Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

Nhà văn nữ - Nhìn từ tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới trong phê bình văn học miền Nam trước 1975

Nhà văn nữ - Nhìn từ tâm lý sáng tạo
mang đặc điểm giới trong phê bình
văn học miền Nam trước 1975

Tuy số lượng nhà văn nữ không nhiều so với những đồng nghiệp nam nhưng với những gì mà họ đã thể hiện trong những tác phẩm văn chương, trong hoạt động văn học nghệ thuật, cũng như qua sự tiếp nhận của người đọc cũng đã cho thấy sự hiện hữu của văn chương nữ ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 là điều không thể phủ nhận…
1. Dẫn nhập:
Nếu hình dung văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 là một vườn hoa, thì đó là một vườn hoa đầy hương sắc, đa dạng và phong phú, luôn tạo được sự hấp dẫn nơi người tiếp nhận. Một trong những hương sắc làm nên sự hấp dẫn đó, được kết tinh từ những trang văn của các cây bút nữ mà sự xuất hiện của họ trên văn đàn luôn đem đến cho người đọc những bất ngờ, thú vị, làm kinh ngạc không chỉ người đọc mà cả những đồng nghiệp là các nhà văn, nhà phê bình văn học nam giới. Vì vậy, trong đời sống văn học ở miền Nam trước 1975, trên nhiều tạp chí liên quan đến văn học đều đăng những bài phỏng vấn, bài nói chuyện về các vấn đề tâm lý sáng tạo của nhà văn nữ mà ở đó đặc điểm về giới đã thể hiện khá rõ như: bài nói chuyện của Nữ sỹ Nguyễn Thị Hoàng về hành trình sáng tác với sinh viên Văn khoa tại Giảng đường Đại học Văn khoa ngày 11-5-1971, được Nhuệ Hương ghi lại và đăng trên Nghiên cứu Văn học số 5 / 15/7/1971; Bài phỏng vấn “Thời cuộc và đời sống đối với công việc sáng tác” của các Nữ nhà văn: Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Minh Quân, Túy Hồng, Nhã ca do Lê Phương Chi thực hiện (Bách Khoa số 292 / 1/3/1969); Bài phỏng vấn về quan niệm sáng tác của nhà thơ, nhà viết truyện do Nguiễn – Ngu – Í thực hiện đối với Bà Thu Vân, (Bách Khoa số 107 / 15/6/1961); Nữ nhà văn Linh Bảo, (Bách Khoa số 109/ 15/7/1961); Bà Tùng Long, (Bách Khoa số 112 / 1/9/1961) và Nữ nhà văn Nguyễn Thị Vinh, (Bách Khoa số 125 / 15/3/1962); Bài phỏng vấn nhà văn Túy Hồng trong chuyên mục “Nhà văn ở phút nói thật” do Nguyễn Trần Huy thực hiện (Văn số128/15/4/1969); Bài “Khả năng và phương hướng sáng tạo văn nghệ của người đàn bà” của Nguyễn Thị Hoàng và bài “Khi người phụ nữ làm nghệ thuật” của Nguyễn Thị Thụy Vũ (Văn số 84/15/6/1967); Bài “Đàn bà viết văn” của Trùng Dương (Bách Khoa số 416/ 18/10/1974); Bài nói chuyện về “Trách nhiệm nhà văn” của Nữ văn sĩ Minh Đức Hoài Trinh trên Tin Văn số 46 tháng 4/1966…
Đặc biệt hơn cả, trong việc bàn về phương diện tâm lý sáng tạo của nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới là cuộc thảo luận bàn tròn với chủ đề “Nói chuyện về các nhà văn Nữ” do Tạp chí Văn tổ chức và đăng tải trên Bán nguyệt san Văn số 206 ra ngày 25/7/1972 giữa các nhà văn, nhà phê bình văn học gồm: Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Nhật Duật, Mặc Đỗ, Nguyễn Xuân Hoàng, Viên Linh, Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn… Đây là cuộc thảo luận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn không những lý giải về tâm lý sáng tạo của các nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới mà còn khẳng định nhân vị của họ trong đời sống văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975.
Bên cạnh các bài viết luận bàn trực tiếp về tâm lý sáng tạo của nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới, văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 còn có những công trình tiểu luận – phê bình khám phá thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của các nữ nhà văn từ đặc điểm giới, để lại dấu ấn sâu sắc trong sự tiếp nhận của người đọc. Đó là các tác phẩm: Các nhà văn Nữ Việt Nam 1900- 1970, Nhân Chủ xuất bản, Sài gòn, 1973 của Uyên Thao; Những nhà thơ hôm nay, Nhà văn Việt Nam xuất bản, Sài gòn, 1967 và Nhà văn hôm nay (1954-1969) Nhà văn Việt Nam xuất bản, Sài gòn, 1969 của Nguyễn Đình Tuyến; Lời đề tựa tập thơ Nhã Ca, Thương Yêu xuất bản, Sài gòn, 1972 cuả Nguyên Sa; Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sài gòn, 1972 của Tạ Tỵ,… Và đây cũng là những cứ liệu góp phần minh chứng cho sự hiện hữu của các nữ nhà văn trong đời sống văn học miền nam trước 1975 nhìn từ tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới mà khi nghiên cứu vấn đề này không thể không quan tâm. Bởi theo Uyên Thao: “Trong khoảng thời gian không đầy một năm, số lượng tác phẩm của nữ giới được xuất bản chưa thể là một số lượng quan trọng, nhưng người ta không thể phủ nhận việc nữ giới đã dành được một ưu thế tuyệt đối. Tác phẩm của các tác giả nữ giới như Nhã Ca; Nguyễn Thị Hoàng; Nguyễn Thị Thụy Vũ đã trở thành những sách bán chạy nhất năm 1966 và trong năm này, những bút danh Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng; Nguyễn Thị Thụy Vũ và Trùng Dương đã thực sự trở thành quen thuộc với độc giả”.[1] Và những cứ liệu quí hiếm còn lại này sẽ giúp những nhà nghiên cứu trong việc tìm hiểu văn học nữ miền Nam thời kỳ 1954-1975, góp phần bổ khuyết vào việc nghiên cứu văn học Nữ Việt Nam hiện đại.
2. Biểu hiện của tâm lý sáng tạo ở nhà văn nữ miền Nam nhìn từ đặc điểm giới
2.1. Hoàn cảnh xã hội, tài năng của các nhà văn nữ miền Nam trước 1975
Trong đời sống văn học miền Nam 1954-1975, sự xuất hiện khá đa dạng của các nhà văn nữ với hàng loạt tác phẩm gây xôn xao dự luận như Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng, Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca, Mèo đêm của Nguyễn Thị Thụy Vũ; Vết thương dậy thì của Túy Hồng… là một hiện tượng mới lạ tạo sinh khí cho bầu khí quyển văn học miền Nam trước 1975. Với tư cách là nhà văn chuyên nghiệp, sự hiện hữu của các nhà văn nữ đã làm nên sự đối trọng với các nhà văn nam, vốn gần như chiếm “độc quyền” trên văn đàn miền Nam lúc bây giờ. Thế nên, Mai Thảo, một nhà văn “gạo cội” trong văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975, khi tham dự bàn tròn “Nói chuyện về các nhà văn nữ” trên Bán Nguyệt san Văn số 206 ra ngày 15/7/1972 cũng đã thừa nhận: “Phải nói rằng ngày nay các nhà văn nữ của chúng ta không chỉ xem công việc viết văn của họ như một tiêu khiển chốc lát như các nhà văn nữ tiền chiến. Nhà văn nữ ngày nay xem công việc viết văn như một nghề. Họ sống hẳn với nghề này, theo đuổi và thực hiện nó đến cùng”.[2] Và để làm rõ hơn tính đối trọng này, từ việc quan sát đời sống văn học miền Nam lúc bấy giờ, Mai Thảo đã chia sẻ: “Tôi muốn đặt ra vấn đề ảnh hưởng và tác động của tác phẩm. Đến bây giờ, văn chương nữ đã gây được một tác động nào với người đọc? Câu trả lời theo tôi là có. Thế giới văn chương trước kia chỉ được tạo dựng bởi những tác phẩm đàn ông. Đời sống chỉ được chiếu sáng và biểu hiện bằng cái nhìn, bằng ý thức đàn ông. Nếu văn chương nữ không làm vỡ được cái thế giới này thì nó cũng đã là một thế giới thứ hai, đặt bên cạnh thế giới thứ nhất trước kia duy nhất, và mặc nhiên đã tạo được ở người thưởng ngoạn một tâm trạng đối chiếu so sánh, xét lại. Những điều đàn ông viết ra không còn được chấp nhận vô điều kiện nữa. Một vấn đề bây giờ được chiếu soi bằng hai thứ ánh sáng. Và người đọc đã có một thái độ, một tâm trạng mới. Họ nhìn sự vật dưới hai thứ ánh sáng. Đối chiếu so sánh. Rồi mới chấp nhận đâu là sự thật, cho họ”.[3]
Có thể nói, sự tồn tại của nhà văn, không phải do phái tính tạo nên mà do tài năng được thể hiện qua cá tính sáng tạo của họ trong tác phẩm văn chương. Bởi, chỉ có tác phẩm văn chương mới xác tín cho sự hiện hữu của nhân vị nhà văn trước cuộc đời. Một nhà văn không sáng tạo ra tác phẩm văn chương mang dấu ấn riêng của mình có nghĩa là, nhà văn đó đã tự đưa mình ra khỏi thánh đường văn chương để đến với nghĩa trang văn học, cho dù họ có mang trên mình những danh hiệu “hào nhoáng”. Vì vậy, khi “Nói chuyện về các nhà văn nữ”, các nhà văn, nhà phê bình văn học, không chỉ khẳng định tính chuyên nghiệp cũng như vai trò của của các nữ nhà văn mà họ còn đi sâu phân tích tâm lý sáng tạo của các nhà văn nữ miền Nam giai đoạn 1954 -1975 mà theo luận giải của Mai Thảo: “Vấn đề đặt ra là tại sao, bởi đâu mà có được sự có mặt rực rỡ của các nữ nhà văn Việt Nam? Theo tôi để trả lời câu hỏi này, ta có thể nói rằng quả thật những nhà văn nữ hiện nay đã làm trái lại những gì mà hoàn cảnh lịch sử xã hội, thân phận đàn bà trước kia đã cấm đoán họ. Sự phá vỡ và làm nỗ tung những ràng buộc cũ của họ để đạt đến cái biên giới mới này, chính là văn chương”[4].
Không chỉ từ góc nhìn tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới mà còn từ góc nhìn nữ quyền luận, Mai Thảo đã xác quyết quan điểm của mình trong việc nhìn nhận văn tài cũng như chia sẻ về “ý thức bùng vỡ” (từ dùng của Phạm Công Thiện – THA) của các nhà văn nữ, khi cho rằng: “Làm văn chương ở người đàn bà bây giờ đồng nghĩa với lên tiếng đòi quyền được sống, bình đẳng và tự do như đời sống đàn ông. Viết bởi vậy là một phản ứng, một thái độ. Điều này giải thích được cho cái không khí phá phách, cái sắc thái quá khích ta thấy bàng bạc cùng khắp trong các tác phẩm phái nữ bấy giờ. Có thể rồi sau này sự quá khích đó sẽ lắng xuống, và viết văn với đàn bà khi đó không chỉ còn thu hẹp với trong ý nghĩa một lên tiếng, một phản ứng”.[5]
Khác với cái nhìn của Mai Thảo, từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh khi luận giải tâm lý sáng tạo của các nhà văn nữ, Nguyễn Nhật Duật cho rằng: “Ảnh hưởng rơi rớt mơ hồ của nền văn chương hiện sinh cũ, trước và sau năm 62 đã đóng góp vào sự thành hình tác phẩm của các nhà văn nữ này. (…) Những nội dung táo bạo không phải là tự do mà là sự buông thả. Kẻ nào dám sống với kinh nghiệm đời sống họ sẽ là nhà văn. Nhưng họ vẫn còn tìm kiếm không bao giờ gặp được một cái gì mơ hồ. Đề tài mà họ đụng chạm đến không khác gì đề tài mà các nhà văn nam sử dụng. Đó chỉ là sản phẩm tất yếu của xã hội. Bởi vì không có Nguyễn Thị Hoàng này thì sẽ có một Nguyễn Thị Hoàng khác”.[6]
Bình tĩnh và điềm đạm hơn, Mặc Đỗ đặt một vấn đề mang tính qui luật trong sáng tạo văn học khi ông cho rằng: “Tại sao chúng ta không nghĩ rằng còn có một yếu tố khác nữa làm thành tác phẩm của các nhà văn nữ: lòng yêu văn chương của họ”.[7] Và từ ý kiến của Mặc Đỗ, Nguyễn Nhật Duật đã đi đến một khái quát mang tính lý thuyết trong sáng tạo văn chương khi ông cho rằng: “Hoàn cảnh + Sự ham mê văn chương -> văn chương”. Nhưng Nguyễn Xuân Hoàng lại không đồng ý với Nguyễn Nhật Duật. Bởi, theo ông: “Việc sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật nói chung và một tác phẩm văn chương nói riêng, trước hết đòi hỏi tài năng của tác giả nhiều hơn bất cứ một yếu tố nào khác. Hoàn cảnh xã hội, môi trường địa lý cấu tạo cơ thể, lòng yêu thích văn chương… chỉ nên coi như những cây “vít” vặn chặt tấm ván tài năng vào tác phẩm của họ”.[8] Rõ ràng, sự quyết định trong hành trình sáng tạo của nhà văn dù là nam hay nữ, để có tác phẩm không thể không có tài năng. Vì thế, ý kiến của Nguyễn Xuân Hoàng về việc nhìn nhận sự thành công của các nhà văn nữ trong giai đoạn 1954-1975 là do tài năng của họ đã nhận được sự đồng thuận của Mai Thảo khi ông chia sẻ: “Đồng ý với Nguyễn Xuân Hoàng nhưng theo tôi cần phải nói thêm là yếu tố tài năng ấy rất hữu hạn nơi các nhà văn nữ tiền chiến. Tôi thành thực kinh ngạc về cách thức viết truyện của một số nhà văn nữ hiện đại. Trong vài trường hợp các nhà văn nữ ngày nay đã vượt xa các nhà văn nữ thời trước”.[9] Song, ý kiến này của Mai Thảo không nhận được sự đồng tình của Dương Nghiễm Mậu vì theo ông: “Tiền chiến có Thụy An. Tôi có được đọc quyển Bốn Mớ Tóc. Thụy An theo tôi vẫn là một nhà văn nữ lớn. Bây giờ nói đến bút pháp, tôi nghĩ đến Túy Hồng”.[10] Tuy nhiên, ý kiến của Dương Nghiễm Mậu vẫn không thuyết phục được Mai Thảo vì trong cái nhìn đối sánh với các nhà văn nữ ở miền Nam, theo Mai Thảo: “Bà Thụy An chỉ viết được một số ít truyện ngắn thôi, còn các nhà văn nữ ngày nay tác phẩm họ xuất hiện đều đặn, phong phú rực rỡ chưa từng thấy”.[11] Mặc dù đã đưa ra những lý lẽ như thế nhưng ý kiến Mai thảo vẫn chưa thuyết phục được Nguyễn Nhật Duật và ông vẫn giữ quan điểm của mình khi cho rằng tài năng không chỉ là yếu tố quyết định đối với hành trình sáng tạo của nhà văn. Bởi theo Nguyễn Nhật Duật: “tài năng riêng không đủ. Bầu không khí khích lệ là yếu tố quan trọng hơn cả”.[12] Và để làm rõ vấn đề mà các nhà văn quan tâm khi thảo luận về sự “lên ngôi” của các nhà văn nữ trong đời sống văn học miền Nam trước 1975 nhìn từ đặc điểm giới, một lần nữa Nguyễn Xuân Hoàng đã luận giải khá thuyết phục khi ông cho rằng: “Đúng, ý kiến anh Duật phải được chia làm hai phần. Phần thứ nhất Tài Năng Riêng Không Đủ. Chẳng ai chống đối điều này. Nhưng còn phần thứ hai Bầu không khí là yếu tố quan trọng hơn cả. Điều này tôi chống đối. Bầu không khí, hoàn cảnh xã hội, môi trường sinh hoạt… là một yếu tố và chỉ là một yếu tố gần như sau cùng làm vỡ tung một ung nhọt đã mưng mủ. Bao nhiêu người sống cùng thời với Nguyễn Du, thở cái không khí của Nguyễn Du, cùng giai cấp với Nguyễn Du, chi phối bởi cái môi trường địa lý của Nguyễn Du… vậy mà có phải ai cũng là Nguyễn Du đâu. Tôi nhắc lại Tài Năng Vẫn là Một Yếu Tố Quan Trọng hơn cả”.[13] Trên cơ sở những tranh luận hết sức dân chủ với tinh thần khách quan khoa học, để tạm kết luận vấn đề bàn về hoàn cảnh sống và tài năng có tác động như thế nào đối với tâm lý sáng tạo của nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới, Mặc Đỗ đã chia sẻ: “Đúc kết ý kiến của Nguyễn Xuân Hoàng và Nguyễn Nhật Duật, theo tôi thì sự thành hình tác phẩm cùng với đặc thù của thế giới tiểu thuyết các nhà văn nữ ngày nay, chính là một tổng hợp những yếu tố hoàn cảnh xã hội, môi trường địa lý, những biến cố lịch sử và nhất là tài năng của tác giả. Riêng về ý kiến của Dương Nghiễm Mậu, thì theo tôi chính là nhằm mở rộng vấn đề mà hiện chúng ta đang nói chuyện đó thôi. Trường hợp các nhà văn nữ Việt Nam cũng chẳng khác nào các nhà văn nữ thế giới”.[14] Và theo Mai Thảo: “Ở Việt Nam nền văn chương nữ vẫn có những đặc thù của nó, và sự xuất hiện của nó là có một mặt chậm trễ so với nền văn chương nữ của thế giới đã phong phú từ bao nhiêu năm trước đây”.[15]
Như vậy, khi bàn về vấn đề hoàn cảnh xã hội và tài năng đã tác động như thế nào đến tâm lý sáng tạo của các nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới, tuy vẫn còn có những ý kiến cần được thảo luận nhưng nhìn chung các nhà văn, nhà lý luận phê bình nam giới, vốn là những người có uy tín trong đời sống văn học ở miền Nam trước 1975 đều có điểm gặp gỡ khi cho rằng: hoàn cảnh xã hội và tài năng là những yếu tố cơ bản tác động đến tâm lý sáng tạo văn chương của các nhà văn nữ miền Nam trong giai đoạn 1954-1975 nhìn từ đặc điểm giới. Và đây là điều không thể phủ nhận.
2.2. Phản kháng xã hội hay sự nỗi loạn mang tâm thức hiện sinh của cac nhà văn nữ
Khi bàn về tâm lý sáng tạo văn chương của nhà văn nữ ở miền Nam trước 1975, bên cạnh những ý kiến luận giải về tài năng, môi trường sống, các yếu tố địa văn hóa tác động đến văn chương của các nhà văn nữ trong văn học miền Nam, Nguyễn Nhật Duật đã đặt vấn đề: “sự bột phát với tính cách ồ ạc của nền văn chương này là hậu qủa của sự gò bó quá lâu. Đó là một phản ứng mãnh liệt chống lại sự gò bó trước đó”.[16] Đây cũng là ý kiến của Nguyễn Xuân Hoàng khi ông cho rằng: “Phải chăng sự táo bạo trong các tác phẩm và đề tài của các nhà văn nữ hiện nay biểu lộ tính đặc thù của nền văn chương nữ ấy”.[17] tức là sự phản ứng “chống lại sự gò bó trước đó” như ý kiến của Nguyễn Nhật Duật hay là do một nguyên nhân nào khác. Điều này đã tạo nên sự tranh luận sôi nổi và thú vị giữa các nam nhà văn tham gia cuộc “nói chuyện về các nhà văn nữ” trên Bán nguyệt Văn số 206 ra ngày 15/7/1972.
Theo Huỳnh Phan Anh, các nhà văn nữ ở miền Nam lúc bấy giờ “táo bạo hơn các nhà văn nam, mặc dù chưa chắc rằng họ táo bạo hơn các nhà văn nữ của thế giới. Đồng ý Túy Hồng là một tài năng đáng kể về phái nữ, nhưng tài năng đó cần được nhìn ngắm như thế nào, đó mới là điều quan trọng. Nhân vật, câu chuyện, bút pháp của họ, chẳng hạn”.[18] Ý kiến của Huỳnh Phan Anh đã đặt ra một yêu cầu hết sức chuyên nghiệp và mang tính lý thuyết nhằm luận giải một cách khách quan và khoa học về hành trình sáng tạo nhìn từ đặc điểm giới của các nhà văn nữ miền Nam lúc bấy giờ nên được Mặc Đỗ xem như một gợi mở để thảo luận tìm ra lời giải cho vấn đề khi ông cho rằng: “Nên xét lại vấn đề trước khi khai triển ý kiến của Huỳnh Phan Anh. Có nên nói tổng quát hay đi vào chi tiết đề cập đến từng cá nhân? Mặt khác cần quan niệm chữ táo bạo thế nào cho đúng. Riêng tôi táo bạo trong văn chương nữ bây giờ là do họ đã dám đề cập đến những gì mà trước kia họ không dám đề cập. Họ đã viết đến nó, đụng chạm đến nó một cách đường hoàng không giấu giếm và không che đậy”.[19] Ý kiến của Mặc Đỗ đã nhận dược sự đồng tình của Nguyễn Xuân Hoàng khi ông xác quyết: “Tôi chấp nhận ý kiến này của anh Mặc Đỗ, và theo tôi, chính với ý nghĩa đó, ý nghĩa chật hẹp đó đã làm giảm sút giá trị trong tác phẩm của họ. Chữ táo bạo phải được hiểu theo một nghĩa rộng hơn, táo bạo là đề cập đến những đề tài ngoài đề tài dục tình, đề tài thân thể”.[20] Còn Viên Linh thì lý giải sự táo bạo trong tác phẩm của các nhà văn nữ lúc bấy giờ từ góc nhìn đạo đức Á Đông khi ông cho rằng: “táo bạo theo tôi chính là sự sai biệt giữa mô thức giáo dục dành cho phụ nữ Á Đông và những gì họ đã viết ra”.[21] Và cách nhìn thiên về đạo đức mà Viên Linh đã đặt ra cũng là cách nhìn của Nguyễn Nhật Duật: “Táo bạo ở thái độ, cách nhìn và đề tài về sự tương quan ngang hàng với nam giới”.[22] mà theo Viên Linh thì các nhà văn nữ “đã làm hơn chứ không phải ngang hàng” với các nhà văn nam. Còn theo Nguyễn Nhật Duật “Người viết văn nữ ngày nay đã giành lại cái ưu quyền về Nghĩ, Cảm và Sống như nhà văn Nam”.[23] Và để tranh luận với quan điểm của Nguyễn Nhật Duật, Huỳnh Phan Anh đã đặt vấn đề: “Tôi muốn hỏi anh Duật rằng văn chương nữ giới bây giờ phải chăng chỉ là một phản ứng, một sự nỗi loạn trước những giới hạn, những kềm kẹp xưa kia? Ngoài là một phản ứng nó còn là một cái gì khác?”.[24]
Để trả lời Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Nhật Duật cho rằng: “Sự bột phát này phát xuất từ một thái độ phản kháng. – Về câu hỏi thứ hai phải được hiểu rằng sự khao khát của họ là gì? Mặc dù tôi không phải là đàn bà (nhiều người cười), theo tôi thì đó là mối lo toan hạnh phúc. Ấy là mối lo toan muôn thuở của người đàn bà, và nó cũng chỉ đi đến đó mà thôi”.[25] Ý kiến này của Nguyễn Nhật Duật đã nhận được sự đồng tình của Mai Thảo khi ông cho rằng: “Vấn đề hạnh phúc anh Nguyễn Nhật Duật vừa nêu ra là một vấn đề cần được xét lại. Sự khao khát hạnh phúc trước kia đã có chứ không phải bây giờ mới có. Ngày nay phải nói làm văn chương ở các nhà văn nữ mang cái khí thế một cuộc xuống đường rầm rộ. Họ xác nhận sự có mặt của họ, trước đã. Xuống đường thì họ xuống rồi. Đi tới đâu, chưa biết. Văn chương nữ mới nằm trong giai đoạn khởi đầu. Nó chưa có quá khứ hay một quá trình rõ rệt”.[26] Và để thể hiện sự đồng tình của mình về ý kiến của Mai Thảo cho rằng các nhà văn nữ tham gia làm văn chương là để xác định sự hiện hữu của mình nên Nguyễn Nhật Duật cho rằng: “Sự phản kháng” trong văn chương của các nữ nhà văn không chỉ là sự “chống lại những gò bó trước kia” mà đó chính là một “sự tự xác nhận để cho người khác nghe được tiếng nói của mình, ưu tư của mình” và xem đây là một đặc điểm biểu hiện của của tâm lý sáng tạo ở nhà văn nữ trong văn học miền Nam lúc bấy giờ. Nhưng Huỳnh Phan Anh lại không đồng tình với ý kiến này nên ông đã xác quyết: “đó không phải là đặc điểm của văn chương nữ” mà “là một thái độ chung cho bất cứ người đàn bà ở đâu và bất cứ thời nào. (…) Từ đó suy ra, người đàn bà viết văn có cái thất lợi là họ không làm cách nào cho người đọc quên được họ là đàn bà”.[27] Và để minh chứng một cách sâu sắc hơn quan điểm của mình, Huỳnh Phan Anh đã luận giải: “Màu sắc táo bạo trong văn chương nữ giới ở Việt Nam đã giúp họ thành công ít ra ở phía độc giả. Sự thành công ấy có thể giải thích được: lý do là họ nói những gì trước kia họ không được phép nói. Và điều này đã tạo nên những ngạc nhiên, những bất ngờ cho người đọc. Nhưng đồng thời đó cũng là lý do thất bại của họ, bởi vì họ chưa cởi bỏ hết những mặc cảm của một người phụ nữ với tư cách của một người viết văn”.[28] Song, Nguyễn Nhật Duật thì cho rằng: “Sự thất bại đó không phải do họ mà do một áp lực nặng nề có tính cách truyền thống”.[29] Còn Huỳnh Phan Anh thì tiếp tục luận giải sự “nỗi loạn” ở các nhà văn nữ miền Nam như một tiến trình vận động tất yếu trong hành trình sáng tạo văn chương của họ, khi cho rằng: “sự khủng hoảng này là một giai đoạn để đưa đến một giai đoạn khác. Nghĩa là sau những ồn ào họ sẽ bình tỉnh hơn và lúc bấy giờ họ sẽ không viết văn như một người đàn bà viết văn, mà họ sẽ viết văn như một nhà văn. Tôi vẫn có cái ý nghĩ là dường như một người đàn bà viết văn họ vẫn còn mang theo tất cả cái tình cảm đàn bà của họ”.[30] Và trong những luận giải của mình, hỉnh như Huỳnh Phan Anh đã mâu thuẩn với chính ông. Bởi một mặt, ông muốn các nhà văn nữ khi viết văn cần vượt lên cái tâm lý đàn bà của mình để chỉ còn viết văn như một nhà văn thuần túy, không bị chi phối bởi đặc điểm phái tính. Nhưng mặt khác, ông lại mặc nhiên cho rằng người đàn bà viết văn họ “luôn mang theo cái tình cảm đàn bà của họ”. Chính sự mâu thuẩn này đã cho thấy việc nhìn nhận tâm lý sáng tạo văn chương của các nhà văn với tư cách là những cá tính sáng tạo mang đặc điểm giới là một tất yếu mang tính qui luật trong quá trình sáng tạo của nhà văn dù đó là nam hay nữ. Vì vậy, khi nhìn nhận ý kiến của Huỳnh Phan Anh qua những luận giải của ông, Nguyễn Đình Toàn đã chia sẽ: “Vậy thì Huỳnh Phan Anh cũng đồng quan điểm với Nguyễn Nhật Duật ở chỗ sự viết văn của các bà chính là sự tự xác nhận về sự có mặt đàn bà của họ”.[31] Điều mà theo chủ nghĩa hiện sinh đó là “tự xác tín” về sự hiện hữu của “Nhân vị Đàn Bà”.
Vì thế, theo chúng tôi sự xác nhận của các nhà văn nữ về sự hiện hữu của mình trong đời sống văn chương nói riêng và cuộc sống nói chung với những sự táo bạo khi miêu tả về tính dục, về thân xác, đó chính là sự nỗi loạn của một tâm thức hiện sinh ở các nhà văn nữ mà sự tác động và ảnh hưởng của triết lý hiện sinh đã du nhập vào xã hội miền Nam lúc bấy giờ là một tất yếu không thể phủ nhận. Và có thể nói đây là một trong những nguyên nhân tạo nên “sự táo bạo” mang tính nỗi loạn trong văn chương của các nhà văn nữ ở miền Nam trước 1975. Bởi, nói như Mai Thảo: “Khả năng văn chương nữ bây giờ cho phép họ đề cập đến tất cả mọi vấn đề. Có điều bất cứ cuộc giải thoát nào trước hết là một giải thoát thân xác, nhất là cho đàn bà. Rồi họ sẽ đề cập đến những chủ đề khác. Nhưng bây giờ họ đang nói đến thân xác, dù không phải nói như một người vô luân. Thân xác là chủ đề lớn nhất hiện nay. Và họ đã đề cập tới nó”.[32] Vì thế, khi có ý kiến đặt vấn đề phải chăng, việc tác phẩm văn chương của các nhà văn nữ đề cập đến vấn đề tính dục là “một bệnh lý” thì Huỳnh Phan Anh đã phản bác  quyết liệt. Bởi, theo ông: “Nên tránh sử dụng danh từ bệnh lý trong văn chương đàn bà, Theo tôi người đàn bà thất lợi trong việc viết văn. Vì họ phải trải qua, vượt qua chính thân phận của họ để được ngang hàng với đàn ông. Sự quá quắt trong văn chương đàn bà ở Việt Nam biểu lộ sự bất lợi của họ và kỳ lạ thay đó cũng là sự thành công của họ trên một phía nào đó”.[33]
Như vậy, việc nhìn nhận tác phẩm văn chương của nhà văn nữ ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 nhìn từ tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới mà biểu hiện ở đây là sự táo bạo mang tính nỗi loạn của một tâm thức hiện sinh của các nhà văn nữ là một vấn đề được các nhà văn, nhà phê bình văn học nam giới quan tâm thảo luận nhưng không phải đã có sự thống nhất. Vì vậy, để dễ có sự cảm thông hơn, Mặc Đỗ đã đặt vấn đề: “Tại sao chúng ta không nhận thức sự chú trọng về sinh lý ở các nhà văn nữ một cách đơn giản hơn. Họ sẽ nói như thế này, chẳng hạn: “Chúng tôi viết về sexe vì chúng tôi hiểu vấn đề này hơn các ông”. Chẳng cần đào sâu hơn”.[34] Nhưng ý kiến của Mặc Đỗ cũng gặp phải sự phản bác của Nguyễn Nhật Duật khi ông cho rằng sự xuất hiện của văn chương nữ giới lúc này đã: “tạo thành một giao động thực sự trong xã hội, phản ánh một tâm trạng đặc biệt và khác thường của người đàn bà bấy giờ, qua các tác phẩm văn chương phụ nữ, chứ nó không chỉ đơn giản như anh Mặc Đỗ nói”.[35] Và đây cũng là ý kiến phủ nhận lại cách nghĩ đơn giản đó của Mặc Đỗ từ Nguyễn Thị Thụy Vũ, người được mệnh danh là một trong những “nữ quái” của văn chương nữ miền Nam trước 1975, khi bà xác quyết rằng: “Có lẽ một ngày nào đó, độc giả sẽ bảo rằng: trong vòng như năm 1964-1966, các tạp chí chỉ “lăng xê” các cô văn sĩ viết văn gần như viết dâm thư. Đừng nói vậy mà tội vì một khi cô nào đó tả những màn làm ái tình cụp lạc chỉ cốt để giải tỏa ẩn ức sinh lý, chính cô đó mới cố tình khiêu dâm. Còn nếu viết về những pha cụp lạc mê ly để diễn tả tâm trạng, hay một khía cạnh bài xích tệ đoan dĩ nhiên là cô đó vẫn là một văn sĩ vì cô biết trách nhiệm của mình một khi cầm bút”.[36] Phải chăng, chính tinh thần phản kháng mang tâm thức hiện sinh đã làm nên một lớp nhà văn nữ giàu cá tính sáng tạo mang đặc điểm giới mà khi nghiên cứu văn học miền Nam trước 1975, không thể không đề cập đến.
2.3. Giới hạn về tư tưởng trong văn chương của các nhà văn nữ miền Nam trước 1975,  nhìn từ đặc điểm giới
Khi nghiên cứu nền văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975, một trong những vấn đề mà các nhà lý luận – phê bình quan tâm là “hàm lượng tư tưởng” trong tác phẩm văn chương của nhà văn, trong đó có các nhà văn nữ. Tư tưởng trong quan niệm của các nhà lý luận – phê bình văn học ở miền Nam trước 1975 không phải là “quan điểm, lập trường” mà đó là vấn đề tri thức lịch sử, văn hóa, triết học, mỹ học… thể hiện qua cái nhìn của nhà văn về cuộc đời, về thân phận con người. Vì vậy, đây cũng là một trong những vấn đề mà các nhà văn, nhà phê bình nam giới quan tâm khi thảo luận về tâm lý sáng tạo văn chương của các nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới được Mặc Đỗ đặt ra để mọi người thảo luận. Theo ông: “Điều đang nhìn thấy là hiện có chục nhà văn nữ đang viết, đang hoạt động văn nghệ. Đó là một con số đáng kể, một phong trào. Ngày trước chỉ có một Thụy An viết văn. Bây giờ là hàng chục Thụy An. Điểm chờ đợi của mọi người là khi viết về dục tình, không biết những nhà văn nữ có đề cập được tới các vấn đề khác không, hay chỉ có vậy. Cái thiếu lớn trong văn chương là tư tưởng”.[37] Vấn đề Mặc Đỗ nêu ra đã tạo nên những ý kiến trái chiều ở các nhà văn, nhà phê bình văn học tham gia cuộc thảo luận này. Nguyễn Xuân Hoàng không tán thành hoàn toàn với Mặc Đỗ khi cho rằng cái “thiếu lớn trong văn chương” các nhà văn nữ là tư tưởng và ông đã biện minh rằng: “Tư tưởng trong tác phẩm đã có ở một vài người. Mới manh nha thấp thoáng thôi, nhưng đã có. Đến đây phải đặt ra vấn đề kiến thức. Tôi nói kiến thức sống không nói học vấn. Các nhà văn nữ đang có những cố gắng đáng kể về mặt tư tưởng. Để khắc phục sự thiếu sót anh Mặc Đỗ vừa nói”.[38] Còn Huỳnh Phan Anh thì đi sâu phân tích tư tưởng trong tác phẩm của các nhà văn nữ từ một góc nhìn khác mang tính lý luận văn học mà ông gọi đó là “ưu tư văn chương”. Và theo sự diễn dịch của ông: “Tác phẩm các bà bộc lộ một số uu tư sôi nổi, liên quan mật thiết đến đời sống nói chung. Những ưu tư ấy nổi bật người đọc thấy rõ. Chỉ thiếu vắng cái ưu tư tôi gọi nôm na là ưu tư văn chương nằm trong cách viết cách làm mới tác phẩm. chúng ta đã thấy các bà chỉ viết truyện dài, ít làm thơ, không viết ra những suy tưởng về những điều mình viết, là bởi thế, bởi một thiếu vắng ưu tư văn chương. Ưu tư về đời sống ở họ đã có rồi. Sau này những ưu tư về đời sống ở họ có thể vẫn còn, đồng thời ưu tư về văn chương cũng sẽ được họ biết tới”.[39] Bởi, trong suy niệm của Huỳnh Phan Anh, ưu tư văn chương là một trong những hệ giá trị của tác phẩm văn học góp phần thể hiện những khát khao “thay đổi bộ mặt đời sống”.
Có thể nói, việc nhìn nhận những giới hạn về tư tưởng trong sáng tạo tác phẩm văn chương của các nhà văn nữ mà các nhà văn nam đã thảo luận cũng là suy nghĩ, là cách nhìn của chính những nhà văn nữ mà Nguyễn Thị Hoàng trong bài viết “Khả năng và phương hướng sáng tạo văn nghệ của người đàn bà” đã tự nhận: “Trong văn giới Quốc Tế và nói riêng Việt Nam, những cây bút nữ lưu chỉ chiếm một thiểu số thấp thoáng trong khi đó bên phái nam giữ đa số với một lực lượng hùng hậu vững bền và thường trực. Điều đó có phải là vì phải nữ không đủ khả năng? Một cách khách quan và vô tư, chúng tôi có thể nhận định người đàn bà chiếm thiểu số trong văn giới một phần là do thành kiến khắt khe của xã hội Đông phương, quan niệm người đàn bà viết văn là phóng túng lãng mạn, mầm mống của hư hỏng đời sống và tâm hồn, một phần vì đời sống bọ hạn hẹp, gò bó trong khuôn khổ nên khả năng do đó không phong phú triển khai. Vả lại cho dù xã hội và hoàn cảnh có mặc nhiên công nhận và cho phép người đàn bà quyền sáng tạo văn nghệ một cách tự do, hồn nhiên người đàn bà vẫn sút kém so với đàn ông trong phạm vi nghệ thuật. Là bởi đối với đàn ông sáng tác là công trình xây dựng của lý trí, của ý thức trong lúc người đàn bà sáng tác do sự thúc đẩy của một hoàn cảnh đặc biệt, những lôi cuốn của rung động, của hứng khởi bất ngờ và vì vậy thiếu phương hướng, thiếu hẳn những khía cạnh khám phá khai thác của đàn ông”.[40] và để lý giải cho vấn đề này từ đặc điểm tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới, Nguyễn Thị Hoàng đã chỉ ra ba vấn đề của sự giới hạn trong khả năng sáng tạo của giới nhà văn nữ đó là: Thứ nhất “Trên thực tế, về giao thiệp người đàn bà thường bị gò bó trong một vũ trụ nhỏ bé eo hẹp” theo kiểu quan niệm của phương Đông; Thứ hai: “Không những chỉ trên đời sống thực tế mà trong tư tưởng người đàn bà cũng không thể phong phú, vì không tự do, khoáng đạt như đàn ông” Và “Từ sự hạn hẹp của đời sống thực tế và tư tưởng, tất nhiên cảm xúc, yếu tố căn bản sáng tạo của người đàn bà cũng không được ghi nhận và biểu lộ hồn nhiên trọn vẹn”.[41] Còn Nguyễn Thị Thụy Vũ khi nhìn nhận về sự thiếu vắng tính tư tưởng trong văn chương của các nhà văn nữ mà mình là một thành viên, Nguyễn Thị Thụy Vũ tự thú một cách đáng yêu nhưng cũng không kém phần chua chát khi cho rằng: “Cái thiên chức của phụ nữ hầu như để làm thỏa mạn thị giác và thính giác phái mạnh. Có nhiều lúc tôi cảm thấy chua chát là phái đẹp không nên tạo những chất bồi bổ cho tinh thần phái mạnh vì than ôi, Thi sĩ Lamartine đã nói: “Tư tưởng người đàn bà không dài hơn một sợi tóc”. Đàn bà có thể là người học thức, chứ rất hiếm người trí thức. Chua chát hơn nữa, mỗi khi các ông xem một tác phẩm của một nữ sỉ nào đó, các ông chỉ muốn thỏa mãn tánh tò mò. Bởi vậy các bạn cầm bút phái đẹp chớ có mơ màng rằng các ông xem tác phẩm của mình là để học hỏi thêm, mở mang trí thức thêm”.[42] Bởi vậy, Nguyễn Thị Thụy Vũ cho rằng; “Người đàn bà cầm bút thật gian nan (…) Đàn bà viết văn thường có cái chua chát” nên theo Nguyễn Thị Thụy Vũ: “văn đàn Việt Nam rất mong mõi một người nữ sĩ lăn xả vào cuộc sống, tìm tài liệu để sáng tác. Phải chấp nhận xã hội, phải tìm cảm hứng trong xã hội”.[43] Những điều mà Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã thành thật sẻ chia cũng đã phần nào mặc nhiên công nhận sự giới hạn về tư tưởng trong tác phẩm văn chương của các nhà văn nữ miền Nam trước 1975 nhìn từ tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới mà các nhà văn, nhà phê bình văn học đã quan tâm thảo luận. Đây cũng là một trong những biểu hiện của văn chương nữ miền Nam trước 1975 nhìn từ đặc điểm giới mà khi nghiên cứu chúng ta không thể không đề cập đến, nếu muốn có một sự tiếp nhận thấu đáo và toàn diện.
3. Thay lời kết:
Có hay không diện mạo văn chương nữ miền Nam trước 1975 mang đặc điểm giới trong tâm lý sáng tạo, thể hiện qua ý kiến thảo luận thẳng thắn, trên tinh thần khoa học, khách quan, dân chủ, chấp nhận những khác biệt trong ý thức cũng như bút pháp của mỗi nhà văn, là điều mà chúng ta có thể tìm thấy trong cuộc nói chuyện bàn tròn về nhà văn nữ đã được trình bày ở trên. Tuy số lượng nhà văn nữ không nhiều so với những đồng nghiệp nam nhưng với những gì mà họ đã thể hiện trong những tác phẩm văn chương, trong hoạt động văn học nghệ thuật, cũng như qua sự tiếp nhận của người đọc cũng đã cho thấy sự hiện hữu của văn chương nữ ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 là điều không thể phủ nhận. Bởi, nói như Mai Thảo:“Nếu văn chương có những người mở đường, thì ở phía phụ nữ, những nhà văn nữ hiện nay của chúng ta đích thực là những người mở đường. Đó là một sự thật không thể phủ nhận. (…) Về vị trí về chỗ đứng thì là như thế. Nhà văn nữ không còn chịu đứng trên một đường lề chênh vênh nào nữa, mà đã ở hẳn trong sinh hoạt, có mặt ở hết thảy mọi địa hạt trước kia chỉ là sự có mặt duy nhất của nam giới. (…) Trước hết vì những cây viết nữ hàng đầu hiện nay của chứng ta mỗi người đều chói sáng một bản sắc riêng tây. Túy Hồng linh động giàu có, vô tận trong nghệ thuật diễn tả những tình tiết quay động lắt léo. Trùng Dương phóng khoáng trong cả sống và viết là hình ảnh người đàn bà tự do độc lập bây giờ. Nguyễn Thị Hoàng như một dòng sông tình cảm ào ạt càng ngày càng đi tới chế ngự, làm chủ được một bút pháp tinh vi, thuần thục hơn trước. Nhã Ca làm thơ hay, khi viết truyện, truyện nào cũng có một vấn đề thời thế, xã hội nóng bỏng đựng trong nó. Nguyễn Thị Thụy Vũ hồi trước nỗi tiếng là táo bạo nhất, bây giờ đã tự chế, đã trầm tỉnh, là cái thái độ tốt của một người viết muốn thực hiện tác phẩm lớn. Nguyễn Thị Vinh tuy vẫn ở lại với cõi văn chương Tự Lực Văn Đoàn nhưng đã đạt được những tiến bộ đáng kể do với Nguyễn Thị Vinh ngày trước. Thêm một Trần Thị Ngh. Làm kinh ngạc với mấy truyện ngắn đầu tay, và rõ ràng là các nhà văn nữ tôi vừa kể tên, nếu chưa làm mới được văn chương nói chung, đã tạo được cho văn chương nữ giới một kích thước, một khuôn mặt mới. vậy mà họ mới bắt đầu đó thôi. Triễn vọng của họ là ở đó. Không phải là ở những cái họ đã thực hiện được. Mà ở nơi họ chỉ mới bắt đầu. Tôi gọi chung đó là một thế lực văn chương đang chuyển động. Trong khi ở phái nam, nhiều thế lực đã kết thúc, đã đứng lại”.[44]
Ý kiến này của Mai Thảo có thể là sự khái quát quan điểm của các nhà văn, nhà  phê bình văn học nam giới trong việc nhận diện chân dung về tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới của nhà văn nữ ở miền nam trước 1975. Bởi, theo nhà văn Trùng Dương, một cây bút nữ, vừa viết văn vừa làm báo trong bài viết “Đàn bà viết văn” (Bách Khoa số 416, ra ngày 18/10/1974 thì “Bước qua giai đoạn hâụ bán thế kỷ với sự xuất hiện của những Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Thụy Vũ, Trùng Dương của những năm 60-70 và còn hứa hẹn thêm những xuất hiện khác của những Trần Thị Ngh, Lệ Hằng, Dung Sài gòn, Nguyễn Đức, Thục Viên v.v… trong thập niên 70 này”.[45] thì sự hiện hữu của đội ngũ các nhà văn nữ trong văn học miền Nam 1954-1975 với một tâm lý sáng tạo riêng, khác biệt với các nhà văn nam nhìn từ đặc điểm giới là điều không thể phủ nhận. Và nói như Viên Linh thì “họ là những người nữ đầu tiên vén màn cho ta nhìn vào thế giới đàn bà”, trong đó có thế giới văn chương…
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Hoài Anh (2009), Lý luận – Phê bình Văn học ở miền Nam 1954-1975,Hội Nhà văn, Hà Nội
2. Trần Hoài Anh (2017), Đi tìm ẩn ngữ văn chương, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội
3. Nhã Ca Thơ (1972), “Lời tựa của Nguyên Sa” Thương Yêu xuất bản, Sài Gòn
4. Lê Phương Chi, “Thời cuộc và đời sống đối với công việc sáng tác” của các Nữ nhà văn: Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Minh Quân, Túy Hồng, Nhã ca, Bách Khoasố 292/1/3/1969
5. Trùng Dương “Đàn bà viết văn” Bách Khoasố 416 ra ngày 18/10/1974;
6. Nguyễn Thị Hoàng “Khả năng và phương hướng sáng tạo văn nghệ của người đàn bà” Văn số 84/ 15/6/1967
7. Nguyễn Thị Hoàng “hành trình sáng tác” Nghiên cứu Văn học số 5 / 15/7/1971
8. Nguyễn Trần Huy, “Túy Hồng, Nhà văn ở phút nói thật” Vănsố128/ 15/4/1969
9. Nguiễn – Ngu – Í “về quan niệm sáng tác của nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch (Bách Khoasố 107/ 15/6/1961); (Bách Khoa số 109/ 15/7/1961); (Bách Khoa số 112/ 1/9/1961); (Bách Khoa số 125/ 15/3/1962)
10. Nhiều tác giả: “Nói chuyện về các nhà văn Nữ” Bán nguyệt san Vănsố 206 ra ngày 25/7/1972
11. Uyên Thao (1973), Các nhà văn Nữ Việt Nam 1900- 1970, Nhân Chủ xuất bản, Sài Gòn
12. Minh Đức Hoài Trinh, “Trách nhiệm nhà văn” Tin Văn số 46 tháng 4/1966
13. Nguyễn Đình Tuyến (1967) Những nhà thơ hôm nay, Nhà văn Việt Nam xuất bản, Sài Gòn
14. Nguyễn Đình Tuyến (1969)Nhà văn hôm nay (1954-1969), Nhà văn Việt Nam xuất bản, Sài Gòn,
15. Tạ Tỵ (1972)Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sài Gòn
16. Nguyễn Thị Thụy Vũ “Khi người phụ nữ làm nghệ thuật”, Văn số 84 ra ngày 15/6/1967.
Chú thích:
[1] Uyên Thao, Các nhà văn Nữ Việt Nam 1900- 1970, Cơ sở xuất bản Nhân Chủ, Sài gòn, 1973, tr.20
[2] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.2
[3] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.12
[4] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.2
[5] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.2
[6] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.3
[7] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.3
[8] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.3
[9] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.4
[10] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.4
[11] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.4
[12] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.4
[13] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.5
[14] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.4
[15] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.5
[16] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.5
[17] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[18] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[19] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[20] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[21] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[22] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[23] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[24] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.7
[25] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.7
[26] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.7
[27] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.7
[28] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.8
[29] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.8
[30] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.8
[31] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.9
[32] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.9
[33] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.9
[34] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.10
[35] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.10
[36] Văn số 84 ra ngày 15/6/1967, tr.12
[37] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.11
[38] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.11
[39] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.11
[40] Nguyễn Thị Hoàng, “Khả năng và phương hướng sáng tạo văn nghệ của người đàn bà” Văn số 84 ra ngày 15/6/1967, tr.3
[41] Nguyễn Thị Hoàng, “Khả năng và phương hướng sáng tạo văn nghệ của người đàn bà” Văn số 84 ra ngày 15/6/1967, tr.4, 5
[42] Nguyễn Thị Thụy Vũ “Khi người phụ nữ làm nghệ thuật” Văn số 84 ra ngày 15/6/1967, tr.11
[43] Nguyễn Thị Thụy Vũ “Khi người phụ nữ làm nghệ thuật” Văn số 84 ra ngày 15/6/1967, tr.12
[44] Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.16
[45] Trùng Dương, “Đàn bà viết văn” Bách Khoa số 416, ra ngày 18/10/1974, tr.51
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 5/9/2019
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Mấy vấn đề về văn hóa trong cách xưng hô của người Việt

Mấy vấn đề về văn hóa
trong cách xưng hô của người Việt

Ai nấy đều biết rằng tiếng Việt không có một đại từ nhân xưng (hay hồi chỉ) trung hòa. Không phải tiếng Việt không có những đại từ nhân xưng chính danh. Tao, mày, nó, hắn (chúng tao, chúng mày, chúng nó) và họ, có thể coi là những đại từ nhân xưng và hồi chỉ chính danh. Nhưng trừ họ (đại từ hồi chỉ ngôi thứ ba số phức) ra, tất cả các đại từ này đều được cảm thụ như không được lễ độ, và không thể dùng trong khi giao tiếp với người dưng trong khuôn khổ xã giao bình thường, và ngay cả họ cũng không phải lúc nào cũng dùng được (chẳng hạn không thể dùng thay cho cha mẹ hay người thân tộc ở bậc trên so với người nói).
Tất cả các từ thường được dùng để xưng hô trong những điều kiện giao tiếp bình thường đều là những danh từ, trước hết là những thuật ngữ chỉ quan hệ thân tộc (trừ dâu, rể, vợ, chồng, ông nhạc, bà nhạc, v.v…) rồi đến những thuật ngữ chỉ những chức vụ hay cương vị có ít nhiều màu sắc tôn vinh như thầy, giáo sư, chủ tịch, bác sĩ, bộ trưởng, sư ông, sư cụ, thủ trưởng, sếp, rồi các cấp bậc quân đội, – nếu không kể một vài trường hợp dùng danh từ chỉ người nhà như vú.
Ngày nay có thể coi một vài danh từ như tôi đã trở thành một “đại từ” gần như trung hòa, có thể dùng với bất cứ người nào không có quan hệ thân tộc với người nói. Ít nhất cái sắc thái khiêm tốn do nghĩa gốc (“tôi tớ”, “tôi đòi”, “bề tôi”) để lại thì kể cho đến nay gần như đã mất hẳn, nhất là khi tôi hầu như không bao giờ dùng một mình như một đại danh từ nữa, mà chỉ dùng trong những ngữ đoạn (đẳng kết như tôi tớ, hay chính phụ như bề tôi). Trong khi đó, chữ tớ, vốn đồng nghĩa với tôi, lại phải được dùng trong những điều kiện khác hẳn, và có những sắc thái tuyệt nhiên không thích hợp với những cuộc giao tiếp với người dưng.
Cũng cần phải nêu rõ rằng các từ thân tộc chỉ dùng để xưng hô, nghĩa là để chỉ ngôi thứ nhất hay ngôi thứ hai, chứ không bao giờ được dùng như đại từ hồi chỉ, nghĩa là để chỉ ngôi thứ ba thay cho danh ngữ, như một vài tác giả trước đây đã từng ngộ nhận. Điều này có thể thấy rõ qua cách đánh trọng âm của các từ hữu quan khi được dùng như danh từ và khi được dùng như đại từ: khi được dùng như đại từ (ngôi thứ nhất hay ngôi thứ hai), những từ này bao giờ cũng mất cái trọng âm mà nó có thể có khi được dùng như danh từ. Chúng tôi đã thực nghiệm điều này trong nhiều lớp tiểu học qua những trò chơi “đố các em đoán ra ai là người nói những câu có mẹ, con, bố như “Con nhớ ủ cơm cho nóng để mẹ về mẹ ăn” hay “Đừng nghịch máy tính, không bố về bố mắng cho đấy”: nhờ trọng âm, học sinh lớp 1 không bao giờ nhầm khi người làm thí nghiệm đố các em biết “ai là người nói câu ấy” (được diễn viên kịch nói thu vào băng ghi âm).
Như vậy, có thể tin rằng đã hình thành một hệ thống đại từ nhân xưng, hay ít nhất là đã có một quá trình ngữ pháp hóa các đại từ tương tự như quá trình ngữ pháp hóa (hư hóa) các danh từ chỉ “phía” trên, dưới, trong, ngoài thành những giới từ đánh dấu vai định vị (locative) và quá trình ngữ pháp hóa các vị từ có ý nghĩa di chuyển như lên, xuống, ra, vào, qua, sang, đi, về, lại, đến, tới thành những giới từ chỉ đích (target hay goal), cũng được khu biệt với các thực từ gốc bằng tiêu chí “mất trọng âm” – một phương tiện chung của tiếng Việt để khu biệt hư từ với thực từ.
Thế nhưng, khác với các vị từ (“động từ”) khi chuyển thành giới từ chẳng hạn, các danh từ chỉ quan hệ thân thuộc khi chuyển thành đại từ nhân xưng không có dấu hiệu gì mất nghĩa từ vựng một cách đáng kể như khi vị từ cho chuyển thành giới từ cho mà ta có thể quan sát khi so sánh hai câu Lấy tiền cho bạn [0111] Có nghĩa là “lấy tiền để biếu bạn” (cho là vị từ hành động) và Lấy tiền cho bạn [0101] có nghĩa là “lấy tiền giùm bạn” (cho là giới từ chỉ vai “người hưởng lợi” – beneficiary). Sự thay đổi về nghĩa ở đây không đưa đến một sự chuyển hóa về từ loại làm cho cấu trúc cú pháp của câu khác hẳn đi như trong hai câu trên, mà chỉ tương đương với một sự chuyển đổi từ “nghĩa đen” sang “nghĩa bóng” (nghĩa ẩn dụ) của chính những danh từ ấy: từ chỗ biểu thị một quan hệ thân tộc đích thực, danh từ ấy biểu thị một mối quan hệ mà người nói dường như coi là “gần giống” với quan hệ thân tộc. Nghĩa là người nói làm như thế người nghe (hay người được nói đến), tuỳ theo lứa tuổi tương đối so với người nói, được mình coi như có quan hệ thân tộc với mình. Rốt cục, như nhiều nhà văn hoá học đã nêu lên, người Việt trong khi giao tiếp làm như thể họ coi nhau như người có quan hệ thân tộc.
Tôi đã được nghe nhiều diễn giả ca ngợi cách xưng hô này của người Việt, cho thấy một mối thâm tình gắn bó toàn dân lại thành một gia đình. Và mặt khác, trong một cuộc hội nghị quốc tế về các giá trị văn hóa phương Đông tôi cũng đã chứng kiến sự thích thú vô hạn của những nhà văn hóa học ngoại quốc khi tôi miêu tả những tình huống khác nhau có thể diễn ra khi một người con trai chuyển từ cách xưng hô tôi/cô với một người bạn gái cùng cơ quan (một cách xưng hô gần như trung hòa giữa những người lạ cùng một lứa tuổi) sang cách xưng hô anh – em mà tôi thuyết minh như một mưu toan thay đổi (an attempt at a change) mối quan hệ giữa hai người về phía thân mật hơn (vì đó là cách xưng hô của những đôi tình nhân hay những đôi vợ chồng), và trong những điều kiện nhất định có thể có giá trị như một lời tỏ tình không úp mở, và những cách phản ứng đa dạng mà người con gái có thể có, với những ý nghĩa có rất nhiều sắc thái khác nhau của nó. Mặt khác, khi một người chồng thay cách xưng hô thường ngày (anh/em) bằng cách gọi vợ là cô và tự xưng là tôi, ta có thể thấy ở người chồng ấy một thái độ không bình thường. Nếu đó không phải là một cách nói có sắc thái đùa bỡn, thì thường thường đó là dấu hiệu của một sự rạn nứt nào đó trong quan hệ gia đình.
Tôi cũng có viết và nói một số bài về cái mà tôi coi là một tệ nạn khi một nhà báo chỉ vì lớn tuổi hơn người được phỏng vấn (một chiến sĩ hải đảo, một ngôi sao bóng đá, một hoa hậu, một nghệ sĩ lỗi lạc vừa được tặng một giải thưởng quốc tế đáng tự hào cho bất cứ dân tộc nào) mà tự thấy mình có quyền gọi người ấy bằng “em” hay bằng “cháu”. Và, lạ thay, người ấy cũng vui lòng chấp nhận cách xưng hô ấy và xưng , xưng cháu với nhà báo, không hề nhớ mình là ai[2]. Tôi cũng đã tự hỏi xem liệu cách xưng hô “gia tộc chủ nghĩa” như thế có còn để lại một khe hở nào cho một quan hệ có tính chất dân chủ trong các cơ quan nữa không. Dù sao cũng không thể nào chấp nhận được thái độ kẻ cả của một người tự cho mình cái quyền gọi một công dân là em hay là cháu chỉ vì mình hơn người ta mười mấy tuổi. ngay trong nhà trường trung học (cấp hai) thời Pháp thuộc, tôi cũng chưa thấy một giáo viên nào dùng tu, toi (ngôi thứ hai số đơn) để gọi học sinh. Bao giờ giáo viên cũng gọi học sinh bằng vous (ngôi thứ hai số phức) như với người lớn. Thế mà ngày nay, ngay cả trong trường chuyên khoa (cấp ba) và cả trường đại học nữa, phần nhiều các giảng viên dám gọi học sinh, sinh viên bằng em. Cách xưng hô này không thể không đi đôi với một quan hệ bất bình đẳng và một thái độ bắt nạt có thể bị lạm dụng trong nhà trường, nơi lẽ ra có nhiệm vụ giáo dục ý thức công dân cho các thế hệ sau.
Rốt cuộc tôi thấy cách xưng hô này rõ ràng là có hai mặt trái nhau, trong đó có mặt tiêu cực khó lòng có thể thua kém mặt tích cực về tỷ trọng: một mặt, nó có thể làm cho những người dưng nhích lại gần nhau hơn; còn một mặt khác, nó đưa đến một không khí gia tộc hoàn toàn nhân tạo trong những môi trường không cần đến không khí gia tộc, thậm chí không thể chấp nhận thứ không khí này, vì nó quá thuận lợi cho chủ nghĩa con cháu (nepotism) và cho những thái độ kẻ cả của người này và thái độ khúm núm, nịnh bợ của người kia.
Về phương diện lịch sử, người ta dễ có xu hướng giải thích hiện tượng này bằng cái dĩ vãng phong kiến của dân tộc ta. Nhưng chế độ phong kiến đã từng tồn tại ở Trung Quốc, ở Nhật Bản và ở nhiều nước khác trong một thời gian dài hơn ở ta nhiều, mà sao trong ngôn ngữ của các nước này vẫn có được những cách xưng hô không bao hàm một mối quan hệ thân tộc nào, và do đó cũnng không bao hàm một sự bất bình đẳng nào? Hay đó là một phản ánh của một xã hội mà tế bào cơ bản là thị tộc? Tôi không đủ thẩm năng đệ phán đoán về vấn đề này. Dù sao cách xưng hô “không có đại từ trung hòa” này không phải không đẻ ra những vấn đề nan giải.
Tôi trước đây đã từng làm phiên dịch trong một thời gian khá dài, và trong khi dịch những tác phẩm văn học cỡ lớn vẫn phải dành khá nhiều thì giờ (có nhiều hơn cả thì giờ dành cho việc chuyển nghĩa) để nghĩ cách dùng đại từ sao cho khỏi rơi vào tình trạng lố bịch, và rốt cục phải thú nhận rằng trong rất nhiều trường hợp mình đã thất bại thảm hại. Quả nhiên khi viết bằng tiếng Việt không có cách gì có được một thái độ khách quan, trung lập đối với các nhân vật, nhất là trong những văn bản đòi hỏi một thái độ như thế. Chẳng hạn trong khi dịch Chiến tranh và Hòa bình, tập thể dịch giả đã phân vân rất nhiều trong khi đi tìm một thái độ hồi chỉ (“ngôi thứ ba”) thích hợp cho nhân vật Napoléon Bonaparte, vốn bị tác giả khinh miệt và chế diễu ra mặt. Tôi còn nhớ là giáo sư Đào Duy Anh cách đây 50 năm khi viết và giảng trên lớp giáo trình lịch sử Việt Nam đã thử dùng đại từ ngôi thứ ba nghỉ cho tất cả các nhân vật lịch sử, dù đó là Trần Hưng Đạo hay Toa Đô. Nhưng tôi và các bạn học hình như không ai thấy ổn, và cuối cùng hình như chính Giáo sư cũng đành từ bỏ cuộc thí nghiệm.
Trong cuộc Hội nghị quốc tế về các giá trị văn hóa phương Đông ở Hà Nội năm 1999, sau khi nghe báo cáo của tôi, một nữ giáo sư đã quở trách tôi không có được một thái độ dứt khoát đối với một hiện tượng mà bà (cũng như tôi) coi là một tệ nạn xã hội. Dạo ấy tôi nhân danh sự thận trọng của người làm ngôn ngữ học để không can thiệp vào những sự kiện tự nhiên của ngôn ngữ, vốn thuộc thẩm quyền của số đông những người bản ngữ: như trong câu cách ngôn nổi tiếng của một nhà ngữ học Mỹ, “Người bản ngữ, cũng giống như người khách hàng, bao giờ cũng đúng” (“The native speaker, like the customer, is always right”). Nay tôi nghĩ rằng nhà nước vẫn có thể quy định một nguyên tắc chung về cách xưng hô dùng trong giờ hành chính ở các cơ quan của nhà nước[3], nhất là về cách xưng hô của các đại diện của cơ quan truyền thông đại chúng với những người được phỏng vấn. Còn trong sinh hoạt bình thường, tôi e rằng không có cách gì can thiệp vào đây được. May ra cũng chỉ có thể hy vọng vào ý thức của những người cấp trên như thủ trưởng cơ quan hay phân xưởng, giảng viên hay huấn luyện viên thể thao, cố ý xưng hô với người “dưới” đã đủ tuổi công dân, dù người đó là học trò hay thuộc hạ của mình, bằng những đại từ nêu rõ quan hệ bình quyền giữa các công dân của một nước Cộng hòa và từ đó giáo dục ý thức tự trọng của lớp trẻ.
Và có lẽ phải đợi vài ba thế kỷ nữa mới có thể thấy trong các đại từ nhân xưng xuất hiện những từ trung hòa, không có những sắc thái phân biệt thân/sơ và trên/dưới như hiện nay.
Chú thích:
[1] Chúng tôi không hiểu tại sao những từ này không bao giờ dùng làm đại từ nhân xưng như các danh từ chỉ quan hệ thân tộc khác, cũng không bao giờ dùng làm hô ngữ hay làm “loại từ” đặt trước tên riêng (người ta nói bác ơi, bác Ba, chị ơi, chị Ba thậm chí thầy, vú, bác sĩ, tuy không phải là danh từ chỉ thân tộc cũng có thể dùng như thế (vú ơi, thầy Ba), nhưng không thể nói chồng ơi, chồng Ba được. Câu trả lời nghe rất có lý mà nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương mách cho tôi cách đây hai mươi năm (“vợ, chồng, dâu, rể không phải là người cùng huyết tộc, chỉ do hôn nhân mà thành”) không đứng vững được, vì thím, dượng cũng hệt như thế nhưng lại có thể nói thím ơi, dượng Ba được. Cho đến nay chúng tôi chưa biết có ai giải đáp được vấn đề hóc búa này.
[2] Một ngoại lệ hiếm hoi là Đặng Thái Sơn. Trong khi trả lời một ông giám đốc đài truyền hình gọi anh bằng “cháu” và tự xưng là “bác”, nghệ sĩ này một mực tự xưng là “tôi” và gọi ông giám đốc là “ông”, chứ không hưởng ứng cách xưng hô kẻ cả mà ông giám đốc , vì quen thân với gia đình Đặng Thái Sơn, tự thấy mình có quyền dùng, quên mất rằng trước công chúng xem đài, mình chỉ là một cán bộ đại diện của đài đóng vai trò trung gian giữa người được phỏng vấn với công chúng. (x. thêm bài “Văn hoá trong cách xưng hô” đăng trên bán nguyệt san Kiến thức ngày nay, số 225, năm 1996).
[3] Sau cách mạng Tháng Tám, cán bộ ta đã bắt đầu quen với cách gọi nhau bằng “đồng chí”. Tôi không hiểu tại sao cách xưng hô này dần dần ra khỏi tập quán của cán bộ công chức. Có lẽ vì cách xưng hô này có phần quá trang trọng hay quá đậm màu chính trị chăng? Có người còn nói rằng khi trong cơ quan người ta sắp “thịt nhau” thì mới gọi nhau bằng “đồng chí”. Tại sao tình hình lại có thể đi đến nông nỗi ấy?.
28/3/2020
Cao Xuân Hạo
Theo https://vanhocsaigon.com/

Về không khí viết lách ở Đồng bằng sông Cửu Long

Về không khí viết lách
ở Đồng bằng sông Cửu Long

Những năm đầu giải phóng có diễn vở kịch của Nga – “Điều thiêng liêng nhất”. Nội dung một trang trại gồm đủ ngành nghề – chăn nuôi, trồng rừng, thủy lợi, săn bắn, kiểm lâm tranh cãi nhau về cuộc sống điều gì cho là thiêng liêng nhất? Vở kịch bỏ lửng nhưng khán giả lại thấy, lại hiểu rằng: Không khí là thiêng liêng hơn nhiều thứ khác, mặc dù cũng rất cần cho con người. Thí dụ như cơm gạo, như nước chẳng hạn, tuy nhiên người có thể nhịn cả tuần lễ vẫn sống. Còn nín thở chỉ 3 phút thôi, là không thể. Tình cờ điều này như phù hợp với những người sáng tác.
Truyện ngắn nhờ vài chi tiết, thơ dựa vào hình ảnh, vẽ chú ý đến màu sắc, tuy nhiên cái chẳng dính gì tới chuyện viết lách là không khí nhưng không có nó thúc đẩy thì sẽ không có hứng. Có phải như vậy, nhất là khi nói tới phong trào văn nghệ miền tây ở thập niên 70-80 của thế kỷ trước? Đất nước sau bao năm chiến tranh, ngày hòa bình im tiếng súng thay vào đó là tiếng lòng con người sau năm tháng dài chịu đựng lại bùng ra. Một không khí tưng bừng hồ hởi. Cha con chồng vợ gặp lại nhau, bạn bè người gặp lại người mừng vui đến chảy nước mắt. Bầu không khí này như chủ đạo thống nhất bao trùm không gian, mặc dù bên cạnh vẫn có nhiều nỗi buồn vì vẫn có kẻ ra đi không về… Và người vừa hồi hộp, lo lắng không biết xã hội mới cuộc sống rồi sẽ ra sao, nó có đúng như sự mong đợi… Giới văn nghệ sĩ, nhất là lớp trẻ miền Tây, có tâm trạng đó.
Rất nhiều đứa lớn lên vẫn chưa hình dung mặt mũi Việt Cộng như thế nào, nhất là chủ trương đường lối văn hóa văn nghệ chỉ nghe nói mơ hồ từ xa. Hầu như ai cũng có tư thế thủ chuẩn bị khi gặp nhau. Phút đầu tiên đưa mắt ngơ ngác tò mò quan sát Nguyễn Bá, Lê Chí, Nguyễn Thanh, Văn Định, Anh Động, Lê Văn Thảo… những nhà thơ nhà văn ở rừng ra. Sau đó gặp thêm Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Mai Văn Tạo ở miền Bắc về. Lâu nay cứ tưởng những người cách mạng cộng sản là khắc khổ, những người không biết đùa. Bất ngờ khi thấy các anh lại là những người cởi mở, phóng khoáng trải lòng ra với anh em. Bất ngờ khi người ngoài thành không biết gì bên trong nhưng các anh bên trong lại biết rất rõ về cuộc sống bên ngoài. Cùng với không khí tưng bừng lúc đó, phút đầu tiên biết nhau tò mò lại trở thành cái phút đẹp ấn tượng về sau, khoảng cách giữa hai bên không còn.
Phải nói những ngày đầu giải phóng giới văn nghệ sĩ hòa nhập vào xã hội trước nhất, trước mọi giới khác. Gặp nhau trò chuyện thâu đêm vẫn chưa hết chuyện, không hay trời sáng. Rồi người Long Xuyên qua Vĩnh Long, xuống Cà Mau chơi và ngược lại, không cần mướn khách sạn chỉ cần trải chiếu ngủ ở cơ quan hay nhà ai đó. Chỉ cần bình trà, một hai chai rượu đế con khô, nghe các anh kể chuyện vui, buồn trong chiến khu. Rồi đến chuyện chữ nghĩa văn chương. Để rồi qua không khí đó nở rộ lên phong trào sáng tác, xuất hiện những cây viết mới là cơ sở để thành lập các hội văn nghệ.
Nhớ lại các hội văn nghệ khi ấy, anh em đi qua đi lại với nhau nhưng cùng một nhà. Lúc này không có điện thoại lại không có Internet, nhưng qua sự giao lưu mà anh em biết sáng tác của nhau. Những gương mặt thơ trẻ Nguyễn Trọng Tín, Song Hảo, Đinh Thị Thu Vân, Trịnh Bửu Hoài, Phù Sa Lộc , Mường Mán, Phạm Nguyên Thạch, Nguyễn Bạch Dương, Nguyễn Thị Trà Giang, Nguyễn Bính Hồng Cầu rồi tới Kim Ba, Hồ Thanh Điền, Vũ Hồng… nổi lên cả nước biết tên. Đặc biệt, Trịnh Bửu Hoài, Phù Sa Lộc, Mường Mán, Phạm Nguyên Thạch, Nguyễn Bạch Dương là những cây bút cũng đã có tên tuổi trước đó xuất hiện trong tạp chí Văn của Trần Phong Giao. Rồi văn xuôi được ghi nhận Nguyễn Thanh, Văn Định, Anh Động, Đặng Thư Cưu, Phạm Thường Gia, Phạm Trung Khâu, Lê Đình Bích, Nguyên Tùng, Lê Đình Trường, Hồ Tĩnh Tâm, Nguyễn Trọng Nghĩa… Các hội văn nghệ được vận động thành lập. (Nói thêm ngoài thẻ hội viên văn nghệ vì vui gặp gỡ nhau để chơi trao đổi chuyện văn chương anh em, còn có làm một cái thẻ chí cốt ghi tên tuổi và điều lệ – ai có thẻ này đi tới nhà người nào cũng có thẻ này được quyền ở chơi 3 ngày. Ngày thứ 4 con cá tươi trở thành con cá sình phải rút lui. Và có quyền giới thiệu một người bạn chí cốt khác. Tình cờ công an phát hiện không biết cái thẻ chí cốt có mục đích gì, nên hội chí cốt phải giải tán)
Và qua không khí nhiệt tình phấn khởi hòa hợp, mọi người phát sinh ra việc liên kết các hội văn nghệ đồng bằng sông Cửu Long. Có thể đây là hiện tượng đầu tiên. Sự liên kết các hội văn nghệ miền Tây làm được rất nhiều việc, mở nhiều cuộc hội thảo về văn thơ, mở các cuộc thi thơ, truyện ngắn, đến các cuộc triển lãm tranh, điêu khắc gây tiếng vang toàn quốc. Và cũng qua sự liên kết với không khí ấy xuất hiện thêm nhưng khuôn mặt nữ giới Lê Thanh My, Trúc Linh Lan, Trương Thị Thanh Hiền, Võ Diệu Thanh nhất là với Nguyễn Ngọc Tư. Có thể nói Nguyễn Ngọc Tư là người đến sau nhưng lại về đích trước. Như vậy có thể nói nhà văn là người của công chúng cần không khí để viết ra tác phẩm mặc dù khi ngồi trước trang giấy họ lại là những người cô đơn.
Văn nghệ đồng bằng sông Cửu Long trải qua giai đoạn hưng phấn làm ra nhiều tác phẩm xứng đáng đóng góp vào văn học cả nước, nhiều người trở thành hội viên Hội nhà văn VN. Cho tới ngày xã hội vật chất khoa học phát triển… Cái ngày được gọi là thời 4.0, ai cũng có điện thoại thông minh cầm tay, có máy tính không gian như mở rộng. Bộ mặt xã hội thay đổi từng ngày rất nhiều chuyện để viết để kể ra với bạn đọc. Lẽ ra nước lên thuyền lên, đằng này bộ mặt đồng bằng sông Cửu Long như trầm lắng xuống. Trừ một vài người như Lê Thanh My, Võ Diệu Thanh, Nguyễn Ngọc Tư vì còn trẻ, giữ được phong độ theo kịp thời đại. Phần đông các tay viết bắt đầu có tuổi. viết ít đi. Thêm nữa nhà văn gắn với việc đi để thấy cảm xúc rồi viết ra. Đằng này nhiều người lại an phận thường ngồi ở nhà tiếp xúc với bên ngoài với chiếc điện thoại, với màn hình. Cuộc sống bên ngoài có rất nhiều điều phải nhìn thấy tận mắt giờ bị thế giới ảo lấn sân, vì vậy cảm xúc để sáng tác phai dần và có nhiều người ngưng viết.
Về các hội văn nghệ. Nếu như ngày xưa là mái nhà để anh em gặp nhau hâm nóng không khí sáng tác, bây giờ hội văn nghệ như lạnh lẽo trở thành cơ quan hành chánh loay hoay giấy tờ, tiền bạc. Lãnh đạo suốt ngày bận lo họp hành. Nhiều vấn đề của địa phương lẽ ra người viết là người cần phải được mở rộng tầm nhìn hiểu rõ nó hơn ai, nhưng lãnh đạo hội đi họp về không phổ biến gì hết. Không vốn sống để viết, vì vậy người viết vẫn tiếp tục viết ra những truyện ngắn, những bài thơ vô thưởng vô phạt thiếu hơi thở đời sống chẳng phản ánh được hiện thực xã hội đang bề bộn diễn ra.
Về mối liên kết các hội văn nghệ đồng bằng sông Cửu Long cũng trở thành hình thức. Thay vì qua mối liên kết mỗi năm mở ra một hai cuộc hội thảo, văn học nhiều chuyện cần phải bàn luận mổ xẻ, đồng thời qua đó tìm kiếm tài năng. Thay vì qua sự liên kết tạo điều kiện cho các hội viên các tỉnh nhiều cơ hội gặp nhau rồi tổ chức chung hùn một đoàn đi thực tế để rồi có nhiều tác phẩm hơn. Sự liên kết như chỉ dành cho lãnh đạo hội mỗi năm gặp nhau một lần, làm mỗi một việc luân phiên thay ca mở cuộc thi bút ký, thơ, truyện ngắn. Cuộc thi được đưa lên tạp chí các hội ít dòng thông báo coi như xong, chờ nhận bài. Nhưng số lượng bài dự thi ít ỏi. Vì nhiều người có biết đâu mà gởi. Lẽ ra khi đăng cai các cuộc thi phải tổ chức một cuộc họp mặt, mời các tay viết đến giao lưu chuyện trò tạo ra bầu không khí thi đua hào hứng. Làm như vậy còn chưa chắc tìm ra tác phẩm trao giải xứng tầm. Chính vì mở cuộc thi chờ người gởi bài tới, ban giám khảo chấm rồi trao giải nên nhiều năm qua chẳng những tác phẩm được giải không được ai nhớ mà còn xảy ra nhiều việc bê bối tai tiếng. Như vậy có thể nói không khí rất cần cho giới sáng tác mặc dù ngồi trước trang giấy họ là những người cô đơn. Dần dần văn nghệ đồng bằng sông Cửu Long như chuyển giao cho một thế hệ trẻ mới, thời đại nào như có người của thời ấy. Lần lượt xuất hiện những cây bút mới. Lớp 8x có Võ Mạnh Hảo- Lê Minh Tú của Long An. Trương Trọng Nghĩa – Võ Tấn Cường của Tiền Giang. Trần Văn Tuấn- Đình Thu của Bến Tre. Trầm Thanh Tuấn – Văn Triều của Trà Vinh
Lớp 9x Nguyễn Chí Hoan ở Bến Tre, Trần Thị Thùy Linh – Lê Văn Trường thuộc Sóc Trăng là hai vợ chồng trồng mía sống nhưng lại làm thơ viết tản văn rất hay. Cần Thơ có Phan Duy, Hoàng Khánh Duy đã in 2 đầu sách và Phát Dương được vô chung khảo Văn học tuổi hai mươi. Đồng Tháp có Lê Minh Chánh – Nguyễn Hữu Trung- Thu Truyền. Cà Mau có Lê Minh Nhựt – Huỳnh Thúy Kiều. Đặc biệt lực lượng viết văn trẻ ở An Giang thật là đông, nhiều tên được cả nước biết tên như Nguyễn Đức Phú Thọ, Nghiêm Quốc Thanh, Lê Quang Trạng, Vĩnh Thông, Đông Triều, Trần Sang, Hoàng Thị Trúc Ly, Huỳnh Thị Nương, Mai Hương, Lâm Long Hồ, Huỳnh Ngọc Phước. Những cây viết trẻ nhờ thông tin ngày nay rộng mở, nhất là làm thơ in trên máy tính, nhất là hiện nay cả nước có gần 800 tờ báo thường xuyên mở những cuộc thi, mặc sức phát triển tài năng kiếm tiền.
Lực lượng giới trẻ miền Tây lại đông hơn TPHCM, mười năm qua không có gương mặt 9x nào, như một hiện tượng mang sức sống đồng bằng. Lớp trẻ tạo ra không khí viết lách sôi động như vượt qua thế hệ đàn anh. Tuy nhiên không có chiều sâu. Có tác giả như Hoàng Ngọc Duy một năm in được 4 cuốn sách. Vĩnh Thông in 3 cuốn nhưng không được bạn đọc chú ý. Lại thêm viết để đăng báo, báo chí rất nhiều, nên phải viết theo gu của báo nên đành đánh mất bản ngã. Qua đây ta thấy rõ vai trò của cùng các hội văn nghệ .
Nếu trước đây hội là bà đỡ mát tay cho thế hệ trước, nhiều người trở thành hội viên hội nhà văn Việt Nam. Bước vào thời 4.0 xuất hiện một không khí sáng tác sôi nổi của lớp trẻ, phải thú nhận đó như của trời cho mình, chớ có phải mình đào tạo ra đâu. Thôi thì hội tiếp tục làm vai bà đỡ chăm sóc phong trào có được thêm nhiều nhà văn xứng đáng gọi là tác giả, để kế thừa sự nghiệp của lớp đàn anh chớ không phải viết được ba bốn cuốn sách rồi lặng tăm. Không khí để sáng tác làm ra tác phẩm rất là cần, mỗi năm nên tổ chức được gặp nhau một hai lần qua đó tìm ra những tài năng thực sự. Nhất là tìm được cho đồng bằng một người chuyên viết lý luận phê bình đi sát với phong trào. Xã hội đang chuyển mình từng ngày, người làm văn nghệ phải chuyển mình theo, đổi mới phương pháp lãnh đạo để được kết nạp thêm nhiều người vô Hội nhà văn VN. Với một lực lượng trẻ đầy nhựa sống mà mỗi năm chỉ kết được một hai người vậy là quá ít hơn những vùng miền khác, chưa xứng tầm vóc của một đồng bằng trù phú có nền kinh tế phát triển sôi động.
29/3/2020
Ngô Khắc Tài
Theo https://vanhocsaigon.com/

Lời văn nghệ thuật trong một số truyện ngắn Việt Nam ở hải ngoại

Lời văn nghệ thuật trong một
số truyện ngắn Việt Nam ở hải ngoại

Bài viết qua khảo sát lời văn nghệ thuật trong một số truyện ngắn Việt Nam hải ngoại đã phát hiện một số đóng góp của mảng truyện này trên các khía cạnh: phong vị lãng mạn – tiền chiến, phong vị ngữ ngôn Nam bộ, màu sắc cách tân – hội nhập, cách tư duy nghệ thuật- phong cách sáng tác nhà văn và một số đóng góp khác về mặt thể loại.
1. Mở đầu:
Tuy ra đời và phát triển ở ngoài nước nhưng văn học Việt Nam ở hải ngoại sau 1975 là một bộ phận văn chương thể hiện sự kế thừa từ văn học Việt Nam truyền thống trên một số đặc điểm đề tài, nội dung thể hiện, màu sắc văn hóa, thể loại và ngôn ngữ văn chương… Bên cạnh đó, do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sinh quyển văn hóa – văn chương đương đại của thế giới, văn học hải ngoại đã có những sáng tạo khá đặc biệt trên nhiều mặt thi pháp thể loại hiện đại với nhiều cây bút có phong cách, góp phần định hình một dòng chảy văn chương Việt có bản sắc ở ngoài nước. Trong nỗ lực nghiên cứu nhằm tiến tới góp một tiếng nói từ trong nước trong việc nhìn nhận những đóng góp của mảng truyện ngắn hải ngoại trên góc nhìn thể loại, bài viết tập trung khảo sát lời văn nghệ thuật trong một số truyện ngắn hải ngoại viết về cội nguồn.
Lời văn nghệ thuật là “dạng phát ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ của tác phẩm văn học” (Lê Bá Hán, 2000, tr.161). Trên góc nhìn loại hình tự sự, thể loại truyện ngắn, lời văn nghệ thuật bao gồm lời trần thuật (người kể), lời độc thoại, đối thoại (lời nhân vật). Từ các đơn vị lời văn nghệ thuật như vậy, truyện ngắn (nói riêng) không những thể hiện cách tư duy nghệ thuật trong sáng tác của đội ngũ tác giả người Việt ngoài nước mà còn đóng góp vào diện mạo văn chương Việt ở hải ngoại một số  phong cách nhà văn khá độc đáo. Khảo sát lời văn nghệ thuật trong các truyện ngắn Việt Nam ở hải ngoại sau 1975 khuynh hướng tìm về cội nguồn là nhằm tìm kiếm, định danh một số giá trị về thi pháp truyện ngắn trên các mặt kế thừa di sản và sự sáng tạo – cách tân của văn chương Việt ở ngoài nước.
2.  Một số đặc điểm của lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam hải ngoại
 2.1 Phong vị diễn ngôn truyền thống
2.1.1 Phong vị lãng mạn- tiền chiến
Không phải vô cớ khi nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn cho rằng: văn học hải ngoại là một nền văn học “miền Nam nối dài”.  Cái “nối dài” ấy là tất yếu bởi lực lượng cầm bút là những nhà văn miền Nam di tản hoặc vuợt biên. Tâm lý di dân “Tiếng Việt trong ta ngày mỗi héo/ Hồn Việt trong ta ngày mỗi khô” (Cao Tần) khiến họ muốn níu kéo quán tính viết cũ và cố lưu giữ tài sản tiếng Việt văn học vô giá trên đất người:“ Quyết định viết bằng một ngôn ngữ nào là kết hôn với nó cả đời, hưởng nó mà cũng chịu đựng nó, thậm chí cắn răng mà chịu, đúng theo nghĩa đến chết mới chia ly […] Cộng đồng Việt nhỏ bé ở bên ngoài lại có một phẩm chất rất đặc biệt:  nó bảo tồn rất nhiều khía cạnh văn hóa Việt mãnh liệt và cuồng nhiệt hơn ở chính quốc […]. Cả một nền văn hóa tiền chiến theo chân người-Bắc-54 di cư mà cố thủ trong lòng hồi cổ và sinh sôi trên mảnh đất Nam bộ không quá khắt khe. Rồi lại hai thập kỷ sau nữa, Nam bộ ấy đã đổi khác, muốn gặp văn chương tiền chiến phải tiếp tục di tản”. (Phạm Thị Hoài, 1998).
Người thủ lĩnh của văn đàn “Sáng tạo” một thời ở miền Nam trước 1975, Mai Thảo, dù ở hải ngoại, vẫn giữ nguyên vị trí- nói như Thụy Khuê là “ông vua không ngai” của văn chương miền Nam, là “thủ lĩnh trên những vùng đất không lãnh thổ”. “Các tập truyện ngắn sáng tác ở hải ngoại như Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto, 1987), Một đêm thứ bảy (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1988), Hồng Kông ở dưới chân (Xuân Thu, 1989), Chân bài thứ năm (Nam Á, Paris, 1990), Chuyến métro đi từ Belleville (Nam Á, 1990)… dù có tiên phong thế nào, thì vẫn “ta thấy hình ta những miếu đền” hay “em vẫn hoang đường như từ thời cổ đại”, “dù hết sức tân kỳ trong cách sử dụng ngôn ngữ (biến danh từ thành động từ, biến tĩnh từ thành danh từ…) vẫn nặng tính cổ điển biền ngẫu (Nguyễn Mộng Giác,2004 tr 48 ).
Hồi cố quê nhà lại càng làm truyện ngắn Việt ở hải ngoại giai đoạn ban đầu thêm đậm chất lãng mạn của nghệ thuật ngôn từ, bởi hành trang mỹ cảm trong diễn ngôn văn chương mang theo đến đất lạ dường như còn mới nguyên thậm chí lại càng được tô đậm bởi tâm lý tiếc nuối và tràn đầy hoài niệm. nhưng – là nhà văn Việt, họ viết cho những người đồng hương đa phần cùng cảnh ngộ, cùng thế hệ, nên truyện ngắn hải ngoại (nói riêng) quả là những trang viết đậm phong vị lãng mạn – tiền chiến. Vũ Quỳnh Hương, nữ nhà văn cầm viết trên trú xứ, người có xuất thân từ gia đình văn chương đã viết những lời văn vừa dịu dàng nữ tính vừa xa xót- cay đắng, đủ sức để lại những dư vị đằm sâu bởi những tang thương đời người như thế này:
“Khi lấy Khắc,.., tôi đã đem theo cả những tập thơ chép tay mà tôi đã cặm cụi chép suốt những năm thời trung học.Tôi đã ép hoa ép lá ở đó. Tất cả những mơ mộng thời con gái của tôi gom lại là ở đó. Thoạt đầu, thời mới lớn của tôi được ướp thơm bằng những bài thơ tiền chiến dịu dàng, có bóng dáng những người con gái bên song cửa yêu những người ở cuối chân mây. Đến khi yêu Khắc và bước vào cuộc sống của chàng thì những người con gái sầu mộng kia cũng dịu dàng bước vào dĩ vãng để nhường chỗ cho những cảm xúc mãnh liệt hơn. Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới. Tôi rơi vào trong tình yêu của Khắc, tôi run rẩy tan thành khói. Rồi thoắt chốc tôi hóa thành nước mắt. Chàng thì đi cõi xa mưa gió. Thiếp lại về buồng cũ chiếu chăn” (Tác giả nữ hải ngoại, 1997, tr125).
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, “thi pháp trong cú pháp là phương diện quan trọng của thi pháp học, ở đây có cấu trúc bề sâu của tư duy nghệ thuật đang chi phối hành văn của tác giả” (Trần Đình Sử, 1998, tr173). Văn của Mai Ninh, Miêng, Dương Như Nguyện và nhiều nhà văn nữ khác xuất thân từ văn học miền Nam thể hiện khá rõ cái mượt mà lãng mạn và phong vị tiền chiến man mác trong biểu tả. Những trang văn này bộc lộ hơi hướng nữ tính, sâu lắng vốn có của những người đàn bà viết văn – được hấp thụ và trưởng thành từ môi sinh văn học Việt Nam sau 1954 và khi viết nơi đất mới, yếu tố nữ quyền hậu hiện đại trong cảm thức nữ – cái “cấu trúc bề sâu của tư duy nghệ thuật” trong họ – đã làm cho chất lãng mạn trong diễn ngôn thêm phần đậm đà và độc đáo.
2.1.2 Phong vị ngữ ngôn Nam bộ
Một trong những biểu hiện của một nền “Văn học miền Nam nối dài” là những nhà văn Nam bộ di dân ra ngoại quốc và tiếp tục cầm viết sáng tác. Nỗi xa quê và lòng hoài niệm càng làm cho cái khí chất- phong vị miền Nam càng trở nên nồng đượm trong sáng tác của họ. Khoảng cách xa ngái với quê nhà làm ngưng đọng và tồn giữ dai dẳng một cách lạ lùng vốn liếng từ vựng và phong cách diễn đạt của xứ nắng phương Nam. Phải chăng đó là một trong những lý do khiến những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, văn chương miệt vườn Nam bộ ở hải ngoại nổi lên như một hiện tượng sôi nổi với nhiều nhà văn và trang viết ăn khách?!
Kiệt Tấn định danh mình trong làng văn chương Nam bộ hải ngoại như một hiện tượng. Ông viết như đang nói cái giọng rặc Nam bộ giữa kinh đô Ánh sáng thế giới. Ông gán lên miệng nhân vật của mình, ông trần tình với người đọc bằng nhiều thành ngữ, phương ngữ, quán ngữ: “nghe sướng muốn rụng rún”, “nghe đã cái lỗ nhĩ”, “mèng đéc ơi”, “dữ hôn”… Ông thả một cách hết sức tự nhiên những câu hò điệu hát miệt vườn quê Nam bộ vào trong những truyện ngắn với văn phong nửa như nói chơi nửa như tâm sự. Có thể nói gần như trong tất cả các truyện ngắn hoài hương của ông, bao giờ người đọc cũng được ông “gửi tình” bằng ca dao, hò vè phương Nam với những từ ngữ tượng thanh như muốn ghi âm cái ngọt ngào nồng nàn của điệu lý, câu hò vọng cổ:
“Hò ơ ơ ớ…
(Chớ) Ngó lên Châu Đốc Vàm nao
Thấy buồm em chạy như dao (ờ ớ) cắt lòng…
Hò ơ ơ ớ…
Bữa nay loan phụng hiệp bầy
Hò chơi nhơn đạo (ờ ờ)
(Chớ) Hò chơi nhơn đạo sau vầy nhơn (ờ ớ) duyên (ơ ơ)…”. (Kiệt Tấn, 2009, tr 393).
Và, đặc biệt khi viết về những bà mẹ quê, hoặc đặc biệt hơn nữa là khi ông viết về chính người mẹ ruột của mình, tình cảm thân thương tha thiết của ông rạt rào tuôn chảy cái khí điệu hồn hậu độc đáo mà vô cùng nên thơ của cách ông thả chữ:
“…Buổi trưa, khi ngồi vá áo bên cửa sổ, bà ngó tôi cười móm mém trong vuông nắng, tự nhiên tôi có cảm giác đang nằm dưới một gốc tre già bên bờ ao, lá tre thoảng gió rì rào, giọt nắng trộn lẫn bóng lá tre nhảy nhót trên khuôn mặt tôi mát rượi, tôi thiu thiu ngủ, giấc mơ thơ thới… Ôi! Chi xiết êm đềm “nụ cười tre trúc! Dù má tôi có không cười thành tiếng, tôi vẫn nghe có tiếng rì rào thanh thoát của tre trúc rộng lượng chở che. Tôi là con trâu nghé nằm trong bóng lá im buổi trưa hè nắng gắt…”. (Kiệt Tấn, 2009, tr. 98).
Bên cạnh Kiệt Tấn, còn nhiều cây bút miệt vườn khác làm phong phú diện mạo văn chương đất phương Nam ở hải ngoại: “Trong các tác phẩm ở giai đoạn đầu, nhất là trong các truyện ngắn, Võ Kỳ Điền tỏ lộ một văn phong miền Nam đặc biệt, không quá “miệt vườn” như Hồ Trường An, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Đức Lập, cũng không quá … ‘nóng’ như văn Kiệt Tấn, Cao Bình Minh, nhưng gần với Nguyễn Văn Sâm – có thể vì cùng gốc mô phạm![…] Ngòi bút Võ Kỳ Điền trước sau luôn đi sâu thám hiểm tình người, ông muốn chạm những ngõ ngách bí hiểm mà chỉ có cuộc đời kinh qua mới nhận ra được! Giọng văn Võ Kỳ Điền mang tiếc nuối, nhung nhớ, … ngay cả ở những hoàn cảnh phải phản ứng, đối kháng, phẫn nộ, giọng văn vẫn không hề tàn độc, thâm hiểm!”. (Nguyễn Vy Khanh, 2008) Mỗi nhà văn- mỗi phong cách khác nhau nhưng họ cùng có chung một điểm gặp gỡ trong ý thức cố lưu giữ và trao truyền cái ngọn lửa ấm phương Nam qua ngôn từ, khí điệu, lối diễn đạt rặc chất Nam bộ trong những trang viết của mình. Tiếng Việt trên những trang sách viết bên ngoài quê hương của họ như là cái “cuống rún chưa lìa” (tên một truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc) với phần đất mẹ bên kia bờ đại dương.
“Xuyên suốt toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ nền văn học lưu vong Việt Nam, […], có cái gì như một thứ ngữ pháp của lòng hoài cảm: nỗi nhớ nhung một quá khứ xa xôi nào đó trở thành nguyên tắc chính trên đó mọi hình ảnh và cảm xúc được chọn lọc và kết hợp” (Nguyễn Hưng Quốc, 2013).“Thứ ngữ pháp của lòng hoài cảm” này là kiểu diễn ngôn quyền lực của thân phận người lưu vong. Họ muốn lưu tồn và thể hiện hệ thống từ vựng và trường nghĩa phong phú của người miền Nam nói riêng, người Việt nói chung trong các diễn ngôn của mình trên đất lạ- dù chỉ là thỏa mãn nhu cầu giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ với nhau trong cộng đồng tiếng Việt nhỏ bé- nhưng cũng chính là một cách thể hiện quyền lực- quyền lực văn hóa bằng một thứ tri thức- tri thức tiếng Việt- với một thứ tài sản “địa dư ký ức” trong một “ngữ cảnh thời đại” đang sống và “ngữ cảnh văn hóa” lưu vong.
2.2 Màu sắc cách tân- hội nhập
Sự cách tân – hội nhập là vấn đề tồn- vong của di dân. Văn chương dù có muốn giữ hồn quê thế nào cũng không thể không đối mặt với cuộc va chạm khốc liệt một cách toàn diện của văn hóa trú xứ. Ở thế hệ nhà văn thứ nhất là những người trưởng thành trong khí quyển văn hóa Việt Nam và do tâm lý của những “tổn thương di dời” nên sự cách tân nơi họ xảy ra không nhanh. Ở thế hệ nhà văn một rưỡi và thứ hai, vấn đề thi pháp lưu vong trong sáng tác được đặt ra như một bài toán của sự tồn tại.
2.2.1 Ngôn từ lai ghép
Nhà nghiên cứu văn học hải ngoại Hoàng Ngọc Tuấn cho rằng: “Các cây bút lưu vong viết tiếng mẹ đẻ có thể nhờ ảnh hưởng của ngoại ngữ mà làm mới, làm giàu thêm cho tiếng mẹ đẻ. Điều này thực hợp lý và tốt đẹp, vì ngôn ngữ mãi mãi là một thực thể năng động và không thuần túy. Không một dân tộc nào trên thế giới có thể cách tân và phát triển ngôn ngữ của mình suốt dòng lịch sử mà không chịu nhận những ảnh hưởng từ những ngoại ngữ mình phải giao lưu” (Hoàng Ngọc Tuấn, 1998). Nguyễn Hưng Quốc thì cực đoan hơn khi cho rằng: “Có thể xem văn học lưu vong như một nền văn học nhỏ/ phụ (minor literature),… Đó là một nền văn học thoát thai từ một ngôn ngữ lớn […] với ba đặc điểm chính; nền văn học ấy tự đổi khác bằng cái ngôn ngữ quen thuộc xa lạ, và không ngại vượt qua mọi quy ước và quy phạm có sẵn để đi đến tận cùng tham vọng cách tân” (Nguyễn Hưng Quốc, 2013, tr). Như vậy,“ngôn ngữ quen thuộc xa lạ” chính là sự sáng tạo ngôn ngữ trên cảm quan của ý niệm “ở – giữa”, điều này thể hiện tập trung và rõ hơn ở sáng tạo thơ ca- thơ Tân hình thức, nhưng cũng có xuất hiện với tần suất đáng lưu ý trong các truyện ngắn hoài niệm viết ở giai đoạn muộn do các cây viết trẻ- hoặc thế hệ nhà văn hải ngoại một rưỡi hoặc thứ hai.
Với quan niệm “Nghệ thuật đích thực là bản ký âm của những tiếng nói khác thường” (Hoàng Ngọc Tuấn), việc làm lạ hóa, làm mới ngôn từ trong truyện ngắn hải ngoại  dễ dàng được nhận biết qua cách đặt tên các tác phẩm như: “ Hợp âm vùng sân khuất”, “Mưa đá âm dương”, “Mây một ngày”, “Hức nắng”… (Mai Ninh); “Trong buốt pha lê”, “Trăng thuê ảo ảnh”, “Hũng lốc”, … (Nam Dao); “Mùa mưa gai sắc”, “Cái chết sau quá khứ”, “Buổi sáng sinh phần” (Trần Vũ); “Hải nữ”, “Bóng chân”, … (Miêng), “I’m yellow” (Thuận), “Người vớt phù du”, “Huyết đằng”, … (Phạm Hải Anh)… . Khi thẩm đọc văn Mai Ninh, nhà văn Nguyên Ngọc nhận định: “Chúng ta được chứng kiến ở tác phẩm của Mai Ninh một điều kỳ diệu của ngôn ngữ: một hệ thống ngôn ngữ văn học Việt nhuần nhuyễn có thể “Việt hóa” những nội dung, những cảnh, những người, những vấn đề tưởng chừng rất “tây”, rất xa lạ với chúng ta. Nghĩa là, cũng có thể nói cách khác, đời sống tinh thần của chúng ta được làm giàu thêm những điều mới mẻ thông qua hệ thống ngôn từ văn học vừa rất Việt vừa rất hiện đại mà Mai Ninh đã xử lý thành công… Có phải chị đã ít nhiều vẽ ra được một kiểu chân dung tinh thần của con người Việt thời hiện đại, thời hội nhập mà ta đang băn khoăn đi tìm?”(Mai Ninh, 2003, tr8).
Nhà phê bình Thụy Khuê đã nhận định về khả năng tạo tác trác tuyệt của nhà thi- văn – họa Võ Đình qua các truyện ngắn của ông như sau: “Nhờ sự tế nhị tuyệt vời và bút pháp hội họa thanh cao, mà Võ Đình có thể “bắt” độc giả uống tất cả các thứ “độc dược”, chấp nhận các “tình thế” trớ trêu, “siêu thực” “huyền ảo” do ông tạo ra chung quanh thân xác.”Sự thể”, một khi đã vào tay ông, qua cách biến ảo của ông, tất cả đều trở thành “sublime”, đều thăng hoa, nhưng nếu rơi vào một ngòi bút phàm tục, tất cả có thể trở thành ô uế” (Thụy Khuê, 2009).
“Tôi ôm ghì chồng, tôi khóc, tôi cười. Tôi trở thành cõi trời minh mông, mây trắng hàng hàng lớp lớp ngất ngưởng bay về, tôi dạng hai chân ra đón nhận cả một bầu tinh tú rạng ngời hào quang. Tôi là trời, tôi là đất, tôi là núi đồi sông lạch, tôi là con cá cọng rau. Cha Mẹ ơi, con đây, về với con! Tôi là con hồ ly thân dịu đuôi dài, tôi mềm mại quấn quít là con bạch tuột, tôi dạng hai chân và tôi kêu thét lên “mình ơi!” và người đàn ông là chồng tôi đó gầm lên một tiếng, rồi toàn thân chàng tuôn trợt vào thân thể của tôi, tuốt luột mất hút vào trong tôi, vào trong cơn địa chấn của da thịt và tuỷ xương…”. Đoạn trích trên chọn ngẫu nhiên từ “Luân hồi trong một đêm tuyết” và nhiều truyện ngắn khác của Võ Đình, là một trong  những ví dụ đẹp ở giọng điệu đa thanh, “luân hồi’ giữa tả và kể, giữa độc thoại và đối thoại, giữa tạo hình và tô sắc… Tất cả những sáng tạo vô cùng nghệ sỹ đó khiến người đọc chất ngất đắm say trong cõi vũ trụ “luân hồi” giữa hiện thực và huyền ảo, giữa tưởng tượng và cảm nhận bằng mọi giác quan.
“Có thể tôi còn bị dính nhện, bởi cơn mơ đêm-gần-sáng nay…Tôi nhìn thấy tôi trong quan tài. Hồn tôi trong xác thân tôi xẹp nhão như chiếc túi- hình- người sau khi ai đó đã lấy hết ra đồ đạc. Tôi- với chút tiêng- tiếc biết mình đã chết”. (Nguyễn Hòa Trước, 2007). Tác giả“cà phê vẫn không làm tỉnh ngủ” (trong bản in tạp chí Văn số 123&124, tên truyện không viết hoa) đã thỏa sức vung bút tạo ra một diễn ngôn tân kỳ về tạo chữ, diễn đạt. Tác giả nhẩn nha kể câu chuyện trong một trò chơi ném chữ: một loạt các phân mảnh trong từ, cụm từ và cả cách trình bày câu văn với nhiều dấu ngoặc vuông ([…]),  dấu gạch ngang (-), hoặc cách tạo ra những cụm tính- động- danh ngữ có số đếm như trong tiếng Anh: “danh-từ-5-mẫu-tự”, “cà-phê-kem”, “nàng hot, bye, rẽ về góc có mũi tên chỉ: rest room”…
“Các cây bút lưu vong thường sử dụng các hình thức ngôn ngữ của mất mát và biến vị (dislocation), chẳng hạn các phân mảnh hoặc các hồi ức tĩnh lược của ngôn ngữ cha ông, các cách nói xuyên ngôn ngữ và các mã pha trộn (mixed codes) nhằm sáng tạo nên các định nghĩa mới về cộng đồng và ký ức cộng đồng ở cõi lưu đày.” (Azade Seyhan, dẫn theo Nguyễn Hưng Quốc) (Nguyễn Hưng Quốc, 2013, tr 109).
2.2.2 Cú pháp giải cấu trúc:
 “Về cú pháp, ít nhất ở những cây bút văn xuôi xuất sắc ở hải ngoại, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy những nỗ lực đổi mới từ cách sử dụng dấu chấm câu (ví dụ chấm ở trong hay ngoài dấu ngoặc đơn vốn rất bất nhất ở Việt Nam), hay các cấu tạo câu, hơn nữa, cách cấu trúc đoạn văn (paragraph structure), từ đó, cách cấu trúc các lập luận và cuối cùng bài viết, v.v..” (Nguyễn Hưng Quốc, tr111).
“Không thư. Không ảnh. Không kèm hai trăm nghìn”… “Những ngày ấy thằng Vĩnh mới một tháng. Nó biết lẫy. Biết bò. Biết đi. Không thấy Thụy đâu. Nó bị kiến lửa đốt vào tai 39 độ một tuần liền. Không thấy Thụy đâu. Nó đau răng. Cai sữa. Lên sởi. Không thấy Thuỵ đâu. Nó nuốt phải hột chôm chôm cấp cứu. Không thấy Thụy đâu… nó bị thằng bạn cùng nhà trẻ cắn rách mũi… Không thấy Thụy đâu. Không thấy Thụy đâu…” ;
“Mười hai năm sau tôi lờ mờ hiểu được người ta không phải bỗng dưng mà có thể viết được.
I’m yellow.
Đêm. Đêm có màu vàng…” (Thuận , 2003)
Lối sử dụng lặp đi lặp lại những cách sáng tạo định ngữ nghệ thuật rất riêng trong lời văn, lối hành văn trùng điệp, giọng điệu trần thuật đa thanh… của Thuận trong nhiều trang viết (kể cả tiểu thuyết hay liên thể loại) thực sự là một hiện tượng cách tân độc đáo, một phong cách riêng, lạ được tạo nên bởi một tâm hồn nghệ sĩ cuộn sôi hơi thở hậu hiện đại.
Là một người làm bạn rất sớm với văn chương hải ngoại, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã nhận định về văn Trịnh Y Thư như sau: “Những khúc đoạn ngắt nhịp truyện, đưa dẫn người đọc khi đi thẳng, lúc đi vòng, buộc họ phải ráp nối, liên hệ các đoạn lại với nhau để tạo nên một chỉnh thể, một ý nghĩa…truyện ngắn viết ngắt đoạn còn như dành những bước nghỉ, những khoảng lặng cho người đọc tưởng tượng và ức đoạn. Nhưng ở đây, biết đâu TYT, có thể đã học được điều gì từ ML (Milan Kundera), dù là anh viết truyện ngắn chứ không phải tiểu thuyết…” (Trịnh Y Thư, 2010, tr12)
Có thể gặp trong một truyện ngắn hải ngoại sự gặp gỡ của nhiều đề tài: hoài hương, hội nhập, những khám phá mới mẻ của đời sống tình yêu- tình dục hay những vấn đề nhân sinh khác của thời thế giới phẳng. Các nhà văn di dân do ảnh hưởng của nữ quyền, của vấn đề giải lãnh thổ hóa chính trị, văn hóa, vấn đề giới… đã thực sự phóng bút rất thỏa trên những vùng taboo vốn thường kiêng kỵ. Bút pháp, ngôn từ diễn tả đậm màu sắc điện ảnh và các lãnh vực nghệ thuật khác đã làm cho truyện ngắn hải ngoại thêm phần mới mẻ. Điều này phần nào bộc lộ tính chất tiên phong và tính chất hậu hiện đại của truyện ngắn hải ngoại ở khả năng liên thể loại và giao thể loại: truyện ngắn- tiểu thuyết; hư cấu- phi hư cấu, tự sự- trữ tình;  văn học với điện ảnh- hội hoạ- kiến trúc… Nhà văn Thế Uyên trong bài “Tình dục và các nhà văn nữ di dân” đã viết: “Nếu Nguyễn Thị Thanh Bình có bút pháp thẳng băng, cái gì nói đúng cái đó, thường dùng các từ giản dị thường ngày, ít ấn tượng, ẩn dụ, bóng bẩy, Nguyễn Thị Ngọc Nhung thì ngược lại, có bút pháp cổ điển, trau chuốt hơn. Lối đặt câu ngắn dài xen kẽ nhau, dùng từ chọn lọc…” (Thế Uyên, 1995). Và đây là một đoạn văn khác viết về những ẩn ức và khai phóng tâm lý tính dục của một cô gái câm:
“Cô Câm sáng tạo một lối vẽ mới rất đáng chú ý, gọi là body painting mới chỉ đúng một nửa: “dùng bàn tay trái của mình quét sơn chung quanh thân thể anh trên lớp vải mà hai đứa tôi dùng làm khăn trải trên mặt đất… anh trườn lên thân thể tôi kéo tôi ập xuống. Như con báo đen vừa bắt được mồi. Tới tấp, hung hãn, điên cuồng,[…]. Rồi anh hôn lên đó. Tôi cũng hôn lên phần thừa của con báo đen…” (Lê Quỳnh Mai, 2014)
Cú pháp giải cấu trúc thể hiện sự nghi hoặc trong cảm quan của con người thời kỹ trị, thời của những khủng hoảng về các loại biên giới- ranh giới, thực- ảo, thời của những sự vỡ vụn nhiều giá trị và tạo ra nhiều giá trị khác biệt, mới lạ… của tinh thần hậu hiện đại.  Lời văn nghệ thuật nói riêng, thi pháp truyện ngắn hải ngoại nói chung bộc lộ rõ nét vị trí “Ở_giữa”, màu sắc “Cái Khác” vừa mạnh dạn vừa nghi ngại của thi pháp lưu vong, đặc biệt rõ ở cách thể hiện ngôn từ để bộc lộ cảm thức sáng tác trên các mặt thi pháp thể loại truyện ngắn như thi pháp không- thời gian phi lý, siêu thực,  ở cách diễn tả những hồi ức, giấc mơ, của nghệ thuật tự sự dòng chảy cuộc đời…
3. Kết luận:
Thi pháp ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn hải ngoại thuộc khuynh hướng viết về nguồn cội một mặt thể hiện tính kế thừa ngôn từ nghệ thuật trong văn chương Việt hiện đại và văn chương ở miền Nam trước 1975, mặt khác thể hiện sự khám phá, thử nghiệm, cách tân lối viết trên ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng, thi pháp sáng tác hiện đại, hậu hiện đại, phù hợp với việc phản ánh những vấn đề mỹ cảm- văn hóa- nhân sinh- xã hội của cộng đồng Việt sống ở ngoài nước. Do đó- theo chúng tôi- lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn hải ngoại như là một thứ ký hiệu- ẩn dụ của những sáng tác văn học Việt ngoài biên giới. Thông qua những ký hiệu- ẩn dụ đó, nhà văn Việt di dân xác quyết một thứ  “nền tảng hiện tồn” (Lê Huy Bắc) của một dân tộc nhỏ bé cộng sinh trên đất khác, xác quyết  một thứ quyền lực tri thức của một thân phận dân tộc- dù lưu vong. Theo đó, nhà văn Việt di dân đã thể hiện một cách mãnh liệt tình yêu tiếng mẹ đẻ, thể hiện khát vọng nuôi dưỡng tiếng Việt nơi vùng đất khác, tạo cho khí sắc ngôn ngữ Việt những đặc điểm rất riêng của đời sống sinh ngữ so với ngôn từ nghệ thuật văn chương trong nước về từ loại, cấu trúc ngữ pháp, màu sắc diễn ngôn… Nghiên cứu lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn hải ngoại nói riêng và văn học Việt Nam hải ngoại nói chung không những là một trách nhiệm đối với phần ruột rà tiếng mẹ bên ngoài biên giới mà còn là một trách nhiệm đối với việc nghiên cứu đời sống ngôn ngữ Việt đương thời. Và, đó cũng là một kiểu đi tìm những “chân trời vẫy gọi” của các giá trị văn chương Việt đương đại…
Tài liệu tham khảo:
1. Lê Bá Hán (chủ biên). (2000). Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội.
2. Phạm Thị Hoài. Gốc, Khai thác từ https://www.tienve.org/.
3. Nguyễn Mộng Giác. (2004). Nghĩ về văn học hải ngoại, Văn Mới, California, USA.
4. Tác giả nữ hải ngoại (Lê Hoài Nguyên sưu tầm và tuyển chọn).(1997). Khung trời bỏ lại. NXB Phụ nữ.Tp HCM.
5. Nguyễn Hưng Quốc. (2013).Văn học Việt Nam tại Úc: Chính trị và Thi pháp của lưu vong, NXB Văn Mới. USA.
6. Trần Đình Sử. (1998). Dẫn luận thi pháp học. NXB Giáo dục. Hà Nội.
7. Kiệt Tấn. (2009). Em điên xõa tóc.NXB Văn hóa Sài Gòn. Tp. HCM.
8. Nguyễn Vy Khanh. (2008). Nhà văn Võ Kỳ Điền và  dòng ý thức xuyên suốt trong tác phẩm.Khai thác từ  https://sites.google.com/.
9. Hoàng Ngọc Tuấn. (1998). Vấn đề ngôn ngữ trong văn chương lưu vong. Khai thác từ https://www.tienve.org/.
10. Mai Ninh. (2003). Ảo đăng. NXB Hội Nhà văn. Hà Nội.
11.Thụy Khuê. (2009). Võ Đình, thân xác như một chất liệu nghệ thuật. Khai thác từ http://thuykhue.free.fr/.
12. Võ Đình. (1987). Luân hồi trong một đêm tuyết. Khai thác từ: https://vietmessenger.com/.
13. Nguyễn Hòa Trước. (2007). “cà phê vẫn không làm tỉnh ngủ”. Tạp chí Văn học nghệ thuật số 123&124. USA
14. Thuận. (2003), I’m yellow. Hợp lưu số 72 (Tháng 8 và 9 năm 2003)
15. Trịnh Y Thư. 2010. Người đàn bà khác. NXB Thế giới. Hà Nội.
16. Thế Uyên, (1995). Tình dục và các nhà văn nữ di dân. Khai thác từ: https://kilopad.com/.
17. Lê Quỳnh Mai. (2014). Khai thác từ https://lequynhmaiweb.wordpress.com/.
29/3/2020
Đỗ Thị Phương Lan
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn nữ - Nhìn từ tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới trong phê bình văn học miền Nam trước 1975

Nhà văn nữ - Nhìn từ tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới trong phê bình văn học miền Nam trước 1975 Tuy số lượng nhà văn nữ không nhiều so ...