Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2026

Trái tim như dáng lưỡi cày

Trái tim như dáng lưỡi cày

“Ðể suốt đời cày lên cày lên đớn đau và hạnh phúc” (Nói với trái tim)

Tôi ‘ngạc nhiên lại’ khi đọc lại những bài thơ tưởng đã quen của nữ thi sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ. Chị làm thơ dễ dàng hơn tôi tưởng, mà cũng vất vả hơn tôi tưởng. Chị còn phức tạp hơn tôi tưởng rất nhiều. Nếu trên thế giới này có những “người đàn bà hát”, thì tôi nghĩ, cũng có không ít những “người đàn bà thơ”. Một trong những “người đàn bà thơ” ấy là Mỹ Dạ.

Khi nào em còn thở

Ngày sinh còn ra đi

Ðến tận cùng ngày chết

Như một khoảng lạ kỳ 

Ngỡ như ta đã sống

Ở thế giới nào kia

Yêu trái đất ghé lại

Rồi ngày mai xa chia

(Hái tuổi em đầy tay)

Cứ nói một cách giản đơn và thực tình, thơ Mỹ Dạ chinh phục ta không phải bằng vẻ lạ lẫm tân kỳ, mà bằng những bất ngờ quen thuộc. Thì cuộc sống vẫn vậy, quen mà lạ, lạ mà quen, cứ ngỡ ta gặp ở đâu đó rồi, nhớ mãi lại chẳng ra. Tôi thấy thơ chị rất buồn, buồn hơn cả cuộc đời có thể buồn mà chị đã sống, đang sống:

Em chết trong nỗi buồn

Chết như từng giọt sương

Rơi không thành tiếng

(Tặng nỗi buồn riêng)

Một người làm thơ buồn như vậy, lại sống như một người yêu đời, đủ biết cuộc đời thật nhiều lối, nhiều ngả, nó đủ cho ta sống, và đủ cho ta thể hiện mình ở những cung bậc khác nhau nhất, thậm chí đối lập nhất.

Ngày mới quen Mỹ Dạ, tôi cứ ngỡ chị là người sống tươi vui và đơn giản. Có như vậy thật, trong con người hằng ngày của Mỹ Dạ thường trực một vẻ hồn nhiên bẩm sinh, một lòng tốt tự nhiên và nhiều khi trang trải ra không khách sáo. Nhưng thơ Mỹ Dạ lại phát hiện một con người khác của chị, đầy những khắc khoải, lo âu, đầy nữ tính. Không phải cứ nhà thơ nữ là làm thơ đầy nữ tính đâu. Nhưng tôi có cảm giác “người đàn bà thơ” nào mà thơ đẫm chất đàn bà, người ấy thường khổ, từ khổ tâm tới khổ đời. Tôi thử lật tình cờ một bài thơ của Mỹ Dạ, theo kiểu “bói thơ”, và tôi gặp bài này:

Nhỏ bé tựa búp bê

Làm sao anh đủ sâu

Cho em soi hết bóng

 Làm sao anh đủ rộng

Che mát cho đời em

Làm sao anh đủ cao

Ðể thấy em cho hết…

Cuộc đời bao nhọc mệt

Cuộc đời bao dịu êm

Người đàn bà bước lên

Người đàn bà lùi lại

Này tôi ơi, có phải

Làm một người đàn bà

Người ta phải nhỏ bé

Nhỏ bé tựa búp bê

Mới dễ dàng hạnh phúc?

Thú thật, bói ra bài thơ này khiến tôi choáng. Thơ phải thật sự giản dị mà đầy thân phận như thế, mới là thơ. Một bài thơ ngắn ngủi gọi mời ta đi hết, trải hết một đời người, nó khiến những người đàn ông tự lùi lại, tự biết mình khi muốn thành một chỗ dựa, một cái cây hay một giếng nước cho cuộc đời một ai đó. Bài thơ nhỏ đặt một câu hỏi không hề nhỏ: rằng có phải cứ “Nhỏ bé tựa búp bê/ Mới dễ dàng hạnh phúc ?”, hay phải khác? Nhưng phải khác như thế nào mới có hạnh phúc đây?

Bởi hạnh phúc chính là câu hỏi lớn nhất của loài người từ khi chính thức thành người, một câu hỏi day dứt hàng nghìn, hàng vạn năm qua, được trả lời bằng hàng nghìn, hàng vạn bài thơ hay bản nhạc, nhưng câu hỏi mãi còn ở phía trước. Nhà thơ đặt cho ta câu hỏi ấy từ góc độ một người phụ nữ bình thường nhưng không hề bình thường, một người phụ nữ làm thơ, một-người-đàn-bà-thơ, không chỉ khát khao mà còn tự biết giá trị của mình, không chỉ khiêm nhường mà còn kiêu hãnh. Nhưng không hề “làm giá” hay “treo giá”, mà thật sự tuyệt vọng. Tuyệt vọng là vô giá. Thơ Mỹ Dạ kêu gọi đồng cảm từ những bế tắc, từ những “câu hỏi lớn không lời đáp”. (Huy Cận)

Hiểu một con người, quả là không dễ!

Nhưng, hơn bất cứ nghệ thuật nào, thơ mở cho ta những cánh cửa bất ngờ vào mê cung của tâm hồn, những cánh cửa mà nhiều khi chìa khoá đã bị mất:

 Nếu biển đau, mong chi người chia sẻ

 Vết thương kia xin trả lại ta nào

Sóng trắng xóa vỗ vào bờ nhè nhẹ:

– Ta mặn lắm rồi người không hiểu ta sao?

(Với biển)

Ðó là một cách “với biển” mà chỉ Mỹ Dạ có, nửa hồn hậu nửa điên khùng, nửa muốn sẻ chia mà nửa tuyệt vọng. Và đây là một “Cái tổ chim”:

Lặng im đến lạ lùng

Từng cọng rơm, cọng cỏ

Lặng im như run lên

Cái tổ chim bé nhỏ

Sự mỏng manh luôn được nhắc tới, nhấn lại nhiều lần trong thơ chị, nó vừa như một cảm nhận vừa như một cảnh báo: không chỉ một tổ chim, không chỉ một con chim non, mà cả con người, cả tình yêu, cả hạnh phúc nhiều khi cũng rất mong manh. Nó nhắc nhở con người phải biết nâng niu, gìn giữ và khẽ nhẹ với nó. Ðó là một cảm giác mà người phụ nữ, nhất là người phụ nữ làm thơ vẫn thường trực có, nó trĩu nặng ở ngay lúc con người thường lơ đãng bỏ qua, nó nhắc nhớ ngay khi ta hay quên lãng:

 Con ơi mẹ nhìn con ngủ

 Biết thời con gái kề bên

 Rồi mai phút nào cay cực

 Mẹ có còn mà gọi tên

(Một thời con gái)

Vì sao khi ngắm nhìn đứa con gái “chớm vào thời thiếu nữ” của mình, người mẹ lại nghĩ ngay tới ngày mình không còn nữa trên đời, gặp cay cực con gái mình biết gọi ai ? Nỗi lo xa ấy thật thà tới mức khiến ta phải cảm động. Tình mẹ thương con quả là vô cùng, và quả rất khó lường.

Một “người đàn bà thơ” lại không hề là một người tự tin quá mức trong thơ cũng như trong đời. Ðã nhiều hơn một lần chị nói về sự dễ vỡ của những câu thơ:

“Bây giờ ta như vỏ ốc/ Trống rỗng hết bao điều quên nhớ/ Lơ lửng cả những câu thơ dễ vỡ” (Trước Nha Trang)

Sự tự tin nào cũng cần thiết, nhưng tự tin quá mức thì không cần thiết, nhất là trong thơ. Mỹ Dạ cảm được điều đó, như chị cảm được cái mong manh khó lường của cuộc đời. Cảm được quá mức cái nhiều người cảm, ấy là nhà thơ. Thấy được những giấc mơ ít người khác thấy, đó là nhà thơ. Tôi còn nhớ, sau ngày mạ (mẹ) Mỹ Dạ – người mẹ cay cực mà chị yêu thương hơn tất thảy – mất, Mỹ Dạ đã kể về những giấc mơ của mình, rằng mình đã gặp mẹ ra sao, mẹ đã nói những gì, và những dấu hiệu gì biểu hiện linh hồn mẹ mình vẫn quanh quẩn đâu đây… Có thể nhiều người khi nghe những chuyện ấy chưa tin, nhưng tôi thì tin. Tôi nghĩ, những giấc mơ lạ cũng là một đặc ân mà trời phú cho người làm thơ. Nhà thơ không hơn người khác được cái gì, thì họ có thể hơn về những giấc mơ, chẳng hạn. Những giấc mơ an ủi họ rất nhiều, dù khi tỉnh giấc, nỗi buồn trĩu nặng thêm. Khi chúng ta sống quá tỉnh trên đời, thì giấc mơ giúp ta cân bằng được tâm trí, điều hòa được mơ và tỉnh. Nó giúp ta tin rằng, ngoài thế giới này, ngoài cuộc đời này mà ta đang sống còn nhiều thế giới khác, nhiều cuộc đời khác mà có thể ta sẽ sống, trong những hình thái khác.

Mỹ Dạ là nhà thơ nhạy cảm. Sự nhạy cảm có khi quá lên thành linh cảm. Với nhà thơ, đó là tài sản trời cho, chứ không cố mà được. “Biết gió thổi mang dấu chân người bay đi”  là một câu thơ bình dị nhưng đầy linh cảm. Những dấu vết ta để lại trên đời, là những câu thơ, cũng có thể được (hay bị) gió mang đi một lúc nào đó. Nhưng có lẽ nó không hoàn toàn vô ích. Vậy thì hãy cứ trắng trong, hồn nhiên, vô ngại, như bài thơ “Trắng trong” này:

Ðôi làn môi con

Nghiêng về vú mẹ

Như cây lúa nhỏ

Nghiêng về phù sa

Như hương hoa thơm

Nghiêng về ngọn gió

Ðôi làn môi con

Ngậm đầu vú mẹ

 Như búp hoa huệ

 Ngậm tia nắng trời

Sữa mẹ trắng trong

Con ơi hãy uống

Rồi mai khôn lớn

Con ơi hãy nghĩ

Những điều trắng trong”

Cứ trắng trong, dù có thể trắng tay, đó là lời hứa trong lặng lẽ của nhà thơ. Cứ trắng trong, dù thế nào. Vậy thì trái tim ơi, hãy cứ trắng trong cày lên, đớn đau và hạnh phúc.

1/8/2021

Thanh Thảo

Theo https://vanvn.vn/

Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo

Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo

Tháng 5 năm 2016, trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Barack Obama, Tiến sĩ Dương Ngọc Dũng là người được chọn làm người giới thiệu cho vị khách đặc biệt này tại chùa Ngọc Hoàng (quận 1, TP HCM). Là một chuyên gia trong nhiều lĩnh vực: Văn hóa, kinh tế, triết học, tôn giáo… song văn chương cũng không nằm ngoài mối quan tâm của ông…

Xuất hiện từ những thập niên 1920 bên Đức chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, vốn bắt nguồn từ hội họa, tiến vào văn học, và thay thế triết học đặt lại câu hỏi về bản chất của thực tại. Trăm năm cô đơn (Cien años de soledad, viết bằng ngôn ngữ Tây Ban Nha, xuất bản lần đầu 1967), của Gabriel Garcia Marquez, nhà văn Columbia, cũng như Hư cấu (Ficciones, tiếng Tây Ban Nha, xuất bản lần đầu 1944) của Jose Luis Borges (nhà văn Argentina), là hai tác phẩm tiêu biểu cho thể loại này. Điều kì lạ là đầu tiên thuật ngữ “hiện thực huyền ảo” xuất hiện, không phải trong tiếng Tây Ban Nha như nhiều người nghĩ, mà là trong tiếng Đức (magischer Realismus), chính những nhà phê bình nghệ thuật Đức (cụ thể là Franz Roh và Gustav Hartlaub) đã đặt ra từ này, sau đó là tiếng Hà Lan, tiếng Tây Ban Nha, rồi mới được dịch sang tiếng Anh là magical realism. Hầu như hiện nay nói đến văn học Tây Ban Nha hay văn học Châu Mỹ La Tinh nói chung mọi người đều nhớ tới một cụm từ duy nhất: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (el realismomágico). Nghe tiếng Việt thì thấy hay hay, không có vấn đề gì, nhưng nếu đọc tiếng Anh, hay tiếng Tây Ban Nha, Pháp, Đức, chúng ta thấy ngay một sự nghịch lý: đã là “hiện thực” (realism) thì làm sao mà “mang tính chất huyền ảo, ma thuật” (magical) cho được? Người theo chủ nghĩa hiện thực, hay duy vật triệt để, không thể tin rằng có một thiên thần, một ngày mưa to gió lớn nào đó, gãy cánh rơi từ trên trời xuống và sau đó chung sống với một gia đình trần tục trên trái đất này. Vô lý! Phi hiện thực! Chỉ có trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng! Nhưng thực tế đây chính là điều các nhà văn trong phong trào hiện thực huyền ảo đang nhắm đến theo kiểu gài bom đánh sập những ý tưởng đóng khung sẵn của chúng ta về cái gọi là “thế giới hiện thực”. So sánh nào cũng khập khiễng, nhưng đọc Trăm năm cô đơn thì cũng giống như xem tranh Picasso vậy! Ông này cũng người Tây Ban Nha. Nếu bạn xem tranh Bùi Xuân Phái và “kết” họa sĩ này – chuyên gia vẽ tranh về phố cổ Hà Nội – thì khó lòng mà “hiểu” Picasso muốn nói gì trong các bức tranh kỳ quặc của ông ta. Mọi thứ đều chẳng giống tí ti gì với “hiện thực.” Nhưng câu hỏi mà những nhà văn hiện thực huyền ảo đang hỏi chúng ta chính là: “Chính xác thì khi anh nhìn (look at) vào một bức tranh thì anh muốn “thấy” (see) cái gì?” Thông thường chúng ta muốn “thấy” những thứ mình đã “thấy” rồi. Những thứ mình chưa “thấy” bao giờ dễ làm chúng ta bối rối, và thậm chí kinh hãi, giống hệt như nhìn mặt một tên sát nhân vậy. Câu hỏi muôn đời của triết học: “Hiện thực là gì?” Giờ đây đã được tiếp thu và đặt lại, hình tượng hơn và hấp dẫn hơn, không quá khô khan, trừu tượng như thời còn ẩn náu trong tháp ngà của mấy vị giáo sư triết học nữa. Sử gia nghệ thuật Irene Guenther viết: “Việc đặt hai từ ‘hiện thực’ và ‘huyền ảo’ bên cạnh nhau đã phản ánh tính quái đản và tính huyền bí (nguyên tác Đức ngữ: Unheimlichkeit) trong chính bản chất của con người và trong chính môi trường công nghiệp hiện đại của họ”. Về phương diện nghệ thuật, chúng ta có thể tìm thấy chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong những tác phẩm hội họa của Giorgio de Chirico, nhà danh họa Ý nổi tiếng trong phong trào “nghệ thuật siêu hình” (arte metafisica) chuyên vẽ những vật thể thông thường từ những góc nhìn… bất thường. G.F. Hartlaub, giám đốc Viện Bảo tàng Nghệ thuật ở Mannheim vào những thập niên 1920, chính là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” (magischer Realismus) để mô tả tác phẩm của họa sĩ Max Beckmann do chính ông tổ chức triển lãm vào năm 1923. Nhưng sau đó Hartlaub đã đổi ý, sử dụng một thuật ngữ khác là “tính khách quan mới” (neue Sachlichkeit). Đối với những họa sĩ Đức và Ý theo trường phái này thì điều quan trọng nhất trong việc khắc họa “hiện thực” chính là thông qua những nét cọ hết sức hiện thực, người nghệ sĩ phải nắm bắt cho được tính huyền bí kỳ lạ của những sự vật cụ thể, tầm thường, hết sức quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày. Chính vì thế ảnh hưởng của phân tâm học Freud và Jung có thể nhận thấy rất rõ trong tác phẩm của những nhà văn hay nghệ sĩ được xếp vào phong trào hiện thực huyền ảo. Phân tâm học dạy cho chúng ta cách nhìn xuyên thấu qua cái “hiện thực của cuộc sống hàng ngày” để hội thông vào những chiều sâu vô thức bí ẩn của cõi nhân sinh, như nhân vật Gregor Samsa trong truyện ngắn Hóa thân nổi tiếng của Kafka (dieVerwandlung, tiếng Đức, xuất bản lần đầu 1915) đột nhiên thức giấc và thấy mình đã biến thành… một con sâu khổng lồ. Nghệ thuật và văn học cổ điển giúp chúng ta nhìn thấy diện mạo bên ngoài của sự vật, một thứ diện mạo công ước đã bị xã hội hóa đến tận xương tủy, nhưng nhà văn siêu thực và hiện thực huyền ảo chỉ cho chúng ta thấy những chiều sâu thăm thẳm của vô thức, sự kỳ lạ đến rợn người của kiếp nhân sinh, một sự kỳ lạ khủng khiếp đến mức không ai dám nhìn thẳng cái vực thẳm mênh mông đó. Bất kỳ lúc nào trong cuộc sống chúng ta cũng phải đối mặt với câu hỏi căn bản nhất của kiếp người: “Tại sao phải lập đi lập lại công việc hàng ngày, như một cái máy đã được lập trình sẵn, nhàm chán đến mức buồn nôn, để rồi cũng phải đối diện với thần chết lúc nào cũng rình rập xung quanh? Ý nghĩa của cuộc sống thực ra là gì? Con người có sự tự do chọn lựa không? Hay tất cả đều đã được an bài trong số phận?”. Nói như Nietzsche: “Nếu bạn nhìn quá lâu vào vực thẳm, vực thẳm sẽ nhìn lại bạn!” (When you gaze long into the abyss, the abyss also gazes into you). Tất cả những rối rắm trong văn học cổ điển, mối tình tay ba, tình yêu đơn phương, xã hội chiến tranh, vân vân… tất cả đều diễn ra trên một sự giả định hết sức lạc quan rằng mọi sự xung đột rồi sẽ kết thúc trong hòa bình, tình yêu không thỏa mãn trong kiếp này thì sẽ thỏa mãn trong kiếp sau, y hệt như cảnh đại đoàn viên trong hầu hết mọi cuốn tiểu thuyết Trung Quốc cổ điển (trừ Hồng Lâu Mộng). Nhưng các nghệ sĩ và nhà văn hiện thực huyền ảo muốn phá vỡ luôn cái giả định lạc quan ấy. Vấn đề không phải là việc Lương Sơn Bá không lấy được Chúc Anh Đài hay Giả Bảo Ngọc không kết hôn được với Lâm Đại Ngọc. Vấn đề ấy cũng không phải khó giải quyết: Cả hai, Lương Sinh và Chúc tiểu thư, cuối cùng cũng biến thành bướm bay lượn bên nhau không còn bị gia đình hay anh chàng Mã Anh Tài phá thối. Vấn đề nghiêm trọng hơn, sâu sắc hơn, quyết liệt hơn, chính là cái thứ mà chúng ta trân trọng gọi là “ái tình” ấy có thực sự cần thiết không? Có nên sống chết điên loạn vì nó không? Tình yêu có phải thực sự xuất phát từ “con tim” không? Hay đến từ… con khác? Chúng ta quá quen thuộc với những sáo ngữ về tình yêu, cũng như về mọi thứ trên đời, đến mức chưa bao giờ chúng ta hé nhìn thấy “những góc tối bí ẩn” trong những “hiện thực” rất thông thường ấy.

Những rối rắm, xung đột, mâu thuẫn, trong văn học truyền thống, Đông cũng như Tây, đều diễn ra trên một nền tảng “hiện thực” khá vững chắc. Hầu như các nhà văn, nhà thơ, hay nghệ sĩ, ngay cả trong thời Trung Cổ, ít có ai chất vấn cái nền tảng ấy. Nó được triết học, tôn giáo, và lương tri thông thường bảo vệ hết sức kỹ lưỡng. Tất cả những hàng rào phòng vệ ấy khoa học kỹ thuật ngày nay đã đập nát hết và quăng những mảnh vụn vào viện bảo tàng.Tôn giáo vẫn sống sót, sau nhiều trận thập tử nhất sinh từ thời Khai Sáng (thế kỷ 18), và đã quay trở lại sân khấu của lịch sử với một bộ dạng hung hăng hơn bao giờ hết. Nhà văn và nghệ sĩ phản ứng một cách tiêu cực hơn: Họ cố gắng chứng minh, đương nhiên theo một phong cách rất nghệ thuật, rất văn học, rằng cái mà chúng ta gọi là “tổ chức công việc và cuộc sống theo khoa học” thực ra chỉ là một trò băng bó vết thương nhảm nhí, vì những vết thương vẫn đang còn rỉ máu trong cuộc sống không nằm ở ngoài da, mà nằm sâu thẳm bên trong và cần được chữa lành hơn bao giờ hết. Cốt lõi của “ma thuật” (magic) chính là “đánh lạc hướng”, “biến không thành có”, “biến có thành không.” Các ảo thuật gia khiến chúng ta trở thành những con rối trong tay của họ. Chúng ta đã bị đánh lạc hướng, tưởng lầm những thứ mà chúng ta đang theo đuổi thực sự có giá trị, và ném bỏ những thứ thực sự quan trọng vào dòng đời quen thuộc. Tệ hại hơn nữa, chúng ta thậm chí còn không có một sự chọn lựa nào khác. Thông điệp của các nhà văn hiện thực huyền ảo khá rõ ràng: Cái mà các bạn quen tưởng là “hiện thực” thì thật ra đó là “ma thuật.” Cái mà các bạn chê bai là “huyền ảo/ phi hiện thực” cái đó mới chính là hiện thực nhìn từ một viễn cảnh khác thường. Và nếu đẩy sự lý giải này đi xa hơn, chúng ta lại phát hiện thấy rằng chính Trang Tử mới là ông tổ của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo chứ không phải mấy họa sĩ người Đức. Câu truyện “Trang Châu mộng hồ điệp hay hồ điệp mộng Trang Châu?” chính là một câu hỏi triết học đầy thi vị có thể dùng làm đề từ cho toàn bộ tác phẩm của Jose Luis Borges. Khi nhà thơ Hàn Mặc Tử viết:

Tôi ngồi dưới bến đợi nường Mơ,

Tiếng rú ban đêm rạn bóng mờ,

Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng,

Rung tầng không khí bạt vi lô

(Cô liêu)

“Hiện thực” công ước đã tan vỡ, không còn gì để phân biệt với thế giới hoang liêu bên trong nội tâm của tác giả. Nhà thơ đã nhìn thấy hố thẳm ngàn đời của một kiếp nhân sinh trong sự cô đơn cùng cực.

Người viết tiểu thuyết hiện đại đang rơi vào một bi kịch: Nếu anh ta – xin cho phép tôi bước qua chủ nghĩa nữ quyền trong việc sử dụng ngôn từ ở đây – mô tả hiện thực quá tỉ mỉ và quá “chân thành,” anh đang làm thay công việc của nhà báo hay sử gia. Nhưng nếu khăng khăng muốn bỏ qua “hiện thực” trước mắt, anh có nguy cơ trở thành một nhà thơ tự do kém chất lượng. Theo phong cách cổ điển, anh cố gắng tập trung vào những điểm được cho là đặc trưng nhất của hiện tượng: Ví dụ nhân cách hay cá tính của nhân vật, như Julien Sorel của Đỏ và đen, bối cảnh lịch sử rộng lớn theo kiểu Chiến tranh và hòa bình. Samuel Richardson thì chọn đi vào nội tâm nhân vật thông qua những lá thư (Pamela), nghĩa là phản ánh “hiện thực” từ ngôi thứ nhất. Nhưng Don Quixote của Cervantes thì lẫn lộn “hiện thực” và thế giới nội tâm của anh ta. Nhìn từ quan điểm của Sancho Panza rõ ràng anh chàng hiệp sĩ già hết thời kia là một tên dở hơi, mất trí. Phải chăng ý của nhà văn muốn nói rằng tất cả chúng ta đều giống Sancho Panza? Khi Nguyễn Du hạ bút viết: “Tri giao quái ngã sầu đa mộng/ Thiên hạ hà nhân bất mộng trung” (Ngẫu Đề) ông đang đi trong dòng văn học phản hiện thực, theo đúng nghĩa biến cái “hiện thực” của thiên hạ thành “nghi phạm” trong phòng thẩm vấn, nghi ngờ mọi “giá trị” của nó, dù chưa thực sự triệt để. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong văn học như vậy đã phảng phất từ lâu trong văn học thế giới như một luồng hải lưu ngầm chảy song song với dòng văn học chính thống, nhưng trở thành một đặc trưng rõ ràng và sống động thì chỉ có những nhà văn Châu Mỹ La Tinh, với đỉnh cao là Gabriel Marcia Marquez và Jose Luis Borges, là những cây bút tiêu biểu nhất. Công lao chính của họ là phá bỏ sự độc quyền của triết học trong việc truy vấn đời sống và đi tìm chân lý, đặt dấu chấm hết cho một cách nhìn hiện thực giản đơn và phiến diện.

Tiến sĩ Dương Ngọc Dũng sinh năm 1956 tại Sài Gòn. Học trung học Hồ Ngọc Cẩn (1967-1974). Ðại học Khoa học (1974-1975), Ðại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh (1976-1980), công tác tại Sở Công an Tp. Hồ Chí Minh (1980-1987). Giảng dạy Khoa Ngữ văn Anh (1987-1989), du học Úc (Ðại học Canberra 1990-1991), du học Mỹ (đại học Harvard và Boston, 1993-2002). Năm 1995, tốt nghiệp Thạc sĩ khoa Ðông Á học tại Ðại học Harvard (Mỹ); tốt nghiệp Tiến sĩ khoa Tôn giáo học tại Ðại học Boston (Mỹ) năm 2001, tốt nghiệp MBA của United Business Institute (Bỉ) năm 2007. Ông từng giữ những vị trí quản lý cao cấp, đào tạo và tư vấn cho những tổ chức lớn như Samsung, LG Vina, Tổng lãnh sự Mỹ, Úc, New Zealand, Bộ Kế hoạch & Ðầu Tư, Bộ Tài chánh, Ðài truyền hình Việt Nam, Tổng lãnh sự Singapore.

Hiện Tiến Sỹ Dương Ngọc Dũng đang giảng dạy tại khoa Ðông phương học, Triết học, Tâm lý học, Quan hệ quốc tế (từ 2002-2021) – Ðại học Khoa học xã hội & Nhân văn – Ðại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh và giảng dạy các môn Quản trị Marketing, Quản trị Nhân sự, Quản trị xuyên văn hóa của Ðại học Quản trị Paris (Paris Graduate School of Management). Ông còn giảng dạy tại các chương trình MBA của Ðại học Bolton (Anh) và Ðại học Northwestern (Thụy Sĩ) ở Việt Nam.

4/8/2021

Dương Ngọc Dũng

Nguồn: Văn Nghệ số 4 Bộ mới 30/2021

Theo https://vanvn.vn/

Thân phận con người trong một số tiểu thuyết hậu chiến nước ngoài

Thân phận con người trong một số
tiểu thuyết hậu chiến nước ngoài

“Văn chương hậu chiến” là khái niệm cần được hiểu theo hai tầng bậc nghĩa. Thứ nhất, nó chỉ những tác phẩm được viết ra sau khi một cuộc chiến tranh chấm dứt. Thứ hai, những tác phẩm ấy viết về cuộc sống và con người sau chiến tranh, nhưng là thứ cuộc sống và con người dường như đã bị cái bóng ma của cuộc chiến trùm phủ, cách này hay cách khác, và không sao dứt ra thoát ra được.

Theo cả hai nghĩa ấy, nhìn gần, ta thấy một nền văn chương hậu chiến tranh Việt Nam (1945 – 1975) với những cái tên tác giả, tác phẩm nổi bật: Nguyễn Minh Châu với Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Mùa trái cóc ở miền Nam; Chu Lai với Nắng đồng bằng, Ăn mày dĩ vãng; Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Phạm Ngọc Tiến với Tàn đen đốm đỏ…, cùng hàng loạt trường ca như những khúc dội của chiến tranh được viết trong khoảng thời gian 1980 – 1990.

Và nhìn xa, ta thấy những nền văn chương hậu chiến tranh thế giới thứ II (1939- 1945), ở Mĩ và các nước châu Âu, những nền văn chương hợp thành một khối giá trị khổng lồ trong lịch sử văn chương nhân loại, những nền văn chương nói với ta rằng người ta có thể sống hoặc chết đi như thế nào khi cuộc chiến tranh vô cùng khủng khiếp ấy đã tận. Đã khổng lồ thì không ai và không có cách nào ôm xuể. Nên tôi đành phải tạm bằng lòng với việc “gẩy” ra, đọc vài dịch phẩm mới được xuất bản gần đây.

Trước hết, là tiểu thuyết Lạc lối về (Huỳnh Phan Anh dịch, Phanbook & Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2018) của nhà văn người Đức Heinrich Boll (1917 – 1985), chủ nhân của Nobel văn chương năm 1972. Heinrich Boll viết và công bố tác phẩm này khoảng vài năm sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc. Ở đó, như nhận định của dịch giả Huỳnh Phan Anh, “Từ thân phận của một cá nhân, từ một kinh nghiệm lịch sử dù sao hãy còn mang nặng tính cách đặc thù, Heinrich Boll đã vẽ lên bộ mặt hiện thực nhất của chính con người thời đại này. Một bộ mặt thảm thương tan nát nhất của một thời đại phi nhân trong đó bi kịch ngày một đạt tới cao độ của nó” (Không gian và khoảnh khắc văn chương, Nxb Hội Nhà văn, 1999, tr. 437, 438).

Có thể nói, cái bi kịch trong Lạc lối về không phải là bi kịch của sự phải chết trong chiến tranh, mà là bi kịch của sự phải sống sau chiến tranh. Heinrich Boll không đẩy nhân vật chính của mình, Fred Bogner, chìm vào vũng lầy của nỗi ám ảnh về cuộc chiến đã đi qua, vùng vẫy trong những cơn mê sảng bom đạn, những giấc mơ đầy chết chóc kinh hoàng – như nhân vật Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, nhà văn Việt Nam sau này – mà ông để Fred Bogner phải lê lết buồn bã trong cái khung cảnh của một thành phố xám xịt, đổ nát, rách rưới, nghèo nàn, thiếu đói… vì chiến tranh.

Với Fred Bogner, chiến tranh chỉ thỉnh thoảng mới vọng lại như những âm thanh buồn chán mà có lần anh kể với vợ: “Ngày này qua ngày khác, ngồi tám tiếng đồng hồ liền bên máy điện thoại: thông báo, thi hành, đặt tất cả vào công tác, mệnh lệnh, báo cáo, thanh sát, thi hành, giọt máu cuối cùng, giữ đến kì cùng, Fuhrer, trước hết, tránh sự lung lạc… Và những tiếng nhảm nhí nữa. Các đồn lính thì còn nói gì nữa. Anh đã ở gần ba năm trong chức vụ điện thoại viên, sự buồn chán mà anh uống ở đó, anh phải mất nhiều năm để khạc ra”.

Nhưng hậu chiến thì còn buồn chán gấp bội, và chính sự buồn chán ấy đã tàn phá anh đến thê thảm. Một kiểu tồn tại kì quặc đã diễn ra: Để tránh làm tổn thương vợ và các con, những người mà anh hằng yêu quý, Fred Bogner đã rời nhà để dìm mình trong men rượu và đi lang thang trên khắp các ngả đường thành phố, qua những đống gạch vụn, những ngôi nhà đổ nát, kéo lê bước chân vô định vào các quán tiệm tồi tàn, các nghĩa trang hiu quạnh…

Anh làm những công việc lặt vặt để có chút tiền gửi cho vợ con hàng tháng, song vẫn sống như kẻ vô gia cư. Anh vẫn thỉnh thoảng gặp vợ mình, song không phải ở nhà, mà ở các góc phố khuất, trên các bãi hoang, trong công viên, hoặc trong các phòng trọ hạng bét, như một đôi tình nhân vụng trộm. Nhưng đó chưa phải điều tệ hại nhất. Điều tệ hại nhất là sau những lần gặp ấy, đến một lúc, Fred Bogner bất chợt nhìn vợ mình, Kate, như một người cách biệt và xa lạ hoàn toàn: “Nàng, người đàn bà mà tôi mới vừa gần gũi trong trọn một đêm thâu, người đàn bà mà tôi đã cưới làm vợ từ mười lăm năm nay. Tôi được dịp nhìn ngắm nàng, xem xét nỗi buồn rười rượi in sâu trên nét mặt nàng, chiêm ngưỡng vóc dáng của thân thể nàng, thân thể đêm đêm đã từng nằm bên tôi trong suốt những năm tháng dài, thân thể mà bốn tiếng đồng hồ trước đây tôi còn gần gũi chung đụng và mới tức thì đây tôi đã không nhận ra”.

Cái cảm thức xa lạ, thậm chí là thù nghịch ấy của Fred Bogner trước hình ảnh người vợ yêu, chỉ có thể bắt nguồn từ thái độ phủ nhận quá khứ như phủ nhận một mặc cảm tội lỗi mà Heinrich Boll, cũng như hầu hết các nhà văn Đức cùng thế hệ với ông, đều đã trải nghiệm trọn vẹn và đầy đau đớn. (Trước chiến tranh, Heinrich Boll từng tuyên bố không nhập ngũ, nhưng rồi vẫn bị bắt đi lính năm 1939, vài lần bị thương, năm 1945 ông bị quân Đồng minh bắt làm tù binh). Nó cho thấy rằng người ta đã phải khó khăn thế nào để có thể sống tiếp sau chiến tranh, để có thể chọn lựa tương lai từ một thực tại hậu chiến toàn những đổ vỡ. Không cần đến những ma thuật của truyện kể, Lạc lối về vẫn ám ảnh người đọc rất mạnh là vì thế.

“Cha tôi đi tàu thủy tới Thụy Điển vào một ngày hè trời sắp đổ mưa. Chiến tranh kết thúc chưa đầy ba tuần”. Đó là những câu mở đầu tiểu thuyết Cơn sốt lúc bình minh của Gardos Peter (Giáp Văn Chung dịch, Nhã Nam & Nxb Lao động, 2018). Khó nói rằng đây là tác phẩm thuộc văn chương hậu chiến. Chính xác, nó là tác phẩm thuộc văn chương viết về hậu chiến tranh thế giới thứ II, bởi vì nó ra đời rất muộn: Năm 1998, sau cái chết của cha, Gardos Peter – một đạo diễn điện ảnh nổi tiếng người Hungary- mới được mẹ đưa cho một xấp thư mà cha mẹ ông đã trao đổi qua lại với nhau trước đó hơn nửa thế kỉ, ngay sau khi chiến tranh kết thúc. Từ xấp thư này, Gardos Peter đã viết thành tiểu thuyết Cơn sốt lúc bình minh và làm nên một cơn sốt thực sự trong làng xuất bản châu Âu năm 2015.

Cuốn sách của Gardos Peter, có thể nói, lấy chất liệu chín mươi chín phần trăm “người thật việc thật”, ấy là cuộc tình của cha mẹ ông và những bức thư mà hai người đã viết cho nhau suốt từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 2 năm 1946. Một phần trăm còn lại là việc của tác giả: đặt những bức thư vào đúng chỗ của chúng trong mạch truyện, tạo khung cảnh cho các hành động mà những bức thư gợi ra, hình dung những chuyển biến tâm lí và cảm xúc của hai đấng sinh thành lúc họ mới thoát khỏi cuộc chiến và gặp nhau.

Cơn sốt lúc bình minh, tên tác phẩm, chỉ những cơn sốt 38,2 độ vào mỗi sáng sớm của Miklos, chàng trai 25 tuổi người Hungary vừa may mắn thoát khỏi lò thiêu của phát-xít Đức và được đưa đến điều trị trên đất Thụy Điển, với cơ thể nặng 29kg, hàm răng bị đánh rụng gần hết, hai lá phổi bị ruỗng vì bệnh lao và thời gian để sống chỉ còn sáu tháng.

Miklos sắp chết, anh biết, nhưng điều đó không ngăn được tình yêu với sự sống và lòng ham sống cuồng nhiệt trong anh. Miklos đã viết thư làm quen với hàng chục cô gái Hung, những người cũng sống sót qua chiến tranh và được đưa đến Thụy Điển điều trị như anh. Lili, một trong số những cô gái ấy đã trở thành người yêu của Miklos, rồi thành vợ anh, trước tiên, từ những lá thư. Tình yêu kì lạ thời hậu chiến của hai con người trẻ tuổi khốn khổ ấy không phải không gặp những cản trở, song bằng sức mạnh vô biên của niềm tin và mơ ước, họ vẫn vượt qua để đến được với nhau và thuộc về nhau.

Hãy nghe Lili trả lời bác sĩ điều trị của Miklos khi ông nói với cô rằng cái ý định kết hôn của họ là vô nghĩa và rồ dại, vì Miklos sắp phải chết: “Tôi tôn trọng trình độ chuyên môn giỏi, kinh nghiệm phong phú của bác sĩ, những thành tựu tầm thế giới của y học. Các loại dược phẩm, máy chiếu Rontgen, các máy hút đờm, ống tiêm của các vị. Tôi tôn trọng tất tật! Và tôi xin ông, hãy để chúng tôi được yên! Hãy để chúng tôi được mơ ước! Tôi cầu xin ông, hãy cho phép chúng tôi không để tâm tới khoa học! Tôi khẩn cầu ông, thưa bác sĩ trưởng, hãy để chúng tôi tự bình phục!”.

Họ quả thật đã “tự bình phục”, vì Miklos không chết ở tuổi 25, mà mãi đến năm mươi ba năm sau ông mới chịu từ giã cõi đời. Có sự can thiệp nhiệm màu của Chúa toàn năng và giàu lòng nhân ái chăng? Không rõ. Và vì thế người duy lí đành phải tự giải thích rằng do sức trẻ, do chế độ điều trị tốt, và đặc biệt là do tác động của một đời sống tình cảm đầy những hưng phấn tích cực mà Miklos đã, một lần nữa, chiến thắng tử thần một cách ngoạn mục.

Hiệu quả ấy, phần lớn đến trực tiếp từ những bức thư mà Miklos và Lili viết và gửi cho nhau hàng ngày, thậm chí hàng giờ. Họ nói với nhau mọi chuyện qua thư: hoàn cảnh sống hiện tại, những nhịp đập thổn thức của trái tim đang yêu, sự cuồng nhiệt với những tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, những ý nghĩ chỉ có thể thốt lên thành thơ, những dự định cho tương lai khi được trở về cố quốc… Những điều họ không nói thì đã có tác giả Gardos Peter – người kể chuyện – con trai của họ nói hộ, và nó thường là những kí ức khủng khiếp xảy ra trong chiến tranh, ví như: “Cha tôi không nói ở trại tập trung Belsen, ông thiêu xác chết ba tháng ròng. Làm sao ông có thể nói về mùi thối bóp nghẹt, tắc nghẹn cổ họng bốc ra từ đống xác người? Có lời nào miêu tả nổi công việc khủng khiếp này? Làm sao có thể tả nổi những cánh tay trần trụi, vẩy mốc cứ trượt khỏi hai bàn tay ông và khô khốc rơi xuống những thân xác đã đóng băng cứng ngắc”.

Những bức thư chuyên chở những-điều-nói-ra ấy đương nhiên là cái xoa dịu những-điều-không-nói-ra-được của họ, là nhịp cầu gắn kết hai con người trẻ tuổi tưởng như đã bị chiến tranh làm cho tan nát. Hơn thế, chúng là dưỡng chất cho tình yêu và cho chính sự sinh tồn của họ, chúng chứng minh rằng con người ta có thể vượt qua sự hoang tàn của thế giới và vượt lên trên những giới hạn làm người của mình xa đến thế nào. Và, nhìn từ một phía khác, những bức thư ấy còn là chứng nhân của một thời tuổi trẻ bồng bột và ngây dại, khi người ta nuôi trong mình khát khao trở thành một triết gia về đấu tranh giai cấp, khi người ta say mê diễn thuyết về sự phân phối công bằng của cải trong xã hội, khi người ta muốn viết một đại tiểu thuyết về sự tận diệt của nhân loại… Tất cả những điều đó, sau chính biến Hungary 1956, đã hoàn toàn lịm tắt trong Miklos, không để lại một dư vang.

Lạc lối về của Heinrich Boll và Cơn sốt lúc bình minh của Gardos Peter, hai tiểu thuyết ra đời cách nhau hơn nửa thế kỉ, kể những câu chuyện khác nhau, nói về những cách thế sống và những số phận cuộc đời rất khác nhau của con người châu Âu sau khi chiến tranh thế giới thứ II tàn cuộc. Nhưng có một điều trùng hợp trong sự khác biệt giữa hai tiểu thuyết này: Chúng không kể những câu chuyện mang tính phổ quát, mà đây là những câu chuyện hết sức cá biệt, những mẫu hình của sự sống chưa từng được biết đến từ trước tới nay, như một ý về tiểu thuyết mà Milan Kundera từng đề cập. Chỉ cần thế thôi, có lẽ cũng đã đủ để làm nên sự đáng giá của chúng trong văn chương hậu chiến và viết về hậu chiến tranh thế giới thứ II.

4/8/2021

Hoài Nam

Theo https://vanvn.vn/

Bụi thời gian đọng lại vết chai sần

Bụi thời gian đọng lại vết chai sần

Là nhà nghiên cứu, lý luận phê bình văn học, Thy Lan đã có các tập tiểu luận, phê bình văn học Những cánh đồng mang gương mặt người – NXB Hội Nhà văn, Mạch ngầm con chữ – NXB Hội Nhà văn, Ngôn ngữ đối thoại – NXB Hội Nhà văn. Bên cạnh đó, Thy Lan vẫn dành cho thơ những cảm xúc riêng bởi chị quan niệm “Thơ góp vần gieo gió thổi qua truông” (Giao mùa).

Tập thơ Trăng đầu hạ dưới bút danh Lan Lê của Thy Lan do NXB Thanh Niên ấn hành là kết quả của những chuyến đi thực tế ở cơ sở, là quá trình trải nghiệm và cảm nhận về lịch sử dân tộc, về công cuộc đổi mới đang diễn ra trên đất nước ta cùng những cảm xúc về tình yêu. Tập thơ là hành trình khám phá và thể nghiệm của Thy Lan trước hiện thực đời sống phong phú và sinh động, khẳng định bản ngã thơ của mình.

Cọ đứng xòe ô cho con cháu tụ về

Trong một lần về với đền Hùng, từ hồi ức về truyền thuyết Trăm trứng, Sơn Tinh Thủy Tinh và Bác Hồ nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên phong… nhà thơ nghĩ về cội nguồn dân tộc như một cách giải mã lịch sử, giản dị mà đầy đủ:

Từ bọc trứng Âu Cơ – Một dân tộc hình thành

Hai tiếng đồng bào gần gũi thiêng liêng

Cuộc phân ly lên rừng xuống biển

Thành hình hài đất nước buổi bình minh.

(Về thăm đất Tổ)

Cảm hứng lịch sử trong Trăng đầu hạ của Thy Lan là những bài học trong sách giáo khoa, là những chuyến về nguồn đầy ắp tư liệu để lịch sử dân tộc trong thơ chị không chỉ có cái hào hùng, vĩ đại mà còn chứa đựng một giá trị nhân văn sâu sắc, lãng mạn:

Bao thế kỉ qua, đa vẫn đứng uy nghi

Cây ổi linh thiêng – Cười như huyền thoại

Hồn tiên tổ lẫn vào hồn cây cỏ

Vẫn vui đùa cùng con cháu chúng sinh.

Về Lam Kinh ngày hội chốn anh minh

Trò Xuân Phả thập thình câu chuyện cũ 

Trời Đại Việt vững bền qua bão tố

Cháy bừng lên gương mặt thái bình.

(Về Lam Kinh ngày hội)

Có dịp lên Điện Biên, chị đã có chùm bài thơ về Tây Bắc mến yêu như để tri ân mảnh đất và con người nơi đây: Khát vọng Sơn La, Tháng tư mùa ban trắng, Điện Biên…

Những người tù ở ngục Sơn La

Sống trong quan tài

Chết không quan tài

Quan tài là đất mẹ!

… Tô Hiệu hóa thân trong sắc biếc cành đào

Cây tỏa bóng cho cháu con bước tiếp.

(Khát vọng Sơn La)

Tây Bắc giờ đã thay da đổi thịt. Sự hy sinh của các anh đã hóa thành bất tử, các anh đã hòa vào trong sắc trắng hoa ban, hòa trong điệu xòe các cô gái Thái, trong men rượu cần, trong đắm đuối lăm vông. Các anh đã hòa trong sắc trời Tây Bắc…

Sức sống, sức bật dậy của Tây Bắc như là cách để tri ân những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống đất này. Tháng tư mùa ban trắng là kết đọng những cảm xúc yêu thương, tự hào về người lính về dân tộc mình. Thy Lan có những câu thơ giàu hình ảnh, giàu sức khái quát, truyền cảm:

Lúa dồn mật vá lành bao thương tích

Phơi sắc vàng giữa đồng đất Mường Thanh…

… Người lính trẻ trên tay cành ban trắng

Hoa lại từ trong ánh mắt xòe ra…

Tác giả sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, nhân hóa trong những câu thơ trên đã tạo nên một hiệu quả biểu đạt với giá trị nghệ thuật đặc sắc, dư ba… Những câu thơ như tích tụ năng lượng của cảm xúc và trí tuệ, cảm và nghĩ, ngôn từ và biểu tượng, nồng nàn và sâu thẳm trong trái tim nghệ sĩ Thy Lan.

Tôi miên man như một kẻ nợ nần

Có thể nói Thy Lan là một trong những người viết nhiều về quê hương xứ Thanh với sự trân trọng những giá trị lịch sử, tinh thần lao động dựng xây và thành quả của công cuộc đổi mới. Từ đồng bằng, miền núi đến các đô thị, cuộc sống bừng lên sắc màu của ấm no, hạnh phúc:

Ai vẽ bậc thang vàng óng

Bóng mế cuộn trong mùa màng!

Ai xui điệu khèn xuống núi

Để khói ngỏ lời lang thang!

(Ngày mùa)

Chỉ vài nét chấm phá ruộng bậc thang, mế cuộn trong mùa màng, điệu khèn xuống núi, khói lang thang… đủ thấy sự ấm áp no đủ của đồng bào các dân tộc thiểu số. Các biện pháp ẩn dụ, nhân hóa, điệp từ cùng câu hỏi tu từ “Ai” đã tạo nên hiệu quả thẩm mĩ. Bức tranh vào mùa ở vùng cao thật sinh động, hữu tình, đặc trưng, có cảnh và người, có màu sắc và âm thanh. Người xưa nói “Thi trung hữu họa, hữu nhạc” là đây!

Một lần đến với bản Năng Cát (xã Trí Năng, huyện Lang Chánh), Thy Lan như ngập tràn cùng thác Ma Hao, với sương giăng bóng suối ngọc ngà, cơn mưa vòng đáy mắt, ánh lửa khuất chìm gương mặt… Cái tình của người Trí Năng thật dạt dào sâu nặng mà cũng thật tinh tế,chân thành;

Cơn mưa nào gợi nhớ những ngày xa

Trai gái chọc sàn tìm đôi kết lứa

… Nếu quả thật ông giời thương sắp đặt

Anh ở lại cùng em tắm suối thác Ma Hao!

(Nhà sàn nép bóng đêm trăng)

Suối cá Cẩm Lương (Cẩm Thủy) đã từng làm mê đắm bao du khách, hấp dẫn bao ngòi bút của thi nhân. Với Thy Lan trước “Đàn cá mộng mơ uốn mình như nét vẽ”, thế là đủ để tả về suối cá thần ấy. Nhưng tác giả nghĩ xa hơn, sâu hơn về cách giải mã cho sự bí ẩn của huyền thoại nơi đây Núi Trường Sinh khép mở chuyện ngày xưa/Để suối Ngọc suốt một đời ngọt mát…/Đu nỗi nhớ gỡ rối điều cởi mở.

Thành phố Thanh Hóa ngày càng phát triển và khởi sắc, xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh. Đi giữa thành phố mà bồi hồi xao động:

Mùa thu này thành phố bỗng thu hơn

Bao sắc lá cùng lòng người rạo rực.

Tôi đi dọc những phố phường sầm uất

Điện sáng bừng lên cùng sắc đỏ sao vàng

Dòng sông Mã thu này về cũng khác

Nước bỗng như người muôn mặt chứa chan.

(Sắc thu thành phố)

Khi được công nhận là thành phố loại 1, nhà thơ vui niềm vui của người dân thành phố những người lao động chân chính “Người níu người… khoe nụ cười trên khuôn mặt thân thương”. Một Thy Lan luôn thân thiện, hòa đồng với xung quanh:

Em ngợp trong cao ốc rực rỡ sắc màu

Điện tỏa sáng công viên rộn tiếng cười trẻ nhỏ

Phố vẫn phố mà đẹp hơn sắc phố

Chợ vẫn sớm chiều mà náo nhiệt hơn xưa.

… Đêm thành phố của tôi ngọt hương rừng, hương biển

Tôi thả hồn cùng hương sắc phố ngàn hoa.

(Đêm thành phố ngàn hoa)

Đã từng yêu lính và bây giờ là vợ lính, Thy Lan có những bài thơ về người lính thật ấn tượng (Chiều giăng lối nhỏ, Lần đầu với đảo, Tết về cùng anh…). Những người lính thời bình vẫn ngày đêm luyện tập, canh giữ đất trời, biển đảo thiêng liêng để người dân được bình yên và Tổ quốc không bị bất ngờ. Thăm đồn biên phòng cảng Nghi Sơn, nhà thơ cảm phục tinh thần yêu nước của các anh càng thấu hiểu nỗi niềm xa nhà, xa người thân của mỗi người lính đảo:

Lính biên phòng chiều nghe sóng hát

Cảng quê mình rộn rã tiếng còi xa…

Bữa cơm trưa câu chuyện cũ làm quà

Người đồn trưởng tiếng cười tan vào nắng

Không giấu được trong ánh nhìn sâu lắng

 Nỗi nhớ nhà dằng dặc mắt xa xăm…

(Chiều giăng lối nhỏ)

Dẫu là đã mở lòng để đón nhận bao niềm vui trong cuộc sống đáng yêu này, vậy mà đâu đó trong tập thơ Trăng đầu hạ của Thy Lan vẫn còn những vương vất nỗi buồn thế sự (Nét xuân, Thu xưa, Con đường…).

Em đi qua bao sự bất ngờ

… Cơn sốt lợi danh, tiền tài, xu nịnh

Như đám mây nặng nước ập òa.

(Nét xuân)

Mượn con đường để nhà thơ nâng lên thành hình ảnh so sánh, triết lý và gửi gắm nỗi niềm:

Đường vòng mưa nắng liêu xiêu

Đường ngang, lối dọc với nhiều phân vân…

Con người lắm lúc vô tâm

Bon chen hơn thiệt lỗi lầm giăng dây

Lúc vui cạn chén rượu đầy

Khi buồn tan tác đám mây bùng nhùng.

(Con đường)

Đây là một trong hai bài thơ lục bát hiếm hoi của tập thơ. Thy Lan đã tạo nên nhịp thơ chậm rãi, phần nào mang âm hưởng của ca dao.

Đêm mông lung như cạn lại như đầy 

Sẽ là không trọn vẹn nếu không đề cập tới mảng thơ viết về tình yêu của Thy Lan. Trong Trăng đầu hạ có đến hơn chục bài thơ về tình yêu với góc nhìn của  người từng trải. Có hồi hộp đợi chờ, có nồng nàn cháy bỏng và cũng có những giây phút chòng chành, liêng biêng…

Hình như Thy Lan ưa chọn mùa thu để thể hiện tình yêu? Hồi hộp, bâng khuâng đón chờ thu để được đắm say giữa sắc trời tím biếc:

Anh có nghe thu gõ nhịp sang ngày

Em hồi hộp giữa sắc trời tím biếc

Cô đơn, yếu mềm, đắm say quyết liệt

Em mặn nồng như bông điệp đa đoan…

Mượn biển để nói lời tình yêu là cảm hứng bất tận của thi nhân. Đứng trước biển biết bao tâm trạng và biết bao liên tưởng. Biển muôn đời vẫn là sóng, gió, trời mây, thuyền bè, bến, bờ, bãi cát… Thy Lan thể hiện tình yêu bằng cách riêng của mình:

Em vẫn hiểu thuyền ra khơi, rẽ sóng

Buồm biết gom thao thức gió ven bờ…

Em vẫn hiểu chòng chành nơi bến đỗ

Sợi dây bền neo giữ giấc mơ xưa!

(Tâm tư)

Đây là những câu thơ hay về tình yêu, vừa gợi tả vừa gợi cảm bằng lối nói ẩn dụ mang nhiều tầng nghĩa. Phải yêu hết mình, Thy Lan mới tinh chiết được những câu thơ chất như thế này “Buồm biết gom thao thức gió ven bờ…”.

Còn đây là tình yêu của người vợ ở hậu phương có chồng là lính biên phòng nơi “rừng sâu, ngõ hẻm”:

Khi sống chết chỉ còn gang tấc

Giấc ngủ tỉnh mơ

Cô đơn lạnh cóng mùa đông

Hơi ấm đàn bà cám dỗ…

Tình yêu là bến đỗ

Đôi môi mềm nâng đỡ bước chân anh.

(Giọt sương còn đọng môi mềm)

Hơn ai hết, tác giả là người trong cuộc nên rất hiểu những khó khăn gian khổ của người lính xa gia đình, vợ con. Núi rừng biên cương hùng vĩ nhưng cũng là địa bàn hoạt động của bọn tội phạm ma túy. Sự hiểm nguy luôn rình rập. Và có thể có những cám dỗ khác nữa… Chúng ta tin ở phẩm chất của người lính Cụ Hồ. Còn với những người vợ lính (như Thy Lan) có thêm một niềm tin vững chắc nữa: Tình yêu là bến đỗ!

Một thông điệp mà Thy Lan muốn gửi tới độc giả, tới các bạn trẻ đang yêu là chỉ có niềm tin, lòng thủy chung và sự trân trọng mới giữ cho tình yêu bền chặt và đơm hoa kết trái!

Trăng đầu hạ là tập thơ đầu tay của chị – một cây bút trẻ, bắt đầu cho một thời kỳ sung sức cả về nghiên cứu phê bình. Thơ chị bao quát được nhiều vấn đề của đời sống với chiều sâu của tư duy và cảm xúc, ngôn ngữ giàu hình ảnh và có sức khái quát cao. Và hình như Thy Lan đang tiếp cận với xu hướng triết lý trong thơ nhiều hơn!.

4/8/2021

Lê Xuân Soan

Theo https://vanvn.vn/

Ngô Phan Lưu với lối viết độ không

Ngô Phan Lưu với lối viết độ không

Dù muốn dù không thì hình thức được lựa chọn là đối tượng của nhà văn. Vậy nhà văn Ngô Phan Lưu chọn hình thức nào để xác lập lối viết? Tôi không nói văn phong, vì văn phong tức là người sao thì văn vậy, là tâm tính bẩm sinh xuất phát từ hồn vía và thân thể, vấn đề ở đây là lối viết, tức có cả yếu tố tư tưởng, cái nhìn, suy tư và cả văn hóa nền, tức là ý thức xã hội và ý thức cá nhân được hòa trộn, điều này quyết định người viết có được xem là nhà văn hay không.

Trường hợp nhà văn Ngô Phan Lưu, một trong những “cây gộc” nhà văn – nông dân của miền Trung vào những năm gần đây là lối viết trở về, ông đã xóa hết những ảnh hưởng Tây học với mong muốn có lối viết trơn, lối viết hồn cốt của minh triết Việt. Nói thêm: Trước khi làm nông dân rồi nhà văn, ông là sinh viên triết nhiều năm. Ngô Phan Lưu sinh năm 1946 tại Phú Yên. Cho đến giờ này, ông đã xuất bản bốn tập truyện ngắn: Người không giăng câu Kiều, Cơm chiều, Xoa tay và cười, Con lươn chép miệng.

Thử khảo sát một số truyện của ông trong ý định không xâu chuỗi vì rằng sợ như vậy sẽ đánh mất nét độc đáo của từng truyện. Con lươn chép miệng là tên tập truyện (tôi chọn ngẫu nhiên) và cũng là tên của truyện ngắn đầu tiên trong tập. Riêng cái tiêu đề phần nào đã nói lên lựa chọn của ông, là cách nói dân dã, cách nghe dân dã, cách buồn dân dã và cách không buồn cũng của dân dã. Dường như sự nhấn mạnh “nhà văn nông dân” là một khế ước mà Ngô Phan Lưu muốn kí với cuộc đời. Đó là tín hiệu đầu tiên.

Trong truyện ngắn thay lời phi lộ của tập sách này, cái lựa chọn cục phân của thằng cu Phát cháu nội, “cục phân đã khô quắt lại, nhỏ xíu, mũi nhọn vươn cong lên trời”, để nỗi nhớ bám víu vào, tôi nghĩ tác giả không dùng cái cách “ăn cục nói hòn” quê mùa nhằm gây xúc động hay chủ ý kích thích tình cảm của mọi người, theo tôi nó ngầm dự báo một ý nghĩ, một tình trạng thay đổi, sẽ quay về trong cách viết, trong tình cảm con người, nhất là của người nông dân, cũng có thể gọi nôm na là “cách mạng”. Chắc chắn có ý nghĩa song song, nhưng tiếng lươn chép miệng ở đây là tiếng cười “dứt khoát không buồn”, nó vừa là cười chính sự lẩm cẩm bé mọn của mình vừa là cười người khác, cười mà không gây tổn hại, cười để thay đổi. Câu hỏi đặt ra: Tại sao có những điều thuộc về con người, văn bản văn chương lại chối bỏ, lại e ngại?! Tiếng cười tự nó không có ý nghĩa gì nhưng trong cuộc vận hành này nó lại có nghĩa. Một dự báo nữa từ tập truyện: Ngô Phan Lưu, một lối cười thoát khỏi các định chế, thoát khỏi các công thức, các khung, các sườn cũ, ông đã chọn lối nhếch mép thâm thúy như ban đầu, như nguồn, như muôn đời của người nông dân cùng khổ miền Trung.

Sang truyện ngắn “Giải thoát” thì cái ý nghĩ “cách mạng” lại tung tẩy sang một lãnh địa khác. Tôi không viết bài này nhằm phê bình văn bản, tôi muốn tham dự vào “cuộc chơi” cùng nhà văn Ngô Phan Lưu với cấu trúc sâu xa – trơn trắng của tác phẩm. Tôi có quyền như vậy vì nghĩ rằng người đọc không phải là người “tiêu thụ” tác phẩm mà là người “sản xuất” trên cái nền nhà văn đã viết nên. Mã hiệu đầu tiên mà chúng ta khảo sát là loại mã hiệu chú giải: “Lão Bốn Nham nay bảy mươi sáu, sống cùng vợ tại nhà số 6 hẻm 13 tổ 9 khu phố Bà Triệu”. Sao phải cụ thể, rõ ràng, chi li như vậy? Chính sự cố ý này đã tạo trong lòng người đọc một nghi vấn ngược lại, không gian bắt đầu lồi lõm, bí mật thứ nhất được gieo vào truyện là bí mật ẩn dụ về không gian. Cách thức này hơi mới một chút, hơi tinh một chút so với những “làng”, “thôn”, “chiếc hộp”, “trại”… nhằm ẩn dụ một bối cảnh khác được dùng nhiều trước đây, bởi vì trong tiếng Việt cứ nhấn nhá, dây cà dây muống một cách cố ý thì y như rằng người nghe sẽ có phản ứng nghi ngờ, nói vậy mà không phải vậy. Chiếc chìa khóa an toàn đã được tra vào ổ. Mã hiệu thứ hai khơi lộ là chiếc bình cắm hoa trên bàn thờ, tới đây thì chúng ta cứ ngỡ truyện như một câu chuyện bình dân dễ hiểu, nhưng hai lần nhà văn nhấn mạnh thủ phạm trong sự nhập nhằng giữa chuột và mèo thì cái nghĩa “dễ hiểu” trước đây đã bị bỏ rơi. Lần thứ nhất nghi ngờ chuột hay là mèo từ phía vợ Bốn Nham, lần thứ hai thì chính trong suy nghĩ của lão Bốn Nham: “Lúc ngồi co rút trông giống con mèo”. Và mập mờ về bản lai diện mục là “một con vật đa hình thể” làm cho người đọc bị dẫn đi theo hướng của nhà văn, hướng của “sương mù”, của thế giới khác. Xem như đối tượng thực muốn nói đến đã bắt đầu lộ diện ở phân đoạn thứ nhất. Phân đoạn thứ hai – đặt bẫy – làm rõ hơn về thủ phạm: “nghe được tiếng người”, “thù vặt”… chỉ là một bước bồi để rồi cố ý dẫn tới sự nhận diện đến bàng hoàng, “há hốc mồm” nhìn thủ phạm “ác độc đến ma quái” đang thản nhiên hiện ra. Sự đóng băng vì sợ, trốn chạy vì sợ là một thực trạng nhưng tại sao đến cuối truyện thì cả hai vợ chồng Bốn Nham đều hết sợ? Tìm săn – sợ hãi – tôn thờ là một quá trình chuyển biến, đảo lộn tâm lý đặc biệt, cường độ cảm xúc được đẩy lên cực mạnh, để đến khi tưởng là gỡ bỏ được dồn nén thì thật ra đó là lúc con người khác đi, làm cho bị khác đi, mất tự chủ. Phải chăng chính sự nhận diện cuối cùng mà nhà văn gọi là định thần đã làm cho họ không còn sợ hãi nữa? Không phải! Hai chữ “định thần” ở đây được hiểu theo nghĩa định thần – giả tạo, định thần – tự lừa mị. Hệ quả của sự bất lực là bệnh thần thánh hóa, hình ảnh vợ chồng Bốn Nham vái lia vái lịa là thực trạng đau đớn hơn rất nhiều thực trạng “co rúm” vì sợ hãi trước đây. Mã hiệu cuối cùng là loại mã hiệu tượng trưng đã phát huy được tác dụng và đương nhiên nó cũng thú nhận một sự thật về nguồn gốc vô thức của văn bản truyện ngắn này là bệnh sùng bái cái mạnh, cái ác trong mỗi con người chúng ta, cả tôi và cả bạn.

Văn bản cần khảo sát thứ ba là “Buổi sáng biến mất“, với truyện ngắn này ông được trao giải nhất báo Văn Nghệ 2007. Như ông tâm sự: Văn chương phải khảo sát những gì có thể xảy ra trên cái nền hiện thực đã xảy ra, nên việc đọc của tôi sự thực là khảo sát của những khảo sát.

Mô típ gieo ẩn dụ không gian được lặp lại, “Xóm ao”, nghe chừng cái liên văn bản ca dao “ta về ta tắm ao ta” chuẩn bị được lộn trái. Cái cách nói tưng tửng: “đội banh Nhà thương”, “gôn Tử thần” nhằm làm cân bằng cho những thổn thức trong căn nhà rã nát mà tác giả sẽ mở ra: “Đau đớn mà đòi sống, đúng là người ngu. Phải đòi chết cơ, như chú đã đòi. Có lẽ, cạnh những chân lý năm tháng dài hạn, còn có chân lý phút giây ngắn hạn. Mà cái chân lý phút giây ngắn hạn ấy lại có thể là chân lý vĩnh hằng.” Sự tàn nhẫn không sinh ra từ nghèo khổ, nó nảy nòi từ cái phần ác bên trong con người, nhưng nghèo khổ chính là môi trường, chính là cái cớ để sự tàn nhẫn phình to, chiếm đoạt đời sống, sự sống.

Thử đọc thành lời đoạn thoại mà qua đó nó nói đến những thứ không phải là xương thịt của nhân vật Khiêu đã rã nát, một loại rã nát từ bên trong: “- Nói thế sao được, hả chú? Cứ xem lão Phiệt đấy, cũng trầm trọng chí tử liên miên, mua hòm trước có đến ba lần, đều cất đấy chờ mọt ăn. Vậy mà nay vẫn sừng sững chén thịt chó”.

Chú Khiêu quay mặt lơ đãng ra cửa sổ, nơi có tiếng hót trong veo, ríu rít của mấy chú chim sâu trong khóm lựu xơ xác. Chú lại nói, giọng yếu ớt:

“Mua hòm trước là… người khôn. Không mua hòm trước là… kẻ dại. Chú đã dại. Chết rồi, Ai mua?”

“Thuấn lại nín lặng. Cái nín lặng buộc anh nín lặng. Lại cũng ở tầng sâu câu nói ấy, trùng trùng cay đắng oán hờn.” Đến đây thì người đọc không cười được nữa, hoặc cười thì là kiểu cười méo xệch, kiểu cười bẽ bàng, cười hiểu ra cái sự đời thật khốn nạn cùng với tác giả. Đó, cái “xóm Ao” mà con người luôn muốn quay về nay đã ra nông nỗi. Nhà thương, lòng thương, tình thương lần lượt tan rã, biến mất như sự biến mất của buổi sáng cuộc đời, biến mất ngay cả cái không tính ban sơ. Một cảnh báo chấn động được viết ra chỉ bằng lối kể rất đặc thù của người nông dân, không hoa hòe hoa sói, không vận dụng một thi pháp sách vở, vay mượn nào…

Một truyện ngắn lý thú ông viết gần đây là “Con kỳ nhông nhựa”. Lão Lú của xóm Rọ Hươu chuyên kể chuyện ma láo đã “nắm thóp” tâm lý đám đông, đám đông: dễ bị kích động, dễ trở thành ngây ngô, dễ tin, dễ không tin và cũng dễ bị lừa. Ma láo nhưng đề phòng thật, người được đặt vào thế giới ma, ma lại đặt vào thế giới người, nhờ vào tài quan sát nhạy bén Ngô Phan Lưu đã khai thác rất tinh các mô típ kể chuyện quen thuộc của dân gian để biến nó thành lối viết của mình, do vậy đọc văn Ngô Phan Lưu ta biết, không lẫn vào đâu, đây là một nhà văn nông dân Việt Nam chính hiệu.

Ấy là độ không của lối viết vậy. Và người đọc là tôi chợt muốn rũ bỏ những “hành trang không cần thiết” trên người, chợt khao khát trở về với cái sạch, với độ không nhờ tiếp xúc với độ không.

6/8/2021

Nguyễn Hiệp

Theo https://vanvn.vn/

Bản đồ văn chương - Tìm mãi tên anh

Bản đồ văn chương
Tìm mãi tên anh

Đề tài văn chương Việt Nam suốt thế kỉ qua đã được các chuyên gia nghiên cứu kĩ lưỡng và công phu. Đặc biệt là giai đoạn từ “đổi mới” 1986 đến nay, họ cập nhật thường xuyên. Tất cả thêm một lần khẳng định: Bản đồ văn chương thế giới chưa thể ghi tên Việt Nam. Dăm bảy con én không làm nên mùa xuân.

Trên một bản đồ văn chương

Phải nói thẳng với nhau rằng Việt Nam chưa có tên trên bản đồ văn chương thế giới.

Chính thức ra thì không ở đâu công bố một cái bản đồ như vậy. Cũng không có một hội đồng chính thức nào được lập ra để vẽ một cái bản đồ như vậy. Nhưng thực tế thì cái bản đồ ấy vẫn có. Có, trong đầu những thành viên các hội đồng giải thưởng quốc tế và hội đồng khu vực, các viện hàn lâm quốc gia và quốc tế. Hội đồng Nobel chẳng hạn, Hội đồng Booker chẳng hạn, Viện Hàn lâm Thụy Điển và Viện Thụy Điển chẳng hạn. Nói thì bảo nghiệt ngã, sự thực thì mấy ông lớn bà lớn văn chương ấy chỉ cần nghe nói đến văn chương Á – Phi – Mĩ Latinh chung chung thì trong thâm tâm đã biết nên lướt qua cho nhanh.

Thử tưởng tượng, hầu hết những ông bà cầm cân nảy mực ấy họp nhau trong một hội đồng quốc tế, thì bản đồ văn chương thế giới mà họ vẽ ra chắc chắn là chưa có Việt Nam.

Cho đến một ngày, ông chủ tịch hội đồng bản đồ văn chương xem qua bản đồ quân sự thế giới, bản đồ nông nghiệp thế giới, thấy có tên Việt Nam. Nổi bật là khác. Bao nhiêu trận đánh lớn trong vài nghìn năm. Hàng đầu thế giới về sản lượng gạo và cà phê. Thế là quá đủ cho dải đất hình chữ S có tên trên bản đồ chuyên môn.

Ông chủ tịch hội đồng bản đồ văn chương cho triệu tập cuộc họp hội đồng thành viên. Đề nghị rà soát lại thành tựu văn chương Việt Nam trong một trăm năm qua. Tức là xem văn chương Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay có gì đáng chú ý, bảo đảm để hội đồng không bỏ sót một giai đoạn, không bỏ sót một tác giả. Cần lưu ý là trong quy mô một đất nước, nước nào cũng có vô vàn thành tựu văn chương. Nhưng hội đồng chỉ quan tâm những thành tựu ở tầm mức toàn cầu.

Ý kiến của các thành viên rất thống nhất. Đề tài văn chương Việt Nam suốt thế kỉ qua đã được các chuyên gia nghiên cứu kĩ lưỡng và công phu. Đặc biệt là giai đoạn từ “đổi mới” 1986 đến nay, họ cập nhật thường xuyên. Tất cả thêm một lần khẳng định: Bản đồ văn chương thế giới chưa thể ghi tên Việt Nam. Dăm bảy con én không làm nên mùa xuân.

Và một Olympic văn chương

Cũng như Olympic thể thao thế giới vậy. Đoàn Việt Nam có thể kéo quân hùng hậu đến đấy. Đoạt được một số huy chương vàng, bạc, đồng. Thế đã đủ hân hoan và đáng cổ vũ. Nhưng toàn đoàn thì vẫn loanh quanh xếp thứ 100 và xa hơn, trong tổng số 200 nước tham dự.

Chính xác đấy là tình trạng thành tích và thứ hạng của đoàn Việt Nam nếu có một Olympic văn chương thế giới.

Điểm, thì đã có dăm bảy điểm le lói. Nhưng diện, chưa gây ấn tượng cho thế giới rằng ở đất nước vùng Đông Nam Á bên bờ Thái Bình Dương ấy có một nền văn chương lớn mạnh. Vậy để thấy, hội nghề nghiệp văn chương có nỗ lực đến mấy thì cũng mới chỉ thúc đẩy được một nền văn chương mang tính phong trào, đại trà. Tức là mới tập trung phát triển diện rộng, như ươm trồng một vườn hoa. Vườn thì có nhưng hoa lạ thì hiếm hoi. Trong ấy chưa có đủ hoa quý hoa hiếm để gây ấn tượng với thế giới bên ngoài.

Đại lộ danh vọng – bao giờ?

Thế còn những người có tên trong danh sách các hội đồng bản đồ và Olympic văn chương? Nobel văn học chưa hẳn là một giá trị khi đứng trước cái khắc nghiệt của thời gian. Bản đồ văn chương thế giới và Olympic cũng chưa hẳn là giá trị. Huy chương trao xong, người ta vẫn có thể phản biện hoặc tỏ ý không tán đồng.

Đúng vậy. Nhưng như trong thể thao, trọng tài là cha mẹ. Như trong thi cử học đường, bút sa gà chết, bút đỏ thầy đã phê thì khó cãi. Như trong quán ăn, quyền phán xét chất lượng món ăn là ở người thưởng thức. Còn giới chuyên môn có quyền tôn vinh hoặc bác bỏ.

Cái danh sách mà hễ cần nhắc đến văn chương Việt Nam là người ta đưa ra, danh sách ấy nhắc lại là để cho các hội đồng và công chúng cùng nhau lưu ý và kiểm chứng theo thời gian. Có người còn tiếp tục đạt thành tích trong thi đấu. Có người kì trước đoạt huy chương nhưng kì sau ngã ngựa.

Nói cách khác, sự liệt kê bao gồm hầu hết những người đang ở trong tầm ngắm. Mỗi tác phẩm mới của họ được quan tâm phân tích mổ xẻ. Sự trồi sụt chất lượng của tác phẩm được ghi nhận. Họ được đặt trong dòng chảy văn chương đất nước mình và tiến trình văn chương toàn cầu. Một ngày nào đó, họ có thêm nhiều tác phẩm được chú ý, nền văn chương của họ có thêm nhiều tác giả được chú ý, hình thành một đội ngũ mạnh mẽ vững vàng, thì chính là ngày đó.

Đó là ngày người ta sẽ ghi tên Việt Nam trên bản đồ văn chương thế giới.

Cần nhắc lại: Dăm bảy con én chưa đủ làm nên mùa xuân. Phải là đàn đàn lớp lớp những đàn én nối nhau mà bay. Những con chim đầu đàn mạnh mẽ kiêu hãnh đưa cả đàn theo đi. Chỉ khi ấy, một nền văn chương mạnh mẽ hình thành, khiến cho người ta phải giật mình sửng sốt, phải tấm tắc xuýt xoa, phải không thể nào bỏ quên bỏ qua khi thảo luận trong những diễn đàn chuyên môn.

Phải là khi ấy.

Chờ đợi trong nỗ lực

Nhưng làm thế nào để đến được “khi ấy”?

Câu trả lời là chỉ khi nào xuất hiện nhiều tài năng. Tài năng lớn. Tài năng thực sự.

Trong bài Điện ảnh của ta ơi, hãy xem phim Iran, tôi từng kể về một lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho các nghệ sĩ điện ảnh. Họ được một đạo diễn nước ngoài hướng dẫn, được xem một số phim thuộc hàng kiệt tác của điện ảnh Iran. Rồi ông thầy nước ngoài hỏi các đạo diễn Việt Nam: Nếu được làm một phim như phim Iran ấy, anh chị thấy mình thiếu gì?

Trả lời: Thiếu tiền.

Hỏi: Ấy chết, nghĩ lại đi. Những phim Iran ấy đều là phim ngân sách thấp, hầu như không có đại cảnh, rất ít nhân vật?

Trả lời: Thế thì thiếu máy móc phương tiện hiện đại.

Hỏi: Thật thế sao? Nhiều phim Iran chỉ dùng máy móc không hiện đại, thao tác đơn giản, nhiều khi để máy quay trên vai, không chân, không cần trục… Thao tác cũng giản dị luôn. Còn hậu kì thì Việt Nam cũng có phim được mang ra làm ở nước ngoài rồi đấy thôi?

Trả lời: Thế thì tôi thiếu một hội đồng duyệt kịch bản mang tính chuyên nghiệp và cởi mở.

Hỏi: Anh chị hãy nhớ rằng Iran là nước đạo Hồi, rất khắt khe với đề tài xã hội, tình yêu, tôn giáo?

Thôi, đến đây chẳng cần nghe thêm cuộc đối thoại bất tận, đổ vấy lung tung ấy nữa. Nghe đến thế cũng đã ngầm thấy rằng lẽ ra phải thành khẩn trả lời ngay: Chúng tôi thiếu tài.

Cái tài sẽ tạo ra mê đắm, ra lửa, ra sự tử vì đạo. (Ví dụ hi sinh tiền thù lao, chứ không phải đạo diễn và chủ nhiệm phim càng hạ thấp yêu cầu, càng cấu véo nhiều cho túi riêng càng tốt. Ví dụ phải rưng rưng xúc cảm trên từng khuôn hình mà người đời ai cũng đã thấy, nhưng ai cũng coi thường lướt qua, chỉ người có tài là biết dừng lại, biết ngạc nhiên…)

Cũng vậy với các nhà văn ta. Đã có nhiều cuộc hội nghị hội thảo tọa đàm theo chủ đề làm thế nào để có tác phẩm lớn. Rất nhiều quan điểm được đưa ra, tựu trung chỉ loanh quanh mấy đòi hỏi:

– Phải có tiền (nhà nước hoặc tài phiệt đầu tư).

– Phải được thông thoáng về duyệt.

– Phải có phương tiện kĩ thuật hiện đại (sân khấu, điện ảnh và những ngành nghệ thuật liên quan đến kĩ thuật thì đòi thêm điều này).

Tiền!

Duyệt!

Phương tiện!

Đấy là mấy lí do muôn đời đưa ra để tránh nhìn thẳng vào một sự thật: Phải có tài năng lớn. Mà tài năng lớn thì đời nào cũng thiếu. Đời nay lại càng trông chờ mỏi mắt.

Nhưng không phải cứ quyết tâm duy ý chí mà được. Tài năng như hoa của cây vô ưu ashoka, trăm năm mới nở một lần, có khi cả thế kỉ chẳng nở được bông nào.

Vậy thì chẳng cần phải sôi sục lên, loay hoay tìm đủ biện pháp để kích cho hoa nở sớm. Mọi biện pháp nhân tạo sẽ cho ra thứ hoa nhân tạo, hoa ngắn ngày. Một môi trường tự do thông thoáng không tạo ra thiên tài. Bởi nếu như vậy thì các nước dân chủ Âu – Mĩ đã đầy ắp thiên tài. Nhưng một môi trường thông thoáng sẽ như bầu không khí trong veo không ô nhiễm, nước sạch cỏ xanh, nơi ấy mới mong một ngày hoa vô ưu sẽ nở.

Nói gọn lại, thế giới này đều thiếu thiên tài. Phải thừa nhận thành thật chứ không đổ vấy sang chuyện khác. Và không thể nóng vội rùm beng lên bằng những biện pháp sản sinh nhân tạo. Hãy tạo môi trường nước sạch trời xanh và chờ đợi. Đừng nghĩ thế là thụ động. Đó là sự chờ đợi trong nỗ lực xây dựng bầu khí quyển lành mạnh.

8/8/2021

Hồ Anh Thái

Theo https://vanvn.vn/

Trái tim như dáng lưỡi cày

Trái tim như dáng lưỡi cày “Ðể suốt đời cày lên cày lên đớn đau và hạnh phúc” (Nói với trái tim) Tôi ‘ngạc nhiên lại’ khi đọc lại những ...