Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026

 

Trở lại cánh đồng thơ của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

Nhà thơ Y Phương ở miền non nước Cao Bằng đã từng tâm niệm: “Thơ cũng giống như tình yêu. Không có sự run rẩy thì không có thơ“. Quả thực, thơ ca thực sự là kết tinh, là ngọc đọng, là phiến Kỳ nam trong rừng trầm hương, là hạt minh châu trong biển hạt trai, là tinh hoa trong vườn phương thảo.

Quá trình sáng tạo của nhà thơ là sự kết tinh của hồn thơ, sự hòa quyện giữa cảm xúc mãnh liệt và tư tưởng nhân văn cao đẹp cất lên từ hiện thực cuộc đời. Và đó cũng chính là lí do vì sao hai áng thơ “Cánh đồng mẹ tôi” và “Chất vấn cánh đồng” dưới ngòi bút của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả nhiều ấn tượng đẹp.

Thơ ông thể hiện những rung động mãnh liệt, tinh tế, và ấn tượng trong tâm hồn con người trước cuộc sống. Thi ảnh trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh là đời sống tinh thần và tình cảm riêng tư được chắt lọc từ tâm hồn nhà thơ. Hay nói như nhà văn Nguyễn Đình Thi: “Hình ảnh thơ là nơi tư tưởng, cảm xúc của nhà thơ tình tự, quấn quýt như hồn với xác”. Bên cạnh đó, thơ còn là mảnh đất màu mỡ để tác giả gieo trồng những cảm xúc chân thực từ cái tôi cá nhân của chính mình. Những ý tứ trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh đều nén chặt cảm xúc của nhà thơ, dẫn lối người đọc đến thế giới tâm hồn của nhân vật trữ tình trong thơ. Đọc bài “Cánh đồng mẹ tôi” và “Chất vấn cánh đồng,” hai bài thơ của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, tôi chợt nhớ đến một phát biểu về thơ của Tố Hữu: “Thơ là một điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu” bởi dù được sáng tác ở hai thời điểm khác nhau nhưng đều cho thấy những rung cảm đầu đời với những kỉ niệm về quê hương, gắn bó với đồng quê đến tận bây giờ qua hai bài thơ của ông.

Ông Nguyễn Vũ Quỳnh thuộc thế hệ thanh niên dấn thân yêu đời từ con nhà nông cầm súng ra trận trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Rời chiến trận trở lại giảng đường đi tới cánh đồng văn chương bởi vậy thơ ông thường mang đậm chất đồng quê. Trước hết bàn về tác phẩm “Cánh đồng mẹ tôi”, người đọc dễ dàng nhận ra xuyên suốt bài thơ là những kỉ niệm tuổi thơ của chính tác giả, những điều giản dị nhưng lại hình thành nên cốt cách, con người ông qua hình ảnh làng quê xưa. Từ những lúc hạn hán khiến cho mùa màng bị ảnh hưởng, sông không có nước, cánh cò cáy cua cũng gầy, thiếu sức sống. Hay là những kỉ niệm về con đường quê xưa cũ nơi luôn gắn bó với tác giả khi còn nhỏ chân lấm bùn, miệng hát những câu hò trong veo. Cái trong veo đó theo nghĩa đẹp từ cuộc sống giản dị đến không khí trong lành mà câu hò cũng trong veo.

Đó là:

“Trên bàn đám cưới hoa dong

Con sông trở dạ đục trong đôi bờ

Đường quê cái thuở dại khờ

Bùn nâu chân đất câu hò trong veo”

(Cánh đồng Mẹ tôi)

Khác so với thời đại bây giờ, khi đám cười cô dâu trên tay hoa hồng, lay-zơn. Xưa kia chỉ có hoa dong đặt ở trên bàn nhưng mà vẫn hạnh phúc như ai. Con người ta có đủ cơm ăn áo mặc có đa dạng sự lựa chọn trong mỗi bữa ăn, vào mỗi dịp đặc biệt hai món ăn truyền thống “bánh chưng, bánh xèo” cũng trở nên phát ngấy. Nhưng phải sống trong tâm hồn nhà thơ mới hiểu được hoàn cảnh sống thiếu thốn, khó khăn thời ấy khi bánh chưng, bánh xèo là điều xa xỉ với những xóm nghèo đồng quê, căn nhà bé nhỏ chỉ giản dị với “một góc vại dưa”. Khi đọc đến khổ thơ thứ tư có lẽ nơi ấy tràn ngập sự luyến tiếc xen lẫn chút mừng vui của tác giả khi chị gái đi lấy chồng, vui vì cuộc đời chị đã có niềm vui hạnh phúc:

“Bầu trời thiêu cháy cỏ hoang

Vẫn vang vọng tiếng dô khoan bến Sòng

Cái ngày chị đi lấy chồng

Hoa chuối thắm đỏ bờ sông cầu vồng”.

(Cánh đồng Mẹ tôi)

Có phần khác biệt với những khổ thơ phía trên, khổ thơ cuối chỉ có vỏn vẹn hai câu nhưng là hai câu kết chất chứa ý tứ niềm vui hy vọng được mùa ở cái đất quê nghèo:

“Cái ngày cây lúa trổ bông

Lời ru gặt giữa cánh đồng mẹ tôi”

(Cánh đồng Mẹ tôi)

Có lẽ cái thời điểm cây lúa trổ bông, đến mùa thu hoạch cũng là lúc chủ thể trữ tình lại cảm nhận được những lời ru của mẹ, lời ru ấy gắn liền, đi theo ông trong suốt hành trình dài của cuộc đời. Một lời ru tha thiết, trìu mến, ủ chín yêu thương.

Cũng là một tác phẩm mang chất đồng quê khác của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh đó là bài “Chất vấn cánh đồng”. Vẫn là những hình ảnh đồng quê gắn liền trong hành trình trưởng thành của tác giả như lúa, khoai, những đứa trẻ với mong ước lớn lên trở thành những con người đem theo hoài bão, ước mơ, lí tưởng cao đẹp, “như hương hoa cải”. Ông đặt tên cho bài thơ “Chất vấn cánh đồng” và xem như Cánh đồng cũng là một chủ thể để chất vấn. Ông chất vấn gì đây?

“Bên kia cánh đồng làng. Khoai

Bên này cánh đồng làng. Lúa

Lớn lên chúng mình như hương hoa cải

Bay xa để lại quê nhà

Người trẻ bây giờ đi xa

Mấy ai hiểu muối trắng trên vai áo Cha

Mồ hôi ướt đầm sau lưng áo Mẹ

Để có cánh đồng bên con suối, bờ sông

Để có cánh cò khiêng nắng mênh mông

Để có dẻo thơm hạt gạo trắng ngần

Để góp phần đánh tháng ngoại xâm”

(Chất vấn cánh đồng)

Tình mẫu tử, phụ tử thường mang tính biểu tượng nhưng trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh lại mang tính nhân văn sâu sắc. Qua cách ông sử dụng tinh tế nghệ thuật điệp ngữ kết hợp điệp cấu trúc câu, đã gieo vào lòng người nhiều suy tư về những vất vả của người làm cha mẹ, những con người tần tảo, giàu đức hi sinh suy cho cùng tất cả điều ấy cũng là vì con cháu. Sang tới khổ thơ thứ ba, nơi tràn ngập nỗi niềm băn khoăn, trăn trở của chính tác giả, thời ấy ông còn trẻ, vô tư hồn nhiên chưa hiểu hết được cái vất vả của cha mẹ. Điều ấy được thể hiện tinh tế qua câu thơ so sánh “Vô tư như mây trời đỏng đảnh đáy sông” và nghệ thuật điệp ngữ “Chưa biết lẽ đời, chưa hiểu hết nhà nông”, “mây trời đỏng đảnh”. Hiểu được hoàn cảnh của người thi sĩ, người đọc chắc hẳn lí giải được sự luyến tiếc xen lẫn chút bâng khuâng khi làng quê giờ đây không còn mang tiếng quê như trước nữa, những hình ảnh quen thuộc gắn bó với tác giả thời ấu thơ giờ đây cũng chẳng thắng nổi cái dòng chảy vô tận của thời gian, những hình ảnh được tác giả bộc lộ, chất vấn xuyên suốt khổ thơ cuối của tác phẩm bằng khổ thơ lục bát chất chứa cảm xúc mất mát cái vô tư của thời tuổi trẻ và nhất là quê mất cả dòng sông xưa và đó cũng là tại sao?

“Đâu rồi bông trắng như mây

Để cho con cháu về đây thuở nào

Lạnh về ngọn gió hanh hao

Con sông không chảy ồn ào quê xưa

Làng không còn tiếng võng đưa

Trẻ không còn tắm dưới mưa tồng ngồng

Chia xa rũ rượi cánh đồng

Chiều qua quê mất cả dòng sông xưa”

(Chất vấn cánh đồng)

Cũng bàn về thơ, Pau Tốp Ski nhà thơ nổi tiếng người Nga cho rằng: “Phải sống trong hồn nhà thơ mới hiểu được triết lí thơ của tác giả”. Khi ta sống trong hồn nhà thơ, ta sẽ nhận ra những nét tương đồng và khác biệt trong hai tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Ta dễ dàng nhận thấy cả hai bài thơ giống như một câu chuyện về cánh đồng của tác giả, giản dị và chân thành. Lời thơ nhẹ nhàng, tự nhiên, ngôn từ không một chút gọt giũa công phu nhưng lại đẹp, mang chất lắng sâu của đồng quê và tính triết lí sâu sắc. Còn sự khác biệt nằm ở chỗ hai tác phẩm được sáng tác vào hai thời điểm khác nhau, khi tác giả còn trẻ và khi ông trưởng thành. Đặc biệt hơn ở tác phẩm thứ hai “Chất vấn cánh đồng”, lời thơ như những lời giãi bày trong tâm hồn tác giả về những cái mất mát ở đồng quê và cảm thương cho sự vất vả của cha mẹ qua cách ông sử dụng thể thơ tự do và kết bằng khổ thơ lục bát đượm buồn của thời thế hôm nay. Ngược lại bài thơ “Cánh đồng mẹ tôi” lại theo thể thơ lục bát, tác phẩm này có phần ngắn hơn về mặt dung lượng nhưng lại đầy ắp những kỉ niệm khó quên thời xa xưa của chủ thể trữ tình. Chính sự khác biệt trong thời điểm sáng tác, thể thơ đã khắc sâu thêm vẻ đẹp của mỗi tác phẩm.

Nếu “Cánh đồng mẹ tôi” hay ở những bút pháp nghệ thuật tài hoa, ngôn từ được minh họa những đẹp một cách dịu dàng thì “Chất vấn cánh đồng” để lại những triết lí sâu sắc, mất mát về đồng quê thời công nghiệp hóa về nơi ông sinh ra và lớn lên. Hai tác phẩm thơ với những nét tình tứ nối tiếp hình ảnh đẹp để đến cuối cùng người đọc nhận ra cái đẹp, cái hay đôi khi lại nằm ngay trong những điều giản dị, bình thường, đôi khi ở những điều bình dị, thân quen tưởng chừng không thể nào thành thơ mà trở thành thơ thật, bởi cảm xúc sáng tạo lay động từ trái tim thi sĩ.

Không phải ngẫu nhiên mà cha đẻ của thi ca Hy Lạp: Hô-Me-Rơ đã nói: “Một mũi tên và một ngòi bút có thể đâm xuyên qua trái tim của con người”. Bởi lẽ nếu mũi tên làm trái tim rỉ máu, thì ngòi bút lại làm cho trái tim ta rộng mở. Và chắc chắn, trái tim của ta sẽ rộng lớn hơn khi thấm vào trong đó là câu chữ của người cầm bút Nguyễn Vũ Quỳnh cùng hai áng thơ với vẻ đẹp của đồng quê “Cánh đồng mẹ tôi” và “Chất vấn cánh đồng” hấp dẫn làm rung động xao xuyến con tim người đọc. Xin chúc ông sức khỏe, có thêm nhiều tác phẩm thơ hay nữa.

Chú thích:

* Tác giả Lê Công Minh - học sinh lớp 12, Trường Trần Nhân Tông, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Hà Nội, 20/11/2024
Lê Công Minh

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Những nụ hôn chữa lành

(Đọc tập thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế của Phạm Đình Phú)

Có những câu thơ chỉ cần đọc một lần đã in dấu trong lòng. Có những nụ hôn chỉ trao một lần trong đời, nhưng cháy mãi trong thơ. Tập thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế của nhà thơ Phạm Đình Phú là một trường hợp đặc biệt: một người lính từng vào sinh ra tử, một bác sĩ lăn lộn nơi đạn bom, chữa lành hàng ngàn vết thương, nay trở về chắt lọc cảm xúc đời mình thành những vần thơ dịu dàng, thiêng liêng và đẹp đến ngẩn ngơ.

Không chọn những chủ đề hùng tráng, nhà thơ đi vào một hình ảnh nhỏ: nụ hôn – tưởng chừng riêng tư, mềm yếu, nhưng lại ẩn chứa sức mạnh tinh thần sâu sắc, như chính cuộc đời ông: một đời lính, một đời thầy thuốc lặng thầm, một đời yêu thương.

Ngay từ những bài đầu, ông đã dựng lên hình tượng nụ hôn thiêng liêng giữa chiến trường – nơi cái đẹp và cái chết cùng hiện diện:
"Liệt sĩ Anh hùng - nữ cứu thương
Thơm lừng ‘nụ gió’ ướt môi hường…" (Cháy mãi)
Nụ hôn ấy không phải để chiếm hữu, mà là lời tiễn biệt cuối cùng, là nghĩa tình vượt qua ranh giới sống - chết. Hình ảnh "nụ gió" nhẹ như hơi thở, nhưng chính là phép thiêng giữ lại chút ấm áp cuối cùng nơi người nằm xuống. Câu thơ giản dị mà khắc khoải nao lòng.

Cũng trong mạch cảm xúc ấy, nhà thơ thăng hoa bằng những liên tưởng táo bạo mà vẫn dịu dàng như lời thì thầm bên tai người yêu:
"Miên man ánh mắt chập chờn
Môi mím chặt nhưng không ghì được sóng" (Anh hư thế)
Ở đây, "sóng" không chỉ là ẩn dụ cho cảm xúc dâng trào, mà còn là đam mê, khao khát được sống và được yêu, dù đang giữa chiến hào đầy chết chóc. Môi mím chặt, nhưng vẫn không thể kìm nén cơn sóng lòng. Câu thơ mang vẻ đẹp của sự kềm nén và bùng vỡ, của cái lặng thầm rất lính và cái da diết rất người.

Một trong những câu thơ đẹp nhất tập thơ về nụ hôn là:
"Cho nhận cháy nhau quá đỗi ngọt ngào
Hơi thở phập phồng nghe lòng hoang dại" (Yêu em đi)
Nhà thơ nói thay lời một vong hồn nữ liệt sĩ, nhưng lại chan chứa sự sống. Tình yêu ở đây vượt qua ranh giới vật lý và thời gian. "Cháy nhau" – cách diễn đạt mạnh mẽ, đầy nhục cảm nhưng không hề dung tục, ngược lại, chạm tới sự thần thánh hóa của tình yêu và đức hy sinh.

Nhà thơ còn có những câu nhẹ nhàng hơn, nhưng chứa đựng chiều sâu của sự chờ đợi và hồi tưởng:
"Vành môi chín mọng nguyên trinh
Anh như chết lặng
Nghe tình lên ngôi!" (Nụ xuân)
Tình yêu ở đây không ồn ào, không gào thét. Nó đến trong khoảnh khắc ngỡ ngàng, khi vẻ đẹp chín đúng lúc khiến trái tim phải cúi đầu quy phục. Câu "Nghe tình lên ngôi!" là sự lên ngôi của vẻ đẹp thuần khiết, của xúc cảm chân thành không tô vẽ.

Tình yêu trong tập thơ này không chỉ là cảm xúc đôi lứa. Đó còn là tình đồng đội, tình quê, tình đất nước:
"Chiến trường hiện về trong ánh mắt
Tổ quốc trên vai
Quê hương gửi gắm chí trai…" (Dang dở)
Hay:
"Bạn đồng môn
Biền biệt cách xa…
Má kề môi thay lời sẻ chia thầm thì thân ái" (Ấm lòng những nụ hôn như thế)

Nụ hôn trong thơ Phạm Đình Phú không giới hạn trong một "kiểu yêu". Đó là biểu tượng của kết nối, của niềm tin, của một thời rất thật đã đi qua. Và mỗi nụ hôn như thế, dù là của mẹ, người yêu, đồng đội hay chính Tổ quốc, đều ấm lòng, đều thiêng liêng.

Không quá lời khi nói rằng, nhà thơ Phạm Đình Phú đã xây nên một tượng đài thơ bằng chất liệu "nụ hôn". Ở tuổi 80, ông không chọn hồi ký, không chọn khẩu hiệu, mà chọn một cách tiếp cận tinh tế, đầy thi ca và nhân văn. Trong cách viết ấy, ông không hô khẩu hiệu mà thủ thỉ; không áp đặt mà khơi gợi; không bi lụy mà thấm đẫm yêu thương.

Ấm lòng những nụ hôn như thế không chỉ là hành trình thi ca, mà còn là bức khắc họa bằng ngôn ngữ đậm tính nhân văn về tâm hồn người lính, về tình yêu và sự sống giữa lằn ranh sinh tử. Ông không "phô diễn kỹ thuật", nhưng những câu thơ ngấm vào người đọc bằng chính sự từng trải, trung thực và tinh tế.

Một tập thơ đáng đọc. Đáng nhớ. Và đáng trân quý.

NHỮNG NỤ HÔN

Kính tặng nhà thơ Phạm Đình Phú

Cuối chiều - Tìm lại - Nụ xưa

Ngất ngây - Khao khát – Cơn mưa dại khờ

Nụ xuân - Không phải trong mơ

Dành riêng anh để - Đôi bờ - Còn không

Nụ em chiêm trũng - Ấm nồng

Lần theo đốm lửa - Sang sông - Bến đò

Hãy ngủ đi và ước mơ

Niềm thiêng - Dang dở - Tình xưa ùa về

Yêu em đi! -  Ánh trăng quê

Tại anh hư thế - Lối về còn vương

Gửi cho anh - Cháy -  Nụ hường

Niềm xưa - Thương nhớ yêu thương lạ kỳ

Đợi anh! Nụ gió đương thì

Cận kề chưa kịp gửi đi - Hỡi người!

Nụ hôn - Thế hệ chúng tôi

Ấm lòng như thế - một thời đạn bom

Trời cho, Ai mất ai còn

Cờ sao - Khát vọng - Các con chuyện trò

Hương tình - Kỷ niệm trong mưa

Nụ Xuân trọn vẹn Tháng Tư - nhớ người.

Chú thích: Những cụm từ in đậm là tên những bài thơ trong tập thơ.

13/7/2025
Nguyễn Thị Thanh Long

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Vai trò của chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến

Suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam, địa danh Phố Hiến vừa thân thương vừa thân thuộc trong trí nhớ mọi người. Phố Hiến từng là một thương cảng lớn sầm uất và quan trọng bậc nhất của xứ Đàng ngoài (miền Bắc Việt Nam).

Phố Hiến rất quan trọng với các thương đoàn từ khắp nơi trong khu vực và thế giới tới giao thương với Việt Nam. Một thương cảng lừng danh khác là Hội An, theo các nhà nghiên cứu cũng ra đời sau Phố Hiến. Trong hệ thống các đô thị cổ Việt Nam, Phố Hiến luôn đứng ở top đầu, đối sánh và bổ sung, nâng tầm cho Thăng Long - Kẻ Chợ. Trong các bộ sử sách của Việt Nam và về Việt Nam, các học giả trong và ngoài nước đều đánh giá cao Phố Hiến. Có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học đến từ Trung Quốc, Hà Lan, Nhật Bản, Anh, Pháp, Mỹ, Australia... viết về Phố Hiến đã tạo những dấu ấn sâu sắc mang tầm vóc quốc tế. Giới nghiên cứu văn hoá lịch sử trong nước cũng ghi nhận nhiều tên tuổi lớn với những công trình nghiên cứu toàn diện về Phố Hiến. Đây cũng là một niềm tự hào lớn của người Hưng Yên. Trong bài viết này, chúng tôi bước đầu thống kê và đặt ra một số vấn đề trong việc khẳng định trên tinh thần khoa học lịch sử về công lao của các chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến với một giai đoạn lịch sử sôi động, phức tạp, còn nhiều góc khuất nhưng cũng là một giai đoạn lịch sử không thể tách rời trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Sách Đại Nam nhất thống chí mô tả Phố Hiến: “Nơi đây phong vật phồn thịnh, nhà ngói như bát úp” đã cho thấy đặc trưng lớn nhất của Phố Hiến chính là trung tâm cảng thị lớn, ra đời từ động lực phát triển kinh tế trong nước và mang đậm chức năng của một trung tâm kinh tế lớn của đất nước. Phố Hiến còn đảm đương vai trò thực hiện các hoạt động kinh tế đối ngoại của đất nước. Nơi đây được đặt cơ quan công quyền, thay mặt triều đình đảm đương trách nhiệm như một tiềm đồn, một vòng thành bảo vệ, che chắn cho kinh đô Thăng Long. Có thể thấy rằng, vị trí, chức năng, vai trò của Phố Hiến bao trùm nhiều lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế xã hội, bởi vậy dân chúng nhiều đời luôn truyền tụng câu ca:“Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học về Phố Hiến. Có nhiều chương trình nghiên cứu, phân tích, lịch đại, đồng đại, so sánh, đối chiếu, đặt vấn đề nghiên cứu Phố Hiến trong tiến trình lịch sử bằng các phương pháp khoa học, sử học kết hợp với khả cứu các thư tịch, tài liệu, văn bia, sắc phong... để soi tỏ trầm tích lịch sử đến hiện đại của Phố Hiến.

Trong các đấu mốc lịch sử về Phố Hiến, vai trò của các chúa Trịnh là rất quan trọng. Mặc dù vấn đề nội chiến, loạn lạc trong thời Lê - Trịnh khiến triều đình luôn gặp khó khăn về quốc khố trong việc phục vụ chiến tranh, song các chúa Trịnh luôn tỏ ra rất sáng suốt trong việc khuyến khích các thương nhân phát triển kinh tế để đóng góp vào nền kinh tế quốc gia. Chúa Trịnh Doanh từng nhận định: “Ngày nay tài lực của nhân dân thiếu hẳn đi, chỉ còn trông chờ vào bọn phú thương chuyên chở lưu thông từ chỗ có đến chỗ không thì mới tạm đủ.”

Vai trò của các Chúa Trịnh đã khuyến khích toàn diện sự phát triển của Phố Hiến nhất là với giới thương nhân. Triều đình liên tiếp khen thưởng cho các thương nhân có công trong việc luân chuyển và mua bán các loại hàng hoá ích nước lợi dân. Giai đoạn này, triều đình Lê - Trịnh đã bắt đầu đẩy mạnh giao thương với phương Tây, sử dụng các mặt hàng từ các làng nghề trong nước đổi lấy vũ khí và tiền bổ sung quốc khố. Các Chúa Trịnh rất coi trọng quan hệ với Nhật Bản, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho thương thuyền Nhật Bản thông qua cảng thị Phố Hiến. Trong bức thư chúa Trịnh Tráng gửi cho triều đình Nhật Bản có đoạn: “Đại nguyên soái Tổng quốc chính Thanh Đô vương nước An Nam đã xây dựng lại đất nước, khôi phục trung ương, xa thư quy về một mối, lân bang giao hiếu hoà hợp, rộng ban ân trạch, tạo thành nghĩa lớn. Nay nhân vào tiết hạ, thấy các thuyền trưởng của quý quốc Nhật Bản là Giác Tàng (Suminokura) và Mạt Cát (Sueyoshi), tổng cộng 20 chiếc đến nước chúng tôi buôn bán. Chúng tôi muốn phát triển, không dừng lại ở việc buôn bán nhỏ nên thăm hỏi kĩ càng. Nghe nói quốc chủ Nhật Bản vào lúc tuổi xuân đang độ, đức tính khoan hoà, tôi muốn kết là nước anh em. Về đạo nghĩa nhân ái thì trước tiên lấy chính nghĩa làm mối giao kết ban đầu”.

Lời văn trong thư của chúa Trịnh Tráng đã cho thấy quan điểm của triều đình Lê - Trịnh là luôn muốn mở rộng bang giao với các nước bên ngoài. Đây chính là  điểm tiến bộ của triều đình Lê - Trịnh trong bối cảnh đất nước nội chiến liên miên.

Vấn đề nội thương của Phố Hiến cũng hết sức phát triển trong thời Lê - Trịnh. Các loại hàng hoá sản xuất trong nước hầu như đều có mặt ở các bến sông, bãi chợ Phố Hiến. Với vị trí địa lý đặc biệt của mình, từ thời Trần, bến chợ Xích Đằng đã có sự thông thương buôn bán với Đàng trong theo đường biển vào các vùng đất Hoan Châu (xứ Nghệ ngày nay). Từ việc giao thương buôn bán ấy, nhiều thương nhân đã đến định cư, xây dựng dịch quán, kho xưởng ở Phố Hiến. Chính đây là cầu nối quan trọng nhất để các loại hàng hoá qua lại, giao thương tới kinh thành Thăng Long. Hàng hoá từ các làng nghề trên cả nước được trao đổi, buôn bán tại 2 trung tâm lớn là Phố Hiến và Thăng Long đã cho thấy tình chất đặc biệt của Phố Hiến, nhất là vai trò cảng thị - giao thương đường thuỷ. Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Xích Đằng có bốn bến đò: đò Kệ Châu, đò Quan Xuyên, đò Nhân Dục và đò Phương Trà... giáp bờ sông Nhị còn có chợ Xích Đằng. Sau khi Phố Hiến mở rộng về phía Đông, Đông Bắc và lỵ sở của huyện Kim Động chuyển về Đằng Châu thì chợ Nhân Dục ở đây trở thành chợ lớn trong tỉnh”.

Vấn đề các phường hội ở Phố Hiến với những đặc trưng của nó càng cho thấy sự liên hệ mật thiết trong giao thương và sự phân phối giữa hàng hoá xuất khẩu và hàng hoá tiêu thụ nội địa chính là sự điều tiết cần thiết vào mạch máu kinh tế toàn quốc. Phố Hiến đã sớm hình thành các khu phố mang tính chất hội nhóm như: Khu phố Bắc Hoà do các thương nhân người Hoa lập nên. Khu phố Nam Hoà do các nhóm thợ gốm, thợ mộc từ phía Nam sông Hồng xây dựng các xưởng nghề thủ công sản xuất các mặt hàng tại chỗ cung cấp cho các khu vực thương nhân dấu tích vẫn còn đến hôm nay. Giới khảo cổ đã tìm thấy nhiều bằng chứng về các lò gốm, lò rèn, xưởng mộc tại khu vực quanh Văn Miếu Xích Đằng và chùa Nễ Châu.

Sự phát triển giao thương của Phố Hiến đã khuyến khích, kích cầu các làng nghề lân cận phát triển theo. Nhiều sản phẩm thủ công nổi tiếng từ các làng nghề đã góp vào sự phong phú, hình thành bộ mặt thương nghiệp Phố Hiến. Đó là làng đan thuyền Nội Lễ (Tiên Lữ); làng thuốc Nghĩa Trai (Văn Lâm); làng dệt Phong Cốc, Hương Quất, Mậu Duyệt, Triều Dương... góp phần tạo sự liên thông các mặt hàng hoá sử dụng cho thị trường nội địa và xuất khẩu.

Quan hệ buôn bán giao thương giữa Phố Hiến và các cảng thị trong nước sớm hình thành và ngày càng phát triển. Địa danh Phố Hiến được rất nhiều nơi trong nước và ngoài nước biết đến. Các sách vở biên chép trong nhiều thế kỷ đều nhận định vai trò quan trọng của Phố Hiến. Các thương nhân nước ngoài như Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc..., thu mua hàng hoá, nhất là các mặt hàng thủ công, gốm sứ đi bán ở khắp nơi thu lợi nhuận rất cao đã tạo sức hút lớn và sự phát triển của các làng nghề. Với đầu óc và bản chất của mình, các thương khách Trung Quốc đã mau chóng khai thác mọi lợi thế từ Phố Hiến. Thương nhân các nước khác cũng mau chóng tìm các lợi thế để kinh doanh buôn bán ở Phố Hiến. Nhiều thương điếm được thành lập như: Thương điếm Nhật (1604); thương điếm Hà Lan (1637); thương điếm Anh (1672); thương điếm Pháp (1680)...đã càng tạo ra bộ mặt phồn thịnh và sức hút lớn, vai trò quan trọng của Phố Hiến trong nền kinh tế chính trị các nước.

Từ những thống kê trong suốt chiều dài khởi thủy và phát triển của thương cảng Phố Hiến, đều thấy rất rõ vai trò của các chúa Trịnh mang tính quyết định. Đây là một điều đặc biệt cần được nghiên cứu trên tinh thần khoa học lịch sử, nhất là tính đến ngày nay, việc khẳng định những đóng góp toàn diện của các chúa Trịnh trong thời đại Lê - Trịnh vẫn còn nhiều hạn chế, phiến diện, thiếu công bằng đối với các chúa Trịnh.

Tại sao các đời chúa Trịnh đều rất quan tâm đến thương cảng Phố Hiến? Một câu hỏi tưởng dễ trả lời song chúng ta thường đã trả lời một cách xơ cứng, máy móc mà không đi vào chiều sâu của địa chính trị, các vấn đề về quân sự quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước thời kỳ đó. Một câu hỏi khác là tại sao, trong bối cảnh nhà Mạc tiếm quyền, đối đầu với vua Lê chúa Trịnh trên nửa thế kỷ; các chúa Nguyễn rời bỏ và dần dần đối đầu với vua Lê chúa Trịnh hàng trăm năm mà các chúa Trịnh ngoài việc phải tổ chức các hoạt động quân sự triền miên, vẫn luôn dành tâm huyết và tài lực để ổn định, phát triển mạnh mẽ các hoạt động của thương cảng Phố Hiến? Tại sao, triều đình Lê - Trịnh luôn ở thế lưỡng đầu chế trong củng cố quyền lực trung ương và các địa phương, các chúa Trịnh vẫn rất chú trọng tới giao thương với các nước lân bang, khu vực Châu Á và Châu Âu với những chính sách linh hoạt, đặc thù đã tạo ra quốc lực cho đất nước và cải thiện đời sống sung túc cho nhân dân? Những câu hỏi đó chúng ta phải có trách nhiệm trả lời một cách nghiêm túc, công bằng nhất.

Khi tiếp cận bộ sách Bài sử khác cho Việt Nam của nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường, chúng tôi đã phát hiện ra nhiều tư liệu mới, cách nhìn mới trên tinh thần khoa học lịch sử. Từ những điểm nhìn xa hơn, khách quan hơn, thậm chí là khác hơn, đã thực tế kéo gần hơn việc định vị, đánh giá công trạng và hành trạng, thành tựu, thậm chí là những khiếm khuyết hạn chế của vua Lê chúa Trịnh, từ đó có câu trả lời một cách thấu đáo hơn với những câu hỏi trên. Đó là sự cạnh tranh quyết liệt giữa nhà Mạc ở phía Bắc, các chúa Nguyễn ở phía Nam và vua Lê chúa Trịnh giữ vai trò trung ương ở giữa. Nhà Mạc và các chúa Nguyễn một mặt là các đối thủ chính trị hùng mạnh một mặt vẫn luôn bị coi là “giặc cỏ”, “ngụy triều”, “loạn đảng”… nhưng trên thực tế các thế lực này đều xác lập danh vị riêng, thiết lập bộ máy triều chính từ trung ương đến địa phương không khác gì vua Lê chúa Trịnh. Nhà Mạc thậm chí còn liên tiếp mở các khoa thi với thành tựu ghi nhận có giá trị đến ngày nay. Các chúa Nguyễn tổ chức bộ máy chính quyền mạnh mẽ, chặt chẽ, hiệu quả, tiền đề cho công cuộc mở rộng cương vực lãnh thổ về phía Nam đã đi vào sử sách. Với thực tiễn đó, các chúa Trịnh nếu không mau chóng nắm bắt những xu hướng lớn của thời đại, không dẫn dắt bách tính thị tộc thực hiện những công cuộc đổi mới mạnh mẽ kể cả về sĩ, nông, công, thương trên các vùng đất cai quản của mình và đương nhiên thương cảng Phố Hiến là một vị trí quan trọng hàng đầu để các chúa Trịnh khẳng định quyền thế của mình với thiên hạ.

Các chúa Trịnh khởi phát ở vùng đất Thanh Hóa. Đất Thanh Hóa, từ xưa đến nay vẫn luôn như một quốc gia thu nhỏ. Khi phải cạnh tranh với nhà Mạc ở phía Bắc và các chúa Nguyễn ở phía Nam, yếu tố thương cảng Phố Hiến càng đặc biệt quan trọng, nhất là vấn đề hậu cần kỹ thuật, mua sắm vũ khí, vận chuyển lương thảo, nhất là tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật với phương Tây đã trở thành vấn đề then chốt trong khẳng định quyền lực của các chúa Trịnh. Phố Hiến không chỉ có một vị trí địa lý cảng biển - đồng bằng - thành thị mà còn có yếu tố là một biên cảng ngoại giao với các nước trong khu vực và phương Tây - một sự khẳng định sức mạnh văn minh trước các đối thủ chính trị là nhà Mạc và các chúa Nguyễn nên càng trở lên đặc biệt quan trọng. Bởi vậy, vai trò của các chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến phải được xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, trên tinh thần khoa học lịch sử mới có thể đưa ra không chỉ câu trả lời đúng đắn mà còn là sự khẳng định những đóng góp lớn lao của các chúa Trịnh, triều đại Lê - Trịnh trong tiến trình lịch sử.

Có thể khẳng định, trong suốt quá trình hình thành và phát triển của Phố Hiến, ở nhiều giai đoạn khác nhau đều có vai trò rất quan trọng với đời sống toàn diện của đất nước, nhất là vai trò của các chúa Trịnh trong tiến trình đó mà những trầm tích của nó vẫn còn nhiều giá trị tới hôm nay. Từ nền tảng ấy, với những đóng góp toàn diện của các Chúa Trịnh trong khoảng thời gian 249 năm giúp vua Lê điều hành triều chính, ổn định quốc gia, phát triển toàn diện đất nước, chúng ta rất cần sự ghi nhận trên tình thần khoa học lịch sử, trước mắt cần tổ chức một Hội thảo khoa học lịch sử về các danh nhân, danh thần, danh tướng họ Trịnh có công với nước để từ đó đề xuất thực hiện đặt tên phố, tên đường, tên trường; thực hiện các công trình tượng ngoài trời, phù điêu, tác phẩm nghệ thuật về những đóng góp tiêu biểu, đặc sắc của các Chúa Trịnh với đất nước.

Đối với thương cảng Phố Hiến, từ những nguồn tư liệu lịch sử đáng tin cậy, từ nguyện vọng của các nhà khoa học lịch sử, nhà nghiên cứu và sự tri ân của nhân dân với công trạng của các Chúa Trịnh, chúng ta cần tổ chức một số cuộc đi điền dã, tiếp cận tư liệu trong nước và ngoài nước một cách khách quan, khoa học, toàn diện, có chiều sâu, đặt trong bối cảnh chính trị đương thời và thời đại mới hôm nay để tiến hành cuộc Hội thảo về họ Trịnh trong tiến trình lịch sử. Điều đó không chỉ cần thiết với đời sống học thuật mà còn là nền tảng để chúng ta có những bước đi tiếp theo, có những đóng góp về văn hóa lịch sử từ những con người cụ thể, những triều đại có công trong tiến trình lịch sử dân tộc.

Chúng tôi sẽ còn trở lại với những đóng góp, vị thế và sự tác động lớn lao với lịch sử của các chúa Trịnh trong những bài viết tiếp theo.

13/7/2025

Phùng Văn Khai

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Văn chương và những ngộ nhận đáng buồn

Tôi đã đọc một số bài thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từ những năm trước, nó như có tính “dự báo”, “dọn đường” cho trường ca “Lò mổ” ra đời tạo được tiếng vang. Và thi ca với sứ mệnh thiêng liêng của nó, qua trường ca “Lò Mổ” cũng sẽ vượt qua biên giới của lý trí để tới với bạn bè năm châu bốn biển.

Ở bài viết nhỏ này tôi chỉ đưa ra những cảm nhận cá nhân sau những ồn ào tranh cãi về “Lò Mổ”, trân trọng mọi ý kiến, tuyệt nhiên không nhằm “bốc thơm” hay “châm chọc” một ai.

Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho biết, anh viết trường ca “Lò mổ” từ năm 2016 và đến nay sau nhiều lần chỉnh sửa vẽ tranh mới hoàn thành. Trong buổi ra mắt sách khá hoành tráng ở NXB Hội Nhà văn Việt Nam – 65 Nguyễn Du, Hà Nội, anh cho biết lý do viết trường ca “Lò mổ” là khi cùng cha ghé qua lò mổ ở ngoại ô Hà Đông: “Đó là lần đầu tiên trong đời tôi tiếp xúc với một không gian u ám, tàn khốc, nơi chứng kiến cảnh giết chóc những con vật”; rồi trong cơn ác mộng… tôi nhìn thấy những con bò xếp hàng, trò chuyện và bước tới để nhận cái chết. Tôi nghe thấy tiếng những con bò rống vang khi bị chọc tiết, tôi nhìn thấy máu chảy xối xả… tôi nhìn thấy linh hồn những con bò bay qua ô cửa sổ lò mổ …”. Như vậy là cái bi thương ấy cứ ám ảnh anh và anh cầu mong sau cái chết đó là sự nẩy mầm của sự sống.

Sau khi ra mắt sách, đã có nhiều bài viết ca ngợi và cũng có những tiếng nói “phản biện” với một tâm thế mang dấu ấn cá nhân của một cách đọc “chụp mũ” cùng với sự đố kỵ. Việc khen chê một tác phẩm là chuyện bình thường trong giới học thuật xưa nay. Song, để khen cho đúng, chê cho đúng không phải chuyện dễ. Có lẽ ta nên nhớ lời nhà hiền triết Tuân Tử (313 – 235 trước Công nguyên), người Trung Hoa, đã dạy: “Người chê ta đúng là thầy ta, người khen ta đúng là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”. Khen đúng, chê đúng giúp ta được bài học để bước tiếp. Còn khen chê không đúng thì quả là điều đáng buồn. Nó làm vàng thau lẫn lộn, đưa người ta vào “ma hồn trận” để  “ma đưa lối quỷ dẫn đường” (Nguyễn Du). Nguyên nhân của những tranh cãi nằm ở nhiều phía, chủ quan và khách quan.

Trước hết là ở cách đọc. Ở trường ca “Lò Mổ”-  một tác phẩm có sự kết hợp giữa Thơ và Họa đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc. Đọc lần thứ nhất chỉ là cách đọc “bì phu” (sờ vào da của tác phẩm). Ta phải đọc lần hai, còn gọi là cách đọc “cốt nhục”, đi vào phần xương thịt của tác phẩm. Rồi đọc lần 3, hoặc lần thứ “n” – cách đọc “hút tủy” tác phẩm thì mới từng bước thấy hết cái “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) của hình tượng thơ mang lại. Cái buồn, cái đau, cái ác, cái xấu bị đẩy lên tận cùng để cái đẹp, cái tốt nảy mầm vươn ra ánh sáng, để “Sự sống lại bắt đầu từ cái chết” như nhà văn Nguyễn Khải đã nói. Tính nhân văn được đưa lên một tầm cao mới. Nó là “tảng băng chìm” đang từ từ nhô lên mặt biển sau giông tố.

“Lò Mổ” không phải là tác phẩm dễ đọc, nó như một món “hàng hiệu” kén khách. Tùy vào trình độ và tâm thế mà người đọc lĩnh hội được những gì. Lâu nay một số bạn đọc quen với với lối thơ truyền thống, có vần điệu du dương, hình ảnh lấp lánh, dễ nhớ dễ thuộc, nên khi bắt gặp một loại thơ tự do viết theo lối mới thì có cảm tưởng như khi ăn cơm ta nhai phải hạt sạn, điều đó cũng dễ hiểu. Vì thế đã có nhà thơ tự xưng “dịch thơ Việt ra thơ Việt” cho dễ nghe, dễ nhớ.

Khi tôi đọc trường ca ta này lần đầu, đọc xong tôi nhắm mắt lại như bị “ma ám”, mộng mị khi bay lên chín tầng mây, có khi như rớt xuống địa ngục cùng con bò và tay đồ tể. Nhưng khi tỉnh lại đọc lần hai, lần ba cho hình tượng thơ thấm vào hồn thì lúc đó khó dứt ra và ta thấy hân hoan chào đón chú Bê con chào đời trong ánh sáng. Phải sống, phải trải nghiệm mới hiểu hết trường ca này, và ta sẽ thấy những liên tưởng “ngoài tác phẩm” đem tới nhiều điều thú vị. Bởi nhà thơ vốn là một họa sĩ thuộc trường phái “hiện sinh” nên đã đem vào trường ca nhiều “ẩn dụ liên tưởng”. Và nếu ai ít vốn sống về các lĩnh vực hội họa, mỹ thuật, âm nhạc…thì khó thẩm thấu hết thông điệp mà nhà thơ gửi vào tác phẩm qua các hình tượng nghệ thuật đa chiều, đa nghĩa, nhiều khi rất siêu thực.

Sự kết hợp giữa Thơ và Họa trong “Lò Mổ” là một sự tìm tòi mới lạ về hình thức, nó khác với loại “truyện tranh thiếu nhi”. “Lò Mổ” chuyển tải một nội dung về thân phận con người và cuộc sống với tất cả sự ái, ố, hỉ, nộ và bi thương như cuộc đời vốn có. Vì vậy có thể một số người hôm nay cho “Lò Mổ” có nhiều hạt sạn thì biết đâu sau một thời gian được bạn đọc thẩm định, rồi “mặc định” thì bạn sẽ điều chỉnh lại cách đọc, cách cảm để thấy những mặt thành công, sự cách tân thể loại cùng những hạn chế của trường ca này. Nhưng dù sao đi nữa thì khi chúng ta đọc và cảm cũng nên “Lấy hồn ta để hiểu hồn người” như nhà Phê bình văn học Hoài Thanh đã nói. Song, thời đại đã mở của với trí tuệ nhân tạo AI, với ChatGPT thì không những thơ ca mà nhiều loại hình nghệ thuật còn đổi mới và tiến xa hơn nữa. Cái vỏ của thơ ca cũng phải nới rộng biên độ để có thể chứa đựng những nội dung mới, khái niệm mới.

Với “Lò Mổ” là sự kết hợp rất hài hòa giữa Thơ và Họa, giữa nội dung và nghệ thuật qua 18 chương của trường ca được tóm lược qua 18 bức tranh mang tên “Nguyện cầu”, phản ánh khá rõ chủ đề của từng chương, và khi xâu chuỗi lại nó là một tổng thể khá hoàn chỉnh của một câu chuyện được diễn tả bằng “thơ tự do” bằng bút pháp thơ “hậu hiện đại”, mang hơi thở “phân tâm học” của Freud, điều mà ta không dễ gì đọc lướt để hiểu hết thông điệp của tác giả. Đọc, liên tưởng, phản biện… các tầng nghĩa chìm sẽ từ từ hiện lên, và ta “đồng sáng tạo” cùng tác giả. Loại thơ này rất kén người đọc.

Vì vậy sau khi “Lò Mổ” ra mắt, đã có nhiều bài viết trên các báo, Tạp chí, facebook cá nhân của một số tác giả đã có nhiều “phản biện”, tranh cãi, tạo nên một không khí thẩm định tác phẩm đa sắc màu. Nếu tác phẩm cứ đèm đẹp nằm yên trong ao làng thì có ích chi. Chính nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã có những lời tự bạch, tâm sự với bạn đọc về sự ra đời của tác phẩm và ý định của nhà thơ về một xu hướng sáng tác đa văn bản, nhiều liên tưởng của sự kết hợp giữa Thơ và Họa.

Những ngày qua, có người hỏi tôi về các ý kiến tranh luận quanh trường ca “Lò Mổ”. Tôi thấy vui buồn lẫn lộn. Nhưng trên hết, tôi nhận ra rằng: Vẫn còn nhiều người dành sự quan tâm nghiêm túc với văn chương. Đó là điều đáng mừng. Song, trong những tranh luận đó, cũng có những ngộ nhận, đáng tiếc thay lại đến từ những người cầm bút.

Sự ngộ nhận về chính trị.

Một số người cho rằng trường ca “Lò Mổ” có hơi hướng của “cách mạng màu” hay mang tư tưởng “diễn biến hòa bình”. Theo tôi, nhận định như vậy là quá vội vã, thậm chí là áp đặt. Tôi không viết chính trị, tôi viết văn học. Và như thế hệ của tôi đã trải qua, ai trong chúng tôi cũng biết đâu là ranh giới để tự gìn giữ mình mà vẫn không đánh mất ngòi bút trung thực.

Không nên gán ghép những suy diễn chính trị vào một tác phẩm văn học phản ánh hiện thực. Văn học, suy cho cùng, là tiếng nói của con người trước cái Thiện, cái Ác, là nơi người viết đối thoại với thời đại, chứ không phải một công cụ tuyên truyền hay đả kích phiến diện. Chừng nào còn đòi hỏi văn học phải thuần phục một màu duy ý chí, chừng đó văn chương còn nghèo đi và xã hội càng thiếu đi một “tấm gương phản tư”

Và câu chuyện đố kỵ.

Đây mới thật sự là điều khiến tôi trăn trở. Không ít người trong giới cầm bút vẫn còn mang tâm lý “văn mình, vợ người”, luôn muốn mình nổi trội hơn người khác. Hôm qua còn là bạn, hôm nay thấy người kia đoạt giải hay được độc giả mến mộ, liền sinh lòng ganh ghét, xa lánh, nói xấu, thậm chí vùi dập nhau bằng lời mỉa mai. Tôi không trách, nhưng tôi tiếc.

Bởi một người viết thật sự, thì trái tim phải rộng hơn những toan tính thiệt hơn ấy. Văn chương không nuôi được ai, nhưng nó nuôi lớn nhân cách của người cầm bút. Năm 2010, tôi đã có hai bài thơ trào phúng đăng trên website Hội Nhà văn Việt Nam: “Kẻ đố kỵ” và “Kẻ hãnh tiến”. Xin trích một đoạn trong bài “Kẻ đố kỵ” – như một tấm gương phản chiếu:

“Kẻ đố kỵ thời nay đầy rẫy/Ghen ghét người, vạch lá tìm sâu/Cho mình giỏi còn người đời dốt hết/Nhìn bạn bè bằng nửa con ngươi/Kẻ đố kỵ hay khoe khoang ầm ĩ/Luôn thổi phồng thành tích cá nhân/Và với ai cũng bới lông tìm vết/Ném đá giấu tay hại cả bạn mình/Kẻ đố kỵ hay ngồi lê mách lẻo/Buôn “dưa lê” đủ chuyện trên đời/Thấy ai hơn mình liền hằn học/Cố phịa ra điều xấu hại người/Kẻ đố kỵ lắm mưu gian kế hiểm/Khi giấu đầu, khi lại hở đuôi/Người khác khổ đau, hắn cười khoái trá/Chẳng biết mình cũng chỉ một loài tôm”*

 (*“Loài tôm cứt lộn lên đầu” – thành ngữ dân gian)

Thói đố kỵ rất dễ dẫn đến sự dối trá. Và điều ấy, sớm hay muộn, sẽ quay lại làm hại chính ta. Nhà văn Edmondo De Amicis – nhà thơ, nhà báo người Ý, từng viết: “Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trong tim. Đó là một con rắn độc. Nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim bạn.”

Nhà văn, nhà viết kịch người Nga Yuri Olesha (1899–1960) có một tiểu thuyết để đời mang tên “Đố Kỵ” (Envy, 1927). Đó là một tác phẩm đậm chất thơ nhưng chua xót, thể hiện đúng bi kịch của sự ganh ghét trong xã hội hiện đại. Nhà phê bình Joseph Epstein thì nhận xét: “Trong bảy mối tội đầu của con người, chỉ có đố kỵ là không đem lại bất kỳ sự thỏa mãn hay vui thú nào.”. Chữ envy bắt nguồn từ tiếng Latin invidia – nghĩa là “mất thị giác”. Trong “Thần khúc” của Dante (1265–1321), hình phạt dành cho kẻ đố kỵ là bị khâu mí mắt bằng dây chì, như một biểu tượng cho sự mù lòa và tầm nhìn hạn hẹp của tâm hồn.

Văn chương cần sự đổi mới nhưng không thể tách rời chân thật.

Nội dung và hình thức trong văn chương là hai mặt của một đồng xu. Nhà phê bình văn học người Nga Nicolaieva từng viết: “Không có hình thức nào không chứa đựng nội dung, và không có nội dung nào tồn tại ngoài hình thức. Phá bỏ hình thức là phá bỏ nội dung, và ngược lại.”

Trường ca “Lò Mổ”, nếu có gì đáng nói, thì chính là nằm trong chuỗi 18 bức tranh mang tên “Nguyện cầu”, nơi ngôn từ đã được dồn nén đến tận cùng. Nhà văn Xsedrin từng nói một câu bất hủ: “Văn học nằm ngoài những định luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết.”

Đã một thời có những tác phẩm từng bị cấm như Thơ Mới hay các tác phẩm của nhóm “Nhân văn giai phẩm”, rồi cuối cùng vẫn được “giải thiêng”, được nhìn nhận lại dưới ánh sáng đổi mới. Văn chương chân chính không sợ bị vùi lấp. Bởi người viết có thể chịu thiệt, nhưng cái đẹp, cái thật thì không thể chết.

Hãy để thời gian và bạn đọc làm trọng tài. Sau những ồn ào, sau những tranh cãi, xin hãy để trường ca “Lò Mổ” tự bước đi bằng giá trị văn chương của nó. Cứ để tháng năm lắng lại, ta sẽ biết đâu là quặng, đâu là ngọc, đâu là vàng, đâu là thau. Và rồi những tranh cãi cuối cùng cũng theo ta về La Mã, chỉ còn tình người, tình bạn đọng lại, như khi ta vui mừng chào đón một chú Bê con kháu khỉnh chào đời.

Tôi tin rằng trường ca “Lò Mổ” sẽ còn để lại dư ba. Và có thể, từ những tranh luận này, chúng ta sẽ khơi lại được một không khí học thuật từng im vắng quá lâu.

13/7/2025

Lê Xuân

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Nụ hôn – biểu tượng của ký ức và lòng nhân hậu

Ấm lòng những nụ hôn như thế – tập thơ mới của Đại tá, Thầy thuốc ưu tú, nhà thơ Phạm Đình Phú – không chỉ là một cuốn sách về tình yêu – tình người, mà là một khúc tưởng niệm giàu nhân văn. Qua lăng kính thẩm bình thơ của hai nữ nhà thơ Minh Hạnh và Nguyễn Thị Phương Nam, người đọc có thể cảm nhận được những “nụ hôn” mang hình dáng đất nước: có hương cau tuổi học trò, có khói bom chiến địa, có nước mắt tìm nhau sau hòa bình... Và trên hết, có một trái tim người thi sĩ luôn thổn thức trước những gì đẹp nhất và đau nhất của con người. Nhân dịp CLB Thơ Phương Nam chuẩn bị ra mắt tập thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế, Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin trân trọng giới thiệu hai bài viết này.

“Ấm lòng những nụ hôn như thế” –
Khi nụ hôn trở thành ngôn ngữ của nhân văn

Khi nói đến “nụ hôn” trong thi ca, người ta thường nghĩ đến những rung động lứa đôi, những khoảnh khắc nồng cháy của tình yêu. Nhưng trong tập thơ “ẤM LÒNG NHỮNG NỤ HÔN NHƯ THẾ”, nhà thơ Phạm Đình Phú đã làm một điều đặc biệt hơn thế: ông nâng nụ hôn lên thành biểu tượng của tình người.

Từ nụ hôn tiễn biệt của người mẹ, đến nụ hôn lặng thầm của nữ cứu thương trên chiến trường; từ nụ hôn thơ trẻ đầu đời của những cô gái đồng chiêm trũng, đến nụ hôn trong giấc mơ người lính đã khuất... Tất cả hiện lên như những nhịp tim chưa bao giờ ngủ yên, như thanh âm dịu dàng của ký ức trong một thời đạn bom:

"Nụ hôn cô y tá tặng người chiến sĩ trước phút lâm chung

Không cần giấy phép nhưng ấm lòng mãi mãi."

(Trích “Ấm lòng những nụ hôn như thế”)

Tác giả đã chọn “nụ hôn” làm chủ đề xuyên suốt cả một tập thơ. Với trải nghiệm từng đứng nơi ranh giới sinh tử, việc ông chọn nụ hôn hẳn đã là một sự chọn lựa kỹ lưỡng và đầy dụng tâm.

Nhà thơ Phạm Đình Phú không đi theo lối gợi cảm thông thường mà ông chưng cất từng nụ hôn thành giọt nhân văn tinh túy, để mỗi bài thơ không chỉ là lời thì thầm yêu đương, mà là tiếng gọi từ quá khứ, là cái nhìn sâu sắc về chiến tranh, cùng niềm tin âm ỉ của những thế hệ đã đi qua bom đạn nhưng vẫn giữ được nét dịu dàng trong tâm hồn.

Trong bài “Yêu em đi”, ông để một vong hồn nữ liệt sĩ thì thầm:

"Tĩnh lặng Nghĩa trang Đài

Yêu… em… đi!

Thì thầm thanh tịnh ánh ban mai…"

(Trích “Yêu em đi”)

Không ai đọc mà không rưng rưng.

Ngôn ngữ của ông giản dị, gần gũi, nhưng ẩn chứa tầng sâu cảm xúc từng trải, đúng như cốt cách của người lính nói ít làm nhiều. Ông không lạm dụng mỹ từ mà chọn lối thơ hồi tưởng, thơ thủ thỉ như một cuộc trò chuyện từ trái tim đến trái tim.

Và vì thế những câu thơ như:

"Đôi dép râu thương nhớ, nằm mồ côi

Khi đối diện trước em anh hư thế"

(Trích “Anh hư thế”)

Hay:

"Nụ hôn mặn chát mồ hôi

Hương đồng gió bể dành cho anh"

(Trích “Nụ em đồng chiêm trũng”)

Điều làm nên sự khác biệt sâu sắc của “Ấm lòng những nụ hôn như thế” nằm ở chỗ đây là thơ ký ức, được viết bởi một người lính, một bác sĩ đã từng đi qua chiến tranh. Nụ hôn trong thơ ông vừa là lời chào, lời tiễn, lời xin lỗi, lời hẹn và cả lời vĩnh biệt. Có lẽ vì thế mà ông viết về nụ hôn với một trái tim thổn thức, vì một điều gì đó sâu xa hơn cả tình yêu đôi lứa: đó chính là tình người.

“Ấm lòng những nụ hôn như thế” không chỉ là một tập thơ viết về nụ hôn. Đó là một nụ hôn thi ca được đặt trong suy tư, trăn trở của một thời, như một cách tri ân, một lời tiễn biệt và cũng là một niềm hy vọng.

Trong nhịp sống hối hả hôm nay, khi ngôn từ dễ rơi vào sáo mòn, tập thơ này như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng: Có những nụ hôn không chỉ dành cho đôi lứa mà dành cho cả một dân tộc, như một cái ôm chạm sâu vào ký ức.

Đọc thơ ông tôi không chỉ thấy lòng mình được “ấm” mà còn thấy lòng mình được thức tỉnh. Bởi tình yêu lớn nhất đôi khi chỉ cần một nụ hôn ấy làm đau đáu biết bao thế hệ. Nụ hôn ấy ấm mãi khát khao cháy bỏng được sống được yêu. Nụ hôn ấy là niềm tin cho ngày mai tươi sáng. Nụ hôn làm ấm lòng, trăn trở những người đang sống và nhất là những người cầm bút như chúng tôi.

Đôi điều cảm nhận khi đến với
tập thơ “Ấm lòng những nụ hôn như thế”

“Những nụ hôn” ấm nồng tình cảm

Từ thuở lọt lòng cha mẹ trao anh

Ông bà nâng niu đứa cháu hiền lành

Đi, đi mãi không quên thời thơ dại.

“Những nụ hôn” tuổi trăng tròn hò hẹn

“Mười tám” đôi mươi tim rạo rực dạt dào

Gửi cho em, nào “hương bưởi, hương cau”

“Những nụ hôn” cháy nồng như nắng hạ.

“Những nụ hôn” sau mùa thi cuối khóa

Bên nữ bên nam chan chứa tình thương

Tạm biệt nhau, “nụ hồng xua” nỗi nhớ

 Để ngày mai ta xa cách bốn phương.

Tổ quốc lâm nguy sẵn sàng ra trận

“Chiến đấu hết mình dưới cờ sao!”

Có “nụ hôn ngào ngạt em trao”

Đến anh chiến sĩ đi vào thiên thu.

Bao năm kháng chiến không ngừng nghỉ

Có những nụ hôn vội vã chiến hào.

Bao đồng đội hy sinh vì nghĩa lớn

Thương tuổi trẻ hẹn hò mà chưa kịp hôn nhau.

Ơi em nữ cứu thương với “nụ hôn đầu”

Ôi yêu thương người con gái trẻ

Mảnh bom thù xé nát trái tim em

Thôi “em ở lại với rừng xanh” em nhé!

Hòa bình rồi sao anh không trở lại

Em đi tìm “hơn bốn lăm năm” qua

“Hòa vào đất nụ hôn đầu tươi rói”

Em đưa anh về, gần mẹ, gần cha.

“Ấm lòng những nụ hôn như thế”

Những nụ hôn ngọt ngào

chứa đựng tính nhân văn.

Chú thích: Những cụm từ trong ngoặc kép là tên một số bài thơ trong tập “Ấm lòng những nụ hôn như thế”.

Xin cảm ơn tác giả, nhà thơ Phạm Đình Phú với tác phẩm mới “Ấm lòng những nụ hôn như thế”.

10/7/2025

Nguyễn Thị Phương Nam

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Khát cháy của Nguyễn Đức Hạnh: Thơ như lửa và nước mắt

PGS. TS Nguyễn Đức Hạnh, nguyên Giám đốc NXB Đại học Thái Nguyên, là người tài hoa. Anh vừa là nhà Lý luận - phê bình sắc sảo, vừa là nhà văn, nhà thơ viết nhanh, viết khỏe và rất có cá tính. Chỉ tính riêng về mảng thơ, “Khát cháy” đã là tập thơ thứ năm của anh. Trước đó là các tập "Núi khát" (2000), "Vết thời gian" (2014), "Khoảng lặng" (2016) và "Thầm" (2020).

"Khát cháy" (NXB Văn học, 2025) gồm 95 bài là thành quả của 5 năm sáng tác. Tập thơ in dưới dạng song ngữ Việt – Anh với phần tiếng Anh do nhà thơ – dịch giả Võ Thị Như Mai thực hiện. Tập thơ như một bản giao hưởng về những khát vọng nhân sinh, nơi cái đẹp được khai sinh từ chính vết nứt của đời sống. Ở đó, người đọc tìm thấy không chỉ nỗi đau thời đại mà còn cả ánh sáng của lòng trắc ẩn.

"Khát cháy" của Nguyễn Đức Hạnh không đơn thuần là một tập thơ - đó là lời thú tội của một tâm hồn dám sống đến tận cùng những mâu thuẫn: giữa nỗi đau và vẻ đẹp, giữa phản kháng và chấp nhận, giữa tro tàn và lửa ấm. Như chính hình ảnh "ống cơm lam nướng vụng" mang đầy tính biểu tượng, thơ ông cháy đen trong thực tại nhưng vẫn dẻo thơm tựa hạt gạo nếp quê hương.

Có thể nhận thấy, Nguyễn Đức Hạnh đã góp vào thi đàn Việt Nam một giọng điệu riêng - giọng của kẻ "ngậm mưa" giữa bão giông, của người nhóm lửa từ chính đống tro tàn ký ức. "Khát cháy" xứng đáng là tập thơ cần được đọc chậm, để mỗi câu chữ thấm qua vết nứt tâm hồn, như cách nước mắt mẹ thấm vào rơm rạ mùa đông năm nào...

Trong dòng chảy thơ ca đương đại đang ngày càng nghiêng về phô diễn kỹ thuật, sự chân thành đến tàn khốc của Nguyễn Đức Hạnh là lời nhắc quý giá: Thi ca chỉ thực sự tồn tại khi nó cất lên từ máu và nước mắt của một đời người.

Và để cảm nhận rõ hơn điều đó, mời bạn đọc hãy cùng đến với chùm thơ dưới đây – những mảnh ghép đa chiều về thân phận con người trong dòng chảy khắc nghiệt của đời sống. Từ nỗi đau thấm đẫm tình mẫu tử (Mẹ ơi con nhóm lửa rồi), đến những suy tư về thân phận nghệ sĩ (Nghĩ về thơ trong ngày mưa nhiều), mỗi bài thơ như một vết cắt sâu vào hiện thực, nhưng vẫn ẩn chứa ánh sáng của niềm tin.

Ngôn ngữ thơ Nguyễn Đức Hạnh vừa gai góc ("Ống cơm lam nướng vụng / Cháy đen rồi còn cố bùi thơm"), vừa dịu dàng ("Khu vườn nhỏ có cây khế nhỏ / Quả chín rơi ngọt cả tay cầm"). Tác giả phơi bày sự thô ráp của số phận ("Lưới số phận đã quăng / Nhảy múa kiêu hãnh gì cũng là kiếp cá"), nhưng đồng thời cũng nhen nhóm yêu thương ("Anh là củi còn em là lửa / Đêm đêm che gió nhóm yêu thương").

Đọc thơ Nguyễn Đức Hạnh, ta bắt gặp một tâm hồn vừa bầm dập vừa kiên cường, một trái tim biết đau nhưng không ngừng khát khao hướng về sự trong trẻo nguyên sơ. Như chính nhan đề tập thơ - "Khát cháy" - đó là tiếng lòng của một thi sĩ dám sống đến tận cùng, dám viết bằng máu và nước mắt.

N.H chọn thơ và giới thiệu.

MẸ ƠI CON NHÓM LỬA RỒI

Thiếu phụ mùa đông vẩy triệu giọt lạnh lùng

Thất tình nên nghiệt ngã?

Sông co ro. Người xuýt xoa. Lửa hồng thương kêu lép bép

Phố đêm nghiêng thõng tiếng đàn bầu

Ao chuôm thở làn khói ấm

Cá lỡ hẹn hò nên lặn rất sâu

Trong ổ rơm nhìn trăng gầy quá

Giống quả ổi cuối cùng trên cây mùa đông

Cột tre kêu làm nứt đêm dài

Lá chuối khô giống bàn tay cha chai, ấm

Nhà dột mang hết xoong nồi ra hứng

Mẹ hứng bằng đôi mắt trũng sâu

Mưa đong đầy rồi tràn ra ngoài mắt mẹ

Ướt sũng con đang ngắm ngọn đèn dầu

Giờ nhà không dột nữa

Đêm đêm mẹ vẫn ngồi cắn chắt ngày xưa ...

Bóng những giọt mùa đông vẫn chảy vào mắt mẹ lúc lành lúc vỡ

Nóng như hạt muối đang thở, muối ướp tiếng thở dài

Mẹ lần tràng hạt

Những mùa đông tròn xoe trên tay mẹ

Mẹ ơi! Con nhóm lửa rồi

Sưởi cho bao mùa đông lăn thành giọt lệ

Lăn đi đâu cũng mặn vào lòng,

Càng mặn càng trong.

TÔI LÀ ỐNG CƠM LAM NƯỚNG VỤNG

Tôi là ống cơm lam nướng vụng

Cháy đen rồi còn cố bùi thơm

Vỏ ống tre quê hương

Xanh lặng lẽ bụi cây ai biết

Tình yêu tụ thành gạo nếp

Mắt mẩy thơm thức ngó đêm dài

Nước là lệ của mẹ, mồ hôi của cha

Lửa số phận đốt đau không khóc

Ống cơm lam vỡ trôi qua vực chiến tranh

Dập trong mùa giáp ranh

Hoàng hôn đánh ban mai oà khóc

Niềm vui méo, nỗi buồn tròn - hai chiếc bát

Đựng nỗi niềm tôi mời mẹ, mời em

Đũa gian lao gắp tôi đến nát

Em là muối ớt

Tôi chấm tôi vào cùng trăm năm

Ngon cũng khóc mà đắng cay cũng khóc

Ống cơm lam xấu đen còn mơ ước

Tặng dẻo thơm chẳng ai thấy trong lòng

Buồn thì ra bến

Thả mình trôi khoả đục tìm trong.

NGHĨ VỀ THƠ TRONG NGÀY MƯA NHIỀU

Hồ trong vì người không xả rác vào?

Hồ vẫn trong khi đầy rác?

Trong hay đục do mình ...

Trong rừng khiếu, sáo, vẹt véo von

Thiên hạ vỗ tay la hét

Hồ mùa thu hát bằng ánh trăng vỡ nát

Chỉ một hòn sỏi nghe rồi khóc

Cái đẹp đau thường nói một mình

Trong bao người hát múa

Ai cùng tôi ngậm mưa?

Phim doanh thu vài trăm tỉ chắc gì hay?

Cuốn sách ế không bán được chắc gì dở?

Bài vè có ngàn người vỗ tay

Lá cỏ của Uýt Man có mười người đọc, hai người xé ...

Tự ngắm rồi thương mình từng múa may theo tiếng kèn hư danh

Tâm biển khơi hóa ao tù thì tài mặt trời thành đom đóm...

Dắt hai câu thơ hay-dở về nhà

Thơ dở hóa cáo. Thơ hay hóa gà...

NÓI VỚI EM KHI TÓC BẠC

(Tặng Yến Nga)

Chặt vui buồn dựng hàng rào xanh

Buông bỏ nở hoa lặng lẽ

Khu vườn nhỏ có cây khế nhỏ

Quả chín rơi ngọt cả tay cầm

Căn nhà bé dựng cuối xa xăm

Mưa cứ ghé rồi ôm trong vắt

Lấy gió đan tấm lưới xanh ngát

Bao hương thơm của hoa dại lạc đường

Anh là củi còn em là lửa

Đêm đêm che gió nhóm yêu thương

Có than hồng bùng trong vất vả

Khoai nướng cứ thơm. Kệ được, mất vô thường

Khu vườn lạc vào tác phẩm

Nhân vật biết cười biết khóc thật khó khăn

Hạnh phúc như bài ca đợi tận đáy biển

Hái bó hoa hồng chợt rỏ máu tay cầm

Khu vườn ru căn nhà ngủ

Bao loài cây vẫn thức đợi chờ

Những quả chín như mặt trời xấu hổ

Sưởi môi nhau ngọt đến sững sờ.

NGẮM BẦY CÁ MÀ NGHĨ ....

Con cá dưới sông nhìn theo sóng

Con cá trên đĩa nhìn theo đũa

Chúng mình - hai con cá

Áp vui buồn đánh dấu môi nhau

Trên sông

Mặt trời đàn ông đa tình

Sáng vuốt ve trưa thiêu đốt

Mặt trăng đàn bà cố nén đam mê

Làm sao mà không khuyết?

Thi sĩ là con cá dị biệt biết hát

Làm sao không cô đơn?

Mắt không chớp suốt trăm năm

Cát đâm vào nên hay khóc

Lưới số phận đã quăng

Nhảy múa kiêu hãnh gì cũng là kiếp cá

Hát đồng ca vui quá ...

Này sông này lưới này dao

Bơi tung tăng mãi rồi vào nơi đâu?.

15/7/2025

Nguyên Hùng

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

  Trở lại cánh đồng thơ của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh Nhà thơ Y Phương ở miền non nước Cao Bằng đã từng tâm niệm: “Thơ cũng giống như tình y...