Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

 

Phê bình như là tự truyện

Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.

Phê bình cũng là tự truyện, cái tín niệm này khởi sinh và thành hình dần trong tôi đã lâu. Một hôm nào đó, lật giở ấn phẩm Viết và đọc chuyên đề mùa hạ 2021, đọc nhà phê bình Vương Trí Nhàn trả lời phỏng vấn Yên Ba, tôi đặc biệt khoái thú khi đến đoạn này:

“Thánh Thán là một ngòi bút đa dạng. Nhưng cái đặc biệt của Thánh Thán mà tôi muốn theo: ông ấy công khai nói rõ chỉ mượn những cái tìm thấy ở người khác, để nói về mình. Tức là tôi thích Thánh Thán ở chỗ rất chủ quan như cách nói của ta bây giờ. Thú thực, tôi cố ý không lảng tránh sự can dự chủ quan trên trang viết. Tôi chẳng bao giờ khách quan như một số người đòi hỏi. (…) Trong những bài viết ấy luôn có bản thân tôi, những vui buồn và những từng trải của tôi”.

Và khi nhìn rất lâu vào tên cuốn sách mới nhất của Trịnh Lữ – Vẽ gì cũng là tự họa – thì thêm lần nữa củng cố trong tôi xác tín: phê bình văn học cũng là tự truyện – tự truyện của nhà phê bình.

Trong dòng chảy của văn học, bên cạnh người sáng tác là người phê bình – người làm công việc lý giải, đánh giá và soi sáng tác phẩm. Nếu sáng tác là hành trình khai mở thế giới nội tâm của nhà văn thông qua hình tượng nghệ thuật, thì phê bình – tưởng như thuần lý trí và khách quan – cũng ẩn chứa trong đó những tầng sâu cá nhân của nhà phê bình. Phê bình văn học cũng là tự truyện, nhận định này không chỉ làm rõ một phần bản chất của phê bình văn học, mà còn gợi suy ngẫm về mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và hoạt động nhận thức bộ môn nghệ thuật ngôn từ, đặc biệt là trong thời đại mà cái tôi cá nhân và sự trung thực nội tâm được cổ xúy và tôn trọng.

Trước hết, phê bình cũng là tự sự

Suy cho cùng, không riêng gì với hoạt động phê bình, mà đằng sau tất cả hoạt động tư duy của con người đều có một cái lõi cốt truyện. Con người có nhu cầu kể chuyện dưới mọi hình thức. Kể chuyện là cách họ giao tiếp với thế giới, trình hiện chính mình.

Trong thư Ban biên tập Viết và đọc chuyên đề mùa thu 2018, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tự sự: “Chuyên đề Viết & đọc ra đời chỉ như một nỗ lực dựng lên một ngôi nhà nhỏ cho những người kể chuyện chân chính của thế gian bước vào, nhóm lên ngọn lửa và cất tiếng. Mỗi một nhà văn, nhà thơ, mỗi một họa sĩ, mỗi một nhà nghiên cứu, mỗi một nhà báo, mỗi một người giảng dạy trong nhà trường… và mỗi một bạn đọc chính là một người kể chuyện của thế gian này. Không còn cách nào khác, tất cả chúng ta hãy bước đi và cất tiếng về những điều tốt đẹp đang bị vùi lấp bởi chính con người”.

Nhà phê bình đồng thời là nhà văn người Ý Umberto Eco từng chia sẻ, chỉ sau khi viết xong tiểu thuyết đầu tay khá lâu ông mới nhận ra rằng tất cả những tác phẩm phê bình của ông tự thân chúng đã mang tính tự sự. Sau đó ông hay nói đùa rằng ông đã bắt đầu viết tiểu luận với Tên của đóa hồng, trước đó ông chỉ viết tiểu thuyết như Tác phẩm mở hoặc Cấu trúc thiếu hay những cuốn khác. Nhưng nói một cách nghiêm túc, ông luôn luôn muốn kể chuyện, ngay cả khi chấp bút các công trình khoa học: “Tôi kể chuyện, vì tôi đã kể vô khối chuyện cho các con tôi hồi chúng còn bé, do vậy việc lấy câu chuyện làm trung tâm đã thấm vào tôi. Rồi nhiều năm sau này bỗng nhiên tôi thấy muốn thay đổi phương thức kể chuyện đã quen của mình. Không phải là tôi đổi từ không viết tự sự sang viết tự sự, mà đơn giản chỉ là thay đổi cách kể chuyện. Những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi đã ra đời như thế”.

Phê bình, lâu nay, thường bị hình dung như một thao tác lạnh: phân tích, bóc tách, lí giải. Nhưng thực ra, phê bình cũng là một hình thức tự sự: nhà phê bình đi xuyên qua ngôn ngữ của người khác để trích xuất câu chuyện của chính mình.

Với chủ thể phê bình, đọc một văn bản, bản chất là bước vào một thế giới đã được ai đó kể lại. Và nếu như nhà văn kể chuyện bằng nhân vật, bối cảnh, giọng điệu, thì người làm phê bình kể lại chính trải nghiệm đọc đó – bằng những chất liệu của ngôn ngữ phân tích, nhưng cũng đầy cảm xúc, kí ức, và cả những khoảng lặng riêng tư. Một bài phê bình thực sự chạm tới, là khi kể lại được câu chuyện về “một cuộc gặp gỡ”: giữa người đọc với văn bản; giữa “điển”, “tầm đón nhận” với hình tượng; giữa chủ thể tiếp nhận và chủ thể sáng tạo…

Phê bình, như vậy, là một dạng nhật kí đọc và sống, là một cách nhà phê bình lưu giữ lại những điều chạm vào mình. Khi ấy, phê bình không cao giọng giảng giải dạy dỗ, mà bình thản thủ thỉ kể chuyện: về đối tượng phê bình, và qua đó, về chính chủ thể phê bình. Lúc này, tự sự cũng là tự truyện.

Phê bình và tự truyện – tưởng khác mà gần

Phê bình là một hoạt động tư duy có tính khoa học, nhằm phân tích, lí giải và định hướng giá trị của một hiện tượng văn học. Tự truyện, ngược lại, là hình thức người viết kể lại cuộc đời, cảm xúc, quan điểm của chính mình – nơi cái tôi được đặt ở trung tâm. Nhưng thú vị thay, trong những bài phê bình tưởng như khách quan và “lạnh”, cái tôi của người viết vẫn hiển thị sinh động. Khi một nhà phê bình lựa chọn và đưa ra nhận định về một hiện tượng văn học, họ không chỉ nói về hiện tượng văn học đó, mà đồng thời hé lộ hệ giá trị, quan điểm thẩm mĩ, vốn sống và cả tâm thức của chính mình. Nói cách khác, người phê bình không thể thoát khỏi cái bóng của chính họ trong khi nhìn vào người khác – và đó là lúc phê bình trở thành một dạng “tự truyện gián tiếp”: người này thiên về “lấy hồn ta để hiểu hồn người”, người khác lại thiên về dùng lí tính, tư duy logic để giải phẫu những kĩ thuật thuộc về mặt hình thức của văn bản; người này bị hút cuốn bởi hấp lực của nỗi buồn niềm đau nơi tác phẩm, người khác lại chỉ muốn đọc những cái viết nhẹ nhõm vui tươi… Nghĩa là, cứ xem nhà phê bình chọn đọc gì và đọc như thế nào, ta sẽ định danh được họ.

Với Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh không chỉ là một người sưu tầm và phân loại thơ của phong trào Thơ mới, mà còn là một “thi sĩ trong vỏ bọc nhà phê bình”. Cách ông lựa chọn thơ, trừu xuất từng hồn thơ… phản ánh một cái tôi phê bình mơ mộng duy cảm duy mĩ. Phê bình kiểu Hoài Thanh không chỉ giúp ta thông hiểu Thơ mới, mà còn phơi mở bản đồ tâm hồn nhà phê bình với khung thẩm mĩ, với “trực giác”, “ấn tượng”… riêng tây.

Nhà văn Việt Nam hiện đại – chân dung và phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh là một “tự truyện học thuật” được viết bằng chính trải nghiệm cá nhân của nhà phê bình với văn chương và đời sống.

Nhà văn, nhà phê bình người Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk (Nobel văn chương 2006) từng chia sẻ, một mùa hè khi mang cuốn sách Tu viện thành Parme của nhà văn người Pháp Stendhal theo người, nhiều lần ông tự hỏi tại sao chỉ cần biết cuốn sách ở bên đã thấy khoái như vậy, và thôi thúc ông nói về cuốn sách – niềm vui thú đó của mình. Khi chìm đắm tuyệt đối vào tâm hồn cuốn sách, ông thấy như thể tác giả của nó thầm thì toàn bộ sự thông thái vào tai ông, chia sẻ những sự những niềm chỉ cho riêng ông. Ông xúc động bộc giãi: “Đến gần như vậy trong trí óc và tinh thần của một nhà văn rỡ ràng dường này giúp tôi tự tin, và nhờ đó, như với mọi người hạnh phúc khác, niềm tự tôn trong tôi dâng trào”.

Những màu khác là tuyển tập tản văn, diễn văn, tiểu luận được Orhan Pamuk chủ ý tập hợp để tạo thành một cuốn sách hoàn toàn mới lấy yếu tố tự truyện làm trung tâm. Những bài phê bình xuất hiện trong đây ở các phần tách biệt như một chuỗi phân mảnh để phản ánh cùng một câu chuyện mang tính tự truyện của cuốn sách. Nói về Istanbul, hay bàn luận về các cuốn sách, tác giả, bức tranh mà bản thân yêu thích nhất, với Orhan Pamuk luôn luôn là một cái cớ để nói về cuộc đời. Phần “Nhìn ra cửa sổ”, câu chuyện ở cuối sách, theo ông, mang tính chất tự truyện mạnh đến nỗi tên nhân vật rất có thể là Orhan Pamuk. Khi soạn cuốn sách này ông bàng hoàng nhận ra bản thân có mối quan tâm đặc biệt và khuynh hướng thiên về các thảm họa tự nhiên (động đất) và thảm họa xã hội (chính trị). Ông luôn luôn tin rằng ắt phải có một kẻ cuồng viết tham lam và gần như không thể lay chuyển thường trú trong bản thân – “một sinh vật không thể bao giờ viết cho đủ, kẻ lúc nào cũng biến cuộc sống thành từ ngữ” – và để cho hắn ta vui lòng ông cần phải tiếp tục viết. Đây là cuốn sách được đặt trong một cái khung để gợi ra một trung tâm mà ông cố gắng che giấu. Với ông, cuốn sách này “là hồ sơ – là bằng chứng – của một đời sống nội tâm”.

Ngay cả trong phân tích hậu cấu trúc, nơi tưởng như triệt tiêu cái tôi, nhà phê bình người Pháp Roland Barthes cũng vô thức kể lại bản thể mình qua S/Z (P/S). Đây là một tác phẩm phê bình văn học, cụ thể là một phân tích chi tiết về truyện ngắn Sarrasine của đại văn hào người Pháp Balzac. Nhà phê bình Thụy Khuê truy vấn và tường giải: Tại sao Barthes lại chọn truyện ngắn Sarrasine của Balzac? Lối phân tích vừa cắt vừa dán của Barthes khiến chúng ta có thể thấy tất cả những nét lồi lõm của một tác phẩm cổ điển tưởng là nhẵn nhụi bằng phẳng. Cái nhan đề S/Z của Roland Barthes biểu trưng tính chất bí mật của toàn thể tác phẩm qua hai nhân vật chính: S là chữ đầu tiên tên Sarrasine, người họa sĩ tài danh đam mê, và Z là chữ đầu tiên tên Zambinella, một danh ca bị thiến từ nhỏ để giữ giọng kim tuyệt vời. Hai người đàn ông này, liên hệ tới sự đồng tính của Barthes, đều mang tên đàn bà, tuy đứng ở hai phía nhưng cùng một nòi: tài hoa bạc mệnh.

Cũng theo Thụy Khuê, nhà phê bình người Bỉ Georges Poulet từng nói về lối phê bình của Madame de Staël – nữ văn sĩ người Pháp gốc Thụy Sĩ – như sau: “Đó là một lối phê bình ích kỉ nhất và vô vụ lợi nhất, đưa đến sự tìm biết sâu xa chính mình, trong say đắm, đem cái tôi của mình hòa nhập với cái tôi của người khác”. Georges Poulet đưa ra khái niệm sự thấu minh (transparence), tức là sự thông suốt, giữa người viết và người đọc. Theo ông, sự hòa hợp giữa những tâm hồn qua văn chương cũng giống như một cuộc hôn nhân hạnh phúc.

Ngày nay, với sự phát triển của internet và mạng xã hội, hoạt động phê bình văn học không còn tự trị, chỉ đi sâu vào tháp ngà hàn lâm, mà trở nên dân chủ, đi rộng ra đời sống. Những bài review, cảm nhận tác phẩm trên blog, diễn đàn, facebook… thường không theo chuẩn mực khoa học nghiêm ngặt, nhưng lại bộc lộ rõ cái tôi cá nhân. Người viết chia sẻ những gì họ thấy, cảm, nghĩ – và chính điều đó làm cho mỗi bài phê bình trở thành một mảnh ghép chân thực của “nhật kí tinh thần” người viết.

Phê bình như tự truyện – nghĩa lý và lưu ý

Về nghĩa lí, phê bình như tự truyện giúp giải phóng cái tôi trong phê bình, biến phê bình thành một hành vi sáng tạo thực sự. Nhà phê bình không chỉ làm công việc “phụ trợ” cho tác phẩm, mà trở thành người đối thoại, người đồng hành, đồng sáng tạo.

Phê bình kiểu tự truyện làm cho phê bình trở nên gần gũi hơn với độc giả, đặc biệt là trong thời đại mà con người ngày càng cần kết nối tương tác, cần được lắng nghe tiếng nói khác. Một bài phê bình giàu tính chủ quan có phần cực đoan là một bài giàu tính kích thích, giàu khả năng sinh sự, tạo hiệu ứng hoặc chia sẻ đồng cảm hoặc tranh luận đối thoại – đúng như tinh thần của một xã hội đa chiều.

Phê bình mang dấu ấn tự truyện cũng phản ánh sự trung thực trí tuệ và tâm hồn của người viết. Người ta không thể che giấu toàn bộ bản thân khi kể chuyện về một điều gì đó một cách sâu sắc – đặc biệt là khi kể chuyện về cái đẹp, cái thiện, và cả những giới hạn của con người.

Theo nhà phê bình Từ Huy, Alain Robbe-Grillet, nhà văn và nhà làm phim người Pháp, đã nói về những bài viết của Barthes bàn về các tác phẩm Kẻ nhìn trộm và Những chiếc tẩy của ông như sau: “Tôi đã tin rằng Barthes không hề nói gì về tôi, mà ngược lại, ông nói về chính ông, không phải theo một cách thức chặt chẽ, chính xác…, mà lỏng…”. Chính điều này lại hấp dẫn Robbe-Grillet. Ông hoàn toàn chấp nhận việc nhà phê bình có thể dùng tác phẩm của mình như một cái cớ để triển khai tư tưởng của chính họ, bất chấp việc những tư tưởng đó có thể hoàn toàn không ăn nhập gì với ý đồ sáng tạo, với cách hiểu của nhà văn về tác phẩm của mình. Bởi vì suy cho cùng, ý đồ của nhà văn sau khi tác phẩm đã được viết ra sẽ chỉ tồn tại như một cách thức diễn giải giữa vô vàn cách thức diễn giải khác. Điều quan trọng là tác phẩm có khả năng kích thích những tiềm năng của diễn giải.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, không phải cứ phê bình là tự truyện, càng không thể đánh đồng phê bình với tùy bút, dẫn phê bình đến tùy tiện. Phê bình là khoa học, đúng hơn, là “con vật lưỡng thê” dùng dằng giữa khoa học và nghệ thuật. Trái tim nóng nghệ thuật rất cần cái đầu lạnh khoa học phối tiết.

Nhà phê bình người Đức Erich Auerbach từng nhấn mạnh: “Phương pháp phân tích văn bản cho người nghiên cứu một sự tự do nào đó trong cách diễn giải: tức là tự do lựa chọn và tô đậm chỗ nào anh ta thích. Tuy vậy, cái điểm mà anh xác định luôn luôn phải có trong văn bản. Những cách giải thích của tôi, chắc chắn là bị hướng dẫn bởi một ý hướng nhất định, nhưng ý hướng này không có sẵn mà nó được hình thành dần dần, từng trang, từng trang, cùng với luận điểm giải thích văn bản mà tôi đang nghiên cứu, và trong nhiều trang, tôi để cho văn bản hướng dẫn mình. (…) Tôi không hề có ý định chỉ trình bày những gì phù hợp với những phát biểu của tôi; ngược lại, tôi cố gắng dành chỗ cho sự đa dạng và giữ sự mềm dẻo trong lập luận…”.

Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mỹ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.

Những phân mảnh phê bình mang tính tự truyện lưu lại những mối quan tâm, niềm nhiệt hứng của chủ thể phê bình. Với họ, đọc là ân điển, viết là lạc thú. Những lần khởi bút viết phê bình được Orhan Pamuk gọi là “những khoảnh khắc vụt hiện”, “những khoảnh khắc kỳ lạ khi chân lý bằng cách nào đó được rọi sáng”, còn nữ văn sĩ người Anh Virginia Woolf gọi là “những khoảnh khắc hiện hữu”. Phải thôi, khi mà có vô hạn hiện tượng văn học, tại sao nhà phê bình chỉ chọn đọc hữu hạn hiện tượng này thôi, và đến lượt, trong hữu hạn hiện tượng đã đọc, họ chỉ dừng lại chấp bút phê bình một phần nhỏ này thôi. Và ta hiểu, tại sao nhiều nhà phê bình lại run rẩy xúc động ghi đề tặng cố hương, cố nhân, người thân… vào đầu mỗi cuốn sách phê bình của mình.

Với nhà phê bình, viết là một cách để nói họ đang sống, họ đang hiện diện, họ đã yêu cái đẹp này theo cách của họ. Từ đó có thể thấy, phê bình – như một tự truyện gián tiếp – không chỉ là nỗ lực của nhà phê bình trong việc giải phẫu hiện tượng văn học, đặc biệt là tác phẩm văn học, mà còn là hiện thân của khát vọng trình hiện bản thân, của nhu cầu tương giao với thế giới và nhìn sâu vào chính mình của chính họ.

Vì lẽ đó, như đã nói, trong mỗi bài phê bình đích thực, ta không chỉ thấy được văn bản văn học mà còn thấy được đời sống tinh thần của người đọc nó. Những xúc cảm, tổn thương, vẻ đẹp và những vùng tối trong tâm thức – tất cả được viết ra như thể người viết đang soi gương dưới ánh sáng lấp lánh và mờ đục của văn chương. Như ánh đèn chiếu vào sương, những thứ tưởng không hình hài bỗng hiện rõ – một khoảnh khắc vụt sáng giữa vô vàn tiếng ồn im lặng.

Phê bình không chỉ là diễn giải người khác, mà là tự soi mình. Không chỉ là lý giải, mà còn là tự khải. Không chỉ là khách thể hóa, mà còn là hành trình chủ thể hiện diện trong ngôn từ.

Nhà phê bình không viết để phô phang kiến thức, mà viết để lần tìm linh hồn của mình.

Trong hành trình ấy, nhà phê bình không bao giờ có thể chạm được vào cái tuyệt đối – nhưng ít nhất, họ đã dấn bước. Và một điều chắc chắn, họ không thể “tuyệt không dấu vết”.

30/12/2025

Hoàng Đăng Khoa

Nguồn:VanVn

Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

 

Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách

Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.

Ngắn gọn, súc tích, “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là cuốn cẩm nang dễ hiểu nhất, giúp độc giả đi vào thế giới của sách. Sách viết về phương pháp đọc sách đã có rất nhiều. Cuốn sách được coi là kinh điển cho dòng này là: “Thú đọc sách” của charles van doren; “ Đọc sách như một nghệ thuật” của Adler Modtimer ... Đó là những tác phẩm được biên soạn rất công phu. Mặc dầu vậy khó khăn trong tâm lý đọc sách của độc giả ngại khó, ngại dài.  Độc giả có thể tìm đọc cuốn nhẹ nhàng hơn của tác giả Nhật Bản Yuji Akaba, đã rất nổi tiếng hiện nay là cuốn “ Kỹ năng đọc sách hiệu quả”. Ở Việt  Nam, học giả Hoàng Xuân Việt có viết cuốn: “Nghệ thuật đọc sách báo”  cũng rất hay nhưng đã lâu không tái bản.  

Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn xuất  là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp. Sách được xuất bản giữa thời điểm thế giới công nghệ thông tin đang bùng nổ, ngành xuất bản có nhiều đổi mới, đầy triển vọng và cũng nhiều thách thức. Trong bối cảnh đó, người nắm bắt thông tin nhanh nhạy sẽ có thế mạnh. Nhưng mọi tri thức của nhân loại đều có trong sách. Sứ mệnh của con người cần biết đọc sách, mà đọc sách giỏi trước hết phải biết điểm sách. Tác giả viết: “Tôi đã biết những gì và cảm nhận được những gì sau khi đọc xong cuốn sách này?”. Như thế , “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn hứa hẹn cho độc giả biết nhiều bí mật của sách. Nó như nấc thang đầu tiên giúp độc giả đến với sách không phải với tâm lý e ngại, mà rất phấn khích, đã vững rồi lại muốn đi những bước tiếp theo. Cuốn sách phù hợp với các bạn yêu sách , lại có ước vọng cao hơn là đến nghề văn. Bước đầu tiên là giúp họ biết cách đọc một cuốn sách làm sao thâu hái được nhiều tri thức nhất, từ đó giúp họ biết cách điểm sách hay nói rộng biết phân tích, bình luận một cuốn sách.

Bạn đọc đi sâu với hai phương pháp điểm sách đặc thù: Đầu tiên là điểm sách theo cách mô tả. Tác giả hướng dẫn rất cụ thể với 3 phần: Mở bài, thân bài, kết luận. Qua mỗi cách, tác giả đều làm rõ từng phần, có ví dụ cụ thể từ các tác phẩm kinh điển. Đáng nói là qua 3 phần tác giả đều có lối đi riêng, độc đáo. Chẳng hạn tác phẩm: “Tôi thấy hoa trên thảm cỏ xanh” nếu mở theo cách tập làm văn xưa sẽ viết: “Tôi thấy hoa trên thảm cỏ xanh là một tác phẩm văn học chứa đựng nhiều tuổi thơ của biết bao thế hệ trẻ em Việt Nam”. Với Nguyễn Ngọc Sơn, anh có cách đi cho riêng mình, bằng lối mở đầy tính bất ngờ, sáng tao. Anh viết: “Thơ mộng, đầy chất thơ. Đọc Tôi thấy hoa vàng trên  cỏ xanh là cách nhanh nhất, dễ dàng nhất để giúp bạn quay về với tuổi thơ hồn nhiên, ngọt ngào...”. Vẫn hướng đi sáng tạo này, phần kết luận, tác giả còn gợi mở thêm nhiều cách kết bài mới, bên cạnh những cách đã có trước đây. Chẳng hạn muốn kết bài cho tiểu sử Steve Job, tác giả dẫn bằng một câu danh ngôn của nhà triết học người Pháp Descartes: “ Đọc sách hay cũng giống như trò chuyện với các bộ óc tuyệt vời nhất của những thế kỷ đã trôi qua”. Steve Job - người có bộ óc tuyệt vời của thế kỷ 21 - chắc chắn sẽ là nhân vật tuyệt vời, đáng để bạn trò chuyện bên tách cafe vào mỗi buổi sáng.

Cách thứ hai là điểm sách theo cách bình luận. Đây là hoạt động giới thiệu sách mang đậm tính học thuật. Để bình luận thành công một cuốn sách, tác giả hướng người đọc trả lời 3 câu hỏi sau:

- Lập luận này của tác giả đúng chưa? Vì sao tác giả nói như vậy?

- Những vấn đề này là kiến giải khoa học hay chỉ là những nhận định phiến diện và chủ quan?

- Những kiến thức của tác giả có thể ứng dụng được không? Những thông tin của tác giả có chính xác không?

Đáng chú ý, tác giả đi đến cách đặt vấn đề bình luận những cuốn sách theo thể loại. Tôi rất tâm đắc khi Nguyễn Ngọc Sơn đã có những ý kiến xác đáng về các thể loại sách mang tính học thuật cao, đầy tính  gai góc: “Bạn muốn bình luận cuốn sách về văn học thì mở bài của nó phải nói về trường phái văn học, phong cách viết hoặc nói về xu hướng của văn học hiện đại. Nếu bạn bình luận về sách triết học, phần  mở bài của bạn không thể không nhắc đến chủ nghĩa duy tâm siêu hình, chủ nghĩa duy vật biện chứng, những trường phái triết học kinh điển. Khi bạn bình luận về sách kinh tế chính trị, thì bạn không thể không nhắc đến “bàn tay vô hình” hay “giá trị thặng dư”, những học thuyết kinh điển của kinh tế chính trị”. Tiếc rằng những chỉ dẫn này không được làm sáng tỏ trong phần trích dẫn quan trọng và trình bày trích dẫn từ cuốn sách khác. Thế nên việc bình luận cụ thể những cuốn sách về văn học, triết học, kinh tế... còn bị bỏ ngỏ do tác giả không dẫn ví dụ về loại này, lại thay bằng bình luận cuốn sách về Bí quyết thuyết trình của Steve Job: “Bằng cách đưa ra những dẫn chứng sâu sắc về thuyết phục, Carmine Gallo đã chỉ ra những bí quyết  trình bày cực kỳ đắt giá trong suốt thời gian Steve Job làm lãnh đạo Apple. Thông qua việc phân tích các bài thuyết trình trên Youtube, tác giả đã chỉ ra được các bí quyết, phương pháp mà vị lãnh đạo này thường áp dụng mỗi khi giới thiệu những sản phẩm mới”.

Bên cạnh chủ đề trọng tâm là đọc sách, điểm sách, Nguyễn Ngọc Sơn cũng không quên đề cập đến chuyện bếp núc xoay quanh vấn đề đọc sách và viết lách. Từ chuyện phát triển kỹ năng đọc và viết, đến chuyện tiêu chí chọn sách tốt, đặt tiêu đề, sử dụng ngôn từ... Tất cả góp phần làm cho cuốn sách thêm phong phú về nội dung, thỏa mãn được chờ mong của bạn đọc yêu sách. Tuy nhiên với dung lượng nhỏ (chỉ khoảng 150 trang), cuốn sách không có tham vọng đi vào mọi ngõ ngách của nghề sách. Với những gợi mở của nó, hi vọng sẽ giúp độc giả có nền tảng để thêm nhiều tìm tòi, đi sâu hơn vào thế giới mênh mông  này. Sách kinh dịch nói: Nhà muốn vững trước hết phải có nền, huống chi đối với người đọc sách. Quý độc giả có tâm huyết với sách tại sao lại không tạo nền móng vững chắc cho mình. Còn chần chừ gì nữa mà bạn đọc bỏ lỡ “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn.

1/1/2026

Vương Sỹ Thanh Chương

Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

 

Văn học mùa Giáng sinh

Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.

Lo âu và có một cơn giận dữ thầm lặng đang bùng cháy trong lòng ông. Nước Anh thời Victoria ngày càng giàu... và ngày càng tàn nhẫn. Trẻ em bị bóc lột, gia đình đói khát, người nghèo bị đối xử như thể đó là tội của họ. Dickens nhìn thấy mọi thứ. Và ông không thể câm lặng, giả vờ như chẳng có gì xảy ra.

Chính vì vậy, chỉ trong sáu tuần quyết liệt, ông đã viết A Christmas Carol ("Khúc ca Giáng Sinh".)

Cuốn sách ra mắt vào ngày 19 tháng 12 năm 1843. Dickens muốn nó phải đẹp, được giữ gìn cẩn thận, xem như một vật quý giá: bìa vải đỏ, viền vàng, hình minh họa màu của John Leech. Nó phải được xem là một món quà tặng chứ không chỉ để đọc.

Bản in đầu tiên với 6.000 bản đã được bán hết trước đêm Giáng sinh. Trong năm sau, nó đã được tái bản nhiều lần. Chi phí sản xuất có làm giảm thu nhập nhưng tác động xã hội là rất lớn.

Một trăm tám mươi năm sau, "cuốn sách nhỏ về ma" đó vẫn không mất đi sức mạnh của nó. Ngược lại. Nó đã trở thành một nghi lễ. Một nguyên mẫu. Một la bàn đạo đức trở lại rất đúng giờ vào mỗi tháng Mười Hai hàng năm.

Câu chuyện trong sách rất đơn giản và phổ quát.

Ebenezer Scrooge, một người keo kiệt và cô đơn, coi thường Giáng Sinh và tất cả những gì Thánh lễ này đại diện. Gã coi đó là một điều vô nghĩa và đắt tiền. Một thứ lãng phí thời gian.

Nhưng vào đêm trước Giáng sinh, gã được hồn ma của người bạn Jacob Marley và ba linh hồn đến viếng thăm:

- Giáng sinh quá khứ

– Giáng sinh hiện tại

– Giáng sinh tương lai

Thông qua họ, Scrooge buộc phải thực sự nhìn vào bản thân mình.

Quá khứ cho thấy ông ta là một đứa trẻ bị lãng quên và một chàng trai trẻ đã hy sinh tình yêu trên bàn thờ tiền bạc.

Hiện tại tiết lộ cho ông ta sự giàu có vô hình của những người tuy có ít nhưng biết cách chia sẻ mọi thứ cho mọi người.

Tương lai đặt trước mặt gã là một hậu quả đáng sợ: chết mà không để lại bất cứ điều gì, nếu không muốn nói là sự thờ ơ.

Và ở đây Dickens vẫn ảnh hưởng đến chúng ta cho đến ngày nay.

Bởi vì, sau tất cả, chúng ta đều là một lão Scrooge. Chúng ta sống trong một thế giới hối hả, siêu kết nối, phố xá đầy ánh sáng và các cửa hàng lấp lánh, nhưng chúng ta thường thiếu thời gian, được lắng nghe và cảm thấy ấm áp thực sự. Chúng ta đang phấn đấu để làm cho Giáng Sinh trở nên "hoàn hảo", như thể đó là một pha trình diễn, và cuối cùng chúng ta mệt mỏi, tâm hồn trở nên trống rỗng và lòng đầy hoài nghi.

Khi Scrooge hỏi:

"Tại sao phải vui vẻ? Tại sao phải chi tiêu? Tại sao phải cố gắng trở thành người tốt?"

… Một số người trong chúng ta hiểu câu hỏi đó.

Và Dickens trả lời ngay mà không cần tài hùng biện: nếu chúng ta không thắp sáng ánh sáng bên trong mình, chúng ta không thể chiếu sáng cho bất kỳ ai.

Ngay cả sự ra đời cuốn sách cũng là một hành động khẩn cấp. Năm 1843, Dickens gặp khó khăn về kinh tế và sáng tạo. Như bộ phim The Man Who Invented Christmas đã kể lại, ông đang tìm kiếm một câu chuyện vừa tố cáo xã hội vừa làm thức tỉnh đạo đức. Sau một bài phát biểu ở Manchester chống lại nghèo đói ở trẻ em thì ý tưởng đã hình thành. Ông đi dạo quanh London hàng giờ, nói chuyện với chính mình, trong khi Scrooge và những hồn ma càng lúc càng sống động trong tâm trí.

Dickens không chỉ viết một tiểu thuyết hay truyện kể.

Ông đã khôi phục ý nghĩa cho một Thánh lễ Giáng Sinh đang trở nên trống rỗng.

Ông nhắc nhở thế giới rằng Giáng Sinh không phải là để tiêu dùng hay - phô trương mà là để kết nối.

Và mỗi khi chúng ta đọc cuốn sách hoặc xem một trong những bản chuyển thể của nó, thông điệp ấy vẫn còn nguyên vẹn:

Hãy quay trở lại với những điều thật sự cần thiết.

Một cử chỉ tử tế

Một bàn ăn để cùng chia sẻ

Một cái nhìn để nhận ra người khác

Như triết gia Seneca đã viết:

"Si vis amari, ama."

Nếu bạn muốn được yêu, thì hãy yêu.

Có lẽ đây là lý do tại sao, sau một trăm tám mươi năm, A Christmas Carol vẫn tiếp tục nói với chúng ta.

Bởi vì nó không yêu cầu hay đòi hỏi là chúng ta phải hoàn hảo.

Nó chỉ yêu cầu CHÚNG TA PHẢI LÀ CON NGƯỜI.

* A Christmas Carol ("Khúc ca Giáng Sinh") của Charles Dickens

2/1/2026

Trương Văn Dân dịch

Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

 

Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình

Đọc ĐƯỜNG SÁNG của Nguyễn Văn Mạnh là đọc lại một hành trình đời người nhiều bão tố nhưng không khuất phục. Từ người lính trận, nhà báo, luật gia đến nhà thơ, nhà văn, Nguyễn Văn Mạnh đã tự viết nên số phận mình bằng dấn thân và trung thực. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín – người bạn học, bạn đồng hương – mang đến một cái nhìn gần gũi, tin cậy và giàu xúc cảm về cuốn tiểu thuyết mới này.

Những ngày cuối năm 2025, tôi đọc tiểu thuyết ĐƯỜNG SÁNG của luật gia, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Văn Mạnh. Đây là cuốn tiểu thuyết mang tính tự thuật tái hiện cuộc sống hơn nửa thế kỷ qua của chính tác giả. Khi gấp sách lại, trong tâm thức của tôi bao nhiêu kỉ niệm lại ùa về sau chặng đường hơn 60 năm tôi và Mạnh cùng trải nghiệm và suy ngẫm.

Chúng tôi sinh ra trên mảnh đất Hiệp Hoà khó nghèo heo hút. Là xã cuối cùng trong bản đồ dư địa chí của thành phố Hải Phòng. Chúng tôi cùng tuổi Bính Thân, cùng học chung một lớp từ cấp 1 đến hết cấp 2 phổ thông tại trường xã và học chung cấp 3 trường huyện. Có thể nói tuổi thơ, tuổi học trò của chúng tôi đã có sự gắn bó sẻ chia với bao kỉ niệm vui buồn không thể nào lãng quên dù năm tháng đã phủ một lớp bụi mờ trên ký ức.

Quê chúng tôi là một vùng quê chiêm trũng đói nghèo lạc hậu. Thời chiến tranh loạn lạc, máy bay Mỹ quần thảo bắn phá suốt đêm ngày, thanh niên trai tráng trong làng lần lượt lên đường tòng quân chiến đấu, chỉ còn những người già, phụ nữ và trẻ em ở tuổi học sinh ở lại hậu phương. Mùa hè nóng nực, mùa đông giá rét, chúng tôi vừa đi học vừa phụ giúp gia đình chăn trâu cắt cỏ, mót khoai hôi cá để vượt qua nạn đói nghèo luôn rình rập quanh năm. Mạnh thuở ấn niên ốm đau còi cọc, dáng người gày gò bé nhỏ lụp xụp trong bộ áo quần nhuộm nâu nhưng đôi mắt sáng tinh nhanh và nụ cười hiền luôn thường trực trên khuôn mặt thánh thiện của tuổi học trò. Lớp học của chúng tôi được đào âm sâu vào lòng đất, trên đắp tường dày cả thước, mái nhà được bện rơm để tránh mảnh bom. Tôi và Mạnh đều là học sinh thông minh hiếu học, có ý chi tự lập và không chịu đầu hàng số phận. Hoàn cảnh nhà Mạnh còn khó khăn nghèo đói hơn cả nhà tôi do bố Mạnh mất sớm. Trong hoàn cảnh mồ côi, mấy anh chị em yếm thế vì bị đối xử phân biệt do ông bố của Mạnh thời Pháp thuộc làm chức sắc trong thôn xóm, bị Cách mạng quy địa chủ cường hào, bị tịch thu gia sản ruộng vườn. Sau này, được hạ thành phần là địa chủ kháng chiến, nhưng lúc đó đã mất hết nhà cửa, phải dựng túp nhà tranh nhỏ bé ở góc làng trú thân qua mưa nắng. Mẹ của Mạnh là người phụ nữ đoan trang, hiền hậu, khuôn mặt hằn nét chịu đựng vất vả truân chuyên của cuộc đời. Tôi đã nhiều đêm ngủ cùng Mạnh trong ổ rơm ngay cạnh bếp vừa nấu cơm vừa nấu cám lợn cho đỡ rét. Hồi đó chính quyền địa phương và cả nhà trường còn coi nặng thành phần giai cấp xuất thân, dù chỉ phụ thuộc nhưng tạo ra những áp lực nặng nề cho các học sinh là con em các gia đình có vấn đề về lý lịch.  Dù học giỏi thì lớn lên cũng chỉ cày ruộng không dám mơ đi học đại học hoặc làm các ngành nghề thoát ly đồng ruộng. Ngay từ khi học xong lớp 7/10, ở lứa tuổi 14 – 15, chúng tôi đã nung nấu ý chí phải thoát ly khỏi luỹ tre làng bằng con đường tình nguyện đi bộ đội. Dù biết rằng là người lính chiến đấu ở chiến trường (hoặc là xanh cỏ hoặc là đỏ ngực). Chủ nghĩa lý lịch còn được duy trì ngay cả trong quân ngũ, giữa chiến trường ác liệt đạn bom nhưng con đường phấn đấu kết nạp Đảng, đào tạo sĩ quan cũng bị phân biệt bởi có ông cha dính dáng phục vụ chế độ cũ…

Trong chương I và chương II của tiểu thuyết, Nguyễn Văn Mạnh đã cho chúng ta biết hoàn cảnh chính trị, điều kiện xuất thân và gia thế của mình. Nhưng với tính khiêm nhường, kiệm lời vốn có, tiểu thuyết chỉ khắc hoạ một phần cuộc sống mà tác giả đã trải qua. Thật chạnh lòng khi ghi lại một đoạn tự sự của Mạnh: “Số phận đã đóng dấu cho mình là con địa chủ thì mình sẽ xoá dấu ấy bằng máu và long trung thành trên chiến trường”.

Những năm giặc Mỹ tái đánh phá ra miền Bắc, máy bay B52 ném bom huỷ diệt, tôi và Mạnh cùng học cấp 3 của trường huyện nhưng khác lớp. Trường phải phân học sinh sơ tán về các xã.  Lớp học ấn dưới luỹ tre xanh của các xóm nhỏ ven sông. Ngồi học trong lớp nhưng tâm trí chúng tôi không thể tập trung bởi tiếng bom gào, máy bay gầm thét, bởi dòng suy nghĩ luôn hướng đến việc lên đường tòng quân cầm súng giết giặc. Tháng 2/1973 tôi tình nguyện đi bộ đội khi đang học lớp 9/10. Đến tháng 5/1974 đến lượt Nguyễn Văn Mạnh cũng tình nguyện viết đơn bằng máu và vinh dự được nhập ngũ. Trải qua rèn luyện chiến đấu tại chiến trường Nam bộ, gian khổ hy sinh do hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến trường, lằn rành sinh tử đã đào luyện chúng tôi trở thành những người lính dạn dày gan dạ, không sợ hiểm nguy, như những cánh chim đã trưởng thành trong bão tố và máu lửa. Theo chính sách của quân đội, những quân nhân nào không đủ tiêu chuẩn phục vụ lâu dài sẽ được chuyển ngành hoặc xuất ngũ về địa phương. Năm 1979 từ mặt trận biên giới Tây Nam tôi được chuyển ngành về bộ Công nghiệp nhẹ tại thành phố Hồ Chí Minh, còn Nguyễn Văn Mạnh năm 1980 được chuyển ngành về công tác tại báo Minh Hải… Đường đời cứ thế trôi đi, biết bao gian nan vất vả khi mỗi người phải tự đương đầu với hoàn cảnh công tác và thực tế cuộc sống khó khăn thiếu thốn của một thời bao cấp…

Tôi không tin vào sự huyễn hoặc của số phận nhưng ở lứa tuổi chúng tôi cái tuổi Bính Thân 1956 gặp rất nhiều hoàn cảnh long đong về sinh kế, trắc trở về đường công thành danh toại và lận đận bước tình duyên. Chẳng thế mà người đời có câu: “Người ta tuổi ngọ tuổi mùi/ Tôi nay ngậm ngùi lận đận tuổi thân”. Nhưng ông bà lại dạy “đức năng thắng số”, chỉ có nỗ lực vượt khó, chỉ có khát vọng vươn lên để tự thay đổi vận mạng cuộc đời mình thì mới có cơ hội nhập hoà cuộc sống để ổn định phát triển, tiến tới tính chuyện “ an cư lạc nghiệp”.

Trong tiểu thuyết ĐƯỜNG SÁNG, chương III và chương IV, Nguyễn Văn Mạnh đã tái hiện những thăng trầm trong cuộc chiến đấu khi là người lính trực tiếp bảo vệ tổ quốc hay trên cương vị một phóng viên khi đã chuyển ngành công tác tại báo Minh Hải. Với khí chất cương thường của người con đất cảng Hải Phòng, với cách sống trung thực tận tuỵ, cách viết đầy tính hiện thực, không phô trương bóp méo sự thật, anh không dễ dàng hoà nhập với tập thể có nhiều người kèn cựa ganh ghét dèm pha. Và rồi như mặc định một cánh chim bão bùng giông tố, anh không khuất phục nghịch cảnh, không chấp nhận số phận nghiệt ngã để quyết tâm đứng vững trước mọi thử thách truân chuyên. Anh chuyển công tác qua toà án Minh Hải rồi lại ra toà án tỉnh Khánh Hoà. Mỗi bước di chuyển là một sự vùng vẫy thoát ra trong nghịch cảnh khó khăn trong sự đa đoan trách nhiệm phục dưỡng mẹ già, nuôi vợ dại con thơ.

Đầu thập kỷ 90 Mạnh chuyển về báo Công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh cũng là lúc tôi gặp lại Mạnh sau gần 20 năm xa cách bặt tin nhau. Từ đó đến nay đã 30 năm tôi và Mạnh luôn có dịp gặp gỡ chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống và trong công viêc, trong đam mê sáng tác văn chương. Trong lớp bạn bè cùng học ở quê chỉ có tôi và Mạnh còn tham gia hoạt động xã hội, ở tuổi 70, dù đã nghỉ hưu nhưng chúng tôi luôn bận rộn với các công việc sáng tác và tham dự các hoạt động báo chí văn chương.

Tôi cho rằng Nguyễn Văn Mạnh là người có ý chí, bản lãnh phi thường để duy trì ổn định cuộc sống bình thường. Hơn 50 năm qua Mạnh đã dấn thân chiến đấu và phấn đấu không ngừng nghĩ, không thối chí, chấp nhận những khó khăn thách thức số phận. Chấp nhận những đổi thay dù vất vả rủi ro để mong tạo cơ hội thay đổi cuộc sống, để tiếp cận các vận hội, phụng sự xã hội và mưu cầu hạnh phúc chính cuộc đời mình. Lúc ra Bắc, lúc vào Nam, lúc ở tận cùng đất Mũi lại có lúc trụ lại giữa rừng núi Khánh Sơn của tỉnh khánh Hoà đèo heo hút gió giữa vùng sơn cước. Có lẽ hoàn cảnh đẩy đưa đã tôi luyện cho Mạnh sức chịu đựng dẻo dai, bản lĩnh chiến đấu hơn người để vươn lên làm chủ vận mệnh của mình. Bên cạnh những lo toan về công việc anh còn đau đáu nỗi niềm thương cảm đứa em ruột thịt đã hy sinh tại biên giới phía Bắc từ năm 1979 đến nay cũng chưa tìm kiếm được hài cốt.

Tôi nhớ lại câu thơ: “Ví thử đường đời bằng phẳng cả/ Anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Câu thơ như vận vào cuộc đời của Mạnh, va vào nghịch cảnh và duyên phận, phổ vào chức nghiệp và sự dấn thân bằng tất cả tâm huyết của mình. Sự thành công nào cũng phải đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, thậm chí bằng cả máu của mình. Từ một thanh niên thoát ly luỹ tre làng với lý lịch nặng nề vì bị quy chụp thành phần “địa chủ” Mạnh đã nhẫn nhịn chịu đựng và dấn thân tận hiến trong chiến đấu. Lấy máu của mình để xoá dấu ấn xuất thân, lấy khát vọng của mình để đạt các bước trưởng thành trong cuộc sống. Hơn nửa thế kỉ bôn ba, Mạnh đã thành công, thành danh và thành nhân

 Là người lính xông pha trận mặc, là nhà báo dũng cảm đấu tranh với cái ác bảo vệ những giá trị chân chính, là một luật gia luôn đứng về lẽ phải mang lại niềm tin cho người yếu thế, là một nhà thơ luôn có cái nhìn sâu sắc bản thể hướng tới chân thiên mỹ. Trong hoàn cảnh nào Mạnh cũng tự tin ngẩng cao đầu mang dấu ấn ứng xử tiết tháo cương thường của người đất Cảng không đầu hàng số phận. Ở chương V và VI trong tiểu thuyết mang yếu tố tự thuật về cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ của mình, Mạnh có bước ngoặt vô cùng ngoạn mục, trải qua thử thách trải nghiệm tài năng đức độ của một nhà báo, nhà văn được những bậc đàn anh đàn chị quý mến tin tưởng giao cho trọng trách là người biên tập chính của Diễn đàn văn nghệ, một phụ thương của Thời báo văn học - nghệ thuật Việt Nam. Đên nay đã phát hành 43 số báo với nội dung phong phú đủ các thể loại, tập hợp các bài viết của các tác giả là các nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu khoa học có uy tín trên văn đàn nước Việt.

Năng khiếu văn chương có từ thời học sinh cấp 2, 3 được hun đúc qua chặng đường nửa thế kỉ tu luyện đã bùng cháy soi sáng con đường văn nghiệp. Chỉ trong 4 năm, Mạnh xuất bản 2 tập thơ, 1 tập tản văn và 1 tiểu thuyết. Nhớ lại chuyện cách đây 7- 8 năm, tôi và Mạnh cùng tham gia sinh hoạt với các anh em quê Vĩnh Bảo trong câu lạc bộ thơ Vĩnh Bảo trời Nam do tôi sáng lập và làm chủ nhiệm nhưng người cộng tác tận tuỵ hiệu quả là Mạnh. Tôi có nói Mạnh tập hợp các bài thơ của mình để in các tác phẩm, đăng kí vào Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Mạnh đã âm thầm sáng tác, khí phách và nội lực văn chương phát tiết thật phong phú, sung sức, chất lượng văn chương khẳng định tầm nhận thức và sức biểu cảm của một người thơ giàu nghị lực và khát vọng. Lộc văn chương phát tiết rực rỡ khi Mạnh trở thành hội viên hội nhà văn Thành phố Hải Phòng năm 2023 và trở thành hội viên hội nhà văn Việt Nam năm 2024.

Vĩnh Bảo quê hương của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, một danh nhân văn hoá lỗi lạc của dân tộc trong thế kỉ XVI. Truyền thống tinh hoa văn học đã hun đúc lên các thế hệ nhà văn Việt Nam người Vĩnh Bảo thế kỉ XX, XXI. Đến nay các nhà văn người Vĩnh Bảo là một tập hợp những người cầm viết có tâm và có tầm trên văn đàn Việt vàcó lịch sử cống hiến rất đáng trân trọng. Trong số 21 nhà văn góp mặt trong tập sách Nhà văn Việt Nam huyện Vĩnh Bảo mới phát hành năm 2025, người ta đọc thấy các tên tuổi: Khái Hưng, Trần Bảng, Thi Hoàng, Kim Chuông, Tô Ngọc Thạch, Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Thuý Loan, Nguyễn Bình Minh, v.v cùng góp mặt trong tên tuổi các nhà văn Việt Nam còn có Phạm Trung Tín, Nguyễn Văn Mạnh và các anh chị em đã tận hiến cho sự nghiệp văn chương.

Tôi rất tâm đắc với tên ĐƯỜNG SÁNG là tựa đề cho cuốn tiểu thuyết của luật gia, nhà báo nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh được PGS.TS nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng viết lời tựa và đặt lại tên cho tác phẩm. Nhưng tôi khẳng định rằng chính tác giả Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình.

Tp. HCM, 1/1/2026

Phạm Trung Tín

Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

 

Những câu thơ biết thức

Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó:  Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?

Tối đến mở xem thì bất ngờ bị nó cuốn hút. Sức cuốn hút của “vật thể nặng” nên đêm trằn trọc mãi không ngủ được. Mùa thu bỗng trở nên nặng nề đến thế! Mùa thu này là sự dịu nhẹ của cọng gió thẳm xanh hay là dáng cương thường của cây sấu già trắng bão đây? Có lẽ nó có cả (!). Và, Đất sẽ là cái kết, trả lời cho những nghi vấn bắt buộc ấy. Năm bốn lăm làng chết trăm người

Bố tôi một mình ra tỉnh

Nửa đời trở về, tay trắng

Ông đứng lặng trước ngôi nhà xưa

Phóng chiếc mai xuống đất mà thề:

- Không đi nữa!

Như một tuyên ngôn về cái sự đời. Nửa đời long đong nơi đất khách quê người để ông đủ nhận ra canh bạc của lòng người. Ở đâu cũng thế cả, chuyện lam làm, giành giật kiếm sống; đồng bạc buột ra rơi tõm vào đám chợ. Nửa đời mà đâu đã nên người, đâu làm đã nên ăn. Cái chí lớn đeo đuổi suốt từ khi ấy chẳng thành. Và rồi người ta thấy ông đột ngột trở về, hai bàn tay trắng! Cái hình ảnh vốn cương thường kia, đứng lặng trước ngôi nhà của mình, cay đắng, nghiệt ngã, nuốt hận mà ngước con mắt lên “phóng” mạnh cái mai xuống. Không đâu bằng đất nhà mình, đất của chính ông cha nhà mình để lại. Ở đó nó có tất cả, không cần phải đi tìm ở đâu cả. Bây giờ ông đã nhận ra nó như vậy đấy!

Gần như là một tuyên ngôn thứ hai, nó có mối liên kết chặt chẽ với câu chuyện trên kia. Thơ tìm ta trú ngụ, ta nghèo xót xa trắng ngọn cỏ, ta chết còn thơ thì không. Điều này cũng chỉ được rút ra, cô đặc lại từ kinh nghiệm xương máu của người cha:

Con ơi!

Thơ không tắt thở

Thơ không cần vuốt mắt như bố

Thơ hóa thạch ở lòng người!

Thơ vận người. Nhưng người - đến lúc nào đó - nhất định rồi sẽ nhắm mắt, ngừng thở, còn thơ thì vẫn thức. Câu chuyện lại còn ẩn khuất điều kỳ lạ là: Từ nhát phóng mai xuống đất khi trở về sau mấy chục năm trời, ông thờ chữ Nhẫn. Vậy trước khi nhắm mắt xuôi tay, ở con người cả quyết ấy đã dặn lại con cháu điều gì và hành động gì của ông là sau chót? Thật chẳng ai ngờ, ông lại bảo lấy vôi xóa sạch cái chữ Nhẫn kia đi!...Vậy chẳng lẽ từ thế hệ sau ông thì không cần đến, không chọn đến chữ Nhẫn ấy nữa.Trớ trêu vậy chăng?

Đấy là câu chuyện hay về cái nhẽ ở đời. Nhưng, đây là thơ. Thái Hưng viết thơ như thế sao? Nặng về bố cục một nội dung mà thiếu đi độ bóng bảy cần thiết? Không, với dụng ý mà tác giả cần truyền tải, anh cứ viết sao cho nó hàm xúc, nó đầy một tâm trạng chân thành. Rõ ràng, chúng ta đọc đã thực sự thấy có một sức hấp dẫn tự nhiên - như thơ tự bản năng vậy. Chợt nhớ, khi còn đi học, chúng tôi đã rất thích kiểu thơ “thời sự” của Владимирович Маяковский, (1893 - 1930), nó thức, ví như một đoạn trong bài Những người loạn họp,(cái cách diễn đạt hợp tạng, Thái Hưng dễ bị lây):

…Kích động quá, không tài nào chợp mắt

Trời đã sáng tờ mờ

Tôi đón ban mai với một ước mơ:

“Ôi ước sao

Được họp thêm một cuộc.

Để tìm phương thanh toán

Các cuộc họp trên đời”

(Gs. Hoàng Ngọc Hiến dịch)

Cứ mạch thơ theo kiểu cách ấy kéo dài suốt trong tập. Mỗi bài là một vấn đề được cấu tứ theo một lập luận có trình tự, song buông bỏ bằng cách đưa ra minh chứng đang tồn tại thực tế để mặc bạn đọc đi tìm cái nghĩa đích thực. Trong bài Anh tôi, với một cấu tứ rằng:

Dưới trưa nắng xoay trần

Vét bùn đổ lên

mặt ruộng

Mồ hôi bám lưng bóng mật

Ròng ròng trên ngực chẳng khô

Chân bấm lún đá ngõ làng chuyển lúa

Vai cuộn lằn thoi gỗ

Gánh vơi cả đồng suốt tháng suốt năm…để hình ảnh người nông dân lam làm ấy:

Bóng đổ lặng im trên vách

Lưng cong sao Thần Nông trên trời.

Còn nếu muốn nghỉ thì anh ấy mượn ngày giỗ bố mà nghỉ, nghỉ xen lẫn cả giải trí nữa:

Hôm nay

Tôi về giỗ Bố

Ngồi bên vò rượu nếp thơm

Nghe anh tôi đọc bài thơ tự làm…Thật vậy, cái vò rượu nếp thơm kia là thành quả của sự lao động vất vả, nhọc nhằn, đối mặt với nắng, mưa, bão tố, với cả chính những thói tham lam của con người nữa. Song đêm đêm, ngước sương sao, ông vẫn còn cảm tác thành thơ. Buông bỏ mấy câu, đọc chơi như Lý Bạch (!). Đấy chính là con người.

Bài Về vùng than có những câu như thế này:

Về vùng than tìm bạn

Than đen - người đen

nụ cười - chớp trắng

Ngồn ngột nóng…

Dưới sâu trăm mét đất...

Than như máu chảy vọt lên.

Một đời người than

Một ngàn đời than

Sừng sững một góc bể

Những thứ lờ mờ không thể lẫn vào than.

Vậy ở cái khoảng trời bể sừng sững, mênh mang kia có những cái thứ gì lờ mờ nhỉ? Thì hãy một lần thả mắt mà nhìn trong đám mây nước mà xem, quả nhiên, nhiều vệt, nhiều hình và nhiều màu nhằng nhịt lắm. Chừng ấy nó sắm vai đại diện cho tất cả chứ không phải là cái khối màu đen xì, hé ra cái miệng chớp trắng sâu tít trong lòng đất kia! Phải rồi, ở đây, Thái Hưng lại không cho phép những cái thứ đại diện ấy được lẫn với màu riêng có của bạn mình, bởi anh coi hình ảnh đó mới là giá trị đích thực của mọi thành quả.

Trước những năm 2000, cái nghèo như con ma ngay ở sau lưng, ta sợ, vùng chạy mà nó cứ khư khư bám riết. Cái nghèo trùm lên những mối tình, đòi gây khó dễ bởi nhiều lý do khác nhau. Có những đêm đông, cha run rẩy đội mưa về bên mẹ, cứ như người đi trộm vặt về. Còn với chị vợ liệt sĩ thì:

…Trái tim thương chín cả trời

Khát khao như lửa mà đời biết đâu

Một mình cằm cặm đêm thâu

Câu thơ như tượng Mị Châu cụt đầu

Bây giờ, người chị mà cả đời cặm cụi, lam lũ, lẩn quất ở góc cái đồng làng chua mặn ấy đã khuất xa mãi, có lẽ chỉ còn có mỗi tác giả nhớ. Cái nhớ cũng chết cứng, bất lực như tượng đá, nơi thỉnh thoảng có gió, cát và chú chim sâu đơn độc:

Mà sao giờ tiếng chim

Vọng về côi cút thế

Vòm cây hoa vẫn nở

Người đi rồi….lắng im.

Còn với cả người mình yêu nữa, rốt cuộc cũng chỉ để lại cho anh một bi kịch suốt chặng đường đời còn lại. Bây giờ là sau năm 2000, với bao nhiêu những hình ảnh, những âm thanh và những gợi cảm đủ đầy quến rũ, nhưng sao tác giả cứ da diết nhớ về cái tình xưa cũ ấy. Phải chăng, ý nghĩ của năm tháng đã qua đã tạo thành lối mòn trong tâm tư, rồi mặc đời, cứ thêu hoa dệt gấm cho mối tình riêng của mình:

Nhưng sao khi mùa thu đi qua

Lối mòn tình yêu trổ chùm nấm dại

Em vần vũ cơn mưa huyền thoại

Giũ rối đời anh - lá khô rơi…

Và lại nữa, những vần thơ viết sau 2000, nghĩa là sau Truyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, khi mà người ta có thể bộc bạch về một sự thật từng bị ẩn khuất bằng cái đầu của mình. Thái Hưng có một lối suy nghĩ khác về sự kiện

Nhà văn hóa Nguyễn Trãi (1380 -1442), quân sư của vua Lê Lợi, với vụ oan khuất Lệ Chi Viên - vụ án đã dẫn đến cả ba đời gia tộc Nguyễn Trãi bị triều đình hành quyết, mãi 22 năm sau mới được minh oan. Điều mà Nguyễn Thái Hưng nhìn đến là ở chỗ hình như người đời đã thật sự cảm thấy thỏa đáng?! Âu cũng là lẽ thường tình. Nhưng chính sự hiện diện của hình ảnh Nguyễn Trãi ở Côn Sơn thì có phải lại thêm một “oan khuất” nữa?! Rằng, Người ngồi đó, hưởng lộc trời, còn mọi người trong dòng họ của Người thì đâu rôi?. Rằng, đã vô tình có một sự tương phản ở đây!

Hai mươi hai năm máu đỏ lại rồi

Nhân dân tôn thờ, nhân dân kính vọng

Một mình ông một ngôi đền,

còn gia tộc thì đâu?!

Nước suối chảy hoài mềm lại thương đau

Mây trắng, trời xanh, gió về vi vút

Lỗi lầm xưa đất nước này đã chuộc

Sao ông vẫn ưu tư…

không siêu thoát chốn tiên bồng?

(bài: Viếng đền Côn Sơn)

Vâng, hầu như các bài thơ trong tập của Thái Hưng đều để lại hoặc khơi dậy một vấn đề mà hình như tác giả đã tự va chạm, tự hành, tự đối diện với nó trong một thời gian dài. Từ một tâm trạng nặng trịch được nhào nặn cho nó nhuần nhuyễn tới mức buột ra thành một cấu trúc thơ. Cái hàm ý về sự hiện diện của Nguyễn Trãi như nói trên được diễn tả bằng thơ thì thật phải khéo lựa lắm mới thành thơ được. Về ý nghĩa tư tưởng của bài, tác giả cũng dừng lại ở mức độ ấy là hợp lẽ, còn lại gì nữa thì thuộc về bạn đọc chúng ta.

Dẫu là Thơ của một Luật sư rồi một Kiểm sát viên thì không chỉ viết chơi. Song để cho suy tư đau đáu, ngồn ngộn trăm chiều luôn bị đánh thức kia được dịu vợi đi, tôi mượn mấy câu dạng tự tình của anh để khép lại đôi lời của mình:

MUỘN

Cây đã quên không gọi

Mùa hè vội đi không nói

Để quả chín cuối cành

Một mình ngơ ngẩn mãi.

Là tôi đấy, quả ơi! đừng nghi ngại

Chót muộn cùng, xin hãy rụng về nhau….

Nguyên tiêu, 2025.

Chú thich:

* Nhà thơ Bùi Việt Mỹ – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội

* Nguyễn Thái Hưng

- Nhà văn Hà Nội

- Luật sư - TW Hội luật gia Việt Nam

- Tác phẩm đã xuất bản:

+ Đi qua mùa thu- NXB Hội Nhà văn -2024

+ Lá thay mùa- NXB Hội Nhà văn -2025

+ Bằng lăng tím lối Mễ Trì - NXB Hội Nhà văn-2024 (In chung nhiều tác giả).

8/1/2026

Bùi Việt Mỹ

Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

 

Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng

Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.

Theo đoán định của tôi, với thiên truyện vừa Bất chợt mai vàng, Nguyễn Trí Huân không có dụng tâm kể với chúng ta về cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt giữa những chiến sĩ Giải phóng quân với đội quân tinh nhuệ và tàn ác bậc nhất hành tinh là bọn xâm lược Mĩ tại chiến trường Khu 5. Cái đó đã có nhiều cuốn sách nói rồi. Điều chủ tâm của tác giả muốn nói với chúng ta là số phận của những người trong đội quân chiến thắng ấy ra sao. Có thể nói đây là hai cuộc chiến tranh cùng diễn ra một lúc. Một đằng là đánh giặc cứu nước, một đằng là gột rửa những rác rưởi ngay trong hàng ngũ những người chiến thắng. Đây là nét phát triển mới của văn học ta chỉ có thể làm được từ sau sự nghiệp đổi mới được khởi phát vào năm 1986.

Cần phải nói ngay rằng, tự soi lại mình để nghiêm túc nhận rõ cái được cái hay và cái dở của bản thân, không phải lúc nào và ai cũng có thể làm được. Phải là người có bản lĩnh lắm mới có thể gỡ bỏ cái vòng kim cô vô hình mà có thật bao năm thắt bó trên đầu mình. Nói rộng ra, một xã hội, một dân tộc phải đạt tới sự phát triển đến mức nào đó mới đủ dũng cảm làm được việc đó.

Thật ra, vào tuổi 31 lại có đến 4 mặt con, anh Kháng (anh trai ruột của tác giả) không nằm trong danh sách tuyển quân. Nhưng anh rất mực xin đi vì “Đói ăn chịu được. Bị người ta khinh nhục lắm.” Cái nhục này, ngoài nghĩa là không dám xả thân nơi trận mạc, mà với anh còn có nghĩa khác là có bố bị đi lính cho Pháp. Tôi phải mở ngoặc đơn nói đỡ tác giả chuyện này. Trong nguyên bản tác giả nói là đi lính đánh thuê cho Pháp. Sự thực là bị bắt đi lính cho Pháp. Việc này diễn ra từ cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918). Lúc đó thực dân Pháp đã có lệnh bắt tất cả thanh niên khoẻ mạnh ở các nước thuộc địa đi làm bia đỡ đạn cho chúng tại mặt trận Pháp - Đức. Trong đó có trường hợp bố anh Kháng. Đây là bị bắt, chứ không phải là tự nguyện xin đi. Cũng giống như dược sư Thái Văn Du, chồng bà Tương Phố. Mặc dù là em ruột thượng thư Thái Văn Toàn đầy quyền lực, nhưng dược sư Thái Văn Du vẫn bị bắt sang Pháp, sau 3 năm bị mắc bệnh phổi, mới được tha về nước chữa trị nhưng không qua khỏi, nên đã mất vào năm 1919. Năm đó bà Tương Phố mới 22 tuổi. Thương nhớ chồng, bà viết bài thơ dài Giọt lệ thu nổi tiếng được in lần đầu trên báo Nam Phong số 131 (7/1928). Sau 3 năm để tang chồng, bà Tương Phố tái giá với ông Phạm Khắc Chánh là tuần phủ Phúc Yên. Bà mất năm 1973. Tôi phải mở cái ngoặc đơn dài dòng này để nói rõ hai chữ bắt lính và đi lính mà không phải ai ở địa phương nào cũng phân biệt được rõ ràng. Và chính sự không rõ ràng này mà anh Kháng phải mang ra để thay đổi lí lịch. Hồi đó, chủ nghĩa lí lịch còn nặng nề lắm. Nó trùm phủ lên số phận của biết bao con người. Thậm chí có lúc nó được coi là tiêu chuẩn số một để đào tạo, cất nhắc cán bộ.

Ngoài cái chức phận làm nghĩa vụ công dân thời loạn, anh Kháng còn âm thầm, nung nấu làm cho đàn con mình được mở mặt như mọi đứa trẻ trong làng. Hai lí do gửi vào một mục đích. Ở vào mặt trận B5 (Tây Nguyên) ác liệt và thiếu đói bậc nhất ấy, thôi thì không có việc gì anh không xung phong đi đầu. Đi cõng ngô cứu đói, anh gùi gấp rưỡi người khác. Trong thác lũ, trong lúc mọi người còn do dự anh lao mình xuống suối cứu được o Hương là nữ y tá của đại đội. Trong trận pháo kích vào sân bay Đà Nẵng nhằm phá cuộc càn lớn của địch đang chuẩn bị đánh ra vùng giải phóng, anh đã vui vẻ nhận lời đi thay ông Tuân cáo ốm. Trận đánh thắng lợi, chỉ còn vài bước là anh rút khỏi trận địa trở về an toàn, nhưng khi nghe chiến sĩ vác máng tên lửa DKB nóng quá, anh vội quay lại để vác thay. Rủi thay, anh vừa vác đỡ máng pháo nóng bỏng đi được mấy bước thì bị trùm phủ trong một trận pháo bẫy khiến cả tổ đều hi sinh. Khi o Hương và tổ làm chính sách đi tìm thì cả ba chiến sĩ không ai còn nguyên vẹn, thịt xương họ trộn lẫn với nhau. Người ta đành chia làm ba gói vụn thân thể của ba chiến sĩ làm ba ngôi mộ dưới chân đồi. Xong xuôi, lúc ra đường về họ còn tìm thấy một bàn tay vắt trên cành cây. O Hương bảo đó là bàn tay của anh Kháng. Tất cả đành quay lại chôn bàn tay ấy ở giữa ba ngôi mộ, để dưới âm, của ai người ấy nhận. Tối hôm ấy, chi bộ làm lễ kết nạp anh Kháng vào Đảng cùng với ba đồng chí khác.

Đáng lẽ, cái danh hiệu cao quý ấy anh Kháng đã được nhận lúc đang còn sống, chi uỷ cơ bản đã nhất trí. Đến khi xin ý kiến quần chúng thì ông Tuân là người duy nhất phản đối vì nghi anh Kháng có tình ý khác với o Hương. Mặc dù chẳng đưa ra được dẫn chứng nào cụ thể và xác thực, nhưng nguyên nhân sâu xa là ông Tuân đã nhiều lần tán tỉnh o Hương nhưng đều thất bại. Ông đổ lỗi cho ông Kháng vì nghi ngờ o Hương có cảm tình với anh từ sau khi được anh cứu khỏi chết đuối.

Thật ra, o Hương cũng có cảm tình đặc biệt với anh Kháng. Có lúc trong cơn xúc động bồng bột o còn tình nguyện, chủ động dâng trinh tiết của mình cho anh nữa. Nhưng anh Kháng đã kiên quyết gạt đi, giúp o bình tĩnh lại. Nếu không, câu chuyện giữa o Hương, anh Kháng và ông Tuân sẽ trở thành một câu chuyện tình tay ba mà người ta đã viết đến nhàm chán ra rồi. Hơn nữa, anh Kháng sẽ trở thành kẻ phản bội chị Luyến, phản bội cái mục đích vào chiến trường để thay đổi lí lịch của mình. Ta đành chấp nhận những phút nhói về số phận của o Hương sau chiến tranh, kiên quyết không lấy chồng để thờ anh Kháng - một người đáng thờ.

Việc ông Tuân ngáng chân mình, anh Kháng biết rõ mười mươi. Vậy mà anh vẫn vui vẻ nhận ra trận để chết thay cho ông ấy. Hơn nữa, anh còn giấu kín chuyện hai lần ông Tuân định bỏ trốn. Lần thứ nhất ông Tuân nói thẳng với anh. “Kháng này, hay là mình và cậu trốn đi. Ở đâu chả là sống. Dân tộc là loài người. Tổ quốc là thế giới. Cái nhục ở chỗ này là cái vinh ở chỗ khác. Anh tôi đứng bật dậy: Cậu không được nghĩ bậy, làm bậy. Tôi đã thấy những tờ truyền đơn trong túi cậu. Anh tôi gầm lên trong cổ họng: Liệu mà giữ mồm giữ miệng. Coi như tôi chưa nghe thấy cậu nói gì, biết chưa?” Lần thứ hai, sau khi giao nộp một số khí tài và một số dụng cụ của Mĩ để đào bệ phóng cho lữ đoàn, trên đường về, anh Kháng và ông Tuân bất ngờ bị một chiếc tàu rọ tâm lí chiến của địch quây tròn trên đầu với lời kêu gọi trở về với chính nghĩa quốc gia. “Anh tôi tựa vào vách đá thở gấp. Bên cạnh, ông Tuân mặt cắt không còn một hột máu. Cặp mắt lé của ông ta nhìn chếch về chiếc tàu rọ. Đôi môi mấp máy: Anh Kháng, hay là… Ông tháo bỏ gùi, cuốc xẻng loạng quạng lao về phía cửa hang. Dừng lại, không tao bắn. Anh tôi quát. Ông Tuân đứng khựng lại rồi lồm cồm bò về phía anh tôi.” Lại cũng giống như lần trước, khi đã thoát nạn, anh Kháng lại bỏ qua cho ông Tuân, không nói với ai điều này. Sự tha thứ này với một kẻ đã phản mình và toan phản bội Tổ quốc là sự cao thượng, khoan dung hay là sự bao che cho sự bất lương? Hay là sự thương hại mù quáng của Kháng? Tác giả không cho ta thấy anh băn khoăn về việc này. Có lẽ là anh Kháng chờ đợi sự hối cải, tỉnh ngộ của ông Tuân chăng? “Sau này, ông Cáp bảo anh tôi nhu nhược, thoả hiệp với cả cái xấu, cái ác, dẫn đến những sai phạm tiếp theo của ông Tuân không ai có thể tha thứ được.”

Và cái điều tệ hại nhất đã xảy ra không lâu sau đó. Chính cái hôm anh Kháng hi sinh, ông Tuân được cử đi thu nạp thi thể của anh Kháng và đồng đội, cùng với ông Cáp và o Hương. Khi nhận lệnh, ông Tuân đã gói ghém ba lô, rồi trong lúc mọi người đang ra sức tìm bới từng mảng xương thớ thịt của các liệt sĩ thì ông Tuân bỏ trốn. “Đồ chó dái. Ông Cáp chửi tục. Ông nghĩ trong chuyện này có lỗi của anh tôi. Anh tôi đã du di bỏ qua cho ông Tuân từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ. Ngay cả chuyện ông đã rình mò toan cưỡng bức o Hương ngoài bờ suối, cầu khẩn o cho một đứa con, anh tôi cũng bỏ qua, bảo rằng đó là chuyện xấu xí trong tình cảm chứ không phải tội lỗi. Việc ông Tuân bỏ trốn đã để lại một vết xước nhơ nhớp trong đơn vị của anh tôi.”

Trong khi những người lính ở chiến trường trần lưng chống trả với cái chết thì cuộc sống phía sau họ thế nào? Tất nhiên đó là một bản thành trì vững chắc cho mỗi tay súng ở phía trước tựa vào. Với một bút pháp chân thực đến chân tơ kẽ tóc, Nguyễn Trí Huân đã cho ta thấy biết bao nhiêu điều tốt đẹp cũng như biết bao nhiêu giọt nước mắt đời không thấy ở phía sau bức thành trì kia. Khổ nhất lại vẫn là những người đàn bà. Mẹ thương con đã đành. Còn những cô vợ trẻ? Nếu chỉ riêng nỗi nhớ chồng cào xé đến mức đêm đêm phải đổ thóc ra xay thì đã đi một nhẽ. Đằng này, từng ngày họ còn phải quay lưng trơ mặt vào những con sâu mọt như ông Văn. Với một bên chân thọt, Văn lọt lưới các đợt tuyển quân, lại còn được cử làm thư kí uỷ ban xã. Ông ta đã sẵn sàng nhận một việc khó nhất là cầm những tờ báo tử đem đến cho các gia đình liệt sĩ. Với công việc ấy, ai cũng ngại khi ông đến nhà. Vì ông gõ cửa nhà ai là mang theo chết chóc đến cho họ. Nên không biết từ đâu, ai ai cũng gọi Văn là con chim lợn, một loài chim rất thính với mùi tử khí. Nhưng nếu sự việc chỉ dừng lại ở đó thì chẳng ai nỡ lòng nào đặt cái biệt hiệu chết chóc kia cho hắn. Đằng này, Văn với bản năng thú tính không sao kìm hãm được đã lợi dụng ngay những tờ báo tử kia làm mối dây để bắt tình, lừa tình, ép tình những người vợ liệt sĩ. Thậm chí, vừa đưa tờ báo tử hôm trước, đêm hôm sau hắn đã gõ cửa làm cái điều đồi bại ấy với người vợ vừa thắt tang chồng. Đã có không ít người vợ lính đáng thương sa vào tay hắn. Con chim lợn này có thừa dã tâm để đánh trúng nỗi thèm khát bản năng của những người phụ nữ thiếu thốn tình cảm. Có lần hắn còn mang một cặp bánh dầy vào nhủ nhê một em bé 16 tuổi để thoả mãn thú tính của hắn, may mà có bà dì đã kịp cứu được đứa cháu gái vào phút chót. Nhưng sự bẩn thỉu này đã không dừng lại ở đó. Chị Luyến, vợ anh Kháng đã bao lần bị hắn xâm hại đầy thô bạo. Và chị cố lẩn tránh hắn như lẩn tránh một con hủi, mà vẫn không được yên thân. Đến buổi chiều, từ trại nuôi gà của hợp tác về nhà, chị gặp một cơn mưa lớn. Khi đi ngang miếu âm hồn bất ngờ một bóng đen từ cửa miếu lao vào khiến chị ngã ngồi trên đám cỏ chân vịt. Vẫn là ông Văn. Chị vùng dậy dùng chân đạp vào bụng cái bóng đen chồm lên chị. Sau đó chị đi báo tổ du kích trực chiến đến cứu ông Văn. Nhưng thần chết đã nhanh chân hơn họ. “Con chim lợn chết, làng như vơi nhẹ hẳn đi. Người ta không còn phải chốt cửa mỗi khi đêm xuống. Cũng không ai phải lo gặp ông ngoài đường nữa. Lúc khâm niệm cho ông Văn, mọi người tìm thấy trong túi áo ngực của ông tờ giấy báo tử của anh tôi.”

Tôi không thấy có gì bi đát trong câu chuyện đáng hổ thẹn của làng Hạ, ngược lại tôi cảm ơn chị Luyến, người đã thuỷ chung đặt vòng hoa đẹp nhất lên mộ anh Kháng chồng chị và mộ của những người liệt sĩ khác đã bị tên khốn nạn kia phản bội và làm nhục. Làng vẫn là làng. Nước vẫn là nước, nhưng đó không còn là chỗ nương thân của những kẻ đồi bại như ông Văn.

Bây giờ, chúng ta hãy trở lại câu chuyện còn bỏ dở về việc ông Tuân bỏ trốn đúng vào cái hôm đi nhặt thi thể người đã chết thay ông. Từ khu đồi tan hoang trộn lẫn đất đá và máu thịt ấy, ông chạy bổ vào rừng. Bất giác ông đụng phải một chiếc võng treo lơ lửng trên không, trong đó có một bộ xương khô và một khẩu AK đã hoen gỉ. Sau khi xếp bộ hài cốt của người lính vô danh vào hang đá, ông Tuân thay đổi ý định, không chạy về đồng bằng theo địch mà ra đầu thú tại một đơn vị bộ đội địa phương. Sau ba năm cải tạo, ông bị tước quân tịch, thải về địa phương. Vợ ông đã đi lấy chồng. Ông làm lại đời mình với một cô gái câm. Họ có với nhau hai đứa con, nhưng cả hai đều bệnh nọ tật kia do cha nó nhiều năm sống ở vùng rừng đầy chất độc hóa học. Nói như thế cho dễ nghe, còn người đọc lại có thể nghĩ khác. Một kẻ què quặt về tâm địa sao có thể sinh ra được những đứa con lành lặn. Là một giáo viên dạy văn, ham đọc, ông Tuân về quê cũng tìm cách kiếm sống bằng cách viết tin, viết báo nhì nhằng. Có phải vì sách vở đã giúp ông nhìn sâu vào những vùng tăm tối của lòng mình, để làm lại mình trong cơn bão lốc của ân hận và tủi nhục. Dấu hiệu đầu tiên của sự hoàn lương này là ông đã tìm về quê, đứng trên bờ đê vái ông Kháng từ xa khi gia đình làm lễ tang đón di hài anh về an táng tại quê nhà. Bước tiếp theo là ông đã mua một chậu hoa mai thuê xe ôm đưa vào tặng chị Luyến trước ngày đón tết. Bước thứ ba là ông đã đến viếng bà Luyến khi đám tang sắp kết thúc. Sau khi vái tạ người quá cố, ông đã thú nhận gần như tất cả hành vi phản quốc, phản dân, phản đồng đội của mình, rồi lùi lũi bước thấp bước cao ra khỏi cổng như một con chuột. Một thân hình tàn tạ. Một đôi mắt lèm nhèm đục trắng như cùi nhãn. Một lời thú tội vội vàng như trút hơi thở cuối cùng. Ngần ấy đã đủ lấp đầy cái vũng bùn trong quá khứ của ông chưa? Có trời biết, ngay cả chính ông nữa. Nhưng dù “vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa” vẫn còn có chút để người đời thương hại. Vì thế mà cái chậu hoa mai câm nín bấy lâu đã chợt nở ra những đốm hoa vàng mỏng manh và chói gắt vừa đúng 15 ngày sau khi bà Luyến ra đi. Chính cái chấm hoa vàng bất chợt này là tấm lòng khoan dung của Nguyễn Trí Huân đấy. Anh không muốn đẩy sự thù hận đến góc tối cuối cùng. Cái chấm mai vàng bất chợt ấy chính là cái dấu mốc Nguyễn Trí Huân tự vượt lên chính mình đấy. Bởi ngoài thân phận một người em, anh còn là một nhà văn nữa, một nhà văn đúng với cái nghĩa đẹp nhất của nó.

Còn truyện Con hoạ mi lông xù vừa bay vừa hót trong tập truyện Bất chợt mai vàng thì tôi được đọc sớm hơn từ một tờ tạp chí. Còn nhớ khi đọc xong truyện ấy, tôi đã nói với Nguyễn Trí Huân: “Cái chi tiết ông để cho ông đội trưởng cải cách ngủ nhờ dưới gầm cầu thang gác cửa khu tập thể đọc đã quá.” Nhưng thực ra, toàn bộ câu chuyện lại không phải tập trung vào cái ông đội trưởng cải cách ấy, mà là số phận của ông Phong, đội phó của ông ta. Đây là câu chuyện viết về cải cách theo hướng tích cực, nghĩa là không phủ nhận sạch trơn, nhưng hàn gắn lại những đổ vỡ, những sứt mẻ, những dại dột thì không dễ một chút nào. Có một lần tôi đã nói với một người có trách nhiệm cũng trong giới cầm bút: “Không cấm được người ta viết về những sai lầm trong cải cách ruộng đất đâu. Bịt chỗ này rồi nó sẽ xì ra chỗ khác. Thà cứ để người ta nói cho đã một lần cho xong. Tôi rất tin người mình rồi cũng biết cách ăn ở với nhau cho phải lẽ.” Và tôi đã thể hiện cái ý tứ ấy trong bài thơ Nghệ nhân Bát Tràng với hai câu: Khó nhất là thu lại lửa/ Và khó hơn là thu lại mọi lỗi lầm.

Lão Phong, nhân vật chính của truyện, vốn là đứa con trai độc nhất của hai vợ chồng làm mõ làng. Thân phận phải làm cái việc hạ đẳng ấy, nhưng cả hai vợ chồng lại “xanh vỏ đỏ lòng”, dám đào một chiếc hầm bí mật trong túp lều rách nát của mình để che chở cho anh Dung là đội trưởng du kích xã. Tất nhiên, việc đó có thể bí mật với ai chứ không thể che mắt được đứa con duy nhất trong nhà. Dù đã dặn con hết lời rồi, nhưng không biết trời xui đất khiến thế nào, cậu Phong đã hở mồm hở miệng với cậu Tới cùng cảnh đi tát nước thuê cho Tổng Quỳnh. Lập tức hôm sau Tổng Quỳnh đã đưa lính về đốt trụi căn lều tội nghiệp kia, chiếc hầm bị đào bới. Cả hai bố mẹ Phong bị bắn chết, chặt đầu cắm cọc giữa làng. “Đêm hôm ấy, bà Thuộc cô ruột của lão cắp một chiếc thúng và hai chiếc khăn trùm đen, đem theo một ít tiền cho bọn lính gác rồi lượm hai chiếc đầu của bố mẹ lão đem về chắp vào thân người bó chiếu đem chôn ở khu Gò Mả, trước sự bảo vệ của anh Dung và đội du kích xã. Sau lễ mai táng âm thầm và tức tưởi bố mẹ lão, bà Thuộc cô ruột lão bảo: Thôi, con về ở với cô, từ nay mày là con ruột của cô. Lão đã về ở với bà, tham gia đội du kích của anh Dung bắt đầu từ đêm hôm đó.” Ở với bà Thuộc, lão có cái ăn cái mặc, không phải đi làm thuê nữa. Được anh Dùng dìu dắt, lão biết bắn súng, đánh vu hồi, và cùng với chú Bốn chôn mìn giết được một tên quan một và một tên lính lái xe, phá huỷ một chiếc xe. Lúc này anh Dung lại chuyển lên làm một cái hầm bí mật sau vườn bà Thuộc. Bà Thuộc làm nghề bán cháo se, món mà Tổng Quỳnh ưa thích. Trước thì thích cháo, sau thì mê người. Một buổi Tổng Quỳnh đột ngột dẫn lính vào nhà bà, thấy chỉ có mình bà, hắn đuổi hết lính ra, rồi hãm hiếp bà trên chiếc sập gụ trước bàn thờ tổ. Bà Thuộc kêu toáng lên để đánh động anh Dung và mấy người du kích sau vườn kịp vội xuống hầm.

Hoà bình lập lại, chưa kịp hưởng những ngày hoà bình đầu tiên thì cơn bão cải cách ruộng đất ập tới làng Hạ, “…với sức tàn phá khủng khiếp bằng 7 năm kháng chiến cộng lại.” “Còn lão, một thanh niên cốt cán của đội cải cách, lúc nào cũng hừng hực, coi trời bằng vung. Lão đi lại vênh vác, gặp ai cũng doạ dẫm, đe nạt. Một lần, lão gặp bà Hậu, một người đáng tuổi mẹ, lão quát: Hậu, mụ không có miệng à? Bà Hậu dừng lại, cúi gập người: - Dạ, con xin chào con ông bà mõ ạ.” Những gì sau đó mới thực là cải cách ruộng đất. Tổng Quỳnh bị đấu tố rồi bị bắn, chính tay lão bóp cò súng trong sự nhớn nhác của phiên toà. Tiếp đó, nhiều người bị vu là Quốc dân Đảng phải thắt cổ tự tử, trong đó có ông Phôn, bác ruột của lão. Biết rõ ông Phôn bị oan, nhưng lão không mở miệng nói lại cho ông một lời nào. “Có lần ông Cải trưởng họ, một lính khố xanh giải ngũ nhổ nước bọt trước mặt lão, lão đã sai dân quân gô cổ ông, bắt ông nhịn đói nhịn khát một ngày một đêm trong hậu cung của đình làng.” Đến khi bà Thuộc bị quy lên địa chủ, bị đấu tố, thì trước sức ép của đội trưởng đội cải cách, lão đã tuyên bố từ nay từ bỏ bà Thuộc và dòng họ của lão, không cần tổ tiên nữa. Với tất cả công trạng đó, lão được cất nhắc lên chức phó chủ tịch xã khi mới 19 tuổi. “Một buổi tối, anh Dung đến trụ sở uỷ ban đóng tạm trong căn nhà ngang của Tổng Quỳnh. Anh bảo: - Cậu xử tệ quá. Đổ đốn quá. Tôi sẽ làm giấy cho cậu nhập ngũ. Cậu không thể ở lại với cái làng này đâu.” Vào bộ đội, hình như lão tìm được đất dụng võ. Lão được đào tạo, đề bạt và đã rất dũng cảm, mưu lược trong chiến đấu với sở trường đánh vu hồi nổi tiếng. Từ một binh nhì lão trở thành một vị tướng, một anh hùng lực lượng vũ trang, một dũng sĩ diệt Mĩ, một tư lệnh sư đoàn. Lão được đeo huân chương đầy ngực, đi báo cáo thành tích khắp nơi. Khi sức khoẻ sa sút, lão được chuyển ra làm vụ trưởng một vụ quan trọng. Như vậy, lão đã có thể được xem là một người thành đạt, khiến nhiều người ghen tị và thèm muốn. Về phương diện nào đó, lão là người đàng hoàng, biết ơn anh Dung đã dìu dắt lão từ nhỏ, biết ơn chính uỷ sư đoàn đã lấy thân che cho lão và đã chết vì lão trước khi có lệnh bổ nhiệm làm chính uỷ sư đoàn.

Nhưng cuộc đời đã không mãi mỉm cười với lão. Và việc phải nghĩ lại đời mình chỉ đến với lão sau khi nhận giấy về hưu. Một mình sống trong căn hộ 5 phòng, ngoài một Con hoạ mi lông xù, lão không biết trò chuyện với ai. Quanh quẩn mãi, rồi lão nghĩ phải trở về làng, trở về với họ mạc. Nhưng về với ai? Bà Thuộc thì lão đã tuyên bố từ mặt rồi. Trước khi chết, bà dặn anh Dung nói lại với lão: “Nhớ bảo thằng Phong làm quan thì phải thương dân, đừng dại dột nhẫn tâm như hồi cải cách.” Còn với họ hàng, thì ông Cài trưởng họ dứt khoát không cho lão nhập lại. Việc về làng, về với họ bây giờ còn khó gấp vạn lần khi cầm quân. Lão đã đánh mất lòng người rồi, mất cái lớn nhất mà một người tử tế cần có. Hồi còn làm tướng, lão có thể đi tay không ra một chiếc tàu chiến để thuyết phục 500 lính nguỵ trở về với cách mạng. Cái việc được xem như một hành động anh hùng ấy bây giờ lão không thể lặp lại với cái họ Phạm đã trở nên xa lắc của lão nữa rồi. Làm sao còn cứu được cái việc lão đã đứng lên lớn tiếng tuyên bố từ bỏ dòng họ, từ bỏ bà Thuộc vừa là cô ruột vừa là mẹ nuôi của lão? Làm sao lão cứu được việc tống giam ông Cài, trưởng họ Phạm vào hậu cung đình làng, bỏ đói bỏ khát một ngày một đêm chỉ vì ông đã dám nhổ nước bọt vào mặt lão sau những việc quá tồi tệ của lão? Bây giờ lão như một thân cây bị nhổ bật khỏi gốc rồi, quay mặt về đâu cũng có thể được, chứ quay mặt về làng thì không thể. Nghĩ mãi, lão mới tìm ra việc gột rửa quá khứ của mình bằng cách đổi căn hộ 5 phòng đàng hoàng của lão ở tầng 2 lấy căn hộ 2 phòng tồi tàn ở tầng 4 cho một cậu vụ phó. Lão lại có thể trả gấp 3 lần tiền thuê xe ôm và tặng kèm một bộ quần áo cho cậu Cương. Rồi khi dịch Covid-19 bùng phát, lão tự nguyện xin vào tổ trực chiến, xông xáo vào mọi chỗ có F0, F1 để chuyển họ đi bệnh viện. Lão lại còn viết di chúc rằng, sau khi chết, lão hiến tặng căn hộ 2 phòng của lão cho trẻ em làng Hạ trọ học miễn phí. Những việc ấy được bà con khu tập thể rất nể phục. Và nó cũng chỉ có ý nghĩa như một người bệnh tự tiêm thuốc giảm đau mà thôi. Mãi cho đến khi do sự vận động của nhân vật “tôi”, chính là tác giả của thiên truyện này, miễn cưỡng lắm ông trưởng họ mới đồng ý cho lão về gặp mặt để tìm cách thuyết phục các bô lão trong họ, thì việc đã quá muộn. Khi biết mình đã bị mắc Covid-19, lão kiên quyết không tiêm thuốc Trung Quốc, khoá trái cửa, tự tìm đến cái chết. “Tôi nghĩ rằng, cái chết của lão Phong là dấu hiệu chấm hết cho một vết thương cũ. Vết thương hơn 60 năm từng xói mòn biết bao nhiêu số phận.”

Khi bình tro của lão được đưa về làng, ông trưởng họ làm lễ xin tổ tiên cho lão nhập họ, ba lần gieo đài ba lần không được. “Làng nước đã buông bỏ rồi. Nhưng các cụ thì chưa. Tội tổ tông là tội lớn lắm.”

Trong khi đó, chiếc bình tro của lão vừa hạ huyệt thì trên trời xuất hiện một Con hoạ mi lông xù mà lão thường nuôi vừa bay qua vừa cất tiếng. Đó là việc rất hiếm thấy ở làng Hạ.

Với hai chi tiết ấy, tác giả chọn một cách kết thúc mở cho người đọc.

Lâu nay chúng ta vẫn hay nói về việc đổi mới tư duy tiểu thuyết. Cuộc thảo luận thật rôm rả và hầu như không có hồi kết. Nguyễn Trí Huân bằng hai thiên truyện vừa trong cuốn Bất chợt mai vàng đã hiện thực hoá một quan điểm riêng của anh. Đó là sự mở rộng không gian của đề tài và chủ đề, của tưởng tượng và hư cấu, thay thế cái đơn tuyến, một chiều bằng cái đa thanh, phức hợp, mở rộng các kích cỡ để quan sát số phận con người, đem đến một triết lí thẩm mĩ mới mẻ. Nhân vật của anh tưởng quen mà rất lạ. Anh Kháng 4 con, 31 tuổi không phải diện tuyển quân nhưng tự nguyện nhập ngũ để quyết thay đổi lí lịch cho các con. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc góp phần thay đổi lí lịch cho cả một dân tộc sau bao năm bị chia cắt và xâm lược. Do đó trong trường hợp của anh Kháng, việc nước và việc nhà được gắn kết trong một thể thống nhất cho nên cái chết đối với anh nhẹ như lông hồng. Còn ông Tuân, trong diện tuyển quân, nhập ngũ nhưng nhất quyết phải giữ lấy thân để duy trì nòi giống, vì ông là trai độc đinh. Thế là việc nhà và việc nước đã tách làm hai ngả mất rồi. Với một tâm thế ấy chẳng nói bạn đọc cũng biết cuộc sống ở mặt trận của ông sẽ ra sao.

Quá trình phát triển tính cách của hai nhân vật này là cả một chuỗi đan xen giữa sáng và tối, cao cả và thấp hèn. Và anh Kháng đã tự nhận lấy cái chết mang đậm chất anh hùng ca, còn ông Tuân thì vẫn còn sống, nhưng là sống dưới đáy đen ngòm của sự sỉ nhục. Cái kết cục theo kiểu “hòn ngọc thì mất, hòn đất thì còn” này đứng ngoài sự chờ đợi của người đọc vốn quen với những trang văn kết thúc có hậu. Nhưng nó lại có tác dụng mở rộng không gian cho một thể loại văn học luôn đòi hỏi người viết phải rọi ánh sáng vào tận những vùng tăm tối nhất của cuộc sống.

Ở thiên truyện Con hoạ mi lông xù vừa bay vừa hót, Nguyễn Trí Huân lại cho người đọc tiếp cận một kiểu nhân vật còn hiếm thấy trong văn học ta. Với kiểu nhân vật này, tác giả đã mở tung ra một vực thẳm ngay dưới chân một người anh hùng. Yếu tố tâm linh đã được vận dụng đến mức tối đa làm cho nhân vật chính luôn phải sống trong tâm trạng “ngồi không yên ổn, đứng không vững vàng”. Nguyễn Trí Huân đã dành khá nhiều trang thể hiện mối quan hệ giữa lão Phong, nguyên sư trưởng với bà vợ của ông chính uỷ sư đoàn sau khi ông lấy thân mình phủ lên mình lão, hứng lấy cái chết từ một loạt tiểu liên của địch trong trận đánh vu hồi vào hậu phương của địch. Đó là một mối quan hệ thân tình, trong sáng, hết lòng vì nhau, thậm chí có lúc đạt đến giới hạn mong manh nửa nạc nửa mỡ. Khi bà bị nhiễm Covid-19, lão đã lao vào phòng bệnh, ở lì đó với bà, đến khi cô y tá hỏi ông quan hệ là gì với bà ấy, ông gần như thét lên: “Tôi, tôi là anh, là chồng của bà ấy. Nhà tôi không còn ai. Tôi phải ở lại với bà ấy.” Thân thiết đến mức ấy, nhưng tác giả đã không để cho ông ta vặn nắm đấm cửa để sang với bà trong cái lần cùng đi biển với nhau. “Nếu như lúc đó lão mở cửa, có thể lão sẽ được tất cả, cũng có thể mất tất cả.” May mà lão đã biết dừng lại. Nếu không thì chưa lấp xong vực thẳm phía sau, lão đã bị đẩy vào vực thẳm phía trước. Sống sao nổi. Hãy để cho lão yên nghỉ dưới vòng hoa trắng muốt với dòng chữ “Vĩnh biệt anh, một người và một thời” của bà là đủ.

Thật đáng tiếc, tác giả thiên truyện này đã không kịp cho lão biết, cái ông vẫn thường tìm đến ngủ nhờ dưới gầm cầu thang khu tập thể của lão đã chết sau một cơn ho sét đánh, chính là ông đội trưởng cải cách ruộng đất ở làng Hạ năm nào.

Vậy thì, thiên truyện Con hoạ mi lông xù vừa bay vừa hót là viết về một người hay một thời? Là bi kịch hay hài kịch? Cái đó cũng lại nhường quyền cho bạn đọc. Riêng tôi, tôi muốn xem nó là cái nhếch mép đầy giễu cợt và cay đắng của lịch sử. Một ông Phồn, nguyên là chủ tịch liên xã kháng chiến Hồng Phong, Hồng Thái, Hồng Hà bị quy oan tham gia Quốc dân đảng, tới mức phải treo cổ tự vẫn. Việc bà Thuộc, người đã để cho anh Dung và đội du kích đào hầm bí mật ngay sau nhà mình, cam chịu để cho tên Tổng Quỳnh hãm hiếp trước bàn thờ tổ, chỉ kịp thét lên cho anh Dung và đồng đội của anh xuống hầm, lại còn đang đêm liều lĩnh đi thu hai cái đầu lâu bị bêu nắng của bố mẹ lão Phong về chắp nối lại và chôn cất cho tử tế, nay bị đem ra đấu tố, tịch thu hết cả gia sản, bị đuổi xuống nhà bếp, rồi bà dỡ tung cái nơi trú thân cuối cùng ấy, vác cột kèo ném vào nhà các gia đình bần cố nông, và bà đã quát vào mặt lão Phong khi lão tuyên bố từ bỏ họ Phạm, từ bỏ bà “Các người điên hết rồi, cả cái làng này điên hết rồi” rồi quyết định làm một người câm cho đến trước khi chết. Trong khi đó, thằng Tới, kẻ đã bán tin cho Tổng Quỳnh về chiếc hầm bí mật trong nhà vợ chồng ông mõ để lấy 10 đồng bạc, thì nay lại được đội cải cách chia cho ở ngôi nhà trên của bà Thuộc cùng với lão. Cuộc đổi trắng thay đen chóng mặt đã cướp đi cái quý nhất của làng Hạ là lòng tin. Mà như người ta nói, mất lòng tin là mất tất cả.

May thay cho làng Hạ, vẫn còn anh Dung đó, người đã làm dịu đi biết bao đau đớn và ngày càng hoà vào số phận của nhân dân, thật xứng đáng là người đứng đầu chính quyền thành phố. Và còn may nữa là tác giả thiên truyện này, người đã đem lương tâm nhà văn làm cho người ta cần nhớ những gì đáng nhớ.

Viết về chiến tranh mà bom đạn và kẻ địch chỉ được xem là cái nền để tác giả soi rọi vào số phận những người chiến thắng, đó là một đóng góp trân trọng và cần tôn vinh xứng đáng của Nguyễn Trí Huân vào nền văn học đang đổi mới của chúng ta.

Hà Nội, 15/6/2025

Hữu Thỉnh

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

  Phê bình như là tự truyện Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đ...