VĂN THƠ NHẠC
Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026
Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu
Trong tập Giọt trời trên lá sen của Quang Hoài, phần thơ thể hiện những suy tư trăn trở về nhân tình, về thế thái khá đậm đặc. Ngoài ra, Quang Hoài còn viết khá hay về tình bạn, với niềm đau tiếc nuối một tài năng vừa độ chín đã vội vã ra đi…
Di Li người đẹp viết đẹp
Di Li người đẹp viết đẹp
Nhà văn Mỹ Charles Waugh sau khi đọc cuốn sách đã nói rằng
“Di Li đã bắt mạch được xã hội Việt Nam. Với một nhận thức sắc bén về những
truyền thống xưa cũ, các câu chuyện của cô đã phản ánh một cách tỉ mỉ những gì
đang diễn ra ở một thế giới hiện tại bằng phong cách viết điềm tĩnh, lạnh lùng,
châm biếm và không kém phần hồi hộp. Nếu bạn muốn biết những gì đang diễn ra ở
Việt Nam hiện nay, nếu bạn muốn được cười, được khóc, được rùng mình vì sợ hãi,
hoặc suy ngẫm sâu hơn về thế giới đương đại, hãy đọc Di Li.”
Cách đây hơn chục năm có một cô gái rất trẻ, cao ráo, ăn mặc
sang trọng, hiện đại, rất Hà Nội, mắt sáng và đẹp, trên má phơ phất chút phấn mỏng
thôi mà tôn vẻ mĩ miều, tới trụ sở báo Người Hà Nội gặp thi sĩ Bế Kiến
Quốc, bấy giờ là Tổng biên tập báo…
Chuyện là, Tổng biên tập Bế Kiến Quốc có đọc một truyện ngắn
của tác giả Nguyễn Diệu Linh. Truyện ngắn ấy không phải xuất sắc lắm, đi được,
song ông vẫn nhận ra sau cái còn mong manh ấy, một cây bút có nhiều hứa hẹn.
Cũng như sự gặp gỡ ban đầu của Quốc, với nhiều cây bút khác, đang chập chững
vào nghề, để tận tình giúp nhau, sau này thành danh, đôi mắt xanh Quốc đã tìm
thấy gì ở cái cô Diệu Linh này? Bế Kiến Quốc nói chuyện với tác giả xong, đã
khuyên cô gái xinh tươi ấy nên bỏ cái tên cúng cơm đi và lấy bút hiệu là Di
Li.( Di Li là đầu của hai từ Diệu Linh).
Di Li, cái tên ấy cũng hay nhỉ! Từ đó Di Li là bút hiệu chính
thức của cô gái xinh đẹp kia. Và kì lạ thay Diệu Linh thì không kì diệu, chưa
linh, còn Di Li thì bắt đầu diệu kì lên hương.
Sự lên hương diệu kì được tính từ năm 2006. Khi ấy Tạp
chí Văn nghệ Quân đội có tổ chức cuộc thi truyện ngắn và cô góp vào vài
truyện. Thực ra, trước đó, Di Li đã viết từ rất sớm. Những truyện ngắn của cô
in ở Hoa Học Trò hay ở Người Hà Nội chả cơm cháo gì, nhưng
việc cô tham dự cuộc thi truyện ngắn hai năm 2005-2006, của Tạp chí Văn nghệ
quân đội với tác phẩm“Cocktail” và “Ma học trò” đã làm nên một dấu ấn của một đời
văn và góp thêm trên văn đàn một giọng văn lạ, hiện đại với chất ma mị của các
chi tiết truyện ngắn, nhất là trong tác phẩm “Cocktail”.
Như một sự bứt rào ngoạn mục, sau đó một thời gian ngắn, Di
Li trình làng cuốn “Trại Hoa Đỏ”. “Trại Hoa Đỏ” thuộc thể loại trinh thám kinh
dị. Thể loại có ở văn chương Việt Nam ta từ trước cách mạng, với những: Thám tử
Đoan Hùng, Lệ Hằng với chí phục thù, Người nhạn trắng, Long hình quái
khách, Tráng sĩ một chân v.v…bao nhiêu năm qua đi, biến mất trong dòng chảy
văn học, bấy nay dạt trôi như vô tăm tích, thậm chí có thời bị coi là thứ văn học
rẻ tiền, kèm theo cụm từ “tiểu thuyết ba xu” xuất phát từ những cuốn tiểu thuyết
được bán đồng giá ba xu. Ngày nay văn học thế giới đã thay đổi. Quan niệm này
cũng đã lỗi thời. Ý thức được điều ấy, Di Li, người đầu tiên thuộc thế hệ hiện
đại, đã làm sống dậy thể loại tiểu thuyết này với hương khí mới, tốc độ và văn
phong hiện đại gắn với đời sống hiện tại. Nó khác hẳn với lối viết cũ chậm chạp,
đôi khi sên sến của những cuốn tiểu thuyết trinh thám trước và sau năm 45, từng
in dài kỳ trên các tờ báo ăn khách.
“Trại Hoa Đỏ” chắc về cách dựng truyện, những chi tiết li kì
và số phận bi thương khiến cho cuốn sách lôi cuốn và hấp dẫn. Nó từng làm nôn
nao thế giới mạng và sau đó “Trại Hoa Đỏ” được vinh danh ngay Giải Ba, trong cuộc
thi tiểu thuyết 2007- 2010 do Bộ Công An phối hợp cùng Hội Nhà văn tổ chức. Thế
là lại có một Di Li của tiểu thuyết, ngoài cái thương hiệu truyện ngắn cô vừa tạo
nên ở Tạp chí VNQĐ.
Di Li là nhà văn chuyên nghiệp. Trong gần chục năm, cô ra hơn
20 đầu sách: truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký, hồi ký, sách chuyên
ngành, truyện dịch xuôi, dịch ngược… rồi gần đây nhất là đầu năm 2012 với cuốn
ký sự chân dung nhà văn: “Chuyện làng văn”.
“Chuyện làng văn” bao gồm nhiều khuôn mặt văn chương nổi
tiếng và chưa nổi tiếng mà Di Li dựng tạo. Là người có mặt ở cuốn sách đó nên
tôi không võ đoán nói nó hay. Song cũng như tiểu thuyết, tản văn, hồi kí hay
sách dịch có tên Di Li, “Chuyện làng văn” cũng là món ăn có thể nói đắt hàng
như tôm tươi. Riêng đối với văn học dịch, Di Li đã đóng góp cho văn đàn 6 cuốn
tiểu thuyết. Di Li sử dụng được bốn ngoại ngữ là Anh, Pháp, Đức, Italia, từng mở
cả lớp dạy tiếng Anh cho nhiều văn nghệ sĩ thành danh tới làm học trò.
Khả năng viết của Di Li rất nhanh nhậy. Có năm tôi đặt cho cô
viết một truyện ngắn 2000 từ cho báo Tết, nơi mà tôi giúp đỡ việc biên tập. Lập
tức cô gửi nó chỉ sau vài ngày. Và cái truyện ngắn viết về nhân vật chính là một
cô bé ảo thuật ấy hết sức nhân ái, cảm động, đã đứng trên báo Tết một cách
nghiêm túc. Những truyện ngắn được viết theo “đơn đặt hàng” như thế, Di Li có
không ít, nó tức thời không chỉ cung cấp cho văn đàn những nhu cầu truyện hay
hiện tại, mà còn chứng tỏ cô phịa rất nhanh và tài. Nói tài vì có người
viết chuyện thật mà như phịa, còn chuyện cô phịa, dựng lên, cả những câu chuyện
về chiến tranh mà cô chưa từng tham dự, cho dù không quá xuất sắc, có kích cỡ sức
vóc lớn, song nó được bạn đọc tin cậy và tin rằng câu chuyện có thật.
Trong tất cả các mảng văn học đã từng sáng tác, tạp bút, tản
văn của Di Li cũng linh hoạt và thú vị. Những bài báo cô viết trong những chuyến
du ngoạn vòng quanh thế giới, các chuyến khám phá phượt hàng năm khi
xuân về, bao giờ cũng không chỉ giúp độc giả nhận ra một vùng đất lạ, mà còn
làm người ta hiểu thêm về văn hóa, phong tục tập quán vùng miền, sự sinh động của
thế giới phẳng và nhất là đôi khi liên hệ một cách tế nhị tới chuyện trong nước,
những tồn đọng có tính phê phán về văn hóa và lối sống, để người yêu mảnh đất
sinh ra mình phải suy ngẫm, vui buồn.
Cuốn “Nhật kí mùa hạ” xuất bản năm 2011 cũng thể hiện cái tài
viết chuyện thiểu nhi cho cả người lớn và trẻ con đọc. Những câu chuyện tuổi
thơ không hề giấu diếm đã vẽ ra không chỉ một khuôn mặt nghịch ngợm, cá tính từ
thuở nhỏ, mà ở đó còn đầy đủ dư vị của những năm tháng không xa, với những hạnh
phúc, đau khổ trong con mắt trẻ thơ. Những câu chuyện mùa hạ trẻ
trung, văn phong trong sáng, khác hoàn toàn với giọng văn lạnh lùng của Di Li ở
tiểu thuyết, khác với giọng văn thông minh, sắc sảo ở những truyện ngắn.
Trên văn đàn Việt hiện đại, nếu nói về văn chương với văn hóa
vùng miền, có ba người đẹp rất sắc nét rõ ràng. Phía Bắc có nàng Đỗ Bích Thúy,
như Cô gái miền sơn cước Tây Bắc, mang tới cho bạn đọc nhiều điều thú
vị tỉ như âm thanh chưa nghe thấy bao giờ sau những hàng rào đá. Phía Nam có
nàng Nguyễn Ngọc Tư, cho thiên hạ biết cõi trời bao la trên những cánh đồng
vàng bất tận và những khuất ẩn rất vụn vặt, rất đời thường của con người. Còn ở
eo miền Trung – Huế với dải lụa buồn, có nàng Trần Thùy Mai, và người ta có thể
tìm ở đó, trong nhiều áng văn của nàng, những cung bậc khác nhau của người miền
Trung, có khi thăm thẳm buồn, kiểu kiều nữ mang sắc màu tím Huế. Người đẹp Di
Li sinh ra ở Hà Nội, song cô không thuộc vào miền đất nào cả. Ngay cả trong những
câu chuyện cô viết tuổi thơ ở phố Đại Cồ Việt, hay những cuốn sách li kỳ mạo hiểm,
cũng ít mang dấu tích phong rêu của một Hà Nội thực là Hà Nội. Di Li là một điển
hình của sự pha trộn văn chương ngôn ngữ Việt ở thời hội nhập, thời mà con gái
đi năm châu bốn biển với nhiều ngoại ngữ, để thêm một vế nào đó, hay đổi vế
trai ra gái, cho câu ca dao xưa: Làm trai cho đáng nên trai/ Phú Xuân đã
trải, Đồng Nai cũng từng… Ở đây, Di Li là một người của thế giới, chứ không phải
hạn hẹp trong biên cương Việt Nam.
Năm nay Di Li chả còn xuân xanh như khi cô tới gặp thi sĩ Bế
Kiến Quốc nữa. Cô đã là mẹ của một cháu gái. Gái có chồng. Hàng ngày cô tíu tít
tràn ngập với hàng núi việc, nào là dạy học, nào là họp báo ra mắt sách, nào là
một chương trình sự kiện do cô tổ chức. Cô thoắt ẩn, thoắt hiện khắp các nẻo miền
và mất hút ở một đất nước xa xăm nào đó. Song gặp cô ở Hà Nội, dù mùa hè tới 40
độ, vẫn thấy một nàng Di Li, không bao giờ mang khẩu trang và áo chống nóng, cô
phơi tay trần rám nắng, khuôn mặt tươi tắn mà nghiêm nghị, luôn nhìn thẳng mà vẫn
như có ma lực cho khối chàng trai ngoái theo tưởng lầm cô với một người mẫu thời
trang hay một diễn viên nào đó.
Kết thúc bài viết này, tôi muốn nhắc lại kỉ niệm gặp nữ văn
sĩ đẹp lần đầu tiên tại Nhà xuất bản Hội nhà văn. Năm đó, 2006, tôi in chung
trong tập truyện ngắn chọn lọc hai chương trong tiểu thuyết Quyên, trong đó có
“Cocktail” của Di Li. Biết tôi là tác giả của “Quyên” qua lời giới thiệu của
nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư. Cô gái xinh đẹp có khuôn mặt bấy giờ còn mộc kia
reo lên: Em rất thích truyện ngắn của anh. Tôi không nói gì, bởi nhiều khi người
ta chả đọc gì, cứ lấy lòng nhau mà nói vậy. Di Li thông minh, nhìn cái nheo mắt
của tôi, mới nhận xét về các chi tiết của truyện. Việc ấy là viên gạch đầu tiên
tôi tin Di Li. Rồi năm nào, cô với tôi đi ra phố sách Nguyễn Xí. Vài độc giả nhận
ra tôi, xin chữ kí. Di Li cười rất tự nhiên bảo, em ghen tị với anh đấy, em đã
in và bán tới 6, 7 đầu sách ở đây, cũng bán chạy, mà chả ai nhận ra em cả. Tôi
nhìn vào đôi mắt Di Li khi ấy. Ánh mắt vui thật, chứ không phải sự bực bội hay
lấy lòng. Với tôi, Di Li luôn là người bạn văn chân thành không khách sáo. Cuốn
nào cô đọc, cô nói là đọc và cuốn nào đọc cũng thường rất kĩ, để đưa ra những
nhận xét tinh tế và sâu sắc với những phát hiện về chi tiết và tác giả, không
thua kém gì các nhà phê bình kinh viện. Tôi rất cảm ơn bạn văn Di Li khi cô là
người đầu tiên trong cuộc hội thảo về tiểu thuyết Quyên đã phát hiện ra tư tưởng
ở hình tượng chủ định Vô Tăm Tích của tôi và phát biểu nó dưới ánh
sáng triết thuyết của nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow.
Tôi sống nhiều ở xứ người nên cũng chỉ thi thoảng mới có dịp
gặp Di Li, nhưng mỗi lần gặp lại, lại nhận thêm một điều gì đó lấp lánh ở văn
và đời của người bạn văn thật đẹp và chân thành này. Theo tôi Di Li là Người
đẹp viết đẹp trong lứa các nhà văn đang hết sức sung sức hôm nay. Công ty
sách Phương Đông cũng chuẩn bị ra mắt tập 18 truyện ngắn của Di Li được dịch
sang tiếng Anh với nhan đề “The Black Diamond” (Viên kim cương đen), là cuốn
sách văn học đầu tiên ở Việt Nam được phát hành bởi một công ty sách tư nhân.
Nhà văn Mỹ Charles Waugh sau khi đọc cuốn sách đã nói rằng “Di Li đã bắt mạch
được xã hội Việt Nam. Với một nhận thức sắc bén về những truyền thống xưa cũ,
các câu chuyện của cô đã phản ánh một cách tỉ mỉ những gì đang diễn ra ở một thế
giới hiện tại bằng phong cách viết điềm tĩnh, lạnh lùng, châm biếm và không kém
phần hồi hộp. Nếu bạn muốn biết những gì đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay, nếu
bạn muốn được cười, được khóc, được rùng mình vì sợ hãi, hoặc suy ngẫm sâu hơn
về thế giới đương đại, hãy đọc Di Li.”
Chú thích: Nhà văn Di Li sinh năm 1978 tại Hà Nội. Cô có
hai bằng cử nhân ngôn ngữ Anh và ngôn ngữ Đức, thạc sĩ Quản lý giáo dục. Hiện
là giảng viên bộ môn văn hóa Anh-Mỹ, trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch
Hà Nội, chuyên viên tư vấn quảng cáo & PR, giảng dạy bộ môn PR cho trường
ĐH Hòa Bình, viết văn, viết báo và dịch thuật. Cô đã có nhiều tâp truyện ngắn
bán chạy như “Tầng thứ nhất” (2007), Điệu Valse địa ngục (2007), 7 ngày
trên sa mạc (2009), Tháp Babel trên đỉnh thác Ánh trăng (2010), Đôi khi tình
yêu vẫn hay đi lạc đường (2010), Chiếc gương đồng (2010), tiểu thuyết “Trại
Hoa Đỏ” (2009) đã được tái bản 3 lần với số lượng hơn 1 vạn bản in; tập
bút ký về 29 thành phố trên thế giới “Đảo thiên đường” (2009); hồi ký “Nhật ký
mùa hạ” (2011); Tản văn “Cocktail thị thành” (2011) và mới đây nhất
là tập ký sự chân dung “Chuyện làng văn”(2012).
8/12/2019
Nguyễn Văn Thọ
Theo https://vanhocsaigon.com/
Ánh sáng và bóng tối trong Đêm trinh của Nguyễn Vỹ
Ánh sáng và bóng tối trong
Đêm trinh của Nguyễn Vỹ
Nhắc đến Nguyễn Vỹ, người ta biết ông như là nhà
thơ của những thể thức lạ qua các bài khá quen thuộc: Sương rơi, Hoàng
hôn, Tiếng chuông chùa, Mưa,… Nhưng nổi tiếng hơn lại là bài thất ngôn
dài Gửi Trương Tửu chắc chắn ở lại trong tàng thức thơ ca Việt Nam.
Tuy vậy ở đây tôi muốn nói đến một bài thơ khác, ít người biết: Đêm
trinh. Đó là điều ngạc nhiên. Đáng lẽ nó đã chiếu sáng. Nó tư tưởng về một bóng
tối uyên nguyên có thể mở ra ánh sáng. Bài thơ còn chìm khuất trong nỗi thờ ơ
hiện đại. Trong khi nó xuất hiện từ năm 1962 ở Sài Gòn trong tập thơ Hoang
vu của Nguyễn Vỹ. Dù khi đó, Hoang vu đã được nhà văn Thiết Mai,
trong Sáng dội miền Nam, nhìn thấy đó là thơ của ý tưởng:
“Về ý thơ, Nguyễn Vỹ đã có nhiều ý tưởng, nhiều câu văn
táo bạo (Hai người điên, Hai con chó, Trăng, Chó, Tù, Đêm trinh,…). Điều này
khiến thơ của ông thoát ra khỏi lối thường tình, cổ điển và cũng chứng tỏ ông
là con người có nội tâm cứng rắn, thành thật, dám biểu lộ tâm tư mình bằng những
hình ảnh thiết thực do lòng mình suy tưởng…”(1).
Vậy thì, những ý tưởng đã được nhà thơ “suy tưởng” như thế
nào? Suy tư và tưởng tượng ra sao? Suy cái ý tứ và tưởng tượng cái hình ảnh, ở
đây chỉ lấy bài Đêm trinh mà suy mà tưởng.
Nhưng như thế thì ai suy tưởng? Nhà thơ hay người đọc? Là người
đọc suy tưởng trên thơ? Hay chính là thơ suy tưởng trên người đọc. Cái đó thường
khi không phân biệt.
Và hiệu năng của thơ là đưa thơ và người đọc vào cõi vô sai
biệt, ở đó thơ như phát tiết từ cả hai phía: sáng tạo và tiếp nhận.
Ta như trôi thẳng vào điều đó ngay từ ba chữ mở đầu của Đêm
trinh:
“Đêm nay tôi…”
Đêm nay là đêm nào? Một thời gian phiếm chỉ vì thế có thể là
bất kỳ đêm nào của thời thế bóng tối.
Và tôi nào? Cái tôi của nhà thơ phải được hiểu là một cái tôi
phiếm chỉ. Vì nhà thơ không hát từ một cái tôi mà vô số cái tôi. Nhà thơ không
phải là tiếng nói của đám đông ở phía ánh sáng mà là tiếng nói của vô số cái
tôi ở phía bóng tối.
Nhưng để dễ đi vào bóng tối của Đêm trinh, ta hãy chia
bài thơ thành từng chặng đường. Không có mê lộ của hoang vu. Chỉ có chân trời của
hoang vu. Đêm trinh cũng thế, không có mê lộ mà chỉ có chân trời.
Đêm trinh:
Đêm nay tôi không muốn ngồi gục bên đỉnh trầm
Nghe
rượu cười trong ly,
Nhạc quay cuồng trong khói,
Thời gian đọng trên mi.
Tôi muốn về bên giếng tối,
Khu vườn âm u,
Quê hương hoang vu.
Không một dấu vết.
Chặng đầu của một cuộc hành trình là ý muốn trở về. Muốn về
vì không muốn những điều bê tha ở trước mặt, ở tiền-hành trình: rượu trong ly,
nhạc trong khói, những thứ đang cười cợt, quay cuồng. Cả thời gian cũng đảo
theo những mi mắt người say, cái thế giới mà Vũ Hoàng Chương từng tả (“Khúc nhạc
hồng êm ái, Điệu kèn biếc quay cuồng”).
Thế thì về đâu? Tại sao là giếng tối?
Quẻ Tỉnh trong Kinh Dịch tượng hình một cái giếng.
Đó là nguồn nước của quê hương, ở ngoài ta và trong ta. Giếng là cái không thể
di dời nơi nó là. “Bất cải tỉnh”: Không thể đổi dời giếng đi (Thoán từ của quẻ
Tỉnh).
Vậy thì về bên giếng tối là về với nguồn nước không thể đổi dời
dù nó đang ở trong bóng tối. Cũng có thể vì ở trong bóng tối, nó mới là nguồn.
Bởi bóng tối còn là huyền bí, cái huyền bí ở sâu bên trong ta hơn là vây bọc
bên ngoài ta.
Các hình ảnh “khu vườn âm u” hay “quê hương hoang vu” cũng
nương theo đó mà xuất hiện ở đây, âm u và hoang vu thuộc về cái nguyên sơ,
trinh thuần và huyền bí, chưa bị những đám đông xô bồ và xa lạ gây tổn hại. Vì
thế mà “không một dấu vết” trong bản chất của Đêm trinh.
Cuộc hành trình khởi từ “ngồi gục bên đỉnh trầm” đến “về bên
giếng tối”. Khởi đi từ thứ ánh sáng giả tạo của tiệc rượu và nhạc cuồng. Từ bỏ
ánh sáng giả tạo đó để về với bóng tối của đêm trinh.
Cũng trong khoảng thập niên 1960 nhà thơ Đức Enzensberger
cũng viết bài thơ về Cõi bóng tối (Schattenreich) có những suy tưởng
gần như gặp gỡ với Đêm trinh:
“ngay bây giờ đây tôi thấy một nơi,
một nơi tự do,
ở đây trong bóng tối.
bóng tối này
không thuận bán trinh.” (2)
Tự do chính là hoang vu. Quê hương hoang vu là nơi chốn của tự
do mà nhà thơ muốn tìm về. Nơi chốn đó không dành để đem bán (verkaufen) như là
bán trinh.
Như vậy, từ “Đêm nay” đến “dấu vết” là chặng đầu của cuộc
hành trình trở về bản nguyên, trở về tôi và đi vào trong tôi trong một hiện tại
vô tận, một cái tôi không phải là sự vật mà là một triển nở vô hạn.
Từ đó bắt đầu chặng hai của hành trình.
Đêm trinh
Tôi không muốn giẫm lên những mặt trời đã chết,
Không vương những nắng tơ đã kết
Vòng hoa trên cỗ áo quan tài.
Đã lạnh rồi, những mùa xuân chết yểu trong Thiên Thai!
Nhặt làm chi những phím hương đổ gãy,
Màu xám hoàng hôn,
Màu xanh rợn hoang hồn,
Hình bóng thời Homère quay cuồng trong nhạc lửa!
Thôi, vươn lên chi hình hài ẻo lả nữa!
Giai đoạn tiền-hành trình được quy kết với những thứ đã chết,
đối với nhà thơ. Để có thể dẫm lên chúng mà bước đi. Những thứ đó có thể một thời
được thôn thờ (mặt trời) được trân quý (nắng tơ) được quàng quanh cổ (hóa
ra là cỗ áo quan tài!). Tất cả đã chết, đã kết, đã đóng áo quan. Bây
giờ đã có thể quên đi những chiếc “áo” đó, những thứ chỉ gợi lên “cỗ áo quan
tài” phô trương trong ánh sáng bên ngoài (mặt trời, nắng tơ). Tất cả chỉ là “những
phím hương đổ gãy”. Có đốt hương mà thờ thì cũng đổ gãy thôi, nhặt gì?
Bởi vì những thần tượng đều chết yểu, những mùa xuân đều chết
yểu. Trong “Thiên Thai” của những ảo tưởng thế thôi, trong những hoàng hôn
không thể tránh. Chỉ còn lại màu xám của tro tàn.
Hoàng hôn hay hoang hồn?
Hoang hồn hay hoàng hôn?
Những âm sắc có thể đảo hoán, đẩy ngôn từ vào trận địa hoang
vu.
Màu xanh vừa là màu của sự sống, vừa là màu của cái chết.
“Những quỷ thần bất tử trong huyền thoại thường được biểu
hiện qua đầu và mình màu xanh, đặc biệt ở Ấn Độ”, theo Từ điển của biểu tượng,
huyền thoại và truyền kỳ của Didier Colin(3).
Đó là màu của những oan hồn.
Chính vì oan hồn, thần linh và ma quỷ rợn màu xanh ấy mà câu
thơ kế tiếp nhắc đến Homère, nhạc lửa và thời cổ sơ.
Để thấy những “hình hài” hiện đại chỉ là những thứ gì “ẻo lả”,
nhợt nhạt, chán chường!
Và quyết tâm vượt qua. Bước vào chặng ba.
Đêm trinh:
Tôi không muốn đêm nay cười nghiêng ngửa,
Tôi đạp tung cánh cửa
Ngạo ngễ của Thành Sầu.
Tên lính gác nhe răng cười, rùng rợn đôi mắt sâu.
Để tôi đi!
Để tôi đi!
Đến chặng thứ ba này, tiếng cười cũng thành giả tạo, nhại lại
tiếng cười của rượu trong ly ở khúc dạo đầu, trong “đêm nay”. Muốn “phá thành sầu”
trong Đường thi mà chẳng cần đến rượu. Chỉ đơn giản là “đạp tung cánh cửa” của
nó.
Hẳn là Nguyễn Vỹ nhại lại khúc Thơ say của Vũ Hoàng
Chương bằng giọng điệu giễu cợt và khinh bạc (Thơ say của họ Vũ ra đời từ
năm 1940), nhất là nhắm vào khúc cuối của bài Say đi em:
“Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa.
Say không còn biết chi đời.
Nhưng em ơi,
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ.
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!”
Cũng cái “Thành Sầu” viết hoa đó mà thái độ của hai nhà thơ
thật khác nhau: thái độ buông trôi (Say đi em) và thái độ đạp phá (Đêm trinh).
Hai giọng thơ khác nhau vì hai tính cách khác nhau, hai suy tưởng khác nhau.
Hình ảnh tên lính gác cửa của Thành Sầu được phác họa (khắc họa
thì đúng hơn) rất tinh: “nhe răng cười”, “rùng rợn đôi mắt sâu” gợi nhớ tên
lính gác cửa Pháp luật của Kafka. Hay Pháp luật là Thành Sầu?
Và nhà thơ phải tiếp tục chuyến đi của mình, vượt qua mọi
lính gác dù phải van vỉ hay hối lộ hay tìm được cách lừa phỉnh nó.
Đến chặng thứ tư.
Đêm trinh:
Trời không mây, không gió,
Tôi không áo, không chăn.
Tôi về quê hương không cửa, không ngõ,
Tôi về cô phương không lửa, không trăng.
Mịt mù thăm thẳm,
Mênh mông biên giới của Đêm trinh!
Tối đen một giếng thẳm,
Rực rỡ ánh quang minh.
Trạng thái trời trong và lặng gió là mở đầu cho sự từ bỏ vô
minh và dục vọng (không mây và không gió) vì mây che mờ và gió nổi si mê. Bắt đầu
“vạn lý vô vân”.
Trạng thái trần trụi (không áo, không chăn) là trở vè với
nguyên tính, với thuở ban đầu, với nguyên trinh.
Về quê hương trong trạng thái như vậy chứ không phải là một
cuộc vinh quy nào. Cho nên không có cảnh “Cửa trời rộng mở đường mây, Hoa chào
Ngõ Hạnh, hương bay dặm phần” (Kiều). Thế nên mới “không cửa, không ngõ”.
Đó cũng là cuộc trở về với cái cô đơn, quê hương thực sự của
nhà thơ, một phương trời gọi là “cô phương”, cái cô phương ấy mới là nguồn của
thơ, chứ không phải lửa và trăng.
Cái cô phương ấy chính là Đêm trinh của thơ ca. Nó
“mênh mông” và “mịt mù thăm thẳm”. Hơn nữa, nó còn tối đen như một hang động.
Vì nhà thơ sẵn sàng “làm hang động cho thiên hạ” (Vi thiên hạ cốc, Đạo Đức
kinh, Thiên 28).
Làm hang động, nhà thơ có trong mình một huyền bí, một bóng tối
vô biên: “Tối đen một giếng thẳm”.
Nhưng sao lại “Rực rỡ ánh quang minh”?
Để thấy được điều này thì hãy để nó tương chiếu thêm với bài
thơ Cõi bóng tối của nhà thơ Đức Enzensberger mà ta đã nhắc tới từ đầu,
đến đây ta sẽ đọc tiếp bài thơ ấy:
“những ai muốn nhìn thấy ánh sáng
như là như
phải biết lui mình
vào trong bóng tối.
bóng tối
quang minh hơn mặt trời:
bóng tối mát tươi của tự do”. (4)
Về với Đêm trinh rồi, tôi thấy mình được giải
thoát. Chặng cuối cùng là Hoang Vu, một cõi Đại Hoang mà tôi tung tăng dạo bước,
càn khôn độc bộ.
Nơi đó dường như tôi không còn gì.
Bởi vì tôi có cả Càn Khôn.
Đêm trinh
Tôi với tôi,
Không hình, không bóng.
Tôi với tôi,
Không thơ, không mộng.
Tôi với tôi,
Lồng lộng giữa Hoang Vu!…
Dù hình ảnh cái tôi dường như choán đầy cõi Hoang Vu nhưng
nên hiểu ngược lại. Chính là cái Hoang Vu đang choán đầy tôi, Đêm trinh đang
choán đầy tôi.
Vậy mà cái Hoang Vu ấy, Đêm trinh ấy vẫn còn rộng
chỗ cho bất kỳ ai, cho bất kỳ cái tôi nào muốn trở về.
Cuối bài Cõi bóng tối, nhà thơ Đức Enzensberger gợi ý:
“trong bóng tối ấy
đến bây giờ vẫn còn chỗ trống đấy thôi.”
(im schatten
ist immer noch platz)
Đêm trinh của Nguyễn Vỹ là một bài thơ lớn. Đọc để rung
động và suy tưởng. Bởi hình tượng độc đáo đậm tính kinh điển cổ xưa lẫn tính
tân hình thức mới lạ. Nó xứng đáng có mặt trong mọi thi tuyển cao cấp. Được chiếu
sáng, nó sẽ chiếu sáng bội phần.
Chú thích:
(1) Dẫn theo Nuiansongtra.net. Nguyễn Vỹ, 21 tháng
2 năm 2009.
(2) Dẫn theo tập sách song ngữ Đức Anh German
Poetry 1910-1975, Urizen Books, trang 430. Nguyên văn tiếng Đức như sau:
“hier
sehe ich noch einen platz,
einen freien platz,
hier im schatten.
dieser schatten
ist nicht zu verkaufen.”
(3) Dictionary of Symbols, Myths and Legends,
Didier Colin, Hachette, London, 2000, trang 63: “immortal mythical gods and
demons are frequently represented with a blue head and body, especially in
India.”
9/12/2019
Nhật Chiêu
Theo https://vanhocsaigon.com/
Cơn mưa xanh của Phạm Quang Tiễn
Cơn mưa xanh của Phạm Quang Tiễn
Các cụ ngày xưa dạy rằng: Trên đời này không có gì là
tình cờ cả. Mọi thứ đều đều được sắp đặt và đều từ nhân duyên mà ra. Không có
duyên thì không gặp được. Tôi biết Phạm Quang Tiễn từ cái duyên ấy, nếu có thể
ví được như thế. Số là cách đây hơn một năm, Hội đồng Thơ – Hội Nhà văn TP.HCM
có chuyển cho tôi hơn 30 tập thơ của các tác giả trẻ nhờ đọc. Phạm Quang Tiễn
là một trong các tác giả đó. Tôi biết Phạm Quang Tiễn từ cơ duyên như vậy.
Gần một năm sau tôi mới được gặp Phạm Quang Tiễn tại “Sân
thơ trẻ” trong Ngày Thơ Việt Nam Xuân Tân Mão tổ chức ở Bến Nhà Rồng. Qua
chuyện trò tôi mới biết Phạm Quang Tiễn là người làm xây dựng nhưng tính ông lại
nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ, chỉn chu như một nhà giáo. Ông đến với thơ đơn giản chỉ là
yêu nó. Âu cũng là duyên trời vậy.
Phạm Quang Tiễn trao cho tôi tập thơ “Cơn mưa xanh” và
nhờ tôi đọc “Xem có in được không?”– ông nói. Phạm Quang Tiễn là vậy. Sẽ
sàng, khiêm nhường hơn cả mức cần thiết. Là người đã từng cho ra đời hai tập
thơ: “Trở lại dòng xưa” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2006
và “Tơ xanh Tơ vàng” in năm 2010 nên tập thơ thứ ba này hẳn phải rất
thú vị. Và tôi đã không lầm:
Ngày tôi trở lại dòng xưa
Ngày em lỡ chuyến đò trưa một mình
Sông quê mải miết vô tình
Phù sa lắng đọng dần thành nỗi đau
Nửa đời trôi chảy với nhau
Mượn câu thơ chở bể dâu kiếp người…
(Trở
lại dòng xưa 2)
Thơ của Phạm Quang Tiễn hồn hậu, chân thành như chính con người
ông. Điểm nhấn trong thơ ông cũng giống như điểm nhấn trong công trình xây dựng,
tạo ra ấn tượng làm cho người ta phải nhớ:
Nhưng em vẫn trong anh
Hệt như ngày xưa ấy
Cái đuôi tóc vùng vẫy
Bơi trên vai ngày nào
Cái dáng đi thanh mảnh
Làm bao người nôn nao.
(Gửi bạn Hà Nội)
Sinh ra và lớn lớn ở vùng Duyên Hải Bắc Bộ nên chính dòng
sông quê tươi mát đã tưới xanh tâm hồn Phạm Quang Tiễn. Thơ ông không ào ạt, mạnh
mẽ như những lớp sóng mà sẽ sàng, rỉ rả giống như mưa xuân. Nó thấm vào lòng
người một cách tự nhiên bởi sự sâu lắng đến giản dị:
Trời xanh không có thực
Biển cũng có xanh đâu
Tạo hóa làm phông ảo
Cho người diễn với nhau!
(Dự cảm)
Tác giả “Cơn mưa xanh” đã phản ảnh một cách chân thực
sự xúc cảm đa chiều trong tâm hồn mình. Đọc thơ ông, người ta dễ dàng nhận ra
trong cái đẹp có cái đau và trong cái đau có cái đẹp. Chính sự tương phản này
làm cho thơ ông rất “riêng” khó có thể bị quên lãng:
Mỗi tháng đủ ba mươi ngày
Vẫn viết nhật ký vẫn bày trò vui
Thơ tình vẫn cứ “Em ơi!”
Viết xong lòng mới bồi hồi: Gửi ai?
(Trường Sa một thoáng)
Hoặc:
Tan
ca em ghé chợ
Tất tưởi mua mớ rau
Con cá chiều mắt đục
Con tôm chiều long đầu
Cuối tháng ví xẹp lép
Toàn những đồng tiền nhàu
Lượn qua rồi vòng lại
Trăng cài xanh mái đầu!
(Chợ chiều)
Nghề xây dựng đã đưa ông đến nhiều vùng đất. Những xúc cảm
cũng trải dài trên con đường của ông. Người đọc có thể chia sẻ với ông những
xúc cảm đó – Những xúc cảm tưởng là rời rạc nhưng lại phản ánh một cách thống
nhất cái nhìn thời cuộc và không mất đi chất thơ trong tâm hồn ông:
Đêm
nghe tiếng máy ủi
Gạt trăng vàng xuống thung
Có một người không ngủ
Nhìn lên trời…rưng rưng.
(Xưa rồi)
Đọc thơ Phạm Quang Tiễn người ta có thể nhận thấy tình yêu
chân thành nhất quán mà ông dành cho người ông yêu. “Em” là một người
cụ thể nào đó mà ông yêu thương, gửi gắm. Nhưng “Em” cũng có thể chỉ
là một ước vọng, một khát khao, một vẻ đẹp thuần khiết mang tính biểu tượng mà
ông suốt đời ngưỡng vọng, tìm kiếm:
Em
mãi là tứ thơ thứ nhất
Bài thơ tôi chưa viết bao giờ
Em mãi là bông hoa thứ nhất
Mà tôi chưa hái được trong mơ
Tôi sinh ra đã là người hành khất
Suốt đời gõ cửa trái tim em
Cả khi ngủ lòng còn thổn thức
Trong giấc mơ vẫn rạo rực đi tìm.
(Em và tôi)
Tôi không muốn huyên thuyên, dài dòng về thơ Phạm Quang Tiễn
bởi không thể nói hết được những điều mà ông muốn gửi gắm, muốn chia sẻ với người
đọc. Người xưa từng nói: “Ý hết, lời dứt đã là hay. Nhưng lời dứt mà ý
chưa hết mới hay hơn.” Xin nhường lại cho bạn đọc thẩm định lời dạy ấy
trong thơ của Phạm Quang Tiễn.
Nhà thơ Phạm Quang Tiễn sinh năm 1958 ở xã Hải Thanh, huyện Hải
Hậu, tỉnh Nam Định. Hiện đang công tác tại Công ty TNHH Xây dựng Phạm Quang ở
89 – 91 Nguyễn Du, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.
Tác phẩm đã xuất bản:
– Trở lại dòng xưa – thơ, NXB Hội Nhà văn 2006
– Tơ xanh tơ vàng – thơ, NXB Thanh Niên 2010
– Cơn mưa xanh – thơ, NXB Hội Nhà văn 2011
– Đất Tổ – thơ, NXB Hội Nhà văn 2016
Quan niệm văn học:
“Sinh ra và lớn lên trong cái nôi đồng bằng Bắc Bộ. Thơ
Phạm Quang Tiễn không ào ạt, mạnh mẽ như những lớp sóng mà sẽ sàng, rỉ rả giống
như mưa xuân. Nó thấm vào lòng người một cách tự nhiên bởi sự sâu lắng đến giản
dị…”.
9/12/2019
Văn Lê
Nguồn: Lời tựa tập thơ Cơn mưa xanh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Nguyễn Minh Châu với việc góp phần khai mở hệ hình tư duy lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới
Nguyễn Minh Châu với việc góp phần
khai mở hệ hình tư duy lý
luận phê bình
văn học thời kỳ đổi mới
1. Không phải ngẫu nhiên trong Sổ tay viết văn của
mình, Nguyễn Minh Châu đã xác quyết: “Không có một thứ nghề nào mà kết quả công
việc lại có thể cắt nghĩa rõ rệt chân giá trị của người làm ra nó như nghề viết
văn” [1]. Bởi, chính quá trình nghiệm sinh trong
hành trành trình sống và viết, với tư cách người cầm bút luôn ý thức về trách
nhiệm trước cuộc đời, Nguyễn Minh Châu đã nhận ra rằng: “Người đọc khi lần giở
những trang sách chẳng khác nào đang giở từng trang lý lịch tư tưởng của người
viết. Và khi xếp những cuốn sách lại người ta có thể hiểu kỹ lưỡng như từng ăn ở
với chúng ta, nhìn thấu vào tận trí não và lương tâm chúng ta. Lúc đó là người
đọc có thể đánh giá chúng ta, liệt từng người trong chúng ta vào hạng người như
thế nào trong xã hội, và cũng căn cứ vào đó người đọc định đoạt một thái độ đối
với tên một nhà văn”[2]\.
Như vậy, trong tư duy sáng tạo và quan niệm của mình về nghề
văn, Nguyễn Minh Châu đã ý thức sâu sắc không chỉ về sứ mệnh của nhà văn mà còn
ý thức về “lịch sử tư tưởng của nhà văn”, chứ không phải “lý lịch chính trị”
như người ta vốn quan niệm. Với Nguyễn Minh Châu sự tồn sinh của một nhà văn
chính là sự vận động và phát triển trong tư tưởng nhà văn về phương diện mỹ học,
triết học, và văn hóa được thể hiện trong tác phẩm chứ không phải là những
trang văn “minh họa” một cách tầm thường, dễ dãi, vô cảm. Bởi, ông đã tự ý thức
rằng: “Bao giờ cũng thế, bao giờ người đọc cũng khao khát muốn tìm thấy trên
trang sách nhà văn một sự rung động sâu sắc, một sự quan tâm thực sự đối với cuộc
đời của họ, một niềm tin yêu, một tiếng nói chung”.[3] Và “xét cho cùng cái phần chủ yếu của
một người viết văn vẫn là tiếng nói của anh trước những vấn đề mà đông đảo mọi
người đang quan tâm tới”.[4] Với những trăn trở và dằn vặt đầy
tính tự thức như thế, có thể nói, Nguyễn Minh Châu là một trong không nhiều nhà
văn cách mạng có sự phản tỉnh mạnh mẽ về vai trò của nhà văn và của nền văn học,
trước yêu cầu bức thiết của cuộc sống. Và đây là những tiên đề lý luận và thực
tiễn để Nguyễn Minh Châu thay đổi hệ hình tư duy lý luận, phê bình của mình, từ
đó, trở thành một trong những nhà văn góp phần quan trọng, nếu không muốn nói
là quyết định trong việc khai mở cho hệ hình tư duy lý luận phê bình trong tiến
trình văn học thời kỳ đổi mới.
2. Nguyễn Minh Châu với sự chuyển đổi hệ hình tư duy lý luận
phê bình
2.1. Sự đổi mới tư duy trong cái nhìn về chiến tranh và thân
phận con người
Là một nhà văn đã dự phần vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước của dân tộc trong tư cách là một người lính chiến đấu ở chiến trường, hơn
ai hết, Nguyễn Minh Châu không chỉ cảm nhận được những hành động anh hùng của
người lính trong cuộc chiến đấu giành độc lập tự do cho tổ quốc mà ông thể hiện
vô cùng sống động trong hai tác phẩm giàu chất sử thi Dấu Chân người
lính (1972) và Mảnh trăng cuối rừng (1975) mà ông còn thấy được
sự khốc liệt khủng khiếp của chiến tranh đã đem đến khổ đau cho bao phận số con
người mà cuộc đời của họ là những mảng màu bi kịch với những bất hạnh không giống
nhau được ông minh chứng qua những tác phẩm viết sau chiến tranh như: Miền
cháy (1977); Bức Tranh (1982); Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành (1983)… Và, hiện thực trong những tác phẩm viết sau chiến tranh của
Nguyễn Minh Châu là một xác chứng cho sự đổi mới cách nhìn, cách nghĩ của ông đối
với cuộc kháng chiến mà khi luận bàn về đề tài chiến tranh ông đã chia sẻ: “Cần
tránh một điều: đừng bao giờ biến cuộc sống kháng chiến thành một cảnh “non bộ”
xinh xẻo, tĩnh mịch”[5]. Bởi, với sự trải nghiệm của người trong
cuộc, Nguyễn Minh Châu đã nhận ra tính chất “thi vị hóa” khi phản ánh về cuộc
chiến trong các tác phẩm viết về chiến tranh mà theo ông: “Hình như cuộc chiến
đấu anh hùng sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca đôi khi tráng lên một
lớp men “trữ tình” hơi dày, cho nên ngắm nó thấy mỏng mảnh, bé bỏng và óng chuốt
quá khiến người ta phải ngờ vực”.[6] Và muốn tránh được sự ngờ vực nơi
người đọc, khi viết về chiến tranh, nhà văn cần viết trung thực về những được,
mất trong cuộc chiến, không nên viết theo một công thức định sẵn “ta thắng, địch
thua”, “ta tốt, địch xấu” của lối tư duy tuyên truyền hết sức ấu trĩ, không thấy
được sự phức tạp của qui luật chiến tranh mà ở đó, không có cái gì là không thể
xảy ra. Đây cũng là điều Nguyễn Minh Châu đã nhận thấy khi nhìn lại những tác
phẩm văn học viết về chiến tranh: “Các nhân vật thường khi có khuynh hướng được
mô tả một chiều, thường là quá tốt, chưa thực. Hình như tất cả những mặt tính
cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực thì lại có thể tạm thời giấu
mình trên trang sách. Vì ý thức cổ động kháng chiến một phần, một phần khác có
phải do quan niệm sơ lược về nhân vật anh hùng?”.[7] Và, để thức nhận mọi người thấy được
bệnh công thức không chỉ ở người viết mà cả trong cảm quan của người đọc khi tiếp
nhận những tác phẩm văn học viết về chiến tranh cách mạng, Nguyễn Minh Châu đã
lý giải thấu lý đạt tình khi ông cho rằng: “Không có gì đáng lên án cái khuynh
hướng văn chương ấy trong hoàn cảnh một đất nước phải huy động toàn dân, toàn
diện kháng chiến. Nhưng trước nhiệm vụ xây dựng một nền văn học làm sao có những
tác phẩm xứng đáng với dân tộc và đất nước, chúng ta phải dám nhìn thẳng vào những
quan niệm, những khuynh hướng văn học đẻ ra từ một đất nước hàng chục năm phải
nỗ lực lấy thắng lợi chính trị và quân sự làm gốc, Những quan niệm, những
khuynh hướng ấy có khi nằm trong các sáng tác đã ra đời, có khi vẫn còn nằm
trong thị hiếu muôn màu muôn vẻ của các giới người đọc đông đảo”.[8]
Có thể nói, những luận giải trên của Nguyễn Minh Châu khi bàn
đến thực trạng văn học viết về chiến tranh là hết sức tỉnh táo, khách quan,
công bằng, vừa gắn với thực tiễn cuộc sống, chiến đấu của dân tộc trong một thời
kỳ mà mọi vấn đề đều được nhìn nhận theo hướng “lý tưởng hóa”, lại vừa gắn với
những yêu cầu của hiện tại, cần có một phương thức phản ánh mới về cuộc sống
trong chiến tranh, làm thế nào tiệm cận với sự thực diễn ra trong kháng chiến,
để người đọc không quay lưng lại với văn học cách mạng. Bởi, trong suy ngẫm của
Nguyễn Minh Châu: “Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiện
thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện
thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước. Có lẽ nhân loại ít có dân tộc nào lúc
nào cũng canh cánh ước mơ như chúng ta”.[9] Và từ những suy niệm đầy sự chiêm
nghiệm của một nhà văn đã đi qua cuộc chiến, Nguyễn Minh Châu đã khai mở một
cách nhìn mới, một cách nghĩ mới khi viết về chiến tranh và thân phận con người
mà theo ông: “Những người cầm bút của chúng ta vô cùng cảm thông với dân tộc
mình nhưng chẳng lẽ chúng ta có thể làm yên tâm mọi người bằng cách mô tả cái
hiện thực ước mơ? Những điều trên chỉ cho thấy: trên con đường đi đến chủ nghĩa
hiện thực đôi khi chúng ta phải khai chiến cả với những quan niệm tốt đẹp và
lâu dài của chính mình”.[10] Và chúng ta phải làm thế nào để “tạo
điều kiện ra đời những cuốn sách về chiến tranh có giá trị lột tả được những vấn
đề bản chất nhất của đời sống dân tộc ta, rọi cho con đường đi của dân tộc và từng
con người trong tương lai”.[11] Vì vậy, khi viết về chiến tranh,
theo Nguyễn Minh Châu, nhà văn không chỉ quan tâm đến: “Những xu hướng chính trị”
mà còn phải quan tâm đến: “những biểu hiện tâm lý và diễn biến tính cách của
các tầng lớp người trong xã hội, lúc hòa bình yên ổn và khi cơn bão lốc của
cách mạng và chiến tranh ào ào đổ xuống như thế nào? Có những qui luật nào và
những yếu tố nào đã chi phối con người ta lúc khởi phát chiến tranh, lúc chiến
tranh xen kẻ hòa bình, và khi chiến tranh kết thúc? Trong chiến thắng khải
hoàn, những điều gì đã xảy đến trong tâm lý, tính cách của người chiến thắng”.[12] Để thực hiện yêu cầu bức thiết này
trong việc đổi mới cách viết về đề tài chiến tranh, Nguyễn Minh Châu không chỉ
lập ngôn đơn thuần mà bằng chính sáng tác của mình như: Bến quê (1985); Mảnh
đất tình yêu (1987); Khách ở quê ra, Phiên cợ Giát (1988); Cỏ
Lau (1989)… ông đã minh chứng và hiện thực hóa quan niệm ấy hết sức thuyết
phục. Rõ ràng, qua những sáng tác và những diễn ngôn thể hiện quan điểm của
mình trong đề tài viết về chiến tranh, Nguyễn Minh Châu đã khai mở cho nền văn
học nước nhà một cách nhìn mới, một cách viết mới về cuộc kháng chiến của dân tộc.
Đó là một cách nhìn chiến tranh qua thân phận con người, không phải qua những
trận đánh với những số liệu khô khan, những cảm hứng sử thi mang âm hưởng chiến
thắng một cách lạc quan đến ngờ nghệch. Trong suy niệm của ông: “Viết về chiến
tranh…Mấy tiếng ấy không chỉ đơn thuần là chuyện một đề tài văn chương, mà còn
có gì đây? Có máu thịt của mình. Kẻ còn sống và người đã chết. Có kỷ niệm: đồng
đội, đồng chí của mình. Có cuộc đời mình và cuộc đời dân tộc”.[13] Bởi, với ý thức của một nhà văn chiến
sĩ, Nguyễn Minh Châu hiểu rằng: “Trong bão tố của cách mạng và chiến tranh, con
người phải phơi bày cái bản chất của mình ra nhanh chóng hơn lúc bình thường.
Trong cách mạng và chiến tranh không có sự ve vuốt để yên tâm, thói lịch sự để
che đậy, mọi con người đều là chính mình nhất”.[14]
Quả thật, cái nhìn của Nguyễn Minh Châu về đề tài chiến tranh
qua phận số con người là một cái nhìn nhân bản, mang tính phổ quát của nhân loại.
Bởi, trên cõi nhân gian này, không có dân tộc nào lại muốn sống trong cảnh tang
thương của chiến tranh, ngược lại, khát vọng về cuộc sống hòa bình luôn là điều
mà nhân loại hướng đến. Vì vậy, có thể nói, cách nhìn, cách nghĩ của Nguyễn
Minh Châu khi ông luận giải về chiến tranh qua phận số con người thể hiện ở các
diễn ngôn trong sáng tác và lý luận phê bình là có tính dự báo và khai mở rất lớn
đối với bầu khí quyển văn học lúc bấy giờ. Bởi, những vấn đề ông đặt ra đều ở
thập niên bảy mươi, của thế kỷ trước, khi đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến
tranh và phần lớn mọi người còn đang ngủ yên trong men say chiến thắng. Thế mà
ông đã “giật mình”, thức tỉnh để nhận ra những gì sẽ đến với phận số con người
thời hậu chiến nên có thể xem những quan điểm này là tiên đề quan trọng khai mở
cho chính ông và cho nền lý luận phê bình văn học của nước nhà trong thời kỳ đổi
mới.
2.2.Sự trung thực của nhà văn và việc “đoạn tuyệt” với nền
văn học minh họa
Không phải nhà văn nào khi cầm bút cũng trăn trở về vai trò,
trách nhiệm của mình trước vận mệnh đất nước và nhân dân, cũng như phận số con
người. Nguyễn Minh Châu thì khác, với ý thức dấn thân của một nhà văn luôn tâm
nguyện hướng đến một xã hội tốt đẹp, nên ông luôn trăn trở về trách nhiệm nhà
văn trước cuộc đời. Theo ông: “Người viết văn là người rất nặng nợ với đời. Cuộc
đời của anh ta là cuộc đời không bao giờ được phép ngừng lăn lộn trong cuộc sống
thực tế, không bao giờ ngừng quan sát và nghiên cứu xã hội và trong khi chăm
chú đọc cái “cuốn sách khổng lồ” đó, anh ta phải đặt hết tất cả tâm hồn và trí
tuệ của mình vào, phải tỏ rõ chính kiến và lập trường của mình trước mỗi một sự
việc, mỗi một hoàn cảnh, mỗi một con người”.[15] Ý thức được sứ mệnh của nhà văn trước
cuộc sống, nên khi nhìn lại những tháng năm cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã tự thú
một cách thành thực mà không phải ai cũng đủ dũng khí và đủ sự trung thực
để nói lên sự “thành thực” ấy, khi ông cho rằng: “là một người sáng tác, chắc
tôi cũng giống như nhiều anh em sáng tác khác, có thói quen vừa viết vừa quan
sát nhìn theo cái ngòi bút của mình có lúc đầy hào sảng có lúc lại đầy đắn đo,
hồi hộp lẫn e ngại chạy trên mặt tờ giấy định mệnh. Chao ôi để bụng không nói
ra thì thôi chứ nói ra cái chuyện này nó vui lắm, mà nó cũng buồn lắm, có đôi
khi buồn đến thối ruột! Thú thật chừng ba bốn năm trở lại đây tôi cứ hay nổi
lên những cơn ngán giấy bút, hay so sánh mình với những anh em bạn bè cầm bút một
cách suôn sẻ bình thản, được trời đất ban cho một cái tạng nhà văn luôn luôn sẵn
sàng thích nghi với mọi thứ lý luận và luật lệ văn học, họ thật sướng, viết ra
trang giấy mà trong bụng chẳng có điều gì phải sợ sệt, lo lắng như một người
bao giờ cũng sống đỉnh đạc, cứ thẳng đường chính rộng lớn mà đi, còn mình thì y
như một kẻ gian phi lúc nào cũng như đang lén lút thu dấu cái gì quốc cấm trong
cạp quần hay dưới áo. Nghĩ mà buồn quá, nghề giấy bút nó chẳng nuôi gì được
mình mà chỉ thấy nó hành mình”.[16] Rồi ông lại so sánh những nhà văn
thế hệ mình với thế hệ các nhà văn trước cách mạng Tháng tám mà cụ thể là nhà
văn Nam Cao, người đã từng “than thở” là mình bị o ép “tưởng như không viết được
gì thế mà cả một đời cầm bút của Nam Cao trước cách mạng số năm có là bao nhiêu
đâu vậy mà đủ để lại khá nhiều, nhất là có thể có cái quyền viết rất thực, bao
nhiêu lẽ đời, sự đời, bao nhiêu khuôn mặt người đời thực tiễn đến thế. Chí phèo
thực đến thế. Thực là vừa được viết vừa được nói. (…) Chứ như đám chúng tôi từ nhà
văn trẻ đến lớp nhà văn già (…) hễ cầm bút là phải nghĩ đến né tránh, che chắn,
rào đón, đối phó. Có vẻ tuồng như mỗi nhà văn mỗi khi ngồi trước trang giấy
là cùng một lúc phải cầm hai cây bút: Một cây để viết cho người đọc bình thường,
cho đời, một cây bút khác viết cho đạo, lo việc che chắn, viết cho lãnh đạo văn
nghệ đọc. Mà cái ngọn bút thứ hai này buồn thay các nhà văn cầm lâu ngày để tự
bảo vệ mình cho nên cũng lắm kinh nghiệm, mà cũng tài hoa lắm”.[17] Ý thức được điều bi kịch này, khi
nhà văn luôn phải đeo mặt nạ trong hành trình sáng tạo mà theo Nguyễn Minh Châu
điều ấy không chỉ có ở nhà văn tầm tầm mà còn có ở những nhà văn tài năng, vốn
là “tinh hoa” của nền văn học dân tộc. Vậy mà khi cầm bút cũng hạ thấp phẩm chất
nhà văn, cũng “xoay trở, vặn vẹo cây bút, phải làm động tác giả” để được “yên ổn”
mà “tồn tại” nên lâu dần phải viết theo kiểu “văn chương minh họa”, “ca ngợi một
chiều” tạo nên một thứ văn chương công thức, sơ lược, nhạt, giả, “Không thể nào
bào chữa nổi, đắp đậy nỗi, so với cuộc đời thật bên ngoài”.[18] Xuất phát từ thực trạng đáng buồn
này nên, Nguyễn Minh Châu đã yêu cầu “hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn
nghệ minh họa”.[19]
Chúng ta cần bình tỉnh để thấy vấn đề Nguyễn Minh Châu đặt ra
ở đây, chỉ là “đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” chứ ông
không bao giờ cho rằng toàn bộ nền văn học cách mạng và kháng chiến là văn học
minh họa, và không bao giờ phủ nhận giá trị của văn học cách mạng trong việc
góp phần vào cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc mà chính ông đã dự
phần với tư cách là một nhà văn chiến sĩ như ông đã xác quyết: “Tôi không hề
nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng – nền văn học ngày nay có được
là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn – không có những
cái hay, không để lại những tác phẩm chân thực”.[20] Song điều ông muốn, là cần có một
cái nhìn trung thực, khách quan về giá trị đích thực của nền văn học mà theo
Nguyễn Minh Châu: “Cũng phải nói thật với nhau rằng, mấy chục năm qua, tự do
sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, với những cây bút chỉ quen với cài
hoa kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn, cho những chữ nghĩa những
văn bản vốn đã có sẵn mà chúng ta qui cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống
đa dạng và rộng lớn (…) Từ đấy rồi trở thành thói quen. Thói quen của một người
vốn quen đi trong một hành lang hẹp, vừa hẹp, vừa thấp (…) với một khả
năng thích nghi hết sức ghê ghớm, các nhà văn đã thích nghi với văn học minh họa
như thích nghi với lối sống gian khổ, thiếu thốn trong chiến tranh”.[21] Để thấy được sự tác hại của “văn học
minh họa” đối với sự phát triển của nền văn học nước nhà, Nguyễn Minh Châu đã
chỉ rõ những giới hạn của nó mà theo ông: “Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ
minh họa của ta là từ đấy những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn
học đánh mất tính tư tưởng – nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính
khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn”.[22] Vì thế, muốn tránh được giới hạn của
kiểu văn chương minh họa, theo Nguyễn Minh Châu “Chúng ta phải nhìn lại kỹ càng
cái hình trình văn học đã đi qua bằng con mắt thông minh, không phiến diện và
thực sự cầu thị, để một mặt không phủ định tất cả, một mặt khác, với một tinh
thần tự phê phán, thấy cho được rằng có thể đôi khi với động cơ tốt chúng ta đã
trói buộc lẫn nhau trong một thời gian hơi quá dài của mấy lớp người cầm bút,
trong khi đó lại đòi hỏi phải có những tác phẩm lớn. Thật là mâu thuẩn. Chả
khác nào trói lại rồi bảo đố mầy bay lên.”[23] Rồi cùng với những suy nghĩ hết sức
thành thực và khát vọng hướng đến một nền văn học tiệm cận với chân lý nghệ thuật
và chân lý đời sống, ông đã chia sẻ, mặc dù vẫn còn đầy lo ngại: “Muốn có tác
phẩm lớn, nhưng liệu chúng ta có chấp nhận nỗi những tính cách ngòi bút của một
nghệ sĩ lớn với tầm tư tưởng lớn mà tôi nghĩ bao giờ nó cũng quá chói sáng, với
những điều nói thật không phải bao giờ cũng dễ nghe, thậm chí có thể làm đảo lộn
mọi quan niệm, với những nỗi dằn vặt, băn khoăn lớn chung quanh cái bề mặt nhãn
tiền và tận chín tầng đất sâu của cuộc sống con người trên dải đất này”.[24] Và nghệ sĩ lớn trong cái nhìn của
Nguyễn Minh Châu là những tài năng mà “tài năng, nhất là thiên tài bao giờ cũng
như là của bắt được, của trời cho, ai mà biết được bao giờ thì họ đến” Vì vậy,
“Nhiệm vụ của chúng ta là chuẩn bị bầu không khí cho họ thở, cho họ sống, đừng
giết chết họ, đừng ghen tị với họ, đừng làm cho họ sống dở chết dở mà vẫn phải
nở nụ cười, đừng làm cho họ thui chột trí tuệ lẫn tình cảm, đừng khiến họ cuối
cùng trở thành chúng ta”.[25] Theo Nguyễn Minh Châu, đây là giải
pháp khả dĩ để tạo ra những nhà văn tài năng, sống và viết trung thực đóng góp
cho văn học nước nhà cũng như văn học nhân loại bằng chính sự độc đáo trong cá
tính sáng tạo của mình. Và để làm được điều này, theo Nguyễn Minh Châu, nhiệm vụ
của Hội Nhà văn đối với thế hệ những người viết văn trẻ “không phải là chuẩn bị
cho lò ấp hàng trăm, hàng ngàn quả trứng vịt mà là chuẩn bị cho những tư cách
nghệ sĩ và tài năng lớn ra đời”.[26] để làm thế nào cho nền văn học Việt
Nam có những nhà văn đóng góp xứng đáng vào nền văn học thế giới với tư cách là
những nghệ sĩ tài năng vì “chẳng lẽ các nhà văn Việt Nam đi ra ngoài mãi mãi chỉ
có một cái tên riêng là nhà văn Việt Nam. Để rồi quay trở về con hát mẹ khen
hay? Và đàn con cứ mãi mãi suốt đời tự hào vì được người mẹ ở trong nhà khen ngợi!”[27]
Thật vậy, một nền văn học hiện hữu trong tâm thức người đọc của
một dân tộc và của nhân loại bao giờ cũng hiện hữu bằng tác phẩm của từng nhà
văn. Người đọc nhớ đến một nền văn học là nhớ đến những văn nhân cụ thể cùng với
tác phẩm nỗi tiếng của họ chứ không bao giờ nhớ đến một nền văn học, trong đó
không có nhà văn và tác phẩm đỉnh cao nào chạm đến những vấn đề nhân loại quan
tâm. Sự lưu ý của Nguyễn Minh Châu cũng là thông điệp mang tính khai phóng
trong việc kiến tạo giá trị của nền văn học nước nhà trong xu hướng hội nhập và
phát triển mà sự nghiệp đổi mới đã soi sáng nên cần được chia sẻ và trân quí. Bởi,
đây chính là suy tư đầy tâm huyết từ hành trình sáng tạo của một nhà văn luôn
có những trăn trở về sự tồn sinh của văn học dân tộc mà khát khao tìm đến với
cái mới, bảo vệ cái mới trong tiến trình vận động và phát triển của văn học
luôn là điều thôi thúc ông dấn thân, bởi ông tin rằng: “chắc chắn chúng ta sẽ
không bao giờ giơ tay ngăn cản cái mới, cái tiến bộ, mà sẽ xuất hiện một quyết
tâm làm mới lại mình với thái độ chân thành, xởi lởi, cởi mở, để cùng nhau xây
dựng một giai đoạn văn học và văn nghệ mới”[28]
Xuất phát từ khát vọng đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã chỉ cái
căn tố giới hạn của nền “văn nghệ minh họa” mà theo ông, đó là nền văn
nghệ xa rời cuộc sống, chỉ cốt phản ánh cái phải có với một khuôn mẫu định sẵn
chứ không phản ánh cái đang có như chính cuộc sống đang diễn ra. Vì thế, đó
cũng là một nền văn nghệ thiếu trung thực và đầy ngụy tín mà điều này không phải
chỉ xuất phát từ ý muốn của một số lãnh đạo văn nghệ mà bi kịch thay lại là sản
phẩm từ chính nhận thức của các văn nghệ sĩ khi họ “cố gắng làm cho lãnh đạo
tin, bằng cách biến mình thành một đứa trẻ ngoan ngoãn, bao điều suy nghĩ chiêm
nghiệm ngỗn ngang, bao kiến thức thâu lượm cả một đời, bao lo âu trăn trở về
con người, việc đời đem giấu đi (….) Để cầu yên ổn, người sáng tác cầm ngọn bút
chỉ “phe phẩy” giả dối một chút trong một thời điểm, đến một lúc cầm lại những
trang sách thấy nó cứ bạc phếch trước sự thật đầy tàn nhẫn, như mặt vai nịnh
trên sân khấu tuồng”[29] Vì vậy, theo Nguyễn Minh Châu, sự
trung thực không chỉ là một phẩm tính cốt tử mà còn là một biểu hiện của tài
năng và nhân cách người nghệ sĩ trước cuộc đời. Thiếu sự trung thực trong hành
trình sáng tạo, người nghệ sĩ dù có tài năng cũng không thể là một nghệ sĩ chân
chính mà chỉ là một “nhà ảo thuật” trên “sân khấu” văn chương. Bởi, đối với
Nguyễn Minh Châu: “Trong tư chất của người nghệ sĩ có cái chất thật chả khác
nào trong quả sấu có chất chua chát, như có điều thiên phú. Có người viết hàng
mấy chục quyển sách, người ta đọc thấy nó giả, cuốn nào cũng vậy, mặc dầu có thể
ngoài đời họ sống tốt hơn các nhà nghệ sĩ, thậm chí thiệt thà hơn các nhà nghệ
sĩ. Cái chất thật của những điều người nghệ sĩ viết ra, nó chính là cái thiết yếu,
cái cổt lõi của lòng người cùng sự đời hoặc nếu được phép nói nôm na: nó là cái
củ tỳ của đời sống, mà chỉ những nhà nghệ sĩ đích thực mới nắm bắt được”[30] Và để minh chứng cho những nghĩ suy
của mình về phẩm tính trung thực của nhà văn trước cuộc sống, Nguyễn Minh Châu
đã không ngần ngại nêu lên một cách thẳng thắng chủ kiến của mình, khi cho rằng:
“Nhìn riêng trong lĩnh vực văn học, theo tôi nghĩ khoảng mười năm qua mới là thời
kỳ thực sự thử thách từng người cầm bút về mặt tư cách nghệ sĩ, về tính trung
thực và bản lĩnh nghệ sĩ, thật sự thử thách từng người cầm bút về trách nhiệm
xã hội trách nhiệm đối với con người, cho đến các nhà văn bộ đội đã từng lăn lộn
suốt ba mươi năm kháng chiến đến lúc này, cũng có cảm tưởng như mới thấy thật sự
đứng giữa trận tiền trong cuộc vật lộn giữa cái thật và cái giả, giữa cái thật
chân xác và cái thật ngụy tạo, giữa bảo thủ và cái mới, giữa lề thói tư tưởng
phong kiến và khao khát dân chủ đổi mới xã hội, giữa cái riêng tư ích kỷ và vận
mệnh đất nước”[31]
Có thể nói, qua những suy nghĩ của Nguyễn Minh Châu xung
quanh vấn đề tính trung thực của nhà văn, ta thấy ở ông một tinh thần tự kiểm
chân thành. Sự khai mở của ông về cách nhìn mới, cách nghĩ mới để kiến tạo một
nền văn học luôn đồng hành với sự trung thực,“đoạn tuyệt” lối viết minh họa là
“mệnh lệnh” thiêng liêng để phục hưng nền văn học dân tộc trên con đường hội nhập
với nhân loại. Bởi theo ông: “Đứng trước trách nhiệm xây dựng con người mới và
một nền đạo đức mới trong tình hình xã hội hiện tại, mỗi nhà văn chúng ta đang
mang trọng trách như một nhà văn hóa. Chúng ta có nhiệm vụ chăm chút giữ gìn
cho đất nước những cái gì thật lâu đời, bền chặt mà cũng thật là mỏng manh:
tính thật thà, hồn hậu, niềm tin, nền phong hóa nhân bản, (…) lòng trung thực
và tính giản dị…”[32] Để hòa nhập với nền văn học nhân loại
trong thời kỳ toàn cầu hóa, văn học nghệ thuật có vai trò vô cùng quan trọng
trong việc kết nối giữa dân tộc và thời đại. Và điều làm nên sự kết nối đó là
tài năng và sự trung thực của nhà văn khi phản ánh những vấn đề của dân tộc
mình phải nhìn trong mối tương quan với nhân loại.
2.3.Về quan hệ văn học – đời sống và lương tri nhà văn
Trả lời phỏng vấn đầu xuân năm 1986 của báo Văn Nghệ về mối
quan hệ giữa văn học và cuộc sống, Nguyễn Minh Châu đã xác quyết: “Văn học và
cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm – mà tâm điểm là con người. Người viết nào
cũng có thể có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nỗi một nhà văn mà
không mạng nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con
người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là niềm hân hoan say mê, vừa là nỗi
đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những
người chung quanh mình. Cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có
khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp
họ có thể vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững trước cuộc sống”.[33] Như vậy, trong nhận thức của Nguyễn
Minh Châu, văn học và đời sống là một thực thể hiện hữu không thể tách rời. Và,
dòng huyết quản nuôi sống thực thể này chính là tấm lòng, là thái độ, là cái
nhìn của nhà văn đối với con người. Trong suy nghĩ của Nguyễn Mnh Châu, đây
cũng là phương diện thể hiện nhân vị của người cầm bút, vì theo ông:
“Có một điều tưởng như chẳng thuộc phạm vi văn học nhưng lại là cái gốc của văn
học. Đó là tấm lòng, cái nhìn và thái độ của người cầm bút trước cuộc sống hiện
tại đang chuyển mình, trước một giai đoạn cách mạng đang biến đổi”.[34] Và tinh thần trách nhiệm đối với cuộc
sống của nhà văn là sự thể hiện lương tri của nhà văn mà theo Nguyễn Minh Châu,
trước hết đó là lòng trân quí con người: “Văn học là như vậy: làm hiện hình lên
những huyền diệu bí mật của cõi lòng người, (…) Chỗ nào có con người thì có văn
học”.[35]
Khi bàn đến mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống cũng như
lương tri của nhà văn trước cuộc đời, điều Nguyễn Minh Châu luôn trăn trở là
tinh thần dũng cảm chiến đấu chống cái ác, cái xấu của nhà văn. Bởi, trong suy
nghĩ của ông, nhà văn vốn hiền lành “không làm hại ai, không làm điều ác với
ai. Nhưng cái lỗi lớn nhất của mỗi người chúng ta là đã khiếp hãi trước cái xấu
cái ác. Và lâu dần dường như không làm gì được thì chúng ta coi như không có nó
– cuộc đời không có cái xấu và cái ác đang hoành hành, đang chi phối số phận
con người, coi như cuộc đời không còn oan khiên, oan khuất…”.[36] Và điều này đã tạo nên những trăn
trở đầy ưu lo trong tâm cảm Nguyễn Minh Châu mà theo ông hình như: “Mối quan hệ
giữa văn học và đời sống thực tại đang ngày một xa nhau”.[37] Vì thế, Nguyễn Minh Châu đã rất quyết
liệt đấu tranh với sự vô cảm của nhà văn trước cái ác, cái phi nhân tính, khi đặt
ra yêu cầu đối với nhà văn, đó là: “Trước những bất công, trước cái ác, anh
không có quyền dửng dưng, thây kệ khi con người bị đày đọa, và công việc đó phải
là phản ứng tự nhiên của nhà văn”.[38] Bởi vì, giữa những oan khiên của cuộc
đời, nhiều khi con người không còn biết bám vào đâu thì, văn học và nhà văn đôi
khi trở thành phao cứu sinh, thành diệu pháp tinh thần cứu vãn niềm tin của họ
vào cuộc đời, mà theo Nguyễn Minh Châu: “trên trái đất này thời nào và ở đâu
cũng đầy rẫy oan khiên, oan khuất, cái ác bao giờ cũng mạnh mẽ và lẫm liệt, đầy
mưu ma chước quỷ, còn cái thiện thì ngu ngơ và ngây thơ, lại thường cả tin. Nhà
văn tồn tại trên đời này trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng
giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn
con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi
và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời. Nhà
văn tồn tại trên đời để bênh vực cho những con người không còn có ai để bênh vực.
Cho nên sợ nhất ở một nhà văn là cái chất máu và cái thái độ lãnh đạm, dửng
dưng trước mọi việc”.[39] Bởi, trong suy nghĩ của Nguyễn Minh
Châu: “Nhà văn không phải là diễn viên trên sàn diễn. Nhà văn không phải là
loài có cánh. Nhà văn phải đứng bằng hai chân giữa mặt đất đầy hiểm họa, giữa
thập loại chúng sinh”.[40]
Bàn về trách nhiệm và lương tri của nhà văn trước cuộc đời,
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn có nhưng suy tư sâu sắc có thể khái
quát thành những diễn ngôn mang tính lý luận về phương diện: nhà văn, tác phẩm
và cuộc sống. Trong quan niệm của Nguyễn Minh Châu: “Nghệ thuật nhìn trở lại cuộc
sống, nghệ thuật không bao giờ chết. Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một cái nhìn: sự
trường tồn ấy mãi mãi đang nhìn vào khoảnh khắc thực tại. Cái vĩnh cửu đang
nhìn cái khoảnh khắc”.[41] Vì thế, “Văn học bao giờ cũng phải
trả lời những câu hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối thoại với những
người đương thời về những câu hỏi cấp bách của đời sống”.[42] Và nhà văn “cố nắm bắt không những
cái thực tại mà cả cái hư ảo của đời sống. Không những nắm bắt hiện thực mà còn
muốn nắm bắt cái bóng của hiện thực mà cái đó mới là cái hiện thực đích thực”.[43] Những suy niệm của Nguyễn Minh Châu
về mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống cũng như tiếng nói lương tri của văn học
và nhà văn không chỉ là những vấn đề lý thuyết bổ sung cho nền lý luận phê bình
văn học của chúng ta vốn còn nhiều giới hạn mà còn có ý nghĩa khoa học và thực
tiễn góp phần khai mở và thức nhận cho sự đổi mới hệ hình tư duy lý luận phê
bình văn học thời kỳ đổi mới cũng như cho cả tiến trình của nền lý luận phê
bình văn học dân tộc trong hiện tại và tương lai.
3.Thay lời kết:
Trong quan niệm của Nguyễn Minh Châu: “Nhà văn rất cần thiết
có mặt ở trên đời, để làm công việc cảnh tỉnh nhân loại và báo hiệu trước những
tai họa”.[44] Có lẽ vì ý thức được vai trò quan
trọng của văn học và của nhà văn nên Nguyễn Minh Châu đã tự đổi mới tư duy sáng
tạo của mình khi đặt ra trách nhiệm phải “đối thoại với người đương thời” về những
vấn đề “cấp bách đặt ra trong cuộc sống”. Và đây chính là tiền đề mở ra sự thay
đổi hệ hình tư duy lý luận phê bình của ông trong thời kỳ đổi mới mà những diễn
ngôn về lý luận phê bình và những sáng tác của ông thời kỳ hậu chiến, nhất là
những sáng tác công bố trong thời kỳ đổi mới là một căn cước xác chứng cho những
“phát ngôn” của ông không chỉ về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn. Sự gắn kết
và bổ sung giữa quan điểm của ông qua những diễn ngôn lý luận phê bình về
sự đổi mới cách viết về chiến tranh và nhìn chiến tranh qua số phận con người,
về sự trung thực và sự đoạn tuyệt với nển văn nghệ minh họa, về mối quan hệ giữa
văn học và cuộc sống cũng như tiếng nói lương tri của nhà văn và văn học đã
cho thấy sự thống nhất giữa nói và làm, giữa lý luận và thực tiễn, giữa suy
nghĩ và hành động ở Nguyễn Minh Châu. Vì vậy, những vấn đề lý luận ông đặt ra
có ý nghĩa khai phóng, thiết thực góp phần thức nhận không chỉ đối với người
sáng tác mà cả đối với người tiếp nhận trong việc hướng đến một nền văn học
luôn đồng hành với con người, vì con người, cho con người, “trên con đường dài
dằng dặc đi đến cõi hoàn thiện”.[45] Và với những gì ông đã sống, đã viết
còn để lại cho đời, Nguyễn Minh Châu không chỉ là một nhà văn góp phần rất lớn
trong việc khai mở sự chuyển đổi hệ hình tư duy lý luận phê bình văn học thời kỳ
đổi mới mà còn là một nhà văn có vị trí đặc biệt, độc đáo, không thể thay thế
trên văn đàn. Sự ra đi của ông là một khoảng trống quá lớn không thể bù đắp.
Tôi tiếc cho sự “đoản mệnh” của cuộc đời ông. Nhưng bù lại vẫn còn đó, những
giá trị trong sự nghiệp văn học ngời sáng của ông, một nhà văn đầy tài năng và
nhiệt huyết không dễ tìm thấy trong nền văn học nước nhà như chính Nguyễn Minh
Châu đã từng suy niệm: “Đời mỗi nhà văn được làm nên không phải bằng cái mình
không làm ra được mà bằng cái nhà văn đã làm ra được”.[46]…
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Hoài Anh (2017) Đi tìm ẩn ngữ văn chương, Nxb. Hội
Nhà văn, Hà Nội
2. Nguyễn Minh Châu (2002) Trang giấy trước đèn (Tôn
Phương Lan, sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội
3. Nguyễn Minh Châu (2006) Tuyển tập truyện ngắn ,
Nxb. Văn học, Hà Nội
4. Đỗ Chu (2004) Tản mạn trước đèn, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội
5. Hoàng Ngọc Hiến (2012) Viết, Nxb. Lao Động, Hà Nội
6. Tôn Phương Lan (2002) Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh
Châu, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội
7. Nhiều tác giả (2001) Nguyễn Minh Châu, tài năng và sáng
tạo nghệ thuật, (Mai Hương, tuyển chọn và biên soạn) Nxb. Văn hóa Thông tin,
Hà Nội
8. Nhiều tác giả (1997) Văn học 1975-1985: Tác phẩm và dư
luận (Vân Trang – Ngô Hoàng – Bảo Hưng, sưu tầm và biên soạn), Nxb. Hội Nhà văn,
Hà Nội
Chú thích:
[1] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.25
[2] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.25
[3] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước
đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.26
[4] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 27
[5] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.32
[6] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.33
[7] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.57
[8] Nguyễn Minh Châu Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.58
[9] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb.. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.62
[10] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.62
[11] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước
đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.63
[12] Nguyễn Minh Châu,Trang giấy trước
đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.72
[13] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.50
[14] Nguyễn Minh Châu Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.57
[15] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.40
[16] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.127, 128
[17] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước
đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 128, 129
[18] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.130
[19] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.127
[20]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước
đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 130
[21] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 131
[22] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 133
[23] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 135
[24] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.135
[25] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 136
[26] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 136
[27] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 137
[28] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 137
[29] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.141
[30] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.163
[31] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.142
[32] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.112
[33] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.111
[34] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.87
[35] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.179
[36] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.157
[37] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.155
[38] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.156
[39] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.165
[40] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.174
[41] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.176
[42] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.78
[43] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.177
[44] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước
đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.164
[45] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy
trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.112
[46] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước
đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.173.
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 15/8/2019
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu
Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu Trong tập Giọt trời trên lá sen của Quang Hoài, phần thơ thể hiện những suy tư trăn trở về nhân tình,...



