Nguyễn Bính, nhà thơ của nhiều thời
Một trong những nguyên nhân chính để Nguyễn Bính là
nhà thơ của nhiều thời là thơ ông thể hiện rất đặc sắc rất nhiều cổ mẫu kết
tinh từ những mô thức tâm lý, “những kinh nghiệm được lặp đi lặp lại nhiều lần
của loài người”…
1. Từ khi xuất hiện trong phong trào Thơ mới cho đến nay,
Nguyễn Bính đã và chắc chắn vẫn sẽ luôn thuộc các nhà thơ có lượng độc giả đông
đảo nhất.Thơ Nguyễn Bính “còn sống mãi, làm việc mãi cho tương lai(1),“người Việt
Nam còn yêu thơ Nguyễn Bính mãi, càng văn minh hiện đại lại càng trân trọng”
(Vũ Quần Phương)(2)
Điều gì làm nên kỳ diệu ấy?
Có nhiều cách trả lời.
Rằng, thơ Nguyễn Bính có “một điều quý vô ngần: hồn xưa
của đất nước” (Hoài Thanh)(3).
Rằng, thơ Nguyễn Bính là “Thơ của đồng quê… hình tượng thơ
càng ngẫm càng lấp lánh tri thức”(4).
Rằng, “So với các nhà thơ lãng mạn trước đây, Nguyễn Bính đứng
riêng một cõi” (Lê Đình Kỵ)(5).
Và rằng, thơ Nguyễn Bính có “cái thi pháp trời cho những bậc
thiên tài có tên gọi là tự nhiên như thở” (Nguyễn Duy)(6).V.v…
Xin nói thêm: Thơ Nguyễn Bính không bao giờ cũ. Nguyễn Bính
là nhà thơ của nhiều thời. Vì ông luôn là khác biệt. Khác biệt một cách gần
gũi. Gần gũi một cách khác biệt. Tầng sâu nhất của thơ Nguyễn Bính không chỉ là
hồn dân tộc, mà còn là “giọng nói của toàn nhân loại thức dậy” qua giọng nói của
một con người, một cá nhân. Thơ Nguyễn Bính “dường như nói bằng hàng nghìn giọng,
mê đắm và thuyết phục, nó nâng cái mô tả từ chỗ ngắn ngủi một lần và tạm thời
lên chỗ tồn tại muôn đời”(7).
2. Nguyễn Bính luôn là như thế, trước hết, ngay từ cách nhà
thơ đến với hiện đại.
Trong thời kỳ nảy sinh và phát triển của Thơ mới (từ năm 1932
đến năm 1945), “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử
Việt Nam từ mấy mươi thế kỉ”(8). Bấy giờ, vấn đề đặt ra cho quá trình tiếp biến
văn hóa với phương Tây, chủ yếu với Pháp, không còn là sự lựa chọn giữa canh
tân và thủ cựu, mà là đổi mới thế nào, theo chiều hướng nào. Trong lúc Âu hóa vừa
là xu thế vừa là ưu thế của đổi mới cả chiều rộng lẫn chiều sâu, với những nhà
thơ rất tiêu biểu như Xuân Diệu “mới nhất trong các nhà Thơ mới”, Hàn Mặc
Tử “lạ nhất trong các nhà Thơ mới”, Chế Lan Viên “không thể lấy kích tấc thường
mà hòng đo được” (Hoài Thanh), thì “người nhà quê Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống
như thường”, thơ Nguyễn Bính vẫn là “tiếng nói vui buồn của tâm hồn dân gian
muôn thuở”(9).
Thơ Nguyễn Bính bổ sung một minh chứng rất sâu sắc và lý thú,
thuyết phục về quy luật của mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết,
văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc. Trong mối quan hệ này, văn học dân gian,
văn hóa dân gian luôn là nền tảng, cơ sở, là văn học “mẹ”, văn hóa “ mẹ”.
Điều ấy đặc biệt rõ vào giai đoạn đầu khi văn học viết hình thành và những giai
đoạn, thời kỳ văn hóa, văn học dân tộc đứng trước những bước ngoặt thử thách,
biến đổi lớn lao. Trong thời kỳ của Thơ mới, chính văn học dân gian, văn hóa
dân gian, đất quê, hồn quê, trực tiếp nhất là ca dao, hát nói, đã dẫn Nguyễn
Bính đến với hiện đại một cách đầy thuyết phục. Ca dao, hát nói, lời ăn tiếng
nói hàng ngày của nhân dân, luôn mang hơi thở cuộc sống hiện tại. Những bài ca
dao-dân ca, hát nói, mỗi lần được diễn xướng là một lần sáng tạo, “mỗi lần biểu
diễn đều là một lần sáng tác”(10). Vì vậy, ca dao-dân ca, hát nói luôn song
hành cùng hiện đại. “Ca dao hay lưu truyền lại được vì nội dung thiết cốt đến
người ta, bổ ích cho người ta; ca dao sinh ra là do thời sự, do phút giây ngày
tháng hôm đó cần thiết, nhưng lại nói được chuyện lâu dài, phổ biến được trong
thời gian và không gian”(11). Cách Nguyễn Bính đến với hiện đại thêm một lần
làm sáng tỏ luận đề triết học: “Truyền thống là người lính canh của tinh thần
nhân loại… Không có tâm linh nằm ngoài truyền thống”(12).
Thơ Nguyễn Bính đặc rệt truyền thống, mà vẫn mới, vẫn riêng.
Ông đã làm mới mê hồn thơ lục bát và thơ thất ngôn theo cách của ông. Nói về những
nhà thơ tiêu biểu cho thơ lục bát, người ta sẽ, ngay lập tức, đi thẳng từ ca
dao, Nguyễn Du đến Nguyễn Bính, như một mặc định. Đặc biệt, cùng với các nhà
Thơ Mới khác, Nguyễn Bính đã đưa cái tôi cá nhân, cũng là cái tôi của thời
đại, cái tôi của nhân loại vào thơ, tự nhiên nhi nhiên. “Như một vụ big
bang trong văn học, sự ra đời của cái tôi đã trở thành nhân tố cốt tử để tạo
ra một thời đại trong thi ca”(13), góp phần quan trọng đưa văn học Việt
Nam “thực hiện một chuyển dịch quan trọng: vượt khỏi phạm vi khu vực để tiến
vào thế giới”(14). Cái tôi ấy, vào những năm tháng đất nước dồn tất cả sức mạnh
vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, tất nhiên sẽ không phù hợp. Nhưng khi
cuộc sống trở lại trạng thái bình thường, nó lại tìm được những đồng vọng để hiểu
thêm một thời và con người. “Cứ đi sâu vào hồn một người, ta sẽ gặp hồn nòi giống.
Và đi sâu vào hồn một nòi giống, ta sẽ gặp hồn chung của loài người”(15). “Thơ
Nguyễn Bính thuộc trường hợp hiếm hoi…, bởi vì trong cuộc cọ xát cũ mới ấy, đã
bộc lộ những sâu sắc trong tâm hồn không chỉ của một cá nhân, mà cả một dân tộc,
không chỉ của một thời, mà, có lẽ, của nhiều thời…”(16). Cũng nhờ đó, Nguyễn
Bính có các tập thơ hay (chẳng hạn, những tập thơ trước Cách mạng tháng Tám năm
1945), những bài thơ hay (Lỡ bước sang ngang, Tương tư, Lòng mẹ, Chân quê, Cô
hái mơ, Mưa xuân, Hoa cỏ may, Qua nhà,Thư cho thầy mẹ, Chờ nhau, vv…) và hàng
trăm câu thơ tuyệt bút như thể trời đất, quỷ thần cho. Nếu chọn một nhà thơ có
nhiều câu thơ thần bút nhất trong phong trào Thơ Mới, chắc chắn Nguyễn Bính sẽ
đứng hàng thứ nhất.
3. Một trong những nguyên nhân chính để Nguyễn Bính là nhà
thơ của nhiều thời là thơ ông thể hiện rất đặc sắc rất nhiều cổ mẫu kết tinh từ
những mô thức tâm lý, “những kinh nghiệm được lặp đi lặp lại nhiều lần của loài
người”. Từ điển văn học giải thích: “Cổ mẫu là khái niệm dùng để chỉ
những mẫu của các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, trong tưởng tượng
của con người, chứa đựng trong vô thức tập thể của cộng đồng nhân loại”(17).
Nói cách khác, cổ mẫu là những biểu tượng bền vững, bắt nguồn từ vô thức tập thể,
chất chứa chiều sâu tâm lý, cảm xúc được chiêm nghiệm qua các thời đại khác
nhau của cộng đồng. “Kho báu của nhân loại nằm trong tính đa dạng sáng tạo,
nhưng nguồn gốc của tính sáng tạo lại nằm trong tính thống nhất sinh thành của
nhân loại”(18). Người đọc văn học theo lý thuyết cổ mẫu thường dõi theo những
biểu tượng, những motif lặp đi lặp lại nhiều lần, có ý nghĩa phổ quát trong các
tác phẩm để thấy những ý nghĩa điển hình của nó trong văn hóa, văn chương nhân
loại và dân tộc cũng như những ý nghĩa chuyển dịch, xung năng, tương tác của nó
trong các tác phẩm, tác giả cụ thể(19).
Xin chỉ nói về một vài cổ mẫu.
Trước hết là cổ mẫu Hành trình, cụ thể thêm: cổ mẫu Đi
và Lỡ bước.
Hành trình, theo cách nhìn của lý thuyết cổ mẫu, “là tìm kiếm,
tìm chân lý, sự bất tử và phát hiện một trung tâm tinh thần”. Hành trình “trở
thành dấu hiệu và biểu tượng của sự luôn luôn chối từ bản thân…, và cần kết luận
rằng cuộc du hành duy nhất có giá trị là cuộc du hành của con người bên trong bản
thân mình”(20). Nhân loại đã có bao nhiêu cuộc hành trình, đớn đau và vĩ đại:
hành trình của Chúa, hành trình về đất Phật, hành trình về miền đất hứa, hành
trình dời Ai Cập, hành trình của Don Quixote,vv…Nguyễn Bính đã đi đâu, về đâu?
Trở lại với không khí xã hội thời Thơ mới. Trong “cuộc biến thiên lớn nhất
trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”, hành trình của Nguyễn Bính là hành
trình của thi sỹ “giang hồ”, cô đơn, lỡ bước, khi dấu ấn cuối cùng “giấc mơ
quan trạng”, “Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên” (Xóm Ngự Viên) – lý tưởng
của nho sỹ bình dân một thời, đã vĩnh viễn khép lại: “Khoa cử bỏ rồi, thôi hết
Trạng”, “Lỡ duyên búi tóc củ hành, Trường thi Nam Định biến thành trường bay”(Con
nhà nho cũ):
Anh đi đấy, anh về đâu
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm (Không đề).
Câu hỏi không lời đáp. Nhịp thơ cũng theo cánh buồm, nhỏ dần,
rồi mất hút. Đến nhịp thơ cuối, không còn thấy màu nâu của cánh buồm. Nhịp thơ
điệp mà không trùng. Đi mà không biết đi đâu! Về không biết về đâu. Như thân phận
trên dòng sông cuộc đời mênh mang, hoang vắng: “Giang hồ ai biết đi đâu mà tìm”
(Giang hồ). Dễ hiểu vì sao thơ Nguyễn Bính hay nhắc nhiều đến con đò, bến
đò, “chuyến đò thân thế”, và sân ga, con tàu: “Đò sang còn một chuyến
này, Khách sang còn một người đây hỡi đò!” (Người đi), “Đem thân đi với giang hồ,
Sân ga phẳng lặng, bến đò lênh đênh” (Quê tôi). Ấy là con đò quê, ga là ga xép.
Cũng có khi là con sông trong tâm tưởng, chảy rất mạnh, rất mênh mang trong văn
hóa phương Đông: sông Tương, sông Dịch.Thời gian chủ yếu là buổi chiều và trong
đêm: “Càng chiều anh thấy con đường càng xa” (Định mệnh), “Tàu biết bây giờ chạy
đến đâu, Đêm sâu hoàn trả lại đêm sâu”(Chuyến tàu đêm). Con tàu, sân ga trong
thơ Nguyễn Bính thật buồn:
– Tàu chạy hình như để chở buồn,
Chở người đi nhớ, kẻ về thương (Chuyến tầu đêm).
– Con tàu ngược, con tàu xuôi
Con tàu chẳng đợi chờ tôi bao giờ (Xa xôi).
-Những từ ga lớn, từ ga nhỏ
Đời chẳng làm cho lấy một ga (Chuyến tầu đêm).
– Ở đây…tôi ở riêng đây,
Hoa tim rớm máu rụng đầy sân ga (Rừng mai xa cách).
– Tàu đi để lại ga đơn chiếc
Đường sắt nằm chờ những chuyến qua
Có người lưu lạc bên đường sắt
Mỗi chuyến tàu đi lại nhớ nhà (Nhớ).
Nguyễn Bính cũng là một bóng người giữa những bóng người đổ
bóng xuống sân ga: “bóng lẻ”, “Hai bóng chung lưng thành một bóng”, “bóng liêu
xiêu”, “bóng nhòa trong bóng tối”, “Một mình làm cả cuộc phân ly” (Những bóng
người trên sân ga).
Tường vàng, mái đỏ màu son
Nhà ga lại chứa linh hồn nhà ga.
Cái “hiện đại” tường vàng, ngói đỏ bề ngoài của
ga xép ai ngờ không dấu nổi linh hồn cuộc đời, thân phận, chia lìa và nước mắt.Tường
vàng, ngói đỏ, những màu sắc bề ngoài tưởng như rực rỡ ấy chẳng những
không che được, mà còn tô đậm hơn cái cô độc, buồn bã của cảnh, của người. Nó
còn gợi cuộc đời vàng vọt đang ngày càng phôi pha và ánh mắt đỏ hoe, trái tim đỏ
máu trước những chia lìa buồn bã, đón và tiễn đưa vô định. Linh hồn nhà ga là
linh hồn của kẻ chứng kiến, cũng là của người lưu lạc trong những cuộc hành
trình, chia ly không hẹn ngày gặp lại, hành trình và chia ly sâu thẳm ngay
chính trong thân và phận con người.
Nguyễn Bính chính là một hành trình cô đơn như vậy, một nhà
ga cô đơn như vậy! Trong hai câu thơ ấy, cái không nói ra nhiều hơn và được cảm
nhận mãnh liệt hơn rất nhiều cái đã nói ra.
Chẳng ngẫu nhiên, “Lỡ bước sang ngang”, tên một bài thơ lại
được đặt tên cho cả một tập thơ! Không chỉ người con gái “lỡ bước sang ngang”,
mà chính Nguyễn Bính và cả thế hệ những người như ông “lỡ bước sang ngang”trong
hành trình ấy, trên chuyến đò và sân sân ga ấy:
Năm ấy sang sông lỡ chuyến đò
Đò đầy sóng lớn nước sông to
Mười hai bến nước xa lăng lắc
Lầm tự ngày xưa, lỡ đến giờ.
Trong hành trình “dan díu nợ giang hồ”, “Tự mình đắp núi khơi
sông, Tự mình đày ải tấm lòng mình đi” (Đêm nay khơi tỏ tim đèn), “tâm hồn
tôi”, cái tôi đang tự đi tìm mình của Nguyễn Bính đến với rất nhiều nơi. Địa
danh thực là Lạng Sơn, Vinh, Huế, Sài Gòn, ga Kép,vv…Địa danh thực mà ảo,
ảo mà thực hoặc hoàn toàn ảo thì nhiều hơn rất nhiều: “Kinh thành”, “Xóm Ngự
Viên”“ Mười hai bến nước”, “Mây Tần”, “Một nghìn cửa sổ”, “Lầu hoa”,“ Rừng Mơ”,
“Rừng mai”, “Bến mơ”, “Vườn Tiên”, “Suối Thiên Thai”,v.v…Ông phân thân thành cặp
đối lập: Tráng sĩ – Thi sĩ. Con người “Tráng sĩ” của Ông, có lẽ, là “cái rớt”cuối
cùng của kiểu nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam trung đại. Con người ấy vẫn
có cái chất hào hoa, kiêu bạc nhưng xuất hiện đã rất lu mờ và đầy cô đơn – cái
cô đơn của tráng sĩ không còn hợp thời, không bao giờ có “lúc khải hoàn thân
gió bụi”(Lá thư về Bắc):
– Tôi say mơ thấy vì Tiên Trích,
Vua gọi mà không chạy xuống thuyền (Cho tôi ly nữa).
– Sông lạnh thấy đâu người gọi gió,
Trăng tà tìm mãi kẻ mài gươm.
– Thời chưa gặp đó nằm suông mãi,
Suông cả ân tình rượu cũng suông (Xuân vẫn tha hương).
– Hỡi người đi gió cùng mưa
Có xây dựng nổi cơ đồ gì không (Nam Kỳ cùng gió cùng mưa).
– Đem theo cát bụi đường xa lại
Tráng sĩ dừng chân khẽ thở dài (Quán lạnh).
Con người “Thi sĩ” mới thực sự thể hiện “cái tôi”của Nguyễn
Bính. Cũng như nhiều nhà thơ khác thời Thơ mới, Nguyễn Bính đến với Tình yêu –
tình cảm phổ quát của con người. Nhưng khác với nhiều nhà thơ khác, tiếng vọng
của “vô thức tập thể”, của cổ mẫu luôn tự nhiên dệt thành những vần thơ. Nguyễn
Bính là một trong những nhà thơ đã cụ thể hóa được cuộc sống vô thức của toàn
nhân loại trong nhiều bài thơ tình yêu. Ông lý tưởng hóa tình yêu trong những bồn
chồn, nhớ thương, day dứt. Và, như Platon, nhà hiền triết vĩ đại, trong tác phẩm
“Bữa tiệc hay Hội thảo về Tình yêu”, đã nói: “khi tình yêu được chuyển dịch
từ một lý tưởng sang một con người bằng xương bằng thịt”, từ ý niệm vĩnh cửu đến
con người cụ thể, thì thực tế điều này lại đưa tới sự “bất cân đối với những điều
thiêng liêng”(21). Vì thế, thơ tình của Nguyễn Bình cũng là hành trình Đi
– Lỡ bước.
Nguyễn Bính có những vần thơ tương tư nổi tiếng:
– Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người (Tương tư).
– Hồn anh như hoa cỏ may
Một ngày cả gió bám đầy áo em (Hoa cỏ may).
– Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết chúng mình…với nhau (Chờ nhau).
– Giếng thơi mưa ngập nước tràn
Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều (Qua nhà).
– Cô hái mơ ơi! Cô gái ơi
Chẳng trả lời nhau lấy một lời!
Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng
Rừng mơ hiu hắt, lá mơ rơi… (Cô hái mơ).
– Hai tay người đẹp trông mềm quá
Tôi có ngờ đâu khóa được người (Chú rể là anh).
Ông vương quốc hóa, địa đàng hóa tình yêu: “Ví
chăng có một nước Tình Ái, Em làm hoàng hậu, anh làm vua” (Ái khanh hành), “Với
người trong giấc mơ tiên, Của chàng thi sĩ quê trên mây hồng” (Mười hai bến nước),
“Hồ tiên đâu phải hồ trần, Em không thả cá mà thuần thả thơ” (Xây hồ bán nguyệt).
Nỗi nhớ, sự chờ mong tình yêu trong thơ Ông được dệt bằng bao cảm xúc, bao biểu
tượng, đi thẳng vào trái tim người:
– Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ
Em thử quay xem được mấy vòng?
Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ
Em thử lào xem được mấy thưng? (Nhớ).
– Nhớ người nhớ cả vầng trăng
Đêm đêm trời cứ xây bằng nước mưa (Nghĩ làm gì nữa).
– Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi qua ngõ
Để mẹ em rằng: Hát tối nay? (Mưa xuân).
Nguyễn Bính đi vào chính mình, nhờ đó đã nói được và nói rất
hay, rất sâu những biện chứng tâm hồn, những qui luật tình cảm, cái điều của
muôn thuở, muôn người: “Mẹ cha thì nhớ thương mình, Mình đi thương nhớ người
tình xa xôi” (Thư cho thầy mẹ), “Trời xanh còn khóc nữa là, Nhớ nhà ít, nhớ người
ta thì nhiều” (Gặp nhau). Sống trong tâm lý tình yêu, cảm nhận về thời gian,
không gian trong thơ Ông rất đặc biệt, theo cách dân gian nhưng vẫn là duy nhất
của riêng Ông, độc bản: “Láng giềng đã đỏ đèn đâu, Chờ em ăn dập miếng trầu, em
sang” (Chờ nhau), “Chờ mong như suốt đêm qua, Chàng ơi! Một tháng là ba mươi
ngày”, “Cách một ngày ngựa với ba ngày đò” (Thư cho chị), “Nhà em cách bốn quả
đồi, Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng, Nhà em xa cách quá chừng, Em van
anh đấy, anh đừng yêu em” (Xa cách), “Thương như thế, nhớ làm sao, Kinh thành
biết có mưa rào đêm nay” (Thương nhớ Kinh thành).
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính phần lớn là lỡ hẹn, ly biệt. Lỡ
hẹn ngay từ chờ đợi bồn chồn, xốn xang của cuộc hẹn tình yêu đầu đời. Ông nhập
thân, hóa thân thành cô gái trong “Mưa xuân”. Mưa ấy, từ những bông hoa bụi “
phơi phới bay”, nhanh chóng chuyển thành “mưa nặng hạt”, những hạt
mưa sầu tủi, tội nghiệp, bẽ bàng. Con đường đến với tình yêu tưởng
gần, hóa ra là xa ngái:
Mình em lầm lũi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với đêm khuya (Mưa xuân).
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính rất nhiều nước mắt biệt ly. Nỗi
cô đơn của Ông đủ lớn để vũ trụ hóa, vô tận hóa những nỗi đau và
cô đơn của con người: “Nước mắt là cơm bữa, Hợp tan như bèo trôi” (Đề tặng ảnh),
“Đêm nay hai đứa chung tình ấy, Khóc ướt trần gian để biệt nhau”(Bạc tình),“Cửa
hàng nghìn khép lại, Tất cả một đêm nay, Có lòng ta rồ dại, Mở ra muôn nghìn
ngày” (Một nghìn cửa sổ), “Trời xanh hãy trả lời tôi, Sao người đẹp lại là người…trời
xanh”(Người con gái ấy), “Giờ này có lẽ chàng đương khóc, Cả một mùa đông khóc ở
ngoài”( Nhớ thương ai), “Có lẽ ngày mai đò ngược sớm, Thôi nàng ở lại để…quên
tôi”(Thôi nàng ở lại), “Người cách sông rồi…Tôi cách sông ”. Nhưng, đau khổ, cô
đơn nhất của Ông, có lẽ vẫn là hành trình vô vọng đi tìm cái tôi của mình:
“Tôi tìm đâu thấy mảnh trời Thần Tiên”, “Nhưng đau lòng biết bao nhiêu, Người
tôi yêu chỉ biết yêu như người” (Đào Nguyên), “Thương tôi mình hiểu cho tôi
nhé, Mà chỉ mình tôi mới hiểu tôi” (Mười hai bến nước). “Cái tôi là không thể
chia sẻ được” (22).Và thực ra, chính Ông cũng không hiểu bản thân mình, vì
thê Ông luôn luôn đi tìm mình. Rõ ràng, thơ Nguyễn Bính là“cuộc du hành của con
người bên trong bản thân mình”. Hành trình ấy không bao giờ tới đích, bởi vì
“con người luôn là câu đố trên thế gian và có lẽ là câu đố vĩ đại nhất…Trong
tâm hồn con người có những chiều sâu mà chỉ nghi lễ mới xuống tới được” (23).
Nguyễn Bính là nhân vật điển hình của cặp phạm trù gia
đình – không gia đình thời Thơ mới. Đây cũng là cổ mẫu rất tiêu biểu của
văn hóa và văn học nhân loại. Gia đình là khái niệm, tổ ấm gần gũi, thiêng
liêng, con người lớn lên từ đó và luôn hướng về nó như chỗ tựa tin cậy, an
toàn, vững chắc. Bởi vậy, mỗi lần ra khỏi nhà, nhân vật truyện cổ tích thần kỳ
đều gặp những tai họa hoặc phải trải qua những thử thách khó khăn. Ở ca dao trữ
tình, những cô gái, người con thường mang tâm trạng tủi buồn, xốn xang, bồn chồn
thương nhớ mỗi khi “ra đứng bờ ao”, “ra đứng ngõ sau”, “ra đứng bến sông”…
Trong văn học nước ngoài, chỉ cần nhắc tác phẩm “Không gia đình”của
nhà văn Pháp Hector Malot, thế kỷ XIX, cũng đủ thấy. Trong thơ Nguyễn Bính, mẫu
đề Không gia đình luôn song hành với mẫu đề Đi- Lỡ bước. Với
Nguyễn Bính, mổ côi mẹ từ ba tháng tuổi, “Mẹ hiền mất sớm, giời đầy làm thơ”, sự
bùng nổ của cảm xúc Không gia đình càng nhức buốt.
– Con đi mười mấy năm trời,
Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương.
– Thầy ơi! Đừng bán vườn chè
Mẹ ơi! Đừng chặt cây lê con trồng (Thư cho Thầy Mẹ).
Những câu thơ ấy như được viết bằng cô đơn, bằng nước mắt!
Yêu gia đình, nhưng Nguyễn Bính vẫn là, nói đúng hơn, vẫn phải
là “con chim lìa đàn”:
– Lạy đôi mắt mẹ đừng buồn,
Ngày mai con lại lên đường ra đi (Lại đi).
– Hỡi ôi! Những kẻ lên đường
Đang tâm để cả cô đơn lại nhà (Chia tay).
Nguyễn Bính có gần mười bài thơ gửi chị Trúc, về chị Trúc –
nhân vật có bóng dáng trong đời thật nhưng cũng là nhân vật văn học (Lỡ bước
sang ngang, Một chiều say, Xây hồ bán nguyệt, Xây lại cuộc đời, Xuân
tha hương, Xuân vẫn tha hương, Xuân lại tha hương, Khăn hồng, Chị
đã ghen). Phần vì chị Trúc đẹp, duyên dáng, gần gũi, phần nữa, và đây mới là
căn nguyên chính, nhà thơ thấy từ đây hình bóng của người mẹ, của những người
thân yêu, của điểm tựa tin cậy để gửi gắm, sẻ chia, tỏ bày những tâm sự, niềm
khó biết nói cùng ai(24). Con người thiếu thốn tình cảm gia đình và luôn đẫm chất
quê hương ấy làm sao không nhớ gia đình, nhớ quê hương: “Em đi non nước xa khơi
quá, Mỗi độ xuân về bao nhớ thương!” (Xuân vẫn tha hương), “Chiều ba mươi, hết
năm rồi, Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà” (Xuân về nhớ cố hương). Chính từ
tầng sâu tâm thức của tiếng vọng Không gia đình, ông đã có những vần thơ
tuyệt bút của thánh thần:
Từ nay khi nhớ quê nhà
Thấy mây Tần biết đó là thôn Vân (Anh về quê cũ).
Mây quê hương luôn bay trên đỉnh trời tha hương. Đám mây trên
bầu trời tha hương đang ngấn lệ trong thơ ông, hay lệ trong thơ ông đã kết
thành những đám mây trên đỉnh trời ta hương ấy? Thực mà rất ảo! Ảo mà rất thực!
Các nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính phần lớn cũng
trong trạng thái tinh thần Không gia đình, cô đơn. Đó là cô sư nữ trẻ
đẹp “Có cô sư nữ người mong mỏng, Buông thõng dây gầu xuống giếng thơi” (Chiều
quê); cụ sư già ép thân xác đến với cô tịch, vô thường: “Sư già quét lá sau
chùa, Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông” (Chùa vắng). Đó là tráng sĩ: “Đêm
nay tráng sĩ không nơi trọ, Nằm tạm qua đêm quán dọc đường” (Quán lạnh). Đặc biệt,
điển hình cho số phận, tâm trạng Không gia đình chính là người phụ nữ
trong “Lỡ bước sang ngang”: “Mười năm gối hận bên giường, Mười năm nước mắt bữa
thường thay canh”.Tiếng pháo, dây pháo đỏ trong ngày cưới của các cô gái luôn gắn
với tiếng thở dài của cả người trong cuộc và người ngoài cuộc. Cả đến người mẹ
cũng sống trong bồn chồn, khắc khoải lo âu với trạng thái Không gia đình của
người con gái khi đứa con bước chân về nhà chồng. Người mẹ gượng cứng cỏi, chủ
động bao nhiêu trước mặt con, thì lại yếu mềm bấy nhiêu ngay khi bàn chân con
bước khỏi nhà mình. Những câu thơ dưới đây cũng chính là “Huyền thoại mẹ”:
Đưa con ra đến cửa buồng thôi,
Mẹ phải xa con khổ mấy mươi.
Con ạ! Đêm nay mình mẹ khóc,
Đêm đêm, mình mẹ lại đưa thoi (Lòng mẹ).
Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét: “Ở cái thời ấy, Nguyễn Bính như
phần đông các thi sĩ đều buồn. Nguyễn Bính không những buồn mà còn thêm vị đắng
cay của kẻ lưu lạc. Nhưng thơ ông không có cái buồn tan rã, đẩy người ta tới chỗ
tuyệt vọng, trong nỗi buồn ấy vẫn thấy ấm nóng, khắc khoải tình yêu sự sống”(25).
Chỉ dẫn một vài cổ mẫu trong thơ Nguyễn Bính, đủ thấy thơ Ông
có những tầng sâu, ma lực thế nào! Thơ Nguyễn Bính luôn là độc đáo, của riêng
Ông nhưng cũng là tâm trạng phổ quát, tiếng lòng của nhiều cá nhân không hề
quen biết. Thơ Nguyễn Bính là thơ của nhiều người, nhiều nhà, nhiều thời. Những
cổ mẫu thức dậy, đan dệt độc đáo trong thơ Ông đã góp phần làm cho thơ Nguyễn
Bính không chỉ ở tầm dân tộc mà còn thuộc tầm nhân loại.
4. Khi chấm giải cho tập thơ “Tâm hồn tôi”của Nguyễn Bính,
nhà văn Thạch Lam thay mặt Hội đồng giám khảo “Giải thưởng văn chương Tự lực
văn đoàn, năm 1937”, đã nhận xét: “Ông Nguyễn Bính sẽ trở nên một văn sĩ có
tương lai” (26). Còn nhà phê bình Phạm Mạnh Phan, người đương thời Thơ mới,
đánh giá: Nguyễn Bính đích thực là thi sĩ, có những câu thơ tuyệt diệu (27).
Một số nhà thơ, nhà phê bình sau này, như Nguyễn Duy, Ngô Thảo (28) nhận
thấy thơ Nguyễn Bính có những dấu hiệu, đặc điểm của thiên tài. Nhà thơ Nguyễn
Đình Thi đặt câu hỏi và tự Ông đã trả lời: “Cho đến tận hôm nay, có nhà thơ lục
bát nào mà nhân dân thuộc nhiều như Nguyễn Bính chưa?!”(29).
Bây nhiêu cảm nhận, đánh giá, càng cho thấy thêm: Nguyễn Bính
đã và sẽ là nhà thơ của nhiều thời! Với ý nghĩa và tầm vóc mà thơ Nguyễn Bính
đã có, việc dịch và giới thiệu rộng rãi thơ Nguyễn Bính với cộng đồng quốc tế
là rất cần thiết. Để nhân loại hiểu tầm vóc Việt Nam hơn!
Chú thích:
(1) Xem Ngô Thảo: Người chân đất đi vào tương lai,
in trong Nguyễn Bính toàn tập, Tập 1, Nxb Hội Nhà văn, H., 2017, tr. 23.
(2) Xem Vũ Quần Phương: Nguyễn Bính trong nền thơ
Việt Nam, Sđd, tr. 21.
(3), (8), (15) Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân
Việt Nam, Nxb Văn học, H., 2008, Tr. 329, 13, 39.
(4), (29) Xem Triệu Xuân: Nguyễn Đình Thi nói về
thơ Nguyễn Bính,in trong Nguyễn Bính toàn tập, Tập 2, Sđd, tr. 21, tr.
668.
(5) Xem Lê Đình Kỵ: Tỳ bà truyện, in trong Nguyễn
Bính toàn tập, tập 1, Sđd, tr. 28.
(6). Xem Nguyễn Duy: Nguyễn Bính trong tôi, Sđd,
tr. 30.
(7). C.G. Jung (Ngân Xuyên dịch): Bí ẩn của những
siêu mẫu, in trong S. Freud- C.G.Jumg – G.Tucci – V. Dundes (Nhiều người dịch): Phân
tâm học và văn hóa nghệ thuật, Nxb Văn hóa Thông tin, H., 2000, tr. 82.
(9) Xem Trần Lê Văn: Nguyễn Bính, một ngôi sao sang
trên bầu trời thơ, in trong Nguyễn Bính toàn tập, Tập 1, Sđd, tr.15.
(10) Xem Bùi Thiên Thai: Xung quanh công trình về
thi pháp truyền miệng của John Miles Foley, Tạp chí Văn hóa dân gian số
4 năm 2009, tr. 74.
(11) Xuân Diệu: Các nhà thơ học những gì ở ca dao, Tạp
chí Văn học số 1 năm 1967, tr. 56.
(12) Hamvas Bala: Minh triết thiêng liêng, tập 1,
Nguyễn Hồng Nhung dịch, Nxb Tri thức, H., 2016, tr. 162.
(13) Nguyễn Đăng Điệp: Khối tình lỡ của người chân
quê, in trong Nguyễn Bính toàn tập, tập 2, Sđ d, tr. 732.
(14) Nguyễn Đăng Điệp: Giao thời văn học và sự trường
cửu của giá trị/căn tinh dân tộc trên hành trình hiện đại: trường hợp Sergei
Esenin và Nguyễn Bính, Nghiên cứu Văn học số 4 năm 2016, tr. 40.
(15), (16) Xem Đỗ Lai Thúy: Đường về chân quê, in
trong Nguyễn Bính toàn tập, Tập 1, Sđd, tr. 16.
(17) Đỗ Đức Hiểu (Chủ biên): Từ điển văn học (Bộ
mới), Nxb Thế giới, H., năm 2004, tr. 972.
(18), (23) Edgar Morin: Phương pháp, Nhân loại về
nhân loại, Bản sắc nhân loại, Nxb Tri thức, tr. 103, 110).
(19) Xem thêm Nguyễn Thị Thanh Xuân, Phê bình cổ mẫu
và cổ mẫu nước trong văn học Việt Nam, https://www.vanhoanghean.com.vn,
Tháng 10/ 2010.
(21) Xem Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb
Đà Nẵng, 1997, tr. 387.
(22) Xem Charles Van Doren: Thú đọc sách (Phan
Quang Định dịch), Nxb Trẻ, 2015, tr. 73.
(23) N.A. Berdylaev: Con người trong thế giới tinh
thần, Nxb Tri thức, H., 2016, tr. 35.
(24) Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Bính và tôi, Nxb Văn hóa
Thông tin, H., 1999, tr. 124 – 147.
(25). Hữu Thỉnh, Nguyễn Bính một hồn thơ dân tộc,
in trong Nguyễn Bính toàn tập, tập 1, sđd, tr. 22.
(26), (27) Xem Nguyễn Hữu Sơn: Thơ mới-Những chuyện
chưa bao giờ cũ, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, năm 2017, tr.462, 468.
(28) Nguyễn Bính toàn tập, Tập 1, Sđd, tr. 20, 23.
29/3/2021
Bùi Mạnh Nhị
Theo https://vanvn.vn/