Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2026

 

Nhìn lại một dòng chảy thơ phổ nhạc

Lấy tiêu chí ưu tiên quy tụ thơ phổ nhạc của tác giả đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh hoặc viết trực tiếp về TP Hồ Chí Minh, “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh” phác họa một bức tranh nghệ thuật độc đáo. Đồng thời, cuốn sách cũng hé lộ những điều chưa biết chung quanh những ca khúc phổ thơ nổi tiếng.

Công trình “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh” có độ dày hơn 500 trang, do Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn, nhằm ghi nhận và tôn vinh những ca khúc phổ thơ, từ năm 1975 đến nay.

Theo nhịp điệu sôi động của tân nhạc Việt Nam, thơ phổ nhạc đã hiện diện như một kênh thẩm mỹ có sức rung động trong đời sống tinh thần người Việt Nam. Thậm chí, thơ phổ nhạc giữ vị trí quan trọng khi nhắc đến sự nghiệp của nhiều nhạc sĩ. Cho nên, nhìn lại dòng chảy thơ phổ nhạc, công chúng có thể hình dung được diện mạo sáng tạo ở cả hai lĩnh vực thi ca và âm nhạc.

Cuộc gặp gỡ giữa thơ và nhạc, đôi khi là một khoảnh khắc bất ngờ, đối với cả nhà thơ lẫn nhạc sĩ. Ví dụ, “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” đã vang lên suốt nửa thế kỷ vừa qua, nhưng không mấy ai tường tận sự ra đời của ca khúc này.

Tháng 5/1975, nhà thơ Đăng Trung (1939-2019) là phóng viên đi thực tế viết bài về đô thị phương Nam sau ngày giải phóng, đã có cảm hứng viết thêm những vần thơ để in kèm vào thiên ký sự. Tuy nhiên, do khuôn khổ tờ báo hạn chế, những vần thơ của Đăng Trung không thể xuất hiện trên mặt báo. Nhân dịp gặp nhạc sĩ Cao Việt Bách tại Sài Gòn cùng thời điểm ấy, nhà thơ Đăng Trung liền giới thiệu bản thảo của mình. Có được sự đồng cảm, nhạc sĩ Cao Việt Bách sáng tác nên ca khúc “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người”.

Ca khúc “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” được công diễn lần đầu tiên trên Đài Tiếng nói Việt Nam, nơi nhạc sĩ Cao Việt Bách đảm nhận vai trò chỉ huy dàn nhạc. Vì sao khi non sông vừa liền một dải, nhà thơ Đăng Trung đã viết “Thành phố Hồ Chí Minh ngời ngời rực sáng tương lai”? Lúc đó, Sài Gòn chưa đổi tên Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng nhà thơ Đăng Trung dựa vào câu thơ “Ai vô thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” trong bài thơ “Ta đi tới” ra đời tháng 8/1954 của nhà thơ Tố Hữu.

Với thể loại thơ phổ nhạc, ý tứ của nhà thơ và giai điệu của nhạc sĩ đã cộng hưởng để mang đến những món quà nghệ thuật có sức lay động tâm hồn thật sâu lắng. Từ bài thơ đến ca khúc, ngỡ rất gần mà cũng rất xa. Khoảng cách vừa cụ thể vừa mơ hồ kia phụ thuộc vào sự đồng điệu giữa nhà thơ và nhạc sĩ.

Thơ có đặc thù riêng của thơ, mà nhạc có đòi hỏi riêng của nhạc. Có những bài thơ rất hay, nhưng không thể phổ nhạc. Ngược lại, có những bài thơ không có gì nổi trội trên văn bản, lại được phổ nhạc thành ca khúc đi vào lòng người. Đó là duyên phận của tác giả, và đó cũng là duyên phận của tác phẩm. Thế nhưng, căn cứ vào những ca khúc có sức lan tỏa, vẫn thấy được một quy tắc chung, khi và chỉ khi tâm hồn nhà thơ và tâm hồn nhạc sĩ có cùng một tần số xao xuyến, thì thơ phổ nhạc mới đủ sức thuyết phục công chúng.

Mỗi bài thơ đến với bạn đọc luôn gồm hai yếu tố, ngữ âm và ngữ nghĩa. Thơ được chọn phổ nhạc, thường có ưu điểm về ngữ âm hơn ngữ nghĩa. Bằng phẩm chất nghề nghiệp, nhạc sĩ nhận ra ngữ âm của bài thơ có tiết tấu để triển khai khúc thức. Và giai điệu dắt từng câu thơ đi xa. Và giai điệu đưa từng ý thơ bay cao. Không ít bài thơ được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc với những phong cách khác nhau, không chỉ chứng minh ngôn từ mềm mại của nhà thơ, mà còn phô diễn tài năng của nhạc sĩ. Đối chiếu bài thơ và lắng nghe ca khúc ở các trường hợp thú vị ấy, càng hiểu rõ thêm sự tương tác giữa thi ca và âm nhạc.

Có nhạc sĩ phổ nguyên vẹn bài thơ, có nhạc sĩ phổ vài đoạn thơ và có nhạc sĩ chỉ cần mượn không khí trữ tình và một số chữ của bài thơ đã có thể viết nên một ca khúc quyến rũ. Chẳng có công thức nhất định cho thơ phổ nhạc. Chỉ biết rằng, nếu nhà thơ viết bài thơ để nhằm mục đích phổ nhạc, hoặc nhạc sĩ phổ nhạc để chiều chuộng sở thích của nhà thơ, thì chắc chắn không thể có tác phẩm thơ phổ nhạc có giá trị. Nói cách khác, thơ phổ nhạc không thể cưỡng cầu và cũng không thể gượng ép. Với trình độ tiếp nhận hôm nay, công chúng chẳng mấy khó khăn để phân biệt hát thơ và thơ phổ nhạc.

Trong cuốn sách “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh”, giới mộ điệu được hiểu thêm nhiều tâm sự của những người làm nên các ca khúc nổi tiếng. Chẳng hạn, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn chia sẻ: “Tôi luôn mong ước được viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cơ duyên gặp được bài thơ “Dấu chân phía trước” của nhà thơ Hồ Thi Ca, đã giúp tôi nói hộ nỗi lòng của con dân đất Việt dành cho vị lãnh tụ kính yêu. Khi viết, tôi đã dành nhiều nét nhạc để khắc họa hình ảnh người thanh niên Nguyễn Tất Thành một mình bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm đường giải phóng dân tộc. Tôi chọn câu thơ “khi tôi còn là hạt bụi, Người đã lên tàu đi xa” để mở đầu bài hát, không ngờ tạo được hiệu quả ấn tượng với khán giả”.

Tương tự, nhà thơ Nguyễn Nhật Ánh có bài thơ “Thành phố tình yêu và nỗi nhớ” được phổ nhạc thành ca khúc quen thuộc, bày tỏ: “Năm 1979, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, rất nhiều thanh niên TP Hồ Chí Minh lên đường tham gia vệ quốc, trong đó đồng đội thanh niên xung phong của tôi sát cánh các đơn vị bộ đội để bắc cầu, cáng thương, tải đạn… Vì vậy, tôi viết “Mai chiến trường xa/ Dẫu nhiều gian khổ/ Trái tim thành phố/ Vẫn đập trong người/ Như là cuộc sống/ Như là tình yêu/ Như là nỗi nhớ/ Suốt đời mang theo”. Nói chung, cảm hứng sáng tác của thế hệ cầm bút chúng tôi lúc đó chủ yếu là cảm hứng công dân, gắn liền với biến động của thời cuộc, với lòng yêu nước cháy bỏng”.

Cuốn sách “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh” cũng chứng minh nhiều nhạc sĩ đã thành danh trong bom đạn, vẫn tiếp tục cống hiến trong hòa bình. Điển hình là nhạc sĩ Hoàng Hiệp (1931-2013) từng có các ca khúc phổ thơ “Câu hò bên bờ Hiền Lương”, “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”, “Lá đỏ”, “Ngọn đèn đứng gác”, “Cô gái vót chông”, “Đất quê ta mênh mông” trong kháng chiến chống Mỹ. Sau năm 1975, nhạc sĩ Hoàng Hiệp tiếp tục chinh phục khán giả bằng những ca khúc phổ thơ như “Con đường có lá me bay” và “Mùa chim én bay” phổ thơ Diệp Minh Tuyền hoặc “Đánh mất” phổ thơ Thanh Nguyên.

Không ai đưa ra được công thức thành công cho một ca khúc thơ phổ nhạc, nhưng sự gặp gỡ giữa nhà thơ và nhạc sĩ trở thành một điểm hẹn nghề nghiệp thú vị. Đôi khi, thơ phổ nhạc kết nối hai thế hệ cách xa nhau về tuổi tác. Trong những tác phẩm được truy tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2017 của nhạc sĩ Văn Chừng (1938-2006) có ca khúc “Đêm xoang Tây Nguyên” được phổ từ bài thơ của nhà thơ Đào Phong Lan (sinh năm 1975).

Vì vậy, công chúng từng nghe “Đêm xoang Tây Nguyên” sẽ thêm yêu ca khúc này khi nghe nhà thơ Đào Phong Lan bộc bạch: “Năm 1994, tôi là sinh viên năm hai Trường Viết văn Nguyễn Du trở về quê nhà Pleiku để nghỉ hè. Như thường lệ, tôi lại theo ba tôi rong ruổi những chuyến điền dã vào các buôn làng, ba tôi là nhạc sĩ nghiên cứu âm nhạc bản địa Tây Nguyên. Tôi đã đến những buôn làng người Jrai, Bahnar, ăn món thịt nướng, món cá treo gác bếp, miếng cơm gạo đỏ dẻo ngọt. Và hầu như ở đâu tôi cũng được tham dự một đêm xoang…

Những hình ảnh, âm thanh đặc biệt của những đêm xoang ấy là những ký ức đẹp đẽ. Khi trở về, tứ thơ “Đêm xoang Tây Nguyên” đã đến trong một đêm thanh vắng. Tôi viết một mạch, trong đầu văng vẳng tiếng cồng chiêng và hình ảnh những chàng trai, cô gái say sưa xoang bên ánh lửa bập bùng. Bài thơ sau đó được in trong tập “Giêng Hai” năm 1995. Nhân một dịp nhạc sĩ Văn Chừng ghé thăm gia đình, ba tôi đã tặng nhạc sĩ tập thơ này. Quay về lại Nha Trang, vài tháng sau, nhạc sĩ Văn Chừng đã gửi cho tôi nghe bài hát “Đêm xoang Tây Nguyên”. Bài hát sau đó trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi tại những lễ hội trên các tỉnh Tây Nguyên, bởi giai điệu vui tươi, sôi nổi”.

Những người biên soạn “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh” không có tham vọng tổng kết thành tựu thơ phổ nhạc ở đô thị phương Nam từ năm 1975 đến nay, mà chỉ giới thiệu một phác thảo khá khiêm tốn so với sức sống lan tỏa của rất nhiều khúc hát được sáng tác từ thơ. Bên cạnh những nhà thơ và những nhạc sĩ đã định danh, cuốn sách cũng mạnh dạn giới thiệu những tác giả ít tên tuổi, nhưng cũng đã có những tác phẩm ít nhiều khẳng định được tiêu chí nghệ thuật của thơ phổ nhạc.

4/6/2025

Lê Thiếu Nhơn

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Nguyễn Văn Mạnh - Thơ là những trang đời

Văn chương TP. Hồ Chí Minh: Nguyễn Văn Mạnh - nhà thơ mang trong mình hồn cốt của một người lính, một luật sư, một nhà báo, và trên hết là một thi sĩ đắm mình trong những trang đời đầy thăng trầm. Thơ của anh không chỉ là tiếng lòng cá nhân mà còn là bản hùng ca về cuộc sống, chiến tranh, quê hương và những triết lý nhân sinh sâu sắc. Bài viết của Nguyễn Văn Hòa đã khắc họa chân dung một hồn thơ đa diện, nơi mỗi vần thơ đều thấm đẫm trải nghiệm, nỗi đau, niềm kiêu hãnh và tình yêu tha thiết với con người, đất nước. Đọc Nguyễn Văn Mạnh, ta bắt gặp chính mình trong những suy tư, khắc khoải và cả những khát vọng vĩnh hằng của kiếp người.

Nguyễn Văn Mạnh xuất thân từ người lính tại chiến trường miền Nam, sau giải phóng anh tiếp tục học tập và trở thành luật sư, nhà báo chuyên nghiệp. Anh yêu thơ và làm thơ từ rất sớm. Chính cuộc đời trải qua nhiều bước ngoặt thăng trầm, đó là nguồn tư liệu sinh động để hun đúc và tạo nên một hồn thơ Nguyễn Văn Mạnh mang dấu ấn riêng. Hành trình cuộc đời và hành trình thơ có sự giao thoa và những vần thơ ra đời như là minh chứng cho sự “gặp gỡ” ấy. Mọi buồn vui, nhọc nhằn, trăn trở... đều được anh ký gửi vào thơ. Thơ như là bạn đồng hành “thủy chung” và “trung thành” nhất trong cuộc đời của thi nhân Nguyễn Văn Mạnh. Trong sâu thẳm hồn thơ Nguyễn Văn Mạnh vẫn toát lên tình yêu tha thiết với đời, với người, với cuộc sống nhân sinh...

Đọc thơ Nguyễn Văn Mạnh, bạn đọc sẽ nhận ra dòng mạch trữ tình, lãng mạn với giọng thơ đầy hào sảng, nhiệt huyết. Càng về sau thơ anh lại càng hướng về thực tại với những trăn trở, lo lắng, chiêm nghiệm, đau đáu, suy tư. Ở đó còn là những khát vọng, mơ ước, ý thức trách nhiệm công dân trong một xã hội bộn bề những giá trị với sự lật trở, đổi thay chóng vánh...

Chiến tranh/ Là quyền uy của những chính trị gia đổi bằng giá máu/ Chiếc ghế được tạo thành từ xương và da đồng loại/ Nó to và cao hơn khi mỗi quốc gia và dân tộc tan tành (Nghĩ về một mặt của chiến tranh).

Thế mạnh của thơ Nguyễn Văn Mạnh là được tạo dựng theo cấu trức hồi ức. Miền ký ức đã qua lần lượt được gợi lên/ sống dậy qua tâm hồn đa cảm, sự đa mang, tinh tế của anh. Đi qua những năm tháng đau thương của dân tộc nhà thơ có những suy nghĩ và nhìn nhận thấu đáo về những được - mất, tổn thương của một thời đã qua. Nhìn về quá vãng, kiếm tìm những cái đã qua cũng là cách nhân vật trữ tình anh gợi nhớ, tri ân đến với em trong niềm rưng rưng, nuối tiếc... em đã bất tử trong lòng những người đồng đội, bất tử với anh và bất tử trong lòng dân tộc... Sự tàn khốc của chiến tranh là một điều không ai chối cãi, sự thật ấy luôn là niềm đau dai dẳng, bất tận cho những người còn sống hôm nay, bởi chiến tranh không phải trò đùa! 

Tiếng súng đã chìm vào quá khứ/ Anh trở lại tìm trong sương khói Pha Long/ Anh đi tìm em/ Chỉ có tiếng chim buồn kêu trong rừng lá/ Biên ải chiều hun hút gió…// Em đã ngã xuống lòng đất mẹ/ Ngay trong trận đánh đầu tiên/ Khi trên đầu tóc vẫn còn xanh/ Lá thư cho người yêu chưa kịp gửi.// Tháng hai đường biên nhuộm máu/ Ngực em làm khiên che đỡ đất mẹ hiền/ Cho rừng cho núi bình yên/ Và lời ru ngọt ngào hương bên nôi con trẻ// Bây giờ em hóa thân trong chập chùng đỉnh đá/ Hay em kia vầng may trắng Mường Khương/ Linh hồn đan lũy thép trường thành/ Chở che cả một vùng biên ải// Anh vẫn như nghe trong đá núi/ Âm vang rầm rập bước quân hành/ Anh vẫn như nhận ra nụ cười em/ Trong sắc hoa đào xứ sở… (Chiều ải Bắc tìm em).

Nguyễn Văn Mạnh đã từng đi qua cuộc chiến đầy cam go, thử thách, chứng kiến nhiều đau thương nhưng anh cố kìm nén nỗi đau. Và đôi lúc, sự dồn nén ấy lại vỡ òa. Nửa đời cùng nghe hơi thở chiến trường/ Nước mắt tưới bao nấm mồ bè bạn/ Nỗi sẻ chia ủ hồn nhau đêm lạnh/ Vẫn rúc rích cười mơ trong đêm chết rập rình… (Đánh mất).

Vốn là người lính tham gia ở chiến trường, sau đó trải qua nhiều công việc khác nhau nên tiếng thơ của Nguyễn Văn Mạnh thể hiện rõ nét là tiếng nói của một thế hệ biết tận hiến. Không chỉ biểu hiện cuộc sống trên trang viết mà anh còn tạo dựng và khơi mở một thế giới khác trong chính thế giới hiện thực này: thế giới của những khao khát mãnh liệt, của đức tin; thế giới của sự nhân ái, nhân văn nhất có thể...

Cảm thức về cái biến động, sự bất ổn, phi lý đã được nhà thơ đưa vào trong thơ bằng những ngôn từ mang tính ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, liên tưởng đa chiều... Vì thế, mỗi sự việc, hình ảnh, con người, thế giới tự nhiên... đều mang dáng vóc và tâm trạng của con người, thấm đẫm những cảm xúc.

- Nghe hạt thóc quằn quại bóc mình thành gạo/ Nhìn trong bụi cám trập trùng những giông bão đi qua… (Ngày trở lại).

- Mẹ làm gạo giúp hội làng/ Nghìn sao rụng xuống đầy sàng mẹ tôi (Làng quê vào hạ).

Câu thơ mở ra những truy vấn bức thiết về cuộc sống hiện tồn của con người trong sự cố gắng vượt qua những thử thách, trở ngại và cả những đối lập trong hành trình duy trì và bảo tồn sự sống. Với trí tưởng tượng phong phú, đa chiều, Nguyễn Văn Mạnh đã có những liên tưởng sinh động, đặc sắc. Chính kiểu diễn đạt và tư duy như thế nên thơ anh tạo được dấu ấn đối với bạn đọc.

-  Những bước chân trọn đời bươn trải/ Lầm lũi vô hình giữa đại ngàn xanh… (Nghĩa Lộ).

- Trăng khuyết rồi trăng lại tròn/ Mẹ một đời chỉ khuyết/ Dẫu dâng cả sự sống con cũng chỉ là hạt cát/ Chẳng thể đắp bù long mẹ mênh mông… (Đêm cũng mồ côi).

Nỗi đau đến từ mỗi nhà, mỗi người trong trận tồn vong giữa mưa bom bão đạn. Những ông bố, bà mẹ, những người vợ... của những gia đình có người thân tham gia chiến trận đều có nỗi đau, nỗi giằng xé riêng. Nỗi đau ấy sẽ đeo đuổi dai dẳng suốt cuộc đời của những người còn đang sống hôm nay.

Cảm thức thời gian luôn khắc khoải trong lòng thi nhân, bởi sự tàn bạo của từng giọt thời gian, trước những bão táp của cuộc đời. Nỗi khắc khoải ấy thấm sâu vào cả trong tiềm thức và vô thức, để rồi có lúc nhà thơ phải nghẹn ngào trước nỗi đau của cha:

Tiếng rít điếu cày như quất vào đêm/ Khói thuốc phả vào sương mù mịt// Ổ rơm mỏng, tấm chăn đơn rách/ Cha lặng im trong hun hút gió lùa/ Một thế kỷ những gió mưa/ Tích tụ thành băng trong xương tuỷ/ Tạo những nỗi đau ngả nghiêng rạn vỡ/ Trong những trận phong hàn/ Cái nắng chất lửa một đời/ Đốt cháy ruột gan cha mỗi lần lên cơn sốt/ Và chiến tranh tàn khốc/ Để lại nỗi đau không nói được thành lời/ … / Ngày sống của cha tính bằng một mét đất/ Lơ phơ bông lúa sâu bão giật/ Miếng cơm vẫn thoảng hơi bùn/ Mình cha ngồi chong mắt vào đêm/ Tiếng thở dài trút vào thăm thẳm/ Cha hiểu được một điều cay đắng/ Con muốn nên người/ Không chỉ có tình cha/ Tôi hiểu rằng tận cùng cõi sâu xa/ Lòng cha chưa bao giờ yên giông bão (Nỗi đau của cha tôi).

Đi qua những thăng trầm, va vấp, những được thua trong cuộc nhân sinh đày ải này, nhà thơ đã nhận ra quy luật, lẽ đời và cũng không quên nói lời “cảm tạ”. Đó là tiếng lòng thành thật, chắt lắng từ sự trải nghiệm của bản thân trước muôn mặt của cuộc sống.

Vẫn cảm tạ những gì không vĩnh viễn/ Những biến hóa, tụ tan giữa cõi vô thường/ Những phút cởi lòng mở gió yêu thương/ Những năm tháng hồn nghẹn ngào uất hận (Cảm tạ).

Phải chăng chính những quăng quật, thác ghềnh của đời ấy đã tạo nên một Nguyễn Văn Mạnh chín chắn, bình tâm, vững vàng hơn trước những giông bão của cuộc sống. Để rồi, có lúc nhà thơ xem cuộc đời nhẹ tựa áng mây trời, bởi: Lợi danh như khói hư không/ Thả hồn theo cánh gió đồng bao la (Về quê).

Thơ Nguyễn Văn Mạnh tái hiện nhiều không - thời gian khác nhau, bên cạnh những không- thời gian tự nhiên còn có không- thời gian tâm lý nên đôi lúc có sự ảo hóa... Không - thời  gian trong thơ anh vận động theo dòng suy nghĩ, tâm trạng... Không gian địa lý trải dài theo từng vùng đất mà anh đã sống, gắn bó và có bước chân đi qua: Trường Sa, Yên Tử, miền Tây, Kẻ Nú, làng Chanh, Mù Cả, Hàn Giang, Khâu Vai, Cát Bà, Chi Lăng, Chùa Hương, Đèo Ngang, Huế, Pha Đin, bến Tầm Dương, Đền Trạng... Nhà thơ đối thoại, bàn luận, chất vấn, ngẫm ngợi, lý giải những vấn đề có tính chất muôn thuở: niềm vui, nỗi buồn, sự sống, cái chết, lòng nhân ái, khao khát hạnh phúc... Tất cả những vấn đề muôn thuở ấy được đặt trong không - thời gian của đời sống mà nhà thơ đã, đang và sẽ đi qua. Núi mây, mây núi xa xôi/ Lặn vào vành nón thành lời sông Hương (Về Huế); Chiều nay bên đảo Cô Lin/ Đứt từng khúc ruột lặng nhìn Gạc Ma/ Một thời bão lửa mưa sa/ Nỗi hờn nợ nước thù nhà còn đây// Các anh đã hóa thành mây/ Tan vào biển nước vơi đầy nhớ thương/ Hóa thành cột mốc biên cương/ Cắm trên đầu song kiên cường ngàn năm (Bên mộ gió Cô Lin)…

Xốn xang, phập phồng, mang hơi thở của sự sống. Vấn đề của cuộc sống, thế sự, những suy ngẫm về đời về người, các chuẩn mực, hệ giá trị... lần lượt được gửi gắm vào thơ. Người đàn ông hóa đá, Người đàn bà sau cửa kính, Gã ăn mày, Ngóng xuân buồn, Qua bến cũ, Vàng và cát… là những vần thơ tha thiết, chân thành, ám ảnh và giàu thuyết phục. Do đó, có thể xem những trang thơ của Nguyễn Văn Mạnh chính là những trang đời. Nhà thơ nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời, tình người bằng những trải nghiệm đã chín mùi cảm xúc. Bởi cuộc sống là dòng xoáy khôn lường và lòng người thì quanh co phức tạp, lắm nỗi tỏ tường… Nếu lấy đá ném vào núi đá/ Có dấu tay núi cũng chẳng chuyển mình/ Sao dại dột còng lưng đi bới lá/ Đến bao giờ bới hết đại ngàn xanh (Những điều vô nghĩa).

Điều đặc biệt và dễ nhận thấy Nguyễn Văn Mạnh dành những tình cảm, sự gắn bó máu thịt với đất Cảng Hải Phòng. Đó là sự gắn bó giữa một người thơ đa cảm với một vùng đất trữ tình, thiêng liêng - “địa linh nhân kiệt”, nơi sản sinh ra nhiều những con người tài hoa, uyên bác. Sự cộng hưởng ấy đã làm nên gương mặt thi nhân với phong cách và sắc điệu riêng. Vì thế, Nguyễn Văn Mạnh có nhiều bài thơ viết về mảnh đất quê hương bằng tình cảm chân thành, hồn hậu của một đứa con luôn dành cho “cố hương” tình cảm thân thương nhất. Có thể kể ra một số bài thơ hay viết về đất và người Hải Phòng như:  Một thoáng Thủy Nguyên, Mái trường, Trở lại tuổi hai mươi, Đêm Cát Bà, Bạn quê, Thuở học trò, Ao làng mùa hạn, Thành phố bên bờ sóng...

Nguyễn Văn Mạnh ra đi từ cội nguồn Hải Phòng, trải qua bao nhiêu thăng trầm, thay đổi nhưng trong anh vẫn vẹn nguyên tình yêu với mảnh đất chôn nhau. Thậm chí khi đến tuổi hoàng hôn anh càng yêu quê da diết, sâu nặng hơn. Hải Phòng trở thành “người mẹ tái sinh” trong hồn thơ Nguyễn Văn Mạnh.

Nơi ta cất tiếng chào đời ở đó/ Mái phố rung lên bao cuộc thăng trầm/ Nơi ta biết tự mình ra mở cửa/ Trời đất ùa về muôn tiếng tri âm (Thành phố bên bờ sóng).

Hay: Cát Bà nhỏ như chiếc cúc/ Trên mình đất nước ngàn năm/ Tiếng reo một thời thắng giặc/ Còn treo đầu sóng vang lừng/… Tụ lửa của lòng dân biển/ Thắp lên ngọn đuốc ven trời.

Nhà thơ đi qua những năm tháng chiến tranh và những khúc xạ từ cuộc sống luôn làm cho anh suy ngẫm nhiều về giá trị của sự sống, cái chết; của niềm tin và sự thật phũ phàng, tàn khốc của chiến tranh. Súng xâm lược dội đường biên tức ngực/ Để lại quê anh chịt chằng sẹo đất/ Và con người đau buốt những vết thương (Nói với em gái Takeo).

Nghĩ giữa trưa im tiếng súng, một bài thơ xúc động, gợi lên bao nỗi niềm khó tả, sự mất mát và cả những day dứt khôn nguôi về sự hy sinh của đồng chí, đồng đội: Bao lần tiễn đồng đội hy sinh/ Chẳng một sợi khói hương dù đầy trời lửa khói… Câu thơ như xoáy vào tâm can những người còn sống nỗi đau khôn cùng về sự thiệt thòi của những người đã xuống trong sự tàn khốc của khói lửa chiến tranh.

Nguyễn Văn Mạnh không chỉ tả thực vùng đất Hải Phòng mà anh còn dựng lên một Hải Phòng trong tâm tưởng, vùng đất đã bất tử hóa trong trái tim anh. Những kỷ niệm thuở nào mở ra cả một thế giới tinh thần của anh cả trong quá khứ và ở hiện tại. Bây giờ trút hết bụi đường/ Về quê nhưng nhớ yêu thương tìm về (Về quê). Ký ức lần lượt hiện về cùng với thực tại đã tạo nên nhiều cung bậc cảm xúc, khiến cho lời thơ trở nên da diết, rung động đến lạ kỳ. Mái trường xưa còn hiện lên rõ nét: Nơi ở đó có mắt người lúng liếng/ Lũ con trai lặng lẽ thở dài/ Bao cặp mắt dán theo tà áo trắng/ Theo gió trời tan hóa áng mây trôi (Mái trường). Và cũng chính tại đây, nơi ngôi trường này, nhiều bạn đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc:  Các bạn trai xung phong đi nhập ngũ/ Lớp cứ vơi dần/ Thư chiến trường chuyền tay đọc/ Bạn gái nào bật khóc/ Cả lớp nhớ về những phía trời xa… (Lớp học).

Những ẩn ức, khao khát, dồn nén, uất nghẹn dần được giải tỏa. Tìm về với hồn quê, tìm về với mẹ là nơi trú ẩn ấm áp và an toàn nhất, bỏ lại đằng sau những phù phiếm, hư ảo của đời: Trút bỏ những phù du trả lại tháng năm/ Rũ sạch bùa mê/ Cởi mảnh hồn ra thau rửa/ Mẹ vẫn thắp trái tim đầu ngõ/ Cháy không nguôi ngóng đợi ta về… (Hồn quê).

Thơ Nguyễn Văn Mạnh với nhiều các thể loại, kết cấu tự do, linh hoạt trong hình thức thể hiện. Điều này đã giúp anh tạo ra ngôn từ trùng phức, nhiều tầng bậc gợi ra sự đa dạng, sinh động vốn có của đời sống; thỏa mãn chiều sâu nhận thức trí tuệ, mang tính triết lý nhân bản sâu sắc. Những câu thơ dài, ngắn trộn lẫn diễn tả được những cung bậc cảm xúc trong những trạng huống buồn vui, còn mất, hoài nghi, dằn vặt, thao thức của chủ thể trữ tình. Bỗng nhớ quê ta, làng Gạo ven sông/ Hoa Gạo tháng ba rụng vào mùa đói./ Dáng gầy guộc nghiêng vào chiều đổ/ Ngõ nhà mẹ đứng đợi con...

Thi nhân làm thơ và dụng chữ theo cách của mình để tạo ra những câu thơ, hình ảnh thơ có sức lay động, ám ảnh.  Vì thế, không phải là những chữ nhật dụng thông thường, nguyên sinh của đời sống mà là cách dùng chữ mang nhiều ẩn nghĩa.

- Chiến tranh/ Là bài thơ của những tên bạo chúa/ Những xác chết còng queo như những ký tự/ Lửa thay cho ánh sáng mặt trời mặt trăng./ Tiếng nổ, tiếng kêu than/ Thay cho những âm thanh của chim ca cỏ mọc/ Tứ của bài thơ là sự hủy diệt/ Hình ảnh bài thơ là thế giới lụi tàn (Nghĩ về một mặt của chiến tranh).

- Mỗi vuông đất một phận người/ Đã thành cát bụi bời bời chân mây/ Một đời vật vã vần xoay/ Ngửa bàn tay, trắng bàn tay một đời (Chiều nghĩa địa làng)…

Tuy vây, trong thơ anh có những câu thơ với ngôn từ quen thuộc nhưng với sự sắp xếp, tạo dựng đã tạo nên những hình ảnh thơ độc đáo. Kiếp phù du ngỡ như không/ Chẳng tan hóa hết chất chồng đắng cay/ Trăm ngàn duyên nợ trả vay/ Để trên mặt đất găm đầy chân mưa.

Nguyễn Văn Mạnh cho rằng: “Theo tôi, tác phẩm ngắn hoặc dài tùy theo độ chín của cảm xúc và phù hợp với đối tượng tác giả phản ánh. Ngoài tài năng (trời phú) còn phải có tư duy chắt lọc, đẽo gọt về ngôn ngữ, chữ nghĩa, và quan trọng hơn chính cuộc đời tác giả phải giàu vốn sống. Không ai lựa chọn cho mình vất vả, đau thương, cô đơn, quằn quại để rên rỉ và cả hạnh phúc để bay bổng… Bản thân cuộc sống, đưa tác giả vào các hoàn cảnh, thậm chí là nghịch cảnh tạo ra trải nghiệm. Từ đó tạo thành các hình tượng, cảm xúc… ngấm đẫm vào tâm. Nó thổi luồng sinh khí cho tác phẩm có hồn, đáng yêu khiến độc giả rung động như chính là trải nghiệm của mình. Qua các kênh truyền thông, tác phẩm đến được với độc giả và chính độc giả giúp tác phẩm bay lên, thăng hoa và lan tỏa xa hơn. Đấy chính là nghệ thuật đưa tác phẩm lên đỉnh cao. Tôi nghĩ chúng ta phải thật sự nghiêm túc và đầy trách nhiệm trước bạn đọc”.

Quan niệm về văn chương của Nguyễn Văn Mạnh đã cho thấy sự nghiêm cẩn, linh hoạt, toàn diện, sâu sắc của người lao động sáng tạo nghệ thuật ngôn từ. Điều đó được soi sáng và minh chứng rõ nét trong hành trình sáng tạo và qua chính những tác phẩm của anh. Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh đã tìm cho mình lối đi riêng với cách thể hiện sáng tạo, mang đậm dấu ấn cá nhân trên tinh thần hiện đại. Tôi tin với sự trải nghiệm, thể nghiệm thấu đáo, sự lao động nghệ thuật nghiêm túc anh sẽ còn cho ra đời những tác phẩm mới có giá trị, góp vào một nét riêng trong dàn đồng ca thơ Việt đương đại.

8/6/2025

Nguyễn Văn Hòa

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Nhà thơ Trần Đôn và “hành trình” Rong chơi 2

Ở tuổi U80, nhà thơ Trần Đôn vẫn dồi dào sức sáng tạo, vừa hoàn thành tập thơ Rong chơi 2 – một “hành trình” thi ca “đi dọc đất nước, dọc cuộc đời” đầy chiêm nghiệm. Qua bài viết dưới đây, tác giả Nguyễn Quế đã dẫn dắt độc giả khám phá thế giới thơ mộc mạc, chân thật nhưng thấm đẫm ân tình và trách nhiệm của Trần Đôn, từ tình cảm cội nguồn đến nỗi niềm sẻ chia với đời.

Tôi gặp lại nhà báo, nhà văn, nhà thơ Trần Đôn một ngày không lâu sau lần họp mặt văn nghệ sỹ đầu xuân 2025. Ở ngưỡng U80, ông vẫn khỏe khoắn và dồi dào sức sáng tạo. Bên cạnh những giờ phút sống an nhiên cùng gia đình, người thân và bạn bè, ông dành cho thơ văn tình yêu tha thiết. Nối tiếp “cuộc” Rong chơi diễn ra chưa lâu, Trần Đôn vừa hoàn thành “hành trình” Rong chơi 2 một cách ngoạn mục. Ông tâm sự, với hơn 60 tác phẩm của tập thơ này, ông đã làm chuyến “đi dọc đất nước, dọc cuộc đời” như một trải nghiệm sâu sắc và thủ vị.

Trước hết, với “hành trình” Rong chơi 2, Trần Đôn đã dành những trang thơ đầy ắp niềm thành kính và biết ơn đối với các thế hệ nguồn cội của mình. Trong tác phẩm Mừng thọ ngoại, ông đã viết nên những câu thơ đầy xúc cảm:

“Mừng ngoại nay đã ngoại chín mươi

Nuôi con dạy cháu thảy nên người

Tâm luôn trong sáng, tinh thần khỏe

Trí tựa mây vờn thể chất tươi

Đức để ngàn năm con cháu hưởng

Nhân gieo kiếp kiếp vạn người thương

Mừng ông trường thọ cùng con cháu

Vui hưởng vinh hoa, phúc mãn đường”.

Với thể thất ngôn bát cú và ngôn ngữ được chọn lọc, bài thơ đã tạo nên một không khí thật trang trọng. Công ơn “nuôi con dạy cháu” nên người cùng tâm, trí, đức, nhân cao đẹp của người ông được tác giả liệt kê và đặt ở đầu bốn câu thơ như một sự tôn vinh sâu sắc, làm nổi bật các phẩm chất cao quý của bậc tiền bối.

Khác với Mừng thọ ngoại, bài thơ Mừng ba thượng thọ được viết theo thể lục bát truyền thống với âm điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển. Tuy nhiên, qua những câu thơ giàu xúc cảm, tác giả đã khắc họa rõ nét tấm lòng hiếu thảo đối với người cha yêu kính của mình:

“Mừng ba thượng thọ chín mươi

Bóng ba che mát cuộc đời cháu con

Cầu xin trời phật ban ơn

Đưa Ba vượt khỏi đoạn đường trăm năm

Chúc ba trí sáng tâm trong

Vui cùng con cháu, thong dong tuổi già”.

Bên cạnh tình cảm sâu nặng dành cho người thân trong gia đình, Rong chơi 2 còn là những cuộc trở về đầy hoài niệm và sự tri ân sâu sắc đối với bao vùng đất và con người mà nhà thơ vốn rất đỗi yêu thương. Đó là những phút giây Tự tình Châu Thới sơn đầy cảm xúc khi ông đứng trên đỉnh ngọn núi có ngôi chùa nổi tiếng vốn là danh thắng quốc gia giữa vùng đồng bằng rộng lớn của quê hương mình nhìn ra miền đất giàu trầm tích lịch sử - văn hóa xung quanh:

“Đứng đây ta nhìn chiến khu D

Chợt nhớ Mã Đà cơn sốt rét

Nhớ đất ThườngTân thương tướng Huỳnh

Nghe hồn Vĩnh Lợi rợn đao binh

Đứng đây ta thấy Tam Gíác Sắt

Địa đạo ngổn ngang tiếng khóc cười

Giặc dữ kinh hồn quên “thiết giáp”

Nhân dân rạng rỡ nụ cười tươi…”.

Với Một sáng Tân Uyên, khi cùng đoàn người về thăm vùng đất giàu truyền thống cách mạng đang vươn mình trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ông không khỏi bồi hồi xúc động xen lẫn niềm tự hào sâu lắng:

“Chúng tôi,

Có những người chưa biết Tân Uyên

Có những người chưa đến Tân Uyên

Và những người đổ máu ở Tân Uyên

Cùng về đây một ngày tháng bảy

Sáng - bầu trời Vĩnh Lợi rộng thênh thang

Tháng của mùa mưa bão

Trời lại xanh trong một sáng hiền hòa

Cầu Bà Kiêng chìm trong huyên náo

Đất anh hùng đón khách tao nhân”.

Từ niềm xúc động sâu sắc ấy, ông tự nhủ lòng:

“Ai đã qua một thời gian khó

Mới thấy tự hào đất nước hôm nay”.

Về thăm Di tích nhà tù Phú Lợi, Trần Đôn đã cảm tác bài thơ Củ khoai ngày họp mặt, qua đó, ông không quên nhắc tới một thời gian nan thử thách đã qua với  những kỷ niệm đẹp đẽ lan tỏa từ cuộc sống vô cùng bình dị nhưng nặng ân tình, thủy chung son sắt của nhân dân và các chiến sỹ cách mạng:

“Khi xưa nhờ nó lớn lên

Bền gan vững chí dựng nên cơ đồ

Dẻo thơm từng giọt mồ hôi

Nhân dân dành dụm để nuôi chúng mình”.

Từ sâu thắm lòng mình, nhà thơ chân tình mời những người chiến sỹ năm xưa đã hy sinh cả cuộc đời mình cho Tổ quốc trở về chung niềm vui ngày họp mặt:

Bây giờ đất nước hồi sinh

Củ khoai vẫn cứ như mình với ta

Các anh đã ở nơi xa

Mời về chung hưởng hương hoa thái bình”.

Cảm động biết bao khi tác giả xem giây phút sum họp giữa những người một thời cùng chung trận tuyến chống quân thù và những dĩa muối, củ khoai được bày ra trong ngày họp mặt là “hương hoa thái bình”! Bởi củ khoai từng là “đặc sản” thấm đượm biết bao mồ hôi, xương máu của nhân dân và là biểu tượng cao đẹp cho tình quân dân cá nước suốt những năm dài gian khó của cuộc kháng chiến, và giá trị của nó vẫn mãi bất biến trong lòng mỗi con người đi ra từ cuộc chiến tranh “gian lao mà anh dũng” ấy.

Trong một dịp về thăm Nghĩa trang Quốc gia Vị Xuyên, đứng trước hàng ngàn ngôi mộ liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, trái tim nhà thơ không khỏi nhói đau. Ông thầm nói với hương hồn các liệt sỹ:

“Các anh gác đầu về núi

Hoàng Liên Sơn chiều tối ngậm ngùi

Chúng tôi từ Bình Dương tới

Rưng rưng những nén tâm hương…

Chúng tôi những người còn sống

Nguyện làm đất nước rạng ngời

Trả ơn những người đã khuất

An lòng nhắm mắt anh ơi!”.

Mang tình yêu nồng thắm đối với quê hương, đất nước, Trần Đôn đã đến với nhiều vùng đất thân yêu của Tổ quốc. Ở đâu ông cũng tha thiết lắng nghe tiếng vọng từ quá khứ hào hùng của cha ông, đắm mình trước cảnh trí tươi đẹp của thiên nhiên hay những công trình lịch sử - văn hóa nổi tiếng. Từ những trải nghiệm ấy, ông gửi nỗi niềm vào những trang thơ. Đó là những rung động dạt dào trước cảnh đẹp Vũng Tàu, là những suy tư Trên đỉnh Mã pì lèng cao chất ngất, là bao xúc cảm sâu lắng Trên đường về Việt Bắc, hay Bên Hồ Gươm vang vọng lời núi sông ngàn năm. Đó còn là những nỗi niềm thiết tha trong Đêm Long Xuyên, là sự nuối tiếc Lỡ hẹn Cao Văn Lầu, là sự cảm phục xen lẫn nỗi ưu tư Bên mộ Hàn Mạc Tử…

Bên cạnh việc tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc các thế hệ cha anh đã đổ máu xương cho độc lập, tự do của Tổ quốc, Trần Đôn còn mang nặng lòng tri ân đối với những người đã dày công dạy dỗ mình. Mỗi khi gặp Người thầy đầu tiên, trong lòng nhà thơ lại dạt dào bao cảm xúc. Ông nhớ mãi kỷ niệm ngày đầu tiên đi học bảy mươi năm về trước. Thầy giáo của ông lúc ấy còn rất trẻ, cũng lần đầu tiên đi dạy. Thầy trò gặp nhau, cả hai đều bỡ ngỡ. Rồi “Dòng sông đời chảy mãi/ Trôi mỗi người một nơi”. Bảy mươi năm sau, ngày hội ngộ, tình cảm của ông đối với người thầy vẫn mãi nặng sâu. Hãy nghe ông nói về tình cảm cao đẹp ấy:

“Mỗi năm giờ gặp lại

Cảm xúc vẫn dạt dào

Run run bàn tay nắm

Mái đầu bạc như nhau

Mừng thầy còn mạnh khỏe

Dù tuổi hạc đã cao”.

Với tấm lòng giàu yêu thương, xúc động, Trần Đôn luôn vương vấn với cảnh cũ, người xưa, và mỗi lần như vậy, trái tim nhà thơ lại trào dâng bao ân tình sâu nặng. Chỉ một chi tiết nhỏ trong cuộc sống cũng làm ông xao xuyến, bâng khuâng. Ngang qua trường cũ, thấy ngôi trường đã xây mới tinh tươm, nhưng khi nhìn tấm bia hiện lên trước mắt, ông không khỏi thốn thức, nghĩ suy:

“Gần bảy mươi năm vẫn ngôi trường đó

Bao bể dâu che lấp một khởi đầu”.

Hình ảnh ngôi trường cũ với bao kỷ niệm một thời hiện về trong ký ức ông, không thể phai mờ. Đối với ông, những kỷ niệm ấy thật đẹp đẽ, thật đáng quý, và  ông đã nói lên tiếng lòng mình:

Cảm ơn cuộc đời còn lại tấm bia

Cảm ơn trường xưa cái tên thân thuộc

Dẫu bây giờ có lồng lộng cao sang

Tôi vẫn mơ về mái trường năm cũ”.

Trước mắt nhà thơ, cuộc sống xung quanh tuy đã có nhiều thay đổi, niềm vui và hạnh phúc đã hiện hữu muôn nơi, nhưng đâu đó vẫn còn không ít vất vả, khó khăn. Với tấm lòng độ lượng, bao dung, nhà thơ đã trải lòng mình để thông cảm, sẻ chia với những mảnh đời cơ cực, bất hạnh. Ông đau đớn, Băn khoăn trước đời thừa:

“Chiều rồi

Mà những người chạy chợ

Vẫn bầm gan - tím ruột

Tiếng rao nhỏ dần như hết pin”.

Tình yêu thương Trần Đôn dành cho cuộc đời này thật rộng lớn và sâu lắng. Có lẽ vì vậy, nhà thơ luôn trân quý thời gian. Ông băn khoăn tự hỏi: Ta đã già chưa?

“Ta đã già chưa - tuổi bảy lăm

Hồng hoang lãng đãng khói sương nhầm”.

Ông cảm thấy tiếc nuối khi ngày tháng trôi mau. Như một sự tổng kết từ những trải nghiệm sâu sắc trước cuộc sống, trong thi phẩm Hết giờ, ông viết những câu thơ đầy trắc ẩn:

“Trăm năm mấy độ ấm nồng

Mấy vòng hạnh phúc, mấy bồng bềnh mơ”.

Tuy nhiên, nỗi niềm ưu tư ấy hoàn toàn không mang màu sắc tự ti, tiêu cực, mà là sự nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc hiện thực để từ đó tác giả muốn mình và những người xung quanh bứt phá, vươn lên mạnh mẽ hơn trong cuộc sống.

Cũng như hầu hết các sáng tác trước đây của Trần Đôn, Rong chơi 2 là tâm tình   của một nhà thơ giàu yêu thương, xúc động và có trách nhiệm trước cuộc sống. Đọc Rong chơi 2, ta ít gặp những câu thơ bóng bẩy, mĩ miều, mặc dù tác giả đã thể hiện khả năng sử dụng ngôn ngữ và các biện pháp tu từ khá linh hoạt. Tuy vậy, qua những câu thơ mộc mạc, giản dị, chân thật, và nhiều lúc là những phát biểu trực diện, người đọc thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn người viết, qua đó cảm nhận được những thông điệp ông muốn gửi gắm trong các sáng tác của mình.

Chính vì những lẽ trên đây, Rong chơi 2 chắc chắn sẽ mang lại những điều bổ ích cho bạn đọc.

10/6/2025

Nguyễn Quế

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Cảm thức thời gian hiện sinh trong thơ Nguyễn Văn Mạnh

"Cảm thức thời gian hiện sinh trong thơ Nguyễn Văn Mạnh" là một bài viết công phu, có chiều sâu của PGS.TS Hồ Thế Hà. Dựa trên hai tập thơ Miền hoa phượng và Dấu thời gian, tác giả đã khám phá một cách hệ thống thế giới thi ca của Nguyễn Văn Mạnh – một hồn thơ gắn liền với nỗi niềm ly hương, thao thức về quê nhà, lịch sử, tình yêu và thân phận con người trong dòng thời gian không ngừng biến động.

Bài viết không chỉ khắc họa hình ảnh một cây bút đậm chất nhân văn và hiện sinh, mà còn góp phần gợi mở một cách tiếp cận mới đối với thơ ca Việt Nam hiện đại từ góc nhìn mỹ học và triết lý sống sâu sắc. Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin trân trọng giới thiệu bài viết này tới độc giả.

Nguyễn Văn Mạnh là nhà thơ của nỗi niềm ly hương, sầu xứ trên suốt hành trình tâm linh và hoài vãng của chính người thơ. Hiện thực cuộc sống và hiện thực tâm trạng hoà quyện vào nhau để thành cảm thức hiện sinh trong từng hình tượng thơ, ngôn ngữ thơ và cảm xúc thơ. Qua đó, nhà thơ phản ánh những trạng thái vui buồn, âu lo, bất ổn và hy vọng của mình trước dòng đời và dòng thời gian luôn thao thiết chảy về phía trước, bỏ lại phía sau những không gian hoài niệm đến nhức buốt và nặng sâu ân nghĩa. Từ tập thơ đầu tay Miền hoa phượng (Văn học, 2022) đến tập thơ Dấu thời gian (Hội Nhà văn, 2023), cảm thức thời gian hiện sinh ấy hiện ra rất cụ thể và đa dạng trên từng sự vật và chứng tích u trầm đủ chứng thực cho tâm hồn yêu quê hương, đất nước và luôn khát vọng về những điều tốt đẹp cho nhân sinh. Tất cả được thể hiện bằng tiếng nói thi ca chân thành, nồng nhiệt. Thơ Nguyễn Văn Mạnh, vì vậy, thuộc về mỹ cảm của cái đẹp, cái cao cả và nhân văn, dễ nội cảm trong lòng người đọc.

Khi cầm bút, Nguyễn Văn Mạnh luôn nghĩ về những gì đồng nghĩa với sự có ích của thơ ca. Nhìn con người và thế giới hiện thực chung quanh, anh luôn đặt mình trong nhiều mối quan hệ bản chất và quan hệ tương tác để biết yêu thương và ứng xử trước nhân tình, thế thái: “Xin đàn chớ ngân những nốt vô tình/ Và bút ơi đừng viết dòng vô nghĩa/ Những ánh mắt trong veo soi vào tôi/ Mà tôi thì quá nhỏ/ Khi lòng dâng bão tố trùng trùng” (Ánh mắt trẻ thơ trên cát vạn chài).

Dù anh không tuyên bố cụ thể về quan niệm sáng tác và chức năng thi ca, nhưng qua tình cảm và câu chữ, người đọc vẫn nhận ra khát vọng và ý hướng của anh khi cầm bút. Với Nguyễn Văn Mạnh, hiện thực cuộc đời luôn “đập vào thơ muôn nghìn lớp sóng” (Chế Lan Viên) đã đem lại cho anh những thức nhận mới lạ để kết thành những câu thơ mang hồn sự sống. Trước đảo Trường Sa, anh đã nghiệm sinh và thể hiện bằng thơ rất bất ngờ về những quan hệ giữa thiên nhiên và người lính đảo đang từng ngày, từng giờ sinh sôi và biếc xanh màu hy vọng nơi trùng khơi bão tố:

Nơi tưởng chừng không có chỗ cho thơ

Núi lại biết cắm xuống lòng biển thẳm

Cây bám giữa cỗi cằn tìm chất sống

Chim vín gió trời, lính tựa vào nhau.

Cơn sốt một người cả đảo biết đau

Nỗi buồn sẵn bờ vai để thấm

San hô cháy đỏ ngời trong bể mặn

Ngọn gió nào không hướng phía bờ Nam?

Nơi trên đầu vẫn một mảnh trời xanh

Đảo đá thức cho giấc mơ Tổ quốc

Nơi người lính đem trụi trần xương thịt

Dựng thành lũy thép giữa trùng khơi

(Một thoáng Trường Sa)

Với cái nhìn hoài niệm và thực chứng về sinh thái thiên nhiên và sinh thái xã hội - tinh thần như thế nên trong thơ Nguyễn Văn Mạnh, cảnh vật và con người luôn hiện lên nhiều ân nghĩa, vẹn nguyên trong ký ức gần và ký ức xa. Ngày thống nhất đất nước, chứng kiến niềm vui vĩ đại của dân tộc, anh liền nhớ đến quê nhà với dáng mẹ mỏi mòn đợi chờ con nơi ngõ vắng: “Bỗng nhớ quê ta, làng Gạo ven sông/ Hoa gạo tháng Ba rụng vào mùa đói/ Dáng gầy guộc nghiêng vào chiều đổ/ Ngõ nhà mẹ đứng đợi con.../ Gánh nợ đời trai con đã trả xong/ Và mẹ ơi con sẽ về với mẹ” (Nghĩ giữa trưa im tiếng súng). Anh sẽ về quê xưa “rũ sạch bùa mê”, “trút lại những phù du” để mở lòng cảm nhận uyên nguyên tình quê, chân quê và hồn quê sau bao năm ly cách:

Trút lại những phù du trả lại tháng năm

Rũ sạch bùa mê

Cởi mảnh hồn ra thau rửa

Mẹ vẫn thắp trái tim đầu ngõ

Cháy không nguôi ngóng gọi ta về.

(Hồn quê)

Trong ngăn cách, nhà thơ nghe được tiếng quê/ giọng quê trong tận cùng âm sắc, qua đó, nhận ra mọi âm vang và tiếng vọng của quá khứ và biết mình dẫu xa xứ, nhưng không dễ xa quê: “Chìm trong mưa nắng đất người tiếng quê vẫn còn âm ỉ cháy

Dẫu có tỏ mờ những âm sắc ngày xưa/ Tôi nghe bằng lòng mình,/Lần tìm lại những tên xóm, tên người, tên đất cũ/ Nhận được một mảnh hồn/ Xa xứ chẳng xa quê” (Tiếng quê). Về lại quê xưa, gặp lại cảnh vật gần gũi, thân thương ngày nào, anh không nguôi thao thức: “Bây giờ trút hết bụi đường/ Về quê nhung nhớ yêu thương tìm về” (Về quê). Nơi đó, có bao người thân và bạn hữu gọi anh về trong hoài niệm bóng mùa qua, có chén rượu, câu thơ và dậu mồng tơi hoá giải mọi vui buồn nhân thế:

Trải qua bến bể nương dâu

lòng nghe tiếng bạn trên đầu sương phơi

Lại về bên dậu mồng tơi

Tiếng lòng xếp chặt một cơi với trầu

Rượu ngang ấm ruột trái bầu

Chén sành dốc cạn cặp câu thơ buồn

Bạn làm câu lục mưa tuôn

Gọi tôi câu bát về nguồn chân quê.

(Bạn quê)

Trong không gian làng quê ấy, anh lại nhớ về không gian trường huyện thuở áo trắng sân trường, nơi có bao kỷ niệm ngọt ngào thời gấm hương, hoa mộng. Thời gian hoài vãng, giờ đây, có dịp đánh thức trong anh những rung cảm ngọt ngào trong rộn rã tiếng ve ran, chói chang màu phượng đỏ:

Ba năm cùng bạn vui đèn sách

Trường huyện mở ra cửa cuộc đời

Một chút yêu thương thời mực tím

Sẽ còn vương vấn mãi trong tôi.

(Nhớ về trường huyện)

Nguyễn Bính ngày xưa cũng nhớ về trường huyện, nhưng cụ thể và nhiều duyên cớ khiến lòng đôi bạn cùng lớp rung cảm, yêu thương: “Học trò trường huyện ngày năm ấy/ Anh tuổi bằng em lớp tuổi thơ/ Những buổi học về không có nón/ Đội đầu chung một lá sen tơ” (Trường huyện). Ở đây, Nguyễn Văn Mạnh cũng nhớ về trường huyện với quan hệ đam luyến ấy, nhưng kín đáo và sâu nặng hơn khi anh gắn kỷ niệm tuổi học trò với đường chân trời rộng mở khi đất nước có chiến tranh, mọi yêu thương lặng thầm thời mực tím cũng đành gác lại để thành kỷ niệm vương vấn mãi suốt hành trình khát khao và dâng hiến. Nhớ về trường huyện, anh hồi nhớ khoảnh khắc gặp cô giáo ngày xưa nơi không gian thân thuộc với khung cảnh học đường thời gian khó: “Bất chợt gặp cô giữa ngõ sâu đơn độc/ Ngọn nến lung linh ngày mất điện giữa hè/ Cô như nến cháy hết mình, cháy hết/ Để lại sân trường thắc thỏm tiếng ve” (Cô giáo dạy toán). Và từ đó, anh nghĩ đến mình, đến bạn bè và mái trường với màu hoa phượng mỗi độ hè về thắp lửa nhớ người xa:

Và chúng tôi bay dưới trời như lá

Ai đã đi xa? thành bại? vui buồn?

Sân trường cũ gió trôi thầm thĩ

Phượng cuối mùa vẫn ủ lửa bâng khuâng.

(Mái trường)

Nhớ quê xưa, nhớ trường cũ, anh càng nhớ về những cảnh vật và không gian hoài niệm gắn bó thuở đầu trần, chân đất, tóc đỏ, da nâu nơi làng quê yêu dấu. Trong anh, bến sông quê vẫn còn đây trong hoài nhớ day dứt gắn với nỗi niềm riêng khó tả: “Vẫn là cái bến ấy thôi/ Mà tôi thấy ruột gan tôi như cào/ Vô tình cánh én cứ chao/ Dòng trôi xanh biếc hoa đào cứ xuân/ Hình như dùng dắng bước chân/ Hình như hơi thở rất gần sau lưng/ Hình như mây rụng lưng chừng/ Mưa bay lất phất ngập ngừng... như ai”. Quá khứ đồng hiện trong hiện tại để anh giật mình trước bến sông xưa, ngày em sang ngang với pháo cưới, rượu nồng, còn anh thì lặng thầm trong chia biệt. Bất chợt, một cảm giác trôi dạt trong tâm hồn chàng trai hiện lên ngỡ ngàng, hoang vắng, tưởng như con nước và ngọn gió chiều cũng thở dài, xao xuyến, rẽ chia:

Giật mình tiếng gió thở dài

Mái chèo mòn vẹt vỗ hoài mặt sông

Ngày em pháo cưới rượu nồng

Thuyền tôi mất bến nên không bến về.

(Qua bến cũ)

Trạng thái cô đơn trong hoài nhớ đã làm cho lòng chàng trai không khỏi ngỡ ngàng, tiếc nuối trước lòng mình và trước thiên nhiên đang nhạt nhòa theo mưa gió: “Cỏ may nở tím triền đê/ Bây chừ rụng xuống câu thề ngày xưa/ Hình như trời cũng bớt mưa/ Ngày thì nhạt nắng đêm thừa một canh/ Hình như cây cũng quên xanh/ Bơ vơ song cửa trăng thanh hao gầy/ Ai làm chớp rạch chân mây/ Để mưa nước mắt rơi đầy lòng nhau” (Bây chừ). Hình tượng chàng trai cũng chính là hình tượng tác giả đang xúc động và phân thân thành cái tôi trữ tình ngôi thứ nhất. Nhịp điệu lục bát của bài thơ chính là nhịp tâm trạng - là tiếng nhạc lòng của tác giả, có khả năng đánh thức mối tình ly tan và nguyện thề xưa cũ.

Tiếp cận toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Văn Mạnh, người đọc nhận ra sự sóng đôi trong cấu trúc tâm lý của chủ thể sáng tạo. Những gì mất đi và trôi vào quên lãng thì lập tức được tác giả gọi về trong tiếc nuối và hy vọng. Vui - buồn, được - mất, hiện tại - quá khứ, hiện thể - khả thể, hiện thực - tâm linh, thất vong - hy vọng… đều được anh đồng hiện trong ý thức và tâm lý tự vệ rất cụ thể và tích cực. Vì vậy, thơ Nguyễn Văn Mạnh phản ánh chân thật hành trình ra đi và hành trình trở về của chính người thơ. Qua đó, anh được giàu có và tin yêu để tiếp tục mộng mơ và an bằng tâm thế trước bao biến đổi và phức tạp của dòng đời và tình người. Như đã tìm hiểu, hành trình ra đi và hành trình trở về trong ý thức thường trực của Nguyễn Văn Mạnh chính là cố hương, nơi chôn nhau cắt rốn,“nơi ta buông neo một mảnh tâm hồn” để anh không thôi khao khát nhớ về. Đó chính là Hải Phòng. Hải Phòng đã là cố hương, kết tinh thành cổ mẫu (archétype) luôn ám ảnh và hiện hữu trong những giấc mơ chập chờn, mộng mị của anh. Nơi đây đã chứng kiến không khí sôi động một thời  “đồng đội đi cùng cha gọi mặt trời” vượt qua mọi bão tố hiểm nguy để cùng cánh buồm trở về giao tình yêu và biển cả cho mẹ và em: “Hoa thắp trong em hy vọng đợi anh về”. Bởi vì đã yêu rồi, tình không lo chiến tranh, biển động và bão tố nghìn trùng. Những người mẹ và người yêu đứng trên bờ nhìn khơi xa thấy lửa, biết thuyền về xoá hết nỗi lo âu và chói chang màu hy vọng. Những người đi gọi mặt trời đã vượt qua khói lửa, đạn bom để chiến đấu và chiến thắng:

Nước mắt mẹ sáng ngời ánh lửa

Cho một Hải Phòng

Đi trước về sau

(Miền hoa phượng)

Dùng tiêu đề Miền hoa phượng đặt tên cho tập thơ của mình, hẳn Nguyễn Văn Mạnh đã sống chết với Hải Phòng - thành phố hoa phượng đỏ, nơi anh sinh ra và lớn lên trong đắm say và nặng sâu ân nghĩa, nhắc thức anh luôn nhớ về trong hiện thực và cả trong những giấc mơ vô thức, nhất là trong những năm tháng đất nước chẳng bình yên, nơi quê nhà, có người thân và người yêu đang mong chờ anh trở về vẹn nguyên sau ngày chiến thắng: “Phượng mùa này nở chín những triền đê/ Và tỏa sáng những con đường ra biển lớn”. Trong đổ nát, đau thương, Hải Phòng - miền hoa phượng vẫn ngời lên nhớ thương, tin yêu và hy vọng:Hải Phòng của biết bao đổi thay, thăng trầm trong bể dâu, giông gió vẫn hướng về đường chân trời dào dạt đại dương: “Thành phố của vầng trăng nơi chân trời gọi sóng/ Của tiếng còi tàu khao khát những đại dương/ Hạt muối trắng hơn, mặn nồng hơi thở biển/ Và hoa tươi nở thắm góc đời thường”. Và hiện tại dựng xây càng hồng tươi màu phố mới:

Nơi trái tim của một vùng duyên hải

Hải Phòng lung linh như ngọn hải đăng

Trong  mỗi con người hình như đều có lửa

Trời xanh gần hơn khi phố mới lên tầng

(Thành phố bên bờ sóng)

Từ Hải Phòng và miền hoa phượng, nhà thơ mở rộng lòng mình, liên hệ và thao thức về những vấn đề rộng lớn, có liên quan đến quê hương, đất nước và con người cũng như những vấn đề trầm tích và hiển minh của lịch sử, văn hoá. Thông qua đó, nhà thơ muốn làm sống lại những kinh nghiệm lịch sử và giá trị văn hoá trong quá khứ và hiện tại của nhân dân và dân tộc để khẳng định chân lý cũng như những quy luật hằng cửu của chúng. Đó là hành trình ký ức mà tác giả luôn thao thức và chiêm cảm để lịch sử và văn hoá bật lên lượng thông tin tâm hồn và ý nghĩa mới mẻ. Những miền quê, di tích, thắng cảnh trong nước và thế giới mà anh đã đến và chiêm quan đều để lại trong anh những hiểu biết, đánh giá và nghiền ngẫm bổ sung khi liên hệ với thực tại.

Đến Yên Tử trong ngày xuân, anh không khỏi ngỡ ngàng trước cảnh vật, đất trời đang giao hoà trong không gian và thời gian thiêng liêng, kỳ ảo mà tiếng chuông ngân là tín hiệu đánh thức sự bừng ngộ của lòng người: “Sương như lưới giăng mùng tình tứ/ Ta hóa con nai vướng sợi tơ trời/ Lúng liếng mắt ngập ngừng hơi thở/ Bỗng giật mình, khi tiếng chuông rơi” (Mùa xuân Yên Tử). Cảm quan thiên nhiên trong thơ Nguyễn Văn Mạnh luôn được nhìn ngắm và cắt nghĩa bằng cái nhìn nhân văn, tương hợp với con người và do con người làm chủ, chứ không phải thiên nhiên làm chủ như quan niệm của thơ trung đại:

Đường dựng dốc quanh co hun hút gió

Như sợi dây kéo ta ngược vào mây

Mù Cả chìm giữa ngàn cây

Hoa ban trắng nở như hồn biên ải

Nghìn năm mặc định ở cuối trời.

(Hẹn về Mù Cả)

Đến Thác Bạc hùng vĩ, nhà thơ cũng thống nhất cái nhìn tương hỗ giữa con người và thiên nhiên, cảnh vật như thế để thấy được sự ý thức và cái nhìn sinh thái tích cực của con người: “Dưới gầm trời có biết bao ngọn thác/ Đâu chỉ một mình ngọn thác núi Lư/ Thác Bạc vắt ngang mảnh trời Tây Bắc/ Tự nghìn đời chảy mãi vào thơ” (Bên Thác Bạc). Với xứ Lạng - nơi hội tụ những sinh hoạt nhân sinh đặc biệt đã quyến rũ anh để lòng mình chan hoà cùng tình người, non xanh, nước biếc:

Câu ca xưa rủ anh về ải bắc

Ở cuối trời xa lắc đất Đồng Đăng

Bất chợt... em giữa đỉnh mây Kỳ Cấp

Sương như đùa thấp thoáng cánh mùng giăng

Ở đó, cảnh và người hoà quyện đến tự nhiên và quyến rũ: “Hoàng hôn nhuộm Kỳ Cùng đến tím/ Tóc gió thả hương thắt buộc đến xao lòng/ Người ngọc liếc ánh nhìn  bịn rịn/ Nửa nụ cười, nem rượu cũng bằng không”. Cuối cùng, trước cảnh đẹp và người đẹp, nhà thơ không khỏi mạnh dạn ngỏ lời trước mắt cười lúng liếng của cô gái và men rượu bừng thức trong lòng mình:

Đất nước mình có mấy miền gái đẹp

Anh đã đi qua để mua lấy nặng lòng

Lúng liếng muốn nhủ gì trong mắt

Đêm Kỳ Lừa  em có hẹn anh không ?

(Chiều xứ Lạng)

Như đã nói, Nguyễn Văn Mạnh là một hồn thơ không tĩnh vật. Anh luôn có cái nhìn vận động và biện chứng để thức nhận về những điều cao hơn, sâu hơn hiện thực; từ đó, anh luôn thao thức về quá khứ và hiện tại bằng tấm lòng nặng sâu của con người hậu thế: “Đất nước, chiếc nôi thơm hồn cốt Tiên Rồng/ Giông tố ngàn năm chưa bao giờ lay chuyển/ Ta là ta!/ Dẫu mưa nguồn chớp biển/ Giọng thơ Thần/ Hào sảng giữa trùng dương” (Tiếng biển xanh). Bên mộ gió Colin, anh liền liên tưởng đến đế nỗi đau tột cùng của 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam đã kiên cường chiến đấu và anh dũng hy sinh để bảo vệ toàn vẹn Gạc Ma - đảo thiêng của Tổ quốc: “Chiều nay bên đảo Cô Lin/ Đứt từng khúc ruột lặng nhìn Gạc Ma/ Một thời bão lửa mưa sa/ Nỗi hờn nợ nước thù nhà còn đây”. Các anh đã thành bất tử trong hoài nhớ và sự biết ơn của nhân dân và đất nước. Những ngôi mộ gió trên bãi cát vàng chính là chứng tích bi hùng nhắc thức và lay động hồn người trong hiện tại:

Các anh đã hóa thành mây

Tan vào biển nước vơi đầy nhớ thương

Hóa thành cột mốc biên cương

Cắm trên đầu sóng kiên cường ngàn năm

Nén nhang mang khói hương trầm

Các anh ơi, các anh nằm nơi đâu

Cát đem trộn nước mắt sầu

Đắp thành mộ gió canh thâu đợi người.

(Bên mộ gió Colin)

Nguyễn Văn Mạnh luôn có cái nhìn xoáy sâu vào hiện tượng, sự vật để phát hiện những tiềm ẩn bên trong; từ đó, đúc rút những điều mới mẻ cho cuộc sống. Đó là cách “Ôn cố tri tân” của anh để nối liền xưa với nay, truyền thống với hiện đại. Đến Kẻ Nú vào tháng Ba, liên hệ thời vua Hùng mở nước và dựng nước, nhà thơ nghĩ về những điều có liên quan đến sự thật và huyền tích về Lạc Long Quân và Âu Cơ để hiểu tận cùng ý nghĩa của hình tượng đồng bào và trăm qủa trứng mà cha ông ta đã hiện thực hoá bằng ước mơ thần thoại để thành tên đất, tên làng sống mãi cùng quá trình dựng nước và giữ nước của nhân dân: “Những huyền tích theo tháng Ba cứ hiện dần lên/ Trăm quả trứng tìm đất lành sinh nở/ Vua cũng như thường dân, cũng lội bùn cấy lúa/ Đất vuông, trời tròn,/ Âm dương giao hòa sinh khí Văn Lang”. Và bao nhiêu tưởng tượng kỳ diệu khác của cha ông đã khẳng định sự tồn sinh bất diệt của dân tộc Việt Nam cho đến ngày nay:“Còn dân tộc mới còn tất cả/ Có nhân dân Tổ quốc mới sinh tồn”. Và nhà thơ thả hồn theo khói hương trầm mùa xuân Kẻ Nú để mơ ước về những điều vĩnh hằng, cao cả:

Ta thả hồn ta bay theo khói hương trầm

Nếu được ước, xin cho thành hạt lúa

Hòa muôn hạt đang rì rầm dưới trời Kẻ Nú

Tới muôn vạn mái quê truyền nhựa sống vĩnh hằng.

(Tháng ba qua Kẻ Nú)

Còn nhiều những bài thơ về cảnh vật tươi đẹp của thiên nhiên và quê hương, đất nước mà tác gỉa đã chiêm cảm và triết luận rất hay và sâu sắc bằng thơ mà trong giới hạn của một bài viết có tính khái quát này, tôi không thể minh chứng hết. Bạn đọc tiếp nhận toàn bộ Miền hoa phượng và Dấu thời gian của Nguyễn Văn Mạnh sẽ rút ra được những nhận định đồng sáng tạo của mình để làm đầy ý nghĩa cho tác phẩm.

Tôi muốn nói thêm về vẻ đẹp tình yêu trong thơ Nguyễn Văn Mạnh ở cạnh khía trữ tình để hiểu thêm những cung bậc cảm xúc của anh vừa cụ thể vừa khát khao, mộng tưởng. Đêm Khâu Vai, anh không ngần ngại thổ lộ những mê đắm mãnh liệt: “Đã từng đặt nụ hôn lên môi em/ Bằng tình trai nóng hổi/ Và ngủ quên trong hương tóc em/ Với giấc yêu đắm đuối/ Cuộc tình tưởng vùi giũa lãng quên/ Giữa dòng trôi ba mươi năm có lẻ/ Nhưng đêm nay ai đánh thức trái tim/ Bằng mùi hương con gái?” (Đêm Khâu Vai của tôi). Anh được tiếp thêm sức sống và khát vọng tươi xanh khi có em bên đời xôn xao cùng hoa cỏ: “Em như là ngọn gió lành/ Thổi vào năm tháng cho xanh đất trời/ Bốn mùa mưa nắng đầy vơi/ Có em xuân vẫn cùng tôi hành trình”. Từ đó, bao ký ức hiện về gắn với nghĩa tình trải dài theo năm tháng: “Gừng cay, muối mặn đinh ninh/ Đường xa cái nghĩa cái tình thấm sâu/ Qua sông tôi nhớ nhịp cầu/ Qua đồng tôi nhớ sắc màu đất quê”. Tình yêu, tình quê và thiên nhiên, hoa cỏ tương hợp, tương cảm trong mùa xuân đẹp:

Trời cao cánh én say mê

Nàng xụân đã ở cận kề nơi đây

Ngực tôi uống ngọn gió đầy

Yêu từng ngọn cỏ, mầm cây bên đường

(Đến mùa xuân)

Tình yêu trong cái nhìn lãng mạn của Nguyễn Văn Mạnh đã thể hiện cụ thể nội tâm và nỗi nhớ thường trực của chính người thơ khi vắng em trong chiều hò hẹn: “Không em chỉ thấy bao nhiêu gió đùa”. Lỡ hẹn rồi, tình dậy lên như biển động mà cỏ thì cứ hết mình xanh thầm thì cùng cánh chuồn chuồn trong gió:

Ngóng em hết đứng lại ngồi

Ngóng em lòng dạ rối bời cả lên

Nhìn theo cái nón chung chiêng

Trách lòng vững tựa chân kiềng làm chi

Dưới chân cỏ cứ thầm thì

Sỏi kêu lạo xạo lối đi thường ngày

Giật mình tháng bảy heo may

Chuồn chuồn giăng kín cánh bay, bão về

(Lỡ hẹn)

Chỉ có cách là để lòng mình quay về thời trai trẻ “Tìm con mắt ai lúng liếng giếng đình/ Thả vào tim ta nỗi nhớ”, thì mới mong làm sống lại kỷ niệm tình yêu luôn đắm say và ngọt ngào như trái nho tươi: “Kỷ niệm hình như không có tuổi/ Trăm năm vẫn một sắc xanh/ Và em một thời thiếu nữ/ Vẫn trong thương nhớ tim anh” (Trở lại tuổi hai mươi). Phải nói là tình yêu trong thơ Nguyễn Văn Mạnh lãng mạn, thuỷ chung và đa cung bậc, đa sắc thái, có cỏ hoa và thiên nhiên cùng lời thề làm chứng:

Cỏ may nở tím triền đê

Bây chừ rụng xuống câu thề ngày xưa

Hình như trời cũng bớt mưa

Ngày thì nhạt nắng đêm thừa một canh

Hình như cây cũng quên xanh

Bơ vơ song cửa trăng thanh hao gầy

Ai làm chớp rạch chân mây

Để mưa nước mắt rơi đầy lòng nhau.

(Bây chừ)

Còn rất nhiều những câu thơ, khổ thơ và bài thơ nói về tình yêu, về nhân sinh và đời tư - thế sự sâu sắc, giàu nghiệm sinh, triết lý được Nguyễn Văn Mạnh thể hiện bằng kinh nghiệm và sự sống thật của chính mình nên chân thành và chân cảm. Một hồn thơ như thế làm sao mà vắng người yêu quý, cảm thông. Rất tiếc trong bài viết ngắn này, tôi không thể phân tích về bình diện hình thức tác phẩm như ngôn ngữ, giọng điệu, nhạc tính và thể thơ sở trường của anh, nhất là thể lục bát và thể tự do để thấy sự yêu thích và sự làm chủ thể loại một cách tối đa anh - điều mà bất kỳ nhà thơ nào cũng mong đạt được trong qua trình sáng tạo.

Qua hai tập thơ Miền hoa phượng và Dấu thời gian, Nguyễn Văn Mạnh đã thành công trong việc chiếm lĩnh và cắt nghĩa hiện thực đời sống một cách cụ thể, sinh động và nhân ái. Thơ anh cân bằng giữa truyền thống và hiện đại, làm chủ và làm giàu thể loại trên cơ sở giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ để tạo nên tính chân thật cho hình tượng thơ và ngôn ngữ thơ. Từ phạm trù thời gian và cảm thức hiện sinh về thời gian, nhà thơ đã làm sống lại ký ức gần và ký ức xa bằng cách tạo sinh nghĩa mới cho từng sự vật và hiện tượng theo tinh thần thể hiện Cái Mới và Cái Khác, phù hợp với nhu cầu tiếp nhận của người đọc đồng sáng tạo hiện nay. Đó cũng chính là cách làm mới thể loại, thể hiện cái tôi đang tư duy và cái nhìn nghệ thuật mới mẻ của chủ thể sáng tạo. Thơ anh, vì vậy, thuộc mỹ học của cái đẹp và cái có ích, ngày càng được bạn đọc tiếp nhận và đồng cảm.

Vỹ Dạ - Huế, 11/6/2025

Hồ Thế Hà

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

  Nhìn lại một dòng chảy thơ phổ nhạc Lấy tiêu chí ưu tiên quy tụ thơ phổ nhạc của tác giả đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh hoặc viết trự...