Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

 

Quan niệm của Xuân Diệu về thơ từ những câu chuyện đời thường

Trong hành trình kết nối tình yêu thơ ca với bạn đọc, dẫu chưa là hệ thống quan điểm sáng tác, song “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh, Thi nhân Việt Nam) đã cho thấy những quan niệm về thi ca của mình.

Nhà thơ có nghĩa là người không có tuổi

Xuân Diệu là thi sĩ thứ thiệt (chữ của Nguyễn Tuân) không hề bị tuổi tác làm giảm đi sức sáng tạo của thời tươi trẻ. Đó là lời giải thích cho lý do vì sao khi tuổi đã ngoài tứ tuần, Xuân Diệu vẫn có thể cho ra đời những bài thơ rất sôi nổi, trẻ trung, rạo rực, say đắm. Như bài thơ Biển (1962) với các ngôn từ dào dạt (Anh xin làm sóng biếc/ Hôn mãi cát vàng em…), hay như chính Xuân Diệu tự thú “Kẻ đa tình không cần đủ thịt da/ Khi chết rồi thì tôi sẽ yêu ma” (Đa tình). Hàng ngày, nhà thơ Xuân Diệu vẫn mở rộng lòng mình khát khao tìm kiếm tiếng nói đồng điệu của tâm hồn thi ca. Ông không hề khệ nệ, khép kín như nhiều nhà thơ nội cảm, mà thẳng lòng rộng cửa: “Nhà tôi hăm bốn Cột Cờ/ Ai yêu thì đến, ai hững hờ thì qua”.

Nói chuyện thơ, bình thơ trước công chúng, Xuân Diệu ghét những người gọi ông là “bác”, là “chú”… khi tóc ông bạc. Giai thoại kể lại, lần ấy Xuân Diệu bình thơ ở một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Mê Linh, Hà Nội), khi chuẩn bị ra hội trường, một tốp giáo viên vây lấy ông ở hành lang. Một nữ giáo viên hỏi: “Thưa nhà thơ, năm nay nhà thơ bao nhiêu tuổi?”. Xuân Diệu giật mình, tỏ vẻ không vừa lòng: “Trời ơi, ai nỡ đi hỏi tuổi của nhà thơ. Nhà thơ không bao giờ có tuổi!”. Một nam giáo viên khác ngập ngừng: “Thưa bác Xuân Diệu. Bố cháu đọc…”. Xuân Diệu ngắt lời ngay: “Trời đất, gọi nhà thơ bằng bác. Bác gì, bác phó cối à…”. Một giáo viên trẻ khác sau khi đã “rút kinh nghiệm”, từ tốn thưa với Xuân Diệu: “Thưa nhà thơ, nếu nhà thơ không vướng thời thơ lãng mạn thì bây giờ chắc chắn nhà thơ có vị trí số 2 trên thi đàn sau nhà thơ Tố Hữu?”. Xuân Diệu đốp chát ngay: “Cậu dạy môn gì?”. “Dạ cháu dạy môn sinh vật ạ”, giáo viên trẻ trả lời. Xuân Diệu phân trần: “Phải rồi, thảo nào. Thế thì cậu chỉ biết dạy cho học sinh mổ ếch, mổ lươn chứ cậu biết gì về thơ mà bàn. Cậu phải biết rằng không có Xuân Diệu thời Thơ mới thì làm sao có Xuân Diệu bây giờ. Không có thời Thơ mới thì cũng không có cả nhà thơ Tố Hữu nữa, cậu biết không?”. Đã có một thời, người ta chỉ biết thơ ca cách mạng, chỉ quen đề cao những nhà thơ cách mạng, trong đó dĩ nhiên Tố Hữu là số 1. Còn Thơ mới thì bị cho là ủy mị, yếu đuối, tiêu cực… Vì vậy, ai dám cho một cây đại thụ như Tố Hữu lại “đi học” Thơ mới. Nhưng quả thực như lời Xuân Diệu nói trên (không có Thơ mới thì không có thơ Tố Hữu). Sau này GS. Lê Đình Kỵ (Trường ĐH Tổng hợp TP.HCM, nay là Trường ĐH KHXH-NV TP.HCM) đã có một chuyên luận khẳng định điều đó, các bài học trong sách giáo khoa về thơ Tố Hữu cũng có kết luận Tố Hữu kế thừa tinh hoa của Thơ mới.

Chỉ có thơ hay và thơ dở

Một nhà thơ gạo cội, trải qua nhiều giai đoạn sáng tác, vừa thạo cổ vừa thông kim, ấy thế mà khi nghĩ về thơ, Xuân Diệu không bao giờ đặt ra vấn đề về ranh giới giữa thơ cũ và thơ mới. Theo Xuân Diệu chỉ có thơ hay và thơ dở mà thôi. Trong một buổi gặp gỡ các cây bút sáng tác trẻ tại Hải Phòng, ông đã thẳng thắn bày tỏ quan niệm: “Xét cho cùng thì làm gì có vấn đề mới hay cũ trong thơ, chỉ có hay dở mà thôi. Ai bảo cụ NguyễnTrãi là cũ khi cụ viết “Tuổi già tóc bạc cái râu bạc/ Một ngọn đèn xanh con mắt xanh”. Còn những bài thơ chưa khô mực nhưng dở mèm mà gọi là mới ư? Cái gì hay thì luôn luôn mới, còn cái gì dở bị đào thải ngay khi ra đời thì là cũ chứ gì nữa”.

Xuân Diệu tên thật đầy đủ là Ngô Xuân Diệu (sinh ngày 2-2-1916, mất ngày 18-12-1985), là nhà thơ, nhà báo, nhà văn viết truyện ngắn, nhà phê bình văn học… Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới đầu thế kỷ XX

Muốn đánh giá thơ mình, hãy nhập vào người khác mà đọc lại thơ mình. Tác giả Đông Trình kể câu chuyện như sau: Có lần tôi và Xuân Diệu đi tàu lửa từ Hà Nội vào Thanh Hóa. Trước mặt tôi và Xuân Diệu đang ngồi có mấy cô sinh viên đang mở thơ Xuân Diệu ra đọc, họ không hề biết Xuân Diệu đang ngồi đối diện phía sau. Họ vô tư bình luận, tranh cãi sôi nổi, và chê những bài thơ tình in ở cuối tập. Một ngày sau, Xuân Diệu khó ngủ, gặp tôi (Đông Trình) ở phòng khách, Xuân Diệu nói: “Này ông, mình rút ruột ra mà làm, ấy thế mà có bài bị người ta “phê”. Nghe người ta “phê” mình nóng mặt, từ lâu nay có ai cả gan phê thơ tình Xuân Diệu”. Đông Trình nói: “Ôi, cái chuyện vớ vẩn trên tàu xe ấy mà… Đến ga rồi, một tiếng còi tàu là xóa hết!”. Xuân Diệu nghiêm túc nói: “Xóa thế nào được. Đêm qua mình nằm đọc lại mấy bài ở cuối tập – bằng cách nhập vai vào cánh sinh viên trên tàu – đúng là mấy bài ấy không hay nhưng mình vẫn chủ quan”.

Được một nhà thơ lớn như Xuân Diệu viết cho lời tựa sách thì quý gì bằng, nhất là các nhà thơ trẻ. Bản thân nhiều người, khi có tên tuổi một chút cũng rất “chịu” viết lời tựa. Còn Xuân Diệu thì ngược lại, ông rất “kỵ” viết “món” này. Tác giả Xuân Hoài kể lại chuyện này như sau: Năm ấy, Tỉnh đoàn thanh niên Hà Tĩnh chuẩn bị xuất bản cuốn “Từ ngã ba này ta hát”, muốn nhờ Xuân Diệu viết cho lời tựa. Sau khi đọc xong bản thảo, Xuân Diệu từ chối. Khi gặp Xuân Hoài ở Hà Nội, Xuân Diệu tâm sự với Xuân Hoài để mong anh em thông cảm: “Mình chỉ đề tựa được cho những tập nào hồng hồng một chút. Từ trước đến nay với tập chung thì mình mới viết giới thiệu cho Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960 và tập Chùa Hương. Với tập riêng thì mình chỉ mới viết giới thiệu cho hai người Cận và Khoa (Huy Cận và Trần Đăng Khoa)”. Thì ra, theo Xuân Diệu, viết tựa sách là một khâu vô cùng quan trọng, không thể tùy tiện được như nhiều người vẫn làm.

Sức sống của thơ Xuân Diệu

Việt Nam có thơ “lẩy Kiều” thì giới trẻ có lẩy thơ… Xuân Diệu. Những câu thơ được mào đầu kiểu như “Yêu là chết…”, “Người ta khổ…”, hay “Xuân đương tới…” thường được người trẻ sử dụng trong nhiều tình huống, cho thấy sức lan tỏa của thơ Xuân Diệu. Năm 1941, bài thơ Cảm xúc (như một tuyên ngôn về thơ mới: Là thi sĩ nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây…) của Xuân Diệu ra đời trên báo Ngày nay. Năm 1942, Sóng Hồng (Trường Chinh) có thơ “phản pháo” theo góc nhìn cách mạng: Là thi sĩ nghĩa là cao khúc họa/ Cuộc đấu tranh vĩ đại của hoàn cầu…/ Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền.

Theo N.H, trước đây có một thiếu nữ Pháp mê thơ Xuân Diệu nên thuộc nhiều thơ của ông. Thiếu nữ này còn lẩy thơ Xuân Diệu như người ta lẩy Kiều bằng cách ghép bốn câu thơ trong bốn bài khác nhau thành một bài tứ tuyệt:

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Ta cần uống ở suối thương yêu

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Không khóc nhưng mà buồn hiu hiu…

2/11/2025
Trần Ngọc Tuấn

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Triệu Kim Loan - Khúc độc thoại xanh của hồng gai

"Chữ gọi mùa trăng" - Tập thơ thứ 7 đánh dấu chặng đường chín muồi của nhà thơ Triệu Kim Loan, đã được ra mắt vào sáng 23/9/2025 tại không gian ấm cúng của nhà thơ Trần Mai Hường, do Nhóm "Bạn văn & Miền chữ" tổ chức. Bài viết sâu sắc dưới đây của nhà văn Kao Sơn gửi từ Hà Nội chính là món quà tinh thần ý nghĩa được dành tặng cho tác giả trong một ngày đáng nhớ. Văn chương TP. HCM xin trân trọng chia sẻ cùng bạn đọc bài viết này.

Trong vài năm trở lại đây, nhà thơ - nhà giáo Triệu Kim Loan liên tục ghi dấu ấn với những thành công trên hành trình sáng tạo. Chị xuất hiện đều đặn trên nhiều lĩnh vực, thể loại, như một cách thỏa mãn đam mê, tự kiểm nghiệm và khẳng định khả năng của chính mình.

Đọc Triệu Kim Loan gần đây, ta nhận ra rõ nỗ lực thoát khỏi những khuôn mẫu khô cứng một thời gắn với lối dạy văn trong nhà trường. Thơ chị vẫn nồng nàn, đỏ thắm tựa đóa hồng, nhưng đã xuất hiện nhiều hơn những liên tưởng mới mẻ – tựa những nốt gai sần cần thiết trên cuống hoa. Cảm xúc trực diện được thể hiện qua lăng kính thơ ca khiến ngôn từ biến hóa, bay bổng, đôi khi hư ảo mà vẫn đạt được độ chính xác đáng ngạc nhiên. Những cảm nhận trực diện dần nhường chỗ cho những hình tượng được chọn lọc, đa diện hơn. Sự biến ảo của câu chữ, hình ảnh, thậm chí những xô lệch trong kết cấu và cách tiếp cận ngày càng xuất hiện dày đặc. Minh chứng rõ nét nhất là sự ra mắt của tập thơ mới: “Chữ gọi mùa trăng”.

“Chữ gọi mùa trăng” – một gợi mở về hình tượng, một tuyên ngôn về luật chơi. Con chữ ở đây có hình hài và lối thể hiện vừa đa dạng, vừa riêng biệt. Chữ gọi mùa trăng, chữ thay cho người, nơi chủ thể và khách thể hóa thân, đổi ngôi. Tiếng nói một thời thoát ra từ lồng ngực, bay vào khoảng không, va vào vách núi rồi dội ngược trở lại. Độ vang vọng của những “âm thanh” cất lên từ chữ tùy thuộc vào tâm thế, tình cảm của tác giả. Đó có thể là hoài niệm về mối tình đầu, những vô thường trong cuộc tình dài, hoặc đơn giản chỉ là một run rẩy bất chợt của hiện tại, một thảng thốt trước sự đổi thay của cuộc sống. Và Trăng – đối tác được lựa chọn để gửi gắm và sẻ chia.

Người đọc dễ dàng nhận ra sự hiện diện của Trăng qua những ngôn từ, hình tượng vừa thực vừa huyền ảo. Khi thật như chính nó với những ký tự mặc định, khi lại ảo như “bóng chữ động chân cầu”, tựa ánh trăng đầu ngọn sóng: “Những cơn sóng cuộc người cứ xô rồi vỡ/ Em neo thầm mắt gió tự mình xanh”. Đồi núi, những uốn lượn trập trùng, những xanh non cùng khô cằn hiện diện như ẩn dụ về kiếp người với bao đổ vỡ, đổi thay vô định.

Không chỉ khai mở ngoại cảnh, thơ chị còn mang đến những góc nhìn mới trong những chủ đề quen thuộc, vốn “vô hình vô ảnh” như tình yêu: “Một vầng sáng nhẹ như tơ/ Họa mi xếp cánh tròn mơ đợi rằm”. Đôi khi, ta thấy mình như bông cúc Họa Mi bé nhỏ trong giá rét, dịu dàng khép cánh đợi trăng, chờ heo may để bung lụa. Và đâu đó vang lên những câu thơ rất đẹp: “Mơ một ngày nắng hát/ Thảo nguyên xanh trổ hoa/ Trầu xanh và vôi trắng/ Gọi tên ai - ngọc ngà...” (Mơ một ngày nắng hát). Cùng với đó là những run rẩy, bất trắc đặc trưng của tình: “Thương dốc chiều/ Bóng núi/ Một xa xôi…”.

Biển, sóng, bờ và những biến động vô thường của đại dương cũng được Triệu Kim Loan mượn làm hình tượng để nói hộ nỗi nhớ cồn cào trong lòng, cùng những giằng xé rất thực giữa khát khao chiếm hữu và buông xả: “Hẹn rồi người có về không/ Biển đang dựng sóng dõi trông bóng người”. Thơ là thế, không nhất thiết phải trực diện. Bằng thủ pháp hoán dụ, những “em - anh”, những chênh vênh đổ vỡ, những mong nhớ, hy vọng, thậm chí cả hờn trách… vẫn hiện ra qua những hình ảnh, sự vật tưởng chừng không liên quan. Nhưng chỉ cần thế là đủ: “Hoàng hôn vừa góa bụa/ Đêm đã trở mình say”.

Có một sự đổi mới trong cách sử dụng hình tượng, bằng việc nhập hồn vào chính những hình tượng ấy, biến chúng thành sinh linh vừa động vừa ảo: “Biển cuồng nhiệt xô bờ/ Muốn buộc gió để lưu hương nụ nhớ/ Lại hoang mang/ Nụ nhớ có lưu đày…” (Nụ nhớ). Và đâu đó một câu hỏi khẽ vang lên: “Ai người có lỗi – Ai mơ?/ Dấu son năm tháng có mờ trong nhau?” – chỉ hỏi vậy thôi, dường như chẳng chờ lời đáp, bởi có những lúc trong đời, ta chẳng muốn nghe câu trả lời:

Giọt trầm thả giữa mù khơi
Lòng em lá ngón đắng cời đêm loang
Thanh xuân dâng trọn đêm Ngoan
Dại yêu đau mới thắt ngang tim mình
(Lỗi hẹn)

Vẫn dịu dàng, đầy nữ tính, không nổi loạn, không hờn ghen. Chỉ là “em - anh” cùng chút kỷ niệm được chọn lọc, lưu giữ. Nhưng ẩn sâu trong đó, người đọc nhận ra những cất giấu, dồn nén được thể hiện bằng những câu lục bát tài hoa.

Triệu Kim Loan vốn là một nhà giáo. Sự gắn bó với trường lớp, học trò là một phần quan trọng trong cuộc đời chị, và điều đó hiện diện rõ nét trong thơ. Đó không chỉ là những kỷ niệm đẹp, mà đôi khi cả những trăn trở, hụt hẫng: “Tôi giờ như đã nhạt tôi/ Bảng đen đang vẽ những lời phân vân...”, “Mùa thi về sấp ngửa/ Giữa khuya cơn gió lùa”, “Một ngày lật giở từng chương/ Thấy mình tóc bạc, thấy đường còn xa…”. Phải là một giáo viên gắn bó và yêu nghề sâu sắc, mới có được những chi tiết thơ nhỏ mà thật, thảng thốt đến vậy. Nhưng sau tất cả, tình cảm với trường, với trò vẫn ngày một đằm thắm, ẩn sâu hơn. Những kỷ niệm thời áo trắng chưa vướng bụi trần vẫn tồn tại nguyên vẹn. Có cảm giác chị không làm thơ về nó, mà chỉ đơn giản nhặt từ ký ức những cánh phượng ngày xưa ép trong trang vở, giờ lấy ra làm tươi hồng lại, thổi bùng lên đốm lửa nhỏ năm nào: “Giọt nắng nào run rẩy/ Ép vàng tuổi em trăng/ Em buông lơi mái tóc/ Đợi nguyệt lên tròn rằm…”, “Em đi tìm chiếc lá/ Gói cái nhìn chao nghiêng…” (Góc nhớ). Thật và ảo – thật như đã từng cầm trên tay, ảo như ký ức về một chiếc lá bay vô định.

Cũng với tư cách một cô giáo, một người mẹ, Triệu Kim Loan đã nấc nghẹn khi viết về Làng Nủ, về những cái chết đau thương của học sinh trong cơn bão khốc liệt:

“Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Con nằm trong đất
Mẹ ở đâu rồi
Nhà mình cũng mất”

“Con nằm trong đất
Sâu lắm mẹ ơi
Ước gì cỏ mật
Nâng con lên trời…”
(Làng Nủ)

Trong “Chữ gọi mùa trăng”, người đàn bà làm thơ còn dành một góc riêng cho những số phận phụ nữ. Có người mỏng manh như sương, có người kiên cường như đá, có người hạnh phúc, có người cô độc chống chọi với giông bão cuộc đời. Không phán xét, chỉ thấu cảm và sẻ chia bằng tấm lòng bao dung, nhân hậu, như trong những câu thơ viết về người phụ nữ từng lầm lỡ:

“Một đời tròn sóng vỗ chơi
Mặt trời treo ngược phía đời lấm lem
Em như cây đàn bỏ quên
Cứ ai vuốt phải là mềm ngân rung
Sóng yêu thương vỗ lưng chừng
Em cam chịu/ Em đã từng thương em”
(Thương em)

Hay trong bài “Trớ trêu” viết về thân phận người đàn bà bị phản bội, nhưng vẫn đầy nghị lực nuôi con khôn lớn:

“Đêm nhòa gối lệ bình minh
Đếm ngày trên nỗi lặng thinh đợi ngày
Đàn con khôn lớn tuổi đầy
Bồ hòn hóa ngọt mẹ dày dặn vui”

Với mỗi nhà thơ, bên cạnh những trang viết bộc bạch cảm xúc riêng tư, luôn có mảng đề tài xã hội không thể bỏ qua – nơi thể hiện ý thức công dân với Nhân dân, Tổ quốc. Hầu như tập thơ nào của Triệu Kim Loan cũng có chùm bài về quê hương, được viết bằng cả tâm hồn và trách nhiệm. Điều đáng chú ý là cách tiếp cận mỗi lúc một khác, biên độ cảm xúc được mở rộng, cách lựa chọn và xử lý tứ thơ không lặp lại. Ở tập này, ngay cả cách biểu đạt cũng mới mẻ. Không còn những thương nhớ vu vơ, chung chung hay kỷ niệm mù xa, thơ chị về quê hương chứa đầy hình ảnh hiện thực, nhiều khi như những ghi chép sống động. Chất “hôm nay” hiện lên đậm nét: “Quê hương tôi/ Một ngày bão nổi/ Cầu sập, nhà trôi, núi lở, đất vùi…” (Nghẹn ngào đêm), “Thuyền nan bão quật tơi bời/ Nửa đêm lập cập mẹ soi lửa tìm/ Gọi cha buốt nghẹn buồng tim” (Mắt bão). Không còn chỉ là thơ, đó là những phóng sự, những thước phim bằng chữ – chân thực và rát buốt.

Đặc biệt, có lẽ ấn tượng nhất trong tập là những bài viết về đề tài chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Như một sử gia, chị bình tĩnh hướng cái nhìn vào sâu bên trong sự kiện để tìm ra cái giá thực sự của chiến thắng – cái giá lớn nhất và đau thương nhất là sự hy sinh về con người. Tiếng thơ của chị giờ là tiếng nói của người trong cuộc: là cô thanh niên xung phong giữa “Rừng Trường Sơn bom chan bão lửa”, đã lỡ hẹn cùng anh lính trẻ lái xe để “Tuổi hai mươi cùng cỏ hoa rực nắng/ Cho núi rừng, cho Tổ quốc linh thiêng” (Tìm em ngày thống nhất). Là “Người đàn bà đợi chồng/ Hàng đêm/ Hóa đá”, là “Nước mắt/ Đọng trong lúm đồng tiền một thời son trẻ/ Giờ kiệt khô hóa vết đồi mồi” (Đợi anh). Và nhói buốt đến tận cùng là hình ảnh người mẹ giữa ngày cờ hoa, một mình lặn lội vào chiến trường xa tìm con:

“Mênh mông rừng bát ngát cây
Mẹ tìm con giữa núi dầy đất son
Chỉ nghe tiếng lá cuộn tròn
Chỉ nghe tiếng suối chảy mòn xa xưa”
(Mẹ cầu hương linh)

Hay những câu thơ viết khi thăm nhà tù Côn Đảo, nơi quá khứ hiện về ám ảnh:

“Biển đêm gầm réo, sóng vỗ vào xiềng xích
Hòn đảo mồ côi trăng khóc phía chân trời
Những vách đá còn sẫm màu máu đỏ
Tiếng gông cùm vọng từ chốn xa xôi”
(Thăm nhà tù Côn Đảo)

Và thật xúc động khi đọc những dòng về các liệt sĩ ở nghĩa trang Trường Sơn:

“Nơi các anh nằm sương khói bao dung
Cứ đêm đêm trăng thì thầm kể chuyện
Những đêm trắng hành quân thần tốc
Những trận giáp lá cà xương máu đổi tự do”
…(Thắp nắng lòng người)

Rõ ràng, để viết được những câu thơ như vậy, cần một sự hóa thân đến triệt để. Không bi thương hóa, không thể là nỗi đau vờ: “Những người lính đã hòa với cỏ xanh. Hòa với cỏ cây sau những ngày khốc liệt. Gió vẫn ngắt xanh trên đồi A1. Trùng điệp núi rừng mây trắng mênh mang” (Những người nằm lại đồi A1). Phải chăng, sự hy sinh ấy đã được đền đắp? Hay đó là một khẳng định cho chân lý bất tử của sự sống?!

Hoa hồng vẫn đỏ, vẫn thơm và vẫn có gai. Có lẽ cuộc sống cần đến cả hai.

Với 7 tập thơ đã ra mắt, “Chữ gọi mùa trăng” là một bước tiến mới. Đây không phải lúc để luận bình về nội dung, chủ đề hay kỹ thuật, càng không phải để nói đến được - mất trong một tập thơ riêng lẻ. Mỗi tập thơ, một khi đã xuất bản, sẽ có cuộc sống riêng, độc lập, thoát ly khỏi sự quản lý của tác giả và có tiếng nói riêng để kết giao với bạn đọc. Còn với tác giả, mỗi tập thơ mới là một sự tái sinh. Xin lại được tiếp tục đợi chờ và hy vọng.

4/8/2025
Kao Sơn

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Nguyễn Khuyến “thâm nho” giữa đời thường

Nguyễn Khuyến (Nguyễn Thắng, 1835-1909) hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi. Người đời gọi ông là Tam Nguyên Yên Đổ, do lấy địa danh là xã (làng) Yên Đổ (huyện Bình Lục, Hà Nam trước đây) ghép với việc ông thi đỗ đầu (giải nguyên) cả ba kỳ thi hương, hội và đình. Nhưng việc này thì chính Nguyễn Khuyến cũng chẳng tự hào cho lắm, ông viết: “Học chẳng có rằng hay chi cả/ Cưỡi đầu người kể đã ba phen”.

“Nguyễn Khuyến là một trong những cây đại thụ của văn học dân tộc. Gốc rễ của nó đã ăn sâu vào đất Việt, góp phần tạo nên tâm hồn dân Việt” (Vũ Thanh). Cuộc đời thường của Nguyễn Khuyến có nhiều giai thoại thú vị, phản ánh tài năng, tính cách cũng như sự sâu sắc, thâm nho của ông.

Thâm cay… nào biết trên đầu có ai!

Nguyễn Khuyến làm quan dưới triều Tự Đức, sau đó đến Hàm Nghi và Đồng Khánh. Khi thực dân Pháp chiếm Việt Nam, ông cáo bệnh xin về quê, không cộng tác với Pháp. Có giai thoại kể về Nguyễn Khuyến ứng đối với vua Tự Đức như sau: Trong một lần yết kiến, vua Tự Đức muốn thử tài của Nguyễn Khuyến, bèn ra vế đối: “Vũ trụ giai phàm nhân, hạ tân hạ” (Vũ trụ đều là người thường, còn ai hơn?). Nguyễn Khuyến ứng khẩu đối lại: “Giang sơn duy ngã bối, thượng hữu thượng” (Giang sơn chỉ có ta, còn ai trên?). Câu đối thể hiện sự tôn trọng, sắc sảo nên được vua khen ngợi. Song, bình sinh những giai thoại kiểu tâng bốc, nịnh nọt như trên của Nguyễn Khuyến cực kỳ ít ỏi. Đa số các giai thoại của Tam Nguyên Yên Đổ là phê phán, thâm cay với những kẻ “tai to, mặt lớn”, các vị học thức “dỏm” đương thời mà ông từng gọi là “Giấy má nhà bay đáng mấy xu” (Tiến sĩ giấy), như một phần trong mảng thơ trào phúng của ông.

Giai thoại kể, có anh con trai nhờ đút lót và quyền thế của bố mà được bổ làm tri huyện Thanh Liêm (gần huyện Nguyễn Khuyến ở). Sau, anh này bày trò thi thơ để che đậy bản chất của hắn là hay ăn tiền đút lót và làm mật thám cho Pháp. Tin lọt đến tai Nguyễn Khuyến, ông đã gửi cho hắn bài thơ thất ngôn bát cú châm biếm để khỏi còn thấy cảnh chướng tai gai mắt, trong đó có cặp câu đầy mai mỉa: “Nghênh ngang võng lọng nhờ công sứ/ Ngọng nghẹo văn chương giở giọng Ngô”. Ngô ở đây là giặc Ngô, quan niệm xưa nay của người Việt ta là một thứ giặc xấu, ác.

Tổng đốc Nam Định thời bấy giờ là Vũ Văn Báo, có lần viết thư mời Nguyễn Khuyến đến nhà chơi. Việc này Nguyễn Khuyến biết rõ là Vũ Văn Báo làm theo lệnh của công sứ Pháp, muốn mua chuộc, lôi kéo ông ra làm quan để thu phục lòng người lúc bấy giờ. Nguyễn Khuyến nhận lời và cho cả con trai là Nguyễn Hoan đi cùng. Khi Vũ Văn Báo nói đến việc chính phủ bảo hộ muốn mời Nguyễn Khuyến ra làm đốc học thành Nam, Nguyễn Khuyến không trả lời, chỉ rung đùi ứng khẩu đọc hai câu thơ chữ Hán, bản dịch: “Đến cổng nhà ngươi thời gặp chó/ Kịp đem con trẻ thế thân già”. Sự thể là, ngay trước đó, khi mới đến nhà Vũ Văn Báo, Nguyễn Khuyến một phen hết vía vì bị con chó Tây nhảy xổ tới cắn, may là Nguyễn Khuyến đã đẩy con trai lên cản chó. Hai câu ứng khẩu trên ngầm cho thấy sự bất hợp tác và ngầm mỉa mai của Nguyễn Khuyến với Vũ Văn Báo. Hôm sau, Nguyễn Khuyến làm bài thơ khá dài mượn lời một gái góa gửi cho Vũ Văn Báo. Trong đó có mấy câu mở đầu: “Chàng chẳng biết gái này gái góa/ Buồn nằm suông quên cả áo cơm/ Khéo thay cái mụ tá ơm/ Đem chàng tuổi trẻ ép làm lứa đôi…”. Nguyễn Khuyến dùng “tá ơm” ý chỉ việc Vũ Văn Báo mối lái cho mình ra làm quan với Pháp. Ông khôn ngoan từ chối như vậy, khiến Vũ Văn Báo cay cú lắm nhưng chẳng làm được gì, từ đó không còn ý định lôi kéo gì nữa.

Khâm sai Kinh lược Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải bấy giờ cũng đã từng bị Nguyễn Khuyến “châm” cho một vố đau lắm nhưng chỉ “ngậm bồ hòn” làm vui. Số là Tết năm ấy, Hoàng Cao Khải báo tin cho Nguyễn Khuyến sẽ đến nhà chơi. Vốn biết Hoàng Cao Khải là một Việt gian, Nguyễn Khuyến bèn nghĩ đến việc phải xỏ cho Hoàng Cao Khải một vố. Ông cho người trồng cây nêu trước nhà và ghi câu đối: “Kiết kiết can mao, tiết đáo, kinh thiên phù nhật nguyệt” (nghĩa là: Chót vót cờ mao, Tết đến, chống thời phò nhật nguyệt). Hoàng Cao Khải đọc xong thích lắm, nhưng chỉ mới một câu, bèn nài nỉ Nguyễn Khuyến viết nốt câu hai. Nguyễn Khuyến biết Hoàng Cao Khải đã bị mình đưa vào bẫy. Ông dẫn Hoàng Cao Khải xuống bếp nhà mình, nơi mấy cỗ đầu rau (vua bếp làm bằng đất) mới nặn, chỉ cho Hoàng Cao Khải câu đối thứ hai: “Mang mang khối thổ, thời lai, tảo địa tác quân vương” (nghĩa là: Mênh mang khối đất, gặp thời, quét rác cũng làm vua). Ý tứ sâu xa của câu này ngầm nói rằng Hoàng Cao Khải chỉ là kẻ tầm thường, chẳng qua gặp thời thì lên thôi.

Tương truyền, năm 1905, Lê Hoan (một đại thần cuối triều Nguyễn) tổ chức cuộc thi vịnh Kiều ở Hưng Yên mời Nguyễn Khuyến làm giám khảo. Khi đọc thơ vịnh của Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến cho là khá. Nhưng khi đọc đến hai câu vịnh về Sở Khanh: “Làng nho người cũng coi ra vẻ/ Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay” của Chu Mạnh Trinh thì ông không bằng lòng. Nguyễn Khuyến phê bên cạnh bài vịnh: Rằng hay thì thực là hay/ Đem “nho” đối “xỏ” lão này không ưa. Chuyện lọt ra ngoài, Chu Mạnh Trinh giận lắm, muốn “trả thù” Nguyễn Khuyến. Nhân ngày Tết, Chu Mạnh Trinh (lúc này làm án sát Hưng Yên) cho người mang tặng Nguyễn Khuyến chậu hoa trà với ý xỏ lá hoa chỉ có sắc mà không có hương, vì biết lúc này Nguyễn Khuyến đã lòa cả hai mắt. Nguyễn Khuyến hiểu được thâm ý của Chu Mạnh Trinh, bèn làm bài thơ mỉa mai rồi sai người gửi cho Chu Mạnh Trinh: “Tết đến ngươi cho một chậu trà/ Đương say đâu biết cóc đâu hoa/ Da mồi tóc bạc, ta già nhỉ/ Áo tía đai vàng, bác đó a?/ Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá/ Gió to luống sợ lúc rơi già/ Lâu nay ta chỉ xem bằng mũi/ Đếch thấy hơi thơm, một tiếng khà”. Chu Mạnh Trinh xem xong vừa thẹn vừa ân hận. Có người nói đùa rằng vì bài thơ này mà Chu Mạnh Trinh xin từ chức án sát, không làm quan nữa.

Thâm trầm với người dân thôn quê

Là một người học giỏi, đỗ cao nhưng Nguyễn Khuyến chỉ làm quan hơn 10 năm rồi lui về ở ẩn. Trong bài Di chúc ông từng dặn con: “Đề vào mấy chữ trong bia/ Rằng: Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”. Cho nên phần lớn cuộc đời Nguyễn Khuyến sống ở quê. Và nơi đây đã ghi lại dấu ấn nhiều giai thoại cho thấy Tam Nguyên Yên Đổ là một nhà nho rất thâm trầm với người dân thôn quê.

Ở quê, Nguyễn Khuyến sống giản dị, thương dân. Một lần, có người khách đến nhà chơi, thấy ông nghèo, chỉ có mấy cây chuối trong vườn, bèn trêu: “Tam Nguyên mà chỉ có mấy bụi chuối thôi à?”. Nguyễn Khuyến cười đáp lại: “Nhất sĩ, nhì nông, hết gạo thì… nhất nông, nhì sĩ”. Câu nói nửa đùa nửa thật, vừa tự trào vừa phê phán cảnh sĩ phu thời mất nước. Nhiều bài thơ nổi tiếng như Khóc Dương Khuê, Bạn đến chơi nhà… cũng được Nguyễn Khuyến ứng khẩu cảm tác hoặc đọc trong các tình huống sinh hoạt đời thường. Giai thoại về lá “bùa” là một nét sổ (trong chữ Hán) giúp láng giềng không bị cháy nhà tuy cực kỳ giản dị nhưng thâm thúy, sâu sắc. Nét sổ là hình của cái “chày đứng”, đọc lái lại là “đừng cháy”. Thế thôi, nét cơ bản, sơ khởi của người học Hán tự, không cần mê tín, dị đoan gì cả!

Ngoài các giai thoại, như khóc anh thợ rèn, vợ người hàng thịt khóc chồng, trưởng chợ mừng nhà mới…, có lẽ người đời nhớ nhiều nhất là giai thoại Nguyễn Khuyến viết câu đối khóc chồng cho cô vợ của anh làm nghề thợ nhuộm mới mất: “Thiếp từ thuở lá thắm xe duyên, khi vận tía, lúc cơn đen, điều dại điều khôn nhờ bể đỏ/ Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại, vợ má hồng, con răng trắng, tím gan tím ruột với trời xanh”. Giai thoại này cho thấy tài chơi chữ kiệt xuất cũng như nghệ thuật viết câu đối siêu việt của thi hào Nguyễn Khuyến.

5/11/2025 

Trần Ngọc Tuấn

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Đọc thơ Thiên Di

Dường như là một giấc mơ chậm rãi, dịu dàng, vẫn đọng lại dư âm của cô đơn, khao khát và hy vọng. Tác giả sử dụng nhịp điệu từ những chi tiết nhỏ – mưa rả rích, ánh mắt, cánh hoa – để cảm xúc lan tỏa, khiến độc giả không cần lạm dụng từ ngữ hoa mỹ vẫn cảm nhận được sự mềm mại, tinh tế và ám ảnh.

ÁI TÌNH MÙA ĐÔNG

đêm hát nỗi đau ám ảnh 

một dàn nhạc bị gãy đầy tạp âm

cơn mưa rả rích

hoà trộn âm thầm

ôi! nụ cười mùa đông rét mướt

khao khát một người tình ấm như bếp lửa

nhưng chỉ có tiếng chim khắc khoải

[lọt thỏm trong đêm]

nàng cúi xuống tránh cái bóng của mình

cái bóng lặng thinh

cô đơn giữa ngôi nhà trống trải

…[rả rích cơn mưa]…

giấc ngủ mùa đông đến quá sớm

đôi mắt màu thạch anh tím thoáng qua 

khi những cánh hoa li ti rụng trên sân như tuyết trắng …

[tan vỡ] 

nàng vẫn duyên dáng như thiếu nữ

 cứ như thế

 giấc ngủ trở thành 

một chiếc bánh ngọt ngào

chìm vào cơn mơ có người nàng yêu…

Thiên Di Sg 11.9.2024

ÁI TÌNH MÙA ĐÔNG – NHỊP ĐIỆU RẢ RÍCH VÀ BÓNG HỒN CÔ ĐƠN

Đêm xuống như một tấm màn lụa mỏng, phủ lên mọi rung cảm, và trong màn lặng ấy, Bài thơ “Ái Tình Mùa Đông” của Thiên Di mở ra bằng những âm thanh tan chảy, vừa rối ren vừa tinh khiết, như nhịp tim lạc lõng giữa cơn rét. Tác phẩm không ồn ào, không cầu kỳ, mà thấm đẫm nhịp điệu từ những âm vang rả rích của cơn mưa, từ tiếng chim khắc khoải lọt thỏm trong đêm, tạo nên một không gian vừa cô đơn vừa nhạy cảm, nơi cảm xúc xoay vần giữa khao khát và hụt hẫng, giữa gần gũi và xa cách.

Ngay mở đầu:

"đêm hát nỗi đau / ám ảnh / một dàn nhạc bị gãy đầy tạp âm"

Câu thơ như một bản giao hưởng chập chờn, nơi từng tạp âm, từng khoảng lặng đều mang ý nghĩa, vừa biểu thị tâm trạng rối loạn của trái tim, vừa như một ẩn dụ tinh tế cho những rung động tình cảm chưa trọn vẹn. Từ láy “rả rích” xuất hiện như nhịp trống mềm mại xuyên suốt bài, vừa mô tả cơn mưa, vừa đồng điệu với nhịp tim và sự cô đơn, vừa âm thầm khắc ghi trạng thái nội tâm, tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa hình ảnh vật lý và cảm xúc.

Câu chữ trong bài thơ phóng khoáng, linh hoạt, biến hóa nhịp điệu giữa những mạch ngắn dứt khoát và những mạch dài trôi chảy:

"ôi! nụ cười mùa/ đông rét mướt/ khao khát một người/ tình ấm như bếp lửa"

Sự đối lập “mùa đông rét mướt” – “tình ấm như bếp lửa” vừa gợi nhịp điệu ngắn, vừa dãn ra khoảng lặng, làm nổi bật cái trống trải của cô đơn, khắc sâu nỗi khao khát tình yêu. Ngôn từ mượt mà, giàu nhạc tính, khiến từng câu chữ như ngân lên, lay động cảm xúc một cách tinh tế, không sa vào hoa mỹ sáo rỗng.

Hình ảnh cô gái cúi xuống tránh cái bóng của mình:

"nàng cúi xuống/ tránh cái bóng của mình/ cái bóng lặng thinh"

Đây là một phép ẩn dụ tinh tế, vừa gợi lên sự e dè, tự kềm chế, vừa biểu thị trạng thái cô đơn sâu thẳm, nỗi giằng xé giữa mong muốn gần gũi và tự tách mình khỏi thế giới. Ngôi nhà trống trải, cơn mưa rả rích, ánh mắt tím thoáng qua, cánh hoa li ti rụng trên sân như tuyết trắng – tất cả hòa quyện, tạo nên một bức tranh đa chiều về mùa đông, nơi hình ảnh và âm thanh, thực tại và mơ hồ, đồng điệu và xung đột, hòa vào một nhịp điệu tinh tế.

Điểm đáng chú ý của bài thơ là cách tác giả khéo léo kết hợp hình ảnh vật lý với cảm xúc nội tâm, tạo nên một dòng chảy ngôn từ vừa nhẹ nhàng vừa ám ảnh. Câu:

"giấc ngủ mùa đông/ đến quá sớm/ đôi mắt màu thạch/ anh tím thoáng qua"

Nhà thơ không chỉ mô tả cảnh vật mà còn gợi nhịp mơ hồ, khoảnh khắc thoáng qua nhưng để lại dư âm, vừa sắc bén vừa tinh tế, khiến độc giả cảm nhận được sự mong manh, phù du của cảm xúc. Bút pháp này vừa linh hoạt vừa sắc sảo, khiến bài thơ mang tính chiều sâu và trải nghiệm thẩm mỹ vượt ra ngoài lời chữ.

Kết thúc bài thơ, hình ảnh:

"một chiếc bánh ngọt ngào/ chìm vào cơn mơ có người nàng yêu"

Dường như là một giấc mơ chậm rãi, dịu dàng, vẫn đọng lại dư âm của cô đơn, khao khát và hy vọng. Tác giả sử dụng nhịp điệu từ những chi tiết nhỏ – mưa rả rích, ánh mắt, cánh hoa – để cảm xúc lan tỏa, khiến độc giả không cần lạm dụng từ ngữ hoa mỹ vẫn cảm nhận được sự mềm mại, tinh tế và ám ảnh.

“Ái Tình Mùa Đông” là bản giao hưởng cô đơn, nơi nhịp điệu, âm thanh, hình ảnh và cảm xúc hòa quyện, tạo nên một trải nghiệm thẩm mỹ toàn diện. Từ láy tinh tế, câu chữ linh hoạt, và bút pháp phiêu linh, bài thơ vừa sắc sảo vừa mượt mà, vừa sâu sắc vừa dễ chạm đến trái tim độc giả, làm người đọc như lạc vào mùa đông của ái tình, nơi cô đơn và khát khao hòa quyện, ngân lên những dư âm không phai.

NGƯỜI XƯA NAY NHẠT MÀU SƯƠNG

Vốc đêm một nắm nguyệt gầy

Không đèn phố ngủ hàng cây lặng buồn

Mù mù sương xám choàng ôm

Run run ta cúi môi hôn bóng mình

Đêm nao ai bước đăng trình

Đêm nay ta hát ru tình nhân xưa

Ô hô! thu lạnh trăng mờ

Con thuyền cuối bãi nằm mơ người về

Người về - hôn nụ hôn mưa

Dìu ta tìm lại một mùa hương phai

Vốc trăng vẽ một hình hài

Nhạt nhòa quên, nhớ - tranh ai loang mờ…

Thiên Di Sg 19.9.2024

“NGƯỜI XƯA NAY NHẠT MÀU SƯƠNG” – NHỊP THỞ KÝ ỨC TRONG KHÔNG GIAN PHIÊU LINH

Đêm trôi trong một khoảng lặng ẩm ướt, nơi sương mù phủ khắp phố phường như tấm màn mỏng che giấu cả những rung động tinh vi nhất của tâm hồn. Trong không gian ấy, ngôn từ của Thiên Di tựa những giọt sương lặng lẽ rơi, vừa cụ thể vừa phiêu linh, vừa nhìn thấy vừa cảm nhận được. Bài thơ “Người xưa nay nhạt màu sương” mở ra một cảnh tượng vừa gần gũi vừa mờ ảo, nơi ký ức lẫn vào hiện tại, nơi trăng, bóng, sương và hồn người giao hòa, và từng từ láy, từng nhịp cú pháp đều được điều khiển tinh tế để tạo nên một không gian thi pháp sống động, sâu sắc.

Ngay câu mở đầu:

"Vốc đêm một nắm / nguyệt gầy"

Tác giả đưa vào thơ một hình tượng độc đáo. Động từ “vốc” gợi cử chỉ cụ thể, vừa sinh động vừa mang tính ẩn dụ: con người không chỉ quan sát mà còn nắm bắt, chạm vào ký ức, vào đêm, vào trăng – một cách tương tác trực tiếp, thân mật với vật thể và cảm giác. Từ láy “nguyệt gầy” vừa gợi hình ảnh thị giác – ánh trăng mỏng, nhợt nhạt – vừa gợi cảm giác mong manh, thiếu thốn, tinh tế và mơ hồ, đánh vào cảm nhận sâu thẳm của người đọc. Cấu trúc cú pháp ngắt nhịp tạo ra nhịp thở chậm, nhịp điệu tinh tế như một bản nhạc trầm lắng của đêm, nơi mỗi chữ đều vang lên nhè nhẹ, rung rinh trong tâm trí.

Tiếp theo, hình ảnh:

"Không đèn phố ngủ/ hàng cây lặng buồn"

Tác giả mở ra bầu không gian tĩnh lặng và cô đơn. Ngữ ngắn “lặng buồn” được sử dụng khéo để tạo hiệu ứng đồng cảm: cây cối như thấu hiểu nỗi cô đơn của con người. Câu thơ vừa mô tả hiện thực vừa gợi cảm giác nội tâm, là nơi bút pháp hiện thực hòa vào cảm giác huyền ảo. Sự tĩnh lặng này làm nổi bật khoảnh khắc nội tâm:

"Run run ta cúi/ môi hôn bóng mình"

Ở đây, từ láy “run run” vừa tạo nhịp điệu vừa truyền tải rung động cảm xúc, sự dao động của tâm hồn trước bóng hình và ký ức. Hình ảnh “môi hôn bóng mmìn” không chỉ là hành vi vật lý mà còn là phép ẩn dụ cho sự đối diện với bản thân, với quá khứ và với những nỗi cô đơn mơ hồ, vừa mơ vừa thực.

Bước sang phần giữa, Thiên Di mở ra dòng ký ức và nhịp thời gian phi tuyến tính:

"Đêm nao ai bước/ đăng trình
Đêm nay ta hát ru/ tình nhân xưa"

Câu thơ mang tính chất gợi cảm mạnh mẽ, nơi từ “đăng trình” – một thuật ngữ Nam Bộ, vừa gợi hình vừa trừu tượng – tạo ra hành trình tâm thức, mở ra một khoảng lặng mà người đọc như bước vào hành lang ký ức. Sự đối lập giữa “ai bước” và “ta hát ru” tạo nên không gian song trùng giữa hiện tại cô đơn và quá khứ dập dờn, vừa gợi nỗi nhớ, vừa nhấn mạnh sự mong manh của ký ức. Từ “ru” vừa tạo nhịp điệu vừa mang tính chất an ủi, làm dịu nỗi nhớ, đồng thời nhấn mạnh chiều sâu nội tâm và sự kết nối tinh thần giữa con người và thời gian.

Cao trào cảm xúc xuất hiện ở các câu:

"Người về - hôn nụ/ hôn mưa
Dìu ta tìm lại một/ mùa hương phai"

Từ  “phai” vừa gợi màu sắc nhạt, vừa tượng trưng cho sự trôi qua của ký ức, của thời gian, và của tình cảm. Động từ “dìu” mang tính cử chỉ, nhẹ nhàng nhưng trìu mến, làm tăng tính biểu cảm. Phép điệp cú pháp “hôn nụ / hôn mưa” không chỉ nhấn mạnh nhịp điệu mà còn tạo tầng nghĩa kép: vừa thực vừa tượng trưng, vừa thân mật vừa mộng ảo. Đây là minh chứng điển hình cho sự điêu luyện trong bút pháp Thiên Di, nơi hình thức và nội dung đan xen nhuần nhuyễn, tạo ra âm hưởng cảm xúc mạnh mẽ.

Ở phần kết, bài thơ để lại dư âm tinh tế:

"Vốc trăng vẽ một/ hình hài
Nhạt nhòa quên,/ nhớ - tranh ai loang mờ…"

Các từ láy, cụm từ ngắn “nhạt nhòa” và “loang mờ” không chỉ gợi thị giác mà còn gợi cảm giác tâm lý, nhấn mạnh sự mong manh, mờ ảo của ký ức. Câu cuối mở ra một không gian phiêu linh, nơi quá khứ và hiện tại hòa vào nhau, nơi cảm xúc vừa tròn đầy vừa hụt hẫng. Đây là biểu hiện đỉnh cao của bút pháp phiêu linh, nơi Thiên Di buông lỏng không gian nhưng vẫn kiểm soát được nhịp điệu, ánh sáng, bóng tối và cảm xúc, tạo ra hiệu ứng vừa chiêm nghiệm vừa mê hoặc.

Nếu phân tích sâu hơn từng từ láy, động từ và phép điệp cú pháp, có thể nhận thấy:

Từ láy, từ đơn và cụm từ ngắn gần âm như “run run, nguyệt gầy, lặng buồn, nhạt nhòa, loang mờ, phai” – tất cả đều được khai thác triệt để để tạo nhịp điệu, âm hưởng, và tầng nghĩa sâu. Mỗi đơn vị từ vừa truyền tải rung cảm, vừa gợi thị giác, vừa gợi cảm giác trừu tượng.

Động từ: “vốc, dìu, hôn, cúi”– không chỉ mô tả hành động mà còn gợi trạng thái tâm lý, kết nối cảm xúc với hình ảnh vật thể và không gian.

Phép điệp cú pháp: “hôn nụ/ hôn mưa, nhạt nhòa quên,/ nhớ - tranh ai loang mờ” – tạo nhịp điệu, âm hưởng, và mở rộng tầng nghĩa, vừa nhấn mạnh cảm xúc vừa giữ sự phiêu linh của bút pháp.

Âm hưởng và nhịp điệu: Cấu trúc câu ngắn – dài xen kẽ, sự đảo ngữ, nhịp dừng linh hoạt, tạo nhạc tính, mang đến cảm giác vừa mơ hồ vừa sống động, vừa trầm lắng vừa dâng cao cảm xúc.

Nhìn tổng thể, “Người xưa nay nhạt màu sương” là một bản hòa tấu tinh tế giữa ngôn từ, nhịp điệu, hình ảnh và cảm xúc. Từng vế câu, từng chi tiết đều được Thiên Di cân nhắc kỹ lưỡng, vừa uyên bác, vừa phiêu linh, vừa điêu luyện. Bài thơ không chỉ là bản nhạc của ký ức mà còn là không gian để người đọc chiêm nghiệm, để nhịp tim hòa nhịp với từng run run của đêm, từng nhạt nhòa của sương, và từng loang mờ của ký ức, như một hành trình tâm linh trôi giữa thực tại và mộng tưởng.

Bài thơ khép lại, nhưng dư âm vẫn còn lan tỏa – một không gian ký ức và cảm xúc mênh mang, nơi ánh trăng, sương và bóng tối hòa làm một, nơi ký ức và hiện tại giao hòa, và nơi tâm hồn người đọc được mời gọi bước vào, để rung động, để nhớ, và để lặng im trong vẻ đẹp phiêu linh, bác học và đầy nhịp điệu của Thiên Di.

GIẢI CỨU TÂM HỒN

đã đến lúc ánh sáng

giải cứu  tâm hồn nhau

lấp đi vực bóng tối

sự cô đơn âu sầu

tiếng chuông nhà thờ đổ

mọi thứ như đứng yên

dòng thời gian chậm rãi

 trôi chân thực êm đềm

đừng im lặng do dự

nấp dưới ánh trăng vàng

như tù nhân bị giam

trong trái tim thương nhớ

nhưng dẫu còn bóng tối

vẫn sự thật yêu anh

như mùa hè ấm áp

duyên hai ta ghép thành

con đường ngỡ vô hạn

trong nhịp đập trái tim

không cần biết sai đúng

giải cứu nhau một lần

có ánh sáng chữa lành

trái tim nhau rỉ máu

từ những tình khúc xanh

nhẹ nhàng và tinh tế…

Thiên Di Sg 12.9. 2025

GIẢI CỨU TÂM HỒN – DÒNG NHỊP ÁNH SÁNG TRONG BÓNG TỐI

Bài thơ “Giải Cứu Tâm Hồn” mở ra như một không gian nội tâm lung linh, nơi ánh sáng len lỏi giữa bóng tối, nơi cô đơn và thương nhớ tìm thấy nhịp thở mới. Thiên Di Sg dựng nên một thế giới phiêu linh mà sắc sảo, nơi ngôn từ vừa mượt mà, vừa lẻm nhọn, vừa ngân lên nhịp điệu tự nhiên, vừa chứa đựng chiều sâu triết lý về yêu thương và sự chữa lành. Người đọc không đi vào con đường quen thuộc, mà bị cuốn theo dòng chảy cảm xúc, như trôi theo một buổi chiều sương mờ Nam Bộ, gió lặng, nhưng trái tim vẫn rung lên từng nhịp.

Ngay câu mở đầu, bài thơ đã đặt vấn đề cốt lõi:

"đã đến lúc ánh/ sáng/ giải cứu tâm hồn nhau/ lấp đi vực bóng tối/ sự cô đơn âu sầu"

Cụm từ “lấp đi vực bóng tối” vừa là hình ảnh vừa là ẩn dụ, gợi cảm giác vượt thoát khỏi nỗi buồn, tự cứu mình và cứu người. Từ âu sầu vang lên như nhịp trầm của trái tim, vừa mềm mại vừa sắc lẻm, vừa dễ tổn thương vừa tràn đầy sức sống nội tâm. Ngay lập tức, bài thơ tạo ra một không gian nơi ánh sáng và bóng tối không đối lập tuyệt đối, mà đan xen, giao thoa, làm nổi bật tính cách tự chữa lành và sẻ chia của con người.

Thiên Di tinh tế vận dụng nhịp điệu linh hoạt, uyển chuyển giữa câu dài trải ra dòng suy tưởng và câu ngắn như nhịp tim dứt khoát:

"tiếng chuông nhà/ thờ đổ/ mọi thứ như đứng yên/ dòng thời gian chậm rãi/ trôi chân thực êm đềm"

Hình ảnh “chuông nhà thờ đổ” vừa âm thanh vừa không gian tinh thần, tạo cảm giác tĩnh lặng, dòng thời gian “chậm rãi” mở ra khoảnh khắc suy ngẫm, đối diện nội tâm. Từ “chậm rãi” và “êm đềm” làm mềm nhịp, đồng thời gợi sự thư giãn, mời gọi người đọc bước vào chiều sâu cảm xúc.

Khổ thơ về sự im lặng và nỗi giằng xé nội tâm:

"đừng im lặng do dự/ nấp dưới ánh/ trăng vàng/ như tù nhân bị giam / trong trái tim thương nhớ"

Thiên Di tinh tế trong cách sử dụng hình ảnh và ẩn dụ. “Ánh trăng vàng” vừa gợi che chở vừa tạo cảm giác bị ràng buộc, như bước ra khỏi sự im lặng là bước vào sự chia sẻ, là giải cứu tâm hồn. Từ “do dự” vang lên như nhịp thở mỏng manh nhưng dằn vặt, nhấn mạnh tính chân thật và tinh tế trong trạng thái nội tâm.

Điểm độc đáo của bài thơ nằm ở sự kết hợp nhịp điệu, hình ảnh tự nhiên và cảm xúc cá nhân, tạo ra sự đồng điệu sâu sắc:

"nhưng dẫu còn bóng tối/ vẫn sự thật yêu anh/ như mùa hè ấm áp/ duyên hai ta ghép thành"

Câu chữ mềm mại, giàu nhịp điệu, vừa mở ra cảm giác ấm áp, vừa tạo hiệu ứng thẩm mỹ tinh tế. “Duyên hai ta ghép thành” như nhịp trống đồng nội tâm, vừa nhẹ nhàng vừa chắc chắn, gợi cảm giác hạnh phúc giản dị nhưng sâu sắc – nơi tình yêu không hoàn hảo nhưng đủ sức chữa lành.

Khép lại, bài thơ đạt cao trào về ánh sáng và sự chữa lành:

"có ánh sáng chữa lành/ trái tim nhau rỉ máu/ từ những tình khúc xanh/ nhẹ nhàng và tinh tế…"

“Trái tim rỉ máu” tượng trưng cho nỗi đau, vết thương; “tình khúc xanh” và “ánh sáng” là hy vọng, niềm sống mới. Sự kết hợp nhịp điệu, từ láy, hình ảnh, và tính biểu cảm khiến câu thơ vừa lắng đọng vừa dâng trào, như dòng sông cảm xúc hòa cùng âm thanh, nhịp tim của ngôn từ.

Toàn bộ bài thơ là một dòng chảy liên tục của cảm xúc, nơi hình thức và nội dung, ánh sáng và bóng tối, tình yêu và cô đơn hòa quyện. Thiên Di vận dụng ngôn ngữ phóng khoáng, linh hoạt, giàu nhịp điệu và từ láy, tạo ra trải nghiệm thẩm mỹ trọn vẹn, khiến người đọc vừa rung động, vừa chiêm nghiệm, nhận ra sức mạnh chữa lành của yêu thương, sự sẻ chia và đồng hành.

Khép lại, “Giải Cứu Tâm Hồn” không chỉ là bản nhạc nội tâm của cá nhân, mà là khúc ca phổ quát về đời sống – nơi ánh sáng luôn chực chờ giải cứu những trái tim mỏi mệt, nơi từng nhịp từ láy, từng hình ảnh, từng ánh sáng lặng lẽ hòa vào nhau, làm nên một vũ trụ tinh thần vừa phiêu linh, vừa sắc bén, vừa bác học, khiến người đọc thổn thức theo từng nhịp tim của thi ca.

LÁ NHỚ 

từng lá nhớ bay bay bên thềm

trái tim em thì thầm gọi tên 

cánh hồng phai say vui trong  mưa

môi yêu kiều nhớ nụ hôn vừa…

chiều mồ côi đôi chân lang thang

chiều lên cao có đôi tim ngoan

tìm về nhau như chim về đàn

tìm hơi ấm một góc trần gian

chén tình ngon uống nồng môi thơm  

đôi nhân tình gom bao yêu thương 

trao cho người không lời dối gian

xin bên nhau say êm vô vàn

mưa tí tách nhắc hoài tên anh

chiều dâng dâng một niềm cô đơn

từng phiến nhớ vàng khung trời em

nhè nhẹ ru ngày vào trong đêm…

Sài Gòn 26.8.2025 – Thiên Di.

LY RƯỢU VANG

Giống như rượu vang 

ta ngửi mùi hương rồi mới uống 

anh là chiếc cốc của em

lấp đầy những khao khát 

có những thứ thật đẹp…

có những thứ thật buồn 

đôi mắt của em

ở dưới đáy 

trong  giây lát

đọng một vệt nắng khi chân trời vỡ tan

trở thành một cơn sóng khác

dội ngược vào lòng 

tình yêu

khi nhìn về phía trước

cảm nhận và hy vọng phải không anh

Có những giấc mơ là vô tận…

trong khi đêm xuống

ta nhìn những vì sao 

cảm thấy lòng yên ổn

như anh đang thở trong em …

Chúng ta đan xen nhau

tình yêu có khởi đầu từ đâu đó

hạnh phúc được thả neo 

trong vũng biển trái tim nhau

Ly rượu vang thơm nồng 

vừa thấm trên môi …

anh có nghe vị ngọt ngào say đắm…

Sài Gòn 19.8.2025 – Thiên Di.

ĐÊM NHU MÌ

tôi ngồi thả gió về trời 

thả lòng vào cõi không lời tịnh yên

dạ hương ngan ngát bên thềm

mưa rây sương bụi cho đêm ngoan nồng

ai đo bóng tối sâu, nông

riêng tôi phiêu lãng vào dòng miên du

đèn vàng hắt bóng mù mù

mơ hồ bước nhẹ hương rù quến tôi

đêm nhu mì đêm tinh khôi

tôi ngồi chợt tưởng một người yêu xa

nồng nàn say đắm như hoa

theo dòng như ý mong là tri âm

đêm ơi sâu đến vô cùng

cùng tôi – mưa thả nhạc lòng ngát hương…

Sài Gòn 5.8.2025

DÒNG CHẢY NHỚ – NHỊP ĐIỆU ÁI TÌNH TRONG CHÙM THƠ THIÊN DI

Chùm thơ của Thiên Di mở ra như những nốt nhạc lặng lẽ, dệt nên một không gian tình cảm tinh tế, nơi ký ức, nỗi nhớ và niềm khao khát hòa quyện vào nhau, tạo thành dòng chảy cảm xúc vừa mênh mang vừa sâu lắng. Tác giả, bằng bút pháp phiêu linh, linh hoạt và giàu nhịp điệu, đã khéo léo vận dụng từ láy, hình ảnh và nhịp câu để mở ra một vũ trụ nội tâm đầy âm hưởng, nơi mỗi câu chữ đều ngân lên, rung động, và lưu lại dư âm khó quên.

Trong “Lá Nhớ”, hình ảnh những “lá nhớ bay/ bay bên thềm” gợi ra nỗi khát khao khẽ lướt qua đời thường, như cơn gió thu mang theo cả ký ức và trái tim thầm gọi. Tác giả kết hợp nhịp điệu mềm mại với từ láy tinh tế: “chiều mồ côi đôi/ chân lang thang/ chiều lên cao có/ đôi tim ngoan” tạo nên sự tương phản thú vị giữa cô đơn và tìm về, giữa trống trải và hy vọng. Những chi tiết “mưa tí tách nhắc/ hoài tên anh” hay “từng phiến nhớ/ vàng khung trời em” không chỉ mô tả hiện thực mà còn là ẩn dụ tinh tế về ký ức, về tình yêu còn vương vấn mà không lời, khiến dòng thơ vừa lặng lẽ vừa ngân vang, vừa chân thực vừa mơ hồ.

Sang “Ly Rượu Vang”, Thiên Di khéo léo biến cảm xúc tình yêu thành những trải nghiệm giác quan, nơi mỗi hành động, mỗi hình ảnh đều vang lên nhịp điệu gợi cảm: “Giống như rượu vang/ ta ngửi mùi hương/ rồi mới uống/ anh là chiếc cốc/ của em/ lấp đầy những khao khát”. Hình ảnh rượu vang vừa cụ thể vừa ẩn dụ, vừa mềm mại vừa sắc sảo, tạo nhịp điệu dâng trào, gợi cảm giác yêu thương thấm vào từng giác quan. Những câu như “đôi mắt của em/ ở dưới đáy/ trong giây lát/ đọng một vệt nắng / khi chân trời vỡ tan” vừa mộng vừa thực, làm nổi bật sự hòa quyện của hai tâm hồn, vừa lắng sâu vừa bay bổng, nơi yêu thương không chỉ là cảm xúc mà là trải nghiệm sống, trải dài trong từng nhịp tim và hơi thở.

Trong “Đêm Nhu Mì”, Thiên Di đưa người đọc vào không gian tinh thần mênh mông, nơi đêm và mưa, hương hoa và ánh sáng hòa quyện để tạo nên nhịp điệu lắng sâu của ký ức và khao khát: “tôi ngồi thả gió/ về trời/ thả lòng vào cõi/ không lời tịnh yên/ dạ hương ngan/ ngát bên thềm/ mưa rây sương bụi/ cho đêm ngoan nồng”. Tác giả kết hợp nhịp điệu phiêu linh với từ láy tinh tế “ngoan nồng”, “mù mù”, “rù quến” để biến thơ thành một dòng nhạc của cảm xúc, vừa nhẹ nhàng vừa dâng trào, vừa hiện thực vừa mơ mộng. Hình ảnh đêm nhu mì, tinh khôi, kết hợp với cảm giác “nồng nàn say đắm/ như hoa/ theo dòng như ý” tạo nên dư âm lãng mạn nhưng không rườm rà, khiến người đọc chìm đắm trong nhịp tim tình ái, vừa dịu dàng vừa phiêu linh.

Chùm thơ Thiên Di là sự kết hợp điêu luyện giữa hình thức và nội dung, giữa nhịp điệu, từ láy và hình ảnh, tạo nên dòng chảy cảm xúc liên tục. Tác giả không chỉ khắc họa tình yêu, ký ức và cô đơn, mà còn khai thác triệt để nhạc tính của ngôn ngữ, nơi mỗi chi tiết, mỗi hình ảnh đều mang sức gợi âm vang, vừa tinh tế vừa sắc lẻm, vừa tự sự vừa trữ tình. Từ những lá nhớ lặng lẽ, ly rượu vang ngọt ngào, đến đêm nhu mì đầy hương thơm, tất cả hòa quyện thành một bản nhạc nội tâm, nơi cảm xúc và hình ảnh, hiện thực và ẩn dụ, cô đơn và yêu thương hòa làm một.

Chùm thơ của Thiên Di là minh chứng cho khả năng bút pháp điêu luyện, nhạy cảm và giàu nhịp điệu, đồng thời là sự khéo léo trong việc sử dụng từ láy, hình ảnh, và nhịp câu để mở ra không gian nội tâm đầy phiêu linh, sắc sảo và lôi cuốn. Đây là những dòng thơ vừa thấm đẫm chất phong cách viết phóng khoáng, lại vừa tinh tế, sắc bén, khiến người đọc vừa rung động vừa chiêm nghiệm, để cảm nhận tình yêu, ký ức, và cô đơn trong từng nhịp thở, từng ánh nhìn, từng khoảng lặng của ngôn từ.

NHỊP THỞ NỘI TÂM – BÚT PHÁP PHIÊU LINH VÀ ÂM HƯỞNG TÌNH CẢM TRONG THƠ THIÊN DI

Chùm thơ và từng tác phẩm riêng lẻ, “Ái Tình Mùa đông”, “Người Xưa Nay Nhạt Màu Sương”, “Giải Cứu Tâm Hồn” của Thiên Di, mở ra một vũ trụ nội tâm đầy nhịp điệu, nơi cảm xúc, ký ức và ái tình hòa quyện trong dòng chảy phiêu linh nhưng sắc sảo đến từng chi tiết. Tư tưởng, bút pháp và hình thức nghệ thuật của tác giả hiện lên rõ ràng, vừa thấm đẫm chiều sâu triết lý, vừa dồi dào sức gợi hình; khiến người đọc không chỉ tiếp nhận ngôn từ mà còn đồng điệu với nhịp tim, từng rung cảm và khoảnh khắc lặng lẽ trong thơ.

Trước hết, tư tưởng của Thiên Di luôn hướng tới việc khai thác chiều sâu cảm xúc nội tâm, sự rung động tinh tế của ký ức, và khả năng chữa lành, kết nối giữa con người với chính bản thân và với người khác. Ái tình trong thơ không phải là những cơn say ngây ngất hời hợt, mà là dòng chảy mềm mại, dằng dặc của mong nhớ, cô đơn, hy vọng và khao khát được sẻ chia. Nỗi cô đơn không bị tách khỏi không gian hay thời gian, mà hòa vào âm thanh, ánh sáng, mưa, sương – tất cả đều trở thành những biểu tượng cảm xúc. Như trong “Giải Cứu Tâm Hồn”, ánh sáng và bóng tối không đối lập mà đan xen, gợi nhịp điệu chữa lành, trong khi “Người Xưa Nay Nhạt Màu Sương” khơi gợi sự lắng đọng của ký ức, nơi trăng, sương, bóng tối và tâm hồn hòa làm một.

Về bút pháp, Thiên Di phiêu linh và linh hoạt trong ngôn ngữ. Tác giả khai thác triệt để từ láy, động từ, và phép điệp cú pháp, không phải để hoa mỹ mà để tạo nhịp điệu, âm hưởng và lớp nghĩa sâu sắc. Từ láy và cụm từ ngắn gần âm  như “rả rích, run run, ngoan nồng, lặng buồn, nhạt nhòa, loang mờ” không chỉ mô tả vật lý mà còn biểu thị trạng thái tâm lý, vừa mềm mại vừa sắc lẻm, vừa hiện thực vừa ẩn dụ. Động từ “vốc, dìu, cúi, hôn” được dùng như cử chỉ biểu cảm, kết nối cảm xúc với hành động, làm người đọc cảm nhận từng rung động tinh vi. Các phép điệp cú pháp như “hôn nụ/ hôn mưa, nhạt nhòa quên,/ nhớ – tranh ai loang mờ” tạo nhịp điệu luyến láy, vừa mở rộng tầng nghĩa vừa giữ sự phiêu linh, tạo ra âm hưởng độc đáo, khiến câu chữ như ngân vang, trôi chảy và thấm sâu vào trí nhớ người đọc.

Về cách viết, Thiên Di sử dụng mạch câu linh hoạt, đan xen nhịp ngắn – dài, tạo nhịp thở, vừa dứt khoát vừa lắng sâu. Cấu trúc này khiến không gian thơ vừa mở ra vừa khép lại, vừa mơ hồ vừa hiện thực, làm nổi bật sự rung cảm, cô đơn, và khát khao. Hình ảnh được chọn lọc tinh tế: “cánh hoa li ti rụng trên sân như tuyết trắng”, “vốc đêm một nắm/ nguyệt gầy”, “chiều mồ côi đôi/ chân lang thang” – tất cả vừa cụ thể vừa ẩn dụ, vừa tạo nhịp điệu vừa xây dựng không gian nội tâm phiêu linh. Thơ của Thiên Di là sự hòa quyện nhịp nhàng giữa cảm xúc và hình ảnh, giữa thực tại và mộng tưởng, giữa cô đơn và ái tình, khiến người đọc vừa chiêm nghiệm vừa rung động, như lạc vào một bản giao hưởng nội tâm.

Về hình thức nghệ thuật, Thiên Di vận dụng bút pháp phóng khoáng, phiêu linh, giàu nhịp điệu và nhạc tính. Câu chữ mềm mại nhưng sắc lẻm, vừa phiêu hư vừa chắc chắn, tạo ra không gian thơ vừa chân thực vừa huyền ảo. Ngôn từ được sắp xếp tinh tế, từ láy và động từ được chọn lọc kỹ, nhịp điệu được điều chỉnh uyển chuyển, cho phép cảm xúc lan tỏa tự nhiên mà vẫn duy trì tính học thuật, tinh tế và bác học. Bài thơ vừa tự sự vừa trữ tình, vừa hiện thực vừa ẩn dụ, tạo nên một vũ trụ thơ đa chiều, nơi ánh sáng, bóng tối, ký ức và ái tình hòa quyện trong nhịp điệu liên tục.

Nhìn chung, các tác phẩm của Thiên Di thể hiện một bút pháp điêu luyện, sắc sảo, phiêu linh và đầy nhịp điệu, kết hợp giữa tinh thần phóng khoáng và sự uyên bác trong xử lý ngôn từ. Tác giả không chỉ kể lại những cảm xúc, ký ức, ái tình mà còn khéo léo tạo ra một trải nghiệm thẩm mỹ tổng thể, nơi người đọc được mời gọi bước vào không gian nội tâm mênh mang, nơi nhịp tim, ánh sáng, bóng tối và cảm xúc cùng hòa nhịp, vừa lắng đọng vừa ngân vang, vừa hiện thực vừa mơ hồ, tạo nên một dòng chảy thơ độc đáo và sâu sắc, khó quên.

Thơ Thiên Di, vì thế, không chỉ là những nốt nhạc ngôn từ, mà là dòng chảy linh hồn – nơi nhịp điệu, hình ảnh, từ láy, và cảm xúc hòa làm một, làm rung động trái tim, thức tỉnh ký ức, và dẫn dắt người đọc qua từng khúc sông phiêu linh của nội tâm, nơi cô đơn, ái tình và hy vọng chan hòa, thấm vào từng rung động, từng nhịp thở của ngôn ngữ.

7/10/2025 

Nguyễn Đông A
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Chân dung người nổi tiếng được chấm phá bằng vần điệu

Chân dung người nổi tiếng khi khắc họa qua thi ca cũng có những thú vị riêng, vì công chúng vừa thấy tài năng nhân vật vừa thấy tài năng tác giả. Sau trường hợp “Chân dung nhà văn” của nhà thơ Xuân Sách, nhiều tác giả khác cũng tỏ ra hào hứng với thể loại này.

Chân dung người nổi tiếng là một đề tài được nhiều nhà thơ yêu thích. Trong tập di cảo của nhà thơ Lê Đạt (1929-2008) có tên gọi “Album trắng” do NXB Hội Nhà văn ấn hành, cũng có khá nhiều bài thơ chân dung người nổi tiếng. Ví dụ, nhà thơ Lê Đạt viết về nhạc sĩ Tử Phác “Người đáy mộ tâm còn luyến láy/ Đèn vàng nhấp nháy ngã tơ quay” hoặc viết về triết gia Trần Đức Thảo “Lặng lẽ bước đường trường độc thoại/ Nghĩa trang lành cỏ dại bình xanh”.

Dùng vần điệu để chấm phá chân dung người nổi tiếng không hề đơn giản. Bởi lẽ, ngoài thủ pháp đơn giản là sử dụng những tư liệu, những sự kiện liên quan đến nhân vật, thì không dễ tạo điểm nhấn riêng biệt để công chúng mường tượng đầy đủ chân dung người nổi tiếng. Phổ biến nhất trong dòng thơ về chân dung người nổi tiếng là vần điệu các nhà thơ ký họa đồng nghiệp. Lý do, các tác giả vốn có sẵn tên gọi tác phẩm của họ để lắp ghép lại thành những câu mang giá trị thẩm mỹ nhất định.

Ví dụ, trong tập “Ký họa thơ”, nhà thơ Nguyên Hùng viết về bậc tài danh Văn Cao: “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế/ Càng ngẫm càng yêu khuôn mặt em/ Càng thương những người trên cửa biển/ Bạc đầu chờ mùa xuân đầu tiên/ Anh có nghe không những bài ca sống lại/ Về bến xuân hát mãi không thôi/ Tự lúc nào trong âm thầm gác tối/ Buồn tàn thu ám vận suốt một đời?”.

Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh có ý thức làm thơ chân dung từ lâu. Rải rác suốt hành trình sáng tạo của chị, những chân dung của tiền nhân và những chân dung của bè bạn cứ hiện ra nhẹ nhàng và ấm áp. Bây giờ, gom các bài thơ chân dung ấy vào một tập “Thơ chân dung” do NXB Hội Nhà văn ấn hành, bỗng nhận ra thơ chân dung cũng là kết quả “trời đất chẳng phụ người nhân hậu” như một câu thơ của chị.

Thơ chân dung thường được viết bằng thái độ thù tạc hoặc bằng tư duy đáo để. Thái độ thù tạc thì chủ yếu câu chữ vuốt ve để giao lưu và bông đùa. Còn tư duy đáo để, đôi khi lại nhấn nhá vài góc khuất có ý mỉa mai và cười cợt. Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh không đi theo lối mòn ấy. Hay nói cách khác, nhà thơ Đặng Nguyệt Anh có một nguồn năng lượng yêu thương và trân trọng để tìm thấy chân dung thơ theo cách riêng mình.

Nguyễn Bính và Trần Dần là hai trường hợp có tài năng khác nhau và cũng nếm trải bi kịch dương gian khác nhau. Không thể viết về Nguyễn Bính và Trần Dần bằng những lời vu vơ giống hệt nhau. Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh phát hiện nét độc đáo của mỗi người, để giúp Nguyễn Bính thổ lộ: “Tương tư chưa hết một đời/ Duyên thơ thắt buộc cho người dở dang” và khẳng định giá trị của Trần Dần: “Ông mang một tia hy vọng/ Tặng cho người tuyệt vọng”.

Mỗi tác giả viết thơ chân dung luôn đặt ra hai mục tiêu, viết vì nhân vật và viết cho chính mình. Cho nên, bên cạnh việc gửi gắm sự tin yêu đến nhân vật, thì thơ chân dung phải có được những câu thơ mang dấu ấn đích thực của tác giả.

Loại thơ chân dung gây xôn xao nhất phải nhắc đến tập “Chân dung nhà văn” xuất bản năm 1992 của nhà thơ Xuân Sách (1932-2008). Lúc sinh thời, chứng kiến tập “Chân dung nhà văn” được đón nhận với những ý kiến trái chiều, nhà thơ Xuân Sách đã hé lộ loại thơ chân dung của ông đã nhen nhóm từ cuối thập niên 1960 ở tòa soạn Văn nghệ Quân đội:

“Cơ quan chúng tôi có tục lệ sau các cuộc họp sơ kết tổng kết thường có mục vui cười. Lần này cũng vậy, Nguyễn Khải khởi xướng: “Tôi đề nghị anh Xuân Sách đọc những bài thơ chân dung mới ra lò. Thời phong kiến vua uy quyền đến thế mà vẫn để một khe hở, tha chết cho quan ngự sử khi có lời trái ý hoàng thượng, anh Sách cũng được hưởng cái quyền miễn trảm ấy nên cứ đọc thoải mái. Xin đọc về tôi trước”.

Thực ra lúc đó tôi chưa chính thức viết chân dung Nguyễn Khải, chỉ có mấy câu đùa tếu, Nguyễn Khải vẫn cứ đọc làm mồi. Rằng trước khi tôi đi ra đảo Cồn Cỏ, vợ tôi lo lắng, tôi có an ủi: “Em đừng tính quẩn lo quanh, họ chiến đấu chứ có phải anh đâu”, rồi khi tôi gặp đồng chí Bí thư huyện ủy Hòa Vang được triệu tập ra Bắc để báo cáo thành tích chiến đấu, vợ tôi lại tưởng tôi đi B nên tôi phải nói: “Anh đi một lát về ngay. Hòa Vang chính ở ngoài này đó em”.

Chờ mọi người cười xong, Nguyễn Khải tiếp: “Tôi chỉ nhớ có vậy, vả lại tôi vốn nhạt nên ông Xuân Sách khó viết hay, bây giờ đề nghị anh đọc bài mới, những bài về anh em ngồi đây càng tốt”.

Sau khoảng ba mươi năm miệt mài, nhà thơ Xuân Sách sàng lọc được 100 bài thơ để đưa vào tập “Chân dung nhà văn”, trong đó 99 bài xưng tụng các đồng nghiệp và một bài ông tự vẽ mặt mình: “Cô giáo làng tôi đã chết rồi/ Một đêm ra trận đất bom vùi/ Xót xa Đình Bảng người du kích/ Đau đớn Bạch Đằng lũ trẻ côi/ Đường tới chiến công gân cốt mỏi/ Lối vào lửa sởn tóc da mồi/ Mặt trời ảm đạm quê hương cũ/ Ở một cung đường rách tả tơi”.

Khi cấp giấy phép xuất bản tập “Chân dung nhà văn”, nhà thơ Lữ Huy Nguyên (1939-1998) với tư cách Giám đốc NXB Văn học đã viết: “Đây là những ký họa có tính đặc tả của Xuân Sách, những chân dung vốn đã khá phổ biến trong và ngoài giới văn học suốt vài chục năm qua. Tác giả không nêu đích danh một ai, nhưng dưới nét bút phác thảo, những độc giả và người làm văn học vẫn có thể nhận ra từng đối tượng.

Dĩ nhiên thể loại này thường cố ý phóng to những đặc điểm và khi nhìn vào những nét đặc tả ấy, tuy mất cân đối và đôi khi phiến diện, vẫn dễ dàng nhận ra diện mạo, cốt cách từng nhân vật. Chất vui hóm và nhất là khả năng chơi chữ có thể khiến người ta ngạc nhiên một cách thú vị, nhưng cũng có thể gây nên những sự không hài lòng đây đó.

Chúng tôi chỉ coi đây là nét tự trào của giới cầm bút, cười đấy nhưng cũng tự nhận ra những xót xa hạn hẹp của chính mình, những gì chưa vượt qua được trên các chặng đường quanh co của lịch sử và thời đại. Tự soi mình, học hiểu mình thêm qua cách nhìn của người cùng hội cùng thuyền lắm khi cũng hữu ích. Rất mong độc giả và các nhà văn nhận xét ra mối chân tình trong cuộc vui của làng văn, và lượng thứ cho những khiếm khuyết”.

Dẫu tập “Chân dung nhà văn” rất lừng lẫy, nhưng nhà thơ Xuân Sách không phải người đầu tiên làm thơ chân dung trong văn học chữ quốc ngữ Việt Nam. Nhà thơ Thế Lữ (1907-1989) và nhà thơ Tú Mỡ (1906-1976) trên mục “Minh niên giáng bút” của Báo Ngày nay xuân 1940, đã cùng nhau viết thơ chân dung các đồng nghiệp. Chẳng hạn, chân dung Nguyễn Tuân được Thế Lữ và Tú Mỡ chấm phá: “Nghe vang theo bóng một thời/ Tên này thực biết vâng lời người trên/ Bây giờ gần gụi ả phiền/ Hỏi han câu chuyện ngọn đèn dầu ta”.

Khi làm thơ chân dung, mỗi nhà thơ có một góc nhìn nhân vật và một thái độ thẩm mỹ khác nhau. Cùng bái vọng tiền bối Nguyễn Bính, nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm và nhà thơ Trần Mạnh Hảo đều dùng thể loại lục bát, nhưng lại mang hai phong cách dị biệt.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm viết: “Hai lần lỡ bước sang ngang/ Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi/ Trăm hoa thân rã cành rời/ Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ/ Kìa ai đường nắng mịt mù/ Giắt đầu nắm lá hương nhu gánh gồng/ Kìa con bướm trắng vẽ vòng/ Và hồn trinh nữ ngồi hong tơ buồn/ Hình như phía cuối hoàng hôn/ Hao hao anh lái vào thôn bán thuyền/ Đường xa thi khách không tiền/ Bước vô quán trọ đến thềm lại thôi/ Sững sờ trước giậu mùng tơi/ Hỏi người, người đã mấy hồi sang ngang”.

Còn nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết: “Trăm hoa dễ được hoa nào/ Về xem bướm hóa thi hào vườn dâu/ Về xem cái kén mọc đầu/ Ruột gan rút hết từng câu nhân tình/ Tài cao đẩy thấp phận mình/ Vỉa nồi niêu vẫn còn kinh hề mồi/ Thơ không thể đổ vào nồi/ Ngắm mình trong nước giếng thơi hết hồn/ Đêm sao sáng cạn hoàng hôn/ Bút đào huyệt giấy mà chôn mình dần/ Một đoàn bươm bướm đưa chân/ Hai hàng lục bát khiêng phần mộ thơ”.

Trở lại với tập “Album trắng” của nhà thơ Lê Đạt. Thơ chân dung cũng được nhà thơ Lê Đạt thể hiện tối giản, độc giả phải đoán “bóng” qua “chữ”. Chẳng hạn, viết về nhà thơ Quang Dũng “Tây tiến Mai Châu còn mộng biếc/ Trọn đời nhất bận việc rong chơi”, viết về nhà thơ Hoàng Cầm “Hồn cò trắng khất tình trăng sông Đuống/ Mộng vàng cầm giải chấp cuống diêu bông”, viết về nhà thơ Hữu Loan “Mấy chữ sim đồi hoa tím mãi/ Tóc dài râu bạc đãi sông mưa” hoặc viết về nhà văn Trương Tửu “Rời bục giảng đường về ở ẩn/ Ông lang Hàng Gà cứu hận Bách Khoa”.  

7/11/2025
Tuy Hòa
Nguồn: Văn Nghệ
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

  Quan niệm của Xuân Diệu về thơ từ những câu chuyện đời thường Trong hành trình kết nối tình yêu thơ ca với bạn đọc, dẫu chưa là hệ thống...