Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

Nữ sĩ Hằng Phương và thủ pháp danh gia vọng tộc

Nữ sĩ Hằng Phương và
thủ pháp danh gia vọng tộc

Được xếp hạng nhà thơ trí thức lớp trên, nữ sĩ Hằng Phương thể hiện sắc nét tình cảm người phụ nữ thị thành trong thời đại mới.
Nữ sĩ Hằng Phương (9.9.1908-2.2.1983), họ tên đầy đủ Lê Hằng Phương, sinh tại làng Nông Sơn, xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn (Quảng Nam), là con gái nhà Hán học Lê Dư (bút hiệu Sở Cuồng), có học giả Phan Khôi là bác ruột bên ngoại. Năm 1922, bà theo cha mẹ sống tại Hà Nội, được học chữ Hán và trường Pháp đến hết lớp nhất (tiểu học), sau kết hôn cùng nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan (1925) và cùng chồng tham gia Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936 – 1939).
Đương thời bà có thơ đăng trên các báo Phụ nữ tân văn, Ngày nay, Hà Nội tân văn, Trung Bắc tân văn, Trung lập, Đàn bà, Tri Tân tạp chí và cùng Vân Đài, Mộng Tuyết, Anh Thơ xuất bản tập thơ Hương xuân (NXB Nguyễn Du, Hà Nội, 1943)…
Sau thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp và hòa bình lập lại (1954), các tập thơ của bà xuất bản dưới chế độ mới hầu như không có phần Thơ mới viết trước 1945…
So với nhiều tác giả khác, thơ Hằng Phương đặt cược nhiều về tình cảm gia đình, mẹ con, chị em, vợ chồng. Chẳng hạn, bài thơ Nhớ mẹ lại được tác giả ký tên Mme Vũ Ngọc Phan (Bà Vũ Ngọc Phan), chính danh nữ sĩ Hằng Phương.
Bài thơ xếp trong mục “Văn chương”, có 28 câu, các câu thơ đều 5 chữ với bốn câu kết: Ngày nay bên khóc trúc,/Em thơ khóc rưng rức,/ Tìm mẹ biết tìm đâu? Trời xanh, xanh một màu (Ngày nay, số 110, ra ngày 15.5.1938, tr.17); sau được Hoài Thanh – Hoài Chân giới thiệu, trích đoạn và bình luận trong Thi nhân Việt Nam (1942) và được tác giả tuyển in trong tập Hương xuân (1943)…
Trong phần tổng luận Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh – Hoài Chân xác định đặc tính dân tộc trong thơ Hằng Phương: “Ngoài Lưu Trọng Lư, Phan Văn Dật, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thư, Vũ Hoàng Chương, trong dòng Việt cơ hồ không còn ai. Hoặc cũng có thể tìm thấy ở đây: Đông Hồ, Nguyễn Xuân Huy, Thúc Tề, Nguyễn Vỹ, T.T.Kh., Hằng Phương, Mộng Huyền, Trần Huyền Trân. Nhưng không lấy gì làm rõ lắm”…
Đến phần giới thiệu tác giả, tác phẩm, hai ông Hoài Thanh – Hoài Chân phân tích, bình luận ngắn gọn, chừng mực:
“Thơ Hằng Phương cùng một giọng êm dịu, ngọt ngào như thơ Vân Đài. Nhưng ít dấu tích thơ Đường và thành thực hơn. Như đoạn cuối trong bài Lòng quê trích theo đây, lời thơ thực yểu điệu, dễ thương. Hằng Phương mượn lời chim để nói nỗi lòng mình. Nhưng thực ta không còn biết đây là lời người hay lời chim. Bởi mối tình ở đây nhẹ nhàng quá, trong trẻo quá. Người thơ tưởng chừng đã biến thành chim…
Tình quê còn đưa thi hứng cho Hằng Phương nhiều lần nữa. Có khi nó lẫn với lòng thương người mẹ đã khuất:
Ngày nay bên khóm trúc,
Em thơ khóc rưng rức;
Tìm mẹ biết tìm đâu?
Trời xanh, xanh một màu…
Có khi nó chỉ là tình lưu luyến cảnh quê hương:
Ai về cố quận cho ta nhắn,
Gửi chút lòng thương nhớ núi sông.
Hằng Phương rất mến cảnh. Người âu yếm nhìn những lúc trăng lên:
Sáng trưng mái ngói nhà ai,
Đôi chim ngỡ buổi ban mai giật mình.
Những lúc bình minh:
Sương đêm còn đọng trên cành,
Rưng rưng hạt ngọc,
long lanh nhìn trời…
Và:
Nách tường đôi lứa chim sâu,
Nằm trong tổ ấm, thò đầu nhởn nhơ…
Những bức tranh nho nhỏ ấy đơn sơ mà xinh tươi làm sao! Hồn thi nhân âu cũng thế”.
Trong phần tuyển thơ, hai ông xếp Hằng Phương là một trong số 9 thi nhân chỉ được tuyển có một bài duy nhất (đồng hạng với Thúc Tề, Đoàn Phú Tứ, Vân Đài, Phan Khắc Khoan, Thâm Tâm, Phan Thanh Phước, Mộng Huyền, T.T.Kh. và Trần Huyền Trân) với nhan đề Lòng quê (rút từ báo Hà Nội tân văn), có thêm đề tà “Tặng V.N.P”:
Xưa kia em ở bên trời,
Ngây thơ chưa rõ cuộc đời là chi.
Mặc cho ngày tháng trôi đi,
Tóc mây nào biết có khi bạc đầu!
Chim non ở chốn rừng sâu,
Quanh mình chỉ thấy một màu
xanh xanh.
Bình minh buổi ấy gặp anh,
Rủ em ra chốn đô thành xa khơi.
Yêu anh, em hóa yêu đời,
Theo anh chắp cánh tung trời bay cao.
Anh đưa em đến vườn đào,
Màu tươi, sắc thắm, em nào dám chê.
Nhưng em luống nặng lòng quê,
Nhớ thương cảnh cũ bốn bề núi non.
Nhớ nơi làng xóm con con,
Nhớ hương cây quế chon von trên đồi.
Bạn xưa, nhớ yến tha mồi,
Cành xưa, em đỗ trong hồi còn thơ…
Ðường xa ngoảnh lại ngẩn ngơ,
Trông theo mây trắng thẫn thờ
mắt xanh…
Ngay sau khi Hoài Thanh – Hoài Chân xuất bản công trình đại thành tổng kết một chặng đường phong trào Thơ mới, Diệu Anh (Đinh Gia Trinh) thẳng thắn nhận xét, so sánh và xác định: “Mặc dầu tôi giở nhiều tập thơ đọc với một trạng thái tinh thần bình tĩnh và không có chút thành kiến gì về nghệ thuật, tôi cũng không khỏi thấy cái nhạt nhẽo và nghèo nàn của thi hứng trong thơ của Mộng Tuyết, của Thu Hồng, của Hằng Phương… và đến cả của Phan Văn Dật và Nguyễn Bính nữa.
Và khi đọc bài Giận nhau và bài Em đương thêu của Nguyễn Xuân Huy, tôi không khỏi nghĩ đến cái loại thơ nhí nhảnh của học trò, cái loại thơ của một nàng (hay chàng?) Janine Lệ Thủy gớm ghiếc nào thường viết trên mấy tờ báo rẻ tiền ở Hà Nội!” (Thanh nghị, số 19, ra ngày 16.8.1942, tr.7). Đương nhiên đây chỉ là một cách cảm thụ, tiếp nhận, đánh giá của Diệu Anh Đinh Gia Trinh.
Trong mục Đọc sách mới trên báo Thanh nghị (số 38, ra ngày 1.6.1943, tr.40), L. H. V (Lê Huy Vân) đã giới thiệu tập thơ Hương xuân (1943) của bốn nhà thơ nữ và ghi nhận đặc điểm thơ Hằng Phương: “Cho nên khi đọc Hương xuân – là một cuốn sách nhỏ góp nhật thơ của mấy nữ sĩ Vân Đài, Hằng Phương, Mộng Tuyết, Anh Thơ – thì tôi thấy “như đi vào chỗ đất quen”… Hằng Phương vẫn còn những cảm động dễ dàng và nhẹ nhàng:
Xanh xanh một dải tràng sơn,
Hồn quê sực tỉnh, cô đơn ngàn trùng”…
Cũng trong năm này, sau khi điểm danh và so sánh “những thi sĩ dùng lời thật cũ, thỉnh thoảng điểm một vài ý thật mới như Đái Đức Tuấn (Tchya), Nguyễn Bính” hoặc lối thơ Nguyễn Nhược Pháp “thi sĩ nửa cũ nửa mới cả về ý lẫn lời… Nhược Pháp là nhà thơ gợi đến thời xưa nhiều hơn cả”, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhấn mạnh: “Người ta lại có thể kể Hằng Phương (Thơ đăng trong Phụ nữ tân văn, Ngày nay, Hà Nội tân văn, Đàn bà (Hà Nội) và trong tập Hương xuân (Nguyễn Du – Hà Nội, 1943) vào số những nhà thơ nửa cũ nửa mới cả về ý lẫn lời. Nhà thơ này diễn rặt những nỗi nhớ nhung quê hương và ca tụng những cảnh yên vui của gia đình” (Nhà văn hiện đại, Quyển Ba, 1943).
Được xếp hạng nhà thơ trí thức lớp trên, nữ sĩ Hằng Phương thể hiện sắc nét tình cảm người phụ nữ thị thành trong thời đại mới. Người đương thời ghi nhận ở Hằng Phương một tiếng thơ trong trẻo, hồn hậu, giàu tình người và các giá trị nhân văn.
Trên phương diện văn bản, tương đồng với trường hợp Vân Đài, thơ Hằng Phương trong phong trào Thơ mới vẫn còn thất lạc, cần tiếp tục sưu tập và xuất bản, góp phần bù lấp khoảng trống thi sử và văn hóa – văn hóa sử giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.
29/10/2022
La Nguyễn Hữu Sơn
Nguồn: Báo Giáo Dục và Thời Đại
Theo https://vanhocsaigon.com/

Viết giải trí cũng phải có nghề

Viết giải trí cũng phải có nghề!

Người đọc văn chương giải trí hình như càng ngày càng tinh trong sự tiếp nhận và thưởng thức, không dễ mà giúp được họ giải trí nếu người viết không có ngón nghề cao tay.
Cách đây ít năm, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, người đã gây sóng gây gió trên văn đàn Việt Nam thời đổi mới bằng một loạt truyện ngắn đặc sắc, tuyên bố rằng ông sẽ chuyển sang viết tiểu thuyết ba xu. Nói sao làm vậy, những Đổi tình lấy điểm, rồi Tiểu Long Nữ… lần lượt ra đời. Thoạt tiên thì những cuốn sách được cha đẻ của chúng gọi là ba xu ấy cũng gây được một chút ì xèo trong dư luận, rồi sau đó tắt ngóm, mà mục đích kiếm tiền, như ông từng nói, bằng sản phẩm sách ba xu của nhà văn xem ra cũng chẳng đi đến đâu. Phải chăng số phận của sách, tiểu thuyết, văn chương ba xu là như vậy, là kết cục không cách nào tránh khỏi?
Thiết nghĩ, từ “ba xu” mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sử dụng (tiểu thuyết ba xu) chắc chắn là không trùng khít về nội dung với từ “ba xu” ở giai đoạn từ này (sách ba xu) bắt đầu gia nhập kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt, nếu không muốn nói là còn mang những nét ngược nghĩa. Thời Pháp thuộc, cụm từ “sách ba xu” dùng để chỉ loại sách in bằng giấy xấu và mực xấu, được bán đúng với giá ba xu, nghĩa là rất rẻ, vừa với túi tiền của bạn đọc là dân nghèo thành thị. Rẻ, nhưng là rẻ trên phương diện là một thương phẩm, chứ không rẻ với tính cách của một sản phẩm tinh thần, một sản phẩm văn chương. Bởi, được in ở loạt sách “ba xu” ấy là những Trê Cóc, Thạch Sanh, Tống Trân – Cúc Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa, Nhị Độ Mai v.v… Đó là những tác phẩm truyện thơ Nôm khuyết danh mà người dân Việt Nam nhiều thế hệ vẫn yêu mến, vẫn thuộc nằm lòng, vẫn ngâm nga khi cao hứng.
Còn nay, khi tuyên bố sẽ viết tiểu thuyết ba xu, hẳn nhà văn Nguyễn Huy Thiệp không định nói ông sẽ viết những cuốn tiểu thuyết để người ta in bằng giấy xấu và mực xấu, cho hạ giá thành ấn phẩm (công nghệ của ngành xuất bản hiện nay, xem ra in xấu còn khó hơn in đẹp!) Đơn giản chỉ là ông muốn nói sẽ viết loại tiểu thuyết không mang cao vọng tuyên xưng với bạn đọc những tư tưởng gì to tát hoặc thực hiện những cách tân nghệ thuật gì khiến cho người đời phải lóa mắt. Loại tiểu thuyết ấy chỉ nhằm phục vụ đúng một mục đích: giải trí. Nó hướng vào lớp độc giả (rất đông) muốn đọc sách để giết thời gian, để thư giãn đầu óc, để tạm quên thực tại này; chứ không phải lớp độc giả (rất ít) đọc sách để bước vào cuộc tra vấn trí tuệ và tâm hồn – điều mà truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã làm được một cách xuất sắc.
Trong quan niệm văn học hiện nay, loại văn chương nào được xem là văn chương giải trí? Thì, đó là những tác phẩm tập trung mạnh mẽ đến việc thực hiện chức năng giải trí. Các chức năng khác: thẩm mỹ, nhận thức, giáo dục, dự báo… có thể có trong tác phẩm, song chúng đều bị đẩy xuống hàng thứ yếu (dễ thấy là khái niệm “văn chương giải trí” có phần giao thoa nhất định với khái niệm “cận văn học” – paraliterature). Có thể tạm liệt kê một số loại văn chương giải trí như sau: truyện khoa học viễn tưởng, giả tưởng, truyện trinh thám, truyện ma – kinh dị, tiểu thuyết võ hiệp, tiểu thuyết diễm tình… Các tác phẩm văn chương loại này thực hiện chức năng giải trí theo nghĩa: giúp người đọc có dịp vượt thoát ra khỏi khuôn khổ cuộc sống hiện tại bình thường, phần lớn là tầm thường, của họ. Đọc sách, họ được sống những cuộc sống khác, nhiều thăng trầm gấp khúc hơn, nhiều mạo hiểm bạo liệt li kỳ gay cấn hơn, nhiều mộng mơ và nước mắt hơn, thậm chí nhiều rùng mình kinh sợ hơn.
Giải trí là như vậy: được sống, được trải nghiệm qua sự vay mượn những cảm giác đa dạng phong phú có thể có trong đời sống tinh thần của con người. Và đây chính là lý do tồn tại chính đáng, tồn tại một cách cực kỳ hùng hồn của văn chương giải trí, mặc kệ những cái bĩu môi coi thường của văn chương “chính thống”: nó phục vụ, nó thỏa mãn một nhu cầu hết sức cơ bản của con người nói chung. Bởi lẽ, trên thực tế, không chỉ độc giả bình thường, mà ngay cả lớp độc giả được coi hoặc tự coi là “elite” cũng rất nhiều người mê mẩn với văn chương giải trí. Một ví dụ: sau giải phóng miền Nam, hầu hết các “đại gia” của làng văn Hà thành đều đã đến mượn sách tại thư viện “chưởng” Kim Dung của nhà văn Hà ân – ông này vào Sài Gòn, lúc ra mang theo toàn tác phẩm Kim Dung – để về “luyện”, có ông “luyện” một bộ đến vài lần. Ngoài miệng, các ông bảo đó là “hắc thư”, nhưng trong bụng thì ai nấy đều phục lăn ông nhà văn Hương Cảng!
Tuy nhiên, phải nói ngay rằng, để có thể đem lại được cho người đọc sự giải trí như vậy là không dễ. Rất nhiều người viết truyện khoa học viễn tưởng, giả tưởng, song không có nhiều Jules Verne. Truyện trinh thám còn nhiều người viết hơn, nhưng chỉ có vài cái tên đọng lại: Conan Doyle, Agatha Christie, George Simenon... Tương tự là ở truyện ma – kinh dị: Edgar Allan Poe, Stephen King…, tiểu thuyết võ hiệp: Kim Dung, Cổ Long, Ngọa Long Sinh..., tiểu thuyết diễm tình: Quỳnh Dao, Liêu Quốc Nhĩ… (trong văn học Việt Nam hiện đại, truyện khoa học viễn tưởng, giả tưởng và tiểu thuyết kiếm hiệp gần như là một khoảng trống (?). Với truyện trinh thám, miễn cưỡng nhắc được những cái tên như Phú Đức, Thế Lữ. Truyện ma – kinh dị có thể nhiều hơn một chút: Thế Lữ, Lan Khai, Tchya Đái Đức Tuấn…, và gần đây là một tác giả trẻ: Di Li (tập truyện ngắn Tầng thứ nhất, tiểu thuyết Trại hoa đỏ). Với tiểu thuyết diễm tình, người đọc nhớ đến bà Tùng Long (hiện tại “y bát” của tác giả này đã được một vài cây bút trẻ tiếp nhận với ít nhiều biến thể: Trần Thu Trang và tiểu thuyết Phải lấy người như anh…, Hà Kin và tiểu thuyết Chuyện tình Newyork...)
Những tác giả kể trên, bằng tài năng của mình, chính là những người đã đưa các thể loại văn chương giải trí đến mức độ điển phạm. Thậm chí, trước các sáng tác của họ, giới nghiên cứu văn học cho đến nay vẫn chưa tìm được một sự đồng thuận tuyệt đối trong kết luận cuối cùng: chúng chỉ là văn chương giải trí hay đã là văn chương đích thực, chỉ là cận văn học hay đã là văn học? Tóm lại, các thể loại văn chương giải trí có những yêu cầu, những nguyên tắc thẩm mỹ đặc thù của chúng (phân tích cụ thể về từng loại chưa phải là vấn đề được đặt ra ở bài viết ngắn này). Để có thể thành công, người viết ít nhất phải “sạch nước cản” những yêu cầu, những nguyên tắc ấy, chứ không đơn giản tuyên bố “sẽ viết” rồi lao vào hì hụi viết là xong. Người đọc văn chương giải trí hình như càng ngày càng tinh trong sự tiếp nhận và thưởng thức, không dễ mà giúp được họ giải trí nếu người viết không có ngón nghề cao tay. Tiến thêm chút nữa, thậm chí có thể mạnh dạn khẳng định rằng, văn chương giải trí cũng cần tài năng, và cần ở mức không ít hơn văn chương “chính thống”!.
1/11/2022
Hoài Nam
Theo https://vanhocsaigon.com/

Người đương thời Thơ mới bàn về thơ J.Leiba

Người đương thời Thơ mới
bàn về thơ J.Leiba

Thơ J.Leiba được các nhà phê bình như Mộc Khuê (Kiều Thanh Quế), Thanh Châu, Hoài Thanh – Hoài Chân, Vũ Bội Liêu… quan tâm và đánh giá cao.
Trong công trình nghiên cứu có ý nghĩa tổng quát và tổng kết Ba mươi năm văn học (NXB Tân Việt, H., 1941), nhà phê bình xuất sắc Nam Bộ là Mộc Khuê (Kiều Thanh Quế) đã điểm danh và có nhận định chung về thơ J. Leiba trong toàn cảnh nền thơ đương thời:
… “Trong làng thơ cũ, có kẻ nổi lên phản kháng…
Rồi thơ mới, thơ cũ xung đột nhau!…
Người ta đem cả hai làm vấn đề cãi nhau trên diễn đàn (Manh Manh nữ sĩ – Nguyễn Văn Hanh), trên báo chí (Tản Đà – Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều – Thái Phỉ, Thế Lữ – Nguyễn Vỹ).
Hầu hết các cuộc tranh biện giữa làng thơ mới và làng thơ cũ, độc giả bao giờ cũng thiện cảm với làng thơ mới hơn. Chỉ có đối với cuộc tranh biện giữa Tản Đà và Lưu Trọng Lư trên mặt tờ Tiểu thuyết thứ Bảy (tháng Janvier 1935) là độc giả hơi phân vân, không nhứt quyết thiên hẳn về bên nào. Vì Lưu Trọng Lư là nhà thơ mới nổi tiếng, mà Tản Đà lại là nhà thơ cũ hữu danh. Một mới, một cũ cùng tương đương. Đối với ông nào, độc giả cũng cho là phải…
… Làng thơ mới (mới lẫn cũ) của văn học quốc ngữ trong vòng mười năm nay đếm được (…).
… Ngoài ra, văn học quốc ngữ còn đếm được nhiều thi sĩ tuy chưa có tác phẩm ra đời, nhưng tài năng đã phát huy rõ rệt trên các báo chí:
– J. Leiba Thanh Tùng Tử (1912-1941) với những vần diễm ảo bắt nguồn trong quá khứ…
– Tchya với những vần cao siêu đầy tư tưởng;
– Thái Can, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân với những vần cổ kính;
– Phan Khắc Khoan với những “vần Huy Thông” rất trầm hùng.
– Nguyễn Xuân Huy với những vần dìu dịu như “một buổi chiều Xuân Diệu”.
Nên kể thêm vào: Đinh Hùng – Hoài Điệp, Huyền Kiêu, Nguyễn Đức Chính, Phạm Hầu, Hồ Dzếnh, Thái Kim Điên.
Riêng ở Nam Kỳ, ngoài một ít thi sĩ có tác phẩm đã xuất bản (Đông Hồ, Thiên Thu, Khổng Dương), còn lắm thi sĩ trẻ tuổi hữu tài hãy còn đắm chìm trong bóng tối.
– Phi Yến (đã quá cố) với những vần huyền diệu…
– Sương Lam Tử với những “vần Chế Lan Viên” rất huyền bí.
– Việt Châu với những “vần Thái Can” đầy trang nghiêm!
– Cô Mộng Tuyết với những vần dí dỏm…
– Bùi Ái Quốc với những vần thanh thoát…
– Nguyễn Viết Khải với những vần ma quái”…
Trong bài tự luận Hoa với đời sống tinh thần của chúng ta in trên Trung Bắc tân văn (số 103, ra ngày 4.4.1942), nhà văn Thanh Châu (tác giả truyện ngắn Hoa ti gôn in trên Tiểu thuyết thứ Bảy, tháng 9.1937) đã phát biểu cảm nhận về hoa, về vẻ đẹp hoa cúc trong thơ J. Leiba:
… “Thi sĩ Leiba trước khi từ biệt cõi đời có bài thơ Lưu biệt, trong đó thi sĩ nói đến một loài hoa mình thích:
Ta vẫn yêu hoa, mé trước song,
Giàn đưa hương sớm, dệt muôn hồng.
Trăm hoa, lòng vốn yêu riêng cúc,
Hương đạm, thần cao, khí tiết trong.
Người đời danh lợi mải đua chen,
Luống tủi hoa thơm bạn cỏ hèn.
Yêu cúc, giận đời tri kỷ ít,
Cùng hoa lên ở chốn non tiên…
Cái thích của nhà thơ yểu mệnh ấy dành riêng cho hoa cúc, cũng không có gì là lạ. Cúc vốn là loài hoa yêu dấu của những nhà ẩn dật, lánh đời, những kẻ đã từ quan cáo lão trở về vườn ruộng. Xưa nay, muốn chỉ những người đã cất bỏ được cái gánh nặng công danh, để nghĩ đến cái đời sống tinh thần trong sạch của mình riêng, người ta chỉ cần gợi hai tiếng “tùng cúc” trong một câu thơ là đủ. Khi nhà thơ Lưu Trọng Lư tới thăm ông tổng đốc Nguyễn Bá Trác, một hưu quan ở quê nhà, thi sĩ cũng đã có tặng câu:
Ở đây, hoa đã nở mùi thuyền.
Ý muốn nói rằng cái mùi hoa ở trước sân cụ Nguyễn đã nhuốm mùi đạo như cái bông hoa ở chỗ tu hành rồi. Cái mùi hoa đó, cũng lại là mùi hoa cúc. Bởi vì thi sĩ đã kết bài thơ ấy bằng hai câu:
Một thiên hạn mạn đây là hết,
Cúc gọi thu về dưới cố viên.
… Người đời càng văn minh thì giá trị của hoa lại càng tăng. Người ta nói thế mà không ngờ rằng từ nghìn xưa các thi sĩ đã ngâm hoa vịnh nguyệt…
… Ở nước ta tuy việc chơi hoa không được coi trọng lắm nhưng càng ngày lại càng có những bà nội tướng, khi đi chợ, trừ cá thịt là những thức cần phải ăn để mà sống, một đôi lần cũng đã nghĩ đến mua một bó hoa về. Và bởi khi mang về, các đức ông chồng cũng không lấy sự đó làm chê lắm, mà lại còn tỏ vẻ khoan khoái là khác nữa, nên sự mua hoa dần thấy là cần. Hoa thành một thức không mua không được. Nó làm tươi tỉnh những bộ mặt nhăn nhó của những người làm ăn vất vả ở ngoài khi trở về nhà. Nó đem lạ hòa khí cho gia đình khi có những mây đen che phủ. Một đôi khi, nó còn đem lại cả ái tình, khi người ta đã đi xa cái tuổi mà ái tình là việc chính ở đời. Nhiều người đàn bà đã gây lại được một cái hạnh phúc gần tan vỡ, chỉ nhờ có mấy xu hoa. Cũng như có những chàng trai trẻ đã chiếm được tình yêu ở người mình mơ ước, bằng một nụ hồng gửi tặng”…
Trong lời giới thiệu Một thời đại trong thi ca ở sách Thi nhân Việt Nam (Nguyễn Đức Phiên xuất bản, Huế, 1942), các nhà phê bình Hoài Thanh – Hoài Chân đã ba lần nhắc đến tên và ghi nhận vị thế J. Leiba trong tương quan những thi nhân cùng thời:
… “Hồn thơ Đường vắng đã lâu, nay lại trở về trong thơ Việt. Lần đầu tiên (1934) nó đi theo J. Leiba. Leiba giao lại cho Thái Can. Thái Can giàu, Leiba sang. Ở Thái Can cũng như ở Leiba hồn thơ Đường có cái cốt cách đời thịnh. Với Đỗ Huy Nhiệm, Vân Đài, Lưu Kỳ Linh, Phan Khắc Khoan (trong tập Xa xa), Thâm Tâm, hoặc nó kín đáo tinh vi hơn nhưng nó rắn rỏi chắc chắn hơn, nhưng cũng nghèo hơn…
… Cảm được lòng người đàn bà khó chiều kia, họa chỉ có Quách Tấn. Mối lương duyên gây nên từ Một tấm lòng đến Mùa cổ điển thì thực là đằm thắm, Mùa cổ điển gồm cả cái giàu sang của Thái Can, Leiba, súc tích lại trong một khuôn khổ rắn chắc. Nhưng Quách Tấn có thực là một nhà thơ cũ hoàn toàn? Có thực Quách Tấn không bao giờ mơ tưởng bạn phương xa?”…
Trong phần giới thiệu chân dung J. Leiba, Hoài Thanh – Hoài Chân tuyển chọn bốn bài thơ (Năm qua, Mai rụng, Hoa bạc mệnh, Bến giác, tương đương với số bài của Đông Hồ, Tế Hanh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Vũ Hoàng Chương) và đi sâu phân tích đặc điểm cội nguồn chất thơ:
“Thơ đăng báo Loa với một tên ký chẳng Việt Nam tí nào, thế mà vừa ra đời Leiba liền được người ta thích.
Người ta thích những vần thơ có giọng Đường rõ rệt, mà lại nói được nỗi lòng riêng của người thời nay. Trong khuôn khổ xưa, cái hương vị mới ấy rất dễ say người. Thơ Leiba ra đời (1934) giữa lúc ai nấy đều thấy mình như trẻ lại. Các nhà thơ đương thời, Thế Lữ, Đông Hồ, Thái Can, kẻ trước người sau, đều tả bằng những nét âu yếm nỗi lòng của người thiếu nữ lúc mới bén tình yêu. Nhưng không ai nói được đầy đủ như tác giả bài “Năm qua” (Có trích theo đây) những giai đoạn của một cuộc yêu đương nhóm lên từ hồi tóc còn bỏ xõa. Ít ai nói được như Leiba những vui buồn của người xuân nữ. Những câu như:
Hoa tặng vừa tàn bông thược dược,
Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa…
hay là:
Sầu đối gương loan, bóng lạ người,
Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai?
có thể để ngang với những câu tuyệt hay trong thơ cổ.
Hồi ấy là hồi đẹp nhất trong đời thơ Leiba. Về sau thơ Leiba không được hồn nhiên như thế nữa. Không rõ những gì đã đến trong đời thi nhân, nhưng lời thơ như vướng tí cặn của những đêm phóng túng. Hình như Leiba đã đau khổ nhiều lắm. Người tức tối lúc nghĩ đến nấm cỏ đương chờ mình:
Ví biết phù sinh đời có thế,
Thông minh, tài bộ, thế gia chi!
Học thành, danh đạt, chung quy hão:
Mắt nhắm, tay buông, giữ được gì?
Thà chọn sinh vào nhà ẩu phụ,
Cục cằn, mất dạy, lại ngu si.
Leiba là một người bao giờ cũng có dáng điệu quý phái, ưa cái không khí quý phái, tin ở tài năng, ở dòng dõi mình, và rất tự trọng, cả trong những lúc buông tuồng. Một người như thế mà nói những lời như thế hẳn phải chán nản lắm.
Chán nản đưa người về tôn giáo. Thơ Leiba hồi sau có bài đượm mùi phật. Mặc dầu chưa đúng hẳn với tinh thần đạo Phật. Bài “Bến giác” (Trích theo đây) chẳng hạn còn có một giọng lạnh lùng, chua chát chưa phải là giọng của kẻ đã dứt hết trần duyên. Cho đến cái bình tĩnh của nàng Kiều khi ở trong am Giác Duyên lần thứ hai, Leiba cũng chưa có (Xin nhắc lại lời Kiều nói với Vương ông khi tái hợp: Mùi thiền, đã bén muối dưa,/ Màu thiền, ăn mặc đã ưa nâu sồng./ Sự đời, đã tắt lửa lòng,/ Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!). Tuy thế người gần đạo Phật hơn các nhà thơ bây giờ.
Thơ Leiba đã thay đổi theo một hai điều thay đổi trong tâm trí thanh niên khoảng bảy tám năm nay. Xem thơ ta có thể thấy khi tỏ khi mờ hình ảnh của thời đại”…
Trong bài Mùa xuân, một nguồn cảm hứng dồi dào của thi nhân in trên Tạp chí Thanh nghị (số 29-31, Xuân, tháng 1.1943), Vũ Bội Liêu bình luận chủ điểm thơ xuân của nhiều thi nhân, trong đó có thơ J. Leiba:
“Mùa xuân tới, cái gì cũng tươi sáng, dịu dàng, êm ái, cả hình sắc lẫn hương thơm cùng ý tưởng, mà đời người “ngọt ngào như có vị đường”:
Cỏ xuân mượt như hoa,
Tóc liễu mướt như tơ.
Dâu xanh, xanh khắp nội,
Đường dệt vạn màu hoa”…
Vào chặng cuối phong trào Thơ mới, nhà phê bình Kiều Thanh Quế trong bài Nhân đọc Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân in trên Tạp chí Tri tân (số 134, tháng 3.1944) có ý nghĩa “tổng kết sự tổng kết”, “đánh giá sự đánh giá”, “phê bình sự phê bình” đã nhắc nhớ đến thơ J. Leiba:
“Quyển sách dày dặn cố ghi lại một thời đại thi ca Việt Nam chẵn mười năm 1932-1942…
… Thơ ca Việt Nam trong mười mấy năm gần đây đi từ cổ điển (với Tản Đà, Trần Tuấn Khải), trải qua lãng mạn (với Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận), sang tưởng tượng (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên) rồi bây giờ đến tả chân (với Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ)…
… Trong các cuộc biến thiên lớn của thơ ca Việt Nam ấy, ta vẫn đếm được mấy phong trào nhỏ: lối thơ hài hước của Tú Mỡ mà tác giả Thi nhân Việt Nam vô tình hay hữu ý đã quên đứt, nhưng được ông Lê Thanh nói đến trong một tập phê bình Tú Mỡ; và lối thơ say của Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tố, Vũ Hoàng Chương…
… Cái say của tác giả Tiếng thu là cái say của kẻ “giang hồ rượu ngấm”. Đến cái say của Nguyễn Tố quả là cái say của Tản Đà còn di truyền lại, cái say của kẻ ăn chơi.
Còn cái say của Vũ Hoàng Chương thật là mới: “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say”. Người say đủ thứ: say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa…
… Buồn, người ta chán đời, rồi người ta đâm ăn chơi, uống rượu cho say để quên…
… Có kẻ chán nản quá, muốn gởi thân vào cửa thiền:
Người đẹp vẫn thường hay chết yểu,
Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai.
Ba xuân, muôn thắm thêu cành biếc,
Bạc mệnh hoa kia đã rụng rồi!…
… Hồn kết gió hương trời Nhược Thủy,
Cánh viền mây thắm động Thiên Thai.
Hóa thành những giọt mưa thơm ấy,
Tưới nở trăm hoa đã héo rồi!
(J. Leiba – Hoa bạc mệnh)
Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá!
Lệ lòng mong cạn chốn am Không.
Cửa thiền một đóng duyên trần đứt,
Quên hết người quen chốn bụi hồng.
(J. Leiba – Bến giác)
… Trên kia, xét cuộc biến thiên của thơ ca Việt Nam hiện đại, ta đã nói đến giai đoạn tả chân của thơ Việt. Rồi từ tả chân, thơ Việt Nam đã bước qua cầu siêu tả chân (surréalisme) mà sang lối thơ tập thể (cubisme)”…
Đương thời Thơ mới 1932-1945, các nhà phê bình ghi nhận thơ J. Leiba như một nỗi niềm in đậm cảm quan Phật giáo, một tiếng chim kêu thảng thốt giữa cõi đời. Thi sĩ Leiba chưa có tập thơ riêng, chỉ mới có thơ lẻ in báo, vậy mà người phê bình vẫn trân trọng, ghi nhớ thơ ông. Mới hay người phê bình một thời thật có tâm, biết cảm nhận, phát hiện, khẳng định những trang thơ của một người thật bình thường chỉ với một tiêu chí duy nhất: thơ hay!.
1/11/2022
Nguyễn Hữu Sơn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Bến mơ trong thơ Yến Lan

Bến mơ trong thơ Yến Lan

Nhà thơ Yến Lan (1916 – 1998) có không hiếm những vần thơ hay, nhưng dường như nhà thơ mang bút danh yểu điệu rất con gái này chỉ được biết đến nhiều qua bài thơ Bến My Lăng xuất hiện từ phong trào thơ mới. Nhà thơ Yến Lan là thành viên của Bàn thành tứ hữu (Bốn người bạn thơ ở thành Đồ Bàn), gồm những nhà thơ xuất sắc một thời tại Bình Định.
Thơ Yến Lan mang hương sắc lạ: ngôn ngữ giàu hình tượng, giai điệu mang mang nhưng tứ thơ phong kín một nỗi niềm khiến người đọc lắm khi chỉ cảm thụ bằng trực giác. Yến Lan là một thi sĩ đã làm thơ và tham gia công tác kháng chiến trong hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Nhà thơ Yến Lan để lại 2 vở kịch thơ (Bóng giai nhân và Gái Trữ La), 8 tập thơ trong đó Thơ tứ tuyệt là tuyển tập thơ sau cùng (1996) được nhiều người đánh giá cao.
Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, thi ca thuộc phạm trù phi vật thể, nằm trong sinh hoạt kiến trúc thượng tầng. Người làm thơ hay nếu không có năng khiếu được trời cho thì trước hết phải đam mê thi ca, có một tâm hồn dễ xúc cảm và kinh qua ít nhiều kiến thức văn học cơ bản cùng một vốn sống trải nghiệm thực tế ở cuộc đời. Trong lúc nhà thơ Hàn Mặc Tử coi người làm thơ là người điên, Chế Lan Viên cho rằng nhà thơ là người không bình thường, ta có thể xem Yến Lan là chàng thi sĩ của những vần thơ bay bổng mơ mộng đứng riêng một cõi trên thi đàn.
Nhà thơ Yến Lan tên thật là Lâm Thanh Lang, người Bình Định, vùng đất giàu cổ tích được xem là địa linh thi kiệt với những nhà thơ nổi tiếng của nền văn học hiện đại: Quách Tấn (1910-1992), Hàn Mặc Tử (1912-1940), Chế Lan Viên (1920-1989), Xuân Diệu (1916-1985)… Thuở nhỏ học tiếng Hán với ông nội vốn là người Minh Hương, Lâm Thanh Lang sớm mồ côi mẹ từ lúc 6 tuổi. Lớn lên, ông cưới bà Nguyễn Thị Lan, sống bằng nghề dạy học tư và làm thơ.
Trong hoàn cảnh khiêm tốn về vật chất, bà Lan đã tỏ ra là người vợ hiền rất hiểu và thương chồng. Chính người bạn đời của nhà thơ đã giúp tác giả ghi chép tất cả sáng tác của chồng khi nhà thơ gặp cảnh ốm đau không thể cầm bút, khiến nhà thơ rất mực yêu thương vợ. Ngay cả bút danh Yến Lan của nhà thơ cũng được hình thành từ một giai thoại thể hiện tình cảm đặc biệt của hai người bạn gái nhà thơ. Cô Yến và cô Lan chơi thân với nhau, hứa với  nhau về sau sẽ cùng lấy một chồng. Thi sĩ nghe hay hay nên lấy tên hai cô ghép lại làm bút danh cho mình như để lưu giữ một tình bạn đẹp đậm tính nhân văn giữa ba người. Không chỉ chan hòa tình cảm với vợ và bè bạn, sâu đậm nồng nàn hơn là tình yêu quê hương tha thiết mà Yến Lan đã bày tỏ trong nhiều bài thơ đau đáu viết về Bình Định nhau rốn yêu thương: Bình Định 1935,  Bình Định 1945, Bình Định 1947, Bình Định 1975…
Nhắc đến Yến Lan, ta không thể không nói đến trước hết bài thơ “Bến My Lăng” được coi là tác phẩm nổi tiếng đã làm nên tên tuổi nhà thơ trên văn đàn.
Thi ca thế giới xưa nay thường hay nói đến bến, từ ngữ chỉ địa điểm không gian mang ý nghĩa của một nơi đỗ tạm thời, một khoảnh khắc dừng chân trong giây phút để rồi chuẩn bị lên đường, chia xa đôi đàng người đi kẻ ở. Bến Tầm Dương (Bạch Cư Dị), Bến tình (Ngũ Lang), Bến Ninh Kiều, Bến cũ người xưa… Chỉ một từ đơn âm thôi mà đọc lên nghe sao man mác bao nỗi ngậm ngùi! Bến My Lăng của nhà thơ Yến Lan được coi là bến đò Trường Thi hiện thực trên sông Cửa Tiền tại Bình Định, quê hương tác giả được nhà thơ thi vị hóa thành Bến My Lăng, đọc lên nghe mơ màng huyền ảo một vẻ siêu thực!
Dường như khá đông công chúng không ai xa lạ với bài thơ tên Bến My Lăng và tác giả là nhà thơ Yến Lan cũng được trân trọng là một nhà thơ có vị trí trên văn đàn. Nhưng cảm nhận hoặc đánh giá bài thơ ấy thì ít ai mạnh dạn. Bến Ly Lăng được sáng tác theo thể loại thơ mới 8 chữ (alexandrin) ảnh hưởng phong cách phương Tây như bài Nhớ rừng của Thế Lữ hay Cảm xúc của Xuân Diệu. Bài thơ Bến My Lăng của Yến Lan gồm 5 khổ rưỡi, mỗi khổ 4 câu, tất cả là 22 câu. Nhà thơ chủ yếu gieo vần gián cách âm hưởng cao thấp. Chỉ 3 câu liên tiếp cuối bài là theo liên vận (vần liền): Lăng-trăng-trăng dễ gây cảm giác lâng lâng mơ hồ cho người đọc.
Hình tượng nhân vật chủ đạo trong bài thơ là ông lão chèo đò trên một bến sông tĩnh lặng với phong thái phiêu diêu ngạo nghễ, không giống với bao người lái đò khác ngày ngày đưa khách sang sông vì chuyện áo cơm. Trong không gian thơ mộng lung linh ánh trăng vàng, ông lão hiển thị bên sách vở và bầu rượu cạn như một triết nhân đang trầm tư: “Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách/ Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu/ Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách/ Ông lái buồn để gió lén mơn râu”. Cảnh đêm trăng đẹp hôm nay khiến lão cảm thấy buồn, lòng mang mang hồi tưởng lại hình bóng một chàng trai trẻ trên yên ngựa đến bến sông một đêm trăng nào trong ký vãng xa xôi: “Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã/ Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly”. Trong cảnh đất nước tang thương, dân tình khổ sở, phải chăng ông lão đang tự vấn mình rồi mơ về hình bóng những chàng trai dũng cảm, với tinh thần bất khuất, đám xông ra sa trường, diệt thù cứu nước: “Ừ sao không nhớ người trai trẻ/ Trò chuyện cùng tôi dưới ánh trăng”.
Có phải những Kinh Kha của nước Yên ngày trước hăm hở vượt dòng sông Dịch với lời minh thệ “nhất khứ bất phục phản” để tiêu diệt Thủy hoàng bạo chúa. Hay những Lạn Tương Như son sắt một lòng vì tổ quốc, mang bảo ngọc dũng cảm ra đi vì nghiệp lớn cũng như bao thanh niên yêu nước đã ra đi làm bổn phận người trai trong mấy mùa chinh chiến. Ông lão chờ đợi cho mãi đến một đêm kia có chàng kỵ mã gội ánh trăng vàng, ruổi ngựa đến bến My Lăng giục giã gọi đò đến run rẩy cả trăng sao: “Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả/ Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi”. Nhưng ông lái đò gối đầu lên sách im lặng, như còn đang mãi say trăng, khiến chàng trai giục giã: “Mà ông lão say trăng, đầu gối sách/ Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi/ Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/ Gọi đò thôi, run rẩy cả vầng trăng”. Nhưng không gian vẫn im lặng, lạnh lùng, chẳng vang lên tiếng phản hồi của ông lão chèo đò cho chàng kỵ mã. Bài thơ đan kết bằng ngôn từ chắt lọc trữ tình, long lanh sắc màu huyền thoại và ngồn ngộn hình tượng cổ tích, nhịp nhàng cộng hưởng cùng thi tứ mang mang như phong kín một nỗi niềm của ông lão chèo đò trong hoàn cảnh quốc phá gia vong.
Yến Lan có những bài thơ hay: Lại về tỉnh nhỏ (1956), Mùa xuân lên cao, Uống rượu với bạn đồng hương làm ra từ sau năm 1945, được nhà thơ Chế Lan Viên và GS. Nguyễn Văn Long khen ngợi. Riêng Một mối thất tình có bước chuyển hướng mới trước va chạm giữa con người và cuộc sống. Bài thơ Nghe con đường chảy thì có hơi hướng giai điệu như Bến My Lăng, với nhạc thơ khá dịu ngọt, tứ thơ mơ mộng, phiêu diêu khiến cho Yến Lan có một thế đứng vững riêng một cõi và được nhiều người biết thêm tác giả trên thi đàn.
Dù cả một đời làm thơ chắt chiu lam lũ mà dường như Yến Lan chỉ được công chúng mơ hồ nhớ lại qua một tựa bài trong sự nghiệp cầm bút: Bến My Lăng. Bằng hữu văn chương và các nhà phê bình văn học cũng ít phát biểu về Yến Lan. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh khách quan có ý kiến: “Xem thơ yến Lan, tôi mơ màng như đi trong mây mù”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Tấn Long tỏ ra thông cảm và triết lý: “Đọc Yến Lan, giới yêu thơ bị lôi cuốn về thế giới suy tư, một cõi im lặng, một sự trầm mặc nhẹ nhàng nhưng bao hàm ý nghĩa của sự sống và cuộc đời”. Nhưng chính tựa đề bài thơ về một bến sông lạ này đã khiến nhiều người cảm thấy thích thú, trong đó có một nữ nhà văn ở đất Cầm Thi và một nữ ký giả tại hòn ngọc Viễn Đông đã tỏ ra tâm đắc, cùng lấy tên My Lăng làm bút danh cho mình.
Mỗi lần tôi có dịp đọc lại bài thơ Bến My Lăng, trong lòng không tránh khỏi bâng khuâng, mường tượng về một bối cảnh u huyền đậm màu cổ tích: bài thơ chập chờn hình ảnh những nhân vật mang phong thái phiêu diêu, hào sảng như ông lái đò và hình bóng mơ hồ của chàng kỵ mã hiện ra trong tâm khảm: Bến nơi mô, em gọi My Lăng/ Cho người đau đáu mộng thuyền trăng/ Chờ ai bến đợi sông mơ đó/ Mà bóng người đi mãi biệt tăm.
2/11/2022
Nguyễn Thanh
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Lửa từ bi" trên hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương

"Lửa từ bi" trên hành trình thơ
của Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương xuất hiện trên thi đàn sau khi những tên tuổi lớn của Phong trào Thơ mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu… đã đi qua thời đỉnh cao. Ông xuất hiện với một giọng thơ lạ: vừa cổ kính xưa cũ vừa hiện đại đến táo bạo; vừa thanh cao phiêu dật vừa nhục thể đến trần trụi rã rời…
Ông tự nhận và cũng được không ít người xưng tụng là “Ông hoàng thơ ca”, bậc “Thi vương” (Hoàng Chương), “Thi bá”… Trước 1945 ông có Thơ say (1940), Mây (1943). Trong kháng chiến ông có Thơ lửa (1948), Rừng phong (1954). Sau 1954 ông có Hoa đăng (1959), Trời một phương (1962), Lửa từ bi (1963), Ánh trăng đạo lý (1966), Bút nở hoa đàm (1967), Cành mai trắng mộng (1968), Ngồi quán (1971), Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973)…
Dõi theo hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương ta thấy có nhiều thay đổi, trong đó có khúc quanh quan trọng là việc cho ra đời tập thơ Lửa từ bi – một tập thơ được viết ra từ ánh sáng ngọn lửa tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức trong cuộc đấu tranh vì tự do, hòa bình, vì Phật pháp và vì dân tộc.
1. VŨ HOÀNG CHƯƠNG TỪ "THƠ SAY" ĐẾN "LỬA TỪ BI"
Từ Say (Thơ say) đến Mộng (Mây)
Vũ Hoàng Chương xuất hiện với những vần thơ say – có cái say từ thiên cổ theo kiểu “túy hậu cuồng ngâm”, say để phát lộ tính tình, nhưng cũng có cái say của thời hiện đại, ở những đô thị mới mẻ, náo nhiệt mà cũng không thiếu trụy lạc của thời thực dân. Bài thơ Say đi em mở đầu tập Thơ say là bài thơ mang nhịp điệu mới mẻ ấy. Người thơ say nhạc, say khiêu vũ, say rượu và say với giai nhân:
Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng.
Một trời phấn hương
Đôi người gió sương
(…) Âm ba gờn gợn nhỏ,
Ánh sáng phai phai dần…
Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân,
Lui đôi vai, tiến đôi chân:
Riết đôi tay, ngả đôi thân,
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió,
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!
Say để quên đi mối Sầu – một mối Sầu nào đó người thơ không nói rõ, nhưng cơ hồ lớn lắm, như bức thành sừng sững mà cái say rã rời cũng không làm cho nó sụp đổ được:
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn,
Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa và quên, quên hết!
(…) Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa,
Gối mỏi gân rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa.
Say không còn biết cho đời,
Nhưng em ơi,
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa,
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi! (1)
Bài Say đi em mở đầu tập thơ mà như bài tựa, nó gồm thâu hết cái say trong cả tập thơ. Ẩn chứa sau cái say ấy là mối sầu vạn cổ như trong thơ xưa, mà cũng pha chút đắng cay thân phận của một người dân thuộc địa.
Người thơ sẽ nói rõ hơn, thảm hại hơn về cái thân phận ấy ở nhiều bài thơ sau, mà ấn tượng nhất là bài Phương xa:
Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh,
Bể vô tận xá gì phương hướng nữa,
Thuyền ơi thuyền! theo gió hãy lênh đênh.
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ.
Một đôi người u uất nỗi bơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! xin ghé bến hoang sơ.
Thế nhưng nhổ thuyền đi đâu, trốn ở bến bờ nào được? Người trốn vào ái tình bẽ bàng với những cô gái môi nâu vì thuốc phiện:
Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,
Sát gần đây, gần nữa cặp môi nâu
(…) Hãy buông lại gần đây làn tóc rối
Sát gần đây, gần nữa cặp môi điên,
Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.
Quên (Thơ Say)
Trong những cơn say rượu và thuốc phiện, người thơ mơ trốn lên Thiên Thai, Đào Nguyên… nhưng động xưa đã khép, “Đào Nguyên lạc lối” không tìm được nữa! Người tìm vào những mối tình học trò với những U tình, Cánh buồm trắng, Vườn tâm sự, Em là công chúa… Nhưng tình học trò dù có thiết tha đến mấy dường như cũng quá nhạt với người! Người tìm vào những giấc mộng tình yêu với hồ ly, gái liêu trai… với phức cảm vừa rùng rợn lại vừa đắm say:
Gạn giấc chiêm bao với mảnh hình
Tóc xòa buông rủ mái tròn xinh.
Hoa mai thêu trắng nền xiêm lụa,
Đôi mắt ngời sao miệng đẫm tình.
Lòng cháy yêu đương tự bấy giờ,
Sá chi người thực với trong mơ!
… Đêm đêm ảo ảnh thơm chăn gối,
Tình hướng về Đông, dạ lắng chờ.
Tình Liêu Trai (Mây)
Thế nhưng Tình Liêu Trai cũng chỉ Mộng. Đôi khi người sực tỉnh, một niềm xót xa thân phận và một niềm khao khát hành động lại ùa về:
Ôi! Lòng ta sao buồn không nguôi?
Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi.
Há vì cơm áo chẳng no lành?
Há vì đời không ai mắt xanh?
Nhớ thuở xưa chưa có ta hề đường đi thênh thênh
Kịp tới khi có ta hề chông gai mông mênh.
Cuồng vọng cả mà thôi, bốn phương hề vướng mắc.
Ba mươi năm trên vai hề trống không bình sinh…
Túy hậu cuồng ngâm
Bài thơ Túy hậu cuồng ngâm cuối tập thơ Mây có một giọng khác lạ so với những bài thơ trước, nhưng theo tôi nó vẫn là một phần máu thịt trong hồn thơ Vũ Hoàng Chương. Bài thơ như một sự tỉnh mộng, nhưng từ một góc nhìn khác lại cũng là chìm vào giấc mộng: giấc mộng hành động, giấc mộng anh hùng!
Từ Mộng đến với Hành động và Sân hận
Từ Vũ Hoàng Chương của Túy hậu cuồng ngâm đến Vũ Hoàng Chương của Thơ lửa do Hội Văn hóa Liên khu 3 ấn hành 1948 thì gần lắm rồi, chỉ một bước chân qua bên kia là “Vùng tự do” (vùng kháng chiến) là tới. Như chính Vũ Hoàng Chương bộc bạch: “Tự biết mình là một người dân vong quốc, tôi rất kính trọng Kháng chiến và cảm phục Cách mạng. Sự cảm phục và kính trọng này đã khiến cho tôi giác ngộ được phần nào, và tự hứa sẽ tích cực tham dự công cuộc chung của nhân dân do Hồ Chủ tịch lãnh đạo”(2).
Trong kháng chiến, Vũ Hoàng Chương chuyển hướng thành một nhà thơ ái quốc nhiệt thành và say mê hành động, như chính trong văn bản trên, ông đã kể về những hoạt động của mình:
“ - đã viết được vở kịch thơ Hồn Cách mạng, diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội (1946)
 – đã được giải thưởng thứ 3 về thơ Toàn quốc kháng chiến, do đích thân Hồ Chủ tịch làm chủ khảo (1947)
– đã được hội Văn hóa Liên khu 3 ấn hành cho tập thơ kháng chiến nhan đề Thơ lửa (1948)
– đã viết đều ở báo Công Dân tại tỉnh Nam Định (1947, 48)…
– đã được bầu làm trưởng nhánh Văn chương Báo chí của hội Văn nghệ chi nhánh Liên khu 3 (1948)…”(3).
Vì thế chúng ta không hề ngạc nhiên khi đọc bài thơ Nhớ về Hà Nội vàng son của ông viết năm 1947 – bài thơ có một giọng điệu trong sáng, hào hứng hiếm có. Theo tôi, đây là một trong những bài thơ hay nhất viết về Cách mạng tháng Tám:
Ôi ngày mười chín, ngày oanh liệt!
Sóng đỏ hoa vàng khắp bốn phương
Hà Nội tiếng reo hò bất tuyệt
Vang sang bờ nọ Thái Bình Dương.
Ba mươi sáu phố, ngày hôm ấy
Là những nhành sông đỏ sóng cờ
Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại
Năm cánh hoa xoè trên năm cửa ô (…) 
Chen tiếng hoan hô, này khẩu hiệu
Muôn năm Chủ tịch Hồ Chí Minh!
Muôn năm người lính già tiêu biểu
Vì giang sơn quyết bỏ gia đình.
Ôi ngày mười chín, ngày sung sướng!
Vạn ước mong dồn một ước mong!
Ôi mùa thi ấy, mùa tin tưởng!
Một tấm lòng mang vạn tấm lòng (…) 
Thế nhưng rồi Vũ Hoàng Chương lại đi đến một khúc quanh khác: năm 1950, ông bỏ về Hà Nội, rồi từ Hà Nội ông di cư vào Nam năm 1954. Thơ Vũ Hoàng Chương từ sau 1954 là nỗi hoài niệm về Hà Nội, về quê hương miền Bắc. Được chiều chuộng trong không gian văn nghệ bên kia bờ Hiền Lương, ông trượt đi trong nghịch cảnh. Với những tập Hoa đăng (1959), Trời một phương (1962)… thơ ông mang nặng nỗi niềm u uất và cả sân hận… Đọc những bài thơ như Bài ca Bình Bắc, Nhớ Thăng Long, Từ đây, Nhớ Bắc… người ta thấy rất nhiều ảo tưởng, rất nhiều hoang tưởng và nhất là rất nhiều sân hận. Nhưng mà thôi, với thi sĩ thì nói đến sân hận làm gì! Nguyễn Du chẳng đã từng nhắc chúng ta: “Thân tàn gạn đục khơi trong/ Là nhờ quân tử khác lòng người ta”?…
2. ĐẾN VỚI TỈNH THỨC, TÌNH YÊU TRONG "LỬA TỪ BI"
Chế độ Ngô Đình Diệm đã không đem lại tự do, hòa bình, thống nhất như có thời Vũ Hoàng Chương từng ảo tưởng. Chế độ ấy thi hành chính sách kỳ thị tôn giáo, cấm đoán Phật giáo – một tôn giáo thân thiết gắn bó với dân tộc hơn nghìn năm nay. Chế độ ấy mở cửa đất nước cho quân đội ngoại bang vào dày xéo quê hương. Hòa bình, thống nhất trở nên xa vời, thảm họa của cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử dân tộc đang đến rất gần… Ngày 11 tháng 6 năm 1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Hòa thượng bình thản ngồi trong khối lửa, nhưng cả thế giới thì rúng động trước sức nóng của khối lửa ấy.
Trong bối cảnh ấy, Vũ Hoàng Chương đã nhận ra bộ mặt thật của chế độ và nghịch cảnh của dân tộc, nhà thơ đã đi đến một khúc quanh mới: ông từ bỏ những vọng tưởng và sân hận mà thức tỉnh đi đến với Tình yêu – tình yêu Tự do, Hòa bình, tình Anh em và tình Nhân loại. Bài thơ Lửa từ bi và cả tập thơ cùng tên là minh chứng cho khúc quanh đó.
Vũ Hoàng Chương cũng xác quyết về khúc quanh này trong Lời tựa tập Lửa từ bi: “Những bài thơ trong tập này nhằm ghi lại một nguồn cảm hứng mới của tác giả, khơi dậy trong lòng cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ Việt Nam, khoảng năm 2.507 Phật lịch (từ 15 tháng Tư đến 15 tháng Chín), tức là năm 1963 d.l.”(4).
Trong không khí đàn áp Phật giáo khốc liệt của năm 1963, bài thơ Lửa từ bi đã ra đời một cách khó khăn. Lúc đầu bài thơ bị tòa báo từ chối, sau nó được in dạng quay ronéo như truyền đơn, và sau đó mới được xuất bản trong tập thơ Lửa từ bi cùng 14 bài thơ khác. Tác giả kể: “Bài Lửa từ bi gửi đăng nhật báo Tự do Saigon ngày 28/7/63 bị kiểm duyệt bỏ trọn, đã được văn phòng Chùa Xá Lợi, ngay sau đó, quay thành những bản “Ronéo” và phổ biến nhân ngày Chung thất của Bồ Tát Quảng Đức. Bài Người với người được đăng trên nhật báo Tự do ngày 18/8/63 chỉ bị kiểm duyệt bỏ 10 chữ. Sau đấy, Chùa Xá Lợi bị cường quyền xâm phạm, nhật báo Tự do cũng bị đình bản, tác giả không còn phương tiện nào khác để phổ biến thơ của mình ngoài cách truyền tay trong số các bạn thân tín”(5).
Tập thơ được xuất bản, nhưng không phải bởi một nhà xuất bản có uy tín nào, mà do Đoàn Thanh niên tăng ni – một tổ chức đấu tranh cho Phật giáo đứng ra in. Giấy in xấu, bìa vẽ vội, xuất bản rất nhanh – chỉ 3 tháng sau khi Hòa thượng chịu pháp nạn: tháng 9 năm 1963. Thế nhưng tập thơ này lại trở thành tập thơ hay nhất của Vũ Hoàng Chương sau Thơ say
Bài thơ bắt đầu bằng cảnh tượng Hòa Thượng Thích Quảng Đức tọa thiền trong tòa sen lửa. Ngọn lửa thì ngùn ngụt bốc lên, còn chúng sinh với xác phàm và tâm trần khổ đau thì quỳ xuống. Ngọn lửa của Hòa thượng cháy lên thành một mặt trời thứ hai:
Lửa! lửa cháy ngất tòa sen!
tám chín phương nhục thể trần tâm
hiện thành THƠ, quỳ cả xuống.
Hai Vầng – Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
chắp tay đón một Mặt-trời-mới-mọc,
ánh Đạo – Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên (6)
Hòa thượng thiêu mình không phải bằng cái tâm sân hận, mà Người tận hiến cuộc sống của mình từ tình thương và lòng từ bi: 
Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,
NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày
bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây;
gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ,
Phật – pháp chẳng rời tay.
Sáu ngả Luân – hồi đâu đó
mang mang cùng nín thở,
tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh – xe – quay.
Ngọn lửa từ nhục thân của Hòa thượng ngùn ngụt cháy, nhưng ngọn lửa ấy không phải lan ra thành bão lửa, mà ngọn lửa đưa Hòa thượng lên Niết bàn và để lại bóng mát cho chúng sinh:
Không khí vặn mình theo
khóc oà lên nổi gió;
NGƯỜI siêu thăng
giông bão lắng từ đây.
Bóng NGƯỜI vượt chín tầng mây,
nhân gian mát rợi bóng cây Bồ – đề.
Hòa thượng trở thành bất tử – bất tử mà không cần ngọc đá để tạc tượng, không cần lụa tre của người viết sử làm thơ:
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc;
lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi;  
chỗ NGƯỜI ngồi: một thiên – thu – tuyệt – tác
trong vô hình sáng chói nét Từ – Bi.
Vì ngọc đá lụa tre của trần gian vẫn có ngày mục nát, nhưng trái tim yêu thương của Hòa thượng thì vĩnh cửu, tỏa ánh sáng từ bi xuống tận tầng đáy sâu nhất của hỏa ngục – nơi con người bị đọa đày: 
Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?
ngọc đá cũng thành tro
lụa tre dần mục nát
với Thời – gian lê vết máu qua đi.
Còn mãi chứ! còn Trái – Tim – Bồ – Tát
gội hào quang xuống tận ngục A – tỳ.
Trước ngọn lửa từ bi ấy, nhà thơ đại ngộ: từ vô minh mà đến tỉnh thức. Những kiêu căng, ngông nghênh của một “thi vương”, “thi bá” trần hoàn cũng hết, nhà thơ chỉ coi thơ là rơm rác trước ánh lửa kia, và rồi lại mong thơ mình là rơm rạ để cháy lên theo lời kinh:
Ôi Ngọn – lửa – huyền – vi!
thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác
từ cõi Vô – minh
hướng về Cực – lạc;  
vần điệu của Thi – nhân chỉ còn là rơm rác
và chỉ nguyện được là rơm rác,
THƠ cháy lên theo với lời Kinh
tụng cho Nhân – loại hoà bình
trước sau bền vững tình Huynh – đệ này.
Thơ Vũ Hoàng Chương cháy lên từ đó, cháy lên để soi đường đi đến với Tình yêu – tình yêu Tự do, Hòa bình, tình Anh em và tình Nhân loại:
Thổn thức nghe lòng trái Đất
mong thành quả Phúc về cây;
nam mô Bổn – Sư Thích – Ca – Mâu – Ni – Phật;
đồng loại chúng con
nắm tay nhau tràn nước mắt,
tình thương hiện Tháp – Chín – Tầng xây.
Bài thơ có sức truyền cảm mạnh mẽ. Ngay sau đó nó được truyền ra nước ngoài. Với uy tín của mình, Vũ Hoàng Chương đã kêu gọi giới trí thức quốc tế chú ý đến cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Tác giả kể:
“Riêng 2 bài Lửa từ bi và Người với người đã gửi sang Âu châu ngay sau lúc sáng tác nên nữ thi sĩ Bỉ quốc Simone Kuhnen de la Cœuillerie đã dịch Pháp ngữ để kịp thời đệ trình lên Hội nghị thi ca quốc tế họp tại Knokke từ 5 đến 9 tháng 9/63. Tác giả cũng đích thân gửi thư yêu cầu Hội nghị chú trọng đến cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ tại Việt Nam. Thi sĩ Pierre – Louis Flouquet, nhân danh Phó chủ tịch, đã thỏa mãn lời yêu cầu này. Hai bản dịch (Feu de Sacrifice và D’homme à homme) đã được giới thiệu với các đại biểu của 50 quốc gia. Một đoạn trong bài thứ nhất được ngâm lên giữa Hội nghị, đó là đoạn:
Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?
Ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát
Với Thời-gian lê vết máu qua đi.
Còn mãi chứ! còn TRÁI TIM BỒ TÁT
Gội hào quang xuống tận ngục A – Tỳ”(7)
Từ sau tập Lửa từ bi, trong thơ Vũ Hoàng Chương những chán chường, khổ đau, mộng mị như trong Thơ Say và Mây cũng hết; những ảo tưởng, hoang tưởng và sân hận trong Hoa đăng, Trời một phương cũng không còn, thơ ông như đến với một cảnh giới khác: tràn đầy yêu thương, tràn đầy tình huynh đệ, tràn đầy hỉ xả, và cả lạc quan. Đọc tên các tập thơ sau Lửa từ bi cũng thấy được phần nào: Ánh trăng đạo lý (1966), Bút nở hoa đàm (1967), Cành mai trắng mộng (1968), v.v… Ông bắt đầu cách ly mình với chính quyền thân Mỹ. Năm 1966 khi đang làm chủ tịch Hội văn bút(8), ông đã từ chối tham gia hội nghị về thơ tổ chức ở New York để phản đối Mỹ và chính quyền bù nhìn – như ông viết: “Năm 1966, hội nghị ở Mỹ (New York) nhưng tôi không đi, và đã cử Tổng thư ký đi thay làm trưởng phái đoàn. Vì tôi ghét bọn Mỹ Thiệu và Kỳ lúc đó đang đàn áp Phật giáo ở Đà Nẵng, Sài Gòn”(9).
Con đường thơ của Vũ Hoàng Chương trải qua những tháng ngày buồn tủi, khốc liệt nhất của dân tộc. Vũ Hoàng Chương là một thiên tài thơ Việt Nam hiện đại, một thiên tài thơ chịu lắm thăng trầm. Dường như chúng ta vẫn nhìn ông với con mắt định kiến mà không biết ông đã trải qua một hành trình gian khổ từ Thơ Say, Mây đến Thơ lửa; rồi từ Hoa đăng, Trời một phương đến với Lửa từ bi… một hành trình tự lột xác mình. Chúng ta chưa đánh giá hết bước chuyển mình của Vũ Hoàng Chương từ tập Lửa từ bi cũng như chưa đánh giá hết vị trí lịch sử của tập thơ này với văn học Việt Nam hiện đại. Tôi xin trích một đoạn đánh giá về tập thơ này trong Lời giới thiệu của Nhà xuất bản Rừng Trúc khi ấn hành thơ Vũ Hoàng Chương ở Paris:
“Phải nhận rằng ngàn-chín-trăm-sáu-ba đánh dấu sự chuyển mình lớn của văn học Việt Nam trong giai đoạn mới của sử tính. Dường như chúng ta vừa trở về tổ ấm, vừa nắm bắt vũ khí sở trường chôn lâu trong hoen rỉ và lãng quên để trang bị tri thức và tâm linh mình. Không có vũ khí tinh thần này, chúng ta chẳng còn là ta nữa.
Bài Lửa từ bi của Vũ Hoàng Chương đã thực đánh dấu cho sự chuyển mình đó. Nó bộc lộ đủ một phong triều văn học mới, dựng trên Bao dung và Trí tuệ. Bởi nó ánh được Ngọn lửa tỉnh thức. Bởi nó đã dùng lời Việt nói ra sự chấn động ầm ầm của lương tâm quốc tế”(10).
Bài thơ là một khúc quanh của một nhà thơ, đánh dấu một khúc quanh của một nền văn học(11). Nó thực sự cần có một chỗ đứng xứng đáng hơn trong các tuyển tập, trong các bộ lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Và tác giả của bài thơ cũng vậy. 
Chú thích:
(1) Vũ Hoàng Chương: Say đi em, in trong Thơ say, Mây. Nxb. Hội Nhà văn, H., 1996. Các bài dưới đây đều theo sách này.
(2) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.
(3) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.
(4) Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xb, Sài Gòn, 1963.
(5) Bài tựa tập Lửa từ bi, Sđd.
(6) Theo bản in Lửa từ bi trong tập thơ Chúng ta mất hết chỉ còn nhau, thơ Vũ Hoàng Chương, Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974.
(7) Bài tựa tập Lửa từ bi, Sđd.
(8) Vũ Hoàng Chương làm Chủ tịch Hội Văn bút (Pen club) từ 1964-1968.
(9) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.
(10) Lời tựa tập Chúng ta mất hết chỉ còn nhau. Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974.
(11) Các tập thơ của Vũ Hoàng Chương: Thơ Say (tác giả xuất bản, 1940; Nxb. Hội Nhà văn tái bản, 1995), Mây (Đời Nay xb, 1943, Nxb. Hội Nhà văn tái bản, 1995), Kịch thơ Trương Chi (tập kịch thơ, gồm 3 vở: Trương Chi, Vân Muội, Hồng Diệp, 1944, bản viết tay của tác giả), Cô gái ma (kịch thơ, 1944, bản viết tay của tác giả), Rừng phong (P.Văn Tươi xb, Sài Gòn, 1954), Hoa đăng (Văn hữu Á châu xb, Sài Gòn, 1959), Tâm sự kẻ sang Tần (kịch thơ, công diễn lần đầu ở H., 1951, 1961, bản chép tay của tác giả), Trời một phương (tác giả xuất bản, 1962), Lửa từ bi (Đoàn Thanh niên tăng ni xb, SG, 1963), Poèmes Choisis (thi tuyển, Versions Francaises de Simone Kuhnen de la Coeuillerie; Préface de André Guimbretiere; Editions Nguyen Khang, Sai Gon, 1963), Ánh trăng đạo lý (Nha Tuyên úy Phật giáo ấn hành, 1966), Cành mai trắng mộng (1968), Ngồi quán (Lửa thiêng xb, Sài Gòn, 1971), Đời vắng em rồi say với ai (1971), Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974), Ta đã làm chi đời ta (hồi ký, 1974) và một số di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.
– Xin xem: Hoài Thanh – Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, tái bản. Nxb. Văn học, H., 1998.
– Nhiều tác giả: Từ điển văn học (bộ mới). Nxb. Thế giới, H., 2004.

PHỤ LỤC
Lửa từ bi
Kính dâng lên Bồ-tát Quảng-Đức
Lửa! lửa cháy ngất tòa sen!
tám chín phương nhục thể trần tâm
hiện thành THƠ, quỳ cả xuống.
Hai Vầng-Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
chắp tay đón một Mặt-trời-mới-mọc,
ánh Đạo-Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên
Ôi, đích thực hôm nay trời có mặt;
giờ là giờ Hoàng-đạo nguy nga!
Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt
nhìn nhau: tình Huynh-đệ bao la.
Nam mô Đức-Phật-Di-Đà,
Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay?
Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,
NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày
bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây;
gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ,
Phật-pháp chẳng rời tay.
Sáu ngả Luân-hồi đâu đó
mang mang cùng nín thở,
tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh-xe-quay.
Không khí vặn mình theo
khóc oà lên nổi gió;
NGƯỜI siêu thăng
giông bão lắng từ đây.
Bóng NGƯỜI vượt chín tầng mây,
nhân gian mát rợi bóng cây Bồ-đề.
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc;
lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi;
chỗ NGƯỜI ngồi: một thiên-thu-tuyệt-tác
trong vô hình sáng chói nét Từ-Bi.
Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?
ngọc đá cũng thành tro
lụa tre dần mục nát
với Thời-gian lê vết máu qua đi.
Còn mãi chứ! còn Trái-Tim-Bồ-Tát
gội hào quang xuống tận ngục A-tỳ. 
Ôi Ngọn-lửa-huyền-vi!
thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác
từ cõi Vô-minh
hướng về Cực-lạc;
vần điệu của Thi-nhân chỉ còn là rơm rác
và chỉ nguyện được là rơm rác,
THƠ cháy lên theo với lời Kinh
tụng cho Nhân-loại hoà bình
trước sau bền vững tình Huynh-đệ này.
Thổn thức nghe lòng trái Đất
mong thành quả Phúc về cây;
nam mô Bổn-Sư Thích-Ca-Mâu-Ni-Phật(1);
đồng loại chúng con
nắm tay nhau tràn nước mắt,
tình thương hiện Tháp-Chín-Tầng xây.
Saigon tháng 5, P.l. 2507
(T.l. tháng 6, 1963)(2)
Vũ Hoàng Chương
(Chép lại chính xác theo tập thơ Chúng ta mất hết chỉ còn nhau, thơ Vũ Hoàng Chương, Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974)
Chú thich:
(1) Bản trong tập Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xuất bản, Saigon, 1963 viết là “Nam mô Thích-Ca-Mầu-Ni-Phật” (không có “Bổn-sư” và không phải “Mâu-Ni”)
(2) Bản trong tập Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xuất bản, Saigon, 1963 viết là: “Khởi viết từ ngày 11-6-63, xong ngày 15-7-63 tại Saigon”
4/11/2022
Đoàn Lê Giang
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 7 năm 2013
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nữ sĩ Hằng Phương và thủ pháp danh gia vọng tộc

Nữ sĩ Hằng Phương và thủ pháp danh gia vọng tộc Được xếp hạng nhà thơ trí thức lớp trên, nữ sĩ Hằng Phương thể hiện sắc nét tình cảm người...