Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

 

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời

Như Bình là nhà văn nổi tiếng. Chị là văn nhân đúng nghĩa, dù công việc làm báo hàng ngày bận rộn. Thời gian còn lại đắm mình vào sắc màu trên toan. Thế nhưng, thi thoảng chị công bố một vài bài thơ. Đọc thơ Như Bình, tôi đều giật mình. Ngay nhà thơ Trần Quang Quý – Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, nhà thơ cách tân về thi pháp trên cảm hứng “nguồn” cũng nhận xét: “Không ngờ thơ em hay thế!”. Chắc chắn, ý kiến này không phải để làm “mát lòng” một “mỹ nhân” của văn đàn.

Bài thơ “Âm thanh cuối”, được nhà văn Như Bình công bố trên diễn đàn văn chương online “Quán Chiêu văn” là một trong số đó.

“Cho em một ngày trốn khỏi hai ta.

Trốn khỏi những thành phố bụi mờ, những ô cửa vẫn nhìn em câm nín.

Trốn khỏi những mặt người lo âu bịt khẩu trang, ánh mắt chói lên dưới mũ bảo hiểm.

Trốn những mảng tường buồn ngủ. Những bóng cây tật nguyền trên phố.

Trốn vô định nỗi buồn”

Khổ thơ đầu đã cho thấy, dòng chảy của bức bối. Nhân vật “em” của Như Bình đang ở trong môi trường ngột ngạt, từ tình cảm thuộc về nhau, trong nhau của tình yêu đôi lứa, của hôn nhân; cho đến ngột ngạt của môi trường sống, nơi “Thành phố bụi mờ”. Và, không chỉ riêng thành phố của “em”, nơi “em” đang sống mà khắp thế giới “mặt người lo âu bịt khẩu trang”. Covid-19 đang là đại dịch toàn cầu. Thời đô thị hóa, đến nông thôn cũng biến dần màu xanh, con người ở làng quê cũng đã bị giam hãm trong những “mảng tường buồn ngủ”, “bóng cây tật nguyền”…, huống chi thị thành. Giữa thế giới ấy, sống trong môi trường ấy, “em” muốn “trốn vô định nỗi buồn”, nỗi buồn không định nghĩa được. “Trốn vô định”, muốn trốn lắm nhưng trốn đi đâu?

Thành phố này đến cái cây cũng chẳng được tự do xanh.

Cây đau đớn chịu hành hình để sống.

Em thương những cái cây trên phố chật đông người.

Cây thương em như thương một tuyệt vọng.

Phía sau mỗi câu thơ là một dấu chấm (.), có nghĩa đã là đầy đủ, đến nghẹn cảm xúc. Ở khổ thơ thứ hai này, người đọc dễ liên tưởng đến cây xanh đô thị, thời đại mà “chủ nghĩa tiêu dùng” lên ngôi. Về mặt trực quan, có thể nhìn thấy trên phố, dẫu thảm thực vật được trồng vì bóng mát, rộng hơn là sinh thái…nhưng chính nó đang bị “hội chứng” bê tông, nhà kính bức hại. Gốc bị chôn trong các hố bê tông, thân bị đóng đinh, trước mùa lụt bão bị cưa đốn. Cành cây như những cánh tay cụt, sần sùi, đau đớn, kêu cứu…Đấy là chưa nói, vì mặt tiền kinh doanh mặt phố, con người có thể bơm chất độc vào thân cây, “bức tử” nó, đâu còn được “tự do xanh”? Để xanh phải được quang hợp, để xanh không bị nhuộm màu.

Nhà thơ Thạch Quỳ có câu nói thú vị “Thơ nằm ngoài sự hiểu biết của con người về thơ”. Mỗi bài thơ, tác giả nào cũng viết bằng hai tay, tay phải viết cái phải phải, tay trái viết cái phải khác như quan niệm của nhà thơ Lê Đạt. Đó mới là thi ca. Ở khổ thứ hai, của “Âm thanh cuối”, đọc lên, người yêu thơ nghĩ ngay đến những vấn đề rộng lớn hơn, không chỉ của mỗi cá nhân mà cả cộng đồng dân tộc; không chỉ của một thành phố mà của nhiều thành phố; không chỉ của một quốc gia mà của cả toàn cầu.

Nhân loại, càng ngày càng phải đối mặt với nhiều thách thức. Chiến tranh hạt nhân cũng đúng, sự cạn kiệt về tài nguyên cũng đúng, ô nhiễm môi trường cũng đúng, sóng thần, sự va đập của các hành tinh vào trái đất cũng đúng, đều nói với nhân loại một sự thực về sự bành trướng cực độ của tính hiện đại sẽ quay lại hủy diệt nhân loại.

Cuộc sống càng hiện đại, càng mang đến quá nhiều tai họa: nguy cơ với sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội, sinh thái văn hóa, rừng bị hủy diệt, đất bị sói mòn, giống loài thoái hóa, tinh thần thất lạc, đạo đức xuống cấp, tâm thái mất cân bằng, tạo ra tai họa lớn uy hiếp sự sinh tồn của nhân loại. Con người ngày càng vuốt ve bản thân, tàn phá đa dạng sinh học để thỏa mãn nhu cầu ích kỷ. Nói đâu xa, mưa lũ miền Trung, sạt lở dồn dập năm 2020 có nguyên nhân từ nhân tai. Trong mùa mưa lũ đó, xã Cẩm Bình, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh của nhà văn Như Bình cũng bị nhấn chìm.

Ngoài “nguy cơ cứng” còn “nguy cơ mềm”. Chủ nghĩa tiêu dùng và chủ nghĩa bá quyền văn hóa làm mất cân bằng sinh thái tinh thần.

Không phải ngẫu nhiên, cuối thế kỷ 19 Ernst Heinnrich Haeckel – nhà tự nhiên học người Đức nêu ra quan điểm sự mở rộng của sinh thái học trong mọi lĩnh vực. Văn học sinh thái, nghệ thuật sinh thái…phát triển và được nghiên cứu. Không phải ngẫu nhiên, các nhà triết học đã đề xướng phương thức khôi phục tinh thần mang ý nghĩa sinh thái văn hóa đó là quay trở lại với tự nhiên cảm nhận sự sống trên trái đất.

“Âm thanh cuối” của Như Bình là sự va đập của sinh thái bật lên thành thi âm trong thơ chị.

Cho em một ngày

Rũ bỏ hết những vô nghĩa

Rũ bỏ em.

Chạy như bay tới cánh đồng sau vụ gặt.

Quỳ xuống hôn một cọng lúa vừa cắt.

Nụ hôn có thể gây những vết xước.

Nhưng em thèm nghe tiếng khóc hoan ca của hạt gạo vừa rời khỏi cánh   đồng cúi đầu thơm trong vỏ trấu.

Hương thơm của lúa làm nước mắt em nghẹn lại.

Con người sống gắn với thiên nhiên và môi trường. Trong môi trường mọi thứ “ngột ngạt” như thế, chắc chắn “em” nhuốm ngột ngạt, cả hữu hình và vô hình, đến mức “em” muốn rũ bỏ tất cả, ngay cả chính mình. Đây là sự phát triển tất yếu của trạng thái tâm lý đến nút thắt cuối cùng. Về kịch, đó là lúc kịch tính được đẩy lên cao trào; về thơ đó là lúc cảm xúc chạm tới đau đớn, chạm vào cật lõi của xúc cảm. Như Bình trân quý thiên nhiên, nâng niu nó. Trong bài thơ này, tác giả cho nhân vật “em” chạy trốn, nhưng chạy đi đâu?

“Chạy như bay tới cánh đồng sau vụ gặt/ Quỳ xuống hôn một cọng lúa vừa cắt”; dẫu biết “Nụ hôn có thể gây những vết xước/ Nhưng em thèm nghe tiếng khóc hoan ca của hạt gạo vừa rời khỏi cánh đồng cúi đầu thơm trong vỏ trấu/ Hương thơm của lúa làm nước mắt em nghẹn lại”. Trong trẻo và thánh thiện, đỗ vỡ và hy vọng níu kéo.

“… Rồi tới lúc mọi bủa vây vỡ nát/ Mùa gọi về nắng mới ríu ran xanh/ Em tự do trên những vòm cây gạo cánh đồng tháng ba nức nở mùa hoa/  Em hí vang như con ngựa mơ về thảo nguyên xa”. Một hy vọng thật đẹp, không chỉ “em” trong bài thơ, không chỉ tác giả mà mọi con người về cuộc sống. Con người không thể tiếp tục “hủy diệt” không gian sống về vật chất và tinh thần của mình. Con người không thể tiếp tục sống chỉ nghĩ đến mình, “bóc ngắn cắn dài”, ruồng rẫy ngày mai.

Covid-19 xuất hiện từ năm 2019, là cảnh báo đau đớn. Chính nCoV giấu mặt này phá vỡ tất cả mọi cấu trúc mà con người đã thiết lập hằng trăm năm nay, trong đó có cấu trúc kinh tế, chuỗi logistics và cấu trúc văn hóa. “…mặt người lo âu bịt khẩu trang, ánh mắt chói lên dưới mũ bảo hiểm” không chỉ là trực giác. Khẩu trang đã “bủa vây” mọi vẻ đẹp sexy của làn môi, cánh mũi; hơn thế, “khẩu trang” bủa vây cả ý nghĩ, tư tưởng. Mũ bảo hiểm đâu chỉ là chiếc mũ bằng vật chất; trong thi ca, đó là thứ bủa vây “tiểu vũ trụ” tiếp nhận năng lượng từ “đại vũ trụ”, quang hợp ánh nắng chan chứa từ cuộc sống.

Em có thể gẫy cánh như con chim mơ về bầu trời.

Sẽ vỡ móng như con ngựa hoang bay trên mờ mịt lối.

Sẽ ngã chết như loài chim trong bụi mận gai.

Ôi âm thanh cuối cùng

Em quỳ xuống,

và cầu xin mãi mãi

Cần phải hành động, cần xác tín. Bởi hạnh phúc không tự nhiên mà có. Những vấn đề của cuộc sống, của thời đại cần có sự chung sức, đồng lòng của nhiều người. Để cứu vãn không gian sống cần sự chung tay của cả nhân loại. Covid-19 gây ra thảm họa toàn cầu, có ý nghĩa thức tỉnh. Không có cộng đồng dân tộc, không có quốc gia nào không bị “tấn công”. Để loại trừ những loại corona trong tương lai, cần tái tạo lại không gian sống. Với “không gian văn hóa” đó là sự chăm bẵm cái đẹp làm cho nó tốt tươi, lan tỏa trong tâm hồn con người, trong hành vi ứng xử nhân vị. Dẫu “Cần rất nhiều văn hóa và khổ luyện để sống tự nhiên”, (nhà thơ Lê Đạt), con người phải hành động.

Như Bình là nhà văn sinh ra từ nông thôn, tuổi thơ gắn với đồng quê thơm thảo. Trong một lần được phỏng vấn, chị tâm sự: “Nhờ đồng quê rơm rạ mà tôi lớn lên. Những bước chân vững chãi hôm nay, hẹp là phố thị, rộng là đường đời, đều nhờ những cú vấp ngã đầu tiên khi chân chạy lon ton trên đường làng. Quê giúp con người lớn lên và thủy chung đầy thân phận”. Khi con người yêu đến tận cùng, người ta mới dám xả thân, dâng hiến. Như Bình không ngoại lệ. “Em có thể gẫy cánh như con chim mơ về bầu trời/ Sẽ vỡ móng như con ngựa hoang bay trên mờ mịt lối/ Sẽ ngã chết như loài chim trong bụi mận gai/ Em quỳ xuống/ và cầu xin mãi mãi”.

Nhiều khán giả Việt Nam chắc chắn đã xem tiểu thuyết “Tiếng chim hót trong bụi mận gai” của của nữ văn sĩ người Úc Colleen McCullough, được xuất bản năm 1977. Tiểu tuyết có lời đề tựa ám ảnh: “Có một truyền thuyết về con chim chỉ hót có một lần trong đời, nhưng hót hay nhất thế gian. Có lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho bằng được mới thôi. Giữa đám cành gai góc, nó cất tiếng hát bài ca của mình và lao ngực vào chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Vượt lên trên nỗi đau khổ khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi, và tiếng ca hân hoan ấy đáng cho cả sơn ca và hoạ mi phải ghen tị. Bài ca duy nhất, có một không hai, bài ca phải đổi bằng tính mạng mới có được.Nhưng cả thế gian lặng đi lắng nghe, và chính Thượng đế trên thiên đình cũng mỉm cười. Bởi vì tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại“.

Như Bình đã phơi bản ngã trên văn bản, nguyện làm tiếng chim hót trong bụi mận gai. Cái đẹp nhân văn trước thiên nhiên và muôn loài, trong đó có mình chạm đến thấu cảm vĩnh cửu. Vì thế, tôi gọi “Âm thanh cuối” là âm thanh của nỗi đau tuyệt vời.

Ngày 11.01.21

NGÔ ĐỨC HÀNH   

Nguyên văn bài thơ:

ÂM THANH CUỐI

Cho em một ngày trốn khỏi hai ta.

Trốn khỏi những thành phố bụi mờ, những ô cửa vẫn nhìn em câm nín.

Trốn khỏi những mặt người lo âu bịt khẩu trang, ánh mắt chói lên dưới mũ bảo hiểm.

Trốn những mảng tường buồn ngủ. Những bóng cây tật nguyền trên phố.

Trốn vô định nỗi buồn.

Thành phố này đến cái cây cũng chẳng được tự do xanh.

Cây đau đớn chịu hành hình để sống.

Em thương những cái cây trên phố chật đông người.

Cây thương em như thương một tuyệt vọng.

Cho em một ngày

Rũ bỏ hết những vô nghĩa

Rũ bỏ em.

Chạy như bay tới cánh đồng sau vụ gặt.

Quỳ xuống hôn một cọng lúa vừa cắt.

Nụ hôn có thể gây những vết xước.

Nhưng em thèm nghe tiếng khóc hoan ca của hạt gạo vừa rời khỏi cánh đồng cúi đầu thơm trong vỏ trấu.

Hương thơm của lúa làm nước mắt em nghẹn lại.

Rồi tới lúc mọi bủa vây vỡ nát.

Mùa gọi về nắng mới ríu ran xanh.

Em tự do trên những vòm cây gạo cánh đồng tháng ba nức nở mùa hoa.

Em hý vang như con ngựa mơ về thảo nguyên xa.

Em có thể gẫy cánh như con chim mơ về bầu trời.

Sẽ vỡ móng như con ngựa hoang bay trên mờ mịt lối.

Sẽ ngã chết như loài chim trong bụi mận gai.

Ôi âm thanh cuối cùng

Em quỳ xuống,

và cầu xin mãi mãi…

11/1/2021

Ngô Đức Hành

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Từ bức tranh ngôn ngữ về thế giới đến bức tranh ý niệm - Trên cứ liệu tiếng Việt

Từ bức tranh ngôn ngữ về thế giới, bức tranh ý niệm  đến mô hình tri nhận, ngôn ngữ học thế giới đã có một bước tiến rất dài về một lĩnh vực khá mới mẻ cả về phương diện lý thuyết cũng như những ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.

1. Mối quan hệ giữa thế giới và ngôn ngữ là một vấn đề khá phức tạp. Bởi vì, chúng không chỉ liên quan đến bản thể và chức năng của ngôn ngữ với tư cách là một phương tiện biểu đạt mà còn quan hệ mật thiết đến chủ thể giao tiếp, nói rộng ra là cộng đồng diễn ngôn, hiểu là, cộng đồng bản ngữ có cùng một một nền văn hóa. Các cách lập thức khác nhau đã hình thành nên những tiền đề lý thuyết khác nhau và tương ứng với chúng là những hệ luận cũng hết sức khác biệt. Và từ việc xác lập đặc điểm bức tranh ngôn ngữ về thế giới (BTNNVTG) đến đặc điểm bức tranh ý niệm (BTYN), ngôn nghọc đã có một bước tiến dài về nhận thức.

Bài viết này, trên cứ liệu tiếng Việt, thử khái quát một số nét chính trong cách hình dung về thế giới, chủ yếu là giai đoạn tiền tri nhận và tri nhận.

2. Theo quan niệm của ngôn ngữ học hiện đại, bức tranh ngôn ngữ về thế giới (linguistic picture of the world, linguistic world view), là hệ thống ý niệm trong một ngôn ngữ, thể hiện cách cảm nhận, diễn giải về thế giới của một cộng đồng diễn ngôn. BTNNVTG một mặt, được đúc kết từ kinh nghiệm, được hình thành trong chiều dài lịch sử, gắn chặt với môi trường văn hóa, có thể biến đổi theo thời gian, mặt khác, chúng lại tồn tại trong tâm trí của người bản ngữ. BTNNVTG hàm chứa trong nó, gồm thế giới hiện thực hay phi hiện thực, thế giới bên ngoài hay bên trong, chứa đựng hệ giá trị, niềm tin và cả những chủ đề mà cộng đồng diễn ngôn quan tâm.

BTNNVTG là vấn đề vừa cũ lại vừa mới. Ngay từ nửa đầu thế kỷ XIX, W. Von Humboldt (1767 – 1835) đã nhắc đến BTNNVTG (weltansicht, sprachlich weltansicht) trong mối quan hệ với hình thái bên trong của ngôn ngữ và linh hồn dân tộc. Từ đó đến nay, tư tưởng BTNNVTG được mở rộng theo những hướng khác nhau. Ngoài bức tranh thế giới (Picture of the world), hiểu theo nghĩa kí hiệu học, tức phản ánh thế giới bằng nhiều loại hình chất liệu khác nhau, là phương tiện biểu đạt giá trị của ngôn ngữ, người ta còn nói tới bức tranh khoa học về thế giới (Scientific picture of the world). Nó được hình thành nhờ vào các khái niệm logic, khoa học, phản ánh nhận thức về thế giới khách quan, chứa tri thức chính xác, tài sản chung của nhân loại, đó là thế giới của tri thức bách khoa, không lệ thuộc vào ngôn ngữ mà nó dùng để miêu tả. Ví dụ, nước, dù miêu tả trong ngôn ngữ nào cũng là một hợp chất hóa học H2O, nhưng với cái nhìn dân dã, người Việt hình dung đơn giản, nước là chất lỏng, nên mới gọi nước muối, nước cất, nước javel, nước lưu huỳnh, nước xà phòng, nước biển (truyền nước biển cho khỏe)…trong khi đó lại không định danh là nước máu, nước mồ hôi, mặc dù thừa nhận chúng cố kết bằng giọt (Trịnh Sâm, 2011).

BTNNVTG được nhiều giới học giả thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau chú ý đến, ngoài mối quan hệ mật thiết với văn hóa, dù nhìn nhận với tư cách là bức tranh thơ ngộ (naive picture) về thế giới hay thuần túy là phương tiện phản ánh thế giới, dù đứng từ góc nhìn tương đối luận hay phổ quát luận, tất cả, suy cho cùng, đều liên quan đến việc nhìn nhận chức năng của ngôn ngữ trong quy chiếu với thế giới.

Dựa vào căn cứ này có thể lược qui về hai hướng tiếp cận, tương ứng với hai cách lý giải về bản thể của BTNNVTG.

Về hướng thứ nhất, tạm gọi là hướng phản ánh luận, xuất phát từ quan niệm, ngôn ngữ phản ánh trực tiếp hiện thực, chức năng của ngôn ngữ là định hướng tư duy, ngôn ngữ khác nhau, hiện thực khác nhau, suy nghĩ của người bản ngữ tương ứng cũng khác nhau. Đi tìm sự tương đồng và khác biệt giữa các BTNNVTG trong quan hệ với văn hóa, chủ yếu người ta phân tích nghĩa của từ vựng, nhất là nghĩa biểu vật giữa các ngôn ngữ hoặc giữa các phương ngữ trong cùng một ngôn ngữ, dựa vào sự đối lập có/không, nhiều hơn/ít hơn, khái quát hơn/cụ thể hơn, tổng quát hơn/chi tiết hơn. Người ta đề cập đến sự phân cắt hiện thực tuyết với lớp từ vựng phong phú của người Eskimo, người Trung Quốc với lớp từ vựng đa dạng chỉ về các loại ngựa khác nhau. Tương tự, trong tiếng Việt, xuất phát từ nền văn minh lúa nước, nên người Việt định danh về lúa và các sản phẩm từ cây lúa rất chi tiết và phần lớn đều là từ đơn (từ cổ), hay xã hội Việt Nam là xã hội trọng tình, lấy cách xưng hô trong gia đình để xưng hô ngoài xã hội, nên hầu như tiếng Việt không có hệ thống đại từ đúng nghĩa và cách sử dụng của chúng kèm theo các sắc thái nghĩa khá đa dạng.

Quả nhiên, thông qua sự phân tích nghĩa của từ, chúng ta có thể thấy được sự phân cắt hiện thực của mỗi BTNNVTG, bên cạnh nét phổ quát còn có những nét đặc thù, nhất là những nét đặc thù ấy hé lộ ít nhiều lối tư duy riêng của mỗi dân tộc. Với cách tiếp cận này, dễ dàng có thể viện dẫn nhiều ví dụ khác biệt như để diễn đạt khái niệm manger (ăn) của tiếng Pháp, tiếng Việt có đến mấy chục từ tương ứng, ngược lại, trong tiếng Việt, từ đàn lại không có từ tương ứng trong tiếng Anh, tiếng Pháp, bởi trong các ngôn ngữ ấy, đàn bao giờ cũng qui chiếu về một loại đàn cụ thể. Cách làm này, nhất là  những nhận xét về tính trừu tượng/tính cụ thể trong phân cắt hiện thực dễ dẫn đến ngộ nhận về thứ bậc của ngôn ngữ, trong đó đáng chú ý là nhận xét, những ngôn ngữ đạt tới trình độ văn minh cao hơn thường gắn liền với độ sâu phân loại lớn hơn và ngược lại. Thật ra, với tư cách là phương tiện biểu đạt, mỗi hệ thống ngôn ngữ có thể diễn đạt bất kỳ điều gì nó muốn. Và như ta biết, việc định danh không hẳn là dựa vào đặc trưng cố hữu của sự vật, hiện tượng, mà nhiều khi người ta gán cho những thuộc tính nổi trội, tùy theo sự diễn giải có tính chất chủ quan của người quan sát. Hơn nữa, nghĩa của từ chỉ có tính chất tiềm năng, chúng là công cụ, có giá trị kích hoạt vào một điểm cụ thể nào đó trong kho tàng tri thức chứa trong não bộ của chủ thể giao tiếp. Nói rộng ra, cách hình dung BTNNVTG như thế chưa phải là cách cấu trúc hóa thế giới một cách chủ động, đích thực, và do vậy cũng khó lòng nhìn nhận chúng thể hiện được đặc trưng văn hóa và tư duy của một dân tộc.

Tuy nhiên, phải thừa nhận, trong một số trường hợp, tri thức khoa học cũng được ý niệm hóa theo cách riêng, nhất là trong môi trường văn chương, lúc này BTNNVTG bất chấp thuộc tính logic của thực tế. Chẳng hạn, VD1, Sáng đi bóng hãy còn dài, trưa về bóng đã nghe ai bóng tròn và VD2, Sáng đi bóng hãy còn dài, chiều về bóng đã nghe ai bóng tròn, rõ ràng VD1 phản ánh chính xác hiện thực, thế nhưng, sự đối lập về thời gian sáng đi/chiều về trong VD2, lại là cách mã hóa rất quen thuộc, thể hiện lược đồ thẩm mỹ trong ca dao. Hay, nhiều cứ liệu cho thấy, nghĩa hình thành trong sử dụng gắn với ngữ cảnh, nói rộng ra, bản chất của nghĩa mang tính ý niệm. Có thể viện dẫn đến trường hợp, dễ tưởng là mâu thuẫn trong sự lựa chọn giữa Sung và Hồng trong ca dao (Chẳng thà ăn nửa trái hồng…/Chẳng thà ăn cả chùm sung…). Kể thêm, Anh em là ruột là rà, Vợ chồng như áo thay rồi là xong và Vợ chồng là ruột là rà, anh em thì có cửa nhà anh em. Dễ thấy, tùy thuộc vào chủ thể tri nhận, các cách ý niệm hóa như thế dựa vào các hệ giá trị khác nhau, mà sâu xa là xuất phát từ những cách phạm trù hóa khác nhau.

Gần đây, nhiều học giả không thừa nhận sự đồng nhất giữa nghĩa của ngôn ngữ và nội dung của ý thức, họ nhận ra rằng BTNNVTG mang bản chất tiền khoa học (pre-scientific), phản ảnh kinh nghiệm tinh thần, kinh nghiệm vật chất và ý thức ngôn ngữ của một cộng đồng diễn ngôn. BTNNVTG thực chất là bức tranh phóng chiếu thế giới đã được trí não nhào nặn. Nhìn chung, nội dung BTNNVTG được nhìn nhận và lý giải rất gần với thuật ngữ tâm lý (psych) của con người và cũng rất gần với ngôn ngữ học hiện đại, nhưng công bằng mà nói, nó có vẻ tĩnh tại và vai trò của chủ thể giao tiếp có phần mờ nhạt.

Về hướng thứ hai, tạm gọi là hướng tri nhận luận, nội dung của BTNNVTG được mở rộng, đó là bức tranh ý niệm (BTYN) (conceptual picture) và có thể hình dung, BTYN là tập hợp tất cả sản phẩm tri nhận của cộng đồng diễn ngôn với nhiều phương thức kiến tạo khác nhau: trực tiếp/gián tiếp, ẩn dụ/phi ẩn dụ, lược đồ/phi lược đồ. BTYN là hệ thống ý thức, là hiện thực được tái cấu trúc và diễn giải thông qua mã ngôn ngữ. Nói cách khác, chính con người chủ động tổ chức cơ cấu ý niệm bằng cách áp đặt thông tin đầu vào thông qua các giác quan. Do vậy, có thể nói được, BTYN là kết quả của một sự tương tác giữa con người với hiện thực thông qua sự biểu trưng hóa ngôn ngữ (R. Langacker, 1991). Mặt khác, có thể coi BTYN là kho tri thức đã được ý niệm hóa, phạm trù hóa dựa vào ngữ cảnh diễn ngôn và đến lược nó, hệ thống ý niệm khác nhau dẫn đến cách tri nhận và diễn giải khác nhau. Sự khác nhau của những hệ thống ý niệm trong các ngôn ngữ khác nhau, có thể có nhiều nguyên nhân nhưng bao trùm lên tất cả là vai trò chủ động vận dụng kinh nhiệm của con người để tương tác với thế giới. Theo Z. Kovecsev, 2005, hai nguyên nhân chính với hàng loạt yếu tố chi phối làm nên tính đặc thù trong tri nhận: (i) khác biệt trong cách thức trải nghiệm và (ii) khác biệt trong sở thích hay thiên hướng diễn giải. Như vậy, ngôn ngữ chỉ có giá trị kích hoạt, còn tương tác, diễn giải theo chiều hướng nào là tùy thuộc cách thức tri nhận. Và thông qua ngôn ngữ, tương tác theo cả hai chiều hướng từ chủ thể đến hiện thực và ngược lại.

Trước hết là tương tác từ  hiện thực đến con người. Mặc dù rất đề cao vai trò của chủ thể kinh nghiệm nhưng ngôn ngữ học tri nhận không phủ nhận tầm ảnh hưởng của môi trường hiện thực, hiểu theo nghĩa rộng. Nói cụ thể, đối với một loại sự tình quen thuộc nào đó, một tình huống khách quan gần gũi nào đó, một chủ đề được thường xuyên quan tâm nào đó thì trong suy nghĩ của người bản ngữ chúng xuất hiện trước nhất, nhiều nhất và có tầm tác động lớn nhất.

Rõ ràng, không phải ngẫu nhiên mà hiện thực sông nước, cây cối, thực phẩm… lại có một vài trò to lớn trong không gian tinh thần của người Việt. Về hiện thực sông nước, xuất phát từ các ẩn dụ Sông nước là con người, Hành trình đời người là hành trình của dòng sông, Tình cảm là nước… người Việt đã hình thành một hệ thống ý niệm về sông nước rất riêng, mà nổi bật là sự thích nghi và cân bằng của chúng được mô phỏng để ứng xử trong cuộc sống [Cao Xuân Huy, 1995] và người Việt có cách quan sát và đúc kết nước theo thang độ nhân tính rất đặc biệt [Trịnh Sâm, 2011].

Tương tự, xuất phát từ mối tương quan trải nghiệm và tương đồng tri giác, tiếng Việt đã kiến tạo nên BTYN về cây cối trong mối quan hệ với con người, rất đa dạng, nhiều tục ngữ, thành ngữ, ca dao thể hiện đạo lý Việt Nam thông qua hình ảnh của cây cối. Về chủ đề thực phẩm cũng thế. Do nhiều lý do khác nhau, ngày xưa cái ăn là nỗi lo canh cánh của hàng triệu  triệu người Việt Nam. Công bằng mà nói, với các ẩn dụ Tri thức là thực phẩm, Suy nghĩ là đun nấu, Học là ăn… nhiều ngôn ngữ đã có những cách ý niệm hóa khá giống nhau, riêng tiếng Việt có hai điểm khác biệt: (i) phần lớn những ngữ đoạn liên quan đến nấu nướng, bếp núc đều được ẩn dụ hóa: Lập luận sống sít, Độ chín của nhà quản lí, Xào bài, Hâm nóng tình yêu, Tình cảm nguội lạnh, Thêm mắm thêm muối vào cho câu chuyện đỡ nhạt…(ii) đệ qui về ý niệm Ngon/Dở để nhận xét, đánh giá: Thân hình cô ấy rất ngon, Nhà hai mặt tiền ngon ơi, Cái ghế đó ngon quá, tốn cả triệu đô… Phim dở, Ứng xử với vợ con dở quá, Điện thoại Trung Quốc dở lắm…. Do vậy, chúng tạo nên một trường ý niệm hữu quan có tầm hoạt động rất rộng.

Nhân tiện, cũng xin được lưu ý, tuy có thể cùng được kích hoạt một mảng hiện thực như nhau, nhưng sự cảm nhận và diễn giải trong mỗi ngôn ngữ mỗi khác. Hiện thực nước/thủy và một số sự kiện liên quan đến chúng trong tiếng Việt và tiếng Trung là một ví dụ minh họa. Tuy cùng xuất phát từ ẩn dụ, Thiên nhiên là con người, Nước là con người…, bên cạnh những ý niệm phổ quát, dễ thấy có những diễn giải đặc thù: trong khi người Việt nhận ra tính thích nghi, cân bằng, mạnh mẽ của nước, cá – nước biểu trưng quan hệ thuận lợi, tình yêu là mối quan hệ giữa thuyền với bến, thuyền – nước là quan hệ giữa vật chứa và vật được chứa…(Trịnh Sâm, 2011) thì người Trung Quốc lại cho rằng nước là yếu, nữ tính, cá – nước biểu trưng tình yêu nam nữ, thuyền – nước là quan hệ giữa tầng lớp thống trị và bị trị, là quan hệ giữa lãnh đạo và nhân dân… (Rong Cheng, 2012).

Về hướng tương tác ngược lại, cũng không khó khi chỉ ra hàng loạt phóng chiếu từ kinh nghiệm của chủ thể tri nhận lên thế giới thông qua nghiệm thân sinh lý, nghiệm thân tự nhiên và nghiệm thân xã hội. Và với từng phạm trù như vậy, cũng có thể chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong từng lược đồ chi tiết giữa các ngôn ngữ.

Xin được chỉ minh họa từ nghiệm thân sinh lý và nghiệm thân với tự nhiên.

Phương Tây đắm mình trong triết học nhị nguyên, lấy tư thế thẳng đứng làm cơ sở phóng chiếu, trên quan trọng hơn dưới, nên quan niệm đầu biểu trưng cho lý trí, tim biểu trưng cho tình cảm, trong khi phần lớn người phương Đông đều qui về nhất nguyên, và theo hướng nằm ngang, tình cảm, lý trí, tính tình… đều do một bộ phận cơ thể con người biểu trưng như xin (tâm, tiếng Trung), jai (tim, tiếng Thái), saz (gan, tiếng Mông), hati (gan, tiếng Indonesia và Malysia), hara (bụng, tiếng Nhật), bụng (tiếng Việt)… và tuy cùng xu hướng nhất nguyên nhưng cũng có nhiều khác biệt trong việc định vị theo nguyên lý nhất nguyên nhất vị hay nhất nguyên đa vị.

Hay trong phạm vi nghiệm thân với tự nhiên, tuy cùng  xuất phát từ ẩn dụ Đời người là một cuộc hành trình, nhưng người phương Tây, nhất là với những con chiên thì nhìn nhận con người sinh ra từ cát bụi và sẽ trở về với cát bụi và cuộc hành trình ấy diễn ra trên đường bộ, trong khi người Việt lại hình dung, con người sinh ra từ nước và khi chết lại trở về với nước và cuộc hành trình diễn ra trên đường sông (Trịnh Sâm, 2011, 2014, 2019).

Sau khi nhận diện tương đối rõ bản chất trí não của con người, nhất là vai trò to lớn của con người trong việc cảm nhận và diễn giải thế giới, trong vòng hai thập niên lại đây, các học giả chú ý nhiều hơn đến lược đồ tri nhận. Tùy theo nhu cầu nhận thức khoa học, tri nhận luận bắt đầu bằng lược đồ hình ảnh, rồi tiến lên, phân xuất các lược đồ vĩ mô thành những lược đồ vi mô dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Trong đó, đáng chú ý là cách đề xuất khung lý thuyết về một số lược đồ văn hóa, với ngành học Ngôn ngữ học văn hóa; sự vận dụng một số thành tựu liên quan đến lược đồ tri nhận để thiết kế các mô hình dịch tự động, và/ hoặc các mô hình trí tuệ nhân tạo.

Có thể nói được, từ BTNNVTG, BTYN đến hệ  mô hình tri nhận, ngôn ngữ học thế giới đã có một bước tiến rất dài về một lĩnh vực khá mới mẻ cả về phương diện lý thuyết cũng như những ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Aprexian Iu.D., Lekxichexcaia Xemantika, Xinonhimichexkie xredxtva iaduca, Naiuca, M, 1974, 251 x.

2. Trần Văn Cơ, Ngôn ngữ học tri nhận, Từ điển Tường giải & Đối chiếu, NXB Phương Đông, 2011.

3. Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, NXB Văn học, 1995.

4. Kövecses Z, Metaphor in Culture Universality and Variation, Cambridge University Press, Cambrige, 2005.

5. Langacker, Ronald, Concept, Image and  symbol, Muton de Gruyter, Berlin, 1991.

6. Nishida, H, A cognitive approach to intercultural communication based on schema theory, inetrnationalJournal of intercultural relation, 23(5), 1999.

7. Rong Chen, Water networks, the Chinese radical and beyon, in  languages and linguitics, compendium of cognitive linguistics research, Thomas Fuyin Li (ed), Nova Publishers, New York, 2012.

8. Trịnh Sâm, Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Việt, tạp chí NN, số 12 (271), H. 2011.

9. Trịnh Sâm, Một vài nhận xét về ý niệm “TIM”, tạp chí TĐH&BKT, số 4 (30), H , 7/2014.

10. Trịnh Sâm, Về ý niệm NGON / DỞ, tạp chí TĐH&BKT, số 6 (138), H, 11/2015.

11. Trịnh Sâm, Phổ quát và đặc thù thông qua một số miền ý niệm nguồn tiếng Việt, tạp chí NN, số 10 (329), H, 2016.

12. Trịnh Sâm, Mô hình tri nhận và tương tác văn hóa, tạp chí NN, số 4 (335), H, 2017.

13. Trịnh Sâm, Lý thuyết nghiệm thân nhìn từ thực tiễn tiếng Việt, tạp chí NN, số 1 (356), H, 2019.

14. Sharifian, Farad, Cultural conceptualisations and language: Theoretical Framework and Applications. Amsterdam/Philadelphia: John Benjamins, 2011.

15. Sharifian, Farad. Culture linguistics, PDF, Amsterdam/Philadelphia: John Benjamins, 2017.

16. Lý Toàn Thắng, Ngôn ngữ học tri nhận, từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt, NXB Phương Đông, 2009.

17. Nguyễn Đức Tồn, Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, NXB Từ điển Bách khoa, H, 2010.

18/1/2021

Trịnh Sâm

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Vũ điệu của khói sương

Giữa tiết thu se lạnh, không gì dưỡng tâm bằng kiếm cho mình một góc nhỏ thật yên tĩnh, thoát khỏi thế giới xô bồ, ngồi đọc những dòng thơ đong đầy thiên nhiên sang mùa ghi dấu cỏ hoa. Những lúc ấy, thơ thường ẩn mình dưới lá cỏ, bên trong sần sùi vỏ cây già cỗi, hay lơ lửng tầng không rồi bất ngờ vụt hiện trong cõi cảm nhận của riêng mình. Tôi đã đọc “Lục bát múa” của Trần Lê Khánh trong một không gian thu đầy lá rơi như thế, nhận ra xung quanh lá vàng đã rơi rất nhiều trong trang sách, rơi tràn từ trong thơ ra đến cõi không đời thực, rồi hóa thân thành những vũ điệu khói sương, mang nặng trĩu nỗi niềm ẩm ướt của thơ, vừa hiển hiện những thi ảnh cụ thể rõ ràng như bức tranh tả thực, vừa mơ hồ như sương khói.

Vũ điệu khói sương của tập thơ, như là vũ điệu của một thứ lục bát mới, một thứ lục bát từng cặp hai câu hết sức cô đọng cũng mang vũ điệu của nhìn và cảm thiên nhiên qua tâm thức lá sen, vũ điệu của chiêm nghiệm mang đậm ánh thiền… Và nhiều khi, trong vũ điệu nhẹ nhàng của thơ ấy, thấp thoáng gương mặt thi nhân với nụ cười nhiễm sương, nhẹ như mây trôi với nụ mỉm cười hiền của một gã trai dừng bước giang hồ, nghe trong giai điệu thu những chiêm nghiệm lắng đọng đang rơi như lá vàng xào xạc…

Tôi tự nhiên muốn thuật lại những câu chuyện mà những vũ điệu của tập thơ vừa đưa đến. Mở đầu là nhưng câu thơ đề từ của Ba Gàn, một đề từ rất đọng:

“giọt sương trên đầu ngọn cỏ

rơi xuống

xuống mãi

mãi chưa tới đất”

Như lời đề từ, giọt sương đã rơi như một câu chuyện trần gian, với những cơn mê đời người, rơi mãi không hề chạm đất, nhưng nó đã rơi chạm cõi thơ, chạm cõi lòng.

Trước hết là tiếng lòng thu. Mùa thu bàng bạc trong tập thơ, song lại rất cô động có phần dí dỏm một nỗi đa sắc, đa diện, đa cung bậc, đa cảm xúc, đa chiêm nghiệm:

Thu như một giấc mộng dài của cuộc thế:

“có lần cơn gió mùa thu

nói rằng quả đất mộng du dài dòng”

Thu như một tác nhân cuộc đời hay phận người:

“mùa thu hạt bụi long đong

nắng mai đi khuất cho không ngày dài”

Có khi thu như bóng nhân mờ bóng trăng thu, hay là phút chợt nhận ra chân dung mình mờ phai trong tiếng âm ba:

“người đi mờ tiếng xa xa

trăng thu vùng dậy, nhận ra bóng mình”

Những ý thơ từ hai câu, mà như thể thi nhân trải những tấm toan để nghịch ngợm vẽ cho chúng ta chiêm ngắm thu trên con phố dài, để sau những tiếng cười sẽ có những bất ngờ ngẫm ngợi trước cái đẹp thênh thang vàng thu hay cuộc đời, những lúc ấy ta hiểu ra rằng nhiều khi nên rủ bỏ những định kiến làm bó hẹp tâm hồn. Như hai câu dưới đây, bức tranh con cá mãi chơi thu, bỏ quên tất cả, và những bong bóng từ nội tâm của nó được thả rong:

“con cá hớp phải mùa thu

vài gợn bong bóng ngục tù đi chơi”

Có khi thu như ngập ngời chia lối, song lá thu lại xóa hết lối về bản ngã:

“mùa thu chừa hết mười phương

lá vàng lại xóa con đường trong em”

Và dĩ nhiên, sẽ có lúc đẩy ta vào một không gian thời gian thu bao la bát ngát, không rõ mùa thu đang chính thức ở nơi đâu:

“bên ngày đến, bên đêm trôi

mùa thu trốn ở trên đồi hoang mang”

Vậy thì ngọn đồi hoang mang hay mùa thu hoang mang? Không ai rõ cái hoang mang ấy từ đâu, nhưng chắc chắn là cái hoang mang khởi từ cội rễ thu giăng mắc. Cái tài của thơ Trần Lê Khánh là ở đây, bửng lửng bơ lơ, những cảm nhận rất thực mà như mơ hồ, như đời người mơ hồ, thi nhân không chỉ ra hết những âm ba chữ, mà chỉ vén chữ nghĩa ra để nhường lối cho cảm nhận ùa về. Cũng như:

“dấu chân dấu, nhặt cho đầy

đầy không chiếc túi đựng mây thu tàn”

Là hỏi mà không hỏi, làm sao nhặt cho đầy túi? Nhặt đầy để làm gì? Không nhặt đầy có sao không? Rõ ràng là không cần phải trả lời. Chỉ cần cảm nhận, thế thôi. Nhưng đừng tưởng tất cả sẽ trôi xuôi, bởi một vô tâm kiêu mạn, sẽ làm ai đó đau:

“mùa thu hạt bụi đi ngang

mùa thu kiêu mạn, bụi chàng thiếp đau”

Thì ra trong cõi thu, hay cả bên ngoài cõi thu của thơ, đó chính là cõi người. Những lá vàng, cổ thụ, sương khói, mây thu, hạt bụi thu, nắng phai… chính là cõi người. Mà cõi người thì:

“cỏ cây không thích nhiều lời

bình minh đem cất mặt trời trên cao”

Cõi người – như cỏ như cây cần ánh nắng – cần chân lý, cần tình yêu thương, cần sống và hy sinh. Như một sự nén cơn đau, bởi dẫu có hoài mang cho ai thì cũng là làm đau kẻ khác:

“em đem dĩ vãng cúng dường

cánh đồng sen nhỏ, đau thương bùn lầy”

Những nhắn nhủ ấy quá đỗi nhẹ nhàng, đó là cách thức chiêm nghiệm của Trần Lê Khánh, ví như nói về cái nỗi vô tâm của gai hoa hồng:

- vòng tròn em vẽ vô tâm

vườn hồng gai nhọn thậm thâm cuộc tình

- “em về gieo hạt vô tư

cánh rừng nguyên thủy mỏi như yêu thương”.

Hay là một “lời gió bay” nhặt được nơi chân trời, nơi đường biên niềm tin, khiến hụt hẫng bàng hoàng:

“một lần thử đứng chân trời

bàng hoàng nhặt được những lời gió bay”

Khiến quay quắt như một niềm tin đổ vỡ, chỉ còn niềm vô vọng:

“người đi bỏ lại bầu trời

ai đem kim chỉ khâu lời gió bay”

Câu thơ hay như một cơn gió tê tái giữa đất trời.

Có khá nhiều hai câu lục bát hay như thế có thể nhặt ra từ trong “Lục bát múa”. Hay vì nỗi ám ảnh cao dao:

-“một hôm chiếc lá ăn năn

vén nhau tìm giọt sương rằm đêm qua”

Hay như nỗi đau xuyên thấu bên này, mà liệu bên kia cõi đau này có được bình yên:

- “mũi nào đau nhói đêm nay

chẻ đôi tiếng sét bên này mưa tuôn”

Hay như một nỗi vơ vơ được gọi tên:

- “hàng cây từ thưở em đi

rêu phong hóa cánh thiên di tìm bầy”

Đã cô đơn lạnh đến độ rêu phong, mà lại cố bay đi tìm bầy cho đỡ lạnh, liệu có tìm bầy được không? Quả nhiên không, như những câu thơ dưới đây chỉ cần đọc lên, không cần bình chú gì thêm:

- “đời người đem hết cô liêu

thả vào mảnh đất phì nhiêu hạt buồn”…

-“cởi dần chiếc áo bốn bề

vẫn đau một mảnh trăng kề trên vai”

Cái hay của thơ chiêm nghiệm là biết giấu nụ cười bên trong câu chữ, một tiếng cười vị tha, pha chút tinh nghịch của một hơi hướm thiền vị.

Như là cái nhìn yêu thiên nhiên với những thi ảnh đầy thi vị:

- “là ngọn núi nhỏ nhấp nhô

giấc sâu vẫn ngượng lõa lồ trong mây”

- “gió thu đang nhú trên đồi

giọt sương e lệ mà ngồi run run”

Và thiên nhiên sao giống con người làm vậy, như cõi phù du sân si mênh mông:

“mùa thu vô tướng sân si

hàng cây rủ hết làm gì phù du”

Đôi khi khiến ta ngỡ là ca dao:

“lá rơi đâu biết xếp hàng

về đến mặt đất cả làng như nhau”

Đôi khi khiến ta nhớ đến Hồ Xuân Hương:

“lá vàng liếc nhẹ mùa thu

phe phẩy ngọn lá sĩ phu giả vờ”

Đôi khi là cuộc yêu đương được thi ảnh thăng hoa:

“uyên ương nếm chuyện đã thành

cỏ khô trên túp lều tranh mệt nhoài”

Đọc mà thấy mình như cũng mệt nhoài theo cỏ khô, mà cũng thấy tuyệt vời như cỏ khô.

Và em nữa, đầy bỡn cợt:

- “sáng mùa thu trời đổ mưa

hay là em muốn đong đưa tháng mười”

- “chiều nay con phố tàng hình

em phun sương khói nghi binh quỷ thần”

Nhưng cũng có lúc trong cái cà rỡn ấy, cơn đau “mỗi ngày ta chọn một niềm vui” (Trịnh Công Sơn), lại đến ở cuối tiếng cười:

“quá khứ hiện tại vị lai

sao em mải miết chia sai thì buồn”

Đó là những lúc nhìn sâu vào quá khứ và thực tại:

“kinh thành sáng loáng đao gươm

sách sờn con chữ gườm gườm nhìn nhau”

Và cái hiện tại ngổn ngang cuộc trần:

“yêu kiều tán loạn thanh tao

chít khăn mỏ quạ vận vào hồng lâu”

Rồi kiếp người từ đó, hãy nhìn lại chính bóng đời:

“ai là kiếp trước của ai

thủy chung chiếc bóng đổ dài từ chân”

Câu thơ chợt lắng như một câu thiền. Không thể không dừng lại khi đọc câu thơ này.

Có khi Trần Lê Khánh nói nghiệm lời Phật một cách trực diện phóng khoáng:

“phan duyên một cơn mưa rào

vài hạt trạo cử dậm vào miên man”

Phan duyên là phàm làm việc gì cũng tùy duyên. Trạo cử là một trong năm chướng ngại: tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi. Nếu hôn trầm là sự mờ tối của tâm thức thì trạo cử lại chỉ trạng thái tâm không yên. Gần như đây là lần duy nhất trong tập thơ này Trần Lê Khánh dùng chữ của nhà Phật. Còn lại đều nói xa xôi, bóng bẩy, như thể để cho tất cả những ý, những chữ đều bay trong vũ điệu thu đầy gió, đầy lá vàng rơi, đầy sương khói, như mênh mông…

Cho đến hai câu thơ cuối:

“mây thu bay nán gì thêm

em đi vóc thả lưng mềm thời gian”

Có thể nói đây là bức tranh hay và đẹp giữa nhiều bức tranh như thế trong vườn tranh “Lục bát múa”.

Và đến đây, tập thơ khép lại với bốn câu thơ không biết của ai, của Trần Lê Khánh hay của thơ, hay của người kể chuyện giấu mặt: “rèm sân khấu sang ngang”.

“Lục bát múa” đúng là vũ điệu đùa mà không đùa, dù chất dí dỏm có thừa, song cõi sâu thẳm của nó, thừa những điều cho bạn đọc thấm chìm trong chiêm nghiệm.

Nếu có một vài điều chưa hài lòng, thì đó cũng như ta đang nằm nghe tiếng vó ngựa bay qua đồi hoang vu, chợt nghe lại tiếng vó ngựa lúc trước đã vang vọng trong mình. Tiếng vó ngựa lặp lại, như sự lặp lại của thi ảnh, của chữ. Ví như:

“biết cho là lấy thêm đau

tay người sao lại rối nhau vào lòng”

- “em đừng tách lá khỏi thu

mùa đông mà đến rối mù mùa sau”

Thì chữ “rối” ở hai câu thơ này khá đắt.

Nhưng:

“tách lá ra khỏi mùa thu

đem về cân lại hình như nặng lòng”

Thì cái sự “tách lá khỏi thu” ở đây nó lặp lại song không còn vi diệu nữa, tiếng vó ngựa không còn bay thênh thang trên đồi thi ca.

Nhưng chung quy lại, “Lục bát múa” vẫn âm vang bao điều khi ta gấp sách lại, như sương thu còn vướng vít quanh đây trên lá cỏ tâm thức. Có thể ví thơ Trần Lê Khánh như một đóa quỳnh nở trong đêm khuya thanh vắng. Nụ quỳnh hoa cô đọng và nén những ý tưởng, những thi ảnh, những chữ…; cho đến khi nở bung ra thành những cánh trắng nõn nà rung rinh, thì hoa ấy đã hóa thành một đóa tinh khiết mang mùi hương tinh tế của minh triết, hoa ấy mang ánh sắc trắng đầy ngạc nhiên của những giấc mơ thi ca đưa cái đẹp vào sâu bên trong cho những tâm hồn rộng mở…

19/1/2021

Hồ Đăng Thanh Ngọc

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Mấy ghi nhận về Bếp Lửa

Bếp Lửa hay là định nghĩa của một con người như một ý thức, một ý thức như một nỗi khốn khổ. “Đi đâu cũng chỉ là mày – đau khổ và nhục nhã. Mà nào riêng có đất này hổ nhục thôi đâu, mọi nơi mắt mày cũng chỉ nhìn thấy như vậy. Không trốn được đâu, trừ phi mày trốn được lòng mày”.

Nhà văn thường là kẻ bất công với chính mình: bất công với những gì hắn đã viết ra. Hắn thường nhìn lại tác phẩm của hắn với con mắt nghi ngờ, không toại nguyện. Càng nghi ngờ, không toại nguyện, khi đó là tác phẩm đầu tay mà ngày nào, khi “chưa phải là nhà văn”, hắn đã hoàn tất với tất cả say mê cuồng nhiệt, tình cảm mà mai đây, khi đã là nhà văn rồi, không dễ dầu gì hắn tìm lại được. Với hắn dường như tác phẩm thật sự là tác phẩm hắn đang viết, sẽ viết, đang hoàn tất, sẽ không hoàn tất bao giờ. Trong khi cuốn sách đầu tiên, đối với hắn, chỉ là bước chân dọ dẫm, những âm vang ngơ ngác của một thời: thời mới lớn. Dường như tác phẩm đầu tay của một nhà văn luôn luôn gắn bó vào chính cái thời mới lớn đó. Nó đánh dấu một thời mới lớn, nó thể hiện những say mê và ước vọng của thời mới lớn, nó chính là cái thời ngu ngơ bất trắc đó. Cho nên trong chủ quan của nhà văn, nó là cái gì nhất thiết phải được vượt qua, một cách nào đó, phải được chối bỏ. Nó không còn là một khởi điểm. Nó là một lỡ lầm mà nhà văn muốn quên đi như một nỗi thất bại. Trường hợp Philippe Sollers mới đây khi lên tiếng phủ nhận và loại bỏ tác phẩm đầu tay [Une Curieuse Solitude] ra khỏi toàn bộ tác phẩm của mình là một trường hợp điển hình.

“Cuốn sách mỏng mảnh, yếu ớt và chưa thành hình dáng này của một người mới lớn”. Tác giả muốn nói gì với chúng ta qua lời thú nhận đó? Một cuốn sách chưa thành hình, một tác phẩm dở dang, đúng hơn là một kinh nghiệm đã hoàn tất? Cuốn sách của một người mới lớn liệu có thoát ngoài kinh nghiệm của chính tâm hồn mới lớn đó? “Lúc hắn viết cuốn sách này, hắn chưa phải là một nhà văn, không muốn là nhà văn. Hắn chưa biết mình muốn gì vì hắn muốn tất cả.” Tất cả ở đây phải chăng là toàn thể cái kinh nghiệm sống mà hắn muốn thể hiện lên những trang sách thứ nhất đó? Cuốn sách đầu tiên, đó chưa là kinh nghiệm của tác phẩm mà là tác phẩm của một kinh nghiệm. Cho nên khi nhìn lại cuốn sách đầu tiên của mình, để trở lại với một ý nghĩ ở trên, tôi nghĩ, nhà văn có thề phủ nhận nó như là tác phẩm chớ không thể phủ nhận nó như là một kinh nghiệm, một kinh nghiệm mà chính hắn đã trải qua, một kinh nghiệm làm biến đổi tâm hồn hắn, đã dìu hắn đến ngồi vào bàn viết, viết dòng chữ đầu tiên: “Tôi tìm Thanh ở chỗ làm việc của nàng…”, dòng chữ đầu tiên hay chính là lời nói đã tìm được cơ hội thốt lên và chính hắn cũng tan biến vào lời nói đó, chính hắn là lời nói đó.

Có lẽ không phải tình cờ khi phần đông các tác phẩm đầu tay đều viết ở ngôi thứ nhất. Hay nói một cách đơn giản hơn: nó là lời nói của một con người, một kinh nghiệm. Con người đó đã từng sống thật trước khi biến thành nhân vật tiểu thuyết và tác giả không là kẻ sáng tạo nên nhân vật tiểu thuyết của mình: hắn chính là nhân vật tiểu thuyết đó [Narcisse chết: hắn là kẻ không biết dùng chữ, đáng tiếc!].

Tác phẩm hay là sự tiếp nối của một kinh nghiệm sống , một thảm kịch sống. Phải chăng trong ý nghĩ đó, Bếp Lửa nhất thiết là một cuốn sách, nói theo tác giả, của một người “chưa phải là một nhà văn, không muốn là một nhà văn”. Viết Bếp Lửa điều này cũng có nghĩa là sống (một lần nữa) cái thảm kịch của chính nó đồng thời mời gọi người đọc tham dự không phải vào một thế giới phù phép, giả ảo của chữ nghĩa, mà vào một thế giới còn nồng nàn hơi thở của sự sống. Nếu nhận rằng có một hố sâu ngăn cách giữa văn chương và thực tại, giữa chữ và nghĩa, thì ở đây, vinh quang của Bếp Lửa chính là ở chỗ nó nó chưa rơi vào sự sa đọa của tác phẩm, nó là cuốn sách còn là cuốn sách hiểu trong ý nghĩa đơn sơ nhất của danh từ, cuốn sách của một người “chưa phải là một nhà văn”.

Bởi nhà văn cần thiết là một con người sa đọa, hắn hy sinh thực tại cho mộng tưởng, hắn hy sinh thế giới cho hình ảnh, hắn hy sinh sự sống cho chữ nghĩa vân vân…. Hãy nghe Thanh Tâm Tuyền nói: “Mỗi nhà văn chính là kẻ sống sót”. Kẻ sống sót với “sự thật” của những người chết “truyền lưu” cho hắn. Nói khác đi, sự thật chính là sứ mạng của nhà văn.

Nếu Bếp Lửa thể hiện một sự thật, một kinh nghiệm, thì thất bại chính là tên gọi của sự thật, của kinh nghiệm đó. Trong một bài viết về Thanh Tâm Tuyền, tôi có đi tới một nhận xét: “Đọc Thanh Tâm Tuyền tức là một cách nào đó tham dự vào cuộc phiêu lưu trắc trở của một ý thức lạc loài và bất hạnh. [Đi Tìm Tác Phẩm Văn Chương, Huỳnh Phan Anh, nhà xb Đồng Tháp, trang 174].

Nhân vật Bếp Lửa chính là một trường hợp điển hình của ý thức khốn khổ đó. Một ý thức khốn khổ hay một ý thức trong cuộc hành trình vô vọng giữa hư vô và đổ vỡ. Một ý thức mà giấc mộng “biến cải thế giới”, “thay đổi cuộc đời”, “tự do và chọn lựa”…. chỉ là một nỗi “đam mê vô ích”, giữa những thế lực mù quáng của định mệnh và lịch sử không ngừng “lấn áp ở mọi phía”. Một ý thức, trong cô đơn và bất lực, bị kết án phải “đi một mình suốt đời” giữa bốn bề hỗn động, tối tăm.

Cuốn sách mở ra một cuộc hành trình, hành trình vào cõi đêm thâu. Trên từng câu ngắn, trên từng ý nghĩa cô đơn, người đọc không đọc mà lắng nghe, lắng nghe cái âm vang lạc loài của những bước chân cô đơn, quờ quạng.

Thảm kịch của Bếp Lửa là thảm kịch của con người như một ý thức bị vây khổn. Nó bị kết án vì nó là một ý thức. Nó khốn khổ vì nó là một ý thức. Ý thức, đó chính là căn bệnh khốc liệt nhất, là “con sâu ở giữa tim, giữa hồn, giữa não”, là cái chết ngày một lớn lên, là sa mạc ngày càng rộng mở.

Bếp Lửa hay là định nghĩa của một con người như một ý thức, một ý thức như một nỗi khốn khổ. “Đi đâu cũng chỉ là mày – đau khổ và nhục nhã. Mà nào riêng có đất này hổ nhục thôi đâu, mọi nơi mắt mày cũng chỉ nhìn thấy như vậy. Không trốn được đâu, trừ phi mày trốn được lòng mày”.

Đi đâu? Đó là câu hỏi khốc liệt từng phút từng giấy đốt cháy tâm tư con người giữa sa mạc quạnh hiu bát ngát. Đi đâu rồi cũng vẫn thế, ý thức đời đời vẫn là nỗi bất lực đớn đau, ý thức sau cùng chỉ là những tiếng ngọ nguậy của bầy cua, nó vô vọng bẻ gẫy và vượt qua những giới hạn của mình, tìm đến những chân trời kỳ diệu của ước muốn và mộng tưởng.

Nhân vật Bếp Lửa không ngừng loay hoay, tìm kiếm, lặn hụp, phá phách trong một thế giới đầy ắp những cái ngẫu nhiên, không thường tồn, không tất yếu. Một thế giới rạn nứt, vô phương hàn gắn. Một thế giới về chiều. “Về đâu bây giờ?” Trong cái thế giới âm u, xám ngắt, câu hỏi thốt lên, âm thầm nhưng man rợ làm sao, bởi đó là câu hỏi còn là câu hỏi, bởi đó là tiếng thét gọi của một ý thức đang lâm vào đường cùng, bởi đáp lại nó, chỉ có niềm im lặng của hư vô và bóng tối điệp trùng.

Và cuộc hành trình vẫn tiếp tục, còn mãi mãi với nhân vật Bếp Lửa, cuộc hành trình không hứa hẹn về đâu. “Tôi không nhớ mình đang nằm ở đâu, mình đến đây làm gì. Chưa bao giờ tôi cảm thấy nỗi tuyệt vọng ghê gớm đến như thế. Tôi có thể tự tử được. Nhưng tôi tự nhủ: cũng thế thôi, phải, cũng thế thôi.” Họa may, cuộc hành trình kia rồi sẽ đưa người ta tới cái chết, như một thất bại sau cùng, như một đoạn đường sau chót của một chuyến phiêu lưu.

Liệu còn có cách kết thúc nào khác cho một câu chuyện như thế? Cái chết xuất hiện như một người tình đúng hẹn. Cái chết không kết thúc nhưng hoàn tất, như người ta hoàn tất một tác phẩm, một công trình có ý nghĩa, một ý nghĩa.

“Tôi có thể tự tử được.” Tưởng tượng nhân vật Bếp Lửa đã thốt lên câu đó với tất cả sự sung sướng của tâm hồn.  Tưởng tượng đó cũng là câu văn hồn nhiên trong sáng nhất của Bếp Lửa. Bởi thảm kịch ý thức đã đạt tới cao độ của nó: “Chưa bao giờ tôi cảm thấy nỗi tuyệt vọng ghê gớm đến như thế.” Cái chết như một cách giải quyết sau cùng. Thất bại sau cùng cũng là chiến thắng đầu tiên của ý thức khốn khổ.

Nhưng tại sao nhân vật Bếp Lửa đã không chấp nhận cái chết lựa chọn và tự do đó?

Tôi nghĩ rằng, hơn ai hết, hắn thừa nhận rằng cái chết thể hiện sự tự do tuyệt đối của con người như là một khả năng lựa chọn, đồng thời chính nó cũng phủ nhận con người như một khả năng lựa chọn, đồng thời chính nó cũng huỷ diệt khả năng lựa chọn đó. “Cũng thế thôi.” Cái chết không thay đổi được gì. Hơn nữa, cái chết ở đây còn là sự thất bại của chính sự thất bại.

Trong viễn tượng đó, ta có thể nói Bếp Lửa là hành trình của một ý thức khốn khổ còn là ý thức khốn khổ, là kinh nghiệm của một sự thất bại còn là sự thất bại. Chấp nhận con người như một ý thức khốn khổ, chấp nhận con người như một thất bại, phải chăng đó cũng là cách chấp nhận chính đời sống này? Cái chết là khởi điểm của Bếp Lửa nhưng không là cùng đích của nó. Đúng hơn, nó là sự hình thành của một thái độ. Phải chăng đó cũng là một giá trị cao cả của Bếp Lửa?.

20/1/2021

Huỳnh Phan Anh

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Bài thơ “dự báo” về định mệnh của Lưu Quang Vũ

Nhà thơ, nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ là bạn đời của nữ thi sỹ Xuân Quỳnh. Cặp đôi nghệ sỹ “trai tài gái sắc” ấy đã đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại những tác phẩm thực sự xuất sắc. Vợ chồng Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ cùng con trai Lưu Quỳnh Thơ qua đời trong một tai nạn giao thông thảm khốc tại thành phố Hải Dương tháng 8 năm 1988, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho bạn bè văn nghệ sỹ và những độc giả hâm mộ trong và ngoài nước.

Trong phần thơ di cảo Lưu Quang Vũ để lại, mới được công bố năm 2008 bởi sự tuyển soạn công phu của nhà nghiên cứu, phê bình văn học, Tiến sỹ Lưu Khánh Thơ- em gái nhà thơ Lưu Quang Vũ có bài thơ “Lời cuối” được viết từ năm 1975. Bài thơ như lời ngầm “dự báo” của chính nhà thơ về định mệnh của mình. Lưu Quang Vũ suy ngẫm về sự sống và cái chết. Anh thấy, trước vô cùng vô tận của thời gian và vũ trụ, sự sống con người ngắn ngủi, mỏng manh, cái chết là điều không thể tránh khỏi:

Đi cùng nhau trên thành phố

Rồi mai tàn cơn mưa

Ta sẽ trở về

Nơi mình đã sinh ra

Bóng tối trùm lên đất thẳm

Điều quan trọng là sống trong đời, người ta biết thương yêu nhau. Cái chết không đáng sợ, không đáng buồn. Nhưng nếu phải sống đơn độc, và chết đi đơn độc lại là điều đáng sợ, đáng buồn:

Cả cuộc đời là ở sân ga

Trước chuyến đi vô tận

Cuộc lên đường tối tăm đơn độc

Người ta chết có một mình

Đó là điều buồn nhất

Và mong ước của anh là: khi chết đi, mình không đơn độc. Có người yêu dấu cạnh mình, đi đến cái đích cuối cùng của hành trình sự sống. Bên nhau cả khi sống lẫn khi đi vào cõi vĩnh hằng, đó mới là một tình yêu vĩnh cửu:

Ở bên nhau trước khi tàu đến

Ở bên nhau tấm vé đã nằm trong túi

Ở bên anh, trọn vẹn bên anh

Để mai tình yêu là hành lý lên đường

Để nếu có linh hồn

Cũng sẽ không giá lạnh

Bài thơ ấy đã như lời “dự báo” về định mệnh. Mười một năm sau, “dự báo” ấy đã thành sự thật. Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh đã ra đi cùng nhau, đã “trọn vẹn bên nhau” với “tình yêu là hành lý lên đường”. Chắc hẳn nơi suối vàng, linh hồn Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ “cũng sẽ không giá lạnh”, vì họ đã bên nhau trọn vẹn, cả khi còn sống lẫn khi đã khuất bóng rồi.

LỜI CUỐI

Lưu Quang Vũ

“Từ cát bụi sẽ lại về cát bụi”
Màu cỏ xanh ngàn năm
Tia nắng chiều trước biển mênh mông
Anh nắm bàn tay bé nhỏ

Đi cùng nhau trên thành phố
Rồi mai tàn cơn mưa
Ta sẽ trở về
Nơi mình đã sinh ra
Bóng tối chùm lên đất thẳm

Xanh trên đời chốc lát
Mà tình cờ gặp nhau
Vừa ngắn ngủi vừa dài lâu
Lúc tan xuống, lại mỗi người mỗi ngả

Dù sướng vui, dù buồn khổ
Hãy yêu anh
Như hôm nay là ngày cuối cùng
Mỗi hơi thở đều không lặp lại
Một khoảnh khắc trong mắt ta chói lọi
Một đồng hoa

Cả cuộc đời là ở sân ga
Trước chuyến đi vô tận
Cuộc lên đường tối tăm đơn độc
Người ta chết có một mình
Đó là điều buồn nhất
Ở bên nhau, trước khi tàu đến
Ở bên nhau, tấm vé đã nằm trong túi

Ngày đẹp quá, gió trên ghềnh dưới bãi
Muôn lá xanh run rẩy trên cành
Như những cây đàn nhỏ lung linh
Ở bên anh, trọn vẹn bên anh
Để mai tình yêu là hành lý lên đường
Để nếu có linh hồn
Cũng sẽ không giá lạnh
Và nếu chết là mọi điều đều hết
Hơi thở của em
Như ngọn lửa phập phồng
Như sắc cỏ không ngừng xanh trở lại
Nối phút giây ngắn ngủi với vô cùng.

1975

24/1/2021

Nguyễn Thị Việt Nga

Nguồn: Lưu Quang Vũ, thơ tình, NXB Văn học, 2002

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Đặc trưng thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn

Từ những tìm tòi mang tính truyền thống, Mai Văn Phấn bước thẳng sang khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa và cả hậu hiện đại chủ nghĩa, nhưng dường như vẫn chưa dừng lại trong những say sưa kiếm tìm, lật trở. Thế giới nghệ thuật thơ ông là một cấu trúc phức tạp, đa diện, liên tục biến đổi. Nó gây ấn tượng bởi sự nhất quán trong quan niệm sáng tạo, tính toàn khối và khả năng “bắt sóng” với nhiều chiều không gian thơ khác nhau..

1. Tôi muốn bắt đầu về Mai Văn Phấn bằng một hình ảnh trong chính thơ ông: Anh là con cá miệng dàn dụa trăng/ Rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động (Ngậm em trong miệng)…Ở đây, điều tôi muốn nhấn mạnh không phải vẻ đẹp siêu thực của hình ảnh con – cá – thơ, dù đấy là kiểu tạo hình rất ấn tượng, mà là cái hành động quyết liệt “rời bỏ bầy đàn” của nó. Thực chất đấy là một tuyên ngôn về hành vi sáng tạo, nơi đòi hỏi tính cá nhân luôn phải được đẩy lên thành phẩm chất hàng đầu. Viết, do đó, chính là hành động rời bỏ đám đông, đồng thời cũng là hành động rời bỏ chính mình. Đó là một quá trình liên tục “vong thân” với những bước ngoặt trong quan niệm, tư tưởng nhằm hướng đến bản chất thơ. Với quan niệm “sáng tạo đồng nghĩa với việc khai sinh một thế giới riêng biệt”, hành trình phủ định/ tự phủ định ấy ở Mai Văn Phấn diễn ra liên tục và ráo riết, vừa như một vẫy gọi, vừa như một thách đố. Điều này đương nhiên đem lại cho tác phẩm những bất lợi mà rõ ràng nhất là khó (thậm chí là không) tạo nên sự “đồng cảm, đồng điệu” của đám đông người đọc, vẫn là một trong những tiêu chí đánh giá phổ biến về thơ hiện nay. Nhưng bù lại, nói như một nhà phê bình, tác giả có được sự cô đơn cần thiết để tự tin và tự do kiến tạo thế giới tinh thần riêng của mình. Do đó, đọc thơ Mai Văn Phấn là “đọc”  một thế giới nghệ thuật khá đặc thù, được kiến tạo theo những nguyên tắc và phương tiện thể hiện không quen thuộc, gay gắt đòi hỏi người đọc một ý thức, một quan niệm tiếp cận mới.

2. Trước hết, hãy thửquan sát các chặng đường thơ Mai Văn Phấn theo sự vận động lịch sử của nó. Bằng cách này, ta sẽ thấy thơ ông là một sự chuyển động liên tục với những tìm tòi thi pháp đa dạng. Một khi quan niệm sáng tạo là nhằm hướng đến “sự khác hẳn, biệt lập (đôi khi đối lập) với cái đã được định giá”, tác giả không ngại tìm kiếm và dung nạp những cách nghĩ, cách viết mới, hiện đại, tạo nên sự giãn nở liên tục và khá rộng rãi trong biên độ sáng tạo.

Trên thực tế, hoàn toàn có thể chia sáng tác của tác giả này thành nhiều chặng, như chính ông đã thực hiện trong tuyển thơ của mình, bởi những khác biệt tương đối rõ về mặt thi pháp. Trong các sáng tác trước 1995, quả thực Mai Văn Phấn đã có ý thức khác đi – so với chính ông và với người khác. Tính truyền cảm của thơ được xây dựng chủ yếu trên cơ sở lạ hóa các ẩn dụ, đem lại mĩ cảm khá mới mẻ so với thời điểm của chúng, chẳng hạn: Tàn mùa chiếc lá lia qua/ Cho cô đơn ấy xẻ ra mấy phần… Không ít bài thơ giai đoạn này đạt đến vẻ đẹp chuẩn mực cổ điển, chẳng hạn Thuốc đắng, Mười nén nhang ở ngã ba Đồng Lộc, Em gái đi lấy chồng…,  Song, nhìn chung những nỗ lực tìm tòi của ông vẫn chưa đi xa hơn hệ hình thi pháp truyền thống.

Từ 1995 đến 2000, thơ Mai Văn Phấn cách tân thi pháp mạnh mẽ (dù trong một số tác phẩm, vẫn thấy khá rõ tính chất “giao thời”, chẳng hạn trường ca Người cùng thời). Khát khao nhận thức hiện thực ở “bề sâu, bề sau, bề xa” buộc ông phải đổi mới cách nhìn, cách lí giải về hiện thực. Mang đậm dấu ấn hiện đại chủ nghĩa, thơ Mai Văn Phấn giờ đây có khi chỉ là những “Dàn ý” hay “Bài tập mùa xuân”, hoặc những ý tưởng bất chợt “đến trong ý nghĩ”. Những câu chữ bề bộn, chảy tràn trang, phá vỡ ranh giới thơ và văn xuôi, không hề có dấu câu, miên man như “những ý nghĩa không sắp đặt”, “không quán tính”, “đảo lộn mọi quy ước phổ thông”. Trong những tổ chức ngôn từ chừng như phi logic, nhà thơ đang đến gần hơn với tiếng nói của trực giác, vô thức, tâm linh.

Trong những sáng tác từ sau 2000 đến nay, thi pháp thơ Mai Văn Phấn, “cập nhật” những khuynh hướng sáng tạo mới mẻ của thế giới, tiếp tục biến đổi sâu sắc. Thay cho cái nhìn mang tính “nhất phiến” trước đây là một cái nhìn “phân mảnh” đầy hoang mang và bất an, “sản phẩm” của một thời đại cũng đầy bất an và biến động. Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ, Không thể tin, Quay theo mái nhà, Anh tôi, Đúng vậy, Chỉ là giấc mơ, Còn cậu hãy đứng đằng kia… phản chiếu một cái nhìn nghịch dị, hài hước, không kém phần tỉnh táo về một thế giới bị xô lệch, con người bị biến dạng, trở nên méo mó, không khác gì những sản phẩm “chế tác từ đồ phế thải”. Những thủ pháp viết theo lối hậu hiện đại được áp dụng khá hiệu quả, dù một số tác phẩm vẫn còn dáng dấp thử nghiệm.

Song, bên cạnh việc tích cực dung nạp những bút pháp, kĩ thuật viết mới, phức tạp, càng ngày nhà thơ càng ý thức hướng đến một lối viết “tự nhiên/ như đi trên đất”, giản dị, “thuần Việt”, vượt lên sự gò ép của áp lực lí thuyết và kĩ thuật. Trong những sáng tác như Những bông hoa mùa thu, Cửa mẫu, Hình đám cỏ…, và gần đây nhất là tập Vừa sinh ra ở đó, cho thấy khá rõ tư tưởng thẩm mĩ đó.

Có thể thấy thơ Mai Văn Phấn là một hành trình liên tục cách tân, tìm tòi. Vượt lên những hạn chế nhất định, mỗi giai đoạn sáng tác của ông đều ghi dấu bằng những tác phẩm đáng chú ý. Ý thức học hỏi nghiêm túc hướng về những nền thơ lớn trên thế giới, đặc biệt là thơ Âu – Mỹ hiện đại, cộng với “tham vọng” hướng tới xây dựng một tiếng thơ Việt “thuần khiết” là động lực thúc đẩy ông không ngừng hăng hái tìm kiếm và thử nghiệm. Dĩ nhiên, song song với việc tiếp thu có chọn lọc là ý thức xây dựng một thẩm mĩ quan cá nhân độc lập. Bởi vậy, thế giới thơ ông dù biến đổi hết sức đa dạng song vẫn rất nhất quán ở tinh thần vận động hướng về cái mới, không hoàn tất, khép kín mà ngược lại, sẵn sàng “mời gọi” những diễn dịch đa chiều.

3. Bên cạnh tính động và mở, thế giới thơ Mai Văn Phấn còn bị/ được chi phối bởi một nhãn quan nhân sinh – thẩm mĩ khá đặc biệt. Trong một tư duy mang tính phổ quát, ông muốn tái hiện thế giới trong những quy luật sinh hóa vĩnh cửu, trong sức mạnh bất tận và vẻ đẹp bí ẩn khôn cùng của sự sống, trong sự gắn kết dục tính sôi nổi và lạ lùng của vạn vật. “Nhãn quan phồn sinh” này đã biến thơ Mai Văn Phấn thành một thế giới tràn đầy nhục cảm, tình yêu và năng lượng nẩy nở.

Hãy chú ý những hình tượng như mùa màng, đất đai, cánh đồng, sự gieo trồng, sinh nở… – chúng có một sức hút lạ thường với nhà thơ, cho dù ông hoàn toàn không phải kiểu tác giả “chân quê” thường thấy. Không đơn thuần là biểu trưng của nền văn minh lúa nước hay những giá trị văn hóa cổ truyền, với Mai Văn Phấn, chúng tượng trưng cho sự sống phồn thực, bất tận, vĩnh hằng của thế giới. Cho nên cái khát khao “nhân danh đất đai” đã biến thơ ông thành một “bài hát mùa màng” bất tận. Ở đó, đất mỡ màu quyện rạng đông dâng lên khuôn mặt/ dâng lên cỏ cây phồn thực bời bời/ Những mùa tái sinh trổ đòng chín rục/ Sấm nổ vang trong lòng tay mầm hạt/ Vòng phù sa tươi ròng ấp ôm thớ đất… Ở đó, hình ảnh hạt giống, mầm cây và hành động ươm mầm, gieo trồng, nảy nở… trở thành những tượng trưng nổi bật: Gieo mình xuống phù sa/ bàng hoàng nghe tách vỏ/ Ủ chân thật vào giữa/ Chờ mùa xuân nảy mầm; Nhắm mắt ngọn đồi gió/ Hạt giống rơi trong bùn ngấu thảnh thơi; Vờn trên đất/ Chớp sáng nứt vỏ/ Mùa xuân trào miệng hạt v.v. Từ góc nhìn này, đời sống thế nhân cũng được hình dung như một cánh đồng phồn sinh màu mỡ, tươi tốt. Thậm chí những tin nhắn điện tử cũng được hình dung như những “vụ mùa bội thu” nối kết tâm hồn người, làm nảy nở sự giao hòa, giao cảm  “trong veo, ấm áp”. Và giọng nói của “em” qua điện thoại, một phương tiện thông tin hiện đại, “rất trong và nhẹ” có thể “mở những vỉa tầng linh thiêng trong đất ấm, con sông chảy vào quang gánh, làng mạc phồn sinh tháp dựng, cánh đồng tươi tốt trên xe cộ” (Nghe em qua điện thoại)…

Trong cảm hứng về mùa màng và sự sinh nở, hình ảnh Em được tô đậm  như hiện thân của đất đai, mùa màng, sự tươi tốt: Em chợt hiện/ Từ hương thơm trái chín/ Trong dập dờn bãi ngô mùa thụ phấn/ Lá giật mình/ Cá lặn xuống chân/ Hút mãi về em/ Từng hơi thở đất/ Anh hạn hán/ Cơn mưa chiều tất bật (Nỗi nhớ mùa thu)... Với Mai Văn Phấn, Em vừa là người vợ, người mẹ, vừa là người bạn tình. Và Em cũng là hóa thân của Mẫu, người mẹ thiên nhiên cao cả, vô lượng: Mẫu nâng niu con ánh trăng/ Tiếng chuyền cành, tiếng hú/ Da thịt con yêu trải sâu đêm tối/ Dựng tầng mây mưa nguồn… Từng chồi chân tay bé xíu/ Bật nhẹ trong cơ thể Người/ Con tỉnh giấc (Cửa Mẫu)… Một điều đáng lưu ý là, dẫu mang đậm tính “tụng ca”, cái nhìn về giới nữ ở đây vẫn khá… tỉnh táo. Thậm chí đôi khi mang sắc thái hài hước (điều hơi hiếm gặp trong thơ lãng mạn chủ nghĩa), chẳng hạn: Anh là con sam bơi quanh bàn ăn xếp đầy thực phẩm. Theo nghi lễ loài sam, trước khi ăn anh luôn đưa thức ăn lên cao. Luôn nhớ em trên lưng, con sam cái khổng lồ bao trùm mặt đất…Có lúc quên lời em dặn. Nhưng đã thành bản năng, anh lại bơi đi và đưa thức ăn lên cao (Những bông hoa mùa thu)… Nhãn quan thẩm mĩ này khiến cho hình ảnh người nữ của ông thoát ra khỏi những mô hình khuôn sáo, trở nên hiện đại, mới mẻ và… thú vị.

Nhìn thế giới qua lăng kính phồn sinh, tất yếu tình yêu của con người, của vạn vật trở thành một biểu tượng đẹp nhất, mãnh liệt nhất. Quan niệm này cũng khá gần gũi với Xuân Diệu, người được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” trong thơ Việt hiện đại. Tuy nhiên, sự nồng nàn nhục cảm của Xuân Diệu chủ yếu bộc lộ trong những hành động thụ hưởng trực tiếp, cụ thể như ôm, riết, thâu, say… Và tình yêu Xuân Diệu, dù say đắm bao nhiêu, chủ yếu là trong mơ mộng, tưởng tượng, hoặc nói cách khác, chủ yếu là… “mời yêu”. Thơ Mai Văn Phấn cũng đậm màu sắc nhục cảm, thậm chí hơn thế, là tính dục. Nhưng dục tính nồng nàn trong thơ ông đã được đẩy tới những hình ảnh mang tính tượng trưng phổ quát: Cuộn chảy/ trong tiếng gào những dải phù du/ đáy sông quặn thắt chưa hết sáng/ Hoàng hôn ngậm chặt ánh ngày/ lửa co giật / sục sôi mầm nụ/ đỉnh cây ngùn ngụt bốc cao (Đất mở); Ngựa thở dốc/ bời ngợp cảm giác cỏ/ chùm lưỡi dìu nhau đứt cuống/ xuyên qua tim lăn vào đât tơi/ nở những bàn tay sau lưng tươi tốt (Được quyền nghĩ những điều đã ước) v.v. Đặc biệt trong thế giới đó, người đàn ông không chỉ nồng nàn yêu mà còn sẵn sàng hóa thân thành đất đai xứ sở để đón nhận sự gieo trồng từ người đàn bà: Anh mơ được em gieo trồng trên ngực/ bàn tay dịu dàng vun vào da thịt/ Hôn lên tai anh lời chăm bón thì thào/ Anh cựa mình nồng nàn tơi xốp (Bài ca buổi sớm)… Điều này quả hiếm lạ bởi trong nhiều nền văn hóa và truyền thống thơ ca, hình tượng đàn bà, chứ không phải ngược lại, mới thường được đồng nhất với đất đai, mùa màng, sự sinh nở. Song đấy là một sự lạ cần thiết. Nó phơi lộ cái góc khác thường trong bản thể tinh thần cái tôi Mai Văn Phấn –“Người đàn ông mang linh hồn mẹ Đất” (thơ Nguyễn Lương Ngọc).

Với Mai Văn Phấn, dục tính là biểu hiện của sự sống tự nhiên nguyên thủy lành mạnh và thuần khiết. Đó là hiện thân của sự hòa hợp tột cùng giữa Âm và Dương, Trời và Đất, Ánh sáng và Bóng tối, Nước và Lửa… – khởi thủy sinh thành thế giới. Nó mang quyền năng của sự thật, và vì nó là cái Thật nên nó cũng là cái Đẹp. Nhà thơ xem hành động tính giao trong tình yêu như một nghi lễ xiết bao kì vĩ và thiêng liêng: Yêu nhau. Là những nghi thức dâng tụng trời đất. Bây giờ là mùa xuân. Anh mệnh Kim và em mệnh Hỏa. Từ lửa làm ra Thổ, ra Mộc, ra Thủy. Đất rùng mình. Sông chảy. Ngàn vạn lá mầm từ thân thể nở bung (Anh anh em em)…  Nhìn từ quan niệm này, ta sẽ hiểu vì sao thơ ông xuất hiện rất tự nhiên hình ảnh “con cá động dục lóe sáng mặt nước” hay “đàn sẻ nâu vội vàng giao hoan chớp mắt”. Cũng sẽ hiểu vì sao thơ ông “hiện diện” cả những cơn “ức chế thèm khát”, “lay giật tả tơi cho đã cơn hưng phấn điên cuồng” như từng bị phê phán. Thực chất, đó là hệ quả của cái nhìn thế giới trong mối quan hệ giao tình, khởi nguồn thiêng liêng của sự sống, sự sinh sôi, nảy nở. Xem những cuộc hôn phối của vạn vật chính là hóa thân sống động của quy luật mùa – màng – vũ – trụ, nhà thơ tin:

Bó gối những gốc cây

Nhắm mắt ngọn đồi gió

Hạt giống rơi trong bùn ngấu thảnh thơi

Ngày mai mặt đất này

Và thế giới sẽ đổi khác

(Mùa trăng)

4. Tích cực tiếp thu kinh nghiệm sáng tác của những trường phái thơ hiện đại chủ nghĩa, Mai Văn Phấn đặc biệt chú ý đến tiếng nói của trực giác, vô thức, tâm linh trong sáng tạo. Người nghệ sĩ khát khao lí giải về thế giới trong chiều sâu bản chất của nó, đằng sau cái hiện thực bề mặt được nhìn thấy; mối liên hệ “âm u và sâu xa” giữa những hiện tượng tưởng chừng rời rạc, xa lạ; cái logic của đời sống trong những biểu hiện dị thường tăm tối, thậm chí phi lí, nghịch dị… Tất nhiên, điều này đòi hỏi người viết một cách nhìn khác về thế giới và cùng với điều đó, là một cách viết khác. Tồn tại trong thơ Mai Văn Phấn, do đó, là một thế giới đậm tính siêu thực.

Mơ, mộng, tưởng tượng – như là biểu hiện cụ thể nhất của thế giới siêu thực ấy, xuất hiện khá dày trong thơ Mai Văn Phấn. Từ những cảm giác, trạng thái cá thể của cái tôi nhà thơ, chúng đã được đẩy tới thành một trạng thái tồn tại phổ quát của thế giới, trong đó, như một câu thơ ông viết – con cá nghiền nát lưỡi câu đảo lộn trật tự thời gian – mọi trật tự thông thường đều bị đảo lộn. Dĩ nhiên, sự “đảo lộn” trật tự bề mặt này nhằm đạt tới một trật tự khác, ở bề sâu của nó, nơi tồn tại những cảm giác siêu nghiệm không thể kiểm chứng bằng kinh nghiệm nhưng lại được “chứng ngộ” bởi trực giác, tâm linh. Chiều sâu tri giác này giúp con người nhận ra những vẻ đẹp đầy quyến rũ, ma mị, bí ẩn của thế giới mà một cái nhìn lí tính thông thường khó lòng đạt tới. Nó giúp con người lặn sâu xuống đáy bản thể để nhận ra sự tồn tại đích thực của mình giữa thế giới, như một bông hoa: Tóc và vai tôi màu trắng/ Chiếc cuống/ Bắt đầu ngả vàng… một cái cây: Không cần nước/ Tôi mọc cây non trên sa mạc…  một quả trứng: Rũ lớp vỏ ánh sáng/ Tôi mở mắt đứng lên… Và khi biết dứt bỏ tạp niệm, trở nên trong suốt, khi ấy, vũ trụ và Tôi là một: Không khô cứng/ Không còn sắc nhọn/ Tôi bình đẳng/ Hòa trong thế giới… Hướng tới những cảm giác siêu nghiệm, ngòi bút Mai Văn Phấn đặc biệt chú ý tới những trạng thái dịch chuyển mơ hồ, những phức hợp cảm giác mong manh, sự tương giao lạ lùng giữa hình ảnh, âm thanh, đường nét, sắc màu… Càng ngày, ý niệm màu sắc, âm thanh trong thơ ông càng tinh, đạm và đơn. Tinh thần hướng tới sự thuần khiết ấy đặc biệt rõ trong tập thơ vừa xuất bản – Vừa sinh ra ở đó. Phải chăng đấy là những phương tiện hữu hiệu để khơi gợi nên cảm giác về một đời sống khác, một hiện thực khác, huyền hoặc, thiêng liêng, vẫn tồn tại song song với cái hiện thực bề mặt, dù không hiển lộ?

Rất khó để nhận ra dấu ấn “hiện thực xã hội” cụ thể trong thơ Mai Văn Phấn. Không phải vì ông thiếu tinh thần công dân hay thờ ơ với thế sự mà vấn đề nằm trong quan niệm tác giả. Những nhận thức mới về hiện thực và sự sáng tạo khiến ông “chán ngán” những lối mòn nệ thực, thúc đẩy ông tìm cách viết khác, đa nghĩa hơn, ám ảnh hơn. Có thể thấy rõ điều này trong Biến tấu con quạ, một tác phẩm được viết bằng nhiều thủ pháp hiện đại. Con quạ – kẻ báo hiệu cái chết đen tối trong thơ E. Poe – qua sự “biến tấu” của Mai Văn Phấn, trở thành một biểu tượng trùng phức với sự song hành của nhiều ý nghĩa đối nghịch: sự chết chóc/ sự khai sinh, tái sinh; sự kết thúc/ sự bắt đầu; Kẻ phá hoại/ Đấng tái tạo; cái ác/ cái thiện; sự hủy diệt/ khởi đầu mới… Bài thơ là một “cái nhìn nghiêng” về hiện thực, trong đó lịch sử, chính trị, văn hóa, nghệ thuật và cả đời sống con người dồn tụ lại trong một độ nén dị thường. Được nhìn nhận trong sự bất thường, đầy mâu thuẫn, đối lập, đời sống hiện lên có lúc xa lạ đến kì quái: Khai sinh/ khi quả chuông rơi xuống bất ngờ/ chụp lên đầu người bõ già/ con cá nhảy vào đám mây tự vẫn/ buông ngang trời ngàn vạn lưỡi câu/ Khai sinh/ Mực đổ dưới chân và máu/ vón cục ở yết hầu, phế quản/ viết một nét lên trang đầu/ thấm suốt cả ngàn trang sách/… Nhà thơ trú trong bóng râm/ từng con chữ bị khoét mất mắt… Những hình ảnh nghịch dị làm bật lên nhận thức về cái phi lí như một tồn tại tất yếu của đời sống: Áo khoác kêu thất thanh khi đi qua bàn tủ. Máy điện thoại im lìm ngủ. Chiếc kẹp ghim mở miệng cố giấu đi móng vuốt. Cán chổi móc vào tay người lao công, kéo chị ta về bên hố rác. Vành mũ trên đầu kêu thảng thốt, rồi cúi xuống rỉa hết mặt nhân viên bảo vệ… Rõ ràng, vượt lên kiểu tư duy “nệ thực”, nhà thơ muốn hướng đến một cách diễn tả khác, giàu tính tượng trưng, siêu thực, nhằm nhận thức hiện thực trong chiều sâu bản chất của nó, một bản chất đầy đối nghịch, mâu thuẫn, bất toàn. Trong nhiều bài thơ khác, chẳng hạn Không thể tin, Quay theo mái nhà, Hắn, Dạy trẻ con, Hội chứng từ một tin đồn, Chỉ là giấc mơ, Ở những đỉnh cột, Nếu, Cái miệng bất tử,… cũng cho thấy một thế giới “lộn ngược” dị hình, méo mó. Hệt như trong tranh của Salvado Dali hay Max Ernst, thế giới ấy “đem ghép lại chẳng có gì đồng điệu”. Vẫn là hiện thực, nhưng là một hiện thực lộn xộn, nham nhở, phản chiếu sự xô lệch, biến dạng của chính đời sống nhân sinh hiện đại. Đấy là hiện thực được diễn tả qua một tâm thức đầy bất an và lo âu của nghệ sĩ.

5. Trên đây, tôi đã miêu tả một số đặc điểm nổi bật của thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn. Bây giờ là lúc nói tới một vấn đề khác – cách tổ chức thế giới nghệ thuật ấy. Dĩ nhiên, đi cùng thế giới hình tượng mang tính đặc thù nói trên là một hệ thống phương thức, biện pháp thể hiện tương ứng. Trong giới hạn bài viết này, tôi sẽ chỉ phác qua một số nét cơ bản nhất và đậm chất Mai Văn Phấn nhất, theo góc nhìn cá nhân.

Trước hết, tương ứng với một thế giới động, đậm tính siêu thực, thơ Mai Văn Phấn đặc biệt chú trọng kiểu kết cấu mở. Đấy là một kiểu kết cấu hiện đại, ở đó bài thơ được tổ chức như một cấu trúc vận động, không mang tính hoàn tất, khép kín về nghĩa như trong kiểu kết cấu cổ điển.

Có thể thấy những tìm tòi kết cấu này ngay trong những tác phẩm ở giai đoạn đầu như Em xa, Dấu hiệu mùa xuân, Khúc phóng túng…và càng dày đặc hơn trong những sáng tác về sau. Thay cho cách tổ chức văn bản lớp lang, chặt chẽ, nhằm tạo áp lực quy tụ sự diễn dịch tác phẩm về một đáp số thống nhất, thơ Mai Văn Phấn thường có hình thức tổ chức thoạt nhìn khá lỏng lẻo với những liên tưởng hết sức mạnh mẽ và phóng túng. Ngay cả giữa tiêu đề và nội dung, giữa các phần, đoạn trong văn bản, chừng như cũng không có gì ăn nhập, tựa như một sự lắp ghép tình cờ, rất khó tìm thấy mối liên hệ logic bề mặt giữa chúng. Xin lấy ngẫu nhiên một tác phẩm của ông –  Mùa xuân, để làm rõ điều này. Thoạt nhìn bài thơ dường như chỉ là sự ghép nối của một vài sự kiện rời rạc: Tôi (tác giả) chỉ dẫn cho con các dấu hiệu mùa xuân. Các con tranh luận. Những câu hỏi (được in nghiêng, nhằm gây một ấn tượng thị giác). Rõ ràng, nội dung cũng như cách thể hiện của bài thơ khác xa với những gì người ta thường hình dung về “thơ xuân”. Song cách tổ chức văn bản này có ý nghĩa riêng của nó. Sự hoán đổi điểm nhìn khiến ta có thể quan sát toàn cảnh từ điểm nhìn của Tôi – nhân vật trữ tình, đồng thời vừa có thể “nhập thân” để nhìn thế giới từ một con mắt khác – con mắt của những đứa trẻ. Ở đây, tiêu đề bài thơ chính là một “luận đề” ngỏ. Nó cho thấy sự tương phản giữa những tư tưởng giáo điều cằn cỗi và sức sống vô cùng của thực tế đời sống, của trí tưởng tượng… Như vậy, sự “phi logic” này chỉ là bề mặt, nó nhằm để hướng tới cái logic bề sâu của sự vật, hiện tượng. Dĩ nhiên, kiểu tổ chức văn bản này luôn gây ra những hiệu ứng ngược chiều. Một mặt nó “gây nhiễu”, khiến người đọc không khỏi hoang mang khi muốn tìm ra cái đáp án quy tụ mọi hình ảnh, câu chữ chừng như tứ tán, hỗn loạn trên vào một ý nghĩa đơn nhất. Nhưng mặt khác, nó giải phóng trí liên tưởng, tưởng tượng, “vẫy gọi” những cách lí giải khác nhau về tác phẩm. Rất nhiều bài thơ xuất sắc của Mai Văn Phấn được tổ chức theo hình thức này, chẳng hạn Mùa trăng, Đỉnh gió, Những bông hoa mùa thu, Biến tấu con quạ, Ghi ở Vạn Lý Trường Thành, Anhanhemem, Cửa Mẫu…

Xa hơn, nỗ lực tìm kiếm, nắm bắt tiếng nói vô thức, tâm linh, vốn “bất tuân” mọi khuôn khổ, trật tự hữu lí, cũng làm xuất hiện trong thơ Mai Văn Phấn những đặc điểm văn bản khác lạ. Chẳng hạn trong Mười bài tập mùa xuân, câu chữ không hề bị/ được phân chia bởi những dấu hiệu cú pháp thông thường, chúng đổ tràn sang nhau, xóa mờ những ranh giới hình thức định mệnh. Hình thức trình bày này tự nó ám gợi cái mạch ngầm sự sống lưu chuyển miên viễn, bất tận, không ngừng nghỉ. Nhưng ngược lại, nó có thể (mà thực tế là đã) gây phản ứng gay gắt về sự “tối tăm”, “vô nghĩa”… Thật ra, đây là những vận dụng theo lối viết tự động của chủ nghĩa siêu thực (mà trước đó, Hoàng Hưng cũng từng thử nghiệm trong loạt Thơ vụt hiện). Hình thức văn bản này đã trao cho độc giả quyền tự do tối đa trong việc lựa chọn cách đọc, mà thực chất là lựa chọn cách diễn dịch tác phẩm.

Nhu cầu đào sâu, mở rộng, làm đa dạng hóa tiếng nói tinh thần cá nhân hiện đại trong thơ cũng tạo nên xung lực mạnh mẽ làm “rạn vỡ” đường biên ranh giới thể loại thơ – văn xuôi trong sáng tác của Mai Văn Phấn. Chỉ cần nhìn trên hình thức tổ chức văn bản của các tác phẩm cũng dễ dàng nhận ra điều này, chẳng hạn Viết cho cây sáo, Bừng tỉnh trên tàu, Kí sự mùa thu, Giải pháp, Bến cuối, Di chứng, Vòng cung thời gian, Những ý nghĩ không sắp đặt, Niệm khúc số 18, Dấu vết, Quay theo mái nhà, Nghe tin bạn bị mất trộm, Nghe em qua điện thoại, Nhắm mắt, Anh tôi, Dạy trẻ con, Hắn… Nhiều bài thơ của ông sử dụng hình thức cốt truyện đơn giản, tuy nhiên, tính chất của chúng rất khác so với những bài thơ mang tính truyện của chủ nghĩa lãng mạn. Thứ nhất, chúng không được “trưng dụng” cho mục đích trữ tình nồng nàn như trong Hai sắc hoa ti gôn (TTKH) hay Mưa xuân (Nguyễn Bính), ở đây chủ yếu là những tình huống nhận thức, chúng được xây dựng nhằm đem lại một cảm giác mới, một thức nhận mới về đời sống. Thứ hai, nếu như trong các bài thơ lãng mạn vừa nêu, thường những “câu chuyện” được kể lại theo một trình tự khá rành mạch thì trong những bài thơ của Mai Văn Phấn, tính chất đứt đoạn, đứt mạch là khá rõ. Đi cùng đặc điểm này là hiện tượng song hành, xen kẽ những “tiếng nói” chừng như đối nghịch, lạc điệu trong cùng một văn bản, tạo nên tính chất “đa thanh” khá đặc biệt (chẳng hạn trong Anh tôi…). Thứ ba, tính nghịch dị, giễu nhại trong các tác phẩm của Mai Văn Phấn khá đậm nét, chúng đem lại một kiểu chất thơ hậu hiện đại thú vị, kích thích mạnh mẽ những suy ngẫm, liên tưởng đa chiều, đa cực… Có thể nói sự xóa mờ tối đa đường biên ranh giới thể loại thơ – văn xuôi khiến thơ Mai Văn Phấn có khả năng diễn tả khá đa dạng và linh hoạt, sinh động nhiều vấn đề của đời sống nhân sinh hiện đại. Tuy nhiên, không phải lúc nào nhà thơ cũng cân bằng được chất thơ/ chất văn xuôi trong tác phẩm. Cách thuật sự lớp lang, cụ thể trong Bừng tỉnh trên tàu, Kể lại giấc mơ hay sự tỉ mỉ của chi tiết trong Dạy trẻ con chẳng hạn, có thể đem lại những ấn tượng thông tin xác thực, song chính chúng lại làm mất đi những khoảng trống và độ mờ thẩm mĩ, vốn là yếu tố quan trọng để tạo nên chất thơ của tác phẩm.

Cùng với xu hướng “văn xuôi hóa”, trong thơ Mai Văn Phấn đồng thời xuất hiện xu hướng ngược lại – giảm thiểu triệt để số lượng từ ngữ trong văn bản. Sự tối giản này được thể hiện tập trung trong hoa giấu mặt, tập thơ mang đậm tinh thần tượng trưng, trong đó mỗi sinh thể dù bé nhỏ nhất đều có mối liên hệ “tương giao” sâu sắc với toàn thể vũ trụ rộng lớn. Được viết theo thể haiku với mỗi bài chỉ có ba dòng, điều này buộc các ý tưởng thơ phải được cô đặc, dồn nén cao độ. Không có điều kiện đi sâu hơn, tôi chỉ muốn nói thêm rằng, trên phương diện hình thức, những xu hướng trái ngược này cũng cho thấy khá rõ nhu cầu nhận thức hiện thực một cách đa chiều của người viết.

Một yếu tố quan trọng tạo nên vẻ đẹp siêu thực của thế giới thơ Mai Văn Phấn là các hình ảnh – biểu tượng. Thoạt nhìn, chúng khá đơn giản, như được “cắt” ra từ đời thực, quen thuộc và gần gũi. Tuy nhiên, được tạo hình theo nguyên tắc “ảo hóa”, chúng luôn đem lại những ấn tượng thẩm mĩ khác thường. Quan niệm thế giới trong tính đa chiều và sự biến ảo bất tận chính là cội nguồn khơi mở mạch liên tưởng, tưởng tượng mạnh mẽ  của tác giả. Trên thực tế trong thơ Mai Văn Phấn tồn tại hai tuyến hình ảnh – biểu tượng đối lập. Trước hết là tuyến hình ảnh tượng trưng cho cái Đẹp cao cả, thuần khiết, cụ thể là thiên nhiên (thể hiện ở đất đai, cây cỏ, gió, trăng…); và con người, tập trung ở hình tượng Em (cái nhìn “tôn vinh” nữ giới này, thật ra, cũng khá quen thuộc trong thơ hiện đại). Tương ứng với tuyến hình ảnh này là những biện pháp tạo hình theo hướng siêu thực – lãng mạn. Hãy thử đọc lại Ngậm em trong miệng – đó là một biểu tượng tình yêu đầy thi vị và hư ảo: Bình yên trong miệng anh/ Em thúc nhẹ bờ vai/ Vòm ngực ngón chân vào má/ Huyên thuyên và hát thầm/ Hồn nhiên cho lưỡi và răng anh chạm vào cơ thể… Những hình ảnh siêu thực này gợi liên tưởng đến Tình nhân của Paul Eluard: Em đứng trên mi mắt anh/ Tóc em nằm trong tóc anh/ Em có dáng hình giống như hai bàn tay anh/ Em có sắc màu của đôi mắt anh/ Em chìm ngập trong bóng anh/ Như một phiến đá ở trên trời… Đối lập lại là tuyến hình ảnh kì quái, nghịch dị, thể hiện phần thế giới bị tha hóa, biến chất. Đó là hình ảnh cái miệng đang trôi “không phát ra tiếng động/ chỉ hiện lên một đoạn phim câm”, cái lưỡi “bị thắt/ treo lên đỉnh cột/ mỗi lần nói/ chiếc lưỡi phải rút/ kéo thân thể béo ị lên cao” (gợi nhớ đến bức tranh Tiếng thét của Munch), những đứa trẻ “nghẹn ngào nước mắt chảy vào trong”, giấc mơ của con chó, con gián “kiếp trước từng là người đàng hoàng” (mang âm hưởng Biến dạng của F. Kafka rất rõ)… Đó là kết quả của một cái nhìn nghiệm sinh bi đát nhưng không kém phần chua chát và hài hước về trạng thái tha hóa của nhân sinh. Tương ứng với tuyến hình ảnh này là những biện pháp tạo hình theo lối siêu thực – nghịch dị. Các hình ảnh – biểu tượng thường được “chạm khắc” bằng nhiều chi tiết tỉ mỉ, cụ thể, rậm rạp (thậm chí nhiều khi quá rậm rạp), liên tục biến hóa. Có những hình ảnh được xâu chuỗi qua nhiều tác phẩm, chẳng hạn hình ảnh “hắn” trong Hắn, Đến trong ý nghĩ…  – một hình nhân ma mãnh, kì dị, âm bản của một cái tôi “tỉnh táo tột cùng”… Sức mạnh, độ bền và độ dồi dào của mạch liên tưởng, tưởng tượng – ấy là thế mạnh của Mai Văn Phấn, dẫu trong một số trường hợp, nó cũng gây “phản ứng phụ” là tình trạng “rậm lời”, rắm rối.

6. Từ những tìm tòi mang tính truyền thống, Mai Văn Phấn bước thẳng sang khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa và cả hậu hiện đại chủ nghĩa, nhưng dường như vẫn chưa dừng lại trong những say sưa kiếm tìm, lật trở. Thế giới nghệ thuật thơ ông là một cấu trúc phức tạp, đa diện, liên tục biến đổi. Nó gây ấn tượng bởi sự nhất quán trong quan niệm sáng tạo, tính toàn khối và khả năng “bắt sóng” với nhiều chiều không gian thơ khác nhau. Nói đến thơ Mai Văn Phấn là nói đến cái nội lực chi phối tổng thể, cái “từ trường thẩm mĩ” được tạo ra hơn là các câu chữ riêng lẻ. Bởi vậy, thật không dễ cho người đọc – trong đó có tác giả bài viết này – khi tiếp cận, lí giải. Nhưng một khi vượt qua định kiến của thói quen thẩm mĩ, chấp nhận những quy ước mới của “luật chơi” sáng tạo vốn vô cùng đa dạng, có lẽ ta sẽ được đền bù xứng đáng. Ít nhất, trải nghiệm đọc ấy cũng giúp ta nhận ra sự rộng rãi không cùng của không gian sáng tạo và vẻ đẹp của sự phong phú trên những hành trình tinh thần của con người. Dứt khoát không “quay vái lạy chiếc áo vừa treo trên giá”là một thái độ sáng tạo tích cực, thể hiện một tư duy lí tính tỉnh táo, rất cần thiết cho người viết hiện đại. Nó giúp tác giả mạnh mẽ vượt qua sức ỳ của quán tính cầm bút, liên tục làm mới cách nhìn, cách viết. Tuy nhiên, điều này cũng tiềm ẩn những nguy cơ nhất định. Sự đa dạng của những hướng tìm tòi có thể khiến tác giả có thể khó đẩy tới “tận bờ sát góc” hướng bứt phá trọng tâm. Mặt khác, niềm say mê cao độ trong việc tìm kiếm và vận dụng những phương thức, thủ pháp tân kì cũng có thể gây ra tình trạng kĩ thuật áp chế tiếng nói tự nhiên của xúc cảm. Khát khao “gọi tên sự tù mù lẫn sự sáng” không phải lúc nào cũng có thể thực hiện, nhất là bằng chiếc “công tắc” lí trí.

Không ngừng quyết liệt làm mới mình, để mỗi lần xuất hiện là một lần phải khác, Mai Văn Phấn đang đầy năng lượng và tự tin trên hành trình “quẫy vào biển động” của mình. Và thách thức là phẩm chất đầu tiên và không thể thiếu của cái Đẹp mà ông kiếm tìm… 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Mai Văn Phấn (2011), Thơ tuyển Mai Văn Phấn (cùng tiểu luận và trả lời phóng vấn), Nxb Hội nhà văn.

2. Mai Văn Phấn (2012), hoa giấu mặt, Nxb Hội nhà văn.

3. Mai Văn Phấn (2013), Vừa sinh ra ở đó, Nxb Hội nhà văn Việt Nam.

4. Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, khác biệt và thành công (2011), Đình Kính tuyển chọn, Nxb Hội nhà văn.

Vinh, 13/12/2013

Lê Hồ Quang

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời Như Bình là nhà văn nổi tiếng. Chị là văn nhân đúng nghĩa, dù công việc làm báo hàng ngày bận rộn. T...