VĂN THƠ NHẠC
Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2026
Thi pháp của Đặng Tiến trong tập tiểu luận Thơ - Thi pháp và chân dung
Thi pháp của Đặng Tiến trong tập
Đặng Tiến là một trong số hiếm nhà phê bình văn học Việt ở hải ngoại có cái nhìn tích cực, mang tính dân tộc cao trong các hoạt động nghiên cứu văn chương của mình. Qua hàng trăm bài viết, Đặng Tiến đã khẳng định được cá tính riêng trong thi pháp.
Vũ Thanh Thủy và Người bán ngựa giấy
Vũ Thanh Thủy và
Người bán ngựa giấy
Ba mươi tám bài thơ ngắn không bỏ sót một chữ cho mình
gặp lại mình ở muôn cung bậc đời thường thân thuộc. Nhưng Người bán ngựa
giấy là một trải nghiệm mới. Hẳn nhiên là mình thích những gì mới. Tâm hồn
mình vẫn luôn xao động trước cái mới…
Đọc hai tập thơ của Vũ Thanh Thủy, cảm giác thật khác
nhau. Tình núi (2006) rùng rùng, đẫm đìa nỗi niềm. Khi ấy Thủy hai
mươi chín tuổi, cái độ tuổi bộn bề cảm xúc. Vừa phơi trải, giãi bày, vừa tự an ủi
khuây khỏa, tự gặm nhấm buồn thương.
Còn tập Tiếng gọi từ phía núi (2019) cho ta sự thú
vị khi gặp một người đàn bà từng trải, chững chạc. Cảm xúc không còn miên man,
lai láng nữa mà khu bó trong từng mảng tự sự và âm thầm triết lý. Ba mươi tám
bài thơ nhỏ xinh đứng cạnh nhau phô diễn một lối viết thiên về sự giản dị, tự
nhiên, khiêm nhường, ít tu từ. Giản dị đến mức giống như người đã chán chê với
hoa mỹ, bóng gió và trau chuốt. Như bàn tiệc không dọn cao lương mĩ vị mà thay
vào đó là dưa cà, mắm, muống…
Người đọc muốn ghi lại cảm xúc gì đó về tập thơ này, thú thực,
là thấy không cần thiết phải xâu chuổi cảm hứng từ mạch nguồn bộc bạch ấy. Bởi
vì, bất chợt thấy thích cái cảm giác như có gì đó cứ cộm lên trong lòng, lại
như lởn vởn trước mặt. Tạm gọi là ám ảnh. Thơ ám ảnh có nhiều dạng nhưng đều do
hình ảnh thơ đem lại. Hình ảnh có thể là thực, siêu thực, có thể là do nhà thơ
hư cấu, tạo nên.
Bài thơ của Thủy ám ảnh mình từ những hình ảnh thơ mà mình
cho là thực, rất thực.
“- Cô ơi, mua mã về tạ tết
Tôi dừng bước lại phía câu chào
Vàng treo lủng lẳng sau xe đạp
Hình nhân nhún nhẩy trước lời rao”
Bạn đã bao giờ dạo phố và bắt gặp cảnh này chưa? Mình thì
chưa gặp. Dù từng gặp ngàn vạn món hàng bán rong ở cái xứ sở hàng rong này. Có
tiếng rao tha thiết trìu mến của bà hàng xôi khúc, bánh cuốn, bánh tai mỗi sáng
mai. Có tiếng rao lanh lảnh của cô hàng nồi, mâm, ấm ủ. Có tiếng rao trầm đục của
anh hàng thớt, hàng cối. Có tiếng rao như giễu của cậu chổi lông. Tiếng rao cấp
thiết, trịnh trọng của bác bán thuốc xịt côn trùng hay anh hàng vôi dạo. Tiếng
rao của người bán nhiều, tiếng rao của người mua cũng lắm. Ai nhôm đồng, sắt vụn,
ti vi quạt điện, tủ lạnh, máy bơm, điện thoại…hỏng bán đê… Ai tóc rối, tóc dài
bán đê. Ai bán chó, bán mèo đê…
Nhưng quả thật, mình chưa từng gặp hàng mã rong với những cái
hình nhân nhún nhẩy theo lời chào mời.
“Từng chùm ngựa giấy to cùng nhỏ
Gái gỗ, trai tre nhoẻn nhoe cười
Chị bán, màu da bềnh bệch trắng
Phải chăng họ một cõi về chơi?”
Ôi giời! Giữa thanh thiên bạch nhật. Xe hàng rong của chị
hàng mã xuất hiện. Ngựa từng chùm và trai gái từng đôi. Cái nhoẻn miệng cười của
đôi trai gái làm mình ớn lạnh. Và ngay trong suy nghĩ của tác giả bật lên một
giả định.
Phải chăng họ một cõi về chơi?
Cõi nào vậy? Còn cõi nào nữa ngoài cõi tâm linh, khi những
hình nhân kia hiện hữu trong vai trò thế mạng con người để hóa giải những tai tật,
kiếp nạn vốn nằm trong chữ “duy tâm” đậm đặc Á Đông? “Họ” là ai? Là hình nhân
trai gái, hay còn có thêm cả người bán hàng mặt bềnh bệch trắng? Cái xe hàng
rong có thật không? Mà nếu có thật, thì trong chừng mực của trí tưởng tượng họ
cũng chỉ về chơi thôi. Là chốc nhát thôi… May quá!
Ngày xuân, mà người cõi ấy về chơi một cách hiển nhiên, ung
dung dạo khắp mọi hang cùng ngõ hẻm trong thành phố, ngay trong dòng người tấp
nập thì còn sinh động nào bằng.
“Tôi rút tiền dương mua quà âm
Tạ quan, tạ tướng, tạ thần linh
Cúng mẫu, tổ tiên và dòng tộc
Phân phát chúng sinh, giải phận mình…”
Bán hàng rong thì nhắm đến khách hàng là những người cố định,
lười di chuyển, đợi hàng rong đến phục vụ hoặc ngẫu nhiên mua những món hàng
không thực sự cần thiết lắm nhưng không cưỡng được sự chào mời.
Còn người đi trên đường mà mua hàng rong thì ắt bởi sự bất chợt
nảy sinh như cầu hoặc bất chợt nảy sinh trắc ẩn trước tiếng rao. Ở đây, người
mua chợt thấy mình có nhu cầu mua quà âm. Vì nói thấy bán mà tiện mua thì thật
là không phải với tín ngưỡng. Dù thế, cái sự suy nghĩ cứ chua chát dậy lên.
Không hẳn là những tính đếm thiệt thòi “tiền dương” mua “quà âm” theo kiểu “thừa
tiền mua pháo đốt chơi, pháo nổ lên giời, tiền vứt xuống sông”. Mà sự tính
toán, định mức tín ngưỡng và mê tín trong mình, xem mình đang ở mức độ nào, giới
hạn nào. Hay nói cách khác là suy nghĩ có sự phân vân về cái ranh giới ấy. Nghĩ
thế thôi. Nhưng không khẳng định gì cả.
Chỉ hoang mang tự hỏi vu vơ.
“Và bao nhiêu việc trong năm tới
Dâng lòng tín hóa cầu an tâm
Giàu sang có lẽ do hay gửi
Mũ lọng ngựa xe xuống cõi âm?”
Hỏi xong thì cũng tự mỉm cười. Thấy mình cũng có vẻ như “tham
sân si” giống ai đó khi làm khách của chị hàng mã rong ấy thôi. Chỉ có điều,
cái nhu cầu của mình không giống họ. Và mỗi người lại có chút khác biệt, không
ai giống ai trong cái bể trăm niềm ngàn nỗi khó nói thành lời. Mua để giải tỏa
cái tâm trạng của mình thôi. Rằng mình đang thực hiện một sự quan tâm tới người
âm nhân dịp tết đến xuân về trong cái quan điểm nôm na và gụi gần “trần sao âm
vậy”. Chứ không dám cầu gì, xin xỏ gì.
“Tôi tự cười mình nghĩ ẩm ương
Rời khỏi gian hàng thiếu khí dương
Chị bán mã rong, mặt bớt trắng
Thủng thẳng dắt ma hút cuối đường…”
Cái sự bán mua kết thúc trong cảnh không thể tưng hửng hơn.
Người mua thì tự cười. Hời quá, sao chả cười. Bỏ ra chút tiền dương mùa được
nào ngựa nào người, nào xe cộ, áo quần, tiện nghi làm quà cho người cõi khác. Rời
khỏi cái gian hàng ngùn ngụt âm khí trở về mặt đất đang tươi tốt ấy sao chả cười.
Còn chị hàng rong thì mặt “bớt trắng” sau khi bán mua suôn sẻ thu về một món lợi
nhuận tính bằng tiền dương. Đôi bên cùng mãn nguyện. Kẻ mua đứng ngây nhìn chị
bán hàng thủng thẳng khuất dạng… thấy đời thật hài hước.
“Chị bán mã rong mặt bớt trắng
Thủng thẳng dắt ma hút cuối đường…”
Cảnh ấy, thật là ám ảnh. Mình với Thủy đồng trang lứa. Lứa tuổi
đàn bà ngoại tứ tuần nếu có làm thơ hay viết văn thì cũng thiên về cảm xúc thật,
đi thẳng vào lõi vấn đề mà không muốn rào đón nữa. Độ tuổi mà không ít người
đàn bà tự thấy mình phân thân, sống ở hai cõi, nửa người nửa ma. Sống với người
mà như nhìn thấy ma hoặc những mưu ma chước quỷ. Cư xử với ma như cư xử với người
khi cố gắng sẻ chia những đồng tiền kiếm được bằng mồ hôi nước mắt hi vọng người
cõi khác cũng ấm áp đủ đầy. Những câu thơ tự sự luôn được kê kích bằng biện
trong sự chủ động cả về vốn sống lẫn vốn ngôn từ, vốn văn hóa. Thơ tuổi ngoài bốn
mươi chẳng còn tung tảy, bỏng giãy, thiết tha đến mức làm người đọc cuộn trào cảm
hứng nữa. Nhưng lại luôn khiến người đọc yên tâm với những xử lý gọn gàng và
tình người.
Ba mươi tám bài thơ ngắn không bỏ sót một chữ cho mình gặp lại
mình ở muôn cung bậc đời thường thân thuộc. Nhưng Người bán ngựa giấy là
một trải nghiệm mới. Hẳn nhiên là mình thích những gì mới. Tâm hồn mình vẫn
luôn xao động trước cái mới. Cảm ơn bạn. Vũ Thanh Thủy! Cô bạn đồng hương, thơ
và người song hành bước vào đời. Một cuộc đời trải qua nhiều sóng gió, ghềnh
thác đang tới lúc được lướt trên những khúc êm ả bình yên.
Sau đây là toàn văn bài thơ Người bán ngựa giấy của
Vũ Thanh Thủy.
Sớm xuân thong thả đi dạo phố
Hơi lạnh đâu đây vẫn xoăn lòng
Ngõ ngõ bừng đèn lồng, mứt tết
Trong tôi náo nức bánh chưng xanh
Rặng bàng gặp gió chao từng đợt
Khô rắc đầy đường vênh đỏng đanh
Vô tình chân dẫm lên lá chết
Rộp rộp! vỡ tan khoảng yên lành
– Cô ơi, mua mã về tạ tết
Tôi dừng bước lại phía câu chào
Vàng treo lủng lẳng sau xe đạp
Hình nhân nhún nhẩy trước lời rao
Từng chùm ngựa giấy to cùng nhỏ
Gái gỗ, trai tre nhoẻn nhoe cười
Chị bán, màu da bềnh bệch trắng
Phải chăng họ một cõi về chơi?..
Tôi rút tiền dương mua quà âm
Tạ quan, tạ tướng, tạ thần linh
Cúng mẫu, tổ tiên và dòng tộc
Phân phát chúng sinh, giải phận mình
Và bao nhiêu việc trong năm tới
Dâng lòng tín hóa cầu an tâm?
Giàu sang có lẽ do hay gửi
Mũ lọng ngựa xe xuống cõi âm.
Tôi tự cười mình nghĩ ẩm ương
Rời khỏi gian hàng thiếu khí dương
Chị bán mã rong, mặt bớt trắng
Thủng thẳng dắt ma hút cuối đường…
Xe
18/6/2020
Tống Ngọc Hân
Theo https://vanhocsaigon.com/
Hào kiệt văn chương
Hào kiệt văn chương
“Hỡi Tây phương, ta đã trở thành nhà văn theo phong
cách của ngươi. Ta chắt lọc từ đó một lối diễn đạt riêng có khả năng giải mã
các vấn đề của riêng ta bằng ngôn ngữ của ngươi: đó là những cuộc khai phá hình
thức chuyển tải các giai điệu của trí tuệ, nối kết với ý nghĩa thanh tao, với
dư vang mới lạ, với những tương giao chân thực, những sức mạnh cảm ứng ngôn từ
của ngươi!”.
Thuở bước chân vào làng văn, người kết nối hai bờ văn hóa
Đông Tây, đã cất lên một tiếng gọi đò mãnh liệt, và thông tin rằng ông vừa cập
bến. Bến đỗ của ông là một Paris hoa lệ, kinh đô của ánh sáng, nhét giới luật
nho phong vào túi xách, “không còn ở bên một lục địa gần gũi, một dòng giống
lân cận, một thần linh thân quen”. Ông là nhà văn Phạm Văn Ký (1910-1992), quê
làng Thanh Liêm, thị xã An Nhơn, Bình Định, anh cả trong gia đình mười ba anh
chị em, có hai người em trai là nhà thơ Phạm Hổ nức tiếng trên văn đàn miền Bắc
và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ dậy sóng trong sóng nhạc miền Nam. Năm 1936, Phạm Văn Ký
đoạt giải Nhất kỳ thi thơ viết bằng tiếng Pháp “Premier prix de Poésie aux Jeux
Floraux d’Indochine” cho tập thơ Une voix sur la voie (Một tiếng trên đường) và
năm 1961, Viện Hàn lâm Pháp vinh danh với Giải thưởng lớn cho tiểu thuyết
Perdre la demeure – giải thưởng mà cho đến nay, chỉ ông là nhà văn gốc Việt duy
nhất sở hữu. Viết chủ yếu bằng tiếng Pháp, độc giả trong nước hồi những năm ba
mươi của thế kỷ trước biết đến ông là một trí thức thượng thặng, có tư tưởng chống
đối chính sách thực dân ở các nước thuộc địa, từ chối lời đề đạt làm tri huyện
Nam triều.
Với quyết tâm dùng trường văn trận bút đề cao giá trị tự do,
nhân bản, ngoài chủ bút tờ Impartial (Vô tư) ở Sài Gòn, rồi chủ bút Gazette de
Huế, nhiệt thành diễn thuyết cho phong trào Thơ Mới giai đoạn này, trong đó cổ
vũ Hàn Mặc Tử từ thơ cũ sang thơ mới qua lời đề tựa tập thơ Gái quê, ông còn là
tác giả tập thơ Huế éternelle (Huế vĩnh cửu), vở kịch La citadelle d’Escargot
(Thành Ốc), các tiểu thuyết Kiếm Hoa, Con đường thiên lý số I. Ở nước Pháp từ
28 tuổi, được đào tạo bởi trường Sorbonne danh tiếng, Phạm Văn Ký ngoài phụ
trách chương trình phát thanh truyền hình, ông mở rộng việc cộng tác với những
tờ tạp chí chuyên ngành văn học nổi tiếng như Esprit của Emmanuel Mounier, Les
Temps Modernes của Jean Paul Sartre, Cahiers du Sud của Jean Ballard, Preuves của
François Bondy… Hoạt động và trước tác của ông đã hình thành một gương mặt tài
năng đa diện, uy tín trong trí thức văn nghệ và báo giới Pháp quốc. Ông để lại
một gia tài trước tác đồ sộ hiện còn lưu giữ ở Pháp, tiêu biểu như các tập
thơ, bút ký, kịch, tiểu thuyết La femme Trương (Vợ chàng Trương), Fleurs du
Jade (Hoa Ngọc), Celui qui régnera (Người sẽ ngự trị ), Les yeux Courroucés (Những
đôi mắt giận dữ ), Frères de sang (Anh em ruột thịt ), Les uns font les étoiles
(Người làm nên các vì sao), Perdre la demeure (Mất nơi ở), Mémoires d’un
eunuque (Hồi ức một hoạn quan ), Des Femmes assise çà et là (Phụ nữ ngồi đây
đó), Poèmes sur soie (Thơ trên lụa), Le défi Vietnamien (Sự thách thức của Việt
Nam)… Khoảng năm 1970, ông có về Việt Nam, đi vào vùng tuyến lửa và một số nơi
trên miền Bắc, sáng tác một số bài thơ tiếng Việt, sau khi ông qua đời Nhà Xuất
bản Hội Nhà văn chọn in trong tập Đường về nước.
Nhân vật chính trong tiểu thuyết lừng danh Perdre la
demeure của Phạm Văn Ký (Mất nơi ở – Phạm Văn Ba dịch, Nxb Hội Nhà
văn và Công ty truyền thông văn hóa Nhã Nam phát hành) là một samurai Nhật rất
thông thạo Anh và Pháp ngữ – đại úy Watakashi Hiyen, chỉ huy đại đội binh sĩ
Thiên Hoàng, có nhiệm vụ bảo vệ công nhân chính quốc, Triều Tiên, Ainô và gia
đình họ, khi họ gồng gánh đến công trường thực hiện việc xây dựng các đường sắt
xuyên núi nối Tokyo với Yokohama, Hokkaido với Sapporo, trong lộ trình canh tân
Nhật Bản của Minh Trị nửa cuối thế kỷ XIX. Đảm trách việc dạy lính Nhật vận
hành các vũ khí Tây phương, đại úy Pháp Neufville trò chuyện với đại úy Nhật
Watakashi: “Điểm mấu chốt hiện nay mà anh cần phải thấy rõ là: trong khi canh
tân theo đường lối Tây phương, nước Nhật có nên Âu Mỹ hóa cả về mặt tinh thần
không?”. Watakashi Hiyen với bản sắc samurai quyền quý, vừa trầm tư mặc tưởng vừa
phóng khoáng, vừa thấm nhuần những tư tưởng mới vừa do dự với những nguyên tắc
truyền thống, từ những tín ngưỡng tôn giáo đến những quy luật về danh dự, về
lòng hy sinh, đã thể hiện: “Không, đại úy Neufville ạ, tôi không bao giờ chấp
nhận như thế. Chúng tôi tiếp thu khoa học kĩ thuật của Tây phương nhưng vẫn nhất
định không từ bỏ những gì mà người Nhật đã có từ bao ngàn đời nay”. Trung
thành với những giá trị của tinh thần võ sĩ đạo của mình, Watakashi buộc phải
chấp nhận bi hài kịch lớn của thời đại bấy giờ, ngoài việc bị tước đi trái tim
người vợ, tâm linh đứa con, vị trí quyền lực của bản thân, cao hơn hết thảy là
mất chốn nương thân của tâm hồn – nước Nhật truyền thống với ý nghĩa thiêng
liêng cội nguồn. Mất nơi ở là ẩn dụ cho sự băng hoại của văn hóa xã hội
các dân tộc phương Đông trước sự du nhập ồ ạt của công kỹ nghệ Tây phương, bào
mòn căn tính dân tộc, để nơi trú ngụ tinh thần bị tan rã, kéo theo hệ lụy lưu
vong trên chính quê nhà. Ở tiểu thuyết Des Femmes assise çà et là (Phụ
nữ ngồi đây đó), ông đặt thứ tự tám chương bằng tám bát quái: đất, núi, nước,
gió, sét, lửa, mây, bầu trời, kết cấu theo một cấu trúc biểu tượng, diễn đạt sự
tuần hoàn của vũ trụ và quan hệ với sự tồn tại con người, huyền thoại của các nền
văn hóa khác nhau, đối chất và cộng sinh. Hình tượng con bướm lột xác bốn lần,
nối sợi dây cáp từ Mẹ của người kể chuyện: “Và đó là một bông hoa thực sự nổi
lên từ đất của xác chết, tất cả các cơ quan vô dụng, và thậm chí cả mảnh vỡ của
chúng, được tiêu hóa, các chức năng quan trọng được phục hồi, sẵn sàng, nếu
không làm bầm đầu chúng trước khung của Werther, ít nhất là nảy nở dưới ánh mặt
trời, để bất động trên những cây cỏ của mình, để hút chất lỏng ngọt từ mật hoa,
mật ong thu thập trên bề mặt của lá cây, chất chảy ra từ thân cây, thậm chí sẵn
sàng, không thấm nước, Peregrine, vượt Đại Tây Dương, chạm vào Ý, Azores,
Antilles, Bắc Mỹ, để bay qua Thái Bình Dương, đến Nhật Bản, để vượt qua đất nước
tôi và đến bãi biển Nam Cực”. Như một sứ giả văn hóa Việt ở xứ người, luôn xót
xa về cội nguồn bản thể, phần “gia phổ” của quốc gia, dân tộc và cảm hứng xuyên
suốt của ông là cuộc vật vã trong cuộc xung đột, tích lũy và hòa giải giữa hai
nền văn hóa Đông Tây, như tên một luận án tiến sĩ về ông của Lucy Nguyễn Hồng
Nhiệm, Đại học Massachusetts, Amherst: “Bàn cờ và sự tương phản Je/ Moi như một
dấu hiệu và bản chất của cuộc xung đột Tây/ Viễn Đông trong các tác phẩm của Phạm
Văn Ký”, đã khái quát. Trước đây, ở hai tác phẩm Frères de sang (Anh
em ruột thịt) và Celui qui régnera (Người sẽ ngự trị), hình thức
tự sự thể hiện các giằng xé và phân cực. Ở Frères de sang, nhân vật người
kể chuyện trở về làng trong đêm, sau khi nhận bằng tiến sĩ tại Pháp, tìm người
bạn ấu thơ Lê Tâm đã bị mù, lại không thể giữ im lặng trước sự độc đoán bất
công của người cha đầy quyền lực Nho giáo và sẽ bị kết án vì đã nói và thách thức:
“Tuy nhiên, tôi đã mất ngay sau khi trở về, vì lúc đó tôi đã tìm lại được những
phản ứng cũ, phản xạ cũ, những ý tưởng cũ, được giấu dưới lớp veneer châu Âu”. Ở Celui
qui régnera, nhân vật người kể chuyện con một quan chức triều đại đương thời,
được thúc đẩy bởi nền giáo dục Pháp ở Quy Nhơn và Hà Nội, cũng trở về ngôi làng
truyền thống, từ chối kết hôn với người phụ nữ được mẹ anh chọn, muốn biến đổi,
thành lập một trường học mở cho tất cả mọi người và khai thác nông nghiệp theo
hướng công nghệ để cải thiện cuộc sống cho mọi người, do đó thách thức hệ thống
phân cấp Nho giáo lâu đời. Giằng xé giữa “giáo dục truyền thống” và “ngay lập tức
phải thoát ra khỏi vòng tròn”, nhân vật lọt vào vòng xoáy cuộc lưu vong nội tâm
trong đối lập giữa hai thế giới Đông Tây.
Phạm Văn Ký là hiện tượng sáng chói trong gia đình trí thức
văn nghệ tiêu biểu miền đất võ trời văn, được dư luận đánh giá là nhà văn Việt
viết bằng Pháp ngữ có nhiều tác phẩm được xuất bản và tán thưởng vào hạng nhất
đương thời. Với giải thưởng lớn của Viện Hàn lâm Pháp, ngoài ý nghĩa văn hóa xã
hội, là việc dành cho các nhà văn có cống hiến nghệ thuật đặc biệt trong việc
làm đẹp và làm giàu tiếng Pháp, một giải thưởng đâu chỉ các nhà văn nhập cư mà
ngay các nhà văn chính quốc cũng khát khao ngưỡng mộ. Việc tên tuổi ông được đặt
bên cạnh những tên tuổi lớn Francois Mariac, Saint Exupery, Patrick Rambaub,
Pierre Schoendorffer, Jean d’Ormesson… đã là một khẳng định tuyệt vời về trí tuệ
và nhân cách Việt trong thế giới văn chương phương Tây.
19/6/2020
Nguyễn Thanh Mừng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thơ 1-2-3 và sự cộng hưởng
Thơ 1-2-3 và sự cộng hưởng
“Trong dòng chảy của thi ca, thể Thơ 1-2-3 do nhà thơ
Phan Hoàng khai sáng có gì đặc biệt khiến cho người viết hứng thú và có sức
lan tỏa mạnh mẽ?”. Nhà văn, luật gia Cao Chiến đã đặt câu hỏi và tự
đi tìm câu trả lời. Xin nói thêm, trước khi Cao Chiến viết văn và đoạt
những giải thưởng có giá trị, như Giải thưởng Hội Nhà văn TPHCM 2019
cho tiểu thuyết Buổi chiều đi qua cánh đồng, ông từng du học về
luật nhiều năm ở nước Nga, sáng tác thơ và viết lý luận phê bình.
Bài viết Thơ 1-2-3 & sự cộng hưởng của Cao Chiến đã đăng trên
báo Văn Nghệ và Đất Việt, xin cảm ơn ông và trân trọng
giới thiệu lại cùng bạn đọc.
Bài viết này chỉ tính tới ngày 15-6-2020, cụ thể là từ hai
tác giả Trần Huy Minh Phương và Trương Mỹ Ngọc ở TPHCM trở về trước. Nhà thơ
Phan Hoàng cho biết Thơ 1-2-3 gửi về trang web vanhocsaigon.com (VHSG) rất nhiều,
và tôi nghĩ với mấy chục tác giả từ mọi miền đất nước, mỗi người một chùm, đã
có thể cho thấy chút diện mạo gì đó về thơ và thể thơ này.
Trước khi có đôi dòng luận bình, đúng hơn là chia sẻ cảm xúc
về Thơ 1-2-3, tôi nói đôi chút về xuất xứ của luật chơi mới.
Cách đây vài năm, chẳng biết trời xui đất khiến thế nào, nhà
thơ Phan Hoàng nảy ra ý định lập một thể thơ mới, gọi nôm na là Thơ 1-2-3. “Mỗi
bài thơ gồm 3 đoạn, 6 câu. Đoạn 1 chỉ 1 câu gồm tối đa 11 chữ, đồng thời cũng
là tên bài thơ nhằm tránh sự dễ dãi trùng lắp tên bài thơ của người đi trước dẫn
tới đạo văn. Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 chữ. Đoạn 3 có 3 câu, với mỗi
câu tối đa 13 chữ. Nghĩa là, Thơ 1-2-3 tương ứng tối đa 11-12-13 chữ trên mỗi
câu của mỗi đoạn, với nội dung đi từ hướng ngoại dần vào hướng nội”.
Phan Hoàng nung nấu trong một thời gian đủ dài cho đến chuyến
xuất ngoại thăm nước Nga, cùng với một số văn nghệ sỹ trong Liên hiệp các Hội
VHNT TPHCM, mùa thu 2018 thì bùng nổ. Phải chăng hồn vía nước Nga với những tên
tuổi vĩ đại Pushkin, Lev Tolstoy, Gogol, Lermontov, Olga Berggolts, Dostoevsky,
Paustovsky, Sergei Yesenin… đã chắp cánh cho ước mơ Thơ 1-2-3 của Phan Hoàng
thành hiện thực. Trong chuyến đi ấy, Phan Hoàng đã viết một mạch chừng hai chục
bài Thơ 1-2-3, tôi xin dẫn ra đây một trong số ấy để bạn đọc cùng thưởng lãm.
“Trái tim thơ Olga Berggolts toả ấm nghĩa trang
“Không ai bị lãng quên, không điều gì bị quên lãng”
câu thơ sống mãi những người ngã xuống vì Leningrad năm
xưa
Tên thành phố đổi thay nhưng tình yêu không bao giờ thay đổi
và chẳng vĩnh cửu nào bằng trái tim nồng nàn
Olga Berggolts
xin nghiêng mình trước áng thơ máu xương nâng cánh tâm hồn”.
Thơ 1-2-3 được đẩy đi xa hơn, khi có một số bạn thơ đồng
cảm thử bút và VHSG mở ra cuộc vận động sáng tác về thể loại này. Chỉ
trong một khoảng thời gian rất ngắn chưa tới 2 tháng, hàng trăm chùm Thơ 1-2-3
đã được gửi đến. 5 tác giả Lê Đỗ Lan Anh ở Vĩnh Long, Đặng Tường Vy ở
Pháp, Bình Địa Mộc ở TPHCM, Võ Hoàng Phương và Trần Thị Hồng Anh ở
Nghệ An, đã trở thành những người đầu tiên nhận Tặng thưởng Thơ 1-2-3 tháng
5-2020.
Cho tôi nói thêm đôi dòng về nhà thơ Đặng Tường Vy. Hiện chị
sống ở Pháp. Từ cuối năm 2018, khoảng đó, Đặng Tường Vy cùng Trương Mỹ Ngọc
đã viết Thơ 1-2-3. Chị là người cổ xúy nhiệt tâm cho Phan Hoàng và thể thơ mới.
Và tôi chẳng ngạc nhiên khi tác giả của “Thế giới đâu ngờ một ngày mê sảng” lọt
tốp 5 của tháng 5 Thơ 1-2-3.
Từ một đốm lửa ban đầu, Thơ 1-2-3 đã nhận được sự cộng hưởng
mạnh mẽ của các tác giả từ mọi miền đất nước. Trừ vài cái tên quen như Đặng Tường
Vy, Bình Địa Mộc, Hoa Níp (Theo ông Trần Vinh, phụ thân của nhà thơ Hoa Níp,
ông đã thông linh để thỉnh thơ Hoa Níp từ cõi vô ưu về góp mặt trong Thơ
1-2-3), còn hầu như các tác giả đều mới, trong đó có rất nhiều thầy cô giáo
đang trực tiếp đứng lớp. Tôi nghĩ đây là tín hiệu lành cho dòng thơ mới khai
sinh. Một niềm vui nữa là thảy họ đều rất trẻ. Trong cuộc sống, đam mê thơ ca
là sự đam mê thuần khiết nhất. Thơ ca chẳng phải dành cho riêng ai. Hay và có
ích cho đời là người ta nhớ. Chúng ta đều biết, mọi sự sáng tạo, thể nghiệm cái
mới đều chông gai, ở ta và trên thế giới cũng vậy, nhất là trong lĩnh vực nghệ
thuật. Nhưng với mấy chục chùm thơ mà Ban Biên tập chọn đăng trên VHSG, có thể
thấy cây Thơ 1-2-3 đã bén rễ, ra những trái ngọt lành.
Tôi đã đọc toàn bộ Thơ 1-2-3 của các tác giả VHSG chọn đăng từ
15-6-2020 trở về trước: Đặng Tường Vy, Bình Địa Mộc, Nguyễn Doãn Việt, Trần
Huy Minh Phương, Vũ Tuyết Nhung, Trương Mỹ Ngọc, Trần Vinh, Hà Phi Phượng,
Lê Tuyết Lan, Phan Phương Loan, Đoàn Thị Diễm Thuyên, Nguyễn Đinh Văn Hiếu,
Đỗ Thu Hằng, Võ Văn Trường, Vũ Thanh Thủy, Hoàng Hải Phương, Đặng Văn
Thắng, Võ Hoàng Phương, Lê Đỗ Lan Anh, Nguyễn Thị Nguyệt Thu, Nguyễn Hồng
Linh, Trầm Thanh Tuấn, Nguyễn Thị Hằng, Lưu Minh Hải, Trần Thị Hồng Anh, Đỗ Thu
Hằng, Lâm Long Hồ, Trần Nguyệt Ánh, Nguyễn Tường Minh, Phạm Tuyết Hạnh,
Nguyễn Lan Hương,… chừng hơn ba chục người, tức là trên dưới trăm rưởi tác phẩm
(có vài tác giả đăng 2-3 chùm). Ấn tượng của tôi là Thơ 1-2-3 đã đáp ứng tiêu
chí của VHSG về luật chơi, có sự uyển chuyển nhất định trong việc dẫn dắt thơ
đi từ ngoại cảnh vào chiều sâu nội tâm, có đôi câu gai góc, nhưng tựu chung lại
vẫn là sự hồn hậu, đẫm chất người. Đã xuất hiện những tứ thơ lạ, có thể coi là
phát hiện: Hố đen trong trí tưởng tượng của em là đôi mắt (Bình Địa Mộc), Đầu
sáng hôm nay em đã gặp một người say rượu (Vũ Tuyết Nhung), Rụng những
hương hoa trên giọng hót họa mi (Trần Huy Minh Phương), Có những lần nghe
hơi thở đi hoang (Lê Tuyết Lan), Ngủ lại đêm quê nhà lấy lạnh đắp làm chăn
(Hoàng Hải Phương), Một buổi sáng mùa thu mây mù giăng mắt (Trương
Mỹ Ngọc), Tôi giờ chỉ còn một mộng ước giản đơn (Phạm Tuyết Hạnh), Người
đàn bà gõ vào chiếc chuông nhỏ (Nguyễn Doãn Việt), Giấc mơ
tình yêu mở cửa thiên đường (Phan Phương Loan), Không tiếng khóc nào quý giá
hơn tiếng khóc đầu tiên (Đoàn Thị Diễm Thuyên), Mượn lạ vay quê (Vũ Thanh Thủy),
Một ngày buồn cuối tháng Năm và Bé gái ngập ngừng đạp xe trên phố đông (Hà Phi
Phượng), Cánh đồng mẹ là giấc mơ, lũ bù nhìn lóng ngóng (Võ Văn Trường), Một
góc nhỏ trong trẻo trong tim (Nguyễn Thị Nguyệt Thu), Có người nhắc đến anh –
Chí Phèo và Thương về một loài hoa khi đất trời rực nắng (Trần Thị Hồng
Anh), Cây cỏ sinh ra cũng có linh hồn (Nguyễn Tường Minh), Khi một bài thơ
cô đơn (Lê Đỗ Lan Anh), Thế giới đâu ngờ một ngày mê sảng (Đặng Tường Vy), Lòng
anh giờ như phố núi bình yên (Lưu Minh Hải), Tiếng chim đỗ quyên hận ly biệt
nghe não nề (Nguyễn Hồng Linh),…
Trong dòng chảy của thi ca, thể Thơ 1-2-3 do Phan Hoàng khai
sáng có gì đặc biệt khiến cho người viết hứng thú và lan tỏa mạnh mẽ? Điểm
đầu tiên có lẽ Thơ 1-2-3 không nhiều chữ. Cuộc sống hiện đại không cho người ta
quá nhiều thời gian đẻ chữ theo lối tràng giang đại hải, để có một tứ thơ hay
người viết buộc phải chắt chiu lựa chọn từng chữ, hình ảnh, sao cho chữ ít mà
biểu đạt được nhiều nhất. Tư duy thơ theo lối đi từ ngoại cảnh dẫn vào nội tâm
tác động đến cách nghĩ, lối nghĩ của không ít người trong tư duy sáng tạo nói
riêng và tư duy nói chung. Trí não được kích hoạt đã tạo cho người viết sự hứng
thú. Thứ hai là việc chọn đăng trên VHSG. Việc chọn đăng này tôi thấy rất trọng
thị, khiến người viết lên hương, nhất là với các thầy cô giáo. Người viết giờ
đã trẻ, mai này với sự trọng thị rồi sẽ xuất hiện những tác giả trẻ nữa, và thi
đàn sẽ được hưởng lợi.
Với cách nhìn như tôi vừa bày tỏ thì rõ ràng Thơ 1-2-3 đã đem
lại một làn gió tươi mới, chí ít là trong hiện tại, cho văn đàn. Giới hạn trong
Thơ 1-2-3, tôi đã thấy thấp thoáng bóng dáng vài ba thi sĩ trong tương lai
không xa. Nhưng nói đi thì cũng nên nói lại. Trong trên dưới trăm rưởi tác phẩm
Thơ 1-2-3 tôi đã đọc, có đôi bài vẻ như đã lộ ra sự dễ dãi chẳng đáng có nơi
người viết. Thiết nghĩ một câu thơ là phải bảo đảm yếu tố liền mạch, bao gồm ý
và nhạc điệu. Rất không nên lấy ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn ghép lại thành
Thơ 1-2-3. Một bài thơ ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn tượng hình rồi giờ luộc lại,
vẫn lồ lộ đốt sống cũ. Tôi nói như vậy để các bạn suy ngẫm.
19/6/2020
Cao Chiến
Theo https://vanhocsaigon.com/
"Nửa đêm gõ mõ" của Phạm Tiến Duật
"Nửa đêm gõ mõ"
của Phạm Tiến Duật
Bài thơ đưa ta về gặp lại một cuộc chiến tranh khác. Cuộc
chiến không tiếng súng, không có chiến công, không có huy chương, chỉ thấy nỗi
đớn đau của người phụ nữ ở những làng quê sau bom đạn. Một cuộc chiến không nói
được bằng lời, sâu thẳm hơn, là sự cô đơn và trống vắng của người phụ nữ trong
những ngày còn lại trên cõi nhân gian này.
NỬA ĐÊM GÕ MÕ
Sư thầy tụng kinh từ đầu đêm
Sao quá nửa đêm vẫn chưa đi ngủ
Sao sư thầy không gõ mõ
Lại vừa tụng kinh vừa gõ đầu mình
Có phải đâu là Thị Kính hiện hình
Đi tu hẳn khó khăn vì tuổi chưa già được
Dù là nữ tu có thể nào thoái thác
Chính cơ thể mình – thân gái trời ban
Trong phòng riêng có giờ phút ngỡ ngàng
Thấy dấu hiệu của thời còn sinh nở
Tội nghiệp màu trắng, tội nghiệp màu đỏ
Tội nghiệp màu xanh, tội nghiệp chính thân mình
Nam – mô – a – di – đà – Phật
Cho con xin từ giã phận mình
Những ham muốn đời thường
đừng bắt con đeo đẳng
Lộc của người xin trả cho người
Sự yên bình đừng phá màu cay đắng
Sư thầy tụng kinh từ đầu đêm
Sao quá nửa đêm vẫn chưa đi ngủ
Sao sư thầy không gõ mõ
Lại vừa tụng kinh vừa gõ đầu mình
Có thể nào những day dứt thời bình
Cũng có thể làm vết thương thuở nào tái phát
Trời đã về khuya tiếng mõ dường thưa thớt
Tiếng cầu kinh nhỏ dần trong gió đêm.
Bài thơ trên nằm trong Chương III, trường ca Tiếng bom
và tiếng chuông chùa của Phạm Tiến Duật toàn tập, NXB Hội Nhà
văn, 2000. Chuyện kể rằng, ở Thái Bình, có hàng chục ngôi chùa, hằng trăm sư nữ,
xuống tóc vào chùa. Vũ Cao, tác giả Núi Đôi và Phạm Tiến Duật đã về
Thái Bình, gặp lại những sư nữ vốn là chiến sĩ, thanh niên xung phong của thời
chống Mỹ tại các cung đường Trường Sơn. Kết thúc chiến tranh, khi về lại quê
nhà, tuổi xuân đã đi qua. Những người bạn trai cùng lứa thì nằm lại dọc đường
ra trận, không về. Người trở về, có gia đình riêng. Bao nhiêu nỗi niềm, và, họ
đã xuống tóc đi tu. Chiếc áo xanh trận mạc thay bằng những chiếc áo nâu sồng.
Ở bài thơ này, Phạm Tiến Duật dẫn lại Kinh Phật Thủ Lăng
Nghiêm trước khi đi vào những nỗi niềm sau cuộc chiến:
Tất cả sẽ thành nước cả thôi. Người ta
Buồn quá thì chảy nước mắt ra …
Có điều là, cả bài thơ không thấy giọt nước mắt, nỗi đau như
nén lại, chảy ngược vào trong. Chú ý sẽ thấy, khổ thứ nhất và khổ thứ năm mới
nói về tụng kinh gõ mỏ. Các khổ thơ khác, chủ yếu bàn về phận người. Tuy là vậy,
các khổ vẫn xoắn quyện vào nhau, bật lên bi kịch chiến tranh. Phạm Tiến Duật là
nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Bài thơ trên, tác giả
ghi chú, viết tại Hà Nội, tháng 7 năm 1997. Thời điểm này, cuộc chiến đã lùi xa
hai mươi năm. Nhưng rồi, mọi thứ như cứ bày ra đấy, vẫn còn đó bao nỗi niềm,
bao xao xuyến. Làng quê sau chiến tranh, dưới mỗi mái nhà là một số phận. Dưới
mỗi mái chùa là một bài thơ buồn. Bài thơ có sáu khổ. Mỗi khổ như tiếng mõ, gõ
vào đêm vắng. Người tụng kinh tụng từ đầu đêm. Người nghe kinh, nghe suốt cả
đêm, không ngủ, day dứt. Tiếng nhặt khoan của tiếng kinh kèm theo tiếng mõ, cộng
với cái giá lạnh của mùa đông, cứa vào canh khuya. Lạnh lùng. Mưa gió. Cô đơn.
Ôi, những cảnh đời của thời hòa bình.
Mười năm sau, năm 2007, Phạm Tiến Duật từ biệt cõi đời.
Bài thơ không có câu nào, chữ nào nói về cảnh bom rơi đạn nổ.
Chiến tranh lặn vào dòng sông hồi ức. Chiến tranh lùi dần vào quá khứ. Những
tàn khốc, bạo liệt của nó, giờ đây, hiển hiện trên những thân phận cụ thể.
Hình ảnh: Sao sư thầy không gõ mõ / Lại vừa tụng kinh vừa
gõ đầu mình hai lần lặp lại. Ý thơ cho thấy rằng, có thể đó là những di chứng
của chiến tranh hoặc đó là những hình ảnh bi thương của thời trận mạc vẫn cứ ám
ảnh khôn nguôi trong thẳm sâu tâm tưởng của người trở về.
Lại những, những dòng thơ ở các khổ thơ tiếp mới là những
nhát cắt, đau đớn, như muối xát vào tuổi thanh xuân, chưa già, vào “cơ thể mình
– thân gái trời ban” , “dấu hiệu của thời còn sinh nở“, “tội nghiệp màu trắng,
tội nghiệp màu đỏ, tội nghiệp màu xanh, tội nghiệp chính thân mình“. Song, đau
đớn nhất là những dòng thơ:
Nam – mô – a – di – đà – Phật
Cho con xin từ giã phận mình
Những ham muốn đời thường
đừng bắt con đeo đẳng
Lộc của người xin trả cho người
Sự yên bình đừng phá màu cay đắng …
Một đoạn thơ xin từ giã, từ giã chính mình, từ chối những ham
muốn đời thường, từ chối lộc của người, xin giữ sự bình yên dẫu cay đắng. Câu
niệm Nam – mô – a – di – đà – Phật có giúp người nữ tu đủ bình tâm đi
tiếp chặng đường còn lại của đời mình và những người đồng cảnh ngộ như mình?
Bài thơ đưa ta về gặp lại một cuộc chiến tranh khác. Cuộc chiến
không tiếng súng, không có chiến công, không có huy chương, chỉ thấy nỗi đớn
đau của người phụ nữ ở những làng quê sau bom đạn. Một cuộc chiến không nói được
bằng lời, sâu thẳm hơn, là sự cô đơn và trống vắng của người phụ nữ trong những
ngày còn lại trên cõi nhân gian này. Dằng dặc sau câu chữ, như tên một tác phẩm
của Bảo Ninh, là “nỗi buồn chiến tranh”. Svetlana Alexievich, tác giả đạt giải
Nobel Văn chương quốc tế năm 2015 về tác phẩm Chiến tranh không có một
khuôn mặt phụ nữ. Không có khuôn mặt phụ nữ chỉ là một cách nói, thậm chí, người
phụ nữ như một tượng đài của sự thống khổ và lòng can đảm trong chiến tranh.
Chao ôi, sau chiến tranh sao lại lắm những khuôn mặt phụ nữ
buồn bã thế!.
Đà Nẵng, 20/2/2020
Huỳnh Văn Hoa
Theo https://vanhocsaigon.com/
Văn xuôi các nhà văn nữ thế hệ sau 1975 nhìn từ diễn ngôn giới
Văn xuôi các nhà văn nữ thế hệ sau
1975 nhìn từ diễn ngôn giới
Trong tiến trình văn học Việt Nam, ở những giai đoạn
trước, sự có mặt của nữ giới không chiếm ưu thế. Những năm 60 thế kỷ XX, một số
cây bút nữ đã khẳng định vị thế trên văn đàn nhưng chưa thành một lực lượng chủ
yếu. Đặc biệt, ở bộ phận văn học miền Nam, đội ngũ nhà văn nữ bắt đầu gây ấn
tượng ở số lượng cũng như chất lượng. Sau 1975, và nhất là sau 1986, bên cạnh
những tác phẩm của nam giới, vẫn tồn tại một mảng văn học nữ, mang đến một sức
sống mới, với những cảm xúc mới mẻ bằng sự mẫn cảm nữ giới. Sự lên tiếng của những
người viết văn nữ làm nên một diện mạo khác, riêng so với nam giới.
1. Sự lên tiếng của nữ giới
Trong tiến trình văn học Việt Nam, ở những giai đoạn trước, sự
có mặt của nữ giới không chiếm ưu thế. Những năm 60 thế kỷ XX, một số cây bút nữ
đã khẳng định vị thế trên văn đàn nhưng chưa thành một lực lượng chủ yếu. Đặc
biệt, ở bộ phận văn học miền Nam, đội ngũ nhà văn nữ bắt đầu gây ấn tượng ở số
lượng cũng như chất lượng. Sau 1975, và nhất là sau 1986, bên cạnh những tác phẩm
của nam giới, vẫn tồn tại một mảng văn học nữ, mang đến một sức sống mới, với
những cảm xúc mới mẻ bằng sự mẫn cảm nữ giới. Sự lên tiếng của những người viết
văn nữ làm nên một diện mạo khác, riêng so với nam giới. Ngoài thế hệ các nhà
văn trưởng thành từ giai đoạn chống Mỹ từng bước thay đổi cách viết như Lê Minh
Khuê, Nguyễn Thị Ngọc Tú,… một thế hệ mới ra đời, đóng dấu ấn cá nhân bằng những
tác phẩm được đông đảo bạn đọc đón nhận. Cho đến nay, sau 40 năm thống nhất đất
nước, sau 30 năm đổi mới, đã có thêm ngày càng nhiều những nhà văn “tên tuổi”,
như Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Ấm, Y Ban, Dạ Ngân, Phan Thị Vàng Anh,… góp phần khẳng
định một thế hệ nhà văn cầm bút và trưởng thành từ sau 1975. Không có nhiều
tuyên ngôn, song bằng những trang viết lặng thầm, bền bỉ, bằng số lượng tác phẩm
được bạn đọc đón nhận và… thừa nhận, các nhà văn nữ thế hệ trưởng thành sau
1975 đã góp phần không nhỏ trong sự chuyển đổi văn học.
Sau 1975, số lượng các nhà văn nữ ngày càng nhiều. Tiếng nói
nữ giới trong văn chương có khi còn “trấn áp” cả tiếng nói của nam giới (tiếng
nói của nhà văn nam, của nhân vật nam). Ban đầu, cũng có không ít ý kiến cho rằng
văn chương phụ nữ, chuyện của phụ nữ,… chẳng bao giờ có tầm, một khi họ ít quan
tâm về… đại sự. Song, cuộc sống không chỉ được dệt nên bởi các đại tự sự; và
hơi thở của cuộc sống lại thường nằm ở những chi tiết, những câu chuyện nhỏ nhất
mà chỉ trái tim nhạy cảm của phụ nữ mới có thể phát hiện, trân quý và níu giữ.
Về sau, cùng với những thay đổi của xã hội trong quan niệm về chức năng, nhiệm
vụ của văn chương; cùng với những đòi hỏi khác của độc giả về văn học như một
loại hình giải trí, các câu chuyện của phụ nữ, gắn với phụ nữ,… ngày càng được
chú ý. Chuyện thường ngày, chuyện tình yêu, hôn nhân, chuyện tủn mủn, và những
vấn đề nhức nhối của xã hội,… đĩnh đạc bước vào các trang văn phụ nữ và trở
thành những câu chuyện không chỉ của phụ nữ. Tiếng nói của giới nữ trong văn học
khiến độc giả phải nghĩ khác về một bộ phận văn học nữ. Không còn đi bên lề,
văn xuôi nữ dần sóng đôi với văn xuôi của các nhà văn nam giới, cùng làm nên một
diện mạo nói chung của văn xuôi sau 1975. Và nếu xem sự vận động của văn xuôi
30 năm đổi mới như một đồ thị hình sin, không phải không có những thời kì, xếp
quanh vị trí đỉnh, vị trí cực đại là các cây bút nữ… Có thể nói, đã có một diễn
ngôn của giới nữ trong văn xuôi thế hệ nhà văn sau 1975.
Đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, văn đàn Việt Nam xôn xao bởi
sự xuất hiện của nhiều cây bút nữ mới, đặc biệt ở lĩnh vực truyện ngắn. Phạm Thị
Hoài gây ấn tượng với tiểu thuyết Thiên sứ và tập truyện ngắn Mê
lộ. Y Ban khẳng định ngay tên tuổi với truyện ngắn Bức thư gửi mẹ Âu Cơ –
giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1989 – 1990),
và tập truyện Người đàn bà có ma lực – giải nhì cuộc thi viết về Hà Nội
của NXB Hà Nội năm 1993). Sau một vài truyện ngắn gây tiếng vang, Võ Thị Hảo trở
thành một tên tuổi kể từ tập truyện Biển cứu rỗi. Tiếp ngay đó, Nguyễn Thị
Thu Huệ với mỗi năm mỗi tập truyện Cát đợi, Hậu thiên đường, Phù
thủy, và gần đây là Thành phố đi vắng (giải thưởng Hội nhà văn Việt
Nam 2012), thể hiện sức bền và không ngừng đổi mới cách viết của nhà văn… Với
những tác phẩm xuất bản rải rác từ giữa những năm 80, Lý Lan, Dạ Ngân, Bích
Ngân,… đã bền bỉ xác lập chỗ đứng sau ba thập kỉ sáng tác không ngừng nghỉ ở
nhiều thể loại. Hơn kém nhau chừng nửa thập kỉ, xuất bản trước sau cũng chừng nửa
thập kỉ, Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Trần Thanh Hà, Phan Thị Vàng Anh,… cùng
tạo dấu ấn khi còn khá trẻ và cùng làm nóng văn đàn với rất nhiều tập truyện ngắn
ở thập niên 90 của thế kỉ XX.
Đáng mừng là trong 15 năm đầu thế kỉ XXI, những cái tên từng
lạ lẫm, mới mẻ ấy không chỉ trở nên rất quen thuộc mà tiếp tục buộc độc giả phải
nhắc tên. Một số tác giả đã thử nghiệm ở tiểu thuyết, tản văn và có những thành
công mới: Võ Thị Hảo, Y Ban, Lý Lan, Dạ Ngân, Thùy Dương, Võ Thị Xuân Hà, Trần
Thanh Hà, Phan Thị Vàng Anh,…. Văn xuôi nữ đầu thế kỉ XXI còn được tiếp sức bởi
một số nhà văn nữ thế hệ sau 1975 sống và viết ở hải ngoại như Thuận, Đoàn Minh
Phượng,… với nhiều tác phẩm lần đầu được xuất bản ở trong nước. Những tên tuổi,
những phong cách nghệ thuật đã hình thành một dòng văn nữ trong văn học Việt
Nam 30 năm đổi mới. Và để có được những thành tựu không nhỏ ấy, các nhà văn nữ
đã luôn “rút ruột” sáng tác cho chính mình, cho giới mình, với tâm niệm: “Luôn
ước muốn sáng tạo một nền văn học cho chính mình (a literature of your own).
Cho chính mình? Tức là cho thời đại mình”[1].
Bàn về các thế hệ những nhà văn nữ, nhà văn Văn Giá cho rằng,
nhìn vào những đóng góp của nhà văn nữ ở nước ta, thì thời nào cũng có những đỉnh
cao, cái tôi trong văn học nữ hôm nay là cái tôi đa diện, đa ngã[2]. Trong xu
thế hội nhập văn học toàn cầu, thế hệ nhà văn nữ sau 1975 không tỏ ra thụ động.
Một số tác giả nữ đã đạt giải thưởng ở nước ngoài. Trong bộ sách Phái đẹp
– Cuộc đời & Cây bút, tập 1, ghi lại 43 chân dung nhà văn nữ nhiều thế hệ
(vẫn còn một số nhà văn chưa được điểm diện) chỉ có Nguyễn Ngọc Tư (2008) được
trao Giải thưởng Văn học ASEAN (nhà văn nữ duy nhất trong số 17 nhà văn được giải
thưởng từ 1996-2013).
Các nhà văn nữ lên tiếng về điều gì? Nói như Y Ban: “Tôi muốn
xã hội hãy đọc tác phẩm của các nhà văn nữ như một sự lắng nghe, một sự thấu hiểu.
Vì đó chính là tiếng lòng của họ, là những khát khao tự giải phóng bản thân
mình”[3]. Như vậy, văn chương nữ trước hết là tiếng lòng, là khát khao của phụ
nữ, là bất cứ chuyện gì liên quan đến họ, giúp họ trải nghiệm cuộc sống, khẳng
định và giải phóng bản ngã. Văn xuôi nữ kể những câu chuyện về tình yêu, hôn
nhân, gia đình,… không phải cái cách lấy những đề tài gần gũi nhất của phụ nữ để
kể, tả, bình luận từ “bên ngoài” như các nhà văn nam giới, mà kể về những cảm
giác, những run rẩy hạnh phúc, đớn đau,… chỉ của phụ nữ. Văn xuôi thế hệ các
nhà văn nữ sau 1975 vẫn quan tâm đến những chuyện lớn của đất nước, của xã hội,
song thường từ những góc khuất cuộc sống, những thân phận bé nhỏ. Đã có một
“chiến tranh mang khuôn mặt nữ giới” trong sáng tác của Dạ Ngân, Võ Thị Hảo,Võ
Thị Xuân Hà, Trần Thanh Hà,… Đã có những câu chuyện lịch sử được nhìn từ góc
nhìn giới, nhân vật lịch sử được chiêu tuyết hay kết tội đều từ điểm nhìn bên
trong (truyện ngắn lịch sử của Trần Thùy Mai, Trần Thị Trường, tiểu thuyết lịch
sử của Võ Thị Hảo…). Cũng đã có vô vàn tiếng nói phẫn nộ, bức xúc trước những
tiêu cực, tha hóa của xã hội thời hậu chiến trong các tác phẩm của Phạm Thị
Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Lý Lan,… Có những bức tranh xã hội
rộng lớn được các nữ nhà văn lựa chọn thể hiện bằng tiểu thuyết (như của Võ Thị
Hảo, Dạ Ngân, Thùy Dương, Thuận,…). Có nhiều chi tiết đời sống lớn, nhỏ,… được
tái hiện từ những ngẫm, nghĩ, cảm nhận của các nhà văn nữ qua tản văn (như của
Dạ Ngân, Bích Ngân, Thảo Hảo, Trần Thanh Hà,…). Nhìn chung, văn xuôi nữ thế hệ
nhà văn sau 1975 không chỉ bao quát nhiều đề tài mà còn trải rộng ở nhiều thể
loại. Ở đề tài nào, thể loại nào, các nhà văn nữ cũng tạo nên những dấu ấn nhất
định, không chỉ bởi tài năng, bởi những nhọc nhằn nghiêm túc của nghiệp viết
lách, mà còn bởi những đặc trưng giới tính đậm nhạt trong các trang văn.
2. Từ ý thức giới đến tinh thần nữ quyền
Ý thức giới (Gender awareness) là khái niệm chỉ mức độ
kiến thức và sự hiểu biết về khác biệt trong vai trò và mối quan hệ giữa nam giới
và nữ giới. Ý thức giới được đề cập nhiều ở phương diện xã hội học, xuất phát từ
nỗ lực đem lại bình đẳng giới, bảo vệ giới nữ trước những định kiến xã hội, những
quan niệm truyền thống vốn coi thường phụ nữ, mặc định phụ nữ phải yếu kém hơn
nam giới. Dĩ nhiên, phụ nữ có giới tính riêng – giới tính nữ, phân biệt với giới
tính nam. Song khái niệm “nữ tính” vốn do đàn ông gán cho phụ nữ để chỉ những đặc
điểm về mặt xã hội (thay vì những đặc điểm thuộc về bản tính, giới tính), từ đó
quan niệm phụ nữ là yếu kém (yếu đuối), phụ thuộc,… chỉ là kết quả của ý thức hệ
nam quyền kéo dài qua nhiều thế kỉ. Và với cách nhìn lấy nam giới là trung tâm,
người nữ đã bị biến thành… phụ nữ. Nói như Simone de Beauvoir trong câu nói nổi
tiếng toàn thế giới: “Người ta không phải sinh ra là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ”.
Đấu tranh cho giới luôn là hoạt động âm thầm của nhiều thế hệ
phụ nữ từ xưa đến nay. Song, phải đến thế kỉ XVII, đặc biệt là vào thế kỉ
XVIII, những tiếng nói của phụ nữ, vì phụ nữ, mới được vang lên một cách mạnh mẽ,
riết róng. Xuất bản quyển sách đầu tay với tựa đề Một đề nghị nghiêm túc
cho quý bà (A Serious Proposal to the Ladies, 1694), và nhiều tác phẩm
liên quan đến phụ nữ sau đó, nhà văn người Anh Mary Astell được xem là một
trong những người phụ nữ đầu tiên đề cập đến các vấn đề nữ quyền. Tuy vậy, phải
đến thế kỉ XVIII, trên thế giới mới thực sự xuất hiện những nhà nữ quyền đúng
nghĩa. Với cuốn Sự bào chữa về quyền của phụ nữ (Vindication of the
Rights of Woman, 1792) và nhiều tác phẩm khác, Mary Wollstonecraft, nhà triết học,
nhà văn người Anh, đã tiến hành một cuộc bút chiến “vì giới tính của tôi, không
phải vì bản thân” và được mệnh danh là là “nhà nữ quyền đầu tiên”, “người mẹ của
thuyết nữ quyền”. Cùng thời với Mary Wollstonecraft, tại Pháp, Olympe de Gouges
cũng đưa ra Bản tuyên ngôn về những quyền của đàn bà và nữ công dân
(Declaration of the Rights of Woman and the Female Citizen, 1791) và đã đấu
tranh vì phụ nữ (và vì chế độ da đen) cho đến chết với lời tuyên bố dõng dạc: “Một
phụ nữ có quyền bước lên đoạn đầu đài thì họ cũng phải có quyền bước lên diễn
đàn”. Được xem là nhà nữ quyền đầu tiên tại Mĩ, Judith Sargent Murray cũng đã
lên tiếng đòi bình đẳng giới giữa nam và nữ với tiểu luận Bàn về sự bình đẳng
giới (On the Equality of the Sexes, 1790), mở đường cho suy nghĩ, những ý
tưởng mới. Tư tưởng nữ quyền thế kỉ XIX được biết đến với một số tên tuổi tiêu
biểu như Bertha von Suttner (1843- 1914) – tiểu thuyết gia người Áo, Emmeline
Pankhurst (1858-1928) – nhà hoạt động chính trị người Anh,… Sang thế kỷ XX, nhà
văn người Anh Virgina Woolf với Căn phòng riêng (A Room of One’s Own,
1929), Ba đồng ghinê (Three Guineas, 1938) và nhà triết học, nhà văn
Pháp Simone de Beauvoir với Giới tính thứ hai (1949) đã khiến tư tưởng
nữ quyền lan rộng ra toàn thế giới… Hoạt động nữ quyền và đấu tranh vì bình đẳng
giới liên tục diễn ra sôi nổi từ ấy cho đến giờ. Ý thức về giới tính ở chính giới
nữ cũng đã được nâng lên nhiều so với các thế kỉ, các thập kỉ trước. Như vậy,
chỉ có phụ nữ mới nói được tiếng nói của giới họ. Điểm lại tiếng nói nữ quyền
trên thế giới, càng thấy rõ rằng, các nhà văn nữ tỏ ra có nhiều ưu thế hơn
trong việc giúp phần còn lại của thế giới và cả thế giới hiểu rõ phụ nữ, họ là
ai, thông qua các tác phẩm văn chương.
Ở Việt Nam, các nhà văn nữ, đặc biệt là thế hệ sau 1975, cũng
là những người đưa ý thức giới từ đời sống vào văn học, và ngược lại, bằng văn
học, nâng cao những nhận thức về giới. Các nhận thức về việc phụ nữ phải được
xem là một nửa dân số, phụ nữ được quyền tham gia và quyết định ở mọi phương diện
đời sống, phụ nữ phải được bảo vệ và bồi dưỡng, đào tạo, phụ nữ phải được tự do
trong khẳng định bản ngã, tự do trong tình dục,… đã được nhiều nhà văn nữ công
khai lên tiếng, giúp cho cả hai giới nam và nữ nhận biết sự khác biệt giới tính
cũng như những đòi hỏi bức thiếtvề bình đẳng giới. Không đến mức phủ định hoàn
toàn cách nhìn nhận của nam giới về phụ nữ như nhà văn, nhà triết học mang tư
tưởng nữ quyền người Pháp François Poulain de la Barre (1647-1723) cho rằng: “Tất
cả những gì được những người đàn ông viết về phụ nữ đều phải được xem xét với sự
nghi ngờ, bởi vì họ vừa là quan tòa vừa là bè phái”[4]; song các nhà văn nữ thế
hệ sau 1975 ở Việt Nam đã chứng minh rằng, nhờ có họ, xã hội Việt Nam đã có những
cách nhìn khác hơn về phụ nữ so với trước. Phụ nữ trong trang viết của các nhà
văn nữ, phụ nữ của đất nước Việt Nam thời hậu chiến, thời đổi mới, đã ý thức
hơn về bản thân, về giới tính của chính mình. Và từ những thức tỉnh giới tính ấy,
trong nhiều tác phẩm, tiếng nói nữ giới (tiếng nói của nhà văn nữ, của nhân vật
nữ, của tự thân những câu chuyện về phụ nữ…) đã trở thành những diễn ngôn mang
đậm tinh thần nữ quyền.
Thật ra, không hẳn sáng tác của bất kì nhà văn nữ nào cũng
mang tinh thần nữ quyền. Song, mang đặc trưng của giới, các nhà văn nữ khó có
thể chối bỏ những cảm nhận nữ tính trong tư tưởng, trong cách hành văn của bản
thân. Với những nhà văn nữ mang ý thức viết về (cho) mình/giới mình, lối viết nữ
giới và những câu chuyện liên quan đến các trải nghiệm giới tính lại càng được
bộc lộ rõ. Cũng chỉ những trải nghiệm giới tính (của chính bản thân, hay của những
hóa thân thành những số phận đồng giới) mới khiến văn xuôi nữ trở thành những
diễn ngôn của “giới tính thứ hai”.
Kể từ sau 1975, chưa bao giờ trong văn học Việt Nam lại xuất
hiện nhiều đến thế những tác phẩm văn học mang đậm ý thức giới tính. Nhiều tác
phẩm đã công khai “danh tính” của giới nữ ngay từ nhan đề: Hành trang của
người đàn bà Âu Lạc (Võ Thị Hảo), Người đàn bà ám khói (Nguyễn
Thị Thu Huệ), Người đàn bà bí ẩn (Phạm Thị Ngọc Liên), Người đàn
bà bơi trên sóng (Bích Ngân), Người đàn bà kể chuyện, Tiểu thuyết đàn
bà, Ba người đàn bà (Lý Lan), Đàn bà xấu thì không có quà, I am
đàn bà, Người đàn bà có ma lực (Y Ban), Trên mái nhà người phụ nữ, Gánh
đàn bà (Dạ Ngân),… Nhiều tiêu đề tác phẩm chứa đựng những kí hiệu “ám chỉ”
về chuyện của giới nữ: Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Xuân Từ Chiều (Y
Ban); Nàng tiên xanh xao, Hồn trinh nữ, Góa phụ đen (Võ Thị Hảo), Thiếu
phụ chưa chồng (Nguyễn Thị Thu Huệ), Gia đình bé mọn (Dạ
Ngân), Chuyện của con gái người hát rong (Võ Thị Xuân Hà), Gái một
con (Trần Thanh Hà), Thần nữ đi chân không (Trần Thùy Mai),… Đa
dạng về phong cách, thể loại, những người đàn bà viết thế hệ sau 1975 đã đi từ
những diễn ngôn cá nhân đến những diễn ngôn của giới, biến những ý thức về giới
trong xã hội thành những “tuyên bố” của giới nữ thông qua những câu chuyện trải
nghiệm giới tính trong văn chương. Đó là thân phận phụ nữ với những bi kịch, những
nỗi đau bởi chiến tranh trong các tác phẩm Trong nước giá lạnh (Võ
Thị Xuân Hà), Thế giới xô lệch (Bích Ngân), Tiểu thuyết đàn bà (Lý
Lan),… Đó là những mặc cảm sinh lí, mặc cảm giới tính trước những định kiến
“nam quyền” của xã hội trong Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Người đàn bà có ma lực (Y
Ban), Hậu thiên đường, Thiếu phụ chưa chồng (Nguyễn Thị Thu Huệ), Hồn
trinh nữ, Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo), Thập tự hoa,
Trăng nơi đáy giếng (Trần Thùy Mai) hay Mưa ở kiếp sau (Đoàn
Minh Phượng), Paris 11 tháng 8 (Thuận),…
Với lối viết “tự ăn mình”, nhân vật trong văn xuôi nữ chính
là sự hóa thân của chủ thể nữ giới. Ý thức giới thể hiện rõ ở phương thức kể
chuyện từ ngôi thứ nhất, nhân vật tôi/đàn bà/người kể chuyện kể chuyện mình,
chuyện giới mình, chuyện thế sự,… qua trường nhìn phụ nữ. Về phương diện này,
các nhà văn nữ thường chọn hình thức tự thuật. Điểm nhìn của chuyện/truyện hầu
hết đều là điểm nhìn bên trong. Nhân vật và người kể chuyện cũng thường đồng nhất,
xưng tôi để kể những chuyện chỉ riêng tôi mới biết (chuyện trinh tiết, chuyện
trở thành đàn bà, chuyện ngoại tình, chuyện chối bỏ bản năng làm mẹ,…). Những
bí ẩn giới tính trong nhiều trang văn nữ giới trở thành những sự chia sẻ, trải
lòng. Tôi chỉ sống để đi tìm những bí ẩn của các số phận đàn bà trong gia đình
tôi là câu chuyện của Tôi – Mai Chi trong Mưa ở kiếp sau (Đoàn Minh Phượng).
Tôi, “cái giống lạc loài”, không đủ dũng khí để bảo vệ hài nhi trong bụng –
cũng là “cái giống lạc loài” của tình yêu… lại là một câu chuyện giới tính khác
được lồng ghép khéo léo qua hình thức kể chuyện bằng thư độc đáo Bức thư gửi
mẹ Âu Cơ (Y Ban). Tôi, người phụ nữ đã đi qua nhiều khúc đoạn của cuộc đời,
đã từng bay lên thiên đường và rơi xuống bởi gánh đàn bà trên vai,… cũng là những
chia sẻ đằm thắm trong một tản văn của Dạ Ngân (Gánh đàn bà),… Dưới hình thức tự
sự như một lời độc thoại, song lại luôn đặt vấn đề để đối thoại với chính mình,
giới mình; đối thoại với nửa còn lại của thế giới… truyện ngắn, tiểu thuyết tự
thuật và tản văn nữ sau 1975 đã đem “chuyện” của giới nữ đến gần hơn với công
chúng. Nhiều tác phẩm có sự đánh tráo ngôi kể, người kể chuyện tôi/ đàn ông/ hoặc
ẩn sau một gương mặt phụ nữ khác (truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, tiểu thuyết
Võ Thị Xuân Hà…); cũng có nhiều tác phẩm được kể bởi lối trần thuật khách quan
hóa từ ngôi thứ ba, nhưng điểm nhìn hạn tri khác với truyền thống và diễn ngôn
chủ đạo của tác phẩm vẫn là diễn ngôn nữ giới, điểm nhìn kể chuyện vẫn là điểm
nhìn bên trong của nữ giới. I am đàn bà (Y Ban), Thiếu phụ chưa
chồng (Nguyễn Thị Thu Huệ), Gia đình bé mọn, Con chó và vụ li hôn (Dạ
Ngân), Tiểu thuyết đàn bà (Lý Lan),… là những tác phẩm như thế. Truyện
được kể từ điểm nhìn của người kể chuyện hàm ẩn/ tác giả nữ. Điểm nhìn nữ giới
này lại thường xuyên đồng nhất/ thống nhất với điểm nhìn của các nhân vật nữ
(Thị trong I am đàn bà, My trong Thiếu phụ chưa chồng, Tiệp, Đoan trong Gia
đình bé mọn, Con chó và vụ li hôn, Thoa trong Tiểu thuyết đàn bà)… Với đặc điểm
đó, văn xuôi nữ thế hệ nhà văn sau 1975 hiếm khi khách quan, trung tính. Giọng
điệu trần thuật trong nhiều tác phẩm thường giàu cảm xúc. Đặc trưng giới và ý
thức về giới khiến các nữ văn sĩ thường để “lộ” tư tưởng, quan niệm, tình cảm
chủ quan nhiều hơn so với các nhà văn nam giới. Điều này một mặt giúp các diễn
ngôn nữ giới trong văn chương được bộc lộ rõ nét; song mặt khác lại khiến họ
đôi khi đã tự khuôn mình vào khu vực “văn học giới”, thay vì nhập vào dòng văn
học đương đại nói chung.
3. Nữ quyền luận và hiện sinh – những tiếng nói khẳng định
nhân vị giới
Simone de Beauvoir vừa là một nhà nữ quyền luận vừa là nhà
văn mang tư tưởng hiện sinh. Kết hợp, bổ sung hai triết thuyết lớn với những nhận
định nhân bản, de Beauvoir được xem là một trong những người sáng lập ra thuyết
Nữ quyền hiện sinh. Tiếp nhận những lí thuyết hiện đại, thế hệ nhà văn nữ sau
1975 đã đem lại một tinh thần mới cho văn học đương đại – điều cơ bản nhất là
khẳng định nhân vị đàn bà. Ý thức nữ quyền là sự phát triển và thể hiện cao nhất
của ý thức về giới ở phụ nữ. Vượt lên trên sự tự ý thức về giới tính, về những
đặc trưng của giới nữ trong tương quan với giới nam, ý thức nữ quyền là sự tự
nhận thức về quyền và địa vị của phụ nữ. Từ những nhận thức ấy, những nhà văn nữ
đã bằng nhiều cách, phản đối những gì chống lại phụ nữ trên mọi phương diện,
trong đó có bất bình đẳng tính dục.
“Trong bản thể con người vốn có một thứ căn bản nguyên sơ là
dục vọng, và thứ dục vọng này đưa đến ham muốn tiếp xúc nhục thể, tạo thành sự
cộng hưởng sinh hoạt” (Michel Foucault) [5]. Nhà nữ quyền hiện sinh
de Beauvoir nổi tiếng với những nhận định về bình đẳng giới trong tình dục: “Để
trở thành một cá nhân hoàn toàn và bình đẳng với nam giới thì người nữ phải được
tiếp cận với thế giới nam giống như người nam tiếp cận với thế giới nữ”[6]. Khẳng
định nhân vị đàn bà, đã có một hiện sinh tính dục trong các trang văn phụ nữ.
Cùng với những diễn ngôn tính dục được trao cho phụ nữ, văn xuôi thế hệ các nhà
văn nữ sau 1975 đã làm nên một âm hưởng nữ quyền trong bức tranh chung của văn
học đương đại Việt Nam. Trong hành trình xác lập cái tôi nữ giới, người kể chuyện/
tác giả nữ không chỉ khẳng định bản ngã mà còn tự giải phóng bản thân, bằng ý
thức về vẻ đẹp nữ giới; ý thức về cái tôi cá thể; về những đòi hỏi bản năng,…;
những trải nghiệm tính dục cũng xuất hiện với mật độ ngày càng nhiều (tác phẩm
Y Ban, Dạ Ngân, Võ Thị Xuân Hà, Thuận…).
Những năm đầu sau 1986, bối cảnh xã hội những năm tháng vừa mới
ra khỏi chiến tranh, vừa làm quen với thời đổi mới khiến ý thức nữ quyền trong
nhiều tác phẩm dù đã lên tiếng, song vẫn chưa được đẩy lên đến mức bạo liệt (Bức
thư gửi mẹ Âu Cơ, Người đàn bà có ma lực, Con chó và vụ li hôn...). Nhà không
có đàn ông của Dạ Ngân là tác phẩm đề cập trực tiếp quyền của đàn bà khá sớm. Từ
cái nhìn “bên trong” của nhân vật, của giới, Dạ Ngân bình luận: “Những người
thân của chị đã thành công khi họ nhân danh đủ thứ, truyền thống và tiêu chuẩn,
tình thương và sự hy sinh nhưng không ai để lộ một lẽ nhân danh khác, ấy là
tính đàn bà. Họ đã gắp gọn ra khỏi trái tim người phụ nữ trẻ ấy khát vọng tình
yêu, cái mà con người cần hơn mọi thứ, vì từ đó mà có tất cả”.
Đầu thế kỷ XXI, vượt lên định kiến, văn xuôi thế hệ các nhà
văn nữ sau 1975 không chỉ là diễn ngôn của giới mà trở thành những diễn ngôn
mang ý thức nữ quyền – hiện sinh. Theo Soeren Kierkegaard – ông tổ sáng lập chủ
nghĩa hiện sinh: “Hiện sinh, là bước ra khỏi phòng tối, là không chấp thuận cái
kín cổng cao tường, là chối từ cái im lìm, cái bất động của cái gì đã đạt, đã
xong, đã rồi, đã đủ… Không. Sống là còn đòi hỏi thêm… thêm… Thế còn chưa đủ. Thế
vẫn chưa vừa. Hôm nay phải khác hôm qua. Ngày sau không thể nào lập y như bữa
trước” [7]. Không chấp thuận cái kín cổng cao tường… nhiều nhà văn đã lên tiếng
bênh vực cho giới nữ, kể cả “nổi loạn tính dục” để khẳng định vị thế. Nhân vật
của Nguyễn Thị Thu Huệ “luôn muốn một cái gì như gió bão chứ không đủ sức chịu
đựng và chờ đợi sự thấm lâu của mưa ngâu” (Người xưa); “Tôi cóc cần sống vì ai.
Tôi phải vì tôi bởi cũng có ai nghĩ đến tôi đâu” (Thiếu phụ chưa chồng).
Tính dục là nhu cầu, là đời sống của nữ giới, là tự do cá
nhân. Khẳng định nhân vị trong đời sống tính dục trở thành biểu hiện rõ nhất của
ý thức nữ quyền hiện sinh, bên cạnh những giải thiêng đạo đức, truyền thống,… từng
xuất hiện trong văn xuôi nữ giai đoạn trước. Với nhiều truyện ngắn (I am đàn
bà, Gà ấp bóng…) và nhất là với hàng loạt tiểu thuyết tấn công mạnh mẽ vào ý thức
hệ nam quyền (Xuân Từ Chiều, Trò chơi hủy diệt cảm xúc,…), Y Ban vẫn luôn là
nhà văn sôi sục ý thức nữ quyền hơn cả. Tiêu đề truyện, phát ngôn ngắn gọn của
một nhân vật nữ trong truyện ngắn Y Ban “I am đàn bà”, chính là lời xác tín
nhân vị đàn bà dẫu từ góc khuất bản năng giới. Được viết bằng ngôn ngữ thân thể,
vấn đề tính dục trong tiểu thuyết nữ có khi còn mạnh mẽ, bạo liệt hơn so với tiểu
thuyết của nhà văn nam giới. Những năm 60 của thế kỷ XX, trong một bộ phận văn
học miền Nam, Nguyễn Thị Hoàng khá bạo liệt khi để nhân vật nữ chiêm ngưỡng
thân thể đàn ông và khơi lên những cồn cào, rạo rực bản năng: “Trâm nhìn khoảng
cườm chân trắng nõn của Minh hé lên giữa ống quần và tất đen”; “chiếc áo len
xanh ngắn rướn lên để hở một khoảng da bụng trắng muốt” (Vòng tay học trò). Thuộc
thế hệ khác, trong bối cảnh xã hội khác, nhiều nhà văn nữ thế hệ sau 1975 đã
thay đổi những cái nhìn duy dương vật vốn lấy nam giới làm trung tâm. “Tôi nằm
phơi dưới cơn mưa, đồng loã với đất trời trêu ngươi bản lĩnh chuyên chính của
Tăng…”; “Tôi ngủ trên cỏ, trần truồng, thích thú …”, “Cười nhạo sự thánh thiện.
Mơn trớn và giục giã…” (Trong nước giá lạnh – Võ Thị Xuân Hà).
Với cảm thức hiện sinh, các nhà văn nữ đã ý thức khắc họa một
kiểu nhân vật nữ lạc lõng, xa lạ giữa một thế-giới-vắng, thế giới phi lí. Trong
các không gian rỗng, nhân vật nữ thường rơi vào tâm trạng cô đơn, chông chênh
trong trạng thái vừa muốn kết nối vừa tách rời cuộc sống. “Bước qua mỗi ngày sống,
người ta tiến gần đến với cái chết của mình hơn” (M. Heidegger). Lo âu, thiếu vắng,
cái chết trở thành phổ biến trong nhiều tác phẩm. Những cái chết phi lí trong một
thế giới vô cảm (Thành phố đi vắng – Nguyễn Thị Thu Huệ). Những cái chết
được lựa chọn sau những phút giây truy tìm bản thể, trả lời/ không thể trả lời
được câu hỏi về sự hiện tồn “Tôi là ai?” (tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng). Những
cái chết tất yếu sau nỗi đau phải sống (tiểu thuyết Thuận),… Như vậy, ngoài ý
thức về bản năng tính dục từ góc nhìn giới, ý thức về bản năng chết “có chức
năng đưa tất cả những gì ở trạng thái sống động về trạng thái bất động”[8] cũng
xuất hiện trong sáng tác của nhiều nhà văn nữ.
Kết luận:
Văn học sau đổi mới đã đi được một chặng đường 30 năm. Các
nhà văn nữ thế hệ sau 1975 cũng đã có thâm niên sáng tác từ 20 đến 30 năm và có
thể còn dài hơn nữa (Nhiều tác giả vẫn đang ở giai đoạn sung sức, bút lực dồi
dào, hứa hẹn sẽ tiếp tục đem đến những tác phẩm mới có giá trị). 30 năm trong
tiến trình vận động của văn học chỉ là một giai đoạn ngắn, nhưng sự nghiệp 20,
30 năm sáng tác với nhiều tác giả là một sự nghiệp đáng tự hào. Theo quy luật
sàng lọc khắc nghiệt của thời gian, một vài thập kỉ, một vài thế kỉ nhiều khi
cũng chỉ còn lại một vài tên tuổi. Song cũng theo quy luật về sự “trỗi dậy”, “bừng
nở” trong các giai đoạn văn học chuyển đổi, bước sang một trang mới, có những
giai đoạn văn học ngắn lại đem đến những bước tiến dài. 30 năm văn học đổi mới
với sự đóng góp không thể phủ nhận của các nhà văn nữ thế hệ sau 1975 là một
giai đoạn như thế. Các nhà văn nữ đã cùng nhau làm nên một dòng văn học nữ giàu
bản sắc, tiếp tục cất lên tiếng nói của nữ nhân Việt Nam. Tiếng nói nữ giới ấy
không còn là những tiếng nói cá nhân, nhỏ lẻ như những thời kì, những giai đoạn
văn học trước. Tiếng nói phụ nữ trong văn xuôi 30 năm đổi mới đã là tiếng nói
chung của giới nữ. Nhờ sự tập hợp đông đảo ấy, các nhà văn nữ thế hệ sau 1975
đã không chỉ khẳng định ý thức giới tính mà còn tạo nên một diễn ngôn của giới
mang đậm âm hưởng nữ quyền. Văn học nữ nhờ đó không còn là một bộ phận, một khu
vực văn học “ngoại biên” của nền văn học chính thống. Văn học, văn xuôi nữ trở
thành một bộ phận không thể chia cắt, tách rời của nền văn học đương đại. Diện
mạo của văn học Việt Nam đương đại cũng sẽ khuyết thiếu, bất thành hình nếu
không tính đến sự góp phần của văn xuôi nữ, đặc biệt là văn xuôi của các nữ nhà
văn thế hệ sau 1975..
Chú thích:
[1] Võ Thị Xuân Hà:Văn trẻ – bình tĩnh và vững tâm,
(tham luận tại Tọa đàm giao lưu nhà văn trẻ trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế quảng
bá văn học Việt Nam 2010). Nguồn:
http://tonvinhvanhoadoc.vn/.
[2] Ý kiến phát biểu tại Hội thảo về bộ sách “Phái đẹp –
Cuộc đời & Cây bút”, Nguồn:
http://vanvn.net/news/1/5852-hoi-thao-ve-bo-sach-phai-dep-cuoc-doi-cay-but.html
[3] Y Ban: ‘Hãy lắng nghe tác phẩm của nhà văn nữ’, Nguồn:
http://giaitri.vnexpress.net/.
[4] Dẫn theo Nguyễn Tấn Hùng: “Tư tưởng của Simone de
Beauvoir về vấn đề nữ quyền trong tác phẩm Giới tính thứ hai”, Nguồn:
http://www.chungta.com/.
[5] Michel Foucault: “Lịch sử tính dục: Chương năm : Nữ
giới” (Khổng Đức dịch). Nguồn:
http://www.vanchuongviet.org/.
[6] Dẫn theo Nguyễn Tấn Hùng: “Tư tưởng của Simone de
Beauvoir về vấn đề nữ quyền trong tác phẩm Giới tính thứ hai”, Tlđd.
[7] Dẫn theo Bùi Giáng: “Soeren Kierkegaard và cơ sở chủ
nghĩa hiện sinh”, Tư tưởng hiện đại, NXB Văn hóa Sài Gòn, Tp.HCM., 2008.
[8] Sigmund Freud: “Cái tôi và cái nó” (Trần Thị Mận dịch
với sự giúp đỡ của Jean – Noel Cristine), NXB Tri thức, H., 2015, tr.86.
24/6/2000
Thái Phan Vàng Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Từ một quan điểm của Bakhtin, nghĩ về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Từ một quan điểm của Bakhtin, nghĩ
về tiểu thuyết Việt Nam hiện
đại
Quá trình biến đổi của tiểu thuyết vẫn chưa kết thúc.
Ngày nay, tiểu thuyết đang bước vào một giai đoạn mới. Nét đặc thù của thời đại
là thế giới trở nên phức tạp và sâu sắc phi thường, tính đòi hỏi cao, tính tỉnh
táo và óc phê phán của con người cũng tăng trưởng phi thường. Những đặc điểm đó
sẽ ấn định cả sự phát triển của tiểu thuyết…
Người ta cho rằng tiểu thuyết có mầm mống từ thời cổ đại, với Satyricon của
nhà văn La Mã Gaius Petronius (thế kỉ I), và với Biến dạng hay Con
lừa vàng cũng của một nhà văn La Mã tên là Apuleius (thế kỉ II). Tác phẩm
của hai nhà văn này lần đầu tiên kể về cuộc sống của những người bình dân, đối
lập với thể loại có tính quý tộc là thơ ca và trường ca (hay còn gọi là sử thi,
anh hùng ca). Nhưng trên thực tế, ở thời cổ đại người ta chỉ chú trọng thơ ca,
kịch thơ và trường ca. Ngay trong suốt thời trung đại, trường ca vẫn là hình thức
nghệ thuật được coi trọng. Phải đến thời Phục hưng, với sự ra đời của hai tác
phẩm Gargantua và Pantagruel của Rabelais (thế kỉ XVI)
và Don Quixote của Cervantes (thế kỉ XVII), thì tiểu thuyết mới thực
sự hình thành, mà mầm mống trực tiếp của nó ở văn hoá dân gian trung đại và ở
truyện ngắn cuối thời trung đại với tập truyện ngắn nổi tiếng Mười ngày viết bằng
ngôn ngữ bình dân của Boccaccio (thế kỉ XIV).
Có thể nói, giai đoạn mới của tiểu thuyết bắt đầu từ thời Phục
hưng ở châu Âu. Từ đây tiểu thuyết thực sự trở thành một thể loại chủ chốt của
loại văn tự sự. Đến thế kỉ XIX nó nở rộ, đem đến cho lịch sử văn học nhân loại
những tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn bậc thầy như Stendhal, Zola, Balzac,
Thackeray, Dickens, Gogol, Turgenev, Tolstoy, Dostoyevsky… Lúc này, quy mô tiểu
thuyết đã đạt đến tầm vóc lớn lao chưa từng có như bộ Tấn trò đời của
Balzac, Dòng họ Rougon-Macquart của Zola, Chiến tranh và hòa bình của
Tolstoy…
Ở Trung Quốc, tiểu thuyết xuất hiện sớm ở thời Ngụy-Tấn, thế
kỉ III-IV. Đặc biệt đến thời Minh đã xuất hiện các bộ tiểu thuyết chương hồi nổi
tiếng như Tam quốc diễn nghĩa, Đông Chu liệt quốc, Thủy hử, Tây du kí… Sang
thời Thanh cũng xuất hiện các bộ tiểu thuyết đồ sộ như Hồng lâu mộng.
Tiểu thuyết ở Việt Nam phát triển muộn. Phải đến cuối thế kỉ
XVII, ở ta, tiểu thuyết văn xuôi mới bắt đầu hình thành với cuốn gia phả lịch sử
viết dưới dạng tiểu thuyết chương hồi Hoan châu kí (không rõ tác giả).
Nhưng tác phẩm có giá trị tiểu thuyết thực sự phải kể đến là Nam triều
công nghiệp diễn chí (1719) của Nguyễn Khoa Chiêm. Và phải đến đầu thế kỉ
XX, với sự ra đời của tiểu thuyết lãng mạn và hiện thực, thì chúng ta mới có tiểu
thuyết hiện đại.
Mặc dù ra đời muộn, nhưng tiểu thuyết đã nhanh chóng trở
thành một thể loại bao trùm và có vị trí quan trọng nhất của văn học, và – theo
Bakhtin – “trong số các thể loại đã hoàn bị từ lâu và một phần đã tiêu vong, tiểu
thuyết là thể loại duy nhất đang phát triển”(1).
Trong bài tiểu luận Epic and Novel, viết năm 1941, xuất
bản lần đầu năm 1970, Bakhtin đã nêu ra ba đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết với
tư cách là thể loại “đang phát triển” để phân biệt nó với các thể loại khác. Ba
đặc điểm đó là:
“1/ Tính ba chiều phong cách học của nó, gắn với ý thức đa ngữ
(multi-language consciousness); 2/ Sự thay đổi căn bản mà nó tạo ra trong các
toạ độ thời gian của hình tượng văn học; 3/ Khu vực mới, được nó mở ra cho việc
cấu trúc các hình tượng văn học, đó chính là khu vực tiếp xúc tối đa với cái hiện
tại (tức với hiện thực đương đại) trong tính không giới hạn của nó.
Cả ba đặc điểm trên liên quan hữu cơ với nhau và đều chịu tác
động mạnh mẽ bởi một sự đứt đoạn rất đặc thù trong lịch sử văn minh châu Âu: nó
thoát ra từ một xã hội bán gia trưởng, cách li về mặt xã hội và vô cảm về văn
hoá để gia nhập vào các mối quan hệ giao lưu liên dân tộc và liên ngôn ngữ. Cái
mà châu Âu có được, cái mà từ đây sẽ trở thành một nhân tố quy định đời sống và
tư duy của nó, chính là sự đa dạng của vô số ngôn ngữ, nền văn hoá, thời đại…”(2).
Đặc điểm thứ nhất, theo Bakhtin, gắn rất chặt với tính đa ngữ
đang hoạt động của thế giới mới, của văn hoá mới và ý thức sáng tạo văn hoá mới.
Bakhtin cho rằng tính đa ngữ luôn luôn tồn tại ở mọi thể loại, nhưng ở các thể
loại đã hoàn bị, trạng thái đa ngữ chưa phải là một nhân tố sáng tạo; ở đó ý thức
sáng tạo mới chỉ được thể hiện trong khuôn khổ những ngôn ngữ khép kín thuần
khiết, và cái trạng thái đa ngữ đó đã được chỉnh đốn đồng thời quy phạm hoá
theo xu hướng của ngôn ngữ thuần khiết này.
Với tiểu thuyết, ý thức văn hoá mới và ý thức sáng tạo văn học
mới bắt đầu liên quan chặt chẽ với thế giới đa ngữ đang hoạt động. Trong tiểu
thuyết, tất cả ngôn ngữ (như thổ ngữ, phương ngữ, biệt ngữ…) đã chuyển động và
gia nhập tiến trình tác động lẫn nhau một cách tích cực. Tình trạng đa ngữ được
tăng cường ráo riết đó chính là môi trường sản sinh và nuôi dưỡng tiểu thuyết.
Nhờ thế, tiểu thuyết mới có thể cầm đầu tiến trình phát triển và đổi mới văn học
về phương diện ngôn ngữ và phong cách.
Về đặc điểm này, theo Bakhtin, bất kì tiểu thuyết nào đều ít
nhiều là một hệ thống hình tượng của “ngôn ngữ”, phong cách, ý thức cụ thể gắn
chặt với ngôn ngữ, và hệ thống này đã được đối thoại hoá. Ngôn ngữ trong tiểu
thuyết không chỉ làm nhiệm vụ miêu tả mà bản thân nó còn là đối tượng miêu tả.
Điều này làm cho tiểu thuyết khác biệt về nguyên tắc so với tất cả các thể loại
nghiêm trang như trường ca, thơ trữ tình, chính kịch… Hình tượng đặc thù về
ngôn ngữ và phong cách, sự tổ chức các hình tượng ấy, loại hình rất đa dạng của
chúng, sự kết hợp hình tượng các ngôn ngữ vào một chỉnh thể tiểu thuyết, sự
chuyển dịch và chuyển hoá các ngôn ngữ và bè giọng, quan hệ đối thoại giữa
chúng… là những vấn đề cơ bản của phong cách học tiểu thuyết.
Bản thân ngôn ngữ, vẫn theo Bakhtin, có sự định hướng đối thoại
giữa các lời nói, tạo cho ngôn từ những khả năng nghệ thuật mới và cốt yếu, làm
nên tính văn xuôi nghệ thuật đặc thù. Nhưng chỉ đến tiểu thuyết, tính văn xuôi
nghệ thuật đặc thù của định hướng đối thoại đó mới được thể hiện đầy đủ nhất và
sâu sắc nhất. Để tìm đến hàm nghĩa và hình thức biểu cảm của mình, ngôn từ phải
kinh qua môi trường ngôn từ nhiều trọng âm, nhiều giọng điệu khác nhau của những
người khác, và chỉ trong quá trình đối thoại theo cách hoà âm hoặc nghịch âm với
những yếu tố khác nhau trong môi trường đó thì nó mới có thể tạo nên khuôn mặt
phong cách và điệu thức của mình. Đó chính là hình tượng văn xuôi nghệ thuật, đặc
biệt là hình tượng văn xuôi tiểu thuyết. Những tiếng nói và ngôn ngữ khác nhau
được đưa vào tiểu thuyết, ở đó chúng được tổ chức thành một hệ thống nghệ thuật
hoàn chỉnh. Bakhtin cho rằng, việc đưa những tiếng nói và ngôn ngữ khác nhau
vào tiểu thuyết đã được thực hiện theo các hình thức như sau:
– Du nhập những tiếng nói khác nhau theo kiểu của tiểu thuyết
hoạt kê: ngôn ngữ thể loại, ngôn ngữ nghề nghiệp, ngôn ngữ đẳng cấp, ngôn ngữ
trào lưu, ngôn ngữ đời sống hằng ngày…
– Đưa vào trong truyện một tác giả ước lệ (lời nói thành văn)
hoặc một người kể chuyện (lời nói miệng) được nhân cách hoá cụ thể. Điều này thể
hiện khả năng thuyên chuyển những ý chỉ từ một hệ thống ngôn ngữ này sang một hệ
thống ngôn ngữ khác, hoà “ngôn ngữ chân lí” với “ngôn ngữ đời sống”, nói cái của
mình bằng ngôn ngữ của người khác và cái của người khác bằng ngôn ngữ của mình.
– Đưa vào tiểu thuyết lời nói của các nhân vật. Lời nói của
nhân vật chính có thể được coi là ngôn ngữ thứ hai của tác giả. Ở đây, tính đa
thanh và tính phân tầng của ngôn ngữ vẫn là cơ sở cho phong cách tiểu thuyết.
Trái với mặt phẳng của một ngôn ngữ thống nhất trong thi ca, ở tiểu thuyết luôn
có một không gian ba chiều của ngôn ngữ văn xuôi, được ấn định bởi tính đa
thanh trong nhiệm vụ của phong cách.
– Cuối cùng là hình thức du nhập ngôn ngữ của các thể loại
khác. Tất cả những thể loại được du nhập vào tiểu thuyết đều đem theo ngôn ngữ
của mình, và vì thế làm phân hoá sự thống nhất ngôn ngữ của tiểu thuyết, khơi
sâu theo một cách mới tính đa thanh của nó.
Về đặc điểm thứ hai và thứ ba của tiểu thuyết, Bakhtin đã
phân tích chúng trong mối quan hệ so sánh với sử thi để làm nổi bật chúng, đồng
thời cho thấy hai đặc điểm này có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Bakhtin nói: Do tính đặc thù của bản thân, tiểu thuyết là thể
loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình. Nòng cốt thể
loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được hết những
khả năng uyển chuyển của nó. Về bản chất, tiểu thuyết là một thể loại mềm dẻo,
phi ổn định. Nhưng điều quan trọng hơn cả là tiểu thuyết không có những quy phạm
như những thể loại khác. Gây nên tác động trong quá trình lịch sử chỉ là từng
hình mẫu tiểu thuyết riêng biệt chứ không phải một quy phạm thể loại cố định.
Nghiên cứu các thể loại khác tựa hồ nghiên cứu những tử ngữ; nghiên cứu tiểu
thuyết giống như nghiên cứu những sinh ngữ, mà lại là sinh ngữ trẻ(3).
Tất nhiên, thể loại tiểu thuyết còn có nhiều đặc điểm khác nữa,
nhưng đặc điểm “luôn biến đổi và chưa hoàn thành” là đặc điểm quan trọng nhất,
vì đó là đặc điểm chứng tỏ sức sống bền bỉ của tiểu thuyết.
Chính việc tiếp xúc với môi trường của hiện tại chưa hoàn
thành không cho phép thể loại tiểu thuyết bị đông cứng lại. Cái hiện tại đó là
những sự việc bề bộn, đang còn dang dở, và có cả những sự kiện chưa và sắp xảy
ra. Ngay cả khi miêu tả quá khứ thì tiểu thuyết cũng xuất phát từ hiện tại, thậm
chí từ tương lai. Và chỉ có trong tiểu thuyết thì người ta mới có thể miêu tả một
cách khách quan quá khứ như là quá khứ.
Do được tiếp xúc với hiện tại, đối tượng mô tả của tiểu thuyết
mất đi ý nghĩa bất di bất dịch trước đây. Ý và nghĩa của nó từ nay không ngừng
đổi mới và bổ sung cùng với quá trình mở rộng ngữ cảnh. Chính điều này tạo ra một
khu vực hoàn toàn mới của việc xây dựng hình tượng tiểu thuyết: khu vực tiếp
xúc gần gũi tối đa giữa đối tượng miêu tả với thực trạng dang dở hôm nay và vì
thế mà với cả tương lai. Tiểu thuyết có tham vọng tiên đoán những sự thực, dự
báo và ảnh hưởng tới cái tương lai hiện thực – tương lai của tác giả và độc giả.
Tính “vấn đề” là nét mới và đặc thù ở tiểu thuyết; đặc điểm của nó là luôn luôn
nhận thức lại, kiến giải lại, đánh giá lại. Cái trung tâm xuất phát mọi hoạt động
biện giải và biện hộ cho quá khứ được di chuyển vào tương lai (4).
Về ba đặc điểm của tiểu thuyết trên đây, chúng ta có thể ngược
dòng lịch sử văn học Việt Nam để thấy sự thể hiện của chúng trong cả quá trình
hình thành và phát triển của tiểu thuyết hiện đại. Bài viết này chủ yếu dừng lại
khảo sát một số tác phẩm giai đoạn sau 1954.
Các nhà tiểu thuyết Việt Nam hiện đại cũng dùng tiểu thuyết để
phản ánh một cuộc sống hiện tại chưa hoàn thành và không ngừng biến chuyển. Từ
trước năm 1945, nhà văn Thạch Lam đã từng nói: “Cái khuynh hướng của tiểu thuyết
bây giờ là hết sức gần sự sống để được linh hoạt và thật như cuộc sống”. Còn về
sau, trong Gặp gỡ cuối năm (1982), nhà văn Nguyễn Khải lại đưa ra lời
phát biểu như thể ông đang nhắc lại chính lời của Bakhtin nói cách đó 41 năm:
“Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn bóng tối và ánh sáng,
màu đỏ và màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là một mảng
đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ”.
Quả thực, cuộc sống trong tiểu thuyết bao giờ cũng là một cuộc
sống toàn diện, phong phú và nhiều mặt, đạt tới sự tiếp xúc tối đa với cuộc sống
hiện tại ngoài đời. Lấy cuốn tiểu thuyết Bão biển (1969) của Chu Văn
làm ví dụ. Ở đây, tác giả đã xông xáo vào nhiều lĩnh vực của cuộc sống, đã phản
ánh hiện thực không phải chỉ trong những mâu thuẫn giai cấp dữ dội quyết liệt
mà còn đi sâu vào cuộc sống bình thường với tất cả phong tục, lễ nghi, sinh hoạt
lao động, buôn bán, hội hè; không phải chỉ trong đời sống xã hội mà còn là đời
tư, phòng ngủ của các cha cố và tu sĩ, những con người xưa nay vẫn được mặc định
là cao cả, thánh thiện. Cuốn tiểu thuyết gần như là một tập phóng sự ghi lại
các mặt đời sống của người nông dân công giáo Việt Nam vùng biển: tục khao vọng
quan viên trong họ đạo, một đám rước kiệu Thánh lễ Đầu dòng, một đám cưới đời sống
mới, một phiên chợ làng chài, một cửa hàng thịt chó ở phố huyện… Cuộc sống cũng
hiện lên trong tiểu thuyết của Chu Văn với tất cả những sắc thái thẩm mĩ đa dạng
của nó. Cái bi và cái hài, cái cao cả và cái thấp hèn, cái đẹp và cái xấu… như
những sợi chỉ óng ánh pha trộn với nhau, dệt nên tấm vải nhiều màu sắc của cuộc
đời. Có chương ca ngợi con người lao động đang đắp đê lấn biển, chinh phục
thiên nhiên, những người anh hùng với tình cảm cao thượng, đẹp đẽ. Có những
chương lại dẫn ta vào những chuyện thầm kín xấu xa trong nhà nữ tu, trong phòng
ngủ của các vị mặc áo chùng thâm, những chuyện hẹn hò trai gái tội lỗi, những
chuyện ăn uống tục tĩu, thô lậu. Như vậy, khoảng cách giữa người kể chuyện và
người đọc với hiện thực đã bị xoá bỏ.
Với đặc tính uyển chuyển, phi quy phạm, tiểu thuyết cũng có
thể được coi là một thể loại hỗn hợp, dung nạp nhiều thể loại văn học và phi
văn học như bút kí, truyện kí, phóng sự, chính luận, thư tín, nhật kí, kịch,
thơ…, thậm chí cả các loại hình nghệ thuật khác như hội hoạ, điện ảnh… Bakhtin
đã nói: “Sự định hướng mới về thời gian và khu vực xúc tiếp mới còn liên quan với
một hiện tượng khác vô cùng quan trọng trong lịch sử tiểu thuyết, đó là những
quan hệ đặc biệt của tiểu thuyết với những thể loại phi văn học – những thể loại
trong đời sống hằng ngày và những thể loại tư tưởng ngay trong giai đoạn phát
sinh; tiểu thuyết và các thể loại tiền thân của nó đã dựa vào nhiều hình thái
phi nghệ thuật trong sinh hoạt cá nhân và xã hội, đặc biệt các hình thức văn
hùng biện”(5).
Cụ thể, chúng ta thấy yếu tố chính luận pha triết lí thể hiện
khá rõ trong tiểu thuyết Chiến sĩ (1973) và Gặp gỡ cuối năm (1982)
của Nguyễn Khải; yếu tố thư tín, bút kí và điện ảnh trong Vỡ bờ (hai
tập, 1962 và 1970) của Nguyễn Đình Thi; chất thơ trữ tình trong Đất nước đứng
lên (1955) của Nguyên Ngọc, Hòn Đất (1966) của Anh Đức, Miền
Tây (1967) của Tô Hoài; chất kịch trong Bão biển của Chu Văn, Cái sân
gạch (1959) của Đào Vũ…
Trở lại với Bão biển, có thể thấy đặc điểm về khả năng của
tiểu thuyết đối với việc tổng hợp nhiều thể loại được thể hiện rất rõ: chương
nói về những người lao động đắp đê lấn biển mang bóng dáng của sử thi hiện đại;
chương khác lại kể chuyện theo lối dân gian (chuyện nói phét của cụ Ba Bơ), hài
hước, dí dỏm (chuyện tiếu lâm về bọn cha cố phản động), có thể nói là mang màu
sắc trào tiếu dân gian theo cách nói của Bakhtin; nhưng cũng có chương căng thẳng
đầy tính bi kịch (chương kết), hoặc bi hài lẫn lộn (đám cưới hụt của lão Tân
Hưng phố huyện)…
Trong Vỡ bờ, Nguyễn Đình Thi sử dụng ống kính điện ảnh
quay lướt nhanh một số cảnh để tránh hiện tượng dàn trải kết cấu: cảnh miền núi
trong những ngày tiền khởi nghĩa, cảnh vùng xuôi chết đói, những hình ảnh trong
câu chuyện về lính Nhật, những hình ảnh trong câu chuyện Việt Minh chiếm Nhã
Nam và tiến về sát cầu Gia Bảy ở Thái Nguyên, những hình ảnh trong câu chuyện
lính ở phố Cò bỏ đồn chạy về xuôi… Ngoài ra, nhà văn sử dụng cả kỹ thuật hội hoạ
để tả cảnh sông Hồng dưới con mắt của hoạ sĩ Tư. Còn xét về mặt tổng thể thì cả
cuốn tiểu thuyết cho ta một cảm giác như đang đứng trước một bức bích hoạ khổng
lồ.
Tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài cũng vậy, tác giả
dẫn dắt người đọc đi qua nhiều địa điểm, nhiều môi trường khác nhau: phiên chợ
ngày Tết, mậu dịch quốc doanh, trạm xá, nương rẫy… Những bức tranh thiên nhiên
vừa dữ dội vừa thơ mộng, những bức tranh sinh hoạt xã hội đậm đà màu sắc dân tộc,
những cảnh đời cũ màu xám và những cảnh đời mới tươi vui… thay đổi lẫn nhau,
đan xen nhau, kế tiếp nhau hiện ra trước mắt người đọc như những đoạn chuyển cảnh
trong một bộ phim.
Gắn liền với kỹ thuật điện ảnh là thủ pháp phóng sự trong tiểu
thuyết. Chất phóng sự thấy rõ trong Miền Tây của Tô Hoài, Dấu
chân người lính (1972) của Nguyễn Minh Châu, Chiến sĩ và Gặp
gỡ cuối năm của Nguyễn Khải… Phóng sự là thể loại cận văn học rất gần gũi
với cuộc sống.
Tính chất chưa hoàn thành và luôn luôn biến đổi của tiểu thuyết
cũng có khi thể hiện ở cả kết cấu không hoàn thành, hay kết cấu mở của thể loại.
Trong Chiến sĩ và Gặp gỡ cuối năm, số phận của các nhân vật đều
được để cho người đọc tự tưởng tượng tiếp. Sang đầu thế kỷ XXI, đặc điểm này của
tiểu thuyết càng được các nhà văn tận dụng, phát huy. Trong Tấm ván phóng
dao (2005), nhà văn Mạc Can đã kết luận bằng một câu rất gợi mở: “Những
năm cuối đời ông Ba khi quên lúc nhớ, sống một mình trong bịnh viện tâm thần
Biên Hoà, nhưng khi nào nhớ ông kể lại câu chuyện này, đó là nhân vật ở ngôi thứ
nhứt xưng Tôi. Ông già kể lại theo kiểu của ông, nửa hư nửa thật. Tất cả câu
chuyện sau Tấm ván phóng dao bạn cầm trên tay sẽ ở trong một cuốn
sách khác”. Câu kết trong Mẫu thượng ngàn (2006) của Nguyễn Xuân
Khánh là một chân lý đúc kết nhưng thực ra lại để khơi mở một câu chuyện khác:
“Đã là người ta, con ơi, ai chẳng là con của Mẫu”.
Quá trình biến đổi của tiểu thuyết vẫn chưa kết thúc. Ngày
nay, tiểu thuyết đang bước vào một giai đoạn mới. Nét đặc thù của thời đại là
thế giới trở nên phức tạp và sâu sắc phi thường, tính đòi hỏi cao, tính tỉnh
táo và óc phê phán của con người cũng tăng trưởng phi thường. Những đặc điểm đó
sẽ ấn định cả sự phát triển của tiểu thuyết. Tiểu thuyết Việt Nam đương đại
(sau 1975, đặc biệt là sau 1986) sẽ là đối tượng khảo sát của một bài viết
khác.
Việc xác định đặc điểm về sự linh hoạt và uyển chuyển của tiểu
thuyết theo Bakhtin là để chúng ta thấy rõ ý nghĩa và vị trí của nó trong hệ thống
các thể loại văn học, đồng thời cũng thấy được bản chất và tiềm năng to lớn của
một thể loại vẫn đang không ngừng phát triển này.
Chú thích:
1. M.M.Bakhtin, “Epic and Novel”, The Dialogic Imagination:
Four Essays, translated by Caryl Emerson and Michael Holquist, Austin:
University of Texas Press, 1981, p.4.
2. M.M.Bakhtin, “Epic and Novel”, The Dialogic Imagination:
Four Essays, sđd, tr.11.
3. Mikhail Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm
Vĩnh Cư dịch), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003.
4. Mikhail Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, sđd.
5. Mikhail Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, sđd.
26/6/2000
Nguyễn Văn Dân
Nguồn: VNQD
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Thi pháp của Đặng Tiến trong tập tiểu luận Thơ - Thi pháp và chân dung
Thi pháp của Đặng Tiến trong tập tiểu luận Thơ - Thi pháp và chân dung Đặng Tiến là một trong số hiếm nhà phê bình văn học Việt ở hải ngoạ...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
.gif)


.gif)

