Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

"Nụ cười trên phố ban mai" - Sáng lên một dặm dài thi ca

"Nụ cười trên phố ban mai" - Sáng
lên một dặm dài thi ca

Nhà thơ Bùi Phan Thảo đã phác họa hiện thực sinh động của đại đô thị đông dân nhất nước bằng những câu thơ tự do, đầy lay gợi…
Bùi Phan Thảo sinh ra và lớn lên tại vùng đất Quảng Trị, nắng lửa mưa dầm, gió Lào héo mặt, bão lũ hãi hùng, nơi ngày xưa là vùng chiến sự, hốt lên một nắm đất có thể chảy máu tay người vì những mảnh bom. Miền đất đã sản sinh ra nhiều nhà thơ, nhạc sĩ , ca sĩ đã vang danh từ trong nước ra nước ngoài, nói như thế để thấy rằng Bùi Phan Thảo đến với thơ rồi thành nhà thơ cũng là điều dễ hiểu. Đọc câu thơ " Ta gọi tên Quảng Trị / gió cát tràn lên môi" của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, tôi thấy được Bùi Phan Thảo.
Luôn mở lòng ra với thiên nhiên
Có lẽ miền đất ấy, không gian ấy, khí hậu ấy, khó khăn ấy và những nơi anh đã từng dừng gót tha phương như Đắk Lắk, TP HCM đã làm nên một Bùi Phan Thảo có sức bền, độ lượng, luôn mở lòng ra với thiên nhiên và con người. Nhà thơ đi nhiều, biết nhiều, ít nói, né tránh đám đông, không lãng phí cho chuyện ngoài văn chương.
Có lẽ do vậy mà nội lực của anh ngày càng thâm hậu, theo những vần thơ mà anh nối tiếp cho ra đời. Đọc tập thơ mới của anh "Nụ cười trên phố ban mai" do nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành cuối năm 2025, tôi đã say sưa đi vào cái mới, cái cần thiết cho cuộc sống hôm nay. Nếu nói rằng thơ Bùi Phan Thảo đã hạ trại trong lòng người đọc và đi vào cuộc sống hôm nay thì cũng không ngoa chút nào.
Những câu thơ đầy ắp tính nhân văn, tình người mở rộng con đường từ trái tim đến trái tim. Bằng thơ, anh đã vẽ nên hiện thực sinh động của đại đô thị đông dân nhất nước này. Bên trong diện mạo văn minh sang trọng ấy là sự lao đông cật lực ngày đêm của các giới, các ngành nghề.
Để phục vụ cho một nền công nghiệp hiện đại tất nhiên phải phát sinh những dịch vụ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ, từ đó thu hút, chu chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố. Những gánh hàng rong, những tiếng rao đêm, thức theo hơi thở của thành phố, ai cũng cật lực cho cuộc sống này. Đó là sự phát hiện độc đáo của Bùi Phan Thảo, mà từng ngày mọi người thường đi ngang qua nhau ít ai để ý :
"Thành phố này không phải câu đầu tiên hỏi nhau Anh (chị) Ông (bà) từ đâu đến
mà hỏi có sống được không, mần ăn công chuyện thế nào?
biết khó khăn là xắn tay vào giúp không kể thiệt hơn
để sắp nhỏ có đủ áo cơm, được đến trường đến lớp
gánh xôi nhỏ bên đường, sau cái nhìn là nhường cho nhau một chỗ
ai cũng áo cơm thân phận nổi chìm
nương nhau mà sống để không ai phải chìm xuống đáy
mừng cho nhau cuộc sống đủ đầy hơn"
(Nụ cười trên phố ban mai)
Đúng là như vậy. Có lần tôi gặp và tiếp chuyện với vợ chồng người Quảng Ngãi độ tuổi lục tuần, sau khi ăn của bác ấy một tô mì gõ đêm khuya. Bác cho biết ở quê xa không cách nào gửi đủ tiền cho con học đại học nên phải vào đây, thuê phòng ở và bán mì để cho con đi học; dùng hai thanh gỗ gõ vào nhau để thay cho lời rao. Lại một lần khác tôi gặp một bác độ tuổi tuổi ngũ tuần người Bình Định, rao bán cá hấp giữa trưa, tôi mua giúp và hỏi thăm hoàn cảnh bác ấy. Cũng như bác kia lại nuôi con học đại học.
Sài Gòn - TP HCM bao dung, che chở cho những phận người nhập cư. Nhà thơ cũng là người nhập cư, qua bao nhiêu bôn ba, thăng trầm mà ổn định đời sống, thành danh. Anh đã nói lời cảm ơn thay cho bao nhiêu người khác:
"Thương nhớ quê nhà theo giấc chiêm bao
một ngày biết thương miền Nam quê mới
xòe bàn tay đón ngày nắng rọi
tỏa sáng nụ cười trên phố ban mai"
(Nụ cười trên phố ban mai)
Những câu thơ viết theo nhịp thở của môi trường sinh thái
Bùi Phan Thảo đã mở lòng mình ra cho thiên nhiên ùa vào, bằng nhiều thứ ngôn ngữ âm thanh và hành động của vạn vật cỏ cây. Ngày nay do con người tác động làm cho thiên nhiên thay đổi, môi trường bị xâm hại, gây ra bao nhiêu thiên tai tàn khốc mà con người phải gánh chịu. Đọc những câu thơ sau đây của nhà thơ ta thấy tâm hồn êm dịu hơn:
"Đước choãi bàn chân cắm sâu vào đất
cuộc trường chinh thầm lặng vết thiên di
mắm dựng trường thành ngăn triều dâng bão giật
hạt bùn non thấu tỏ cuộc phân ly…
vết hà gót chân ăn vào giấc ngủ
một triền sông ấp ủ mấy triền mơ
cây biếc xanh nói lời tình tự
mắt ru người câu vọng cổ thành đôi…
đất cưu mang những sức người quăng quật
cây chở che người, người sống nuôi cây"
(Cần Giờ ngày nắng gọi)
Hơn bao giờ hết thơ hôm nay phải hòa vào thiên nhiên để phát hiện những tác động môi trường đã làm biến đổi khí hậu, việc khai thác quá cường độ làm cho rừng cạn kiệt, độ che phủ giảm dần, khâu lâm sinh chưa được quan tâm đúng mức để thực hiện đạo lý "cây chở che người, người sống nuôi cây".
Phê bình sinh thái trong văn học hôm nay đã nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, phân tích các văn bản thể hiện thiên nhiên, không chỉ như phông nền mà còn là một thực thể có giá trị, xem xét sự tác động của môi trường đến con người, trong việc bảo vệ môi trường, giữ sự hài hòa giữa xã hội và thiên nhiên. Và đây nữa :
"Cơn mơ của người thanh niên xung phong Lâm trường Duyên Hải
nhường tuổi xuân cho nhan sắc của rừng
từng cây từng cây bàn tay nhẫn nại
nhìn mầm xanh mà mắt rưng rưng"
(Giấc mơ xanh)
Những câu thơ viết trên đầu sóng ngọn gió, chập chùng biên cương hải đảo, xa xôi, vượt bao hải lý về phía mặt trời, thao thức với âm vang Trường Sa. Bùi Phan Thảo đã đi đến biên cương địa đầu Tổ quốc, nơi những con sóng tuổi đôi mươi Việt Nam đã cuộn lên thành lũy, bảo vệ cột mốc chủ quyền, nơi cha ông vọng về tiếng ngàn xưa mở cõi, nơi các anh linh liệt sĩ luôn quẩn quanh cùng biển đảo trong nắng sớm mưa chiều. Trùng dương nổi gió lênh đênh triền sóng lắc lư câu thơ đi tìm nguồn cội:
"Trên con tàu mải miết giữa trùng dương
tôi tha thiết lần về nguồn cội
cha ông nghìn năm dựng bờ mở cõi
biển bạc rừng vàng một dải non sông…
đi về phía mặt trời mỗi sáng mai lên
để thấu đêm dài để vui trăng tỏ
mỗi ngọn sóng cũng dặn dò ghi nhớ
không ai không điều gì có thể lãng quên"
(Âm vang Trường Sa)
Đến Trường Sa là đi về phía trái tim mình. Bùi Phan Thảo đã nói thay cho hàng triệu trái tim người Việt Nam, vẫn ngày đêm hướng về Hoàng Sa - Trường Sa thân yêu của Tổ quốc bao đời nay, tuy xa xôi hải lý nhưng lòng không bao giờ cách biệt:
"Chúng tôi đi về phía Trường Sa
về phía yêu thương trái tim mình ở đó
từng nhịp đập cồn cào theo sóng vỗ
sắp gặp nhau òa vỡ những niềm vui…
chúng tôi đi về phía thiêng liêng
mặt trời lên cờ tung bay trong gió
Trường Sa ơi trái tim tôi ở đó
chúng tôi đi về phía trái tim mình"
("Chúng tôi đi về phía trái tim mình)
Những câu thơ truy tìm nguồn gốc của đại dịch COVID-19 đã vang lên trong lòng chúng ta, những nỗi niềm lo âu, không biết tin vào đâu, tâm trạng càng bất an thì đại dịch lại tràn lên cướp đi bao nhiêu mạng người trong mỗi ngày. Sự hoảng sợ đã làm con người nhỏ bé và xích lại gần hơn, mở lòng yêu thương và nương tựa nhau mà sống. Những ngọn rau thiện nguyện, những hạt gạo không đồng đã khơi dậy truyền thống đạo lý yêu thương nhau "lá lành đùm lá rách" của dân tộc.
Hôm nay đọc những câu thơ viết về đại dịch của Bùi Phan Thảo, ta có cảm nhận thời sự văn chương vẫn đang sống động vô cùng:
"Sự bất an không còn chỗ giấu che
choáng váng những ca F0 từ hàng chục lên đến hàng ngàn mỗi tối
đâu là nơi ra đi hay chốn quay về?
im nghe đời điểm danh
kẻ quen người lạ
hơi thở tàn không giấu được vào tay
ai gieo rắc tai ương lên nhân loại hôm nay?
kẻ đắc thắng cười trong bóng tối
suối máu chảy vào tài khoản gian manh…
phố nhớ hơi người váng vất không gian
người nhớ hơi người lung linh ảo ảnh
bao giờ nhân loại sẽ bình an?"
(Viết trong ngày giãn cách)
Những câu thơ hiện thực sinh động
Sau thời gian dài mong đợi hôm nay chuyến tàu metro đã khởi hành, một niềm vui tràn ngập trong lòng người dân thành phố nói riêng và cả nước nói chung. Chuyến tàu chở đến tương lai những ước mơ của thành phố trẻ đang hừng hực vươn lên để theo kịp bạn bè năm châu bốn biển.
Bùi Phan Thảo đã cho ký ức chụp lại giây phút thăng hoa đầu tiên ấy bằng những câu thơ hiện thực sinh động của mình:
"Này em đi cùng anh
hôm nay ngày tuyệt vời
mong ước bao năm đã thành hiện thực
thành phố lung linh dưới lòng đất sâu 36 mét
tàu chạy êm như ru
từ ga ngầm lên đường trên cao
hai bên là dòng sông, cao ốc…
những ngả đường mắc cửi Kuala Lumpur, Singapore anh đã từng qua
Shinkansen Nhật Bản lao đi như tên nối Tokyo – Kyoto – Osaka anh từng trải nghiệm…
mắt anh rưng lệ
thương đất nước mình đi sau và mong bước nhanh cho kịp bạn bè
(Viết từ metro trong ngày vui mới)
Đọc bài thơ, ta thấy nỗi mừng vui reo thêm lên, cùng nhau tận hưởng những giây phút thăng hoa của chuyến tàu đầu tiên khởi hành. Nhà thơ đã vẽ ra một hoạt cảnh khéo léo, tinh tế, trẻ trung, rồi cũng từ đó nhìn ra thế giới, mong ước đất nước mình mau theo kịp bạn bè…
Bức tranh hiện thực về cuộc sống
Ở tập thơ "Nụ cười trên phố ban mai" này, Bùi Phan Thảo đã thoát ra khỏi vần điệu truyền thống để đến với những câu thơ tự do tung tẩy và lay gợi, anh quan tâm về ý và tính khái quát. Cách nói nhẹ nhàng dễ nghe dễ gần. Bằng thơ, anh đã vẽ nên một bức tranh hiện thực cuộc sống đang vận động của một thành phố đông dân nhất nước vừa thoát ra cơn đại dịch hoành hành, nhịp sống lại nhộn nhịp, rộn ràng. Thành phố bắt đầu một hành trình mới cho ổn định và phát triển.
Nhà thơ sử dụng các thủ pháp tu từ ẩn dụ, nhân hóa tạo hình tượng và âm thanh nên câu thơ tự do vẫn có vần điệu, khi ta đọc lên vẫn nghe êm êm, vang vang. Những câu thơ ngắn dài đã được bố trí theo sự chuyển ý của nhà thơ, nên không làm giãn tứ mà vẫn giữ được cấu trúc chặt chẽ của bài thơ. Tôi thích thú những câu thơ tự do có sức lay gợi của anh:
"Vết hà gót chân ăn vào giấc ngủ/ một triền sông ấp ủ mấy triền mơ"; "Đất cưu mang những sức người quăng quật / cây chở che người, người sống nuôi cây"; "Thương mẹ mít xoài dâng trái ngọt / chuối trổ buồng lúc lỉu vườn sau". Lúc lỉu - hai từ này nghe là lạ, nó nói lên cái sự ân cần, sự vận động liên tục làm cho không gian thơ thêm nô nức. Có thể nói "Nụ cười trên phố ban mai" là thông điệp bình yên tươi vui cho mọi người dân thành phố sau khi vượt qua đại dịch hãi hùng. Bùi Phan Thảo đã lưu lại trong tâm hồn ta một cảnh sắc tươi vui, sôi động, bắt đầu cho một hành trình mới. Xin chúc mừng và cảm ơn nhà thơ.
23/1/2026
Xuân Trường
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Vẻ đẹp của chân dung người lính trong "Bước chân tháng năm"

Vẻ đẹp của chân dung người
lính trong "Bước chân tháng năm"

NXB Hội Nhà văn vừa cho ra mắt tập thơ 'Bước chân tháng năm' của nhà thơ - đại tá bộ đội biên phòng Trần Quang Khánh. Tập thơ ra đời đúng vào dịp anh được kết nạp làm hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Những dấu chân để lại
Bước chân tháng năm tập hợp gồm 105 bài thơ được Trần Quang Khánh sáng tác trong vài năm trở lại đây. Là một người lính của lực lượng bộ đội biên phòng từng cầm súng tham gia các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc, mỗi bài thơ của anh như một dấu chân để lại trên mỗi chặng đường biên cương đất nước. 
Đọc thơ Trần Quang Khánh, bạn đọc sẽ có cơ hội đến với những miền biên ải xa xôi mà gần gũi từ Châu Mộc đến Hà Giang luôn bao phủ một màu sương khói, từ Trường Sơn xanh ngắt đến Trường Sa con sóng bạc đầu. Đó chính là những câu thơ của lòng yêu đất nước toát lên từ tâm hồn người lính phảng phất bóng hình người tráng sĩ trong những câu thơ cổ điển từng coi cái chết nhẹ tựa lông hồng:
Chiều xuân biên ải đào xơ xác
Khói lửa Hà Giang - hương khói bay
Vẫn biết ngàn năm sau vẫn ngát
Người nằm dưới mộ giấc mơ say
(Chiều)
Thơ Trần Quang Khánh vì thế bàng bạc một chất màu lãng mạn, phong sương như người lính ra trận không hẹn ngày về với những ngôn từ nhuốm một màu biên ải:
Ta như lạc bước vào sắc biếc
Quên cả thời gian đã nhuộm màu
Lòng những sục sôi còn muốn vượt
Qua đèo dốc nốt kiếp mai sau
(Xuân chiều nay)
Với những dấu chân thơ để lại trên mỗi vệt hành quân như thế, thơ Trần Quang Khánh gieo vào lòng người đọc những tâm trạng tích cực để từ đó tạo nên một năng lượng sống lạc quan và lãng mạn. Thơ anh nói không với sự ủy mị của tâm hồn, nói không với sự buồn chán của tâm trạng. Đó là điều đáng quý nhất ở thơ của người lính Trần Quang Khánh.
Những vần điệu lấp lánh
Một đặc điểm nổi bật trong tập thơ Bước chân tháng năm là cách sử dụng ngôn từ thơ rất trong sáng và nhuần nhị. Trong lúc một số cây bút trẻ đang say mê với lối thơ tắc tị, bí hiểm của trường phái thơ hậu hiện đại thì Trần Quang Khánh trước sau vẫn giữ một phong cách thơ thuần Việt trong vần điệu và từ ngữ. Anh nói về cuộc đời của những người lính gắn liền với rừng già Trường Sơn như nói về một tượng đài cao đẹp lẫy lừng sự nghiệp nhưng luôn nép mình khiêm tốn giữa cuộc đời:
Trường Sơn ôm trọn thời trai trẻ
Năm chục mùa trôi vẫn ngóng theo
Rộn rã lẽ đời vang trống trận
Thương làn mây bạc đứng buông neo
(Khúc nhạc xưa)
Chính sự kiêu hùng rất lính mà rất đỗi bình thường và giản dị ấy của người lính trong cuộc sống đã tạc nên một hình tượng điển hình văn học toát lên từ toàn bộ tập thơ. Họ, những người lính, đã sống, chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc để từ đó viết nên những trang sử với niềm tự hào vô biên:
Chúng ta đi dưới cờ Tổ quốc
Đến Điện Biên chói rực chiều hè
Đến vòng tay 30 tháng Tư thành phố mang tên Bác
Giải phóng miền Nam đất nước trọn lời thề
(Bước chân tháng năm)
Chính những lấp lánh trong vần điệu của thơ Trần Quang Khánh đã tạo nên những câu thơ vang vọng về một đất nước Việt Nam bốn ngàn năm lịch sử oai hùng khiến mỗi câu thơ của anh như một trang vàng của lịch sử được lật mở. Những sông Như Nguyệt, những sóng Bạch Đằng giang, những ải Chi Lăng bảng lảng, những sông Lô mướt bờ lau trắng, những mái chèo mẹ Suốt trên dòng Nhật Lệ… hiện lên trong thơ anh như một sự náo nức của lịch sử:
Ta đi tìm lại vầng trăng cổ tích
Thấy rêu phong Như Nguyệt ở giấc mơ
Thấy Bạch Đằng giang sóng vỗ mịt mờ
Thấy ải Chi Lăng trong mây chiều bảng lảng
Nghe tiếng hát sông Lô xô bờ lau trắng
Tiếng mẹ Suốt chèo đò khua động cả non sông...
(Có phải?)
Những dự báo tương lai
Thơ là tâm trạng, thơ là tiếng lòng nhưng với những cây bút lạc quan, trong sáng và hồn hậu như Trần Quang Khánh thì thơ còn là một dự báo tốt đẹp hướng về tương lai. Bước chân tháng năm của anh đến tay bạn đọc đúng vào dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng ta diễn ra và từ đó mở ra những triển vọng mới của một kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Đó là những câu thơ vang lên như tiếng hát của một người lính đang cầm chắc tay súng gìn giữ biển trời Tổ quốc:
Nước Việt ơi ta gọi mãi tên người
Từng giọt máu rải đều trên sông núi
Trên cát vàng, đáy biển Đông sóng dữ
Trên hạt lúa vàng, sau mỗi lũy tre xanh
Tháng tư về ta đến với tương lai
(Tháng Tư ơi)
Với cách viết tự nhiên, dung dị, với cách dùng từ ngữ được chắt lọc trong mỗi bài thơ và trong mỗi câu thơ, Bước chân tháng năm đã đem đến cho bạn đọc một tâm trạng vui tươi, yêu đời, một năng lượng sống tích cực. Đó là một ý nghĩa rất đáng kể toát lên từ tập thơ mới của anh. Có thể nói, mỗi câu thơ như một nốt nhạc vui, mỗi bài thơ như hồi kèn giục giã bước chân người rảo gót giữa mùa đi:
Tiếng nhạc ngày vui giục giã đời
Ánh vàng vin giữ cánh hoa rơi
Thinh không mây đọng màu thiên cổ
Nghe tiếng mùa đi phía cuối trời
(Trưa ngưng đọng)
Sẽ còn những bước chân
Là một sĩ quan của bộ đội biên phòng, Trần Quang Khánh từng tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP 1 Hà Nội. Lên đến quân hàm đại tá, anh vẫn say mê với nghiệp lính và nghiệp thơ. Bước chân tháng năm là tập thơ thứ 4 của anh sau Ký ức xanh (NXB Hội Nhà văn 2021), Nốt nhạc mùa (NXB Hội Nhà văn 2022), Những đám mây mùa thu (NXB Hội Nhà văn 2024). 
Thơ với Trần Quang Khánh như khí trời với đời sống của con người anh. Anh đến với thơ như người lính thì phải hành quân và ra trận và vì thế, như một sự tất yếu. Hy vọng sau Bước chân tháng năm Trần Quang Khánh vẫn tiếp tục cho ra đời những bước chân mới để mang đến cho bạn đọc yêu thơ những vần thơ ngợi ca cuộc đời, ngợi ca tình yêu và người lính.
23/1/2026
Hà Tùng Sơn
Nguồn: Báo Thanh Niên
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

"Lời đồng vọng" với những áng văn hay

"Lời đồng vọng"
với những áng văn hay

Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình. Lời đồng vọng 2, theo tôi đó là tập “Tiểu luận và Phê bình” đầy đặn và chỉn chu cả về nội dung lẫn hình thức.
Lời đồng vọng 2 được bố cục làm ba phần:
Phần 1: Văn học và cuộc sống với chín bài viết rất bổ ích, thể hiện kiến văn sâu rộng của Lê Xuân về đời sống và văn học nghệ thuật. Lê Xuân đặt vấn đề về những kiến thức căn bản, yếu tố cần thiết nhất của một người học tập, nghiên cứu và sáng tạo văn chương. Bạn đọc được trang bị những kiến thức về thơ, yếu tố ngôn ngữ trong một bài thơ; nhà văn cần trang bị những kiến thức gì để có tác phẩm hay; bàn thêm về người viết trẻ… Lê Xuân đã dày công nghiên cứu, tìm tòi, quan sát dõi theo tình hình sáng tác và phê bình văn học ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tác phẩm được xem khá đầy đủ những gương mặt văn nghệ, những đặc trưng nổi bật của văn chương Đồng bằng sông Cửu Long qua từng giai đoạn cụ thể.
Đặc biệt, anh có ba bài viết hay vừa mang tính tổng kết vừa vạch ra những định hướng và dự báo cho văn học Cần Thơ nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung: Phương ngữ Nam Bộ - nét đặc sắc của văn học Đồng bằng sông Cửu Long cần lưu giữ; bài Văn học Cần Thơ trước cơ chế thị trường, làm sao để có tác phẩm hay và bài Vai trò, vị trí của văn nghệ sĩ Cần Thơ trong giai đoạn 1975-2025.
Vốn là một nhà giáo, một nhà báo, một nhà phê bình nên Lê Xuân có những ý kiến khá xác đáng về dạy và học Văn hiện nay, về mối quan hệ giữa người viết phê bình và người sáng tác. Đọc từng câu chữ và cả những đề xuất của anh trong các bài viết mới thấy anh giành tâm sức cho văn chương và tâm huyết với nó biết nhường nào!
Phần 2: Đến với bài thơ hay. Nhà phê bình Lê Xuân phẩm bình 24 bài thơ của 24 tác giả. Nhiều nhà thơ tên tuổi với những bài thơ được định hình theo năm tháng và qua lời bình của anh tăng thêm giá trị, sự hàm súc, sức bay bổng với những khám phá tinh tế, đầy bất ngờ và thú vị. Có lẽ, với những bài thơ ấy, bạn đọc đã từng được đọc, được nghe những lời bình của nhiều tác giả khác nhưng đọc những lời bình giá của Lê Xuân mỗi chúng ta sẽ thấy có nét riêng trong sự khám phá, chỉ ra được hồn cốt cái tinh túy, độc đáo mà tôi tin là bạn đọc sẽ ấn tượng hơn về nó. Tôi thích cách anh bình với ngôn từ đẹp, sự tinh nhạy trong cách cảm, vận dụng linh hoạt kiến thức về ngôn ngữ, thi pháp nhưng không hề khô cứng, máy móc, giáo điều mà gieo vào lòng bạn đọc nhiều những kiến thức, thông điệp bổ ích và để lại những dư ba. Chẳng hạn ở bài Bùa lá của Nguyễn Thị Đạo Tĩnh, nhà phê bình Lê Xuân có đoạn phẩm bình rất hay: “Đọc Bùa lá tôi lại liên tưởng tới chiếc “lá diêu bông” của thi sĩ tài hoa Hoàng Cầm. Bao nhiêu người mải mê cất công đi tìm để mong được làm chồng cái nhân vật trữ tình kia nhưng đều vô vọng. Gìơ đây biết bao chàng trai lại đi tìm “bùa lá” của chị, và liệu rằng có tìm được không giữa cái mênh mông của biển tình, biển đời.
Mở đầu bài thơ ta bắt gặp hình ảnh “lá vàng” nằm trong cặp câu lục bát biến thể “Lá vàng tôi thả bùa mê/ Có ai nhặt về làm chút duyên chơi, gieo vần vào tiếng thứ tư (về) ở câu “bát”, tách câu thơ làm hai theo nhịp 4/4 tạo âm hưởng không xuôi chèo mát mái như những câu lục bát bình thường. Nó như dự báo sự trắc trở, lỡ làng của duyên muộn. Nhặt “lá vàng” làm “bùa mê” để thả ra giữa dòng đời “cầu duyên” da diết quá, xót xa quá. Nhân vật trữ tình ở đây không có sự “bùng nổ” quyết liệt như trong thơ Hồ Xuân Hương khi xưa “thân này đâu đã chịu già tom” (Tự tình) mà cứ nhẹ nhàng, thủ thỉ độc thoại nội tâm: Lỡ làng mười tám, đôi mươi/ Tôi đi chợ muộn kiếm cơi trầu già/ Chân vương tóc rối chân gà/ Ai mua tôi bán - để mà cầu duyên. Song, điều đáng quý ở nhân vật trữ tình này là chưa hề nguôi tắt niềm tin ở tình yêu cuộc sống, vẫn hy vọng ở chuyện “cầu duyên”.
Hoặc, với bài thơ Cõi người của nhà thơ Lê Quốc Hán, anh cũng có những lời tâm huyết, thấu tình. Bằng vốn kiến thức, sự tinh nhạy trong cách nhìn nhận về con người và cuộc đời mà Lê Xuân đã luận giải một cách biện chứng, sâu sắc. Đó là sự nghịch lý của cõi người. “Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ “Làm sao cắt nghĩa cõi người”, nó như một phương trình vô định. Có cõi người, cõi đất, cõi âm, cõi dương và “cõi tôi” nữa. Ở đây nhà thơ lạm bàn về “cõi người” qua cái tôi trữ tình. Nghe vừa gần gũi lại vừa xa xôi với một âm hưởng buồn. Và từ đó tứ thơ được triển khai tạo nên sự đối lập, là nghịch lý “Khi vui ứa lệ khi cười đớn đau”. Tôi liên tưởng ngay đến câu thơ của Nguyễn Công Trứ: “Ngồi buồn mà trách ông xanh/ Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười”. Có niềm vui ứa lệ, nước mắt rưng rưng như sau ngày giải phóng cha mẹ gặp con, vợ gặp chồng. Lại có cái cười ra nước mắt vì đớn đau, vì sự mai mỉa lắng đọng tim gan. Cười vì mình bất lực trước thế sự nhiễu nhương, cười vì một sự sám hối nào đó, hay cười vì trước sự nhỏ nhen ganh tỵ của người đời. Câu thơ mở ra nhiều trường liên tưởng về “kiếp này”, “kiếp sau”. Tác giả lại lý giải một hiện tượng ngược chiều cuộc sống: “Tim hồng đem muối làm dưa” và “Bẻ hoa rồi dạy cuộc đời yêu hoa”. Sự trách đời và trách mình cứ tăng dần theo cấp số nhân. Theo tư duy lô gic của triết học thì đây là mối quan hệ đối lập giữa hai cặp phạm trù nội dung và hình thức. Người “bẻ hoa” mà lại đi giảng đạo lý cho người “yêu hoa”, kẻ “lưỡi phun nọc rắn” mà miệng vẫn cười như “đùa chơi”. Quả là loại người “Khẩu Phật tâm xà” hay “Miệng nam mô bụng một bồ dao găm” (Tục ngữ). Sự đối lập tăng cao ở khổ thơ thứ ba: “Hoàng bào đổi lấy cà sa/ hạt cơm lừa bán Hằng Nga nuôi mình/ ngàn vàng khôn chuộc chữ trinh/ nào ai trao trọn người tình mình yêu”. Sự lừa lọc và giả dối cứ từ từ tiệm tiến. Sự hoán đổi thật trớ trêu như một màn bi hài kịch. Lê Quốc Hán giấu nỗi buồn vào trong mà cứ tủm tĩm cười như chú Cuội, chứ không chán đời trước trần thế còn nhiều cát bụi”…
Phần 3: Những hạt vàng trong sách, với 23 bài giới thiệu về sách của 23 tác giả. Phần này, nhà phê bình Lê Xuân đã giành phần lớn giới thiệu các tác phẩm của các tác giả ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (18/23). Ở đây có thể coi như một cuộc điểm danh những tên tuổi và tác phẩm ở vùng đất này với những tác giả quen thuộc được nhiều bạn đọc biết đến như: Lâm Tẻn Cuôi, Huệ Thi, Lê Lương Ngọc, Lê Kim Loan, Đặng Tuyết, Lê Ái Siêm, Trương Viết Hùng, Tùng Chương, Huyền Văn, Trần Thanh Chương, Nguyễn Kim Thanh, Đặng Phúc Minh, Dũng Trần, Lương Minh Hinh, Nguyễn Duy Chuông, Sáu Nghệ, Cao Thanh Mai, Lê Quang Vui.
Ở mỗi tác phẩm anh luôn tìm ra những nét độc đáo về phong cách tác giả và sự thành công trong bút pháp biểu hiện ở những hình tượng nghệ thuật để chuyển tải nội dung. Ở đây người đọc bắt gặp sự từng trãi và vốn sống của mỗi tác giả phả vào tác phẩm. Ta thấy chất lính của anh bộ đội Cụ Hồ khá đậm nét qua các truyện ngắn, tản văn, bút ký của HuyềnVăn, Cao Thanh Mai, Nguyễn Duy Chuông, Sáu Nghệ. Tình thơ, tình yêu, tình bạn, tình quê hòa quyện trong thơ Lê Ái Siêm, Lâm Tẻn Cuôi, Tùng Chương, Lê Lương Ngọc, Lê Quang Vui, Huệ Thi, Trương Viết Hùng. Những cảnh sắc miền sông nước Tây Nam Bộ, những con người miệt vườn chất phác, nhân ái, hào hiệp trọng nghĩa khinh tài, thích ca cải lương, đờn ca tài tử, và đôi khi điệu nghệ cứ hiện lên như sờ nắm được trong những bút ký, tản văn, truyện ngắn của Nguyễn Kim Thanh, Huyền Văn, Cao Thanh Mai. Đặc biệt anh rất trân trọng những tìm tòi mới lạ về xu hướng hậu hiện đại, ảnh hưởng của trường phái Prớt trong trường ca “Lò Mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mà nhiều người còn bàn cãi. Anh đưa ra những nhận định thấu tình đạt lý.
Việc phân chia bố cục của tập sách như thế cùng với những vấn đề được chuyển tải trong tác phẩm, cho thấy sự nghiêm cẩn trong lao động nghệ thuật, sự chắt chiu và trân trọng những thành quả của người sáng tạo. Ở đó ý thức trách nhiệm, tình yêu và sự dấn thân với văn chương chữ nghĩa được thể hiện rõ nét. Vì thế, tôi rất trân quý và ngưỡng mộ phẩm hạnh người cầm bút tâm huyết mà nhà phê bình Lê Xuân đem tới. Tác phẩm này cũng là lời tri ân, là nén tâm nhang dâng lên anh linh một số tác giả đã rời cõi tạm về miền cực lạc, như nhà thơ Chế Lan Viên, Hồ Dzếnh, Nguyễn Bùi Vợi, Lâm Tẻn Cuôi, Lê Đình Cánh, Bùi Văn Bồng, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Văn Chương (Bắc Ninh), Trịnh Anh Đạt, Đoàn Vị Thượng, Đinh Văn Hội, Lâm Văn Lan, Phan Huy.
Với quan niệm về văn chương một cách thấu đáo, sự tương thông linh cảm, ngòi bút tinh tế, sắc sảo của người phê bình nên anh đã có một cái nhìn và đánh giá hài hòa, vừa phải. Anh không quá khắt khe, không dùng phê bình như “ngọn roi” mà luôn có sự nâng niu trân trọng, ghi nhận những điểm mạnh của từng tác giả để tạo động lực cho họ tiếp tục trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Bởi hơn ai hết, Lê Xuân hiểu được nỗi nhọc nhằn, vất vả, chông chênh của người “phu chữ”. Anh cho rằng: “Văn chương là sự ký thác cuộc đời của mỗi tác giả cho đam mê phát sáng và bùng cháy, đem thông điệp cho con người và cuộc sống theo một cảm quan thẩm mỹ. Nhà văn cần nhận ra một điều là ta đang tồn tại trong một hiện thực phức tạp, đa diện, đa chiều để từ đó sáng tạo không ngừng cho tác phẩm có độ “bắt sáng” hiện thực cụ thể. Và tâm hồn phải là một “ăng ten” nhạy cảm, có “đường dẫn” của lý trí sáng suốt”.
Lời đồng vọng 2 với nhiều phát hiện mới mẻ, nhiều đúc kết giá trị được nhà phê bình Lê Xuân dày công nghiên cứu, cảm nghiệm. Vì thế, tôi cho rằng đây là tập tư liệu quý cho người nghiên cứu, học tập, tìm hiểu về văn chương, nhất là những nghiên cứu có liên quan đến văn chương vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
23/1/2026
Nguyễn Văn Hòa
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương - Tài hoa giữa trần gian đa đoan

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Tài hoa giữa trần gian đa đoan

Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, người được UNESCO tôn vinh danh nhân văn hóa thế giới năm 2021, không chỉ gây sự chú ý cho hậu thế bởi bà là nhà thơ nữ nổi bật nhất trong văn chương trung đại Việt Nam, trước tác thơ ca táo bạo, độc đáo, “vừa có nét người, vừa có tiên và quỷ trong thơ” (Xuân Diệu), mà còn bởi nhiều góc khuất về số phận.
Cuộc đời Hồ Xuân Hương là bức tranh vừa sáng vừa tối, giữa xác thực và huyền thoại. Chính những góc khuất ấy đã khiến bà trở thành hiện tượng đặc biệt – “nữ sĩ tài hoa mà đa đoan”, vừa thật vừa mộng; vừa sống trong sử, vừa ẩn trong thơ…
Cuộc đời nhiều “ẩn khuất”
Theo tìm hiểu của chúng tôi, có nhiều lý do khiến cuộc đời Hồ Xuân Hương được xem là “nhiều ẩn số”. Trước nhất là việc thiếu tư liệu lịch sử xác thực. Hầu như không có tài liệu chính thức nào ghi chép đầy đủ về tiểu sử của Hồ Xuân Hương. Các sách sử, như Đại Nam thực lục, Quốc sử quán (triều Nguyễn), Lịch triều hiến chương loại chí… đều không đề cập rõ ràng đến bà. Phần lớn những gì chúng ta biết được hôm nay chủ yếu dựa vào giai thoại, từ truyền miệng hoặc suy đoán từ sáng tác.
Theo Từ điển Văn học (bộ mới), thân thế và quê quán của Hồ Xuân Hương cũng chưa rõ ràng. Có người cho rằng quê bà ở Nghệ An, theo dòng họ Hồ, rồi phiêu dạt ra Thăng Long. Có người lại khẳng định bà sinh ra ở phường Khán Xuân (Hà Nội), nay thuộc Hồ Tây. Ngay cả năm sinh và mất cũng không thống nhất. Có tài liệu ghi 1772-1822 nhưng cũng có nguồn cho là 1778-1828. Sách giáo khoa nhà trường thì ghi ? - ?, nghĩa là chưa rõ cụ thể năm sinh và mất. Về vấn đề thân phận và hôn nhân cũng nhiều uẩn khuất. Giai thoại kể bà từng làm lẽ cho Tổng Cóc, rồi Tổng Quỳ, nhưng các nhân vật này cũng mơ hồ, không có ghi chép chính thức. Nhiều người cho rằng bà bị ép duyên, sống cảnh “chồng chung”, điều đó giải thích cho giọng thơ đầy phẫn uất và khát khao tự do. Một số học giả còn nghi ngờ có hai “Hồ Xuân Hương” khác nhau, một người sống thời Lê mạt, một người thời Nguyễn sơ, do văn phong thơ có sự khác biệt.
Tác phẩm thơ có nhiều tranh cãi về tác giả là tập Lưu Hương Ký, được coi là thơ của Hồ Xuân Hương song trước đây vẫn tồn nghi về tác giả. Có ý kiến cho rằng có phần thơ của người khác được gán tên bà. Một số bài “tục mà thanh” lưu truyền bằng truyền miệng, nên việc xác định đâu là thơ thật của bà vẫn còn chưa rõ ràng (theo Wikipedia về Hồ Xuân Hương).
Một điểm nữa là thiếu dấu tích về hậu phận và nơi an táng. Không có ghi chép chính xác bà mất năm nào, mộ ở đâu. Một vài địa danh như Nghệ An, Nam Định, Hà Nội đều có “truyền thuyết” là nơi an nghỉ của bà, điều này càng khiến cuộc đời bà thêm phần huyền bí.
Tình duyên lận đận
Đường tình duyên lận đận là một trong những điểm “bi kịch sâu sắc nhất” trong cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương làm “nền” cho giọng thơ vừa đằm thắm, vừa chua cay và đầy phẫn uất. Các tư liệu dân gian, giai thoại và thơ ca cho thấy rõ điều đó. Người con gái tài hoa nhưng lẻ loi. Hồ Xuân Hương nổi tiếng tài sắc, thông minh, văn chương lỗi lạc, lại có cá tính mạnh mẽ, tự tin. Nhưng xã hội phong kiến thời ấy khắt khe với phụ nữ, coi “tài tình” là mối họa cho thân, khiến bà dù được ngưỡng mộ vẫn khó tìm được hạnh phúc trọn vẹn. Có thể vì vậy mà trong thơ bà vang lên nhiều tiếng than thân trách phận của phụ nữ cô đơn: “Thân này ví xẻ làm đôi được/ Nửa để trong nhà, nửa đệ ra” (theo Quốc văn tùng ký).
Cuộc hôn nhân với Tổng Cóc là nỗi đau “làm lẽ”. Giai thoại nổi tiếng nhất kể rằng bà làm lẽ cho Tổng Cóc, một viên quan hào phú nhưng thô kệch. Cuộc hôn nhân ấy không mang lại hạnh phúc mà chỉ đem đến tủi nhục, vì bà phải sống cảnh “chồng chung”, bị coi là người thứ hai. Bài thơ Làm lẽ được xem là tiếng lòng của bà trong giai đoạn ấy:
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
Thân này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.
Những câu thơ ấy vừa táo bạo, vừa xót xa, cho thấy nỗi đau thân phận người phụ nữ tự do bị trói vào vòng lễ giáo. Cuộc tình dang dở thứ hai với Tổng Quỳ. Sau khi Tổng Cóc mất (theo giai thoại), bà lại nên duyên với Tổng Quỳ - người được cho là hiền hậu, biết trọng tài năng của bà. Nhưng duyên phận lại ngắn ngủi, Tổng Quỳ qua đời sớm, để lại bà một lần nữa lẻ bóng. Người đời nói rằng chính sau cú sốc ấy, thơ bà càng sâu cay, phẫn uất, tràn ngập ý thức phản kháng, tự do và khát vọng sống trọn vẹn hơn. Cuối đời, không có chứng cứ nào nói bà tái giá sau đó. Một số giả thuyết cho rằng bà sống ẩn dật, tiếp tục sáng tác thơ.
Cuộc đời Hồ Xuân Hương là bi kịch của một người đàn bà tài hoa trong xã hội bất công, khao khát yêu thương nhưng luôn gặp duyên phận éo le. Chính những mối tình dang dở và nỗi cô đơn ấy đã nuôi dưỡng một giọng thơ vừa tình tứ, vừa chua cay và nhân bản, khiến tên tuổi bà sống mãi như bông hoa lạ giữa vườn thơ Việt Nam trung đại, “đầy tinh thần chống lễ giáo phong kiến và giàu lòng nhân đạo, chứa chan lòng yêu đời” (Đặng Thanh Lê, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3, 1963).
Vì sao Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”?
Nhà thơ Xuân Diệu đã tôn vinh nữ sĩ Hồ Xuân Hương là “Bà chúa thơ Nôm” trong bài tiểu luận có tựa đề “Hồ Xuân Hương - Bà Chúa thơ Nôm” vào năm 1958, sau đó được đưa vào cuốn phê bình văn học Các nhà thơ cổ điển Việt Nam.
Trong nền văn học trung đại Việt Nam, thơ Nôm từng được nhiều tác giả sử dụng, song chỉ đến Hồ Xuân Hương, tiếng Nôm mới thật sự đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ. Bà biến ngôn ngữ dân gian mộc mạc trở nên tinh tế, hóm hỉnh, có chiều sâu triết lý và sức lay động mạnh mẽ. Những hình ảnh quen thuộc trong đời sống thường nhật như bánh trôi, cái quạt, quả mít, hang Cắc Cớ… qua ngòi bút của Hồ Xuân Hương bỗng hóa thành biểu tượng cho thân phận và khát vọng của người phụ nữ. Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói tự do, phản kháng, là sự nổi loạn của một tâm hồn tài hoa bị lễ giáo trói buộc. Bà dám nói thẳng, nói thật, nói hết nỗi đau và khát vọng yêu thương, từ đó khẳng định phẩm giá và quyền sống của con người, đặc biệt là người phụ nữ. Giáo sư Nguyễn Lộc (trong Thơ Hồ Xuân Hương, 1982) nhận xét khá tường tận: “Dường như không chỉ là ý thức mà đã trở thành tiềm thức, Hồ Xuân Hương có một lòng tin mãnh liệt vào tài năng sáng tạo của người phụ nữ”. Chính niềm tin này vực dậy nơi bà nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận, với bút lực ngôn từ “của một thế giới âm thanh rộn rã, náo động” (Đỗ Đức Hiểu, Tạp chí Văn học, số 5, 1990), xứng đáng với “chúa” về làm thơ chữ Nôm.
Với giọng thơ “tục mà thanh”, vừa đậm chất dân gian, vừa sâu sắc trí tuệ, Hồ Xuân Hương đã làm chủ hoàn toàn tiếng nói dân tộc và nâng nó lên tầm nghệ thuật bác học. Danh hiệu “Bà chúa thơ Nôm” vì thế là sự tôn vinh xứng đáng cho một tài năng kỳ lạ - người đã biến tiếng Việt thành tiếng cười, tiếng khóc và tiếng thở dài đầy nhân bản, thấm đẫm chất văn hóa dân tộc Việt Nam.
24/1/2026
Trần Ngọc Tuấn
Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Đọc truyện ngắn "Rừng Mắm" của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi

Đọc truyện ngắn "Rừng Mắm"
của Bình Nguyên Lộc, nhớ
thuở cha ông đi mở cõi

Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc. 
Truyện ngắn Rừng Mắm kể về một gia đình ba thế hệ, vì nghèo, không có đất, đã lưu lạc tới Cà Mau để lập nghiệp. Đó là gia đình Cộc, một cậu bé mười tuổi, cùng tía má và ông nội cậu. Họ chọn một bờ rạch để định cư và đặt tên nơi này là Ô-Heo vì đấy vốn là hang ổ của loài heo rừng. Sau khi tạm ổn định nơi ăn ở, họ bắt tay vào khai khẩn rừng hoang để trồng lúa và hy vọng vùng đất này sẽ có một tương lai xán lạn bởi người dân các nơi có thể theo chân họ tới đây sinh sống. Thông qua câu chuyện của gia đình Cộc, Bình Nguyên Lộc như tái hiện lại lịch sử vùng đất Nam Bộ thuở những người Việt đầu tiên đến đây khai khẩn, thuần hoá đất đai.
Nhân vật chính của truyện ngắn là Cộc, thế hệ thứ ba của gia đình nông dân nói trên. Việc di cư tới Cà Mau lập nghiệp là chủ trương của ông nội Cộc. Cậu cũng không phải là người đóng vai trò chủ chốt trong những năm đầu tạo lập cuộc sống mới của gia đình. Tuy vậy, nếm trải sâu sắc dư vị cuộc khai khẩn đất từ khi còn là một cậu bé có tâm hồn vô tư, trong sáng và là người kế tục sự nghiệp của ông cha mình nên những gì Cộc đã trải qua, diễn biến tâm lý, tư tưởng của cậu là tấm gương phản chiếu đầy đủ, khách quan hiện thực cuộc sống và cả tương lai của cuộc khai hoang lập nghiệp ấy. Chính vì vậy, khi đọc Rừng Mắm, thông qua nhân vật Cộc, người đọc sẽ hiểu được quá trình chinh phục vùng đất mới của gia đình cậu, và qua đó, tìm về một thời kỳ lịch sử oai hùng của cha ông: thời kỳ khai khẩn vùng đất phương Nam của Tổ quốc.
Cộc là một cậu bé thích khám phá và có tâm hồn nhạy cảm. Những năm tháng đầu tiên sống ở rừng, cậu say mê trước những điều mới lạ. Chăm chú theo dõi con chim thầy bói “câu cá”, Cộc` “thích chí hết sức” trước những động tác kỳ dị và tài tình của nó. Đôi mắt cậu cũng không thể bỏ qua hình ảnh “trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời tháng giêng, đang yên lặng và bền chí rình cá”. Cộc kịp nhận ra “màu xanh của chim thằng chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền chí của các lão có sầu não là ngang vai thôi”. Từ chỗ là một cậu bé thơ ngây, những điều đã được chứng kiến gieo vào lòng Cộc một tình yêu sâu sắc đối với thiên nhiên đồng thời khắc ghi vào tâm trí cậu bài học đầu tiên về sự bền gan vững chí trước các thử thách của cuộc đời. Bài học ấy thực sự có ý nghĩa, bởi bên cạnh hình ảnh nên thơ, đầy cuốn hút của thiên nhiên, có một thực tế đầy nghiệt ngã đang diễn ra: “Trong thế giới bùn lầy mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cá, từ ông nội nó đến những con sinh vật nhỏ mọn quy tụ quanh các ngọn nước.”
Với tâm hồn nhạy cảm, dù đang thích chí theo dõi con chim thằng chài, nhưng khi có đàn cò bay qua, thấy đầu cò chơm chởm những cọng lông bông, Cộc quên thằng chài ngay và nhớ tới những kép vó hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mộ cách đây năm năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng. Trong tâm trí Cộc chợt hiện về những hình ảnh thân thương của cuộc sống nơi quê cũ: “Hồi ấy nó sướng lắm. Quanh nhà nó có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với”. “Nghĩ tới những năm cũ, thằng Cộc nghe thèm người vô cùng, thèm còn hơn là thèm một trái xoài ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm”.
 Những kỷ niệm ấy đã thuộc về dĩ vãng xa xăm khi nó theo ông nội và ba má nó vào rừng sâu lập nghiệp. Đổi lại, là “những chiều nghi ngút sương từ đất lầy bốc lên”, “những đêm mưa gào gió hú”, “những chuyện ma, rợn óc như ăn phải trái bần chua”. Là nơi không có tiếng chó sủa, tiếng gà gáy. “Con chó săn và mấy con gà giống mang theo đã ngã lăn đùng ra mà chết ngay trong tháng mới tới”. Khí hậu “tàn ác: nóng, ẩm, còn muỗi mòng thì quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy”. Môi trường sống ấy như là một trong những cái giá đắt phải trả, hoặc là một sự hy sinh không nhỏ, khi Cộc và những người thân của mình từ bỏ cuộc đời cũ để đi tìm tương lai.
Với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt như vậy, công cuộc khai khẩn khu rừng hoang thành đất trồng lúa và cây ăn trái của gia đình Cộc đã gian nan, vất vả, càng gian nan, vất vả hơn. Ngay cả khi đã có đất, việc trồng và thu hoạch lúa cũng hết sức gian truân. Cộc và những người trong gia đình cậu phải suốt ngày căng mình dưới nắng đốt và lội bì bõm trong sình bùn sâu để lao động cật lực. Do đất mặn, năng suất lúa rất thấp, chỉ đáp ứng được phần nhỏ nhu cầu thiết yếu của gia đình. Qua câu chuyện giữa Cộc và những người cậu tình cờ gặp trong rừng, chúng ta được biết, tía Cộc phải đem cá khô đi rất xa để đổi lúa thêm. Nhiều khi cả nhà phải ăn rắn, ăn rùa trừ cơm. Chè và các thứ đồ ngọt vốn là món ăn bình dân trở thành niềm ước ao ám ảnh tâm trí Cộc. Do thiên nhiên quá khắc nghiệt, cây cối trồng lên bị chết queo. Để tránh nước mặn tràn vào sân, tía Cộc phải “đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn tréo như giá trống của bọn đờn thổi đám ma. Trên mỗi giá đặt một cái nồi lủng đít, và trong nồi để đầy đất tía nó mang từ xa về” làm chỗ trồng hành, ớt, rau răm, rau ngò om, “là bốn thứ tối cần” làm món gia vị ăn cá. Sống tách biệt với xã hội bên ngoài, những cái giá ba chân và những chiếc nồi đặt trên đó trở thành đồng hồ xác định thời gian: họ nhìn bóng của chúng để đoán giờ giấc trong ngày. Chuyện lao động, ăn uống, sinh hoạt đã vậy, cái mặc của Cộc và các thành viên trong gia đình cũng kham khổ đến cùng cực: “Từ lâu, nó chỉ có một chiếc quần xà lỏn trên người, mùa nắng cháy như mùa mưa lạnh. Đêm khuya nhờ nó che thân cho đỡ bị muỗi đốt và gió cắt da”.
Như một lẽ tự nhiên, dù là đứa bé chịu thương chịu khó, nhưng với môi trường và điều kiện sống như vậy, Cộc không khỏi xao lòng. Những lúc rảnh rỗi sau khi thu hoạch lúa xong, Cộc lại nao nức muốn về làng. Cậu bí mật tiếp xúc với những người bạn thỉnh thoảng gặp trong rừng. Đó là “vài người đờn ông và đờn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông”. “Đờn ông thì đến để gác cuốc, gác nhan sen, còn đờn bà thì để nhổ bồn bồn về làm dưa bán”. “Họ hay kể chuyện xóm làng, chuyện đám cưới, đám ma, đám hát, đám cúng đình, tóm lại là tất cả sanh hoạt của làng mạc từ lâu Cộc không thấy và ngậm ngùi tưởng đến như những kỷ niệm xa xôi”.
Một lần, nghe tiếng hò của ai bỗng vẳng lên trong rừng rậm, rồi tiếp theo là tiếng chèo khua nước, “Cộc sướng như có lần tía nó cho nó ăn một cục đường từ nơi xa mang về”. Khi gặp “đôi tình nhơn” đang ngồi với nhau trên gò Ô-Heo và nghe người đàn ông hỏi: “Mày về trển hay không Cộc?”, lại nghe người phụ nữ trẻ đẹp bảo:  “Mày mà về trển làm ruộng thì ai cũng ưa”, lòng Cộc nôn nao.
Sau năm năm sinh sống ở rừng, mới bước vào tuổi mười lăm nhưng Cộc cao lớn như người đàn ông đã trưởng thành. “Sự nảy nở của thân thể nó đi song đôi với sự trưởng thành của đời sống sinh lý bên trong nó… Nó đã bắt đầu bâng khuâng mỗi khi chiều xuống, mặt trời đốt cháy đỏ đầu rừng tràm trầm thủy trước nhà”. Vì vậy, khi nghe chị phụ nữ nói rằng, chị ta có người em gái tên Thôi “ngộ  lắm, trắng lắm”, nếu về “làm rể có công ba năm thì má chị gả con Thôi cho mày liền”, Cộc rất thích chí. Câu nói của chị nhổ bồn bồn và hình ảnh của Thôi - mặc dù chỉ là trong tưởng tượng - cứ hiện lên trong tâm trí Cộc.
Cái gì đến sẽ đến. Trong bữa cơm trưa của gia đình, giữa lúc cả nhà đang hớn hở vui mừng trước thành quả của mùa gặt, diện tích đất canh tác dự kiến sẽ được mở rộng thêm, chuối cũng sắp trổ buồng, báo hiệu đất đai đã khá thuần, năm tới có thể trồng sả, trồng ổi, nghĩa là tương lai tốt đẹp đã cận kề trước mặt, thì Cộc lên tiếng chất vẩn ông nội nó là tại sao mình lại tới đây? Với sự thôi thúc của bao nỗi niềm chất chứa trong lòng, Cộc đã nổi dận nói đi nói lại cái câu làm ông nội nó giật mình, chống đũa mà nhìn nó trừng trừng: “Ở đây mình có ruộng nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn là ở đó có làng xóm, có người ta”. Có lẽ ông đã trù liệu trước tình huống này. Hơn ai hết, ông hiểu sâu sắc rằng, để hoàn thành công việc đã đề ra, ông và các thành viên trong gia đình phải trải qua một hành trình vô cùng gian nan, vất vả. Đời sống , khổ ải đã đành, nhiều khi còn là những cuộc đấu tranh đầy gay cấn trong lòng. Ngay như bản thân ông có lúc không kìm nén nổi, thầm than “mình nhớ mồ mả ông bà quá”. Huống chi một cậu bé còn trẻ người non dạ như Cộc.
Để gỡ nút thắt ấy, sau khi dừng bồ cho con cháu đổ lúa khô vào, ông nội Cộc long trọng nói: “Ngày mai ra biển”.
Trải qua một buổi đi xuồng, tới gần mép biển, tía Cộc rút sào cắm xuống bùn theo lịnh ông nội. Cộc được ông nội cậu chỉ và giải thích về sự thay đổi hình thù của rừng cây trước mặt. “Bờ biển dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh núi tuôn tràn từ trên cao xuống mé biển ngoài xa”. Có những cây “mọc lẻ tẻ như những tên lính xung phong mau bước tiến tới để hãm thành lập công”. Dưới các gốc cây, “bùn đen từng nơi lại trắng xoá những đoá hoa năm cánh, hai màu đối chọi trông rất đẹp”. Cộc thắc mắc cây gì lạ vậy, lại trổ bông dưới gốc? Ông nội cậu bảo:  “Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây này là cây mắm, đây là rừng mắm đấy”… Thấy Cộc ngơ ngác không hiểu, ông nội cậu giảng giải: “Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lũn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng, nếu không có rừng mắm. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc được… Ông với lại tía con là cây mắm, chọn giẫm trong bùn. Đời con là đời tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài mít, dừa cau.
Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận ấy mà. Họ đã ngã gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng.
Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sinh chút ít cho con cháu của con hưởng sao?”.
Những lời ông nội nói làm Cộc bừng tỉnh. Cậu nhìn ông nội và “thương không biết bao nhiêu” bởi ông “đã bỏ mồ bỏ mả ông cha để hì hục năm năm trong đồng chua, nước mặn của Ô-Heo”. Cộc thích chí khi nghe ông nói về dự kiến tương lai: “Năm tới, đất thuần, ta làm ba mươi công, và sẽ gọi dân cày ở xa để phụ lực. Rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi thiên hạ sẽ bắt chước tràn tới đây mà phá rừng, vùng Ô-Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu”. Còn chè, món ăn đã mấy năm rồi Cộc luôn mơ ước, ông nội cậu bảo “sẽ có lu bù”.
Từ câu chuyện của gia đình mình, ông nội Cộc liên hệ tới lịch sử của các bậc tiền nhân: “Tổ tiên ta ngày xưa từ Bắc, Trung tràn vào đây đều chịu số phận là cây mắm hết… Họ đã ngã rạp trong chốn ma thiêng nước độc này để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối lội qua lộ nước rộng đắp đường cho bọn đi sau vào đến nơi có chất ngọt. Nhiều lớp tiên phong đã ngã gục như rừng mắm. Rồi thì ông sơ, ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng ăn”.
Những lời ông nội Cộc nói thật thấu tình, đạt lý. Từ quy luật của tự nhiên, ông đã liên hệ và chỉ ra quy luật của cuộc sống, làm cho Cộc thấy rõ con đường mình đang đi. Cộc bất chợt thốt lên tiếng “tía!” bằng một giọng yêu thương trìu mến hết sức. Cậu lo không biết tía cậu sẽ làm tràm như cậu được hay không?.
Trước tình cảm, suy nghĩ và thái độ ứng xử của Cộc, ông nội cậu biết rằng, nút thắt đã được cởi. Cộc, thế hệ nối tiếp của ông và con ông đã thực sự hiểu được ý nghĩa sâu xa của việc khai khẩn, thuần hoá đất đai, xây dựng cuộc sống mới, và như vậy, tương lai tươi đẹp của công cuộc ấy chắc chắn sẽ được đảm bảo. Vì vậy, ông ra lệnh “nhổ sào đi về cho kịp con nước”.                              
Với tác phẩm Rừng Mắm, Bình Nguyên Lộc đã thể hiện năng lực viết truyện ngắn bậc thầy của mình. Ông không hề gượng ép, lên gân. Tình tiết câu chuyện tự nhiên, hợp lý. Kết cấu truyện chặt chẽ. Tác giả cũng lồng ghép câu chuyện cùng các diễn biến tâm lý của nhân vật với những triết lý sâu sắc. Có khi đó là phát biểu của người dẫn chuyện về quy luật sinh tồn của con người và các sinh vật khác. Có khi thông qua các cuộc đối thoại giữa các nhân vật trong tác phẩm. Bình Nguyên Lộc cũng sử dụng hiệu quả kết cấu song hành giữa hiện thực và cảm hứng lãng mạn: bên cạnh cuộc sống gian khổ của Cộc và gia đình cậu là những hình ảnh thơ mộng của thiên nhiên hoang dã, hay ước vọng của họ về tương lai… Tất cả các chi tiết ấy đều tập trung vào việc khắc họa cuộc sống của các nhân vật trong truyện ngắn.
Việc xây dựng hệ thống nhân vật là một gia đình bốn người gồm ba thế hệ là một sáng tạo của tác giả nhằm tạo tiền đề cho việc xây dựng cốt truyện. Mỗi nhân vật có vai trò và tính cách khác nhau. Ông nội Cộc, người chủ trương đi lập nghiệp ở vùng đất mới là người nhìn xa trong rộng, giàu bản lĩnh và ý chí, có tấm lòng độ lượng, bao dung. Ông luôn nắm chắc và làm chủ tình hình, táo bạo nhưng sáng suốt, hoạch định lộ trình chính xác, dự kiến được những khó khăn trắc trở và có niềm tin vững chãi vào tương lai. Vì cuộc sống của các thế hệ con cháu, ông đã chấp nhận mọi sự vất vả hy sinh để dấn thân thực hiện hoài bão lớn. Ông là chỗ dựa tinh thần cho cả gia đình. Khi cần, ông có thể giải quyết nhanh gọn và hiệu quả các xung đột trong đời sống, tình cảm, tư tưởng của các thành viên để hướng tới mục tiêu cao đẹp phía trước mà việc giải toả nỗi niềm trắc ẩn trong lòng Cộc là một minh chứng. Tía má Cộc - lực lượng lao động chính trong gia đình - là những người nông dân hiền lành, chất phác, chí cốt làm ăn, luôn nỗ lực thích nghi với điều kiện, hoàn cảnh khách quan và có những kinh nghiệm đáng quý trong sản xuất, ổn định cuộc sống. Cộc là cậu bé hồn nhiên, trong sáng, chịu thương chịu khó. Tuy trong lòng Cộc có những xao động và ý nghĩ trái chiều với định hướng của ông nội và tía má cậu nhưng điều đó hoàn toàn dễ hiểu và thông cảm vì nó phản ánh đúng quy luật tâm, sinh lý lứa tuổi trước hoàn cảnh. Khi được ông nội giảng giải, khuyên bảo, cậu mau chóng nhận ra vấn đề. Việc tác giả chọn Cộc làm nhân vật chính của truyện ngắn và cách ông xây dựng các tình tiết, lớp lang của câu chuyện xung quanh nhân vật này cũng là một sáng tạo độc đáo. Nội dung truyện được phản chiếu, khúc xạ qua tâm hồn Cộc, một tâm hồn trẻ trung, trong sáng, tạo cho người đọc cảm giác mọi chuyện diễn ra đều khách quan, chân thực, và do đó góp phần nâng cao sức thuyết phục của tác phẩm. Tác giả cũng không cần phải dụng công nhiều để miêu tả những chi tiết cụ thể về cuộc sống và quá trình lao động đầy gian nan thử thách của gia đình Cộc mà vẫn phản ánh một cách sinh động quá trình ấy, qua đó thể hiện đậm nét nội dung, tư tưởng tác phẩm. Việc sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ và ngôn ngữ “đặc sản” của Nam Bộ, khả năng khắc họa tinh tế những phẩm chất bên trong rất đáng yêu của người dân vùng đất này, cùng với lối hành văn bình dị, gần gụi mà khúc chiết, giàu tình cảm của tác giả cũng góp phần tạo nên hồn cốt và sức hấp dẫn của tác phẩm. Nhất là đoạn văn miêu tả cây cối và rừng mắm ở cửa rạch cùng những lời giảng giải mộc mạc nhưng  giàu tâm huyết, có chiều sâu trí tuệ và tâm hồn, đúc kết sâu sắc và minh triết từ lịch sử của ông nội Cộc đã tạo nên bản hùng ca tuyệt đẹp về quá trình khai khẩn, thuần hóa đất đai, xây dựng cuộc sống mới của các thế hệ cha ông ở dải đất phương Nam của Tổ quốc. Đó chắc chắn là một trong những áng văn đẹp nhất, khúc chiết nhất của Bình Nguyên Lộc.
Đọc truyện ngắn Rừng Mắm, chúng ta cảm nhận thật rõ những thử thách, gian truân gia đình Cộc đã phải trải qua và những thành quả họ đạt được. Cũng qua Rừng Mắm, chúng ta như được trở về với những năm tháng gian khổ và hào hùng của các thế hệ cha ông, thấu hiểu sự hy sinh và công lao to lớn của các bậc tiền nhân để non sông đất nước ta được đàng hoàng, tươi đẹp như ngày hôm nay. Từ đó, ta càng thêm yêu quý và tự hào về đất nước, quê hương mình.
26/1/2026
Nguyễn Quế
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Khi bất an trở thành hình thức cao nhất của tỉnh táo

Khi bất an trở thành
hình thức cao nhất của tỉnh táo

Có những cuốn sách được viết ra để giải trí. Có những cuốn khác được viết để kể một câu chuyện. Nhưng cũng có những cuốn sách - hiếm hơn - được viết ra để đặt con người trước chính mình, buộc ta phải dừng lại, tắt bớt những kết nối quen thuộc, rồi tự hỏi: mình đang sống, hay chỉ đang online? Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới là một cuốn sách như thế. Tiểu thuyết của Dương Bình Nguyên vừa đoạt giải A cuộc thi tiểu thuyết, truyện và kí về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” giai đoạn 2020 - 2025, cuộc thi do Bộ Công an phối hợp cùng Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ngày 24/1/2026, tại đường sách Nguyễn Văn Bình, TP. Hồ Chí Minh, buổi ra mắt giới thiệu tác phẩm đã diễn ra.
Năm truy vấn cho một thời đại trơn tru
Cuốn tiểu thuyết này không dẫn dắt người đọc bằng cao trào giật gân. Nó dẫn dắt bằng những truy vấn đạo đức. Với tôi, ít nhất có năm câu hỏi lớn được đặt ra xuyên suốt. Năm truy vấn ấy tạo thành khung xương cho toàn bộ tác phẩm, khiến Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới không chỉ là một câu chuyện trinh thám, mà là một suy ngẫm lớn về thân phận con người trong thời đại dữ liệu.
1. Điều gì khiến một con người tự chọn cái chết khi không có bạo lực trực tiếp?
Điều đáng sợ nhất trong cuốn sách không phải là tội ác, mà là cảm giác con người có thể bước vào bi kịch ấy bất cứ lúc nào. Không cần dao súng, cưỡng ép. Chỉ cần những cú click chuột, những áp lực tâm lí kéo dài, những danh dự bị bào mòn trong im lặng.
Ở đây, cái chết không đến từ bạo lực trực diện, mà từ một quá trình “trơn tru” đến mức nạn nhân không còn khả năng phản kháng. Đó là một dạng tội ác rất mới và rất quen của thời đại số.
2. Cái ác hôm nay còn mang hình dạng cụ thể, hay đã tan vào hệ thống?
Nếu chỉ nhìn Mr.X - Vương Cao Trí như một cá nhân, ta sẽ đọc cuốn sách này theo kiểu cũ: có thủ phạm, có truy bắt, có kết án. Nhưng điều làm Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới đáng sợ lại nằm ở chỗ khác: cái ác ở đây vận hành như một cơ chế. Nó không cần xuất hiện ngoài ánh sáng; nó len lỏi trong những quy trình “đúng chuẩn”, những cú click chuột “hợp lệ”, những mệnh lệnh dữ liệu trơn tru đến mức không ai kịp tự hỏi mình vừa đồng ý điều gì.
Vì thế, truy tìm Mr.X trong cuốn sách không chỉ là truy tìm một cái tên. Đó là truy tìm một kiểu quyền lực: quyền lực khiến con người tự nghi ngờ, tự xấu hổ, tự bịt miệng, rồi tự rơi khỏi đời sống. Tác giả rất khéo khi luôn để người đọc đứng ở rìa của sự chắc chắn: có lúc tưởng đã nắm được “hung thủ”, nhưng ngay sau đó lại thấy mọi bằng chứng có thể chỉ là… lớp vỏ.
Và chính trong vùng không chắc chắn ấy, người đọc bắt đầu nghi ngờ tất cả, không phải để giật gân, mà để nhận ra một sự thật: thời đại số khiến cái ác trở nên vô danh, và vì vô danh nên càng khó chống lại.
3. Ta đang sử dụng công nghệ, hay đang sống theo nhịp của nó?
Những trang viết về đô thị, về tuyến metro Hà Nội trên cao được ví như “mạch máu nhân tạo cắm thẳng vào não thành phố” không nhằm minh họa bối cảnh. Chúng cho thấy một sự thật lạnh: con người hiện đại không còn sống trong không gian, mà sống trong nhịp vận hành của hệ thống.
Người ta di chuyển, làm việc, tiêu thụ thông tin – và cả tuyệt vọng – theo cùng một nhịp trơn tru. Chính trong sự trơn tru ấy, con người đánh mất khả năng tự hỏi, đánh mất thói quen dừng lại để nghi ngờ. Và khi sự nghi ngờ biến mất, công nghệ không còn là công cụ, mà trở thành môi trường sống toàn phần.
Điều tinh tế của tác giả là anh không “giảng” điều này. Anh để nó thấm qua hình ảnh, qua nhịp câu, qua một loại lạnh lùng rất đời. Đọc tới đây, người ta bỗng thấy mình… cũng đang cắm mắt vào điện thoại.
4. Ai thực sự là nạn nhân trong những vụ án tự nguyện?
Nhân vật trung tâm của tiểu thuyết, Lãnh Hoàng Bách, không được xây dựng như một anh hùng phá án. Anh bước vào câu chuyện với tư cách một nạn nhân, mồ côi cả cha lẫn mẹ vì chính loại tội phạm công nghệ cao đã len lỏi vào mạch sống của đồng bào vùng núi Việt Bắc.
Chính xuất phát điểm ấy khiến hành trình điều tra của Bách không đơn thuần là truy tìm hung thủ, mà là một cuộc truy vấn sâu sắc về công lý, về trách nhiệm, và về giới hạn đạo đức trong một thế giới nơi dữ liệu có thể giết người.
Ở chiều ngược lại, nhân vật phản diện – ẩn số mang tên Mr.X – được cài cắm tinh vi bằng những chi tiết mang màu sắc tội phạm học: ký ức bạo lực thời thiếu niên, khoái cảm kiểm soát, sự lạnh lùng vô cảm. Tác giả không giải thích nhiều. Anh để người đọc tự hoàn chỉnh chân dung ấy trong đầu mình – và vì vậy, cái ác trở nên gần hơn, đáng sợ hơn.
5. Đối mặt thế nào với loại tội phạm vô hình?
Một điểm đáng giá khác của Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới là cách khắc họa đời sống lực lượng điều tra, đặc biệt qua tuyến nhân vật đội trưởng Lưu Bạch Đàn và Cục Cảnh sát Hình sự.
Không phải những màn phá án thần tốc. Chẳng có thiên tài suy luận như kiểu tiểu thuyết “Phía sau nghi can X” của Higashino Keigo, chỉ có sự nhẫn mệt mỏi, áp lực tâm lý, và những vùng xám đạo đức khi phải đối diện với một loại tội phạm không để lại dấu vết vật lý.
Và đây cũng là nơi cái tài “mông lung” của tác giả phát huy mạnh nhất: có những khoảnh khắc, người đọc không chỉ nghi ngờ Mr.X. Người đọc nghi ngờ cả những người đang đi tìm Mr.X. Nghi ngờ một ánh nhìn, một câu nói, một động cơ không được nói ra. Thậm chí, có lúc ta thấy mình bồn chồn đến mức… nghi ngờ chính đội trưởng họ Lưu.
Cảm giác ấy không đến từ thủ pháp đánh lừa rẻ tiền. Nó đến từ thứ không khí của một thời đại, nơi ai cũng có thể bị cắt ghép, bị dựng chuyện, bị bẻ lái số phận chỉ bằng vài dòng dữ liệu.
Nỗi ám ảnh âm ỉ như than hồng dưới tro
Đọc xong Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới, cảm giác đầu tiên không phải là hồi hộp, cũng không phải thỏa mãn vì tìm ra hung thủ. Cảm giác đầu tiên là muốn… log out khỏi mọi thứ. Tắt điện thoại. Thoát mạng. Rời khỏi cái thế giới mà ta tưởng mình đang kiểm soát, nhưng thực ra chỉ là một tài khoản chờ bị xóa.
Đây không phải cuốn sách để giải trí. Nó là một cú chạm lạnh vào gáy người đọc. Một câu chuyện về tội phạm công nghệ cao - nơi con người bị theo dõi, bị dẫn dắt, bị dồn ép đến mức được “mời gọi” rời khỏi Trái Đất bằng những cái chết tưởng như tự nguyện.
Từ Việt Bắc u tối, qua những con tàu điện trên cao lầm lũi trôi vào trung tâm Hà Nội, thế giới trong sách mở ra như một bản đồ ngầm của hiện thực - quen thuộc đến mức khiến người đọc giật mình nhận ra: mình đã từng nhìn thấy tất cả những điều này ở đâu đó ngoài đời.
Tôi đọc cuốn sách này rất kĩ, thậm chí hai lần liên tiếp. Lần thứ hai không phải để “thưởng văn”, mà để đi tìm Mr.X bằng cách lần theo từng con chữ. Và chính ở lần đọc ấy, tôi nhận ra một cái tài nổi bật của Dương Bình Nguyên: tạo ra sự mông lung của thế giới ảo - thứ mông lung khiến người đọc nghi ngờ tất cả.
Điều đáng chú ý ở Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới là khả năng tiết chế cảm xúc và khả năng kiểm soát để không làm vỡ cấu trúc truyện. Với thể loại trinh thám, có thể thấy ở đây thấp thoáng bóng dáng của tiểu thuyết Mĩ lừng danh thế giới Pháo đài số (Digital Fortress) - Dan Brown, không phải ở những cuộc rượt đuổi nghẹt thở hay tiếng súng dồn dập, mà ở nỗi ám ảnh công nghệ như một quyền lực vô hình. Ở đó, dữ liệu, thuật toán, hệ thống kiểm soát trở thành trung tâm của tấn bi kịch. Nhưng khác với Dan Brown, Dương Bình Nguyên chủ động từ chối kịch tính bề mặt. Không rượt đuổi, không giật gân, không cao trào ồn ào. Thay vào đó là một cảm giác bủa vây chậm rãi, lạnh lẽo và dai dẳng - thứ ám ảnh không tan đi ngay cả khi trang sách đã khép lại.
Chính sự tiết chế ấy khiến cuốn tiểu thuyết không nổ tung như một quả bom, mà giống như một tiếng chuông được khẽ rung lên trong thời đại số. Không ai bịt tai lại ngay. Nhưng rất lâu sau, người ta mới nhận ra âm vang của nó vẫn còn ở đó.
Chìa khóa tư tưởng của cuốn sách?
Trong cuộc trò chuyện với tác giả, tôi đặt ra một câu hỏi tưởng như đơn giản: “Nếu người đọc chỉ nhớ một cảm giác sau khi gấp sách lại, anh muốn đó là sự tỉnh táo, hay sự bất an? Và dụng ý điều đó là gì?”. Dương Bình Nguyên trả lời: “Tôi nghĩ đó là sự bất an để người ta tỉnh táo hơn. Bởi vì tôi thấy cái xấu, cái ác bây giờ thường đến từ những thứ trơn tru quá mức, trơn tru đến mức người ta quên nghi ngờ, quên tự hỏi. Bất an, may thay và cũng buồn thay, đó lại là cảm xúc rất người giữa thời lạnh lùng của dữ liệu.”
Câu trả lời ấy chính là chìa khóa thẩm mĩ của tiểu thuyết. Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới không muốn ru người đọc vào cảm giác an toàn. Nó chủ động trao cho người đọc sự bất an, như một cách giữ lại phần người cuối cùng giữa kỷ nguyên dữ liệu.
Bởi vậy, đây là cuốn sách không phải để giải trí. Không phải để tìm hung thủ. Mà để lấy lại khả năng nghi ngờ trong một thế giới đang vận hành quá mượt mà. Và nếu phải gọi tên cái tài trong sáng tạo của Dương Bình Nguyên trong cuốn sách này, tôi sẽ gọi đó là: tạo ra một vùng mờ có chủ đích. Vùng mờ khiến người đọc sốt sắng, ráo riết, muốn đi tới tận cùng để tìm ra “chân tướng” nhưng càng đi sâu, càng nhận ra sự thật không nằm ở một cái tên, mà nằm ở chính cách chúng ta đang sống. Và đôi khi, trong một thời đại trơn tru đến đáng sợ, bất an chính là hình thức cao nhất của sự tỉnh táo.
26/1/2026
Tô Giang
Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Đạo văn, nguyên nhân và hệ lụy

Đạo văn, nguyên nhân và hệ lụy

Giữ gìn sự liêm chính trong sáng tác vì thế không phải là một khẩu hiệu đạo đức, mà là điều kiện để văn chương tiếp tục tồn tại như một giá trị tinh thần cao đẹp và đáng tin cậy. Khi người cầm bút còn biết tự vấn, biết dừng lại trước ranh giới của sự trung thực, thì văn chương vẫn còn cơ hội tự làm sạch mình. Và chỉ trong một không gian sáng tác được nâng đỡ bởi sự thật và lòng tin, những tác phẩm chân chính mới có thể bền bỉ đi cùng con người, vượt qua những ồn ào nhất thời của danh vọng và thời cuộc để lặng lẽ nâng đỡ, an ủi con người, làm chỗ dựa tinh thần cho con người đi qua những chông chênh, trắc trở, đau đớn của cuộc sống vốn vẫn còn nhiều thử thách này.
1. Đạo văn - câu chuyện buồn không mới và chưa có hồi kết
Đạo văn không phải là hiện tượng của riêng thời đại hôm nay. Ngay từ khi con người bắt đầu ý thức về quyền tác giả, về sự sở hữu tinh thần đối với tác phẩm sáng tạo, thì cũng đồng thời xuất hiện một hiện tượng song hành: sự chiếm đoạt trái phép thành quả trí tuệ của người khác. Nói cách khác, lịch sử của văn chương, từ rất sớm, đã phải đối diện với mặt tối của chính mình.
Xét về nghĩa gốc, chữ “đạo” trong “đạo văn” mang nghĩa trộm cắp. Trộm cắp của cải vật chất hay trộm cắp sản phẩm tinh thần, suy cho cùng, đều là hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức, đồng thời xâm phạm quyền lợi chính đáng của người khác. Trong mọi xã hội, từ cổ đại đến hiện đại, trộm cắp luôn bị coi là hành vi đáng lên án và bị chế tài nghiêm khắc.
Ngay trong xã hội Việt Nam thời phong kiến, khi khái niệm bản quyền” theo nghĩa hiện đại chưa hình thành, các bộ luật lớn đã có những quy định rất chặt chẽ đối với tội trộm cắp. Bộ luật Hồng Đức - một trong những bộ luật tiến bộ của lịch sử pháp luật Việt Nam - quy định rõ các mức xử phạt đối với hành vi ăn trộm, từ trộm nhỏ đến trộm lớn, với những hình phạt nghiêm minh nhằm bảo vệ trật tự xã hội và đạo lý cộng đồng. Điều đó cho thấy, từ rất sớm, xã hội đã ý thức rõ rằng xâm phạm sở hữu của người khác là hành vi phá vỡ nền tảng đạo đức và trật tự.
Tuy nhiên, khi chuyển sang lĩnh vực văn chương, một lãnh địa tinh thần đặc thù, câu chuyện lại trở nên phức tạp hơn nhiều. Trong suốt một thời gian dài, việc trộm văn chương” gần như chưa được nhận diện đầy đủ và cũng chưa có những quy định pháp lý rõ ràng để xử lý. Một phần bởi sáng tác văn học mang tính tinh thần, trừu tượng; phần khác bởi trong bối cảnh xã hội cũ, việc giao lưu, tiếp nhận, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn hóa diễn ra chủ yếu qua con đường truyền miệng, sao chép thủ công, khó xác định ranh giới rạch ròi giữa học hỏi”, “ảnh hưởng” và “sao chép”.
Chính vì thế, trong lịch sử văn học, không hiếm những trường hợp từng gây ra tranh cãi, những nghi án văn chương” kéo dài qua nhiều thế hệ. Có những tác phẩm bị đặt câu hỏi về mức độ sáng tạo cá nhân; có những tác giả bị nghi ngờ vay mượn ý tưởng, mô-típ, hình ảnh từ người đi trước hoặc từ văn học nước ngoài. Những tranh cãi ấy, nhiều khi không có hồi kết rõ ràng, bởi thiếu tư liệu đối chiếu, thiếu khung pháp lý, và cũng thiếu một ý thức xã hội đầy đủ về quyền tác giả.
Điều cần nhấn mạnh là: đạo văn không phải câu chuyện riêng của Việt Nam, cũng không phải sản phẩm của một giai đoạn lịch sử cụ thể. Trong lịch sử văn học thế giới, không ít tên tuổi lớn từng vấp phải những cáo buộc liên quan đến việc vay mượn quá mức, sao chép ý tưởng hay cấu trúc tác phẩm. Có trường hợp được minh oan theo thời gian; có trường hợp bị lịch sử nhìn nhận lại với con mắt khắt khe hơn. Điều đó cho thấy, đạo văn là một vấn đề mang tính phổ quát, gắn liền với bản chất con người và những cám dỗ của danh vọng.
Tuy nhiên, nếu như trong quá khứ, việc phát hiện đạo văn gặp nhiều khó khăn, thì ở thời đại ngày nay, khi công nghệ phát triển mạnh mẽ, khi kho tư liệu văn chương toàn cầu trở nên dễ dàng tiếp cận, thì những hành vi sao chép, vay mượn trá hình không còn dễ che giấu. Chỉ cần một thao tác tìm kiếm, một so sánh văn bản, những điểm tương đồng bất thường có thể nhanh chóng bị phơi bày trước công chúng.
Thế nhưng, nghịch lý nằm ở chỗ: mặc dù điều kiện phát hiện ngày càng thuận lợi, hiện tượng đạo văn lại không hề suy giảm, thậm chí có xu hướng xuất hiện dưới những hình thức tinh vi hơn. Đạo nguyên văn, đạo toàn bộ tác phẩm; đạo từng phần; đạo ý tưởng; phỏng dịch không ghi nguồn; chế tác” lại từ tác phẩm có sẵn... tất cả đang cùng tồn tại, tạo nên một bức tranh phức tạp và đáng lo ngại của đời sống văn học nghệ thuật đương đại.
Điều đáng buồn là, không ít trường hợp đạo văn chỉ bị phát hiện sau khi tác phẩm đã được công bố rộng rãi, thậm chí đã được trao giải, được tôn vinh. Khi đó, sự lên án của dư luận thường đến rất muộn, để lại những tổn thương khó hàn gắn cho cả cá nhân lẫn các thiết chế văn học liên quan. Và rồi, sau mỗi vụ việc, xã hội lại rơi vào một chu kỳ quen thuộc: ồn ào - tranh cãi - xử lý - lắng xuống, trước khi một vụ việc khác lại xuất hiện.
Chính vì vậy, có thể nói rằng đạo văn là một câu chuyện buồn không mới, nhưng điều đáng lo ngại hơn là nó vẫn chưa có hồi kết. Việc liên tục tái diễn những vụ việc tương tự cho thấy đây không chỉ là lỗi cá nhân, mà là một vấn đề mang tính hệ thống, gắn với nhận thức, đạo đức sáng tác và cơ chế thẩm định trong đời sống văn học hiện nay.
Nhìn thẳng vào thực tế ấy không phải để bi quan, mà để thấy rằng: chỉ khi nào đạo văn được nhìn nhận đúng bản chất: là một hành vi xâm phạm nghiêm trọng đạo đức và giá trị văn hóa thì văn chương mới có cơ hội tự làm sạch mình và tiếp tục giữ được vị thế đáng trân trọng trong đời sống tinh thần xã hội.
2. Đạo văn - vì đâu nên nỗi?
Nếu đạo văn chỉ là kết quả của một vài cá nhân thiếu trung thực, thì hiện tượng này đã không tái diễn dai dẳng trong lịch sử văn học. Thực tế cho thấy, đạo văn là sản phẩm của nhiều tầng nguyên nhân đan xen, trong đó có những căn nguyên thuộc về tâm lý cá nhân, nhưng cũng có những nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường xã hội, từ cách chúng ta tiếp nhận và tôn vinh văn chương. Những căn nguyên cụ thể là:
2.1. Thói hám danh và ảo tưởng về vinh quang văn chương
Văn chương luôn gắn với một dạng vinh quang tinh thần đặc biệt. Không giống nhiều lĩnh vực khác, thành tựu văn học không chỉ mang lại danh tiếng nhất thời, mà còn có khả năng tạo dựng vị thế lâu dài trong đời sống văn hóa. Một tác phẩm lớn có thể sống lâu hơn tác giả, một tên tuổi văn chương có thể trở thành biểu tượng của cả một dân tộc.
Chính điều đó khiến văn chương trở thành đích đến đầy mê hoặc. Ánh hào quang của những nhà văn lớn -  những người có tác phẩm được đọc, được trích dẫn, được giảng dạy, được tưởng nhớ ... tỏa ra một sức hấp dẫn khó cưỡng. Với những người không đủ năng lực, không đủ trải nghiệm, không đủ chiều sâu để bước đi bền bỉ trên con đường sáng tạo, danh tiếng văn chương trở thành một cám dỗ vượt quá khả năng tự kiểm soát.
Ở đây nảy sinh một ảo tưởng nguy hiểm: ảo tưởng rằng chỉ cần có tác phẩm, bằng bất cứ cách nào, là có thể bước vào “đền đài văn chương”. Khi khát vọng được nổi tiếng lớn hơn sự trung thực với bản thân, đạo văn xuất hiện như một lối đi tắt. Nó cho phép người viết “đi nhanh” đến vạch đích danh vọng, dù con đường đó được lát bằng trí tuệ của người khác.
2.2. Sự gian dối như một lựa chọn đạo đức
Đạo văn không chỉ là biểu hiện của năng lực yếu kém, mà trước hết là một lựa chọn đạo đức sai lầm. Người đạo văn, ở một thời điểm nào đó, đã chấp nhận đánh đổi sự trung thực để lấy sự công nhận. Họ biết - hoặc ít nhất phải biết - rằng mình đang sử dụng thành quả của người khác, nhưng vẫn lựa chọn công bố nó như sáng tạo cá nhân.
Đáng lo ngại là trong một số trường hợp, sự gian dối ấy không còn được che đậy bằng cảm giác xấu hổ, mà được biện minh bằng đủ thứ ngụy biện: “ảnh hưởng văn học”, liên văn bản”, cảm hứng chung”, dịch thơ rồi sáng tạo lại”… Những khái niệm vốn có giá trị học thuật bị sử dụng sai lệch để hợp thức hóa hành vi chiếm đoạt trí tuệ.
Khi sự gian dối được ngụy trang bằng ngôn ngữ học thuật, đạo văn không chỉ là vi phạm cá nhân, mà trở thành sự lẫn lộn nguy hiểm về chuẩn mực, khiến ranh giới giữa sáng tạo và sao chép ngày càng có phần mờ nhạt.
2.3. Ngộ nhận về “tài năng” và sự lười biếng trong lao động sáng tạo
Một căn nguyên sâu xa khác của đạo văn là sự ngộ nhận về tài năng. Có không ít người bước vào văn chương với niềm tin rằng chỉ cần có cảm xúc mạnh, có vài trải nghiệm riêng tư, hoặc có khả năng sử dụng ngôn từ, là đã đủ để trở thành nhà văn, nhà thơ.
Thực tế, văn chương đòi hỏi lao động nghiêm khắc và bền bỉ. Đằng sau một tác phẩm có chiều sâu là vô số lần viết - xóa - viết lại, là những tháng năm tích lũy trải nghiệm sống, đọc và suy ngẫm. Khi người viết không sẵn sàng chấp nhận sự khắc nghiệt ấy, họ dễ rơi vào tâm thế tìm kiếm vật liệu có sẵn” để lấp đầy sự thiếu hụt của mình.
Ở đây, đạo văn không chỉ là gian dối, mà còn là biểu hiện của sự lười biếng trong sáng tạo. Thay vì đối diện với giới hạn của bản thân, thay vì chấp nhận sự chậm chạp và khó khăn của con đường viết lách, người đạo văn chọn cách vay mượn để né tránh lao động thực sự.
2.4. Tâm lý bồng bột và thiếu nền tảng nhận thức ở một bộ phận người viết trẻ
Cũng cần phân biệt rõ: không phải mọi trường hợp đạo văn đều xuất phát từ sự toan tính lạnh lùng. Ở một bộ phận người viết trẻ, đạo văn nảy sinh từ sự bồng bột, xốc nổi và thiếu hiểu biết đầy đủ về quyền tác giả.
Trong môi trường số hóa, việc tiếp cận văn bản trở nên quá dễ dàng. Người trẻ đọc, dịch, chia sẻ, chỉnh sửa tác phẩm của nhau với tốc độ chóng mặt. Nếu không được trang bị đầy đủ kiến thức về đạo đức sáng tác, họ rất dễ rơi vào tình trạng nhầm lẫn giữa học hỏi và chiếm dụng, giữa chịu ảnh hưởng và sao chép.
Tuy nhiên, sự non nớt về nhận thức chỉ có thể là lời giải thích, chứ không thể là lý do bao biện. Bởi một khi tác phẩm được công bố, được ký tên và được hưởng vinh quang, thì người viết phải chịu trách nhiệm đầy đủ về tính trung thực của nó.
2.5. Áp lực thành tích và sự méo mó của cơ chế tôn vinh
Không thể bỏ qua vai trò của môi trường văn học hiện nay, nơi thành tích đôi khi được đặt nặng hơn quá trình. Việc xét giải thưởng, danh hiệu, hội viên, hay thậm chí sự chú ý của truyền thông, có lúc tạo ra một áp lực vô hình: phải có tác phẩm, phải có dấu ấn, phải được ghi nhận trong một khoảng thời gian ngắn.
Khi sáng tác bị cuốn vào logic thành tích, văn chương dễ bị biến thành phương tiện để đạt mục đích, thay vì là hành trình tự thân của sáng tạo. Trong hoàn cảnh ấy, đạo văn xuất hiện như một hệ quả tiêu cực của sự sốt ruột và thiếu bản lĩnh nghề nghiệp.
2.6. Sự dễ dãi trong tiếp nhận và thẩm định - “đất sống” của đạo văn
Cuối cùng, không thể không nhắc tới một nguyên nhân mang tính hệ thống: sự dễ dãi trong khâu tiếp nhận, xuất bản và thẩm định tác phẩm. Khi những văn bản có dấu hiệu sao chép vẫn được in ấn, phổ biến, thậm chí được trao giải, điều đó vô tình gửi đi một tín hiệu sai lệch: đạo văn có thể không bị phát hiện, hoặc nếu bị phát hiện thì hậu quả cũng không quá nghiêm trọng.
Chính sự dễ dãi ấy đã tạo ra “đất sống” cho đạo văn, khiến một số người tin rằng ranh giới đạo đức có thể bị kéo giãn. Và khi những tín hiệu sai lệch này lặp đi lặp lại, chúng sẽ làm méo mó nhận thức chung về giá trị sáng tạo, đặc biệt trong thế hệ cầm bút trẻ.
3. Hệ lụy của đạo văn,  những tổn thương lan rộng từ văn chương đến xã hội
Đạo văn, nếu chỉ được nhìn như một sai phạm cá nhân, sẽ rất dễ bị giản lược thành câu chuyện đúng -  sai thuần túy. Nhưng trên thực tế, hệ lụy của đạo văn sâu và rộng hơn rất nhiều, không chỉ dừng lại ở một tác giả, một tác phẩm hay một giải thưởng, mà tác động trực tiếp đến đời sống văn học, hệ giá trị xã hội và niềm tin con người.
3.1. Người đọc bị phản bội và niềm tin bị tổn thương
Hệ lụy đầu tiên và trực diện nhất của đạo văn là sự phản bội niềm tin của người đọc. Người đọc đến với văn chương bằng một niềm tin mặc định: tác phẩm là kết quả của lao động sáng tạo cá nhân, là tiếng nói riêng của một tâm hồn, một trải nghiệm không thể sao chép.
Khi một tác phẩm hóa ra chỉ là sự vay mượn, sao chép hoặc phỏng dịch trá hình, người đọc không chỉ thất vọng về tác phẩm ấy, mà còn hoài nghi về chính không gian văn học. Niềm tin bị tổn thương không dễ hồi phục, bởi nó gắn với cảm xúc, với sự đồng cảm và với kỳ vọng tinh thần. Một khi người đọc bắt đầu tự hỏi: Liệu những gì mình đang đọc có thực sự là sáng tạo?”, thì văn chương đã đánh mất một phần sức mạnh căn bản của mình.
3.2. Sự đảo lộn giá trị trong đời sống văn học
Đạo văn gây ra một hệ lụy nguy hiểm khác: làm đảo lộn trật tự giá trị trong đời sống văn học. Khi cái giả mạo được khoác áo sáng tạo, khi sự gian dối được tôn vinh ngang hàng với lao động chân chính, ranh giới giữa đúng - sai, thật - giả trở nên mờ nhạt.
Trong môi trường ấy, người viết nghiêm túc dễ bị đẩy vào thế thiệt thòi. Lao động sáng tạo bền bỉ bị xem là chậm chạp, kém hiệu quả" và những giá trị thực bị che khuất bởi những thành công ngắn hạn.
Sự đảo lộn này không diễn ra ồn ào, nhưng nó âm thầm làm lệch chuẩn thẩm mỹ và đạo đức, khiến văn học mất đi vai trò định hướng giá trị vốn có.
3.3. Tổn thương đối với những người sáng tác chân chính
Đạo văn không chỉ làm tổn thương người đọc, mà còn làm tổn thương sâu sắc những người cầm bút trung thực. Sáng tác văn chương là một quá trình dài, đòi hỏi tích lũy trải nghiệm sống, suy tư, thất bại và tự vượt qua chính mình. Khi một tác phẩm “đi tắt” bằng cách sao chép vẫn có thể được xuất bản, được trao giải, được tung hô, thì nỗ lực âm thầm của người viết nghiêm túc bị phủ nhận.
Hệ quả nguy hiểm nhiều cây bút trẻ có thể nản lòng, nghi ngờ con đường sáng tạo chân chính. Không khí sáng tác trở nên hoài nghi, thiếu niềm tin. Giá trị của lao động nghệ thuật bị xói mòn từ bên trong.
Văn chương không thể phát triển lành mạnh trong một môi trường mà sự trung thực không được bảo vệ.
3.4. Bào mòn uy tín của giải thưởng và thiết chế văn học
Mỗi vụ việc đạo văn bị phát hiện, đặc biệt khi liên quan đến giải thưởng, hội nghề nghiệp hoặc các thiết chế chính thống, đều để lại những dư chấn không nhỏ. Giải thưởng văn học vốn được kỳ vọng là nơi thẩm định và tôn vinh giá trị, nhưng khi một tác phẩm đạo văn vẫn có thể lọt qua các vòng xét chọn, niềm tin công chúng tất yếu bị lung lay.
Câu hỏi không chỉ đặt ra với cá nhân tác giả, mà còn hướng tới nhiều vấn đề sau:
Quy trình thẩm định;
Trách nhiệm của ban giám khảo;
Và sự nghiêm cẩn của các thiết chế văn học.
Nếu những câu hỏi ấy không được trả lời thỏa đáng, uy tín của giải thưởng và của đời sống văn học chính thống sẽ bị bào mòn, kéo theo sự thờ ơ hoặc hoài nghi từ phía công chúng.
3.5. Đạo văn làm nghèo đời sống sáng tạo
Một hệ lụy ít được nhìn thấy ngay, nhưng vô cùng nguy hiểm, là đạo văn làm nghèo văn chương. Người quen sao chép sẽ không còn động lực đào sâu trải nghiệm sống, không còn nhu cầu tìm giọng điệu riêng, không còn ám ảnh sáng tạo - thứ làm nên bản lĩnh nhà văn.
Khi sự vay mượn trở thành thói quen, văn chương dễ rơi vào việc lặp lại mô-típ cũ, cảm xúc cũ; lặp lại những hình ảnh đã quen thuộc...
Về lâu dài, đời sống văn học trở nên trì trệ, thiếu những tiếng nói mới thực sự, thiếu những khám phá thẩm mỹ có khả năng mở đường.
3.6. Hệ lụy đối với chính người đạo văn: cái giá của sự gian dối
Đạo văn cũng để lại những hậu quả nặng nề cho chính người thực hiện hành vi ấy. Danh tiếng đạt được bằng gian dối luôn mong manh. Khi sự thật bị phơi bày, uy tín sụp đổ gần như tức thì, và con đường sáng tác về sau trở nên đầy nghi kỵ.
Trong văn chương, nơi tác phẩm gắn chặt với nhân cách người viết, một vết hoen ố về liêm chính rất khó gột rửa. Không ít trường hợp, chỉ một sai lầm đạo văn đã phủ bóng lên toàn bộ sự nghiệp, khiến mọi nỗ lực trước đó bị nhìn lại bằng ánh mắt nghi ngờ.
3.7. Từ văn chương đến xã hội: khi đạo văn làm xói mòn niềm tin và nhân cách
Nguy hiểm hơn cả, hệ lụy của đạo văn không dừng lại trong phạm vi văn chương. Văn học nghệ thuật vốn là một trụ cột tinh thần của xã hội, góp phần bồi đắp nhân cách và định hình hệ giá trị. Khi gian dối trong sáng tạo được dung thứ, xã hội sẽ nhận được một thông điệp ngầm đầy nguy hiểm: sự gian dối có thể mang lại thành công.
Điều này đặc biệt tác động đến thế hệ trẻ. Khi cái giả được tôn vinh, cái thật bị lu mờ, niềm tin vào công bằng và vào lao động chân chính bị bào mòn. Ranh giới đạo đức trở nên mong manh, và từ đó, sự đảo lộn giá trị không chỉ diễn ra trong văn chương, mà lan sang nhiều lĩnh vực khác của đời sống.
Nếu không được ngăn chặn một cách tích cực, minh bạch và kiên quyết, đạo văn sẽ góp phần làm suy yếu nền tảng đạo đức xã hội, khiến con người hoài nghi lẫn nhau và hoài nghi cả những giá trị tinh thần vốn nâng đỡ đời sống cộng đồng.
4. Những yêu cầu đặt ra đối với đời sống văn học hiện nay
Nhận diện đạo văn và phân tích hệ lụy của nó mới chỉ là bước đầu. Điều quan trọng hơn, và cũng khó khăn hơn, là đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với đời sống văn học đương đại, để từ đó hạn chế, tiến tới ngăn chặn tận gốc những biểu hiện gian dối trong sáng tác. Đây không phải là trách nhiệm của riêng một cá nhân hay một tổ chức nào, mà là trách nhiệm chung của toàn bộ cộng đồng văn học.
4.1. Trước hết, từ chính người cầm bút: liêm chính như một phẩm chất nền tảng
Yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất phải được đặt ra đối với người sáng tác. Văn chương không thể được xây dựng trên nền tảng của sự gian dối. Một nhà văn, nhà thơ có thể chưa đạt tới tầm vóc lớn, có thể còn non nớt trong kỹ thuật, nhưng không thể thiếu liêm chính.
Liêm chính trong sáng tác trước hết là trung thực với trải nghiệm sống của chính mình, trung thực với nguồn gốc của ý tưởng, hình ảnh, ngôn từ, trung thực với giới hạn năng lực của bản thân...
Người cầm bút cần ý thức rằng: không ai bị loại khỏi văn chương vì đi chậm, nhưng rất nhiều người đã tự loại mình khỏi văn chương vì chọn con đường gian dối. Chấp nhận sự chậm rãi, chấp nhận viết chưa hay, chấp nhận thất bại và sửa chữa - đó là con đường duy nhất để trưởng thành bền vững trong sáng tạo.
Trong thời đại công nghệ số, khi ranh giới giữa tham khảo và sao chép ngày càng mong manh, người viết càng cần tự đặt ra cho mình những giới hạn đạo đức rõ ràng, coi đó là kỷ luật nghề nghiệp không thể thỏa hiệp.
4.2. Vai trò của Hội Nhà văn: giữ chuẩn mực và bảo vệ giá trị
Với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp, Hội Nhà văn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình chuẩn mực đạo đức sáng tác. Hội không chỉ là nơi tập hợp hội viên, mà còn là một thiết chế văn hóa có ảnh hưởng đến cách xã hội nhìn nhận văn chương.
Điều mà Hội cần kiên trì thực hiện không phải chỉ là xử lý thật nhiều vụ việc, mà còn là:
Xây dựng và công bố những nguyên tắc rõ ràng về liêm chính sáng tác;
Thể hiện thái độ nhất quán, minh bạch trước các sai phạm;
Bảo vệ người sáng tác chân chính, đồng thời không dung túng cho sự gian dối.
Quan trọng hơn, Hội cần góp phần tạo ra một không khí nghề nghiệp lành mạnh, nơi người viết cảm thấy được khích lệ bởi lao động nghiêm túc, chứ không phải bởi những lối tắt” mang tính cơ hội.
4.3. Giải thưởng văn học: nghiêm cẩn hơn trong thẩm định và trách nhiệm
Giải thưởng văn học có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống sáng tác và công chúng tiếp nhận. Một giải thưởng không chỉ vinh danh tác phẩm, mà còn định hướng giá trị thẩm mỹ và đạo đức.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với các giải thưởng hiện nay là:
Nâng cao tính nghiêm cẩn trong khâu thẩm định;
Xem liêm chính sáng tác như một tiêu chí bắt buộc, không thể xem nhẹ;
Minh bạch trong quy trình xét giải và xử lý sai phạm.
Khi giải thưởng được trao một cách thuyết phục, công bằng và nghiêm túc, nó sẽ trở thành điểm tựa tinh thần cho người viết chân chính. Ngược lại, nếu giải thưởng bị nghi ngờ, toàn bộ đời sống văn học sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực.
4.4. Giáo dục liêm chính sáng tác: việc cần làm từ sớm và từ gốc
Một yêu cầu không thể thiếu là giáo dục liêm chính sáng tác, đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Không thể chờ đến khi một tác phẩm đạo văn bị phát hiện rồi mới lên án, mà cần trang bị cho người viết trẻ nhận thức đúng đắn ngay từ đầu.
Giáo dục liêm chính sáng tác không chỉ là dạy về quyền tác giả theo nghĩa pháp lý, mà còn là nuôi dưỡng ý thức tôn trọng lao động trí tuệ; giúp người viết phân biệt rõ giữa ảnh hưởng, học hỏi và sao chép và hình thành thái độ trân trọng sự trung thực trong sáng tạo.
Khi người viết trẻ hiểu rằng giá trị của văn chương nằm ở tiếng nói riêng, dù còn vụng về, họ sẽ ít bị cám dỗ bởi con đường gian dối.
4.5. Trách nhiệm của công chúng và môi trường tiếp nhận
Cuối cùng, không thể không nhắc tới vai trò của công chúng tiếp nhận văn học. Một môi trường đọc tỉnh táo, có khả năng phân biệt và sẵn sàng lên tiếng trước những biểu hiện gian dối, sẽ góp phần tạo sức ép tích cực đối với đời sống sáng tác.
Sự tôn vinh thiếu chọn lọc, chạy theo hiệu ứng bề nổi, cũng có thể vô tình tiếp tay cho những biểu hiện lệch chuẩn. Ngược lại, sự kiên nhẫn với những giá trị chân chính, dù chưa thật rực rỡ, chính là cách công chúng bảo vệ văn chương từ gốc.
Văn chương, suy cho cùng, không phải là nơi để con người tìm kiếm sự nổi tiếng bằng những con đường tắt. Sáng tác văn chương đòi hỏi sự kiên nhẫn, trung thực và dũng khí đối diện với chính mình. Mỗi hành vi gian dối trong sáng tác, dù tinh vi đến đâu, cũng đều để lại những vết rạn trong niềm tin,  không chỉ của người đọc, mà của chính người viết đối với nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn.
Giữ gìn sự liêm chính trong sáng tác vì thế không phải là một khẩu hiệu đạo đức, mà là điều kiện để văn chương tiếp tục tồn tại như một giá trị tinh thần cao đẹp và đáng tin cậy. Khi người cầm bút còn biết tự vấn, biết dừng lại trước ranh giới của sự trung thực, thì văn chương vẫn còn cơ hội tự làm sạch mình. Và chỉ trong một không gian sáng tác được nâng đỡ bởi sự thật và lòng tin, những tác phẩm chân chính mới có thể bền bỉ đi cùng con người, vượt qua những ồn ào nhất thời của danh vọng và thời cuộc để lặng lẽ nâng đỡ, an ủi con người, làm chỗ dựa tinh thần cho con người đi qua những chông chênh, trắc trở, đau đớn của cuộc sống vốn vẫn còn nhiều thử thách này.
27/1/2026
Nguyễn Thị Việt Nga
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

"Nụ cười trên phố ban mai" - Sáng lên một dặm dài thi ca

"Nụ cười trên phố ban mai" - Sáng lên một dặm dài thi ca Nhà thơ Bùi Phan Thảo đã phác họa hiện thực sinh động của đại đô thị đô...