Khói và mảnh trăng khuyết
Từ nơi nào ấy rất xa xôi,
như tiếng vọng khẽ:
- Định, mày mạnh giỏi chứ?
Bây giờ mày thế nào rồi? Lâu lắm tao không gặp, nhớ lắm!
- Xin lỗi, giọng nói nghe
rất quen.
- Ha, ha… đã quên thằng bạn
này rồi sao? Đầu óc mày bắt đầu còm cõi từ hồi nào vậy? Tao cứ ngỡ tụi mình vẫn
tiếp tục làm thơ dưới khung cửa sổ phòng Thủy đó mà.
- Hả. Nói sao? Thủy ngày
xưa. Ngô, mày ở đâu? Tao tưởng.
- Chết từ ba mươi năm nay
rồi chứ gì? Người đời nghĩ rằng tao chết rồi, chết thật rồi. Nhưng mà, hỡi ơi,
làm sao tao chết được. Tao vẫn gần tụi mày, vẫn biết Thủy bây giờ cơ cực, vẫn
biết thỉnh thoảng mày mơ màng làm một cuộc viễn du, đến bên em bằng những giấc
mơ tuyệt đẹp, đầy ắp hương hoa và rỗng không sương khói.
- Mày gặp Thủy?
-Tao gặp thường xuyên,
không ngày nào, tháng nào, năm nào là tao không ở bên cạnh nàng.
- Mày với Thủy…
- Lại ngộ nhận. Tất cả đều
trễ tràng. Tất cả là những sợi khói mong manh, níu theo mảnh trăng khuyết dằn
xé nỗi khát khao.
- Tao không hiểu gì cả.
- Mày làm sao hiểu được
khi mọi ràng buộc biển dâu bị trói chặt vào guồng lăn cuộc đời!
- Ngô, mày nói cứ như một
tên thánh sống bất tài, nói cho hả hơi, hả giận về sự bất lực của mình. Mày
đang ở đâu? Tao sẽ tới ngay để gặp mày, để coi bộ dạng xương xẩu hiu hắt, giờ
có thay đổi chút nào không?
- Xa vạn dặm mà cũng gần
trong cái chạm nhẹ một với tay.
- Mày lại giở giọng bỡn cợt
như hồi xưa?
- Không đâu. Mày không thể
tìm thấy tao, nhưng tao sẽ đến với mày, ngay bây giờ đây.
Những âm thanh u u … kéo
dài trong tay nghe. Và như vậy có nghĩa là Ngô đã gát máy.
Rõ ràng là Ngô chứ không
thể một kẻ nào khác. Chúng tôi thân với nhau từ khi học Tam Tự Kinh, đánh vật với
những nét sổ, nét ngang, gà gật ê a như những chú tiểu bắt đầu học kinh Phật. Rồi
chận bò, tắm sông… và lớn lên và mất hút nhau. Năm tháng trôi đi
không một tin tức nhỏ về Ngô. Nó đi những đâu? Làm những gì? Không một ai hay
biết. Những cuộc kiếm tìm vô vọng cuối cùng như chiếc tim đèn hết dầu. Vậy mà
giờ này, Ngô lại trở về với tôi trong đêm khuya khoắt, ít ra là qua giọng nói từ
đâu đó vẳng tới. Hoàn toàn bất ngờ. Hay tôi đang chìm lú trong cõi mê muội của
hoài nhớ, mong chờ quay quắt bấy lâu nay?
Tôi ngồi chờ dưới ánh
trăng hạ tuần nhợt nhạt, hắt những quầng sáng qua song cửa như thể những cụm
khói từ một thế giới lạ hoắc, len lạnh hơi đồng. Bên ngoài khu vườn rộng, bóng
đêm nhập nhoà vệt tối sáng mỏng tang, vật vờ trên những tàn lá đang im ngủ. Rồi
bỗng nhiên những quầng sáng ấy loá trắng chói chang vơi chiếc bóng của Ngô lách
qua cánh cửa khép hờ, bước về phía tôi. Cái bóng lêu khêu muôn thuở, bước không
muốn chạm đất. Nó hào hển, sôi nổi siết chặt bàn tay tôi, ôm tôi
như ôm một đứa bé con, biểu lộ một thứ tình cảm bị dồn ép lâu ngày.
-Mày vẫn vậy, không đầy đặn,
nhưng chưa già đi chút nào. Lâu quá anh em mình không được thấy mặt nhau, cầm
tay nhau.
Thanh quản Ngô như bị một
vật gì đó dính ngang làm giọng nói khao khao, không như bình thường.Tôi nghĩ với
tấm áo mặc phong phanh trên người, có thể cái lạnh làm anh bị đởm giọng. Cũng
có thể anh ta vội vã chạy đến tôi với đôi chân trần của thằng bé ngày xưa đi
chăn trâu, chơi trò cút bắt, u quạ trên những đụn mả đến nỗi anh mệt lả đi?
Ngô với tay rút điếu thuốc,
rồi lại đặt ngay xuống bàn, không bật lửa. Anh đảo mắt nhìn gian phòng, lướt
trên những bức tranh trên tường, phía trước mặt. Đó là những bức tranh thiếu nữ
anh vẽ về Thủy qua trí nhớ cách đây trên ba mươi năm, thuở mà đám thanh niên
nhai những củ khoai lang sùng của J.P Sartre, của F. Sagan và kêu lên những buồn
nôn, ói ỉa... đầy dẫy cả ngoài cuộc đời lẫn trên trang chữ. Cái thời của sự buồn
chán, mệt mỏi và làm dáng trí thức cần thiết hơn là sự ăn uống, làm việc, tỉnh
táo. Giữa bối cảnh đặc quánh đờm dãi nhầy nhụa đó, Thủy xuất hiện tựa một cánh
hoa rực rỡ trên mảnh đất khô khốc cát sỏi, ruồi nhặng.
Và rồi cả Ngô và tôi đều
yêu Thủy đến điên cuồng, để cuối cùng hình ảnh Thủy đầy ắp trong những trang
sách bằng những nét vẽ nguệch ngoạc của Ngô và một mớ chữ nghĩa kết nối thành
những âm điệu dày cộp trong cuốn sổ tay của tôi. Từ bên này bức tường rào rêu ẩm,
mái ngói oằn cong, tôi và Ngô dùng cọ, dùng bút cào miết lên giấy, vải cái nhan
sắc dữ dội kia và tìm cách chuyển đến nàng, để sau đó nàng chuyển lại chúng tôi
một cách hằn học, dè bỉu: những ngón tay thon thả, trắng muốt vò nát những thứ
chúng tôi yêu quý, ném qua tường như người ta ném xác súc vật, kèm
theo những dây cười miệt thị. Thủy nhìn chúng tôi như hai kẻ điên loạn, coi
chúng tôi như lũ người sống trong thế giới của mộng mị và hoang tưởng, ban tặng
cho mỗi đứa một lỗ đen ngòm khổ đau thời mới lớn. Lần duy nhất Thủy viết mấy
câu, bọc viên đá dăm, ném sang vườn: “Các anh thôi ngay trò vớ vẩn dung tục này
lại ngay. Nếu không tôi sẽ kêu ba tôi bắt các anh tống vào khám!”
Rồi sau đó, Thủy bước qua
chiếc cầu hạnh phúc lắc lẻo với nỗi hân hoan tột cùng của loài báo cái biết
mình đẹp nhất trần gian, danh giá nhất trần gian. Đám cưới tổ chức trên nhà
hàng nổi dập dềnh sóng nước, dập dềnh hạnh phúc và dập dềnh cơn say lảo đảo của
hai kẻ điên loạn chỉ biết đứng trên bờ nhìn những dề lục bình trôi như chính
thân phận mình. Hôm đó Ngô say khước, quay trở về nhà bắt tôi căn mảnh vải bố
lên giá vẽ. Bao nhiêu ống màu anh đều nặn hết xuống sàn và cầm cọ vẽ như điên
như say trên khung vải trắng. Nước mắt chảy cơ hồ như con suối nhỏ. Tôi mơ màng
trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê nhìn theo bàn tay gầy guộc cào miết lên giá vẽ…
để sáng hôm sau và mãi mãi, tôi không bao giờ biết Ngô đi đâu, về đâu? Phản ứng
đầu tiên trong buổi sáng tan tác đó là tôi đá văng khung vải vào góc phòng, bao
nhiêu sách vở, chữ nghĩa tôi hất tung vào đó và khoá trái cửa, không bao giờ
ghé mắt nhìn với thái độ hả hê của kẻ trí hèn hoan hỉ thực hiện xong chuyện trả
thù vặt. Chuột gặm, gián nhấm tôi chẳng thèm biết tới; ẩm mốc, mối đùn tôi chẳng
quan tâm… Cho mãi tới sau ngày lấy vợ, tôi mới phát hiện có một bức tranh tuyệt
tác mà các tay chuyên sưu tầm tranh sau đó đã trả với một cái giá tôi không thể
tưởng tượng nổi. Tôi nghĩ, hình như bọn buôn tranh đang báng bổ Ngô và bức
tranh kia, nên đóng sập cửa, treo cao hơn để đón lấy chút nắng nhạt buổi chiều,
ánh trăng khuya từ ô cửa sổ hắt vào, thay vì phải nghe những lời tán tụng nhảm
nhí của phường bán buôn lừa lọc kia. Những lúc đau khổ, tuyệt vọng; những khi
đói rách tơi tả, bị dòng đời nhấn lún xuống tận đáy bùn đen tôi ngồi chàng hảng
trên chiếc ghế gỗ (chiếc ghế Ngô vẫn thường ngồi) để nhìn ngắm nó hả hê, đôi
lúc như một tín đồ mộ đạo! Cả những lúc no nê hạnh phúc, tôi cũng dạng chân
trên ghế bành ngắm nhìn bức tranh với nỗi ngậm ngùi vừa đánh tuột tay đứa bạn
thân nhất trần đời. Trước mắt tôi, nó không còn là bức tranh mà là một khu rừng
nào đó xa lắc, đầy huyễn hoặc với những con thú quấn quít bên nhau trong quầng
sáng hắt hiu của mảnh trăng rớt cuối tháng. Đó là những con sói, con cáo, con
beo, bầy nai và đàn cọp vằn… Chúng quần bên nhau giữa một vũ khúc tình. Chúng
hung ác và hiền dịu, hạnh phúc và đau khổ, lo sợ và an nhiên. Cả cái xấu và cái
tốt hình như đều bật ra trong những đường nét và sắc màu loạn cuồng trong cơn
cuồng loạn Ngô phóng bút! Nhưng hơn hết, trong mỗi con thú đều ẩn hiện, thấp
thoáng bóng dáng của Thủy, nhất là những đêm trăng khuyết đến tận cùng, nửa đêm
giật mình nhìn lên vách, bầy thú biến mất, nhường chỗ cho bóng dáng thiếu nữ
khi hân hoan, khi u sầu tha thẩn trong khu rừng già dày đặc khói sương đêm bị
ánh trăng hắt vào loang loáng trắng, quái dị. Có khi người thiếu nữ tuyệt trần
kia, mặt mày, chân tay, áo quần đầy máu đang dằn xé một đoá hoa cánh rơi lả tả
trong lớp khói lung linh với tất cả vẻ đẹp hung ác cực kỳ. Và không ít đêm thao
thức vì cái ban ngày đỏ hoét dằn vặt, tôi len lén vạch mùng bước nhẹ ra phòng
khách, sững sờ nhìn những con thú mang khuôn mặt Thủy cào cấu nhau đến toé máu…
Trong những lần tôi ngồi hàng giờ như vậy trước bầy thú và con người, vợ tôi từ
phòng ngủ xô cửa chạy ra, hổn hển: “Tự dưng có những luồng hơi lạnh đến rởn tóc
gáy, tròn miết da gà khắp cả người, lạ lắm. Em sợ quá”. Vợ tôi chỉ mới cảm,
chưa thấy và chưa hiểu mọi sự, tôi vỗ về, an ủi nàng thôi không hỏi nữa.
Còn lại một mình trong
đêm vắng, tôi dán mắt lên bức tranh, mong tìm thấy bóng Ngô lẩn khuất đâu đó giữa
bầy thú hoang đang nhảy múa. Nhưng tuyệt nhiên chỉ có những móng vuốt giương
ra, cào cấu nhau và gào thét man rợ. Ngô biến mất, giống như hòn đá rơi tòm xuống
giòng nước xoáy.
Bức tranh vần cột dính
trên tường. Những tay buôn tranh đã quá mệt mỏi với giá kinh khủng tôi lắc đầu
từ chối, nên cũng không lui tới nữa.
Cái lỗ đen ấy đã kín miệng,
nhưng thỉnh thoảng vẫn ung lên một chút mủ.
Còn giờ đây Ngô đang ngồi
trước mặt tôi sau ngần ấy năm dài mất tăm. Tưởng là những đổi thay ghê gớm,
nhưng Ngô vẫn như ngày chúng tôi chia tay. Có điều rất lạ là khuôn mặt
anh bợt nhạt như sáp, đôi mắt hun hút sâu, vô cảm. Phía bên dưới dái tai, chỗ
xương quai hàm, những vết đỏ loét chạy dài theo cổ và giấu hút đâu đó sau mảnh
vải áo sọc đen.
- Định, mày đừng nhìn tao
như thế – Ngô đột ngột lên tiếng và xoay ngưởi nhìn ra phía khung cửa phụ ăn
thông ra vườn – Mày còn rượu không? Tao cảm thấy lành lạnh.
Tôi mở cánh tủ, lấy ly và
chai Hine còn vơi nửa. Ngô uống liền một lúc ba ly.
- Rượu hạng tư – Ngô bật
lên thành tiếng.
-Tao không rành ba cái thứ
đó.
Ngô khoát tay:
- Không sao, dù hạng tư
nhưng nó cũng đốt cơ thể tao ấm lên chút đỉnh. Mà này? Chính xác, tao với mày
chia tay bao nhiêu năm, hả?
- Ngày mười sáu tháng
năm.
- Không lâu lắm phải
không? Mà sao tao lại phải trốn chạy kia chứ? Lúc đó tao đang làm Assistance
cho ông Vũ mà. Ong ta quí tao. Tao cũng kính trọng ông ấy. Riêng đám
sinh viên, có vẻ như chúng bị kích động bỡi những luồng tư tưởng nửa ngô, nửa
khoai chưa kịp tiêu hoá của ông Văn mang từ bên Tây về… lại được chế dầu thêm bỡi
đám dao búa?
- Đó là chuyện cũ.
- Không cũ chút nào khi
chúng nó đánh trống thổi kèn hô hào xông vào bắn giết nhau để bảo vệ cái ghế ngồi
cho chúng nó. Đám dân chúng thì ngây thơ, bị nhồi nhét, đôi lúc quá sợ hãi để
thành những con thiêu thân. Còn đám trí thức nửa vời thì chỉ vì ba dúm chữ
nghĩa chó mửa thành kinh thành kệ và vì ảo tưởng về một xã hội công bằng, phồn
vinh… mà bán đứng danh dự làm người, xô đẩy cả một dân tộc xuống đáy vực sâu, tắm
trong xương cốt và hận thù!
Ngô lại rót rượu, dốc ngược
đáy ly:
- Cuối cùng thì không thằng
nào chịu trách nhiệm về những hành động xuẩn ngốc của mình gây ra, trút vấy lên
đầu kẻ khác. Tao biết một thằng đi tu có nòi, thuộc kinh kệ như két. Nó bắt tín
đồ đọc kinh như lũ bò nhai lại, rao giảng đạo đức, giáo lý để cuối cùng nó ngủ
với gái trong phòng?
Lừa mị đến thế thì còn
hơn cả thứ giòi bọ đục khoét những xác chết sình thúi trong rừng sâu, bên vực hẳm!
Nước mắt Ngô chảy dài,
càng lúc càng nhiều, đỏ dần lên như máu. Trước mắt tôi, Ngô trở thành hình nhân
lúc xám ngoét, lúc trắng nhợt khi thì sũng màu máu từ hai hốc mắt tuôn ra, từ lỗ
tai, lỗ mũi tuôn ra, cả miệng cũng bật trào màu máu đỏ, thấm xuống ngực. Khuôn
mặt Ngô trở nên lạnh lùng và lạ lùng mà tôi chưa hề thấy.
-Mày có vẻ như mệt? Nằm
xuống chiếc ghế xích đu này nghỉ chút đi?
-Bao nhiêu năm mới được về
thăm lại mày, giờ kêu tao ngủ thì thà đừng tới?
-Tao xin lỗi.
Im lặng một lúc, tôi lên
tiếng:
-Ngô này, bức tranh mày vẽ
trong đêm…
-Tranh nào?
Tôi đưa ngón tay chỉ lên
tường, phía trên đầu anh, nhưng Ngô không dòm theo.
-Nhớ rồi. Đó là bức tranh
khói và mảnh trăng khuyết mà trước khi đi tao không kịp nói với mày.
Tự dưng khắp thân thể tôi
bỗng nghe lạnh đến tột cùng, co rúm lại trong nỗi sợ hãi vừa sung sướng. Nhưng
cảm giác ấy chỉ ào đến thật nhanh và rút đi cũng thật nhanh như sấm động. Tôi
trở lại bình tĩnh:
- Rồi mày đi những đâu, đến
đúng ba mươi năm sau mới quay về?
- Định mệnh.
- Là gì?
- Là sự ra đi và sự trở về.
- Lúc nào mày cũng có thể
pha trò được. Ngô mày nói đi. Mày đi những đâu?
-Trước hết là tao bỏ
ngang cái chức assistance bổ báng đó và lang thang từ ngôi chùa này đến quán thịt
chó khác, từ nhà thờ này đến những nhà thổ nọ để làm một cuộc khám nghiệm về
nhân cách con người. Và cuối cùng tao đã khám phá ra một chân lý lộn ngược. Té
ra lũ cứt đái và bọn thổ tả kia còn mạt hạng hơn đám ma cô đĩ bợm. Chúng lợi dụng
kinh kệ, sấm truyền, lợi dụng lòng tin của kẻ khác để buôn người, đổi chác, phỉnh
phờ, lừa lọc. Một bọn lưu manh đội lốt người thượng hạng ngoại hạng. Trong khi
đám đĩ bợm chỉ vì cái bao tử. Chúng cũng lưu manh vậy, nhưng ra giá sòng phẳng,
không lừa mị phỉnh phờ ai. Thằng nào có nhu cầu xin mời… ai đau khổ, buồn rầu
xin mời… kẻ nào sung sướng hoá điên, xin mời… nhưng nhớ là đừng giở trò chơi chịu…!
Rất sòng phẳng.
- Nói nghe ớn lạnh?
-Tao ngụp lặn trong chốn
thanh cao lẫn vũng bùn hôi tanh dơ dáy nhân thế. Tao gặp đủ loại mặt mũi, đầu
óc bệnh hoạn của bọn người mà đến cả trời đất cũng phải bụm mặt xấu hổ. Tao
lang thang cùng khắp ba cõi, đến những nơi mà con người chưa bao giờ đặt chân tới.
Tao đi đến độ chân toé máu, cụt ngón; đến độ thân thể teo tóp như que củi khô
khốc.
Bất chợt, tôi nhìn xuống
sàn nhà. Đôi bàn chân Ngô lưng lửng đâu đó trong hai ống quần rách bươm, không
chạm đất, đung đưa theo thói quen, như hồi nhỏ anh ngồi vắt vẻo trên cây ổi sẻ
sau vườn nhà, thõng chân đưa qua lại trong không khí. Lớn lên, khi bắt đầu biết
yêu mỗi khi đứng dưới khung cửa sổ phòng Thủy, Ngô vẫn có thói quen ngồi trên
trụ gạch đua đưa hai chân vừa như biểu lộ niềm hạnh phúc, vừa như tỏ
vẻ thất vọng, bỡi ô cửa chỉ hắt ra bên ngoài chút ánh sáng, tuyệt nhiên không
có một nụ cười, cái vẫy tay nghịch ngợm.
Tôi hỏi Ngô:
- Lúc nãy mày nói gặp Thủy?
- Đúng. Tao gặp nàng lúc
vừa sinh con đầu lòng. Hạnh phúc và giàu có. Đài cát và kiêu kỳ. Còn thằng chồng
thì làm một quan chức khá lớn ở một Bộ nọ, sai khiến đàn em kiếm tiền mang về
cho hắn. Sau này hắn vẫn tiếp tục làm lớn. Tại sao à? Có trời mới biết. Lần đó
tao ngồi vẽ tranh trên vỉa hè độ nhật. Cũng toàn tranh thiếu nữ. Bữa nọ, trong
đám đông dòm ngó tranh, có một quý ông khoát tay một quý bà, chỉ bức tranh tao
đặt trên chiếc ghế đẩu long chân:
“Đẹp! Và có vẻ giống em
đó chứ”
Một giọng chớt nhả:
“Em thấy cũng được”
“Không. Đẹp. Anh sẽ mua bức
này tặng em nhân ngày sinh nhật sắp tới”
Tao quay lại. Té ra là vợ
chồng Thủy. Tao lúng túng thật sự. Còn Thủy thì làm như lạ mặt, khẽ nghiêng
chào kiểu cách. Lão chồng hỏi:
“Tôi mua bức tranh này,
thưa ông?”.
“Xin lỗi, có người mua
trước ông bà rồi”
“Anh vẽ bức khác. Tôi
thích nó”
”Không thể thế được”
“Có thể đấy!” – Nói và hắn
ta lôi vợ đi.
Tao đâu ngờ cớ sự sau đó
còn tồi tệ hơn. Để chiếm hữu bức tranh, lão lệnh cho đám chân tay dọn sạch các
vỉa hè. Mọi người chạy nháo nhào. Những bức tranh của tao, của bạn bè bên cạnh
bị hốt lệng lên xe như người ta quăng những bọc rác hôi thối phải đổ vứt đi buổi
sáng buổi chiều! Nhưng đây chỉ mới là đoạn khởi đầu của bi kịch. Sau đó mấy
ngày, tao đang chán ngán với ly cà phê đắng ngắt, thì có một thằng mặt mũi tựa
cô hồn, quăng trước mặt tao bì thư . Nhặt lên, thoang thoảng mùi nước hoa loại
đắt tiền. Mở ra, mấy dòng chữ lịch sự một cách mất dạy: “… cuối cùng thì chúng
tôi cũng tìm mua được bức tranh bán đấu giá tại Sở Vệ Sinh Đô Thành. Rất mong
ông đến treo giúp bức tranh. Vợ chồng tôi… số nhà… đường”.
- Mày tới? – Tôi hỏi,
lòng áy náy như chính mình là người trong cuộc.
-Tao tới. Tới để coi cái
đám cướp giật, hợm hĩnh đó làm gì? Đúng là bức tranh bữa nọ lão ta đòi mua. Đón
tao là bà quản gia và con nhỏ ở đang xách giỏ mở cổng chuẩn bị đi chợ. Tao chìa
thư mời. Bà ta nói: “Ong nhà dặn hễ ông đến thì mời vào. Chúng tôi được báo trước
rồi”. Tao bước vào, thấy Thủy ngồi dũa móng tay ở phòng khách, mặc bộ váy mỏng
tang, loại vải khá đắc tiền.
Bức tranh dựng gần đấy.
Thủy thong thả chào tao, thong thả đứng dậy, thong thả rót nước và thong thả mời.
Dáng điệu nàng bước giống hệt con báo cái trước con mồi đang nhắm mắt chờ bị xé
xác, một kiểu cách lố bịch của các mụ mệnh phụ phu nhân còn sót lại
trong thời buổi nhiễu nhương.
“Anh ngạc nhiên lắm phải
không?”.
“Hơn thế nữa”.
“Thật tình thì tôi không
thích nó. Chỉ vì nhà tôi vẽ vời”.
“Tôi nghĩ ông bà không
nên xử sự như vậy”.
“Chúng tôi có làm điều gì
khiến ông phiền lòng. Chúng tôi hỏi mua, ông không bán, chúng tôi về. Còn cái
này, chúng tôi mua đấu giá từ….”.
“Từ một đám ăn cướp?”.
“Ong nói hơi quá. Có cần
phải coi giấy tờ không nhỉ?”.
“Kẻ mạnh có thể biến xác
chết thành người sống, thưa bà?”.
“Đó không phải là chuyện
của chúng tôi. Chúng tôi mời anh đến không phải để tranh cãi về những chuyện
không liên quan đến nghệ thuật”.
Tao lộn gan, đứng bật dậy
bước ra. Thủy vẫn ngồi bắt chéo chân, với bộ điệu hớ hênh, khiêu khích sự thèm
khát dục vọng, nở nụ cười pha chút ngây thơ lẫn đĩ thoã:
“Chẳng gì thì đã có lúc
chúng ta như gặp nhau, quen nhau và trong anh, tôi luôn luôn có mặt?”.
Mày nghe nó nói không? Một
giọng điệu chỉ có ở đám ma cô, tú bà lại thốt ra từ cửa miệng của con mụ đàn bà
có nhan sắc rực rỡ, tuyệt vời kia mà tao và mày đã từng yêu đến không còn nhận
ra bến bờ, ngày đêm? Đây là lần đầu tiên trong đời tao được “hân hạnh” đối mặt
với nàng, nói vơi nhau không bằng lời êm ái, yêu đương! Tao tự nghĩ, phải chăng
nàng là hiện thân của loài quỷ dữ bay vào trần gian để thoá mạ kẻ khác? Một thứ
nhan sắc rờn rợn mê hồn, một vẻ đẹp ác độc chưa từng thấy trên những khuôn mặt
nữ? Luôn luôn tồn tại hai dáng vẻ đối nghịch nhau? Tao vừa sợ hãi, khinh tởm vừa
muốn gần gũi sờ đụng nàng như sờ đụng trên thân lầy nhầy con ấu trùng bướm đa sắc,
vừa có cảm giác nôn oẹ mọi thứ trong cơ thể ra ngoài. Chỉ còn một bước chân nữa
là tao ở bên ngoài khung cửa, thoát ra khỏi căn phòng ghê tởm mà vô cùng lôi cuốn
đó. Tao muốn ngã khuỵu xuống nền gạch hoa, mắt mờ đi.
“Anh giúp tôi. Vì trong
anh luôn có tôi, tôi biết thế. Vậy thì tại sao trong tôi không có một chút anh.
Đây là điều anh mong mỏi bao nhiêu năm nay mà. Tại sao anh lại từ chối điều anh
hằng ao ước đó nhỉ? Để được cái gì…?”
Tao nghe dường như có
vòng tay chạm đâu đó lên người tao, nóng rực nỗi ham muốn của bầy thú trong mùa
tình. Tao nghe tiếng thì thào bên tai như lời của con hồ ly tinh:
“Bây giờ tôi tặng anh điều
anh ao ước bấy lâu. Hình như tất cả mọi thứ tình yêu đều kết thúc trên giường
ngủ. Tôi tặng anh nỗi khao khát cào cháy cơ thể anh, tâm trí anh để sau đó anh
vĩnh viễn bước ra khỏi khung cửa này, như một cách để tôi lột tôi ra khỏi người
anh”.
Sau đó là nụ hôn dài đến
cháy bỏng, là thân thể mềm nhũn oằn oại tựa hồ kẻ động kinh. Mọi thứ cảm giác của
loài động vật có bộ não đều đổ ào ra cùng một lúc đến tận cùng trời cao hố thẳm
rồi đột ngột đứng khựng lại như cỗ máy chết, trống rỗng đến tận cùng…
Càng về sau, giọng nói của
Ngô càng thì thào tựa hơi thở, cố gắng lắm cũng không nghe được gì hơn. Hai môi
Ngô mấp máy liên tục đến độ không còn đoán được Ngô nói điều gì. Anh giang hai
tay và xoãi chân trên ghế. Im lặng hoàn toàn, lạnh ngắt.
Rất lâu sau Ngô mới mở mắt
ra, vẫn trong tư thế cũ. Nhưng trên hai hốc mắt lại trào ra hai giọt nước mắt đỏ
hoét. Tôi với lấy chiếc khăn vắt trên thành ghế, toan lau cho anh, nhưng Ngô
đưa tay ngăn lại. Bàn tay Ngô chạm vào tôi như thể tôi đang chạm vào tảng băng
đá. Ngô giật mình, ngồi lại ngay ngắn, giọng phều phào:
-Điều mày muốn biết tao
đã kể hết cho mày nghe. Chỉ còn đoạn cuối là sau đó mấy ngày, tên cô hồn kia lại
xuất hiện, chỉa súng vào hông, lôi ngược tao lên xe đóng sập cửa lại và đưa tới
một nơi tao chưa hề đến. Một chiếc lều bạt dựng sâu phía trong con đường đất đỏ.
Hắn đưa tao tới đó thì đã thấy thằng chồng Thủy ngồi bên chai rượu màu. Hắn đưa
tay chỉ chiếc ghế đẩu đối diện, đẩy ly rượu về phía tao:
“Tôi nghĩ ông nên uống một
ly”.
Tao nhìn hắn không hiểu hắn
nói gì và làm gì?
“Ong khá lắm, ông hoạ sĩ ạ!”
– Nói và hắn quăng tấm ảnh lên mặt bàn gỗ xù xì, giọng đanh lại:
“Ong nhìn thật kỹ đi” .
Trời đất! Sao lại có tấm
hình quái quỉ này, tao tự hỏi trong đầu.
“Tôi biết ông yêu vợ tôi
đến lú lẫn. Cũng tốt thôi. Nhưng điều tôi không muốn là hình ảnh vợ tôi không
được phép tồn tại trong cái đầu óc thối tha kia, không được bày ở vỉa hè
như một con bù nhìn bẹo chim thú. Ong có hiểu không? Tôi nghĩ ông
nên uống một ly trong giờ phút hội ngộ kỳ quặc này”.
Tao tức điên người, đứng
dậy đá văng chiếc bàn ra xa.
Và sau đó là một cõi
thênh thang cho tao rong chơi, đi về. Có điều sau đó tao vừa khinh, vừa căm hận
lại vừa yêu Thủy hơn bao giờ để chứng kiến gần như cuối cuộc đời sau này của
nàng.
Vẫn đẹp lộng lẫy, kiêu kỳ
trong cái đống đổ nát của gia đình, trong cái bi thương của nhan sắc và danh vọng…
Thủy đã mang bán tất cả những gì có thể bán được cho đến cái cuôí cùng. Nàng
cũng bắt đầu chạy chợ, lừa lọc, phỉnh phờ thiên hạ để kiếm từng xu, cho đến cái
thân xác kia nàng cũng nhấn chìm xuống vũng đen nhầy nhụa… Tao xót
xa, thương hại nàng, nhưng tao không thể làm gì hơn được.
Ngô bật khóc tức tưởi,
nghẹn ngào. Cả thân thể co rúm lại, đau đớn tột cùng. Tôi ôm đầu nghĩ mông lung
trăm chuyện nhân gian, cho tới khi Ngô nói: “thôi tao đi”, ngẩng lên chỉ thấy bức
tranh trên tường lay động dữ dội. Những con thú chạy bổ vào tôi, dằn xé rách toạt
da thịt máu me trước giọng cười the thé của bầy sói mang trăm mặt con mụ đàn bà
kia.
Căn phòng hoàn toàn im vắng.
Và hình như... Tôi cầm
chai rượu lên... Hình như nó vẫn còn nguyên như khi tôi lục tủ mang ra cho Ngô?.
4/7/2008
Nguyễn Lệ Uyên
Theo
https://www.vanchuongviet.org/