Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

 

Một ngày như mọi ngày

Xin vội vàng thưa ngay: Đây là một ngày của một ông già Việt Nam trên xứ Mỹ, một người đang dè dặt đặt những "bước chân âm thầm" trên con đường số 6, con đường này vốn rất xa lạ với không ít người chứ không phải con đường của nhà văn Thanh Tịnh trong ngày khai trường: "Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần nhưng lần này bỗng nhiên tôi thấy lạ vì trong tôi có một sự thay đổi mới." (đại khái là ông Thanh Tịnh viết như vậy, tôi không chắc là đã viết đúng nguyên văn của ông, nhưng đến cái tuổi này mà còn nhớ  được như vậy thì  cũng chưa đến nổi gần kề căn bệnh quái ác Alzheimer, xin quý vị cho tôi một tràng vỗ tay.)

Nếu tính từ ngày tôi lọt lòng Mẹ ra chào đời hay văn chương hoa lá cành theo kiểu "Cung oán ngâm khúc" là kể từ lúc trót mang tiếng khóc bưng (ôm) đầu mà ra hay theo văn chương thời thượng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn "Từ ngày Mẹ cho mang nặng kiếp người." thì cho đến nay tôi đã đếm được hơn sáu mươi mùa Xuân đi qua cuộc đời tôi. Xin cho tôi khỏi phải nói một cách chính xác là sáu mươi mí vì tôi muốn giữ lại một vài tuổi cho đời còn tươi mát và để khỏi bị mắng là "Già dịch" khi bỗng dưng mà lòng xuân phơi phới lúc đối diện với một đoá hoa mơn mởn, hương sắc Xuân thì.Thật ra thì chỉ dám động lòng Xuân một cách âm thầm lặng lẽ thôi chứ không dám mon men gạ gẫm vì nhiều trở ngại nói ra không hết, chẳng hạn như trở ngại kỷ thuật, máy móc không trong tình trạng tốt đẹp, trở ngại gia đình vì cái "remorque" to đùng đang lè kè bên cạnh, trở ngại tuổi tác vì đã mon men đi gần đến tuổi cổ lai hi, trở ngại tài chánh vv và vv....

Xin trở lại với những sinh hoạt trong ngày của một người đàn ông Á Châu ở nhà đuổi gà cho vợ dù không nuôi con gà nào hết ở trong vườn, sợ sáng sớm tinh sương con gà trống nổi hứng gáy vang làm phiền hàng xóm láng giềng và rất có thể bị thưa ra ba toà quan lớn. Một ngày bắt đầu lúc 6:00 sáng. Đã xa rồi giấc ngủ nướng vì với cái tuổi lục tuần thì không thể nào ngủ hơn 6 tiếng đồng hồ một đêm. Không còn cách gì để nướng thêm được nữa vì củ khoai đã sùng tức là đã sắp thối đến nơi rồi, có nướng thêm thì cũng không thể bốc mùi thơm như "khoai lùi bếp nóng ngon hơn là vàng" được nữa.Vậy là theo đúng chiếc đồng hồ sinh học, đúng y boong 6 giờ sáng, tôi thức dậy.Theo lời khuyên của một vị bác sĩ, tôi đọc thấy trong báo rằng thì là không nên vội vàng nhảy xuống giường mà phải nằm một lúc cho tỉnh táo rồi mới từ từ đặt chân xuống sàn nhà để tránh khỏi bị chóng mặt có thể té bất ngờ mà ở vào lứa tuổi gần thất thập thì rất nguy hiểm vì có thể bị tai biến mạch máu não.Theo quan niệm của người dân quê Việt Nam chúng ta thì khi người già té ngã là xem như đã nhập thổ tức là gần kề miệng lỗ, sắp về gặp tổ tiên rồi. Sau phần vệ sinh cá nhân lúc đầu ngày gồm đánh răng, súc miệng, rửa mặt, rửa mày, o bế mái tóc ba màu như chè ba màu vì màu tóc già tự nhiên là màu bạc trắng, màu đen là màu tóc đã được nhuộm vì cũng muốn làm đỏm với đời một chút xíu và một màu hung hung, đo đỏ như màu tóc của Xuân tóc đỏ trong tác phẩm "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng. Sở dĩ có màu tóc quái dị này là vì tóc nhuộm lúc đã phai màu thì biến đổi màu sắc chẳng màu nào ra màu nào. Cũng may là hàm răng vẫn cái còn, cái mất, cái lung lay chứ chưa mất hẳn, nếu không thì đã có thể vừa đánh răng vừa huýt gió cho đời lên hương. Dĩ nhiên là cũng phải hưởng đệ tứ khoái dù không được đứng thứ nhì sau chức tước Quận Công. Sau màn vệ sinh cá nhân, tôi bèn đi một đường "Suối nguồn tươi trẻ". Đây là một phương thức thể dục do Peter Kelder biên soạn theo lối huấn luyện thân thể của các vị Lạt Ma Tây Tạng mà ông ta đặt tên là "The Fountain of Youth".Theo ông ta, nếu ta kiên chí tập luyện theo phương pháp này chỉ gồm 5 động tác thật đơn giản thì chẳng những ta có thể kéo dài tuổi thọ, tăng cường sức khoẻ mà lại có thể cải lão hoàn đồng tức là trẻ lại đến 10 hay 15 tuổi như ông đại tá Bradford người đã may mắn được thực hành phương pháp này ngay trong 1 tu viện nằm trong một vùng xa khuất của dãy Hi Mã Lạp Sơn.Thấy phương pháp thật đơn giản, tôi nghĩ  được thì không biết có được gì không  nhưng không có gì để mất, hơn nữa không bổ bề ngang thì cũng bổ bề dọc nên tôi bắt tay vào việc "tu luyện" theo phương pháp này của các vị Lạt Ma Tây Tạng. Mới tập chỉ trong vòng một tháng, thấy trong người khoan khoái, khoẻ mạnh, hai gò má ửng hồng, tôi thích quá nên hăng say tập luyện. Chỉ có một điều hơi ưu tư là đôi gò má ửng hồng khiến tôi lo ngại không khéo mà giống như Nhạc Bất Quần trong "Tiếu ngạo giang hồ" của Kim Dung, học nhầm Quỳ Hoa Bảo Điển để rồi biến thể thành lại cái thì thật là tai hại khôn cùng. May mắn quá! Sau mấy năm liền tu luyện "Suối nguồn tươi trẻ" tôi vẫn là một đấng "trượng phu" và không thấy bị thúc đẩy phải di cư lên vùng San Francisco để tìm mấy ông bạn vui vẻ (Gay). Vẫn biết cái "Tôi thật đáng ghét" nhưng tôi cũng xin quảng cáo không công cho phương pháp thể dục "Suối nguồn tươi trẻ" này liên quan đến cái "tôi" của tôi. Số là sau một thời gian tập luyện, một hôm tôi ra sân Tennis, một anh chàng đến gạ với tôi:
- Anh đứng với Em đánh với hai ông già bên kia!
Ôi sung sưóng làm sao! Một trong hai ông già bên kia còn nhỏ tuổi hơn tôi, thế mà anh chàng này không biết mắt mũi kèm nhèm sao đó mà lại gọi tôi bằng anh và rủ tôi đứng đôi để chơi với hai ông già xấp xỉ tuổi của tôi.Tôi tự nghĩ hay là tôi trẻ ra thật! Mà nếu trẻ thật, thì tức là nhờ ở phương pháp "Suối nguồn tươi trẻ" chứ còn gì nữa. Quý vị có nghĩ là tôi cần phải đính chính không? Có nghĩ là tôi phải bắt anh chàng trẻ tuổi này gọi tôi bằng Chú hay bằng Bác vì chắc chắn là tuổi tôi không bằng thì cũng không thua tuổi của Bố anh chàng này bao nhiêu. Ngu sao đính chính! Được người ta ngỡ mình còn trẻ thì cứ im lặng mà khoái chí chứ!

Thế là sáng nào tôi cũng tập 5 động tác của các vị Lạt Ma Tây Tạng. Sau màn thể dục buổi sáng này, tôi lái xe ra sân Tennis chơi vài "sets" với các bạn cùng trang lứa, một phần là để huấn luyện thân thể, một phần là để có dịp bố lếu, bố láo với mấy ông bạn già. Sau khi chạy nhảy trên sân là màn đấu láo đủ mọi thứ chuyện trên trời dưới đất, chuyện thời sự quốc tế, thời sự Hoa Kỳ và thời sự Việt Nam, một mục thật hấp dẫn vì liên quan đến rất nhiều chuyện già dịch, vui như Tết: Nào là ông này hơn 80 tuổi về quê hương cưới vợ chỉ ngoài đôi mươi, rồi mang vợ trẻ lên sở xã hội Quận Cam xin trợ cấp thực phẩm, nào là ông già nọ cưới vợ xong, rồi không dám bảo lãnh cho vợ qua Mỹ sợ bị mấy anh chàng thanh niên cuỗm mất vợ. Hỏi ông, thế ông chu cấp dollars cho vợ nhí ở Việt Nam không sợ cô ta cắm sừng lên đầu ông sao, thì ông cười hề hề bảo là nó làm gì thì làm, miễn khuất mắt mình thì OK và lúc mình về Việt Nam, có người hầu hạ gối chăn là sung sướng, hạnh phúc trong tuổi già rồi. Quan niệm sống đơn giản như thế thì chỉ thua mấy thằng Tây say chứ thua ai! Tennis không còn là môn thể thao của giai cấp thượng lưu trong xã hội như thời xa xưa của bà Phó Đoan trong "Số Đỏ" mà giờ đây, những ai rảnh rổi, có chút tiền, có chút ham mê thể thao đều có thể chơi Tennis một cách hiên ngang tuy đôi lúc cũng để lộ ra gốc gác "quý phái bình dân" thuộc con giòng, cháu giống miệt vườn hay miệt biển vốn ngày còn ở quê hương chỉ làm quen với lưới cá, cần câu hay chiếc cày, cái cuốc. Cũng vì tính cách bình dân đại chúng của bộ môn thể thao này mà ngoài sân Tennis chúng tôi nghe và mục kích được lắm chuyện nực cười như vừa mới đây chúng tôi được xem một cuốn album hình đám cưới của một tay vợt tuổi ngoài năm mươi, về quê hương cưới vợ trẻ thua anh chàng gần ba mươi tuổi. Sáng nào anh ta ra sân cũng mang hình đám cưới ra khoe với bạn bè thân cũng như sơ.Và rất chi là độc đáo, trong số các hình ảnh này có hình cô vợ của anh ta trong trang phục bà E Và ở vườn Địa Đàng, không có được một chiếc lá nho để che đậy cái ngàn vàng. Bình dân, chơn chất và ma bùn đến như vậy thì thôi! Thật là hết nước nói! Thực ra thì cũng dễ hiểu: Tốn bao nhiêu tiền của, nào là vé máy bay khứ hồi Cali-Saigon-Cali, sắm sanh lễ vật, nhẫn cỏ, nhẫn hột xoàng hạt tấm, hạt to, đủ mọi thứ lỉnh kỉnh cho khỏi mất mặt bầu cua Việt kiều về quê hương cưới vợ, chả lẽ lại âm thầm không khoe với bàn dân thiên hạ hay sao. Dù sao thì cũng cứ "tưng bừng khai trương" rồi sau này có âm thầm đóng cửa thì cũng không sao. Cũng giống y hệt mấy bà mấy cô đã tốn tiền "tiểu tu" hay "đại tu", chỉnh trang đô thị, căng mông, bơm ví thì cũng phải mặc váy bó sát mông, áo banh hở ngực cho thiên hạ rửa mắt chứ đâu phải tốn tiền làm đẹp chỉ để cho lão chồng già nhìn ngắm trong chốn phòng the. Lão ta là cái thá gì mà phải bận tâm trau tria má phấn, môi hồng! Đấy, đại khái ra sân Tennis vui như thế thì bảo sao ngày ngày người đàn ông già lão như tôi không xách vợt ra sân để mua vui cũng được một vài phút giây.

Thời khoá biểu thường nhật của một ông già trên đất Hoa Kỳ tiếp tục bằng màn về nhà, ngồi trước Computer mở Email ra đọc thư của các bạn già trên đất nước Cờ Hoa, bạn già trên quê hương, bạn già trên năm châu bốn biển. Nếu không có mục này thì đời sẽ tẻ nhạt vô vàn! Muôn vàn cảm tạ công ơn của người sáng tạo ra ra môn Email thần diệu này. Trước đây, khi chưa có Email, thư từ gửi cho bằng hữu mất rất nhiều thời gian, nhất là một lá thư gửi về quê hương có lúc mất gần hai tháng trời vì thư phải đi chu du ra tận ngoài Bắc rồi mới về đến miền Trung hay miền Nam. Lại còn phải bị cái nạn kiểm duyệt nữa chứ! Thật hết cả hứng thú viết thư! Ngày nay, chỉ trong giây phút là thư đến tay người nhận, sướng ơi là sướng! Dù quê hương đi trước ta 14 hay 15 tiếng đồng hồ, bên ta là ngày, bên nhà là đêm, thì cũng chỉ trong vòng một ngày là ta đã nhận được thư của nhau, tha hồ mà kể lể, chuyện trò, hàn huyên tâm sự.Tin tức bạn bè, thân nhân, được cập nhật hoá đều đều qua Email, còn gì hạnh phúc bằng! Kể cho nhau nghe ba mươi sáu ngàn chuyện trên đời, còn gì vui thú cho bằng! Đấy là chưa kể nếu còn động lòng xuân thì duyên may đưa đẩy cũng có thể kiếm được một mối tình lúc cuối đời qua Email để rồi ngày ngày ngồi trước computer "chat" qua, "chat" lại hay là lẫm cà, lẫm cẫm làm vài câu thơ theo thể thơ con cóc gửi bạn tâm tình, nói lên nỗi lòng thương nhớ đầy vơi cho tuổi già bớt cô đơn mà vui sống những ngày tháng "bonus" Trời, Phật, Chúa ban cho, sau hơn sáu mươi mùa lá rụng trôi qua trên cuộc đời.Thật vậy, sống trên sáu mươi tuổi thì cũng đã gần đất xa trời vì đã đi hơn nửa kiếp người, nếm đủ mùi lạc thú trên đời thì cuộc đời còn lại phải được xem như những tháng năm "bonus" Trời ban cho để sống an bình, không lo nghĩ, không ham sống, cho đời thanh thản, vô tư. Phần hồn không biết có hay không, chỉ nên tu nhân tích đức, rồi ra, lúc xa lìa cõi thế, hồn xuống địa ngục hay thiên đàng là do cái nghiệp, cái nhân, cái quả của ta trong tiền kiếp, hơi đâu mà bận tâm lo nghĩ đến phần hồn trong cuộc đời bên kia cõi ta bà, cho ngày tháng mất vui.

Ngoài những mục chính mô tả trên đây, còn những mục không kém phần lý thú của một ngày như mọi ngày của một lão giả xứ Cờ Hoa như thỉnh thoảng họp mặt bạn bè ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối, ăn tục nói phét, một hình thức để níu kéo tuổi xuân. Một tháng, đôi ba lần rủ nhau đi đến các trung tâm phân phát lương thực cho người già, lãnh món này vật nọ, hộp thịt, hộp cá, lon nước cốt trái cây, gói gạo vv... Thứ gì dùng được thì đem về nhà, ăn, uống để biết ơn chính phủ Mỹ không quên người già, thứ gì không hạp khẩu vị thì đem đến các bãi đậu xe tặng lại cho mấy ông bạn "homeless" để vui khi thấy họ cười và nói lời cảm ơn, kiếm được một niềm vui nhỏ bé khi chia sẻ miếng cơm manh áo cho người nghèo hơn ta chứ không hề có ý nghĩ làm việc thiện cho phần hồn mai sau. Lại thêm mục đi chợ, đi búa, giúp vợ nấu nướng, chia sẻ công việc nội trợ để bà chủ nhà khỏi lên mặt rằng chỉ có ta đây là có thể làm "chef" tức là làm "cook", nếu thiếu ta là cả nhà chết đói. Nghe mà bực cả ...mình! Đi chợ cũng là một cái thú vì "trai khôn tìm vợ chợ đông"nên mình tha hồ ngắm các bà xồn xồn một cách vô tội vạ. Nếu cần thì tỏ ra rụt rè, e thẹn, ra cái điều bị vợ nhà "đì", bắt đi chợ để các bà, các cô cảm thương cho thân phận bọt bèo của mình, rồi nhân cơ hội, mình lân la làm quen, biết đâu lại chẳng gặp một mối tình cuối đẹp hơn mối tình đầu. Ngoài ra, nếu có cháu nội, cháu ngoại thì cũng có thể giúp con trai, con gái đưa các cháu đi học, đón các cháu về nhà chơi đùa với chúng để thấy mình còn hữu ích cho gia đình, cho xã hội.

Thế rồi, lúc đêm về, nằm dài trên xô pha, ngủ gà, ngủ gật xem Ti Vi hay nằm vách đốc củ tỏi, đọc sách báo, chờ đến 11 giờ khuya leo lên giường đánh một giấc không mộng mị vì cuộc sống quá nhàn hạ, vô tư, đâu có chuyện gì phải nằm gác tay lên trán để âu lo. Tổng Thống tương lai của Mỹ là đàn ông hay đàn bà, bà Hillary Clinton hay ông da đen đắc cử thì cũng chẳng có gì đáng "ke"vì thân phận của một phó thường dân cũng sẽ chẳng có gì đổi thay đáng kể, dù ông hay bà Tổng Thống thuộc đảng Dân Chủ hay Cộng Hoà thì cũng rứa mà thôi.

Một ngày của một ông già Việt Nam trên đất nước Cờ Hoa này thì cũng như mọi ngày, chẳng có gì khác biệt, nghĩa là cũng bềnh bồng, trôi nổi như rứa mà thôi . Chắc có người sẽ thắc mắc hỏi còn cái mục kia sao chẳng thấy đề cập đến. Xin thưa, chuyện phòng the không tiện vạch áo cho người xem lưng nên lửng lơ con cá vàng, ai hiểu sao cũng được. Ai răng thì tui rứa! Cứ suy bụng ta là ra bụng người!.

Xin kết thúc bài viết lăng nhăng này bằng một bài thơ theo trường phái "Con Cóc".

Một ngày như mọi ngày

Ngày nào rồi cũng như nhau
Sớm mai thức dậy một chầu điểm tâm
Bánh mì bơ sữa chẳng ham
Sắn khoai, xôi cúc nhớ làng thương quê
Ngày ngày vui sống thỏa thuê
Phong lưu tiêu sái, lái xe lòng vòng
Tìm thăm mấy trự lão ông
Chuyện trò bù khú cho lòng thảnh thơi
P.C. sẵn có trên đời
Thư từ, lên mạng, rong chơi suốt ngày
Hơi đâu buồn chuyện lưu đày
Tài sơ, trí thiển, già này bó tay.

Hoàng Đức

Theo http://chimviet.free.fr/

 

Vài cảm nghĩ về tình tự dân tộc

Nét đặc sắc bị bỏ quên :

Nói lái

Tôi không phải là một nhà ngôn ngữ học, nhưng có nhận xét này, mà khi chia xẻ với nhiều người Việt Nam, tôi luôn có sự đồng tình: Nói lái là một hình thức vô cùng độc đáo của ngôn ngữ Việt.

Bạn có bao giờ nghe giai thoại giải thích đại phong là lọ tương chưa? - Chuyện thế này: hai anh hề trên sân khấu tuồng ngoài Bắc, trong lúc diễu giúp vui, anh này đố anh kia: đại phong là gì?

- Thì đại là lớn, còn phong là gió, đại phong là gió lớn, anh kia giải thích.

Anh này bảo đại phong là lọ tương kìa: đại phong là gió lớn, gió lớn thì chùa đổ, chùa đổ thi tượng (Phật) lo, tượng lolà lọ tương.

Một giai thoại khác, ở trong Nam. Lúc ấy, vào buổi tàn thời của nho học, người ta bỏ bút lông, giắt bút chì; một số chạy theo thực dân Pháp. Trong số ấy có Nguyễn văn Tâm, một lòng cúc cung với mẫu quốc, được người Pháp cất nhắc làm quan lớn; trên dưới trong ngoài, ai cũng biết nhờ bợ đỡ quan thầy mà làm quan to. Tâm lấy làm tự đắc lắm. Phú quí sinh lễ nghĩa, quan lớn nhà ta cũng muốn tỏ ra mình phong lưu, muốn có những bức hoành, trướng để trang trí. Có người dâng lên quan bốn chữ đại tự Đại Điểm Quần Thần, viết chân phương, rất đẹp và giải thích Quần thần là người bề tôi, Đại điểm là điểm lớn, ý nói quan lớn là người bề tôi có vị trí to lớn, quan trọng trong triều. Quan lấy làm thích thú đem treo bức liễn trong phòng khách; ai đến thăm quan cũng đem khoe và giải thích như trên. Ít lâu sau có người đến ngắm bức liễn, rồi xin quan lớn dẹp đi. Quan ngạc nhiên hỏi, người ấy xin đừng bắt tội, đuổi hết tả hữu rồi giải thích: người viết liễn đã cố ý bỡn quan lớn, mà quan không biết. Bốn chữ trên dịch từng chữ: Đại điểm là chấm to; Quần thần là bề tôi, nói theo kiểu trong Nam là bầy tôi. Đại Điểm Quần Thần là Chấm To Bầy Tôi nói lái lại là Chó Tâm Bồi Tây. Chẳng nghe chuyện kể nói quan có tìm tác giả bốn chữ nói trên để trị tội hay vì không muốn làm vỡ chuyện mà ỉm luôn .

Trong đời sống hàng ngày, chẳng hiếm khi chúng ta gặp những câu nói lái, đôi khi chỉ để bỡn cợt, châm biếm hay tránh những tiếng thô tục.

Ở Nam Bộ , có câu :

Con cá đối nằm trên cối đá,
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo
anh mà đối được, dẫu nghèo em cũng ưng.

Người Việt, đối với những người lớn tuổi hay trưởng thành ở Việt Nam chẳng có ai là không biết cách nói lái, tùy theo gốc gác hay sinh hoạt ở Bắc, Trung hay Nam mà cách nói lái có khác nhau; nhưng tựu chung, khi nói lái, người ta tránh không nói thẳng chữ muốn nói; mà người nghe, vì không tinh ý, nhất thời không nhận ra như trong giai thoại Đại Điểm Quần Thần kể trên.

Đi sâu hơn vào chi tiết: một chữ gồm hai phần: phụ âm và âm. Chữ tranh chẳng hạn gồm phụ âm tr và âm anh. Chúng ta lại có thêm sáu thanh: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu tạo tiếng Việt thành giàu âm sắc, chỉ cần khác dấu, chữ được phát âm khác nhau: tranh, tránh, trành (trong tròng trành) trạnh (trạnh lòng) và tất nhiên có nghĩa khác nhau, và đây cũng là nét độc đáo của ngôn ngữ Việt, người nước ngoài bảo người Việt nói chuyện nghe giống như hát.

Cũng có chữ không có phụ âm mà chỉ có âm, như trong ảnh ương hay ảo ảnh...

1.Nói Lái theo cách ngoài Bắc.

Trở lại câu chuyện đại phong là lọ tươngnói trên. Tượng lo nói lái lại là lọ tương, người miền Bắc đổi chỗ cho hai chữ, đồng thời đổi luôn hai dấu (nghĩa là đổi âm sắc): lo đổi chỗ cho tượng, lấy dấu nặng thành lọ, tượng đổi chỗ cho lo, mất dấu nặng thành tương.

Ta lấy vài thí dụ khác:

đấu tranh nói lái lại là tránh đâu : tranh đổi chỗ cho đấu, lấy dấu sắc của đấu thành tránh, đấu đổi chỗ cho tranh, mang dấu của tranh (không dấu) thành đâu.

hải phòng nói lái lại là phỏng hài : hải đổi chỗ cho phòng lấy dấu huyền của phòng thành hài, phòng đổi chỗ cho hải lấy dấu hỏi của hải thành phỏng

Cứ theo cách ấy thì:
 

Sầm Sơn

sờn sâm

Thái Bình

nói lái là

bính thài

Hà Nội

nồi hạ

vv.. và vv..

Như vậy thì hai chữ có cùng dấu không nói lái được, như nhân dân, anh em, Sài Gòn, thánh thót, thực vật.... Cũng vậy, những tiếng láy như xanh xanh, hơ hớ, đo đỏ, lăng xăng....không thể nói lái được và nếu chúng ta cố tình theo qui luật trên thì cũng chỉ đổi vị trí cho nhau thôi.

2. Nói lái theo kiểu trong Nam.

Trong Nam người ta nói lái theo cách khác: cá đối nói lái lại thành cối đá.

Ta nhận thấy theo cách nói lái trong nam, âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau, phụ âm giữ nguyên vị trí, phụ âm c ghép với âm ối của đối thành cối, và phụ âm đ ghép với âm á thành đá. Như vậy:
 

Sài gòn

sòn gài

Cần thơ

nói lái là

cờ thân

Cầy tơ

cờ tây

Cửu long

cỏng lưu

(dân nam kỳ phát âm giống như cỏng lu)

Thủ Đức

thức đủ

vv.. và vv..

Bút hiệu Thế Lữ (trong Tự Lực Văn Đoàn) chính là chữ nói lái của tên thật của ông: Nguyễn Thứ Lễ. Ngày trước đã có vế đối:

Ngày Tết, Thế Lữ đi hai thứ lễ: lê ta và lê tây

Trong vài trường hợp người ta nói lái cho cả ba chữ, bằng cách giữ nguyên chữ giữa như trong trường hợp mèo đuôi cụt thành mút đuôi kèo (dấu nặng trong cụt biến thể thành dấu sắc trong mút), như vậy hà thủ ô nói lái thành hồ thủ a.

Đôi khi người ta lại đổi chỗ hai phụ âm cho nhau (tuy ít thôi) để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn, thí dụ chiến binh thay vì nói lái thành chinh biến cũng có thể nói thành biến chinh, do đó với hai chữ tranh đấu có người đã đùa mà nói rằng: tranh đấu thì tránh đâu khỏi bị trâu đánh thì thế nào cũng phải đấu tranh.

Cũng như trong trường hợp trên, những chữ trùng âm như nhân dân, lù đù, lật đật...không nói lái được.

Ngoài ra còn một cách nói dựa trên nói lái kiểu trong Nam, không mấy người quen sử dụng. Trong cách này, người nói ghép từng chữ (trong nguyên câu) với một chữ (đã được qui ước trước giữa hai người) rồi nói lái hai chữ này với nhau. Cách này tương đối khó, và thường gặp trong giới bình dân lao động, ít học (không biết có phải vì vậy mà không được biết đến chăng?) Thí dụ với câu: "hôm qua tui đi ra đầu ngõ chờ em tới, mà đợi hoài không thấy..." họ ghép từng chữ của câu trên với chữ ly (li) rồi nói lái lại, và do đó câu trên trở thành :"hi lôm(hôm li) qui la ( qua li)ti lui đi li ri la đi lầu nghi lõ chi lờ i lem ti lới , mi là đi lợi hi loài khi lông thi lấy..." họ nói chuyện với nhau rất nhanh và hiểu nhau dễ dàng, như thể đã được mã hóa người khác không nhận ra được. Đây là cách vô cùng độc đáo mà chưa được khai thác đúng mức.

3. Vài giai thoại - câu đối - câu đố

Chúng ta đã thấy giai thoại về Đại điểm quần thần, Đại phong ở trên. Chúng ta cũng thường nghe nói đến câu tiếng lóng hạ cờ tây là hạ cầy tơ của dân nhậu trong Nam và mộc tồn (= cây còn, nói lái thành con cầy) ở ngoài Bắc, hay những lối nói lái rất quen thuộc: con chín bến đò (con chó bến đình) Hương bên đèo (heo bên đường) theo con Hương (thương con heo)...

Trong Nam, mấy bạn nhậu thường hay nói chữ : "Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu" cũng đừng vội tưởng họ sính nho, thật ra họ đùa "rượu gặp tri kỷ có trời mới biểu (bảo) thôi" (thiên = trời, bôi thiểu = biểu thôi)....

Về câu đối, xin trở lại câu ca dao trên:

Con cá đối nằm trên cối đá.
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.
Anh mà đối đặng dẫu nghèo em cũng ưng.

được đối là:

Chim mỏ kiến(g) nằm trong miếng cỏ
Chim vàng lông đáp đậu vồng lang
Anh đà đối đặng hỏi nàng ưng chưa?

Phải công nhận là câu đố và câu trả lời không chê vào đâu được, chắc gì chúng ta tìm được câu trả lời nào hay hơn cho cô gái tinh nghịch này.

Một câu khác, nghe chừng như xuông miệng nói chơi, nhưng lại đối rất chỉnh, trong cả hai vế đều dùng cách nói lái:

Kia mấy cây mía
Có vài cái vò

Một câu đối khác, nghe được sau 75, lúc người dân trong Nam không còn gì để sinh sống, đặc biệt là giới thầy cô thuộc chế độ cũ được lưu dụng. Dầu gì chăng nữa, trước đó họ là lớp người tuy sống nhờ đồng lương cố định, nhưng cũng có cơm ăn áo mặc đầy đủ. Người ta nghe thấy hai câu đối tết, nhại theo Tú Xương ngày trước, nhưng rất đặc sắc và chua xót:

Chiều ba mươi, thày giáo tháo giày ra chợ bán
Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân sang.

Thực tế là giày không còn là một phần trong y phục của thày giáo, nhưng cháo đã là phần lương thực thường thấy trong bữa ăn hàng ngày.

Trong một đám cưới, chú rể người Hóc Môn, cô dâu ở Gò Công; có người rắn mắt đọc đùa câu đối:

Trai Hóc Môn vừa hôn vừa móc - Gái Gò Công vừa gồng vừa co

Trong văn chương bình dân Việt Nam, câu đố chiếm một vị trí tuy khiêm nhường nhưng có sức sống tuơng đối mạnh mẽ so với hò đối đáp chẳng hạn. Ngày nay ta vẫn thường nghe những câu đố trong khi không còn thấy hò đối đáp trong sinh hoạt hàng ngày của người bình dân. Trong các dạng câu đố, cách dùng nói lái để đánh lừa người khác là một trong những cách tuy dễ nhưng cũng làm khó cho người bị đố không ít. Sau đây là vài câu đố dùng nói lái, lời giải có ngay trong câu đố:

-Tổ kiến, kiển tố, đố là chi? - (đáp: tổ kiến)

-Khoan mũi, khoan lái, khoan khứ, khoan lai
Bò la, bò liệt đố ai biết gì? - (đáp: khoai lang).

Những chữ mũi, lái, khứ, lai chỉ cốt để đánh lừa người bị đố

- Con gì ở cạnh bờ sông,
cái mui thì nát cái cong thì còn - (đáp: con còng - cong còn nói lái thành con còng)

- Cái gì bằng ngón chưn cái mà chai cứng - (đáp: ngón chưn cái)

- Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn - (đáp: con ngựa)

- Miệng bà ký lớn, bà ký banh

Tay ông cai dài, ông cai khoanh - (đáp: canh bí, canh khoai)

...

Một vài người cũng câu nệ về nói lái, tránh đặt tên con những chữ có thể nói lái thành thô tục như Thái (dễ ghép với chữ có phụ âm d: thái dọt, thái dúi, thái dòng...) Lài (dễ ghép với chữ có âm ồn như lài dồn, lài cồn, lài mồn...) Côn, Tôn, Đôn (ghép với chữ có phụ âm l) v.v.. và v.v..

4. Vài suy nghĩ

Qua những phân tích trên, ai cũng công nhận nói lái quả là một đặc thù của tiếng Việt. Chúng ta dùng nói lái để châm biếm, để gài người khác trong các câu đố, câu đối, để tránh những thô tục khi cố ý ghép chữ dể hạ thấp người khác.

Bỏ qua một bên những cái độc đáo, lắt léo của nói lái trong câu đố, câu đối; để chỉ chú ý đến phần đông các trường hợp chúng ta sử dụng nói lái như là một hình thức hạ thấp người khác. Trong phần trên chúng ta đã thấy nhà nho nào đó đã dùng sự uyên bác của mình để chửi một quan to mà quan chẳng những đã không biết mà còn hoan hỉ chấp nhận trong giai thoại Đại Điểm Quần Thần.

Chúng ta đã dùng nói lái như một thứ vũ khí của người muốn dùng tiểu xảo để chống đối, để chứng tỏ mình hơn người, như một thứ vũ khí của kẻ yếu, kẻ bị trị để bôi bác, nhạo báng, ám chỉ... để hạ phẩm cách của kẻ mạnh, kẻ thống trị.

Vấn đề nêu ra để chúng ta phải suy gẫm là tại sao chúng ta có những cách rất tiêu cực như vậy? - Phải chăng vì hoàn cảnh dân tộc Việt Nam đã đắm chìm quá lâu trong cảnh bị trị, dù của ngoại bang hay của chính người đồng chủng. Người dân phải tìm cách tránh né, che đậy để sinh tồn trước sức mạnh của kẻ thống trị. Vấn đề đặt ra cho chúng ta cùng suy nghĩ là chúng ta có nên duy trì mãi những tiêu cực tương tự trong những sinh hoạt thường ngày của chúng ta không? Ai cũng thấy rõ một điều là sức sống của người Việt vô cùng to lớn, mãnh liệt, nhưng đồng thời cũng thể hiện những tiêu cực vô cùng tai hại . Chính vì chỉ muốn sống còn bằng bất cứ giá nào, người Việt đã mất đi những tích cực của tập thể cần phải có, điều này đã giúp cho kể thống trị tồn tại lâu trong vị trí và là một cách giải thích tại sao dân tộc chúng ta bị trị lâu đến như vậy.

Dù vậy, nói lái vẫn là một hình thức vô cùng đặc sắc của ngôn nhữ Việt, với khả năng nhạy bén về tính trào phúng, tính châm chọc... (và chúng ta chỉ nên khai thác khía cạnh tích cực này), chúng ta tin rằng nói lái sẽ tồn tại với người Việt.

1/12/2005

Hòa Đa

Theo http://chimviet.free.fr/

Hành hương Yên Tử

Hành hương Yên Tử

Dậy 5 giờ rưỡi sáng.

Ăn sáng 6 giờ: Khách sạn có soạn bánh mì croissant bơ, nhưng chúng tôi ăn le lẹ đĩa bánh cuốn, thấy xoàng xoàng nhưng no bụng.

Ra phòng khách đã thấy 2 vợ chồng K, chi. N, chi. B.T, chi. B D, cũng dân Hà thành, đứng chờ, với vợ anh tài xin phép cùng đi hành hương.

Cuộc hành trình được định như sau: Thăm Yên Tử, thăm Trúc lâm thiền viện, thăm Côn Sơn, quê của Nguyễn Trãi và thăm Kiếp Bạc, đền thờ Trần hưng Đạo.

Yên Tử cách Hà nội khá xa, trên đường đi Hạ long. Chúng tôi phải đi sớm vì thiên hạ bắt đầu đi làm hồi 7 giờ sáng, đi trễ sẽ kẹt xe khó khăn, đi sớm một tí sẽ thoải mái hơn. Chị M sẵn sàng hoa quả, hương nến, bia nước để cúng vái và ăn dọc đường. Sau 3 giờ rưỡi lặn lội, chúng tôi đến vùng Yên Tử.

Theo lệ làng, chúng tôi tới đền phường để trình Tiền hoàng, xin các ngài cho phép đi thăm, nhưng đền đóng cửa thành chúng tôi đi thẳng vào vùng. Đường đi quanh co nhưng ít xe cộ, băng qua vài làng nhỏ, tiến tới chân núi. Phong cảnh hai bên bắt đầu thay đổi, chúng tôi không thấy ruộng nương nữa,mà qua rừng tùng cao ngất rồi len lỏi giữa rừng trúc xanh rờn, lung lay xào xạc trước gió.

Cách đây cũng không lâu lắm, khách hành hương phải lội bộ chật vật từ chân núi lên chùa Hoa Yên, khó nhọc lội qua mấy rạch nước, suối nước trong veo, mà truyền thuyết kể rằng có cả trăm người cung nữ không được phép theo hầu vua Trần nhân Tông đã, đã trẫm mình dưới suối . Bây giờ đã có cáp cheo, đưa du khách lên núi, gần chùa Hoa Yên, cao chừng 1000 mét. Trạm cáp cheo được kiến trúc theo kiểu chùa rất đẹp, rất rộng và rất sạch. Vé đi mỗi người là 50000 đ, tức tương đương bằng 10 bát phở, theo giá bên Pháp là 10 x 35 quan tức 350 quan khứ hồi cáp cheo, tôi cảm thấy khó chịu, dù là đỡ khó nhọc leo núi,dù là có cô bé xinh xắn cúi rạp đầu chào, vì tôi nghĩ giá cả như vậy chỉ dành cáp cheo cho khách ngoại quốc dùng mà thôi, thảo nào mà hôm nay chỉ có chúng tôi 9 người, mấy khách hành hương kia chọn leo núi đường bộ. Như vậy quả thiệt thòi cho người trong nước, có đóng góp mà không được hưởng. Ngoài ra, ít người đi thì làm sao sinh lợi được, thà xuống giá vé cho nhiều người mua may ra không lỗ.

Chùa Hoa Yên là chùa cổ đầu tiên, ở lưng trừng núi. Đằng trước có cái lăng thờ đức Trần nhân Tôn, tức Trúc lâm sư tổ, rất là giản dị, nhưng uy nghi, với hai cây đại cổ rất đẹp, khiến tôi tưởng nhớ đến lăng Gia long ở miền Trung, cũng oai nghi, tĩnh mịch, không rườm rà,gây nên sự tôn kính nể phục .Tôi cũng tưởng tượng đến mùa xuân, cây đại bùng nở rực rỡ hoa trắng um tùm sau tường, cảnh vật sẽ đẹp đẽ đến chừng nào . Chùa gồm có mấy căn nhỏ bé thờ chư Phật tam bảo cùng các sư tổ, và một cái sân rộng đang được tu bổ. Chúng tôi xin mượn vài cái đĩa, đặt hoa quả, bánh nước rồi đốt huơng cúng .

Sau đó, chúng tôi sửa soạn leo núi . Những kẻ còn lại, người mang túi hương hoa, người vác bị nước, người chống gậy, phình phổi hít mạnh, bước chân cùng nhau leo núi.

Đường lên núi có thang đá ghép xi măng, khá chắc, tuy lúc trời mưa có lẽ sẽ trơn tuột . Đường quanh co, lúc lên lúc xuống, hai bên chi chít trúc xanh cao gần 2 thước, gió lay xào xạt.Đi được một chút đã bắt đầu thấm mệt, may mà K có cho mượn cây gậy để chống đi cho chắc. Đường đi khá sạch, cứ mỗi 20 mét lại có đặt một thúng để rác . Tuy vậy tôi cũng bắt gặp vài chai lọ plastic vứt lề đường, thấy ngứa mắt, tôi cũng nhặt và vứt vào sọt rác.Đi một chút, mồ hôi đã ra ướt áo . Chị N hơi lảo đảo, được chị tài biếu cây kem, ăn xong tỉnh cả người ra . Chị ấy khoe cái gì cũng lơ làng, chỉ thích ăn phở và ăn kem. Tôi tự nhắc khi về Hà nội phải rủ chị ấy đi ăn phở cùng cho vui. Mấy người kia đi trước không biết nói chuyện gì, vợ chồng anh tài đi hành hương chuyến này có lẽ để cầu xin bán được nhà, mua nhà khác cho hên hơn, vì mấy năm nay làm ăn không khá gì lắm, còn hai chị em B T BD và vợ tôi chắc đang tranh luận về Phật pháp.

Chẳng mấy chốc tới chặng đầu tiên là chùa Hang, còn gọi là chùa một Mái. Một mái vì chùa là một nửa căn nhà gỗ, với một mái bên, 2 cửa sổ, bề sâu chừng 2 mét, sàn bằng gỗ, được gắn sát sườn núi, đi vào phải khom đầu, thận trọng, sợ chùa lay động rớt xuống vực thẳm . Tôi chắc chùa được cất ở đây vì có một cái suối nhỏ chảy vào một vãnh nước trong khối đá,mà người ta gọi là giếng tiên, trước khi tràn đi nơi khác. Trong chùa có một bàn thờ nho nhỏ, với tượng Phật gỗ sơn vàng, bát hương và cái đĩa đựng vài tiền giấy cúng dường. Trong cùng, trong bóng tối, hình bóng một người đàn bà ngồi chờ khách mua hương hoa nước uống. Thấy vãnh nước tôi mừng quá, dùng gáo múc chút nước lau mặt cho đỡ mệt. Tuy khát nhưng tôi không giám uống, dù là suối tiên, dù có trong vắt, vì tôi còn nhớ các cụ căn dặn rừng xanh nước độc, uống vào động dại lên rừng; lên rừng đã chót, chớ động dại!

Càng lên, đường lối càng khó khăn, tuy ngưòi ta đã xây sẵn những trạm nghỉ là những sân đá hoặc sân xi măng nho nhỏ. Thường thường cũng nơi này,có cô bán hàng với cái quầy đựng kẹo nước, thuốc lá, hương hoa, bánh trái. Hỏi mang nhiều đồ như vậy có khó nhọc lắm không thì cô ta trả lời mỗi ngày mấy chuyến đó ạ. Một mình như vậy không sợ ma hay người ta bắt à? thì cô ấy cười xoà trả lời không sợ. Thấy người ta khó nhọc như vậy để được dăm ba đồng tôi cũng cảm thương, tuy rằng lon bia từ 3000 đ leo vọt lên 20000 một cách tự nhiên.

Thôi kìa, mình tới chùa Bảo Sái rồi đấy! Chùa Bảo Sái mà có người còn gọi là chùa Bảo Xác khá đẹp, có mấy từng, và mấy sân lát gạch, đặt đầy chậu cảnh .Chùa này do học trò của Trần nhân Tôn là sư Bảo Sái dựng . Chùa đẹp, cách đây không lâu, là nơi đóng phim Indochine đã đoạt giải Oscar . Đứng tựa lan can, nhìn thung lũng phía dưới xanh rờn, với những mái nhà con con, dòng sông nho nhỏ, thấp thoáng qua đám mây dưới chân, am hiểu được cái thú vị của đời sống ẩn dật người xưa . Tại hậu viện cũng có một giếng nước trong. Múc gáo nước đổ lòng tay xoa lên mặt sao mà sảng khoái thế . Một bia nho nhỏ ghi lại công đức ngài Bảo Sái tu hành chốn này, góp phần gây dựng Thiền tông Việt Nam.

Rồi lại tiếp tục leo .

" Cô ơi cô, đường lên chùa Đồng còn xa không cô ?

" Thưa bác, cũng còn cả giờ đấy ạ ! " cô hương khách đang xuống thang tinh quái trả lời

Một giờ nữa cơ à ? Thật khổ cho thân tôi ...

Đường đi càng ngày càng xấu như muốn thử thách khách hành hương. Mỗi lần ngửa mặt lên có cảm tưởng chẳng bao lâu nữa nhưng sao mỗi lần chân mình bước tới, lại cảm thấy đỉnh núi nó lại lùi đi một quãng?

A đây có cái trạm, có cả bộ đọi cơ đấy, họ lảm gì ở đây nhỉ? Có lẽ để cấp cứu khách hành hương té gẫy chân, bể đầu đấy, liệu mà cẩn thận. Họ có nước lạnh, có nên mua không nhỉ? Mình vẫn còn mà, chút nữa xuống núi hãy hay, bây giờ mang thêm nặng chết.

Lại trèo.

Bây giờ bực thang là những tảng đá to nằm ngổn ngang trên vách núi. Không trèo nữa mà nhẩy từ cục đá này lên cục đá khác. Ấy chà, coi chừng té đấy. Đường đi không rõ ràng lắm, đi đằng trước hay ngoẹo bên phải? Ngoẹo phải đấy, trên cục đá họ có chét một bãi xi măng sỏi để mình đi cho chắc, và có lẽ để mình nhận ra lối đi.

Mỗi bước đi là mỗi bước trong tỉnh thức, không có thì té lăn xuống núi. Mình chăm chú từng bước, không còn nghĩ gì khác.

Xa xa vẳng lại tiếng chuông leng keng. A sắp tới thiệt đấy.

Đây là hòn đá hình người. Kia là chùa Đồng .

Nói là chùa cho nó hay ho, chứ thật ra là hai cái am nhỏ. Một cái có vẻ xưa rồi, bằng đồng, có lẽ đã từng siêu vẹo vì được củng cố lại bằng hai bức tường xi măng, chính vị có tượng đòng thờ đức Trần nhân Tôn. Cái kia hình như mới làm, cũng tượng Phật, cũng giàn chuông treo gió thổi reo leng keng . Nghe nói ngày xưa,chùa Đồng, còn gọi là chùa Thiên Trúc, nổi tiếng đẹp, nhưng bây giờ có vẻ điêu tàn.

Mọi người thắp hương, đặt hoa lên cúng rồi lần lượt đảnh lễ, cung kính với người xưa đã từng 3 lần đuổi quân Mông xâm lược, bang giao với Chiêm thành mở rộng phía nam đất nước, rồi lặn lội về Yên tử phổ biến Phật pháp.

Từ đỉnh núi,nhìn lên trời đất bao la,nhìn dưới rừng núi trùng trùng điệp điệp,mình có cảm thú say sưa khó tả.

Máy hình thi nhau chụp, để chứng minh kỷ niệm hãn hữu, vì có mấy ai muốn đi lại cuộc hành hương quá chật vật này.

Bây giờ chúng tôi xuống núi.

Cứ tưởng xuống núi thoải mái, đâu ngờ xuống núi còn khó hơn lên . Bước lên là bước tự động, bước xuống phải cẩn thận hơn, vì dễ trượt chân,dễ chóng mặt. Chân lại mỏi rồi, không khoan thai, dẻo dang nhẹ nhàng như khi lên núi. Ái chà, chuột rút, chuột rút, đau quá, buốt cả đùi, nguy quá, không biết có xuống nổi không. Tôi đi chậm lại, mấy người đi trước quay lại ngóng nhìn . Khi ngừng buốt lại lan đến chân, thôi thì cố đi, rồi nghỉ tại trạm, vả lại quá ngọ rồi đấy, bụng đã reo, nghe nói họ có phở có mì.

Tới trạm tôi mừng quá, vì chuột rút vẫn còn đau. Anh chàng chủ quán tươi cười mời mọc.

Mấy bà rủ nhau ăn mì ramen, mì chay đấy, cũng 5 ngàn một bát, chỉ có hành,mì và nước . Tôi thì khát quá, liều gọi một lon bia, bụng cũng lo lo chỉ sợ chóng mặt vì uống bia bụng rỗng.

Uống bia ở Việt Nam là một thú vui cần thiết cho tôi. Húp từng gụm bia vừa ngọt ngọt, vừa đăng đắng, mùi bia xông lên mũi, kích thích mấy tế bào cảm thọ trong mũi, gây sống lại những cảm giác khoái lạc, rồi nuốt qua cổ, mát rượi ở nơi ngực, là cả một hương vị khó tả. Phải uống bia Việt Nam,chứ không uống bia Âu châu, ngon nhất không phải là bia chai, bia lon, mà là bia hơi, rẻ nhất, bình dân nhất, mà là bia hơi Hà nội chứ không phải bia hơi Sài gòn. Uống bia ăn đồ nhậu như củ kiệu, tôm khô quả là sướng, nhưng sướng nhất vẫn là lúc hì hụp tô phở hay nhấm nháp mấy miếng thịt ba rọi chấm mắm tôm chua, hay nước mắm nhĩ gừng ớt.

Tôi ít khi uống bụng rỗng, may có vợ hiền tinh ý nhượng cho nửa bát mì chay. Ăn xong thấy khỏe khoắn, yêu đời thêm lên.

Chết chửa, đã gần giờ rưỡi rồi đó, phải đi ngay.

Thế là đứng giậy tiếp tục xuống núi, cùng vợ chồng K lấy cáp cheo về trạm.

Trưóc khi rời Yên Tử, chúng tôi thăm Thiền viện dưới chân núi. TV Trúc Lâm do Hòa thượng Thích Thanh Từ quyên tiền Phật Tử, trong nước cũng như ở hải ngoại, xây cất xong năm 2003. Đó là một công trình lớn lao làm thầy có thể hãnh diện, ai nấy đều công nhận thầy là hậu huệ của các tổ sư Trúc Lâm, và mong mỏi thầy làm sống lại Thiền học nơi cội rễ. Thiền viện trước có chánh điện, sau có thiền đường, chung quanh là vườn với rất nhiều chậu cảnh. Chánh điện rất rộng và cao, trang trí rất giản dị và thanh lịch, với một tượng lớn sơn son thiếp vàng, cao chừng 2 mét, bốn cột gỗ lớn treo 4 câu đối, một bàn lớn với hương hoa và chậu cảnh. Thiền đường, rộng,cao, và tĩnh mịch. Ở hậu viện có vài tháp thờ các tổ sư trên một mu đất.

Chúng tôi xụp lạy nơi chánh điện rồi lên xe đi thăm Côn Sơn.

Đức Bổn

Theo http://chimviet.free.fr/

Ngày tết nghĩ về "Ngũ thường" trong tâm thức Việt

Một mùa xuân lại về trên đất nước ta. Chào Xuân Ất Mùi 2015. Như vậy là bốn mươi cái tết đã đến kể từ sau khi đất nước thống nhất. Mùa xuân trời đất giao hòa, vạn vật tốt tươi, cây trái đâm chồi nẩy lộc, hoa tươi khoe sắc với đào hồng xứ Bắc và mai vàng phương Nam. Xuân về, lòng người hân hoan, tạm quên đi những lo toan thường ngày. Những chuyến xe xuôi ngược đưa khách bộ hành về quê sum họp cùng gia đình với bao cảm xúc. Không khí hối hả của thời khắc cuối năm đã làm cho đứa con xa xứ càng nôn nao mong chóng được chạy ùa về nhà, bên những người thân đang mong đợi để cùng tiễn đưa năm cũ đón mừng năm mới. Và rồi mong đợi cũng đã đến khi Chúa Xuân về chạm ngõ khắp nơi. Chuông đồng hồ đổ, báo Giao thừa. Mọi người trong gia đình quây quần cùng nhau bên mâm cỗ với những lời chúc tốt đẹp. Các cụ cao niên bên bàn trà nhắc chuyện tết xưa và đàm đạo về "ngũ thường" trong tâm thức Việt.  

1. Vài nét về "Ngũ thường" và tâm thức Việt

"Ngũ thường" là năm điều thường có, hằng có của con người. Đó là: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhân tức lòng thương người, thương muôn loài, lòng từ thiện. Nhân là căn bản của đạo làm người. Người có lòng nhân thì lúc nào cũng được an vui, hạnh phúc. Nghĩa là đạo nghĩa, là cách cư xử theo lẽ phải, đạo lý. Trong xử thế, nghĩa quan trọng nhất, giúp đưa con người đến đạo đức. Lễ tức lễ nghi, hiểu rộng ra là sự tôn trọng, hòa nhã trong giao tiếp với mọi người, là phép tắc tốt đẹp trong xử thế, thể hiện sự tôn nghiêm trật tự, hòa hợp trong suy nghĩ và hành động. Trí tức trí tuệ, chỉ khả năng nhận thức. Trí giúp hiểu biết rõ ràng và hành động tránh được sai lầm. Tín là sự tin tưởng, niềm tin, con người phải sống thật thà để mọi người tin mình. Tín rất quan trọng, thể hiện giá trị nhân phẩm của con người (uy tín). Trong lịch sử dân tộc, "Ngũ thường" hình thành từ thực tiễn cuộc sống, qua quá trình hoạt động, giao tiếp giữa người với người, trở thành những vấn đề thường thức trong ứng xử. Đến thời phong kiến, do ảnh hưởng của Nho giáo, "ngũ thường" được nâng lên thành 5 đức tính của bậc chính nhân quân tử. Ngày nay, những chuẩn mực đạo đức này mặc dù có thay đổi về nội hàm nhưng các giá trị của nó vẫn được xã hội trân trọng.

"Tâm thức, đôi khi được gọi tắt là tâm, là từ chỉ chung cho các khía cạnh của trí tuệ (intellect) và ý thức (consciousness), thể hiện trong các kết hợp của tư duy, tri giác, trí nhớ, cảm xúc, ý muốn và trí tưởng tượng; tâm thức là dòng ý thức. Nó bao gồm tất cả các quá trình có ý thức của bộ não. Đôi khi, trong một số ngữ cảnh, nghĩa của từ tâm thức còn bao hàm hoạt động của tiềm thức con người." [1] Ở góc độ là những hoạt động của tiềm thức con người, tâm thức Việt trong bài viết này chỉ những hồi tưởng qua các bài học văn hóa ở Quốc văn giáo khoa thư, được nhiều thế hệ thuộc nằm lòng như nhà thơ Giang Nam đã tự sự trong bài Quê hương: "Thưở còn thơ ngày hai buổi đến trường. Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ...". Trang sách nhỏ mà tác giả nói đến là cuốn Quốc văn giáo khoa thư. Tâm thức Việt còn là những ký ức về gương sáng của các anh hùng dân tộc, anh hùng mở cõi, danh nhân văn hóa, tôi thần trung liệt được ghi chép trong các quyển Quốc sử: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam liệt truyện, Việt Nam sử lược,...Hoài niệm về các bài học ở sách Quốc văn và những gương sáng trên trang Quốc sử sẽ là bài học đối nhân xử thế cho mỗi con người trong cuộc sống. Bởi lẽ, "Nhân là người và thế là đời. Mỗi cuộc đời là một trường hợp cụ thể của trạng thái xã hội. "Đối nhân xử thế" không chỉ là nghĩa vụ của mỗi người đối với cộng đồng mà còn là nghĩa vụ đáp lại của cộng đồng hoặc của tập thể đối với mỗi con người." [2] Những nghĩa vụ đó chỉ được hoàn thành khi các giá trị đạo đức "ngũ thường" được gìn giữ và lưu truyền trong tâm thức của các thế hệ người Việt Nam.    

2. Ngày tết nghĩ về "Ngũ thường" trong tâm thức Việt

"Ngũ thường" là một phạm trù văn hóa, trong đó nhân, nghĩa, lễ, trí, tín không hề tách rời từng nội dung, trái lại luôn gắn bó với nhau, bổ sung cho nhau, không chỉ thể hiện những quy chuẩn đạo đức của con người, của xã hội mà còn phản ánh những sự kiện, hiện tượng của lịch sử. Qua lăng kính "ngũ thường", giúp hiểu lịch sử chân thật và sinh động hơn. Vì thế, văn hóa Việt và lịch sử dân tộc không bao giờ tách rời mà luôn hòa quyện với nhau trong một thể thống nhất, hình thành cốt cách và nét đẹp tâm hồn của người Việt.

Trong những ngày tết cổ truyền dân tộc, "Ngũ thường" được biểu hiện qua nhiều ứng xử. Trước hết về "Nhân", đó là ước muốn đầu năm mọi người đều được cơm no áo ấm. Vì thế, các gia đình có điều kiện thường hay cúng dường cho chùa, phát chẩn cho người nghèo vào những ngày giáp tết 29, 30 tháng Chạp. Một điểm đặc sắc là không chỉ lo cho người đang sống, lòng nhân của người Việt còn thể hiện qua cúng gạo muối cho những người đã khuất trong mâm cỗ Giao thừa. Như vậy, "nhân" của người Việt không có giới hạn, mà nói như ngôn ngữ nhà Phật là mang tính Quảng đại.

"Nghĩa" được thể hiện qua mừng tuổi và cúng cơm ngày đầu năm. Đây là những tập tục mang tính đạo nghĩa lâu đời của người Việt. Sáng mồng Một tết, con cháu chúc thọ các cụ cao niên trong gia đình với những câu có nội dung chúc sống lâu, khỏe mạnh. Đáp lại, các cụ chúc con cháu thành đạt trong công việc, học hành, gia đình hạnh phúc, tài lộc tăng tiến. Ông bà thường chuẩn bị sẵn các phong bao đỏ trong có ít tiền lì xì mong con cháu suốt năm được nhiều may mắn, "tiền vô như nước". Ở mâm cơm ngày tết, con cháu     

Con cháu mừng tuổi ông bà. Ông bà lì xì cho con cháu dâng cúng ông bà tổ tiên những thức ngon để bày tỏ sự tưởng nhớ công ơn của các bậc tiền nhân. Khi lễ tất, gia chủ cung thỉnh các vị cao niên trong gia đình, tộc họ ngồi vào nơi trang trọng để dùng bửa cơm đầu năm cùng con cháu với niềm vui sum họp và hy vọng suốt năm luôn được sung túc, đoàn viên.

Mâm cơm ngày tết

"Lễ" được thể hiện ở việc nhắc nhở cháu con công ơn của ông bà, cha mẹ, tình nghĩa họ hàng. Vì thế, ngày tết các gia đình tựu họp tại nhà thờ họ, phủ thờ tộc họ dâng lễ các bậc tiền hiền, đi tết trong họ với một ít lễ vật mừng năm mới và những câu thăm hỏi về công ăn việc làm, chuyện học hành, công tác để bày tỏ tình thân ái và nghĩa gia tộc. Trong những lời thăm hỏi, thường kẻ dưới phải khiêm cung đối với bậc trưởng thượng. Anh em, thân tộc luôn hòa nhã, quan tâm nhau. Ông bà, cha mẹ luôn yêu thương bảo ban con cháu điều hay lẽ phải, gương sáng chuyện tốt để mong hậu nhân noi theo. Bởi lẽ, trong tâm thức người Việt luôn tin rằng những ngày đầu năm là những ngày rất thiêng, nói điều tốt đẹp, mong cầu hạnh phước thì cả năm sẽ được như ý. Điều đó chứng tỏ tư duy hướng thiện, một nét đẹp ở cốt cách của dân tộc.

"Trí" biểu hiện ở sự nhận thức một cách đúng đắn, rõ ràng điều hay lẽ phải. Cũng như mọi đức khác, muốn rèn "trí"con người phải học để nâng cao hiểu biết và trong việc học thì "tiên học lễ, học học văn", trước hết phải học đạo nghĩa sau mới đến văn hóa, kiến thức khoa học. Qua đó cho thấy người Việt rất coi trọng văn hóa lễ nghĩa. Bởi thế, ngày tết các cụ thường chúc cháu con thông minh đỉnh ngộ, học hành sáng suốt, thi đâu đậu đó  kèm lời dặn dò: "Nhân bất học, bất tri lý" tức người không học sẽ không hiểu biết về đạo lý, trở thành kẻ ngu dốt. Sự học không có giới hạn, phải quyết tâm và thực hiện suốt đời.

"Tín" là đức thứ năm của "Ngũ thường", được xây dựng bằng những việc làm, ứng xử chân thật, tạo nên giá trị cá nhân và niềm tin cho mọi người. Trong dân gian, những câu "nhất ngôn cửu đỉnh" hay "nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy" để chỉ những người biết giữ chữ "tín". Ngày tết, "tín" trong văn hóa dân tộc được người Việt thể hiện độc đáo qua đĩa trầu cau trên bàn thờ gia tiên, bởi lẽ đó không chỉ nói lên sự thủy chung mà còn là sự trân quý đức "tín" trong tình anh em, nghĩa vợ chồng.

Như vậy, qua những hoạt động trên cho thấy, "Ngũ thường" trong tết Việt hàm chứa nhiều giá trị về đạo lý, có nguồn gốc từ thực tiễn cuộc sống. Hiểu "ngũ thường" qua ứng xử ngày tết dân tộc là góp phần khám phá các giá trị văn hóa Việt, giúp nền tảng đạo đức được duy trì, nét đẹp phong tục được gìn giữ, truyền thống của dân tộc được tồn lưu.

Cùng với các ứng xử ở ngày tết, những mẫu chuyện về "Ngũ thường" luôn được các bậc cao niên lưu giữ trong tâm thức và nhắc nhở cháu con qua nhiều bài học trong Quốc văn giáo khoa thư.

Về "nhân", đó là chuyện Không nên hành hạ loài vật, kể về một con bò kéo cái xe chở nặng hàng hóa đang lên dốc, nó cố sức mãi nhưng xe vẫn không xê dịch được chút nào. Người phu xe vội nhảy xuống, vỗ về con bò, mồm thì nói năng dịu dàng như động viên, tay thì bắt bánh cố đẩy cho xe đi. Một lát, xe lên khỏi dốc, người phu để cho bò đứng nghỉ và lại đến bên cạnh vuốt ve, ra dáng thương yêu lắm. Câu chuyện cho lời khuyên về lòng nhân ái: "Loài vật không phải là vô tri vô giác, mà lại giúp ta được công kia việc nọ, ta nên trông nom, săn sóc, chớ có hành hạ đánh đập nó."[3] Chuyện Tôi tớ trong nhà nói về anh Mậu đang quát mắng đầy tớ, người cha thấy vậy mới bảo rằng: "Kẻ đầy tớ ở với ta, giúp ta được bao nhiêu công việc: nào quét nhà, gánh nước, nào chẻ củi, nấu cơm, làm đủ mọi việc, thật là vất vả khó nhọc. Ví không có đầy tớ, liệu con có làm lấy được không? Vậy đối với đầy tớ, ta phải nên ăn ở cho có lượng, đừng có hơi một tí đã quát tháo lên như thế"[4] Bài học ở câu chuyện là: Phải khoan hòa, nhân ái, công bằng với người giúp việc. 

"Nghĩa" được lưu giữ qua những chuyện xưa tích cũ như Không tham của người kể về ông Nguyễn Đình Thản ở huyện Châu Lộc, tỉnh Nghệ An, ông mua một ngôi nhà cũ, định sửa sang lại để ở. Khi đào viên đá tảng ở ngôi nhà cũ, người cháu thấy dưới có hai hũ đựng mười lạng bạc, đem chuyện trình với ông. Ông nói: "Đây là của người chủ cũ, không phải của ta, chớ nên lấy. Nếu lấy là lấy của phi nghĩa. Ta nên để trả người ta".[5] Chuyện Không vì tiền mà làm điều phi nghĩa kể về ông Mã Duy Hàn, thuở còn hàn vi, trọ học ở một nhà giàu. Nhà này có thù với một nhà khác, định bày mưu vu tội cho người ta nên đem một trăm nén vàng bảo ông đứng ra làm việc ấy. Ông không chịu và bảo rằng: "Xưa nay tôi học những gì, mà bây giờ tôi lại tham của hại người như thế?". Nói đoạn, ông nghĩ bụng rằng: nhà này cậy có tiền của, toan làm những điều gian ác, không phải là nhà ta ở được, bèn dọn đi tìm nhà khác ở".[6]

Ở góc độ phép tắc trong xử thế, người Việt lấy "Lễ" đãi nhau được ghi nhận qua nhiều mẫu chuyện: Thờ phụng tổ tiên kể ngày tết Nguyên đán, ông Lý đưa các con đến nhà thờ họ để tế lễ. Khi đến nơi, ông giảng giải cho các con: "Đây là nhà thờ của họ ta, để thờ cúng tổ tiên, vậy nay nhân ngày mồng một tết, chúng ta là cháu chắt, phải đến lễ để tỏ lòng kính nhớ."[7] Chuyện Phải biết ơn thầy dạy: "Tục ta thuở trước, cứ mồng năm ngày tết là học trò phải đến tết thầy. Không những khi còn đang học, mà khi đã thôi học rồi, có khi đã làm nên danh phận, cũng vẫn phải giữ lệ ấy[8]. Học trò trọng thầy như cha vậy. Khi thầy mất thì học trò phải tống táng, phải trông nom phần mộ, và đến ngày giỗ thì phải cúng tế. Ấy cái tục của ta ngày xưa trọng thầy như vây."[9] Chuyện Kính trọng người già cả kể về một nhóm học trò ngồi xúm xít ở hàng nước, đang cười nói. Một ông cụ lưng còng, tóc bạc muốn vào hàng nước ngồi nghỉ, nhưng không còn ghế. Tức thì cậu học trò ít tuổi nhất thấy thế vội đứng lên nhường chỗ cho cụ. Bài học về "lễ" được thể hiện qua câu nói của ông cụ: "Các cậu là học trò tràng nào, mà khéo học được những điều lễ phép như thế! Lão đây thật lấy làm quý hóa cái nết của các cậu"[10]

Để nhắc nhở cháu con những tấm gương hiếu học, ngày tết các cụ thường đọc lại bài học về "trí" Làm người phải học: "Ngọc kia chẳng giũa, chẳng mài, Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi. Con người ta cũng khác gì, Học hành quí giá, ngu si hư đời. Những anh mít đặc thôi thời, Còn ai mua chuộc, đón mời làm chi."[11] Có học sẽ ý thức việc giữ gìn phẩm hạnh như chuyện Có học phải có hạnh, kể về ông Sài Thế Viễn, thuở nhỏ đi học thường chăm chú rèn luyện tâm tính. Thấy vậy có người nói, đi học cốt để thi đỗ làm quan, chớ tâm tính tưởng không cần gì cho lắm. Ông đáp: "Học hành ai cũng muốn cầu cho giỏi, nhưng học giỏi mà lại giữ được phẩm hạnh thì mới thật là đáng quí. Chớ học mà không có hạnh cũng chẳng làm gì. Phẩm hạnh tức là danh giá của con người ở đời vậy."[12] 

Chuyện một người thợ đá có lương tâm nói về Sái Kinh, một kẻ gian nịnh nhưng có quyền thế, thấy Tư Mã Quang và các sử thần là những người trung thực, đem lòng ghen ghét, sai người thợ là An Dân khắc tên những người ấy vào bia đá với nội dung nói xấu, rồi cho đặt ở các nơi. Người thợ đá không chịu và nói rằng: "Chúng tôi ngu dốt, không hiểu ý làm sao, nhưng cứ như bọn ông Tư Mã Quang thì ai cũng khen là chính trực, mà sao bảo là gian tà, tôi không nỡ khắc". Quan phủ giận, toan bắt tội. An Dân khóc mà nói rằng: "Bắt làm thì tôi xin làm, nhưng xin tha cho, đừng bắt khắc tên người thợ đá ở dưới bia." Quan phủ nghe câu ấy, cũng thẹn mặt với người thợ đá. Câu chuyện để lại bài học "Người ta ở đời phải ăn ở cho trung hậu thành thực, dẫu được giàu sang mà làm điều trái đạo, thì thế nào cũng không làm, mà làm điều ngay lành, thì dẫu có cực khổ, cũng cố làm cho được."[13]. Đó là bài học về "tín" vẫn còn in đậm trong lòng mỗi người

Như vây, "nhân" biểu hiện từ lòng yêu thương loài vật đến những người giúp việc trong gia đình, chứng tỏ nội hàm của nó rất rộng lớn và phong phú. Không tham của người vì "vật phi nghĩa bất thủ", không ở nhà người ác vì "người phi nhân bất giao" là những biểu hiện về đạo "nghĩa". Nhắc nhở cháu con về công đức ông bà tổ tiên, công ơn thầy cô, biết giúp đỡ kính trọng người lớn tuổi là những bài học đầy tính nhân văn về "lễ". Phải chăm chỉ học hành và giữ phẩm hạnh là điều hằng tâm về "trí". Trung hậu trong cuộc sống, biết lấy điều thật thà làm đầu là bài học về "tín". Các bài học về "ngũ thường" nêu trên vẫn còn bàng bạc trong tâm thức mỗi người Việt từ thuở ê a các trang sách Quốc văn giáo khoa thư ở buổi đầu cắp sách đến trường.

Cùng với các phong tục ngày tết và bài học ở giáo khoa thư, "Ngũ thường" còn được ghi chép trong những trang sử Việt.

Gương sáng về đức "nhân" có rất nhiều, nhưng nổi bật hơn cả là ở Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và Bình Định vương Lê Lợi. Trong tác phẩm Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, Giáo sư Lê Thành Khôi đã đưa ra một sự kiện nhằm minh chứng cho tấm lòng yêu thương tướng sĩ của Trần Quốc công tiết chế: Năm 1285, giặc Nguyên sang xâm lược nước ta lần thứ hai, để khơi dậy tinh thần yêu nước của tướng sĩ, Hưng Đạo vương đã  soạn bài Hịch tướng sĩ  với lời lẽ thắm thiết đầy lòng nhân ái:

Sách Quốc văn giáo khoa thư       Sách Đại Việt sử ký toàn thư

"Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta thăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười..."[14] Ngoài ý nghĩa đề cập tình đoàn kết quan quân, lời hịch còn cho thấy, vị Quốc công tiết chế đứng đầu quân đội lúc bấy giờ mà chăm lo cho tướng sĩ như thế, nếu không phải là người có lòng nhân ái sâu sắc thì không thể nào viết được một áng văn bất hủ như vậy. Đồng thời đây cũng là một độc đáo trong lịch sử quân sự nước ta, bởi lẽ Hưng Đạo vương là người đầu tiên đã gửi tâm thư cho quan binh. Điều này ông luôn tâm niệm cho đến cuối đời và nhắc nhở cho vua Trần khi được hỏi về kế giữ nước "... có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy."[15]

Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi (1427), tướng giặc Vương Thông gửi thư xin hàng, bấy giờ các tướng sĩ và nhân dân ta rất căm thù giặc Minh, kéo nhau đến khuyên Bình Định vương giết chúng. Vương dụ rằng: "Trả thù báo oán là thường tình của mọi người, nhưng không thích giết người là bản tâm của bậc nhân đức. Và lại, người ta đã hàng mà mình lại giết thì là điềm xấu không gì lớn bằng. Nếu cốt để hả nổi căm giận trong chốc lát mà mang tiếng với muôn đời là giết kẻ đã hàng, thì chi bằng tha mạng sống cho ức vạn người, để dập tắt mối chiến tranh cho đời sau, sử xanh ghi chép tiếng thơm muôn đời, há chẳng lớn lao sao?"[16] Sau đó, cấp cho 500 chiếc thuyền và 2 vạn ngựa cùng lương thực cho hàng quân Minh về nước. Những việc trên đã được Nguyễn Trãi đúc kết qua Bình Ngô đại cáo: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo". Truyền thống văn hóa Việt, vốn yêu chuộng hòa bình không thích chiến tranh, nhưng khi bắt buộc phải đánh giặc/trừ bạo thì điều chủ yếu là để bảo vệ chủ quyền quốc gia, cho muôn dân yên ổn sinh sống/an dân. Trong và sau chiến tranh, nhân nghĩa là vấn đề hàng đầu không chỉ trong đối sách ngoại giao mà còn là nét chủ đạo trong văn hóa Việt.

Cùng với "nhân", Quốc sử còn ghi nhận nhiều gương trung nghĩa. Các sử thần triều Lê đã chép trong Toàn thư: Ất Dậu [Thiệu Bảo] năm thứ 7 [1285], Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng đánh nhau với giặc ở bãi Đà Mạc, khi bị giặc bắt, "Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: "Có muốn làm vương đất Bắc không?" Vương thét to: "Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc", rồi bị giết."[17]

Trong Khởi nghĩa Lam Sơn, năm Kỷ Hợi (1419), giặc Minh vây ngặt ở vùng núi Chí Linh, chúng quyết bắt cho được thủ lĩnh nghĩa quân để dập tắt cuộc khởi nghĩa. Tình thế đó chỉ có một lối thoát là phải có người giả làm Lê Lợi, chấp nhận hy sinh. Bình Định vương "mới hỏi các tướng rằng: có ai làm được như người Kỷ Tín ngày trước chịu chết thay cho vua Hán Cao không? Bấy giờ có ông Lê Lai liều mình vì nước, xin mặc thay áo ngự bào cưỡi voi ra trận đánh nhau với giặc. Quân nhà Minh tưởng là Bình Định vương thật, xúm nhau lại vây đánh, bắt được giết đi rồi rút quân về Tây Đô."[18] Nhờ đó, Lê Lợi rút về Lư Sơn, Lỗi Giang khôi phục lực lượng, tổ chức kháng chiến thắng lợi.

Tấm lòng tiết liệt của Trần Bình Trọng "thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc", gương đại nghĩa  "Lê Lai cứu chúa" là những biểu hiện sáng ngời về đức "nghĩa" trong lịch sử dân tộc.

Không chỉ có "nhân" và "nghĩa", Quốc sử còn tôn vinh nhiều danh nhân tiêu biểu cho đức "lễ", "trí" và "tín". Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được biết đến như một anh hùng dân tộc và ở ông còn chói ngời nhân cách một bề tôi luôn thủ lễ và trung tín đối với vua. Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: Năm 1294, khi Thượng tướng thái sư Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải mất, sử quan có nhắc lại chuyện cũ: "Trước kia, Thánh Tông thân đi đánh giặc, Quang Khải theo hầu, ghế tể tướng bỏ không, vừa lúc sứ phương Bắc đến. Thái Tông gọi Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn tới bảo:

"Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm định lấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc".

Quốc Tuấn trả lời:

"Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Quang Khải theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Quang Khải. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn".[19]

Về vấn đề này, Toàn thư cũng chép một chuyện khác: "Một hôm Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp tới, Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Lại Quang Khải vốn sợ tắm gội, Quốc Tuấn thì thích tắm nước thơm, từng đùa bảo Quang Khải:

"Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm", rồi cởi áo Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói:

"Hôm nay được tắm cho Thượng tướng".

Quang Khải cũng nói: "Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho".

Từ đó, tình nghĩa qua lại giữa hai người càng thêm mặn mà. Bản thân làm tướng văn, tướng võ, giúp rập nhà vua, hai ông đứng hàng đầu."[20]  Biết khéo léo chối từ chức tước để giữ trọn "tình nghĩa trên dưới", chủ động mời Trần Quang Khải tắm để xóa đi hiềm khích giữa hai gia đình đã tiêu biểu cho đức "lễ" cao cả của vị Quốc công tiết chế thời nhà Trần.

Về gương "trí dũng" trong sử Việt không thể không kể đến anh hùng dân tộc Quang Trung và "anh hùng mở cõi"[21] Nguyễn Hoàng. Ở Nguyễn Huệ - Quang Trung, "trí" được thể hiện qua qua hai sự kiện: Thứ nhất, đánh thắng quân Xiêm năm 1785. Lịch sử cho biết "... chỉ trong vòng một ngày với cuộc đại thắng ở Rạch Gầm - Xoài Mút tiêu diệt gần như trọn vẹn lực lượng của Xiêm và Nguyễn Ánh. Huệ không tấn công thẳng vào tổng hành dinh của địch đặt tại Sa Đéc, được tập trung làm thành một vị trí vững chắc. Bởi vậy, cần phải kéo địch ra ngoài, trên một trận địa do chính Huệ lựa chọn."[22] Thứ hai, năm 1789 giặc Thanh sang xâm lược, sau khi lên ngôi Hoàng đế, Quang Trung trực tiếp chỉ huy tiến quân ra Bắc. Tài trí của ngài được thể hiện qua sự tự tin cao độ khi trả lời Ngô Văn Sở: "Ta đã tính sãn rồi. Chẳng qua mười ngày có thể đuổi được người Thanh. Nhưng nghĩ nó là nước lớn, gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà cố báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, thật không phải phúc cho dân. Lòng ta không nỡ làm vậy. Tới lúc đó, chỉ có một cách nói cho thật khéo, thì mới ngăn được ngòi chiến tranh. Việc ấy phi Ngô Thì Nhậm không ai làm nổi. Đợi mười năm nữa, ta đủ thời gian gây nuôi, nước giàu quân mạnh, thì ta có sợ gì nó."[23] Và để tăng thêm niềm tin cho tướng sĩ, ngài đã quả quyết: "Nay hãy ăn tết Nguyên Đán trước, đợi sang xuân ngày mồng 7, vào thành Thăng Long lại mở yến tiệc, bọn các ngươi nhớ lấy lời nói của ta xem là nói dối hay là nói đúng."[24] Biết chủ động đưa địch vào trận địa do mình lựa chọn, tự tin trong kế hoạch hành binh và tiên đoán chính xác thời gian chiến thắng như thiên tài quân sự Nguyễn Huệ-Quang Trung chỉ có được ở những bậc trí dũng hơn người.

Ở Nguyễn Hoàng, việc chọn vào Thuận Hóa trấn nhậm để thoát khỏi âm mưu thủ tiêu của Trịnh Kiểm, dùng mỹ nhân kế để trừ Lập Bạo, giúp dẹp dư đảng họ Mạc để tránh sự nghi ngờ của chúa Trịnh, mượn cớ dẹp loạn Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Khuê để thoát khỏi sự kềm tỏa của chúa Trịnh Tùng, di huấn cho cận thần và con cháu những vấn đề mang tính quốc sách, hết lòng lo cho dân và biết thu phục hào kiệt, lo phát triển kinh tế - văn hóa, mở mang bờ cõi là những phẩm chất kiệt xuất của một bậc đại trí, của vị "anh hùng mở cõi".[25]

Việt sử cũng ghi chép nhiều gương sáng về "tín". Năm 1284, khi giặc Nguyên sang xâm lược nước ta lần thứ hai, Hưng Đạo vương lệnh cho các tướng đến hội quân ở Vạn Kiếp để chuẩn bị chống giặc. Lúc bấy giờ, Yết Kiêu được giao nhiệm vụ giữ thuyền ở Bãi Tân, thuộc sông Lục Nam. Khi quân Nguyên đến, thế giặc rất mạnh, quân ta thua trận, thủy quân tan cả. Lúc ấy, vương định bỏ đường thủy, rút theo lối chân núi mà quên đi bộ tướng của mình vẫn đang kiên cường quyết giữ trận địa theo quân lệnh. Biết được điều đó, Dã Tượng đã nói với chủ tướng:

"Yết Kiêu chưa thấy Đại vương thì nhất định không dời thuyền".

Vương đến Bãi Tân, chỉ có thuyền Yết Kiêu vẫn còn ở đó. Vương mừng lắm, nói:

"Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi"[26]. Trong chiến tranh, "quân lệnh như sơn" nhưng chấp hành mệnh lệnh như Yết Kiêu thực đáng khen ngợi. Sẽ không quá nếu nói rằng chiến công của anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn sẽ không lưu danh hậu thế nếu thiếu các tùy tướng trung tín như Yết Kiêu, Dã Tượng.

Năm 1285, khi quân Nguyên truy đuổi, vua Trần Nhân Tông và Thái Thượng hoàng Thánh Tông được hộ giá đến sông Ba Chẽ (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh). Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Lúc ấy, xa giá nhà vua phiêu dạt, mà Quốc Tuấn vốn có kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của Yên Sinh Vương, nên nhiều người nghi ngại. Quốc Tuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậy không mà đi,..."[27]. Việc này, Ngô Sĩ Liên luận như sau: "Bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm, tất phải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử, như hào cửu tứ của quẻ Tùy thì mới có thể giữ tròn danh dự, làm nên sự nghiệp. Nếu không thế thì nhất định sẽ mang họa. Quách Tử Nghi nhà Đường, Trần Quốc Tuấn nhà Trần đã làm được như thế."[28] 

Bình Định vương Lê Lợi đuổi được giặc Minh, giành lại nền độc lập cho đất nước, tiếp tục phát triển nền văn minh Đại Việt bởi đã tin dùng các tôi thần trung tín như Lê Lai, Nguyễn Trãi. Nếu Lê Lai tiêu biểu cho đại nghĩa liều thân cứu chúa thì Ức Trai sáng ngời nhân cách của bậc đại "tín". Nhiệm vụ nặng nề Lê Lợi giao cho ông là phải dùng ngòi bút phân điều chính nghĩa để kẻ thù hiểu được cuộc chiến tranh chúng đang tiến hành ở Đại Việt là phi nghĩa, từ đó nên xin hòa và rút quân về nước. Nguyễn Trãi đã thể hiện đầy đủ đức "tín" kể từ việc ông nghe lời cha tìm về Lam Sơn với Lê Lợi dâng Bình Ngô sách và trải qua bao gian khổ cùng chủ tướng. Chính bằng chữ "tín", qua những lá thư của ông đã buộc các tướng giặc phải xin hàng, rút quân về nước, góp phần tạo nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa. Được như thế là do công lao của toàn dân tộc nhưng không thể không kể đến sự hoàn toàn tín nhiệm của Lê Lợi đối với Nguyễn Trãi và sự toàn tâm toàn ý của Nguyễn Trãi đối với nhiệm vụ được giao. "Được tín" và "trọng tín"là những bài học sinh động về niềm tin trong văn hóa Việt.

3. Thay lời kết:

"Ngũ thường" là những chuẩn mực đạo đức xã hội ở các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam, được đúc kết từ những giá trị của cuộc sống. Thời phong kiến, trở thành hệ tư tưởng chính trị - đạo đức Nho giáo, được tầng lớp sĩ phu xem là những phẩm chất của người "quân tử", được đưa vào kinh sử cho sĩ tử trao dồi trong khoa cử. Chính những sĩ tử thấm nhuần tư tưởng "ngũ thường" sau khi đỗ đạt trở thành đấng "phụ mẫu chi dân", đã đem các giá trị đạo đức này làm công cụ chăn dân trị nước, giáo huấn trong xã hội, lâu dần trở thành những điều thường có, hằng có mà tất cả mọi người đều phải tôn trọng, rèn thân luyện tính để đạt được.

"Ngũ thường" xuất phát từ đâu? Đa phần đều cho rằng do Khổng Tử soạn ra và những quy định trên được nhiều triều đại phong kiến Trung Hoa - cũng như những nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa - nối tiếp nhau tôn trọng và áp dụng, để duy trì sự tồn tại, thịnh vượng của các thể chế đó.[29] Tuy nhiên, bất cứ một triết thuyết nào cũng bắt nguồn từ thực tiễn. Cuộc sống vốn phong phú, đa dạng và không ngừng phát triển. Từ đó, nhiều vấn đề nảy sinh, được con người đúc kết thành những giá trị nhân sinh mà "ngũ thường" là một trong số đó. Tộc Bách Việt (trong đó có cư dân Lạc Việt của nước Văn Lang) cư trú trên địa bàn tương ứng với vùng Bắc bộ, Bắc Trung bộ nước ta và phần phía Nam Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc.[30] Qua quá trình sinh sống, họ đã tạo nên nền văn hóa bản địa vững chắc, kết tinh bản lĩnh truyền thống dân tộc. Tiêu biểu, cư dân thời Hùng Vương và An Dương Vương là chủ nhân nền văn hóa Lạc Việt, tiền thân của văn minh Văn Lang - Âu Lạc, đã sáng tạo nên nhiều giá trị tinh thần từ rất sớm. Các nghiên cứu khoa học gần đây đã minh chứng điều này. Nhóm tác giả Huyền thoại lập quốc của các nước Đông Á sau khi chỉ rõ địa giới nhà nước Văn Lang (như trên đã nêu) đã khẳng định nơi đây là "...lãnh địa của các tộc người Bách Việt, khác với các tộc người ở phương Bắc (trong đó có người Hán sau này). Nơi đây khí hậu ấm áp, sản vật phong phú, dân sống định cư, chuyên trồng lúa nước. Từ đó, văn hóa phương Nam cũng khác với văn hóa du canh du cư của các tộc người phương Bắc (về sau, người Hán tràn xuống, xâm chiếm vùng đất phía Nam khiến cộng đồng Bách Việt phải ly tán)."[31] Trong thời kỳ bị ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc, để chống lại âm mưu đồng hóa, những giá trị văn hóa tinh thần của người Việt được bảo tồn bằng nhiều phương thức khác nhau mới có thể giữ gìn và lưu truyền. Trong đó tôn giáo, văn tự, triết học, văn hóa được chuyển tải qua những câu chuyện và "vì hoàn cảnh lịch sử, câu chuyện ấy đã được kể lại hoặc là mơ hồ hoặc là dưới tên của dân tộc khác. Tuy nhiên Tổ Tiên người Việt đã khéo léo cất dấu cái văn hóa huyền vĩ của mình dưới những cách thức khác nhau của ngôn ngữ dân tộc mình."[32]. Để rồi dưới ánh sáng khoa học ngày nay, các giá trị văn hóa đó đã được giải mã mà chủ nhân chính là người Việt. Có thể kiểm chứng bằng nhiều cứ liệu: Đạo Phật từ Ấn Độ truyền sang các nước trên thế giới, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam. Năm 1973, với tác phẩm Việt Nam Phật giáo sử luận, Giáo sư Nguyễn Lang (tức Thiền sư Thích Nhất Hạnh) đã chứng minh rằng trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Việt Nam) thành lập sớm hơn các trung tâm Lạc Dương và Bành Thành (Trung Quốc). Bởi vì: "Trung tâm Phật Giáo Luy Lâu được thiết lập do sự viếng thăm của thương gia và tăng sĩ Ấn Độ tới bằng đường biển, đó là một điều tất cả các học giả đều phải đồng ý. Phật Giáo tại Giao Châu do Ấn Độ truyền sang trực tiếp, không phải từ Trung Hoa truyền xuống."[33] Như vậy, quan niệm đạo Phật ở Việt Nam ra đời sau và do từ Trung Hoa truyền sang là chưa chính xác. Tác phẩm Huyền thoại lập quốc của các nước Đông Á, cho thấy những ghi chép trong sử cũ cần xem lại: "Chi tiết Lạc Long Quân dạy dân cày cấy, làm ruộng, trồng dâu trong Truyện Họ Hồng Bàng, Tiết Liêu dùng gạo nếp làm bánh trong Truyện bánh chưng bánh dày, Thánh Gióng sử dụng ngựa sắt, roi sắt để đánh giặc Ân trong Truyện Đổng Thiên Vương cho thấy từ hơn hai ngàn năm trước công nguyên người Việt đã biết đúc kim loại để làm công cụ lao động (nông nghiệp) và vũ khí chống giặc. Việc Lạc Long Quân dạy dân cày cấy cũng bác bỏ truyền thuyết về quan thái thú quận Cửu Chân là Nhâm Diên dạy dân khai khẩn ruộng đất để có thóc gạo mà ăn. Việc Lạc Long Quân dạy dân về thứ bậc vua tôi, đạo cha con, vợ chồng cũng bác bỏ truyền thuyết quan thái thú quận Giao Chỉ là Tích Quang dạy dân biết điều lễ nghĩa."[34] Mới đây, tác giả Viên Như đã công bố chủ nhân của Kinh Dịch và chữ Vuông là người Lạc Việt.[35] Những luận chứng khoa học nêu trên đã cho thấy sự ngộ nhận về một số vấn đề văn tự, tôn giáo, triết học, văn hóa ở nước ta có xuất xứ từ Trung Quốc là chưa chính xác. Thật ra các giá trị văn hóa đó do người Việt đã tạo nên từ trong cuộc sống. Sự tiếp giáp cương thổ, tương đồng văn hóa, liên quan chính trị có thể sẽ dẫn đến việc ảnh hưởng lẫn nhau về đời sống tinh thần nhưng cũng không hẳn là hoàn toàn. Vì vậy, những vấn đề nêu trên không phải để phủ nhận các giá trị văn hóa Trung Hoa mà nhằm đề xuất một hướng tiếp cận mới: Từ thực tiễn cuộc sống, người Việt đã đúc kết nên những chuẩn mực đạo đức của riêng mình, trong đó có "ngũ thường" theo cách ứng xử văn hóa Việt. Các giá trị nhân, nghĩa, lễ, trí, tín được minh chứng qua các ghi chép ở Quốc sử và những bài học trong tâm thức Việt.

Việt Nam từ xưa đã từng mệnh danh là "Văn hiến chi bang", nghĩa là "nước của lễ giáo nhân văn hiển lộ". Nước có văn hiến thì không thể không xem trọng "Ngũ thường". Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của người Việt không khu cứng trong từng nội dung mà luôn giao hòa với nhau. Trong nhân có nghĩa, trong nghĩa chứa lễ, trong lễ gắn với trí, trong trí được đan xen với tín và ngược lại. Các đức này luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, hình thành nên cốt cách và tâm hồn Việt. Cho nên mâm cơm cúng gia tiên ngày tết vừa thể hiện đạo làm người (nhân), mà cũng là cách ứng xử hợp đạo lý (nghĩa), là phép tắc tốt đẹp trong xử thế, thể hiện sự tôn trọng lễ nghi của người Việt (lễ), người có học phải hiểu để tiếp tục lưu truyền cho hậu thế (trí) và qua đó tạo dựng những giá trị văn hóa dân tộc bằng niềm tin (tín), hướng đến chân, thiện, mỹ trong mỗi con người, trong mỗi gia đình và rộng lớn hơn là trong toàn xã hội. Như vậy, chỉ một sự việc đã bao hàm năm nội dung của "ngũ thường". Những chuẩn mực đạo đức này được thể hiện qua nhiều ứng xử giao tiếp thường ngày và nhất là ở thời điểm thiêng liêng trong tâm thức Việt - ngày tết. Đồng thời, chính vì các giá trị đạo đức như trên nên "ngũ thường" đã được các sử gia lưu danh những anh hùng, tướng sĩ, danh thần trong sử Việt và các nhà soạn sách giáo khoa buổi đầu chữ Quốc ngữ đưa vào bài học ở Quốc văn giáo khoa thư.

Cuộc sống là sự nối tiếp quá khứ với hiện tại và mang tính kế thừa, do đó hiện nay mặc dù xã hội có nhiều thay đổi, cuộc sống buộc con người phải năng động hơn để thích ứng với hoàn cảnh, tuy nhiên sẽ là thảm họa, ít nhất về mặt đạo đức, nếu các giá trị của "ngũ thường" không được con người của xã hội hiện đại trân trọng và tiếp nối. Bởi lẽ, người không có nhân sẽ thành kẻ độc ác, người không có nghĩa sẽ thành kẻ bội bạc, người không có lễ sẽ thành kẻ vô phép, người không có trí sẽ thành kẻ ngu dốt và người không có tín sẽ thành kẻ giả dối. Làm người không ai muốn trở thành kẻ độc ác, người bội bạc, tên vô phép, thứ ngu dốt, hạng giả dối. Hơn nữa, người Việt "trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quí sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm 5 đạo thường cho ăn ở."[36] Và như thế tin rằng "ngũ thường" sẽ tiếp tục được gìn giữ, tôn vinh như những giá trị đích thực của cuộc sống không chỉ hôm nay mà còn mãi mãi về sau.

Tài liệu tham khảo:

1. GS. Phan Huy Lê - PGS.TS Đỗ Bang (Đồng chủ biên) (2014), Nguyễn Hoàng - Người mở cõi, Nxb Chính trị quốc gia.

2. Lê Thành Khôi (2014), Lịch sử Việt Nam - từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, Nxb Thế giới

3. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Khoa học xã hội.

4. Nguyễn Lang (2011), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn học.

5. Phan Huy Lê-Trần Quốc Vượng-Hà Văn Tấn-Lương Ninh (1985), Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

6. Nhiều tác giả (2014), Huyền thoại lập quốc của các nước Đông Á, Nxb Văn hóa -văn nghệ.

7. Quốc sử quán triều Nguyễn (2014), Đại Nam liệt truyện, Tập 1-2, Nxb Thuận Hóa.

8. Thạch Phương-Hồ Lê-Huỳnh Lứa-Nguyễn Quang Vinh (2014), Văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.

9. Trần Trong Kim (2000), Việt Nam sử lược, Quyển 1, Nxb TP.Hồ Chí Minh.

10. Viên Như (2014), Người Việt - Chủ nhân kinh Dịch và chữ Vuông, Nxb Hồng Đức.

11. Việt Nam tiểu học tùng thư  (1995), Quốc văn giáo khoa thư, Nxb Trẻ.
12. Bách khoa tri thức - Thế nào là Tam cương, ngũ thường? http://www.bachkhoatrithuc.vn/.

Chú thích:

[1] Xem Wikipedia : http://vi.wikipedia.org/.

[2] Thạch Phương-Hồ Lê-Huỳnh Lứa-Nguyễn Quang Vinh (2014), Văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, tr 137.

[3] Việt Nam tiểu học tùng thư  (1995), Quốc văn giáo khoa thư, Nxb Trẻ, tr 40

[4] Việt Nam tiểu học tùng thư  (1995), Quốc văn giáo khoa thư, Sđd, tr 267.

[5] Việt Nam tiểu học tùng thư  (1995), Quốc văn giáo khoa thư, Sđd, tr 50 – 51

[6] Việt Nam tiểu học tùng thư  (1995), Quốc văn giáo khoa thư, Sđd, tr 52.

[7] Việt Nam tiểu học tùng thư  (1995), Quốc văn giáo khoa thư, Sđd, tr 265.

[8] Xin xem thêm chuyện Học trò biết ơn thầy trong Quốc văn giáo khoa thư, Sđd, tr 189.

[9] Việt Nam tiểu học tùng thư  (1995), Quốc văn giáo khoa thư, Sđd, tr 276.

[10] Việt Nam tiểu học tùng thư  (1995), Quốc văn giáo khoa thư, Sđd, tr 187.

[11] Việt Nam tiểu học tùng thư  (1995), Quốc văn giáo khoa thư, Sđd, tr 192

[12] Việt Nam tiểu học tùng thư  (1995), Quốc văn giáo khoa thư, Sđd, tr 35.

[13] Viêt Nam tiểu học tùng thư (1995), Quốc văn giáo khoa thư, Sđd, tr 71 – 72.

[14] Dẫn theo Lê Thành Khôi (2014), Lịch sử Việt Nam - từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, Nxb Thế giới, tr 214.

[15] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Khoa học xã hội, tr 84.

[16] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Sđd, tr 301.

[17] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Sđd, tr 57.

[18] Trần Trọng Kim (2000), Việt Nam sử lược, quyển 1, Nxb Tp.Hồ Chí Minh, tr 226.

[19] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Sđd, tr 76.

[20] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Sđd, tr 76.

[21] Chữ dùng của Giáo sư Phan Huy Lê. Xem GS. Phan Huy Lê – PGS.TS Đỗ Bang (Đồng chủ biên) (2014), Nguyễn Hoàng – Người mở cõi, Nxb Chính trị quốc gia, tr 538 và tr 542.

[22] Lê Thành Khôi (2014), Lịch sử Việt Nam - từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, Sđd, tr 371.

[23] Lê Thành Khôi (2014), Lịch sử Việt Nam - từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, Nxb Thế giới, tr 382

[24] Quốc sử quán triều Nguyễn (2014), Đại Nam liệt truyện, Tập 1-2, Nxb Thuận Hóa, tr 551.

[25] Xem: Đỗ Kim Trường,  455 năm nhìn lại buổi đầu dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng, trong GS. Phan Huy Lê-PGS.TS Đỗ Bang (Đồng chủ biên) (2014), Nguyễn Hoàng – Người mở cõi, Sđd, từ tr 354 – 376. 

[26] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Sđd, tr 54 – 55.

[27] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Sđd, tr 57.

[28] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Sđd, tr 57.

[29] Xem Bách khoa tri thức – Thế nào là Tam cương, ngũ thường?,

[30] Phan Huy Lê-Trần Quốc Vượng-Hà Văn Tấn-Lương Ninh (1985), Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, tr 62.

[31] Nhiều tác giả (2014), Huyền thoại lập quốc của các nước Đông Á, Nxb Văn hóa –văn nghệ, tr 137 – 138.

[32] Xem Viên Như (2014), Người Việt – Chủ nhân kinh Dịch và chữ Vuông, Nxb Hồng Đức.

[33] Xem Nguyễn Lang (2011), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn học, tr 26 và các tr 27 – 43.

[34] Nhiều tác giả (2014), Huyền thoại lập quốc của các nước Đông Á. Sđd, trang 142 – 143.

[35] Xem Viên Như (2014), Người Việt – Chủ nhân kinh Dịch và chữ Vuông, Nxb Hồng Đức.

[36] Trần Trong Kim (2000), Việt Nam sử lược, quyển 1, Nxb Tp.Hồ Chí Minh, tr 6.

Đỗ Kim Trường

Theo http://chimviet.free.fr/

  Một ngày như mọi ngày X in vội vàng thưa ngay: Đây là một ngày của một ông già Việt Nam trên xứ Mỹ, một người đang dè dặt đặt những ...