Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

Đọc bài thơ Con chào mào của Mai Văn Phấn từ góc nhìn sinh thái

Đọc bài thơ Con chào mào của
Mai Văn Phấn từ góc nhìn sinh thái

Tôi đang sống ở tầng 18 một căn chung cư giữa lòng thành phố, nơi mà mỗi ngày nhìn ra chỉ thấy hàng trăm cái cửa sổ giống hệt nhau như trăm con mắt rỗng mở vào không gian. Ở đó, bầu trời rất gần nhưng không hề sống động. Mây cũng rất gần nhưng giống những vết sẹo chi chít trên nền trời. Ở đó, mỗi ngày tôi thấm thía hơn những tổn thương mà con người phải chịu đựng khi xa cách với thiên nhiên. Những tổn thương ấy càng rõ khi tôi đọc bài thơ Con chào mào của Mai Văn Phấn.

Con chào mào đốm trắng mũ đỏ

Hót trên cây cao chót vót

triu...uýt...huýt...tu hìu...

Tôi vội vẽ chiếc lồng trong ý nghĩ

Sợ chim bay đi

Vừa vẽ xong nó cất cánh

Tôi ôm khung nắng, khung gió

Nhành cây xanh hối hả đuổi theo

Trong vô tăm tích tôi nghĩ

Lát nữa chào mào sẽ mổ những con sâu

Trái cây chín đỏ

Từng giọt nước

Thanh sạch của tôi.

triu...uýt...huýt...tu hìu...

Chẳng cần chim lại bay về

Tiếng hót ấy giờ tôi nghe rất rõ.

Bài thơ gồm 16 dòng, không có từ chỉ cảm xúc, không có tính từ (những yếu tố tạo chất trữ tình thường thấy trong thơ). Bài thơ không vần nên cũng không có âm hưởng dìu dặt quen thuộc. Nhạc tính của tác phẩm được tạo nên bởi các từ láy (chót vót, hối hả); phép điệp (khung nắng, khung gió, tiếng hót) và cấu trúc vòng tròn (sự xuất hiện của tiếng hót đầu và cuối bài thơ). Trong quan hệ với cấu trúc tổng thể, câu thơ, đoạn thơ, các thanh điệu được sử dụng hết sức linh hoạt, tự do:

Vừa vẽ xong nó cất cánh

Tôi ôm khung nắng, khung gió

Nhành cây xanh hối hả đuổi theo

Xét về cú pháp, ở đoạn trên, dòng thơ đầu là một câu. Hai dòng còn lại là một câu khác, khi đọc phải liền mạch. Tiếng cuối của hai dòng đầu là thanh trắc, tiếng cuối dòng thứ ba là thanh bằng. Cách hòa thanh tạo nhịp thơ ban đầu nhanh, gấp, hối hả, sau đó giãn ra, kéo dài thanh thoát phù hợp với mạch cảm xúc trong bài.

 Con chào mào là một bài thơ giản dị, nhưng giấu kín trong đó cả một thế giới đa tầng, đa âm, gợi ra những điều buộc người đọc phải suy ngẫm.

Tầng thứ nhất, bài thơ là câu chuyện dung dị của nhân vật Tôi với hành trình nhận thức về mối quan hệ với tự nhiên. Bài thơ mở đầu với hình ảnh con chào mào xinh đẹp “đốm trắng mũ đỏ”, với tiếng hót lảnh lót rộn rã, trong một không gian khoáng đạt, rộng rãi “trên cây cao chót vót”. Hình ảnh con chào mào “đốm trắng mũ đỏ” như một ám ảnh chủ quan, không hề nệ thực. Đây là điều khá thú vị trong sáng tạo thơ, sẽ khó cắt nghĩa nếu chỉ nhăm nhăm tìm kiếm hình ảnh bên ngoài để đối chiếu. Nó như một tín hiệu màu sắc vụt ra trong sâu thẳm tâm thức nhà thơ, gợi dẫn về một cái gì mơ hồ, trừu tượng, nhưng rất có ý nghĩa, trước hết với chính chủ thể trữ tình. Trong thơ, không hiếm những “điểm sáng thẩm mĩ” như thế, thách thức cái gọi là sự tương thích giữa hình ảnh thơ với cái thực ngoài đời. “Nụ tầm xuân” vẫn cứ nở “xanh biếc” trong ca dao, mặc cho trên cành tầm xuân, hoa vẫn tươi hồng; màu thời gian trong thơ Đoàn Phú Tứ vẫn “tím ngát” như tự thuở nào, mặc cho từ trước đến nay chưa một ai nhìn ra cái màu ấy; mặt trời trong câu thơ Huy Cận ở bài Đoàn thuyền đánh cá vẫn cứ điềm nhiên “xuống biển như hòn lửa” dù thực tế, ngư dân vùng biển Bắc Bộ chỉ có thể nhìn thấy “mặt trời đội biển nhô màu mới”… Trong tương quan đó của thơ, hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” đâu còn là cái gì “quái đản”. Hà Minh Đức gọi những hiện tượng này là “yếu tố phi lí tính trong thơ”. Như vậy, khác với cái lôgic thông thường của tri nhận, nhà thơ rộng đường trong việc dùng chất liệu phi lí tính để đạt đến tính tượng trưng của ngôn từ, hình ảnh thơ.

Bức tranh thiên nhiên hiện ra hài hòa, sống động, một tạo tác tuyệt mĩ của tự nhiên. Vẻ đẹp ấy làm dậy lên một chuỗi những cảm xúc từ ngưỡng mộ, mê say đến khao khát chiếm hữu.

Tôi vội vẽ chiếc lồng trong ý nghĩ

Sợ chim bay đi

Nhưng thiên nhiên không chiều theo ham muốn của con người

Vừa vẽ xong nó cất cánh

Tôi ôm khung nắng, khung gió

Nhành cây xanh hối hả đuổi theo

Có một dòng chảy gấp gáp, mạnh mẽ của cảm xúc và ý nghĩ đang chi phối toàn bộ tâm trí nhân vật trữ tình. Ham muốn chiếm hữu khiến con người làm tất cả để đạt mục đích. Nhân vật tôi ôm cả khung nắng, khung gió, cả nhành cây xanh đuổi theo con chim, hòng lấy không gian trong trẻo, tươi tắn thu hút nó. Cuộc theo đuổi dụ dỗ diễn ra trong tâm tưởng mà sức mạnh của khao khát tưởng như xô đổ cả câu chữ.

Xin được dừng ở đây để nhìn bài thơ từ mạng lưới chằng chịt của văn hóa Á Đông, nơi ý thức tôn vinh tự nhiên là một diễn ngôn tiêu biểu. Văn học Việt Nam cũng ghi nhận những ước lệ cố định về mối quan hệ hài hòa của con người với môi trường sinh thái. Đó là một quan hệ lí tưởng, thể hiện sự gắn bó sâu sắc của con người với thế giới tự nhiên. Nhưng oái oăm thay đằng sau đó là nỗi sợ sinh thái. Bởi nỗi sợ ấy mà con người luôn muốn chiếm đoạt, kiểm soát, chế ngự thiên nhiên. Sâu phía dưới lòng yêu chuộng, con người hiểu rõ sức mạnh của tự nhiên. Từ góc nhìn này, bài thơ Con chào mào đứng ở tâm điểm văn hóa khu vực. Nó cho thấy chính xác tâm lí phổ biến của con người Á Đông sau những biểu hiện của một ham mê tưởng như vô hại. Thấy được điều đó mới nhận ra ý tưởng nào chi phối phần tiếp theo của bài thơ.

Trong vô tăm tích tôi nghĩ

Lát nữa chào mào sẽ mổ những con sâu

Trái cây chín đỏ

Từng giọt nước

Thanh sạch của tôi.

Đoạn thơ trên thực sự không dễ đọc. Ngôn từ thơ đạt đến độ hàm súc nên thơ mở nghĩa ra nhiều hướng, như những vòng sóng vừa biệt lập vừa giao thoa.

Nếu nhìn từ logic tâm lí thông thường, đoạn thơ cho thấy con người không dễ buông bỏ ham muốn. Dù biết không giữ được con chào mào cho riêng mình, nhân vật trữ tình vẫn nuôi hi vọng. Người ấy vẫn mong con chim xinh đẹp đón nhận những trái cây chín đỏ, những giọt nước thanh sạch của mình như đón nhận một tấm lòng.

Nếu nhìn từ sự lí tưởng hóa, nhân vật tôi mới vẽ chiếc lồng trong ý nghĩ  đã lập tức ân hận và xấu hổ. Nhận ra sự ích kỉ của mình, nhân vật trữ tình tự vẽ ra một không gian tự nhiên, giàu có, ấm áp như là món quà chuộc lỗi với con chim. Với nhân vật tôi, không gian ấy thanh sạch bởi nó không bị những ý nghĩ ích kỉ hẹp hòi làm vẩn đục.

Đến đây, ta hiểu thế giới tự nhiên (qua hình tượng con chào mào) không phải là đối tượng chính của lời trữ tình. Nhà thơ Mai Văn Phấn đã khẳng định trạng thái hoàn hảo của tự nhiên không phụ thuộc vào ý chí của con người. Điểm hội tụ của bài thơ chính là những cảm xúc, suy tư của con người về sự ràng buộc và cách con người can dự vào tự nhiên. Bởi những ngộ nhận về vị trí, vai trò trung tâm, đồng thời sâu trong tiềm thức là nỗi sợ sinh thái, con người đã lạm dụng quyền lực, muốn nô lệ hóa tự nhiên. Họ quên mất một điều: con người là một phần của tự nhiên, con người không thể sở hữu tự nhiên mà chỉ có thể sống hòa hợp, tương giao cùng vạn vật. Thật kì quặc khi tấn công, chiếm dụng, hủy hoại chính ngôi nhà của mình, chính sinh mạng của mình. Thật vô nghĩa khi đuổi theo chiếm hữu cái đang là chính mình. May mắn thay, bài thơ đã mở ra một thức nhận giản dị mà sâu xa: Con chào mào trong bài thơ cũng như con người, có quyền sống tự do, yên ổn với môi trường của nó. Con người chỉ nên thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên mà không được phép chiếm hữu làm của riêng. Đó mới là ý nghĩa chân thực của sự sống.

Từ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, bài thơ mở ra những tầng rất sâu, rất ấm về mối quan hệ của con người với chính mình. Không có chỗ nào dụng công, nhẹ như lời nói, thanh đạm và hồn hậu, bài thơ là một cách lắng nghe chính mình. Yêu và chiếm hữu hoàn toàn khác nhau. Khi người ta yêu tự nhiên như yêu bản thân, người ta sẽ tự do trong môi trường sinh thái vĩ đại. Nếu chiếm hữu, kẻ bị tổn thương chính là ta. Những tổn thương mà con người gặp phải hầu hết đến từ chính mình, “Kẻ gây rối đích thực nằm bên trong ta” (Dalai Lama). Kết của bài thơ gợi đến một chân lí: không mong cầu sẽ có tất cả. Đến khi nào con người biết rũ bỏ sự tham lam, nhu cầu sở hữu, chiếm đoạt, lúc ấy mọi “châu báu” của đời sống tự nhiên hiển lộ. Con người sẽ biết cách sống một cách hòa hợp với thế giới xung quanh, đắm chìm trong tiếng hót ngân vang của những tạo vật bé nhỏ và xinh đẹp như con chào mào:

triu...uýt...huýt...tu hìu...

Chẳng cần chim lại bay về

Tiếng hót ấy giờ tôi nghe rất rõ.                                                               

Chú thích:

1. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục.

Hà Nội, 25/1/2022

Đinh Thanh Huyền

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Em không thể nói lời từ biệt

"Em không thể nói lời từ biệt"

Sau khi rời Pleiku, cũng lâu lâu rồi, hễ có dịp là Đào Phong Lan lại tìm cách trở về. Tôi vài lần làm tài xế cho Đào Phong Lan lang thang Gia Lai, lên cả Kon Tum, vài lần làm hướng dẫn viên online khi chị muốn đưa bạn bè về Pleiku ngắm dã quỳ. Và mới đây, chị về lại Gia Lai trong tư cách thi sĩ khi trình làng tập thơ “Em không thể nói lời từ biệt” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn).

Thực ra, tên chị, thơ chị vẫn thường được mọi người nhắc đến, nhất là trong những cuộc vui, liên hoan tập thể, khi một ai đó cất lên tiếng hát “Đêm trong veo/nhà rông bập bùng ánh lửa/cô gái Jrai hát câu gì/mà trăng nhô lên”. Mọi người không ai bảo ai đều tay trong tay cùng hòa vào vòng xoang tập thể, có thể ở làng, có khi trên phố, giữa bãi cỏ rộng hay trong phòng nhỏ, có thể ở Gia Lai hoặc một tỉnh, thành nào đấy... Rồi thế nào cũng có người nhắc đến chị, bởi Đào Phong Lan chính là tác giả lời của bài hát “Đêm xoang Tây Nguyên” mà mọi người đang hát.

Tôi từng là người được theo dõi Đào Phong Lan từ những bước chập chững đầu tiên của nghiệp viết. Hồi ấy, chúng tôi thường tổ chức các chuyến đi thực tế, những trại mini cho thiếu nhi, Đào Phong Lan luôn là cái tên đứng thứ tự đầu tiên trong danh sách được mời.

Thuộc típ người hiện đại và cũng còn trẻ, nhưng thơ chị lại rất truyền thống. Sự dịu dàng, mịn màng, sự chuẩn mực câu chữ, sự tuân thủ luật lệ, sự sử dụng hình ảnh, liên tưởng đậm đặc chất Việt truyền thống, đặc biệt là chị viết rất nhiều lục bát và rất nhuyễn: “Bây giờ còn trẻ với ai/Xác xơ xơ xác những nhài cùng ngâu/Trăng tàn một nửa ngõ sau/Dâu non ở cuối vườn dâu đã già/... Ba chiều ngồi dõi trăng lên/Bốn bên thì cả bốn bên gió lùa”.

“Ly khúc Pleiku” là một bài được nhiều người thích ngay từ khi nó vừa được tác giả viết xong, năm 1995, chị cũng thể hiện bằng lục bát, một lục bát biến thể để nói được nhiều hơn, thể hiện tâm trạng rõ hơn: “Trăng ơi/Trăng hãy về đi!/Khuya rồi/Nấn ná làm gì nơi đây!/Đêm xa/ Mái phố vơi đầy/Ừ thì vẫn biết chia tay là buồn/Trăng xa/Sắc phố trầm hơn/Thác không ghềnh nữa/Sóng buồn không reo/Gió thổi hun hút lưng đèo/Ly cà phê uống cả chiều chưa vơi/Tạ từ nhau nhé/Trăng ơi!/Sông còn bên lở bên bồi phù sa/Nắng còn tím nhạt tím nhòa/Đêm còn chống chếnh nữa là cô đơn”...

Hôm nay, tôi đọc lại với một tâm thế khác, nhận ra rằng, bản thân Pleiku ở đây vừa là khách thể vừa là chủ thể, vừa trực tiếp vừa gián tiếp, tác giả giãi bày, tác giả xa xót, tác giả chia sẻ, day dứt để nói về một cuộc chia tay. Chia tay trong day dứt, trong tiếc nuối, trong cả hy vọng. Nó có thể là cuộc chia tay cá nhân và cũng có thể chia tay vùng đất. Đọc xong cứ khắc khoải như mình vừa mất cái gì!

Tập thơ được xuất bản khá công phu, từ cái cách chia 56 bài thơ thành 4 “khúc” cũng là 4 mùa: thu, đông, xuân, hạ, tới các tranh minh họa đen trắng rất ấn tượng. Và độc lạ nữa là, có QR Code để người đọc scan nghe chính tác giả đọc 15 bài thơ của mình. Sực nhớ, Đào Phong Lan là người tài hoa, có thể sáng tác nhạc, ôm đàn hát (chị đã tốt nghiệp Trung cấp Âm nhạc Trường Văn hóa Nghệ thuật Gia Lai), đọc thơ rất truyền cảm.

Đọc hết tập thơ, tôi nhận ra một Đào Phong Lan đa cảm và tinh tế. Thì tinh tế nên phát hiện ra trưng nó như thế này: “Anh bước đi không đành/Vấp vào tiếng đàn/Ngẩn ngơ đứng lại/Nắng óng vàng hoa dại/Cánh ong bỗng ngập ngừng”... Đa cảm nên: “Ta đi cuối đất cùng trời/Chỉ mong gặp gỡ được người tri âm/Lòng xanh biếc một giọt mầm/Tim rền như tiếng phím cầm chiều rung.../Trời chung chiêng/Đất chung chiêng/Ta đi trên đất đổ nghiêng mà về”. Tôi rất thích cái hình ảnh đi trên đất đổ nghiêng mà về ấy. Không nhiều người phát hiện ra điều ấy. Chữ “mà” rất đắt.

Thơ Đào Phong Lan nhiều vu vơ. Nhưng thì ra lại hoàn toàn không vu vơ, nhưng nó cứ nhẹ tênh như vu vơ, kiểu như “Chỉ còn là viên đất/Buồn tênh trên luống cày”. Đất thì có vẻ buồn tênh thế, nhưng người thì trĩu nặng. Nhân tình thế thái gói vào những câu nhẹ tênh “Định mua vé vào nỗi nhớ/Mà thu thì xa rồi”, “Hồn ta mềm như cỏ/chưa gió về đã lay”.

Đào Phong Lan, Nguyễn Thị Hường Lý và một vài bạn nữa là lứa hội viên đầu tiên của Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai-Kon Tum. Ngày ấy vẫn là thiếu niên, các bạn này đã được kết nạp vào hội, cũng đi họp, cũng phát biểu, cũng bỏ phiếu bình đẳng như... người lớn. Và ngày ấy, công tác phát hiện và bồi dưỡng các cây bút trẻ khá chỉn chu, bài bản. Mới đây, tôi ngồi cà phê với nhà thơ Hương Đình, anh nhắc việc tôi từng đặt anh viết bài về tập thơ “Một thời trăng” cho Tạp chí Văn nghệ và giờ anh vẫn còn khen tập ấy. Đó là tập thơ thiếu nhi đầu tiên, và cho tới giờ, hình như cũng là duy nhất của Gia Lai. Hồi ấy, những trại sáng tác văn học riêng cho thiếu nhi thường xuyên được tổ chức, tạo điều kiện cho các bạn trẻ làm quen với văn chương, thỏa mãn với văn chương.

Lứa đầu tiên ấy, giờ Đào Phong Lan và Nguyễn Thị Hường Lý vẫn tiếp tục với văn chương. Nguyễn Thị Hường Lý là biên tập viên phòng sách văn học Nhà xuất bản Kim Đồng, Đào Phong Lan là giám đốc doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh. Và, lần ra sách này là cách Đào Phong Lan chứng minh, văn chương vẫn ám ảnh chị, vẫn khiến chị “không thể nói lời từ biệt”.

“Người xa lạ đi trên phố/Chớp ngang một ánh mắt nhàu/Ta cỏ hoang trên đám cỏ/Rối bời khi gió qua nhau”, tôi rất thích những câu thơ như thế của Đào Phong Lan, nó nhẹ tênh đấy, nhưng trĩu nặng, nhưng níu kéo, nhưng ám ảnh, nó khiến ta cũng phải “khác trước” cả cái nỗi buồn. Với Pleiku, chị ám ảnh thế này khi “Từ biệt”: “Chiều phố núi những hàng cây lặng lẽ/Gió ngừng bay mà mây cũng ngừng trôi”.

Lại nhớ câu thơ nổi tiếng của Chế Lan Viên: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Với Đào Phong Lan, “Em không thể nói lời từ biệt” như là lời nhắn cho một vùng đất, ở đó, chị đã có những ngày đắm say và chập chững và tất nhiên nữa, rất đẹp.

27/10/2023

Văn Công Hùng

Nguồn: Gia Lai Online

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Thi pháp trữ tình triết học lập ngôn trong trường ca Phồn sinh của Nguyễn Linh Khiếu

Thi pháp trữ tình triết học lập ngôn
trong trường ca Phồn sinh của
Nguyễn Linh Khiếu

Văn học phương Tây hiện đại có dạng thơ văn xuôi gọi là trường ca, hay là thơ văn xuôi đều được. Như F. Ra bơ le viết Gargantua và Pantaguel thế kỷ XVI bị nhà thờ quan phương coi là tác phẩm dị giáo, phản đối Giáo hội và Đức tin Cơ đốc giáo hiện hữu. Nên nhớ đây là thời kỳ của Ga li lê, của thần quyền thống trị nhà nước, đức tin và xã hội.

Hay Lời dâng của R. Ta gor gồm 103 khúc thơ văn xuôi đoạt giải Nobel văn học. Thơ ông là tiếng nói của tinh thần dân tộc và dân chủ sâu sắc, của tinh thần nhân văn cao cả và tính chất trữ tình triết lý nồng đượm. Tác phẩm của ông đậm chủ nghĩa tự nhiên và những chiêm nghiệm không tự nhiên, nhất là khi đọc tập Mây và mặt trời thì xếp vào loại truyện thơ văn xuôi cũng được.

Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, thơ nhập cuộc không chỉ “Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ/ Hơn nghìn trang giấy luận văn chương” (Tố Hữu), mà còn “Không có sách chúng tôi làm ra sách/ Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh). Có thể dẫn rất nhiều ở trường ca của Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh những năm chiến tranh, của Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, và cả Thanh Thảo nữa thời hậu chiến tranh, những năm trước và sau Đổi mới 1986, và thời kỳ Đổi mới.

Kể từ năm 2000 trở đi, tình thế và thực tại Việt Nam đã khác trước nhiều. Các nhà thơ có nhiều bối cảnh  để cảm hứng. Có thể cái bi hài của giai đoạn chuyển tiếp đã không còn trọng tâm nữa. Dẫn lời nhà thơ Thanh Thảo: “Những tráng ca thuở trước/ Còn hát trong sách thôi/ Những thanh gươm yên ngựa/ Giờ đã cũ mèm rồi/ Bài ca của chúng tôi/ Là bài ca ống cóng/ Hành trang Quân Giải phóng/ Đơn giản nhất trên đời”.” (bài này viết bắt đầu giai đoạn ba của thơ ca chống Mỹ, khoảng 1972 – 1976, mặc dù kết thúc chiến tranh năm 1975, nhưng do nhiều sáng tác trước 1975 mãi đến năm 1976 mới công bố được!).

Sang giai đoạn đã khác hơn, chuyển đổi nhiều về nội dung, thơ cần phải hướng tới luận thuyết. Nguyến Linh Khiếu hướng chính của mình vào vấn đề này. Ông bắt tay vào viết Phồn Sinh từ năm 2002 đến năm 2014. Tác phẩm được xuất bản vào năm 2018.

Nguyễn Linh Khiếu xuất hiện với tư cách nhà thơ và nhà triết học khoảng cuối thế kỷ 20. Sang đầu thế kỷ 21, ở ông, thơ và triết học đã vững vàng lắm rồi. Vậy nên, khi ông viết Phồn Sinh, ông đã có cho mình một định hướng thi pháp. Ta hãy bắt đầu trong Phồn Sinh để lật tìm thi pháp đó.

Tổng quan của Nguyễn Linh Khiếu trong Phồn Sinh là thi pháp TRỮ TÌNH TRIẾT HỌC LẬP NGÔN! Là nhà thơ và là nhà triết học, ông không thể không sáng tác vừa bằng cảm xúc tình cảm, vừa bằng lý trí thức tuệ. Ông tuyên ngôn cho sự sống ở vùng châu thổ sông Hồng, cái nôi của văn hóa Việt. Nhưng ông không xét đến cái tận cùng hóa học của nó như các nhà triết học tự nhiên. Ông cảm nó vào bộ óc mình để dùng ngôn ngữ trái tim bật ra câu chữ. Câu thơ vì vậy sinh động như một tồn tại kinh nghiệm tự ý thức.

“ta là nhà thơ của thời đại mình.

Thời đại rực rỡ huy hoàng thời đại chói sáng thời đại vinh quang thời đại sáng ngời đạo đức thời đại văn minh thời đại trí tuệ thời đại văn hóa thời đại tân tiến thời đại của những cuộc đảo lộn lật ngược khủng khiếp bãi biển nương dâu thời đại một ngày bằng hai mươi năm thời đại bất minh… thời đại của những cuộc cách mạng long trời lở đất thời đại của những cuộc cách mạng sắc màu thời đại của những cuộc cách mạng nhưng lụa… những từ điển đẫn máu những thi ca đẫm máu những âm nhạc đẫm máu những hội họa đẫm máu… những ngôn ngữ đẫm máu những… đẫm máu… đẫm máu… đẫm máu.”.

Thế là hỗn loạn bắt đầu. Sự hỗn độn ấy là cách đặt vấn đề của tư tưởng. Nguyễn Linh Khiếu tiếp tục tư tưởng Đông phương vẽ lại trong tư duy dồn ra cảm xúc ngôn ngữ bức tranh của thời đại mình. (nhân đây tôi cũng phải nói rằng trường ca này vừa thâm sâu vừa đơn giản. vừa suy ngẫm vừa dễ đọc, tùy đối tượng, tùy lúc…).

Cho nên “ta là triết gia của sự biến đổi

Biến đổi từ con vật thành con người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản từ nến văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp… từ quan hệ vợ chồng sang quan hệ không vợ không chồng… từ quan hệ con người với con người sang quan hệ không phải con người với con người…

Chỉ có ta là nhà thơ của thời kỳ biến đổi tình yêu biến đổi hận thù biến đổi tình thương biến đổi… phồn sinh biến đổi hiếu sát biến đổi… anh hùng biến đổi thi sĩ biến đổi mong manh biến đổi bất hủ biến đổi giây lát biến đổi vĩnh hằng”.

Giờ ta thấy thơ và phồn sinh xuất hiện. Đây là lúc Nguyến Linh Khiếu quyết liệt tận cùng về phương pháp luận, nghĩa là triệt để cực hạn để bắt đầu bước vào thế giới của mình. Ông triết học để dựng một phủ định khái niệm khi ông tuyên bố ta là triết gia…Ông lập ngôn bằng vai trò nhà thơ của thời kỳ biến đổi. Đến đây, ông bắt đầu Hạ Thương Chu bằng Dịch, nhưng không phải từ Hà đồ Lạc thư, có lẽ là Thái cực của tam đoạn luận triết học Hegel. Là tôi đoán vậy thôi, chứ tôi vẫn nghĩ nghệ thuật vị nghệ thuật đạt đến đỉnh cao là nhân sinh. Nghệ thuật vị nhân sinh đạt đến đỉnh cao của nhân sinh là chính trị. Khúc hai và khúc ba của Phồn Sinh đã thể hiện điều đó. Giải quyết những đỉnh cao này thế nào. Ta chuyển sang khúc bốn.

Ta xem ông bắt đầu thế giới của mình như thế nào?

“ngụp lặn và đồng hành trong thời đại mình

Như muôn người ta là một đứa con đích thực

…như muôn người ta là một khuôn mặt một hình hài một chân dung một nhân cách…

chẳng có ai sống ngoài thời đại mình

chẳng thời đại nào tồn tại ngoài những con người đang sống…

những gì của con người đều thuộc về ta

những gì của ta đều thuộc về con người…

khi ta yêu nghĩa là ta đang sống

khi ta ghét nghĩa là ta đang yêu

khi ta ham muốn nghĩa là ta khởi một hành trình…”.

Nguyễn Linh Khiếu mời ta theo ông để ta thấy con người của thực tại. Ông không nói rõ khoảng lịch sử nào, nhưng ông khẳng định đó là thời đại của ông. Ông bơi trong dòng sông thời đại ấy. Còn cái đã qua ông không nhắc lại. Trong tư duy ông vẽ ra thời đại theo ông là thời bây giờ, nhưng ông không chôn nó đi, mà bơi trong nó. Trước hết, như vậy là ông chấp nhận những bi hài, chứ không tiễn đưa cái bi bằng cái hài. Ông dùng tính phản tư lưỡng cực để phản phác quy chân. Ông đẩy hết độ biên của tư tưởng để trở về với:

“ta là vô vàn thế giới

Là hạt bụi lơ lửng trong vắt giữa trời trong

…là giọt nước xao xuyến đầm đìa mái tóc ai óng ả mượt mà

Là tia nắng mặt trời tươi ngời hồng rực nồng nàn sinh khí thấm nhuồn dòng máu đỏ của ai mỗi ban mai tinh khiết…”. Cũng là trở về với cái đẹp của trinh tuyết. Như vậy là Chân của nghệ thuật rồi.

Cái Chân của Phồn Sinh là cái Chân trong tư duy. Tư duy này, nói theo triết học, là cái vật chất được đưa vào trong đầu và cải biến đi trong đó. Cho nên, Nguyễn Linh Khiếu đang nói về thời đại mình, một thời đại hỗn loạn. Từ cái hỗn loạn ấy ngoài hiện thực chuyển thành cái hỗn độn trong tư duy, để mà tư tưởng, Tây Tàu tôi không biết, ở Việt Nam hiện nay, duy nhất chỉ có Nguyễn Linh Khiếu!

Xin được trình bày giọng điệu của Phồn Sinh.

Phồn Sinh là thơ văn xuôi, phảng phất thể phú, cáo. Nhưng mà là phú cáo của Nguyễn Linh Khiếu dù tôi đồ rằng Nguyễn Linh Khiếu thuộc Bạch Đằng Giang Phú và Bình Ngô Đại Cáo từ rất lâu rồi, có khi còn được mẹ và bà ngâm ru ấy chứ. (Quê tôi ở Thái Bình. Bà tôi một chữ cắn làm đôi không biết, nhưng thuộc làu Truyện Kiều, Phạm Tải Ngọc Hoa, Rắn báo oán, hay Đức Thánh Trần,…Bà hay ngâm ru, kể chuyện đêm khuya trong chiếc ổ rơm khi đêm đông giá rét.).

Cái thực của phú, cái hiện của cáo được Nguyễn Linh Khiếu đẩy lên một tư thế mới. Nội dung phú cáo ngày xưa thuộc dạng tụng ca. Giờ trong Phồn Sinh thể hiện ra là các mệnh đề. Nhìn Phồn Sinh tưởng không theo cú pháp hiện tại. Thực ra Phồn Sinh chấm phẩy theo hơi thở. Nó đầy dấu phẩy, dấu chấm, ngắt dòng. Chỉ là Nguyễn Linh Khiếu giản lược hình thức cho cái bên ngoài không hoa mắt. Bạn cứ tưởng tượng trong một khúc thơ dài như thế mà cứ ngắt, cứ viết hoa thì khúc thơ thành ma trận, cho nên tôi bảo đọc thơ Phồn Sinh ta cứ như xem tranh nuy, trực tiếp, đơn giản mà tâm hưởng.

Tôi cho cái liên vần liên ý trong Phồn Sinh có sử dụng Tân hình thức. Nhưng Tân hình thức ở đây là sự phát triển độ rộng của ý và độ dài của tư duy. Tưởng như nhà thơ muốn cái gì cũng ôm vào mình nhưng không phải. Ông muốn tận dụng phép biện chứng của tâm hồn để đẩy cảm xúc lên đỉnh sin. Phồn Sinh không lơ lửng, nửa chừng, hoa trong gương, trăng trong nước. Phồn Sinh phải “Trăm năm tính cuộc vuông tròn/ Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông” (Nguyễn Du). Nguyễn Linh Khiếu, trong chừng mực nào đó, cũng dùng một chút Hậu hiện đại khi ông phủ định và khẳng định lưỡng cực nội dung. Là người đọc rộng biết nhiều Tây Tàu đi khắp, chuyện ảnh hưởng vào bút pháp là lẽ đương nhiên. Vấn đề là các mệnh đề triết học mà Nguyễn Linh Khiếu đưa vào từng câu thơ đều chuẩn và đẹp, “đến từng xăng ti mét”!

Mỹ học trong Phồn Sinh quả thực là bức tranh bài ca sự sống, là thế giới sự sống phồn thực và ảo mộng vùng châu thổ sông Hồng.

“hơn tất cả ta là con trai của châu thổ sông Hồng cồn cào rạo rực giàn dụa phù sa

châu thổ sông Hồng xứ sở quanh năm suốt tháng tưng bừng những mùa động đực…

châu thổ cái nôi của văn minh sông hồ dầm dề ướt át lướt mướt

châu thổ cái nôi của văn minh lúa nước nôn nao sai cành trĩu mẩy

châu thổ cái nôi của sinh sôi nảy nở cương cứng lồ lộ

châu thổ cái nôi của dồi dào chộn rộn xôn xao tưng bừng thống thiết

châu thổ âm vang tinh thần phồn sinh tràn trề chan chứa đầm đìa tràn ngập thấm thía linh thiêng…”.

Dừng một chút để nói về cách tu từ của Phồn Sinh. Thơ là phải tu từ, phải “thôi xao”. Nguyễn Linh Khiếu tung hoành như một vị tướng khi sử dụng đội quân tính từ. Có thể nói các loại tính từ  tràn ngập trong Phồn Sinh làm tràn ngập màu sắc, phẩm chất, tính tình, thuộc tính. Mà dùng rất đắt. Mà đâu vào đấy. Đây cũng là mặt mạnh về mỹ học trong Phồn Sinh.

Nhân vật trong Phồn Sinh là cả một quốc gia Phồn Sinh. Ngoài nhân vật Ta đại diện chủ thể ra, thì cái gì cũng là nhân vật trữ tình. Từ đất đai, sông hồ, biển khơi, bờ bãi cánh đồng , đến cây cối, hoa màu,… đều có hồn, có linh, có tình , có cảm, như người, cá tôm, như vật nuôi, như chim trời, cá nước. trong không gian châu thổ, như:

“thế gian này mỡ màu là giống cái

Thế gian này mỡ màu là mẹ

Thế giới này tuôn chảy dạt dào dòng mẫu hệ linh văn

Mỡ màu dung dưỡng muôn loài sinh sôi nảy nở

Mỡ màu là sự sống

Mỡ màu là tình yêu

Mỡ màu nghĩa là thiên mệnh…”.

Bây giờ ta xem đến một phần rất quan trọng của Phồn Sinh. Đó là các mệnh đề được đưa ra.

Đầu tiên là Tự do (hiếm thấy nhà thơ viết hoa, trừ Sông Hồng, Linh, Tự do và vài từ khác. Linh là kết tinh của tinh thần, của linh hồn và một miền ngoài nào đó, giống cái, là người yêu của nhà thơ, nhưng Linh phải ở sông Hồng, là chủ thể tôn giáo sinh ra từ đất mẹ, đất mẹ Sông Hồng. Chủ ý thật tuyệt!).

“trên xứ sở châu thổ Sông Hồng của ta tinh thần Tự do vô cùng kỳ vĩ

bản chất xứ sở châu tổ Sông Hồng là xứ sở tự do

xứ sở này tự do không gì sánh nổi….

xứ sở này tự do là máu là xương là da là thịt là lông là tóc…là tinh hoàn là buồng trứng là nụ cười là tiếng khóc là mồ hôi là nước mắt

xứ sở này đã ngàn năm tối tăm phương Bắc đô hộ

xứ sở này đã trăm năm nô lệ thực dân phương Tây mắt xanh mũi lõ…

nếu không có một sức sống phi thường

nếu không có một tình yêu vĩ đại

đất nước này đã ngàn lần thay tên đổi chủ

dân tộc này đã ngàn lần bị đồng hóa lai tạo bị diệt chủng…”.

Ở khúc hai và khúc ba là trình bày lý do ra đời của Phồn Sinh. Các đấng sáng tạo ra đời đều từ Hỗn Độn để cứu thế. Trong thế giới Phồn Sinh, Ta (chủ thể đại diện – nhà thơ chính là người sáng tạo!). Từ khúc mười, Phồn Sinh lại là tự sự sử thi. Nhà thơ bám theo chủ đề nhưng lại nêu những lịch sử đã diễn ra ở đất nước Việt Nam. Có thể nói từ đây, Phồn Sinh tựa vào lịch sử để mà trừu tượng, để mà cảm xúc, để mà triết luận.

Mệnh đề thứ hai là Dân chủ. Khúc mười ba.

“trên xứ sở châu thổ Sông Hồng thiêng liêng của ta dạt dào không khí Dân chủ

dân chủ là hồn vía của muôn loài

dân chủ là sức sống của vạn vật

dân chủ là tinh thần của xứ sở…”

Mệnh đề thứ ba là Sự Thật. Khúc thứ mười lăm.

“trên xứ sở châu thổ Sông Hồng của ta không gì cao hơn Sự Thật

Trên xứ sở châu thổ Sông Hồng của ta không có gì sâu hơn sự thật

Trên xứ sở Sông Hồng của ta không có gì rộng lớn hơn sự thật…”

Mệnh đề thứ tư là Giải Phóng. Khúc thứ mười bảy.

“trên xứ sở châu thổ Sông Hồng của ta sục sôi tinh thần Giải Phóng

Giải phóng là bản năng

Giải phóng là lẽ sống…

khi nhà thơ chưa hát được bài ca của mình

nhà thơ đanh bị gông cùm giam cầm trong tù ngục

khi nhà thơ chưa hát được bài ca của mình

cả dân tộc đang rên xiết trong xà lim giam hãm

khi nhà thơ chưa hát được bài ca của mình

cả dân tộc nhẫn nhục quằn quại chờ phút giây vùng lên đồng khởi”.

Đọc đoạn này sao tôi liên tưởng đến Bài ca chim báo bão của Mác xim Gooc ki quá, nhất là nhớ đến câu “Vinh quang thay sự điên cuồng của những người dũng cảm”.

Bắt đầu từ khúc hai hai, nhà thơ trở về khúc một để lý giải ngữ và nghĩa, bắt đầu cuộc dạo chơi trong các khái niệm. Sau đó, nhà thơ phân thân ra mười hai con giáp TÝ SỬU DẦN MÃO THÌN TỴ NGỌ MÙI THÂN DẬU TUẤT HỢI,

Lại hóa thân vào các con vật , con bay trên trời, con trên mặt đất, con ở trong đất, con ở dưới nước, giống đực, giống cái, vv…

Chính trị lớn nhất là cái Thiện. Sự phân thân, hóa thân của nhà thơ trong Phồn Sinh chính là sự khẳng định sự sống, là cái Thiện được Linh hóa, nói cách khác, cái Thiện đối với Nguyễn Linh Khiếu là linh hồn vật hóa cùng tồn tại. Tồn tại, vì vậy là chính trị cao nhất. Sự lý giải ấy chỉ thơ mới có.

Khúc bảy mốt:

“ta là giáo chủ của phồn sinh giáo

tôn giáo cổ xưa nhất trong các tôn giáo

tôn giáo hiện đại nhất trong các tôn giáo…

đó là tôn giáo được đức linh cao cả sáng tạo đầu tiên trước khi sáng tạo vũ trụ

ta truyền giảng những lời kinh khởi thủy

ta truyền giảng những lời kinh sáng thế…

bất cứ cái gì sinh sôi nảy nở đâm chồi nảy lộc nở hoa kết trái thụ phấn thụ thai giao hợp chửa đẻ sinh sản tốt tươi héo khô tàn lụi đều thuộc tôn giáo phồn sinh

tất cả những gì sinh diệt đều là tín đồ phồn sinh giáo…”.

Tôi đọc đến khúc một trăm năm mươi của Phồn Sinh, cũng thấy bình thản đón nhận một quan niệm nhân sinh. Tôi khẳng định Nguyễn Linh Khiếu không khó đọc. Chỉ là những chấp niệm trong lòng có đồng cảm với Phồn Sinh.

Thi pháp trữ tình triết học lập ngôn là chủ đạo trong Phồn Sinh. Nhưng trong Phồn Sinh có cả phép hiện thực, cả lãng mạn, cả tự sự, cả trữ tình…  Với tôi, đây là cách tiếp cận Phồn Sinh, cũng là cách tôi hiểu Nguyễn Linh Khiếu trên bình diện tư tưởng. Theo tôi, đây cũng là sự đóng góp lớn nhất của Nguyễn Linh Khiếu với thi ca Việt Nam 20 năm đầu thế kỷ XXI.

Tôn giáo phồn sinh của Nguyễn Linh Khiếu, xét đến cùng là cảm xúc nhân linh. Thơ ông tôn vinh tinh thần, nhưng tinh thần ấy được vật thể hóa. Muôn loài vật sống ấy có thể là bất cứ cái gì trong không gian của ông. Trong không gian ấy, đến đất, nước, lửa, gió, lôi, mây, cây, khoáng chất đều sống, đều có linh như con người, như sinh vật. Hiểu được điều ấy rồi, ta càng tôn trọng cách lập thuyết của ông. Nguyễn Linh Khiếu đã luyện ngục trăm lần để giúp chúng ta đến xứ sở của châu thổ Sông Hồng của ông, để cùng Phồn Sinh tôn trọng sự sống, tự do, dân chủ, sự thật, giải phóng, để mà hòa vào muôn loài đực cái vào mùa động đực mà sung sướng giao hoan những gì bản thể nhất.

Hà Nội, 28/10/2023

Bùi Văn Kha

Nguồn: Lao Động

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Thấy gì từ những tranh cãi vẫn đang bủa vây "Đất rừng phương Nam"

Thấy gì từ những tranh cãi vẫn đang
bủa vây "Đất rừng phương Nam"?

Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin được đăng tải bài viết của PGS.TS. Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ - Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương quanh những tranh cãi về phim “Đất rừng phương Nam”.

Bài học từ “Đất rừng phương Nam”

Bộ phim “Đất rừng phương Nam” đến nay đã có doanh thu trên 123 tỉ đồng. Phim tạo ra được sức hút, dư luận sôi nổi, nhiều chiều, đó là điều đáng mừng. Nhất là trong giai đoạn chúng ta đang quan tâm xây dựng nền công nghiệp điện ảnh.

Tuy nhiên, phim cũng có những hạn chế, sai sót.

Đã có những tranh cãi xoay quanh việc “Đất rừng phương Nam” là phim lịch sử hay phim giải trí (theo đó, có nhiều người lại bàn thêm về quyền hư cấu hay yêu cầu/nguyên tắc phải tôn trọng lịch sử, tôn trọng hiện thực đời sống). Đây là những vấn đề lớn của văn học, nghệ thuật từ xưa đến nay và nhiều năm sau nữa.

Tôi thấy yếu tố giải trí của “Đất rừng phương Nam” nổi trội hơn yếu tố lịch sử, chính trị, nhưng không vì thế mà giới chuyên môn và người xem coi nhẹ hay bỏ qua nội dung lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán được thể hiện trong phim.

Về tính hư cấu, quyền hư cấu và tính chân thật của lịch sử, cứ nêu một câu hỏi, dù hơi kỳ, rằng, nếu nhà văn Đoàn Giỏi còn sống, liệu cụ có đồng ý để biên kịch, đạo diễn và ê-kíp làm phim đẩy thời khắc lịch sử, bối cảnh, nhân vật được phản ảnh trong tiểu thuyết của cụ lên trước 1925-1930 năm hay không? Thời điểm này, nhà văn Đoàn Giỏi mới chỉ 5 tuổi (Đoàn Giỏi sinh năm 1925).

Tiểu thuyết “Đất rừng phương Nam” dù sử dụng nghệ thuật hư cấu, đã lấy mốc thời gian chính xác từ ngày 23.9.1945 trở đi - ngày Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ 2.

Dù là phim giải trí, dù đạo diễn và ê kíp có quyền hư cấu cao đến đâu chăng nữa, cái quyền đó liệu có lợi gì hơn cho họ trong sáng tạo nghệ thuật?

Nếu muốn hư cấu nhiều hơn, nếu chỉ là "lấy cảm hứng" từ tiểu thuyết “Đất rừng phương Nam” của nhà văn Đoàn Giỏi, tại sao đạo diễn, biên kịch và ê kíp làm phim phải lấy nguyên tên tiểu thuyết? Vì sao phải lấy tên và hình tượng, hành động, tính cách các nhân vật trong tiểu thuyết “Đất rừng phương Nam” như cậu bé An, thằng Cò, bé Xinh…?

Hai tổ chức "Thiên Địa hội" và "Nghĩa Hòa đoàn” sau khi gây ồn ào, nhà làm phim đã sửa lại là "Chính Nghĩa hội" và "Nam Hòa đoàn".

Tôi nghĩ, đoàn phim không nên vin vào lý do "gia đình, người thân nhà văn Đoàn Giỏi rất hài lòng với bộ phim", nói như thế là khiên cưỡng và võ đoán. Gia đình người thân tác giả khác với tác giả - người dứt ruột sinh thành nên tác phẩm.

Tôi cũng là người viết nhiều tác phẩm văn chương, kịch bản sân khấu, đã từng bàn với đạo diễn rất kỹ nhân vật nào, tình tiết nào là quyền đạo diễn hư cấu, “tung tẩy” và nhân vật nào, tình tiết nào tác giả kịch bản cần phải giữ nguyên.

Tất cả đều có lý do, việc yêu cầu giữ nguyên như trong kịch bản, chắc chắn liên quan đến nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử.

Một số băn khoăn khác về bộ phim “Đất rừng phương Nam”, ví dụ như cảnh quay chợ nổi miền Tây trong phim thời đó (dù trước năm 1945 hay những năm sau đó) là quá đẹp, quá sạch sẽ, quá yên ả; trang phục của các nhân vật cũng gây ra những băn khoăn, thắc mắc, có phải họ là người dân Nam Bộ không?

Người Hoa ở Việt Nam là một bộ phận máu thịt của Tổ quốc Việt Nam, điều này không cần bàn cãi.

Nhưng vai trò của người Hoa trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm dù là thập niên hai mươi, ba mươi hay bốn mươi, năm mươi của thế kỷ trước ở Nam Bộ chưa hẳn đậm nét, thậm chí được tô hồng như trong phim.

Lịch sử phải được tôn trọng, phải thể hiện như đã xảy ra, và chúng ta không được phép “bài” ai, bênh ai.

Cơ quan cấp phép cần nâng cao năng lực, trách nhiệm

Công tác quản lý nhà nước về điện ảnh cũng cần đổi mới, nâng cao, nhất là năng lực, trách nhiệm của cán bộ Cục Điện ảnh.

Việc biên tập phim cần người am hiểu về lịch sử, văn hoá, xã hội; việc thẩm định và cấp phép cho phim cần khoa học, rành mạch và chuyên nghiệp hơn.

Cục Điện ảnh cấp phép cho phim “Đất rừng phương Nam” ra rạp rồi, sau đó, dư luận có ý kiến chỗ này, chỗ kia thì lại vội vàng yêu cầu nhà sản xuất và nhà phát hành chỉnh sửa.

Rõ ràng phim đã được thẩm định, cấp phép nhưng dường như sai lỗi sai chỉ ở phía nhà làm phim, còn Cục Điện ảnh vô can?

Khi phim đã chỉnh sửa xong, lẽ ra phải cấp phép lại cho bản đã chỉnh sửa theo quy định của Luật Điện ảnh nhưng điều này đã không diễn ra (hoặc chưa diễn ra?!). Làm như vậy là không công bằng, không rành mạch, thiếu nghiêm túc, từ đó đẩy dư luận nóng lên, phức tạp hơn.

Văn hóa phê bình

Cuối cùng, trong hoạt động văn học, nghệ thuật, dù là người sáng tác, sáng tạo; người làm công tác lý luận, phê bình hay truyền thông, quảng bá (kể cả người xem phim), chúng ta cần trang bị cho mình tư duy, phương pháp và thái độ khách quan, bình tĩnh, dân chủ, nhân văn.

Phim truyện “Đất rừng phương Nam” đã có những nỗ lực, thành công nhất định và cả những hạn chế, thiếu sót cần nhận rõ để rút ra bài học, cho “phần tiếp theo” của phim như ý định của nhà sản xuất.

Chúng ta đang đi những bước đầu của công cuộc xây dựng nền công nghiệp văn hóa, trong đó có công nghiệp điện ảnh.

Việc góp ý, phản biện hay khích lệ, cổ vũ cho một tác phẩm, công trình, sản phẩm văn hóa là rất cần thiết; nếu vội vàng thoá mạ, quy chụp một cách nóng nảy, võ đoán có lẽ là không nên.

“Nhân bất thập toàn”, nhiều tác phẩm điện ảnh, sân khấu nổi tiếng của thế giới, thậm chí “bom tấn” của Hollywood, cũng có không ít hạt sạn.

Họ cũng khen chê đâu ra đấy và nền công nghiệp điện ảnh, sân khấu của họ đã có những bước đi dài, ngoạn mục.

31/10/2023

Nguyễn Thế Kỷ

Nguồn: Lao Động

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Người phụ nữ giàu năng lượng yêu

Người phụ nữ giàu năng lượng yêu

Viết về Đào Phong Lan hóa ra thật không dễ, bởi tôi dẫu lớn hơn em hơn một thế hệ mà có cảm giác em già dặn hơn mình. Những năm 1990, em đã có những thành tựu nhất định và ghi dấu trên văn đàn bằng những giài thưởng thơ ca. Em sớm đến với văn chương và giành được những giải thưởng văn học từ lúc còn rất trẻ, mới ngoài 20 tuổi. Điều đó cũng dễ hiểu vì tố chất được phát triển trong môi trường gia đình thấm đẫm âm nhạc và thơ ca.

Rồi Đào Phong Lan dấn thân vào cuộc sống, kiến tạo gia đình và sự nghiệp, trong đó sáng tác văn học là một phần đời. Trong vai người mẹ, người vợ, một doanh nhân; phần cho "người tình" thơ ca vẫn thủy chung, lúc dịu dàng chìm lắng, lúc sôi nổi. Gần đây em trở lại với nhiều truyện ngắn. Và cuộc thi truyện ngắn hay do Tạp chí văn nghệ TP.HCM đã trao giải thưởng cho "Bảy ngả yêu thương" của Phong Lan. Tôi có cảm giác em trở lại với văn chương với tình yêu nồng nàn hơn xưa bởi sự khích lệ của độc giả, bè bạn...

Lần nay, cầm trên tay tập thơ "Em không thể nói lời từ biệt" của Đào Phong Lan, tôi cảm nhận năng lượng sáng tạo của người đàn bà đẹp truyền dẫn đến tôi. Trang sách mở ra những câu thơ nống nàn, đau và sâu thẳm. Tôi thích chất "ớt cay" của em:

"Em phân thân giữa những gì được mất

Chẳng hay hạnh phúc có còn

Sợ anh đứng trên triền non cao ngất

 Vẫn mơ về một bóng thùy dương

Anh thân yêu!

Cơn mưa mọc hoang trên đất

 Nảy lên bong bóng bảy màu

 Những đám mây chân trời rơi nước mắt

Anh ở đâu??? (Đông - Viết giữa cơn mưa)

Cây cố quên mùa khô

Bằng chồi hoa tím ngát

Người tìm cách quên ta

Bằng người con gái khác (Hạ, mưa tháng năm)

Em chỉ có một bờ tóc ngắn

Không đủ dài để buộc lời anh

Những ngọn tóc buồn hơn rêu cũ

Và hắt hiu gấp mấy lá cành " (Đông - Cho ngày hôm qua)

Và cũng trong "Đông" buốt lạnh, tôi chầm chậm ngấm vị đắng xót của Lan:

"Anh đã có bao nhiêu tình yêu thứ nhất

Sao không cho em làm kẻ cuối cùng?

Cứ để em chạy chân trần trên đất

Mãi vẫn chẳng thể dừng?

Ngày hôm qua xa lắm,

Ngày hôm nay anh nhắc làm gì?

Em chỉ có đôi bàn chân lấm

Đôi bàn tay chưa biết ôm ghì

Những ngón tay xanh mềm trong nắng

Che mặt khóc vụng về

Những ngón tay nằm hoang vắng

Run run chiều như cỏ ven đê..." (Đông - Cho ngày hôm qua)

Tôi đồng cảm, ngấm vào lòng vị mặn những giọt nước mắt của Lan. Lan khóc cho mình:

"Buổi chiều 30 tuổi

Ngồi khóc trước hiên nhà

Ngoài sân con bướm rụng

Rơi đầy trời lá đa (Hạ - không đề)

"Anh lấp trong em một đáy vực sâu

Lại chất lên trùng trùng đá núi

Nỗi buồn dâng thành sông

Nước mắt tràn thành suối

Mà vì sao em vẫn lại yêu anh?" (Thu - vì anh)

Lan khóc cho nhân gian:

"Bắt gặp một dòng nước mắt

Xưa bỏ trốn lên đồi

Thấy không đâu trên trái đất

Hoang vu

Như

Chỗ ta ngồi" (Hạ- chiều)

Nhưng đau và sâu hơn khi Lan khóc không thành tiếng, là những giọt nước mắt giấu vào trong:

"Lời đá cuột rơi trong lòng suối cạn

Vang lên trong vòm lá một thanh âm

Tiếng đá vỡ

Trong veo

Đau đớn

Lời yêu chỉ nói một lần..." (Xuân - Lời đá cuội)

Cay nồng, đắng, mặn nhưng người đàn bà mang tên Đào Phong Lan, thơ Lan quá đỗi quyến rũ, ngọt ngào, :

"Em nằm yên trong tay anh, trong hơi thở...

Trong nắng trời,

Gió biển,

Cát bờ xa,

Những con ong rừng lấy mật về qua

Ngọt như môi anh hôn em mỗi sáng..." (Hạ - Viết cho anh những ngày xa)

Một người đàn bà giàu năng lượng như Lan khi yêu bung hết sức thanh xuân, là muốn đi đến tận cùng:

"Hãy để em yêu anh không do dự

Và hãy yêu em như giây phút cuối cùng

Như ngày mai sẽ xa nhau vĩnh viễn, lối đi chung

Của hai đứa đã có người chắn mất...

Như đã đến giờ tận thế trên trái đất

Như dòng sông sẽ cạn muôn đời

Hãy siết em vào lòng

Hãy hôn mãi không thôi

Hãy yêu em không một lần ngưng nghỉ..." (Hạ - Viết cho anh những ngày xa)

Yêu đắm say đến vậy nhưng sao Đào Phong Lan quá biện chứng và tỉnh táo. Người đàn bà giàu năng lượng nên cũng quá đỗi thông minh, chợt nhận ra bản chất cuộc đời ẩn trong những sắc màu, hình tướng. Sự tỉnh thức khiến Lan đau khổ, khắc khoải và khao khát. Sau những phơi trải lòng mình, những hoài nghi, dằn vặt; chốt hạ những lời này, chắc hẳn là Lan rất đau đớn khi đối diện với chính mình:

"Ngày mai khi chúng mình gặp lại

Có thể là em đã khác hôm nay..." (Hạ - Viết cho anh những ngày xa)

Làm sao không khác được, khi người đàn bà nhạy cảm, thông minh như Lan thấu triệt những phép tính:

"... Bóng em khuất sau cánh cửa

Khép một nôi buồn nhân đôi

Những phép tính không bao giờ có thực

Đã trừ dần đi tôi" (Xuân - Những phép tính)

Những phép tính không bao giờ có thực nhưng nỗi đau của Lan là có thật:

"Còn lại một mình em kiếm tìm, đuổi bắt

Làm ra vẻ đồng vui,

Em la hét cười đùa.

Khi vì sao cuối cùng vừa tắt

Em ngồi trơ trên đất

Chợt nhận ra

Chỉ một mình

Trò chơi ấy

Vẫn thua" (Xuân - Trò chơi)

Tự nhủ xem như một trò chơi mà Lan vẫn không thôi đau, thôi khắc khoải về nó:

"Tôi làm sao níu lại cánh diều 

Khi nó đã bứt dây

Theo mây chiều bay mất?

Những tia nắng của một ngày ắp tắt

Cũng vội vàng về hướng xa tôi" (Hạ - Cho Nguyên)

Đọc thơ Lan rồi thì tôi hiểu vì sao cô gái mới ngoài hai mươi tuổi đã đưa ra một giả thiết khác, khi đặt mình vào Mỵ Nương:

"Anh đã chậm

Mà em thì quá vội

Thủy tinh ơi, xe đã thắng ngựa rồi

Nước mắt em xin hóa thành con nước

Hòa vào sông anh lấp lánh mặt trời..." (Thu - Lời Mỵ Nương)

Cay, đắng, mặn, ngọt ngào nếm đủ, Lan thanh lọc mình, quay vào bên trong, hướng đến sự nguyên sơ, tinh khiết, vượt qua bản ngã mình để bao dung:

"Nếu tình yêu có bảy sắc màu

Em xin nhận về mình hai màu xanh - trắng

Để nở hoa lối anh về phẳng lặng

Nhuộm sắc trời xanh mát buổi sau mưa..."  (Thu - Vì anh)

Cầm trong tay tập thơ mỏng nhưng sao tay tôi thấy trĩu nặng khi chạm vào tài hoa thơ của người phụ nữ giàu năng lượng yêu. Chỉ việc tự thể hiện mình trong 15 bài thơ gởi tặng độc giả, Đào Phong Lan phải mất nhiều năng lượng, công sức. Nếu chỉ riêng đọc từng câu thơ lẻ, bất chợt như:

"Lũ kiến đen vội vàng về phía sáng/ Như sợ mình không đến kịp ban mai"

"Còn em xin được làm chiếc cúc/ Nép khiêm nhường trên ngực áo anh"

'Thót nghe lá gãy trên cành/ Chỉ mong ngày tháng không đành lập đông"'

"Kỷ niệm mềm như lụa / Choàng lên thời gian qua"...

... thì ta cũng nhận được năng lượng thơ ca của Lan truyền dẫn vào từ mắt vào tim rồi...

Tôi đặc biệt thích những bài thơ của Lan viết về Tây Nguyên, phố núi vừa hồn cốt vừa khoáng đạt. Bàng bạc trong thơ Lan là nắng, là những hạt mưa, là lá rơi, rêu cỏ, bời bời những cơn gió, bời bời tiếng lòng... Thấm văn hóa Tây Nguyên vào hồn, nơi Lan đã sống một tuổi thơ đầy dấu ấn về đất và người nên mới có thể nắm bắt đặc thù âm thanh tiếng đàn trong một nốt nhạc thơ thần kỳ đến vậy:

"T'rưng

Em địu mặt trời trên lưng" (Hạ - T'rưng)

Bài thơ đã được Bùi Khánh Nguyên, người cùng nhận giải thưởng cuộc thi truyện ngắn hay của Tạp chí Văn nghệ TP.HCM phổ nhạc thành bài hát T'rưng được nhiều người yêu thích Sự đồng cảm của hai người bạn viết cùng lứa cũng dễ hiểu...

Tập thơ Lan chứa một dung lượng không nhỏ thơ lục bát. Tôi rất nể phục những người làm được thơ lục bát hay bởi đó là một thách thức. Nhiều người tự biện (trong số đó có tôi) rằng tư chất con người mình không thích ràng buộc, khát khao bứt phá không phù hợp với thể thơ này. Nhưng Đào Phong Lan vẫn rất phóng khoáng, bứt phá, trẻ trung, mới mẻ đó thôi sao nhuần nhuyễn lục bát đến thế. Lan không đi vào lối mòn vần vè, khuôn mẫu mà có những biến tấu, cách ngắt câu, ngắt nhịp rất táo bạo, biến ảo khiến lục bát trong thơ Đào Phong Lan mang một dáng nét rất riêng. Hãy xem cách Lan "chặt" một câu lục bát để cảm xúc găm vào lòng người đọc, không trôi theo vần vèo:

"Con thuyền xưa đã bỏ hoang

Bao nhiêu con nước

Vội

Vàng

Đổ

Đi" (Đông- Đổ vỡ)

Khép lại tập thơ, trong tôi tràn ngập cảm giác biết ơn. Cảm ơn tạo hóa không chỉ sinh ra người đàn bà đẹp mà còn giàu năng lượng để yêu thương, khao khát và sáng tạo. Một người phụ nữ giàu trải nghiệm như Lan chắc hẳn nhận ra đâu là giới hạn của chính mình. Những nhà phê bình sẽ làm công việc đặc thù của họ. Còn tôi, một phụ nữ cầm bút chỉ mong Lan cứ hồn nhiên yêu, hồn nhiên sống, kích hoạt mọi tiềm lực mà em có được để kiến tạo, sáng tạo, yêu hương và dâng hiến.

30/10/2023

Trầm Hương

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Đọc bài thơ Con chào mào của Mai Văn Phấn từ góc nhìn sinh thái

Đọc bài thơ Con chào mào của Mai Văn Phấn từ góc nhìn sinh thái Tôi đang sống ở tầng 18 một căn chung cư giữa lòng thành phố, nơi mà mỗi n...