Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

 

Nhà văn Mai Văn Tạo – Viết từ tấm lòng sâu nặng để tri ân nguồn cội

Vùng đất miền Tây Nam Bộ đã luôn ghi khắc văn nghiệp của các nhà văn kỳ cựu, đưa tên tuổi họ trở thành những nguồn sáng rạng rỡ với những trang viết đậm hồn đất và tình người của xứ sở nơi đây. Có thể kể đến nhà văn, nhà nghiên cứu, học giả Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Hầu…; các nhà văn Sơn Nam, Anh Đức, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Lập Em, Phạm Trung Khâu, Lê Đình Trường, Ngô Khắc Tài…; các nhà thơ Thanh Hải, Phạm Hữu Quang, Đinh Thị Thu Vân, Trịnh Bửu Hoài, Thu Nguyệt, Phạm Nguyên Thạch, Ngọc Phượng, Song Hảo…

Và càng khó có thể lãng quên một tên tuổi lớn, với nhiều đóng góp ấn tượng và quan trọng cho vùng đất này - đó là nhà văn Mai Văn Tạo. Ông tên thật là Nguyễn Thanh Tân, sinh 15.3.1924 tại xã Vĩnh Tế, tỉnh Châu Đốc cũ (nay thuộc tỉnh An Giang). Nhà văn đã từ giã cõi đời vào ngày 03.7.2002. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, để lại di sản thơ văn gần 30 tác phẩm, in từ Nam chí Bắc. Ông có những tác phẩm đã để lại dư âm, đương thời gây được tiếng vang như các truyện ngắn: “Hoa Lê” (1962), “Đường rừng” (1973), “Bông điệp đỏ” (1975)… Các bút kí, truyện kí: “Núi Sam quê mình”, “Lời ru của Mẹ”, “Lại về quê lụa Tân Châu”, “Làng quê ngày ấy”, “Củ Chi đất thép”, “Em bé sông Hương”... Ông đồng thời còn là soạn giả các vở kịch nói và cải lương, tuồng cổ với bút hiệu Chí Linh. Năm 1999, ông đã cho ra mắt tập tản văn Mai Văn Tạo, với độ dày 300 trang. Nhà văn một thời tham gia chiến đấu trong quân đội, sau làm công tác biên tập tại Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam.

Mai Văn Tạo ghi dấu ấn bởi những trang viết mang đậm hơi thở lịch sử thời đại, nặng tình, gắn với các sắc thái của đời sống quê hương và những vùng đất mà ông đã đi qua, gắn bó. Ông viết văn như là một cách hồi tưởng dòng ký ức, kể lại những câu chuyện giản dị mà lấp lánh những giá trị nhân văn bền chặt, sâu sắc. Ông từng trải lòng: “Lịch sử An Giang đã viết bằng những cuộc đời lận đận, những số phận bi thương, những tâm hồn vĩ đại, bằng máu và nước mắt, bằng những lưỡi gươm và cây súng thô sơ. Tới bây giờ tôi được vinh hạnh viết cuộc đời của mẹ - Người mẹ An Giang - bằng cây bút. Hạnh phúc cho người cầm bút biết bao…” (SGK Ngữ văn lớp 7, NXB Giáo Dục 2007). Đọc những dòng viết chân thật gợi thương cảm ấy, nhà báo Lê Phú Khải đã phải bật lời thảng thốt ngợi ca: “Riêng tôi, chưa thấy có người cầm bút nào lại nặng tình quê hương như ông Tạo”. Tấm hình Núi Sam được phóng to, lồng khung kính trang trọng trong nhà ông ở giữa chợ Tân Định (Sài Gòn cũ) là minh chứng rõ nét nhất.

“Tôi muốn thấy lại ánh lửa đồng những đêm Đức Cố quản Trần Văn Thành luyện tập nghĩa quân Láng Cháy - Bãi Thưa. Tôi đã về Hồ Đá, An Định, Thới Sơn… tìm những lùm bụi nào các chí sĩ Cần Vương hội tụ, chỗ nào Cử Tri ngồi vắt óc làm thơ, Nguyễn Thông dạy học, Bùi Hữu Nghĩa trấn đồn… Về Mỹ Luông ngắm cột dây thép ông Đỏ treo cờ năm 1940… Qua Kiến An nhìn tận mắt lò rèn của bác thợ Gộc rèn gươm khởi nghĩa… Trờ lại cầu sắt Vĩnh Thông nhìn lại chiến trường xưa…” (Đất quê hương, 1979)

Niềm ao ước của nhà văn thật đẹp, cao cả biết bao. Một cách sống ân nghĩa đáng cho người đời sau trân quý. Nhà văn như sống giàu tình nặng nghĩa với những trang sử vàng hào hùng của các ông cha thuở trước. Với tấm lòng yêu nước thương dân, yêu làng quê xứ sở, các bậc nghĩa sĩ xưa đã dấn thân vào bao cuộc chiến đầy nỗi can qua, nhọc nhằn, hòa lẫn máu và nước mắt để bảo vệ bờ cõi quê hương, giữ gìn lòng nhân và chính nghĩa. Những danh sĩ, những địa danh bi hùng xưa cũ, ông đã cất công truy tìm đến “gốc rể lẫn ngọn ngành”.

“Tôi tha thiết muốn biết triền đá nào chí sĩ can trường Trương Gia Mô đã từ ngọn tháp rơi xuống tuẫn tiết, không thể sa vào tay giặc Pháp… Tôi hiểu được thêm rằng Phật Thầy chùa Tây An là nhà chí sĩ bản lĩnh mượn chiếc áo nhà tu che mắt kẻ thù…”

Hơn thế nữa, nhà văn còn bộc bạch tâm sự khi đất nước chưa được hòa bình. - “Tôi lững thững đi vào đường phố Châu Đốc, Long Xuyên như một con người nhàm chán mảnh đất đang đi - bóng núi làng xưa phía trước…”. Dòng tùy bút là nỗi suy tư miên man của một mảnh hồn nặng nợ với quê hương xứ sở, bản quán cội nguồn. Có lẽ nơi nhân vật “tôi” sinh ra - đất mẹ đã hóa thân thành một linh hồn cất tiếng nói, đang dõi theo từng rung cảm trái tim nơi ông.

Nhà văn Mai Văn Tạo sinh ra và lớn lên trong ngôi làng vùng biên viễn Vĩnh Tế. Bà con, chòm xóm miền sơn cước xứ Học Lĩnh Sơn - Vĩnh Tế Sơn thân thiết với ông từ tên gọi “ở nhà” rất mộc: “Chín Giỏi”. Cả làng ông Chín ấy đã cuộn chảy lớn lên từ dòng sữa Vĩnh Tế ngọt lịm, ấm nồng. Từ nhịp đập háo hức, rực lứa của trái tim ông mới sản sinh được những lời văn chân mộc, thiết tha, đằm thắm làm về tình quê, tình người của làng mình, của vùng biên giới cực Nam Tổ quốc đầy sâu nặng, thân thương. Điều đó còn lắng sâu trong bài ca vọng cổ nổi tiếng của soạn giả Chí Linh -“Quê Mẹ An Giang”, đã để lại dấu ấn đậm đà hương vị đồng quê, cho những đứa con đã ra đi biệt xứ, những mảnh đời trôi sông, lạc bến nơi chợ lạ xứ xa đêm ngày khắc khoải. Thêm một vùng đất được định danh trong cõi chữ miên man của hoài niệm ký ức. Một vẻ đẹp lấp lánh rất riêng giữa trăm miền quê hương của Tổ quốc…

Các lớp học trò ngày trước, đã học qua chương trình bộ môn Quốc văn lớp 7 đều biết đến tác phẩm Mai Văn Tạo, qua thể tài tản văn và các đoạn trích dẫn từ bút kí của ông. Đó là những trang viết về “An Giang quê tôi”, “Ký ức một miền quê”, “An Giang - tình sâu nghĩa nặng”….Trong ông luôn phảng phất niềm tự hào về “cái đẹp, cái lớn của quê mình”, qua bút pháp tả cảnh gợi sự tâm tình, giàu biểu cảm. Như sự hiện diện của dòng sông Vĩnh Tế, khung cảnh quê hương đối với người dân bản xứ, đã được ông ghi lại: “Tuổi thơ tôi hằn sâu trong ký ức những ngọn núi trông xa lấp lánh như kim cương, lúc xanh mờ, khi xanh thẫm, lúc tím lơ, khi rực rỡ như núi ngọc màu xanh. Những năm tháng xa quê, dông tố cuộc đời tưởng chừng như cuốn bay tất cả, nhưng trong tâm tư tôi những dòng sông quê mênh mông vẫn cuồn cuộn chảy, những dòng kinh biêng biếc vẫn lặng lờ trôi. Tôi yêu những cánh đồng bao la vàng rực ngày mùa. Tôi yêu cả tiếng chuông chùa ngân thăm thẳm canh khuya. Tôi yêu cây gáo mồ côi, cây gáo đôi im lìm xa xăm ngoài đồng bãi…”. Với điệp khúc “Tôi yêu…Tôi yêu …” như một lối văn vừa kể, vừa tỏ bày. Tất cả tạo điểm nhấn tư tưởng, làm điểm tựa cho cảm xúc tuôn trào một niềm yêu quý quê hương xứ sở đầy chất chứa. Văn ông đậm đà sắc thái tự sự trữ tình, nhẹ nhàng mà cứ da diết trĩu nặng tâm hồn. Kỷ niệm vui buồn tuổi ấu thơ, khung cảnh quê nhà tĩnh lặng đơn sơ, mộc mạc, mỹ quan của sắc màu đá núi được đặt trong tâm cảnh, nhà văn đã dẫn dắt bạn đọc đi từ biểu đạt trực tiếp đến truyền tải những tâm tình gián tiếp, giàu sức gợi những cung bậc cảm xúc, tình cảm. Từ kỷ niệm của hồi ức đi đến tâm tình và mong ước những chuyến đi điền dã “tự nguyện” về những nơi vùng đất lịch sử, con người kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm:

“An Giang từ bao đời đến bây giờ là đất nóng, là bãi chiến trường. Bờ cõi An Giang đời này sang đời khác luôn bị xâm lăng và đẫm máu… Tôi thèm được leo lên Pháo Đài tìm lại phiến đá nào đã in dấu chân Hoàng Đạo Cật, cùng các đồng đội, đồng chí của anh…” Tôi muốn tìm lại vang bóng con người đến phút cuối đời còn làm cho giặc khiếp sợ mà nhà cách mạng Phan Bội Châu nghe tin đã khóc…”

Từ truyền thống đấu tranh can trường của đồng bào mình - khoảnh khắc sống và trở về giữa vùng đất quê hương chịu nhiều bom đạn, giờ đã ngời rạng nét hòa bình an lạc, tác giả bày tỏ niềm xúc cảm nhớ nhung, tự hào khi quay về quê cũ, cảm thấy quê hương mình đẹp hơn lúc ra đi. Những nỗi niềm cảm, tưởng sâu thẳm trước thời gian, trước đất mẹ…

Đọc Mai Văn Tạo ta cảm nhận được tình cảm yêu thương, gắn bó sâu nặng của nhà văn đối với từng tất đất quê hương… Một giọng văn đằm thắm, gợi cảm sâu sắc. Sức hấp dẫn của văn Mai Văn Tạo đến giọng điệu trữ tình, những quan sát tinh tế, chọn lọc và chân thực. Mỗi lời văn thủ thỉ, thiết tha với cả tâm tình, hồn quê len lỏi qua mỗi nhịp đập con tim, khối óc và nơi con chữ tượng hình. Nơi ấy, đã được ông định danh như “lẽ sống” đời mình. Ông muốn mang theo quê hương trên mỗi bước hành trình. Để vừa đi, vừa sống mà không xa nguồn cội, luôn thủy chung nhất quán với tình đất, tình người quê hương.

Trần Quang Khanh - Hội viên: Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật An Giang, Hội Khoa học Lịch sử An Giang

15/9/2025

Trần Quang Khanh

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

“Mưa đỏ”, hiện thực và thông điệp

Sau gần một tháng công chiếu, "Mưa Đỏ" không chỉ là một bộ phim gây sốt về doanh thu mà còn là một tác phẩm khơi gợi nhiều suy ngẫm về lịch sử và chiến tranh. Dưới đây là bài viết của Đại tá, Nhà văn Trần Thế Tuyển - một người lính, một nhà văn từng trực tiếp chứng kiến và tham gia vào những tháng năm ác liệt ấy. Với góc nhìn của một người trong cuộc, ông phân tích những giá trị hiện thực và thông điệp sâu sắc mà ê-kíp sáng tạo đã gửi gắm qua từng thước phim.

Từ khi khởi chiếu (22/8/2025) đến nay chưa đầy một tháng, bộ phim "Mưa Đỏ" gần như đã trở thành một “hiện tượng”. Trước hết là bởi sức hút đối với xã hội và kế đó là doanh thu bán vé (theo thống kê của nhà sản xuất) cực kỳ ấn tượng (gần 700 tỷ VNĐ). Báo chí và truyền thông đồng loạt đưa tin, lan truyền rộng rãi. Đương nhiên, cũng có những ý kiến khác nhau. Người viết bài này đã lỡ hẹn xem phim "Mưa Đỏ" mấy lần và mãi đến chiều qua (14/9) mới có dịp một mình đến rạp thưởng ngoạn và suy ngẫm.

Hiện thực…

Trước hết, với thời lượng 124 phút, "Mưa Đỏ" là một bức tranh hiện thực về một lát cắt của chiến tranh, như những người thực hiện bộ phim đã nói, lấy cảm hứng từ chiến dịch 81 ngày đêm giao tranh quyết liệt giữa ta và địch tại Thành cổ Quảng Trị, trước khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam do Mỹ và các bên: VNDCCH, CHMNVN và VNCH ký kết (27/1/1973).

Như vậy, đây là một tác phẩm điện ảnh chứ không phải một phim tài liệu về chiến dịch 81 ngày đêm giành giật Thành Cổ. Tác phẩm điện ảnh được quyền hư cấu, miễn sao phần “hiện thực” giữ được bản chất của sự kiện. Đã có nhiều tác phẩm điện ảnh về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang cuốn hút người xem như: "Nổi gió", "Cánh đồng hoang", "Địa đạo"… Về trận chiến 81 ngày đêm, phim "Miền Cỏ Cháy" cũng đã chạm tới trái tim người xem, lấy đi khá nhiều nước mắt. Nhưng công bằng mà nói, tập thể những người sáng tạo nên "Mưa Đỏ" (Kịch bản: Chu Lai - Đạo diễn: Đặng Thái Huyền) đã thực sự dụng công, đầu tư để tái hiện trận chiến Thành Cổ một cách sát với thực tế. Thực tế đó không chỉ là cảnh quan hùng tráng, bom đạn như mưa… mà cái chính là ở con người (cả hai phía). Những con người ấy đã một mất một còn, sinh tử giành giật mảnh đất trên 500m2 (với ý nghĩa biểu trưng cho khu vực trọng điểm ác liệt) này.

Câu chuyện xoay quanh tiểu đội 1 của Tạ, trước “81 ngày đêm” đã hy sinh gần hết và được bổ sung nhóm chiến sĩ mới là Cường và đồng đội của anh. Họ hầu hết là sinh viên các trường đại học, nhận lệnh “tổng động viên” gác bút nghiên lên đường cứu nước. Đó là hiện thực của “mùa hè đỏ lửa năm 1972”. Với tư cách là người trong cuộc, người viết bài này đã tận mắt chứng kiến và cả chôn cất các liệt sĩ tại Đường 13 Tàu Ô - Xóm Ruộng (Bình Long), Long Khốt, Đá Biên (Long An)… Phần lớn họ là sinh viên vừa rời giảng đường, vừa hành quân vừa huấn luyện để bổ sung cho chiến trường. Một hiện thực nữa là trang bị của quân đội (hai bên). Nếu quân đội VNCH được Mỹ trang bị từ đầu đến chân, thì bộ đội ta lại thiếu thốn đủ thứ: quân phục không đủ mặc, lương thực không đủ no và khí tài, vũ khí thì cực kỳ khó khăn, thiếu thốn. Các tác giả bộ phim không né tránh điều đó. Trái lại, họ phục dựng, tái hiện cho hậu thế thấy rõ hiện thực đó. Và một hiện thực nữa, dù quân xâm lược Mỹ chưa rút hết, chỉ xuất hiện mờ nhạt, thì cuộc chiến này về cơ bản là của người Việt với người Việt.

Dù đôi chỗ còn khiên cưỡng, mang đậm màu sắc hư cấu so với thực tế trận chiến Thành Cổ, nhưng phải công nhận, các tác giả đã khéo léo “dàn dựng” những cảnh huống để đưa ra thông điệp. Đó là “cuộc đối đầu” cuối cùng của hai nhân vật đại diện cho hai tuyến: Chiến sĩ QGP Cường (sinh viên Nhạc viện Hà Nội) và Trung úy Quang (đại đội trưởng QLVNCH). Đó còn là cảnh hai bà mẹ của Cường và Quang, khi chiến tranh kết thúc, cùng ngồi trên một con thuyền trên sông Thạch Hãn để thăm mộ con trai…

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, "Mưa Đỏ" là phim truyện chứ không phải phim tài liệu, vì vậy người xem có thể dễ dàng chấp nhận những cảnh xe tăng, máy bay QLVNCH chà xát Thành Cổ; những cuộc đánh giáp lá cà, đấu võ không kém phim hành động của Hồng Kông, Nhật Bản. Dù vậy, cảnh chiến sĩ QGP bị treo cổ thiêu trên cành cây trước mặt đồng đội có vũ khí trong tay vẫn là một chi tiết khiên cưỡng, có thể gây khó chịu cho những khán giả đã từng trải qua cuộc chiến tranh giải phóng đất nước thế kỷ XX.

Và thông điệp

Hồn vía của tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung và điện ảnh nói riêng chính là thông điệp. Người ta đến với tác phẩm điện ảnh không chỉ để thưởng ngoạn bối cảnh, cảm thụ nhân vật mà chính là để suy ngẫm về thông điệp.

"Mưa Đỏ" chuyển tải thông điệp gì? Theo chúng tôi, có mấy điểm sau đây:

Thứ nhất, phim kể lại câu chuyện chiến tranh để thấy giá trị của hòa bình. Rằng “Máu xương đổ xuống - Đất trời lưu danh”. Rằng “Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/ Hồn bay lên hóa linh khí Quốc gia”; rằng: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm”…

Thứ hai, qua lát cắt của cuộc chiến, "Mưa Đỏ" lên án chiến tranh, trước hết là nguồn gốc cuộc chiến do kẻ thù xâm lược gây ra.
Thứ ba, qua lời thoại của các nhân vật (Cường và Quang; Cường và Hồng), qua hình ảnh hai bà mẹ… cho thấy nhân dân Việt Nam chán ghét chiến tranh, khát vọng hòa bình. Nếu phải “chém giết kẻ thù” thì đúng như nhà thơ Diệp Minh Tuyền đã viết: “Kẻ thù buộc ta mang cây súng”.

Thứ tư, qua "Mưa Đỏ", thêm một lần nữa khẳng định: “Không việc nào, người nào vì dân vì nước bị lãng quên”. Đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang gắn với sự tri ân những người đã hy sinh vì đất nước vẫn là mảnh đất màu mỡ cho văn nghệ sĩ gieo trồng và gặt hái. “Mục sở thị” buổi chiếu tại rạp Lotte 20 - Cộng Hòa (TP. HCM) cho thấy, người xem hầu hết là lớp trẻ. Họ “nhập vai” một cách nghiêm túc với sự tri ân sâu sắc.

Tóm lại, từ “hiện thực” đến “thông điệp”, có thể nói rằng: "Mưa Đỏ" đã thành công. Xin chúc mừng Điện ảnh QĐND, Nhà văn Chu Lai, đạo diễn Đặng Thái Huyền và tập thể những người sáng tạo nên “công trình” "Mưa Đỏ".

Sài Gòn, 15/9/2025
Trần Thế Tuyển

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Một cách nghĩ khác về tình yêu

Sáng 10/9/2025, tại Thư viện sách Trần Mai Hường, nhóm “Bạn văn & Miền chữ” đã tổ chức buổi sinh hoạt chuyên đề về tiểu thuyết "Hoa cho tình yêu" của nhà văn Hoàng Phương Nhâm – tác phẩm đoạt giải Khuyến khích cuộc thi sáng tác “Thành phố Hồ Chí Minh – 50 năm tự hào bản anh hùng ca”. Trong không khí ấm áp, nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đã trình bày tham luận “Một cách nghĩ khác về tình yêu”, mang đến nhiều gợi mở sâu sắc về cách nhìn và sức sáng tạo của tác phẩm.

Tác phẩm văn học viết về ma không hiếm, nếu không muốn nói là nhiều cả trên bình diện văn học và điện ảnh. Nhưng chính sự nhiều ấy, nên cách thể hiện cũng rất đa dạng và phòng phú. Tuy nhiên đa phong phú đến mấy, tư duy sức sáng tạo của các nhà văn, các nhà làm phim, cái lõi vẫn là thủ pháp. Chính thủ pháp làm nên danh tiếng, làm nên sự bất hủ của một tác phẩm.

Hoa cho tình yêu của nhà Văn Hoàng Phương Nhâm, mang cái tên thật đẹp, thật ngọt ngào và thật quyến rũ, nhưng chủ đề tình yêu hóa ra chỉ là cái cớ nên câu chuyện cũng rất đáng bàn. Đáng bàn vì một nhà văn nữ có vóc dáng nhỏ nhắn, xinh đẹp, tưởng như yếu đuối, nhưng lại có tầm suy nghĩ thâm hậu và sâu sắc.

Hoa cho tình yêu như là tấm voan đẹp, cho các thiếu nữ làm duyên làm dáng, cùng nụ cười e ấp làm chết mê chết mệt bao đấng mày râu, nhưng phía sau tấm voan lại chuyển tải cả một câu chuyện vô cùng gai góc và phức tạp mang tính thời sự về một bi kịch. Theo nghĩa “đen”, đây là tác phẩm thuộc thể loại ma.

Dù vậy, Hoa cho tình yêu đọc rồi mới thấy có “ma”, nhưng lại không phải một cuốn sách viết về ma. Bởi Hoàng Phương Nhâm biết biến cái chết “vô tính” hóa linh hồn “hữu tính” cao đẹp, nhiều tầng, nhiều lớp, có danh, có phận, để những con người đó hồi sinh, khiến tâm thức ta cũng được hòa tan giữa cõi nhân gian mình đang sống.  

Lấy chủ đề tình yêu, Hoàng Phương Nhâm đặt cược vào cách nghĩ mà tôi cho là sự đột phá táo bạo. Để hóa giải một bi kịch từng xảy ra mang tính thời đại, không chỉ ở Việt Nam mà còn mang tính toàn cầu. Xong cũng nên hiểu, bi kịch con người do chính con người tạo ra đang phải đối mặt là không mới. Không mới, bởi nó có từ nhiều thời đại trước Công Nguyên. Thậm chí còn xa hơn nữa như Thế chiến Hy Lạp – Ba Tư (499-449 TCN), đánh dấu sự đối đầu giữa Phương Đông và Phương Tây. Hay cuộc chinh phạt của Alexander Đại Đế (334-332 TCN), mở rộng Đế chế Hy Lạp sang Châu Á. Thời kỳ Tam Quốc bên Tàu có chiến tranh Chu-Tần rất dài (453-221 TCN). Ở Việt Nam cũng có biết bao nhiêu cuộc chiến tranh đẫm máu qua các thời đại, mới nhất là cuộc chiến chống quân xâm lược Pháp, rồi chống Mỹ suốt 20 năm. Hệ lụy ấy để lại nỗi đau là người Việt Nam gánh chịu. 50 năm cuộc chiếm tranh kết thúc, bi kịch thù hận của người Việt từ hai phía vẫn còn là hố sâu vẫn chưa được khỏa lấp, mới thấy thù hận bằng máu quả là khủng khiếp. Dẫn dài chút như trên, bi kịch thù hận không còn là cá biệt khi nó đã mang tên nhân loại, trở thành định đề bản chất của con người nhiều kiếp trước.  

Hoàng Phương Nhâm là người phái đẹp viết văn, lấy lợi thế họ hiểu tình yêu hơn phái mày râu gấp nhiều lần, tin vào tình yêu để hóa giải bi kịch, “cứu rỗi thế giới” mà người ta ví lên sao hỏa còn dễ dàng hơn.

Câu chuyện bắt đầu từ một cặp tình nhân thầy giáo Bác sĩ An Đông, với cô sinh viên Y khoa Hiểu Tuệ. Họ có những cuộc hẹn hò, trao tặng cho nhau những bông hoa đẹp và ánh mắt nhìn say đắm bình thường như bao cặp tình nhân khác. Oái oăm thay lại bị cản trở bởi một bi kịch, mà cặp tình nhân trẻ không hề mong muốn đã diễn ra, nhưng điều đáng nói nó lại đến từ chính những người thân yêu nhất trong gia đình hai phía.

Bác sĩ An Đông chàng trai trẻ năng động, có lối sống hiện đại, giỏi về chuyên môn, là cháu trai của bà Kim Thư cũng là bác sĩ, một góa phụ người miền Bắc có chồng bác sĩ Quân y Giang Tử Quang Quân giải phóng, chiến đấu ở trường miền Trung hy sinh. Bác sĩ Hiểu Tuệ có mẹ là bà Quyên Ái, lại là con gái của bà chủ quán hoa Tư Hồng, vợ của Vĩnh Lộc lính quân lực Sài Gòn chết trận, khi giao tranh với lực lượng Quân giải phóng đơn vị của bác sĩ Giang Tử Quang, chồng bà Kim Thư.

Hãy đặt mình vào hoàn cảnh ấy, liệu ta có đồng cảm với bà Kim Thư? Ông cưới bà chưa được bao lâu phải rời xa nhau ra trận, rồi ông hy sinh lúc cả hai còn rất trẻ. Tiếp theo cô em gái chồng Uyển Vy, cũng vào Nam và hy sinh bỏ lại bao nhiêu ước mơ hoài bão. Nỗi đau quá lớn, nên càng về già bà càng dồn hết tình yêu thương vào đứa cháu nội An Đông. Bà hy vọng vào An Đông theo một suy nghĩ khác, hãnh diện về nó tiếp bước theo truyền thống cách mạng gia đình mình, chứ không phải như hiện tại lấy cháu gái của kẻ thù bắn chết chồng và em gái chồng bà. Đấy là bi kịch.  

Hoa cho tình yêu của Hoàng Phương Nhâm, viết bằng thủ pháp đồng hiện giữa siêu thực và hiện thực, trong đó đồng hiện vẫn là chủ yếu. Đồng hiện giữa người sống và người chết, thường xuất hiện bất ngờ trong những giấc mơ, hay khi nỗi đau thể xác mà họ tìm đến. Thủ pháp này có tác dụng chuyển đổi cảm xúc và lấy được niềm tin của người đọc. Tôi đã đọc bằng cảm xúc như thế, càng đọc càng cuốn hút tới những chương cuối cùng bởi tính đa tầng, nhiều lớp, nó xóa nhòa danh giới giữa hiện thực và siêu thực đôi khi có phần huyền ảo. Ma quái thường gây cho người ta sợ hãi, nhưng trong Hoa cho tình yêu yếu tố “ma” không tồn tại, dù đây là tác phẩm có ma.

Hoa cho tình yêu kết thúc có hậu, An Đông và Hiểu Tuệ đến được bên nhau chỉ khi bà Kim Thư vượt qua danh giới giữa cõi âm và cõi dương bằng thủ pháp đồng hiện siêu thực, gặp được chồng Giang Tử Quang, em gái chồng Uyển Vy. Họ đang sống chung với những người từng là kẻ thù, trong những ngôi Làng Chiến Binh, Ấp Giáng Hương… Ở đó cũng có những dòng sông hiền hòa mang nặng phù sa, hai bên bờ ruộng vườn tươi tốt. Ở đó có muôn vàn loài hoa đẹp, vọng vang tiếng chim hót giữa không gian an bình, bầu trời trong xanh và mênh mang mây trắng. Chính miền hoang diệu này, bà nhận ra con người sống với nhau thật là chan hòa tình yêu thương và hạnh phúc.

Cuối cùng tôi muốn nói, Hoa cho tình yêu không hẳn là bản thánh ca về nỗi đau đất nước. Bi kịch thù hận là bản chất của con người, muốn hóa giải nó tôi nghiêng về minh triết của Đức Phật nhiều hơn, yêu người như chính yêu mình. Làm được như thế, hy vọng sẽ gột rửa được tính thù hận trong mỗi con người chúng ta. Bởi chết đi chưa hẳn là kết thúc.

Tp. HCM, 16/9/2025

Đỗ Viết Nghiệm

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

“Khoảng trời xanh ký ức” – khúc lắng đọng, yêu thương

Sau buổi ra mắt ấm áp tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” (30/5/2025), bài viết của TS. Hoàng Thị Thu Thủy tiếp tục khắc họa nét đẹp dung dị và giàu cảm xúc trong thơ Nguyễn Thị Phương Nam – một “nhật ký tâm hồn” chạm đến trái tim người đọc. 

Tôi xem bài thơ “Yêu thơ” của nữ thi sĩ Nguyễn Thị Phương Nam trong tập thơ “Dòng sông và nỗi nhớ” như là tuyên ngôn thơ: “Tiếng đài khuya vọng ngân nga/ Thơ ơi vang mãi thiết tha mặn nồng/ Từng câu từng ý vào lòng/ Yêu thơ ta nguyện thủy chung trọn đời”; “Thơ, làm nhịp cầu nối hai tâm hồn/ Thơ, giúp em vượt qua ngàn cay đắng” (Để em thức cùng thơ – Gửi vào khoảng lặng). Chị từng là nhà giáo (1969 - 1981), rồi chuyển sang công tác tại Tổng công ty 28, Tổng cục Hậu Cần Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng và mang quân hàm Trung tá QNCN, chị là Hội viên Hội nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Thơ là cứu cánh cho nữ thi sĩ – nhà giáo, nữ thi sĩ – quân nhân trong những năm tháng vừa làm tròn nhiệm vụ của một công dân vừa làm tròn bổn phận của một người vợ thủy chung, một người mẹ đảm đang và cả khi lên chức bà hiền hậu, thân thương. Thủy chung cùng thơ, yêu thơ và sáng tác, cho đến nay chị đã lần lượt xuất bản 7 tập thơ: “Dòng sông và nỗi nhớ” (2006); “Hương thiên lý” (2013), “Vọng mãi lời ru” (Sưu tầm, 2014), “Nơi đó có tình yêu” (2016), “Gửi vào khoảng lặng” (2018) “Thì thầm tiếng gió” (2021); và chị vừa ra mắt tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” vào năm 2025.

“Dưới khoảng trời xanh ấy/ Có ngày xưa đôi ta/ Trĩu ân tình biết mấy/ Câu thơ níu quê nhà” (Khoảng trời xanh ký ức). Lấy tên bài thơ “Khoảng trời xanh ký ức” làm tựa đề cho tập thơ, nhà thơ đã gửi gắm vào trong đó những ký ức ngọt ngào về tình yêu, về mẹ, về quê hương, về nghề nghiệp, về những khoảng thời gian thăng trầm với mọi buồn vui cùng cảm xúc dâng trào: “Có vệt phấn vắt ngang/ Tuổi thơ thành trí tuệ/ Từ những lời cô giảng/ Ôi! Mênh mang quê nhà… Dưới khoảng trời xanh ấy/ Cánh chim chiều nghiêng chao/ Gom hoàng hôn vào tối/ Thương ngày xưa chiến hào”. Chọn thể thơ 5 chữ, cùng lối hồi tưởng chắt lọc cùng thi tứ, bài thơ như mở ra một vùng ký ức thật đẹp, dẫu có gian khó thì vùng ký ức đó vẫn mang màu hồng bởi cái nhìn của thi sĩ đầy trân trọng, thương yêu. Câu thơ “Cánh chim chiều nghiêng chao/ Gom hoàng hôn vào tối” quá hay. “Cánh chim chiều” là thi ảnh quen thuộc trong thi ca từ cổ điển đến hiện đại. Trong khoảng trời xanh biếc chị đã nhận ra cái bé nhỏ, cô đơn khi đối diện với hai hình ảnh đối lập giữa cánh chim và bầu trời. Cánh cò trắng trong câu thơ “Bạch lộ song song phi hạ điền”([1]) – (Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng – bản dịch của Ngô tất Tố) là điểm sáng trong tâm thức thi nhân Trần Nhân Tông khi trời đã nhá nhem, nhập nhoạng. Còn với nữ thi sĩ Nguyễn Thị Phương Nam thì cánh chim càng tô đậm thêm bóng tối “Gom hoàng hôn vào tối” – một cảm nhận hết sức chân thực với cái nhìn từng trải và những trải nghiệm trong chính hành trình của chị với cuộc đời và thơ ca. Nên mỗi bài thơ trong tập thơ của chị là những tri âm gửi từ lòng mình đến độc giả.

Nhật ký thơ của chị hiển hiện trên mỗi vui buồn “nhớ về thời hoa lửa, nhớ mẹ, nhớ những người thân thương”; lòng biết ơn với những sự kiện “Nhận huy hiệu Đảng”, “Kỷ niệm ngày cưới”, “Mừng sinh nhật con”, “Mừng cháu nhận bằng tốt nghiệp”… cùng những biến cố về bệnh tật, về Covid… Thế giới thơ của chị thân thương, gần gũi, dường như cuộc sống cùng những suy tư chị đều gửi vào “Khoảng trời xanh ký ức”. Vì là nhật ký bằng thơ nên thể thơ 5 chữ đắc dụng trong việc chuyển tải cảm xúc cùng thi ảnh, thể thơ này mang vẻ đẹp dung dị mà lại có khả năng chuyển tải sâu sắc những cảm xúc và ý tưởng phong phú. Đa phần những bài thơ trong tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” được viết theo thể thơ 5 chữ.

Hình ảnh người mẹ trong thơ chị vừa mang dáng dấp của những người mẹ Việt Nam tảo tần, lo toan, chịu đựng, hi sinh vì chồng con; vừa mang nét riêng của miền đất khói lửa Vĩnh Linh - Quảng Trị: “Cha theo tiếng gọi non sông/ Đi theo cách mạng trong vùng chiến khu/ Hỡi ôi viên đạn quân thù/ Bắn cha ngã gục bên bờ suối xa/ Mênh mông trời đất bao la/ Một đàn con dại mẹ già gian nan/ Chị em phân tán đôi đàng/ Làm thuê ở mướn kiếm ăn qua ngày” (Bài thơ dâng mẹ). “Trải qua bao năm tháng/ Mẹ tần tảo nuôi con/ Đôi vai mẹ gầy mòn/ Đôi bàn tay rám nắng/ Gian nan và cay đắng/ vất vả cứ đong đầy”; bài thơ còn là lời nhắn nhủ thiết tha về tình mẫu tử thiêng liêng: “Nhắn ai còn có mẹ/ Đừng để tháng ngày trôi/ Sau này dù ân hận/ Khi đó đã muộn rồi” (Ký ức về mẹ)

“Ngày tháng cứ trôi đi/ Thơ thì thầm muốn nói/ Thời gian ơi chậm lại/ Lòng xưa còn thiết tha” (Thời gian ơi chậm lại). Không hiểu sao khi đọc những câu thơ này lòng tôi trào dâng cảm xúc tiếc nuối. Một người thơ tha thiết, đi cùng thơ trọn đời; một cô giáo dạy văn bao năm truyền lửa cho trò; một người lính kiên trung một lòng theo lý tưởng… chợt buồn vì bi kịch thời gian, đó là bi kịch mà ai cũng trải qua giữa thời gian vũ trụ vần vũ đến rồi lại đi và thời gian đời người ngắn ngủi. Làm vợ, làm mẹ, làm bà chị có ít thời gian dành cho bản thân (kể từ khi anh vào viện với bệnh tim), vậy mà vẫn có những vần thơ tha thiết với cuộc sống, với những miền đất chị đặt chân đến thì quá trân trọng, những bài thơ “Về Tiền Giang”, “Thăm tượng đài Nguyễn Huệ bên sông Tiền”, “Biển chiều Phan Thiết”, “Đêm giao lưu với đoàn 146 hải quân”… là những xúc cảm dâng trào trong trái tim thi sĩ, bởi đó là khoảng thời gian hạnh phúc của chị, khi thảnh thơi ngắm nhìn, khi vui vẻ cùng đồng đội.

“Mũi Né đây rồi em biết không/ Gió chiều lồng lộng đuổi mây hồng/ Dập dồn sóng trắng xô bờ cát/ Những ngọn dừa xanh ai vít cong?/ Em ở đâu dưới trời Phan Thiết? Nhìn tấm hình em giữa mênh mông/ Ước gì với nhau cùng một chuyến/ Cùng ngắm biển chiều đỡ nhớ mong” (Biển chiều Phan Thiết). Thi tứ bài thơ quá tình, giọng thơ nữ tính dịu dàng như chính cái dịu dàng của tính cách nhà thơ. Những câu thơ vừa lấp lánh thi ảnh, vừa quấn quýt tâm tình, vừa chứa chan cảm xúc và trên hết vẫn là tài thơ trong cấu tứ thi ảnh “Dập dồn sóng trắng xô bờ cát/ Những ngọn dừa xanh ai vít cong?”, cái nhìn thi nhân rất lạ, rất mới cùng câu hỏi tu từ “Những ngọn dừa xanh ai vít cong?”.

Thi tứ “Chiếc lá mùa thu” chứa chan ký ức về một thời hoa lửa, về những nhớ mong, chờ đợi; chọn “chiếc lá” như một nốt nhạc trầm bổng trong hành trình trở về với ký ức cũng là sáng tạo trong thi ca và chị đã làm mới cho chính mình với những vần thơ dặt dìu kỷ niệm: “Mùa thu đi qua từng chiếc lá/ Trong gió chiều thấp thoáng bay bay/ Lòng bỗng trở về một ngày thu năm ấy/ dưới gốc cây già, lá chạm khẽ bờ vai” (Chiếc lá mùa thu)

Người đọc cảm mến thơ chị bởi cái giọng thơ đằm thắm, dịu dàng, nữ tính, tình yêu và sự thủy chung là điểm tựa cho chị vượt lên tất cả: “Những đóa hoa hồng gửi tặng ông/ “Tình yêu” hòa quyện với “thủy chung”/ Bốn chữ thiêng liêng luôn gìn giữ/ Hạnh phúc trọn đời con cháu mong” (Mừng sinh nhật thời Covid). Đi qua năm tháng, từ sự chờ đợi “Ôi nỗi niềm vợ lính/ Cứ đợi chờ nhớ thương” (Hai năm sau ngày cưới), đến hòa bình đoàn tụ “Chuyển vào Nam theo chồng” (Cuộc thiên di vội vã), rồi cùng nhau trải qua bao thăng trầm, giờ đến độ tuổi mà “anh ốm, chị chăm”, cùng nhau vượt qua bạo bệnh, hi vọng và yêu thương.

“Nhật ký thơ” trong “Khoảng trời xanh ký ức” với đầy đủ các cung bậc cảm xúc, nơi đó chị gửi gắm tình yêu, nỗi ước mong, hy vọng và những cảm xúc thương cảm trước tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình… Xem thơ là cứu cánh, nên cảm xúc trong thơ chị chân thật, bày tỏ đúng những gì nhà thơ cảm nhận từ tấm lòng, có chiều sâu nên gợi lên những duy tư và đồng cảm của người đọc, đó cũng là lý do để tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” chạm đến trái tim độc giả.

Thi pháp thể loại ở tập thơ này không có nhiều đột biến, đa phần là thơ 5 chữ, một vài bài theo thể thơ lục bát – thơ lục bát cũng là thế mạnh của nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam, vì với thể thơ này chị thường có những câu thơ xuất thần, và tứ thơ hay. Bài thơ “Ai ra xứ Huế đừng quên” là một ví dụ. Là “nhật ký thơ” bộc bạch cảm xúc với những vùng đất, những con người thân thương nên ở tập thơ này chị vẫn tiếp nối giọng thơ thủ thỉ, tâm tình như ở những tập thơ trước. Giọng thơ ít biến đổi, chứng tỏ nữ thi sĩ đã vượt qua những cảm xúc thông thường để gửi vào thơ những gì lắng đọng, yêu thương, đó là điều khiến cho thơ chị có thật nhiều thương mến.

Chú thích:

([1]) Thiên trường vãn vọng – Trần Nhân Tông.

Huế, 16/9/2025

Hoàng Thị Thu Thủy

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Chân dung Nguyễn Bính qua giai thoại văn học

Để đánh giá chân tài nhà thơ phải dựa vào trước tác của họ. Tuy vậy, nhiều khi căn cứ vào các cảnh huống sinh hoạt thường ngày, dựa vào những câu chuyện hoạt động văn nghệ đời thường của văn nghệ sĩ, mà người ta hay gọi là giai thoại, cũng giúp ta hiểu thêm cuộc đời và sáng tác của họ hơn. Hầu hết tác giả văn học Việt Nam đều có những giai thoại đáng nhớ, trong đó không thể không kể đến “thi sĩ chân quê” Nguyễn Bính.

Dưới đây là một số giai thoại “vẽ” nên chân dung Nguyễn Bính.

Những “nhân vật” nữ trong thơ Nguyễn Bính

Ai đã đọc thơ Nguyễn Bính thì không thể quên bài thơ Lỡ bước sang ngang được. Và lại càng không thể quên hình tượng nhân vật người chị (lần này chị bước sang ngang) trong bài thơ này. Lý do đơn giản là, thường thì người ta đưa người yêu (em) đi lấy chồng. Còn ở đây Nguyễn Bính xưng là “chị”, lại có tên tuổi hẳn hoi trong nhiều bài thơ Nguyễn Bính đề “Tặng chị Trúc”. Vậy chị Trúc là ai? Liên quan gì đến “thiên tình sử” sang ngang lỡ bước này? Theo tìm hiểu thì chị Trúc có tên thật là Lê N. Th. (tên viết tắt theo tác giả Bùi Hạnh Cẩn, người anh bà con cô cậu và bạn thân của Nguyễn Bính). Chị Lê N. Th. là một phụ nữ đẹp, có tâm hồn thơ mộng. Chị có chồng là ông chủ một hiệu ảnh ở Hà Đông – Hà Nội. Nhưng hôn nhân này đổ vỡ. Chị đi bước nữa với nghệ sĩ Trúc Đường, là anh ruột Nguyễn Bính. Có lẽ Nguyễn Bính gọi chị Trúc là từ tên anh Trúc Đường mà ra. Hai người thuê nhà ở riêng và quyết tâm lấy nhau. Nhưng rồi duyên lại không thành, Nguyễn Bính đã viết: Rồi đêm kia lệ ròng ròng/ Tiễn đưa người ấy sang sông chị về. Tâm hồn Nguyễn Bính như thế đấy, thương chị dâu không thành duyên với anh, mà viết ra bài thơ Lỡ bước sang ngang nức nở. Bài thơ dài đúng 110 câu, bằng với số ngày (110 ngày) mà anh chị mình đã sống gắn bó trong hạnh phúc.

Bài thơ Cô lái đò (được nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc) cũng là giai thoại có thật về một “bóng hồng” trong thơ Nguyễn Bính. Bài thơ này được Nguyễn Bính viết từ những năm bốn mươi của thế kỷ 20. Tác giả Chu Văn kể lại câu chuyện xúc động này như sau: Cô ta tên là Thoa, đưa đò ngang qua sông Châu thơ mộng. Cô Thoa thường chở nhà thơ qua sông mà không lấy tiền, lại còn đọc thơ của Nguyễn Bính cho khách nghe, có cả những câu thơ mang bóng dáng mình: Xuân đã đem mong nhớ trở về/ Lòng cô gái ở bến sông kia… Sau này, trong một lần qua sông, lúc này Nguyễn Bính đã mất, nhà văn Chu Văn ngậm ngùi báo tin với cô Thoa lái đò: “Bác Bính làm thơ, vẫn hằng ngày đi chợ nhờ cô đưa sang ngang, bác ấy mất rồi cô ạ”. Một tiếng nấc nghẹn, cô Thoa gục mặt trên mái chèo, tiếng lạc đi: “Cháu biết! Giá chết thay được thì cháu tự nguyện chết thay để bác ấy sống, bác ấy làm thơ”. Nói đến đây, nhà văn Chu Văn bàng hoàng “rót” một lời bình: “Chao ôi, ngay cả bạn bè anh Bính, đã mấy ai nghĩ về anh chí tình đến như vậy”.

Và rồi còn nữa, bài thơ Viếng hồn trinh nữ, với những câu thơ đau xé lòng“Có một chiếc xe màu trắng đục/ Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi/ Đem đi một chiếc quan tài trắng/ Và những vòng hoa trắng lạnh người…” là xúc cảm mãnh liệt của “thi sĩ chân quê” với cô gái chết trẻ, đẹp nhất phố Hàng Đào, Hà Nội ngày xưa.

Thiên tuyệt bút “một lời là một vận vào khó nghe”

Nguyễn Bính không chỉ giỏi làm thơ lục bát về “hương đồng gió nội”, mà ông còn có tài dịch thơ Đường rất chuyên nghiệp. Tài dịch thơ Đường của Nguyễn Bính thể hiện ở chỗ ông chuyển những bài thơ Đường theo thể ngũ ngôn, thất ngôn sang thể thơ lục bát – vốn rất mộc mạc, khó dung tải được cái âm hưởng của Đường thi. Không những thế, Nguyễn Bính còn có tài dịch thơ Đường rất nhanh. Giai thoại kể, hôm ấy ở tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ năm, mọi người (gồm nhà thơ, dịch giả, nhà lý luận…) bàn tán về việc dịch thơ chữ Hán. Chủ bút Lê Tràng Kiều bèn thử tài dịch thơ Đường của mọi người với bài thơ Đường: Hoàng mai thời tiết gia gia vũ/Phương thảo trì đường cứ cứ oa/Hữu ước bất lai hoa dạ bán/Nhàn soa kỳ tử lạc đăng hoa. Ai nấy đều cầm bút xóa xóa gạch gạch bài dịch của mình. Nguyễn Bính chẳng giấy bút gì cả, đọc liền một mạch bài thơ dịch của mình: Ao hồ tiếng ếch gần xa/Cỏ thơm ngào ngạt, ngoài nhà mưa rơi/Nửa đêm cái hẹn sai rồi/Quân cờ gõ nhảm làm rơi hoa đèn. Dịch thơ mà lại sáng tạo được như hai câu sau thì thật là tuyệt bút!

Trong quá trình hiện đại hóa thi ca Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện cuộc tranh luận gay gắt giữa hai quan điểm: Một bên chủ trương cách tân triệt để để làm cho thơ mới lạ. Trường phái này có các cây bút chủ chốt như Phan Khôi, Xuân Diệu, Nguyễn Vỹ… với các bài thơ như Tình già, Cây đàn muôn điệu. Và một bên chủ trương giữ lấy cốt cách, cái hồn dân tộc cho thơ, trường phái này tập hợp các nhà thơ dân dã như Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ. Nguyễn Bính cũng âm thầm góp tiếng nói tranh luận của mình, không phải đao to búa lớn, mà bằng một bài thơ lục bát nhẹ nhàng Chân quê. Lúc ấy Nguyễn Bính mới 19, 20 tuổi. Một quan điểm rõ ràng, dứt khoát: Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê… Quan điểm sáng tác này theo suốt cuộc đời thơ tác giả và giúp Nguyễn Bính định hình một phong cách sáng tác độc đáo trong phong trào Thơ mới 1932-1945.

Nguyễn Bính (tên thật là Nguyễn Trọng Bính) sinh năm 1918 và mất năm 1966. Ông giã từ nghiệp thơ ở cõi trần sau một sự kiện mà nhiều người cho là có một sự “linh ứng” giữa ông và đại thi hào Nguyễn Du – Truyện Kiều. Nhà văn Chu Văn kể lại giai thoại này: Cuối năm 1965, nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du, mọi người đều chuẩn bị bài viết cho số báo Tết năm ấy. Nguyễn Bính vốn coi cụ Nguyễn Tiên Điền như là vị tổ sư nên không thể không viết về cụ. Chỉ trong một đêm, Nguyễn Bính âm thầm, lặng lẽ viết một bài thơ theo hình thức “tập Kiều” (lấy một câu Kiều và sáng tạo một câu của mình). Khi đưa bài đến tòa soạn, mọi người khen hay nhưng đùa với Nguyễn Bính về thân phận, vì ông đã “tập Kiều” câu thơ “Một lời là một vận vào khó nghe”. Nguyễn Bính chỉ cười và cho là các bạn văn của mình mê tín. Đúng ba mươi Tết năm ấy, Nguyễn Bính ra đi vĩnh viễn.

Cảm kích trước chân tài, người viết bài này xin viếng tặng ông “nhà thơ chân quê” Nguyễn Bính mấy dòng thơ lục bát để tỏ lòng mến mộ:

Thôn Đoài còn nhớ thôn Đông

Cây đa bến nước còn mong người về

Cánh cò trắng mượt bờ đê

Van em nỡ phụ lời thề cỏ may

Sang ngang một chuyến đò đầy

Xót xa bát đũa tháng ngày mồ côi

Trò chơi tiền lá mồng tơi

Sánh so sao được tiền đời hỡi em

Khóc cười đất Huế mưa đêm

Trời Nam hành khúc một miền xanh mơ

Nếp nhà còn một vườn thơ

Hoa chanh vẫn nở giữa bờ chân quê!

18/9/2025

Trần Ngọc Tuấn

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Nguyễn Kim Thanh với hương đồng gió nội miền Tây

Trong mỗi chúng ta ai chẳng có một quê hương để thương để nhớ. Với nhà văn Nguyễn Kim Thanh thì đó là cả một vùng ký ức với bao kỷ niệm vui buồn nhung nhớ. Đó là cảnh sắc quê nhà với hai mùa mưa nắng, là tiếng bà ru cháu, mẹ ru con, là lời ca điệu lý vang vọng bên những dòng kinh. Đó là bến nước, dòng sông, là những giề lục bình trôi với bông tim tím, hay bông điển điển vàng, bông súng mùa nước nổi, là con cá lòng tong, con cá linh, cá rô, con tôm càng quẫy đạp. Đó là những phận người lưu lạc, bất hạnh trong chiến tranh hay trong cuộc mưu sinh nhưng không bao giờ lùi bước bi kịch cuộc đời. Họ vẫn luôn lạc quan yêu đời, vựợt lên mọi gian nan thử thách khi cuộc sống trở nên “không thể chịu được nữa”. Tập truyện ngắn và tản văn “Mùa cá lòng tong” của chị là bức tranh sống động của miệt quê Nam Bộ mang vẻ đẹp hương đồng gió nội như một hành trang theo mỗi bước chân chị đã qua.

Nhà văn Nguyễn Kim Thanh với các bút danh: Duy Anh, Kim Thanh, Huỳnh Duy, Hưng Phú đã trình làng nhiều tác phẩm in chung và bốn tác phẩm in riêng. Nhiều sáng tác của chị đã được đăng trên các Báo, Tạp chí Văn nghệ Trung ương và địa phương. Hiện nay chị là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Cần Thơ, phụ trách Tạp chí Văn nghệ Cần Thơ. Công việc nhiều và hoàn cảnh còn khó khăn nhưng đêm đêm chị vẫn miệt mài trên mỗi trang viết. Tình yêu văn chương đã nhen nhóm trong lòng chị từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm. Đôi khi những bài thơ, những trang viết chỉ “một mình mình biết, một mình mình hay”. Nhưng từ khi là hội viên Phân hội Văn học thuộc Hội văn học nghệ thuật tỉnh Kiên Giang rồi chuyển về Cần Thơ và qua các lớp bồi dưỡng ở các trại sáng tác, lý luận văn học, rồi đi thực tế nhiều chuyến thì những truyện ngắn, tản văn của chị càng “nổi gió” hơn, ghim được vào trái tim người đọc.

Đề tài những truyện ngắn, tản văn của Nguyễn Kim Thanh phần lớn đều xoay quanh số phận người miền Tây trong cuộc sống đời thường. Nhân vật thường là những người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh ở miền quê hay phố thị khác nhau. Con người, cảnh vật trong truyện hiện lên rất sống động qua cách kể, cách tả, cách dẫn truyện khá hấp dẫn nhiều lớp lang, nhiều tình tiết.

Với tập truyện ngắn và tản văn này, chị đem đến cho người đọc cái nhìn đa chiều về con người và cuộc sống của cư dân miền Tây Nam bộ bằng một giọng văn kể chuyện tâm tình với nhiều chi tiết sống động. Mỗi truyện ngắn, mỗi tản văn là một lát cắt, là một clip quay cận cảnh về đời sống, cảnh sắc vùng đất đầy nắng gió khi con nước lớn, ròng. Người đọc sẽ bắt gặp đâu đó hình bóng quê nhà với những con người dễ thương dễ mến như: ông Mười Sẹo, chú Hân, chú Thi, cô Út, cô Nguyệt, cô Sinh, cô Ngần, bà Hai Qườn trong “Chuyện nhà ông Mười Sẹo” mà ông Mười Sẹo là người đáng thương hơn đáng trách. Người đọc khó quên tiếng chửi của Mười Sẹo, nó khác với tiếng chửi cả làng Vũ Đại của Chí Phèo, “Ổng chửi bầy trâu là chủ yếu nhưng lũ trâu có nghe lời ông chửi tụi nó hay không mà cứ ốm o dần đi”… Hay “Chuyện ở xóm Miễu” ta bắt gặp một lão Tam với biết bao người đàn bà qua tay lão mà “mụ Hinh vẫn khoái lão Tam ra mặt”. Lão từng hại ba má lão, hại các đồng chí của ba má. Lão chính là thằng Ức “đã chết trong lòng dân xóm Miễu”. Lão chỉ uống rượu và bạn với con chó thôi, và lão đã tự biết mình có tội với dân. Nhưng tình thương con vẫn bùng cháy trong huyết quản của lão. Ở đây ta còn bắt gặp một ông Ba Giỏi gốc miền Trung chạy vào Rạch Sỏi (Kiên Giang) sinh sống, có cảm tình với cách mạng, được bà con yêu mến nhưng có thằng con nghịch tử bán đứng cả ba má và đồng đội, và ông đã “hộc máu lên vì uất ức, ông không dám nhìn vào mắt các đồng chí của mình”. Các nhân vật xóm Miễu hiện lên qua lời kể của chị rất có duyên, đan xen giữa các nhân vật làm người đọc như “vừa quen vừa lạ” như sờ thấy được. Nào Bà Bảy, thằng Xứng, Sa Sang, nào bác Tấn, chị Mười, lão Tam và bà con xóm Miễu luôn chan hòa tình làng nghĩa xóm…  Những trang viết như thế cứ ám ảnh người đọc, nhẹ nhàng mà sâu lắng đậm chất đời và tính nhân văn.

Ở các truyện “Hương cỏ mật”, “Lá bùa hộ mệnh”, “Lục bình trôi”, “Lưng chừng triền dốc”, “Luôn có một vì sao theo dõi anh” … Nguyễn Kim Thanh vẫn giữ giọng kể chuyện tâm tình để khắc họa tính cách nhân vật, tạo điểm nhấn cho mỗi truyện. Và tác giả kết thúc truyện theo hướng “mở” để  “người đọc cùng sáng tạo”. Không gian và thời gian truyện luôn mở rộng biên độ. Từ chiến tranh chống Mỹ đến hòa bình lập lại, từ miền Tây tỏa đi Sài Gòn, Tây Nguyên, miền Trung, miền Bắc… nhưng nhân vật và ngôn ngữ truyện rất đậm chất Nam Bộ. Từ thành phố Cần Thơ, được xem là Tây đô của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bàn chân chị đã qua hầu hết các nẻo đường. Tới đâu chị cũng ghi lại những cảnh, những người, những nét đặc trưng của vùng đất đó. Từ bông hoa ngọn cỏ, trái cây, bông súng, lục bình, bông điên điển tới cánh cò, con đò, dòng sông, cầu tre lắt lẻo, cầu khỉ gập ghình khó đi hay bến nước, ao hồ, câu ca điệu lý… đều ùa vào mỗi trang văn. Mỗi truyện của chị đều ánh lên vẻ đẹp nhân văn như hơi thở cuộc sống thường nhật vậy. Tất cả đều thấm đẫm tình người với những nỗi đau, niềm vui của thân phận con người, đôi khi yếu đuối nhưng cũng rất kiên cường, cho dù cuộc sống xô đẩy họ đối mặt với những nghịch cảnh của gia đình, xã hội nhưng ở họ không hề tắt niềm tin và hy vọng. Những góc khuất tận cùng của con tim nhân vật được chị diễn đạt như những lời tâm tình thỏ thẻ, khiến người đọc dâng lên một niềm cảm thương sâu sắc. Tôi có cảm giác Nguyễn Kim Thanh như hóa thân vào nhân vật, vào dòng chảy của ký ức với bao kỷ niệm vui buồn mà con tim thôi thúc. Quá khứ, hiện tại và tương lai cứ thôi thúc chị phải viết ra như trả món nợ cho đời.

Ở những tản văn, chị lại đưa người đọc trở về tuổi thơ với quê hương thân thương trìu mến qua những trang miêu tả đậm chất thơ. Đó là cảnh “Má trồng rau ngày Tết” và “Tiếng rao bánh tráng ngày xuân”. Và đây là cả một “Vùng ký ức” với bao âm thanh, sắc màu của “Ninh Kiều ngày mới”, “Nỗi nhớ mùa trăng”, “Nỗi nhớ dòng sông”, “Mùa cá lòng tong”. Và những lời thầy dạy vẫn văng vẳng bên tai. Tất cả là một tình yêu quê hương nồng thắm. Những trang viết về mẹ, gia đình, bè bạn, tình thầy trò, tình yêu cứ ùa vào ký ức làm sáng lên niềm tin và lòng thủy chung bền chặt. Trong mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương để thương để nhớ, và nếu ai đó “Quê hương nếu ai không nhớ/Sẽ không lớn nỗi thành người” (Đỗ Trung Quân). Nhà thơ người Nga Ilia Erenbua đã viết: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào đại trường giang Vonga. Con sông Voga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Nhưng không phải ai cũng có được tình yêu quê nồng nàn, tha thiết như thế. Tình yêu quê hương làng xóm, yêu con người miền Tây dân dã, mộc mạc trọng nghĩa khinh tài, nhân ái cứ lớn dần trong chị. Đó chẳng phải là lòng yêu dân tộc và Tổ quốc sao? Ta hãy thưởng thức món cá lòng tong kho tiêu, cá lòng trong ăn lẩu có bông súng lục bình, khô cá lòng tong chiên giòn của má trong những ngày mưa dầm nắng lửa càng cảm thấy vị mặn mòi đậm tình quê hương. Chị tả cảnh má Mải bỏ lưới xuống xuồng bắt cá lòng tong khá điệu nghệ: “Năm nào cũng vậy, từ tháng mười một âm lịch cho tới tháng tư năm sau mùa cá lòng tong về. Cá lăn tăn khắp sông rạch… Những ngày vào mùa cá khi bắt đầu con nước lớn, má Mải bỏ lưới xuống xuồng, Bà bơi xuồng tới đầu dòng sông hay đầu các con kênh và bắt đầu thả lưới… Bà sử dụng hai đoạn tre nhỏ cắm xuống nước nép bên đầu kênh hoặc đầu vàm và bắt đầu giăng lưới”. Và đây là tiếng rao bán các loại bánh gần Tết ở vùng quê vui làm sao: “Bánh tráng nhúng, bánh tráng mè đen, bánh tráng ngọt nước cốt dừa, bánh tráng khoai mì… có luôn bánh phồng nếp ngọt, lạt đây bà con cô bác ơi”. Rồi hình ảnh chợ nổi miền Tây - nét đặc trưng vùng sông nước Nam Bộ không thể thiếu trong tản văn của chị. Chỉ cần nhìn cây “bẹo” du khách đã biết gì? Treo gì bán nấy chăng? Và chị đã cho biết: “Làm ăn khấm khá treo tàu lá dừa nước, bán ghe nhỏ, mua ghe lớn hơn. Làm ăn không được hoặc gia cảnh không đi ghe được nữa thì cũng phải treo tàu lá dừa nước… có cái treo mà không bán đó là quần áo, đồ sinh hoạt của người thương hồ…”

Mỗi mùa trăng, mỗi khi con nước lớn ròng, ghe xuồng tấp nập trên sông, nhất là những ngày giáp tết. Tình yêu cũng nảy nở trên sông, trên ghe xuồng những đêm trăng sáng. Tiếng đờn hòa tấu, lời vọng cổ xuống “xề” cùng với tiếng cụng ly cười nói cứ văng vẳng trên sông từ khuya tới sáng… Miền Tây miệt vườn Nam Bộ là thế đó. Nó hiện lên trên mỗi trang văn của chị thật đáng yêu biết dường nào.

Chỉ với mười sáu truyện và tản văn, Nguyễn Kim Thanh đã cho người đọc thưởng thức bao vẻ đẹp về con người và cuộc sống nơi thôn dã bình lặng hay phố thị đông vui của miền Tây Nam Bộ. Đó là một bức tranh vừa mang tính tổng thể vừa đặc tả những nét đặc trưng nhất của vùng đất này với bao hương đồng gió nội đáng yêu.

Ngày nay giữa những ồn ào của của lối sống công nghiệp thời hội nhập, đọc những truyện ngắn và tản văn của chị ta như đang lắng nghe lời tâm sự của những con người, những mảnh đời khát khao, hy vọng vươn tới một hạnh phúc trọn vẹn. Xã hội ngày càng phát triển, nhưng cuộc sống cũng còn nhiều khó khăn, trăn trở, thì vẫn còn đó những mâu thuẫn, những đối lập nảy sinh. Nhưng ta tin rằng cái cao cả, thiện lương mà tác phẩm đem lại luôn là bài ca chiến thắng cái xấu, cái ác.

Bằng một giọng kể hồn nhiên, đôn hậu, từ ngữ mộc mạc, những phương ngữ Nam Bộ dùng đúng lúc đúng chỗ, chị đã chinh phục được trái tim người đọc bằng những câu chuyện đẹp, những tản văn hay đậm chất tình, chất thơ. Hy vọng đường văn của Nguyễn Kim Thanh còn tiến xa hơn nữa. Xin trân trọng giới thiệu “Mùa cá lòng tong” cùng bạn đọc.

21/9/2025

Lê Xuân

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Những ký tự dắt tay nhau đi về phía hoàng hôn

Sáng 23/9/2025, Nhóm “Bạn văn và Miền chữ” sẽ tổ chức ra mắt cuốn sách Chữ gọi mùa trăng của nhà thơ Triệu Kim Loan – hội viên Hội Nhà văn TP.HCM. Bằng giọng văn tha thiết và sự đồng cảm sâu xa, Nguyên Bình đã dẫn dắt độc giả bước vào thế giới thi ca trong tập thơ mới này. Bài viết không chỉ soi chiếu những giá trị ngôn ngữ, cảm xúc và chiều sâu nhân bản của thơ, mà còn làm nổi bật sự chín muồi trong hành trình sáng tạo của tác giả. Một góc nhìn đằm thắm, giàu trải nghiệm để người đọc thêm trân trọng thi phẩm và tình yêu thơ ca.

(Cảm nhận tác phẩm “Chữ gọi mùa trăng”)

Nhà thơ Triệu Kim Loan đưa tôi vào không gian thơ đằm thắm mà đầy ắp những suy niệm mới mẻ, câu chữ tinh khiết như linh hồn thiên thanh, cấu trúc ngôn ngữ trong mỗi bài thơ thể hiện sự tìm tòi nghiêm túc hướng về xu thế hiện đại. Đó là đôi nét phác họa về hành trình cảm thụ, giao thoa với tác phẩm CHỮ GỌI MÙA TRĂNG do Nhà xuất bản Hội Nhà văn cấp phép ấn hành 2025. Có thể nói, thi tập mới của nhà thơ Triệu Kim Loan (TKL) là nơi cất giấu nội hàm tư duy bao quát về cuộc sống, lại là nơi phơi bày sự tinh túy về thi ý, thi ngôn, thi ảnh sau năm tác phẩm chị xuất bản khá thành công. Ngôn ngữ thơ Triệu Kim Loan càng ngày càng đẹp, mỗi bước đi trên con đường sáng tác ngày càng vững vàng, đầy thuyết phục.

“Chữ gọi mùa trăng” là bài thơ đầu tiên trong tập thơ CHỮ GỌI MÙA TRĂNG (CGMT). Thể loại thơ - văn xuôi được chị sắp đặt ấn tượng, và quan trọng hơn là bài thơ chủ đề chứa đựng nội dung khái quát, phạm vi suy tưởng kỳ vĩ với tâm thế trưởng thành, điểm đạm và tự tin đến mức hồn nhiên. Bài thơ xứng đáng là thông điệp, là khát vọng, là trái tim của thi tập. Phải chăng đó là kết quả của niềm say mê, sự trải nghiệm, trách nhiệm sáng tác của một nhà thơ - nhà giáo - Th.Sĩ văn chương. Trong bài thơ tiêu biểu này, Triệu Kim Loan nêm chặt nhiều liên tưởng thú vị “Những ký tự dắt tay nhau đi về phía hoàng hôn”, lồng trong một không gian thơ bát ngát, thiêng liêng:“Bên núi đồi trập trùng miền trung du đất Tổ”, nơi tác giả đau đáu trút hết tâm tư, mở rộng cửa trái tim thơ để: “gieo cạn yêu thương lên cánh đồng gió chướng” rồi trở về với niềm tin cuộc sống “xanh mướt như đời”:

Ngước lên trời cao giữa đêm đợi bình minh.
Muôn ngàn vì sao không vì ai cứ sáng. Em đã
gieo cạn yêu thương lên cánh đồng gió chướng.
Mầm thương yêu lại xanh mướt như đời.

(Chữ gọi mùa trăng)

Tôi (Nguyên Bình) xin phép đi sâu vào mạch thơ đầy cảm xúc và tinh tế trong CGMT, du hành để khám phá đáy thẳm của tâm hồn đa cảm cộng với cảm thức thơ đã chín muồi suốt hành trình suy nghiệm Chữ gọi mùa trăng.

Có thể nói, khả năng dụng ngôn đã vượt thoát cấu trúc ngữ pháp bài bản, truyền thống trong quá trình sáng tạo của nhà thơ. Soi chiếu mỗi câu thơ dưới đây, ta dễ dàng nhận thấy hầu như câu nào cũng lấp lánh thăng hoa, “thơ đáng là thơ” với bàn tay như có phép mầu, TKL tạo ra “hoa văn ngôn từ” độc đáo, ngay trong thể loại lục bát:

Nhóm bình minh lúc phân thân
Vòng tay người quấn những chần chừ em
Mình xây cổ tích nhiều đêm
Trăng là nhân chứng cùng em dịu dàng...

(Hoài niệm biển)

Các bạn hãy kiên nhẫn cho phép tôi (dài hơi) dẫn thêm một bài thơ năm chữ, (quá tam ba bận), để chứng minh rằng, dưới ngòi bút của TKL, không gian văn hóa Việt cổ kính cũng là điểm hẹn cho ngôn từ nhảy múa cùng với cảm xúc và cung bậc hiện đại một cách tự nhiên:

Lòng vẫn nguyên ngọc bích
Cốm Làng Vòng thương sen
Anh có còn anh cũ?
Em giờ vẫn em nguyên

(Ngọc lan đêm)

Thành công của một thi tập là sự gắn kết những bài thơ tạo thành một không gian thi vị đặc trưng chứa đựng hơi thở của riêng tác giả, nơi mà tâm thức thơ tuôn trào dòng suối thơ đồng điệu, mát lành chứ không phải là những ý tưởng cóp nhặt. TKL đã làm chủ cái không gian ấy, làm chủ căn nhà thơ của mình. Ta có thể khẳng định chủ điểm trên khi phân tích tác giả sử dụng thể thơ lục bát để trần tình với chính mình trong dịp tìm về với nét văn hóa truyền thống. Chị khéo léo nắm tay chúng ta cùng chị thưởng thức một làn quan họ người ơi người ở đừng về: Giấc đêm trở lại quê nhà/ Xoan vừa chạm ngõ tháng ba hội làng/ Lí lơi câu ghẹo bên đàng/ Lá răm lúng liếng bước sang vườn trầu (Giấu đêm)

Thế nhưng, ngày bước chân lên cao nguyên Lang Biang, thăm thành phố Đà Lạt mộng mơ, thơ chị lại như ru hồn ta say đắm với chiều sâu xúc cảm bằng nét phác thảo hoang sơ, sau những quan sát và chiêm nghiệm tinh tế: Hoàng hôn khói/ Sương mềm như lụa/ Hồ thẳm sâu/ Soi mắt đóm đang cười. (Hẹn em về cao nguyên). Trong khung cảnh đó, nhà thơ diễn đạt nỗi nhớ rất riêng với một tâm thế tan chảy vào không gian thực tế, sẻ chia nỗi niềm cùng một địa danh thanh lịch và ngay cả với nhánh cỏ lẻ loi. Nỗi nhớ ấy mênh mang dịu dàng tan loãng vào âm thanh của chuông nhớ diệu vợi: Mỗi giây phút xa anh/ Đà Lạt thành nhật kí./ Phím chữ ngân như nốt nhạc không lời/  Nỗi nhớ ấp iu như giọt sương nép mình bên nhánh cỏ/ Dịu dàng tan vào chuông nhớ chơi vơi. (Dịu dàng tan).

Thăm thú miền biên cương đang dậy sóng trong CGMT, ta phát hiện nghìn trùng cách ngăn biển đảo và đất liền, giữa anh và em được TKL hóa giải bằng mật ngôn của sóng. Thơ như từng đợt xao động của sóng âm từ khơi xa dội về bến đợi. Hai bờ cách ngăn được thơ nối liền, chung thủy và thiết tha: Lá thư này anh viết giữa mùa trăng/ Trăng đẹp lắm như em đang mùa chín/ Anh khẽ khàng đợi khuya nhờ cánh sóng/ Mang yêu thương tình tự đất liền em. (Lá thư cánh sóng).

Nàng thơ soi chiếu nội tâm chính mình, tái hiện hoài cảm với một cảm xúc đẹp, thánh thiện trong sự cào xé của nỗi đau đã thấm buốt: “Câu thơ em mắc cạn/ Giằng co giữa lở bồi/ Trái tim vừa thấm buốt/ Có còn nguyên bồi hồi”? (Mơ một ngày nắng hát). Nỗi hụt hẫng trong tình yêu, hạnh phúc được nhà thơ lý giải nhẹ nhàng, chẳng hề xốc nổi, không một lời oán trách. Đó là dấu hiệu nhà thơ quá đủ trưởng thành để xác định rằng, đau thương cũng là một kỷ niệm đáng nhớ trong đời: “Tự giải phẫu nỗi đau/ Thương hình hài goá bụa/ Chút son môi không đủ từ trường/ Thì buông nhé/ Bình an - độ lượng/ Dẫu đò tình xanh lá bạc vôi*. (Hồng gai). Sự chịu đựng âm thầm, khi nếm vị đắng của tình yêu cũng chân thành như khi đang yêu: Những đêm dài/ Từ xa, ai gọi/ Trái tim đau không tự vá nổi mình/ Em đã yêu thật vội/ Uống say mềm/ Giọt mật của dối gian (Độc thoại).

Bên cạnh đó, TKL, với sự giản dị của một tâm hồn độ lượng ngát xanh, chị đã viết những câu thơ thật thà đáng yêu, thể hiện khát vọng gắn kết lứa đôi rất duyên dáng. Chắc hẳn tôi và các bạn khi đọc “Trầu xanh vội trắng/ Tôi và một … thì ai cũng đoan chắc sẽ là một… tôi. Nhưng không, thương quá câu thơ: “Ước gì mưa thuận gió hoà/ Trầu xanh vôi trắng/ Tôi và một ai..”. (Một tôi). Dễ thương đến độ tôi bất giác mỉm một nụ cười.

Bài thơ dưới đây không còn là một cảm xúc thời sự mà là một tiếng thét xé ruột gan. Tôi đau đớn và các bạn cũng đau đớn. Phải chăng đó là sứ mệnh của thơ, thơ cứu rỗi và thức tỉnh lương tri con người:

Mẹ ơi ở đâu
Có nghe con gọi
Chiều muộn từ lâu
Con thèm bữa tối...

Mẹ ơi mẹ ơi
Con nhớ bạn bè
Hẹn rằm tháng tám
Rước đèn kéo xe

Con nằm trong đất
Sâu lắm mẹ ơi
Ước gì cỏ mật
Nâng con lên trời...

(Làng Nủ)

Tôi có dụng ý để dành hai bài thơ mà tôi cho là trang trọng nhất và chân thành nhất đặt ở cuối bài viết.

Bài thứ nhất thể hiện sự hiếu kính muôn đời dành cho bậc sinh thành của tác giả:

Lớn lên từ gánh hàng rong
Mẹ tảo tần ngày mưa tháng hạn
Con chữ thẹn thùng neo thầm nụ nhớ
Phút áo hoa chạm gió sân trường
Ước mơ xanh ủ tàu lá cọ
Mưa đầu mùa
Có giọt biếc trong nhau

(Trổ biếc hương quê)

Và bài thứ hai dành cho các chiến sĩ Điện Biên đã ngã xuống trên đồi A1:

Họ nằm lại như những khúc lặng đếm thời gian.
Những mảnh xương rời vẫn nằm im trong màu
xanh áo trận. Những nén hương thơm nối âm
dương giữa người còn – mất. Hoa lá cỏ cây từ
xương máu luân hồi”

(Những người nằm lại đồi A1)

Nét đẹp và sự thành công của thi tập CGMT đã được nhà văn Kao Sơn giới thiệu đầy đủ trong lời tựa. Phần bạt cuối sách cũng có hai bài viết của nhà thơ Hương Thu và Phan Ngọc Quang. Tôi xem phép cảm nhận đôi lời với tình cảm thân thiện dành cho TKL, một “muội” rất dễ mến luôn gọi tôi là huynh. Và đó là niềm vui mà thơ mang lại.

Chúc muội TKL ra mắt, phát hành thành công tác phẩm thơ thứ sáu CHỮ GỌI MÙA TRĂNG của mình.

Bà Rịa, 20/9/2024

Nguyên Bình

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

  Nhà văn Mai Văn Tạo – Viết từ tấm lòng sâu nặng để tri ân nguồn cội Vùng đất miền Tây Nam Bộ đã luôn ghi khắc văn nghiệp của các nhà văn...