VĂN THƠ NHẠC
Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026
Thơ tình Chế Lan Viên
Lâu nay, khi nói hay viết về Chế Lan Viên, người ta thường chỉ biết Chế Lan Viên, một nhà thơ chính luận, thiên về triết lý, triết luận. Điều đó đúng, song, chưa đủ.
Động hình mới của văn xuôi chiến tranh qua những phác thảo rời
Động hình mới của văn xuôi
chiến tranh qua những phác thảo rời
Chiến tranh là đề tài giàu truyền thống trong văn học
hiện đại Việt Nam. Tính lịch sử xã hội của nghệ thuật ngôn từ cũng thể hiện rất
rõ qua tâm thế tiếp cận, lối viết của nhà văn và tình cảm, nhận thức của bạn đọc ở
mảng sáng tác này. Mối tương quan sâu sắc giữa những chuyển biến văn hóa
và sự biến đổi trong đề tài chiến tranh từ sau năm 1986 đặt ra yêu cầu
khảo sát và phân tích để có thêm cơ sở nhận diện và định giá tiến trình
văn học thời Đổi mới. Bài viết bước đầu đưa ra một cái nhìn khái lược về bước
ngoặt chuyển mình của văn xuôi chiến tranh, cùng với đó là những biến chuyển bề
sâu của văn hóa, văn học đương đại Việt.
1. Cảm quan mới trong sinh quyển mới
Khép lại cái nhìn nặng màu sắc chính trị hóa, lí tưởng hóa
theo kiểu phân tuyến ta – địch, thắng – thua, chính nghĩa – phi nghĩa của văn học
cách mạng, độ lùi thời gian cùng với những thay đổi trong sinh quyển văn hóa,
xã hội giúp người viết lật trở, chiêm nghiệm chiến tranh từ lăng kính nhân văn,
nhân bản gắn với những giá trị phổ quát của nhân loại. Chiến tranh hiện hình
trên trang viết hôm nay chủ yếu từ cảm quan của nỗi buồn, của những suy tư,
trăn trở trước quá khứ, hiện tại và cả tương lai của “mình” và “họ”. Con người,
qua cuộc chiến, với đầy những bầm dập, thương tổn, những dư chấn nặng nề cả thể
xác lẫn tâm hồn, vì thế “không một ai muốn mình sẽ tiếp tục là một con số cộng
thêm trong phép thống kê xương máu” (Chiến tranh và phép thống kê – Bích
Ngân). Hiện thực chiến tranh và hậu chiến đâu còn là “chiếc ráng chiều quá đẹp”
như cách ví von của Nguyễn Minh Châu mà xám một màu buồn rợn bởi những đau
thương, mất mát, những mảng sáng tối xô bồ khiến không ít quân nhân, thường
nhân cả hai bên chiến tuyến – những người đã bị chiến tranh vô tình hay cố ý
kéo vào – đều không khỏi bang hoàng, suy sụp, thậm chí mất khả năng sống bình
thường.
Nỗ lực hiện đại hóa văn xuôi của đội ngũ nhà văn hôm nay thể
hiện rõ nhất ở chỗ họ mạnh dạn đi vào những cạnh khía nhạy cảm của chiến tranh
với cái nhìn trực diện, phản tỉnh. Đó là những trang viết lạ lẫm, đầy ám ánh
nhưng cũng nhiều mê hoặc về đề tài da cam (Tiếng lục lạc – Nguyễn Quang Lập, Mười
ba bến nước – Sương Nguyệt Minh, Cơ bản là buồn – Nguyễn Ngọc
Thuần,…). Hai cuộc chiến tranh biên giới cũng là hai thỏi nam châm xoáy hút tâm
lực, bút lực của người viết. Hơn ba thập niên, nhất là khoảng thời gian gần 20
năm đầu thế kỉ XXI, xuất hiện hàng loạt tiểu thuyết viết về chiến tranh biên giới
Tây Nam: Dòng sông của Xô Nét (Nguyễn Trí Huân), Chiến tranh
không phải trò đùa (Khuất Quang Thụy), Dòng sông nước mắt (Thanh
Giang), Biên giới, Bên rừng thốt nốt, Đất không đổi màu, Người
đàn bà khóc mướn (Nguyễn Quốc Trung), Ngôi chùa ở Pratthana, Khoảng
rừng có những ngôi sao (Văn Lê), Thế giới xô lệch (Bích
Ngân), Bên dòng sông Mê (Bùi Thanh Minh), Miền hoang (Sương Nguyệt
Minh), Hoang tâm (Nguyễn Đình Tú), Mùa xa nhà (Nguyễn Thành
Nhân), Rừng đói (Nguyễn Trọng Luân), Chuyện Lính Tây Nam (Trung
Sỹ), Mùa chinh chiến ấy (Đoàn Tuấn), Viết từ hành tinh kí ức (Võ
Diệu Thanh)…; chiến tranh biên giới phía Bắc: Xác phàm (Nguyễn Đình
Tú), Mình và họ (Nguyễn Bình Phương),…
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những nhà văn trải nghiệm nó, dù
trực tiếp hay gián tiếp, cũng luôn cảm thấy mình mắc nợ những ân ưu ngày cũ. Dư
âm, dư chấn của cuộc chiến cứ mãi đeo đẳng, khiến họ phải viết ra để nhớ lại, sống
lại một thời gian khổ, bi tráng mà bản thân, bạn bè, dân tộc đã sống qua. Chuyện
Lính Tây Nam được Trung Sỹ viết trong tâm thế vượt lên chính mình: trực diện
nhìn lại cuộc chiến tranh trên đất Campuchia để soi rọi một thời bi hùng của thế
hệ, đất nước mình, để đưa ra ánh sáng sự thật trần trụi của cái lò lửa địa ngục
phi nhân ấy. Bằng cái nhìn của người trong cuộc, người đi qua ngoái lại, nhà
văn đã khiến chúng ta kinh ngạc bởi hiện thực đa chiều, chân thực, tươi nguyên
và sinh động đến rùng mình về một chiến trường K còn ít được biết đến trong văn
học, khá xa lạ với độc giả trong và ngoài nước, vì thế có sức lay động lớn. Dù
không gọi đích danh, nhưng lần đầu tiên trong văn học chính thống, quân xâm lược
phương Bắc cũng đã được điểm mặt chỉ tên. Đó là bọn Khựa (Mình và họ),
là giặc Khợ (Xác phàm). Cả hai cách gọi này đều cho thấy thái độ căm
thù, khinh bỉ của tác giả trước hành động bất nhân, phi nghĩa của kẻ thù, đồng
thời tạo một khoảng cách vừa đủ để hiện thực lịch sử với hiện thực văn chương
soi chiếu lẫn nhau nhưng không trùng khít lên nhau. Dụng ý nghệ thuật đó giúp
người viết tự do thể nghiệm, sáng tạo và tỏ bày những suy cảm về lịch sử, về
nhân sinh, thế cuộc.
Là một cô giáo trẻ, sinh ra và lớn lên ở An Giang – nơi chịu
nhiều tổn thất, tang thương do Khmer Đỏ gây ra, từ một “kẻ ngoại cuộc”, Võ Diệu
Thanh đã vô tình bị đẩy vào cuộc chiến. Tác giả trải nghiệm chiến tranh qua lời
kể của những nạn nhân trong cuộc thảm sát Ba Chúc (Tri Tôn): chị Sương, cô Năm
Chậm, mợ Tám, cô Tư Chỉnh, chú Tư Long, anh Út Nam, thím Ba Tệt,… tất cả đều chịu
những sang chấn tâm lí nặng nề, dai dẳng từ nạn diệt chủng kinh hoàng cách đây
gần bốn thập kỉ. Bằng cách viết đầy tính chất “điền dã” của văn học dân gian, tội
ác man rợ của Pol Pot phơi bày trong cuốn sách Viết từ hành tinh kí ức khách
quan, chân thực đến đáy. Có cảm giác người viết luôn bị giằng xé giữa nhiều
thái cực, trạng huống đối lập: lãng quên – hoài nhớ, ám ảnh – an yên, căm phẫn
– tha thứ… để rồi cuối cùng phải chọn một giải pháp trung dung: hòa đồng, cộng
cảm lòng mình với tâm tình của người trong cuộc, đưa tất cả phức hợp nhận thức,
tình cảm ấy lên trang giấy một cách chân xác, không tô vẽ, phóng đại, để quá khứ
phục sinh trong hiện tại dưới một hình hài khác, qua một lăng kính khác. Đó
cũng là cách tác giả tự đối diện, tự giải quyết những xung đột, mâu thuẫn trong
lòng mình, tự trả lời những câu hỏi, những nợ nần của quá khứ, làm người hòa giải
quá khứ và hiện tại. “Mấy mươi năm đã qua, tôi ôm những miền kí ức của ai?
Không phải của tôi, mà sao nặng nề quá đỗi. Nó thường đáo lại trong tôi qua cơn
ác mộng, ví như một cuộc tử hình, một cuộc đối đầu trực diện và xả súng vào
nhau. Như chính tôi là người làm nên những đau đớn đó”. Bằng cách ấy, người viết
cũng đã giải huyền thoại về sự đau thương mà vĩ đại, vô danh mà trường cửu của
dân tộc mình: “Thành ngữ có câu tấc đất tấc vàng, tôi cảm giác tấc đất là tấc hồn
máu xương của nhiều đời nhiều kiếp người xưa và cả người nay. Chính những tích
tụ đó làm nên linh hồn của từng vùng đất, để dẫu cho binh biến hãi hùng hay
thiên nhiên khắc nghiệt, con người vẫn cứ muốn sống ngay trên chính mảnh đất
quê hương mình”. Tâm cảm, động lực cầm bút của nhà văn miền Tây Nam Bộ này có
nhiều điểm tương đồng với Bảo Ninh trong tuyệt phẩm Nỗi buồn chiến tranh gần
30 năm trước. Đây là minh chứng về sức sống của đề tài, tính truyền thống và hiện
đại của văn học chiến tranh trong văn mạch dân tộc. Sáng tác của Võ Diệu Thanh,
Nguyễn Ngọc Tư cùng với đó là những thế hệ trẻ hơn nhiều (Nguyễn Thị Kim Hoà với Đỉnh
khói, Trần Thị Tú Ngọc với Ngụ ngôn tháng tư, Huỳnh Trọng Khang với Mộ
phần tuổi trẻ, Văn Thành Lê với Vỏ anh hùng,…) đã đề xuất, bổ sung vào
kinh nghiệm chiến tranh, kinh nghiệm viết, đọc của thế hệ đi trước, kiến tạo bản
sắc cho thế hệ mình(1). Sự tiếp nối đội ngũ: những người cầm bút trong thời chiến,
những tác giả trưởng thành thời bao cấp, thời đổi mới, lớp nhà văn thành danh đầu
thế kỉ XXI cho thấy chiến tranh vẫn còn là miền đất giàu tiềm năng, hứa hẹn nhiều
khởi sắc cho văn học nước nhà.
Những sáng tác của đội ngũ nhà văn ở hải ngoại về đề tài chiến
tranh cũng mang lại sinh khí mới cho văn học đương đại. Có thể quan điểm, thái
độ của người viết chưa được số đông đồng thuận; nhưng những tình cảm chân thật,
lối viết mới mẻ về cuộc chiến trong quá khứ của họ là điều đáng trân trọng,
giúp các tác giả trong nước có điều kiện đối chứng để thay đổi cách nhìn, cách
viết. Tập truyện Người tị nạn của Viet Thanh Nguyen, một người Mĩ gốc
Việt, sau nhiều trắc trở, cũng đã được Nhà xuất bản Hội Nhà văn phát hành
vào đầu năm 2018 là một minh chứng. Cuốn sách như là chứng nhân cho một thời đoạn
lịch sử mà mỗi người Việt Nam dù ở đâu cũng không được quyền quên lãng.
Sự chuyển hướng trong cảm hứng, cùng với đó là bút pháp, hiện
diện ngay từ nhan đề của truyện. Tiểu thuyết: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo
Ninh), Ăn mày dĩ vãng, Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai), Thời
xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng), Bến đò xưa
lặng lẽ (Xuân Đức), Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến), Gia
đình bé mọn (Dạ Ngân), Thế giới xô lệch (Bích Ngân), Người
đàn bà trên đảo, Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Mùa
hè giá buốt – Văn Lê, Cõi đời hư thực (Bùi Thanh Minh), Được
sống và kể lại (Trần Luân Tín), Miền hoang (Sương Nguyệt
Minh), Trong cơn lốc xoáy (Trầm Hương), Hoang tâm (Nguyễn
Đình Tú), Cơ bản là buồn (Nguyễn Ngọc Thuần), Mộ phần tuổi trẻ (Huỳnh
Trọng Khang),… Truyện ngắn: Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Chuyện
sót lại ở thung lung Chớp Ri (Nguyễn Quang Lập), Truyền thuyết về
Quán Tiên (Xuân Thiều), Ngày xửa ngày xưa (Nguyễn Quang Lập), Đợi
bạn (Ngô Tự Lập), Đốm lửa (Nguyễn Thị Minh Thúy), Bến trần
gian (Lưu Sơn Minh), Hồn trinh nữ, Người sót lại của Rừng Cười (Võ
Thị Hảo), Mười ba bến nước (Sương Nguyệt Minh), Chiều vô danh (Hồng
Dân), Vết chim trời (Nguyễn Ngọc Tư), Những người đàn bà mắt đen (Viet
Thanh Nguyen), Vỏ anh hùng (Văn Thành Lê),… Tản văn: Nén nhang
chung (Dạ Ngân), Nối linh thiêng, Chiến tranh và phép thống kê (Bích
Ngân), Không biết gì về chiến tranh (Lê Minh Khôi), Chuyện của
em và chiếc túi có tên Việt Nam (Việt Linh)…; Bút kí: Viết từ hành
tinh kí ức (Võ Diệu Thanh) v.v. Chúng hợp lực đẩy cái hiện thực sử thi
hóa, hồng hóa một thời vào quá khứ, chia tay “cái thời lãng mạn” để đối diện với
những đòi hỏi bức thiết của con người, cuộc sống hôm nay. Nhà văn làm một lần
vượt cạn không ít đớn đau nhằm đổi lấy cái hạnh phúc lớn lao của nghệ sĩ: được
sống và viết bằng chính con người thật của mình. Cách đây 20 năm, nỗ lực vượt
qua giới hạn của văn xuôi chiến tranh chính là việc người viết đã quay trở về
quá khứ, lịch sử – một quá khứ, lịch sử đã phần nào minh bạch, hoàn kết –
để “sống với vùng sáng kí ức, với kỉ niệm của một thời oanh liệt và hào hùng, thắp
lên trong con người ngọn lửa của niềm tin và tình yêu với cuộc sống hôm nay”(2),
thì với văn học đương hiện, khát vọng làm sáng tỏ những cạnh chiều khuất lấp,
tinh thần phản tỉnh, nhận thức lại chiến tranh, về cái giá của hòa bình, độc lập,
hạnh phúc là những tư tưởng chủ đạo. Nhà văn soi chiếu hiện thực từ góc nhìn trực
diện, đa sắc, đa chiều, đem lại cho sáng tác tính chất đối thoại, đa thanh – những
biểu hiện sống động của chất văn xuôi, của tinh thần hậu hiện đại.
2. Sức ám gợi trong lối viết
Vượt qua lối mòn – và cũng là rào cản của bút pháp sử thi –
văn xuôi hôm nay nỗ lực lột hiện mặt trái, mặt khuất của chiến tranh với sức hủy
diệt, phi nhân, với những di chứng kinh hoàng mà nó để lại. Không còn âm hưởng
ngợi ca hào sảng như trong văn học kháng chiến, Miền hoang (Sương
Nguyệt Minh) và Hoang tâm (Nguyễn Đình Tú) phác họa bộ mặt thật của
cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam với lắm bi ít hùng. Những đoạn văn miêu tả cận
cảnh cảnh giết người, cảnh hành hình “thời trung cổ” trong hai tiểu thuyết như
những thước phim quay chậm quá sức chịu đựng của người xem. Độc giả rùng mình
kinh sợ trước cảnh hành quyết quân tình nguyện Việt Nam, trận thảm sát ở Ba
Chúc trong cuốn sách của Sương Nguyệt Minh, hay cái chết đáng thương của những
cô du kích Tân Lập trong tác phẩm của Nguyễn Đình Tú. Nhà văn không ngại ngần
phơi mở những tổn thương, mất mát, liên tục xoáy sâu vào những nỗi đau khôn xiết
của con người nhằm tái hiện khách quan, chân thực một bộ mặt khác của chiến
tranh mà diễn ngôn lịch sử, chính trị lâu nay vẫn ít nhiều né tránh.
Trong Xác phàm, chiến tranh cũng hiện lên qua những cảnh
tượng thương tâm: “mười sáu nóc nhà chỉ trong vài phút đã tanh bành, tan biến
như chưa hề có một bản làng nào tồn tại ở góc núi yên bình ấy”. Có quá nhiều
cái chết xảy ra trong thời gian ngắn ngủi khiến người ta tê liệt, không còn đủ
sức thể khóc thành tiếng. Mình và họ có đến vài trăm người, cả lính lẫn
dân thường, bị giặc Khựa bắt và đem phanh thây tại tử địa mang tên “Thung lũng
oan khuất”. Nhiều người bị chôn sống trong những nấm mồ tập thể. Những ngọn núi
nát nhừ vì pháo bom, những con đường bị đạn cối đào xới, xác người la liệt khắp
nơi, mùi tử khí bao trùm mọi chốn… Nhà văn không ngần ngại zoom ống kính để
phóng to những cận cảnh rợn người: “sáu cái xác người trần truồng nằm ngay ngắn
sát với chân tường bên kia, xác nào cũng bị mổ phanh ra”. Tiểu thuyết của hai
nhà văn quân đội này gợi ra những vấn đề có ý nghĩa thời sự và nhân văn sâu sắc,
mang đến cho độc giả cái nhìn đầy đủ hơn về cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
phương Bắc, nhắc nhớ con người hôm nay trân trọng hơn cuộc sống, có ý thức
trách nhiệm trong việc bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.
Mang nỗi ám ảnh và mất mát do chiến tranh gây ra, nhiều nhân
vật luôn bị những cơn ác mộng dày vò. Nỗi đau của thể xác và tinh thần khiến
cho mạch truyện trong nhiều cuốn tiểu thuyết (Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày
dĩ vãng, Gia đình bé mọn, Bến không chồng, Dưới chín tầng trời, Thế
giới xô lệch, Rừng thiêng nước trong, Mình và họ, Hoang tâm, Xác
phàm,…) bị đảo lộn với nhiều mảnh ghép giữa thực và hư, giữa quá khứ và hiện tại.
Dòng ký ức cuồn cuộn làm nổi rõ những đau thương, mất mát không gì bù đắp nổi.
Song hành với kí ức chiến tranh, nhiều sáng tác đã nỗ lực tái dựng hiện thực hậu
chiến lở lói, bất toàn gây nên không ít sang chấn tinh thần cho con người. Nếu
như những bi kịch chiến tranh (mà hi hữu lắm mới được đặc tả) trong văn học
cách mạng thường ít xuất hiện gương mặt phụ nữ, trẻ em, thì trong văn xuôi hôm
nay, họ hiện diện khá nhiều. Gắn với những nhân vật ngoại biên này, văn xuôi
đương đại đã tô đậm thêm bi kịch của chiến tranh, tăng sức nặng của tiếng nói tố
cáo, của tinh thần nhân bản.
Đa mang và để lại dấu ấn ở nhiều đề tài, Hồ Anh Thái vẫn dành
cho chiến tranh tình cảm, sự quan tâm đặc biệt. Sáng tác của ông thường chọn một
lối riêng khi tìm đến những phận người nhỏ bé sau cuộc chiến. Họ là những nữ
thanh niên xung phong chống chọi đến kiệt lả trong nỗi cô đơn, trong sự khát
khao được làm vợ, làm mẹ (Người đàn bà trên đảo). Chị Giềng (Cõi người rung
chuông tận thế) phải sống trong nghèo khó, tủi buồn để rồi ra đi trong đớn đau,
vật vã. Với những người như chị, đơn độc giữa trùng vây của cái ác, cái bất
công, họ chỉ còn cái quyền lớn nhất – và cũng đáng thương nhất – là “quyền chết”.
Thế hệ không trực tiếp ngang qua chiến tranh, nhưng những tổn thất quá lớn của
gia đình vẫn chém vào họ một vết chí mạng để không còn được sống bình thường,
“giữa đám đông mà cảm thấy đơn côi” (Người và xe chạy dưới ánh trăng).
Nhìn chiến tranh từ lăng kính kì ảo, từ thế giới tâm linh
cũng là nét mới dễ nhận thấy và đáng được ghi nhận của văn xuôi hôm nay so với
giai đoạn trước đổi mới(3). Dạng nhân vật siêu thực – những vong hồn liệt sĩ –
là một trong những khám phá mới mẻ, táo bạo của người viết trong việc khắc họa
chân dung người lính. Điều này thể hiện sự nỗ lực cùng tấm lòng trân trọng của
tác giả trên hành trình phát hiện vẻ đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ dù là từ một thế
giới khác – thế giới bên kia. Nếu lúc sinh thời, họ là những người đầy nhiệt
huyết tuổi trẻ, ra trận với hoài bão độc lập tự do cho quê hương, dân tộc thì
khi nhắm mắt xuôi tay, bị kẹt giữa hai cõi âm – trần, khát vọng này vẫn còn
cháy bỏng. Không được như bao đồng đội khác hồn có thể quay về quê hương nhờ chết
có mồ mả và có người hương khói, các vong hồn thực hiện khát vọng này bằng “những
kí ức đằm sâu, thân thương” của mình. Đó là nỗi nhớ Hà Nội của anh lính Phương
với những ngày rét mướt, tiếng tàu điện leng keng, người bố dậy tầm bốn rưỡi
pha trà, rồi những tên đường, tên phố, Tháp Bút, Đài Nghiêng…; là những kỉ niệm
của Lăng về bến sông quê hương, ngôi nhà nhỏ với bóng dáng mẹ già cô đơn mà
phúc hậu. Thêm vào đó là những khắc khoải chờ đợi phút giây hòa bình, đợi chờ
ngày trở về được đo bằng những chỉ số thời gian xác định hoặc không xác định:
Anh lính Phương và cô gái giao liên thì “có mặt trên đời hai mươi năm. Và hai
mươi năm chờ đợi”, ông già thời Chín năm “đã ngụ trong hang dơi gần nửa thế kỉ”
(Tàn đen đốm đỏ). Còn Lăng trong Bến trần gian xoáy vào cõi lòng người
đọc bởi cái điệp khúc “mấy chục năm… mấy chục năm rồi…” cồn cào cháy ruột: “Anh
đã đi mấy chục năm mà vẫn luẩn quẩn trong rừng”, “mấy chục năm rồi, nhanh lên,
tôi không thể đứng đây được nữa”, “xin đừng đưa tôi về xứ của ma, tôi còn phải
về thăm u, mấy chục năm rồi…” v.v. Nỗi nhớ mong như có hình khối, nó bất chấp sự
quên lãng của thời gian, sự khắc nghiệt của kiếp vong hồn. Và nhân vật cũng
không còn mờ mờ nhân ảnh mà hiện hữu như một người lính bằng xương bằng thịt,
như Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng vãng), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh), họ góp thêm một
cái nhìn chân thực và đầy xúc động về người lính, về những cuộc chiến tranh giữ
nước thần thánh của dân tộc.
So với văn học giai đoạn 1945 – 1985, văn xuôi về chiến tranh
hôm nay thường nói nhiều hơn đến nỗi đau, đến mất mát của từng cá nhân cụ thể.
Giọng văn vì thế mà lắng xuống, câu chữ như gãy vụn, vỡ oà trước sự thúc ép của
rất nhiều xót xa, thương cảm. Dù có nhiều mất mát, xót đau nhưng phần lớn không
có sự sám hối, phủ định; bao trùm lên nhiều sáng tác vẫn là sự nhân hậu, minh
triết của người viết. Sự hi sinh của người lính không phải đã đặt dấu chấm hết
cho những mất mát không gì bù đắp nổi của dân tộc, nỗi đau còn được kéo dài, được
nhân lên ở thế giới bên kia. Nhưng một điều cũng hết sức cảm động là từ cõi âm,
vẻ đẹp của nhân cách, tâm hồn các anh như được bọc trong ánh hào quang huyền
thoại nên lại càng lung linh, bất tử. Cuộc tử sinh dẫu có nhiều nước mắt nhưng
đó chỉ là sự chia tay tạm thời; còn nỗi đam mê, tình yêu cuộc sống, tất cả sự
vĩ đại mà dung dị của người lính Việt Nam thì vẫn trường tồn và tiếp tục phát
huy sức mạnh (Thần Đất – Vũ Bão, Cõi âm – Triệu Bôn, Tiếng
rừng – Hiền Phương, Đợi bạn – Ngô Tự Lập, Xác phàm –
Nguyễn Đình Tú, Bến trần gian – Lưu Sơn Minh, Ăn mày dĩ
vãng – Chu Lai, Cặp bồ với ma – Ngô Văn Phú, Tàn đen đốm đỏ
– Phạm Ngọc Tiến, Khúc hát biển ban mai – Phạm Ngọc Chiểu,…). Giọng
quan hoài da diết cũng gắn liền với mô tip con người cô đơn sau chiến tranh. Điều
đó khiến cho nhiều truyện không tránh khỏi cảm giác mệt mỏi, day dứt trong giọng
điệu trần thuật. Miền hoang, Mình và họ, Nỗi buồn chiến tranh, Rừng
thiêng nước trong,… bám riết tâm trí người đọc bởi những cung bậc của kí ức chiến
tranh với âm hưởng trầm buồn, da diết và sâu lắng.
Nỗ lực khu biệt, nâng tầm của văn xuôi chiến tranh đương đại
còn hiện diện ở nhiều triết lí, đối thoại không khỏi gây hấn với lối tiếp nhận
truyền thống. Đâu chỉ mắc nợ con người, những kẻ châm ngòi chiến tranh còn gây
sự, làm tổn hại nghiêm trọng đến tự nhiên, môi trường sống. “Chiến tranh bẩn thỉu
hơn tất cả những trò bẩn thỉu mà con người ta nghĩ ra!” (Ngược chiều cái chết –
Trung Trung Đỉnh); “Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang
khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà,
là thế giới thảm sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng
giống con người!” (Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh); “Người ta còn nhiều
việc để làm hơn là báo thù. Chiến tranh là thảm họa cho cả dân tộc. Cần phải cứu
lấy mọi người” (Mùa hè giá buốt – Văn Lê). Những tra vấn về được – mất,
nhân bản – phi nhân, nhất thời – vĩnh cửu,… của cá nhân, dân tộc, nhân loại, của
đời sống, của giá trị con người,… cũng thường xuyên xuất hiện: “Chiến cuộc, miếng
cơm manh áo nó bắt người ta đi, chứ ngây ngô có hiểu gì về chính nghĩa quốc gia
hay gì gì đó đâu” (Không biết gì về chiến tranh – Lê Minh Khôi); “Con người
cậy có sự mạnh, hung hăng chinh phục và tàn phá mọi thứ (…) Cần phải đến với rừng
để học hỏi, để nhận biết đâu là phía trước, đâu là phía sau, đâu là phải, đâu
là trái” (Rừng thiêng nước trong – Trần Văn Tuấn); “Không có chiến thắng
nào không có máu xương, vì vậy không cứ gì hát hò ngợi ca mãi thì người ta mới
biết mình chiến thắng (…) Hãy để cho lòng từ bi lên tiếng, trong mười hai điều
răn của Phật, điều đã từng làm nên bản sắc mạnh của người Việt là sự khoan hòa”
(Nén nhang chung – Dạ Ngân)… Đây là những yếu tính tạo nên sự đa bội trong
điểm nhìn, gọng điệu trần thuật, tính phức điệu, đa thanh (polyphony), tinh thần
dân chủ của văn xuôi. Người viết không còn chiêm ngắm quá khứ bằng tâm trạng
ngây ngất, tự hào đơn phiến, mà chiêm nghiệm thời bi tráng đã qua, thời loang lổ
đương hiện, nhìn bản thân và những người bên kia chiến tuyến toàn diện, điềm
tĩnh, bao dung hơn. Trong đoạn kết của tập bút kí Viết từ hành tinh kí ức,
Võ Diệu Thanh đã để cho một cựu cán bộ Khmer Đỏ thời kháng chiến chống Mĩ, đầy
từng trải, thấu hiểu lẽ đời đánh giá về những tốt xấu, đúng sai của Pol Pot, về
nạn diệt chủng, về mục tiêu, mục đích của chế độ độc tài… khách quan, thấu đạt.
Chiến tranh trong tiểu thuyết, truyện ngắn hôm nay cũng nhắc
nhớ người đọc qua các biểu tượng nhiều ám gợi như nước, lửa,… Màu sắc sử thi,
vai trò đại diện cho lí tưởng, nhiệt huyết, sức mạnh của dân tộc không còn nữa;
các biểu tượng này được sáng tạo chủ yếu từ cảm hứng bi kịch, gắn với bao kiếp
phận bé mọn, vô danh trong mưa bom bão đạn. Nỗi buồn chiến tranh là sự
rên xiết của con người trong “biển lửa”, “cái lò lửa tàn khốc”, “tuyến lửa”,
“con lộ lửa”, “cột lửa”… Lửa ngùn ngụt cháy trong những trang nhật kí của Trần
Củng: “Tiếng bom, tiếng súng hòa lẫn thành một thứ âm thanh hỗn độn. Mặt đất
như bị vỡ ra từng mảng… Tiếng tre nứa cháy ngùn ngụt, lốp bốp… cả làng Chành
giãy lên đành đạch…” (Cõi đời hư thực – Bùi Thanh Minh). Trong tâm thức
văn hóa nhân loại, lửa có tính hai mặt: hủy diệt và tái sinh. Tuy nhiên, lửa
trong văn xuôi viết về chiến tranh sau 1986 phần nhiều chỉ mang sức mạnh hủy diệt.
Đi liền với biển lửa hung tàn là máu me, chết chóc, đổ nát. Cảnh binh lửa kinh
hoàng khiến người lính hoang mang, thảng thốt, không biết mình chiến đấu vì lẽ
gì. “Cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh gì vậy?” (Ăn mày dĩ vãng –
Chu Lai). Khói lửa chiến tranh không chỉ thiêu đốt vạn sinh linh nơi chiến địa
mà còn lan ngún đến làng quê, phố thị cả thời chiến lẫn thời bình qua những biến
thể: ngọn (bóng) đèn, khói hương,… Bóng điện tù mù, đơn độc bầu bạn cùng Kiên
thâu đêm suốt sáng (Nỗi buồn chiến tranh), ngọn đèn dầu hắt sáng vàng vọt
trong Bến không chồng, leo lét trong Người ở bến sông Châu hay đỏ
quạch trong Người sót lại ở Rừng Cười… khắc họa những nỗi đau, bất hạnh
khó nói hết bằng lời của con người, đặc biệt là phụ nữ. Nước và các biến thể của
nó như dòng sông, bến nước, nước mắt,… cũng góp phần không nhỏ để phục dựng bi
kịch nhân quần sau cuộc chiến: Bến trần gian (Lưu Sơn Minh), Bến
đò Lăng (Phùng Văn Khai), Bến đàn bà (Nguyễn Mạnh Hùng), Mười
ba bến nước, Người ở bến sông Châu (Sương Nguyệt Minh), Bến
không chồng (Dương Hướng), Hai người đàn bà xóm Trại (Nguyễn
Quang Thiều)… Bên cạnh những tính năng quen thuộc: xoa dịu, gột rửa, thanh tẩy,
nước cùng với những sự vật gắn liền với nó như bến sông, con đò còn là tác nhân
kéo dài, khơi sâu bất hạnh của không ít nhân vật: tuổi xuân mải miết xuôi dòng,
còn niềm vui, hạnh phúc bình dị thì như con đò bỏ bến sang ngang.
Một điều đáng ghi nhận trong sự sáng tạo của văn xuôi chiến
tranh từ đầu thế kỉ XXI là tính liên văn bản trên tinh thần đối thoại, giễu nhại
những khung thước cũ. Miền hoang và Hoang tâm đều lấy chất
liệu từ cuộc chiến biên giới Tây Nam như một “tiền văn bản” làm cảm hứng sáng
tác. Từ những tư liệu, chứng nhân lịch sử và những kí ức về chiến tranh, nhà
văn đã dựng lại không khí cam go, ác liệt về cuộc chiến chống lại tội ác phi
nhân bản, phản nhân văn của chính quyền Khmer Đỏ. Sự dung hợp nhiều thể loại
trong mỗi tiểu thuyết cũng dẫn đến tình trạng phì đại diễn ngôn, hiện thực – một
yếu tính của văn chương hậu hiện đại(4). Trong Hoang tâm, Nguyễn Đình Tú
đưa thơ, nhạc, truyền thuyết và cả bài văn của học sinh vào văn bản truyện. Ở Miền
hoang, Sương Nguyệt Minh dụng công sưu tầm những bản tin trên báo, những bài
thơ của đồng đội viết về chiến trường K. Mỗi chương của cuốn sách, nhà văn đều
dẫn một mẩu tin đã được báo chí đăng tải, có trích nguồn cụ thể, như một cách
làm sống lại lịch sử một thời, giúp người đọc nhập cuộc, sống cùng không khí
chiến trận. Nếu như đoạn nhạc: “Ta là con của bố mẹ ta, nhớ nhà là ta tút ra về.
Ta không cần ba lô không cần ô tô không cần chi mô, ta về thăm bố xong ta lại
lên. Trên con đường ta đi có nhiều gian nguy làm ta khiếp vía, ta đi theo lối
nhỏ là lối an toàn…” đã “tái chế” ca khúc Bước chân trên dãy Trường Sơn của
nhạc sĩ Vũ Trọng Hối trong Hoang tâm mang tinh thần giễu nhại tâm thế
của những người lính bị đẩy ra trận thì những bài hát trong Miền hoang lại
là liều thuốc an thần để tên Lục Thum quên đi nỗi đau khi bị cưa chân. Các bài
thơ của đồng đội Tùng không chỉ giúp những con người lạc rừng xích lại gần nhau
hơn mà còn phản ánh hiện thực đói khát, gian khổ, khốc liệt nơi hoang địa khô cằn.
Những thi phẩm ủy mị trong cuốn sổ nhật kí của tên lính ngụy cho thấy cách nhìn
nhận, đánh giá của Nguyễn Đình Tú về vai trò của văn học nghệ thuật đối với kẻ
tham chiến. Không ít lần nhân vật Anh nghĩ rằng những bài thơ mang tư tưởng mộng
rớt là nguyên nhân dẫn đến thất bại của chính quyền Mĩ ngụy. Ngược lại, quân ta
thắng trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại một phần là do sức mạnh được hun đúc từ
những bài thơ, bài hát cổ vũ tinh thần chiến đấu.
Sự chuyển biến của văn xuôi chiến tranh cũng hiện diện rõ
trong chất liệu – ngôn từ, nhất là dạng thức tục ngôn(5). Trong Sắc màu
chiến trận, Thu Trân đưa ra những cách diễn đạt rất “lính”: “nhớ nhà
nhớ quê bỏ mẹ”, “Mẹ kiếp, bảy thằng ngồi đây, khi về biết có còn phân nửa”,
“đàng nào cũng sắp về âm ti cả”,… Cách ăn nói có phần bổ bã, thậm chí tục tĩu
chính là liệu pháp hữu hiệu để con người đối chọi với thực tế khắc nghiệt, vượt
quá sức chịu đựng. Khẩu ngữ, trong trường hợp này, như sự giải tỏa, một lối thoát
của thực tại – một thực tại được nhận thức bởi ngôn ngữ chính thống với tiếng
đì đoàng của súng đạn, với những lời kêu gọi lí tưởng khuôn sáo khô khan, giúp
người lính can đảm đối diện với cái chết nơi chiến trường. Trong kiệt tác Đường
về, Remarque cũng để nhân vật của mình bày tỏ điều này: “Ở mặt trận, nếu chúng
tôi bị rơi vào tình huống tồi tệ làm chúng tôi quên tất cả những thứ vô nghĩa
các ông nhồi vào đầu chúng tôi, chúng tôi nghiến răng và nói “cứt”, rồi sau đó
mọi việc tiếp diễn như thường. Ông dường như không hề biết điều gì đang xảy ra!
Đến đây không phải là các cậu bé dũng cảm, không phải là các học sinh thân yêu,
đến đây là những người lính!”(6). Tạm không bàn về vấn đề tư tưởng, cách xây dựng
“sắc màu chiến trận” của Thu Trân trong phương diện ngôn ngữ, nếu đối sánh với
truyện ngắn của các tác giả trước cùng viết về chiến tranh, rõ ràng đã có một
bước tiến nhất định. Nó là đối cực với ngôn ngữ chính thống, hướng đến một chân
dung người lính, một màu sắc rất khác của chiến tranh.
Còn rất nhiều biểu hiện về sự cách tân bút pháp của văn xuôi
chiến tranh hôm nay không thể nói hết trong bài viết nhỏ này. Nhưng chừng đó
cũng cho thấy, khi lựa chọn đề tài, ngay từ đầu, nhà văn không thể đặt mình
xuôi theo quán tính cũ. Thường trực ở người viết là ý hướng, nỗ lực vượt thoát
để tạo dấu ấn, để khẳng định phong cách. Bằng sự dụng công, độc sáng trong
phương thức trần thuật, sáng tác của họ đã có những đóng góp đáng trân trọng
cho văn học hiện đại dân tộc.
3. Và chân trời mời gọi những đường bay
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nó vẫn là một “siêu đề tài”
trong văn học hậu chiến. Viết về chiến tranh là một việc rất khó đối với các
tác giả đương đại, bởi chỉ cần một chút vụng về, đứa con tinh thần của họ sẽ đi
vào lối mòn của nhiều tác phẩm vang danh trước đó. Một sáng tác được xem là xuất
sắc về chiến tranh trong thời đại này phải cho thấy, dù một khía cạnh rất nhỏ,
sự viết lại lịch sử; ở đó có sự hòa kết đầy tính thẩm mĩ giữa diễn ngôn nghệ
thuật với diễn ngôn lịch sử, diễn ngôn chiến tranh và diễn ngôn văn hóa. Bằng
việc phục dựng chân thực chiến tranh-như-nó-vốn-là, văn xuôi hôm nay đã góp phần
để cho độc giả, nhất là những người trẻ tuổi, có những kiến văn, xúc cảm đáng
quý. Chuyện hôm qua đâu phải là một đi không trở lại; nó vẫn còn can dự trực tiếp,
dài sâu vào hiện tại, và cả tương lai. Ngoại vi hóa ý đồ khơi lại, khoét sâu vết
thương cũ, trong nỗ lực bạch hóa quá khứ, tác phẩm giúp bạn đọc nhận diện bản
thân và đất nước mình, để có hạnh phúc của người sống trong tình yêu thương, sự
tha thứ, bao dung. Những được mất của chiến tranh không ngừng được mổ xẻ, phân
tích, tra vấn. Nhà văn tự đứng về phía nỗi đau, mất mát của cá nhân, dân tộc để
có thêm nội lực khám phá chiến tranh ở mọi chiều kích mới mẻ của nó, góp phần
“nối sự linh thiêng vào cuộc đời này” (Nối linh thiêng – Bích Ngân). Chính
thái độ sòng phẳng mà đằm sâu nghĩa tình, trách nhiệm đó đã hợp sức khắc sửa
nhiều di hại mà cuộc chiến gây ra. Nỗ lực trong cuộc chạy tiếp sức của nhiều thế
hệ để mới hóa truyền thống, nâng tầm văn học, văn hóa, cùng với đó là vị thế
dân tộc của văn học chiến tranh là điều đáng trân trọng. Phải làm sao viết về
cuộc chiến, về quá khứ bi hùng mà câu chữ ngồn ngộn chất sống của hiện tại, có
sức nặng dự báo tương lai, khiến cuộc sống đáng sống hơn, người gần người hơn,
để tác phẩm ra đời trong sự chân thật, đầy xúc động… là những thách đố không hề
nhỏ đối với người người cầm bút hôm nay.
Những gì đã trình bày cũng xác tín rằng chiến tranh vẫn là đề
tài phong nhiêu, nhiều ám gợi đối với cả người sáng tác lẫn người thưởng thức
văn chương Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Đây là mảnh đất màu mỡ đang chờ
đợi bàn tay cày xới, bón chăm của nhà văn để cho đời những vụ mùa viên mãn. Viết
về cái đã qua để chữa lành nỗi đau quá khứ, để thấu cảm đất nước, dân tộc mình,
để có tâm thế an yên, minh triết của người đi về phía trước… đó là kỳ vọng mới,
tích cực và nhân bản của văn xuôi chiến tranh mà những kết quả đã có cũng chỉ
là bề nổi của một hiện thực thẩm mĩ giàu hứa hẹn.
Chú thích:
(1) Xem: Hoàng Đăng Khoa (lược ghi), Viết, như là một
can dự vào lịch sử, Văn nghệ Quân đội, Số cuối tháng 12 – 2017, trang 3 – 10.
(2) Bích Thu, Văn xuôi năm 1998 – thực trạng và vấn
đề, Tạp chí Văn học, Số 1 – 1999 (59 – 64), trang 61.
(3) Xem: Bùi Thanh Truyền, Yếu tố kì ảo trong văn
xuôi đương đại Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông
Tây, Hà Nội, 2014.
(4) Xem: Lê Huy Bắc, Văn học hậu hiện đại lí thuyết
và tiếp nhận, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2017.
(5) Xem Bùi Thanh Truyền – Lâm Hoàng Phúc, Tục ngôn
trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn kí hiệu học văn hóa, Kỉ yếu
Hội thảo Quốc tế “Ngôn ngữ học Việt Nam – những chặng đường phát triển và hội
nhập quốc tế”, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, Tháng 12 – 2018.
(6) Erich Maria Remarque, Đường về, NXB Văn học,
Thành phố Hồ Chí Minh, 2017, trang 128.
28/2/2020
Bùi Thanh Truyền
Theo https://vanhocsaigon.com/
Có hay không "Hội tao đàn" thời Vua Lê Thánh Tông
Có hay không "Hội tao đàn"
thời Vua Lê Thánh Tông?
Hội tao đàn thường được hiểu là “Hội nhà văn cung đình
của Việt Nam” (Từ điển Văn học 2006, tr. 649), được thành lập vào năm 1495. Hội
này còn được gọi là Hội tao đàn Nhị thập Bát tú được thành lập bởi vua Lê Thánh
Tông (1442-1498) cùng 28 triều thần.
Trong đó, nhà vua là Tao đàn Nguyên súy, Thân Nhân Trung và Đỗ
Nhuận là Tao đàn Phó nguyên súy, Lương Thế Vinh là Tao đàn Sái phu.
Thế nhưng, không có tư liệu nào thời Hồng Đức chép các chữ “Hội
tao đàn” hay các chức danh kia cả. Việc coi tao đàn như là một hội theo kiểu Hội
Nhà văn chỉ là một cách “hiện đại hóa” lịch sử theo quan điểm của thế kỷ
XX-XXI. Vậy lý do gì để có thể khẳng định điều này?
Thứ nhất, theo các nguồn sử liệu đương thời như Đại Việt
sử ký toàn thư (viết tắt là TT) và tư liệu văn bia thời Hồng Đức, đều
không đề cập đến hội này. Các từ “Tao đàn nhị thập bát tú” hay “Hội tao đàn” là
do đời sau ca ngợi. TT và văn bia Thánh Tông Chiêu Lăng bi minh (soạn năm 1498,
kí hiệu 13473, Viện Nghiên cứu Hán Nôm) không có các chữ “Tao đàn hội”,
nhưng Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích đã cố gắng chép thêm những
chữ này vào trong bản sao văn bia đời Minh Mệnh. Lê triều khiếu vịnh thi tập [A.
315, tr.13a] của Hà Nhậm Đại (đỗ Tiến sĩ năm 1574, sau gần 100 năm) có ghi
hoàng đế tự xưng Tao đàn Nguyên súy, lấy Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận làm Phó
nguyên súy…. Nhưng đây chỉ là một bản chép tay vào triều Nguyễn.
Còn các sách như Kiến văn tiểu lục, Lịch triều hiến
chương loại chí, Thoái thực ký văn, Đăng khoa lục, Việt sử thông giám cương mục,…
đều là các ghi chép từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX. Các tư liệu này đều
thể hiện sự hình dung của đời sau về tao đàn thời Hồng Đức, hay nói cách khác
“hội tao đàn” là một truyền thống đã được kiến tạo bởi người đời sau. Vậy “tao
đàn” khác gì với “hội tao đàn”?
Tao đàn là một từ Hán Việt mượn từ tiếng Hán dùng để chỉ các
nhóm văn nhân cùng sinh hoạt nghệ thuật với các hoạt động xướng họa thi ca,
bình luận các vấn đề về văn chương và đạo học. Các nhóm này có khi được đặt tên
riêng như Bích Động thi xã, Bạch Vân thi xã, nhóm Chiêu Anh Các. Cũng có khi
không có tên như tao đàn triều vua Lê Thánh Tông.
“Tao đàn” không phải là một danh từ riêng như “Hội Tao đàn”
được đời sau sử dụng với tư cách là một tổ chức có cơ cấu nhân sự chặt chẽ, mà
là một từ chỉ nhóm các thi nhân hoạt động sáng tác, và thù tạc thơ ca. Xướng họa
là một hoạt động thường nhật của sinh hoạt văn chương của Nho sĩ, quan lại, đặc
biệt là trong các môi trường cung đình hoặc các thi xã thời trung đại.
Vậy tao đàn thời Lê Thánh Tông đã tồn tại và hoạt động như thế
nào? Trước tiên, cần khẳng định rằng, Tao đàn thời Lê sơ không phải được thành
lập năm 1495 với việc xướng họa trong tập Quỳnh uyển cửu ca, và hoạt động
vỏn vẹn có hai năm đến khi hoàng đế Lê Thánh Tông băng hà vào năm 1496, mà nó tồn
tại trong suốt những năm tháng trị vì của vị vua này.
Tao đàn đời Lê sơ hoạt động trong nhiều lĩnh vực văn chương,
từ hàn, chính trị trong thời gian gần bốn mươi năm. Năm 1460, Lê Thánh Tông họa
12 bài với Lê Hoằng Dục và xướng họa với một số người khác như Nguyễn Cư Đạo.
Năm 1463, ban dụ cho Lương Nhữ Hộc để dạy về kỹ thuật làm thơ Nôm. Hồng Đức quốc
âm thi tập gồm 107 bài của nhà vua và 38 bài họa của các bề tôi [TT, 1998
tr.142].
Năm 1468, khi về Lam Kinh cúng tế tông miếu, nhà vua đã cùng
Hoàng Thái tử (khi ấy mới 7 tuổi, sau là vua Lê Hiến Tông), và các quan theo hầu
gồm Lê Niệm, Lê Hoằng Dục, Đỗ Nhuận, Quách Đình Bảo cùng nhau xướng họa thành tập Anh
hoa hiếu trị thi tập* [TT, tr.434].
Năm 1470, khi đánh Chiêm Thành, ông soạn Chinh Tây kỷ hành,
các bề tôi theo giá như Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh viết thơ phụng họa. Tập Minh
lương cẩm tú được quần thần sao chép và họa lại [TT, tr.108]. Tên “minh lương cẩm
tú” có nghĩa là những lời gấm thêu của vua sáng tôi hiền, cho thấy đây cũng là
một tập thơ của nhiều tác giả.
Năm 1475, nhân dịp tiễn Quách Cảnh sứ giả nhà Minh về nước,
vua Lê Thánh Tông làm bài Thiên Nam động chủ Đạo Am tự và sai các bề
tôi gồm Thái phó Lê Niệm, Lại bộ Thượng thư Hoàng Nhân Thiêm, Binh bộ Thượng
thư Đào Tuấn, Hàn lâm viện Thị độc Thân Nhân Trung, Đông các Hiệu thư Đỗ Nhuận,
Đông các Hiệu thư Quách Đình Bảo, Hàn lâm viện Thị thư Vũ Kiệt, Sử quan Tu soạn
Ngô Sĩ Liên làm thơ tiễn sứ.
[TT, tr.465] Năm 1484, vua sắc dụ cho Thân Nhân Trung, Quách
Đình Bảo, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm Văn Lễ biên soạn sách Thiên Nam dư hạ tập và Thân
chinh ký sự. Vua đích thân đề một bài thơ vào Thiên Nam dư hạ tự của
Thân Nhân Trung [TT, tr.488] Năm 1485, sai sắc cho các quan trong Hàn lâm viện
và Đông các soạn văn bia đề danh Tiến sĩ, bao gồm Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận,
Đào Cử, Đàm Văn Lễ, Ngô Luân, Nguyễn Đôn Hậu, Lương Thế Vinh, Lê Tuấn Ngạn,
Nguyễn Xung Xác [TT, tr.492] Năm 1491, nhân dịp về bái yết sơn lăng tại Lam
Kinh, vua Lê Thánh Tông lại cùng Hoàng Thái tử, các hoàng tử và quần thần xướng
họa, thành tập Văn minh cổ xúy (A.254, tr.32a-61b).
Tập thơ có 6 bài của nhà vua, sau mỗi bài đều có lời bình của
quần thần, có thơ họa của Hoàng Thái tử, và các Hoàng tử Kiến Vương, Lương
Vương, Phúc Vương, các bề tôi như Thân Nhân Trung, Đào Cử, Dương Trực Nguyên.
[TT, tr.510].
Năm 1494, nhân việc hai năm liền được mùa, vua Lê Thánh Tông
cùng 28 triều thần trong khối cơ quan văn phòng (Đông các và Viện Hàn lâm, gồm
Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Ngô Luân, Ngô Hoán, Nguyễn Xung Xác, Lưu Hưng Hiếu,
Nguyễn Quang Bật, Nguyễn Đức Huấn, Vũ Dương, Ngô Thầm, Ngô Văn Cảnh, Phạm Trí
Khiêm, Lưu Thư Ngạn, Nguyễn Nhân Bị, Nguyễn Tôn Miệt, Ngô Quyền, Nguyễn Bảo
Khuê, Bùi Phổ, Dương Trực Nguyên, Chu Hoãn, Phạm Cẩn Trực, Nguyễn Ích Tốn, Đỗ
Thuần Thứ, Phạm Nhu Huệ, Lưu Dịch, Đàm Thận Huy, Phạm Đạo Phú) sáng tác tập Quỳnh
uyển cửu ca thi tập [TT, tr.486]. Hai mươi tám vị ứng với hai mươi tám vì sao
(Nhị thập bát tú). Vua xướng 9 bài theo các chủ đề năm được mùa, đạo làm vua,
tiết làm tôi, vua sáng tôi hiền, bậc anh hiền, khí lạ, chữ thảo, văn nhân, hoa
mai. Các bề tôi họa lại có đến vài trăm bài. Vua tự viết lời tựa và sai Đào Cử
làm lời bạt.
Năm 1494, Hoàng đế Lê Thánh Tông còn sáng tác tập Cổ kim
bách vịnh thi (Cổ tâm bách vịnh). Trong tập thơ này, có bốn văn thần tham
gia, gồm Nguyễn Xung Xác và Lưu Hưng Hiếu họa vần, Thân Nhân Trung và Đào Cử phụng
bình [TT, tr.513] Tập thơ gồm 10 quyển, 100 bài thơ theo thể ngũ ngôn tuyệt cú,
nhà vua ngự chế và họa thơ vịnh sử của nhà Nho đời Minh là Tiền Tử Nghĩa. Năm
1496, vua Lê Thánh Tông sáng tác tập Xuân vân thi tập [TT, tr.513].
Năm 1496, ông còn sáng tác tập Cổ kim cung từ thi tập, đích
thân viết bài tựa, lại sai Thân Nhân Trung và Ngô Luân bình luận [TT, tr.513].
Bộ tùng thư Thiên Nam dư hạ được soạn trong thời Hồng Đức cũng là một sản phẩm
tập thể của Lê Thánh Tông và các bề tôi như Nguyễn Trực, Vũ Vĩnh Mô, Thân Nhân
Trung, Quách Đình Bảo, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm Văn Lễ,… [TT, tr. 519]. Ngoài việc
ghi chép điển chương chế độ, bản đồ, quan chế,… còn ghi chép cả việc chú thơ
bình thơ, đặc biệt là thơ Đào Uyên Minh và các nhà thơ nổi tiếng thời Đường, Tống.
Như vậy, tao đàn thời Lê sơ tồn tại trong khoảng thời gian ít
nhất 37 năm (từ 1460 đến 1496), chưa kể các hoạt động này còn được tiếp nối bởi
các vị vua sau đó như Lê Hiến Tông, Lê Tương Dực.
Số lượng các tác phẩm không chỉ vỏn vẹn có mỗi Quỳnh uyển
cửu ca mà có đến hàng trăm bài thơ, với 12 tập thơ và một bộ tùng thư
là Thiên Nam dư hạ. Số lượng tác giả không chỉ có 28 ngôi sao (nhị thập
bát tú), mà có thể lên đến dăm chục vị, như Toàn thư đã nêu.
Thành phần chính không chỉ là các vị văn thần chuyên trách từ
hàn trong Đông các và Viện Hàn lâm, mà còn có các Thái tử, Hoàng tử, các vị đại
thần, thậm chí sứ thần.
Chưa kể, trên thực tế số lượng 500 tiến sĩ của thời này đều
là các nhân vật có tài năng văn chương, họ có thể trực tiếp hoặc gián tiếp xướng
họa theo các lĩnh xướng của hoàng đế. Tiếc là sử liệu và thi liệu còn lại quá
ít ỏi.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận một điều rằng vua Lê Thánh Tông
chính là người lĩnh xướng của tao đàn thời Lê sơ, là người đã tạo nên một trào
lưu văn học cung đình, chính vì lẽ đó người đời sau mới tôn xưng ông là “Tao
đàn Nguyên súy” (Hà Nhậm Đại, sống sau thời Lê Thánh Tông 100 năm).
Trong 38 năm tại vị, Lê Thánh Tông đã nhiều lần thực hiện xướng
họa với các hoàng tử và bề tôi hầu cận quanh mình. Tao đàn thời này vừa là để
phục vụ chính trị, ngoại giao, chinh phạt, tế lễ tông miếu, soạn văn bia đề
danh tiến sĩ, vừa là một hoạt động chuyên môn như thù tạc ngẫu hứng, bình chú
thơ văn cổ, thảo luận về đạo học và nguyên lý thi ca.
Với những sử liệu như đã nêu, chúng tôi cho rằng, không có
các danh từ riêng “Hội tao đàn” hay “Tao đàn Nhị thập Bát tú” mà chỉ có tao đàn
thời Lê sơ, với tư cách là một danh từ chung (không viết hoa). Việc không viết
hoa này không phải là để nhằm phủ nhận lịch sử mà là để tiệm cận đến với văn
hóa xướng họa, để nhận thức lịch sử như nó có thể là, chứ không phải lịch sử là
cái để người đời sau kiến tạo và sử dụng.
1/3/2020
Trần Trọng Dương
Theo https://vanhocsaigon.com/
Tô Hoàng - Một lần ngửa mặt kêu trời
Tô Hoàng - Một
lần ngửa mặt kêu trời
Tiểu thuyết “Ngửa mặt kêu trời” của nhà
văn Tô Hoàng do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 1991. Theo tác
giả: “Sách ra quầy chưa bao lâu thì anh Bùi Khởi Giang viết bài này. Thuở ấy,
trong những bài nhận xét, phê bình cuốn sách, tôi thích nhất bài của anh Giang.
Bởi nó bắt “đúng mạch” người viết và những gì tôi muốn tâm sự với bạn đọc. Sau
đó, cả anh Giang lẫn tôi đều không lưu giữ được bài viết này. Rất gần đây, anh
Giang tìm ra và gửi cho tôi.
Không có điều gì đáng khoe khoang về một cuốn sách, lại ra đời
khá lâu rồi. Đọc bài anh Bùi Khởi Giang viết bây giờ, tôi bỗng giật mình vì một
lẽ khác: Các nhân vật của tôi sống vào những năm đầu thập kỷ 1980. Sách ra vào
năm đầu thập kỷ 1990. Đã hơn 30 năm nước chảy dưới chân cầu, đã bước qua năm
2018, thế mà hình như cả bạn và tôi vẫn đang trải qua tâm trạng “lạc
loài”, sống ngay trên quê hương mình mà vẫn luôn phấp phỏng, âu lo như sống nơi
xứ lạ; vẫn không yên ổn, chơi vơi, không hề cảm thấy có một sự chằng néo, một
tay vịn chắc chắn nào…
Tôi muốn chia sẻ cảm giác này với các bạn của tôi”!
Lần ấy, Tô Hoàng cầm bút viết liền một mạch cuốn tiểu thuyết
đầu tay của mình. Không biết tiếng kêu có thấu trời hay không nhưng quả nó đã
thấu được tấc lòng người đọc, đã đồng vọng trong những lương tri biết cả tự hào
lẫn hổ thẹn khi một lần cúi đầu suy ngẫm.
Cuốn tiểu thuyết của Tô Hoàng không phải là cuốn đầu tiên viết
về những người Việt Nam làm việc và học tập ở Liên Xô (cũ) như một nhận
xét lầm lẫn ở đầu bài viết mới đây của một tác giả nào đó.
… Trước anh đã có bốn, năm người khai thác đề tài này.
Thành công, đóng góp của Tô Hoàng là ở chỗ anh đã vượt qua được nỗi bức xúc
mang tính tân văn, thời sự và cái mầu sắc hiếu kỳ viễn xứ của đề tài, vượt qua
được sự trang trải có tính chất tự nghiệm của bản thân cho những năm tháng du học
của mình, để thực sự đem lại cho người đọc một nỗi ám ảnh lo âu và những dự cảm
bất an về những mảnh đời, những thân phận của những nhân vật trong tác phẩm. Những
cảm xúc khi tiếp nhận ấy của người đọc, lâu nay thường vẫn là một trong những dấu
hiệu mách bảo một sức sống lâu bền của một tác phẩm văn học.
Để ý một tý ta sẽ thấy các nhân vật người Việt trong tác phẩm
của Tô Hoàng đều có một vẻ lạc loài day dứt, tồi tội. “Biết thân đến bước lạc
loài” (Kiều), nhưng lạc loài không phải chỉ vì họ bị bứt khỏi đời sống cộng đồng
ở quê hương để rồi phải “tha phương cầu thực nơi đất khách quê người” trong một
cộng đồng người Việt mới ở hải ngoại, trong một cuộc lựa chọn dù có phần hợp lý
nhưng vẫn là bất đắc dĩ. Ngay như “ông Bỉnh đã xấp xỉ năm mươi, dạo còn ở bên
nhà nghe đâu cũng đã thuộc hàng cán bộ cấp vụ cấp cục. Ông ta ở bên này giữ
chân đại diện tại khối SEV (tổ chức hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc phe
XHCN) đâu đó đã ba nhiệm kỳ, như thể trong nước không tìm được ai xứng đáng hơn
thay thế ông ta nữa” (tr.61).
Nhà ngoại giao chuyên nghiệp ấy đã biết tạo cho mình một cuộc
sống thoải mái cả trong công việc lẫn đời sống riêng tư. Trong công việc, với
“những gì ông ta đang thực thi tại SEV”, ông tự nhận thấy “mọi trù liệu hoạch định
mà bản thân ông cùng các đồng sự của ông đang nặn óc ta từng ngày từng giờ, so
với hiện tình mà dân ta đang phải đối mặt chỉ là trò “mèo cào sân gạch”. Vì vậy,
“không chịu chết chìm cả lũ với nhau”, ông tìm ra một giải pháp mà cũng là một
triết lý sống cho riêng mình: “thì ai có điều kiện, có hoàn cảnh cứ bơi vào bờ
đã. Để con thuyền Nôe kia vơi nhẹ đi. Còn hơn là cứ dăng díu, co quắp lấy nhau
cho sóng biển nhận chìm cả sao?”. Vì vậy ông ta “lạc loài”, buôn lậu.
Vì vậy, ông ta thoải mái “không cần che đậy vờ vịt”, quan hệ
bất chính với Liên “hệt như một cặp vợ chồng”, bởi “ông chồng của bà này thì
hám quyền lực, còn bà vợ tôi thì chỉ hám tiền thôi… Họ biết bám lấy những giá
trị thực, còn hai chúng tôi chỉ bám lấy những giá trị giả, tức thú tiêu dao
tháng ngày”(tr.63). “Tiêu dao” như thế nhưng ông ta vẫn cảm thấy lạc loài khi
nhớ mình “vẫn là thằng dân của nước Việt Nam” trong những chuyến công cán đây
đó, với tư cách nhà ngoại giao nơi hải ngoại, khi chợt nhớ đến cái thân phận phải
đóng một lúc mấy vai trong quan hệ với Liên: “Một anh chồng hờ, một chàng đầu bếp,
một con vú em”. Nói chi đến những Phương, những Liên, những Duy, những con người
ngơ ngác lạc loài thực sự trong truyện. Liên lạc loài giữa hai nỗi chán chường
vô vọng. Khinh bỉ chồng vì thói bon chen, dốt nát đớn hèn “nhưng lại muốn cưỡi
đầu cưỡi cổ thiên hạ”, chán chồng ví “cái cảnh miếng ăn chưa vào miệng đã bị giật
ra” trong đời sống chăn gối, cô bỏ sang đây “bồ bịch cho nó đã đời”. Bậm trợn,
huỵch toẹt như thế nhưng rốt cuộc Liên đã phải bật lên nức nở, tức tưởi: “Tôi
chán ngấy tận cổ cuộc sống vạ vật ở bên này rồi, nhưng về nước tôi còn ghê tởm
khủng khiếp hơn”.
Cô lạc loài giữa sự bất lực mà hãnh tiến của người đàn ông ở
nhà và sự phá bĩnh đàng điếm của Bỉnh, người đàn ông ở đây. Lạc loài trong nỗi
cô đơn của một chuyến ra đi không thành, cô tìm an ủi trong một lần lạc loài cuối
cùng, vô vọng ở “mười bốn giờ lơ lửng giữa không trung chả là người của quốc
gia nào cả” trong chuyến bay về nước với chồng con, khi bước qua barie cuối
cùng ở sân bay Seremechievô và trước khi tới Nội Bài (tr.177).
Thông minh nhưng nhẫn nhục, cam chịu, Phương, cô bạn gái cùng
phòng của Liên cũng từng thấm thía nỗi cô đơn lạc loài như thế, nhưng không “
sang trọng phù phiếm” như Liên, mà nhọc nhằn trong mối toan lo miếng cơm manh
áo đời thường. Khác với Liên, cô sang đây để “làm kinh tế”, để cứu vớt nền kinh
tế ọp ẹp của gia đình. Vì chồng con, cô tự nguyện lấy những chiếc nồi hầm,
những viên thuốc kháng sinh, những chậu nhôm làm mối quan tâm lo lắng thường nhật
của mình. Khi gặp Duy, người tình đầu đời dang dở, cô lại tình nguyện gánh vác
thêm cái gánh nặng kinh tế của gia đình Duy bên nhà.
Thông minh thào vát và chủ động là thế, “nhiều lúc Phương cảm
thấy ngoài những ngày tất tưởi đi lùng sục hàng ra, còn hệt như chị bị cắt đứt
mọi mối dây dợ gắn bó chị với cuộc đời, chị như người sa chân rơi xuống đáy sâu
của một khe hẻm thật ắng lặng, thật yên tĩnh, chị nằm dưới đáy mồ chờ cái chết
đang đến dần dần”… (tr.76) . Và thật khủng khiếp, cô đơn lạc loài tột đỉnh, khi
một lần đi mua hàng với Duy, lúc hai chồng chậu nhôm đứt dây buộc, “những chiếc
chậu bắt ánh nắng sáng loang loáng nhảy tâng tâng trên nền gạch lát nghiêng ở
công viên rồi lăn đi tứ phía”, ngượng và nhục, anh chàng họa sỹ đã túm lấy tóc
chị, mắng chị vô lối và oan ức: “Cút mẹ nó đi cho khuất mắt, thật là vô sỉ”(tr.30).
Tô Hoàng dừng lại ở đấy , kể sang chuyện khác, không để cho Phương phải khóc.
Nhưng người đọc, nhất là những ai đã từng có dịp qua Liên Xô hay những nước
XHCN Đông Âu trong những năm qua, hẳn không khỏi thấy cay nhức nơi sống
mũi. Thương cho Phương, thương cả cho mình. Và thương cho Duy nữa, cái anh
chàng họa sỹ lạc loài “lúc nào cũng khép kín, im lặng trong nỗi cô đơn của
mình”, như lời nhận xét của giáo sư Nataxon. Anh đã mắc phải căn bệnh nguy hiểm
nhất của thời buổi này” là “không chịu giao tiếp, cứ khép kín những mặc cảm
riêng tư lại”, vẫn như lời giáo sư Nataxon nói với Phương. Anh lạc loài, lủi thủi
trong “ngôi mộ Tào Tháo” (tr.51) của mình vì những mặc cảm tự ti, thấy mình
không đủ điều kiện hội nhập với nền văn hóa nghệ thuật chung của nhân loại. Anh
chưa được chuẩn bị đầy đủ cho cái ngày hôm nay, để được thoải mái ngang ngửa với
đám sinh viên Hy Lạp, Bắc Âu, Ả Rập bạn mình.
Anh đã lỡ nhịp bởi tuổi trẻ và niềm say mê nghệ thuật của anh
đã dành cho chiến tranh, cho những tháng ngày nghiệt ngã. Những ngày đó, khi
anh có tranh được mang ra tận Hà Nội triển lãm, cấp trên của anh vừa ngỏ ý muốn
cho anh ra nước ngoài học tập, lại cũng muốn điều anh trở lại chiến trường tham
gia một chiến dịch lớn sắp mở ra. Họ thử tinh thần anh mà anh không hay. Anh đã
thật thà bày tỏ nguyện vọng được ra nước ngoài học tập.
Và thế là một cơ hội bị tước đoạt và tương lai đóng sập lại
trước mắt anh: Anh phải nhanh chóng trở lại chiến trường vì “quan điểm, lập trường
đánh Mỹ chưa triệt để”. Để anh chịu thêm 3 năm đạn bom, bệnh hoạn, cơ cực nữa.
Và khi sang Nga lòng dạ anh đầy u uất, hoài nghi, buồn nản; anh không còn độ
tươi tắn, nhạy cảm của tuổi đi học. Nhưng rồi trái tim quả cảm của người lính vừa
bước ra khỏi cuộc chiến cũng không khỏi ngại ngần tìm một giới hạn bình an
trong sự “ngưỡng thiên”nghệ thuật của mình. Khi nghe giáo sư, người thầy bằng
tuổi mình tỏ thái độ phẫn nộ trước quan điểm xô vanh nước lớn, muốn áp đặt mô
hình Xô viết lên các nền văn hóa nghệ thuật của những nước gửi sinh viên sang học
tập ở Liên Xô, Duy đã nhận xét đượm buồn: “Ví như nhà trường Xô viết có đặt ra
những mục tiêu như vậy, nhưng vị tất đám sinh viên Hy Lạp, Bắc Âu, Ả Rập của
giáo sư đã tiếp thu khi mùa hè nào họ cũng đủ tiền bạc để sang chơi bên Ý bên
Pháp, bên Mỹ. Còn chúng tôi sang đây là cùng đường rồi. Sự “ngưỡng thiên” của
chúng tôi cũng chỉ giới hạn ở đây”(tr.170 – chúng tôi nhấn mạnh). Như vậy là rốt
cuộc, Duy còn bị lạc loài ngay trong cái “sự ngưỡng thiên” của mình. Điều thú vị
là, giáo sư Nataxon, người thầy bằng tuổi Duy, người đã nhìn thấy bằng tấm lòng
cảm thông, sự lạc loài của Duy giữa đám học trò quốc tế của ông, đến lượt mình,
hình như cũng là con người lạc loài ở xứ sở quê hương, bởi những quan điểm và ý
tưởng nghệ thuật của mình.
Dễ thấy một điều, dường như tiểu thuyết của Tô Hoàng không có
nhân vật nào hoàn toàn xấu, vậy mà câu chuyện vẫn không rơi vào hời hợt dễ dãi.
Dù hành lạc trắng trợn và trần tục như Bỉnh, Liên; dù vị tha phần nào thánh thiện
như Phương hay dù gian truân vật vã khi đánh mất mình rồi tìm lại được mình, để
cuối cùng vĩnh viễn mất mình trong cái chết êm ái mà oan khiên định mệnh như
Duy, những nhân vật của Tô Hoàng đều rất thành thực với chính mình, thành thực
đối diện với bản thân mình. Vì thế bên dưới cái dòng chảy tự sự của những câu
chuyện sinh hoạt đời thường dung dị, có lúc tục tĩu, là một mạch ngầm xiết xoáy
những nỗi niềm day dứt, thảng thốt như là sám hối. Chiều sâu triết luận của câu
chuyện nằm ở chính cái mạch ngầm sám hối này. Cái đêm không ngủ trần truồng của
Liên trước ngày về nước là gì nếu không phài là một lời sám hối đau đớn? Sự
chăm sóc muộn màng và cảm động của Phương dành cho Duy những ngày ở Liên Xô như
muốn bù đắp cho người yêu đầu đời của mình những thiếu thốn do sự vắng mặt trước
đây của mình, hành động ấy khi điềm đạm khi cuồng nhiệt, nhưng vẫn chỉ là một lời
sám hối dịu dàng khắc khoải vì vô vọng. Còn mối tình của Duy với Nadia, cô gái
Nga “lạc loài” có tên là Hy vọng, mối tình đạt tới tuyệt đỉnh của niềm ao ước
và sự mãn nguyện ấy cũng có gì khác hơn lời sám hối tuyệt vọng trong cơn hấp hối
của Duy. Có một lời sám hối nữa, như chung cho cả Duy lẫn Phương, và phần nào
cho cả những người như Liên: “Tựa như họ chưa từng sống, chưa từng yêu, chưa từng
bao giờ được thanh thản nhẹ nhõm trong những dự định, những ý nguyện riêng tư.
Tựa như họ sinh ra trên cõi đời này là để trù liệu những biến cố dữ dằn, những
mất mát chia ly họ phải gánh chịu, tiếp đến là những phấp phỏng âu lo… những phấp
phỏng âu lo quá đỗi tầm thường suy cho cùng cũng chỉ để cốt có miếng ăn đổ đầy
miệng, manh áo đắp lên thân…” (tr.84)
Hãy yên nghỉ, anh Duy. Đừng giật mình vì tiếng thét của Igor
tốt bụng khi thấy nhân viên hải quan Nga ở sân bay lạnh lùng, tàn nhẫn dốc ngược
chiếc bình đựng đám tro thân xác anh: “Đồ man rợ, chúng mày mất hết nhân tính rồi
sao?”… Hãy yên nghỉ, đừng giật mình, vì Phương dịu dàng, thông minh và quả cảm
của anh đã ở bên anh, đưa anh về với Đất Mẹ.
Hãy yên nghỉ , vì cái chết của anh đã là lời sám hối cuối
cùng, day dứt ám ảnh và đau đớn của những con người trung thực, “biết thân đến
bước lạc loài”!.
TP HCMinh, 2/4/1992
Bùi Khởi Giang
Nguồn: Tập san Văn hóa và Đời sống, số chuyên đề Những linh hồn bị ruồng bỏ, tháng 6 năm 1992
Theo https://vanhocsaigon.com/
Tuần báo Nhân Loại trong dòng văn học Sài Gòn
Tuần báo Nhân Loại
trong dòng văn học Sài Gòn
Trong bộn bề tài liệu, tôi đọc được những dòng chữ nầy
của GS. Trần Hữu Tá và Bằng Giang “40 năm trước, tôi được đọc những truyện ngắn
của Trang Thế Hy đăng trên tuần báo Nhân Loại bộ mới ở Sài Gòn năm 1956 – 1957.
Giữa Sài Gòn ngột ngạt của những năm đầu đất nước bị cắt chia, các cây bút yêu
nước như: Lê Vĩnh Hòa, Lý Văn Sâm, Tân Đức, Sơn Nam, Viễn Phương, Truy Phong,
Lê Văn, Thái Bạch, Ngọc Linh, Kiêm Minh… đã tụ hội lại, tạo nên một diễn đàn
văn nghệ có sức hút mạnh mẽ người đọc vùng đô thị miền Nam, buộc họ phải nghĩ tới
– dù những người viết đã rất kín đáo – thực trạng của đất nước, hiểm họa của
ngoại xâm, nguy cơ của cuộc sống bị Mỹ hóa và đạo đức truyền thống bị băng hoại.”
(Trần Hữu Tá). “Tờ Nhân Loại là ‘địa chỉ đỏ’ quy tụ nhiều cây bút kháng chiến
như Lê Vĩnh Hòa, Trang Thế Hy, Viễn Phương, Lưu Nghi, Kiêm Minh… Với 110 số báo
trong nhũng năm 56-59, Nhân Loại là tờ báo cách mạng công khai cần được nhắc tới.
Vậy mà lâu nay nó chìm trong quên lãng theo thời gian.” (Bằng Giang).
Những băn khoăn của hai nhà giáo cững là nhà nghiên cứu văn học
đã khiến tôi tìm hiểu về tờ báo nầy. Đọc nhiều văn bản về thời kỳ văn nghệ cách
mạng trong thời kỳ tạm chiếm cũng thấy viết những dòng chung chung. Điều nầy đã
thúc đẩy tôi đi tìm tài liệu để cố dựng lại lịch sử của tờ tuần báo nầy…
BỐI CẢNH SAU HIỆP ĐỊNH
Từ năm 1956 trở đi, chính quyền Ngô Đình Diệm “ra tay” mạnh với
những người kháng chiến cũ. Bắt bớ ký giả – đập phá báo Tiến Thủ của
Việt Tha Lê Văn thử khi đăng bài thơ Một Thế Kỷ Mấy Vần Thơ của Truy
Phong. Bắt nhiều cán bộ lãnh đạo phong trào báo chí công khai, những người viết
báo có khuynh hướng tiến bộ trong đó có tờ tuần báo Duy Tân do Lý Văn Sâm và
Dương Tử Giang (mướn lại của Nguyễn Ang Ca) ra ngày 25.6.55. Ngày 8.10.55 Lý
Văn Sâm và Dương Tử Giang bị bắt. Duy Tân đóng cửa.
Bên cạnh việc đàn áp bằng vũ lực, chính quyền Ngô Đình Diệm bổ
nhiệm Trần Chánh Thành làm bộ trưởng Bộ Thông Tin, Giám Đốc Nha báo chí là
Hoàng Nguyên đã tăng cường nhiều thủ đoạn bóp nghẹt báo chí. Bộ Thông Tin đã
ban hành nghị định số 269-NĐ/BTT ngày 15/10/54 ấn định rằng những người đã được
cấp giấy phép mà không xuất bản báo thì không được quyền cho người khác mướn
manchette tờ báo đã được cấp. Lý do: Sau khi Hiệp Định Genève được ký kết chính
quyền SG đã không cấp thêm giấy phép ra báo. Những tờ báo nhật báo đã có giấy
phép rồi cũng không được chuyển sang tuần báo và ngược lại. (Thiện Mộc Lan – Trần
Tấn Quốc 40 năm làm báo, trang 225).
Chúng tài trợ những tờ nhật báo của chính quyền như: Cách
Mạng Quốc Gia – Tiếng Dân của nha chiến tranh tâm lý, Dân Chúng, Tự
Do, Ngôn Luận, Chính Luận... và những nhóm làm văn học nghệ thuật.
TỰ LỰC CÁNH SINH
Từ sau Hiệp định Genève 10-1954, nhiều văn nghệ sĩ kháng chiến
ở Nam bộ được điều động về Sài Gòn. Họ phải tự kiếm sống và chiến đấu
bằng ngòi bút để tạo nên một phong trào sáng tác có nội dung lành mạnh, tiến bộ,
đề cao lòng yêu nước, chống ngoại xâm,chống bọn tay sai bán nước, bảo vệ hòa
bình, chống chiến tranh, chống độc tài gia đình trị.
Sau khi tờ tuần báo Duy Tân bị đóng cửa, Lý Văn Sâm
và Dương Tử Giang bị bắt (và sau nầy chết trong tù) Giáo Sư Nguyễn Văn Hiếu (tức
Khải Minh, bí thư ban trí vận thành ủy 1949-1957) phụ trách báo chí chỉ đạo Trường
Xuân Trúc và Nguyễn Bảo Hóa (Tô Nguyệt Đình) phải tổ chức một tuần báo
văn nghệ tiếp tục đường lối đấu tranh đòi hiệp thương thống nhất. Hai ông đã
liên hệ mướn được manchette tờ Nhân Loại của Anh Đào để lấy thế công
khai hợp pháp. Tờ tuần báo nầy ra từ năm 1953, sáng lập là Trần Đức Ước, chủ nhiệm
kiêm chủ bút là Anh Đào đã thay nhiều đời thư ký tòa soạn (TKTS). Từ tháng
12/55 Thư ký tòa soạn là Dương Hà.
Tờ tuần báo thời sự – xã hội Nhân Loại do những nhà
văn kháng chiến bỏ tiền túi ra mắt vào cuối tháng 11/1956 với thành phần : Chủ
Nhiệm kiêm chủ bút Anh Đào (người cho thuê manchette không chỉ đạo nội dung),
Thư ký tòa soạn Thùy Lê Anh (Nguyên Hùng ) có sự cộng tác của Sơn Nam, Bình
Nguyên Lộc, Tiêu Kim Thủy, Lê Dân, Trường Xuân Trúc ngay số đầu tiên. Nguyên
Hùng cũng vừa mới lên Sài Gòn gặp được Trường Xuân Trúc rũ làm báo Nhân Loại và
mỗi người phải đóng 500 đồng vì không có ngân khoản nào của cách mạng tài trợ.
Sở dĩ ông được chọn làm TKTS là do có giấy tờ công khai sớm hơn mọi người.
Ngày thượng bảng tuần báo Nhân Loại trước của nhà in Hồ Văn Lợi, 316 bến Chương
Dương chỉ có ba mống là Nguyễn Bảo Hóa người thay mặt bộ biên tập
giải quyết những chuyện nghiệp vụ, Trường Xuân Trúc và Nguyên Hùng. Theo lời
Nguyên Hùng, ông chỉ là người thường trực tại TS được giao vài việc nhẹ
nhàng như đọc thư từ của bạn đọc nếu cần thì trả lời. Kế đó là đọc bản thảo
các nơi gủi tới ‘góp ý đăng được hay không? Được giao nhiệm vụ đọc báo ngoại quốc
như seleection hay consellation. Ông chỉ làm TKTS được vài tháng rồi bàn giao
cho người khác.
Đến số 14 bộ mới ra ngày 28/7/56 tờ tuần báo Nhân Loại
cải biến nhẹ nhàng là tờ tuần báo VĂN NGHỆ – THỜI SỰ XÃ HỘI. Lúc nầy Nguyên
Hùng không còn làm Thư ký tòa soạn nữa nhưng trong thần phần biên tập không ghi
tên thư ký tòa soạn. Tờ tuần báo nầy giá 6 đồng 36 trang. Số đầu tiên đổi mới nầy
có bài của Tân Đức. Từ số nầy, tờ báo có khuynh hướng văn nghệ rõ hơn mặc dầu bộ
cũ vẫn có văn của Lê Vĩnh Hòa, Viễn Phương, Ngọc Linh…Đến số 41 (15/2/57) mới
có tên Ngọc Linh là Thư ký tòa soạn nằm trên mancchette báo.
TUẦN BÁO VĂN NGHỆ MANG SẮC THÁI NAM BỘ
Trong khoảng thời gian từ sau hiệp định Giơ-neo, tại Sài
Gòn-thủ phủ chính trị của miền nam xuất hiện nhiều tờ nhật báo.Riêng phía cách
mạng có những tờ Tiếng Dội (Triệu Công Minh), Trời Nam (Lương Ngọc), Dân Chúng
(Trường Xuân Trúc), Lẽ Sống (Nam Thanh) Buổi Sáng, Ánh Sáng…Những tờ báo nầy
mang tính chất thời sự chính trị hơn là một tờ báo văn nghệ.
Sau đó, chính quyền miền nam tài trợ cho ra những tờ tuần báo
văn chương như nhóm Sáng Tạo gồm những văn sĩ từ miền bắc di cư vào nam. Theo
Thế Phong “Sáng Tạo gồm: Trần Thanh Hiệp (tập sự luật sư), Nguyên Sa, Doãn Quốc
Sĩ, Thanh Tâm Tuyền… cùng các văn nhân vệ tinh khác vây quanh. Mai Thảo huênh
hoang, dao to búa lớn cầm cờ cổ súy phong trào lấy văn hóa làm phương tiện chống
Cộng mới hiệu quả, có tính chiến lược lâu dài … “đem ngọn lửa văn hóa vượt vĩ
tuyến sáng lên ở đây hôm nay… Sài Gòn là Thủ đô văn hóa v.v… Và quả thực mãnh lực
đồng Mỹ kim, có giá trị siêu đẳng, từ đó khiến kẻ bao thầu văn không còn ngứa cổ
hót chơi như chim thơ tiền chiến Xuân Diệu hót hoài, hót mãi âm điệu: “… Năm
1954 còn ghi lại chối lòa cái đẹp của mùa mới, cái đẹp của lên đường (…) Khởi đầu
của từng hoạt động văn học, từng phát động nghệ thuật, nói chung, của ta tuyệt
đúng, tuyệt hay…!” (Thế phong). Rồi nguyệt san chính trị văn học Quê
Hương với những bài viết của Ngô Đình Nhu, Từ Chung, Nguyễn Cao Hách… Tiếp
theo đó là Nhất Linh với Văn Hóa Ngày Nay (1958), Bách Khoa của
Huỳnh Văn Lang và Hoàng Minh Tuynh (hai viên chức cao cấp trong chính quyền Ngô
Đình…
Lúc ấy tờ tuần báo Nhân Loại là tờ tuần báo văn nghệ của ‘những
cây bút miền nam’ đứng ‘thoi loi’ ,với ngôn ngữ miền nam rặt chống chọi lại
ngôn ngữ văn chương miền bắc, cao siêu mà Lữ Phương gọi là ‘văn nghệ hũ nút’. Họ
đã tạo được một thế đứng riêng biệt không thể phủ nhận được khi viết về nông
thôn miền nam và tạo thành một khuynh hướng đối lập về ngôn ngữ cũng như khuynh
hướng chính trị trong cách phản ánh hiện thực bằng văn chương. Võ Phiến đã nhận
định: ‘Cá tính miền nam hiển hiện rõ rệt trong nền văn học chúng ta thời kỳ
54-75 hiển hiện có ý thức… Sự hồi đầu của họ (những nhà văn nhóm Nhân Loại- Người
viết) về Nam là một chủ tâm. Cá tính văn học miền nam là điều không thể phủ nhận
và nó rất hấp dẫn. Sự phát huy bản sắc miền nam là một đóng góp thật quan trọng
vào nền văn học VN….’ ‘Nhìn chung từ trước tới sau suốt thời kỳ 54-75 lúc
nào cũng có những nóm văn nghệ sĩ gần nhau không hẳn vì lập trường văn nghệ mà
là vì một quan điểm chánh trị …Quan điểm, Nhân Loại, Tự Do…Văn học thời kỳ nầy
mang đậm màu sắc chánh trị…’
NHÂN LOẠI – ĐẤT ƯƠM TÀI NĂNG MIỀN NAM
Một nhà văn bắt đầu sự nghiệp ngòi bút của mình ắt hẳn rất cần
một tờ báo văn nghệ có cùng chí hướng. Có tờ báo nghĩa là có đất dụng võ, tạo
trớn cho tài năng phát triển. Noi theo những cây bút nhà văn miền nam đã nổi tiếng
với các tác phẩm ‘máu lửa’ như Tô Nguyệt Đình, Lý Văn Sâm, Viễn Phương, Thẩm Thệ
Hà… các cây bút trẻ lúc ấy như Lê Vĩnh Hòa, Trang Thế Hy, Ngọc Linh đã bắt
đầu cầy xới cánh dồng chữ nghĩa của mình trên cánh đồng Nhân Loại.
Nhà văn Trang Thế Hy có truyện ngắn đầu tiên là ‘bức tranh…
trên Nhân Loại số 20 (7/9/56). Ngoài những truyện ngắn đăng trên Bách Khoa,
chưa chính xác nhưng ít nhất ông đã có 16 truyện đã đăng trên Nhân Loại
như: ‘Nắng Đẹp Miền Quê Ngoại’, ‘Áo Lụa Giồng’, ‘Vừng trăng bên kia sông’,
‘Bức Tranh Không Bán’… GS Trần Hữu Tá đã nhận xét: “Trang Thế Hy đã dựng lên những
cảnh trí Nam bộ với đặc trưng khó lẫn. Những rặng tràm thưa, những cội vông đồng
soi bóng đỏ ối trên gương nước, những xuồng con lắt lẻo trên đồng sâu, những biển
cỏ mênh mông xào xạc, những con kinh mùa nắng nước phèn trong như lọc, “nhìn
thì đẹp nhưng hớp vào chua quéo miệng…”.
Trong không gian nghệ thuật rất gợi ấy, cũng như các cây bút
Nam bộ đàn anh kể trên, trong các trang văn của Trang Thế Hy ẩn hiện đi về những
con người Nam bộ – đặc biệt là người nông dân, trẻ có già có, nước da đen đúa,
quần áo lôi thôi, nói năng thô cộc nhưng trung thực, thẳng ngay, nghĩa khí: “Uy
vũ bất năng khuất”.
Khác với Hồ Biểu Chánh, Phi Vân…, cảnh trí và con người Nam bộ
trong tác phẩm Trang Thế Hy đang bị quay cuồng trong dông bão, ngày ngày rỉ máu
do tội ác của thế lực ngoại xâm.
Không tiện trực diện đề cập đến sự can thiệp ngày càng sâu của
Mỹ, nhà văn nhắc đến tội ác chiến tranh của đạo quân xâm lược Pháp trước 1954
và về thân phận bi đát của những người dân lương thiện trước dục vọng và bom đạn
của kẻ thù (Nắng đẹp miền quê ngoại, Áo lụa giồng…).
Cách viết kín đáo xa xôi, mượn xưa nói nay, mượn ngoài nói
trong, thậm chí mượn chuyện hoang đường hư huyễn để gửi gắm những ý tưởng cháy
bỏng của mình, giai đoạn sáng tác này của Trang Thế Hy cũng như Lê Vĩnh Hòa, Viễn
Phương, Nguyễn Văn Xuân, Vũ Hạnh… đã sử dụng rất nhuyễn, và đã tác động sâu sắc
đến tư tưởng người đọc thành thị miền Nam.
Thế nhưng khi có điều kiện ông cũng không ngần ngại đề cập đến
mặt trái của xã hội Sài Gòn đang trượt dài trên dốc của lối sống vật chất chủ
nghĩa: cô con gái nhà lành phải nuốt nhục, bán mình để nuôi em ăn học, nhưng rồi
không chịu nổi nỗi ô nhục ghê gớm đó, cô gái đã tự tử (Một thiếu nữ không đáng
kể).’
Nếu như Trang Thế Hy bắt đầu đăng truyện ngắn đầu tiên trên
Nhân Loại vào năm 32 tuổi thì Lê Vĩnh Hòa bắt đầu có truyện ngắn đầu tay
của mình trên Nhân Loại khi ông 24 tuổi. Hầu như tất cả truyện ngắn của
ông viết trong thời kỳ tạm chiếm (56-58) đều đăng trên Nhân Loại trừ một tùy
bút đăng trên báo Bông Lúa. (Sóc Trăng- 1956). Theo ước tính trong những năm 56
đến khi bị bắt ông đã sáng tác được 29 truyện, tùy bút (và 5 bài thơ) trên báo
Nhân Loại. Lê Vĩnh Hòa dùng truyện ngắn của mình để vạch trần sự tàn bạo của cuộc
chiến tranh phi nghĩa, đã giết chết những ước mơ giản dị. Ông có cách viết ngắn
gọn, cô đọng, phong phú và đa dạng. Thực ra, ông sinh trưởng tại Bình Định
nhưng vì đã theo cha vào sống ở xã Vĩnh Hòa (Rạch Giá) từ nhỏ nên ông đã ảnh hưởng
lối sống, suy nghĩ và phong cách viết của người miền nam: giản dị trong ngôn ngữ
đối thoại, đôi lúc trữ tình kết hợp với hài hước.
Cũng giống như Trang Thế Hy, Lê Vĩnh Hòa, Nguyên Hùng… khi về
thành, chàng trai Sơn Nam ‘chưa quá ba mươi. Tác phẩm đầu tay của Nhà văn Sơn
Nam là một tập thơ mang tựa đề Lúa reo, do Hội Văn hoá kháng chiến Kiên Giang
xuất bản năm 1948. Năm 1951-1952, hai truyện ngắn Bên rừng Cù Lao Dung và Tây đầu
đỏ, ông đã giành giải nhất trong cuộc thi do Uỷ ban Kháng chiến-Hành chính Nam
bộ tổ chức. Tuy nhiên, ông lại nổi danh trên văn đàn là tập truyện ngắn Hương rừng
Cà Mau ( Phù Sa xuất bản năm 1962). Điều khó khăn vẫn là hội nhập với giới cầm
bút Sài Gòn…’ Và Sơn Nam (không nói rõ nhờ ai giới thiệu) đã bắt đầu sự nghiệp,
rồi để sau nầy trở thành nhà nam bộ học từ phóng sự ‘Lên Đỉnh Tà Lơn’. Tại sao
ông chuyên khảo cứu về nam bộ . Hãy đọc những dòng tâm sự chân thành: ‘Đọc chơi
mấy tập san mua lúc mới lên Sai Gòn, tôi sự nhớ còn một nhu cầu cấp bách về học
hỏi. Nếu người ta chú ý đén vai tròn con ba khía trong từng lớp nghèo ở ven biển,
tại sao ta không thử nghiên cứu đến những co lươn, con rùa, con ếch, con rắn
trong sinh hoạt của dân khẩn hoang vùng U Minh, vùng ven biển Cà Mau…Muốn hiểu
hồn dân tộc thì nên xem việc khẩn hoang với những trung tâm văn hóa dân gian, tại
sao phát sanh bản vọng cổ…’ Tâm niệm nầy là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời viết
văn của Sơn Nam. Và tất cả những ‘Chuyện xưa tích cũ’ (1958), ‘Tìm Hiểu Đất Hậu
Giang (1959),’ Hương Rừng Cà Mau’ (1962), ‘Chim Quyên Xuống đất’(1963) đều là
những truyện ngắn, biên khảo đã đăng trên Nhân Loại.
Nói đến Nhân Loại, ngoài Kỹ Sư Nguyễn Văn Hiếu, Tô Nguyệt
Đình, Trường Xuân Trúc,Nguyên Hùng… không thể không nói đến vai trò ‘bếp núc’ của
Ngọc Linh – người làm thư ký tòa soạn trẻ nhất, năm 21 tuổi. Tôi không rõ Ngọc
Linh chính thức làm thư ký tòa soạn từ lúc nào chỉ biết về mặt danh chánh ngôn
thuận thì ông có tên trên mancchettet từ số 41 (15/2/57). Mặc dầu vậy, ông đã
xuất hiện với bài báo về một nghệ sĩ cải lương từ số 8, rồi truyện ngắn ‘Tàn một
Ngọn Đèn’ trên số 11. Từ đó ông thường xuyên xuất hiện với những bài phóng sự
như ‘Đồng Tiền Rắc Máu’, viết truyện lịch sử bằng tranh. Và tiểu thuyết đầu tay
của ông là ‘Trên Sông Hoàng Hôn’ in vào số 88 (10/1/58). Đến ngày 22/8/58, tuần
báo Nhân Loại ra bộ mới số 1, khổ 18×21 với tình chất là tập san Văn Nghệ vẫn
do Ngọc Linh làm TKTS. Lần cuối ta thấy tên ông với nhiệm vụ là TKTS là số xuân
Kỷ Hợi phát hành vào tháng 2/59.
Tuy số tác phẩm của Ngọc Linh trong thời kỳ nầy để lại không
nhiều (có lẽ do nhiệm vụ TKTS) nhưng những truyện ngắn và tác phẩm của ông cảnh
báo về sự phân hóa suy đồi ỡ các đô thị miền nam. Sau khi Nhân Loại bị đóng cửa,
ông tiếp tục làm cho báo Lẽ Sống – cũng là một tờ báo của cách mạng.
Phải nói là tất cả những tác phẩm của Sơn Nam, Trang Thế Hy,
Lê Vĩnh Hòa, Ngọc Linh đăng trên Nhân Loại đều được in thành sách. Từ năm 1957,
tập truyện ngắn ‘Chiếc Áo Thiên Thanh của 4 tác giả: Lê Vĩnh Hòa ( 8 truyện),
Tiêu Kim Thủy, Viễn Phương, Ngọc Linh – mỗi người một truyện do NXB Trùng
Dương phát hành. Rồi sau đó là của ‘Nắng Đẹp Miền Quê Ngoại’ (Văn Phụng Mỹ),
‘Mái Nhà Thơ’ Lê Vĩnh Hòa.
Ngoài những cây bút miền nam đã thành danh như Tô Nguyệt
Đình( Nguyễn Bảo Hóa-Tiêu Kim Thủy), Viễn Phương, Thẩm Thệ Hà, Bình Nguyên Lộc
trên tờ Nhân Loại xuất hiện những cây bút miền nam trẻ như Sơn Nam với những
truyện về miền nam đầu tay như : ‘Lê ĐỉnhTà Lơn’, ‘Con Mèo Mặt Biển’, ‘Bác Vật
Xà Bông’… Lê Vĩnh Hòa với truyện ngắn đầu tay ‘Vỏ Cà Rem’ (NL, số 1) rồi tiếp tục
là ‘Áo Vải Tim Vàng’ (đoạt giải ba cuộc thi truyện ngắn bằng hiện kim là 500 đồng),
‘Đôi Bạn’,’Lúc Chiều xuống’… Rồi Văn Phụng Mỹ (Trang Thế Hy) xuất hiện với truyện
ngắn đầu tay là ‘Oan Tình’ (NL số 20 ngày 7/9/56). Nhà thơ Kiên Giang đầu tiên
xuất hiện trên NL với bài thơ ‘Quán Giữa Đồng (số 34). Riêng Ngọc Linh trước
khi làmThư ký Tòa soạn đã có những bài báo viết về kịch trường như ‘Ngày cuối
cùng của tài danh Tư Út’, ‘Mười Bửu’, và bút chiến sân khấu về đường lối sân khấu
ký tên là Thủy Linh và Tiền Giang. Ông có truyện ngắn đầu tiên trên Nhân
Loại là ‘Tan một Ngọn Đèn’…Bên cạnh dó còn những cây bút miền nam khác góp mặt
không thường xuyên như Cô Hợp Phố, Lê Dân, Vĩnh Điền, Trường Xuân Trúc… Sau nầy
Viên Linh đã nhận định ‘Thế hệ văn học đầu của Miền Nam qui tụ quanh các báo
Nhân Loại, Sáng Tạo, Bách Khoa, Thế Kỷ Hai Mươi, Hiện Đại…”
Để phát hiện thêm tài năng văn nghệ cùng chí hướng, số 6
(2/6/56), tuần báo Nhân Loại bắt đầu đăng thể lệ ‘Cuộc thi truyện chọn lọc’ với
ba tiêu chí hữu ích, thiết thực, xây dựng với ‘Ban Duyệt Cáo’: Trưởng Ban chịu
trách nhiệm Anh Đào, Thư Ký Bình Nguyên Lộc và Thùy Lê Anh. Và đúng như mong đợi,
cây bút mới và trẻ (24 tuổi) Lê Vĩnh Hòa đã đạt giải ba với truyện ‘Áo Vải Tim
Vàng’ với hiện kim là 500 đồng. Sau nầy cùng góp phần với những cây bút Nhân Loại
Sẵn có, Lê Vĩnh Hòa là một ‘chiến tướng’, xuất hiện thường xuyên. Đúng là
‘Quý hồ tinh, bất quý hồ đa’. Tất nhiên, Lê Vĩnh Hòa cùng những cây bút
miền nam tại Nhân Loại đều lấy đề tài từ nông dân nam bộ với hoàn cảnh nô lệ
trong thời kỳ thuộc Pháp. ‘Những rặng tràm thưa, những cội vông đồng soi bóng đỏ
ối trên gương nước, những xuồng con lắt lẻo trên đồng sâu, những biển cỏ mênh
mông xào xạc, những con kinh mùa nắng nước phèn trong như lọc, “nhìn thì đẹp
nhưng hớp vào chua quéo miệng…”. (Trần Hữu Tá).’Những cây bút nầy viết về miền
nam với ý thức ‘muốn tìm về đề tài dân tộc, ngòi viết văn nghệ phải hướng về
nông thôn. Gắn với tình cảm nông thôn mới trình bày được cảm quan dân tộc…Muốn
tạo được những tác phẩm hợp với cảm quan đại đa số quần chúng, văn nghệ phải từ
nông thôn mà ra và trở về với nông thôn’ (Lý Văn Sâm).
Trụ lại giữa lòng địch phải trực diện đấu tranh, chấp nhận trả
giá trong cuộc đối đầu không cân sức. Trăm phương ngàn kế và kiếm sống, kiếm tiền
ra báo vừa có thể sáng tác đáp ứng yêu cầu kịp thời của cách mạng các nhà văn
miền nam nầy cũng khéo léo ‘viết và lách’để có thể tồn tại mà chiến đấu bằng
ngòi bút. Họ không thể chiến đấu trực diện với quân đội Mỹ, chính
quyền miền nam như những nhà văn sống trong chiến khu nên họ mượn hình ảnh người
nông dân và nông thôn thời Pháp thuộc nhưng hàm ý nói về cuộc sống của
nhân dân miền nam thời kỳ sau Gieneve. ‘Viết văn viết báo phải có cách luồn
lách ngòi bút qua mắt kiểm duyêt. Mục đích của người viết là làm sao đưa trót lọt
nội dung yêu nước vào bài viết của mình khi hoạt động trong lòng địch’ (Lý
Văn Sâm. )Tất cả sáng tác ít nhiều bộc lộ lời tố cáo chế độ phi nghĩa lên án Mỹ
mở rộng cuộc chiến tranh ở miền nam như nhưng những câu trong bài thơ ‘Xuân
Nhân Loại’ của Lê Vĩnh Hòa: ‘Từ thở xuân về trong man rợ/ Máu về theo với kiếp
điêu linh… Xuân hỡi, một mùa xuân nhân loại/ Đã đến đâu đây giữa tiếng cười…’
‘Cách viết kín đáo xa xôi, mượn xưa nói nay, mượn ngoài nói
trong, thậm chí mượn chuyện hoang đường hư huyễn để gửi gắm những ý tưởng cháy
bỏng của mình, giai đoạn sáng tác này của Trang Thế Hy cũng như Lê Vĩnh Hòa, Viễn
Phương…đã sử dụng rất nhuyễn, và đã tác động sâu sắc đến tư tưởng người đọc
thành thị miền Nam.’ (Trần Hữu Tá). Bộ trưởng thông tin là Trần Chánh Thành đã
đánh hơi được tuần báo Nhân Loại có khuynh hướng ‘thân cộng’ nên đã tìm cách
đóng cửa. Không như tờ nhật báo Tiến Thủ, Nhân Loại có một cái chết rất
‘dịu êm.’ Dù biết Nhân Loại là một tờ tuần báo có hơi hướng thân cộng
nhưng bị kẹt trong thế dân chủ giả hiệu không thể kiểm duyệt bài, không thể
chính thức đóng cửa nên bọn chúng bắt Nhân Loại đưa về Tổng Phát hành
Thống Nhất. Nha tổng phát hành Thống Nhất do chính quyền nắm mạng lưới phát
hành thay thế cho hệ thống phát hành tư nhân. Bộ phận nầy là thêm một tầng
nấc kiểm duyệt báo chí. Nếu báo vuột được kiểm duyệt ở Bộ Thông tin thì ở khâu
phát hành bọn chúng sẽ báo ngay cho Bộ Thông tin để ách lại.
Theo chỉ thị, Tổng Phát hành Thống nhất chẳng chịu phát hành
tờ Nhân Loại, chỉ bán lấy lệ rồi trả hàng đống báo về cho tòa soạn.
Trong thời gian ấy có vẻ như để quẫy đạp, trên Nhân Loại người ta đọc được một
lời kêu gọi sau: ‘Thể lệ về Cổ động viên Nhân Loại: kính gủi các bạn yêu văn
nghệ, các hiệu đoàn, tư nhân hay hiệp hội. Nhân loạii đang cần nhiều Cổ Động
Viên ở Đô thành và các tỉnh. Nhân Loại tha thiết kêu gọi sự hợp tác chặt chẽ của
quý bạn. Cổ Động Viên có nhiệm vụ giới thiệu tờ báo và tìm độc giả mua báo dài
hạn. Góp nhặt ý kiến độc giả và gởi đề nghị canh tân tờ báo. Cổ Động Viên được
tặng báo thường xuyên, ưu tiên xem xét bài vỡ và có bút phí theo thể chế biên tập.
Cổ Động Viên được hưởng huê hồng 20 o/o trên tiền báo bán được…’Kết quả
vì không có tiền quay vốn nên Nhân Loại chỉ sống được số 10/59 rồi
tự động trả lại manchette cho Anh Đào. Bắt đầu từ số 11/59 không còn tên Ngọc
Linh là thư ký tòa soạn và tòa soạn dời về đường Nguyễn Công Trứ. Tiếp đó,
Trang Thế Hy, Lê Vĩnh Hòa, Sơn Nam bị bắt. Trước đó, vào tháng 2/1958, Trường
Xuân Trúc, Nguyễn Bảo Hóa, Nguyên Hùng bị bắt cùng nhà báo Triệu Công Minh
trong vụ án 11 ký giả và ba trí thức khác, Lê Vĩnh Hòa bị ‘lượm’ vào tháng
10/58, Sơn Nam và Trang Thế Hy cũng không thoát khỏi vào năm 60 và 62.
Qua 110 số tuần báo văn nghệ Nhân Loại do những người kháng
chiến thực hiện dưới sự chỉ đạo của Ban Trí Vận (Bí thư Nguyễn Văn Hiếu) không
còn nữa nhưng tác dụng tố cáo và đòi hỏi thống nhất có tác động đến tâm tư và
tình cảm của người đọc và Nhân Loại cũng có mặt góp phần vào tiến
trình văn nghệ miền nam những năm 56-60, cũng như dòng văn học
kháng chiến trong lòng địch. Tuần báo Nhân Loại cùng với các nhà văn chiến sĩ
đã cho ra đời những tác phẩm có giá trị về nghệ thuật và nội dung như nhà thơ
Chế Lan Viên đã nhận định: ‘Nhờ các nhà văn Nam bộ chúng ta đã khám phá, phát
hiện ra chất liệu đã làm nên cái miền đất ‘máu thịt của VN’ (Tạp văn của Đoàn
Giỏi 1987). Ngày nay khi đọc lại những truyện ngắn, truyện dài, bài báo
trên Nhân Loại một cách nhàn nhã như tìm một chút hoài niệm của lịch
sử, chúng ta không thể hình dung hết được khi viết nên những dòng, con chữ thì
nhà văn trong nhóm Nhân Loại đã chịu đựng nhiều áp lực như thế nào. Một bên là
cuộc sống dễ chịu đang rộng mở và một bên là nhà tù đang chờ và nhóm Nhân Loại
vẫn viết để phục vụ cho lý tưởng của mình và khi bị bể thì ‘ta ở tù rồi vô
khu’. Thật là đơn giản và thanh thản khi đời họ đã chọn cho mình một con đường!
Không có điều kiện nghiên cứu sâu, toàn diện những mặt mạnh
và mặt hạn chế của tờ Nhân Loại, tham luận nầy chỉ như là một phác thảo,
một gợi ý cho một những nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học tìm hiểu sâu
thêm về tờ báo nầy. Một tờ tuần báo tự thân sống và chiến đấu cũng như là đất để
khởi nghiệp cho những cây bút tiếp tục có nhiều đóng góp giá trị cho văn học miền
nam sau những năm 75 của những cây bút nòng cốt của tờ Nhân Loại đáng
quí này như lời của GS Trần Hữu Tá “Lịch sử văn học VN hiện đại cho đến nay vẫn
chưa trân trọng ghi công đúng mức tờ báo xuất sắc này”.
Tài liệu tham khảo:
1) Tuần Báo Nhân loại: các số từ năm1953, 1955, 1956,
1957, 1958, 1959.
2) Thiện Mộc Lan, ‘Trần Tấn Quốc 40 năm làm báo, NXB Trẻ,
2000.
3) Lê Vĩnh Hòa, tuyển tập, NXB Văn Nghệ TPHCM. 1986
4) Hồi Ký Sơn Nam 20 năm giữa lòng đô thị. NXB Trẻ 2004
5) Nguyên Hùng, ‘Chém Vè Giữa Làng Báo Sài Gòn’, NXB
CAND.
6) Bằng Giang, Hoàng Hà, Nguyễn Mẫn ‘Báo Chí yêu nước
Sài Gòn, mặt trận công khai.
7) Trần Hữu Tá ‘Đọc Trang Thế Hy’, Tuổi Trẻ Cuối Tuần,
10/2008
8) Võ Phiến-Tổng Quan Văn Học Miền Nam, 2010.
9) Thế Phong, Lược Sử văn học miền nam.
10) Ngọc Linh, Nhớ Lê Vĩnh Hòa, NXB Sân Khấu 1993.
11) Tầm Nguyên, Quốc Phượng ‘Báo chí Sài Gòn trong 30
năm kháng chiến 45-75
3/3/2020
Lê Văn Nghĩa
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Thơ tình Chế Lan Viên
Thơ tình Chế Lan Viên Lâu nay, khi nói hay viết về Chế Lan Viên, người ta thường chỉ biết Chế Lan Viên, một nhà thơ chính luận, thiên về t...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...



