VĂN THƠ NHẠC
Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026
Tôi đã "Đạo" văn như thế nào
Mấy hôm nay trên mạng diễn ra một cuộc tranh luận hiện đang còn bất phân thắng bại. Song điều đó không mấy quan trọng. Trong tranh luận văn nghệ, đôi khi quan trọng không phải kết quả. Quan trọng là quá trình và… thái độ. Tôi rất lấy làm mừng, lần tranh luận này đã mở ra một vấn đề khá cơ bản của lý luận và thực tiễn sáng tác văn học: liên văn bản và đạo văn. Đã đến lúc cần phân biệt thế nào là liên văn bản và thế nào là đạo văn.
Cảm thức lưu lạc trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái
Cảm thức lưu lạc trong
sáng tác Nguyễn Ngọc
Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái
Cảm thức lưu lạc là
một nét đặc trưng của văn hóa Nam Bộ trên một không gian sông nước. Ngày nay,
khi mà tình trạng ô nhiễm môi trường, nguy cơ sinh thái ảnh hưởng đến toàn cầu
một cách mạnh mẽ, cảm thức ấy cũng nhuốm màu sắc của thời đại khủng hoảng sinh
thái. Bài viết của chúng tôi muốn từ tư tưởng cốt lõi đó để “đọc” truyện ngắn,
tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tư. Từ góc nhìn này, nhà văn đã đặt ra một cách trực diện
những vấn đề môi trường và số phận của con người trong thời đại khủng hoảng môi
sinh. Đồng thời tác giả cũng đề xuất cách lắng nghe tiếng nói từ tự nhiên để
tìm cho ra câu trả lời cho những khủng hoảng của con người thời hiện đại và đề
xuất một thái độ sống gần gũi tự nhiên để được chia
sẻ và thanh thản.
Trong xã hội hiện đại,
cùng với tốc độ đô thị hóa và sự ỷ lại vào khoa học kỹ thuật, con người đang
ngày càng khai thác tự nhiên quá mức, khiến cho tự nhiên ngày càng cạn kiệt.
Thiên nhiên trả thù con người không phải chỉ bằng các thảm họa, thiên tai, các
bệnh hiểm nghèo… mà đáng sợ hơn, trả thù bằng sự biến mất của chính nó. Phê
bình sinh thái (ecocritisim) nổi lên khi vấn đề biến đổi khí hậu, sự xuống cấp
về môi trường trở thành vấn đề sống còn của nhân loại, văn học quan tâm đến sự
sống cho nên khúc ngoặt của nó xét đến cùng lại liên quan đến bản thể của văn học.
Trong các định nghĩa về phê bình sinh thái, định nghĩa của Glotfelty được xem
là ngắn gọn và dễ hiểu hơn cả:
Nói đơn giản, phê bình
sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên. Cũng
giống như phê bình nữ quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từ góc độ giới tính,
phê bình Marxit mang lại ý thức của phương thức sản xuất và thành phần kinh tế
để đọc văn bản, phê bình sinh thái mang đến phương pháp tiếp cận trái đất là
trung tâm (earth-centered approach) để nghiên cứu văn học (G.
Chellry, 1996: xviii)
Phê bình sinh thái với tư
cách là một khuynh hướng phê bình văn học mới, ra đời trong bối cảnh giới học
thuật phản ứng trước nguy cơ môi sinh bị hủy hoại do chính con người, với mục
đích thông qua văn học để thẩm định lại toàn bộ văn hóa nhân loại, tiến hành
phê phán tư tưởng, chính sách, mô hình xã hội… đã ảnh hưởng như thế nào đến
thái độ đối với tự nhiên, khiến cho môi trường lâm vào tình trạng suy thoái như
hiện nay.
Về tự nhiên, có thể thấy
Nam bộ là vùng đất có sông ngòi chằng chịt, với rất nhiều kênh, rạch, xẻo, ao hồ
và đồng ruộng mênh mông… Người Nam bộ sinh hoạt đi lại chủ yếu bằng ghe, xuồng
do vậy cuộc sống của họ mang đậm dấu ấn sông nước, điều đó dĩ nhiên được ánh xạ
vào văn chương. Mặt khác, vùng đất Nam Bộ lại là nơi lưu dấu của những lưu dân
từ miền Trung vào, người Hoa kiều hay cư dân từ Biển Hồ lưu lạc qua nên sẵn
trong tâm thức, mặc cảm lưu lạc đã hằn in. Cảm thức lưu lạc là một cảm giác về
tình trạng nhân sinh, khi con người bị đứt lìa ra khỏi không gian quen thuộc, đẩy
vào môi trường xa lạ khiến họ trở nên lạc lõng, bơ vơ, mất mát. Cảm thức lưu lạc
trở thành nét đặc trưng của văn học Nam Bộ. Không gian Nam bộ trong Hương
rừng Cà Mau (Sơn Nam) là những địa danh ấn tượng về sự hoang dã, những
bức tranh hùng vĩ, thơ mộng cùng vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng, con người sử
thi với khát vọng chinh phục thiên nhiên dữ dằn khắc nghiệt hoang sơ, kì bí, lạ
lùng, thâm u của rừng trầm, sông sâu, của thú rừng hoang dã trong buổi đầu khai
khẩn phương Nam. Trong Đất rừng Phương Nam, ta bắt gặp những hình ảnh
đặc trưng của miền Tây Nam bộ, thể hiện ngay từ các tên chương của tác phẩm
như: Đi câu rắn, Đi lấy mật, Rừng cháy, Phường săn cá sấu, Qua Stróc miên, Sân
chim… Đoàn Giỏi chọn một cậu bé thành phố lưu lạc về miền sông nước làm nhân vật
chính, lấy con mắt chiêm ngưỡng, lạ lùng, tò mò của người thành phố để nhìn vẻ
đẹp sông nước mênh mông, giàu có. Tấm ván phóng dao (Mạc Can)
kể về một gánh xiếc lưu lạc qua nhiều vùng đất để mưu sinh với những ám ảnh hiện
sinh khiến cho cảm thức thương hồ lưu lạc đã vừa pha vào đó một tinh thần hậu
hiện đại.
Mảnh đất Nam Bộ dễ bị tổn
thương do biến đổi khí hậu. Là hạ nguồn của Mê Kông đổ ra biển, vùng đất này dễ
bị tổn thương từ hai phía: những tác động cả từ thượng du và cả từ phía biển.
Do vậy hạn hán xâm ngập mặn, triều cường, lở đất, lũ lụt… là những vấn đề môi
trường thường trực. Văn xuôi Nam Bộ có những động hướng mới trước áp lực của sự
thay đổi sinh thái “Trong bối cảnh hiện nay, vùng đất này đang từng ngày đối mặt
với nguy cơ xâm nhập mặn, triều cường, sạt lở đất, đô thị hóa nông thôn… Đó là
những vấn đề bức thiết kéo nhà văn vào cuộc” (Bùi Thanh Truyền, 2018: 51). Cảm
thức lưu lạc trong văn Nguyễn Ngọc Tư cũng nhuốm màu sắc của thời đại khủng hoảng
sinh thái, của xu hướng toàn cầu hóa và của nền kinh tế thị trường. Bài viết của
chúng tôi thông qua 1) kiểu nhân vật lưu lạc trong 2) hành trình phản lãng mạn
với những ảo tưởng không gian sinh thái Nam Bộ để 3) thức nhận về tình trạng khủng
hoảng môi trường mà Nguyễn Ngọc Tư đã rung lên hồi chuông cảnh tỉnh “Đồng cỏ bạn
đang dạo chơi một ngày kia sẽ biến mất. Dòng sông bạn đang tắm một ngày kia sẽ
biến mất. Tiếng chim hót ban mai một ngày kia sẽ biến mất” (Nguyễn Ngọc Tư
2010: 160).
Kiểu nhân vật lưu lạc
trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư
Có thể khái quát nhân vật
lưu lạc trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư thành hai kiểu: 1) Lưu lạc vì mưu sinh,
(tức là vì công việc, do môi trường kiếm ăn trên sông nước, đồng bãi); 2) là vì
một niềm đau, lưu lạc như là hình thức tự lưu đầy. Tuy nhiên, kiểu tự sự của
Nguyễn Ngọc Tư vừa có sức hút của truyền thống với cốt truyện chính bao giờ
cũng có vẻ giật gân lại vừa rất hiện đại, cốt truyện luôn bị chìm đi bởi những
yếu tố ngoài cốt truyện, bằng cách đó tác giả làm cho truyện chồng lên nhiều tầng
ý nghĩa mà soi chiếu ở góc độ nào cũng bóc tách ra được các vấn đề. Và đôi khi
do sự chìm lấp của cốt truyện, những vấn đề đặt ra ngoài cốt truyện ấy hiện lên
thật sắc nét. Do vậy, sự phân chia thành hai kiểu nhân vật lưu lạc như vậy chỉ
mang tính tương đối.
Chúng tôi tạm thống kê kiểu
nhân vật lưu lạc trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư như sau (chúng tôi giới hạn ở
tiểu thuyết và truyện ngắn):
|
STT |
Tên tác phẩm |
Nhân vật |
Cốt truyện |
|
1 |
Sông |
Ân, Bối, Xu, chị Ánh |
Phượt bằng đủ các
phương tiện (xe máy, đi bộ, ghe xuồng, đi bộ hành hương…) để thực hiện dự án
viết cuốn sách du khảo sông Di |
|
2 |
Khói trời lộng lẫy |
Di (tên nhân vật còn có
nghĩa là đi) |
Di vốn là con rơi của một
gia đình chỉ có con gái, người bố chỉ mong ước có cậu con trai. Nhân việc thực
hiện dự án của Viện Di sản thiên nhiên và con người cô đã
đem người em trai đi, tự lưu đày ở một vùng hẻo lánh |
|
3 |
Gió lẻ |
Em, gã, hắn |
Xe tải Landu đưa các
nhân vật đi trên khắp các nẻo đường |
|
4 |
Cái nhìn khắc khoải |
Ông lão |
Chăn vịt trên khắp cánh
đồng |
|
5 |
Cánh đồng bất tận |
Út Vũ, Nương, Điền,
Sương |
Người mẹ ngoại tình,
Sương phát hiện, mẹ xấu hổ bỏ đi, người cha đưa hai con chăn vịt trên khắp
cánh đồng |
|
6 |
Dòng nhớ |
dì |
Sau khi đứa con chết đuối,
cuộc hôn nhân đổ vỡ, bố lên bờ, còn dì vẫn tiếp tục buôn bán trên ghe thuyền |
|
7 |
Nhớ sông |
Giang, Thủy, bố |
Buôn bán trên ghe |
|
8 |
Duyên phận so le |
Bỏ nhà theo người tình
sinh con, bị phụ tình đành gửi con cho một gia đình giám đốc hiếm muộn và ở
mãi mũi So Le để được gần con |
|
|
9 |
Thềm nắng sau lưng |
Bằng |
Phiêu du trên những chiếc
thuyền dù mẹ ngăn cấm |
|
10 |
Nước như nước mắt |
Sáo |
Vào mùa nước nổi, gia
đình Sáo sống trên ghe, người chồng vì thèm lá ngò gai nấu cá mà bị giết chết |
|
11 |
Thương quá rau răm |
Văn |
Văn là một bác sĩ được
cử đến Mút Cà Tha nhưng sông nước buồn thiu khiến chàng rời bỏ dòng sông trở
về thành thị |
|
12 |
Cải ơi |
Ông Sáu |
Bán vé số để đi tìm người
con riêng của vợ |
|
13 |
Biển người mênh mông |
Ông Sáu |
Bán vé số dạo để tìm
người vợ bỏ đi do ông lỡ lời khi say rượu |
|
14 |
Sầu trên đỉnh Puvân |
Vĩnh |
Khách du lịch sinh thái
lên đỉnh núi Puvân ngắm hoa sầu đông |
|
15 |
Thổ Sầu |
Dậu |
Du lịch sinh thái ở một
vùng Thổ Sầu nghèo khổ |
|
16 |
Của ngày đã mất |
Tôi, Em |
Hai thầy trò đi điền dã
ghi chép câu ca ở vùng Thổ Sầu |
Với đặc điểm sông ngòi chằng chịt, người Nam bộ sống và sinh hoạt trên sông đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của vùng này. Dòng sông làm cho không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư mang đậm dấu ấn sông nước, tạo nên đặc điểm cuộc sống tự nhiên của người dân Nam Bộ như buôn bán trên ghe, chợ nổi; những sinh hoạt thường nhật trên khúc sông: chiều chiều các bà các mẹ, các chị hay giặt giũ áo quần, lau chùi xoong chảo ở đó… Dòng sông trong Sông, Thềm nắng sau lưng, Nhớ sông, Dòng nhớ… chở thương nhớ, nỗi buồn, niềm đau, cả hi vọng của những phận người sống cùng sông. Ghe, xuồng… trở thành nhà và phương tiện buôn bán “Chiếc ghe là một ngôi nhà nhỏ, ngang hai mét, dài năm bảy mét. Nhỏ bé, chật hẹp. Nhưng có một cái gì đó thật khác thường, thế giới đó hẹp đến nỗi chỉ vừa để xoay lưng, để nằm co, để cúi người… mà cũng dài rộng vô phương bởi cuộc sống rày đây mai đó, lênh đênh cuối bãi đầu ghềnh” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 112). Chiếc ghe là ngôi nhà nhỏ, là phương tiện đi lại phổ biến, đồng thời là nơi chứa đựng cả những bình yên, hạnh phúc và sóng gió trong cuộc đời. Sinh ra, lớn lên ở đó, cuộc đời gắn bó với sông nước, tên của những đứa trẻ cũng gắn với sông nước: Giang, Thủy. Dòng sông với những phiên họp chợ nổi nhộn nhịp, với sự thanh bình của bữa cơm chiều: “Những chiều tà, chợ nổi đìu hiu bập bềnh đậu hết một vạt áo nắng vàng hoe hoe, đỏ hoe hoe. Những người đàn bà cúi đầu ngó chăm chăm nồi cơm dào dạt khói, những người đàn ông ngồi xếp bằng ngồi trên mui ghe vấn những điếu thuốc to đùng bằng đầu ngón chân cái, phì phà nhả khói lên trời. Những đứa trẻ con ngồi tênh hênh trên mũi ghe câu cá chốt, cá mè. Những cô con gái sau một ngày bán hàng mệt mỏi soi mình xuống sông, chải tóc” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 112). Cả nhà Giang lênh đênh trên sông nước, dòng sông đã gắn liền với Giang từ thuở ấu thơ. Khi lớn lên hai chị em Giang lại theo cha sống kiếp thương hồ lênh đênh trên mặt nước. Vậy nên khó có thể từ bỏ kiếp sống lênh đênh này để lên bờ bắt đầu cuộc sống khác. Giang rời sông, lấy chồng nhưng vẫn không thể quên sông nước, mỗi lần nôn nao nhớ lại chèo ghe ra đi: “Thường thì cơm nước, quét dọn xong hễ hở ra giờ nào Giang lấy xuồng chèo đi giờ ấy… chèo đã đời rồi nó buông chèo lụi vô đám lá, lấy tay vịn, ngồi ở đó. Rồi chèo về” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 117). Giang nhớ giấc ngủ bồng bềnh trên ghe, cái chông chênh của ghe ru con người ở trên nó đi vào giấc ngủ, giờ ngủ trên đất liền, Giang không quen nổi. Con người là một phần của thiên nhiên, khi tách ra khỏi cuộc sống sông nước đó, nhân vật mất chỗ đứng, trở thành chơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời.
Đặc biệt hơn, ta bắt gặp ở truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư cách cư xử của con người một vùng đất mà “tâm thức sông nước” đã thành hành vi ứng xử. Mỗi khi gặp gặp chuyện không may trên vùng đất sinh sống, họ chọn kiếp sống thương hồ. Vì một niềm đau, đi như là biểu tượng của sự lưu đày, do vậy trong truyện Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện rất nhiều hình ảnh biểu tượng của sự ra đi, luân chuyển: dòng sông, con đường, cánh đồng, ghe xuồng, chiếc xe tải đường dài… Một số truyện như Nhớ sông, Biển người mênh mông, Dòng nhớ, Cái nhìn khắc khoải, Cánh đồng bất tận, Cải ơi… là minh chứng tiêu biểu cho nếp sống sinh hoạt này, lưu lạc để quên đi nỗi đau, họ tìm cuộc sống mới lênh đênh. Sau khi người vợ ngoại tình, Út Vũ (Cánh đồng bất tận) đốt nhà lên ghe cùng hai đứa con và đàn vịt đi dọc theo các con sông. Đi hết dòng sông, đi hết những cánh đồng bất tận… Nguyễn Ngọc Tư miêu tả những cảm giác mất mát trong hành trình lưu lạc của hai đứa trẻ rất thấm thía. Nương và Điền (Cánh đồng bất tận) trồng một cái cây ô môi nhỏ bên đường và chúng buồn rầu khi phải dời đi mà không biết cái cây lớn lên như thế nào “không biết mai này còn có dịp quay lại coi tụi cây nầy lớn lên, để trèo lên hái trái, để giăng cái võng, ngủ một giấc đã đời” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 187). Thấm cảm giác của đời du mục, nhân vật lo sợ những khoảng trống vắng, những luyến lưu, lòng đau vì những gắn bó “Sống đời mục đồng, chúng tôi buộc mình đừng yêu thương, quyến luyến bất cứ ai, để khoải ngậm ngùi, để lòng dửng dung khi cuốn lều, nhổ sào đi sang cánh đồng khác, dòng kinh khác” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 188).
Theo Grey Garrag, “Khái niệm “nơi cư trú” (dwelling) không phải là một trạng thái nhất thời thoáng qua mà hơn thế nữa, nó ngụ ý về những thời kì dài chồng xếp lên nhau của mỗi người với không gian của kí ức, tổ tiên và cái chết, của lễ nghi, cuộc sống và công việc” (G. Garrard, 2004: 108). Dòng sông gắn với hình ảnh bất hạnh của những người thân yêu nên dù nghèo khổ, vất vả, lênh đênh, các nhân vật không nỡ rời bỏ. Giang (Nhớ sông) mãi mãi không thể quên được khúc sông nơi người mẹ chết đuối. Cho dù đã lên bờ, cô vẫn không nguôi ngoai được sợi dây đã gắn kết sông nước bất diệt với ba cha con, với người sống và người chết: “Sau nầy, khi vợ chết, không hoàn toàn vì miếng ăn mà cả nhà ông Chín trôi dạt hết dòng sông này đến con kinh kia. Ở đáy con sông nào đó, còn là nơi gởi gắm xương thịt của người đàn bà xấu số – má Giang” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 155). Người vợ trước của ba (Dòng nhớ) nguyện chọn kiếp sống lênh đênh trên sông vì đứa con vừa biết bò rơi xuống đó – “mẹ sẽ sống trên sông hoài, hoài hoài với con” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 130). Có lẽ, chỉ sông nước mênh mang là cứu rỗi được nỗi đau của người mẹ mất con. Ngay cả ba, dù phũ phàng bỏ lại vợ cùng nỗi mất mát khủng khiếp cũng chưa một phút thôi nhớ cái khúc sông đau đớn của cuộc đời mình: “Tựa như ông đang ở đây nhưng tâm hồn ông, trái tim ông, tấm lòng ông chảy tan vào dòng nước tự lâu rồi” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 124). Có những nỗi đau không cất được thành lời mà chỉ có thiên nhiên câm lặng chứng kiến mới có thể sẻ chia. Xuyến (Duyên phận so le) từ chối tình cảm của các chàng trai đến với cô, nguyện ở mãi mũi So Le, chấp nhận thân phận lưu đày ở một cái mũi đất buồn thiu vì tình yêu duy nhất cô đã dành cho bé Bi, đứa con cô lén để ở gốc cây điệp nhà vợ chồng ông giám đốc hiếm muộn. Lúc đau khổ quá, “những khuya, ngủ không được, Xuyến lọ mọ lại khoảng sân đầy lá trước nhà Bi, rờ rẫm chỗ đất cạnh gốc điệp già” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 143), cái cây duy nhất chứng kiến việc cô đã bỏ lại đứa con, vì nghèo khó, vì đơn độc, vì bị phụ tình, không thể nuôi con lớn đủ đầy. Trong truyện Nguyễn Ngọc Tư, ta cũng bắt gặp kiểu nhân vật vì lỡ lời, người thân bỏ đi, hối hận, các nhận vật tự lưu đày đi tìm người thân: ông Sáu (Biển người mênh mông) bán vé số dạo đi tìm người vợ bỏ đi, con vật đã gắn bó với ông, người bạn duy nhất chia sẻ nỗi muộn phiền là con bìm bịp; ông Sáu (Cải ơi) bán vé số để đi tìm người con riêng của vợ; hắn (Gió lẻ) đi xe tải đường dài để tìm nội… Đi dường như là để trốn chạy, là để tìm quên, là để nguôi ngoai niềm đau “đi đi và che dấu bao nhiêu là vết thương” (Nguyễn Ngọc Tư 2012: 62) như một câu hát của Trịnh Công Sơn.
Kiểu nhân vật lưu lạc gắn với không gian sông nước, không gian con đường, không gian cánh đồng… mà mỗi nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư đã đi qua, trưởng thành và gắn bó cho thấy niềm yêu quý không gian sống, nơi ông bà, bố mẹ và cả mình sinh ra, lớn lên và chết đi chính là dấu hiệu đầu tiên của của tình yêu quê hương xứ sở. Con người gắn bó với không gian sống không chỉ vì nó đem lại những tiện ích vật chất, mà còn là nơi gìn giữ những giá trị trong đời sống tinh thần, là một phần tâm hồn bởi mỗi người đều có sự gắn bó đầy quyền uy giữa tâm hồn với nơi đã sinh ra, lớn lên, trưởng thành và gắn bó. Nhân vật mang cảm thức lưu lạc của Nguyễn Ngọc Tư vừa mênh mông, đơn chiếc, lạc lõng, nổi trôi vừa gắn bó thiết tha với hành trình như một phần của tâm hồn, kí ức.
Lưu lạc – Hay là hành trình thức nhận khủng hoảng sinh thái
Xâm ngập mặn, mùa nước nổi là một hiện tượng tự nhiên của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Là nhà văn của miền sông nước, Nguyễn Ngọc Tư phát hiện ra rằng nước được coi là yếu tố quan trọng nhất cấu thành sự cân bằng sinh thái tự nhiên, thiếu nước là hạn hán nhưng tác giả cũng phát hiện ra nghịch cảnh “dừng chân bên bờ sông lớn mênh mang, mỉa mai, người ở đây lại không có nước để dùng” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 155). Tình cảnh thiếu nước sạch thật tội nghiệp: “Họ đi mua nước ngọt bằng xuồng chèo, nín thở để nước khỏi sánh ra ngoài… tụt xuống ao tắm táp thứ nước chua lét vì phèn, rồi xối lại đúng hai gàu. Nước vo cơm dùng để rửa rau, nước rửa rau xong dành rửa cá” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 162). Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đến nỗi ước sao trước lúc chết “được tắm một bữa đã đời”. Trong tiểu thuyết Sông, một lần nữa nhà văn nhắc lại tình cảnh ấy “Bế lom khom rửa chén, thứ nước sông mà khi nãy cậu thấy chị dùng để nấu cơm, kho cá, thứ nước cậu đã tè vào và đang tắm táp” (Nguyễn Ngọc Tư 2012: 42). Trong bối cảnh chúng ta đang đặt vấn đề về “an ninh nước”, phát hiện này của Nguyễn Ngọc Tư quả đã chạm vào những điều thiết cốt của sinh thái môi trường.
Sông là hành trình nhại tiểu thuyết phiêu lưu. Cuốn tiểu thuyết bắt đầu bằng hành trình du khảo trên sông Di. Ân cùng với hai người bạn săn tìm vẻ đẹp trên hành trình khám phá dọc sông. Nhưng hầu như, không một trang nào viết về sự trù phú hai bên sông. Không một trang nào viết về cảm hứng chinh phục tự nhiên. Trải nghiệm của cuộc đi là trải nghiệm của sự tàn rã, cỗi cằn. Hành trình du khảo trên sông Di là hành trình với những người bé mọn, đau khổ, vất vả mưu sinh trên những khúc đoạn sông Di “Báo chí đếm được có đến chục cái không ở những cái làng giăng giăng gần bờ này. Không đất. Không tiền. Không chữ. Không biết đi về đâu. Không biết chôn ở đâu. Không thịt. Không luật pháp…” (Nguyễn Ngọc Tư 2012: 27). Sự suy giảm môi trường sống biểu hiện ở những con kinh đen ngòm, sông Di đã bị biến dạng thành những dòng đen đầy rác rưởi “Sông ngờ nghệch không thể nhận ra là nước đang chảy nếu không có những váng rêu nhớt phập phều. Đã vậy chợ Bình Khê còn kẹp cổ nó giữa dãy nhà cao cẳng tẹp nhẹp. Chỗ có tên là bến Lở mà chị Ánh đã từng rửa chân, giờ là bãi rác nửa chìm nửa nổi” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 69).
Một quốc gia vùng nhiệt đới, hẳn nhiên phải đối mặt với thời tiết cực đoan, hết lũ lụt lại hạn hán. Cánh đồng bất tận mở ra bằng một hành trình khô hạn trên cánh đồng: “mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này” , “trong một mùa hạn nóng bỏng, bất thường”, “nắng rất dài”, “mùa mưa vẫn còn xa lắm”, “nắng võ vàng trên những cánh đồng hoang lạnh”, “nắng giữa trưa nóng rát”, “nắng như tát lửa”. Hạn hán là thảm họa đối với người nông dân. Trong Sầu trên đỉnh Puvan Vĩnh lên núi săn hoa sầu đông huyền thoại, được cậu bé Củi, một người dân bản địa phải chịu “13 tháng nắng hạn liên tiếp” tức là “hơn bốn trăm ngày nắng như thiêu như rang” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 45) kể về cực khổ của cuộc sống đối mặt với hạn hán, đàn dê của Củi chết hết, chỉ còn một con. Nắng thậm chí làm cho cả nước mắt cũng ráo hoảnh “dường như nước mắt cũng bị cái nắng dai dẳng rút cạn, bay hơi đi” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 50).
Các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư mang tâm thế của con người thời hiện đại bị văn minh dồn đuổi, nhận ra sự mất mát của tự nhiên. Thiên nhiên bị hi sinh cho những mục đích thực dụng của con người. Quá trình Di nhận công việc ở Viện Di sản thiên nhiên và con người với một tâm trạng hào hứng nhiệt tâm (Di đã cố để níu giữ những vẻ đẹp trên cõi đời này, háo hức vì những vẻ đẹp được cất giữ trong Viện) đến khi rời bỏ công việc là quá trình thức nhận của nhân vật: từ cái nhìn lí tưởng hóa sang cái nhìn đầy tỉnh táo về thực tế: con người bức tử tự nhiên rồi lại tự an ủi mình bằng những hình thức lưu giữ đầy giả tạo thế giới tự nhiên. Di nhận thấy những vẻ đẹp bị nhốt trong Viện là những vẻ đẹp chết, không có sinh sắc của sự sống. Lắng nghe tiếng kêu cứu từ tự nhiên, Di và những kẻ mê đắm thiên nhiên trong Viện Di sản thiên nhiên và con người như Nhứt, Trúc, “Anh” đều có “cảm giác mất mát thật rõ ràng”; “Những vẻ đẹp được nhốt trong phòng lưu giữ của Viện là những tiếng kêu thét tuyệt vọng, bất lực trước mất mát, sự run rẩy của nỗi buồn, bởi quá nhiều thứ ta không bao giờ thấy lại ngoài đời” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 155), bởi ở đó là tiếng gọi khẩn thiết về sự biến mất dần của vẻ đẹp tự nhiên, là “sự níu kéo vô vọng”. Chị Trúc đưa đơn xin thôi việc khi vùng đất Thổ Sầu “người ta bắt đầu tới vùng thảo nguyên Thổ Sầu xới tung nó lên khai thác quặng, nơi đó biến thành một đại công trường”. Anh bồn chồn, bối rối, sốt ruột vì “cánh rừng hai trăm năm tuổi… Năm sau, người ta sẽ san phẳng chúng và trồng lên một khu công nghiệp lớn nhất nước” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 155).
Những cuộc đi của các nhân vật rõ ràng không phải khám phá những vùng đất lạ, chinh phục thiên nhiên hoang dã… mà đi để nhận ra sự cỗi cằn, để trải nghiệm thân phận nạn nhân trước sự khủng hoảng sinh thái. Cách viết này của Nguyễn Ngọc Tư từ chối cách nhìn ngạo mạn về “đại tự sự” con người khắc phục hoàn cảnh, cải tạo tự nhiên… một chiều. Tự nhiên có sinh mệnh riêng và ảnh hưởng đến con người, không phải như diễn ngôn ngạo mạn mà con người vẫn thường rêu rao về sự khắc phục tự nhiên, yêu cầu tự nhiên phải phục tùng ý chí của con người. “Mặc dù con người đã bỏ ra bao nhiêu nỗ lực để giữ cho mình cái địa vị thống trị, thì có phải tự nhiên chỉ mang một thân phận lệ thuộc hay không khi thực sự chúng ta đã và đang tiếp tục được nó nhắc nhở lại về một thứ địa vị thực sự thông qua mỗi trận động đất, mỗi lần núi lửa phun trào, những ngôi sao chổi vụt qua, cũng như việc không ai có thể dự đoán được một cách chính xác sự thay đổi thất thường của thời tiết” (R. Kate, 2017: 59).
Hầu hết các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư sống, lớn lên và vật lộn trên mảnh đất của mình nên đó là cái nhìn của người trong cuộc, đứng trước đổi thay, phai nhạt của quê hương thấy xót xa, đắng đót. Người nông dân hàng ngày đối diện với bờ kênh, con rạch, mảnh ruộng… nên cảm nhận về những tai họa của tự nhiên: đất lở, núi lở, hạn hán, xâm ngập mặn, mùa nước nổi kéo dài… thật cụ thể, chân thực. Nhiều ý kiến cho rằng Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của “miệt vườn” Nam Bộ nhưng kì thực, đọc truyện, thi thoảng lắm mới thấy hình ảnh cây trái xum xuê còn hầu như là sự phai màu của đất, sự biến mất của tự nhiên tươi đẹp, những thảm họa thiên nhiên trút xuống… Hành trình lưu lạc của các nhân vật thức nhận về số phận của người nông dân trước hậu quả của tình trạng biến đổi khí hậu.
Phiêu lưu – hay là hành trình phản lãng mạn
Vùng đất và con người Nam Bộ qua truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư không phải là vùng cực Nam giàu có về sản vật cây trái, trữ tình thơ mộng trên sông nước mà là những chi tiết dữ dội: bờ kinh dập dìu gái điếm, những người đàn bà đánh ghen bằng bạo lực, tên cán bộ kiểm dịch háo sắc… sự nghèo nàn, dốt nát với những đứa trẻ tên Thù, tên Hận hung hãn, ít học… (Cánh đồng bất tận). Là cô gái có số phận trớ trêu của làn sóng kết hôn với chồng ngoại quốc như Dịu (Sầu trên đỉnh Puvan): giả vờ li dị chồng sang Đài Loan làm việc, bị ông chủ hãm hiếp, trở về làng trong bẽ bàng, đau xót với người chồng cũ. Dù tình thương của chồng vô bờ bến, thông cảm với đứa bé trong bụng, cô không thể chịu đựng được, để con lại cho mẹ đẻ nuôi, cô bỏ ra Sài Gòn làm gái mại dâm. Cuộc đời của cô trở nên xiêu dạt, đau khổ, day dứt, người phụ nữ nông dân trở nên chống chếnh, chông chênh như là rời khỏi sức mạnh ngàn đời nương tựa.
Vĩnh (Sầu trên đỉnh PuVan) một chàng trai thành phố ưa thích khám phá, ngược núi ngắm cánh sầu đông nở hoa bằng một thái độ chiêm bái trước tự nhiên huyền bí, hoa sầu đông chỉ nở hoa vào cơn mưa đầu tiên sau 12 tháng nắng liên tiếp. Vĩnh đam mê với vẻ đẹp lạ lùng “Vĩnh thì như phát điên, như đang mộng du khi những vòm lá chết của những cây sầu bỗng phát sáng” (Nguyễn Ngọc Tư 2009: 59). Thế nhưng, thái độ chiêm bái tự nhiên của Vĩnh đối lập với cái nhìn của Củi, thằng bé chăn dê dưới chân núi về hoa sầu đông là cái nhìn của người dân bản địa sinh sống nhọc nhằn trên mảnh đất khó khăn vất vả “Đồ quỉ – cây đó xài không được, dê còn chê, hổng biết mọc làm chi mà vô duyên vô dùng. Má tui nói cây sầu sống bằng xương dê, xương trâu bò, năm nào bầy dê nhà tui chết nhiều sầu mới trổ bông…”; “Trong mắt nó bông sầu còn tệ hơn bông bí vì bông bí ăn được” (Nguyễn Ngọc Tư 2009: 45). Đặt niềm say mê hoa sầu một cách mộng mị của Vĩnh bên cạnh sự nếm trải cay cực của Củi và của những người dân sống trong hạn hán, Nguyễn Ngọc Tư cho thấy người thành phố không hiểu nỗi khổ của người nông dân “Dịu đọc được sự căm ghét những kẻ vì bông sầu mà đã cầu mong cơn nắng thật dài, không cần biết nơi này những bầy dê chết cong queo trên đồng cỏ cháy” (Nguyễn Ngọc Tư 2009: 58). Nhưng chàng trai thành phố, coi thiên nhiên nhiên là đối tượng để thưởng ngoạn, khi không còn gì để khám phá nữa Vĩnh cảm thấy đời sống thật nhạt nhẽo “Anh thấy sợ hãi ngày mai trống rỗng kia. Hoang mang. Ngơ ngác. Rã rời. Vụn nát”. Đó là cảm giác về nỗi cô độc. Thiên nhiên nhắc nhớ cho Vĩnh về nỗi cô đơn, sự vô nghĩa của kiếp người. Trong mắt Vĩnh, hoa biểu tượng cho sự hủy diệt “bông sầu đã rụng tả tơi, những bông sầu bầm lại như máu khô. Và Vĩnh treo mình lửng lơ trên cành sầu khẳng khiu, trơ trụi… Đỉnh núi mờ sương xào xạc gió, như đang day diết lại lời nguyền…. những cây sầu giết người” (Nguyễn Ngọc Tư 2009: 60). Từ chối trở về cuộc sống hàng ngày dưới kia đầy đau đớn, mệt nhọc, chán chường, anh lựa chọn cái chết giữa tự nhiên. Những cách hoa vô tư, sáng trong đã giúp Vĩnh trút bỏ được nỗi ưu phiền, nặng nợ trần gian với trái tim u sầu, mệt mỏi. Như vậy, con người thời hiện đại không còn tìm lại được cái bình yên giữa thiên nhiên, họ ngắm thiên nhiên không phải để thấy cái an nhiên tĩnh tại trong lòng mà để thấm thía niềm cô độc giữa cõi đời mênh mông này.
Alison Byerly phê phán: cảm thức về phong cảnh đã tác động đến cách bài trí cảnh quan, việc “thẩm mĩ hóa cảnh quan” đã tái tạo nhiều khu vực tự nhiên theo cách sắp đặt của họ “Việc thẩm mĩ hóa cảnh quan kiểu này đã xóa bỏ nó khỏi địa hạt tự nhiên và xác định nó như một đối tượng hợp pháp của sự tiêu dùng nghệ thuật” (B. Alison, 2017: 215). Trong tiểu thuyết Sông, Lệ Kiều phẳng phiu, đẹp đẽ đã được tạo ra bằng cách thức như vậy. Đẩy người dân bản địa ra khỏi không gian cư trú để xây dựng một không gian mĩ lệ, xinh đẹp, phăng phiu. Vùng Thổ Sầu, để phát triển du lịch, người ta cố tình để các không gian cũ kĩ, mục nát, nghèo khổ, lam lũ… điều đó làm thỏa mãn vẻ hiếu kì của khách du lịch nhưng lại khiến những người dân bản địa sống trong không gian ấy cảm thấy bất tiện, khó khăn “chái bếp nhà tôi sập do mối ăn, nhưng không lợp được, phải chờ mưa nắng cho mớ lá mới ngả màu cũ kĩ một chút” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 94). Những hình thức du lịch theo trào lưu, hòa nhập vào thiên nhiên dưới cái tên mĩ miều “du lịch sinh thái” được Nguyễn Ngọc Tư bóc trần và phê phán một cách sâu sắc. Chẳng những không cảm nhận được cái huyền nhiệm của tự nhiên mà còn phá hủy tự nhiên, kéo theo đó là những tệ nạn xã hội. Những khung hình đẹp về những vùng quê đẹp đẽ thực chất che dấu sau đó những cằn cỗi, nhếch nhác: Băng Khâu là một vùng núi bị biến thành khu du lịch không có quy hoạch, nham nhở (như là những chiếc băng khâu); hồ Thiêng ngập đầy những rác và tệ nạn mại dâm…
Các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư mang tâm thế của con người thời hiện đại bị văn minh dồn đuổi, nhận ra sự mất mát của tự nhiên. Thiên nhiên bị hi sinh cho những mục đích thực dụng của con người. Trong tác phẩm có tính chất luận đề Khói trời lộng lẫy, thông qua những cảnh báo về việc con người đã biến thiên nhiên thành đại công trường, khu công nghiệp, nhà ở, thành phố… “xua đuổi thiên nhiên đi xa”, “hạ nhục tự nhiên”, can thiệp thô bạo vào vẻ đẹp nguyên sơ Nguyễn Ngọc Tư cảnh báo “Con người hủy hoại thiên nhiên bằng cách hạ nhục nó. Thiên nhiên trả thù bằng cách nó biến mất” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 153). Vẻ đẹp bị nhốt trong Viện là những vẻ đẹp chết, không có sinh sắc của sự sống. Người đọc nhận ra một tiếng nói khẩn thiết, mãnh liệt về một tấm lòng tha thiết với thiên nhiên, mê đắm với vẻ đẹp của cành hoa ngọn cỏ, đau đớn trước sự mất dần của thiên nhiên tươi đẹp, chua chát trước sự tàn hại của con người.
Lời cảnh tỉnh này được Nguyễn Ngọc Tư phát biểu rõ hơn qua tiểu thuyết Sông về dân tộc Đào, một dân tộc hùng mạnh trên cao nguyên Thượng Sơn đã bị diệt vong: “Thương lái Hoa Bắc mua bất cứ thứ gì nơi này có. Từ bụi cỏ sa lệ cao chỉ bằng ngón tay cho đến những thân gỗ nghiến giữa đại ngàn… Đất đá. Vật dụng. Cây cỏ… Giờ thì người Đào bán đến cả nội tạng và trẻ con”, “Sự tàn rã lặng lẽ phủ lên cái mặt đất lởm khởm những hang hốc, trơ trụi không có bóng cây, thưa vắng người”, “giữa vùng Thượng sơn mà không nghe thấy tiếng thú rừng táo tác trong đêm. Có lẽ chúng cũng bị săn bán” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 183). Như một ẩn dụ về thế giới của loài người: khi người ta chỉ sống ích kỉ, biếng nhác, coi tự nhiên chỉ là nguồn lợi để phát triển kinh tế (chỉ chăm chăm để bán), là đối tượng để bóc lột thì tất yếu sẽ diệt vong. Điều này cũng đã từng xảy ra với nhiều nền văn minh trên thế giới. Một số nhà khoa học giả thuyết rằng các nền văn minh Maya, nền văn minh Mesopotamia, nền văn minh Crete… đã tiêu vong vì nạn phá rừng (để xây dựng các thành phố, đóng thuyền bè…) dẫn tới việc khí hậu trở nên khắc nghiệt và dẫn tới diệt vong. Thiên nhiên, cái tưởng như vĩnh hằng cũng dễ bị thương tổn như thế nào và thực chất rất mong manh.
Kết thúc hành trình cuối cùng ở Túi, Ân nhớ về cuộc hội ngộ với sông Di lần đầu tiên là một trận lũ “thực sự ở đây là cái biển rồi”: “Cậu gặp sông Di lần đầu. Hung hãn một cách ráo riết, cay nghiệt. Mặt sông là cái xoáy nước đỏ ngầu cuộn xiết. Không có bờ. Hệ thống các con sông lớn ở miền Hạ chìm trong một trận lũ lụt được cho là lớn nhất trong một trăm năm trở lại… Ở mái nhà sắp chìm lút, những cánh tay đen đúa thò khỏi mớ ngói vẫy vẫy. Trên cái đệm cao su rách rã trôi qua có một em bé chừng hai tuổi nằm như ngủ, nước săm sắp đến vành tai. Nửa dưới để truồng, da xanh ngắt. Cậu không khóc được khi ôm xác em nhỏ trên tay” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 211). Mở đầu và kết thúc hành trình du khảo sông Di ở Túi bằng một “Đại hồng thủy” (Ngay cả tên địa danh là “Túi” hẳn có một hàm nghĩa như là hình tượng trái bầu trong những cơn đại hồng thủy) tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư như là một ẩn dụ về sức mạnh của sinh mệnh tự nhiên.
Với thông điệp nhức nhối về môi trường, bằng cái nhìn sắc sảo và niềm ưu tư với những đổi thay của Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư đã lôi ra ánh sáng những ảo tưởng về du lịch sinh thái, phản đề về những diễn ngôn đầy huyền thoại về một Nam Bộ giàu có về sản vật, cây trái. Những mất mát, đau đớn, chua chát… thể hiện qua một giọng văn vừa giễu nhại, vừa trữ tình cất lên từ một tâm hồn đã bén rễ rất sâu vào mảnh đất Nam Bộ.
Vẫn là tiếp nối cảm thức lưu lạc trong văn học truyền thống Nam Bộ nhưng Nguyễn Ngọc Tư đem đến những vấn đề mới mẻ mang hơi thở thời hiện đại, phản đề về cái nhìn mang tính thẩm mĩ du lịch, những ảo vọng về thiên đường miền sông nước để nhận chân một Nam Bộ khác, một Nam Bộ phải đối diện với tất cả khủng hoảng của thời đại biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến từng ngôi nhà, ngõ phố, con sông… Quan trọng hơn, tác giả đã phản ảnh trung thực với một nỗi ưu sầu day dứt về trách nhiệm của con người trước tình trạng môi trường sống ngày càng tồi tệ đi.
Văn học cần có những tiếng nói dấn thân “Sự suy thoái hệ sinh thái của một quốc gia không chỉ quy trách nhiệm cho những người quản lý đất nước mà cả cho sự thờ ơ của từng công dân, trong đó có những nhà văn” (Huỳnh Như Phương, 2013) góp phần trách nhiệm về những khủng hoảng môi trường con người đang đối diện. Bằng cách đặt vấn đề sắc nhọn, trực diện không né tránh với một tấm lòng thiết tha trĩu nặng ưu tư trước những số phận người nông dân mà cuộc sống, mưu sinh, hi vọng, cái chết gắn với sông nước Nguyễn Ngọc Tư đã góp một tiếng nói để hình thành nên chủ nghĩa nhân văn sinh thái (ecology humanism).
Tài liệu trích dẫn:
1. Byerly, Alison. 2017. “Giá trị của cánh quan: mĩ học phong cảnh và hệ thống vườn quốc gia”, Lê Quốc Hiếu dịch và tổng thuật, Phê bình sinh thái là gì?. Hoàng Tố Mai (chủ biên). Hà Nội: Nxb Hội Nhà văn.
2. Mạc Can. 2016. Tấm ván phóng dao. Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ
3. Glotfelty, Chellry. 1996. “Introduction: Literary Studies in an Age of Enviromental Crisis”. The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology. edited by Cheryll Glotfelty and Harold Fromm. Athens and London: University of Georgia Press.
4. Garrard, Grey. 2004. Ecocriticism (The New Critical Idiom). London and New York: Routledge.
5. Đoàn Giỏi. 2018. Đất rừng phương Nam. Hà Nội: Nxb Kim Đồng
6. Rigby, Kate . (2017), Chapter 7: “Ecocritisim”, Introducing Criticism at the Twenty -First Century, Edinburgh UP, Đặng Thị Thái Hà dịch, Phê bình sinh thái là gì?, Hoàng Tố Mai (chủ biên). Hà Nội: Nxb. Hội Nhà văn.
7. Sơn Nam. 2104. Hương rừng Cà Mau. Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ.
8. Huỳnh Như Phương. 2013. Mùa xuân, sinh thái và văn chương. http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
9. Bùi Thanh Truyền. 2018. “Diễn trình sinh thái trong văn xuôi Nam bộ”, Tạp chí Sông Hương, Số
10. Nguyễn Ngọc Tư. 2009. Gió lẻ và 9 câu chuyện khác. Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ.
11. Nguyễn Ngọc Tư. 2010. Khói trời lộng lẫy. Hồ Chí Minh: Nxb Thời đại.
12. Nguyễn Ngọc Tư. 2010. Cánh đồng bất tận. Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ.
13. Nguyễn Ngọc Tư. 2012. Sông. Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ.
15/8/2021
Trần Thị Ánh Nguyệt
Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, số 241, 9-2018
Theo https://vanhocsaigon.com/
Trần Dạ Từ, thuở làm thơ yêu em
Trần Dạ Từ, thuở làm
thơ yêu em
Tình yêu thám hiểm những
bí mật của con người. Không ở đâu người ta có thể hạnh phúc hơn hay tuyệt vọng
hơn, hèn yếu hơn hay cao cả hơn, như trong tình yêu.
Em ngồi đây, ngồi sát nữa,
người thương
Kìa những ngày thơ rụng đỏ
chân tường
Kìa sự sống như những chiều
bãi biển
Thơ Trần Dạ Từ là tình
yêu thời mới lớn, say đắm vụng về, và tình yêu của người đứng tuổi, trải qua hoạn
nạn, tù đầy. Đó là tiếng thơ giàu vần điệu, không có nhiều khai phá về ngôn ngữ;
tuy vậy khả năng đào sâu của tác giả vào các đề tài tưởng như đã rất cũ,
từ đó mở ra những ngã rẽ cảm xúc làm người đọc bất ngờ. Trong thơ Trần Dạ Từ có
một nỗi buồn rầu, phiền muộn, như khái niệm blue của người Mỹ, mặc dù thế, thơ ấy
không tuyệt vọng, than thở, bi lụy. Ngôn ngữ bám rễ vào đời sống thành thị, dân
nghèo, tầng lớp cơ cực. Sự dằn vặt, lối nghĩ ngợi, phân vân, là tiêu biểu cho
những người trẻ tuổi trong một xã hội tự do và lo âu, chứa mầm loạn lạc từ bên
trong hoặc bên ngoài. Thơ ông như lời độc thoại có kịch tính, lời nói không hướng
tới người đọc mà hướng tới một nhân vật nào khác, có mặt trong bài thơ hoặc
ngoài bài thơ, đứng đâu đó trước mặt chúng ta. Ngôn ngữ ấy tìm cách ghi lại ký ức,
phản ánh đời sống cùng thời, đời sống trí thức không chịu thỏa hiệp.
Chuồng gà đã bỏ không từ
lâu
Chả còn tiếng gì giục giã
nữa
Trong các góc phòng và
cánh cửa
Bóng tối đập đôi cánh
vùng vằng
Thơ ca dạy ta cách vượt
qua biên giới giữa bóng tối và ngày mới, giữa căm phẫn và thương xót, cách đi
qua sự trống rỗng vô nghĩa của tồn tại, truy tìm những thực tại mới hay ý nghĩa
của những thực tại ấy. Thơ Trần Dạ Từ, mặt khác, ca ngợi tình yêu, niềm vui vỡ
òa lồng ngực của tuổi trẻ; có bài được phổ thành ca khúc nổi tiếng. Trong giai
đoạn sớm, tính chất yêu đời và hồn nhiên của ông vẫn nổi bật hơn cả.
Tỉnh dậy dưới chân đồi
Ruộng ngô ai ngào ngạt
Chạy khắp ruộng tìm coi
Nào ngờ em trốn mất
Được nén lại trong kích
thước năm chữ, nhiều khổ thơ, “Mùa Ngô Cũ” là một trong những bài
thơ trong sáng, dễ đọc. Trần Dạ Từ cũng có nhiều bài thơ tình khác, cùng thời,
đôi khi ngôn ngữ khá cũ kỹ, rõ ràng do ông chưa thoát ra khỏi ảnh hưởng của thơ
tiền chiến. Khi vượt qua được ảnh hưởng ấy, ông có những bài thành công hơn hẳn.
Rất sớm, tình yêu từ thời
niên thiếu đã pha đậm tình dục, mạnh mẽ, cảm xúc, gần như điên rồ, trong bài
thơ lục bát ngắn:
Biết yêu người thủa mười
lăm
Trong vườn ngây dại ta nằm
sót sa
Cỏ cây ồ ạt ra hoa
Chùm môi bông phượng la
đà tới lui
Khi không da thịt cả cười
Cùng ta trộn lẫn đất trời
với em
(Buổi Hẹn Đầu, toàn bài)
Thể xác ấy không chỉ ao ước
tình nhân mà còn muốn ôm lấy cả đất trời, cùng bao thèm muốn khác. Da thịt tự
cười, vì muốn xé toang giới hạn của chúng. Như thế là ông đã dùng cỏ cây để mô
tả một thứ tình yêu ướt đẫm thể xác trước hay cùng thời với Bùi Giáng: cỏ trong
mình mẩy em sầu ra sao.
Tuy đã làm chủ các loại
thơ vần điệu, nhưng thực ra chỉ ở thể tự do, thơ Trần Dạ Từ mới hoàn toàn sảng
khoái, phóng túng, rào rạt.
Anh sẽ về, câu chuyện mùa
thanh trà
Dăm ba nỗi đớn đau đôi
chút niềm hối tiếc
Là tình yêu chúng ta
Hai trái tim nhỏ nhoi
Gom lại báo động thế kỷ
này
Những đất đai chia cắt
Công phẫn ngực, nghẹn
ngào hơi
Chờ chóng mặt
Là tình yêu chúng ta
Hai nỗi bi thương cộng một
Tiếng kêu tổ quốc này
Đòi mở mắt
Hai niềm tin hèn mọn những
lòng tin chất ngất
Bài hát ấy nhắc anh thời
có em
(Thơ Tình Năm Tám)
Trần Dạ Từ làm thơ từ thời
trẻ, khoảng những năm 1950, nhưng bút hiệu ấy chỉ xuất hiện cùng với những bài
thơ tình đầu tiên từ năm 1957 trên bán nguyệt san Gió Mới do Nguyên
Sa chủ bút, và từ năm 1958 trên tạp chí Sáng Tạo, Mai Thảo chủ
biên. Sinh tại miền Bắc, Trần Dạ Từ là nhà thơ miền Nam thời chiến tranh hai
mươi năm. Nửa đầu của những năm sáu mươi, thời kỳ miền Nam biến động, với
chiến tranh lan rộng, cũng là lúc thơ ông thực sự đổi khác. Đó là thơ tuổi của
hai mươi chấn động và nhập cuộc, không chỉ trên trang giấy mà còn trong đám
đông. Những bài thời kỳ này tới sau nhưng được tập hợp in thành sách trước,
trong tập “Tỏ Tình Trong Đêm“, xuất bản 1965. Sách sau đó bị tịch thu vì
tính chất phản chiến(1). Thơ của tuổi trẻ chiến tranh và bụi bặm
thành phố.
Khi buổi chiều rụng xuống
lũ cột đèn đứng lên
Con phố này nỗi đau buồn
bật sáng
Lời hát ru an lành từ nguồn
cội nay bị đẩy sâu vào tình huống hoang tàn tang tóc của cuộc chiến:
Ru con mượn bóng thay người
Mượn bia làm gối mượn trời
làm chăn
Mượn giông mượn bão làm
màn
Mượn cây làm quạt mượn
tàn làm hiên
Mượn sao làm mắt mẹ hiền
Mượn nơi chiến trận làm
miền rong chơi
Mượn xương máu bọc nụ cười
Mượn cơn bom đạn làm lời
ru con
(Bài Ru Mới, toàn bài)
Riêng những bài thơ tình
đầu tiên, tuy tới sớm hơn, từ những năm 1950, nhưng mãi tới 1971 mới được in
thành sách, trong tập “Thuở Làm Thơ Yêu Em“(2). Thuở là một
khoảng thời gian rộng, nhiều ngày hay nhiều năm, thay đổi tùy mỗi người, tùy ký
ức, vì thuở là nhớ lại. Thuở làm thơ là một lịch sử, một chương của lịch sử nối
vào những chương khác. Đó là không gian bạn đã sống, thời gian bạn đã yêu, thở,
chết, sống lại. Một khúc quanh, một dòng sông, một cây cầu gẫy, bạn ngắm nhìn,
đặt tay lên, và bạn lắng nghe: tiếng rì rầm tàu chạy.
Người đi qua đời tôi
Chiều âm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương
Tiếng hát nào hơ nóng
Chúng ta có những ngày
như vậy, mùa hè ríu rít chim chóc, mùa đông ảm đạm chết người, mùa thu lịm tắt,
cỏ cây không hồi phục. Thơ tình Trần Dạ Từ như căn nhà, bếp lửa, cánh cửa sổ, ở
đó bạn từng ngồi xuống giữa những người khác, trước mặt một người khác. Những
bài thơ ngắn nén chặt, bạn không thể buông ra giữa chừng, như một thể thống nhất,
giữa sự vật, thời gian đi qua nhanh như cắt khiến lịch sử không kịp hiện hữu.
Khi thì như đứa trẻ lớn lên trên đường phố, dan díu, hóa thân.
Tường vôi trắng là hồn
Dù về sau tác giả làm thơ
tự do nhiều hơn, lục bát Trần Dạ Từ vẫn là một dòng tươi tắn, mới lạ, tài hoa.
Tình yêu như niềm vui thú: niềm vui của tình yêu là có thật, lớn lao, khó cắt
nghĩa, bàng hoàng; nhận thức về nó đẹp như ảo giác. Trong các loại tình như
tình mẫu tử, tình yêu bí nhiệm đối với đấng tối cao, tình huynh đệ, tình nhân
loại, thì tình yêu nam nữ biến ảo nhất, bất ngờ, ngọt ngào, chua xót nhất, để lại
dấu ấn lớn lao bậc nhất trong đời sống cá nhân.
Tiếng cười đâu đó giòn
tan
Nụ hôn ngày đó miên man một
đời
Tình yêu như một công việc:
sống là công việc khó khăn, sống trong tình yêu càng khó khăn. Những thử thách
của chiến tranh, tù đầy, nghèo đói, các hoàn cảnh phi nhân tính, guồng máy bạo
lực xấu xa, và các cá nhân độc ác quanh ta, thuộc đủ mọi lập trường, lúc nào
cũng hiện diện. Thơ tình vừa ca ngợi tình yêu vừa chuẩn bị cho người đọc nỗi âu
lo của các nhân vật, sự hoang mang, số phận đen tối của họ. Những người yêu
nhau phải kết hợp để vượt qua nghịch cảnh, nhưng họ cũng phải vượt qua yếu đuối
của chính họ, tan rã của chính họ.
Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn
kêu vang
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa
vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy
hoàng trổ bông
Trên môi ta, vạn đóa hồng
Hôn em trời đất một lòng
chứa chan
Tiếng cười đâu đó ròn tan
Nụ hôn ngày đó miên man một
đời
Hôm nay chợt nhớ thương
người
Tiếng ve mùa cũ rụng rời
vai anh
Trưa vàng, cỏ biếc, vườn
xanh
Môi ai chín đỏ đầu cành
phượng xưa.
(Nụ Hôn Đầu, toàn bài )
Đây là bài thơ tình nổi
tiếng của Trần Dạ Từ, và, tôi nghĩ, một trong những bài lục bát hay nhất của mọi
thời đại. Hình ảnh và giọng điệu di chuyển giữa lối kể chuyện và ca khúc; một
câu chuyện thông thường, không có gì đặc biệt. Chỉ là mối tình đầu. Và tình đầu
nào cũng tan vỡ, và khi nhớ lại bạn không thể nào hiểu tại sao nó tan vỡ. Tình
đầu bao giờ cũng đẹp vì được bạn nhớ lại và vì nó đẹp thật. Một mối tình đẹp
như thế phải được đặt trong bối cảnh thơ mộng hợp với lứa tuổi mới lớn. Cái tài
tình của Trần Dạ Từ là ở đây: khung cảnh. Một khung cảnh giản dị, thuần phác.
Có thể có người cho rằng đó là khung cảnh thuần túy nghệ thuật, không có thực.
Điều thú vị là tất cả những cảnh được mô tả, trưa vàng, cỏ biếc, tiếng ve, đều
là cảnh thông thường, dễ gặp trong một mùa hè nhiệt đới, không phải cảnh mai
lan cúc trúc như trong thơ Đường, cũng không phải cảnh đượm màu giấc mơ:
Vùng cúc bên ngoài đọng
dưới sương
(Xuân Diệu)
Cũng không cách điệu như
trong lục bát tiền chiến:
Nghiêng nghiêng mái tóc
hương nồng
Thời gian lặng rót một
dòng buồn tênh
(Lưu Trọng Lư)
Thơ Trần Dạ Từ, vào những
năm khởi đầu của miền Nam, cố gắng vượt khỏi ảnh hưởng của thơ lãng mạn, chạm tới
khuynh hướng hiện đại, nghiêng về tả thực, về một khuynh hướng ngôn ngữ giản dị
và trực tiếp, khách quan. Trong toàn bài thơ, chỉ có một hình ảnh có vẻ không
thật, nhưng lại được tác giả chỉ ra rõ ràng:
Trên môi ta, vạn đóa hồng
Đó là cách nói tượng
trưng, hơn là hình ảnh của bài thơ. Câu thơ ấy thực ra không có gì đặc biệt,
nhưng dễ được người đọc chấp nhận vì nó chủ ý nói về một tâm sự chứ không mô tả.
Cái hay của toàn bài là sự mô tả sống động, mặc dù giản dị, các hình ảnh được lặp
đi lặp lại, mở đầu và kết thúc cân đối, ngắn gọn mà miên man, vì gợi lên nhiều
hoài niệm, khơi đúng mạch tình cảm nhiều người. Đó là cách đọc liên văn bản.
Anh chỉ cần biết, đối với anh, tình yêu là mới, cái cầm tay là mới, môi hôn là
mới.
Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn
kêu vang
Vô thức tình yêu.
Tiếng ve râm ran ở đâu?
Hàng cây, lưng chừng giữa trời và đất. Nhưng thật ra chúng từ đâu tới? Một lần
tôi trở lại Huế, vào chùa Thiên Mụ buổi trưa, đi thẩn thơ trong vườn, nhớ người
thiếu nữ tên một loài hoa đã cùng đi qua đó nhiều năm trước, trong im lặng, chợt
trỗi vang lừng âm nhạc kỳ lạ, có dễ hàng chục năm tôi chưa được nghe. Thứ âm nhạc
ấy vang lên, không phải từ một phía mà hai, bốn phía, khắp nơi, không phải từ
những nhành cây nơi ta biết loài ve sầu thường sống ở đó, mà từ trên trời, đám
mây, từ dưới đất, trong cỏ, từ phía sau chiếc xe hơi trong vụ tự thiêu nổi tiếng
kia. Và lúc đó tôi biết rằng tôi được nghe tiếng ve lần đầu, miên man thế này:
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa
vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy
hoàng trổ bông
Như vậy xúc cảm là mới nếu
sự kết hợp hình ảnh là mới. Mới và chân thành. Dựa vào một nhạc điệu quen thuộc,
lục bát Trần Dạ Từ sử dụng hình ảnh không xa lạ nhưng trong một kết hợp lạ, ít
nhất là đến thời điểm ấy, và sự trở lại của nó ở đoạn cuối, vừa là sự kết thúc
đẹp vừa là sự mở lớn chiều kích xúc cảm, nâng chúng lên. Sự đau khổ mà số phận
mang lại còn chưa đến, những tình nhân hãy còn ngây thơ. Thế giới với ta là một.
Chúng ta yêu nhau, trời đất yêu nhau. Chúng ta muốn hòa bình. Muốn bên
nhau đời đời.
Hôn em trời đất một lòng
chứa chan
Trời đất một lòng với
chúng ta. Trời đất dung chứa chúng ta và được làm đầy lên bởi tình yêu của
chúng ta. Nhưng rồi cũng như tất cả những mối tình đầu khác, tình yêu chỉ tự ý
thức về mình khi nó không còn hiện hữu, như linh hồn nhìn ngắm lại cuộc hiện
sinh của mình sau khi đã bay ngoài cõi.
Hôm nay chợt nhớ thương
người
Tiếng ve mùa cũ rụng rời
vai anh
Tự do của một đất nước
cũng tự ý thức về mình như thế, một khi không còn nữa.
Và hạnh phúc cũng thế. Tuổi
thơ càng thế.
Nhưng thiên nhiên vẫn ở
đó, tan nát rồi bền bỉ, bối cảnh tình yêu vẫn còn. Sức mạnh của ký ức mang
chúng ta trở lại, giữa đất trời, trong đúng thứ phối hợp màu sắc như hội họa.
Trưa vàng, cỏ biếc, vườn
xanh
Đây là sự sắp xếp lại câu
lục trên kia:
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa
vàng
Chính sự tráo đổi các cặp
chữ, trưa từ trước ra sau, vườn từ sau ra trước, gây ra ấn tượng xáo trộn thời
gian, chuyển ngược kim đồng hồ. Chính nhờ sự chuyển dịch vừa tự nhiên vừa nhân
tạo ấy mà thi sĩ gặp được người cũ của mình.
Môi ai chín đỏ đầu cành
phượng xưa
Đỏ như vết thương.
Một bài thơ tình nở bừng
bừng như phượng mà vẫn dịu dàng khiêm tốn. Đó là sự quan sát bị phân rã trong
thời đại tối tăm, một tình nhân đứng đó giữa đổi thay thời thế, bơ vơ tìm dấu
tình đầu như nguồn cội. Cảm giác được thấy lại lần đầu tiên sự bừng nở và lụi
tàn của mùa hạnh phúc. Có sự giao thoa giữa giấc mơ và hiện thực, giữa quá khứ
và hiện tại, sự tự vấn giữa sôi nổi thèm khát và hoài niệm. Trong vài trường hợp
khác, có bước nhảy vọt giữa ý nghĩa này và ý nghĩa khác, hoặc giữa ý nghĩa và
vô nghĩa:
Người đi qua đời tôi
Hồn lưng mùa rét mướt
Người đi qua đời tôi
Chiều ầm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương
Như thế là có vị của siêu
thực.
Tuy nhiên thơ ông nhắc nhở
người đọc về hiện hữu của thế giới khác, của người khác, khi chúng ta đã vào hẳn
bên trong tâm hồn tác giả. Không có một thiên đường để mất. Quá khứ ám ảnh:
Những ngày thơ đánh mất
Còn níu theo chân đòi
Tình yêu của Trần Dạ Từ
già hơn tuổi của mình, triết lý, suy nghiệm.
Người đi qua đời tôi
Hồn lưng mùa rét mướt
Đường bay đầy lá mùa
Vàng xưa đầy dấu chân
Lòng vắng như ngày tháng
Đen tối vùng lãng quên
Đó là tình yêu bị đánh cắp.
Cơn bão bên kia thành phố sắp tới. Thời gian không thuộc về chúng ta. Cuộc chiến
tranh không thuộc về chúng ta. Mọi thứ ngoài tầm kiểm soát của tuổi trẻ, của
thi sĩ. Ngay cả trong những bài thơ tình như bài này, âm điệu thì du dương, vì
vậy đã được phổ nhạc, ngôn ngữ của ông vẫn cứ sắc bén. Sau khi thi sĩ nói xong,
mọi người đều thấy đó là ngôn ngữ bình dân, dễ dàng, gần như ai nói cũng được,
nhưng trước ông, không ai nói thế.
Không ai nói:
Người đi qua đời tôi
Không ai nói:
Mây mù lên mấy vai
Gió mù lên mấy trời
Chưa ai từng nói:
Không nhớ gì sao người
Ngôn ngữ đằm thắm mà cứng
cỏi, dồn nén mà bồi hồi. Sự thân mật trong thơ Trần Dạ Từ là đặc biệt. Sự thân
mật: đó là khoảng cách giữa tác giả và người đọc, giữa người đọc và nhân vật
văn chương. Mặc dù thoạt nhìn, thơ ông kín đáo độc thoại, không có giao tế, kịch,
một ngôn ngữ thầm thì, nhưng đó là trò chuyện giữa hai người dưới ngọn đèn mờ tỏ,
kể lại chuyện tình dưới đêm trăng, vết thương trong bùn lầy nước đọng, tội ác
trong rừng, các biên giới mà thơ trữ tình muốn chạm tới. Giọng nói của người kể
chuyện nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng, chi tiết, tỉnh thức, soi sáng, tự ý thức về mình,
của một cá nhân vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ. Dù đôi khi tác giả chỉ nói về một sự
vật thoáng qua, một kỷ niệm nhỏ.
Thủa làm thơ yêu em
Trời mưa chưa ướt áo
Hoa cúc vàng chân thềm
Gió may lưng bờ dậu
Chiều sương dầy bốn phía
Lòng anh mấy ngã ba
Tiếng đời đi rất nhẹ
Nhịp sầu lên thiết tha
Thủa làm thơ yêu em
Cả giòng sông thương nhớ
Cả vai cầu tay nghiêng
Tương tư trời thành phố
Anh đi rồi lại đến
Bài thơ không hết lời
Bao nhiêu lần hò hẹn
Sớm chiều sao xa xôi
Mười bẩy năm chợt thức
Bây giờ là bao giờ
Bàn tay trên mái tóc
Nghìn sau còn bâng quơ.
(Thuở Làm Thơ Yêu Em,
toàn bài)
Thương nhớ xảy ra trong
khoảng cách. Khoảng cách càng lớn, trong không gian hay thời gian, thương nhớ
càng tăng lên. Như vậy tình yêu trong Trần Dạ Từ là thương nhớ, nghĩ về, sống lại.
Tình yêu ấy được sinh trở lại bởi khoảng cách, hoài niệm. Hoài niệm là đặt bạn
vào vị trí ngoại biên và đối tượng được hoài niệm di chuyển về trung tâm. Thủ
pháp nhân cách hóa được Trần Dạ Từ sử dụng thường xuyên, trở thành một trong những
phương pháp chính yếu. Ngôn ngữ thơ là sự bắc cầu giữa vẻ đẹp và hiện thực mới,
giữa vẻ đẹp và sự thất bại, giữa niềm đau có thật của t ình y êu và mất mát có
thật của chiến tranh. Một trong những lợi thế của phong cách trầm tư, độc thoại,
với cấu trúc rộng mở, buông lỏng, như trong bài thơ Thuở Làm Thơ Yêu Em là
các câu thơ nối vào nhau một cách liên tục nhưng không quá chặt chẽ, các hình ảnh
có thể đảo ngược, thậm chí trật tự thời gian cũng có thể xáo trộn, nhưng câu
chuyện ấy vẫn là câu chuyện được kể lại, tuy rời rạc, chắp nối mà vẫn chỉ có thể
là của một người, và của người ấy mà thôi. Đó là nhờ giọng điệu âu yếm và lo
âu. Lo âu nhưng không sợ hãi. Thật ra đó là một hình thức suy nghĩ về tương
lai, sự tiên đoán về những sự kiện sắp xảy ra, nhu cầu định hướng trong một thực
tại hỗn loạn của tình yêu và ly tán, của tội ác chống con người trong chiến
tranh và sau chiến tranh, của sự nhầm lẫn giữa sự thật và gian dối. Tình yêu đầy
âu yếm và xao xuyến là của một người hoàn toàn lành mạnh đi giữa những hoàn cảnh
khắc nghiệt.
Năm suốt những con đường
mưa giông
Năm dọc những bờ hè giá
rét
Năm với lời vỗ về chiều
tàn
Năm cùng tiếng trở mình
khuya khoắt
(Giã Từ Năm Thìn, trong tập
Tỏ Tình Trong Đêm)
Bên kia âu lo là chờ đợi.
Bên kia chờ đợi là hy vọng. Là giấc mơ hòa bình, và khi đã có hòa bình là giấc
mơ tự do, vì đó là một nền hòa bình trong tù đầy. Thơ mô tả đời sống thực, hối
hả xáo trộn, biến ảo khôn lường, nhịp đập của đời sống, sự vui thú, chán chường
mệt mỏi. Cảm giác ngột ngạt nóng nảy của thời đại kinh hoàng, bóng ma chiến
tranh ngày một tới gần, vừa đi qua, bạn vừa nhìn thấy nó. Sự nổi loạn ngấm ngầm,
sự lạc đường. Khi ngôn ngữ thơ mô tả một tâm trạng lo lắng, một vết thương tình
yêu, sức mạnh của chúng bộc lộ. Thơ Trần Dạ Từ viết ở thể hiện tại, mô tả sự vật
trong vị trí di chuyển, đầy sức sống, hơi thở. Cái nhìn của nhà thơ bao giờ
cũng là cái nhìn trở lại, nhận thức và nhận thức lần nữa, tình yêu là tình yêu
lớn lên, gần như trưởng thành ngay ở tuổi nhỏ, điều ấy có liên quan gì đến cuộc
đời riêng của tác giả hay không, những kinh nghiệm riêng tư, có lẽ không ai biết.
Mặc dù ngôn ngữ thơ ông trong sáng, không phải bài nào đoạn thơ nào cũng được
thế, không phải vì chúng khó hiểu mà vì chúng gợi lên những góc khuất, riêng tư
đến nỗi mọi diễn dịch tùy thuộc ở người đọc.
Tuổi trẻ đi qua một lần,
một lần thôi
Tôi hèn nhát như một loài
dế cỏ
Hạnh phúc đi qua một lần
Cũng chỉ một lần thôi
Và sự tan vỡ ấy làm mọi
người cười rộ
(Buổi Trưa về Thị Nghè)
Một bài thơ trở nên khó
hiểu khi nó quay lưng với người đọc. Hoặc vì sự quay lưng ấy là cần thiết cho
người đọc hoặc vì cần thiết cho chính nó. Những bài thơ thế sự của Trần Dạ Từ
chua chát, buồn rầu, là những câu mô tả ngắn gọn, một nghệ thuật làm thơ hiện
đang bị bỏ quên. Mỗi chi tiết của bài thơ đều hướng về phía kết thúc hoặc nhằm
tạo dựng một không khí, như thể bài thơ là ngôi nhà. Tập thơ “Tỏ tình trong
đêm“, giữa những cuộc đảo chính, một xã hội phân rã, trước ngọn lửa chiến
tranh dâng cao, là một lời “tỏ tình” kiểu khác. Của một tình yêu già trước tuổi.
Năm đọa đầy những đêm giới
nghiêm
Năm đằng đẵng những ngày
tuyệt thực
Năm máu chảy và năm ruột
mềm
(Giã Từ Năm Thìn)
Suy nghiệm triết lý đầy
chất thơ. Sự trao đổi vị trí giữa nhà thơ và sự vật, cảnh vật bên ngoài hóa
thành tâm cảnh và ngược lại, tôi biến thành em và em biến thành tôi.
Cho tôi xin nửa bóng
trăng ngoài
Với nửa mùa thu trong mắt
ai
Lá rụng bao nhiêu hè phố
cũ
Sao nghe lòng rưng rưng
nhớ người
(Trăng Mười Sáu)
Trong giai đoạn sau của
miền Nam, chúng ta thấy sự mất cân bằng trong ngôn ngữ thơ thời ấy. Trần Dạ Từ
nhắc đến mặt trời, mùa hè, mùa nắng, bông phượng, con đường, hè phố, chân tường,
sự lấp lánh, và chúng không phải là những vật trang sức mà chính là linh hồn của
thế giới mà ông đi qua, đẹp nhưng sẽ mất. Những hình ảnh ấy được sắp xếp sao
cho chúng làm nổi bật lên nhân dáng khốn khổ của tác giả hay của bạn bè, cùng
giai đoạn. Thơ ông là ánh sáng và bóng tối, ánh sáng của quá khứ và bóng tối của
tương lai. Nỗi trầm tư trong thơ ông không phải là triết lý siêu hình mà là phản
ứng tất nhiên của người trí thức trước một thời đại, là sự tra vấn của nhà thơ
đối với lương tâm mình. Đó là sự chuyển hóa các tình huống khách quan thành điều
kiện tâm lý, là sự lý giải trật tự của đời sống, bằng bước đi của cá nhân. Lịch
sử dân tộc là tập hợp tổng thể các tính cách cá nhân. Là cuộc huynh đệ thương
tàn, sự phá hủy của những giá trị dân tộc.
Tặng cho em cuộc chiến
hung tàn
Trên quê hương của bao
nhiêu bà mẹ
Nơi đồng bào ta ăn bom đạn
thay cơm
Nơi lá chuối khô được bện
làm mũ tang
vẫn không đủ để đội
đầu con trẻ
(Tặng Vật Tỏ Tình)
Nhiều năm sau, sau cuộc đổi
đời của dân tộc, từ trong tù đầy, Trần Dạ Từ viết nhiều bài thơ mới, như “Hòn
Đá Làm Ra Lửa”(3). Thật ra đây không phải là lần đầu tiên Trần Dạ
Từ phải đi tù và làm thơ trong tù. Thời 1963, Đệ nhất Cộng hoà, ông đi tù trong
vài tháng, còn sau 1975, hơn mười hai năm. Trong năm 1963 ác liệt, ông viết những
câu thơ dũng cảm, làm rung động lòng người:
Nửa đêm nàng bị bịt mắt dẫn
về đó
Chúng tra khảo nàng để
tìm chàng
Nàng bị cặp điện vào hai
tai
bị cặp điện vào vú
Trong khi đó chàng ở sát
cạnh nàng
Ở ngay trong tim nàng
Ở những nơi mình nàng rõ
(Thơ Viết Trong Tù 1963)
Tình yêu là cách nhìn ra
bên ngoài, là cách sống giữa thiên nhiên, nhưng trong thơ ông, đó cũng là nhìn
vào bên trong, sự trở lại, đầy dũng cảm. Tình yêu là trở lại. Làm thế nào để một
người có thể vượt qua thời gian, đi tìm tuổi thanh xuân? Chỉ bằng cách nhìn vào
bên trong, sống lại chính đời sống của mình, kéo dài đời sống ấy. Trước cái đẹp,
trước hoài niệm, trước nỗi buồn, con người trở nên khiêm tốn. Con người khiêm tốn
hơn trong tình yêu thương. Thì ra khiêm tốn chỉ sinh ra từ sự kính trọng đối với
người khác, và sự kính trọng đối với người khác sinh ra trong một bầu khí quyển
tự do. Sự gắn bó của tâm hồn vào những mất mát làm tăng thương tổn và cùng thời
làm tăng cái đẹp, sự dũng cảm.
Ném lên. Ném lên. Ném lên
nữa
Từng trái bắp. Từng lát
đường
Ném lên. Ném lên. Ném lên
nữa
Từng gói thuốc. Từng vắt
cơm
Ném cả gánh hàng rong
Ném tràn như nước mắt
Ném hết. Ném hết
Ném cho người đi đầy
Tấm lòng Phan Rang.
Tấm lòng. Ôi ViệtNam
(Tấm Lòng Phan Rang)(4)
Tình đồng bào.
“Hòn Đá Làm Ra Lửa” là
một bài thơ dài hơn, có thể gọi là trường thi hay trường ca. Một bài thơ nhân
chứng, một bài thơ tình, kiểu khác. Mạnh mẽ, đau xót, nhưng trầm tĩnh. Giọng điệu
của tác giả thay đổi, khi lạnh lùng khách quan, khi nghĩ ngợi, khi hài hước
châm biếm, khi ân cần thương cảm. Cấu trúc của bài thơ là cấu trúc mở, gồm những
mặt phẳng liên tiếp cắt ngang. Lịch sử các nhà thơ không thể tách rời khỏi lịch
sử của những thứ sau đây: một xã hội tự do, một đất nước chiến tranh, sự sụp đổ,
sự đàn áp. Dù vô tình hay với ý thức rõ rệt, các nhà thơ thuộc thế hệ Trần Dạ Từ
tích hợp thể thơ trữ tình cá nhân, bắt nguồn từ truyền thống lãng mạn tiền chiến
nhưng táo bạo đi xa hơn, tách ra, đôi khi như sự nổi loạn, đôi khi chỉ là sự tiếp
tục dấn bước, với một ngôn ngữ trực tiếp, dũng cảm, rách xé, rời rạc, phẫn nộ,
lo âu, có tính chất phê phán, đặc trưng cho một thời đại tan vỡ.
Khỏi cần sần sùi nữa
Hòn đá cổ sơ đen đúa của
ta
Tôi biết chúng ta sẽ ra
sao
Bạn bè chúng ta. Kẻ thù
chúng ta
Quê hương đẫm lệ và thế
giới ngộp khói
Tôi biết chúng ta sẽ gặp
nhau thế nào
Trong mắt. Trong cổ.
Trong ngực em
Trong mắt. Trong cổ.
Trong ngực tôi
Ngọn lửa ta hớn hở, tung
tăng
Tình yêu là tự do vượt khỏi
ràng buộc nghi lễ, truyền thống. Hơn thế nữa, vượt khỏi những khổ đau bí mật và
những bất hạnh bị chính ta đè nén do định kiến và quy ước. Tình yêu không phải
là mục đích tự thân mà là hành trình, và chính trong hành trình ấy mà tình yêu
nảy nở, trở nên bền vững.
Có thể chúng ta sẽ sống
sót. Sẽ trở về
Cùng vuốt ve lại trang giấy
bị vò nát ném bỏ
Cùng bắt đầu lại. Từ chỗ
được bôi xóa
Thơ chống lại quên lãng.
Khả năng quên lãng, khả năng sống trong một xã hội không có lịch sử, có thể tồn
tại ở nhiều người thiếu can đảm và thiếu trung thành với các nguyên tắc, bọn cơ
hội, đầy rẫy dưới những chế độ chính trị khác nhau. Sáng tạo được sinh ra bởi
giây phút mà phẩm chất làm người chiếu sáng nhất, chống lại hư vô, chống lại
bôi xóa, chống lại phản bội lịch sử. Mặc dù không phải là một nhà thơ có tuyên
ngôn trường phái rõ ràng, Trần Dạ Từ thể hiện khuynh hướng hiện đại từ sớm. Đó
là khuynh hướng tin vào sự hiện hữu đương thời, giây phút sáng tạo, hình mẫu
văn hóa, khả năng rời bỏ sự ràng buộc của quá khứ. Một điểm đặc sắc của thơ Trần
Dạ Từ là điểm nhìn của người kể chuyện, chúng thay đổi, từ các phía khác. Tình
yêu cũng là hôn nhân, giữa chồng và vợ qua chiến tranh, tù đầy, hoạn nạn. Bất kỳ
một quan hệ nào cũng sẽ thay đổi qua thời gian, tình yêu cũng thế, nhưng chính
trong thử thách mà chúng lớn lên. Chính là khả năng của một con người được tái
hợp với cái bình thường, sau những năm mất tự do, chính khả năng của họ chạm
tay vào một cánh tay yêu dấu, một cánh cửa quen thuộc, chính khả năng ấy làm
nên ý nghĩa của phẩm giá con người. Trần Dạ Từ có khả năng nhìn vào sự vật, hòn
đá, vật vô tri, sờ lên chúng, cọ sát chúng vào nhau làm phát sáng lửa.
Chỉ có tôi và em cất giữ
Rời nhau ra. Lặng lẽ. Dư
thừa
Hợp đôi lại, chúng làm ra
lửa
Em hay người nữ trong thơ
Trần Dạ Từ là chủ đề đặc biệt. Trong những bài thơ viết về sau, người nữ là vợ,
là mẹ, là người đàn bà tri âm tri kỷ của tác giả. Tình yêu là hôn nhân. Hôn
nhân là sự mất mát, bất hạnh, chia lìa, nhưng cũng là niềm tin, cứu rỗi, là cái
còn lại sau cùng của ý chí tự do. Như vậy hôn nhân là thiêng liêng, tình yêu là
nơi nương tựa. Nhưng người nữ ấy cũng trôi dạt, long đong như bao số phận khác,
vì vậy đó còn là lo âu. Thơ ông là thơ về nỗi lo âu, triền miên, ám ảnh.
Tôi không biết giờ này em
ra sao
Có lượm lại đủ lũ con cái
tan tác không
Em có gì để ăn. Cho chúng
ăn
Em làm cách gì để thở.
Cho chúng thở
Em còn chỗ nào để nương
náu, tạm bợ
Trần Dạ Từ sử dụng một từ
vựng không lớn trong các bài thơ tình, nhưng khi chuyển sang làm thơ thế sự, đặc
biệt những bài viết trong tù, ông sử dụng nhiều hơn các chữ ít dùng trước đó,
trần trụi, đời thường, thậm chí gai góc dữ dội. Đen đúa, sần sùi, không đáng một
xu, quạ không thèm mổ, kiến không thèm bu, em đã nhe răng, ăn nhằm gì, rôm rả,
nước miếng ứa, chẳng hề hấn gì là những chữ chúng ta gặp trong thơ ông giai đoạn
sau. Chính sự cần thiết của việc bày tỏ, giao tiếp, của sự mở một cánh cửa mà
có việc sử dụng một ngôn ngữ đời thường đến thế, dân gian, mãnh liệt, hài hước
và khinh mạn, có sự bất cần và phản kháng đến thế. Các nhà thơ tài năng sử dụng
ngôn ngữ trần tục khi cần thiết. Hơn thế, ngoài những nghĩa thông thường có thể
tìm thấy trong từ điển, chữ trong thơ Trần Dạ Từ có ý nghĩa riêng, tạo cảm xúc
riêng, hồi ức riêng, những tham chiếu khác nhau ở người đọc khác nhau. Dù vậy,
chữ của ông không mang lại cảm giác mơ hồ, phân vân (ambiguity) như một số nhà
thơ khó đọc khác. Thơ ông dễ hiểu, khá giản dị, gần như trong sáng, trong nhiều
đoạn, nhiều bài. Nhiều chữ trong thơ có thể giãn nở, nới rộng để bao gồm nghĩa
khác cho những văn cảnh khác. Giọng điệu có tính tuyên bố, biểu hiện, trực tiếp,
nhưng vẫn không thô ráp, đó là nhờ sự tinh tế.
Tôi sẽ sửng sốt nhìn. Sẽ
thật thà mô tả
Cho bạn hữu và kẻ thù
cùng biết
Những hạt cơm tương lai
Phải cười như thế nào
Trong con mắt háu đói của
nhân loại
Thơ hy vọng giữ lại giây
phút của lịch sử, đóng đinh các số phận lên bức tường ký ức, làm cho người chết
sống lại, làm cho trí tưởng tượng trở thành phương tiện duy nhất của con người
vượt khỏi hoàn cảnh phi nhân. Sự thương tiếc mà thơ ca mang lại mở ra mối tương
thông giữa nhà thơ và thế giới bên ngoài, kéo dài sự sống sót của một nền văn
hóa qua khỏi ngọn lửa bạo động, chống lại hủy diệt, thắp một ngọn đèn nhỏ bên cửa
sổ, cuối đường. Xã hội miền Nam, dưới một chế độ nay đã hoàn toàn biến mất,
ngày ấy trong chiến tranh, đầy những khiếm khuyết, những âm mưu, những lầm lỗi,
vẫn là một nền dân chủ đang hoàn thiện, vẫn là một xã hội có tính chất dân sự
cao nhất cho đến nay, chưa hề được đánh giá một cách công bằng, thì nay đã được
thơ ca nhìn nhận lại.
Phải rồi. Chúng ta có
chung một thành phố
Nơi định mệnh chân dài của
mỗi người đã ngủ
Những cây me Nguyên Sa
canh cửa dịu dàng
Cột điện Thanh Tâm Tuyền
dữ tợn
Quán rượu Mai Thảo, Phạm
Đình Chương
Đêm nguyệt cầm Cung Tiến.
Thơ ấy là một loại thơ
nhân chứng được viết trong hoàn cảnh bi đát, cá nhân, trực tiếp, với góc nhìn cận
cảnh, với ngôn ngữ giản dị và mỉa mai, tự tin và ngậm ngùi, trong một ý thức
sáng rõ mà dịu dàng. Nếu so sánh thơ viết sau này với những bài thơ trước đó,
Trần Dạ Từ là một trong những người viết thực sự thay đổi bút pháp. Nếu Thanh
Tâm Tuyền từ sở trường thơ tự do trở lại với thơ cổ điển có vần, chẳng hạn, thì
Trần Dạ Từ thay đổi theo hướng ngược lại, những bài thơ trong tù một số lớn được
viết dưới thể tự do, hoặc có vần nhưng âm điệu phóng khoáng. Sự va đập dữ dội của
hiện thực, sự tan vỡ của những niềm hi vọng vào một tương lai tự do, sự đàn áp,
săn đuổi, để lại dấu ấn rất sâu trong thơ Trần Dạ Từ. Khác với nền thơ có phần
hư vô, chán nản, ít chịu trách nhiệm trước đây ở miền Nam, thơ ông sau này là
tiếng nói dõng dạc, kẻ đứng thật trên đôi chân của mình trước dông bão. Trong
tiếng gào thét của xã hội mới, giọng nói nhỏ nhẹ, quyết liệt nhưng hóm hỉnh của
ông vang lên như sự từ chối thua cuộc, sự thản nhiên bất khuất, trong một ngôn
ngữ dửng dưng mà xúc động, nén lại.
Chúng ta có chung một thời
đại
Con đường tình ngoằn
ngoèo của Phạm Duy
Khu rừng lau mênh mông của
Doãn Quốc Sĩ
Mụ đế quốc khốn khổ của
Võ Phiến
Những khuôn mặt dị dạng
trong thế giới của Choé
Trong chiến tranh, chúng
ta mơ hòa bình; trong cảnh tù đầy, chúng ta sẽ mơ tự do. Nhưng trong cả chiến
tranh và hòa bình, trong cả tù đầy và tự do, người nghệ sĩ đều phải nghĩ đến
nhân phẩm.
Không thứ cờ quạt nào vấy
nhơ nổi bầu trời
Không thứ chủ nghĩa nào
bôi bẩn được trí nhớ
Đồi núi và em mặc chung
áo nắng vàng
Suối nước và em đi chung
từng bước chân
Giản dị như ngày nào, em
tới
Chúng ta dễ dàng nhận ra
nhau
Và nụ cười em rì rào cùng
cỏ cây mặt đất:
“À. Anh ấy nằm đây
Phải vậy chớ
Anh ấy vẫn giữ nó
Hòn đá làm ra lửa.”
“Hòn đá làm ra lửa”
vừa là câu chuyện kể, có mở đầu và kết thúc, có những diễn tiến phù hợp với tiểu
sử tác giả, vừa là sự phản kháng đối với các ảo tưởng, nhưng đó cũng là một bài
thơ trữ tình. Mối quan tâm của nó là sự hành hạ đối với con người, các chủ
nghĩa mê tín, sự vượt qua chúng, không những bằng lòng dũng cảm mà còn bằng
tình yêu, không những bằng sự phản kháng mà còn bằng lòng tin. Tôi nghĩ rằng
lòng tin là ý tưởng cốt lõi của toàn bộ tác phẩm này. Lòng tin vào điều gì? Vào
nhân cách, vào giá trị nhân loại, lòng tin vào một nửa đất nước tự do, thật ra
là giấc mơ cao nhất của tất cả người Việt, dù họ ý thức được điều đó hay không,
đã bị đánh bại trong chiến tranh, vào một xã hội được hướng dẫn bởi công lý,
vào lý tưởng hay sự tìm kiếm lý tưởng của thế hệ mình. Bài thơ nói về tình yêu,
lòng chung thủy, tính dũng cảm, sự điềm tĩnh với chút bùi ngùi, và sự thèm khát
đoàn tụ, của kẻ phải đi qua những ngày đen tối. Cấu trúc của bài thơ là một cấu
trúc khó định hình, vì dựa vào các hình ảnh và ý tưởng đầy cảm hứng, chúng là dịp
để bày tỏ các quan niệm về đời sống và về chính trị, nhưng chúng hiện hữu trước
hết như những hình ảnh và ngôn ngữ thơ ca. Bài thơ “Hòn đá làm ra lửa” vận
động như một cấu trúc trầm tư và mô tả. Bài thơ tập trung vào các chi tiết cụ
thể, ngắn gọn, có thật, trong những đoạn thơ đặc biệt, sự mô tả ấy chuyển thành
những suy nghĩ triết lý, sự phản kháng, tiếng cười và tiếng khóc thầm lặng lẽ,
xao xuyến trước cuộc đời bất trắc và lòng tin vững mạnh vào giá trị của một
truyền thống xã hội đã mất.Trần Dạ Từ chưa bao giờ tỏ ra nghi ngờ sức mạnh của
ngôn ngữ như một số nhà thơ sau này. Nỗi băn khoăn có tính triết học ấy ít xảy
ra trong một xã hội đầy biến động khi ngôn ngữ hiển nhiên trở thành phương tiện
quan trọng và cuối cùng của việc gìn giữ các niềm tin và truyền đi những giá trị
cao quý. Kẻ sống sót sau chiến tranh vừa cảm thấy có lỗi với người đã mất, bạn
bè mình, đồng thời tự mang thêm trách nhiệm của những người ấy trên vai, trong
cuộc hành trình đi qua cái chết.
Có thể sẽ không còn. Cũng
chẳng mất đi đâu
Dòng chảy nào không thẩm
thấu, không bốc hơi
Có thể chúng ta vẫn quân
quất đâu đó
Như bọt nước tung tóe reo
vui
Nơi này. Nơi kia
Trong bước đi bất tận của
dòng suối sinh nở
Khác với các nhà thơ hậu
Auschwitz của châu Âu như Samuel Beckett, các nhà thơ Việt Nam thời kỳ sau này
có nhiều niềm tin hơn vào khả năng bày tỏ và giao tiếp của thơ ca. Rõ ràng là
trong một bối cảnh kinh hoàng không kém, hỗn loạn không kém, vì nhiều lý do,
các nhà thơ ấy tin rằng họ có thể vượt qua thời đại khó khăn mà không gục ngã,
bằng sự can đảm của người tin vào các giá trị mà họ bảo vệ. Tôi cho rằng chính
niềm tin ấy trực tiếp dẫn họ đến niềm tin vào ngôn ngữ, hiện tượng ít tra vấn đối
với nó.
Cánh cửa bứt khỏi cổng.
Nhà bứt khỏi người
Trang giấy bứt khỏi mặt
bàn
Chữ nghĩa bứt khỏi sách
Đó là hoàn cảnh bên ngoài
chống lại ngôn ngữ. Đó là sự truy vấn hiện thực, một hiện thực không bình thường.
Mặc dù hình như Trần Dạ Từ chỉ nói về những điều ông biết, sống với chúng, đã
nghiền ngẫm chúng, như tình yêu thời trẻ và năm tháng tù đầy, sự thật của chúng
không phải là không có gì để bàn cãi nữa. Sự hoang dã của điều kiện sống trong
nhà tù và điều kiện xã hội bên ngoài, đặc biệt những năm bảy mươi tám mươi thế
kỷ trước, là chống lại văn hóa dân tộc. Niềm hy vọng của tác giả trong bài
thơ “Hòn đá làm ra lửa” có phải là một ảo tưởng không? Có phải
những năm tháng tù đầy sẽ chấm dứt và tự do sẽ xuất hiện. Có phải sự đoàn tụ của
hai người yêu nhau sẽ làm nên một ngày mới, có phải sự kết hợp giữa hai hòn đá
sẽ làm ra lửa. Có phải đó là niềm lạc quan không thực tế? Ngày nay nhìn lại sau
chừng ấy năm, người đọc có thể nghĩ thế, và họ có thể đúng. Nhưng vào khoảnh khắc
ấy của lịch sử, niềm hy vọng ấy không phải chỉ là hy vọng. Đó là khả năng sống
sót của một nạn nhân, nhờ thế người tù ấy có thể bước qua mặt đất bùn lầy, giúp
họ ngẩng đầu lên trong buổi sáng tháng Giêng.
Tôi biết bạn bè chúng ta,
kẻ thù chúng ta
Quê hương đẫm lệ và thế
giới ngộp khói của chúng ta sẽ ra sao
Tôi biết chúng ta sẽ gặp
nhau thế nào
Trong mắt. Trong cổ.
Trong ngực em
Trong mắt. Trong cổ.
Trong ngực tôi
Tôi nghe nó thì thầm
“Chẳng hề hấn gì. Chẳng hề
hấn gì”
Và tôi mỉm cười
Thư thái hình ảnh em bước
tới
Thơ Trần Dạ Từ, như thế,
là một tình yêu tự ý thức. Tình yêu thực sự bao giờ cũng ngây thơ, gần như tuổi
trẻ, xúc cảm, bồng bột, mạnh mẽ, điên cuồng, ít tự ý thức. Nhưng đến một lúc
nào, bỗng dưng mọi chuyện trở thành giản dị trước mặt bạn, như chân trời mở ra
sau một khúc quanh. Bạn vẫn còn dũng cảm và liều lĩnh, nhưng bạn hiểu được giới
hạn của mình. Thi sĩ hiểu rằng giữa tình yêu và cuộc đời, giữa trái tim và hiện
thực, nhiều khi có những sự thật khác. Bao giờ cũng có một khoảng cách. Phương
pháp của Trần Dạ Từ là sử dụng các vần điệu cổ điển, thậm chí các hình ảnh cũng
không mới, để nói về một tình cảm rất mới. Tình yêu thì có gì mới? Nhân loại
ngàn đời vẫn yêu nhau như thế. Nhưng thi sĩ không cần biết điều ấy. Thật khó
khăn để tự nhìn lại mình. Một bài thơ tự nhìn lại mình khi phải đi xa một
quãng, giữ được khoảng cách với đối tượng của nó. Thơ trong tù của Trần Dạ Từ
đóng góp vào dòng thơ lừng lẫy của những tù nhân lương tâm: Vũ Hoàng Chương,
Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Chí Thiện, Cung Trầm Tưởng, Trần Dạ Từ,
Hoàng Hưng, Hà Thúc Sinh. Những bài thơ nổi bật của ông: Thơ mừng sinh nhật Nhã
83, Chôn bạn ngày mưa, Hòn đá làm ra lửa. Giai đoạn ở tù, và sau đó nữa, bài
thơ Hòn Đá Làm Ra Lửa dài như trường ca, dữ dội, huyền ảo, phát sáng. Bài thơ đứng
vững chãi như tư cách của người tù lương tâm. Đi qua một xã hội chiến tranh, những
ngày mất tự do và bị hành hạ, cuộc sống lưu vong, những gánh nặng, bài thơ như
một người ngồi bên kia đường trong một quán cà phê tồi tàn, ở một góc tối mà bạn
không nhìn rõ vì bạn ở ngoài mới bước vào, nhưng định thần lại bạn có thể nhìn
thấy. Như vậy sức mạnh của bài thơ nằm ở sự chuyển hóa, ở khả năng thay đổi, sự
phức tạp của hình ảnh, của ngôn ngữ, của thông điệp, sự phức tạp ấy đã từng làm
hỏng nhiều bài thơ của các tác giả khác nhau và ngay cả những người viết tài
năng cũng bị nó dẫn đi lạc đường, đã trở thành quyền lực của ngôn ngữ trong trường
hợp “Hòn đá làm ra lửa”. Đó là một bài thơ vừa độc thoại vừa đối thoại, vừa trữ
tình vừa có tính kịch, nhiều mô tả mà vẫn đi giữa thức điệu trầm tư sâu lắng. Từ
ngữ phóng khoáng mà chặt chẽ, phép tu từ khéo léo ẩn kín. Cấu trúc thoáng đãng,
nửa như một bài hành, nửa như một trường ca, đi dọc xương sống thời gian, quay
vòng trở lại, với điệp khúc, các hình ảnh lặp lại, như xáo trộn của ký ức đối với
người khác. Người khác đối với ta không phải là địa ngục. Người khác đối với ta
là chú tâm, là hy vọng, là ý nghĩa. Cũng như trong tình yêu, chỉ sự hiện diện
đã làm đầy tất cả. Sự gần gũi, tin tưởng, sự không phân biệt giữa một người đem
lòng yêu người khác và một người được yêu thương, sự đồng nhất ấy là cao quý
trong những quan hệ giữa người và người. Thơ làm xúc động người đọc không chỉ bằng
kêu gọi, thương khóc, hay bày tỏ thái độ, nước mắt, sự kêu ca, thậm chí, căm giận
lộ rõ. Tất nhiên không phải bao giờ Trần Dạ Từ cũng được thế, trong một số bài
thơ, một số đoạn thơ, ông vẫn không giữ được bình tĩnh đối với kẻ thù. Nhiều
người cũng có nhược điểm ấy, họ quên mất rằng trong các tranh luận lịch sử, dù
trong văn chương hay các cuộc bầu cử, trong khi chúng ta giận dữ thì kẻ thù
bình tĩnh. Mục đích của tranh luận không phải là kẻ đối diện, mục đích của nó
là khán giả. Thật ra cũng chính bằng cảm xúc dữ dội mà ông viết được những câu
thơ ít người viết được trong hoàn cảnh khốn khổ, ở vị trí cao hơn hẳn so với tội
ác.
Chiến tranh. Cách mạng.
Ngày hội của quần chúng
Tội nghiệp. Họ được dạy dỗ
thế
Tội nghiệp. Họ tin sống
tin chết như thế
Đó gần như là sự ngạo nghễ.
Nhưng trước đó nhà thơ cũng đã có lúc nói:
Tôi quên nói với em điều
này:
Tôi yêu em đến mức có thể
yêu luôn
những người đang gọi
chúng ta là kẻ thù
Hòn đá bình thường mà kỳ
dị kia chính là một nhân vật, nhân vật thứ ba của bài thơ tình. Trong bài thơ
dài ấy còn có nhiều người khác.
Nguyễn. Và Nguyễn. Và
Nguyễn nữa. Sắp chết
Sẽ đến lượt Lưu. Đến lượt
Lê. Đến lượt Doãn
Có thể sẽ không còn chúng
ta
Câu thơ bi đát, lớn lao.
Có thể sẽ không còn chúng ta, người trí thức tự do. Tinh hoa của dân tộc. Điều ấy
thật đáng sợ. Sự mất mát, thua cuộc, sự sụp đổ của một nửa đất nước, sự tan vỡ
của những hạnh phúc, sau những thứ ấy con người sống thế nào? Bằng lòng tri ân
không ngớt đối với cuộc đời, sự giữ gìn cẩn thận các giá trị văn hóa.
Lòng tự trọng, kiên nhẫn lặng lẽ, sự trầm tư, cảm giác vững chãi khi đặt chân
lên mặt đất, cảm giác thuộc về. Và lòng tin, bao dung, có cái cười mỉm rất lặng
lẽ.
Lửa và khói. Hạnh phúc và
lỗi lầm
Chúng ta đã bứt ra khỏi
nhau
Em mất tích. Em kiệt sức.
Em một mình
Thật quá nặng cho em
Làm sao em thở
Trong một thời đại như
hôm nay, thơ ca hoặc là lạc đường hoặc là tìm lại được sứ mệnh của nó, ngôn ngữ
hoặc là bị xé nát, bị lạm dụng, bị biến đổi hoặc là tìm thấy sức mạnh lớn nhất
của nó, khả năng chia sẻ.
Lòng ta ở với người
Dù thân ta đầy ải
Dù sức ta đĩa dầu vơi
Vẫn sáng lên một lời
Lời ta ở với người
Bài thơ này được tác giả
phổ nhạc. Trần Dạ Từ là một nghệ sĩ đa năng: làm báo, làm thơ, viết nhạc. Là
tác giả của nhiều ca khúc. Nhờ những người như ông, thơ và nhạc nắm tay nhau
như hai tri kỷ.
Chàng thi sĩ ngu ngơ
Và năm tháng bơ vơ
Bờ nắng bờ mưa
Mẹ già khô héo
Nợ nần kêu réo
Ân oán mè nheo
Xương máu hò reo
Bạn hãy nghe “Gọi Tên
Dòng Sông“(5). Khi tôi nghe Tuấn Ngọc hát bài này, hay Quang Tuấn,
trong một bài khác, tôi nhận ra sức mạnh của âm nhạc, của âm thanh, của sự hiện
diện của người khác. Nhân đây, cần nói thêm rằng khi ca từ đạt đến đỉnh cao của
vẻ đẹp ngôn ngữ, chúng tựa như thơ. Chính vì vậy mà nhiều người nghĩ lầm rằng
ca từ cũng là thơ, nhưng thật ra, tuy có nhiều điểm tương đồng, chúng vẫn khác
nhau. Thơ là ngôn ngữ trên nền trắng im lặng. Ca từ, hay lời của ca khúc, là
ngôn ngữ trên nền của âm thanh. Chính các giai điệu, các nhạc cụ, cấu trúc
thính phòng, không gian, khán giả…tạo ra hậu cảnh hay môi trường của ca khúc.
Như vậy, thơ không cần môi trường, ca khúc cần môi trường. Mặt khác, như thi sĩ
Hayden Carruth(6) nói: lịch sử thực sự của văn học là lịch sử của
tình yêu. Ngôn ngữ, cũng như âm nhạc, không làm thay đổi lịch sử, nhưng có thể
thay đổi cái nhìn của chúng ta đối với nó. Xuyên suốt nhiều năm, mặc dù với số
lượng tác phẩm không lớn, Trần Dạ Từ thường xuyên trở lại với những ưu tư về thế
sự, nỗi lo âu đối với đời sống và xã hội cùng thời, những tra vấn có tính triết
học đối với số phận cá nhân, không ngừng trở lại với tình yêu và phẩm chất của
nó, sự vui thú, chia sẻ, sự hy sinh. Ngôn ngữ thơ ngắn gọn, nhiều động từ,
nghĩa cụ thể, nặng về mô tả, giọng thản nhiên, hài hước, có chút bi phẫn nhưng
không cay đắng, là một câu chuyện kể có thứ tự trước sau với những mảnh rời xếp
chồng lên nhau. Đó là câu chuyện của hai người yêu nhau, của vợ và chồng hay
tình nhân, sự chia tay nhưng không đổ vỡ, sự xa cách nhưng gắn bó, sự mất mát
nhưng vẫn sở hữu. Sự thua trận nhưng vững vàng, lòng tin vào chiến thắng cuối
cùng của lương tâm. Cấu trúc của một bài thơ hay thường có những điểm uốn về tư
duy hoặc giọng điệu, đôi khi những bước ngoặt. Điều này thấy rõ hơn trong những
bài thơ dài, trường ca, nhưng cũng có thể xuất hiện ở những bài thơ ngắn khác.
Nhân vật trong bài thơ Hòn đá làm ra lửa có thể xem là tác giả. Hoàn cảnh và điều
kiện của nhân vật ấy, trong tù đầy, dành một không gian cho riêng mình, một
lãnh thổ của tự chủ, nhẫn nại, lòng yêu đời, như cánh cửa đêm đêm vẫn mở lòng
ra hít thở khí trời.
Không hề từ mặt trời từ
gió nồm
Chính từ lửa chung của
đôi ta
Những cành phượng chụm đầu
bốc cháy
Lợp đỏ một mùa hè ngây dại
Thơ trữ tình còn là nhận
thức, triết lý về xã hội. Trong hầu hết các bài thơ của Trần Dạ Từ, có những
khúc quanh, đưa người đọc từ chỗ tối ra chỗ sáng, hoặc ngược lại từ sự mất mát
đến hoài niệm, từ cái chết đến hy vọng, từ trạng thái an toàn, hòa bình tạm thời
đến chiến tranh. Thơ ông có một nhịp điệu âm nhạc giấu kín, bề ngoài phóng túng
mà bên trong chặt chẽ. Tôi chưa thấy ai viết về một thành phố, Sài Gòn phải
không, văn xuôi mà nhiều nhạc tính như thế này.
Chớp mắt. Thấy mình có
trong nhau
Mở cửa. Thấy anh em đông
đủ
Bắt tay, chào hỏi. Thấy
thành phố
Bước đi, trò truyện. Thấy
quê hương
Hất mặt, vươn vai. Thấy bầu
trời
Hít hà. Thấy thời đại
mình thở
Phải rồi. Chúng ta có
chung một thành phố
Nhạc tính ẩn kín ấy là niềm
lạc quan, tình yêu đời sống, niềm tin vào con người, vang mãi trong ngôn ngữ của
Trần Dạ Từ năm này qua năm khác, như vốn quý mà dân tộc ký truyền lại. Giọng điệu
ấy là độc thoại, trữ tình, nhưng vẫn có tính đối thoại, giao tiếp, tính kịch. Một
người muốn chia sẻ, trước hết phải khiêm tốn và mạnh mẽ, nhẫn nhục và khoan thứ,
và ấm áp.
Sự nhẹ nhõm tự nhiên
trong việc chọn chữ làm cho sự giản dị trở thành cái đẹp tự nó, và hình ảnh sắc
bén và giàu có, ý tưởng rõ ràng, và có cả một nhân cách đứng đằng sau những bài
thơ viết trong ngày khó khăn của đời mình, tất cả những thứ ấy đã làm ông trở
thành một trong những nhà thơ nhân chứng quan trọng của thời thế hôm nay, của
tình yêu hôm nay.
Đêm biếc cành soan, thơm
giấc mơ
Đầu hiên hoa trắng nở bao
giờ
Em mười sáu tuổi trăng mười
sáu
Áo lụa phơi buồn sân gió
xưa
Kể từ những bài thơ tình
đầu đời, được nhiều người yêu mến, trong một không gian hạnh phúc, những ngày dậy
thì của miền Nam, đến những bài thơ thế sự đa đoan của giai đoạn chiến tranh khốc
liệt, đến những bài thơ viết trong tù và sau đó, trong hoàn cảnh nhiễu nhương,
thơ Trần Dạ Từ cốt lõi vẫn là thơ tình, là lòng say mê đắm đuối đối với cái đẹp
và lương thiện, là lời ca hát không ngừng của hạnh phúc đôi lứa, thanh sạch vững
vàng.
Chú thích:
(1) Trích
đoạn chú thích của nhà thơ Trần Dạ Từ: Tỏ Tình Trong Đêm, xuất bản
bởi Tạp chí Tiếng Nói, Sài gòn 1965. Sau khi phát hành, tập thơ bị thu hồi
giấy phép xuất bản vì lý do “vi phạm sự kiểm duyệt”, sách bị tịch thu. Một số
thơ trong tập được chuyển sang Anh ngữ và phổ biến tại Hoa Kỳ thời cuối thập
niên 60’ bởi Giáo sư Huỳnh Sanh Thông tại Đại Học Yale và một số dịch giả khác.
Các bản dịch Anh ngữ của Huỳnh Sanh Thông được in lại trong “An Anthology of
Vietnamese Poems: from the Eleventh through the Twentieth Centuries” do
Yale University Press xuất bản năm 1996. Bản thảo được đánh máy lại từ ấn
bản đầu tiên do một thân hữu tại Pháp còn giữ trao cho tác giả năm 1991. Một số
câu, đoạn thơ từng bị sai lạc khi phổ biến dưới sự kiểm duyệt được
chỉnh sửa lại theo trí nhớ.
(2) Tập
thứ hai này được Giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1971 – 1972. Trang
đầu tiên của tập thơ ghi: Thuở Làm Thơ Yêu Em, Phổ nhạc: Cung Tiến, Phạm
Đình Chương, Phạm Duy, Bìa và minh họa : Nguyễn Trung, NXB Thương Yêu 1971.
Từ 1971 tới 1975, sách ba
lần được tái bản.
Bài tiểu luận này khởi đầu
từ thơ Trần Dạ Từ trong tập ấy.
(3) Hòn
Đá Làm Ra Lửa (chú thích của tác giả, bản gốc): Trại
tù Gia Trung-Hàm Tân, Vietnam 1979 – 1988. Viết thành chữ lần đầu tại Thụy Điển,
tháng 11, 1988.
(4) Chú
thích củaTrần Dạ Từ cho “Tấm Lòng Phan Rang“. – Ở đầu bài: “Nơi đoàn xe
chở tù đi lưu đày phải ngừng đổ xăng, vào buổi trưa ngày 30 tháng 8 năm 1977” –
Ở cuối bài: “Ca khúc Trần Dạ Từ 1978. Thu thanh lần đầu: Nguyên Khang,
trong CD 2015, “Thương Linh: Bay”. Trình diễn lần đầu: Lê Uyên .
Segerstrom Center for the Arts. Costa Mesa, California, May 30, 2015”
(5) Ca
khúc “Gọi Tên Dòng Sông”
www.youtube.com/watch?v=BuzwgRX6sPs
Trình diễn lần đầu: Tuấn
Ngọc, Segerstrom Center for the Arts. Costa Mesa, California, May 30, 2015.
Trước 1975, tại Sai gon
Trần Dạ Từ từng nhiều năm chủ trương Tuần báo nghệ thuật “Truyền thanh và truyền
hình,” đồng thời là nhà sản xuất chương trình âm nhạc cho Đài phát thanh.
Qua những năm tù đày, những bài thơ ngắn khác được ông phổ nhạc
thành “bài hát thơ” theo nghĩa như cặp đôi từng được mô tả trong kinh Vệ
Đà “Anh là bài hát / Em là câu thơ“.
(6) “the
real history of literature is the history of love”, ghi theo trí nhớ của người
viết.
Tài liệu tham khảo:
* Cám ơn nhà thơ Trần Dạ
Từ đã cung cấp những văn bản chính xác, kèm các chú thích, mà người viết đã
dùng để trích đăng thơ và đưa vào chú thích trong tiểu luận này. NĐT.
* Đỗ Quý Toàn, Tìm
thơ trong tiếng nói, NXB Thanh Văn, 1992
* Caroline Forché,
Against Forgetting, NXB Norton, 1993
* Thi Vũ, Bốn
mươi năm thơ Việt Nam, 1945-1985, NXB Quê mẹ, Paris 1993
* Hanna Segal,
Psychoanalysis, Literature and War, NXB Routledge, London, 1997
* David Constantine, A
Living Language, NXB Bloodaxe, 2004.
16/4/2018
Nguyễn Đức Tùng
Nguồn: Vanvn.vn
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Tôi đã "Đạo" văn như thế nào
Tôi đã "Đạo" văn như thế nào Mấy hôm nay trên mạng diễn ra một cuộc tranh luận hiện đang còn bất phân thắng bại. Song điều đó kh...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...

