VĂN THƠ NHẠC
Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026
Gợi mở một triết học Phồn Sinh
Trường ca Phồn Sinh của nhà thơ Nguyễn Linh
Khiếu được nhà xuất bản Hội nhà văn in năm 2018, đến nay đã có hàng chục bài viết
về trường ca này đã được công bố. Các tác giả chủ yếu bàn về các khía cạnh văn
chương của Phồn Sinh. Trong các bài viết cũng đã có tác giả đề cập đến những
khía cạnh nội dung tư tưởng của tác phẩm. Trong bài này, tôi tiếp cận trường
ca Phồn Sinh dưới góc độ triết học. Và, tôi muốn minh chứng rằng ở
trường ca đồ sộ này tác giả đã đề xuất một Triết học Phồn sinh.
Ý thức phái tính trong tập thơ "Huyễn hoặc ngày em" của Trần Nhã My
Ý thức phái tính trong tập thơ
"Huyễn hoặc ngày em" của Trần
Nhã My
Gấp tập thơ Huyễn hoặc ngày em, ý thức phái
tính cứ ám ảnh mãi, nên tôi phải viết lại những dòng xúc cảm dành tặng cho một
hồn thơ với “nhịp thơ như nhịp thở/ Ý tứ cứ tròn căng” (2,
tr.23) của Trần Nhã My.
Nói đến ý thức phái tính là nói đến hệ thống vấn đề từ những
biểu hiện, nghệ thuật biểu hiện, cũng như sự hình thành, phát triển của nó
trong thơ ca Việt Nam qua các thời kỳ. Có thể hình dung, phái tính chính là giới
tính nhằm phân biệt giữa tính nam – nữ. Phái tính nữ có thể định nghĩa là nữ
tính kết hợp với sự tự thức sâu sắc về tính nữ trong sự đối xứng với tính nam,
một cách tự giác, bình đẳng và mạnh mẽ. Ở bài viết này, tôi xin chia sẻ một số
biểu hiện nổi bật về ý thức phái tính, nhằm lý giải sự hấp dẫn trong Huyễn
hoặc ngày em – thơ Trần Nhã My.
Với 45 bài thơ – Huyễn hoặc ngày em (Nxb Hội Nhà
văn – 2017) của Trần Nhã My, hiển hiện lên tấm lòng bao dung, thương
cảm của người phụ nữ; sự hào sảng của tâm hồn, suy nghĩ đến những hành
động đẹp đẽ đầy tính nhân văn; kể cả những giọt nước mắt đẫm đầy
khổ đau của nhân vật trữ tình khi ngã rẽ cuộc đời phủ trùm
lên thân phận.
Mở đầu Huyễn hoặc ngày em với Ác mộng anh, người
đọc đã bắt gặp trong đó sự quan sát tinh tế vốn có của người phụ nữ bởi
nhân vật trữ tình ở ngôi kể thứ ba. “Người đàn ông lầm lụi/ bước nặng/…./
Có bà mẹ trẻ…” “gào thét vào thinh lặng” khi hoàng hôn rơi xuống ở nghĩa
trang. Đối diện với hai người đã “vứt bỏ giọt máu của mình”,
nhưng nhân vật trữ tình vẫn với lòng bao dung, không tìm nguyên cớ vì sao mà họ
lại hủy hoại hình hài một đứa bé; cũng không “mắng mỏ” hay lên án sự tàn độc
này mà cùng hoài vọng đớn đau, thốt lên những lời ăn năn sám hối, dẫu muộn
màng.“Con đâu rồi?” như tiếng lòng vọng vang, lời cảnh tỉnh
cho thiên chức làm mẹ cha.
Như một bản năng, dù mạnh mẽ, lắm lúc lại ương bướng, nhưng sự
nhẹ nhàng mềm mại, uyển chuyển vẫn tồn tại trong mỗi người phụ nữ. Vốn là trời
phú, nhưng đôi khi nhân vật trữ tình trong Huyễn hoặc ngày em,
nàng nhận ra cái nữ tính ấy, rồi tự chế ngự nó bằng một
cảm xúc rất đỗi đàn bà. “Không biết đâu, em bao lần nũng nịu/ không
nhớ hết, em bao nhiêu lần hờn dỗi/ em chỉ là em bất đồng nông nổi/ em bão giông
phút chốc rồi tan” (2, tr.72); “Em học cách quên đi thói nũng nịu/…
Em học cách bớt đi dỗi hờn ương bướng/… Em học cách không làm bão giông/… Em
đang học cách chối từ ân sủng…” (2, tr.45). Nhân vật nữ trữ
tình, sẵn sàng từ bỏ mọi đặc ân để mình được trưởng thành hơn
trong tình yêu, nhưng càng cố khẳng định mình thì càng toát lên dáng vẻ hồn
nhiên, đáng yêu – “bởi cuối cùng/… em không làm sóng nữa
đâu”, dù biết “anh” cho nàng cả cuộc đời, biết
mình không còn trẻ, mê mê với cơm áo gạo tiền “nhưng em cũng cần quà nhỏ/
mười bốn tháng hai” (2, tr.74). Vậy nên, ta thấy “em” lại trở về đúng
nghĩa của “em” – đời thường như một bản năng thuần khiết.
Nhân vật trữ tình trong Huyễn hoặc ngày em, nhìn
thiên nhiên tạo vật, cuộc sống, thời gian trôi ở sự thay
đổi tinh tường nên tâm hồn của nàng dễ rung động, dễ tổn thương
với nhiều âu lo, cần sự chở che trong vòng tay trìu mến của
người mình yêu thương.“Tự khi nào/ anh là cặp kính của em/ không phải kính cận,
viễn, loạn/ loại kính lạ/…/ Em ngồi tưởng tượng/ một ngày kính Anh mang cho người
khác/ mù lòa em…” (2, tr.69); “Em là kẻ đến sau/ vui sướng/ khổ đau/ bằng
cách nào em cũng là phiên bản/ bóng người đây, bóng của em đâu?” (2,
tr.20); “Tháng ngày trôi có phải không nhà anh giậu đổ?/ hôm nay em về qua
lối cũ/ Ti gôn đâu rồi/ hồng tím của em đâu?” (2, tr 38). Vậy nên,
mỗi vần thơ trong Huyễn hoặc ngày em, do cái tôi nữ tính mà thành, nhưng
quan trọng nó bắt nguồn từ những xúc cảm thật nhất của tâm
hồn giàu chất nồng ấm. Người đọc dễ dàng thấu cảm, đồng cảm, họ tìm thấy
bóng dáng của mình ẩn sâu trong những vần thơ mang hơi thở của Trần Nhã My.
Phụ nữ, họ luôn mủi lòng trước hoàn cảnh kém may mắn xảy ra với
mình hay với những người xung quanh. Đằng sau những giọt nước mắt của họ là những
lời động viên, an ủi chân thành, ấm áp. Với họ, đã là đàn bà thì việc thương
yêu giúp đỡ nhau là việc thường tình, vừa là phẩm hạnh của người phụ nữ, vừa là
đạo đức xã hội trong mối quan hệ giữa con người với nhau, nhất là quan hệ ruột
thịt cùng nhau.“Chị ơi/ sao không bắt đầu lại thưở ban sơ/ thời trong veo
áo trắng/ nụ cười trên môi chị giòn như nắng/…./ Suốt cuộc hành trình/ có
ai dõi theo bóng chị/ chị ơi/ phía trước còn những điều rất mới…” (2,
tr.81).
Trong Huyễn hoặc ngày em với những câu chuyện tình
yêu mang những sắc màu của nỗi buồn phai phôi, nhưng cách viết/ thể hiện lại
dịu dàng, đầy nữ tính. Dù là người phụ nữ hiện đại nhưng
khi nghĩ về tình yêu, nhân vật trữ tình vẫn mang trong mình
tâm thức truyền thống. Khi ấy, cái tôi trữ tình được yêu, giận hờn,
lo lắng, đắm say cùng những cung bậc của tình yêu được trỗi nhịp: “Em
hỏi vào chua chát xót xa/ hỏi vào rong rêu những điều được mất/ hỏi gió, hỏi mấy,
hỏi trời, hỏi đất/ em như thế nào để được anh yêu???” (2, tr.57), “…,
Anh có biết không/ ti – gôn “loài hoa vỡ”/ em muốn xóa tên nhưng không nỡ/ vẫn
sợ xót đau bởi người cũ anh trồng/ cứ mặc cho cơn gió thoảng/
cho những cánh hoa phập phồng/ như thấu hiểu nỗi lòng…” (2, tr.85).
Tiếp xúc với Trần Nhã My, được biết chị là cô giáo dạy ngoại
ngữ, tôi rất quý. Trông chị hiền lành, nhiệt tình nhưng ẩn
sâu trong đôi mắt đẹp đẽ ấy, lại là một nỗi buồn, trông rất đỗi
tự nhiên. Điều đó chẳng quan trọng để quy kết sự ảnh hưởng vào
thơ của chị. Cái mà trong thơ của chị với nỗi buồn mang điểm nhìn
của chiều kích không gian, của cuộc sống, cái buồn mang đến những khoảng lặng
thuần khiết trong tầm hồn mới quan trọng. Qua nhân vật trữ tình, Trần Nhã
My đã “Chất buồn lên mây”, để nỗi “buồn trèo lên cao chất ngất…” mà
đi tìm lại bóng mình, “ôm lấy bóng mình tự dối bóng anh…” (2,
tr.91). Nên nói Huyễn hoặc ngày em, nỗi buồn không trần
trụi, giản đơn có thể nhìn thấy mà ta phải vận dụng mọi giác quan để cảm
nhận, đồng điệu và cùng nhà thơ đi đến tận cùng xúc cảm là không
ngoa.
Nhân vật trữ tình trong Huyễn hoặc ngày em không
giấu diếm sự hạnh phúc, kể cả những giọt nước mắt lăn tràn trên đôi
gò má khi người thứ ba xuất hiện. Nàng là người phụ
nữ chân thật, thật với chính lòng mình, thật với tình
yêu, thật với bản năng con người. Cái tôi ấy hết mình
với những xúc cảm của bản thân, nàng chấp nhận nỗi đau
vấp ngã để khẳng định tình yêu của mình dành cho chồng; dành người
tình một cách trọn vẹn, không hề toan tính nghĩ suy – “cược
hết vào anh”. Yêu, yêu hết mình, còn khi chia ly, nàng tự giải quyết
mọi vấn đề, biến buồn thương thành chuyện giản đơn: “Một mình em/ đơn
giản thôi/ ai bảo cuộc chia tay/ phải có hai” (2, tr.51]; “Bài cuộc
chơi anh chơi cùng người mới/ vô địch rồi anh lên đỉnh vinh quang/ em một mình
ôm quan tướng lang thang…” (2, tr.89); “Em chỉ biết/ người đàn bà đó
cũng như em/ cũng ngang qua đời anh/ nhưng tất nhiên em không thích đồng hành…” (2,
tr.77); “Thì anh ơi/ cho em một lần hờn giận/ một lần nữa thôi/ cho
em hờn dỗi/ như ngày mình yêu nhau” (tr.73)
Mãnh liệt, nông nổi, nhưng lại
mang chút gì vụng về, e ấp, ngây thơ, mơ mộng và duyên
dáng đáng yêu: “Trên cầu Bến Đình nhìn về phía núi/ e ngỡ mình cô dâu mới/
anh cưới em về/ có dòng Vàm Cỏ se duyên” (2, tr.63) “Ngồi trên xe mơ
màng chiến mã xích thố/ đường xa hóa gần ăn xén thời gian nói chuyện văn
chương/ ngắn lại giấc mộng em hóa thành mỹ nữ/ thay đổi vận mệnh danh tướng
là anh” (2, tr. 58). Với những điều này đã làm nên một cái tôi đầy
nữ tính, đắm say cùng các cung bậc xúc cảm, đẫm
đầy thương yêu, dẫn đến cái tôi mang nỗi buồn dịu nhẹ trong Huyễn hoặc
ngày em là vậy!
Như nói trên, là phụ nữ, ai cũng muốn được chở che, nhỏ bé
trong vòng tay một người đàn ông “chín chắn vững vàng; phong trần
từng trải”. Nhưng ước mơ và hiện thực đôi khi như hai
đường thẳng song song. Vậy nên, người phụ nữ trong Huyễn hoặc
ngày em trở nên mạnh mẽ, quyết đoán bởi nàng đã tôi luyện
qua cay đắng cuộc đời, từ đó tạo nên một cá tính riêng cho
mình. “Rồi cũng phải tự mình đứng dậy/ em biết/ rồi cũng phải tự mình/ đứng
dậy/ đón/ mùa xuân về doa dịu cơn đau em đông cứng/ Em ôm mình nghe tiếng thở trên
lưng…”(2, tr.55). Từ những vấp ngã, từng nếm trải đã mài giũa cho người
phụ nữ trong Huyễn hoặc ngày em có một tâm hồn góc cạnh, nhằm
đáp trả sự phũ phàng và nghiệt ngã của cuộc sống để chứng tỏ rằng mình
không hề yếu đuối, gục ngã dù bất cứ trong hoàn cảnh nào.
Cá tính của người phụ nữ trong Huyễn hoặc ngày em là
biểu hiện của sự tự thể hiện. Người phụ nữ ấy tự thoát ra khỏi những chuẩn mực
thông thường để thể hiện cái tôi riêng biệt và mạnh mẽ của cá nhân mình. Cũng
chính ở cá tính, người phụ nữ trong Huyễn hoặc ngày em đã thể hiện
rõ phái tính của mình, ý thức về mình và phái mình, từ đó người đọc thấu cảm những góc
khuất tâm hồn của người phụ nữ; rồi trân
quí hơn, khẳng định vị thế, vai trò của người phụ nữ trong cuộc sống hiện
đại. Đây cũng một giá trị nhân văn, một thông điệp nhân sinh
quan ẩn chứa trong Huyễn hoặc ngày em của Trần Nhã My,
như một ý thức về những vẻ đẹp phái tính.
Bên cạnh đó, ý thức về tình yêu đôi lứa giống như sợi chỉ
xanh cứ óng ánh trong Huyễn hoặc ngày em. Tình yêu là thứ
tình cảm hấp dẫn số một của con người, nên “Làm sao sống được mà không
yêu” (Xuân Diệu). Giống như phái nam, trong tình yêu đôi lứa, phái nữ
cũng yêu, cũng trải qua những xúc cảm yêu đương cuồng nhiệt. Và
khi đi vào thơ ca, những nhà thơ nữ, họ đã thổ lộ sự
rung động tâm tư, xúc cảm sâu sắc của phái tính nữ; họ bộc lộ khát
vọng yêu thương, cháy bỏng của mình. Bên nét nhẹ
nhàng, dịu dàng đầy nữ tính, các nhà thơ nữ hiện đại nói
chung, Trần Nhã My nói riêng, đã dám khẳng định sự yêu của
mình một cách trực tiếp, không hề né tránh, kiểu “Em yêu anh cuồng
điên/… Em chờ anh mãi” (Vi Thùy Linh), với một phong vị riêng
tư. “…Bữa nào không anh/ em lù mù lờ mờ/ với đôi mắt mỏi/ mọi thứ xung
quanh ảo ảnh, nhạt nhòa…” (2, tr.68) “Anh nợ/ đã nợ em hè phố
chiều sánh đôi/ bao bài thơ cũng chưa dỗ được em hờn dỗi/ nợ cái nắm tay
anh nói “chết em rồi”” (2, tr.35); “Những con chữ em viết/ chỉ một
người thôi/ người ấy đâu đố ai mà biết được/ như một lời thách cuộc “Đi
tìm lá diêu bông”” (2, tr.23). Với cách yêuriêng, nhưng Trần Nhã
My vẫn thắp lên được niềm tin về sự viên mãn, tròn đầy trong tình
yêu cho nhân vật trữ tình của mình: “bởi không chịu có ngày anh dần
xa”; “Còn ai ngoài anh nữa/ người tìm thấy diu bông”.
Tình yêu không chỉ mang đến sự hạnh phúc mà còn
gieo cho con người ta nhiều khổ đau, không kém phần. Bởi thế, hạnh
phúc và khổ đau như hai đường thẳng song song trong tình
yêu đôi lứa. Dù có trăm ngàn lý do để con người ta cảm thấy hạnh
phúc, gắn kết với nhau nhưng cũng có trăm ngàn lý do khác nhau dẫn đến tình
yêu tan vỡ, chia lìa đôi người hai ngã. Với Huyễn hoặc ngày em, khi
tình yêu tan vỡ, người thứ ba là nguyên nhân nhân vật
trữ tình nữ nghĩ đến đầu tiên, “dù có những cái vỡ khác/ rất
khác”; “Mỗi khi nhớ đến anh là em thấy ngay người đàn bà đó/người đàn bà lấp
ló/ bởi người nào thì em không rõ” (2, tr.77); “Đêm qua anh ngủ trong
giấc mơ em/ tất cả đều quen/ chỉ thêm/ người đàn bà lạ” (2, tr.49).
Khi yêu, người phụ nữ trong Huyễn hoặc ngày em hoàn
toàn đặt niềm tin và tình cảm của mình vào đối phương. Nàng tin yêu hết
lòng, luôn cố gắng quan tâm, sẵn lòng chăm sóc đối
phương, không toan tính nghĩ suy. “Em hỏi anh về
tương lai dự tính/… em chỉ hờn “không biết bao giờ anh giác ngộ”” (9,
tr.79); “Cơm canh đây em nấu một mình/ ăn một mình khi đã nguội ngắt
ngơ” (2, tr.17); “Em không nghĩ tình yêu là trận chiến/ vô tư lắm
không hề toan tính”(2, tr.88). Yêu, yêu mãnh liệt, chân thành, đầm thắm
nhưng khi bị một vết thương phản bội cứa cắt,
thì nàng lìa, lìa xa, chẳng u hoài dù chỉ là cái ngoái
nhìn: “Đã đi/ xin anh hãy thật thà với người ta/ đã chọn rồi cứ thẳng lối
mà bước/ đừng ngoái nhìn chi nữa”(2, tr.44); “Không còn gì để nói với
nhau/ một chữ cũng không/ dẫu dối” (2, tr.66). Dù không làm gì sai,
nhưng “anh” đã tước đi cái quyền yêu thương, đẩy nàng vào vai một
người tuyên án cho tội lỗi mà “anh” đã gây, bắt buộc nàng phải lựa
chọn sự mạnh mẽ của bản thân; “block” bỏ tình yêu mà nàng tưởng chừng
như không thể sống thiếu.
Tuy nhiên, nhân vật trữ tình trong Huyễn hoặc ngày em dù
đau, dù hận, nhưng tấm lòng vị tha của nàng vẫn ngân
vang như một bản hợp xướng tuyệt vời, dẫn dụ người thưởng thức. Với
nàng, người thứ ba không hề có lỗi, lỗi là người trong cuộc không đủ tinh tường
trước những cám dỗ của tình yêu. Nên khi ngọn lửa tình tàn lụi, người đàn ông
không còn hướng về mình nữa, nhưng nàng vẫn “xin anh hãy thật thà với
người ta”. Điều đó cho thấy sự trưởng thành trong tình yêu, trong suy
nghĩ, một cách hành xử nhân văn, cao thượng. Với nàng, hạnh phúc là yêu chứ
không phải hận thù; đời rất dài, chẳng có ai là người chiến thắng mãi mãi, bởi khi
ta cố vun vén một tình yêu vào một người dễ dàng thay đổi thì sớm muôn gì
cũng phải chuốt lấy sự đổi thay. Và, có thể nói, đây cũng là một đặc điểm
thể hiện rõ cá tính của những người phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ và quyết đoán,
ngang tàng dù phải đối diện với những nỗi buồn tê tái, sầu tím ruột
gan.
Ngay trong cuộc sống, phái nữ cũng có nhiều điểm
nhìn riêng biệt mang đậm màu sắc giới. Với họ, cái tôi công
dân giữa phái nam – phái nữ cần bình đẳng với nhau. Người phụ nữ
hiện đại phải vượt ra khỏi những tình cảm cá nhân, vươn ra ngoài xã hội,
có một điểm nhìn độc lập, việc nước việc nhà với họ phải song
hành cùng nhau. Và đó, cũng là tâm tình của nhân vật trữ
tình trong Huyễn hoặc ngày em. Nàng đã thể hiện góc nhìn của
mình về cuộc sống độc lập – tự do – hạnh phúc của hôm
nay với lòng tri ân cha ông, những người đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc. Bằng cách tôi công dân đầy trách nhiệm, nhân vật trữ tình nghe cả “Gió
đồng bưng rì rào kể chuyện” (2, tr.60) về những chiến sỹ mượn tán rừng
trú ẩn ở gò Trao Trảo, năm 1973, đã hy sinh oan ức bởi kẻ săn
chim. Tri ân không chỉ là lời nói, mà phải hành động, phần việc rõ ràng
cho thế hệ trẻ: “Thế hệ trẻ ngày nay tiếp bước/ ngày không xa/ chim trao
trảo bay về”. Nàng cũng thấy lòng mình phơi phới trước sự thay da đổi thịt
của quê hương: “Cầu Bến Đình đẩy những chuyến phà trôi vào quá khứ/… nắng
Tây Ninh chói rạng từng trang / những áng mây trên bưng trêu từng khóm lúa/…
“Quê anh ấy!” Anh tự hào dang rộng đôi tay/ muốn ôm cả ruộng lúa chín vàng Muốn
choàng hết Cẩm Giang”(2, tr.63); “cả xứ rộn ràng mùa trẩy hội/
đá trắng sóng đôi thức dậy vạn linh hồn” (2, tr.64).
Sự giải phóng trong ý thức về bản thân, tình yêu cũng như sự
ý thức về cuộc sống là những biểu hiện góp phần thể hiện ý thức phái tính
trong Huyễn hoặc ngày em của Trần Nhã My. Vô tình hoặc hữu ý,
trong Huyễn hoặc ngày em, Trần Nhã My xây dựng nên thế giới nghệ
thuật của mình bằng những biểu tượng mang đặc trưng riêng của phái nữ. Người
đọc nhiều lần bắt gặp sự xuất hiện, lặp đi lặp lại của các biểu
tượng nước, đất và màn đêm trong Huyễn hoặc ngày em.
Trong thơ ca, biểu tượng đất có rất nhiều biến thể: Cánh
đồng, khu vườn với cây trái, hay hình ảnh những con đường… Với Huyễn
hoặc ngày em cũng thế, đất với những biến thể riêng qua cách nhìn của Trần
Nhã My: “một thiên đường cò bay cánh mỏi/ ghé xuồng đồng chiều thủ thỉ với
đàn trâu” (2, tr.25), “Đưa em lên biên giới nữa nhé anh/ qua cửa khẩu
cho em nìn quanh/ ngơ ngác anh/ ngơ ngác em miền đất lạ” (2, tr.42); “Anh
kể/ cô gái và chàng trai/ dắt tay nhau qua cánh đồng ngập gió/ ở đó/ họ đánh
rơi câu chuyện cổ tích trên đám cỏ may” (2, tr.30); “Ngày em đến ti –
gôn đã leo tràn bờ dậu/ xõa xuống cỏ xanh rực rỡ khoe màu…” (2,
tr.84). Bên cạnh đó, biểu tượng nước trong Huyễn hoặc ngày em cũng
có những biến thể: Dòng sông, cơn mưa, biển cả… “Dắt em về với sông Lô/
đêm tỉnh lặng/ nghe rõ từng nhịp thở…” (2, tr.39), “… em không làm
sóng nữa đâu!”(2, tr.45); “ngắm hoa trôi giữ dòng Vàm Cỏ lung linh in hình
hai đứa” (2, tr.62).
Nổi bật nhất, màn đêm vẫn là biểu tượng xuất hiện với tần
số dày đặc trong tập thơ cũng như ở mỗi bài thơ: Anh không về trong giấc
mơ em; Anh không về nữa bao giờ; Chất buồn lên mây; Cung đàn hoang; Đêm sông
Lô; Em về với biển; Giấc mơ lạ; Phía ấy cũn không anh… Màn đêm chứa đựng
tất cả những khả năng tiềm tàng của cuộc đời. Với đặc trưng bí ẩn của màn
đêm – đêm thường xuất hiện trong Huyễn hoặc ngày em tượng
trưng cho bản tính của nhân vật nữ trữ tình và làm không gian, thời gian
cho những khát khao bản năng ở người phụ nữ ấy được bộc
lộ một cách vẹn nguyên, kiểu dù đi xa đến mấy, thì bản năng nữ tính vẫn
không quên mục đích xuất phát ban đầu như thiên
phú! Qua đó, cái tôi trữ tình của nhà thơ có dịp
giãi bày, bộc lộ, cật vấn, chất vấn chính mình với muôn vàn câu hỏi trước “Cuộc
đời như một sát na” (Người đi tìm huyệt một).
Với nhu cầu giải phóng bản thân, không cho phép bó
mình trong những nề nếp của thể thức thơ. Vậy nên, Trần Nhã
My đã tìm đến với thể thơ tự do với nhiều biến thể khác
nhau để khẳng định cái tôi bản thể không trùng lặp của mình, nhằm “hướng
nó về lí tưởng, là cái cầu nối giữa vô thức và hữu thức” (4, tr.136). TrongHuyễn
hoặc ngày em của Trần Nhã My, cái tự do ở chất lượng biểu đạt chứ không phải
tự do ở hình thức với lượng câu chữ ngắn dài khác nhau, tức là lượng
đổi nhưng chất không đổi. Tuy nhiên, cái chất trong từng câu, từng bài
thơ giống như sự chuyển động của electron trong nguyên tử vậy. Mỗi electron có
một mứcnăng lượng xác định, cũng như từng câu, từng bài thơ
trong Huyễn hoặc ngày em mang sự tái sinh cho tâm hồn bởi
ngôn từ. Nhưng trước hết, chúng ta thấy cái hình thức tự do quyết định
nội dung, đó là việc Trần Nhã My sử dụng thủ pháp ngắt dòng để tạo
nên những câu thơ dài ngắn khác nhau: “Đêm sông Lô/ vắng lặng/
chập chờn ánh đèn hiu hắt/ không rõ em/ không rõ anh/ người quen hay khách lạ/
sông ru lòng bản giao hưởng của đêm” (2, tr.39); “Như tên trộm không
mỏi/ quyết liệt/ từng đêm/ tim lôi đầu…/ Từng đêm/ tim/ như tên trộm/ lôi ngược
đầu về phía biển/ Cứ ngỡ rằng phía ấy/ … có anh” (2, tr.87).
Trần Nhã My đã bỏ giới từ, liên từ, và cả chủ
ngữ nhằm làm nên hiệu quả cho những câu thơ được ngắt
dòng mang một âm hưởng vang vội. Những dòng thơ đứt đoạn, giống như
một nhát cắt của ánh nhìn sắc nhọn, như những mảnh vỡ ngổn
ngang của không gian ùa ập vào tâm hồn nhân vật trữ tình. Bài
thơ Đừng ngoái nhìn chi nữa đã sử dụng hiệu quả thủ
pháp ngắt dòng. “Đã đi/ xin anh hãy thật thà với người ta/ đã chọn rồi/ cứ
thẳng lối mà bước/ đừng ngoái nhìn chi nữa”, từng câu thơ cất lên ngắn gọn, dứt
khoát, mang trong nó sức nặng của những ý nghĩ gãy đoạn ngổn ngang trôi về
ào ạt bởi những mảnh vỡ bị đè nặng trong ý nghĩ của cái tôi trữ
tình. Đôi khi, người đọc có cảm giác trong mỗi câu thơ của Trần
Nhã My là một chuỗi dài suy nghĩ của cái tôi đầy nhạy cảm: “Em
cược tháng Chín ngọn lúa vàng nặng trĩu/ Vàm Cỏ mát xanh trong điệu Lý chiều
chiều/ bên mái chèo có áo bà ba màu bông súng tím/ đám vịt chạy đồng qua vạt nắng
liêu xiêu…” (2, tr.34). Bằng sự dài ngắn khác nhau trong thơ, khiến ý
thức cá tính của Trần Nhã My có “đất sống”, chị được thỏa sức tung
bút xúc cảm, tâm tình của mình trong từng vần thơ tròn căng. Vậy
nên, đây là yếu tố thuận lợi cho phép chị mang những bộn bề của cuộc
sống, kể cả những ngổn ngang trong suy tư, trăn trở với lời cật vấn,
chất vấn vào thơ, mà cụ thể là những câu thơ có chứa dấu (…), (?), (!), cả
câu cầu khiến, được minh xác và đậm đà hơn.
Để trở thành “gương mặt đong đầy mưa nắng” cho phái tính
trong thơ của mình, Trần Nhã My đã sử giọng điệu nhẹ nhàng thủ
thỉ, tha thiết tâm tình. Lời thơ như lời tâm sự của người
phụ nữ về cuộc đời, về thân phận, là lời nhắn nhủ nhẹ nhàng mà
thấm thía, sâu cay. Chính với giọng điệu này, đã góp phần thể hiện
cái tôi trữ tình nữ tính và phẩm hạnh của nhân vật trữ
tình trong thơ của Trần Nhã My. Huyễn hoặc ngày em, còn mang tới một
vẻ đẹp rất dịu hiền, thấp thoáng có cái gì đó như một lời ru, một
bài ca dao, như một tứ thơ lục bát: “Lâu lắm rồi em không về
với biển/ nghe cồn cào sống dội nhớ vào đêm/ nghe thì thầm biển muốn nói gì
thêm…” (2, tr.84). Đôi khi, khi viết về tình yêu tan vỡ, Trần Nhã
My dùng giọng điệu tâm tình và xót xa bởi nhân vật trữ tình “em” của
mình. “Sợi se buồn luồn từng kí tự/ phơi vào đêm/ lồng lộng vết đau/ chồng
chất lên nhau…” (2, tr.21). Cũng có khi, Huyễn hoặc ngày em có những
bài thơ mang một chút bâng khuâng buồn, một chút gì nũng nịu, trách
móc rất đáng yêu và đầy nữ tính bởi nhân vật trữ tình. Để rồi có những dòng
thơ thấm đẫm vào lòng người đọc một cách huyễn hoặc, “nâng con người
lên cao hơn tồn tại trực tiếp” (Trần Đình Sử).
Song song đó, người đọc còn bắt gặp trong Huyện hoặc
ngày em với giọng điệu sôi nổi, mạnh mẽ. Đứng trước cuộc sống dập
dềnh, thông qua nhân vật trữ tình, Trần Nhã My tạo cho mình một điểm
nhìn riêng, một thái độ riêng. Qua đó, khẳng định một cái tôi
riêng tư, bản lĩnh nhằm chống đỡ, vượt lên những trái ngang nghịch
cảnh của cuộc đời. Ví như, đứng trước khu Di tích gò Trao Trảo, nhân vật
trữ tình sử dụng giọng rắn rỏi, mạnh mẽ để ca ngợi sự hy sinh của
các anh hùng: “Những người lính trẻ/ cùng một ngày giỗ, không biết ngày
sinh/ tay anh ở gốc cây tràm/ chân ruộng lúa/ tâm hồn anh vút mãi trời cao…” (2,
tr.61). Qua sự rắn rỏi, mạnh mẽ, chân thật, đã toát lên “lý tưởng thẩm
mỹ của chủ nghĩa nhân đạo cao cả” (Bùi Công Hùng). Trần Nhã My
còn dùng giọng điệu mạnh mẽ, quyết liệt để nói về sự
thay lòng đổi dạ của đối phương, cũng những sự cứng cỏi tiềm tàng trong
cách hành xử ở mỗi người phụ nữ khi tình yêu gãy đổ: “Khi không còn gì để
nói với nhau/ một chữ cũng không/ dẫu dối/ Đành thôi/ người ạ/ mình như kẻ lạ” (2,
tr.67).
Tuy nhiên, ý thức phái tính nữ, và những đặc trưng nghệ thuật
của nó góp phần tạo nên, ta cũng cần nói đến yếu tố ngôn ngữ, xem như một chất
xúc tác, có khả năng xảy ra phản ứng hóa học cao. Trong Huyễn hoặc
ngày em, Trần Nhã My đã sử dụng ngôn ngữ dịu dàng đầy thiên tính nữ làm phương
tiện bộc cái tôi trữ tình. Tuy nhiên, với những “ung thư tại chỗ những
biểu mô yêu thương quá khứ chùng như di căn sắp sửa/ oằn lưng quang gánh lủ khủ
những khóc cười xưa cũ” (2, tr.15); “nuốt không trôi hệt như đang
dùng cao ngựa”; “lồng lộng vết dau/ chồng chất lên nhau” (2, tr.21)… tạo
ra nhiều góc cạnh cho thơ. Từ đó, Huyễn hoặc ngày em, cho thấy nhà
thơ cũng đã sử dụng những ngôn ngữ phá cách và táo bạo, tạo nên sức nặng, nghĩa
mờ cũng như tính hàm ngôn cho thơ. Với việc dùng ngôn ngữ táo bạo,
mạnh mẽ, đây cũng là một cách để Trần Nhã My giải thoát cho cái
tôi cá nhân hướng đến cái ta phổ quát, nhằm “nâng tâm sự một con người”
(Hữu Thỉnh) với ý thức phái tính của mình.
Từ những đặc trưng nghệ thuật thơ trong Huyễn hoặc
ngày em trên một số phương diện: Hệ thống biểu tượng, thể thơ, giọng
điệu; cũng như những biểu hiện về ý thức phái tính, ta có thể thấy Trần
Nhã My đã “đào sâu hơn về cõi người, cõi đời” (Phong Lê) để hướng đến hệ quy
chiếu đẫm đầy giá trị nhân văn, “góp phần cải tạo thế giới bằng
thơ” (Huy Cận). Huyễn hoặc ngày em đã góp phần tạo ra một diện mạo
mới cho thơ ca nữ đương đại Nam bộ giàu sắc điệu và
đa thanh hơn. Và Huyễn hoặc ngày em, với tôi giống như một
trái thơm, đầu đội vương miên, với dáng đứng hiên ngang. Dù nó
có dáng vẻ bên ngoài gai góc, nhưng ẩn chứa bên trong những dư vị ngọt
ngào và đầy huyễn hoặc, ru ca.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Lâm Điền – Trần Văn Minh, Chuyên đề Đổi mới văn học
Việt Nam sau 1975, ĐH Cần Thơ.
2. Trần Nhã My, Huyễn hoặc ngày em, Nxb Hội Nhà văn,
2017.
3. Bùi Công Hùng, Sự cách tân của thơ văn Việt Nam hiện đại,
Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội, 2008.
4. Trần Đình Sử, Lý luận và phê bình văn hoc, Nxb Giáo dục,
2008.
5. https://vanhien.vn/.
4/5/2021
Cao Minh Tèo
Theo https://vanvn.vn/
Thơ La Quốc Tiến - Một cú sốc liệu pháp cần thiết!
Thơ La Quốc Tiến - Một
cú sốc liệu pháp cần thiết!
La Quốc Tiến quê ở Hậu Nghĩa tỉnh Long An, từng là
sinh viên Đại học Vạn Hạnh. Năm 1972 mùa hè đỏ lửa, anh bị động viên khóa 4/42
tại Đồng Đế, sau về Mỹ Tho lấy vợ và từ mảnh đất nầy anh chí thú làm ăn, viết
văn, làm thơ.
Thử hình dung một ngày của La Quốc Tiến: “Sáng, Tiến chở
vợ ra bến xe cổng thị xã bằng chiếc Honda dame cũ mèm. Vợ Tiến là cô giáo, nghỉ
dạy học, bỏ bánh kẹo từ Mỹ Tho lên miệt Cai Lậy. Xong, trở về, ghé quán Ba Thượng,
chơi với tôi. Ba giờ chiều, chạy ù về nhà nấu cơm, rồi ra bến xe rước vợ. Hai vợ
chồng cơm chung hủ hỉ” (Nhớ La Quốc Tiến – Đoàn Xuân Thu).
Em Út Sáu Phượng nói với con gái: “Bác Hai Tiến xem như
là cha của ba đó. Ông mang đôi boots, áo đóng thùng oai phong lắm, nón đội lệch
và trong cái túi hộp ngay đùi lúc nào cũng có một tập thơ!”
La Quốc Tiến từng đoạt Giải nhì Cuộc thi Thơ của Báo Văn Nghệ
năm 1991 và Giải nhất Cuộc thi Thơ Đồng bằng sông Cửu Long năm 2000 với chùm
thơ (Mùa nước nổi, Trên một góc phố cổ Gò Công, Nợ bút nghiên). Anh
viết văn, làm thơ đăng rải rác các báo, tạp chí, nhưng không lưu trữ. Cô em gái
của La Quốc Tiến, là La Thị Hương Xuân cho biết: “Từ những bản thảo viết
tay và nhiều nguồn sưu tầm khác nhau, tuy gặp khó khăn nhưng chúng tôi biên soạn
lại. Một vài câu chữ không chính xác hoàn toàn (vì bút tích bị mờ theo thời
gian). Và sau nhiều năm, chúng tôi vui mừng vì có thể tập hợp lại một cách trọn
vẹn nhất những gì mà anh trong “cuộc thăng trầm”, tung hoành ngang dọc 55 năm để
lại cho người yêu thơ. Dưới ngòi bút bình dị, đời thường, rất miền Tây có đôi
phần ngông nghênh. Hãy lắng lòng và cảm nhận chiều sâu về tâm hồn cùng với sự
“đời” đã làm nên hồn thơ anh luôn sống mãi trong lòng chúng tôi. Đã 17 năm anh
La Quốc Tiến rời cõi tạm (2004 – 2021), chúng tôi sưu tầm và cho ra đời tập thơ
nầy – cũng là ước nguyện sinh thời của anh và những hoài niệm của gia đình về
anh”.
Trước năm 1975 anh có làm thơ, những dòng thơ tuổi ngọc, thơ
mộng: Bây giờ đã cuối năm / Viết dài dòng gửi nhỏ / Xin em làm cơn gió / Thổi đời
ta… lạnh tanh . (Bài cuối năm gửi nhỏ).
Anh làm nhiều thể loại thơ 5 chữ, lục bát, thơ văn xuôi nhưng
để lại ấn tượng mạnh, sâu sắc nhất là các bài thơ tự do. Ở đây anh bộc lộ được
giọng thơ hào sãng, đầy chất nhân sinh, phóng khoáng của dân sông nước miền Tây
Nam bộ. Tiêu biểu là bài thơ Lục Vân Tiên thọ nạn giữa rừng, đăng trên Báo
Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) gây dư luận văn chương sôi nổi một thời, nhà
văn Nguyễn Đức Thọ từng gọi La Quốc Tiến là Lục Vân Tiên… phà Rạch Miễu.
Có một lão già mù ăn xin ngân nga các đoạn Lục Vân Tiên
trên những chuyến phà ngang Rạch Miễu
Có một gã thanh niên say rượu ghếch chân lên thành lan can đứng tiểu
Có cô con gái móc bóp lấy chiếc gương soi và tô lại mặt mình
Cùng lúc lão già mù bắt đầu ngân nga
“Trước đèn xem truyện Tây Minh…”
Có đứa bé gái mải mê với chiếc chong chóng giấy màu sặc sỡ
Có một bà già thọt chân gánh bó củi dừa ngồi than thở chuyện củi nặng… đường lầy…
gạo đắt
Có gã trung niên vận jean ngồi nhóp nhép kẹo cao su
Có những chị bạn hàng thản nhiên bóc vỏ những trái chuối
nhét vào cổ chú gà tơ đến nỗi trợn trừng
Không có ai
cam đoan là không ai hay tin
“Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng”
để tỏ chút âu lo cho con người trung nghĩa
Tôi móc gói thuốc ra
tôi hút
điếu thuốc đen tắt ngóm nửa chừng
mẹ nó! Thuốc dỏm
Phà vẫn chạy
máy vẫn nổ
sóng vẫn vỗ
tôi dựa vào ghế ngủ gà ngủ gật
khi giật mình mở mắt
lại nghe:
“Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng”
Đây là đoạn phim chiếu chậm, lập lại nhiều lần, gây ấn tượng
thảng thốt về sự vô cảm của mọi người trước cuộc sống.
Rừng ở đâu mà dày thế nhỉ?
trên chuyến phà tôi đi
dường như cũng có một khóm rừng
mà những cái cây sao mà trơ trọi
những cái cây đã phai mất hơi rừng
Phà vẫn chạy khàn giọng
lão già mù vẫn ngân nga
gã thanh niên say rượu vẫn càm ràm điều gì như là oan ức
cô gái vẫn tiếp tục soi gương
như cố khám phá một điều gì đang lẩn trốn trên khuôn mặt
đứa bé gái đã ngủ
chiếc chong chóng vẫn xoay
bà già thọt chân vẫn ngồi than thở
gã trung niên vẫn làu bàu với kẹo cao su
những con gà tơ vẫn ngủ gà ngủ gật
sau khi nuốt xong bữa tiệc chiêu đãi cuối cùng…
Và lời cảnh tỉnh thật đau đớn:
Không có ai
cam đoan là không ai hay tin
“Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng”
Thơ La Quốc Tiến có tứ lạ, dồn nén vào các câu cuối bài làm người đọc bàng
hoàng:
Hú ba hồn
bảy vía Nguyễn Chi ơi!
Hú khan khan như nhấp rượu không mồi!
(Hú khan khan…!)
Người đều bảo: “Hãy để ta tự tay mài mực
Các con múc cho thầy gáo nước
Ta cần rửa và lau mặt
Trước khi soi vào nghiên gương mặt của mình”
Cụ Đồ gọi đó là chút nợ bút nghiên
(Nợ bút nghiên)
Có nhiều câu chuyện văn nghệ lan man về La Quốc Tiến được anh
em kể vui bên các cuộc nhậu, bàn cà phê. Anh thường qua Bến Tre lấy kẹo dừa ở
các lò về cho vợ bỏ mối, ghé nhà Trang Thế Hy, mải mê bàn chuyện thơ, anh huyên
thuyên độc chiếm “diễn đàn”, nhà văn đàn anh bèn đưa tẩu thuốc vố cho anh hút.
Một cách cắt ngang thật gọn, nhẹ nhàng. “Hai nhà thơ lính tăng hai bên gặp nhau
sau cuộc chiến” Hữu Thỉnh – La Quốc Tiến trong một tiệc nhậu ở Bến
Tre mới nhìn ra nhau, lúc trước từng đối đầu trên một chiến trường khốc liệt.
Có lần điểm sách tập thơ “Truông gió” của tôi trên báo Ấp Bắc, anh chê lục bát
của tập thơ quá xoàng. Bẵng đi thời gian 6 tháng, anh nghe bài nhạc Trương
Quang Tuyến phổ hai câu lục bát “Tôi về mỏi cánh chuồn chuồn / Vô tình chạm
phải mùi hương năm nào”. Anh vội vàng đi xe đò lên Sài Gòn tìm tôi “nhậu một
trận đã đời” và xin lỗi vì nhận xét vội vàng. La Quốc Tiến thế đấy, thẳng thắn,
trung thực, ngang tàng, hết lòng sống chết với thơ!
Nhà thơ Octavio Paz viết: “Giữa điều tôi nhìn thấy và điều
tôi nói ra / Giữa điều tôi nói ra và điều tôi lặng thinh / Giữa điều tôi lặng
thinh và điều tôi mơ mộng / Giữa điều tôi mơ mộng và điều tôi quên lãng: / Là
thơ”. Điều nầy rơi đúng vào trường hợp thơ La Quốc Tiến, anh có nhiều bài
chạm đúng mạch đời sống làm cho người đọc rúng động:
Tôi về Gò Công
Ngày vừa xiêu xiêu khu phố cổ
Chiều đã mốc meo mái ngói âm dương
Dây leo nở hoa ngó xuống
sân đình
Tôi soi bóng thấy mặt mình oan khuất
Chợt nghi ngờ cả hồ nước trong xanh
Có phải tôi mang niềm lưu tán
ngậm mồm con hổ đá
vẫn phục trước đền chờ ngoạm phiến trăng non.
(Gò Công và tôi)
Và bài thơ tặng riêng cho con gái La Thảo Nguyên thật cảm động:
Khi con ra đời,
Dù nhà chật chội
Ba vẫn căng thêm một sợi dây,
Phơi riêng cho con những áo, khăn, tã lót
Ba gọi đó là: Dây phơi hạnh phúc
Vì hạnh phúc thường mau cũ lắm con ơi!
Ba căng sợi dây
Như thảo thông điệp đến mọi người
Rằng có thêm một sự sống đang căng ra mà sống
Ba không hiểu lúc ba mẹ ra đời
Ông bà có căng cho sợi dây hạnh phúc
Và sợi dây mong manh kia
Vẫn còn hay đã đứt
Nhưng sự sống luôn tiếp nối
Nên bây giờ…
Ba một đầu – mẹ một đầu
Căng lại sợi dây hạnh phúc cho con.
(Sợi dây hạnh phúc)
Thật bất ngờ khi anh khái quát: “Làm thơ chân chính giống
như biết đặt cái lu sâu trong lòng đất / Biết âm cái lòng mình sâu trong nỗi
đau khổ của nhân dân” (Làm thơ và hứng nước).
Bạn sống như thế này, được bảo bọc, trong một thế giới mong
manh, và bạn tưởng rằng bạn đang sống… Và rồi bạn phát hiện ra rằng bạn không
thật sự đang sống, bạn chỉ đang ngủ đông…Đơn điệu, buồn chán, chết chóc. Hàng
triệu triệu người sống như thế (hoặc chết như thế) mà không hề hay biết. Họ làm
việc trong các văn phòng. Họ lái xe hơi. Họ đi dã ngoại với gia đình. Họ nuôi dạy
con cái. Rồi một liệu pháp sốc xảy ra, một con người, một quyển sách, một bài
hát, và nó thức tỉnh họ và cứu họ khỏi sự chết. (Anaïs Nin, The Diary of
Anaïs Nin).
La Quốc Tiến, mất ở tuổi 55, vì bệnh ung thư gan, lúc sức
sáng tạo đang độ sung sức. Đọc lại tập di cảo thơ của La Quốc Tiến, đúng là một
cú sốc liệu pháp cần thiết, giúp mọi người nhận ra mình và yêu thương cuộc sống
hơn bất cứ lúc nào khác.
4/5/2021
Trần Hữu Dũng
Theo https://vanvn.vn/
Đi tìm miền xanh thẳm
Đi tìm miền xanh thẳm
Tọa đàm tưởng nhớ nhà văn Trần Hoài Dương (1943-2011)
sẽ diễn ra sáng 6.5.2021 tại trụ sở Hội Nhà văn TPHCM ở tầng 4 số 81 Trần Quốc
Thảo, Q.3, TPHCM. Từ Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn
Việt Nam đã gửi vào tham luận Đi tìm miền xanh thẳm viết về nhà văn
đàn anh quá cố Trần Hoài Dương. Chúc tọa đàm thành công và xin trân trọng giới
thiệu bài viết cùng bạn đọc…
“Tuổi ấu thơ đã xa rồi, không bao giờ tôi còn được hưởng lại
những ngày thần tiên ấy nữa. Những ngày ấy cứ xa vời, xanh thẳm, hun hút bay về
phương trời phía sau, tôi cố ngoái lại, cố nằm bắt mà không sao níu giữ được’’.
Đấy là những lời tự sự của nhà văn Trần Hoài Dương. Đó là sự
tiếc nuối. Trong sự tiếc nuối đó lại tràn ngập vẻ đẹp diệu kỳ của ấu thơ. Nhưng
ngay lúc đó, trước mắt tôi hiện lên một con đường, một con đường kỳ lạ. Và trên
con đường ấy, tôi thấy nhà văn Trần Hoài Dương trở về với tuổi ấu thơ của mình.
Sau mỗi bước chân trên con đường đó, ông già Trần Hoài Dương mỗi lúc một trẻ lại
và biến thành cậu bé Trần Hoài Dương. Cậu trở về ‘’Miền xanh thẳm’’ của cậu. Cậu
đã run lên vì hạnh phúc. Tôi tin là như vậy. Bởi lúc này, lòng tôi cũng đang
ngân vang về một miền của tôi mà Miền Xanh Thẳm của nhà văn Trần Hoài Dương
chính là đã nguồn cảm hứng dẫn tôi trở về nơi chốn của chính mình.
Sau khi đọc xong “Miền xanh thẳm” lần thứ hai (lần thứ nhất
tôi đọc cách đây gần 20 năm), tôi càng nhìn rõ hơn cái MIỀN ấy của nhà văn Trần
Hoài Dương. Nó nằm ở đâu? Nó nằm trong tấm bản đồ tâm hồn ông. Tác phẩm “Miền
xanh thẳm” ra đời hơn 20 năm trước. Và trong hơn 20 năm qua, biết bao thay đổi
mà tôi cũng không tưởng tượng được đã diễn ra trong đời sống con người trên xứ
sở này. Có rất nhiều điều của 20 năm trước đã biến mất khỏi đời sống con người.
Và bây giờ, cho dù nó xuất hiện trở lại nó cũng đầy nguy cơ trở thành một thứ
xa lạ và vô cảm với con người đương thời. Nhưng một điều kỳ lạ xuất hiện, đó là
khi cái MIỀN của nhà văn Trần Hoài Dương hiện ra, ngay lập tức nó trở thành giấc
mơ da diết và ngập tràn xúc động đối với tôi và tôi tin đối với rất nhiều người
đang sống. Bởi trong cái MIỀN ấy chứa đựng nhân tính, tình yêu thương, lòng biết
ơn, những vẻ đẹp thiên nhiên kỳ lạ và giấc mơ làm người. Mà những vẻ đẹp ấy quả
thực đang từng ngày rời bỏ đời sống mà quá nhiều người không nhận ra. Họ chỉ nhận
ra sự trống rỗng đang chiếm đoạt từng phần tâm hồn họ. Và họ sống trong một câu
hỏi : sao đời sống vật chất mỗi ngày một đầy đủ mà họ vẫn không có khả năng chạm
vào hạnh phúc. Câu trả lời thật đơn giản: là họ không tìm được cái MIỀN của họ.
Toàn bộ “Miền xanh thẳm” là những năm tháng ấu thơ mà nhà văn
Trần Hoài Dương đã sống. Nhân vật Thiện chính là cậu bé Trần Hoài Dương thuở ấu
thơ. Cho dù không hoàn toàn chính xác như vậy thì cậu bé mang tên Thiện là nơi
chứa đựng toàn bộ ký ức của Trần Hoài Dương. Ông kể lại những năm tháng ấu thơ
của mình. Mà hơn cả sự kể là ông thực sự sống lại một lần nữa phần đời sống
quan trọng nhất cuộc đời mà ông đã sống và đã đi qua. Tất cả những gì ông viết
không có một chút gì được cường điệu hóa. Tất cả hiện lên nguyên khối đời sống
tươi ròng của những năm tháng ông đã sống. Văn chương của ông chân thực, da diết
mà bình thản giống một người ngồi xuống và kể lại những gì đã và đang chảy
trong huyết quản của ông. Sự chân thực ấy được dâng lên từ một tâm hồn thánh
thiện và đầy rung vang. Bởi thế, mọi điều bình thường nhà văn Trần Hoài Dương đặt
bút viết đều được thiêng liêng hóa. Bởi thế mà “Miền xanh thẳm” của ông được dựng
lên và không có một cái tên nào khác đúng với bản chất của câu chuyện này hơn
nó. Tôi là kẻ sinh sau ông nhưng cũng may mắn được sống một phần những năm
tháng mà nhà văn Trần Hoài Dương sống. Bởi thế, khi đọc tác phẩm này, tôi đã được
chính nhà văn dẫn tôi trở về ấu thơ của mình bằng một con đường kỳ lạ. Tôi đã
tìm thấy cậu bé mang tên Thiều ở đó với toàn bộ những năm tháng cậu bé ấy sống.
Khi một trái tim của tình yêu thương và đầy giấc mơ đẹp đẽ
rung lên, nó sẽ làm cho tất cả mọi cảnh vật, mọi con người, mọi câu chuyện
quanh đó cũng ngân lên kỳ diệu. Trái tim của nhà văn Trần Hoài Dương là vậy.
Ông đã làm cho đời sống những năm tháng ấy của đất nước đầy khó khăn, gian khổ
ngân vang. Những năm tháng ấu thơ của nhà văn Trần Hoài Dương là những năm
tháng vô cùng khó khăn của đất nước. Những đứa trẻ sống trong một điều kiện sống
vô cùng thiếu thốn, chúng phải xa nhà, phải lao động vất vả, phải sống trong
đói rét. Nhưng giấc mơ của chúng thật lộng lẫy. Và đấy là con đường mà mỗi con
người phải tìm thấy để đời sống của kiếp người có ý nghĩa. Những giấc mơ
của cậu bé Thiện và những cô cậu bé thuở ấy làm cho không ít những cô cậu ngày
nay và cả những người lớn đương thời cảm thấy xấu hổ. Họ đã sống trong những điều
kiện sống mà cậu bé Thiện thuở trước có trí tưởng tượng đến đâu cũng không hình
dung được. Nhưng họ chẳng làm sao tìm được một giấc mơ đẹp đẽ, họ chẳng tìm thấy
được một ‘’miền xanh thẳm’’ của họ.
Một điều vô cùng đặc biệt là, nhà văn Trần Hoài Dương thường
xử dụng những đoạn văn của những nhà văn lớn để nói về khát vọng và lý tưởng sống
của những đứa trẻ.
– Vào đời, vào đời để hiến cho đời tất cả những gì tốt đẹp và
nhân đạo của tâm hồn, trí óc ta
– Dòng suối đổ vào sông. Con sông đổ ra dải trường giang
Vonga. Con sông Vonga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở
nên lòng yêu Tổ quốc…
– Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh. Lúc đó thép trở nên
cứng rắn và không hề biết sợ
Những năm tháng đó, sách thực sự là niềm cảm hứng vô tận cho
hành động sống của con người. Những cuốn sách ông nhắc tới trong câu chuyện là
những cuốn sách mà thế hệ ông hay thế hệ tôi sau này đều đọc và đều đắm mê. Những
cuốn sách thực sự thay đổi con người. Những nhân vật từ trong các cuốn sách bước
ra và hòa vào đời sống tinh thần của cậu bé Trần Hoài Dương, cậu bé Nguyễn
Quang Thiều và bao cậu bé khác trên xứ sở này. Điều này, cho dù nhà văn Trần
Hoài Dương viết cách đây hơn 20 năm nhưng lại đang là một nhu cầu lớn để tạo dựng
con người hôm nay. Chúng ta đang bắt đầu phục dựng văn hóa đọc cho cộng đồng.
Quá nhiều những đứa trẻ thời nay đã rời xa những cuốn sách như thế. Chúng đang
rời xa những vẻ đẹp trong sáng và lớn lao. Chúng sẽ tìm ra con đường của cuộc đời
chúng như thế nào. Nhà văn Trần Hoài Dương không có ý định dự báo. Nhưng khi
ông đã nhìn thấu bản chất của đời sống và văn hóa thì những gì ông viết ra sẽ
trở thành chân lý.
Trong “Miền xanh thẳm”, có bốn yếu tố quan trọng nhất làm nên
nhân tính được theo đuổi trong toàn bộ tác phẩm. Đó là gia đình với người sống,
người mất, là xã hội, là thiên nhiên và là văn hóa (thông qua những cuốn sách
và những câu chuyện hành xử của con người). Những yếu tố quan trọng nhất ấy đã
làm cho những đứa trẻ lớn lên trở thành người tử tế. Những đoạn văn ông viết về
những người thân yêu đặc biệt là người mẹ đã mất đẹp và xúc động đến nhường
nào. Người mẹ luôn hiện lên trong mọi vui buồn của ông. Người mẹ hiện lên nhân
hậu, yêu thương và lặng lẽ chỉ qua những câu văn giản dị đến nhói lòng. Ông nói
về người mẹ đã khuất của mình nhưng lại làm cho tôi và chắc chắn nhiều người
khác nhớ về mẹ mình da diết.
Nhà văn Trần Hoài Dương rất giỏi khi tạo dựng nhân vật. Khi
viết về ông Thơ, một nạn nhân của cải cách ruộng đất, ông chỉ dùng một chi tiết
nhỏ nhưng lại dựng lên một bi kích lớn của lịch sử : ‘’ Tôi cứ quanh quẩn
hết đứng lại ngồi bên cạnh mộ mẹ tôi suốt từ trưa tới gần tối mới dám lẻn đến
thăm ông vì sợ người làng trông thấy. Có người ở xa đến, làng xóm biết sẽ phiền
cho ông bà. Vừa trông thấy tôi, ông ôm chầm ngay lấy rồi cứ thế lặng lẽ khóc
không ra tiếng. Ông thì thảo hỏi tôi: ‘’Cháu đến đây có ai thấy không ?’’, tôi
nói không, ông vẫn chưa yên tâm, lom khom bước ra ngoài sợ hãi nhìn bao quát khắp
lượt’’. Cả một quá khứ kinh hoàng đè nặng lên một thân phận như ông Thơ. Một nỗi
sợ hãi bủa vây cuộc đời một con người như không còn lối thoát nào cho con người
ấy. Nỗi kinh hoàng càng ghê gớm thì sự ám ảnh của nó càng kéo dài có khi hết cả
đời một con người.
Hơn 20 năm kể từ ngày “Miền xanh thẳm” ra đời. Đời sống đã
hoàn toàn thay đổi. Chẳng còn mấy những đứa trẻ phải sống trong đói rét như cậu
bé Thiện. Nhưng vẻ đẹp của đời sống thì không bao giờ thay đổi. Ước mơ làm một
người tử tế để dâng hiến cho con người, cho dân tộc không bao giờ thanh đổi.
Con đường đi tới hạnh phúc thực sự cũng không không thay đổi. Tất cả vẫn còn
nguyên vẹn trong Miền Xanh Thẳm. Và đấy chính là điều tôi xin được nói lời biết
ơn nhà văn Trần Hoài Dương, người đã dựng lên một MIỀN cho rất nhiều người đang
sống. “Miền xanh thẳm” của Trần Hoài Dương chính là biển chỉ dẫn cho con người
đi tìm Miền Xanh Thẳm của chính mình.
Hà Đông, 3/5/2021
Nguyễn Quang Thiều
Theo https://vanvn.vn/
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
Gợi mở một triết học Phồn Sinh
Gợi mở một triết học Phồn Sinh Trường ca Phồn Sinh của nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu được nhà xuất bản Hội nhà văn in năm 2018, đến nay đã có ...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...


.gif)