VĂN THƠ NHẠC
Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026
Nữ sĩ Hằng Phương và thủ pháp danh gia vọng tộc
Nữ sĩ Hằng Phương và
Được xếp hạng nhà thơ trí thức lớp trên, nữ sĩ Hằng Phương thể hiện sắc nét tình cảm người phụ nữ thị thành trong thời đại mới.
Viết giải trí cũng phải có nghề
Viết giải trí cũng phải có nghề!
Người đọc văn
chương giải trí hình như càng ngày càng tinh trong sự tiếp nhận và thưởng thức,
không dễ mà giúp được họ giải trí nếu người viết không có ngón nghề cao tay.
Cách đây ít năm, nhà văn
Nguyễn Huy Thiệp, người đã gây sóng gây gió trên văn đàn Việt Nam thời đổi mới
bằng một loạt truyện ngắn đặc sắc, tuyên bố rằng ông sẽ chuyển sang viết tiểu
thuyết ba xu. Nói sao làm vậy, những Đổi tình lấy điểm, rồi Tiểu
Long Nữ… lần lượt ra đời. Thoạt tiên thì những cuốn sách được cha đẻ của
chúng gọi là ba xu ấy cũng gây được một chút ì xèo trong dư luận, rồi sau đó tắt
ngóm, mà mục đích kiếm tiền, như ông từng nói, bằng sản phẩm sách ba xu của nhà
văn xem ra cũng chẳng đi đến đâu. Phải chăng số phận của sách, tiểu thuyết, văn
chương ba xu là như vậy, là kết cục không cách nào tránh khỏi?
Thiết nghĩ, từ “ba xu” mà
nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sử dụng (tiểu thuyết ba xu) chắc chắn
là không trùng khít về nội dung với từ “ba xu” ở giai đoạn từ này (sách ba xu)
bắt đầu gia nhập kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt, nếu không muốn nói là còn mang
những nét ngược nghĩa. Thời Pháp thuộc, cụm từ “sách ba xu” dùng để chỉ loại
sách in bằng giấy xấu và mực xấu, được bán đúng với giá ba xu, nghĩa là rất rẻ,
vừa với túi tiền của bạn đọc là dân nghèo thành thị. Rẻ, nhưng là rẻ trên
phương diện là một thương phẩm, chứ không rẻ với tính cách của một sản phẩm
tinh thần, một sản phẩm văn chương. Bởi, được in ở loạt sách “ba xu” ấy là những Trê
Cóc, Thạch Sanh, Tống Trân – Cúc Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa, Nhị Độ Mai v.v…
Đó là những tác phẩm truyện thơ Nôm khuyết danh mà người dân Việt Nam nhiều thế
hệ vẫn yêu mến, vẫn thuộc nằm lòng, vẫn ngâm nga khi cao hứng.
Còn nay, khi tuyên bố sẽ
viết tiểu thuyết ba xu, hẳn nhà văn Nguyễn Huy Thiệp không định nói ông sẽ viết
những cuốn tiểu thuyết để người ta in bằng giấy xấu và mực xấu, cho hạ giá
thành ấn phẩm (công nghệ của ngành xuất bản hiện nay, xem ra in xấu còn khó hơn
in đẹp!) Đơn giản chỉ là ông muốn nói sẽ viết loại tiểu thuyết không mang cao vọng
tuyên xưng với bạn đọc những tư tưởng gì to tát hoặc thực hiện những cách tân
nghệ thuật gì khiến cho người đời phải lóa mắt. Loại tiểu thuyết ấy chỉ nhằm phục
vụ đúng một mục đích: giải trí. Nó hướng vào lớp độc giả (rất đông) muốn đọc
sách để giết thời gian, để thư giãn đầu óc, để tạm quên thực tại này; chứ không
phải lớp độc giả (rất ít) đọc sách để bước vào cuộc tra vấn trí tuệ và tâm hồn
– điều mà truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã làm được một cách xuất sắc.
Trong quan niệm văn học
hiện nay, loại văn chương nào được xem là văn chương giải trí? Thì, đó là những
tác phẩm tập trung mạnh mẽ đến việc thực hiện chức năng giải trí. Các chức năng
khác: thẩm mỹ, nhận thức, giáo dục, dự báo… có thể có trong tác phẩm, song
chúng đều bị đẩy xuống hàng thứ yếu (dễ thấy là khái niệm “văn chương giải trí”
có phần giao thoa nhất định với khái niệm “cận văn học” – paraliterature). Có
thể tạm liệt kê một số loại văn chương giải trí như sau: truyện khoa học viễn
tưởng, giả tưởng, truyện trinh thám, truyện ma – kinh dị, tiểu thuyết võ hiệp,
tiểu thuyết diễm tình… Các tác phẩm văn chương loại này thực hiện chức năng giải
trí theo nghĩa: giúp người đọc có dịp vượt thoát ra khỏi khuôn khổ cuộc sống hiện
tại bình thường, phần lớn là tầm thường, của họ. Đọc sách, họ được sống những
cuộc sống khác, nhiều thăng trầm gấp khúc hơn, nhiều mạo hiểm bạo liệt li kỳ
gay cấn hơn, nhiều mộng mơ và nước mắt hơn, thậm chí nhiều rùng mình kinh sợ
hơn.
Giải trí là như vậy: được
sống, được trải nghiệm qua sự vay mượn những cảm giác đa dạng phong phú có thể
có trong đời sống tinh thần của con người. Và đây chính là lý do tồn tại chính
đáng, tồn tại một cách cực kỳ hùng hồn của văn chương giải trí, mặc kệ những
cái bĩu môi coi thường của văn chương “chính thống”: nó phục vụ, nó thỏa mãn một
nhu cầu hết sức cơ bản của con người nói chung. Bởi lẽ, trên thực tế, không chỉ
độc giả bình thường, mà ngay cả lớp độc giả được coi hoặc tự coi là “elite”
cũng rất nhiều người mê mẩn với văn chương giải trí. Một ví dụ: sau giải phóng
miền Nam, hầu hết các “đại gia” của làng văn Hà thành đều đã đến mượn sách tại
thư viện “chưởng” Kim Dung của nhà văn Hà ân – ông này vào Sài Gòn, lúc ra mang
theo toàn tác phẩm Kim Dung – để về “luyện”, có ông “luyện” một bộ đến vài lần.
Ngoài miệng, các ông bảo đó là “hắc thư”, nhưng trong bụng thì ai nấy đều phục
lăn ông nhà văn Hương Cảng!
Tuy nhiên, phải nói ngay
rằng, để có thể đem lại được cho người đọc sự giải trí như vậy là không dễ. Rất
nhiều người viết truyện khoa học viễn tưởng, giả tưởng, song không có nhiều
Jules Verne. Truyện trinh thám còn nhiều người viết hơn, nhưng chỉ có vài cái
tên đọng lại: Conan Doyle, Agatha Christie, George Simenon... Tương
tự là ở truyện ma – kinh dị: Edgar Allan Poe, Stephen King…, tiểu thuyết võ hiệp:
Kim Dung, Cổ Long, Ngọa Long Sinh..., tiểu thuyết diễm tình: Quỳnh Dao,
Liêu Quốc Nhĩ… (trong văn học Việt Nam hiện đại, truyện khoa học viễn tưởng, giả
tưởng và tiểu thuyết kiếm hiệp gần như là một khoảng trống (?). Với truyện
trinh thám, miễn cưỡng nhắc được những cái tên như Phú Đức, Thế Lữ. Truyện ma –
kinh dị có thể nhiều hơn một chút: Thế Lữ, Lan Khai, Tchya Đái Đức Tuấn…, và gần
đây là một tác giả trẻ: Di Li (tập truyện ngắn Tầng thứ nhất, tiểu
thuyết Trại hoa đỏ). Với tiểu thuyết diễm tình, người đọc nhớ đến
bà Tùng Long (hiện tại “y bát” của tác giả này đã được một vài cây bút trẻ tiếp
nhận với ít nhiều biến thể: Trần Thu Trang và tiểu thuyết Phải lấy người
như anh…, Hà Kin và tiểu thuyết Chuyện tình Newyork...)
Những tác giả kể trên, bằng
tài năng của mình, chính là những người đã đưa các thể loại văn chương giải trí
đến mức độ điển phạm. Thậm chí, trước các sáng tác của họ, giới nghiên cứu văn
học cho đến nay vẫn chưa tìm được một sự đồng thuận tuyệt đối trong kết luận cuối
cùng: chúng chỉ là văn chương giải trí hay đã là văn chương đích thực, chỉ là cận
văn học hay đã là văn học? Tóm lại, các thể loại văn chương giải trí có những
yêu cầu, những nguyên tắc thẩm mỹ đặc thù của chúng (phân tích cụ thể về từng
loại chưa phải là vấn đề được đặt ra ở bài viết ngắn này). Để có thể thành
công, người viết ít nhất phải “sạch nước cản” những yêu cầu, những nguyên tắc ấy,
chứ không đơn giản tuyên bố “sẽ viết” rồi lao vào hì hụi viết là xong. Người đọc
văn chương giải trí hình như càng ngày càng tinh trong sự tiếp nhận và thưởng
thức, không dễ mà giúp được họ giải trí nếu người viết không có ngón nghề cao
tay. Tiến thêm chút nữa, thậm chí có thể mạnh dạn khẳng định rằng, văn chương
giải trí cũng cần tài năng, và cần ở mức không ít hơn văn chương “chính thống”!.
1/11/2022
Hoài Nam
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Người đương thời Thơ mới bàn về thơ J.Leiba
Người đương thời Thơ mới
bàn về thơ J.Leiba
Thơ J.Leiba được
các nhà phê bình như Mộc Khuê (Kiều Thanh Quế), Thanh Châu, Hoài Thanh – Hoài
Chân, Vũ Bội Liêu… quan tâm và đánh giá cao.
Trong công trình nghiên cứu
có ý nghĩa tổng quát và tổng kết Ba mươi năm văn học (NXB Tân Việt, H., 1941),
nhà phê bình xuất sắc Nam Bộ là Mộc Khuê (Kiều Thanh Quế) đã điểm danh và có nhận
định chung về thơ J. Leiba trong toàn cảnh nền thơ đương thời:
… “Trong làng thơ cũ, có
kẻ nổi lên phản kháng…
Rồi thơ mới, thơ cũ xung
đột nhau!…
Người ta đem cả hai làm vấn
đề cãi nhau trên diễn đàn (Manh Manh nữ sĩ – Nguyễn Văn Hanh), trên báo chí (Tản
Đà – Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều – Thái Phỉ, Thế Lữ – Nguyễn Vỹ).
Hầu hết các cuộc tranh biện
giữa làng thơ mới và làng thơ cũ, độc giả bao giờ cũng thiện cảm với làng thơ mới
hơn. Chỉ có đối với cuộc tranh biện giữa Tản Đà và Lưu Trọng Lư trên mặt tờ Tiểu
thuyết thứ Bảy (tháng Janvier 1935) là độc giả hơi phân vân, không nhứt quyết
thiên hẳn về bên nào. Vì Lưu Trọng Lư là nhà thơ mới nổi tiếng, mà Tản Đà lại
là nhà thơ cũ hữu danh. Một mới, một cũ cùng tương đương. Đối với ông nào, độc
giả cũng cho là phải…
… Làng thơ mới (mới lẫn
cũ) của văn học quốc ngữ trong vòng mười năm nay đếm được (…).
… Ngoài ra, văn học quốc
ngữ còn đếm được nhiều thi sĩ tuy chưa có tác phẩm ra đời, nhưng tài năng đã
phát huy rõ rệt trên các báo chí:
– J. Leiba Thanh Tùng Tử
(1912-1941) với những vần diễm ảo bắt nguồn trong quá khứ…
– Tchya với những vần cao
siêu đầy tư tưởng;
– Thái Can, Thâm Tâm, Trần
Huyền Trân với những vần cổ kính;
– Phan Khắc Khoan với những
“vần Huy Thông” rất trầm hùng.
– Nguyễn Xuân Huy với những
vần dìu dịu như “một buổi chiều Xuân Diệu”.
Nên kể thêm vào: Đinh
Hùng – Hoài Điệp, Huyền Kiêu, Nguyễn Đức Chính, Phạm Hầu, Hồ Dzếnh, Thái Kim
Điên.
Riêng ở Nam Kỳ, ngoài một
ít thi sĩ có tác phẩm đã xuất bản (Đông Hồ, Thiên Thu, Khổng Dương), còn lắm
thi sĩ trẻ tuổi hữu tài hãy còn đắm chìm trong bóng tối.
– Phi Yến (đã quá cố) với
những vần huyền diệu…
– Sương Lam Tử với những
“vần Chế Lan Viên” rất huyền bí.
– Việt Châu với những “vần
Thái Can” đầy trang nghiêm!
– Cô Mộng Tuyết với những
vần dí dỏm…
– Bùi Ái Quốc với những vần
thanh thoát…
– Nguyễn Viết Khải với những
vần ma quái”…
Trong bài tự luận Hoa
với đời sống tinh thần của chúng ta in trên Trung Bắc tân văn (số 103,
ra ngày 4.4.1942), nhà văn Thanh Châu (tác giả truyện ngắn Hoa ti gôn in
trên Tiểu thuyết thứ Bảy, tháng 9.1937) đã phát biểu cảm nhận về hoa, về vẻ đẹp
hoa cúc trong thơ J. Leiba:
… “Thi sĩ Leiba trước khi
từ biệt cõi đời có bài thơ Lưu biệt, trong đó thi sĩ nói đến một
loài hoa mình thích:
Ta vẫn yêu hoa, mé trước
song,
Giàn đưa hương sớm, dệt
muôn hồng.
Trăm hoa, lòng vốn yêu
riêng cúc,
Hương đạm, thần cao, khí
tiết trong.
Người đời danh lợi mải
đua chen,
Luống tủi hoa thơm bạn cỏ
hèn.
Yêu cúc, giận đời tri kỷ
ít,
Cùng hoa lên ở chốn non
tiên…
Cái thích của nhà thơ yểu
mệnh ấy dành riêng cho hoa cúc, cũng không có gì là lạ. Cúc vốn là loài hoa yêu
dấu của những nhà ẩn dật, lánh đời, những kẻ đã từ quan cáo lão trở về vườn ruộng.
Xưa nay, muốn chỉ những người đã cất bỏ được cái gánh nặng công danh, để nghĩ đến
cái đời sống tinh thần trong sạch của mình riêng, người ta chỉ cần gợi hai tiếng
“tùng cúc” trong một câu thơ là đủ. Khi nhà thơ Lưu Trọng Lư tới thăm ông tổng
đốc Nguyễn Bá Trác, một hưu quan ở quê nhà, thi sĩ cũng đã có tặng câu:
Ở đây, hoa đã nở mùi thuyền.
Ý muốn nói rằng cái mùi
hoa ở trước sân cụ Nguyễn đã nhuốm mùi đạo như cái bông hoa ở chỗ tu hành rồi.
Cái mùi hoa đó, cũng lại là mùi hoa cúc. Bởi vì thi sĩ đã kết bài thơ ấy bằng
hai câu:
Một thiên hạn mạn đây là
hết,
Cúc gọi thu về dưới cố
viên.
… Người đời càng văn minh
thì giá trị của hoa lại càng tăng. Người ta nói thế mà không ngờ rằng từ nghìn
xưa các thi sĩ đã ngâm hoa vịnh nguyệt…
… Ở nước ta tuy việc chơi
hoa không được coi trọng lắm nhưng càng ngày lại càng có những bà nội tướng,
khi đi chợ, trừ cá thịt là những thức cần phải ăn để mà sống, một đôi lần cũng
đã nghĩ đến mua một bó hoa về. Và bởi khi mang về, các đức ông chồng cũng không
lấy sự đó làm chê lắm, mà lại còn tỏ vẻ khoan khoái là khác nữa, nên sự mua hoa
dần thấy là cần. Hoa thành một thức không mua không được. Nó làm tươi tỉnh những
bộ mặt nhăn nhó của những người làm ăn vất vả ở ngoài khi trở về nhà. Nó đem lạ
hòa khí cho gia đình khi có những mây đen che phủ. Một đôi khi, nó còn đem lại
cả ái tình, khi người ta đã đi xa cái tuổi mà ái tình là việc chính ở đời. Nhiều
người đàn bà đã gây lại được một cái hạnh phúc gần tan vỡ, chỉ nhờ có mấy xu
hoa. Cũng như có những chàng trai trẻ đã chiếm được tình yêu ở người mình mơ ước,
bằng một nụ hồng gửi tặng”…
Trong lời giới thiệu Một
thời đại trong thi ca ở sách Thi nhân Việt Nam (Nguyễn Đức
Phiên xuất bản, Huế, 1942), các nhà phê bình Hoài Thanh – Hoài Chân đã ba lần
nhắc đến tên và ghi nhận vị thế J. Leiba trong tương quan những thi nhân cùng
thời:
… “Hồn thơ Đường vắng đã
lâu, nay lại trở về trong thơ Việt. Lần đầu tiên (1934) nó đi theo J. Leiba.
Leiba giao lại cho Thái Can. Thái Can giàu, Leiba sang. Ở Thái Can cũng như ở
Leiba hồn thơ Đường có cái cốt cách đời thịnh. Với Đỗ Huy Nhiệm, Vân Đài, Lưu Kỳ
Linh, Phan Khắc Khoan (trong tập Xa xa), Thâm Tâm, hoặc nó kín đáo
tinh vi hơn nhưng nó rắn rỏi chắc chắn hơn, nhưng cũng nghèo hơn…
… Cảm được lòng người đàn
bà khó chiều kia, họa chỉ có Quách Tấn. Mối lương duyên gây nên từ Một tấm lòng
đến Mùa cổ điển thì thực là đằm thắm, Mùa cổ điển gồm cả cái giàu sang của Thái
Can, Leiba, súc tích lại trong một khuôn khổ rắn chắc. Nhưng Quách Tấn có thực
là một nhà thơ cũ hoàn toàn? Có thực Quách Tấn không bao giờ mơ tưởng bạn
phương xa?”…
Trong phần giới thiệu
chân dung J. Leiba, Hoài Thanh – Hoài Chân tuyển chọn bốn bài thơ (Năm qua,
Mai rụng, Hoa bạc mệnh, Bến giác, tương đương với số bài của Đông Hồ,
Tế Hanh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Vũ Hoàng Chương) và đi sâu phân tích đặc điểm cội
nguồn chất thơ:
“Thơ đăng báo Loa với một
tên ký chẳng Việt Nam tí nào, thế mà vừa ra đời Leiba liền được người ta thích.
Người ta thích những vần
thơ có giọng Đường rõ rệt, mà lại nói được nỗi lòng riêng của người thời nay.
Trong khuôn khổ xưa, cái hương vị mới ấy rất dễ say người. Thơ Leiba ra đời
(1934) giữa lúc ai nấy đều thấy mình như trẻ lại. Các nhà thơ đương thời, Thế Lữ,
Đông Hồ, Thái Can, kẻ trước người sau, đều tả bằng những nét âu yếm nỗi lòng của
người thiếu nữ lúc mới bén tình yêu. Nhưng không ai nói được đầy đủ như tác giả
bài “Năm qua” (Có trích theo đây) những giai đoạn của một cuộc yêu đương nhóm
lên từ hồi tóc còn bỏ xõa. Ít ai nói được như Leiba những vui buồn của người
xuân nữ. Những câu như:
Hoa tặng vừa tàn bông thược
dược,
Tìm chàng bỗng vắng, bóng
chàng xa…
hay là:
Sầu đối gương loan, bóng
lạ người,
Chàng không lại nữa, đẹp
cùng ai?
có thể để ngang với những
câu tuyệt hay trong thơ cổ.
Hồi ấy là hồi đẹp nhất
trong đời thơ Leiba. Về sau thơ Leiba không được hồn nhiên như thế nữa. Không
rõ những gì đã đến trong đời thi nhân, nhưng lời thơ như vướng tí cặn của những
đêm phóng túng. Hình như Leiba đã đau khổ nhiều lắm. Người tức tối lúc nghĩ đến
nấm cỏ đương chờ mình:
Ví biết phù sinh đời có
thế,
Thông minh, tài bộ, thế
gia chi!
Học thành, danh đạt,
chung quy hão:
Mắt nhắm, tay buông, giữ
được gì?
Thà chọn sinh vào nhà ẩu
phụ,
Cục cằn, mất dạy, lại ngu
si.
Leiba là một người bao giờ
cũng có dáng điệu quý phái, ưa cái không khí quý phái, tin ở tài năng, ở dòng
dõi mình, và rất tự trọng, cả trong những lúc buông tuồng. Một người như thế mà
nói những lời như thế hẳn phải chán nản lắm.
Chán nản đưa người về tôn
giáo. Thơ Leiba hồi sau có bài đượm mùi phật. Mặc dầu chưa đúng hẳn với tinh thần
đạo Phật. Bài “Bến giác” (Trích theo đây) chẳng hạn còn có một giọng lạnh
lùng, chua chát chưa phải là giọng của kẻ đã dứt hết trần duyên. Cho đến cái
bình tĩnh của nàng Kiều khi ở trong am Giác Duyên lần thứ hai, Leiba cũng chưa
có (Xin nhắc lại lời Kiều nói với Vương ông khi tái hợp: Mùi thiền, đã
bén muối dưa,/ Màu thiền, ăn mặc đã ưa nâu sồng./ Sự đời, đã tắt lửa lòng,/ Còn
chen vào chốn bụi hồng làm chi!). Tuy thế người gần đạo Phật hơn các nhà
thơ bây giờ.
Thơ Leiba đã thay đổi
theo một hai điều thay đổi trong tâm trí thanh niên khoảng bảy tám năm nay. Xem
thơ ta có thể thấy khi tỏ khi mờ hình ảnh của thời đại”…
Trong bài Mùa
xuân, một nguồn cảm hứng dồi dào của thi nhân in trên Tạp chí Thanh nghị (số
29-31, Xuân, tháng 1.1943), Vũ Bội Liêu bình luận chủ điểm thơ xuân của nhiều
thi nhân, trong đó có thơ J. Leiba:
“Mùa xuân tới, cái gì
cũng tươi sáng, dịu dàng, êm ái, cả hình sắc lẫn hương thơm cùng ý tưởng, mà đời
người “ngọt ngào như có vị đường”:
Cỏ xuân mượt như hoa,
Tóc liễu mướt như tơ.
Dâu xanh, xanh khắp nội,
Đường dệt vạn màu hoa”…
Vào chặng cuối phong trào
Thơ mới, nhà phê bình Kiều Thanh Quế trong bài Nhân đọc Thi nhân Việt
Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân in trên Tạp chí Tri tân (số 134, tháng
3.1944) có ý nghĩa “tổng kết sự tổng kết”, “đánh giá sự đánh giá”, “phê bình sự
phê bình” đã nhắc nhớ đến thơ J. Leiba:
“Quyển sách dày dặn cố
ghi lại một thời đại thi ca Việt Nam chẵn mười năm 1932-1942…
… Thơ ca Việt Nam trong
mười mấy năm gần đây đi từ cổ điển (với Tản Đà, Trần Tuấn Khải), trải qua lãng
mạn (với Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận), sang tưởng tượng (Hàn Mặc Tử, Chế Lan
Viên) rồi bây giờ đến tả chân (với Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ)…
… Trong các cuộc biến
thiên lớn của thơ ca Việt Nam ấy, ta vẫn đếm được mấy phong trào nhỏ: lối thơ
hài hước của Tú Mỡ mà tác giả Thi nhân Việt Nam vô tình hay hữu
ý đã quên đứt, nhưng được ông Lê Thanh nói đến trong một tập phê bình Tú Mỡ; và
lối thơ say của Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tố, Vũ Hoàng Chương…
… Cái say của tác giả Tiếng
thu là cái say của kẻ “giang hồ rượu ngấm”. Đến cái say của Nguyễn Tố
quả là cái say của Tản Đà còn di truyền lại, cái say của kẻ ăn chơi.
Còn cái say của Vũ Hoàng
Chương thật là mới: “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của
Đông Á: cái nghiệp say”. Người say đủ thứ: say rượu, say đàn, say ca, say tình
đong đưa…
… Buồn, người ta chán đời,
rồi người ta đâm ăn chơi, uống rượu cho say để quên…
… Có kẻ chán nản quá, muốn
gởi thân vào cửa thiền:
Người đẹp vẫn thường hay
chết yểu,
Thi nhân đầu bạc sớm hơn
ai.
Ba xuân, muôn thắm thêu
cành biếc,
Bạc mệnh hoa kia đã rụng
rồi!…
… Hồn kết gió hương trời
Nhược Thủy,
Cánh viền mây thắm động
Thiên Thai.
Hóa thành những giọt mưa
thơm ấy,
Tưới nở trăm hoa đã héo rồi!
(J. Leiba – Hoa bạc mệnh)
Phù thế đã nhiều duyên
nghiệp quá!
Lệ lòng mong cạn chốn am
Không.
Cửa thiền một đóng duyên
trần đứt,
Quên hết người quen chốn
bụi hồng.
(J. Leiba – Bến giác)
… Trên kia, xét cuộc biến
thiên của thơ ca Việt Nam hiện đại, ta đã nói đến giai đoạn tả chân của thơ Việt.
Rồi từ tả chân, thơ Việt Nam đã bước qua cầu siêu tả chân (surréalisme) mà sang
lối thơ tập thể (cubisme)”…
Đương thời Thơ mới
1932-1945, các nhà phê bình ghi nhận thơ J. Leiba như một nỗi niềm in đậm cảm
quan Phật giáo, một tiếng chim kêu thảng thốt giữa cõi đời. Thi sĩ Leiba chưa
có tập thơ riêng, chỉ mới có thơ lẻ in báo, vậy mà người phê bình vẫn trân trọng,
ghi nhớ thơ ông. Mới hay người phê bình một thời thật có tâm, biết cảm nhận,
phát hiện, khẳng định những trang thơ của một người thật bình thường chỉ với một
tiêu chí duy nhất: thơ hay!.
1/11/2022
Nguyễn Hữu Sơn
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Bến mơ trong thơ Yến Lan
Bến mơ trong thơ Yến Lan
Nhà thơ Yến Lan (1916 –
1998) có không hiếm những vần thơ hay, nhưng dường như nhà thơ mang bút danh yểu
điệu rất con gái này chỉ được biết đến nhiều qua bài thơ Bến My Lăng xuất
hiện từ phong trào thơ mới. Nhà thơ Yến Lan là thành viên của Bàn thành
tứ hữu (Bốn người bạn thơ ở thành Đồ Bàn), gồm những nhà thơ xuất sắc
một thời tại Bình Định.
Thơ Yến Lan mang hương sắc
lạ: ngôn ngữ giàu hình tượng, giai điệu mang mang nhưng tứ thơ phong kín một nỗi
niềm khiến người đọc lắm khi chỉ cảm thụ bằng trực giác. Yến Lan là một thi sĩ
đã làm thơ và tham gia công tác kháng chiến trong hai thời kỳ chống Pháp và chống
Mỹ. Nhà thơ Yến Lan để lại 2 vở kịch thơ (Bóng giai nhân và Gái
Trữ La), 8 tập thơ trong đó Thơ tứ tuyệt là tuyển tập thơ sau cùng (1996)
được nhiều người đánh giá cao.
Trong lĩnh vực văn học
nghệ thuật, thi ca thuộc phạm trù phi vật thể, nằm trong sinh hoạt kiến trúc
thượng tầng. Người làm thơ hay nếu không có năng khiếu được trời cho thì trước
hết phải đam mê thi ca, có một tâm hồn dễ xúc cảm và kinh qua ít nhiều kiến thức
văn học cơ bản cùng một vốn sống trải nghiệm thực tế ở cuộc đời. Trong lúc nhà
thơ Hàn Mặc Tử coi người làm thơ là người điên, Chế Lan Viên cho rằng nhà thơ
là người không bình thường, ta có thể xem Yến Lan là chàng thi sĩ của những vần
thơ bay bổng mơ mộng đứng riêng một cõi trên thi đàn.
Nhà thơ Yến Lan tên thật
là Lâm Thanh Lang, người Bình Định, vùng đất giàu cổ tích được xem là địa linh
thi kiệt với những nhà thơ nổi tiếng của nền văn học hiện đại: Quách Tấn
(1910-1992), Hàn Mặc Tử (1912-1940), Chế Lan Viên (1920-1989), Xuân Diệu
(1916-1985)… Thuở nhỏ học tiếng Hán với ông nội vốn là người Minh Hương, Lâm
Thanh Lang sớm mồ côi mẹ từ lúc 6 tuổi. Lớn lên, ông cưới bà Nguyễn Thị Lan, sống
bằng nghề dạy học tư và làm thơ.
Trong hoàn cảnh khiêm tốn
về vật chất, bà Lan đã tỏ ra là người vợ hiền rất hiểu và thương chồng. Chính
người bạn đời của nhà thơ đã giúp tác giả ghi chép tất cả sáng tác của chồng
khi nhà thơ gặp cảnh ốm đau không thể cầm bút, khiến nhà thơ rất mực yêu thương
vợ. Ngay cả bút danh Yến Lan của nhà thơ cũng được hình thành từ một giai thoại
thể hiện tình cảm đặc biệt của hai người bạn gái nhà thơ. Cô Yến và cô Lan chơi
thân với nhau, hứa với nhau về sau sẽ cùng lấy một chồng. Thi sĩ nghe hay
hay nên lấy tên hai cô ghép lại làm bút danh cho mình như để lưu giữ một tình bạn
đẹp đậm tính nhân văn giữa ba người. Không chỉ chan hòa tình cảm với vợ và bè bạn,
sâu đậm nồng nàn hơn là tình yêu quê hương tha thiết mà Yến Lan đã bày tỏ trong
nhiều bài thơ đau đáu viết về Bình Định nhau rốn yêu thương: Bình Định
1935, Bình Định 1945, Bình Định 1947, Bình Định 1975…
Nhắc đến Yến Lan, ta
không thể không nói đến trước hết bài thơ “Bến My Lăng” được
coi là tác phẩm nổi tiếng đã làm nên tên tuổi nhà thơ trên văn đàn.
Thi ca thế giới xưa nay
thường hay nói đến bến, từ ngữ chỉ địa điểm không gian mang ý nghĩa của một nơi
đỗ tạm thời, một khoảnh khắc dừng chân trong giây phút để rồi chuẩn bị lên đường,
chia xa đôi đàng người đi kẻ ở. Bến Tầm Dương (Bạch Cư Dị), Bến tình (Ngũ
Lang), Bến Ninh Kiều, Bến cũ người xưa… Chỉ một từ đơn âm thôi mà đọc lên nghe
sao man mác bao nỗi ngậm ngùi! Bến My Lăng của nhà thơ Yến Lan
được coi là bến đò Trường Thi hiện thực trên sông Cửa Tiền tại Bình Định, quê
hương tác giả được nhà thơ thi vị hóa thành Bến My Lăng, đọc lên
nghe mơ màng huyền ảo một vẻ siêu thực!
Dường như khá đông công
chúng không ai xa lạ với bài thơ tên Bến My Lăng và tác giả là
nhà thơ Yến Lan cũng được trân trọng là một nhà thơ có vị trí trên văn đàn.
Nhưng cảm nhận hoặc đánh giá bài thơ ấy thì ít ai mạnh dạn. Bến Ly Lăng được
sáng tác theo thể loại thơ mới 8 chữ (alexandrin) ảnh hưởng phong cách phương
Tây như bài Nhớ rừng của Thế Lữ hay Cảm xúc của
Xuân Diệu. Bài thơ Bến My Lăng của Yến Lan gồm 5 khổ rưỡi, mỗi
khổ 4 câu, tất cả là 22 câu. Nhà thơ chủ yếu gieo vần gián cách âm hưởng cao thấp.
Chỉ 3 câu liên tiếp cuối bài là theo liên vận (vần liền): Lăng-trăng-trăng dễ
gây cảm giác lâng lâng mơ hồ cho người đọc.
Hình tượng nhân vật chủ đạo
trong bài thơ là ông lão chèo đò trên một bến sông tĩnh lặng với phong thái
phiêu diêu ngạo nghễ, không giống với bao người lái đò khác ngày ngày đưa khách
sang sông vì chuyện áo cơm. Trong không gian thơ mộng lung linh ánh trăng vàng,
ông lão hiển thị bên sách vở và bầu rượu cạn như một triết nhân đang trầm tư: “Bến
My Lăng nằm không thuyền đợi khách/ Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu/
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách/ Ông lái buồn để gió lén mơn râu”. Cảnh
đêm trăng đẹp hôm nay khiến lão cảm thấy buồn, lòng mang mang hồi tưởng lại
hình bóng một chàng trai trẻ trên yên ngựa đến bến sông một đêm trăng nào trong
ký vãng xa xôi: “Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã/ Nhúng đầy trăng màu
áo ngọc lưu ly”. Trong cảnh đất nước tang thương, dân tình khổ sở, phải
chăng ông lão đang tự vấn mình rồi mơ về hình bóng những chàng trai dũng cảm, với
tinh thần bất khuất, đám xông ra sa trường, diệt thù cứu nước: “Ừ sao không
nhớ người trai trẻ/ Trò chuyện cùng tôi dưới ánh trăng”.
Có phải những Kinh Kha của
nước Yên ngày trước hăm hở vượt dòng sông Dịch với lời minh thệ “nhất khứ bất
phục phản” để tiêu diệt Thủy hoàng bạo chúa. Hay những Lạn Tương Như son sắt một
lòng vì tổ quốc, mang bảo ngọc dũng cảm ra đi vì nghiệp lớn cũng như bao thanh
niên yêu nước đã ra đi làm bổn phận người trai trong mấy mùa chinh chiến. Ông
lão chờ đợi cho mãi đến một đêm kia có chàng kỵ mã gội ánh trăng vàng, ruổi ngựa
đến bến My Lăng giục giã gọi đò đến run rẩy cả trăng sao: “Chàng gọi
đò, gọi đò như hối hả/ Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi”. Nhưng ông
lái đò gối đầu lên sách im lặng, như còn đang mãi say trăng, khiến chàng trai
giục giã: “Mà ông lão say trăng, đầu gối sách/ Sợ trăng vàng rơi khuất lối
chưa đi/ Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/ Gọi đò thôi, run rẩy cả vầng
trăng”. Nhưng không gian vẫn im lặng, lạnh lùng, chẳng vang lên tiếng
phản hồi của ông lão chèo đò cho chàng kỵ mã. Bài thơ đan kết bằng ngôn từ chắt
lọc trữ tình, long lanh sắc màu huyền thoại và ngồn ngộn hình tượng cổ tích, nhịp
nhàng cộng hưởng cùng thi tứ mang mang như phong kín một nỗi niềm của ông lão
chèo đò trong hoàn cảnh quốc phá gia vong.
Yến Lan có những bài thơ
hay: Lại về tỉnh nhỏ (1956), Mùa xuân lên cao, Uống rượu
với bạn đồng hương làm ra từ sau năm 1945, được nhà thơ Chế Lan Viên
và GS. Nguyễn Văn Long khen ngợi. Riêng Một mối thất tình có
bước chuyển hướng mới trước va chạm giữa con người và cuộc sống. Bài thơ Nghe
con đường chảy thì có hơi hướng giai điệu như Bến My Lăng,
với nhạc thơ khá dịu ngọt, tứ thơ mơ mộng, phiêu diêu khiến cho Yến Lan có một
thế đứng vững riêng một cõi và được nhiều người biết thêm tác giả trên thi đàn.
Dù cả một đời làm thơ chắt
chiu lam lũ mà dường như Yến Lan chỉ được công chúng mơ hồ nhớ lại qua một tựa
bài trong sự nghiệp cầm bút: Bến My Lăng. Bằng hữu văn chương và
các nhà phê bình văn học cũng ít phát biểu về Yến Lan. Nhà phê bình văn học
Hoài Thanh khách quan có ý kiến: “Xem thơ yến Lan, tôi mơ màng như đi trong mây
mù”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Tấn Long tỏ ra thông cảm và triết lý: “Đọc Yến Lan,
giới yêu thơ bị lôi cuốn về thế giới suy tư, một cõi im lặng, một sự trầm mặc
nhẹ nhàng nhưng bao hàm ý nghĩa của sự sống và cuộc đời”. Nhưng chính tựa đề
bài thơ về một bến sông lạ này đã khiến nhiều người cảm thấy thích thú, trong
đó có một nữ nhà văn ở đất Cầm Thi và một nữ ký giả tại hòn ngọc Viễn Đông đã tỏ
ra tâm đắc, cùng lấy tên My Lăng làm bút danh cho mình.
Mỗi lần tôi có dịp đọc lại
bài thơ Bến My Lăng, trong lòng không tránh khỏi bâng khuâng, mường
tượng về một bối cảnh u huyền đậm màu cổ tích: bài thơ chập chờn hình ảnh những
nhân vật mang phong thái phiêu diêu, hào sảng như ông lái đò và hình bóng mơ hồ
của chàng kỵ mã hiện ra trong tâm khảm: Bến nơi mô, em gọi My Lăng/ Cho
người đau đáu mộng thuyền trăng/ Chờ ai bến đợi sông mơ đó/ Mà bóng người đi
mãi biệt tăm.
2/11/2022
Nguyễn Thanh
Theo
https://vanhocsaigon.com/
"Lửa từ bi" trên hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương
"Lửa từ bi" trên hành
trình thơ
của Vũ Hoàng Chương
Vũ Hoàng Chương xuất hiện
trên thi đàn sau khi những tên tuổi lớn của Phong trào Thơ mới như Thế Lữ, Lưu
Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu… đã đi qua thời đỉnh cao. Ông xuất hiện với một giọng
thơ lạ: vừa cổ kính xưa cũ vừa hiện đại đến táo bạo; vừa thanh cao phiêu dật vừa
nhục thể đến trần trụi rã rời…
Ông tự nhận và cũng được
không ít người xưng tụng là “Ông hoàng thơ ca”, bậc “Thi vương” (Hoàng Chương),
“Thi bá”… Trước 1945 ông có Thơ say (1940), Mây (1943).
Trong kháng chiến ông có Thơ lửa (1948), Rừng phong (1954).
Sau 1954 ông có Hoa đăng (1959), Trời một phương (1962), Lửa
từ bi (1963), Ánh trăng đạo lý (1966), Bút nở
hoa đàm (1967), Cành mai trắng mộng (1968), Ngồi
quán (1971), Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973)…
Dõi theo hành trình thơ của
Vũ Hoàng Chương ta thấy có nhiều thay đổi, trong đó có khúc quanh quan trọng là
việc cho ra đời tập thơ Lửa từ bi – một tập thơ được viết ra từ
ánh sáng ngọn lửa tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức trong cuộc đấu tranh
vì tự do, hòa bình, vì Phật pháp và vì dân tộc.
1. VŨ HOÀNG CHƯƠNG TỪ
"THƠ SAY" ĐẾN "LỬA TỪ BI"
Từ Say (Thơ say) đến Mộng
(Mây)
Vũ Hoàng Chương xuất hiện
với những vần thơ say – có cái say từ thiên cổ theo kiểu “túy hậu cuồng ngâm”,
say để phát lộ tính tình, nhưng cũng có cái say của thời hiện đại, ở những đô
thị mới mẻ, náo nhiệt mà cũng không thiếu trụy lạc của thời thực dân. Bài
thơ Say đi em mở đầu tập Thơ say là bài thơ
mang nhịp điệu mới mẻ ấy. Người thơ say nhạc, say khiêu vũ, say rượu và say với
giai nhân:
Khúc
nhạc hồng êm ái
Điệu
kèn biếc quay cuồng.
Một
trời phấn hương
Đôi
người gió sương
(…) Âm ba gờn gợn nhỏ,
Ánh
sáng phai phai dần…
Bốn
tường gương điên đảo bóng giai nhân,
Lui
đôi vai, tiến đôi chân:
Riết
đôi tay, ngả đôi thân,
Sàn
gỗ trơn chập chờn như biển gió,
Không
biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,
Hãy
thêm say, còn đó rượu chờ ta!
Say để quên đi mối Sầu –
một mối Sầu nào đó người thơ không nói rõ, nhưng cơ hồ lớn lắm, như bức thành sừng
sững mà cái say rã rời cũng không làm cho nó sụp đổ được:
Say
đi em! Say đi em!
Say
cho lơi lả ánh đèn,
Cho
cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt
Rượu,
rượu nữa và quên, quên hết!
(…) Chân rã rời
Quay
cuồng chi được nữa,
Gối
mỏi gân rơi!
Trong
men cháy giác quan vừa bén lửa.
Say
không còn biết cho đời,
Nhưng
em ơi,
Đất
trời nghiêng ngửa
Mà
trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ
Đất
trời nghiêng ngửa,
Thành
Sầu không sụp đổ, em ơi! (1)
Bài Say đi em mở
đầu tập thơ mà như bài tựa, nó gồm thâu hết cái say trong cả tập thơ. Ẩn chứa
sau cái say ấy là mối sầu vạn cổ như trong thơ xưa, mà cũng pha chút đắng cay
thân phận của một người dân thuộc địa.
Người thơ sẽ nói rõ hơn,
thảm hại hơn về cái thân phận ấy ở nhiều bài thơ sau, mà ấn tượng nhất là
bài Phương xa:
Lũ
chúng ta lạc loài năm bảy đứa,
Bị
quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh,
Bể
vô tận xá gì phương hướng nữa,
Thuyền
ơi thuyền! theo gió hãy lênh đênh.
Lũ
chúng ta đầu thai lầm thế kỷ.
Một
đôi người u uất nỗi bơ vơ,
Đời
kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền
ơi thuyền! xin ghé bến hoang sơ.
Thế nhưng nhổ thuyền đi
đâu, trốn ở bến bờ nào được? Người trốn vào ái tình bẽ bàng với những cô gái
môi nâu vì thuốc phiện:
Hãy
buông lại gần đây làn tóc biếc,
Sát
gần đây, gần nữa cặp môi nâu
(…)
Hãy buông lại gần đây làn tóc rối
Sát
gần đây, gần nữa cặp môi điên,
Rồi
em sẽ dìu anh trên cánh khói,
Đưa
hồn say về tận cuối trời Quên.
Quên (Thơ Say)
Trong những cơn say rượu
và thuốc phiện, người thơ mơ trốn lên Thiên Thai, Đào Nguyên… nhưng động xưa đã
khép, “Đào Nguyên lạc lối” không tìm được nữa! Người tìm vào những mối tình học
trò với những U tình, Cánh buồm trắng, Vườn tâm sự, Em là công chúa…
Nhưng tình học trò dù có thiết tha đến mấy dường như cũng quá nhạt với người!
Người tìm vào những giấc mộng tình yêu với hồ ly, gái liêu trai… với phức cảm vừa
rùng rợn lại vừa đắm say:
Gạn
giấc chiêm bao với mảnh hình
Tóc
xòa buông rủ mái tròn xinh.
Hoa
mai thêu trắng nền xiêm lụa,
Đôi
mắt ngời sao miệng đẫm tình.
Lòng
cháy yêu đương tự bấy giờ,
Sá
chi người thực với trong mơ!
…
Đêm đêm ảo ảnh thơm chăn gối,
Tình
hướng về Đông, dạ lắng chờ.
Tình Liêu Trai
(Mây)
Thế nhưng Tình
Liêu Trai cũng chỉ Mộng. Đôi khi người sực tỉnh, một niềm xót xa thân
phận và một niềm khao khát hành động lại ùa về:
Ôi!
Lòng ta sao buồn không nguôi?
Niềm
u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi.
Há
vì cơm áo chẳng no lành?
Há
vì đời không ai mắt xanh?
Nhớ
thuở xưa chưa có ta hề đường đi thênh thênh
Kịp
tới khi có ta hề chông gai mông mênh.
Cuồng
vọng cả mà thôi, bốn phương hề vướng mắc.
Ba
mươi năm trên vai hề trống không bình sinh…
Túy hậu cuồng ngâm
Bài thơ Túy hậu
cuồng ngâm cuối tập thơ Mây có một giọng khác lạ so với
những bài thơ trước, nhưng theo tôi nó vẫn là một phần máu thịt trong hồn thơ
Vũ Hoàng Chương. Bài thơ như một sự tỉnh mộng, nhưng từ một góc nhìn khác lại
cũng là chìm vào giấc mộng: giấc mộng hành động, giấc mộng anh hùng!
Từ Mộng đến với Hành động
và Sân hận
Từ Vũ Hoàng Chương của Túy
hậu cuồng ngâm đến Vũ Hoàng Chương của Thơ lửa do Hội
Văn hóa Liên khu 3 ấn hành 1948 thì gần lắm rồi, chỉ một bước chân qua bên kia
là “Vùng tự do” (vùng kháng chiến) là tới. Như chính Vũ Hoàng Chương bộc bạch:
“Tự biết mình là một người dân vong quốc, tôi rất kính trọng Kháng chiến và cảm
phục Cách mạng. Sự cảm phục và kính trọng này đã khiến cho tôi giác ngộ được phần
nào, và tự hứa sẽ tích cực tham dự công cuộc chung của nhân dân do Hồ Chủ tịch
lãnh đạo”(2).
Trong kháng chiến, Vũ
Hoàng Chương chuyển hướng thành một nhà thơ ái quốc nhiệt thành và say mê hành
động, như chính trong văn bản trên, ông đã kể về những hoạt động của mình:
“ - đã viết được vở kịch
thơ Hồn Cách mạng, diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội (1946)
– đã được giải thưởng
thứ 3 về thơ Toàn quốc kháng chiến, do đích thân Hồ Chủ tịch làm chủ khảo
(1947)
– đã được hội Văn hóa
Liên khu 3 ấn hành cho tập thơ kháng chiến nhan đề Thơ lửa (1948)
– đã viết đều ở báo Công
Dân tại tỉnh Nam Định (1947, 48)…
– đã được bầu làm trưởng
nhánh Văn chương Báo chí của hội Văn nghệ chi nhánh Liên khu 3 (1948)…”(3).
Vì thế chúng ta không hề
ngạc nhiên khi đọc bài thơ Nhớ về Hà Nội vàng son của ông viết
năm 1947 – bài thơ có một giọng điệu trong sáng, hào hứng hiếm có. Theo tôi,
đây là một trong những bài thơ hay nhất viết về Cách mạng tháng Tám:
Ôi ngày mười chín, ngày
oanh liệt!
Sóng đỏ hoa vàng khắp bốn
phương
Hà Nội tiếng reo hò bất
tuyệt
Vang sang bờ nọ Thái Bình
Dương.
Ba mươi sáu phố, ngày hôm
ấy
Là những nhành sông đỏ
sóng cờ
Chói lọi sao vàng, hoa vĩ
đại
Năm cánh hoa xoè trên năm
cửa ô (…)
Chen tiếng hoan hô, này
khẩu hiệu
Muôn năm Chủ tịch Hồ Chí
Minh!
Muôn năm người lính già
tiêu biểu
Vì giang sơn quyết bỏ gia
đình.
Ôi ngày mười chín, ngày
sung sướng!
Vạn ước mong dồn một ước
mong!
Ôi mùa thi ấy, mùa tin tưởng!
Một tấm lòng mang vạn tấm
lòng (…)
Thế nhưng rồi Vũ Hoàng
Chương lại đi đến một khúc quanh khác: năm 1950, ông bỏ về Hà Nội, rồi từ Hà Nội
ông di cư vào Nam năm 1954. Thơ Vũ Hoàng Chương từ sau 1954 là nỗi hoài niệm về
Hà Nội, về quê hương miền Bắc. Được chiều chuộng trong không gian văn nghệ bên
kia bờ Hiền Lương, ông trượt đi trong nghịch cảnh. Với những tập Hoa
đăng (1959), Trời một phương (1962)… thơ ông mang nặng
nỗi niềm u uất và cả sân hận… Đọc những bài thơ như Bài ca Bình Bắc, Nhớ
Thăng Long, Từ đây, Nhớ Bắc… người ta thấy rất nhiều ảo tưởng, rất nhiều
hoang tưởng và nhất là rất nhiều sân hận. Nhưng mà thôi, với thi sĩ thì nói đến
sân hận làm gì! Nguyễn Du chẳng đã từng nhắc chúng ta: “Thân tàn gạn đục khơi
trong/ Là nhờ quân tử khác lòng người ta”?…
2. ĐẾN VỚI TỈNH THỨC,
TÌNH YÊU TRONG "LỬA TỪ BI"
Chế độ Ngô Đình Diệm đã
không đem lại tự do, hòa bình, thống nhất như có thời Vũ Hoàng Chương từng ảo
tưởng. Chế độ ấy thi hành chính sách kỳ thị tôn giáo, cấm đoán Phật giáo – một
tôn giáo thân thiết gắn bó với dân tộc hơn nghìn năm nay. Chế độ ấy mở cửa đất
nước cho quân đội ngoại bang vào dày xéo quê hương. Hòa bình, thống nhất trở
nên xa vời, thảm họa của cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử dân tộc
đang đến rất gần… Ngày 11 tháng 6 năm 1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự
thiêu. Hòa thượng bình thản ngồi trong khối lửa, nhưng cả thế giới thì rúng động
trước sức nóng của khối lửa ấy.
Trong bối cảnh ấy, Vũ
Hoàng Chương đã nhận ra bộ mặt thật của chế độ và nghịch cảnh của dân tộc, nhà
thơ đã đi đến một khúc quanh mới: ông từ bỏ những vọng tưởng và sân hận mà thức
tỉnh đi đến với Tình yêu – tình yêu Tự do, Hòa bình, tình Anh em và tình Nhân
loại. Bài thơ Lửa từ bi và cả tập thơ cùng tên là minh chứng
cho khúc quanh đó.
Vũ Hoàng Chương cũng xác
quyết về khúc quanh này trong Lời tựa tập Lửa từ bi: “Những bài thơ
trong tập này nhằm ghi lại một nguồn cảm hứng mới của tác giả, khơi dậy trong
lòng cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ Việt Nam, khoảng năm 2.507 Phật lịch (từ
15 tháng Tư đến 15 tháng Chín), tức là năm 1963 d.l.”(4).
Trong không khí đàn áp Phật
giáo khốc liệt của năm 1963, bài thơ Lửa từ bi đã ra đời một
cách khó khăn. Lúc đầu bài thơ bị tòa báo từ chối, sau nó được in dạng quay
ronéo như truyền đơn, và sau đó mới được xuất bản trong tập thơ Lửa từ
bi cùng 14 bài thơ khác. Tác giả kể: “Bài Lửa từ bi gửi
đăng nhật báo Tự do Saigon ngày 28/7/63 bị kiểm duyệt bỏ trọn,
đã được văn phòng Chùa Xá Lợi, ngay sau đó, quay thành những bản “Ronéo” và phổ
biến nhân ngày Chung thất của Bồ Tát Quảng Đức. Bài Người với người được
đăng trên nhật báo Tự do ngày 18/8/63 chỉ bị kiểm duyệt bỏ 10
chữ. Sau đấy, Chùa Xá Lợi bị cường quyền xâm phạm, nhật báo Tự do cũng
bị đình bản, tác giả không còn phương tiện nào khác để phổ biến thơ của mình
ngoài cách truyền tay trong số các bạn thân tín”(5).
Tập thơ được xuất bản,
nhưng không phải bởi một nhà xuất bản có uy tín nào, mà do Đoàn Thanh niên tăng
ni – một tổ chức đấu tranh cho Phật giáo đứng ra in. Giấy in xấu, bìa vẽ vội,
xuất bản rất nhanh – chỉ 3 tháng sau khi Hòa thượng chịu pháp nạn: tháng 9 năm
1963. Thế nhưng tập thơ này lại trở thành tập thơ hay nhất của Vũ Hoàng Chương
sau Thơ say.
Bài thơ bắt đầu bằng
cảnh tượng Hòa Thượng Thích Quảng Đức tọa thiền trong tòa sen lửa. Ngọn lửa thì
ngùn ngụt bốc lên, còn chúng sinh với xác phàm và tâm trần khổ đau thì quỳ xuống.
Ngọn lửa của Hòa thượng cháy lên thành một mặt trời thứ hai:
Lửa! lửa cháy ngất tòa
sen!
tám chín phương nhục thể
trần tâm
hiện thành THƠ, quỳ cả xuống.
Hai Vầng – Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
chắp tay đón một Mặt-trời-mới-mọc,
ánh Đạo – Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên (6)
Hòa thượng thiêu mình
không phải bằng cái tâm sân hận, mà Người tận hiến cuộc sống của mình từ tình
thương và lòng từ bi:
Thương chúng sinh trầm
luân bể khổ,
NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất
dày
bước ra, ngồi nhập định,
hướng về Tây;
gọi hết lửa vào xương da
bỏ ngỏ,
Phật – pháp chẳng rời
tay.
Sáu ngả Luân – hồi đâu đó
mang mang cùng nín thở,
tiếng nấc lên ngừng nhịp
Bánh – xe – quay.
Ngọn lửa từ nhục thân của
Hòa thượng ngùn ngụt cháy, nhưng ngọn lửa ấy không phải lan ra thành bão lửa,
mà ngọn lửa đưa Hòa thượng lên Niết bàn và để lại bóng mát cho chúng sinh:
Không khí vặn mình theo
khóc oà lên nổi gió;
NGƯỜI siêu thăng
giông bão lắng từ đây.
Bóng NGƯỜI vượt chín tầng
mây,
nhân gian mát rợi bóng
cây Bồ – đề.
Hòa thượng trở thành bất
tử – bất tử mà không cần ngọc đá để tạc tượng, không cần lụa tre của người viết
sử làm thơ:
Ngọc hay đá, tượng chẳng
cần ai tạc;
lụa hay tre, nào khiến
bút ai ghi;
chỗ NGƯỜI ngồi: một thiên
– thu – tuyệt – tác
trong vô hình sáng chói
nét Từ – Bi.
Vì ngọc đá lụa tre của trần
gian vẫn có ngày mục nát, nhưng trái tim yêu thương của Hòa thượng thì vĩnh cửu,
tỏa ánh sáng từ bi xuống tận tầng đáy sâu nhất của hỏa ngục – nơi con người bị
đọa đày:
Rồi đây, rồi mai sau, còn
chi?
ngọc đá cũng thành tro
lụa tre dần mục nát
với Thời – gian lê vết
máu qua đi.
Còn mãi chứ! còn Trái –
Tim – Bồ – Tát
gội hào quang xuống tận
ngục A – tỳ.
Trước ngọn lửa từ bi ấy,
nhà thơ đại ngộ: từ vô minh mà đến tỉnh thức. Những kiêu căng, ngông nghênh của
một “thi vương”, “thi bá” trần hoàn cũng hết, nhà thơ chỉ coi thơ là rơm rác
trước ánh lửa kia, và rồi lại mong thơ mình là rơm rạ để cháy lên theo lời
kinh:
Ôi Ngọn – lửa – huyền –
vi!
thế giới ba nghìn phút
giây ngơ ngác
từ cõi Vô – minh
hướng về Cực – lạc;
vần điệu của Thi – nhân
chỉ còn là rơm rác
và chỉ nguyện được là rơm
rác,
THƠ cháy lên theo với lời
Kinh
tụng cho Nhân – loại hoà
bình
trước sau bền vững tình
Huynh – đệ này.
Thơ Vũ Hoàng Chương cháy
lên từ đó, cháy lên để soi đường đi đến với Tình yêu – tình yêu Tự do, Hòa
bình, tình Anh em và tình Nhân loại:
Thổn thức nghe lòng trái
Đất
mong thành quả Phúc về
cây;
nam mô Bổn – Sư Thích –
Ca – Mâu – Ni – Phật;
đồng loại chúng con
nắm tay nhau tràn nước mắt,
tình thương hiện Tháp –
Chín – Tầng xây.
Bài thơ có sức truyền cảm
mạnh mẽ. Ngay sau đó nó được truyền ra nước ngoài. Với uy tín của mình, Vũ
Hoàng Chương đã kêu gọi giới trí thức quốc tế chú ý đến cuộc đấu tranh của nhân
dân Việt Nam. Tác giả kể:
“Riêng 2 bài Lửa
từ bi và Người với người đã gửi sang Âu châu ngay sau
lúc sáng tác nên nữ thi sĩ Bỉ quốc Simone Kuhnen de la Cœuillerie đã dịch Pháp
ngữ để kịp thời đệ trình lên Hội nghị thi ca quốc tế họp tại Knokke từ 5 đến 9
tháng 9/63. Tác giả cũng đích thân gửi thư yêu cầu Hội nghị chú trọng đến cuộc
tranh đấu của Phật giáo đồ tại Việt Nam. Thi sĩ Pierre – Louis Flouquet, nhân
danh Phó chủ tịch, đã thỏa mãn lời yêu cầu này. Hai bản dịch (Feu de
Sacrifice và D’homme à homme) đã được giới thiệu với các đại biểu của 50 quốc
gia. Một đoạn trong bài thứ nhất được ngâm lên giữa Hội nghị, đó là đoạn:
Rồi đây, rồi mai sau, còn
chi?
Ngọc đá cũng thành tro, lụa
tre dần mục nát
Với Thời-gian lê vết máu
qua đi.
Còn mãi chứ! còn TRÁI TIM
BỒ TÁT
Gội hào quang xuống tận
ngục A – Tỳ”(7)
Từ sau tập Lửa từ
bi, trong thơ Vũ Hoàng Chương những chán chường, khổ đau, mộng mị như
trong Thơ Say và Mây cũng hết; những ảo tưởng,
hoang tưởng và sân hận trong Hoa đăng, Trời một phương cũng
không còn, thơ ông như đến với một cảnh giới khác: tràn đầy yêu thương, tràn đầy
tình huynh đệ, tràn đầy hỉ xả, và cả lạc quan. Đọc tên các tập thơ sau Lửa
từ bi cũng thấy được phần nào: Ánh trăng đạo lý (1966), Bút
nở hoa đàm (1967), Cành mai trắng mộng (1968), v.v…
Ông bắt đầu cách ly mình với chính quyền thân Mỹ. Năm 1966 khi đang làm chủ tịch
Hội văn bút(8), ông đã từ chối tham gia hội nghị về thơ tổ chức ở New York để
phản đối Mỹ và chính quyền bù nhìn – như ông viết: “Năm 1966, hội nghị ở Mỹ
(New York) nhưng tôi không đi, và đã cử Tổng thư ký đi thay làm trưởng phái
đoàn. Vì tôi ghét bọn Mỹ Thiệu và Kỳ lúc đó đang đàn áp Phật giáo ở Đà Nẵng,
Sài Gòn”(9).
Con đường thơ của Vũ
Hoàng Chương trải qua những tháng ngày buồn tủi, khốc liệt nhất của dân tộc. Vũ
Hoàng Chương là một thiên tài thơ Việt Nam hiện đại, một thiên tài thơ chịu lắm
thăng trầm. Dường như chúng ta vẫn nhìn ông với con mắt định kiến mà không biết
ông đã trải qua một hành trình gian khổ từ Thơ Say, Mây đến Thơ
lửa; rồi từ Hoa đăng, Trời một phương đến với Lửa
từ bi… một hành trình tự lột xác mình. Chúng ta chưa đánh giá hết bước chuyển
mình của Vũ Hoàng Chương từ tập Lửa từ bi cũng như chưa đánh
giá hết vị trí lịch sử của tập thơ này với văn học Việt Nam hiện đại. Tôi xin
trích một đoạn đánh giá về tập thơ này trong Lời giới thiệu của Nhà xuất bản Rừng
Trúc khi ấn hành thơ Vũ Hoàng Chương ở Paris:
“Phải nhận rằng
ngàn-chín-trăm-sáu-ba đánh dấu sự chuyển mình lớn của văn học Việt Nam trong
giai đoạn mới của sử tính. Dường như chúng ta vừa trở về tổ ấm, vừa nắm bắt vũ
khí sở trường chôn lâu trong hoen rỉ và lãng quên để trang bị tri thức và tâm
linh mình. Không có vũ khí tinh thần này, chúng ta chẳng còn là ta nữa.
Bài Lửa từ bi của
Vũ Hoàng Chương đã thực đánh dấu cho sự chuyển mình đó. Nó bộc lộ đủ một phong
triều văn học mới, dựng trên Bao dung và Trí tuệ. Bởi nó ánh được Ngọn lửa tỉnh
thức. Bởi nó đã dùng lời Việt nói ra sự chấn động ầm ầm của lương tâm quốc tế”(10).
Bài thơ là một khúc quanh
của một nhà thơ, đánh dấu một khúc quanh của một nền văn học(11). Nó thực sự cần
có một chỗ đứng xứng đáng hơn trong các tuyển tập, trong các bộ lịch sử văn học
Việt Nam hiện đại. Và tác giả của bài thơ cũng vậy.
Chú thích:
(1) Vũ
Hoàng Chương: Say đi em, in trong Thơ say, Mây. Nxb. Hội
Nhà văn, H., 1996. Các bài dưới đây đều theo sách này.
(2) Di
cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.
(3) Di
cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.
(4) Lửa
từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xb, Sài Gòn, 1963.
(5) Bài
tựa tập Lửa từ bi, Sđd.
(6) Theo
bản in Lửa từ bi trong tập thơ Chúng ta mất hết chỉ
còn nhau, thơ Vũ Hoàng Chương, Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974.
(7) Bài
tựa tập Lửa từ bi, Sđd.
(8) Vũ
Hoàng Chương làm Chủ tịch Hội Văn bút (Pen club) từ 1964-1968.
(9) Di
cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.
(10) Lời
tựa tập Chúng ta mất hết chỉ còn nhau. Rừng Trúc xuất bản, Paris,
1974.
(11) Các
tập thơ của Vũ Hoàng Chương: Thơ Say (tác giả xuất bản, 1940;
Nxb. Hội Nhà văn tái bản, 1995), Mây (Đời Nay xb, 1943, Nxb. Hội
Nhà văn tái bản, 1995), Kịch thơ Trương Chi (tập kịch thơ, gồm
3 vở: Trương Chi, Vân Muội, Hồng Diệp, 1944, bản viết tay của tác
giả), Cô gái ma (kịch thơ, 1944, bản viết tay của tác giả), Rừng
phong (P.Văn Tươi xb, Sài Gòn, 1954), Hoa đăng (Văn hữu
Á châu xb, Sài Gòn, 1959), Tâm sự kẻ sang Tần (kịch thơ, công
diễn lần đầu ở H., 1951, 1961, bản chép tay của tác giả), Trời một
phương (tác giả xuất bản, 1962), Lửa từ bi (Đoàn
Thanh niên tăng ni xb, SG, 1963), Poèmes Choisis (thi tuyển,
Versions Francaises de Simone Kuhnen de la Coeuillerie; Préface de André
Guimbretiere; Editions Nguyen Khang, Sai Gon, 1963), Ánh trăng đạo lý (Nha
Tuyên úy Phật giáo ấn hành, 1966), Cành mai trắng mộng (1968), Ngồi
quán (Lửa thiêng xb, Sài Gòn, 1971), Đời vắng em rồi say với
ai (1971), Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (Rừng Trúc
xuất bản, Paris, 1974), Ta đã làm chi đời ta (hồi ký, 1974) và một số di cảo viết
tay của Vũ Hoàng Chương.
– Xin xem: Hoài Thanh –
Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, tái bản. Nxb. Văn học, H., 1998.
– Nhiều tác giả: Từ
điển văn học (bộ mới). Nxb. Thế giới, H., 2004.
PHỤ LỤC
Lửa từ bi
Kính dâng lên Bồ-tát Quảng-Đức
Lửa! lửa cháy ngất tòa
sen!
tám chín phương nhục thể
trần tâm
hiện thành THƠ, quỳ cả xuống.
Hai Vầng-Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
chắp tay đón một Mặt-trời-mới-mọc,
ánh Đạo-Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên
Ôi, đích thực hôm nay trời
có mặt;
giờ là giờ Hoàng-đạo nguy
nga!
Muôn vạn khối sân si vừa
mở mắt
nhìn nhau: tình Huynh-đệ
bao la.
Nam mô Đức-Phật-Di-Đà,
Sông Hằng kia bởi đâu mà
cát bay?
Thương chúng sinh trầm
luân bể khổ,
NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất
dày
bước ra, ngồi nhập định,
hướng về Tây;
gọi hết lửa vào xương da
bỏ ngỏ,
Phật-pháp chẳng rời tay.
Sáu ngả Luân-hồi đâu đó
mang mang cùng nín thở,
tiếng nấc lên ngừng nhịp
Bánh-xe-quay.
Không khí vặn mình theo
khóc oà lên nổi gió;
NGƯỜI siêu thăng
giông bão lắng từ đây.
Bóng NGƯỜI vượt chín tầng
mây,
nhân gian mát rợi bóng
cây Bồ-đề.
Ngọc hay đá, tượng chẳng
cần ai tạc;
lụa hay tre, nào khiến
bút ai ghi;
chỗ NGƯỜI ngồi: một
thiên-thu-tuyệt-tác
trong vô hình sáng chói
nét Từ-Bi.
Rồi đây, rồi mai sau, còn
chi?
ngọc đá cũng thành tro
lụa tre dần mục nát
với Thời-gian lê vết máu
qua đi.
Còn mãi chứ! còn
Trái-Tim-Bồ-Tát
gội hào quang xuống tận
ngục A-tỳ.
Ôi Ngọn-lửa-huyền-vi!
thế giới ba nghìn phút
giây ngơ ngác
từ cõi Vô-minh
hướng về Cực-lạc;
vần điệu của Thi-nhân chỉ
còn là rơm rác
và chỉ nguyện được là rơm
rác,
THƠ cháy lên theo với lời
Kinh
tụng cho Nhân-loại hoà
bình
trước sau bền vững tình
Huynh-đệ này.
Thổn thức nghe lòng trái
Đất
mong thành quả Phúc về
cây;
nam mô Bổn-Sư
Thích-Ca-Mâu-Ni-Phật(1);
đồng loại chúng con
nắm tay nhau tràn nước mắt,
tình thương hiện
Tháp-Chín-Tầng xây.
Saigon tháng 5, P.l. 2507
(T.l. tháng 6, 1963)(2)
Vũ Hoàng Chương
(Chép lại chính xác theo
tập thơ Chúng ta mất hết chỉ còn nhau, thơ Vũ Hoàng Chương, Rừng
Trúc xuất bản, Paris, 1974)
Chú thich:
(1) Bản
trong tập Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xuất bản, Saigon, 1963
viết là “Nam mô Thích-Ca-Mầu-Ni-Phật” (không có “Bổn-sư” và không phải
“Mâu-Ni”)
(2) Bản
trong tập Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xuất bản, Saigon, 1963
viết là: “Khởi viết từ ngày 11-6-63, xong ngày 15-7-63 tại Saigon”
4/11/2022
Đoàn Lê Giang
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 7 năm 2013
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Nữ sĩ Hằng Phương và thủ pháp danh gia vọng tộc
Nữ sĩ Hằng Phương và thủ pháp danh gia vọng tộc Được xếp hạng nhà thơ trí thức lớp trên, nữ sĩ Hằng Phương thể hiện sắc nét tình cảm người...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...
.gif)
.gif)

