Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Tự tín, một phẩm chất của Nho gia ngày trước

Tự tín, một phẩm chất của
Nho gia ngày trước

Nho giáo, với tư cách là một học thuyết đạo đức, thường nhấn mạnh sự đòi hỏi về đức khiêm cung ở người quân tử. “Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích” – cái đầy gọi cái vơi, võng xuống thì được làm cho đầy trở lại – đây chính là một “lý do triết học” dẫn đến đòi hỏi đạo đức nói trên trong Nho giáo.

Mặt khác, vốn hình dung các mô hình “quốc gia”, “thiên hạ”, cho đến toàn bộ “thiên địa” đều là những mô hình được mở rộng từ hạt nhân gia đình – nghĩa là mô hình của các quan hệ huyết thống, thân tộc, có người nhỏ, có người lớn, có bậc gia trưởng, có kẻ hậu sinh – Nho giáo đương nhiên đề cao đức khiêm cung: đó là thái độ ứng xử cần phải có của con cái với cha mẹ, của kẻ dưới với người trên, của bề tôi với vua, của con người nói chung với trời đất. “Khiêm” nghĩa là phải biết nhún mình xuống.

“Khiêm” nghĩa là không ngạo mạn, không kiêu. Thế nhưng, trong quan niệm Nho giáo và trong thực tế lịch sử rất lâu dài, nhà Nho lại là “kẻ bảo trợ tự nhiên” của dân chúng. Đối với các đấng “con trời”, nhà Nho vừa giữ đạo thần tử vừa có sứ mệnh can gián, thậm chí chỉ trích hoặc bất hợp tác, nếu họ không đi theo chính đạo. Cái vị thế đặc biệt ấy, dù muốn hay không cũng là cơ sở để nhà Nho tự đo được tầm ảnh hưởng của mình trong đời sống xã hội. Và, một cách tự nhiên, ở những khoảnh khắc thời gian nào đó trong cuộc đời, nhà Nho sẽ vượt thoát ra khỏi yêu cầu phải khiêm cung của học thuyết đạo đức Nho giáo: họ tự nhận thức, đôi khi rất mạnh mẽ và đầy thích thú, về những phẩm chất cá nhân của mình, những phẩm chất “trội”, có thể nói như vậy. Khi đó, cái kiêu đã thế chỗ cái khiêm.

Trong hai loại hình nhà Nho chính thống: nhà Nho hành đạo và nhà Nho ẩn dật, nếu căn cứ vào trước tác của họ, ít thấy những biểu hiện kiêu ở mẫu người thứ nhất. Có thể là vì những phẩm chất “trội” của họ, nếu có, đã tan vào ý thức nghĩa vụ, trở thành một điều bình thường, “không có gì đáng nói”. Nhưng, với nhà Nho ẩn dật thì hoàn toàn khác. Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương đã viết về mẫu người này: “Không xuất chính, không nhận áo mũ của triều đình, không vướng bận nhiều với thân phận thần tử, lại thuộc loại người được triều đình miễn mọi thứ lao dịch, tô thuế, người ẩn dật “cày lấy ruộng mà ăn, đào lấy giếng mà uống”. Họ tự tách mình ra khỏi những sinh hoạt chính trị, coi mình vô can, thường đứng ra ngoài, thậm chí nhiều lúc tự coi là đứng lên trên mọi thay đổi trong xã hội, tự cho phép mình làm “phán quan của lịch sử”… Họ vẫn thường nói rằng “thế lộ đầy gai chông”, tự nhận (thường là khiêm tốn giả tạo mà kiêu ngạo đích thực) rằng mình “vụng về, lười biếng, bất tài”, thậm chí “ngu dốt”. Đến mức họ lấy những thuộc tính kể trên đặt cho mình thành tên hiệu, tên tự – những Chuyết ông, Lãn ông, Ngu ông…” (“Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam” – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 1999. tr39).

Nói cách khác, với nhà Nho ẩn dật, thế giới này là họ và đám người tầm thường còn lại. Đọc các sáng tác văn chương của nhà Nho ẩn dật thì rõ. Ngoảnh mặt quay lưng với toàn bộ các thể chế chính trị, phủ nhận mọi bảng biểu giá trị trong cuộc sống của người đời, nhà Nho ẩn dật hòa mình vào thiên nhiên hoang dã, coi mình tựa như thần tiên. Sống ẩn dật ở Côn Sơn, Nguyễn Trãi có: “Láng giềng một khóm mây bạc/ Khách khứa ba ngàn núi xanh“, rồi: “Núi láng giềng, chim bầu bạn/ Mây khách khứa, nguyệt anh em“. Nguyễn Hàng thì tỏ ra thỏa mãn tột độ với điều kiện sinh hoạt ở mức tối thiểu:

Sớm ba chén chè sen mát ruột, nài chi vò đất hẩm hiu

Bữa vài lưng cơm mốc no lòng, sá quản mâm đan xộc xệch

Vị tươi thường ngọn quất, lá vi

Miếng ngon đủ nhân tùng hạt bách

Tiệc vầy tiên tử, một niêu canh cẩu kỷ chát xì

Yến thiết cố nhân, lưng bầu rượu xương bồ cay rách

Thuốc phì phèo quản sậy điếu tre

Trầu phúm phím vỏ đa rễ quạch…

(Tịch cư ninh thể phú)

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì lại tự nhận mình “dại”, như một cách để phân biệt mình với thế nhân và ông hỉ hả bởi cái “dại” của mình – cái dại của người minh triết, người đứng cao hơn hẳn thế nhân: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người ở chốn lao xao/ Thu ăn măng trúc đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao“.

Nguyễn Khuyến, một trong những người ở ẩn cuối cùng của lịch sử Nho giáo Việt Nam, có thể nói, là biệt lệ cho mẫu nhà Nho ẩn dật. Biệt lệ, bởi sự cáo quan về ở ẩn của ông là một bước thoái lui đầy miễn cưỡng. Biệt lệ, bởi trong bối cảnh chế độ thực dân đang ra sức khai thác thuộc địa, làm gì còn chốn để người ở ẩn có thể sống an nhàn, thích thảng như trước? Biệt lệ, bởi cả việc dù đã tự nhận là người ở ẩn, song Nguyễn Khuyến lại vẫn tự mãn với những giá trị rất đời thường. Ông bộc lộ cái kiêu, ông khoe sự đỗ đạt của mình khi dặn dò con trai trong bài “Di chúc” nổi tiếng: “Học tiếng rằng chẳng hay chi cả/ Cưỡi đầu người kể đã ba phen“. Và, trong cái tâm thế nhùng nhằng “cờ đương dở cuộc không còn nước, bạc chửa thâu canh đã chạy làng” của người ở ẩn bất đắc dĩ, ông Tam nguyên lại khẳng định mình, lại kiêu bằng cách tự thể hiện qua những hình tượng anh giả điếc, lão đá rất nghịch phách v.v… Đặc biệt là qua hình tượng ông say ngất ngơ ngất ngưởng bất chấp điều tiếng của người đời: “Lúc hứng đánh thêm dăm chén rượu/ Khi buồn ngâm láo một câu thơ“, “Câu thơ được chửa, thưa rằng được/ Chén rượu say rồi, nói chửa say“…

Nhưng, nói đến cái kiêu của nhà Nho, phổ biến nhất và đậm đặc nhất, phải xét ở loại hình nhà Nho phi chính thống: nhà Nho tài tử – lực lượng tác giả về cơ bản đã làm nên diện mạo chói sáng của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX. Học giả Phan Ngọc viết: “Các tài tử ra đời để thay thế các quân tử, các trượng phu, là những người độc chiếm văn đàn trước đây. Các tài tử ấy học đạo thánh hiền nhưng suy nghĩ theo lối thị dân. Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đều tự xưng là tài tử. Con người tài tử là điển hình mới của thời đại” (“Tìm hiểu phong cách của Nguyễn Du trong Truyện Kiều” – NXB Hà Nội. 1985. tr45). Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương, điểm phân biệt giữa nhà Nho tài tử với nhà Nho hành đạo và nhà Nho ẩn dật là ở chỗ nhà Nho tài tử coi “tài” và “tình”, chứ không phải đạo đức, là cái làm nên giá trị con người. Họ “thị tài” và “đa tình”. Mà “thị tài” là gì, nếu không phải là sự tự nhận thức và tự tín rằng tài năng của mình vượt trội nhân quần? Trong quan niệm của nhà Nho tài tử, “tài” có thể là tài trị nước, tài cầm quân, có thể là tài trong học vấn. Nhưng, nhất thiết phải có tài nhả ngọc phun châu (tài văn chương), và rộng hơn nữa là cầm, kỳ, thi, họa thì mới đáng gọi là kẻ có tài. Có tài thì phải khoe tài, phải phô ra cho thiên hạ thấy và cũng là để tự thấy mình “cao giá” hơn thiên hạ. Một người luôn buồn bã, u sầu như Nguyễn Du, đôi lúc (trong thơ chữ Hán) cũng hé cho kẻ hậu nhân cái kiêu “ngầm” của mình.

Xin lấy vài ví dụ: 1- “Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn/ Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri” (Chân hạc dài là tự tính trời, cắt ngắn sao được. Tính mệnh nhẹ như lông hồng mà không tự biết), 2- “Tam thập hành canh lục xích thân/ Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân” (Tấm thân sáu thước đã ba mươi tuổi rồi. Vì thông minh làm xuyên tạc, hại đến tính trời). Ví dụ 2, tác giả tự nhận mình “thông minh”, “một đời từ phú” và “sách đàn đầy giá”, cái đó khá dễ nhận ra. Ví dụ 1, nếu “diễn nôm” thì sẽ là: biết có tài thì khổ nhưng cái tài của tôi giống như cái chân chim hạc vậy, trời sinh đã dài, làm sao cắt được?

Với một con người hành động và tài năng đa dạng như Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ thì cái kiêu sẽ trở nên phô lộ hơn, mạnh mẽ hơn rất nhiều. Ông tự thể hiện cái tôi của mình ngay trong một thứ trò chơi rất tầm thường như trò tổ tôm: “Tài kinh luân xoay dọc xoay ngang/ Cơ điều đạc quân ăn quân đánh/ Gọi một tiếng, người đều khởi kính/ Dậy ba quân ai chẳng dám nhường/ Cất nếp lên bốn mặt khôn đương/ Hạ bài xuống tam khôi chiếm cả“. Ông tự tin vào tài năng cá nhân đến mức có thể tuyên bố: “Vũ trụ giai ngô phận sự” (mọi việc trong vũ trụ đều là việc của ta). Ông luôn nhắc đi nhắc lại những “tài trai”, “chí tang bồng”, “chí anh hùng”, “chí nam nhi”. Ông khao khát một sự nghiệp anh hùng được dựng lên bằng chính tài năng và chí khí của mình: “Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ/ Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong/ Chí những toan xẻ núi lấp sông/ Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ“. Có thể nói, nếu đó là lời hứa hẹn, lời tự nhủ, thì quả là nhà Nho tài tử Nguyễn Công Trứ, bằng cuộc đời hoạt động sôi nổi, lắm thăng trầm của mình, đã thực hiện lời hứa hẹn ấy một cách thật trọn vẹn.

Sinh sau Nguyễn Công Trứ 31 năm, Cao Bá Quát lớn lên khi triều Nguyễn đã củng cố vững chắc sự thống trị của mình. Tuy thế, với tư chất cá nhân, với tài năng văn chương thiên phú, ông vẫn nuôi dưỡng cho mình những giấc mơ táo bạo, bất chấp sự đặc lại của bầu khí quyển văn hóa chuyên chế. Có lẽ, chỉ cần một bài “Tài tử đa cùng phú” là đủ thấy Cao Bá Quát tự tin ra sao về tài năng và ông đã tự họa chân dung mình bằng những đường nét màu sắc rực rỡ đến thế nào:

Có một người:

Khổ dạng trâm anh

Nết na chương phủ

Hơi miệng sữa tuổi còn giọt máu, nét hào hoa chừng ná Tấn, Dương

Chòm tóc xanh vừa chấm ngang vai, lời khí nghiệp những so Y, Phó

Nghiên gợn sóng vẽ vời điển tịch, nét nhạn điểm lăn tăn

Bút vén mây dìu dặt văn chương, vòng thuyền khuyên lỗ chỗ

Nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan Khổng, chí xông pha nào quản chông gai

Cựa đuôi kình toan vượt bể Trình Chu, tài bay nhảy ngại chi lao khổ

Lắc bầu rượu dốc nghiêng non nước xuống, chén tiếu đàm mời mọc trích tiên

Hóng túi thơ nong hết gió trăng vào, cơn xướng họa thì thầm lão Đỗ…“.

Để đo tài năng cá nhân mình, Cao Bá Quát đã không ngần ngại mượn những danh sĩ Trung Hoa làm vật chuẩn: Lạc Tân vương, Dương Quýnh, Y Doãn, Phó Duyệt, Lý Bạch, Đỗ Phủ. Và, trong thế đối sánh xuyên thời gian ấy, nhà Nho Việt Nam tự thấy mình không hề kém cạnh.

Nhà Nho tài tử là như vậy, luôn thị tài, cậy tài, khoe tài, dẫu thừa thấm thía rằng “chữ tài liền với chữ tai một vần“. Ngay ở đại diện cuối cùng của mẫu người này, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, sự thị tài cũng đã kịp vượt ra ngoài biên giới người đời, chỉ có Trời mới đủ tầm để cảm thấu tài năng của ông: “Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt/ Văn trần được thế chắc có ít/ Lời văn chuốt đẹp như sao băng/ Khí văn hùng mạnh như mây chuyển/ Êm như gió thoảng, tinh như sương/ Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết…“.

Nhà Nho – kẻ sĩ – người trí thức của một giai đoạn lịch sử một đi không trở lại. Cái kiêu của nhà Nho, xét cho cùng, là sự tự tín đầy đủ và mạnh mẽ về những phẩm chất, những năng lực cá nhân vốn có, thực có. Còn người trí thức của thời hiện đại thì sao? Có vẻ như họ đã và đang phải chịu sức ép quá lớn của một thứ chủ nghĩa (phải) khiêm tốn nào đó. Hoặc phải chăng họ chưa có đủ sự tự tín cần thiết như nhà Nho ngày trước?.

18/2/2022

Hoài Nam

Theo https://vanhocsaigon.com/

Lý luận văn học như là một khoa học

Lý luận văn học
như là một khoa học

Công trình nghiên cứu lý luận văn học “Văn bản văn học và sự bất ổn của nghĩa” của Trương Đăng Dung vừa được Hội Nhà văn Việt Nam trao Giải thưởng Văn học năm 2021. Đại diện cho các tác giả nhận giải thưởng, nhà lý luận phê bình Trương Đăng Dung đã có bài phát biểu sâu sắc tại lễ trao giải. Vanvn.vn trân trọng giới thiệu đến bạn đọc…

Vậy là đã tròn 10 năm kể từ khi tôi được nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội (2011) cho tập thơ đầu tay “Những kỉ niệm tưởng tượng”. Hôm nay, tôi lại vinh dự được nhận Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho công trình nghiên cứu lý luận văn học Văn bản văn học và sự bất ổn của nghĩa”. Có thể nói, các giải thưởng này là sự ghi nhận và động viên của giới nghiên cứu và sáng tác cho những nỗ lực của tôi trên hành trình học tập, nghiên cứu và sáng tác văn học nhiều năm qua.

Cách đây 10 năm, trong lời cảm ơn Hội Nhà văn Hà Nội, tôi có nói “thơ là sự diễn giải các trạng thái của tồn tại người một cách tự nguyện”, hôm nay tôi xin phép được nói thêm rằng “lý luận văn học là sự khám phá cái đặc trưng bản thể của văn bản văn học một cách khoa học”. Đối với tôi, giữa hai lĩnh vực nghiên cứu lý luận văn học và sáng tác thơ không có gì mâu thuẫn, mà ngược lại, chúng bổ sung cho nhau bằng sự khác biệt để ngỏ của mỗi lĩnh vực. Lý luận, phê bình diễn giải cái thế giới nghệ thuật của nhà thơ qua văn bản văn học, còn nhà thơ thì khám phá cái thế giới bên ngoài thông qua thế giới bên trong của chính mình. Tôi cần đến thơ như một diễn ngôn có khả năng thể hiện được cái tôi bất an trước thế giới, điều mà trong diễn ngôn khoa học văn học tôi không làm được. Và tôi cần đến lý luận văn học như một diễn ngôn khác có thể khám phá những bất ổn học thuật trước cái đối tượng phức tạp mang tên tác phẩm văn học, điều mà trong thơ tôi không thể thực hiện được.

Thưa các anh, các chị, chúng ta biết rằng, cùng với sự hình thành và phát triển của khoa học văn học, từ cuối thế kỷ XIX, ở châu Âu, lý luận văn học ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống các khoa học văn học, ngày càng khoanh vùng được đối tượng nghiên cứu với những vấn đề riêng, lý giải và soi sáng những vấn đề đó trên bình diện lý luận. Suốt quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã không tiếp cận các tri thức lý thuyết văn học theo cách phân chia chính trị về các hệ thống thế giới, nhờ đó tôi đã nhận ra rằng ở đâu lý luận văn học xác lập được bản chất tự nhiên đặc trưng của đối tượng nghiên cứu, khoanh vùng được đối tượng nghiên cứu với những vấn đề riêng, lý giải và soi sáng chúng trên bình diện lý luận, thì ở đó lý luận văn học mới có thể phát triển như một ngành khoa học thực sự.

Trên thế giới, vẫn còn có nơi do nhập nhằng giữa đối tượng nghiên cứu của lý luận văn học và đối tượng nghiên cứu của lịch sử và phê bình văn học, người ta đã đồng nhất sự phân tích tác phẩm văn học cụ thể trong nghiên cứu lịch sử văn học và phê bình văn học với sự phân tích vấn đề tác phẩm văn học trong lý luận văn học, nơi vai trò của những khái quát hoá lý luận và việc tiếp cận bản thể tác phẩm văn học đều xảy ra trên bình diện trừu tượng. Tình hình trên dẫn đến tình trạng nhiều vấn đề cơ bản của mỹ học và lý luận văn học không được nghiên cứu từ gốc một cách khoa học, nên ai cũng có thể lẩy ra một vấn đề nào đó làm bùng bổ những cuộc tranh luận kéo dài. Người ta tranh luận ríu rít ở trên ngọn của vấn đề, nhưng cái gốc của nó bị bỏ qua. Vì thế, nếu nói văn học suy tư tưởng, thì điều đó không chỉ liên quan đến sáng tác văn học, mà còn liên quan đến cả lĩnh vực nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học.

Do nhận ra sự khác biệt giữa văn bản văn học và tác phẩm văn học, tư duy lý luận văn học không còn phụ thuộc nhiều vào mỹ học sáng tạo mà từng bước khẳng định vai trò quan trọng của mỹ học tiếp nhận. Mỹ học tiếp nhận đã giúp tôi nhận thức sâu sắc rằng cơ chế tạo nghĩa của văn bản văn học không ổn định, nó mang tính quá trình. Bên cạnh nghĩa đang tồn tại của văn bản văn học là nghĩa được thiết lập. Vậy nên, có hai vấn đề đặt ra liên quan đến phương thức tồn tại của tác phẩm văn học: Một là tính chất ngôn ngữ, cái quyết định đặc trưng bản thể của văn bản văn học; hai là khả năng tạo lập đời sống cụ thể của văn bản văn học, độc lập với chủ ý của nhà văn. Nhiều năm qua, tôi đã dành tâm sức cho hướng nghiên cứu này với mục đích khám phá phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, để từ đó soi sáng trở lại mô hình phản ánh nghệ thuật – một vấn đề quan trọng của lý luận văn học mác xít. Cuốn sách Văn bản văn học và sự bất ổn của nghĩa cùng với những chuyên luận khác đã xuất bản, là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu theo hướng đó của tôi.

Kính thưa các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình, càng làm việc và học hỏi, tôi càng ý thức hơn về những giới hạn của chính mình. Tôi hiểu rằng mọi nỗ lực của mình cũng chỉ là sự vươn tới giới hạn của cái chưa biết. Tôi hi vọng, ngày càng có nhiều hơn những nhà nghiên cứu lý luận văn học trẻ tuổi sẽ làm tốt hơn chúng tôi cái công việc gian khổ, lâu mọc mũi sủi tăm này. Một lần nữa, xin cảm ơn BCH Hội Nhà văn Việt Nam, HĐLL PB Hội Nhà văn Việt Nam; cảm ơn các bạn đọc gần, xa đã dành cho tôi vinh dự lớn này.

Chúc các anh, chị sức khỏe, bình an!.

Hà Nội, 29/2/2022

Trương Đăng Dung

Theo https://vanhocsaigon.com/

Những trang viết xúc động và hóm hỉnh tuổi thơ Sài Gòn

Những trang viết xúc động và
hóm hỉnh tuổi thơ Sài Gòn

Vốn nổi tiếng là cây bút trào phúng, những năm cuối đời nhà văn Lê Văn Nghĩa lại tập trung viết về/ cho thiếu nhi mà chất liệu chính là ký ức thời niên thiếu của ông ở Sài Gòn – Chợ Lớn trước năm 1975. Đây cũng là đề tài mà trước đây chưa mấy ai khai thác và cũng là khoảng trống văn học cần được quan tâm về đời sống văn hóa, giáo dục một thời ở miền Nam. Truyện dài Mùa tiểu học cuối cùng của nhà văn Lê Văn Nghĩa được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2021 về văn học thiếu nhi là tác phẩm hay trong loạt truyện này của ông.

Trong bài Lê Văn Nghĩa trong cõi nhớ Sài Gòn, nhà lý luận phê bình Huỳnh Như Phương viết: “Tôi thực sự yêu thích văn kể chuyện tự nhiên, hoạt náo của Lê Văn Nghĩa khi đọc bốn cuốn truyện anh viết về học đường miền Nam, bắt đầu với Mùa hè năm Petrus và gần đây là Mùa tiểu học cuối cùng. Gần 1.300 trang sách trang trải những kỷ niệm thiếu thời qua hình ảnh những thầy cô giáo đáng trọng, những học trò đáng yêu trong sân trường, lớp học và trên những ngả đường, góc phố Sài Gòn thời chiến. Tác phẩm của anh lôi cuốn không chỉ nhờ cốt truyện mà còn nhờ những chi tiết từ đời thực được tái tạo trong văn hư cấu”.

Truyện dài Mùa tiểu học cuối cùng của Lê Văn Nghĩa do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành cuối năm 2020 và tái bản ngay sau đó, đã được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2021. Nhà văn Đoàn Thạch Biền – Ủy viên Hội đồng Văn học thiếu nhi, một người cùng thế hệ và đọc kỹ hầu hết tác phẩm của nhà văn Lê Văn Nghĩa cho rằng, Mùa tiểu học cuối cùng là cuốn truyện hay có kết cấu chặt chẽ, dẫn chuyện độc đáo, hài hước và hiếm có viết về kỷ niệm tuổi thơ Sài Gòn trước năm 1975. Điều thú vị là qua truyện của nhà văn Lê Văn Nghĩa ở miền Nam và nhà văn Bình Ca ở miền Bắc thấy được thế giới tuổi thơ của hai miền có những chi tiết tương đồng về sự tinh nghịch hồn nhiên hay những trò chơi dân gian dù hoàn cảnh cách trở vì chiến tranh. Đôi lúc hư cấu có hơi quá một chút về cách kiếm tiền mưu sinh của những đứa trẻ xóm nghèo mê làm báo nhưng đây vẫn là truyện hấp dẫn cho cả bạn đọc thiếu nhi lẫn người lớn.

Nhà thơ Hữu Việt – Ủy viên Ban Chấp hành, Trưởng ban Nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam thì nhận xét: “Đọc Mùa tiểu học cuối cùng bỗng giật mình vì hoá ra bấy lâu nay chúng ta không biết gì về cuộc sống thường ngày của trẻ em miền Nam trước những năm 1975. Và ta chợt nhận ra, luôn có một thế giới kỳ diệu – thế giới của những đứa trẻ, luôn giống nhau và rất khác nhau, lung linh muôn sắc thái, khiến ta có thể khóc và bật cười bất cứ lúc nào với ăm ắp hoài niệm về những gì đã vĩnh viễn rời xa ta, những gì ta không thể tìm thấy trong thế giới người lớn. Nhà văn Lê Văn Nghĩa là bậc “phù thuỷ” của những câu chuyện hài hước cùng rất nhiều phương ngữ mang sắc thái biểu cảm mạnh mẽ của người phương Nam, nên đôi khi hơi khó theo dõi với độc giả miền Bắc. Giá như ông tiết chế một chút, hoặc có những chú giải ngắn thì tác phẩm sẽ được tiếp nhận một cách đầy đủ hơn. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, thì đây lại là một đóng góp đáng kể của cuốn sách vào kho tàng ngôn ngữ Việt”.

Đúng vậy, những cuốn sách viết về Sài Gòn trước năm 1975 không ít, nhưng viết sâu sắc và thú vị về thế giới tuổi thơ trong giai đoạn đặc biệt đó như nhà văn Lê Văn Nghĩa thì rất hiếm, vì ông cũng là một trong những cây bút hiếm hoi sinh trưởng và cả đời gắn bó với thành phố phương Nam này.

Lê Văn Nghĩa sinh ngày 20.5.1953 tại tỉnh Chợ Lớn, nay thuộc Tp. Hồ Chí Minh, tham gia phong trào đấu tranh học sinh – sinh viên bị địch bắt bỏ tù, đày ra Côn Đảo. Đất nước thống nhất, từ năm 1975 đến năm 2015, ông thuộc thế hệ đầu tiên làm báo Tuổi Trẻ, sau đó phụ trách tờ Tuổi Trẻ Cười. Ông có duyên với thể loại trào phúng, viết dưới các bút danh quen thuộc: Hai Cù Nèo, Đại Văn Mỗ, Điệp Viên Không Không Thấy, Thằng Hề,… đặc biệt là Hai Cù Nèo ký dưới các bài viết “ăn khách” khi phê phán thói hư tật xấu và những vấn đề thời sự nóng bỏng được bạn đọc quan tâm.

Sau khi nghỉ công tác quản lý tờ Tuổi Trẻ Cười, Lê Văn Nghĩa chuyên chú hơn vào sáng tác văn chương cho tới khi lìa xa cõi trần vì bệnh nan y ngày 25.7.2021. Những tác phẩm mang tính hồi ức, tự truyện của ông về thời niên thiếu thập niên 1960 học dưới mái trường Bình Tây, tức trường Nguyễn Huệ ở quận 6 ngày nay và trường Petrus Ký, nay là Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong ở quận 5, TP Hồ Chí Minh đã lần lượt được xuất bản: Mùa hè năm Petrus, Chú chiếu bóng, nhà ảo thuật, tay đánh bài và tụi con nít xóm nhỏ, Tụi lớp nhứt trường Bình Tây, cây viết máy và con chó nhỏ (2018), Mùa tiểu học cuối cùng (2020).

Ngoài cuốn Mùa hè năm Petrus (Nxb Trẻ-2012) viết về thời trung học phổ thông thì ba cuốn còn lại nhà văn Lê Văn Nghĩa đều viết về thời tiểu học ở trường Bình Tây. Theo lời hóm hỉnh của chính nhà văn, truyện dài Chú chiếu bóng, nhà ảo thuật, tay đánh bài và tụi con nít xóm nhỏ Sài Gòn năm ấy (Nxb Trẻ-2014) “dành cho thiếu nhi nhưng người lớn đọc cũng hổng sao, mà người già đọc càng khoái”. Trong lời giới thiệu cuốn sách, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh viết rằng, ngoài việc khắc họa tính cách và số phận nhân vật, Lê Văn Nghĩa còn có tham vọng phục dựng khí hậu thời cuộc và những sinh hoạt văn hóa, phong tục.

Còn truyện dài Tụi lớp Nhứt, trường Bình Tây, cây viết máy và con chó nhỏ (Nxb Trẻ-2017) kể lại câu chuyện mất tích bí ẩn của chú chó nhỏ và cây bút máy, thể hiện sự vui buồn, đầy ắp tình yêu thương của những đứa trẻ ngộ nghĩnh, đáng yêu mang đậm dấu ấn học trò ở xóm nghèo. Trong đó còn phục dựng hình ảnh đủ sắc thái của Sài Gòn – Chợ Lớn xưa với trường học, bến xe, cửa hàng… và đời sống của người tứ xứ tụ về với ngôn ngữ, cử chỉ, nghề nghiệp khác nhau. Có thể nói Lê Văn Nghĩa là một trong những “quái kiệt” của Sài Gòn – Tp. Hồ Chí Minh, từ làng báo đến làng văn ông đều để lại dấu ấn riêng biệt. Là người lưu giữ và tái hiện sinh động đời sống văn hóa Sài Gòn – Chợ Lớn trong nửa thế kỷ qua, đặc biệt là những ký ức tuổi thơ, nhà văn Lê Văn Nghĩa xứng đáng được ghi nhận là cây bút tiêu biểu viết cho thiếu nhi, bên cạnh mảng trào phúng đặc sắc.

Khi viết cho thiếu nhi thì cái chất trào lộng của Lê Văn Nghĩa cũng được phát huy làm cho cốt truyện lôi cuốn, quyến rũ hơn… Bằng thế mạnh trào phúng và lối viết đặc sệt Nam Bộ của nhà văn Lê Văn Nghĩa, qua 22 chương, truyện dài Mùa tiểu học cuối cùng là câu chuyện sinh động, dí dỏm, đầy ắp tiếng cười xen lẫn sự xót xa, tình thương yêu, nghĩa khí của những đứa trẻ “cà tưng thích làm mấy chuyện cà tửng” ở xóm lao động nghèo cùng học dưới một mái trường.

Nhà thơ Phan Hoàng – Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đánh giá: “Sau ngày nhà văn Lê Văn Nghĩa vĩnh viễn ra đi, tôi tìm đọc lại kỹ hơn những tác phẩm của anh, trong đó có Mùa tiểu học cuối cùng. Và không chỉ tôi mà các con nhỏ của tôi đều đọc một cách thích thú. Tìm được một giọng văn giàu chất Nam Bộ lại hài hước, dí dỏm, trào lộng viết cho thiếu nhi như nhà văn Lê Văn Nghĩa quả rất hiếm. Viết cho thiếu nhi mà nghiêm chỉnh quá, đạo mạo quá thì hỏng. Cái hay của Lê Văn Nghĩa là trên cơ sở chất liệu đời thực kết hợp với văn hư cấu, pha trò, ông đã dựng nên những câu chuyện sinh động, cả nghịch ngợm tươi vui lẫn ngậm ngùi xa xót về thế giới tuổi thơ của một thời mà có sức lan tỏa nhiều thời. Một cái hay khác là dù viết về/cho thiếu nhi nhưng truyện còn tái hiện được một phần đời sống sinh hoạt văn hóa, phong tục, tập quán của người Sài Gòn trước năm 1975, đặc biệt ở đây là vùng Chợ Lớn trong một xóm lao động nghèo, tập trung người tứ xứ, ngoài người Việt thì còn có người gốc Hoa, Ấn Độ cùng sinh sống”.

21/2/2022

Đặng Tường

Nguồn: Văn Nghệ số 8/2022

Theo https://vanhocsaigon.com/

Giải thưởng Văn học dịch tôn vinh: Một vẻ đẹp phi hư cấu

Giải thưởng Văn học dịch
tôn vinh: Một vẻ đẹp phi hư cấu

Vậy là tác phẩm Châu Phi nghìn trùng, cuốn hồi ký của nhà văn nữ nổi tiếng người Đan Mạch Isak Dinesen qua bản dịch hấp dẫn của dịch giả Hà Thế Giang do NXB Phụ Nữ ấn hành đã giành được Giải thưởng Văn học thường niên năm 2021 của Hội Nhà văn Việt Nam.

Thực tế là tác phẩm này cũng được nhiều phiếu nhất ở vòng bình chọn tác phẩm đề nghị xét giải của Hội đồng Dịch thuật Hội Nhà văn Việt Nam khóa X. Hai tác phẩm dịch cũng được hội đồng đề nghị xét giải là Mông Cổ bí sử của dịch giả Ngô Trần Trung Nghĩa và Tàn ngày để lại của dịch giả An Lý.

Mông Cổ bí sử là tác phẩm văn học viết đầu tiên của người Mông Cổ, vừa là tác phẩm sử học đặc biệt trong thời kỳ văn-sử bất phân, có giá trị lớn cả về văn chương và sử học, được ví như một bản anh hùng ca, thuật lại quá trình hình thành và phát triển của các bộ tộc trên thảo nguyên Mông Cổ từ giai đoạn khởi thủy cho đến thế kỷ thứ XIII. Đây có thể coi là cuốn sách khó dịch nhất trong các tác phẩm văn học dịch tham dự Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam năm 2021. Khó về phương diện ngôn ngữ và lối hành văn cổ; có những trang trong cuốn sách này gần giống lối viết của Kinh Thánh, có đoạn giống với văn học dân gian, rất đặc sắc. Bản dịch tiếng Việt đạt chất lượng, đảm bảo nội dung, văn phong cổ; dịch giả kỳ công trong phiên âm tên đất, tên người và chú thích kỹ (tổng cộng 306 chú thích), rõ ràng, dễ hiểu.

Tiểu thuyết Tàn ngày để lại của tiểu thuyết gia người Anh gốc Nhật Bản Kazuo Ishiguro, tác giả đã đoạt giải Nobel Văn học năm 2017, bản dịch của dịch giả An Lý. Tiểu thuyết này kể một chuyến đi của nhân vật chính là Stevens với hai hành trình, đi về miền Tây nước Anh để gặp người bạn gái cũ là cô Kenton và “đi” sâu vào nội tâm của nhân vật – một con người trách nhiệm và sống trong ảo tưởng; một con người gần suốt cuộc đời coi trọng bổn phận, xem việc hoàn thành nhiệm vụ là điều cao quý nhất, và cuối cùng là sự luyến tiếc không nguôi…

Nhà văn nữ nổi tiếng người Đan Mạch Isak Dinesen, tác giả của Châu Phi nghìn trùng, đã từng được hai lần đề cử giải Nobel Văn học vào năm 1954 và 1957. Cuốn sách rất nổi tiếng này của bà kể về khoảng thời gian bà sinh sống ở châu Phi, từ năm 1914 đến năm 1931.

Đúng như nhận xét của Hội đồng Dịch thuật và Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Châu Phi nghìn trùng là câu chuyện được kể trên bối cảnh châu Phi thời thực dân – thuộc địa, nhưng rất khác với nhiều tác phẩm viết về châu Phi trong thời kỳ này, Châu Phi nghìn trùng cho ta cái nhìn khác: không chính quốc – bản xứ, không thực dân – thuộc địa, không da trắng – da màu, không chủng tộc thượng đẳng – hạ đẳng, không khinh khi, đố kỵ, không hận thù, chém giết…; quan hệ giữa con người với con người là quan hệ bình đẳng, bao dung, nhân tính. Tất cả nhân vật và chuyện kể ở đây nhất quán một cái nhìn nhân văn, chan chứa tình người. Đó là cái lớn lao và đặc sắc của tác phẩm này.

Châu Phi nghìn trùng sau khi ấn hành trong tiếng Anh đã được dịch ra nhiều ngoại ngữ và tạo nên tiếng vang ở các nước mà nó được giới thiệu. Châu Phi nghìn trùng cũng lọt vào các danh sách bình chọn những cuốn sách phi hư cấu hay nhất mọi thời đại nên bản dịch tiếng Việt cần được trân quý. Tác phẩm thực sự cuốn hút bằng cả nội dung và văn phong kể chuyện, toát ra sức chân thật, tạo đồng cảm và lòng tin khi tác giả đan dệt những hồi ức những năm tháng sống ở châu Phi trên một đồn điền cà phê tựa như một cấu trúc hư cấu. Hình ảnh về thiên nhiên châu Phi, con người châu Phi, và văn hóa châu Phi được thấm nhuần cảm xúc người kể, vô cùng hấp dẫn, vừa bí ẩn vừa đầy mới mẻ. Thiên nhiên châu Phi dưới ngòi bút đầy tình của Isak Dinesen, với những chi tiết đặc tả hiện lên sinh động, gợi trí tò mò và khiến độc giả mong được một lần đặt chân tới đó để trải nghiệm những gì mà tác giả đã ghi lại. Những miêu tả về dãy núi Ngong với đủ các sắc thái, rồi khi mùa mưa về, khi gặp nạn châu chấu đến, khi hoa cà phê nở… quả thật vô cùng xuất sắc, khó có thể ngừng lại khi đang đọc dở. Hình ảnh những con sư tử dưới ánh trăng tà, đàn trâu trong màn sương buổi sớm dưới vòm trời màu đồng, rồi bầy voi đi ngang qua cánh rừng tự nhiên rậm rạp, hay đàn sếu hàng nghìn con… đều là những chi tiết tạo nên thành công cho tác phẩm. Bên cạnh một thiên nhiên hoang dã, khoáng đạt, thì người đọc cũng cảm nhận rất rõ được sự khắc nghiệt, và tàn nhẫn của địa hình và khí hậu nơi đây.

Là một người thuộc tầng lớp thực dân da trắng nhưng tác giả nhìn người dân bản địa bằng cái nhìn gần gũi và ẩn chứa yêu thương. Dưới ngòi bút của bà, con người nơi đây nguyên sơ, pha lẫn sự khôi hài và cũng rất đáng yêu đáng quý. Đọc Châu Phi nghìn trùng, độc giả cảm nhận được tình người, sự nhân văn trong đó. Tác giả có mối quan hệ rất thân tình với người châu Phi. Bà chữa bệnh cho dân bản xứ, mở lớp học buổi tối cho trẻ em, biết lắng nghe và thấu hiểu với thái độ cởi mở, gắn bó.

Tác phẩm kết thúc bằng sự chia tay của Blixen với châu Phi nhưng đầy nhớ nhung hoài niệm. Nghìn trùng xa xôi cách trở, châu Phi trong tác phẩm hiện lên kỳ diệu khó quên.

21/2/2022

Nguyễn Chí Hoan

Theo https://vanhocsaigon.com/

Linh Sơn luân hồi trong Một ví dụ xoàng

Linh Sơn luân hồi
trong Một ví dụ xoàng

Bối cảnh của tiểu thuyết là trong và ngoài thành phố Thái Nguyên. Biểu đồ thời gian diễn ra ở giai đoạn Hai của chiến tranh biên giới Tây Nam, tức khoảng năm 1978-79, và lùi lại một đoạn ngắn. Có vẻ như vừa đủ cho cái hậu, ngấm đắng cay của một chén rượu mạnh, thậm chí là hơi sốc. Còn đây là hậu chiến tranh, hậu bãi vàng, cái thời của “vàng và máu” thấm đẫm trên nhiều phận người.

Nhưng Nguyễn Bình Phương không thiết kế tiểu thuyết Một ví dụ xoàng như một đại bi kịch với những “tấn trò đời” tầng tầng lớp lớp. Ở đây, Nguyễn Bình Phương chỉ rút ra một nhân vật, như ngẫu nhiên rút một cây xăm trong cái hộp quẻ chen chúc lô nhô, mà chạm vào quẻ nào cũng miên man nghĩa. Mà cũng lắm khi là vô nghĩa.

Một nhân vật nhỏ. Một ví dụ xoàng. Một anh giáo, vốn bị vợ bỏ, vốn là tiến sĩ học bên Liên Xô, nhưng nghèo, phải liều đi buôn chè từ Đại Từ về Thái Nguyên để kiếm chút tiền cho con có cái Tết ấm. Một chuyến đi buôn với bốn cân chè vặt vãnh thế mà thành to chuyện, thành bi kịch, bởi tiến sĩ Sang đã vẩy súng bắn chết một quân nhân, một thành viên trong tổ công tác lưu động liên ngành.

Họ có cả thảy bốn người. Một công an, một bộ đội và hai thuế vụ. Cú vẩy súng hú họa, viên đạn lạc không trúng ai mà trúng ngay thùy trán anh lính trẻ măng. Tội ác và trừng phạt. Tiến sĩ Sang sau đó bị trói cột tử hình. Chuyện chỉ có thế. Nhưng qua ngòi bút của Nguyễn Bình Phương thì thành một thiên tiểu thuyết, cuốn người đọc theo những ngoắt ngoéo, chao đảo, thậm chí có đôi lúc nhấc bổng ta lên rồi ném vào một vìa vực mịt mù.

Một ví dụ xoàng, ở một khía cạnh nào đó là một ví dụ về nghệ thuật tiểu thuyết. Ở đây, không tân kỳ hay hậu hiện đại, tính giễu nhại cũng ở hàm lượng vừa phải, thậm chí đôi khi thấy tác giả còn “thừa nghiêm túc” và “can thiệp giọng” trong nhiều nhân vật. Nhưng rốt lại, chất bi hài, cái giọng vừa thảng thốt, vừa lạnh băng của tác giả vẫn là chủ đạo và tạo nên sự ám ảnh.

Thành công của Một ví dụ xoàng, trước hết là thành công của một “công thức tiểu thuyết”. Một cái chết. Một vụ án. Tình dục. Sự quái đản. Thối tha. Cái đẹp. Sự chới với. Tiếng hét. Thời tiết thất thường… Nguyễn Bình Phương không phớt lờ một thành phần hóa học nào trong phản ứng tiểu thuyết của mình. Nhưng dù giỏi vận dụng công thức thế nào thì Nguyễn Bình Phương vẫn thuyết phục người đọc ở mỹ cảm nội tâm của chính mình. Ở đây, nhà văn như một kẻ rành rẽ về công thức, nhưng không đúc khuôn mà thao tác như một nghệ nhân kim hoàn, một nhà tiểu họa.

Những đoạn tả cảnh của Nguyễn Bình Phương, trong tiểu thuyết này, dù ngắn nhưng vẫn chất, trụ hạng một đẳng cấp tài hoa. Không hiểu sao, tôi luôn cho rằng, những tiểu thuyết gia vĩ đại đều phải là những người tả cảnh siêu hạng. Tả cảnh không phải là uốn éo làm văn. Tả cảnh chính là một nghi lễ của nhà văn với thiên nhiên và vũ trụ. Tả cảnh cũng chính là làm thơ trong tiểu thuyết. Xin được chép trích ra đây một đoạn làm quà: “Bãi cỏ bên dưới thật bình yên. Nắng như dồn vào cả trong ấy, đọng lại, không chuyển động nữa. Một bát mật óng vàng ăm ắp đang tỏa ra mùi thơm nhẹ. Sang ngẩn ra, cả khóe miệng lẫn đuôi mắt đều giần giật. Chếch dưới anh ta một chút, ngay mép đường, những con bướm trắng cỡ lá sim rờn rợn lên xuống vờn đuổi nhau, lúc thăng vào khoảng không, khi lẫn giữa ngọn cỏ may tím thẫm. Con bìm bịp bay nhao ra từ bên kia khúc cua, tiếng đập cánh khần khật khiến Sang ngẩng lên. Con chim cắt chéo qua bát mật sang quả đồi kia với tốc độ vừa đúng như một hòn đá bị ném” (trang 52-53).

Nhiều người cho rằng trong tiểu thuyết mới nhất này, Nguyễn Bình Phương viết giản dị hơn, do vậy nó “nhẹ đô” hơn. Tôi vừa đồng ý vừa không. Đúng là ông viết giản dị hơn. Nhiều câu ngắn. Ngắt dòng liên tục. Hạn chế dùng các hình dung từ. Nhưng không vì thế mà “nhẹ đô”. Một ví dụ xoàng là lấy cái nhẹ cân với cái nặng. Bày ra “một ví dụ xoàng” mà thấy thăm thẳm cái bi kịch của thời đại. Thời bao cấp. Thời cả nước nghèo từ miếng ăn đến cả trí tuệ và ước mơ.

Đã có nhiều bài viết về Một ví dụ xoàng, những điều mà các nhà phê bình minh định và ngợi khen, tôi cố gắng không lặp lại nữa. Ở đây, tôi chỉ trình bày những gì ở dạng mức của một độc giả bình thường. Đó là sự đổ nát của cái đẹp thuần nguyên. Linh Sơn là núi thiêng, là chốn cũ, một nơi vừa xác thực vừa mơ hồ nào đó, là nơi mà tên “buôn lậu chè” Nguyễn Văn Sang thường nhắc đến. Dường như những cái gì đẹp nhất đều ở chốn Linh Sơn. Từng mảnh hồi ức cứ dội về, từ lúc Sang còn là “anh cu vẩy”, đến ông tiến sĩ Liên Xô, rồi là một tử tù. Linh Sơn, nơi chứng kiến và nuôi nấng tình yêu của họ: Sang và Uyên. Linh Sơn, nơi những khoảnh khắc có thể thành vĩnh cửu. Rời đi, tất cả tan rã dần như tro bụi hắt lên trời.

Ở đây, những đổ nát của luân hồi, theo một cách nào đó, không phải vận hành theo thuyết của tôn giáo nào, mà đó chính là cách của tiểu thuyết. Dù nhân vật cựu chánh án tòa án tối cao cũng nói theo lá số tử vi rằng: “Là dứt khoát phải chết, vì ở sai vị trí. Anh là lính thì anh phải ở chiến trường, chứ anh đi bắt buôn lậu là sai. Anh là tiến sĩ thì anh phải giảng dạy, nghiên cứu, anh đi buôn lậu là sai. Hai cái sai ấy gặp nhau thì gây ra thảm họa. Ngai vàng đặt trong cung dột nát đến mấy vẫn là ngai vàng. Ngai vàng đặt trong phòng bọc kính thì chỉ là cái ghế sơn mài lòe loẹt, bói cũng không ra tí quyền uy nào”.

Cho dù tác giả chọn nhân vật ông cựu chánh án tòa án tối cao như để giải quyết câu chuyện “một ví dụ xoàng”. Nhưng người đọc không vì thế mà thỏa mãn như được trao một thẻ bùa. Trái lại, người đọc có ham muốn đồng thời quay trở lại những câu chuyện kể của “Ông bán chè”, “Con gái người dẫn tù” “Phu đào huyệt”, “Một người xem vô danh”…; những người ít quan trọng hơn. Những chuyện vặt vãnh bên lề, rời rạc, hắt lên một chút ánh sáng xa xăm, không giải quyết được gì cho tính đúng sai của vụ án. Nhưng nó lại chan cảm xúc vào tim người đọc. Ở đây, Nguyễn Bình Phương không chỉ thao tác như một nhà nhiếp ảnh truyền thống, với những góc chụp rộng hẹp, gần xa, trước sau… khác nhau. Mà Nguyễn Bình Phương còn thao tác như những cú chụp bằng flycam rất điêu luyện, trưng bày những bức ảnh với những lát cắt mới lạ. Lạ nhưng không giả.

Trong nhiều tiểu thuyết của mình, Nguyễn Bình Phương vẫn cho thấy mình là ngòi bút của những cuộc vi phẫu tinh tế. Tiểu thuyết của ông vừa ngồn ngộn các sự kiện đời sống, ngờm ngợp các nhân vật lớn nhỏ, nhưng rốt lại Nguyễn Bình Phương không phải là “người kể chuyện đời”. Nguyễn Bình Phương là nhà văn của những cảm xúc xáo trộn, thậm chí là cực kỳ khó hiểu khó chịu khó chấp nhận, nhưng vẫn là của con người. Những người phàm theo cách nói của Philip Roth.

Gấp sách lại, tôi thấy tim mình như hẫng đi. Cái chết của tiến sĩ Sang, có lẽ cũng chỉ là “một ví dụ xoàng” giữa muôn vàn “ví dụ kinh điển” khác. Nhưng thay vào đó là hình ảnh những bóng người đang ngược về Linh Sơn. Mỗi người một nẻo luân hồi. Linh Sơn hay chính Thái Nguyên xưa, nơi có bông hoa chè cánh tòe trên bình gốm, nơi mông muội, loạn lạc cùng những huyễn mộng dại khờ.

Nếu như thi sĩ Mallarmé từng nói “Thế giới này tồn tại để đi tới một cuốn sách” thì Linh Sơn hay Thái Nguyên cũng luân hồi để thành Một ví dụ xoàng. Nhưng thực tế lại không xoàng một chút nào.

Sài Gòn, 22/2/2021

Trần Nhã Thụy

Theo https://vanhocsaigon.com/

Hình tượng người mẹ trong thơ Hoàng Cầm

Hình tượng người
mẹ trong thơ Hoàng Cầm

Trong văn học dân gian nói chung và văn học Việt Nam hiện đại nói riêng, người mẹ được nhân dân trân trọng, ngợi ca ở đức hy sinh, nhẫn nhịn và công lao dưỡng dục, sinh thành. Trong cái nhìn hồn nhiên chất phác của dân gian xưa, người mẹ và người cha được nhân dân đặt ở vị thế cân bằng, bình đẳng. Chẳng hạn, từ thuở hồng hoang có cặp đôi bà Nữ Oa – ông Tứ Tượng, ông Đùng – bà Đà, bà Tồ Cô – ông Lộc Cộc… Họ xuất hiện, góp phần bổ sung cho nhau, cùng nhau biến đầm lầy thành đồng lúa, biến rừng rậm thành xóm làng. Cùng với việc dựng nhà, lập xóm, họ từng bước thuần phục, chăm sóc chim chóc, muông thú, lấy tình yêu thương nuôi dạy vả biến chúng thành những người bạn gắn bó, hiền lành.

Tuy nhiên, trong cuộc sống gia đình xưa và nay, quyền năng sinh sản dị thường lại luôn thuộc về người nữ. Khi gia đình chuyển qua chế độ phụ hệ, người ta bắt đầu coi trọng và đề cao vai trò của gia đình gia trưởng. Khi ấy, địa vị của người nữ trong xã hội và trong văn học bị nhìn nhận ở vị trí bình thường. Các mối quan hệ ứng xử thân tộc như tình mẫu – tử, phụ – tử dù có được quan tâm, nhưng chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh nào đó. Dù có nhiều cách nhìn, cách nghĩ về người nữ khác nhau, song người ta thấy rằng, những giá trị đạo đức bền vững luôn tồn tại trong hai kiểu gia đình mẫu hệ và phụ hệ. Nói như F. Elghel, “Trong khi gia đình tiếp tục phát triển, thì hệ thống thân tộc cốt hóa lại, và trong khi hệ thống thân tộc tiếp tục tồn tại do tập quán thì gia đình tiến vượt ra ngoài khuôn khổ hệ thống đó”[1]. Nhận định của ông mở ra cho chúng tôi một cái nhìn so sánh về sự khác biệt của hai kiểu gia đình dựa trên căn rễ văn hóa: du mục phương và trồng trọt. Một bên là gia đình phụ hệ, gắn với sức mạnh lăn xả của người nam, còn một phía là gia đình mẫu hệ, gắn với phẩm tính chăm chỉ, chịu khó và nhẹ nhàng của người nữ.

Như vậy, cho dù xã hội bước sang giai đoạn phụ quyền, thì truyền thống trân trọng người mẹ trong văn học trung đại vẫn tiếp tục được nhân dân gìn giữ, nâng niu. Trong văn học trung đại, người ta nhận thấy có nhiều sáng tác về người mẹ góp phần khắc phục, bổ sung cho một số nhận thức thiên lệch, xơ cứng, bó hẹp đề tài và làm nghèo nàn một nội dung phản ánh rất hay của văn học. Bước sang giai đoạn ba mươi năm chiến tranh, người mẹ nổi bật giữa gian nan như một hiện tượng văn hóa lớn. Nhà văn Việt viết về người mẹ với tư cách công dân. Họ biểu trưng cho sức mạnh của lòng dũng cảm, bản lĩnh phi thường. Văn học thời kỳ chiến tranh khẳng định niềm tin vào phẩm tính dễ thương, dịu hiền và tấm lòng cao cả, bao dung của người nữ. Người mẹ nhân từ luôn nghĩ về nguồn cội và hướng về tương lai. Họ tiêu biểu cho đạo lý và triết lý ở hiền gặp lành, “để đức cho con”.

Bước sang thời hậu chiến, do người mẹ luôn biểu trưng cho phẩm chất cao đẹp, hiền lành, gắn với ơn nghĩa sinh thành, đức hy sinh che chở, lòng vị tha, chung thủy, vì thế, khi viết về mẹ, nhà thơ đã nhập vai vào các mối quan hệ xã hội, thân tộc hóa các mối quan hệ này bằng tình cảm máu mủ, ruột rà. Cao hơn nữa, ẩn sâu trong hình tượng người mẹ thời kỳ này còn là khát vọng hòa giải, chung sống thuận hòa, góp phần xoa dịu những vết thương chiến tranh giữa hai bờ chiến tuyến. Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu, vì khi số phận cá nhân gắn bó khăng khít với vận mệnh của đất nước, khi ấy, những âm hưởng thiêng liêng từ ngàn xưa bỗng lặng thầm trỗi dậy như một dòng hợp lưu vừa rộng vừa sâu. Rộng ở lòng yêu nước, thương nòi và yêu nhân loại, còn sâu là ở tình cảm máu mủ nội bộ của mỗi gia đình, họ mạc, xóm làng.

Tuy nhiên, một khi, thơ trữ tình quá chuyên tâm vào cái cao cả, thiên về cái trọng đại lớn lao của cộng đồng, tất yếu sẽ thưa vắng dần những cái riêng tư. Thậm chí, những trăn trở, thành thật về thân phận con người cũng hiếm hoi hơn, và quan trọng là thiếu đi “cái chủ quan cưu mang được những nỗi niềm thời đại”[2]. Bởi lẽ, bất cứ cuộc chiến tranh nào, dù là chính nghĩa hay phi nghĩa, phụ nữ và trẻ em là hai lớp người luôn bị tổn thương nhiều nhất. Họ thu hút được sự chú ý và quan tâm của nhiều cây bút. Viết về người mẹ, thơ thời chiến tranh chưa thực sự xác lập được những phong cách riêng. Nhưng rất may là có không ít bài thơ hay bổ sung vào bảng màu văn hóa Việt khi họ nghĩ về mẹ và Tổ quốc. Rõ ràng, đã có một dòng thơ viết về người mẹ, mà mỗi nghệ sĩ nhận thức theo nhiều giác độ và có nét độc sáng riêng.

Chung qui lại, chúng tôi nhận ra các phản ánh ấy thường trăn trở về người mẹ từ hiện thực với những cảm xúc riêng. Nhà thơ Việt thời chiến viết về người mẹ với lòng biết ơn sâu sắc, và sự tiếc nuối vì thiếu vắng một bối cảnh thanh bình cho lời ru cất cánh bay lên. Hoặc vì một lý do nào đó, người ta đã lãng quên đi điều hay, lẽ phải do những suy nghĩ thực dụng của con người thời Đổi mới. Vì lẽ đó, người ta cảm thấy ân hận, hối tiếc khi đã đi qua một đoạn đời bình yên. Xa rời nguồn cội, họ tiếc thương, thấm thía hơn về những mất mát, trống vắng khi người mẹ thân thương của mình đã khuất xa ở bên kia của cuộc đời. Chúng tôi điểm qua một dòng thơ Việt viết về người mẹ không cốt phân định hay dở, thấp cao, mà cốt cấp thêm một cái nhìn so sánh, cốt xác định rõ hơn những sáng tạo, cách tân và kế thừa của Hoàng Cầm trên vỉa mạch văn hóa truyền thống.

Trong sáng tác của Hoàng Cầm giai đoạn chống Pháp, người mẹ như một hiện tượng văn hóa – lịch sử chịu sự chi phối của hệ hình tư duy văn học phản ánh hiện thực. Song, sáng tác của ông vẫn có nét độc đáo, khác biệt so với những nhà thơ cùng thời. Bởi lẽ, ông có cái nhìn khá tinh nhạy, chân xác về thân phận con người. Sang giai đoạn chống Mỹ, người ta thấy Hoàng Cầm đã có những cách tân nổi trội về thi pháp. Tức là, thời điểm ông viết Về Kinh Bắc (1959 -1960), hình tượng người mẹ như một mảng màu văn hóa kết tinh và khúc xạ được các giá trị văn hóa của cộng đồng. Bước vào thời kỳ Đổi mới, nguồn cảm hứng ấy cũng chỉ có tính chất dư âm, nối dài như một thói quen.

Trước hết, người mẹ được Hoàng Cầm nhận thức ở hình tượng “người mẹ hiền”, “mẹ già nua còm cõi”, người mẹ chung của quê hương đất nước, dân tộc giống nòi. Họ đại diện cho một lớp người trong xã hội, một bộ phận nhân dân mang tình cảm kháng chiến. Có lẽ, người mẹ và câu hát ru là bằng chứng giao thoa của khuynh hướng sáng tác mang chủ trương dân tộc hóa, đại chúng hóa và ý thức trở về với nguồn mạch văn hóa dân gian. Sử dụng các đại từ phiếm chỉ, ông nhập cuộc, hòa đồng vào lời ru của người mẹ vùng cao Việt Bắc và bâng khuâng, luyến láy với niềm vui chớm nở hòa bình“Em về với chị vui ca hát/ Mẹ cũng tươi cười cất tiếng ru/ à ơi.. em là em bé sông Lô/ Sóng xanh đuổi xác quân thù về đâu” (Tiếng hát sông Lô). Ông hóa thân vào lời khuyên răn của người mẹ hậu phương, đồng thời chen vào lời ru một khẩu khí của thời đại “Ru rằng: xuân tỏ non sông/ Cha con vừa lập chiến công lẫy lừng/ Xa xôi cha gửi tin mừng/ Lộc khô cành héo xem chừng lại tươi” (Tâm sự đêm giao thừa).

Sáng tác của Hoàng Cầm giai đoạn chống Pháp bàng bạc sắc màu “trữ tình chính trị”, bởi ông thể đã hiện khá rõ quan niệm chung về mẹ hiền và Tổ quốc. Đằng sau lời ru, sau câu chuyện kể, người đọc sẽ hiểu vì sao số phận giữa cá nhân, cộng đồng lại có mối liên hệ khăng khít, chặt chẽ và có thể gắn bó máu thịt với nhau đến vậy? Vì bất cứ lời ru con của người mẹ nào cũng yên lành và thánh thiện bậc nhất. Bất cứ lời an ủi của người mẹ nào cũng chắp cánh cho ước mơ và hạnh phúc nảy mầm “Lời ru êm như bông/ à ơi… cha con ăn tết lập công/ Cho sữa mẹ chảy một dòng nghìn thu/ Cha đem cái chết quân thù/ Làm nên sức sống bây giờ của con” (Tâm sự đêm giao thừa). Ông tìm đến lời ru của mẹ không chỉ do yêu cầu của thời đại, mà còn do nhu cầu thôi thúc nội tại sâu thẳm từ bên trong. Đó là tình yêu quê hương, gia đình và nguồn cội. Phải chăng, đây là một minh chứng cho cái nhìn con người từ chiều sâu. Điều này thể hiện khá rõ trong mạch nguồn cảm hứng viết về người mẹ của Hoàng Cầm ở giai đoạn sau.

Viết về nét riêng của người mẹ trong hoàn cảnh bất thường, Hoàng Cầm nhìn nhận họ như một thành phần xã hội thuần túy, một số phận mang màu sắc cá nhân, một nạn nhân của thời tao loạn. Người mẹ ngày chạy giặc cụ thể, đơn côi “lòng đói dạ sầu”, bước chân trơn trượt, đòn gánh đè vai vất vả mưu sinh. Phía sau bước chân tảo tần và gánh hàng đơn sơ là nỗi ám ảnh, nơm nớp lo âu cho phận người bấp bênh bởi sự dồn đuổi, xéo giày của chiến tranh loạn lạc. Vì thế, lời ru của mẹ, của bà giai đoạn này không hoàn toàn mang ý nghĩa khái quát cho chân lý thời đại hay ý thức công dân, mà đi vào phiếm chỉ một số phận cụ thể, gắn với một “mối thù” cụ thể. Đó là một tổ ấm gia đình bị tàn phá, chia lìa trong chiến tranh giặc giã. Chẳng hạn, Bên kia sông Đuống không chỉ có sự tương phản giữa các phạm trù “ngày xưa” và “bây giờ”,  giữa“tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” và “vết máu loang chiều mùa đông”, mà ẩn sau đó là  giọng điệu cảm thương, nhức nhối, xót xa khiến cho lời ru của bà cũng đầy ám ảnh, thương tích“Tiếng bà ru cháu xế trưa/ Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu/  “à ơi… cha con chết trận từ lâu/ Con càng khôn lớn càng sâu mối thù”” (Bên kia sông Đuống).

Tiếp nữa, tính chất cá nhân còn được Hoàng Cầm thể hiện rành rõ trong mạch nguồn cảm hứng và suy nghiệm về mẹ và quê hương, nguồn cội sau vụ Nhân văn – Giai phẩm. Trong giai đoạn nhiều biến động này, ông tìm về với hình tượng người mẹ trong cõi lòng mình như một “cơ duyên”. Ông viết tập thơ Về Kinh Bắc với mục đích “Dâng hương hồn mẹ”, chiêm ngắm, bái lạy người mẹ của mình với niềm ngưỡng mộ và ước ao một nơi chốn bình yên, lành vững trở về. Người mẹ trong Về Kinh Bắc rất xa xôi, bí ẩn và giàu chất tâm linh. Đó là người mẹ của muôn đời, là người Mẫu ngự trị trong không gian làng quê Việt – mẹ của cư dân lúa nước “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc/ Chiều xưa giẻ quạt voi lồng” (Đêm thổ). Trong cái nhìn thân tộc, người mẹ không chỉ chở che bao bọc, nâng đỡ tâm hồn, hòa giải bớt đi những mâu thuẫn nội tại, mà còn gắn bó mật thiết với một vùng quê có bề dày truyền thống văn hóa. Bởi khi ông khẳng định một thái độ ứng xử nghiêm túc trong ngôn ngữ, thì cũng đồng thời khẳng định một hệ giá trị của niềm tin “Về Kinh Bắc phải đâu con nghẹn khóc/ Con không cười/ Con thoảng nhớ thoảng quên” (Đêm kim).

Cũng vậy, trong trí tưởng tượng giàu chất huyền thoại của Hoàng Cầm, người mẹ còn biểu trưng cho cái đẹp thiêng hóa cần được tôn thờ. Nhưng không vì thế mà hình tượng này trở nên xa cách, ngược lại, họ vẫn nơi là giãi bày gần gũi, là chỗ dựa sẻ chia bao đắng cay, ẩn ức tủi buồn. Có thể nói, đây là một chia sẻ lặng im an ủi chính mình “Về Kinh Bắc phải đâu con hé miệng/ Khế chua vôi bột lòng tay” (Đêm mộc). Thêm nữa, trong cái nhìn nồng hậu đẫm chất folklore, người mẹ trong Về Kinh Bắc ít nhiều phảng phất hơi thở phồn thực phồn sinh. Đó là mẫu tượng Quan Âm nhuốm sắc màu cổ tích thực – hư và vẻ thẹn thùng hằn in trên má đỏ; là hơi thở, da thịt đàn bà gợi tình khắc khoải, là cái chênh vênh thiêng – tục giữa sao trời “Về Kinh Bắc phải đâu con nhắm mắt/ Gài mảnh gương giàn thiên lý đợi tua rua” (Đêm thủy). Cái hay của Hoàng Cầm trong Về Kinh Bắc là ông đã viết về mẹ trong dãy thời gian đêm – đêm “ngũ hành” Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ. Vì chỉ ở thời gian đêm, mọi suy nghĩ mới có thể lắng sâu nhất, lãng mạn nhất và thiêng liêng nhất.

Trong giai đoạn Về Kinh Bắc, cái đẹp mang thiên tính nữ có tác dụng nâng đỡ tâm hồn người nghệ sĩ và giữ cho bao giá trị ổn định, bất biến, không rơi xuống đáy dung tục tầm thường. Người mẹ gần gũi, bình dị hơn với phẩm chất chịu thương, chịu khó. Người mẹ nghèo mò cua bắt ốc vào tiết trời“đại hạn tháng ba” vừa gợi lên bài học về lòng tri ơn, vừa nhắc nhở hôm nay biết trân trọng những giọt mồ hôi và biết phấn đấu, giữ gìn phẩm giá sao cho xứng đáng với đạo lý làm người. Có thể nói, hình tượng người mẹ trong Về Kinh Bắc có phần khác biệt so với cái nhìn con người đại chúng. Bởi người mẹ của quê hương xứ sở có gốc rễ, mạch nguồn từ tín ngưỡng thờ Mẫu và sự hậu thuẫn của truyền thống trân trọng, tôn vinh người nữ trong văn hóa ứng xử của người Việt. Người mẹ trong cái nhìn của Hoàng Cầm khác xa so với mẫu người Công – Dung – Ngôn – Hạnh và cam chịu trong đạo Nho, bởi đây là người mẹ có cá tính phóng khoáng, mạnh mẽ, dám đi theo một tiếng gọi “siêu lý” nào đó của tình yêu “Mẹ đi lấy chồng/ Cỗ cưới chênh vênh khoai luộc/ Mật vàng mọng rách vỏ nâu non” (Đợi mùa). Rõ ràng, sự phá cách này không mâu thuẫn, trái ngược với truyền thống, bởi đó là cách suy nghĩ hồn nhiên, bình thường của dân gian và phù hợp với tinh thần nhân văn cao cả của con người.

Bước vào giai đoạn đất nước chuyển mình và thời kỳ Đổi mới, Hoàng Cầm vẫn luôn da diết, hoài niệm về người mẹ của một thời đã qua. Người mẹ ở giai đoạn này chỉ là những vang bóng của thời kỳ trước. Có lẽ vì thế cho nên, cảm hứng sáng tạo và cái nhìn về người mẹ dường như vẫn bị bó buộc, “cầm tù” trong một thế giới Kinh Bắc xưa “Tôi theo dòng mẫu hệ/ Ngây xanh miền thuở bé/ Nét nhăn hồng hoàng hôn/ Mải theo dòng mẫu hệ/ Thắt yếm đào tuổi son/ Buộc bướm vào hoa lệ” (Theo dòng mẫu hệ). Dựa trên những hình tượng cũ, ông khám phá thêm những khía cạnh của đời tư như nỗi đau, sự mất mát người thân, những khốn khó của cuộc sống đói nghèo, mưu sinh thường nhật.

Đối mặt với cảnh mồ côi, ông cảm nhận về sự thiếu vắng hơi ấm, bàn tay chăm sóc của người mẹ hiền, người vợ đảm “Năm ấy mẹ qua đời/ Tết đến nhà ứa lạnh/ Khói Văn Điển chơi vơi/ thức đầu giường đêm quạnh/ Nhớ mẹ anh nằm khóc/ Em xa bẵng tiếng cười/ Đuổi xuân đi xõa tóc/ Lược bỏ gương mồ côi” (Trước sau). Có lẽ, mọi nhận thức về các giá trị văn hóa mới của thời hiện đại cũng phần nào biến đổi. Đó là lời ru ngọt ngào sâu lắng của tình mẫu – tử bị thay thế bởi lời ru của người em như một sự xoay vần, đổi khác xưa nay “Mẹ ru anh ngủ ngày xưa/ em ru anh thức nắng mưa cuối đời/ Mẹ ru yên ấm biển trời/ em ru anh biết chọn lời nào đâu”(Ru anh thức). Đó là sự thay thế chóng vánh của nền sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc sang nền kinh tế thị trường làm cho vẻ đẹp bình dị, tươi mát của hồn làng thoáng chốc phôi phai “Mẹ tôi xưa cấy chỗ này/ Giờ thành siêu thị ngang cây cau vàng/ Giờ mẹ đâu? cuối bãi làng,/ Dường như có bóng mèo hoang thoáng về” (Cánh diều lẻ bạn).

Như vậy, sau chặng đường sáng tạo dồi dào về cảm hứng, sâu sắc về cái nhìn, hài hòa về giá trị, người đọc phần nào nhận ra được một chút dư âm, hoài niệm của một thời Kinh Bắc rất xa. Hình tượng người mẹ trong sáng tác của Hoàng Cầm thời kỳ Đổi mới vì thế chỉ như “cái bóng” của giai đoạn trước, là sự lặp lại, nhân lên ở số lượng bài thơ. Điều ấy cho phép chúng tôi nhận thấy tần suất xuất hiện của người mẹ và những đối tượng miêu tả khác, đồng thời hiểu thêm về sự ám ảnh, lộ ra của hình tượng này. Hình tượng người mẹ sau Đổi mới phần nào thiếu đi sự vạm vỡ của tư duy và chưa thực sự khái quát con người ở bề sâu. Điều này chứng tỏ những thoái trào về mặt bút pháp và dễ gây cảm giác đơn điệu, nhàm chán. Nhìn lại các chặng đường sáng tạo của Hoàng Cầm, chúng ta nhận thấy hình tượng người mẹ trong cái nhìn của riêng ông đã góp phần xác lập thêm một mảng màu giá trị trên con đường cách tân thơ Việt thế kỷ XX.

Chú thích:

[1] Ph. Ăngghen, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1972, tr.45.

[2] Nguyễn Hưng Quốc, Nghĩ về thơ, Văn Nghệ xuất bản – California, Hoa Kỳ, 1989, tr.32.

23/2/2022
Lương Minh Chung

Theo https://vanhocsaigon.com/

Vũ Bằng - Một cái tôi phức cảm trong ký

Vũ Bằng - Một cái tôi
phức cảm trong ký

Khi nhắc đến nhà văn Vũ Bằng, người ta hình dung đến một nhà văn đã dành tâm huyết cả đời thầm lặng sáng tác văn học nhưng cuộc đời lại chịu nhiều uẩn khúc, éo le. Các tác phẩm của ông dễ đi vào lòng người và tạo được những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Với nhiều trăn trở, say mê, tìm tòi và sáng tạo, coi sáng tác văn chương là cách để nối dài, mở rộng tầm kých đa chiều của cuộc sống ngắn ngủi và khép kín; Vũ Bằng đã tiếp cận, khai thác hiện thực muôn màu của đời sống bằng nhiều cách tân nghệ thuật khá ấn tượng khiến tác phẩm luôn cuốn hút người đọc, thật sự tạo ra những dấu ấn quan trọng và ý nghĩa đối với văn học Việt Nam.

Đến với địa hạt ký của Vũ Bằng là đến với không gian buồn xa vắng với nỗi nhớ quê hương trong trẻo mà thấm thía của người xa xứ. Trong các tác phẩm của Vũ Bằng, dấu ấn Hà Nội, Bắc Việt được in đậm từ hệ thống nhân vật, không gian đến ngônngữ, giọng điệu giúp đạt hiệu quả cao về nội dung và hiệu quả nghệ thuật. Cái tôi Vũ Bằng đã cho độc giả hình dung về một vùng đất thơ mộng, bình dị mà đong đầy ký ức tuổi thơ. Trong sự nghiệp văn học của Vũ Bằng, ký là mảng quan trọng và gặt hái được nhiều thành công. Những tác phẩm ký đã thể hiện tình yêu của Vũ Bằng với miền đất quê hương bằng những quan sát tỉ mỉ, tinh tế. Tất cả được dẫn dắt bởi nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn rất có duyên của nhà văn về thiên nhiên và con người. Việc nghiên cứu những sáng tác ký nói riêng và toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vũ Bằng nói chung góp phần giúp người đọc hiểu thêm về vị trí, vai trò và cái tôi Vũ Bằng trong sáng tác và tiến trình văn học Việt Nam.

1. Cái tôi chân thật đầy dũng cảm và tinh thần trách nhiệm trong hồi ký “Bốn mươi năm nói láo”

Trong tác phẩm hồi ký “Bốn mươi năm nói láo”, Vũ Bằng đã tự bạch về cuộc sống làm nghề nhà báo suốt mấy chục năm trời – cái nghề mang câu châm biếm của người đời “Nhà báo nói láo ăn tiền”. Vũ Bằng cũng từng nhận định: “Người ta nói làm báo là nói láo ăn tiền, mặc họ; nhưng người làm báo chân chính không thế và không bao giờ quan niệm nghề nghiệp của mình như vậy. (…) báo chí là một bộ môn văn hoá phản ánh sinh động nhất, đầy đủ nhất tính chất của một chế độ, cho một chế độ xã hội”; “(…) báo chí luôn luôn có tính năng tranh đấu và xây dựng” [2, tr.362].

Với quan điểm đúng đắn đó, Vũ Bằng đã nhập cuộc một cách say mê và dành tất cả cuộc đời, tâm huyết cho nghề báo: “Mẹ ơi, con đành chịu tội bất hiếu với mẹ. Nếu trở lại làm người, con cứ lại xin làm báo”[2, tr.389]. Tuy là thuật lại một nghề nói láo nhưng Vũ Bằng lại sử dụng cái tôi chân thật của mình để thuật lại chuyện làm nghề báo của mình, của anh em bạn bè đồng nghiệp với mối quan hệ với các nhà đầu tư tư sản.

Trong tập hồi ký này, Vũ Bằng viết tất cả sự thật của cuộc đời mắt thấy tai nghe, ông không hề giấu cả thời gian bản thân là kẻ nghiện ngập, chơi bời, rượu chè đến tan nát nhà cửa, gây phiền lòng đến người vợ thân yêu. Vũ Bằng lại rút ruột gan ra kể lại kinh nghiệm làm báo đủ thể loại của mình và kể rất cụ thể và sinh động về mỗi ngành chuyên môn của báo chí, từ Báo tếu sang Báo đấu tranh, đến Báo xây dựng rồi “Báo hại”. Cuộc đời bốn mươi năm làm báo của chính Vũ Bằng từ khi bén duyên với văn nghệ vào những năm thập niên 30, 40 đến khi nhận những chức vụ cao cấp tại các toà báo như vị trí chủ bút tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy, thư ký tòa soạn tờ Trung Bắc Chủ Nhật và cộng tác với nhiều tờ báo ở Hà Nội, Sài Gòn, rồi quãng đời ông làm báo lưu động ở khu Ba.

Ông cũng chân thật khi lột trần những góc khuất tiêu cực trong nghề báo như chuyện “bôi trơn”, đút lót, làm tiền, tham nhũng, bóc tách từng thế lực “chống lưng” cho cơ quan ngôn luận phát ngôn, mục đích của từng bài báo chính trị,…Để chấp nhận cho cái tôi chân thật của mình lên tiếng trong một tác phẩm công khai, Vũ Bằng phải dũng cảm và trách nhiệm với nghề báo vô cùng. Vì nhiệt huyết, đam mê và trách nhiệm với nghề con chữ này, mà ông dùng mọi bút lực để vạch trần những thiển cận, tiêu cực của nghề, không phải để hả hê hay tự thấy bản thân ngạo nghễ, mà vì tương lai trong sạch, đanh thép của báo chí nước nhà. Vũ Bằng tự nhận thức được mình đang nắm trong tay “quyền lực thứ tư” của xã hội. Vì thế, ông ý thức được, dưới cương vị là một nhà báo phải chịu trách nhiệm cho từng lời viết ra, hiểu được những hệ luỵ và tiêu cực trong nghề để điều chỉnh.

Bằng cái tôi đầy dũng cảm của mình, tác giả hiểu rằng báo chí phải đại diện cho người dân thấp cổ bé họng, thay họ nói lên tiếng nói đấu tranh, đòi lại công bằng từ oan ức, bế tắc. Với hồi ký “Bốn mươi năm nói láo”, Vũ Bằng đã truyền cho những nhà báo tương lai tình yêu nghề báo và tinh thần trách nhiệm với ngòi bút của mình, truyền cho độc giả bốn phương tình cảm quý trọng nghề báo và coi nhà báo là người “cùng phe” – giúp họ giải toả oan khiên trong đời. Trong từng trang hồi ký, Vũ Bằng đã viết rất chân thật bằng tấm lòng đam mê con chữ, trách nhiệm với nghề và thẳng thắn bày tỏ những điều mình nghĩ, góp phần làm nên giá trị cho cuốn hồi ký mang hơi thở riêng Vũ Bằng.

2. Cái tôi đong đầy hoài niệm và nỗi nhớ trong bút ký “Thương nhớ mười hai”

Với bút ký “Thương nhớ mười hai”, tác giả Vũ Bằng gieo những con chữ đầu tiên khởi nguồn cho tác phẩm vào những ngày đầu tháng Giêng năm 1960. Trải qua gần mười hai năm dồn nén, ấp ủ nâng niu, năm 1971, Vũ Bằng hoàn thành “đứa con tinh thần” mà như nhà văn Triệu Xuân đã từng ca ngợi “là một trong những áng văn bất hủ viết về đất nước quê hương”.

Tác phẩm “Thương nhớ mười hai” gồm phần Tự ngôn và mười ba chương sách, trong đó, mười hai chương viết về những hoài niệm, nỗi nhớ sản vật, thiên nhiên, lễ tết, phong tục tập quán,…của từng tháng trong năm ở quê hương Bắc Việt, riêng chương cuối, tác giả Vũ Bằng viết về phong tục ngày Tết quen thuộc của quê hương.

Đi từ nỗi nhớ được dàn trải đậm đà và sự xót xa hoài niệm vùng đất Bắc Việt, tác giả Vũ Bằng giới thiệu về Hà Nội – tình yêu đối với Hà Nội bằng sự cảm nhận tinh tế trong mười hai tháng với mười hai cuộc đổi thay của tiết trời, mười hai sự rung động uyển chuyển của năm tháng, của chim muông, của sắc đẹp, của hoa lá, của thương yêu, tình tứ. Đối với Vũ Bằng “mỗi tháng lại có những cái đẹp não nùng riêng, những nỗi nhớ riêng” và tác giả ghi lại không nhằm mục đích gì cao rộng, chẳng qua chỉ là đánh dấu những ấn tượng hiện ra trong trí óc. Đối tượng được nhà văn gợi nhớ nhiều nhất trong “Thương nhớ mười hai” là thiên nhiên, cảnh vật Bắc Việt. Hầu như chương nào của tác phẩm, Vũ Bằng cũng đều đi từ sự chuyển sắc của thiên nhiên, dựa vào mùi vị đất trời mà khởi phát cho nét vẽ Bắc Việt được rõ nét. Nhờ vào ngòi bút tài hoa của Vũ Bằng mà khi đọc tác phẩm “Thương nhớ mười hai”, những người Bắc Việt xa quê cũng nhớ lại rõ mồn một chi tiết từng khoảnh khắc giao mùa ở quê hương, như đã khắc chạm vào trong huyết mạch, chỉ cần lay động nhẹ bằng hình tượng và đánh thức dậy bởi văn phong đẹp như tranh của tác giả mà hoài niệm ùa về như thác lũ. Nó cũng khiến những người con mảnh đất khác, chỉ một lần đọc qua cũng rùng mình bởi cái rét nàng Bân hay cảm nhận được những cơn mưa rào thơ mộng.

Nỗi nhớ, hoài niệm trong hồi ức của tác giả không chỉ dành cho thiên nhiên, cảnh sắc Hà Nội mà còn dành cho người vợ đầu ấp tay gối. Ngay từ lời đề từ cho tác phẩm “Thương nhớ mười hai”, tác giả đã thể hiện cái tôi ấp ủ nỗi nhớ thương dành cho quê hương và người vợ thân thuộc: “Bắt đầu viết cuốn sách này là nhớ. Viết đến câu cuối bài tháng Chín thì là thương. Thương không biết bao nhiêu, nhớ không biết ngần nào người bạn chiếu chăn: NGUYỄN THỊ QUỲ.” [3;tr.5].

Tác phẩm ký này Vũ Bằng viết tặng cho người vợ tảo tần hôm sớm, lo toan, hi sinh cả đời vì tác giả, chịu bao lời khinh khi của miệng đời trong thời gian Vũ Bằng tham gia hoạt động mật. Bà là người phụ nữ đại diện cho con người xứ Bắc kiên cường, nhẫn nại và mang nét đẹp chịu thương, chịu khó của người phụ nữ Việt Nam bao đời. Bà Quỳ là người vợ mà Vũ Bằng tri ân, thương nhớ suốt đời, trở thành nguồn cảm hứng dạt dào trong nhiều sáng tác của ông. Đối với Vũ Bằng, bà Quỳ không chỉ là người vợ mà còn là người mà ông biết ơn cả đời, người đã vực ông dậy trong những ngày mê đắm thuốc phiện, nhẫn nhịn chịu bao lời oán trách của xã hội vì ông mang tiếng là kẻ “dinh tê, di cư, phản bội”, bà vẫn luôn chờ đợi ông trở về cố hương để gia đình sum họp, êm ấm.

Vì vậy, trong tác phẩm “Thương nhớ mười hai”, hầu như chương nào, tác giả cũng dành không gian riêng để tái hiện hoài niệm, hồi ức gắn liền với người vợ tận tụy của mình bằng những lời tâm tình tràn đầy yêu thương như đang thủ thỉ. Cái tôi hồi tưởng, nhung nhớ, hoài niệm của Vũ Bằng thể hiện đầu tiên qua việc miêu tả người vợ bằng những nét tả vô cùng chi tiết, sống động: Bà Quỳ là một người phụ nữ đẹp với “bóng lưng thon nhỏ”, “đôi má đỏ hây hây mùi cốm giót”, “thơm ngát mùi hoa cau”, mang vẻ tươi sắc của xứ Bắc kiêu kì mà giản dị. Thông qua cách miêu tả của Vũ Bằng, người vợ ấy hiện ra lung linh, huyền ảo như được thiên nhiên tô màu “trong mắt vợ cũng như có trăng, có trăng ở cả toàn thân, mặc quần áo mà như là khỏa thân, chạm mạnh vào thì vỡ”, “đôi má vợ phơn phớt hồng như hoa đào, tấm áo nhung đen rưng rức làm nổi bật sắc da ở cổ tròn trịa hẳn lên, cặp môi có vẻ thắm thêm một chút,…, làn da ấm áp thơm thơm mùi hoa chanh” [3;tr.45].

Những hành động, lời nói chăm sóc thường nhật của người vợ cũng đều được Vũ Bằng tái hiện lại sinh động như một thước phim đen trắng cũ kĩ nhưng đủ khiến xung động thần kinh của người đọc rung lên vì cảm động, hòa chung cùng nỗi thương nhớ thiêng liêng của tác giả: “Và càng thương hơn nữa là khi thấy người đàn bà chậm rãi vuốt ve từng cái tà áo, lồng nhỏ nhẹ từng cái khuyết vào cái khuy rồi xếp vuông vức áo nọ lên quần kia, như thể động mạnh thì quần áo sẽ không còn vẹn tuyết trinh, vì nhàu nếp lụa” [3;tr.44].

Vũ Bằng phải thương người vợ tần tảo, chăm chút cẩn thận cho chồng con đến tột cùng nên trong trang hồi ký của ông, nỗi hoài niệm, mong nhớ vẫn luôn tràn đầy. Trong ký ức hoài niệm đó, ông yêu mến, trân trọng bà Quỳ còn vì sự tinh tế, ý nhị, hiểu chồng của bà Quỳ “người vợ biết ý chồng, mua cá anh vũ nấu cháo ám thì người chồng thấy hợp giọng hơn nhiều lắm” [3;tr.45]. Có lẽ nhờ tài tháo vát, đảm đang của vợ mà những món ăn vợ làm, người chồng đều nhớ như in, cả mấy năm sau, hương vị vẫn còn như tê tê nơi đầu lưỡi. Từ đó, mà không tiếc chi những lời khen ngợi yêu thương không hề che giấu, ngượng nghịu “Nhớ quá chừng là nhớ, thương không biết ngần nào là thương. Thương nhất là người vợ bé nhỏ yêu chồng, mùa nào thức ấy, không bao giờ đợi cho chồng phải nói lên sự ước mơ” [3;tr.52]hay nhớ thương hoài niệm đến nỗi không cản được phải giãi bày chân thật “Em ơi, em ơi, nhắc lại như thế thì nhớ quá. Nhớ cũng đúng vào cữ tháng Ba như thế này, và một năm đã xa xôi, chúng ta cùng nhịn đói đi xem tung còn mà bụng thấy no, phải không Quỳ?” [3;tr.53].

Nỗi nhớ ùa về từ những kỉ niệm hai vợ chồng cùng đi trẩy hội chùa, xem hội tung còn hay về Vụ Bản thuê căn nhà rơm nghỉ mát… Câu hỏi tu từ “Quỳ ơi, bây giờ em ở đâu?” như đang xé tâm hồn con người nhung nhớ và cái tôi hoài niệm của tác giả thành từng mảnh lụa nhỏ, rơi rớt khắp các ngày tháng kỉ niệm, mỗi mùa, từng tháng lại một kỉ niệm vợ chồng đầm ấm, ái ân khác nhau, nhưng lại đau xót xiết bao.

3. Cái tôi nồng nàn tình yêu quê hương trong bút ký “Miếng ngon Hà Nội” và “Miếng lạ miền Nam”

Hai tập bút ký “Miếng ngon Hà Nội” và “Miếng lạ miền Nam” của Vũ Bằng được xem là hai cuốn cẩm nang ẩm thực hai miền Nam, Bắc sống động và đồng thời thể hiện tính trào lộng, hóm hỉnh quen thuộc trong cách viết của Vũ Bằng. Trong bút ký “Miếng ngon Hà Nội”, Vũ Bằng kể về 15 món ngon nổi tiếng trong kho tàng ẩm thực độc đáo của xứ Bắc Việt. Đó là phở, là rươi là các thứ bánh và không thể thiếu được món “mộc tồn”. Mỗi món ăn đều được tác giả đặc tả chi tiết, sinh động từ việc liệt kê nguyên liệu, cách bài trí, cách ăn, cách thưởng thức của người dân ở vùng đất này.

Tính trào lộng được thể hiện ngay trong chính từng cách ăn có phần “khó tính” của người miền Bắc: “Nếu ta đã từng thấy có những người giàu có, nghiện thuốc phiện, chui vào những cầu gác bẩn thỉu, hôi hám để ăn thuốc mới thấy “đã thèm”. Thì ta lại cũng thấy biết bao nhiêu người sang trọng lần mò tới chỗ rất tồi tàn để ăn cho được một hai bát phở. Đó là do người ăn phở sành, hầu hết, chỉ chủ tâm đến cái điểm chính là phở mà thôi, chứ không quan tâm đến ngoại cảnh làm gì. Điều cần thiết là bánh phải mỏng và dẻo, thịt mềm, và nhất là nước dùng phải ngọt, ngọt kiểu chân thật, nghĩa là ngọt vì nhiều xương, tẩy vừa vặn không nồng, mà lại tra vừa mắm muối, không mặn quá mà không nhạt quá..” [4;tr.33].

Vũ Bằng lấy những hình tượng đối nghịch nhau giữa người giàu/kẻ nghiện thuốc cùng vào nơi “cầu gác bẩn thỉu, hôi hám” để ăn “phở” tạo nên sự so sánh thú vị. Nhiều người Hà Nội “nghiện” món phở cũng như kẻ nghiện thuốc. Tác giả hóm hỉnh đề cập đến cách sành ăn của người Bắc Việt, đề cao sự cầu kỳ, tỉ mỉ, tròn vị đến từ công cuộc thu hoạch, lựa chọn nguyên liệu, gia vị phải nêm đúng liều lượng đủ dùng, vừa ăn, lại phải gia giảm phụ gia sao cho mọi vị chua cay mặn ngọt đều phải hài hoà. Chính cách ăn cầu kỳ, đề cao cách làm truyền thống của người miền Bắc đã tạo nên sự trào lộng trong ngòi bút của Vũ Bằng. Tác giả nhận định “người xứ Bắc sành ăn và kén ăn ghê gớm, họ dễ nổi giận nếu như món ăn không hợp miệng” [4;tr.34]. Bởi vậy mà xoay quanh miếng ăn thôi cũng đủ thứ chuyện dở khóc dở cười, như chuyện “hàng phở đợi” nức danh Hà thành: “Anh ta cứ thản nhiên, thái thịt, dốc nước mắm, rưới nước dùng – ai đợi lâu, mặc; ai phát bẳn lên; mặc; mà ai chửi, anh ta cũng mặc. Đi ôtô đến ăn cũng thế, mặc áo vải đến ăn cũng thế; các bà các cô đẹp đáo để, đến ăn cũng thế. Anh ta không đặc biệt riêng với ai – kể cũng dân chủ đấy! – nhưng có nhiều bà tức vì anh ta không nịnh đầm. Ghét quá. Thế thì thuê một cái nhà rộng, mượn thêm người làm có phải lợi không? Hay là điều đình với xưởng củi người ta để cho một gian, bày mấy cái bàn, cái ghế, có người trông nom, tính tiền cẩn thận có phải không mất mát không? Mặc cho ông cứ nói, anh phở Tráng không trả lời – nhất là không bao giờ cười. Trông mà lộn ruột, muốn tát cho một cái. Chết một nỗi ghét người thì thế, nhưng đến cái phở của anh ta muốn ghét, không tài nào ghét được.Có ai chen chúc vất vả, hò hét đứt hơi được một bát phở của anh, mà lại chưa ăn ngay, còn dừng lại một phút để ngắm nghía, phân tách bát phở đó ra thế nào không?”[4;tr.53].

Bút ký “Miếng ngon Hà Nội” thông qua cái tôi hóm hỉnh của Vũ  Bằng là món ăn dù bán trong góc tối, xó xỉnh nhưng không phải ai cũng ăn được. Những kẻ sành ăn muốn món ăn tròn vị thì dù tức tối vì chờ đợi, vì không được coi là thượng khách vẫn phải chấp nhận. Mười lăm thức ăn, đặc sản, thức quà của Bắc Việt được tác giả gợi lên thông qua đầy đủ các giác quan để cảm nhận trọn vẹn hương sắc, mùi vị của chúng. Là món bánh cuốn phải có nước mắm ngon “Ăn vào đến đâu, ấm ngay lòng đến đấy. Thú hơn một bực là mình được ngồi ngay đầu quán mà ăn, được chiếc nào, ăn chiếc đó, thiếu nước chấm thì gọi lấy thêm ngay. Ở nhà, mỗi lúc đâu đã có cái thú tự nhiên như vậy? Mình lại thấy bắt thương cho những ông khệnh khạng, ăn một miếng giữ gìn một miếng, chỉ sợ ngồi ở “đầu đường xó chợ” thì “nhĩ mục quan chiêm”; món bánh Xuân Cầu “ngấy ơi là ngấy” nhưng cứ mùng một Tết ăn vào lại ngon đáo để “Cầm lấy một miếng bánh mà thưởng thức! Lấy lưỡi đẩy một miếng lên khẩu cái, bạn sẽ thấy bánh reo lên nhè nhẹ, tan ra nhè nhẹ; dư vị của mật quyện lấy đầu lưỡi ta; cái béo, cái ngậy cùng với cái ngọt, cái bùi vuốt be hầu đầu ta và đem lại cho ta cảm giác đương nghe thấy trong lòng dạo lên một bản nhạc có tiếng đồng chen tiếng sắt.” [4;tr.24].

Đối với các món ăn đặc sản quê hương, nhà văn chú tâm miêu tả chi tiết hơn, như muốn tất cả tình yêu quê hương được ướp đậm vào những món ăn tinh tế. Văn chương của Vũ Bằng khi đặc tả những món ăn trở nên trôi chảy lạ thường, khiến độc giả cảm tưởng như đang được thưởng thức món ăn được bày ra trên trang giấy, nhận thấy vị tan trên đầu lưỡi, hương thơm dậy nơi sống mũi. Chính những món ăn đã đi vào tâm hồn, vương vấn bước chân của người con xa quê luôn muốn chạy ào về với quê mẹ đã khiến Vũ Bằng càng thương nhớ lại càng yêu thương. Từ đó, ta mới nhận thấy, thật sự, Vũ Bằng đã mang tâm hồn Bắc Việt vào đất Sài thành và bên trong con người với tình yêu thương đáng quý kia vẫn ngào ngạt màu sắc, hương vị Hà Nội, không phai tàn hay nhạt màu theo năm tháng.

Trải qua mấy mươi năm sống nơi Sài Gòn phồn hoa, tác giả vẫn không nguôi thương nhớ Hà Nội. Vì lẽ đó, mà những dấu ấn hoài niệm của tác giả vẫn in đậm trong tâm trí về con người và thức quà đặc trưng của vùng Bắc Việt thân thương. Thế nhưng, “nhập gia tuỳ tục”, tác giả vẫn trân trọng và yêu mến mảnh đất miền Nam hồn hậu, ân tình. Tác giả cũng yêu Sài Gòn và miền Nam mến thương như yêu Bắc Việt. Bởi mấy mươi năm xa đất kinh kì, tác giả mang theo nỗi thương nhớ dành cho cố hương vào lập nghiệp tại miền Nam, dù trong lòng vẫn đau đáu vì nỗi xa cách quê hương, gia đình, vợ con, nhưng thời gian cũng xoa dịu phần nào và chính mảnh đất miền Nam khoan dung đã che chở, bao bọc và khiến Vũ Bằng học cách hòa mình vào cuộc sống bận rộn ở Sài thành.

Cái tôi hóm hỉnh của tác giả thể hiện trong bút ký “Miếng lạ miền Nam” ở chỗ món nào tác giả cũng “khen” từ nguyên liệu dân dã độc lạ rùa, chuột đồng, rắn, ốc,…mà miền Nam mới có, gia vị nêm nếm lạ kì đến “khen” người nấu là người vợ, người mẹ, người cô, người em cũng như “hóa thành” thức ăn hảo hạng. Tác giả “giễu” người đô thành không biết ăn thịt chuột: “Ở Bắc Kỳ, tại các miền quê, có khối người ăn thịt chuột, nhưng anh chỉ nghe thôi mà thực mắt thì chưa thấy ai ăn bao giờ. Anh ta quan niệm rằng những người ăn uống như thế là ăn uống lem nhem, bần cùng bất đắc dĩ mới phải ăn thịt chuột; phải chi có tiền để ăn thịt lợn, thịt gà, thịt bò, thịt vịt thì chắc chắn không có ai nghĩ tới chuyện ăn thịt chuột bao giờ.” [5;tr.21], để rồi tác giả lật ngược lại ý nghĩ về thịt chuột vừa sợ, vừa ghê đó bằng việc ca ngợi thịt chuột còn được ưa chuộng và ca tụng hơn cả thịt gà, thịt vịt, thịt rừng, thịt chó.

Cái tôi hóm hỉnh của tác giả không chỉ đề cao thịt chuột mà còn đề cao “người chế biến” món ăn này: “Cô Năm đi chợ, anh thấy chính cô cũng ca ngợi thịt chuột và mua về mấy chục ăn chơi. Người cô đẹp, giọng cô hữu tình, mắt cô lại lẳng: thế là chết anh đàn ông, tự nhiên nhìn thấy cái gì của cô cũng đẹp, lời nói nào của cô cũng hữu lý có duyên và anh ta muốn ăn thử xem thịt chuột ra thế nào mà người đẹp ca ngợi hết lời như vậy. Cái máu mê của anh đàn ông đa tình đánh cho chết cũng không bao giờ thay đổi. Nhưng vốn đã biết tính đa nghi của vợ, anh vẫn làm bộ giẫy lên đây đẩy để cho chính vợ phải khuyên nhủ đừng làm buồn cô Năm, anh ta mới không chê ỏng chê eo. Ừ thì ăn, đã làm sao chưa? Anh ta nghé bên này, ngó bên kia, làm ra cái bộ ngạc nhiên hết sức, nhưng rút lại cũng cứ bám cô Năm đi hết các dẫy hàng ở chợ để xem cô lựa chuột” [5;tr.35]. Nhìn món ăn miền Nam không chỉ thấy ngon phần hình thức mà còn bổ âm dương, cường tráng sinh lực và quý tình người nấu. Tác giả “khen” món đuông cũng vậy: “miếng đầu kinh kinh, nhưng liều nhai thử xem sao; đến miếng thứ hai – ờ này, nó ngầy ngậy, beo béo nghe hay đáo để. Miếng thứ ba vừa nhai vừa nghĩ, thì thấy nó đặc biệt không thể ví được với bất cứ một thứ gì mình đã được ăn từ trước tới nay… Thế rồi thì đến miếng thứ năm, thứ sáu – phải nói thực là mình đã bị đuông cám dỗ. Rồi từ đó mình thành ra mê đuông – có khổ không?!” [5;tr.47].

Từ đó, nhà văn dùng cái tôi hóm hỉnh của mình để “khen” món lạ miền Nam mà ông từng được thưởng thức. Thông qua tác phẩm “Miếng lạ miền Nam”, ta nhận thấy ở cái tôi Vũ Bằng nồng nàn tình yêu quê hương đất nước. Ẩn chìm trong câu chữ đậm đà tình người và hóm hỉnh, tươi vui trong tâm tưởng, nhà văn đã tái hiện sống động, đầy màu sắc, âm thanh và hương vị những thức quà miền Nam hấp dẫn, đậm đà ân tình bằng lời văn mộc mạc, phong cách bình dân có khi bỗ bã của mình. Từng món ăn nơi quê hương thứ hai miền

Nam nồng hậu mang những nét đặc trưng riêng khiến cho cả những người con ở miền đất khác cũng như được trực tiếp nếm những món ăn dân dã, đầy hoài niệm và yêu thương theo cách đặc tả khéo léo của Vũ Bằng. Ký là một trong những thể loại văn học thành công bậc nhất của địa hạt văn chương Vũ Bằng, thể hiện lượng kiến thức, vốn sống đồ sộ, sự trải đời dạn dày kinh nghiệm của nhà văn. Trong các sáng tác ký của Vũ Bằng, tinh túy nhất, chắt lọc nhất là tình yêu quê hương đất nước, con người Việt Nam được thể hiện bằng tất cả lòng thành kýnh, trân quý thông qua cái tôi đầy cá tính của tác giả.

Vũ Bằng đã dùng cái tôi chân thành, dũng cảm, đầy trách nhiệm trong “Bốn mươi năm nói láo” để phác họa lại diện mạo của nền báo chí Việt Nam, cũng như vạch trần những góc khuất tiêu cực của nghề báo nói riêng. Cái tôi hoài niệm, thương nhớ lại trải dài trong “Thương nhớ mười hai” với tâm tình về Bắc Việt và người vợ yêu dấu – được giãi bày trong sự tha thiết đến chới với, muốn nói thật nhanh, muốn nói ra bằng được những cảm xúc yêu thương, mong nhớ bấy lâu dồn ép. Và trong hai bút ký “Miếng ngon Hà Nội” và “Miếng lạ miền Nam”, tác giả lại phần nào thể hiện cái tôi hóm hỉnh, hài hước của mình trong việc thể hiện “nết ăn, nết ở” của con người hai miền Nam Bắc. Chính những nét riêng ấy đã góp phần làm nên chất văn độc đáo của Vũ Bằng. Cái tôi của tác giả dù ở màu sắc nào cũng đều đậm đà bản sắc dân tộc. Vũ Bằng – thực sự là con người của tình yêu và lẽ sống, là người con Việt Nam không bao giờ nguôi niềm khắc khoải cống hiến cho nền văn học dân tộc.

Tài liệu tham khảo:

[1]. Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (chủ biên) (2006), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam,

Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[2]. Vũ Bằng (2001), Bốn mươi năm nói láo, NXB Văn hóa thông tin.

[3]. Vũ Bằng (2021), Thương nhớ mừơi hai, NXB Văn hóa thông tin.

[4]. Vũ Bằng (2021), Miếng ngon Hà Nội, https://www.dtv-ebook.com/doconline.

[5]. Vũ Bằng (2017), Món lạ miền Nam, https://sachtruyen.net/.

[6]. Vũ Xuân Triệu (2009), “Nét đặc sắc trong hồi ký Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng“, Tạp chí Non Nước, số 148, 7/2009, tr. 63 – 69.

1/3/2022
Lê Y Pha

Theo https://vanhocsaigon.com/

Tự tín, một phẩm chất của Nho gia ngày trước

Tự tín, một phẩm chất của Nho gia ngày trước Nho giáo, với tư cách là một học thuyết đạo đức, thường nhấn mạnh sự đòi hỏi về đức khiêm cun...