Thứ Hai, 8 tháng 6, 2026

Đôi bàn tay mẹ - Hình ảnh người phụ nữ như hoa xương rồng trước thử thách

Đôi bàn tay mẹ - Hình ảnh người phụ nữ
như hoa xương rồng trước thử thách

Tình yêu trong tập truyện của Hồ Xuân Đà làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Bởi vì trong tình yêu ấy, Đà đã mô tả lại những chi tiết tuy nhỏ thôi, nhưng lại cho thấy cái thật, cái đời thường cuộc sống. Tình yêu trong truyện đầy đủ đam mê, đầy đủ bỏng cháy nhưng vẫn không thể xóa đi hết được những đổi thay…
Nhận được bản thảo tập truyện “Đôi bàn tay mẹ” của Hồ Xuân Đà, tôi bất giác cảm thấy nhẹ nhàng, dễ chịu. Vì cái hình ảnh “Đôi bàn tay mẹ” gợi cho tôi về hình ảnh của người mẹ, với tình thương bao la vô điều kiện dành cho những đứa con của mình. Trước sóng gió cuộc đời, họ phải tự biến mình thành cây xương rồng, để tồn tại, và để trổ hoa, và nét đẹp của hoa xương rồng tượng trưng cho sự kiên cường của người phụ nữ Việt Nam, luôn hy sinh, nhưng cũng luôn biết yêu thương chính bản thân, luôn khát khao bình yên, cùng mưu cầu hạnh phúc.
Giọng văn của Đà dịu dàng, từ tốn, đôi khi làm người đọc rưng rưng xúc động, đôi khi lại làm người đọc triết lý suy tư. Cả tập truyện đều là những câu truyện về người phụ nữ trong những giai đoạn của cuộc đời: trầm cảm sau khi sinh con, ly hôn chồng, một mình nuôi con… Đọc truyện của Đà mà vô vàn cảm thông, chia sẻ những khó khăn khi mang bầu, khi sinh con, khi làm dâu. Không chỉ là mẹ của hai đứa con của mình, Đà còn rất nhiều những đứa con khác. Đúng thế, vì Đà là cô giáo mầm non mà.  Mỗi ngày, Đà dốc lòng dạy bảo, vui chơi với các bé nhỏ. Đà cảm nhận được niềm hạnh phúc từ công việc nhọc nhằn nhưng cao quý của mình. Rồi những câu chuyện gia đình của các bé học trò cũng tác động không ít đến những câu chuyện mà Đà viết. Ngay cả tình cảm, tâm tư của hai đứa con nhỏ của Đà cũng góp phần vào những ý tưởng xây dựng nên tác phẩm, mang nhiều thông điệp gửi đến người đọc. Thế đấy, Đà là một người mẹ không chỉ có lòng yêu thương con mà còn là người phụ nữ tâm lý, biết quan sát, biết lắng nghe từng nhịp hoạt động của các bé. Thế giới của các bé vẫn còn trong veo, hồn nhiên, tươi mới. Vậy mà Đà đã nói lên được những sự tổn thương mà người lớn vô tình gây ra cho trẻ nhỏ trong tập truyện của mình.
Ai đó nói rằng “Phụ nữ là một nửa thế giới”. Trong tập truyện “ Đôi bàn tay mẹ”, hình ảnh người phụ nữ trước sóng gió cuộc đời càng làm người đọc nhận ra rằng, phụ nữ thật mềm mại, nhạy cảm, dễ bị rơi vào vòng bi thương. Nhưng phụ nữ không buông xuôi, họ vẫn mạnh mẽ vươn lên, sống hết mình với lồng ngực ngập tràn tin yêu. Và rằng, họ luôn biết cách bảo vệ, nâng đỡ cho nhau khi khó khăn, hoạn nạn. Đọc tập truyện của Hồ Xuân Đà tôi như hiểu biết thêm về một thế giới rất nhiều diễn biến, nhiều cảnh đời mà tôi nghẹn lời cảm thông.
Tình yêu trong tập truyện của Hồ Xuân Đà làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Bởi vì trong tình yêu ấy, Đà đã mô tả lại những chi tiết tuy nhỏ thôi, nhưng lại cho thấy cái thật, cái đời thường cuộc sống. Tình yêu trong truyện đầy đủ đam mê, đầy đủ bỏng cháy nhưng vẫn không thể xóa đi hết được những đổi thay luôn chờ chực với xã hội không ngừng biến chuyển như hiện nay.
Tuy có truyện kết thúc thật đau, thật thất vọng nhưng người viết vẫn cho người đọc cảm được vị ngọt ngào của tình yêu, vì dù sao – tình yêu cũng đã có ở một thuở trước đây. Chúc cho Hồ Xuân Đà sẽ ra mắt nhiều tác phẩm hay trong thời gian sắp tới. Tôi yêu mến Đà vì những khát khao trong công việc viết lách cũng như trong cuộc sống. Nếu khi nào đó bạn có rơi vào đau khổ, bế tắc, bạn hãy tìm đọc những tác phẩm của Đà, hay kết bạn Facebook với Đà, bạn sẽ thấy nhẹ nhõm và lạc quan hơn nhiều. Sự sáng tạo trong văn chương của Hồ Xuân Đà mang lại cho chúng ta những góc nhìn đầy tính nhân văn, bài học giáo dục, cùng sự lay động nhẹ nhàng, thổn thức bao trái tim con người.
Khép tập sách lại, chúng ta sẽ vô cùng thương yêu, quý trọng những người phụ nữ trong xã hội chúng ta đang sống.
15/2/2020
Vũ Lam Hiền
Theo https://vanhocsaigon.com/

Khúc tháng Giêng

Khúc tháng Giêng

Khi Tết đến, xuân về khởi đầu cho một năm mới, mọi người thường nguyện cầu cho bản thân và gia tộc mình gặp những điều may mắn và chúc tụng nhau những điều tốt lành với niềm tin là sẽ đạt được ý nguyện. Văn hóa Việt ảnh hưởng sâu sắc Phật giáo nên vào những ngày đầu xuân, mọi người lại nô nức đi chùa, lễ Phật, cầu mong Phật phù hộ độ trì để quanh năm bình an, thịnh vượng và cũng tin rằng những lời thành tâm ấy được chứng giám.
Có rất nhiều áng thơ hay tử cổ chí kim ngợi ca nét đẹp văn hóa này, và những áng thơ ấy khi được âm nhạc chấp cánh, được những giọng ca hàng đầu thể hiện càng lan tỏa hơn đến trái tim mỗi người dân đất Việt.
THÁNG GIÊNG AN NHIÊN
Tháng Giêng là tháng của mùa xuân, của mùa lễ hội, là lúc cửa chùa rộng mở để đón muôn người xa gần đến cầu may, cúng lễ. Có người cầu lộc, cầu phúc, cầu duyên… Giữa những sắc hương vừa rực rỡ vùa e ấp ấy, cơn mưa xuân mỏng manh đã đi vào thơ cùng sương khói mơ màng của thiên nhiên, của nén tâm nhang kì bí và cuộc hạnh ngộ khiến lòng người xao xuyến:
“Tháng giêng mưa ngoài phố/ Mưa như là sương thôi/ Những bóng cây dáng khói/ Như mộng du bên trời/… Tháng giêng mưa trên tóc/ Những người đi lễ chùa/ Theo giọt mưa cầu phúc/ Tiếng chuông từ bi mơ/ Tháng giêng mưa dưới bến/ Mỏng mai cô lái đò/ Mắt mưa em lúng liếng/ Trói tôi bằng vu vơ…”(Mưa tháng Giêng – Nguyễn Việt Chiến)
Trong các bài thơ của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, có lẽ Mưa Tháng Giêng là bài thơ tôi thích nhất ngay khi tôi đọc lần đầu tiên và theo chủ quan của tôi thì ít có bài thơ nào về Tháng Giêng hay hơn. Tạp chí Văn hóa bàn về bài thơ Mưa tháng giêng như sau: Riêng đối với nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, có lẽ không có miền nào ở Việt Nam lại có cái tiết mưa xuân trong tháng giêng đặc trưng như không gian của Bắc Bộ. Đó là một bức tranh mưa xuân mỏng manh đầy sương khói, nhưng cũng lồng ghép hơi thở của thiền định, xuyên qua những xúc cảm chân thành của nhà thơ trước thiên nhiên vạn vật, bằng ngôn ngữ văn học miêu tả chắt lọc. “Tháng giêng ngày mỏng quá/ Nỗi buồn nghe cũ rồi/ Mà bên kia tờ lịch/ Nỗi niềm mưa xót rơi…Tháng giêng mưa như cỏ/ Non xanh đến tận trời/ Trước vô cùng năm tháng/Thơ mình – sương khói thôi” (Nguyễn Việt Chiến). Mưa Tháng Giêng đã được nhạc sĩ Việt Hùng phổ nhạc thành bài hát cùng tên và được thể hiện xuất sắc qua giọng ca Trần Thu Hà, rất tiếc có một vụ lùm xùm về bản quyền bài hát nhưng sau cùng thì người nghe vẫn nhận được một tuyệt phẩm về thơ – nhạc đặc sắc.
Ngoài ra còn rất nhiều bài thơ về Tháng Giêng được phổ nhạc và được mến mộ như: Khúc Tháng Giêng – Thơ: Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức: “Tháng giêng. người/ đỉnh gió/ suối sâu, nguồn an nhiên/hồn tôi ai tịch biên?/ trái tim đầm thao thiết/ chúng ta rồi chia tay/ tháng giêng còn ở lại/ thánh thần rời hai vai/ nhường ngôi người cứu rỗi/ em lầm than một thời/ chuộc tôi. lần nữa. nhé.” (Du Tử Lê), Tháng Giêng Và Anh – Thơ Nguyên Sa, nhạc: Ngô Thụy Miên: “Tháng Giêng và anh vươn vai và mở cửa/ Trời trên cao, em cũng ở trên cao/Tháng Giêng cho anh một nụ hoa đào/Anh gởi cho em một trời mộng tưởng… Tháng Giêng và anh rủ nhau ngồi dưới phố/ Tô môi hồng xin nhớ cánh sen non/ Tháng Giêng chờ một chút lượng xuân em/ Nụ cười đó, anh chờ xuân vĩnh viễn” (Nguyên Sa)
BỒNG BỀNH CÕI PHẬT
Những người yêu nhạc Việt hẳn biết đến bài hát Em Đi Chùa Hương của nhạc sĩ Trung Đức, phổ từ bài thơ Chùa Hương của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp:
“Hôm nay đi Chùa Hương/Hoa cỏ mờ hơi sương/Cùng thầy me em dậy/Em vấn đầu soi gương/Khăn nhỏ, đuôi gà cao/Em đeo giải yếm đào/Quần lĩnh, áo the mới/Tay cầm nón quai thao…” (Nguyễn Nhược Pháp)
Bài thơ dài 34 khổ 136 dòng, lấy cuộc gặp gỡ lý thú của tác giả với cô gái quê ở Chùa Hương trở thành giai thoại nên thơ. Điều đặc biệt là dưới tên bài thơ, Nguyễn Nhược Pháp mở ngoặc đơn dòng chữ “Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa”: “Ngun ngút khói hương vàng/Say trong giấc mơ màng/Em cầu xin Giời Phật/Sao cho em lấy chàng” (Nguyễn Nhược Pháp)
Không thể không nhắc đến một tuyệt phẩm thơ – nhạc khác cũng về đi Lễ Chùa đó là Chiều Phủ Tây Hồ, thơ Thái Thăng Long được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc.Thái Thăng Long vốn là thi sĩ lừng danh với những áng thơ về Hà Nội. Chiều Phủ Tây Hồ độc đáo bởi vẻ đẹp sang trọng, linh thiêng, huyền ảo. Cảm nhận về cõi thiêng cũng để cảm nhận về cõi thực bằng sự tĩnh lặng, thong thả để nhìn sâu hơn vào bản thể của chính mình: “Mênh mông sương khói/Hồ Tây sóng vỗ Phủ Tây Hồ/Huyền thoại và giấc mơ/Chầm chậm lễ chùa cùng em cung kính/Tượng Phật trang nghiêm Bà Chúa Liễu/Em khói hương thanh thản một phần đời/Ta khói hương để khỏi chơi vơi” (Thái Thăng Long)
Thực hư hòa quyện tựa như phần hồn và phần xác mỗi người không thể tách rời. Không gian, thời gian như đang ngưng đọng để trầm tư mặc tưởng, để tĩnh tại hơn trước mọi xô bồ của thế nhân: “Chắp tay lạy những Thánh nhân trời đất/Khói hương rủ lòng mình bồng bềnh cõi Phật/Trời xa xanh tiếng hạc trắng kêu hoài/Những giấc mơ tiếc lắm ban mai/Những khát vọng phía chân trời xa thẳm/Những nỗi buồn gieo neo chiều vắng/Thanh thản bên em trước thềm điện đời thường” (Thái Thăng Long)
Cửa Phật rộng mở  đón nhận tất cả những nguyện ước của mỗi người, không phân biệt sang hèn, người thành công thì đến tạ ơn, người thất bại thì đến tạ lỗi, để mong được thanh thản nhẹ nhàng, bình an khi trở về. Khi đã bước chân vào chốn thiền môn, những hơn thua, sân si… đều phải xả bỏ bên ngoài chỉ còn giữ lại một tâm thức thành kính, trong sạch, là nơi để gột rửa và phục sinh cho những tháng ngày nối tiếp như tinh thần của câu ca dao xưa:
“Mỗi người một nước, một non,
Tới cửa nhà Phật như con một nhà”.
16/2/2020
Vũ Thanh Hoa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Một con đường của quan niệm sáng tạo - Nhìn từ trường hợp Thanh Tâm Tuyền

Một con đường của quan niệm
sáng tạo - Nhìn từ trường hợp
Thanh Tâm Tuyền

Mỗi thời đại thông qua các nhà văn tài năng thuộc về thời ấy luôn đi tìm lấy nghệ thuật cho mình. Phản biện quá khứ, tìm cách đốt phá, chôn vùi quá khứ là để hướng tới việc đản sinh con phượng hoàng mới từ đống tro tàn, con đường này là phổ biến cho mỗi sinh thành nghệ thuật.
“Đốt”, “chôn”, cái động từ mạnh ấy, vì thế thực ra chỉ là một lối tu từ học thậm xưng cho khát vọng, cách tân, đổi mới. Nhưng mong muốn là một chuyện, thực thi được mong muốn ấy lại là một chuyện khác, và sẽ là càng khác nữa nếu tính đếm đến thành tựu thu về. Sáng tạo là khác lạ, nếu hình thành được quan niệm khác lạ về sáng tạo ấy nữa, thì sự kết hợp hai trong một ấy, sẽ đơm hoa kết trái ở một mùa màng nghệ thuật mới. Thanh Tâm Tuyền đã thể hiện được một cách sáng rỡ sự kết hợp này. Tài năng xuất chúng của Thanh Tâm Tuyền ở thơ, ở văn xuôi đã được biết đến, được khảo cổ, và vẫy gọi tiếp những tái khám phá. Tiểu luận này lần tìm quan niệm nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền thời tạp chí Sáng tạo, khởi từ tiểu luận Nỗi buồn trong thơ hôm nay (Sáng tạo, số 31, tháng 9/1959), qua các cuộc thảo luận văn học chuyên đề trên Sáng tạo tục bản (các số 1 đến 4, tháng 7 đến 10/1960), đến tiểu luận quan trọng tuyên ngôn quan niệm nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền: Nghệ thuật đen (Sáng tạo (bộ mới), số 3, tháng 9/1960).
1. Nỗi buồn trong thơ hôm nay(1)là tiểu luận được hình thành dựa trên hai phần viết tương đối độc lập, nhưng có sự gắn kết về ý tưởng: phần đầu là sự phát hiện ra quan niệm nghệ thuật theo lối Dionysos trong sự phân biệt với quan niệm nghệ thuật theo lối Apollon của Friedrich Nietzsche khi ứng vào đời sống thi ca Việt Nam bấy giờ; phần sau là trích đoạn lời tựa được viết cho tập thơ thứ hai của Thanh Tâm Tuyền dự kiến xuất bản trong năm 1960, Liên – thơ 1956-1960, nhưng phải đến năm 1964 mới được Sáng tạo xuất bản dưới tên Liên [- Đêm mặt trời tìm thấy]. Tiểu luận này trở nên quan trọng vì trước đấy tập thơ đầu tay của Thanh Tâm Tuyền, Tôi không còn cô độc (Người Việt xuất bản, 1956), đã tạo nên một hiệu ứng nghệ thuật đáng kể, xác định vị trí quan trọng của Thanh Tâm Tuyền trong đời sống (cách tân) thi ca nam Việt Nam.
“Thơ hôm nay là thơ tự do”(2) là quan điểm xuyên suốt tiểu luận được Thanh Tâm Tuyền cổ súy. Bởi với Thanh Tâm Tuyền, thơ tự do như thế đáp ứng được hai yêu cầu: thơ không bị niêm luật gò bó, tức thơ được tự do viết “suôi” theo cảm hứng nhà thi sĩ; và cùng với đó, thơ chỉ nương theo nhịp, “sự phối hợp của một toàn thể không khuôn trong một số câu nhất định khiến cho hơi thơ tự do dễ kéo dài hơn các hơi thơ khác” (3). Thơ tự do như thế sẽ phát huy được hết năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ, khai mở tới những biên giới khôn cùng của nghệ thuật thi ca.
“Tôi nghĩ rằng, Thanh Tâm Tuyền viết – điều làm cho người đọc xa lạ với thơ hôm nay không hoàn toàn vì hình thức tự do của nó. Thơ không vần, không điệu, thơ suôi nếu quả thật là thơ – nghĩa là đạt được đến ngôn ngữ mầu nhiệm, không chỉ chuyên chở ý tưởng mà còn ám ảnh vang vọng mãi trong tâm hồn – thì sớm muộn người đọc cũng tìm thấy và quen dần với một thứ nhịp điệu rộng rãi phức tạp ở một trình độ nghệ thuật cao hơn đối với thứ nhịp điệu đơn giản rút gọn.”(4)
Phát hiện ra “thứ nhịp điệu rộng rãi phức tạp” trong thơ là một đóng góp quan trọng của Thanh Tâm Tuyền, mở ra cách cửa, nới rộng kinh nghiệm thẩm mỹ cho người đọc bước vào vương quốc của thi ca hiện đại. Ông tự sự: “Trong khi đề tựa cho tập thơ Quách Thoại [chưa in – nguyên chú của tác giả] tôi đã tìm thấy trong thơ của Thoại một thứ nhịp điệu tôi gọi là nhịp điệu của hình ảnh. Trong một bài thơ giữa những tiếp nối của ý tưởng bỗng nhiên xuất hiện hình ảnh, có khi một có khi là một mớ xô đẩy nhau, tưởng chừng như không ăn nhập gì vào bài nhưng chính thực ở đấy tỏa ra một thứ ánh sáng một thứ âm nhạc bao trùm làm rung động toàn bài.”(5). “Nhịp điệu của hình ảnh”, vậy là, sự phát hiện này của Thanh Tâm Tuyền đã lật nhào quan niệm truyền thống về “nhịp điệu của ngôn từ” trong thơ. Thơ tự do, theo đó, đã được định nghĩa khác đi, khác xa rất nhiều lối định nghĩa dựa vào hình thức văn bản, mô hình diễn ngôn. Những phát triển tiếp theo của Thanh Tâm Tuyền về nhịp điệu thơ đáng được xem là một gợi ý sâu sắc, khác lạ và vẫy gọi:
“Từ cái nhịp điệu của hình ảnh, rồi bằng kinh nghiệm riêng khi làm thơ cũng như khi đọc thơ, dần dần tôi tìm đến được nhịp điệu của ý tưởng, cả hai thứ nhịp điệu trên chỉ là sự thể hiện nhịp điệu của ý thức, hơn bao giờ hết, người ta sẽ thấy các nhà thơ hôm nay là những ý thức muốn biểu diễn bằng thi ca. Cần phải nhận định rõ cái nhịp điệu của ý thức [biểu] diễn trong thi ca không thể có cái hình dáng của bất cứ một thứ luận lý nào, nên dù có viết suôi thì hiển nhiên thơ suôi vẫn không phải là văn xuôi. Cái nhịp điệu của ý thức sinh ra cái nhịp điệu của ý tưởng, của hình ảnh nằm trong một mối điều hòa tự thân phức tạp, không có quy luật nhất định, nó tùy thuộc vào từng nhà thơ. Và một bài thơ hôm nay nếu thành công, tôi nghĩ nó sẽ đạt đến một thứ nhạc khá mới lạ không phải chỉ là sự hòa hợp đơn thuần của bằng trắc mà còn ở trong sự chứa đựng của tiếng nói, của hình ảnh, của ý tưởng biến diễn qua một ý thức sáng suốt, tự do vươn tới sự thống nhất trong khi phải trải qua sự chia xé mãnh liệt.” (6)
Nếu khảo sát sâu vào thơ in trên tạp chí Sáng tạo, chúng ta sẽ thấy được sự chia sẻ của các thành viên nhóm này với quan niệm về thơ của Thanh Tâm Tuyền. Thơ tự do trên Sáng tạo không còn là thơ phụ thuộc vào hình thức của việc tổ chức ngôn từ bài thơ nữa (nó không câu nệ vào việc phá bỏ vần luật, vào cách đặt câu, lên dòng xuống dòng,… kiểu như thơ tự do không vần được định nghĩa bởi sáng tác của Nguyễn Đình Thi ở ngoài Bắc), bởi ở đấy, thậm chí, thơ lục bát của Tô Thùy Yên cũng được gọi là thơ tự do. Để đi tìm một chân trời thẩm mỹ mới, Thanh Tâm Tuyền và nhóm Sáng tạo đã đi đến một “đoạn tuyệt” – như chính cách chọn từ của Thanh Tâm Tuyền, đoạn tuyệt trong quan niệm, để tự do thi triển quan điểm của mình. Thơ tự do, theo đó, là tự do trong ý tưởng, một “ý tưởng bùng vỡ”. Có lẽ chính vì cách hiểu này mà trong tiểu luận, Thanh Tâm Tuyền dù đánh giá cao Vũ Hoàng Chương, vẫn phê phán loại thơ phá thể (hiểu như là một cách điều chỉnh Thơ mới), thậm chí so với chính thơ thất ngôn hay lục bát (tức thơ luật) của chính Vũ. Đồng thời, từ góc nhìn này, Thanh Tâm Tuyền cũng hiểu được vì sao khi tổng kết phong trào Thơ mới, Hoài Thanh đã không hiểu được “cái độc đáo” của thi tài Hàn Mặc Tử.
Với thơ, và với quan niệm thơ mới mẻ của mình, Thanh Tâm Tuyền đã vững chân trong sinh quyển của tượng trưng, siêu thực và hiện đại. Đó là một đột phá khẩu của thơ so với mặt bằng kinh nghiệm thẩm mỹ về thơ của độc giả lúc bấy giờ, làm nên “nỗi buồn trong thơ” vì sự xa cách, thiếu hiểu biết, cảm thông, sẻ chia. Song không vì thế mà nhà thi sĩ thỏa hiệp, thậm chí ngược lại, hấp thu gợi ý của Nietzsche, lựa chọn hiện sinh, Thanh Tâm Tuyền lên tiếng quyết liệt:
“Cho nên tất cả những lời trách cứ đối với thơ hôm nay đều hữu lý: thơ không còn là thơ, không còn gì nghệ thuật. Chúng tôi trả lại nàng thơ, trả lại nghệ thuật cho các người, cho những thi sĩ thuộc giòng đầu bù tóc rối có nghệ thuật rạng ngời vững vàng như thần Apollon. Chúng tôi theo cơn cuồng nộ bi thảm của Dionysos, của cuộc đời hôm nay. Chúng tôi cho các người vĩnh viễn, hãy nhường cho chúng tôi hiện tại.”(8)
2. Nếu như Nỗi buồn trong thơ hôm nay khép lại thời kỳ đầu của Sáng tạo, thì với Sáng tạo (bộ mới), cộng hưởng với nhiều biến chuyển trong đời sống tinh thần xã hội, Thanh Tâm Tuyền và nhóm Sáng tạo đã hiện diện mạnh mẽ hơn trong các tham dự vào cuộc đời thông qua các can thiệp nghệ thuật. Bốn số liên tiếp của tạp chí, từ số 1 đến số 4, Sáng tạo tổ chức thảo luận về các chuyên đề: Nhân vật trong tiểu thuyết (số 1, tháng 7/1960); Nói chuyện về thơ bây giờ (số 2, tháng 8/1960); Ngôn ngữ mới trong hội họa(số 3, tháng 9/1960); Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam (số 4, tháng 10/1960). Tất cả nhằm vào một mục đích “trên “diễn đàn văn học nghệ thuật hôm nay” dựng lại, chúng ta, người viết và người đọc cùng tìm trả lời cho câu hỏi: Thế nào là nghệ thuật hôm nay?”(1) như lời ngỏ của nhóm khi tục bản tạp chíSáng tạo. Chúng tôi quan tâm nhiều hơn tới những ý kiến về văn xuôi của Thanh Tâm Tuyền trong những cuộc thảo luận này. Bởi nếu như với thơ, các ý kiến là tiếp nối những gì đã được đề cập đến trong tiểu luận Nỗi buồn trong thơ hôm nay, thì với văn xuôi, đó là những ý kiến mới mẻ, hăng hái, và giàu năng lượng cho một khúc quành sáng tạo mới. Văn xuôi từ đây sẽ là một mối quan tâm đáng kể của Thanh Tâm Tuyền, có lẽ, chủ yếu do sức mạnh mà nó có được khi trực diện với các vấn đề của đất nước và thời đại.
Khi bàn về “nhân vật trong tiểu thuyết” (9), Thanh Tâm Tuyền đã viện dẫn tới phân tâm học của S.Freud như một kích thích tới nghệ thuật hiện đại. Nhận định về tiểu thuyết, ông cho rằng cần phải xác định chính xác thế nào là nhân vật và vị trí của nó trong tiểu thuyết. Theo ông, “đường lối chung của tiểu thuyết gia hiện thời” (ở đây ông muốn nhấn mạnh đến tiểu thuyết mới, vừa trong ý đối lập với “tiểu thuyết truyền thống” và cả trào lưu tiểu thuyết Mới của Pháp, bởi trong thảo luận ông có nhắc đến một đại diện của trào lưu này là Michel Butor), “là tác giả chú trọng tạo cái không khí cho toàn thể tác phẩm. Không khí là chính. Nhân vật là phụ. Nhân vật giống nhau, nhiều khi chỉ còn là những tên gọi”.(10) Điều này sẽ được ông thực hiện trong các sáng tác của mình (mà trường hợp Tiếng động (Hiện đại xuất bản, 1970) là một ví dụ). Riêng về vấn đề nhân vật, sau này sẽ trở thành vấn đề con người trong tiểu thuyết Thanh Tâm Tuyền, ông phê phán xu hướng sử dụng tâm lý học cổ điển để dựng nhân vật và cổ vũ cho việc sử dụng tâm lý học hiện đại, ở đây là Freud: “Đặt vấn đề một cách cụ thể hơn; chúng ta có thể phân tích được rằng quan niệm về nhân vật thời xưa dựa vào tâm lý cổ điển. Trong tâm lý nhân vật có những thành phần riêng biệt và chia rẽ. Như đời sống tâm lý nhân vật cổ điển được chia làm ba phần: thông minh, cảm xúc và ý chí. Mỗi nhân vật được quy định cá tính về một trong những khuynh hướng căn bản kể trên. Bây giờ con người là một đồng nhất. Trong mỗi hành động đều bao gồm cả một đời sống tâm linh.Phải kể đến ở đây tâm lý học của Freud chú trọng khai triển con người ở bí mật tiềm thức hiện lên – chúng tôi nhấn mạnh”.(11) Có lẽ đó cũng là lý do căn bản để đến cuộc trao đổi sau, khi thảo luận về “văn nghệ tiền chiến”, Thanh Tâm Tuyền đã cực lực công kích tiểu thuyết tiền chiến, nhất là kiểu tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Ông nói: “Theo tôi, tiểu thuyết tiền chiến nói chung đã lỗi thời về mọi phương diện. Có thể gọi chung tiểu thuyết tiền chiến là một thứ tiểu thuyết đơn giản. Trước hết, đề tài là một sự giản lược của đời sống. Cốt truyện cũng hết sức giản lược, có thể quy thành công thức sau này: một đàn ông + một đàn bà = một chuyện tình. Chuyện tình có thể chia rẽ hay hòa hợp, bởi trở ngại cũ, mới, luân lý, lý tưởng v.v… Bố cục tiểu thuyết tiền chiến thì mạch lạc, đơn giản. Tâm lý hời hợt, bởi chỉ ngưng lại cái vỏ con người là tình cảm”; Để tỏ ra công bằng, ông nói thêm: “Qua tiểu thuyết tiền chiến, tôi chỉ có thể nhận được người như Vũ Trọng Phụng. Và tạm nhận được Nguyên Hồng qua Những ngày thơ ấu. Nhận ở cái ý thức mới so với thời đại của Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng. Nhưng phải công nhận rằng tiểu thuyết họ vẫn còn rất nhiều khuyết điểm kỹ thuật” (12) . Với tất cả những kiểm thảo như thế, Thanh Tâm Tuyền đề xuất phải đổi mới tiểu thuyết: “Tiểu thuyết không phải chỉ là truyện. Như các nghệ thuật khác, nó phải là sự biểu diễn hết sức phức tạp của một nhận thức chủ quan về đời sống”.(13) Ông đề cao ý thức của chủ thể sáng tạo, bắt buộc nhà văn phải chú ý đến quan điểm, đến kỹ thuật, với nhân vật, thì “dựng xong nhân vật rồi hãy tìm ở ngoài đời để kiểm chứng” chứ không phải “tìm ở ngoài đời để dựng nhân vật”, “và như thế người viết tiểu thuyết với đầy đủ ý nghĩa là một ông trời con”. Theo ông, “cái ý nghĩa chính là ảnh hưởng của tiểu thuyết trong đời sống. Sẽ có những người ngoài đời bắt chước sống theo nhân vật tiểu thuyết, và giá trị của tiểu thuyết chính ở chỗ nó tạo được một lối sống cho người đời” (14). Bằng cách lập luận ấy, ông đề xuất hình ảnh con người của văn học thời bấy giờ: “Ở những tác giả buộc chặt được với thời đại tôi thấy có thể quy định rằng: nhân vật thời nay là một người bước vào cuộc đời với một cặp mắt bỡ ngỡ kinh ngạc và đòi hỏi một sự đặt lại tất cả các vấn đề mà từ trước tới nay người ta coi như đã giải quyết ổn thỏa hay người ta đã làm lơ”.(15) Nói như Tô Thùy Yên – người chia sẻ quan điểm với Thanh Tâm Tuyền khi thảo luận, thì đó là “nhân vật với con mắt người tiền sử”.(16) Đây sẽ là một kiểu nhân vật trong sáng tác của Thanh Tâm Tuyền, và được ông minh định sáng rõ trong tiểu luận Nghệ thuật đen(17).
3. Một số ý kiến Thanh Tâm Tuyền phát biểu tản mát trong thảo luận của nhóm Sáng tạo đã hiện diện trở lại lớp lang và bài bản trong Nghệ thuật đen, bản tuyên ngôn về sự phản kháng nghệ thuật và nghệ thuật phản kháng. Tiểu luận cũng có những tiếp nối và triển nở quan niệm về thơ đã được trình bày trong tiểu luận Nỗi buồn trong thơ hôm nay được công bố trên Sáng tạo số cuối cùng của bộ cũ, khi ông viện dẫn cách phân chia của Nietzsche về hai dòng quan niệm nghệ thuật đối chọi như đã nói: quan niệm kiểu Apollon và quan niệm kiểu Dionysos. Như sẽ thấy ở sau này, sự đối chọi ấy không chỉ được Thanh Tâm Tuyền viện dẫn cho sự phân biệt giữa “thơ xưa” và “thơ hôm nay”, mà còn trở thành cảm hứng cho những dấn thân về lý thuyết khi tiến hành phân biệt giữa “nghệ thuật đen” (nghệ thuật hôm nay) và “nghệ thuật xưa” (nghệ thuật truyền thống), để tìm cách ủng hộ nghệ thuật đen như cách Nietzsche đã ủng hộ nghệ thuật của những người mơ mộng theo Dionysos.
Mở đầu tiểu luận, Thanh Tâm Tuyền đã dùng một lối văn hùng biện:
“Gọi nghệ thuật đen là thứ nghệ thuật bi đát phẫn nộ, thứ nghệ thuật dục tình xuồng xã [suồng sã], thứ nghệ thuật vô luân trắng trợn. Thứ nghệ thuật bị các nhà đạo đức lên án, bị con người văn minh chối nhận, bị những người mác-xít dè bỉu – những hạng người rất nghịch nhau lại gặp nhau ở điểm này.
Gọi nghệ thuật đen là nghệ thuật bị hắt hủi, một nghệ thuật “mọi” của những tên “mọi” trong xã hội¨. Nhưng hãy nhận lấy một sự thực: “mọi” cũng là người và nghệ thuật của “mọi” cũng là nghệ thuật của người. Và bọn “mọi” ấy cũng muốn được phát biểu ý kiến như các ngài vậy.”(18)
Sau khi đã chỉ ra nguyên nhân ra đời nghệ thuật đen, phân biệt nghệ thuật đen với nghệ thuật xưa [nghệ thuật truyền thống], phân tích phẩm tính của nghệ thuật đen, ông kết luận:
“Gọi nghệ thuật đen không phải vì những ý nghĩa suy đồi lầm lạc người ta gán cho nó. Gọi nghệ thuật đen bởi liên tưởng tới một màu da của nhân loại, màu da đen. Đen có thể là một màu đẹp như đêm tối trong suốt vô cùng, như tròng mắt của người thiếu nữ Á đông. Nhưng hiện thời đen tiêu biểu hết nghĩa cho một cảnh ngộ trong ấy con người chịu đựng sức nặng đè ép của sự vật, của một trật tự mấy nghìn đời.
“Cớ sao tôi xanh, tôi sần và tôi đen đến thế?”. Hãy nghe tiếng kêu ấy của chàng nhạc sĩ da đen, hãy nghe những âm thanh đổ vỡ lổng chổng hay mệt mỏi thê thiết của chàng như hình ảnh của một thế giới dục tình bi đát.
Danh từ nghệ thuật đen được tạo thành từ hình ảnh một màu da lại luôn luôn là thân phận của người, một thân phận mọi. Bởi thế nghệ thuật đen chính là nghệ thuật hôm nay vậy.”(19)
Hướng lập luận của Thanh Tâm Tuyền trong tiểu luận này là tấn công vào quan niệm xem thường thứ nghệ thuật bị cho là tôi mọi, là “phản động, phản tiến hóa, phản nhân loại”, bởi các nhà bình luận chỉ vớt cái váng nổi trên bề mặt của lý do phát sinh nghệ thuật này: bình diện xã hội mà nghệ thuật hiện diện như một biểu thức. Thanh Tâm Tuyền muốn đi tìm căn nguyên “tiến bộ, tiến hóa, nhân loại (phổ quát)” của nó từ bề sâu sự sáng tạo tinh thần cá nhân. Với ông, “nghệ thuật trước hết là một lối nhận thức đời sống. Nhận thức nào cũng bắt đầu bằng sự chia lìa cần thiết giữa một ý thức và đối tượng của nó. Cấp độ của sự nhận thức cao thấp tùy theo sự chia lìa ấy sâu xa hay hời hợt”.(20) Nên trong sự so sánh với lối nhận thức đời sống ở nghệ thuật xưa và lối nhận thức triết lý, ông thấy tính cách mạng của nghệ thuật đen nằm chính ở cấp độ của sự chia lìa ấy, một “chia lìa ghê gớm” như là “khởi nguyên của ý thức là mầm mống của thay đổi, của sáng tạo”. Bởi theo ông, “triết lý luôn luôn là một sự khởi đầu, kẻ tới sau muốn lật đổ áp lực người thuở trước. Nghệ thuật đối với các tác giả lớn cũng là một khởi đầu”. (21) Ở đây, chúng ta thấy phảng phất cái quan điểm đã được Thanh Tâm Tuyền nêu ra trong cuộc thảo luận về “nhân vật tiểu thuyết” đã được nhắc đến trên kia, trong việc đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo nên những nhân vật bỡ ngỡ kinh ngạc trước thực tại với ý thức lật lại mọi vấn đề cố định thực tại ấy.
Chấp nhận nghệ thuật là một ý thức siêu hình về đời sống, giống như triết lý, nhưng nghệ thuật đen đã không bị “tha hóa” như nghệ thuật xưa, dù là những nghệ thuật lớn, khi chúng cố gắng “đồng hóa với triết lý”. Vì thế mà Thanh Tâm Tuyền tuyên chiến, “ngay trong lĩnh vực văn chương, cái tham vọng của nhà văn muốn đồng hóa văn chương với triết lý bao giờ cũng dẫn tới sự thất bại trên bình diện nghệ thuật – không kể đến thứ văn chương đồng hóa với luân lý hay với chính trị là thứ phản-văn-chương, bởi nó chẳng mang tới một nhận thức nào về đời sống, nó chỉ minh họa cho một nhận thức đã được quy định giản lược từ trước.” (22) Tham vọng đồng hóa để hướng tới sự bất diệt của nhận thức văn chương theo mô hình triết lý là bất khả, mà phải đi theo con đường khác. Ông cho rằng nhà văn phải ràng buộc mật thiết với đời sống để “chụp lấy trong những tình thế nhất định bằng những kinh nghiệm độc nhất”, bởi “cái ý nghĩa vĩnh cửu của đời sống văn chương, nếu đạt tới, vẫn bị giữ rịt giữa một hiện tại rõ ràng hiển hiện, gọi nó là một hiện tại bất diệt vậy, không bao giờ nó là một thứ tuyệt đối khách quan như cái ý niệm của Platon, của Hégel, hay – Thượng Đế (hoặc sự Siêu hóa) của các nhà hiện sinh Công giáo như Kierkegaard, Jaspers, hay Tự Do (viết hoa) của Sartre”.(23) Nghệ thuật đen không “tự vẫn trong triết lý” (ông mượn lại cách nói của A.Camus), nên nó bất diệt và có sức mạnh.
“Nghệ thuật đen – Thanh Tâm Tuyền viết, chính là cái ý thức siêu hình trước những cảnh ngộ trong đời sống hôm nay, là biểu thị sự tự do của những con người bằng xương thịt trong những tình thế có thực của kiếp người, là lời kêu gọi cất lên cùng mọi người trong cuộc hành trình lịch sử phải sống.
Bởi đó nó bi đát phẫn nộ, nó xuồng xã dục tình, nó vô luân trắng trợn.”(24)
Chính từ nền tảng này, Thanh Tâm Tuyền chỉ ra tính chất của nghệ thuật đen, cái ưu thế cần thiết khiến nó trở thành nghệ thuật cần theo đuổi trong hiện tại. Ông khẳng định: “cái tính chất đen đầu tiên của nghệ thuật hiện nay là sự bi đát đến phẫn nộ ít thấy ngày trước”,“nghệ thuật đen đứng lại là một lời kêu gọi, ý thức siêu hình sáng tạo của nó cố gắng đạt đến một nhận thức càng rộng rãi đầy đủ bao nhiêu càng hay bấy nhiêu, phô bày qua tác phẩm những thực kiện phức tạp cho thật cụ thể chân xác, nỗ lực trong nhận thức triệt để về một cảnh ngộ là đã mở ra những tầm chân trời để tùy sự lựa chọn từng cá nhân đường lối thích hợp cho riêng mình giải phóng mình khỏi cảnh ngộ. Đối với xã hội, nghệ thuật đen giữ vai trò là một ý thức dò hỏi phát hiện những vấn đề có liên quan đến kiếp sống con người, một ý thức siêu hình luôn luôn thức tỉnh hoạt động trong phạm vi của nó, không có tham vọng giải quyết. Giải quyết thuộc phần vụ của các ngành hoạt động khác trong xã hội nhân loại, nói cho đúng là công trình của cả một xã hội trong sự vận dụng hết mọi khả năng của xã hội ấy.” (25) Để đạt được mục đích ấy, nghệ thuật đen phải tạo cho mình nhiều phương cách, nhưng trội bật hơn cả là việc sử dụng dục tình. Ở đây, Thanh Tâm Tuyền đã tuyên bố một quan điểm khá mới mẻ về vấn đề dục tình trong văn nghệ, điều sau này sẽ trở thành một chủ đề rất đáng kể, luôn luôn dằn vặt và đòi hỏi được tái nhận thức, trong sáng tạo của ông. Ông viết:
“Dục tình trong nghệ thuật đen là một phương cách của nhận thức siêu hình, hiển nhiên không phải là phương cách độc nhất. Nếu nghệ thuật đen có thường dùng đến luôn chỉ bởi phương cách ấy từ xưa vẫn bị nghiêm cấm khinh rẻ, dục tình trong nghệ thuật ở xứ ta là một khu đất hoang chưa được khai thác trong khi thật sự nơi ấy, cũng như ở những hình thái sinh hoạt nhân loại khác, tiềm ẩn cái ý nghĩa siêu hình của kiếp sống mà nhận thức nghệ thuật có thể phơi mở. Không tuyệt đối tin theo Freud rằng cuộc sinh hoạt nhân loại bị quy định thầm kín bởi dục tình bởi bản năng – sự sai lầm hư hỏng của Freud là muốn biến khoa tâm phân bệnh học của ông thành một triết lý toàn diện giải thích tất cả – nhưng cũng không thể chối rằng bản năng, dục tình không giữ vai trò gì đáng kể trong cuộc sinh hoạt nhân loại. Nghệ thuật đen không ngoảnh mặt với đời sống, đối diện với nó trong mọi mặt xuất hiện để theo đuổi dò hỏi ý nghĩa của nó. Hơn nữa, dục tình lại là điểm phát khởi của đời sống nhân loại lúc sơ khai và còn dự phần mãi mãi trong đời sống ấy, trong nó có chứa đựng cái ý nghĩa siêu hình thiết thực của thế tục. Không nhận thức nào cụ thể mạnh mẽ hơn về sự sầu khổ hay hân hoan bằng sự sầu khổ, hân hoan hiển hiện trong da thịt của một người, người ta không còn thể chối cãi rằng đó chỉ là tưởng tượng. Đáng thương cho những kẻ mà sự nhận thức mới nằm trong địa hạt của lý tính trong con người, nó làm cho họ trở thành kẻ lạ mặt giữa cuộc sống, kẻ lạ mặt trong chính thân xác họ. Đối với một vài cảnh ngộ, dục tình còn có thể được coi như một nguyên lý phát khởi cùng một lúc sự chối từ tất cả và sự yêu mến tất cả. Trong dục tình người ta yêu cái chết cùng một lúc với sự sống. Nói như Sartre, “dục tình ném con người vào trong lòng sôi sục của tự nhiên và đồng thời nâng nó vượt khỏi tự nhiên do sự khẳng định cái quyền hạn của nó không được thỏa mãn”. (26)
Tiếp nhận phân tâm học của Thanh Tâm Tuyền ở đây đã mang một tinh thần phản biện rõ ràng. Ông đồng tình với Freud ở chỗ dục tình được hiểu như là một phương cách tư duy siêu hình của nghệ thuật, nhưng ông phản đối Freud ở chỗ ông ta đã đẩy những suy tư phân tâm học từ lĩnh vực tri nhận của một ngành bệnh lý, sự phát hiện tính chất khởi điểm của dục tình như là khởi điểm của nghệ thuật, dấn sâu vào không gian suy tư triết lý, tưởng làm giàu sang nó nhưng thực chất làm nghèo nàn nó. Vì vậy, Thanh Tâm Tuyền muốn kết tập phân tâm học của Freud và tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh, để đề xuất một mô hình nghệ thuật mới, “nghệ thuật đen chính là nghệ thuật hôm nay”, mang thế giới quan hiện sinh (nhà văn dấn thân, văn nghệ phản kháng,…) và thao tác luận phân tâm học (vai trò của tiềm thức, vô thức; của dục tình;…).
4. Có thể nói, ngay từ trong các quan điểm về thơ, Thanh Tâm Tuyền đã lựa chọn hiện sinh bằng cách lên tiếng truy đòi hiện tại. Song thơ, sự triển diễn của ý thức trong khoảnh khắc bùng vỡ, lại phụ thuộc sâu sắc vào cá nhân mỗi thi sĩ, đã bị hạn chế rất nhiều trong các tương tác với đời sống và xã hội. Văn xuôi sẽ thế vào chỗ ấy để phát huy hết khả năng tiềm tàng của nó, nhất là khi nó trở thành “nghệ thuật đen”. Không phải ngẫu nhiên mà sau này, các sáng tác văn xuôi của Thanh Tâm Tuyền lại truy cầu về quan điểm nghệ thuật đen nhiều đến vậy. Tất nhiên, ở đấy mô hình nghệ thuật đen được thi triển với nhiều biến hóa, cung cách ứng xử với những luồng ảnh hưởng triết mỹ Âu Tây cũng có nhiều biến đổi, ấy là chưa kể đến những hồi ứng tri thức từ khi tiểu luận Nghệ thuật đen được công bố.(27) Có thể do nghiệm trải của nhà văn, cũng có thể do không gian văn học đô thị miền Nam có nhiều chuyển động phong phú và đa dạng. Nhưng ở ngay năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ XX, quan niệm văn học của Thanh Tâm Tuyền nói riêng và của nhóm Sáng tạo nói chung, có tính cách đột phá, có nhiều tác động tới đời sống văn học đô thị nam Việt Nam.
Dư luận sau này để ý nhiều đến những cách tân về thơ và quan niệm thơ của nhóm, nhất là thơ tự do Thanh Tâm Tuyền, nhưng thực tế thì bên cạnh một Thanh Tâm Tuyền thơ, còn có một Thanh Tâm Tuyền văn xuôi rất đáng kể. Để có được những bước vững chãi như vậy, hiệu ứng được tạo bởi không gian củaSáng tạo và nhóm nhà văn tài danh lĩnh xướng là rất quan trọng. 15 năm sau ngày Sáng tạo ra đời, năm 1970, khi nguyệt san Tân văn xuất bản Tuyển truyện Sáng tạo, trong lời mở sách, nhìn lại chặng đường đã qua, Mai Thảo nhận định: “Sự có mặt ấy [của tác giả truyện ngắn và của tạp chí Sáng tạo] có thể xem như một đánh dấu, định nghĩa như một mở đường, chuyên chở trong nó đầy đủ yếu tính của một cuộc vận động văn học tiền phong, hàm chứa hẳn hoi trong nó một ý hướng cách mạng nghệ thuật nồng cháy. Đó là những ánh lửa thắp lên trong đêm nhận đường, những hòn đá ném xuống một ao tù bất động, những đợt xung kích đầu tiên mở màn một chiến dịch cho tới bây giờ đang được tiếp tay hào hứng trên nhiều diễn đàn, trên nhiều mặt trận. Trước sau, đối tượng của trận đánh lớn vẫn là một: phá đổ cái cũ, tạo dựng cái mới. Nói một cách khác, đó là kết thành của hoài bão và khát vọng chân thành nơi một lớp người muốn tạo dựng một nền văn học nghệ thuật của chính mình, và thời đại mình. Gọi lên đường ấy là trở lại đời sống, thoát ly quá khứ, thức tỉnh ý thức, thế nào cũng được. Điều đáng ghi nhận là lên đường ấy đã có. Có với sự có mặt của một lớp người viết mới. Tạp chí Sáng Tạo là một trong những diễn đàn đã được dự phần vào lên đường này.”(28) Nhận xét như vậy là khách quan và trung thực. Trong sự vận hành của văn học nam Việt Nam, sự phổ biến của các tư tưởng triết mỹ Âu Tây, sự trỗi dậy trong ý thức văn nghệ của các văn nghệ sĩ trí thức, những di chỉ trên các tạp chí văn nghệ trong những năm đầu đất nước bị phân đôi được khởi xướng và tham góp của các văn nghệ sĩ tài năng, cho thấy chúng vừa như là nguồn cội (của sự vận hành và tiếp nhận) vừa như là cơ sở của sự phát tán ảnh hưởng của sự vận hành và tiếp nhận ấy, làm nên những cách tân đáng kể của văn học nghệ thuật.
Chú thích:
(1) Thanh Tâm Tuyền, Nỗi buồn trong thơ hôm nay, Sáng tạo, s.31, tháng 9/1959, tr.1-6
(2), (3), (4), (5), (6), (7) Thanh Tâm Tuyền, Nỗi buồn trong thơ hôm nay, Bđd., tr.1, 2, 1, 2, 2-3, 5
(8) [Phi lộ], Sáng tạo (bộ mới), s.1, tháng 7/1960, tr.4
(9) Mai Thảo (ghi), “Nhân vật trong tiểu thuyết. Nói chuyện giữa Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Mai Thảo,  Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Thái Tuấn”, Sáng tạo (bộ mới), s.1, tháng  7/1960, tr.5-18
(10) (11) Mai Thảo ghi, “Nhân vật trong tiểu thuyết…”, Bđd., tr.6, 7
(12) (13) Duy Thanh, Mai Thảo, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Thái Tuấn, Tô Thùy Yên,  Trần Thanh Hiệp, “Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam”, Sáng tạo (bộ mới), s.4, tháng 10/1960, tr.8, 8
(14), (15), (16) Mai Thảo ghi, “Nhân vật trong tiểu thuyết.”, Bđd, tr.14, 16, 16
(17) Thanh Tâm Tuyền, “Nghệ thuật đen”, Sáng tạo (bộ mới), s.3, tháng 9/1960, tr.35-48
(18), (19), (20), (21), (22), (23), (24), (25) Thanh Tâm Tuyền, “Nghệ thuật đen”, Bđd., tr.35, 48, 36-37, 37, 38, 39,  40, 42
(26) Thanh Tâm Tuyền, “Nghệ thuật đen”, Bđd, tr.46-47. Với nhận định của Sartre, Thanh Tâm Tuyền  chú: “… http://talawas.org Du désir qui (…) replonge l’homme au sein bouillonnant de la Nature et l’élève en même temps au-dessus de la Nature par l’affirmation de son Droit à l’insatisfaction (Situations, trang 255).  Chữ “dục tình” ông dùng trong bài cũng là chữ được ông dùng để dịch chữ “désir” của Sartre, mà trước đấy ông  cũng chú rõ: Chữ Dục tình hiểu theo nghĩa rộng như chữ Désir của tiếng Pháp.
(27) Ngay trên Sáng tạo các số sau, đã có ý kiến chia sẻ của Thạch Chương (Cung Thúc Tiến) và Dương Nghiễm Mậu. Xin xem: Thạch Chương, “Giới thiệu một nhận thức siêu thực về nghệ thuật”, Sáng tạo (bộ mới), s.5, tháng 11/1960, tr.97-102; Dương Nghiễm Mậu, “Buồn vàng”, Sáng tạo (bộ mới), s.7, tháng 9/1961, tr.59- 64. Cũng tham khảo: Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền và những người bạn trước khi có nhóm Sáng tạo, tại http://www.hopluu.net/, lên mạng ngày 6/2/2011.
(28) Mai Thảo, “Đứng về phía những cái mới”, trong Duy Thanh, Dương Nghiễm Mậu, Mai Trung Tĩnh,  Phạm Nguyên Vũ, Song Linh, Thao Trường, Thạch Chương, Tuyển truyện Sáng tạo,  nguyệt san Tân văn, s.29, tháng 9/1970, tr.12.
16/2/2020
Đoàn Ánh Dương
Nguồn: SH308/10-14
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ninh Giang Thu Cúc - Một nữ lưu xứ Huế với Truyện Kiều

Ninh Giang Thu Cúc - Một nữ
lưu xứ Huế với Truyện Kiều

Bút danh Ninh Giang Thu Cúc có lẽ đã quen thuộc với bạn đọc miền Nam từ năm đầu thập kỷ sáu mươi thế kỷ XX. Miền đất sông Hương núi Ngự đã góp phần hun đúc, nuôi dưỡng hồn thơ, mạch văn của tác giả và mảnh đất Quy Nhơn, Bình Định chị xuất giá theo chồng là nơi để chị cống hiến hết mình với lao động nghệ thuật, nghiên cứu, biên khảo và sáng tác. Những trang viết của chị đầy lòng nhân ái, khiêm cung của người phụ nữ Huế cùng với tinh thần từ bi của người thấm nhuần triết lý Phật giáo. Chúng tôi gọi chị là “Con nhà Phật”.
Với số lượng tác phẩm đã xuất bản rất phong phú về nhiều thể loại là những con số biết nói, minh chứng cho sự nghiệp cầm bút bằng tất cả lòng nhiệt tình, sự đam mê cháy bỏng với văn chương trong sáu mươi năm cầm bút. Ngay cả khi có vấn đề về sức khỏe như thời điểm hiện tại chị vẫn lao động sáng tạo không ngừng nghỉ. Những bài viết của chị sâu sắc và ý nghĩa, thấm đẫm tình người  giàu giá trị nhân văn . Viết – suy cho cùng là một hình thức trao đi  sốt sắng chân tình, không vụ lợi. Đằng sau những con chữ  “rút ruột như tằm nhả tơ” ấy là cả một tấm lòng bao dung, sẻ chia dành cho đời, cho người  với tất cả chân tình, thiết tha ẩn trong sự giản dị, khiêm nhường. Các sáng tác của chị  giàu chất trữ tình trong thơ, phong phú súc tích dày dặn trong truyện, tiểu luận phê bình. Ngọt ngào tinh tế khi viết tản văn. Những bài thơ viết về các danh nhân lịch sử đã làm cho người đọc bồi hồi xúc động vì tình cảm, sự ngưỡng mộ, biết ơn  của hậu thế dành cho các bậc tiền bối. Đặc biệt những nhận định văn học của chị về Truyện Kiều rất đáng suy ngẫm.
Truyện Kiều ra đời đã hơn hai thế kỷ của đại thi hào Nguyễn Du đã làm say mê bao trái tim người đọc nhiều thế hệ kể cả trong và ngoài nước và đã có rất nhiều cây bút phê bình, thưởng lãm hướng đến áng thơ tuyệt tác này. Hãy cùng khám phá tác phẩm vừa mới xuất bản của một  nữ lưu xứ Huế viết về Truyện Kiều có tựa đề: Đọc Kiều thương khách viễn phương, NXB Văn hóa Văn nghệ quý II năm 2019.
Tác phẩm với giọng văn giản dị, dề hiểu rất lôi cuốn. Trình bày khúc chiết, mạch lạc, những nhận định rất đáng suy ngẫm với tình thần cầu thị. Đặc biệt đối với truyện Kiều: “đã từng học và đọc Truyện Kiều đến thuộc lòng bằng tất cả niềm yêu quý với  tác phẩm và sự trân quý dành cho đại thi hào Nguyễn Du”.
Theo chị “Truyện Kiều là một sáng tác vĩ đại của Nguyễn Tiên Điền chứ không phải là tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân có tên gọi là Kim Vân Kiều Truyện. Nguyễn Du chỉ mượn  nhân vật, bối cảnh, tình tiết của đất nước Trung Hoa , triều đại nhà Minh để chuyển tải nỗi niềm chìm đắm đau thương tranh dành đoạt lợi tương tàn tương sát của xã hội Việt Nam thời Lê mạt. Cuốn sách là một ấn phẩm nhỏ xinh dày 280 trang với hai phần trình bày: Phần 1-  Lời ngỏ và những bài viết về truyện Kiều và sáu bài thơ vịnh các nhân vật trong truyện Kiều cùng lời kết cho tác phẩm.
Phần 2: Phần phụ lục “Mấy dòng sử thi” với những bài thơ vịnh về một số danh nhân lịch sử đã có công trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước của dân tộc.
Qua tác phẩm chúng ta thấy tác giả Ninh Giang Thu Cúc tỏ ra rất am tường văn học sử, bối cảnh thời cuộc tác phẩm ra đời, am hiểu lịch sử và văn học qua các thời kỳ. Vì vậy chị có cái nhìn  thấu đáo khi viết về tác giả tác phẩm nói chung và truyện Kiều nói riêng.
Chị đã lao động tận tụy và nghiêm túc để “ rút sợi tơ lòng “cống hiến cho độc giả những nhận định văn học chửng chạc và tâm huyết của một người cầm bút đầy trách nhiệm.
“Tôi đã đến với Đoạn trường tân thanh của cụ Nguyễn Tiên Điền bằng tất cả niềm quý kính”. Chị đã đọc Kiều suốt bao năm tháng với tấm lòng ngưỡng mộ thi tài. Chị “Muốn làm một cái gì đó để bày tỏ lòng ngưỡng mộ  như một nén hương lòng dâng lên người thiên cổ đã để lại cho đời thiên tuyệt bút”.
Bằng những dòng tóm tắt hàm súc, đủ ý chị viết về tác gia: “Nguyễn Du  là con trai thứ bảy của xuân quận công Nguyễn Nghiễm  và phu nhân Trần Thị Tần – Người phụ nữ mỹ miều xứ Kinh Bắc. Cậu ấm Du sống trong nhung lụa nhưng hạnh phúc không mỉm cười lâu hơn với cậu, vừa lên mười tuổi, nỗi bất hạnh lớn ập đến là thân sinh Nguyễn Nghiễm qua đời và hai năm sau phu nhân Trần Thị Tần cũng theo chồng về thiên cổ, bỏ lại bốn anh em Nguyễn Du côi cút , đành nương tựa vào người anh cả khác mẹ  là tả Thị Lang bộ hình kiêm hợp trấn xứ Sơn Tây. Hoạn lộ của người anh Nguyễn Khản gập ghềnh biến động. Tuy vậy Nguyễn  Du vẫn được anh cho ăn học tử tế, thi đậu tam trường (tú tài). Nguyễn Du có mối tình đầu với cô thôn nữ đẹp như trăng mười sáu và có giọng hát trong veo như sương mai.. Họ yêu nhau nồng nàn. Những dòng thơ viết khi Kim Kiều hò hẹn:
“Tiên thề cùng thảo một chương 
Tóc mây một món dao vàng chia đôi
Vầng trăng vằng vặc giữa trời 
Đinh ninh hai miệng một lời song song”
Cũng chính là nói về mối tình đầu của Nguyễn Du và cô thôn nữ.
Chị cho rằng 3254 câu lục bát mượt như nhung  và thơm hương ngọc lan dịu nhẹ  toàn tập là từng khúc ruột mang thương tích trầm kha, nhức nhối của thời đại, của mỗi cá nhân tất nhiên có cả tác gia Truyện Kiều.
Nguyễn Du sinh ra cuối thế kỷ XVIII – thời cuộc đầy biến động. Ông sớm nổi trôi chiêm nghiệm những thăng trầm giông bão của xã hội và cuộc đời riêng. Trải qua những mất mát tang thương  của tan vỡ, đổi thay và ly loạn .
Khi ông theo gương cha đem trí lực phụng sự nhà Lê với một chức quan nhỏ  thời Lê mạt. Lê triều sụp đổ. Ông làm thân bèo dạt mây trôi vì biến thiên của lịch sử khi thì ở quê vợ Thái Bình khi “lẳng lặng phiêu bồng sương khói khắp miền non lĩnh Sông Lam đằng đẳng  mười năm ngỏ hầu tìm quên thế sự. Vì vậy có nhiều ức đoán của các nhà nghiên cứu là Đoạn trường tân thanh ra đời trong giai đoạn này. Những ức đoán, khẳng định, phủ quyết về sự ra đời của tác phẩm vẫn còn là một bí ẩn…”.
Ninh Giang Thu Cúc đưa ra những nhận định phủ quyết tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh không thể ra đời trong giai đoạn này: “Những tháng năm bất đắc dĩ phải chơi trò tiêu dao vui thú yên hà  ở độ tuổi ngoài ba mươi (36), liệu có hội đủ chất liệu, sự trải nghiệm qua những trò đời đen bạc để viết nên “ những điều trông thấy” Dẫu có ít nhiều trải nghiệm nhưng chưa đủ độ chín muồi của dâu bể cuộc đời để viết nên Đoạn trường tân thanh! Chỉ có thể sau khi  được nhà Nguyễn mời ra làm quan khi tuổi  đã xế chiều với tâm trạng“ hàng thần lơ láo” khủng hoảng tâm lý, ốm đau bệnh tật”. “Ba xuân mang bệnh nghèo không thuốc”, rồi chứng kiến những bất cập,  mặt trái, hệ lụy  của đời sống quan trường “ không bệnh mà vẫn phải lom khom” những thương ghét, đố kị dèm pha của người đời ở đâu cũng có, thời nào cũng không tránh khỏi. Khi đi sứ Trung Hoa, ông đã tìm thăm những di tích lịch sử để khóc thương, quý trọng những nhân vật lịch sử  của đất nước Trung Hoa. Cảm thương  số phận nhi nữ tài hoa bạc mệnh (Độc Tiểu Thanh ký – Nguyễn Du). Tất cả những trải nghiệm  thăng trầm của chính cuộc đời mình  cùng với những biến cố của thế sự  trong và ngoài nước, ông đã tích lũy vốn sống, cảm xúc qua bao nỗi đoạn trường đầy chiêm nghiệm suy tư dồn nén để chắt lọc, lắng đọng, bật ra những trang thơ còn mãi với thời gian. Đi qua hai thế kỷ Truyện Kiều của Nguyễn Du là tiếng nói nhân văn của một tâm hồn nghệ sỹ lớn với tài năng sáng tạo phi thường từ “những điều trông thấy ” Nguyễn Du mới có kiệt tác truyện Kiều để lại  một gia tài văn học đồ sộ cho hậu thế. Vì vậy Truyện Kiều ra đời trong khoảng 1814 là ý kiến đầy  thuyết phục. Ninh Giang Thu Cúc đã tìm đọc nhiều tư liệu để mong hé lộ phần nào  về thời điểm ra đời của tác phẩm Truyện Kiều: Hoàng Xuân Hãn cho rằng “Đoạn Trường Tân Thanh được viết khoảng năm 1814- 1820 (Theo nguồn gốc văn Kiều – Hoàng Xuân Hãn  trang 30 – Hai trăm năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều – Lê Xuân Lít). Tác giả Lê Quế cũng cho rằng Truyện Kiều được viết vào năm 1814 ( So sánh dị bản Truyện Kiều , NXB Văn Học 2006).
Nguyễn Du đã ký thác nỗi niềm của mình hay nói cách khác là chân dung của Nguyễn Du được thể hiện qua bốn nhân vật trong truyện: “ Bốn gương mặt, bốn tính cách  và những bi kịch của mỗi người cộng lại thành chân dung của Nguyễn Du”: số phận tài hoa mà bị nhiều khổ ải, lên thác xuống ghềnh qua nhân vật Thúy Kiều, hình ảnh một công tử lịch lãm, phong vận  thông minh  hơn người qua nhân vật Kim Trọng, Tứ Vô Lượng Tâm của nhà Phật  qua nhân vật khách viễn phương, thể hiện chí làm trai qua nhân vậtTừ Hải. Và Mối tình thuở xuân xanh với cô thôn nữ  được tái hiện qua mối tình Kim Kiều.
Tác phẩm Đọc Kiều thương khách viễn phương là những dòng cảm xúc rất chân thành  của tác giả Ninh Giang Thu Cúc với Truyện Kiều mà hơn hết là đại thi hào Nguyễn Du người đã “tái sinh lại các nhân vật  bất tử, điển hình là Thúy Kiều – người phụ nữ tài sắc vẹn toàn…” phải chịu nhiều đày ải trầm luân của kiếp người. Ninh Giang Thu Cúc thương cho nàng Kiều tài hoa bạc mệnh bao nhiêu  thì có cái nhìn nghiêm khắc với các nhân vật phản diện  bấy nhiêu.
Nói về Hoạn Thư và mối nhân duyên của Hoạn Thư – Thúc Sinh. Tác giả đưa ra những luận điểm, dẫn chứng để phân tích và kết luận là Hoạn thư không phải ghen vì yêu. Bởi vì cuộc hôn nhân này không “Duyên đằng thuận nẻo gió đưa” khi mà không môn đăng hộ đối theo quan điểm thời bấy giờ.Lấy chồng rồi Hoạn Thư không về nhà chồng làm vợ hiền dâu thảo mà vẫn ở trong phủ đệ của nhà mình. Vợ chồng gì mà cả năm mới gặp nhau một lần. Đối với Hoạn Thư, Thúc sinh sợ nhiều hơn yêu. Hoạn Thư luôn tỏ ra thế bề trên đối với Thúc Sinh mặc dù xã hội phong kiến luôn trọng nam khinh nữ. Tác giả  Ninh Giang Thu Cúc đặt vấn đề “Không yêu sao lại ghen? Và lý giải ghen để chứng tỏ uy quyền, ghen để thỏa mãn sự chiếm hữu. Mẹ của Hoạn Thư và Hoạn Thư thay nhau hành hạ Thúy Kiều:
“Trúc côn ra sức đập vào 
Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh”
Và:
“Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho đau đớn ê chề cho coi”
Nguyễn Du viết: “Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm” nhưng theo  Ninh Giang Thu Cúc giọt khóc thầm ấy không chân tình. Gã vẫn chẳng việc gì, tan tiệc vào chung phòng với vợ để Kiều “tựa bóng đèn chong canh dài. Theo cái nhìn nhân ái của trái tim nữ giới chị cho rằng cả hai người phụ nữ đó đều đáng thương, đều là nạn nhân của kẻ chơi bời, nói ngông, ba hoa: “Trăm điều hãy cứ trông vào một ta” nhưng khi tai họa đến  Thúc sinh phủi tay: “Liệu mà cao chạy xa bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi”. Tinh chất  phi trượng phu càng bộc lộ khi được  Kiều gọi đến để báo ân, báo oán“ Mặt như chàm đổ mình dường dẻ run”.
Hoạn Thư là nhân vật phản diện, kẻ đã góp phần làm “cánh hoa Kiều” tan tác hơn, mà Ninh Giang Thu Cúc vẫn có cái nhìn độ lượng: “sau khi lòng tự tôn đã thỏa, cơn tam bành lục tặc đã được vỗ về yên giấc thì lòng nhân hậu, thiên lương của người đàn bà đã trở về …”. Hoạn Thư cho Kiều ra chép kinh ở quan âm các, giúp đỡ tư trang cho Kiều hộ thân ngầm mở cửa cho Kiều thoát khỏi vòng kiểm soát của nhà họ Hoạn. Đó cũng là “mầm thiện” mà Nguyễn Du đem đến cho Hoạn Thư. Thúc Sinh hèn nhát, bất tài, ăn chơi giá áo túi cơm, động đến việc gì là co vòi thất thủ. Thúc Sinh luôn là người có lợi. Thay vì trách phạt kẻ bạc tình thì được Kiều tặng” Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân? Tạ lòng để xứng báo ân gọi là “ vừa được chiêm ngưỡng “dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” hơn một năm trời, khi bị lộ, vợ cũng chỉ hành hạ người làm bé. Thúc Sinh chẳng bị gì. Theo Ninh Giang Thu Cúc “Bản chất nhân hậu bao dung luôn là tố chất của đàn bà”.
“MỘT VÀI THẰNG CON CON SAU CHÂN NGỰA CỦA KIM TRỌNG”
Theo Ninh Giang Thu Cúc trẻ em  phải  chăm sóc nuôi dạy ăn học, vậy mà chỉ để sai vặt; hầu hạ cho người lớn như pha trà, đấm bóp, ôm tráp, mang vác những vật dụng phục vụ, chạy theo chân ngựa cậu chủ. Ninh Giang Thu Cúc còn nghĩ là chúng đói bụng và khát nước nữa đấy! Thật là một tấm lòng nhân hậu của một nữ giới cầm bút giàu lòng trắc ẩn.
Nói đến tình chị duyên em hay sự hi sinh thầm lặng của Thúy Vân theo đề nghị của chị mình để chắp mối tơ duyên với chàng Kim. Trong khi một số người trước đây cho rằng Thúy Vân hời hợt vô cảm trước biến  cố của gia đình. Ninh Giang Thu Cúc tỏ ra không đồng tình với nhà thơ Vương Trọng: “Nhà có chuyện coi như người ngoại cuộc/ Vẫn ăn no ngủ kỹ như không”. Mặc dù “Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai” nhưng Kim Trọng và Thúy Kiều đã chọn nhau ngay cuộc gặp gỡ đầu tiên, rồi hai người đã thề non hẹn biển.
“Sánh vai về chốn thư hiên 
Góp lời phong nguyêt nặng nguyền non song”
Nhận người yêu của chị giao cho: “Tôi chắc Thúy vân cũng chẳng sung sướng gì khi phải chấp nhận một biện pháp tình thế do Thúy Kiều áp đặt”. Kiều bán mình chuộc cha thì Thúy Vân cũng là vật thế thân cho Kim Trọng. Thúy Vân và Kim Trọng không yêu nhau. Hôn nhân mà không dựa trên nền tảng của tình yêu  mới thấy khổ tâm  biết chừng nào!
Ninh Giang Thu Cúc yêu mến và cảm tạ đức hi sinh của Kiều đã đành, tác giả vẫn dành sự quý mến vì đức hi sinh thầm lặng cho đạo nghĩa của Thúy Vân.
QUAN CHỨC VÀ VƯƠNG ĐẠO 
Ninh Giang Thu Cúc chỉ ra rằng trong xã hội quân chủ thời thịnh trị; mọi người  thượng tôn pháp luật. Với quan niệm “Sĩ nông công thương” thì trí thức vẫn được đặt lên hàng đầu. Bởi vì họ chăm lo học hành đỗ đạt làm quan phụng sự đất nước, chăm lo hạnh phúc của muôn dân, góp phần làm cho xã hội yên bình. Khi rũ áo từ quan hay hưu quan thì mở trường dạy học truyền con chữ cho thế hệ mai sau.
Các bậc sỹ phu thanh liêm quả là đáng kính, nhưng ở nước ta thời loạn thì sao? Có thể “ thượng bất chính hạ tác loạn” vì vậy từ vua quan quân, đâu đâu cũng có tham nhũng bất công. Công lý ở đâu khi chỉ vì lời vu oan giá họa của thằng bán tơ mà đẩy một gia đình thiện lương tan nát. Đồng tiền lên ngôi đổi trắng thay đen “ Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”. Mọi việc đều có thể giải quyết được nếu có tiền “Tiền lưng đã có việc gì chẳng xong”. Một xã hội từ những kẻ quyền cao chức trọng như quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến không chiêu hàng được Từ Hải một cách đường đường chính chính mà phải dùng mưu ma chước quỹ. Những cửa hàng buôn phấn bán người mọc lên như nấm thì làm gì có “ Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Theo Ninh Giang Thu Cúc đây là cụm từ giao đãi, ngụy trang cho sự  an toàn của tác phẩm “ viết là phải lách” là nỗi khổ tâm của người cầm bút chân chính từ xưa cho đến nay.
Cuối bài chị có câu cảm thán: “Ôi vương đạo biết tìm đâu?” Đó là điều rất đáng suy ngẫm. Bằng vốn sống trên sáu mươi năm cầm bút và chứng kiến bao biến thiên của lịch sử và thực tế xảy ra trong cuộc sống thường ngày thì tác giả vẫn khẳng định “Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh… tồn tại trong mọi thời đại”. Chúng tôi là kẻ sinh sau đẻ muộn so với tuổi đời của chị, vốn sống chúng tôi chưa nhiều nhưng tôi vẫn khẳng định  đó là một đúc kết hoàn toàn  có cơ sở.
“VÀI VẾT XƯỚC NHỎ TRONG KHỐI NGỌC LỚN: TRUYỆN KIỀU”
Tác giả nêu ra việc Kiều đã được sư bà Giác Duyên đưa về thảo am:
“Một nhà chung chạ sớm trưa
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng” 
Bối cảnh sống chung của sư bà Giác Duyên  và Kiều rất yên vui thanh tịnh sao Nguyễn Tiên Điền lại hạ bút bằng từ “chung chạ” e không hợp với văn cảnh chăng? Bởi người ta thường hiểu nghĩa chung chạ dành cho trường hợp xấu, bất minh, thiếu rạch ròi… Theo ngôn ngữ hiện đại thì chị thắc mắc như vậy là hoàn toàn có lý (Xem từ điển Tiếng Việt hiện nay). Nhưng chúng tôi đồng ý với Doãn lê là “Ngôn ngữ là một thực thể linh động, ý nghĩa có thể thay đổi theo thời gian và không gian”. Từ trong những áng văn thơ cổ có một số từ nay đã biến nghĩa. Ví dụ  trong cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan viết năm 1941 (Hội Nhà văn xuất bản quý IV năm 2000) bài viết về Phạm Quỳnh trang 135, 136 “Ông thường dùng bốn chữ nho đi liền một hơi trong một câu: Ví dụ “Vũ hám phong trần” thì nói nôm ngay là “Mưa dập gió lay” có phải vừa thông thường vừa dễ nghe hơn không . Đó là những điều khuyết điểm mà đối với một văn gia nào, người ta cũng có thể tìm ra được. Nó là cái tật của người có duyên nợ với văn chương không lấy gì làm quan hệ”. Vũ Ngọc Phan dùng từ “quan hệ” thì lẽ ra phải dùng từ quan trọng mới đúng theo ngôn ngữ hiện nay. Không chỉ Vũ Ngọc Phan mà tôi còn thấy các nhà nhà văn, thơ đầu thế kỷ hai mươi vẫn dùng với nghĩa như là từ “ quan trọng” hiện nay vậy. Như vậy chưa đầy một thế kỷ kể từ khi chữ quốc ngữ ra đời, nay có nhiều từ đã biến nghĩa , được thay thế bằng từ khác có sức biểu đạt chính xác hơn. Vì vậy Truyện Kiều viết cách thời đại chúng ta hơn hai trăm năm thì từ “Chung chạ” có thể vẫn được xem là nghĩa tốt hoặc nghĩa trung tính, tốt xấu tùy ngữ cảnh. Với tài trí như cụ Nguyễn thì không thể có sự thiếu cân nhắc trong việc dùng từ được. Vì vậy tôi cũng đồng ý với ý kiến Doãn Lê là trong lúc chờ đợi các nhà nghiên cứu chúng ta “tạm hiểu “chung chạ” theo nghĩa trung tính.
2/ Sự “bề trên” của Hoạn Thư đối với Thúc Sinh cũng không đúng trong xã hội thời ấy. Theo tinh thần nho giáo thì bối cảnh xã hội lúc bấy giờ chị đưa ra thắc mắc ấy là đúng. Nhưng có lẽ “Nguyễn Du đã muốn người Phụ nữ thoát khỏi chế độ gia trưởng phong kiến” ( GS Hà Huy Giáp)  trọng nam khinh nữ chăng? Thời đó “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” chứ làm gì có chuyện “Cọc đi tìm trâu” Thúy Kiều: “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” Quả thật đây là quan niệm mới đầy tính hiện đại. Trai gái yêu nhau, ai tỏ tình trước đều được cả. Câu “ tam tòng tứ đức đã đến lúc không còn phù hợp nữa. Phải chăng Nguyễn Du muồn đòi quyền bình đẳng cho nữ giới. Cuộc hôn phối của Hoạn Thư và Thúc Sinh không môn đăng hộ đối. Hoạn Thư là con của một vị quan quyền. Còn Thúc Sinh xuất thân tầng lớp buôn bán. Tầng lớp  này theo quan niệm “sỹ nông công thương” thì được đặt cuối cùng. Lái buôn muốn quan hệ móc nối với các vị có chức có quyền để dễ dàng trong các phi vụ làm ăn… Đó là mục đích và sự lợi dụng lẫn nhau thời nào cũng có. Hoạn Thư lấy chồng không theo chồng như mọi cô dâu khác. Khi gia đình chồng có tang cũng không về chịu tang: “Tiểu thư trông mặt hỏi tra? Mới về có việc chi mà động dong”, “Sinh rằng hiếu phục vừa xong/ Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên” Rồi Hoạn Thư ban cho thúc sinh lời khen: “ Khen rằng hiếu tử đã nên”. Thúc sinh buôn bán làm ăn xa, lại chời bời vụng trộm bên ngoài. Vậy đối với Hoạn Thư Thúc Sinh xuất thân tầng lớp dưới lại không đáng mặt đàn ông cho lắm. Gã  còn có lỗi lớn với vợ nữa nên trước uy thế của gia đình vợ, Thúc Sinh không khỏi sợ hãi …
Ở trang 95 Ninh Giang Thu Cúc nêu: “Một cuộc ân oán mang tính thù hận cá nhân, có gì mà Từ Hải phải quan trọng hóa  sự việc và phung phí nhân lực đến vậy “Ba quân chỉ ngọn cờ đào? Đạo ra Vô Tích đạo vào Lâm Truy” Chúng tôi xin đồng ý với chị.
Còn nhiều điều hấp dẫn trong cuốn sách  với những bài phân tích lý thú ,sáu bài thơ vịnh về các nhân vật trong truyện Kiều… và những thắc mắc khác. Kính mời bạn đọc hãy đến với Đọc Kiều thương khách viễn phương của tác giả Ninh Giang Thu Cúc.
Trở lại với chủ đề chính về tác giả Truyện Kiều “Nguyễn Du đã đưa ngôn ngữ Việt nam đến chỗ tuyệt đỉnh siêu việt và tiếng nói việt Nam chính là trường sở linh nghiệm nhất của dân tộc tính, Việt tính . Nguyễn Du không chỉ là một bậc đại thi hào  mà còn là một bậc đại hiền triết”. Nguyễn Du xứng đáng là “một trong ba nhà thơ vĩ đại nhất của nhân loại cùng với  Hoelderlin và Walt Whitman là ba thiên tài  lớn nhất của nền thi ca nhân loại  trong hai ngàn năm hoang vu trên mặt đất” (Phạm Công Thiện – Nguyễn Du đại thi hào dân tộc).
Nguyễn Du và Truyện Kiều vẫn mãi là ma lực huyền diệu và bí ẩn, hấp dẫn người đọc và nghiên cứu. Càng đi sâu khám phá càng phát hiện ra những điều mới lạ và thú vị. Theo Phạm Công Thiện thì chúng ta “chỉ thấy được sự vĩ đại phi thường của Nguyễn Du  khi nào chúng ta đã có khả năng  đi vào nơi sâu thẳm của  của văn chương và văn  hóa thế giới”. Đó là điều mà người đọc và nghiên cứu không ngừng khát khao vươn tới. Chúng ta trân trọng những đóng góp tâm huyết của tác giả Ninh Giang Thu Cúc, gợi mở thêm một hướng tiếp cận tác phẩm giữa người đọc với Truyện Kiều.
Xin cảm ơn chị với “giọt nước mắt muộn màng” của hậu thế dành cho thiên tài Nguyễn Du, góp phần kích thích niềm say mê khai thác thưởng lãm Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) của độc giả nhiều thế hệ.
Huế, 13/9/2019
Hoàng Thị Bích Hà
Theo https://vanhocsaigon.com/

Mưa bình nguyên của Trần Bảo Định - Một thứ văn được chưng cất

Mưa bình nguyên của Trần Bảo Định
Một thứ văn được chưng cất

”… Khó nói hết, văn anh nó lạ lắm, tưởng dễ mà khó đọc; bởi vì văn ấy chất lắm tầng nhiều lớp, vừa gân guốc vừa hư và vừa thực – một thứ văn được chưng cất ấp ủ lâu ngày… cứ thế… và cứ thế, ào ạt tuôn trào tự nhiên – một cách, rất tự nhiên… Tôi có cảm tưởng như Trần Bảo Định không làm văn, song chất văn đặc sắc của anh chính là ở đấy!”.
Mưa bình Nguyên (Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh ấn hành 2019) là tập truyện thứ 12 trong chủ đề “Đất và Người Nam Bộ mến yêu” của Trần Bảo Định, tính từ 2012, năm anh đến với nghiệp văn, ở tuổi sắp chạm ngõ thất thập; đó là, chưa kể 6 tập thơ đã xuất bản và không ít những tác phẩm văn – thơ còn ở dạng bản thảo, chưa in.
Viết văn, như anh nói, “là một liệu pháp chữa bệnh và cứ hễ mỗi lần ngồi trước bàn phím đùa con chữ thì y như rằng, mọi đau đớn tật bệnh tủm tỉm cười… rút lui!”. Nhìn vào khối lượng tác phẩm ra mắt độc giả liên tục (năm từ 2 đến 3 và có khi, tới 4 cuốn) trong điều kiện sáng tác như vậy, tôi thực sự ngộp và phục anh vô số kể.
Song, điều đáng nói và đáng nể hơn, là chất lượng văn Trần Bảo Định. Đó là, một thứ văn giàu cá tính và bản sắc, đặc quánh chất Nam Bộ, rất Đời và cũng rất Người; với sinh hoạt, lời ăn tiếng nói và khung cảnh dân dã của miền sông nước đồng bằng Sông Cửu Long; khẩu ngữ, tục ngữ, phương ngữ, ca dao, dân ca… được anh sử dụng nhuần nhuyễn đưa vào tác phẩm một cách tự nhiên, đầy hương vị.
Mưa bình nguyên, theo tôi, là tác phẩm bộc lộ khá tập trung những nét đặc sắc của phong cách văn Trần Bảo Định. Tôi đã khá quen văn Trần Bảo Định –  chí những từ 11 tập truyện trước, với lối văn khó trộn lẫn; vậy mà, khi tôi đọc 16 truyện trong tập truyện Mưa bình nguyên thì truyện nào, tôi cũng cảm nhận sự độc đáo, hấp dẫn và lôi cuốn từ tên truyện – dù, hình như – có vẽ tên truyện hơi quê mùa, ít chất văn vẽ: Lão Năm Cối Đá, Hai Siêu Đất, Tư Giải Quyết, Hai Lá Tre, Dì Ba Chẻ Chữ, Cô Bảy Sòng Phẳng… Song, sự hấp dẫn văn Trần Bảo Định không là ở chỗ “ít chất văn vẽ” mà nó, trước hết, ở chỗ bình dị và sống động, chân tình và nghĩa nhân trong đáy lòng của những con người rất đỗi bình thường “bầu ơi thương lấy bí cùng” giữa cuộc đời dù ngang trái nhưng đầy ắp yêu thương.
Thấm và ngấm vậy, nhưng thật ra, cũng không chắc dễ gì đi đến tận cùng chiều sâu của văn Trần Bảo Định; bởi lẽ, văn anh chất chứa nội hàm nhiều tầng ý nghĩa thực và hư, lịch sử và sử điền dã, bình dân và bác học… đan xen và cài cắm vào điển tích, triết lý và cả minh triết Việt… Theo tôi, đó là nền tảng của sự học hòa quyện sự từng trải đầy vốn sống mà anh, là người đã thụ đắc. Và, sự thụ đắc đó, chẳng những đã làm nên cái phông, cái bề dày tác phẩm mà còn, tạo cảm giác như thật trong tiếp nhận của người đọc.
Dựng chuyện như thật, một đặc thù cơ bản của nghệ thuật tiểu thuyết đã được Trần Bảo Định sử dụng một cách thật thành thục, thuận lẽ tự nhiên nên người đọc, đôi lúc đọc xong trang văn của Trần Bảo Định, truyện vẫn còn ở lại trong lòng người đọc. Thật vậy, trong Mưa bình nguyên, người đọc bắt gặp rất nhiều kiểu nhân vật và phần lớn, là câu chuyện của những mảnh đời khốn khó, cô quạnh, lang bạt… Đồng mênh mông, ruộng cò bay thẳng cánh… nhiều nhân vật trong truyện không có mảnh đất cắm dùi, không có cục đất để chọi chim… Ít chữ nhưng không thiếu nghĩa mà trái lại, tràn nghĩa ngập tình được thể hiện qua tấm lòng hào hiệp, khí chất “trượng nghĩa khinh tài”, lấy việc cứu người giúp đời làm mục đích tối thượng và họ, sẵn sàng xả thân hy sinh cả những gì quý nhất mà họ có. Hai Siêu Đất (tr.107), là câu chuyện thật hay – một câu chuyện rất cảm động và đặc sắc về phương diện này.
Chuyện và Người trong Mưa bình nguyên khá phong phú, đa dạng. Ta bắt gặp trên trang văn của Trần Bảo Định những nhân vật lịch sử có thật từ vua chúa đến công hầu khanh tướng; những sĩ phu, đạo sĩ; những nghĩa sĩ anh hùng hào kiệt và những nhân vật hư cấu, như thật… Viết về ai, về chuyện gì, tác giả đều thấu hiểu tỏ tường chi tiết chẳng khác gì từ trong cảnh ngộ và nội tâm của từng nhân vật bước ra trên trang giấy…
Hình như, Trần Bảo Định bén duyên với nhiều nhân vật nữ: những má Tư, cô Năm, thím Hai, dì Ba, mợ Bảy, … những người phụ nữ không có tên riêng, chỉ có tấm chân tình hồn hậu, thủy chung… hiện lên thật đẹp, thật sáng ngời về nhân cách; vừa quyết liệt mà bao dung, vừa bình dị hiền lành mà thông minh nhạy bén trong hành vi ứng xử khi gặp phải việc khó xử. Những triết lý trong đạo lý muôn đời giản dị và sâu sắc hiện lên qua lời ăn tiếng nói hàng ngày của họ. Đây là, lời của Ngoại nói với con gái: “- Muốn không phụ ai thì đừng hứa bậy, muốn không ai phụ mình thì đừng tin bây, nha con!”, hoặc “- Một đêm đồng tịch đồng sàng đủ đạo tào khang trọn kiếp!” (Dì Ba chẻ chữ, tr.259). Và, người đàn bà ấy đã rất mưu lược, bình tĩnh cứu Hai Tịch thoát chết trong cuộc chiến đấu sống mái với kẻ thù.
Những con người ít chữ nhưng đặc đầy nghĩa của chữ, biết chẻ chữ để bật ra các mối liên kết thâm hậu ẩn chứa bên trong và đôi khi, chúng ta bất ngờ khâm phục. “- Chẻ chữ, trói mà không nhứt thiết phải buộc và dù có buộc, thì rồi cũng buông…” (Dì Ba chẻ chữ, tr.260). Đó là, lời dì Ba giải thích những gì cháu Bảy Chờ, thắc mắc. Đọc truyện, chúng ta sẽ ngộ ra cái thật sâu và cũng thật xa của sự thông tuệ từ cách chiết tự nghĩa đặc sắc này.
Sức mạnh của lòng dân – một khi, hợp lòng dân. Và, lòng dân từ cái nôi tình đất nước, yêu con người mà nảy sinh tinh thần hòa giải đoàn kết, chuộng chính nghĩa… như những nguồn mạch tinh thần bất diệt chẳng gì có thể làm lung lay. Tất cả hiện lên một cách tự nhiên, sắc nét qua từng câu chuyện trong tập truyện Mưa bình nguyên và thật đúng, như lời nhận xét của GS-TS. Huỳnh Như Phương: “Đọc Trần Bảo Định, cái nhìn của ta về đất nước, quê hương mở rộng hơn mà cái nghĩ của ta về tiền nhân và lịch sử cũng sâu hơn” (Gửi theo bông trái quê nhà).
Cũng như nhiều tác phẩm khác, Trần Bảo Định rất thạo và thành thục khi đề cập đến những vấn đề lịch sử thuộc vế quá khứ; anh viết, tất nhiên là dành cho độc giả hôm nay – nhất là những người bạn trẻ; và cho cả mai sau, những bài học về nhân thế không thể quên.
18/2/2020
Nguyễn Thị Dư Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tiểu thuyết Đinh Tiên Hoàng - "Nói được điều gì đó cho thời nay…"

Tiểu thuyết Đinh Tiên Hoàng
"Nói được điều gì đó cho thời nay…"

Đó là một phần câu kết, viết trong Lời nói đầu của tác giả cuốn tiểu thuyết lịch sử, mà các bạn đang cầm trên tay, có tựa sách là tên gọi của nhân vật chính: Đinh Tiên Hoàng.
Vũ Xuân Tửu, sinh năm 1955. Một nhà văn từng là cán bộ công an tỉnh Tuyên Quang, cầm bút viết văn khi đã ngoại bốn mươi (1998), thành danh với giải thưởng chùm ba truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội, khi sống được nửa tuổi một trăm (2005) và cuốn sách này ra mắt bạn đọc, thì tuổi tròn một hội. Trong bản thảo cuối cùng mà tôi được đọc, để viết lời giới thiệu này, có ghi chú mấy số liệu “bản thảo lần thứ 9 = 144.540 chữ”
Vũ Xuân Tửu từng giãi bày: “Tôi coi văn chương là chuyện sang trọng và thiêng liêng. Trước khi viết tôi thường tắm gội sạch sẽ, chọn giấy trắng, bút tốt. Sau khi tác phẩm được xuất bản, thường làm lễ tạ… Ngồi viết hay sử dụng máy tính cũng sắp xếp sao cho mặt hướng về phương Nam..”. Nhà văn từng viết như vậy, và còn nói thêm rằng, biết mình không được đào tạo bài bản về nghề viết văn, nên lấy sự cần cù, nghiêm túc và năng học hỏi để bù lại…
Với Vũ Xuân Tửu, đây cũng không phải là sáng tác đầu tiên về thể loại  tiểu thuyết lịch sử, vì trước đó, anh đã từng cho ra mắt tác phẩm “Chúa Bầu” (2006), viết về hai nhân vật họ Vũ đã phò Vua Lê, ở vùng Tây Bắc, thế kỷ XVI… Nhưng ngòi bút của nhà văn trước sau đều cẩn trọng, tuân thủ cái điều được viết, ngay trong lời mở đầu của sách, khi nhắc đến lời của một nhà văn nước ngoài – Milan Kundera, rằng: “Nhà tiểu thuyết không phải là nhà sử học, không phải là nhà tiên tri, anh ta là người thám hiểm cuộc sống…”.
Cũng vì thế, trong Lời nói đầu của cuốn tiểu thuyết lịch sử thứ hai này, tác giả đã dành giấy mực điểm lại tất cả những tri thức cơ bản, cả trong chính sử và dã sử, liên quan đến Đinh Tiên Hoàng và cái thời đại đã “cách đây ngàn năm có lẻ”, để xác tín cái quan niệm: “Tiểu thuyết lịch sử là văn học, hư cấu trên cơ sở chính sử, nên đấy là mảnh đất màu mỡ cho ngòi bút tung tẩy”.
Và quả thật, ngòi bút của Vũ Xuân Tửu đã “tung tẩy” trên những trang giấy, để dựng lại cả một diễn trường lịch sử vô cùng phong phú và phức tạp của một thời kỳ mà dân tộc ta, vừa thoát ra khỏi hơn ngàn năm đô hộ, là quận huyện của phương Bắc, được ấn định bởi công lao của Ngô Vương Quyền, người đã xác lập nền tự chủ của dân tộc Việt Nam, bằng chiến công hiển hách trên Sông Bạch Đằng, năm 938.
Chống giặc ngoại xâm hay giải phóng nhân dân khỏi ách đô hộ của ngoại bang, để giành nền độc lập-tự chủ, trong lịch sử dân tộc Việt Nam là một ý chí sắt đá, đã nhiều lần được được thể hiện mỗi khi đất nước bị xâm lăng, hay đô hộ với những tên tuổi của các vị anh hùng dân tộc, như: Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… cho đến các danh nhân thời hiện đại.
Nhưng gìn giữ nền thống nhất quốc gia, chống lại mọi khuynh hướng hay thế lực phân chia, cát cứ cũng là một nguyên lý sống còn, gắn với sự tồn vong dân tộc. Đinh Tiên Hoàng, một trong những sứ quân mang danh xưng “Vạn Thắng Vương” của thời dựng nước; cũng là “Đại Thắng Minh Hoàng đế” khi gắn với thắng lợi của công cuộc thống nhất lực lượng quốc gia, chấm dứt tình trạng “loạn sứ quân”, ở thế kỷ thứ X; để thiết lập một triều đại phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên của một quốc gia tự chủ, có quốc hiệu là “Đại Cồ Việt”, có niên hiệu là “Thái bình”, có thiết chế triều đình, pháp luật, tài chính và quân đội… được ghi trong chính sử.
Triều đại ấy, đã nối tiếp ý chí và gìn giữ nền tự chủ với phương Bắc của Triều Ngô, nên được đời sau tôn vinh là Đinh Tiên Hoàng Đế và tôn mảnh đất Hoa Lư-Ninh Bình là kinh đô của hai triều đại Đinh và Tiền Lê có công dựng nước. Đó cũng chính là bối cảnh của nội dung phản ánh trong cuốn tiểu thuyết lịch sử này. Chọn để viết về đề tài này, hẳn cũng là cách thể hiện niềm tự hào thầm kín của một nhà văn được sinh ra “nơi ngã ba sông dưới chân núi Non Nước”, mà ngày nay đã nằm trong một không gian Di sản Thiên nhiên và Văn hóa Tràng An, vừa được thế giới công nhận.
Trong “Đinh Tiên Hoàng“, sự vận động của lịch sử với những nhân vật và sự kiện có thực, qua ngòi bút “tung tẩy” của văn chương, trở nên sinh động, khiến người đọc không chỉ tiếp nhận những tri thức lịch sử, thường bao giờ cũng nghèo nàn hơn đời sống thực, mà sự hư cấu của nhà văn, lại chính là nguồn bổ sung vô tận, cho trí tưởng tượng của người đọc. Chính văn chương cũng góp phần làm cho những giá trị lịch sử trở nên sâu sắc hơn, nhờ vào những khám phá của nhà văn, khi tự coi viết tiểu thuyết lịch sử là một hành trình thám hiểm cuộc sống, không chỉ của quá khứ mà chính là hiện tại.
Vì thế, khi khép lại cuốn tiểu thuyết lịch sử này, thay vì nhắc lại cho đủ câu chữ của đoạn kết, mà Vũ Xuân Tửu đã viết trong Lời nói đầu của mình rằng, với tác giả “để cố gắng nói được điều gì đó với thời nay, thì may lắm thay”; cũng xin được nói lên suy nghĩ của một người được tác giả cho đọc trước tác phẩm này, cái cảm nhận được may mắn đọc những điều mà cuốn sách này đã nói được. Xin được chia sẻ cái cảm nhận ấy, với các bạn đọc.
19/2/2020
Dương Trung Quốc
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tư duy khoa học trong "An trú miền đọc" của Mai Thị Liên Giang

Tư duy khoa học trong "An trú
miền đọc" của Mai Thị Liên Giang

Từ “Chủ thể tiếp nhận và Lịch sử tiếp nhận Thơ mới” đến “An trú miền đọc”, Mai Thị Liên Giang đã khẳng định tiếng nói của một nhà nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp. Nếu “Chủ thể tiếp nhận và Lịch sử tiếp nhận Thơ mới” cho chúng ta cái nhìn rõ nét, trọn vẹn về phong trào Thơ mới thì “An trú miền đọc” lại mang đến nhiều sắc thái khúc xạ từ sự đa dạng các đối tượng: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình,… Sự kết hợp giữa tư duy khoa học lý luận chặt chẽ, sắc sảo cùng với văn phong chỉn chu nhưng không kém phần tinh tế, nữ tính, “An trú miền đọc” hoàn thành khá tốt chức năng nghiên cứu phê bình, thẩm định, tránh được lối diễn giải chủ quan cá nhân cực đoan.
“An trú miền đọc” gồm 26 bài. Trong đó có: 8 phê bình thơ, 1 phê bình truyện thơ nước ngoài, 6 phê bình văn xuôi (3 văn xuôi Việt Nam và 3 văn xuôi nước ngoài), 3 nghiên cứu phê bình lý thuyết văn học, 7 phê bình tác phẩm lý luận, phê bình, 2 phê bình về sự kiện văn học. Chỉ ra như vậy để thấy đối tượng nghiên cứu phê bình của chị khá rộng. Nhưng tựu trung ở hai dạng: phê bình tác phẩm và nghiên cứu phê bình lý thuyết; ở hai hướng tiếp cận: tiếp cận tác phẩm văn học từ văn bản và từ người tiếp nhận.
Xem văn bản là trung tâm luận giải, xác thực, Mai Thị Liên Giang dễ dàng gọi tên và chỉ ra trò chơi của những con chữ mà các nhà thơ, nhà văn đã dựng nên trong tác phẩm nhằm gia tăng tính đa nghĩa. Cách chị khảo sát và phân tích cấu trúc ngôn từ, hệ thống và ý nghĩa của các biểu tượng, âm thanh, không gian, thời gian, tính liên văn bản, trò chơi hội thoại, lạ hóa, ẩn dụ kép,… trong thơ của Trương Đăng Dung, Hồ Thế Hà, Hoàng Vũ Thuật, Phan Hoàng, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Hoan,… cho thấy một khả năng đọc kĩ lưỡng và diễn giải hết sức thấu đáo. Bản chất của thơ là sự quyến rũ, mê hoặc, hài hòa giữa cảm xúc và ngôn từ. Tìm ra điểm tương hợp ấy trên cơ sở khơi thông ngôn từ, Mai Thị Liên Giang chỉ ra hấp lực riêng của mỗi nhà thơ. Các hình thức nghệ thuật mà chị vận dụng không hề cứng nhắc, khiên cưỡng, hay áp đặt, ngược lại, nó làm tỏa sáng tính thơ. Trong trò chơi ngôn ngữ, Trương Đăng Dung “như đang tìm kiếm ý nghĩa sự tồn tại của chính mình, như một cách để tạo nghĩa cho chính thế giới mà con người tồn tại trong đó”. Đọc thơ Hồ Thế Hà, chúng ta “như được tham gia vào một trò chơi với đầy đủ mọi cung bậc trạng thái hỷ nộ ai ố”. Nguyễn Quang Thiều lại khá sâu sắc trong “Nhịp điệu châu thổ mới”. Ông biết đẩy vào đó “những dự phóng, một số kiến tạo trước như thể nhà thơ đã từng có mong đợi về một thế hệ người đọc với tầm đọc mới”,…
Với phê bình văn xuôi, hướng phê bình của Mai Thị Liên Giang cũng bắt đầu từ tác phẩm, tác động trực tiếp đến tác phẩm thông qua các thủ pháp nghệ thuật như: nghệ thuật xây dựng nhân vật theo kiểu mảnh vỡ trong tiểu thuyết của Hữu Phương, tính đối thoại tập thể trong sáng tác của Tô Hoài trước năm 1945, cấu trúc song hành trong giọng điệu thánh ca ở tiểu thuyết “Đứa trẻ mồ côi” của Mórizs Zsigmond,… Kỹ năng đọc có phương pháp đã giúp chị thâm nhập sâu vào tác phẩm, tiếp cận được giá trị nghệ thuật và dấu ấn của nhà văn. Nhắc đến Franz Kafka, chúng ta luôn thấy những trở trăn, băn khoăn về phận người, về “sự tha hoá, nỗi lo âu, sự lưu đày, và cái chết” mà nhà văn trao gửi trong tác phẩm. Diễn giải nỗi cô đơn thời gian trong ‘Lâu đài’, Mai Thị Liên Giang nhận định cốt lõi thế giới phi lý của Franz Kafka là “niềm khao khát luôn nỗ lực đi tìm sự thật về thế giới và mong muốn con người được sống như kiếp người, được hoà hợp với gia đình, xã hội và tìm được bản thân mình trong một thế giới có ý nghĩa”.
Ở các bài phê bình tác phẩm lý luận, phê bình, với hệ thống lý luận vững vàng, chị chỉ ra các phương pháp đọc phê bình của Hoàng Thụy Anh, Trần Huyền Sâm, Lý Hoài Thu, Phan Tuấn Anh, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Phạm Ngọc Hiền,… Vận dụng thi pháp học, kí hiệu học, văn hóa học, phê bình nữ quyền, mỹ học tiếp nhận,… chị xác tín bút pháp phê bình của Hoàng Thụy Anh thiên về phê bình ngôn ngữ học. Lý thuyết và phê bình nữ quyền là góc nhìn để chị khẳng quyết: “Trần Huyền Sâm đã viết phê bình theo lối viết thân thể mà các nhà nữ quyền đã cổ xúy như Antoinette Fouque, Heslène Cixous, Julia Kristeva và luôn có sự suy xét sáng tạo riêng của một nhà phê bình nữ Việt Nam”. Phát hiện phương pháp pháp phê bình truyền thống và hiện đại trong “Văn nhân quân đội” từ kiểu phê bình ấn tượng, thi pháp học, kí hiệu học, văn hóa học, tường giải học, mỹ học tiếp nhận, chị đưa ra nhận xét: “Lý Hoài Thu vừa đi sâu vào bản tính nhà văn để tìm ra bản chất văn học quân đội vừa tìm đến những điều kiện tiên nghiệm từ xã hội mang tính chất thực hành của văn học, đến chủ trương ngôn ngữ khách quan của mỗi tác giả, vừa có xu hướng nhấn mạnh tới vai trò của nhà văn trong quá trình tạo nên tác phẩm”. Bàn luận về công trình “Gabriel García Márquez và nỗi cô đơn huyền thoại”, chị chỉ ra kĩ thuật và hiệu ứng ứng dụng các lý thuyết trong tư duy phê bình đối thoại của cây bút phê bình trẻ, đầy tài năng – Phan Tuấn Anh và đi đến kết luận: “Những kiến giải sinh động của Phan Tuấn Anh có giá trị khơi mở những con đường nghiên cứu khoa học mới cho những người yêu văn học Mỹ Latin. Đó là điểm tư duy “cùng tiến” mới trong bút pháp phê bình của các nhà phê bình trẻ hiện nay trên thế giới, khác với một số nhà phê bình lí luận khác trong lịch sử chỉ luôn cho mình là đúng”. Ở mô hình nghiên cứu phê bình lý thuyết, chị bàn về thuật ngữ chủ thể tiếp nhận, quan điểm tiếp nhận, quan niệm về sự đọc,… giúp người đọc có cái nhìn đúng đắn về mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận. Nghiên cứu phê bình lý thuyết tiếp nhận của các nhà văn tên tuổi như Hans Robert Jauss, Claudio Magris, Jacque Derrida, chị vừa giới thuyết vừa chỉ ra phương pháp khám phá, áp dụng tối ưu nhất vào nghiên cứu văn học Việt Nam: “Việc áp dụng những thành tựu lí luận văn học vào nghiên cứu văn học Việt Nam là quá trình tìm tòi góp phần hoàn thiện hệ thống quan điểm về tác phẩm văn học và phương thức tồn tại của nó. Bởi trên con đường nghiên cứu tác phẩm chúng ta vẫn phải luôn dừng lại trước không ít những vấn đề cơ bản,… những vấn đề còn đang bỏ ngỏ, những cuộc đối thoại không có giới hạn… của một hệ thống quan điểm phức tạp, khó thuần nhất của lí luận văn học”. Như thế, chúng ta thấy có tính liên thông, phụ trợ giữa hai hướng phê bình (tác phẩm và lý thuyết) ngay trong các bài viết của chị. Các bài nghiên cứu phê bình lý thuyết của chị đã làm sáng tỏ nhận định văn bản tác phẩm văn học luôn vận động bởi chủ thể tiếp nhận. Văn bản tác phẩm văn học là văn bản mở. Bàn về công trình lý luận “Tác phẩm văn học như là quá trình” của Trương Đăng Dung, chị đã nhấn mạnh: “Quá trình văn học là quá trình tác động tương hỗ với hai yếu tố: ảnh hưởng thông qua văn bản và sự tiếp nhận thông qua người đọc. Văn bản là mối quan hệ giao tiếp, sự đọc là quan hệ đối thoại… Tác phẩm văn học được hình thành từ quá trình mở về phía chủ thể tiếp nhận”. Do đó, đối với hướng phê bình tác phẩm, chúng ta thấy chị luôn đặt mình trong tâm thế của người đọc “hàn lâm”, chủ động tìm những cách đọc tối ưu nhất, bật lên được điểm sáng của tác phẩm một cách thuyết phục. Cách chị tiếp cận tác phẩm dưới góc độ văn hóa học là một ví dụ. Ngôn ngữ là sản phẩm chung của xã hội, nhưng một khi nằm trong tay nhà văn, ngôn ngữ sẽ bị chi phối bởi phông văn hóa của riêng anh ta. Theo chị, hành trình tìm đặc trưng diễn ngôn văn hóa của nhà văn cũng chính là hành trình giải mã quan điểm, tư tưởng của nhà văn: “Trong quá trình đọc tác phẩm văn học, không có gì thông thường hơn bằng sự thể nghiệm các mã kí hiệu và văn hóa ẩn trong ngôn ngữ”. Đó là lý do để Mai Thị Liên Giang quy chiếu góc nhìn văn hóa vào sáng tác của Hoàng Vũ Thuật và cho rằng: “Văn hóa có mặt trong thơ Hoàng Vũ Thuật như một yếu tố tự nhiên chi phối tác giả trong việc lựa chọn ngôn từ và kiến tạo văn bản”. Và chị cũng đã tìm ra phương pháp phê bình của Lý Hoài Thu dựa trên nền tảng này: “Văn hóa trong văn học quân đội chính là môi trường sống của con người, của các nhân vật về cả mặt tinh thần và vật chất. Sức sống văn hóa trong văn học quân đội chính là ở chỗ nó chấp nhận cộng sinh văn hóa, tiếp biến văn hóa để đi đến giao thoa, hội nhập. Văn học quân đội như vậy… cũng đã góp phần bảo lưu và sáng tạo văn hóa dân tộc”.
Có thể nói, rất nhiều lý thuyết lý luận văn học được chị vận dụng trong “An trú miền đọc” như: thi pháp học, tự sự học, cấu trúc luận, lý thuyết chấn thương, lý thuyết hậu hiện đại, mỹ học tiếp nhận, hiện tượng học, phê bình sinh thái, phê bình nữ quyền,… Trong tay chị, các lý thuyết không phải là bản sao, áp đặt, quy chụp lên tác phẩm, mà được “tiêu hóa”, “giãn mạch” rất khéo léo, nhờ đó, chị dễ dàng thám mã tác phẩm, gọi hồn tác phẩm và bổ sung hướng tiếp cận mới.
Sự đọc đòi hỏi một quá trình kiên trì, thường xuyên, không có điểm dừng. Trong ngôi nhà văn chương, mỗi bạn đọc đều tự tìm một “miền an trú” hợp với cái “gu” thẩm mỹ của mình. Trước bộn bề tác phẩm giả (kém chất lượng) – thật (chất lượng) như hiện nay thì việc phân biệt, lựa chọn sản phẩm văn chương đích thực không hề dễ chút nào. Lúc này, trách nhiệm hướng dẫn, định hướng các giá trị thuộc về các nhà phê bình. Nhưng, đánh thức năng lượng của tác phẩm là việc làm không hề dễ. Nó đòi hỏi nhiều yếu tố cần có của một nhà phê bình chuyên nghiệp. Ngoài ra, bên cạnh việc luận bàn, đánh giá, thẩm định tác phẩm một cách thấu đáo, khách quan, khoa học, người viết phê bình cần thể hiện cá tính, lối viết riêng ngay trong sản phẩm mà mình tạo ra. Bởi lẽ, người viết phê bình cũng là người sáng tác. Anh ta sáng tạo lại tác phẩm bằng những định vị mang “tính lưỡng thê” (Đỗ Lai Thúy). “An trú miền đọc” của Mai Thị Liên Giang thực hiện khá đảm đang vai trò này. Chị đã bày tỏ chính kiến của mình ngay trong tác phẩm: “…thực tế, ở nước ta trong các hiện tượng văn học, các công trình nghiên cứu thường có hiện tượng cộng sinh giữa các phương pháp. Đây là điều tất yếu cho sự phát triển của quá trình lí giải tác phẩm văn học nếu đi từ cội nguồn của triết học, lí luận văn học và mỹ học”. Có lẽ xuất phát từ quan niệm này mà những bài viết của chị đều chú ý đến tính chất giản nở của ngôn ngữ thơ, tính văn học và cấu trúc tác phẩm, từ đó, xác định cá tính sáng tạo của nhà văn và phương pháp nghiên cứu phê bình của các cây bút nghiên cứu phê bình. “An trú miền đọc” được trình bày trên tinh thần đối thoại, phản biện, khước từ lối phê bình xã hội học cực đoan, cho thấy tư duy khoa học, bản lĩnh vững vàng trước các vấn đề chị đặt ra. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhận diện được bóng dáng một bút pháp mềm mại, nhẹ nhàng, nữ tính ngay trong “An trú miền đọc”. Đặc điểm của phê bình là sự tranh luận. Tranh luận là điều cần thiết để bồi đắp nghĩa cho một tác phẩm, một thể loại, một giai đoạn hay một trào lưu. Khi chỉ ra những mặt hạn chế, bao giờ chị cũng trình bày hết sức khéo léo, vừa đủ. Thơ Nguyễn Quang Thiều có nhiều luồng tranh cãi. Chị không luận bàn về chủ thể tiếp nhận trong thơ Nguyễn Quang Thiều, nhưng cách chị đưa ra vấn đề để giải quyết xem ra hợp lý, ổn: “Điều quan trọng là cách nhà thơ ứng xử với những lời khen chê đó không phải bằng tranh luận ồn ào để khẳng định đúng sai mà bằng những thành quả lao động sáng tạo nghệ thuật. Chúng ta hiểu rằng ‘đấy reo vang của vải’ và ‘đấy bệnh câm của vải’ vẫn luôn phải tồn tại cạnh nhau. Và chúng ta cũng sẽ bất hạnh nếu không có được một nhịp điệu sống đa dạng như nhịp điệu châu thổ mới, nhịp điệu sống của loài người”. Và điều này hoàn toàn đúng với những thành quả mà nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã đạt được hôm nay. Ngoài những ghi nhận đóng góp của Trần Huyền Sâm ở chuyên luận “Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại”, xuất phát từ cảm quan của phận nữ, chị cũng chia sẻ và gửi gắm những đồng cảm của mình với tác giả trước diễn ngôn nam quyền: “Thực chất, nhà văn nam giới ít viết về tuổi dậy thì, kinh nguyệt, trinh tiết, tình dục, mang thai, nạo thai, đau đẻ… nhưng họ cũng là người luôn phải quan tâm đến các vấn đề này”. Phê bình sinh thái đang là hướng nghiên cứu có sức lôi cuốn rất mạnh mẽ. Không chỉ luận bàn về những đóng góp của chuyên luận “Rừng khô, suối cạn, biển độc và văn chương”, mà chị còn đồng hành với Nguyễn Thị Tịnh Thy trước những khiếm khuyết của hướng nghiên cứu phê bình sinh thái hiện nay. Cốt lõi của phê bình sinh thái là tinh thần nhân văn. Tinh thần nhân văn này đã se duyên, kết nối cuộc gặp gỡ, tri âm giữa Nguyễn Thị Tịnh Thy và Mai Thị Liên Giang về ý nghĩa sinh thái. Chỉ có thái độ hòa hợp, trân quý với sinh thái thì mới tạo dựng nền móng bền vững về một ngôi nhà chung: “Nhà phê bình hay nhà văn luôn phải có ý thức rồi mai này ai cũng sẽ sống trong thân cây, bên cạnh thế giới loài vật như sống trong cơ thể mình vậy!”. Không có sự cắt nghĩa nào tuyệt đối, bởi mỗi một góc nhìn đều cấp ý nghĩa mới cho văn bản. Như chị đã khiêm tốn trần tình ngay trong “An trú miền đọc”: “Chúng tôi cũng chỉ từ góc độ của tính thỏa thuận để đối thoại với văn bản. Có lẽ sự đọc theo kiểu này còn tạo thêm những khoảng trống ngôn ngữ luôn chờ đợi những cuộc đối thoại mới hơn…”. Do vậy, sự xuyên thấm giữa tư duy lý luận sắc sảo và cảm xúc tinh tế của người nghệ sĩ trong “An trú miền đọc” được thể hiện rất rõ qua văn hóa tranh luận, đối thoại và tính dự báo. Đây là nét riêng, làm nên bút pháp phê bình của Mai Thị Liên Giang.
Đồng hành với những nữ phê bình như Bích Thu, Tôn Phương Lan, Lưu Khánh Thơ, Lý Hoài Thu, Trần Huyền Sâm, Thái Phan Vàng Anh, Lê Hồ Quang, Lê Thị Bích Hồng, Cao Thị Hồng, Hỏa Diệu Thúy, Cao Kim Lan,… Mai Thị Liên Giang đã chứng minh được bút lực và phong cách của mình. Nội lực mà “An trú miền đọc” có được khởi từ một quá trình lao động miệt mài, nghiêm túc và tận tụy của chị. Dừng chân trước “An trú miền đọc”, đó là phương cách tối ưu để mỗi người đọc mã hóa và phát huy vai trò chủ thể đồng sáng tạo.
20/2/2020
Hoàng Thụy Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đôi bàn tay mẹ - Hình ảnh người phụ nữ như hoa xương rồng trước thử thách

Đôi bàn tay mẹ - Hình ảnh người phụ nữ như hoa xương rồng trước thử thách Tình yêu trong tập truyện của Hồ Xuân Đà làm tôi suy nghĩ rất nh...