Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

 

Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên

Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.

"Ngậm lời ru,

Ru mẹ ngày xưa

Bà đưa mẹ đến

Giấc trưa say nồng

Để nay mẹ bế mẹ bồng

Mẹ ru con cả

Tiếng lòng thương yêu" (Lời ru)

Khi nhắc đến lời ru người ta thường nghĩ ngay đến tình mẫu tử, tình bà cháu vì vốn dĩ đó là những người tạo ra lời ru, gắn bó lời ru thông qua những câu ca dao, bài hát mỗi ngày để cho bao đứa trẻ được say giấc nồng. Lời ru theo từng người lớn lên, chất chứa bao yêu thương, thắm đượm bao gửi gắm. Ấy vậy mà, với tập thơ "Ru say mượn tình, Ru tình mượn nhau" của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên cho ta một sự thấu cảm khác về lời ru đó là "Ru Anh".

Toàn tập thơ theo thể thơ lục bát với 34 bài "Ru Anh" và 30 bài thơ "Mượn" mà tác giả đã mượn tất cả những gì thuộc về người mình yêu như cái lẽ dĩ nhiên khi người ta đang nồng nàn say đắm. Có những bài thơ bốn câu, tám câu, mười hai, hai mươi hai câu... Tôi tin tất cả những gì ngắn dài ấy là cả sự thổn thức của một trái tim da diết, nhiều nhạy cảm và khát khao chân thật.

Tôi đã thắc mắc nhiều khi đọc thấy từ "ru" và được lập lại đều đặn 34 bài thơ, có những câu như "à ơi " quen thuộc và nối liền nhau liên khúc ca. Như trong Kinh Thánh có câu: "Người phụ nữ là chiếc xương sườn của người đàn ông". Từ thuở xa xưa, người phụ nữ luôn là người "đứng sau" theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng với người chồng, người yêu và bị những điều phong kiến ràng buộc, từng quy tắc giam cùm. Và khi xã hội phát triển, thì hiện tại người phụ nữ vẫn một số nơi, một số lĩnh vực khía cạnh cuộc sống vẫn đã và đang đấu tranh giành cái quyền lợi công bằng cho mình. Và từ "Ru" theo tôi lại là lời của người mẹ dành cho con mình bằng tâm tư tình cảm thiêng liêng ngọt ngào. Một vị trí cho nhiều hơn nhận, cao nhiều hơn thấp. Nhưng có lẽ không phải đặt vào vị cao thấp, trước sau, không khép nép rụt rè mà đầy quyết đoán.  Tôi đoán rằng, chị muốn mượn cái tình cao đẹp, hy sinh, bao dung, cái sự ngọt ngào tha thiết nhất để dành cho người chị yêu thương. Mà trong đó có sự bảo bọc, tựa nương, thấu hiểu. Từ đầu chị cũng nói rằng "Em ru là để anh say/ Anh vùi vào mộng, anh ngây vào tình". Cái khát khao của người phụ nữ muốn người đàn ông thương mình sâu sắc, đậm đà dẫu thời nào cũng vậy. Nên từng câu thơ tuông chảy như dòng suối khi thì uốn cong, khi thì đổ ào ạt, khi thì mềm mại biết bao, khi thì dạt dào mãnh liệt. Hoặc cũng có thể nói ngược lại rằng, chị ru người yêu như ru chính mình qua những đêm lạc, đêm đau, đêm cất bài ca và đêm trào nước mắt "Em ru như thể dỗ dành chính em". Trong những bài thơ chị dùng những hình ảnh thật sinh động để nói về muôn kiểu lời ru, những từ nhiều gợi mở như "leo, bò, trườn, nghịch, chơi, chọc ngoáy, va chạm,... " . Mạnh mẽ vô vàn ấy thì đôi khi chị vẫn mang những trở trăn, yếu mềm. Những câu hỏi tự hỏi mình hỏi người để cho nỗi niềm vẫn dâng trào không nguôi. Tự biện bày yêu và tự trao chuốt giấc mộng rất bình thường.

"Em giờ nhòa nhạt lung linh/ Chỉ còn sẹo - lỗi dáng hình tàn xuân", "dẫu quá cũ dẫu xém già" để rồi "Anh cứ nhắm mắt chẳng cần nhìn đâu"  hay "Ru nhau cho trọn đêm này/ Mai kia mốt nọ lá bay kiếp người ". Trong chị là nhiều cung bậc cảm xúc của người phụ nữ khi yêu, rất nồng nàn nhưng cũng đôi lúc lo lắng vẩn vơ, sợ chưa được đẹp lòng người yêu và cũng vội vàng trước thời gian, sợ như bông hoa sớm nở tối tàn, một tình yêu "yêu cuồng sống vội " có khi gào xé, cuồn cuộn, có khi mong manh vì những suy tư. Dằn xé như vậy nhưng đôi khi chính chị cũng có những hồ nghi, dứt khoát, muốn sống trọn giây phút rồi mai này ra sao cũng được. " Ru anh chẳng hẹn sum vầy/ Quay lưng là chốt lại ngày lãng quên", "Ru anh cạn tiếng từ bi/ Còn lại đêm với lâm ly bóng tàn".  Một tâm tình của "quỷ sứ, hồ ly" mà bất cần. Những giây phút tưởng chừng nổi loạn, bất chấp nhưng cũng rất rạch ròi, cứng rắn "Có khi một tiếng ru lành/ Cũng làm hoa nở trên cành vô ưu".

Khi người ta yêu  quá nhiều sẽ trở nên muốn có tất cả của người ấy. Ấy vậy mà tác giả chỉ "mượn" chứ không xem là của riêng mình. Đã mượn thì phải trả. Và với một tình yêu mãnh liệt như thế để chấp nhận việc được rồi mất, có rồi không như hư vô thì chính người phụ nữ ấy phải trải qua bao nhiêu đau thương, bao nhiêu xa xót, tủi buồn để điên cuồng hiến dâng và buông bỏ khi rời đi. Để không nặng sâu hai từ mãi mãi mà chỉ là tùy duyên. Chị đã muốn mượn bờ vai để "xé nghiền nỗi đau", mượn một vòng tay để "qua lúc rối bời", rồi lại mượn chỗ tựa lưng để "nương nhau lúc tận cùng nỗi đau", hay là ánh mắt cười, một cái nắm tay, ngay cả bước chân, một bờ ngực gầy. (Mượn chân người bước qua cầu/ Rồi chia xa đến bạc đầu vẫn ơn). Ban đầu chỉ là "mượn" giống như rằng sẽ trả nhưng đằng sau đó như  là rất nhiều sự tham lam khi muốn tất cả của người thương, từ cái hữu hình đến vô hình, từ bên ngoài đến bên trong cơ thể, rất bạo dạn, rất đàn bà. Yêu là yêu hết thảy thuộc về người trong đó có cả quê hương, bến sông, con sông Trà. Tình yêu của chị là "em không biết yêu giả vờ, em không biết yêu gian manh" nên "Em còn một chút đàn bà/ Để dành cho những thật thà đàn ông".

Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.

Sau tất cả những vồ vập, yêu ghen, hoài nghi hay hờ hững thì chị chỉ cần một sự chân thật từ cơ thể lẫn trái tim,  "chỉ cần biết tựa đời nhau lúc cần".

"Tự say thương nhớ bất thường/ Rồi lăn ra chỗ chiếu giường ngủ mê/ Qua cơn cười cợt như hề/Cấn trừ nỗi nhớ / Em thề / Quên anh"

Tôi đã có cảm giác tôi đọc một tự truyện, nghe về tình yêu tinh khôi, đầy ước mơ, kiêu hãnh, đầy đớn đau, thổn thức. Từng chút thước phim cứ ồ ạt. Và người đàn bà ấy đã dám yêu, dám quên, dám cầm dám bỏ. Chị ấy đã yếu mềm trong thể xác đàn bà, và mạnh mẽ trong tâm hồn đã trải qua muôn vàn bi ai thì thứ còn lại vẫn là niềm khát khao chân thật cho nhau.

"Ru anh mộng vấp mộng vờn

Tựa con sóng vỗ chập chờn mà đau"

"Trăm năm thề thốt dư thừa/ Một ngày thương đủ cũng vừa trăm năm".

13/3/2026

Lê Tuyết Lan

Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

 

Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình

Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.

Nguyên Bình là một người như thế.

Anh tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế, là một nhà giáo, đồng thời là một người đọc thơ tinh tế và một cây bút phê bình sắc sảo với nhiều tiểu luận đăng rải rác trên các tạp chí văn học trong và ngoài nước. Nhưng vượt lên trên tất cả những vai trò ấy, Nguyên Bình hiện ra trọn vẹn nhất trong tư cách một thi sĩ.

Ở anh, tôi thích nhất những bài lục bát mượt mà – một người “ầu ơ” giữa truyền thống mà vẫn giữ được giọng riêng. Cầm trên tay ba tập thơ anh tặng: Mật ngữ trắng đen, Thấp nến tôi để dành, Thi thoại đêm. Ba tựa sách như ba khoảng lặng. Không ồn ào. Không phô trương. Nhưng mở ra, là một miền rất sâu.

Tôi biết anh là một nhà giáo, một người từng đứng trên bục giảng, từng viết những bài phê bình sắc sảo. Nhưng khi đọc thơ anh – nhất là những bài lục bát – tôi không còn thấy một nhà phê bình nữa. Tôi thấy một người đang tự trò chuyện với mình, rất thật, rất mong manh.

Lục bát – Tiếng ầu ơ không cũ

Tôi đặc biệt thích lục bát của anh. Có lẽ vì trong những câu thơ ấy, tôi nghe được một tiếng ru – nhưng không phải tiếng ru cho trẻ nhỏ, cũng không hẳn tiếng ru cho người tình mà là tiếng ru cho những linh hồn đã đi qua nhiều dâu bể.

“…Ầu ơ lục bát đa đoan

Gió mây giăng võng vắt ngang cổng trời…”

“Giăng võng vắt ngang cổng trời” – Một câu thơ vô cùng lãng mạn! Hình ảnh ấy vừa dân gian vừa siêu thực. Lục bát không còn nằm trên mặt đất mà được treo lên giữa vũ trụ. Nó treo giữa trời. Nó đu đưa giữa mây gió. Và người đọc – như tôi – cũng bị đu đưa theo.

Hay:  

“…Ầu ơ lục bát ngây ngây

Câu thơ cong vút rót đầy chén không…”

“Chén không” ấy là gì? Là rỗng? Hay là đầy đến mức không còn chứa thêm được gì nữa? Lục bát của anh vừa quen, vừa lạ. Vẫn là nhịp 6–8 thân thuộc, nhưng ý tưởng thì vượt khỏi những ẩn dụ thông thường. Hai câu thơ đã đưa người đọc chạm tới một tầng khác của thi ca: lục bát như thiền ngữ. “Chén không” ở đây gợi tinh thần Bát Nhã – cái rỗng chứa cái đầy, cái vô chứa cái hữu. Nguyên Bình không chỉ làm lục bát trữ tình; anh làm lục bát suy tưởng. Điều đáng quý là dù chứa đựng triết tính, thơ anh không khô cứng. Nó vẫn mềm như “bản chất lục bát”:

“…Em khoe răng khểnh em cười

Nghiêng nghiêng bóng ngã xuống tôi chút hồng…”

Một “chút hồng” ấy đủ làm ấm cả miền triết luận

Một nỗi buồn biết mỉm cười

Tôi thương nhất là cái cách anh nói về nỗi buồn. Không oán trách, không than van. Chỉ khẽ chạm vào.

“…Rất buồn tôi rót rượu mơ

Tôi mời tôi uống dại khờ xưa nay…”

Cái “tôi mời tôi” ấy nghe vừa ngậm ngùi vừa đáng yêu. Nỗi buồn không cần ai chia sẻ, chỉ cần một ly rượu tưởng tượng và một chút tự trào.

Rồi:

"Trầu têm sáu miếng quệt sầu cho xanh"

“Quệt sầu cho xanh” – tôi thích cụm từ đó vô cùng. Không xóa sầu. Không phủ nhận sầu. Chỉ đổi màu cho nó. Nhẹ nhàng thôi. Như một người đã hiểu rằng buồn cũng là một phần của cuộc sống.

Tình yêu – Tiền kiếp và hôm nay

Thơ tình của anh không phô trương, không sôi nổi. Nó mang hơi hướng tiền định, như thể tình yêu không bắt đầu từ hôm qua mà đã khởi từ “vô lượng kiếp”.

“…Má đào tiền kiếp – ngàn sau

Chưa thơm hương phấn đã sầu gối chăn…”

Đọc những câu ấy, tôi thấy tình yêu trong thơ anh vừa đẹp vừa trĩu nặng. Đẹp vì sâu. Nặng vì nhiều duyên nợ. Nhưng giữa những “nghiệt oan”, “phù vân”, vẫn có những khoảnh khắc rất đời:

“…Cứ như răng khểnh làm duyên

Sao tôi không thể đảo điên hở trời ???...”

Ba dấu hỏi như một tiếng cười. Một chút bối rối rất người. Tôi thích sự không hoàn hảo ấy. Nó làm thơ anh gần hơn.

Thiền tính và khoảng lặng

Có những bài khiến người đọc phải đọc chậm. Như “Thổi sáo có – không” hay “Dùng dằng”. Ở đó, anh bước sang một miền khác – nơi có “Chân Như”, “Bát Nhã”, “đốn ngộ”.

“…Lượm lên cục đá bên đường

Nghe gì nhẹ hẫng một trường chân không…”

Tôi không dám nói mình hiểu hết. Nhưng tôi cảm được một điều: anh đang đi tìm sự tĩnh lặng. Và có lẽ, thơ chính là cách anh ngồi xuống giữa đời mà lắng nghe.

Lục bát của tiền định và vô thường

Trong “Xuân qua chưa”, âm hưởng Huế – mơ màng, u uẩn – thấm vào từng câu:

“…Tôi thương một sợi nguyệt cầm

Vương tơ tiền định lăn trầm dốc sương…”

“Tiền định”, “thiên cổ”, “ảo hư” – những từ vựng ấy lặp lại trong nhiều bài, cho thấy một ám ảnh: thời gian không tuyến tính mà là vòng xoáy. Xuân chưa kịp tàn đã chạm vào “chuyến xe thiên cổ”.

Đặc biệt, ở bài “So lại dấu chân”, hình ảnh:

“…Dấu chân ngày nọ em đây

Có cây thánh giá nghiêng gầy chỏng chơ…”

đưa tình yêu chạm tới cõi thiêng. Cây thánh giá – biểu tượng của hy sinh và cứu chuộc – xuất hiện giữa lục bát mềm mại, tạo nên một tương phản rất đẹp giữa thiêng liêng và phàm trần..

Giữ lại một chút biếc xanh 

Giữa rất nhiều suy tư về vô thường, tôi vui khi bắt gặp những câu như:

“…Quệt nhanh hai chữ yêu người

Rồi đem ra nắng vàng phơi kiếp này…”

Và:

“Lá tương tư sẽ dâng đời biếc xanh”

Với Nguyên Bình sau bao “vô thường”, “phù vân”, “đọa đày”, tình yêu vẫn có thể “biếc xanh”. Đó là một lựa chọn thẩm mỹ – và cũng là một lựa chọn sống. Còn với tôi “Biếc xanh” là màu tôi muốn giữ lại sau khi gấp trang sách. Không phải màu của tiếc nuối. Mà là màu của hy vọng.

Ba tập thơ anh tặng tôi không chỉ là quà. Chúng giống như ba ngọn nến. Có lúc sáng rõ. Có lúc chập chờn. Nhưng luôn đủ ánh sáng để soi vào những góc khuất rất riêng của tâm hồn.

Và tôi hiểu vì sao mình yêu lục bát của anh. Không chỉ vì nhịp 6–8 quen thuộc, cũng không chỉ vì những hình ảnh đẹp. Mà vì trong những câu thơ ấy, tôi nghe thấy một con người đang thật lòng với chính mình.

Thơ, rốt cuộc, không chỉ đơn thuần là nơi để phô bày tài hoa. Nó còn là nơi con người đối diện với phần sâu kín nhất của mình – nơi niềm vui, nỗi buồn, ký ức và những câu hỏi không lời cùng hiện diện. Khi một câu thơ chạm được tới nơi ấy, nó sẽ sống lâu hơn mọi kỹ thuật.

Với riêng tôi, lục bát của Nguyên Bình có lẽ cũng vậy. Anh không cố gắng làm mới bằng sự phá vỡ, mà lặng lẽ đi sâu hơn vào chính dòng chảy của truyền thống. Và trong sự lặng lẽ ấy, đôi khi chỉ cần một câu thơ, một hình ảnh, hay một chút “biếc xanh” thôi, cũng đủ để người đọc dừng lại - dừng lại trước một ngọn nến nhỏ giữa đêm - không rực rỡ, nhưng đủ sáng để ta nhìn thấy mình.

14/3/2026

Nhung Le

Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

 

Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)

Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.

Tóm tắt:

Nói đến nhà thơ Tố Hữu là nói đến một hiện tượng đặc biệt trong thơ ca cách mạng Việt Nam, Người mà từ lâu đã được được các nhà lý luận, phê bình định danh là “lá cờ đầu”, là “con chim đầu đàn” của thơ ca cách mang. Vì vậy, thơ Tố Hữu không chỉ hiện hữu trong đời sống văn học miền Bắc mà còn hiện hữu trong di sản văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 như một hệ giá trị cần được khai mở. Bài viết là một minh chứng cho những giá trị của thơ Tố Hữu trong sự nhìn nhận của các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học miền Nam trước 1975.

1. Mở:

Nói đến nhà thơ Tố Hữu là nói đến một hiện tượng đặc biệt trong thơ ca cách mạng Việt Nam, người mà từ lâu đã được được các nhà lý luận, phê bình định danh là “lá cờ đầu” của thơ ca cách mạng. Bởi, Tố Hữu không chỉ là một nhà thơ mà ông còn là một chiến sĩ cách mạng, một nhà hoạt động chính trị, một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước. Thế nên, thơ Tố Hữu không chỉ là tiếng lòng của chính ông trước những nỗi niềm trong cõi nhân sinh với bao “ấm lạnh tình đời” mà ông đã trải nghiệm và sẻ chia trong tập thơ cuối đời Một tiếng đờn “Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy / Khuấy động lòng ta biết mấy buồn”, mà còn là tiếng nói thao thức của chính ông và của cả dân tộc đứng lên làm cách mạng trong tập thơ đầu đời Từ ấy khi ông tìm thấy “Mặt trời chân lý chói qua tim”. Bởi, với Tố Hữu sứ mệnh cao cả nhất của thơ ông là để tuyên truyền lý tưởng cách mạng, nên các nhà nghiên cứu văn học khi viết về thơ Tố Hữu đã mệnh danh đó là thơ “trữ tình chính trị”. Còn Tố Hữu trong suy niệm về thơ, ông đã từng xác quyết: “Thơ là chuyện đồng điệu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, là tiếng nói đồng chí”, là “tiếng chim gọi đàn” thức nhận quần chúng đứng lên làm cách mạng. Điều ấy các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình văn học miền Nam giai đoạn 1954 -1975 và các cơ quan có trách nhiệm quản lý về in ấn, xuất bản ở miền Nam không phải không biết!? Song, vượt lên tất cả những rào cản và sự khác biệt về ý thức hệ và khuynh hướng chính trị lúc bấy giờ giữa hai miền đất nước, Tố Hữu và thơ ông vẫn hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975), và được in ấn, xuất bản, phổ biến trong đời sống văn học. Không những thế, thơ Tố Hữu còn được phổ nhạc và hát công khai trong sinh hoạt văn nghệ cộng đồng của học sinh, sinh viên trên khắp thành thị miền Nam giai đoạn 1954 -1975 qua phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”. Đó là nhạc phẩm Dậy mà đi của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Tân dựa trên ý thơ trong bài thơ Dậy mà đi của nhà thơ Tố Hữu như lời giới thiệu về nhạc sĩ Nguyễn Xuân Tân của Hội Nhạc sĩ Việt Nam: “Sinh năm 1943 tại Sài Gòn. Trong phong trào “Học sinh - Sinh viên” rồi “Hát cho đồng bào tôi nghe”, Nguyễn Xuân Tân là một thành viên trụ cột. Dựa vào bài thơ Dậy mà đi trong tập thơ Từ Ấy của nhà thơ Tố Hữu, Nguyễn Xuân Tân đã viết một hành khúc đầy thôi thúc tuổi trẻ, xuống đường đấu tranh. Nhờ lời lẽ đanh thép, khúc thức ngắn ngọn, Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tân (phỏng thơ Tố Hữu) đã như tiếng kèn xung trận trong phong trào “Học sinh - Sinh viên” thời kháng chiến chống Mỹ”[1]

Riêng trong lĩnh vực văn học, thơ Tố Hữu xuất hiện khá nhiều ở các tác phẩm nghiên cứu, phê bình văn học và đã trở thành một phần trong di sản văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975.

2. Có thể nói, nếu Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 của thế kỷ XX là một trong những sự kiện lịch sử có ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh dân tộc và phận số  mỗi người dân nước Việt, khi vỹ tuyến 17 đã trở thành hiện thân của nỗi đau chia cắt. Nhưng sự chia cắt ấy chỉ có ý nghĩa về mặt địa chính trị còn trong thực tiễn đời sống, nhân dân Việt Nam vẫn còn đó tình dân tộc, nghĩa đồng bào của những người con cháu Lạc Hồng. Và, dẫu đất nước bị cắt chia nhưng nền văn học dân tộc vẫn vẹn nguyên. Thế nên, trong di sản văn học miền Nam (1954-1975), nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam dù sống “phía bên nào của chiến tuyến” vẫn hiện hữu trong đời sống văn học, vẫn được quan tâm nghiên cứu, vẫn đưa vào sách giáo khoa Việt văn giảng dạy trong nhà trường, được tôn vinh như những giá trị cao quí của văn học dân tộc mà không có bất cứ sự kỳ thị nào. Đó là những sáng tác của Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Hoài Thanh, Nguyễn Xuân Sanh, Tú Mỡ, Quang Dũng, Hữu Loan, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu…. Vì vậy, trong lời “phi lộ” gởi độc giả viết ngày 1/5/1967, khi tái bản tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận tại Sài Gòn, người biên soạn tập thơ đã chia sẻ: “Gần đây một số thi phẩm của các Thi nhân Tiền chiến được tuyển chọn làm tài liệu tham khảo văn chương cho chương trình Đại học Văn khoa. Trong số những thi phẩm ấy, có một số của các thi nhân mà hiện thời, họ đang sinh sống bên kia giới tuyến, nơi phân nửa của lòng đất mẹ cách ngăn! (…) Đứng trong địa hạt văn chương - đối với thi nhân - chúng tôi quan niệm rằng: Đây là những bông hoa tươi sắc ngát hương của “Vườn Hoa Tiền Chiến” thì, không lý nào chúng tôi lại dang tay ngắt bỏ đôi cành! Mà trái lại, chúng ta còn có cái trách nhiệm vun bồi, và vun bồi mãi mãi để cho Vườn Hoa Đất Nước ngày càng thêm phô Sắc ngát Hương… Có quan niệm và nhận chân được như thế, chúng ta mới có thể hy vọng sẽ làm tròn bổn phận của kẻ “chăn Vườn” hiện đại!”.[2] Vì vậy, trong di sản văn học miền Nam (1954-1975), không chỉ có sáng tác của những nhà văn sống ở miền Nam mà còn có cả sáng tác của các nhà văn miền Bắc Việt Nam, mà Tố Hữu là một trường hợp như thế.

Đọc Thi ca Việt Nam hiện đại (1880 - 1965), (Khai Trí Xuất bản, Sài Gòn, 1967), một công trình nghiên cứu khá công phu về các nhà thơ Việt Nam hiện đại của Trần Tuần Kiệt, ông đã giới thiệu về nhà thơ Tố Hữu khá trân trọng: “Tố Hữu sinh năm 1920 tại Thừa Thiên, tên thật là Nguyễn Kim Thành, đã học Quốc học, Huế. Thuở nhỏ thích đọc L. Tolstoi, Anatole – France, Esmile Jola, và các nhà văn xã hội. Chịu ảnh hưởng rất nhiều học thuyết Mác – Lê. Lúc mười sáu tuổi bỏ học theo cách mạng. Bị bắt năm 1940 giam ở Lao Bảo, Kon Tum. Vượt ngục lên Việt Bắc. Năm 1945 về Hà Nội. Làm Thứ Trưởng thông tin… Đã xuất bản: miền Nam (thơ)”. Sau khi giới thiệu tiểu sử và ba bài thơ “Mồ Côi”, “Tiếng hò trên sông hương” (mà bản chính trong Từ Ấy là Tiếng hát sông Hương – THA), “Chiều” …  cuả nhà thơ Tố Hữu trong tập Từ Ấy với bạn đọc và một số bài thơ khác ở các giai đoạn cách mạng và kháng chiến của dân tộc, Trần Tuấn Kiệt đã nêu chủ kiến của mình về sự cảm nhận thơ Tố Hữu mà theo ông: “Sau hiệp định Genève đáng lẽ ra Tố Hữu nên im tiếng như Huy Cận là hơn. Đã đến một giai đoạn chiến tranh khác, những lời thư trong tập miền Nam của ông xuất bản vừa rồi toàn là những lời để tuyên truyền gượng gạo”.[3] Rồi, Trần Tuấn Kiệt xác quyết: “Tôi chỉ muốn nói đến Tố Hữu của Thời dân tộc kháng chiến đánh bọn ngoại quốc muốn cùm xích nước ta ngày trước mà thôi”[4]

Những nhận định của Trần Tuấn Kiệt, dù sao cũng chỉ là những cảm nhận của riêng ông, có thể còn chủ quan và chưa thấu hiểu được sứ mệnh của Tố Hữu trong  tư cách một chiến sĩ – nghệ sĩ như cách hiểu của chúng ta về nhà thơ Tố Hữu nhưng dẫu sao cũng là những ý kiến cần được nhìn nhận và đánh giá để hiểu rõ quan điểm của các nhà văn miền Nam trong giai đoạn 1954-1975 họ nghĩ gì, cảm gì, viết gì về văn học cách mạng và kháng chiến, trong đó có thơ Tố Hữu. Và qua các nhận định này cùng với việc chọn ba bài thơ “Mồ Côi”, “Tiếng hò trên sông Hương”, “Chiều” … của Tố Hữu để luận bàn, ta thấy Trần Tuấn Kiệt rất đề cao tính nhân văn trong việc thấu cảm nỗi cùng khổ của những con người “dưới đáy xã hội” và tinh thần dấn thân tranh đấu chống thực dân, giành độc lập tự do cho dân tộc trong thơ Tố Hữu.

Và cũng trong dòng chảy nhân văn của cảm thức sẻ chia với cuộc đời cơ cực của những con người cùng khổ trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ, cũng như Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Tấn Long – Phan Canh trong công trình nghiên cứu Khuynh hướng thi ca tiền chiến, biến cố văn học 1932-1945, (Sống Mới xuất bản, Sài Gòn, 1968), trong phần viết về “Khuynh hướng xã hội (Socialogíme) của thi ca”, các tác giả đã giới thiệu về nhà thơ Tố Hữu và các bài thơ Vú em; Tiếng hò Sông Hương; Dững dưng... với những lời bình khá chân xác, sâu sắc khi cho rằng: “Người thi nhân khuynh hướng xã hội không có quyền khách quan trước cái khổ của loài người, mà phải đem tình cảm mình trộn lẫn vào nỗi khổ cực của xã hội. Theo họ, văn nghệ không phải để đùa cợt, làm thú phong lưu, tiêu khiển, hay dùng để kích thích dục vọng đê hèn của xác thịt, mà phải dùng nó để xây đời, cải tiến xã hội, phá vỡ những chênh lệch, bất công, đau khổ của con người. Nguồn thi cảm của họ đi tìm cái đau đớn chan hòa: Vú em: “Nàng gửi con về nương xóm cũ/ Nghẹn ngào trở lại đẩy xe nôi/ Rồi từ hôm ấy ôm con ngủ/ Trong cánh tay êm, luống ngậm ngùi” ...[5]. Và đây cũng là những cảm nhận khá thành thực về thơ Tố Hữu của Huy Trâm trong công trình nghiên cứu Những hàng châu ngọc trong thi ca hiện đại (1933 -1963) (Tủ sách nghiên cứu văn học, Nxb. Sáng, Sài Gòn, 1969) ở Chương 5: Những buổi chiều trong thơ qua việc trích dẫn bài thơ Tâm sự (137-138) Chiều xưa (150) của Huy Cận; Khi chiều giăng lưới (141-142) của Xuân Diệu và bài thơ Chiều (153) của Tố Hữu: “Lão ngồi bên cửa sổ/ trong nắng nhạt chiều thu/ Cong lưng đan chiéc rổ/ Mai bán lấy vài xu/ Bàn tay khô lẫy bẩy/ Kéo mũi lạt tre vàng/ Theo điệu buồn run rẫy/ Trên làn môi khô khan/ Cho tới khi chiều tắt/ Đôi chiếc lá vàng rơi/ Vô tình qua trước mắt/ Lão buông lạt trông trời…” Tố Hữu, và nêu nhận xét khá bất ngờ khi Huy Trâm liên tưởng đến thơ của Victor Hugo: “Một bài thơ viết theo lối tả thực làm chúng tôi nhớ đến bài “saison de semailles, le soir” của Victor Hugo”[6]. Không những thế, ở Chương 6: Trên sông khói sóng (156-173) bên cạnh trích dẫn các bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây; Kẻ ở của Quang Dũng (157-162) Lời về; Phút Linh Cầu của Hồ Dzếnh (163 -166), Huy Trâm cũng trích dẫn bài thơ Người về của Tố Hữu: “Rồi một hôm nào cởi áo xanh/ hết cùm hết xích hết roi canh…. Để ngoài sương gió chiều pha lạnh/ Dưới khóm tre già khách đứng ngây!” với những lời bình khá ấn tượng: “Quê hương luôn luôn bao gồm ý niệm về sự sum vầy, về gia đình tổ ấm. Nhà thơ Tố Hữu kể lại dưới đây, bằng một giọng giản dị đầy nghệ thuật, nông nổi tê tái trong một “Ngày về” của một tù nhân. So với “Ngày về” của Guy de Maupassant, nội dung câu chuyện trong bài xem ra có phần cay đắng hơn”[7]

Khác với Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Tấn Long – Phan Canh, Huy Trâm, khi luận bình về thơ Tố Hữu các ông chọn những bài thơ viết về phận số những con người nghèo khổ như Mồ côi, Vú em; Tiếng hò Sông Hương; Chiều...,Tam Ích  trong tiểu luận Văn nghệ và phê bình, (Nam Việt xuất bản, Sài Gòn, 1969), khi bàn về một số vấn đề văn học Việt Nam, trong phần “Một vòng chân trời nghệ thuật” đã chọn bài thơ “Ba tiếng” của Tố Hữu, một bài thơ được ông viết tại xà lim Qui Nhơn, tháng 8/1941 và in trong tập thơ Từ Ấy để nói về ý nghĩa nhân sinh và sự dấn thân cho lý tưởng sống cao đẹp của chính Tố Hữu như một sự chọn lựa hiện sinh của một nhà thơ chiến sĩ trong hoàn cảnh bị tù đày: “Nghĩa đời trong ba tiếng/ Máy điện giục gầm gừ/ Chuông đạo hát vô tri/ Kiểng tù khua gắt gỏng/ Mỗi tiếng riêng một giọng/ Mỗi giọng riêng một lời …/ Chuông khuyên lời ủy mị/ Con nhận khổ đời con/ Để nhẹ thoát linh hồn/ (…) Chuông đạo hát vô tư/ Nghĩa đời trong ba tiếng”. Rồi Tam Ích luận bàn: “Có ai muốn đem phân tách cái chứa đựng của “ba tiếng” thì cũng hoài công: một bài thơ không phải là một chất hóa học. Chứa đựng tiềm tàng: một bản án của một chế độ, một hương vị thương xót, một ý nghĩa về cuộc đời con người nằm bên trong song cửa ngục, một âm thanh vừa dịu dàng như một tiếng chuông chùa, vừa ghê rợn như một cánh cửa sắt đóng lại trên cuộc đời cá nhân, vừa giữ sự sống thừa, vừa hứa sự chết, làm con người hết là con người như con người tưởng… Có ai muốn Tố Hữu một chứa đựng nào đẹp hơn, ghê sợ hơn, hoàn toàn hơn: một bản án, một nét tả tinh thần, một thứ âm thanh lạ, một nghệ phẩm… một nhất trí đẹp, đẹp một, đẹp riêng… Tôi chưa hiểu ai sẽ là người làm hơn được Tố Hữu. Đó là chứa đựng”[8]. Ngần ấy sự phẩm bình tuy không nhiều lời nhưng chứa đựng trong đó chiều sâu của những ý niệm triết học đủ minh chứng cho thấy tấm lòng và sự trân quí đối với đời và thơ của Tố Hữu của Tam Ích với tư cách là một người đọc tri âm khi tiếp nhận thơ Tố Hữu trong một bối cảnh xã hội mà không phải ai cũng kiến tạo được những diễn ngôn như thế về một nhà thơ ở “phía bên kia” mà nhà thơ đó lại là một lãnh đạo cao cấp của một chính thể đối lập. Đây là điều, chỉ có thể có ở nền văn học dám chấp nhận những khác biệt mà thôi. Và đây cũng là sự cảm nhận và lượng giá khá chuẩn xác và trân trọng đối với thơ Tố Hữu của Lê Văn Siêu ở công trình nghiên cứu Văn học sử thời kháng Pháp (1858 -1945), (Trí Đăng xuất bản, Sài Gòn, 1974), ở Chương V: Sinh hoạt văn nghệ đã giới thiệu bài thơ Tiếng hát sông hương với lời bình: “Dù chế độ kiểm duyệt khe khắt đến đâu trong thời chiến, cũng không thể vịn cớ gì mà bỏ được một bài thơ như thế. Chứng tỏ người dân Việt Nam sống quen với áp bức thì lại có những lời nói, lối hiểu cách bức, để tìm thông cảm với nhau. Trên mặt báo chí công khai vì vậy phải hướng mắt theo dõi ước vọng độc lập của toàn dân, khi nghiên cứu, mới bắt chợt được những lời xa xôi bóng gió ở bên trong cái ởm ờ, dấm dớ và vô hại” (…) Nhà thơ vẫn là những con người nhạy cảm, nên trước thời cuộc đã phản ảnh được tâm tình của nhân dân qua những dòng thơ của mình”[9].

3. Song không giống như Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Tấn Long – Phan Canh, Huy Trâm, Tam Ích, Lê Văn Siêu, Uyên Thao trong chuyên luận Thơ Việt Nam hiện đại 1900 -1960, (Hồng Lĩnh Xb. Sài Gòn, 1969), không tìm hiểu các bài thơ trong tập Từ Ấy của Tố Hữu viết những năm trước Cách mạng Tháng Tám mà Uyên Thao lại chú tâm vào phân tích một số bài thơ của Tố Hữu ở tập Việt Bắc ra đời trong những năm kháng chiến chống Pháp như: Cá nước, Phá đường, Bầm ơi với những cảm nhận khá tinh tế và chân thật về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến được Tố Hữu phản ánh trong thơ như một sự tiếp nối về việc giới thiệu thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975) theo sự vận động của tiến trình lịch sử văn học nước nhà.

Cảm nhận về bài thơ Cá nước của Tố Hữu với trích đoạn: “Gặp nhau mới lần đầu/ Họ tên nào có biết/ Anh người đâu tôi đâu/ Gần nhau là thân thiết (…) Tôi nhích lại gần anh/ Người bạn đường anh đây/ Anh chiến sĩ hiền lành/ Tỳ tay trên mũi súng”, Uyên Thao đã chia sẻ với những lời lẽ không hề hoa mỹ, sáo rỗng mà đi thẳng vào trong ý nghĩa hiện thực của lời thơ: “Gần gặp nhau tình cờ, quen nhau tình cờ nhưng thân thiết mau chóng. Không cần biết người nào nguồn gốc ở đâu mà chỉ biết rằng đối diện với mình là một chiến sĩ. Thế rồi, họ kể chuyện cho nhau nghe. Lại cũng câu chuyện đánh Tây: Anh kể chuyện tôi nghe/ trên chợ Đồn, chợ Rã/ Ta đánh giặc chạy re/ hai đứa cười hỉ hả (…) Tàu giặc đắm sông Lô/ Tha hồ cho uống nước/ Máu tanh đến bây giờ/ Chưa tan mùi bữa trước” (Tố Hữu)[10]

Bài thơ Phá đường của Tố Hữu cũng là bài thơ gây ấn tượng sâu sắc trong Uyên Thao và được ông cảm nhận với một niềm trân quí trước tấm lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu vì công cuộc kháng chiến giành độc lập tự do cho dân tộc của những người phụ nữ. Điều này được thể hiện qua việc Uyên Thao chọn bình những câu thơ của Tố Hữu trong bài thơ Phá đường, khi ông viết: “Đời sống hậu phương của những con người thường cũng chứng minh cái độ cao ngùn ngụt của tinh thần chiến đấu “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế/ Gió qua rừng đèo Khế gió sang/ Em là con gái Bắc Giang/ Rét thì mặc rét nước làng em lo (…) Anh tài thì em cũng tài/ Đường dài ta xẻ sức dai ngại gì/ Đường đi ngoắt ngóe chữ chi/ Hố ngang, hố dọc, chữ chi, i tờ” (Tố Hữu) Hậu phương tiền tuyến, chiến binh dù ở trong hàng ngũ nào, người dân cũng chỉ mang một ý nguyện và nuôi sống nó bằng cái ý chí kiên cường mà thi gia đã tiếp nhau phản ảnh từng khía cạnh”[11].

Sự hy sinh cao cả của những người mẹ Việt Nam trong cuộc sống hằng thường cũng như trong những cuộc chiến tranh cách tranh cách mạng thật diệu kỳ và vĩ đại! Có phải vì thế mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã xây dựng Tượng đài mẹ Việt Nam bằng nghệ thuật qua tuyệt phẩm Huyền Thoại Mẹ bất tử của ông!? Và sự hy sinh cao đẹp của những Người mẹ Việt Nam anh hùng đó, ta cũng bắt gặp trong thơ Tố Hữu mà bài thơ Bầm ơi trong tập Việt Bắc cũng là một tượng đài đầy tính huyền thoại như thế. Vì vậy, khi giới thiệu bài thơ Bầm ơi của Tố Hữu trong Thơ Việt Nam hiện đại 1900-1960, (Hồng Lĩnh xb. 1969), Uyên Thao đã dành những lời phẩm bình khá sâu sắc xét cả về phương diện tâm cảm và mỹ cảm của tấm lòng Uyên Thao, một người con xứ Bắc đối với bài thơ Bầm ơi, khác nào như lời tâm tình với người mẹ dấu yêu của mình ở quê nhà. Hình như Uyên Thao đã tìm thấy hình ảnh của mẹ mình trong  thơ Tố Hữu qua việc ông chọn những câu thơ để thẩm bình: “Những người đi giết giặc vào một chiều nào, ngồi nhớ quê hương đã thầm nhủ : “Ai về thăm mẹ quê ta/ Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm/ Bầm ơi có rét không bầm/ Hiu hiu gió núi râm râm mưa phùn/ Bầm ra ruộng cấy bầm run/ Chân lội xuống bùn tay cấy mạ non/ Mạ non bầm cấy mấy đon/ Ruột gan bầm lại thương con mấy lần/ Mưa phùn ướt áo tứ thân/ Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu” Tôi nghĩ rằng cái thắm son đó có lẽ chỉ có được trong một khoảng thời gian nào. Vì nó đẹp tới mức không ngờ: “Bầm ơi sớm sớm chiều chiều/ Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe!/ Con đi trăm núi ngàn khe/ Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm/ Con đi đánh giặc mười năm/ Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”. Người dân trong đất tề, người dân ở hậu phương, người dân ở tiền tuyến trước những lời nhắn nhủ tránh sao cho khỏi bồi hồi. Đây là tất cả nỗi lòng của những người chiến sĩ có mẹ già nơi thôn vắng xa xăm”.[12] Cảm thức này, ta cũng bắt gặp ở Vũ Tiến Phúc trong tiểu luận Hồn thơ nước Việt thế kỷ XX, (Sơn Quang Xuất bản, Sài Gòn 1970), khi luận bàn về thơ ca kháng chiến 1945 -1954. Trong tiểu luận này, bên cạnh bàn đến các bài thơ: Tây Tiến (Quang Dũng); Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Viếng bạn (Hoàng Lộc), Vũ Tiến Phúc còn đề cập đến bài thơ Phá đường của Tố Hữu với một trích đoạn thơ: “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế/ Gió qua rừng Đèo Khế gió sang (...) Nhà em con bế, con bồng/ Em cũng theo chồng đi phá đường quan” và luận giải đó là “những bài thơ đại chúng” gắn với bối cảnh văn hóa xã hội lúc bấy giờ[13]

Song, khác với Vũ Tiến Phúc trong Hồn thơ nước Việt thế kỷ XX, (Sơn Quang Xuất bản, Sài Gòn 1970), trên Tạp chí Ý Thức số 11 ra ngày 15/3/1971 trong tiểu luận “Thi ca trước tình cảnh cực đoan”, Huỳnh Hữu Ủy đã đánh giá cao giá trị thơ ca kháng chiến chống Pháp, trong đó có thơ Tố Hữu. Cảm nhận về hình tượng người phụ nữ trong thơ ca kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1945-1954 của Tố Hữu, Huỳnh Hữu Ủy chia sẻ: “Có những người vợ trẻ, những người chị gái còn chiến đấu tích cực và dũng cảm vô song không thua gì các chiến binh trai trẻ: “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế/ Gió qua rừng Đèo Khế gió sang/ Em là con gái Bắc Giang/ Rét thì mặc rét nước làng em lo/ Nhà em phơi lúa chưa khô/ Ngô chửa vào bồ sắn thái chưa xong/ Nhà em con bế con bồng/ Em cũng theo chồng đi phá dường quan (…) Anh tài thì em cũng tài/ Đường dài ta xẻ sức dai ngại gì” (Tố Hữu)[14]. Có thể nói, đây không chỉ là một sự cảm nhận đơn thuần về sự dấn thân tranh đấu của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến cứu quốc để giành và giữ lấy chủ quyền của dân tộc mà sâu xa hơn đó còn là sự tri ân đối với những hy sinh cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc.

Còn đây là những lời luận bàn với thành ý ngưỡng mộ của Huỳnh Hữu Ủy về tình yêu cũng như sự hy sinh và chịu đựng gian khổ của những chàng trai ra đi kháng chiến: “Những chàng trai trẻ đang chiến đấu nơi quan san, giữa rừng núi trùng điệp, bồng bột và nhiệt huyết hiến dâng cho tổ quốc, nhưng mối tình thơ mộng nặng nợ nơi quê nhà cũng không phai nhòa, mà sắt son cũng một nghĩa nên hẹn một ngày về trong nụ cười chiến thắng rộn ràng và ngạo nghễ: Em ơi đợi anh về/ Đợi anh hoài em nhé/ Mưa có rơi dầm dề/ Ngày có dài lê thê/ Em ơi! Em cứ đợi/ Dù tuyết rơi gió nổi/ Dù nắng cháy em ơi! / Bạn cũ có quên rồi/ Đợi anh hoài em nhé/ Đợi anh anh lại về/ Trong tiếng cười ngạo nghễ” (Tố Hữu, dịch thơ Simonov). Tình yêu đôi lứa của người lính trong những năm kháng chiến luôn hài hòa với tình yêu quê hương đất nước qua hình ảnh của những con người kháng chiến như người mẹ, người em gái, người vợ hiền. Đó là những giá trị mang ý nghĩa nhân văn trong thơ Tố Hữu được Huỳnh Hữu Ủy chỉ ra với những cảm nhận khá tinh tế : “Mối tình son sắt đó là nghĩa mặn nồng đối với quê hương, qua thơ văn kháng chiến thường được biểu hiện bằng hình ảnh thắm thiết của mẹ già, em  gái, vợ hiền… Cho nên những chiến sĩ lên đường đi giết giặc, lúc đăm chiêu mỏi mắt nhìn lại quê nhà, ẩn hiện bao mối thâm tình não nùng trộn lẫn với hào khí đấu tranh, là một vẻ đẹp vô cùng thơ mộng, hào tráng mà ngậm ngùi. “Ai về thăm mẹ quê ta/ Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm/ Bầm ơi có rét không bầm/ Hiu hiu gió núi râm râm mưa phùn/ Bầm ra ruộng cấy bầm run/ Chân lội xuống bùn tay cấy mạ non/ Mạ non bầm cấy mấy đon/ Ruột gan bầm lại thương con mấy lần/ Mưa phùn ướt áo tứ thân/ Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu (Tố Hữu). Cũng chính trong tình cảm đó, con đường đấu tranh chống giặc giữ nước bấy giờ của đoàn con trai trẻ đã nghĩa lý gì với một đời còm cõi hy sinh, lao khó của mẹ già, suốt cả đời là khó nhọc cho đàn con lớn dậy: “Bầm ơi sớm sớm chiều chiều/ Thương con bầm chơ lo nhiều bầm nghe!/ Con đi trăm núi ngàn khe/ Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm/ Con đi đánh giặc mười năm/ Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”. Những dòng thơ tê tái, chân thành trên của một Tố Hữu những ngày kháng chiến tuyệt vời, gởi niềm rung động sâu xa đến mọi người, cũng từ đó là nền tảng sâu thẳm thiêng liêng cho cuộc đấu tranh chung càng trở nên quyết liệt và dũng cảm vô cùng. Chúng tôi muốn xác định rằng đó là một Tố Hữu chiến sĩ - thi sĩ, rung động niềm rung động chung của dân tộc đang trên đường đi lên đấu tranh diệt thù giải phóng Tổ Quốc”.[15]

Không chỉ cảm nhận về tình yêu đôi lứa, tình yêu đất nước quê hương mà  Huỳnh Hữu Ủy còn thể hiện những cảm nhận của mình về tình đồng chí của những người lính trong thơ kháng chiến chống Pháp, trong đó có thơ Tố Hữu cũng khá chân thành nhưng không kém phần sâu sắc mà nếu không thấu cảm được ý nghĩa của hai tiếng đồng chí trong tâm cảm của người lính lúc bấy giờ thì khó có thể luận giải được: “Vừa mới thoáng gặp nhau đã trở thành thân thiết, thương nhau nơi vẻ giản dị của bộ quần áo nâu đẹp màu chinh chiến, yêu nhau nơi lý tưởng quật cường mà dân tộc đặt trên tay anh em: Gặp nhau nơi lần đầu/ Họ tên nào có biết/ Anh người đâu tôi đâu/ Gần nhau là thân thiết/ Một thoáng lặng nhìn nhau/ Mắt đã tìm hỏi chuyện/ Đôi bộ quần áo nâu/ Đã âm thầm thương mến/ Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên má anh vàng nghệ/ Anh vệ quốc quân ơi!/ Sao mà yêu anh thế/ Tôi nhích lại gần anh/ Người bạn đường anh đây/ Anh chiến sĩ hiền lành/ Tỳ tay trên mũi súng”. (Tố Hữu) [16]

Nhận định về giá trị của thơ ca kháng chiến chống Pháp, trong đó có sự đóng góp của Thơ Tố Hữu, Huỳnh Hữu Ủy đã có những luận bàn khá sâu sắc mang ý nghĩa thực chứng mà chúng ta không nghĩ tại sao một nhà nghiên cứu phê bình văn học ở “phía bên kia”, “phía đối lập” với cách mạng lại có những suy tư chân thành đến thế nếu họ không bị sự hấp dẫn từ sức mạnh chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Pháp quật cường đã làm nên những trang sử vàng của dân tộc: “Thi ca của giai đoạn kháng chiến (mà những trích dẫn trên chỉ là một phần rất nhỏ của kho tàng to lớn này) đã đóng góp một phần rất lớn trong việc cổ xúy một cuộc đấu tranh trường kỳ. Nền thi ca ấy đã hoàn thành sứ mệnh cao đẹp của nó, đã để lại cho chúng ta những viên hồng ngọc quí giá như minh chứng của một phần hồn thiêng dũng cảm phi thường của dân tộc, một dân tộc của những người không khuất chí, luôn sẵn sàng đứng dậy, trước bất cứ hoàn cảnh và chông gai nào. Từ bao lâu, qua bao thiên niên kỷ, tiếng nói của dân tộc ta vốn vẫn là một đóa hoa nở ra trên sa mạc, trên đá sỏi, bằng chính mồ hôi và máu đào. Đời sống dân tộc ta vốn đã là một trường thi hùng dũng, thơ mộng và trữ tình và trường thi ấy vẫn còn được viết tiếp bởi những hệ đời ngày nay. Thi ca, nói rộng hơn là nghệ thuật là một đóng góp lớn trong việc làm đẹp và mở cửa đời sống”.[17] Và chính xuất phát từ cảm thức về ý nghĩa cao đẹp của cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập tự do của dân tộc mà Huỳnh Hữu Ủy đã dẫn lời thơ của Victor Hugo – Les châtiments 1853 như một sự đối sánh để ngợi ca thơ kháng chiến chống Pháp của dân tộc, trong đó có thơ Tố Hữu: “Hỡi nhân dân nô lệ! Nghệ thuật làm cho người trở nên tự do/ Hỡi nhân dân tự do! Nghệ thuật làm cho người trở nên vĩ đại”. (Victor Hugo – Les châtiments 1853). Thi ca làm lớn dậy con người, làm vĩ đại nhân loại. Thi ca giải phóng con người” (tháng 2. 1971)” [18]. Thế mới biết sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn như thế nào mà lâu nay chúng ta không khai phá, tìm hiểu để có một cái nhìn công bằng và khách quan hơn về di sản văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 mà có một thời chưa xa do sự ấu trĩ trong nhận thức và giới hạn của lịch sử, chúng ta đã “vội vàng kết án” Văn học miền Nam là “văn học đồi trụy, phản động” đi ngược lại lợi quyền của dân tộc, của nhân dân.

Trong di sản văn học miền Nam (1954-1975), khi khám phá về sự hiện hữu của thơ Tố Hữu, có một điều rất lạ mà ít ai nghĩ đến, đó là Tố Hữu và thơ của ông, không chỉ xuất hiện trên những tờ báo, tạp chí có xu hướng khuynh tả hay ở các công trình nghiên cứu văn học thuần túy mang ý nghĩa khoa học, ngược lại thơ Tố Hữu còn xuất hiện trêm tuần báo Khởi Hành, một tờ báo Văn học nghệ thuật xuất bản ở miền Nam trước 1975, là cơ quan ngôn luận của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội do nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng làm Chủ nhiệm và nhà văn Viên Linh làm thư ký tòa soạn mà bài viết: “Về hai bài thơ tình của Tố Hữu và Trường Chinh” của nhà nghiên cứu Thanh Hữu là một minh chứng. Trong bài viết này, khi luận bàn về bài thơ “Bài ca xuân 61” của Tố Hữu qua trích đoạn: “Tôi viết cho ai/ Bài thơ 1961/ Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt/ ... Rồi hai đứa nắm tay nhau/ Hai người đồng chí/ Dắt nhau đi cho đến sáng ngày mai/ Xuân đến rồi – Xuân của tương lai...”, Thanh Hữu cho rằng: “Tố Hữu làm thơ không lạ, vì dù sao anh cũng còn ít nhiều thực chất của một văn nghệ sĩ (...) Với Tố Hữu ngoài kỹ thuật thơ tương đối vững vàng. Còn mang một ý nghĩa tích cực. (...) Về nội dung, Tố Hữu vẫn còn giữ được ít nhiều phẩm chất làm người của anh qua những ngôn từ “hỡi em yêu”, “Rất say mê từ thuở ban đầu”, “Anh nắm tay em sôi nổi vụng về” v.v... Chính vì còn giữ được phẩm chất người nên hình ảnh chót sau pha tình tự “Rồi hai đứa nắm tay nhau... giắt tay nhau đi cho đến sáng ngày mai...” là một hình ảnh trung thực với tình người. Bởi vì sự kiện dắt nhau đi cho đến sáng ngày mai” chắc chắn phải là biểu tượng tình yêu của lứa đôi, vì ít ra trong lúc đó, Tố Hữu cũng phải nghĩ rằng anh chỉ có một trái tim dành cho một người yêu mà thôi”.[19] Nhận xét này của Thanh Hữu cũng phần nào cho thấy thiện cảm của nhà phê bình đối với thơ Tố Hữu và sự ghi nhận yếu tính nhân bản trong thơ Tố Hữu qua một bài thơ cụ thể “Bài ca xuân 1961” mà Thanh Hữu xếp nó vào loại thơ Tình. Ý kiến của Thanh Hữu dù sao cũng chỉ là ý kiến của một nhà nghiên cứu và không thể tránh được sự chủ quan nhưng dẫu sao ta cũng ghi nhận tấm chân tình của người viết đối với thơ Tố Hữu, mà sự xuất hiện của thơ Tố Hữu đã là một bất ngờ chưa nói là có sự đồng cảm sẻ chia...

4. Thay lời kết

Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu. Bởi, vượt lên tất cả những rào cản về ý thức hệ hay chế độ chính trị, mọi hiện tượng văn học trong nền văn học nước nhà qua các thời kỳ của tiến trình văn học dân tộc từ văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại và cả văn học thế giới bất luận là nước nào đều được các nhà lý luận phê bình văn học ở miền Nam (1954 -1975) khám phá, luận bàn dưới ánh sáng của các hệ hình lý thuyết văn học Đông - Tây mà thơ Tố Hữu không phải là ngoại lệ. Đây là sự tôn vinh giá trị của thơ Tố Hữu một cách vô tư, bởi Tố Hữu đối với các nhà lý luận phê bình văn học miền Nam không có giá trị gì khác, ngoài giá trị thi ca của một thi sĩ, vì thế họ viết không phải để “hàm ơn”, để “vụ lợi”, nên những đánh giá của họ về thơ Tố Hữu hoàn toàn trong sáng, chân xác và có độ tin cậy khoa học.

Không những thế việc các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình văn học miền Nam  (1954-1975), quan tâm luận bàn về thơ Tố Hữu cũng như văn chương của các nhà văn sống ở miền Bắc lúc bấy giờ đã cho thấy tấm lòng trân quí của họ đối với các giá trị của văn học nước nhà, bất luận là thuộc phía bên nào. Đây phải chăng cũng là những dấu chỉ của tinh thần và khát vọng “Hòa hợp, hòa giải dân tộc” của nhân dân miền Nam lúc bấy giờ. Vì thế, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam 1954 -1975 là một hệ giá trị cần được trân quí và chia sẻ, để hướng đến một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, thịnh vượng, phồn vinh khi bước vào kỷ nguyên mới trong thời kỳ hội nhập và phát triển của xu hướng toàn cầu hóa ....

Chú thích:

[1] Nhạc sĩ Việt Nam – Hội Nhạc sĩ Việt Nam, 2007, tr.1310

[2] Huy Cận, Lửa Thiêng, Tái bản tại miền Nam, Sài Gòn, 1967, tr.6, 7

[3] Trần Tuần Kiệt, Thi ca Việt Nam hiện đại (1880- 1965), Khai Trí Xuất bản, 1967, tr.485

[4] Trần Tuần Kiệt, Thi ca Việt Nam hiện đại (1880- 1965), Khai Trí Xuất bản, 1967, tr.485

[5] Nguyễn Tấn Long – Phan Canh, Khuynh hướng thi ca tiền chiến, biến cố văn học 1932-1945, Sống mới xuất bản, 1968, tr.540, 543

[6] Huy Trâm, Những hàng châu ngọc trong thi ca hiện đại (1933 -1963) Tủ sách nghiên cứu văn học, Nxb. Sáng, Sài Gòn, 1969, tr.153

[7] Huy Trâm, Những hàng châu ngọc trong thi ca hiện đại (1933 -1963) Tủ sách nghiên cứu văn học, Nxb. Sáng, Sài Gòn, 1969, tr.169 -170 - 171

[8] Tam Ích, Văn nghệ và phê bình, Nam Việt xuất bản, Sài Gòn, 1969 tr.149, 150

[9] Lê Văn Siêu (1974), Văn học sử thời kháng Pháp (1858 -1945), Trí Đăng xuất bản, Sài Gòn, tr.387, 388

[10] Uyên Thao, Thơ Việt Nam hiện đại 1900 - 1960, Hồng Lĩnh Xb.1969 tr.341, 342

[11] Uyên Thao, Thơ Việt Nam hiện đại 1900-1960, Hồng Lĩnh xb.1969, tr.344, 345

[12] Uyên Thao (1969) Thơ Việt Nam hiện đại 1900-1960, Hồng Lĩnh xb., tr.351

[13] Vũ Tiến Phúc, Hồn thơ nước Việt thế kỷ XX Sơn Quang Xuất bản, Sài Gòn 1970, tr.196

[14] Huỳnh Hữu Ủy, “Thi ca trước tình cảnh cực đoan”, Ý Thức số 11 ra ngày 15/3/1971, tr.18

[15] Huỳnh Hữu Ủy, “Thi ca trước tình cảnh cực đoan”, Ý Thức số 11 ra ngày 15/3/1971, tr. 17, 18, 19

[16] Huỳnh Hữu Ủy, “Thi ca trước tình cảnh cực đoan”, Ý Thức số 11 ra ngày 15/3/1971, tr.20

[17] Huỳnh Hữu Ủy, “Thi ca trước tình cảnh cực đoan”, Ý Thức số 11 ra ngày 15/3/1971, tr.22, 23  

[18] Huỳnh Hữu Ủy, “Thi ca trước tình cảnh cực đoan”, Ý Thức số 11 ra ngày 15/3/1971, tr.23

[19] Thanh Hữu, “Về hai bài thơ tình của Tố Hữu và Trường Chinh”, Khởi hành, số 2/1968, tr.83, 84

Xóm Đình An Nhơn Gò Vấp, 15/10/2020

Trần Hoài Anh

Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

 

Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan

Nhà văn Phùng Văn Khai: Thưa nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Sơn, thưa Đại tá - nhà văn Đặng Việt Thủy. Hôm nay tôi mời các anh đến vì có một câu chuyện về văn hóa lịch sử. Hội đồng họ Phùng Việt Nam với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đang chuẩn bị hồ sơ để đề xuất danh nhân văn hóa thế giới cho Trạng bùng Phùng Khắc Khoan (1528-2028). Đây là một công việc mà theo tôi là rất cần thiết. Với họ Phùng, chúng tôi đã tham gia tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học toàn quốc, trong đó riêng cụ Phùng Khoắc Khoan có hai cuộc hội thảo đã diễn ra tại Thạch Thất (Hà Tây cũ). Hội thảo lần thứ nhất có các cụ Bùi Duy Tân, cụ Trần Lê Sáng và cụ Trần Quốc Vượng tham gia chủ lực nguồn tư liệu. Hội thảo lần thứ hai (2013) nhân dịp kỉ niệm 400 năm ngày mất của cụ. Tôi còn nhớ khi đó thành phố Hà Nội đã tổ chức rất lớn. Có một vở chèo của Nghệ sĩ nhân dân Trần Đình Ngôn viết được truyền hình trực tiếp đêm hôm đó. Danh nhân văn hóa lịch sử Phùng Khắc Khoan là một con người rất đặc biệt: là một đại thần thời Lê - Trịnh. Cụ vừa là quan văn, có nhiều năm giữ cương vị Quốc Tử Giám tế tửu (tương đương hiệu trưởng trường Đại học Văn Miếu, đại học đầu tiên của nước ta). Cụ cũng từng hai lần làm Chánh sứ đi Trung Quốc. Nói như vậy, có thể thấy Phùng Khắc Khoan là một danh nhân văn hóa, lịch sử xuất tướng nhập tượng. Chúng tôi đã quy hoạch được gần 1000 trang bản thảo bao gồm thơ, văn trong nước và ngoài nước, các sứ thần Nhật Bản, Hàn Quốc đều đánh giá rất cao nhân vật Phùng Khắc Khoan. Tôi muốn lắng nghe ý kiến của các nhà nghiên cứu, các nhà văn, nhà thơ, các chuyên gia về lộ trình tiến tới thực hiện hồ sơ đề xuất vinh danh cụ Phùng Khắc Khoan. Xin mời anh Nguyễn Văn Sơn - người gắn bó với họ Phùng, từng cùng với chúng tôi thực hiện nhiều cuộc hội thảo. Theo anh, anh đánh giá như thế nào về tầm vóc, vị thế của Phùng Khắc Khoan trong văn hóa, trong lịch sử và đặc biệt đối với đời sống người đương đại của chúng ta hôm nay? Xin mời anh.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Sơn: Cảm ơn câu hỏi của nhà văn Phùng Văn Khai. Từ tầm nhìn của thế kỷ 21, trong cái các cái lý thuyết hiện đại về hậu nhân loại, khi chúng ta nhìn nhận kỹ về danh nhân văn hóa Phùng Khắc Khoan. Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học. Nhưng theo quan điểm phương Đông thì cái tư tưởng đó đã thấm sâu vào trong các cái triết lý ứng xử, vào các trước tác. Trong các tác phẩm thơ, phú của cụ và trong những lời bàn, lời nghị và các tấu chương trình lên nhà vua. Trước hết, xét trên phương diện tầm vĩ mô, ta thấy cụ Phùng Khắc Khoan xuất xứ là một nhà nho, là bậc đại nho. Cụ cũng là một học giả lớn của thời đại, của thế kỉ 16-17. Tiếp theo chúng ta cần nhấn mạnh đến vai trò là nhà chính trị. Với tư cách là nhà ngoại giao, Phùng Khắc Khoan đã đi sứ thần. Còn với tư cách là nhà văn hóa, chủ yếu là các giá trị về thơ, chúng ta phân tích sâu vào nội dung thơ được phản ánh trong đó với những triết lý phương Đông gắn với triết lý gắn với văn hóa Việt, truyền thống Việt. Đó là tư tưởng kiên quyết để bảo vệ danh xưng của Nhà nước Đại Việt mà Lê Thái Tổ mở ra. Thế nhưng cái bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, khi nhà Mạc đến đời vua thứ ba, thứ tư trở đi bắt đầu có những dấu hiệu suy thoái, xuất hiện sự tha hóa về quyền lực, về chính trị và cả về đạo đức. Mà người trực truyền của Phùng Khắc Khoan lại là Nguyễn Bình Khiêm, những điều đó tất sẽ có ảnh hưởng sâu sắc tới Phùng Khắc Khoan, ông đã chọn chọn Chúa để thờ. Ông vào phục vụ cho nhà Lê-Trịnh. Thế nhưng trong quá trình đó, ông sống giữa những lằn ranh, giữa dư luận và giữa thế kỉ đau thương - thế kỉ xảy ra rất nhiều biến cố chính trị, ông vẫn giữ vững được cái phẩm hạnh, cái khí tiết của một bậc đại nho.Việc nước, việc đi sứ phục mệnh vua đảm bảo được tất cả quyền dân sinh. Chốt lại vấn đề, cụ là một nhà hành pháp, làm nhà chính trị, làm nhà tư tưởng, là nhà văn hóa. Trong các giáo trình lịch sử tư tưởng Việt Nam, vai trò ảnh hưởng của Phùng Khắc Khoan thường được nhắc tới một cách khá mờ nhạt và không nhấn mạnh vai trò nhà tư tưởng của cụ. Tôi đề xuất ngoài tầm vóc để trở thành nhà văn hóa trong dòng phát triển lịch sử tư tưởng Việt Nam thì Phùng Khắc Khoan còn là nhà tư tưởng Việt Nam. Vậy tư tưởng ở đây là gì? Là giữ vững đạo học vì cụ là một nhà sư phạm. Nếu chúng ta chỉ nhìn thấy hình ảnh ông quan thì chúng ta sẽ bị lu mờ một sự thật rằng cụ cũng là hiệu trưởng trường Đại học quốc gia (Tế tửu Quốc Tử Giám). Chúng ta  sẽ chia ra thành các chủ đề, sau đó mời các chuyên gia lớn để viết một bộ hồ sơ được đánh giá một cách khoa học, khách quan có phương pháp luật và dưới góc độ là thật khoa học, chứ không phải những bài đình tán trình bày cảm xúc để nói về danh nhân Phùng Khắc Khoan. Tới đây thì chúng ta sẽ phải có một cuộc hội thảo tiền khả thi, trước khi trình hồ sơ. Chúng ta phải làm nhanh, làm tới một hội thảo gồm những chuyên gia đầu ngành, với số lượng bài thì chất lượng để chúng ta kịp thời trình UNESCO.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Chúng tôi rất vui mừng vì thông qua những ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Sơn, chúng tôi đã một cái tầm nhìn khác hơn một chút. Xưa nay chúng ta vẫn đánh giá cụ Phùng Khắc Khoan khá chừng mực trong những gì mà chúng ta có trong tay, nhưng trên thực tế thì chúng ta phải mở rộng biên độ hơn: Cái bối cảnh của lịch sử Lê-Trịnh, của những thế kỷ 15, 16, đầu thế kỷ 17 và đặc biệt là vai trò của cụ ở tầm vóc tư tưởng. Cụ Phùng Khắc Khoan ngoài việc đảm đương cương vị Quốc Tử Giám tế tửu, thì ngay ở quê nhà Phùng Xá (Thạch Thất) cũng có một đạo thư đường. Khi ở triều đình cụ phụ trách dạy học, còn về quê thì đó giống như một trung tâm dạy học cho toàn bộ con em dân chúng quanh vùng. Điều này được các Chúa Trịnh rất khuyến khích. Hành trạng của cụ đa dạng từ ngoại giao đến nội trị, đến ngành nghề tiểu thủ công nghiệp rồi trồng trọt,.. đều có đầy đủ cả. Qua đây tôi cũng muốn lắng nghe thêm ý kiến của Đại tá, nhà văn Đặng Việt Thủy. Anh là người biết nhiều về tiền nhân, anh có đánh giá như thế nào về danh nhân văn hóa Phùng Khắc Khoan?

Đại tá, nhà văn Đặng Việt Thủy: Phải nói là tôi rất tâm đắc khi nước ta có dự định sẽ đề nghị hội thảo rồi đề nghị UNESCO công nhận danh nhân văn hóa Phùng Khắc Khoan là danh nhân văn hóa thế giới. Phải nói là xưa nay tôi cũng rất tâm đắc về việc này và tôi cũng đã viết một số bài về về danh nhân Phùng Khắc Khoan rải rác cách đây cũng mười mấy năm rồi. Chuẩn bị kỷ niệm 500 năm ngày sinh của cụ thì việc làm này đề cập rất kịp thời. Bên cạnh những vấn đề nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Sơn và nhà văn Phùng Văn Khai nói thì tôi còn tâm đắc ở hai khía cạnh nữa: Danh nhân Phùng Khắc Khoan là nhà ngoại giao rất giỏi, hai lần đi làm chánh sứ của Trung Quốc trong cái bối cảnh nhà Lê-Trịnh, nhà Mạc như thế. Phùng Khắc Khoan theo nhà Lê, sau đó được vua Lê là cử đi sứ nhà Minh thay mặt cho triều đình nhà Lê. Trước đó triều đại nhà Mạc cũng đã cử người đi sứ, cung tiến tiền bạc,… thậm chí là cả tượng vàng. Nhưng khi Phùng Khắc Khoan sang với tư cách rất hiên ngang, cụ biết rõ trong bối cảnh lúc đó phía nước ta bị yếu thế, khi giữa nhà Mạc và nhà Lê đang tranh chấp, rồi đều tranh thủ đi yết kiến nhà Minh. Khi Phùng Khắc Khoan sang đó, lúc đầu nhập cảnh rất nhiều khó khăn, từ khâu mở cổng thành tới tiếp đón. Nhưng nhờ tài ngoại giao khéo léo, mềm mỏng, cụ đã vượt qua được các cửa ải. Cụ đã cho thấy tài ngoại giao giỏi mà cũng văn hóa giỏi ở chỗ này. Phùng Khắc Khoan đã làm quen thân với một số quan chức của nhà Minh. Ví dụ là đại học sĩ dạy cho thái tử của nhà Minh rất thân thiết với cụ, Nhân dịp mừng thọ của vua Minh, Phùng Khắc Khoa đã làm 43 bài thơ. Trước khi thông qua, cụ đã khéo léo nhờ những đại thần của nhà Minh thẩm định trước. Khi dâng lên vua Minh, ngài đã vô cùng khâm phục, vô cùng yêu kính và quý mến vị sứ thần của Việt Nam. Vua Minh phải thốt lên là phải chăng ở Việt Nam đâu đâu cũng có người hiền tài như thế? Điều đó đã nâng vị thế của người Việt vì ngài sứ thần Việt Nam rất am hiểu văn hóa của Trung Hoa và cả dòng tộc nhà Minh. Cách đây gần 500 năm chúng ta cũng không ngờ một sứ Việt Nam, không những đối với triều đình nhà Minh mà các sứ thần của nước ngoài, ví dụ như sứ thần của Triều Tiên thế là cùng họa, cùng thơ và rất khen ngợi. Vì ngay từ thời đó đã có cái sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam - Trung Hoa, Việt Nam - Triều Tiên. Hiếm một sứ thần nào được ca ngợi đến như vậy. Khi về nước, Phùng Khắc Khoan được nhà Minh tiễn đưa long trọng và đặc biệt được Chúa Trịnh Tùng tiếp đón rất nhiệt liệt. Trịnh Tùng là một vị chúa giỏi, ông rất ca ngợi công lao của Phùng Khắc Khoan và gọi cụ bằng cái tên “Phùng tiên sinh”. Việc nước giỏi là thế, về tới làng quê ông cũng là một bậc hiền nhân đức độ, được người dân tôn kính gọi là “Trạng Bùng” dù cụ không phải là Trạng Nguyên. Cụ dạy rất nhiều nghề mới mục đích nâng cao dân trí địa phương, có những nghề mà khi sang Trung Quốc cụ đã đem về để dạy cho bà con. Càng nghiên cứu sâu vào các nguồn tư liệu, ta càng thấy một Phùng Khắc Khoan vô cùng tài năng xuất chúng, khi con người ta chỉ có thể giỏi ở một lĩnh vực nào đó thì cụ lại cho thấy cụ có thể bao quát được hết tất cả một cách rất tốt. Tôi nghĩ việc nghiên cứu không chỉ nên dừng lại ở sử sách của nước ta, chúng ta có thể tham khảo thêm sử của nhà Minh để ghi chép lại những chuyến đi của sứ thần Việt Nam, trong đó có có Phùng Khắc Khoan. Tập thơ 43 bài cụ dâng tặng vua Minh ý chính là ca ngợi đức vua phải quan tâm đến dân chúng rồi quan tâm đến vấn đề ngoại giao, qua đó thắt chặt tình cảm giữa hai nước và giúp vua Minh hiểu hơn về Đại Việt.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Cảm ơn Đại tá, Nhà văn Đặng Việt Thủy, chúng ta cũng đã có những đánh giá khá công tâm và mạnh mẽ về danh nhân văn hóa, lịch sử Phùng Khắc Khoan. Riêng lĩnh vực thơ, văn của Phùng Khắc Khoan thì trong hội thảo lần thứ 2 năm 2013, Ban biên soạn chúng tôi cũng đã quy hoạch được gần như toàn bộ về thơ cùng tác phẩm thơ Nôm, tác phẩm chữ Hán, nhiều tập thơ Phùng Khắc Khoan từ các nguồn tư liệu khác và các bài văn về chữ Hán, chữ Nôm, cụ thậm chí còn viết bi ký, viết văn bia,... Chúng ta may mắn có được một nguồn tư liệu khá phong phú. Tuy nhiên, để thẩm định, đánh giá và đề xuất bộ hồ sơ doanh nhân văn hóa thế giới thì theo tôi nó cũng còn rất nhiều bước, đặc biệt là cái sự quan tâm của Đảng, Nhà nước. Chúng ta vừa mới có Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa. Một quốc gia văn hóa thì phải có các danh nhân văn hóa. Việc đề xuất danh nhân văn hóa thế giới cho Phùng Khắc Khoan trong thời điểm 500 năm nhân ngày sinh của cụ phù hợp hay chưa? Và đường đi nước bước thế nào để chúng ta có được tinh thần khoa học, có được sự đồng thuận của nhân dân, có được cái sự ủng hộ của các cấp chính quyền và sự vào cuộc mạnh mẽ của giới trí thức. Tôi muốn lắng nghe ý kiến các anh về vấn đề trên, mời anh Sơn.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Sơn: Nói một cách khách quan thì cụ đã quá xứng đáng, thời điểm này rất phù hợp với bước đi của dân tộc ta và bước tiến của sự trưởng thành trong nhận thức của xã hội và dân trí cũng như là vị thế của Việt Nam. Cụ Phùng Khắc Khoan xứng đáng để chúng ta trình một bộ hồ sơ đầy đủ về cụ nhân dịp 500 ngày sinh. Thế nhưng muốn trình bộ hồ sơ thì bao giờ thế giới người ta cũng yêu cầu có những điểm phát hiện mới. Điều cần thiết bây giờ là chúng ta phải có một điểm đột đột phá giữa một cái bối cảnh xã hội Nho giáo, cái xã hội được coi là “trọng nông ức thương”. Nhưng chính Phùng Khắc Khoan lại tiếp thu tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là phát triển công thương, như là cụ Học, thầy của cụ là Nguyễn Bình Khiêm. Vai trò của hoạt động công thương ở xứ Đông rất mạnh, chính vì vậy vua Lê và chúa Trịnh đã tiếp thu những giá trị để phát triển công thương. Phát triển công thương đã xây dựng được một tiềm lực kinh tế để nuôi dưỡng bộ hậu cần chiến lược, dự bị chiến lược và nuôi dưỡng cho quốc phòng, thống nhất được được giang sơn. Đây là tư tưởng đột phá về kinh tế, nhưng vấn đề ai là người thực thi đứng sau chính sách đó? Vậy nên phải cân bằng mối quan hệ phát triển công thương, nếu chỉ lấy nền kinh tế nông nghiệp thì không phát triển được quân đội của nhà Lê. Đối với những giới nghiên cứu hàn lâm, khoa học thì chúng ta cần phải gạt bỏ những vấn đề dị đoan trong nghiên cứu. Ví dụ như năm sinh của cụ, người ta cho là cùng một mẹ với Nguyễn Bỉnh Khiêm, điều này không đúng vì khi cụ sinh ra thì mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ở độ tuổi xế chiều không thể sinh nở. Chúng ta chỉ coi nó như một tham chiếu, là cách giải quyết chứ không phải chính thống để khi đã trình ra quốc tế, người ta phải thấy một nhân vật bớt những điều dị đoan, bớt những vấn đề huyền thoại mà nhìn nhận vấn đề thực sự khoa học. Chúng ta phải nhấn mạnh thêm cả vai trò cụ là một văn quan chứ không phải là một vị binh bị văn võ song toàn thì mới có thể đẩy được cái cái khái niệm văn hóa, văn hóa quân sự, văn hóa chính trị, văn hóa ngoại giao. Trong chính trị, Phùng Khắc Khoan còn là một nhà hành pháp, thời trung đại lập pháp thuộc vào vua, lời từ miệng vua thốt ra đó là luật. Khi mà thế giới muốn công nhận một người là danh nhân văn hóa thì luôn nhấn mạnh vào vai trò giáo dục, có bao nhiêu nho sĩ, các danh sĩ được ra đời khi Phùng Khắc Khoan làm tế tửu Quốc Tử Giám. Thống kê những điều đó sẽ làm nổi bật lên được vai trò giáo dục và định hướng được cái giáo dục trong cái bang giao với xã hội bên ngoài. Cụ cũng có vị trí trong đối với ngành ngoại giao trong lịch sử trị quốc, nội trị, quản lý và phát triển kinh tế xã hội. Như tôi vừa nói, chúng ta cần có một cuộc hội thảo thật tinh túy với số lượng bài viết vừa đủ do các chuyên gia đầu ngành về các lĩnh vực văn hóa học, lịch sử học, xã hội học, Việt Nam học các khoa liên ngành nhân học viết. Để khi trình ra thế giới, họ sẽ phải thốt lên rằng “đây rồi, đúng là một cái đỉnh của một thế kỷ!”.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Cảm ơn anh Sơn đã có đề xuất về một cuộc hội thảo khoa học tầm vóc quốc tế. Cách đây hai ba chục năm khi còn tỉnh Hà Tây cũ, các cụ Trần Quốc Vượng, Trần Thế Sáng, Bùi Duy Tân, Hoàng Minh Tường,... đã thực hiện một cuộc hội thảo mang tính nền móng. Nếu không có cuộc hội thảo đó thì toàn bộ tư liệu Hán Nôm, toàn bộ các bản dịch, các chiếu chỉ, sắc phong của các đời Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn về sau cho cụ Khoan cũng dễ bị thất tán đi nhiều. Tôi cho rằng chính quyền địa phương cũng như giới trí thức rất quan tâm trên tinh thần công nhận và thừa nhận tầm vóc của cụ. Đó là điều mà chúng ta không khiên cưỡng về học thuật cũng như không khiên cưỡng về tầm vóc. Tuy nhiên, để có được một cái bộ hồ sơ thuyết phục với thế giới theo đúng tinh thần, đúng người, đúng việc, đúng với xu thế của thời đại thì là một câu chuyện chúng ta phải dành thời gian, trí tuệ. Xin hỏi với cái cách nhìn nhận của Đại tá, nhà văn Đặng Việt Thủy, anh đánh giá như thế nào và theo anh chúng ta cần phải làm gì để có được một bộ hồ sơ đề xuất danh nhân văn hóa thế giới cho Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan một cách khoa học, đĩnh đạc và thuyết phục nhất? Khi đón nhận cái danh hiệu đó, chúng ta phải đường đường chính chính vì chúng ta không làm những cái gì đó mà nó không phải thuộc về cụ, không phải thuộc về thời đại của chúng ta. Đây cũng là mong muốn của Hội đồng họ Phùng cũng như giới trí thức hiện nay. Xin mời anh.

Đại tá, nhà văn Đặng Việt Thủy: Bên cạnh ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Sơn và nhà văn Phùng Văn Khai về những thuận lợi được ta đã có được trước mắt thì cái nòng cốt là tuyển văn thơ của doanh nhân văn hóa Phùng Khắc Khoan. Ngoài nhấn mạnh vào sự nghiệp giáo dục, ta cũng phải nhấn mạnh rõ thêm khía cạnh văn hóa, nhất là thời buổi hội nhập văn hóa như hiện nay. Cách đây 500 năm, khi Phùng Khắc Khoan làm Chánh sứ sang Trung Quốc đã gặp gỡ các đại thần, vị vua nhà Minh như thế, gặp các sứ thần các nước ngoài như thế. Ta sẽ cố gắng tìm trên nguồn tư liệu những nước này vì văn hóa của họ cũng gần gũi Việt Nam. Thời đó cách đây 500 năm nhưng người ta đã ca ngợi cụ như thế, vua Minh rất là khen ngợi rằng không ngờ ở Việt Nam có một bậc hiền tài như thế. Sự nghiệp văn thơ, sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp về ban giao. Trên cơ sở địa vị của Nhà nước Đại Việt được tôn lên chính là thông qua các chuyến đi công tác của Phùng Khắc Khoan. Chúa Trịnh Tùng rất đánh giá cao quốc thể của Việt Nam trong bối cảnh giữa nhà Trịnh, nhà Lê, nhà Mạc và Ở thời điểm khác thì khi sứ thần phụng mệnh đi rất hiên ngang, đặt ví dụ như sau khi chiến thắng quân Thanh, sau khi chiến thắng của Lê Lợi. Nhưng thời kì Phùng Khắc Khoan đi sứ là lúc đó Việt Nam đang diễn ra tranh chấp giữa nội bộ, vậy nên cách nước ngoài nhìn mình cũng khác đi. Thật tốt khi chuyến đi của sứ thần Phùng Khắc Khoan đã tôn vinh được cái địa vị của nhà Lê. Qua đó ta nhấn mạnh sự quan trọng của việc giao lưu với các nước trong khu vực.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Thưa nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Sơn, thưa Đại tá, nhà văn Đặng Việt Thủy. Các anh đã có những ý kiến theo tôi là rất thẳng, vì chúng ta làm khoa học, ngoài những cái khu vực mà chúng ta buộc phải trích dẫn, buộc phải suy luận thì chúng ta cũng có những cái ý kiến nhìn thẳng vào sự thật. Chúng ta không thể nào đề xuất theo kiểu võ đoán, tất cả đều là thực chứng để đề xuất danh nhân. Thông qua ý kiến của các anh, tôi xin cảm ơn các anh đã dành thời gian, tâm huyết và đưa ra ý kiến rất thẳng thắn, rất khách quan, trung thực trên tinh thần khoa học lịch sử về danh nhân văn hóa lịch sử Phùng Khắc Khoan. Đối với tâm thức của người Việt, đối với giới trí thức, từ các triều đại sau Phùng Khắc Khoan đến hôm nay và trong thời đại Hồ Chí Minh, chúng ta đều đánh giá cao nhân vật, danh nhân văn hóa, lịch sử Phùng Khắc Khoan. Điều đó thể hiện ở chỗ cụ được nhân dân suy tôn là Trạng Bùng, đã lấy tên cụ đặt tên phố, tên đường, tên trường. Năm 2024, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã xây dựng một quảng trường tại Thạch Thất, đặt tên là Quảng trường Phùng Khắc Khoan và một bức tượng đồng cao 5m ngoài trời về cụ. Phùng Khắc Khoan là một trong số rất hiếm danh nhân văn hóa được đúc tượng ngoài trời. Nói như vậy để thấy chúng ta cũng có những cơ sở pháp lý, có những cơ sở về luân lý, về đạo đức và truyền thống. Những ý kiến đề xuất đều đồng thuận như vậy. Tôi mong muốn cái nguyện vọng chính đáng đó của nhân dân, của trí thức sẽ được chính quyền ghi nhận và đồng hành với chúng ta. Căn cứ vào thành phố Hà Nội ra chủ trương về đề xuất danh nhân văn hóa thế giới và các cái cơ quan ban, ngành của Đảng, Nhà nước cũng phải đồng thuận và nhập cuộc. Tôi tin rằng với cái sự chín muồi đó, với cái tâm thức của rất nhiều người đó thì chúng ta sẽ thực hiện thành công việc đề xuất danh nhân văn hóa thế giới cho cụ Phùng Khắc Khoan nhân kỷ niệm 500 năm ngày sinh của Đức Ngài. Xin trân trọng cảm ơn!.

16/3/2026

Hoàng Mai Linh

Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

 

Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến

Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.

1. Tận cùng nỗi đau

Chúng ta không thể quên bao chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh, bao thành phố, làng quê bị bom đạn tàn phá, huỷ diệt trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước hoà bình, thống nhất nhưng nỗi đau thương, mất mát vẫn còn nhức nhối trên cơ thể đất nước, trong cuộc đời và số phận của biết bao cựu chiến binh, thương binh, gia đình liệt sĩ và cả những lớp trẻ em sinh ra sau chiến tranh. Truyện Đứa con màu da thú kể về bi kịch của cựu binh Nguyễn Văn Thắng - người từng tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam và chiến trường Campuchia. Anh bị nhiễm chất độc dioxin lúc nào không rõ. Sau chiến tranh, anh Thắng trở về lập gia đình với  với người yêu là Khoa. Hạnh phúc đang đến thì bi kịch cũng ập đến khi hai đứa con lần lượt ra đời đều tật nguyền, dị dạng. Đứa con gái đầu của anh là một “hình nhân da thú”, “đen óng, lông lá phủ đầy người. Trên lưng đứa bé nổi lên những cục sần to bằng quả cà, quả táo, đỏ chót, ri rỉ nước vàng. Bên cạnh những cục sần ấy là những chòm lông đen tua tủa, dày đặc”. Đứa con thứ hai cũng là một dị nhân: “Con nó hơi dị hình nhưng có nhiều nét rất giống người. Da không dày lông đen kịt như chị nó”. Mười năm trời không lương bổng, phụ cấp, vợ làm phụ hồ, chồng đạp xích lô, anh chị đã vất vả gian lao nuôi hai đứa con “bất thành nhân”.  Anh cố gắng hết mình nhưng vì nhiễm chất độc da cam, bệnh tật tái phát đã làm anh kiệt sức và gục ngã.

Biết bao đứa trẻ sinh ra không được làm người. Em lại Thị Hà (Truyện: Chiếc cũi trần gian) là một trường hợp như thế. Bé Hà sinh ra với hình hài dị dạng và gần như vô thức. Em không biết nói, ăn mọi thứ như côn trùng, chuột chết, nhổ cả tóc mình ăn và thích ngâm nước. Để bảo vệ con trước những nguy cơ rình rập, vợ chồng chị Ngoãn (bố mẹ Hà) phải nuôi con trong chiếc cũi tre suốt 15 năm trời: “Chiếc cũi hình chữ nhật, xung quanh là những chắn song tròn làm bằng tre. Bên dưới ghép dày hơn kiểu ghép lát giường”. Nguyên nhân nỗi đau của bé Hà và bi kịch gia đình chị Ngoãn từ anh Lại Đình Hằng (bố của bé Hà) đã nhiễm chất độc chết người khi là chiễn sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 204 thuộc Bộ Tư lệnh 315 chiến đấu ở chiến trường Đông Nam bộ và những cánh rừng ở nước bạn Lào trong thời kỳ chống Mỹ. Chất độc da cam đã thấm vào cốt tuỷ và máu của anh, truyền sang vợ anh để tạo nên cái thai bất thường trong bụng vợ. Đứa con ra đời “đội lốt mặt người” nhưng tâm tính thì của loài hoang thú.

Truyện Con tôi không phải là người kể về cựu binh Lê Văn Lớp, quê ở xã Hoà Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cũ). Trở về sau chiến tranh, anh Lớp cùng vợ là chị Nguyễn Thị Dung đã trải qua chín lần sinh nở, mà những đứa trẻ sinh ra đều là những “quái thai” không thành người. Mỗi lần sinh nở cũng là lần vợ chồng anh lặng lẽ gói đứa con đem chôn với nỗi đau xé lòng. Trong nỗi đau tận cùng, chị Dung trở thành người tâm thần, vô thức, đi khắp nơi tìm con. Khi tỉnh táo trở lại, chị Dung đã đi hỏi vợ mới cho chồng, mong có được đứa con lành lặn. Nhưng đứa con của người vợ thứ hai sinh ra cũng là một sinh linh không phải là người: “Cháu nó giống như con mèo vậy, lông lá mọc kín người, lại chẳng có mắt, có mũi gì hết. Vừa lọt lòng, nó đã tắt thở rồi”.

Truyện Vào chùa gặp lại, kể về cuộc gặp gỡ giữa tác giả (nhà văn Minh Chuyên) và nữ tu sĩ Lương Thị Thân, tu ở chùa Đông Am, xã Quang Bình. Bà nguyên là sĩ quan Quân y Đường dây 559, nay là thương binh trở về địa phương. Rong ruổi qua 27 ngôi chùa ở tỉnh Thái Bình (cũ), tác giả đã gặp gỡ 29 Sư thầy, sư bác, qua đó chúng ta hiểu được hoàn cảnh éo le và con đường đến với cửa Phật của bà Lương Thị Thân cũng như nhiều nữ cựu binh, thanh niên xung phong trở về sau chiến tranh. Vì nhiễm chất độc da cam, sức khoẻ giảm sút bởi vết thương hoặc bệnh cũ tái phát, hay lỡ thì quá lứa, họ đã tìm đến tu ở các chùa với những việc làm đầy tình người và ý nghĩa nhân văn. Đó là sư bà Đỗ Thị Mến, một cựu thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ trở về sau chiến tranh. Bà đã góp nhiều công sức cùng bạn bè, người thân xây dựng Đền thờ Bác Hồ ngay trên mảnh đất của mình và tực tiếp trông coi hương đèn nơi đền thờ đó. Sư bác Trương Thị Minh, nguyên là Đảng viên, chiến sĩ thông tin Trung đoàn Sao Đỏ, sau chiến tranh đã vào “đèn nhang” ở chùa Tân Thanh. Sư thầy Nguyễn Thị Phương là nạn nhân chất độc da cam, thương binh hạng 4/4. Bà đã gửi thân nơi cửa Phật vì không muốn sinh ra những đứa con tật nguyền, dị dạng, vv… Chiến tranh đi qua, nỗi đau còn ở lại,  vẫn còn đó bao những cảnh đời đau thương, những số phận nghiệt ngã, những đứa trẻ sinh ra không được làm người. Nỗi đớn đau dai dẳng, xé từng khúc ruột tưởng không thể chịu đựng nổi, nỗi đau của hàng triệu người còn diễn ra mấy chục năm sau chiến tranh. Chiến tranh là thảm hoạ khủng khiếp nhất của con người, là bi kịch lớn nhất của nhân loại, lại do chính con người gây ra. Tác giả không lớn tiếng tố cáo nhưng những hình ảnh đau thương đầy ám ảnh đó đã nói lên được nhiều điều có ý nghĩa sâu sắc.

Chiến tranh còn tạo ra những hoàn cảnh éo le, đầy bi kịch của người lính trở về sau cuộc chiến. Đó là câu chuyện cảm động, xót xa và đầy uẩn ức của cựu binh Trần Quyết Định - một người lính từng được báo tử rồi đột ngột sống sót trở về, và hành trình gian nan kéo dài gần ba mươi năm chỉ để “làm thủ tục” của một người chưa chết (Thủ tục làm người còn sống). Trần Quyết Định quê ở xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, tham gia quân đội, chiến đấu ở chiến trường biên giới Tây Nam. Anh được đơn vị báo tử ngày 20/ 12/ 1978 nhưng thật bất ngờ khi chín tháng sau, anh đột ngột khoác ba lô trở về gia đình. Thực ra, trong trận đánh chiếm lại điểm cao 62 ở địa phận Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bị quân Pôn Pốt lấn chiếm, Định bị thương nặng, máu ra nhiều nên đơn vị tưởng anh đã hy sinh. Anh được đưa đi điều trị nhiều ngày ở các Quân y viện, được cấp giấy chứng thương. Rời Quân y viện, Trần Quyết Định đi tìm đơn vị nhưng đơn vị anh đã chuyển sang chiến đấu ở Campuchia, anh không thể tìm được, đành trở về quê. Niềm vui đoàn tụ chưa trọn vẹn, Định và gia đình đã rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đời sống nghèo đói, đông con, vết thương tái phát, sốt rét trở lại hành hạ với những cơn đau nhức nhối. Chế độ gia đình liệt sĩ bị cắt nhưng chế độ thương binh và thủ tục của một người sống không làm được. Định làm đơn đi khắp các “cửa quan” từ xã, huyện lên tỉnh. Huyện đội giới thiệu lên Phòng Thương binh. Phòng Thương binh chuyển đơn sang Huyện đội. Huyện đội giới thiệu lên Sở, Sở đề nghị sang Ban Chính sách hậu phương. Hồ sơ của Định gửi lên Hà Nội, đến Cục Tổ chức động viên của Bộ Tổng Tham mưu, ở đây lại giới thiệu về đơn vị giải quyết. Cứ thế, nơi nào, đơn vị, tổ chức nào cũng hứa hẹn, an ủi nhưng không ai giúp đỡ được. Trần Quyết Định được sự giúp đỡ nhiệt tình của một nhà báo (tác giả Minh Chuyên). Hai ngườ lặn lội khắp trong Nam, ngoài Bắc nhiều chuyến, nhiều năm trời, có lúc bị kẻ cắp lấy mất cả hành lý, tiền bạc phải đi xin để có tiền trở về quê, thế nhưng cũng không giải quyết được. Có lúc anh Định đã thấy bất lực, tuyệt vọng với khó khăn và hoàn cảnh trớ trêu của mình: “Em chả thiết sống nữa…hẳn như phải nằm dưới mộ ở nghĩa trang Thạch Tây, thì gia đình em lại được vẻ vang, anh em mình cũng đâu đến nỗi  chịu khổ nhục thế này”. Thời kỳ trước Đổi mới, điều kiện kinh tế khó khăn, hệ thống quản lý hành chính quan liêu thời bao cấp, văn bản chính sách bất cập, phức tạp, chồng chéo, nhiều cán bộ các cấp yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm và tiêu cực, tham nhũng vặt tràn lan. Nhiều trường hợp, họ đùn đẩy trách nhiệm hoặc gây khó khăn để nạn nhân phải chi tiền hối lộ, gây nhiều, phiền toái khổ sở cho người dân. Đúng như lời nhân vật Duyến đã nói: “Giấy tờ, thật giả, bây giờ người ta có quan tâm lắm đâu. Cứ có cái khoản kia là xong tất. Còn không á, có khi thật lại hoá giả”. Những người có hoàn cảnh đặc biệt như Trần Quyết Định là không nhiều nhưng cũng không hiếm những cảnh khốn khó của người dân khi phải tìm đến các cơ quan công quyền để giải quyết những thủ tục hành chính phức tạp.

2. Tình người toả sáng

Nhà văn Minh Chuyên không chỉ thể hiện nỗi đau khổ, bi kịch đến tận cùng của con người sau chiến tranh mà còn ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của những cựu chiến binh, ngợi ca tình tình yêu thương, sức chịu đựng và lòng vị tha cao cả của người Việt Nam thể hiện trong những hoàn cảnh bi kịch ấy. Chiến tranh đã lùi xa, bao người chiến sĩ đã trở về đoàn tụ với gia đình nhưng cựu binh Thắng vẫn bặt vô âm tính (Trở lại kiếp người). Chiến sĩ Thắng trên đường đi công tác lẻ, bị địch phục kích, bị thương nặng, được đàn vượn lấy lá thuốc chữa vết thương. Cũng từ đó anh bị bệnh tâm thần, mất trí nhớ và sống cùng đàn vượn trong rừng hoang ở tỉnh Đắk Lắk suốt 10 năm trời. Người yêu của Thắng là Trang cùng Dũng - một đồng đội cũ của Thắng, đã trải qua hành trình với bao gian lao, vất vả, hy vọng và thất vọng để tìm kiếm anh. Có khi họ đã tìm thấy Thắng, nhưng đàn vượn rừng lại đưa anh đi vào rừng sâu. Cuối cùng, nhờ tình yêu, lòng nhiệt tình và quả cảm của Trang, tình đồng đội của Dũng, họ đã tìm thấy anh Thắng, đưa về Quân y viện điều trị và đoàn tụ với gia đình ở khu kinh tế mới tỉnh Đắk Lắk. Đó là tấm lòng nhân hậu, tình người cao cả của ông bà Châu và chị Dung ở khu tập thể Thủ Lệ 1, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Ông bà đã cưu mang, chăm sóc một người tâm thần lang thang ăn xin đầu đường cuối phố có tên là “Kích sẹo” (Người không cô đơn). “Kích sẹo” chính là cựu binh Nguyễn Đình Thúc, người chiến sĩ đã được báo tử nhưng thực ra anh chỉ bị thương nặng, lạc đơn vị. Vì bị bệnh tâm thần, khi đang điều trị ở Quân y viện, anh Thức tìm đường về quê là bị lạc lối ở Hà Nội. Anh lang thang nhiều nơi rồi trôi dạt về Cầu Giấy. Trải qua bao biến cố, bao vất vả nhọc nhằn, nhờ sự tận tâm chăm sóc, tình yêu thương thông cảm của ông bà Châu và chị Dung, anh Thúc đã được trở về đoàn tụ với gia đình ở tỉnh Thái Bình (cũ). Truyện Linh hồn Việt Cộng là câu chuyện đầy tính nhân văn về hành trình chuộc lỗi của cựu binh Mỹ - Homer Steedy nhiều năm sau cuộc chiến. Homer đã bắn chết chiến sĩ Giải phóng quân Hoàng Ngọc Đảm tại chiến trường Tây Nguyên, ngày 18/ 3/ 1969. Điều đó làm ông ân hận mấy chục năm trời sau chiến tranh: “Sau cái phút kinh hoàng ấy, hình ảnh người lính Việt  Cộng đã khắc sâu vào tim tôi. Và linh hồn của anh ấy đã ám ảnh tôi suốt hơn 30 năm qua”. Ông đã đưa chiếc ba lô và những kỷ vật khác của người lính Hoàng Ngọc Đảm nhờ mẹ cất giữ trên bàn thờ của gia đình mình ở Mỹ. Nhờ sự giúp đỡ của bạn bè và các cơ quan hữu trách, ngày 13/ 5/ 2008, Homer đã đến Việt Nam, thăm lại chiến trường xưa, đưa hài cốt của liệt sĩ Đảm về quê nhà an táng trong niềm xúc động nghẹn ngào. Ông cũng đưa những di vật của Hoàng Ngọc Đảm mà ông đã cất giữ nhiều năm như một phần “linh hồn” của người lính. Hận thù đã được hoá giải, nỗi đau đang được chữa lành sau những mất mát đau thương…

Ẩn hiện trong những trang văn là hình ảnh nhân vật “Tôi” - người kể chuyện: Nhà báo, nhà văn Minh Chuyên. Từ một người lính trở về sau chiến tranh, Minh Chuyên thấm thía nỗi mất mát, đau thương, bất hạnh của những nạn nhân chiến tranh và bi kịch của gia đình họ. Ông trăn trở, thao thức vì hoàn cảnh đau thương của người lính thời hậu chiến nhưng không biểu hiện tình thương bằng những lời cảm thán mà bằng những hành động cụ thể, những việc làm thiết thực đầy nghĩa tình với đồng đội và nạn nhân chiến tranh. Nhà văn đã đến nhiều nơi, tìm gặp những mảnh đời bất hạnh, những em bé tật nguyền - nạn nhân chất độc da cam, lòng quặn thắt chứng kiến những cơn đau cháy xé da thịt các em từng dây, từng phút. Bước chân nhà văn đã cùng nhân vật của mình vào Nam ra Bắc, vượt qua núi rừng hiểm trở đến những chiến trường cũ xa xôi, đến cơ quan này, nhân chứng kia để tìm sự thật, đòi lại công bằng, quyền lợi chính đáng cho những cựu binh bất hạnh. Nhà văn đau nỗi đau xé lòng của nạn nhân chiến tranh, chia sẻ những nhọc nhằn và cả những rủi ro, hiểm nguy của họ trong hành trình tìm lại giá trị của cuộc sống. Phải là một người lính có tình đồng đội ca cả, lòng yêu thương và đồng cảm sâu sắc với nạn nhân chiến tranh thì mới có lòng nhiệt tình và dấn thân như vậy.

Nhà văn Minh Chuyên có lối kể chuyện chân thật, tự nhiên, không dùng những thủ pháp nghệ thuật cầu kỳ, phức tạp. Kết cấu đơn giản, hợp lý theo mạch sự kiện và nhân vật, dễ tiếp nhận đối với công chúng người đọc. Tác phẩm Sau cuộc chiến là cuộc đời chinh phục lòng người bởi những câu chuyên cảm động và chi tiết chân thật, sinh động; bởi  giá trị hiện thực, giá trị nhân văn cao cả toả sáng. Ngôn ngữ văn xuôi tự sự hoà quyện với ngôn ngữ đậm chất báo chí, vừa giản dị, trong sáng, tự nhiên, góp phần tạo nên phong cách độc đáo của tác giả. Bằng ngòi bút yêu thương và trách nhiệm, nhà văn Minh Chuyên đã thể hiện nỗi đau khổ, bất hạnh tột cùng của những nạn nhân chiến tranh, từ đó dẫn gợi sự đồng cảm, sẻ chia của nhân loại và cất lên tiếng nói tố cáo sự khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh xâm lược.

17/3/2026

Nguyễn Phương Hà

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP.HCM số 199, ra ngày 12/3/2026

Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

  Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương...