Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Thiếu Lâm - Võ Đang, ai mới là đệ nhất làng võ Trung Hoa?

Thiếu Lâm - Võ Đang, ai mới
là đệ nhất làng võ Trung Hoa?

Cố văn hào Kim Dung không ít lần khơi gợi lên một cuộc so sánh kinh điển trong loạt tiểu thuyết võ hiệp của mình. Cuộc so sánh chiều sâu võ thuật giữa hai đại môn phái mang tính biểu tượng làng võ Trung Hoa – Thiếu Lâm và Võ Đang.
Kim Dung phóng đại, nhưng không thể hạ thấp Thiếu Lâm – Võ Đang
Và không chỉ có Kim Dung, cả làng võ Trung Hoa đều không ít lần tranh luận. Cuộc tranh luận về võ học, về tính thực chiến, về chiều sâu võ đạo và sức ảnh hưởng giữa hai đại môn phái Thiếu Lâm – Võ Đang.
Nếu “tam giáo cửu lưu” là khái niệm cội rễ của văn hóa Trung Hoa, thì ở võ thuật, “Phật Đạo lưỡng tông” được xem như hai nửa của toàn bộ triết lý võ thuật do người dân đại lục đúc kết qua ngàn năm lịch sử.
Với Thiếu Lâm, hình tượng “Cửu niên diện bích, thoát nhiên đại ngộ” (khổ tu 9 năm, ngộ ra đạo lý) của Bồ Đề Đạt Ma sư tổ được xem là bước khởi đầu của tư tưởng Thiền – Võ, thịnh hành đến cả ngàn năm sau.
Còn với Võ Đang, Kim Dung từng mô tả “tiếng cười khai sơn lập phái, ra đời một vị tông sư võ học tiền vô cổ nhân, hậu vô lai giả”, về vị đạo sĩ huyền thoại Trương Tam Phong.
Cũng qua ngòi bút kỳ ảo của mình, Kim Dung càng khiến hình tượng “Phật Đạo lưỡng tông” thêm phần huyền hoặc, trở thành biểu tượng võ học Trung Hoa.
Cố văn hào Hong Kong chịu ảnh hưởng rất sâu của tư tưởng Lão Trang, ngả về Đạo giáo. Ông mô tả võ công Đạo gia từ Toàn Chân giáo, do Vương Trùng Dương sư tổ sáng tạo nên là “huyền môn chính tông”, là cội nguồn của việc tu luyện nội công.
Nhưng không phải vì vậy mà Kim Dung hạ thấp Thiếu Lâm. Cũng qua ngòi bút của mình, Kim Dung phóng tác các phương thức rèn luyện thân thể của ngôi cổ tự ngàn năm trở thành “thần công hộ thể, khiến cơ thể con người vượt qua lẽ thường”.
Nếu võ công Đạo gia được đề cao ở việc rèn luyện nội công, dưỡng khí, thì công phu Thiếu Lâm ngả về hướng ngạnh công (rèn luyện thân thể rắn chắc). Nhưng cả đôi bên đều đề cao võ đạo.
Đó là trong truyện Kim Dung, còn ở ngoài đời thật thế nào? Lịch sử làng võ Trung Quốc chưa bao giờ ghi nhận cuộc tỉ thí thực sự nào giữa võ sinh hai phái.
Học giả Tôn Hạo Đông, người từng bỏ nhiều thời gian nghiên cứu hai đại phái này, nói: “Dân gian ưa thích so sánh Thiếu Lâm và Võ Đang, nhưng sự thật là 2 môn phái này không hề có xung đột, mâu thuẫn nào trong ngàn năm qua, và tương lai vẫn sẽ như vậy.
Ngày nay, cả Thiếu Lâm lẫn Võ Đang đều đã vượt tầm một võ phái. Họ giống như những ngôi trường với tư tưởng triết học cao thâm, chỉ dẫn mọi người tìm hiểu triết lý sống, triết lý rèn luyện thân thể. Sẽ không có chuyện hai đại phái này sa đà vào việc tỉ thí võ nghệ”.
Không có so tài trực tiếp trên võ đài, người dân đại lục nếu muốn so sánh giữa Thiếu Lâm và Võ Đang có lẽ chỉ có thể viện dẫn các thông số về sức ảnh hưởng, về quy mô phát triển của 2 võ phái.
Ai giàu sức ảnh hưởng hơn?
Trước hết về quy mô học viên và võ đường, Thiếu Lâm giữ vị thế ấn tượng ở mức đại chúng.
Trang web chính thức Shaolin Temple Kung Fu Academy công bố hiện có khoảng 35.000 học viên tại học viện lớn nhất của khu vực. Và thành phố Đăng Phong – nơi nhà chùa tọa lạc từng ghi nhận hàng chục đến hàng trăm võ đường hoạt động.
Hằng năm, chùa Thiếu Lâm tổ chức hàng ngàn sô diễn đỉnh cao, với chi phí mỗi sô diễn dao động từ 3.000 USD – 10.000 USD. Điều này mang lại khoản doanh thu lên đến hàng triệu, thậm chí là hàng chục triệu USD.
Sức ảnh hưởng của Thiếu Lâm với cộng đồng võ thuật cũng rất đáng nể. Có hàng loạt bộ phim Hoa ngữ có chủ đề liên quan đến Thiếu Lâm.
Nhưng Võ Đang (Wudang) đang vươn lên theo lộ trình khác: thay vì tập trung vào “học viện” cỡ lớn, võ phái Đạo gia này phát triển theo mạng lưới các chi hội, trung tâm luyện tập.
Báo chí chính thống Trung Quốc ghi nhận Wudang Martial Arts Association có 32 chi nhánh. Trong đó 13 ở nước ngoài, với tổng thành viên gần 11.000, và có hơn 40 trường/centers hoạt động quanh khu vực núi Võ Đang.
Chuyện gì cũng có hai mặt. Khi mà Thiếu Lâm ra sức “chạy sô” theo hướng biểu diễn, xây dựng thương hiệu kinh doanh, tai tiếng cũng bắt đầu xuất hiện.
Trong năm 2025, uy tín của ngôi cổ tự ngàn năm này bị ảnh hưởng nặng nề bởi bê bối tham nhũng của cựu trụ trì Thích Vĩnh Tín. Và qua đó, người dân đại lục không khỏi đặt câu hỏi: Phải chăng Thiếu Lâm đang bị thương mại hóa quá đà?
Ngược lại, Võ Đang được gắn chặt với Đạo giáo và khí công, dưỡng sinh, nên hình ảnh của phái này phù hợp với trào lưu sức khỏe hiện đại.
Các tổ chức Đông y, y học cổ truyền ở vùng Đông Á thường gắn với việc tập luyện dưỡng sinh, xuất phát từ tư tưởng võ học Đạo gia. Hình thức tập luyện này ngày nay đã lan sang cả giới trẻ, không còn bị bó buộc trong đối tượng người cao niên.
Có thể ví von, Võ Đang đi chậm, nhưng chắc, so với sự phát triển bùng nổ của Thiếu Lâm Tự. Cả hai đều tạo ra sức ảnh hưởng sâu rộng ở những góc độ khác nhau.
9/12/2025
Huy Đăng
Nguồn: TTO
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Thơm từ nỗi đau" hay là buồn như hạnh phúc

"Thơm từ nỗi đau"
hay là buồn như hạnh phúc

Nỗi đau và nỗi buồn trong thơ Hoàng Thuỵ Anh chính là nỗi đau hoan ca và nỗi buồn sáng tạo. Nữ sĩ giờ đây trở thành người trầm tư, chắt chiu nỗi buồn, biến nó thành niềm vui tái sinh trong khu vườn thi ca vĩnh cửu: “quả bắp lọn lúa đĩa xôi/ như bức tranh tĩnh vật của cánh khói/ bàn tay nụ cười các ý tưởng ngộ nghĩnh/ em làm sự trong suốt về anh”…
Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, sinh thời, có phát biểu quan niệm của ông về thơ tưởng lạ nhưng vô cùng chính xác: “Một quyền của thi sĩ là quyền được buồn trong ngôi nhà tâm hồn của mình”. Đó có thể là đúc kết từ kinh nghiệm buồn của chính ông, cũng có thể là nhập vai vào kinh ngiệm buồn của người khác. Ứng vào thực tiễn cuộc đời và sáng tạo của nhiều thi sĩ lớn ở nước ta và trên thế giới, điều đó đã trở thành linh nghiệm và ứng nghiệm. Vâng, nhà thơ lớn là người nào biết đi từ nỗi buồn đau của chính mình và cõi người để thơ của họ kéo dài ra trong niềm vui và thăng hoa của người khác.
Đọc tập thơ ‘’Thơm từ nỗi đau’’ (NXB Hội Nhà văn, 2025) của nữ sĩ trẻ Hoàng Thuỵ Anh, tôi bất chợt liên tưởng đến những điều kỳ diệu của nỗi đau thơm như hoa cỏ và nỗi buồn đắng như hạnh phúc mà nơi tận cùng sâu thẳm lòng mình, người thơ đã kịp nhận ra trên hành trình tâm linh sự sống. Thơ Hoàng Thuỵ Anh, vì vậy, là mỹ học của nỗi đau toát ra từ một hồn thơ dạt dào thiên tính nữ. Đau buồn mà vẫn tin yêu, hy vọng và vẫn bao dung, nhân ái với cuộc sống và thiên nhiên: “mưa rót vào đêm/ đêm rót vào mưa/ như bóng rót vào bóng/ làm đầy nhau”. Đó chính là ngôn ngữ của thiên nhiên song hành với con người và cần cho con người từ bản chất:
khởi đầu để tận cùng/tận cùng để khởi đầu – (Song hành)
Từ thức nhận và quy chiếu như thế, Hoàng Thuỵ Anh đã thấy được: “mặt trời lăn vào bóng đêm/ ánh sáng sinh ra/ xanh từ mặt đất xanh lên”. Trái tim thiên nhiên luôn tươi xanh và trong suốt đến tận cùng sự sống để mọi sinh thể đều giao hoà trong khát vọng sống yên bình, dẫu có lúc, chúng không tránh khỏi tổn thương từ chính mình và từ mọi ngả: “trong vô tận vết thương môi sinh/ đừng bỏ ai lại phía sau/ / lời nói tôi và bạn/ sẽ ấm hơn/ trong tiếng vẫy chào muôn loài” (Sự sống). Do vậy, mọi sinh thể vẫn không ngừng sinh sôi và tái sinh từ chính mình trong mỗi ban mai đầy nắng:
biết bao thanh vắng lớn/ lên từ ban mai/ sân nhà buông óng ánh/ triệu triệu hạt giống gọi nhau/ vàng ươm tay mẹ/ thức dậy mỗi sớm mai/ thấy mình sinh ra lần nữa- (Ngời)
Mình sinh ra lần nữa và cỏ cây, hoa trái cũng sinh ra lần nữa và nhiều lần nữa để xoá sự trống rỗng trên mỗi gương mặt muộn sầu: “mỗi bước đi/ nở những hạt huyền diệu/ trong khu vườn gió nắng và bầy chim sâu”. Thiên nhiên trở thành ân huệ với con người: “lung linh/ như quà tặng thiêng liêng/ làm trong suốt bóng tối” (ánh sáng). Đó là thứ ánh sáng diệu kỳ để hoài thai những hồng hào sinh nở: “mùa vừa bay lên/ tự do sắc/ tự do hương/ bên hàng chuối vô ngôn” khiến con người rộn ràng giữa mùa xuân thanh tân trong ngần hương sắc để họ thắp lửa tin yêu: “ta cùng nâng ly cho nhau/ từng giây mật ngọt/ gọi quê về/ giữa làn khói bao dung” (Thắp). Mọi vật thắp lên những tơ non, con người tái sinh niềm yêu da diết:
từ đó tháng dần mọc lên/ từ đó những ánh nhìn xanh non/ từ đó những ý nghĩ ngọt lừng – (Tự nhiên)
Trong vòng tay mùa xuân, mọi hững hờ biết là vô nghĩa:
trong vòng tay tháng giêng/ giọt nắng rơi xuống/ bãi bờ biêng biếc tân hôn –(Tân hôn)
Nỗi đau và nỗi buồn trong thơ Hoàng Thuỵ Anh chính là nỗi đau hoan ca và nỗi buồn sáng tạo. Nữ sĩ giờ đây trở thành người trầm tư, chắt chiu nỗi buồn, biến nó thành niềm vui tái sinh trong khu vườn thi ca vĩnh cửu: “quả bắp lọn lúa đĩa xôi/ như bức tranh tĩnh vật của cánh khói/ bàn tay nụ cười các ý tưởng ngộ nghĩnh/ em làm sự trong suốt về anh”. Ở đó, anh được phiêu lưu và chuyển vị trên đôi cánh tưởng tượng kỳ diệu của em: “như đến mùa/ anh được phiêu lưu/ và  chuyển vị/ trong ngôi vườn đầy sáng tạo bởi em” (Tĩnh vật). Trong không gian hiện thực và giấc mơ vô thức ấy, giữa anh và em không còn khoảng cách: “bên này anh bên kia em ở giữa là giấc mơ/ rộn ràng nảy lộc”. Đến nỗi người tình của em phải thốt lên những lời thỉnh cầu nồng nàn như lửa:
người tình của anh/ xin em hãy nhen nhóm lòng anh bằng khoảng cách/ để anh được nhiệm màu/ trong bất tận ngôn ngữ tân hôn –(Khoảng cách)
Dẫu đã khép lại trong em mùa sen cũ, nhưng những búp sen và tâm sen vẫn thơm và đắng, nên em vẫn nguyên thuỷ trong tôi những mùa sen chúng mình đêm đêm hò hẹn: “đã khép lại một mùa sen trong em/ vẫn nguyên thuỷ một mùa sen trong tôi/ những mẫu tự mong manh viễn du theo làn tóc rối/ đêm đêm/ bay”. Dẫu số phận có ngẫu nhiên dừng lại trên tờ lịch như trò chơi phận số, thì: “ngày em đến/ lòng tôi hoá vô ưu & ban sơ/ ngay cả ngọn cỏ hoang dại trong vườn nhà cũng hân hoan/ thì làm sao tôi có thể/ mặc kệ chính mình”. Cho nên mùa sen tái sinh, tôi sẽ đặt linh hồn tôi nơi đó để được yêu em và hy vọng tâm sen luôn đắng như hạnh phúc:
tôi học sen
thơm
từ
nỗi
đau
(Thơm từ nỗi đau)
Tình yêu trong thơ Hoàng Thuỵ Anh diễn ra với hành trình mộng tưởng đẹp, buồn và xao động trong mơ. Gặp nhau trong mơ rồi chia xa, hình ảnh trong mơ trở thành vết thương nhung nhớ: “còn chiêm bao còn hạnh ngộ/ còn vết thương còn nhung nhớ/ thác tình mê mải rẽ ba ngôi” (Vơi đầy Bản Giốc). Vì vậy mà mỗi đêm bén rễ, giấc mơ cũng hiện về với vết nhàu vạt nhớ em mang đến cho anh, khiến anh phải tự thú: “tôi đã giấu ánh nhìn em trong bảo tàng/ bông hoa đăng đắng nhú lên/ tự thú trăng/ / cái bóng của em/ kịp hôn môi tôi/ trước khi những ngón tay chạm vào xa xăm”. Để rồi mọi nghịch lý trở thành thuận lý: “nhưng em ơi/ tôi không thể đi hết tôi/ nếu em còn ở lại” (Nghịch lý). Giấc mơ là để thoả mãn những mong ước không đạt được trong hiện thực nên nó giúp em có nơi nương tựa để xoa dịu nỗi buồn thoáng hương thơm và mật đắng: “không ai diễn trò giấc mơ/ vì giấc mơ là sự thật của bản ngã/ hà cớ gì/ em không tựa  vào đó/ mà/ lớn lên”. Niềm vui sáng tạo và thiên nhiên mưa, nắng đã cứu vãn tình thế qua từng con chữ viễn du tìm thời gian đã mất của em để rút gần khoảng cách chia xa:
thử treo ngược mình trên văn bản/ lũy thừa mưa/ lũy thừa nắng/ lũy thừa dỗi hờn/ tìm dấu ngấn thời gian/ tìm con chữ rút  ngắn khoảng cách về phía anh – (Là em)
Còn với anh thì sao? Có em, tôi có nơi nương tựa để thắp lên những mùa yêu nồng nàn như lửa: “theo tà áo em/ mượn bóng em/ mượn tiếng cười em/ thắp ấm nồng lên những diễn ngôn mùa”. Tôi được tái sinh từ em – hạt giống ân huệ huyền diệu của đời tôi để tình yêu không bao giờ xưa cũ:
tôi dành cả cuộc đời này chỉ để học cách yêu em/ vì em là hạt giống/ cho hồn tôi tái sinh – (Hạt giống em)
Vậy là từ đó, những diễn ngôn mùa ngày mỗi ấm nồng trên từng con chữ xoay tròn theo thời gian, dẫu có quạnh hiu, nhưng tận cùng nỗi đau là hương thơm và mật ngọt để hoài sinh những nỗi niềm đắng như hạnh phúc: “nhặt tàn chiều trên những cung đường ve vuốt chữ chi/ nghe tiếng quạnh hiu lăn trôi/ tối đến sáng/sáng đến tối/ chợt thèm bàn tay cư trú/ xuyên qua kẽ nứt đỉnh đau/ nghiệm/ giấc phục sinh” (Phục sinh). Hoàng Thuỵ Anh đã từ nỗi đau để nhìn ra mình và mọi đối tượng khác, không phân biệt chủ thể và khách thể: “ý nghĩ sở hữu em/ sở hữu lá cỏ/ về phía nhân loại/ chưa bao giờ tồn tại trong tôi/ như em hằng thấy”. Vì vậy, tận cùng của nỗi buồn đau là màu xanh hoa cỏ thì thầm và lá hát xôn xao: “đi tận cùng nguồn cội/ như em thấy đó/ chỉ mùa xanh trở về” (mùa xanh) để “hàng cau uống bầu trời/ ruộng đồng ngầy ngậy trong ngần”. Để nỗi nhớ cũng biến thành ngọn gió đi tìm thơm hương mái tóc và những nụ hôn hồng hào sinh nở bất tận trong nhịp điệu xanh: “nhặt lấy ngữ pháp của cỏ/ mai này nằm xuống/ biếc ngời nụ hôn” (Nhớ). Ở đó, cả hai tâm hồn và hai thân thể dồn lại, tan trong nhau và cạn cùng nhau, có giấc mơ đêm dẫn lối:
trải ẩn ngữ lên thân thể/ biến dạng đêm/ biến dạng giấc mơ/ phác thảo bức tranh người đàn/ ông có gương mặt cũ kỹ/ trải tôi/ người đàn bà đêm/ cạn mình – (Đối diện)
Đọc tập thơ ‘Thơm từ nỗi đau” của Hoàng Thuỵ Anh, tôi nhận ra một điều đặc biệt trong tâm lý sáng tạo của nữ sĩ, đó là sự ý thức về thời gian và cảm thức thời gian hiện hữu đậm đặc qua từng hình tượng thơ và ngôn từ thơ. Đó là kiểu thời gian hiện tồn hoang hoải trong từng sự vật và chứng tích u trầm; là thời gian hiện sinh ám ảnh, nhức buốt trong từng ý nghĩ và tế bào sinh học của chính người thơ: “tôi bơi trong thoả hiệp thời gian/ nhưng sắp đặt bản thảo cuộc đời theo cách của tôi/thênh thang ngữ âm cỏ hoa/ hoan ca lời lời nắng gió”. Và trong ý niệm của nhà thơ, thời gian được nhận diện qua tâm trí, ban đầu, có thể là một suy nghĩ trừu tượng, một ý tưởng ban sơ, nhưng càng về sau, nó biến thành những hiểu biết sâu sắc về tồn tại và hư vô, về hữu thể và yếu tính. Tất cả được cảm niệm qua cái nhìn hiện tượng luận mà E. Husserl đã đúc kết và Hoàng Thuỵ Anh – với tư cách là chủ thể đang tư duy đã nhận ra rất đa dạng và đầy sáng tạo khi đối diện với từng hiện tượng chung quanh: “trong bức tranh ý niệm của tôi/ không có gì thật thà/ ngoài mảnh ghép hoang dã/ / ở đó/ tôi đã định vị tôi như thế” (Định vị tôi). Định vị trong sự đứt nối, rời rạc như những sự vật trong không gian để thành những con chữ bậc thang, vắt dòng (enjambement) – biểu hiện của sự sống chậm, trầm tư và rong chơi trong hố thẳm tư tưởng khi đối diện với một sự vật và tình cảnh cụ thể, giúp người đọc nhận ra ý nghĩa tạo sinh mới mẻ cho thơ:
từ ly cà phê/ nơi này/ tôi khuấy tôi// tôi vẽ tôi/ tôi nhâm nhi tôi/ tôi vẫn thường rong chơi trong tôi// mỗi giọt đều nở bông hoa/ chuyển hóa các ý niệm/ liên tục trên nhành non tơ thánh thiện// tôi thỏa thích trong sự sóng sánh/ cùng nắng gió Tây Nguyên/ biếc lên những giai điệu rất lịch lãm- (Trữ tình của giọt cà phê)
Thời gian là ngục tù, nhưng thời gian cũng là ước khát và hy vọng mà ở đó sự sáng tạo có khả năng hoá giải mọi niềm vui và đức tin hằng sống: “tận cùng không có nghĩa là chấm hết/ con sóng vương triều/ con sóng tình yêu/ vẫn nảy mầm trên đôi cánh bình minh” (Thiên Cầm). Đó cũng chính là chứng tích u trầm của những viên gạch thời gian nơi trăm năm tháp cổ: “những viên gạch nghìn năm không ngủ/ ngọn lửa bập bùng hôn lên nỗi mơ hồ/ thời gian nằm ngoài cái chết”. Là vũ điệu của khát vọng vĩnh cửu và trinh tiết của sự sáng tạo:
dấu tích rươm rướm miền sương khói cát bụi cần mẫn dậy thì/ apsara nàng là trinh tiết của sáng tạo – (Vũ nữ)
Hoàng Thuỵ Anh đã nhận ra trong thời gian và qua thời gian tất cả những gì là gỉan đơn nhưng minh triết của sự sống, cội nguồn của sự hoài thai và tái sinh mầu nhiệm, như cánh chim tịnh độ tha hương trong chiều vẫn mong cầu được cất tiếng kêu vọng về từ cổ tích để gọi mùa an trú: “cánh chim tịnh độ/ bay cuối chiều khói sương/ giăng vàng tha hương/ tiếng kêu vọng từ cổ tích/ trĩu/ mùa mùa mùa” (Mùa). Còn với con người thì sao? Không hẳn là: “thời gian như chiếc tách/ rót đều quá khứ và tương lai” Bởi vì, có khi, con người đã đi qua cuộc đời mình, chưa kịp đến tương lai thì quá khứ vẫn còn đến từ phía sau như những hoài niệm đẹp:
bạn trôi qua bạn
không có nghĩa bạn đã rời khỏi vị trí của chính mình  sự thật sâu lắng nhất là sự thật đến từ phía sau
(Ý thức)
Vì vậy mà thời gian trong thơ Hoàng Thuỵ Anh luôn được cảm thức trong sự đối sánh với mọi sinh thể để mỗi chủ thể hiểu rõ mình hơn: “một mai bạn lấp đầy tôi/ chiếc lá vàng sẽ có một quá khứ”. Có khi là sự thoả hiệp với thời gian, giúp xua đi nỗi buồn đau để nhận về những hoan ca và bi ca từ ngữ âm và diến ngôn hoa cỏ: “tôi bơi trong thoả hiệp thời gian/ những sắp đặt bản thảo cuộc đời theo cách của tôi/ thênh thang ngữ âm cỏ hoa/ hoan ca lời lời nắng gió” (định vị tôi).  Và vì vậy, những phiên bản của mỗi chủ thể sẽ không ngừng phản chiếu từ những chủ thể khác (other subjects) và những đối tượng ngoài tôi (objects beyond me): “bắt đầu từ phiên bản của tôi/ chỉ cần chúng ta không ngừng rót vào nhau” (Nơi chốn). Đây là cách cảm nhận thời gian có tính hiện tượng luận rất mới, khác của Hoàng Thuỵ Anh. Cứ thế, mỗi phiên bản là mỗi ngạc nhiên, tiếp nối ngạc nhiên: “ngạc nhiên một nụ cười/ ngạc nhiên một nỗi đau/ ngạc nhiên cơn tẻ nhạt”. Đó chính là cách làm mới bản ngã của mỗi nhân vị:
không phải từ phiên bản cũ/ từ phiên bản sao chép/ ngạc nhiên ngay cả điều đang ngạc nhiên – (Làm mới bản ngã)
Thơ Hoàng Thuỵ Anh hay nói nhiều về cái bóng – cái bóng của chính mình và cái bóng của mọi đối tượng. Bài thơ phiên bản, nhiều hơn một, bóng tối và nước mắt… là những tường giải về cái bóng đầy bất ngờ và triết mỹ. Cái bóng chính là phiên bản của chính mỗi chủ thể hoặc mọi sự vật, nhờ nó mà phân biệt được chủ thể hoặc tha thể: “bóng cao hơn/ không có nghĩa bóng sâu hơn/ bóng không đổ xuống/ là thừa nhận bóng người khác”. Cái bóng nhắc thức con người nên là chính mình, không sống dựa vào cái bóng của người khác, nhưng cũng phải biết thay đổi hình dáng gốc để luôn làm mới mình, làm phong phú mình để được đẹp hơn, cao hơn: “những cái bóng sống một cuộc đời khác/ chẳng bao giờ lặp lại hẹn hò/ những cái bóng hệt đứa trẻ/ đòi lớn lên” (Phiên bản).
Suy cho cùng, cái bóng dù thế nào cũng chỉ là cái bóng. Nó không thật, nhưng nó là phiên bản của mỗi con người và mọi đối tượng thật khi được ánh sáng soi chiếu. Và mỗi chúng ta, ai cũng muốn cái bóng – phiên bản của mình chân thật và tốt đẹp, tròn đầy, không dài hơn và rộng hơn hoặc méo hơn để mãi mãi: “cái bóng dưới chân/ không ai có thể chạy ra ngoài cái bóng/ / dù bạn phủ lên hàng trăm hàng ngàn gương mặt/ hay lặn sâu vào giấc mộng phiêu lưu/ cái bóng vẫn màu chân thật/ riêng dáng hình” (Nhiều hơn một). Mỗi chủ thể nên soi vào cái bóng của mình để được an yên và không ngừng tái sinh nhiều phiên bản đẹp và chân thật, để “bạn và cái bóng một mà nhiều hơn một”. Và vì vây, bạn và cái bóng luôn soi vào nhau, phản chiếu cho nhau và trong nhau:
nếu bạn đoạn tuyệt cái bóng/ thế giới này sẽ tan biến/ nếu bạn soi vào cái bóng
tâm hồn bạn sẽ không ngừng tái sinh – (Nhiều hơn một)
Đến đây, tôi chợt nhớ đến câu nói vô cùng sâu sắc có liên quan đến hình mẫu/ mẫu gốc/ archétype nói về cái bóng mà nhà tâm lý học Carl Gustave Jung đã chỉ ra một cách thú vị: “Người ta không soi sáng tưởng tượng các hình ảnh ánh sáng, nhưng làm cho bóng tối có ý thức”. Cùng ý nghĩ này, Hoàng Thuỵ Anh đã luận về cái bóng rất bất ngờ và triết mỹ như thế: “đừng chạy/ đừng câm nín/ bóng tối chưa bao giờ già nua/ buộc bóng tối/ đốt thành ngọn đuốc” (Bóng tối). Hoàng Thuỵ Anh cho rằng “dài hơn thời gian/ ấm hơn ngọn lửa/ chỉ im lặng là thật”. Vậy, con người nên hoà nhập với cái bóng thật để được phát huy bản ngã chính mình: “hòa nhập với cái bóng/ không có nghĩa bạn lệ thuộc cái bóng/ bao nhiêu cuộc phân thân bấy nhiêu cuộc thử thách/ tiếng gọi bản ngã là thanh âm vô cùng”. Bởi vì: “sự thật luôn chòi đạp/ dù ai đó có phủ đầy lòe loẹt/ như sứ mệnh của lửa/ là tự cháy”, giống như:
những đứa trẻ bước vào xứ sở này/ chúng tự thắp ánh sáng cho mình/ trái đất căng tràn/ lăn mãi về phía nước mắt – Nước mắt)
Ở đây, ánh sáng đã thuộc về phía nước mắt và ngược lại, nước mắt có thể bắt sáng để bay lên không gian cao rộng và long lanh trong nắng trời.
Đến đây, tôi quay lại điểm xuất phát của bài viết để nói về triết lý của Hoàng Thuỵ Anh: Thơm từ nỗi đau. Tôi thêm: Buồn như hạnh phúc để hiểu về tâm hồn dạt dào thiên tính nữ của tác giả. Trước khi nghĩ về Mẹ trong quan hệ tình mẫu tử thiêng liêng, Hoàng Thuỵ Anh liên hệ đến người đàn bà Đông phương như một mẫu gốc (archetype) để hiểu về những biểu tượng và huyền thoại cao đẹp về họ:
lầm lũi đổ về phía biển/ trên vai người đàn bà Đông phương/ đôi quang gánh thiêm thiếp mùa rạ rơm//chuyển động trong tôi/ những bông cỏ những phận người/ lấp lánh theo con nước- (Người đàn bà Đông phương)
Từ hình tượng người đàn bà Đông phương như trên, khiến tôi liên tưởng đến những khái niệm Nguyên lý tính Mẫu và Nữ tính vĩnh hằng. Cả hai đều có liên quan đến việc tụng ca người phụ nữ và người mẹ với những phẩm chất huyền diệu, xuất phát từ tình cảm và hành vi sản sinh, nuôi dưỡng cùng những đức tính che chở, bao dung, thủy chung, hy sinh, lao động và dâng hiến. Họ trở thành biểu tượng của quyền uy và sự sống, biểu tượng của cái đẹp cứu rỗi, nhân đạo, được nâng lên thành thiên tính nữ vĩnh hằng. Hãy lặng nghe Hoàng Thuỵ Anh nói về người mẹ tần tảo, hy sinh của mình: “cả cuộc đời gói cho con/ thức quà mùa xuân/ mẹ còn lại/ riêng mình bời bời đêm đông/ / ước cùng mẹ đưa nôi/ lặn vào luống cày xa ngái/ lấm bùn lời ru/ mọc/ khúc khích tiếng cười” (Mẹ). Vậy mà giờ mẹ đã đi xa, xa mãi không về, trong con giờ đây chỉ là mặc cảm rỗng (empty complex): “cuộc đời này con thiếu mẹ/ là thiếu phúc âm một niềm yêu/ sáng hơn ánh sáng mặt trời”. Vắng mẹ, nỗi buồn nguyên uỷ hiện về nối bao ký ức vui buồn, con xin mang theo suốt chiều dài tâm linh sự sống để luôn nhận lấy phúc âm từ mẹ:
không có gì vô tận/ kể cả thời gian cũng biết mệt mỏi già nua/ con vẫn ước ao đòn roi tay mẹ/ xuyến chi trắng vườn/ đêm tháng bảy dài hơn chiếc bóng – (Nơi này con đã thuộc về)
Mẹ vẫn còn đây trong đồng hiện bóng mùa qua và kéo dài ra trong nỗi nhớ của con nơi bảo tàng xanh của khu vườn nhà mình đầy ánh nắng, rộn ràng hương thơm, trái ngọt và khói chiều vương trên mái tranh nghèo sương rét:
trên hiên nhà đầy rêu/ mẹ ngồi như thể bức tượng được làm từ mảnh bom
trong viện bảo tàng/ kí ức chắp vá qua ngày/ năm thứ bảy mươi tám mươi rồi đến tám chín/ người ta nói chiều dài trái tim mẹ dài hơn đường đi của ánh sáng –(Phận người)
Từ người đàn bà Đông phương và Mẹ, Hoàng Thuỵ Anh nhìn ra quanh đời, lại thấy những trái ngang và vụn vỡ trước sự thờ ơ, nguội lạnh của người đời, không ai kịp vá lành những vết thương nhân tính mà lẽ ra mọi người đều phải giữ gìn và chiu chắt: “cuống rau cuộc đời/ nỗi khổ đau/ và/ niềm hạnh phúc mà chúng ta hằng yêu quý”, khiến thiên nhiên như cũng thấy mình có lỗi trước bóng mình: “sáng nay trời rất chi là trong xanh// vỉa hè không hỏi bạn hỏi tôi/ cũng chẳng ai thèm chúi vào câu chuyện của người khác/ trước những mảnh vỡ  có hẹn giờ/ chỉ cây lộc vừng thừa nhận bóng mình quá nhiều thừa thãi”. Sự vô nghĩa và tẻ nhạt với con người, có lúc họ đã không theo kịp thiên nhiên và vũ trụ nếu bản thân mỗi người không nhận ra những chân lý giản đơn của cuộc sống:
nếu ánh sáng chỉ biết sáng bóng tối chỉ biết tối/ tẻ nhạt sẽ đánh cắp sự  sống/ đôi khi đánh đổi cái chết của trái tim/ để nhìn thấy trong bóng tối có ánh sáng/ trong ánh sáng có bóng tối – (Cái chết cuả trái tim)
Biết nỗi đau và thấy sự hoá giải nỗi đau từ cái nhìn so sánh và thực chứng với môi sinh chính là cái nhìn nhân đạo hoá của Hoàng Thuỵ Anh. Đó cũng chính là mơ ước để còn hy vọng, còn cảm nhận được trong nỗi đau đã hiện dần lên hương thơm nhằm xoa dịu tâm hồn, dẫu có khi đó là sự xoa dịu trong giấc mơ vô thức.
Để khép lại bài viết của mình, tôi mượn chính diễn ngôn thơ của Hoàng Thuỵ Anh qua thi phẩm: bài thơ đẹp nhất là bài thơ bạn không bao giờ chạm tới mà theo tôi đó là bài thơ khoá (key poem) minh chứng cho khát vọng thi ca và hành vi sáng tạo cao đẹp của chính tác giả: “sâu hơn quá khứ/ dài hơn tương lai/ bài thơ nghe tiếng vang của đêm/ lướt đi trong ánh sáng”. Trong không gian thị giác sinh động đó, bài thơ sẽ hiện lên nhiều bản thảo để nói về những khoảng lặng có thật của nhà thơ: “những con đường bay ngược/ những hàng cây ngửa mặt nhìn trời/ những đôi mắt rụng đầy lá/ những ngón tay quá nhiều lỗ rỗng/ chỉ bài thơ xanh lên”. Thơ, giờ đây, có quyền năng của riêng mình để được tự do hiện sinh con chữ khi tứ thơ dần tách vỏ trong ngôi nhà tâm hồn buồn đau và thương tổn:
bài thơ có quyền lên tiếng/ có quyền yêu
cái bóng chỉ là phác thảo ẩn dụ/ cào xóa ngập tràn bên trong
Khi ấy, không ai có thể ngăn cản sức mạnh tái sinh, ảo ẩn và bí mật của bài thơ đang dần dần tượng hình và tượng ngôn trong ý thức và vô thức sáng tạo của nhà thơ: “không ai có thể ngăn cản/ vô cùng của bài thơ/ không ai có thể đọc hết/ bí mật của bài thơ”. Và Hoàng Thuỵ Anh cho rằng, một bài thơ hay và đẹp là bài thơ luôn khác hơn và mới hơn so với bài thơ trước. Cứ thế, bài thơ đẹp nhất là bài thơ mang khát khao xé mình đi tiếp trong cuộc vượt cạn đau đớn để sinh nở ngôn từ thơm từ nỗi đau và buồn như hạnh phúc:
bài thơ ban đầu sẽ là trải nghiệm của bài thơ khác
sau cuộc sinh nở
bài thơ xé mình đi tiếp
(Bài thơ đẹp nhất là bài thơ bạn không bao giờ chạm tới)
Khi ấy, nhà thơ cũng đã phần nào làm tròn khát vọng thi ca và trọng trách thi sĩ cao cả của mình.
Vậy là tôi đã nương theo thơ của Hoàng Thuỵ Anh để hiểu về nỗi đau nhân thế và khát vọng sáng tạo thi ca của chính người thơ. Những câu thơ với hình thức vắt dòng, bậc thang là sự dẫn dắt theo nhịp cảm xúc và tâm trạng của tác giả, phản ảnh những trạng thái vừa ngập ngừng, bất an vừa nối tiếp, liền nghĩa để thông điệp đến người đọc những khúc mắc và tin yêu về con người, cuộc sống và thi ca. Những biện pháp tu từ nhân hoá, ẩn dụ, hoán dụ… là để nhân đạo hoá mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong khát vọng tương hỗ, giúp vươn lên điều bình sinh thái. Vì vậy mà trong tận cùng nghiệm sinh và suy tưởng của Hoang Thuỵ Anh, thơ đã cứu rỗi nhà thơ về tư tưởng và nghệ thuật để nhà thơ tiếp tục đi bên cạnh cuộc đời yêu thương và nhân hậu; để thơ mãi mãi là vọng âm từ nỗi buồn đau trong khát khao giao hòa, giao cảm cùng tự do và hạnh phúc của cõi người.
Vỹ Dạ, 9/9/2025
Hồ Thế Hà
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Nỗi buồn chiến tranh", nỗi buồn tranh luận

"Nỗi buồn chiến tranh",
nỗi buồn tranh luận

Có những cuốn sách bước vào đời sống văn học không ồn ào, nhưng lại mở ra những quãng đường tranh luận kéo dài suốt nhiều thập kỷ. “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh là một tác phẩm như thế, một cuốn tiểu thuyết không chỉ khắc họa chiến tranh bằng hình hài của nỗi đau, mà hành trình của nó trong đời sống văn học đương đại còn làm lộ ra những vết nứt trong cách chúng ta tiếp nhận văn chương, đối thoại với văn hóa và phản ứng trước những tiếng nói khác biệt.
Những ngày này, khi tác phẩm được vinh danh trong danh mục “50 tác phẩm tiêu biểu sau thống nhất”, những cuộc tranh luận lại bùng lên dữ dội hơn bao giờ hết, từ trên các báo chí chính thống đến các trang mạng xã hội, với sự vào cuộc đầy hăng hái và nhiệt huyết của rất nhiều người, nhiều lứa tuổi, nhiều ngành nghề, nhiều quan điểm… khác nhau. Điều đó, tự thân, không hẳn là điều tiêu cực. Tranh luận là một phần sống còn của đời sống văn học. Một tác phẩm lớn bao giờ cũng mang theo dư chấn của những cảm xúc đối nghịch: thích – không thích, đồng thuận – phản biện, ngạc nhiên – bối rối.
Chỉ có điều làm chúng ta phải suy nghĩ không phải là việc có tranh luận, mà là có những cuộc tranh luận đang bị kéo rời khỏi văn chương, bị lợi dụng cho những mục đích ngoài văn chương, dẫn đến tình trạng thoá mạ, công kích cá nhân, “hùa theo” cảm tính, và những tiếng ồn làm mờ đi giá trị thật sự của tác phẩm.
1. Tranh luận – dấu hiệu của đời sống văn học khỏe mạnh
Không một nền văn học nào, dù lớn mạnh đến đâu hoặc còn khiêm tốn, lại thiếu những cuộc tranh luận về giá trị của tác phẩm. Thậm chí, càng ở những nơi văn chương phát triển mạnh thì càng có nhiều tranh luận sâu sắc và sôi động.
Tranh luận về văn chương sẽ giúp giải phóng tác phẩm khỏi những cách hiểu sáo mòn, mở rộng góc nhìn, góc đánh giá của độc giả; làm phong phú tư duy phê bình và tái kích hoạt một tác phẩm mỗi lần nó được đọc lại. Mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi đối tượng bạn đọc lại có những cảm nhận, đánh giá khác nhau về tác phẩm. Tuy nhiên, những giá trị đích thực của văn học luôn trường tồn và thống nhất, dẫu có trải bao tháng năm đi nữa.
Trong trường hợp của “Nỗi buồn chiến tranh”, những tranh luận trái chiều xuất hiện ngay từ khi bản thảo ra đời cuối những năm 1980. Không ít người hoài nghi, thậm chí phản đối kịch liệt việc một cuốn tiểu thuyết dám mô tả chiến tranh bằng những nỗi ám ảnh, mất mát, sự tuyệt vọng của người lính thay vì những khúc tráng ca quen thuộc.
Trong nhiều giai đoạn, tác phẩm từng bị xem xét, bị ngừng phát hành, bị đặt lại câu hỏi về “quan điểm”, “tư tưởng”. Đó là một phần lịch sử tiếp nhận đầy phức tạp của cuốn sách. Thế nhưng, chính sự phức tạp ấy lại làm rõ một quy luật quen thuộc của đời sống văn nghệ là mọi tác phẩm lớn đều phải đi qua giông bão của tranh luận. Nếu một tác phẩm không làm ai tranh cãi, không gây “xôn xao” chút nào trong đời sống văn chương, nó cũng khó để lại dấu ấn sâu bền.
2. Khi tranh luận trở nên không bình thường
Điều bất thường của tranh luận văn chương, cụ thể là cuộc tranh luận đang diễn ra với tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” không nằm ở chỗ có những ý kiến khác nhau về tác phẩm, mà nằm ở chỗ một bộ phận công chúng đã rời khỏi phạm vi văn chương để tấn công tác giả, chụp mũ, suy diễn và hạ thấp nhân phẩm người viết.
Vấn đề không còn là “tôi nghĩ cuốn sách này chưa hay”, mà trở thành: tác giả có ý đồ xấu, tác phẩm bôi nhọ người lính”, phản lịch sử… hoặc thậm chí là những lời lẽ xúc phạm tác giả nặng nề mà không có cơ sở học thuật.
Trên mạng xã hội, đâu đó đã hình thành thói “a dua văn hóa”: những người chưa đọc, không hiểu, không nghiên cứu vẫn sẵn sàng tham gia “đánh hội đồng” nhà văn và tác phẩm, biến tranh luận học thuật thành một dạng “phiên tòa đạo đức” mà tác giả bị đẩy vào vị trí bị cáo. Hiện tượng này phản ánh một vấn đề lớn hơn: chúng ta vẫn còn thiếu những thói quen tranh luận văn hóa lành mạnh, nơi người ta có thể bất đồng quan điểm mà không thù ghét nhau; có thể phản biện tác phẩm mà không xúc phạm tác giả. Có thể đánh giá, nhận xét hoàn toàn trên tinh thần vô tư, khách quan, hướng đến giá trị văn chương chứ không bao hàm bất cứ ý đồ cá nhân không đẹp nào.
3. Bản chất của tranh luận quanh “Nỗi buồn chiến tranh”
Nhìn lại suốt ba thập kỷ, có thể thấy rằng tranh luận quanh tác phẩm này luôn xoay quanh mấy điểm cốt lõi:
1. Góc nhìn chiến tranh của Bảo Ninh khác biệt so với truyền thống anh hùng ca.
2. Cách miêu tả bi kịch người lính dễ gây tranh cãi với những ai quen thuộc hình ảnh lý tưởng hóa.
3. Tính chất ám ảnh, hiện thực tàn khốc khiến một bộ phận độc giả cảm thấy khó tiếp nhận.
4. Sự pha trộn giữa hồi ức – hư cấu – nghệ thuật khiến tác phẩm nhiều lần bị hiểu nhầm như tài liệu lịch sử.
Những tranh luận ấy, về bản chất, đều là tranh luận văn chương bình thường, tự nhiên, thậm chí là cần thiết. Khi xã hội thay đổi, độc giả thay đổi, trải nghiệm chiến tranh được nhìn lại bằng độ lùi thời gian, những cách đọc mới càng trở nên cần thiết để làm sáng tỏ tầng sâu của tác phẩm.
Chỉ đáng tiếc rằng, thay vì tranh luận về nghệ thuật, về thi pháp, về chiều sâu nhân bản, một số người lại biến văn chương thành cái cớ để giải phóng những ác cảm cá nhân, định kiến hay sự giận dữ mơ hồ.
Giá trị của “Nỗi buồn chiến tranh” không phải đến hôm nay mới được nhìn nhận. Nó đã được kiểm chứng qua thời gian – yếu tố quan trọng nhất để xác lập vị trí của một tác phẩm. Ngay khi ra mắt, tác phẩm đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 khẳng định sự ghi nhận của các nhà văn và độc giả trong nước, dù bối cảnh lúc đó còn nhiều dè dặt. Sau đó, tác phẩm còn nhận được sự lan tỏa quốc tế rất đáng trân trọng: là một trong số rất ít tiểu thuyết Việt Nam được dịch ra hơn 20 thứ tiếng, trong đó bản tiếng Anh “The Sorrow of War” được xếp vào danh sách những tiểu thuyết chiến tranh hay nhất của thế kỷ XX. Tác phẩm cũng từng đoạt Independent Foreign Fiction Prize tại Anh – một giải thưởng uy tín dành cho tiểu thuyết dịch. Trong nhiều thập kỷ, tác phẩm nhiều lần được tái bản, được nghiên cứu, được đưa vào giới thiệu trong các chương trình văn học thế giới. Một tác phẩm không có giá trị chắc chắn không thể duy trì sức sống lâu bền như vậy. Việc  vinh danh trong nước hôm nay chỉ là bước tiếp nối quá trình đánh giá kéo dài suốt hơn 30 năm qua và chủ yếu mang ý nghĩa xác nhận lại những giá trị mà quốc tế đã nhìn thấy từ rất sớm.
Nếu cần xác định một đóng góp cốt lõi, thì “Nỗi buồn chiến tranh” nằm ở việc đưa văn học chiến tranh Việt Nam bước sang một giai đoạn mới. Tiểu thuyết này không tuyên ngôn, không hô khẩu hiệu, không dựng tượng đài. Nó để người lính hiện ra với tất cả yếu đuối, ám ảnh, tổn thương – những thứ tưởng như không có vị trí trong dòng văn học chiến tranh vốn quá quen thuộc với mô hình anh hùng ca. Chính cách nhìn này đã mở ra khả năng hiểu chiến tranh từ phía những người sống sót; nhìn thấy cái giá tinh thần mà họ phải trả và cảm nhận sâu sắc hơn về hòa bình. Dẫu người lính trong tác phẩm có những khoảnh khắc “méo mó” hay “thảm hại” như một số nhận xét, thì đó cũng là do tác động ghê rợn của chiến tranh. Điều hãi hùng nhất, vô nhân tính  nhất của chiến tranh không phải chỉ là giết chết bao nhiêu con người vô tội, mà còn là làm chết đi những thứ tốt đẹp nhất của con người, để người ta vẫn còn sống, nhưng ở một hình hài khác, thậm chí nhân cách khác…
Đó là cách văn chương chạm đến nhân tính, vượt qua mọi hàng rào thời đại, cất lên tiếng nói đau đớn nhất để lên án những bạo tàn…
4. Bài học từ những tranh luận hôm nay
Tranh luận là điều cần thiết.
Khác biệt là điều tự nhiên.
Không thích một tác phẩm cũng là quyền của mỗi người.
Nhưng bôi nhọ cá nhân, xuyên tạc động cơ sáng tác, chửi bới, thoá mạ, đó không còn là tranh luận.
Những biểu hiện ấy không chỉ làm nghèo nàn đời sống văn hóa mà còn tước mất cơ hội đối thoại của chính những người tham gia. Văn chương, xét cho cùng, là nơi con người tìm đến để hiểu mình và hiểu người khác chứ không phải để trút bỏ những thù hằn vô cớ.
Nhìn rộng hơn, câu chuyện quanh “Nỗi buồn chiến tranh” đặt ra một vấn đề lớn: văn hoá tranh luận chính là tấm gương soi nhân cách; văn hóa tranh luận, nếu không được nhận thức đúng, có thể bị biến dạng và trở thành thói quen nguy hiểm.
Không khó để thấy tình trạng: người không đọc tác phẩm nhưng vẫn phán xét vanh vách bằng những ngôn từ vừa cực đoan vừa hồ đồ; người không am hiểu văn chương nhưng lại kết án đạo đức tác giả, người không có tri thức nhưng lại đứng đầu những dòng “chửi thuê, mắng mướn”… Và đâu đó, ẩn sau những lời lẽ nặng nề ấy, là sự đố kỵ. Đố kỵ với tài năng, đố kỵ với sự khác biệt, đố kỵ với thành công – vốn là căn bệnh không mới của đời sống xã hội, nay lại được nuôi lớn hơn bởi tốc độ lan truyền của mạng xã hội.
Đó không chỉ là sai lầm về ứng xử mà còn là sự sa ngã về nhân cách, điều đáng xấu hổ trong một xã hội hiện đại. Nếu không được nhận diện và loại bỏ, nó sẽ tiếp tục phá vỡ nền tảng văn hóa tranh luận, khiến mọi cuộc đối thoại trở thành hỗn âm của sự giận dữ thay vì trí tuệ.
Một nền văn hóa trưởng thành phải biết đẩy lùi những thói quen độc hại ấy, trả lại cho tranh luận vị trí đúng của nó: một không gian trí tuệ, nhân văn, nơi người ta tranh luận để hiểu nhau hơn, chứ không phải để hạ nhục nhau.
“Nỗi buồn chiến tranh” là một tác phẩm có vận mệnh kỳ lạ. Tiểu thuyết này viết về chiến tranh, đi qua thời hậu chiến, đi qua những giai đoạn đầy khắt khe của xã hội, đi qua vô số tranh luận và vẫn trở lại với độc giả như một chứng nhân đặc biệt của ký ức Việt Nam.
Tranh luận hôm nay, dù gay gắt đến đâu, cũng chỉ là một lớp sóng trong hành trình dài của tác phẩm. Điều ở lại và tồn tại chính là giá trị nghệ thuật, chiều sâu nhân bản, và khả năng lay động trái tim con người qua nhiều thế hệ.
Chúng ta có thể bất đồng về cách đọc một tác phẩm. Nhưng chúng ta cần đồng thuận với nhau rằng: tranh luận phải vì văn chương, không phải vì cơn giận; phải gắn với tri thức, không phải định kiến; phải nuôi dưỡng đối thoại, chứ không gieo rắc xúc phạm.
Khi chúng ta làm được điều ấy, đời sống văn chương sẽ trong trẻo hơn; đời sống văn hoá, tinh thần sẽ bớt đi nhiều u ám và độc hại. Và “Nỗi buồn chiến tranh” sẽ tiếp tục được đọc, được hiểu, và được trân trọng như một minh chứng rằng văn học không chỉ phản ánh cuộc đời, mà còn giúp con người trở nên cao đẹp hơn.
10/12/2025
Nguyễn Thị Việt Nga 
Theo https://vanhocsaigon.com/

Lắng nghe tiếng thì thầm

Lắng nghe tiếng thì thầm

Tiến sĩ văn học Lê Thị Tuyết Hạnh sinh trưởng ở Hà Nội, hiện sống và giảng dạy, nghiên cứu ở Canada, đã có bài viết về tập thơ Chất vấn thói quen của nhà thơ Phan Hoàng đăng trên Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội số tháng 12.2025, trong đó nhận định: “12 năm trước, Phan Hoàng đã dự báo về một Cơn bão kí tự mới. Tái bản vào năm 2025, khi công nghệ AI đã thay thế nhiều vị trí trong đời sống, để càng thấy rằng đã đến lúc chúng ta thực sự phải bỏ đi cái cánh đồng thâm canh cảm xúc con trâu cái cày/ khói lam mây xám ăn quẩn chái bếp thiếu gạo của mẹ/dàn đồng ca hát nhép tân cổ giao duyên mùi mẫn cởi áo trao nhau, và cả những chân trời tư tưởng tật nguyền mà học con sông biết thích nghi đổi dòng băng băng về phía trước.”
Chất vấn thói quen của Phan Hoàng vừa tiếp tục được NXB Hội Nhà văn tái bản quý IV/2025 cùng với 40 bài “Tiếng nói tri âm” về tập thơ này. Tập thơ vốn được dịch sang tiếng Anh và Hungary, nhận Giải thưởng Nghệ thuật Danube của Hội Nhà văn Danube – Hungary năm 2023. Ngay trong lần xuất bản đầu tiên năm 2012, Chất vấn thói quen cũng đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn TPHCM và Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, đã gây được sự chú ý của dư luận với hàng chục bài giới thiệu và bình luận trên các phương tiện truyền thông đại chúng.
Nhưng xin bạn hãy tự mình bước vào khu vườn thơ anh và lắng nghe tiếng thì thầm ấy. Phải nói trước là thơ Phan Hoàng không dễ đọc, dễ thuộc như đa phần các văn bản trữ tình được gọi là thơ, nhất là với tập thơ đậm chất thế sự này. Nó không êm đềm với những vần điệu du dương, cũng không làm đắm say ta bằng tâm sự của những nhân vật trữ tình quen thuộc anh – em; chàng – nàng. Không hy vọng đã hiểu được anh ngay từ lần gặp đầu tiên, cũng như đọc thơ một lần, hoặc dùng Chất vấn thói quen để tìm sự an vui, giải trí hay ru ngủ. Thú thực là tôi đã gặp khó khăn trước những Văn bản dở dang, Chữ nghĩa thị trường khiến anh:
nhiều đêm gối đầu lên hàng đống sách
nghe lòng trống
rỗng
hoang mang
cùng Tình yêu tiếng mẹ dở dang cũng như sự Chất vấn thói quen với đa dạng các hình thức thơ tự do từ 4, 5 chữ cho đến các câu thơ dài ngắn khác nhau, cùng cú pháp câu lên dòng, xuống dòng thước thợ hoặc đọc đến hụt hơi bởi sự tiếp nối triền miên của Cơn bão kí tự mới. Phải đứng rất lâu không dám gõ cửa trước ngôi nhà chứa đầy tiếng sóng, đong đầy tiếng gió của anh, ngắm mặt trời vẫn không ngừng mọc lên bao ngày trong ngôi nhà tư duy thân thuộc ấy bao lần, để thấy mặt trời mỗi ngày một sáng hơn, từ tiếng vọng oai hùng chiến thuyền nài gạo canh giữ đảo xa/ nỗi đau sinh tồn ngôi nhà mang gien Giao Chỉ. Và bất chợt nhận ra:
bí mật chuyển lưu nguồn sáng chân lý kỳ lạ
quang hợp sức mạnh rồng tiên
di truyền bản lĩnh núi non
hội tụ tấm lòng biển cả
hào phóng năng lượng tái sinh giống nòi
cho tôi
con tôi

cho n… tôi.
Một hơi thở nồng nàn với bước đi mạnh mẽ cùng những hình tượng pha trộn giữa huyền thoại và hiện thực; sử thi với đời thường; khẩu ngữ và ngôn ngữ biểu trưng…Không biết chân dung thực ngoài đời tác giả thế nào, mà mường tượng qua thơ phải là “vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”[1]. Giọng thơ hào sảng cùng những hình tượng phóng khoáng, mang kích thước vũ trụ, khiến cho hình tượng thơ được đẩy lên bình diện đa nghĩa, ở ranh giới giữa hơi nước và mây lạnh, sấm chớp và mưa giăng, áp thấp và bão tố; để nghe được thì thầm tiếng giữa hoan lạc và thụ tinh; chuyển dạ và sinh nở; hấp hối và cái chết, như bản giao hưởng bất tận/ tuần hoàn qua những đại dương phận người lênh đênh. Rõ ràng không thể hiểu ngôn ngữ thơ anh theo cách thông thường với ý nghĩa cơ sở của từ. Có thể thấy kết hợp[2] là cơ chế tạo nghĩa đặc thù của ngôn ngữ thơ Phan Hoàng, trong khi lựa chọn[3] là cách thức tiêu biểu của cấu tứ thơ anh. Những hơi nước- mây; sấm chớp- mưa; áp thấp- bão tố ở trên, nếu tách riêng chỉ là những danh từ chỉ hiện tượng tự nhiên thuần túy, nhưng khi đặt thành cặp cạnh nhau ngoài trường nghĩa hiện tượng tự nhiên còn là quan hệ nhân quả, và khi kết hợp với hoan lạc và thụ tinh; chuyển dạ và sinh nở; hấp hối và cái chết của bản giao hưởng bất tận thì đã hòa vào phạm trù xã hội để biểu đạt một ý nghĩa biểu trưng lớn hơn, bao gồm cả hai phạm trù ấy. Cũng cơ chế tạo nghĩa này làm nên chất sử thi cho các hình tượng thơ Phan Hoàng. Đó là khi Mẹ gánh ước mơ:
Bước mẹ đè gió nam cồ
lướt mềm sỏi đá nhấp nhô triền núi
giải độc vạt rừng giãy giụa da cam
Và khi:
tiếng khóc con thơ
mạnh hơn
tiếng gầm đại bác
Cũng là khi:
nụ cười con thơ
mạnh hơn
tiếng gầm đại bác
Bước chân đè gió nam cồ ấy vừa là bước chân người mẹ nông dân gánh con chạy giặc, vừa là bước chân huyền thoại của mẹ Nữ Oa vá trời. Và nụ cười tiếng khóc con thơ trong thúng gióng tản cư của mẹ vừa là nụ cười, tiếng khóc thơ ngây con trẻ, vừa mang sức mạnh của thiên thần khi có thể mạnh hơn tiếng gầm đại bác quân thù. Những kết hợp như thế có tần số khá cao:
Khí hậu biến đổi từng ngày
da thịt em nóng dần lên từng ngày
hành tinh ta tốc hành khám phá thế giới mới từng ngày
Em
cởi bỏ mọi trang phục pha lê nứt vỡ
cởi bỏ mọi tư duy hình thức đa khô đình nát bến cạn
hoà nhập vào cơ thể ta đang tốc hành về phía ánh sáng
hay đóng cửa
tự huyễn hoặc mình
chờ chết?
Người đọc như cũng phải thở nhanh, bước gấp , và vươn vai như cậu bé Gióng để chóng ngang tầm với con tàu cơ thể ta đang tốc hành về phía ánh sáng kì diệu ấy cùng nhịp điệu thơ gấp gáp và hơi thơ như bước chân tráng sĩ Nhanh Như Gió. [4] Cũng biến ảo như thế khi làm nhòe ngữ nghĩa trong kết hợp để tạo nên một khái quát cao hơn về nỗi thương nhớ đồng quê trong những câu như:
Chiều ăn phố sực mùi khoai lang nướng
Gió hú nhớ đồng thơm dậy giấc cố hương
Hay:
Hồn làng trong màu men mắt trâu
buồn và đẹp
gió sông Hồng có giữ được hơi thở vĩnh cửu đất thiêng?
Ngay cả sự mất mát, buồn đau cũng là mất mát, buồn đau làm rung chuyển vũ trụ , như hình ảnh:
Người nông dân
lầm lũi
để lại cánh đồng
bước chân nặng nề chậm chạp
như người lính bị tước vũ khí cúi mặt rời khỏi chiến trường
sau lưng rền vang sấm chớp
Những ký tự đã học cách chuyển mình, đứng cạnh nhau để làm nên cơn bão ký tự mới với những ý nghĩa mới mẻ. Những tìm tòi , đổi mới ngôn ngữ thơ đã góp phần không nhỏ vào việc thể hiện tư tưởng cảm xúc độc đáo của nhà thơ cùng những thi tứ lạ như là kết quả tất yếu của quá trình vận động cảm xúc đầy bất ngờ, chắc và đanh như hai tiêu chí đòi hỏi của thơ hay theo tác giả Ngôn ngữ thơ[5] Đây là chỗ hệ lựa chọn phát huy tác dụng sở trường một cách đắc địa. Đó là khi con trâu thiêng từ biệt ruộng nương mãi mãi bay vào cổ tích trong thảng thốt và niềm  tuyệt vọng sau bao lần Ở phía ấy chiều chiều, ông tôi ngồi trầm tư nhìn/ bà tôi ngồi mòn mỏi nhìn/ mẹ tôi ngồi thất thần nhìn/ và lũ trẻ làng tôi dung dăng ngắm nhìn… Đó cũng là khi   Những vân gỗ quí/ trong ngôi nhà sang trọng/ như những con mắt lửa giấu kín hờn căm/ chờ ngày phát hoả sau khi Những vân gỗ như những con mắt ngây thơ và Chủ nhà thuyết minh về bộ sưu tập gỗ của mình/ hùng hồn như trên diễn đàn chỉ đạo bảo vệ rừng, rồi:
Ở đâu đó có cánh rừng già đang hấp hối
ở đâu đó có người kiểm lâm mới bị trả thù
ở đâu đó có ngọn núi trọc xói mòn vừa ngã sập
ở đâu đó có cơn lũ quét thất thanh tiếng thú tiếng người…
Những lựa chọn như thế là những viên gạch không tên được khéo léo kết hợp với nhau để tôn lên tư tưởng cảm xúc chủ đạo được trân trọng đặt trên gác Khuê Văn, chỉ được người đọc nhận ra một cách bất ngờ khi đi đến cùng sự dẫn dắt biến ảo của chủ thể trữ tình tài hoa như “người lái đò Sông Đà”[6]. Cũng như thế là điều anh gửi gắm trong bộ ba Cần giờ bất lực - ngơ ngác và lặng im, với Các ngôi sao cao giọng chỗ ngủ thiếu tiện nghi, những con khỉ nhảy nhót bên nhau /những con sấu quấn lấy nhau /những con muỗi vo ve với nhau – không cần giờ, mà không biết rằng:  trong mỗi mắt lá tràm/trong rễ bần rễ đước /đâu đâu cũng ngây ngây mùi máu lẫn mùi bùn. Đó cũng là cách nhân vật trữ tình bỏ đi, bỏ đi sau khi có sáng chiếc ghế đã có người đến ngồi;  mùi cà phê không chồn; quán không tờ báo; và cô chủ quán kiêu kỳ miệng im như thóc, để rồi tự chất vấn mình:
tại sao con người cứ tự đánh lừa mình bằng những thói quen
không học nổi con sông biết thích nghi đổi dòng băng băng về phía trước?
Hệ lựa chọn đã giúp chủ thể trữ tình gói ghém cảm xúc qua những câu chuyện cô gái Nga nhắc lại cho anh, những khát khao đổi mới bầu trời, tư duy từng ngọn núi, dòng sông, để rồi khẳng định lại một điều xưa cũ và bất biến:
lịch sử và thời gian có làm thay đổi
ký ức tình yêu trong mỗi hoa hồng?
Bóc đi lớp vỏ ngôn từ dù đã được cấu trúc lại cùng những ý nghĩa mới mẻ do cộng hưởng cùng kết hợp, những hình tượng mang tầm vóc siêu nhiên, chợt nhận ra một điều thật gần gũi với tâm hồn ta, khiến mỗi con dân Việt thấy mình là đồng bào từ trong quả trứng từ hơn 3000 năm trước công nguyên khi biết:
đau những chân trời tư tưởng tật nguyền
câu thơ neo bờ nước mắt.
Chính tiếng thì thầm này mang sức công phá và tiếng vang mạnh mẽ của quả bom tấn tư tưởng cảm xúc, xác lập chỗ đứng của nhà thơ trong lòng dân tộc.
Khi nhận ra:
những thân phận hẩm hiu né về phía hoàng hôn tím tái
Nước mắt bao giờ cũng độc hành lặng lẽ…
…Và còn những nỗi đau mà ta không bao giờ chạm được
nỗi đau đau đến lặng im
Lịch sử tầng tầng mỏ quặng số phận
văn học lọc cọc đóng nọc thủ công
cũng là lúc nhà thơ ý thức và phản tỉnh sâu sắc về sứ mệnh của người cầm bút với không ít dằn vặt, suy tư:
Tôi đang ở đâu cây bút mang đầy danh hiệu sứ mệnh?
Cây bút vô cảm trước thân phận dân nghèo, im lặng trước lãnh thổ đe doạ ngoại xâm, bất lực trước cái ác trá hình nhũng nhiễu!
Tôi đang ở đâu cây bút mang đầy danh hiệu sứ mệnh?
Tôi đang ở đâu?
Ở đâu?
Nhà thơ không thể đứng ngoài số phận nhân dân mình. Những văn nghệ sĩ lớn luôn tự vấn về trách nhiệm trước những điều trông thấy ở ngoài xã hội cũng như ngay trong bản thân mình, trăn trở trong hành trình tìm kiếm giải pháp cho những câu hỏi không phải lúc nào cũng có lời đáp ấy. Henry Miller[7] cho rằng viết văn là quá trình thải bỏ các độc tố trong con người. Hiểu theo cách ấy, Chất vấn thói quen là cách chủ thể trữ tình không chỉ góp phần thải bỏ độc tố ngoài xã hội, mà còn thanh tẩy bản thân mình. Việc làm ấy cũng đáng trân quý như một hành động dũng cảm. 12 năm trước, Phan Hoàng đã dự báo về một Cơn bão kí tự mới. Tái bản vào năm 2025, khi công nghệ AI đã thay thế nhiều vị trí trong đời sống, để càng thấy rằng đã đến lúc chúng ta thực sự phải bỏ đi cái cánh đồng thâm canh cảm xúc con trâu cái cày/ khói lam mây xám ăn quẩn chái bếp thiếu gạo của mẹ/dàn đồng ca hát nhép tân cổ giao duyên mùi mẫn cởi áo trao nhau, và cả những chân trời tư tưởng tật nguyền mà học con sông biết thích nghi đổi dòng băng băng về phía trước.
Chú thích:
[1] Nguyễn Du. Truyện Kiều. VH. H. 2014
[2] Nguyễn Phan Cảnh. Ngôn ngữ thơ. ĐH và THCN. H. 1987
[3] Nguyễn Phan Cảnh. Ngôn ngữ thơ. ĐH và THCN. H. 1987
[4] Nguyễn Đổng Chi. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Tập III. Tr. 194
[5] Nguyễn Phan Cảnh (Sđd). Ông giải thích: – Chắc: từ có nghĩa đắc địa, không thể thay thế được: – Đanh: không thể bắt kịp ý nghĩa tư tưởng, vận động cảm xúc; có nghĩa là không đoán trước được.
[6] Nguyễn Tuân. Sông Đà. Nxb Văn học. H. 1960
[7] Nhà văn Mỹ (1891- 1980).
11/12/2025
Lê Thị Tuyết Hạnh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Giọng hát Y Phương trong "Tiếng hát tháng Giêng"

Giọng hát Y Phương trong
"Tiếng hát tháng Giêng"

Từng trải Đông Đoài Nam Bắc, từng ném cái giận vào mặt thù khô quắt… từng “mang trong mình cơn sốt cao nguyên – mang trên mình vết thương”, Y Phương – cái “người đàn ông ở làng Hiếu Lễ” ấy – giờ đã trở về để sống tiếp những phương diện khác của con người mình trước đây chưa từng sống, trải tiếp những cái mừng, cái lo của hạnh phúc làm cha, cái khó, cái khổ khi nhóm lửa trên mặt nước, cái đắng, cái buồn khi sứ sành rạn nứt bởi những va chạm đời thường…
Những suy tư đậm đặc mà người đọc đã thấy trong “Tiếng hát tháng Giêng” chính là sự kết tỏa của những vị đời anh từng nếm trải trên những bước đường ấy. Giờ đây, với “ý nghĩ khôn lên, nỗi buồn thấm tháp” được đảm bảo bằng những trải nghiệm của bản thân, anh đã có thể nói với con những điều gan ruột nhất:
Xa đo nỗi buồn/ Cao nuôi chí lớn/ Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn/ Sống trên đá (đừng chê đá gập ghềnh)/ Ở trong thung (không chê thung nghèo đói)/ Ta như sông như suối/ Lên thác xuống ghềnh không kêu cực nhọc/ Người đồng mình thô sơ da thịt/ Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con/ Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương…
Và đó cũng chính là điều gan ruột của “Tiếng hát tháng Giêng”. Vâng, tôi muốn nói: sự tha thiết với xứ sở dân tộc mình chính là nhịp tim thầm kín bền vững nhất trong từng bài thơ Y Phương, là cốt lõi của giọng hát Y Phương.
Trên hành trình ra ngoài xứ sở, qua bao miền quê xa, anh đã biết đến bao nhiêu thứ lửa. Nhưng anh chỉ nuôi giữ duy nhất một thứ: ngọn lửa rừng sâu cháy bằng thứ củi riêng. Anh thừa nhận củi quê mình sần sùi cứng cáp nhưng anh quả quyết “đã cháy lên là chẳng lụi bao giờ” (Ngọn lửa rừng).
Nếu ngọn lửa là tài sản của xứ sở, thì bài ca là di sản của tổ tiên. Một khi nó đã là sự kết tinh thành lời, thành điệu của tâm hồn dân tộc mình, thì cho dù “Bài hát ấy đã già lắm rồi”, anh vẫn cứ thủy chung giữ gìn, bởi “Câu hát này thiêng liêng lắm chứ/ Hát bây giờ còn để hát mai sau” (Tiếng hát tháng Giêng). Thực ra, muốn bảo tồn và phát huy văn hóa của bất luận dân tộc nào, không thể thiếu một ý thức tự trọng như thế, một bản lĩnh văn hóa như thế. Thái độ tự trọng ấy của tác giả đã khiến cho người đọc “Tiếng hát tháng Giêng” phải nể vì.
Đi ra ngoài xứ sở cũng là một dịp cần thiết để nhận thức về dân tộc mình. “Tiếng hát tháng Giêng” là lời tự hát, tự nhận thức như thế, mà trước hết và căn bản nhất là nhận thức về con người. Bây giờ Y Phương đã có thể vẽ chân dung những người con của dân tộc mình, quê mình bằng những đường nét chắc chắn của nhận thức và tin yêu. Đây là hình tượng khái quát:
Da thịt người da thịt đất đai/ Cùng một màu đồng hun lặng lẽ/ Nặng nhọc cười/ Nặng nhọc người đàn bà đeo gùi/ Nặng nhọc hai bầu vú mọng căng như nước/ Nặng nhọc hai bầu vú phì nhiêu như đất/ Đất nước/ Sinh ra từ ngực người đàn bà
Bên trong cái màu đồng hun – thô sơ của vóc dáng người đàn bà vùng cao kia là cả một vẻ đẹp kỳ vĩ của sử thi!
Trong tập thơ này, ta còn gặp những bà mẹ lầm lì như lửa chiều Mường Khương, những người trên phòng tuyến Khau Liêu, những người đi chân đất mà khai sinh những bài ca, những cô gái trên nương, những chàng trai sông Hiến… Những gương mặt vùng cao ấy, cố nhiên, rất khác nhau, nhưng lại thống nhất bởi nét chung ấy: thô sơ da thịt mà cao quý tinh thần. Có thể thấy đây là đặc điểm lớn nhất quán xuyến mọi nhân vật của tác giả này. Đại diện chính thức cho họ có thể là Quế – “anh chiến sĩ áo chàm”. Ngay từ đầu, bằng cách ngắt dòng gọn, đanh, Y Phương đã tạo ra cái thô sơ da thịt ở Quế một cách thật kiêu hãnh:
Trán dô/ Mũi thô/ Môi dày/ Chân đi dép bốn hai vẫn thừa năm ngón…
Nhưng chính cái thô sơ ấy lại chứa đựng những tính nết rất quý: “nhịn đói không kêu – ốm đau không kêu – nhớ mẹ quá thì ngồi trên đá – nhớ rồi khóc không cho ai biết…”. Chỉ riêng chân dung những người lính ta cũng đã thấy một nét đẹp khác của người vùng cao: rất tha thiết với cuộc sống thanh bình nơi xứ sở. Y Phương thường tập trung làm nổi bật lên con người hậu phương như là vẻ đẹp thuần phác và chân chính nhất trong anh lính vùng cao. Hậu phương với toàn bộ kỷ niệm tuổi thơ, hạnh phúc tuổi trẻ, vẻ thanh bình rừng núi, cảnh ấm cúng gia đình… không chỉ lặn vào nỗi nhớ (Người vùng cao, Bài ca thứ hai…) hay bất ngờ hiện lên bên nòng súng (Chúng con đã lớn, Sông Hiến đang yêu…) mà còn thường xuyên đi về trong các cơn mơ. Trong mạch đề tài này, “Cơn mơ ban mai” là một bài thơ hay. Ở đó, chiến tranh, trong bản chất của nó, là thù địch với con người hậu phương đầy nhân tính của anh chiến sĩ – người đang ra mặt trận bằng khao khát hòa bình. Chính từ sự ý thức và niềm kiêu hãnh này mà Y Phương đã xác định một cách thật giản dị mà cũng thật tự hào về vị trí của người vùng cao trong đội hình chiến đấu của dân tộc:
Người vùng cao phải chốt trên cao
Sự tha thiết với xứ sở dân tộc đâu chỉ quy định thái độ đối với các giá trị văn hóa và với đồng bào của tác giả này. Trong “Tiếng hát tháng Giêng”, Y Phương còn chứng tỏ sự độc đáo của mình ở một mảng khác – thơ tình. Nhiều bài thơ tình yêu của anh đọc rất thích (Mát rượi cây đàn, Mùa hè, Em – cơn mưa rào – ngọn lửa, Tên em – dòng sông, Người không mang áo bông, Ngọn lửa rừng, Thư Nha Trang…) Không chỉ vì anh nói đến tình yêu, người yêu với tâm tình chân thực, chất phác của con người vùng cao, và thường gắn liền với những sự vật riêng của xứ sở mình (Cây đàn tính, Nương rẫy, Ngọn lửa rừng, Dòng sông núi…), cái độc đáo còn ở chỗ tình yêu, ở đấy cũng chính là một dạng biểu hiện tuyệt vời của niềm thiết tha với dân tộc xứ sở. Đối với anh, cô gái riêng của anh ấy là “mực trong ngòi, là cơm trong nồi, là gà gáy nhưng cũng là quả ớt”. Song, trước hết, người yêu anh đã thâu lượm vào nhan sắc và phẩm hạnh mình những đường nét riêng của dân tộc. “Em hiền lành/ Chậm chạp/ Em đội chum rượu đến với anh/ Người con gái có bàn chân to khỏe/  Đạp qua bao gian khổ/  Đến với anh”. Với hình ảnh người yêu như thế, ngòi bút tự trọng của Y Phương đã có thể hoàn tất ở tập này bức chân dung người vùng cao – Thô sơ da thịt mà cao quý tinh thần – của riêng mình.
Tuy nhiên, trong “Tiếng hát tháng Giêng”, tình yêu dân tộc xứ sở không chỉ biểu hiện ở nội dung và tư tưởng một cách trực tiếp như thế.
Nghe tiếng suối thấy như tiếng đàn, đó là cảm giác của nhiều người. Nhưng khi Y Phương thấy tiếng đàn ấy phải cụ thể là đàn tính và bản đàn kia phải là đàn Then – Con suối lên dây gẩy bài Then (Bếp nhà Trời) – thì tức là xứ sở đã nhập vào tiềm thức ấy, giác quan ấy. Và đây cũng là chỗ sâu kín nhất của cái mà nhiều người đọc đã thấy ở “Tiếng hát tháng Giêng” – tính dân tộc truyền thống của nó.
Tôi cứ hình dung Y Phương như người câu ngồi dưới bến sông Bằng Giang – Hòn thiên nhiên ngồi – lặng – yên – và – hát. Và như cái anh chàng Quế đó. Cách làm của Y Phương hệt như nhân vật của mình. Có tâm sự chất chứa trong lòng thì lặng yên trốn ra sông vầy nước và vẽ lên cát. Rồi cứ thế mà hình thù hóa, hình ảnh hóa, hình tượng hóa cái tình của mình ra câu hát, ra mặt cát, ra trang thơ: Vẽ lên cát hình thù dãy núi quê hương – vẽ lên cát mái trường phố huyện – vẽ lên cát người con gái cao cao – vẽ lên cát thằng bạn đen đen – vẽ lên cát con nai bú mẹ…
Cái thao tác này có nguy cơ triền miên bất tận mà chưa chắc đã nói được gì nếu như không tìm thấy chỗ dừng ở sự thấu hiểu rất tri âm, rất nhân hậu của cát:
Chỉ có cát mới hiểu được lời của Quế/ Cát ấm lên tơi xốp dưới nắng vàng
Thế là Quế dừng lại, và nói chung thì Y Phương cũng đã biết dừng lại như thế ở nhiều bài thơ của mình. Anh nhường lời cho sự lặng im. Cái duyên của Y Phương và của Quế trong lối thế hiện tâm tư chỉ là một.
Tôi đã đọc bản công bố lần đầu của của một số bài thơ bây giờ in vào tập này, dưới đây là vài trường hợp. Bài “Tiếng vó ngựa Đèo Heo” đã khác xa với nó khi còn là “Tiếng vó ngựa trên Đèo Heo”. Trước, anh tả con đường: Núi một bên/ Thác một bên/  con đường mòn nằm giữa, còn bây giờ nó không muốn nằm nữa, nó cựa quậy: – “Con đường mòn chảy giữa”. Nếu ngôi sao trên mũ người lính biên phòng trước đây vốn được so sánh với lửa: Các anh đi tuần/ ngôi sao trên đầu như lửa, thì lần này nó đã nhập làm một với lửa: Các anh đi tuần – trên đầu thắp lửa… Nó đẹp hơn, thơ hơn, và điều quan trọng là nó gần như cảm quan người vùng cao hơn. Cũng trong bài đó, đoạn các chiến sĩ trở về, vốn là “trán núi thu quân về” một cách… ngô nghê, thì bây giờ nó vẫn hồn nhiên nhưng không hề ấu trĩ: “gió hú thu quân về”. Ở nhiều bài khác, ta cũng có một sự so sánh tương tự. Hiện tượng này không chỉ nói về sự nghiêm túc trong lao động nghệ thuật vùng cao, đồng thời cũng khắc phục cái thô ráp, ngây ngô vốn là nhược tật của lối cảm đó. Chính nhờ đó mà hình ảnh, hình tượng thơ của “Tiếng hát tháng Giêng” có một chất lượng khác hẳn với thơ của không ít các cây bút vùng cao đi trước.
Thực ra, khi đề cập việc sử dụng nhuần nhị vốn truyền thống dân tộc của Y Phương, ta có thể nhắc đến lối nói sóng đôi, lối ví von vật thể, đến vốn mô-tip dân gian (của cả miền núi lẫn miền xuôi) trong thi liệu, thi từ… Nhưng tất cả những cái đó chỉ là các yếu tố châu tuần quanh một lối tư duy thơ ca nói trên mà thôi (có lẽ đây chưa phải lúc nói về một phong cách, một cá tính sáng tạo Y Phương).
Cũng như thế, khi nói về dáng dấp hiện đại của những bài thơ Y Phương, ta có thể kể đến cách ngắt dòng, ngắt nhịp, đến lối xuống thang, lối mô phỏng âm hưởng sự vật, lối gia tăng lí trí cho các tứ thơ, lối liên kết móc xích v.v… nhưng tôi thích nói đến cái giọng của anh, đến cách phát hiện chất thơ của anh.
Người ta thấy “Tiếng hát tháng Giêng” là thuộc về một chất giọng khá điềm tĩnh, cái điềm tĩnh của suy tư. Không phải lối sôi nổi giãi bày cảm xúc, kể lể sự kiện cho đã, cho thỏa mãn cái Tôi, tất cả đã lắng vào suy tư, suy tư lắng những câu gọn, chắc ngỡ chỉ thuần duy lý, ngỡ khước từ cả những vần nhạc thông thường.
Bao nhiêu trời ghé xuống/ Bao nhiêu rừng lội qua/ Bao nhiêu đá chắt ra/ Mới biếc xanh Bằng Giang
Hoặc:
Bao giờ yên như hồ/ Tĩnh lặng như hồ/ Đầy đặn như hồ/ Ăn ở như hồ…
Tuy nhiên không phải lúc nào anh cũng được như vậy. Người đọc có quyền đòi hỏi một sự rắn rỏi hơn nữa trong giọng điệu, một độ sắc sảo mạnh bạo hơn trong suy tư, và chúng cần hướng vào những vấn đề của hôm nay, của người vùng cao mà ở tập này anh mới kịp chạm đến trong một vài chỗ (Tên làng, Tay trái, Một cuộc bàn giao…)
Như đã nói ở trên, điều đáng mừng là ai đọc “Tiếng hát tháng Giêng” cũng thấy rất dân tộc. Điều đó có nghĩa là yếu tố hiện đại đã tìm thấy một cơ chế kết hợp hợp lí nào đó với yếu tố truyền thống. Điều khiển cơ chế ấy không thể là gì khác hơn lòng thiết tha với xứ sở, dân tộc.
Mặc dù vẫn còn một số bài loãng, lép (Một ngày bình yên, Kỷ niệm đội chiếu bóng, Hương thơm trái thị,…) nhưng tôi vẫn nghĩ phần thành công của “Tiếng hát tháng Giêng” có thể làm Y Phương tự tin vào hướng đi của mình. Chúng ta chờ đợi những độ chín mới của anh.
13/12/2025
Chu Văn Sơn
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Nỗi buồn chiến tranh": Bảo Ninh đã viết về cuộc chiến tranh và người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam qua nhân vật Kiên như thế nào

"Nỗi buồn chiến tranh": Bảo Ninh đã viết
về cuộc chiến tranh và người chiến sĩ Quân đội
Nhân dân Việt Nam qua nhân vật Kiên như thế nào?

Các trích dẫn lấy từ bản in đầu tiên của cuốn tiểu thuyết với tên gọi “Thân phận của tình yêu”, NXB Hội Nhà văn, 1990. Sách này đóng dấu thư viện của Trường Sĩ quan Chính trị, tôi không còn nhớ đã có mặt ở tủ sách của tôi trong trường hợp nào. Những chỗ in chữ to là tôi nhấn mạnh. Tôi dùng bản in đầu tiên để không ai đổ vấy rằng những lần in sau có thể tác giả đã cắt sửa. Và những ai muốn tranh luận thì cũng phải căn cứ vào văn bản đầu tiên này của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”.
1. Bảo Ninh đã gọi rõ ràng là cuộc chiến tranh chống Mỹ.
“Và dù sao mặc lòng sự nghiệp thiêng liêng đau khổ của người lính CHỐNG MỸ sống mãi trong tâm hồn Kiên trước tiên là như một lời trăn trối. Kiên hiểu rất rõ rằng sứ mệnh của cuộc đời anh là đến một ngày nào đấy phải nói lên được nội dung của lời trăn trối ấy, cho dù bản thân việc nhận thức ra được lời trăn trối đó chẳng mang lại gì nhiều nhặn cho đời sống hiện tại.” (tr. 78) 
2. Bảo Ninh đã viết về sự sung sướng và tự hào của người lính ngày chiến thắng.
“Rồi anh lại nhớ tới những ngày xuân, khi toàn quân B3 từ vùng duyên hải Phan Rang hành quân ngược lên đèo Ngoạn Mục, qua thủy điện Đa Nhim, qua Đơn Dương, Đức Trọng, xuống Di Linh để ra đường 14 đi xuống Lộc Ninh, quặt trở lại để đánh vào Tây Sài Gòn kết thúc chiến tranh. Cuộc hành quân muôn một trong đời lính bộ binh, vùn vụt tiến quân bằng xe cơ giới xuyên qua đất trời vô tận của thảo nguyên… Khi bình minh đến trên đồng cỏ, quân lính tỉnh dậy trên xe, mặt bạc đi vì gió và vì sương, hỏi nhau đêm qua đã vượt qua được những vùng đất nào, bây giờ đang ở đâu đây… sung sướng tự hào vì tốc độ của chiến thắng. Hạnh phúc. Ngỡ ngàng. Ngây ngất.” (tr. 170)
3. Bảo Ninh đòi hỏi phải trân trọng biết ơn máu xương bao đồng đội đổ xuống để có hòa bình.
Cái câu “hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” hay bị trích ra để phê phán là nằm trong đoạn đối thoại dưới đây của Kiên và Sơn anh lính lái xe đội quy tập hài cốt liệt sĩ. Cứ một câu chán nản của Kiên là một câu tích cực của Sơn đáp lại. Đó là phép viết văn của Bảo Ninh.
“– Giá có cách gì thông tin cho họ biết là đã thắng lợi rồi cho họ an lòng nhỉ?
– Ôi giời Có nói được thì cũng nói làm gì cơ. Dưới âm ty người ta chẳng nhớ chiến tranh là cái trò gì nữa đâu. Chém giết là sự nghiệp của những thằng đang sống.
– Nhưng dù sao thì cũng đã hòa bình. Giá mà giờ phút hòa bình là giờ phút phục sinh tất cả những người đã chết trận nhỉ.
– Hừ, hòa-bình! Mẹ kiếp, hòa-bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại chút xương. Mà những người được phân công nằm lại gác rừng le là những người đáng sống nhất.
– Nói ghê thế. Người tốt còn khối. Và người tốt sẽ còn được sinh ra ở các thế hệ sau. Còn những thằng sống sót thì phải gắng sống tử tế, sống cho ra sống. Chứ không thì chiến đấu làm gì? Hòa bình làm gì?” (tr. 44) 
4. Bảo Ninh, vẫn với bút pháp như vậy, nên sau khi để ông bố dượng dặn dò Kiên khi anh đến chào dượng vào lính (một đoạn văn sâu sắc, nhưng cũng hay bị lấy ra phê phán), đã diễn tả ý nghĩ của Kiên khi nghe lời dặn đó.
“– Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh trận? Không phải là ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con thì còn trẻ, ngăn chí con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu lòng mình. Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ… Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy. Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại trên đời nên ta mong con hãy sống và hãy trở về. Cuộc đời còn rất dài với bao nhiêu hạnh phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ cho con được bây giờ?
Ngạc nhiên và không đồng tình nhưng Kiên cảm thấy tin cậy những lời lẽ của dượng. Anh tự thấy gần gũi với suy nghĩ của ông mặc dù không hoàn toàn hiểu. Anh cảm nhận ở ông một trí tuệ sâu sắc, đa dạng với một tâm hồn lãng mạn và nhiệt thành theo lối tình cảm chủ nghĩa thời xưa, mơ mộng ngọt ngào, giàu nhạy cảm nhưng dường như rất ngây thơ, thiếu thiết thực và vô bổ, thậm chí lầm lạc.” (tr. 61-62) 
5. Bảo Ninh viết về Kiên là người lính dẫu tâm hồn đã bị chết lặng “ngay sau cảm nhận đầu tiên về tính chất hung tàn của đời sống thời chiến (tức chứng kiến Phương bị hiếp trên tàu hoả – PXN) không thể ngóc đầu lên được nữa”, nhưng anh vẫn vào trận với tư cách người lính can trường thực thụ:
“trong suốt mười năm sau đấy với khẩu tiểu liên trong tay, ANH ĐÃ LUÔN LUÔN Ở HÀNG ĐẦU QUÂN XUNG KÍCH, CÙNG ĐỒNG ĐỘI TỪNG BƯỚC KIÊN TRÌ VƯỢT QUA NGÀN DẶM CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN LỚN LAO ĐẦY NHỮNG THĂNG TRẦM ĐỂ ĐẠT TỚI ĐỈNH CAO THẮNG LỢI, ĐÃ TỪNG ĐƯỢC TẮM MÌNH TRONG HẠNH PHÚC CỦA THỜI THANH XUÂN GIỮA GIÓ BÃO CHIẾN TRƯỜNG VỚI BAO NIỀM ĐAM MÊ CHOÁNG NGỢP LÒNG NGƯỜI." (tr. 211-212). 
6. Bảo Ninh thông qua Kiên đã nhận về mình “thiên chức là một cây bút của những người đã hy sinh” để nhắc những người sống nhớ cái giá của chiến tranh, cái giá của thắng lợi, cái giá của sự được sống làm người bình thường, không bị chiến tranh bóp nát thể xác và tâm hồn.
"NẾU KHÔNG NHỜ CÓ HOÀ CÙNG BIẾT BAO ĐỒNG ĐỘI THÂN YÊU RUỘT THỊT, VÔ SỐ VÀ VÔ DANH, NHỮNG NGƯỜI LÍNH THƯỜNG, NHỮNG LIỆT SĨ CỦA LÒNG NHÂN, ĐÃ LÀM SÁNG DANH ĐẤT NƯỚC NÀY VÀ ĐÃ LÀM NÊN VẺ ĐẸP TINH THẦN CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN, thì đối với Kiên, chiến tranh với bộ mặt gớm guốc của nó, với những móng vuốt của nó, với những sự thật trần trụi bất nhân nhất của nó sẽ chỉ đơn thuần có nghĩa là một thời buổi và một quãng đời mà bất kỳ ai đã phải trải qua, đều mãi mãi bị ám ảnh, mãi mãi mất khả năng sống bình thường, mãi mãi không thể tha thứ cho mình. BẢN THÂN ANH NẾU KHÔNG NHỜ ĐƯỢC SỰ CHE CHỞ ĐÙM BỌC, ĐƯỢC CƯU MANG VÀ ĐƯỢC CỨU RỖI TRONG TÌNH ĐỒNG ĐỘI BÁC ÁI THÌ ẮT RẰNG ĐÃ CHẾT TỪ LÂU, không vì bị giết chết cũng sẽ tự giết mình bằng cách nào đó để thoát khỏi gánh nặng chém giết, gánh nặng bạo lực mà thân phận con sâu cái kiến của người lính phải cõng trên lưng đời đời kiếp kiếp.” (tr. 227) 
7. Bảo Ninh đã viết rất xúc động thiêng liêng sự siêu thoát của người lính khi được đồng đội bốc mộ để quy tập về nghĩa trang.
“Kiên nhớ: ở thung lũng Mo Rai bên bờ sông Sa Thầy, một hôm tổ của anh đào trúng một ngôi mộ kết. Mộ nổi lên như một đụn mối lớn trên vuông đất cao gần dốc bờ sông. Chỗ này ngay giữa mùa mưa lũ cũng không bị ngập. Thế nhưng thật khó lòng mà hiểu nổi nguyên nhân vì sao mặc dù chẳng trong quan ngoài quách, chẳng ướp thuốc tẩm dầu, thi thể người chết lại sống như thế. Nằm trong một cái túi nilông dày giống bao đựng xác của quân Mỹ nhưng trong suốt, người chiến sĩ như là vẫn còn đang thở, mắt nhắm lại ngủ say, khuôn mặt đẹp đẽ trẻ trung vẻ trang nghiêm trầm mặc, da thịt tuồng như còn ấm, bộ đồ tô châu thậm chí còn nguyên độ bóng và nếp là. Nhưng chỉ phút chốc cái túi đã đục trắng, mù mịt như dây khói, rồi sau đó như chói lên một đạo hào quang và một cái gì đấy vô hình đã siêu thoát. Màu trắng đục tan nhanh, cái túi xẹp xuống và trong đó bày ra trọn vẹn một bộ hài cốt màu vàng sạm. Kiên và mọi người sững lặng, xúc động đến bàng hoàng. KHÔNG AI BẢO AI TẤT CẢ ĐỀU QUỲ XUỐNG, ĐƯA CAO TAY LÊN VỚI THEO BÓNG HỒN THIÊNG LIÊNG NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI ĐÃ VỀ THẦN. ĐÚNG LÚC BẤY GIỜ TRÊN VÒM TRỜI BAO LA, CUỒN CUỘN GIÓ MÂY MIỀN CÁNH BẮC, MỘT ĐÀN THIÊN ĐƯỜNG CÁNH ĐEN VỪA TỪ HƯỚNG BIỂN LÊN, ĐỘI HÌNH CHỮ V ĐỀU TĂM TẮP, NHỊP NHÀNG VỖ CÁNH, THONG THẢ VÀ TRANG TRỌNG BAY VƯỢT QUA MIỀN NÚI NON TRÙNG ĐIỆP.” (tr. 95-96). 
8. Đặc biệt Bảo Ninh đã để Kiên tẩn đòn một gã thanh niên dám xúc phạm đến đồng đội mình, đến quân đội, và đến Phương.
Tại các trang 175 – 178 hồi ức của Kiên đã nhớ lại một lần đánh nhau trong tiệm cà phê. Tiệm đó có chủ quán là một trung sĩ, cũng một lính trận trở về. Những người lính cũ thường hay đến đó gặp gỡ, chuyện trò. Một hôm đang như thế thì có mấy thanh niên vào quán. Kiên nhớ lại: “Bọn họ đi cúp tới. Dựng xe, không khoá, có lẽ cũng chỉ định tạt vào uống cà phê thôi. Ba bốn người gì đó. Họ ăn mặc diện, trông không có gì dữ tợn. Thậm chí thoáng tưởng như là các ca sĩ của băng nhạc nhẹ, nhưng là loại người ta chẳng nên dây. Đó là những tên ác ôn kín đáo, trác táng và nguy hiểm, đặc biệt là khi chúng ở vào cùng cỡ tuổi ba mươi như Kiên khi ấy. Những tên như thế thường có vũ khí, không súng thì dao, và dẫu không vũ khí, chúng cũng là những con thú, Kiên biết.” Mấy thanh niên ấy vào quán uống cà phê và nói chuyện rì rầm. Nhưng trong quán lúc đó đang có Vượng, một cựu binh thiết giáp đã từng bốn năm trời lái T54 hoành hành ở Miền Đông. Vượng đang say hát ầm ĩ cho nguôi nỗi ám ảnh chiến tranh. Thấy thế một thanh niên trong bọn thay vì phản đối với chủ quán hay quát kẻ say im miệng lại buông ra một nhận xét:
“- Đồ rác rưởi, một thằng cha đầy lòng tự hào chiến thắng đấy. Thật đúng là thắng lợi của bọn dã man, bọn ăn lông ở lỗ, bọn nhà quê An Nam mít đối với văn minh và tiến hoá. Đồ rác rưởi!”
Nghe thế Kiên lập tức lên tiếng thẳng thừng:
“- TÔI CHO RẰNG: ANH MỚI LÀ ĐỒ RÁC RƯỞI KHI NÓI NHƯ VẬY.”
Và khi tên kia phản ứng lại Kiên bằng cách lôi Phương vào chuyện và xúc phạm Phương một cách đê tiện, bẩn thỉu, thì Kiên đã ra đòn ngay. “Thành ra Kiên không đợi hắn ở chỗ vòi phun nữa mà nện ngay ở cửa tiệm. Không ai can thiệp cả, kể cả mấy tên trong hội. Hết đấm lại đá, rồi ghế phạng vào đầu, như điên, như cuồng. Kiên kéo thân hình tả tơi, bê bết máu của ca sĩ Hưng ra vỉa hè, dúi cái mặt bị đánh vỡ của hắn xuống rãnh cống.”
Để kết luận bài này, cũng như ở bài trước “Nỗi buồn chiến tranh: Ai hiếp Phương?”, tôi phải nói rằng tôi làm cái việc trích lục các đoạn trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” như thế này là việc chẳng đặng đừng, nhưng tôi phải làm thế là để muốn nhắc những người quy kết, chụp mũ tác phẩm này của Bảo Ninh hãy đọc sách đã, đọc thật kỹ, đọc đúng cách một tác phẩm văn học, và có nói gì thì hãy nói trên văn bản tiểu thuyết. Nếu không, tôi xin nhắc lại điều đã nói, các vị sẽ là kẻ “hiếp” NBCT, “hiếp” văn chương.
Hà Nội, 25/12/2025
Phạm Xuân Nguyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thiếu Lâm - Võ Đang, ai mới là đệ nhất làng võ Trung Hoa?

Thiếu Lâm - Võ Đang, ai mới là đệ nhất làng võ Trung Hoa? Cố văn hào Kim Dung không ít lần khơi gợi lên một cuộc so sánh kinh điển trong l...