Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

Quang Trung 2 000000000

Quang Trung 2

SỢ Tây Sơn, “CON TRỜI” NHÁO NHÁC CHẠY LOẠN!
Đã mục kích chiếc thân “hèn nhát” của chú Sĩ Nghị bại trận, lại phong văn Tây Sơn sắp kéo sang giết cho tiệt giống khách, sau khi hung hăng đuổi đánh đến Lạng Sơn, người Thanh càng thêm kinh hoàng bối rối… Từ cửa ải Nam quan về Bắc, người Tàu dắt già, cõng trẻ, lũ lượt nheo nhóc chạy đi lánh nạn. Vì vậy, trong khoảng vài trăm dặm, hơi khói vắng tanh, vẽ thành bức tranh đìu hiu quạnh quẽ trên nội địa Tàu!
Một phen quát gió, thét mây, oai vũ vua Quang Trung làm bạt vía người Tàu đến thế!
Hát bài khải ca, nhà vua vào thành Thăng Long, vui thưởng cái xuân oanh liệt. Quang Trung có thể tự hào mà nói: Núi Nùng ơi! Sông Nhĩ ơi! Hoa xuân, cỏ xuân trong chốn cố đô này ơi! Chính ta là “đấng cứu chuộc” của các ngươi đấy!
Nhưng kìa, chiếc chiến bào màu đỏ của trang anh hùng cứu quốc giờ sao đã đổi ra sắc đen cháy vậy?
Vì vua Quang Trung xông pha súng đạn trong mấy ngày xuân, nhuộm đẫm chiến bào trong hơi thuốc súng, nên “chiếc áo cứu quốc” kia mới biến thành cái màu “rực rỡ vẻ vang” đó!
Hai mươi vạn giặc Thanh cúp đuôi hổ đói… đã chạy bạt rồi! Nghìn xưa non sông gấm vóc đã phục lại rồi.
Quân Tây Sơn vui vẻ ăn tết Khai Hạ255 tại thành Thăng Long (ngày mồng 7 tháng giêng), cái tết vẻ vang nhất trong lịch sử dân tộc Đại Việt256.
Nhân dân bấy lâu căm giận quân Thanh ỷ thế, cậy quyền, từng giở nhiều ngón dã man tàn ác: cướp chợ, hiếp gái, coi tính mệnh người Nam không bằng cái kiến, con sâu… Nhân dịp phen này Sĩ Nghị bại trận, quân gia như đàn chuột chạy dài, dân Nam ai nấy vùng lên, ứng dụng ngay câu cụ Khổng đã dạy: “Dĩ trực báo oán.” Vì vậy, những quân Mãn Thanh, sau khi thua vỡ, chạy vào các thôn trang ngoài thành, lại bị dân gian giết gần hết257!
Nhưng, cái lối chiến tranh văn minh, chính vua Quang Trung biết thực hành ngay từ bước chân vào thành: Một mặt yết bảng chiêu an, cấm quân lính không được xâm phạm của dân cái tơ cái tóc. Một mặt ngăn cấm nhân dân trong xứ: hễ thấy bại binh Thanh chạy trốn không được giết càn258.
Nhà vua lại hạ lệnh cho phép quân Thanh ra thú và nhân gian không được chứa chấp một người Thanh nào. Dưới bóng ân điển ấy, số quân Thanh được toàn hoạt đưa đến Thăng Long: hơn 800 người259! Họ đều được ban phát lương ăn và áo mặc.
Như trước đã nói, Đắc Lộc hầu Tây Sơn, dẫn binh từ Đông Đạo (miền Hải Dương) đổ lên, đón chẹn ở gần Phượng Nhỡn: Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ, vội quăng bỏ hết thảy quân ấn, kỳ bài, sắc thư… Vì vậy, vua Quang Trung khám phá được vô số giấy tờ quan trọng, bí mật của tướng Thanh, khi Đắc Lộc hầu đem về Thăng Long trình nộp.
Trong sắc thư, đại ý vua Thanh Cao Tông (1736-1795) bảo Tôn Sĩ Nghị:
Nghe lời khanh, trẫm cho đem binh mã ra cửa ải nhưng cứ nên từ từ đi dần, đừng vội. Khanh trước hãy truyền hịch ra oai, rồi thả Lê thần về nước để họ chiêu lập nghĩa binh, tìm Lê Tự tôn (chỉ Chiêu Thống), đương đầu với Nguyễn Huệ đã. Nghe họ chọi nhau ra sao, bấy giờ sẽ liệu.
Nếu lòng người Nam còn mến Lê, thấy quân ta (Thanh) đến giúp ai cũng phấn khởi hăng hái thì Nguyễn Huệ tất phải chịu lui. Bấy giờ sẽ sai Lê Tự tôn tiến binh đuổi bắt Nguyễn Huệ. Còn khanh thì kéo binh đến tiếp ứng sau. Thế là ta không khó nhọc mà được thành công. Đó là chước thứ nhất.
Nếu trong nước Nam nửa theo phe kia, nửa theo phe nọ, thì Nguyễn Huệ chắc không chịu lui. Vậy khanh nên đưa thư, dỗ bảo họa phúc xem Huệ xoay trở ra sao.
Khi nào quân thủy của ta đã từ Mân260 Quảng261 kéo ra biển khơi thì cứ đánh phá lấy Thuận262 Ngãi263 trước. Rồi mới thúc quân bộ tiến lên khiến cho Nguyễn Huệ sau lưng và trước bụng đều thụ địch cả thì thế nào Huệ cũng phải hàng phục.
Thế rồi ta cứ nuôi sống cả hai: Thuận Quảng264 về Nam, cắt đứt cho Nguyễn Huệ: Hoan265, Ái266 ra Bắc, chia cho Lê Tự tôn. Ta cứ đóng đại binh ở giữa, coi quản cả đôi. Về sau sẽ lại liệu cách xử trí. Đó là chước thứ 2...
Đọc rõ cái dã tâm của nhà Thanh như thế, vua Quang Trung đưa bức thư ấy cho Ngô Thì Nhậm và nói: “Ta xem chiếu thư của nhà Thanh, biết họ chỉ nghề đòn xóc hai đầu, nghe đàng nào mạnh thì bênh đàng ấy, chứ có thật lòng giúp Lê chi đâu! Chẳng qua họ mượn việc đó để lót miệng, kỳ thật chỉ chực tìm cách vơ lợi vào mình đó thôi. Nay họ đã bị ta đánh thua, nhịn thì nhục, nhưng muốn báo thù lại thì khó. Muốn cho dân nghỉ nước yên, ta tất phải tạm gác can qua, dùng đến ngọc bạch. Vậy, đối với những tên tàn binh của Thanh mà ta đã bắt được, ta nên cấp dưỡng tử tế, rồi sau sẽ tha cho chúng về Tàu. Khanh là tay khéo bề từ lệnh, phải nên lập tức đưa thư sang Thanh dàn xếp cho êm việc đi!”
CHIÊU THỐNG SANG TÀU
Đống Đa đã nuốt xác quân thù!
Sông Nhĩ lại uống máu phe địch!
Tin dữ ấy đập mạnh vào trái tim ỷ lại của vua Chiêu Thống.
Trước đó, vua Chiêu Thống đang cùng Sĩ Nghị họp ở nơi màn trướng, đứng hầu xung quanh có tám người bầy tôi thân cận là Hoàng Ích Hiểu, Nguyễn Quốc Đống, Lê Hân, Phạm Như Tùng, Nguyễn Viết Triệu, Phạm Đình Thiện, Lê Văn Trương và Phạm Quý Thích267. Bỗng “tiếng sét” bại trận giáng giữa đám người đang chập chờn giấc xuân mộng ấy: Sĩ Nghị chạy trước, vua Lê cũng vội vã nhảy ngựa theo sau, có Viết Triệu tùy tùng trong cơn gió bụi. “Sóng” nguy biến đã bủa quanh mình, vua Lê vội sai bọn Lê Quýnh, Trịnh Hiếu và Hoàng Ích Hiểu ruổi ngựa chạy về nội điện, hộ giá Thái hậu và Nguyên tử. Còn Hoàng đệ Duy Chỉ thì hộ vệ Hoàng phi và bọn cung tần. Khi đến bến sông, họ bối rối trước những hiện tượng: cầu phao đã gãy, thuyền lại không có chiếc nào!
Vội vã, vua Lê chạy lên mạn đê Nghi Tàm, cướp được một chiếc thuyền chài, chở sang ngang. Cánh bèo trôi giạt trong sông khiến ông vua “Mống Siêu” có cái cảm tưởng đau buồn: đời là sóng nước, mình là thân bèo, chẳng hay rồi đây mặt nước chân mây, nào đâu là bờ bến của thân bèo trôi nổi!
Đoàn ngự vượt sông sang Bắc. Trưa mồng 6 (tháng giêng, năm Kỷ Dậu, 1789), chạy đến núi Tam Tằng. Không kịp đoái hoài đến cảnh cỏ non xanh rờn, lộc tơ mơn mở dưới bóng xuân tươi, đoàn ngự cố sức ngày đêm đi gấp đường, rán theo cho kịp Tôn Sĩ Nghị. Ngó lên tiền đồ, vua Chiêu Thống cảm thấy đầy những chông gai giông tố!
Khi đến đồn Hòa Lạc268, vua Lê rước Thái hậu vào nghỉ trong cái sơn trại của một viên thổ hào. Bấy giờ đoàn ngự nhịn đói hàng hai ngày, ai nấy mệt lả, vừa được thết đãi cơm nước xong thì quân Tây Sơn đã ầm ầm đuổi đến! Viên thổ hào vội sai con đưa đường do lối tắt dẫn đoàn ngự trốn đi: Tối ngày mồng 6 ấy, mới đến cửa Nam quan, vua Lê ngọt ngào từ tạ Tôn Sĩ Nghị:
– Tôi không giữ nổi xã tắc, may được Tướng quân phụng chỉ sang cứu, cảm kích vô cùng! Nay Tướng quân bỏ đi, tôi không dám lại phiền giúp nữa. Xin chúc Tướng quân về triều, được vạn phúc. Còn tôi xin quay về ở lại đất nước, thu nhặt dân binh, toan tính công việc khôi phục. Nếu sau này làm nên công việc thì cũng là nhờ ơn Tướng quân. Nếu không xong, bấy giờ tôi lại xin làm như ý Tướng quân đã bảo.
Với cái kiểu “trò tàu” và với cái giọng “con trời ra phết” Sĩ Nghị lấy tay viết vào tấm ván:
“Quang Bình269 bất diệt tắc bất hưu” (nghĩa là không diệt được Quang Bình thì không thôi). Rồi Nghị nói với vua Chiêu Thống:
“Tôi đã dâng biểu dâng Thiên triều giúp thêm binh mã rồi. Chẳng bao lâu, đại binh sẽ kéo đến tiếp cứu đấy. Chỗ Nam quan này gần kề quân địch, mà đồn lương lại chưa có, thật không tiện dùng dằng ở lại. Chi bằng hãy tạm vào đóng ở Nam Ninh270 sẽ liệu khu xử.”
Thế là vua Lê, theo lời mời của Nghị, vào công quán ở Quế Lâm271 rồi bị an trí ở Yên Kinh, cuối cùng vua tôi Chiêu Thống đến phải nuốt lệ uống hờn, đau thương cái bước cùng đồ vì bị người Thanh lừa gạt:
Đem sức muỗi mà toan vác núi,
Lấy thân hồ muốn mượn oai hùm!
Tồn cô, phục Sở những ai ai, dở dang thân thế!
Tá Hán tù Yên là thế thế, khe khắt nỗi đời!272
Và:
Ăn đất khác gì giun dưới rãnh.
Đốt mình cũng tựa bướm vào đèn.
Nằm ngồi bao quản thân tàn, ổ chó chuồng gà thừa sạch sẽ!
Sống chết mặc dầu số mạng, con ong, cái kiến nhẽ xoay vần!...273
VIỆT THANH GIAO THIỆP
Sau khi quân Thanh đại bại dưới bóng cờ thiện chiến của trang anh hùng nước Nam, Càn Long nghiến răng căm giận, đòi Tôn Sĩ Nghị về kinh hậu cứu, cử Phúc Khang An274 làm Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) đốc suất binh mã chín tỉnh đem 50 vạn quân, định ngày kéo đến ải Nam quan, chực quyết một phen sống mái với ta để rửa cái nhục thua trận trước.
Nhưng còn đang trù trừ trước cái mưu định ấy, Khang An đã được ngay một bài học trước mắt: 20 vạn quân Sĩ Nghị nào đâu cả? Bây giờ chỉ thấy chiếc thân lếch thếch, tiều tụy trong bộ áo một viên tướng bại trận chết hụt, trốn về! Khang An lại phong văn275 oai võ của vua Quang Trung và khí diễm của quân Tây Sơn, nên không ngần ngại vứt bỏ chữ “chiến”, ôm lấy chữ “hòa”, nhưng khéo lót miệng bằng câu đạo đức giả: “Nam Bắc tắt được binh lửa, thật là phúc lớn cho sinh linh và cũng là cái may to cho kẻ biên thần.”
Đại Việt đại thắng! Nhưng vua Quang Trung định tạm gác binh đao, muốn giải quyết việc giao thiệp với nhà Thanh bằng cách hòa bình.
Dân Tàu bấy giờ vì tin lời đồn đại, tưởng Tây Sơn kéo thật sang tận nội địa Tàu, giết tuyệt giống khách, nên họ mới nôn nao kéo nhau chạy trốn! Thực ra, bản tâm vua Quang Trung, khi đó, chưa hề có ý xâm lược nước Tàu. Chính Ngài đã tỏ ý ấy trong thư viết cho Thang Hùng Nghiệp, binh bị đạo ở Quảng Tây: “Bộc tòng vô xâm biên phạm cảnh dĩ đắc tội vu Thượng quốc.” (Tôi không hề có ý xâm phạm biên cảnh để được tội với Thượng quốc).
Ý ngài nghĩ: nước nhà sau cơn nguy biến, nguyên khí đã kiệt, cần phải bổ dưỡng ít lâu mới khôi phục được nguyên trạng. Thế thì chính sách khôn khéo bây giờ là hãy phải làm hòa với Thanh để mình có đủ thì giờ mà mài nanh giũa vuốt đã.
Kế hoạch ấy đã định, nhà từ lệnh Ngô Thì Nhậm cứ việc đi theo con đường do vua Quang Trung đã vạch sẵn mà tiến hành công việc ngoại giao.
Bấy giờ nhà Thanh đã gờm, thấy có ý muốn hòa, nên Tả giang Binh bị đạo Thang Hùng Nghiệp gửi mật thư cho Tây Sơn, gợi ý bảo vua Quang Trung nên nhân dịp này vận động cho khéo mà lên thế chân họ Lê. Nghiệp sẽ đứng trong ngầm giúp cho chóng nên việc.
Bằng giọng “trịch thượng” kém lịch sự và vụng ngoại giao, tờ mật thư của Nghiệp đây:
… Xét ra họ Lê bên An Nam thần phục bên Thiên triều đã lâu, một sớm bị họ Nguyễn Tây Sơn nhà ngươi! chiếm đoạt mất đô thành, nên Hoàng đế (chỉ vua Thanh) phải sai tướng đem binh ra khỏi cửa ải, khôi phục đất nước cho họ Lê, và cứ cho vẫn được nối chức chịu phong như trước. Chẳng dè Lê Duy Kỳ đớn kém, vô tài, không thể dấy nhức làm được trò trống gì cả, song cứ dắt mẹ chạy trốn hoài, đến nỗi làm cho nhà Lê không ngóc lên được! Từ đấy về sau, Thiên triều quyết không thể đem nước An Nam mà giao cho Lê Duy Kỳ nữa!
Họ Nguyễn Tây Sơn nhà ngươi nên nhân trước khi chưa có chỉ dụ, mau mau làm biểu đem sang đây, gõ cửa kêu với Đại Hoàng đế (vua Thanh) rằng Lê Duy Kỳ không được dân vọng trông vào, nhân dân bơ vơ tan đi bốn ngả: bất đắc dĩ tôi phải đem binh ra thay nhà Lê mà vỗ về dân chúng. Nào ngờ dọc đường, thình lình gặp phải quân nhà vua, đụng ai họ giết nấy: Tình thế dữ dội lắm. Nếu chúng tôi bó tay chịu trói, thì thể nào cũng đến bị giết hết sạch.
Vì vậy, đám di binh, di mục theo tôi phải hết sức chống cự lại. Chúng tôi tự biết như thế là có tội nặng lắm. Hiện nay, tôi đã tra xét hai người chống cự Thiên binh (quân Thanh) ấy, đem ra trị tội cho chính pháp cả rồi.
Rồi nên nhờ người tâu xin với Đại Hoàng đế (vua Thanh) cúi thương thói rợ không biết gì, uốn theo lời xin mà tha thứ. Nên chăng cứ để Lê Duy Cận đứng giám quốc? Kính xin Nhà vua ban chiếu chỉ phán bảo cho.
Đặt lời cung thuận như vậy, chắc được Đại Hoàng đế soi xét lòng thành, sẽ cho nhà ngươi chủ trì việc nước. Bấy giờ sẽ có thể lại sai người sang kêu cầu Thiên triều ban cho ân điển (chỉ việc cầu phong).
Bản đạo (Thang Hùng Nghiệp tự xưng) nhân vì giữ chức ở biên giới, tương lai có rất nhiều việc giao thiệp với An Nam nhà ngươi, nên phải viết thư kín này mà ngỏ ý cho biết.
Thuận theo thì được phúc, trái nghịch thì phải vạ, tùy nhà ngươi tự chủ đấy…
(Dịch theo nguyên văn chữ Hán)276.
Nhận được bức mật thư ấy của Nghiệp, vua Quang Trung biết người Thanh ra mặt làm hòa, chứ chẳng dám dở trò gì nữa, nên mới chịu cho người đứng lên dàn xếp như vậy. Vì thế, Nhà vua lại càng coi khinh “Thiên triều”.
Chứng cớ ấy tỏ rõ ở trong tờ biểu của Ngài277 gửi cho vua Thanh Càn Long do phó Đô đốc Hô Hổ hầu thân đem sang Tàu278:
… (lược)…
… Tôi là Nguyễn Quang Bình, ở khuất nẻo bên An Nam, bấy lâu vẫn được tắm gội trong thanh giáo.
Nguyên từ hai trăm năm tới nay, quốc vương họ Lê tôi mất quyền, việc nước vẫn do bầy tôi là họ Trịnh cầm nắm. Kịp đến Tiền vương Lê Duy Diêu (tức vua Hiển Tông nhà Lê) tuổi già, tiền phụ chính Trịnh Đống mờ tối, biếng nhác: binh kiêu, dân oán, trong nước rã rời!
Tôi vốn kẻ mặc áo vải ở Tây Sơn, nhân thời thế, nổi lên làm việc. Mùa hạ năm Bính Ngọ (1786), cất quân ra diệt họ Trịnh, trả lại nước cho nhà Lê.
Năm ấy (Bính Ngọ, 1786) Tiền Lê vương tạ thế279, tôi lại phò lập Tự tôn là Duy Kỳ (Chiêu Thống) lên nối ngôi. Duy Kỳ là người dâm bạo, không lo chính sự nước nhà: trong thì kỷ cương rối bét ở triều đình, ngoài thì gây hiềm khích với biên giới. Lại còn hãm hại kẻ trung lương, giết chết người đồng tông là khác nữa! Thần dân trong nước chạy đến kể lể với tôi nài xin đem binh ra trừ kẻ loạn.
Tôi nghĩ: nước này là nước đã được Thiên triều phong cho tôi đâu dám tự tiện làm việc phế truất?
Mùa đông năm Đinh Mùi (1787), tôi sai một viên tiểu tướng đem quân ra hỏi tội những kẻ ở bên tả hữu giúp Kiệt làm xằng, thì Duy Kỳ lại sợ bóng sợ gió, đương đêm chạy trốn tự chác lấy cái lo vào mình!
Mùa hạ năm Mậu Thân (1788), tôi tiến đến đô thành Lê, lại giao cho Duy Cận, con Tiền Lê vương, giữ lấy nước coi việc thờ tự. Tôi từng sai sứ giả sang gõ cửa ải, hòng đem hết nội tình trong nước mà trình bày.
Nhưng mẹ Duy Kỳ đã trước sang Đẩu Áo ải (có sách viết là Khả Lưu ải) kể lể xót xa với Tôn Sĩ Nghị, Tổng đốc Lưỡng Quảng, rồi lăn lưng cầu cứu.
Sĩ Nghị là kẻ đại thần ở biên cương, đáng lẽ phải xét kỹ căn do, dò tìm cái cớ tại sao Duy Kỳ lại trốn bỏ nước và tại sao tôi phải vào nước, rồi tâu cùng Đại Hoàng đế, đợi ngài phân xử để dẹp mối loạn.
Trái lại, vì ham tài sắc, chỉ nghe lời đàn bà (chỉ mẹ vua Chiêu Thống), Nghị xé biểu chương của tôi, ném xuống đất, làm nhục sứ giả, xua đuổi về. Ý hắn muốn khua dân, dấy binh, tâng công, gây chuyện!
Mùa đông năm ngoái (Mậu Thân, 1788), Nghị điều bát huy động nhiều quân, kéo khỏi cửa ải, mượn tiếng khôi phục nhà Lê, truyền hịch đi khắp trong nước: đổ tội cho tôi! Hắn chực đánh rốc đến Quảng Nam, đào cây đánh rễ, để trừ mối lo sau cho Duy Kỳ.
Tôi ở hẻo lánh tận tít chân trời, đường xá xa xôi, núi sông cách trở, chẳng hay việc đó có hẳn do ý Đại Hoàng đế sai làm hay do Tôn Sĩ Nghị vì một người đàn bà (mẹ của Chiêu Thống) xui khiến, rồi mong kiêu hãnh lập công ở biên thùy để hòng kiếm lợi lớn?
Hay tin có binh mã Thượng quốc ra khỏi cửa ải, tôi nghĩ: tấc lòng “sợ mạng trời, phục nước lớn” của mình bấy nay đã bị kẻ khổn thần ngăn trở mà cái cớ Duy Kỳ trốn bỏ nước kia lại bị che lấp không thông đạt lên được, sau này mối binh tranh hùng ra thì tai vạ không phải là ít!
Ngô Hồng Chấn, viên tiểu tướng của tôi, bấy giờ đang đóng ở Lê thành. Tôi sai nhóm hỏi ý kiến họ hàng Lê vương, văn võ thần liêu và kỳ lão cùng hào mục trong nước, thì muôn miệng một lời, ai cũng theo về với tôi.
… Bản thân tôi không phải tham đất đai và nhân dân của nhà Lê đâu, song vì lòng dân ép buộc, tôi muốn từ chối cũng không sao được.
Vì thế tôi phải sai viên gia tướng là Trần Danh Bích cùng tám người sứ thần đem ba đạo bẩm văn của Duy Cận, con Lê vương, và của quần thần cùng dân chúng đến gõ cửa tướng doanh, khẩn khoản nài xin Tôn Sĩ Nghị hãy cứ đóng quân ở nơi quan ải tra rõ nội tình trước đây đã.
Cùng một lúc ấy, tôi lại sai thả trả bọn tuần dương binh Hác Thiệu Tông bốn mươi người mà Ngô Hồng Chấn (tướng Tây Sơn) đã bắt được. Thế là tôi vẫn chăm chăm tỏ ý cung thuận, chứ có dám công nhiên chống cự đâu.
Vậy mà Tôn Sĩ Nghị riêng nghe lời ton hót đặt để của mẹ Duy Kỳ xoay giết Trần Danh Bính, thịt bọn tuần dương binh280 giam cầm sứ giả, lùa quân vượt sông Phú Lương (Nhĩ Hà) thẳng tới Lê thành (Thăng Long). Tướng tá của tôi phải rút quân về Nam.
Tôn Sĩ Nghị được thể, tàn sát dữ quá! Hắn lại phi sức cho các quan nhà Lê lùng những tướng sĩ của tôi ẩn náu ở các thôn trại để bắt đem nộp. Ngày nào hắn cũng giết đến ba, bốn chục mạng! Chứa dồn lại có tới hơn nghìn người.
Duy Kỳ nhân dịp tốt ấy, tha hồ chém giết những viên chức sắc mục281 đã theo tôi. Rất đỗi va phanh mổ cả những đàn bà có mang, không để sót giống lại! Cái ngón thảm độc ấy còn gì quá quắt hơn nữa!
Ôi, kể ra, nhân dân ở nơi góc biển này, ai chẳng là con đỏ của triều đình? Đại Hoàng đế là bực “Cửu quá hóa thành” há lại ưa viển vông, hám công lợi, trước gây sự với ngoài biên cương, khiến hạng dân vô tội phải sa vào vòng tên đạn?
Thế mà Sĩ Nghị không biết lựa theo đức ý bề trên, lại đi giết người như ngóe, chẳng những riêng muốn cam tâm một mạng tôi, lại còn chực bắt giết cho kỳ tuyệt vây cánh của tôi nữa! Hắn rao toạc lên tờ hịch, cốt dồn người ta vào chỗ chết mới nghe!
Ôi, cứ kể nhân, sĩ, giáp binh ở một dải bờ biển này sánh với Trung Hoa, không được một phần muôn. Nhưng lạch sâu trước cọp dữ ở sau, lòng người sợ chết, ai cũng phải hăng hái lên.
Tôi không tránh cái tiếng “ném chuột vỡ đồ” bèn đem dăm ba tên trai tráng trong làng trảy ra.
Mồng 5 tháng giêng năm nay (Kỷ Dậu, 1789) tôi tiến đến Lê thành, những mong Tôn Sĩ Nghị nghĩ lại, họa may có thể đem ngọc lụa thay đồ can qua, xoay binh xa làm hội xiêm áo? Tôi nhũn nhặn xin yết kiến, nhưng Nghị không hề trả lời.
Qua bữa sau, quân Sĩ Nghị xông vào đánh trước: vừa mới giao phong đã đổ vỡ chạy tan bốn ngả, xô đè lẫn nhau mà chết! Thây xác đầy nội, nghẽn sông! Còn những quân chạy trốn ra các thôn trang ngoài thành lại bị dân đánh giết hầu hết. Ấy vì trước đây Nghị đóng đồn ở quanh thành, hắn không biết ngăn cấm quân gia để chúng hiếp gái, cướp chợ, làm cho nhân dân căm giận đến tận xương tủy!
Ngay bữa vào thành, tôi lập tức ngăn cấm trong xứ: hễ thấy bại binh chạy trốn, nhân dân không được phép giết. Bọn tàn binh ấy được đưa đến đô thành còn hơn 800 người tất cả. Tôi đã sai lấy lương thực trong kho mà ban phát cho.
Trộm nghĩ: binh đao vẫn là việc bất đắc dĩ của thánh nhân. Đại Hoàng đế thâm nghiêm ngự nơi cửu trùng. Những chuyện cương trường, Tôn Sĩ Nghị không hề tâu rõ từng việc một! Hắn che lấp tai mắt nhà vua đến nỗi làm cho sự thế rối ren đến thế.
Châu chấu đá xe, tôi thật không dám. Song, cửa vua xa cách muôn dặm, hễ tôi nhúc nhích làm gì liền bị kẻ khổn thần hiếp đáp! Không sao nhịn nổi, nên hình tích mới dường như chống cự.
Thiết nghĩ: nước tôi từ Đinh, Lê, Lý, Trần trở đi, thế đại đổi thay, chẳng phải chỉ là một họ. Hễ ai có thể làm rào giậu ở phương Nam, thì Thiên triều, rộng lượng như biển, thường vẫn làm ngơ nỗi nhỏ, lựa theo đạo trời, cốt giữ lòng rất công bình, rất nhân từ mà vun xới cho cái cây đã mọc, mặc dầu có những chuyện như bọn Ô Mã Nhi và Hoàng Ngũ Phúc đã làm bất lợi cho nước nhỏ này!
Nay lòng trời đã chán nhà Lê. Con cháu họ Lê đớn kém, hèn yếu, không được lòng dân theo về.
Tôn Sĩ Nghị, vì cớ nông nổi, không thấu suốt sự tình và lý do, nên mới chực vùa giúp gây dựng lại cho họ Lê ấy. Hắn gây mối binh tranh, khiến cho bọn sinh linh phải cay đắng khốn khổ! Hắn lừa dối bề trên, tàn ngược kẻ dưới đến thế là cùng!
Tôi đóng quân ở thành Long Biên (Thăng Long), nghển cổ ngóng trông về cửa trời… Gọi có tờ biểu tạ tội và trần tình này nhờ quan Quảng Tây phân tuần Tả Giang binh bị đạo (chỉ Thang Hùng Nghiệp) chuyển tâu bày giúp.
Nép nghĩ: Đại Hoàng đế là bậc theo ý trời, ban trị hóa, làm cho cành khô lại xanh tươi, cây kiệt lại nảy nở. Xin ngài lựa theo tự nhiên, thứ cho tôi cái tội đón đánh Sĩ Nghị và xét cho tôi tấc thành đã mấy phen gõ cửa ải, dâng lời tâu bày. Xin Ngài lập kẻ tư mục để chăn dân, dựng nước phên giậu để vững thế, ban ơn mệnh mới, cho tôi làm An Nam quốc vương, đứng làm phiên bình một phương, kính giữ cái chức phiên phục, khiến cho bản quốc có người cầm đầu cai quản.
Tôi xin kính cẩn sai sứ giả sang cửa cung khuyết, xưng phiên, sửa lễ cống282. Lại sẽ xin đem số người (tù binh) hiện còn của nhà vua mà dâng nộp để tỏ tấc dạ rất thật này…
Kèm theo tờ biểu trên, vua Quang Trung còn có bức thư gửi cho Thang Hùng Nghiệp, cuối thư có những lời khinh miệt và dọa nạt “Thiên triều”.
… Ôi quân lính, cốt hòa thuận, không cốt đông, cốt tinh nhuệ, không cốt nhiều. Người tính cuộc thắng lợi là tính ở phần quân “thẳng” hay “cong” chứ không phải lấy mạnh đè yếu, nhiều hiếp ít. Ví bằng tấm tình này không được bày tỏ. Thiên triều không chịu ban chút khoan dung cứ muốn động binh để tranh chiến, làm cho nước nhỏ không được phục nước lớn, thì tôi cũng chỉ biết thuận theo ý trời, nghe xem số mệnh mà thôi…
Những lời giả đò cung thuận, nhưng đầy vẻ ngạo nghễ ấy của nhà Tây Sơn làm cho Thang Hùng Nghiệp rụng rời kinh hãi!
Nhất là xem hết tờ biểu trên. Nghiệp tưởng chừng như nó có tính cách khiêu khích để cuốn “con sư tử đang mê ngủ” (chỉ nhà Thanh) vào vòng khói đạn lần nữa!
Nghiệp nói với sứ giả Đại Việt là Hô Hổ hầu: “Bây giờ không phải là lúc quân hai bên đương đánh nhau, vậy sao lại thả tuyền giọng tức giận? Muốn cầu phong tước hay muốn lại gây binh tranh mà nói những lời như thế?”
Vì, để giữ thể diện cho “Thiên triều”, Nghiệp phải dìm bức thư ấy, không dám để lọt đến mắt vua Càn Long.
VỀ NAM LẦN THỨ BA
Quét sạch chông gai do quân Thanh gieo rắc, vua Quang Trung gỡ nhân dân ra khỏi móng vuốt Tôn Sĩ Nghị, xông hương “chiến thắng” khắp miền núi Tản, sông Lô.
Bắc Hà từ đây sẽ êm ấm nằm dưới ngọn cờ bất khả xâm phạm của trang anh hùng cái thế.
Nhưng, cũng như hai lần trước, vua Quang Trung, sau khi dẹp yên Bắc Hà, lại không quên rút quân vô Nam, giữ lấy căn cứ địa từ Thăng, Điện trở ra Bắc283.
Màn quân sự hội nghị vừa mở, vua Quang Trung dặn bảo các tướng văn võ:
“Việc binh ở Bắc giao cho Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân. Việc từ lệnh với nhà Thanh ủy cho Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích. Phàm việc, ta cho tùy tiện mà quyết định. Nay ta về Nam, nếu việc nào không quan trọng khẩn yếu thì không cần bẩm báo làm chi…”
Lần này là lần thứ 3, vua Quang Trung lại từ giã sông Nhĩ non Nùng giữa những tiếng khải hoàn vui vẻ, hùng tráng và oanh liệt…
Từ đây, đóng giữ Bắc Hà và giao thiệp với Mãn Thanh, trọng trách ấy trút cả lên vai mấy người bầy tôi thân tín của Quang Trung Hoàng đế.
Ngô Văn Sở làm tổng thống quân quốc cơ vụ, Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích chủ việc từ lệnh để đối phó với Mãn Thanh.
Chính Ngô Thì Nhậm đã đóng vai sứ thần sang Tàu vận động với Phúc Khang An để nối lại mối thiện cảm với nước lớn.
Về phần nhà Thanh, trước Hùng Nghiệp, sau Khang An, họ đều chủ ý giảng hòa.
Sau khi lên thế chân Tôn Sĩ Nghị, Khang An tay cầm con ấn Tổng đốc Lưỡng Quảng, xoay ngay chính sách ngoại giao: năm mươi vạn quân lấy từ chín tỉnh, qua tháng tư mùa hạ năm Kỷ Dậu (1789) thảy đều bãi về. Cây cờ lớn đề chữ “Đề đốc cửu tỉnh binh mã”, chỉ là một “lá bùa” hư trương thanh thế, chứ chính nó đã dẫn lối cho sứ bộ Tây Sơn vào “nói chuyện” với Khang An ở Quế Lâm rồi.
Khang An đã khéo “dàn cảnh” ở ngoài, các thần (bầy tôi trong Nội các) Hòa Thân284 lại vun vào bằng những cuộc vận động ở trong như: xin bãi binh, đừng gây sự ở ngoài biên thùy để khỏi làm lao phí trong nước, lại xin vua Thanh phong vua Quang Trung làm quốc vương để thay Lê trị vì. Rồi vin lịch sử làm chứng cớ, Hòa Thân nói với vua Càn Long: “Từ xưa đến giờ, Trung Quốc chưa bao giờ đắc chí ở cõi Nam cả. Chính Tống, Nguyên, Minh rút cục cũng đều thua hỏng: gương ấy không xa, hãy còn trờ trờ!” Vì vậy, chẳng bao lâu, vua Thanh cũng phải vuốt bụng làm lành, niềm nở chìa tay đón lấy Tây Sơn, nhưng không quên “rửa mặt” bằng những điều kiện này:
1) Để đền bù cái chết của Đề trấn Hứa Thế Hanh, Tây Sơn phải lập cho cái đền thờ tại nước Nam mà xuân thu trí tế viên tướng tử trận ấy285.
2) quốc vương nước Nam, sang năm, nhân dịp bát tuần khánh thọ của vua Càn Long, phải thân sang triều cận286.
NGOẠI GIAO THẮNG LỢI
Như trước đã nói, vua Quang Trung cũng muốn sớm yên việc ngoài để rảnh tay lo cuộc kiến thiết trong nước.
Khi thấy việc ngoại giao đã đầy vẻ lạc quan, ngài liền đứng cái tên khác là Quang Bình vào một bức thư nhũn nhặn hơn, kém khiêu khích hơn, rồi sai cháu là Nguyễn Quang Hiển, bầy tôi là bọn Vũ Huy Tấn287, Ngô Vi Quý và Nguyễn Đình Cử sang Tàu để cột chặt mối dây thân thiện giữa Đại Việt và Mãn Thanh.
Đại lược bức thư ấy:
… Tôi nổi lên từ Tây Sơn, lấy đất Quảng Nam trước, đối với nhà Lê vốn không phân biệt trên dưới.
Năm ngoái (1788) đã sai người sang gõ cửa Thượng quốc giãi bày duyên cớ gây chuyện với nhà Lê, bởi tại biên thần dìm thư, cho nên không đạt lên được.
Kịp khi quân Thượng quốc ra khỏi cửa ải để chực tiến đánh, thì tháng giêng năm nay (1789) tôi trước đến đô thành nhà Lê, muốn hỏi Lê Duy Kỳ về cớ tại sao cầu viện. Chẳng dè quan quân Thượng quốc mới thoạt trông thấy, đã vội hăng hái giết bừa! Bọn thủ hạ tôi khốn nỗi bó tay chịu trói. Lại gặp cầu sông đứt gãy, đến nỗi quan quân có sự tổn thương!
Xiết đỗi sợ hãi, nhiều lần tôi phải sai người sang gõ cửa tạ tội và xin đưa trả những quan quân còn sót lại. Còn người giết hại quan Đề trấn (tức Hứa Thế Hanh) thì chính tôi mắt thấy phải trị tội rồi.
Đáng lẽ tôi phải thân đến cửa khuyết giải tình, tạ tội là phải; ngặt vì nước tôi vừa mới quan cơn binh lửa, dân tình chưa yên, nên phải kính sai thằng cháu là Nguyễn Quang Hiển theo biểu vào chầu…
Sứ bộ của phe chiến thắng, lẽ tất nhiên phải được kẻ bại trận – dầu kẻ ấy vẫn lên mặt là “Thiên triều” là Thượng Quốc – tiếp đón một cách niềm nở, long trọng.
Khi sứ bộ về, vua Thanh, để tỏ tình thân mật âu yếm, có gửi tặng vua Quang Trung một chuỗi trân châu.
Thế rồi trịnh trọng đem oai “sách phong An Nam quốc vương”, Thanh Lâm, hậu bổ Quảng Tây, vâng lệnh vua Thanh, lóc cóc sang Nam lấy lòng một bực anh hùng chiến thắng.
Không muốn chịu phong ở Thăng Long, vua Quang Trung nói thác với sứ Tàu Thành Lâm, khi Lâm mới đến cửa Nam quan: “Thành Thăng Long đã tắt hết vượng khí; xin mời sứ giả vô Phú Xuân.”
Thành Lâm cho thế là trái lệ, không chịu vào Thuận Hóa.
Vua Quang Trung cũng găng, không buồn ra Bắc nhận tờ sách phong của một “Thiên triều” chiến bại, nên cứ thoái thác là nhà vua đang se mình, giùng giằng lần lữa mãi.
Nhưng rồi việc ấy kết thúc bằng cách sai cháu ngoại là Phạm Công Trị mạo đứng nhận phong.
Còn sắc và ấn thì ngày 12 tháng Chạp, năm Canh Tuất (niên hiệu Càn Long thứ 55, 1790) giả vương Đại Việt, khi sang Tàu, đi đến ải Nam quan, có sai lũ bồi thần là Nguyễn Văn Danh và Ngô Văn Sở đem bọn vệ sĩ đến Chiêu Đức đài nhận lĩnh vào ngày 13 tháng ấy288.
Việc giao thiệp với Mãn Thanh đến đây đã có kết quả mỹ mãn lắm.
chÚT SÂM LÀM BẬN CẢ trào THANH
Muốn người Thanh phải “cung đốn” nhân sâm, nhưng không chịu cái tiếng đi xin, vua Quang Trung hành động rất khôn khéo: cho Nguyễn Hoàng Khuông sang Tàu, đem theo một bức thư trong đó nhà vua dặn sứ thần Đại Việt mua nhân sâm, vì Quốc thái (mẹ vua Quang Trung), tuổi đã 80, cần dùng nhân sâm bổ dưỡng để quốc vương có thể yên tâm về việc thần hôn mà sang triều cận vua Thanh được.
Ngài liệu trước rằng bức thư dặn mua sâm đó tất sẽ qua mắt bọn biên thần nhà Thanh trước. Một khi họ đã hay biết việc đó, lẽ tất nhiên họ phải tìm cách “lấy lòng” khách chiến thắng, thì thế nào họ chẳng hai tay dâng sâm đến tận nơi.
Quả nhiên, khi Phúc Khang An xem bức thư dặn mua sâm ấy, An không làm lơ, nên phải kiếm ngay bốn lạng nhân sâm, giao Thang Hùng Nghiệp cắt người ruổi ngựa đưa sang tận Lạng Sơn để nhờ chuyển đạt lên Quang Trung Hoàng đế289.
Cũng một việc yêu sách nhân sâm một cách gián tiếp ấy, trang anh hùng Đại Việt lại làm vua tôi nhà Thanh còn một phen bận rộn nữa.
Năm Canh Tuất (1790) vua Cao Tông nhà Thanh nhận được tờ tấu của Tôn Vĩnh Thanh nói về việc vua Quang Trung dặn Nguyễn Hoành Khuông mua sâm, vua Thanh liền sai mở kho Thượng Phương, tặng ngay một cân nhân sâm tốt nhất hạng. Việc ấy đã tỏ trong lời dụ này của vua Thanh:
Quốc vương (chỉ vua Quang Trung) nhân vì mùa xuân năm nay (Càn Long năm thứ 55, Tây lịch 1790) sang chầu chúc phúc muôn dặm đi xa phải tạm nhãng việc định tỉnh, nên có dặn bọn bồi thần mua nhân sâm để phụng dưỡng mẹ già. Thế đủ thấy rằng quốc vương đã chăm tỏ tấc thành chiêm cận290, lại tha thiết lo việc thần hôn291. Thật là trung hiếu kiêm toàn đáng khen, đáng chuộng lắm lắm.
Vậy ban cho một cân nhân sâm để giúp mẹ khanh292 tẩm bổ tuổi già. Nếu giao cho bọn Nguyễn Hoành Khuông, thì e không đem về kịp trước khi Quốc vương khởi trình.
Vậy phải đặc cách cho chạy ngựa trạm, giao sâm cho Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh sai người đem đến ải Nam quan chuyển giao viên trấn mục nước Nam đệ lên quốc vương thu nhận.293
Thế là vua Quang Trung được phe chiến bại hai lần biếu nhân sâm, một của rất báu đối với thời đại bấy giờ theo như lời vua Thanh Càn Long đã nói trong một tờ dụ khác:
Nhân sâm không phải là của dễ kiếm được, thế mà Thiên triều ban cho như vậy, thật là cái ơn chan chứa ngoài lệ thường294
Nhận được nhân sâm rồi, vua Quang Trung sai viết biểu tạ vua Càn Long, trong có những câu đập trúng vào nhược điểm ưa phỉnh của “Thiên triều”:
臣有母有親報答仰憑於大造
君為師為父生成深冀於隆霑
... Thần hữu mẫu hữu thân, báo đáp ngưỡng bằng ư đại tạo
Quân vi sư, vi phụ, sinh thành thâm ký ư long triêm
Dịch:
... Tôi có mẹ già, báo đáp nhờ công gây dựng lớn.
Ngài là sư phụ, sinh thành mong lắm móc mưa rào.
HAI THỚt VOI LÀM KHỔ NGƯỜI TÀU!
Xuân Canh Tuất (1790).
Phúc Khang An làm theo ý vua Thanh đã định trong tờ dụ gửi cho vua Quang Trung ngày tháng năm năm Càn Long 54 (1789), giục quốc vương (Quang Trung) sửa soạn sang triều cận.
Nhưng không muốn hạ mình làm một việc không xứng đáng đối với khách chiến thắng, vua Quang Trung nói thác là có tang mẹ không tiện đi, xin sai con là Quang Thùy đi thay vậy.
Cho thế là không nên, Khang An phái người sang Nam căn dặn dỗ dành rằng: cực chẳng đã nếu quốc vương không thân sang triều cận được, thì nên chọn lấy một người trạng mạo giống mình mà cho đi thay.
Sau khi được tin quốc vương nước Nam – kỳ thực chỉ là giả vương – sắp sang triều cận, triều Thanh nhộn nhịp lo sắp đặt mọi việc đón tiếp cho được chu đáo, vua Thanh dụ Phúc Khang An: đến tháng tám năm Càn Long 55 (1790) mới là tiết bát tuần vạn thọ. Mà nhà vua, năm ấy, nghỉ ở Nhiệt Hà suốt mùa hạ, mãi đến mồng 3 tháng tám mới về Bắc Kinh. Vậy Khang An phải liệu tính trước trình kỳ mà dặn bảo quốc vương nước Nam. Quốc vương có thể nội trong tháng ba sẽ khởi hành. Và khoảng 21, 22 tháng bảy thì có mặt tại Nhiệt Hà cũng được. Vua Thanh lại căn dặn An liệu tính hành trình cho vừa vặn, cốt khiến cho quốc vương đi đường được ung dung, không đến nỗi phải vất vả295.

Về phần vua Quang Trung, ngài vẫn nhớ mình là nước nhỏ, không muốn già néo để “dây” ngoại giao nửa chừng phải đứt, nên ngài chọn Phạm Công Trị (là cháu gọi ngài bằng cậu)296 cho đội tên ngài, đóng vai giả vương, sang Tàu mừng thọ.
Khi vua Thanh thấy Quảng Tây Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh tâu việc Ngô Văn Sở báo tin quốc vương nước Nam định đến tháng ba năm Canh Tuất (1790) thì sang chúc thọ và Sở tỏ ý muốn cùng đi chuyến ấy để thỏa lòng chiêm cận, vua Thanh hý hửng ra mặt, phê vào biểu văn do sứ thần Tây Sơn Nguyễn Hoành Khuông đem sang rằng:
Vui mừng xem rồi, thì bồi thần của khanh vừa đến, liền giao cho y cầm về. Khanh xem lời châu phê của trẫm đây, càng nên vui mừng thêm. Sắp được gặp nhau rồi ta cũng cùng một niềm ân cần ấy…297
Phương châm ngoại giao đã ấn định. Việc phái giả vương sang Tàu liền được thực hiện.
Sứ bộ gồm có các quan văn võ cao cấp này:
Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, Vũ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc và Đỗ Văn Công… Ấy là không kể những viên quan thấp cũng được cử đi cho đủ số như Đoàn Nguyễn Tuấn chẳng hạn.
Ngoài các yếu nhân đó của Chính phủ Tây Sơn, người ta còn nhận thấy có cả Nguyễn Quang Thùy, con trai thứ của vua Quang Trung, cùng đi với giả vương nữa.
Sứ bộ gồm 150 người đem theo tờ biểu văn tạ ơn vua Thanh về việc tặng triều châu và hà bao do Nguyễn Quang Hiển298 sang sứ lần trước. Và đồng thời lại cử sang Tàu một ban văn thự nhạc công đem theo mười bài từ khúc chúc thọ (khánh chúc vạn thọ từ khúc thập chương) để biểu diễn, hát mừng vua Thanh về dịp bát tuần vạn thọ.
Mười bài Chúc hỗ từ ấy là do Phan Huy Ích vâng mệnh vua Quang Trung mà làm ra rồi sai viết vào bức kim tiên đệ sang Tàu.
Còn việc lựa lấy mười người nhạc công theo sang triều cận để biểu diễn 10 bài chúc phúc ấy theo dịp phách giọng ca, là do chỉ dụ vua Thanh đã dặn từ trước.
Về sau, khi sứ bộ đã sang tới nơi, dự yến ở ngự điện, bộ Lễ nhà Thanh dẫn nhạc công nước ta vào hát mừng. Vua Thanh đẹp lòng, khen ngợi, hậu thưởng cho tiền tệ; lại sai quan Thái thường kén lấy 10 người tuồng hát (chữ nho là lê viên) ăn mặc theo lối nhạc công Nam: đội mão tú tài, vận áo cổ tràng (giao lĩnh y), đồng thời hòa tấu giữa những tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng sênh, tiếng trống…
Vua Thanh lại vời nhạc công ta vào trong cung cấm dạy những người “lê viên” ấy hát tiếng Nam, diễn khúc điệu: vài ngày tập quen.
Khi mở tiệc, người ta dẫn nhạc công Nam và Bắc chia đứng hai hàng, đối mặt mà hát: thể cách cùng phù hợp nhau.
Mười khúc điệu ấy299 là:
1. Mãn đình phương
2. Pháp giá dẫn
3. Thiên thu tuế
4. Lâm giáng tiên
5. Thu ba tế
6. Bốc dưỡng tử
7. Yết kim môn
8. Hạ thánh triều
9. Lạc xuân phong
10. Phượng hoàng các300.
Ngày 29 tháng ba301 năm Canh Tuất (1790). Sứ bộ khởi trình từ đô thành Nghệ An: qua ngày 13 tháng tư thì tới Lạng Sơn.
Giờ Tỵ, ngày rằm tháng tư, cửa ải Nam quan mở, Sứ bộ bước sang nội địa Tàu, vào hành lễ ở Chiêu Đức cơ. Các đốc phủ trấn bên Thanh đem các viên đài, phủ, huyện, tiếp ứng hộ vệ sứ bộ lên đường. Phúc Khang An làm bạn đồng hành với giả vương. Ngựa nghẽo ồn ào, cờ quạt san sát, rung động cả hang sâu, che rợp cả núi biếc. Cho nên Phan Huy Ích, tác giả Tình sa kỷ hành, tả trong bài “Xuất quan”302 đã có câu:
滿山旗蓋護征塵
Mãn sơn kỳ cái hộ chinh trần
Nghĩa là:
Cờ lọng san sát đầy núi ủng hộ cho khách đi xa trên bước bụi đời.
Ngoài các món biếu xén theo lệ thường, nhà Tây Sơn còn tặng thêm nhà Thanh hai thớt voi.
Nhưng hai thớt voi này lại là một cái gánh nặng trút lên vai người Mãn. Vì chạy từ trạm nọ qua trạm kia, người Tàu phải hầu voi, áp tải voi, sao cho chu tất. Nên chi món quà biếu ấy đã gây thành cái nạn khổ sở, nhọc nhằn, phiền phí cho người Thanh suốt một dọc đường.
CÁI SE MÌNH CỦA ÔNG HOÀNG TA
VUA THANH CŨNG PHẢI SĂN SÓC
Khi hay tin Quang Thùy cùng đi, vua Càn Long nhà Thanh tưởng Thùy là Thế tử của quốc vương nước Nam, nên có đặc cách ban chỉ: phong Quang Thùy làm Thế tử và hứa rằng khi Quang Thùy đến Nhiệt Hà, vào chầu, sẽ phát sắc thư và ban áo mão.
Nhưng sau thấy phái bộ Đại Việt nói Quang Toản mới là Thế tử, Quang Thùy chỉ là Vương tử thôi, vua Thanh bèn sai các thần đổi soạn sắc thư, phong Quang Toản làm “An Nam quốc vương Thế tử”. Trong bài chế sách phong ấy có những câu vuốt ve Quang Toản, như:
… túy chất ôn thuần,
Anh tư khôi đặc
Thính hạc minh chi âm họa, duật bồi lan ngọc thành hàng.
Đương Lý huấn chi thân thừa, khoái đổ hành chi xuất đốt.
Di yến dực nhi trấn phủ hữu phương, chấn vi trưởng tử.
Dị long quang nhi cơ cừu khắc thiệu, tấn hiệp khang hầu…
Và thêm những lời khuyên gắng:
Tại gia tư hiếu, tại quốc tư trung, lệ nãi tâm ư phỉ giải.
Học vi nhân thần, học vi nhân tử, tu quyết nghiệp dĩ vô khiên..303
Dầu vậy, đối với Quang Thùy trong chuyến đi này, vua Thanh Cao Tông cũng tỏ ý rất ân cần trọng đãi. Chứng cớ ấy cũng tỏ rõ trong những đồ ban tặng này:
Một đôi ngự dụng hà bao lớn304,
Hai đôi hà bao nhỏ,
Bốn hộp hương khí,
Dọc đường, Quang Thùy nhuốm bịnh! Hay tin ấy, vua Thanh lại thưởng cho Quang Thùy một cái như ý bằng ngọc (ngọc như ý nhất bính) và kèm thêm những lời chúc lành: “… Để làm điềm tốt lành lớn, tức khắc ngày nay được qua khỏi yên lành.”
Rồi vua Thanh lại dụ Phúc Khang An phải để Vương tử Quang Thùy về trước điều trị, phải phái người hộ tống Vương tử đến tận cửa ải giáp giới nước Nam.
Làm theo mệnh lệnh ấy, viên Tổng đốc Lưỡng Quảng Tàu bấy giờ phải cắt người đưa Quang Thùy đến cửa Nam quan để trước về nước chữa chạy thuốc thang. Còn giả vương và phái bộ cứ việc thuận đường thẳng trẩy.
Giả vương ĐƯỢC HƯỞNG NHỮNG CÁI TÔN QUý của TÀU
Giả vương và phái bộ Đại Việt được nhà Thanh ứng tiếp cực long trọng. Từ châu Ninh Minh tỉnh Quảng Tây ra đi, phàm các thứ gạo, bột, rau, thịt hằng ngày đều do các nhà chuyên trách Mãn Thanh tiếp tế cung ứng hoặc đi đường thủy hoặc đi đường cạn. Từ đường xá trên bộ đến đò bến mặt thủy thảy đều chỉnh tề nghiêm túc để đón rước vị thượng tân của triều đình. Dọc đường yến tiệc khao thết giả vương và phái bộ Đại Việt rất ưu hậu. Hễ có của ngon, vật lạ gì, vua Thanh lại sai chạy ngựa trạm đưa đến thết khách.
Khi giả vương cùng Phúc Khang An mới khởi trình từ tỉnh Việt, vua Càn Long sai đưa tặng giả vương bánh sữa, quạt và đồ hương khí.
Vua Thanh lại dặn Phúc Khang an: trong khi đi đường, bạn tống quốc vương nước Nam, hễ được vua Thanh phê phán gì vào những tờ trần tấu của An thì An cũng nên đưa cả cho quốc vương cùng xem khiến cho trong lòng quốc vương khỏi ngờ vực. Ấy là chưa kể những quà vua Thanh đưa tặng quốc vương như một đôi ngự dụng hà bao lớn, ba đôi hà bao nhỏ, sáu hộp hương khí và những lời khen lao phê vào biểu văn, nào “tình từ chân chí”, nào “truân thiết thành khẩn” là khác.
Quốc vương, khi ở nước, thường đeo cái đai da sắc đỏ (hồng thinh). Vua Thanh muốn tỏ ý ưu đãi khách chiến thắng một cách khác thường, sai chế sẵn áo mão đúng kiểu để thưởng cấp cho giả vương sau khi tới kinh. Ngoài đó ra, vua Càn Long lại định thưởng thêm cho chiếc “hoàng kim thinh đới” nữa.
“Hoàng kim thinh đới?” Một thứ đai bằng da có cẩn hoặc nạm vàng. Theo như lời dụ của vua Thanh, thì thể chế Mãn triều bấy giờ chỉ những bực tông phiên (phiên thần họ đồng tông với nhà vua) mới được dùng thứ đai ấy. Thế mà nay ban nó cho giả vương nước Nam thật là một thứ “sủng vinh khó gặp”.
Vua Thanh lại dặn: trong khi đi đường, quốc vương nên cứ thắt cái đai đỏ (hồng đới), đợi khi tiến kinh, vào diện cận, bấy giờ sẽ để thưởng để thắt chiếc đai vàng mà “Thiên triều” đã sắm sẵn cho kia305.
Bấy giờ vua Thanh Cao Tông mới in xong cuốn Ngự chế tập, Thạch cổ thi tự, mặc khắc liền gửi tặng giả vương một tập.
Trong khi bạn tống giả vương, Phúc Khang An không quên làm công việc như một nhà trinh thám: Phàm tình hình đi đường với giả vương thế nào, An đều tâu hết với vua Thanh.
Chẳng những vậy, ba bức thư của giả vương gửi về Thăng Long và các chỗ khác cũng đều bị An sao lục rồi tiến trình lên vua Mãn Thanh. Giả vương cũng đã liệu trước tất có sự “kiểm duyệt thư tín” ấy, nên các thư tín gửi về nước đều không niêm cả.
Khi vua Càn Long xem lời tâu và bản sao lục của An, có khen quốc vương cẩn thận và biết việc. Lại khen trong thư quốc vương phân xử việc nước thật là rành rọt có thứ tự, có đầu mối.
Nhưng, nhân việc này, ta thấy thêm cái vi ý nhà Thanh rất ân cần trọng đãi nhà Tây Sơn bấy giờ:
Sau khi nhận thấy việc “kiểm duyệt thư tín” ấy chẳng những khiếm nhã đối với vị thượng tân, mà lại làm bất tiện và ngăn trở đến việc riêng của khách nữa, nên vua Thanh có dụ Phúc Khang An:
Quốc vương vào triều, chúc thọ, đi lại phải lâu mất độ tám, chín tháng. Tất phải có thư đi tin về để bàn bạc việc nước. Nếu hết thảy thư tín đều không niêm chẳng hóa ra không phải là đạo tỏ tín nghĩa với người ngoài?
Tức thì vua Thanh ra lệnh: Từ rầy trở đi các thư tín đi lại, quốc vương không cần nệ theo cái thành lệ mà hết thẩy phải không niêm nữa. Đó là một cách ưu đãi khác thường, vì theo thể chế nhà Thanh bấy giờ, phàm các ngoại phiên đệ trình văn báo đều không được niêm phong.
Tháng năm, giả vương bước vào địa phận tỉnh Giang Tây. Vua Thanh được tin do tờ “truyền đơn” của tỉnh Trực Lệ đứng khắc, khai rõ: để cung ứng quốc vương An Nam, mỗi ngày tiêu về “túc điếm”306 hết 2.000 lạng bạc, “tiêm điếm”307 hết 1.000 lạng. Từ Châu phải góp thêm 500 lạng; Thanh Uyển phải góp thêm 1.000 lạng. Số bạc hơn 4.000 lạng ấy chỉ để cung ứng ở dọc đường. Ấy còn chưa kể những tiền chi phí về yến tiệc, thuyền bè, xe, ngựa, phu hầu…
Vua Thanh giựt mình, phát gắt, dụ bọn quan lại có trách nhậm về việc tiếp khách ấy rằng: “Ngay như nhà vua thết đãi các bậc vương công, đại thần Mông Cổ và các sứ thần các nước, mỗi lần dùng đến một trăm mâm cỗ yến thế mà cũng chỉ tiêu hết đến một nghìn lạng bạc là cùng.”
Về việc này, tóm lại là do Phúc Khang An ban đầu làm việc chưa biết tính toán châm chước! An lại có ý cao hứng, cho việc ngoại phiên thân đi triều cận là việc hiếm thấy trong sử sách nên mới sinh phô phang để đến nỗi các viên đốc phủ ở các tỉnh như Giang Tây đón ý lướt theo, rồi cứ lần lượt tăng dần lên mãi! Họ lại muốn sửa lại cả đường sá cầu cống và trang hoàng cả những nhà cửa ở dọc đường. Rất đỗi, người ta lại định đốn bỏ hết những cây cối khô chết ở vệ đường nữa!
Rồi vua Càn Long đoán: “Số bạc cung ứng ấy nếu không phải do bọn tổng biện tạ sự chấm mút, tất do những viên đi hộ tống quốc vương bày vẽ xoay xỏa ở dọc đường. Nếu việc ấy khởi đầu từ Quảng Tây thì lỗi tại Phúc Khang An; nếu từ Giang Tây thì lỗi tại Hà Giụ Thành.”
Chỉ vì một việc cung ứng giả vương này, vua Thanh phải một phen nhọc lòng, mệt trí để tra xét việc “mỗi ngày tiêu hết 4.000 lạng bạc” ấy. Sau té ra tờ truyền đơn in chương trình kê các khoản cung ứng giả vương đó là do Lương Khẳng Đường ở Trực Lệ định ra. Nhưng kỳ thực phí tổn về “tiên điếm” và “túc điếm” suốt dọc đường ở những nơi giả vương trẩy qua, mỗi ngày cũng hết hơn hai trăm lạng bạc!
Mồng 8 tháng sáu, giả vương rời khỏi Nam Xương (thuộc tỉnh Giang Tây). Qua ngày 15 tháng ấy, giả vương được thưởng cái thú trăng rằm ở Hoàng Cương thuộc tỉnh Hồ Bắc.
Vũ Xương, một địa điểm sẽ ghi bằng chữ vàng trên trang lịch sử Trung Hoa Dân Quốc sau này, vì chính tại đó Hoàng Hưng kéo cờ nghĩa, thực hành công cuộc quang phục giữa năm Tân Hợi (1911). Chẳng dè trước đây hơn một trăm năm, giả vương Đại Việt đã được hưởng cái thù phụng sung sướng ở đất ấy (ngày 16, tháng sáu, năm Canh Tuất, 1790).
Ngày 24 tháng sáu, hoa cỏ Hứa Châu (cách Nhiệt Hà hơn 2.100 dặm) đón chào giả vương và phái bộ Đại Việt.
Để tỏ tình thân mật và ý trọng đãi khách quý, vua Thanh sai chạy ngựa trạm đưa đến 5 quả vải (lệ chi ngũ cá) tươi mới tặng giả vương hai, Ngô Văn Sở một. Còn hai quả? Cố nhiên về phần Phúc Khang An. Cái ý ân cần trịnh trọng của vua Thanh tỏ rõ trong lời dặn Phúc Khang An nói với giả vương: “Vải sản ở phương Nam. Chắc An Nam cũng có của này, tưởng không quý mấy. Nhưng ở kinh đô bên này (Tàu) không hề có vải; mỗi năm phải do Mân Nam dâng tiến, nên rất quý. Trừ phi bậc vương, công đại thần thì không được hưởng cái ơn khác thường ấy. Nay đặc cách cho chạy trạm đem đến ban thưởng (bưu thưởng), thật là một thứ ơn ban ngoài lệ thường. Lại nghĩ: Ngô Văn Sở là bề tôi thân tín và đắc lực của quốc vương, chuyến này Sở lại nài xin mấy lần để cùng đi chiêm cận, đáng khen tấm lòng thành đó! Vậy nên Sở cũng được hưởng cái ân thưởng này.”
***
Đầu thu. Gió heo may như gợi tấc lòng tha hương lữ thứ. Phái bộ Đại Việt ngày mồng 1 tháng bảy, đặt chân trên đất Từ Châu thuộc tỉnh Trực Lệ, giả vương cùng các nhân viên tùy tòng, khi sắp tới kinh đô nhà Thanh, đã thấy Đức Minh, Thị lang Bộ Lễ, thân đón tiếp ở tận Lương Hương.
Rồi giả vương dùng trà do vua Thanh từ trước đã sai Kim Giản cắt trà phòng thị về theo Đức Minh đến chực sẵn để dâng tiến.
Để tỏ ý ưu đãi khác thường, vua Càn Long, khi tiếp giả vương ở hành cung Nhiệt Hà, cho làm lễ “bão kiến, thỉnh an” trong một bầu không khí cực êm đềm, thân mật. Lễ đó, theo như lời dụ của vua Thanh Cao Tông, chỉ những ai trong bọn đại thần có nhiều huân lớn, công to mới được dùng.
Đến Nhiệt Hà, giả vương được vua Thanh ân cần tiếp đãi và ban tặng bài thơ, đại ý nói: Năm trước phải đem binh sang Nam, là cốt khôi phục cho nhà Lê. Nhưng nhà Lê đã đến lúc không được trời tựa, nên phải phong cho họ Nguyễn (Tây Sơn) vì Nguyễn đã quy phục thật tình. Rồi, với giọng “đạo mạo” của hạng người “ta đây kẻ giờ”, tác giả bài thơ ấy trịnh trọng khuyên: “Phải nên giữ gìn lấy đất nước, đừng để họ khác nổi lên. Dặn con cháu phải nên dốc một lòng thần phục Đại Thanh. Lúc nào cũng nên kính cẩn nơm nớp như cầm bát nước đầy. Như vậy mới được tắm gội ơn trời và hưởng phúc lâu dài.”308
Ngày 20, tháng tám năm Canh Tuất (1790). Sứ bộ ta được vua Thanh ban chỉ khiến về nước. Giữa ngày ấy, sứ bộ ăn tiệc ở đền Chính Đại Quang Minh với bao nhiêu vẻ huy hoàng lộng lẫy. Rồi hai sứ thần là Phan Huy Ích và Vũ Huy Tấn, được đặc cách vời đến bên ngự tọa vua Tàu, được ban thứ rượu “đề hồ” đựng trong chén bích ngọc do chính tay vua Thanh Cao Tông rót mời.
Để ghi việc vui mừng mà cảm động ấy, Phan Huy Ích có viết một bài trường thiên này:
聖壽啓昌辰 Thánh thọ khải xương thì,
梯航同祝嘏 Thê hàng đồng chúc hỗ,
指南早錫軿 Chỉ Nam tảo tích biền,
宴筵隆寵數 Yên diên long sủng số,
班列粛明堂 Ban liệt túc Minh Đường
曉雲擁鸞輅 Hiểu vân ủng loan lộ
烟裊寶爐香 Yên niễu bảo lô hương
丹庭奏韶濩 Đan đình tấu Thiều hộ
恩旨自天來 Ân chỉ tự thiên lai
禮官呼潘武 Lễ quan hô Phan Vũ
應召起出班 Ứng triệu khởi xuất ban
五中喜且懼 Ngũ trung hỉ thả cụ!
傴僂登殿堦 Khu lũ đăng điện giai,
閣老前引步 Các lão tiền dẫn bộ,
趨向龍座旁 Xu hướng long tọa bàng
曲跽聆溫論 Khúc kỵ linh ôn dụ
案頭玉酒壺 Án đầu ngọc tửu hồ
斟酌出御手 Châm chước xuất ngự thủ
親賜碧玉巵 Thân tứ bích ngọc chi.
加額恭領受 Gia ngạch cung lĩnh thụ.
傾飲不敢餘 Khuynh ẩm bất cảm dư
醍醐潤肺腑 Đề hồ nhuận phế phủ.
反爵交侍臣 Phản tước giao thị thần,
叩謝連稽首 Khấu tạ liên khể thủ.
降堦還就班 Giáng giai hoàn tựu ban
足蹈而手舞 Túc đạo nhi thủ vũ!
聖人子庻邦 Thánh nhân tử thứ bang.
恩育曠前古 Ân dục khoáng tiền cổ
海南翰墨臣 Hải Nam hàn mặc thần
僥倖叨簡顧 Kiêu hãnh thao giản cố!
表詞嘉肫虔 Biểu từ gia truân kiền,
珍品賞詩句 Trân phẩm thưởng thi cú.
內賜遊觀 Cấm nội tứ du quan
特召凡三度 Đặc triệu phàm tam độ
趨蹌殿陛間 Xu xương điện bệ gian
奎文幸親睹 Khuê văn hạnh thân đổ.
重奉御前杯 Trùng phụng ngự tiền bôi,
天尊洒甘露 Thiên tôn sái cam lộ
旌獎荷鴻施 Tinh tưởng hạ hồng thi
韶釣長戀慕 Thiều quân trường luyến mộ,
藩國奉琛頻 Phiên quốc phụng thám tần.
幾得竒遭遇 Kỷ đắc kỳ tao ngộ?
飛箋報國人 Phi tiên báo quốc nhân:
皇華第一部 Hoàng hoa309 đệ nhất bộ310.
Dịch:
Thánh mở vận xương minh.
Lặn lội đi chúc thọ;
Xe chỉ nam sớm ban
Tiệc linh đình được dự.
Ban cò311 tắp Minh Đường312.
Xe loan mây sớm phủ.
Đỉnh trầm tỏa khói thơm
Sân rồng hòa nhạc Hộ313
Ân chỉ xuống từ trời;
Lễ quan kêu Phan314, Vũ315.
Được vời ra khỏi ban
Hồi hộp mừng lẫn sợ…
Khúm núm bước lên thềm
Theo các thần316 dẫn bộ.
Rảo đến bên ngai rồng
Khom quỳ, nghe ngọt dụ
Chính tay vua nghiêng bầu
Rót rượu trên án ngự
Chén bích ngọc thân ban
Ngang trán giơ, lĩnh thụ
Cạn chén không bớt thừa
Rượu ngon nhuần tạng phủ
Trao chén lại thị thần
Tạ ơn liền khể thủ
Xuống thềm trở về ban
Chân khoa, tay lại múa!
Coi các bang như con
Ơn ấy hiếm từ cổ
Văn thần góc biển Nam
Ưa may được quyến cố.
Khen: lời biểu truân kiền317;
Thưởng thơ: ban của lạ
Cung cấm cho đi xem
Riêng vời những ba độ,
May được ngó khuê văn318.
Khi rảo nơi đường bệ.
Lại được chén ngự tiền:
Rượu trời rảy cam lộ
Khen, thưởng: ơn rộng to!
Tiếng Thiều319 lòng tríu mộ,
Phiên quốc tuy năng sang
Kỳ thay nay gặp gỡ!
Báo tin người nước hay:
Thứ nhất đây Sứ bộ!
Vua Tàu rót rượu mời sứ thần Đại Việt: thật là một việc chưa từng có trên trang sử ngoại giao giữa ta và Tàu xưa.
Phải, trong con mắt của vua Tàu ngày trước, người mình ở những triều suy yếu, có được đếm xỉa gì đến đâu. Ngay như vua Lê Chiêu Thống, khi thất thế ở Tàu, chỉ được người Thanh liệt vào hàng quan tam phẩm; huống chi là hạng sứ thần đi phò một ông giả vương! Nếu không phải vì triều Quang Trung có binh mạnh tướng hùng, súng ròng, gươm bén ở sau lưng làm hậu thuẫn cho ngoại giao và các văn thần đương thời đã dùng văn chương làm vẻ vang cho nước, thì chúng ta ngày nay đâu có hân hạnh được đọc bài thơ ghi cái vinh dự lớn trong hội “áo xiêm ngọc lụa” ấy!
PHÁI BỘ QUAY VỀ VỚI VINH DỰ
Mồng 4 tháng mười. Sứ bộ quay về đến tỉnh thành Hồ Nam. Khi thấy Trần Dụng Phu, một viên quan nhà Thanh, tâu trình về việc quốc vương nước Nam từ khi ngồi thuyền thì sự phục thực khởi cư có phần thuận tiện thỏa thích và tinh thần lại càng sảng kiện hơn lúc đi trên đường bộ, vua Thanh lấy làm mừng rỡ lắm320.
Hằng năm, vua Thanh vẫn thân viết chữ “Phúc” ban cho các vương, công đại thần và các đốc, phủ các tỉnh để làm quà mừng xuân mới.
Nay vua Thanh muốn tặng món quà ấy cho quốc vương Đại Việt, nhưng sợ đến mồng 1 tháng Chạp mới thử bút rồi viết đưa cho thì, khi quốc vương nhận được, đã qua tết Nguyên đán mất rồi! Vì vậy, vua Thanh phải đặc cách viết trước, khiến cho quốc vương nhận được ngay từ trong năm để đến sang Giêng năm mới, treo chơi trong dịp tân xuân.
Để tiễn gót quốc vương về nước, Trần Dụng Phu hộ tống suốt cả dọc đường. Khi về đến Nam quan đã là ngày 29 tháng mười một. Bấy giờ mới cùng nhau từ biệt. Lúc đó đã gần ngày lễ Gia Bình tức ngày lễ Chạp. Vua Thanh, ngoài chữ “Phúc” nói trên, lại ngự viết chữ “Thọ” để ban tặng cho quốc vương làm quà cát khánh trong tiết tân xuân321. Đồng thời còn tặng thêm những quà như:
Một hộp các trái cây đã làm thành mứt để dùng ở dọc đường (nhưng dặn không cần viết biểu tạ ơn).
Một đôi hà bao lớn trong đựng đồ bát bảo bằng các thứ ngọc thạch các màu sắc.
Vua Thanh lại chính tay viết để tặng quốc vương bốn chữ đại tự “Củng cực quy thành” (拱極歸誠)322 và đôi câu đối:
祝嘏效尊親永矢丹忱知弗替
Chúc hỗ hiệu tôn thân, vĩnh thỉ đan thầm tri phất thế323
覲光膺寵錫載稽青史未前聞
Cận quang ưng sủng tích tái kê thanh sử vị tiền văn324
Ngày 11 tháng bảy năm Canh Tuất (1790), khi giả vương bệ kiến ở hành cung Nhiệt Hà, vua Càn Long có tặng một bài thơ do nhà vua tự làm lấy:
瀛藩入祝值時巡
初見渾如舊識親
伊古未聞來象國
勝朝徃事鄙金人
九經柔遠祇重驛
嘉會於今勉體仁
武偃文修順天道
大清祚永萬千春
Doanh phiên nhập chúc, trị thời tuần,
Sơ kiến, hỗn như cựu thức thân.
Y cổ vị văn lai Tượng quốc.
Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân
Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch
Gia hội ư kim miễn thể nhân.
Võ yển, văn tu, thuận Thiên đạo
Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân...325
Giả vương bảo Phan Huy Ích họa lại bài ấy:
上塞恭瞻玉輅巡
傾葵一念效尊親
波澄桂海遵候度
日暖蓂階見聖人
萬里梯航歸有極
九天雨露沐同仁
乾行景仰無疆壽
普率胥陶帝世春
Thượng tái cung chiêm ngọc lộ tuần,
Khuynh quỳ nhất niệm hiệu tôn thân
Ba Trừng, Quế Hải tuân hầu độ
Nhật noãn minh giai kiến thánh nhân
Vạn lý thê hàng qui hữu cực
Cửu thiên vũ lộ mộc đồng nhân
Kiền hành cảnh ngưỡng vô cương thọ.
Phổ suất tư đào đế thế xuân.326
Bài họa vần ấy dâng lên, được vua Thanh châu phê khen rằng: “Thi diệc gia thỏa” (thơ cũng hay và êm).
Giả vương còn được tặng tiễn rất hậu:
Bốn đôi hà bao nhỏ trong đựng đồ bát bảo bằng vàng và bằng bạc.
Một cái hà bao trong chứa bốn cái kim ngân tiền và bốn thứ đồ đeo bằng vàng, bạc.
Áo mặc, đồ dùng, một vạn lạng bạc và các đồ thượng phương trân ngoạn (đồ quý báu của nhà vua chơi).
Khi giả vương vào bệ kiến xin từ biệt, vua Thanh muốn tỏ tình ân cần thân thiết, bèn mời vào bên giường ngự, lấy tay vỗ vai giả vương, vỗ về yên ủi ôn tồn. Lại sai họa công vẽ một bức chân dung đưa tặng để làm kỷ niệm.
Sứ bộ đi từ cuối xuân Canh Tuất (1790) đến 29 tháng mười một năm ấy thì về.
Những cuộc tiếp đón và tiễn đưa đã làm triều đình Thanh mất ngót một năm bộn rộn. Sứ giả Mãn Thanh do vua Càn Long sai phái trong dịp có khách chiến thắng này tấp nập đi lại, vẽ thành một cảnh náo nhiệt ở dọc đường.
Cho nên Đoàn Nguyễn Tuấn, một người trong Sứ bộ hồi ấy, đã viết bằng giọng đắc thắng ở cuối cuốn Tinh Sà Kỷ Hành327 của Phan Huy Ích, một tập thơ ký thuật chuyến đi sứ này, rằng:
... Thị hành dã, Đại hoàng đế đặc cách Đốc thần bạn tống; Chu xa tinh kỳ diệu nhân nhĩ mục. Sở chí quan lại bôn tẩu nghinh phó, Thu, để Nhiệt Hà hành cung; phục tòng Giá, hồi Yên Kinh, chi Tây Uyển, Liên tuần tiến yết: thiên sủng ưu dị. Tòng lai ngô quốc sứ Hoa vị hữu như thử chi kỳ thả vinh giả!...328
Nghĩa là:
... Chuyến đi này được nhà vua (Thanh) đặc cách cho quan Tổng đốc (Tàu) đi bạn tống. Thuyền xe cờ quạt quáng cả tai mắt người ta. Đi tới đâu, quan lại phải bôn tẩu đón tiếp đến đó. Mùa thu (Canh Tuất, 1790), đến hành cung ở Nhiệt Hà; lại theo xa giá (vua Thanh) về Yên Kinh, đi Tây Uyển. Luôn luôn tiến yết hàng tuần, được ơn trời âu yếm, ưu đãi khác thường. Trước giờ người mình đi sứ Tàu chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như vậy...
Đó, một cuộc chiến thắng về ngoại giao của vua Quang Trung! Một trang vinh dự viết bằng chữ vàng trên đoạn Nam sử cận đại!
GIÚP TÀU ĐÁNH DẸP GIẶC CƯỚP
Phạm Quang Chương làm đồn tướng dưới triều Quang Trung, ngày 11, tháng bảy, năm Canh Tuất (1790) đi tuần trên mặt bể, gặp một chiếc thuyền của bọn Trần Triêu Cầu là thuyền hộ ở huyện Tuy Khê tỉnh Quảng Đông bị cướp biển bóc lột; Chương bèn đánh giết bọn cướp, thu lại được chiếc thuyền ấy cho Triêu Cầu.
Bấy giờ giả vương nước Nam đang ở bên Tàu, vua Thanh lấy làm khen ngợi về việc này lắm. Thanh Càn Long sai thưởng cho Chương hai tấm đoạn lớn nhưng bắt giao tận nơi giả vương để khi về nước, giả vương cấp cho đồn tướng Phạm Quang Chương. Vua Thanh lại dặn: “An Nam và Việt đông giáp liền nhau về mặt biển, hễ gặp có thuyền cướp trốn nấp ở miền duyên hải thuộc bờ cõi của quốc vương thì quốc vương cần nên sức bảo các trấn mục đồn tướng tiễu bắt nghiêm nhặt. Nếu chúng chống sự bắt bớ thì cứ việc giết đi, chứ đừng nên cho là người của Trung Quốc, mà còn e dè, miễn là cốt giữ cho yên ở mặt biển…”329
Khi Ngô Văn Sở làm thủy quân đô đốc, Lê Văn Nhân làm đô đốc, sau khi tiếp được công văn của nhà Thanh bảo hội binh tiễu giặc, liền sai tướng đem binh lính đuổi bọn giặc Tàu: giết chết hơn 20 đứa, bắt sống được 2 tên, rồi giao hai tên bị bắt ấy cho Đề Sảnh nhà Thanh xét xử. Vua Thanh để thưởng công cho các quan ta trong vụ này, có sai Phúc Khang An đem tặng các thứ như nhiễu, chè tàu, vải tàu, ngân bài…330
ĐỐI VỚI TIÊM LA
Tây Sơn nổi lên từ năm Tân Mão (1771), ban đầu còn đụng chạm với chúa Nguyễn ở Thuận Quảng, rồi cuộc chiến cứ lan rộng ra khắp Gia Định lục tỉnh, sau chậy đến cả những đảo Phú Quốc, Côn Lôn…
Cuộc nội chiến này đã hấp dẫn lính Xiêm đặt chân lên luống cầy ở đất Lục tỉnh cũng như cuộc bôn bá của vua Lê Chiêu Thống ở Bắc Hà đã đưa quân Thanh đến đóng ở thành Thăng Long.
Nguyên từ hồi Long Xuyên thất thủ, chúa Nguyễn Ánh đã sai Mạc Thiên Tứ và Tôn Thất Xuân sang Tiêm cầu cứu. Đến tháng sáu năm Mậu Tuất (1778), chúa Nguyễn Ánh lại sai cai cơ Lưu Phúc Trung sang Xiêm tu hiếu331 và hỏi tin tức Thiên Tứ.
Năm Giáp Thìn (1784) như trước đã nói, chúa Nguyễn Ánh qua Tiêm La cầu Xiêm cứu viện. Bọn tướng Xiêm là Chiêu Tăng, Chiêu Sương332 đem hai vạn thủy binh và ba trăm chiến thuyền sang Nam. Bấy giờ Trương Văn Đa, phò mã Tây Sơn đang đóng giữ Gia Định, vội vàng cáo cấp với Nguyễn Huệ hồi ấy còn làm Long Nhương Tướng quân. Long Nhương Tướng quân bèn làm theo chiến lược của Lê Xuân Giác: đem hết quân cứng mạnh đặt mai phục ở Xoài Mút333 (thuộc Định Tường) bên Rạch Gầm334 rồi dùng chước nhử quân Xiêm đến.
Quân Tiêm La đã không thuộc đường đất, lại quen mui mấy trận thắng lợi ban đầu, cứ đổ rốc xuống Mỹ Tho. Long Nhương Tướng quân liền thúc quân thủy, quân bộ đổ ra đánh úp: Tiêm binh phải đại bại, chỉ còn vài nghìn quân tàn theo đàng núi Chân Lạp nheo nhóc trốn về335.
Sau trận thua năm Giáp Thìn (1784) này, người Xiêm sợ Tây Sơn như sợ cọp336.
Vì những việc đã xảy ra như thế, nên Tây Sơn và Tiêm La hồi ấy thường có những chuyện xích mích trên đường ngoại giao.
Đến năm Canh Tuất (1790), vua Quang Trung đã giảng hòa với Mãn Thanh, đã phái sứ bộ Đại Việt sang Tàu để gây mối thiện cảm.
Khi sứ ta và sứ Tiêm gặp nhau ở khuyết đình nhà Thanh, hai bên cùng dự yến tiệc đến gần hai tuần, thế mà vẫn không có hình tích một chút nào cả. Vả, trong khi cùng liệt ở triều ban bên Tàu, đâu đấy noi theo điển nghi, ai nấy túc mục, sứ ta cũng như sứ Xiêm, cả hai đều lãng quên những tư hiềm về việc nước337.
ĐỐI VỚI AI LAO VÀ DIẾN ĐIỆN338
Ai Lao ở về phía tây nước ta. Xưa, về đời vua Lý Thánh Tông (1054 -1072), năm Long Chương Thiên Tự thứ 2 (1067) mới bắt đầu sang ta dâng lễ cống. Sau đó lại không thông hiếu339 gì nữa. Năm Hưng Long thứ 5 (1297) đời vua Trần Anh Tông (1293-1314), Ai Lao xâm lấn Long Giang, Phạm Ngũ Lão đem quân đánh phá quân Lào, lấy lại được chỗ đất người Lào đã chiếm.
Khi Bình Định vương Lê Lợi mới khởi nghĩa, (1418), đánh giặc Minh, người Lào có kết hiếu với ngài. Sau, vì có hiềm khích gì đó, Ai Lao đem quân đánh úp dinh trại của Lê Lợi: ngài đốc quân đánh lại, phá tan được quân Lào. Từ đó, giữa ta và Lào, đứt hẳn sợi dây giao hiếu.
Cuối đời Lê mới bắt đầu gọi nước Ai Lao là Vạn Tượng.
Đời chúa Hi Tông triều Nguyễn, Nhâm Tuất năm thứ 9, đặt Ai Lao doanh để giao thông với các bộ lạc ở phía tây bắc. Quốc trưởng Ai Lao mới sai sứ dâng biểu, xưng phiên, sửa lễ cống340.
Năm Tân Hợi (1791), vua Quang Trung, vì thấy Chiêu Ấn, quốc trưởng Ai Lao, không dâng cống, bèn sai Nghệ An Đốc trấn Trần Quang Diệu làm Đại Tổng quản và Đô đốc Lĩnh tượng chính Lê Văn Trung làm đại tư lệ đem hơn vạn quân sang đánh phá nước Lào. Vua Ai Lao cự chiến không nổi, phải kéo quân trốn đi. Bọn Diệu vào trong thành, thu hết vàng bạc, của báu, ngựa, voi đem về, và chia quân ở lại đóng giữ nước Vạn Tượng341.
Trong khi vua Quang Trung trị vì, chẳng những Ai Lao phải thông sứ, tu cống, mà cả nước Diến Điện cũng sai sứ do đường duyên biên châu Hưng Hóa vào thông hiếu với ta nữa.342
Phần Thứ Tư: Nội Trị.
DẸP PHÁI PHẢN ĐỘNG
Đối với “bếp lửa” nhà Lê, sau khi đã vạc, vua Thanh Càn Long, cũng như vua Quang Trung, không muốn một tàn lửa nào có thể nhân hơi gió hay sức quạt mà bùng bốc lên nữa.
Khi cho bọn Nguyễn Đình Bái 38 người (đám theo vua Lê Chiêu Thống) cùng với 43 người trong gia quyến họ về nước, vua Thanh phải dặn Phúc Khang An nới với quốc vương (chỉ vua Quang Trung) biết trước rằng họ về đến nước Nam, thì quốc vương cứ quản thúc. Về phần họ, chắc họ phải yên phận, giữ phép không dám gây sự khuấy rối gì đâu. Nhưng nếu họ có mật đem thư tín Lê Duy Kỳ (Chiêu Thống) về nước để phiến hoặc lòng người, thì quốc vương cứ việc trừng trị, không cần phải e dè kiêng nể vì cớ bọn họ đã do “Thiên triều” cho về.
Nhưng, than vạc lại hồng kia không phải do bọn ở Tàu về, mà lại chính bởi Hoàng Ba Lê Duy Chi (em vua Chiêu Thống), người vẫn lẩn quất ở trong nước.
Duy Chi343 thấy cuộc Việt Thanh giao thiệp đã mười phần xong xuôi, không thể còn gửi hy vọng “cuốn bụi lại về” vào anh là Chiêu Thống nữa, bèn lén đến châu Bảo Lạc thuộc trấn Tuyên Quang, nương tựa viên thổ tù tên là Khoan Triều, rồi chiêu hiền, mãi mã, có chí khôi phục nhà Lê. Lúc ló ra, lúc im bặt, tung tích bất thường, Duy Chi khuấy rối một vùng biên thùy, Tây Sơn nhiều lần phái quân đi tiễu mà chưa dẹp yên được. Từ đó, Duy Chi lẩn quất ở trong rừng núi, người ta không biết đích xác ở đâu.
Khi hay tin Duy Chi lại vùng vẫy ở Bảo Lạc, tràn lan đến cả những vùng Mục Mã, Thái Nguyên, quan lưu thủ thành Thăng Long liền cắt Phan Văn Chuẩn đem binh đi dẹp.344
Sau lại dựa vào lực lượng bọn thổ tù Nùng Phúc Tấn và Hoàng Văn Đồng, Duy Chí chiếm giữ Tuyên Quang, Cao Bằng làm chỗ đứng chân, rồi liên kết với các xứ Vạn Tượng, Trấn Ninh, Trịnh Cao và Quy Hợp, mưu đánh phá trấn Nghệ An trước.
Sức phản động ấy không phải không to! Song kết cục, dưới thế lực toàn thịnh của Tây Sơn bấy giờ, “chim chích” vẫn không sao địch nổi “bồ nông” được.
Năm Canh Tuất (1790), vua Quang Trung sai Đại Tổng quản Trần345 Quang Diệu và Đô đốc Nguyễn Văn Uyển đem 5.000 tinh binh do đường phía trên trấn Nghệ An đi đánh dẹp, bắt ngay được hai cừ khôi xứ Trấn Ninh là Thiệu Kiểu, Thiệu Đế (tháng sáu năm Canh Tuất), diệt được hai xứ Trịnh Cao, Qui Hợp (tháng tám, năm ấy): đánh được xứ Vạn Tượng khiến cho Quốc trưởng xứ ấy phải bỏ thành chạy dài, phó mặc voi, ngựa chiêng, trống cho quân Tây Sơn chiếm lấy. Luôn dịp quân Tây Sơn đuổi riết đến xứ Tiêm La (nay là Thái Lan) chém được chủ súy xứ Vạn Tượng là Tả Phan Dung và Hữu Phan Siêu (tháng mười năm ấy).
Đánh tan đám ngoại ứng rồi, Nghệ An Đốc trấn Trần Quang Diệu, phất cờ “đại thắng” quay về Bảo Lạc.
Địa thế Bảo Lạc hiểm, ba mặt đều là núi đá bích lập, chỉ hở một mặt phía bắc có thể thông sang nước Tàu.
Bấy giờ nhờ có quận Diễn, phiên thần của nhà Lê cũ, coi giữ cửa ải Tụ Long, làm hướng đạo cho Tây Sơn, đưa đường đi đánh hoàng Ba Lê Duy Chi ở Bảo Lạc346.
Các tướng Tây Sơn, với một số binh tinh nhuệ, do cửa ải Tụ Long sang qua đất Tàu, đi ba ngày, sấn vào thành Bảo Lạc, bắt sống Hoàng Ba với Phúc Tấn và Văn Đồng, điệu về Tụ Long rồi sai đóng cũi đưa về Thăng Long và dâng thư vào Phú Xuân báo tiệp.
Vua Quang Trung vì nể có Ngọc Hân Công chúa, nên nói thác lên rằng cứ giam hoàng Ba đấy, không được giết. Nhưng kỳ thực ngầm bảo chở đi trầm hà347 (1790).
Để khoe với Mãn Thanh cái võ công hiển hách ấy, vua Quang Trung sai bầy tôi Vũ Vĩnh Thành và Trần Ngọc Thị sang Tàu báo tin thắng trận.
ĐỐI PHÓ VỚI ĐÁM THÂN SĨ Cố Lê
Nhân tâm Bắc Hà, nhất là trong đám thân sĩ bấy giờ, còn in sâu trong óc, nhuần thấm trong mạch máu những ân đức và công nghiệp của vua Lê Thái Tổ (1428-1433), nên dẫu thấy Chiêu Thống ươn hèn bất lực đến đâu, họ cũng hết sức vùa giúp cho cái triều đại mà họ xưa nay vẫn quyến luyến quý mến ấy.
Lòng ái đới đó, sĩ phu Bắc Hà đã từng tỏ rõ trong bao cơn giông tố xông đến lay chuyển “cây” Lê. Hồi Mạc Đăng Dung (1527-1529) tiếm ngôi, đã gợi lòng công phẫn cho bao người, khiến họ được dịp tỏ dạ trung nghĩa với nhà Lê bằng những cái chết rất can đảm, rất tiết liệt, rất cảm động. Nhân sĩ khí và nhân tâm ấy, họ Trịnh mới dễ diệt Mạc dưới cái danh nghĩa phù Lê. Sau khi khôi phục Thăng Long (Lê Thế Tông, năm Quang Hưng thứ 16, 1593), nhà Trịnh nắm hết quyền chính, chỉ để cho nhà Lê cái ngai hờ và chút danh suông, nhưng vẫn không dám ngang nhiên lột lấy chiếc hoàng bào và cái mũ miện kia, cũng chỉ vì kiêng nể cái sĩ khí đó, nên không muốn đi theo vết xe đổ của nhà Mạc xưa.
Đến Bắc Bình vương ra Bắc lần thứ nhất, cũng vì vin vào đại nghĩa phù Lê, nên mới thành công dễ dàng trong việc diệt Trịnh.
Nay vua Quang Trung tuy có công đánh đuổi Tôn Sĩ Nghị, quét sạch 20 vạn quân Thanh, nhưng đám thân sĩ Bắc Hà bấy giờ – phần đông chỉ biết trung với cá thể một ông vua, một triều đại, chưa có cái nhận thức rõ rệt về quan niệm quốc gia, – không khỏi nảy ra những việc phản động một khi thấy vua Quang Trung do cái đà chiến thắng Đại Thanh bước lên địa vị làm chủ nhân ông suốt cả Bắc Hà, theo ý nghĩ của họ, là địa bàn thuộc quyền sở hữu riêng của nhà Lê. Vì thế, từ “khối” thân sĩ đương thời, mới âm ỉ nhen lên những “than lửa” rối ren trong lúc thay triều đổi họ.
1) Việc Trần Quang Châu: Năm Quang Trung thứ nhất (1788), Trần Quang Châu, người huyện Gia Bình (Bắc Ninh), đứng lên xướng suốt hương binh, chống với quân Tây Sơn ở sông Thiên Đức348.
Năm Mậu Thân (1788), quân Thanh kéo sang nước ta, vua Lê Chiêu Thống cho Châu đem quân đi hộ giá, làm tiên phong đại Tướng quân, hướng dẫn quân Thanh trong khi họ mượn danh nghĩa cứu Lê để thực hành ý muốn thôn tính Đại Việt. Nhưng qua năm Kỷ Dậu (1789), quân Thanh thua, vua Lê chạy, Châu quay về vùng các huyện, âm mưu cùng với bọn Trần Danh Án, Dương Đình Tuấn và Lê Trọng Vĩ, chống lại tân triều bằng những cuộc võ trang bạo động. Rồi trong vòng 3, 4 năm, Tư khấu Vũ Văn Dũng nhà Tây Sơn thường phải cầm quân đi đánh dẹp: kết cục anh và cháu của Châu đều tử trận cả. Qua năm Nhâm Tý (1792), Tây Sơn mới bắt được Châu rồi giết chết vì Châu không chịu khuất phục.
2) Việc Dương Đình Tuấn. Người huyện Yên Thế (Bắc Giang), Tuấn đem hai con, một cháu và người nhà kháng chiến với Tây Sơn để bảo vệ cho vua Chiêu Thống, khi vua này chạy đến huyện Nhân Mục (1788). Đem cái thế lực như đá Thái Sơn, Tây Sơn không khó gì trong việc đối chọi với trứng: Tuấn bị thương, con cháu và gia thuộc bảy người của Tuấn đều chết trận. Năm Mậu Thân (1788), Tuấn cắt nhiều dân phu hàng huyện lên đón quân Thanh tận cửa Nam quan để… đem về làm mồi cho gươm súng của quân Tây Sơn hùng kiệu.
Năm Kỷ Dậu (1789) Tuấn lại hoạt động sau khi tiễn đưa vua Chiêu Thống đến cửa ải Nam quan. Nhưng cái đóm lửa hầu tàn ấy không sao đương nổi trước cơn gió lộng của tân triều: Tây Sơn đã đuổi quân Tuấn đến tận huyện hạt Yên Thế, lại bổ luôn ba đồn đóng chẹn, đốt cả nhà và làng Tuấn: rồi dồn Tuấn vào rừng. Chẳng bao lâu, Tuấn phải ôm bầu tâm sự mà chết.
3) Việc Nguyễn Phủ. Nguyễn Phủ người Gia Lâm (Bắc Ninh), từ năm Đinh Mùi (1787) tụ họp thủ hạ, kháng chiến với Tây Sơn ở xã Tiến Lâm, nhưng bị Tây Sơn đánh tan và giết hết.
4) Việc anh em cha con Phạm Đình Đạt. Có thể nói nhà Phạm Đình Đạt ở Vũ Giàng (Bắc Ninh) là một nhà bài Tây Sơn. Em hai của Đạt là Tạo sĩ Phạm Đình Phan, em ba là Tiến sĩ Phạm Đình Dữ và con trưởng là Phạm Duật đều vào trong núi Huyền Đinh (ngàn Treo Đanh) mưu việc khôi phục nhà Lê, lật đổ Tây Sơn. Năm Kỷ Dậu (1789), sau khi vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu, Phan còn họp tập dân binh, hoạt động ở miền Lạng Giang. Nhưng rồi những cuộc thất bại đã đem đến cho Phan biết bao phẫn uất đến nỗi Phan phải uống thuốc độc mà chết. Còn Phạm Đình Chẩn, em tư của Đạt, đem hơn 500 hương binh, cũng nổi lên chống với Tây Sơn, nhưng chỉ chác lấy cuộc tàn phá cho nhà và cho làng. Hai con của Đạt là Đình Cù, Đình Ninh cũng đều bị bắt và bị giết trong một ngày vì đã tham dự vào cuộc khởi binh chống lại triều mới.
Dùng nhân tài
Nguyễn Huệ, với cặp mắt sáng khác đời, chẳng những thấy rõ được mọi vật trong đêm tối, mà rất sáng suốt trong việc liên tài hay dùng người. Trừ ra khi nào có ai cương cường không chịu hàng phục, Huệ xét để người ấy lại chắc sẽ có hại cho mình về sau thì thế tất phải tính. Một ví dụ:
Năm Giáp Ngọ (1774), Tham tán Nguyễn Đăng Trường bên Nguyễn theo chúa Duệ Tông không kịp, dắt mẹ vào lánh ở thành Quy Nhơn.
Bắt được Đăng Trường, Nguyễn Huệ vì liên tài, lấy lễ tân sư (vừa là bạn, vừa là thầy) mà đối đãi, song Đăng Trường không chịu, từ tạ xin đi.
Huệ nói: “Tiên sinh đi chuyến này, phỏng xoay lại trời đất được không? Sau có ăn năn, e muộn quách rồi!”
Đăng Trường nói: “Tài trai ở đời lấy trung hiếu làm đầu. Tôi nay dắt mẹ tìm vua, đối với đại nghĩa là quang minh lắm. Còn cùng hay thông, được hay hỏng là số mệnh cả, chứ có ăn năn nỗi gì!”
Huệ khen là hăng hái, rồi để cho đi.
Đến năm Đinh Dậu (1777), Nguyễn Huệ lại bắt được Đăng Trường. Huệ nói: “Lần này tiên sinh tính sao?” Đăng Trương đáp: “Bây giờ chỉ có chết thôi, can chi phải hỏi nữa!” sau dụ hàng không được. Huệ bất đắc dĩ phải sai giết đi. (Quốc triều sử toát yếu, tiền biên, quyển 1 tờ 36b-37a)
Khi ra Bắc, vua Quang Trung để ý ngay đến việc thu dùng nhân tài, nên những nhân vật xuất sắc như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích đều “vì người yêu mà hết sức làm đỏm”. Đáp ơn tri ngộ, mấy ông này đã đem văn chương tô điểm cho non sông tổ quốc, chiến thắng Mãn Thanh về mặt ngoại giao.
Nhà vua lại rất cưng chiều và tin dùng Vũ Huy Tấn349 thị trung đãi chiếu. Tỏ ý thân yêu, ngài thường vuốt ve bộ râu dài đẹp của Tấn. Nhiều khi ra đi, vua Quang Trung đường bệ ngự voi đi trước, Huy Tấn nho nhã cưỡi voi đi sau. Dấu hiệu đó tỏ ra Huy Tấn là tay văn mặc trọng yếu ở đương thời, không thể thiếu ở tả hữu Hoàng đế.
Để ghi ơn tao tế ấy, Vũ Huy Tấn có mấy câu Kỷ sự rằng:
文章屡奉綸音獎
鬓親承御手叉
更有一班堪畫處
輦途聯象接光華
Văn chương lũ phụng luân âm tưởng.
Mi mấn thân thừa ngự thủ thoa.
Cảnh hữu nhất ban kham họa xứ.
Liễn đồ liên tượng tiếp quang hoa.
(Trích trong Hoa trình tùy bộ thi tập)
Dịch:
Văn hay, lời thánh thường khen ngợi.
Râu tốt, tay vua vẫn vuốt ve.
Lại có chuyện này nên tả vẽ:
Liền voi, rạng vẻ lúc đi, về.
Vì nhà vua chinh phục được trái tim của Tấn, nên Tấn đã phơi gan, giãi ruột, đem tấm thân hăng hái dâng cả lên bàn thờ quốc gia. Chính Tấn bảy lần gõ cửa Nam quan (vi thần thất độ khấu Nam quan), vận động giảng hòa với Trung Quốc.

 Đối với những phái chịu ra, vua Quang Trung không câu nệ họ là người cũ hay mới, có khoa danh hay không, thảy đều dung nạp và thu dụng, miễn họ có chân tài và thực tâm ghé vai gánh vác việc nước.
Nhưng, đối với những phái thích ẩn độn, ngài chẳng những không ép buộc bức bách, mà lại không đoạt chí của họ nữa.
Chứng cớ đó thấy rõ trong việc ngài xử với Trương Quán350 và Nguyễn Thiệp351:
Trương Quán là con cháu công thần nhà Lê. Tây Sơn muốn thu dùng, song Quán không chịu; thế mà các nhà cầm quyền bấy giờ cũng để cho Quán được tự do vui thú giang hồ, bạn cùng cỏ, hoa, mây, khói, suốt đời ôm chủ nghĩa độc thân.
Như trước đã nói, Nguyễn Thiệp nhiều lần từ sính, không chịu ra làm quan, vậy mà vua Quang Trung vẫn nhìn Thiệp bằng con mắt biệt đãi, không hề tức giận mỗi khi mời mãi không ra, cho gì không lấy. Song, trước thanh phong cao tiết của nhà danh sĩ ấy nhà vua vẫn một niềm tôn kính như thầy.
Coi mấy việc trên, đủ thấy vua Quang Trung có tài biết rõ người và có độ lượng dung được người. Chính nhờ cái tài ấy, cái độ lượng ấy, các bộ máy quân sự, ngoại giao và chính trị, mới chạy rất hợp lý, rất nhanh chóng và kết quả rất sai trĩu tốt tươi.
Vả, ơn tri ngộ của ngài thấm sâu vào xương tủy nhiều thân thần, nên về sau, khi băng, ngài để lại biết bao niềm thương nỗi tiếc cho người đương thời. Chẳng thế, Phan Huy Ích đã viết mấy câu cảm hoài khi gặp Quốc tang352 (thu Nhâm Tý, 1792):
遭際機緣難再得
從今羈旅雁臣孤
Tao tế cơ duyên nan tái đắc!
Tòng kim ký lữ nhạn thần cô!
Dịch:
Duyên may gặp gỡ còn đâu nữa!
Nhờ đậu từ đây, chiếc nhạn côi!
Chính trị
Sau khi từ Phú Xuân (Huế) bước lên cái ngai hoàng đế, vua Quang Trung phải cưỡi ngay voi, huơ ngay kiếm, đánh đuổi giặc Thanh để giữ lấy chủ quyền và lĩnh thổ. Kế đó, mặt Bắc, phải giao thiệp với Tàu, mặt Nam, phải đối phó với chúa Nguyễn, nên trong năm năm trị vì (1788-1792), ngài chưa được mấy lúc rảnh tay lo việc nội trị…
Vả, triều Tây Sơn cầm quyền không được lâu, nên dấu tích chính trị của triều đại ấy, dầu ai thấy xa, nghe rộng đến đâu cũng không thể nhặt lượm tài liệu nào khác ngoài mấy quyển chính sử, ngoại truyện, dã sử của ta và ít trang ký tái của mấy nhà truyền giáo ngoại quốc hồi đó.
Dầu sao mặc lòng, căn cứ vào các mảnh vụn lịch sử, chúng ta ngày nay sinh sau hàng trăm rưởi năm, cũng có thể nhận thấy trong vua Quang Trung có lắm cái sáng kiến và đặc sắc về chính trị cũng như về quân sự.
Khi đã chiến thắng Mãn Thanh về võ lực và ngoại giao, vua Quang Trung một mặt lo đàn áp các phần tử phản động ở trong, một mặt dự bị khôi phục lấy đất Lưỡng Quảng, lẽ tất nhiên ngài phải đặt việc võ bị lên trên hết mọi vấn đề khác.
Một cái ấn tín của nhà binh đời Tây Sơn,
trong có mười chữ này:
率忠良二衛三校中郎將
Suất Trung lương nhị vệ, tam hiệu Trung lang tướng.
Về quân hiệu, ngoài tên ngũ quân Trung, Tiền, Hậu, Tả, Hữu như đã thấy tổ chức trong khi đánh giặc Thanh ra, lại có những quân đặt tên là Tả bật, Hữu bật, Ngũ chế, Càn thanh, Thiên cán, Thiên trường, Thiên sách, Hổ bôn, Hổ hầu, Thị lân, Thị loan nữa.
Ở hàng huyện về ngạch võ, có viên Võ phân suất cầm đầu, Binh chế thì có từng Đạo, từng Cơ và từng Đội: lấy Đạo thống Cơ, lấy Cơ thống Đội.
Vì bấy giờ đang mưu đồ công cuộc đánh Tàu, nên trong nước phải dùng đến chính sách cưỡng bách tòng quân: từ 12, 13 đến 60 tuổi, đều phải ra lính hết353.
Một nhà truyền giáo lúc bấy giờ có chép rằng người Nam bấy giờ theo anh em Tây Sơn đi trận, trở nên gan dạ, hùng kiện, một người đương nổi mười người, đánh đâu thắng đấy354.
Năm Quang Trung Nguyên niên (1788), Ngô Thì Nhậm có dâng sớ bằng chữ nho, điều trần về việc nội trị, đại ý nói:
Xưa kia nhà Chu đã thắng nhà Ân, phân phong các anh em gây lấy cái thế như rết trăm chân, giúp đỡ lẫn nhau nên chư hầu không dám đoạt, nhà Chu hưởng nước được 800 năm. Nhà Hán, khi mới đại định, phong ngay đồng lính, gây thành cái hình như hai hàm răng cùng cắn chặt lấy nhau, nên thiên hạ họ phục là mạnh, nhà Hán trị vì lâu đến 400 năm. Nay Bệ hạ (chỉ vua Quang Trung) nếu biết làm theo như thế thì có thể sánh với Chu Hán đấy.
Vua Quang Trung nghe theo, bèn chia phong các con giữ các địa bàn:
Con cả, Quang Toản làm Thái tử.
Con thứ, Quang Thùy làm Khang công, lĩnh Bắc thành, Tiết chế Thủy bộ Chư quân.
Con thứ ba, Quang Bàn làm Tuyên công, lĩnh Thanh Hoa đốc trấn, Tổng lý quân dân sự.
Nhà vua lại sai các huân thần và danh tướng hiệp sức giúp việc cho các hoàng tử đã lĩnh những trọng trấn ấy.
Bộ máy hành chính gồm có những cơ quan này.
Tam công, Tam thiếu, Đại Chủng tể, Đại tư đồ, Đại Tư khấu, Đại tư mã, Đại Tư không, Đại Tư cối, Đại Tư lệ, Thái úy, Ngự úy, Đại Tổng quản, Đại Đổng lý, Đại Đô hộ, Đại đô đốc, Đô đốc, Nội hầu, Hộ giá, Điểm kiểm, Chỉ huy sứ, Đô tư, Đô úy, Trung úy, Vệ úy, Quán quân, Tham đốc, Tham lĩnh, Trung thư sảnh, Trung thư lệnh, Phụng chính, Thị trung Đại học sĩ, Hiệp biện Đại học sĩ, Thị trung Ngự sử, Lục bộ Thượng thư, Tả hữu Đồng nghị, Tả hữu Phùng nghị, Thị lang, Tư vụ, Hàn lâm…
Mỗi trấn đặt một trấn thủ về hàng võ và một hiệp trấn về hàng văn. Mỗi huyện đặt một văn phân tri, một võ phân suất, một tả quản lý và một hữu quản lý. Công việc của quan văn là trưng đốc binh lương, xét xử từ tụng. Phận sự của quan võ là coi quản và thao diễn quân lính từ Đạo đến Cơ, từ Cơ đến Đội.
Trong các xã, các thôn thì có xã trưởng, thôn trưởng.
VIỆC XÃ HỘI
Muốn cho tiện sự giao thông ở một địa điểm thích trung (kể theo địa thế nước ta bấy giờ), vua Quang Trung đặt thêm một số đô thành ở trấn Nghệ An, gọi là Trung Đô (sẽ nói kỹ ở phần kiến trúc). Và muốn cho mới mẻ tai mắt thiên hạ, ngài đổi tên Thăng Long làm Bắc thành.
Từ đời Lê, Bắc Hà chia làm 11 xứ (hoặc trấn):
1 – Xứ Nam (Sơn Nam)
2 – Xứ Đông (Hải Dương)
3 – Xứ Bắc (Kinh Bắc)
4 – Xứ Đoài (Sơn Tây)
5 – Xứ Yên Quảng (nay là tỉnh Hải Ninh)
6 – Xứ Lạng (Lạng Sơn)355
7 – Xứ Thái (Thái Nguyên)
8 – Xứ Tuyên (Tuyên Quang)
9 – Xứ Hưng (Hưng Hóa)
10 – Xứ Thanh (Thanh Hoa)
11 – Xứ Nghệ (Nghệ An)
Đến triều Quang Trung, ngoài chín xứ để yên như cũ, có chia lại hai xứ Sơn Nam và Thanh Hoa (1788)356.
Xứ Sơn Nam chia làm hai trấn: phía trên xứ ấy gọi là Nam thượng hoặc Thượng trấn; phía dưới giáp biển gọi là Nam hạ hoặc Hạ trấn. Trước kia, phố Hiến là lỵ sở của Sơn Nam, đến bây giờ lỵ sở Hạ trấn đóng ở Vị Hoàng bên sông Nhị, cách dưới phố Hiến vài dặm; còn lỵ sở Thượng trấn thì đóng ở Châu Cầu (nay thuộc Hà Nam), cách phía dưới kinh đô độ hai mươi dặm, ở ngay bên đường cái quan ăn thông từ Bắc vào Nam Hà357.
Xứ Thanh Hoa cũng chia làm hai: Về mặt Bắc gọi là Thanh Hoa ngoại; về mặt Nam gọi là Thanh
Hoa nội358.
Mỗi xứ chia làm nhiều phủ, mỗi phủ chia làm nhiều huyện, mỗi huyện chia làm nhiều tổng và mỗi tổng chia làm nhiều xã. Tựu trung có nhiều xã lại chia ra từng thôn359.
Còn kinh đô mà xưa ta gọi là Kẻ Chợ thì gồm có một phủ, hai huyện, mười tám phường360.
KIẾN TRÚC
Từ khi còn làm Đại nguyên súy Tổng quốc chính Bình vương, Nguyễn Huệ đã để tâm đến việc lập tại Nghệ An một kinh đô mới. Vì ngài cho rằng, đối với địa thế nước ta hồi ấy, Nghệ An ở vào khoảng giữa đất nước, đạo lộ thích quân và là chỗ đất rau rốn của tổ tiên ngày trước.
Từ trước, ngài đã truyền bảo La Sơn phu tử Nguyễn Thiệp về Nghệ chọn đất dựng kinh đô cho kịp kỳ ngài về ngự. Nhưng La Sơn phu tử chưa làm xong, nên ngài giá hồi Phú Xuân tạm cho sĩ tốt nghỉ sức.
Đến ngày mồng 1 tháng sáu năm Mậu Thân (1788) trước khi lên ngôi Hoàng đế, ngài lại sai thảo chiếu giục Nguyễn Thiệp làm việc ấy. Ý ngài muốn cắm đất làm tân đô ấy ở vào khoảng chỗ dân cư, phía sau Phù thạch hành cung, nhưng gần về mạn núi. Nếu không thế thì cho Nguyễn Thiệp được tùy tiện mà chọn định, miễn là nội ba tháng phải làm xong361.
Sau khi nhận được tờ chiếu ấy, Nguyễn Thiệp thì xem đất, trấn thủ Thận thì đứng đốc suất quân lính các đạo đánh đá ong, thợ thuyền các hiệp xây cất doanh tác, rồi chẳng bao lâu, dưới chân núi Kỳ Lân ở Nghệ An, đồ sộ nổi lên một khu nội thành, trong có long lâu ba từng, điện Thái Hòa hai hành lang để phòng có lễ triều hạ. Thật xứng đáng với cái tên mới mẻ đẹp đẽ là Phượng Hoàng Trung Đô hoặc Trung kinh Phượng Hoàng thành.
Về việc đổi đóng đô ở Nghệ An này, vua Quang Trung có sai Ngô Thì Nhậm viết một bức thư ngoại giao gửi cho Lưỡng Quảng Tổng đốc Phúc Khang An bày tỏ duyên cớ. Đại ý nói: Nước ta từ Lý, Trần về sau đều đóng đô ở Thăng Long cả. Gần đây vượng khí ở đấy đã tan hết rồi. Bấy giờ bờ cõi nước ta, về phía nam, mở rộng hơn trước. Sự đóng kinh đô chỉ có Nghệ An là chỗ đất vừa vặn ở giữa, nên đã chọn nơi núi Phượng Hoàng ở Nghệ đặt làm Trung đô rồi. Từ nay phàm các công văn đi lại, đường xá xa hơn Thăng Long gấp bội, vậy mong bên Tàu lượng thứ cho cái lỗi chậm trễ362.
THUẾ KHÓA, NÔNG CHÍNH
Hồi còn nhà Lê, nhân dân phải đóng một thứ thuế xâu dịch gọi là “điều tiền”. Vì nhà Lê phỏng theo cái phép cố định thời xưa, có đánh thứ thuế ấy. Rồi hễ có những việc xâu dịch công tác thì lấy tiền công ra thuê mộ người làm.
Đến triều Quang Trung, nhà vua thấy quốc gia mới khai sáng, muốn rút bớt xâu thuế để nới nhẹ cho dân, bèn bãi bỏ cái phép đánh thuế “điền tiền363” đó.
Từ năm Mậu Thân (1788), trong nước gặp lúc loạn ly, lại bị quân Thanh kéo sang chà xát giày đạp, gia dĩ luôn năm mất mùa, nhân dân phần vì cơ cận, phần vì dịch lệ, chết đến 7, 8 phần 10.
Trước tình hình ấy, nhà vua phải làm một việc quyền nghị: đánh thuế vào các tư điền để lấy gạo lúa.
Bấy giờ đinh thiểu, điền đa, ai còn sống lại thường phải đóng nặng thuế điền, vì thế nhiều nhà giàu đến phải bỏ ruộng không nhận.
Xem trong bài chiếu “Khuyến nông” như có chép trong tập Hàn các anh hoa của Ngô Thì Nhậm, đủ thấy vua Quang Trung bấy giờ chú trọng vào hai việc:
1. Khuyến khích canh nông.
2. Chăm lo cho nhân dân sinh tụ đông đảo.
Từ khi binh lửa luôn năm, lại thêm vào đấy những nỗi cơ cận, nhân dân siêu dạt, đồng ruộng bỏ hoang, nên thực số đinh điền bấy giờ không bằng 4, 5 phần mười thuở trước.
Ngài bèn ra lệnh:
Phàm những dân nào trước đó kiều ngụ tha phương, trốn tránh lao dịch hoặc vì có thê hương mẫu quán mà đến ở, hoặc vì đi buôn bán làm ăn mà ngụ cư, hễ đã vào làng ở sở tại được từ ba đời trở lên thì mới cho ở, còn ngoài ra bắt về bản quán hết thảy, chứ biệt xã không được chứa chấp. Những ruộng công, ruộng tư đã trót bỏ hoang, nay đều cho về nhận lấy cày cấy, chứ không được bỏ bê trễ, để đến nỗi số ruộng thực khẩn phải chịu khống thuế mãi.
Các sắc mục, các xã trưởng và các thôn trưởng sở tại phải xét số đinh thực tại có bao nhiêu suất, số dân siêu dạt mới về được bao nhiêu suất, rồi xem số thực điền đã thực khẩn được bao nhiêu mẫu, còn số hoang điền mới khai khẩn được bao nhiêu mẫu, đều phải đăng vào sổ bộ, nộp lên các viên phân suất, phân tri ở huyện mình để họ chuyển đệ lên triều đình, triều đình sẽ phái quan khâm sai đi khám lại cho đúng sự thực, bấy giờ mới sẽ liệu định việc bổ thuế cho
công bằng.
Nếu xã nào cứ chứa những người ngụ cư mà không bắt họ phải quay về nguyên quán, nếu những người trốn tránh ấy cứ lần lữa không chịu về, và nếu ai biết chuyện mà cáo tỏ ra thì những sắc mục, xã trưởng, thôn trưởng sở tại và những kẻ trốn tránh ấy đều phải trị tội cả.
Xã nào ruộng hoang đã đến hạn mà vẫn chưa nhận lấy khai khẩn thì cứ do viên sắc và bộ hạng xã ấy phải chịu trách nhiệm về việc đóng thuế ruộng công chiếu theo ngạch thuế điền cũ mà nộp gấp bội.
Ruộng tư một khi đã sáp nhập làm ruộng công thì thuế đóng cũng như ngạch thuế công điền.
Sở dĩ ban ra cái mạng lệnh ấy, là vì nhà vua muốn hạng lưu dân quay về làng cũ, chăm việc canh nông, đừng lười biếng để hại đến cuộc mưu sinh, ngõ hầu nhà vua cùng trăm họ được hưởng cái vui đông đúc, giàu có, thịnh vượng.
Sau hồi chiến tranh, sổ điền không được minh bạch: hoặc ruộng bỏ hoang mà vẫn phải chịu thuế hoặc ruộng xấu mà vẫn phải đóng thuế vào hạng thượng đẳng điền; hoặc kẻ cường hào hay tụi Thanh kiều, nhân dịp hỗn quân hỗn quan trong lúc Tôn Sĩ Nghị tiến đóng Thăng Long, bá chiếm của hạng yếu bóng, lép vế. Thành thử, về việc hộ, hay có lắm chuyện rắc rối vì ruộng đất.
Để giải quyết vấn đề về địa chính rất phức tạp ấy, năm Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung hạ chiếu bảo trong nước làm lại sổ điền. Hai văn thần là Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích đều tán thành việc này.
Ruộng tư cũng như ruộng công, chia làm ba hạng, hạng nào có thuế riêng hạng ấy:
Ruộng công:
Hạng nhất: mỗi mẫu nộp thuế 150 bát364 thóc.
Hạng nhì: mỗi mẫu nộp thuế 80 bát thóc.
Hạng ba: mỗi mẫu nộp thuế 50 bát thóc.
Cả ba hạng mỗi mẫu phải ra một tiền quý về thuế thập vật và 50 đồng kẽm về thuế khoán kho.
Ruộng tư:
Hạng nhất: mỗi mẫu nộp thóc thuế 40 bát.
Hạng nhì: mỗi mẫu nộp thóc thuế 30 bát.
Hạng ba: mỗi mẫu nộp thóc thuế 20 bát.
Cả ba hạng đều phải ra mỗi mẫu là 30 đồng kẽm tiền khoán kho. Còn tiền thập vật cũng như lệ ruộng công kể trên.
Ngoài thuế ruộng ra, triều Quang Trung theo lệ cũ cũng đánh những thứ thuế như dung tiền, cước mễ.
Vụ mùa tháng mười năm Quang Trung thứ 4 (1791), thóc lúa các nơi đều được phong đăng cả. Năm phần mười trong nước đã khôi phục được cái quang cảnh thái bình thuở xưa.
Sở dĩ xã hội bấy giờ chóng đi đến thịnh vượng là nhờ ở cách tổ chức lương thiện và ở chính sự hậu sinh (nhân hậu và hậu sinh). Hễ năm nào gặp nạn đại hạn hay hồng thủy thì lại ra ơn đại xá; hễ kẻ nào phạm tội nhẹ hoặc phụ khiếm mà trốn đi thì đều được bỏ qua, không xét hỏi nữa365.
VIỆC HỌC VIỆC THI
Theo như lời trong “Lập học chiếu”366 thì sau khi đại định, vua Quang Trung cũng rất tỏ ý sùng đạo Nho, lưu tâm yêu kẻ sĩ, mong được những tay có thực tài ra giúp việc quốc gia.
Tại các dân xã đều cho lập nhà xã học: chọn trong đám nho sĩ hàng xã lấy người có học, có hạnh, đặt làm xã giảng dụ để dạy những học trò trong hàng xã mình.
Các đền từ ở các phủ vẫn để cho dân bản hạt nhận giữ, nhưng dùng chung làm trường học hàng phủ, triều đình sẽ bổ một viên phủ huấn đạo đến dạy học tại đó.
Gặp khoa thi hương thì lựa lấy những hương tú tài; hạng ưu được thăng vào quốc học; hạng thứ, cho vào phủ học.
Đối với các ông cống triều Lê, phàm những người tại quán chưa nhậm chức gì, nhà vua cũng muốn dùng họ cả. Ngài có ban chiếu bảo họ đến cửa khuyết đình để lựa bổ sung những chức như huấn đạo, tri huyện. Còn các cựu nho sinh và các cựu sinh đồ đều phải đợi có khoa thi thì thi: hạng ưu được đỗ; hạng liệt phải bãi về xã học.
Đến hạng sinh đồ mua bằng ba quan367 ở triều Lê trước thì đều bị loại về hạng “dân” hết thảy; cũng phải chịu giao dịch như dân thường.
Chữ viết đời Quang Trung
(Tám chữ “văn học, chính thuật, Quang Trung ngũ niên” này là do tác giả tô theo trong đạo sắc của Phan Huy Ích do vua Quang Trung phong ngày 18 tháng tư nhuận, năm Quang Trung thứ 5, 1792).
Ngoài những việc dùng chữ nho, sùng đạo Nho, trọng kẻ sĩ ấy ra, vua Quang Trung còn có cặp mắt trông xa và kiến thức cao vút, đã biết sớm quý trọng tiếng mẹ đẻ, cho nó cũng có một địa vị ở đương thời để mong nhờ nó, tư tưởng dễ được truyền bá, giáo dục dễ được phổ thông. Chỉ một việc trọng chữ Nôm này, đời sau cũng đủ tưởng thấy cái óc sáng kiến của nhà chính trị thiên tài ấy.
Thấy Nguyễn Thiệp, danh sĩ Nghệ An, học rộng, đạo cao, đáng làm mực thước cho hậu học, nhà vua nhiều lần sai đem vàng lụa làm sính lễ, mời Thiệp ra giúp chính sự. Song, ngoài việc mang chiếc bánh chưng, góp chút công vào việc đánh Tôn Sĩ Nghị ra, Thiệp không chịu xuất chính, nên bao lần trả lại các sính nghi.
Dẫu vậy, không chịu bỏ phí nhân tài, vua Quang Trung có nhờ Nguyễn Thiệp dịch Kinh Truyện ra tiếng Nôm để tiện về truyền bá đạo lý Khổng, Mạnh giữa vòng dân chúng.
Vâng mạng vua Quang Trung, Thiệp đã làm được một ít sách, nhưng chưa xong trọn thì vua đã thăng hà! Rồi những dịch phẩm bằng Nôm ấy đều bị tịch thu, thiêu hủy, xóa nhòa theo dấu tích của triều đại Tây Sơn!
Cũng một ý muốn dùng Nôm làm lợi khi để mở trí dân ấy, ngay từ khi làm Đại Nguyên súy Tổng quốc chính Bình vương, ngài đã đem tiếng mẹ đẻ ứng dụng trong công văn như ở tờ chiếu gửi cho La Sơn Phu tử.
Chiếu truyền La Sơn phu tử Nguyễn Thiệp khâm tri:
Ngày trước ủy cho Phu tử về Nghệ An tướng địa làm đô cho kịp kỳ này hồi ngự. Sao về tới đó chưa thấy đặng việc nhỉ? Nên hãy giá hồi Phú Xuân kinh hữu tức sĩ tốt.
Vậy chiếu ban hạ phu tử tảo nghi dữ trấn thủ. Thận công sự kinh chi doanh chi tướng địa tu đô tại Phù Thạch hành cung sảo hậu cận sơn. Kỳ chính địa phỏng tại dân cư chi gian, hay là đấu cát địa khả đô duy phu tử đạo nhãn giám định, tảo tảo tốc thành. Ủy cho trấn thủ Thận tảo lập cung điện kỳ tam nguyệt nội hoàn thành, đắc tiện giá ngự. Duy Phu tử vật dĩ nhàn tốt thị Khâm tai! Đặc chiếu!
Thái Đức thập nhất niên (1788) lục nguyệt, sơ nhất nhật”368
Hiện nay người ta còn truyền tụng hai câu trong chiếu “cầu hiền” của triều Tây Sơn:
Hễ cha mô dù có chí giỏi giang,
Đù mẹ đứa chẳng suy tâm ủy dụng
Lại tục truyền một dật sự về ông nghè Mọc (?) ở triều Quang Trung:
Mới đỗ Tiến sĩ, ông Mọc và ông Đào (?) ai cũng cậy mình hay chữ, không đằng nào chịu nhường đằng nào. Việc tranh giành cãi cọ ấy phải chờ đến lệnh phân xử của nhà vua.
Vua Quang Trung bèn hạ chỉ phán bảo: “Sai lính đánh một hồi trống, mỗi người làm một bài phú, hễ dứt hồi trống mà ai xong trước thì là người hay chữ.” Đào làm bài Nghè Đào Phú, Mọc làm bài Nghè Mọc Phú.
Trong khi nghè Đào mới được một đôi câu (trong đó câu kỳ lạc đào đào) thì nghè Mọc đã ứng khẩu làm xong bài phú theo cái đầu đề tên mình:
Hữu nhất nhân hề: dẳn đùi ếch, vểnh râu trê
Giầu vỏ quạch, cái môi thâm xịt
Rượu hằng dê (?) con mắt đỏ hoe
Không rằng không, có cũng rằng không nghề ngôn chuyện ai nào dám địch;
… (Lược. Vì vế này nói nhá)
Thử sở dĩ trước là thằng Mọc, nay đỗ ông nghè giả dư!
Đó chắc là những chuyện chế giễu do mấy nhà trào phúng Bắc Hà ở đương thời hoặc đầu triều Nguyễn bịa đặt ra để mỉa mai cá thể vua Quang Trung không giỏi chữ Hán hoặc để công kích cái chính sách nhà vua bấy giờ dùng văn Nôm trong chiếu, biểu, thi, phú… mà, theo ý họ, là một lối “nôm na mách qué” không nhập nhã dưới những con mắt đang thiên trọng Hán văn.
Nhưng nhân hai câu chiếu văn và chuyện dật sự trên đây, ta lại xét đến nhiều bài văn ở triều Cảnh Thịnh (1793-1800), Bảo Hưng (1801-1802), tuy là quân quốc trọng sự mà cũng dùng Nôm, như “Canh Thân (1800) xuân, nghĩ Diệu quận quân thứ quốc âm hiểu văn”369, “Dụ nhị súy quốc âm chiếu văn”370 và “Kỷ Mùi (1799) đông nghĩ ngự điện Võ Hoàng hậu tang”371… thì đủ biết sự dùng quốc âm trong văn đường bệ đã hầu thành “gia sáo” và thói quen của nhà Tây Sơn rồi. Vậy nay có thể quả quyết: vua Quang Trung đã mạnh bạo đánh đổ cái thành kiến, cái tập quán hàng ngót hai nghìn năm chỉ quý Hán văn, không dám trọng dụng Việt ngữ.
Tương truyền rằng: mỗi khoa thi, cứ kỳ thứ ba (Đệ tam trường), nhà vua buộc các sĩ tử phải làm thơ phú bằng tiếng mẹ đẻ.
Sau khi xem xét bài biểu của Nguyễn Thiệp nói về ba điều quân đức, dân tâm và học pháp372 nhà vua có ý muốn chỉnh đốn lại việc học, nên qua năm Quang Trung thứ 5 (1792) định thiên đô về Nghệ An: dựng nhà Sùng chính thư viện, cử Nguyễn Thiệp làm Viện trưởng, giữ việc giáo dục quốc dân. Nhưng, cái “thai” thư viện đó không được nhìn thấy ánh sáng, là vì chưa kịp thực hiện thì vua Quang Trung đã băng.
ĐỐI VỚI TÔN GIÁO
Cũng như các triều đại khác, triều Quang Trung cũng tôn sùng đạo Nho, đạo Phật và đạo Bách Thần.
Có điều rất đáng chú ý, khi Tây Sơn cầm chính quyền, đạo Gia tô cũng được tiến hành tấn tới. Chứng cớ ấy ta thấy ở câu này trong bức thư của Giáo sĩ Le Roy gửi cho Blandia, đề ngày 18 juillet 1793: “Từ khi nhà Tây Sơn lên làm chủ, tôn giáo được tấn bộ”373.
Nhà vua có ý muốn chấn chỉnh Phật giáo trong nước, nên đối với những sư nào không xứng đáng thì bắt hoàn tục làm ăn; chỉ cho những tăng nhân nào có đạo đức, có học thức mới được trụ trì ở chùa chiền để quy Phật374.
Ngài lại muốn cho sắc tướng chốn thuyền môn được trang nghiêm, nên xuống chiếu bắt bỏ bớt những chùa nhỏ ở các làng, truyền đem gỗ gạch làm chung ở mỗi phủ, mỗi huyện một ngôi chùa rất to tát, rất đồ sộ, rất đẹp đẽ375.
Ngoài ra, triều Quang Trung cũng làm cái việc phong sắc cho bách thần theo như lề lối từ đời Lý Cao Tông (1176–1210) truyền lại376:
Ngày 22 tháng sáu, năm Quang Trung thứ 5 (1792) triều đình có ban sắc cho vị thần là Đỗ công Đại vương, trong có hai vế đối:
九服清怡共樂太平之景象
三靈和晏永祈申錫之庥禎
Cửu phục thanh di, cộng lạc thái bình chi cảnh tượng.
Tam linh hòa yến, vĩnh kỳ thân tích chi hưu trinh.
Dịch nghĩa:
Lặng trong chín cõi, vui chung cảnh đẹp thái bình.
Yên ổn ba linh377 ban mãi phúc lành rộng rãi.
Trên tấm sắc mực đen giấy vàng này có đóng cái ấn son đỏ đề bốn chữ triện “hòa nhu chi bảo” (和柔之寶)378.
TÍN BÀI
Tuổi còn trẻ, chí đang hăng, tiền đồ còn đầy hy vọng, vua Quang Trung quyết mài gươm, thét lửa một phen để làm thực hiện cái chí cao xa bấy lâu vẫn ôm ấp.
Để đi đến con đường đánh Thanh, ngài từ khi lên cầm quyền chính, hết sức chấn chỉnh vũ bị, sửa soạn chiến tranh.
Sổ đinh bấy giờ, sau bao cơn trong nước loạn ly, không được minh bạch, nhất là từ miền Linh Giang (sông Gianh) ra ngoài Bắc, dân số ẩn lậu còn nhiều.
Vả, bấy giờ nhà vua ngày đêm cùng các tướng tá mưu việc Bắc phạt. Ai nấy đồng thanh: “Việc cần kíp ngày nay là phải biết đúng số dân để tiện việc tuyển lính.” Ngài lấy làm phải, nên tháng sáu, năm Quang Trung thứ 3 (1790), hạ chiếu sai các trấn phải đốc các dân xã cải tu sổ đinh, chia làm bốn hạng:
1) Hạng vị cập cách: từ 9 đến 17 tuổi.
2) Hạng tráng: từ 18 đến 55 tuổi.
3) Hạng lão: từ 56 đến 60 tuổi.
4) Hạng lão nhiêu: từ 60 tuổi trở lên.
Để tránh sự ẩn lậu, nhà vua sai chiếu theo sổ đinh, phát cho mỗi người một cái thẻ, tên gọi “Tín bài”, trong in bốn chữ lớn “Thiên hạ đại tín”379.
Trên mặt thẻ ở chỗ hồi văn bốn bên thì đề tên, quê quán và in đầu ngón tay tả của người có thẻ để làm tin.
Tín bài ấy ai cũng phải đeo, gặp người xét hỏi thì phải đưa trình. Ai không có thẻ, ấy là lậu dân, hoặc phải bắt xung làm phòng quân, hoặc phải đem xuống tàu, cho đi những nơi đất rộng miền rừng núi. Trách nhiệm ẩn lậu ấy, tổng trưởng (chánh tổng), lý trưởng phải chịu.
ĐÚC TIỀN ĐỒNG
Sau khi lên ngôi, vua Quang Trung có cho đúc một thứ tiền bằng đồng để tiêu dùng trong nước.
Hồi năm 1937, một nhà từ thiện ở làng Cót (trước thuộc Hà Đông, nay thuộc Hà Nội) có đứng lên xây một cái cầu bắc qua sông Tô Lịch. Khi đào lòng sông để xây móng chân cầu, người ta có nhặt được mấy đồng tiền đồng về đời Quang Trung. Cứ như mấy đồng tiền ấy tôi đã được thấy (xin coi hình vẽ), thì khuôn khổ cũng bằng những đồng tiền đồng “Gia Long”: giáp biên có cái gờ theo vành tròn, gần lỗ có cái gờ theo hình lỗ vuông. Mặt trái thì trơn, có bốn hình vành cung day lưng vào lỗ vuông, mặt phải thì có bốn chữ (光中通寶) (Quang Trung thông bảo).
Năm Quang Trung thứ 4 (1791) có lẽ vì dự bị việc làm binh khí để đánh Tàu và đúc tiền đồng để rộng tài nguyên cho dân gian, nên nhà vua hạ lệnh thu hết các thứ đồng tốt trong nước.
PHÁ LỆ CỐNG NGƯỜI VÀNG
Khi Việt – Thanh đã giảng hòa, Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An có đưa thư bảo vua Quang Trung rằng: “Mỗi khi thay triều đổi họ, nhà nào bên Nam cũng cống người vàng để làm tạ lễ, thì nay Tây Sơn cũng nên sắm người vàng để đưa sang Thanh.”
Nói đến lệ cống người vàng380 ta nên xét kỹ lịch sử nó đã. Các bạn đọc có rõ những nỗi khó khăn trọng đại của việc này ra sao, bấy giờ mới biết cái công phá được lệ cống người vàng là vĩ đại, đáng đời đời ghi nhớ.
Nguyên xưa Đức Lê Lợi giận nhà Minh tàn ngược, nổi lên từ núi Lam Sơn: Ròng rã mười năm trường (1418-1428) mới đuổi được giặc Minh về nước, ban bố bài cáo Bình Ngô. Trong khi tấn công giặc Minh ấy, Đại tướng Lê Nhân Chú381 bắt sống được An Viễn hầu Liễu Thăng ở Chi Lăng (thuộc Ôn Châu, trấn Lạng Sơn), ngày 18 tháng chín, năm Đinh Mùi (1427). Rồi viên tướng Minh ấy phải đem thân đền trả cái nợ tàn khốc vô nhân đạo của đồng bào họ đã ngược đãi người Nam.

Tuy đã dẹp yên giặc Minh, nhưng nhân dân còn mang một vết thương rất nặng vì bao năm tranh chiến. Muốn chữa cho họ mau lành, vua Lê Thái Tổ (1428-1433) có làm mấy việc quyền nghi trong lúc điều đình với người Ngô, không nghe quốc dân xui giục về việc thẳng tay giết hết giặc Minh cho hả lòng bấy nay căm giận, nên khi đã ký hòa nghị rồi, Ngài tha cho bọn quan lại, quân dân nhà Minh được về Tàu đến hơn 86.000 người, lại cấp cho bọn Vương Thông tướng Minh, hơn 500 chiếc thuyền và vài ngàn cỗ ngựa để cho toàn hoạt về nước. Đó đúng như trong bài Bình Ngô đại cáo đã nói: “Ta muốn cho được tuyền quân là hơn, và mong cho dân được yên nghỉ” (dịch).
Vì ý nghĩ ngài đã muốn như vậy, nên phàm các việc trang trải với người Minh, ngài phải buộc lòng làm quyền biến cho được việc một lúc. Chính ngài chẳng những tạm bợ trong việc lập Trần Cao, người giả danh là dòng dõi họ Trần, để cho mau êm chuyện ngoại hoạn, mà ngài lại còn phải quyền nghi làm việc cống người vàng cho nạn can qua khỏi kéo dài mãi.
Nguyên từ năm Bính Ngọ, niên hiệu Bình Định vương thứ 9 (1426), vua Lê chến đấu với giặc Minh đã ngót mười năm ròng rã rồi, lòng ngài bấy giờ chỉ mong sao đuổi quân Ngô ra khỏi bờ cõi nước nhà sớm được ngày nào thì nhân dân sớm thoát cái nạn lầm than ngày ấy.
Đến tháng mười một năm đó (Bính Ngọ, 1426), Vương Thông nhà Minh sau khi trải qua bao trận thất bại, có ý giảng hòa, rút quân kéo về, nhưng không vin vào danh nghĩa gì để bãi binh được. Thông dựa ngay vào lời chiếu ở đầu niên hiệu Vĩnh Lạc (1403-1424) bảo tìm lập con cháu họ Trần, bèn ngầm khuyên dỗ vua Lê làm việc ấy, bắt đắc dĩ ngài phải dằn lòng ưng thuận.
Trước đó, có Hồ Ông trốn ở nhà Cầm Quý, thổ quan ở Ngọc Mạ (nay là phủ Trấn Định thuộc Nghệ An) mạo xưng là cháu ba đời vua Trần Nghệ Tông (1370-1372), vua Lê bèn sai đón lập Hồ Ông làm Trần chúa, đổi tên là Trần Cao, kỷ nguyên là Thiên Khánh. Còn ngài thì xưng là Vệ quốc công.
Sau khi được đứng lên làm bồ nhìn, Cao “ngự” ở núi Không Lộ thuộc huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây dưới quyền giám chế của Lê Quốc Hưng do vua Lê sai phái382.
Ngay hồi ấy, vua Lê đã thay Trần Cao, đưa tờ biểu sang nhà Minh xin phong cho Cao, nhưng nhà Minh cứ làm lơ, không nói sao cả. Qua năm Đinh Mùi niên hiệu Bình Định vương thứ 10 (1427), vua Lê lại sai sứ bộ Lê Thiếu Dĩnh383 đem biểu văn384 đi với nhân viên do Vương Thông cắt cử cùng sang Yên Kinh để giao thiệp về việc cầu phong này.
Kèm với biểu văn ấy có những phương vật này:
1 pho người vàng thế thân (trong Khâm định Việt sử quyển 14, tờ 24 chép là hai pho người vàng thế thân).
1 cái lư hương bằng bạc;
1 cái lọ bạc để cắm hoa, 300 tấm lụa tiến (thổ quyên);
14 đôi ngà voi;
20 bình đựng thứ hương ướp áo, 30.000 nén hương vòng;
24 khối trầm thơm385.
Sau, Lê mất, nhà Mạc (1527-1593) sợ Minh hỏi tội, có đúc người vàng sang cống để làm của lót. Vả, vì muốn “hối lộ” thật nhiều cho Minh, họ Mạc chắc phải đúc người vàng to hơn và nặng hơn thuở nhà Lê trước.
Năm Bính Thân, hiệu Quang Hưng thứ 19 (1596), vua Lê Thế Tông (1573-1599) bấy giờ tuy đã khôi phục Thăng Long386, nhưng còn bị người Minh vặn vẹo là không phải thực dòng dõi họ Lê, nên ngài phải thân lên ải Nam quan để cùng người Minh dự việc hội khám.
Người Minh trùng trình không đến họp, yêu sách người vàng… (Khâm định Việt sử, quyển 30, tờ 15)
Rồi vua Lê phải sai lũ Đỗ Uông đem hai pho người vàng, người bạc và cống lên Lạng Sơn để chầu chực đưa cống phẩm, song lại bị người Minh thoái thác bằng lời văn hoa giả dối (Khâm định Việt sử, quyển 30, tờ 18b -19b).
Qua năm Quang Hưng thứ 20 (1597), lại sai Phùng Khắc Khoan387 sang sứ Tàu để giao thiệp với người Minh về việc cầu phong. Cũng nhờ ông Phùng là người có tài ngoại giao, nên mới nói êm được việc người Minh hạch sách người vàng lớn, nhỏ, nặng, nhẹ.
Về việc này, trong truyện Phùng Khắc Khoan ở loại Nhân vật chí sách Lịch triều hiến chương có chép:
… Đinh Dậu năm thứ 20, (ông) vâng mạng đi sứ. Bấy giờ người Minh ăn của lót của mầm độc họ Mạc, không chịu dung nạp ông. Khắc Khoan chầu chực, có đưa lên xoái ty, hết sức nói họ Mạc là kẻ cướp ngôi, tội trạng đã rành rành. Nay con cháu nhà Lê gõ cửa quan, chờ mạng lịnh. Nếu Thiên trào phò Mạc nén Lê thì là về hùa với kẻ gian, làm hại người ngay, sao tỏ nghĩa lớn với thiên hạ giữ danh giáo cho muôn đời được nữa! Người Minh khen, để cho ông vào trong cửa ải. Ông bèn được trảy tới kinh đô (nhà Minh).
Khi đã tới Yên kinh, Lễ bộ đường có trách ông về việc người vàng thế thân không làm đúng y mẫu cũ, họ bèn bắt ông ngừng lại, chứ không để cho ông vào chầu. Khắc Khoan cãi: họ Mạc cướp lấn thì danh là nghịch, nhà Lê khôi phục thì danh là thuận. Họ Mạc được theo hình thức làm người vàng thế thân đã là hưởng ơn may mắn lắm rồi. Đến như họ Lê đời đời làm cống thần thì hình dáng người vàng đã có mẫu sẵn ở đó. Nay nếu vin lấy họ Mạc làm lệ thì sao nêu rệt được cái nghĩa răn dữ khuyên lành?
Lời trạng của ông được thấu đến tai vua Minh, vua Minh rồi cũng thuận theo cái hình thức của Tiền Lê388. (dịch)
Năm Mậu Tuất, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 14 (1718) đời vua Lê Dụ Tông (1705-1729), Binh bộ Hữu Thị lang Nguyễn Công Hãng đóng vai chính sứ, sang Thanh cầu phong cho vua Dụ Tông (Khâm định Việt sử, quyển 35, tờ 21b-22b).
Về việc này trong truyện Nguyễn Công Hãng389 ở Tang thương ngẫu lục, quyển trên, tờ 10b-11b có chép:
… Trước kia Thái tổ Hoàng đế đánh người Minh ở núi Mã Yên (thuộc Ôn Châu, Lạng Sơn) chém được tướng Minh An viễn hầu Liễu Thăng. Kịp khi nộp cống khoản, người Minh trách móc bắt đền, phải đúc người vàng để thay thế nó.
... Họ Mạc cướp ngôi, người Minh sai Cừu Loan, Mao Bá Ôn sang đánh. Mạc sợ, lấy người vàng đút lót xin hòa.
Hồi mới trung hưng, nhà Minh vặn hỏi về việc tự tiện giết chết cống thần của Minh là Mạc Mậu Hợp, (nhà Lê) lại phải dùng người vàng để tạ.
Nhân thế, các triều thành ra lệ thường công. Ông (Nguyễn Hãng) xin bỏ đi. Bộ viện (nhà Minh) lại đem việc cũ ấy ra hỏi. Ông nói: “Quốc vương nay giữ cơ nghiệp của tổ tiên, về việc cống hiến, không thiếu thốn gì, còn chuyện thâu thành nạp khoản là chuyện việc cũ thì kẻ sứ thần này không dám biết tới.
Họ lại vặn hỏi về việc Liễu Thăng. Ông nói: “Liễu Thăng là tướng nhà Minh kia. Còn nhà Thanh ta rộng có muôn nước, thế mà lại bo bo đòi của lót để báo thù cho người xưa thì lấy gì khuyên được người ta đến với mình?...” (dịch)
Thế rồi bắt đầu từ Nguyễn Hãng, lệ cống người vàng và lệ cống nước rửa ngọc trai390 mới dừng lại được.
***
Sau khi đi ngược thời gian, xét lại lịch sử, chắc các bạn đã nhận thấy việc cống người vàng là bắt đầu từ đời vua Lê Thái Tổ, qua Mạc đến Lê trung hưng. Tựu trung ở đời Lê Giụ Tông tuy nhờ tài ngoại giao của ông Nguyễn Hãng mà ta tạm thoát được cái “nợ Liễu Thăng” trong một lúc391. Nhưng cái nợ này vẫn còn truyền tử nhược tôn mãi, nên bên ta mỗi một triều đại nào lên, cũng phải “trả nợ đậy” vì yếu thế, lép vế!
Khác hẳn các triều xưa, vua Quang Trung đối với Mãn Thanh, trước đã chiến thắng về quân sự, sau lại chiến thắng về ngoại giao, không khi nào chịu cong lưng gánh cái nợ vô lý và bất công ấy.
Phải, ngài đưa thư phản kháng Phúc Khang An khi viên này lên tiếng yêu sách về việc bắt cống người vàng; ngài thẳng tay cất cái gánh nặng ấy đã mấy mươi đời vẫn chất trên lưng dân Nam, ngài rửa được cái nhục nghìn thu cho lịch sử.
Nguyên văn bức thư ấy, xin trích lục ra dưới đây:
昔陳莫歷代以得罪於中國獻代身金人本國國長起自布衣乘時集事與黎王無有君臣之分其去留在天數向背在人心非有意於黎之國如簒奪者比且前者孫部堂提兵而來本國國長不得已而應之從無侵犯邊境以得罪於上國今承概按陳黎莫貢金人之例是本國國長明正得國反儕於偽莫之科而一念恭順出於畏天事大之誠反與陳擒烏馬兒黎殺柳昇同律本國國長於情有屈不能無望於鈞衡也夫古者諸侯朝見天子或朝于方岳或覲于京師有能來者自來不能親來遣其子弟入侍貴在奉琛執贄上下之情通至於金人替形入朝唐虞三代以及漢唐宋未常有是大人宣佈教聲亦唯以隆古治朝之良法美意令諸下國元明二代之所為事不師古何足效也伏望追繳鈞命免鑄獻金人之事云云392
… Tích Trần, lịch đại dĩ đắc tội ư Trung Quốc, hiến đại thân kim nhân. Bản quốc Quốc trưởng khởi tự bố y, thừa thì tập sự, dữ Lê vương bản vô hữu quân thần chi phận. Kỳ khứ lưu tại thiên số, hướng bội tại nhân tâm, phi hữu ý ư Lê chi quốc như soán đoạt giả tỉ.
Thả, tiền giả Tôn bộ đường (Tôn Sĩ Nghị) đề binh nhi lai, bản quốc Quốc trưởng bất đắc dĩ nhi ứng chi, tòng vô xâm phạm biên cảnh dĩ đắc tội ư Thượng quốc.
Kim thừa khái án Trần, Lê, Mạc cống kim ngân chi lệ, thị bản quốc Quốc trưởng minh chính đắc quốc phản sài ư Ngụy Mạc chi khoa, nhi nhất niệm cung thuận xuất ư úy thiên sự đại chi thành, phản dữ Trần cầm Ô Mã Nhi, Lê sát Liễu Thăng đồng luật, bản quốc Quốc trưởng ư tình hữu khuất bất năng vô vọng ư quân hành dã.
Phù, cổ giả chư hầu triều kiến thiên tử: hoặc triều vu phương nhạc hoặc cận vu kinh sư. Hữu năng lai giả tự lai, bất năng thân lai khiển kỳ tử đệ nhập thị, quý tại phụng sâm, chấp chí, thượng hạ chi tình thông.
Chí ư kim nhân thế hình nhập triều: Đường, Ngu, Tam đại dĩ cập Hán, Đường, Tống vị thường hữu thị!
Đại nhân (Phúc Khang An) tuyên bố giáo thanh, diệc duy dĩ long cổ trị triều chi lương pháp mỹ ý linh chư hạ quốc. Nguyên, Minh nhị đại chi sở vi, sự bất sư cổ, hà túc hiệu dã?
Phục vọng truy hiệu quân mệnh, miễn chú hiến kim nhân chi sự…393
Dịch nghĩa:
“… Xưa, các đời Trần, Mạc vì được tội với Trung Quốc, phải dâng người vàng để thế hình.
Quốc trưởng nước tôi từ bước là một người áo vải, nhân thời thế vùng lên làm việc, đối với Lê vương vốn không có cái vai lứa ai là vua, ai là tôi chi cả. Còn hay hết, là ở số trời; theo hay bỏ, là ở lòng người. Quốc trưởng nước tôi có ý lấy nước của Lê đâu mà sánh với kẻ giành cướp được?
Vả, trước đây, Tổng đốc họ Tôn (Sĩ Nghị) đem binh lính đến. Quốc trưởng nước tôi bất đắc dĩ phải ứng phó lại, chứ không hề xâm phạm bờ cõi để được tội với Thượng quốc bao giờ!
Nay thấy ngài theo lệ Trần, Lê, Mạc cũ mà bắt cống người vàng, thế thì Quốc trưởng nước tôi được nước một cách quang minh chính đại, té ra lại phải liệt vào hàng tiếm ngụy như nhà Mạc, mà chút lòng cung thuận ra từ tấc thành sợ trời, thờ nước lớn lại phải chịu chung một luật như nhà Trần bắt Ô Mã Nhi, nhà Lê giết Liễu Thăng ư?
Thế thì kể về tình, Quốc trưởng nước tôi có điều bị ức, không thể không trông ở ngài cân nhắc cho vậy.
Này, xưa kia, chư hầu triều kiến thiên tử: hoặc chực ở phương nhạc, hoặc chầu ở kinh sư. Ai đi được thì tự mình đến, ai không thân đi được thì sai con em vào hầu, chỉ cốt dâng ngọc, thám, tỏ đồ tin, để cho cái tình trên dưới được thông suốt.
Đến như bắt lấy người vàng thế hình vào chầu thì suốt từ Đường, Ngu, Tam đại (Hạ, Thương, Chu) đến Hán, Đường và Tống đều chưa làm thế bao giờ.
Ngài đã rao truyền tiếng tăm giáo hóa của Thượng quốc cũng nên đem phép hay, ý tốt của triều đại thịnh trị ngày xưa mà sai bảo mọi nước dưới, chứ bắt chước làm gì cái việc làm của Nguyên, Minh là việc không học theo cổ ấy?
Mong ngài soi xét, miễn cho sự đúc dâng người vàng…”
Bức thư phản kháng ấy quả có công hiệu. Vua Thanh phải nhượng bộ, rồi tỏ cái ý “bắt chẳng được, tha làm phúc” trong câu thơ này tặng giả vương394 do vua Quang Trung phái sang Tàu:
勝朝徃事鄙金人
Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân!
Nghĩa: “Triều Thanh đây cho việc triều trước bắt cống người vàng là đáng khinh bỉ!”
Thế là vua Quang Trung triều Tây Sơn, một tay cái thế đại anh hùng, một đối tượng để người ta ghi nhớ trong ngày Giỗ trận, đã làm được một việc ngoại giao thắng lợi cũng như về mặt quân sự, đã hoàn toàn thắng lợi ở xuân Kỷ Dậu (1789).
ĐÒI LẬP NHA HÀNG Ở TÀU
Muốn mở mang về kinh tế, vua Quang Trung chú trọng vào việc buôn bán, hết sức khuếch trương việc mở “thị trường”.
Vua phái người sang điều đình với Mãn Thanh xin mở chợ buôn bán ở Bình Thủy quan thuộc tỉnh Cao Bằng và Du Thôn ải thuộc tỉnh Lạng Sơn, nhưng miễn đánh thương thuế.
Vua Quang Trung lại xin lập nha hàng ở phía Nam Ninh thuộc tỉnh Quảng Tây, mục đích cốt để dân Nam sang đó buôn bán làm ăn, khiến đường thương mại ngày một thuận lợi phát đạt.
Nhưng, muốn để bảo vệ tính mệnh tài sản cho Việt kiều sang Tàu doanh nghiệp, vua Quang Trung yêu cầu nhà Thanh cho ta đem quân sang đóng tại chỗ nha hàng sẽ lập ấy.
Những điều yêu sách đó đều được vua Thanh nhất nhất ưng thuận cả.
Sau cám ơn người Thanh, vua Quang Trung có sai gửi thư cho Lưỡng Quảng Tổng đốc Phúc Khang An, chỗ nói về việc này đã được chuẩn y, nguyên văn có mấy câu như: “… Khai quan thông thị, sử bách hóa vô ủng, dĩ lợi dân dụng”395. Nghĩa là mở cửa ải, thông buôn bán, khiến các hàng hóa không ngừng đọng để làm lợi cho dân dùng.
YÊU SÁCH NGỰA TỐT CỦA TÀU
Mùa thu năm Canh Tuất (1790), vua Quang Trung phái giả vương sang Tàu, được vua Thanh tặng tiễn rất hậu. Tựu trung có thứ ngựa từ tàu ngựa vua Thanh ban ra là giống ngựa rất hay được vua Quang Trung rất vừa ý. Theo như trong tờ Khất mã biểu (biểu xin ngựa) đời Tây Sơn đã nói, thì con ngựa được tặng từ năm Canh Tuất kia sau vì không chịu thủy thổ nên đã hỏng mất. Rồi muốn được thứ ngựa hay ấy của nhà Thanh, vua Quang Trung lại sai viết sang Tàu để “xin” nữa. Nói nhún rằng “xin”, kỳ thực cũng là một lối “yêu sách khéo”. Trong bài biểu có câu:
恕其冒妄干求之罪
錫以權竒馳騁之良
… Thứ kỳ mạo vọng can cầu chi tội
Tích dĩ quyền kỳ trì sính chi lương…
Nghĩa là:
Thứ cho cái tội cầu bậy xin liều
Ban cho thứ ngựa giống hay, chạy khỏe...
ĐÒI ĐẤT BẢY CHÂU THUỘC HƯNG HÓA XƯA
Từ hồi cuối Lê, 6 châu thuộc Hưng Hóa và ba động thuộc Tuyên Quang đều chìm ngập dưới bàn tay “xẻo xén” của tụi thổ tư nhà Thanh. Những đất bị sáp nhập bản đồ Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) ấy không được may mắn trở về chủ cũ Đại Việt, mặc dầu ta đã đòi hỏi nhiều lần.
Nay, vua Quang Trung, không nỡ để một tấc đất phải luân vong, đáp theo tiếng gọi của thần Nghĩa vụ, mạnh bạo đưa tờ biểu nhờ viên Tổng đốc Lưỡng Quảng chuyển đạt lên vua Thanh, yêu cầu chia lại bờ cõi cho minh bạch.
Nguyên văn tờ biểu đòi đất ấy như sau đây:
請還興化七州地表
臣仰荷天恩賜履南服欽奉御詩訓以保守疆界世傅子孫之道夙夜祇惧奉以守 邦今惟臣起自布衣幸有國邑尺土寸民皆大皇帝之賜豈敢以彼疆此界塵瀆至尊祇以交南分土叨忝作屏四封所抵具在寶書
臣國一帶沿邊西北接內地臨安廣南開化三府自前莫敬寬以牛羊蝴蝶普園三峒內投欽奉聖祖仁皇帝賜莫俘于前黎復還其地乃在康熙二十八年事其後土目韋福廉又以其地內屬事已經乆斷以本國賭祝河為界乃在興化宣光邊地經前任雲貴督部鄂爾泰遵旨豎碑自賭祝河以西至車里 國嵩陵醴泉黃巖綏阜合淝萊州謙州等七州並屬本國興化之地〇迨前黎庚申本國逆臣黃公瓚之父黃公舒阻兵據守垂三十年前黎姑息不辦七州之民以地勢遼遠本國不能控制夤緣內附自此以來內地沿邊內官勒令邊民改裝插牌征稅
臣自守命啓邦綢繆鳩集內事正殷邊情委曲未及辦理 兹本國鎮目報稱七州民乆經內地征繕本國行移調徵一切勒旨阻當源委情由葢由前黎不能恪遵封守有以馴致〇欽惟大皇帝陛下聖量洪慈安勸庶邦年前北番合楞隨土爾扈特投順旋賞給遊牧之地矧此邊隅蕞爾豈是列於職方是必封疆之吏不以其事上聞邊民便其游移所在官員從而驅勒臣不敢委分土為閒 土而曲隱情由不一聲明於光輝之下也輙敢冒昧繕表憑兩廣總督公福康安轉奏臣謹於南関界首耑員等候並遣文武員目咸就興化界首節次查清質當七州土界賜歸本國屬籍〇臣仰藉寵靈虔修保守遙望闕庭侯奉聖訓不勝瞻仰惶惧之至
Thỉnh hoán Hưng Hóa thất châu địa biểu
Thần ngưỡng hà thiên ân, tứ lý Nam phục. Khâm phụng ngự thi huấn dĩ bảo thủ cương giới, thế truyền tử tôn chi đạo, túc dạ chi cụ, phụng dĩ thủ bang.
Kim duy: thần khởi tự bố y, hạnh hữu quốc ấp; sích thổ, thốn dân, giai Đại Hoàng đế chi tứ khởi cảm dĩ bỉ cương thử giới trần độc chí tôn?
Chi dĩ Giao - Nam phân thổ, thao thiểm tác bình, tứ phong sở để cụ tại bảo thư.
Thần quốc nhất đới duyên biên; tây bắc tiếp nội địa Lâm An, Quảng Nam, Khai Hóa tam phủ. Tự tiền Mặc Kính Khoan dĩ Ngưu Dương, Hồ Điệp, Phổ Viên tam động nội đầu, khâm phụng Thánh tổ Nhân hoàng đế tứ Mạc phu vu tiền Lê, phục hoàn kỳ địa. Nãi tại Khang Hi nhị thập bát niên sự.
Kỳ hậu, thổ mục Vi Phúc Liêm hựu dĩ kỳ địa nội thuộc, sự dĩ kinh cửu, đoán dĩ bản quốc Đổ Chúc hà vi giới. Nãi tại Hưng Hóa, Tuyên Quang biên địa kinh tiền nhậm Vân Quý đốc bộ Ngạc Nhĩ Thái tuân chỉ thụ bi, tự Đổ Chúc hà dĩ tây chí Xa Lý quốc Tung Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Phì, Lai Châu, Khiêm Châu đẳng thất châu tịnh thuộc bản quốc Hưng Hóa chi địa.
Đãi tiền Lê canh thân, bản quốc nghịch thần Hoàng Công Toản chi phụ, Hoàng Công Thư, trở binh, cứ thủ, thùy tam thập niên. Tiền Lê cô tức bất biện, thất châu chi dân dĩ địa thế liêu viễn, bản quốc bất năng khống chế, di duyên nội phụ.
Tự thử dĩ lai, nội địa duyên biên, nội quan lặc linh biên dân cải trang, sáp bài, chinh thuế.
Thần tự thụ mệnh khải bang, chù mâu cưu tập, nội sự chính ân, biên tình ủy khúc vị cập biện lý.
Nãi tư bản quốc trấn mục báo xưng: thất châu dân cửu kinh nội địa chinh thiện, bản quốc hành di điều trưng, nhất thiết lặc chỉ trở đáng. Nguyên ủy tình do cái do Tiền Lê bất năng khác tuân phong thủ hữu dĩ tuần trí!
Khâm duy: Đại Hoàng đế Bệ hạ: thánh lượng hồng từ, an khuyến thứ bang. Niên tiền, Bắc phiên Hợp lăng tùy Thổ Nhĩ Hỗ Đặc đầu thuận, toàn thưởng cấp du mục chi địa. Thẩn thử biên ngung loát nhĩ, khởi thị liệt ư chức phương? Thị tất phong cương chi lại bất dĩ kỳ sự thượng văn; biên dân tiện kỳ du di, sở tại quan viên tòng nhi khu lặc!
Thần bất cảm ủy phân thổ vi nhàn thổ, nhi khúc ẩn tình do bất nhất thanh minh ư quang huy chi hạ dã.
Triếp cảm mạo muội thiện hiểu, bằng Lưỡng Quảng Tổng đốc công Phúc Khang An chuyển tấu. Thần cẩn ư Nam quan giới thủ, chuyên viên đẳng hậu, tịnh khiển văn võ viên mục hàm tựu Hưng Hóa giới thủ, tiết thứ tra thanh chất đáng thất châu thổ giới tứ qui bản quốc thuộc tịch.
Thần ngưỡng tạ sủng linh, kiền tu bảo thủ, dao vọng khuyết đình, hậu phụng thánh huấn, bất thăng chiêm ngưỡng hoàng cụ chi chí...
Dịch:
“Thần được nhờ ơn trời, cho ở cõi Nam, vâng lời ngự thi dạy đạo gìn giữ bờ cõi, đời truyền con cháu, thần vẫn sớm tối kính sợ, theo để giữ nước.
Nay nghĩ: thần từ kẻ áo vải dấy lên, may có đất nước; Một thước đất, một người dân đều là ơn của Đại Hoàng đế ban cho cả, há dám phân biệt bờ này cõi nọ làm nhàm đến bậc chí tôn? Chỉ vì phần đất cõi Nam lạm đứng làm phên giậu, bốn bề giáp ranh những đâu, đã có sách báu chép rõ.
Một dải biên thùy nước thần, mặt tây bắc giáp ba phủ Lâm An, Quảng Nam, Khai Hóa bên thượng quốc. Trước kia, từ Mạc Kính Khoan đem ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên phụ vào Thượng quốc, đã kính được đức Thánh tổ Nhân hoàng đế ban tên tù họ Mạc cho nhà Lê và trả lại đất ấy rồi. Đó là việc năm Khang Hi thứ 21 (1689). Về sau, thổ mục là Vi Phúc Liêm lại đem đất ấy mà phụ vào Thượng quốc. Việc xảy đã lâu, rồi cứ lấy sông Đổ Chúc bên nước thần làm giới hạn. Ở chỗ đất Hưng Hóa và Tuyên Quang trước kia đã do viên Tổng đốc Vân Quý Nhạc Nhĩ Thái vâng chỉ dụ, đứng dựng mốc: từ sông Đổ Chúc trở về phía tây cho đến bảy châu Tung Lăng, Lễ Toàn, Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Phì, Lai Châu, Khiêm Châu nước Xa Lý (?) đều thuộc về đất Hưng Hóa của nước thần.
Đến năm Canh Thân. Nhà Lê trước, Hoàng Công Thư, cha của tên nghịch thần Hoàng Công Toản dấy binh, giữ đất đến 30 năm! Nhà Lê nhù nhờ không trang trải xong. Dân bảy châu ấy, vì thấy địa thế xa xôi, nước thần không khống chế được, bèn dần dà phụ vào thượng quốc.
Từ đó trở đi, các quan chức nơi biên giới của thượng quốc bắt ép nhân dân vùng biên viễn đổi lối ăn mặc, đeo thẻ, chịu sưu thuế. Thần từ ngày chịu mệnh mở nước đến nay, ràng rịt tổ ở, còn bận về việc hộ nội trị, nên tình hình ngoài biên giới hãy còn nấn ná chưa kịp khuôn xếp.
Hiện nay, viên trấn mục của bản quốc báo cáo rằng: thổ dân bảy châu ấy từng chịu thượng quốc đánh thuế và cai quản đã lâu, nên bản quốc hễ ra lệnh đánh thuế hoặc điều bát binh lính thì nhất nhất lại bị chống mệnh, ngăn trở. Cơn cớ đầu đuôi chỉ vì nhà Lê trước không biết kính giữ lấy đất, lâu dần thành quen, nên mới đến thế.
Kĩnh nghĩ: Đại Hoàng đế Bệ hạ, lượng thánh hiền từ rộng rãi, vỗ yên khuyên bảo mọi bang. Năm ngoái tên Hợp Lăng rợ Bắc phiên theo Thổ Nhĩ Hỗ Đặc đầu hàng cung thuận, liền được thưởng cấp cho đất du mục; huống chi đối với chỗ biên ngung nhỏ xíu ấy há lại liệt vào chức phương? Đó chắc là bởi kẻ quan lại ở biên cương không chịu tâu trình việc này lên nhà vua, dân vùng ấy lấy sự được nấn ná qua quít làm tiện việc và quan viên sở tại lại đứng bên trong xui giục bắt ép.
Thần không dám bỏ một phần đất làm đất hoang, nên không thể không đem tình do và khúc nhôi mà giãi bày ở dưới ánh sáng.
Vậy xin đánh liều, mạo muội làm biểu, nhờ quan Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An chuyển tâu lên cho.
Thần kính sai các viên chức chuyên trách chờ đợi ở cửa Nam quan, lại sai văn võ viên mục đến tới tận cõi Hưng Hóa lần lượt tra xét cho rõ ràng ổn thỏa để đất bảy châu ấy lại được ban về thuộc trong bản đồ bản quốc.
Thần ngước nhờ oai linh ân sủng của Bệ hạ, kính xin gìn giữ lấy đất đai. Xa trông cửa khuyết, vâng theo lời dạy của đấng thánh khôn xiết sợ hãi ngóng trông…”
Sau thấy các nhà dương đạo bên Thanh làm lơ, không chịu trang trải việc đất đai ấy vì lấy cớ rằng bấy lâu bờ cõi đã định, không thể thay đổi được nữa, vua Quang Trung bao xiết bất bình quyết chí làm đến kỳ cùng cho đạt được mục đích.
Ngài thường nói cùng các tướng tá: “Cứ thả cho ta vài năm nữa, ta nuôi vững oai lực, gây đủ nhuệ khí, ta có sợ gì chúng nó (chỉ Mãn Thanh) đâu!”396
Từ đó ngài rất chú trọng việc binh bị, rèn quân lính, đóng chiến thuyền, định làm một cuộc phi thường chưa từng có trên trang lịch sử Đại Việt: khôi phục đất hai tỉnh Quảng.
Phải, cái chí muốn xẻ mảnh địa đồ Mãn Thanh đó, của vua Quang Trung đã tỏ rõ trong câu chuyện giữa ngài và một vị cận thần:
Vua Quang Trung hỏi:
“Này, muốn biết việc làm của các đế vương nước ta thì coi ở sách nào?
Vị cận thần tâu:
“Ở Nam sử.”
Nhà vua lại hỏi:
“Trước ta đây có ai dám đánh quân Tàu không?”
Vị cận thần tâu:
“Có, nào đức Trần Hưng Đạo đánh giặc Nguyên, nào vua Lê Thái Tổ đánh giặc Minh, chuyện xưa hãy còn nhiều lắm.”
Vua Quang Trung thêm:
“Song le, có ai dám sang tận Tàu mà đánh rồi chiếm lấy đất?”
Vị bầy tôi ấy tâu:
“Chưa!” (Sở dĩ không kể trận Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Ung, Liêm có lẽ vì Lý đánh được rồi, nhưng lại bỏ, không chiếm lấy đất chăng?)
Thấy nói “chưa” vua Quang Trung liền hăng hái phán:
“Vậy thì để ta sẽ làm cho mà coi.”
Cái động cơ sửa soạn làm nhung thủ sang đánh Thanh chính đã ngấm ngầm từ đấy.
Về việc vua Quang Trung không biết Nam sử này, chúng ta nay có thể tin được không? Không! Vì chính Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30 tờ 1b có chép ngài khi còn nhỏ, có học nơi Giáo Hiến, một thày dậy cả văn võ. Vả, theo như bức thư “Trần biện hôn nghị” do Ngô Thì Nhậm thảo cho thị thần nhà vua đứng tên gửi cho viên tri phủ họ Vương ở phủ Thái Bình bên Tàu thì vua Quang Trung là người “tính trời ham học, dầu ở trong vòng can qua bận rộn cũng không quên giảng đạo lý: ngày thường nghị luận có khi khơi mở rành mạch ra được lắm điều mà sách vở ngày xưa chưa từng phát xiển được”397.
Như vậy, chắc ngài không đến nỗi không biết việc Trần Hưng Đạo và Lê Thái Tổ. Nhưng nhân câu chuyện vấn đáp trên đây, ta càng tin chắc vua Quang Trung quyết tâm vấn tội Mãn Thanh, đòi đất Lưỡng Quảng, để nhẩy lên một nấc cao hơn đức Trần, vua Lê thuở trước.
Căm giận người Tàu, vua Quang Trung định tâm quyết một phen chiến đấu với họ để rửa cái hận nghìn thu cho lịch sử: mất đất về Bắc!
Trước kia quyết liệt ra mặt, nhà vua còn làm mọi việc khiêu khích, lấy gậy ông đập lưng ông!
Trong Vạn quốc sử ký quyển IV trang 8, tác giả Cương bản Giám phu có chép:
… Khi Nguyễn Quang Bình (một tên khác của vua Quang Trung) đã lấy binh lực đoạt được nước rồi tiêu nhiều, của hết, bèn sai hơn trăm chiếc tàu ô và mười hai viên tổng binh mượn tiếng đi làm lương thực cho quân gia nhưng thực ra dùng nhiều bọn giặc biển Tàu làm kẻ đưa đường, cướp bóc những miền Mân398, Việt399, Giang400, Chiết401. Mãn Thanh náo động! Các tỉnh tâu trình rằng bắt được giặc biển thấy có những con ấn binh tướng và tổng binh do nước An Nam phong cho. Nhà Thanh có tư việc đó sang hỏi bên An Nam: nhưng nào có hay chính họ Nguyễn (chỉ vua Quang Trung) có dính dáng và biết thừa việc đó! (dịch)
Sự thực?
Nhân dịp bấy giờ có bọn giặc ở Lưỡng Quảng, bị triều Thanh áp bức xua đuổi, túng thế, họ phải về hàng bên ta, vua Quang Trung liền thu dụng lấy tên đầu đảng, phong cho làm chức tổng binh, dùng chúng khuấy rối nội địa Tàu khiến cho người Thanh không thể ăn ngon, ngủ yên được.
Vua Quang Trung lại lợi dụng đảng “Thiên địa hội” khiêu khích Mãn Thanh.
Nguyên, sau khi Mãn Thanh vào làm chủ nhân ông 400 triệu người Hán, các di dân, chí sĩ nhà Minh không chịu khuất phục dưới quyền thống trị của họ hàng Thanh Thánh Tổ (1662-1772), liền hăng hái đứng dậy, ngầm tổ chức một cơ quan bí mật, kêu tên là “Thiên địa hội”, nhằm theo cái đích lật đổ chính phủ Mãn Thanh, khôi phục nhà Minh cũ.
Hồi đó, họ đang hoạt động ở Tứ Xuyên. Vua Quang Trung muốn dùng họ làm lợi khí để quật lại Thanh, liền dung túng và ám trợ đảng “Thiên địa hội” để họ làm rối ren ở biên thùy Tàu.
Kế hoạch đó quả có công hiệu: đường giao thông thuộc hải phận Tàu bị nghẽn! Biên giới Mãn Thanh thường có cảnh báo (báo động) không yên!
Biên thần Mãn Thanh tuy biết rõ những sự biến đó toàn do vua Nam đứng sau giựt giây sai khiến, song vì sợ oai võ và thế lực nước ta bấy giờ đương bồng bột, hùng cường, nên người Thanh đành phải bấm bụng, chịu dầu, ngậm cay đắng, không dám ho he chất vấn hay phản đối chi hết!
MƯỢN CỚ CẦU HÔN ĐỂ CHỰC ĐÁNH LẤY LƯỠNG QUẢNG
Nhâm Tý, niên hiệu Quang Trung thứ 5 (1792) nhà vua sắp đặt kế hoạch Bắc phạt.
Muốn dò ý vua Thanh và do thám nội lực Trung Quốc bấy giờ hư thực ra sao, vua Quang Trung bèn tính đến việc cầu hôn với Công chúa Tàu.
Ban đầu, nhà vua sai thị thần gửi cho viên Thái binh tri phủ họ Vương bên Tàu nhờ đạo đạt lên Công trung đường đứng làm mối cho.
Trong thư có nói: “… quốc vương tôi là chủ tể một nước, không thể thiếu tay giúp đỡ việc nội trị. Nghĩ muốn gõ cửa ải, dâng tờ biểu, kíp vì quốc vương mà cầu hôn, lại e việc là việc trọng đại, nếu chưa có tay trong dung nạp trước thì đâu dám tự bày tỏ để mang tiếng rằng chưa có rìu đã chực đẵn cây.402
Sau, nhà vua lại sai thị thần gửi cho Vương tri phủ để tranh biện về việc cầu hôn ấy là chính đáng, trong có những câu mềm mỏng nhưng lý sự như:
… Quốc vương tôi nổi lên từ nơi đồng bái, mở đất ở phía nam để có nhân dân xã tắc, đã được Đại Hoàng đế (vua Thanh) dựng làm phiên bình ở ngoài, nếu lại được liên kết phủ phế thì các vương Mãn Châu Mông Cổ có thể lấy tư cách là con rể mà giúp đỡ ở mặt đông bắc, quốc vương tôi há lại không thể lấy địa vị Châu Trần mà trổ sức ở phía tây nam hay sao?403
Trải qua mấy lần nhờ biên thần Tàu đánh tiếng rồi, sau vua Quang Trung sai gửi biểu thẳng lên Càn Long để yêu cầu việc đó.
Nguyên văn tờ biểu cầu hôn ấy như dưới:
請婚表
臣本一介布衣仰荷皇恩叨司南服既自展 覲闕庭特令抱見請安賞賚更蕃稠蒙異渥凡交南從古所不常得之事一一以施諸臣
迨臣欽旨回國仰奉聖恩垂眷恩旨頻頒浩蕩皇恩莫可名狀不料臣荒遠猥賤承恩至此尊親在念圖報無由惟願得時叩天閽邇瞻日表而地遙勢隔力不從心一過南開便成疏遠臣夢寐鈞韶眠想雲漢恆恐自同碌碌泛然於聲教之外辜負聖慈並生並育之恩
竊惟聖人顯比諸侯聯疎為親事存古道臣國之始涇陽受命于炎帝嫗姬漦降於貉龍實祖文郎啟封交趾百男承襲世守南藩幸承蔭於中華獲登名於文獻世代雖遠記載猶徵宋朝興國以來羈縻臣邦擯為化外不在明堂之列僅同彭濮之聯
我皇清受天眷命奄有萬方子照至以皆胞庭寰瀛而罔外欽惟大皇帝陛下德同天地道高軒虞懷諸侯柔遠人不以近代故常為限
臣叨蒙聖視之如子齒從親王之序雖分在荒情同生鞠念惟萬物不隱情於天地家庭之心事敢不暴白於至尊之前頃臣家遭降鞠中饋乏人締造初基方舟寡助思托蔭于玉樹擬保固夫苞桑仰見聖朝長白發祥茂膺帝祉子孫千億奕葉蕃昌向來天家法式王姬下貺必由貴近擇諧從無泛及外臣之例分嚴中外極覺無階惟是一念戴親翹企之私轉輾不能自已
竊望天潢玉波及下藩庶臣仰荷慈恩獲親麟趾関睢之化元吉施祉肅雍式型宜其家人以教國人習中夏之餘風脫海濱之舊染俾臣國內臣庶同相望於德化之中臣家世雲仍永保藩封承休無斁此臣之大願望也祇茲分外求霑事非常格謀諸執事無敢轉為題達君門萬里瞻望懸懸輙敢不自揣量冒昧披誠謹委陪臣恭候奏事之暇為臣代叩遡叙一段衷素伏望高聰俯垂睿鑑軫臣區區戀慕之誠恕臣蠻貊妄求之失臣遠在海南翹瞻宸北厪祝聖天子壽考萬年永作萬邦父母臣不勝戰慓之至。
Thỉnh hôn biểu
Thần bản nhất giới bố y, ngưỡng hà hoàng ân thao tư Nam phục. Kỷ tự triển cận khuyết đình, đặc lĩnh bão kiến thỉnh an, thưởng lại cánh phồn, trù mộng dị ác. Phàm Giao Nam tòng cổ sở bất thường đắc chi sự nhất nhất dĩ thi chư thần.
Đại thần khâm chỉ hồi quốc, ngưỡng phụng thánh ân thùy quyến, ân chỉ tần ban, hạo đãng hoàng ân mặc khả danh trạng! Bất liệu thần hoang viễn ổi tiện, thừa ân chí thử! Tôn thân tại niệm, đồ báo vô do!
Duy nguyện đắc thời khấu thiên hôn, nhĩ chiêm nhật biểu; nhi địa dao, thế cách, lực bất tòng tâm, nhất quá Nam quan, tiện thành sơ viễn!
Thần mộng mị Quân thiều, miến tưởng Vân Hán, hằng khủng tự đồng lục lục, phiếm nhiên ư thanh giáo chi ngoại, cô phụ thánh từ tịnh sinh, tịnh dục chi ân!
Thiết duy: thánh nhân hiển tỷ chư hầu, liên sơ vi thân, sự tồn cổ đạo.
Thần quốc chi thủy: Kinh Dương thụ mệnh vu Viêm đế, Âu Cơ ly giáng ư Lạc Long. Thực tổ Văn Lang, khải phong Giao Chỉ, bách nam thừa tập, thế thủ Nam phiên, hạnh thừa ấm ư Trung Hoa, hoạch đăng danh ư văn hiến, thế đại tuy viễn, ký tái do trưng.
Tống triều hưng quốc dĩ lai, cơ mi thần bang, thấn vi hóa ngoại, bất tại Minh Đường chi liệt, cẩn đồng Bành Bộc chi liên.
Ngã Hoàng Thanh thụ thiên quyến mệnh, yểm hữu vạn phương, tử chiếu chi dĩ giai bào, đình hoàn danh nhi võng ngoại.
Khâm duy: Đại Hoàng đế Bệ hạ, tức đồng thiên địa, đạo cao Hiên, Ngu, hoài chư hầu, nhu viễn nhân, bất dĩ cận đại cố thường vi hạn.
Thần thao mong thánh thị chi như tử, sỉ tòng thân vương chi tự, tuy phận tại thương hoang, nhi tình đồng sinh cúc.
Niệm duy vạn vật bất ẩn tình ư thiên địa, gia đình chi tâm sự cảm bất bộc bạch ư chí tôn chi tiền: Khoảnh thần gia tao giáng cúc, trung quỹ phạp nhân, đế tạo sơ cơ, phương chu quả trợ, tư thác ấm vu ngọc thụ, nghĩ bảo cố phù bao tang.
Ngưỡng kiến Thánh triều: Trường bạch phát tường, mậu ưng đế chỉ, tử tôn thiên ức, dịch diệp phồn xương. Hướng lại thiên gia pháp thức: vương cơ hạ chúc tất do quý cận trạch hài, tòng vô phiếm cập ngoại thần chi lệ. Phận nghiêm trung ngoại, cực giác vô giai! Duy thị nhất niệm đới thân, kiều sĩ chi tư, chuyển triển bất năng tự dĩ!
Thiết vọng thiên hoàng ngọc phái ba cập hạ phiên thứ thần ngưỡng hạ từ ân, hoạch thân lân chi. Quan thư chi hóa, nguyên cát thi chỉ, túc ung thức hình, nghi kỳ gia nhân, dĩ giáo quốc nhân: tập Trung hạ chi dư phong, thoát hải tần chỉ cưu nhiễm, tỉ thần quốc nội thần thứ đồng tương vọng ư đức hóa chi trung.
Thần gia thế vân nhưng, vĩnh bảo phiên phong, thừa hưu vô dịch. Thử thần chi đại nguyện vọng dã.
Chỉ tư phân ngoại cầu chiêm, sự phi thường cách, mưu chư chấp sự, vô cảm chuyển vị đề đạt! Quân môn vạn lý, chiêm vọng huyền huyền! Chiếp cảm bất tự sủy lượng, mạo muội phi thành, cẩn ủy bồi thần cung hậu tấn, sự chi hạ, vị thần đại khấu, tố tự nhất đoạn trung tố.
Phục vọng cao thông phủ thùy duệ giám, chẩn thần khu khu luyến mộ chi thành, thứ thần man mạch vọng cầu chi thất.
Thần viễn tại Hải Nam, kiều chiêm thần bắc, cận chúc thánh thiên tử thọ khảo vạn niên, vĩnh tác vạn bang phụ mẫu. Thần bất thăng chiến lật chi chí…
Dịch:
Thần vốn là một kẻ áo vải, được nhờ ơn cả, lạm giữ cõi Nam. Từ khi vào triều cận nơi cung khuyết, đã được đặc cách làm lễ bảo kiến vấn an, lại được ban thưởng trọng hậu, ơn lạ dồi dào. Phàm những sự mà cõi Giao Nam từ xưa chưa ai từng được đều nhất nhất ban cho thần cả.
Kịp khi thần khâm mạng về nước, lại được đủ ơn đoái thương, luôn ban thánh chỉ. Cái ơn lồng lộng ấy của nhà vua thật không sao kể ra, tả ra cho xiết! Thần là kẻ hèn mọn nơi hẻo lánh, chẳng ngờ lại được hưởng ơn đến thế! Tấc lòng canh cánh mong báo đáp bậc tôn thân, song vẫn chưa bởi đâu mà đền bồi được!
Chỉ mong được thường gõ cửa giới, gần nhìn bóng nhật, nhưng đất ở xa, thế cách trở, sức làm không được như ý muốn: hễ qua khỏi cửa Nam quan thì lại thành xa và sơ ngay!
Thần vẫn mơ tưởng nhạc Quân Thiều, ngóng trông Vân Hán, hằng e mình rồi cũng đến như hạng tầm thường, phải liệt tràn ở ngoài vòng thanh giáo, làm cô phụ cái ơn sinh nuôi tất cả của thánh từ!
Trộm nghĩ: Thánh nhân quý hiển hơn chư hầu, liên lạc chỗ sơ cho thành thân mật, làm theo việc cũ lối xưa.
Nước thần, ban đầu, vua Kinh Dương chịu mệnh nơi Viêm đế, bà Âu Cơ kết duyên với vua Lạc Long: tổ nước Văn Lang, mở cõi Giao Chỉ, trăm trai nối dõi, đời giữ phên giậu phía nam, may nhờ phúc ở Trung Hoa, được nổi danh là nước văn hiến. Thế đại dẫu xa, sử sách còn đủ khảo xét.
Từ khi nhà Tống dấy lên, ràng buộc nước thần, ruồng ra ngoài vòng đức hóa, không liệt vào hàng Minh Đường, chỉ để cũng như hạng Bành Bộc!
Nhà Thanh ta được trời quyến cố, rộng có muôn phương, chỗ nào có bóng mặt trời soi đến đều coi nhân dân là chung một bọc mà ra, lấy hoàn doanh làm gia đình mà không gẩy ai ra ngoài cả.
Kính nghĩ: Đại hoàng đế Bệ hạ đức ngang với trời, đất, đạo cao hơn vua Hiền Viên, vua Ngu Thuấn, vỗ về cho chư hầu mến phục, dịu dàng cho người xa hướng về, không choèn choèn theo cái lối thường của các triều đại gần đây.
Thần lạm được thánh thượng coi như con ruột, liệt vào hàng các thân vương. Phận này dẫu ở tận nơi xa khuất, nhưng tình ấy vẫn được kể như đẻ nuôi.
Thiết nghĩ: muôn vật không giấu tình riêng với trời đất, thì câu chuyện tâm sự về gia đình dám chẳng giãi tỏ ở trước bậc chí tôn? Mới đây, nhà thần gặp vận rủi ro, thiếu người chủ quỹ trông nom việc dâng cơm canh thờ cúng! Trên nền gây dựng phong hóa đang thiếu người đỡ đần. Vậy muốn núp bóng dưới cây ngọc, hòng bám vững vào gốc dân.
Ngước thấy thánh triều phát từ Trường Bạch404, đầy dãy phúc lành, con cháu nghìn ức, nối đời phồn thịnh. Bấy nay lề lối nhà vua, vẫn chọn những chỗ quý hiển gần gũi để gả các Công chúa, chứ không có lệ gả tràn đến các chư thần ở ngoại phiên. Cái phận đã nghiêm nhặt chia ra trong ngoài như thế thì thật rất khó bám víu! Chỉ vì một niềm tôn mến, lòng riêng ngóng trông, nên cứ trằn trọc không sao thôi được.
Trộm mong cành ngọc nhà trời lan tràn đến cả kẻ ngoại phiên ở dưới, ngõ hầu thần được ngửa đội ơn lành, gần gũi gót lân, đem cái phong hóa Quan thư ban ra những phúc nguyên cát. Những điều kính ghín hòa thuận từ nơi người nhà sẽ nêu làm khuôn mẫu cho người trong nước để họ tập quen cái dư phong của chốn trung hạ, trút bỏ cái thói cũ của nơi bờ bể khiến thần dân trong nước của thần được thỏa sự trông mong ở trong vòng đức hóa.
Nhà thần đời đời được phúc lành như mây họp, giữ mãi phiên phong, hưởng sự tốt lành không cùng. Đó là điều mong mỏi lớn của thần vậy.
Chỉ vì nay cầu ơn ngoài phận, việc xảy khác thường, nên bàn với những kẻ chấp sự, không ai dám vì thần mà chuyển đạt chút tâm sự này lên! Cửa vua muôn dặm, trông ngóng đăm đăm. Nay bèn đánh bạo không tự suy xét mạo muội bày tỏ tấc thành, kính sai kẻ bồi thần sang chầu hầu để sau lúc tâu bày rảnh rang, sẽ vì thần mà kêu thay kể lể khúc nhôi cơn cơ.
Nép mong bậc cao sáng rủ thương, xét cho thần lòng thành quyến luyến trìu mến, tha cho thần cái lỗi rợ mọi cầu liều.
Thần xa ở biển Nam, ngóng trông sao Bắc xin chúc Thánh Thiên tử thọ khảo muôn năm, mãi làm cha mẹ muôn nước Thần bao xiết quá đỗi run sợ…”.


Như các bạn đã thấy, trên đây vua Quang Trung đã đưa tờ biểu sang nhà Thanh cầu hôn Công chúa Tàu.
Nhưng sự thực việc ấy ra sao, mỗi thuyết một khác.
Theo nhiều sách chép thì năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung có sai sứ bộ sang Thanh định yêu sách nhà Thanh hai việc: cầu hôn và đòi đất Lưỡng Quảng. Nhưng khi sứ bộ sang đến nơi thì được tin vua Quang Trung ở nước thăng hà, họ bèn dìm tờ biểu “khiêu khích” ấy đi mà đổi làm tờ biểu cáo ai báo tin buồn cho triều Thanh biết.
Mà Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 41b cũng chép:
Năm Nhâm Tý (1792). Huệ sai làm biểu sang nhà Thanh, cầu hôn để dò ý vua Thanh, cũng muốn mượn chuyện ấy làm mối khởi binh; nhưng rồi bị bệnh, nên không làm trọn được.
Đó là thuyết thứ nhất. Còn thuyết thứ 2 như có chép trong gia phả họ Vũ405 do Vũ Vĩnh Thứ, cháu ba đời của Vũ Văn Dũng, soạn năm Bính Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1870), thì đại khái như thế này: Nguyên từ ngày rằm tháng tư năm Quang Trung thứ 4 (1791) nhà vua có phái trung sứ đi từ Phượng Hoàng Trung Đô (Nghệ An) đem sắc mệnh này cho Đại đô đốc Vũ quốc công Vũ Văn Dũng trong khi đang nghỉ giả hạn ở nhà:

海陽招遠大都督大獎軍翊運功臣武國公進加領北使正使兼全應奏請東西兩廣以窺其心公主一位以激其怒慎之慎之其用兵形勢盡在此行他日前鋒卿其人也欽哉勅命
光中四年四月十五日
Dịch âm:
Sắc Hải dương Chiêu viễn Đại đô đốc Đại tướng quân dực vận công thần Vũ Quốc công tiến gia lĩnh Bắc sứ chính sư kiêm toàn ứng tấu thỉnh Đông Tây Lưỡng Quảng dĩ khuy kỳ tâm, Công chúa nhất vị dĩ kích kỳ nộ. Thận chi! Thận chi! Kỳ dụng binh hình thế tận tại thử hành Tha nhật tiên phong: Khanh kỳ nhân dã Khâm tai! Sắc mệnh!
Quang Trung tứ niên tứ nguyệt thập ngũ nhật.
Dịch nghĩa:
“Sắc sai Hải Dương Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân dực vận công thần Vũ Quốc công được tiến phong làm chức Chính sứ đi sứ Tàu kiêm toàn quyền trong việc tâu thưa xin lại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây để dò ý, cầu hôn một vị Công chúa để chọc giận. Cẩn thận đấy! Cẩn thận đấy! Tình thế dụng binh ở như chuyến đi này cả. Ngày khác làm tiên phong chính là khanh đấy! Kính thay lời sắc sai này!
Ngày rằm tháng tư, năm Quang Trung thứ 4 (1791).”
Cứ như ý trong lời sắc mệnh trên đây thì ra vua Quang Trung chỉ mượn hai việc đòi đất và cầu hôn ấy làm cớ để dò ý và chọc giận vua Thanh. Vì nếu vua Thanh nổi giận mà cự tuyệt thì cuộc giao thiệp giữa hai nước Việt Thanh sẽ nổi lên những trận giông tố quyết liệt, Bắc Nam sẽ nói chuyện với nhau bằng gươm lớn, súng dài: bấy giờ cuộc chiến tranh sẽ ngả ra một trong hai thế: một là vua Quang Trung tự làm binh thủ, cho Vũ quốc công Vũ Văn Dũng làm tiên phong, đường đường trống giong cờ mở, kéo binh sang tận đất Tàu mà vấn tội vua Thanh; hai là lừa cho vua Thanh nhân lúc quá giận, không kịp suy nghĩ sâu xa, hấp tấp sai tướng xuất quân sang Nam để mua lấy cuộc thất bại đau đớn nhục nhã như trận Đống Đa ngày trước. Bấy giờ bên ta lại đứng vào thế nghinh địch, ứng chiến. Mà chuyến đi đòi đất và cầu hôn này, Vũ Văn Dũng phải đóng một vai chính trị tối quan trọng: vừa làm Chính sứ trong cuộc ngoại giao, vừa làm trinh thám chuyên môn về quân sự. Vì có phải chỉ chuyên một việc uấn ba tấc lưỡi để giao thiệp với triều đình Mãn Thanh thôi đâu, Dũng lại còn phải dò xét núi sông hiểm dễ thế nào, đường sá gần xa thế nào, thủy lục tiện nghi thế nào và binh lực nhà Thanh thực, hư, mạnh yếu thế nào, nhất nhất phải nhận xét cho tinh tường, ghi nhớ cho rành mạch, rồi đem những tài liệu quân sự ấy để dâng vua Quang Trung để ngài tính kế, bày mưu liệu cơ chế thắng.
Nhưng kết cục việc Dũng đi ấy ra sao?
Cứ theo như gia phả họ Vũ mà ông Hòe đã thuật ấy, thì khi vào bệ kiến vua Thanh Càn Long, Vũ Văn Dũng có tâu xin hai việc:
Việc thứ nhất là cầu hôn, vì phối sất là việc quan trọng, quốc vương hiện nay đã to tuổi, mà hôn nhân chưa định xong bởi chưng trong nước thì toàn là hạng thần tử, các phiên phong láng giềng thì lại không được quốc vương ưa thích, nên muốn vua Thanh xét tình cho.
Việc thứ hai là xin đất đóng đô, vì lấy cớ rằng quốc vương ở một nước hẻo lánh, thủy bộ không tiện, mà vượng khí trong nội địa thì hết mất rồi!
Hai việc ấy tâu lên, vua Thanh châu phê giao cho đình nghị.
Nhưng trong khi đình thần nhà Thanh chưa kịp bàn xét thì liền hôm sau, bọn Vũ Văn Dũng nhận được bệ kiến ở Ỷ Lương các, lại dâng tấu chương thứ hai xin vua Thanh ban cho hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây làm đất đóng đô và ly giáng một vị Công chúa để gây cho nước biên thùy cái phong hóa của Trung Quốc.
Thì may sao hai việc ấy đều được vua Thanh chuẩn y cả. Nhưng vua Thanh chỉ ưng cho một tỉnh Quảng Tây để làm đất đóng đô thôi.
Việc đòi đất mới đến đây. Còn việc ly giáng Công chúa thì đã đi được bước dài hơn:
Sau ngày tiếp Nam sứ ở Ỷ lương các, vua Thanh liền sai bộ Lễ sửa soạn nghi lễ việc cưới gả, định ngày cho Công chúa sang Nam đẹp duyên với quốc vương.
Nhưng chẳng may, sau đó mấy hôm, Vũ Văn Dũng nhận ngay được tin chẳng lành: Vua Quang Trung băng! Vì vậy, mọi việc đều lỡ làng lỡ dở, bọn Dũng đành ôm mối hận mà trở về.
Rồi từ đó, việc thôn tính Lưỡng Quảng chỉ là câu chuyện mỹ đàm trên trang lịch sử Đại Việt, mà cơ đồ vua Quang Trung cũng dần dần tan theo giấc xuân mộng của nàng Công chúa Tàu!
MA BỊNH CƯỚP ANH HÙNG
Dưới triều Quang Trung, võ công, văn trị, nội tu, ngoại nhương, mọi mặt đều có vẻ khả quan cả. Một vị Hoàng đế anh hùng mới 40 tuổi, cái tuổi đương hăng hái, đầy hứa hẹn, phải gánh vác một công cuộc phi thường, bỗng bị thần Chết đến nạt rồi cướp đi há chăng phải là một cái hận nghìn thu còn ngậm?
Một buổi chiều thu, gió heo may vi vút nhả khí tiêu sơ trong lùm thông núi Ngự, hơi lạnh lay gợn làn sóng yếu đuối trên mặt sông Hương… Vua Quang Trung đang ngồi, bỗng hoa mắt, sầm tối mặt mũi, đâm mê man.
Chứng bịnh ấy, sử chữ nho chép là “huyễn vận” (眩暈). Mà “huyễn vận” là một thứ bịnh do thiếu máu, bộ tiểu não bị tổn thương và thần kinh suy yếu mà sinh ra. Khi phát thì, trong một lúc, mắt hoa, tri giác mờ tối không biết gì cả.
Rồi từ đó bịnh ngày một tăng thêm, khó có hy vọng qua khỏi!
Khi bịnh xoay nặng, ngài triệu Trần Quang Diệu, trấn thủ Nghệ An, về triều, bàn việc thiên đô về Nghệ An, nhưng việc đó chưa quyết định xong thì bịnh tình nhà vua ngày một nguy kịch.
Ngài có trối trăng cùng bọn Diệu: “Sau khi ta mất, việc tang chế chỉ nên sơ sài thôi, nội trong một tháng phải liệu mà chôn cất. Các ngươi phải nên hiệp sức giúp Thái tử (Quang Toản), sớm thiên đô về Nghệ An để khống chế thiên hạ…”406
Qua ngày hai mươi chín, tháng chín, năm Nhâm Tý407 niên hiệu Quang Trung thứ 5 (1792), Thái Tổ Võ hoàng đế thăng hà bỏ dở công cuộc định đánh Mãn Thanh, khôi phục lấy Lưỡng Quảng!
LỜI KẾT
Trước khi hạ lời kết thiên lịch sử ký sự này, tôi hẵng xin dịch một bài bằng chữ Hán của một nhà báo ngoại quốc viết về “Nguyễn Huệ”, trước để thay lời tóm tắt ôn lại suốt cả hai tập sách của tôi đã ghi chép về lịch sử, sự nghiệp vua Quang Trung (1788-1792), sau để giới thiệu với các bạn đọc thân mến: “người lịch sử” ấy của chúng ta đối với con mắt người ngoài ra thế nào. (Chỗ nào tôi có phụ chú hoặc có tỏ ý dị đồng với nguyên tác thì chua ở dưới. Còn lời chú của bài báo ấy thì tôi nói là “lời chua của nguyên tác” cho khỏi lẫn).
Nguyễn Huệ
Hồi thế kỷ XVIII, Việt Nam nảy một vị anh chúa, cưu hùng, cương nghị, chiến công rực rỡ, oai danh ngang với Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh và Lê Lợi cùng được người đời xưng tụng: Ấy là vua Quang Trung408 Nguyễn Huệ, triều Tây Sơn.
Nguyễn Huệ, người làng Tây Sơn, thuộc Quy Nhơn, năm 1774 cùng anh em409 là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ dấy binh, một keo mà đánh đổ được họ Cựu Nguyễn (Sử chép hậu duệ Nguyễn Hoàng là Cựu Nguyễn, họ Nguyễn Huệ là Tân Nguyễn)410.
Năm 1786, Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long, nhất thống được cả bờ cõi ba kỳ.
Năm 1789411, vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị đem hơn hai mươi vạn quân Lưỡng Quảng và Vân Quý ang Nam; thế mạnh như sóng xô lướt!
Huệ chỉ có mười vạn quân, nhưng hăng hái xông ra, đánh nước lạ, nắm phần thắng412, chia quân làm ba đạo, nhân đêm trừ tịch413 đổ ra đánh úp, huyết chiến hàng sáu ngày đêm: quân Tôn Sĩ Nghị bị thua một cách thảm hại, chết và bị thương đến quá nửa.
Trận ấy, Nguyễn Huệ cưỡi voi lớn, thân ra tận tiền tuyến414 đốc chiến, không nghỉ một chút nào. Chiếc Hồng bào Huệ mặc bị khói thuốc súng hun ám thành ra sắc đen.
Nguyễn Huệ, suốt đời khéo biết dùng binh, liệu việc như thần. Bộ hạ văn võ như Trần Văn Kỷ, Ngô Thì Nhậm, Vũ Nhậm, Nguyễn415 Văn Sở và Trần Quang Diệu… đều là những tay khai quốc tuấn kiệt cả.
Huệ từng hai lần vào thành Thăng Long416, bốn lần hạ Gia Định. Hùng tài như Nguyễn Phúc Ánh cũng vẫn không sao chống nổi.
Tiếc rằng trời không cho sống lâu, ở ngôi mới được 5 năm đã bị bịnh mất, khiến người bằng điếu bùi ngùi mất một anh hùng rồi vận mệnh triều Tây Sơn cũng do đó mà sụp đổ!
(Thần Long – Việt Nam danh nhân dật sử, IV – Nam Phong, Chợ lớn, tập 2, số 6, trang 23).
Sau 21 năm (1771-1792)417 tung hoành trên mảnh đất ngót 32 vạn thước vuông, mấy trận đánh bạt quân Xiêm, dăm ngày quét sạch hai mươi vạn quân Tôn Sĩ Nghị, sự nghiệp anh hùng ấy ngoài chút oai thừa ở mộ giả Linh Đường (thuộc huyện Thanh Trì), nắm xương nằm không yên ở phía nam sông Hương, nay còn gì để lại?
Dẫu vậy, còn chút dấu vết ở Đống Đa, võ công oanh liệt của vua Quang Trung vẫn còn trơ trơ ở bia miệng!
Mồng 5 tháng giêng, ngày giỗ trận, ta thử cùng nhau bằng điếu cổ nhân.
Vào chùa Đồng Quang, ta tham thiền: Thuyền từ đâu? Cành dương đâu? Nước cực lạc đâu? Phật ngồi tự tại, nào hay nông nỗi chúng sinh!
Lên đền Trung Liệt418 ta vãn cảnh: Hoàng Diệu đâu? Đoàn Thọ đâu? Nguyễn Tri Phương đâu? Bia đá đứng im, phó mặc bụi bay, gió thổi!
Ta không khỏi, bùi ngùi…
Loa Sơn, tức Đống Đa kia ơi! Có phải chính mi đã nuốt xác quân Thanh để ghi chiến công phi thường của vị anh hùng hoàng đế?
Vậy, mi hãy cùng cỏ xuân, hoa xuân, cây xuân hát khúc thiên lại để ca tụng cái sự nghiệp bất hủ của “chàng áo vải” con nhà nông dân ở ấp Kiên Thành, mẹ tên là Nguyễn Thị Đồng, cha tên là Nguyễn Phi Phúc!
Phụ Lục: Quang Toản.
Nguyễn Quang Toản
Lấy hiệu Cảnh Thịnh (1793-1800)
Lại đổi Bảo Hưng (1801-1802)
LỆ NGÔN
1) Phần phụ lục này là dịch theo Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30, tờ 43b-56b.
2) Theo lệ phiên dịch, lẽ tất nhiên người dịch phải giữ đúng từng chữ từng câu trong nguyên văn. Vậy từ cốt truyện đến lời văn người dịch không có quyền được sửa đổi.
3) Quốc sử quán xưa vì theo quan niệm triều đại, nên mới dùng những chữ như “ngụy”, “tiếm” và “nhuận” để chỉ về “thắng triều” (triều đã bị người ta đánh thắng tức là cái triều đã bị diệt). Lại vì ngày xưa theo lệ tị húy (kiêng tên nhà vua) nên trên sử sách hễ gặp những chữ quốc húy thì đều bớt nét hoặc tránh hẳn mà viết ra chữ khác, hoặc bỏ hẳn chữ “đệm” ở trên tên người ta đi.
Nay, chúng ta chỉ đứng về phương diện sử học, cần tìm lấy sự thật để tiện học hỏi cho nên, khi dịch xin lược bỏ những chữ “ngụy” ở trong nguyên văn cho dễ hiểu và phàm những tên người, tên đất mà, khi dịch, biết là vì kiêng húy mới in khác đi thì đều xin chép theo tên thật cho khỏi lầm lẫn. Cử lệ:
Nguyên văn chép là Ngô Nhâm, xin cứ dịch là Ngô Thì Nhậm; nguyên văn chép là Thanh Ba, xin cứ dịch là Thanh Hoa...
4) Phàm những năm ghi bằng can chi, khi dịch đều chua thêm dương lịch cho dễ tính.
5) Phàm những lời chua của nguyên thư thì khi dịch đều ghi trong hai cái ngoặc đơn nói là “nguyên chú” còn những chỗ nào không đề “nguyên chú” thì tức là lời chua thêm của người dịch.
6) Muốn cho dễ hiểu và đúng văn pháp khi dịch, một đôi chỗ xin thêm chủ ngữ hoặc bổ túc từ vào câu văn cho người đọc nhận ngay thấy nghĩa.
***
Quang Toản tên là Trát. Mẹ họ Phạm, người phủ Quy Nhơn, cùng Hình bộ Thượng thư Bùi Văn Nhật và Thái sư Bùi Đắc Tuyên là chị em cùng mẹ khác cha, tuổi 30, được sách phong hoàng hậu, sinh 3 trai, 2 gái. Toản là con cả.
Trước kia, khi giả vương sang triều cận, vua Thanh sắc phong Quang Thùy là An Nam quốc vương Thế tử; sau biết Thùy là con thứ, bèn đổi phong Toản làm Thế tử, cho thêm ngọc như ý, gấm và hà bao.
Năm Nhâm Tý (1792) Huệ mất, Toản mới 10 tuổi, đổi năm sau, Quý Sửu (1793) làm Cảnh Thịnh nguyên niên, sai lũ Ngô Thì Nhậm419 sang Thanh báo tang và thỉnh mệnh nối ngôi. Bọn Nhậm, chưa ra khỏi cửa ải, vua Thanh đã biết tin do Lưỡng Quảng Tổng đốc tâu báo trước, liền xuống chiếu chỉ phong Toản làm An Nam quốc vương, sai Quảng Tây án sát Thành Lâm sang Bắc Thành (Thăng Long) tuyên phong. Toản cũng mượn người khác đứng nhận. Sứ Thanh trong bụng cũng biết là giả dối.
Toản, sau khi đã tập phong, lấy em là Quang Thùy làm Khang Công, tiết chế các doanh thủy bộ mạn Bắc, kiêm coi quản quân dân mọi việc: Quang Bàn làm tuyên công, lĩnh Thanh Hoa420 Đốc trấn, Tổng lý quân dân sự vụ; cậu là Bùi Đắc Tuyên làm Thái sư, đốc thị các viên cơ mật trong ngoài; Thái úy Phạm Công Hưng đồng chưởng quân quốc trọng sự; trung thư phụng chính Trần Văn Kỷ làm mọi việc cơ mật ở viện Trung thư, được ủy thác hết các văn thư, từ lệnh và hiểu thị; Thiếu phó Nguyễn421 Quang Diệu, hộ giá Nguyễn Văn Huấn, Nội hầu Nguyễn Văn Tứ và tư lệ Lê Trung cùng trấn Nghệ An; đại tư khấu Vũ Văn Dũng, đại tư cối Nguyễn Văn Dụng, thiếu bảo Nguyễn Văn Danh422, Đại tư mã Ngô Văn Sở. Hình bộ Thượng thư Lê Xuân Tài, tuần kiểm Chu Ngọc Uyển và Tiết độ Nguyễn Công Tuyết cùng trấn Bắc thành. Bãi bỏ cái lệnh bắt dân đeo tín bài, thôi việc sai bắt dân ẩn lậu.
Toản tuổi nhỏ, chỉ chăm chơi đùa, phàm việc đều quyết định ở Đắc Tuyên. Đắc Tuyên tự do làm oai, làm phúc: trong ngoài đều oán.
Năm Quý Sửu (1793), quân ta423 vây Quy Nhơn; Nhạc sai người cáo cấp, Toản sai lũ Phạm Công Hưng đến cứu. Quân ta đã rút về, bọn Hưng bèn bức bách Nhạc mà chiếm cứ lấy thành Quy Nhơn. Nhạc tủi thẹn tức bực mà chết. Toản phong con của Nhạc là Bảo làm Hiếu Công, phái người canh giữ.
Năm Giáp Dần (1794), Toản sai hộ giá Nguyễn Văn Huấn và điểm kiểm Trần Viết Kết đánh úp Diên Khánh424: quân thua, phải quay về. Toản lại sai tổng quản Nguyễn Quang Diệu, Nội hầu Nguyễn Văn Tứ lại đem quân vào vây Diên Khánh; cầm cự nhau đến hàng tháng.
Mùa đông năm ấy (Giáp Dần, 1794) Đắc Tuyên sai Ngô Văn Sở thay Vũ Văn Dũng điều bát quân sự ở Bắc thành, và triệu Dũng về. Dũng về đến trạm Mỹ Xuyên. Bấy giờ phụng chính Trần Văn Kỷ có tội, bị phát phối ở nơi trạm ấy. Kỷ mật bảo Dũng rằng: “Thái sư (chỉ Đắc Tuyên) ở ngôi cao tột của kẻ làm tôi, thiện tiện làm việc uy phúc, sẽ bất lợi cho xã tắc. Nếu không sớm tính đi thì sau hối sao kịp!”
Dũng bèn mật mưu với Phạm Công Hưng và Nguyễn Văn Huấn425: thanh ngôn đi Nam dã để tế cờ, nhưng nhân lúc ban đêm, đem đồ đảng vây Đắc Tuyên ở chùa Thiền Lâm426.
Đêm đó, Tuyên vì tình cờ có việc, ngủ lại trong phủ của Toản. Dũng vây phủ đòi bắt Tuyên. Toản bất đắc dĩ phải bắt Tuyên đưa cho Dũng. Dũng bỏ Tuyên vào ngục.
Ngô Văn Sở là đảng của Tuyên. Dũng kiểu chiếu sai Tiết chế Quang Thùy đóng gông Sở lại, điệu đến kinh thành. Lại sai Nguyễn Văn Huấn đem binh vây Quy Nhơn, bắt Đắc Trụ, con Tuyên, giải về, thêu dệt thành phản trạng, rồi dìm xuống nước mà giết chết cả. Toản không thể chế trị nổi chỉ khóc lóc mà thôi.
Quang Diệu đang vây Diên Khánh, hay tin ấy, cả sợ, nói với bộ hạ rằng: “Chủ thượng thì không có đức cứng mạnh, đại thần thì giết hại lẫn nhau: thế là biến cố lớn rồi. Không dẹp yên nội biến, còn chống cự gì được người ngoài?” Ngay hôm ấy, Diệu cởi vây rút về.
Dũng cho rằng Diệu có nhân nghị với Đắc Tuyên427, sẽ xảy ra sự biến, bèn ủy cho Công Hưng đem binh đón Diệu, điều đình việc ấy428.
Bấy giờ Nguyễn Văn Huấn đang giữ Quy Nhơn, hay tin Diệu về, vội trước đến tạ tội; Diệu chẳng buồn hỏi đến.
Diệu kéo quân đến An Cựu, đóng đồn ở bờ phía nam sông (sông Hương).
Bọn Dũng và Nội hầu Tứ đóng quân ở phía bắc sông (sông Hương) lấy nê mang lệnh vua mà chống cự lại.
Quang Toản lo sợ, không biết làm thế nào, sai người đi lại úy dụ và hòa giải cả hai. Diệu mới đem kẻ chiêu đăm429 vào yết kiến, giảng hòa với bọn Dũng. Diệu xin lấy Lê Trung thay Huấn giữ Quy Nhơn mà vời Huấn về.
***
Bấy giờ Quang Toản đã thân chính: 5 ngày một lần thiết triều. Năm ấy (Giáp Dần 1794), Thái úy Công Hưng bị bệnh mất, Toản bèn lấy Diệu làm Thiếu phó, Huấn làm Thiếu bảo, Dũng làm Đại tư đồ, Nguyễn Văn Danh430 làm Đại tư mã: gọi là tứ trụ đại thần.
Có người gièm với Toản rằng: “Diệu uy quyền quá trọng, sắp có chí toan tính khác!” Toản mê hoặc lời nói ấy, bèn thu lấy binh quyền của Diệu, chỉ cho Diệu giữ bản chức mà phụng thị nhà vua.
Diệu đem lòng ngờ sợ, thường cáo bệnh không vào chầu, cho vài trăm thủ hạ ngày đêm cầm binh khí để tự về. Quang Toản hằng sai quan trung sứ đến úy lạo và dụ bảo Diệu.
Mùa hạ năm Định Tỵ (1797), quân ta đánh Quy Nhơn, chưa hạ được; lại tiến vây Quảng Nam, Đà Nẵng, Câu Đê và Hải Vân. Toản sai Nguyễn Văn Huấn đem hết quân ra chống cự. Lại khởi phục binh quyền cho Diệu để chặn giữ cửa bể Noãn Hải.
Mùa thu (Đinh Tỵ, 1797) quân ta kéo về.
Năm Mậu Ngọ (1798). Tiểu triều Bảo431 đánh úp lấy Quy Nhơn, sai người đến thông khoản với ta432. Quân ta chưa đến, Toản đã ra quân vây thành Quy Nhơn, bắt Bảo đem về, giết chết bằng cách bắt uống thuốc độc. Rồi sai Đại Tổng quản Lê Văn Thanh433 giữ Quy Nhơn.
Thái phú Lê Văn Ứng434 nói với Toản rằng: “Cuộc biến Tiểu triều là do Lê Trung gây thành ra đó!” Toản vời Trung đến, sai tráng sĩ trói lại mà chém Trung.
Lại tin lời gièm vu của Thượng thư Hồ Công Diệu. Toản giết chết Thiếu bảo Nguyễn Văn Huấn.
Từ đó, tướng tá lìa lòng, ai cũng ngơm ngớp ngờ sợ!
Đại đô đốc Lê Chất là con rể của Lê Trung, từng lập được nhiều chiến công, bấy giờ sợ vạ lây đến mình, liền theo về với bên ta.
Năm Kỷ Mùi (1799), quân ta lại tiến đánh Quy Nhơn. Lê Văn Thanh đóng cửa thành cố chết để giữ. Quang Diệu và Văn Dũng đem binh thuyền đến cứu. Khi tới Quảng Ngãi, nghe quân ta đã đổ bộ, giữ chỗ hiểm, Diệu ở ngoài núi Thạch Tân; Dũng đem quân đi theo đường tắt Chung Xá, mưu đánh úp đằng sau quân ta.
Đêm đến, có một con nai, xổng chạy, quân tiền đạo của Dũng ồn ào la ó, truyền lầm là quân “Đồng Nai” bèn sợ hãi tan vỡ. Quân ta thừa dịp, tiến vào: quân Dũng giày đạp lẫn nhau, chết mất nhiều lắm.

Quân cứu đã tuyệt, Văn Thanh bèn cùng Thượng thư Nguyễn Đại Phác, Thiếu úy Trương Tiến Thúy đem thành xuống hàng.
Quân ta đã được Quy Nhơn, bèn đổi tên thành ấy rằng thành Bình Định, để chưởng Hậu quân Vũ Tinh, Lễ bộ Ngô Tòng Chu ở lại trấn giữ.
Toản hay tin Quy Nhơn đã thất thủ, cả kéo binh đến. Khi tới Trà Khúc, Toản giục các tướng ra quân, Trần Viết Kết nói: “Nay, phong sắc không tiện, xin hẵng kéo quân về!” Toản bèn lưu Diệu và Dũng giữ Quảng Nam, Nguyễn Văn Giáp giữ Trà Khúc, còn mình thì quay về.
Trước đó, trận Thạch Tân, quân Dũng không đánh đã tự vỡ, Dũng sợ, cầu xin Diệu giấu kín sự ấy đi. Từ ấy, hai người cố kiết rất chặt chẽ, hẹn làm đôi bạn sống chết có nhau.
Lũ Trần Việt Kết, Hồ Công Diệu và Trần Văn Kỷ vốn ghét Quang Diệu. Họ lấy cớ để nói Quang Diệu về việc Quy Nhơn thất thủ, Diệu đóng binh ở một chỗ, không làm được công cán gì. Rồi họ kiểu chiếu sai Dũng bắt Diệu mà giết đi. Dũng được thứ ấy, đưa cho Diệu xem.
Diệu cả sợ, bèn kéo quân về Phú Xuân, cắm rào ở bờ phía nam sông Hương, thanh ngôn lên rằng đem binh đến để giết bọn giặc ở bên cạnh vua.
Toản sai người đến vời: bọn Diệu đều không vâng chịu mệnh lệnh.
Kỷ đổ tội cho Trần Viết Kết và Hồ Công Diện. Kết trốn. Toản bắt Công Diệu đưa cho Quang Diệu. Bấy giờ Quang Diệu mới cởi binh, vào triều cận.
Toản dụ bảo: “Các khanh là trụ thạch của quốc gia, nên vì nước mà đồng lòng gắng sức để trừ ngoại loạn, bất tất phải đem lòng nghi ngờ.” Lũ Quang Diệu đều khóc tạ, xin lại đem quân vào lấy Quy Nhơn. Toản ưng cho.
Năm Canh Thân (1800), bộ binh của Diệu vây dưới thành Quy Nhơn, thường thường khiêu chiến. Vũ Tính đóng chặt vách thành tự giữ lấy. Diệu ở ngoài, đắp cái lũy dài bao quanh bốn mặt để xây thành.
Dũng lấy hai chiếc thuyền “Định quốc đại hiệu” và hơn trăm chiếc chiến thuyền chận ngang cửa bể Thi Nại. Lại dựng hai cái đồn, trong đặt súng đại bác, ở Nhạn Châu về phía tả cửa bể và ở núi Tam Tòa về phía hữu cửa bể, để đứng cao mà bắn ra. Phòng thủ rất là nghiêm nhặt.
Mùa hạ (Canh Thân, 1800). Thế tổ435 ta đem đại binh đến cứu Bình Định (Quy Nhơn); bộ binh đóng ở Thị Dã; thủy binh án ngữ ở ngoài cửa bể Thi Nại. Quân ta thủy lục không thông được với nhau. Vũ Tính cũng ở trong thành cố giữ, đợi quân cứu. Hai bên cầm cự đã lâu.
Bấy giờ lũ Lưu Phúc Tường, điển quân thượng đạo bên ta, liên kết với các xứ Vạn Tượng (Ai Lao), Trấn Ninh, khuấy rối thành Nghệ An. Từ Thanh Hoa436 trở ra, thổ tư437 các trấn đều dấy nghĩa binh hưởng ứng. Các cố đạo Tây cũng khua đám tín đồ người Nam ở sở tại nổi lên như ong. Nhều người trung nghĩa ở Bắc thành cũng vượt bể, thật lòng vào đầu hàng, vì quan quân (bên chúa Nguyễn) mà trổ sức. Nhân dân các trấn hễ thấy gió nồm bốc lên, thì mừng với nhau rằng: “Chúa Nguyễn thuận buồm kéo ra!”
Tình thế Quang Toản ngày một cùng quẫn, Toản sai người đem đồ hậu tệ đến vời Nguyễn Thiếp (tức Thiệp).
Khi Thiếp đến, Toản đem việc nước ra hỏi. Thiếp nói: “Hỏng rồi!” Thiếp lại hỏi: “Ai theo?” Toản nói: “Trao cho gươm, ấn, ai dám không theo?” Thiếp nói: “Nếu vua không theo thì làm thế nào?” Toản im lặng.
Thiệp lui, nói với người thân rằng: “Đôi cá nước cạn, họ Nguyễn về quê. Non sông của chủ cũ, chẳng bao lâu, chung quy lại thuộc chủ cũ” Rồi Thiệp bảo Toản lui giữ Vĩnh438 đô, ngõ hầu hoặc còn có thể thư được chăng. Toản cũng do dự, không quyết định.
Năm Tân Dậu (1801), Thế tổ ta thân đốc chu sư, thẳng vào cửa bể Thi Nại, sai Nguyễn Văn Trương và Tống Phúc Lương lĩnh quân tiền đạo xông vào trước đốt đồn thủy của Toản; Lê Văn Duyệt và Vũ Di Nguy tiếp nối tiến vào.
Dũng đốc thúc các quân chống đánh, đạn súng đại bác bắn ra như mưa: Di Nguy ngồi ở đầu thuyền, lăn xuống nước chết. Quân ta chết và bị thương khá nhiều, Văn Duyệt thúc đánh càng hăng. Rồi nhân thuận chiều gió, đánh hỏa công, thiêu hết chiến thuyền bên Tây Sơn: khói bốc mù trời! Dũng chỉ chạy được thoát thân.
Thủy quân đã đổ bể, Diệu lại đắp thêm lũy đất, núi đất để đối vào trong thành mà bắn; dựng nhiều đồn và rào làm chước chống giữ lâu dài. Quân ta đánh Diệu: luôn mấy tuần không hạ được. Thế tổ ta bèn lưu bộ tướng Nguyễn Văn Thành giữ Thị Dã, cầm cự với Diệu. Còn ngài thì thân cầm chu sư để đánh thẳng vào Phú Xuân (Huế).
Mồng 1 tháng năm, mùa hạ, (Tân Dậu, 1801), ngài vào đến cửa bể Tư Dung. Phò mã Tây Sơn Nguyễn Văn Trị giữ núi Rùa439, dựng rào gỗ440 để chống lại.
Quân tiền đạo (bên Nguyễn) tiến đánh không hạ được, Lê Văn Duyệt và Lê Chất đang đêm, đem vài mươi chiếc chiến thuyền vượt bãi cát vào eo bể Hà Trung đánh úp ở đằng sau, rồi chia quân nhổ hết rào gỗ mà tiến lên. Văn Trị sợ, vỡ, chạy.
Đại binh (bên Nguyễn) tiến đến Trừng Hà, bắt được Trị và Đô đốc Tây Sơn Phan Văn Sách chiêu hàng được 509 tên quân của họ, bèn tiến vào cửa sông Noãn Hải.
Toản rốc hết quân ra chống giữ. Quân ta thừa thắng tiến lên. Quân Toản sợ bóng, sợ gió, đã vội vỡ trước.
Đại binh (bên Nguyễn) kéo thẳng đến kinh đô (Phú Xuân).
Ngày mồng 3 (tháng năm năm Tân Dậu, 1801), Toản đem của bán chạy ra ngoài Bắc, bỏ cả sắc, ấn do triều Thanh đã ban cho. Vừa ra khỏi cầu Phú Xuân vài dặm, quân lính đã tan đi bốn ngả, Toản bèn cùng em là Thái tể Quang Thiệu, Nguyên súy Quang Khanh, và lũ Đại tư mã Tứ, Đô đốc Trù tế ngựa ngày đêm nhằm lũy Động Hải mà chạy.
Ngày tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng năm năm Tân Dậu, 1801), Toản qua đò sông Gianh (Linh Giang), quân ta đuổi theo không kịp. Đến Nghệ An, Toản ở lại vài ngày, giấu bặt công chuyện, không tuyên bố. Lại cưỡi ngựa trạm chạy ra trấn Thanh Hoa441. Phi báo cho em là Quang Thùy đem quân đến đón.
Quân ta đã khắc phục kinh đô, sai Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Tống Viết Phúc vào cứu Bình Định (Quy Nhơn). Quân chưa đến thì trong thành đã hết lương ăn, Lưu trấn Vũ Tính và Hiệp trấn Ngô Tòng Chu đều chết theo thành.
Diệu và Dũng lại giữ lấy thành, sai Đại đô đốc Trương Phúc Phượng và Tư khấu Định442 đem quân do đường thượng đạo về cứu Phú Xuân. Phượng hết lương, đến Tả Trạch Nguyên, xuống hàng quân ta. Định xuống Cao Đôi, đánh thua, chạy vào trong Mán rồi chết.
Hạ tuần tháng năm (Tân Dậu 1801), Toản đến Bắc thành, đóng ở phủ của Quang Thùy. Bấy giờ luôn tuần mưa dầm, trước sân ngập nước đến hơn một thước. Khi nước cạn, thình lình đất sụt sâu và rộng mỗi bề đến hàng vài thước. Cái lầu ba từng ở Nghệ An vô cớ cũng đổ. Người ta đều cho là cái điềm chẳng lành443.
Tháng ấy (tháng năm Tân Dậu, 1801), đổi hiệu làm Bảo Hưng nguyên niên, Toản hạ chiếu nhận lỗi, vỗ về nhân dân các trấn, lấy Thị trung Đại học sĩ Ngô Thì Nhậm444 làm Binh bộ Thượng thư, hiệp biện Đại học sĩ Nguyễn Huy Lịch làm Lại bộ Thượng thư, Thị trung Ngự sử Phan Huy Ích làm Lễ bộ Thượng thư; ngoài ra, mọi người khác đều được phong thưởng theo thứ bực cả. Lại đắp gò tròn ở ngoài cửa ô Chợ Dừa, xây bó trầm vuông ở hồ Tây để Hạ chí và Đông chí thì chia ra mà tế tự Trời, Đất.
Toản thân đến Quốc Tử giám để khảo hạch học trò: ai vào hạng ưu thì thưởng cho tiền.
Toản sai lũ Nguyễn Đăng Sở sang nhà Thanh đưa tuế cống, và xin cứu giúp.
Bấy giờ sứ giả của ta, Trịnh Hoài Đức, đã sang Quảng Đông nộp sắc ấn của nhà Tây Sơn. Vua Gia Khánh (nhà Thanh) dung nạp sứ ta và đuổi lũ Đăng Sở về.
Tháng tám (Tân Dậu, 1801), Toản sai em là Quang Thùy điểm binh mã, trước đến đóng đồn ở trấn Nghệ An.
Tháng mười một (Tân Dậu, 1801), Toản để Quang Thiệu, Quang Khanh giữ Bắc Thành, thân đốc ba vạn quân ở bốn trấn và Thanh, Nghệ, tự mình làm tướng mà kéo vào Nam. Bùi Thị Xuân, vợ Quang Diệu cũng đem 5.000 thủ hạ đi theo. Tiết chế Thùy và Tổng quản Siêu445 phạm lũy Trấn ninh446; Tư lệ Tuyết và Đô đốc Nguyễn Văn Kiên phạm lũy Đâu Mâu; Thiếu úy Đặng Văn Đằng và Đô đốc Lực447 liên kết với giặc Tể ngôi, dàn hơn trăm chiếc thuyền ở ngoài bể Linh Giang: binh thế thịnh lắm.
Quân ta lui giữ Động Hải.
Ngày 30 tháng mười hai448. Toản lùa hết quân qua đò sông Gianh.
Thế tổ ta thân chinh449, đóng ở Động Hải, sai Phạm Văn Nhân và Đặng Trần Thường đốc suất bộ binh, Nguyễn Văn Trương đốc suất thủy quân, chia đường chống cự.
Mồng 1 tháng giêng, mùa xuân năm Nhâm Tuất (1802) quân Quang Thùy bức lũy Trấn Ninh. Quân ta mở cửa lũy, cố sức đánh lui được.
Toản lại đem hết quân vây lũy Đâu Mâu: bám vào như kiến mà trèo lên. Quân ta bắn đại bác ầm ầm và ném đá lớn xuống: quân Toản bị thương và chết nhiều lắm.
Toản sợ, muốn rút lui, Thị Xuân níu ngựa, cố xin đánh Toản lại vẫy quân thúc đánh: từ sáng sớm đến chiều cả chưa chịu lui. Chợt nghe thủy quân bị Nguyễn Văn Trương (bên Nguyễn) đánh bại, quân Toản kinh, vỡ.
Ngày mồng 2 (tháng giêng Nhâm Tuất, 1802) Toản chạy đến Động Cao vội qua đò sông Gianh để chạy ra Bắc: kẻ đi theo không còn tới một, hai phần mười, 50 chiếc thuyền lương và quân nhu khí giới đều bị quân ta bắt được cả.
Quang Thùy đến sông Gianh bị quân ta cản lại, không qua đò được phải đi theo đường sơn cước, hơn một tuần450 mới tới Nghệ An: gặp Toản ở đấy. Rồi lại chạy ra Bắc thành.
Trận ấy, Toản cuốn hết lực lượng mà đến đánh, rồi thua một chuyến hết sạch sành sanh.
Từ đó, rủn chí, ngã lòng, Toản chỉ ở trong thành, thi bắn và ngâm thơ thôi.
Diệu, Dũng ở Bình Định (Quy Nhơn), hay tin ấy, bèn đem đồ đảng là lũ Từ Văn Chiêu451, Nguyễn Văn Miên, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Văn Điểm và Lê Công Hưng đem 3.000 quân, 80 thớt voi trận theo đường thượng đạo sang Lào, đi ra Nghệ An.
Bấy giờ đại binh bên ta đã qua sông Gianh, tiến đánh đồn Tam Hiệu ở Bố Chính, và hạ được rồi. Thủy quân của Nguyễn Văn Trương đến cửa bể Đan Nhai, đánh phá các thành chắn bằng đất và gỗ, bộ binh của Lê Văn Duyệt và Lê Chất đến sông Thanh Long, cướp được kho Kỳ Lân.
Nghệ An trấn thủ Nguyễn Văn Thận, Hiệp trấn Nguyễn Chiêm, Thủy quân thống lĩnh Đại, Thiếu úy Đằng (bên Tây Sơn) đều bỏ thành, chạy đến đồn Tiên Lý452. Chiêm tự ải chết. Thận chạy đi Thanh Hoa453.
Đại binh (bên Nguyễn) đã lấy được Nghệ An, liền bổ đặt quan lại.
Diệu từ Quỳ Hợp xuống Hương Sơn, nghe tin Nghệ An đã bị phá, bèn qua Thanh Chương, vượt sông Thanh Long (thuộc Nghệ An). Tụng giả dần dần tan đi. Diệu và vợ là Bùi Thị Xuân đều bị quan quân bắt sống.
Văn Dũng cũng bị thổ dân Nông Cống (thuộc Thanh Hoa) bắt được, giải nộp.
Đại binh (bên Nguyễn) đến Thanh Hoa454, Đốc trấn Quang Bàn và Thận, Đằng đều xuống hàng.
Quân ta thừa thắng tiến ra, không còn ai dám chống cự nữa.
Ngày 16, tháng sáu (Nhâm Tuất, 1802) Quang Toản tự liệu thế không chống nổi, bèn cùng các em là Quang Thùy, Quang Thiệu và lũ Tư mã Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Tứ, Đô đốc Tú qua đò sông Nhị, chạy lên mạn Bắc. Đến Xương Giang (thuộc Bắc Giang) đêm đóng lại, bị dân quê mưu cướp bắt. Quang Thùy tự ải, Tú và vợ cũng tự thắt cổ chết. Toản bị dân Phượng Nhỡn (thuộc Bắc Giang) bắt được, đóng cũi đưa đến Bắc Thành.
Ngày 23 (tháng sáu, Nhâm Tuất, 1802), Xa giá (vua Gia Long) vào thành Thăng Long. Quan lại văn võ các trấn tranh đến cửa quân đầu thú.
Mùa đông năm ấy (Nhâm Tuất, 1802), Xa giá (vua Gia Long) về kinh (Huế) làm lễ cáo nhà thái miếu, dâng tù binh, trừng trị một cách tận pháp: đào phá mả Nhạc, mả Huệ, tán xương ném đi, giam đầu lâu vào nhà ngục, đổi tên ấp Tây Sơn gọi là ấp An Tây.
Năm Minh mạng thứ 12 (1831), tiếp tục bắt được con Nhạc là Văn Đức, Văn Lương và cháu Nhạc là Văn Đâu455 đều khép vào tội chém ngang lưng cả.
Họ hàng dòng giống Tây Sơn thế là hết tuyệt.
Cẩn án456 – Anh em Tây Sơn phân trị, không thống nhiếp nhau.
Nhạc khởi từ năm Mậu Tuất (1778) đến năm Quý Sửu (1793): gồm 16 năm.
Huệ khởi từ năm Mậu Thân (1788) đến năm Nhâm Tý (1792): gồm 5 năm.
Toản khởi từ năm Quý Sửu (1793) đến năm Nhâm Tuất (1802): gồm 10 năm.
Cộng 25 năm tất cả.
Nhưng từ năm Kỷ Dậu (1789), Lê mất, Huệ mới giữ nước. Cứ tính từ năm ấy (Kỷ Dậu, 1789) đến năm Nhâm Tuất457 (1802) là năm Quang Toản bị bắt thì chỉ được 14 năm thôi.
VĂN NÔM ĐỜI CẢNH THỊNH
(1793-1800)
Xưa kia, ta đối với văn nôm, thường chỉ chuyên chú vào văn vần, mà ít luyện tập đến văn xuôi. Cho nên, trong khi ta đã có những câu lục bát hoặc bài hàn luật rất điêu luyện, rất bóng bẩy, rất nhẹ nhàng, thế mà, về tản văn, ta hãy còn chập chững trong bước ấu trĩ! Đó vì trước triều Tây Sơn, phàm những văn thể như hiểu văn, dụ văn, chiếu văn này khác, ta thường viết bằng chữ nho, chứ ít khi dùng đến tiếng mẹ đẻ.
Không “năng học” thì không bao giờ “hay” được: đó là cái nhẽ tất nhiên.
Nhân khảo về đoạn sử Tây Sơn, tôi có tìm được ít nhiều văn nôm – cả tản văn lẫn vận văn – ở đời ấy. Tựu trung tôi thấy văn vần ở đương thời vẫn tiến hơn văn xuôi, đó càng tỏ rằng vì xưa ta ít chịu rèn luyện văn xuôi, nên bấy giờ dầu đã là cuối thế kỷ XVIII, vậy mà văn xuôi hãy còn thô sơ và lủng củng đến thế!
Vậy xin cử một bài chiếu văn từ năm Giáp Dần (1794) đời Cảnh Thịnh làm lệ, để các bạn thấy cái trình độ văn xuôi của ta cách đây 150 năm nó ra thế nào: nó lủng củng những chữ Hán! Nó không được chải chuốt, sáng sủa, gẫy gọn, rõ ràng, khúc chiết và dễ hiểu như văn xuôi bây giờ.
DỤ NHỊ SÚY458 QUỐC ÂM CHIẾU VĂN
(Phiên âm theo bản chữ Nôm trong Giụ am văn tập, sách viết trường Bác Cổ, số A 604 quyển thứ 5, tờ 5b-7b)
Lời dẫn
Như các bạn đã thấy ở truyện Nguyễn Quang Toản, từ năm Giáp Dần (1794) các tướng nhà Tây Sơn nhân dịp Tự quân thơ ấu, quốc gia lắm việc, chèn bẩy lẫn nhau, tàn hại lẫn nhau để tranh chiếm lấy quyền bính. Trần Quang Diệu đang vây Diên Khánh, hay tin Vũ Văn Dũng làm mưa làm gió ở triều đình, giết chết cha con Bùi Đắc Tuyên, bắt giam Ngô Văn Sở, bèn lật đật rút quân kéo về đóng quân ở phía nam sông Hương để uy hiếp Văn Dũng.
Vua Cảnh Thịnh phải sai người đi lại úy lạo phủ dụ, hòa giải cả đôi.
Dưới đây là bài chiếu do nhà vua bảo Phan Huy Ích làm để dụ hai tướng Diệu, Dũng.
Nguyên văn bằng chữ Nôm, nay tôi phiên ra quốc ngữ và giải nghĩa những chỗ khó hiểu.
***
Chiếu Thiếu phó Diệu Quận công Trần Quang Diệu, Tư đồ Dũng Quận công Vũ Văn Dũng khâm tri:
Nhị khanh459 là huân cựu đại thần460, Quốc gia trụ thạch461, người thì phụng tuân cố mệnh462, bảo dực trẫm cung463, người thì chuyên chế Bắc thành, bình hàn vương thất464. Trẫm vốn lấy làm cổ quăng tâm lữ đãi dĩ chí thành465.
Khoảnh nhân biên sự khổng cức466, trụng lao khanh đẳng đổng binh vu ngoại467. Như nay thố trí đồn ngữ đã rồi, mà hồi triều nghị sự, cùng lo tính thủy bộ cơ nghị dĩ đồ hậu cử468, để cho thượng hạ chi tình tương đạt469 thì cũng là phải. Dầu là chưa có triện mệnh, mà đã thiện hồi470, cũng chẳng qua cấp ư quốc kế, lược ư lễ văn471, trẫm cũng chẳng hà trách những điều tế quá472.
Bỗng nay nhị khanh tự hoài nghi cụ, cách hà ủng binh, bất lai triều yết473. Tằng dĩ lũy ban dụ chỉ, hãy còn suy thác trì hồi474! Trong quân thần phận nghĩa, mà tự xử dường ấy, khanh đẳng nghĩ đã yên lòng hay chưa?
Trẫm thanh niên lãm chính475, đường thành tín ngự hạ có điều chưa được tố phu476, khiến tới nỗi những kẻ huân cựu dường ấy còn phải quải ngại vu tâm477, ấy cũng là trẫm chi quá thất478.
Tưởng nay đương buổi tông thành nhất thủ, kình địch tại tiền, dẫu quân thần đồng tâm mưu lự còn e phất cập479, bỗng lại gây nên nội hoạn480, thì nữa quốc sự làm sao!
Ví như trẫm chẳng suy lượng bao hàm481, lại có lòng tường hại tướng thần482, ấy là tự tiễn kỳ vũ dực, thế ắt nguy vong lập kiến483. Mà khanh đẳng dĩ binh hiếp chế khiến cho chủ bính hạ di, đại cương vẫn xuyễn484 thì cũng chung quy loạn vong. Thử nghĩ hai nhẽ ấy, trẫm an nhiên vi chi hồ? Khanh đẳng an nhiên vi chi hồ485?
Dầu như khanh đẳng còn ngại tiếng “phạm thượng” mà lại bất năng thích nghi486, thiên tương nội đạo viên quân tầm lộ tha khứ487, để đến nỗi nhân tính hung động488, địch quốc ngoại thừa489 thì tận khí tiền công, thùy nhậm kỳ cữu490?
Trẫm thừa tông miếu xã tắc chi trọng491, nhị khanh vi triều đình đống cán chi thần492, nhẽ đâu lưỡng tương nghi trở493, sự biến hoạnh sinh494, chẳng là di tiếu thiên thu495 vậy du!
Sổ nhật lại phản phúc tư duy496, tẩm thiện câu giảm497, tưởng chưng quốc gia đại kế hệ tại tư tu498. Vậy đã khai thành trì dụ499, mà khanh đẳng còn chưa khai thích, trẫm vưu bất an vu tâm500!
Vả, kinh lãm khanh đẳng biểu nội501: sở chư thố trí các điều cũng là đương hành sự nghi502, song khanh đẳng còn đối khuyết liệt binh, vị lại triều yết503, thì quân thần chi nghĩa chưa được minh chính504. Như trong nước mà chưa thuận đạo, quân thần hầu dễ lo đường chính sự làm sao!
Dù như khanh đẳng muốn rằng tiên y tấu biểu, hậu thủy xu triều505 thì ra quân nhược thần cường506, cương thường điên đảo, dầu có chính sự cho hay, thi hành sao đặng? Như lấy thế làm binh gián507, e chưa hợp trong sự thể.
Khanh đẳng đã thực lòng ái quốc, thì tua508 giữ đạo tôn thân, thể lòng trẫm suy thành đãi ngộ509, sớm nên thích kỳ hiềm nghi510, qui triều tạ quá mà hãy phu trần sự lý511. Như việc binh nhung nên khu xử những làm sao, trong quan liêu tiến thoái những làm sao, cùng triều thần thương nghị rồi thì thỉnh chỉ phụng hành.
DIỆU QUẬN QUÂN THỨ QUỐC ÂM HIỂU VĂN
Phiên âm theo bản chữ Nôm trong Giụ am văn tập (sách viết trường Bác Cổ, số A 604), quyển 5 tờ 13a-14b
LỜI DẪN
Bài hiểu văn dưới đây là của Giụ am Phan Huy Ích vâng theo chỉ dụ vua Cảnh Thịnh (1793 -1802) làm từ mùa xuân năm Canh Thân (1800) dán yết ở nơi quân thứ Quy Nhơn để hiểu dụ nhân dân và quân lính.
Nguyên Quy Nhơn trước là địa bàn của Nguyễn Nhạc.
Năm Quý Sửu (1793) quân bên Cựu Nguyễn512 vây bức thành Quy Nhơn. Nhạc sai con là Bảo chống cự lại nhưng quân vỡ, Bảo phải thua chạy, Nhạc bấy giờ đang đau ốm, sai ruổi thư ra Phú Xuân để cáo cấp.
Chúa Cảnh Thịnh sai lũ Thái úy Phạm Công Hưng, Hộ giá Nguyễn Văn Huấn, Đại tư lệ Lê Trung và Đại tư mã Ngô Văn Sở đốc suất 17.000 bộ binh, 80 thớt voi và Đại thống lĩnh Đặng Văn Chân đem hơn 30 chiếc chu sư chia làm 5 đường vào cứu.
Quân Cựu Nguyễn cởi vây, rút lui. Bọn Hưng vào thành Quy Nhơn. Nhạc sai đem một mâm vàng, một mâm bạc ra để khao quân, Hưng bèn tịch biên kho đụn thu lấy giáp binh, chiếm cứ lấy thành ấy. Nhạc uất tức, hộc máu ra mà chết513.
Từ đó Quy Nhơn lại thuộc dưới quyền thống trị của chúa Cảnh Thịnh.
Qua năm Mậu Ngọ (1798). Bảo nổi cuộc phản công, bắt tù Thanh Uyên hầu514 là tướng của triều đình Phú Xuân lưu lại để kiềm chế Bảo, rồi Bảo chiếm giữ thành Quy Nhơn, sai Đô đốc Đoàn Văn Cát và Nguyễn Văn Thiệu giữ Phú Yên; sau lại đưa thư xin xuống hàng chúa Nguyễn.
Nhưng quân Cựu Nguyễn chưa đến thì binh Phú Xuân đã kéo tới vây thành bắt Bảo rồi.
Năm Kỷ Mùi (1799), sau trận Thạch Tân, Diệu, Dũng đều thua, Quy Nhơn lại bị bên Cựu Nguyễn
lấy được.
Từ năm ấy, cái tên “Bình Định” do chúa Nguyễn Ánh đặt cho để thay vào hai chữ “Quy Nhơn” mới bắt đầu thấy trên sử sách.
Cuộc chiến tranh ở thành Quy Nhơn này bước sang thời kỳ kịch liệt cũng từ khi thành ấy bị đổi tên làm Bình Định, do Chưởng hậu quân Vũ Tính và Lễ bộ Ngô Tòng Chu bên Cựu Nguyễn cùng gánh trọng trách trấn thủ.
Để đi giựt lại Quy Nhơn, Trần Quang Diệu, Thiếu phó bên Tây Sơn, từ ngày 21 tháng chạp năm Kỷ Mùi (1799), tiến quân vào mặt nam, qua ngày 29 (tháng mười hai Kỷ Mùi, 1799), Diệu đến đèo Bến Đá chia quân làm ba đạo, lách núi non, vượt hiểm trở mà thẳng tiến. Đến ngày mồng 2 tết Canh Thân (1800) Diệu bức thành Quy Nhơn bao vây bốn mặt515. Rồi kết quả trận này ra sao, chắc các bạn đã thấy rõ ở truyện Nguyễn Quang Toản như trên đã chép đó.
Sau khi nhận được tờ biểu của quận Diệu để trong ống tre, cẩn niêm, dâng lên từ nơi quân thứ, khi đã vây thành Quy Nhơn, chúa Cảnh Thịnh như đã nói ở trên, có sai Phan Huy Ích làm bài hiểu văn bằng nôm này niêm yết nơi quân thứ của Diệu tại Quy Nhơn để vỗ về yên ủi lòng quân lính.
Có xét lai lịch việc Quy Nhơn như thế, ta mới hiểu thêm một đoạn lịch sử ở đương thời và khỏi bỡ ngỡ những chỗ dụng ý trong bài hiểu văn dưới đây (viết theo văn thể biền ngẫu đối nhau) của tác giả.
***
Nhất hiểu Quy Nhơn phủ quan, quân, dân thứ đẳng tri:
Tướng vâng quyền chế ngoại516, dẹp lửa binh mà giúp lấy dân lành.
Người sẵn tính giáng trung517, cởi lưới ngược lại noi về đường thuận.
Mấy lời cặn kẽ.
Đòi chốn sum vầy,
Quý phủ ta: cội gốc nền vương,
Giậu phên nhà nước.
Miền thang mộc518 vốn đúc non gây (?) bể, mở mang bờ cõi bởi từ đây519.
Hội phong vân520 từng dìu phượng vin rồng, ghi tạc thẻ quyên521 đành dõi để.
Dấu cờ nghĩa đã sáng công dực vận522.
Buổi xe nhung thêm dóng sức cần vương.
Mấy phen gió bụi nhọc còn đòng523, giúp oai võ cũng đều nhờ đất cũ.
Ba huyện đá vàng bền tấc dạ, căm cừu thù chi để đội giời chung.
Tiệc ca phong524 châm nhạn vừa yên,
Vời Tĩnh Hải tăm kình lại động525.
Đoàn ngoại vũ lung lăng quen thói, nương thế đèo, đường Bến Đá chia ngăn526.
Kẻ khổn tư527 giáo giở bên lòng, phụ ơn nước, chốn thành vàng phút bỏ528!
Nơi trọng địa xảy nên gai góc.
Lũ lương gia529 lây phải lầm than.
Kẻ thì sa vào thế hiếp tòng530, trót lỡ bước dễ biết đâu tránh thoát;
Kẻ thì quá nghe lời khua dụ531, dẫu căm hờn nào có kịp nàn than.
Giận vì địch thế bãi buông tuồng.
Xót đến dân tình càng áy náy.
Trong một cõi, nỗi hoành ly532 là thế, đầu tên, trước đạn, nghĩ cỏ cây âu đã đổi màu xưa.
Trên chín lần niềm chắc ẩn là bao, sớm áo, đêm cơm533, mong đệm chiếu lại cùng êm nếp cũ534.
Chước điễn khấu ngửa vâng tiếng ngọc535.
Việc đổng nhung xa chỉ ngọn đào536.
Bản chức537 nay: chịu mạng đền phong538.
Buông oai trướng liễu539.
Thế phân đạo gấu giồ (?), hùm thét, suối rừng pha đồn lũy đã tan tành;
Cảnh sơ xuân540 hoa rước, oanh chào, đất nước thấy quan quân càng hớn hở.
Súy mạc vốn quyết bài tất thắng541.
Tông thành âu hẹn buổi phục thu.
Ngẫm chúng tình542 đà quay quắt bấy lâu, sự biến ấy hoặc có người nghi cụ543.
Vậy tướng lệnh phải đinh ninh đòi nhẽ, thân cố ta cho biết nẻo tòng vi544.
Nghiệm cơ giời đành thu góp về nhân.
Vâng nơi thánh lấy chở che làm lượng.
Bao nhiêu kẻ trót theo đảng dữ, như đã thích mê hồi thiện545, thì đều noi chức nghiệp cũ cho yên.
Hoặc mấy người riêng bấm (?) chí cao, mà hay nỗ lực lập công, ắt lại chịu ân thưởng nay càng hậu.
Dẫu trước có hà tỳ546 nào xá trách.
Ai sớm hay hối ngộ547 thảy đều dung.
Hội thanh ninh548 đành trên dưới đều vui.
Người Bái quận549… móc mưa hiệp sái550
Phương tị tựu vi kíp chầy chưa tỏ551,
Thủa Côn Cương ngọc đá khôn chia552.
Nghĩa cả mà lầm,
Lòng ngay xá giữ,
Nay hiểu.


Lời bạt
Viết cuốn Quang Trung này tôi có ý muốn đem ra ánh sáng chút ít sử liệu bấy nay đã tốn bao công mới tìm tòi nhặt lượm được. Rất mong các bậc cao minh trong giới sử học đoái đến mà nhã chính cho những chỗ sơ sót, thiếu thốn.
Tiếc rằng, vì trình độ, vì hoàn cảnh, tôi buộc lòng phải dùng một phương tiện thích ứng mà trình bày sách này cho “vừa tầm” với tiếng đòi hỏi của
thời đại.
Với nỗ lực, tôi còn mong có một bộ Quang Trung “như ý” ở một ngày mai tươi sáng.
***
Có nhiều bạn hỏi về chân dung vua Quang Trung.
Nay xin đáp chung: Tấm ảnh người cưỡi ngựa, mặc nhung phục mà nhiều sách báo gần đây rập theo một tờ tạp chí trước kia không phải là di tượng vua Quang Trung thật đâu, vì đó chỉ là một người do họa sĩ vẽ theo tưởng tượng. Bởi vậy, trong Quang Trung553 tôi có cho đặt tấm hình bán thân mà nhiều người đã nhận lầm là chính ảnh vua Quang Trung đó vào cuối phần thứ hai cho vui mắt, cho mỹ quan, nhưng không hề dám nói là ảnh của ai cả.
Hoa Bằng – Hoàng Thúc Trâm
Chú Thích 1.
1. Thái tử Duy Vỹ, từ bé thông minh, lanh lẹ, đọc rộng kinh sử, ưu đãi và kính lễ sĩ phu; thần dân ai cũng ngưỡng mộ. Chúa Trịnh Doanh (1740-1767) rất quý trọng ông và đem trưởng nữ là Tiên Dung Quận chúa mà gả cho. Ông thường căm nỗi nhà Lê mất quyền bính, khảng khái có chí thu lấy quyền cường. Khi làm Thế tử, Trịnh Sâm vốn ghen ghét vì ông tài giỏi. Một hôm, ông và Trịnh Sâm cùng ở trong phủ chúa. Chúa Trịnh ban ăn và bảo cùng ngồi. Song bà phi của Trịnh Doanh gạt đi mà rằng: “Đối với Thái tử, Thế tử còn có cái phận vua tôi, há nên ngồi cùng?” Rồi sai dọn riêng làm hai mâm. Trịnh Sâm sầm mặt lại, đi ra, nói với người ta rằng: “Trong hai chúng tôi, phải một sống, một thác, chứ quyết không thể cùng đứng với nhau được!”
Kịp khi nối ngôi, Sâm cùng bọn hoạn quan là Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Huy Đĩnh ngầm mưu phế Thái tử, nhưng chưa có cớ để nói. Sâm bấy giờ mới vu Thái tử tư thông với nàng hầu trong phủ Trịnh Doanh, rồi đem tội trạng ấy tâu với Lê đế, xin bắt hạ ngục.
Thái tử biết nạn đã xẩy đến, bèn vào ở tại nơi tẩm điện của vua Lê.
Huy Đĩnh xông vào nơi Đông cung trước, tìm khắp không thấy, bèn vào thẳng trong điện, kể tội trạng của Thái tử, và nói: “Nghe Thái tử ẩn ở tẩm điện của Bệ hạ, vậy xin Bệ hạ bắt giao cho thần.” Vua Lê ôm lấy Thái tử hồi lâu không nỡ rời ra. Huy Đĩnh quỳ dài ở sân rồng.
Tư liệu không thoát, Thái tử khóc lậy vua Lê, rồi rảo bước đi ra chịu trói để điệu về phủ Trịnh. Huy Đĩnh bảo Thái tử bỏ mũ đợi chịu tội. Thái tử không nghe, nói: “Phế lập, thí nghịch là việc nhà ngươi quen làm! Ta có tội gì? Đã có sử xanh nghìn thu ở đó.” Sâm giả mạo mạng lệnh vua Lê, phế Thái tử làm dân thường, giam vào ngục – Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 43, tờ 23-24.
2. Theo Đại Nam nhất thống chí.
3. Quân Tam phủ, cũng gọi là Ưu binh. Nguyên từ hồi trung hưng, nhà Lê chỉ lấy binh đinh ba phủ ở Thanh Hóa và mười hai huyện ở Nghệ An làm lính, đối đãi họ rất ưu hậu (sẽ nói kỹ ở dưới).
4. Hơn nữa. (BT)
5. Theo sự khảo cứu của Biệt Lam Trần Huy Bá thì phủ chúa Trịnh ở khoảng chỗ nền cũ đình làng Trung Phụng gần chợ Khâm Thiên (Hà Nội) bây giờ.
Toàn bộ chú thích ký hiệu BT là của người biên tập.
6. Nay là thôn An Khê (ở vùng Hòn Một, gần đèo An Khê, trên đường đi Pleiku – Kontum) thuộc huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.
7. Có thuyết cho rằng tổ tiên Nguyễn Huệ vốn họ Hồ, nên có sách chép là Hồ Phi Phúc.
8. Sau đổi là An Tây, rồi sau đổi là thôn An Khê thuộc huyện Bình Khê tỉnh Bình Định ngày nay.
9. Nay là phủ Hoài Nhân thuộc tỉnh Bình Định.
10. Nay là thôn Phú Lạc thuộc huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.
11. Nay là phủ Tuy Phước thuộc tỉnh Bình Định.
12. Không rõ họ của Hiến là gì.
13. Trích trong một bài văn ở hồi Lê Mạt.
14. Trích dịch nguyên văn chữ Hán trong Hạnh am thi tập.
15. Thúc bách. (BT)
16. Tức vùng “Trong Mán” (Man – Trung).
17. Chữ  này có 2 âm: Thung (thư dung thiết) và Đang (đô giang thiết).
18. Lê dân. (BT)
19. “Ó” nghĩa là la ó.
20. Tức là Hạ đạo ấp Tây Sơn.
21. Sau, Thung bị Nhạc giết.
22. Sau, cả hai cũng đều bị Nhạc giết chết.
23. Gióc: kết nhiều sợi nhở thành sợi to.
24. Khâm định Việt sử, quyển 44, tờ 23; Đại Nam chính biên truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 4a.
25. Hay Đàng Trong.
26. Người làng Phụng Công, huyện Yên Dũng, xứ Kinh Bắc (nay làng ấy thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh).
27. Khâm định Việt sử, quyển 44, tờ 11 b.
28. Khâm định Việt sử, quyển 44, tờ 11.
29. Khi bị bắt nộp, Loan sai con đem vô số vàng lót cho Ngũ Phúc, song vẫn không được tha. Qua mùa đông năm Bính Thân (1776), Loan phải ra Thăng Long (nay là Hà Nội), chết ở dọc đường. Truyện Trương Phúc Loan nay có chép kỹ ở Đại Nam tiền biên liệt truyện quyển VI, tờ 35, 36.
30. Đút lót. (BT)
31. Thi đỗ về hàng võ gọi là Tạo sĩ, theo chế độ võ cử thời Lê.
32. Khởi xướng một phong trào (chính trị, văn hóa). (BT)
33. Người Kinh Bắc (hay Bắc Ninh, Bắc Giang).
34. Người làng Trung Cần, huyện Thanh Chương (Nghệ An).
35. Theo Bùi Văn Lăng: “Thành Đồ Bàn”, Tri Tân số 12, trang 4 và 21.
36. Danh từ “Chính phủ” này, theo nghĩa thời đó, là “Vương phủ cầm quyền chính”.
37. Khâm định Việt sử quyển 44, tờ 28b.
38. Khi còn quận Việp Hoàng Ngũ Phúc, triều đình Nam Hà có dâng mấy bức thư, do Trương Phúc Loan chủ trương, yêu cầu quận Việp rút quân để thực hành cái ý vào cứu họ Nguyễn, đánh dẹp Tây Sơn mà Phúc đã hứa từ lúc mới cất quân vào Nam, song quận
Việp không nghe, (theo Nam Hà tiệp lục), nay làm hẳn ra mặt thôn tính chiếm giữ.
39. Theo Khâm định Việt sử thì, để kế chân Hoàng Ngũ Phúc, chúa Trịnh bổ Bùi Thế Đạt và Nguyễn Đình Đống làm Trấn thủ; Phan Lê Phiên, Uông Sĩ Điển, Nguyễn Lệnh Tân làm Tá nhị. Rồi lại bổ Lê Quý Đôn và Nguyễn Mậu Dĩnh làm Hiệp đồng để kinh lý công việc trong quân. Cứ 10 ngày lại một lần đệ trình mọi việc.
40. Lịch triều hiến chương, Bính chế chí, quyển 39.
41. Lịch triều hiến chương, Bính chế chí, quyển 39.
42. Lịch triều hiến chương, Bính chế chí, quyển 39.
43. Có tên nữa là Tố Lý, vừa là cháu, vừa là con nuôi của Hoàng Ngũ Phúc.
44. Về sau, Duy Chi bị Tây Sơn giết.
45. Tên cũ là Duy Kiêm.
46. Tức mai mối.
47. Khâm định Việt sử quyển 44, tờ 33b-34a.
48. Trong Việt sử tổng vịnh truyện Nguyễn Hữu Chỉnh chép là Tố Lý, cũng tức Đình Bảo.
49. Xuất xứ ở Việt sử tổng vịnh, mục Gian thần, truyện Nguyễn Hữu Chỉnh.
50. Nguyên từ tháng tám, năm Bính Thân (1776), Trịnh Sâm thấy Quảng Nam chưa yên mà nhân tình Thuận Hóa lại chưa thiếp phục, bèn triệu bọn Bùi Thế Đạt, Lê Quý Đôn và Phan Lê Phiên về; đồng thời lại triệt về hết cả cơ đội 13 hiệu. Rồi sai Sơn Nam trấn thủ Tạo Quận công Phạm Ngô Cầu vào thay, lĩnh chức trấn thủ Thuận Hóa, được phép tiện nghi làm việc lưu bọn Nguyễn Mậu Dĩnh, Nguyễn Lệnh Tân làm phò tá: đổi cơ đội 10 doanh vào đóng làm thủ binh. (Khâm định Việt sử, quyển 44, tờ 33a)
51. Còn có tên khác là Quyền, đỗ Tạo sĩ, người thôn Hoàng Nghĩa, huyện Hưng Nguyên, trấn Nghệ An.
52. Trong Khâm định Việt sử quyển 46, tờ 15b chép là thư phản gián của Nguyễn Hữu Chỉnh.
53. Đại Nam liệt truyện, quyển 30, tờ 18b chép rằng “nước sông bỗng dềnh lên dữ dội”, nhưng không nói rõ cái cớ tại sao. Thiết tưởng: chắc là sau mấy trận nước lũ nên nước sông mới lên to, giúp cho Tây Sơn cái dịp thuận lợi để bắn vào thành.
54. Một con tên là Đình Vị, một con không rõ tên là gì.
55. Đỗ Tạo sĩ, người làng Hà Hoàng, huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh).
56. Đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu đời Lê Cảnh Hưng, người làng Trung Cần, thuộc huyện Thanh Chương.
57. Trong Khâm định Việt sử quyển 46, tờ 16a chép Ngô Cầu mở cửa thành, xe quan tài, xuống hàng.
58. Ở địa phận xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị.
59. Thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
60. Không rõ họ Liên là gì. Khi Liên nổi lên, có lực lượng ở ngoài bể rồi, thì tên Sơn, người huyện Thần Khê thuộc trấn Sơn Nam (nay thuộc Hưng Yên) đem đồ đảng đến quy phụ. Vì thế, khí diễm của Liên càng thêm bùng bùng mạnh mẽ. Miền duyên hải phía đông nam phải rối ren, dân không được yên ổn. (Khâm định Việt sử quyển 46, tờ 14a).
61. Ở phía đông bắc, cách huyện Đăng Xương 26 dặm thuộc đạo Quảng Trị. Đến năm Minh Mạng thứ nhất (1820) đổi làm Việt An.
62. Đỗ Tạo sĩ, con Bùi Thế Đạt, người Tiên Lý, thuộc Đông Thành.
63. Mỗi hộc độ 60 lít (litres).
64. Nghĩa là: Tào Tháo, sau khi phá được Kinh Châu, thuận dòng nước, từ Giang Lăng xuôi xuống mạn đông: thuyền mành đằng giăng hàng nghìn dặm, cờ quạt che rợp một góc trời… thật là một tay hào hùng một đời vậy.
651. Nghĩa là quan liêu làm việc bên Trịnh phủ.
66. Là dòng dõi Đinh Văn Tả, Liễn Trung hầu Đinh Tích Nhưỡng, người làng Hàm Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, vốn nổi tiếng là một tướng giỏi thủy chiến.
67. Thuộc huyện Nam Xương, giáp hai huyện Tiên Lữ và Hưng Nhân ở Hưng Yên.
68. Người làng Vẽ (Đông Ngạc), huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông.
69. Hạ lưu sông Nhị Hà, thuộc địa phận xã Phù Sa, huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên.
70. Gió thổi hơn một tháng không ngừng.
71. Loại thuyền chiến cỡ nhỏ, bên trái và bên phải mở lỗ để luồn mái chèo, phía trước và phía sau đều mở lỗ bắn nỏ và đâm giáo (BT).
72. Có sách chép là Khản.
73. Chỉ biết tên được 5 người là Thụ, Bồi, Truyền, Tình, Gia còn không rõ tên là gì.
74. Tức đầm Vạn Phúc ở làng Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
75. Ở địa phận bãi Thúy Ái, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
76. Ở địa phận thôn Hậu Lâu, huyện Thọ Xương, Hà Nội. Có sách chép là Tây Long. Tục gọi là Tây Luông.
77. Thuộc địa phận làng Nam Dư, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
78. Trong truyện Phan Thị Thuấn, mục Liệt nữ ở Việt sử tổng vịnh chép là Ngô Phúc Hoàn; Trong Lê quý kỷ sự chép là Ngô Phúc Mai, người làng Trảo Nha, huyện Thạch Hà, trấn Nghệ An.
79. Có sách chép là Mai Thế Dương, người làng Thạch Giản, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa.
80. Người làng Linh Đường, huyện Thanh Trì, Hà Đông.
81. Theo Việt sử bổ di.
82. Chỉ vua Lê.
83. Chỉ Nguyễn Hữu Chỉnh, vì bấy giờ Chỉnh đương làm Hữu quân bên Tây Sơn.
84. Người làng Thanh Lệ, huyện Chân Định, (nay đổi Trực Định thuộc Thái Bình).
85. Đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất, đời Lê Cảnh Hưng, người làng Vân Canh, huyện Từ Liêm, Hà Đông.
86. Về việc này, Khâm định Việt sử, quyển 46, tờ 21 chép:
Trịnh Khải đến làng Hạ Lôi thuộc Yên Lãng thì quân gia tản hết. Thiêm sai tri lại phiên Lý Trần Quán, trước đó, vâng hịch triệu nghĩa binh, vừa chợt ở đấy; hai bên gặp nhau. Trần Quán nói lừa môn sinh là Nguyễn Trang rằng: “Đây là quan Tham tụng họ Bùi nhân lánh nạn đến đây dựa ta. Ngươi khá hộ vệ đưa người qua địa giới huyện nhà.”
87. Bên mình Trịnh Khải bấy giờ, ngoài một viên nội thị Tập Trung ra, không còn lấy một tên quân nào cả.
88. Việt sử bổ di chép tên Ba lại tranh tuần Trang, bắt chúa Trịnh đem nộp.
89. Trang là môn sinh của Quán.
90. Có sách chép, sau khi Khải chết được hai ngày, thì Lý Trần Quán chết theo.
91. Việc này, trong Lê triều dã sử nhật ký chép hơi khác: khi Quán thấy Trịnh Khải bị bắt, liền nói một câu hình như phân bua: “Tôi vốn thực lòng đến đón tiếp chúa, không ngờ hóa ra lại làm hại chúa!” Rồi Quán tự mổ bụng ngay ở trước mặt chúa Trịnh để tỏ lòng trung. Trong Việt sử bổ di cũng chép Lý Trần Quán mổ bụng mà chết.
Theo tài liệu của Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố tiên sinh đã dịch trong Nam sử tập biên quyển 16, tờ 16a -17a; đăng ở Tri Tân số 75, ngày 19 Décembre 1942, thì Lý Trần Quán là người giản dị, chất phác, tính rất hiếu… Quán bảo quán chủ rằng: “Tôi là bề tôi mà làm nhầm chúa, tội nên chết: không chết, không lấy gì tỏ được lòng này với giời đất!” Nói rồi, xin quán chủ sắm cho một cỗ áo quan và một chỗ đất chôn, ngảnh hướng nam, lạy hai lạy; xong xuôi vào nằm trong áo quan, miệng đọc rằng: “Tam niên chi hiếu dĩ hoàn, thập phần chi trung vị tận” (nghĩa là hiếu ba năm đã trọn vẹn, trung mười phần chưa làm được). Rồi bảo chủ quán rằng “phiền đem câu này dặn lại con ta, dán ở gia tư để thờ ta. Đa tạ chủ nhân. Đậy áo quan hộ ta.” Bấy giờ là ngày 29 tháng sáu, năm Bính Ngọ, 1786.
92. Việt sử bổ di chép:
Khi Trang và Ba bắt được chúa Trịnh Tông (tức Khải), lên yết Nguyễn Huệ, Huệ hỏi Ba:
– Có phải là Trịnh Tông thật không?
Ba thưa:
– Phải!
– Sao mi biết?
– Tôi từng làm gia thần.
– Là tôi mà bắt chúa thì tội đáng chết, chứ còn công gì mà thưởng?
Rồi Nguyễn Huệ sai lôi Ba ra chém. (Có sách chép Hữu quân Nguyễn Hữu Chỉnh sai chém Ba Chúc, tức tên Ba này).
Còn Nam sử tập biên chép:
Về sau, vua Lê Chiêu Thống (1787-1788) truy phong Lý Trần Quán làm Thượng thư, sai xé xác Nguyễn Trang tế ở trước mộ Trịnh Khải.
93. Theo Việt sử bổ di.
94. Trong Khâm định Việt sử quyển 46, tờ 23b-25b đại lược chép:
Khi Văn Huệ đánh được Vị Hoàng, mật đem cái ý tôn phù tâu với vua Lê; lại trước sai viên tỳ tướng đem một cánh quân đợi khi đại binh kéo đến Thăng Long thì vào hộ vệ ở cung điện nhà vua. Bấy giờ vua Lê đang se mình, các hoàng tử đang thị bịnh ở nội điện, thấy ngoài điện có lính và voi, ngờ rằng “giặc” đến bức bách, bèn nâng đỡ vua dậy, toan lánh đi, thì vừa gặp viên tỳ tướng đệ dâng tờ tấu, trong nói trước xin vấn an, rồi xin chọn ngày khác vào yết kiến. Vua Lê thấy tâu như thế, bấy giờ mới yên lòng.
95. Người làng Yên Vỹ, tổng Yên Cảnh, huyện Đông Anh, phủ Khoái Châu, Hưng Yên.
96. Người làng Đông Ngạc (Vẽ), huyện Từ Liêm, Hà Đông.
97. Có sách chép là Sĩ Lãng, người làng Võ Nghị, huyện Thanh Quan.
98. Mẹ là Nguyễn Thị Huyền, người xã Phù Ninh, tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
99. Là con Nguyễn Thế, Thời Thấu từng làm quân sư cho hai ông Hoàng Duy Chúc, Duy Mật, dấy quân ở Ninh Trấn, chống lại họ Trịnh.
100. Chúa Tiên là cái mỹ hiệu mà trong cung nhà Lê bấy giờ quen gọi Ngọc Hân.
101. Có sách chép là ngày 18.
102. Về việc này, Lê quý kỷ sự chép hơi khác: Tự tôn (Duy Kỳ) không nói trước với Nguyễn Huệ, đã vội lên ngôi ngay trước cữu vua Hiển Tông, lại tự tiện phát tang rồi mới nói cho Nguyễn Huệ biết. Huệ giận; Công chúa Ngọc Hân phải mật sai người bảo Duy Kỳ. Duy Kỳ phải tạ lỗi lại, bấy giờ Nguyễn Huệ mới thôi.
103. Trong Histoire moderne du Pays d’Annam của Charles B. Maybon cũng có nói đến việc này.
104. Lễ Ninh lăng: đưa đi an táng (BT).
105. Người làng Vân Trình, huyện Phong Điền.
106. Đại ý trong thư nói đã lấy được Phú Xuân, nay cùng Hữu tướng (Nguyễn Hữu Chỉnh) ra Bắc, xin Vua trời (Nguyên Nhạc) đem quân đi tiếp ứng.
1071. Trong sách Lê kỷ (dã sử) chép, Nhạc đi từ Phú Xuân đến sông Gianh, tới đâu lấy hết dân đinh làm lính đến đó, cộng được hơn 10 vạn lính.
108. Chùa Tiên Tích ở xóm Nam Ngư, tổng Vĩnh Xương, huyện Thọ Xương (nay ở phố Hàng Lọng, Hà Nội).
109. Có sách chép: khi Chỉnh ra đến bờ sông, không một chú lái nào chịu chở thuyền cho Chỉnh cả. Chỉnh bực mình ngâm chơi mấy câu:
Đi cùng bốn biển chín chu
Trở về xó bếp chuột chù gậm chân!
Mãi sau mới vớ được một chiếc thuyền câu, Chỉnh mới đi thoát.
110. Có sách chép là “Nguyễn”.
111. Vua Thái Đức đóng ở Quy Nhơn, coi giữ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên và Nha Trang. Đông Định vương Nguyễn Lữ quản trị Bình Thuận, Đồng Nai, Ba Lạt và Hà Tiên. Bắc Bình vương Nguyễn Huệ thống trị Quảng Nam, Phú Xuân (Huế) và khống chế cả Bắc Hà (Sử ký Đại Nam Việt do Giáo hội xuất bản tại Sài gòn, năm 1898, trang 59).
112. Đỗ Hương cống, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, Hà Đông.
113. Đỗ Hương cống, người làng Xuân Quan (nay thuộc huyện Văn Giang, Bắc Ninh).
114. Đôn đáo, lao nhanh. (BT)
115. Lại có sách chép:
Khi Duệ và Đức nghe biết, trong Nam, anh em Tây Sơn có cuộc nội biến, họ bèn viết mật thư, âm mưu với Chỉnh: cùng họp binh lại, kéo thẳng về Nam, nổi loạn. Khi thành công, sẽ cắt cho Chỉnh cái địa giới từ sông Gianh trở ra Bắc. Nhưng Chỉnh bấy giờ ngần ngừ chưa quyết, nên việc này không thành sự thực.
116. Sau đổi là Thước, người làng Yên Vĩ, huyện Đông An (Hưng Yên) đỗ Tiến sĩ, bấy giờ làm Đồng bình Chương sự.
117. Người làng Tri Chỉ, huyện Phú Xuyên, (Hà Đông), đỗ Tiến sĩ, bấy giờ làm Hộ khoa cấp sự trung.
118. Có sách viết là Lê Duy Án. Duy Hiên là con thứ 6 vua Lê Ý Tông và là ông chú (tụng tổ thúc) vua Lê Chiêu Thống, bấy giờ làm Đại tông chánh.
119. Nay là Vinh.
120. Phản thần, phản nghịch. (BT)
121. Theo Việt sử tổng vịnh, quyển 5, mục Trung nghĩa”, truyện Trần Công Thước và Đông An huyện, Yên Vĩ xã, Nhâm Thìn khoa Tiến sĩ Trần Công Sán sự trạng.
122. Hồi bấy giờ, nhà Lê ngoài Bắc coi Tây Sơn như người “nước” khác, nên tự xưng là “tệ quốc”, kêu Tây Sơn là “quý quốc”.
123. Hòa thuận với nước láng giềng.
124. Nay là ba huyện Bình Chính, Minh Chính, và Bố Trạch thuộc Quảng Bình.
125. Nay là hai huyện Minh Linh và Do Linh thuộc Quảng Trị.
126. Một ngọn núi ở Tuy Hòa, Quảng Nam.
127. Một ngọn núi ở Khánh Hòa.
128. Từ cũ, nghĩa là “mạch rừng” (BT).
129. Xưa thuộc huyện Gia Lâm, trấn Kinh Bắc.
130. Xưa thuộc huyện Gia Lâm, trấn Kinh Bắc.
131. Xưa thuộc huyện Gia Lâm, trấn Kinh Bắc.
132. Nay đổi làm làng An Xá, thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
133. Người làng Nộn Liễu, huyện Nam Đường, Nghệ An.
134. Nay thuộc huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông.
135. Nay thuộc tỉnh Thái Bình.
136. Thuộc huyện Quế Dương, Bắc Ninh.
137. Thuộc huyện Thanh Quan, Thái Bình.
138. Tức huyện Cổ Lũng, từ Lê đổi làm Hữu Lũng, đến Nguyễn vẫn nói theo; nay đổi làm châu, thuộc tỉnh Bắc Giang.
139. Quận Thạc Hoàng Phùng Cơ.
140. Đinh Tích Nhưỡng.
141. Sông này thuộc địa phận làng Trinh Sơn, huyện Mỹ Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
142. Sông Thanh Quyết thuộc địa phận làng Thanh Quyết, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
143. Không kể Hữu Du và cơ thiếp đương ở Thăng Long với Chỉnh.
144. Sông Tất Mã ở khoảng tiếp giáp ba huyện Thụy Nguyên, An Định và Vĩnh Lộc thuộc tỉnh Thanh Hóa.
145. Thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
146. Thuộc địa phận làng Gián Khẩu. Nay người ta quen kêu là bến đò Gián Khẩu (Ninh Bình).
147. Thuộc trại Nghệ, làng Đại Hữu, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
148. Một làng thuộc Gia Viễn, Ninh Bình.
149. Có lẽ là Quỳnh Ngọc Hầu.
150. Tục gọi Sơn Miêng. Nay thuộc phủ Ứng Hòa, Hà Đông.
151. Tức làng Châu Cầu thuộc huyện Kim Bảng (nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam).
152. Về trận Hữu Du thua này, Khâm định Việt sử chép hơi khác: Hữu Chỉnh “lại sai Hữu Du đem hơn 50 chiếc chiến thuyền, chở hết súng lớn, hỏa khí và các chiến cụ để cả cửa sông, đối ngang với quân địch ở bờ bên kia. Hữu Du dựa theo bờ sông mà đậu thuyền, không hề phòng bị gì cả. Ban đêm quân địch lặn nước ngầm qua sông, lấy thừng dài buộc thuyền của quân Du rồi kéo về bờ bên Nam. Người trong thuyền sợ hãi luống cuống không biết xoay xở ra sao, tranh nhau nhảy xuống nước để chạy. Chiến thuyền và đại bác của quân Bắc đều bị Tây Sơn bắt được cả. Hữu Chỉnh bàn với chư tướng lui giữ Châu Kiều. Nửa đêm nổi trống thu quân. Chư quân kinh sợ một cách vô cớ, bèn tan vỡ lung tung: tranh nhau, giầy đạp nhau chạy trốn. Khí giới và nghi trượng quăng bỏ đầy đường. Chỉnh và Du chỉ còn vài trăm quân chạy về Thăng Long.” (Quyển 47, tờ 14b 15a)
153. Tức làng Bằng thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông.
154. Còn gọi là sông Nhị Hà (BT).
155. Về việc này, Khâm định Việt sử quyển 47, tờ 15b-17a chép như vầy:
Hay tin quân Hữu Chỉnh tan vỡ, vua Lê bàn muốn chạy về phía tây: do thượng đạo đi Thanh Hoa giữ hiểm để tính cuộc hưng phục. Nửa đêm, Hữu Chỉnh về từ Thanh Quyết. Vua sai người vời gọi đến mấy lần mà Chỉnh không tới. Rồi Chỉnh mật sai Tham tri chính sự Nguyễn Khuê vào tấu xin vua chạy về phía bắc:
- Nguyễn Cảnh Thước ở Kinh Bắc là người dũng lược đáng tin cậy. Vả, nương thành kiên cố, có sông lớn cách trở để giữ vững, rồi kíp gọi quân cần vương, thì trên từ Thái Nguyên, Sơn Tây, dưới đến Hải Dương, Sơn Nam, cùng thông khí mạch ở các nơi ấy, chẳng mấy ngày có thể chiêu tập được đại binh. Rồi sau xem thời cơ mà hành động, mới mong có cơ hưng phục được.
Vua Lê ưng theo.
Tảng sáng hôm sau vua Lê sai Hoàng đệ là Duy Lưu hộ tống Hoàng thái hậu, Hoàng phi, Nguyên tử và cung tần đi trước. Khi sắp ra đi, vua Lê vào nơi tẩm miếu khóc lạy. Bấy giờ các thị vệ đều lén tản đi cả. Vua Lê vừa lo vừa sợ, không biết tính chước ra sao. Thị thần Bùi Dương Lịch rảo bước tới trước mặt vua, tâu rằng:
- Hữu Chỉnh tuy vỡ quân, thua trận, nhưng thủ hạ còn nhiều người vẫn e sợ. Xin nhà vua truyền chỉ, ngự sang nhờ Chỉnh, ép Chỉnh đi theo ngự giá. Rồi lâm thời kêu gọi, chắc không đến nỗi quạnh quẽ trơ trọi đâu.
Vua Lê cho là phải. Dương Lịch lại sai người đứng trong sân rồng, lớn tiếng tuyên chỉ. Thị vệ dần dần lại nhóm lại. Vua Lê và nội thần là bọn Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Khải đi sang nhà Hữu Chỉnh. Chỉnh vội vã khóc lạy đón ngự giá, mời ngồi nơi ghế bành đặt ở khoảng chính giữa. Nhà vua vào dụ bảo Chỉnh đi theo giá.
Hữu Chỉnh nhân sai Hữu Du đi trước hỗ tụng. Giây lát Hữu Chỉnh thu nhặt được vài nghìn quân tản mát, ủng hộ vua Lê vượt sông chạy sang Bắc…
156. Thuộc tỉnh Bắc Ninh.
157. Tục gọi là núi Tam Từng, nay thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
158. Trong Bắc Giang địa chí của Nhật Nham Trịnh Như Tấn, trang 24b-24c có chép:
… Tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Hòa đem binh lên đánh. Vua Chiêu Thống chạy về núi Bảo Lộc nương náu ở đất Lạng Giang; còn Hữu Chỉnh thua, chạy đến địa phận xã Quế Nham (nay thuộc phủ Yên Thế, tỉnh Bắc Giang) đường cùng phải trá hình chui vào cống (Cống Trụng ở xã Quế Nham), nhưng không may có người tố giác, nên bị tướng Tây Sơn bắt đem về làm tội ở Thăng Long.
Trong Lê kỷ (dã sử) chép Nhậm chém Chỉnh.
159. Tang thương ngẫu lục, quyển dưới, tờ 18.
160. Phiên bản theo âm chữ Nôm chép trong sách Lê kỷ (dã sử).
161. Về cớ anh em Tây Sơn bất hòa ấy, trong tập Trần Công Sán sự trạng (sách trường Bác Cổ, số A 2136) chép như thế này:
Sau khi ở Bắc về, Nhạc về thẳng quốc thành, Huệ đến Phú Xuân, đóng binh lại, không tiễn nữa: sửa đắp thành lũy, thân nghiêm hiệu lệnh, giữ lấy hết cả những quân khí và của báu mà khi Bắc chinh lấy được, Nhạc hằng sai sứ vời gọi, song Huệ thoái thác rằng mặt Bắc chưa yên; không chịu về chầu. Phàm những sự phong thưởng đều chuyên quyết cả chứ không bẩm mệnh với Nhạc. Nhạc sai sứ đem ấn sắc phong Huệ là Bắc Bình vương và hỏi các hóa bảo được ở phủ Trịnh. Bắc Bình vương chống mệnh, không chịu dâng, bảo sứ giả về thưa với vua anh rằng: “Tấc đất tấc vàng Bắc Hà còn nhiều, cứ ra mà lấy, còn hỏi cái gì?”
162. Lê kỷ (dã sử) chép:
Nhậm, sau khi đã dẹp yên bốn trấn ở Bắc Hà, uy quyền lớn lao lừng lẫy, có ý muốn đánh vua Thái Đức và Bắc Bình vương để phục thù nhà Lê và tôn phù chúa Nguyễn.
163. Có sách chép Bắc Bình vương đem theo những 3 vạn tinh binh.
164. Về việc này, Khâm định Việt sử quyển 47, tờ 28b-29b chép:
Trước đây, Huệ sai Văn Nhậm ra Bắc, song trong lòng vẫn ngờ lắm, nên sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm Tham tán để chia bớt quyền của Nhậm. Huệ mật bảo Văn Sở rằng: “Nhậm là con rể của Vua anh. Ta và Vua anh có hiềm khích; Nhậm tất không yên lòng. Chuyến đi này, hắn cầm nắm trọng binh để vào nước người ta, thì sự biến không thể liệu trước được. Điều ta lo lắng không ở Bắc Hà, mà chỉ ở Văn Nhậm thôi. Ngươi nên xét kỹ hắn từ chỗ kín nhiệm để mách bảo ta.

Kịp khi thừa thắng ruổi ra Bắc, vào Thăng Long, bắt được Hữu Chỉnh, Nhậm tự cho rằng oai võ đủ phục được người, lại càng không kiêng nể gì nữa. Nhậm làm nhiều việc trái phép: tự đúc ấn chương, tự ý chuyên chế.
Văn Sở vốn có hiềm khích với Nhậm, liền dâng mật thư vu Nhậm làm phản, Huệ bèn tự cầm thân binh ruổi ra Thăng Long. Nhậm ra đón Huệ vỗ về yên ủi bằng lời ôn tồn rồi sai nhường ngựa mình đang cưỡi, lọng mình đang che cho Nhậm đi vào thành.
Đến nơi, Huệ sai người trói Nhậm đem ra tra hỏi. Tuy xét không đủ chứng cớ là Nhậm phản nghịch, nhưng Huệ vẫn nói cách quyết đoán rằng: “Không cần phải nói nhiều lời! Tài ngươi trội hơn ta, thì ngươi không phải là người ta dùng được.”
Huệ bèn sai chém Nhậm. Rồi nhắc ngay Văn Sở lên làm Đại tư mã, thay coi quân sĩ và kiêm chức trấn thủ Thăng Long.
165. Có sách chép là Hô Hổ hầu.
166. Phan Huy Ích, người làng Thày, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Khi Ngô Thì Nhậm đắc dụng với Tây Sơn, thì Nhậm tiến cử Ích và các bạn khác như Trần Bá Lãm và Vũ Huy Tấn… Ban đầu Ích được dùng ngay làm Thị trung Ngự sử, sau Ích và Nhậm cùng đóng vai trọng yếu trong cuộc ngoại giao với nhà Thanh. Cái ấn “sắc mệnh chi bảo” in ở trong tập này là rập trong đạo sắc của Phan Huy Ích do vua Quang Trung phong cho ngày 18, tháng tư nhuận, năm Quang Trung thứ 5 (1792).
167. Thuộc phủ Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
168. Thuộc Bắc Ninh.
169. Ở giữa hai huyện Vũ Giang (Bắc Ninh) và Việt Yên (Bắc Giang).
170. Thuộc Hải Dương.
171. Nay thuộc huyện Nam Xương, tức Nam Xang, tỉnh Hà Nam.
172. Sước hiệu là cách gọi khác của “biệt danh”, thường do người khác đặt cho, mang ý trêu chọc (BT).
173. Về việc vua Lê bôn ba này, Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 29b-30b chép rằng: Trước đó, vua Lê đến Vị Hoàng, nương tựa vào Viết Tuyển. Đến bấy giờ tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở đem binh từ Thăng Long xuôi dòng xuống đánh. Viết Tuyển đem chu sư đón đánh ở cửa sông Hoàng Giang. Khi quân hai bên giao chiến, Văn Sở đem cha và vợ Viết Tuyển trói ở đầu thuyền đề cho Tuyển biết. Tuyển trông thấy, khóc rưng rức, không dám đánh nữa, rút quân về sông Vị Hoàng.
Vua Lê hay tin Viết Tuyển thua, vội dời thuyền lại đóng ở Quần Anh (thuộc huyện Nam Chân, tỉnh Nam Định). Tối đến Viết Tuyển cũng đem chu sư đến liền. Đêm ấy, gió to, bão lớn, trời tối mờ mịt, thuyền bè tròng trành trôi dạt, cùng nhau lạc lõng hết cả. Thuyền vua Lê trôi vào bến Thiết Giáp (thuộc huyện Nga Sơn) ở Thanh Hóa… Thuyền Tuyển cũng giạt vào cửa Cần Hải (thuộc huyện Quỳnh Lưu) ở Nghệ An.
Sau Viết Tuyển đến Thăng Long, xuống hàng Tây Sơn, bị Tây Sơn giết chết.
174. Thuộc tổng Cao Bằng, phủ Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
175. Trong An Nam nhất thống chí nói 64 người.
176. Theo tờ bẩm của Lục Hữu Nhân, Tri phủ ở phủ Thái Bình bên Tàu (Đông Hoa toàn lục, quyển 107, tờ 37b).
177. Đông Hoa toàn lục, quyển 107, tờ 38b.
178. Đông Hoa toàn lục quyển 107, tờ 39b.
179. Đông hoa Toàn lục, quyển 107, tờ 39b.
180. Theo Bắc hành lược biên của Lê Quýnh thì bọn Túc do ải Đẩu Áo chạy sang Tàu. Chiều mồng 9 tháng năm năm Mậu Thân (1788), Lê Quýnh và Hoàng Ích Hiểu cố chống giữ ở trên cái gò nhỏ trong sông Phất Mê thì quân Tây Sơn kéo đến vây mặt tây nam, mà lính giữ ải bên Thanh thì chống lại ở mặt đông bắc. Bọn Quýnh tiến thoái cùng đường, chỉ chực liều đánh mà chết. Thình lình mưa to, gió nổi, bọn Quýnh, giữa đêm mờ tối, lần theo tia sáng chớp giựt, lội sông tìm lên một con đường nhỏ, sang lọt được đất Tàu. Bấy giờ gia đinh của bọn Lê thần chỉ còn 7 mống!
181. Theo Thanh triều sử lược quyển VI, tờ 19b.
182. “Giấu ta lâng”, trong Kinh Thánh chỉ việc phụng sự không hết mình (BT).
183. Người Quảng Nam.
184. Trong bản gốc, tác giả dùng cả hai chữ Càn Long và Kiền Long, ở đây chúng tôi dùng thống nhất là Càn Long. (BT)
185. Đông Hoa toàn lục, quyển 107, tờ 38b-39a.
186. Xưa, địa bàn Tuyên Quang gồm cả đất Hà Giang, Lao Kay, Yên Bái.
187. Đông Hoa toàn lục, quyển 108, tờ 22a chép là Trương Triều Long, còn sử sách ta thường chép là Trương Sĩ Long.
188. Theo điều thứ 8 trong quân luật bát điều của Tôn Sĩ Nghị.
189. Người Yên ấp, huyện Hương Sơn.
190. Chức quan giữ tài chính, trông coi thuế má.
191. Tức là bến Đông Tân ở sông Nhĩ Hà ngày nay.
192. Tức núi Yên Ngựa ở xã Mai Sao, Chân Ôn, tỉnh Lạng Sơn.
193. Núi Tam Điệp, tức đèo Ba Dội là một dãy núi ở chỗ phân địa giới hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa (ngọn cao nhất được 118 thước tây) chạy đến Thần Phù và Điên Hô có các đèo Yên Ban, Tam Điệp, Đông Giao và Phố Cát…
194. Ở khoảng giữa hai huyện Vũ Giang (Bắc Ninh) và Việt Yên (Bắc Giang).
195. Đời Trần là huyện Long Nhãn, đến Lê mới gọi là Phượng Nhãn, nay thuộc tỉnh Bắc Giang.
196. Ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
197. Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 34a chép là Trương Sĩ Long.
198. An Nam nhất thống chí chép:
… Lân lùa quân vượt sông để khiêu chiến, tướng sĩ vốn sợ oai Lân phải liều rét lội bừa. Đến lòng sông, những người bị rét cóng không lội qua được đều chết đuối cả. Còn những quân đổ bộ được lên bờ thì lại bị lính vận tải của Thanh giết chết. Lân liệu chừng không thể đánh được, liền rút quân chạy lui. Dư đảng tan vỡ trốn vào nơi dân gian lại bị dân bắt đem nộp quân Thanh. Lân phải một người một ngựa chạy về.
Sách Lê kỷ (dã sử) chép:
Khi quân Thanh đến núi Tam Tằng, thì Nội hầu Lận (tức Lân), tướng Tây Sơn, lùa hết binh mã ở năm trấn Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ và Sơn Tây cộng được 12 vạn, đêm vượt sông Thương, đến bình minh hôm sau, giao chiến với quân Tàu ở dưới núi. Quân Thanh đứng trên cao, giương cung vặn súng bắn xuống liền liền, tên đạn rào rào như mưa trút. Lân thua lớn: quân lính chết đuối ở sông Thương kể hàng vạn người. Lân chạy về Thăng Long chỉ còn 28 quân kỵ.
199. Nay thuộc tổng Văn Quan, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
Chú Thích 2.
200. Nay là một huyện thuộc tỉnh Ninh Bình.
201. Nay là một tổng thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
202. Đàng Ngoài.
203. Nay thuộc tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, tỉnh Bắc Giang.
204. Việc này, An Nam nhất thống chí chép vào ngày 11 tháng mười một năm Mậu Thân (1788).
205. Nay là chỗ đền Tây Luông của Hoa kiều thờ Quan Công ở Hà Nội. Cổng đền có 4 chữ (Tây Long cổ miếu) mở ra phố Trippenbach, phía trước đền thì trông ra phố Hồng Phúc, ở gần bờ sông Nhĩ Hà.
206. Đại Nam chính biên liệt sơ tập quyển số 30, tờ 32 chép là ngày 21 tháng mười một năm Mậu Thân (1788).
207. Theo An Nam nhất thống chí, sách viết Bác Cổ, số A22, tờ 31b-32a.
208. Khâm định Việt sử, quyển 47 tờ 39.
209. Ngoài ra, vua Lê còn cách tuột Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích mà bắt hoàn làm dân, bãi tước Quận công của Nguyễn Hoản, giáng Phan Lệ Phiên làm Đông các Học sĩ và Mai Thế Uông xuống chức Tư huấn.
210. Khâm định Việt sử quyển 47, tờ 89.
211. Gia thăng cho bầy tôi hỗ tụng: Phan Đình Dữ lên Lại bộ Thượng thư Bình chương sự, Lê Duy Đản và Vũ Trinh lên Tham tri chính sự, Nguyễn Đình Giản lên Binh bộ Thượng thư tri Khu mật viện sự, Nguyễn Duy Hiệp và Chu Doãn Lệ lên Đồng tri Khu mật viện sự, Trần Danh Án lên Phó đô Ngự sử, Lê Quýnh lên Trung quân Đô đốc Trường Phát hầu…
212. Cháu gọi vua Quang Trung bằng cậu.
213. Có sách chép là Hám Hổ hầu.
214. Đây theo Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30, tờ 32b. Có chỗ chép vua Quang Trung khi ra đến Nghệ An, Thanh Hoa, tuyển thêm được 8 vạn quân, rồi duyệt binh ở Thọ Hạc thuộc huyện Đông Sơn (Thanh Hoa) – Trận Đống Đa của Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Tri Tân, xuân Nhâm Ngọ (1942), Số 34.
Còn An Nam nhất thống chí thì chép: khi tuyển lính ở Nghệ được “thắng binh” hơn 11.000 người.
215. Xem chú thích trang 255 cúa tác giả. (BT)
216. Theo Lê triều dã sử quyển dưới.
217. Quay về phía nào đó.
218. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Càn Long nhà Thanh trong Tây Sơn bang giao tập.
219. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Càn Long nhà Thanh trong Tây Sơn bang giao tập.
220. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Càn Long nhà Thanh trong Tây Sơn bang giao tập.
221. Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 37b.
222. Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 40b.
223. Nay thuộc tỉnh Hà Nam.
224. Nay là làng Nhật Tựu, tổng Nhật Tựu, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
225. Thuộc tỉnh Hà Đông.
226. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Thanh.
227. Người tỉnh Nghệ An, đỗ Hương cống hồi cuối Lê. Tôi sẽ nói kỹ về Nguyễn Thiệp ở sau.
Nhiều sách thường chép là Nguyễn Thiếp. Đây viết Nguyễn Thiệp là theo trong bản chỉ truyền của Bắc Bình vương gửi cho Nguyễn Thiệp ngày mồng 1 tháng sáu năm Thái Đức XI (1788). (Trần Liệt phẩm của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn bày tại khu lịch sử ở hội chợ Hanoi Décembre 1941-janvier 1942).
228. Một đạo của Lê Duy Cận, một đạo của quần thần và một đạo của nhân dân.
229. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Thanh Càn Long.
230. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Thanh Càn Long.
231. Theo bức thư vua Quang Trung gửi cho vua Thanh Càn Long.
232. Theo bức thư vua Quang Trung gửi cho Thang Hùng Nghiệp, Quảng Tây phân tuần Tả giang binh bị đạo.
233. Tên gọi khác của sông Nhị Hà. (BT)
234. Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 40b-41a.
235. Hô Hổ hầu, làm đến Đô đốc. Sau này, Hầu có đóng vai trung gian đưa thư của vua Quang Trung cho Thang Hùng Nghiệp nhà Thanh, rồi lại nhận thư của Nghiệp về việc bang giao mà chuyển đạt ý Nghiệp lên vua Quang Trung. Bức thư của Nghiệp đề ngày 18 tháng giêng năm Càn Long 54 (1789) chính là gửi cho Hô Hổ hầu này. Tiếc rằng không rõ tên họ hầu là gì.
236. Nay thuộc tỉnh Bắc Giang.
237. Nay thuộc tỉnh Bắc Giang.
238. Trong Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 33b chép “Đô đốc Mưu”. Đây theo bản An Nam nhất thống chí.
239. Tức là đồn quân Sầm Nghi Đống. Đồn Điền Châu (Tầu) tri phủ đóng ở trong khu chùa Bộc bên Đống Đa (Đống Đa ở phía đông bắc cách chùa Bộc độ vài trăm thước, thẳng trước mặt chùa Đồng Quang trông ra và ở ngay đằng sau cái Khâm tứ nghĩa địa bên con đường Hà Nội đi Hà Đông, thuộc địa phận làng Khương Thượng, Hà Đông).
240. Tục gọi là làng Vồi, thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông.
241. Thuộc tổng Cổ Điển, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
242. Theo Đào khê nhàn thoại do ông Bất Ác thuật trong số Xuân Trung Bắc, năm Kỷ Mão (1989).
243. Nhất thuyết nói Đống Đa ở ngay chỗ dựng đền Trung Liệt. Nhưng theo sự khảo cứu của tác giả thì Đống Đa ở ngay bên cạnh chùa Bộc, về phía đông bắc, như trên đã chua. Cố lão ở vùng ấy nói rằng bên Đống, trước có cây Đa nên mới gọi là Đống Đa; cách nay (1943) vài mươi năm, cây ấy đã bị đẵn bỏ. Hiện ở trong đất Đống Đa vẫn còn nhiều xương người.
244. Cứ theo tài liệu trong Đào khê nhàn thoại mà ông bạn Sở Bảo thuật cho tôi nghe thì, khi vua Quang Trung trảy quân đến làng Ngọc Hồi, dân làng này có làm cỗ bàn bánh trái đem ra khao lạo quân Quang Trung, và để tỏ ý hoan nghênh, họ có viết bốn chữ ở chỗ thết đãi ấy: “Hậu lai kỳ tổ”, nghĩa là một khi vua đến thì dân được sống lại.
Vua Quang Trung, trước lòng cung thuận và nhiệt thành ấy của dân làng Ngọc Hồi hết sức vỗ về và úy lạo, nhưng không muốn làm phiền nhiễu dân, nên ngài chỉ chọn lấy một thứ bánh có cái đặc tính của cái Tết Bắc Hà là thứ bánh chưng mà thôi.
Rồi ngài có ban cho làng Ngọc Hồi bốn chữ “Hiếu nghĩa khả gia” (đáng khen tấm lòng chuộng nghĩa) để khuyến khích thưởng tưởng họ.
245. Trong Lê kỷ (dã sử) chép:
Nội hầu Lận (tức Lân) lùa voi ra trận, voi bị tên bắn (của giặc Thanh) cắm vào đầu tua tủa như lông rím, Đại tư mã Sở bèn bầy kế: truyền lệnh cho các đội, mỗi đội làm một cái mòng xung, bề ngoài thì tròn và bịt kín, trong đựng cỏ rơm cao 5 thước, dài 15 thước, hễ ra trận thì mang theo đi che ở đằng trước để chống tên đạn. Đó có lẽ tức là đội quân vác ván gỗ bọc rơm này mà mỗi chỗ chép một khác chăng.
246. Khâm định Việt sử, quyển 47 tờ 41b.
247. Sử ta chép là “Đề đốc”, còn Tàu thì kêu là “Đề trấn”.
248. Trong bức thư ngày tháng năm, năm Càn Long 54 (1789) vua Thanh có nói đến cái chết của “Đề trấn”, tức là chỉ về Hứa Thế Hanh.
Về việc đề trấn Hứa Thế Hanh chết trận này, nhà Thanh lôi thôi mãi với Tây Sơn. Trong bức thư của vua Càn Long trên đây có yêu cầu rằng: “… Còn bọn Đề trấn chết, dẫu vì đi trận mà nên nỗi chứ không phải do vô tâm lỡ lầm làm hại. Song xét kỹ: sở dĩ xảy ra như thế, là vì nhà ngươi (!!!) (chỉ vua Quang Trung) gây chuyện với họ Lê. Vậy cũng nên lập giùm cái đền ở An Nam để xuân thu cúng tế cho…” Nhà Thanh lại yêu cầu vua Quang Trung phải trị tội hai người đã giết chết Hứa Thế Hanh. Sau, Tây Sơn muốn cho êm chuyện cũng đem luật pháp mà xử hai người ấy. (Không rõ ai: Nhưng có lẽ người ta đem xử hai tên tù phạm tội chết nào đó rồi nói là đã “chánh pháp” hai người giết Hanh: ai biết đâu và ai còn dám hạch hỏi nữa?)
249. Trong Lê kỷ (dã sử) chép:
Thái thú Điền Châu nhà Thanh đóng đồn ở Đống Đa, cố giữ không chịu hàng: suốt từ đêm trước đến sáng sau, thuốc đạn hết nhẵn, viên ấy mới tự tử. Tây Lệnh công (tức vua Quang Trung) sai làm lễ chôn cất cho, không giết một người nào cả.
250. Nay thuộc tổng Vĩnh Ninh, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
251. Nay thuộc tổng Cổ Điển, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
252. Sách Lê kỷ (dã sử) chép: giờ Thân (khoảng 4, 5 giờ chiều) đại đội binh sĩ và 80 thớt voi kéo vào Thăng Long.
253. Lê kỷ (dã sử) chép: ông hoàng Ba (em vua Lê Chiêu Thống) đánh gãy cầu phao: quan quân Nam Bắc chết đuối vô số!
254. Xưa, địa bàn Sơn Tây gồm cả đất Phú Thọ và Vĩnh Yên.
255. Có chỗ chép rằng: Khi quân Tây Sơn ăn tết, họ rất bất mãn về bữa tiệc khao quân ấy xoàng, nên có câu này luân truyền khắp miệng quân nhân: “Một là thết, hai là đừng chi hết, các quân lính phải sạch lòng cùng ta!” Vua Quang Trung nghe được câu họ mát mẻ đó, liền sai giết thật nhiều trâu bò để thiết đãi họ.
Nhưng, lấy lý mà xét: chuyện này không chắc đã có. Vì vua Quang Trung là người rất khéo ăn ở với quân sĩ, nên bộ hạ đều hướng lòng về với ngài (Bộ khúc giai chúc tâm yên. Coi Đại Nam chính biên liệt truyện quyển 30 tờ 17b). Và sau khi quét sạch được giặc Thanh, giang sơn Bắc Hà thuộc dưới quyền chi phối của ngài, thiếu gì sơn hào hải vị mà ngài không cho làm được bữa tiệc rất linh đình để thết hạng người bấy lâu vẫn cùng mình chia cay, sẻ đắng?
256. Trong cuộc Việt Thanh chiến tranh này, ai được ai thua sử thực sờ sờ là thế. Vậy mà trong sách Vạn quốc sử ký quyển IV, trang 8 tác giả là Cường Bản Giám Phụ chép rằng: “Năm 1789, người Thanh đem quân sang đánh Nguyễn Huệ, Huệ thua chạy… đổi tên là Quang Bình, tạ tội với nhà Thanh, xin hàng…” Thế là không đúng sự thực. Những sử liệu chúng tôi chép đây mong rằng sẽ cải chính được trang sách sai lầm ấy.
257. Theo bức thư vua Quang Trung gửi cho vua Thanh.
258. Theo bức thư vua Quang Trung gửi cho vua Thanh.
259. Trong An Nam nhất thống chí chép:
Trong khoảng một tuần bắt được quân Thanh còn sót lại có đến một vài nghìn người. Nhưng theo bức thư vua Quang Trung gửi cho vua Càn Long và bức thư ngài gửi cho Thang Hùng Nghiệp thì chỉ có hơn 800 người thôi.
260. Tỉnh Phúc Kiến
261. Quảng Đông, Quảng Tây.
262. Thuận Hóa.
263. Quảng Ngãi.
264. Quảng Nam.
265. Nghệ An.
266. Thanh Hóa.
267. Trong Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 42 chép là Lê Quý Thích.
268. Thuộc châu Hữu Lũng, tỉnh Bắc Giang.
269. Một tên khác của vua Quang Trung.
270. Thuộc tỉnh Quảng Tây bên Tàu.
271. Tỉnh trị Quảng Tây.
272. Trích bài Bắc sở tự tình phú của Lê Quýnh.
273.Trích bài Bắc sở tự tình phú của Lê Quýnh.
274. Tự Giao Lâm, họ Phú Xát, người Mãn Thanh (Theo Thanh triều sử lược của Tá Đằng Sở Tài, quyển 7, tờ 28).
275. Nghe phong thanh. (BT)
276. Bức thư của Nghiệp này và bức thư của vua Quang Trung, dưới đây đều là những bản sao lục, viết tay, chép trong Tây Sơn bang giao tập (sách trường Bác Cổ) chữ tháu tít, có nhiều chữ rất khó xem. Tôi phải lựa ý mà dịch. Trong có ít chữ lặt vặt chắc cũng xê xếch đôi chút, nhưng tinh thần và nguyên ý thì quyết đúng không sai.
277. Nguyên văn bằng chữ Hán do Phan Huy Ích làm, đại thể thì giống bài Kỷ Dậu xuân thông khoản biểu chép trong Giụ am văn tập, đệ nhất sách (sách viết trường Bác Cổ số A, 604) tờ 23a-25a, nhưng bản chép trong Giụ am văn tập chừng là bản sau sửa lại cho khỏi có giọng khiêu khích – Bản dịch đây tham bác cả sách trên và Tây Sơn bang giao tập, cùng Đại Nam chính biên liệt truyện.
278. Đây theo Tây Sơn bang giao tập. Còn theo Giụ am văn tập (tờ 25a) thì chuyến đem đồ cống và đệ bức biểu văn này sang Tàu có hai vị sứ giả là Nguyễn Hữu Chù và Vũ Huy Phác.
279. Vua Lê Hiển Tông (1740-1786) mất ngày 17 tháng bảy năm Bính Ngọ (1786).
280. Bọn lính tuần dương này là người của nhà Thanh. Chẳng hay khi vua Quang Trung đã tha, giao trả Tôn Sĩ Nghị rồi, tại sao Nghị lại giết chết đi thế? Có lẽ vì Nghị muốn gây sự với Đại Việt nên mới làm việc khiêu khích ấy để gieo ác cảm giữa vua Càn Long và vua Quang Trung chăng?
281. Nguyên văn là “viên mục”.
282. Chuyến cống này có các đồ phương vật và 10 dật vàng, 20 dật bạc (mỗi dật ăn 24 lạng).
283. Sau khi giảng hòa với nhau, anh em Tây Sơn lấy Bản Tân (ở chỗ giáp giới huyện Bình Sơn thuộc Quảng Ngãi và huyện Hà Đông thuộc Quảng Nam) làm địa giới. Quảng Ngãi trở vào Nam thuộc phần quản trị của vua Thái Đức. Thăng, Điện trở ra Bắc thuộc dưới quyền chi phối của vua Quang Trung. Nhưng Nhạc về tuổi già, kém chí tiến thủ. Từ năm Mậu Thân (1788) đến năm Nhâm Tý (1792), Nhạc chỉ bo bo giữ được Quy Nhơn, Quảng Ngãi và Phú Yên thôi. Vì thế, thế lực chúa Nguyễn Ánh mới dần dần phát triển ở Nam được.
284. Người Mãn Châu thuộc doanh Hoàng kỳ, do chân ấm sinh vào làm quan trong các.
285. Theo bức thư ngày tháng năm năm Càn Long 54 (1789) của vua Thanh.
286. Theo bức thư ngày tháng năm năm Càn Long 54 (1789) của vua Thanh.
287. Sẽ nói kỹ ở phần cuối.
288. Theo Đông hoa toàn lục, quyển 111, tờ 2.
289. Theo Đại Thanh thực lục, quyển 1348, tờ 14.
290. Chỉ việc sắp sang triều cận vua Thanh.
291. Chỉ việc mua sâm để tẩm bổ cho mẹ già.
292. Chỉ vua Quang Trung.
293. Đại Thanh thực lục, quyển 1348, tờ 5.
294. Đại Thanh thực lục, quyển 1348, tờ 14.
295. Chuyến Quang Hiển đi Tàu trước cũng có Ngô Văn Sở cùng với Nguyễn Văn Danh và các vệ sĩ đi theo. Khi vua Thanh hay tin Sở cũng muốn tiến kinh với Hiển, thì truyền bảo Sở nên quay về vì nghĩ rằng bây giờ nước Nam vừa mới tân tạo mà Sở thì là một bề tôi đắc lực, nên cần để Sở lo việc trấn thủ trong nước. Đó là vua Thanh tỏ ý thể tất và săn sóc đến việc nước cho Tây Sơn.
296. Trong An Nam nhất thống chí chép khác: cử Nguyễn Quang Thực người làng Mạc Điền, huyện Nam Đường (Nghệ An) dung mạo đoan chỉnh, giả làm quốc vương. Đây theo Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 39a.
297. Dịch theo Đông hoa toàn lục, quyển 111, tờ 2.
298. Đại Thanh thực lục, quyển 1347, tờ 10.
299. Nguyên văn chữ Hán có chép trong Giụ am ngâm tập. Mười bài này thuộc về lối văn “ngoại giao” cố nhiên toàn một giọng tán dương chúc tụng cả.
300. Tình sa kỷ hành thi tập, bản viết, sách trường Bác Cổ số A. 603, tờ 46a-49a.
301. Lời dẫn ở bài “Canh Tuất niên tiến cận, tấu đạt Thiên triều biểu” trong Giụ am văn tập, (sách viết trường Bác Cổ A 604) quyển 1 tờ 30 b-31 a nói là ngày 29 tháng giêng.
302. Sách dẫn trên tờ 11a.
303. Nguyên văn cả bài chế này có in trong sách Đại Thanh thực lục, quyển 1358, tờ 13, 14. Đái ý nói: Quang Toản là người tư chất thuần túy, ôn hòa, anh hoa, khôi vĩ và kỳ đặc. Nghe tiếng hạc con họa lại, biết ngay Quang Toản là hạng con quý báu như chi lan ngọc thụ. Giống như Lý Ngư ngày xưa được hưởng thụ giáo dục thi lễ nên sớm thấy cành tốt, giò tươi. Quẻ Chấn ví như con cả, được cha mẹ lo liệu chu đáo, có phương pháp. Làm chư hầu, giữ nước được yên ổn, có vẻ tiến tới như tượng quẻ Tấn, Quang Toản biết nối chí giữ nghiệp nhà.
Và:
Trong lòng đừng trễ nải: phải nghĩ hiếu với nhà và trung với nước. Nên sửa mình, giữ bổn phận cho khỏi mắc lỗi, học đạo làm con, làm tôi.
304. Túi lá sen của vua dùng. (BT)
305. Đông hoa toàn lục, quyển 111, tờ 3.
306. Chỗ để ngủ đỗ.
307. Chỗ để nghỉ chân, ăn, uống ở dọc Đường Trong khi lữ hành.
308. Nguyên văn chữ Hán:
三番耆定匪佳兵 Tam phiên kỳ định phỉ giai binh,
歲安南重有征 Tạc tuế An Nam trọng hữu chinh;
無柰復黎黎厭德 Vô nại phục Lê, Lê yếm đức,
翻教封阮阮輸城 Phiên giáo phong Nguyễn, Nguyễn thâu thành
守封疆勿滋他族 Thủ phong cương, vật tư tha tộc,
傅子孫恆奉大清 Truyền tử tôn, hằng phụng Đại Thanh,
幸沐天恩欽乆道 Hạnh mộc thiên ân khâm cửu đạo,
不遑日鍳凜持盈 Bất hoàng nhật giám lẫm trì doanh.
Bài thơ này có chép trong Hoa trình tùy bộ tập của Vũ Huy Tấn.
309. Tiểu nhã trong Kinh thi có thiên Hoàng hoàng giả hoa, là thơ vua tiễn sứ thần bằng lễ nhạc. Ý nói xa xôi mà có quang hoa. Nhân thế, đời dùng thơ Hoàng Hoa làm lời xưng tụng sứ thần.
310. Tinh sa kỷ hành, tờ 27a-28a.
311. Chỉ bóng về hàng bực quan liêu.
312. Minh Đường là nhà tỏ chính lệnh và giáo hóa. Xưa thiên tử dùng nhà Minh Đường để thờ Thượng đế, tế tiên tổ, triều chư hầu, nuôi kẻ già tôn người hiền, phàm những sự gì thuộc điển lệ lớn đều làm ở đấy cả.
313. Thiều hộ tên thứ nhạc do vua Thang nhà Ân làm ra. Cũng gọi là nhạc “Đại hộ”. “Thiều”, ý nói vua Thang có thể nối noi vua Đại Vũ. “Hộ”, có ý là phòng giữ che chở cho nhân dân.
314. Phan Huy Ích.
315. Vũ Huy Tấn.
316. Quan trong nội các.
317. Thành khẩn, kính nghĩa.
318. Cũng như nói “khuê chương”, chỉ về văn chương của nhà vua.
319. Tên thứ nhạc do vua Ngu Thuấn chế ra.
320. Đông Hoa toàn lục, quyển 112, tờ 19.
321. Đông Hoa toàn lục, quyển 112, tờ 33a.
322. Triều củng sao bắc thần, thật lòng theo về với.
323. Sang chúc phúc, tỏ ý hết lòng tôn thân, ghi tạc vào lòng son lâu dài không bỏ.
324. Thân đi triều cận, được ban ân sủng, xét suốt sử xanh trước giờ, chưa hề thấy có sự ưu đãi như thế.
325. Nước phiên ngoài biển vào chúc phúc, gặp lúc ta đương đi tuần thú phải thì. Mới gặp nhau lần đầu mà thân mật y như quen biết đã lâu. Từ xưa chưa nghe nói chính vua nước Nam thân đến triều cận bao giờ. Nhà Thanh cho việc triều trước đã bị diệt đòi cống người vàng là đáng bỉ. Đạo vỗ về người xa (như viễn nhân) làm việc quốc gia thiên hạ. Nhà Thanh rất kính trọng sự thông sứ. Gặp vận hội gia hanh như ngày nay, nước Nam nên cố gắng thể theo lòng nhân của ta. Thuận theo đạo trời, ta xếp việc võ, sửa việc văn. Tộ vận nhà Đại Thanh được lâu dài hàng muôn nghìn xuân.
326. Lên nơi quan tái sang triều cận gặp lúc nhà vua ngự xe ngọc lộ đi tuần thú. Tấc lòng tôn thân của chúng tôi thành thật như cây quỳ hướng về phía mặt trời. Bể Quế (chỉ bóng nước Nam) được lặng sóng (nghĩa là thái bình), chúng tôi giữ theo cái pháp độ làm một nước chư hầu. Chúng tôi được thấy thánh nhân, khi đến chỗ thềm mọc cỏ minh giáp (thứ cỏ báo điềm lành) dưới bóng mặt trời ấm áp. Muôn dặm trèo non vượt biển để quy phụ nhà vua. Mưa móc xuống từ chín từng trời cây cỏ được tăm gội trong bầu “nhất thị đồng nhân” (lòng nhân coi muôn vật đều đáng thương cả). Ngửa thấy nhà vua thể theo tượng Kiền (Trời), vận hành không nghỉ, ngài tất hưởng thọ vô cùng. Khắp dưới gầm trời, suốt đến bãi biển, đâu đâu cũng được hả hê trong bóng xuân của đời Đế.
327. In mộc bản năm Canh Thân (1800) đời Cảnh Thịnh (1793-1800). Bảo Chân quán tàng bản.
328. Tinh Sà Kỷ Hành, tờ 39.
329. Theo Đông Hoa toàn lục, quyển 112, tờ 19.
330. Theo Đông Hoa toàn lục, quyển 113, tờ 15.
331. Sửa việc hòa hiếu. (BT)
332. Hai cháu của vua Xiêm.
333. Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30 tờ 11b dịch ra tên chữ nho là “Xuy Miệt”.
334. Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30 tờ 11b dịch ra tên chữ nho là “Sầm Giang”.
335. Tháng tư, năm Ất Tỵ (1785) chúa Nguyễn Ánh sang thành Vọng Các Xiêm. Vua Xiêm hỏi cớ tướng Xiêm bị thua. Chúa Nguyễn kể rõ sự trạng Tăng, Sương tàn bạo, làm dân ta oán, cho nên mới phải đại bại. Vua Xiêm nổi giận, toan chém Tăng Sương; nhưng nhờ có Nguyễn vương can ngăn, nên bọn ấy được tha.
336. 暹人自甲辰敗衂之後口雖大言而心憚西山如虎.
Tiêm nhân tự giáp thìn bại nục chi hậu, khẩu tuy đại ngôn, nhi tâm đạn Tây Sơn như hổ. (Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 32, tờ 6a).
337. Đông Hoa toàn lục, quyển 111, tờ 4b-5b.
338. Chỉ nước Miến Điện (Myanmar). Chúng tôi giữ nguyên bản gốc. (BT)
339. Đặt quan hệ ngoại giao hữu nghị giữa các nước. (BT)
340. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, (sách in của trường Bác Cổ, số A, 2771) quyển 33, tờ 27a-28b và An Nam nhất thống chí.
341. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, (sách in của trường Bác Cổ, số A.2771) quyển 33, tờ 27a–28b và An Nam nhất thống chí.
342. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 33, tờ 2a.
343. Có tài liệu chép là Duy Chỉ. (BT)
344. Theo bức thư “Thanh báo bộ tiễu Duy Chi sự thể” trong Bang giao hảo thoại (Ngô Gia Văn Phái).
345. Có sách chép là họ Nguyễn.
346. Sách Lê kỷ (dã sử) chép việc đi đánh Bảo Lạc này do Khang công Quang Thùy (con thứ 2 vua Quang Trung) sai Điều Bát Lợi đem 6 vạn tinh binh theo tay chỉ điểm của quận Diễn đi đánh hoàng Ba. Sau khi thành công, Điều Bát Lợi đang uống rượu ăn mừng, bỗng sai tru di cả họ quận Diễn: chém hết 113 người kể cả trai, gái lớn bé già trẻ.
Sau, Điều Bát Lợi được thăng làm Đại tuần kiểm.
347. Dìm xuống sông.
348. Tức là sông Luống.
349. Người làng Mộ Trạch (Trầm), tổng Tuyển Cử, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, Huy Tấn có tập thơ nhan đề là Hoa trình tùy bộ thi tập.
350. Trương Quán khi còn nhỏ làm bài thơ vịnh hòn núi voi, có câu:
Trời sinh ra đó, không ai quản,
Đất mọc lên đây, có đá rèo.
351. Nguyễn Thiệp đỗ hương cống và ngồi tri huyện Thanh Chương hồi cuối Lê. Sau khi Lê mất Thiệp về ẩn ở núi Nam Hoa bên lục niên thành, huyện La Sơn (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh). Sau vua Cảnh Thịnh (1793-1802) lại sai trấn quan mang sính lễ đến cố đón Thiệp ra. Thiệp không nhận những đồ tệ sính nhưng cũng theo sứ giả đi vào chầu. Khi Thiệp đến nơi, vừa gặp có quốc tang Thái Tổ Võ Hoàng đế miếu hiệu vua Quang Trung. Thiệp suýt bị chém đầu vì cớ không thay y phục mà cứ vào triều. May vua Cảnh Thịnh gạt đi, không cho chém, nên Thiệp mới thoát, Vua Cảnh Thịnh hỏi ông về việc nước, ông nói: đại thế đã hỏng mất rồi, không thể gỡ được nữa! Rồi ông từ về nhưng không được; nên phải lưu lại ở Phú Xuân. Tác phẩm ông có La Sơn tiên sinh thi tập, Hạnh Am ký, và các thư biểu dâng vua Quang Trung. Ông tên tự là Khải Chuyên tên hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu là Hạnh am, thường được người đời kêu là Lục Niên tiên sinh hoặc La Sơn phu tử (Đại Nam nhất thống chí. Nghệ An tỉnh, mục nhân vật, tờ 59).
352. Giụ am ngâm lục (sách viết trường Bác cổ số A 603), quyển 3, tờ 6.
353. Nouvelles lettres édifiantes tập thứ 6, trang XV-XVI.
354. Theo Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Tao đàn số 1, ngày 1er Mars 1989, trang 21.
355. Trong Nouvelles lettres édifiantes, tập thứ 6, trang XI–XII chép Lang Bac xứ.
356. Theo bài Ban bố Bắc Thành các điều chép trong Giụ am văn tập, (sách viết trường Bác Cổ, số A 604), quyển 5, tờ 9b–10a, thì “Bắc thành dưới triều Tây Sơn gồm có 7 nội trấn và 6 ngoại trấn.
Bảy nội trấn là: Thanh Hoa ngoại, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương và Phụng Thiên.
Sáu ngoại trấn là: Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên và Yên Quảng.”
357. Nouvelles lettres édifiantes, tập thứ 6, trang XV-XVI.
358. Nouvelles lettres édifiantes, tập thứ 6, trang XV-XVI.
359. Nouvelles lettres édifiantes, tập thứ 6, trang XV-XVI.
360. Nouvelles lettres édifiantes, tập thứ 6, trang XV-XVI.
361. Theo tờ chiếu của Bắc Bình vương gửi cho Nguyễn Thiệp ngày mồng 1 tháng sáu năm Thái Đức thứ 11 (1788).
362. Theo bức thư “Trình Phúc đại nhân” trong Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm.
363. Theo bài “Ban bố Bắc thành các điều” trong Giụ am văn tập quyển thứ 5, tờ 9b-10a.
364. Mỗi bát độ nửa litre.
365. Theo Lê kỷ (dã sử).
366. Bài chiếu này có chép trong tập Hàn các anh hoa của Ngô Thì Nhậm.
367. Tam quán sinh đồ.
368. Trần liệt phẩm (collection) của ông Hoàng Xuân Hãn bày ở khu lịch sử trong hội chợ Hanoi năm 1941-1942. Nguyên văn có nhiều câu xen lẫn chữ Hán tưởng nên diễn nghĩa cho rõ ý như sau này:
Chiếu truyền cho thày La Sơn Nguyễn Thiệp kính cẩn biết rằng:
Ngày trước phó thác thày về Nghệ An xem đất kinh đô để cho ta kịp lúc này về ngự, sao khi ta về tới đó, chưa thấy thày làm xong việc ấy nhỉ? Vậy nên ta hẵng phải trảy về kinh Phú Xuân (Huế) để ngự và cho quân lính nghỉ ngơi.
Vậy nay thấy chiếu này ban xuống, thầy sớm nên cùng trấn thủ Thận công sự: lo liệu công việc kinh doanh. Nên xem đất mà sửa dựng kinh đô, cắm chỗ chính địa phỏng vào khoảng dân gian ở, sau phía hành cung Phù Thạch gần về mạn núi, hoặc giả chỗ nào là nơi đất tốt có thể đóng đô được thì tùy như con mắt đạo pháp của thày định liệu, miễn là sơm sớm làm cho chóng xong. Rồi giao cho trấn thủ Thận sớm lập cung điện, hạn nội ba tháng thì hoàn thành để ta được tiện về ngự. Thày chớ nên coi thường việc ấy. Kính thày lời đặc chiếu này!
Ngày mồng 1 tháng sáu năm Thái đức thứ 11 (1788).
369. Giụ am văn tập quyển 5, tờ 13a-14b.
370. Giụ am văn tập quyển 5, tờ 5b-7b.
371. Giụ am văn tập quyển 7, tờ 10b-11a.
372. Quân đức: Vua nên theo cái đạo Thánh Hiền mà trị nước. Dân tâm: Vua nên làm yên lòng dân bằng nhân chính. Học pháp: Vua nên mở học hiệu để giữ gìn nhân tâm thế đạo bằng tam cương ngũ thường.
373. Nouvelles lettres édifiantes, trang 214.
374. Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim, nhà in Vĩnh và Thành, Hà Nội, in lần thứ 2, năm 1928) quyển hạ, trang 124.
375. Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim, nhà in Vĩnh và Thành, Hà Nội, in lần thứ 2, năm 1928) quyển hạ trang 124.
376. Năm Mậu Thân, niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy thứ 3 (1188), vua Lý Cao Tông đi thăm các núi sông, hễ thặng dư đi đến đâu thì ban phong hiệu cho thần kỳ và sai lập miếu thờ cúng đến đó – Khâm định Việt sử quyển 5 tờ 23b.
377. Tức là thiên thần, địa thần và nhân thần.
378. Đạo sắc này có trưng bày trong khu lịch sử ở Hội chợ Hà Nội năm 1941-1942.
379. Đến năm Cảnh Thịnh thứ nhất (1793), Nguyễn Quang Toản bãi bỏ tín bài.
380. Trong tờ bẩm về việc “biện đại nạp kim nhân” ở tập Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm có nói: Xét ra lệ ấy bắt đầu từ năm người Nguyên đánh nhà Trần. Nước Tàu thấy vua Trần kiếm cớ bị bệnh từ chối không chịu vào triều cận, bèn bảo phải đúc người vàng làm hình dáng quốc vương để thay vào chầu, nhưng vua Trần cãi rằng việc ấy không phải là lệ từ xưa, nên được miễn.
381. Có âm nữa là Thụ người Thanh Hoa.
382. Khâm định việt sử, quyển 18, tờ 34.
383. Người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, Hải Dương.
384. Nguyên văn bài biểu bằng chữ hán, có chép ở mục Sách phong chi lễ trong loại Bang giao chí sách Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú; Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 14 tờ 22b-24a có dẫn đại lược, tôi đã dịch đăng ở Tri Tân tạp chí, số 103, ngày 15 Juillet 1943, trang 57.
385. Theo lịch triều hiến chương, loại Bang giao chí, phần Cống sính chi lễ.
386. Nhờ sức họ Trịnh, vua Lê đuổi được nhà Mạc, lấy lại được Thăng Long từ năm Quang Hưng 16 (1593).
387. Tự Hoằng Phu hiệu Nghị Trai, người làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây.
388. Trong sử sách chữ Hán của ta xưa vẫn quen gọi đời Lê phục quốc là Tiền Lê (1428-1526), đời Lê trung hưng là Hậu Lê (1533-1787).
389. Chữ “Công” ngày xưa là tiếng tôn xưng. Chẳng hạn, khi chép về Nguyễn Hãng, các cụ xưa thường viết là Nguyễn Công Hãng thì tức như bây giờ viết là ông Nguyễn Hãng. Vậy thiết tưởng nhiều chữ “Công” trong tên người xưa phần đông không phải là chữ đệm.
390. Trong lệ cống, có món nước ở giếng Cổ Loa để rửa hạt châu. Chuyến ông Nguyễn Hãng đi sứ (1718) này cũng phải đem cống cả nước rửa hạt châu ấy, nhưng dọc đường, đánh đổ mất cả, ông bèn múc nước giếng Ba Sơn để đem đi. Khi người Thanh thử dùng, thấy không nghiệm nữa họ có vặn hỏi ông. Ông trả lời: “Cái khí đã đến lâu ngày thì tất biến đi!” Vì vậy, lệ cống “nước rửa châu” này cũng nhờ ông mà được thôi.
391. Tham khảo chuyết tác: Vấn đề cống người vàng đăng ở Tri Tân tạp chí những số 101, 103, 104.
392. Nguyên gốc được đọc từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, ở đây đã đổi lại theo cách đọc thông thường để tương ứng với phần dịch âm Hán Việt. (BT)
393. Nguyên văn có chép trong tập Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm.
394. Nguyên văn toàn bài có in trong Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 30 tờ 39b và Đại Thanh thực lục.
395. Trích trong bức thư “Trình Phúc đại nhân” chép ở tập Bang giao hảo thoại.
396. “Giả ngã sổ niên, dưỡng uy, sức nhuệ, ngô hà úy bỉ tai!” Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 30, tờ 40a.
397. Toàn văn bằng chữ Hán có chép trong tập Bang giao hảo thoại (Ngô Gia Văn Phái).
398. Phúc Kiến.
399. Quảng Đông, Quảng Tây.
Chú Thích 3.
400. Giang Tô (?)
401. Triết Giang.
402. Trích dịch nguyên văn chữ Hán trong Bang giao hảo thoại (Ngô Gia Văn Phái).
403. Trích dịch nguyên văn chữ Hán trong Bang giao hảo thoại (Ngô Gia Văn Phái).
404. Tên một núi ở phía nam tỉnh Cát Lâm cao 8.900 thước Tàu.
405. Do ông Lê Văn Hòe giới thiệu trong bài “Phải chăng vua Càn Long nhà Thanh đã bằng lòng trả vua Quang Trung tỉnh Quảng Tây làm nơi đóng đô và gả Công chúa?” Đăng ở trong “Trung Bắc chủ nhật” số tết Quý Mùi (1943) trang 20, 21, 28
406. Để chứng thực việc vua Quang Trung (1788-1792) bị bịnh rồi mất như thế nào, tôi xin trích dịch đoạn sử chữ nho sau đây:
“… Một hôm, buổi chiều, đang ngồi, Huệ chợt huyễn vận (nghĩa là hoa mắt, sa sầm choáng váng vả người)…(lược)…rồi sầm tối gục xuống, hồi lâu mới tỉnh, bèn đem chuyện đã mê ấy nói với Trung thư Trần Văn Kỷ. Từ đó bịnh trở nặng. Bèn vời Nghệ An trấn thủ Nguyễn (hoặc Trần) Quang Diệu về bàn thiên đô ra Nghệ An. Việc thương nghị ấy chưa ngã ngũ thì bấy giờ vua Thế tổ (miếu hiệu vua Gia Long) ta đã khắc phục Gia Định thu lại được Bình Thuận, Bình Khang và Diên Khánh: thanh thế lừng lẫy vang động. Huệ nghe biết tin đó, đâm lo buồn, bịnh thế ngày một nguy kịch vời bọn Diệu vào trối trăng rằng: “Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm tất không dậy được, Thái tử (Nguyễn Quang Toản) tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ, bấy giờ mới 10 tuổi. Ngoài có quân Gia Định là quốc thù; mà Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thì tuổi già, ham dật lạc cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lạo thảo thôi. Lũ ngươi nên họp sức mà giúp Thái tử sớm thiên về Vĩnh đô (tức Vinh ngày nay) để khống chế thiên hạ. Bằng chẳng, quân Gia Định kéo đến, thì các ngươi không có chỗ chôn đâu!”( Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30, tờ 42).
407. Đây theo Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 30 tờ 42b.
Trong Giụ am ngâm lục chép vua Quang Trung băng vào ngày hối (30) tháng chín. Có lẽ tháng chín năm Nhâm Tý ấy thiếu nên hôm 29 bắt làm 30 chăng. Trong Lời phát doan (introduction) ở cuốn Nouvelles lettres édifinates nói vua Quang Trung băng vào tháng Septembre 1792 (P. IXIV).
408. Nguyên văn chữ hán chép chữ “trung” là trung tín.
409. Đây dịch theo nguyên văn, đáng lẽ phải nói là “hai anh” mới đúng.
410. Lời chua của nguyên tác.
411. Việc vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị sang Nam là từ năm 1788 kia.
412. Nguyên văn là “xuất kỳ chế thắng”.
413. Đêm ba mươi tết.
414. Tức là mặt trận ở phía trước.
415. Chính họ Ngô, chứ không phải Nguyễn.
416. Nếu kể cả lần ra giết Vũ Văn Nhậm thì là ba lần.
417. Kể từ năm Tân Mão (1771). Nguyễn Huệ quật khởi ở Tây Sơn thượng đạo đến năm Nhâm Tý (1792) thăng hà vừa được 21 năm.
418. Đền Trung Liệt trước do ông Tống khê Nguyễn Hữu Đô dựng ở thôn Văn Tân huyện Thọ Xương (Hà Nội), đến năm Canh Dần (1890), công Thái Xuyên Hoàng Cao Khải thiên xuống ấp Thái Hà.
419. Nguyên thư chép là Ngô Nhậm.
420. Nguyên thư chép là Thanh Ba.
421. Hoặc chép là họ Trần (nguyên chú).
422. Họ tông thất Tây Sơn (nguyên chú: ngụy tộc).
423. Quân chúa Nguyễn Ánh. Từ đây trở đi, phàm những chỗ Quốc sử quán chép rằng “quân ta” thì đều chỉ về quân chúa Nguyễn cả.
424. Địa bàn trong Nam Kỳ, trước đấy chúa Nguyễn đã lấy được.
425. Tức Nguyễn Văn Hóa (nguyên chú).
426. Tuyên lấy chùa làm nhà ở (nguyên chú).
427. Bùi Thị Xuân vợ Diệu, là cháu gái của Tuyên (nguyên chú).
428. Chỉ việc đem binh bắt giết cha con Đắc Trụ.
429. Những người ở bên tả hữu mình.
430. Hoặc chép là Nguyễn Văn Tứ (nguyên chú).
431. Từ năm Quý Sửu (1793). Toản phong con Nhạc là Bảo làm Hiếu Công, cắt cho một huyện Phù ly làm ấp ăn lộc gọi là Tiểu triều.
432. Tức bên chúa Nguyễn Ánh. Sau đây cũng cùng một lệ ấy.
433. Có chỗ chép là Đại Tư võ Tuấn (nguyên chú).
434. Có chỗ chép là Thái phú Mân (nguyên chú).
435. Miếu hiệu của vua Gia Long sau này, bấy giờ còn là chúa (Nguyễn Ánh).
436. Vì kiêng húy chữ “Hoa” nên nguyên chữ chép là “Thanh Ba”.
437. Người giữ đất, tức là quan chức địa phương.
438. Thuộc Nghệ An (nguyên chú). Vĩnh đô tức là Vinh doanh ở đời Lê và là Vinh bây giờ.
439. Tức là núi Linh sát (nguyên chú).
440. Nguyên văn là “mộc sách”.
441. Nguyên văn chép là “Thanh Ba”.
442. Không rõ họ Định là gì (nguyên chú).
443. Đối với bây giờ, những sự đó đều là chuyện rất thường. Vì ngày xưa chưa có xi măng cốt sắt, một khi làm lâu đài cao quá mà vôi vữa không kỹ thì gặp ngặp lụt lâu ngày, nước nong, móng lún tất đến sụp đổ.
444. Nguyên thư chép là Ngô Nhâm.
445. Thiếu họ (nguyên chú).
446. Tức ải Quảng Bình ngày nay (nguyên chú).
447. Thiếu họ (nguyên chú).
448. Nguyên văn in lầm là tháng 13.
449. “Thân chinh” nghĩa là “chính mình đi đánh trận”.
450. Tuần ngày xưa gồm những 10 ngày khác với tuần trong tiếng “tuần lễ” ngày nay, vì “tuần” ngày nay chỉ có 7 ngày.
451. Nguyên thư, vì kiêng húy, chép là “Triệu”.
452. Tức phủ thành Diễn Châu ngày nay (nguyên chú).
453. Nguyên thư chép là “Thanh Ba”.
454. Nguyên thư chép là “Thanh ba”.
455. Con của Văn Đức (nguyên chú).
456. Lời xét kính cẩn của Quốc sử quán.
457. Nguyên thư in lầm là Canh Tuất.
458. Hai tướng: Diệu và Dũng.
459. Hai người.
460. Bậc đại thần cố cựu và có công lao.
461. Vị đại thần gánh trọng nhậm nhà nước, như cái cầu có cột trụ, cột trụ để đỡ đá.
462. Chỉ về Trần Quang Diệu, vì vua Quang Trung khi sắp băng, có trối trăng dặn Quang Diệu phải cùng các tướng tá họp sức lại mà giúp Thái tử. “Phụng tuân cố mệnh”nghĩa là vâng giữ lời nói của nhà vua khi sắp chết còn ngoái lại mà dặn bảo.
463. Giữ gìn vùa giúp cho bản thân của “ta”.
464. Cầm quyền coi giữ thành Thăng Long làm phên giậu che chắn và cội gốc vững chắc cho nhà vua.
465. Ta coi hai ngươi như chân, tay, trái tim và xương bả vai, lấy tình rất thực mà đối đãi.
466. Gần đây, vì việc biên thùy rất gấp rút.
467. Làm lũ ngươi lại phải khó nhọc cầm quân ở ngoài.
468. Mưu tính công việc xếp đặt phòng thủ mặt thủy mặt bộ ra sao để liệu làm ở sau này.
469. Cái tình trên dưới được thông đạt với nhau.
470. Chưa có mệnh vua đến vời, đã tự tiện kéo quân về.
471. Kíp vì mưu kế lo việc nước, nên mới rút bỏ hình thức lễ nghi.
472. “Tế quá” nghĩa là lỗi nhỏ.
473. Hai ngươi tự mình mang lòng ngờ sợ, cách sông đóng quân, không đến ra mắt nhà vua.
474. Kiếm cớ thoái thác mà chậm đến.
475. Ta tuổi trẻ cầm quyền chính.
476. Đối với việc giá ngự kẻ dưới, lòng tin thực của ta còn có chỗ chưa được phu phỉ một cách mộc mạc.
477. Thắc mắc lo ngại ở trong lòng.
478. Điều lỗi của ta.
479. Vua tôi đồng lòng mưu toan lo nghĩ còn sợ không kịp...
480. Cuộc biến loạn ở trong.
481. Nếu ta không đem độ lượng rộng rãi mà bao dong…
482. Giết hại bầy tôi làm tướng.
483. Tự mình cắt lông cánh của mình, lý thế tất thấy phải nguy khốn và luân vong lập tức.
484. Quyền của ông vua dời xuống kẻ dưới, đại cương phải rối ren, lộn xộn.
485. Ta há yên tâm mà làm thế ư? Các người há yên tâm mà làm thế ư?
486. Không thể trút bỏ nỗi nghi ngờ.
487. Riêng đem quan quân thuộc đạo binh của mình tìm đường đi nơi khác.
488. Lòng người sôi nổi náo động.
489. Nước bên địch nhân dịp mà dòm dỏ.
490. Bỏ hết công lao từ trước, ai chịu cái lỗi ấy cho?
491. Ta gánh cái trách nhậm nặng nề đối với tông miếu, xã tắc.
492. Hai ngươi là hạng bầy tôi trọng yếu như cái gỗ nóc, cái thân cây của triều đình.
493. Hai bên cùng ngờ vực và làm ngăn trở lẫn nhau.
494. Biến cố ngang ngửa xảy ra.
495. Để tiếng cười lại nghìn năm.
496. Vài ngày nay, giăn giở suy nghĩ.
497. Ăn, ngủ đều kém.
498. Vận mệnh quốc gia quan hệ ở trong chốc lát này.
499. Sai sứ ruổi ngựa đến dụ bảo một cách thành thực.
500. Lũ ngươi còn chưa cởi lòng, trút bỏ điều ngờ thì ta lại càng không yên tâm.
501. Đã xem trong biểu của lũ ngươi.
502. Mọi điều xếp đặt cũng là những việc nên làm.
503. Lũ ngươi còn dàn quân lính ở đối cửa cung khuyết, chưa vào chầu hầu.
504. Tình nghĩa vua tôi chưa được rõ ràng, chính đáng.
505. Trước hãy ưng theo lời biểu đã tâu, rồi sau mới chịu vào chầu.
506. Vua yếu, tôi mạnh.
507. Lấy binh quyền hoặc binh khí uy hiếp nhà vua can ngăn việc gì.
508. “Tua” nghĩa là “nên phải” “Tua giữ” cũng như nói “nên giữ”…
509. Đem lòng thành thực mà đối đãi.
510. Trút bỏ những điều hiềm khích, nghi ngờ.
511. Tâu bày lý do mọi việc.
512. Dòng dõi chúa Nguyễn Hoàng là Cựu Nguyễn, họ Tây Sơn là Tân Nguyễn.
513. Theo truyện Nguyễn Văn Nhạc trong Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập quyển 30 tờ 15b-16a
514. Không rõ tên họ.
515. Theo “lời đầu” bằng chữ Nho đặt trên bài hiểu văn của tác giả Phan Huy Ích.
516. Ông tướng vâng mệnh vua, cầm binh quyền ở ngoài biên cương.
517. Người ta sinh ra, được Giời phú bẩm cho tấm lòng biết giữ đạo thường.
518. Do chữ “thang mộc ấp” mà ra. Nguyên xưa, theo chế độ phong kiến, thiên tử cho chư hầu cái ấp thang mộc (nghĩa đen là tắm gội) khiến chư hầu lấy cái lợi thu được ở trong ấp ấy dùng vào việc tắm gội để tiện trai giới mà giữ được sự thanh khiết cho mình. Sau dùng rộng ra, “thang mộc” là chỗ đất phát tích của đế vương.
519. Chỉ vua Thái Đức và vua Quang Trung, ban đầu, đều dấy lên từ thành Quy Nhơn.
520. Hội gió mây gặp gỡ. Do chữ trong kinh Dịch: “Vân tòng long phong tòng hổ…” (mây gặp rồng, gió gặp hổ…) ý nói tao phùng đẹp hội, chính là dịp tốt để tài trai bay nhảy.
521. Do chữ “danh thùy giản bạch” mà ra. Nghĩa là tên được ghi vào thẻ tre, mặt lụa (vì xưa chưa có giấy viết), để thơm về sau.
522. Công tôn phò giúp đỡ nhà vua.
523. Cái giáo lưỡi nhọn.
524. Do điển vua Hán Cao khi qua ấp Bái (nay là Bái huyện thuộc Giang Tô bên Tàu) đặt tiệc gõ dịp hát Đại Phong. Ý nói nhà Tây Sơn vừa mới mừng cuộc thành công ở Quy Nhơn là chỗ quê nhà.
525. Cá kình là tượng trưng về biến loạn giặc giã.
526. Vì bấy giờ thành Quy Nhơn thất thủ có quân đóng án ngữ nên đường lối từ đèo Bến Đá đến Quy Nhơn không liên lạc với nhau được.
527. Kẻ giữ đất đai ở nơi cửa ngõ một nước.
528. Chỉ việc Bảo đem thành Quy Nhơn xuống hàng.
529. Bọn dân lành.
530. Vì bắt ép mà phải gượng theo.
531. Lời khua giục, dụ dỗ.
532. Nông nỗi xa mắc vào vòng đau khổ.
533. Do chữ “tiêu y cán thực” mà ra. Ý nói gặp lúc quốc gia đa sự, nhà vua chín lần: cửu trùng bao xiết thương xót nhân dân. Nhà vua vì bận rộn quá sớm đã phải thay áo, đêm mới được ăn cơm.
534. Mong nhân dân được đặt yên lên trên đệm chiếu (nhẫm tịch) êm ấm như thủa trước.
535. Trên vâng lời vua phán dạy, lo tính mưu trước dẹp giặc.
536. Coi giữ việc binh, thẳng trỏ ngọn cờ đào.
537. Chỉ Trần Quang Diệu.
538. Do điển: trong cung điện nhà Hán trồng nhiều cây phong, nên về sau người ta dùng chữ “đền phong” để chỉ về triều đình.
539. Do điển: Chu Á Phu đời Hán làm tướng đóng quân doanh ở Tế Liễu. Nhân thế đời sau dùng “trướng liễu” hay “dinh liễu” để chỉ về chỗ quân doanh.
540. Quận Diệu tiến vào Quy Nhơn bấy giờ nhằm buổi đầu xuân.
541. Ông tướng ở nơi màn trướng (ngày xưa, khi hành binh, ông chủ súy và các tướng tham mưu thường vây màn để bàn bạc quân sự cho nên gọi là súy mạc).
542. Cũng như nói “lòng người”.
543. Ngờ và sợ.
544. Ta cho kẻ thân tình, người cố cựu biết rằng có hai đường đấy: theo đằng nào, tránh đằng nào thì chọn lấy đi.
545. Bỏ điều mê man quay về đường thiện.
546. Dấu vết không lành.
547. Biết tỉnh ngộ, ăn năn lỗi trước.
548. Vận hội thái bình.
549. Bái quận nguyên là nơi quê hương của Hán Cao tổ. Sau dùng rộng ra, là nơi rau rốn của một nhà đế vương. “Người Bái quận” đây, chỉ về người ở Quy Nhơn, chỗ quê quán của nhà Tây Sơn.
550. Rẩy ơn huệ khắp cả mọi người.
551. Nếu không sớm muộn biết chọn lấy con đường tránh dữ theo lành thì…
552.... Khi ta nổi giận, thẳng tay trừng trị, bấy giờ các ngươi sẽ như tình cảnh núi Côn Sơn bị thiêu, không cứ là ngọc hay là đá thảy đều cháy rụi hết.
553. Bản gốc. (BT)
Tác Giả Hoa Bằng.
Tiểu sử
Ông sinh năm Nhâm Dần (1902) tại làng Hạ Yên Quyết (về sau gọi là làng Cót), phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thuộc phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội).
Cha là Hoàng Thúc Hội (1870 - 1938), hiệu Cúc Hương, đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1906), nhưng không ra làm quan. Sinh thời, đạo đức và tài văn chương của Hoàng Thúc Hội được nhiều sĩ phu kính trọng[2].
Lớn lên, Hoàng Thúc Trâm có được một số vốn Hán học uyên thâm và các tri thức lịch sử sâu rộng, chủ yếu là nhờ sự tự học của mình [3].
Từ những năm 1920, bút hiệu Hoa Bằng (bút hiệu chính của ông) đã lần lượt xuất hiện trên các báo, như Nước Nam, Thế giới, Tân văn, Tiểu Thuyết thứ Bảy, Tri tân, Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân văn, Thanh Nghị,... (ở Hà Nội), Tân văn, Thế giới (ở Sài Gòn), v.v...Đặc biệt là trên tờ Tri tân mà ông là Chủ bút, ông đã để lại ngót trăm bài viết về văn học, sử học.
Từ Cách mạng tháng Tám (1945) cho đến khi Kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) kết thúc, ông ở lại Hà Nội tiếp tục làm báo và viết sách[3]. Sau đó, ông lần lượt công tác tại Ban Văn sử địa, Viện Sử học, và cuối cùng là ở Ban Hán Nôm thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Trong khoảng thời gian ấy, ông có trên 30 luận văn in ở các tạp chí Nghiên cứu văn sử địa, Nghiên cứu văn học, Nghiên cứu lịch sử...Vì những công trình rất có giá trị ấy, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam và Hội sử học...[4].
Ngày 16 tháng 2 năm Đinh Tỵ (5 tháng 3 năm 1977), nhà nghiên cứu Hoàng Thúc Trâm từ trần, hưởng thọ 75 tuổi.
Tác phẩm
Theo Từ điển văn học (bộ mới), tác phẩm của Hoa Bằng (Hoàng Thúc Trâm) hiện có:
Về văn học
Tư tưởng đại đồng trong cổ học tinh hoa (1949)
Gia Linh công chúa (tiểu thuyết lịch sử, 1949)
Văn chương quốc âm đời Tây Sơn (biên khảo, 1950)
Hồ Xuân Hương, nhà thơ cách mạng (biên khảo, 1950)
Dân tộc tính trong ca dao (biên khảo, 1952)
Lý Văn Phức (biên khảo, 1953)
Khảo luận về truyện Thạch Sanh (biên khảo, 1957).
Về sử học
Quang Trung - Anh hùng dân tộc, I và II (biên khảo, 1944)
Năm Kỷ Mùi (1799), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7, công chúa Lê Ngọc Hân mất, hưởng dương 29 tuổi. Lễ bộ Thượng thư Ðoan Nham hầu Phan Huy Ích phụng chỉ soạn bài văn tế cho Hoàng đế Cảnh Thịnh đích thân đọc trước linh sàng Hoàng thái hậu họ Lê. Bà được truy tặng là Như Ý Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Bài văn tế này đã được Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm tìm thấy và công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943 tại Hà nội.
Lịch sử xã hội Việt Nam (biên khảo, 1950)
Trần Hưng Đạo (biên khảo, 1950).
Về dịch thuật
Lê quý kỷ sự (ghi chép những việc cuối đời Lê, 1974)
Lịch triều tạp kỷ (Ghi chép tản mạn về các triều đại, 2 tập, 1975).
Ngoài ra ông còn dịch chung với nhiều người khác trong các tập Thơ Đường, Thơ Lục Du, Thơ Tống, Thơ Cao Bá Quát; và các pho sử lớn: Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Lịch triều hiến chương loại chí...[5].
Ghi nhận công lao
Trước sau trên 50 năm cầm bút, bằng niềm say mê và với một phương pháp nghiên cứu nghiêm túc, thận trọng; Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm đã có những đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Hai công trình nổi bật của ông đó là Quang Trung - Anh hùng dân tộc và Hồ Xuân Hương, nhà thơ cách mạng. Cho đến nay, có nhiều luận điểm trong hai cuốn ấy vẫn còn giữ nguyên giá trị, và qua đó cũng đã cho thấy cách nhìn khá cấp tiến của ông so với thời đại [3].
Ghi nhận công lao của Hoàng Thúc Trâm, ở quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội có phố Hoa Bằng, và quận Hải Châu (thành phố Đà Nẵng) có con đường mang tên Hoàng Thúc Trâm.
Hoa Bằng
Theo http://vnthuquan.net/




Quang Trung 2 000000000

Quang Trung 2 SỢ Tây Sơn, “CON TRỜI” NHÁO NHÁC CHẠY LOẠN! Đã mục kích chiếc thân “hèn nhát” của chú Sĩ Nghị bại trận, lại phong văn Tây Sơn ...