Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Một cõi đi về

Một cõi đi về

Năm 1966, Nhà Xuất Bản An Tiêm ấn hành ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn: “Thần Thoại Quê Hương - Tình Yêu Và Thân Phận“, những ca khúc trong tác phẩm nầy được anh ôm đàn hát ở Viện Đại Học - Huế.
Thủa ấy Nguyễn Văn Phương [Phương Xích Lô] và tôi đã là đôi bạn sớm có máu lãng đãng trong người. Một hôm Phương rủ tôi:
  • T. tối nay đi nghe Trịnh Công Sơn hát ở Viện Đại Học với tao không?
  • Ừ !
Đêm Trịnh Công Sơn một mình ôm đàn hát ở Đại Học Văn Khoa năm 1967, tôi còn nhớ trong thính phòng có khoảng bảy tám mươi khán thính giả, hầu hết là sinh viên và giáo sư, có lẽ chỉ có Phương và tôi là hai cậu thiếu niên học sinh. Hình ảnh Trịnh Công Sơn, phong cách, trang phục giống những người thầy dạy trung học thời ấy.
Sau Mậu Thân [1968] ba mẹ tôi mua căn nhà 1 - Hồ-Xuân-Hương - Huế để ở, vì quê hương thời loạn không thể sinh sống được. Nhà của Phương nằm trong hẽm kiệt 1 - Chi-Lăng nên chúng tôi thường gặp nhau, hơn nữa hai đứa có chung căn bệnh. Đó là bệnh “mộng làm thi sĩ“.
Vào một buổi sáng chủ nhật Phương đến nhà tôi rất sớm rủ tôi:
- T. mi đi với tau qua mời anh Trịnh Công Sơn uống cà phê không?
- Tôi chẳng cần hỏi mi quen anh TCS bao giờ!“, vì tính Phương thế gian mọi sự cứ tự nhiên, nhưng bạn rủ thì tôi cứ đi.
Tuổi trẻ, cố đô Huế, mỗi con đường, hàng cây, cảnh sinh hoạt còn dấu nỗi đau sau tết Mậu Thân oan nghiệt với bài ca “Chiều Đi Qua Bãi Dâu Hát Trên Những Xác Người“ của Trịnh Công Sơn.
Phương và tôi qua cầu Trường Tiền. Ôi! Chiếc cầu trước 1968 biểu tượng tà áo trắng yêu kiều của nữ sinh Đồng Khánh và dòng Hương ngày ấy chẳng khác nào mái tóc thề của những người đẹp Huế mộng mơ. Sau Mậu Thân chúng tôi đi qua cầu, hai đứa ngắm nhìn cảnh sinh hoạt của Huế ngày ấy mà ngậm ngùi, chiếc cầu đã gãy hai nhịp chúi xuống nước, tôi và Phương đi qua nhịp cầu bằng gỗ thẳng băng nối lại bốn vài tám nhịp của hai bờ.
Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, một tài năng rất mực của Quảng Nam - Đà Nẵng đã thay người Huê` nói lên nỗi đau của cầu Trường Tiền qua ca khúc “Chuyện Chiếc Cầu Đã Gãy“:
Một ngày vào thủa xa xưa...
trên đất Thần Kinh
người bỏ công lao
xây chiếc cầu xinh.
Nước dưới cầu nước vẫn trong xanh
như lòng người dân lành
Vì sao không thương lấy nhau
còn gây khổ đau
làm gãy nhịp cầu  . . . .
Trịnh Công Sơn hồi ấy ở trong appartement [chung cư] Nguyễn Trường Tộ, phòng số 11/3, bây giờ là Cà Phê Gác Trịnh do chủ bút Tạp Chí Tinh Văn là nhà thơ Lê Huỳnh Lâm làm chủ để đón mời khách thập phương muốn thăm thấy nơi Trịnh Công Sơn và gia đình nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từng lưu trú dài năm. Tôi theo Phương bước lên cầu thang đến một căn phòng, Phương đưa tay đẩy cửa, hình ảnh đầu tiên tôi thấy là chiếc xe đạp, một cái bàn gỗ, mấy cái ghế mây và phía trong là bức màng phủ xuống, Phương chẳng ngại ngần đi thẳng vào kéo màng đánh thức người đang ngủ:
-  Anh Sơn! Dậy đi uống cà phê với bọn em?
Tôi thấy Trịnh Công Sơn nằm trên ghế bố đắp chăn, đầu hướng lên phía nhà thờ Phủ Cam, giọng anh Sơn còn ngái ngủ đáp
- Hôm qua anh say quá, hai em đi đi...:
Trên đường đến quán cà phê ở Bến Ngự, Phương hỏi tôi:
- Mi có muốn làm với bác Trần Như Hy kiếm tiền tiêu không?                                                
- Làm chi?
- In lụa, đúc mấy mẫu hàng mỹ thuật, tau đang làm nhưng tay chân tau không chú tâm nên hàng hay bị hỏng.
Thời điểm ấy là ba tháng hè nên tôi đồng ý.
Gia tộc bác Trần Như Hy ở đường Phan Đình Phùng, bên cạnh là nhà in Thánh Tâm, cách chợ Bến Ngự khoảng năm trăm mét. Đó là một gia tộc lớn với căn nhà rường, sân trước vườn sau rộng thênh thang. Hồi ấy bác Hy làm thư ký ở Viện Đại Học - Huế, ngoài công việc của ngành giáo dục, bác còn năng khiếu về nghệ thuật nên bác mở xưởng in lụa, làm những mẫu hàng mỹ thuật cung cấp cho thị trường. Khi Phương giới thiệu tôi, qua một vài hôm thử việc, bác bằng lòng nhận tôi làm chính thức.
Ngày ấy bác sĩ Bửu Châu và Bửu Tôn, em vợ bác Hy đều ở trong căn nhà rường quý tộc ấy. Tôi làm công với bác Hy trong ba tháng hè, đến kỳ đi học buổi nào rảnh tôi có thể lên phụ việc với bác. Kỷ niệm ngày xưa, mỗi lần nhớ lại thì lòng xao xuyến như mây trời tụ tán. Làm sao quên được anh Trần Như Hùng, con trai trưởng, là bạn học chung lớp với anh tôi ở trường Nguyễn Tri Phương, anh thay bác Hy điều hành mọi việc, thường chở tôi lên Long-Thọ để đổ đồng những mẫu hàng tôi đúc. Trai gái của vợ chồng bác Hy đều là tài sắc của Huế. Làm sao tôi quên được năm tháng tôi in lụa ở Bến Ngự. Khánh Trang, em gái của anh Hùng, ngày ấy nàng học trường Đồng Khánh, đôi má ửng hồng như hoa đào Đà Lạt, những chiều nghỉ học nàng hay nấu chè bắp, khi tôi đang siêng năng làm hàng ở phòng sau ngó ra vườn, nàng thắm tươi bưng chén chè bắp vào phòng cho tôi nhẹ nhàng nói:
  • Anh, anh nghỉ tay ăn chè em nấu đó.
Trời ạ! Làm sao tôi không cảm xúc cho được.
Có một buổi trưa tôi đang cặm cụi đổ khuôn đúc, nàng đi học về vô phòng tôi, giọng nàng hớt hãi nói:
  • Anh T. biết không, Trang đi học về, chút nữa thì Trang té xuống bến sông mà anh hay rửa tay chân đó.
Trước mặt nhà nàng có một bến sông, thường buổi chiều khi xong công việc, tôi xuống đó rửa tay chân. Dòng sông Bến Ngự, cỏ cây, hoa lá đẹp như một ca khúc và ca khúc bội phần hay hơn khi trong tim thầm yêu một bóng hình.
Những lời nàng nói đến bây giờ tôi vẫn mãi nhớ như niệm khúc đẹp nhất trong đời người, có hôm nàng đi học về chưa thay áo quần nữ sinh, vô phòng tôi làm việc, nàng nói:
- Hồi sáng Trang đi học đang đứng trong sân trương thì Trang thấy anh đi ngang cổng trường đó.
Khánh Trang đã để lại trong lòng tôi nhiều thanh sắc mơ ước và tôi làm thơ... đến nay chỉ còn nhớ lại bốn câu:
Khánh Trang! Khánh Trang
tim ta gọi nàng
khắp trời Bến Ngự
gió chiều mênh mang.
Rồi khói lửa chiến chinh cuốn đời tôi đi qua chín khúc đoạn trường, tôi không còn gặp lại Khánh Trang nữa. Năm 1985 tôi về Huế tìm Phương, anh chàng tự nhiên như nhiên ấy bây giờ là bác xích lô thứ thiệt, Phương có nói với tôi:
  • Bữa nớ tau chở Khánh Trang và bác gái từ ga về nhà, tau có nói thằng T. ngày ấy thầm yêu nhớ trộm Khánh Trang.
Ừ! Thằng bạn mình thay mình chuyển lời yêu đến với Khánh Trang như vậy là tốt rồi, bởi lẽ tuổi trẻ thời học sinh yêu ai chẳng bao giờ dám hé nửa lời.
Sau nầy Phương còn thông tin cho tôi nhiều diễn biến trong gia đình bác Trần Như Hy nữa.
  • Trần Như Hiển lấy em ruột Trịnh Công Sơn!!!
  • Khánh Trang có người yêu du học ở Nhật, nàng ở vậy chờ mong!!!
Năm 1992 tôi đang điều hành văn phòng du lịch VYC 8 tại 183 Võ Văn Tần - Q.3 Sài Gòn, có lẽ văn phòng tôi là một trong những đường dây đầu tiên đón khách Tây, khách Mỹ đến Việt Nam. Thời ấy Cao Hữu Điền là Trưởng Phòng hướng dẫn, Điền bậc thầy đàm thoại cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Khi tôi đón đoàn khách Pháp tại phi trường Tân Sơn Nhất, Điền nói với tôi:
- Ngày mai mi nên đặt tiệc tại nhà hàng “Quán Trịnh!!!” ở đường Hai Bà Trưng, đó là nhà hàng của anh em Trịnh Công Sơn.
Trưa hôm sau tôi đưa đoàn khách Tây đến nhà hàng ấy. Sau bữa tiệc đãi khách, tôi ra quầy thanh toán. Trời ạ! Lạ lùng thay, caissière [thủ quỹ] là Khánh Trang, tôi ngỡ ngàng không tin vào mắt mình nữa, chưa dám mở lời, chỉ nhìn nàng với trang phục màu đen, nàng ngước mắt lên rồi cúi mặt xuống, tôi nói:
  • Trang! Trang! Nhớ anh không?
  • Nhớ! Anh T.   
  • Sao Trang mặc áo quần màu đen buồn vậy?
Tôi nhớ mãi ngấn lệ rưng rưng trong mắt nàng trưa hôm ấy.
Tết Canh Tý [2020] tôi về Huế, một buổi sáng dừng chân ở Bến Ngự đi tới căn nhà rường của gia đình Khánh Trang, cửa cổng vòng cung đóng kín, một tấm bảng nhũ vàng có hàng chữ “Phủ...” tôi nhìn vào, bên trong không một bóng người, chỉ có những bông hoa hải đường ngày trước vẫn thắm tươi trước sân nhà quý tộc.
Năm 1984 sau một thời gian về sống với ba mẹ, anh em ở quê nhà không được bao lâu thì máu lang thang nổi dậy, tôi lại tìm về xứ anh đào tạm cư trong nhà vợ chồng nhạc sĩ Phan Bá Chức, làm đủ ngón nghề kiếm sống, quấn thuốc lá, in lụa, phụ thợ hồ...1985 thì về Sài Gòn sống lây lất nơi nầy nơi kia. Nơi tôi trú ngụ thường xuyên là kho tăm nhang của chị Sáu Phương, chị người Bến Tre, nhan sắc mặn mà, lòng chị như mùa xuân, bốn mùa tươi tốt rộng mở. Ngày ấy Đoàn-Đại-Oanh là cán bộ to của thành ủy Hồ-Chí-Minh, anh Oanh sinh trưởng ở Bãi Dâu - Huế, tốt nghiệp sư phạm Quy Nhơn sau anh Trịnh Công Sơn, ra trường anh dạy ở Tuy Hòa rồi đổi lên Đà Lạt. Năm tháng kỳ hồ ở Sài Gòn thỉnh thoảng tôi ngủ lại ở nhà anh tại 40 - Cư Xá Tự Do - Tân Bình, chị Tâm, vợ anh người Huế có bàn tay nấu bún bò và làm nem ché, thỉnh thoảng tôi phụ giúp chị giã thịt làm ché, chị thường nói:
  • Trịnh Công Sơn thích ăn ché chị làm.
Mỗi một hai tuần Trịnh Công Sơn đến nhà chơi và lấy ché, nhưng thường là anh Oanh đem ché cho Trịnh Công Sơn.
Năm 1986 tôi làm thủ kho cho cơ sở tăm nhang của chị Sáu Phượng. Tôi đã lăn lóc qua mười một quận Đô Thành nhưng chưa có nơi nào cây cao bóng cả như rừng lục ở kho tăm nhang của chị Sáu. Trước 1975 đó là doanh trại của tiểu đoàn lính nhảy dù Trần Trung Hiếu thuộc QLVNCH, chị Sáu Phượng thuê mặt bằng lớn rộng kinh doanh tăm nhang xuất khẩu qua Singapore và Hồng Kông. Những năm tháng tôi làm thủ kho, có lẽ là quảng thời gian yên vui, cảm xúc nhất giữa thời áo cơm là nỗi khổ của con người.
Chị Sáu Phượng đẹp, tấm lòng rộng lượng, hơn nữa cơ sở ấy còn có vợ chồng Tập – Kiều Huệ sẵn lòng đón gió bạn bè khắp nơi, bạn bè tôi từ Huế vào đến kho tăm nhang tìm tôi, có bạn xin lưu trú dài hạn như Hoàng Công Song, Nguyễn Kiên Định, Thu tóc bạc ở Bãi Dâu... hằng tháng chị Sáu chở cho tôi một tạ gạo để công nhân nam nữ nấu ăn trong những buổi làm tăng ca, tôi lấy gạo của chị nuôi bạn bè tá túc, chị biết nhưng không hề có lời nặng nhẹ.
Vào một buổi trưa tháng 6/1986 tôi đang coi sóc công nhân chẻ nhang thì anh Đoàn Đại Oanh đi vào, theo sau là nhạc sĩ Ưng Lang, tác giả “Mưa Rơi“, nhà văn Lữ Quỳnh và anh Trịnh Công Sơn. Tôi ngạc nhiên vội vã trải chiếu mời các anh ngồi, rồi vội vã đạp xe ra ngã ba Ông Tạ mua thịt chó, đậu phụng và mấy lít rượu Gò Đen. Tôi bày biện ly cốc, mồi nhắm. Trịnh Công Sơn nhìn xuộng dĩa thịt chó nhẹ nhàng nói:
  • Moi không ăn được thịt chó.
Đoàn Đại Oanh nói:
  • Mình cũng không ăn được.
Chúng tôi đang cụng ly nâng cốc trò chuyện thì có công nhân vào gặp tôi nói:
- Anh T. chị Sáu gọi anh.
Tôi đi ra gặp chị, chị nói:
- Chú! Chú quen anh Trinh Công Sơn à! Chị mê nhạc của anh lắm nhưng sao chú đãi anh Sơn tội nghiệp vậy, chú mời anh Sơn tối nay lên nhà chị, chị có rượu Ararat...
Tôi nói:
- Chị vào với em mời anh.
Chiều tối hôm ấy Đoàn-Đại-Oanh dẫn Trịnh Công Sơn và nhà thơ Lê Nhược Thủy đến nhà chị Sáu ở đường Cao Thắng. Chưa bao giờ tôi thấy chị Phượng hân hoan đến thế, rượu Ararat và mồi nhắm chẳng khác nào một bữa tiệc sang trọng. Rượu uống một vài chung, Trịnh-Công-Sơn hỏi chị Sáu:
  • Cô Phượng có cây đàn không?
  • Dạ! Có ạ!
Rồi chị lên lầu trên lấy cây đàn.
Trịnh Công Sơn so giây rồi nói:
  • Bài nầy moi mới làm cách đây ba hôm.
Anh cất tiếng hát: “Đêm chong đèn ngồi nhớ mẹ và câu chuyện ngày xưa, mẹ về đứng dưới mưa che đàn con không ngủ...
Những ca khúc trước năm 1975 đã tạo nên thiên tài Trịnh Công Sơn, những ca khúc ấy cảm xúc từ “Một Tâm Thức Sáng Tạo“ nên đi rất mau vào lòng người của mọi tầng lớp, còn những bản nhạc sau 1975, Trịnh Công Sơn cho ra đời từ “Một Ý Thức Sáng Tác“ nên hai phương trời thật khác nhau. 
{Trích từ hồi ký “Chuyện Đời Tôi“}
... Thập niên 1960 tên tuổi Trịnh Công Sơn đã là hiện tượng kỳ lạ trong nền âm nhạc Việt Nam. Nhạc của ông là một cõi riêng, không ảnh hưởng bất cứ nhạc sĩ tài hoa nào trong nước cũng như trên thế giới, nhất là ca từ, là cả hồn thơ ẩn hiện triết lý nhân sinh.
Thủa ấy trong thành nội - Huế có quán cà phê “VĂN“ chủ nhân là nhà thơ Huyền Kỳ, ngồi ở quán bên ly cà phê đen với khói thuốc Bastos, Capstan... để thưởng thức nhạc Trịnh Công Sơn qua hồn ca Khánh Ly thì bao nhiêu lo âu, khói lửa chiến chinh như có một bàn tay ấm nồng vỗ về an ủi.
Phương Xích Lô và tôi mỗi khi túi có năm đồng ba trự thường vào “Quán VĂN“ ngồi suốt buổi. Có thể nói bằng hữu của Trịnh Công Sơn thời ấy là thế hệ vàng của non nước “Thần Kinh“. Cõi thơ có thi sĩ Ngô Kha, Trần Vàng Sao, Lê Văn Ngăn, Thái Ngọc San... Hội họa có Đinh Cường, Bửu Chỉ, Lê Văn Tài, Hoàng Đăng Nhuận... Tất cả những bậc tài hoa ấy đều là bạn thân của nhau được người xứ Huế cũng như khắp nơi yêu mến, kính trọng, bởi suốt đời họ hiến dâng cho nghệ thuật chẳng màng gì khác.
Năm 1988 sau thời gian làm thủ kho thì tôi xin chị Sáu Phượng nghỉ việc để mở cơ sở sản xuất tăm nhang qua tham mưu của Đoàn Đại Oanh, tôi thuê mặt bằng ở Phương Linh Xuân, Quận Thủ Đức. Tôi thường lên Tỉnh Bình Phước thuê người Thượng chặt lồ ô chở về Sài Gòn vừa sản xuất vừa bán. Tỉnh Bình Phước nơi có núi Bà Rá mà năm 1968 trong tạp chí “Mã Thương“ có đăng bài thơ “Một Thế Kỷ Mấy Vần Thơ“ của TP, sau nầy tôi mới biết đó là bút hiệu của nhà thơ Truy Phong, hồi ấy tôi thuộc gần hết cả bài thơ dài hơn cả trăm câu:
Anh đày Bà Rá Côn Sơn
Anh dọa Sơn La Lao Bảo
Anh đoạt hết cơm hết áo
Anh giựt hết bạc hết vàng
chặt đầu ông lão treo hàng thịt
mổ mật thanh niên giữa chiến trường
Bà Rá là ngọn núi cao duy nhất trên núi rừng tỉnh Bình Phước, ở nơi ấy giặc Pháp đã xây dựng nhà tù đày đọa những người yêu nước.
Một ngày tôi thả bộ ở thị trấn Phước Bình thấy một quầy sách báo bên đường, tôi ghé vào mua mấy tờ báo. Trời ạ! Chủ quầy báo là nhà thơ Huyền-Kỳ, tôi sửng sốt hỏi:
  • Anh Huyền Kỳ! Sao anh lưu lạc vào đây?
Anh cười cười, tính tình vẫn hiền lành như ngày trước:
  • Ừ! Thì anh rời khỏi Huế đi kinh tế mới, sách báo ở bến xe miền Đông trưa trưa chở lên, vợ con hằng ngày đi làm nương rẫy...
Nhà thơ Huyền-Kỳ thời nào cũng thân thiện, những bài thơ của anh tôi chỉ còn nhớ hai câu:
Tiếng gà đã rộn trong thôn
con thuyền còn buộc đợi chờ ai đây?
Cơ sở tăm nhang của tôi chỉ tồn tại hơn một năm thì phá sản, ngày ấy thủ kho là Lê Văn Chương, bạn tôi người ở Truồi lưu lạc vào Sài Gòn kiếm sống. Giải quyết xong công nợ, Chương và tôi về tạm trú ở chùa Châu Long, Bà Chiều, Q. Bình Thạnh của nhà báo Hồ Đề, ngày ngày bữa đói bữa no, hai đứa đi chung một đôi dép và cũng thời gian ấy tôi đã dịch tác phẩm Sea Wolf [Sói Biển] của Jack London thành The Ghost Ship [Con Tàu Ma] mà năm 2011 Nhà Xuất Bản Thuận Hóa đã cấp phép để in và phát hành.
Thời gian tôi điều hành Văn Phòng Du Lịch VYC 8 ở Võ Văn Tần – Q.3 – Sài Gòn từ năm 1991 – 1995, bạn bè khắp nơi thường tìm đến. Anh Trịnh Xuân Hà, sĩ quan QLVNCH, em ruột Trịnh Công Sơn, là một võ sư cao cường, tam đẳng, nhị đẳng, thỉnh thoảng đến rủ tôi đi ăn sáng, uống cà phê... anh thích hút thuốc Dunhill, nhiều lần anh ngỏ ý tôi đến nhà chơi thăm anh Trịnh Công Sơn.
Vào một buổi sáng tôi và Lê Hữu Khanh [Trung Tá PA, cố vấn của tôi] đến 47c – Phạm Ngọc Thạch. Trịnh Xuân Hà vui vẻ đón chào, sáng ấy Dương Đình Vinh, anh ruột của họa sĩ Dương Đình Sang cũng đã có mặt, anh Trịnh Xuân Hà nói:
  • Anh Sơn còn ngủ để mình vào xem anh dậy chưa. Lúc ấy là gần 9g sáng, một lát sau anh Sơn đi ra nhẹ nhàng chào hỏi. Trà, cà phê anh Hà tiếp khách đầy đủ. Tôi ngồi cạnh anh Trịnh Công Sơn, chiếc quần tôi mặc mà vợ tôi may giống màu sắc PA của Lê Hữu Khanh, anh Sơn hỏi nhỏ tôi:
  • Toi! Toi! cũng ở bên đó à?
Không hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà tôi gật đầu, tự nhiên giọng anh Sơn có phần tỉnh táo hơn, có lẽ anh không ngờ một thằng lang thang bất biết như tôi mà cũng là PA.
Thời nhà thơ Lê Văn Ngăn [1943-2015] còn tại thế, nhiều khi chúng tôi ngồi ở quán bên đường với một vài chai rung rinh, Lê Văn Ngăn thường kể cho tôi nghe nhiều giai thoại về Ngô Kha, Thái Ngọc San... riêng Trịnh Công Sơn thì có những câu chuyện thú vị như thế nầy thời Trịnh Công Sơn ở Quy Nhơn theo học Trường Sư Phạm.
Quy Nhơn, cõi đất của hồn thiêng sông núi, bao nhiêu bậc tài hoa, anh kiệt đều tìm đến và để lại tác phẩm lưu danh cho hậu thế. Giọng của Ngăn lúc nào cũng chậm rãi, thiệt lời, Ngăn kể:
«Ở Quy Nhơn thời ấy có một Đại Ca Thay [Thành Đầu Bò] bảo kê cho những quán bar, quán cà phê... rất mê nhạc Trịnh Công Sơn thường khoe với đàn em rằng: «Tụi bây biết không! Trịnh Công Sơn sáng tac` bài «Diễm Xưa
», «... mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ... là hình ảnh mưa rơi trên tháp Chàm của Quy Nhơn đó»

Thủa ấy Trịnh Công Sơn thích lặng lẽ một mình tìm đến quán cà phê Tuyết - Nhung, Phi Điệp ngồi bến ly cà phê đen với khói thuốc, ông thường vào quán không chào ai, hỏi ai, chỉ tìm một bàn vắng nhìn trời, nhìn đất, cảm xúc với cuộc đời. Về lâu, về lâu, Thành Đầu Bò thấy ông nầy cứ một mình xuất hiện mãi đâm gai mắt. Bữa nọ Đại Ca Thay của đất Bình Định sai đàn em đến lột cặp kính ông đang đeo, không biết ông Sơn khi ấy phản ứng thế nào, có lẽ ông lặng lẽ bỏ ly cà phê còn bốc khói bước ra khỏi quán.
Không biết sau nầy có ai nói với Thành Đầu Bò con người lặng lẽ uống cà phê một mình đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Thành Đầu Bò rụng rời tay chân vội vã sai đàn em đi khắp Quy Nhơn hỏi cho ra nơi ở của Trịnh Công Sơn, rồi vội vã tìm đến vô cùng tạ lỗi để trao lại cặp kính" 
Ở miền biển quê tôi có anh Lê Đức Liêm, hiện nay ở Phú Diên, H. Phú Vang/ TT Huế, anh yêu thích văn học, kiến thức rộng. Mỗi năm tôi về thăm quê, thỉnh thoảng ngồi với anh bên dòng phá Tam Giang, uống vài chai bia, mặn mà với cá mực của biển. Anh kể cho tôi những kỷ niệm với Trịnh Công Sơn thời anh vào Quy Nhơn trọ học. Anh nói:
"Từ năm 1963 anh đã vào Quy Nhơn trọ học ở nhà sách Đại Chúng - Đường Gia Long, những lúc nghỉ học anh thường ra bán sách, Trịnh Công Sơn hay đến nhà sách tìm mua những tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩm viết về hai thiên tài Mozart và Beethoven. Anh thấy cậu bé đồng hương hiếu học nên rất mến thương"
Theo lời anh Liêm thì trước khi rời Quy Nhơn Trịnh Công Sơn có tặng cho anh một tập nhạc in Ti Pô được anh sáng tác ở Quy Nhơn trong ấy có bài «Biển Nhớ
» nổi tiếng sau nầy

Trong hồi ký của anh Lê Đức Liêm, anh nhớ lại:
«Hồi ấy ở Quy Nhơn có Trường Sư Phạm đào tạo giáo viên dạy lớp nhì, lớp nhất bậc tiểu học Theo học trường nầy có nhiều anh chị ở Huế vào.
Thời điểm ấy rất ít người Huế vào làm ăn sinh sống, có thể chỉ đếm được trên đầu ngón tay, vả lại Quy Nhơn còn là một thị trấn nhỏ cho nên chúng tôi dễ quen biết nhau mà chẳng cần quan tâm xuất thân từ thành phần xã hội.
Trong số giáo sinh [sinh viên sư phạm hồi ấy] thường đi lại hiệu sách rồi từ đó quen thân với chúng tôi có hai anh là Trịnh Công Sơn và Thân Trọng Thầm, đặc biệt là anh Sơn, anh vừa là giáo sinh vừa phụ đạo âm nhạc cho trường. Vì vậy anh rất cần nhiều sách âm nhac cả trong và ngoài nước để nghiên cứu giảng dạy [phần nhiều là mượn xem tại chỗ, chứ ít khi mua, mà tiền đâu các anh ấy có nhiều mà mua] đa số các sách anh yêu cầu nếu có tôi đều tìm cách đáp ứng, kể cả tìm cách cho anh mượn mang về. Đổi lại chiều thứ bảy, ngày chủ nhật anh thường đến chơi dạy kèm tôi và nhận thư từ của nhà nếu có. Sau nầy khi anh ra trường và tôi cũng về Huế. Thỉnh thoảng anh đi bát phố với nhóm bạn của anh như họa sĩ Đinh Cường, họa sĩ Lê Văn Tài, Tôn Thất Văn... mỗi lần gặp anh, anh chào hỏi rất ân cần, niềm nở.
Anh xuất bản tập mười bài du ca có đề tặng tôi một tập. Tuy chẳng hiểu gì về âm nhạc song tôi rất trân trọng gìn giữ. Đáng tiếc sau nầy cậu bạn tôi hỏi mượn mà không hoàn lại.
Sau giải phóng, khoảng đầu năm 1976, tôi tình cờ gặp anh một cách chớp nhoáng tại bến tàu Đá Bạc, H. Phú Lộc/ TT Huế, anh giương hai mắt sau cặp kính cận to quá khổ nhìn trân trân vào tôi, hình như anh cố lục tìm trong ký ức về tôi. Sau một thoáng ngỡ ngàng chúng tôi đã nhận ra nhau qua vài câu hỏi thăm không đầu không cuối, hai chúng tôi phải vội vã giã từ vì tàu sắp rời bến...
Tôi không ngờ đó là lần gặp anh cuối cùng»
Tôi may mắn được gặp anh lần cuối khi văn phòng du lịch của tôi đóng cửa đã lâu, Cao Hữu Điền làm hướng dẫn viên ở công ty lữ hành khác. Sáng hôm ấy Điền rũ tôi đi uống cà phê ở Givral đường Đồng Khởi [Tự Do xưa]. Mới vào quán thì tôi thấy Trịnh Công Sơn và họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận đang thân tình trò chuyện bên khói thuốc. . .
      Còn Phương-Xích-Lô tôi gặp lần sau cùng là vào năm 2000. Võ-Văn-Nhân người đạp xích lô thường chở Bùi-Giáng rong rêu khắp đô thành đã chở Phương đến thăm tôi ở Q.Tân-Bình. Bên cốc bia tôi nói với Phương rằng:
  •  Thiên hạ nói Phương điên nhưng mi điên gì mà điên, cái điên của mi là bệnh làm thi sĩ.
Phương trả lời:
  • Thằng T. nói đúng.
Còn họa sĩ Bửu Chỉ, vào đầu năm 2002 tôi về thăm Huế, buổi sáng hôm ấy tôi chở con tôi vào hoàng thành Huế thì gặp Bửu Chỉ ở cửa Ngăn, họa sĩ đi xe Cha lie, Chỉ ngạc nhiên hỏi:
  • Mi ra khi mô?
  • Ra Huế bốn năm hôm rồi!
  • Ra thì ghé liền chớ! thôi qua Thiên Đường uống cà phê.
Ngồi ở quán tôi nhìn Bửu Chỉ thầm nghĩ «Mập quá, cái cổ căng ra đỏ hồng...»
Và tháng 6/2002 sau cơn lưu linh Phương Xích Lô đã nhảy xuống dòng sông ở Quảng Trị tìm trăng giữa ban ngày. Cùng tháng 12 năm ấy, Bửu Chỉ cũng đã «Một Cõi Đi Về» sau Trịnh Công Sơn hơn một năm.
Viết về nhạc của Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Văn Cao đã lưu lại cho hậu thế những lời vàng ngọc nầy:
«... Bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ... trong âm nhạc của Sơn ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc học Phương Tây, Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra...»
Ngày Trịnh Công Sơn giã từ cõi tạm, Bửu Chỉ đã từ Huế bay vào Sài Gòn tiễn biệt, sau nầy ông đã để lại những dòng cảm xúc nầy:
«...Tôi lặng lẽ đi vào phòng khách ở tầng dưới, thấy Sơn vẫn nằm đó. Một tấm mền Quang Minh phủ kín hình hài Sơn từ đầu đến chân. Khoảng ở nơi mặt có một đóa hoa sen, ở giữa hoa sen có chữ "A U M" [chữ Phạn} mang ý nghĩa của sức mạnh tâm linh và sự giải thoát. Sơn nằm trong sự che chở của Phật A Di Đà.
... tôi ngồi xuống chân cầu thang, nhìn Sơn nằm đó, đầu óc tôi trống rỗng, đôi khi muốn khóc nhưng chẳng khóc được. Nhiều lần tôi định lật tấm mền để nhìn mặt Sơn lần cuối, ngại người trong nhà nên lại thôi.
Mãi đến gần tối khi những người em của Sơn ở Canada từ phi trường về, lật tấm mền Quang Minh ra xem rồi lăn ra khóc, khi ấy tôi mới thấy được mặt Sơn. Tôi cầm bàn tay tài hoa nay đã giá lạnh và thầm nói mình đến với Sơn đây...
Hình hài Sơn như Chúa vừa mới được bế từ Thánh Giá xuống và đặt trong tấm vải liệm. Sơn như thanh thản ngủ nhưng trán có hơi cau lại một chút...
Hôm sau tôi đến viếng Sơn một vòng hoa rồi ngồi lẫn với đám bình dân vô danh mến mộ Sơn. Đám người nầy trung thực, chất phác và thủy chung. Tôi thấy có cả những người hát xẩm ăn mày mù, hôm ấy áo quần cố gắng tươm tất, mang theo một cây guitare đến viếng rồi xin hát một bài của anh Sơn để đưa anh Sơn đi. Đông lắm, đông lắm, có thể nói là không kể xiết, đủ mọi tầng lớp nhân dân...».
[Trích từ Hồi Ký – Chuyện Đời Tôi]
29/4/2021
Vương Kiều
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Tản mạn về con đường đẹp nhất, sang nhất Sài Gòn xưa

Tản mạn về con đường
đẹp nhất, sang nhất Sài Gòn xưa

1. Xưa nay, đường Tự Do (tên hiện nay là Đồng Khởi) ở khu trung tâm Quận 1 Sài Gòn dù chỉ là một con đường ngắn và hẹp nhưng vẫn được tiếng là con đường đẹp nhất, sang nhất, đông người nước ngoài nhất thành phố Sài Gòn xa xưa và cũng có thể nói như thế về quãng thời gian sau tháng 4-75 cho đến nay.
Vừa qua, trên trang trithucvn.net., trong bút ký tựa là “Văn hóa không tên tạo nên linh hồn của Sài Gòn xưa”, nhà văn Văn Quang đã ghi nhận  trên con đường Tự Do đẹp, sang ấy lại có một chuỗi 3 nhà hàng/quán cà phê là La Pagode, Givral, Brodard đã tỏ lộ cái hồn văn hóa đầy sức sống tự tại của Sài Gòn xưa.
Văn Quang kể:
“Nói đến La Pagode, Givral, Brodard… chắc chắn những người đã từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa ai quên.Nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân, công tư chức làm việc tại “thủ đô miền Nam” và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên 60-75 cũng hay lui tới nơi này.”
Và:
“Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.”
Khi nói về 3 “đệ nhất” nhà hàng/quán cà phê trên đường Tự Do xưa, nhà văn Văn Quang đã nêu những nhận xét thật sâu sắc, thấu đáo vào phần hồn văn hóa cố cựu của Sài Gòn, chứ không bám vào phần vỏ kinh tế bên ngoài của Sài Gòn, mặc dù trải qua các chế độ khác nhau, thành phố này luôn ở đỉnh cao phồn vinh nhất Việt Nam. Cũng cách nhận xét ấy đã cho thấy trong giới văn nghệ sĩ đất Sài Gòn cũ, tác giả cuốn tiểu thuyết ‘Đời chưa trang điểm’ quả là một đàn anh, một ‘chuyên gia’ về khoản lê la cà phê bia bọt, tán dóc quán xá vỉa hè, trước là giải trí /sau là lấy thông tin… 
2. Theo chọn lựa của Văn Quang, được nhắc trước tiên là nhà hàng La Pagode, nằm ở ngã tư Tự Do – Lê Thánh Tôn. Tên gọi tếu ‘Cái chùa’ (nghĩa tiếng Việt của từ ‘la pagode’ tiếng Pháp) cũng khá thông dụng.
Nhà văn Văn Quang kể:
“Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất.Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode. Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng.Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt.”
Đúng là một nhà hàng “cổ kính” khi từ bàn ghế, màu da bọc ghế cho đến quầy, kệ nội thất đều có màu chủ đạo là nâu hay đen, rõ hơn là các gam màu tối, cũ kỹ, lâu đời. Riêng về các mặt vách bằng kính thật dày cho phép khách nhìn ngắm đường phố, điều hay ho nữa là loại vách này ngăn được phần lớn tiếng động, tiếng xe cộ ồn ào bên ngoài. Như khi trời mưa lớn, bên ngoài ướt át, lạnh lẽo, sấm chớp rền vang…, nhưng bên trong quán, nhờ các vách kính dày, khách ngồi nhâm nhi tách cà phê hay tách trà lipton chanh nóng (món uống rất thường được khách gọi) thì vô cùng ấm áp, khô ráo, và có ồn ào gì đó là do tiếng tranh cãi, cười nói từ các bàn bên cạnh.
Văn Quang viết tiếp:
“Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ.Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây.Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết.”
Ngoài giới văn nghệ sĩ ‘khách quen’ như trên, tất nhiên trong La Pagode còn thường có một số khách khác, như khách du lịch quốc tế, quân nhân, công tư chức và các bạn trẻ. Có điều là, như một nhà văn đã ghi nhận, cũng lai rai có hiện tượng ‘làm dáng trí thức’, như trên tay một số khách vào quán thường lấp ló những đầu sách – cả nguyên bản lẫn sách dịch –  đang hot, đang gây nhiều tranh cải thời ấy, như ‘Hố thẳm của tư tưởng’ của Phạm Công Thiện, ‘Tropic of cancer’ của Henri Miller, ‘Zen Buddhism’ của D.T.Suzuki, ‘Dịch hạch’ (tiếng Pháp: La Peste) của Albert Camus… Hay ít ra cũng là những tạp chí, tuần báo, nguyệt san Anh ngữ, Pháp ngữ thời danh như Times, Newsweek, L’Express, Salut Les Copains… mà có lẽ người ta vừa mua ở Book Shop, tiệm chuyên bán sách báo ngoại quốc gần ngã tư Tự Do – Nguyễn Văn Thinh, tức cách La Pagode chừng 400m.
Kế tiếp là nhà hàng Givral, cũng 2 mặt tiền toàn vách kính, nằm ở ngã tư Tự Do – Lê Lợi, thuộc hành lang Eden (tiếng Pháp: passage Eden). Từ ‘hành lang’ nghe không qui mô, không bề thế bằng từ ‘thương xá’ – như thương xá Tax gần đó –  nhưng khi phục hiện cái không khí văn hóa phong phú, đặc sắc của Sài Gòn, Văn Quang đi sâu vào một chi tiết đặc biệt, rằng trong khu Eden có một hiệu sách nổi tiếng hàng đầu Sài Gòn cũ, không kém cạnh nhà sách Khai Trí bên đường Lê Lợi chút nào, đó là nhà sách Xuân Thu. Xuân Thu nổi tiếng về các đầu sách ngoại văn (nhất là sách nghiên cứu văn hóa – văn minh Pháp và sách giáo khoa chương trình phổ thông trường Pháp) mà giới trí thức, nhà giáo, sinh viên Sài Gòn thời ấy khi cần là có thể đến lục tìm, hay đặt cho nhà sách mua dùm từ châu Âu, châu Mỹ.
Hơn thế, giới ‘chữ nghĩa’ ở Sài Gòn đã không khỏi ngưỡng mộ khi nhìn lên lầu 2 nhà sách Xuân Thu, nơi khoa chính trị kinh doanh (Science politique) của đại học Đà Lạt tổ chức lớp cao học ‘Science-po.’, ngành học nâng cao à la mode nhất của giới SV đã xong cử nhân một số ngành về khoa học nhân văn tại Việt Nam vào thời từ 1970 trở đi.
Văn Quang viết:
“Givral là một địa điểm trung tâm thành phố, rất thuận tiện cho mọi việc, từ hẹn hò, mua sắm vài thứ, đợi giờ vào rạp chiếu phim, hoặc chỉ đi “bát phố”(… ). Hơn thế, thương hiệu bánh ngọt Gival rất nổi tiếng, thu hút nhiều khách sành ăn. Mấy bà đi ngang qua Lê Lợi – Tự Do ghé vào mua vài cái bánh mang về cho chồng con là chuyện bình thường.”
Cũng phải, dân Sài Gòn ưa ăn bánh Givral bởi nét tao nhã, tinh tế của nền văn hóa ẩm thực Pháp đã tồn tại gần 60 năm tại VN.Givral nổi tiếng với dòng bánh tươi, không dùng chất bảo quản và chất phụ gia độc hại hay không có lợi cho sức khỏe. Và “cái hậu” tốt đẹp của dòng bánh lành, sạch này là là ‘phiên bản’ sau tháng 4-75 mang tên ‘Công ty Cổ phần Bánh Givral’, khá có tiếng là bánh ngon, tuy giá cả khá cao chứ không bình dân, với lò sản xuất bánh hiện ở khu công nghiệp Tân Bình, phường Tây Thạnh, Q. Tân Phú, Tp HCM.
Cuối cùng là về nhà hàng Brodard, Văn Quang ghi nhận:
“Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường (…). Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm.”
Như thế, thành phần khách đến Brodard có tính chất một đại chúng rất đời thường, nặng về bề ngoài vật chất.Dân đến đây không khỏi ít nhiều có thái độ khoe mẽ về sự giàu có, khả năng mua vui, hưởng thụ cuộc đời của mình. So với Givral và La Pagode  – nhất là so với La Pagode, nơi ‘đóng đô’ thường xuyên của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ trình diễn… – Brodard có vẻ ít chất văn nghệ, chữ nghĩa hơn.
Theo một ông công chức làm việc ở Phòng Thương mại Sài Gòn (nằm ở phía cuối đường Tự Do, cách Brodard chừng 300m), từng nhiều năm thường cùng các đồng nghiệp và gia đình vào Brodard ăn uống, ngắm phố phường thì với cách trang trí dùng nhiều màu sáng, nhà hàng này giống một tiệm kem, một tiệm bánh ngọt, một quán giải khát hơn là một quán cà phê đúng nghĩa dành cho dân ghiền cà phê “chuyên nghiệp”. Tính chất hiền lành, ngọt ngào – thay vì đắng chát như vị cà phê – càng tỏa lan trong bầu không khí yên tĩnh của Brodard qua một kiểu phục vụ bánh ngọt rất đặc biệt. Khách cứ ngồi tại bàn mà lên tiếng hay ra dấu, nhân viên nhà hàng sẽ mang đến tận bàn một khay lớn bày rất nhiều bánh ngọt, bánh kem kiểu Pháp, như bánh choux, Polonais, mille feuilles… để khách chọn. Như các cô khách, cậu khách nhí, sau khi được ba mẹ gật đầu, sẽ sướng rơn khi cứ thoải mái chỉ vào khay, ngay cái bánh mình thích là bánh sẽ được lấy bỏ vào đĩa nhỏ, dọn ra trước mặt mình…
3. Ngày xưa, từ danh từ riêng ‘Catinat’ nguyên thủy do người Pháp dùng đặt tên cho đường Tự Do, học sinh các trường Tây ở Sài Gòn thời 1960-70 thường kháo nhau động từ chế‘catinater’, có nghĩa là ‘dạo chơi đường Catinat” và tương tự là ‘bonarder’, nghĩa ‘dạo chơi đường Nguyễn Huệ’ bởi tên Tây của đại lộ này là Bonard. Càng tếu hơn là nếu ‘catinater’và  ‘bonarder’ nhiều quá, coi chừng bị… ‘déxiquachté’ (hết xí quách!).
Thêm một từ chế rất thú vị nữa là ‘radio Catinat’, chỉ những thông tin đủ loại phát ra từ những ‘cư dân’ thường xuyên tụ tập tại La Pagode, Givral và Brodard, gồm giới văn nghệ sĩ, báo chí và một số chính trị gia. Văn Quang đã phân tích:
“Thật sự cái nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời sự chính trị cho vui thôi. Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio Catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó.”
Nhìn chung, ngoài 3 nhà hàng/cà phê La Pagode, Givral và Brodard, đường Tự Do càng hào nhoáng, đẹp đẽ hơn khi còn có quán Cafetaria Disco với nhạc pop rock mới nhất, phát bằng discothèque hiện đại nhất thời đó, rồi các phòng trà Tự Do, Maxim’s hoành tráng và Đêm Màu Hồng diễm ảo, chưa kể nằm 2 bên trụ sở Quốc hội/Hạ nghị viên là khách sạn Continental Palace với phong cách rất Tây và khách sạn Caravelle cao nhất nhì Sài Gòn thời 60, cùng khách sạn Majestic (ở cuối đường, nhìn ra bến Bạch Đằng, sông Sài Gòn), cả ba đều có đại sảnh cực kỳ tráng lệ, sang trọng. Ở nhiều vị trí dù lộ thiên hay sát bên quầy rượu, khách ngồi ghế mây, ghế bành nhâm nhi cà phê hay bia lạnh đều có view nhìn ra các góc phố thật đẹp mắt. Riêng ban đêm, phố Tự Do trở nên lung linh, đẹp rực rỡ với ánh sáng đèn đóm đủ màu.
Còn vào buổi chiều nào đó, khi có cơn mưa nhỏ, đường Tự Do/Catinat của Sài Gòn chợt lãng đãng một vẻ đẹp cổ điển, đầy sức quyến rũ, khiến những ai vốn thích loại phim chiến tranh – tình cảm – tâm lý không khỏi liên tưởng đến hình ảnh thủ đô Sài Gòn xưa, cũ trong cuốn phim Mỹ tựa ‘Người Mỹ trầm lặng’(The quiet American), sản xuất năm 2002, chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của Graham Greene, nhà văn Anh, viết năm 1951 với bối cảnh cuộc chiến tranh Việt Nam/ Đông Dương…
12/2/2019
Phạm Nga
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Vài kỷ niệm với văn nghệ sĩ tôi quen biết

... Vài kỷ niệm với
văn nghệ sĩ tôi quen biết

Sau năm 1975 đời sống bị xáo trộn, gia đình tôi lâm vào hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn, tôi đem tủ sách nhà ra trải tấm bạt ở vỉa hè đường Lê Lợi để bán, tại đây tình cờ tôi gặp các thầy học cũ cũng ra đây bán sách như tôi: thầy N. thầy VC, thầy L.L.Y. Thầy trò gặp nhau trong hoàn cảnh như vậy, tôi mừng mừng, tủi tủi, nghe lòng rưng rức một nỗi xót xa …
Chợ sách tự phát dọc đường Lê Lợi tồn tại không được bao lâu thì nhà nước dồn vào con đường Đặng thị Nhu sau hãng máy may Sinco, một con đường vắng vẻ  của Saigon. Tôi chán nản về đóng một chiếc xe giống như xe hủtiếu  để  bán trước cổng nhà và cũng để tiện bề chạy trốn khi bị  đuổi.
Một buổi sáng, Đoàn thạch Biền đến thăm tôi, cùng đi với anh có một người đàn ông đứng tuổi, tầm thước, đểhàng ria mép rậm trongt6 rất ngầu. Đoàn thạch Biền giới thiệu là Mường Mán, anh chững chạc, ít nói, chỉ nói khi cần thiết và khi có người nào hỏi.
Trông anh không giống một chút nào với Mường Mán mà tôi đã  mường tượng lúc chưa gặp mặt.  Đọc anh, tôi gặp một Mường Mán nho nhã, thư sinh, qua những bài viết thơ mộng, mượt mà, hợp với tâm trạng tuổi trẻ lúc bấy giờ chứ không phải “rừng rú” như bút hiệu “ngồ ngộ” của anh, âu cũng là điều thú vị giữa văn thơ và người viết.
Khi tờ Áo Trắng ra đời, Đoàn thạch Biền đến  kêu tôi về phụ anh một tay trong khâu thực hiện. Ban biên tập gồm : Đoàn thạch Biền, Đinh tiến Luyện, Đỗ trung Quân, sau này có Mường Mán. ‘Tòa soạn” được anh Lê Hoàng cho “tạm trú” tại NXB(Nhà xuấtbản) Trẻ. Biên tập Áo Trắng là một nữ biên tập viên trẻ trung, xinh đẹp của Nhà xuất bản, cô Trần Hữu Khánh. Hầu như tất cà sách của Nguyễn nhật Ánh xuất bản tại đây đều do cô biên tập. Ngoài công việc biên tập cô còn là dịch giả nhiều tác phẩm nổi tiếng do Nhà Xuất bản Trẻ phát hành.
Một buổi trưa  Nhà Xuất bản tổ chức sinh nhật cho cô, ngồi làm việc tôi để ý thấy chút chút lại có người mang quà đến gởi, tôi lặng lẽ ra chợ Bến Thành lựa một giỏ hoa thật đẹp mang về tặng như món quà Áo Trắng gởi cô rồi chuẩn bị ra về. Bỗng Khánh nói như ra lệnh :
- Anh đứng đó, chưa được về đâu.
Rồi cô quay lại nói với các biên tập viên đang ngồi gần :
- Ông này nhát gan lắm, phải làm cho ổng sợ.
Tôi chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra thì Khánh đến gần ôm hôn tôi một cái làm chân tay tôi run lập cập.
Bây giò nhớ lại thấy thật tiếc, tự hỏi tại sao lúc đó mình không biết ôm hôn lại?
Tại đây có một “ căn tin” lợp tôn thấp lè tè do con gái anh Phạm chu Sa đứng bán. Nhờ khoảng sân khá rộng, sát vách báo Tuổi trẻ và báo Phụ nữ nên là nơi tập trung nhiều phóng viên,  nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ tới đây  trao đổi, lấy tin, tán dóc rất ồn ào.
Bảo vệ NXB Trẻ là một phụ nữ, chị Định. Chị vui tính và đặc biệt là hầu như chị quen mặt, biết tên tất cả các phóng viên cũng như những người hay ra vào căn tin trong khuôn viên Nhà xuất bản
Một buổi sáng, khi tôi vừa đến thì thấy chị đứng khóc trước cổng, cùng lúc đó có Bùi Giáng mang bị, đeo đồ lỉnh kỉnh trên người vung gậy đi tới. Ông ngạc nhiên dừng lại hỏi thăm, khi biết chị Định vừa bị mất chiếc xe đạp, ông lặng lẽ ngồi xuống, mở bị lấy gói Basto, lột vỏ bao thuốc làm giấy, mượn tôi cây bút viết gì đó rồi trao cho chị Định, chị mếu máo cầm tờ giấy đưa lại cho tôi, trước cảnh tượng như vậy tôi không biết làm gì hơn là đọc cho chị nghe hai câu thơ của Bùi Giáng vừa làm tặng chị :
“Bài thơ gởi tặng chị hai
Người còn thì của lai rai vẫn còn”
Khi tôi quay lại tìm Bùi Giáng thì ông đã đi xa rồi, đang vung gậy múa may phía trước. 
Sài gòn là một thành phố sôi động, người tứ xứ dổ về đây mưu sinh đủ mọi thành phần, đường phố lúc nào cũng kẹt xe, người ta chen lấn lưu thông tất bật, hối hả trên mọi nẻo đường, nhưng với Bùi Giáng thì  ông không hề bị ảnh hưởng chút nào, ông xem thế giới ta bà này như một cõi để ông đến giải khuây và thưởng ngoạn :
Sài gòn, Chợ lớn rong chơi.
Đi lên đi xuống đã đời du côn
Những gì bắt gặp, trông thấy bên ngoài của một Bùi Giáng như say như tĩnh, như điên đảo ấy còn có một  con người khác, trong một cảnh giới khác, đầy ắp tình người, bao dung và lãng mạn :
Tuổi thơ em có buồn nhiều
Hãy xin cứ để bóng chiều bay qua”
Đọc hai câu thơ Bùi Giáng tôi rùng mình, khắp người nổi da gà, bỗng dưng tôi nhớ  mấy câu thơ Tố Hữu viết về Nguyễn Du :
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời nghìn thu
Thơ ông đã làm lay động lòng người, rúng động đất trời như một cơn giông bão
Bên chiếc bàn nhỏ sát góc căn tin có một người đàn ông đứng tuổi ngồi uống bia một mình với bịch đậu phộng rang, ông đạp xe đến đây đúng giờ và đều đặng mỗi ngày, người đàn ông đó là nhà văn, dịch giả Trần Phong Giao nhưng anh lại nổi tiếng với vai trò một Thư ký tòa soạn. Thập niên trước năm 1975 người viết trẻ nào được anh chọn bài đăng trên Bán nguyệt san VĂN coi như đã bước một chân vào ngưỡng cửa văn học, đó là điều bất thành văn nhưng người viết nào cũng đều ngầm hiểu như vậy.
Anh ngồi đó nhâm nhi ly bia trông cô độc như một thiền sư, tôi hay lân la bên anh hỏi chuyện xưa, anh nói năng từ tốn, nhỏ nhẹ, tôi thích thú
như ngày nào cứ trông chờ VĂN ra để tìm đọc mục Tin Văn… Vắn Những người xuất hiện trên Văn đa số đều thành danh và nổi tiếng như ; Y Uyên, Nguyễn Mộng Giác, Kinh Dương Vương, Trần Hoài Thư, Mường Mán, Ngụy Ngữ,  Mang Viên Long, Nguyễn Lệ Uyên,  Hạc Thành Hoa, Vũ Hữu Định, Nguyễn Bạch Dương, Đynh Trầm Ca, Phạm Chu Sa, Nguyễn Nho Sa Mạc, Nguyễn Đức Sơn, Cao Thoại Châu, Tần Hoài Dạ Vũ, Hoàng Đình Huy Quan, Phạm Cao Hoàng, Võ Chân Cửu, Đặng Tấn Tới, Yên My, Phạm Ngọc Lư…(dĩ nhiên trong một bài viết như thế này sự thiếu sót các tên tuổi không làm sao tránh khỏi)
Một buổi trưa giữa tháng năm, trời nóng như đổ lửa, tôi thấy Đoàn thạch Biền ngồi đọc bản thảo trong căn tin, mồ hôi nhễ nhại, thỉnh thoảng anh lấy tay quẹt mồ hôi trên trán, dường như anh để tâm hết vào trong xấp bản thảo,  tôi có cảm tưởng anh chẳng hề biết nóng là gì. Bàn bên cạnh, Nguyễn văn Hiên và Vũ Hoàng đang ngồi uống bia. Nguyễn văn Hiên lấy giấy viết gì đó đưa cho con gái anh Phạm chu Sa, dường như trên môi cô bé có thoáng nụ cười, cô bé mang bia và ly đá để trước mặt Đoàn thạch Biền cùng tờ giấy của Nguyễn văn Hiên vừa trao cho cô lúc nãy, tôi dòm vô đọc ké :
“Một chai cho chú Thạch Biền
Nói rằng chú Nguyễn văn Hiên tính rồi”
Vừa lúc đó Mường Mán từtrong NXB.Trẻ bước ra, vẻ mệt mỏi, anh hấp tấp lấy xe, giơ tay chào rồi chạy thẳng. Tôi nói với Vũ Hoàng và Nguyễn văn Hiên:
- Nghe nói Mường Mán đang chuyển nhà từ Cần thơ về Saigon, chắc vì vậy nên vội vã.
Nguyễn văn Hiên khều tôi:
- Hôm nào gặp Mường Mán nhờ cậu nói là tớ khuyên ông ấy đổi cái bút hiệu, may ra cuộc đời sẽ sáng sủa hơn.
- Nghĩa là thế nào?
- Làm chủ bao giờ cũng khá hơn… làm mướn    
Rồi Nguyễn văn Hiên cười hề hề :
- Mường Mán là Màn Mướn, mà màn mướn thì làm sao khá được…hôm nào Mường Mán ở Cần thơ lên cậu nói giúp tớ như vậy.
Tôi xua tay:
- Nói giúp kiểu này dễ bị ăn đòn, tôi ớn lắm!
- Cậu phải giải thích và đưa ví dụ cho Mường Mán hiểu..như Vũ Hoàng là Vãng Hù, mà Vãng Hù tức hủ vàng, nhờ  vậy nên Vũ Hoàng mới tậu chiếc Dream mới cáu...đây nè.
Nguyễn văn Hiên vừa nói vừa cầm chùm chìa khóa bấm một cái, bỗng còi báo động của chiếc xe Vũ Hoàng kêu lên inh ỏi. Đoàn thạch Biền làm rớt xấp bản thảo xuống đất, quay lại nhìn chằm chặp vào Nguyễn văn Hiên 
- Làm hết hồn…
Vũ Hoàng, Nguyễn văn Hiên là  nhạc sĩ trong nhóm “ Những người bạn”, Nguyễn văn Hiên tính tình phóng khoáng, hào sảng, tôi gọi anh là “chuyên gia nói lái”.  Nói lái như Nguyễn văn Hiên là kiểu nói lái mà Vũ Đức Sao Biển gọi là nói lái “trời sầu đất thảm”.Khi Trịnh Công Sơn và Từ Huy mất, nhómNhững người bạn” cũng tan rã.
Góp ý vui của Nguyễn văn Hiên cho Mường Mán không ngờ như một lời tiên tri.Hiện giờ Mường Mán làm chủ một nhà hàng nổi tiếng ở Phú Nhuận.Đó là nhà hàng Ruốc. Nhà hàng của anh chuyên về ẩm thực truyền thống Huế
Buổi chiều cuối năm, bộ mặt Sài gòn bỗng dưng thay đổi, đường phố thênh thang, xe cộ thưa thớt. Sài gòn như một người quanh năm tất bật giờ được nghỉ ngơi.Tôi và em tôi đến nhà hàng Ruốc vào buổi chiều ngày cuối năm lúc trời còn những vạt nắng sót lại trên những tòa cao ốc. Anh em tôi mỗi năm găp nhau có một lần, anh Mường Mán đưa chúng tôi đi xem tranh, anh giải thích và nói chủ đề từng bức, khoảng hơn 40 bức tranh được anh vẽ trong vòng 10 năm, đến nhà hàng Ruốc, đúng hơn là vào một ngôi biệt thự, yên tĩnh, thanh lịch đẹp nhất nhì thành phố,  vào đây như lạc đến một thế giới khác, yên ả khác hẳn cảnh xô bồ náo nhiệt ở bên ngoài. Tôi cảm tưởng đây là nơi trưng bày tranh sơn dầu của Mường Mán hơn là một nhà hàng.
Lâu quá mới gặp, anh lan man nói về ngày xưa. những lận đận giờ cũng đã qua rồi. Trong câu chuyện Mường Mán có nhắc đến Trần từ Duy (Đông Ki Rét), đã mất năm 2015, người có công quyên góp anh em trong giới văn nghệ để in thơ và xây mộ cho nhà thơ tài hoa mệnh yểu Vũ hữu Định.
Trần từ Duy là người có những lời phát ngôn gây chấn động, trên chẳng sợ trời, dưới không sợ đất, giữa chẳng nể thần linh, tính anh bộc trực, trong đầu nghĩ gì, miệng phán ra câu đó.  
Một lần Trần từ Duy đang nhậu, có nhóm bạn đồng hương từ Quảng nam bước vào, người quen dắt Trần từ Duy qua giới thiệu, vừa bắt tay nhóm bạn mới anh vừa nói: 
“Khổ vì bạn 
Khốn nạn vì đồng hương“
Một người trong nhóm nổi giận, đập bàn, xách ghế muốn ăn thua đủ với Trần từ Duy, nhờ bạn bè ra tay can ngăn, nếu không chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra.  
Hồi mới mở nhà hàng Quán xay gió, bạn bè đồng nghiệp đến ủng hộ rất đông, anh nói với tôi
- Tao có nguy cơ bị giàu rồi.
Sau này, lúc đến thăm Mường Mán tại nhà hàng Ruốc, Trần từ Duy có thêm nhà hàng Đất sét, anh lại nói với Mường Mán;
- Không biết làm sao cho nghèo bớt 
Trần từ Duy “tính khí ầm ào như gió bão miền Trung, nói năng rổn rảng như sóng vỗ vào ghềnh đá” đúng như Trần Hoàng Nhân đã nhận xét.
Nhưng ở trong  một “cảnh giới” khác anh lại rất nghiêm túc :
«Lên non làm sãi quét chùa
Tiện tay quét những được thua đời mình
Sân chùa ta quét sạch tinh
Tâm ta quét mãi vô minh vẫn còn vô minh»
Hoặc lãng mạn, đầy ắp chất thơ của một người nghệ sĩ:
«Anh biến mất những cũ mèm tháng chạp
Nghe đời mình hớn hở những giêng hai
Anh thấy anh ngồi với ban mai
Rất nhiều nắng và rất nhiều chim chóc nữa»
Trần từ Duy thường đọc hai câu thơ của Bùi Giáng làm tặng anh để tự giới thiệu về mình. 
«Gã tên là Trần Từ Duy
Lão Bùi Giáng gọi là Duy Từ Trần»
Hai câu thơ của Bùi Giáng không ngờ lại ứng nghiệm với Trần từ Duy, anh lìa bỏ trần gian đầy những đau thương và sầu muộn nầy lúc tuổi đời còn rất trẻ.
KIM TUẤN
… những bước chân âm thầm
Khoảng 9,10 giờ sáng một ngày vào năm 1972, khi đi ngang qua khán đài phía ngoài sân vận động thành phố Vũng Tàu. Thượng Thuật đưa tay chỉ lên nói:
- Ông bận áo chemie ngắn tay ngồi phía trái trên khán đài là 
Kim Tuấn, ông ngồi bên cạnh bận đồ lính là Du Tử Lê.
Tôi nhìn theo ngón tay Thượng Thuật thấy một người đàn ông đứng tuổi, mập mạp, nước da hơi đen, mang kiếng, giờ tôi mới biết đó là nhà thơ Kim Tuấn. Người mà tôichỉ biết tên chứ chưa bao giờ gặp mặt và  người ngồi bên cạnh ông cũng là người nổi tiếng trong giới văn học lúc bấy giờ, nhà thơ Du Tử Lê.
Hôm đó là ngày “NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG” được tổ chức tại Vũng Tàu, quan chức và giới Văn nghệ sĩ Saigon xuống dự rất đông.Thượng Thuật rủ tôi đi coi.
Hồi còn ở Vũng tàu tôi rất “nể” Thượng Thuật, cái gì anh cũng biết nhất là giới Văn nghệ sĩ, anh rành rẽ và nói vanh vách tên tuổi từng người. Tôi nể nhất là anh quen biết Mường Mán, có lần Mường Mán xuống Vũng tàu thăm anh. Mãi sau này khi làm việc chung với Mường Mán tôi mới biết người mà Thượng Thuật quen là Mường Mán giả.
Mười chín năm sau, tôi gặp lại người đàn ông ngồi trên khán đài ngày nào ở Vũng Tàu tại “tòa soạn” tập san Áo Trắng, nhà thơ Kim Tuấn. Tôi vui mừng được gặp lại anh. Anh hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ, lúc nào cũng cười và có cái tật là… hút thuốc liên tục. Anh sốnghòa đồng, dễ gần gũi và không hề có khoảng cách giữa một người đã thành danh, nổi tiếng với những người thuộc thế hệ lớp sau mình.
Kim Tuấn có một người con trai theo học trường chuyên văn Nguyễn Du, hàng ngày anh phải đưa đón. Trong lúc chờ đợi cậu “quí tử” anh thường ghé chỗ xe bán báo của tôi ở đầu đường Nguyễn Trãi ngồi chơi, anh đem theo những bài thơ vừa viết xong còn đầy dấu bôi xóa đọc cho tôi nghe, đó là những năm 1994-1995. Thơ anh óng ả, mượt mà, thấp thoáng một nỗi buồn man mác, không giống khuôn mặt rắn rỏi pha chút gì hơi “bụi” của anh.
Chuyện Kim Tuấn đọc thơ gợi tôi nhớ lại một giai thoại.
Sau năm 1975, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cùng với một số văn nghệ sĩ đi “thực tế”. Đó là khoảng thời gian anh viết nhạc phẩm” Em ở Nông trường, em ra biên giới”, trong số văn nghệ sĩ đi thực tế với Trịnh Công Sơn có nhà thơ Hải Bằng, hằng đêm ông làm thơ và cứ vừa thức dậy, việc làm đầu tiên là Hải Bằng tìm Trịnh Công Sơn để đọc thơ cho anh nghe, đến nỗi Trịnh Công Sơn phải làm 2 câu thơ gởi  cho Hải Bằng để nói lên tâm trạng của mình:
“Ở đời sợ nhất đau răng.
Nhì là mỗi sáng Hải Bằng đọc thơ”
Thơ Kim Tuấn đầy tình người và tình yêu quê hương nên đã được những nhạc sĩ nổi tiếng như: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng… phổ nhạc nhưng chỉ có hai tác phẩm được nhiều người biết đến, đó là:“Anh Cho Em Mùa Xuân” của Nguyễn Hiền và “Những Bước Chân Âm Thầm” của Y Vân.
Năm 2003 Áo Trắng dời về đường 3 tháng 2, quận 11.
Vì hơi xa, nên những người cộng tác thỉnh thoảng mới đến chứ không thường xuyên như lúc còn ở đường Lý Chính Thắng.
Một hôm Kim Tuấn bất ngờ xuất hiện, anh nói:
- Lâu quá, lên thăm chơi chứ chẳng có bài vở gì.
Nhìn thấy anh có vẻ mệt mỏi, tôi hết sức cảm động.Gần trưa, tôi tiễn anh ra về, không bao giờ tôi nghĩ đó là lần gặp gỡ cuối cùng.
Anh mất vào một đêm tháng 9 năm 2003 sau khi tham dự buổi văn nghệ và phát quà cho trẻ em nghèo tại trường Thăng Long ở quận 4. Đó là ngôi trường Anh văn và dạy nghề dành cho trẻ em lang thang, cơ nhỡ do người Anh tài trợ mà anh là Hiệu trưởng. 
Bây giờ, mỗi lần đi ngang qua đường Sương Nguyệt Ánh ở quận 1, tôi lại nhớ đến anh, vì lúc sanh tiền, anh thường nói với tôi: “đây là con đường đẹp nhất Saigon, hai bên có hai hàng cây cổ thụ cao vút, cành lá tỏa ra như một vòm cung che mát suốt ngày”.
Kim Tuấn không còn nữa nhưng mỗi lần Tết đến cùng với Xuân Và Tuổi Trẻ của La Hối, Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương, Xuân Miền Nam của Văn Phụng, Hoa Xuân của Phạm Duy, Anh Cho Em Mùa Xuân, thơ Kim Tuấn được Nguyễn Hiền phổ nhạc vẫn là những nhạc phẩm không thể thiếu vì những giai điệu, những ca từ đã thấm đẫm trong lòng người yêu nhạc. Saigon, những ngày lập đông
Nhà văn  SƠN NAM
Ông KHAI TRÍ
(hai chuyên gia đi bộ)
Viết về nhà văn Sơn Nam thoạt nhìn như chuyện dễ nhưng thật sự là việc làm cực kỳ khó vì suốt một thời gian dài ông sống “bàng bạc” với tất cả mọi người. Theo Đào Tăng, (anh của nhà văn Đào Hiếu) người đã cưu mang nhà văn Sơn Nam trong hơn 10 năm trên căn gác trong ngôi nhà cấp 4 của mình tại Gò Vấp thì suốt ngày ông la cà từ quán cà phê này qua quán xép nọ, hết đám giỗ nhà này qua đám giỗ nhà khác với những người lao động nghèo trong xóm và hầu như ông không bao giờ tham dự tiệc tùng, sinh nhật, đám giỗ của những nhà giàu. Nên khi được tin tại Bình Quới có dựng tượng của Sơn Nam, mấy bà bán quán, bán hàng xén, những chị bán cà phê xáo xào bàn tán, hỏi nhau :
- Ông Sơn Nam còn sống mà sao người ta lại dựng tượng vậy cà?
Năm 2004 nhà điêu khắc Trần Thanh Nam tạc tượng nhà văn Sơn Nam tại làng du lịch Bình Quới thuộc bán đảo Thanh Đa trong lúc Sơn Nam còn mạnh khỏe, năm đó ông vừa tròn 78 tuổi. 
Đây là một việc hi hữu, vì thường tình người ta chỉ ca tụng, viết sách, dựng tượng cho một người nổi danh khi đã qua đời nhưng với nhà văn Sơn Nam là một điều ngoại lệ, chưa từng có.
Đào Tăng nói khi chở Sơn Nam ra Bình Quới xem tượng, lần đầu tiên ông thấy Sơn Nam cười rạng rỡ và liền gọi điện thoại về cho con gái ở Mỹ tho ;
- Trời ơi !trên này ba còn sống mà họ tạc tượng cho ba rồi, đẹp lắm, gia đình và hết thảy con cháu sắp xếp lên đây ba dẫn đi xem.
Một buổi sáng cuối tháng 11.2004, khi đến làm việc tôi thấy một nhóm người vây quanh đang nghe Sơn Nam nói chuyện gì trong sân Nhà xuất bản Trẻ, tôi dựng xe và chen vào đám đông nghe ké.  Khi biết ông bức xúc nói với các biên tập viên về việc hai ngôi mộ cổ ở đường Nguyễn tri Phương trong quận 10 bị đập bỏ.(Theo ban quản lý di tích  thì đây là 2 ngôi mộ có từ đầu thế kỷ 19 nhưng vì nằm trên lề đường làm mất vẻ mỹ quan đô thị nên quận xin di dời).
Thấy vậy, tôi nói với ông :
-  Chuyện nhà nước họ làm, chú bận tâm làm chi cho mệt.
Ông huơ huơ điếu thuốc đang hút dở, nói như luyến tiếc một điều gì từ trong sâu thẳm lắm:
- Đúng như người xưa đã nói, chẳng sai chút nào. Rồi ông đọc :
“Vị qui tam xích thổ
Nan bảo bá niên thân
Ký qui tam xích thổ
Nan bảo bá niên phần”
Dịch Nghĩa: (Khi chưa về với ba thước đất
Mạng sống chắc gì được trăm năm
Khi đã về với ba thước đất
Chắc gì giữ được phần mộ một trăm năm)
Phỏng dịch: “Khi chưa về với đất nhà
Chắc gì sống đến tuổi già trăm năm
Nhưng khi về với đất nằm
Chắc gì giữ được trăm năm mộ phần”
Một lần đi làm về tình cờ tôi thấy ông từ trong chiếc xe 7 chỗ đang xách đồ bước xuống, tôi dừng lại hỏi thăm mới biết ông ở miền Tây vừa về đến đây thì chiếc xe  bị thủng lớp, tôi phụ ông đưa túi đồ lỉnh kỉnh vào vệ đường để ông đón xe về Gò Vấp. Tôi nói :
- Trời sắp mưa, để tôi chở chú về kẻo ướt hết.
Ông lục tìm gói thuốc :
- Nó nói đưa tao về tận nhà, ai dè đến đây xe nổ bánh.
- Chú về Mỹ Tho thăm cháu à?
- Không, họ mời tao về dự khánh thành nhà truyền thống Nam Bộ, có diễn văn, tiệc tùng, xe đưa đón, nhưng nghĩ lại thấy tức cười…
- Là sao vậy chú?
-Tao Sơn Nam mà họ cứ gọi là Nam Sơn, không lẽ họ tưởng tao là chủ hãng xe đò…! Rồi ông cười ha hả.
Nhà xuất bản Trẻ là nơi gắn bó mật thiết với ông. Trong một thời gian dài Áo Trắng “đóng đô” tại đây nên tôi may mắn có nhiều cơ hội được tiếp xúc với ông, tôi chưa bao giờ thấy ông chạy xe, dù bất cứ loại xe gì, lúc thì ông Đào Tăng chở, lúc thì ông đi bộ hay xe ôm, có một thời gian tôi thấy nhà thơ Bùi Chí Vinh hay chở ông trên chiếc Honda cup. Ra đường ông ăn bận đàng hoàng, áo bỏ trong quần, đội mũ phốt trắng và lúc nào trong túi áo cũng có gói thuốc lá mang theo. Tôi có một điều thắc mắc mà hồi đó không biết hỏi ai: là lúc nào tôi cũng thấy ông cũng thiếu tiền, mặc dù với ngòi bút sung mãn cùng với tên tuổi của ông, nhuận bút sách cũng như những bài viết trên các tờ báo lớn họ trả cho ông không hề nhỏ.
Sau này, khi nghe ông Đào Tăng kể lại thì mỗi lần Nhà xuất bản ứng tiền hay ông nhận nhuận bút một bài báo,  ra đường gặp ai nghèo khó là ông cho, có khi về đến nhà chẳng còn đồng nào. Đào Tăng là người viết báo tự do, ông cũng là người gần gũi Sơn Nam trong trong một quãng thời gian dài,ông cho biết Sơn Nam chỉ viết vào buổi sáng. Ông chuẩn bị giấy, máy chữ để sẵn trên bàn khoảng 9 giờ tối thì ông đi ngủ, 3 giờ sáng ông thức dậy pha một ly cà phê uống rồi đánh máy liên tục cho đến 6,7 giờ thì ông ngưng, nếu không có việc phải đi đâu thì ông ra đường la cà các quán cóc vỉa hè, thăm chỗ này, viếng chỗ nọ cho đến tối.
Theo nhà thơ Phạm Sỹ Sáu, một biên tập viên nhiều năm gắn bó với ông thì Sơn Nam có thói quen rất lạ: là không bao giờ tặng sách cho ai dù người đó thân quen đến cỡ nào, ông cho rằng nếu người đọc quí trọng người viết thì phải bỏ tiền ra mua và ông sẵnsàng ký tên trong sách để lưu niệm.
Trong một bài viết về Sơn Nam, nhà thơ Phan Hoàng nhắc lại một giai thoại, khi Nguyễn Quang Sáng chưa viết văn thì Sơn Nam đã là một nhà văn có tiếng. Nguyễn Quang Sáng đem những câu chuyện li kỳ ở quê mình kể cho Sơn Nam nghe để ông làm cốt truyện. Sơn Nam nói;
- Vùng đó tao không biết, tao thấy rặng cây từ xa thôi, mày cũng có chữ nghĩa, viết đi!
Từ đó, Nguyễn Quang Sáng cầm bút viết và trở thành một nhà văn tên tuổi sau này.
Ở Sài Gòn có hai người tiếng tăm lừng lẫy mà người ta thường thấy hay đi bộ ngoài đường là nhà văn Sơn Nam và ông Khai Trí.
(Ông Khai Trí tên thật là Nguyễn Hùng Trương chủ nhà sách Khai Trí tại Saigon từ năm 1952 đến 1975). 
Người ta ít biết tên thật của ông mà chỉ gọi ông là “ông Khai Trí”. Năm 1991 ông sang định cư tại Hoa Kỳ đến năm 1996thì về lại Sài gòn. Ông bỏ công sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn đủ loại bộ môn và in thành sách như một cách gìn giữ những  truyền thống và tinh hoa của dân tộc mà ông sợ rồi sẽ bị mai một.
Năm 1998 ông xuất bản một tập sách “hoành tráng” có tựa đề là: THƠ TÌNH VIỆT NAM VÀ THỀ GIỚI CHỌN LỌC trên một ngàn trang do ông đứng tên tuyển chọn.
Khi ra đường ông Khai Trí thường xách chiếc giỏ lác, áo quần tề chỉnh, ông đi khắp hang cùng ngõ hẻm, bất cứ chỗ nào có bán sách cũ là ông đến để tìm mua những cuốn sách cỗ, thuộc loại quí hiếm, người ta nói ông có một đam mê sách kỳ lạ mà không một người nào có. 
Nhà sách Khai Trí nay là nhà sách Sài Gòn trực thuộc hệ thống Fahasa từ năm 1976
Một buổi chiều tôi đến căn phòng hơi tối ở đường Phan Thanh Giãn cũ theo thư hẹn để nhận sách biếu, ông ký tên vào sách và nói lời xin lỗi vì trích bài đăng vào tuyển tập mà chưa có” sự đồng ý” của tác giả.Khi tiếp xúc tôi mới cảm nhận được sự “dễ mến” và cách làm việc cẩn trọng của ông.
Ông Khai Trí mất năm 2005 với cả tấm lòng vì sách và trọn một đời cũng dành cho sách mặc dù chỉ là để "gió cuốn đi”
Ba năm sau khi ông Khai Trí, người thường đi bộ khắp các nẻo đường, hẻm hóc ở Sài Gòn qua đời, tháng 8.2008 Sài Gòn mất thêm một người cũng thường đi bộ nữa, nhà văn Sơn Nam.
Hai người nổi danh trong hai lĩnh vực khác nhau nhưng hai ông cùng sống chết, gắn bó một đời với sách.
Tôi chưa bao giờ thấy Sơn Nam khen ai hay chê ai, duy có một lần ông nói:
- Có tay này ở An Giang, không biết đọc ở đâu, tao chỉ nhớ được hai câu:    
“Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”
- Thằng này… được đó mậy!
- Hai câu ấy của Phạm Hữu Quang, ảnh mất rồi chúạ!
Ông hút thuốc, im lặng không nói gì, dường như mọi việc được thua, còn mất đối với ông là chuyện bình thường, hẳn nhiên trong cuộc sống phù du tạm bợ của kiếp làm người.
Sài Gòn, 10/2/2017
Phạm Thanh Chương
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Một cõi đi về

Một cõi đi về Năm 1966, Nhà Xuất Bản An Tiêm ấn hành ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn: “Thần Thoại Quê Hương - Tình Yêu Và Thân Phận“, nh...