Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

Thể thơ mới cho một đề tài mới

Thể thơ mới cho một đề tài mới

Sự vận động không ngừng của cuộc sống đã giúp thơ ca, nghệ thuật tìm ra những hướng đi mới. Khi đại dịch Covid-19 lan rộng, nhiều nhà thơ đã dùng một thể thơ mới, thơ 1-2-3, để góp tiếng nói của mình.
Thể thơ 1-2-3
Thơ 1-2-3 được nhà thơ Phan Hoàng (Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam) khởi xướng từ năm 2018. Chùm thơ 1-2-3 đầu tiên được anh công bố lấy cảm hứng từ một chuyến du lịch đến nước Nga xinh đẹp. Trong đó có bài:
Từ những trang thơ cái đẹp gọi tên
Đàn ngựa phi nước đại trong tuyết rơi rừng vắng
đột ngột dừng dựng bờm hí vang bến sông sâu
Trăng mờ ảo sau cơn mơ kỳ lạ
Moskva về khuya như thiếu phụ khát yêu thương
tôi rót ly vodka nhớ Yesenin và những thi sĩ tha phương.
Theo đó, về mỗi bài thơ 1-2-3 là chỉnh thể nghệ thuật gồm 6 câu thơ, chia làm 3 đoạn: Đoạn 1 chỉ có 1 câu gồm tối đa 11 chữ hoặc ít hơn, đồng thời cũng là tựa đề bài thơ. Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 chữ hoặc ít hơn. Đoạn 3 có 3 câu, với mỗi câu tối đa 13 chữ hoặc ít hơn.
Kinh nghiệm về thể thơ 1-2-3 được đúc kết như sau: Chữ càng tinh lọc càng đa nghĩa càng giá trị. Đề tài thơ 1-2-3 hoàn toàn tự do, chủ yếu chuyển từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội tâm tác giả. Đồng thời, tính độc lập của từng câu thơ trong mối tương quan toàn bài được khuyến khích, tạo thành những câu chứa ý vừa cô đọng khi đứng một mình, lại vừa kết nối chặt chẽ với không gian thẩm mỹ của tác phẩm.
Với niềm say mê cái mới, cộng với sự nhiệt tình hưởng ứng của những nhà thơ, đặc biệt là các nhà thơ trẻ, thể thơ 1-2-3 đã được lan tỏa rộng rãi. Ngày càng nhiều tác giả làm thơ 1-2-3 với sự hứng thú đặc biệt.
Tháng 6.2020, nhà thơ Võ Văn Trường (Quảng Nam) có bài viết trên Báo Đất Việt: “Tôi đã học làm thơ 1-2-3 và tham gia trang Văn học Sài Gòn. Ở đó, tôi đã bắt gặp nhiều tâm hồn đồng cảm, trân quý nhiều cảm xúc của các bạn thơ được chuyển tải qua một hình thức thơ rất mới mẻ này”.
Và một đề tài mới
Ở Đồng Nai, nhà thơ Trần Thị Bảo Thư hiện là một người tích cực thể nghiệm thể thơ này. Chùm thơ của chị có bài đề cập đến đại dịch Covid-19:
Cuộc chiến không tiếng súng
Chiếc khẩu trang thành áo giáp
Loài người chung một ngôn ngữ ánh mắt khích lệ.
Vũ khí vaccine đặc hiệu từ phòng thí nghiệm
Những chiến binh áo trắng anh hùng
Lá cờ trên cao là trái tim nhường cơm sẻ áo.
Thật tình cờ là cũng có rất nhiều người chọn thơ 1-2-3 để nói về dịch Covid-19 với rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Nhà văn Nguyễn Bình Phương (Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) đã nói: “Chiến tranh là thứ “của hồi môn” bất đắc dĩ, nhưng hết sức quý, để hiện tại và tương lai khai thác nó”. Đối với đại dịch Covid-19 hiện nay, bao nhiêu vấn đề bắt buộc phải đặt ra để giải quyết hậu quả dịch bệnh gây ra, cho nên thơ ca, nghệ thuật cũng phải nói về nó như một sự tất yếu. Và đây là một đề tài “mới”, bất đắc dĩ mà những mất mát, đau khổ, những hệ lụy của nó gây ra không chỉ đối với một nơi chốn, một dân tộc mà đối với cả nhân loại, nhà thơ không dễ khai thác được.
Thơ 1-2-3 từ khi xuất hiện đã viết về nhiều đề tài khác nhau, nhưng không hẹn mà gặp, những bài thơ về phòng, chống Covid -19 tập trung như một “mùa thơ” nở rộ trên trang Văn học Sài Gòn. Có thể nói, các tác giả theo sát thời sự, cập nhật nhanh chóng những thông tin về dịch bệnh và đưa ra những thông điệp lạc quan, đầy yêu thương và trách nhiệm.
Mỗi bài thơ là một câu chuyện xúc động được kể ngắn gọn trong 6 câu thơ cho thấy tác giả thấu hiểu đời sống xung quanh như thế nào, mà mong muốn được sẻ chia với mọi người tất cả những gì tốt đẹp nhất. Nhà thơ Nguyễn Đinh Văn Hiếu (Trà Vinh) có những bài thơ: Tìm mùa giữa cơn dịch bệnh, Con hẻm tôi ở vừa có ca F0 tử vong, Mọi ngả đường đều dẫn đến Sài Gòn, Em học trực tuyến bằng gì?…
Đơn cử một bài thơ của Hiếu:
Mỗi đơn vị xã phường là một pháo đài chống dịch
Không để corona xuyên thủng
Không để cô vi đánh chiếm
Bản thân đấu tranh bản thân để ai ở yên đó
Bắt nắng trên đầu tinh mới ngập hoan ca
Đón em về đầu ngõ lúc chia xa.
Trong bài Khác thường tấm giấy khai sinh thời Covid, nhà báo – nhà thơ Đăng Ngọc (Hà Nội) viết về Những bà mẹ vượt cạn trong khu điều trị Covid-19: “Bỗng choàng tỉnh nước mắt lăn dài trước “thiên thần nhỏ bé”/ được nâng trên mười ngón tay – mố cầu của “thiên thần áo trắng”/ Xin hãy ghi vào giấy khai sinh của con hai chữ: tái sinh”.
Nguyễn Trọng Lĩnh (Nghệ An): Chiếc khẩu trang che khuất ánh hồn nhiên/ Virus corona là gì hả mẹ?/ Con lạc bạn, lạc cô ở trường ở lớp…
Trần Nhã My (Tây Ninh) lại có phát hiện thú vị: Quê tôi lạ lắm những ngày bất thường/ hiên nhà trồi lên trứng gà trứng vịt/ Cây mận góc đường nở những bị gạo, túi khoai…
Đỗ Thu Hằng (Hà Nội) gọi đó là Sự hy sinh giữa thời bình, Sau tất cả con người sẽ lắng nghe…
Nhà thơ Nguyễn Đức Bá viết về những nhà sư Hà Nội tình nguyện vào Nam chống dịch: Tạm gác câu kinh tiếng mõ/ Thay tràng hạt bởi kim tiêm, ống nghe y tế/ Cởi áo cà sa thay bộ blouse trắng…
Và không ít những bài thơ thể hiện nỗi đau, niềm thương cảm hôm nay. Với Nguyễn Đức Bá: Mỗi ngày qua trái tim tôi nghẹt thở, Những ký tự vỡ mật thời 4.0, Câu thơ bị sốt; thơ Trần Thị Hồng Anh: Tháng bảy về sao lắm âu lo; thơ Thanh Yến: Cánh cửa Corona virus đóng sầm bao mơ ước…
Cũng từ đó, nhà thơ đưa ra thông điệp tích cực, kêu gọi sự bình tĩnh, vững vàng và chia sẻ cách “sống chậm” để đi qua đại dịch: Đinh Minh Thành (Quảng Bình) thể hiện thái độ của mình: Tĩnh lặng nghe thông báo từ chiếc loa công cộng/ Những bản tin về dịch bệnh/ Đừng hoang mang, hãy suy xét kỹ càng.
Lê Thanh Hùng (Bình Thuận) trong bài Không thể có một ai, không một ai sống khác…: Có hàng vạn tấm lòng, công của, ít nhiều, rộng hẹp cưu mang/ Vẫn tin tưởng cuộc đời này không hề tẻ nhạt/ Dìu dắt nhau qua cơn hoạn nạn khốn cùng.
Và những lời yêu thương, những cảm xúc lãng mạn dành cho ngày mai vẫn còn nguyên trên môi và trong trái tim thi sĩ như Đỗ Mạnh Hùng: Cứu trợ mưa… Gỡ bỏ tháng ngày ngăn cách hai phương, Tan dịch ta về mây nước đính hôn…
Nhà thơ Phan Hoàng cho biết cả nước đã có gần 500 người làm thơ 1-2-3, và nhiều người dùng thể thơ này để sáng tác chung tay phòng, chống dịch Covid-19 cũng là một “hiện tượng” bản thân anh khó lý giải được. Tuy nhiên, đây có lẽ là một thể thơ mới phù hợp với tư duy của nhiều nhà thơ (nhà thơ Trần Thị Bảo Thư chia sẻ chị viết thơ 1-2-3 khá thuận lợi vì chị thích lối thơ cô đọng, nên viết ra rất nhanh khi câu chữ nằm sẵn trong đầu!). Cấu tạo bài thơ cho phép tựa đề cũng là câu thứ nhất của bài thơ đã tránh được sự trùng lặp, nên khi viết về một đề tài nhưng có hàng trăm ý tưởng và hàng trăm cách diễn đạt khác nhau, không gây nhàm chán cho cả người viết lẫn người đọc.
Thơ ca cũng là một nghệ thuật “nghiền ngẫm hiện thực”, không nhanh như báo chí nhưng lại mang đến những nhận thức và rung cảm đặc biệt về cuộc sống, về con người. Tác phẩm về đề tài phòng, chống dịch Covid-19 đã góp phần tích cực vào đời sống tinh thần của cộng đồng với niềm tin tưởng toàn dân Việt Nam sẽ chiến thắng, và thể thơ 1-2-3 trở thành một mũi nhọn xung kích, đồng thời hứa hẹn nhiều điều mới lạ, hấp dẫn đối với thơ ca.
Mai Sơn
Nguồn: Báo Đồng Nai 24.9.2021
Theo https://vanvn.vn/

"Bên bờ sông gió hát'' giọng điệu chan chứa yêu thương của Nguyễn Hồng

"Bên bờ sông gió hát'' giọng điệu
chan chứa yêu thương của Nguyễn Hồng

Tình cờ tôi gặp tập truyện ngắn Bên bờ sông gió hát của Nguyễn Hồng do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2020 ở cái quán sách nhỏ nép sau góc phố, mua về xếp trên giá sách của mình. Như là cái duyên của người từng làm nghề giữ sách, một buổi sớm thức dậy tôi lên bàn viết ngồi, đầu trống rỗng thế là lại lần thần bên giá sách, thấy Bên bờ sông gió hát hiện trong mắt bèn lấy đọc.
Mở trang đầu, những con chữ rộn ràng bắt mắt. Thế là tôi ngồi đọc, đọc liền mạch, đọc xong gấp lại thấy khắp lòng như áng mây sương mỏng tang cứ lửng lơ trôi, trong áng mây sương mỏng ấy thình lình ẩn hiện những dáng người vừa quen, vừa lậ. Ấy là những phận đàn bà éo le, cơ nhỡ hoặc uẩn trong những mớ đời đen trẵng mà bao đời nay vẫn luân hồi… Lạ là trong nỗi tuyệt vọng của những thân phận ấy họ vẫn khao khát sống, khao khát yêu và họ đã dám bút qua mọi hoàn cảnh để có mình. Cái mạnh mẽ của các nhân vật trong mỗi câu chuyện đều toát lên ý đó. Điều này để cho người đọc tự nhận thấy có một giọng điệu văn chương vừa yếu mềm, nữ tính lại dữ dội yêu thương đến đau đớn mà vãn lắng đọng, ngọt ngào, dịu ấm tựa hồ như những bàn tay có lửa làm cho người ta ấm áp. Nhân vật trong mỗi câu chuyện cứ hiển hiện như là việc có thật ở ngoài đời mà tác giả là người làm chứng và dắt nó vào những trang văn của mình rồi đồng hành với nó cho đến tận cùng kết cục.
Nhìn chung các truyện ngắn trong tập đêù liên mạch ngập lên những khúc buồn, có chuyện buồn cô đơn thăm thẳm, Có lẽ biết điều này nên đôi khi tác giả cũng đan cài những kỷ niệm, những nụ cười hóm hỉnh, vui nhộn như chuyện Bên bờ sông gió hát, Facebook.com…
Đọc Bên bờ sông gió hát vẫn chỉ là những cũ kỹ xưa kia ấy là sự tồ tệch, ngốc nghếch của đôi lứa ở tuổi dậy thì mà người con gái bao giờ cũng khôn khéo, tế nhị, còn cậu con trai thì ngốc nghếch, người ta yêu mình đấy mà còn hỏi có yêu không, giống như ý thơ.
Em bảo anh cút đi.
Sao anh cứ đứng lại
Em bảo anh đừng đơi
Sao anh lại cứ chờ…  
Và như là người ta vẫn có câu: Con gái nói có là không, nói không là có… vậy mà khi giải thích tâm lý này tác gia lại dựng được một cốt chuyện rất thú vị, hóm hỉnh. Ấy là mỗi bận Kha gọi An ra bờ sông, An cứ tưởng là Kha sẽ rành rọt chuyện An đặt vấn đề vơi Kha. Ai dầy Kha toàn kể chuyện bác Khoai với cô Mến, nhiều lần như thế làm An càng tức buồn, càng nôn nóng chờ câu trả lời của Kha nhưng dường như Kha biết mà không biết, mãi đến đận cuối khi Kha gọi An ra bờ sông, cô cứ đứng lặng vê nhàu mớ tóc mặc kệ An nèo nỉ, Kha vẫn đứng lặng kệ gió sông dào dạt, mớ tóc nhàu trong tay Kha… Khi ấy An mới vỡ lẽ. Chuyện chỉ thế thôi nhưng tình tiết, câu văn hay, hóm hỉnh làm cho người đọc vẫn thích dù chuyện đã biết rồi. Hoặc facboock. Com cũng vậy. Xin không kể lại nội dung truyên, chỉ nói cái ý. Ấy là yêu, yêu nhưng toàn chữ, ảo, ảo nhưng mà thật… Đọc song chuyện này cũng gợi ta thấy thời của không gian mạng. Cái ảo, cái thật cứ như mây mưa ấy nhưng trong mây mưa ấy đôi khi cũng giúp con người thấy tia sáng thật để lòng mình tự long lanh, tự sướng… ấy lại là cái thật của câu chuyện. Tôi thấy tác giả hóm lại rất khéo đan lát trong típ chuyện này…
Những nụ vui rộn ràng ấy chỉ thấp thoảng hiện giông như bông hoa mười giờ vừa rực rỡ đấy rồi lại nhòe đi ngay để lại ràng rặc những khúc buồn thăm thẳm suốt chiều dài tập truyện. Ấy là Sen, là Tóc dài, là Thuốc duyên, Thôi thì mây trôi, Nhớ hoa gạo, Một đoạn ký ức… đặc biệt là Một khúc sông sâu…
Ở truyện ngắn Sen thấy một cốt truyện vừa thật vừa ảo. Thật là con người Sen hiển hiện bằng sương bằng thịt được bàn tay người vớt về từ cái đầm sen khi cô bị bỏ rơi, ảo là Sen như thiên nữ được đầm sen sinh ra theo lời của người kể chuyện. Rồi tháng năm đời Sen gắn với người ấy (chàng họa sĩ), Sen ngỡ mình được hạnh phúc được cưu mang nhưng tràng trai ấy lại lạc vào chốn hoan lạc bỏ kệ Sen như vật thừa vừa là của tràng vừa là không phải của tràng. Sen cứ lặng lẽ sống như thế đến một ngày thấy trong lòng mình nảy cái mầm sống, cái mầm sống ấy lại của chính người vừa cưu mang mình vừa bỏ rơi mình. Nghĩ tủi, Sen tìm đến cái chết nhưng không chết đuơc, Sen lại được chính bàn tay người ấy kứu dỗi trở lại ngôi nhà mà Sen từng bị bỏ rơi…lẽ ra đến đận này thì phải tìm những chi tiết đắt để phủ lên cốt truyện và tạo cái chốc lát của câu chuyện để người đọc tự ngẫm, tự thấy những ăn năn của tràng Họa Sĩ nhưng tác giả lại thông thái quá thành thử đem đan vào những đoạn: “Là người kể chuyện muốn thé… Người kể chuyện muốn thế…” tất nhiên mọi chuyện cuối cùng cũng được thanh lọc bởi những ăn năn, xám hối nhưng dù sao cũng làm cho câu chuyện bị nhạt đi bởi những lý giải khá sắc bén lộ rỗ bàn tay của tác giả.
Đến, Thuốc duyên. Cốt truyện này giản đơn nhưng có giá đắt ở chỗ tác giả để cho nhân vật tự sự rất chuẩn. Áy là đôi vợ chồng như là rổ rá cạp lại họ đã vượt qua cái gọi là số mệnh, bỏ qua những dèm pha của miệng thế mà gắn bó với nhau, tìm ra hạnh phúc đích thực từ tình yêu. Chuyện kể: Thi và Lành, hai người cùng cảnh cơ nhỡ, đứt gánh giữa đường, Thi bị vợ bỏ đi vì lý do Thi không thể sinh con, còn Lành người đàn bà chửa hoang đã có Cu Thóc. Họ về cùng mái nhà chuyện cũng lặp lại, hai người không sinh thêm con, Thi lấy cu Thóc làm nguồn sống, còn Lành thì muốn sinh con để cu Thóc có anh có em. Khát vọng rồi tuyệt vọng Lành đành tính chuyện lấy thuốc, Lành tìm được ông lang có uy tín và động viên Thi cùng thực hiện ước nguyện, giằng co mãi cuối cùng Thi chiều Lành. Đến gặp ông lang chuyện lại như hư, như thật, ông lang bắt mạch rồi nói nước đôi: “Con cái là trời cho,Trời cho một đứa rồi cho thêm đứa nữa. Chắc gì phải uống hết bẩy thang thuốc…” hai vợ chồng vừa hy vọng vừa tuyệt vọng nhưng vẫn làm theo ý ông, Lấy thuốc về uống, uống mãi chả có chuyển biến gì Thi càn dàn rồi định bỏ cuộc. Họ bắt đầu mâu thuẫn rồi tức dận nhau, ai có việc người ấy làm, đêm thì quay lưng lại nhau chả ai chịu làm lành ai, chuyện cứ dâì dài, Lành thì vẫn một mực lặn lội đi lấy cho đủ bẩy thang thuốc, Thi thì lầm lỳ từ chối đêm nằm cứ bo cu Thóc ngủ khì… Đêm dài mãi thế, chả ai chịu ai, Lành đành làm dịu. ” Thôi thì trời chả chịu đất, đất phải chịu trời, Lành vòng tay ôm lấy Thi nỉ non… Chỉ chờ thế thôi, Thi ôm ghì lấy Lành, Lành chạm phải giọt nước mắt Thi rớt vội trong đêm tối…” và thế là đêm bung biêng trôi trong đất trời ngày hạn… rồi một buổi sáng dậy mọi điều mới mẻ hiện ra như là giời đất bảo; “Chả cần phải uống hết bẩy thang thuốc đâu…” cái chốc lát ấy tự cởi nút cho câu chuyện để người ta thấy một điều giản dị là đôi lứa sống với nhau phải có tình yêu, tin vào tình yêu tự con tim mình thì sẽ vượt qua mọi nhẽ và sẽ có tất cả. Câu chuyện kết thúc nhẹ nhàng và cũng làm vợi nỗi buồn để ta thêm yêu cuộc sống. Quả bài học “Thuốc Duyên” đơn giản mà rất thánh.
Tóc dài. Mạch buồn nặng chĩu hơn ấy là nỗi buồn đan chen giữa quan niệm và lãng quên. Quan niệm là người làng của Thi coi những người có mái tóc dài là sát phu, không sát phu thì đa đoan nên sinh chuyện cấm đoán nên để xẩy ra câu chuyện bất hạnh giữa mối tình Hương và Hoàng…  Còn lãng quên chính là Thi, người luôn nâng niu mái tóc dài từ mẹ. Thi nâng niu mái tóc mình và cùng muốn được người thân chia sẻ nhưng anh chàng mải công việc dường như chả quan tâm gì đến những suy nghĩ của người thân, từ đó Thi buồn, nõi buồn chỉ ủ trong lòng và hiện trong những giấc mơ, những giấc mơ về quá khứ và những kỷ niệm về Hoàng ở quê lại cháy lên như kêu gọi, như thúc giục… Chủ tâm của câu chuyện muốn nhắc nhở về một vẻ đẹp truyền thống cần được giữ gìn nhưng khi dựng nên cốt chuyện tác giả lại không để nó tự sự bằng những chi tiết có từ mỗi nhân vật mà lại kể, kể đan cài bằng nhiều câu văn tả, phản ánh liền cùng phân tích… nên gây mất hấp dẫn cho người đọc mặc dù tác giả cũng cố gắng tạo những câu văn hình ảnh hay nhưng đọc vẫn thấy trượt ra ngoài làm  mất vẻ hồn nhiên của nhân vật. Không dám chê, đây chỉ là ý nghĩ chủ quan của người đọc vì dù sao Thuóc Duyên vẫn là một truyện ngắn làm cho người đọc nao lòng. Hầu như nỗi buồn luôn vương trong mỗi truyện ngắn của tác giả. Con kiến bị giết, Thôi thì mây trôi, Một đoạn ký ức, Nhớ hoa gạo, Một khúc sông sâu... đều cùng một hợp xướng buồn, buồn rồi chua xót cho mỗi thân phận… đọc mà cứ bâng khuâng nhưng rất may những nỗi buồn ấy, chua xót ấy, trái ngang ấy đều đến kết cục và được thanh lọc rõ ràng làm cho người đọc tự giải thoát được những nỗi niềm từ mỗi câu chuyện lan sang. Có lẽ đây là thế mạnh của tác giả. Tôi rất thích truyện Một khúc sông sâu. Cốt truyện không có gì mới. Vẫn là những chuyện ta thường gặp trên đơi. Ấy là chuyện người chồng ra trận, người vợ ở nhà không giữ chọn thủy chung. Một khúc sông sâu cũng phản ánh hiện thực này nhưng nó được đặt vào hoàn cảnh một gia đình – gia đình ấy chỉ có hai vợ chồng già và hai người con giai, một người lại tàng tật bị mù một bên mắt (mà trong truyện chú tự nhận mình là (Con Cò Mồi) lại là một gia đình thành phần lớp trên (Thời ấy là không tốt). Chiến tranh xẩy ra người anh đi bộ đội, ông đi từ tấm lòng yêu tổ quốc nhưng vẫn chịu tiếng là đi để làm đẹp cái hồ sơ của gia đình.Trước khi đi cũng do hoàn cảnh nhà, ông cưới vợ, cưới một người ông yêu thật sự. Đám cưới gọn nhẹ, chóng vánh để ông lên đường ra trận với niềm tin phía sau có hậu phương yên ổn, có người vợ cùng với đứa em thu quén gia đình và chăm lo bố mẹ già. Tâm nguyện cũng là niềm tin của ông. Vậy mà khi ông đi thì người vợ lại xin bố mẹ chồng về ở với mẹ đẻ để có điều kiện học hành, ông cũng đồn ý việc đó. Khi người chị dâu về nhà mẹ đẻ thì mọi việc đều đổ lên đầu chú em tàng tật. Chú em vì vất vả, vì thương bố mẹ sinh càn dàn và bực tưc rồi coi thường người anh nhu nhược, ông sinh tính để ý, nhờ cái tật mù lòa ông đã chứng kiến đầy đủ những dâm tục của người chị dâu với ông giáo làng từ cái sân đình những đêm trăng và khi chị ta ra hà Nội học, sự thật ấy được cả o Lý người một lòng yêu ông chứng kiến. Đôi dâm tình ấy ăn ở với nhau cho mai đến khi tay nhân tình đi lấy người khác và lúc ấy người anh cũng trở về. họ vẫn êm ấm với nhau, sự êm ấm ấy làm chú Tư Mù càng căm tức, o Lý càng tủi hờn thay nhưng không ai dám nói ra. Ông cũng im lặng sống, sống cho đến ngày các con ông trưởng thành thì mọi chuyện mới vỡ lở, mọi người mới hiểu ông, ông biết cả. Và như vậy mọi sự cung đồng lúc được tự phán sử, tự thanh lọc. Đọc đến đoạn các con ông hỏi sự thật về mẹ (người con tên Nam chỉ mong mẹ lắc đầu không phải thế nhưng người mẹ lại thừa nhận) rồi đến đận Nam tự hỏi không biết cả bốn anh em Nam có phải là con ông không! mà anh không dám hỏi vì sợ ba đau. Nhưng chính người con ấy cũng không thể hiểu được: “ba đau đủ rồi… Dạo này ba cười nhiều, tán chuyện với đồng đội cả ngày, bạn thơ phú rộn ràng trền faeeboock…”
Đọc, đọc mà tóc gáy cứ rợn lên tê dọc xuôi sống lưng nhưng rồi mọi lẽ cũng vỡ tỏ rõ ràng để hiện lên những dòng chữ đẹp tặng cho người cha thật vĩ đai ấy là: “Ông đã mang cả máu thịt mình chiến đấu cho độc lập của dân tộc, cho hạnh phúc của con ngươi dẫu có phải hy sinh ông cũng sẵn sàng, hà cớ chi cái việc cỏn con ấy ông không bỏ qua, cái lớn ông muốn là sự an bình hạnh phúc của con cháu, của con người. Cả đời ông cùng bao nhiêu đồng đội đã hy sinh vì điều đó, giờ con cháu và mọi người đang có điều đó nên ông bằng lòng và cái khúc sông sâu kia chả hề gì cả -Một mình ông đau là đủ…”
Câu chuyện tự để ta nghĩ thế và người đọc cũng rất nể vì tác giả là người cầm bút ở thế hệ 8x mà lại sâu sắc về thế hệ cha anh đến vậy.Các nhân vật trong truyện đều rõ ràng, Tác giả đã tìm được những chi tiết độc ví như việc chú Tư nhìn thấy người chị dâu lén lút vứt cái khăn thêu hình hai con bồ câu mà anh Hai tặng chị ra góc đống rơm… chỉ thế thôi là thấy rõ mồn một tính gian phụ của chị ta rồi. Điều này muốn nói. Một tuyện ngắn hay rất cần những chi tiết độc. Chi tiết độc nó góp phần làm cho tính cách nhân vật đậm nét, đọc là người ta nhớ…. Hơi tiếc số lượng truyện như thế này không có nhiều trong tập. Nói vậy không phải chê những truyện khác. Bên Bờ Sông Gió hát nhìn tổng thể vẫn là tập truyện khá, dễ đọc, mạch văn, mạch kể hoạt, mạch buồn cứ chảy dài qua mỗi thân phận con người suốt quá trình họ lặn lội vượt lên để tự hoàn thiện mình. Đó chính là mặt tích cực của mỗi truyện ngắn trong tập. Rất tiếc ở một số truyện tác giả hay bỏ quên việc tự sự. Lẽ ra phải để cho nhân vật tự nói, tự hình thành tính cách, tự cử động như con người ở ngoài đời thì tác giả lại sợ người đọc không tỏ hay vì quá thông minh nên vội vàng nói hộ hoặc mưu tả, tìm những câu văn hay đặt vào hoàn cảnh, đặt vào nhân vật nên làm cho câu chuyện bị nhạt đi, tính cách của nhân vật cũng nhòa dần theo.Tình trạng này thi thoảng được lặp lại trong các truyện, đọc rồi cứ ngỡ một mâm cơm chỉ có thịt mà thiếu rau hoắc giống như ngôi nhà tất cả từ hướng nhà, hướng bàn thờ, hướng bếp… đều nhìn cùng một hướng… đẹp như mà tự nó không hợp với phong thủy. Hạn hẹp này đã nói trong truyện. Sen. Ấy là theo chủ quan của người đọc tập truyện này, người khác thì lại bảo: “Tác giả đang xác lập một lối viết Nữ- rất Nguyễn Hồng.” Điều này cũng chẳng sai mà cũng không hề đúng. văn chương đi lối nào, đường nào thì cũng không thoát được cổ hoặc kim, cố lắm thì có cái gọi là Hậu hiện đại nhưng hậu hiện đại thì cũng chả đến bờ đến vở nào. Còn cổ truyền thống thì vẫn thênh thênh đấy, kim thì Tự Lực Văn Đoàn đã vạch ra đấy rồi. Tìm tòi là việc của nỗi người viết nhưng dù theo cổ, theo kim, theo hậu hiện đại… cũng chả quan trọng gì. Điều đáng cần là tác giả phải tìm được giọng điệu của mình trong giàn văn chương chung, bất chấp nó là cổ hay kim… Khi đã tìm được giọng điệu thì dù đi đường cổ, lối kim thì nó vẫn lồ lộ là mình, không lẫn vào ai được, tự nó sẽ có chỗ đứng trong giàn văn chương chung ấy. Cũng như cùng một ca khúc Xa khơi. Khi nghe Tân Dân hát rất hay nhưng đến Thu Hiền hát lại thấy rất lạ và Anh Thơ hát lại thấy rất mới… ai ai cũng thích nghe dù cùng một ca khúc ấy. Điều này chứng tỏ nghệ sĩ có giọng điệu riêng mà giọng điệu ấy đã đạt thành phong cách. Phong cách là đánh dấu tài năng của nghệ sĩ ở từng cấp độ.
Văn chương cũng vậy, quan trọng là giọng điệu của mình. Nói ý này tôi lại nhớ câu thơ: “Hát về rừng đừng bắt chước tiếng chim”. Đọc Bên bờ sông gió hát tôi thấy thực sự tác giả đang hình thành một giọng điệu, giọng điệu chan chứa yêu thương, yêu thương đến đau đớn mà lắng đọng, ngọt ngào luôn khao khát sống, khao khát yêu… Mong rằng những tập truyện sau giọng điệu ấy càng đằm thắm hơn, ngọt ngào hơn.
27/9/2021
Trịnh Thanh Phong
Theo https://vanvn.vn/

Bằng chứng về thói tự thị của một người hay chữ lỏng

Bằng chứng về thói tự thị
của một người hay chữ lỏng

Nhân đọc đoạn văn bà Thụy Khê phê bình tôi trong sách Phê bình văn học thế kỷ XX, NXB Hội Nhà văn, 2017.
Cuốn sách Phê bình văn học thế kỷ XX của Thụy Khuê, NXB Hội Nhà văn 2017, là một cuốn sách được đón chào rôm rả. Tôi được tặng một cuốn, đọc qua các bài viết về trường phái hình thức Nga và về Bakhtin, tôi biết bà chưa nắm vấn đề. Tôi cũng không hứng thú bàn về cuốn sách này. Nhưng ở chương 4, bàn về “Phê bình phân tâm học của Freud”, bà có nhã ý phê bình và dạy tôi một bài học. Toàn văn đoạn bà phê bình tôi như sau:
“Nhưng đáng buồn nhất là hiện tượng hiểu sai phân tâm học Freud, hiểu sai phê bình phân tâm học của Freud, mặc dù có sự cảnh báo của Nguyễn Văn Trung, vẫn kéo dài đến ngày nay và có vẻ còn tô đậm hơn, đưa tới những tuyên bố sai lầm về tình hình phê bình phân tâm học của Tây phương, như lời sau đây của Trần Đình Sử:
“Phê bình phân tâm học là một trường phái phê bình rất thịnh hành ở phương Tây ở nửa đầu thế kỷ XX. Sức ảnh hưởng của nó đối với phê bình văn học phương Tây đương thời có thể nói không phương pháp phê bình văn học nào sánh được. Cội nguồn của nó không ngoài phân tâm học của bác sĩ người Áo S. Freud và của nhà tâm lí học phân tích người Thụy Sĩ là K. Jung (…) Hai lí thuyết này thực sự đã trở thành làn sóng mạnh mẽ, cuốn theo cả phong trào phê bình văn học phương Tây, làm xuất hiện nhiều tên tuổi nổi tiếng như Ch. Baudouin, Ch. Mauron, P. Guiraud, G. Bachelard… Theo nhận xét của P. Guiraud thì “không một nhà phê bình văn học hay nghiên cứu phong cách học hiện đại nào có tầm cỡ mà không chịu ảnh hưởng của phân tâm học, cũng như lí thuyết mẫu cổ của Jung thì đó là chỗ dựa của toàn bộ nền phê bình chủ đề học hiện đại. Từ L. Spitzer đến G. Bachelard (…)”. Quả đúng như thế. Ngay J. P. Sartre khi nghiên cứu sự hình thành cá tính sáng tạo của Flaubert với phương pháp “vận động thường xuyên từ tác phẩm đến con người và từ con người đến tác phẩm”, ông đã chú ý đến lịch sử phát triển thần kinh của nhà văn, mà đặc biệt là cái vô thức thời thơ ấu” (Trần Đình Sử, “Đỗ Lai Thúy và bút pháp của sự ham muốn”, in trong tập sách cùng tên, NXB Tri Thức, Hà Nội, 2009, tr.7-8)
Không hiểu tại sao chỉ một đoạn văn ngắn như vậy mà lại chứa nhiều cái sai như vậy?
Thực ra, phê bình phân tâm của Freud chưa bao giờ có ảnh hưởng đến độ không phương pháp phê bình văn học nào sánh được, vì có mấy ai biết đến những bài phê bình của Freud mà chúng tôi vừa giới thiệu ở trên đâu, trừ một số rất ít người nghiên cứu văn học.
Baudouin và Mauron, tuy được coi là hai nhà phê bình phân tâm, cũng không làm việc theo lối Freud, mà họ chỉ ghép một số khái niệm của Freud, hòa với những lập thuyết khác, để hình thành lý thuyết văn học của họ và họ cũng không có ảnh hưởng gì lớn trong phê bình văn học thế kỷ XX.
Spitzer không dính líu gì đến phân tâm học (xem chương 10, Leo Spitzer).
Tuy phê bình phân tâm vật chất của Bachelard và phê bình phân tâm hiện sinh của Sartre, đều có chữ phân tâm, nhưng cũng không dính dáng gì đến Freud cả, chữ phân tâm này chỉ có nghĩa là phân tích cặn kẽ (xem chương 13 và 14, về Sartre và Bachelard).
Riêng Sartre, sự phủ nhận vô thức của Freud, đã rành rành trong cuốn Hữu thể và Vô thể, mà chúng tôi vưà trình bày ở trên.
Qua những điều này, ta có thể rút ra bài học: thà rằng ta không viết gì về Freud, còn hơn là ta viết mà không đọc ông, hoặc viết theo những những điều “nghe nói”, hoặc trích những tác giả không rành rẽ vấn đề. Làm như vậy rất hại cho cho những bạn đọc trẻ, bởi vì ta hướng họ theo những lầm lạc của ta. Sự lầm lẫn về Freud, từ những năm 40 của thế kỉ trước, tưởng đã đến lúc nên được chấm dứt.” (Phê bình văn học thế kỉ XX, 2017, tr. 133-134). Đó là toàn văn đoạn bà Thụy Khuê phê bình tôi trong sách của bà.
Bây giờ tôi xin nêu ý kiến của tôi.
Trong đoạn văn trên, tôi chỉ nói về một vấn đề: ảnh hưởng của phân tâm học (cả Freud và K. Jung) đối với phê bình văn học, chứ không bàn gì liên quan tới bản chất tư tưởng của Freud, về phê bình của Freud. Tôi không quan tâm, bởi tôi không đi theo hướng phân tâm học. Sở dĩ tôi đề cập ảnh hưởng này bởi vì tôi đang nói tới phê bình của Đỗ Lai Thúy. Phân tâm học đã trở thành một trào lưu nghiên cứu, phê bình văn học của thế kỉ XX, không ai là không thừa nhận. Vào thời điểm đầu thế kỉ XX thì đúng là không có phương pháp nào sánh được. Cho đến nay, không một sách nào nói về phê bình văn học thế kỉ XX mà không nhắc đến phê bình phân tâm học. Từ sách Nhập môn lí luận văn học (University of Minnesota Press, 1983) của Terry Eagleton đến sách Phê bình văn học thế kỷ XX (La Critique littéraire au XXe siècle, Belfond, 1987) của Jean-Yves Tadié năm 1987 và tất cả các sách khác về lịch sử phê bình văn học thế kỷ XX. Để nói cho gọn, tôi đã lấy ý kiến của Pierre Guiraud mà tôi đã trích rất dài và có ghi xuất xứ hẳn hoi. Câu đó đã cho thấy phân tâm học đương thời (kể cả Freud và Jung), từ đầu thế kỉ cho đến những năm 60, 70 không phương pháp phê bình văn học nào sánh được và trở thành trường phái từ năm 1939. Và từ đấy cũng đã lan sang nước ta. Xin trích thêm một câu nữa của bà A. Clancier, người nghiên cứu vai trò của phân tâm học trong phê bình văn học: “Freud đã mở ra những con đường mới trước phê bình văn học” và bà khẳng định: “về thực chất, hầu như không còn một nhà phê bình văn học nào mà ít hoặc nhiều không bị tác động bởi những phát hiện của Freud, mặc dù tác động này không phải bao giờ cũng trực tiếp, và không phải bao giờ cũng được họ thừa nhận.” (A. Clancier, Psychanalyse et critique littéraire, Privat, 1973, p. 30, TĐS nhấn mạnh). Thử hỏi có phương pháp phê bình văn học nào mà thu hút được hầu hết sự quan tâm của các nhà phê bình văn học đến như vậy? Đến Roland Barthes trong bài Phê bình là gì (“Qu’est-ce que la critique?”, trong Essais critiques, Seuil, 1964, pp. 252-257) cũng đã nói: “Có dòng phê bình phân tâm theo tư tưởng Freud mà đại biểu ưu tú nhất ở Pháp hiện nay ai cũng thấy là Charles Mauron (những công trình về Racine và Mallarmé). Nhưng ở đây, giống như phê bình mac-xit, có hiệu quả hơn cả lại hoá ra là nhánh phân tâm học “ngoại biên” của G. Bachelard”.
Ảnh hưởng ở đây có trực tiếp, gián tiếp, công khai hoặc không công khai, ít hoặc nhiều. Hiểu đúng là chịu ảnh hưởng, mà hiểu sai cũng là ảnh hưởng. Tiếp nhận nguyên xi là ảnh hưởng, mà biến hóa thêm thắt cũng là ảnh hưởng.
Để chứng minh là tôi sai, bà Thụy Khuê nói rằng trên thế giới rất ít người đọc các bài phê bình của Freud bà đã giới thiệu. Đó thực là một ngộ nhận lớn. Có ai thực sự nghiên cứu phân tâm học mà không đọc? Xin bà cho biết chứng cứ?
Để chứng minh tôi sai, bà cho rằng ông Pierre Guiraud mà tôi trích dẫn là “người không rành rẽ.” Nhưng xin bà đừng dìm người khác ý kiến với mình, cả Guiraud lẫn Lancier đều được giới thiệu và nêu tên trong cuốn Phê bình văn học thế kỉ XX của Jean-Yves Tadié (1987) như là những tác giả phê bình thế kỉ XX. Ông P. Guiraud là người nghiên cứu phong cách học theo lối thống kê học, là người nêu ra cách tìm từ chìa khóa để xác định phong cách nhà văn, còn Lancier là người đầu tiên hệ thống hóa và nghiên cứu về trường phái phân tâm học. Không phải ai cũng được nhắc tên trong cuốn sách của Tadié đâu. Giữa bà Thụy Khuê và hai nhà học giả Pháp, dĩ nhiên tôi tin họ hơn bà. Bà Thụy Khuê phủ nhận ý kiến của Guiraud và của tôi, thì tất nhiên bà phải phủ nhận hết những ai mà tôi đã nêu tên là có chịu ảnh hưởng của phân tâm học Freud.
Kì cục nhất là Ch. Baudouin và Ch. Mauron là hai nhà phân tâm học rất nổi tiếng, mà trên kia R. Barthes đã khen công trình của Ch. Mauron về Racine và Mallarmé, thì bà Thụy Khuê lại phủ nhận họ là người chịu ảnh hưởng của Freud. Bà lập luận: “Baudouin và Mauron, tuy được coi là hai nhà phê bình phân tâm, cũng không làm việc theo lối Freud, mà họ chỉ ghép một số khái niệm của Freud, hòa với những lập thuyết khác, để hình thành lý thuyết văn học của họ và họ cũng không có ảnh hưởng gì lớn trong phê bình văn học thế kỉ XX.” Ý của câu này là gì? Là họ không chiụ ảnh hưởng của Freud chăng? Cách giải thích của bà Thụy Khuê chứng tỏ bà không hiểu thế nào là ảnh hưởng. Có phải chỉ chuyên học một món Freud mới là chịu ảnh hưởng đâu, có một chút Freud rồi pha thêm cái khác vẫn là chịu ảnh hưởng. Vậy tôi nói có sai đâu?
Điều nhận định của bà Thụy Khuê hoàn toàn trái với Tadié. Hãy giở sách của ông này, ở chương về phân tâm học, thì sau Freud là đến các mục viết về hai ông này, mỗi ông một mục riêng, đủ thấy vị trí của họ trong phân tâm học.
Vậy các ông Léo Spitzer và Gaston Bachelard có chịu ảnh hưởng của phân tâm học không? Rất tiếc khi trích dẫn lại đoạn văn của tôi, bà Thụy Khuê không biết vì lí do gì mà đã cắt bỏ đi một đoạn quan trọng của P. Guiraud giải thích vấn đề này như sau: “Từ L. Spitzer đến G. Bachelard phong cách học phát sinh ít nhiều đều công khai thừa nhận mối liên hệ của mình đối với phân tâm học, đồng thời phê bình phân tâm học của Ch. Mauron hoàn toàn dựa trên các mô hình phân tâm học được biểu hiện một cách lộ liễu.” Câu này cho thấy Spitzer và Bachelard đã thừa nhận có liên hệ ít nhiều với phân tâm học. Chắc chắn Guiraud có căn cứ khi viết điều này, và ông ấy sẽ chịu trách nhiệm. Trên kia Roland Barthes cũng đã nói Bachelard là “phân tâm học ngoại vi”. Trong sách Phân tâm học về lửa (La Psychanalyse du feu, Gallimard, 1949), Bachelard đã dùng chữ “phân tâm học” và chữ “mặc cảm”, ông còn viết “mặc cảm Promethéus là mặc cảm Oedipe về mặt tinh thần” đều là chữ của Freud cả. Theo quan điểm của tôi, trong khoa học, dùng một chữ của người ta cũng là chịu ảnh hưởng của người ta. Trong khoa học các nhận định thường thay đổi theo thời gian là lẽ thường, đâu phải lúc nào cũng chỉ có một chân lí duy nhất, theo kiểu, hễ bà Thụy Khuê đúng, thì ai khác với bà đều sai? Nếu bà Thụy Khuê có ý kiến khác thì xin mời tranh luận ông với P. Guiraud trên diễn đàn Pháp. Tôi là người nghiên cứu ở Việt Nam, tôi lại không chuyên về phân tâm học thì tôi sử dụng tư liệu gián tiếp cũng là chuyện bình thường.
Vây J. P. Sartre có chịu ảnh hưởng của phân tâm học không? Trong bài về Đỗ Lai Thúy tôi đã viết: “J. P. Sartre khi nghiên cứu sự hình thành cá tính sáng tạo của G. Flaubert với phương pháp “vận động thường xuyên từ tác phẩm đến con người và từ con người đến tác phẩm”, ông đã chú ý đến lịch sử phát triển thần kinh của nhà văn, mà đặc biệt là cái vô thức thời thơ ấu.” Đây là tôi lấy ý kiến của nhà nghiên cứu Nga Z. I. Khovanskaya trong sách Phân tích tác phẩm văn học trong ngữ văn Pháp hiện đại (Nxb Đại học, M. 1980, tr. 48). Ở đây đề cập đến tác phẩm L’Idiot de la famille của Sartre viết vào những năm cuối đời, lúc này ông đã yếu, đề cập đến ngày thơ ấu của nhà văn G. Flaubert. Bà Thụy Khuê phủ nhận điều này bằng cách chứng minh rằng trong triết học Sartre đã phủ nhận vô thức. Tôi cho rằng trong triết học có thể là thế, mà trong nghiên cứu văn học không hẳn như thế. Con người ta rất phức tạp. Tôi chưa thấy bà Thụy Khuê phân tích tác phẩm này để bác bỏ, cho nên có thể coi lời phê bình của bà là vô hiệu.
Việc bà Thụy Khuê phủ nhận hết những người chịu ảnh hưởng của Freud mà tôi nêu sẽ dẫn đến điều gì? Khi bà cố tình phủ nhận hết những ai chịu ảnh hưởng của Freud thì tất nhiên là sẽ không có trường phái phân tâm học nào hết mà chỉ có trơ trọi một ông Freud. Những người Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đã hiểu sai Freud, đến chúng tôi sau này cũng hiểu sai hết, mà hiểu sai nặng hơn! Chỉ một mình bà Thụy Khê hiểu đúng. (Nhưng ai đảm bảo bà Khuê hiểu đúng? Qua lối tư duy khoa học ở chương 4 này, thì tôi hoài nghi khả năng hiểu của bà.) Và do đó trên thế giới, theo cách hiểu của bà, không hề có trào lưu phê bình phân tâm học, mà chỉ có “Phê bình phân tâm học của Freud” mà thôi. Đó chính là cái tên của chương 4 trong cuốn sách đồ sộ của bà Thụy Khuê viết về phê bình văn học thế kỉ XX! Tên chương này thể hiện nhận thức sai lầm phi khoa học của bà về phê bình phân tâm học. Bởi vì Freud trước hết là nhà phân tâm học, bác sĩ tâm thần học, ông chưa bao giờ là nhà phê bình văn học thực sự. Ông nghiên cứu văn học chủ yếu để minh họa cho lí thuyết phân tâm của ông. Còn các nhà phê bình văn học phân tâm học thì khác, họ vận dụng một số nguyên lí của ông để giải quyết các vấn đề của bản thân văn học. Đáng lẽ phải viết về họ thì bà lại bỏ hết họ đi.
Bà còn viết: “Phê bình phân tâm học của Freud, thực ra, chỉ là môt khuynh hướng rất nhỏ trong phê bình văn học, nay đã lỗi thời, nhưng vì tên tuổi của Freud và vì hai chữ phân tâm, nó đã được một số tác giả khuếch trương lên.” Nhận định này hoàn toàn sai. Ngoài Pháp ra, bà không biết đến các tác giả phân tâm học của các nước khác trên thế giới. Nhận định của bà trái ngược hết so với các nhà lí luận lớn trên thế giới. Bà không hiểu khi tiếp nhận Freud, hiểu đúng cũng là chịu ảnh hưởng, mà hiểu sai cũng là chịu ảnh hưởng. Bà có biết không đọc trực tiếp Freud cũng vẫn chịu ảnh hưởng của Freud không? Bà có biết lí thuyết nó “du hành” và biến đổi không?
Hiểu sai cũng không ảnh hưởng gì, miễn là có sáng tạo, trong khi bà chỉ chăm chăm tìm cách hiểu đúng! Chỉ có hiểu đúng Freud thì mới chịu ảnh hưởng của ông ta! Đó là cách hiểu kì cục. Cho nên, chỉ nêu phê bình phân tâm học của Freud là vô nghĩa. Trên thế giới không có ai đặt một cái nhan đề chương như thế. Nên nhớ rằng sở dĩ Freud được nhắc đến là vì ông gây ảnh hưởng cho hàng loạt nhà phê bình khác. K. Jung phản đối Freud cũng là người chịu ảnh hưởng của Freud. Jacques Lacan cũng chịu ảnh hưởng của Freud. Các nhà phê bình nữ quyền luận như Julia Kristeva, Hélène Cixous cũng đều chịu ảnh hưởng của Freud. Cả Harold Bloom, cả Jacques Derrida đều chịu ảnh hưởng của Freud. Phê bình phân tâm học không chỉ có ở Pháp, mà còn có cả ở Anh, ở Mĩ, ở Nhật và nhiều nước khác trên thế giới. Hẳn bà Thụy Khuê không biết năm 1924 ở Nhật Bản có sách Biểu tượng của đau khổ của Kuriyagawa Hakuson (1880-1923), viết theo tư tưởng của Freud, văn học là giấc mơ ban ngày? Hẳn bà không biết tác phẩm Hamlet và Oedipus của Ernest Jones ở Anh năm 1954? Và có lẽ bà cũng không biết quyển Postmodern Psychoanalysis của Norman N. Holland ở Mĩ năm 1990? Thế cho nên bà mới nói nó là “một khuynh hướng rất nhỏ”. Tư tưởng phân tâm học luôn được hiểu theo các bình diện mới, cho nên nó không lỗi thời. Người ta không chỉ nghiên cứu về động cơ sáng tác, cá tính tác giả, mà còn nghiên cứu tác phẩm, nghiên cứu người đọc. Ấy thế mà khi viết về phê bình văn học thế kỉ XX mà chỉ nói đến phê bình phân tâm học của một mình S. Freud, phủ nhận cả trào lưu phê bình phân tâm học trên thế giới thì thử hỏi có khoa học hay không?
Vậy đó, bà Thụy Khuê phê bình tôi rất nặng nề, tôi không lấy làm điều, bởi tôi gặp lối phê bình này nhiều lắm rồi. Nhưng chính bà mới là người hiểu sai vấn đề khoa học. Qua việc bà phê bình tôi, chẳng những không nói được tôi sai, ngược lại đã bộc lộ trình độ hiểu biết rất hạn chế của bà. Chẳng những thế, bà còn có tham vọng lên tiếng dạy chúng tôi về thái độ khoa học. Tôi coi đây là một bằng chứng về thói tự thị vô lối của một kẻ không tự biết mình.
Bà Thụy Khuê viết cuốn sách này vì thấy “phê bình trong nước còn phôi thai”, muốn đóng góp (dạy) cho lớp trẻ (và cả lớp già như tôi) ở trong nước. Cuối cuốn sách này, còn có lời giới thiệu không thể nhiệt tình hơn của nhà văn Tạ Duy Anh: “Đây có lẽ là cuốn sách mà những người yêu văn học nước nhà chờ đợi từ lâu. Thụy Khuê, tên bà đã là một đảm bảo bằng vàng về sự nghiêm túc…, có khả năng phi thường trong việc truyền đạt, diễn giải kiến thức… Tôi tin rằng đây là cuốn sách công phu nhất, đầy đủ nhất, có hệ thống nhất…”. Nhà văn của chúng ta tin rất mực chân thành và đáng yêu và đáng kính trọng nữa. Ông tin những điều tốt đẹp. Nhưng sự đời giữa niềm tin và sự thật nhiều khi khác nhau như trời vực.
Tôi thuộc nhà phê bình “phôi thai ở trong nước”, xin góp một ý nhỏ để bạn đọc thấy “cái đảm bảo bằng vàng của cái tên Thụy Khuê” nó thực ra là thế nào. Chỉ trong một chương sách thôi, ta đã thấy bà thiếu công phu, thiếu nghiêm túc (khi trích dẫn tôi bà đã phạm ba lỗi, bỏ sót ý cơ bản, tự tiện thay đổi dấu phẩy, dấu chấm [*]), thiếu kiến thức, thiếu hệ thống, thiếu hiểu biết. Bà không hiểu trường phái phê bình phân tâm học, không hiểu thế nào là ảnh hưởng lý thuyết, không biết thế nào là hiểu đúng, hiểu sai trong nghiên cứu văn học. Toàn cuốn sách của bà tràn ngập các thuật ngữ triết học và văn học mà người ta chỉ sử dụng trước năm 1975 ở miền Nam. Người đọc chớ lầm là thuật ngữ mới.  Mong bạn đọc già trẻ tỉnh táo.
Chú thích:
[*] Chẳng hạn về việc tùy tiện thay đổi dấu phẩy, dấu chấm. Nguyên văn tôi viết: “Theo nhận xét của P. Guiraud thì “Không một nhà phê bình văn học hay nghiên cứu phong cách học hiện đại nào có tầm cỡ mà không chịu ảnh hưởng của phân tâm học, còn như lí thuyết mẫu cổ của Jung thì đó là chỗ dựa của toàn bộ nền phê bình chủ đề học hiện đại. Từ L. Spitzer đến G. Bachelard phong cách học phát sinh ít nhiều đều công khai thừa nhận mối liên hệ của mình đối với phân tâm học, đồng thời phê bình phân tâm học của Ch. Mauron hoàn toàn dựa trên các mô hình phân tâm học được biểu hiện một cách lộ liễu.” Thụy Khuê cắt bỏ “phong cách học phát sinh ít nhiều đều công khai thừa nhận mối liên hệ của mình đối với phân tâm học, đồng thời phê bình phân tâm học của Ch. Mauron hoàn toàn dựa trên các mô hình phân tâm học được biểu hiện một cách lộ liễu” và thay dấu chấm cuối câu thứ nhất bằng dấu phẩy, biến “Từ L. Spitzer đến G. Bachelard” của câu thứ hai trở thành phần phụ cho câu thứ nhất, khiến nội dung tôi viết bị thay đổi hẳn.
Hà Nội, 24/9/2021
Trần Đình Sử
Theo https://vanvn.vn/

''Thần cảm'' trong thế giới trẻ thơ

''Thần cảm'' trong thế giới trẻ thơ

“Trẻ thơ là sự ngây thơ và quên lãng,
một sự tái khởi miên viễn
 một trò chơi,
một bánh xe quay vòng quanh mình,
một vận chuyển đầu tiên,
một tiếng “Vâng” linh thánh”
(Zarathustra)
Mỗi con người khi còn là trẻ thơ thường ấp ủ giấc mơ làm người lớn. Còn khi đã trở thành người lớn, lại là những giấc mơ, hoài niệm về thời thơ trẻ. Đó là một vòng quay đầy nhiệm màu, trong đó có sự khám phá, nhận thức, và suy ngẫm về đời sống.
1. Jean Nicolas Arthur Rimbaud (20.10.1854 – 10.11.1891) là một nhà thơ có cuộc đời ngắn ngủi và sự nghiệp sáng tác còn ngắn ngủi hơn rất nhiều lần, nhưng lại đã tạo nên được những phát triển quan trọng của thơ tượng trưng và là một bước đột khởi trong nền thơ Pháp thế kỷ XIX, có ảnh hưởng lớn lao đến văn học những giai đoạn sau.
Trong thơ Rimbaud, bản thân chàng đã hiển hiện với nhiều góc độ khác nhau, cùng với những chi tiết có được từ tiểu sử của chàng, chúng ta có thể hình dung chàng từng là một đứa trẻ thông minh, có những năng lực đặc biệt như một thần đồng. Đó là một đứa trẻ sống ở tỉnh lẻ, lúc nào cũng muốn phản ứng lại những điều nặng nề, trì trệ xung quanh mình. Đó là người mê phiêu lưu và lang bạt từ trong bản chất. Đó là nhà thơ viết trong những cơn đê mê, say đắm đầy ảo giác vì sử dụng chất kích thích, để tạo nên thế giới thơ ca của riêng mình, lạ lùng và bí ẩn.
Vũ trụ thơ ca của Rimbaud lấp lánh ánh sáng của niềm thần khải, mơ mộng, luôn luôn nguyên sơ, luôn luôn đồng nhất. Đi đến cùng vũ trụ mơ hồ của người thi nhân thấu thị, đó là cái nhìn của trẻ thơ. Và chúng ta cũng nhớ rằng, thi nhân Rimbaud đã làm thơ từ khi là một đứa trẻ, và đến khi tuyên bố đoạn tuyệt với thi ca, chàng cũng chỉ vừa đến tuổi đôi mươi. Tuổi đôi mươi người ta là một người lớn, và cũng vẫn còn là một trẻ thơ. Thi nhân thì, muôn đời, giữ cho mình vẻ nguyên trinh của một đứa trẻ.
Phải chăng thơ ca là lời tâm hồn của đứa trẻ dần lớn lên, đối diện với cuộc đời và muốn khám phá. Những đứa trẻ cất lời ca từ chân nguyên của chính mình. Rồi cho đến khi từ giã tuổi thơ để bước vào đời, nó ngừng hát. Đó là lúc thi sĩ Rimbaud ngừng cất lên những giai điệu lạ lùng để bước vào một giai đoạn mới của cuộc đời – quãng đời phía sau của Rimbaud mà người ta đã cho rằng nó khác lạ và chẳng giống gì với quãng đời của chính thi nhân trước kia. Nhưng trong suy nghĩ của chúng tôi, Rimbaud người lớn có cuộc đời bôn ba làm những nghề nghiệp kỳ lạ là một sự thể nghiệm của suy tưởng trong tâm hồn của một Rimbaud trẻ con. Và cũng đã có nhận định rằng, chính cuộc đời Rimbaud là một bài thơ.
2. Les Illuminations (1886) là một tựa đề có nhiều ý nghĩa. Từ nguyên gốc tiếng Pháp khi được dịch sang tiếng Việt, tên tập thơ đã được chọn cho nhiều cách gọi khác nhau như: Thần cảm, Thần khải, Bừng sáng, Hoa đăng, Thiên khải,… Thực chất cách chuyển ngữ nào cũng có ý nghĩa và có lý do. Có thể hiểu Les Illuminations là sự chiếu sáng, sự bừng sáng. Cũng có thể hiểu Les Illuminations là sự giác ngộ, đốn ngộ, để nhận thức được chiều sâu xa của tư tưởng và vũ trụ – như điều mà các nhà tượng trưng hướng đến. Theo ý riêng, chúng tôi chọn tên tiếng Việt cho tập thơ Les Illuminations là Thần cảm, cách gọi tạo cho chúng tôi nhiều hứng thú nhất. Dù có chọn cho tập thơ cái tên tiếng Việt nào, chúng tôi luôn hình dung tựa đề của tập thơ độc đáo này ở hai phương diện nghĩa quan trọng. Một là ánh sáng, sự bừng sáng. Hai là sự nhận thức, điều được mặc khải, từ đấng tối linh của vũ trụ. Hai đặc trưng này không hề xa lạ với thơ tượng trưng.
Trong bài viết này, chúng tôi trình bày về yếu tố trẻ thơ, điều chúng tôi cho rằng nổi bật và đầy ấn tượng trong tập thơ Thần cảm. Trẻ thơ – không chỉ là những đứa trẻ ngây thơ trong sáng. Trẻ thơ – là tuổi trẻ của chính Rimbaud trong thời kỳ sáng tác của nhà thơ. Trẻ thơ – là sự hồi tưởng, là hình dung về tuổi thơ của Rimbaud khi để lại dấu ấn của bản thân mình trong thơ. Trẻ thơ – chính là uyên nguyên, sơ khởi của tạo vật, thế giới và sự sống, chính là vũ trụ thi ca mà Rimbaud đã tạo dựng nên, với lối cảm nhận đặc thù của mình.
3. Thực tại được tạo lập trong thơ của Rimbaud, như điển hình của thơ tượng trưng, là thực tại đầy hình tượng với ý nghĩa tượng trưng sâu xa, nhiều triết lý. Thực tại ấy cũng phong phú, phức tạp, đầy âm thanh, màu sắc, ánh sáng, nhưng cũng đồng thời cần được hiểu trong sự nhất quán, hài hòa, chứ không phải là sự mâu thuẫn, phân rẽ. Điều này có nguồn gốc từ triết học Thần cảm, siêu hình của Đức, và cũng có mối liên hệ sâu xa với tư tưởng nhất nguyên, nhất thể của tư tưởng phương Đông cổ đại. Bởi vậy, nên khi đọc những vần thơ trong Thần cảm, người đọc có thể nhận thấy rất nhiều những hình tượng, dồn nén, chất chồng, rất nhiều khi đột ngột và khó hiểu, nhưng ngầm dưới những từ ngữ, hình tượng dày đặt đó là sự kết nối, nguyên hợp.
Thực tại của tập thơ Thần cảm, vừa là thực tại của đời sống hiện thực, vừa là một thực tại đầy chất huyền ảo, bí ẩn. Ở đó có thành phố, có đường sá, có nhà cửa, có những chuyến xe, có chiếc cầu, có những con tàu. Ở đó cũng có những vị thần, những con vật hoang đường, những mụ phù thủy, những phép màu. Ở đó có người lang thang, nghèo khổ, lăn lóc. Ở đó cũng có người lữ hành đi trong chuyến lãng du của tâm tư muốn tri nhận sự bí ẩn của sự sống.
Chúng tôi gọi cái thế giới thực tại mà Rimbaud tạo nên trong Thần cảm là Thế giới trẻ thơ, là muốn nhấn mạnh tính nguyên sơ của nó. Trẻ thơ – hoàn toàn không phải là sự non kém, ấu trĩ, ngây ngô, mà là sự chạm đến những huyền thoại sâu xa chất chứa nhiều ý nghĩa như dưới những lớp trầm tích, là sự mở rộng đến mênh mang của trí tưởng tượng và tư tưởng, là niềm tin thiêng liêng vào sự sống và vũ trụ.
4. Thế giới của trẻ thơ là thế giới mang màu sắc cổ tích, huyền thoại và ngụ ngôn. Mở đầu tập thơ Thần cảm là bài thơ Sau trận đại hồng thủy. Đại hồng thủy là một huyền thoại rất quen thuộc phát xuất từ vùng Lưỡng Hà, và còn xuất hiện trong huyền thoại ở nhiều vùng đất khác trên thế giới. Đại hồng thủy được hiểu đơn giản như là sự nổi giận của Đấng thượng đế vì những tội lỗi xấu xa của con người nên đã muốn tiêu diệt hết toàn bộ thế giới. Nhưng lúc nào cũng có con người tốt đẹp và đức hạnh nhất được chọn lựa để được cứu sống trong cơn đại hồng thủy, để tiếp tục bảo tồn và vun vén sự sống trên thế giới này. Vì vậy, đại hồng thủy được hình dung như một sự tàn phá ghê gớm, một tai ương khủng khiếp của nhân loại, nhưng lại cũng là hình tượng của sự mới mẻ, sự khởi đầu, sự sinh ra.
Trong bài thơ Sau trận đại hồng thủy của Rimbaud, đại hồng thủy trước hết và quan trọng nhất là một ý tưởng trong suy nghĩ của nhà thơ. “Ý tưởng về trận đại hồng thủy đã được đặt lại”. Rimbaud trông đợi một cơn đại hồng thủy xảy đến với thế giới, như trông đợi một sự mới mẻ sẽ nảy sinh và xoay vần cuộc sống. Nhà thơ, căn bản, người thi nhân thấu thị ấy, hiểu về sự tồn tại của một niềm linh thiêng, huyền bí tạo ra sự vận hành của sự sống. Một đấng linh thiêng nào đấy nắm giữ điều bí mật. “Bà đặt chiếc dương cầm trên rặng núi Alpes”, chiếc đàn ấy sẽ tấu lên những khúc nhạc của trời vang vọng khắp rặng núi Alps hùng vĩ, vang vọng khắp mọi ngõ ngách của thế giới, tiếng đàn trời ấy cùng hòa điệu với tất cả tạo vật và sự vận động khác.
Sau cơn đại hồng thủy, là một mặt đất hoang sơ và mới mẻ. “Trong ngôi nhà to bằng kiếng còn đầm đìa, những đứa trẻ chịu tang đang ngắm những hình ảnh diệu kỳ”. Những đứa trẻ còn sống sau cơn hồng thủy, những sinh linh tốt đẹp nhất còn sống. Một cách nào đấy sẽ là những đứa trẻ phải chịu tang, cho tất cả những gì đã bị hủy diệt. Nhưng cũng chính đứa trẻ ấy, đang chứng kiến những điều diệu kỳ của sự sống sắp sửa sinh sôi.
Thần thoại Hy Lạp có kể về nạn hồng thủy, Deucalion và Pyrrha là hai người duy nhất còn sống sót. Họ nhận được lời phán truyền của thần Zeus, hãy lấy vải che mặt, ra khỏi đền thờ và ném lại sau lưng xương của mẹ các ngươi. Xương của cha mẹ ư? Những đứa con vừa chịu tang có thể làm được chăng điều đó. Và lúc đó họ bừng hiểu rằng, Mẹ chính là Đất, và xương của mẹ chính là đá. Họ quay lưng bước đi, ném về sau lưng họ xương của Mẹ của muôn loài. Từ mỗi hòn đá được ném đi ấy, đã trỗi dậy những con người, sinh sôi đông đảo trở lại trên mặt đất này. Trong bài thơ Sau trận đại hồng thủy, Rimbaud đã viết: “Ôi! Những loài đá quý đang lẩn trốn, – hoa thì mở mắt nhìn” và sau khi những cơn đại hồng thủy tan biến “ôi những loài đá quý vẫn vùi chôn, hoa thì bừng nở!”. Những loài đá quý, phải chăng là phần xương thịt tinh hoa nhất sẽ tạo ra những con người đẹp đẽ và đức hạnh nhất? Có thể hình dung một cách đơn giản hơn, rằng sau đại hồng thủy, cuộc sống sẽ vẫn nảy nở và tiếp diễn, có thể không phải là những mầm sống ưu tú nhất sẽ ra đời như mong muốn của đấng gây nên hồng thủy thì hoa vẫn nở bừng với sự sống vần xoay.
Trong cơn say sưa hứng khởi, thi nhân viết những dòng thơ cuồn cuộn: “Ao hồ, hãy nảy sinh, – Bọt, hãy lăn trên cầu và trên những cánh rừng, – dạ đen và đàn ống, – sấm và chớp, – hãy dâng cao và rền vang, – những làn nước và những nỗi buồn, hãy dâng cao và dấy lên những trận đại hồng thủy”. Trong tâm hồn nhà thơ cũng dâng lên một niềm cảm hứng, mãnh liệt và cuồn cuộn như thế. Nếu như chưa từng có một cơn đại hồng thủy khủng khiếp nào xảy đến cho nhân loại thì cũng đã có một cơn đại hồng thủy xảy đến trong tâm hồn thi nhân để tạo nên những vần thơ lạ kỳ, say mê trong khoảng thời gian sáng tác ngắn ngủi của cuộc đời chàng.
“Và bà hoàng hậu, mụ phù thủy đang nhóm lên mớ than hồng trong cái chậu đất, sẽ không đời nào có ý định kể lại cho chúng ta nghe những gì bà ta biết, và chúng ta sẽ không biết được bao giờ”. Phải chăng thi nhân muốn nói rằng bí mật của sự sống vẫn là điều không thể biết. Và dù có hồng thủy hay không, hay chỉ là trận đại hồng thủy tư tưởng của nhà thơ, thì sự sống vẫn là một điều huyền bí vĩnh hằng.
Đọc thơ của Rimbaud, người đọc có quyền liên tưởng đến những câu chuyện cổ tích, một câu chuyện nào đó mà họ từng nghe kể. Nhà thơ Rimbaud ở một góc độ nào đấy, cũng đã hình dung cuộc đời như những câu chuyện kể, và thi nhân, trên con đường phiêu lãng của mình cũng đã là người kể chuyện thần kỳ.
Bài thơ Truyện hoang đường viết về một đấng quân vương “Ngài dự kiến những cuộc cách mạng tuyệt vời của tình yêu, và ngờ vực những bà vợ của mình có thể làm điều gì tốt hơn sự chiều chuộng tô điểm bằng bầu trời và sự xa hoa kia. Ngài muốn thấy sự thật, giờ của khát vọng và sự thỏa mãn chủ yếu. Ngài vẫn muốn, cho dầu đó có phải là một sự lệch lạc của lòng thương hại hay không…
Tất cả những người phụ nữ biết ngài đều đã bị giết hại. Xiết bao tàn phá trong khu vườn nhan sắc!
Ngài giết tất cả những ai theo ngài, sau chuyến đi săn hoặc sau những cuộc chè chén tưng bừng – Mọi người vẫn theo ngài”.
Bài thơ này có thể làm người đọc liên tưởng đến câu chuyện về vua Sharyah trong truyện Nghìn lẻ một đêm. Nhà vua giết chết những người phụ nữ của mình sau một đêm ân ái. Hành vi tàn nhẫn và chết chóc ấy, thực sự không làm ảnh hưởng đến vương vị của ngài, mà một cách nào đó, nó thể hiện quyền lực, uy danh của đức vua. Và vương quốc của nhà vua vẫn như vậy, hùng cường, mạnh mẽ. Sự liên tưởng này, có thể tạo nên cái dữ dội, khốc liệt trong bài thơ. Bởi vì, người ta sẽ không ngạc nhiên với những điều mà một đức vua làm trên ngai báu của ông ta, vì thượng đế đã quyết định tất cả mọi điều như vậy. “Quân vương là Thần. Thần là Quân vương”. Những hình tượng trong thơ Rimbaud có vẻ khó hiểu nhưng nhất quán trong tư tưởng của ông.
“Những đứa bé nghẹt thở vì những lời nguyền rủa dọc các con sông”. Đây cũng là hình ảnh về đứa trẻ trong thơ Rimbaud. Người đọc có thể nhớ đến câu chuyện trong Cựu ước kinh về một Pharaoh ra lệnh ném xuống dòng sông tất cả những bé trai sơ sinh của người Do Thái. Dòng sông Nil là nguồn mạch sống còn của đất nước Ai Cập, nuôi dưỡng người dân Ai Cập, và cũng dòng sông ấy, mang lời nguyền đến cho các dân tộc thù nghịch. Bất chấp điều đó Moses vẫn sống để trở thành vị Thánh của dân Israel vong quốc.
Trải qua bao nhiêu ngàn năm, kho tàng huyền thoại ngụ ngôn vẫn dâng đầy ăm ắp trong lòng nhân loại. Khó ai có thể nói rằng mình hiểu được ý nghĩa thâm sâu của những huyền thoại ấy. Hay chỉ cần nhìn thấy một chi tiết, một hình tượng nào đó từ huyền thoại phảng phất trong đời sống, sống lại trong một cảm nhận, chúng ta có thể nhận thấy sự phong phú trong đời sống tinh thần của con người.
5. Thế giới là tưởng tượng. “Một chú thỏ rừng dừng bước trong đám hồng đậu và bông hình chuông luôn chuyển hóa, và cầu nguyện với cầu vồng qua bức màn nhện” (Sau trận đại hồng thủy). Trong tập thơ Thần cảm, có rất nhiều hình ảnh tương tự như vậy được hình dung nên như từ một bức tranh của truyện ngụ ngôn hay cổ tích. Những hình ảnh ấy rất giống như cách mà những đứa trẻ hình dung, tưởng tượng về thế giới xung quanh mình. Đôi mắt trẻ thơ kể chuyện bằng lăng kính của riêng nó, ngộ nghĩnh, trong sáng, nhiều màu sắc.
Đọc suốt trong tập thơ Thần cảm, người đọc có thể nhìn thấy những hình ảnh thần kỳ như con quỷ, thiên thần, những bà hoàng hậu, những mụ phù thủy, những bông hoa thần diệu, những nàng công chúa, những giấc mơ, những con vật hoang đường, những vùng đất xa xôi,… Đối với trẻ thơ những hiện tượng thiên nhiên cũng có linh hồn, chúng có đời sống, và có thể chia sẻ.
Trong bài thơ Bình minh, nhà thơ viết:
“Tôi đã hôn lên bình minh mùa hạ.
Không còn cái gì lay động trước những cung điện. Nước đã chết. […] Tôi vừa đi vừa đánh thức những hơi thở mãnh liệt và ấm áp, và những loài đá quý đang nhìn, và những cái cánh lặng lẽ vươn lên.
[…] Tôi cười với thác nước màu hoe rối bù xuyên qua những cây tùng; nơi ngọn cây ánh bạc tôi đã nhận ra nữ thần.
Bấy giờ tôi vén từng lớp xiêm y. Trong lối đi, vừa vẫy tay. Qua vùng đồng bằng, nơi tôi đã tố giác nàng với con gà trống. Tại thành phố lớn, nàng lẩn trốn giữa những tháp chuông và những cái vòm, và vừa chạy như một người ăn mày trên những bến tàu bằng đá hoa, vừa tôi đuổi theo nàng.
Phía trên con đường, bên một khu rừng nguyệt quế, tôi đã vây bọc nàng với những lớp xiêm y được gom góp lại, và tôi cảm nhận phần nào tấm thân mênh mông của nàng. Bình minh và đứa trẻ ngã xuống ở cuối khu rừng.
Khi thức giấc thì đã trưa”.
Trong bài thơ Bình minh, chú bé nhà thơ Rimbaud như đang rong chơi cùng bước chân của nàng Bình minh. Khi màn đêm chưa tan, cả đất trời tĩnh lặng, cậu bé Rimbaud đánh thức nàng Bình minh bằng một nụ hôn. Đứa bé nhận được niềm thần cảm, đánh thức toàn bộ sự tĩnh lặng, làm trỗi dậy những hơi thở sống động và ấm áp, những đôi cánh, những bông hoa, dòng thác đổ… Đứa bé bước đi trong nguồn Thánh linh của vũ trụ, trẻ thơ là những gì tròn vẹn, sơ nguyên nhất, riêng nó nhận được mặc khải. Cậu bé chơi đùa với Bình minh, đánh thức nó, rong chơi, rượt đuổi, tìm kiếm và bắt được nó. Cũng như những đứa trẻ con, chơi đùa đã mệt, chúng cùng nhau nằm lăn giữa rừng, thiếp ngủ trong giấc ngủ trẻ thơ, hoàn toàn là những đứa trẻ hồn nhiên say ngủ. Rồi thời gian trôi qua bình thản, đến trưa…
Bình minh là một bài thơ đặc biệt thể hiện rõ hình ảnh đứa trẻ Rimbaud trong cuộc lãng du của chàng giữa thiên nhiên và đất trời. Những chuyến đi, đối với chàng như là trò chơi, sáng trong và ngọt ngào. Cũng là sự hòa nhập vào vũ trụ rộng lớn như sự hòa hợp với nhất thể. Sự hòa nhập ấy, trái ngược với cảm nhận về thế giới vật chất của con người, với những cảm giác nặng nề, chật chội, tăm tối. Trong thế giới đó, đứa trẻ phải đóng lại cánh cửa của thế giới của nó, để chìm ngập trong sự buông thả, phóng túng, trì trệ. Và rồi trong những cơn say, trong ảo giác, đứa trẻ nguyên sơ trong tâm hồn chàng trai Rimbaud tìm lại thế giới thần tiên của nó. Hai thế giới, song trùng, trộn lẫn, bừng hiện bên cạnh nhau trong những dòng thơ thần cảm của thi nhân.
“Trong rừng có một con chim, tiếng hót của nó dừng chân bạn lại và khiến bạn đỏ mặt.
Có một chiếc đồng hồ không điểm giờ. […]
Cuối cùng, khi đã đói và khát, có một ai đó xua đuổi bạn”.
(Tuổi thơ)
Đứa trẻ lang thang Rimbaud nhận thấy những điều đẹp đẽ của thiên nhiên bằng ánh mắt ngộ nghĩnh của trẻ thơ. Tự nó cũng nhìn thấy, những đối nghịch, ruồng rẫy của đời sống. Cuộc đời, trong đôi mắt của đứa trẻ, nhất là những đứa trẻ giàu tâm tư, không chỉ có ngọt ngào, mà còn có vị đắng cay.
6. Hình dung về thế giới trong thơ Rimbaud còn là một thế giới thần bí, đầy những điều huyền nhiệm, như đức tin tôn giáo. Có thể nhận thấy trong thơ Rimbaud là những hình tượng phức tạp mang tính thần bí thiêng liêng của các tín ngưỡng saman, tôtem, của thần thoại Hy Lạp, Thiên Chúa giáo, những huyền thoại của văn hóa châu Âu và cả những vùng đất xa xôi về phương Đông hay Phi châu. Trong tập thơ Thần cảm là những thần tượng, những vị thần, những giấc mơ, những điều thần bí trong khát vọng lớn lao hòa nhập của tâm hồn thi nhân vào bản ngã lớn lao của vũ trụ.
Rimbaud cũng như các nhà thơ tượng trưng, cực kỳ ý thức về vai trò của nhà thơ. Nhà thơ không phải chỉ là người miêu tả hiện thực tồn tại xung quanh mình, phản ánh lại những điều đã bày ra. Nhà thơ phải là người sáng tạo. Nhà thơ nhìn thấy cái thực tại ẩn sâu trong cái thực tại hiện hữu, và hơn thế nữa, tham gia vào sự sáng tạo thực tại ấy. Rimbaud trên con đường lãng du tưởng tượng của mình đã hóa thân thành những cuộc đời khác nhau, để nhận thức những trải nghiệm, nhận thức bề sâu của sự sống. Một trong những hóa thân ấy, là sự nhập thể vào nhất thể linh hồn của vũ trụ.
Ngoài hình tượng đứa trẻ nổi bật xuất hiện rất nhiều lần trong tập thơ, người đọc còn có thể nhận thấy những hình tượng nữ như bà mẹ vĩ đại của sự sống, như sự phong nhiêu, đầy đặn của sự sống.
“Cô gái môi màu da cam, đầu gối giao nhau trong cơn đại hồng thủy sáng láng nảy sinh từ những đồng cỏ, cuộc khỏa thân mà cầu vồng, hệ thực vật, biển cả vẫn che đậy, xuyên thấu và điểm tô”. (Tuổi thơ). Đó là thiên nhiên trong sự hình dung của chàng thi sĩ Rimbaud. Thiên nhiên với vẻ đẹp bừng nở của nó, bày ra vẻ đẹp rực rỡ của cầu vồng, của rừng cây, biển cả… Thiên nhiên luôn luôn căng tràn nhựa sống, luôn luôn nảy nở và sinh sôi thật diệu kỳ.
Trong bài thơ Tuổi thơ, còn xuất hiện khá nhiều hình tượng mang tính nữ khác: “Các bà đang quay tít trên những sân thượng gần biển, trẻ con và to kềnh, những con người ngạo mạn đen đúa trong đám rêu màu lục xám, những món đồ xinh xắn đứng trên mặt đất màu mở của những lùm cây và những mảnh vườn con đã tan băng, – những người mẹ trẻ và những người chị lớn với cái nhìn toát ra hình ảnh những cuộc hành hương, những bà hoàng hậu, những nàng công chúa với dáng đi và trang phục không cưỡng nổi, những cô bé xa lạ và những con người ngấm ngầm khốn khổ”.
Người đọc có thể cảm nhận rằng, những đứa trẻ thường ấp ủ trong tâm hồn mình hình ảnh người mẹ, nguồn mạch nuôi dưỡng tâm hồn và yêu thương. Và còn nữa những người chị, hay một cô bé nào đó, đầy dịu dàng. Một cách hiểu xa hơn, chúng ta hình dung thi nhân đi về nguồn cội sâu xa của sự sống, niềm tin và tình yêu thương. Tự nhiên là một người mẹ vĩ đại, tràn trề sức sống, có cả âu yếm và chở che.
Ngoài những hình tượng đầy chất nữ tính, trong thơ Rimbaud cũng chứa đầy những thần tượng, phong phú như thế giới thần thoại Hy Lạp cổ xưa hay bất cừ một thế giới thần thoại nào khác.
Đó là bức Tượng cổ: “Người con trai duyên sáng của Mục thần! Quanh vầng trán kết hoa xinh và quả mọng, đôi mắt chàng, những viên ngọc quý đang động đậy […] Tim chàng đập trong cái bụng nơi ngủ yên giới tính kép”.
Đó là “Trước một đám tuyết, một Vật thể Đẹp thân hình cao lớn. Những tiếng rít chết chóc và những vòng tròn âm nhạc khàn đục làm cho thân xác được ngưỡng vọng kia lớn lên, dang rộng và run rẩy như một bóng ma; những vết thương màu hồng điều và đen vỡ ra trong da thịt tuyệt vời. Những màu sắc đặc thù của sự sống sẫm lại, nhảy múa và toát ra quanh ảnh tượng đang hình thành“. Những câu thơ trong bài thơ Being beauteous tạo dựng nên một ảnh tượng của sự sống sống động và nguyên sơ. Đó là sự sống luôn bừng trỗi.
Thần cảm – vì thi nhân là kẻ có cái nhìn thấu thị. Bất chấp mọi quy luật đã hình thành qua hàng ngàn năm tồn tại của loài người, thi nhân có quy luật của riêng nó. Mặc dù rằng con người từ khi khai sinh, cảm nhận thế giới bằng những giác quan mà sự sống tạo ra cho nó, thi nhân muốn làm khác điều đó. Con người sống trong vũ trụ. Thi nhân hơn thế nữa, sống trong sáng tạo vũ trụ.
Rimbaud thể hiện trong thơ ca vừa khao khát mãnh liệt, vừa chán chường tột độ; vừa say mê, vừa hoài nghi; vừa tò mò vừa dửng dưng. Đó là đặc trưng của tuổi trẻ. Rimbaud ghét nơi mình sinh ra, nên đã chọn con đường phiêu lãng. Cuộc hành trình lang bạt, thiếu thốn và cực khổ nhưng chính là con đường tự do, bỏ xa địa ngục chán chường, giam cầm tâm hồn phóng túng. Rồi nhà thơ lao vào ảo giác, đến cảnh giới của những phong thổ và hình tượng khó tin, đến những điều kỳ diệu và dị thường, đã cảm nhận được cái đẹp đẽ, rực rỡ, chói sáng của đời sống, lẫn cái cay đắng, sầu muộn, trống rỗng như điều không thể thiếu. Bởi đó mới chính là sự sống, như cách hiểu về một thế giới toàn vẹn.
Sự toàn vẹn của vũ trụ đã có từ lúc nảy sinh. Chính thi nhân là kẻ giữ lại được cái nhìn thơ trẻ đến muôn đời, để thấu nhận được sự sống.
Tất cả thơ trích dẫn trong bài viết đều từ: Arthur Rimbaud, Rimbaud toàn tập, Huỳnh Phan Anh dịch, NXB Văn Hóa Sài Gòn, 2006.
28/9/2021
Nguyễn Ngọc Bảo Trâm
Theo https://vanvn.vn/

Vua Lear, quỷ Satan và nghệ thuật chủ trì hội họp

Vua Lear, quỷ Satan
và nghệ thuật chủ trì hội họp

Các tác phẩm văn chương từ cổ xưa nhất như trường ca Iliad đến kịch Shakespeare hóa ra lại là “tài liệu tham khảo” về khả năng điều hành các cuộc họp cho các nhà lãnh đạo thời hiện đại – những người luôn khiến cấp dưới kêu trời và vật vã trong những buổi họp diễn ra thường xuyên, luôn kéo dài mà chẳng bao giờ hiệu quả.
Phát hiện độc đáo này do James Surowiecki, tác giả quyển Trí tuệ đám đông (đã xuất bản ở VN), đưa ra trong một bài viết cho tạp chí 1843 với tiêu đề gây sốc “Vì sao quỷ Satan nên chủ trì cuộc họp của quý vị”.
Theo Surowiecki, ít người trong chúng ta có thể nói lời tốt đẹp về các cuộc họp. Đa phần chúng không hiệu quả; người có điều hữu ích để nói thì không nói, và không quyết được chuyện gì quan trọng. Trong nhiều nền văn hóa công sở, từ “họp” hàm nghĩa một chuyện tẻ nhạt, lãng phí thời gian. Mặc dù có hẳn một dòng sách về kỹ năng quản lý họp, song theo Surowiecki, tài liệu đáng tham khảo nhất lại là các nhân vật văn học tự cổ chí kim.
Chẳng hạn, trong trường ca Iliad (khoảng thế kỷ 8 TCN, Homer), không lâu sau phần mở đầu là cảnh những người Hy Lạp tập hợp lại để thảo luận giải pháp cho sự bế tắc của họ: bị trừng phạt bằng dịch bệnh khi vừa bước sang năm thứ 10 của cuộc chiến thành Troy.
Một thường dân tên Thersites lên tiếng rằng tàu của họ đang mục nát trong khi đã thu nhiều chiến lợi phẩm, vậy chẳng phải đây là lúc về nhà sao? Odysseus, một chỉ huy cấp cao, lập tức đánh Thersites vì tội ngu ngốc và dám tranh luận với các bậc quyền quý. Một lập luận hợp lý lại bị bác bỏ bằng bạo lực. Cuộc họp quần tụ nhiều thành phần, nhưng những thường dân có mặt chỉ để hợp thức hóa các quyết định đã được bề trên đưa ra. Chuyện này rõ là không chỉ có ở thời Homer.
Bài học rút ra từ Iliad, theo Surowiecki, là các nhà quản lý hãy lắng nghe ý kiến từ cấp thấp nhất; điều này không chỉ tốt cho tinh thần của nhân viên mà còn là cách để tránh bỏ qua thông tin hữu ích và có giá trị (vì bỏ qua nhận định chính xác của Thersites về tình trạng các con tàu, Odysseus đã bị đắm tàu trên đường về nhà).
Vở kịch Vua Lear (thế kỷ 17, Shakespeare) cũng mở đầu bằng cuộc họp: nhà vua muốn chia vương quốc cho 3 con gái, cô nào yêu ông nhất thì được phần to nhất. Hai cô con đầu thay nhau tâng bốc cha, chỉ riêng cô út Cordelia, người thực sự yêu vua cha, không nói lời phỉnh nịnh. Kết quả là nhà vua nổi giận và từ luôn Cordelia. Kent, cận thần trung thành nhất của vua, đứng ra can giáng; vua bảo im nhưng Kent vẫn nói thẳng và xin vua nghĩ lại. Kết quả là bị cho đi đày.
Nhiều nhà quản lý ngày nay vẫn hành xử như vua Lear: tự tin vào đánh giá của mình và không thích khi người khác nói trái ý; họ khiến nhân viên sợ hãi không dám nói khác đi. Và những người lãnh đạo như thế thường đưa ra các quyết định tệ hại. Theo Surowiecki, các nhà quản lý ngày nay giỏi giả vờ lắng nghe cấp dưới hơn vua Lear, nhưng nỗi sợ làm phật ý sếp đã khiến đa số các cuộc họp diễn ra một chiều.
Cuối cùng, trong phần đầu của thiên sử thi về lịch sử loài người Thiên đường đã mất (1667, John Milton), “hội đồng ma quỷ” gồm Satan và những thiên thần sa ngã của hắn nhóm họp ở Địa ngục để bàn cách chống lại Chúa trời. Bốn ý kiến khác nhau được đưa ra: gây chiến; không làm gì và mong Chúa trời tha thứ; từ bỏ ý tưởng trở lại thiên đàng, thay vào đó là gầy dựng đế chế ở địa ngục; và gửi ác quỷ đến Trái đất tiêu diệt con người. Satan tổ chức biểu quyết để chọn lấy quyết định tập thể, chứ không phải cá nhân người đứng đầu. Đây là khác biệt giữa Satan và Agamemnon trong Iliad, cũng là khác nhau giữa 2 phong cách chủ trì hội họp.
Cuối cùng, “hội đồng ma quỷ” chọn phương án gây ra sự sụp đổ của con người, hóa ra lại là lựa chọn đúng ý Satan nhất. Nhiều học giả cho rằng Satan đã thao túng việc biểu quyết, song theo ý Surowiecki, có lẽ họ không muốn thừa nhận rằng “bằng cách để mọi người biểu quyết chọn kết quả đúng ý mình, Satan đơn giản là rất giỏi chuyện họp hành”.
Lời khuyên cho các nhà quản lý thời hiện đại: có thể để những người tham gia cùng đưa ra ý kiến vào cuối phiên họp. Việc này giúp mọi người thấy tiếng nói của họ có ý nghĩa quan trọng, đồng thời “việc tham khảo ý kiến của một nhóm rộng hơn giúp các nhà lãnh đạo tiếp cận với một đánh giá mang tính tập thể và, như nhiều tài liệu về trí tuệ của đám đông cho thấy, đó có thể là một đánh giá tốt” – Surowiecki kết luận.
29/9/2021
Trúc Anh
Theo https://vanvn.vn/

Không khí trí thức ở nhà Nguyễn Thành Long một thuở

Không khí trí thức ở nhà
Nguyễn Thành Long một thuở

Không khí bạn bè ở chỗ Nguyễn Thành Long là một không khí trí thức. Các anh vừa sống, vừa viết, vừa quan tâm tới một đời sống văn hóa khác, mà các anh yêu mến và sống hết lòng.
V. Theo như chính Nguyễn Thành Long từng kể, thì trước 1945 tức hồi còn học tú tài ở Hà Nội, anh đã có bài viết, in trên Thanh nghị là một tờ báo tập hợp được nhiều trí thức có uy tín thời ấy. Con đường đi của người trí thức trong lòng xã hội thuộc địa, từng là vấn đề day dứt lòng anh, và trở thành chủ đề của một vài cuốn sách – chắc chắn là còn non nớt và còn chưa kịp xuất bản – của anh bấy giờ.
Vấn đề trí thức cũng sẽ ám ảnh Nguyễn Thành Long trong suốt cuộc kháng chiến: Một mặt lăn lộn với công nông không bỏ qua một chuyến đi thực tế nào đó Chi hội văn nghệ Khu Năm bấy giờ tổ chức; mặt khác, luôn luôn anh sục sạo săn tìm sách vở để xem người khác đã làm văn nghệ như thế nào, và bản thân mình nên làm theo cách nào.
Trong hoàn cảnh của Khu Năm xa xôi, các anh vẫn tìm đọc từ Người mẹ, Suối thép, Người Xô viết chúng tôi cho tới cả Sự hồi sinh của nền văn hoá Pháp của Garaudy. Đúng theo cách làm của kháng chiến, sau khi đọc xong một số tác phẩm anh đã tóm tắt lại để người khác cùng đọc. Bởi vậy, trong danh mục sách của Nguyễn Thành Long đã in ở Khu Năm, mới có cuốn Kể lại một số tiểu thuyết Xô viết.
Và về sau, khi làm báo Văn học, Nguyễn Thành Long còn viết nhiều bài về văn học nước ngoài, ký tên Phan Minh Thảo, cũng như nhặt ra kinh nghiệm viết văn của nhiều người in rải rác, rồi sau tập hợp thành cuốn sách nhỏ, mang tên Sổ tay viết văn ký tên Lưu Quỳnh.
Có lẽ những chi tiết này càng cắt nghĩa rõ thêm về sự hấp dẫn của Nguyễn Thành Long đối với một số anh em viết trẻ những năm đầu chống Mỹ mà trên kia tôi vừa nhắc tới. Trong căn phòng chật hẹp của Nguyễn Thành Long lúc ấy, thỉnh thoảng đến chơi, tôi thường gặp Chính Yên, Huy Phương, Trần Đĩnh, về sau là Ngô Quân Miện và một vài người khác.
Ngoài những mảnh vụn thời sự trong nước quốc tế, cùng những “chuyện làng chuyện xóm” lặt vặt vơ vẩn xảy ra hàng ngày trong giới cầm bút, tôi thấy đặc biệt ở nhóm bạn của Nguyễn Thành Long có một loại chuyện khác.
Những cuốn sách tiếng Pháp (thường là loại sách bỏ túi) mà Hội Nhà văn được biếu, các số Lettre Francaise, Europe, Lettres Sovietique, Revue Roumanie… về đều đều được các anh truyền tay, kèm theo những nhận xét như của người trong cuộc:
– Thế mới biết đảng Pháp họ quý một nhà văn ngoài đảng như thế nào. Elsa Triolet chết mà L’humanité viền đen cả mấy số liền.
– Bản dịch Con người năm tháng cuộc đời của Ehrenburg vừa được nhà Gallimard cho in. Khối chuyện được xới ra, bây giờ mọi người mới thấy có lý. Về già mà Ehrenburg còn bợm thật. Người ta bảo đọc xong cuốn hồi ký này, tự nhiên không ai muốn giở lại tiểu thuyết của ông ta nữa.
– Cái tay Kataev cũng lạ. Hồi ký gì mà như đánh đố, vừa thật vừa giả. Nhưng mà một cuộc đời như thế thì phong phú thật. Hình như Elsa Triolet có nói ở đâu đó rằng vì Kataev mà Maiakovski tự tử đấy.
– Chỉ là giọt nước cuối cùng thôi.
– Nói xuôi nói ngược gì cũng cần sự thật. Chính tôi thích hơn cả, lại là cách viết trần trụi của Malaparte. La Peau mới thật là khinh bạc cay đắng mà lại quý phái chứ.
… Giờ đây, hơn hai chục năm đã qua đi, tôi cũng nhớ không thật rõ tất cả những chuyện lặt vặt nói trên, tôi nghe từ miệng ai nói ra và nội dung có đúng là thế không. Nhưng cái này, thì xin bảo đảm chắc chắn: Không khí bạn bè ở chỗ Nguyễn Thành Long, là một không khí trí thức. Các anh vừa sống, vừa viết, vừa quan tâm tới một đời sống văn hoá khác, mà các anh yêu mến và sống hết lòng.
Lúc đang say chuyện thỉnh thoảng các anh chêm vào một vài câu tiếng Pháp. Tôi không hiểu được những câu nói ấy, nhưng nhìn nét mặt của các anh, biết rằng phải làm thế, người nói mới diễn tả được hết ý nghĩ của mình, và nỗi sung sướng đang đến trong lòng mình.
Từ câu chuyện nghe lỏm được qua miệng những Chính Yên, Trần Đĩnh, Huy Phương, Nguyễn Thành Long, tôi bỗng cảm thấy cái đời sống văn học mình đang có phần can dự, như được kéo dài ra, nối mãi vào cả cái khu vực bao la huyền diệu, là toàn bộ đời sống văn học thế giới hiện đại.
Đôi lúc, có cảm tưởng rằng những quyển sách mà tôi chỉ ngắm nhìn, những tác giả mà tôi chỉ nghe tên cũng như đang sống đâu đây, họ cùng gợi nên những vui buồn yêu ghét trong lòng tôi, như những Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Khải, Tô Hoài… mà tôi hằng gặp.
Cũng phải nói thêm rằng, bên cạnh Nguyễn Thành Long viết truyện ngắn, Nguyễn Thành Long làm báo và làm xuất bản, trong tôi còn một Nguyễn Thành Long dịch giả, đúng hơn là một Nguyễn Thành Long tiếp cận những tìm tòi mới trong văn xuôi hiện đại. Ý tôi muốn nói tới cuốn Roméo Juliet và bóng tối của nhà văn Tiệp Khắc Jan Otchenasek do anh dịch ra tiếng Việt.
Đấy là một thể nghiệm nhằm sử dụng những tìm tòi của các bậc thầy văn xuôi hiện đại như M. Proust, James Joyce vào việc biểu hiện những nội dung hiện thực và cách mạng. Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là điều băn khoăn thường xuyên của Nguyễn Thành Long.
Nhiều anh em trong nghề biết rằng một vài thủ pháp kỹ thuật mới của văn xuôi đã được áp dụng dè dặt trong các truyện ngắn […]. Trong đời sống văn học ở Hà Nội từ 1975 về trước, những tìm tòi loại đó âm thầm bé nhỏ, không đáng kể gì hết. Song, với típ người cầm bút như Nguyễn Thành Long thì nó là cả một nhu cầu nội tại, kể cả nhiều khi biết rằng đeo đẳng chỉ thêm phiền, người ta vẫn không từ bỏ nổi!
VI. “Tai hoạ như trẻ con trên mặt đất
Người ta rồi ai cũng có thôi
Anh nói điều ấy thật thản nhiên
Mắt đăm đắm nhìn chiều xuống”.
Mấy câu thơ ấy là do Bằng Việt dịch của Eluard. Không hiểu sao chúng cứ trở đi trở lại trong đầu óc tôi, mỗi khi nghĩ đến những người căn bản là lành, căn bản là tốt, mà thỉnh thoảng lại cứ gặp phải những tai nạn nghề nghiệp nho nhỏ, như Nguyễn Thành Long. Hình như nghề này quá khó và những người vụng về thì quá nhiều, cho nên đành tự an ủi là “rồi ai cũng có thôi”, vật vã thắc mắc phân tích rạch ròi làm chi cho mệt!
Khoảng 1956, 1957, sau khi cho in những bút ký có được tiếng vang nào đó hồi ấy, như Hướng Điền, như Gió bấc gió nồm, tự nhiên Nguyễn Thành Long lại mắc vào vụ Một trò chơi nguy hiểm.
Những năm đầu chống Mỹ, bên cạnh Tờ hoa, Tình rừng của Nguyễn Tuân, Cái gốc của anh cũng trở thành một đối tượng để phê phán. Khi những vụ việc này xảy ra, tôi còn quá nhỏ (vụ trước) hoặc quá non nớt trong nghề (vụ sau), nên không thật rõ mọi chuyện ra sao.
Tuy nhiên những năm có dịp gần Nguyễn Thành Long về sau tôi cứ có cảm tưởng những chuyện tưởng như đã qua ấy vẫn còn vướng vất trong anh. Anh trở nên thận trọng giữ gìn hơn trong suy nghĩ, khép nép hơn trong quan hệ với mọi người. Lại có lúc anh sinh ra hay ngờ vực và dễ hùa theo chung quanh trong cách đánh giá, dù là một cách hùa theo kín đáo. Thậm chí tôi cảm thấy ở Nguyễn Thành Long còn nảy sinh nỗi nghi ngờ chính mình.
Đã có một con người khác xuất hiện để theo dõi và kiểm tra con người hàng ngày của anh, khiến anh trở nên có chút gì như là nghiệt ngã nữa. Có điều, dù phức tạp đến đâu, thì tất cả những chuyện ấy chỉ là chuyện nổi lên trên bề mặt.
Ở phần sâu sắc của tâm hồn, có thể nhận ra một Nguyễn Thành Long giản dị hơn. Anh hơi ngơ ngác, không hiểu sao mọi việc lại diễn ra như thế! Nhất là anh cảm thấy đơn độc vô hạn. Mang tâm thế “kinh cung chi điểu”, có những vụ việc do người khác gây ra tội vạ đổ lên đầu ai ai kia, song chính anh cứ vận vào mình, cứ ngấm ngầm đau đớn xót xa hộ.
Và cứ mang máng cảm thấy rồi lại “cháy thành vạ lây” không biết chừng! Mặc cảm chăng? Nhạy cảm quá chăng? Nói thế nào cũng được, chỉ biết là những lúc ấy, không nên hỏi Nguyễn Thành Long mà nên để anh một mình với mình.
Từ nhà riêng bên phố Dã Tượng, sang cơ quan của Hội bên đường Nguyễn Du, Nguyễn Thành Long thường đi bộ qua một quãng vắng đường Trần Bình Trọng, phía cạnh cung Văn hoá Việt – Xô. Mùa hè một áo sơ mi cộc tay, mùa đông một cái áo bông tầu cũ kỹ – sau là một cái áo vỏ ngoài bằng ni lông màu tím than – Nguyễn Thành Long gần như một mình trên đường, đầu cúi xuống, bước thật chậm như chìm đắm vào những suy tưởng riêng tư.
Thường nhìn thấy anh trên đoạn đường ấy, đang đi xe đạp, tôi vội phóng qua thật nhanh, không phải chỉ vì không muốn phá đi dòng suy tưởng của anh, mà là một tình cảm lẫn lộn, vừa sợ hãi vừa kính phục chợt đến với tôi – sợ vì thấy cái nghề của mình nặng nề quá, và kính phục vì trong nghề đã có những ngòi bút như Nguyễn Thành Long những người đang căng đôi vai ra để chịu đựng, và vẫn hăm hở đi tiếp.
Hoá ra, trước mắt tôi, vẫn là một nhà văn do tâm huyết mà thành đau khổ. Lại nhớ một câu của Ehrenburg khi nói về mình (đại ý): “Bề ngoài, tôi trông u ám, nhưng bên trong, thật ra là một người nông nổi, nhẹ dạ”. Trong số những người rất khớp với mẫu hình kiểu ấy, ắt hẳn có Nguyễn Thành Long!
VII. Thông thường, tôi không thuộc diện được Nguyễn Thành Long tặng sách khi có sách mới in. Nhưng đến cuối 1985, cùng lúc anh cho tôi hai cuốn Giữa trong xanh và Sớm mai nào xế chiều nào. Cuốn thứ hai tôi không để ý lắm vì là sách mới viết. Nhưng cuốn thứ nhất thì khác: Đây là một tập hợp những thành quả tự Nguyễn Thành Long coi là đắc ý nhất trong đời viết của mình, một thứ tuyển tập “bốn mươi năm”, như anh lưu ý trong lời đề tặng tôi.
Qua trao đổi chuyện trò, tuy tác giả không nói ra trực tiếp, nhưng dễ dàng đọc được cái ý anh muốn tôi viết về nó. Tôi chấp nhận sự thách thức này, mặc dù biết đó là một việc khó.
Ít lâu sau, tôi mang tới Nguyễn Thành Long một bài viết, ở đó bên cạnh những lời ca ngợi tài năng nghị lực của anh trong việc thực hiện những yêu cầu cách mạng đặt ra đối với văn học, không quên lưu ý nhiều khi ngòi bút Nguyễn Thành Long gò gẫm thiếu tự nhiên.
Thậm chí ở một đoạn tôi còn viết: “Mặc dù mở rộng lòng đón lấy mọi diễn biến của đời sống, song rút cuộc tác giả vẫn không tránh khỏi trở đi trở lại với những ý tưởng đã thành khuôn khổ, và sự chăm chú đều đều tới công việc lại dẫn tới một tình trạng đơn điệu”.
Tháng 8/1986, khi bài báo được in ra trên một số báo Văn nghệ, đọc lại cả bài, tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi không biết với một cuốn sách mang tính cách tuyển tập, mình viết vậy, có làm anh Long buồn không. Nhưng tôi vẫn nhớ là lúc cầm bản viết tay của tôi, tác giả Giữa trong xanh có một thái độ khá bình thản.
Anh chỉ bảo sau cái ý “trở đi trở lại với những ý tưởng đã thành khuôn khổ”, nên thêm vào một ý nhỏ, “dù là khuôn khổ của anh”. Chỉ có thế! Chúng tôi chia tay nhau lặng lẽ, mỗi người không khỏi có chút tiếc xót rằng đáng lẽ có thể làm cho người kia vui hơn, mà không làm được.
Vốn đã âm thầm buồn bã, cuộc đời riêng của Nguyễn Thành Long từ sau 1986, nghĩa là từ sau khi anh về hưu, lại càng quạnh hiu, trống trải. Về sau cháu Hồng, con gái thứ hai của anh có kể lại, mấy năm ấy anh buồn lắm vì Sớm mai nào xế chiều nào là quyển anh viết kỹ và rất hy vọng là có dư luận, song, vẫn rơi vào im lặng, nên anh không muốn viết truyện nữa. Nghe nói Nguyễn Thành Long loay hoay làm ít trang hồi ký hoặc xoay vào việc gì nữa, nhưng đều dang dở.
Một cuộc đời vất vả như thế, hậm hụi như thế, nhận thức lại được, viết lại được cho thanh thoát đâu có phải dễ! Nhà văn Italy Moravia từng đặt cho một tập truyện ngắn của mình cái tựa Một cuộc đời khác, ý muốn nói là thường mỗi chúng ta đều luôn luôn bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ lẽ ra, chúng ta phải sống khác mà sao không thể sống nổi.
Tôi nhớ là khi nghe tôi nói điều ấy, Nguyễn Thành Long có một thoáng như hơi sững ra! Đang cầm chén nước, cánh tay gày guộc với lớp da rất nhiều vết mồi của anh chợt run run thêm, cặp mắt sáng lên phút chốc, nhưng rồi lại cụp xuống tăm tối.
Một niềm thất vọng nào đó đang dâng lên trong anh? Hay một sự nuối tiếc? Hay một nỗi xót xa, xót cho mình là không làm được hết những điều muốn làm, nói chung là bây giờ đã muộn rồi, không thể có một cuộc đời khác? Tôi không rõ cảm giác nào là chính. Nhưng tôi nghĩ rằng trong những ngày cuối đời Nguyễn Thành Long đã sống với tất cả những cảm giác đó.
Bởi vậy, ít lâu sau trên báo Lao động tôi mạnh dạn nói rõ thêm:
“Trong cuộc đời này thiếu chi người mong thành nhà văn mà không thành. May mắn hơn họ – hay là rủi ro hơn họ, nói thế cho công bằng – có một số người suốt đời ăn chịu với nghề, sống là nhà văn và chết với tư cách nhà văn. Nhưng có bao giờ một ngòi bút chân chính thực sự yên lòng với mình?
Ngoài những trang đã viết ra, cái di chúc lớn khác mà một nhà văn chân chính để lại thường là nỗi khắc khoải vì biết rằng còn bao công việc đáng lẽ phải làm, nhất là đáng lẽ mình phải viết khác kia mà tự khác đi làm sao nổi. Nguyễn Thành Long là một nhà văn chân chính với nghĩa ấy”.
Ấy là những dòng tôi viết, để vĩnh biệt anh.
Không biết có chủ quan không, nhưng tôi nghĩ lần này, tôi đã nói hộ được một phần ý nghĩ của chính Nguyễn Thành Long.
30/9/2021
Vương Trí Nhàn
Nguồn: Trích từ sách Cây bút đời người
Theo https://vanvn.vn/

Thể thơ mới cho một đề tài mới

Thể thơ mới cho một đề tài mới Sự vận động không ngừng của cuộc sống đã giúp thơ ca, nghệ thuật tìm ra những hướng đi mới. Khi đại dịch Co...