Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2026

 

Tô Thùy Yên – nhà thơ Việt Nam

Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, từ trần tại Houston (Hoa Kỳ) lúc 21g15 ngày 21-5-2019, thọ 81 tuổi. Vào tuổi ấy, và sau bao nhiêu gian truân, ông ra đi vẫn gây ra nhiều tiếc nuối trong giới độc giả trong và ngoài nước. Cái tang chung cho giới văn học đặt ra một câu hỏi khẩn thiết: tác phẩm Tô Thùy Yên đứng ở đâu trong dòng văn học Việt Nam hôm nay?

Tựa đề bài này khẳng định: Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam. Không phải là nhà thơ hải ngoại hay của miền Nam cũ. Lý do đơn giản: ông là người Việt Nam, viết văn, làm thơ bằng tiếng Việt Nam. Huống hồ đời ông gắn bó với lịch sử đất nước trong mỗi chặng đường, thơ ông đầy ắp tình tự dân tộc, thắm thiết phong cảnh quê hương, ngôn ngữ Việt Nam phong phú, đa dạng, vừa uyên bác vừa sâu đậm lời ăn tiếng nói dân gian, tục ngữ, ca dao. Thơ ông đặc sắc, từ nội dung nhân đạo, tư tưởng cao sâu đến lời thơ tài hoa, hào sảng, giàu hình ảnh lạ trong tiết điệu thân quen. Nghệ thuật vi diệu của ông làm vinh dự cho tiếng Việt và văn hóa Việt. Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam bên cạnh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà.

Tôi đã ngần ngại nhiều ngày trước khi đưa ra nhận định như trên, e rằng mình chủ quan, quá lời, cho đến khi đọc trên mạng ngày 28-5, bài của nhà thơ Thanh Thảo, không được đăng trên các báo giấy trong nước, có đoạn: “Tô Thùy Yên là một nhà thơ lớn (…) khi một nhà thơ Việt được công nhận bởi tài năng và nhân cách của mình, thì dù họ sống ở xa tổ quốc, thơ họ vẫn thuộc về đất nước, về dân tộc Việt Nam. Đó là thơ của một nhà thơ Việt thuần chất, trong đau khổ vẫn giữ được phẩm chất người của mình, vẫn yêu thương mà không oán hận, dù số phận mình hết sức trớ trêu”. Thanh Thảo, sau 20 năm đọc thơ Tô Thùy Yên đã nắm bắt được hai yếu tố chính: chất dân tộc và chất người, làm nên nhân cách nhà thơ. Tôi đặt tên cho bài viết: Tô Thùy Yên – nhà thơ Việt Nam, tưởng là đã chắc nịch, trong khi Thanh Thảo dùng chữ “nhà thơ Việt” ngắn gọn hơn, nhưng sắc bén, sâu xa hơn cái quốc hiệu tôi đưa ra. Thanh Thảo, cùng với Tô Thùy Yên là nhà thơ, họ sử dụng ngôn ngữ theo trực cảm, từ đáy vực tâm linh của lời nói. Lại nhớ đến Trần Đĩnh, khi anh nhận xét “Tô Thùy Yên là nhà địa chất học đầu tiên nhặt lên những quặng chữ chưa ai từng phát hiện để dặt chúng bên nhau mà phát xạ” (Văn Việt 28-5-2019). Tôi thấy an tâm vì mình vinh danh thơ Tô Thùy Yên, nhất là vào giờ vĩnh biệt nhà thơ, không phải là chủ quan quá đáng.

Về tư tưởng và nghệ thuật Tô Thùy Yên, tôi đã từng sơ lược trình bày trong bài Ngựa phi đường xa, đăng trên báo Khởi Hành, California, số 20, tháng 12-1998. Từ bấy đến nay, non hai mươi năm, tình hình văn nghệ, báo chí đã không khá khẩm hơn. Riêng Tô Thùy Yên thì có địa vị riêng, thơ ông đứng bên ngoài cõi ta bà đó và gây được sự đồng thuận giữa độc giả trong và ngoài nước, nhờ nội dung nhân ái và nghệ thuật vi diệu; và cũng nhờ kỹ thuật thông tin mạng hiện đại. Nhiều người truy cập được toàn bộ thơ văn Tô Thùy Yên, trong và ngoài nước, với ít nhiều thiện tâm, thiện chí, dù chính kiến, quá khứ có khác nhau, họ cũng thấy gần gũi qua những câu thơ:

Ta về như lá rơi về cội,
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này

Bài Ta về làm 1985 khi tác giả vừa ra khỏi trại cải tạo, tuy có nhắc lại những lao khổ qua “mười năm chết dấp”; nhưng không thù hận. Ông xem những điêu linh, chiến tranh, lao lý, đổi đời như là hiện tượng tự nhiên, một cuộc biển dâu như người xưa vẫn quan niệm, mà Ôn Như Hầu hay Nguyễn Du đã từng nhắc lại đâu đó. Để bôi xóa quá khứ, để nuôi dưỡng sự sống, tác giả rót chén rượu giải oan, giống ai xưa đã lập đàn giải oan trên sông Tiền Đường, giải trừ oan nghiệt cho chúng sinh, cho một bếp lửa nhân quần ấm tối nay. Bếp lửa đầu tiên của loài người là của bộ lạc, rồi đến bết lửa gia đình, không có kích cỡ nhân quần như nơi Tô Thùy Yên. Vì tâm hồn ông như vậy. Tầm nhìn (sinh thời ông ưa dùng chữ vision) như vậy thấy được thế giới vui từ mỗi lẻ loi.

Thơ Tô Thùy Yên là chuyện Con Người, chuyên một thân phận lẻ loi trong một nhân quần hạnh phúc. Chất thơ tinh luyện trong trước tác Tô Thùy Yên là nhân phẩm con người, từ đó ông thẩm quyền dõng dạc: “thơ còn con người còn” trong một bài nói tại Seattle ngày 26-7-1997; ông giải thích thêm, phân biệt “văn nghệ giải trí, giải muộn khác với văn nghệ ở cấp độ cao nhất là văn nghệ giải oan, giải thoát”. Dù sao thơ cũng cần đến những ẩn dụ hào hoa, chứ kỳ thật để giải oan cho cuộc biển dâu này, Tô quân không cần rưới chút rượu hồng nào cả. Thơ ông là đủ để hóa giải.

Tấm lòng cao quý như vậy, trong một tác phẩm lớn lao như vậy, mà cho đến nay độc giả trong nước không mấy người biết đến.

Cuối cùng, thơ Tô Thùy Yên không dễ đọc. Độc giả trích dẫn nhiều, nhưng chỉ trích những câu, những đoạn vừa ý. Nói rằng tác giả dùng nhiều lời ăn tiếng nói dân gian, nhiều tục ngữ ca dao, nhưng không phải là người đọc nào cũng nắm bắt. Ngay hai câu đầu của Ta Về được truyền tụng nhiều nhất:

Ta về – một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai.

Muốn hiểu cặn kẽ thì phải biết câu ca dao, có lẽ xuất phát từ Quan họ:

Người về ta chẳng cho về
Ta níu áo lại ta đề câu thơ…

Thậm chí, cuối tập Thắp tạ (2004) tác giả còn thêm phần phụ chú để giải thích… thơ mình. Bài thơ làm 1999 có câu thật hay:

Em về giồng dưới qua bưng gió
Dạ bời bời nỗi sậy niềm mây

Câu thơ tự nó đã hay, không cần giải thích. Nhưng tác giả đã tiết lộ xuất xứ từ ca dao Nam Bộ:

Em về giồng Dứa qua truông
Gió day bông sậy, bỏ buồn cho anh,

Tô Thùy Yên là nhà thơ uyên bác. Ông thông thạo thơ cổ điển Trung Quốc, có lần, trong trại học tập đã chép tặng bạn một bài thơ dài của Đỗ Phủ bằng chữ Hán. Ông đọc hầu hết thi ca Pháp hiện đại và đặc biệt thích Saint John Perse, một tác gia khó đọc. Ngoài ra ông tinh tường triết học Tây phương. Do đó, câu thơ ông trầm tích nhiều ý tưởng hay ẩn dụ phức tạp, dễ khiến người đọc lạc lõng.

Tô Thùy Yên lại là người cầu toàn, trau chuốt câu thơ “Tôi giựt giành đổ máu với tôi/từng chữ một”, do đó câu thơ có lúc hồn nhiên, có lúc cầu kỳ. Thơ cần cảm hứng, nhưng Tô Thùy Yên khổ luyện thi hứng của mình, thành những bài thơ dài; (nhờ ngẫu hứng mà làm được vài ba câu thơ hay thì không khó, nhiều người làm được). Thơ, cũng như nhiều bộ môn nghệ thuật khác, đòi hỏi những công trình dài hơi, khả năng lao động trí tuệ bền bỉ, rung cảm sâu lắng. Tô Thùy Yên muốn làm thi sĩ thực sự, chứ không chỉ là một tao nhân mặc khách, “ngứa cổ hát chơi”. Và cuối cùng, ông đã là một nhà thơ đích thực, ở tầm cỡ thế giới.

Ngày nay, thơ ông phổ biến nhiều nhờ qua mạng Internet, nhưng đọc thơ trên mạng thì có cái gì đó phù du.

Tóm lại có những lý do khách quan, khiến tác phẩm Tô Thùy Yên khó đến với quảng đại quần chúng.

Giá trị thơ Tô Thùy Yên, về mặt tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật, tôi đã trình bày nhiều ở phần đầu, và viện dẫn chứng từ của nhà thơ Thanh Thảo, nhà văn Trần Đĩnh, những tác gia nghiêm túc mà tên tuổi đủ bảo đảm cho lời nói, cất lên từ trong nước. Quý ở chỗ đó.

Phần sau là đặt tác phẩm vào thời sự, với những nghịch cảnh đáng tiếc. Phong trào Thơ Mới 1932-1945 nở rộ nhanh chóng và ảnh hưởng lâu dài, là nhờ sách báo và nhà trường thời đó. Ngày nay xã hội Việt Nam không còn được hai ưu thế đó. Ngay việc bình luận, nghiên cứu cũng bị phân tán.

Cho hay khi con người sống có ích thì chết cũng có ích.

Và chúng tôi tin vào lời Tô Thùy Yên, ngày ông còn cả tiếng cùng nhân loại: Thơ còn con người còn.

21/1/2020

Đặng Tiến

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Những cái “tôi” và tiếng lòng của Trần Bảo Định

Trong tác phẩm “Les pensées”, Blaise Pascal (1623-1662) viết “Cái Tôi thật đáng ghét” (Le moi est haissable): Nhiều người ích kỷ thích xem mình là “cái rốn của vũ trụ” và chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của chính mình. Thế nhưng cái tôi của Trần Bảo Định thì không phải vậy! Anh viết về cái “Tôi” nhưng không là cái “Tôi Trần Bảo Định” mà là cái “Tôi của chúng ta”: Làng tôi, Thầy tôi, Vợ tôi, Mẹ tôi, đều là tiếng lòng mà qua đó anh muốn gửi chút tâm tình để ghi nhớ tình yêu quê hương, tình nghĩa thầy trò, tình yêu mẹ và lòng yêu dành cho người mình yêu thương và yêu thương mình.

Từ vài năm nay, giới viết văn ở TP.HCM hay gọi Trần Bảo Định (TBĐ) là người kể chuyện Nam Bộ, vì anh viết nhiều và hình như tác phẩm nào cũng đều đậm đà tình đất, tình người phương Nam.

Chỉ đâu chừng mười năm cầm bút, tính đến tháng 10-2018, nhà văn Trần Bảo Định đã cho ra đời hơn 10 quyển sách ở thể loại truyện và ký, chưa kể sáu tập thơ. Thật là một sức viết phi thường, như một cuộc chạy đua với thời gian.

Tôi không quen thân với TBĐ, dù trước đây có vài lần gặp anh qua trang web Hương Xưa hay Xứ Nẫu. Có một lần anh kể là từng khuyên các em mua nhà ở gần chợ để mỗi ngày đều thấy cuộc mưu sinh vất vả mà thương lấy con người. Tôi quý anh từ ngày đó.

Là người quảng giao, bạn bè anh đủ mọi tầng lớp, quan chức, trí thức từ già đến trẻ. Một tâm hồn trẻ trung, hồn hậu, phóng khoáng có phảng phất nét hào hùng và tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng can thiệp để giúp đỡ bạn bè, cả những người không quen để bênh vực lẽ phải. Bởi thế tôi không lạ khi thấy có nhiều người đến hỏi ý kiến hay nhờ anh dàn xếp những tranh chấp mặc dù anh đã về hưu và không còn giữ chức vụ gì chính thức.

Anh vui vẻ, tự tin, thân thiện, yêu quý và ủng hộ những người cầm bút có trải nghiệm sâu sắc, yêu văn chương hay có những trang viết xúc động trước vẻ đẹp của tâm hồn, và về lòng nhân ái.

Nhìn vóc dáng khỏe mạnh cùng giọng nói rổn rảng của TBĐ, không ai nghĩ là anh mang trọng bệnh.

Có lần bạn văn Nguyễn Ngọc Thơ kể, là khi phát hiện bệnh (vào năm 2009), anh vẫn bình tĩnh, vẫn sống vui vẻ, lạc quan và anh chọn cách viết văn, dùng con chữ trong sáng tác như phương thuốc hiệu nghiệm để quên những cơn đau: “Mỗi lần tập trung viết, tôi cảm thấy không còn đau nữa. Chỉ nghĩ đến viết ra thật nhanh những câu chuyện đang chất chứa trong đầu mình”.

Nhiều người cho là anh mới cầm bút, còn tôi thì nghĩ là anh mới thực sự viết và in sách, nhưng từ lâu, lâu lắm, anh đã từng suy nghĩ, chiêm nghiệm và “viết trong đầu” mình. Chỉ có thế mới giải thích về những trang viết đa dạng của anh đã và đang ào ạt xuất bản.

TBĐ viết tự nhiên, cứ nhẩn nha kể những câu chuyện đời thường. Những câu chuyện anh viết khá sinh động, có khi anh viết về thú vật nhưng luôn luôn “hiện bóng con người” và ẩn chứa nhiều nỗi niềm của tác giả.

Ít khi thuyết giảng nhưng cái tính triết lý nhẹ nhàng ẩn đằng sau con chữ chín muồi của người có nhiều trải nghiệm, khi anh  nói về cái giá trị chân thực của tự nhiên và con người.

“Người say quyền lực. Ta say sách

Người khát tiền. Ta khát kiến văn”  

Như đã nói, TBĐ viết và in nhiều và tôi tin là người có sức đọc phong phú đến đâu cũng không thể nào đọc hết những trang viết đa dạng của anh.

Vì thế bài viết này tôi chỉ muốn giới hạn về 4 tập thơ: Thầy tôi. Làng tôi. Vợ tôi. Mẹ, tiếng lòng để chia sẻ một chút tâm tình cùng anh.

Trước hết, theo tôi, thơ là một dòng suối mà ngôn ngữ là con thuyền chuyên chở cảm xúc, nhờ ngôn ngữ cô đọng nên “cái bên trong” của nhà thơ… lan ra bên ngoài… tưới mát tâm hồn và chạm đến trái tim người đọc.

Cảm xúc đầu tiên khi  tôi đọc thơ TBĐ là ý tưởng giản dị, nhưng viết ra thành những câu thơ thì thật thân thương, và phải là một người nhạy cảm và nặng tình mới đủ kiên nhẫn để trải lòng, nói lên những tình cảm dành cho lòng thương (mẹ, vợ, thầy, quê) như anh. Ngôn ngữ thơ của anh là những từ của quê hương Nam bộ, được xếp đặt một cách tự nhiên để chuyển đến người đọc tình cảm chân thành. Tình tự mà không thực, quá chú tâm đến kỹ thuật lời thơ dễ biến thành gượng ép.

Từng là người vào sinh ra tử nhưng tôi có cảm giác là TBĐ đã treo trái tim mình lên đầu súng, vì nhịp đập của nó là những cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng để nói về những  người mình thương yêu và quý trọng.

Mẹ, tiếng lòng và Vợ tôi.

Khi đọc mấy câu lục bát trong “Mẹ – tiếng lòng”, nhạc điệu đơn giản mà âm thanh như tiếng nấc làm lòng tôi se thắt :

Lòng ơi!

se sắt tâm hương,

Giỗ đầu, lạy mẹ

nhớ thương vô cùng.

Người con nào mất mẹ, dù đã bao lâu hay ở vào tuổi nào, khi nhớ về mẹ đều cảm thấy mình nhỏ bé và tôi rất xúc động khi thấy anh và Nguyễn Ngọc Thơ đến chia sẻ nỗi đau của tôi trong ngày tôi mất mẹ. Mấy hôm sau anh còn tặng tôi  bài thơ “nhớ mẹ”[1] khi thấy hình  tôi ngồi bên mẹ mà các em tôi đưa lên FB.

Hai câu thơ khác của anh đã làm mắt tôi cay, nỗi ân hận dâng lê ngày không còn mẹ:

“…biển trời ơn Mẹ làm sao trả

con khóc đêm nay trước mộ phần…”

Bài viết này không phải là nhận định hay phê bình mà chỉ là một sự trải lòng của người đọc và cảm thơ theo góc riêng của mình qua tiếng lòng của TBĐ và cũng để  đáp lại ân tình mà anh đã dành cho tôi và gia đình.

Những câu thơ, trích đoạn là theo cảm nhận riêng và chưa hẳn là những câu hay nhất.

Cảm xúc trong “Mẹ, tiếng lòng” của TBĐ  là nhớ mẹ, là lòng yêu thương vô hạn. Trong tập thơ có rất nhiều hồi tưởng về những tháng ngày gian nan và mẹ anh đã hy sinh chẳng quản gì mưa nắng. Là phụ nữ mà “ Mẹ lam lũ sống, quên nhan sắc, Cơ cực vì con, khó bởi chồng”.

Ký ức về Mẹ của TBĐ là “Cơm chan máu lệ”  và anh vẽ lên những hình ảnh xót thương rất ngọt ngào:

Mẹ ngồi đếm khổ, đong cay nghiệt,

Nuôi dưỡng tình quê trong khó khăn.

Tuổi thơ là những tháng ngày khó nhọc nhưng mẹ anh nhân hậu và chính trực, yếu thế mà dám bảo vệ lẽ phải. Hồi ức ấy thường làm anh tự hào khi thấy mẹ nhường cơm xẻ áo giúp đỡ những bạn nghèo. Anh hiểu đó là tấm gương dạy con về lòng nhân ái:

Mẹ làm thuê mướn khắp trong làng

Bênh vực người ngay trước kẻ gian.

Giúp đỡ bạn nghèo khi túng quẫn,

Nhường cơm, xẻ áo lúc nguy nan.

Và bài học ấy chắc chắn đã hằn sâu vào tâm khảm người con! Tôi không thể nào quên những ngày Nguyễn Ngọc Thơ bị bệnh. Tuy không giàu có nhưng bằng cách “phát hành” sách, gây quỹ và kêu gọi bạn bè đóng góp để giúp trả viện phí và cả tang lễ cho “người em nhỏ”. Sau khi Thơ mất anh còn giúp trả tiền học phí cho con Thơ để việc học không gián đoạn.

Với tôi, Thơ không chỉ là một bạn văn. Em còn là đồng hương và là bạn thân của các em tôi, đã từng “ăn dầm nằm dề” trong gia đình, tình như ruột thịt.

Với lòng yêu kính mẹ TBĐ viết tâm sự mình, mà giống như những lời khuyên nhủ cho con cái hay cho những ai còn mẹ:

Trọn đạo yêu thương tình mẫu tử

Thì ta mới xứng được làm người .

Ai cũng có hai người đàn bà quan trọng nhất đời mình, là Mẹ và Vợ.

Hoàn cảnh đất nước đã buộc TBĐ phải sống xa gia đình nhưng không vì thế mà lòng anh nguôi nỗi nhớ về một bếp lửa trong mái ấm gia đình. Nỗi nhớ ấy được anh nhắc đến những niềm vui và nỗi buồn với nhiều e ấp, bồi hồi của thuở ban đầu.

Và có lẽ, nghĩ, nhớ và viết về người cùng chia sẻ  ngọt bùi với mình trong suốt cuộc đời  thì TBĐ là một trong những người hiếm hoi. Anh nhắc lại những cung bậc tình cảm của đạo nghĩa vợ chồng, của tình yêu và lòng bao dung, vượt lên những gập ghềnh để giữ mái nhà bền vững, gia đình ấm áp.

Thơ TBĐ không da diết như thương vợ của Tú Xương: “Quanh nằm buôn bán ở mom sông” hay “Nhất vợ nhì trời” của Nguyễn Khuyến… mà là sự cảm thông, trải lòng với những tháng năm neo đơn, xa chồng, cuộc đời vất vả của người thiếu phụ trong thời chinh chiến.

Với chân tình,Trần Bảo Định kể lại cái thuở ban đầu  lưu luyến:

”Ngập ngừng anh ngỏ ý thương,

Rụt rè, em rút tay buông, thẹn thùng

Kể từ hôm ấy nhớ nhung..”

Sau đó là quyết định chọn người bạn đồng hành suốt đời với mình, nhưng hoàn cảnh chiến tranh và bom đạn, anh luôn thấp thỏm vì cuộc sống rập tình với bao bất trắc, ai biết ngày mai sẽ ra sao?:

Chiến tranh vui ít, lo nhiều

Biết còn sống sót để chiều chuộng nhau?

Lo thì lo vậy nhưng chẳng lẽ không đến với nhau như lời thể nguyện yêu thương:

Thôi thì năm miếng trầu cau

Một chai rượu lễ có nhau trọn đời  

(“Em nhận lời cầu hôn”)

Hạnh phúc chưa được bao lâu thì đã phải chia xa. Trong “Bữa cơm chiều” anh cảm nhận được nỗi buồn trong lòng người vợ trẻ :

Bàn tay đan kín vấn vương,

Mùi chồng còn phảng phất hương nồng nàn.

Bóng chiều đông cứng thời gian,

Mong manh mạng sống như làn khói sương.

Anh thấu hiểu được sự lạnh lẽo rợn người khi phòng không chiếc bóng:

Đông tàn xuân vẫn là đông,

Cửa cài then đóng phòng không đợi chờ.

Những lúc ở xa, anh đau xót khi con sắp chào đời mà mình  không về được:

”Trời mù chưa kịp bình minh,

Tôi còn quanh quẩn bờ kinh, vạt rừng

Bấm tay, đếm đốt áng chừng

Bây giờ có lẽ vợ mừng sinh con”

(Vợ sinh con đầu lòng)

Có lẽ trong lúc vợ vượt cạn một mình, thấy mình có lỗi,  Trần Bảo Định đã cảm kích và biết ơn người vợ giàu đức tính hy sinh và chịu đựng. Nên “Chiều qua sông nhớ vợ” được anh viết bằng nỗi nhớ nhung và lòng thương cảm. Nỗi buồn mênh mang, trôi theo con nước:

Chiều qua sông nhớ vợ nhà,

Tiếng ai khoan nhặt như là vợ tôi.

Giọng hò theo nước về xuôi,

Mái chèo thúc bách trong tôi nỗi buồn.

Bài thơ nào của anh cũng dung dị, nhưng có lẽ hình ảnh mộc mạc từ mấy câu thơ đơn giản trong “Hôm về thăm vợ”, khi đọc lên, tôi như thấy như một  khúc phim quay chậm và hình ảnh tuyệt đẹp:

Chồng về , chạy đón vấp chưn,

Mình đau té ngã mắt rưng rưng mừng.

Giúp nhau, em bảo rằng thôi

Tháo giày, thay áo nghĩ ngơi đi mình!

Nỗi vui mừng hấp tấp của người vợ gặp chồng sau tháng ngày chờ đợi đã làm tôi không cầm được nước mắt; Và nước mắt còn tiếp tục chảy dài  khi đọc những câu thơ trong lời  ”Dặn vợ” nếu một mai anh vĩnh biệt trần gian:

”Đừng báo tin buồn, đừng tiếc thương,

Ngủ yên, mình ngủ giấc vô thường.

Chiều trăng tiễn biệt anh về đất

Một cõi nhân gian thế đã xong!”

Đó là nỗi buồn của thời khói lửa!

Đọc tập thơ ”Vợ tôi”, người đọc dễ nhận ra TBĐ là một người chồng  thủy chung và rất thương vợ. Mấy ai dành cả một tập thơ để nhắc về kỷ niệm và viết lên cảm xúc của mình?  Quen và cưới nhau vội vã, trong chiến tranh “vui  ít lo nhiều” thì anh vẫn là người hạnh phúc vì được trời ban cho một người vợ hết mực yêu thương mình!

“Thương chồng, em giấu nỗi đau.

Không than, không trách, không chao đảo lòng”

Thế hệ của TBĐ ít ai  quan tâm đến ngày sinh nên hình như anh không có bài thơ viết cảm ơn ngày vợ đã sinh ra vì mình. Trong ý nghĩ ấy tôi chợt nhớ mấy câu trong bài thơ mừng sinh nhật vợ của Nguyên Cẩn nói lên tấm lòng của những người yêu thương vợ:

“…Tặng em này một đoá hoa,
Từ tâm vô lượng bước qua vô thường.
Sánh vai đến cuối con đường,
Trăm năm mưa nắng một phương đi về”

Thầy tôi

Có thể nói là TBĐ đã dành một tình cảm thương kính rất đặc biệt cho thầy Nguyễn Khắc Dương, nguyên Trưởng ban Triết, Khoa trưởng Văn khoa Viện Đại học Đà Lạt.

Đặc biệt vì qua những câu thơ anh viết, tôi cảm giác là tấm lòng anh dành cho thầy vượt lên trên cái chữ Nghĩa thông thường mà người đời thường dùng để nói về  thầy. Nó vượt hơn thế, như thể người thầy này với anh còn là bạn, là cha. Chữ nghĩa  nói về thầy được anh chắc lọc từ trái tim. Còn cái tình mà anh để lại sẽ là một tấm gương sáng cho thế hệ học trò hôm nay.

Cái ranh giới Thầy- Trò thông thường như không còn khi hai người đã từng chia sẻ tâm hồn và thấu hiểu tình cảm dành cho nhau. Đọc thơ anh tôi chợt liên tưởng đến tình cảm với thầy Huỳnh Kim Bửu mà tôi đã viết trong “Thầy giáo bạn văn”[2], nhưng sự thân thiết của anh với thầy Dương còn sâu sắc hơn nhiều:

“Có hôm con ngủ lại,

Thầy trò đắp chung chăn”

Xa thầy con thèm khóc

Đời lạc chốn phong trần” (”Ký ức”)

Chỉ mấy câu để  anh nói về thầy, một trí thức có đời sống thanh bạch:

”Gia tài Nguyễn Khắc Dương

Một chiếc radio thường

Một bàn đánh máy chữ

Một tấm lòng yêu thương” (Cầu nguyện hòa bình).

Thầy sống như thể mọi thứ đều là tạm bợ, và khi cần thì sẵn sàng dời đi nơi khác, chỉ cần gom theo ”Sách vở, quần áo cũ” là xong.

Trong tập thơ anh nhắc nhiều về những kỷ niệm ở Đà Lạt, viết về thầy mà cũng là kể chuyện về thời sinh viên khốn khó của mình, cả một chặng đường buồn vui, chiến tranh, chia cắt, ước mơ và tan vỡ.

Cuộc sống đạm bạc nhưng thầy luôn giúp đỡ nhưng sinh viên nghèo, có hoàn cảnh khó khăn:

“Những chàng sinh viên bụi

Vừa học, vừa kiếm ăn

Bám thầy những khi đói

Tâm sự lúc vui buồn

Tình người không giới hạn

Gánh khổ, chia sớt nhau”

“Những chàng sinh viên bụi…

Đời nghèo sống lầm lủi…

Thầy- quán trọ tình thương”

(”Tâm tình”)

Vật chất  đối với thầy chỉ là phù du hư ảo và trong “Hiến dâng” thầy nguyện “”Dâng hiến cho tình yêu xót thương, Phúc âm hòa quyện với quê hương, Kinh khuya cầu nguyện cho nhân loại..”

Và người học trò TBĐ đã hiểu và đồng cảm:

Sẽ có ngày xa thế giới này,

Đoạn đường kết thúc cõi trần ai.

Bạc tiền, danh vọng phù hư trả,

Nhà cửa, ruộng vườn như khói mây.  

(“Một đoạn đường”)

Thật xúc động khi anh viết cảnh chia tay thầy, đến cảnh thầy đi hỏi và cưới vợ cho trò, lặn lội vào thăm tận bưng biền, tặng lọ dầu:  “Ngậm ngùi tiễn trò đi, Mắt buồn lệ ứa mi, Thầy dúi ổ bánh mì”  người đọc như thấy được cả sự bịn rịn và sẻ chia.

Nhưng tình nghĩa thầy trò không chỉ vậy, vì thầy còn thay mặt gia đình để “Nhận con dâu” “Giữa đạn bom, Mỹ Tho khói lửa.” hiểm nguy:

‘Thầy đi hỏi vợ cho trò,

Bên sông súng nổ, gọi đò chẳng sang.

Đêm về ngủ tạm Trung An,

Sương đồng bằng rớt, trăng bàng bạc rơi”

(Ngày cưới).

Tình sâu nghĩa đậm nên sau ngày hòa bình, trò về tìm lại Thầy ở khắp nẻo đường nhưng “Mưa chiều, lệ ướt chiến bào, Con về không kịp, làm sao bây giờ…” :

“Ngậm ngùi giọt đắng, giọt rơi…

Giọt kêu thảng thốt thầy ơi, hởi thầy!”

(Đêm Đà Lạt khóc).

Hai câu thơ buông ra như tiếng khóc và làm người đọc xúc động, cảm thương.

Khi biết thầy học tập ở Sông Mao, trò vội vã tìm thăm.

 “Ta về phố rợp trời sao,

Say men chiến thắng chợt đau nhớ Thầy”

(”Nhớ thầy”).

Nhưng lúc này trò là “người chiến thắng”, thầy thuộc phe chiến bại nên “Sông Mao chiều cô quạnh, Đón người tù Khắc Dương”. Mọi việc như Chúa đã an bài. Thời đó gặp mặt không dám nhìn, sợ có tội. Nhưng, người học trò đã dũng cảm vượt lên mọi toan tính thiệt hơn, can đảm bước qua nỗi sợ, coi thường quyền lợi cá nhân để giữ tròn đạo nghĩa.

Trong bối cảnh mà tình thương yêu giữa người và người ngày càng cách xa, những trang thơ về “Thầy Tôi” của TBĐ lóe lên như  một đóm lửa ấm giữa mùa đông lạnh lẽo của tình người, hâm nóng tâm hồn nhân hậu.  Và vì thế tôi rất đồng cảm và và thích hai câu thơ của anh để nói lên tính cách cuả mình:

 Mình từ nguyên bản sinh ra,

 Đến khi chết, chẳng thể là bản sao.

Làng tôi

TBĐ  viết về làng, nhưng khi đọc thơ anh tôi ít quan tâm đến các địa danh, các tiếp giáp địa lý “rạch Bà Tàu, cầu Bà Lý, ao Cây Bần hay Vĩnh Bình, Hòa Ngãi… mà chỉ thấy cái làng của anh trong tâm tưởng. Vì làng của anh không chỉ là một vùng quê bé nhỏ, mà  là cái hồn của nó.

Trong cái làng của TBĐ tôi chỉ thấy những “tiếng trống đình làng”, “khói đốt đồng”, “ngôi trường”, “những cánh cổng”,  là “những cánh cò chiều”, “ bóng chiều”, “đêm chia tay bạn”, “má ngồi kể chuyện”… nói chung là sinh hoạt và sự sống của bất kỳ một làng nào trên đất nước, nên nếu nói theo cách khác, thì làng đó chính là quê hương. Là tổ quốc.

Thế cho nên khi đọc “ Trời xanh mây trắng lang thang, Tôi ngồi tôi nhớ thương làng quê tôi” tôi chỉ nắm bắt được cái nỗi lòng của người con xa xứ.  Vì làng đó có thể ở Long An, Cần Thơ, Biên Hòa hay Bình Định, Thái Nguyên… Mây trôi trên nền trời xanh, hay “côn trùng rỉ rả cô thôn, nhạc đồng quê trổi khúc buồn…” ở đâu thì cũng na ná như nhau, chỉ có hồn lữ khách xa quê thì rung mãi theo từng nỗi nhớ.

Bởi thế khi đọc làng tôi của TBĐ, tôi không khỏi không nhớ đến hai câu thơ  của thi sĩ Yến Lan đã ăn sâu trong lòng và tôi thường ngâm nga trong những ngày xa xứ:

…Chiều nay mở cửa ra trông,

Thấy làng đâu? – chỉ thấy lòng mà thôi…

(Nhớ Làng )

“Làng tôi” là những câu chuyện kể về những kỷ niệm mà tác giả đã từng trải qua, những  vui, buồn có thể rất đời thường mà có lẽ chỉ những ai từng xa quê mới cảm được nỗi niềm. Tuy xa nhưng làng vẫn bám vào ta như hơi thở. Và, tiếng lòng của câu thơ mới bật ra thành những giải bày tâm sự.

Hoài niệm của TBĐ thường hướng về một thời đã xa, những tháng năm còn yên ả, thanh bình, lúc tiếng súng chưa đì đùng để anh phải rời bỏ quê.

Nỗi nhớ ấy có thể bắt đầu từ những cánh diều tuổi nhỏ:

Thả dây diều lướt gió tung,

Thả tà áo rớt tuyệt cùng em yêu.

đến những rung động về cô gái nghèo bán hoa xuân gặp tình cờ trong phiên chợ Tết :

Người vui áo lụa quần là,

Em ngồi bó gối áo bà ba đen.

Chợ hoa Tết ế lạ lùng,

Em về cố xứ quảy cùng cực theo.

Hay lòng háo hức khi gánh hát bội về. Niềm vui hiếm hoi, bất ngờ, như một sự kiện của làng, tim rộn rã dù bị khiển trách hay hối thúc:

Trống đình làng thúc bách tôi,

băng đồng lội ruộng về coi hát chầu.

cằn nhằn em bước theo sau,

lầm bầm em hỏi sao lâu tới đình? (Trống đình)

Đến tuổi mộng mơ, bắt đầu nhìn các cô gái ấy hay quan sát những bàn tay chai sạm của cô thôn nữ cùng tiếng hát đêm trăng :

Bàn tay chai sạm cam lòng,

Em hò cố níu ngược dòng thời gian.

Hay ánh mắt cay nồng vì khói khi “nàng” cùng mẹ đốt đồng chuẩn bị cho mùa gieo hạt:

Chiều treo sợi khói ngọn cây,

mẹ và em đốt đồng cay mắt cùng.

hoàng hôn trời tối đã hung,

lửa theo gió chạy cháy hừng hực lên…

Rồi bị ánh mắt cay ám ảnh, chàng trai ấy mang theo vào giấc ngủ, ngỡ như nghe được hơi thở của người con gái:

…Mùi rơm rạ thở hơi quen,

nửa đêm thức giấc ngỡ em bên mình.

Để rồi giật mình, từ giấc mơ ngọt ngào đến hiện thực khốc liệt, sầu đau của chiến tranh, kẻ còn người mất:

Ánh trăng soi bóng tụi mình,

bóng em đè bóng lên hình bóng tôi.

nụ hôn vừa chạm làn môi,

thì làng quê đã bom rơi, đạn cày.

tôi đi xa xứ bao ngày,

còn nghe văng vẳng bên tai trống đình.

ngày về, tôi khóc một mình,

bóng tôi đè bóng lên hình mộ em! (Trống đình làng)

Hình ảnh chiếc bóng được vẽ nên bằng những câu thơ, mới vừa lãng mạn ngọt ngào bỗng chốc biến thành nỗi đau thê thiết!

Chiến tranh! Cơn lốc bạo tàn của nó mang đến những cuộc tiễn đưa giữa bạn bè và người yêu và mang lại chờ đợi trong vô vọng như  trong “Đêm chia tay bạn cùng làng”:

Bốn thằng uống hết một can rượu buồn.

mặt nhìn mặt rõ cùng hơn,

để quên thù hận và hờn oán nhau.

nỗi đau ngày một ngấm sâu,

quê hương tôi khóc dưới bầu trời xanh!

Thù hận phải quên thôi!  Bởi khi “Người chiến binh trở về” thì:

Còn bao nhiêu bạn bè anh,

Vẫn nằm rải rác rừng xanh chưa về .

Dù thích hay không thích uống cũng không thể không tìm đến men cay để xóa nỗi buồn, dìm nỗi đau vào chén rượu :

Ta say, chiều sụt sùi mưa,

Chiều say, ta khóc khi vừa chạm môi.

Mà đời thì chỉ thế thôi,

Có chi vĩnh cửu em đòi ngừng say? (Chiều say)

Nhưng nỗi đau đâu có tan trong rượu, tỉnh rượu càng buồn hơn với bao câu hỏi không có câu trả lời:

Nhiều đêm uống rượu anh không ngủ,

Tự hỏi vì sao bắn giết nhau.

Khiến người đọc bùi ngùi.

Và sẽ nghẹn ngào hơn lúc nhớ và đến “Thăm em”, thì hỡi ôi:

“…tôi về gõ cửa nhà em…

…khách ơi, cô đã lên chùa nhiều năm!”

Dứt binh đao, niềm vui còn hòa lẫn nỗi buồn, vì tuy xã hội có phát triển nhưng:

…Văn minh hiện đại bao nhiêu,

lòng người cũng giảm bấy nhiêu thật thà.

Con người thay đổi, làng xưa làm sao không thay đổi?

Biết làm gì nếu không chấp nhận vô thường??

Phần cuối:

Khi đọc các tập thơ Mẹ, tiếng lòng, Vợ tôi, Thầy tôi, Làng tôi tôi nghĩ là khi viết Trần Bảo Định không chú ý đến việc … “làm thơ” mà chỉ dùng thơ như  một phương tiện để chuyển tải những cảm nhận về Hiếu, Tình, Nghĩa và Quê Hương đất nước. Trong tất cả các tập anh đều nhắc lại những kỷ niệm mà anh đã trải qua để khắc ghi những cảm xúc của đời mình. Có lẽ vì thế nên anh viết tự nhiên, không dụng công trau chuốt;  ngôn ngữ chân tình, đề tài không cao xa, gần gũi với đời sống thường ngày nên dễ thấm vào lòng người đọc. Tất cả những hoài niệm mà anh nhắc tới đều có mặt trong dòng sống của gia đình, trường học, quê nghèo, chiến tranh ly tán nhưng tràn đầy mơ ước. Có thể nói TBĐ là nhà thơ còn kiên lòng giữ những giá trị cổ xưa, với một tâm thức nặng nghĩa, nặng tình.

Nhìn chung, thơ TBĐ dễ đọc, dễ nhớ. Và tôi rất tâm đắc với nhận định của nhà thơ người Anh W.H. Auden: “Thơ là những gì có thể nhớ sau khi đọc!”.

Thơ TBĐ có cấu trúc đơn giản nhưng có sự chuyển hóa từ tình cảm sang ngôn ngữ, có sự hài hòa giữa cảm xúc, lời và nhạc điệu, vì thế nó có thể xem như một chén rượu ngon làm cho ai cảm được sẽ thú vị khi thấy lòng mình như cộng hưởng với tấm lòng tác giả. Đọc những tâm tình đó tôi thường liên tưởng đến hình ảnh một người xa xứ, luôn mang theo trong chiếc ví những bức hình của người thân, và mỗi bài thơ như một lần lấy ra, nhìn ngắm, nên cuối cùng các đường viền đều bị nhàu nát hay ẩm ướt vì nước mắt của nhớ thương. Cảm xúc được anh viết lên từ tấm lòng, nói lên những giá trị cốt lõi về tình vợ chồng, tình thầy trò, tình quê hương… nên giá trị của nó đi theo con người suốt cuộc nhân sinh.

Nói cách khác, đó là “tiếng lòng” thứ văn nghệ dễ đi vào trái tim người đọc, không xu thời hay tụng ca, biểu diễn trong chốc lát để rồi bị chôn lấp bởi bụi thời gian.

Tuy cuộc sống hôm nay vùn vụt trôi, những gia trị tình cảm ít nhiều đều bị thác lũ kinh tế bào mòn.. chúng ta chỉ còn lại một di sản quý báu là tình tự con người… Thơ anh là tiếng nói của con người đến với nhau trong nhịp sống đầy yêu mến.

Thầm lặng bao năm rồi bỗng nhiên, những năm cuối đời TBĐ cầm bút, có lẽ anh phải viết ra vì “không quên năm tháng đau cùng cực đau”, và viết như một nhu cầu giải tỏa, xem như  liệu pháp trị bịnh, vượt qua những cơn đau và sợ hãi, dùng chữ nghĩa để đánh bại, hay đánh lừa, thần chết, như khi cầm súng. Chỉ khác là lần này anh chiến đấu bằng trái tim và ý chí.

Viết để đánh thức tình yêu chữ nghĩa, nằm ngủ yên gần suốt một đời người.

Và những bài thơ về tình, nghĩa, quê hương trải dài theo từng chặng đường, qua bao cuộc bể dâu, âm vang như tiếng thở dài trong đêm của một đời người.

Chú thích:
[1] Nhớ mẹ.

Gửi bạn Trương Văn Dân, Elena Pucillo Trương

Bạn ngồi chăm chút mẹ ăn…

Giờ thì, mẹ đã âm thầm ra đi.

Dẫu rằng, tử biệt sinh ly

Mà sao không thoát nỗi bi ai này?

Bạn ngồi nhớ mẹ đêm nay,

Nhớ da diết nhớ, nhớ gầy rạc thân.

Mẹ ơi! Gọi mẹ bao lần,

Mong manh sương khói con tần ngần đau!

Bầu trời vừa rụng vì sao,

Đèn trời cũng đã tắt vào đêm qua!

Con tìm mẹ giải Ngân Hà,

Trăng khuya mây vỗ sóng và cõi không!.

Trần Bảo Định.

[2] https://xunauvn.org/.

24/1/2020

Trương Văn Dân

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

“Chúng ta không cần phải đẹp lắm”- một bài thơ hay

“Để yêu nhau em không cần phải xinh đẹp lắm” – cái nhìn về em trìu mến, bao dung làm sao. Không cần em là người đẹp, người tài, người nổi bật, mà chỉ cần tâm hồn em quấn quít lấy anh, mãi ở bên anh. Nên “Em chỉ cần bay qua mái nhà lúc nửa đêm/ Trong giấc mơ của anh” – giấc mơ vi diệu về một tình yêu thật giản dị, ngay cả “Khi em bỏ rơi anh”.

Chúng ta không cần phải đẹp lắm

Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm

Phải giỏi giang hơn mọi người, phải biết nấu ăn ngon

Không phải lúc nào em cũng cần phấn son

Để yêu nhau chúng ta còn nhiều việc phải làm

Khi nửa đêm trời sao tối dần, sương mù

Rơi lặng lẽ, bầy ngỗng trời bay qua

Cất tiếng kêu, tiếng chúng không hay lắm

Buồn rầu, cô quạnh, khàn khàn, xa vắng

Không cần phải ngọt ngào, cũng làm anh thức giấc, ngồi lên

Nhìn đăm đăm vào tường, ra mở cửa sổ, nhìn xuống vườn

Bóng của chúng bay lướt qua, một con bay sau cùng

Lạc trong sương mờ tối, như ngày ấy

Anh bỏ rơi em

Để yêu nhau em không cần phải xinh đẹp lắm

Không cần phải bay đến chốn vô cùng

Không cần quá thông minh và đi chân đất

Không cần phải sexy và bận đồ nóng nhức mắt

Không cần phải hát hay, để yêu một người đàn ông

Em chỉ cần bay qua mái nhà lúc nửa đêm

Trong giấc mơ của anh

Bay chậm lại, bay sau cùng

Như một cánh chim lạc bầy, như ngày ấy

Khi em bỏ rơi anh

Nguyễn Đức Tùng

Thật hữu duyên, khi tôi đọc được bài thơ Chúng ta không cần phải đẹp lắm trên trang “Thơ tình thứ bảy” của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng; bài thơ có thi tứ độc đáo, góc nhìn riêng, tôi có cảm nhận thơ anh rất mới. Bài thơ như là sự cô đặc và nén chặt của một cuốn tiểu thuyết có nhiều phân mảnh, nhiều trường đoạn, mà trong đó cái tôi trữ tình như tự soi chiếu và cảm nhận sự mất mát, tiếc nuối khi mất đi tình yêu.

“Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm” – tứ của bài thơ thật bất ngờ khiến người đọc như giật mình, đốn ngộ, và bài thơ như chạm vào cái tôi thẳm sâu trong trái tim đang yêu và khao khát một tình yêu. Kết từ “để” đặt ở đầu câu, nói rõ mục đích của sự việc: “để” “yêu nhau” thì “không cần phải đẹp lắm” – nghĩa là có đẹp, phải đẹp, nhưng “không cần phải đẹp lắm” – phụ từ “lắm” là mức độ được đánh giá là cao, nhưng đã có từ phủ định: “không cần phải”. Lập tứ bằng một câu thơ có sự sắp xếp chặt chẽ của ngôn từ như thế là đã gây ấn tượng đến tâm thức của người đọc, bởi lối tư duy vốn đã quen thuộc trong chúng ta là đã yêu thì phải “Dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi” (Olga Berggoltz), hoặc phải “Dữ dội và dịu êm” (Xuân Quỳnh)… Nguyễn Đức Tùng đã lập tứ bằng cái nhìn trung tính, trầm tĩnh, chứa đựng chiều sâu của triết lý “Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm”. Cái tôi của thi nhân phân thân trong cái nhìn sâu vào kí ức, hòa quyện giữa vô thức, tiềm thức và ý thức của cả anh và em.

“Khi nửa đêm trời sao tối dần, sương mù/ Rơi lặng lẽ, bầy ngỗng trời bay qua/ Cất tiếng kêu, tiếng chúng không hay lắm/ Buồn rầu, cô quạnh, khàn khàn, xa vắng…”. Thời gian để anh lắng nghe anh là lúc “nửa đêm”, không gian vào lúc này thanh tĩnh đến mức anh nghe tiếng kêu của “bầy ngỗng trời” – nghệ thuật dùng động tả tĩnh khá quen thuộc trong thơ trung đại “Một tiếng trên không, ngỗng nước nào?” – (Thu vịnh – Nguyễn Khuyến); mà đặc biệt là tiếng kêu của chúng không hay, khàn khàn –  không ngọt ngào, không lãng mạn… thế mà “cũng làm anh thức giấc, ngồi lên”, hư từ “cũng” là điểm nhấn của câu thơ, như ngầm chỉ về sự giống nhau của hiện tượng, trạng thái. Nghe tiếng kêu của đàn ngỗng trời bay qua mà anh hình dung “một con bay sau cùng” cũng như nỗi xót xa, nẫu ruột, đớn đau trong anh, bởi ngày ấy “Anh bỏ rơi em”. Hai dòng thơ cuối ở khổ thơ thứ hai như lạc nhịp, phá bỏ lối diễn đạt thông thường: “Lạc trong sương mờ tối, như ngày ấy// Anh bỏ rơi em” – 5/ 3// 4; trạng ngữ chỉ thời gian “như ngày ấy” đặt vào cuối dòng thơ thứ nhất, ngắt giữa 2 dòng thơ tạo thành sự đứt gãy nhịp điệu của cả câu thơ, nhấn mạnh sự việc “Anh bỏ rơi em”. Kết từ “như” trong cụm từ “như ngày ấy” đã biểu thị sự so sánh giữa tiếng kêu của bầy ngỗng trời, cùng cánh chim của con bị lẻ đàn đuối sức, với chuyện “anh bỏ rơi em” – cái nhìn của thi nhân đã soi chiếu đến tận cùng của nỗi đau vì sự mất mát, tiếc nuối; đó cũng là lối sử dụng biểu tượng nhằm tri giác cái bất khả tri giác. Thi ảnh dịch chuyển cùng cái nhìn của cái tôi thật nhiều luyến tiếc, bởi ngày ấy “anh bỏ rơi em”. Hình ảnh “một con bay sau cùng” cùng cánh chim lạc lối ấy như soi tỏ trong tâm thức anh một nỗi đau không biết tự bao giờ, nỗi đau không chỉ xuất hiện một lần, mà nhiều lần, bởi vì khi đàn ngỗng trời bay qua… anh đã thức giấc, thời gian câu thơ đã viết rõ là “nửa đêm”, và còn ẩn ngầm thêm cả thời gian mùa – bầy ngỗng trời thường bay đi khi chuyển mùa từ thu sang đông… Tự thú nhận “anh bỏ rơi em”, và từ đó biết bao lần lúc nửa đêm anh nghe tiếng ngỗng trời mà bật dậy? Sự luyến tiếc lớn đến chừng nào, bởi vì lúc “anh bỏ rơi em” là lúc anh chưa ngộ ra rằng: “Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm”.

“Để yêu nhau em không cần phải xinh đẹp lắm” – cái nhìn về em trìu mến, bao dung làm sao. Không cần em là người đẹp, người tài, người nổi bật, mà chỉ cần tâm hồn em quấn quít lấy anh, mãi ở bên anh. Nên “Em chỉ cần bay qua mái nhà lúc nửa đêm/ Trong giấc mơ của anh” – giấc mơ vi diệu về một tình yêu thật giản dị, ngay cả “Khi em bỏ rơi anh”. Thời gian vẫn là nửa đêm, không gian không xa xôi cùng cánh ngỗng trời mà gần gũi đến mức ngỡ như chạm vào được “Em chỉ cần bay qua mái nhà” – chỉ cần có em, ngôi nhà sẽ bình yên (trong nhà có em là bình yên)…

Hai khổ thơ đăng đối nhau về ý tứ: “Anh bỏ rơi em”… “Khi em bỏ rơi anh” – bỏ rơi – bỏ lại phía sau rất xa, coi như không còn quan hệ. Cả hai cùng bỏ rơi nhau – ẩn ngầm một chút kiêu hãnh của cái tôi tình yêu khi bị phụ bạc; riêng ý thơ viết về em thì có thêm hư từ “khi” – bỗng dưng, không rõ lí do – “em bỏ rơi anh” – diễn đạt nỗi đau trong dự cảm mơ hồ, bởi vẫn không rõ lý do vì sao “em bỏ rơi anh”. Hình ảnh sử dụng trong mỗi khổ thơ đều có dụng ý, anh thức giấc lúc nửa đêm bởi có tiếng kêu đàn ngỗng trời bay qua; và em trở về trong giấc mơ anh cũng vào lúc nửa đêm – đó là khoảng không gian, thời gian yên tĩnh, lắng sâu cho một nỗi đau, một sự day dứt, tiếc nuối… Không gian và thời gian trong bài thơ không còn là những đại lượng vật lý bên ngoài, mà là những không gian, thời gian đã thấm vào tâm thức, cảm xúc tác giả; biểu hiện cái nhìn của tác giả về sự mất mát trong tình yêu thật da diết và đớn đau.

Điệp ngữ “như ngày ấy” trong hai câu thơ ở hai khổ thơ: “Lạc trong sương mờ tối, như ngày ấy”/ “Như một cánh chim lạc bầy, như ngày ấy” đã khắc ghi trong tim khoảng thời gian cả hai đã bỏ rơi nhau, vì khi bỏ rơi nhau là khi họ chưa hiểu rằng: “Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm” mà “Để yêu nhau chúng ta còn nhiều việc phải làm”. Cái hay của thi tứ được biểu đạt bằng cái nhìn đằm sâu với lối diễn đạt độc đáo, mới lạ, riêng biệt của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng đã thực sự gây ấn tượng trong tâm hồn chúng ta; bởi để ngộ ra một điều tưởng chừng rất giản dị là “Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm” thì con người cũng đã phải trải qua những nỗi buồn không thể diễn tả bởi những mất mát, day dứt khôn nguôi.

Huế, 19/7/2020

Hoàng Thị Thu Thủy

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Thơ tình Mai Văn Hoan

Nói đến chuyện tình yêu là chuyện muôn đời của nhân gian. Đã có biết bao nhiêu văn nhân, thi sỹ tốn không biết bao nhiêu giấy mực cho đề tài này. Nhưng thơ tình Mai Văn Hoan vẫn có những nét rất riêng. Là tình yêu mãnh liêt, nồng nàn. Điều đó thể hiện rất rõ qua các sáng tác của ông, chân thực và sinh động.

Thơ Mai Văn Hoan (MVH) có sức hấp dẫn bạn đọc nhiều thế hệ. Đặc biệt là nhiều bài thơ, nhiều câu thơ hay đã ở lại trong lòng lòng học sinh của thầy giáo MVH, và công chúng văn học. Thơ MVH là tiếng lòng của thi nhân, chân chất mà giản dị nhưng vô cùng đắm say và lãng mạn. Ở đó chứa đựng tâm trạng, cảm xúc một cách sâu sắc và tinh tế. Thể hiện vai trò sáng tạo của nhà thơ khi phản ánh hiện thực phong phú của cuộc sống. Một hồn thơ đa cảm, chứa chan tình đời, tình người. Khi trái tim rung động , tràn đầy nguồn cảm xúc thì những câu thơ tự nhiên đến với tác giả .Để thi nhân giải bày nỗi lòng của mình, của công chúng và nói hộ cho biết bao tình yêu của đôi lứa đang yêu. Người đọc yêu mến thơ MVH tìm thấy một tiếng nói đồng cảm sẻ chia, của tri âm hội ngộ . Ta bắt gặp những điều đó qua những câu thơ rât đỗi chân thành được viết nên từ những cung bậc của tình yêu: nhớ, mong, mộng mơ, khao khát… da diết đến nao lòng:

– “Màu hoa ấy chỉ còn trong ký ức
Sao chiều nay lại xao động lòng tôi?
Có một thời tôi thầm yêu hoa cúc
Trước sân chùa, ngơ ngác lá thu rơi

– Lá thu rơi, lá thu rơi ngơ ngác
Chiều thu nao ai tặng đóa cúc vàng
Để tôi cứ mộng mơ, khao khát…
Để chiều vàng, tôi cứ bước lang thang…”

(Màu hoa ấy)

Thơ tình của MVH không có tuổi. Dù viết lúc thanh xuân hay đến khi tóc đã ngã màu phai MVH vẫn thiết tha, lãng mạn với những vần thơ tình bỏng cháy.Và bao giờ cũng nhẹ nhàng đằm thắm và man mác buồn.

“Chập chờn say, chập chờn say cánh bướm…
Để chiều nay tôi lại nhớ về ai
Dẫu đất trời có mưa chiều, nắng sớm
Sắc hoa vàng, thu ấy…chẳng phôi phai!”
(Màu hoa ấy)

Thơ MVH giàu suy tưởng ,có chất men say trong ngôn ngữ thơ. Ở đó chứa những cảm nhận về cuộc sống, về  tình yêu đôi lứa và những ưu tư về thân phận con người . Có những bài đầy nhung nhớ chia xa của câu chuyện tình dang dở với triết luận nhẹ nhàng.

“Em nhặt được bao nhiêu vỏ ốc, vỏ sò
Cái vừa ý thì chẳng còn nguyên vẹn
Bởi tại em hay tại vì sóng biển?
Em lặng im và sóng biển trầm tư

Ra cuộc đời cũng như thế thôi ư?
Đau xót quá! Nhưng biết làm sao được
Thời tuổi trẻ tôi sống bằng mộng ước
Có để ý chi chuyện vỏ ốc, vỏ sò!”
(Chuyện vỏ ốc, vỏ sò)

Ai mà chẳng muốn mọi điều như ý. Nhưng mà cuộc đời hay tình yêu đôi khi khó tránh khỏi những điều ngoài ý muốn. Yêu thiết tha là thế! Nhưng không tránh được  lỡ làng, đau xót chia xa.Và cuộc đời cũng vậy, có những điều nuối tiếc không thể nào khác được, đành chấp nhận an bài.

“Thôi đi em, tìm chi nữa trên bờ
Tìm chi nữa, mặt trời sắp gác núi
Hoa chong chóng bay theo chiều gió thổi
Xác sò nằm trên bãi vắng chơ vơ…”
(Chuyện vỏ ốc, vỏ sò)

Những chốn thân quen đã từng chung lối với cố nhân, vẫn là những kỷ niệm đẹp. Hình bóng ngày nào, làn hương thân quen, con đường xưa , bãi cỏ, bờ mương…Trở thành ký ức khó phai, thành những hoài niệm đẹp, đọng lại nhiều man mác bâng khuâng:

“Đôi khi mơ về nơi ấy
Con đường xưa vẫn thường đi
Bây giờ trở nên hoang vắng
Hai bên cỏ mọc xanh rì
(Đôi khi)

Đôi khi nhớ về nơi ấy
Bờ mương thoang thoảng hương nhài
Cái mùi hương huyền hoặc ấy
Cứ thơm, thơm suốt canh dài”
(Đôi khi)

Nhà thơ nếu không có một cái nhìn rất đẹp về cuộc sống, không thể vẽ nên cảnh cánh bướm vờn hoa sinh động và nên thơ như thế! MVH quả là nhà thơ tình lãng mạn, với cách viết ví von, giàu hình ảnh tinh tế và gợi cảm.

“Cứ chơi vơi, chờn vờn đôi cánh mỏng
Mùa thu vàng, vàng rực cả chân mây
Xin suốt đời được làm người mơ mộng
Được làm đôi cánh bướm, chập chờn say…”
(Mùa thu ấy)

Trong văn chương, những cây bút gạo cội có nhiều cách thể hiện khác nhau. Nhưng trong nghệ thuật dù có tinh xảo đến đâu tự nó cũng không thể đem lại giá trị thẫm mỹ mà cốt lõi tạo nên giá trị chính là ở trái tim đa cảm, yêu mãnh liệt và tâm hồn lãng mạn . Mai Văn Hoan làm thơ tình với lòng yêu mến và tình đắm say. Thơ tình của MVH lúc nào cũng tươi mới, trẻ trung. Đó là những dòng thơ chuyên chở nỗi lòng, là tâm sự giàu tính hiện thực của MVH. Những cung bậc của tình yêu tha thiết, nhớ nhung, khát khao hạnh phúc… Qua những ngôn từ dung dị dễ hiểu, gần với lời nói hàng ngày mà có sức lay động con tim.

“Đôi khi ước về nơi ấy
Được cùng sánh bước bên nhau
Dừng chân trên cây cầu gỗ
Chỗ trao cái nụ hôn đầu”

Thơ tình MVH ngọt ngào và lãng mạn nhưng vẫn không tránh được nỗi buồn cô đơn mà thi nhân đã hơn một lần đối diện. Nghệ thuật của thi ca chính là nơi cho thi nhân gửi gắm nỗi buồn và tâm sự riêng mang.

“Đôi khi… giật mình… nhìn lại…
Non xa chiều ngả màu sương
Đôi khi thấy lòng trống trải
Hồn vương vương một nỗi buồn…”

Dẫu vẫn biết yêu là đau khổ bởi tình yêu có vị ngọt ngào mà cũng đầy đắng chát. “Yêu là chết trong lòng một ít”

Nhưng “con người sinh ra có linh hồn chính là để yêu’’
(Văn hào Maksim Gorky)

Còn xuân Diệu

“Làm sao sống được mà không yêu
Không nhớ, không thương một kẻ nào”

Như vậy tình yêu là nhu cầu tình cảm tất yếu, tự nhiên, là khát vọng hạnh phúc . Tình yêu đã đồng hành cùng với sự tồn tại của con người với bấy nhiêu cung bậc yêu thương nhưng ở mỗi người có cách thể hiện khác nhau. Ở nhà thơ Mai Văn Hoan, ông có cách nói dỗi hờn đáng yêu: nhưng trước sau vẫn tha thiết , nồng nàn và khát khao trọn vẹn với tình yêu .
“Đã bao lần ta tự hỏi vì sao
Trái tim ta không trơ lỳ như đá
Để được sống những tháng năm nhàn nhã
Không ưu tư không thương nhớ đợi chờ”
(Quân vương và thiếp)

Nhưng chắc chắn là thi nhân không muốn thế! Vẫn muốn được rung động, xao xuyến và được say đắm với tình yêu dù tình yêu đó đơm hoa kết trái ngọt lành hay dang dở, đắng cay.

Đọc thơ MVH khiến nhiều con tim xao xuyến và có người đã trở thành nhân vật trữ tình trong suốt một tập thơ,khơi nguồn cảm xúc dạt dào cho MVH viết nguyên cả một tập thơ đối  đáp cho một chuyện tình thơ thật đẹp: Hãy đến với tâm sự của một độc giả và cũng từng là nhân vật trữ tình trong thơ nói gì:

“Quân vương ơi, thơ người tha thiết quá!
Trái tim ta đã vỡ vun mất rồi!
Giây phút này ta chỉ muốn buông xuôi
Cho trôi mãi bến bờ nào xa thẳm”
(Quân vương và thiếp)

Trong mười tập thơ có những nàng thơ chỉ ở lại trong một vài bài thơ, nhưng cũng có những nàng thơ là nhân vật trữ tình trong suốt cả tập thơ đó. Dù là nàng thơ đã gắn bó với MVH hay có khi chỉ nghe qua giọng nói hay chưa từng gặp mặt thì thơ tình MVH bao giờ cũng chứa đủ những nồng nàn tha thiết của một trái tim lãng mạn và một tâm hồn đa cảm . Đọc hết một tập thơ, ta như đi một cuộc tình của MVH. Thơ tình của MVH đã làm bao trái tim xúc động bồi hồi. Tôi cũng đã cảm nhận nhiều bài thơ, nhiều tập thơ, được tiếp cận với những nét đẹp và cái hay, cái độc đáo riêng của từng tác phẩm. Những quan niệm về tình người, tình đời, tình yêu trong đời sống tâm thức …tạo nên những giá trị riêng làm nên những sự khác biệt trong những áng thơ tình. Tôi vẫn tâm đắc một điều là thơ tình Mai Văn Hoan: nồng nàn , say đắm, là sản phẩm tình thần cao quý của một trái tim yêu nồng cháy. Đọc thơ tình của Mai văn Hoan tôi thấy tình yêu trong thơ ông luôn mãnh liệt bởi cảm xúc luôn dạt dào tươi trẻ, bất kể những bài thơ MVH viết lúc ở độ tuổi nào của cuộc đời thì tình yêu ấy vẫn nóng bỏng, vẫn nồng nàn, tan chảy.

26/7/2020

Hoàng Thị Bích Hà

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nàng thơ giấu mặt của Joseph Brodsky

Joseph Aleksandrovich Brodsky (1940-1996) là nhà thơ Nga đoạt giải Nobel Văn học năm 1987. Các tác phẩm chính của ông gồm: Vĩnh biệt, hãy quên, đừng trách cứ gì nhau, (tập thơ, 1957), Khúc bi ca lớn gửi Donne John (tập thơ, 1963), Thơ và trường ca (1965), Trạm dừng trong sa mạc (tập thơ, 1970), Kết thúc thời tốt đẹp. Thơ những năm 1964-71 (tập thơ, 1977), Những khúc bi ca La Mã (tập thơ, 1982), Những bài tứ tuyệt mới gửi Augusta (tập thơ, 19830… Ngoài ra, Joseph Brodsky là tác giả của một số tập tiểu luận, kịch… Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày sinh của nhà thơ (24/5/1940 -29/5/2020), xin giới thiêu vài nét về mối tình sâu nặng của ông với nữ họa sĩ Marina Basmanova.

Những ai quan tâm tới nhà thơ Nga Joseph Brodsky, giải thưởng Nobel văn học, dễ nhận thấy ông hay đề tặng thơ cho một người phụ nữ có tên viết tắt là M.B. Có lẽ, xét về số lượng thơ đề tặng một người, không ai sánh kịp Brodsky trong nền thơ ca thế giới. M.B là Marina Basmanova – người yêu Leningrad của Joseph Brodsky, nữ họa sĩ, một trong những nhân vật kỳ lạ và bí ẩn nhất trong số những người quen biết của nhà thơ. Marina không bao giờ trả lời phỏng vấn, không gặp gỡ các nhà báo, không mở cửa cho cả những người quen, không nói chuyện điện thoại với kẻ lạ. Chỉ còn lại một bức ảnh duy nhất của con người bí ẩn này, khiến chúng ta rất khó ta hình dung về nhan sắc của cô. Chúng tôi cảm thấy ở đây có một sự bất công nào đấy: Những người hâm mộ chân chính của nhà thơ vĩ đại cho đến tận ngày hôm nay hầu như không biết gì về người phụ nữ đã đóng một vai trò quan trọng trong số phận của nhà thơ và tạo nguồn cảm hứng cho nhiều dòng thơ tuyệt bút của ông.Để khắc phục sự bất công đó, hai nhà báo Vyacheslav Nedoshivin và Yury Lepsky của tờ “Báo Nga”  đã gặp và phỏng vấn một số bạn bè của Joseph Brodsky hiện đang sống ở Moskva và Petersburg. Vì nhiều lý do, các nhân vật này xin được giấu tên. Tôn trọng nguyện vọng của họ, trong bài viết sau đây, chúng tôi trích dẫn các ý kiến trong ngoặc kép.

Người đẹp im lặng

Marina sinh trưởng trong một gia đình họa sĩ khá nổi tiếng. Bố là Pavel Ivanovich Basmanov, từ những năm 30 của thế kỷ trước, là một trong số những họa sĩ tài năng. Mẹ là Natalya Georgyevna, hoạ sĩ đồ họa. Theo một số nhân chứng, Marina tuy không được học hành một cách bài bản, nhưng cô có năng khiếu hội họa, tiếp thu nhanh các bài học của bố mẹ, thậm chí còn giúp đỡ mẹ trình bày một số cuốn sách.

Ngày 02 tháng 01 năm 1962, sinh viên nhạc viện, nhạc sĩ tương lai Boris Tischenko, giới thiệu Marina với Joseph Brodsky. Tischenko cho biết rằng Marina là người yêu của mình. “Đó là một cô gái có đôi mắt màu xanh lục, vầng trán cao, mái tóc màu hạt dẻ, da mai mái, với những đường gân xanh nổi trên thái dương – Marina trông rất đẹp”. Bạn gái của Brodsky, nữ thi sĩ Lyudmila Shtern, viết rằng Marina trông như người thiếu máu. Một cô gái nhút nhát, không tỏ ra sắc sảo. Đôi khi trong cặp mắt xanh lục của cô thấp thoáng một vẻ ngơ ngác nào đó.

“Cô ta gầy, cao, giọng nói thì thào, không có âm sắc đặc biệt. Đôi khi Brodsky ngồi cạnh Marina, nghe cô ta nói gì đấy, quay sang và âu yếm hỏi: “Chúng mình thì thầm cái gì ở đây nhỉ?”. Một lần Joseph Brodsky cùng cô đến chơi nhà ai đó. Đã muộn, sau 11 giờ đêm. Họ đọc thơ, uống rượu vang Gruzia và ra về lúc 2 giờ đêm. Khi đến, Marina nói “xin chào”; ra về, nói “tạm biệt”. Thế thôi! Suốt cả buổi tối, cô không nói thêm câu nào nữa!”.

Marina mang theo một cuốn sổ và thỉnh thoảng ngồi vẽ cái gì đấy. Ít ai nhìn thấy cô ta vẽ gì trong cuốn sổ đó.

Vì Marina hoàn toàn im lặng, còn Joseph thì không bao giờ chia sẻ những gì họ nói với nhau, cho nên rất khó hiểu ở cô có điều gì hấp dẫn Brodsky đến thế. Theo lời kể của nhà thơ Bobyshev, Marina có thể bàn luận rất say mê và thông minh về hội họa. Một số người cho rằng quan điểm của cô chịu ảnh hưởng của họa sĩ nổi tiếng kiêm nhà lý luận mỹ thuật Vladimir Sterlingov, học trò của họa sĩ nổi tiếng Kazimir Malevich, và bạn của bố mình. Người ta thường thấy Marina ở nhạc viện. Dĩ nhiên, cô là người am hiểu âm nhạc, ngay cả trước khi Joseph bắt đầu quan tâm tới các tác phẩm âm nhạc cổ điển.

“Marina có mái tóc dày, thẳng, dài quá vai. Cô không chỉ đẹp mà còn thuộc về kiểu phụ nữ luôn luôn hấp dẫn Brodsky. Ngay cả sau khi chia tay với Marina, bên cạnh ông vẫn là những người phụ nữ kiểu đó. Ví dụ như Veronika Shilts, nữ phiên dịch và chuyên gia ngôn ngữ Nga người Pháp mà ông gắn bó một thời gian khá dài. Vợ ông, Marya Sotstsani – Brodskaya cũng giống Marina Basmanova”.

“Marina và Joseph thích đi dạo chơi, họ thường đến thăm vợ chồng Lyudmila và Viktor Shtern sống gần đó, uống trà, sưởi ấm. Họ mang hoa đến, cười nói vui vẻ. Joseph không bao giờ rời mắt khỏi Marina và say đắm dõi theo từng động tác của cô: khi cô hất mái tóc, khi cầm chén trà, cả khi soi gương…”

Joseph có yêu Marina không? Mọi người đều nói – tất nhiên. Tuy vậy, một  người bạn của nhà thơ cho rằng tình yêu thực sự chỉ bùng cháy khi Brodsky cảm thấy có thể đánh mất cô, khi có một người thứ ba can thiệp vào chuyện tình của họ.

Phản bội

Thật thú vị, tại sao chỉ còn lại một bức ảnh duy nhất của Marina? Tại sao không một ai trong số bạn bè, người quen của Brodsky có thể cho chúng ta xem dù chỉ một bức ảnh của Marina? Phải chăng Brodsky không bao giờ chụp ảnh Marina, phải chăng không sót lại một bức ảnh tình cờ nào cô chụp chung với  bạn bè trong các cuộc gặp gỡ? Sau đây là những câu trả lời.

“Marina rất không thích chụp ảnh, nói chung cô ấy không thích xuất hiện chỗ đông người. Bao giờ cô ấy cũng thích ở trong bóng tối, bao bọc trong màn sương mù. Thậm chí cô ấy còn nghĩ ra một thứ mật mã để mã hóa những ghi chép của mình”.

“Tất nhiên, Joseph có thể chụp ảnh Marina. Về lý thuyết, điều đó hoàn toàn có thể. Hơn nữa, họ thường hay đi dạo với nhau trong thành phố. Mà Joseph lại biết chụp ảnh. Sau khi ra đi, Brodsky để lại khá nhiều phim âm bản chụp những chuyến dạo chơi với Fey Vigzel, cô người yêu mà ông định cưới. Có những âm bản chụp với Fey trong lúc đi chơi ở Pháo đài Petropavlovskaya. Không có âm bản nào ghi lại hình ảnh Brodsky với Marina Basmanova. Có thể, nhà thơ đã hủy bỏ chúng?”.

Brodsky và Marina thường hay đến chơi nhà một người bạn của họ, nhà thơ Dmitry Bobyshev. Nhưng một lần vào cuối năm 63, Marina đến đó một mình. Cô yêu cầu đóng cửa lại. Họ ngồi với nhau rất lâu trong bóng tối. Bobyshev cảm thấy khó xử, bèn mời cô đi chơi ở điện Smolnyi…

Ít lâu sau, Bobyshev nhận được lời mời đến chơi nhà Marina ở phố Nikolskaya. Marina sống trong góc sân khấu phòng khiêu vũ. Ở đấy có bàn làm việc của cô, chiếc giường, tủ, và trên những bức tường trắng là một dòng chữ bí ẩn được mã hóa. Đó là câu châm ngôn của cô. Bobyshev đề nghị cô giải mã dòng chữ. “Tồn tại chứ không phải vật vờ”, – Marina  đọc. Anh ta ghi nhớ các kí hiệu. Và khi về nhà đã dễ dàng giải mã dòng chữ của Marina ghi trên cuốn thơ Pháp mà cô đề tặng anh: “Gửi thi sĩ yêu thích của em. Marina”.

Mấy ngày sau, Marina nói với Bobyshev rằng muốn đón năm mới 1964 với anh. Tất nhiên, anh ta đồng ý và chỉ cho cô cách đi đến biệt thự ở Komarovo, nơi anh ta sống lúc bấy giờ.

50 năm sau,  chúng tôi tìm đến ngôi nhà gỗ hai tầng có mặt tiền hướng về phía vịnh Phần Lan. Tất cả vẫn y nguyên như cũ. Điều gì đã xảy ra ở đây vào đêm mồng 01 tháng giêng năm 1964?

Bobyshev thông báo với các bạn mình rằng Marina – người yêu của Brodsky (trước khi đi Moskva Brodsky nhờ anh chăm sóc hộ) – sẽ đến. Họ cùng đón năm mới với nhau, chờ mãi vẫn không thấy Marina. Cô xuất hiện khi chuông đồng hồ báo hiệu năm mới đã bắt đầu. Hóa ra, Marina bị lỡ tàu…

Marina cùng với Bobyshev cầm nến đi ra mặt vịnh đóng băng. “Chúng tôi dừng lại, tôi ôm hôn nàng, ngửi thấy mùi tuyết trên tóc… Này nhé, trước tiên anh muốn hỏi một câu rất quan trọng… Câu gì? Thế còn Joseph? Anh ấy là bạn của anh… Anh ấy, hình như, từng coi em là người yêu của mình, có thể bây giờ vẫn coi như vậy, và những người khác cũng nghĩ thế”.  – “Anh nói gì vậy? Em không nghĩ như vậy, còn Joseph nghĩ gì là việc của anh ta…”, – Marina đáp.

Họ cầm nến trở về biệt thự và bắt đầu khiêu vũ. Lửa từ ngọn nến của Marina bén vào dải ruy băng, rồi lan sang tấm riđô. Cố ấy nhìn ngọn lửa đắm đuối và nói: “Đẹp quá!”.

Mọi người bắt đầu dập tắt đám cháy mới bùng lên. Nhưng không ai tha thứ cho Bobyshev trong cái đêm giao thừa cùng đón với Marina Basmanova. Ai cũng biết rằng lúc đó Brodsky đang ở Moskva để trốn một vụ bắt bớ, và hành động của Bobyshev được coi là một sự phản bội. Không ai nói gì về Marina. Ngày hôm sau, mọi người yêu cầu Bobyshev mang đồ đạc rời khỏi biệt thự…

Mười ngày sau ở Moskva, tại căn hộ của nhà thơ Evgeny Reyn, Brodsky biết tin bạn mình Dmitry Bobyshev hiện sống với Marina. Ông vay Reyn 20 rúp và mua vé tàu hỏa đi Leningrad. Mọi người can ngăn Brodsky và  nói rằng đến nơi ông sẽ bị bắt ngay, rằng tòa án đã thông qua quyết định xét xử ông về tội “ăn bám”. Brodsky không chịu nghe. Điều khiến ông thực sự quan tâm là giãi bày với Marina.

Rốt cuộc, Brodsky cũng đến Leningrad. Không gặp Marina, ông tìm đến nhà Bobyshev. Họ nói với nhau những lời thậm tệ nhất và cắt đứt quan hệ mãi mãi. Một tuần sau, Brodsky bị bắt ngay trên đường phố. Ba kẻ mặc quân phục giải ông về đồn công an quận Dzerzhinsky.

Tòa án. Phố Khởi nghĩa, nhà số 38

Chúng tôi xuất trình giấy tờ cho viên công an cạnh cổng ra vào và trèo lên gác hai. Ở đấy, chúng tôi gặp người thư ký vẫn còn nhớ “nhà thơ Brodsky bị xét xử ở phòng số 9”. Họ giải thích rằng phòng số 9 vừa mới được sửa chữa, vì vậy hiện nay trông hơi khác. Chiếc ghế bị cáo mà Brodsky đã từng ngồi hiện nay được bao trong lồng sắt. Tất cả những thứ còn lại, họ nói, vẫn không có gì thay đổi. Căn phòng nhỏ nhắn. 50 năm trước, tại phiên toà xét xử “kẻ ăn bám Brodsky”, chỉ một số người được phép vào đây, trong đó có bố mẹ nhà thơ. Thẩm phán là một bà Savelyeva nào đó, công tố viên xã hội tên là Sorokin. Nữ phóng viên Báo Văn Frida Virdorova cũng có mặt ở đây. Chúng tôi xin trích giới thiệu một số đoạn ghi chép của bà:

“Thẩm phán: Anh làm nghề gì? Brodsky: Tôi làm thơ, dịch sách. Tôi tưởng… Thẩm phán: Không được “tôi tưởng”. Hãy đứng cho đàng hoàng! Anh có công việc thường xuyên không? Brodsky: Tôi nghĩ rằng đó là công việc thường xuyên. Thẩm phán: Hãy trả lời cho chính xác! Brodsky: Tôi làm thơ! Tôi nghĩ rằng chúng sẽ được in. Tôi tưởng… Thẩm phán: Chúng tôi không quan tâm “tôi tưởng”. Hãy trả lời tại sao anh không làm việc”. Brodsky: Tôi có làm việc. Tôi làm thơ. Thẩm phán: Thâm niên lao động của anh? Brodsky: Khoảng chừng … Thẩm phán: Chúng tôi không quan tâm “khoảng chừng”! Brodsky: 5 năm. Thẩm phán: Mà nói chung chuyên môn của anh là gì? Brodsky: Nhà thơ. Nhà thơ – dịch giả. Thẩm phán: Thế ai công nhận anh là nhà thơ, ai liệt anh vào hàng ngũ các nhà thơ? Brodsky: Không ai cả. Thế ai liệt tôi vào hàng ngũ loài người? Thẩm phán: Thế anh có học hành gì không? Brodsky: Học cái gì? Thẩm phán: Để trở thành nhà thơ? Anh có tốt nghiệp trường đại học, nơi người ta đào tạo… anh học ở đâu? Brodsky: Tôi không nghĩ rằng điều đó có thể học được. Thẩm phán: Thế thì làm sao? Brodsky: Tôi nghĩ rằng đó là Trời cho…”

Cuộc đối thoại nổi tiếng diễn ra như vậy. Kết quả là Brodsky bị đưa đi làm giám định tâm thần. Một tháng sau, khi việc giám định không phát hiện ra ở ông dấu hiệu bất bình thường nào, phiên tòa tiếp tục. Quả thật, ở một nơi khác.

Brodsky đứng xoay nghiêng người về phía phòng xử án, ông mặc áo bành tô màu thẫm không cài cúc, quần nhung kẻ và áo len màu hung hung nâu. Thái độ bình tĩnh, đường hoàng, thậm chí có vẻ hờ hững. Sau này, khi đã ở New York, ông nói với Lyudmila Shtern: “Vụ án đó không quan trọng bằng chuyện tình của tôi với Marina. Tất cả sức lực tinh thần của tôi dành hết vào việc vượt qua nỗi bất hạnh đó”.

Quyết định của tòa án ghi: “Căn cứ vào Sắc lệnh của Chủ tịch đoàn Xô viết Tối cao… trục xuất Brodsky Joseph Aleksandrovich khỏi thành phố Leningad đến một địa phương đã định để cải tạo lao động bắt buộc trong thời hạn 5 năm. Quyết định này phải được thi hành ngay từ ngày 13/2/64, và không được kháng án”.

Địa phương đó là làng Norenskaya thuộc tỉnh Arkhangensk, nơi một lần Marina đã đến thăm Brodsky.

Xét theo những câu thơ của Brodsky, mối tình của họ đã chết vào năm 1989, khi ông viết bài thơ với lời đề tặng “Gửi M.B” quen thuộc (tạm dịch): “Xin đừng nghĩ xấu về anh. Với giọng nói, thân thể, tên tuổi của em/anh chẳng còn gì gắn bó; không ai đánh mất chúng/nhưng để quên đi một cuộc đời – con người cần ít nhất/một cuộc đời nữa. Và anh đã đi qua đoạn đời này”.

Vào thời điểm đó, Joseph Brodsky đã 17 năm không gặp lại Marina Basmanova.

26/7/2020

Trần Hậu

Nguồn: Rg.ru

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Tô Thùy Yên – nhà thơ Việt Nam Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, từ trần tại Houston (Hoa Kỳ) lúc 21g15 ngày 21-5-2019, t...