Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026

Chúa đất miền Khau Sưa - Những điều muốn nói

Chúa đất miền Khau Sưa
Những điều muốn nói

Nhà văn cựu chiến binh Hoàng Thế Sinh quê gốc Hưng Yên, lập nghiệp và thành danh ở Yên Bái là một cây bút đa năng. Anh từng viết và in thơ, bút ký, truyện ngắn, truyện ngắn hài, tiểu thuyết. Và bây giờ là một tiểu thuyết mới có nhan đề rất gợi “Chúa đất miền Khau Sưa” (NXB Quân đội nhân dân, 2020).

Nhan đề tiểu thuyết cứ tưởng là một truyện cổ tích hay truyện Lịch sử, vì bây giờ làm gì còn “chúa đất” trong thế kỉ 21! Thật ra từ “Chủ” cũng còn một cách đọc khác là “Chúa” khi người ta muốn đọc “Chủ” hay “Chúa” đều được trong từ “Chúa nhật” hoặc “Chủ nhật”. Chúa đất có thể hiểu là ông chủ đất, nhưng cũng là ông “Chúa đất” của vùng Khau Sưa. Đó là nhân vật chính, nhân vật xuyên suốt tiểu thuyết có tục danh là Vũ Tử Pín, còn gọi là cậu Tử Pín. Vì cậu có người chị gái quyền lực, phu nhân của anh rể Vương oai danh trùm lên miền Khau Sưa và thành phố Mã Sơn. Có lẽ tác giả muốn sử dụng chi tiết trong giấc mơ làm vua của nhân vật ở trang 207, khi làm vua không ổn, làm quan thì không thích, quản gia Miêu đã gợi ý chỉ nên làm chúa. Tử Pín hỏi Chúa gì? Miêu thưa rằng Chúa đất! Nhân vật hoàn toàn thỏa mãn với danh xưng này.

Tử Pín vốn là một người nhanh nhạy trong làm ăn, lại có chị gái là vợ của anh rể Vương, một ông lớn trùm lên mọi ông lớn, mọi đại gia vùng Khau Sưa và thành phố Mã Sơn hỗ trợ nên anh ta phất lên rất nhanh. Mua rẻ đất của dân với giá cao gấp mười lần nhà nước bằng thủ đoạn vừa dọa đất phố “Liều” không có sổ đỏ có thể bị mất không, vừa nâng giá mua. Có một số nhà dân gốc xóm Giếng không chịu đi. Tử Pín thuê côn đồ dọa giết và ném tiền lên bàn ép kí bán đất. Chỉ từ sáng tới trưa là xong mọi thủ tục mua bán đất viết tay có dấu phường xác nhận. Thế là anh ta trúng quả đậm hàng ngàn mét vuông. Khi dự án mở đường qua khu đất đó, anh ta được lợi gấp trăm lần vốn bỏ ra.

Tử Pín là hình mẫu của loại đại gia mới. Phía trên cao nhất thì có anh rể Vương cùng chị gái ngầm hủng hộ. Thấp hơn thì có Bí thư Sò và Chủ tịch Lỉn của vùng Khau Sưa hết lòng giúp đỡ. Vì vậy mà việc gì khó mấy rồi cũng xong. Tử Pín thuê vệ sĩ, thuê quản gia. Việc gì anh ta cũng dùng tiền để giải quyết. Tham vọng của anh ta là làm ra nhất nhiều tiền, cực kì nhiều tiền để tiền đẻ ra tiền. Rồi lấy tiền để giải quyết mọi việc. Tử Pín nói với người Rừng:

“Người có quyền thì dùng quyền, người có tài thì dùng tài, người có sức thì dùng sức, người có mưu thì dùng mưu, người có tiền thì dùng tiền, chuyện thường”  (trang157).

Tử Pín dùng tiền để xây dinh thự nguy nga. “Dinh cậu Tử Pín hoành tráng và lộng lẫy hơn cả dinh của đại gia ở thành phố, chứ đùa. Dinh cậu Tử Pín cũng chẳng kém gì các lâu đài cổ phương Tây” ( tr.75).

Tử Pín dùng tiền để mua đất đai làm thủy điện, mua đất đai làm khu nghỉ dưỡng, mua núi Chúa để làm du lịch sinh thái. Những ai cản trở công việc làm ăn thì dùng tiền mua, như đã mua Bí thư Sò và Chủ tịch Lỉn. Không mua được thì thuê đầu gấu đánh dằn mặt như với Trưởng bản Tềnh, như với ông Sa Thổ…

Tác giả mô tả Tử Pín như là một Chúa đất miền Khau Sưa, muốn gì được nấy, không ai có thể cản trở. Nhưng Tử Pín chậm chân so với hai vị Bí thư Sò và Chủ tịch Lỉn: “Rừng Khau Sưa, đá quý Khau Sưa, đá bloc Khau Sưa, người ta chiếm cả rồi, người ta ăn hết cả rồi, người ta biến thành tiền, vàng, đô la hết cả rồi, ta làm gì đây” ( tr.162).

Tử Pín luôn mồm nói là anh ta làm việc vì dân. Dân giàu lên thì anh ta cũng giàu lên. Các cuộc họp, dân đều được nghe những lời hứa tốt đẹp. Và quả thật anh ta cũng làm được một số việc khiến dân tin. Nhưng chỉ khi thủy điện Hoang Thủy bị nước lũ đe dọa thì con người thật của anh ta mới phơi bày. Mỉa mai thay, cậu Tử Pín ngồi trên bia kỉ niệm có dòng chữ “Thủy lợi- Thủy điện Hoang Thủy vì sự phồn vinh của nhân dân Cò Nòi, nhân dân Nà Lai!”, nhưng ra lệnh xả lũ. “Cánh đồng Cò Nòi và Nà Lai ngập mênh mông, bản Cò Nòi và bản Nà Lai chìm nghỉm trong mênh mông biển nước. Mặc xác dân Cò Nòi! Mặc xác dân Nà Lai! Bản làng đồng ruộng là của các ngươi. Thủy điện Hoang Thủy là của ta. Của ai người nấy giữ. Không biết giữ cái của mình thì cho chết, ai thương chứ!” (trang 178). Hậu quả của việc xả lũ là năm người chết và hai người mất tích. Trưởng bản Tềnh thì treo cổ tự tử vì đã vận động dân cho Tử Pín làm thủy điện.

Không việc gì là Tử Pín không dám làm. Để cho việc giải phóng mặt bằng xây khu vui chơi giải trí Cò Lả, Tử Pín thuê đầu gấu chiêu tập bọn bốc mả chuyên nghiệp. Trong một đêm bốc hơn một trăm ngôi mộ về nghĩa địa mới. Vì vội quá nên quên không rõ mộ nào với một nào, bị dân làng phản đối. Dân ném cứt thối vào dinh. Một lần nữa, doanh nhân thời 4.0 Tử Pín lộ rõ là một người tàn ác khi tuyên bố “ Dân đông cũng mặc! Tôi cho dân Cò Lả về mo ráo, biến dân Cò Lả thành zêrô tuốt! Xem dân làm gì được tôi nào?” (trang 227). Đối thoại với những khúc xương trắng đòi nhà trong giấc mơ, Tử Pín quát: “Chết rồi cũng giết, giết hết”. Những khúc xương trắng khào khào: “Ông là con người mà sao ông tàn ác hơn cả ma quỷ thế” (trang 257).

Chi tiết thú vị là một lần Tử Pín ốm gần chết khi san lấp đất phố Liều, được thầy cúng Khổng Xích Tồ cho uống nước hòa đất nướng, đã tỉnh lại. Lần này Tử Pín chủ động lấy đất ở Cò Lả về đưa quản gia Miêu. “Cậu chủ cầm bát nước đất đỏ lừ, nhấp nhấp như kiểu nhấp nước trà, rồi tu một hơi cạn. Khà! “Đất ngọt lịm!”. Tử Pín chẹp miệng, khen, ngửa cổ lắc lư cái đầu vẻ khoan khoái” (trang 213). Chúa đất, uống đất, ăn đất ngon lành. Quả là một chi tiết tượng trưng đắt giá.

Hai nhân vật cựu chiến binh là ông Mùi và ông Sa Thổ là người có uy tín và liên quan đến Tử Pín với tư cách đối trọng. Ông Mùi bị mất tượng phật đồng đen liên quan đến bố của sếp Vương, anh rể Tử Pín. Tượng phật ấy lại cùng với thằng By lai về nhà Tử Pín, trên điện thờ nhà Tử Pín. Câu chuyện làm cho người đọc phải hồi hộp theo dõi liệu ông Mùi, có thằng cháu Gâu bị ảnh hưởng của chất độc da cam có lấy lại được bức tượng không, ông đánh bẫy chim phục vụ cho sếp Vương, cho Tử Pín đến bao giờ?

Ông Sa Thổ chỉ là một trưởng thôn, nhưng “cứng cổ” không nghe Bí thư Sò và Chủ tịch Lỉn. Ông đã bắn cảnh cáo Tử Pín, nhưng lại ơn Tử Pín vì Tử Pín bao cho  Sương, con gái ông đi học. Ông quyết không nhận năm chục triệu Tử Pín mua mình, bị Tử Pín thuê đầu gấu đánh gần chết. Tuy vậy, khi Tử Pín bị bệnh tâm thần, ông bỏ qua tất cả, cùng với cô Sao và thầy cúng Khổng Xích Tồ chữa cho Tử Pín. Khi Tử Pín nói đến trả ơn, ông trả lời bằng một câu tục ngữ người Tày “Có tiền mua được thóc giống. Nhưng có tiền đâu mua được người già”. Đây cũng là một nhắn nhủ chân thành cho con người có rất nhiều tiền, từng nghĩ rằng có tiền là có tất cả. Nhân vật ông Sa Thổ là con người yêu rừng núi, gắn bó với rừng núi, cân nhắc điều hơn lẽ thiệt khi phải đứng trước vấn đề bán rừng để làm giàu ngay, hay giữ rừng để cuộc sống yên lành mãi mãi.

Một nhân vật phụ cũng đáng được nhắc đến là anh Lỳ kiểm lâm cũng là trùm săn, người yêu của Sương. Lỳ đã hai lần định ám sát Tử Pín vì chuyện người yêu. Nhưng một lần bầy nai phá hỏng. Còn lần sau thì thằng bé By lai xuất hiện khiến tay nỏ của Lỳ run.

Nếu có gì đáng nói về nhược điểm của tiểu thuyết này thì chính là ngôn ngữ kể chuyện của tác giả dù trau chuốt và hấp dẫn, nhưng chiếm quá nhiều, làm cho mạch truyện phát triển chậm. Những đoạn văn miêu tả thiên nhiên rất thơ mộng, rất đẹp nhưng cũng có chỗ hơi bị “tả cành tả cảnh”. Và cái việc lấy lại tượng Phật của ông Mùi đã qua đỉnh gay cấn khi ông Mùi cùng Neo đi ăn giỗ (trang 200) lại được nói lại ở trang 244, và được cô Mê lấy trộm một cách nhẹ nhàng…

Dù sao, đây là một tiểu thuyết thành công. Hoàng Thế Sinh đã huy động một vốn sống phong phú về cảnh vật, con người miền núi trong tiểu thuyết này. Tác giả đã xây dựng thành công một kiểu nhân vật mới, nhân vật đại gia câu kết với thế lực chính quyền địa phương để trở thành “chúa đất” của một vùng. Và tác giả khá cao tay khi để cho nhân vật Tử Pín thành người tâm thần “chẳng còn uy, chẳng còn oai, chẳng còn ai nể sợ nữa, cũng chẳng còn ai thù ghét cái người điên dại, thì cần gì phải bảo vệ cơ chứ. Cậu thành người vô hại, cứ mặc thôi” (trang 269).

Đó là cái kết xứng đáng dành cho “chúa đất”.

29/11/2021

Vũ Nho

Theo https://vanvn.vn/

Những ngọn đèo thắp sáng thơ ca

Những ngọn đèo thắp sáng thơ ca

Phạm Quỳnh Loan có chất giọng miền núi trong sáng cộng với hình ảnh, ngôn từ chọn lọc sáng tạo, khiến thơ cô khá lôi cuốn hấp dẫn. Có thể nói đây là một đặc sản hiếm…

Tôi chưa gặp cô giáo dạy toán Phạm Quỳnh Loan ở Yên Bái, nhưng qua mạng internet, cô làm quen và gửi tặng thơ. Đây là tập thơ thứ 4 của cô. Phạm Quỳnh Loan sinh trưởng ở Tây Bắc, không gian, phong cảnh, con người Tây Bắc đã tan hòa trong tâm hồn, nhận thức của cô, đó là một thuận lợi, nhưng điều chính yếu vẫn là sự nỗ lực bản thân. Cô gặp gỡ và đến với thơ một cách tự nhiên như lời tự bạch ở đầu sách: “Từ việc đọc và viết vui vài ba câu na ná như thơ… rồi theo thời gian lớn dần, vỡ dần, cứ thế mê mải viết, rồi đọc, rồi lại viết… Sau những chuỗi ngày miệt mài, cuốn theo dòng chảy, tôi như trở thành một con người khác, có cái nhìn và cảm nhận khác trước…”

Tác phẩm văn học, ở mức độ giá trị khác nhau, tác động đến con người ở ba cấp độ: gây ấn tượng; tạo sự ám ảnh và cao nhất là khiến người ta nghĩ khác, sống khác. Câu tự bạch rất hồn nhiên của cô giáo miền núi đúng với nhận định này: “Tôi như trở thành một con người khác, có cái nhìn và cảm nhận khác trước”. Chi tiết này có giá trị trên phương diện lý luận nói riêng và văn học nói chung.

Đèo Khau Phạ bay trong chiều cổ tích

Bay trong em rơm rạ quê nhà

Bay lên giấc mơ người dân cày Yên Bái

Chàng trai Mông vắt đá nảy mầm

(Bay lên)

Tôi đọc từ tập thơ thứ nhất cho đến tập thơ thứ tư này, thấy rất rõ bước tiến về thơ của Phạm Quỳnh Loan: từ hồn nhiên có phần đơn giản đến hồn nhiên nghệ thuật. Bốn câu thơ trích trên đây, câu đầu “bay trong chiều cổ tích” có dấu ấn của việc luyện tay nghề nhưng đến câu 2 và 3 trở lại giản dị dân dã; câu thứ tư “chàng trai Mông vắt đá nẩy mầm” lại đến với hồn nhiên nghệ thuật. Chăm chút nghệ thuật trong thơ là rất cần thiết nhưng làm sao vẫn giữ được sự hồn nhiên là rất khó. Ở nhiều bài Phạm Quỳnh Loan đã làm được công việc rất khó khăn ấy. Xin nêu ví dụ khác:

Có lời yêu cất lên từ lá

Cầu thang nghiêng chín bậc Mường Lò

Tiếng chọc sàn heo may thổn thức

Lỗi nhịp xòe mắt thổ cẩm găm nhau

(Mắc khén mùa phơi mây)

Chi tiết “lời yêu cất lên từ lá” rất sáng tạo mà không lộ ra sự gia công kỹ thuật. Ba câu dưới cũng vậy. Phạm Quỳnh Loan viết tương đối đều tay trong tập thơ này.

Thì thầm Nậm Thi bung chiều cửa ngõ

Sóng wifi nối những cuộc hẹn hò…

Từng con dốc, đá mọc mầm cõng chữ

Nậm Thi cởi dòng chim “Khắc phục” còn thương?

(Hà Khẩu mùa heo may)

Chữ “bung” ở câu thứ nhất và chữ wifi ở câu thứ hai khá táo bạo và hiện đại. Nhà thơ rất có ý thức cập nhật hóa thơ ca với mọi cung bậc đời sống mà vẫn không bị “phô chênh”. Điều này không đơn giản chút nào. Suy cho cùng thì văn học là cuộc đời, ở đầu thế kỷ 21, đời sống đã đổi thay nhiều lắm mà thơ của chúng ta xem chừng vẫn chưa thực sự tương đồng trong nhịp bước, tư duy và cách thể hiện còn khá cũ. Những tìm tòi, cập nhật như thế rất đáng khuyến khích.

Người thổi hồn cho lá

Người nhập vía lên cây

Nhấn phím xuân lên tầng tầng thi cảm

Ta cạn mình nhấn phím thời gian.

(Bâng quơ)

Những chữ “hồn, vía, phím xuân” tuy không mới nhưng tác giả đặt vào đoạn thơ này đọc thấy tươi tắn và mới mẻ. Vì sao nhỉ? Tác giả đặt những chữ quen thuộc ấy trong một tương quan khác lạ. Tạo ra một tương quan mới cho kết cấu ngôn từ là kết quả của lao động sáng tạo, phải luyện tay nghề khổ công lắm mới có thể thành công. Ở câu cuối có chữ “cạn mình” khá ấn tượng, chứng tỏ tác giả cũng khổ công luyện chữ lắm. Nhà thơ Lê Đạt nói đại ý: thi nhân là “phu chữ”, tức là phải nhọc công đổ mồ hôi sôi nước mắt với chữ nghĩa nhiều lắm. Phạm Quỳnh Loan có ý thức “luyện linh đan” từng con chữ để chúng được cọ xát va đập, trở nên tinh khôi mới lạ và chuyển hóa sang một cuộc đời khác. Đây là một cố gắng rất đáng ghi nhận.

Nhớ đến người cha đã khuất, Phạm Quỳnh Loan viết:

Nơi cánh đồng chân cha bầm vết

Trong xanh cói, thơm men trời đất

Những vỉa người xâu bão táp phong ba.

(Nhớ cha)

Hai câu trên tác giả viết tương đối chặt chẽ kỹ lưỡng, nhưng câu thứ ba mới thật đặc sắc, “bão táp phong ba” mới đọc có vẻ đại ngôn nhưng nhờ cụm từ “Những vỉa người”, hiện lên hình ảnh nhiều tầng, nhiều lớp, bao nhiêu thế hệ nối tiếp và chữ “xâu” kết nối lại tạo nên một chuỗi thời gian không gian bão táp. Những chữ có hàm lượng tư duy thẩm mỹ cao như thế rất cần thiết cho thơ hiện đại. Câu thơ sâu sắc, gây ấn tượng mạnh và hay.

Nước cứ đổ xuôi còn mình lội ngược

Có khi nào cập được bến bờ nhau?

(Lội ngược dòng)

Hàm lượng tư duy thẩm mỹ ở hai câu này lại khác, không ở ngôn từ mà ở hình ảnh, ý thơ, đặc biệt là tư duy nghịch lý qua khái niệm “xuôi – ngược”. Điều này chứng tỏ Phạm Quỳnh Loan có ý thức luyện tay nghề khá bài bản.

Từ biệt tuổi thơ để bước sang tuổi trưởng thành, tác giả viết:

Văn Yên lạc tôi rừng khăn quàng đỏ

Tôi lạc Văn Yên tuổi trăng mười tám…

Còi tàu thổi rỗng ngày xa.

(Ngày về)

Phạm Quỳnh Loan thường có cách nói cụ thể lồng ghép với trừu tượng khiến câu thơ biến hóa linh hoạt. Nhiều khi cách nói quan trọng hơn điều nói là thế. Tìm cách diễn đạt sao cho hiệu quả cao là cả một nghệ thuật không dễ chút nào. Đó là một trong những công việc quan trọng, khó khăn nhất của lao động sáng tạo.  Bài “Vết xưa” sau đây mang một tìm tòi khác khá độc đáo:

Vết xưa nhào nặn. Thôi đành

Dẫu trăm năm biết có lành lặn nhau?

Hương bao nhiêu? Đủ chát cau

Thơm bao nhiêu? Đủ cay trầu ngọt môi

Một khi tình cảm hay mối quan hệ nào đó lỡ có “tì vết” rồi, liệu có lành lặn được không là câu hỏi gặp đây đó thường ngày. Một bài thơ ngắn đặt ra tới 3 câu hỏi có vấn đề, là hàm lượng tư duy thẩm mỹ cao, câu nào cũng khó trả lời. Tác giả không trả lời mà để bạn đọc suy ngẫm. Bài thơ có dáng dấp một triết lý nhân sinh nhẹ nhàng mà sâu sắc với nhiều tầng ý nghĩa mà không khô khan bởi không nói bằng khái niệm mà thông qua hình tượng nghệ thuật (hương, trầu cau).

Bài “Buộc chỉ cổ tay” sau đây thấp thoáng bóng dáng tình yêu đôi lứa:

Chín bậc cầu thang chấm lửng dấu chân người

Chỉ đỏ cổ tay sợi tơ trời buộc vía

Vẫn đây nguyên chín sợi

Buộc qua mùa heo may…

Thơ tình mà không có chữ em, anh, yêu đương, nhung nhớ… Tác giả không nói trực tiếp mà dùng ẩn dụ “buộc chỉ cổ tay” để nói lên nguyền ước lứa đôi nồng nàn và kín đáo.

Phạm Quỳnh Loan có chất giọng miền núi trong sáng cộng với hình ảnh, ngôn từ chọn lọc sáng tạo, khiến thơ cô khá lôi cuốn hấp dẫn. Có thể nói đây là một đặc sản hiếm, nên biểu dương và khuyến khích. Tôi đoán chừng Phạm Quỳnh Loan đang gắng gỏi tìm hiểu về kỹ thuật, nghệ thuật thơ ca để hình thành cho mình một bút pháp riêng. Điều này người viết nào cũng đặt lên hàng đầu và là điều khó nhất. Ở Phạm Quỳnh Loan, điều ấy đã thấy thấp thoáng ở nhiều trang. Đây là một hành trình gian nan và lâu dài. Trong quá trình tìm tòi học hỏi, nên lưu ý điều này, đó là đừng để dấu ấn tu từ lộ ra nhiều, dễ thành cầu kỳ, mất đi chất tự nhiên trong thơ. Làm thơ là một cách trở về với tuổi thơ, người thơ luôn có con mắt ngạc nhiên, tâm tính hồn nhiên là rất cần thiết. Phạm Quỳnh Loan đi nhiều, đề tài xã hội, nhân sinh mở ra khá phong phú, nhưng tôi vẫn muốn cô quan tâm hơn về những khó khăn vất vả và sự vượt khó của đồng bào các dân tộc hiện nay. Tập thơ này ghi dấu thành công bước đầu.

“Những ngọn đèo thắp nắng” là tập thơ rất đáng tìm đọc so với mặt bằng thơ hiện nay.

30/11/2021

Nguyễn Vũ Tiềm

Theo https://vanvn.vn/

Người viết trẻ tự vẽ những đường bay

Người viết trẻ tự
vẽ những đường bay

Trước hết cần minh định khái niệm, “trẻ” ở đây là chỉ xét về độ tuổi, cụ thể là dưới 35, theo quy ước mang tính tạm thời tương đối hiện hành của Hội Nhà văn Việt Nam. Phải nói như vậy để “khuyến cáo” những cái nhìn trịch thượng, những xoa đầu kẻ cả, những ngộ nhận mặc định, rằng trẻ là đồng nghĩa với xanh non, đồng nghĩa với thiếu kinh nghiệm cả về sống lẫn viết, đồng nghĩa với cần phải khiêm tốn tầm sư học đạo… 

Văn chương là nghệ thuật, mà nghệ thuật là thăng hoa sáng tạo. Tất nhiên, chẳng có sáng tạo nào thăng hoa từ chân không, mà mọi nội công đều hấp phả dung chứa những dưỡng chất từ văn mạch đông tây kim cổ nói chung, văn mạch dân tộc nói riêng. Tuy nhiên, sáng tạo là kiến tạo cái mới, mà “cái mới thường vượt biên không có giấy thông hành”, nói như “phu chữ” Lê Đạt. Chủ thể viết là “phu chữ”, là lao tâm khổ tứ, là nước mắt mồ hôi, nhưng văn chương đôi khi là “lộc giời”, là bất khả cầu, trượt ra ngoài mọi khung khổ lý luận. Câu chuyện nhà thơ Trần Đăng Khoa viết bài thơ Hạt gạo làng ta khi mới 10 tuổi hay nhà văn Lev Nikolayevich Tolstoy viết tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình khi 37 tuổi và không bao giờ tận mắt thấy thời đại được ông miêu tả trong tác phẩm… là những bằng chứng hùng hồn sinh động để chất vấn lại cái gọi là kinh nghiệm sống và viết. Tất nhiên vẫn biết, rằng tài năng, nói như nhà văn Hồ Anh Thái thì, như hoa của cây vô ưu ashoka, trăm năm mới nở một lần.

Đọc cũng là sống. Sống để sáng tạo. Nhà văn không phải là nhà báo. Nhà báo cần nhập cuộc với cuộc sống, còn nhà văn phải dấn nhập vào cuộc văn. Đành rằng văn chương không thể đóng cửa trước những vang động của đời, nhưng nhà văn nếu cần ăngten đủ thính nhạy thì không nhất thiết phải thực hành những chuyến “thực tế sáng tác” cưỡi ngựa xem hoa hời hợt vô bổ. Minh Moon (sinh năm 1986) viết Hạt hòa bình, Lục Hường (sinh năm 1888) viết Nguyên khí ngàn đời, Đinh Phương (sinh năm 1989) viết Nhụy khúc, Chuyến tàu nhật thực và Nắng Thổ Tang, Nguyễn Dương Quỳnh (sinh năm 1990) viết Thăm thẳm mùa hè, Nhật Phi (sinh năm 1991) viết Người ngủ thuê, Phạm Bá Diệp (sinh năm 1991) viết Urem người đang mơ, Thành Châu (sinh năm 1991) viết Hỏa Dực, Đức Anh (sinh năm 1993) viết Tường lửa, Thiên thần mù sương và Đảo bạo bệnh, Hoàng Yến (sinh năm 1993) viết Săn mộ – Thông thiên la thành và Thượng Dương, Huỳnh Trọng Khang (sinh năm 1994) viết Mộ phần tuổi trẻ và Những vọng âm nằm ngủ, Đặng Hằng (sinh năm 1995) viết Nhân gian nằm nghiêng, Phạm Giai Quỳnh (sinh năm 1997) viết Trăng trong cõi, Nguyễn Bình (sinh năm 2001) viết Cuộc chiến với hành tinh Fantom, Cao Việt Quỳnh (sinh năm 2008) viết Người Sao Chổi: Cuộc chiến vòng quanh thế giới… thì trước đó họ biết đi “thực tế sáng tác” ở đâu, khi mà cái gọi là “hiện thực” trong các truyện dài/ tiểu thuyết của họ đều hoặc là “hiện thực ngoài hiện thực”, hoặc là hiện thực ở thì tương lai, hoặc là “hiện thực” thuộc về thời đại đã lùi xa – thời đại mà họ chưa được sinh ra?

Nhiều người kêu là một bộ phận người viết trẻ như vừa kể vì không có khả năng trực chiến áp sát đời sống tươi ròng đang diễn ra nên mới phải tự lấp đầy cái viết bằng các thể tài lịch sử, trinh thám, kỳ ảo/ fantasy, khoa học giả tưởng/ science-fiction, hoặc bằng cách liên văn bản đến những tác phẩm văn học kinh điển trong vốn đọc của mình. Nhận định này xem ra chưa đúng và trúng.

Lịch sử văn chương thế giới đã chứng kiến trường hợp nhà văn Orhan Pamuk. Trong khi ở đất nước Thổ Nhĩ Kỳ người ta thường viết các tiểu thuyết hiện thực về các vấn đề xã hội thì nhà văn này được cho là người tạo một tiền lệ khác khi trình xuất Tên tôi là Đỏ – cuốn tiểu thuyết lịch sử nhưng lại có mạch tự truyện và mang hình thức của một tiểu thuyết trinh thám. Để có được phông lịch sử, ông đã say mê chuẩn bị, xử lý đề tài, khảo cứu ròng rã tám năm, rồi hứng khởi huy động những câu chuyện thực của bản thân và gia đình kết hợp cùng trí tưởng tượng bay bổng lãng mạn để bắt tay viết tác phẩm trong vòng hai năm. Năm 2003, ông nhận giải International IMPAC Dublin cho cuốn tiểu thuyết này. Và năm 2006, giải Nobel Văn chương xướng tên ông. Còn nhà văn Ý Umberto Eco – tác giả của tiểu thuyết trinh thám Tên của đóa hồng nổi tiếng – từng phát biểu, rằng dưới nhãn quan của ông thì hoàn toàn không có sự khác biệt động trời giữa một tác phẩm tiểu thuyết trinh thám với một luận văn triết học hay khoa học, vì đều bao hàm cả quá trình tìm tòi, dẫn giải; và rằng tiểu thuyết trinh thám, bằng cách nào đó, giống như một tấm gương, phản ánh quan hệ của chúng ta với thế giới. Một trường hợp khác là nhà văn Olga Tokarczuk. Năm 2018, giải Nobel Văn chương vinh danh nữ sĩ người Ba Lan này vì “Trí tưởng tượng trong trần thuật và sự đam mê ắp đầy bách khoa kiến thức. Trí tưởng tượng này đang chứng tỏ, vượt qua mọi ranh giới là một dạng thức của cuộc sống”…

Có nghĩa là, không thể nói rằng giữa tiểu thuyết hiện thực và tiểu thuyết lịch sử hay tiểu thuyết trinh thám hay tiểu thuyết kỳ ảo hay tiểu thuyết giả tưởng thì thể loại nào “dễ ăn” hơn thể loại nào, vì thể loại nào cũng đòi hỏi sự trường sức trường vốn nơi người viết. Cũng vậy, không thể nói rằng giữa vốn sống thực tế với vốn sống sách vở (“bách khoa kiến thức”) hay vốn sống tưởng tượng thì vốn sống nào “đắt giá” hơn vốn sống nào, vì vốn sống nào cũng là tài sản lớn của nhà văn, không dễ mà họ sở hữu được. Mỗi chủ thể viết sẽ tận dụng và phát huy tối đa cái lưng vốn mà mình đầy nhất, từ đó lựa chọn cách thế văn chương mà mình thuận tay nhất, có thể đem tới cho mình mức độ tự do ngôn ngữ và tự do tưởng tượng cao nhất.

Khi mà người đọc ngày nay đã quá bội thực với “hiện thực cuộc sống” được cập nhật từng khắc bởi truyền thông đa phương tiện, đặc biệt là mạng xã hội, thì người ta tìm đọc tác phẩm văn chương không nhất thiết để “nhận thức” thực tại, mà nhiều khi chỉ là phiêu lưu thám mã vào một thế giới ở bên ngoài thế giới, hay một thế giới ẩn mật đầy kịch tính – để mơ tưởng, để giải trí, để tìm quên; hoặc dò vục vào lịch sử – để truy vấn, để nhắc nhớ, để dự phóng; và trên tất cả là để làm đầy lên khoái cảm thẩm mỹ nơi mình. Đón hứng nhu cầu đọc của một bộ phận người đọc này, một thế hệ nhà văn trẻ, mỗi người một vẻ, đang hăm hở dấn nhập vào cuộc văn mới. Họ từ chối lối văn thật thà kể tả hiện thực đơn nghĩa đơn giản, để tìm tòi thể nghiệm sáng tạo nên những tác phẩm phức hợp đa tầng. Mà một khi họ chọn đường đi khó là viết về lịch sử chẳng hạn, thì đó cũng là cách họ nêu cao chủ nghĩa dân tộc và đề cao bản sắc dân tộc. Và suy cho cùng, chẳng có cái viết nào của họ lại vô can với thời tiết chính trị văn hóa xã hội của thời đại mà họ đang thuộc về.

Mỗi người viết trẻ hôm nay là một “người chữ”, nên đều trình hiện mình đầy bản lĩnh tự tin với phông nền văn hóa văn chương triết mỹ vững chắc. Họ “hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa”. Họ xa lạ với kiểu viết bản năng, ăn may, “tự ăn mình”, “chuyện đời tự kể”. Họ xác tín định nghĩa, rằng phàm những tác phẩm lấy tự thân mình làm mục đích, chứ không làm công cụ, thì đó là văn học, rằng phàm cái gì không mang tính chức năng sứ mệnh, chỉ cốt thỏa mãn nhu cầu văn hóa thẩm mỹ, thì đó là văn học. Họ ý thức cao độ, rằng muốn đi đường xa đường dài với văn chương, muốn đi kịp tốc độ tiến hóa của văn chương, thì không có cách nào khác là phải không ngừng cập nhật tích nạp tinh hoa tri thức và tinh túy văn học của nhân loại. Họ nỗ lực đột xuất mình lên để không chỉ thêm vào bức tranh văn học một sắc gam mới, mà còn là một sức sống mới.

Với trữ lượng chữ vạm vỡ của mình, thế hệ người viết trẻ mới thường khi là những tay bút “đa năng”, “nhiều trong một”. Chẳng hạn, Văn Thành Lê (sinh năm 1986): nhà văn – nhà phê bình; Đào Lê Na (sinh năm 1986): nhà phê bình – nhà văn; Đào Quốc Minh (sinh năm 1986): nhà thơ – nhà văn – dịch giả; Nguyễn Thị Thúy Hạnh (sinh năm 1987): nhà thơ – dịch giả – nhà phê bình; Hà Hương Sơn (sinh năm 1987): nhà thơ – nhà văn; Lữ Mai (sinh năm 1988): nhà thơ – nhà văn; Nguyễn Thị Kim Nhung (sinh năm 1990): nhà thơ – nhà văn; Nguyễn Thị Thùy Linh (sinh năm 1991): nhà thơ – dịch giả – nhà văn; Meggie Phạm/ Phạm Phú Uyên Châu (sinh năm 1991): nhà văn – nhà phê bình; Hiền Trang (sinh năm 1993): nhà văn – nhà phê bình – dịch giả; Phan Đức Lộc (sinh năm 1995): nhà văn – nhà thơ; Phạm Thu Hà (sinh năm 1996): nhà văn – dịch giả; Nguyễn Đình Minh Khuê (sinh năm 1996): nhà phê bình – nhà văn; Lê Quang Trạng (sinh năm 1996): nhà văn – nhà thơ; Vĩnh Thông (sinh năm 1996): nhà văn – nhà thơ; Hương Giang (sinh năm 1997): nhà thơ – nhà phê bình…

Những người viết trẻ họ ở đâu trên bản đồ văn chương của Hội Nhà văn Trung ương? Câu trả lời là họ vắng mặt, từ danh sách hội viên (trừ một vài cái tên như Văn Thành Lê, Lữ Mai, Đinh Phương, Meggie Phạm, Lê Vũ Trường Giang), đến danh sách giải thưởng 5 năm hay giải thưởng hằng năm, đến danh sách khách mời các kỳ cuộc tọa đàm hội nghị hội thảo (trừ hội nghị viết văn trẻ toàn quốc nếu diễn ra vào khung thời điểm mà họ đang còn “trẻ”).

Phải vậy chăng mà chương trình hành động của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa X (nhiệm kỳ 2020 – 2025) đã ráo riết vạch ra “những việc cần làm ngay” hướng đến lực lượng người viết trẻ, đó là: khôi phục tờ báo Văn Nghệ Trẻ với phiên bản mới mang tên Nhà Văn Trẻ và giao cho người trẻ làm; mời người trẻ giỏi vào Hội; thành lập Giải thưởng Tác giả Trẻ… Tân Chủ tịch Nguyễn Quang Thiều sốt sắng: “Hội Nhà văn bạt ngàn lau trắng, chúng tôi muốn có thêm người trẻ”.

Vâng, nói đến người trẻ là nói đến mới mẻ khỏe khoắn trẻ trung, nhiệt hứng năng động sáng tạo. Họ phong phú nhiều màu lắm vẻ. Thứ đáng giá nhất ở họ là sức trẻ, là lập trường cái mới cái khác, là tín hiệu chuyển dịch của ý thức tư duy văn chương thời đại, là sự “dấn thân một cách đầy đủ cá tính, tận lực mà không hỗn loạn” (Irot Armstrong Richards). Trên mục “Tiếng nói nhà văn”, báo Văn Nghệ ra ngày 27.3.2021, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật (sinh năm 1945, thế hệ “lau trắng”) cất lời như sau: “Những người cầm bút trẻ có thể tôn vinh chúng ta, cũng có thể chôn vùi chúng ta như một xác chết, nếu chúng ta không xứng đáng để họ học hỏi”.

Người viết trẻ hôm nay như bầy chim bạc rời nơi ẩn trú/ sải niềm tin về phía mặt người (thơ Nhung Nhung, sinh năm 1991), như lũ bồ câu cánh trắng/ vãi từng chùm tự do lên cao (thơ Hoàng Thúy, sinh năm 1992). Những bài xích can gián kháng cự khước từ không ngăn được đôi cánh của họ. Vậy nên, đừng là trở lực, mà nếu có thể thì trợ lực, để họ được thông thoáng vươn sải những đường bay.

2/12/2021

Hoàng Đăng Khoa

Theo https://vanvn.vn/

Rừng xa, nỗi niềm gần

Rừng xa, nỗi niềm gần

Tập “Rừng xa” có mười ba truyện ngắn. Mỗi truyện là một “lát cắt” cuộc sống. Những lát cắt này đặt cạnh nhau tạo thành một bức tranh khá nhiều màu sắc về một vùng đất mới nghe cảm thấy thật sâu trong không gian, thật xa trong tưởng tượng, nhưng lại thật gần gũi trong cảm nhận, vùng bon* làng Tây Nguyên “thì hiện tại tiếp diễn”, với những thân phận, với những vui buồn của những con người cụ thể đang diễn ra bên cạnh chúng ta.

Ý tưởng nghệ thuật của tác phẩm hiện lên qua nỗi niềm, tâm tư của tác giả. Đặng Bá Canh nhẩn nha sống nhưng nặng lòng với những gì đang diễn ra chung quanh, cả những điều tốt đẹp lẫn những gì xấu xa. Anh lặng lẽ quan sát, rồi ghi nhớ, nắm bắt, lựa chọn những vấn đề đang đặt ra từ cuộc sống, nhào nặn chúng thành ý tưởng rồi làm “nóng” trang viết của mình từ những vấn đề thiết yếu này.

Ý thức nghệ thuật của trang viết hiện lên khi hân hoan khẳng định, ca ngợi những điều lương thiện tốt đẹp, hoặc khi thì nồng nhiệt phản bác những tiêu cực, nhức nhối. Thái độ công dân tích cực ấy cho thấy ngòi bút của Đặng Bá Canh chưa bao giờ nguội lạnh trước thế thái nhân tình nơi vùng đất anh sống.

Chẳng hạn, nạn phá rừng hầu như không thể ngăn ngừa trong đời sống chúng ta. Qua nhiều phương tiện thông tin đại chúng từ nhiều năm qua, ai cũng biết rừng Tây Nguyên đang bị tàn phá, đang bị xẻ thịt, trục lợi bằng nhiều cách thức khác nhau. Bọn lâm tặc có khi được tiếp tay bởi kiểm lâm, hoặc các lực lượng được phân công quản lý rừng (truyện ngắn Rừng và thị trấn). Đã có nhiều biện pháp, từ các diễn đàn quốc gia nóng bỏng, đến các sự vụ hành chính ở cấp cao nhất đến cấp cơ sở, nhưng tệ nạn vẫn không được ngăn chặn. Bằng truyện ngắn Rừng xa, Đặng Bá Canh kiến nghị một biện pháp căn cơ, bằng cách để người dân tự nguyện tham gia bảo vệ rừng.

Già làng Điểu Bang ở bon làng Bu Nor (truyện ngắn Rừng xa) được chính quyền địa phương tin cậy, lập chốt gác, bảo vệ rừng đêm ngày đã góp phần ngăn chặn nạn phá rừng dai dẳng ở quê hương ông. Tận sâu xa trong tâm tư mình, già làng Điểu Bang biết rõ: “Rừng là cuộc sống, là mạch nguồn máu thịt của lão và bà con trong làng của lão” (tr. 8). Việc làm của già làng Điểu Bang tưởng đơn giản, nhưng thực chất đã ở trong chiều sâu căn cốt của đời sống, khêu gợi tình yêu rừng núi có tự ngàn đời, đã trở thành “văn hóa rừng” trong cộng đồng người dân vùng cao. Với họ, giữ rừng vừa là trách nhiệm, vừa là tự nguyện trong ý thức sống chết với rừng. Việc làm đúng đã kích thích tinh thần công dân tích cực trong mỗi cá nhân. Họ đã tự nguyện noi theo già làng vào rừng lập chốt ngăn chặn kẻ xấu. Bài học rút ra ở đây là, cần phải đặt quyền lợi của người dân trong quyền lợi quốc gia thì việc khó mấy cũng không phải không có cách giải quyết. Bởi vì dân là tai mắt của chính quyền, không có gì qua mắt được người dân, không có gì là không có cách giải quyết nếu được người dân ủng hộ…

Chỉ một truyện ngắn dung lượng không lớn, Đặng Bá Canh chuyển tải được một vấn đề không nhỏ đang nhức nhối trong cuộc sống hôm nay. Nhưng đáng chú ý là ngòi bút của Đặng Bá Canh không làm người đọc bị “thuyết giáo” bằng ngôn ngữ sách vở, lên gân, mà ngược lại bằng ngôn ngữ giản dị, khách quan. Bài học bảo vệ rừng ai cũng hiểu, thuyết giáo nữa chỉ thêm thừa. Bởi vậy, lựa chọn một cách nói giản dị bằng cách kể lại một câu chuyện thường ngày chính là việc làm có từ nếp ăn, nếp ở của đồng bào vùng rừng xa. Ý nghĩa giáo dục của truyện ẩn sau câu chữ.

Ở một góc độ khác, truyện ngắn Thanh âm suối ngàn tác giả gửi đi thông điệp khẩn thiết cần bảo vệ những di sản văn hóa quý giá của Tây Nguyên đang mỗi ngày một biến mất trong cuộc sống hiện tại. Chúng ta đã từng biết nạn “chảy máu cồng chiêng” nhức nhối ở Tây Nguyên. Ở truyện ngắn này, Đặng Bá Canh thông báo một thực trạng nhức nhối khác. Cây đàn đá Goong Lú và âm thanh kỳ diệu của nó bao đời nay gắn với tâm hồn, tình yêu đôi lứa bên suối ngàn Đak Kar, trầm tích văn hóa ngàn năm của bon làng đang bị thế lực của cái “ăn xổi ở thì” ô trọc trước mắt truy lùng thôn tính bằng mọi cách.

Ngòi bút của Đặng Bá Canh mềm mại như suối rừng ban mai chảy quanh bon làng Bu Bir, hợp với câu chuyện tình cảm động tác giả đang kể: “Tiếng Goong Lú (đàn đá) lại vang lên. Róc rách, âm ỉ, ào ạt, êm đềm như dòng suối Đak Kar đi qua bao mùa mưa nắng… Phương yêu đến say mê con suối Đak Kar hiền hòa và đau đáu cho những đổi thay nơi bon làng mình. Phương vẫn muốn giữ mãi cái thanh bình, yên ả, mặc kệ bao đổi thay đang ồn ã, phả hơi nóng vào cái bon làng nhỏ bé” (tr. 16, 17). Nhưng cái “thanh bình, yên ả” ấy đã bị đảo lộn bởi lối sống vì đồng tiền. Ý tưởng bảo vệ di sản văn hóa khẩn cấp như bảo vệ hạnh phúc lứa đôi làm thành một mạch ngầm song song như một lời nhắn gửi có từ đầu đến trang cuối. Thông điệp đó được giữ kín đáo cho đến khi kết thúc câu chuyện. Đó chính là sự hấp dẫn của truyện ngắn này.

Đa phần trong truyện ngắn của Đặng Bá Canh là mô típ nhân vật xa quê vào vùng đất mới mưu sinh. Nhiều người hòa nhập với vùng đất mới, cuộc sống mới, nhưng cũng không ít người vỡ mộng, rơi vào bi kịch. Đặng Bá Canh có ý thức để nhân vật của anh không rơi vào một chiều đơn giản. Bởi vậy, nhân vật trong truyện ngắn của anh có đời sống hiện thực khá phong phú, có đời sống nội tâm khá phức tạp.

Trong truyện ngắn Chuyện của Dó, người con gái lớn tên là Dó trong một gia đình dân tộc Mông từ vùng núi phía Bắc vào Tây Nguyên lập nghiệp. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhà đông con, mẹ ốm nặng, Dó đành phải nghỉ học làm rẫy để nuôi cả gia đình. Tuy vậy, là người chịu khó lao động, Dó đã tìm được sự an vui trong sự hy sinh của mình. Trường hợp của Nhâm trong truyện ngắn Đano Farm rất khác với Dó. Nhâm vào Tây Nguyên, gắn bó với miền đất mới, vận động bà con trồng cà phê sạch, vừa sản xuất vừa làm du lịch tại chỗ, được bà con bon làng thương yêu, tín nhiệm. Nhâm đã hòa nhập với bon làng, tìm thấy hạnh phúc trong công việc.

Mụ Khùng trong truyện ngắn Rẫy hoang là nhân vật phức tạp, thú vị. Mụ sống tự do, mang nhiều điều tiếng về lối sống của mình. Tuy bề ngoài xấu xí, tính tình phức tạp, nhưng thâm tâm mụ bản tính thiện như là căn cốt của con người mụ. Mụ thương yêu con cái, thương yêu người đàn ông của mình hết lòng, vượt lên mọi thị phi. Lòng nhân ái của mụ Khùng như một ngọn lửa không bao giờ tắt, để lại dư vị ấm áp trong lòng người đọc.

Nhưng không phải ai cũng “xuôi chèo mát mái” như Nhâm trong truyện ngắn Đano Farm trên kia. Không thiếu những cảnh ngộ “ngậm ngùi” như Triết (truyện Ngậm ngùi), như người vợ mê đề đóm (truyện Gió rừng vẫn thổi) đã làm gia đình bao phen đến bên bờ vực. Rất may mắn cho họ, khi bên cạnh họ có những người thân luôn biết chia sẻ, biết độ lượng tha thứ, đã kéo họ về với cuộc sống lao động bình thường và họ đã tìm thấy sự bình yên trong cuộc sống.

Chỉ một ít truyện ngắn trong tập Rừng xa, Đặng Bá Canh hé mở cho người đọc khá nhiều thân phận khác nhau trong cuộc sống hôm nay. Tác giả kéo “rừng xa” đến gần chúng ta, tạo ra ấn tượng mạnh mẽ trong nhận thức của người đọc, bởi nhiều câu chuyện, nhiều tâm trạng nhân vật, nhiều vấn đề nóng bỏng làm những ai đọc tới đều không thể bàng quan. Với lối kể chuyện tự nhiên, giản dị, tác giả buộc người đọc phải yêu ghét, phải xót thương hoặc phẫn nộ với từng con người, từng hoàn cảnh, từng “lát cắt” được lựa chọn từ các góc độ của cuộc sống chung quanh. Đó chính là “bản sắc” của ngòi bút Đặng Bá Canh. Như quan niệm của nhân vật tôi trong truyện Lão và tôi qua đoạn đối thoại mở đầu câu chuyện: “Lâu không thấy ông viết… Ông định viết cái gì?”. “Thì về những thứ loanh quanh anh em mình”. Chính những thứ “loanh quanh” là đề tài quen thuộc như một “bí mật” của Đặng Bá Canh.

Bí mật của câu chữ là điều không phải ai cũng biết, vì đôi khi chúng ta vẫn nhầm tưởng văn chương là địa hạt của cái không bình thường. Ví như đề tài phải “siêu khủng”, nhân vật phải dị biệt, ngôn từ phải vang vọng, cảm xúc phải rưng rưng… Kỳ thực, văn chương lại rất cần sự giản dị. Nhưng giản dị không có nghĩa là sơ lược, dễ dãi, mà là tinh túy của quá trình sống, cảm nhận và sáng tạo, cũng như ngôn ngữ của nhà văn.

Người ta thường nói văn chương là đời sống, chính là vì vậy. Đây vốn là cách làm của những cây bút nổi tiếng như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, hoặc Lỗ Tấn, Tsekhov… Nhưng muốn văn chương chính là đời sống, thì nhà văn phải dấn thân với mục đích hiểu biết sâu sắc bản chất cuộc sống để khám phá và sáng tạo. Đây là điều tối cần thiết nhưng bản thân nó lại chứa đựng nghịch lý: sự hiểu biết cuộc sống là không có giới hạn. Chuyển tải cái không giới hạn này vào một truyện ngắn với dung lượng tối giản cũng là một thách thức đối với mỗi ngòi bút. Thách thức này cũng chính là thước đo tài năng. Bước đầu, Đặng Bá Canh đã có những nhận thức đúng về nghề viết. Những bước tiếp theo của anh hy vọng sẽ mang lại nhiều thành công hơn nữa.

4/12/2021

Lê Thành Nghị

Theo https://vanvn.vn/

Đinh Thị Như Thúy trong một thế giới khác

Đinh Thị Như Thúy
trong một thế giới khác

Có điều lạ, trong thế giới đầy những dự cảm bất an của Đinh Thị Như Thúy, tôi không thấy ngớp trong nỗi lo âu, mà chỉ thực sự xúc động. Trước thiên nhiên tuyệt diệu. Trước sự chịu đựng, nỗi thống khổ và khả năng kiếm tìm vô hạn của con người lý lẽ để biết mình hằng hữu, cả khi đã chết đi. Bởi nỗi buồn, nỗi đơn độc, và sự chết như một tận hưởng, và nhận biết ấy thành hân tặng của tạo hóa…

1. Tôi nhớ mình bắt đầu đọc Đinh Thị Như Thúy từ một trang văn chương mạng, quãng mươi, mười lăm năm trước; trang văn chương có tiêu chí là mới, từ tư duy nghệ thuật, đến nội dung, hình thức; khá hot, được in ở đó như một khẳng định. Mấy ngày là có chùm thơ người thơ nữ này. Khi biết chị là một giáo viên, dạy học đâu đó ở Đắc Lắc, tôi có chút ngạc nhiên: môi trường giáo dục sao có thể dung hòa với một tâm hồn mênh mông cô đơn, thường trực dự cảm bất an và luôn khắc khoải, dịu dàng nỗi chết?

Những bài thơ tự do, thơ văn xuôi, những câu những chữ bẩy tiếp nhau, lặp lại nhau, đùa đẩy nhau không dứt; hối hả, cuống quýt, đắm đuối, tưởng như nếu dừng lại, sẽ không còn cơ hội.

Tôi đọc, sau mỗi chùm thơ, thường khi cảm thấy thiêu thiếu: dường như cái miên man kia phải tạm dừng vì dung lượng một lần chọn in của trang báo; hoặc giả, nhà thơ chỉ vừa viết tới đó rồi phải tạm ngưng, thời gian riêng tư cho mình đã hết, hẹn hôm sau. Tôi có lần vào thử mục những tác phẩm đã in của tác giả này, trên trang văn chương này, đọc một lần mấy chục bài đến hết, vẫn nguyên cảm giác thiếu.

Cho mãi đến 2016, khi có dịp quen biết nhau, Đinh Thị Như Thúy tặng tôi tập thơ Ngày linh hương nở sáng (in 2011- Giải thưởng Hội Nhà văn cùng năm), rồi Trong những lời yêu thương, 2018, cảm giác thiếu mới dừng lại khi đọc bài cuối cùng tập thơ, khi khép cuốn sách. Có lẽ thao tác mở sách, khép sách lại sau trang cuối cùng tạo cảm giác kết thúc chăng? Dung lượng của cuốn sách như một câu chuyện được kể tới đó, như một vở diễn đã hạ màn, như bài hát đã xong phần nhạc kết?  Cảm giác xong việc, không đợi chờ gì thêm, cái còn lại có thể là sự nhàm nhạt, vô bổ, không đọng lại gì hay những day dưa, bâng khuâng nuối tiếc; trang sách ấy, bài hát ấy nối tiếp trong ta cuộc sống của nó, nhưng đó là chuyện khác.

Cảm giác thiêu thiếu khi đọc một bài thơ, chùm thơ (thường khi) hoặc hài lòng khép trang sách lại của tôi, là cảm giác chung nhất, khi đọc Đinh Thị Như Thúy.

2. Lại có khi bài thơ bất ngờ gợi một liên tưởng khác trong tôi. Ví dụ:

Bên anh trên chiếc ghế ven đường nơi ta vẫn nghỉ chân. Chiều nay em nhìn không chớp chiếc lá mới nhuốm vàng. Chiếc lá vừa chao nhẹ từ cành cây rồi đậu khẽ vào lòng em như cánh bướm

Em ngẫm ngợi đây là chiếc lá đời sống em, là đây chiếc lá mang linh hồn em, là đây linh hồn thiếu nữ thật nhiều ước ao trong hình hài tàn phai thiếu phụ. Em chợt muốn dịu dàng vuốt ve chiếc lá, em chợt muốn thầm thì với anh về thời gian, em chợt muốn đặt môi hôn lên mặt vàng buồn bã

Mai kia anh có thấy không ánh nhìn của mắt em từ khung xương rã mục của cánh lá sẫm nâu.

(Chiếc lá)

Tôi nhớ một đoạn văn phần cuối tiểu thuyết “Bức họa maja khỏa thân” của Samuel Edwards, cuốn sách cũ đã đọc mấy chục năm trước. Đó là, trong tình thế bức thiết, hoảng loạn, nghi kỵ khi đất nước Tây Ban Nha bị quân Pháp (Napoleon) xâm chiếm; sau khi vượt qua nghi ngờ, ghen tuông, thất vọng, và hiểu rằng tình yêu đã có của họ là duy nhất vẹn nguyên, chàng họa sĩ, kiếm khách lừng danh Francisco Goya tìm tới nữ công tước xinh đẹp, sắc sảo, trí tuệ Maria Cayettana- lúc này nàng ốm rất nặng. Trong khuôn viên vườn hoa dinh thự, trong ánh chiều nhập nhoạng vòm lá tối, trong dáng vẻ ốm yếu suy kiệt chút hắt hiu sống cuối cùng của nàng, họ cuống quýt hạnh phúc, tuyệt vọng nhận ra nhau. Nàng, đứt quãng, mãn nguyện nói với chàng: “… em định sẽ di chúc lại cho anh… là em để lại cho anh thừa kế hai cái kho tàng quý báu nhất đời em: anh và tổ quốc Tây Ban Nha.” Rồi thêm: “…đừng tìm lại hình ảnh em trong hồi ức về quá khứ, vô ích. Anh chỉ cần nhìn ra chung quanh, anh sẽ thấy em trong tất cả mọi người Tây Ban Nha. Đó là tất cả bí mật của đời em. Em là đất nước Tây Ban Nha.”

Tình yêu. Lòng yêu nước. Cái đẹp cao cả và những định kiến tăm tối, thấp hèn về cuốc sống, nghệ thuật. Cuốn sách vốn đã hay. Nhưng đến đoạn gần kết này, chỉ mấy câu nói của Cayettana, “Bức họa maja khỏa thân” đã vụt sáng lên đặc biệt, đã choáng ngợp tôi. Họ hẹn nhau ngày mai sẽ gặp lại dù cả hai đều biết rằng, không còn có ngày mai. Ngày mai ấy chỉ là cuộc dấn thân của chàng họa sĩ, cùng bao người, hành trình gian nan tìm lại đất nước Tây Ban Nha.

Vì sao khi đọc Chiếc lá tôi nhớ tới đoạn văn trong tiểu thuyết kia? Không biết. Có thể từ cách lưu ảnh “em nhìn không chớp chiếc lá mới nhuốm vàng”, “em chợt muốn dịu dàng vuốt ve chiếc lá”, “ánh nhìn của mắt em từ khung xương rã mục của cánh lá sẫm nâu” gợi hình ảnh suy kiệt, sắp chết của người nữ quý tộc xinh đẹp kia. Có thể cái buồn đẹp từ ánh nhìn nhiều suy cảm từ chiếc lá vàng, từ khung xương xác lá của bài thơ gợi chớp sáng hắt hiu, mà thiêng liêng vang động tâm cảm những giá trị vĩnh cửu của tình, của ý nghĩa cuộc sống. Có thể từ cảm giác bất lực trước thản nhiên và riết róng của thời gian đời người, lá xanh, lá vàng, thiếu nữ tràn đầy mơ ước và tàn phai thiếu phụ gặp khung hình ấn tượng đoạn cuối tiểu thuyết kia?… Hoặc từ cách điềm tĩnh ngẫm ngợi ấy? Hoặc đơn giản, niềm xúc động mạnh, ấn tượng mạnh từ một vẻ đẹp bắt gặp thường khơi gợi mối tương liên đằm sâu trong ký ức không bao giờ phôi pha?

Tôi không chắc chắn vì sao. Nhưng quả là khi đọc Chiếc lá, tôi nhìn thấy vườn hoa kia trong chiều tàn, tôi nhớ như in câu nói từng làm chấn động tâm hồn tôi khi đọc đến trang sách ấy.

Và đó cũng là bí mật khác của văn chương chăng?

3. Nhưng đúng là lưu ảnh. Khả năng lưu ảnh trong thơ Đinh Thị Như Thúy thật đặc biệt.

Đọc thơ, bình thơ, người ta thường nhắc tới ngôn ngữ, hình ảnh thơ… có đắt không, có ám ảnh không…, chẻ câu thơ làm tư để tìm các biện pháp tu từ, để phát hiện “nhãn tự”. Thì cũng được. Cách sáng tác, cảm nhận, phê bình trên nền tảng mỹ học cũ, gọi chung rất đường mòn, rất lạm dụng là truyền thống. Thôi không bàn về thực tế thơ còn khá đông đảo này.

Đang nói về khả năng lưu ảnh của thơ Đinh Thị Như Thúy. Nó không sinh ra từ chữ nghĩa đặc biệt nào. Càng ít sử dụng các biện pháp tu từ; có chăng điệp từ điệp ngữ, những so sánh, liên tưởng- một cách thể hiện như phải thế trong nỗi cuốn đi, cuộc hòa tan, chứ không thiên về kỹ thuật. Tất cả đều trên nền ngôn ngữ trong sáng nhất có thể. Còn hình ảnh, nội dung? Chị cũng viết về mọi điều xảy ra hàng ngày, điều nhìn thấy, cảm nhận: về thời tiết, những cơn mưa, cái lạnh, hoa cà phê mùa tưới rẫy, chiếc lá, bông hoa, con bướm, con rắn trong vườn, một nhành hoa cau nhặt được trên đường…; về con tàu mắc cạn, về cái chết những người bạn, về một cuộc sinh hoạt cộng đồng, một kỷ niệm; cả những suy đồi nhân cách, những vấn đề xã hội, thế sự…

Khả năng lưu ảnh lớn không phải từ cách miêu tả chân xác, sinh động, mà là những suy gợi từ hình ảnh ấy chiều sâu khác. Nó đọng lại, day dưa, sinh sôi. Và một vấn đề khác, một thế giới khác hay một đời sống khác đã hiện lên, đã ngân lên trong tâm cảm người đọc. Thử đọc một số, tình cờ:

Không thể không thở than trước những bất thường của thời tiết mùa xuân, khi tràn ngập đất trời những gió chướng những mưa trái mùa những mây xám xịt những lạnh buốt những tím tái những nứt môi nẻ chân những áo quần lùng xùng bao bọc giấu che thân thể

Một ngày vẫn bắt đầu bằng chỗ ngồi quen đến cũ, lâu rồi không thấy con sóc nhỏ lấp ló hít mùi café (lạnh quá nó đã ngủ quên trong hốc tối hay đã bị loài mèo chụp bắt), lâu rồi lại thấy ông chủ quán xuất hiện với mảnh tang đen trên ngực trái, vẻ mặt âu sầu mỏi mệt và bài hát vang lên trong quán cũng mệt mỏi âu sầu, như nhắc nhớ hỏi han mỗi con người rằng còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn xưa* (Lời trong bài hát Phúc âm buồn của Trịnh Công Sơn)

(Những ban mai không có mặt trời)

Hoặc:

Làm sao lý giải được những con sâu nhỏ nhắn toàn thân phủ một lớp lông mịn vàng óng như lông chim hoàng yến lại cứ mù lòa quờ quạng mải miết bò vào những lối đi ồn ã nơi luôn có người lại qua để rồi bị giày xéo vỡ nát

Làm sao lý giải được những con ve nhẫn nại nằm trong lòng đất bao năm rồi một hôm lột xác điểm trang cho mình một bộ cánh mỏng tang trong veo óng ánh nhưng chỉ để hiện hữu vài ngày lảnh lói tiếng ca dưới nắng vài ngày rồi chết

Và xác của bao nhiêu loài côn trùng khác khô giòn nằm rải rác khắp các xó xỉnh ngóc ngách của khu vườn

Và đêm đêm bị ánh sáng dẫn dụ bao nhiêu bọ rầy bọ dừa bay vào trong những căn phòng nhỏ để rồi mất phương hướng để rồi loạng choạng để rồi rơi xuống rồi lại bay lên rồi múa lượn với chính cái bóng của mình rồi đâm sầm vào những ngọn đèn rồi chết trong ảo vọng

(Chuyện tháng tư)

Hoặc:

Tối hôm qua trước khi đi ngủ nàng nhìn thấy một con sên đen trong phòng tắm. Màu đen đẫm nhớt và vẻ chậm chạp của nó khiến nàng ghê tởm. Nàng hất nó vào bồn cầu và xả nước. Con sên trôi tuột đi. Bỗng dưng trong nàng bật lên những câu hỏi. Con sên đen. Nó có cảm giác gì không? Nó sẽ làm gì? Sẽ ra sao? Ở nơi chốn tối tăm và hôi thối đó?

(Chúng ta đã không thuộc về thế giới này)

Và đây nữa, chẳng hạn:

Con rắn sẽ trườn vào tôi một cách cẩn trọng, nhẹ nhàng? Tôi sẽ đón nhận nó? Như đón nhận một phần của chính tôi bị thất lạc. Bàn tay tôi. Cánh tay tôi. Và cả thân thể tôi sẽ tràn ngập trong cảm giác được ôm ghì thương yêu bởi màu xanh cây lá. Màu của yên tĩnh. Màu của bóng mát. Của rừng cây. Của cỏ dại. Của sương mù ẩm ướt. Của những sinh sôi bất tận. Màu của thiên nhiên hoang dã. Những cây nấm sau mưa. Những con báo đốm khổng lồ. Những con thú có sừng…

Và những tranh cãi chết tiệt. Tôi thật sự không muốn nghĩ đến nữa. Có thể đã không còn cần thiết. Những luật chơi. Những dốt nát. Những cay đắng. Những thù hận.

Dịu dàng. Cẩn trọng.

Tôi đưa tay về phía con rắn.

(Chỉ chúng ta mới có quyền kết thúc cuộc chơi này)

Thật nhiều, có thể nói là hầu khắp trong mỗi trang thơ của chị, những ảnh hiện vọng sâu, dai dẳng.

Màu xanh của rắn lục, màu rợn đẹp sự chết là màu cây lá sự sống; những mưa lạnh lê thê; thế giới những con vật, con sóc lấp ló đáng yêu hay con sên nhớt nhầy ghê tởm dù chậm chạp lành hiền, những con côn trùng nhỏ bé giữ rịt bí mật tồn tại của mình trong hành trình, vũ đạo mê cuồng, bất chấp lý lẽ thiệt hơn của con người, toan tính của con người … Thế giới tự nhiên ấy đọng lại, lưu dấu rất sâu, bởi ẩn sau đó là bóng dáng con người với những ngẫm ngợi về sự tẻ nhạt, sự độc ác, tranh đoạt đầy ngu tối, những trò múa may cuống cuồng, những ngụy trang, ảo vọng… Tất cả, thật vô lý như đang sống và vô nghĩa khi đối diện cái chết.

Sẽ đi về đâu sự sống này, thế giới này?

Tôi thấy chị như tách rời ra khỏi mình. Ngắm mình, săm soi. Ngắm thế giới chung quanh, đắm say, mê miên như vậy trong nỗi e dè, ngạc nhiên, bất lực. Dòng chảy dường như cuốn trôi, dường như bỏ quên một thực tồn, một không thực tồn.

4. Đương nhiên khác nhau nỗi cô đơn mênh mông, những bất an thường trực và niềm khắc khoải, dịu dàng nỗi chết. Nhưng các trạng thái tâm hồn này thường cận kề nhau, có trong nhau, nhiều lúc là các mặt khác của nhau trong thơ Đinh Thị Như Thúy.

Đã có “trăm năm cô đơn”. Đã có “tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Đã có “to be or not to be”. Rồi con người từ đâu đến, và sẽ đi về đâu?… Văn chương nghệ thuật và triết học và khoa học và tôn giáo và ngoài tất cả, những mê muội mê lú… Duy vật và duy tâm, duy ý chí duy khoác lác duy đồng bóng. Những tâm lý học, tâm phân học. Những ý thức, vô thức, tiềm thức. Và thiền. Và bản ngã, vô ngã, chân ngã. Và những lừa mị… Đã ngàn vạn năm qua, con người không thôi ám ảnh, không thôi đào xới. Văn chương và triết học luôn mở hết tốc độ, luôn dãn nở đến tận cùng. Mà có tận cùng đâu, các trạng huống của tâm hồn, các vấn đề sinh-tử?

Không tận cùng cũng là bí mật hấp dẫn cần khám phá. Cũng như, cái chết khó thể trải nghiệm, nhưng nếu sự sống là mặt đối lập của cái chết thì trải nghiệm sống bằng khoái cảm ưu tư cũng là cách tiếp cận khả dĩ. Vậy nhà thơ nữ này, tinh thần và trí lực, và xúc cảm, bằng phản xạ tự thân, tự nhiên nhất, cứ hướng về, cứ trôi vào sự cuốn hút khôn cưỡng ấy như thế nào?

Như sự chấp nhận, như động viên nhắc nhớ mình, hay cuộc trốn/tìm vào cơn mơ, hay thoát đi vào một thế giới khác?

Lạnh và tĩnh lặng. Tôi mơ làm dòng nước trôi chậm trong đất. Trôi. Và lắng lại. Thèm chút tĩnh lặng trong mưa như sáng nay để lắng lại. Đừng xô đẩy. Đừng dằn vặt. Để tôi nhìn thời gian trôi. Và nhìn tôi sống.

Sống một ngày là chết một ngày. Tôi nhắm mắt. Nghe lời thét gào của một cơn mưa khác. Cơn mưa tiên tri buổi hoàng hôn ngay đó. Đừng quay lại. Khuôn mặt hân hoan đến mức lố bịch và trơ trẽn của một con người.

(Có thể đi hết chiều dài cơn mộng này không)

Hay chấp nhận sự biến dạng từ “những chuyển động hỗn loạn và chói gắt”, mọi thứ quá ngưỡng cùng trỗi lên như niềm hả hê trước kiểu “sáng thế ký” kinh dị, trước vẻ đẹp tuyệt diệt?

Mặt trời không lên thẳng mà đi đường dích dắc. Những hàng cây chen ra giữa lòng đường. Những ngọn đèn đường chuyển chỗ cho nhau và chuyển đổi sắc màu liên tục. Những hàng quán không còn bảng hiệu, sự dịch chuyển của ghế bàn ly tách thìa nỉa tạo ra bao vệt sáng lóng lánh. Trong không gian đầy ắp âm thanh có gì như vui tươi có gì như cuồng nộ. Trong công viên đầy ắp những dây leo, từ dưới đất vẹo vọ mọc lên, từ trên vòm lá xanh ùn ùn tràn xuống lắc lư vặn xoắn như rắn cuộn

Trong lồng ngực khối u đã được kích hoạt, từ vị trí ba giờ bên ngực trái những chiếc rễ bắt đầu mọc lan, cái chết lạnh toát đang nở ra trương phình ra như rong tảo khô ngấm nước

Mũi tên đã rời cánh cung đang vẽ vào cát bụi một đường cong lộng lẫy

(Cái gì đã xảy ra giữa chúng ta)

Có khi là tỏ bày đồng cảm cùng một bông hoa, một con vật, một cơn mưa, những đối tác tội nghiệp và đáng tin cậy?

Lại chạy như con hươu trong bóng tối bủa vây

Biết vũ khí duy nhất của mình

Là đôi chân

Guồng những bước nhanh

Buồn rời rã trong nỗi kinh hoàng bị săn đuổi

Nước mắt nhỏ suốt dọc đường đi

(Gọi đúng tên là nỗi sợ)

Mưa vẫn chưa ngừng. Những cơn mưa như đã chết. Cái chết của cơn mưa không phải khi nó chấm dứt mà khi nó đã tràn ngập tất cả, đã nhấn chìm tất cả nhưng không làm sao được ngừng rơi. Không dừng lại được cũng là một hình thức chết/…/ Ngoài hiên bạch thiên hương tỏa hương. Cây hoa này cứ như một yêu nữ. Hoa thì đẹp, hương thì thơm, nhưng dường như đã phải chịu một lời nguyền nào đó nên không làm sao ngẩng mặt lên được. Những bông hoa trắng cứ chúi vào nhau. Rũ rượi. Nhất là trong mưa. Những bông hoa trắng chúi vào nhau như những con nhạn ướt cánh, rũ vùi. Đẹp. Man dại. Buồn bã. Và đau đớn.

(Những cơn mưa của ngày dài mê dại)

Có lẽ không phải. Không đúng. Không phải ẩn vào, nương theo một thế giới khác do nỗ lực chạy trốn của mình. Mà, thế giới thường hiện trong thơ chị vốn là một thế giới khác!

Tôi đã hoài công tìm kiếm những biện giải về cái điều hiển nhiên khi nỗi cô đơn, sự bất an và cái chết chẳng là gì hết bởi đã được thanh lọc khi đi qua “thế giới của những giấc mơ và những bông hoa độc”:

Sáng nay rừng không bướm trắng/ Sáng nay rừng không gió động/ Mưa trái mùa đã rơi suốt đêm qua

Suốt đêm mưa rơi trên những hoa dại mới nảy mầm/ Suốt đêm mưa rơi trên dự cảm những bồn chồn ly biệt.

Có thể chúng ta phải tự trách mình/ Có thể chúng ta phải tự thương mình/ Có thể chúng ta phải cười như Vũ khi mọi người vuốt mắt

Có thể chúng ta phải ngoái nhìn những biến thiên của mọi kiếm tìm/ Như thể nhìn một ban mai dịu nhẹ/ Như thể nhìn một gương mặt bình yên sau giấc ngủ dài.

(Có phải mọi kiếm tìm đều như thế)

Bây giờ thì tôi hiểu vì sao có cảm giác thiêu thiếu mỗi khi đọc một bài thơ, một chùm thơ Đinh Thị Như Thúy trên báo. Là bởi, khả năng khơi gợi một thế giới khác trong mỗi câu chuyện, mỗi hình ảnh. Và nỗi vây bủa, ám ảnh trên từng nhịp sống, không ngừng nghỉ nối tiếp những ảnh hiện, qua nhà thơ, dù có khoảng trống cuộc tiếp nhận này (vì một công việc khác), như chiếc đồng hồ thản nhiên tích tắc bất kể ta có chú ý hay không.

5. Cái thế giới ấy ít thấy con người (trừ những người bạn đã qua đời, được gọi tên, được lưu dấu sâu đậm, những Vũ, Diệp, Nhẫn…), mà chỉ là những ảnh tượng, những thoảng qua. Những “chỉ tay vào mặt”, “vung tay chặt chém” hoặc “khuôn mặt hân hoan đến mức lố bịch và trơ trẽn của một con người”… Hoặc cùng lắm là những người đàn ông “yêu người đàn bà bằng những câu chửi”, những người đàn bà vô vọng “mang trong mình ổ trứng hồng thèm khát sinh nở” của làng chài mất đất “tìm lên dãy núi Răng Cưa” (Bài ca bên dãy núi Răng Cưa) tội nghiệp. Nhưng những người đàn ông, đàn bà này, những khốn khổ bé mọn này đã nhập vào những con hươu bị bóng tối bủa vây, bị truy đuổi; với phía bị hại, niềm thương cảm thì ích gì, niềm thương cảm không thay đổi được bóng tối?

Thực không có chỗ cho sự khinh khi bởi nó đáng thương hơn đáng giận- con người thảm hại đâu đó hàng ngày phải tiếp xúc, hoặc trong những đám đông, những gặp gỡ tình cờ. Mà nói gì với con người đây khi nó nhàm nhạt, nó rập khuôn, đồng bóng, xu thời, hãnh tiến, bé mọn và kiêu ngạo?

Nhưng người, nguồn cơn chính của nỗi bất an, vẫn chung đụng vẫn phải tìm kiếm sự hài hòa. Đôi khi muốn tồn tại phải như bầy tượng gỗ “mọc lên từ những chiếc ghế có nơ cài” trong đám đông những bàn tiệc chung quanh, vẫn khó thoát:

những tiếng hú gào hả hê/ vây quanh chúng ta trong biển những mặt người thù hận/ chúng ta đã không cẩn trọng không phòng vệ không di chuyển/ từ lời nói này vị trí này cảm xúc này/ đến lời nói khác vị trí khác cảm xúc khác/ những bẫy sập bẫy kẹp bẫy treo bẫy thòng lọng/ gom dần chúng ta trong lưới

họ đã cài đặt tất cả/ bằng tất cả quyền lực/ để trùm phủ tối tăm lên xứ sở này/ tình yêu niềm tin danh dự là vũ khí của chúng ta/ trở thành trò cười thảm hại/ cả trong mặt những chiếc ghế có nơ cài

(Trò chơi của bầy tượng gỗ)

Hay:

làm sao biết/ sự tinh khiết của niềm tin/ là có thật

những đổ sập/ mang khuôn mặt trang nghiêm/ mỗi lời hứa/ bày ra một cái bẫy

(Rốt cuộc thì tháng 11 cũng đã chịu hết)

Khi nỗi đau tột cùng, phẫn nộ tột cùng, bất lực tột cùng, con người hiện lên, dữ dội nhất, kinh dị nhất: tìm được cơ hội để diễn tả nhẹ như không lại thành tiếng thét đau đớn lộ liễu duy nhất của nhà thơ, là lúc gửi gắm, cảm thấu con người-bù nhìn, bù nhìn-người:

Tôi khô những cọng rơm/ Khóc không có nước mắt/ Đau không có miệng mếu máo/ Oan ức không có bàn tay nắm lại phẫn nộ/ Tôi không nghe hơi thở buồn bã của tôi/ Tôi không nghe máu chảy

Con người sẽ bất lực hơn con bù nhìn/ Nếu làm con bù nhìn

Con người sẽ tàn độc hơn thú dữ/ Nếu biến thành thú dữ

(Không chỉ mình tôi như thế)

Ngay với tình (?), với “anh”, dù là thật tinh khiết niềm tin, vẫn không là sự vô ưu thuần túy thời khắc ấy mà bắt đầu một khởi sinh khác, có thể tốt đẹp hơn, để hy vọng, nhưng như một trốn tránh thực tại:

Em rủ anh đêm nay kín đáo, lặng lẽ ra vườn ngồi chìm trong bóng tối. Góc vườn đó. Chiếc ghế đá đó. Dưới gốc mimosa đó. Không là mùa trăng. Trời tối. Nên tha hồ rón rén. Như thể trộm lén dự phần vào cuộc sống bí mật nơi này. Em bảo. Một lần thử xem. Chúng ta học cách sống của loài cây. Chúng ta ngồi thật lâu trong im lặng. Chúng ta chìm vào vườn. Hơi thở chúng ta hòa lẫn trong hương thơm cỏ cây. Hơi thở của chúng ta hòa lẫn trong hơi thở thơm mát của khu vườn. Anh có thấy không? Dường như trong anh đang bền bỉ lớn dần những đọt non chồi lá

(Rơi như là giọt nước)

Rồi như, với học trò, với đối tượng trong sáng thân yêu, có điều gì vẫn gờn gợn, giữa trang sách, bài giảng (hẳn là những điều tốt đẹp, nhân văn) và cuộc sống ngoài kia, thiên nhiên tươi đẹp ngoài kia:

…nhưng rồi cô tự hỏi có đúng vậy không, có ý nghĩa thực sự gì không trong những rao giảng của cô, trong những tác phẩm hàng ngày cô và trò đi qua, khi ngoài kia trời đẹp đôi khi đến ngộp thở, đẹp đến nỗi người ta không muốn gì hơn là được hít thở được nói cười được bày tỏ những quan tâm đến nhau một cách chân thành không giả trá không nịnh nọt không gò bó không từ chối không ngụy trang

(Krông Pắc, tháng mười một ngày mười ba)

Có điều lạ, trong thế giới đầy những dự cảm bất an của Đinh Thị Như Thúy, tôi không thấy ngớp trong nỗi lo âu, mà chỉ thực sự xúc động. Trước thiên nhiên tuyệt diệu. Trước sự chịu đựng, nỗi thống khổ và khả năng kiếm tìm vô hạn của con người lý lẽ để biết mình hằng hữu, cả khi đã chết đi. Bởi nỗi buồn, nỗi đơn độc, và sự chết như một tận hưởng, và nhận biết ấy thành hân tặng của tạo hóa.

Con người, dù tuyệt vọng đến đâu, vẫn tin một lối thoát sẽ hiện ra, không phải quy luật tồn sinh, hay cách “hạt cây chỉ thật sự chết đi khi đã được nảy mầm” (Rồi lạnh dần nỗi nhớ), mà là một hy vọng khôn nguôi, một niềm mơ được quyền mơ, cái quyền Thượng đế dành cho mỗi sinh thể:

Sinh ra là để đi/ Để dịch chuyển những tự do/ Để đối mặt với bát ngát xa xăm phơi mở những chân trời sóng

Chiều nay con tầu mắc cạn chết sững sờ bờ cát/ Bất lực chịu đựng bao ánh mắt/ Thảng thốt giấc mơ về lại biển khơi

Chiều nay con tầu đã làm tôi buồn quá

Sinh ra là để mơ/ Những giấc mơ sẽ vẫn tiếp tục tràn trề biển khơi và ánh sáng/ Khi những dây leo xanh lạnh bắt đầu bò lan/ Khi bóng tối mục ruỗng thân tầu lặng lẽ đến/ Cùng những con còng lăng xăng gió

(Với con tàu mắc cạn)

6. Đó, cái thế giới của Đinh Thị Như Thúy.

Khi những lan man của tôi dừng lại thì nó vẫn tiếp tục sinh sôi…

13/8/2021

Lê Hoài Lương

Theo https://vanvn.vn/

Thuốc phiện, một tình thế của nhà văn An Nam

Thuốc phiện, một tình thế
của nhà văn An Nam?

Ở tuổi đôi mươi trẻ trung, không phải quá lao đao sinh kế, lại vừa có chút tiếng tăm trên văn đàn, Vũ Bằng tự cho phép mình hút thuốc phiện, lúc đầu thử chơi nhưng nhanh chóng thành cơn nghiện và trói chặt nhà văn tương lai vào những khốn đốn khó lường.

Quãng thời gian sử dụng mình theo cách đó, như về sau ông thuật lại, gói gọn trong tư thế “hút quên chết”, từ “hút ở tiệm” chuyển sang “hút tại gia”, kéo dài từ sáng đến tối, hợp nhất hình hài thân xác với bàn đèn, dọc tẩu và làn khói. Phải gần dăm năm như thế và tưởng sẽ kết thúc cuộc đời theo cách không thể bi thảm hơn nếu Vũ Bằng không quyết định cai và cai được thuốc phiện.

1. Câu chuyện nghiện và cai nghiện thuốc phiện của Vũ Bằng, có thể có phần hư cấu, nhưng đã được ông ghi lại một cách chân thực, sinh động và đăng báo dài kì trên tờ Trung Bắc chủ nhật, rồi in thành sách dưới tiêu đề “Cai” (1942).

Trước 1945, Vũ Bằng không phải là nhà văn duy nhất dính vào thuốc phiện. Tạm tin liệt kê của ông, ta thấy danh sách những nghệ sĩ phụng thờ nàng tiên nâu khá dài, chưa kể số người ít khi thực sự công khai nghiện hút. Còn nhìn rộng ra, thuốc phiện chắc chắn là một vấn đề hóc hiểm đối với các xã hội thuộc địa kiểu như Việt Nam thời đó.

Trong chuyên khảo công phu “Thuốc phiện và chính quyền thuộc địa ở châu Á”, từ độc quyền đến cấm đoán 1897-1940 (2001), nhà nghiên cứu Philippe Le Failler đã dẫn dụ và phân tích hàng loạt các sự kiện xã hội, chính trị và kinh tế liên quan đến thuốc phiện tại các quốc gia vùng Viễn Đông, nhất là khu vực Đông Dương. Do thuốc phiện đem lại một nguồn thu lớn, chính quyền thực dân đã giành thị trường, dần độc quyền buôn bán và gieo rắc mặt hàng này đến mọi người dân. Từ chỗ cấm đoán và trừng phạt việc sử dụng nha phiến như đã từng có thời đầu Nguyễn, càng về sau, cùng với mức độ bành trướng của người Pháp, các công ty thuốc phiện, các tiệm hút mọc lên như nấm, khiến người dân bản xứ rất khó tránh khỏi thói hư mới là hút thuốc phiện, bên cạnh thói quen muôn đời là uống rượu.

Philippe Le Failler đã trích lại những con số gây rùng mình: năm 1908 có hơn 215.868 người Việt hút thuốc phiện, trải khắp ba kỳ; các tiệm hút tuy giảm đều từ năm 1918 (1.513 tiệm) đến 1929 (1.224 tiệm) nhưng các biện pháp cấm vẫn ít khi được áp dụng trong khi giá những hộp thuốc phiện theo từng loại thì không ngừng tăng; số người vào viện và chết vì thuốc phiện có lúc lên tới hàng trăm (như các năm 1930, 1937, 1938, 1941…) không chỉ nam giới mà còn có cả phụ nữ. Các đô thị Sài Gòn, Chợ Lớn, Hà Nội là nơi tập trung nhiều tiệm hút và dân nghiện nhưng cảnh tượng dân quê nằm cạnh mâm đèn cũng không còn quá xa lạ.

Hình ảnh những bảng hiệu R.O (Régie de lOpium: Ty thuốc phiện) xuất hiện khắp thành phố và làng mạc, dưới màu trắng của lá cờ nước Pháp, đã khiến không ít ký giả Pháp, chẳng hạn Louis Rouband (1884-1941), tác giả của “Việt Nam, tấn bi kịch Đông Dương” (1931) nổi tiếng, lo ngại và chế giễu về một thực tế rằng những bồi bếp và cu li đã phải nhai những viên xái vét trong điếu của các ông chủ. Dĩ nhiên, nhà báo này cũng biết rõ lợi nhuận khổng lồ từ thuốc phiện đem lại cho mẫu quốc (một ty thuốc phiện Pháp có thu nhập chiếm tới một phần tư tổng ngân sách Đông Dương) vì thế, dù có rất nhiều phản đối mang tính đạo đức, “tự do thuốc độc” vẫn cứ hiển hiện như một quyền tự do duy nhất mà các nhà khai hóa mang đến cho người dân bản xứ!

2. Tính chất nước đôi vừa chống vừa lợi dụng thuốc phiện của chính quyền thực dân có vẻ đã đánh trúng tâm lí của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ, những người, vì nhiều lí do, có thiện cảm nhất định với thuốc phiện. Bắt nguồn từ một truyền thống xa xưa, hút thuốc phiện có thể được dung túng và chỉ quy vào “thói xấu” khi quá lạm dụng nó. Đáng kể hơn, xu hướng ca ngợi thuốc phiện như một thần dược tạo sinh cảm hứng, năng lực sáng tạo đã được chính các văn sĩ khởi đầu. “Thuốc phiện làm lớn lên những gì không giới hạn/Kéo dài cái vô tận/Đào vào khoái lạc, làm sâu thêm thời gian” là cảm nhận của thi sĩ tài danh Charles Baudelaire mà đương thời, chắc chắn có nhiều thi sĩ An Nam đọc được.

Những danh xưng mỹ miều (phù dung, ả phiền) để gọi thuốc phiện đã dẫn dắt không ít giấc mơ đuổi theo biểu tượng của sự giải thoát, phiêu lưu, lạc thú. Chính Vũ Bằng, khi bắt đầu “gá nghĩa với Phù Dung”, cũng bám lấy niềm tin rằng “không hút thuốc phiện không thể nảy ra văn được”. Còn Nguyễn Tuân, trong hai tùy bút “Ngọn đèn dầu lạc” (1939), “Tàn đèn dầu lạc” (1941), thì dù chủ ý hay không, vẫn rất mực khoái cảm sao lục “công đức Ả Phiền” mang đến cho đám nghiện trong “làng báo, làng thơ, làng tiểu thuyết”. Cái cách Nguyễn Tuân “tình ái hóa” chứng nghiện thuốc phiện mang dáng dấp một bản tụng ca, một sự tự bào chữa đầy ước lệ: “[…] bao nhiêu là kỷ niệm. Ngày vui, tôi gọi đến nàng. Đêm buồn tôi cũng gọi đến nàng. Xa nàng, tôi thấy nhớ. Rồi đau, rồi  ốm. Thiếu nàng, đôi phen tôi đã thấy cuộc đời là vắng vẻ” (Ngọn đèn dầu lạc).

Nguyễn Tuân có lí do để đẩy câu chuyện thuốc phiện trở thành một tuyệt bút văn chương: ông quan sát và bắt mạch được những vẻ đẹp kì quái, lạ lẫm dưới ánh đèn dầu, thứ ánh sáng leo lét nhưng đôi khi gieo được một âm điệu, gọt được một vần thơ hay! Thực ra, kiểu quan sát này ẩn chứa khát vọng trải nghiệm cạn kiệt các loại cảm giác và từ đó, phơi mở dạng hình con người cá nhân đầy đủ, đa diện nhất.

Cũng như Nguyễn Tuân, Vũ Bằng đã chạm ngưỡng lãng mạn khi mô tả con đường đi tới kẻ nghiện hút, khởi từ chán nản sầu não đến si mê, khoái lạc. Trước khi nhận ra đó là một nhầm lẫn và tai họa lớn, Vũ Bằng còn gắn thêm những chi tiết mang sắc thái trữ tình, li kì đủ để lẩy ra một tình sử sâu sắc nhưng ngắn ngủi, thê lương: bàn đèn, dọc tẩu và giai nhân. Liên Hường, cô gái Huế được nhắc đến khá nhiều trong tác phẩm “Cai”, là bạn hút và tri âm của tác giả, sẽ đóng vai kẻ thất bại, buông tay trong cuộc chiến với thuốc phiện. Người chiến thắng – tác giả, đương nhiên không phải là một anh hùng đội trời đạp đất nhưng ít ra, đã dốc sức và ý chí đến cùng.

Khi nghiện hút, Vũ Bằng thường dụng đến tri kiến văn chương để xưng tụng sức mạnh mây khói, còn khi quyết cai nghiện, ông cũng bắt đầu với một thúc ước nội tâm: “Rousseau ăn cắp; Verlaine giết người; Tom Kromer lừa gái vẫn được ghi tên trong văn học sử. Nếu ta viết được một tác phẩm giá trị, sao người đời lại không có thể quên ta là một anh nghiện oắt xà lai?. Thôi. Quyết định! Bắt đầu từ tối nay, không hút nữa”. Rõ ràng, một tài năng lớn không hẳn là một kẻ có nhân cách hoàn hảo và nhận thức đó đã giúp tác giả nhìn ra giá trị bản thân mình.

Ông quyết tâm cai vì vẫn chưa mất hẳn giấc mộng văn chương và quan trọng hơn, vẫn chưa mất niềm tin vào sự cứu rỗi, cứu vớt luôn có trong đời. Cai được, vì thế, là sự chung sức của nỗ lực cá nhân và lòng bao dung, tình thương của tha nhân. Cái kết đẹp mang sắc thái nhân văn không chỉ nằm ở sự chuyển hóa từ sai lầm, tăm tối sang đúng đắn, sáng lạn mà sâu xa còn ở sự xác nhận tội lỗi là một trạng huống dễ xảy ra với bất kì ai.

(Số người hút thuốc phiện ở Đông Dương năm 1908. Dẫn theo Philippe Le Failler).

Nhưng Vũ Bằng còn chứng tỏ trang viết của mình không thuần túy là một bản tự thú nhờ giọng điệu thành thực. Điều có thể làm độc giả ngày nay khó buông bỏ cuốn sách là những đoạn Vũ Bằng khéo léo phản biện cái gọi là văn minh phương Tây đang ngấm sâu vào xã hội lúc đó. Ông trở nên e dè, hoài nghi “cái văn minh […] chỉ có một mục đích làm cho người ta sung sướng về thể xác mà không chú ý đến việc mở rộng cái trí và làm thỏa cái tâm, thì cái văn minh đó bất quá rồi cũng chỉ có những kết quả khốc liệt như thuốc phiện, nghĩa là làm cho giống người suy nhược rồi tiêu diệt”. Ông tỏ ý hạ thấp thứ giáo dục và luân lý “nặng về mặt cá nhân tư kỷ” khiến nhiều thanh niên đánh mất đức hy sinh, hiếu nghĩa. Đặt trong diễn biến “bệnh thời đại” của lớp người trẻ không lý tưởng và niềm tin, Vũ Bằng muốn giải thoát, thay đổi những gì hào nhoáng nhưng trống rỗng núp dưới thú ăn chơi, trụy lạc.

Trong hồi ký “Bốn mươi năm náo láo”, ta biết thêm về lý do Vũ Bằng cai nghiện: ông không muốn nằm dài hút xách, bê tha trong khi nghề báo đòi hỏi ông phải phải “tranh đấu thực”, phải viết được điều gì khả dĩ vẽ lên được tinh thần hiên ngang của giống nòi, dân tộc. Dứt nghiện, Vũ Bằng vào Nam học hỏi và sau ba năm, trở ra Bắc, “thấy mình hăng một cách khác thường”. Khúc rẽ này đương nhiên bồi thêm nhiều bất ngờ trong hành trạng văn chương, báo chí vốn đã đậm kịch tính của Vũ Bằng.

3. Như vậy, thuốc phiện, ít nhất, đã góp phần tạo nên một điểm nhấn tiểu sử và tác phẩm văn chương của không chỉ Vũ Bằng. Tuy nhiên, đọc “Cai”, thay vì ngưỡng mộ thái quá ý chí con người, cần tỉnh táo cảm thông trước mỗi lựa chọn của người đời. Chính vào khoảnh khắc có phần trớ trêu của cuộc đời, mỗi nhà văn đều có một lựa chọn để chứng thực được nhân cách lẫn văn cách của mình. Dĩ nhiên cũng không thiếu trường hợp vùi thân danh trong thứ văn nghiệp xoàng xĩnh chỉ vì chấp nhận thỏa hiệp, kể cả sự an nhàn vốn dĩ dễ ngã lòng.

5/12/2021

Mai Anh Tuấn

Theo https://vanvn.vn/

Chúa đất miền Khau Sưa - Những điều muốn nói

Chúa đất miền Khau Sưa Những điều muốn nói Nhà văn cựu chiến binh Hoàng Thế Sinh quê gốc Hưng Yên, lập nghiệp và thành danh ở Yên Bái là m...