Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường"
của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh
và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Ngày khai trường với kỷ niệm mơn man làm tôi nhớ đoản văn LA RENTRE'E DES CLASSES (TỰU TRƯỜNG) của nhà văn Anatole France - trích từ quyển “Le Livre de mon ami” (Cuốn Sách Của Bạn Tôi). Đoản văn TỰU TRƯỜNG của nhà văn Anatole France có ảnh hưởng lớn tới tâm hồn nhà văn Thanh Tịnh, khi ông viết truyện ngắn TÔI ĐI HỌC. Hình ảnh chú bé A.France trong ngày tựu trường khơi dậy những tình cảm trong sáng, bỡ ngỡ và êm ái của tuổi thơ. Bởi hơn đâu hết, chính những thầy giáo vỡ lòng, thông qua trang hồi ký tuyệt vời ấy, đã đánh thức ở họ những xúc cảm đầu đời: niềm đam mê học hành và tình yêu văn chương nghệ thuật.
Xin trích dẫn các bản dịch của Phạm Tất Đắc, Bùi Bảo Trúc và bản tiếng Pháp Anatole France
* Bản dịch của Phạm Tất Đắc:
“Tôi sẽ kể cho bạn nghe những gì gợi cho tôi nhớ lại hàng năm bầu trời chập chùng của mùa thu, những bữa cơm chiều đầu tiên ăn dưới ánh đèn và những chiếc lá đang úa vàng dần trong những chòm cây run rẩy. Tôi sẽ kể bạn nghe mình đã nhìn thấy gì khi qua vườn Luxembourg vào những ngày đầu tháng mười, khi phong cảnh hơi buồn và đẹp hơn bao giờ hết, vì đó là những ngày mà lá cây rơi từng chiếc một trên bờ vai trăng trắng của các pho tượng… Điều tôi nhìn thấy lúc đó, trong vườn ấy, là một chú bé con, tay đút túi quần, cặp sách trên vai, đang bước tới trường, vừa đi vừa nhảy nhót như một chú chim sẻ. Chỉ tâm tư tôi nhìn thấy chú bé, vì đó chỉ là một bóng hình. Đó là bóng hình tôi cách đây hăm lăm năm…”.
(Trích một đoạn dịch của Phạm Tất Đắc)
* Bản dịch của Bùi Bảo Trúc:
Tôi sẽ kể cho bạn nghe những gì tôi còn nhớ mỗi năm khi bầu trời đầy xao động của mùa thu, những bữa cơm chiều đầu tiên dưới ánh đèn và những chiếc lá vàng trên những cành cây run rẩy; tôi sẽ kể cho bạn nghe về những gì tôi nhìn thấy khi tôi đi ngang qua vườn Lục Xâm Bảo trong những ngày đầu của tháng 10, trời lúc ấy hơi buồn nhưng đẹp hơn bao giờ vì đó là lúc những chiếc lá từng chiếc rơi rụng xuống những chiếc vai trắng của những pho tượng… Điều tôi trông thấy lúc ấy trong vườn, là một cậu bé, tay trong túi quần, chiếc cặp sách đeo trên lưng, trên đường đến trường, những bước chân nhẩy như một con chim sẻ. Chỉ trong óc tôi mới nhìn thấy cậu, vì cậu bé đó là cái bóng, cái bóng của chính tôi cách đây 25 năm… Cậu bé đi nhanh, chiếc cặp sách đeo trên lưng và con quay nằm trong túi. Ý tưởng gặp lại những tên bạn làm cậu vui hẳn lên. Có biết bao nhiêu điều để nói và để nghe…
(Trích một đoạn dịch của Bùi Bảo Trúc)
* Bản tiếng Pháp Anatole France
LA RENTRE'E DES CLASSES
“Je vais vous dire ce que me rappellent tous les ans, le ciel agité de l’automne, les premiers dîners à la lampe et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent; je vais vous dire ce que je vois quand je traverse le Luxembourg dans les premiers jours d’octobre, alors qu’il est un peu triste et plus beau que jamais; car c’est le temps où les feuilles tombent une à une sur les blanches épaules des statues. Ce que je vois alors dans ce jardin, c’est un petit bonhomme qui, les mains dans les poches et sa gibecière au dos, s’en va au collège en sautillant comme un moineau. Ma pensée seule le voit; car ce petit bonhomme est une ombre; c’est l’ombre du moi que j’étais il y a vingt-cinq ans; Vraiment, il m’intéresse, ce petit : quand il existait, je ne me souciais guère de lui ; mais, maintenant qu’il n’est plus, je l’aime bien........
C’est ainsi qu’il traversait le Luxembourg dans l’air frais du matin. Tout ce qu’il voyait alors, je le vois aujourd’hui. C’est le même ciel et la même terre; les choses ont leur âme d’autrefois, leur âme qui m’égaye et m’attriste, et me trouble; lui seul n’est plus.
C’est pourquoi, à mesure que je vieillis, je m’intéresse de plus en plus à la rentrée des classes.
(Anatole France - trích từ quyển “Le Livre de mon ami”
Riêng câu này trong đoản văn LA RENTRE'E DES CLASSES (TỰU TRƯỜNG) của nhà văn Anatole France gieo những cảm xúc thật xao xuyến vào sâu thẳm cõi lòng:
“C’est le même ciel et la même terre; les choses ont leur âme d’autre fois, leur âme qui m’egaye et m’attriste, et me trouble, lui seul ‘n’est plus…”
“Vẫn trời ấy, vẫn đất ấy, vẫn những thứ mang linh hồn ngày xưa, linh hồn làm tôi vui, buồn và bối rối, chỉ riêng chú bé ấy là không còn nữa, nhưng cảm xúc trong hồn tôi vẫn như ngày nào!…
Khi nói Thanh Tịnh chịu ảnh hưởng Anatole France thì không phải ông ấy chịu ảnh hưởng văn phong hay câu từ. Ảnh hưởng Anatole France đối với Thanh Tịnh là ảnh hưởng lên tâm hồn, chính hình ảnh chú bé A.France trong ngày tựu trường đã khơi dậy lên cảm xúc, gợi hứng cho Thanh Tịnh viết TÔI ĐI HỌC.
Theo tôi, nhà thơ Đinh Hùng mới chịu ảnh hưởng văn phong Anatole France khi viết:
“Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Tôi vẫn ngờ như không sự đổi thay, vì lại thấy mình đi trên con đường này”
(Trích trong tùy bút CẢM THU của Đinh Hùng)
Mời quý bạn đọc đoạn văn sau của Anatole France, đối chiếu và so sánh thử nhé!
“Vẫn trời ấy, vẫn đất ấy, vẫn những thứ mang linh hồn ngày xưa, linh hồn làm tôi vui, buồn và bối rối, chỉ riêng chú bé ấy là không còn nữa, nhưng cảm xúc trong hồn tôi vẫn như ngày nào! (Anatole France)
29/8/2022
La Thụy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Mùa thu, Apollinaire, Bùi Giáng, Phạm Duy, hoa thạch thảo

Mùa thu, Apollinaire, Bùi Giáng,
Phạm Duy, hoa thạch thảo

Sắc màu thu đã gieo nhiều cảm hứng cho hồn thơ tứ nhạc. Nhiều bài thơ, bản nhạc viết về THU dù đã trải qua bao năm tháng phôi pha vẫn in đậm nét trong lòng người thưởng lãm. Là người yêu nhạc (loại nhạc có air “bán cổ điển”), ai mà không thuộc các bản “Buồn tàn thu” của Văn Cao, “Giọt mưa thu”, “Đêm thu”, “Con thuyền không bến”… của Đặng Thế Phong, “Thu quyến rũ” của Đoàn Chuẩn Từ Linh, “Thu vàng” của Cung Tiến, “Em ra đi mùa thu” của Phạm Trọng Cầu, “Chiếc lá thu phai” của Trịnh Công Sơn , “Mùa thu Paris” của Phạm Duy, “Thu hát cho người” của Vũ Đức Sao Biển, “Thu ca” của Phạm Mạnh Cương v.v… Đặc biệt, bản “Mùa thu Chết” của Phạm Duy, bản nhạc hay nhưng có nhiều thắc mắc về xuất xứ của ca từ.
Bản nhạc này lấy ý của bài thơ “L’ADIEU” của Guillaume Apollinaire, điều này có lẽ được nhiều người chấp nhận. Tuy nhiên lời Việt của bản nhạc “Mùa thu chết” thì không ít ý kiến cho rằng là do chính thi sĩ Bùi Giáng chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Pháp bài “L’ADIEU” nói trên, Phạm Duy chỉ phổ nhạc mà thôi. Để nhìn nhận cho khách quan, ta thử đối chiếu nguyên tác với bản dịch của Bùi Giáng và lời nhạc của Phạm Duy.
a/ Bài thơ của Apollinaire:
L'ADIEU
J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends
GUILLAUME APOLLINAIRE
b/ Bản dịch của thi sĩ Bùi Giáng:
LỜI VĨNH BIỆT
Ta ngắt đi một cành hoa thạch thảo (*)
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tương phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó...
BÙI GIÁNG
(*) Câu này còn có dị bản:
Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
c/ Ca từ trong bản “Mùa thu chết” của Nhạc sĩ Phạm Duy :
MÙA THU CHẾT
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi!
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu đã chết, đã chết rồi. Em nhớ cho!
Em nhớ cho,
Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
Trên cõi đời này, trên cõi đời này
Từ nay mãi mãi không thấy nhau
Từ nay mãi mãi không thấy nhau...
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi !
Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em.
Vẫn chờ em, vẫn chờ em
Vẫn chờ....
Vẫn chờ... đợi em!
PHẠM DUY
Như vậy, xem hai bản dịch nói trên, chúng ta thấy, chỉ có 2 câu đầu tiên là giống nhau thôi, thi sĩ Bùi Giáng chuyển ngữ tựa đề “LỜI VĨNH BIỆT” rất sát với nguyên ngữ “L’ADIEU”, trong bản dịch ông có dùng từ Hán Việt: “tương phùng”, “mộng trùng lai”, toàn bài dịch hơi thoát (thêm câu “Mộng trùng lai không có ở trên đời”). Riêng nhạc sĩ Phạm Duy thì trừ cái tựa bài nhạc “Mùa thu chết” là dịch có khác với nguyên ngữ, còn lại lời nhạc toàn bài dịch khá sát với nguyên tác. Lời dung dị nhưng cảm động. Phạm Duy khi phổ nhạc thì ở phần ca từ có thể chuyển dịch vị trí các câu thơ và có thể thay đổi từ ngữ, nhưng nhờ vậy bản nhạc có sắc thái riêng làm cho bài thơ được phổ có sức sống mới và giới yêu nhạc đón nhận nồng nhiệt, chính ngay nhiều tác giả có thơ được phổ nhạc cũng đồng tình như thế. Riêng Bùi Giáng, chính trong bài “Lời vĩnh biệt”ông lại chuyển dịch 2, 3… lần nữa thậm chí chuyển dịch ra lại tiếng Pháp. (Mời xem tiếp phần sau: “BÙI GIÁNG BÌNH THƠ APOLLINAIRE” và vài hình ảnh HOA THẠCH THẢO cũng trong bài viết này)
Khi bản nhạc MÙA THU CHẾT xuất hiện, nhiều người cho rằng Phạm Duy đang ám chỉ điều gì đó, có không ít ý kiến phản hồi. Riêng nhạc sĩ Châu Kỳ sáng tác bản nhạc "MÙA THU CÒN ĐÓ" với ca từ như sau:
MÙA THU CÒN ĐÓ
Cảm xúc vì nghe mùa thu chết
Tôi viết bài này thương tiếc bởi mùa thu
Châu Kỳ
Mùa thu ơi! Nghe nói rằng em đã chết
Mùa thu ơi! Em còn đó hay chết rồi
Em còn đó, em còn đó hay chết rồi…
Thu! Em hãy nói, em hãy nói, nói đôi lời
Rằng mùa thu vẫn sống dài trên sông núi
Hồ thu xưa, trăng nhìn nước vẫn sáng ngời…
Xin đừng nói, xin đừng nói thu chết rồi
Không! Thu vẫn sống, em vẫn sống, sống đời đời…
Lạc vào vườn thu nghe lá vàng rơi xao xác
Lạc vào vườn thu thương nai buồn đang ngơ ngác
Dáng thu xưa vẫn chưa mờ, vẫn chưa mờ
nói sao vừa, nói sao vừa
nỗi mong chờ, đến bao giờ
Này thu ơi, thương bóng hình em năm đó...
Dù thu đi, trăng và gió vẫn ngóng chờ
Xin đừng nói, xin đừng nói thu chết rồi!
Không, thu vẫn sống
Đem hình bóng cho cuộc đời…
Châu Kỳ
BÙI GIÁNG BÌNH THƠ APOLLINAIRE
Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
L'ADIEU
J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automme est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends.
AP0LLINAIRE
Và nhớ nhé! Ta đợi chờ em đó
Bài thơ chỉ vẽn vẹn chỉ có năm câu. Năm câu phiêu hốt mang thiên nhiên nằm giữa nền thi ca Tây Phương Hiện Đại – năm câu cũng đồ sộ như toàn khối Đường Thi Trung Hoa hay mấy vần tứ tuyệt của một Thôi Hộ.
Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó…
Dịch ra làm sáu câu, tôi có phần áy náy. Nhưng không biết phải làm sao. Cái chất đạm nhiên bát ngát trong bài thơ Apollinaire đang trừ khử hết mọi lối dịch diễn, dịch di, dịch tinh, dịch thể. Cứ thử liều một trận xem sao.
Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ chẳng nhìn nhau trên đất nữa
Hương thời gian nhành thạch thảo tí hon
Và nhớ nhé ta đợi chờ em nhé…
Cũng tạm gọi là được. Nếu ta đem bài thơ bát ngát kia đặt vào giữa nguồn thơ mênh mông của Apollinaire ắt ta dám dịch nó ra làm lục bát Huy Cận, lục bát Nguyễn Du hoặc làm thất ngôn Du Nguyễn.
Đã hái nhành kia một buổi nào
Ngậm ngùi thạch thảo chết từ bao
Thu còn sống sót đâu chăng nữa
Người sẽ xa nhau suốt điệu chào
Em nhớ anh quên và em cũng
Quên rồi khoảnh khắc rộng xuân xanh
Thời gian đất nhạt mờ năm tháng
Tuế nguyệt ta đà nhị hoán tam.
Dịch như thế là diễn giải một mùi hương ẩn tàng trong nếp gấp. Nhưng đâu có cần gì. Nếu như cần, thì tớ cứ buông bừa bút mực viết bừa thơ.
Mùa thu chết liễu nhớ chăng em?
Đã chết xuân xanh suốt bóng thềm
Đất lạnh quy hồi thôi hết dịp
Chờ nhau trong Vĩnh Viễn Nguôi Quên
Thấp thoáng thiều quang mỏng mảnh dường
Nhành hoang thạch thảo ngậm ngùi vương
Chờ nhau chín kiếp tam sinh tại
Thạch thượng khê đầu nguyệt điểu mang
Xa nhau trùng điệp quan san
Một lần ly biệt nhuộm vàng cỏ cây
Mùi hương tuế nguyệt bên ngày
Phù du như mộng liễu dài như mơ
Nét my sầu tỏa hai bờ
Ai về cố quận ai ngờ ai đi
Tôi hồi tưởng lại thanh kỳ
Tuổi thơ giọt nước lương thì ngủ yên.
Dịch ra như vậy thì tiếp giáp với bài thơ “JE ME SOUVIENS":
Je me souviens de mon enfance
Eau qui dormait dans un verre
Avant les tempêtes l’espérance
Je me souviens de mon enfance
Tôi hồi tưởng tuổi thơ ngày trước
Đáy ly nào giọt nước ngủ yên
Trước khi giông bão muộn phiền
Giậy cơn hy vọng cuối miền thơ ngây.
Je songe aux métamorphoses
Qui s’épanouissent dans un verre
Comme l’espoir et la tristesse
Je songe aux métamorphoses
C’est ma destinée que je lis
Dans les reflets incertains
Les jeux sont faits rien ne va plus
C’est ma destinée que je lis
Tôi nghĩ tới tháng ngày chuyển dịch
Những thay hình đổi dạng mở phơi
Trong ly nước mộng tuyệt vời
Với sầu dao động nỗi đời giao thoa
Linh hồn định mệnh âm ba
Bóng vang khép mở đầu hoa mơ hồ
Hỡi ôi dâu biển xô bồ
Hồn trong định mệnh bây giờ đọc ra
(Sương Bình Nguyên)
BÙI GIÁNG
HOA THẠCH THẢO
Nguồn: Tài liệu tổng hợp từ internet
Hoa bruyère trong thơ Guillaume Appolinaire đã được Bùi Giáng và Phạm Duy dịch là hoa thạch thảo. Tự điển Pháp - Việt giải thích hoa bruyère là một loài hoa chuông dại mọc trên cát sỏi. Nhưng ở Việt Nam, hoa Thạch thảo chính là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, Cúc Nhật. Chúng ta thử tìm hiểu về HOA THẠCH THẢO nhé!
* Hoa thạch thảo ở Việt Nam
Hoa Thạch thảo (Aster amellus L) thuộc họ Cúc (Asteraceae). Tại Việt Nam, người miền Nam hay gọi là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, người Bắc gọi là Thạch thảo. Thạch thảo hay mọc thành bụi, nhiều bông với cánh đơn xoè rộng ra. Hoa Thạch thảo có ba màu chính: tím, hồng, trắng. Thạch thảo ngày nay được lai tạo thêm thành loại hoa cánh kép. Hoa Thạch thảo cánh mối cũng như các loại hoa cúc thường nở vào mùa Thu, khi mà đa số các loại hoa khác đã tàn.
Như vậy, hoa Thạch Thảo (hay cúc Sao, cúc Nhật, cúc Cánh Mối) là 1 tên Việt của loài Aster amellus L. thuộc họ Cúc (Asteraceae), tên Anh ngữ là Aster và Pháp là Astère.
Nhóm Cúc (cả trồng làm hoa hay mọc hoang) thường được gọi chung là Chrysanthemum/Aster, trong đó các loài mọc hoang thường có 1 chùm lông ở cuối mỗi hột (khi trái chín) và phát tán nhờ gió (nên mọc hoang, rải rác vào mùa xuân khi có nắng ấm ở Âu châu, hoa chỉ sống trong vài tháng!). Các loài cúc trồng thì không phát tán tự nhiên được vì hột không có lông như Vạn Thọ (marigold), cúc Giấy (zinnia). Có loại được trồng từ hột, có loại trồng bằng củ; cúc Thạch Thảo (cúc sao/Aster), và nói chung loại nhiều loại cúc thường trồng từ cây con nhảy chồi (do mọc thành bụi, hoa thường bất thụ)
* Hoa Thạch Thảo ở Âu Châu
Hoa Thạch thảo Âu châu là thuộc cây Bruyère (tiếng Pháp) hay Heather (tiếng Anh) còn gọi là Common Ling hay Briar.
Từ điển Sinh Học Anh Việt và Việt Anh, nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật dịch heather là cây thạch nam. Erica. Trung hoa gọi là Hồng phương bách hay Thạch nam. Từ điển phổ thông Pháp Việt gọi là cây Thạch thảo.
Phân loại:
Tất cả các loại thạch thảo đều trong gia đình Ericaceae, có một  loại hoa thạch thảo duy nhất thuộc giống Calluna, ngoài ra là loại Erica. Dưới đây là một số giống Erica khác nhau trong hàng vài trăm loại khác nhau trên thế giới.      
Loại Calluna vulgaris là loại thạch thảo thật sự (true heather), loại cây nhỏ, có hoa nhỏ hình chuông màu tím, hay hồng nhạt.
Loại Erica gồm nhiều giống khác nhau từ giống cây nhỏ mọc từng bụi nhỏ hoặc có thể là cây lớn.
- Erica arborea, treeheath, briar, brier: cây nhỏ ở vùng Địa Trung Hải có chùm hoa trắng hình chùy, thơm và có rễ cứng như gỗ được dùng để làm ống điếu hút.
- Giống Erica carnea, spring heather, winter heather, là loại cây hoa nhỏ mùa đông hay mùa xuân, ở Âu châu có hoa hình chuông màu đỏ hay hồng.
- Giống E. cinerea: loại thạch thảo có lá nhỏ, hoa hình chuông màu đỏ tím
- Giống E. tetralix, bellheather, cross-leaved heath là loại cây nhỏ lùn có hoa màu hồng
- Giống E. vagans hay còn gọi là Cornish heath là loại thạch thảo mọc cả bụi có hoa màu hồng hay trắng thường thấy ở cánh đồng hoang tại Cornish và đông nam Ấu châu.
- Giống E. lusitanicahay Portugese heath, Spanish heath mọc rậm rạp ở vùng bán đảo Iberia , có hoa trắng hồng.
- Giống E. perspicua hay Prince of Wales heath mọc rất nhiều ở Anh quốc và Nam Phi châu, có hoa màu trắng. Hoa dài và trông tựa như chùm lông của huy hiệu trên Coat of Arms của Hoàng tử xứ Wales- Anh Quốc, nên mang tên Prince-of-Wales heath
- Erica mammosalà loại Erica có nhiều màu nhất từ màu trắng, tím, cam đến màu đỏ. Hoa chuông đặc biệt dài hơn các loại Erica khác
Nếu nói về ý nghĩa của màu hoa thạch thảo thì thạch thảo trắng tượng trưng cho sự che chở, cho sự mong mỏi. Thạch thảo mầu hồng tượng trưng cho may mắn, và màu xanh lạt lavender tượng trưng cho cô đơn, sự hâm mộ thán phục.
Mùa thu về, nhìn lá vàng chao nghiêng trong gió, thấm đẫm nắng hanh vàng, bất chợt bừng trải lòng lắng nghe tiếng thu man mác bâng khuâng.
18/7/2022
La Thụy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Phiếm luận về bài bình thơ "Tuệ Sỹ" của Bùi Giáng

Phiếm luận về bài bình
thơ "Tuệ Sỹ" của Bùi Giáng

Tiếc thương Hòa thượng Thiền sư Thích Tuệ Sỹ viên tịch chiều 24.11.2023. Trong niềm suy niệm về Tuệ Sỹ khi Thầy vừa tạ thế, chúng ta hãy cùng thắp nén hương cầu nguyện cho linh thức của Người được siêu thoát.
Trong quyển “ĐI VÀO CÕI THƠ”, Bùi Giáng viết về Tuệ Sỹ:
“Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u...
Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ Ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết:
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn ty
Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.
Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ “KHÔNG ĐỀ của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ”
Có lẽ Bùi Giáng là người phát hiện và bình bài thơ KHÔNG ĐỀ này đầu tiên trong tập 1, ĐI VÀO CÕI THƠ.
Thế mà, bỗng dưng bài thơ biến cái tên thành KHUNG TRỜI CŨ và từ ngữ CUNG TRỜI trong bài thơ lại biến thành KHUNG TRỜI.
“Cung trời” như là một cõi trời, một cảnh giới, còn “khung trời” chỉ là một không gian bị hạn chế. bị đóng khung…
CUNG TRỜI trong Phật giáo được biết qua sáu cõi, đó là:
1. Tứ thiên vương thiên.
2. Đao lợi thiên.
3. Dạ ma thiên.
4. Đâu Suất thiên.
5. Hóa Lạc thiên.
6. Tha hóa tự tại thiên.
Sáu “cung trời” đã nêu ở trên thuộc về Dục giới. Ngoài ra còn có Tam thanh thiên giới, Phạn Thiên giới, Vô sắc giới, Sắc giới nữa, gồm tất cả 36 cung trời.
Trong 2 câu thơ Bùi Giáng làm nối tiếp thơ Tuệ Sỹ:
“Phiêu bồng tâm sự, tân toan lệ,
Trí Hải đa tàm, trúc loạn ty.”
Cụm từ “Trí Hải đa tàm” được hiểu như thế nào đây?
- Cách hiểu thứ nhất:
“Đa” nghĩa là “nhiều”
“Tàm” nghĩa là “con tằm / lông mày”
“Đa tàm” nghĩa là “nhiều lông mày”, “lông mày dày, rậm”
Trí Hải là tên ni cô được Bùi Giáng nhắc đến hai lần trong lời kể ở trên, nên cụm từ “Trí Hải đa tàm” có nghĩa là “Trí Hải nhiều lông mày, lông mày Trí Hải dày, đẹp”
Đây chỉ là lời đùa cợt cho vui của Bùi Giáng. Mà Bùi Giáng đã từng đùa gọi ni cô Trí Hải là “mẫu thân Phùng Khánh” đó thôi:
“Trí Hải Ni Cô vừa rời bỏ Vạn Hạnh đi tu tiên ở trên núi. Nguyên nhân là: các vị sư ở Vạn Hạnh chế ni cô đã đẻ ra Bùi Giáng già nua, ni cô bẽn lẽn bèn giũ áo ra đi.
Sự tình nông nỗi ấy, Thích Minh Châu phải chịu trách nhiệm một phần lớn.
Phùng Khánh là bà mẹ loài người. Tôi là con người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi không phải là con của Phùng Khánh, thì chẳng ra tôi chẳng phải con người? Chẳng ra tôi là con vật?
Phân tích nghiêm mật luận lý học ra như thế, rành rành Phùng Khánh là mẹ của tôi.
Huống nữa là: trong cõi mộng mơ chiêm bao tại bình diện thi nhạc phiêu bồng, Phùng Khánh đích nhiên cũng lại là mẹ của tôi nốt. Tôi vốn là Trung Niên Thy Sỹ.
Ai đâu có ngờ rằng những bài thơ bất tử tôi làm ra là do Phùng Khánh cả đấy?
Mỗi phen tôi mơ màng nghĩ tới dung nhan diễm lệ Phùng Khánh thì giòng thơ bát ngát lại tuôn ra ào ào. Vậy thì hiển nhiên như nhiên thiên tài của tôi là do liên tồn Phùng Khánh đẻ ra vậy.
Tôi suy ngẫm suốt bao nhiêu năm trời, nhận ra sự tình cố kỳ nhiên đó, mới dám mạo muội mạnh bạo gọi Phùng Khánh bằng một tiếng Mẫu Thân. Há đâu dám bốc đồng mà gọi bướng!”
(Trích: Bùi Giáng Thi Ca Tư Tưởng - Saigon 1969)
Cho nên, 2 câu thơ
“Phiêu bồng tâm sự, tân toan lệ,
Trí Hải đa tàm, trúc loạn ty.”
Trí Hải viết hoa, tức là ám chỉ tên của ni cô.
Có thể hiểu là:
“Nỗi lòng xôn xao nước mắt chua cay rơi
Nhìn đôi mày đẹp của Trí Hải làm tâm hồn rối như tơ.”
Hay:
Tâm sự lâng lâng, dòng lệ chua cay chảy
Trí Hải mày tằm, đàn trúc rối cung tơ
Phải chăng “Trí Hải đa tàm”, Trí Hải mày tằm với nhan sắc như thế đã lắm phen làm Bùi Giáng “mơ màng nghĩ tới dung nhan diễm lệ Phùng Khánh thì giòng thơ bát ngát lại tuôn ra ào ào”.
 - Cách hiểu thứ hai:
TÀM nghĩa là hổ thẹn
TRÍ HẢI 智海 nghĩa là “biển trí”
ĐA TÀM 多慚 nghĩa là hổ thẹn nhiều
“Trí hải đa tàm” nghĩa là “hổ thẹn nhiều trước biển trí”
TRÚC   là một loại nhạc cụ làm từ tre trúc, gọi là đàn trúc
TY    có nghĩa là dây đàn, còn được gọi là dây tơ, cung tơ.
Câu “trí hải đa tàm trúc loạn ty” có thể hiểu là “biển học mông mênh làm thẹn lòng vì đầu óc mình thiếu minh mẫn lúng túng chưa ngộ được như đàn trúc rối loạn cung tơ”
Trở lại 2 câu thơ đầu của Tuệ Sỹ
“Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
 Hiện tiền vi liễu lạc hoa phi”
Tuệ Sỹ đang nói về triết lý Nghiệp / Karma. Nghiệp thiện ác đã gieo, bây giờ tác giả bâng khuâng với “bóng nghiệp” nên trước mắt còn thấy liễu rớt hoa bay.
Nên hai câu thơ:
“Phiêu bồng tâm sự, tân toan lệ,
Trí hải đa tàm, trúc loạn ty.”
Có nghĩa:
Tâm sự bâng khuâng, dòng lệ chua cay chảy
Thẹn lòng trước biển trí, đàn trúc rối loạn cung tơ
Hiểu như vậy thì bài tứ tuyệt “Vô đề” ý mới liền mạch được.
Quý bạn nghiêng về cách giải thích nào nhỉ!
Xin dẫn những bài thơ có dùng chữ Đa tàm 多慚  nghĩa là hổ thẹn nhiều
Thơ Trần Tung:
Đa tàm thân trọc phùng thời trọc,
Tiểu tại tâm thanh ngộ quốc thanh.
(Thoái cư-Ẩn cư)
Dịch:
Thân đục thẹn sinh thời buổi đục,
Lòng trong may gặp nước nhà trong.
Thơ Kiều Nguyên Lãng:
Thượng quốc ân thâm tình dị cảm,
Tiểu bang tục bạc lễ đa tàm.
(Tống Bắc sứ Ma Hợp)
Có nghĩa:
Ơn thượng quốc sâu sắc dễ cảm tình người,
Phong tục nước nhỏ đơn giản, thẹn lễ nghi có phần sơ suất.
Thơ Trần Nhân Tông:
Nhất thị đồng nhân thiên tử đức.
Sinh vô bổ thế trượng phu tàm.
(Họa Kiều Nguyên Lãng Vận)
Có nghĩa:
Thương yêu mọi người như nhau là đức của Vua,
Sống mà không giúp ích gì cho đời là điều đáng thẹn của kẻ trượng phu.
Bùi Giáng viết nhiều tùy bút văn học, đặc biệt là tùy bút về thi ca.
Thơ của các thi sĩ được Bùi Giáng cảm nhận theo một phong cách riêng “rất Bùi Giáng” thật dí dõm. Tuệ Sỹ là nhà thơ đầu tiên được Bùi Giáng bình thơ trong tập ĐI VÀO CÕI THƠ. Bùi Giáng viết cảm nhận thơ như người bạn tri âm đồng điệu và bài TUỆ SỸ của ông để lại những “dư vang nghệ thuật” trong lòng người đọc.
5/12/2023
La Thụy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Bao la, mênh mông, bát ngát giống và khác nhau như thế nào

Bao la, mênh mông, bát ngát
giống và khác nhau như thế nào?

BAO LA
Chúng ta thường dùng “bao la” để chỉ thứ gì đó “rộng lớn đến mức vô cùng tận” (Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên), chẳng hạn như “vũ trụ bao la”“biển rộng bao la”… Tuy nhiên, nghĩa đen của từ này không hẳn ai cũng rõ.
Thực tế, “bao la” là một từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅. Trong đó:
“Bao” () là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong “bao quát”, “bao hàm”
“La” () nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la" trong “thiên la địa võng”, “la liệt".
Như vậy, “bao la” có thể được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.
Nói đến không gian rộng lớn, ta còn có từ “bát ngát". Thực tế, từ này vốn có nghĩa gốc là “thương nhớ, lo buồn" (xem Tiếng Việt ân tình, tập 1)
Tóm lại, “bao la” là một từ gốc Hán, có nghĩa đen là “cái lưới bao trùm tất cả”.
Lê Trọng Nghĩa
“Bao la” là một từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅. Trong đó:
“Bao” () là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong “bao quát”, “bao hàm”
“La” () nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la" trong “thiên la địa võng”, “la liệt".
Như vậy, “bao la” có thể được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.
Phiếm luận của La Thụy:
Từ định nghĩa trên, tôi liên tưởng đến Thánh kinh: “Ta là Alpha (A) và là Ômêga (Ω), là Khởi nguyên và là Cùng tận!”
Điều này nói lên rằng Vua Giêsu Kitô là căn nguyên và cùng đích của mọi loài. Trước khi tạo dựng vũ trụ này, Người đã hiện hữu; và khi vũ trụ này qua đi, người vẫn hiện hữu.
Chúa là Vua Vũ Trụ, Chúa là Alpha và Ômêga, là Đấng Toàn Năng.
MÊNH MÔNG
Mênh mông   (chữ Nôm): rộng lớn đến mức như không có giới hạn
Tra từ điển Hán Nôm, tôi thấy chỉ có MÊNH chữ Nôm, không có MÊNH chữ Hán
Có 5 kết quả về MÊNH chữ Nôm đều nói về “mênh mông”
 mênh •  mênh •  mênh •  mênh •  mênh
MÔNG  (chữ Nôm)
Cả MÊNHMÔNG chữ Nôm, mỗi từ không có nghĩa riêng biệt, đều chỉ về MÊNH MÔNG
MÔNG (chữ Hán) có đến 20 kết quả và nhiều nghĩa khác nhau, tôi thấy có chữ Hán có thể có ý nghĩa liên quan đến chữ “bao”  trong “bao la” đó là:
MÔNG  (chữ Hán): Che, đậy, trùm.
Phiếm luận của La Thụy:
Như vậy MÊNH MÔNG là từ thuần Việt từ láy âm đầu, và là từ láy tượng hình có nghĩa “rộng lớn đến mức như không có giới hạn”
Vd:
đồng ruộng mênh mông
"Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!"
(Ca dao)
BÁT NGÁT
Bát ngát 叭兀 (chữ Nôm):
Đây là một từ thuần Việt, có nghĩa là rộng lớn, mênh mông, vượt xa tầm nhìn của con người
- Tra chữ Hán thì BÁT có đến 32 kết quả với những ý nghĩa khác nhau, nhưng tôi không tìm thấy ý nghĩa nào có liên quan đến “sự rộng lớn”
- Tra chữ Nôm thì BÁT có đến 17 kết quả với những ý nghĩa khác nhau, trong đó có  được dùng với “bát ngát”
Tra từ điển Hán Nôm, tôi thấy chỉ có NGÁT trong chữ Nôm, không thấy có NGÁT trong chữ Hán.
Có 6 kết quả về “ngát” chữ Nôm đều nói về “bát ngát” hoặc “thơm ngát”
 ngát •  ngát •  ngát • ngát • ngát • ngát
Cả "bát" hoặc "ngát" riêng biệt đều không có nghĩa cụ thể.
Trang “Tiếng Việt giàu đẹp” viết:
“Ngày nay, hầu hết chúng ta đều dùng “bát ngát” với nghĩa là “rộng lớn, mênh mông”. Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên cũng giảng: “Bát ngát: Rộng lớn đến mức tầm mắt không bao quát hết được. Cánh đồng bát ngát. Bốn bề bát ngát”. Ít ai biết được rằng, từ này xưa kia vốn được dùng với nghĩa hoàn toàn khác.
Từ điển từ cổ của Vương Lộc giảng: “Bát ngát: Ở trạng thái lo buồn, thương nhớ dai dẳng, bâng khuâng”. Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của ghi chép ngắn gọn hơn: “Bát ngát: Lo xa, lo buồn nhiều nỗi”. Từ điển Việt - Pháp của J. F. M. Génibrel cũng đồng tình: “Bát ngát: U sầu, lo âu, nghĩ ngợi”.
Các tư liệu này không hề giảng sai. Bằng chứng là sắc thái “lo âu, thương nhớ” của “bát ngát” đã xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm văn học xưa, chẳng hạn:
“Bát ngát mặt ngừng chau giọt ngọc,
Dùng dằng chân ngại bước đường mây”
(Hồng Đức quốc âm thi tập, Nhân đạo, bài 34)
“Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát,
Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi”
(Ai tư vãn, câu 145, 146)
“Bát ngát thay cành hoa trôi nước,
Chiếc nhạn về nam”.
(Nguyễn Hữu Chỉnh, văn tế chị)
Như vậy, rõ ràng “bát ngát” xưa kia vốn được dùng với nghĩa lo buồn, thương nhớ. Và có lẽ từ đó mới hình thành nên cụm “bát ngát mênh mông” là cảnh vật rộng lớn, hiu buồn. Chắc hẳn do lưu truyền trong dân gian, “bát ngát” dần bị mất nghĩa, và do thường đặt cạnh “mênh mông” nên người ta đã hiểu từ này thành “rộng lớn”.
(Tiếng Việt giàu đẹp)
https://www.facebook.com/.
Phiếm luận của La Thụy:
Sự rộng lớn đến mức như không có giới hạn của “mênh mông” và “bát ngát”, làm tôi liên tưởng tới từ ngữ “vô thủy vô chung”
Vô thủy: không có điểm bắt đầu.
Vô chung: không có điểm kết thúc.
Cụm từ "vô thủy vô chung" có hàm ý chỉ những điều vô cùng vô tận, không có điểm khởi đầu, cũng không có điểm kết thúc. Tôi liên tưởng đến chữ ĐẠO  của Lão Tử.
Theo Đạo Đức Kinh:
“Đạo là Nguồn gốc của Vũ Trụ. Vì nó là một cái gì Lớn tuyệt đối nên mới nói: “nghinh chi nhi bất kiến kỳ thủ, tùy chi nhi bất kiến kỳ hậu” 迎之不見其首, 隨之不見其後 
(Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi). Tức là “vô thủy vô chung” 無始無終 vậy.”
Cụm từ "vô thủy vô chung" làm tôi liên tưởng đến Phật giáo
Cụm từ này đồng nghĩa: Vô lượng vô biên 無量無邊
Chỉ PHẬT, theo tín ngưỡng, là không đếm được, không có giới hạn.
Như vậy, BAO LA là từ ghép Hán Việt, nhưng MÊNH MÔNG BÁT NGÁT là từ láy thuần Việt. Chúng có ý nghĩa gần giống nhau, nhưng vẫn có điểm khác biệt.
Kỳ sau, nếu có thời giờ, chúng ta sẽ thử so sánh chúng với các từ "bạt ngàn", "ngút ngàn" nhé!.
20/12/2025
La Thụy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của  Anatole France, "Tôi đi học"  của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...