VĂN THƠ NHẠC
Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026
Mùa xuân và những khúc hoan ca trong thơ Xuân Diệu thời thơ mới
Mùa xuân và những khúc hoan
Chủ nghĩa lãng mạn được xây dựng trên cái nền tư tưởng không bằng lòng với thực tại và hiện tại, cái thực tại mà con người bị tha hoá trong nỗi đau thương xa rời bản thể và nhân tính. Văn chương lãng mạn Việt Nam đầu thế kỷ XX khá gần gũi với văn chương lãng mạn Pháp, dẫu vậy do phát triển trong bối cảnh xã hội thuộc địa nó có những sắc thái riêng. Các nhà thơ lãng mạn Pháp tự hào: không gì làm cho người ta lớn lao bằng một niềm đau thương lớn (A.Muyxê). Các nhà thơ lãng mạn Việt Nam cũng thổ lộ là con một “người mẹ hay sầu”và “mắt thường đẫm lệ” (Huy Cận). Xuân Diệu bước vào Thơ Mơi muộn nhưng gây ấn tượng mạnh vì ông không khóc, không buồn mà trên môi nở nụ cười nồng ấm, tươi trẻ khao khát yêu thương, khao khát giao cảm với đời.
Nguyễn Du, một cách nhìn mới về lịch sử
Nguyễn Du, một cách nhìn mới về lịch sử
(Đọc Nguyễn
Du - tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Thế Quang, NXB Hội Nhà văn
và CT Sách Phương Nam 2010)
Chúng
ta đã từng gặp nhiều danh nhân
văn hóa qua các trang chân dung văn học, nay ta lại
gặp Nguyễn Du dưới sắc bút của Nguyễn Thế Quang, một hậu sinh đồng
hương với Nguyễn. Nhà giáo Nguyễn Thế Quang trong hơn 10 năm đầy biến
động của gia cảnh, nghề nghiệp và bệnh tật đã trăn trở tìm tòi
sáng tạo nên những trang văn xúc động người đọc.Viết về Nguyễn không
dễ vì bao nhiêu sách báo đã nói về ông. Không có một tình
yêu, một hiểu biết sâu đậm nhất định về đối tượng, người viết sẽ
ngợp khi chọn đề tài này.Tình yêu và sự trải nghiệm, đặc biệt là
sự dày công đã giúp tác giả vượt qua giới hạn thử thách trên.
Nguyễn Du trong tác
phẩm này có những điều làm người đọc muốn suy ngẫm. Nguyễn trong
mắt nhìn của thế kỷ XXI, có phải là người ngày xưa? Nguyễn của một
gia thế lừng lẫy. Nguyễn của một tài năng đa dạng xuất chúng. Nguyễn
của một số phận long đong bất như ý . Nguyễn của một nghị lực phi
thường... Dẫu là một nhân cách lớn nhưng sống buồn bã, tâm trạng u
uất là điều có thật trong tâm sự Nguyễn Du.Cần đối
chiếu hành trạng của Nguyễn, cần có cái nhìn toàn diện để hiểu và
giải thích rõ cái tâm sự u hoài tại sao đeo đẳng ông mãi thế, dẫu có khi làm đến
bậc Á khanh và đã khiến một vị đại hoàng đế như Gia Long phải thốt
lên “Ta quý những người có cốt cách như khanh”. Tác phẩm của Nguyễn
Thế Quang vẽ lên nỗi buồn lớn của Nguyễn Du không dừng lại ở cái nguyên nhân
bé nhỏ là vì đồng sự ghen ghét hay mặc cảm về cái sự “ tôi trung không thờ
hai chúa” mà ở cái nỗi niềm lớn lao hơn. Đó là tấm lòng yêu thương
con người, là phẩm cách của một tâm hồn cao thương, cảm
thấy những nghịch lý, những nghịch cảnh tồn tại ở mọi thời, mọi nơi, như là một
định mệnh không tài nào thay đổi được. Ở quê hương thì bao dân lành bị bọn
gian thần hãm hại (người anh Nguyễn Nể bị bức tử), ở chốn quan
trường, cũng như nơi cung đình từ quan lớn đến quan bé toàn
những kẻ xảo trá luôn tìm cách sát hại lẫn nhau, “nhai thịt người
ngọt xớt như đường” (cái chết tức tưởi của đại thần
Nguyễn Văn Thành trước những thủ đoạn bỉ ổi của Lê Văn Duyệt và Lê
Chất), ngay đến nhà vua cũng luôn tâm niệm thà hy
sinh bậc trung thần chứ không thể để cho sự nguy hại len lỏi
quanh ngai vàng. Biết bao kẻ thác oan vì cái tư duy lắt léo
và tàn bạo đó: Vũ Trinh, Nguyễn Văn Thuyên ,Lê Quang Định, Đặng Trần
Thường, Ngô Nhân Tĩnh..., con số dài thêm theo các trang sách.Tìm đến
xứ người, mảnh đất các nhà nho luôn hướng về một thuở, cũng đầy rẫy
những bất công. Tấm lòng nhân mênh mông với những suy tư pha mùi thiền,
mùi đạo ở ông luôn cảm thấy bất lực, đau đáu một câu hỏi không lời đáp.
Đó mới chính là cái điều sâu kín tạo nên nỗi u hoài day dứt khôn nguôi trong đời
sống và là hạt nhân trong các sáng tác của Nguyễn, một con người mang nỗi
niềm thời đại. Ở đây, Nguyễn đã gặp những tâm hồn lớn trong gia tài
văn hóa nhân loại.
Tác phẩm có bốn phần
kết cấu theo thời gian nhưng tựu trung tập trung vào mấy thời kỳ mà
Nguyễn trải qua sau ngày Gia Long thống nhất đất nước: thời gian ở
quê và làm cai bạ Quảng Bình, thời gian làm quan ở triều đình ,thời
gian đi sứ Trung Hoa. Lich sử trong tác phẩm Nguyễn Thế Quang là một
lich sử được tái tạo cả sự kiện lẫn con người. Một triều đình đầy
rẫy những mâu thuẫn. Nguyễn đã nghĩ về cái lồng quan phương đó “Đặt
chân vào chốn quan trường con người không còn là mình nữa,muốn dừng
không được, muốn tốt không tốt được,nhảy ra thì bị chém, leo lên thì
thất đức mà tai hoạ sẽ đổ lên đầu“ (trang370). Chính vì
vậy cuối sách tác giả đã để cho Nguyễn và các họ hàng làm lể xin
tổ tông chuyển đổi long mạch để dòng họ từ đấy “khỏi phải có ai ra
làm quan”.Lời nguyền hiệu nghiệm cho đến bây giờ!
Tiểu thuyết bám sát
các sự kiện được truyền bá bấy nay nhưng Nguyễn Thế Quang không sao
chép lại, ông thổi vào những sự kiện bao tâm tư dồn nén nên có sức
lay động mạnh người đọc.Ngoài ra với khả năng và sự cho phép của
thể tài tác giả có những sáng tạo đầy tính thẩm mỹ khắc
hoạ rõ con người Nguyễn: cảnh Nguyễn trò chuyện với Nguyễn Văn Thành
trong ngục, cảnh Nguyễn lập đàn tế Khuất Nguyên trên sông Mịch La,
cảnh Nguyễn gặp lại Hồ Xuân Hương sau chục năm xa cách, cảnh
Nguyễn đối thoại với Gia Long... Chúng tôi cho đó là những đoạn văn
dày công tìm tòi và sáng tạo nhiều chi tiết cũng như ngôn ngữ rất
đắt, gây hiệu ứng thẩm mỹ cao ở người đọc. Cái khó khi viết về danh
nhân văn hóa, viết về những con người như Nguyễn Du không
nhất thiết yêu cầu người viết phải có tầm văn hóa, tầm sống như
nhân vật, nhưng ít ra phải hiểu phải yêu tầm sống đó! Nguyễn Thế
Quang trong tác phẩm đã thành công khi tái tạo nỗi niềm tâm
sự khá phức tạp của Nguyễn Du Nguyễn trong tác
phẩm chủ yếu là Nguyễn của những nỗi niềm, những tâm
trạng. Nguyễn trong tác phẫm trước hoàn cảnh thường có một “tâm
trạng kép” vừa lo âu vừa mừng rỡ, lo vì bị bức hại, mừng vì tai
qua nạn khỏi,lo cho mình và lo cho cả họ tộc, phủ
định nhưng vẫn phải làm tròn chức phận không thể thoái
thác. Nguyễn chủ động trong tư duy nhưng có lúc thụ động trong hành
động.Đó là cái tâm trạng mà có lần ông tự thán “hùng tâm sinh kế
lưỡng mang nhiên”. Phải chăng vì trạng thái nước đôi đó mà sau này
Nguyễn Công Trứ đã “phê” Nguyễn thông qua lời nhận xét khắt khe về
Thúy Kiều, nhân vật mà Nguyễn có nhiều ký thác “Bán mình
trong bấy nhiêu năm/ Dễ đem chữ Hiếu mà lầm được ai”.
Gia Long là một chân
dung khá nổi bật trong tác phẩm.Chỉ vài nét chấm phá về tâm trạng
và cử chỉ mà bức phác hoạ về ông vua khai sinh triều Nguyễn này
hiện lên khá rõ nét. Gia Long tài năng, quyết đoán nhưng xảo quyệt, cực
quyền và tàn bạo. Lần đầu trong văn chương“ông vua này” hiện lên không
phải như một sơ đồ mà như một ông vua thật.Đối với các quan lại, Gia
Long chỉ rõ xung quanh toàn là kẻ nịnh hót ,người chân chính rất ít,
bởi vậy vua rất quý trọng Nguyễn Du, quý nhưng không tin lắm,
quý nên tặng giấy, bút, mực nhưng không quên căn
dặn: viết để yêu thương thì được, nhưng kích động chống triều đình
thì sẽ bị lấy đầu! Đúng là tâm lý của một hoàng đế với
kẻ sĩ. Thật khó mà quên được cách suy nghĩ của vị vua
này với quân sĩ cũng như với kẻ thù: “Muôn vàn cảm tạ các
tướng sĩ, dân binh đã không tiếc thân mình để hôm nay ta có giang sơn
này” [...] Ngài lại nhớ đến hình ảnh Quang Toản,Quang
Duy, Quang Thiệu ngồi trong cũi từ Kinh Bắc giải về.”Không phải quân
lính ta bắt bọn nó mà dân chúng bắt được đóng củi nạp cho ta .Đó
là điều tệ hại nhất của bất kỳ tướng lĩnh, quân vương nào. Bị đóng củi bởi tay đối thủ là lẽ thường tình nhưng bị dân bắt đem
nạp thì thật cay đắng.Cha bọn nó đã đánh tan hàng chục vạn quân
Thanh giữ yên giang sơn này, kinh thành này dân chúng đều biết ơn.Thế
mà bọn nó lại không dược dân che chở. Vì sao vậy?” [...] “Nhưng rõ
ràng không được lòng dân thì chẳng đế vương nào có sức mạnh” (trang13).
Viết Nguyễn Du,
Nguyễn Thế Quang ngoài việc tái tạo một thời biến động của lịch sử
nước nhà với những sự kiện, những nhân vật đã từng để lại dấu ấn
sâu đậm trong ký ức cộng đồng, tác giả còn cố gắng “biến lịch sử
thành những cái cớ để gửi đến con người hiện tại những thông điệp
về giá trị đạo đức tinh thần” (*). Tác phẩm đầu tay nhưng đã
thể hiện năng lực văn chương của tác giả và một tấm lòng yêu mến di
sản văn hóa - lịch sử nước nhà đáng trân trọng.
Chú thích:
(*) Phan Trọng
Thưởng - Mẫn cảm của người nghệ sĩ và chức năng dự báo của
văn học - Báo Văn Nghệ số 29 (17-7-2010).
29/7/2010
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Hoàng Vũ Thuật, một chặng đường thơ
Hoàng Vũ Thuật, một chặng đường thơ
Hoàng Vũ Thuật là
nhà thơ trưởng thành từ thời chống Mỹ, mảnh đất khói lửa Quảng
Bình làm nền cho những vần thơ bi tráng một thời và chính
cái chất bi tráng đó phần nào tạo được nét riêng trong cái nền thơ chùng
hào hùng thời bấy giờ. Cho đến nay anh đã đi một chặng đường dài
trên con đường thơ với một hoài vọng, tự tin riêng và quả thật diện
mạo thơ của anh bây giờ đã khác trước rất nhiều. Đã có mươi
đầu sách, mỗi đầu sách là một cố gắng tự đổi thay để bắt gặp
cái khuynh hướng chung của thơ đương đại và anh đã theo kịp. HVT có thơ
đăng khá nhiều trên báo viết cũng như báo mạng trong cũng như ngoài
nước.Sự hội nhập đó cũng phần nào nói lên cái nét riêng năng động,
nhạy cảm của anh so với các bạn thơ cùng lứa!
1. Những thoáng phiêu
diêu tâm linh:
Không khó tìm thấy
cái nét mới trong thơ anh khi ta tiếp cận bất
cứ bài thơ nào ,tuy nhiên cáí sự thành công, cái
nét riêng, cái phẩm tính thi ca trong bộn bề câu chữ đọng lại nơi
hồn người đọc lại không hiện lên vội vã hào nhoáng mà có
phần đằm sâu, buộc người đọc phải lưu ý làm quen với cách
cảm thụ mới không quá thiên về ý thức, về
tư tưởng như cũ. Trước kia thơ anh cũng như các nhà
thơ cùng trang lứa ngồn ngộn chất sống và chi tiết đời thực, nay đã
có phần hoà trộn thực tại với những cảm thức tâm linh. Cái nét mơ
hồ, thoáng đôi chút linh giác vô thức, sự ngụ ý triết lý trừu
tượng đằng sau những cảm nhận cụ thể đã làm nên cái sương khói
khiến người đọc lắng đọng, muốn tìm
tòi suy cảm sau những buồn vui vội vã.Trước
sự mất còn của một sinh thể tác giả thấy “nghi lể phục sinh lộng
lẩy/ giữa lạnh lẽo đêm dài/... thiên thần/ thiên thần /tôi thảng thốt
trong mê/sau nghìn năm vẫn thấy mình đang bay/ trên chiếc khăn
nâu huyền thủy/”. Cõi đời vô thủy vô chung, đời như
giấc mơ lớn “xử thế nhược đại mộng”, mà người xưa từng nhắc
đến nay tác giả cùng chung một cảm khái “... ba vạn chín
nghìn bậc ta chưa hết một nghìn/ thôi ngủ đi ngày mai biết đâu rồi
khác/ ta gõ tiêng chuông cho số kiếp lạc loài/ mây trắng chở về miền
thiên hư/”... Băn khoăn về cõi thực, nghĩ suy về cõi ảo... đó cũng là
niềm day dứt của bao thế hệ thi ca Á Đông chứ không phải riêng HVT hôm
nay... Và bức tranh ngôn ngữ về cõi vĩnh hằng xui ta nghĩ đến một
“cõi về” khác bằng màu sắc trong tranh của Lêvitan (Nga).
“tôi mơ thấy mùa thu/
dưới võng mềm đất ủ/
và mẹ già tay ru/
đưa tôi vào giấc ngủ”
(giấc mơ...)
Nhiều suy tưởng tâm
linh, hình tượng thơ cua HVT không đi theo lối cụ thể - lịch sử mà
trong nhiều bài nặng về linh giác - tâm thức.
“... người ơi. Người hay
trăng muộn/ mọc xế góc đời ta đây/ ta mong manh. Và ta lơ lửng/ vô
hồn giữa những đám mây”
(vầng trăng hiền
thục)
Hay:
“nàng lơ đãng nàng
không nhìn rõ/ vòng luân hồi xô đẩy đêm nay/ ta chỉ là linh
hồn cây cỏ/ ta muốn ngừng hơi thở
sau cùng/ để ánh sáng vầng trăng khâm liệm/ chôn đời ta
dưới gốc trần gian”
(cây trần gian)
Khi cảm thức đã lấp
đầy hư ảo thì cú pháp cũng xô đẩy bộn bề. Chín sự vật vờ mông lung
của tâm thức, tạo nên cú pháp:
đây vầng trăng. Đám mây
cổ
lang thang nét hoa
văn.Và gió
và gương mặt hiền
thục hiện về
mùa thu bỏ quên đôi
guốc đỏ
(vầng trăng hiền
thục)
Câu thơ tự do, lối
vắt dòng không mới, dùng nhiều ẩn dụ - cũng vậy,nhưng lẫn một ít
chất siêu thực trong thủ pháp cấu tứ, đó là nét mơ hồ là
bề sau đầy thi vị của hình tượng thơ!
Cố nhiên ở nhiều bài
thơ HVT vẫn xử dụng lối cấu tứ quen thuộc, lối viết duy cảm,
chuộng cách tả thực và suy lý theo một thế giới quan lôgic, nhất
nguyên, đôi khi phảng phất hơi thơ cổ: tiếng gà vắt ngang rặng tre sớm/ đánh thức hương vườn chín/ trên thềm/ lấm chấm / dấu chân rêu. Vẫn
gợi cảm và làm tập thơ thêm đa dạng. Nhưng ở đây chúng tôi chỉ muốn
lẩy ra một vài nét mới trong bộn bề thơ anh để thấy con đường sáng
tạo của anh vẫn chưa dừng lại và độc giả còn có thể chờ đợi một
cách lạc quan về một hồn thơ đang độ
chín .
2. Cái Tôi nhọc
nhằn thế sự:
Đọc thơ HVT rất khó
thấy rõ cái hình hài cụ thể của hiện thưc, anh cũng có nhắc
đên những hàng cây, những bến đò, những con phố..., nhưng đó
chỉ là những cái bóng hiện về trong tâm tưởng. Đi trong cuộc đời trăn trở
suy nghĩ, và những bức ảnh nhân thế chỉ là cáí cớ để anh bày tỏ
nhưng suy cảm của mình. Đó là cái mạnh nhưng cũng là cái khó của
thi sĩ. Tả cụ thể nói được nhiều chi tiết, dễ nhận biết, thể hiện nội tâm dễ trừu tượng, khó lĩnh hội và đôi khi
chênh vênh trên nhịp cầu siêu thưc. HVT cố gắng thử sức mình theo dấu
chân các nhà thơ lớn đương đại, có bài thành công, có bài không,
nhưng đó là hướng đi đáng trân trọng. Theo ý chúng tôi đó mới chính
là lối đi của thơ, phẩm tính trở về cái bản chất của thơ mà người
đời trông đợi: tâm trạng cuả nhà thơ trước cuộc đời.
HVT bước đi trong cuộc
sống đầy tâm sự, không vô tư hay yếm thế, mà đầy dự cảm:
một cái gì đó hiện hữu sẽ
tốt lên rất nhiều
cho mỗi thời khắc sống hướng
về phía trước
anh đã bước lên không mệt
mỏi
bằng đôi chân nối dài
mảnh ghép quả cảm
(một cái gì đó)
Với anh, dẫu tôn trọng
cái nét riêng của cá thể thì trong cuộc đời đầy biến thiên, con
người vẫn nối tiếp những bước đi của lịch sử để mà tiến
về phía trước dẫu trải bao vật vả, khó khăn và mất mát chăng nữa.
ngôi tháp sống với thế giới
riêng của mình/ bước chân lịch sử đang đến đi qua rồi lại đến
dấu rêu xanh mảng tường vỡ
viên gạch bào mòn gió mưa
... đời chật hệt căn nhà bộn
bề trăm thứ tiện nghi/ tôi tự ném mình qua cửa sổ
như quả chanh vắt/ khô
(tháp nghiêng)
Cộc sống với nhiều
nghịch lý, nhà thơ bước đi nhiều trăn trở, và nhìn lại thời gian
trôi cháy không thể không thấy những nét phí pham, những dòng đời
đáng tẩy xoá, nhưng không ngừng vươn tới-một thức nhận của con người
không mệt mỏi trước ngưỡng cửa chân lý:
ánh sáng mở ra phía bên
này
như trang giấy với nhiều
dòng gạch xóa
ánh sáng hệt nét mắt buồn
nhìn ngày tháng cạn dần
trôi đi
gạch xóa lên trang giấy đời
tôi
(di sản)
Trước ánh sáng chân
lý, anh ngộ ra một điều, nhà thơ là một hành nhân lãng du tha hương
lạc lối đang tìm về với những gì gần gũi mà thân thuộc, từ cõi
ảo trở về với bến thực: một ngôi nhà con, một giếng cát đầy, một thân cau, một lá trầu
cay, một tiếng sơn ca khuya khoắt, một tia nắng ấm mai này...
...cành cây vươn ra khi
anh quỵ xuống
con suối hiện ra cơn khát
trưa hè
à ơ đẫm ướt anh và cơn mê
mấy độ tha hương lạc lối
tìm về
trong ánh sáng ảo
Nghịch lý cuộc đời,
nhưng hữu lý trong sáng tạo, khi anh suy ngẫm về một hiện hữu sự
sống và cái chết, cái mất đi cái còn lại:
nằm dưới kia
một ông vua một hoàng hậu
một người hầu
một thanh gươm một tuấn
mã một mê nón
một lệnh truyền một trống
giục một lời van
một trung thực một đớn
hèn một điên loạn
một ngọn lửa một đêm tối
một chiều tà
một vận hạn một thức thời
một nguyền rủa
tất cả dưới kia...
(lăng tẩm)
Sắc sắc không không,
hào quang vương đế một thời qua đi, trên di hài cũ còn lại chùm hoa
mần trầu.Tứ bài thơ không mới nhưng hình ảnh “đọng”, tương phản giữa
quá khứ và hiện tại, giữa “câm lặng” và “lên tiếng” cuối bài “xoáy”
vào người đọc một cảm giác lạ:
trầm mặc thành quách/ câm
lặng
lên tiếng/ bên ngách tường/ xoáy/ chùm
hoa mần trầu.
Nhà thơ đi qua
thời gian, đi qua không gian chiêm nghiệm một lối đi
trong cuộc đời:
... năm ngày lặn giữa cánh
rừng/ trườn qua lối mòn vắng dấu chân/ gai nghìn tuổi xẻ đôi lòng tay
lá trăm năm mài mòn vòm
ngực/ anh là con thú ngồi liếm vết thương
...vnăm đêm ngụp trong đám
tinh vân// nhào lộn với bầu trời đen đặc/đôi cánh tả tơi đôi cánh mọc dậy
chấm sao linh ứng vỡ
oà/anh là chim bão khản giọng mùa qua
(năm ngày đêm).
Bài thơ là một ẩn dụ
cả về đường đời lẫn đường thơ. Có nhà thơ thế kỷ trước ví thi sĩ
như con chim bồ nông tự cắn vỡ ngực mình đem sự sống cho thơ.
Nhà thơ thời nay thấy mình như con thú ngồi liếm vết thương sau chuyến
băng rừng đầy gai góc, như chim báo bão khản giọng sau bao đêm
ngụp lặn trong bầu trời đen mong tìm một lối đi ,một nghiệm
sinh cho Thơ! Cay đắng vất vã nhưng hy vọng không nguôi tàn: từng ngày từng
ngày từng ngày/ từng đêm từng đêm từng đêm/ cây khô lại mướt sao tàn lại hiện...
Trong chặng đường mới
của thơ anh, cuộc sống hiện lên không còn đơn giản, một chiều, mà
là một thế giới có nhiều nghịch lý, cuộc đời “không là một thang
gác pha lê mà có nhiều đinh và nhiều dằm gỗ”( Langxtơn Hiugơ), nhà thơ
là một hành nhân nhiều trăn trở, anh muốn tìm về một một
bến “thiện” trong đời thực, không nép mình vào những khuôn sáo cũ,
muốn chọn một lối riêng.
3- Những
câu thơ hoa vỡ:
Tuy không có nhiều bài
thơ nghĩ về nghề, nhưng trong một số ý tứ độc giả vẫn nhận chân
được những suy nghĩ của anh về nghệ thuật, về người nghệ sĩ. Thơ
không thề tách rời cuộc sông, mãi mãi mang ơn Đời:
bông hoa vỡ ngàn cánh máu
rỏ xuống lót ổ câu thơ
bào thai thiên thần
(hoa vỡ)
Thơ phải thể hiện
nhịp thở cuộc sống, dẫu trực tiếp hay gián tiếp, dẫu êm ái hay dữ
dội, thơ luôn phập phồng hơi thở cuộc sống, Chính sự phập phồng đó
tạo nên chân giá trị của Thơ.
con thuyền neo hai bờ
sông mắt/ những câu thơ phía bên kia tường/ vọng tới mái ngói đã ngủ
... phố hệt người đàn
bà/ im lìm giữa cát và sóng/ câu thơ cơn gió chướng/ phập phồng vạt áo tơ
Vượt lên kỷ niệm một
thời, gián tiếp qua những bức Chân dung thơ của Nhà thơ Xuân Sách,
tác giả muốn gửi gắm một tâm sự, một ai điếu cho quá khứ,rút ra
những bài học cho sáng tạo nghệ thuật hôm nay. Những thăng trầm hiện
trên trang giấy:
....hiện ra trên trang giấy
những gương mặt/ chằng chịt đường gân thớ thịt căng phồng
.. .cái thời/ trên gương
mặt ấy/ chân lý đường cong/ cái nhíu mày/ đủ cho người ta đi thụt lùi ra cửa
...vtrên trang giấy gương
mặt ông vẽ/ máu thấm bao cánh hoa/ không còn hương sắc/ những cánh hoa/ bốc cháy/ nơi miền đất chết
....gương mặt của cõi người/ ôngđể tang từng số phận
(Chân dung)
HVT nhà thơ có quan
niệm sống và quan niệm thơ ca nhất quán và cấp tiến. Anh
không chọn lối đi bằng phẳng dễ dãi, vì như vậy “sức sáng tạo vì thế bị
chững lại”. Anh đề cao cá tính sáng tạo, dấu ấn cá nhân
- nhân tố tạo sức sống bền lâu cho thơ ca:
“... Chúng ta đều nhận thức
tác phẩm văn học mang dấu ấn cá nhân thường là tác phẩm giàu năng lượng sáng tạo,
thu hút người đọc và sức sống bền lâu. Bởi vì bản sắc xã hội của mỗi người là
những hạt nhân tích cực góp phần làm nên cá tính sáng tạo. Không nhà văn nào
khi cầm bút lại không say sưa với những chi tiết đời thường nhỏ nhặt, khuất lấp
đâu đó, trái nghịch đâu đó, nhưng đó là những nét có khả năng khái quát tô đậm
bức tranh rộng lớn, thấm đẫm thân phận của một cộng đồng, một dân tộc. Tôi e rằng
cứ chăm chăm vào cái lớn lao, say mê với viễn cảnh bao la trời đất dễ dàng
không nhìn thấy nơi mình đang đứng, bóng dáng cụ thể của chính mình”.
Sầm Sơn - Thanh Hóa, 29/9/2009
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Trường ca Việt, một cách nhìn
Trường ca Việt, một cách nhìn...
Khoảng mấy năm gần đây
trong nền văn chương nước nhà thể tài trường ca đã gây được sự chú ý
của không ít tác giả cả trên hai phương diện lý luận lẫn sáng tác.
Các tác giả Trần Thiện Khanh, Nguyễn Văn Dân, Lại Nguyên Ân, Chu Văn Sơn
có cuộc trao đổi khá lý thú về Trường ca trên tạp
chí Thơ 11-2009. Xin được góp thêm vài suy
nghĩ về thể tài này.
1- Về
khái niệm Trường ca.Trường ca cũng
như nhiều thể tài khác trong văn chương theo quan niệm của
M.Bakhtin là những khái niệm “không bao giờ bị đông cứng”… Trường ca, bởi vậy, để dễ tìm
hiểu những đặc điểm trong sự phát triển đương đại nên xem là một thể loại văn chương đang biến chuyển và còn chưa định
hình.
Không định nghĩa theo lối «duy danh», nhưng căn cứ
vào sự kết hợp hai khái niệm «Trường» - «Ca» đã gợi ý cho chúng ta đây là một thể loại mà dung
lượng câu chữ phải dài (trường), phải có yếu tố ngôn ngữ
và có nhạc điệu (ca). Trong ý nghĩa nguyên thủy, nó không nhất thiết
là Thơ, loại nghệ thuật nào có hai yếu tố trên đều có thể gọi
là trường ca (nghĩa rộng). Chẳng hạn trong
âm nhạc, trường ca (ca từ và âm nhạc) thường có độ dài lớn
hơn nhiều so với ca khúc, cấu trúc tự do đi liền mạch được
liên kết chặt chẽ bằng nhiều khúc đoạn. Thí dụ, trường ca Hội trùng dương của Phạm Đình Chương, Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi, Sông Lô của Văn Cao, Đóa hoa vô thường của Trịnh Công Sơn, Ta tự hào đi lên ôi
Việt Nam của Chu Minh, gần đây là trường ca mang tên Người
Việt của nhạc sĩ Minh Châu... Tác phẩm văn xuôi - Những
linh hồn chết - của Gô gôn được ông đặt tên trường
ca trên ý nghĩa rộng rãi này, tác phẩm dài hơi, ngôn ngữ có
tính nhạc!.
Lịch sử phát
triển trường ca quả đã có nhiều thay đổi.Trong truyền
thống, nghĩ đến trường ca là nghĩ
đến “tác phẩm thơ có dung lượng lớn thường có cốt truyện tự sự hay
trữ tình”, nó có nhiều phân nhánh nhưng chủ đạo là thể loại có
cốt truyện lãng mạn với đề tài lịch sử cộng đồng. Dần dần trong trường ca các
đề tài cá nhân, triết lý, đạo đức được tăng cường, các yếu tố kịch, trữ tình
được khai thác dồi dào. Giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của trường ca là thời
đại của chủ nghĩa lãng mạn đầu thế kỷ 19. Sang thế kỷ 20 trường
ca phát triển theo hướng trữ tình, đề cao các phương diện tâm lý,
triết lý,các xúc cảm tâm linh. Dù là thời hoàng kim hay lúc phân rã thì
trường ca, “với tư cách một thể loại tổng hợp trữ tình - tự sự hoành
tráng, cho phép kết hợp những chấn động lớn, những xúc cảm trầm sâu và những
quan niệm về lịch sử, vẫn chiếm được vị trí nhất định trong thi ca thế giới, là
thể loại mà bất cứ nhà thơ lớn nào cũng đều muốn thử sức” (Bách khoa toàn
thư mở Wikipedia).
Ở Việt Nam, thời cổ
đại có những trường ca nổi tiếng của các dân tộc
anh em như Đam San, Đam Di,Xing Nhã..., thời
trước CM cũng có một số trường ca gây được ấn tượng (trường ca của
Phạm Huy Thông), trong hai cuộc Kháng chiến và sau ngày thống nhất thì
thể loại này nở rộ. Trong cách nghĩ phổ biến đây là thể loại
văn học mà nội dung chủ yếu ca ngợi những hiện tượng mang tính lý tưởng
cao đẹp và phủ định những gì phản tiến bộ,u tối, trong trường ca nhà
thơ lí giải những vấn đề liên quan đến số phận của Dân tộc ,của Cộng
đồng,của Con Người, (có thể của cả những cá thể như tình yêu, tình bạn,
lòng vị tha, đức hy sinh...) nhưng luôn có ý nghĩa xã hội rộng lớn.Về
cấu trúc, trường ca gồm nhiều chương, khúc mang tính chất
tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố: tự sự, trữ tình và cả kịch. Nhân vật của trường ca có thể
là một anh hùng, một vị tướng với nhiều chiến công lỗi lạc,
mà cũng có thể là một con người với tất cả cái riêng tư. Tuy nhiên số phận
đầy thử thách, khát vọng lớn lao, niềm tin yêu, lòng quả cảm vô song... là
những yếu tố thẩm mĩ hàng đầu mà trường ca hướng
đến. Đặc tính nổi bật của trường ca cổ điển là
sự hướng đến “tinh thần cao cả", trường
ca sau này (CN hiện thực xã hội chủ nghĩa) gắn với cảm hứng sử thi,
với tính cách vĩ đại của nhân dân của dân tộc.
2- Về sự
phát triển thể tài này trong văn chương Việt: Có ý kiến cho rằng trường
ca hiện đại phát triển theo hướng trữ
tình hoá (cốt truyện phát triển theo tâm trạng chủ thể), Thể
loại trường ca tự sự (có cốt truyện
phát triển theo hành trạng nhân vật, hoàn cảnh khách quan) không còn
nữa vì đã có tiểu thuyết và điện ảnh làm thay việc kể chuyện, phản ánh hiện thực! Trên thế giới nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chú
ý đến sự phân hoá của thể tài này. Họ cho rằng: Trường ca hiện
đại thường phát triển theo hướng trữ tình, tâm lý, triết lý, các xúc cảm riêng
tư đặt trong tương quan với những biến thiên lịch sử, trong khi yếu
tố cốt truyện được giảm thiểu. Tuy nhiên ở Việt Nam, xét sự
phát triển của thể loại này, trên cái nền chung các trường
ca tiêu biểu hiện đại ta thấy có hai
khuynh hướng, một vẫn theo truyền thống nặng về tính tự sự kết hợp
trữ tình, một phía khác nhiều tác phẩm theo khuynh hướng cách tân
thiên về trữ tình.Có thể kể tên một số tác phẩm tiêu biểu Bài
ca chim chơ rao - Thu Bồn,Theo chân Bác –Tố Hữu, Con
đường của những vì sao - Nguyễn Trọng Tạo, gần đây Người
anh cả của toàn quân(Trường ca vềTướng Giáp) – Hoàng Bình
Trọng... thuộc loại thứ nhất.Các trường ca
này đều có nhân vật ,có cái sườn tự sự, thậm chí cả
kịch tính. Đó là Bác Hồ, Tướng Giáp,hai cán bộ Hùng và
Rin,hai chiến sĩ Mùa và La, 10 cô gái Đồng Lộc.., rất nhiều mảng tự
sự về hai cuộc kháng chiến làm nền cho hành trạng các nhân vật, đan
xen bên cạnh những suy cảm trữ tình của tác giả. Các trường ca Đường
tới thành phố - Hữu Thỉnh,Những người đi
tới biển - Thanh Thảo, Mặt đường khát
vọng - Nguyễn Khoa Điềm, Trầm tích – Hoàng Trần Cương,Trường
Sơn - Nguyễn Đức Mậu, Đổ bóng xuống mặt trời và Ngày
đang mở sáng – Trần Anh Thái... thuộc loại thứ hai.
Các trường ca này chủ yếu thể hiện những suy tưởng, những cảm xúc
của chủ thể trữ tình.Mạch trữ tình la cái sườn chính xâu chuỗi các
khúc đoạn, yếu tố tự sự được giảm xuống thứ yếu, chỉ còn đọng lại
trong một vài chi tiết có tính liên tưởng. Sự khác biệt
này ta có thể tìm thấy qua lời thổ lộ cuả hai tác giả
Nguyễn Trọng Tạo và Trần Anh Thái.
Nguyễn Trọng Tạo cho
rằng: “Tôi đã kết cấu trường ca đan xen tự sự và trữ
tình. [...] Những cô gái trong trường ca này là thanh niên xung
phong tham gia chiến đấu ngay dưới mưa bom bão đạn quân thù,và chàng
trai làngười lính lái xe chở đạn vào chiến trường, qua hai nhân vật
này tôi muốn làm hiện lên thân phận và tâm trạng của người công
dân trong cuộc chiến tranh vệ quôc” ( Tựa - Con đường
của những vì sao). Còn Trần Anh Thái: “... tôi trung thành với khát
vọng trên đường tìm kiếm cõi thẳm sâu chân thực trong chính bản thân mình…” (phát biểu ở Hội thảo về Trường ca TAT)
Phân chia như vậy là
sát với sự phân hóa, sự đổi mới của trường ca hiện đại trong bối
cảnh xã hội VN nơi những hiện thực lớn lao luôn tạo tiền
đề giá trị trực tiếp cho nội dung tác phẩm. Hiện tình văn chương VN
luôn là sự đan chéo, phân hóa để hội nhập, nếu chỉ quan
sát một số hiện tượng đổi thay rồi khái quát lên mà không thấy sự
tiếp nối e khi đi sâu tìm hiểu đặc điểm nội dung cũng như
các biểu trưng nghệ thuật sẽ khiên cưởng. Vì rằng: đường biên thể
loại giữa trường ca tự sự và trường ca trữ tình hiện
đại trong văn chương Việt có thể vạch ra được. Đó là tính đa dạng trong
khả năng chiếm lĩnh bản chất hiện thực, là sự phản ánh con người trong cái
nhìn đa diện, cũng như sự thể hiện hiện thực qua các đặc trưng nghệ thuật
hiện đại của trường ca tự sự rất khác ở
các tác phẩm trường ca trữ tình.
Trong sự hiện hữu của
các thể tài thơ, trường ca, thơ dài với truyện
thơ các đặc điểm cần phân biệt. Đều là những tác phẩm
dài hơi, truyện thơ có nhân vật, có cốt truyện, tác
giả thường khuất lấp đằng sau, thơ dài thì chủ yếu
bày tỏ những suy cảm của tác giá - cái tôi trữ tình bộc lộ trực
tiếp. Hai thể tài này có đường biên khá rõ, dễ phân biệt. Nhưng
giữa thơ dài và trường ca hiện đại đều
lấy cái mạch trữ tình làm cái sườn chính để phát triển, nếu lấy
cái chỗ đứng ,cái sự phát ngôn của tác giả làm tiêu
chí phân biệt thì đôi khi không rõ ràng, bị nhầm
lẫn, vì chúng đều liên kết với nhau xung quanh chủ đề bằng những suy
cảm trữ tình, tâm lý, triết lý của tác giả dẫu có nhiều
chương đoạn phân khúc chăng nữa.Ở đây cái chỗ dựa duy nhất để bám
vào mà phân biệt, đó là một tư duy hướng về tinh thần cao
cả với cảm hứng sử thi, ca ngợi những gì mang tính lý tưởng cao đẹp, với
tính cách vĩ đại của nhân dân, dân tộc, “sự biểu hiện tư duy của
một dân tộc dưới tất cả mọi hình thức và trong tất cả mọi phương
thức của nó” (Hêghen
- Mỹ
học, những văn bản chọn lọc - Nxb KHXH Hà Nội 1996, tr176). Nói một
cách khác cái tôi trữ tình, trực cảm đều có trong thơ dài và trường
ca trữ tình, nhưng khác về chất, cái tôi trữ tình trong trường ca
chính là chủ thể trữ tình mang sắc thái cộng đồng, thể
hiện tính lý tưởng tính cao đẹp của cộng đồng ,sắc thái cá nhân
không lộ rõ như trong thơ trữ tình.
3- Về
đặc điểm nghệ thuật của hai loại trường ca hiện hành, chúng ta có
thể tìm thấy những điều riêng biệt dựa vào ý kiến của Hêghen khi ông
bàn về trường ca trữ tình và tự sự sử thi. Ông cho rằng “...nội
dung của trường ca trữ tình không phải là đối tượng trong
sự vận động hiện thực của nó, mà là sự vận động bên trong của tư
duy nhà thơ, những biến đổi sôi động hay yên ắng, dòng chảy
êm đềm hay hành tiến mãnh liệt, cũng như những bước nhảy đột ngột
biểu hiện ra ở sự vận động bên ngoài của nhịp điệu và sự
hài hoà ở các từ [...] nó phải nhào nặn một cách nghệ thuật sự
vận động của thời gian dưới những hình thức khác nhau.” (Y.N. nhấn
mạnh) (sđd, tr191). Còn tự sự sử thi (trường ca tự sự) với
đặc điểm có nhân vật phát triển trên cái sườn tự sự, biểu
trưng nghệ thuật là “trình bày diễn biến của chúng theo sự
triển khai chủ yếu về mặt không gian” (sđd, tr191). Hay nói
một cách khác trường ca trữ tình nổi bật ở
chiều sâu tâm lý, tầm cao triết lý với các xúc cảm mới mẻ thăng
hoa trong mối liên hệ với những chấn động lịch sử lớn lao. Nó thuộc loại
nghệ thuật vận động thời gian có sự thể hiện
bên ngoài qua giọng điệu phong phú và hài hoà ngôn từ... Trường
ca tự sự thuộc loại nghệ thuật triển khai chủ
yếu về mặt không gian, nổi bật chung là tính hoành
tráng lịch sử của các sự kiện,cùng bối cảnh hoạt động và tâm lý
nhân vật.
Đối chiếu các trường
ca tiêu biểu gần đây,Trường ca về Tướng Giáp -Hoàng
Bình Trọng và các trường ca Ngày đang mở sáng, Trên đường
trở đi – Trần Anh Thái ta sẽ có những minh
chứng cụ thể.
Trường ca về Tướng Giáp của
Hoàng Bình Trọng, có rất nhiều chất tự sự men theo cuộc đời vị tướng. Nhiều chi tiết tác giả kể rất thực, rất bình thường nhưng tổng hợp
lại rất hoành tráng mang được tư thế hiên ngang của dân tộc trong lòng
nhân loai. Trần Đăng Khoa cho rằng ở trường ca này tác giả “... đã
tạo dựng cả một chiến trường ngổn ngang và bề bộn [...] Hoàng Bình Trọng bám
sát từng chi tiết có thật trong cuộc đời chỉ huy trận mạc của vị tướng thiên
tài [...] là cái giấy thông hành để dân tộc ta
có thể hiên ngang đi vào cõi mênh mông bát ngát của xứ người...” (Y.N
nhấn manh). Bên cạnh, các trường ca Ngày
đang mở sáng, Trên đường trở đi của Trần Anh Thái, cốt truyện sự kiện
bị phân rã và cốt truyện tâm lý được đẩy lên đến cao trào. Trần Anh Thái tổ chức
trường ca nương theo dòng cảm xúc. Sự thăng trầm dồi dào, mãnh liệt của
tâm trạng tạo nên giọng điệu chính của trường ca, mà có nhà phê
bình cho là gịọng điệu của “Lửa“. Cái làm nên khác biệt của trường ca
Trần Anh Thái là sự phá vỡ những nguyên tắc cấu trúc
của trường ca truyền thống, cấu trúc trong trường ca của anh dựa
hoàn toàn vào cảm xúc, lấy cảm xúc làm mạch chủ đạo, mạch sự kiện chỉ nảy sinh
nhờ liên tưởng như lời nhận xét của Chu Văn Sơn “không bám vào
những sự kiện chính sử, mà kết hợp chính sử với dã sử để tạo ra một
không khí huyền sử đậm nét. Trường ca Trần Anh Thái mạnh ở yếu tố trữ
tình” .
Chúng tôi lưu
ý sự phát triển hai khuynh hướng trường ca đương đại VN: trường ca
trữ tình và trường ca tự sự, mong làm nổi rõ sự phong phú đa dạng
chung của thể loại này – dàn “đại pháo” - của nền Thơ Việt, lấy
đó làm cơ sở, cổ súy cho một sự phát triển đa dạng các
phong cách sáng tác, các tác giả tìm gặp và phát triển
được cá tính sáng tạo của mình.
27/1/2010
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/
XXXXXXXXXXNhà văn của những mảnh đời bất hạnh
Nhà văn của những mảnh đời bất hạnh!
(Đọc “Gió lẻ và 9
câu chuyện khác...”* của Nguyễn Ngọc Tư)
Trong số các nhà văn
Việt Nam từng nhận giải thưởng văn học Asean Nguyễn Ngọc Tư có một vẻ
riêng, không phải chị là nhà văn nữ trẻ nhất, mà chính vì cái tâm
niệm đựơc thể hiện trong bài viết kỷ niệm về sự
kiện này – giải thưởng năm 2008, chị nói “... nếu vẽ một biểu tượng
của nghề viết mà tôi đeo đuổi , tôi sẽ vẽ hình ảnh của
giọt nước mắt” [...] “những tác phẩm của tôi chưa có được sức mạnh
của nước mắt nhưng tôi vẫn đang cố gắng hết mình”**.Chính bởi cái
tín niệm nghệ thuật đó chi phối nên các tác phẩm của chị
đều nghiêng đến những số phận, những mảnh đời bất hạnh.“ GIÓ LẺ và
9 câu chuyện khác”, tập truyện mới phát hành cuả
Nguyễn Ngọc Tư là một minh chứng .
Tác phẩm không xuất
hiện một nhân vật “số đỏ”, hay một con người hãnh tiến nào hết và
hoàn cảnh sống trong tác phẩm cũng tầm thường ,nhàn nhạt
nếu không nói là vô vị.Tuy nhiên với cái nhìn nghệ thuật trên phương
diện thẩm mỹ thì cuộc sống hiu hắt ở cái Xứ Sầu lại đem
đến cho tác giả nhiều ấn tượng để viết thành văn. Nhờ cái “tài Văn”
của tác giả mà những câu chuyện đơn giản bổng trở nên lấp
lánh , xoáy sâu vào tấm lòng người đọc , làm vương vấn maĩ dẫu khi
trang sách đã gấp.
Đây là câu chuyện về
xóm nghèo Thổ Sầu hàng ngày đón khách du lịch tham quan. Niềm vui vì
thu hoạch kinh tế du lịch cho lớp người này nhưng u buồn và chua xót
cho lớp người kia ,vì cứ phô bày mãi cái nghèo đói, cái hoang dã ra
cho người ta tìm hiểu, xoi mói, người ta ngạc nhiên, thương xót thì
quả thật cũng vạn bất đắc dĩ!(Thổ Sầu )Một cảnh núi lở làm tan
hoang một vùng dân cư và bao nhiêu ngang trái ,thô kệch ngẫu
nhiên phơi ra.Cuộc sống lang chạ ê chề một cách tự nhiên hiện lên bất
khả kháng trong đổ nát, hổn độn làm ngơ ngác cả những
tâm hồn bé dại (Núi lở).
Tập truyên gợi buồn
vì chúng ta gặp nhiều thân phận không may mắn. Một nỗi buồn khôn khuây
trùm lên gia đình nọ khi trong cơn mê bà nội nhắc lại cái chết của
thằng hai Ut Hơn phiá bên kia chiến tuyến bị người anh bắn chết. Nỗi
đau lớn qua đi,đứa con nhỏ sót lại của Ut Hơn dẫu được cả gia đình
yêu thương đùm bọc, cuộc sống thơ ngây của nó vẫn có nhiều vết gợn
(Vết chim trời). Một nỗi buồn khác vây lấy đoàn tàu chở hai cha con
về quê xa, nơi có người đàn bà đang chờ cha thằng bé về làm đám
cưới . Thằng nhỏ Sói đã xuống một ga lẻ bỏ đi ,
mặc người cha khốn khổ tìm kiếm trong hoảng loạn đau đớn.Nó thương
cha lắm nhưng mà việc làm của cha nó, nó không san sẻ được (Ấu thơ
tươi đẹp ). Rồi cái chết của Vĩnh một thanh niên ưa phiêu
lãng sau những tháng ngày lang bạt hoan lạc tiêu phí cả
thời trai, muốn đi tìm cảm giác lạ trên núi Puvan ,
chờ xem “hoa sầu” nở để rồi nhận một cái chết vô nghĩa ,
trốn chạy những tháng ngày trống rỗng đang đợi chờ trước mặt (Sầu
trên đỉnh Puvan) ).
Nhiều số phận không
may mắn như mặt nước đầm hắt hiu buồn nhưng lại
nổi lên những đóa hoa súng sáng trong ,tươi tắn - những tâm
hồn binh dị , tinh tế , phong phú.
Như chính Ngọc Tư thổ
lộ, chị hướng ngòi bút đến những thân phận nhỏ bé, những mảnh đời
bất hạnh nhưng ẩn sâu bên dưới là một nguồn năng lượng
trầm tích khiến cuộc đời không mất đi hy vọng. Người đọc thông cảm
với nỗi day dứt theo tháng ngày của người anh trước cái
chết không may của người em, cho dù đứng bên kia chiến tuyến, hay tâm
trạng băn khoăn của người cha trước ý nghĩa mập mờ của một câu thành
ngữ khơi dậy trong ông một mặc cảm về sự kém hiểu biết, ít vốn
sống của mình.Tấm lòng trắc ẩn của người ông trước đồng tiền kiếm
được trên sự nhọc nhằn tủi hổ cuả dân làng...Những trang miêu tả tâm
lý của tác giả đằm sâu và tinh tế: cô gái lái xe đã khước
từ công việc quen thuộc êm, nhàn vì phải tiếp xúc hàng
ngày với ông chủ hào hoa nhưng nhạt nhẽo và giả tạo.Một nhà nghiên
cứu VHDZ cao tuổi sau những tháng ngày bươn trãi sưu
tầm khi chia tay với một nữ cộng tác viên trẻ
trung,phóng khoáng bỗng dâng trào nỗi nhớ nhung thuần khiết và một
xúc cảm đằm thắm .Tất cả đều đứng ở bờ ranh của sự trong sáng và
u tối ,của cái thiện và cái ác, “cái tài” của Nguyễn
Ngọc Tư là nơi mấp mé bờ vực đó vẫn giữ
cho nhân vật một nét của thiên lương, để rồi chỉ chờ chút gió lành
của cuộc sống thoáng qua là bùng lên ánh sáng của nhân phẩm.
Ngòi bút Nguyễn Ngọc
Tư trong tập truyện hướng nhiều đến trẻ em và phụ nữ
.Những cậu bé như Vĩnh , Sói,và các em bé không tên khác hiện lên
trong các truyện là những em bé nhạy cảm với nỗi u buồn về sự mất
mát của bạn bè, người thân nhưng luôn tự chủ trong hành động.Hơn một
lần chúng ta đã gặp và cảm động với những người phụ nữ đau thương
mà nhân hậu ở vùng đất Cực Nam qua tác phẩm khá nổi tiếng “Cánh
đồng bất tận” của chị .Trong tập truyện này vẫn
hiện hữu những con người đáng mến đó nhưng ở nhiều lối rẽ khác của
cuộc đời .Thật khó nguôi quên hình ảnh người đàn bà bất hạnh trong
cuộc sống gia đình đến với người đàn ông yêu thương giữa mùa mưa bão
( Một chuyện hẹn hò ). Tình cảm chân thật mãnh liệt đã vượt khỏi
những khắc nghiệt của lề thói cũng như sự hung bạo của
thiên nhiên . Họ đến với nhau trong lo âu nhưng dịu ngọt, hiến dâng cho
nhau một tình yêu đầy thảng thốt .Cái hình ảnh người đàn ông lao theo
thất vọng trong mưa lũ và cái cảnh người đàn
bà chới với cô độc, giữa đầm nước mênh mông, sóng
cồn lên giận dữ đã gợi lên trong tâm thức người đọc
một đau xót khôn nguôi về thân phận người phụ nữ nơi miền
đất hẻo lánh, dẫu bao năm tháng đã đi qua với sóng gió bao cuộc
chiến chinh nhỏ to chìm nổi!
Đặc biệt hình tượng
cô gái câm trong truyện “Gió lẻ”.Cảm nhận về thiên truyện này cũng
như với “Cánh đồng bất tận” trước đây cuả người
đọc không hoàn toàn giống nhau. Nếu người đàn ông từng trải trong
“Cánh đồng bất tận” đã tìm cách trả thù đời một
cách tàn nhẫn qua mối quan hệ với phụ nữ, cho đến khi đứa con gái
yêu thương bị nạn ông mới thức tỉnh, thì trong “Gió lẻ” cô gái câm
chỉ là một con chim sẻ nhỏ ngờ nghệch ngây thơ cho đến cuối chặng
đường, mới tự phát làm được một việc có
ích là kéo tay lái của Dự cứu “đại ca Buồn ” khỏi bị tông xuống
vực.Trong cả hai thiên truyện đều không có người tốt một cách đích
thực và hoàn cảnh sống đầy đủ “tính Người” dù chỉ thoáng
qua, chỉ có mầm mống của cái thiện ẩn chứa trong bao số
phận, có dịp mới bùng lên.Từ một cô bé ngây thơ trong sáng
bị đẩy vào đời bởi ông Tám Nhân Đạo, rời khỏi miệt rừng
hoang vu cô trôi nổi nhếch nhác trong các bến bãi cuộc đời,
có lúc tưởng đã mất tăm, có lúc như được gặp một hạnh
phúc may mắn nơi Dự- người “lơ” xe vô gia đình , nhưng lại sa
vào bàn tay đại ca Buồn lái xe một cách vô cảm nhưng hữu
lý trong cuộc đời bơ vơ bất lực trước mọi mưa gió của cô
.Một cơn ghen trần thế mơ hồ xuýt gây thành án mạng. Nhưng trong giây
phút hiểm ngheò cái “tính thiện” của cô gái bừng tỉnh,cô đã gan dạ
mạnh mẽ “giằng tay lái của Dự và kiệt sức níu chiếc xe trôi nghiêng
về phía mình , phía không ông”.Cái phút xuất thần mạnh mẽ , thiên
lương nơi em bừng trổi dậy để rồi tắt đi vĩnh viễn theo số phận !Cái
phút giây đó làm cho em thành Người đúng bản chất , làm cho cuộc đời
không mất hy vọng.Hai kẻ đi vào “bóng tối vô tận” , kẻ thứ ba “chơi
vơi bên mép vực rã rời trong gió lẻ , sương mù, đá và cây”. Còn lại
trong lòng người đọc không chỉ một nỗi xót thương dằng dặc mà còn
một “đốn ngộ” về thiên lương về nhân phẩm trong những mảnh đời tưởng
như đã bị bao bất hạnh làm thui chột nhân tính
Thông điệp mà thiên
truyện gửi đi : Xin đừng đẩy những con người bé nhỏ vào nơi vô định.
Hãy xót thương và tin tưởng cái tốt có ở khắp mọi nơi dù le lói hay
bừng sáng .
Người không may
mắn trong cuộc đời tìm được nơi tập
truyện bao bầu bạn cùng cảnh ngộ. Kẻ may mắn yêu
hơn cuộc sống mình đang thụ hưởng ,nhưng biết thông cảm hơn
với bao đồng loại đang khốn khó.
Tập truyện khẳng định
thêm phong cách văn chương Nguyễn Ngọc Tư : bình dị , chân thật, trong
sáng , đậm đà hương vị miền Cực Nam từ chi tiết , hình ảnh đến ngôn
ngữ. Ta từng biết những nhân vật Nam bộ thẳng thắn, ngoan cường , yêu
ghét đến tận cùng gan ruột ở các tác phẩm thế hệ trước như Anh
Đức, Trần Hiếu Minh,Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng... nay Nguyễn Ngọc
Tư bổ sung vào đấy những thân phận bé nhỏ, mảnh mai mà
giàu tình thương và hy vọng.
Tập truyện cũng ghi
nhận một tiếp cận của Nguyễn Ngọc Tư vào trào
lưu mới ở lối kết cấu đồng hiện (Sầu trên đỉnh Puvan, Núi
lở, Gió lẻ ) và sự hoá thân vào các ngôi 1, ngôi 3, và loài
vật để kể chuyện (Vết chim trời, Ấu thơ tươi đẹp, Một chuyện hẹn
hò) làm thay đổi tiết tấu tự sự ở từng thiên
truỵện cho thêm phần dí dỏm, hứng thú. Nhưng
dễ nhận dạng một phong cách viết truyện khá ổn định của
Nguyễn Ngọc Tư, chị không ồn ào chạy theo các mẫu mã tân
kỳ mà âm thầm nuôi dưỡng một cá tính sáng tạo lấy sự chân tình ,sự
xót thương làm căn bản, lấy hương vị nắng gió của một miệt đất quê
Nam bộ đầy gian lao trắc trở nhưng cũng lắm sắc màu làm điểm trang,
Nguyễn Ngọc Tư nối tiếp cái cách thể hiện quê kiểng chơn
chất mà sâu lắng của các nhà văn Sơn Nam,Đoàn Giỏi... ,
nhưng nó là cái phía này ồn ào sóng nước bổ sung cho cái phía kia
trầm mặc núi non của quê Việt.
Văn chương chân chính
mang lại cho độc giả niềm hạnh phúc lớn lao là sau khi đọc
xong tác phẩm đều muốn tự soi rọi bản
thân để nâng mình lên, đó là hiệu ứng cao cả và thiêng
liêng giúp nó luôn đứng vào thứ hạng bậc cao trong kho tàng
đời sống tinh thần nhân loại.Chẳng thế mà khi gặp những
trắc trở trong cuộc đời có tác giả đã thốt lên :
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy! Văn chương nhiều lúc được xem
như vị cứu tinh trong cuộc đời gian khó.Có được vị thế đó
là nhờ trực tiếp hay gián tiếp nó luôn tìm cách khơi dậy
những suy cảm của độc giả về cái thiện và cái ác
,về nỗi đau và niềm vui trong cúộc sống. Nó
vừa có sự thuyết phục tức thời vừa có sự ám ảnh lâu dài
đến đời sống tinh thần con người. “Gió lẻ...” đã ít nhiều mang đến
cho độc giả cảm nhận đó.
Chú thích:
* Nhà Xuất bản Trẻ
9-2008
** Bài phát biểu tại
lễ nhận giải văn học ASEAN 2008.
18/12/2008
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Hồn thơ sâu lắng tình đời
Hồn thơ sâu lắng tình đời
Thơ hiện đại thường được
chia thành các loại: thơ tư tưởng, thơ trữ tình, thơ ngôn ngữ, để phân biệt loại
này nặng về suy nghĩ, loại kia nặng về tình cảm, loại nọ nặng về vẻ đẹp của
ngôn ngữ. Đó chỉ là một cách cảm nhận tương đối!
Thơ
của Trần Nam Phong, chúng tôi nghĩ thuộc loại thứ hai, loại trữ tình vì quả thật
trong thơ anh tình cảm trĩu nặng, lan tỏa trong sự đa dạng đề tài mà trong đó
sâu sắc nhất là tình yêu: tình yêu đối với mẹ, tình yêu với bạn bè, gia đình,
tình yêu với quê hương, tình yêu đối với lịch sửt! Thơ Trần Nam Phong, điều nổi
bật trước tiên đến với người đọc là sự chân thât, buộc người đọc lấy sự chân thật
mà hiểu mà cảm chứ không phải sự “thông thái” thường tình. Có một cái gì đấy
bàng bạc trong tình yêu ở Thơ anh, trĩu nặng một nỗi niềm, một suy tư chứ không
phải là thứ tình yêu vui tươi, nhẹ nhàng ta thường gặp. Thơ anh phảng phất một
nỗi buồn mà như nhà triết học người Anh- Alanh Wats có nói: nỗi
buồn là một vẻ đẹp để phân biệt con người với các loài, phân biệt người cao thượng
với người tầm thường.
Trước
đây Tổ Hữu cũng đã từng viết “ Buồn ta buồn của muôn đời, buồn ta không chảy
thành đôi lệ hèn, buồn ta ấy lửa đương nhen, buồn ta ấy rượu lên men say nồng”;
sự lo lắng về cuộc đời, trách nhiệm với con người đôi khi làm cho tâm hồn thi
sĩ có một nỗi buồn không phải bi quan mà một nỗi buồn giúp người ta đứng lên mạnh
mẽ .Từ tập Viết chớ sen lên (1)cho đến tập thơ mới Thức dậy
một dòng sông(2), tiếng thơ của Trần Nam Phong say đắm, lan tỏa, với bất
cứ đề tài gì, thể thơ gì người đọc cũng đều thấy có một sự trầm tích sâu lắng
suy tư về cuộc đời về con người.
Chỉ
một lần thăm quê, nhìn hàng cau, bụi chuối, nghe tiếng gió ngoài đê mà lòng tác
giả cuộn lên bao suy tư, từ hiện tại nghĩ về quá khứ, từ người còn nhớ đến người
mất, từ hiện thức nghĩ về ước mơ.Và nhà thơ đượm bâng khuâng về sự đổi thay, thời
gian trôi đi niềm vui chưa trọn vẹn, từ “kiếp này” nghĩ đến “kiếp xưa” tâm
tình còn phảng phất heo may trong nụ cười của Mẹ:
...Mẹ
cười, tóc bạc phơ bay/Ngoài đê tiếng gió heo may đã về, để
rồi mong ước: Bao giờ xanh lại ngày xuân/ Cho đời mẹ
bớt tảo tần nắng mưa.
Anh viết về tình
yêu không nhiều nhưng cũng để lại một dấu ấn riêng:
...Đêm nay trăng thức
ngoài hiên/Đợi em xem có nỗi niềm nào không
...Gió là gió của hai
ta/Trăng là trăng của thật thà môi em
Anh
viết nhiều về thế sự, về nỗi đời, về sự thay đổi chìm nổi của kiếp người...
Khi con người trải qua mất mát, lên xuống, con người gặp nhiều trắc trở,
nên luôn lo lắng suy tư về lẽ đời và trong khi suy nghĩ nhiều về các nghịch cảnh
nhà thơ cũng nghĩ đến, gọi tên một “đấng từ bi” nào đấy mong làm vơi đi nỗi buồn,
mong con người sống giàu tình yêu hơn. Thẩn thơ áo tím, áo nâu/
Nào ai biết được cao sâu cõi người/ Hãy tin trong Phật có trời/ Tin
lòng chung thủy của người mình yêu.
Nỗi
bâng khuâng triết lý về “đạo” về “duyên kiếp” trong thơ anh có lẽ là ở lòng hướng
thiện, sự công bằng nhân ái của con người. Trong cái mâu thuẫn của sự đời anh đứng
về phía lương thiện về cái tốt đẹp để suy tư và hy vọng
... Mưa
chay có thấm cửa thiền/Làm sao mang được vô biên kiếp này
Một tác giả đã nói về anh
“từ quê ra phố nhầu nhĩ cuộc đời, nhầu nhĩ tâm tư (Van.vn.vn) có
quá chăng, nhưng quả thực cuộc sống đô thị với bao nhiêu phức tạp cũng có đôi
khi làm bụi mờ tâm hồn trong sáng bắt đầu của người thi sĩ đồng quê, tuy nhiên
bao thăng trầm không xóa được, không làm phai mờ được tình yêu quê hương, khi tỉnh
cũng như khi mơ chan chứa trong thơ anh.
...Bàn cờ con tốt làm
vua/Kim tiền, chứng khoán bỏ bùa nhà sư
Thổ thần nhảy múa thực
hư/Khói lên nghi ngút ngất ngư hầu đồng
...Thị vàng thơm tận giấc
mơ/Hội làng cô tấm cài nơ hoa cà
Đang đêm vọng tiếng tù
và/Hình như phía bụi tre ngà trổ măng
(Giấc mơ tuổi thơ)
Tình
quê luôn là một vệt dài sâu nặng trong thơ từ cổ chí kim, đến anh vẫn có cái gì
riêng tư được tạo nên từ sự phối sinh tình cảm giữa một hồn thơ chân chất, với
một vùng quê thanh nghèo mà giàu truyền thống, quê hương trong anh bởi vậy hiện
lên thật đẹp, tuy vất vả về thiên nhiên khắc nghiệt, thăng trầm về đời sống
kinh tế nhưng vẫn luôn tỏa ánh sáng vời vợi.
Cuộc
đời, tình yêu , trong thơ anh chảy một dòng với lịch sử. Lịch sử cũng như tổ
tông, vẻ đẹp, bề dày của lịch sử nuôi dưỡng tâm hồn con người hiện đại .Trần
Nam Phong nhận thức được điều đó, tự hào và luôn tìm về với lịch sử để
nuôi dưỡng hiện tại. để kiên cường và hy vọng sống. Chỉ từ một con kênh
nhỏ anh nổi hiện tại với quá khứ làm nổi bật những thăng trầm của lịch sử và
không nguôi hy vọng .
Ơn dòng sông chảy
mạch nguồn nước Việt
Ơn tiền nhân vì Tổ quốc
khơi dòng
Ơn bông lúa biết cúi đầu
niệm hạt
Thức dậy mùa màng từ những
dòng sông.
Phía
sau nỗi buồn là hy vọng. Đọc Thơ Trần Nam Phong như uống nước chè ngon, sau vị
chát là vị ngọt, sau những vần thơ phảng phất nỗi trăn trở là những hy vọng. Lòng
thi sĩ luôn băn khoăn một lẽ sống, cuộc sống lớn lao mà mình bé nhỏ, nên trĩu
nặng một ưu tư Người đi ra bể tìm sông/ Ta về nhặt cái mênh mông cõi
người.Lo lắng suy tư thấy rõ trách nhiệm của một kiếp người, sức sống quê
hương, sự giáo dục của cha anh trong quá khứ đã rèn luyện cho tác giả một
tư cách công dân một lòng tin bền bĩ: Hãy tin trong nhiễu
có điều/ Trong mây có móc, trong chiều có giông…
Đời
sống tinh thần mãnh liệt, tính cần cù nhẫn nại của đời trước còn truyền lại cho
đời sau, tạo một cốt tính để thích nghi hoàn cảnh! Kỳ Anh mảnh đất phên dậu
trong lịch sử, để lại nhiều tiếng vọng hào hùng, nhiều chiến tích bất tử. Trần
Nam Phong gắn bó văn hóa xứ quê và không phải điều đó không ảnh hưởng ít nhiều
trong sự chuyển dịch âm hưởng đời sống vào thi ca tạo một nét vững vàng riêng
mà quê hương mang lại.
Sức vóc cha ông
Hóa dòng sông khát vọng
Cho tôi được gọi
Dòng Sông Nước Việt muôn
đời
Tôi tin quê như tin về Đất
Tổ
(Thức
dậy một dòng sông)
Thế
tài thơ anh quen thuộc là lục bát, một thứ lục bát nhuần nhụy tự nhiên trong trẻo
như hồn đất, hồn quê nhuần thẩm trong tâm hồn anh (Nguyễn Việt Chiến), anh
cũng có viết thơ tự do và có những thành công nhất định, tuy nhiên đóng lại vẫn
là thơ lục bát. Nhiều người khen thơ lục bát của anh tươi mát uyển chuyển, quả
đúng như vậy, hình như loại thơ này hợp với thể tạng của tâm hồn anh, sự dung dị
tâm hồn có thể dung nạp được ngôn ngữ chân quê mộc mạc tạo nên một nét riêng
dân dã của thơ anh.
Thơ
anh viết tự nhiên không dụng công lập tứ như nhiều tác giả
đương đại mà chỉ trực tiếp thể hiện những tình cảm nặng trĩu miên man của mình,
tuy nhiên nhiều lúc vẫn bột phát những tứ thơ khá đa dạng làm
cho bài thơ có ấn tượng với người đọc. Đó là khi anh sử dụng lối tương phản
giũa xưa và nay, tương phản giữa cảnh đời và lòng người,
giữa thế sự và lịch sử ,giữa thiên nhiên và cuộc
đời giữa yêu và ghét...,những câu thơ tự nhiên nhưng để lại
nhiều ấn tượng trong lòng người đọc.
Thơ
anh viết trong những ngày đau yếu, đọc thơ anh chúng tôi chợt nhớ đến câu thơ của
Trinh Đường Anh vịn câu thơ mà đứng dậy, anh đến với chúng tôi
cùng những nỗi niềm chân thành, thương cảm.
Chú thích:
(1), (2) Hai tập thơ
do NXB HỘI NHÀ VĂN xuất bản các năm 2022 và 2024.
28/9/2025
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Mùa xuân và những khúc hoan ca trong thơ Xuân Diệu thời thơ mới
Mùa xuân và những khúc hoan ca trong thơ Xuân Diệu thời thơ mới Chủ nghĩa lãng mạn được xây dựng trên cái nền tư tưởng không bằng lòng với t...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)