Thứ Ba, 10 tháng 3, 2026

Chấn thương và hành trình truy tìm căn tính Việt trong tiểu thuyết "Sóng ngầm" của Linda Lê

Chấn thương và hành trình truy tìm
căn tính Việt trong tiểu thuyết
"Sóng ngầm" của Linda Lê

Nhà văn Linda Lê vừa đột ngột qua đời sáng ngày 9.5.2022 tại Paris ở tuổi 59. Bà là cây bút người Pháp gốc Việt hàng đầu, tác giả nhiều tác phẩm nổi tiếng và rất có giá trị. Sự ra đi bất ngờ của bà đã gây chấn động văn đàn Pháp, Việt Nam lẫn nhiều nơi trên thế giới với niềm tiếc thương khôn nguôi. Tưởng nhớ nhà văn Linda Lê, Vanvn.vn xin trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu của PGS-TS Thái Phan Vàng Anh về tiểu thuyết Sóng ngầm của bà…
Tiểu thuyết Sóng ngầm đã khắc họa chân dung của những con người từ những vùng miền văn hóa khác nhau, đến xứ người và đều gặp gỡ nhau ở tâm thức lưu đày. Những con người lạc lõng, xa lạ ở mảnh đất Paris mà có lúc họ xem như một “miền đất hứa”.
Trong một dịp nói chuyện về tác phẩm của mình vào năm 2010 ở Việt Nam(tại Trung tâm văn hóa Pháp L’Espace – Hà Nội), Linda Lê đã chia sẻ nhiều về quan niệm viết văn, về cả chút ít đời tư đã ảnh hưởng đến chị trong sáng tác. Điều đáng chú ý là Linda Lê từ chối nói tiếng Việt, bởi theo nhà văn, hiểu biết hạn hẹp về tiếng Việt khiến chị “khó có thể vượt qua rào cản còn ngăn cách với quê hương”. Và mặc dù “không có ý định từ chối gốc gác”, Linda Lê cũng đã chân thành thú nhận: “Tôi tránh làm sứ giả của những người lưu đày, bởi lẽ tôi là một kẻ bội phản đã quên đi tiếng mẹ đẻ của mình và đã lấy tiếng Pháp để kể lại những nỗi gian truân của những nhân vật mơ hồ, hai mặt, luôn ở giữa dòng, bị xô đẩy chỗ này chỗ khác, quay về với quá khứ nhưng lại lo phải gạt bỏ những mối hiểm nguy của sự hoài niệm”[1]. Vì vậy, không chủ đích viết văn từ tiểu sử, hay ưu tiên tự thuật hơn hư cấu, song, như một ám ảnh, đề tài về tình phụ tử, sự lìa xa gia đình, quê hương, bi kịch bị chối bỏ, sự lạc lõng, chông chênh của thân phận lưu vong… lặp đi lặp lại trong nhiều tiểu thuyết của Linda Lê. Sóng ngầm được xem là tiểu thuyết thể hiện rõ nhất cái tôi đồng bệnh tương lân của nhà văn gốc Việt này với các nhân vật trong tác phẩm.
Dẫu tiểu thuyết là hư cấu, nhưng trong Sóng ngầm có sự đồng dạng giữa nhà văn và nhân vật của mình. 15 tuổi Linda Lê theo mẹ và các chị gái sang Pháp, mang theo hình ảnh là nỗi cô đơn của bố. Người bố đã ở lại Việt Nam và chết, trước khi kịp sang Pháp thăm con gái của mình. Với một cấu trúc khá đặc biệt, Sóng ngầm mở đầu và kết thúc bằng lời kể chuyện của Văn, một người đàn ông đã chết (bởi trong một khoảnh khắc ghen tuông, Lou, vợ anh, đã nhấn ga ô tô, đâm thẳng vào chồng). Tình huống truyện như một diễn ngôn trinh thám. Với diễn ngôn này, nhân vật bị buộc phải rời bỏ mạch truyện, lời kể sẽ được trao quyền cho người khác, cùng với một chuỗi sự kiện trinh thám kèm theo. Tuy vậy, Linda Lê không viết truyện trinh thám. Nhà văn đã lạ hóa lối trần thuật đa trị (4 người kể chuyện xưng tôi); trao quyền kể chuyện cho một người đã chết, từ ngôi xưng tôi, ở thời điểm hiện tại: “Tôi chưa từng là kẻ nói nhiều khi còn sống. Giờ đây, nằm trong hòm, tôi tha hồ độc thoại”. Lối trần thuật có phần đặc biệt này khiến mạch ngầm văn bản dung chứa nhiều vấn đề, không đơn thuần là diễn ngôn trinh thám. Cái chết, và motip người chết kể chuyện chỉ là cái cớ để tác giả (đứng ngoài nhân vật) và cả người đọc (theo dõi nhân vật) nhìn thấu số phận của Văn, một con người bị đẩy lìa và mãi mãi không tìm được quê hương, ngay cả khi đã nối lại với chút ít Phương Đông còn rơi rớt. Mặc cảm của Văn khi đã “bỏ quên” quê hương trong hành trình xác lập thân phận ít nhiều cũng chính là mặc cảm của kẻ “bội phản” ở Linda Lê. Những suy tư, trăn trở của Văn cũng chính là sự dùng dằng giữa việc chối bỏ và truy tìm căn tính Việt của chị trong các tác phẩm, mà rõ nhất là ở tiểu thuyết Sóng ngầm.
Từ trục chính là Văn, qua lời kể của bốn người kể chuyện xưng tôi (ràng buộc bởi các mối quan hệ cha con, chồng vợ, tình nhân…), tiểu thuyết Sóng ngầm đã khắc họa chân dung của những con người từ những vùng miền văn hóa khác nhau, đến xứ người và đều gặp gỡ nhau ở tâm thức lưu đày. Những con người lạc lõng, xa lạ ở mảnh đất Paris mà có lúc họ xem như một “miền đất hứa”. Văn bị tách lìa khỏi Việt Nam từ lúc 15 tuổi và vĩnh viễn bỏ lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Đặc biệt là những người phụ nữ. Ulma dẫu mang hai dòng máu Pháp – Việt, nhưng không lúc nào thôi day dứt vì mặc cảm là đứa con hoang. Lou, vợ của Văn, người Pháp cũng không tránh khỏi tâm trạng tha hương ngay trên chính quê hương của mình. Nhân vật của Linda Lê tuy khác biệt về thế hệ, địa vị, cội nguồn, văn hóa… song đều bất hạnh và đáng thương trong hành trình tìm kiếm, xác lập chỗ đứng giữa một xã hội Paris hiện đại vừa hào nhoáng, vừa tù đọng, vừa cởi mở lại vừa đầy định kiến.
Chấn thương và bi kịch bị/tự chối bỏ
Trong văn học, chấn thương, đặc biệt là chấn thương tinh thầnthường được miêu tả như là những ẩn dụ về thân phận con người, những hữu thể bé mọn, vô danh trước những thăng trầm biến động của cuộc sống, bởi “chỉ những nỗi đau tinh thần mới sinh ra tuyệt vọng” [3, tr.47]. Không thuộc vào dòng văn học chấn thương, song bằng cách nhìn sâu vào những bi kịch vong thân của kiểu con loay hoay xác lập, truy tìm căn tính, Linda Lê đem lại một cách nhìn mới về những thân phận nhập cư, những con người đang đánh mất dần tiếng mẹ đẻ để trở thành những công dân toàn cầu, không bị trói buộc bởi các đường ranh giữa quốc gia, dân tộc. Bi kịch của họ không là ở chỗ “nơi sống” mà chính là tình thế bị lưu đày trong tâm thức.
Trong tiểu thuyết Sóng ngầm, với bốn nhân vật chính (Văn, Lou – vợ, Laure – con gái và Ulma – người tình của Văn), chỉ tập trung vào chuyện của hai gia đình (gia đình Văn và gia đình Ulma), Linda Le đã khái quát về thời cuộc, về số phận của nhiều thế hệ bị đẩy lìa/không thể bám rễ vào quê hương với những sang chấn tinh thần đồng dạng.  Ba trong bốn nhân vật chính của tiểu thuyết Sóng ngầm mỗi người mỗi số phận nhưng gặp gỡ nhau ở những bi kịch gia đình.
Chấn thương vì bị chối bỏ được thể hiện đậm nét ở nhân vật trung tâm. Văn, 15 tuổi đã rời Việt Nam, đến Pháp. Văn bị bố bỏ rơi ngay khi chưa đầy năm. Sợi dây nối anh với quê hương chỉ duy nhất là mẹ, song mẹ anh cũng mất trước khi kịp đến Pháp đoàn tụ cùng anh như dự định.Chăm sóc Văn hàng ngày là một bà vú người H’mong luôn bị kì thị, bị coi như giun dế bởi dân H’mong vốn được người Pháp rồi người Mỹ tuyển làm thám báo. Sự tréo ngoe trong thái độ và hoàn cảnh chính trị của gia đình Văn phần nào lí giải tính nước đôi trong quan niệm và cái nhìn về cố quốc của Văn. Chấn thương tinh thần của Văn cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh mang tính lưỡng lự của gia đình. Để vượt qua nỗi đau bị bố bỏ rơi, cậu bé Văn luôn xin mẹ thả cách cổng trường vài phố để khỏi bị bạn nhìn thấy chỉ có mẹ chở cậu bằng chiếc xa đạp cà tàng. Cậu cũng bịa về bố, lúc thì là giám đốc, lúc lại là phi công hay giáo sư – để tự xoa dịu nỗi đau của một cậu bé mười tuổi không muốn thừa nhận đã bị bốruồng bỏ. Phản ứng “chống trả” này thể hiện rõ qua lời tự thú “tôi gần như nhẹ người khi hay tin ba chết” của Văn. Bởi từ đây, cậu không còn phải tự che giấu việc bị quên lãng. Cậu còn có thể dùng hình ảnh, thân thế “con côi” để sắm vai âu sầu, xoa dịu các tổn thương. Tuy vậy, trong mắt Lou, Văn đã bị tổn thương nặng nề và anh “chưa bao giờ vượt qua được sang chấn tâm lý ấy”.
Ulma, cô em gái cùng cha khác mẹ, giống Văn, cũng không được bố thừa nhận và hầu như vắng bóng tình thương, sự hiện diện của mẹ trong những năm tháng tuổi thơ. Không có được bố dù chỉ một ngày, Ulam chỉ là đứa con hoang, đứa con lai Âu –Á, không biết gì về người cha Việt và “tị cả đến những đứa bố mẹ bỏ nhau: bố chúng nó lấy vợ nữa thật, nhưng dù gì cũng có mặt”. Mẹ Ulmalại sớm giao cô cho ngoại, dè xẻn thời gian và tình yêu cho đứa con gái chẳng đem lại gì khác ngoài sự cản trở cuộc sống tự do và những toan tính tình ái của bà. Bất hạnh này khiến cô bé Ulma luôn là đứa trẻ “khép mình, co rụt lại trước mọi cọ xát thân tình”, “sợ bị bỏ rơi, sợ bị xua đuổi, song lại chẳng có động tĩnh gì đặng làm mình dễ mến”. Cô tự giải tỏa những sang chấn tinh thần của mình bằng cách“dối trá tâm sự với nhật kí là không còn đau lòng vì xa mẹ”, “tập cho mình không hi vọng quá vào bà mẹ thoắt ẩn thoắt hiện”. Lâu dần, sự quen quá hóa chai, “những vết bầm trong tâm can lặn cùng thời gian”, Ulma co rụt lại trước mọi sự cởi mở, tuy không mất lí trí song mang những di chứng nặng nề của chấn thương tâm lý. Ulma cứ thế bước vào tuổi 30, ý thức rõ “tâm hồn mình vẫn là tấm gương phản chiếu hình ảnh một nhân vật đa diện”. Chọn hình thức tự thú(thú nhận với bác sĩ những góc khuất đời mình bằng cách viết ra, dù chẳng gởi đi) là cách để Ulma vượt qua những rối loại tâm thần và cả việc lệ thuộc vào bác sĩ.
Chấn thương vì tự chối bỏ rõ hơn ở nhân vật Lou, vợ Văn, bố mất, được cha dượng yêu thương, tưởng may mắn hơn khi được sống cùng mẹ và các anh trai. Nhưng bi kịch lại là ở chỗ Lou luôn mâu thuẫn với mẹ và rốt cuộc cũng bị mẹ chối bỏ. Lou còn bị “mất” chồng trong mối quan hệ tay ba giữa cô, Văn và Ulma… Lí trí hơn so với Văn và Ulma, Lou hiểu rất rõ về bản thân ngay cả khi rơi vào những bất hạnh xuất phát từ những mâu thuẫn gia đình. Ngay từ bé, khi bị các anh trai trêu chọc, tấn công vào giới tính, cô đã phản ứng dữ dội, bất chấp việc sẽ làm mẹ càng ngày càng định kiến và xa rời cô. Cô coi thường các anh, “rặt một lũ trọng nam khinh nữ, vênh vang về thuộc tính đàn ông của chúng”; nhưng cũng đủ tỉnh táo để “không già néo, không thiết lập chế độ mẫu quyền” trong hôn nhân, trong đời sống gia đình riêng. Lou tự xoa dịu nỗi đau bị mẹ ghét bỏ bằng cách không cho con gái gặp bà ngoại, bảo đó là một quạu già; thề rằng có chết cũng sẽ không thèm đến lễ mai tang mẹ, sung sướng cắt đứt mọi quan hệ với bà mẹ ác tâm, thành kiến, “hoang tưởng về ưu thế của người phương Tây”… Từ một đứa bé “mình mảnh khảnh, nhưng đơn độc hơn vi khuẩn, hăng như gà chọi”, cô gái tỉnh lẻ Bretagne đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, rồi một bà hiệu trưởng được nể trọng ở Paris, tưởng đã làm chủ cuộc đời mình cho đến khi vì ghen tuông mà rơi vào bi kịch giết chồng.
Không dễ nhận thấy và mau liền sẹo như chấn thương thể xác, chấn thương tinh thần theo suốt cuộc đời, có thể công phá dữ dội trước khi con người kịp nhận ra. Trong tiểu thuyết Sóng ngầm, thiếu hụt tình cảm gia đình, thèm khát máu mủ đã khiến Văn và Ulma (em gái cùng cha khác mẹ) rơi vào mối tình loạn luân không thể kiểm soát. Hi vọng về một tình yêu, một cuộc hôn nhân ổn định, một gia đình thuận hòa khiến Lou hóa điên khi bị bội phản. Những bất thường trong hành động, tâm lý từ những sang chấn tinh thần ấy còn là nguồn cơn của những bất hạnh sâu xa, những nỗi cô đơn, những khát vọng bản thể. Đây cũng là một chấn thương tinh thần mà đôi khi nhân vật không/không muốn thấy hay thừa nhận.Chấn thương của họ, là chấn thương kép: vừa bị bỏ rơi/từ chối (bố/mẹ – nguồn cội) vừa bị lấy mất chỗ dựa thân thiết/ruột rà (mẹ/chồng – sợi dây gắn kết với quê hương, với cuộc đời). Việc mất điểm tựa từ gia đình cũng là tiền đề cho một chuỗi những chấn thương, bi kịch khác.
Mặc cảm thân phận và bi kịch “không có” quê hương
Tự ti về hoàn cảnh gia đình, mặc cảm về thân phận khiến các nhân vật trong tiểu thuyết Sóng ngầm phản ứng với cuộc đời theo những cách riêng. Lou chọn nghề dạy học để truyền đạt những tư tưởng độ lượng, đi ngược các luận thuyết định kiến của mẹ. Ulma tìm đến sách vở và chút ràng buộc máu mủ trong mối quan hệ loạn luân. Văn xoay trở để tự tin bên cạnh người bản xứ, lựa chọn các giá trị phi quốc gia và nhờ Ulma, qua Ulma, nối lại với phần cội nguồn từng bị lãng quên. Bi kịch từ gia đình của các nhân vật không tách rời với bi kịch đánh mất/không có quê hương. Nhìn sang cuộc đời tác giả có thể thấy bi kịch “không có” quê hương của chính Linda Lê được cài cắm vào cặp đôi Văn và Ulma, vừa tương đồng vừa đối lập, làm nên một sự bổ sung hoàn hảo cho kiểu con người lưu đày, vừa chối bỏ/đánh mất vừa truy tìm thân phận.
Lớn lên trong hoàn cảnh bị bỏ rơi, bị xóm giềng dòm ngó nghi kị, Văn bị đẩy dần về phía văn hóa Pháp dù bố anh vốn là người cổ xúy tiếng Việt, văn Việt. Văn nói tiếng Pháp cùng với mẹ, sành sỏi tập tục, văn học Pháp trong khi ù cạc ca dao, truyền thuyết Việt hay các trang sử về bán đảo Đông Dương. Mẹ Văn, bằng tất cả sức lực, vốn liếng và các mối quan hệ công việc đã tìm đường cho Văn thoát khỏi Việt Nam, sau khi Sài Gòn thất thủ và bố Văn đã chết, không kịp đợi đến ngày đất nước thống nhất.Rời bỏ quê hương với nhiều ảo vọng, trong đó có cả ảo vọng sẽ vượt lên trước dân Pháp gốc khu La tinh- ham muốn tự khẳng định của Văn suy cho đến cùng chính là để che đi những mặc cảm về cội rễ trong những ngày tháng lưu vong. Văn xóa bỏ hiện tại bằng cách chìm vào các dự liệu, quên đi người mẹ khốn khó không nơi nương tựa ở quê nhà là sợi dây duy nhất khiến anh còn vọng về quê cha đất tổ.
Tự ti hay gồng mình kiêu hãnh, về bản chất đều xuất phát từ sự không tự tin, từ việc che giấu mặc cảm hay những thương tổn tinh thần. Giống mẹ, Văn không tự cô lập, nhưng khá cô độc. Văn thuộc ‘thế hệ không còn nhìn thấy bóng dáng kẻ cướp đoạt ở người Pháp, kẻ xâm lược ở người Mỹ” và được mẹ, bằng tất cả sự tận tụy, gieo vào lòng anh tình yêu với văn hóa Pháp. Đến Pháp vào năm 15 tuổi, ngoại trừ nỗi mất mát vì sự chia tay, Văn rất hào hứng với Paris. Ngay cả khi rời bỏ gia đình người giám hộ lúc 17 tuổi, thiếu thốn đủ bề, tình yêu của Văn với văn hóa, văn học Pháp vẫn không suy suyển. Có thể nói, nhờ mẹ, Văn hấp thu được nhiều tinh hoa văn hóa phương Tây, để sau này, anh tự nhận mình “là một gã cua gàn, nhưng đầu óc cởi mở”, hay “lạc thời, song không hoài cổ”. Văn thoải mái khi sống ở xứ người. Anh hòa nhập tốt đến mức “chỉ còn chất Á ở dung mạo và chất Việt ở danh xưng” và hẳn nhiên “không thuộc số người lưu vong mỏi mòn vì xa tổ quốc”. Văn xem mình là “gã công dân toàn cầu không mắc lỗi thiếu tò mò, gã người Việt chẳng nhớ rõ truyền thuyết nước mình”. Văn chỉ có vài tấm hình cũ của bố và đã bao năm để quên trong ngăn kéo. Rời khỏi Việt Nam, Văn đã không còn nhớ về bố và bố anh chỉ còn là một bóng ma nhợt nhạt.Văn không quá sầu não vì đã ra đi, dù hằng đêm vẫn nhớ đến Việt Nam.Vàcùng với các phản ứng tự khẳng định và quên đi những nỗi đau, cội nguồn quê hương với Văn ngày càng xa cách. Văn tự xốc lại mình khi nghĩ về mẹ, không tự “dựng túng quẫn của mình thành núi non”; hài lòng khi “sống trên một xứ sở tự do, đi thư viện, được tùy nghi sử dụng mọi kho tàng văn chương thế giới. Với Văn, nhìn tổng thể, nước Pháp phần nào dành thịnh tình cho anh – khiến anh từng mỗi lúc mỗi thoải mái hơn trong hình thức “da vàng, mặt nạ trắng”. Văn không tự ti, bởi anh tự ý thức mình là “cư dân cựu Đông Dương đến Paris không có hành trang nào khác ngoài lòng ham hiểu biết bất thỏa”.
Từ trong vô thức và cơ chế tự xoa dịu mặc cảm thân phận, bằng cách “không còn nghĩ đến ba hay quê nhà”, Văn đã đồng thời chối bỏ cả quê hương, nguồn cội và gốc gác Á Đông. Anh sống ở khu phố nhan nhản người châu Á, nhưng chỉ thân thiết với một người bạn Bắc phi và một người gốc Do Thái, kiểu công dân toàn cầu, chứ thờ ơ với đồng bào, với những người cùng sắc tộc. Văn “không day nhấn vào thân phận nhập cư của mình, mà gạch chéo trang lai lịch bản thân”. Không lãng quên, không hẳn chối bỏ… Văn đơn giản chỉ không muốn mang theo kí ức vào những tháng ngày hiện tại, không muốn cố quốc làm gợi nhắc đến thân phận nhập cư. Bi kịch mất quê hương dù không quá dày vò anh, song, vẫn luôn hiện hữu dù Văn có tìm cách không nhắc đến. Kể từ khi mẹ mất, ở Việt Nam chẳng còn tương lai đối với Văn. Văn đã tự “kéo màn khép lại tuổi thơ tại Việt Nam” cho đến khi nhận được thư của Ulma, biết mình có một người em cùng nguồn cội, bản thể khác của chính mình.Bằng khao khát tìm hiểu thân phận, Ulma đã giúp Văn biết thêm một phần đời khác của bố họ. Và bằng tất cả những mất mát về gia đình, Ulma cũng đã giúp Văn nhìn thấu bi kịch bị chối bỏ, dẫu anh cố tình quên lãng, như một cơ chế tự vệ, xoa dịu chấn thương. Thái độ và hành động quyết liệt tìm kiếm quê hương, nguồn cội của Ulma đã làm sống dậy trong Văn cả một tuổi thơ cùng cố quốc vốnchỉ tạm đóng băng trong tiềm thức. Có thể xem Ulma là phần sáng của những góc tối trong Văn, buộc anh đối diện với bi kịch để mất, hóa ra cũng đau đớn như việc không có quê hương của cô, trước khi họ tìm thấy nhau để lấp đầy những khuyết thiếu.
Căn tính Việt và hành trình xác lập/ kiếm tìm
Căn tính là một khái niệm đa diện và khó định nghĩa. Cùng với sự vận động của lịch sử, xã hội, căn tính của một dân tộc, một quốc gia cũng không hoàn toàn bất biến. Theo Đỗ Lai Thúy: “Căn tính/căn cước/bản sắc ( identité/identity) của một tộc người nhằm chỉ một đặc tính hình thành từ thuở xa xưa và chi phối sự phát triển của tộc người ấy một cách lâu dài trong lịch sử”[4]. Song, căn tính ấy có gốc rễ từ đâu, chịu sự chi phối bởi những yếu tố gì, và biến đổi ra sao trong những điều kiện địa – văn hóa khác nhau cũng là một câu hỏi không dễ có đáp án thống nhất.
Căn tính Việt được hiểu như là những đặc tính riêng giúp phân biệt cộng đồng Việt với các cộng đồng khác. Căn tính Việt liên quan đến phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng Việt… và góp phần làm nên tính cách Việt, bao gồm cả tốt lẫn xấu, bởi căn tính vốn có tính nhị nguyên, “là nội lực nhưng cũng là cản trở, nhất là khi những người mang căn tính đó lâm vào tình thế buộc phải thay đổi” [4].
Căn tính thường được nhìn rõ hơn với cái nhìn từ bên ngoài, với một độ lùi về không gian, thời gian nhất định. Vì vậy, so với cộng đồng bản xứ, những người Việt tha hương thường có ý thức tự nhận diện, truy tìm căn tính nhiều hơn. Sự đụng độ giữa cái khác của môi trưởng với căn tính gốc, do sự tự gìn giữ hay do vô thức tập thể chi phối, khiến tính cách Việt lộ diện, ngay cả khi chủ thể có chối bỏ hay chưa kịp nhận thấy. Sự chơi vơi giữa hai thế giới khiến họ, những người nhập cư, những đứa con lai, không khỏi có lúc cảm thấy lạc lõng, trống thiếu. Đó chính là cội nguồn của bi kịch dánh mất/không có quê hương.
Hấp lực Việt từ cái nhìn bên ngoài xứ sở
Đề cập bi kịch con người xa xứ, Sóng ngầm gần với một chủ đề quen thuộc của văn học hải ngoại là cảm thức lưu vong với lối kể chuyện mới lạ. Nhưng khác với các nhà văn Việt ở hải ngoại, Linda Lê không quá nhấn mạnh đến cảm thức lưu vong. Nhân vật của chị không loay hoay đi tìm căn cước, sống cuộc đời vô nghĩa ở xứ người chỉ vì lãng quên nguồn cội (như AnMi trong Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng); cũng không đau đáu hướng về quê nhà dù đã chủ động rời bỏ (như Quyên trong tiểu thuyết cùng tên của Nguyễn Văn Thọ). Nhân vật của Linda Lê không mang mặc cảm lưu vong. Họ ý thức rõ về tình trạng “lơ lửng” của bản thân, không quá dằn vặt, đau đớn, dù trong thẳm sâu không thể từ bỏ, cũng như không thôi truy tìm căn tính Việt. Bi kịch của họ là bi kịch của “kẻ khác”, đối với cả quê hương lẫn nơi đang sinh sống.
Văn, tự nhận là gã nhà quê, cưới Lou, một nàng Bretagne thuần chủng, trắng bọc và “có chung một con bé nước da trắng nõn nà, mũi Hi Lạp, nhưng tóc lại đen như than còn mắt thì xếch”. Dù nhờ lấy Lou, Văn “không bị rơi vào cái bẫy co cụm cộng đồng, tiền định dành cho những kẻ vô xứ, khi họ phải chịu cảnh biệt lập”, song gốc gác lưu vong, bất chấp ý muốn của Văn đã hiển lộ rất rõ ở thế hệ F2, cô con gái Laure. Với mẹ của Lou, Văn là “khỉ của thế giới thứ ba”. Bà phản đối đám cưới, không xuất hiện ở bệnh viện phụ sản khi Lou sinh con, truất quyền thừa kế của cô chỉ bởi không chấp nhận “có cái giống lai trong số con cháu của bà”. Văn, “da vàng, mặt nạ trắng”, cho dẫu không còn liên hệ gì với quê hương, vẫn không thể chối bỏ căn tính Việt, trước tiên là ở dấu hiệu hình thức.
Mặc dù từ chối nhớ đến cội rễ Á Đông, song Văn ý thức rất rõ sức hấp dẫn ít nhiều mang căn tính Việt của mình. Văn biết việc Lou ngả vào mình, thay vì những người đàn ông Pháp bản xứ lịch lãm chỉ bởi anh là một kẻ từ nơi khác đến. Anh thuộc về xứ sở của Phật giáo Thiền tông, của những quang cảnh tiêu điều vì chiến tranh; của nhà giải phóng Đông Dương Hồ Chí Minh, thắng cả kháng chiến chống Pháp… trong những hiểu biết lớt phớt và lơ mơ của Lou về Việt Nam, về châu Á. Lí giải sự hấp dẫn đến từ cái khác/kẻ khác, Laure cho rằng Lou chọn Văn “có thể vì ổng từng là kẻ lưu vong và hồi hai mươi tuổi bả làm từ thiện cho tổ chức Amnesty International”. Lou quan tâm đến vấn đề giải phóng thực dân, đến chiến dịch Điện Biên Phủ và biết rõ người Pháp đã thất bại trước người Việt như thế nào. Trong một chừng mực nhất định, chọn Văn còn là một hình thức chuộc tội của Lou, (dù theo Laure, chẳng biết là tội gì, phải chăng là ác nghiệt của tổ tiên, của đám thực dân?).
Dường như, có sự lặp lại mang tính di truyền thế hệ về hấp lực Việt của Văn đối với cả Lou và Ulma. Trước Văn, bố anh đã khiến mẹ Ulma mê mệt, dẫu họ chỉ có một tuần cho cả gặp gỡ và yêu đương ở Pháp. Mẹ Ulma, vào cái lứa tuổi mười chín nông nổi của thời con gái đã dành trọn tình yêu đầu đời cho bố Văn, một người đàn ông Việt Nam đã có vợ, trong một lần ông theo phái đoàn đến Pháp công cán. Bên ông “trong một cuộc tập hợp sinh viên Cộng sản, trong một buổi hòa nhạc ủng hộ nhân dân Việt Nam”, hay trong khi ông “cùng thành viên một hiệp hội phản chiến, thu thập chữ kí cho bản kiến nghị chống mỹ xâm lược”, bà đã bị hấp dẫn bởi “cái hoài bão lớn phải hoàn thành, sự dấn thân hết mình cho cuộc đấu tranh giải phóng đất nước”. Vẻ đẹp của một chiến sĩ, một người lính “cụ Hồ” không chỉ khiến bà say mê mà còn tình nguyện đứng bên lề cuộc đời ông, không cản trở ông theo “kiểu tình nương than vãn”. Dù chỉ có đúng một tuần bên nhau, mẹ Ulma vẫn suốt đời tôn sùng cha cô, cũng là cha của Văn. Và dù căm hận đàn ông bậc nào mẹ cô cũng không gộp ông ấy vào lũ đã thả bà “rơi cầu tõm một cách khốn nạn”. Về bản chất, cha Ulma không khác mấy lũ đàn ông bỏ rơi bà khi cuối cùng đã cắt đứt liên lạc, chối từ Ulma, kết quả của một mối tình chớp nhoáng ngoài giá thú. Song, nhờ là biểu tượng của “cuộc đấu tranh của một dân tộc nhỏ bé anh hùng chống lại bá quyền của một quốc gia lớn vũ trang hùng hậu”, hình ảnh người bố của cả Văn lẫn Ulma không bị tầm thường hóa. Đây chính là ưu thế của cái khác, của căn tính Việt, từ cái nhìn bên ngoài xứ sở. Sự kiêu hãnh ngấm ngầm về sự khác biệt cũng chính là điểm tựa để Văn không trăn trở nhiều về thân phận lưu vong, xoa dịu bớt bi kịch bị ruồng bỏ, bi kịch không có/không còn tổ quốc của một kẻ nhập cư ở xứ người.
Căn tính Việt – từ chối bỏ đến xác lập, truy tìm
“Ý thức được rằng mình là một người lai, trung gian giữa người lưu đày bị gò ép theo một nền giáo dục ưu tiên cho những sản phẩm đến từ nơi khác, người tị nạn từ chối khu biệt cư và người phụ nữ phương Đông mất phương hướng, bị chia rẽ giữa khát khao giải phóng mình khỏi tất cả những rào cản và ước muốn được giữ gìn những mối quan hệ tình cảm với nơi mình sinh ra”, Linda Lê chọn viết để “khôi phục lại những nỗi đau và những nỗi ngất ngây từng cảm nhận, khi tôi di trú từ một không gian tưởng tượng đến một không gian khác” [1]. Điều này khiến Linda Lê dễ dàng nhập thân vào nhân vật để chiêm nghiệm về thân phận lưu đày của những người tha hương, hay những người bơ vơ giữa một chốn hai quê. Sự thú vị của người đọc khi tiếp nhận tác phẩm nhờ đó được nhân đôi: vừa khám phá nhân vật từ sự miêu tả có nghề, có kinh nghiệm của nhà văn; vừa tìm thấy nhà văn từ nhân vật.
Xoáy vào thân phận người xa xứ, tiểu thuyết Sóng ngầm là những dòng chảy tâm trạng chênh chao, lưỡng lự của những nhân vật bị/tự lưu đày trong những không gian chưa bao giờ thuộc về họ. Lou đến Paris lập nghiệp và cảm thấy xa lạ với gia đình, với quê hươngBretagne của mình. Laure yêu cả bố lẫn mẹ, song vẫn không thôi dằn vặt bởi vừa khác, vừa chịu ảnh hưởng từ họ, mắc kẹt giữa những ẩm ương nửa người lớn nửa trẻ con. Tuy vậy, tự vấn về bản thể, về gốc rễ, quê hương, qua đó thể hiện phần nào hình bóng của chính Linda Lê trong tiểu thuyết Sóng ngầm, chỉ có thể cặp đôi nhân vật Văn – Ulma, với dòng máu và căn tính Việt lúc chìm xuống, lúc trào dâng trong họ.
Mặc dù Lou không ngừng nhắc Văn “chớ bứt khỏi cội rễ, phải rũ bỏ lòng ngờ vực đồng hương và những người gốc Viễn Đông”, song Văn vẫn thích hơn những kẻ mất gốc như Rachid “chưa từng về Oran, một chữ Ả rập bẻ đôi không biết, nhưng vận dụng tiếng Pháp không có kì phùng địch thủ” hay những kẻ di cư vĩnh viễn, giống Hugues. Văn luôn cảm thấy mình “chẳng phải Việt cũng chẳng phải Pháp, mà luôn trong tình trạng lập lờ” và thường nổi xung khi được hỏi về gốc gác. Văn không còn nói tiếng mẹ đẻ từ 30 năm nay, tự xem mình là “kẻ mất gốc, được di cư đến mảnh đất Pháp, chẳng phải nạc cũng chẳng phải mỡ”. Văn tự nhận“Tôi không phải gã nhập cư chỉ nhón tạm một chân ở Pháp và đang đau đáu đi tìm căn tính. Tôi băn khoăn về mình như về một cá nhân lạc lõng, chứ không như kẻ tha hương khắc khoải trông niềm vui tìm lại thiên đường đã mất, Việt Nam”. Theo đánh giá của cô con gái Laure, “có một chút chất Việt còn sót lại trong cái chất Âu của ổng đấy, nhưng nó nhỏ đến mức có xu hướng bị hòa tan”. Tâm thế lưỡng lự, giữa bên này và bên kia là nguyên nhân của những mâu thuẫn ở Văn như Laure từng băn khoăn không hiểu được bố: “Ta chết liền nếu biết vì sao cha mình, đã trốn khỏi một nước cộng sản, lại ủng hộ cách mạng tháng Mười”. Lou cũng hồ nghi về quan điểm chính trị, về cố quốc của Văn. Dường như, “Văn theo dõi những sự kiện trên báo và tạp chí như thể số phận ổng phụ thuộc vào đó”. Văn hi vọng điều gì đó ở Việt Nam.Từ vô thức, tiếng gọi của cố quốc, đặc trưng đi đâu cũng hướng về quê hương của người Việt(điểm nổi bật của căn tính Việt so với các dân tốc khác) vẫn ít nhiều lộ diện. Phản ứng tự chối bỏ, trong trường hợp này trở thành mặt khác của việc tự xác định, khẳng định cội rễ Việt, căn tính Việt của Văn.
Cũng rơi vào tình thế lưỡng lự giống Văn, Ulma ở giữa Âu và Á, không hẳn thuộc về nơi này, bởi hướng về nơi kia, cũng không hẳn thuộc về nơi kia bởi sinh sống ở nơi này, chông chênh giữa Việt Nam và Pháp. Ulma tự giễu cợt gốc gác khi cho rằng mình hoàn toàn không phải “đứa con của tình yêu”, “bất quá thì là kết quả một cuộc tằng tịu”.Song, điều đó không ngăn cô muốn biết về Việt Nam, về bố và tất cả những gì liên quan đến nguồn cội, nhất là khi cô vẫn luôn cô đơn, lạc lõng trên nước Pháp “đất mẹ”. Với “một chút máu Việt, một chút máu Thổ bên đằng cụ cố ngoại, một chút máu Basque của bà ngoại”, Ulma là “cái ngoại lai hẳn hoi”. Và “vốn tán thành sự pha trộn các dân tộc”, Văn lập tức bị Ulma thu hút, trước khi kịp nhận ra phần Việt Nam trong Ulma mới là thứ khiến anh tìm thấy chính mình và tìm lại được tổ quốc. Ulma là phần bổ sung để Văn nhìn sâu vào nội tâm và xác lập bản thể.
Nếu Văn chưa bao giờ thực sự nhớ quê, chưa bao giờ vượt biển tìm về quê cha đất tổ”, bị/tự đồng hóa và an cư ở Pháp thì Ulma lại có ý thức tìm hiểu về bố, và về Việt Nam. Dù giữa Ulma và bố chỉ có một sợ dây níu rất mơ hồ, song dòng máu Việt trong cô vẫn thôi thúc cô truy tìm căn cước.Cô đến Sài Gòn, tìm về đồng bằng sông Cửu Long dù không biết để làm gì, tìm gì. Cô viết thư cho người anh trai cùng cha khác mẹ, tìm sợi dây nối hiếm hoi của mình với nguồn cội, dù đã đắn đo, chần chờ mất 20 năm. Và nhờ Ulma, “Việt Nam đã trở lại hùng hậu”, “thứ đã bị đẩy vào hậu cảnh nổi lên” ở trong Văn. Ulma đã làm sống dậy trong Văn những hồi tưởng về thành phố tuổi thơ khiến anh sẵn lòng “lưu vong lần nữa” nếu được sống và đi cùng cô đến bất kì đâu. Rõ ràng, ở Văn không có những đau đáu cội rễ nếu không nói là anh có xu hướng chối bỏ. Tuy vậy, trong thẳm sâu tâm hồn, việc hòa nhập nhưng không thể bắt rễ với xứ người, khiến Văn dễ dàng bị lôi kéo bởi Ulma, người em cùng nguồn cội. Và rồi người em “bản sao có quyền uy thần diệu”, người cũng mang dòng máu Việt Nam, đã khiến Văn tìm thấy chính mình, tìm thấy quê hương.
Như vậy, từ chỗ chối bỏ, nhờ Ulma, Văn đã xác lập được căn cước, tìm lại được quê hương. Bởi, cùng với sự đánh mất ngôn ngữ, quê nhà cũng bị mất đánh trong Văn. Song sự thành đạt trong công việc gắn liền với ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ vẫn không thể nào khiến Văn thôi khát thèm được sống lại trong âm thanh thân thuộc, sinh động của tiếng Việt.Văn bộc bạch: “Tôi thấy ngọt ngào làm sao khi thốt “Yêu em” với Ulma bằng thứ tiếng ba mươi năm nay tôi không còn nói nữa”; “Yêu em, với kẻ luôn cảm thấy đang bị lưu đày như tôi, là tìm được cho mình một tổ quốc, không còn là kẻ ngoại cuộc chẳng đồng điệu với ai”. Văn và Ulma giống nhau khi “nói cùng ngôn ngữ, cùng không chắc mình có thuộc cộng đồng nào không, cùng quan tâm đến những thứ ra khỏi cái thông thường, đến những người sáng tạo bên lề…”. Nhờ Văn, Ulma cũng đã tìm được sợi dây gắn kết với nguồn cội, gốc gác. Sự tương đồng giữa Văn và Ulma không chỉ là chuyện cùng cha khác mẹ mà còn là bởi từ trong sâu thẳm họ là kẻ ngoại cuộc, không biết xứ nào là quê hương. Đó cũng là lí do Văn đồng cảm, yêu mê muội Ulma, xem cô như một một mặt khác của chính mình, và Ulma, đã bất chấp tội lỗi loạn luân và mặc cảm của kẻ thứ ba. Vị thế lập lờ, “luôn chìa ra chơi vơi, mãi băn khoăn về chỗ của mình giữa người đời” là cội nguồn cho những loay hoay truy tìm căn tính của họ.
Kể chuyện chỉ từ điểm nhìn của các nhân vật đã giúp Linda Lê có thể “ẩn mình”, và vờ như “đứng ngoài” những vấn đề lớn của con người, của nhân loại trước những va đập văn hóa. Không có chân lí cuối cùng trong những đối thoại của các chủ thể tham gia giao tiếp. Không có thông điệp cuối cùng của nhà văn về chính trị, lịch sử, văn hóa… ở các câu chuyện văn chương. Không hề có phán xét nào của nhà văn với các thân phận cụ thể, kể cả với Văn, người cho đến khi đã được đóng hòm vẫn “không có tâm nguyện được chôn cất nơi nào ở Việt Nam”. Bởi, bằng sự tương đồng về thân phận lạc lõng ở một nơi không phải là quê hương, Linda Lê đủ sức thấu hiểu nỗi đau của những con người dù luôn sẵn sàng bị vu khống, bị phủ nhận ngay cả khi đã ở dưới mồ, song vẫn không giấu được nỗi lo lắng sẽ phải “lang thang dưới địa ngục như kẻ bị đọa đày mãi mãi lạc lối giữa Đông và Tây”. Đặt trong bối cảnh văn chương không biên giới thời toàn cầu hóa, Sóng ngầm tiêu biểu cho kiểu tiểu thuyết không chỉ thuộc về một quốc gia với tính đa văn hóa và liên văn hóa nổi bật. Sóng ngầm trước hết là những độc thoại và đối thoại triền miên giữa các nhân vật bởi những bất đồng về quan niệm, sở thích, bởi những xung đột thế hệ và bởi cả những đồng điệu trong tâm hồn, thể xác. Song quan trọng hơn, Sóng ngầm chính là những xung đột, đối thoại về văn hóa, lịch sử, về quá khứ – hiện tại, về dân tộc – quốc gia qua những thân phận lưu đày/ bị mất quê hương… Giữa những đối thoại ấy, căn tính Việt được hiện rõ, dẫu nhân vật, tác giả có cố tình che dấu, bị hay tự chối bỏ trong hành trình vượt qua chấn thương, hướng đến các giá trị chung mang tầm nhân loại. Có thể nói, với Sóng ngầm, Linda Lê đã đạt được ước mơ “tạo nên một cái gì đó mang tính quốc tế trong văn học”, “tạo ra những tư tưởng liên kết các nhà văn và độc giả các nền văn hóa” [6]. Bởi là nhà văn Pháp, song viết như một người nước ngoài đến Pháp, chị và nhiều nhân vật của chị là người lưu vong. Song lưu vong mà tính Việt luôn hiện hữu; và Sóng ngầmlà một minh chứng.
Tài liệu tham khảo:
[1] Linda Le (2010), Linda Lê – Những người xa lạ kì lạ (Trần Văn Công dịch), https://lythuyetvanhoc.wordpress.com/.
[2] Phạm Văn Quang (2019), “Về kinh nghiệm hư vô như là những khả thể hiện hữu khác trong văn chương Linda Lê”, Nghiên cứu văn học, 8 (750), tr. 86-100.
[3] Jean – Jacques Rousseau (2008), Émile hay là về giáo dục (Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương dịch), Nxb Tri thức.
[4] Người đô thị (2016), Tọa đàm ‘Căn tính Việt’: Người Việt, người là ai?,https://nguoidothi.net.vn/.
[5] Hoàng Lương Xá (2009), “Lý thuyết du hành và Orientalism ở Đông Á”, Nghiên cứu văn học Việt Nam – những khả năng và thách thức (nhiều tác giả), Nxb Thế giới.
[6] Hà Văn(2010), Nhà văn Pháp gốc Việt Linda Lê: “Tôi không có ý định từ chối gốc gác”, https://suckhoedoisong.vn/.
[7] Jack A.Yeager (2019), “Những căn tính trong tác phẩm của Linda Lê” (Đặng Thị Thái Hà dịch), Nghiên cứu văn học, 8 (750), tr. 72-85.
10/5/2022
Thái Phan Vàng Anh
Theo https://vanvn.vn/

Ngòi bút nhà văn Nguyễn Công Hoan lực lưỡng, dũng khí, lạ lùng

Ngòi bút nhà văn Nguyễn Công Hoan
lực lưỡng, dũng khí, lạ lùng

Nhà văn Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903, mất ngày 6 tháng 6 năm 1977. Thọ 74 tuổi.
Khối lượng sáng tác của Nguyễn Công Hoan thật đồ sộ, từ 1920 – ấy là năm mà người viết lời bạt này mới chào đời, Nguyễn Công Hoan đã sáng tác liên tiếp hơn nửa thế kỷ, đến bây giờ thống kê chưa đầy đủ mà đã tới hơn 30 truyện dài, hơn 200 truyện ngắn và mấy chục bài nghiên cứu, phê bình văn học nghệ thuật.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan, khi thiếu thời đã từng ở lâu Hà Nội. Không kể sau này, khi Cách mạng tháng Tám thành công và từ 1954, nhà văn đã sống và làm việc ở thủ đô, từ sơ học đến trung học cậu bé và chàng thanh niên Nguyễn Công Hoan đều đi học, trọ học ở trung tâm thành phố, các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình ngày nay. Không phải ngẫu nhiên, các truyện ngắn, đề tài thành phố của nhà văn đều bắt nguồn từ đời sống Hà Nội ở thời kỳ ấy.
Một gia tài tác phẩm lớn lao của Nguyễn Công Hoan mà thời gian sống và ảnh hưởng của nhà văn phản ánh trong sáng tác đã trải dài cả thế kỷ, là những mốc, những chứng tích, những nguyên vật liệu mắt thấy tai nghe cho những lập luận, kết luận của cả một thời kỳ văn học.
Các tác phẩm Kiếp hồng nhan và tập Xã hội ba đào ký của Nguyễn Công Hoan được in vào đầu thập kỷ 20 – đến nay sắp sang những năm 90, thế mà ngạc nhiên xiết bao – bạn đọc có thể đọc một truyện ngắn trong Kiếp hồng nhan viết ở những năm tháng xa xôi ấy, với truyện ngắn Chiếc xe lam, một trong những sáng tác sau cùng, khi nhà văn vào Sài Gòn giải phóng năm 1975, không hề thấy khoảng cách thời gian ở truyện ngắn Chiếc xe lam với truyện ngắn Sóng vũ môn. Tại sao Nguyễn Công Hoan không lúc nào cũ, trong khi ngày nay bạn đọc khó lòng còn để mắt thêm một lần đọc các tác phẩm văn chương biền ngẫu hay văn chương tín điều, trung hiếu tiết nghĩa, thiện ác đơn giản của giai đoạn văn học quốc ngữ thời kỳ đầu.
Bí quyết ấy có thể cắt nghĩa dễ dàng. Được chắt lọc từ ý nghĩa tư tưởng đời sống xã hội, văn Nguyễn Công Hoan đã sáng tạo bằng tiếng nói hàng ngày của xung quanh. Ở Nguyễn Công Hoan, tả chân, tả thực kia và Nguyễn Công Hoan hiện thực sau này chỉ là rút kinh nghiệm sai đúng hay thiếu sót rồi bổ sung, phát triển tuyệt nhiên không phải trăn trở “lột xác”, “nhận đường”. Khi cách mạng chuyển giai đoạn, khi đất nước thoát vòng nô lệ, dân tộc được độc lập, tự do thì bút pháp nhà văn càng được tăng lực.
Một khi sáng tác đã là chứng tích, là chất liệu tấm gương phát triển văn học và khi một sáng tác vào cuộc sống đã gợi lên những tác động khác nhau thì bao giờ cũng đem lại những lập luận, những lý giải giúp ích cho nhận định của mỗi giai đoạn văn học. Ở nước ta, hiếm có những cây bút hơn được Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan trong đời văn đã trải những tranh luận quyết liệt. Riêng Nguyễn Công Hoan, một số tác phẩm, ở từng giai đoạn khác nhau đã là mấu cứ cho những tranh cãi gay go nhưng rất cần thiết cho phong trào và lực lượng văn học Việt Nam qua các thời kỳ.
Ít nhất cũng đếm được 4 cuộc quan trọng.
1. Bây giờ các nhà nghiên cứu thường nhắc đến thời kỳ Mặt trận Bình dân 1936 – 1939, cuộc tranh luận của phái văn học Vị nghệ thuật và phái văn học Vị dân sinh mà sau cùng lực lượng văn học Vị dân sinh do một số nhà lý luận phê bình tiến bộ chủ trương đã thắng lợi. Chất liệu để có được cuộc tranh luận mà chân lý nghệ thuật tiến bộ lần đầu tiên đã thắng lợi trên bình diện văn học nước ta, đó là tập truyện ngắn Kép Tư Bền, rồi đến tiểu thuyết Bước đường cùng của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
2. Cuối thời kỳ Bình dân, cuộc tranh luận về thuyết bảo thủ hay tự do trong luân lý gia đình đã thông qua tiểu thuyết Cô giáo Minh và Đoạn tuyệt của Nhất Linh. Người ta ít nhắc đến cuộc tranh luận này, sự việc đã xảy ra khi sắp có chiến tranh thế giới lần thứ hai, vấn đề bị nhạt hẳn tính chất xã hội. Số người tham gia không rộng khắp các báo ba kỳ, mà chỉ bài của tác giả Cô giáo Minh cùng một số người ủng hộ ở báo Tiểu thuyết thứ bẩy, báo Tin văn với một bên là hai cây bút Tự lực văn đoàn. Rồi cũng không ngã ngũ.
3. Tiểu thuyết Danh tiết và tiểu thuyết Thanh đạm (1942) hai truyện đều được in khi đã bắt đầu chiến tranh thế giới thứ hai, thực dân Pháp đặt lại cơ quan kiểm duyệt từng bài báo, từng trang sách. Bây giờ có một bài đọc sách ngắn khoảng nửa gang tay chữ trên báo Cờ giải phóng, cơ quan tuyên truyền của Đảng Cộng sản Đông Dương, in litô phát hành bí mật, phê bình tư tưởng bảo thủ trong tiểu thuyết Thanh đạm. Rất tiếc khi nước nhà độc lập, các nhà phê bình nghiên cứu văn học vẫn cứ nguyên tinh thần bài đọc sách ngắn ngủi ấy mà nói lại. Tôi không có ý bênh vực sẵn cho tiểu thuyết Thanh đạm. Nhưng, ừ thì tác phẩm ấy có thể chứa đựng tư tưởng bảo thủ, nhưng phải được lý giải rằng bảo thủ thế nào, cái gì không thể chỉ im lặng và lặp lại một bài điểm báo thông thường.
4. Tiểu thuyết Đống rác cũ (Tập I, in 1963) cuốn tiểu thuyết sau cùng của Nguyễn Công Hoan gây dư luận khác nhau. Nhưng trong một tình hình khá là bi hài. Tiểu thuyết này gồm hai tập, Nhà xuất bản Văn học in xong tập I, nhưng cũng chưa phát hành rộng cuộc tranh luận đã tùm lum. Thế là tập II không tiếp tục ra đời. Cho tới nay cũng không mấy bạn đọc biết câu chuyện đầu và đuôi thế nào, chỉ mới đọc các bài báo chê Đống rác cũ tự nhiên chủ nghĩa. Nêu lại vấn đề này, tôi cũng không đơn giản đòi khôi phục giá trị tiểu tuyết Đống rác cũ. Mà chỉ muốn có phê bình, có sự nghiên cứu, phân tích, đánh giá nhiều chiều, nhiều mặt một tác phẩm để tiến tới chân lý được. Hay làm lại một hoạt động văn học bình thường, lành mạnh trong tình hình hiện nay.
Tư tưởng và văn phong Nguyễn Công Hoan, từ sáng tác đầu tiên đến tác phẩm sau cùng, xuyên suốt một nét. Tác phẩm Nguyễn Công Hoan đã tới với người đọc, gây phản ứng và tác động mạnh mẽ đến độ nhiều cuộc tranh luận đã nổ ra. Một đời viết, tác phẩm chồng lên kể hàng trăm, hàng trăm tác phẩm trải 4 trận phê bình ra trò, mỗi cuộc một nội dung khác nhau đã có thể thấy ngòi bút nhà văn lực lưỡng, dũng khí, lạ lùng.
Nhân dịp phát hành tiểu thuyết Một kiếp người, tôi xin chép lại một kỷ niệm của tôi về tiểu thuyết ấy với nhà văn. Tuy câu chuyện nhỏ, cũng thật rõ nét con người, thái độ làm việc, cả đến trang nghiêm túc nhất nhưng lúc nào cũng vui tính của nhà văn.
Bấy giờ vào khoảng 1967.
“Cục địch vận Quân đội nhân dân tổ chức gặp mặt văn nghệ sĩ làm việc sáng tác phục vụ nhiệm vụ địch vận. Các vùng bị tạm chiếm miền Nam đương ngập ngụa sách vở phản động, văn chương đồi trụy. Ta cần tìm cách thổi luồng gió mới vào. Các anh ấy đề nghị chúng tôi viết những truyện – viết theo lối sách chưởng, tình báo, lãng mạn đương thịnh hành, nhưng nội dung lành mạnh, có tính chiến đấu. Và ký tên khác. Để in công khai trong thành hoặc in ngoài chiến khu, đem lồng bìa giả, bí mật đưa vào các đô thị.” Chưa ai làm gì thì anh Nguyễn Công Hoan đã xong một tiểu thuyết trên một trăm trang bản thảo. Hồi kháng chiến chống Pháp anh đã viết một truyện theo yêu cầu như thế do Quân đội in, quyển tiểu thuyết tên là Xổng cũi, ký tên tác giả Nguyễn Văn Lung, (anh cắt nghĩa Lung là lung tung thiên ấy mà).
“Tôi đọc quyển tiểu thuyết vừa ráo tay của anh rồi nói:
– Nhưng đoạn anh tả tình yêu chưa được.
– Sao?
– Anh cho trai gái Sài Gòn bây giờ còn viết thư tình như thư tình trong truyện của anh từ hồi “min nớp xăng cà cộ”. Có cả sợi tơ lòng, đài gương, dấu bèo, nhạn én đổi thay, tháng ngày thấm thoát.”
Anh vỗ đùi, cười to:
– Ờ nhỉ, cái việc ấy lâu nay mình không có thực tế. Hỏng!
Anh bằng lòng với nhận xét ấy của tôi và tự giải thích theo cách hài hước riêng. Rồi anh bỏ cả cuốn tiểu thuyết. Không phải là việc dễ dàng đâu.
Một số nhà văn khác trạc tuổi anh bấy giờ, còn có chủ trương viết biền ngẫu lối cổ như vậy. Nhưng chịu nghe, anh Nguyễn Công Hoan vẫn trẻ trung như thường.
Ít lâu sau, Nguyễn Công Hoan viết hẳn lại cuốn tiểu thuyết ấy. Chính là cuốn tiểu thuyết có hôm nay trên tay bạn đọc. Thoạt đầu Nguyễn Công Hoan lấy tên là Nếu không có anh. Nhưng anh bảo tiểu thuyết này còn đưa bên địch vận xem, nếu chưa được và cần sửa nữa, anh cũng sẽ sửa và có ký tên “lung tung thiên” cũng chẳng sao, miễn là tác phẩm của anh đến được với bạn đọc cần thiết nhất của anh.
– Nguồn: Trong “Nguyễn Công Hoan – Cây bút hiện thực xuất sắc” – Trung tâm Hỗ trợ Sinh viên Khiếm thị
– Lời nói đầu in trong tiểu thuyết Một kiếp người (tên của tác giả Nếu không có anh) NXB Hà Nội, Hà Nội, 1989.
11/5/2022
Tô Hoài
Theo https://vanvn.vn/

Hiện thực trung thực trong tiểu thuyết Đoàn Tuấn

Hiện thực trung thực
trong tiểu thuyết Đoàn Tuấn

Khi đọc bản thảo Lời nguyện cầu cho những linh hồn phiêu bạt của Đoàn Tuấn tôi rất ngỡ ngàng rồi như có một niềm vui mơ hồ đến với mình. Cảm giác được gỡ bỏ một điều gì đó. Tôi biết mình không còn phải lăn tăn điều có hay không viết một cuốn sách về chiến trường K. Tôi không phải làm điều đó vì tác phẩm của Đoàn Tuấn đã làm rồi.
Nhiều lần trò chuyện với các đồng nghiệp từng tham gia chiến đấu ở chiến trường Campuchia tôi thường nói: Hiện thực ở K thời đánh Pôn Pốt mới là bối cảnh của tiểu thuyết. Ở đây có đầy đủ những xung đột mà nhân loại đã trải qua. Tàn bạo và nhân ái, dân tộc và quốc tế, diệt chủng và hồi sinh. Các chủ nghĩa cực đoan, cứu giúp và xâm lược… tất cả đan xen với nhau để bộc lộ ra đến tột cùng tính cách con người. Những chuyện độc lạ như có những quân tình nguyện đào ngũ, lấy vợ người Campuchia, sống lẩn khuất giữa hai chiến tuyến, là đối tượng săn lùng của cả ta và địch. Bối cảnh như vậy mà các ông chỉ làm thơ…
Cũng đã có những tác phẩm văn xuôi, nhưng nó chưa đặt dấu ấn rõ ràng của cái hiện thực bi tráng và rùng rợn này trong lòng người đọc.
Tôi không trực tiếp tham gia cuộc chiến này mà chỉ vài lần được cử đi như một người viết thâm nhập thực tế. Nhưng cái hiện thực đó cứ ám ảnh giục tôi muốn viết một điều gì đó về nó. Tôi tìm đọc các hồi ký của cựu chiến binh chiến trường K. Nhưng hồi ký xúc động và chân thật. Tôi nhận ra có nhiều điều khác giữa những người lính chống Mỹ và người lính chống Pôn Pốt. Những suy nghĩ của cựu binh chiến trường K không hoàn toàn giống những suy nghĩ của thế hệ chúng tôi. Như khi gọi “đồng hương” thời chống Mỹ là để chỉ người cùng một tỉnh, một huyện. Còn ở chiến trường K, “đồng hương” là cả nước Việt Nam. Tôi cũng trở lại Campuchia nhiều lần, để suy ngẫm thêm những điều đã có trong đầu mình. Tóm lại tôi muốn viết một cuốn sách về vùng đất này, về cuộc chiến này, nhưng vì nhiều lý do khác nhau đến nay tôi vẫn chưa làm được.
Khi đọc bản thảo Lời nguyện cầu cho những linh hồn phiêu bạt của Đoàn Tuấn tôi rất ngỡ ngàng rồi như có một niềm vui mơ hồ đến với mình. Cảm giác được gỡ bỏ một điều gì đó. Tôi biết mình không còn phải lăn tăn điều có hay không viết một cuốn sách về chiến trường K. Tôi không phải làm điều đó vì tác phẩm của Đoàn Tuấn đã làm rồi. Một ví dụ: Tôi định mở đầu cuốn sách của mình bằng chuyện một ủy viên hội đồng xét xử vụ tham mưu phó trung đoàn quan hệ tình dục với một phụ nữ Campuchia. Bản án lúc ở cấp quân đoàn dự định chỉ xử chung thân. Nhưng chỉ đạo của cấp cao nhất phải xử tử hình để giữ nghiêm quân lệnh trên đất bạn. Bản án được thi hành ngay. Người ngồi ghế ủy viên Hội đồng xét xử là một chủ nhiệm chính trị, khi rút quân về nước đã ghé thăm mộ người đồng đội tử tù rồi từ đó phát triển các tình tiết của câu chuyện và tính cách của nhân vật. Đó là một sự kiện ám ảnh tôi. Nhưng trong Lời nguyện cầu… của Đoàn Tuấn có đến 5 vụ án như vậy, tác giả đã viết tường tận vì là người trong cuộc.
Tác phẩm Lời nguyện cầu những linh hồn phiêu bạt không ghi thể loại, nhưng theo tôi đó là một cuốn tiểu thuyết gần nhất với nghĩa thực của nó dù các nhân vật, các sự kiện đều là thật, là rất gần với thật.
Hai nhân vật chính của tiểu thuyết là tác giả Đoàn Tuấn và người đồng đội tên là Ánh sau này là nhà sư Phteah Saniphap. Họ cùng chiến đấu ở chiến trường Campuchia, rồi ra quân, rồi xuất ngoại. Đoàn Tuấn trở lại khoa văn Đại học Tổng hợp Hà Nội rồi sang Liên Xô học tại một trường điện ảnh danh tiếng. Còn Ánh thì về địa phương, tham gia công tác đoàn rồi đi lao động ở Đức. Về nước, Ánh lấy vợ, sinh con, tạo ra cơ ngơi ổn định, kinh tế gia đình vững vàng, nhưng lòng anh không yên, luôn nghĩ về đồng đội, về nơi anh từng chiến đấu. Anh quay lại Campuchia, đi tu, thực hành hạnh nguyện làm lễ cầu hồn, cầu siêu cho những linh hồn của ta và của địch được siêu thoát.
Hai tuyến nhân vật chính đó đan xen nhau, bổ trợ cho nhau làm nên cốt cách của câu chuyện. Mỗi lần Ánh, nhà sư Phteah Saniphap đến cầu siêu ở một nơi nào đó, thì trận đánh của quân tình nguyện Việt Nam với quân Pôn Pốt được tái hiện cụ thể, rành rọt như nó vừa xảy ra hôm qua. Còn tác giả Đoàn Tuấn lại đi gặp những cựu binh đã trở lại đời thường ở Việt Nam với bao nhiêu di chứng của chiến tranh. Cứ như vậy chương bên này, chương bên kia tác phẩm đã cuốn hút người đọc với một giọng văn tỉnh táo, chân thật, với bút pháp chỉnh chu, bố cục chặt chẽ.
Một thế hệ mà “Balô tuổi trẻ toàn đồ dùng thiết yếu cho chiến trận. Nhưng tâm hồn non nớt của chúng tôi va chạm với máu, thuốc súng, sắt thép và cái chết, cũng bị tổn thương. Có ai nhìn thấy những vết thương ấy? Có ai giám định những vết thương lúc nào cũng rỉ máu ấy? Và chẳng ai xếp hạng những vết thương ấy. Không phụ cấp, không đền bù, vết thương trên cơ thể có thể thành sẹo, nhưng vết thương tâm hồn lẽ nào vô nghĩa? Có ai băng bó cho chúng tôi không? Hay tự chúng tôi băng bó cho nhau? Và chúng tôi còn sống trở về, chắc có bao người đã chết thay. Chúng tôi không thể bình yên được. Phải đi nơi đó. Băng bó cho những linh hồn còn đau đớn giữa rừng hoang. Nhưng chẳng lẽ mình chỉ băng bó cho người bên mình? Người bên kia họ cũng đau đớn lắm chứ? Tất cả đã chết rồi, còn hận thù gì nữa…”
Trong một lần dự lễ cầu siêu ở  biên giới tỉnh Ratanakiri,  giáp với Kon Tum và Gia Lai của Việt Nam, Đoàn Tuấn hỏi Ánh: “Pháp danh của ông tiếng Khmer nghĩa là gì?/ Phteah Saniphap có nghĩa là ngôi nhà hòa bình./ Tác giả nói: Ông đi tìm linh hồn người chết. Tôi đi tìm linh hồn người sống.
Vậy là công việc của hai nhân vật đã được xác định. Họ tâm sự:
– Bọn mình lao vào cuộc chiến Biên giới Tây Nam đúng lúc đất nước vừa mới trải qua ba mươi năm chiến tranh. Mùi vị hòa bình chưa kịp nếm. Rồi ra quân giữa lúc đất nước khó khăn cùng kiệt. Mỗi người tản mạc một phương, thằng nào cũng cắm đầu vào kế mưu sinh, không ngẩng mặt lên được, giờ mới có chút dễ thở. Tôi định cùng mấy anh em đi tìm đồng đội năm xưa, xem bây giờ họ sống ra sao.
– Đấy là việc ông nên làm. Đồng đội mình khi về các tỉnh đều khó khăn. Sức lực không còn, không nghề nghiệp, không có tiền. Lại còn gánh vác gia đình, chăm cha mẹ già, nuôi con nhỏ… Làm sao kể hết gian lao, không đi thăm đồng đội lại xa nhau biền biệt. Những ký ức không ai nhắc tới. Đừng để họ chết trong buồn thảm, cô đơn.
Thế rồi Đoàn Tuấn lên tận Lào Cai tìm gặp đồng đội người H’mông. Ánh, nhà sư Phteah Saniphap đến các trường bắn cũ nơi tử hình đồng đội, cầu siêu cho những người xấu số. Họ có những năm người. Những người bị kết án tử hình vì phạm tội hiếp dâm phụ nữ Campuchia. Nhà sư gọi hồn và trò chuyện với từng người.
Rồi tác giả sang Cao Bằng thăm đồng đội người Tày, nhưng đồng đội Cương đã mất trước đó hai tháng. Chuẩn úy, giải ngũ làm cửu vạn ở Móng Cái, chết vì lao xuống dòng nước lũ cứu người. Người cứu được còn mình thì bị nước cuốn đi. Nhà sư thì lên Preah Vihear cầu siêu cho những linh hồn lính Khmer Đỏ bị chết vào cuối tháng giêng năm 1979…
Cứ như vậy, hai người đồng đội, một ở Campuchia, một ở Việt Nam họ đi làm các việc mà lương tâm họ thúc giục phải làm. Nhờ kết cấu này mà tiểu thuyết cuốn hút người đọc, đưa người đọc từ trạng thái này sang trạng thái khác một cách tự nhiên, không có gì gượng ép.
Từ lễ cầu hồn bên sân bay S’tung T’reng của nhà sư đến việc thăm anh Rich ở Mai Châu của Đoàn Tuấn. Mai Châu mùa em thơm nếp xôi, nơi nhộn nhịp khách du lịch, đối với tác giả ở đó chỉ có hai thắng cảnh là hai người đồng đội Mạc Văn Tường và Hà Văn Rich. Anh Rich bị thần kinh vì mảnh đạn trong đầu chưa lấy ra được, tay trái trúng đạn thì bị khèo. Giấy chứng thương bị mất nên chữa trị qua loa. Hành trình của anh là bị thương, đi viện rồi về nhà luôn. Tuy bị khèo tay, nhưng chơi đàn hay có tiếng, chơi đàn ở các bản trong huyện Mai Châu, có lúc đi các tỉnh xa. Dân các bản nuôi anh, chơi đàn xong người ta mời ăn uống có khi ngủ lại luôn, gần đây anh hay bị đau đầu, nhiều lúc đập đầu vào cột nhà máu chảy đầm đìa. Đoàn Tuấn đến thăm thấy ngôi nhà cháy dở nằm giữa vườn, khung cảnh chẳng khác gì cái phun bỏ hoang bên Campuchia.
Anh Rich, sao anh đốt nhà? Tác giả hỏi/ Mình nhớ Along Veng quá, cái đêm đốt Along Veng mình cũng vừa đi vừa thầm hát. Đoàn Tuấn cũng đến khổ với Rich vì anh thương gọi điện lúc 1 giờ đêm lúc thì 3 giờ sáng vì cứ tưởng Tuấn có phép màu cấp lại cho anh cái giấy chứng thương, Rồi trong tiệc rượu Rich nói: Tôi bị thương là vì đánh giặc không giỏi, đúng không? Không chết là may, giờ về nhà lại bắt đền chính phủ. Tôi nghĩ mình phải đòi tiền thằng Pôn Pốt mới đúng./ Pôn Pốt chết lâu rồi./ Chết thì thôi không bắt đền nó nữa. Mình bị thương cái đầu hơi ngớ ngẩn, ông trời đã cho mình có vợ. Thế là đền bù rồi. Từ hôm nay vợ con không được lên xã, lên huyện đòi chính sách gì nữa. Nào nâng chén !
Nhà sư Phteach Saniphap lên dãy Dangrêc cùng với một người lính Pôn Pốt năm xưa, tên là Bua Thong. Trận đó đơn vị của Bua Thong chết gần hết. Anh bị thương không thuốc chữa đành liều tìm đến viện quân y 21 của quân khu 5. Khi gần khỏi Bua Thong trốn viện vì sợ các bác sĩ phát hiện ra nhân thân. Bác sĩ Việt Nam nói với anh: Chúng tôi biết anh là lính Pôn Pốt nhưnng chúng tôi vẫn chăm sóc cho anh như một bệnh nhân, không phân biệt ta hay địch. Vết thương sắp khỏi anh không nên trốn. Ra viện, anh về làm dân thường. Đơn vị quân tình nguyện đánh tiêu diệt đại đội của Bua Thong là đơn vị của Ánh, nhà sư. Bây giờ Bua Thong dẫn Ánh đến cầu siêu cho những linh hồn của đại đội anh ta. Nhà sư đọc một bài khấn dài kể lại diễn biến của trận đánh đó.
Cùng lúc đó Đoàn Tuấn đi tìm một nhân vật đặc biệt xứ Lạng. Khu Năm dằng dặc Khúc ruột ông Hoàng Kiên. Một cựu binh đặc sắc mà cả trung đoàn ai cũng khâm phục ông Kiên là người tán gái giỏi nhất. Anh lý lẽ: Người yếu nhất là người thích chinh phục người khác, còn người mạnh nhất là người chinh phục được chính mình. Có người hỏi anh đã có người yêu đủ 63 dân tộc chưa? Anh chỉ cười. Nhưng có một điều ai cũng biết điểm chung của những cuộc tình của Kiên là không một người phụ nữ nào nói xấu anh. Anh sống chân tình, hòa thuận với mọi người và khi chia tay anh thường để lại hết tài sản, tay không ra khỏi nhà. Đồng đội hỏi sao anh hạnh phúc vậy. Kiên trả lời: Khi quan hệ với phụ nữ, các ông luôn bất hạnh. Vì sao? Vì các ông tính toán quá nhiều. Đối với phụ nữ các ông chỉ được quyền cho, không được quyền nhận. Và khi cho các ông không được phép cân nhắc. Hoàn toàn vô tư. Đừng bao giờ đặt mục đích quan hệ tình dục lên hàng đầu. Luôn hết lòng vì họ. Hết lòng như đối với chính cha mẹ mình. Và khi tạm biệt họ các ông nên trút hết cho họ đến đồng xu cuối cùng. Ra đi người không, nhẹ nhàng và vừa đi vừa huýt sáo…
Ở Kampong Speu có một gia đình trí thức Khmer. Mặc dù trong nhà có người con đi tu, nhưng ông Som Him phải thỉnh cho được nhà sư Phteah Saniphap về cầu siêu cho những người trong gia đình bị tàn sát dưới thời Son Sen và Pôn Pốt. Dưới thời Pôn Pốt các nhà sư bị cho là kẻ ăn bám. Hàng chục nghìn nhà sư bị hành quyết. Hàng ngàn ngôi chùa bị phá nát. Nhà sư Som Manbun con trai ông Som Him kể: Họ làm thịt chó bắt chung tôi ăn. Lại bắt cả uống rượu nữa. Lúc hứng lên họ còn bắt chúng tôi đốt kinh Phật. Nhiều người không chịu nổi, đã tự vẫn. Nhưng tôi tự nhủ, các quyển kinh đó có trong đầu mình cả. Mình vừa làm vừa khấn Phật gia hộ để mình còn sống. Tôi tin sẽ có ngày trở về phục hồi đạo pháp…
Ông Som Him là chuyên viên cao cấp của Bộ Y tế từng tháp tùng Hoàng thân Norodom Sihanuok lần tướng Lon Nol nhưng cảm thấy bất an nên xin nghỉ sớm. Ông nói tư tưởng kỳ thị dân tộc của Pôn Pốt có phần giống Lon Nol. Người gốc Việt, gốc Chăm, gốc Hoa bị giết nhiều nhất. Mấy đứa con ông bị giết vì có nước da trắng. Chúng muốn xây dựng một nước Campuchia toàn người Khmer thuần chủng, thành lập nhà nước Đại Khmer bao gồm cả người Khmer ở Thái Lan và Việt Nam. Để đạt được mục đích của mình họ kích động máu dân tộc cực đoan, tiêu diệt các dân tộc khác. Nhà sư hỏi: tại sao họ tàn ác vậy. Ông Som Him trả lời: Tôi nghĩ vì họ sợ hại. Tàn ác là biểu hiện của sự sợ hãi. Và những kẻ độc tài thường hay hoang tưởng. Những nhà cầm quyền trên thế giới nếu có biểu hiện hoang tưởng trong lời nói và việc làm thì nhân loại cần phải cảnh giác.
Tác giả tìm đến một đồng đội tên là Thanh. Từ ngày xuất ngũ đồng đội mới đặt cho biệt hiệu Thanh gàn. Vì Thanh gàn nghe tiếng đồng đội nào bị chết là đi viếng, không đi một mình luôn hô hào anh em đồng đội cùng đi. “Alo. Tin buồn đây. Thằng Quang “dô” ở Quảng Nam chết rồi” hay: “Chào bạn. Tôi vừa nhận được tin ông Kham ở Phú Thọ vừa mất”, “Này đồng hương, ông Năng ở Bình Định vừa chết. Anh em bảo gửi vòng hoa. Nhưng ngày kia mới chôn, Mai anh em mình bay vào Bình Định luôn đi”. Cứ nghe điện thoại của Thanh gàn là biết có đồng đội chết, chuẩn bị đi viếng.
Thanh lý giải: Nếu không có đồng đội ở đó, chắc mình phải có mặt, và biết đâu mình sẽ chết. Nhưng mình vẫn ngạc nhiên làm thế nào mà mình sống sót? Khi làm lính mình chỉ bị thương nhẹ. Khi làm chỉ huy trung đội đánh không biết bao nhiêu trận, mình cũng không việc gì. Trong khi ấy đồng đội bị thương và hy sinh rất nhiều. Chắc mọi người chết thay cho tôi. Hay phải chăng tôi được thiên thần phù hộ? Nhiều đêm tôi thầm hỏi. Nhưng không tìm ra câu trả lời. Tôi cũng không có ai để hỏi. Chỉ biết tôi còn sống. Đồng đội tôi bao nhiêu người nằm dưới đất. Và tôi cảm thấy để nhẹ lòng, để thanh thản sống, chỉ bằng cách quan tâm đến đồng đội mình. Không kể thân hay sơ, biết hay không biết. Mình đến với tấm lòng chân thành, đồng đội vừa nằm xuống họ cảm thấy được an ủi. Họ đã sống cuộc đời vất vả, và khi ra khỏi cuộc đời này họ được ra đi trong vòng tay ấm áp của người thân, của tình đồng đội.
Trong lúc nhà sư Phteah Saniphap đến bên sông Bassac cầu siêu cho những người Việt bị Lon Nol sát hại năm 1970 rồi lên Kratié cầu siêu cho các y tá bị lính Pôn Pốt sát hại thì Đoàn Tuấn cùng các đồng đội đưa một người mẹ từ Hà Nội vào Gia Lai để đưa hài cốt liệt sĩ Minh hồi hương. Gia cảnh người mẹ liệt sĩ này rất nghèo và uẩn khúc. Đồng đội góp được 50 triệu đồng rồi cử đến các địa phương như Quảng Nam, Bình Định lại bổ sung thêm người cùng đơn vị để đến nghĩa trang liệt sĩ huyện Ia Grai. Khi hương đã thắp lên mộ liệt sĩ, đồng đội đứng sau người mẹ. Giọng mẹ nghẹn ngào: Minh ơi! Sau khi con hy sinh, bố con mất theo, các em con hư hỏng cả. Một đứa chết vì HIV, một đứa ở tù, một đứa đang bị truy nã. Mình mẹ mải mưu sinh không còn thì giờ dạy dỗ chúng…
Nghe lời khấn của người mẹ chúng ta cảm nhận chiến tranh tàn khốc đến cỡ nào.
Từ Kratié, nhà sư lên Preah Vihear, đến điểm cao 547 để làm lễ cầu siêu cho gần một trăm người lính của sư đoàn 307 chết khát năm 1983. Trận đó nhà sư cũng tham dự nhưng may thoát chết. Nhà sư có nhờ tác giả viết bài văn tế đồng đội chết khát trận 547. Sau hai ngày chiến đấu, quân ta không dứt điểm được căn cứ địch. Những téc nước do xe tăng T54 kéo trúng mìn vỡ toang, các can nước màu vàng là mục tiêu cho bọn Pôn Pốt trên cao điểm xạ. Sư đoàn ra lệnh rút quân, trận đánh thua, quân ta thương vong nhiều, rồi sau đó đến chuyện chết khát. Văn tế viết:
“…Nhưng lính rút đi/ vẫn mang súng đến cùng/ gặp địch vẫn / kiên gan nỏ súng/ Nhưng lính phải / đầu hàng/ khuất phục/ Một kẻ thù/ Dội lửa lên đầu lính / Ấy là nước / Nước mùa khô cạn kiệt/ Không có nước/ Lính chết ngồi chết rục/ Kiến bò lên/ Côn trùng cắn khắp người/ Họng cháy khô/ Không nói được nữa rồi/ không chịu nổi/ Bao người cũng muốn/ Đưa mũi súng vào thái dương/ và / bóp/ óc phót ra/ Thoát kiếp đọa đầy…”
Trận đánh này đã hằn sâu vào ký ức của mọi người lính trên chiến trường K. Năm 1984, khi về làm Tư lệnh quân khu 5, trực tiếp chuẩn bị đánh 547 lần nữa, tướng Nguyễn Chơn đã chỉ thị hậu cần quân khu huy động các vòm tôn Mỹ để lại, hàn lại thành các tex nước, từ Đà Nẵng chở lên chiến trường, không phải hàng chục mà hàng trăm tex như vậy, rải đều ở các hướng bộ đội sẽ tấn công, bơm đầy nước vào. Trận đánh này thắng dồn dã, quân ta làm chủ 547.
Có một bác sĩ chủ nhiệm quân y sư đoàn, khi giải ngũ thường bỏ nhà đi lang thang hoặc chiều chiều lên đê ngồi một mình. Người ta đồn ông bị ma ám. Ông nói: “Tôi là người thần kinh vững vàng, đầu óc minh mẫn, luôn làm việc tốt giúp thiên hạ. Tôi hiểu tôi chứ. Nhưng các ông biết không. Tôi bị ám ảnh cái nghĩa trang. Nghĩa trang sư đoàn mình”.
“Cắt chân, cắt chân”. Lúc ăn cũng thấy cắt chân. Lúc ngủ cũng mơ thấy cắt chân. Tôi quay cuồng trong mỗi việc cắt chân. Tôi cố giữ lại cho anh em nhưng không được. Dù có thuốc tê, nhưng khi cắt, tôi có cảm giác như cắt chính thịt, xương mình… Khi cắt chân xong, tranh thủ lúc anh em chưa tỉnh, tôi xách cái chân ra nghĩa trang. Tôi không muốn nhờ y tá. Sợ họ chôn cẩu thả. Tôi muốn tự tay mình chôn. Tha lỗi cho tôi. Tôi chôn một phần thân thể, một phần linh hồn đồng đội nơi này. Khác với mộ đắp cao, mộ chân tay đều bằng. Làm sao nhớ được. Tôi đánh dấu mộ chân, mộ tay của đồng đội. Nhỡ khi họ tỉnh hỏi chân tay tôi đâu, mình còn có chỗ chỉ.
Người bác sĩ ấy luôn nhớ về nghĩa trang tay chân đồng đội. Nghe anh em đi thăm chiến trường K về kể nơi ấy đã thành thị trấn, có khách sạn hẳn hoi. Ông có một mơ ước. Mơ ước nhỏ thôi là hôm nào sang lại K đến vị trí trạm phẫu sư đoàn dựng tấm bia. Trên tấm bia này không ghi gì cả. Chỉ khắc đôi bàn chân. Tác giả hỏi: Mục đích anh dựng bia làm gì? Vị bác sĩ trả lời: Mình không biết nữa. Mà cũng chẳng để làm gì. Thật đấy. Ít ra cũng để an lòng mình, an lòng anh em thương binh. Cái chân cái tay cũng biết nghĩ đấy! …
Có một người lính trinh sát kể:
– Bọn tôi mười trinh sát Sư, mà phải mười tay thiện chiến nhất. AK bảng gập. Theo sau là một đại đội bộ binh yểm trợ. Nhiệm vụ là giải cứu Sư đoàn trưởng Heng Samrin bị Pôn Pốt giam vì chúng phát hiện âm mưu đảo chính…
Câu chuyện của người lính trinh sát dài và có nhiều tình tiết ly kỳ. Tóm tắt các anh vào được nơi giam giữ sư trưởng Heng Samrin. Trói được bọn lính gác, đưa được sự trưởng ra nửa đường thì bị lộ. Địch nổ súng khắp nơi. Ông Heng Samrin vấp ngã, chân đau đi khập khiểng. Người trinh sát không chần chừ xốc ông lên lưng. Đạn địch bay chiu chỉu. Ông to con nhưng không hiểu sức lực đâu mà anh cõng ông chạy hơn cây số. Cứu thoát được một người sau này là lãnh tụ cuộc hồi sinh của dân tộc Khmer. Về sau ông Heng Samrin có hỏi thăm, nhưng anh dấu tên mình. Làm việc nghĩa thì nên khiêm nhường. Khi giải ngũ, người lính trinh sát lên Thái Nguyên trồng chè và thường kể chuyện cõng ông Heng Samrin. Một hôm anh hỏi Đoàn Tuấn: Dạo này ông có đi công tác ở Campuchia không?/ Có việc gì anh?/ Tôi có cân chè ngon muốn biếu ông Heng Samrin. Mỗi lần sắp kể chuyện cõng Heng Samrin chị vợ lại gào lên “Giời ạ! Suốt ngày lúc nào cũng Heng Samrin thôi. Cõng ông ấy có một lần mà kể hàng chục năm không chán. Giờ thử sang bên ấy xem! Ông ấy có cho mình cõng nữa không? Người vợ muốn đưa anh trở về thực tại. Nhưng tấm lòng anh vẫn như xưa, phải gửi một cân trà ngon biếu ông ấy./ Làm sao để ông ấy biết người gửi?/ Chỉ cần nói một người lính trinh sát sư đoàn 10 là ông ấy nhớ ngay…
Chương cuối của tiểu thuyết Đoàn Tuấn dựng cảnh nhà sư Phteah Saniphap gọi hồn Pôn Pốt. Không biết tác giả lấy tài liệu ở đâu, nhưng chân dung nhà độc tài hiện lên rõ ràng với những chi tiết thật cụ thể, thuyết phục người đọc. Cuộc trò chuyện bắt đầu: ”Chào ông Pôn Pốt/ Chào nhà sư Phteah Saniphap/ Trước tiên xin chúc mừng ông. Con gái ông, cô Sar Patchath vừa làm lễ thành hôn/ Khi tôi mất cháu mới mười tuổi. Nó là con gái duy nhất của tôi với người vợ thứ hai/ Ông có hai người vợ? Người vợ đầu bị bệnh tâm thần phân liệt. Tôi đã đưa bà ấy đi chữa ở nhiều nơi, kể cả ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Nhưng đều không đỡ. Tôi kết hôn với bà hai sau khi bà cả mất./ Về cuộc sống gia đình, mọi người đầu dành cho ông những lời tôn trọng. Song còn một số vấn đề trong cuộc đời của ông, chúng tôi muốn tìm hiểu. Ông có vui lòng trả lời? / Nhà sư cứ tự nhiên.”
Cứ như vậy qua câu chuyện, chân dung kẻ sát nhân, chân dung cả một thời đen tối hiện ra.
“- Người Campuchean nghĩa là gì? Đó là người Campuchean thuần chủng. Da đen, tóc xoăn. Đó là giống người vượt trội, hơn hẳn các dân tộc khác xung quanh / Thế còn tên gọi người Khmer?/ Tên ấy pha tạp nhiều dân tộc. Khmer gốc Chàm, người Khmer gốc Việt, gốc Hoa, gốc Thái .v.v. Tôi không thích/ Từ đó dẫn tới chiến dịch thanh lọc sắc tộc? Tôi chỉ muốn người Campuchean sống trên đất Campuchia. Những dân tộc khác không cần thiết. Họ là những phần tử xấu. Phương châm của chúng tôi là: để các người sống chúng tôi không có lợi, giết các người, chúng tôi không mất gì.”
Cuộc đối thoại kéo dài hàng chục trang. Pôn Pốt kể về những việc làm của ông ta, thanh lọc dân tộc, thanh lọc Đảng với những biện pháp cực đoan, tàn bạo nhất. Nhà sư hỏi: “Nhưng thưa ông, trong tiểu sử ông cũng không phải là người Campuchean – người Campuchean thuần chất như cách ông gọi. Ông sinh ra trong một gia đình có bố là người Hoa, mẹ là người Khmer?/ Đó là chuyện trẻ con, chuyện ngày xưa. Tôi học nhiều, đi nhiều nơi trên thế giới, tôi càng tự hào về sự vĩ đại của dân tộc Campuchean. Tôi luôn nung nấu lòng căm thù ngoại bang. Và tôi luôn nuôi dưỡng ý tưởng phải thanh lọc quốc gia, thanh lọc dân tộc./ Và thanh lọc đảng nữa?/ Khẩu hiệu của chúng tôi là: Thanh lọc Đảng, thanh lọc quân đội, thanh lọc cán bộ. Trong đảng, trong quân đội, trong chính quyền chúng tôi có nhiều người là gián điệp của CIA, của KFB, của Việt Nam …/ Ông có vẻ nhầm giữa chủ nghĩa dân tộc cực đoan với chủ nghĩa yêu nước/ Nghĩa là thế nào?/ Theo tôi hiểu lòng yêu nước gắn với tình yêu đối với người khác. Còn chủ nghĩa dân tộc cực đoan thường gắn với lòng thù hận với các dân tộc khác./ Điều này còn có thể tranh luận dài.”
Pôn Pốt giải thích về chủ trương xây dựng một xã hội Campuchia không tôn giáo, không tiêu tiền, không có đời sống gia đình, trẻ em 7 tuổi phải tách khỏi cha mẹ, không thành thị vì chủ nghĩa tư bản chỉ phát triển ở thành phố. Trục xuất dân ra khỏi thành phố còn làm suy giảm quyền lực của ông Sihanouk. Chỉ có đời sống công xã. Bếp ăn cộng đồng. Ăn tập trung, không ăn ở nhà riêng. Không ai được kiếm ăn riêng. Tất cả mọi sinh vật đều do Ăngkor quản lý. Ai không tuân theo sẽ bị trừng phạt, xác sẽ biến thành phân bón.
Pon Pôt nói về quan hệ với Trung Quốc, với Việt Nam. Coi cách mạng văn hóa Trung Quốc là chuẩn mực. Coi phát động chiến tranh với Việt Nam là quốc sách.
Và đây là đoạn cuối của cuộc đời Pon Pôt.
“- Vì sao ông từ chức Tổng Tư lệnh Khmer Đỏ?/ Tôi từ chức vào năm 1985 do vấn đề sức khỏe. Hơn nữa tôi muốn làm vậy để ủng hộ Son Sen/ Nhưng sau này không ngờ Son Sen và đồng bọn của ông ta phản bội tôi./ Việc này cụ thể ra sao, thưa ông?/ Trong thời gian tôi đi Trung Quốc chữa bệnh thì phe Sihanouk và phe Son Sen bắt đầu đàm phán với Chính phu Hun Sen. Họ dự định tiến hành bầu cử. Dân chúng đang căm ghét Khmer Đỏ, bầu cử thì chúng tôi thất bại./ Ông có hành động gì khi đó?/ Tôi ra lệnh giết Son Sen. Giết tất cả các thành viên gia đình cũng như các phụ tá của ông ta… / Nhưng sau đó chính ông bị Ta Mok quản thúc./ Ta Mok chắc sợ tôi sẽ hành quyết nên ông ta ra tay trước. Ông ta vu cho tôi phản bội phong trào. Tôi tổ chức cuộc chạy trốn cùng gia dình và mấy vệ sĩ. Lúc đó tôi đã yếu. Các vệ sĩ phải cõng tôi. Ta Mok cho quân đuổi theo. Họ bắt tôi giam giữ ở Along Veng. Tôi cầu cứu Noon Chea và Khiêu Samphan. Nhưng hai người bạn cũ của tôi cũng chống lại tôi/ Những ngày cuối cùng của ông thế nào?/ Tôi bị đột quỵ, liệt nửa người. Căn bệnh ung thư không có thuốc chữa. Tôi lại bị hẹp động mạch chủ, phải thở oxy./ Hình như khi ông chết người dân không ai khóc?/ Không ai khóc tôi và tôi cũng không khóc ai/ Khi chết ông tiếc điều gì?/ Con gái tôi còn quá nhỏ/ Dư luận nói khi hỏa thiêu, cánh tay ông vẫn nắm lại, giơ lên?/ Họ đồn vậy thôi, khi chết cơ thể cứng lại, gặp trời nóng chân tay co lại là bình thường. Còn giơ lên? Vì họ đặt tôi nằm trên đống củi…”
Tôi đã đọc tác phẩm gần 300 trang này một mạch. Những câu văn xúc tích, những đối thoại sinh động đã ám ảnh tôi, đưa tôi đến gần hơn với sự thật, một sự thật mà tôi từng nghe, từng đọc, từng đến tận nơi nhưng lại còn rất mơ hồ, có lúc còn ngại tiếp cận với nó bởi sự tàn bạo, vô nhân tính quá sức tưởng tượng của con người. Và cũng trong cái hiện thực đen tối đó lòng yêu thương, sự chở che đùm bọc nhau, tình đồng loại, đồng bào lại sống lên làm ta cảm động, làm ta tin vào sức mạnh không thể vùi đạp được của con người dù vào bất cứ hoàn cảnh nào.
Cảm ơn những điều cuốn tiểu thuyết đã mang đến cho bạn đọc với những tình tiết trung thực cùng tấm lòng của tác giả.
Nhận biết hiện thực một cách trung thực là phẩm chất đầu tiên của nhà văn.
11/4/2022
Thái Bá Lợi
Theo https://vanvn.vn/

Kim Anh - Thức bước thời gian

Kim Anh - Thức bước thời gian

Thơ chị mang cái tôi riêng, giọng điệu riêng độc đáo của một hồn thơ rất mực đàn bà vừa phóng khoáng lại vừa kín đáo, dung dị; vừa mạnh mẽ, bản lĩnh lại vừa dịu dàng, tinh tế; vừa có nỗi ẩn ức, nghi ngại, trắc ẩn, lại vừa có sự quyết đoán, trí tuệ, nhân hậu; vừa mang âm hưởng dân gian, lại vừa rất hiện đại…
Tập thơ “Thức bước thời gian” (Nxb Hội nhà văn, 2022) của nhà thơ Bùi Kim Anh – người chị mến thân cùng “chiếc nôi” Văn khoa Sư phạm đã mang đến cho tôi bao cảm xúc. Ngoài giảng dạy, dân văn Sư phạm là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhiều thế hệ, có Nguyễn Khoa Điềm, Ma Văn Kháng, Phạm Tiến Duật, Tô Nhuận Vĩ, Trần Hòa Bình, Trần Quang Đạo, Nguyễn Thị Mai, Trần Thị Trâm… đam mê sáng tác và nghiên cứu.
Bùi Kim Anh sinh ngày 25.2.1948 tại quê lúa Thái Bình và gắn bó cả đời với Hà Nội. Tốt nghiệp Khoa ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chị gắn bó với nghề dạy văn phổ thông trung học “xê dịch” từ ngoại thành (Trường Cổ Loa) hành trình hướng về nội thành từ Trường Bạch Mai đến Trường PTTH Hoàn Kiếm – Trần Phú – trung tâm Thủ đô cho đến khi nghỉ hưu. Cô giáo Bùi Kim Anh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1998.
Song hành cùng nghề giáo là sự nghiệp văn chương. Ngoài tập tản văn “Sống chậm”, Bùi Kim Anh dành trọn vẹn hành trình sáng tác của mình cho thơ. Trình làng tập thơ đầu tay “Viết cho mình” năm (1995) và sau gần 30 năm chị là tác giả của 11 tập thơ: “Cỏ dại khờ” (1996), “Lối mưa” (1999), “Bán không cho gió” (2005), “Lời buồn trên đá” (2007), “Lục bát cuối chiều” (2008), “Bắc lên ngọn gió mà cân” (2010), “Đi tìm giấc mơ” (2012), “Nhặt lời cho bóng lá” (2015), “Hình như mùa đã lỡ” (2017) và “Thức bước thời gian” (2022).
“Thức bước thời gian” dày 191 trang, khổ 20cm x 20cm, với 120 bài thơ theo như tác giả “bật mí” là vì gắn với tập sách thứ 12.
Điều dễ nhận thấy là hầu hết các bài thơ đã chụm lại làm rõ chủ đề tập thơ “Thức bước thời gian”. Có thể nói thời gian là thông điệp chính nhà thơ muốn trải lòng khi đã chạm đến tuổi “thất thập ngũ niên”. Ý niệm thời gian từ cụ thể đến khái quát thể hiện từ nhan đề từng bài thơ, như: Ánh hoàng hôn mùa đông, Buổi sáng nơi ngõ hẹp, Chỉ còn là đêm, Chiều Buôn Mê, Chiều nắng hạ, Chiều thứ 7, Cho một chiều dành lại, Chủ nhật với hoa cúc, Đêm Nha Trang…
Nhà thơ đã quá nhạy cảm để nhận biết sự chảy trôi của thời gian: “Không viết cho mùa thu nữa/ ánh hoàng hôn mùa đông tím lịm/ những ngày tháng mùa đông sương mờ/ bài ca ánh mặt trời mang bốn mùa đi xa/ ta còn mơ mộng mãi/ những lời thơ viển vông// những câu chuyện theo con nước dòng sông/ cứ quẩn vào rong rêu củi rác/ ta mặc lòng mà miên man thời gian (Ánh hoàng hôn mùa đông).
Nhà thơ cảm nhận màu thời gian “thời gian đóng dấu màu chì lên thơ ta” (Chỉ có tiếng gió); biến đổi thời gian qua cảnh vật thiên nhiên “chiếc lá bàng như một chấm đỏ run rẩy… Khi những chiếc lá cuối năm quăn nếp nhăn rơi trên lối phố” (Chiếc lá cuối đông); “cây bàng đầu ngõ đợi sang lá đỏ” (Chiều thứ 7). Thời gian như “đang vội vã hoán đổi/ mùa vô tình và ta vô tình” (Đủ cảm giác ngày đông)… Chị quá nhạy cảm để nhìn lá cảm nhận dấu hiệu tuổi tác “bạn sẽ hiểu tuổi già/ khi bước chân nhức mỏi” (Chiếc lá cuối đông); “quanh ta có bao kẻ vô tình tự an ủi già rồi/ có ai nỡ trách người già” (Đủ cảm giác ngày đông)…
Sự an nhiên trước sự chảy trôi cuộc đời: “bình thản mùa đông gió lạnh về/ bình thản khẩu trang khoác áo ấm đi ra phố… ta ngồi bình thản trong căn nhà đóng cửa/ lo lắng nào ngoài kia” (Bình thản). Thơ chị chẳng né nỗi đau, niềm đau, nỗi buồn “buồn ta già với bơ vơ gió mùa/ lẻ loi một mối buồn thừa” (Lẻ loi một mối buồn thừa); “tôi buồn nhặt lại buồn tôi… lúc buồn tôi gọi tôi ơi” (Lúc buồn tôi gọi tôi ơi)… Nhà thơ đón nhận nỗi buồn cũng hết sức bình thản: “buồn ta âu đã mấy người/ cười thế khóc thì cũng thế” (Buồn ta âu cũng mấy người); “đánh thức buổi sáng bằng tiếng đàn piano gõ từng nhịp như đếm/ trẻ nhà bên không đi học tập đàn” (Buổi sáng ơi ngõ hẹp).
Cũng có khi nhà thơ rơi vào tâm trạng hẫng hụt thời gian “viết mãi chưa hết cuộc đời/ ngã lại dậy đi / xoá rồi lại viết” (Đi mãi chưa hết căn nhà). Thơ có sự thảng thốt: “nghe được cả tiếng thì thầm mách bảo/ đợt lá rơi cuối cùng của mùa cây/ như cả tiếng nứt vỏ cho mầm xanh non nhú/ chậm lại đi/ lẽ nào chiếc lá…”. Bài thơ “Đừng hẹn nữa ngày mai” như một lời cầu khiến “một ngày đã qua và một ngày không trở lại/ mặc con người cứ ghi và cứ tính/ mặc đồng hồ quay hai mươi tư tiếng/ tóc thời gian trắng lại nhuộm màu/ một ngày thôi cũng là quá muộn/ mây thiên di cảm xúc cũng rời đi/ lẳng lặng thời gian dòng đời biến động/ chớ để ngày mai/ đừng hẹn nữa ngày mai/ nếu có thể thương nhau hôm nay/ không gặp nữa khóc cười chốc lát/ bao nhiêu là cỏ mọc/ quanh ta hoa nở hoa tàn/ vẹn nguyên không gian trời đất/ vẹn nguyên vòng quay thời gian/ lòng người liệu có vẹn nguyên/ giật mình ngoái lại/ xin đừng hỏi/ thời gian đặt ở đâu/ ta là ai/ xin đừng hỏi/ cùng sống hết lòng hôm nay đã”… An nhiên với cuộc đời kể cả khi “một bàn tay rất nhẹ / dắt đi” và điểm vịn tựa chính là thơ “làm thơ như ngồi thiền/ trong đêm ta nhìn thấy/ một lối nhỏ màu rêu/ một bàn tay rất nhẹ / dắt đi”…
Chân dung tự họa của người đàn bà thơ với nhiều trạng thái. Khi dịu dàng, đằm thắm “em nghĩ về mùa thu của em/ có hai miền yêu riêng không tụ lại/ em làm thơ trong giấc ảo một mình” (Đêm nơi thanh thản); lúc thanh thản bên “những bông cúc nhỏ và những bình hoa nhỏ” (Chủ nhật với hoa cúc); khi “tôi thu tôi trong vạt váy hoa phô sắc lời vô duyên mắc lại” (Căn nhà cũ). Cô đơn như “đặc sản” thường trực với thi nhân “luẩn quẩn một ta tha thiết một ta” (Cho lời âu yếm cũ). Có lúc rơi vào tâm trạng mệt mỏi “ký ức đè nặng tim ta/ nhịp tim quen tăng cao chững lại/ người đàn bà kiên nghị trong ta mệt mỏi” khiến “câu thơ đã hồi phục rồi cũng đau” và “tiếng thở dài” đã “có khẩu trang che” (Chỉ có tiếng gió). Cũng có lúc thơ xót xa, trắc ẩn, thậm chí bế tắc “ai cũng bảo chết đi cho đỡ khổ/ sướng đâu tới đâu chỉ đau đớn nặng lòng” (Con nam mô gì nữa)…
Trong mọi tâm trạng, nhất là những lúc rối lòng nhất, thơ như người bạn tâm tình để thi nhân “Yên tĩnh làm thơ” (Chủ nhật với hoa cúc). Tự thấy “ta thuộc về thơ đâu cần trọn vẹn/ cứ để lời dở dang lơi lỏng nỗi niềm” (Câu kết bài thơ); “đi tìm suốt một đời cho thơ/ hoang đường những giấc mơ khó bỏ” (Cho thơ lời âu yếm cũ)…
Thơ chị khắc khoải tâm trạng, chứa chất bao nỗi niềm, buồn đau, nghịch cảnh… Nhưng bên cạnh đó là một tâm thế khác đầy nội lực vươn lên, chiến thắng nghịch cảnh khi chị trải lòng với Hà Nội, bạn hữu và những người thân yêu. Thơ chị vì thế luôn dào dạt cảm xúc. Hà Nội là một phần máu thịt “cho tôi chạm ký ức xưa Hà Nội” (Căn nhà cũ). Chị yêu Hà Nội thao thiết với vẻ trầm tĩnh, lắng sâu với “ly cà phê pha kiểu hôm nay/ nơi này không có dáng mẹ/ Hà Nội phố chật chội/ cà phê phố cổ lặng lẽ” (Cà phê phố cổ); Hà Nội là “nơi có những người đàn bà thấp nhỏ như phố xưa Hà Nội/ căn nhà cũ ân cần chật chội vụng về chén trà mạn phôi pha” (Căn nhà cũ). Hà Nội xanh bền trong chị “tôi chạy vội/ người trên đường chạy vội/ mưa nhanh hơn bước chạy/ Hà Nội mùa thay lá/ tôi dẫm lên mưa lá/ gió tạt chao quang gánh/ người đàn bà nghiêng theo rau/ rớt xuống lòng đường/ tôi chạy vội/ bỏ lại đằng sau cơn dông” (Ghi theo mưa). Bài thơ “Hà Nội ơi đêm lạnh” là tâm trạng chuyển mùa để thấy “Hà Nội vào đông yên ắng lạ/ chỉ những hàng cây xao xác không đâu/ ngày muộn rồi muốn hẹn thơ lúc đêm sâu/ khoác vai trên phố vắng/ lời yêu đương có hòa âm gió lạnh/ có một Hà Nội năm tháng bền lâu”. Hà Nội bền găm ký ức người con yêu Hà Nội dù là tuổi thơ đến khi mái đầu điểm bạc xóa “thơ thẩn tuổi thơ lang thang trắng mái đầu/ ta nhớ mẹ gầy như phố nhỏ/ hàng cây bên đường lá non tơ/ bạn ôm cặp chờ ta đi học/ hai bím tóc dài thương nhớ/ nơi đâu// đừng cười ta/ người đàn bà làm thơ bao tuổi vẫn dại khờ/ cứ luẩn quẩn thu sang đông tới/ cứ giá như để rồi không thể/ trắng bợt mái đầu thơ vẫn xanh xao (Hà Nội ơi đêm lạnh)…
Thơ về Hà Nội đâu chỉ cảnh sắc thiên nhiên, trầm tích văn hóa mà có một Hà Nội mới đậm tính thời sự cùng cả nước gồng mình chống đại dịch covid19 với “Phiếu đi chợ”, “Phố giãn cách”, “Sau một đêm”… Chị có nhiều bài thơ ám ảnh về đại dịch đã làm xáo động cuộc sống bình thường “Hà Nội thức sau một đêm/ tinh mơ nháo chợ nháo siêu thị/ chẳng cần thịt sạch rau sạch/ chẳng hỏi của ta của đâu/ nhanh tay/ nhanh tay/ chỉ một đêm/ chỉ một sáng/ đổi thay phố xá/ con người tha vi rút cùng du lịch/ vi rút bám vào sinh sôi/ lời chửi rủa/ lời thóa mạ/ lâu không dùng râm ran/ tà áo dài tháng Ba bay trên trang facebook/ những người đàn bà lo chợ ngày dịch bệnh không quên làm đẹp”. Nhà thơ quan sát “bên đường đôi người yêu không đeo khẩu trang nói gì khi bị phạt” (Phố giãn cách); chạnh buồn khi “công viên khóa lâu rồi/ không tỉa tót cỏ xanh màu cỏ dại/ người đi bộ ngóng mỏi/ người chạy quanh hồ sớm nay cũng không/ góc phố chợ mua bán cỏn con/ một hai hàng liệu mai còn bán”. Những khái niệm giãn cách, cách ly cũng khiến “thơ ơi sao đi không đợi/ câu chữ nhiều rồi tình cũng không/ đã gần bao giờ mà cách ly/ thơ nhiễm dịch đâu mà nghi ngại/ thì cứ tự mình cảnh giới/ tự mình giãn cách thêm ra”… Cầm “Phiếu đi chợ”, nhà thơ cảm nhận như “gọi nhau về với ngày xưa ấy” – ký ức thời bao cấp “cái thời bốc thăm/ rủi và may” trong một “mảnh giấy gấp” – cái thời “tem phiếu lưu dấu ấn một thời” với “rổ rá xếp hàng/ lo tem phiếu/ rau thịt chia… tem phiếu phân nhiều ít thấp cao”. Dẫu bao bộn bề trong cuộc chiến căng mình đó thì thơ chị vẫn là chất Hà Nội đằm sâu, lắng đọng trong tâm hồn thơ giàu nội lực bởi “tháng Ba vẫn còn đó sắc xuân” (Sau một đêm); “những ngày vắng chợt nhớ thương con phố… phố giãn cách vẫn mua được bó cúc vàng đẫm màu nắng/ bó hoa trên tay có là cần thiết” dẫu “hôm nay chưa đến ngày rằm” (Phố giãn cách). Đọc câu thơ này của chị tôi bỗng nhớ “Hỡi những người yêu hãy ghé mua hoa” (Tố Hữu). Thời giãn cách mỗi người lắng chậm lại để yêu thương và chị thấy “trước bàn phím soi sáng lại chính mình” và sẽ buồn lắm nếu “một ngày không thơ” (Dự báo)…
Thơ viết về cha mẹ luôn ấm áp như một nơi vịn tựa tin yêu “tôi là miếng cắt non từ mẹ/ sinh mệnh nhỏ nhoi thuộc về tôi từ đấy/ định hình/ vẽ một cung đường mẹ uốn tôi/ lưu nét cô đơn của mẹ/ tôi làm thơ” (Mẹ & tôi); “tóc bạc rồi con vẫn cần có mẹ… nén nhang này con thắp tới mẹ không/ quần áo bạc tiền đốt thành tro thưa mẹ” (Con nam mô gì nữa); “vọng về cha một nén tâm hương/ lời con gửi đêm nay/ nghĩa trang làng mờ hơi sương gió/ người con gái xa cha từ ngày ấy lọt lòng” (Gửi cha ngày thanh minh)…
Thơ chị có nỗi đau thế sự với tấm lòng bao dung, nhân ái, nhà thơ đồng cảm với người làm xe ôm, người gánh hàng rong, người đàn ông già mài dao kéo…
Là tập thơ thứ 11, Bùi Kim Anh đã định hình, thủy chung, vẹn nguyên tạo nên một phong cách sáng tác. Thơ chị mang cái tôi riêng, giọng điệu riêng độc đáo của một hồn thơ rất mực đàn bà vừa phóng khoáng lại vừa kín đáo, dung dị; vừa mạnh mẽ, bản lĩnh lại vừa dịu dàng, tinh tế; vừa có nỗi ẩn ức, nghi ngại, trắc ẩn, lại vừa có sự quyết đoán, trí tuệ, nhân hậu; vừa mang âm hưởng dân gian, lại vừa rất hiện đại…
Bùi Kim Anh làm nhiều thể thơ: thơ tự do; thơ 6 chữ (Buồn ta âu cũng mấy người); thơ 8 chữ; thơ lục bát (Lục bát hai câu, Chi bằng ta gọi mình hay…)
Làm thơ lục bát hay, nhưng không đơn giản nếu không nắm chắc vần luật, thanh điệu. Thơ lục bát Bùi Kim Anh khá độc đáo “bây giờ tôi dựa vào tôi/ hoàng hôn dựa vạt nắng rơi cuối chiều” (Lục bát hai câu); “sang hè ngại lúc qua đường/ nấp bóng râm lại ngại vương vấn mùa”; “cái câu lục bát loang toang/ nối vần thôi lại ngỡ sang nhất mình” (Đã quen mất nết đi rồi); “xoàng xĩnh xếp chật tủ rồi/ xa xỉ thì đắt, túi vơi cạn nguồn” (Dạo phố đồng tiền cỏn con); “lá đa nhặt ở sân đình/ bày ra hong cái nỗi tình buồn khô” (Lẻ loi một mối buồn thưa…)
Câu thơ rất gợi bởi hình ảnh đối lập “ta không ngủ khiến đêm phải thức” (Giấc đầu tiên của năm).
Dù âm tiết trong một dòng thơ kéo dài, nhưng nhà thơ vẫn chú ý phối vần điệu, thanh điệu:
Tôi thu tôi trong vạt váy hoa phô sắc lời vô duyên mắc lại
Phố cũ và hàng cây lâu đời còn mãi
Và những người đàn bà trong căn nhà cũ” (Căn nhà cũ)
Ở các tập thơ trước, ngoài tập Đi tìm giấc mơ (chữ in hoa), các tập “tóc trắng nắng mai”, “hình như mùa đã lỡ”, nhà thơ Bùi Kim Anh thường không viết hoa chữ đầu tên tập thơ; chữ mở đầu mỗi dòng thơ; hạn chế dấu câu, thì đến tập thơ “thức bước thời gian” hạn chế tối đa dấu câu (ngoài mấy bài có dấu… và một bài có dấu chấm cuối bài); tên tập thơ không viết hoa; tên bài thơ chữ in hoa. Có lẽ đây là chủ ý của chị, nhưng thực ra, tôi vẫn chưa quen…
Xin chúc mừng nhà thơ Bùi Kim Anh bước vào tuổi 75 với cuốn sách thứ 12 đậm đà phong cách sáng tác riêng của chị:
Thất thập ngũ niên gieo mây trắng/ Mười hai mơ thức gặt giấc mai.
11/5/2022
Lê Thị Bích Hồng
Theo https://vanvn.vn/

Thơ Phùng Cung và những ám ảnh văn hóa Việt

Thơ Phùng Cung và những
ám ảnh văn hóa Việt

Đọc thơ Phùng Cung, dường như những ám ảnh của văn hóa Việt không chỉ ám ảnh chính ông mà còm ám ảnh cả người tiếp nhận. Đến với thơ Phùng Cung ta không chỉ tìm thấy trong đó vẻ đẹp của một thế giới nghệ thuật thơ kỳ ảo mà còn thấy trong đó  những vẻ đẹp của văn hóa Việt.
1. Trong tâm thức của người Việt Nam, dù sống nơi đâu và ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng lưu giữ trong mình những ký ức văn hóa Việt. Nó như một sợi dây vô hình, thiêng liêng níu giữ và liên kết mỗi người với dân tộc, với đất nước, quê hương. Những ký ức văn hóa ấy không chỉ là những hoài niệm, những nhớ thương mà còn là những ám ảnh của vô thức và tâm linh như một tâm thức hiện sinh thao thiết luôn ngân lên như những tiếng gọi hồn.
Đọc thơ Phùng Cung, dường như những ám ảnh của văn hóa Việt không chỉ ám ảnh chính ông mà còm ám ảnh cả người tiếp nhận. Đến với thơ Phùng Cung ta không chỉ tìm thấy trong đó vẻ đẹp của một thế giới nghệ thuật thơ kỳ ảo mà còn thấy trong đó  những vẻ đẹp của văn hóa Việt. Đó là hình ảnh một “cánh bèo” trong cái “ao làng” chật hẹp, tưởng chừng đã có cuộc sống bình an, nào ngờ cũng “lênh đênh”. Và như thế, “cánh bèo” bỗng chốc đã hóa thân thành một số phận, một định mệnh, một cuộc đời, chứ không chỉ đơn thuần là một thứ cỏ cây ở một làng quê Việt vốn an lành. Thơ Phùng Cung tưởng chừng như giản dị, dân dã mà ẩn chứa nhiều chất triết lý, nhân sinh là vì thế!? Vì vậy, mỗi khi đọc thơ ông, lòng ta cứ thấy ngùi ngùi, đắng chát
Lênh đênh muôn dặm
nước non
Dạt vào ao cạn
Vẫn còn lênh đênh.
(Bèo)
Chất văn hóa Việt trong thơ ông không chỉ dung dị, bình thường như cỏ cây vốn có ở làng quê mà còn là kết tinh những trải nghiệm đắng cay của kiếp người. Vì vậy, nó tuyệt nhiên không phải là một thứ văn hóa màu mè, làm dáng, sáo rỗng, giáo điều của những lý thuyết xám xịt, hỗn độn Đông Tây mù mờ, huyễn hoặc ta vẫn thường nghe mà nó là hơi thở, là máu thịt, là tim óc, là sự sống của thi nhân nên dù xa cách đã lâu khi về làng, giữa bao nhiêu sự đổi thay của thế cuộc ông vẫn nhận ra “người làng” dù chỉ nhìn qua “dáng lạt bó rau”
Bạc tóc trở về quê
Bỡ ngỡ tìm đò bến mới
Nhìn dáng lạt bó rau
Nhận được người làng.
(Người làng)
Tứ thơ thật bất ngờ và cũng thật độc đáo. Đó là sự độc đáo của một sáng tạo lạ lùng mà nếu không có tài năng và sự trãi nghiệm văn hóa thì không thể tạo nên những hình ảnh thơ mang dấu ấn văn hóa thú vị đến thế!?
2. Người ta thường viện dẫn những lý thuyết cao xa, siêu phàm khi nói đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Nhưng với Phùng Cung điều ấy được ông khái quát bằng một hình ảnh thơ bình dị “Nhìn dáng lạt bó rau / Nhận được người làng”. Chỉ cần một câu thơ giản đơn như thế cũng cho ta cảm nhận rõ bản sắc văn hóa của dân tộc ở mỗi vùng miền. Cái “dáng lạt bó rau” ấy của làng quê Phùng Cung chắc chắn sẽ không lẫn vào bất cứ cái “dáng lạt bó rau” của bất cứ miền quê nào khác. Bởi nó không chỉ là “dáng lạt bó rau” đơn thuần, mà chính là sự kết tinh của hành trình sống, hành trình lao động để tồn sinh và đã làm nên dáng người quê ông mà biểu hiện sinh động nhất cho sự kết tinh này là dáng hình người mẹ với những giọt mồ hôi “đăm đăm nhỏ giọt” đỡ cho ông “đứng dậy làm người”.
Mồ hôi mẹ
Tháng ngày đăm đăm
nhỏ giọt
Con níu – giọt mồ hôi
Đứng dậy làm người.
(Mẹ)
Câu thơ với ngôn từ chân mộc, giản dị nhưng ẩn chứa trong sự bình dị ấy là tư tưởng nhân bản cao cả, sâu sắc. Có người con nào lại không được lớn lên từ những giọt mồ hôi gian khổ, tảo tần sớm khuya của mẹ. Nhưng có người con nào đã thấu cảm hết được giá trị những giọt mồ hôi mà từ đó ta lớn khôn “đứng dậy làm người”. Để rồi, có khi nào ta tự hỏi nếu không có những giọt mồ hôi của mẹ để ta níu vào thì cuộc đời mình rồi sẽ ra sao!? Phải chăng đây cũng là một gía trị làm nên bản sắc văn hóa Việt!?
Câu thơ của Phùng Cung làm tôi nghĩ đến câu thơ của nhà thơ Phùng Quán:
Có những phút ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.
Ở hai nhà thơ cùng có bút danh bắt đầu là từ “Phùng” (Phùng Cung / Phùng Quán), lại sinh ra gặp lúc bất phùng thời. Nhưng người thì “níu mồ hôi mẹ”, người thì “vịn câu thơ” để “đứng dậy” làm người chứ không hề dựa vào một thứ quyền lực nào cả. Song, họ không chỉ làm người bình thường mà làm một thi sĩ tài năng đã để lại cho đời những câu thơ đẹp góp phần tôn vinh văn hóa Việt. Và có thể khẳng định chắc chắn rằng, chính vì không dựa vào sức mạnh của quyền lực mà chỉ dựa vào sức mạnh của văn hóa Việt, của những câu thơ nên các ông mới trở thành những con người hữu dụng. Bởi quyền lực thường làm con người ta tha hóa, vong thân, hư hỏng và dễ đánh mất cái thiên lương của mình. Chính văn hóa và thơ ca là một giá trị làm nên sự bất tử của các ông, những nhà thơ mà dù số phận có nghiệt ngã đến đâu thì vẫn không vùi dập được họ. Bởi lẽ, nói như Cyprian Norwid, một nhà thơ Balan: “Thế giới này rốt cuộc chỉ còn lại hai thứ, chỉ hai thứ thôi: thi ca và lòng nhân ái… không còn gì khác” còn Lê Đạt thì cho rằng: “Thơ là chóp của của kim tự tháp văn hóa”. (1)
Quả thật, thơ và văn hóa đã trở thành một cuộc hợp hôn diệu kỳ trong thơ Phùng Cung. Đó là cuộc hợp hôn lạ lùng của văn hóa Việt. Chính vì vậy, đọc thơ Phùng Cung ta thấy hiện lên cảnh vật của làng quê Việt mà vẻ đẹp của nó như những chiếc neo găm giữ hồn ông. Đó là một chiếc “Ao con” của làng: Lá tre rụng / Nhuộm hoàng hôn đỏ gạch / Tiếng cuốc bèo da diết / gọi ngày mai. (Ao con). Hay một “tiếng gọi đò” trong đêm cũng khiến lòng ông xao xác:
Đêm về khuya
Trăng ngả màu hoa lý
Tiếng gọi đò
Căng chỉ ngang sông.
(Đò khuya)
Đó còn là hình ảnh của những con người gắn bó cả đời mình với những phong tục tập quán, sinh hoạt lễ hội truyền thống ở làng quê mà ông vô cùng trân quí. Nó như một thứ thần dược nuôi sống tâm hồn ông và nuôi sống thơ ông.
Lúp xúp quê xanh
Dãi yếm bắc cầu một thuở
Gió bạc cánh
Chưa hết vòng kim cổ
Làng cách làng Từng quãng – phong dao.
(Quê xanh)
Ai đã từng đọc ca dao Việt Nam sẽ thấy hình ảnh chiếc yếm đào trong ca dao đã ám ảnh chúng ta như thế nào!? Nó đã trở thành cảm hứng chủ đạo của biết bao bài ca dao về tình yêu đôi lứa. Nó vừa là hạnh phúc cũng vừa là nỗi đau, là hy vọng nhưng cũng là nỗi thất vọng, nó lững lờ mà cũng rất diễm ảo… Và những chiếc yếm thắm gợi tình ấy cũng là sợi dây kết nối tình yêu và hôn lễ, với “nghi ngút khói – gia tiên” mang đậm ký ức văn hóa Việt. Và những điều ấy đã trở thành một tâm thức văn hóa ám ảnh trong thơ Phùng Cung:
Tấm yếm lụa
Trót phơi cành khế
Anh để mắt giùm em kẻo gió bay.
(Vãn xuân)
Nhưng bao trùm lên tất cả nỗi ám ảnh văn hóa Việt trong thơ Phùng Cung đó là những cảm nhận tinh tế về không – thời gian của làng quê Việt bàng bạc trong thơ ông. Đó là nỗi khắc khoải của một làng quê lúc “vào hè”: Tu hú trên ngọn sung chùa / Giật mình, sổng giọng (Vào hè). Hay một “Đêm cuối thu”: Chó sủa – dông dài / Gió chuyển canh / Trái thị cuối thu / Thơm – mùi – trăng úa / Ao khuya nước thở thì thầm (Đêm cuối thu). Đó còn là một buổi chiều: Đuôi nắng uể oải / Vườn ổi chín – đùa (Chiều xuống). Hay một đêm chợt nghe / trong gối vọng tiếng ru / lắng tai mới rõ / tiếng tóc mình chuyển bạc. (Nghe đêm). Đây là những câu thơ thần kỳ nói về qui luật vận động tất nhiên mà đầy cay nghiệt của thời gian. Câu thơ không chỉ nói đến thời gian vật lý mà còn nói đến thời gian tâm lý mà nếu không có một sự nghiệm sinh thì không thể viết được những câu thơ tài hoa đến thế!?
Và từ thế giới đầy biểu cảm của thời gian ta chợt nhận ra thế giới đầy ưu lo của không gian trong thơ Phùng Cung. Đó là không gian văn hóa Việt vốn có tự ngàn đời của làng quê Việt được tác giả cảm nhận một cách tinh tế. Đó là một không gian không chỉ có rộng, cao, sâu mà còn là một không gian đầy màu sắc, mùi vị có khả năng đánh thức cả ngũ quan của con người: Không gian ngập mùi ổi chín / Mùi – năm ngoái / Đầy nước ao bèo / Mây trắng lênh đênh (Gặp thu) mà ông khái quát thành “mùi làng” như hiện thân của một bản sắc văn hóa thật độc đáo mà ông “nguyện mang theo / đến ngày trăm tuổi”. Điều ấy cho thấy văn hóa Việt đã ám ảnh tâm hồn ông đến dường nào: Gió chui khe bếp / Cời đồng giấm / Khói trấu muổi / Nao nao một mùi làng (Mùi làng). Và đó cũng là một: không gian đứt nỗi sững sờ / Khăn điều đãy gấm / Ngẩn ngờ mấy chiều (Giăng tơ)
Với chiều sâu tâm thức từ những ký ức văn hóa, không gian văn hóa Việt trong thơ Phùng Cung còn là không gian văn hóa tâm linh với những biểu tượng văn hóa thiêng liêng của làng quê Việt Nam đã làm nên một hệ giá trị bất biến của văn hóa Việt. Đó là cái “giếng đình vắng ai” (Gặp thu); là “lũy tre xóa bóng” (Chiều xuống); là “Ao khuya nước thở thì thầm” (Đêm cuối thu); là chuyến đò đêm nơi “làng khuya” đã găm lại trong lòng thi nhân biết bao hoài niệm.
Lỡ đò khuya  mới về làng
Ngõ quen bước vội
Va – dấu chân em
Khô bùn để lại
Ao tím hoa bèo
Ngóng giọt – trăng khuya.
(Làng khuya)
Hay hình ảnh con đường làng “ngàn năm/ năng nhẹ bước âm dương” của biết bao cuộc đời người dân quê với kiếp sống nhọc nhằn trên cõi nhân gian, an nhiên trở về trong lòng đất mẹ và “Mặt đất nhẫn nhục nhọc nhằn/ xóa mọi dấu chân” (Đường làng). Để rồi, tất cả lại lặng thầm, hòa tan cùng tro bụi của phận người ở chốn hư vô.
Nắm xương treo – trong đất
Nhìn chẳng tới
Hiu hắt gió – cỏ may
Gài  – nỗi nhớ
Tím – chiều Đông Bắc
(Viếng mộ)
Song nỗi ám ảnh văn hóa Việt trong thơ Phùng Cung không chỉ dừng lại ở sự cảm nhận với những hoài niệm về cảnh vật, con người, phong tục tập quán, sinh hoạt lễ hội ở làng quê Việt mà nó đã kết tinh thành lẽ sống của cuộc đời như ông đã tâm nguyện:
Khi tôi chết
Tôi thèm cái lặng lẽ
Ngoài vòng hương, nhạc
Nếu tái sinh
Tôi chẳng ước ao gì khác
Chỉ mong được như kiếp trước
Xó bếp đói, no
Bờ ao tắm mát
Phận cánh cò
Mưa – nắng – phong dao.
(Thanh thản)
3. Thiết nghĩ, những trích đoạn thơ trong bài đã nói lên nỗi ám ảnh của văn hóa Việt trong thơ Phùng Cung mà mọi lời bình giải cũng trở nên vô nghĩa và bất lực. Tình yêu văn hóa Việt, yêu cảnh sắc làng quê Việt của thi nhân như thế là tuyệt đỉnh. Tình yêu ấy đã hóa thân thành máu thịt, nhân cách, ánh sáng của tâm hồn ông và đã tan chảy trong thơ ông, tạo nên sự bất diệt của thơ ông như chính sự bất diệt của nền văn hóa Việt mà ông đã yêu thiết tha dù cuộc đời có trải qua những năm tháng nhọc nhằn, bất hạnh. Để rồi, cũng như thân phận con cò trong cao dao Việt, Phùng Cung tự nhận mình chỉ là “phận cánh cò” luôn khao khát một lẽ sống cao đẹp, không nhuốm mùi hôi tanh của chốn bùn nhơ: Có xáo thì xáo nước trong / Đừng xáo nước đục đau lòng cò con. Bởi nói như nhà thơ Hoàng Cầm: “Phùng Cung không giống như một số “nhà thơ” khác, cũng có đôi chút tiếng tăm, chỉ đứng ngoài mà nhìn vào cảnh với người ở vùng quê. Anh chính là từ máu thịt làng quê mà sinh ra, lớn lên bằng củ khoai, con ốc và những tiếng khóc lời kêu của hàng xóm láng giềng. Anh thấm đậm hồn quê, nên từng chữ, từng câu của anh đều như chạy nhảy leo trèo, bơi lội trước mắt tôi”(2). Còn Phùng Quán, khi nói về thơ Phùng Cung thì cho rằng: “Đọc thơ anh, có bài chỉ vài câu, tôi bỗng thấy thiên nhiên quanh tôi vụt giàu có lên bất ngờ và trở nên đẹp đẽ đến xao xuyến tận đáy lòng – những vẻ đẹp từ trước đến nay tôi vẫn nhìn nhưng không thấy” (3)
Phải chẳng vẽ đẹp trong thơ Phùng Cung là vẻ đẹp của văn hóa Việt vốn đã trở thành những nỗi ám ảnh trong tâm thức của ông. Thơ Phùng Cung vì vậy đã góp phần làm cho “giòng sinh mệnh” của văn hóa Việt mãi mãi tồn sinh như chính sự tồn sinh của dân tộc, của nhân dân, trong suốt trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước.
Chú thích:
(1)  Lê Đạt, Đối thoại với đời và thơ, Nxb. Trẻ, 2008, tr. 115
(2) (3) Phùng Cung, Xem đêm (thơ), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011, tr.214, 186
12/5/2022
Trần Hoài Anh
Theo https://vanvn.vn/

Chấn thương và hành trình truy tìm căn tính Việt trong tiểu thuyết "Sóng ngầm" của Linda Lê

Chấn thương và hành trình truy tìm căn tính Việt trong tiểu thuyết "Sóng ngầm" của Linda Lê Nhà văn Linda Lê vừa đột ngột qua đờ...