Thêm nhiều như vậy, mà xuống cũng nhiều. Con số khẩu của Nhật Nam đọc được trong Hậu Hán thư là ở vào lối đầu thế kỷ thứ ba, vậy mà vào hạ bán thế kỷ thứ bảy, con số khẩu trong Đường thư của Hoan Châu, tức là của phần đất của vùng Nhật Nam cũ, chỉ có 16.689.
Sự tăng giảm một cách khác thường đó càng thấy được rõ hơn khi nhìn vào các con số hộ qua các triều đại. Về việc so sánh số hộ, có một điều cần phải làm trước, là tìm cho được những khu vực giống nhau để làm nền tảng cho sự tăng hay giảm. Ví dụ khu vực Giao Chỉ của thời Hán phải gồm cả Giao Chỉ, Tân Xương, Võ Bình của thời Tần, hay là cả Giao Châu, Phong Châu, Lục Châu, Võ Nga Châu (Lan Châu nằm ngoài) của thời Đường. Bởi đó, số hộ của Giao Chỉ qua các tài liệu sẽ như thế nầy:
Tên tài liệu......................... Số hộ vùng Giao Chỉ
Tiền Hán thư....................... 92.440
Tấn thư............... 12.000
................ 3.000
................ 5.000.......... 20.000
Tống thư................. 4.933............ 6.423
Tùy thư................ 30.056
Đường thư................ 24.230
............. 1.920
.............. 494
................ 1.850................. 28.090
Sự lên xuống đột ngột của dân số cổ Việt đó bắt chúng ta phải suy nghĩ. Chắc chắn nó không phải dựa vào sự phát triển bình thường của dân một địa phương, vì sự phát triển bình thường của một dân trong một khoảng thời gian khá dài như một thế kỷ hay hơn nữa, phải diễn biến dần dần, chứ không đột ngột. Sự đột ngột có thể xảy ra, ví dụ sau một thời chiến tranh hay sau một thiên tai, một cơn dịch v.v... nhưng đó là khi nói về một quảng thời gian vắn kia. Với những đơn vị thời gian dài, như thế kỷ hay hơn nữa, chúng ta có thể nghĩ rằng đơn vị nào cũng gồm có thiên tai, giặc giã, và như thế các biến cố đó không còn là mot động cơ thất thường cho sự tăng giảm dân số. Những tài liệu kể ra trên đây được chép cách nhau bởi những quảng thời gian khá lớn, nên chúng ta phải lập luận theo căn bản những đơn vị dài. Vậy nguyên do của sự tăng giảm dân số thất thường của cổ Việt là tại đâu?
Nếu dân số cổ Việt tăng giảm không phải do một động cơ bình thường thì tất phải do những động cơ thất thường. Nói rằng không do một động cơ bình thường có nghĩa là không bắt nguồn từ dân địa phương của các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Giả sử dựa vào sự kiểm tra dân các quận đó, tất cả đã có một sự tăng giảm đều đều, lũy tiến. Nhưng nếu nó phát tích từ những động cơ thất thường, thì những động cơ thất thường nầy là gì? Đó chỉ có thể là sự di cư đến hay tản cư đi, hoặc là một sự thay đổi trong quan niệm về người dân, ví dụ trước kể vào số người dân cả thổ dân cả người Trung Quốc định cư, và sau chỉ kể có người Trung Quốc mà thôi chẳng hạn.
Phải nhận rằng dân số cổ Việt sao cũng có một thành phần gồm người Trung Quốc di cư đến, nhưng không thể nào tiên quyết được rằng dân số đó chỉ gồm người Trung Quốc di cư đến. Nếu sự kiểm tra chỉ căn cứ vào người Trung Quốc thì chắc chắn dân số vào cuối thời Tây Hán không làm sao có được nhiều như thế:
Giao Chỉ...... 706.236...... khẩu
Cửu Chân........ 165.013 __
Nhật Nam......... 65.485 __
Tuy nhiên vẫn không thể quyết được rằng những con số đó chỉ gồm người địa phương, vì những lý lẽ dựa vào sự tăng giảm đột ngột đã bàn đến trên.
Nhưng có phải bao giờ sự kiểm tra cũng gồm cả người địa phương và người Trung Quốc đến định cư không? Có lẽ không phải bao giờ cũng như vậy. Chúng ta có thể hoài nghi là vì sự giảm xuống quá khác thường của số hộ giữa Hậu Hán thư và Tấn thư. Cửu Chân chẳng hạn đã giảm từ 46.518 xuống 3.000 và Nhật Nam từ 18.263 xuống 600! Sự giảm sút nầy không thể cắt nghĩa được bởi sự tản cư của người Trung Quốc bỏ đất cổ Việt để về nước. Cứ sự thường, người Trung Quốc di cư sang cổ Việt rất nhiều trong những thời ở Trung Quốc có loạn, và khi yên ổn có một số tản cư để trở về. Mà sau thời Đông Hán kế đến thời Tam Quốc, là một thời không yên ổn gì ở Trung Quốc, nên người Trung Quốc sang thêm nữa thì có, chứ đâu nói đến chuyện trở về, vậy sao số hộ lại sụt, và sụt một cách kinh khủng đến thế?
Chúng tôi thiết nghĩ nguyên do sự sụt giảm to tát đó ở tại sự thay đổi quan niệm về người dân nơi các nhà cầm quyền ở cổ Việt. Về trước, họ kể vào số người dân tất cả những ai sinh sống tại đây, còn sau thời Hán, vì người Trung Quốc đến định cư đã đông đảo, nhưng khi kiểm tra, họ chỉ ghi vào sổ những người đồng bào với họ và loại bỏ thổ dân ra, liệt hạng nầy vào loại man di. Bởi chỉ đăng tịch có người Trung Quốc định cư, nên con số ít lại, nhưng ít như vậy cũng có nghĩa là nhiều.
Một sự kiện tăng bổ cho ý kiến vừa nói, đó là kể từ sau thời Hán, danh từ Lạc Việt không còn được nhắc đến nữa. Không thể nói được rằng dân đó đã hoàn toàn đồng hóa với người Hán, vì mãi đến ngày nay, con cháu của dân đó vẫn duy trì những nét riêng của họ như dân Mường, dân Mọi. Cũng không nói được là họ đã bị tiêu diệt, vì lịch sử không hề để lại dấu tích gì khả dĩ giải thích được theo hướng đó. Chỉ còn có thể hiểu được cách nầy thôi là bấy giờ dân Lạc Việt đã trở thành một thiếu số không đáng kể bên cạnh người Trung Quốc càng ngày càng đông thêm, nên đối với lớp dân mới nầy họ cũng không khác gì các dân man di khác.
Như thế, có thêm một chứng nữa về sự dân Việt Nam là do dân Trung Quốc di cư đến.
CHÚ THÍCH:
1. Ban Cố, Tiền Hán Thư, quyển 28 hạ, Địa Lý Chí, trang 426, cột 4, trang 427, cột 1.
2. Phạm Việp, Hậu Hán Thư, quyển 33, Quận Quốc Chí, trang 710, cột 4; và trang 711, cột 1.
3. Dương Thái Tông Văn Hoàng Đế, Tấn Thư, quyển 15, Địa Lý Hạ, trang 1120, cột 3 và 4.
4. Cùng một chỗ như trên.
5. Lương Trầm Ước, Tống Thư, quyển 38, Châu Quận Chí, trang 1540, cột 4 và trang 1541, 1.
6. Trương Tôn và Vô Kỵ, Tùy Thư, quyển 31, Địa Lý Hạ, trang 2440, cột 1 và 2.
7. Lê Hu, Đường Thư, quyển 41, Địa Lý Tứ, trang 3239, cột 2-4 và trang 3240, cột 1.
- Âu Dương Tu, Tân Đường Thư, quyển 43, Địa Lý Chí, trang 3735, 2, 3 và 4.
8. Xem "Chính trị cổ Việt" dưới thời Tống. Bấy giờ giặc Lâm Ấp đã làm cho dân cổ Việt chết hại quá sức nhiều.
CHƯƠNG THỨ TÁM
CHÍNH TRỊ CỔ VIỆT DƯỚI THỜI BẮC THUỘC
Hoàn thành công việc thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng (246-210 trước K.N.) đã bước thêm một bước nữa trên đà Nam Tiến. Năm 214, ông sai đại quân đi chinh phục miền Ngũ Lĩnh, lập ra các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng. Theo địa đồ ngày nay, thì Nam Hải nằm vào vùng Quảng Đông, Quế Lâm nằm vào vùng Quảng Tây, còn Tượng thì không rõ. Quận Tượng, theo như tên của nó có thể cho biết, phải là cả vùng núi non bao la trùng điệp về phía Tây nam, thế giới của hoang thú, nhất là VOI. Có lẽ nó có nghĩa là một lãnh thổ rộng lớn cần được chinh phục, hơn là đã bị chinh phục thực sự. (1)
Đến đời Tần nhị thế (209-207), Trung Quốc hỗn độn. Để tránh loạn ly, các nhà cầm quyền địa phương ai cũng nghĩ đến việc tự lập, trước là bảo vệ phần đất mình có bổn phận phải phòng giữ, sau là nuôi hy vọng gặp được cơ hội tốt để gầy dựng nghiệp lớn. Viên Hiệu úy được nhà Tần đặt lên coi quận Nam Hải là Nhâm Ngao, cũng nghĩ như vậy. Không may ông lâm trọng bệnh, và phải giao quận Nam Hải cùng ý định to tát của ông lại cho viên lệnh Long Xuyên (thuộc quận Nam Hải), là Triệu Đà. Nhâm Ngao mất rồi, Triệu Đà, nay đã mang chức Hiệu úy Nam Hải, chuẩn bị việc thiết lập nước mới. Năm 207, ông xưng vương, đặt cho khu vực ông cai trị là nước Nam Việt, gồm quận Nam Hải, rồi quận Quế Lâm, và cả quận Tượng, tức là miền bao la phải chinh phục ấy nữa. (2)
Vậy, để chinh phục, một năm nào đó không được rõ, Nam Việt vương đến vùng cổ Việt và đánh bại Thục vương tử, con người bấy giờ đang cai trị dân Lạc Việt. Nói rằng ông chiếm vùng đất mới nầy, nhưng ông không trực tiếp cai trị và chỉ sai sứ đến gọi là có sự hiện diện vậy thôi, chứ tất cả việc hành chánh vẫn còn nằm trong tay các Lạc tướng. (3)
Nhưng, không lâu sau, toàn cõi Trung Quốc đã thu về quyền một người hùng là Lưu Bang, một nhà tướng và là một chính khách. Khởi nghĩa từ Hán Trung vào năm 206 trước K.N., ông đã hùng dũng bành trướng thế lực, hạ được hạng Võ, lên ngôi Thiên tử, lập ra nhà Hán, một triều đại lâu nhất trong lịch sử nước Tàu (202).
Vào năm 196, Hán Cao Tổ (202-195) đã cho sứ mở đường giao hiếu với Triệu Đà và phong cho ông nầy làm Nam Việt vương. Đến thời Võ đế (140-87), một vị vua vừa khôn ngoan vừa cương quyết, nhà Hán định tâm nới rộng quyền hành. Sau khi sai tướng Vệ Thanh đi đánh vùng tây bắc và lập thêm các quận Võ Uy, Tửu Tuyền, Thuần Hoàng, Thiên Triều lại sai tướng Lộ Bác Đức, với chức Phục ba tướng quân, đi đánh vùng Nam Việt, và lập các quận ở bờ Giao Chỉ (năm III trước K.N.) (4)
1. Chính trị thời Hán (202 trước K.N. đến 220 sau K.N.)
Trong thời Tây Hán, hay nói cho rõ hơn, từ khi nhà Hán thiết lập quận huyện ở cổ Việt, cho đến loạn Vương Mãng (9-22), việc cai trị không để lại nhiều tài liệu. Chúng ta không biết được rõ ràng về chính sách cũng như về những người cầm quyền. Giữ chức thứ sử, tức là chức cai trị toàn bộ, chỉ thấy có những tên như Thạch Đái, Chu Chương, Đặng Nhượng. Giữ chức thái thú, nghĩa là chức quan coi một quận, có các ông Tích Quang ở Giao Chỉ, Nhâm Diên ở Cửu Chân, hai người nầy đã từng để lại những thành tích tốt. (5)
Trong thời Đông Hán, những tên như Tô Định, thái thú Giao Chỉ, vả Mã Viện, vị Phục ba tướng quân đánh bại hai bà Trưng, đã được nói đến nhiều trong chương "Lịch sử Lạc Việt". Cũng trong thời nầy, lịch sử có ghi lại một số người và một số việc đáng lưu ý nữa. Về người chúng ta có Giả Tùng, Sĩ Nhiếp, về việc chúng ta có loạn Lâm Ấp, loạn Ô Hứa.
a) LOẠN LÂM ẤP
Dưới thời Hiếu Thuận đế (126-144), ở quận Nhật Nam, có người thủ lĩnh của dân Lâm Ấp tên là Khâu Liên đến đánh phá. Đây là lần đầu tiên lịch sử nói đến thứ dân nầy. Trong dịp đó, viên trưởng lại huyện Tượng Lâm bị giết. Thứ sử Giao Chỉ lúc bấy giờ là Phàn Diễn, lấy quân các quận Giao Chỉ và Cửu Chân có ý vào tiếp cứu Nhật Nam. Nhưng binh sĩ ngại đi đánh giặc xa, nên vào tháng 7 năm Vĩnh Hòa thứ hai (137) họ nổi loạn chống với cấp chỉ huy. Tuy loạn quân ở phủ đã bị Phàn Diễn dẹp yên, tình hình ở Nhật Nam càng thêm trầm trọng.
Năm sau, vào tháng năm, Ngự sử Giả Xương, chỉ huy lực lượng của bộ Giao Chỉ vào đánh Khâu Liên, không may ông bị địch bao vây, hơn một năm không sao liên lạc tiếp tế được. Nếu binh sĩ đồn trú ở Giao Chỉ không đủ sức dẹp loạn, có nhất định phải cất đại quân ở các quận khác sang không? Đang khi triều đình nhà Hán bàn cải về vấn đề đó, và có người đã đem ra ý kiến lấy bốn vạn quân ở các châu Kinh, Dương, Duyện, Dự, giao cho một vị đại tướng để đi chinh phạt, Lý Cổ lại có những đề nghị rất thiết thực và hữu hiệu. Theo ông, không nên dùng võ lực cho bằng dùng chính trị. Để bác bỏ đề nghị dùng võ lực, ông trình bày bảy lý lẽ sau đây:
1) Ở các châu Kinh, Dương, Duyện, Dự, tình hình chưa yên ổn.
2) Dân các châu đó đã bị động viên nhiều lần nay nếu ép họ tòng chinh nữa, lại bắt họ đi không hẹn ngày về, chắc chắn họ sẽ chống lại.
3) Miền nam nóng bức, đầy choáng khí, quân đến không quen thủy thổ, mười người sẽ mất bốn năm.
4) Đường đi mệt nhọc, khi đến nơi, quân không còn sức để chiến đấu.
5) Đường tiếp tế khó khăn, sáu chục vạn hộc gạo chưa thấm vào đâu.
6) Quân sở tại không thể chống cự được mà đem quân của triều đình sang, ấy là như lấy lòng ruột mà che chân tay.
7) Quân Cửu Chân ở gần, mà còn chưa chịu đi, thì sao quân ở xa lại chịu đi?
Lý Cố nói chỉ cần chọn những người dũng lược, nhân huệ, đặt làm tướng soái sai sang Giao Chỉ, và những người nầy sẽ điều khiển lực lượng địa phương để chống cự. Trước hết phải di cư dân và quan ở Nhật Nam ra tạm trú tại Giao Chỉ, rồi mộ người man di đánh lại với người man di. Ông đề nghị chọn cựu thứ sử Nam Dương là Trương Kiểu làm thứ sử, và cựu thứ sử Trường Sa là Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân vì cả hai đều có kinh nghiệm nhiều. (6)
Hán triều đồng ý với Lý Cố. Hai ông Kiểu va Lương sang cổ Việt dùng mưu lược trấn an được giặc Lâm Ấp.
Cách đó mấy năm, vào tháng 10 năm Kiến Khang thứ 5 (144), dân man di ở Nhật Nam lại nổi dậy, đốt phá quận huyện. Thứ sử Giao Chỉ là Hạ Phương, người Cửu Giang, dẹp yên được. (7)
b) LOẠN Ô HỨA: HAY GIAO CHỈ BỘ TRƯỚC THỜI SĨ NHIẾP
Ở các quận Hợp Phổ và Giao Chỉ có loại dân man gọi là dân Ô Hứa. Năm đầu hiệu Quang Hòa (178) đời Hán Linh đế (168-188) dân nầy đứng lên chống chính quyền Trung Quốc. Dân man di ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam cũng nổi dậy hưởng ứng. Cả bộ Giao Chỉ nơi nơi đều bị quấy phá, mà nhà chức trách thì nhu nhược, đánh dẹp không nổi, để cho tình trạng kéo dài năm nầy qua năm khác.
Cũng trong thời đó, đang khi thái thú Nam Hải là Khổng Chi làm loạn, thì ở quận Giao Chỉ lại có tên Lương Long kéo theo hàng vạn người công khai cướp bóc quận huyện. Bấy giờ Hán triều đặt Chu Tuấn làm thứ sử Giao Chỉ. Ông là người có tài, giỏi về lối liệu biện công việc. Khi ra đi nhậm chức, ông đã mộ năm nghìn gia binh đi với ông. Đến cương giới bộ Giao Chỉ, ông dừng lại để dò xét tình hình rồi chia quân làm hai đạo tiến vào. Tại bộ, ông truyền hịch đi khắp nơi tuyên dương uy đức nhà Hán, hợp quân của ông với quân của bảy quận đánh phá bọn loạn tặc. Ông giết được Lưu Long, đẹp được loạn Ô Hứa, vào mùa hạ năm 181. Bộ Giao Chỉ lại được bình an. (8)
Nhưng, những thái thú, thứ sử được đặt lên ở Giao Chỉ, phần nhiều đều có lòng tham bạo. Lấy cớ xa triều đình, họ ít sợ quyền cấp trên và do đó tìm đủ cách để bóc lột sức lao động cũng như tài sản nhân dân và thuộc hạ. Binh sĩ chẳng hạn, lắm lúc rất cực khổ. Khi họ không có thể chịu đựng nữa, họ nổi dậy làm loạn. Đó là trường hợp xảy ra năm 184, khi đạo quân đồn trú ở Giao Chỉ xông vào bắt giam quan thứ sử, cùng quan thái thú Hợp Phổ.
Thấy những cảnh tượng như thế, tất Hán triều phải cố tìm cho được một người hết sức liêm khiết để gửi sang Giao Chỉ. Người được chọn tên là Giả Tung và ông nầy đã được lịch sử chứng minh là một nhà cầm quyền đáng khen. Hiểu rõ bổn phận cũng như quyền lợi của chức vụ, ông đã hiên ngang đến nhiệm sở mới. Binh sĩ và đại chúng tỏ ra chóng tin tưởng ông. Có kẻ đã không ngần ngại cho ông biết nguyên nhân của những cuộc nổi loạn về trước. Họ nói: "Thuế má nặng quá, trăm họ đều túng thiếu, mà kinh sư lại xa xuôi không biết kêu thân vào đâu. Vì vậy, khi dân không thể nào sống được nữa, họ phải tụ tập ăn cướp". (9)
Biết vậy, Giả Tung sai cán bộ đi khắp nơi ủy dụ dân chúng, chiêu phủ những người lưu vong, tha bớt thuế má. Đồng thời ông nghiêm trị những kẻ quấy rối, chọn người tốt đặt làm việc ở quận huyện. Nhờ đó dân an phận làm ăn, không đầy một năm toàn bộ Giao Chỉ đã được ổn định. Và dọc đường sá cũng như ở bến, người ta nghe nhân dân lặp đi lặp lại mấy câu nầy:
Giả phụ lai vãn
Sử ngã tự phản
Kim kiến thanh bình
Lại bất cảm phản
DỊCH: Cha Già đến chậm
Nên ta làm phản
Nay được thanh bình
Phản đâu còn dám. (10)
c) THÁI THÚ SĨ NHIẾP (11)
Kể ra, vào cuối thời Hán, nhân vật nổi tiếng hơn cả trong việc cai trị cổ Việt, phải là Sĩ Nhiếp. Ông đã quen biết với vùng đất nước nầy trước khi nhà Hán đặt ông làm thái thú Giao Chỉ, vì thân phụ ông, tên là Tứ, đã từng làm thái thú Nhật Nam trong thời Hoàn đế (147-167).
Lúc con nhỏ, Sĩ Nhiếp đã được cha mẹ cho đi du học ở Lạc Dương. Thầy ông là những bậc danh nho, như Lưu Tử Kỳ, người Dĩnh Xuyên. Ông thông thạo sách Tả thị xuân thu, thi đậu hiểu liêm, được bổ làm Thượng thư lang. Sau một thời gian cư tang thân phụ, ông được đổi sang Giao Chỉ với chức thái thú. Chức vụ nầy, ông đã hoàn tất trong vinh dự mãi cho đến khi ông mất, vào năm 225.
Ông là người có tài, rất được thiên hạ qui phục. Cấp trên tin cậy ông, thường nghe các điều ông đề nghị. Bấy giờ thứ sử Châu Phù bị giặc giết, trong các quận loạn lạc cực khổ. Ông tâu xin Hán triều cho ba người em ông làm thái thú, em Nhất ở Hợp Phổ, em Vỹ ở Cửu Chân, em Vũ ở Nam Hải. Chính ông cũng là người đã cùng thứ sử Trương Tân xin đổi Giao Chỉ bộ ra Giao Châu và triều đình đã nghe.
Bấy giờ là một lúc giao thời. Nhà Hán đang buổi suy vi, nên ở miền nam ai cũng muốn lên mặt làm quyền. Khi thứ sử Trương Tân bị Khâu Cảnh giết, Luu Biểu ở Kinh Châu tự ý sai Lại Cung đến thay. Cùng lúc đó, thái thú Thương Ngô cũng sai Ngô Cự đến. Rồi nhà Hán được tin Trương Tân không còn, lại biên tỉ thư sang cho Sĩ Nhiếp, đặt ông lên chức đó. Như thế, cùng một lúc, Giao Châu có đến ba thứ sử. Trong khi Sĩ Nhiếp một mực trung thành với Hán Hiến đế, Cự và Cung xung đột nhau, khiến Cung phải bỏ về Linh Lăng. Đến năm 210, khi nhà Hán đã mất quyền ở miền nam, Tôn Quyền nhà Ngô sai Bộ Chất đến giữ chức thứ sử. Sĩ Nhiếp liền phục mệnh, đem bộ hạ ra đón rước người đại diện của chúa mới. Ngô Cự do dự nên bị Bộ Chất giết.
Trong buổi giao thời đó, Sĩ Nhiếp chẳng những đã tỏ ra là một nhà chính trị thích thời, mà ông còn đóng vai một chủ nhân đại lượng, biết tôn trọng và nâng đỡ nho gia. Nhiều nhà trí thức và chính khách Trung Quốc, khổ tâm vì cảnh loạn ly ở quê nhà, đã sang Giao Chỉ nương nhờ vào Sĩ Nhiếp để có thể giữ trọn niềm trung. Với khách hào hoa lui tới, với của cải chứa chất lại sau bao nhiêu năm cầm quyền, ông đã có thể sống một cuộc đời vương giả ở đất Liên Lâu.
Thời Sĩ Nhiếp cai trị Giao Chỉ, cũng là một thời thịnh vượng cho dân trong quận. Mọi người đã yên ổn làm ăn. Không mấy ai phải thất nghiệp cực khổ. Thảo nào, sau khi ông mất, thọ 90 tuổi, đại chúng đã đồng tâm tôn ông là Sĩ vương, và thờ ông như một vị thần thiêng.
II. CHÍNH TRỊ THỜI NGÔ (220-279)
1) Sĩ Huy và Lữ Đại (12)
Nếu Sĩ Nhiếp là một thái thú hội được nhiều điểm tốt, thì Sĩ Huy con ông hội được nhiều điểm xấu, như làm loạn tặc, tham lam và táo bạo. Mộng của Huy là được nối nghiệp cha ở Giao Chỉ, không ngờ nhà Ngô lại quyết định khác. Ngô Chúa đặt ông làm thái thú Cửu Chân còn quận Giao Chỉ thì lại giao cho Trần Thời. Phật ý, trước khi Trần Thời và viên tân thứ sử là Đái Lương đến, ông đã đem quân chiếm giữ Giao Chỉ. Thấy thế, Thời và Lương không dám vào Giao Châu.
Không phải mọi người chung quanh Sĩ Huy đều đồng ý với ông trong chương trình phản loạn. Một người trước kia đã làm việc với Sĩ Nhiếp là Hoàn Lân, khẩn khoản xin Huy hạ mình xuống đi đón Đái Lương, Huy tức giận giết chết Lân. Bấy giờ anh của Lân là Trị và con là Phát hợp người trong họ lại để đánh Huy. Hai bên cầm cự nhau mấy tháng, cuối cùng thấy không ai được bèn giảng hòa.
Trong lúc đó, Lữ Đại, thứ sử Quảng Châu, được lệnh nhà Ngô sang bình định Giao Châu thay cho Đái Lương. Đại đã dùng mưu, và có thể nói là mưu gian, để thắng Huy. Ông quen với Khuông, con của Nhất (Nhất nầy là chú của Huy), nên dùng Khuông để thuyết phục Huy đầu hàng, bảo rằng, nếu Huy hàng đi thì chỉ mất quyền cai trị quận, chứ khỏi lo về các mặt khác. Huy nghe và cả sáu anh em ra đầu thú với Đại. Không ngờ, Đại đem cả sáu người ra giết, gửi đầu về Vũ Xương. Những người bà con khác của Huy, như Nhất, Vỹ và cả Khuông nữa, đều bị truất xuống làm thứ dân, rồi sau hầu hết đều bị giết.
Thắng được loạn Sĩ Huy, Lữ Đại hợp Quảng Châu lại với Giao Châu làm một đơn vị hành chánh, lấy tên Giao Châu, và đứng đầu làm thứ sử. Ông cai trị mãi cho đến năm 231, tức là năm thứ ba hiệu Hoàng Long, mới được lệnh gọi về cầm quân ở Ẫu Khẩu, thuộc Trường Sa.
2) Những An Nam tướng quân (13)
Viên quan được chức An Nam tướng quân đầu tiên tên là Lục Duệ. Vào năm II hiệu Xích Ô (248), ở Giao Chỉ và Cửu Chân có loạn. Tôn Quyền sai Lục Duệ sang làm thứ sử Giao Châu. Chính khi Duệ đã ổn định được tình thế, Ngô Chúa đã ban cho ông chức trên.
Lữ Hưng cũng đã được chức đó trong một trường hợp khác.
Trong hiệu Vĩnh An (258-264), Tôn Hựu đặt Tôn Tư làm thứ sử Giao Châu. Tư giở lại cái trò của các ô quan tham lại về trước, và bóc lột dân. Lòng công phẩn đã dâng lên tràn ngập. Bấy giờ lại có sứ giả của Ngô Chúa là Đặng Tuân đến Giao Chỉ. Khi ra về ông định mang về ba chục khổng tước. Dân sợ phải đi đường xa lo việc chuyên chở cho Tuân, nên cùng nhau mưu loạn. Thấy thế, một đàng để thỏa mãn lòng căm tức của đại chúng, và cũng là để làm tròn những ước muốn riêng, Lữ Hưng, một viên quận lại, đứng lên cả Tuân lẫn Tư. Các quận Cửu Chân và Nhật Nam đều lên tiếng ủng hộ Hưng.
Sao một viên quận lại có thể làm được một việc lớn như thế? Ông làm được thế không phải chỉ vì muốn phản đối lòng tham nhũng của các thượng quan mà thôi, mà còn vì lý do chính trị. Nhìn vào thời cuộc bấy giờ, chúng ta thấy các nhà Ngô, Ngụy, và rồi Tấn, đang giành nhau quyền bính. Ở các châu quận, trong giới quan chức, kẻ thì ủng hộ nhà nầy, người lại ủng hộ nhà khác. Trong lúc Tôn Tư và sứ Đặng Tuân là người của nhà Ngô (sứ Đặng Tuân đến Giao Chỉ chính là với mục đích củng cố quyền bính nhà Ngô), thì Lữ Hưng lại muốn làm thần tử của nhà Ngụy. Theo ý Hưng, việc Tuân đến đã là một nguy hại cho uy thế nhà Ngụy rồi, Tuân lại còn làm việc thất nhân tâm nữa, thảo nào ông không cương quyết ra tay. Khi hạ được những địch thủ chính trị đó, Lữ Hưng tức tốc dâng biểu về nhà Ngụy xin gửi người cai trị và lực lượng sang.
Để xác nhận công trạng của Lữ Hưng, nhà Ngụy liền ban cho ông chức An Nam tướng quân, đô đốc Giao Châu chư quân sự, và gửi sang cổ Việt với chức thứ sử một vị cựu giám quân tên là Hoắc Dực. Dực chọn Phàn Cốc làm thái thú Giao Chỉ, và đem theo một số binh sĩ, cùng những viên gia môn như Đổng Nguyên, Mao Quýnh, Mạnh Thông, Thoán Năng, Lý Tùng, Vương Tố, có ý để giúp Hưng.
Không may khi bạn bè chưa đến kịp, Lữ Hưng đã bị phe nghịch giết. Vương Thống, người của nhà Ngô, đã hạ Hưng để báo thù cho Tuân và Tư. Trong trường hợp nầy, (năm 265), Nguyên để Hoán nhà Ngụy bị Tư Mã Yên truất phế để lập ra nhà Tấn, nên những người trước kia đứng về phía nhà Ngụy để chống nhà Ngô, từ nay lại quay theo nhà Tấn. Tấn Võ đế (265-289) tiếp tục, nhận cho Phàn Cốc cai trị quận Giao Chỉ, rồi khi Cốc mất, đặt Mã Dung lên thế, và khi Mã Dung chết, lại đặt Dương Tắc thay.
Nhà Ngô, mặc dầu đang trên đường suy vi, cũng không thể ngồi yên để cho kẻ khác chiếm mất một vùng đất nước. Ngô Chúa Hạo (264-279) sai Lưu Tuấn sang làm thứ sử Giao Châu để cùng với đại đô đốc Tư Tắc và tướng quân Cố Dung đánh Dương Tắc.
Mùa đông năm thứ tư hiệu Thái Thủy nhà Tấn (268), phe nhà Tấn và phe nhà Ngô giao chiến. Lúc đầu phe nhà Tấn thắng. Dương Tắc thắng được đối phương nhờ sự ủng hộ của các quận Uất Lâm và Cửu Chân. Thủ hạ của Dương Tắc, bọn Mao Quýnh, Đổng Nguyên giết được Tu Tắc và Lưu Tuấn tại Cổ thành ở Hợp Phổ, và vì đó Mao Quýnh được đặt làm thái thú Uất Lâm, Đổng Nguyên làm thái thú Cửu Chân.
3) Đào Huỳnh (14)
Sự thắng trận của phe Dương Tắc không được lâu bền, vì nhà Ngô đang chuẩn bị một cuộc tiến binh quyết liệt. Ngay từ cuối năm 269, Ngô Chúa Hạo đã phân phối công tác cho các tướng sĩ:
- Giám quân Ngu Dĩ, Uy Nam tướng quân Tiết Vũ, thái thú Thương Ngô Đào Huỳnh, chỉ huy một đạo quân tiến theo đường Kinh Châu,
- Giám quân Lý Đỉnh, đô đốc Từ Tôn, chỉ huy một đạo quân khác tiến theo đường Kiến An ra bể,
- Cả hai đạo sẽ hợp nhau sang Giao Châu diệt Dương Tắc.
Đầu năm thứ hai hiệu Thái Thủy nhà Tấn (271), chiến tranh tiến vào giai đoạn ăn thua. Hai bên đánh nhau một trận lớn ở Phần Thủy, phe nhà Ngô bị chết mất hai tướng khiến Đào Huỳnh phải rút về Hợp Phổ. Bị Tiết Vũ khiển trách, ban đêm Đào Huỳnh bèn xuất kỳ bất ý đánh được Đổng Nguyên một trận, cướp được nhiều bảo vật. Quân nhà Ngô nhờ đó lên tinh thần. Lối tháng tư, Đào Huỳnh dẫn quân tiến vào Giao Chỉ. Nguyên chận đánh. Huỳnh đặt phục binh giết được Nguyên, khiến Dương Tắc phải đặt Vương Tố lên thay làm thái thú Cửu Chân.
Huỳnh mà thắng được Nguyên cũng là nhờ sự giúp đỡ của một viên tướng Phù Nghiêm tên là Lương Kỳ. Huỳnh đã lấy những bảo vật cướp được của Đổng Nguyên ở Hợp Phổ dâng cho Kỳ để mua ông và ông đem hơn một vạn quân về giúp. Vào tháng năm, Huỳnh vây hãm thành Giao Chỉ. Ở trong thành, Dương Tắc và Mao Quýnh kiệt lương, cùng sức, cả hai đều bị bắt. Huỳnh thấy Mao Quýnh dũng kiện, muốn giữ lại, nhưng liền bị Mao Quýnh mưu sát, bèn đem giết đi làm mốt với Tắc. Khi thành Giao Chỉ thất thu rồi, Vương Tố cố trốn đi theo đường biển, nhưng cũng bị bắt giết. Cửu Chân và Nhật Nam đều hàng nhà Ngô.
Vì sự nghiệp vừa thâu hoạch được, Đào Huỳnh được đặt làm thứ sử Giao Châu. Ông cũng dẹp được dân man Phù Nghiêm và lập ra các quận Võ Bình, Tân Xương. Vùng hoang rậm giữa Cửu Chân và Nhật Nam từ trước đến nay là chỗ dân man di ở, Huỳnh cũng lập thành một quận mới, tức là Cửu Đức. Dân chúng rất mến phục ông. Khi Ngô Chúa muống đem ông đi làm đô đốc Vũ Xương để thái thú Hợp Phổ là Tu Doãn sang thay, dân đã kêu xin được ông ở lại.
Năm đầu hiệu Thái Khang (280) đời Tấn Võ đế (265-269), Tôn Hạo đầu hàng nhà Tấn. Qui mệnh hầu Hạo sai con của Đào Huỳnh là Đào Dung cầm một phong thư do chính ông viết sang Giao Châu khuyên Huỳnh bằng lòng đổi chủ. Huỳnh đau đớn khóc mấy ngày rồi thuận gửi ấn về nộp nhà Tấn. Võ đế giữ ông ở chức cũ và phong cho ông tước Uyển lăng hầu cùng làm Quan quân tướng quân. Ông còn cai trị Giao Châu 20 nữa mới mất. Tấn thư ghi rằng khi tống táng ông, người trong châu thương tiếc như mất cha mất mẹ vậy.
III. CHÍNH TRỊ THỜI TẤN (265-420)
1) Những người kế vị Đào Huỳnh (15)
Tấn đế chọn Ngô Ngạn thế Đào Huỳnh. Không lâu sau, binh sĩ ở Cửu Chân nổi dậy trục xuất thái thú. Người đứng đầu loạn quân là Triệu Chỉ đem lực lượng bao vây quận thành. Ngô Ngạn dẹp yên được. Ông cai trị Giao Châu hơn hai mươi năm rồi dâng biểu xin đổi đi.
Người được đặt thay Ngô Ngạn là Cố Bí. Bí là người nhân từ, trị dân một cách liêm khiết. Khi ông mất, dân yêu cầu con ông là Cố Sâm nhận lãnh công việc trong châu. Không may Sâm cũng mất. Một người con khác của Bí là Cố Thọ đệ đơn lên triều đình xin nối nghiệp Sâm. Triều đình chấp thuận, nhưng dân chúng lại không bằng lòng. Không chịu được lời chỉ trích, Thọ giết mất một trưởng lại tên là Triệu, và còn toan giết một tùy tướng tên là Lương Thạc. Thạc trốn chạy nên thoát được. Ông nầy cất binh đánh, và bắt được Thọ. Chính mẹ của Thọ bảo người cho uống thuốc độc chết. Bấy giờ Đào Uy, con của Đào Huỳnh làm thái thú Thương Ngô, Thạc bên mời lên làm thứ sử. Về sau, em của Đào Uy là Đào Thục, và con là Đào Tuy, đều có giữ quyền ở Giao Châu.
Lương Thạc được đặt làm thái thú Tân Xương đã tự tiện đến làm thái thú Giao Chỉ. Bấy giờ Vương Đôn làm Trấn đông đại tướng quân, coi các châu Kinh, Hoài, Giang, Tương, Quang, Giao. Khi Vương Cơ đã xin được Vương Đôn cho sang làm thứ sử Giao Châu, Thạc chận lại, không cho vào. Thay vì công nhận Cơ, Thạc đã mời Tu Trạm, con của Tu Tắc về cai trị châu. Bấy giờ Vương Đôn lại đặt Vương Lượng làm thứ sử. Lượng đến, Trạm trốn vào Cửu Chân. Sau Trạm bị dụ vào tay Lượng và bị giết.
Lượng cũng tìm cách tiêu diệt Thạc, nhưng không được. Để trả thù, Thạc cất binh bao vây thành Long Biên, rồi vào bắt Lượng, cố cướp cho được cờ tiết. Vì Lượng không giao, bị Thạc chém đứt tay. Lượng nói: "Chết còn chưa sợ, thì chặt tay mà làm gì?". Sau đó mấy hôm, Lượng mất. Thạc còn lại một mình tha hồ chuyên quyền trong châu. Ông ăn ở hung bạo làm cho mọi người đều ghét.
Tình trạng chính quyền ở Giao Châu sau Đào Huỳnh, đã phản ảnh tình trạng đau buồn của triều nhà Tấn, một triều đại trong đó anh em họ hàng chém giết nhau một cách tàn tệ, không phải vì mục đích bảo vệ một chí hướng chính trị, hay một ý nghĩa cao cả nào, mà chỉ là để giành giật ngai vàng.
2) Đào Khản và Đổ Viện (16)
Đào Khản làm thứ sử Quảng Châu. Thấy Giao Châu hổn độn có lần ông đã can thiệp vào một cách gián tiếp. Chính ông đã cho người dụ Tu Trạm vào tay Vương Lượng. Khi Vương Lượng bị Lương Thạc vây đánh, ông cũng đã chuẩn bị sang cứu Lượng, nhưng chưa làm kịp, Lượng đã thua.
Năm 323, được tin Lượng chết, Đào Khản được gửi sang thay. Ông sai tham quân Cao Báu đi dẹp Lương Thạc. Báu thắng, giết được Thạc. Đào Khản bèn được chức Giao Châu thứ sử, hiệu Chính Nam Đại tướng quân, có quyền mở phủ nghị. Không được bao lâu, viên Lại bộ lang Nguyễn Phóng xin đuoc triều đình cho làm thứ sử Giao Châu. Cố nhiên Phóng chạm trán với Khản. Gặp Báu đem quân đến nghinh chiến ở Ninh phố, Phóng mở tiệc đãi Báu đồng thời đặt phục binh giết được Báu. Không ngờ quân của Báu xông đánh mạnh, Phóng phải bỏ chạy mới thoát thân. Sau Đào Khản nhường chức cho Phóng, nhưng ông nầy đến châu chưa được bao lâu đã chết.
Sau Đào Khản, trong thời nhà Tấn, còn một vài nhân vật nên biết nữa, đó là Đỗ Viện và Đỗ Tuệ Độ, hai cha con, sinh trưởng ở đất Giao Châu.
Bấy giờ là năm 380, trong đời Hiếu Võ đế nhà Tấn (373-396). Ở Cửu Chân có thái thú Lý Tốn lộng hành, nổi dậy chiếm cứ châu. Đỗ Viện, làm thái thú Giao Chỉ, không hùa theo loạn đảng. Ông đánh giết Lý Tốn và cả châu lại được yên. Khi Viện mất, triều đình đặt con ông là Đỗ Tuệ Độ làm thứ sử Giao Châu.
Lúc đó, ở Quảng Châu có loạn, Lư Tuần đang bao vây Phiên Ngung đã bị Điền Tử đánh bại, chạy lên Thương Ngô. Ở đây Tuần bị bại nữa, bèn chạy sang Giao Chỉ. Đỗ Tuệ Độ đem lực lượng đón đánh Tuần ở Thạch Kỳ. Tuần thua to, nhưng được dư đảng của Lý Tốn là Lý Thoát tụ họp dân lý liêu gồm tất cả những năm nghìn người để ủng hộ Tuần. Quân của Tuần kéo đến phía nam Long Biên. Tuệ Độ bèn đem hết của cải phân phát cho binh sĩ để thúc giục họ hăng hái giáp trận. Lực lượng của Tuần không mấy chốc đã bị tan rã. Biết không sao khỏi chết, Tuần gọi đoàn thê thiếp lại hỏi xem ai sẵn lòng cùng chết với ông. Đa số đáp: "Chim, chuột còn muốn sống, việc chết theo thật là khó". Nhưng cũng có người nói: "Quan thượng còn phải chết thì ai còn muốn sống". Ông bèn giết hết, rồi gieo mình xuống sông. Tuệ Độ chém đầu ông đầu Lý Thoát, tất cả bảy người, rồi gửi về Kiến Khang.
3) Giao Châu với Lâm Ấp (17)
Trong thời Tấn, dân Lâm Ấp nhiều lần quấy nhiễu Giao Châu.
Năm thứ hai hiệu Hàm Thông (336), vua Lâm Ấp là Phạm Dật chết, Phạm Văn lên thế. Văn là một người có tính hiếu chiến. Năm 347, ông đem quân đánh Nhật Nam, giết mất thái thú Hạ Hầu Lãm, cùng với năm, sáu nghìn dân. Những người sống sót phải chạy ra Cửu Chân. Văn lấy xác của Lãm tế trời, phá thành Tây Quyền, rồi cho sứ giả ra xin thứ sử Châu Phù cho mở cương giới Lâm Ấp ra đến Hoành Sơn. Châu Phù không trả lời.
Năm 348, Phạm Văn đánh Cửu Chân, dân chúng mười người bị giết hết tám, chín. Không thể nhịn nhục được lâu hơn, nên năm sau đó, viên Chinh tây đốc hộ Tất Tuấn chỉ huy lực lượng Giao Châu và Quảng Châu vào đánh bại Phạm Văn. Năm đó, Phạm Văn chết, để ngôi cho con là Phạm Hồ Đạt.
Năm thứ chín hiệu Vĩnh Hòa (353), vào tháng ba, thứ sử Giao Châu là Nguyễn Phu đem quân vào đánh Lâm Ấp, phá được hơn năm mươi lũy. Năm 361, thứ sử Quảng Châu là Tất Hàm cất đại quân vào đánh Lâm Ấp. Vua Lâm Ấp sợ, xin hàng. Trong đời Hiếu Võ đế (373-396), Lâm Ấp triều cống nhà Tấn. Nhưng đến năm thứ ba hiệu Long An (299), vào tháng hai, vua Lâm Ấp lại đánh phá Nhật Nam, Cửu Chân, rồi kéo ra Giao Chỉ, không ngờ bị Đỗ Viện đánh đuổi. Vào năm 413, lần nữa, Cửu Chân bị Phạm Hồ Đạt đánh. Đỗ Tuệ Độ nghinh chiến đã giết được Đạt, và Phạm Dương Mại lên làm vua Lâm Ấp. Ba năm sau, năm thứ II hiệu Nghĩa Hy, vào tháng 11, Tuệ Độ còn đánh bại một cuộc xung kích khác của Lâm Ấp. Vào năm 420, đến lượt Đỗ Tuệ mở thế công. Ông kéo quân đánh một trận rất lớn, Lâm Ấp xin hàng. Ông bằng lòng cho và tha về tất cả những người đã bị bắt.
VI. CHÍNH TRỊ THỜI TỐNG VÀ THỜI TỀ
Trong thời Tống (420-478), các biến cố được ghi lại không có bao nhiêu. Việc đáng kể hơn cả, có lẽ cũng chỉ là chiến tranh với Lâm Ấp. (18)
Năm 431, Lâm Ấp ra đánh Cửu Đức, nhưng bị đẩy lui. Không ngã lòng, Phạm Dương Mại tấn công nữa, mà lần nầy bằng một phương pháp khác. Vào tháng năm, năm Nguyên Gia thứ 10 (432), ông gửi sứ sang triều cống Tống Văn đế (424-453) để ngoại giao xin cho được quyền cai trị Giao Châu. Vua không cho, lấy lẽ là đường sá xa xuôi, đi lại không tiện.
Vào năm thứ 23 hiệu Nguyên Gia (446), nhà Tấn dự tính một cuộc tấn công Lâm Ấp và giao việc đó cho Đàn Hòa Chi, thứ sử Giao Châu. Trong bọn thủ hạ của Hòa Chi có tên Tống Xác rất hùng dũng, được đặt làm Chấn Võ tướng quân, chỉ huy đạo tiền phong. Trước tình thế đó, Phạm Dương Mại gửi sứ để xin giao trả những người Nhật Nam đã bị bắt, cùng xin dâng một vạn cân vàng, mười vạn cân bạc. Văn đế nhà Tống bảo Hòa Chi nếu vua Lâm Ấp thật lòng qui thuận thì cũng ưng cho. Khi quân vào đến Châu Ngô, Hòa Chi sai viên tham quân Khương Trọng Cơ vào gặp vua Lâm Ấp. Không ngờ Trọng Cơ bị Dương Mại giữ lại. Hòa Chi quyết định đánh. Ông cho bao vây tướng địch là Phạm Phù Long ở Khu Túc. Các tướng Lâm Ấp, như Phạm Côn, Sa Đạt đến cứu đều bị Tống Xác phục binh đánh phá.
Vào tháng năm, Hòa Chi hạ thành Khu Túc, giết Phù Long, phá thành rồi tiến đến Tượng Phố. Thấy tình thế khẩn trương, Dương Mại huy động cả nước ra kháng cự, lấy áo chiến trùm cả lên mình voi. Tống Xác nhớ lại rằng voi sợ sư tử nên làm ra hình sư tử để nhát voi. Voi sợ chạy lui, quân Lâm Ấp tan vỡ, cha con Dương Mại cũng vội vàng tẩu thoát. Hòa Chi đại thắng, thu hoạch được báu vật của Lâm Ấp rất nhiều, chỉ Tống Xác là không lấy vật gì. Năm 447, Hòa Chi từ chức thứ sử Giao Châu.
Sau Đàn Hòa Chi, không có chiến tranh về phía Lâm Ấp nữa, nhưng lại có nội loạn. Năm 468, thứ sử Giao Châu là Lưu Mục mất, một người trong châu, Lý Trường Nhân, chiếm châu làm phản, tự xưng là thứ sử. Tống đế cũng gửi Lưu Bột sang để giữ chức đó. Khi Bột đến, Trường Nhân hết sức chống cự. Nhưng không lâu Bột mất, bấy giờ Trường Nhân sai sứ sang Tống triều xin cai trị châu, và ông đã được như ý. Năm 479, Lý Trường Nhân mất. Em ông là Lý Thúc Hiến sai sứ sang xin vua đặt ông làm thứ sử. Vua không nghe, đặt thái thú Nam Hải là Thẩm Hoán lên, còn ông thì cho làm thái thú các quận Võ Bình và Tân Xương. Vì được dân ủng hộ, Lý Thúc Hiến muốn chống mệnh lệnh của triều đình. Khi Hoán chưa sang, ông đã chuẩn bị chống cự. và rồi thực sự đem quân chận đường không cho Hoán vào. Hoán đành phải lui về Uất Lâm, bị bệnh chết ở đó. Bấy giờ, Thúc Hiến lại xin và được chức thứ sử.
Thời nhà Tề (479-501) vừa vắn lại vừa tang thương. Lịch sử nhà Tề là lịch sử một chuỗi những cuộc ám sát. Hễ ai lên ngôi là đã vội tìm cách giết hết anh em họ hàng, để rồi lại bị giết bởi một người bà con sống sót. Trong tình trạng đó, ít hy vọng được thấy vùng Giao Châu được chú ý đến trừ khi các thứ sử không chịu nộp đồ cống. (19)
Thật vậy, năm 484, triều đình nhận được rằng đã lâu Lý Thúc Hiến không còn qui phục trung ương như thường lệ. Ý nhà vua là phải dùng võ lực phạt Giao Châu. Năm Vĩnh Minh thứ ba (485), Tề Võ đế đặt Đại tư nông Lưu Khải làm thứ sử, chỉ huy lực lượng các quận Nam Khang, Lư Lăng, Thủy Hương, sang đánh Thúc Hiến. Thúc Hiến được tin, sợ hãi, vội vàng sai sứ về triều đình xin bãi binh đồng thời dâng lên mười hai chiếc mũ đầu mâu đúc bằng bạc. Vua không chịu, Thúc Hiến lo kẻo bị đánh úp, nên theo đường Tương châu về kinh đô. Một mối loạn tạm yên.
Nhưng nếu những kẻ tham lam quyền thế, của cải, đã được lịch sử ghi lại, thì những người không màng gì đến quyền thế cũng không bị lịch sử bỏ quên. Đó là trường hợp của thứ sử Phòng Pháp Thặng. Trong thời gian ở Giao Châu, ông không lo gì đến việc cai trị, mà suốt ngày suốt buổi, ông chỉ chuyên chú đọc sách. Vì đó, tất cả công việc đều ở tay viên trưởng lại Phục Đăng Chi. Được thế, Đăng Chi chuyên quyền, thay đổi nhân viên mà không thèm cho thứ sử biết. Khi lục sự Phòng Quý Văn đem việc đó trình bày lên, Pháp Thặng tức giận, bỏ Đăng Chi vào ngục. Đăng Chi khôn khéo đem của đút lót cho em rể của Pháp Thặng, là Thô Cảnh Thúc, nên sau mười ngày đã được tha. Bấy giờ ông đánh úp châu phủ, bắp Pháp Thặng câu lưu ở một nhà riêng. Buồn vì không có gì làm, Pháp Thặng đến xin Đăng Chi sách để đọc. Đăng Chi không cho, nói: "Quan không làm gì mà còn sinh bệnh, huống hồ đọc sách". Vào tháng 11 năm Vĩnh Minh thứ tám (490), Đăng Chi tâu triều đình là Pháp Thặng có tâm tật và Đăng Chi đã được đặt lên thay. Quan cựu thứ sử chết trên đường trở về quê hương.
V. CHÍNH TRỊ THỜI LƯƠNG VÀ THỜI TRẦN
Võ đế nhà Lương (502-549) có thể kể được là một vị anh quân trong những năm đầu, nhưng từ năm 527 mà đi, ông đã trở thành mê tín, dần dần mất hết tư cách của một bậc anh minh. Bấy giờ ở cổ Việt xa xuôi nầy, nhiều người đứng lên đòi độc lập. (20)
Lý Khải do nhà Tề gửi sang Giao Châu đã giữ lòng trung thành với triều đại nầy, khi nhà Lương lên cầm quyền ở Nam Kinh, và vì thế không chịu triều cống chủ mới. Vào năm Thiên Giám thứ tư, tháng hai, ngày Nhâm thìn (ngày 21 tháng 3, 505), Lý Khải bị một viên thuộc cấp trên là Lý Tắc hạ sát. Tắc được đặt làm thứ sử Giao Châu. Mười năm sau, lại có người tên là Nguyễn Tông Hiếu nổi dậy. Lý Tắc cũng có công đánh bại, chém được đầu gửi về kinh đô.
Nhưng cuộc nổi dậy danh tiếng hơn cả trong thời nhà Lương, đó là của Lý Bí. Thuộc dòng dõi hào hựu, Bí được bổ làm quan, rồi vì gặp hoàn cảnh không vừa ý đã cáo về nhà. Bấy giờ ở Giao Chỉ lại có một người tên là Tịnh Thiều, tài giỏi chữ nghĩa, nhưng xin đi làm việc, chỉ được bổ chức môn lang ở Quảng Tín, vì lẽ trong họ chưa có tiền hiền, nên lấy làm xấu hổ cũng bỏ về. Đàng khác, thứ sử Giao Châu là Võ Lâm hầu Tiêu Tư ăn ở khắc nghiệt, nhân dân oán thán. Vì tất cả đó, Bí và Thiều nghĩ đến việc khởi nghĩa. Để dễ thi hành ý định, Bí nhận chức giám quân ở Đức Châu, tìm cách liên kết với thành phần bất mãn ở các châu để nổi dậy đánh Tiêu Tư. Quan thứ sử biết vậy, vội đem tiền đút lót cho Lý Bí và trốn về Quảng Châu.
Khi tin biến loạn về đến triều đình, Lương Võ đế (502-549) sai thứ sử Cao Châu, Tôn Quýnh, thứ sử Tân Châu, Lư Tử Hùng, sang đánh dẹp Giao Châu làm một với Tiêu Tư. Họ được lệnh cử binh vào đầu năm Đại Đồng thứ tám (542). Quýnh và Tử Hùng lấy lẽ mùa xuân nhiều khí độc nên hoãn đến mùa thu, nhưng Tiêu Tư thối thúc, lại thêm Tân du hầu Hoán, thứ sử Quảng Châu, bắt buộc, họ đành phải lên đường. Không may, khi đến Hợp Phổ, binh sĩ không hợp thủy thổ, mười người chết hết sáu, bảy, đành phải giải tán. Tiêu Tư tâu trình rằng bọn Quýnh và Tử Hùng thông đồng với giặc, không chịu tiến quân, vì vậy cả hai đều phải đòi về Quảng Châu và phải tự tử.
Việc rắc rối đến đó chưa phải là hết. Thân thuộc của những người bị tội, như Tử Lược, Tử Liệt, hai em của Tử Hùng, và chủ soái Quảng Lăng là Đỗ Thiên Hợp, cùng các em ông là Tăng Minh, Tân An, Châu Văn Dục, huy động bộ hạ của Tử Hùng đến đánh Quảng Châu, có ý giết Tiêu Tư và Tân Du hầu Hoán. May sao thái thú Ngô Hưng là Trần Bá Tiên đến cứu kịp. Vị tướng tài nầy đã giết được Thiên Hợp, bắt giam Tăng Minh, Văn Dục, và sau, thấy hai người nầy kiêu dũng, đã cho làm chủ soái.
Nhân sự lủng củng giữa các tướng lãnh triều đình sai đi chinh phạt, Lý Bí đã có thì giờ để tăng cường lực lượng riêng. Năm 543 có quân Lâm Ấp cướp phá, ông sai Phạm Tu đi đánh đuổi được ra khỏi Cửu Đức. Chính sau trận thắng nầy, và nhân dịp đầu năm sau, Bí đã tự xưng là Việt đế, lấy hiểu là Đại Đức. (21)
Nhưng vị vua của nước Việt mới nầy an hưởng ngai vàng không được lâu. Vào giữa năm thứ II hiệu Đại Đồng (545), Lương đế đã lập xong kế hoạch. Tiêu Tư bị mất chức và Dương Phiêu được đặt làm thứ sử Giao Châu. Phiêu lại có Trần Bá Tiên làm Tư Mã và thứ sử Định Châu là Tiêu Bột phụ lục. Khi binh sĩ đến Tây Giang, bỗng Bột thoái chí. Biết rằng binh sĩ không muốn gì việc đi đánh xa, nên Bột tìm cách khuyên Phiêu đừng đi nữa. Khi Phiêu hội tướng sĩ lại bàn, Trần Bá Tiên cương quyết phục mệnh, và thúc quân lên đường. Phiêu bèn đặt ông làm tiền phong.
Lực lượng triều đình nhà Lương gặp ba vạn quân của Lý Bí lần đầu tiên ở Châu Diên, Bí thất bại. Lần thứ hai, hai bên giao chiến ở cửa sông Tô Lịch, Bí cũng thất bại, và rút quân về Gia Ninh. Tại đây, Bí bị bao vây và thất bại lần nữa vào ngày 25 tháng 2 năm 546, phải chạy vào trốn trong dân liêu ở vùng Tân Xương. Dương Phiêu và Bá Tiên không đuổi theo, cứ đợi ở cửa sông. Cuối mùa thu năm đó, với hai vạn quân vừa chiêu mộ được, Bí ra hồ Điển Triệt, thuyền bè đậu đầy cả hồ. Lúc đó, Bá Tiên dùng lời lẽ hăng hái khuyến khích tướng sĩ, bảo tất cả phải liều một phen sinh tử, nếu không sẽ nguy hại đến tính mạng. Thế rồi ban đêm đang lúc nước thủy triều lên, ông ra hiệu tiến quân, trống đánh inh ỏi mot góc trời. Lực lượng của Bí vỡ chạy tứ tung, còn chính Bí thì lui vào động Khuất Liêu. Vào tháng ba, năm thứ ba hiệu Thái Thanh (548), Trần Bá Tiên tấn công Lý Bí ngày ở động. Bí thất bại lần cuối cùng và ngày Kỷ vị tháng đó (tức là ngày 21 tháng 4 dương lịch) ông bị Bá Tiên chém đầu gởi về Kiến Khang.
Dư đảng của Lý Bí, sau biến cố đau thương đó, đã do người anh của ông là Lý Thiên Bảo chỉ huy vào Cửu Chân, ở đây họ hợp lực với lực lượng của một tướng khác tên là Lý Thiệu Long, tất cả được chừng hai vạn người. Bảo và Long giết được thứ sử Ái Châu là Trần Văn Giới rồi vây Châu Thành. Trần Bá Tiên đem quân tiến vào dẹp yên được. Ông được Lương đế dặt làm Tây Giang đốc hộ cai quản việc quân của cả bảy quận.
Trần Bá Tiên thắng Lý Bí ở Giao Châu và không mấy năm sau ông còn thắng cả nhà Lương ở Kiến Khang nữa. Thật thế, năm 557, ông truống Lương Cảnh đế (555-557) xuống và lên ngôi, lập ra nhà Trần. Nhưng số phận nhà Trần không được lâu bền gì. Bá Tiên hay Trần Võ đế (557-559) không đầy ba năm sau đã mất và các vua kế vị đã lu mờ một cách mau chóng trước sức bành trướng của nhà Tùy. Trong thời gian đó, ở vùng cổ Việt "chư châu giai định". (22)
CHƯƠNG THỨ TÁM (tt)
VI. CHÍNH TRỊ THỜI TÙY (584-617)
Nhà Tùy xuất hiện không lâu trong lịch sử nhưng đã để lại một sự nghiệp khá đáng kể, đó là khỉ sự thống nhất lại Trung Quốc. Kể từ thời Tống, Trung Quốc đã chia ra thành Nam, Bắc Triều. Năm 582, Trần Thúc Bảo lên ngồi ở Kiến Khang, hoang dâm, xa xỉ. Từ Trường an Dương Kiên, tức là Văn đế nhà Tùy (584-604) đã kéo quân xuống vùng Nam Kinh, hạ bệ vị vua hư hỏng nầy để nhà Tùy cai trị cả Bắc lẫn Nam.
1) Lưu Phương
Trong đời Tùy Văn đế, ở Giao Châu có Lý Phật Tử nổi dậy. Chính ông chiếm thành củ của Lý Bí, con của anh ông là Lý Đại Quyền đánh thành Long Biên, tướng ông là Lý Phổ Đỉnh đánh thành Ô Diên. Vua nhà Tùy bèn đặt Lưu Phương làm Giao Châu đạo Hành quân tổng quản, có Kính Đức Lượng làm trưởng sử, cầm binh sĩ 27 dinh sang đánh dẹp. Khi đến Doãn Châu, Đức Lượng bị bệnh, không đi nữa, Lưu Phương đành phải kiêm tất cả. Lưu Phương có tiếng là một nhà tướng rất kỷ luật, nhưng đồng thời cũng rất có lòng tốt đối với binh sĩ, nên rất được người dưới mến phục. (23)
Khi Lưu Phương đến Đô Long, ông gặp hai nghìn địch đến đón đánh. Các dinh chủ của ông là Tống Soán, Bùi Quý, Nghiêm Nguyện kháng cự được. Về phần Lý Phật Tử, trước tiên ông cho người đến lấy lời hơn thiệt dụ dỗ. Phật Tử sợ, liền xin hàng và bị gửi về kinh đô. Thật là một thành công dễ dàng.
Nhưng sự nghiệp của ông ở vùng cổ Việt không phải chỉ có thế. Biết rằng Lâm Ấp có nhiều báu vật, triều đình muốn nhân tiện sai ông vào đánh cướp nước đó. Và triều đình viện một lý do để khỉ sự. Vua Lâm Ấp, Phàn Chí, khi Văn đế nhà Tùy (590-604) mới lên ngôi, có triều cống, nhưng về sau không cho sứ sang nữa. Thế là Lưu Phương nhận được chức Hoan Châu đạo Hành quân tổng quản với nhiệm vụ vào đánh nước của Phàn Chí. Trong nhiệm vụ nầy, ông có thứ sử Khâm Châu là Nịnh Trường Chân, thứ sử Hoan Châu là Lý Vận giúp đỡ, lại có Trương Tổn làm tư mã, và Lý Võng làm châu soái. Quân thì có hơn một vạn người cả bộ cả kỵ, thêm vào đó còn là một số tội nhân bị cầm giữ ở châu phủ.
Vào tháng giêng năm đầu hiệu Đại Nghiệp (603), Lưu Phương với quyền đại tướng, dẫn lực lượng từ Bắc Cảnh ra đi. Tại Lâm Ấp, Phàn Chí đã đề phòng, chia quân đi giữ các nơi hiểm yếu. Tháng ba, hai bên đụng độ nhau lần đầu, Lưu Phương thắng. Khi ông vượt sông Đô Lê, quân của Lâm Ấp từ các nơi kéo lại đánh, có voi trận tham chiến. Biết thế không lợi, vị đại tướng Tàu dùng mưu. Ông cho đào những hố nhỏ trên đường rồi lấy cỏ phủ lên. Khi địch đến, quân ông giả vờ thua. Địch đuổi theo, không dè voi sỉa chân xuống hố, ngã thúc vào nhau. Quân Lâm Ấp kinh sợ rút lui cùng một lúc voi bị quân Tàu ào ào xông vào bắn đuổi cũng hục hịch trốn thoát, giẫm lên mình binh sĩ. Những kẻ bị giẫm như vậy, và bị chém, kể đến hàng vạn.
Lưu Phương thắng mấy trận nữa. Vào tháng tư, ông đến kinh đô Lâm Ấp. Phàn Chí trốn chạy ra biển. Tàu lượm được của cải vô số. Đặc biệt nhất là họ lấy 18 tấm miếu chủ đúc bằng vàng. Trước khi ra về, Lưu Phương cho dựng bia đá ghi công, nhưng dọc đường ông đã bị bệnh, mất. Binh sĩ cũng bị sưng chân, người người chết hết bốn năm.
2) Khâu Hòa
Cuối thời nhà Tùy, Khâu Hòa được đặt làm thái thú Giao Chỉ. Ông có một viên tư pháp thư tá tên là Cao Sĩ Liêm. Cũng như Đào Huỳnh trong thời Ngô, Khâu Hòa cũng lâm vào cảnh thay triều đổi chủ.
Thời Dương đế cáo chung là một thời hỗn độn. Trung Quốc bị chia năm xẻ bảy, mỗi người hùng làm chúa một nơi. Lý Uyên chuyên chế ở đất Đường, Lâm Sĩ Hằng ở Phần Dương, Tiêu Tiên ở Giang Lăng. Năm 618, Lý Uyên hạ bệ nhà Tùy rồi lên ngôi thiên tử ở Trường An. Trong lúc đó, Sĩ Hoàng đã được vùng Thương Ngô, Cao Lăng, Phiên Ngung, và Tiên vùng Uất Lâm, Thủy An. Cả hai ông nầy đều thèm đất Giao Chỉ, gửi sứ đến chiêu mộ Phần Khâu Hòa, ông chưa biết việc nhà Tùy đã mất ngôi, nên không chịu theo bên nào. Các nước ở phía tây Lâm Ấp đem minh châu, sừng tê, vàng, bạc, nhờ Khâu Hòa chuyển lên vua, Hòa cũng chuyển đi, và bị Tiên chận lấy.
Vào đầu mùa hạ năm đó, Tiên quyết dùng võ lực lấy Giao Chỉ, sai Nịnh Trường Chân đem quân theo đường biển sang đánh Hòa. Hòa sợ, muốn ra hàng, nhưng Cao Sĩ Liêm bàn nên đánh. Ông bèn đặt Sĩ Liêm làm tư mã, đem quân thủy bộ nghinh chiến. Trường Chân đại bại, suýt bỏ mạng, binh sĩ thì chết hầu hết.
Sau đó, có người quen ở Giang Tô về bảo cho Hòa biết là nhà Tùy đã mất, ông bèn qui thuận Tiêu Tiên, Tiên bấy giờ đã lập quốc xưng đế, gọi là nhà Lương để chống lại với nhà Đường. Không may, lực lượng của ông càng ngày càng yếu, thủ hạ ông lại dần dần bỏ ông. Vào tháng chín năm Võ Đức thứ tư (621), Khâu Hòa Cao Sĩ Liêm sang Giang Lăng có ý yết kiến Tiên, bỗng được tin Tiên thua tướng nhà Đường là Hiếu Cung. Hòa và Liêm theo Hiếu Cung, nên trong tháng đó, thấy bơ vở, Tiêu cũng đầu hàng nhà Đường.
Năm sau, vào tháng ba, Đường Cao Tổ (618-626) ban cho Khâu Hòa chức Giao Châu tổng quán, Hòa bảo Sĩ Liêm dâng sớ xin cho ông về chầu. Chẳng những Đường đế thuận cho, mà còn sai Khâu Sư Lợi, con của Hòa, đi nghinh tiếp. Vua hậu đãi Hòa, ban cho ông chức Tả Võ hầu đại tướng quân. Hòa bấy giờ đã tuổi tác nên không còn trở lại Giao Châu. Vua đặt ông làm thứ sử Tắc Châu, là chỗ quê nhà.
Cũng trong năm Võ Đức thứ năm (622), các thái thú Đặng Văn Tiên ở Quảng Châu, Xưng Tuyên ở Hợp Phổ, Lý Giao ở Nhật Nam, đều qui thuận nhà Đường.
VII. CHÍNH TRỊ THỜI ĐƯỜNG (618-906)
Đối với đất cổ Việt, đời Cao Tổ chỉ là thời chinh phục, từ thời Thái Tông về sau mới là thời cai trị.
1) Thời Thái Tông (627-649)
Thái Tông, tức là Lý Thế Dân, con người đã giúp một phần rất lớn vào việc sáng lập nhà Đường. Nhưng ông là con út của Cao Tổ. Một đàng vì lẽ ông sinh sau, đàng khác vì ông đã có một sự nghiệp quá hiển hách đến nỗi làm lu mờ cả địa vị của vua cha, Cao Tổ đã có dự định bỏ ông và đặt người con cả làm thế tử. Biết vậy, vào tháng 6, 626, ông giết anh ông. Vua cha hiểu ý nên chẳng những đặt ông làm thế tử mà còn nhường ngôi cho ông, bấy giờ mới 27 tuổi đầu.
Thái Tông là một vị tướng vừa can đảm, vừa mưu lược, đồng thời cũng là một vị vua khôn ngoan. Ông là người đã mang Trung Quốc về phía Bắc và phía Tây, và đã củng cố quyền bính trung ương ở khắp mọi nơi trong nước, xa cũng như gần.
Về cổ Việt, Thái Tông có để lại một vài dấu vết. Vào tháng 10 năm Trinh quán thứ hai (628), một người thuộc tông thất, tức là Toại an công Thọ, đô đốc Giao Châu, vì ăn ở tham bạo, nên bị vua trừng phạt nghiêm nhặt. Rồi buồn vì thấy Giao Châu đã lâu ngày những bị tham quan tệ lại quấy nhiễu, vua cố tìm cho được một người trung chính gửi sang cầm quyền. Chính trong cố gắng nầy, chúng ta có thấy được một phần nào tư cách của vị vua trẻ trung và quyền thế.
Bấy giờ có Lư Tổ Thượng, cựu thứ sử Doanh Châu, nổi tiếng là văn vỏ toàn tài lại liêm bình công trực. Vua muốn sai ông sang làm thứ sử Giao Châu. Tổ Thượng nhận lời, rồi lại hối hận từ chối, lấy lý là có bệnh. Vua sai bọn Đổ Như Hối mang dụ chỉ đến cho Tổ Thượng, trong đó vua nói: "Kẻ thất phu còn giữ lời hứa với nhau, cớ sao nhà Thầy đã hứa với Trẫm mà lại sai lời?" Nhưng Tổ Thượng vẫn không đổi ý. Ngày Mậu tí tháng hai năm đó, vua triệu Tổ Thượng đến lần nữa để khuyên ông, ông cũng cứ không chịu đi. Tức giận quá, vua nói: "Ta sai kẻ khác không được, thì cai trị sao nổi?", bàn bảo giết ông ngay ở triều.
Sau đó, vua không yên tâm. Một hôm, nói chuyện với thị thần, vua hỏi: "Văn Tuyên đế nhà Tề là người thế nào?". Ngụy Trưng thưa: "Văn Tuyên là người cuồng bạo, nhưng khi cải lý mà thua thì biết nghe theo. Có ông Ngụy Khải trước làm trưởng sử Thanh Châu, khi đi sứ nhà Lương, về được bổ làm trưởng sử Quảng Châu. Khải nhất định không đi. Khi Dương Đạo Ngạn tâu lại với vua, vua giận, cho gọi Khải đến trách. Khải tâu: "Trước đây thần giữ việc ở một châu lớn, mệt nhọc mà không có gì sai suất, nay sao lại phải đi giữ việc ở một châu nhỏ? Đó là lý do khiến thần không đi". Văn Tuyên bảo Đạo Ngạn rằng: "Nói thế có lý, khanh hãy tha cho ông ta". Đó là chỗ tốt của Văn Tuyên". Nghe vậy, Thái Tông than rằng: "Thế mà, nhà trứ danh Lư Tổ Thượng, chỉ vì trái đạo nhân thần, Trẫm cũng đã giết di, thật là quá bạo ngược. Thảo nào người ta chê Trẫm không bằng Văn Tuyên". Vua liền sai phục chức cho Lư Tổ Thượng và cho tập ấm. (25)
Năm 635 (Trinh quán năm thứ 9, Đô đốc Giao Châu là Lý Đạo Hưng. Ông là người tông thất, trước đã làm Quảng Ninh quân vương, sau bị giáng vì có tội, chỉ còn chức Huyện công, và được sai sang vùng cổ Việt. Tại đây ông vừa không hợp thủy thổ, vừa ưu sầu, đã bị bệnh chết.
Năm Trinh quán thứ II (637), đô đốc Giao Châu là Ngô Vương Khác, thường thích đi săn, làm hại dân rất nhiều. Viên Thị ngự sử Liêu Phạm tâu vua xin quở phạt. Ngày Đinh sửu tháng 10 năm đó, Khác bị cách chức, và tước mất lộc ba trăm hộ. Vua nói: "Quyền người trưởng sử quan hệ đến muôn đời. Con ta không cai trị tử tế, là tôi đáng chết". Liêu Phạm thưa: "Phòng Huyền Cầm thờ bệ hạ mà chưa bỏ được thói đi săn, thì sao chỉ một mình ông Khác là bị tội muôn đời?". Vua nghe vậy, giận lắm, vất áo, đi vào trong. Lâu sau, vua gọi Phạm đến một mình, hỏi: "Sao lại cải ngang ta?". Phạm thưa: "Vì bệ hạ nhân từ minh chính, nên thần không dám không hết lòng ngu trực". Vua lấy làm vừa ý.
Năm sau, ở Minh Châu, tức là phần đất tên là Việt Thường thuộc quận Nhật Nam dưới thời Tùy, dân liêu nổi lên làm loạn. Ngày Kỹ tị tháng II, đô đốc Giao Châu, Lý Đạo Ngạn dẹp yên được. (26)
2) Thời Võ Hậu (684-705)
Khi Thái Tông mất, ngày 10 tháng 7, 649, con ông lên thế lấy hiệu Cao Tông (650-683). Vua nầy tài lược tầm thường nhưng nhờ uy thế của vua cha nên nắm được guồng máy chính quyền vững vàng trong một thời gian. Trong thời Cao Tông, ngoài việc đổi Giao Châu đô đốc phủ làm An Nam đô hộ phủ (679), người ta không còn thấy sử sách ghi lại điều gì khác trừ việc đặt Trứ Toại Lương làm thứ sử Ái Châu vào năm 658. Ông nầy, khi đến nhậm chức, đã dâng biểu xin cho được thay thế vì ông tự xét rằng "Lực tiểu, nhậm trọng". (27)
Cao Tông càng ngày càng trở nên nhu nhược, công việc thường bị hậu cung điều khiển. Cuối cùng bà phi Võ Tắc Thiên đánh thuốc độc giết ông, rồi lên nắm chính quyền. Đó là Võ Hậu. Bà là một người độc ác, nhưng cương nghị, đã đổi nhà Đường ra thành nhà Chu kể từ 690, và cũng đã vớt vát được phần nào uy tín đã mất của Trung Quốc, sau những lần thất bại đối với các dân di địch về phía Bắc.
Trong thời bà ở cổ Việt, có loạn dân Thổ. Vào năm Thừa củng thứ ba (687), An Nam đô hộ là Lý Diên Hựu. Về trước, vùng dân Thổ, thuế chỉ phải nộp một nửa phần. Diên Hựu ra lệnh bắt nộp cả phần, nên tháng tám năm đó, họ nổi dậy chống đánh đuổi sự điều khiển của Lý Từ Tiên. Quan đô hộ bắt giết Từ Tiên. Đinh Kiến thay thế, cầm đầu loạn quân, đến vây An Nam phủ. Trong thành binh sĩ ít nên Diên Hựu đóng cửa chờ viện quân. Ở Quảng Châu, Phùng Tử Do được tin không cho quân sang cứu, vì muốn đợi cho tình trạng nguy ngập đã mới đến, mong lập được công to hơn. Trong lúc đó, thành mất, Diên Hựu bị giết. Bấy giờ viên tư mã Quế Châu là Tào Huyền Tĩnh sang đánh giết được Đinh Kiến. (28)
3) Thời Huyền Tông (712-756)
Năm 705, Võ Hậu đã thọ bát tuần. Triều đình nhận thấy dầu bà cương nghị đến đâu cũng không thắng được dân di dịch lúc đó đang hoành hành ở miền bắc, nên nhân lúc ba ngã bệnh, đã khôi phục lại nhà Đường, đặt lên ngôi con người đáng lẽ đã cai trị từ 684, tức là Trung Tông (705-718). Không may Trung Tông nhu nhược, bị vợ chuyên chế rồi giết năm 710. Vi hậu muốn tiềm vị theo kiểu Võ hậu, nhưng bị giết và Duệ Tông (710-712) tức vị. Vua nầy chỉ cầm quyền trong một thời gian ngắn rồi nhường ngôi cho con là Lý Long Kỳ, tức Huyền Tông. Với Huyền Tông đã khỉ sự thời đại thường gọi là thời thịnh Đường. Chính trong thời nầy người ta đã thấy xuất hiện Lý Bạch (701-756) và Đỗ Phủ (712-710), hai thi nhân lỗi lạc nhất của Trung Quốc. Thời nầy cũng là thời của Dương Quí Phi, vợ Huyền Tông. Về mặt chính trị, Trung Quốc cũng được uy thế chẳng kém gì thời Thái Tông.
Trong thời Huyền Tông, ở cổ Việt không có biến cố nào quan trọng, trừ ra cuộc nổi dậy của Mai Thúc Loan. Cuộc nổi dậy nầy xem chừng có một qui mô đáng kể. Tân Đường thư (29) thuật rằng ông tự xưng là Mai Hắc đế, huy động dân chúng của 32 châu, liên kết với các nước ngoài, như Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, để chiếm cứ Hải Nam. Quân của ông có đến 40 vạn người. Không rõ những chi tiết đó hư thực bao nhiêu, nhưng biến cố đã làm cho Huyền Tông lo lắng. Vua sai viên Nội thị tả giám môn vệ tướng quân là Dương Tư Húc, và An Nam đô hộ là Quang Sở Khách đem 10 vạn quân sang dẹp. Hai ông nầy theo con đường Mã Viện đã đi trước kia để vào cổ Việt, xong đánh Thúc Loan một cách bất ngờ, bắt được ông và giết đi. Có điều nầy đáng chú ý là Ngô Sĩ Liên thường ca ngợi những nổi dậy ở cổ Việt, nhất là những người đã từng xưng đế, xưng vương. Vậy mà trong Toàn thư chúng ta thấy Mai Thúc Loan bị gọi là "tặc tướng". Như thế, phải chăng vì ông nầy không phải thuộc về cùng một giống như người Việt ta? (30)
Thời Huyền Tông, vào năm 742, số binh sĩ đóng ở An Nam phủ là 4 200 người. (31)
4) Một thế kỷ sau Huyền Tông
Huyền Tông đã kết thúc triều đại ông một cách buồn bã. Năm 756, một thân thần của ông, An Lộc Sơn, nổi loạn. Ông phải trốn tránh vất vả rồi nhường ngôi cho con là Túc Tông (756-761). Sau đó, Đại Tông (762-779) tiếp tục dẹp loạn, cố khôi phục lại uy quyền nhà Đường. Các vua kế tiếp, như Đức Tông (780-805), Thuận Tông (805), Hiến Tông (806-820), Mục Tông (821-825) và Văn Tông (827-840), đều phải dựa vào thế lực các thủ lĩnh Hồi hốt để giữ vững quyền bính. Thời các vua Võ Tông (841-846) và Tuyên Tông (847-859), nhà Đường đã trở thành lu mờ.
Ở cổ Việt, trước hết có cuộc nổi dậy của Đỗ Anh Hàn, 767. Anh Hàn là tù trưởng các dân nam. Theo sự thường, họ không phải là thứ người hiếu loạn, nhưng khi bị đàn áp quá bởi những tay tham soái, họ ồ ạt đứng lên chống đối. Bấy giờ An Nam đô hộ Cao Chính Bình, thật là một tham quan: thuế má dân phải đóng rất nặng. Bởi đó! Đỗ Anh Hàn chỉ huy quân man đến vây đô hộ phủ, làm cho Chính Bình sợ mà chết. Khi biết rằng quan đô hộ tham tàn đã chết, họ đều xin hàng. (32)
Trong thời nầy, dân cổ Việt có người làm lớn, đó là Khương Công Phụ, người huyện Nhật Nam, thuộc Ái Châu. Công Phụ chẳng những đã làm vinh danh cho nơi sinh trưởng của ông, mà còn là một nhân vật quan trọng của lịch sử Trung Quốc. Truyện ông đã được thuật trong Đường thư và Tân Đường thư. Ông đậu đến tiến sĩ, được bổ làm Hiệu Thư lang. Tài đối đáp hùng hồn của ông đã làm cho ông được chức Hàn lâm học sĩ, rồi Thượng thư. Khi thấy Chu Tỉ nắm trong tay quá nhiều quyền bính, ông đã khuyên Đức Tông giết đi vì "dưỡng hổ vô tự vi hại". Dầu vua không nghe, Công Phụ vẫn kiên nhẫn trình bày mọi nỗi nguy nan. Ở Phụng Thiên, vua đã thoát nạn nhờ lời ông trần tấu, nên ông được chức Thứ nghị đại phu đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Sau đó, vì cứ can gián vua, nên vua giận giáng chức ông xuống. Cuối cùng ông được đặt làm thứ sử Cát Châu, nhưng chưa đến nhiệm sở, đã chết. (33)
Năm Nguyên Hòa thứ tư (809), đất cổ Việt bị ba vạn quân Chiêm Thành tấn công, do chính Hoàn vương cầm đầu. Quan đô hộ An Nam là Trương Châu, vào tháng tám, đã đẩy lui được lực lượng địch. Mười năm sau, lại có loạn Dương Thanh (819). Ông nầy cai trị dân man di, bị quan đô hộ Lý Tượng Cổ gọi về bắt làm nha tướng, nên rất uất hận. Tượng Cổ lại có tiếng tham túng hà khắc, ai ai cũng ghét. Bấy giờ ở vùng Hoàng Động, dân man đang nổi lên chống chính quyền. Kể từ thời Trinh Nguyên ((785-804), thủ lĩnh họ là Hoàng Thiếu Hương luôn luôn quấy rối. Bùi Hành Lập ở Quế Quản và Dương Mân ở Dung Quản đã đem quân đánh đẹp mà thất bại. Quan đô hộ An Nam cũng muốn lập công, sai Dương Thanh đi trừ loạn. Không ngờ ngày Nhâm tuất tháng 10 năm đó, thay vì đi đánh Thiếu Hương, Dương Thanh, với ba nghìn quân, đã quay lại giết Tượng Cổ và gia nhân, cùng thuộc hạ, tất cả đến hơn nghìn người. (34)
Triều đình biết rõ cớ sự, tha cho Dương Thanh và đặt ông làm thứ sử Quỳnh Châu, cùng đặt Quế Trọng Võ làm An Nam đô hộ. Tháng hai năm sau, khi Trọng Võ đến, Thanh không cho vào. Nhưng bấy giờ, vì Thanh tàn bạo, thủ hạ đã ly tán nhiều. Trọng Võ dụ dỗ họ, nhiều người xin hàng. Triều đình lấy lẽ Trọng Võ chậm chạp, phạt làm An Châu thứ sử, đặt Bùi Hành Lập làm An Nam đô hộ. Trong lúc đó, tướng sĩ của An Nam phủ mở cửa đón Trọng Võ vào, và bắt Dương Thanh giết đi. Hành Lập cũng sang nhậm chức, nhưng đến Hải Môn thì chết. Trọng Võ được phục chức vào ngày tân vị, tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ 15. (35)
Sau đó, nhiều nơi không được yên. Năm Tường Khánh thứ ba (823), quan đô hộ An Nam tâu về triều rằng người liêu ở Lục Châu đánh phá châu huyện. Tháng tư và rồi tháng chín lại tâu rằng dân man Hoàng Động phá phách. Năm sau, vào tháng tám, cũng tâu như vậy. (36)
Năm thứ hai hiệu Thái Hòa (828), vào tháng sáu, thứ sử Phong Châu, Vương Thăng Chiêu, làm loạn. Đô hộ An Nam là Hàn Ước đánh được và giết đi. Nhưng Hàn Ước không khôn khéo, công minh, nên tháng chín năm đó, vào ngày canh tuất, lại bị binh sĩ trong phủ thành nổi dậy trục xuất.
Thời Võ Tông, quan Kinh lược sứ An Nam tên là Võ Hồn. Trong một thời an ninh bị đe dọa, ông chăm nôm đến thành quách. Nhưng tướng sĩ phải làm việc nhiều lại ghét ông, nổi dậy chống. Tháng II, năm Hội Xương thứ ba (844), họ đốt lầu trong thành, cướp kho của phủ. Võ Hồn sợ hãi chạy về Quảng Châu. Viên giám quân là Đoàn Sĩ Tắc phủ dụ tướng sĩ, tình hình lại được yên ổn. (37)
Năm Hội Xương thứ sáu (846) vào tháng chín, ở An Nam, dân man đánh phá. Kinh lược sứ Bùi Nguyên Hựu lấy quân các đạo chung quanh dẹp yên được. Năm Đại Trung thứ II (857), dân man ở khe động Lĩnh nam nổi dậy. Vua đặt Hữu thiên ngưu đại tướng quân Tống Nhai làm tuyên úy sứ An Nam và Ung Quản, rồi làm An Nam kinh lược sứ. Nhưng bấy giờ ở Dung quản, quân đội nổi loạn, dưới kinh lược sứ Vương Cầu, nên tháng sáu năm đó, Tống Nhai lại làm Kinh lược sứ Dung quản. (38)
Cuối đời Tuyên Tông, cổ Việt được một vị cai trị có tài tên là Vương Thức. Ông được đặt làm đô hộ kinh lược sứ An Nam vào tháng giêng năm Đại Trung thứ 12 (858), nghĩa là vào một lúc nền an ninh rất bị lung lay. Đến nơi ông liền nghĩ đến việc phòng thủ phủ thành, như trồng cây "điêu" làm hàng rào trong, giữa đào hào, ngoài trồng tre gai. Đàng khác, việc huấn luyện binh sĩ được thực hiện chu đáo. Không lâu, có một bọn nam man kéo đến. Thức ung dung cho người giải dịch hơn thiệt cho họ, họ rút về. Ông cũng chỉnh đốn trật tự, không ngần ngại phạt La Hành Cung lạm quyền làm bậy. Ở Giao Châu bấy giờ có một số người hay sinh sự, phao tin rằng giặc Hoàng Đầu ở Dung Quản đang đến xâm chiếm, mục đích là gây cơ hội kéo đến phủ trục xuất quan đô hộ về bắc. Không nao núng tí nào, Vương Thức lên thành, cho dựng cờ đại tướng, mở lời mắng trách loạn quân. Họ bỏ chạy, nhưng bị ông bắt được giết hết. Ông cũng lo việc khao thưởng binh sĩ và gửi cống lễ về triều đình. Mấy năm trước đó, những việc như thế đã bị phế trễ. (39)
5) Chính trị thời Đường Mạt
Các Đường đế của hạ bán thế kỷ thứ 9 đều là những nhà cai trị không mấy tên tuổi, và hình như họ rút vào bóng tối dần dần cho đến khi triều đại chấm dứt vào năm 907. Sau Tuyên Tông, tính ra con có Ý Tông (860-873), Hy Tông (874-888), Chiêu Tông (889-904) và Ai Tông (905-907). Đang khi đời sống của họ bị đóng khung giữa các hoạn quan và đạo sĩ, biên thùy bị rối loạn liên miên. Ở phía Tây, người Tây Tạng xâm lăng, và khi nạn Tây Tạng bớt nguy, thì nạn Nam Chiếu xuất hiện. Nạn Nam Chiếu nầy đã làm cho cổ Việt phải chịu tang tóc nhiều nhất.
Trước kia ở miền cổ Việt có sáu chiếu của dân man. Năm 738, chiếu Mông Xá đã sáp nhập sáu chiếu lại làm một và vua Trung Quốc phong cho làm Vân Nam quốc vương. Nam chiếu muốn mở mang về phía đông nên đã đặt một viên Thác đông tiết độ sứ. (40)
Viên đô hộ Lý Trác cai trị An Nam trước Vương Thức, đã cho Nam chiếu một cơ hội tốt để bành trướng. Trác vừa tham lam lại vừa kém mưu lược. Thường ông đổi một đấu muối lấy một con bò hay một con ngựa của dân nam. Ông giết viên tù trưởng họ là Lý Tồn Thành và rút lực lượng Trung Quốc trú phòng ở vùng thượng. Về trước, vào mùa đông có sáu nghìn quân đóng ở Lâm Tây Tuyền, thuộc Phong Châu. Viên tù trưởng vùng nầy dựa vào lực lượng đó để thâu thuế nộp về phủ. Khi Lý Trác bãi đồn Lâm Tây Tuyền, Do Độc vừa thấy bơ vơ, lại vừa được viên tiết độ sứ Nam chiếu dụ dỗ và đem con gái gả cho, nên bỏ An Nam theo Nam chiếu. Thế là nạn Nam chiếu bắt đầu.
Tháng năm, năm thứ 12 hiệu Đại Trung (858), quân Nam chiếu đến cướp phá. Vương Thức đánh đuổi được. Nhưng rồi Thức được gọi về dẹp loạn Cửu Phủ ở Chiết đông, và Lý Hủ sang thay. Độc ác, Hủ giết tù trưởng Đỗ Thủ Đăng, làm cho người man hết sức oán giận. Bấy giờ quân Nam chiếu đang đánh phá Bá Châu thuộc đạo Kiển trung, Hủ muốn lập công bèn mang quân đi dẹp. Không ngờ, nhân lúc phủ thành để trống, người nam mời Nam chiếu kéo ba vạn quân đến. Tháng chạp năm đầu hiệu Hàm Thông, Lý Hủ phải chạy về Võ Châu, chiêu mộ người man, trở về đánh đuổi được dân Nam chiếu ra khỏi thành. (41)
Trong lúc đó, vua Đường chưa biết Hủ đã chiếm lại phủ, lại muốn lấy lòng dân man cho yên chuyện, nên giáng Hủ làm tư hộ Chiêm Châu, và đặt Vương Khoan làm An Nam đô hộ kinh lược sứ. Bấy giờ là vào giữa năm 851. Năm sau (862), Nam chiếu trở lại. Vua sai Sái Tập sang thay Khoan, đem theo ba vạn quân. Thấy thế, địch rút lui. Tiết độ sứ Lĩnh Nam là Sái Kinh không muốn cho Sái Tập lập công, tâu vua tình hình đã yên, và xin bãi binh. Vua nghe Sái Kinh bãi binh, mặc cho Tập tâu đi tâu lại rằng tình hình vẫn còn trầm trọng. Nhưng Kinh độc ác, không lâu sau đã bị bịnh sĩ nổi dậy đuổi đi. Phần Sái Tập, vào cuối năm, bị Nam chiếu đến đánh lần nữa với năm vạn người. Địch chiếm phủ thành Giao Chỉ, còn Tập thì bị chết đuối đang đi tẩu thoát. Quân Nam chiếu giết hết chừng 25 vạn người An Nam, lưu Tư Tấn lại trấn giữ Giao Chỉ, dưới quyền của tiết độ sứ Đoàn Tù Thiên, ở Thiện Xiển.
Khi Tập kêu cứu, quân các đạo Kinh nam, Hồ nam, đã được lệnh ra đi, nhưng bị Lĩnh nam tiết độ sứ Vi Trụ giữ lại để phòng thủ Ung Châu sau có một số sang Giao Chỉ thì thành đã mất. Bấy giờ, vua bỏ An Nam đô hộ phủ và lập Hành Giao Châu ở Hải Môn, đặt Tống Nhung làm thứ sử cùng giao viện quân cho Khang Thừa Huấn. Mùa thu, đặt lại An Nam đô hộ phủ, cho Tống Nhưng làm kinh lược sứ lo việc tái chiếm An Nam. Nhưng Đường binh vẫn lưu lại Lĩnh nam không chịu tiến, hao tổn lương thực.
Năm Hàm Thông thứ năm (864), quân số ở Hải Môn đã lên đến hai vạn rưỡi. Nhung được lệnh tiến quân, nhưng lại do dự mãi. Bấy giờ Cao Biền được đặt làm An Nam đô hộ kinh lược chiêu phạt sứ. Viên Giám quân ở Hải Môn, Lý Duy Chu, rất ghét Biền, giục Biền khởi hành trước, có ý trừ đi. Năm thứ sáu hiệu Hàm Thông, vào mùa thu, Biền tiến quân. Mặc dầu không có lực lượng ứng viện như Duy Chu đã hứa, Biền cũng thắng được Nam chiếu ở Phong Châu, đoạt được nhiều lúa làm quân lương. Tại An Nam phủ lúc đó, Phan-xi-ta của Nam chiếu làm đô thống, và Trương Tập làm phó. Cao Biền khi được Vi Trọng Tể đem bảy nghìn quân đến tăng cường, ông càng đánh hăng và thắng Nam chiếu nhiều trận. Không may, tin thắng trận gửi về, đều bị Duy Chu dìm mất, khiến cho vua cứ tưởng Biền chưa chịu đánh. Vua giận, đặt Vương An Quyền sang thay Biền và đòi ông về kinh để phạt. Trong lúc đó, quân Nam chiếu thua Biền phải rút vào thành cố thủ. Tháng 10, năm Hàm thông thứ bảy, thành An Nam sắp được tái chiếm, thì bỗng Biền được lệnh triệu hồi. Ông liền giao quyền cho Vi Trọng Tể và lên đường ngay. Nhưng trước đó, ông và Trọng Tể đã cho người mang tin thắng trận về cho triều đình. Đường đế nhận được, mừng lắm, ban cho ông chức Kiểm hiệu Công bộ Thượng thư, truyền trở lại đánh Nam chiếu. Đến Hải Môn, được lệnh đó, Biền lại trở về An Nam.
Lý Duy Chu và Vương Án Quyền đến Giao Chỉ, lo làm giàu, không lo đánh giặc. Tướng sĩ ghét họ không chịu canh phòng, khiến quân Nam chiếu thoát được vòng vây quá nửa. Đến nơi, Biền hết sức thúc giục binh sĩ chống đánh, chẳng bao lâu đã hạ được thành. Ông giết Đoàn Tù Thiên và tên dẫn đường cho quân Nam chiếu là Chu Đạo Cổ. Quân Nam chiếu chết hơn ba vạn, Biền còn đánh hai động dân man và giết được hai tù trưởng. Dân man đầu hàng đến một vạn bảy nghìn người.
Bấy giờ vua truyền cho binh sĩ các nơi đâu về giữ cương giới nấy, đừng đánh nữa. Nhà ngoại giao Lưu Đồng Hiểu được lệnh nối lại với Nam chiếu tình giao hảo như xưa. Phần An Nam phủ nầy được gọi là quận Tĩnh Hải, và Cao Biền làm tiết đỗ sứ. Ông dựng hơn bốn chục vạn căn nhà cho dân ở. Ông còn có công thuê thợ đúc những tảng đá ngầm trên đường thủy đi Ung Châu cho thuyền qua lại khỏi bị nạn. Tháng tám năm Hàm Thông thứ chín (868), khi được gọi về làm Kim ngô đại tiếng quân, ông đã xin cho cháu là Cao Tâm thấy thế, và đã được như ý. (42)
Năm đầu hiệu Quảng Minh (880), lối tháng ba, binh sĩ An Nam làm loạn. Tiết độ sứ Tăng Cổn phải trốn ra khỏi thành, đánh mấy tháng mới thắng được. Vào tháng hai năm Thiên Hựu thứ hai (905), tiết độ sứ Tĩnh Hải, Chu Toàn Dục, bị em là Hộ Quốc Tuyên võ Tuyên Nghĩa, Trung Võ tứ trấn tiết độ sứ Chu Toàn Trung thối chức đề về trí sĩ. Toàn Dục đã bị trách là quê mùa, lười biếng, bất tài, làm không chạy việc. Ngày mậu dần tháng ba năm đó, viên thị lang đồng bình chương sự Độc Cô Tổn được cử làm bình chương sự kiêm tiết độ sứ Tĩnh Hải. Nhưng ông nầy chống với Toàn Trung nên bị hạ làm thứ sử Đệ Châu, rồi Tư hộ Quỳnh Châu, rồi phải tự tử. Trong khi số phận của Cô Tổn xảy ra như thế, thì ở cổ Việt Khúc Thừa Dụ lên làm tiết độ sứ. Ông được Trung Quốc công nhận và giữ chức được hai năm. Tháng bảy, năm đầu hiệu Khai Bình, ông mất (907) và con là Khúc Hạo lên thế. (43)
VIII. CHÍNH TRỊ THỜI NGŨ ĐẠI
(907 - 957)
Thời Ngũ Đại tức là những năm giữa nhà Đường và Tống. Sự yếu đuối của những vị vua thời mạt Đường đã khiến nhiều kẻ sẵn sàng đứng lên tự chủ ở vùng đất họ đang cai trị. Đa số những người nầy tuyên bố độc lập là chống lại nhà Hậu Lương vì chiếm ngôi nhà Đường.
Tháng thứ năm Thiên Hựu thứ tư, Chiêu Tuyên đế nhà Đường bị Chu Toàn Trung bắt từ chức, rồi sang năm sau bị giết. Kể từ khi được đặt làm tiết độ sứ Khai Phong, vào năm 883, Toàn Trung đã mưu đồ sáng nghiệp. Năm 900, ông chiếm Hà Bắc, rồi đến Trường An (901) nắm quyền hành. Ba năm sau, ông dời đô về Lạc Dương, giết Chiêu Tông cùng con cái, chỉ trừ có người con thứ chín, 13 tuổi, đã kế vị, đó là Chiêu Tuyên đế, như vừa nói. Triều đại của Toàn Trung chỉ đến năm 923 là hết.
Khi Toàn Trung lên ngôi, Lý Khắc Dụng tuyên bố độc lập ở Sơn Tây, đó là nhà Tấn, Dương Hành Mật tuyên bố độc lập ở Dương Châu, đó là nhà Ngô, Lý Mậu Trinh tuyên bố độc lập ở Thiểm Tây, đó là nhà Tần. Một số các nước khác cũng được thành lập, như nước Ngô Việt của Tiển Liêu, nước Mân của Vương Thẩm Tri, nước Thục của Vương Kiến. Như thế, nếu ở cổ Việt, hào kiệt nghĩ đến việc tách ra khỏi Trung Quốc cũng không có gì là lạ, nhưng việc đó chưa thực hiện được ngay.
Năm 908, nhà Hậu Lương đặt Lưu Ấn, tiết độ sứ Thanh Hải, kiêm chức tiết độ sứ Tĩnh Hải. Năm sau, Lưu Ấn được phong làm Nam Bình vương. Khi Lưu Ấn mất, vào tháng ba năm đầu hiệu Càn Hóa (911), em ông là Lưu Yểm kế vị, nhưng chức tiết độ sứ Tĩnh Hải lại được giao cho Khúc Thừa Mỷ, con của Khúc Hạo, ngày mậu ngọ tháng chạp năm đó, tức là ngày 31 tháng 12, 911. (44)
Lưu Yểm càng ngày càng kiêu căng đòi nhà Hậu Lương cho thêm quyền bính. Mạt đế từ chối một cách cương quyết, nên Yểm đoạn tuyệt với trung ương (915) và tự xưng là Đại Việt đế. Ba năm sau, vào tháng tám, năm thứ tư hiệu Trinh Minh, ông đổi tên triều đại là Nam Hán, lấy niên hiệu là Càn Hưởng. Từ đó, nhà Nam Hán nhiều lần khuyên Thừa Mỹ thần phục, nhưng viên tiết độ sứ liệt Yểm vào hạng phản trắc nên cứ trung thành với nhà Hậu Lương.
Năm 923, ngôi thiên tử về tay nhà Tấn. Kể từ năm 907, nhà Tấn ở vùng Sơn Tây đã không nhận quyền nhà Hậu Lương, nay đứng lên lật đổ dòng dõi của Chu Toàn Trung và lấy tên triều đại là Hậu Đường. Như thế, Thừa Mỹ mất chúa cũ và rất dễ làm mồi cho tham vọng của Lưu Yểm. Nhưng biết việc đánh Tĩnh Hải không phải dễ dàng, nên Yểm đợi thời, và mãi đến năm 930 mới quyết định thử sức với họ Khúc. Năm đó Yểm sai hai tướng là Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh sang Giao Chỉ, Thừa Mỹ không may thất bại bị điệu về Nam Hải. Yểm tiếp Thừa Mỹ ở lầu Nghi Phượng, nói rằng: "Công thường bảo ta là ngụy, sao nay lại phải quay mặt đi và trói tay như thế?". Thừa Mỹ cúi đầu chịu tội, được Yểm tha cho. Một thủ hạ của Yểm là Lý Tiến sang làm thứ sử Giao Châu. Nên nhớ rằng Lương Khắc Trinh, sau khi thắng Giao Châu, còn vào đánh Chiêm Thành, cướp được nhiều báu vật nữa mới về. (45)
Họ Khục thất bại, đã chấm dứt một giai đoạn bán đọc lập của vùng cổ Việt. Nhưng một đàng tình thế Trung Quốc bất ổn, đàng khác dân cổ Việt đã đông và đã ăn liền với khí thiêng sông núi, hơn nữa lĩnh thể của họ đã mở vào đến đèo Hải Vân và sang cả bên kia, nên sự thất bại của Thừa Mỹ chỉ là một thử thách nhất thời, nó sẽ kích thích hơn là làm chán nản, lòng ao ước tiến đến một nền độc lập vĩnh viễn.
CHÚ THÍCH
1. Léonard Aurousseau, "Les Théories sur la localisation de la commanderie de Siang", BEFEO, XXIII, trang 153-168, Henri-Maspero, "Études d'Histoire d'Annam III. La Commanderie de Siang, BEFEO, XVI, trang 49-55.
2. Ban Cố, Tiền Hán thư, quyển 95, trong Bộ Nhị Thập Ngũ Sử, "Tây Nam di lưỡng Việt Truyện", trang 603-605.
3. Lệ Đào Nguyên, Thủy Kinh chú, quyển 37, tờ 4a.
4. Tư Mã Thiên, Sử ký, quyển 113, "Triệu Đà truyện", trong N.T.N.S., trang 251-252.
5. Phạm Việp, Hậu Hán thư, quyển 105, "Nhâm Diên truyện", trong N.T.N.S., trang 869.
6. Tư Mã Quang, Tư Trị Thông Giám, quyển 52, tờ 6-9.
7. Trong Toàn thư của Ngô Sĩ Liên, quyển 3, tờ 6-9, thấy chép rằng: "Nhật nam phục công thiêu quận ấp. Cửu Chân thứ sử Hạ Phương chiêu hàng giả nhị phủ dụ chi". Ở chỗ nầy, Tư Trị Thông Giám nói rõ là: "Nhật nam man di phục phản". Về Hạ Phương, thì không phải là thứ sử Cửu Chân, vì ông không hề làm chức đó bao giờ trong đời ông. Nhưng ông là người quê Cửu Giang, làm thứ sử Giao Chỉ. Tư Trị Thông Giám, quyển 52, trang 33, chép: "Giao Chỉ thứ sử Cửu Giang Hạ Phương".
8. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 57, tờ 16.
9. Phạm Việp, sách đã dẫn, quyển 61, "Giả tung truyện", trang 767.
10. Bài ca nầy lấy theo Hậu Hán thư, còn trong Toàn thư, quyển 3, tờ 7a, thì chép:
Giả phụ lai vãn,
Sử ngã tiên phản,
Kim kiến thanh bình,
Bất cảm phục phản.
11. Trần Thọ, Tam Quốc Chí, Ngô Thư, quyển 4, trong bộ N.T.N.S., "Sĩ Nhiếp truyện", trang 1041-1042.
12. Trần Thọ, sách đã dẫn, Ngô Chí, quyển 15, "Lữ Đại truyện", bộ N.T.N.S., trang 1062, cột 4.
13. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 78, tờ 6, 26-27.
14. Đường Thái Tông Văn Hoàng đế, Tấn thư, quyển 57, trong N.T.N.S., "Đào Huỳnh truyện", trang 1234, cột 4; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 79, tờ 16a.
15. Đường Thái Tông Văn Hoàng đế, sách đã dẫn, quyển 57, trong N.T.N.S., "Ngô Ngạn truyện", trang 1235, cột 2.
16. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 89, tờ 17a, quyển 92, tờ 20a, quyển 104, tờ 24-25, quyển 116, tờ 4-5; Đường Thái Tông Văn Hoàng đế, sách đã dẫn, quyển 59, "Vương Lạng truyện", trang 1314, cột 3.
17. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 99, tờ 2, quyển 116, tờ 17a, quyển 119, tờ 4a; Đường Thái Tông Văn Hoàng đế, sách đã dẫn, quyển 8, trang 1095, cột 2, trang 1099, cột 2, quyển 10, trang 1100, cột 2.
18. Lương Trần Ước, Tống sử, trong N.T.N.S., quyển 5, trang 1428, quyển 8, trang 1434, cột 2, 3, quyển 38, trang 1540, quyển 76, trang 1613, cột 4; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 122, tờ 8a, 20b, quyển 124, tờ 26, quyển 125, tờ 2b, quyển 132, tờ 16a.
19. Túc Tử Hiển, Nam Tề thư, trong N.T.N.S., quyển 3, trang 1671, cột 2; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 135, tờ 9, quyển 136, tờ 8a, quyển 137, tờ 11a.
20. Đào Tư Kiêm, Lương thư, trong N.T.N.S., quyển 2, trang 1769, cột 1, trang 1770, cột 2, quyển 3, trang 1771, cột 2, trang 1773, cột 1, 2, Trần thư, quyển 1, trang 1850; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 158, tờ 17, 20, 21, 27, quyển 159, tờ 3, 12, 15, quyển 180, tờ 8b.
21. Đại Việt Sử ký Toàn thư nói rằng Lý Bí lấy niên hiệu là Thiên Đức. Nhưng Tư Trị Thông Giám chép (quyển 158, tờ 27): "Đại đồng thập niên, chính nguyệt, Lý Bí tự xưng Việt đế, trí bách quan, cải nguyên Đại Đức".
22. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 177, tờ 13a.
23. Trường Tôn và Võ Kỵ, Tùy thư, trong N.T.N.S., quyển 2, trang 2350, cột 2, quyển 53, "Lưu Phương truyện", trang 2483, cột 3; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 179, tờ 28-29.
24. Lý Diên Thọ, Bắc sử, trong N.T.N.S., quyển 73, trang 2976, cột 4, quyển 95, trang 3037, cột 1; Lưu Hu, Đường thư, trong N.T.N.S., quyển 59, "Khâu Hòa truyện", trang 3296, cột 4, quyển 65 "Cao Sĩ Liêm truyện", trang 3309, cột 1; Âu Dương Tu, Tân Đường thư, quyển 90, trang 3897, cột 2 và quyển 95, trang 3903, cột 3, 4; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 185, tờ 19-20; Nguyễn Phương, "Những sai lầm của Đại Việt Sử ký Toàn thư", Đaị Học, tháng 10, 1962, trang 784-799.
25. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 193, tờ 2-3.
26. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 195, tờ 6, 12. Ngày Kỷ tị, tháng 11, năm 12, hiệu Trinh Quán tức là ngày 4 tháng 1, 639 dương lịch.
27. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 200, tờ 11.
28. Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 4, trang 3641, cột 1, quyển 201, trang 4099, cột 3; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 204, tờ 2b.
29. Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 207 "Dương Tu Húc truyện", trang 4111, cột 3.
30. Tư Mã Quang gọi Mai Thúc Loan là Mai Thúc Yên (Tư Trị Thông Giám, quyển 212, tờ 19a). Xem Lưu Hu, sách đã dẫn, quyển 8, trang 3082, cột 2, quyển 184, trang 3556, cột 1.
31. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 215, tờ 4.
32. Toàn thư (quyển 5, tờ 6a) kể rằng cùng đi đánh quân Tàu với Đỗ Anh Hân có một người Mường tên là Phùng Hưng. Sau khi đánh xong, không lâu, Phùng Hưng mất, con ông là Phùng An lập đền thờ ông và gọi ông là Bố Cái Đại vương.
33. Lưu Hu, sách đã dẫn, quyển 138, "Khương Công Phụ truyện", trang 3453, cột 4; Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 152, trang 4007, cột 1.
34. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 241, tờ 13b, quyển 243, tờ 35a.
35. Ngày tân vị tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ 15 tức là ngày 15-5-820.
36. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 243, tờ 2a, 6a, 14b.
37. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 243, tờ 35a, quyển 247, tờ 23a.
38. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 249, tờ 20b.
39. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 249, tờ 23, 24a.
40. Lưu Hu, sách đã dẫn, quyển 195, trang 3610, cột 4; Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 222 thượng, trang 4156; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 214, tờ 24b.
41. Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 222, trang 4157, cột 3; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 250, tờ 13a.
42. Sách đã dẫn, quyển 182, "Cao biền truyện", trang 3550; Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 224 hạ, trang 4169; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 250, tờ 25; Lê Tắc, An Nam chí lược, trang 169.
43. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 266, tờ 17b. Ngày mậu dần tháng ba, năm Thiên hựu thứ hai, tức là ngày 26 tháng 4, năm 905, Việt sử lược nói, Độc Cô Tổn đã sang Tĩnh Hải làm Tiết độ sứ thay Chu Toàn Dục, nhưng sự thực, Cô Tổn không hề sang cổ Việt. Là Tể tướng của nhà Đường, và địch thủ của Chu Toàn Trung, Cô Tổn bị Toàn Trung hạ xuống làm Bình chương sự kiêm tiết độ sứ Tĩnh Hải ngày 26-4-905, nhưng ông không đi, và phải hạ nữa làm thứ sử Đệ Châu vào ngày tân tị tháng 5, năm đó, tức là ngày 28-6-905, rồi hạ thêm tư hộ Quỳnh Châu ngày mậu tí tháng 6, tức là ngày 5-7-905.
44. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 268, tờ 10a.
45. Âu Dương Tu, Tân Ngũ Đại sử, trong bộ N.T.N.S., quyển 65, trang 4468, cột 4, trang 4469, 1, 2. Toàn thư (quyển 5, tờ 18a) chép rằng: "Mùa thu, vào tháng bảy, vua Nam Hán sai một tướng giỏi là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh Giao Châu, bắt được tiết độ sứ Thừa Mỹ đem về". Hỏi tên Lý Khắc Chính nầy bởi đâu mà đến? Tên đó không có trong Tân Ngũ Đại sử, cũng như trong Việt sử lược. Phải chăng đây là một trường hợp nữa làm chứng cách chép sử "mường tượng" của Ngô Sĩ Liên? Theo Tân Ngũ Đại sử có tên hai tướng:
Lý Thủ Dung
Lương Khắc Trinh
Trong hai tên đó gặp được hai yếu tố của tên Lý Khắc Chính: Lý lấy ở tên thứ nhất và Khắc lấy ở tên thứ hai. Nhưng Chính thì lấy ở đâu? Hơi khó mà theo dõi sự lệch lạc trong óc Ngô Sĩ Liên. Chúng ta có thể đoán rằng bấy giờ cách đọc chữ tr đã lệch ra thành ch, nhưng như thế thì chúng ta có Lý Khắc Chinh, chứ sao lại Lý Khắc Chính? Thì đoán thêm tí nữa: Có lẽ Khắc Chinh không ý nghĩa bao nhiêu, nên trong óc thông minh của nho gia tự nhiên lệch ra Chính. Sự lệch nầy đã thấy trong An Nam chí lược (trang 190), tại đây Lê Tắc đã gọi viên tướng của nhà Nam Hán là Lương Khắc Chính. Và kết quả là Lý Thủ Dung + Lương Khắc Trinh - trí tưởng tượng của tác giả = Lý Khắc Chính.
CHƯƠNG THỨ CHÍN
CỔ VIỆT ĐỘC LẬP
Cho tới đây, nước Việt Nam, như chúng ta gọi ngày nay, hay nước Đại Việt, Đại Cồ Việt, như tiền bối chúng ta đã gọi qua bao nhiêu thế kỷ về trước, chưa hề được nói đến trong lịch sử hoặc xuất hiện trên bản đồ thế giới. Nói cách khác, cho đến đây, nước Việt Nam, với ý nghĩa là một quốc gia biệt lập, một nước, chưa hề được hoàn thành. Nhưng đã đến lúc giờ vinh quang nầy điểm, dõng dạc, dứt khoát, với Ngô Quyền, với Đinh Bộ Lĩnh.
I. NGÔ QUYỀN DÀNH ĐỘC LẬP
Lưu Yểm, khi đặt Lý Tiến làm Giao Châu thứ sử, ông đã dặn rằng: "Giao Chỉ dân hiếu loạn, đãn khả ky my nhi dĩ" (Dân Giao Chỉ thích làm loạn, chỉ nên tìm cách lung lạc họ mà thôi). Nhưng Lý Tiến chưa lung lạc được người Giao Chỉ, thì họ đã bị ngành Giao Chỉ lung lạc. (1)
Năm thứ tư hiệu Đại Hữu (931), Dương Diên Nghệ, người Ái Châu, một trong những thủ hạ họ Khúc, cất quân đánh Lý Tiến, đuổi về Quảng Châu. Để trả thù, Yểm sai viên thừa chỉ là Trình Báu sang đánh Diên Nghệ, nhưng không may đã phải bỏ thây trên chiến trường.
Bị thất bại, Lý Yểm nghỉ một thời gian, có lẽ để củng cố nội bộ vừa để đợi thời cơ. Trong lúc đó, ông phong vương cho các con ông, như phong đứa con thứ chín là Hồng Tháo làm Vạn vương, chẳng hạn (932). (2)
Năm 936, Diên Nghệ bị một nhà tướng là Kiểu Công Tiện giết đi để lên thay. Tên bạo ác nầy không có thời giờ để hưởng quyền thế, vì không lâu đã bị Ngô Quyền đem quân đến vây đánh, phải vội vàng sai sứ sang Nam Hán cầu cứu. Ngô Quyền nầy là người Ái Châu, một tướng có tài của Dương Diên Nghệ và cũng là con rể của ông.
Tiếp sứ của Công Tiện, Lưu Yểm thấy cơ hội tốt đã đến, bèn phong Hồng Tháo làm Giao vương đặt chỉ huy lực lượng chinh phạt cổ Việt, còn chính ông thì đóng quân ở Hải Môn để tiếp cứu, nếu cần. Đang lúc đó, Ngô Quyền đã bắt được Công Tiện, giết đi, như thế diệt được một tay nội ứng nguy hiểm. Rồi ông lập mưu chống cự. Ở lòng sông Bạch Đằng, ông truyền đóng nhiều cộc gỗ làm như những cái chông khổng lồ lấp dưới mặt nước. Nhân khi nước lên, ông cho thuyền đón đánh tàu chiến của Nam Hán đang tiến vào, đoạn giả vờ thua đua nhau chạy ngược dòng sông. Tàu Nam Hán vô tình ồ ạt đuổi theo. Khi tàu địch đã lên phía trên chỗ đóng cộc và nước thủy triều cũng đã cạn, quân cổ Việt mai phục sẵn hai bên bờ cùng một lúc với vô số chiến thuyền đang chực để giao chiến, kịch liệt phản công. Địch quân hốt hoảng quay tàu rút ra thì bỗng gặp phải cộc, chìm vỡ ngổn ngang. Thật là một trận thất bại hoàn toàn cho quân Nam Hán. Đau đớn hơn nữa, chính Hồng Tháo cũng bỏ mạng trên sông. Tại Hải Môn, Lưu Yểm được tin, đành nuốt hận kéo quân về. Phần Ngô Quyền, sau khi diệt được địch, ông đã xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (939).
Cuộc thắng trận của nhà tướng họ Ngô tỏ ra sức mạnh của quân dân cổ Việt cũng như ý chí muốn độc lập của những người đã lâu đời chọn dải đất nầy làm quê hương. Nhưng nền móng độc lập do Ngô Quyền đặt vẫn chưa được vững chắc. Nói cho đúng, với biến cố năm 939, cổ Việt chưa thực sự đã là một nước riêng tách hẳn khỏi Trung Quốc, vì Nam Hán chẳng những chưa phải là Trung Quốc, mà lại chỉ là một ngụy triều đối với Trung Quốc. Bởi vậy, thắng Nam Hán chưa phải là thắng Trung Quốc, và độc lập đối với Nam Hán chưa phải là độc lập đối với Trung Quốc. Nói cách khác, Ngô Quyền đã tiến một bước quan trọng, nhưng bước còn lại cũng còn quan trọng lắm.
Những người kế vị Ngô Quyền không có cơ hội, và có lẽ cũng không có thành ý bước nốt bước còn lại đó. Khi Quyền mất vào năm 944, Trung Quốc vẫn chưa thống nhất. Kể từ khi nhà Nam Hán bị thua ở Bạch Đằng, ở Trung Quốc nhà Hậu Đường đã nhường ngôi thiên tử cho nhà Hậu Tấn (936-947). Trong thời Hậu Tấn, Trung Quốc vẫn còn chia ra làm nhiều nước biệt lập và cừu địch, như Ngô, Thục, Ngô Việt, Nam Hán, Sở (một nước ở vùng Trường Sa, bắt đầu từ 927), Mân, Nam Bình (một nước ở vùng Hồ Bắc, bắt đầu từ 925).
Trong lúc đó, kẻ kế vị Ngô Quyền, là Xương Ngập, còn trẻ tuổi. Quyền, trước khi từ trần, đã phó thác việc giúp đỡ con cho người anh rể là Dương Tam Kha, con của Dương Diên Nghệ. Không ngờ Tam Kha nhẫn tâm cướp ngôi cháu, tự xưng là Bình vương, Xương Ngập cùng một số thân thần phải trốn đến ở vùng Nam Sách.
Để che miệng thế gian, Tam Kha nhận em của Xương Ngập là Xương Văn làm con. Năm 950, nhờ một số tướng sĩ trung thành với nhà Ngô, Xương Văn lật đổ được Bình vương rồi mời anh về Cổ Loa để cùng cai trị. Bấy giờ Xương Ngập lấy hiệu là Thiên Sách vương, và Xương Văn lấy hiệu là Nam Tấn vương. Năm 954, khi Xương Ngập mất rồi, Xương Văn sai sứ sang Nam Hán xin thần phục. Lưu Thành đang làm vua ở Quảng Châu liền sai cấp sự trung Lý Dự đem tiết Việt sang phong cho Xương Văn làm tiết độ sứ Tĩnh Hải. Nhưng khi Lý Dự đến Bạch Đằng, Xương Văn lại sai người ra đón vị sứ Tàu, bảo rằng hải tặc đang hoành hành, nên đường đi rất nguy hiểm. Lý Dự không đi nữa, quay thuyền trở về. Giặc nói đây, có thật hay không, hay chỉ là một cách thoái thác khôn khéo của Xương Văn để khỏi nhận quyền người Nam Hán? Điều đó không được rõ. Dầu sao nền độc lập của cổ Việt cũng chưa được dứt khoát dưới đời nhà Ngô. (3)
II. NHÀ TỐNG THỐNG NHẤT TRUNG QUỐC (4)
Trong khi nhà Ngô cai trị cổ Việt, Trung Quốc đã trải qua nhiều biến cố.
Sau nhà Hậu Tấn, ngôi thiên tử qua nhà Hậu Hán (947-950), rồi nhà Hậu Chu (951-959). Thái tổ nhà Hậu Chu cai trị đến năm 954 thì con ông là Thế Tông kế vị. Vừa là những tướng có tài vừa là những nhà cai trị giỏi, hai vua nầy đã khỉ sự liên kết lĩnh thổ Trung Quốc. Năm 957, Chu Thế Tông đánh Nam Đường, tức là nước Ngô cũ (nước Ngô từ năm 937 đã đổi thành Nam Đường), chiếm cả vùng từ sông Hoài đến sông Dương Tử trong đó có cả kinh đô Nam Đường là Dương Châu, và vua Nam Đường phải dời xuống đóng ở Nam Kinh.
Không may, trong lúc đó, một người sống sót của nhà Hậu Hán, tên là Lưu Sùng, em của Hậu Hán Cao Tổ, đến lập quốc ở vùng Sơn Tây, kể từ tháng 3 năm 951, và gọi tên nước là Bắc Hán. Nhà Bắc Hán nối tiếp qua Lưu Thừa Quân (954-968) và Lưu Thế Nguyên (968-979). Hai người nầy không những đã gây rắc rối nhiều cho nhà Hậu Chu, mà còn là một trở ngại lớn cho nhà Tống trong thời buổi đầu. Không mạnh đủ để đứng vững một mình, họ đã nương dựa vào, rồi thần phục, nước Liêu của dân Khế Đan, một thứ người thuộc giống Mông Cổ, đóng ở vùng Liêu hà kể từ năm 907. Hễ mỗi lần quân đội Trung Quốc kéo đến Thái Nguyên, kinh đô của Bắc Hán, là mỗi lần lực lượng Khế Đan vội vàng từ vùng Bắc Kinh kéo đến tiếp cứu.
Nhưng rồi nhà Tống đã cướp ngôi nhà Hậu Chu.
Tháng giêng năm Canh Thân (960), Thái tổ nhà Tống đã êm thấm bắt Cung đế nhà Hậu Chu từ chức để lên thay. Khi nhà Tống bắt đầu, quyền của thiên tử chỉ nằm ở vùng chung quanh, kinh đô Khai Phong, nghĩa là ở các nơi như tỉnh Sơn Tây, một phần tỉnh Hà Bắc, cả tỉnh Sơn Đông, một phần các tỉnh Giang Tô, An Huy và Hồ Bắc. Nhưng, vừa nhân đạo, vừa khôn khéo, lại có tài cai trị, Tống đế đã dần dần chinh phục hết nước nầy đến nước khác. Năm 964-965, Tống Thái tổ (960-975) thôn tính nước Thục ở vùng Tứ Xuyên, năm 971 đến lượt Nam Hán của Lưu Trường (958-971), thế Lưu Thành, và năm 975 đến lượt Nam Đường bị thôn tính. Tống Thái Tông (976-997) đã tiếp tục công việc bằng cách chiếm Ngô Việt vào năm 978. Thế là Trung Quốc đã được thống nhất, lần nữa.
III. ĐINH BỘ LĨNH THỐNG NHẤT CỔ VIỆT
Thời Ngô Quyền, chưa chắc tất cả mọi nơi trong đất cổ Việt đã thuộc về nhà vua, nhưng các vùng như Giao Châu, Ái Châu, Phong Châu đã từng phục. Khi Ngô Quyền mất, và Dương Tam Kha tiếm vị, hầu như mọi mối dây quân thần đã bị cắt đứt. Hỏi Tam Kha là ai mà có thể có đủ uy tín để ràng buộc kẻ khác? Đã không chịu tùng phục, các thủ lãnh địa phương lại còn rộn ràng đứng lên phản đối. Khi Tam Kha bị truất phế và hai anh em Xương Ngập, Xương Văn cai trị, tình hình êm xuống một thời, nhưng rồi họ Ngô đã cáo chung vào năm 964, và các địa phương lại đâu đòi tự trị đó. Các thứ sử nổi lên như cá đối bằng đầu, chẳng còn ai muốn nghe ai, gây nên một tình trạng loạn hàng thất thứ, mà lịch sử đã mệnh danh là thời kỳ sứ quân. Bấy giờ có mười hai sứ quân như vậy, ở mười hai nơi trong vùng cổ Việt.
Theo Việt sử lược, thì tên của mười hai sứ quân đó như sau:
1) Kiều Tam Chế tên là Hãn, hùng cứ Phong Châu (Bạch Hạc).
2) Nguyễn Thái Bình, tên là Khoan, hùng cứ Bắc Đái (Vĩnh Tường).
3) Trần Công Lãm, tên là Nhật Khánh, hùng cứ Đường Lâm (Giao Thủy).
4) Đỗ Cảnh Công, tên là Cảnh Thạc, hùng cứ Đỗ Động Giang (Thanh Oai).
5) Nguyễn Du Dịch, tên là Xương Xí, hùng cứ Bình Kiều.
6) Nguyễn Lãng Công, tên là Khuê, hùng cứ Siêu Loại.
7) Nguyễn Lệnh Công, tên là Thủ, hùng cứ Tiên Du.
8) Lã Tá Công, tên là Đường, hùng cứ Tế Giang (Văn Giang).
9) Nguyễn Hữu Công, tên là Siêu, hùng cứ Tây Phù Liệt.
10) Kiểu Lệnh Công, tên là Thuận, hùng cứ Hồi Hồ (Cẩm Khê).
11) Phạm Phòng Át, tên là Bạch Hổ, hùng cứ Đằng Châu (Kim Động).
12) Trần Minh Công, tên là Lãm, hùng cứ Giang Bố Khẩu (Vũ Tiến). (5)
Dựa vào các địa danh trên đây mà xét, thì các sứ quân chỉ tung hoành trong một vùng nhỏ của cổ Việt quanh quẩn ở khu vực Hà Nội, Bắc Ninh, Phú Thọ, còn các nơi khác như Ái Châu, tịnh vô không có tiếng tăm gì. Vậy sự thật như thế nào về vấn đề sứ quân?
Việt sử lược là một tác phẩm vô danh chép vào cuối thế kỷ 14 (năm 1377 về sau), mà sự việc được thuật lúc ở đây lại xảy ra vào hạ bán thế kỷ thứ 10. Với một khoảng cách hơn bốn thế kỷ, chắc chắn tác giả không thể có thể phỏng vấn những chứng nhân trực tiếp của các biến cố và nhất thiết phải dùng tài liệu. Mà nói đến dùng tài liệu đồng thời cũng phải nói đến dùng tài liệu nào với phương pháp nào. Về tài liệu có thể là những văn kiện do người cổ Việt để lại, hay là những sử liệu Trung Quốc. Hiện thời, không thể có một tài liệu nào thuộc loại trước, nhưng về loại sau, chúng ta gặp được ở Tống sử đoạn văn nầy:
" Càn đức sơ, Xương Văn tử, kỳ tham mưu Ngô Xứ Bình, Phong Châu thứ sử Kiểu Tri Hộ, Võ Ninh Châu thứ sử Duong Huy nha tướng Đỗ Cảnh Thạc đắng, tranh lập, quản nội nhất thập nhị châu loạn. Bộ dân túc tụ khỉ vi khấu đạo, công Giao Châu. Tiên thị Dương Diên Nghệ dĩ Nha tướng Đinh Công Trứ nhiếp Hoan Châu thứ sử, kiêm Ngự Phiên đô đốc. Bộ Lĩnh tức kỳ tử dã. Công Trứ tử, Bộ Lĩnh kế chi. Ký thị Bộ Lĩnh dự kỳ tử Liễn suất binh kích bại Xứ bình đẳng, tặc đảng di tán." (6)
Dịch: "Năm đầu hiệu Càn Đức (963), Xương Văn chết. Viên tham mưu của ông là Ngô Xứ Bình, viên thứ sử Phong Châu là Kiểu Tri Hộ, nha tướng của viên thứ sử Võ Ninh Dương Huy là Đỗ Cảnh Thạc, cả bọn đó tranh nhau lên ngôi, khắp mười hai châu trong quản đại loạn. Dân chúng tụ họp nhau khỉ sự đánh nhau, cướp phá, xông vào Giao Châu. Nguyên trước Dương Diên Nghệ có đặt Đinh Công Trứ làm thứ sử Hoan Châu đô đốc để giữ gìn bờ cõi. Bộ Lĩnh chính là con của ông. Khi Công Trứ mất, Bộ Lĩnh lên thay. Bấy giờ Bộ Lĩnh cùng với con là Liễn đem quân ra đánh bại bọn Xứ Bình, đảng giặc liền tan."
Chúng ta nhận được rằng giữa Tống thư và Việt sử lược chỉ giống nhau ở hai chỗ, là bấy giờ cổ Việt loạn, và loạn lạc ở 12 khu vực, còn tên 12 khu đó thì Tống thư nói là châu mà, Việt sử lược lại kể ra một số những danh từ địa lý quen biết ở vùng Giao Châu và Phong Châu. Về tên những hào kiệt đứng ra làm sứ quân, hai bên chỉ gặp nhau một lần ở tên Đỗ Cảnh Thạc, dư giả là khác hết. Dựa vào phương pháp chép sử có chiều quá ư tự do của tác giả Việt sử lược gặp được ở các đoạn trước mà xét, chúng ta có thể đoán rằng đây chỉ là một cố gắng liều lĩnh của tác giả để lấp đầy con số 12 mà tác giả biết được có lẽ bởi một nguồn nào khác không phải trực tiếp bởi Tống thư. Sự thường, khi loạn lạc mà nổi dậy giữ quyền biệt lập để tranh giành, mỗi đơn vị ít ra phải là một châu, mà người cầm đâu phải là một thứ sử hay một nha tướng hăng hái nào đó, như trường hợp Đỗ Cảnh Thạc. Giả sử những vùng mà những kẻ được gọi là sứ quân chiếm cứ mang những tên như Việt sử lược kể, thì ở cổ Việt bấy giờ phải có nhiều sứ quân hơn là mười hai, vì Đinh Bộ Lĩnh, thứ sử Hoan Châu chẳng hạn, cũng phải là một người trong số đó.
Cảnh loạn ly giày xéo cổ Việt kể từ 964 nầy, hỏi ai đã dẹp yên? Người đó là Đinh Bộ Lĩnh. Từ Hoan Châu, ông đã cùng với con là Đinh Liễn kéo quân ra Ái Châu, rồi ra Giao Châu. Không bao lâu, vào năm 968, ông đã nắm vững được tình thế. Dân chúng biết ơn yêu cầu ông đứng đầu coi việc cai trị. Ông lấy hiệu là Văn Thắng vương, đặt Đinh Liễn làm tiết độ sứ, lấy quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.
IV. NHÀ TỐNG PHONG VƯƠNG CHO ĐINH BỘ LĨNH
Làm vua được năm năm, Đinh Bộ Lĩnh biết nhà Tống đã thống nhất Trung Quốc, bèn sai sứ xin giao hảo. Tống triều, theo nếp cũ, cho ông chức tiết độ sứ Tĩnh Hải. Nhưng nếp cũ không còn thích hợp với tình trạng mới. Đinh Bộ Lĩnh rất hiểu vậy, và có lẽ triều nhà Tống cũng hiểu vậy. Do đó, năm 975, sứ giả của Đại Cồ Việt lại sang Bắc triều, và lần nầy lượm được kết quả tốt hơn. Thái tổ nhà Tống (960-975) đã không ngần ngại phong cho Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ quận vương trong một bài chế mà Lê Tắc đã tóm lược như sau:
"Bộ Lĩnh sinh tại đất Diên Chỉ, giữ tiết làm tôi, hướng theo phương bắc, thế hệ cao quí, giữ gìn một cảnh thổ phương xa, có chí mến văn hóa của Trung Quốc, thường nghĩ đến việc nội phụ. Nay Cửu Châu thống nhất, Ngũ Lĩnh cũng thanh bình, bèn do đường thủy lục, qua lại cống hiến lễ vật. Nay ta có lời khen ngợi đã sai con xin làm phiên thuộc, vậy phong cho cha làm quận vương cấp tước lộc để biểu dương lòng nhân đức khác thường, nên ghi sâu đặc ân của ta và chúc cho trường thọ." (7)
Đó là bảo đảm đầu tiên và trường tồn của nền độc lập Việt Nam. Sao lại có thể nói bản văn đó bảo đảm nền độc lập, khi nó bao hàm những câu như: "Hướng theo phương bắc", "thường nghĩ đến việc nội phụ", "xin làm phiên thuộc"?
Trước hết, nên nhớ rằng bài chế không phải chỉ có mấy câu đó, mà còn có một số những câu đáng kể khác như: "giữ gìn một cảnh thổ phương xa" hay "phong cho làm quận vương". Các vua Việt Nam sau Đinh Bộ Lĩnh, mãi cho đến Tự Đức, không ai được phong gì khác cao hơn là phong vương. Và việc phong vương trong thế giới Á Đông của thời trước đây không xa, chỉ là một thể thức ngoại giao của một nước lớn, nước Trung Quốc, đối với những nước nhỏ, các lân bang, để cho có một phẩm trật trong phạm vi quốc tế, chỉ thế thôi. Việc phong vương có thể nói lên ý nghĩa thuộc quyền, nhưng chỉ là thuộc quyền theo quan niệm cấp bậc giữa nước lớn và nước bé, chứ không còn thuộc quyền trực tiếp theo kiểu thời Bắc thuộc hay thời Pháp thuộc. Cũng vì thế, mà trong chế nói đến việc Đinh Bộ Lĩnh "giữ gìn một cảnh thổ phương xa", giữ gìn mà không cần có sự can thiệp của Trung Quốc.
Rồi, ngay trong những câu bề ngoài xem ra còn mang dấu vết Bắc thuộc, xét ra cũng đã chứa đựng ý nghĩa biệt lập. Thật vậy, những câu đó là những lời khen. Hỏi tại sao mà phải khen như thế, nếu đất cổ Việt thuộc về Trung Quốc, như thời các thái thú, thứ sử, hay đô hộ? Sở dĩ giao hảo với Trung Quốc là một điều đáng được Trung Quốc khen, đó là vì cổ Việt đã tách ra khỏi Trung Quốc, mà vẫn còn đi lại.
Một điều đáng chú ý khác, việc nhà Tống công nhận quyền độc lập của cổ Việt không phải xảy ra sau một cuộc thất bại của nhà Tống về võ lực, mà chính là giữa thời bình, hơn nữa, có thể nói là trong một lúc Trung Quốc đang khai thắng. Giả sử cổ Việt độc lập vì thắng trận Trung Quốc, thì sự Trung Quốc công nhận độc lập vẫn mang một cái gì gò ép, không nhiều thì ít, và rồi sức mạnh của Trung Quốc có thể thay đổi tình trạng đó đi. Đàng nầy, nền độc lập của cổ Việt đã được hoàn thành trong êm đẹp của thời bình, nên nước Việt Nam chẳng khác gì một quả chín rụng ra khỏi cây mẹ để tự sống một cuộc đời riêng, mang đầy đủ sinh lực trong chính mình. Chính sinh lực nầy đã làm cho nước Việt Nam nhỏ bé chống lại được với nhà Tống trong đầu thời Lê Hoàn, chống lại được với nhà Nguyên trong đời Trần Nhân Tôn, chống lại với nhà Minh trong thời Lê Lợi, chống lại với nhà Thanh trong thời Quang Trung.
Sau hết, một điều nên nhớ nữa, là sở dĩ nước Việt Nam đâm rể sâu và phát triển mạnh trong ý thức độc lập của mình, đó là còn bởi sự người Việt Nam, mặc dầu bắt gốc từ Trung Quốc, đã không còn thuần túy Trung Quốc. Chúng tôi đã trình bày dài dòng và nêu lên mạnh mẽ sự họ là những kẻ đã từ Trung Quốc di cư sang cổ Việt trong thời Bắc thuộc. Nhưng cũng không được bỏ qua sự kiện nầy là họ, khi di cư sang, đã ở với dân Lạc Việt, và nhiều thứ dân man khác, rồi với dân Lâm Ấp. Những dân đó không thể làm cho họ cải biến, bất cứ về phương diện nào, nhưng lại có thể làm cho họ phong phú thêm, phong phú về mọi phương diện, chẳng hạn về nhân chủng, về phong tục, về ngôn ngữ.
Với nguồn gốc đó, với sinh lực đó, và với sự phong phú đó, người Việt Nam là người Việt Nam, và càng ngày càng Việt Nam...
HẾT
CHÚ THÍCH
1. Lê Tắc, An Nam chí lược, trang 191.
2. Tên người con thứ chín của Lưu Yểm không phải là Hoằng Tháo như Toàn thư chép (quyển 5, tờ 19a), nhưng là Hồng Tháo.
3. Âu Dương Tu, Tân Ngũ đại sử, trong N.T.N.S., quyển 65, trang 4469, cột 1.
4. Tống sử, trong bộ N.T.N.S., quyển 1, 2, 3, về Tống Thái tổ, quyển 4 về Tống Thái tông.
5. Việt sử lược, tờ 29.
6. Tống sử, quyển 488, ở mục Ngoại quốc, dưới đề "Giao Chỉ", trang 5712, cột 2.
7. Lê Tắc, sách đã dẫn, trang 64.
Phụ lục
(Sách nầy chỉ là bản văn khai triển bài tường trình sau đây ở Hội Nghị Quốc tế về lịch sử Á châu ở Hương cảng, 1964.)
INTERNATIONAL CONFERENCE ON ASIAN
HISTORY, UNIVERSITY OF HONG KONG
AUGUST 30 - SEPTEMBER 5, 1964
CHINESE ORIGIN OF THE VIETNAMESE PEOPLE
REV. NGUYỄN-PHƯƠNG
(University of Huế, Việt-Nam)
The origin of the Vietnamese people is a challenging subject to the student of history. Difficulties arise not only from the scarcity of historical data, but also from emotional interpretations of earlier Vietnamese historians who thought it their obligation to exalt the beginning of their fatherland. Through centuries, their teachings had gained importance, had taken shape in popular traditions, and finally were regarded as truths.
When France came over to Việt-Nam to impose her unhappy domination, some of her scholars had a quick look at the subject. Their researches, at times plausible, did not lead to any valuable conclusion. They pointed out a number of errors committed by Vietnamese historians, but, being entangled in the web of earlier thoughts, they still considered the emotional framework of the traditionalists as unshakable.
But, if one has enough patience to go attentively over the records concerning the long period when China began to populate the territory which later bacame Vietnamese, one can get sufficient light to recognize that the mainstream of the Vietnamese people came from China and that it was the Chinese blood in them that gave them their vigorous vitality in the march southward to their present boundaries.
The traditionalistic school of the Vietnamese history is represented by every official historian of the successive dynasties, but mainly by two known annalists named Lê Văn Hưu and Ngô Sĩ Liên. Lê Văn Hưu lived under the dynasty of the Trần (1225-1400) and wrote his Đại Việt Sử Ký in the second half of the 13th century. This work is now lost, but what its author had said can still be seen in the writings of Ngô Sĩ Liên who had named his books Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Undertaking his narrative two centuries later, Ngô Sĩ Liên intended to give a complete history of Đại Việt. To this end, he did not only start from where his predecessor had stopped, i.e. from the events that happened from the first ruler of the Trần dynasty until the middle of the fifteenth century, but also brought back the beginning of the Vietnamese history for a period of more than two thousand years. If Lê Văn Hưu had been contented himself with taking the first dynasty of Nan-Yue, the dynasty of the Tchao (207 B.C.-111 B.C.), as the first dynasty of Đại Việt, Ngô Sĩ Liên, on the other hand, proudly claimed that the person who founded his country had been Kinh Dương Vương, a king would have begun his reign on 2869 B.C., who, in reality however, turned out to be but a creation of a certain novelist under the T'ang dynasty.
Generally speaking, the Vietnamese historians of the traditionalistic school got confused about persons and places found in the works of Chinese history. They could not distinguish between the different groups of people designated by the Chinese under the general word "yue", and thought naively that any yue group could have been of the same origin as that of Đại Việt. They got also confused about the historical value of earlier writings, assuming that whatsoever had been written was historical record. In this poor state of appreciation, they took the princes Hiong of the old kingdom of Tch'ou as their kings Hùng or considered Tchao T'o as the first legitimate Vietnamese ruler.
It is surprising, however, to remark that, while they took Chinese elements to build their nationalistic history, they, nonetheless, consistently affirmed the special character of the Vietnamese people. According to them, the Vietnamese were no Chinese; they had an origin of their own, and from the very beginning, had fought against the Chinese to keep their independence. These historians repeated that the name of the old Vietnamese kingdom was Văn Lang, but did not know for sure where that kingdom was situated.
Some of these nationalistic biaises were denounced by a French historian, Henri Maspéro. In two articles published in the Bulletin de l'École Française d'Extrême-Orient (Nos XVI and XVIII), Maspéro proved that the king Hùng in the Vietnamese history did not exist and Văn Lang was but an error. He insisted that the first rulers of Việt Nam were Lạc Vương, meaning that the tribe Lạc Việt was the ancestors of the Vietnamese people.
A few years later, archeological and paleontological discoveries brought into light remains of an indonesian life and civilisation in Northern Việt Nam. Evidence showed that before the coming of the Chinese which happened at the end of the second century B.C., the Indonesians were already there with their new-stone-age instruments. This is mostly the result of the careful researches of Henri Mansuy and Madeleine Colani. Historians therefore took advantage of these findings and concluded that, because the Indonesians were the Lạc Việt, they were consequently the Vietnamese's ancestors.
Meanwhile, in 1923, Léonard Aurousseau, then Director of the French Archeological School in Indochina, proposed his opinion on the origin of the Vietnamese people, that had prevailed for some decades. Referring to different texts taken from Chinese history books, he intended to establish that the Vietnamese, originally, were descent of the inhabitants of a little kingdom situated on the Tcho River in the Fou-Kien region named Yue. He reasoned: the Yue kingdom was crushed by the Tch'ou in 333 B.C.; its inhabitants had to take refuge and, therefore, scattered here and there in Southern China; that was the origin of the Hundred Yue, among them was the Lo Yue.
Aurousseau's theory, with its too easy logic, could not stand too long. Soon historians began to question its foundation and then abandoned it for good. In fact, it rested on shaky assumptions, that is, on the similarity of the word "yue, Việt" (Việt Quốc, Lạc Việt, Việt Nam) and on the migration of the inhabitants of the Yue kingdom on the Tcho River, southward to North Việt Nam. First, it is not sure that the word "yue" had the global meaning of a tribe, but it was rather used by Chinese writers to designate all the tribes who lived in Southern China beyond the Yang-Tse River. Secondly, if the inhabitants of the Yue kingdom had been decimated by disaster in the war with the Tch'ou, how could they multiply themselves so quickly, or spread over so large an area and travel so far?
As early as 1937, another French writer, Claude Madrolle, had tried to underline the weaknesses of Aurousseau's theory. He condemned it as unscientific and unsound. To give his own interpretation a more solid ground, he relied on measure and quantity. His belief was that people of the same size belong to the same origin. He found that the sizes of the inhabitants of Tonkin, cradle of the Vietnamese population, could be classified into two general kinds: those of 1m62 and those of 1m58. He found also that people of smaller size made up the majority of the population and people of taller size belonged only to some villages on the coast. Madrolle's conclusion: The Vietnamese people had two origins, one aboriginal, and one coming from abroad; people of smaller size were aboriginal and those of taller size came from China because in the region of Fou-Kien, there were also people of that size i.e., cf 1m62.
Madrolle's view is just a droll one. Man's size changed from generation to generation, and depended less on heredity than on food and physical exercises. Furthermore, it is really adventurous to base on sizes, measured in 1937, to argue about the sizes effects of people of more than two thousand years ago.
In sum, the theories mentioned above did not deal properly with the origin of the Vietnamese people. They are not entirely unbeneficial, but their historical conclusions are only mixed truths. It is right to think that the Vietnamese people came from China, but it isn't right anymore to affirm with Aurousseau that they came from the little Yue kingdom on the Tcho River. And, if it is true to say that there was a combination of origins in the Vietnamese, it is utterly wrong to assert with Madrolle that people of taller size are from Chinese ethnological stock, and those of smaller size are aboriginal.
Perhaps, the fact of history happened in a more realistic way.
On one side, it is now an archeological and paleontological evidence that before the coming of the Chinese in Northern Việt Nam, people of Indonesian race lived there. They were there from the newstone age down to the bronze age, and now, they are still living in different montainous parts of Việt Nam. History also identified these Indonesians with the Lạc Việt, because it said that the Lạc Việt tribe had as a specialty the kettledrums in bronze, and archeology discovered that these kettledrums are Indonesian works.
On the other side, it is an everyday ascertainment that the Vietnamese are not Indonesians, i.e., they are different from the mountainous population called Moi. Not only they have no Indonesian appearance, but also they have no Indonesian culture, no Indonesian tradition, or religion. Everything about them, on the contrary, invites us to link them with the Chinese: Language, tradition, religion, appearance. Archeology proved it, and everyday observation is proving it. This fact, therefore, compels us to conclude that even the Lạc Việt are not Vietnamese ancestors. But, is it to say that, in the Vietnamese, there is no Indonesian trace at all? No, there is. This trace, however, is now becoming so faint that it is almost entirely immersed in the Chinese characteristics.
How to interpret all that?
All that points out that the Vietnamese origin was Chinese. The faint Indonesian trace found in them resulted from the first relations between the Chinese newcomers and the aboriginal Indonesians, in the early days of the Chinese settlement. But soon, with military and political organisation, Chinese colonies spread over the tillable land of the commanderies of Giao Chỉ, Cửu Chân and Nhật Nam. The Chinese population, only a minority in the beginning, became a majority after centuries of colonisation, and finally the inhabitants of the countryside of the whole territory were Chinese, the autochthonous Indonesians occupying the mountainside as ever before and becoming more and more comparatively negligible.
This dominance of the Chinese is seen clearly in the sixth century when Lý Bí, a descendent of the Chinese settlers in Giao Chỉ, revolted against Chinese authorities in view of obtaining local independence, but the process of the Chinese takeover is discernable right up in the first century A.D., in the revolt of the Sisters Trưng. Then, the Chinese settlers were already numerous enough in the commandery of Giao Chỉ to form an army of 12.000 soldiers to help the Chinese General Ma Yuan to defeat the Lạc Việt leaders. By 140, the Chinese not only populated the commandery of Giao Chỉ, but also went down to colonize the farthest part of the Empire, the commandery of Nhật Nam. When war broke out there between the Chinese forces and the indigenous, the authorities of the Celestial Throne had to set up plans to evacuate their countrymen to Giao Chỉ where they could be safer.
Thus, in the tenth century, when the Đại Việt, later Việt Nam, was born, it was but the spectacle of the Chinese settlers in this territory who broke political ties with their mother country and united themselves to form a new nation. Politically independent from China, they continued however to carry in them Chinese blood, to use Chinese characters, to follow Chinese traditions, and to march southward as vigorously as ever before until the South Sea stopped them at Cà Mau. Cut off and settled in new environments, they might differentiate, little by little, from the Chinese cultural and social mainstream, and develop national special characteristics of their own, but when they look back to find out what was their origin, they have to confess that theirs was Chinese.
Sau hết, một điều nên nhớ nữa, làsở dĩ nước Việt Nam đâm rể sâu và phát triển mạnh trong ý thức độc lập của mình, đó là còn bởi sự người Việt Nam, mặc dầu bắt gốc từ Trung Quốc, đã không còn thuần túy Trung Quốc.
Chúng tôi đã trình bày dài dòng và nêu lên mạnh mẽ sự họ là những kẻ đã từ Trung Quốc di cư sang cổ Việt trong thời Bắc thuộc. Nhưng cũng không được bỏ qua sự kiện nầy là họ, khi di cư sang, đã ở với dân Lạc Việt, và nhiều thứ dân man khác, rồi với dân Lâm Ấp.
Những dân đó không thể làm cho họ cải biến, bất cứ về phương diện nào, nhưng lại có thể làm cho họ phong phú thêm, phong phú về mọi phương diện, chẳng hạn về nhân chủng, về phong tục, về ngôn ngữ.
Với nguồn gốc đó, với sinh lực đó, và với sự phong phú đó, người Việt Nam là người Việt Nam, và càng ngày càng Việt Nam...
Nhà in SAO MAI
75. Nguyễn Huệ - HUẾ
BẢN ĐÍNH CHÍNH
BẢN ĐÍNH CHÍNH
Mục lục
Công trình sử học bị thất lạc của Nguyễn Phương
By Le Minh Khai
Người dịch: Hoa Quốc Văn
Trước đây, tôi đã viết sơ lược về công trình của sử gia Nguyễn Phương trên blog này. Nguyễn Phương đã xuất bản một cuốn sách bằng tiếng Việt ở Huế trong thập kỉ 1960s mang tên ViệtNamthời khai sinh [Vietnam at the Time of its Birth] (Huế: Phòng Nghiên Cứu Sử, Viện Đại Học Huế, 1965).
Cuốn sách về cơ bản cho rằng người Việt là những người đã di cư [từ phương Bắc] xuống phương Nam đến đồng bằng sông Hồng ở thiên niên kỉ đầu sau Công lịch. Đến thế kỉ X, số dân này đã trở nên đủ lớn và họ phát triển những lợi ích chung, rồi toàn bộ điều này dẫn đến sự xuất hiện của một quốc gia riêng ở vùng đất này lúc bấy giờ.
Hơn một thập kỉ sau khi xuất bản công trình đó, Nguyễn Phương viết một cuốn sách với chủ đề tương tự bằng tiếng Anh lấy tên là “Cổ sử Việt Nam: một nghiên cứu mới” (“The Ancient History of Việt-Nam: A New Study.”). Tuy nhiên, cuốn sách này chưa bao giờ được xuất bản.
Tôi không biết cụ thể về cuộc đời Nguyễn Phương, nhưng trong phần Lời cảm tạ của cuốn “Cổ sử Việt Nam”, ông nói rõ rằng ông đã rời Việt Nam năm 1975 và sau đó nhận được một nguồn tài trợ để đến nghiên cứu ở Hoa Kỳ. Đây là những dòng ông viết:
“Tôi rời Việt Nam năm ngoái, khi nó không còn tự do… Không nhà và không tổ quốc, khi tôi bị giam cầm hết tháng này qua tháng khác tại St. John’s Island, Singapore. Toàn bộ công trình, toàn bộ sự nghiệp của tôi dường như bị buộc phải kết thúc vĩnh viễn… Thật may, tôi được chấp nhận nhập cảnh vào Hoa Kỳ, nơi Quỹ Ford đã cho tôi một học bổng để nghiên cứu lịch sử. Tất nhiên tôi biết ơn sâu sắc về sự tài trợ này.
Nhưng điều tôi còn biết ơn nhiều hơn nữa là: chủ đề nghiên cứu được Quỹ chấp nhận là về cổ sử Việt Nam, bởi khi nghiên cứu nó, tôi cảm thấy mình vẫn có một tổ quốc đã xoay xở thành công để được tự do.
Vậy là nhờ ơn Quỹ Ford, tôi biết nhiều hơn về một bộ phận cơ bản của lịch sử Việt Nam. Bây giờ tôi vui mừng được giới thiệu nó đến quý Quỹ đầy hảo tâm và đến công chúng.
Nguyễn Phương,
Tháng 11 năm 1976.
“Cổ sử Việt Nam” khá khác với Việt Nam thời khai sinh. Tác phẩm sau không đơn thuần là bản dịch tiếng Anh của tác phẩm trước. Tuy nhiên, lập luận chính của nó là giống nhau – rằng “thực dân Trung Hoa” đã sinh sôi nảy nở và vượt mặt “người bản xứ” hay thổ dân và cho đến thế kỉ X sau Công lịch, trở thành người Việt Nam.
Trích:
“Đó là những hậu duệ của thực dân Trung Hoa, những người đã trở thành nhóm dân cư chính, đặc biệt là sau thất bại của Trưng Trắc, đã cấu thành người Việt. Họ dần dần ý thức về những lợi ích chung, về căn cước của mình, về khả năng, thậm chí là tính tất yếu, về sự độc lập chính trị với Trung Hoa”.
“Trong khi cuộc nổi dậy của Trưng Trắc là nỗ lực cuối cùng của những người bản địa nhằm giành lại quyền lực cho bộ tộc, thì cuộc nổi dậy của thực dân Lí Bí là nỗ lực đầu tiên của người Việt nhằm sáng lập một quốc gia mới”.
“Lí Bí cũng thất bại như Trưng Trắc, nhưng Trưng Trắc kết lại một nỗ lực, còn Lí Bí lại mở ra một nỗ lực khác mà sau này sẽ được hiện thực hóa đầy đủ bởi Đinh Bộ Lĩnh” (tr.181).
Tôi từng nghe nói rằng Nguyễn Phương đã dành thời gian viết cuốn sách này tại Đại học Cornell. Vào lúc đó sử gia chính nghiên cứu về Việt Nam là O.W.Wolters.
Ý tưởng của Nguyễn Phương không hợp với ý tưởng của O.W.Wolters. Theo O.W.Wolters, Việt Nam là một bộ phận của Đông Nam Á, và vì vậy Việt Nam phải khác với Trung Hoa. Trong các công trình của mình về Việt Nam, ông nhiều lần nhấn mạnh rằng ngay dù người Việt viết bằng chữ Hán, nó vẫn có nghĩa khác. Theo đó, ông cho rằng người Việt đã “làm rỗng” ý nghĩa gốc của các văn bản Hán và dùng các văn bản theo mục đích riêng của mình…”
Tôi không chắc vì sao bản thảo của Nguyễn Phương không bao giờ được xuất bản nhưng bản sao duy nhất của nó mà tôi biết nằm ở thư viện Đại học Cornell. Trong khi Nguyễn Phương tuyên bố trong Lời Cảm tạ của mình rằng ông đang giới thiệu công trình đã hoàn thành cho Quỹ Ford và cho công chúng, thì không có “công chúng” nào từng được nhìn thấy nó, theo như tầm hiểu biết của tôi. Nó là một “[công trình] sử học bị thất lạc”.
Ý tưởng của Nguyễn Phương về những người dân di cư đến Đồng bằng sông Hồng sau trở thành người Việt Nam khi họ trở nên đủ lớn mạnh để trở thành thành nhóm cư dân chính là một sự lí giải quá giản đơn cho sự việc đã xảy ra trong quá khứ. Chẳng hạn, người ta có thể lập luận rằng một nhóm tinh hoa thiểu số hẳn có thể thiết lập những thực hành và mô thức văn hóa mà trải qua thời gian sẽ được nhóm đa số kế thừa.
Vậy là, tôi không đồng ý với lập luận của Nguyễn Phương, nhưng tôi thấy nó gần với sự thật hơn những gì O.W.Wolters viết về Việt Nam. Và trong khi có thể mất nhiều thời gian, tôi vẫn nghĩ sự thật rốt cuộc sẽ được phi lộ và chấp nhận.
Tôi có tham dự một hội thảo gần đây nơi có một học giả cao niên hơn đã trình bày một bài viết rất hay về lịch sử Việt Nam, bài viết đó có mối liên hệ gần gũi với các quan điểm của Nguyễn Phương hơn nhiều với các quan điểm của O.W.Wolters…
25/6/2018
Nguyễn Phương
Theo https://vnthuquan.org/