra nhau thì làm sao bà có thể đi tìm được ông Si của bà chứ. Mà tìm làm chi nữa, vị khách cuối cùng ấy có bao giờ ngước nhìn bà lấy một mảy may, có nhận ra tiếng của bà vẫn vang lên run rẩy khi hỏi ông có muốn uống bát canh lãng quên để an nhiên mà chuyển kiếp. Bà còn không nhận ra bà thì mong gì trăm năm nghìn năm sau cố nhân nhận ra nhau.

​Đêm nay quán đóng sớm, Nguyệt Lão ngồi bên bếp lửa đỏ rực những tàn than cầm lấy cây khèn đã đen nhưng nhức màu bồ hóng, lấy vò rượu hoa ra tưới lên khèn, rồi ngửa cổ uống, nước mắt ròng ròng cuộn đen cả dòng Vong Xuyên.

An Viên Xanh, 26/9/2025

Như Bình

Nguồn: Viết và Đọc Tết Mùa mới 2026

Theo https://vanhocsaigon.com/

Giữ nhịp cho hoa

Giữ nhịp cho hoa Gió bấc tràn về, những chiếc lá vàng còn lại an phận rời cành. Hạt mưa mong manh hơn, nhỏ dần, thưa dần, bầu trời như đượ...