VĂN THƠ NHẠC
Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026
Tô Hoài, một phong cách văn xuôi nhiều màu sắc*
Tô Hoài, một phong cách văn
Trong dòng văn học hiện thực thời kỳ 1939-1945 – Tô Hoài là một cây bút tiêu biểu đa năng. Ông có tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, truyện thiếu nhi… Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám khối lượng tác phẩm lại được nhân lên với nhiều thể loại, nhiều màu vẻ.
May, có câu thơ ngơ ngác nẻo buồn
May, có câu thơ
ngơ ngác nẻo buồn…
Lê Thiếu Nhơn coi trọng thủ pháp diễn đạt. Chịu tìm
tòi, chịu tốn thời gian cho thể nghiệm. Ở tập này, anh tìm trong ngôn ngữ,
trong hình ảnh sức gợi của ẩn dụ, của biểu tượng. Bài thơ ngắn gọn mà nói được
xa rộng, dễ đọc mà không dễ đi hết chiều sâu tâm tưởng…
Những năm cuối thập niên tám mươi thế kỷ 20, khi nước ta bắt
đầu thực thi quốc sách đổi mới, thì văn học nghệ thuật ngay lập tức có những biểu
hiện thay đổi, nhất là ở thể loại thơ: một loạt những giá trị quá khứ được phục
hồi và nhiều cách tân sáng tạo xuất hiện. Một số tác giả trẻ, ở lứa 20 tuổi,
ngay bước mở đầu văn nghiệp của mình, đã chọn vào lối đi mới đó. Mới về nội
dung: dám thành thực với mình hơn trong cảm xúc và nhận thức. Và cũng mới về
hình thức thể hiện: gạt bỏ những trang sức dư thừa và đôi khi cũng mất cả sự
trong sáng mạch lạc. Sự thành công cố nhiên không thể đồng đều. Sự đón nhận của
công chúng cũng còn nhiều dè dặt. Bạn đọc thấy rõ một động cựa văn chương của cả
lớp người trẻ tuổi, nhưng chưa thật sự cố định sự chờ đợi vào những tên tuổi cụ
thể. Tình hình này có khác với các giai đoạn trước như trong phong trào thơ mới,
hay thơ trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Nhưng đến nay, sau 20 năm, khi
các tác giả lứa ấy vào tuổi 40 thì phong vị, bản sắc của từng người đã bộc lộ
khá rõ. Phần đóng góp của từng người đã tạo nên lớp bạn đọc chờ đợi, tin cậy của
cả lớp cầm bút. Lê Thiếu Nhơn với nỗi dằn vặt “thơ đi bên đời như tội đồ mong
trắng án” mà chúng ta đang đọc đây là một trong số ấy.
Lê Thiếu Nhơn viết đều, cả thơ lẫn phê bình thơ. Trong phê
bình, anh chịu đọc, đọc các tác giả của cả nền thơ chứ không chỉ riêng lớp tuổi
mình. Anh đã có nhiều kiến giải khá chắc chắn, đôi khi tinh tế có tính phát hiện.
Với thơ, như ở tập “Gió heo may ngày nắng gián đoạn”, chủ đề đã tập trung vào
những mặt thiết yếu của cuộc đời. Anh lưu tâm bạn đọc tới những thực trạng xã hội
đương thời. Có niềm vui thành tựu của đất nước, vẻ đẹp của thiên nhiên, nhưng
nhiều hơn, lại là những lo âu, nghĩ ngợi, quằn quại, đau xót trước những diễn
biến xấu trong cộng đồng. Thường ngày, người ta ai chả thích nghe những chuyện
vui, nhưng điều phấn chấn. Bập vào những mảng tối rất cần một sự lịch lãm, một
bản lĩnh, một lòng yêu thương con người sâu sắc, một tấm lòng chân thành. Trong
ba mươi năm bút mực văn chương vừa qua, Lê Thiếu Nhơn đã có nhiều tình thế để
rèn luyện về các phẩm chất tâm hồn ấy. Đến tập “Gió heo may ngày nắng gián đoạn”,
thơ anh gọn chắc lại, chủ đề rõ lên và bao trùm là tinh thần trách nhiệm
công dân, muốn thơ có ích cho cộng đồng. Thơ anh đang đến và bắt đầu hạ trại
trong tâm trí độc giả. Đây là một dấu hiệu trưởng thành của bạn viết lẫn bạn đọc.
Thử xét bài thơ đầu tập:
GIỮA TRANG GIẤY TRẮNG
Bao kẻ mộng mơ đã phung phí hết tuổi mình
Thi ca vẫn không thể ngăn bàn tay đen đúa
Bàn tay gian tà vơ vét ngân khố
Bàn tay bịp bợm sấp ngửa trắng đen
Tôi thức suốt đêm chờ một giọt nước mắt
Sao chỉ nghe những giọng cười điên đảo thị phi
Thế kỷ chảy lên trời lời hát bất lương!
Lẽ nào bút đành hạ thổ?
Lẽ nào giấy đành khăn tang?
Chúng ta thấy gì? Thấy, ở ngay câu mở đầu, một sự chia tay với
loại thơ phù phiếm và ở ngay câu sau: tự trách sự bất lực của thơ trong việc chặn
tay kẻ ác, kẻ gian. Đã có thời, trong cơn lãng mạn tuổi trẻ, anh đã mơ mộng tin
rằng tác động thơ ca như thần chú khuyến thiện, đọc xong là người ta cải tà quy
chính. Nhưng vào cuộc đời anh thấy không phải thế, không dễ dàng thế. (Sandoz
Pêtôphi, nhà thơ lớn nước Hungary, hi sinh trên chiến lũy năm 27 tuổi, cũng đã
tự thú: Đi vào trong láo nháo cuộc đời. Mới biết chúng ta nhầm lẫn cả). Đi
tù bọn chúng còn chả sợ, huống chi thơ ca hò vè… ăn nhằm gì.
Giận thân, giận đời thì than vãn thế chứ trong sâu thẳm,
Lê Thiếu Nhơn vẫn đắm đuối tin vào tác động hoàn thiện con người của thơ. Chứng
cớ ở hai câu cuối lẽ nào, lẽ nào... Thơ công dân giáo dục mà đầy lên, mà
không nén được, những cảm xúc cá thể. Đấy là thành công của Lê Thiếu Nhơn. Nói
chung các bạn trẻ thời nay hay có sự thẳng băng như thế. Tôi kính trọng sự can
đảm ấy. Can đảm để thiết thực, để có ích.
Lê Thiếu Nhơn mở to mắt và mở ngỏ cõi lòng để dám nhìn, để tiếp
nhận cuộc sống hôm nay như nó vốn có. Cũng có lúc, nhiều lúc, anh như chới với
trong ngọn triều vùi dập của cái xấu, của sa đọa, của giả dối toàn thân, mưu
danh mưu lợi. Lê Thiếu Nhơn kinh sợ sức công phá của đồng tiền. Một trùm xã hội
đen từng khuyên đàn em, lời khuyên quá đơn giản mà hữu hiệu đáng sợ “mua bằng
tiền không được thì mua bằng rất nhiều tiền”. Lê Thiếu Nhơn có nao núng,
anh khuyên thiên hạ tự vệ trong tình thế thụ động. Tội nghiệp: “Nhân nghĩa thời
đồng tiền sấp ngửa/ Tránh ngày mai riêng ai phụ bạc/ Xin người đừng thề thốt
hôm nay”. Nhưng lắng lại, nghe kỹ hơn, đấy không phải lời khuyên mà đúng
hơn, là lời lên án, tố cáo sự lộng hành của cái xấu, lời cảnh báo nghiêm khắc,
quyết liệt. Anh học cách mát mẻ cay đắng của Nguyễn Du chút lòng trinh bạch
từ sau xin chừa. Lớp thi sĩ vẫn được coi là trẻ, không chỉ thẳng băng mà
còn thâm trầm. Lời lẽ của họ dắt bạn đọc lặn sâu vào tâm thế đương thời. Có
lúc, ở một khoảnh khắc nào đó, Lê Thiếu Nhơn như quá chừng mệt mỏi. Một
tình cảm bất an thường trực. Đã có bài thơ như một dấu than không nguyên do. Đã
có ý định tìm vào tĩnh lặng, không xôn xao nữa, mà quên lãng, mà về già như nắng
quái chiều hôm:
Hát về điều không xôn xao nữa
giữa mùa đang xôn xao
Bỗng thèm ngọn gió lãng quên
trên những bờ lau mưa dài nắng quái.
May sao, đấy chỉ là một cơn học cổ điển thôi. Nhân tiện, nói
thêm, phong thái cổ điển trong thơ Lê Thiếu Nhơn ở tập này, đã có vị lắm,
nhưng ở những chủ đề khác!
Trở lại với điều đang nói, Lê Thiếu Nhơn đã không giấu những
điều trông thấy và cũng không giấu cả nỗi đau đớn lòng. Nhưng
không chỉ có thế. Đấy mới chỉ là thông tin. Thông tin hiện thực và thông tin
tâm trạng. Chúng ta xem anh xử lí thông tin ra sao để đạt được bình tâm, để
tìm ra sức mạnh, để sáng suốt mà vượt lên nó. Đây là một thái độ sống tích cực.
Xã hội ta mấy năm nay, đang có những biến động tăng cường tấn công cái tham cái
ác, tấn công thói lạm quyền, lăng loàn dân chúng. Có những ông to thoái hóa đã
ra tòa. Những điều trông thấy ấy thành nguồn nuôi dưỡng lòng tin. Trong cuộc tự
phấn đấu của thơ, trước những biểu hiện sa sút của lối sống, Lê Thiếu Nhơn đã
nhiều lần tự nhủ gìn giữ như một vũ khí tùy thân, là lòng tin vào đạo lí, tin
vào sức mạnh của nhân phẩm, của cái đẹp. Niềm tin ấy như một tiềm lực, như một
bản năng ẩn giấu đâu đó trong con người. Những khi tình cảm nao núng, trong một
tình huống oan khiên nào đó, cái ác tạm thời thắng thế. Nao núng chứ. Chúng ta
nên cảm thông cho trái tim con người, nhất là khi trái tim ấy đã tự phơi ra
ngoài lồng ngực. Những lúc ấy Lê Thiếu Nhơn đã phải nương vào lí trí. Lấy những
nguyên lí của lương thiện làm điểm tựa. Đã nhiều lần tôi gặp một mệnh lệnh cách
trong thơ anh “Đành phải tin!”, “Đành phải tin!”. Đó là một lời tự nhủ. Một
thủ pháp lấy nguyên tắc mà chế ngự tình hình. Anh tin vào sức mạnh của tương
lai: “Con bi bô cây dài ngày xanh thẳm/ Con chập chững núi cao thuở ngàn
trùng”. Nguyên lí của cây là xanh thắm. Nguyên lí của núi là ngàn trùng.
Nguyên lí của hi vọng khi có tiếng đưa nôi: “Những đổ vỡ ngổn ngang ngày tháng
cũ/ Đã tan vào tiếng kẽo kẹt đưa nôi”. Anh tìm sức mạnh từ cội nguồn, từ mẹ,
từ quê hương:
– Tôi tập sống cặm cụi như tay mẹ tần tảo
Tôi tập sống độ lượng như lòng mẹ bao dung
Tôi tập sống lương thiện như mắt mẹ trong trẻo
– Miền Trung trong đêm không thể nhìn ra cột cây số bên đường
Tôi lấy hơi thở của biển để nghe gần hơn ngôi nhà của mẹ
Giông bão kẻ đi xa đã lặng sóng phía khu vườn
– Tôi tìm cách đi lùi trong ký ức, đi lùi đến ngây thơ!
Còn màu hoa bên mép vực dại khờ
Làm sao tìm được cách tha thứ những tiếng vỗ tay phản trắc?
Ngây thơ nhưng đủ nhận ra kẻ phản trắc núp trong dáng vỗ tay
hoan hô. Biết, nhưng trong lòng, anh tự giải tỏa bằng tìm cách nghĩ để tha thứ.
Lại có lúc anh phẫn nộ với kẻ đạo đức giả, đóng vai trí tuệ, cất mồm chửi mọi
thứ rồi đau đớn nốc rượu thương dân và về ngủ kĩ. Cách ứng xử biện chứng trước
cuộc đời nhiều mặt nạ là một khía cạnh trí tuệ của thơ hôm nay. Tha thứ, phẫn nộ
và ái ngại. Cái tâm thế ái ngại phải chăng là một tổng hợp của cả tha thứ và phẫn
nộ, của cả lòng mình lẫn lòng người:
Cúi xuống nghe lòng mình ái ngại
Ái ngại lòng mình cúi xuống nghe
Cái tư thế cúi đầu nghĩ ngợi này quả đáng “ái ngại” thật.
Nhưng lại mừng cho thơ. Không xuôi chèo mát mái nhưng đầy ý chí tự vượt. Tác giả
cố tìm mọi cách tự mình xoay trở, để vượt qua tình thế. Kể cả “tôi trồng một
hàng cây cho chim về hót…” dù là hót cái hắt hiu đời mình. Kiên trì giữ lấy
tính độc lập lương thiện: “Can đảm không bầy đàn/ Can đảm không bè cánh”. Nghĩ
đến tình thế này, chủ trương biện pháp này là thực thi một tinh thần nhập cuộc
tích cực, không phải lơ mơ mây gió hay lớn giọng kẻ cả kiểu yêu nước thương dân
không tốn kém.
Biện pháp cuối cùng là lấy chủ nghĩa lãng mạn trong trẻo để
thắng hiện thực lươn lẹo. Lấy tình yêu (muôn đời) và niềm lạc quan tôn giáo (từ
bi) làm sạch tâm hồn mình: “Cũng may còn thấy em cười giữa đời xuôi ngược”
Lê Thiếu Nhơn coi trọng thủ pháp diễn đạt. Chịu tìm tòi, chịu
tốn thời gian cho thể nghiệm. Ở tập này, anh tìm trong ngôn ngữ, trong hình ảnh
sức gợi của ẩn dụ, của biểu tượng. Bài thơ ngắn gọn mà nói được xa rộng, dễ đọc
mà không dễ đi hết chiều sâu tâm tưởng. Chỗ ấy là thành công, mà cũng có thể
còn một cách bức nào đó giữa sản phẩm và người tiêu thụ. Làm người đọc thân
mình, mê mình tùy vào việc giải tỏa cách bức này. Việc ấy Lê Thiếu Nhơn đang
ráo riết làm và làm có hiệu quả.
6/8/2020
Vũ Quần Phương
Theo https://vanhocsaigon.com/
Ẩn dụ trong Truyện Kiều
Ẩn dụ trong Truyện Kiều
Truyện Kiều sử dụng rất nhiều ẩn dụ. Theo thống
kê sơ bộ của chúng tôi Truyện Kiều gồm có khoảng 240 câu có ẩn dụ
trong số 3254 câu, chiếm tỉ lệ 7,2%. Mọi người đều biết ngôn ngữ thơ thực
chất là ngôn ngữ ẩn dụ, do đó thành phần ẩn dụ gia tăng rõ ràng có tác dụng tạo
nên chất thơ cho lời thơ, làm cho văn chương Truyện Kiều thêm bóng bẩy,
thấm thía. Lê Trí Viễn từng nhận xét rất đúng: “Cách nói nhiều hình tượng
trong Truyện Kiều là cách nói bằng ẩn dụ, không có trang nào là không
thấy một vài ẩn dụ(1).
Khái niệm “ẩn dụ” mà chúng tôi nói đây mang nội dung hiện đại.
Trong thuật ngữ phong cách học cổ điển Trung Hoa có thuật ngũ tỉ dụ bao
gồm ba hình thức: minh dụ (A như B), ẩn dụ hay ám dụ (A là B) và tá dụ (mượn B
thay cho A, A vắng mặt. Ví dụ: Tuế hàn nãi tri tùng bách chi hậu điêu dã. “Tùng
bách” được ví với người quân tử, nhưng ở đây nó không được nói ra, vắng mặt).
ẩn dụ trong nội dung hiện đại rõ ràng là bao gồm cả hình thức “tá dụ” nêu trên
và chỉ phân biệt với “minh dụ”, được hiểu là phương thức so sánh hình ảnh.
Ẩn dụ nói chung là phương thức tu từ thường gặp trong thơ ca
(và cả trong các văn bản khác) có cấu tạo như sau: Nó đem từ ngữ hay phương thức
biểu đạt vốn để chỉ sự vật A hay hành động A, mà chỉ trực tiếp sự vật B hay
hành động B hoàn toàn khác, mà lại không thấy rõ sự so sánh giữa chúng với
nhau. Người ta cũng gọi đó là ví ngầm, cái đem dùng làm ví là dụ thể, cái được
ví tức là được nói đến là dụ chỉ. Trong văn học ẩn dụ là hình thức tu từ nhằm
phát hiện cái tương đồng giữa hai sự vật khác lạ. Hai sự vật dụ thể và dụ
chỉ càng khác xa nhau bao nhiêu thì ẩn dụ càng gây ấn tượng bấy nhiêu. Đó là ẩn
dụ có giá trị nhận thức, phát hiện. Một số nhà nghiên cứu cho rằng ẩn dụ ở
phương Tây thiên về giá trị nhận thức, còn ẩn dụ trong văn học phương Đông
thiên về giá trị biểu cảm(2).
Truyện Kiều là tác phẩm văn học cổ điển thời trung đại, ẩn
dụ của nó nằm trong quỹ đạo thi ca phương Đông. Ở đây ẩn dụ ít có giá trị nhận
thức, phát hiện mà nặng về giá trị biểu cảm. Ẩn dụ biểu cảm có loại thể hiện cảm
xúc nhất thời, thoáng qua. Có loại cảm xúc hằng thường. Chính vì nặng về giá trị
biểu cảm hằng thường mà người ta thường sử dụng những ẩn dụ quen thuộc như là
sáo ngữ. Nguyễn Du có những ẩn dụ biểu cảm độc đáo, nhưng vẫn có cội nguồn
trong thơ văn Trung Quốc:
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.
Hình ảnh ngầm ví hoa lựu với lửa lập lòe làm nhớ tới câu thơ
của Dĩu Tín “Sơn hoa diệm hỏa nhiên” hay câu thơ “Sơn thanh hoa dục nhiên” của
Đỗ Phủ. Song ở đây cũng như hoa trong Truyện Kiều có xu hướng cụ thể
hóa trong khi tả cảnh: lửa lựu, cũng như hoa lê, hải đường …. hoa lửa từ tính
chất chuyển thành trạng thái, động tác.
Như khi tả tình Thúc Sinh:
Mày ai trăng mới in ngần
Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa.
Câu này có thể gợi nhớ câu thơ Trung Quốc “Sơ nguyệt
như mi” nhưng đã chuyển từ so sánh tả cảnh khách quan sang ẩn dụ chủ quan để
miêu tả tình cảm Thúc Sinh. Nhìn trăng mà liên tưởng tới nét cong của
lông mày người đẹp, rồi nhớ tới phấn hương ngày nào, thật là tinh vi.
Khi Từ Hải ra đi:
Quyết lời dứt áo ra đi
Gió đưa bằng tiện đã lìa dặm khơi.
Hoặc khi Kiều nhớ Từ Hải:
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm
hình ảnh đều rất đẹp, khi thì khí phách, khi thì mênh mang,
tuy có vận dụng hình ảnh của Trang Tử.
Khi tả tiếng đàn bạc mệnh với hai ẩn dụ mà ẩn dụ thứ hai rất
mới mẻ:
Một cung gió thảm mưa sầu
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay
Hình ảnh này cũng có nguồn trong hình ảnh “khốc huyết” trong
thơ văn Trung Quốc.
Đó là ẩn dụ tuy có cội nguồn ngoại lai nhưng đều mang dấu ấn
Nguyễn Du. Nhưng nhìn chung ẩn dụ trong Truyện Kiều phần nhiều thuộc
loại “Thay thế giản đơn” một đối tượng muốn biểu hiện bằng một đối tượng khác đẹp
đẽ, cao quý, thi vị và đã được sử dụng nhiều lần, lặp đi lặp lại.
– Nàng càng giọt ngọc chứa chan
– Dòng thu như xối cơn sầu.
– Hoa cười ngọc thốt đoan trang.
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
– Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
– Êm đềm trướng rũ màn tre,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai
– Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương.
– Khen tài nhả ngọc phun châu.
– Nàng rằng khuảng vắng đêm trường
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.
– Gìn vàng giữ ngọc cho hay…
Các dụ thể loại này thường được sử dụng nhiều lần, hoặc đã
quen thuộc như là sáo ngữ: tuyết trở, sương che, gió bắt mưa cầm, đá biết tuổi
vàng, đầu trâu mặt ngựa, ruồi xanh, vườn hồng, chim xanh, nước non, bình gãy
gương tan, trâm gẫy bình rơi…. Nhưng có lẽ ta nên chưa vội kết luận là Nguyễn
Du thiếu cá tính, mặc dù đây là bút pháp cổ điển quen thuộc của Thơ Đường. Hai
tác giả Mỹ gốc Hoa là Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật
thơ Đường đã nhận thấy phần nhiều ẩn dụ trong thơ Đường đều là sáo ngữ như mặt
trăng thì gọi “minh nguyệt”, minh kính, ngọc luân, người đẹp thì gọi là hoa, mắt
thì gọi là thu ba, chiến tranh thì gọi là can qua, quan hệ gắn bó thì gọi là cốt
nhục… Khi một ẩn dụ được sử dụng đi sử dụng lại quá nhiều thì mất đi cảm giác mới
lạ và trở thành sáo ngữ. Đó là đặc trưng chung của tu từ học trung đại.Lúc này ẩn
dụ được sử dụng chỉ vì thói quen. Tuy vậy, các sáo ngữ này có tác dụng cường điệu
đặc trưng tình cảm của chúng(3). Điều này đặc biệt đúng
với Nguyễn Du, và ở đây nhà thơ đã thể hiện nét riêng của mình. Dường như Nguyễn
Du “có một cảm quan cây, trái” khi nghĩ về cuộc đời(4).
Đối với con người ở xứ sở nông nghiệp có lẽ không có cảm xúc
nào thân thiết với con người hơn là cảm xúc cây trái, hoa, cành. Đành rằng
trong thơ cổ điển dụ thể hoa thường dùng để chỉ người đẹp, nhưng ở đây nhà thơ
đã dùng để chỉ Thúy Kiều trong mọi tình huống, khi được yêu, khi bị bán, bị
hành hạ, tủi nhục. Hoa, liễu đây đã trở thành hình tượng con người, hóa thân
thành người cho nên có người hiểu là “nhân hóa”.
– Nặng lòng xót liễu vì hoa
– Cành hoa đem bán vào phường lái buôn.
– Ba cây chập lại một cành mẫu đơn.
– Đang tay vùi liễu dập hoa tơi bời.
– Đào hoen quẹn má, liễu tan tác mày….
Các ẩn dụ này đã có tác dụng gợi cảm xúc thương yêu và đau
xót. Chúng không phải là ẩn dụ nhận thức mà là biểu trưng cho nhân vật và đã trở
thành những ẩn dụ biểu cảm. Các hình ảnh vàng, ngọc, hương, hoa…. vốn là hình ảnh
tôn quý, đáng được nâng niu, và được dùng thay thế con người khi miêu tả trong
các tình huống khác nhau.
Khi Kiều bị Mã Giám Sinh chiếm đoạt:
– Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về.
Một cơn mưa gió nặng nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương!
Khi Kiều hối hận:
Phẩm tiên rơi đến tay hèn
Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai
Biết thân đến bước lạc loài
Nhị đào thả bẻ cho người tình chung
Khi Kiều biểu hiện vẻ đẹp:
– Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.
Khi Kiều được hưởng hạnh phúc:
– Hải đường mơn mởn cành tơ
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng
Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho đang!
– Một nhà sum họp trúc mai
Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông
Hương càng đượm lửa càng nồng
Càng xôi vẻ ngọc, càng lồng màu sen.
Các ẩn dụ này không rời rạc, riêng lẻ, mà là một chùm, một tập
hợp thể hiện một hiện tượng đầy đặn và một cảm xúc toàn vẹn. Nguyễn Du hầu như
không dùng một từ ngữ hay một phương thức biểu đạt riêng lẻ làm ẩn dụ, mà dùng
một chuỗi các sự vật tương đồng làm ẩn dụ, cho nên các dụ thể mất đi ý nghĩa
sáo ngữ, mà hóa thân vào dụ chỉ, khêu gợi dụ chỉ, mà con người ở dụ chỉ đó cảm
nhận về cuộc đời một cách tượng trưng. Cảm nhận về sự yếu đuối, lênh đênh, tan
vỡ:
– Bây giờ trâm gẫy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân
– Rõ ràng hoa rụng hương bay.
– Phận sao phận bạc như vôi,
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
– Vì ai rụng cải rơi kim
Để ai bèo nổi mây chìm vì ai.
– Rằng tôi bèo bọt chút thân
Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh
– Rộng thương cỏ nội hoa hèn
– Đã đành túc trái tiền oan
Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi
– Phận bèo bao quản nước sa
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
– Nghĩ mình mặt nước cánh bèo
– Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa.
Các hình ảnh bọt bèo, bến nước, nước chảy hoa trôi, cỏ nội
hoa hèn, rụng cải rơi kim hô ứng với các hình ảnh một hạt mưa rào, con
ong cái kiến, nhện này tơ kia, thân lươn lấm đầu, kiến bò miệng chén, con tằm đến
thác, mạt cưa mướp đắng, kẻ cắp bà già, thăm ván bán thuyền…. đã tạo nên một cảm
quan rất dân tộc. Những hình ảnh sóng gió, mưa gió, mặt nước cánh bèo, nước sa,
bèo nổi mây chìm… gợi ra một môi trường sông nước, gió bão, mưa lụt mà người Việt
Nam rất quen thuộc. Đồng thời các hình ảnh sáo trong thơ Đường hòa trộn với
hình ảnh của tục ngữ thành ngữ, làm nên chất lượng mới cho ngôn ngữ văn học tiếng
Việt. Các hình ảnh ẩn dụ trong Truyện Kiều cho thấy một đặc điểm là từ
hàng loạt hình ảnh sáo mòn Nguyễn Du đã tạo thành những hình ảnh gợi cảm. Người
xưa thường nói “hóa trần hủ thành thần kì” (biến cũ nát thành thần kì) chính là
như vậy. Như chúng tôi đã phân tích, đó là do nhà thơ dùng từng cặp, từng chuỗi
dụ thể và truyền vào đó một cảm quan dân tộc, từ cảm quan cây trái, hoa lá, đến
cảm quan mưa gió, lênh đênh, từ cảm quan quí phái, trang nhã đến cảm quan sinh
hoạt hương thôn phàm tục. Đó chính là cảm quan của Nguyễn Du, là cá tính của
Nguyễn Du. Ẩn dụ được nói ra từ trong cảm nhận sâu thẳm của tâm hồn người, cho
nên mỗi ẩn dụ có một sức nặng tình cảm. Văn chương hay không chỉ do hình ảnh mới
lạ mà còn do tình cảm. Mà nói đến tình cảm thì phải nói tới chiều sâu của tình
cảm đó. Hêghen từng nói đại ý mọi người ai vào nhà thờ cũng làm dấu thánh giá
và nói “Amen”. Nhưng có người nói Amen như bắt chước người khác, có người nói
như thói quen hút thuốc, ăn trầu, có người từ niềm tin mê muội, có người nói từ
tất cả sự chiêm nghiệm cuộc đời đầy đau khổ.
Do vậy, chiều sâu tình cảm khác nhau rất xa. Những ẩn dụ của
Nguyễn Du đều dồn nén tình cảm thật sự.
Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc vui đầy tháng trận cười suốt đêm
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh.
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rũ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?
Tác giả (và nhân vật) đã để tất cả niềm vui nỗi đau đích thực
của mình vào trong các ẩn dụ ấy. Có thể nói đó không chỉ giản đơn là ẩn dụ mà
còn là sinh dụ, hoạt dụ, tình dụ.
Những ẩn dụ quen thuộc làm người đọc không cần giải mã ẩn dụ,
mà tức khắc chuyển sang đồng cảm. Loại ẩn dụ này là một yếu tố tạo thành văn bản
“dễ đọc” cho công chúng. Người ta có thể đọc Truyện Kiều như đọc ca
dao rất đỗi thân thuộc, gần gũi.
Tất nhiên trong Truyện Kiều cũng có những ẩn dụ khô
khan như:
– Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
Hoặc: Khen:
Tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này.
Hoặc: Tay
tiên gió táp mưa sa,
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.
Đó là những chỗ lời nói nhân vật chưa được tự nhiên do mới tiếp
xúc với nhau buổi đầu, mới có tính cách xã giao, đưa đẩy hoặc do nhà văn có vẻ
tán tụng nhân vật của mình, chứ chưa sống vào tâm hồn nhân vật.
Ẩn dụ trong Truyện Kiều cũng đồng chất với so sánh
trong Truyện Kiều, là so sánh biểu cảm, chứ không phải so sánh nhận thức.
Chẳng hạn:
Thiếp như hoa đã lìa cành
Chàng như con bướm lượn vành mà chơi
Do đó chúng tôi tạm thời không xem xét riêng.
Nghiên cứu ẩn dụ trong Truyện Kiều có thể thấy rằng
Nguyễn Du như các nhà thơ trung đại nói chung, không có dụng ý đi tìm ẩn dụ
hoàn toàn mới mẻ mà là dùng một cách mới, sáng tạo lại các ẩn dụ, so sánh…. đã
có trong thi văn truyền thống. Ông đã tiếp nhận kiểu ẩn dụ trong thơ Đường và
trong tục ngữ, ca dao theo hướng ẩn dụ biểu hiện tính chất và biểu cảm làm cho
lời văn Truyện Kiều thêm thi vị và chứa chan tình cảm.
Chú thích:
(1) Lê Trí Viễn (nhiều tác giả) Giáo
trình văn học sử Việt Nam. NXB Giáo dục Hà Nội, 1962, tr.208-209.
(2) Diệp Khê Mật. So
sánh và ẩn dụ trong thi pháp Trung Quốc và phương Tây. “Văn học so sánh”
kỳ 3, năm 1987
(3) Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường,
Trần Đình Sử, Lê Tẩm dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000tr.266,269.
(4) Xem mục “Cái nhìn nghệ
thuật” ở chương trước.
7/8/2020
Trần Đình Sử
Theo https://vanhocsaigon.com/
Báo chí với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Báo chí với việc giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Việt
Tiếng Việt là một sinh ngữ, và ngôn ngữ trên báo
chí cũng không ngừng phát triển góp phần không nhỏ vào sự phát triển của tiếng
Việt hiện đại.
Tuy nhiên trong quá trình phát triển, báo chí đã bộc lộ không
ít những nhược điểm trong sử dụng từ ngữ, văn phạm làm phương hại đến sự trong
sáng của tiếng Việt, và góp phần không nhỏ vào sự lệch lạc trong lỗi dùng từ của
một bộ phận người đọc, người nghe, làm phương hại đến đến sự trong sáng của tiếng
Việt, làm ảnh hưởng không nhỏ và tạo nên sự lệch lạc trong lỗi dùng từ của một
bộ phận người đọc báo, người nghe đài, xem truyền hình.
Về tu từ:
Có một nhận xét chung là khả năng tu từ học cũng như kỹ năng
diễn đạt của báo chí nước ta đang ngày càng pha tạp giữa ngôn ngữ thuần Việt với
ngôn ngữ nước ngoài. Khiến câu chữ trên báo chí lắm lúc trở nên ngô nghê, khó
hiểu hoặc khô cứng. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có thể là do các nhà báo của
ta trong quá trình học và sử dụng ngoại ngữ đã mang theo thói quen sử dụng cấu
trúc của câu văn tiếng nước ngoài vào câu văn Việt; hoặc là muốn viết cho khác
người, cho lạ, cho hiện đại. Ví dụ: Bản quy hoạch này được thực hiện bởi một
nhóm các kiến trúc sư trẻ; Cú đâm nhau chí mạng được xảy ra giữa hai xe
máy phóng ngược chiều với một tốc độ rất cao; Sự cạn dần đi của nguồn nước được
xảy ra khi các nhà máy thuỷ điện mọc lên chi chít trên thượng nguồn các con
sông.v.v. Những câu trên đều có thể diễn đạt lại theo lối thuần Việt, xuôi tai
và dễ hiểu hơn, nhất là với số đông người bình dân: Một nhóm kiến trúc sư
trẻ đã thực hiện bản qui hoạch này; hai xe máy phóng ngược chiều với tốc độ rất
cao đã đâm nhau một cú chí mạng; Các nhà máy thủy điện mọc lên chi chít trên
thượng nguồn các con sông đã làm cho nguồn nước bị cạn dần đi .v.v. Chính
cách viết theo cấu trúc đặt trước từ “được” những động từ và tính từ
đã làm nên những câu văn kiểu tây tây như thế. Trong lúc cách nói truyền thống
của người Việt ta là Chúng ta đi trên đường tắc nghẽn quá; không ai
nói Chúng ta tắc nghẽn quá bởi con đường đi. Nghe cứ như là văn
dịch. Tất nhiên là dù nói và viết theo cách nào thì người đọc người
nghe cũng hiểu Chúng ta đi trên một con đường tắc nghẽn; và con
đường tắc nghẽn mà chúng ta đang đi. Về nghĩa giữa hai câu thì giống nhau
nhưng diễn đạt theo câu thứ hai thì vụng về và nặng nề lắm. Trong khẩu ngữ thì
có thể nói như thế nhưng trên báo chí thì không nên chút nào. Trên thực tế, việc
đưa khẩu ngữ vào các bài báo của số đông các nhà báo đang ngày càng phổ biến.
Và đó là một thói quen xấu, khi báo chí được xem là một phương tiện truyền
thông phổ cập và cổ điển.
Ngay ở cách đặt title cho bài báo cũng nhiều lúc chưa ổn, thậm
chí gây bức bối cho người đọc báo. Một title bài phải sao cho ngắn gọn và kín,
đọc qua title bài, bạn đọc sẽ thấy ngay bài báo sẽ có nội dung về vấn đề gì
nhưng đồng thời ngay ở cái title cũng cần gây được sự chú ý, tò mò cho người đọc.
Ví dụ: Mất bảy mạng người trong một vụ hoả hoạn. Đọc cái title này bạn đọc
sẽ biết nội dung bài báo là nói về một vụ hoả hoạn nghiêm trọng gây chết đến bảy
người. Nhưng người ta cũng cần biết là vụ cháy xảy ra ở đâu, vào lúc nào, diễn
biến như thế nào và nguyên nhân do đâu. Và vì thế mà người ta sẽ đọc hết bài
báo để nắm các thông tin trên. Nhưng nếu cũng với bài báo trên mà đặt
title: Vụ hoả hoạn ở Bình Dương vì sao mất đến bảy mạng người? Với
dấu (?) ở cuối thì sẽ khiến cho người đọc khó chịu. Bởi người đọc đến với bài
báo đó là để tìm đến với sự thật chứ không phải là đi tìm câu trả lời mà nhà
báo đặt ra. Trong trường hợp này chỉ có một trong hai khả năng: do có người đốt
hoặc do bất cẩn. Vậy chỉ có thể đặt title với sự khẳng định: Vụ hoả hoạn ở
Bình Dương là do có người đốt; hoặc Vụ hoả hoạn ở Bình Dương là do bất
cẩn.
Trong trường hợp cụ thể này, nếu chưa xác định được nguyên
nhân thì chỉ nên đặt title: Đi tìm nguyên nhân vụ hoả hoạn ở Bình Dương là
đủ. Tương tự không nên đặt các title bài kiểu: Tăng giá xăng trong thời điểm này
liệu có thích hợp? Trong trường hợp này nếu quan điểm của nhà báo là không
thích hợp thì khẳng định luôn là: Tăng giá xăng trong thời điểm này
là không thích hợp; ngược lại thì nói: Tăng giá xăng trong thời điểm này
là thích hợp. Gần đây báo chí ta còn có tình trạng phổ biến đặt câu
hỏi với dạng động từ + tại sao không? Ví dụ: Cá cược bóng đá, tại
sao không?; Hoặc Tết sách, tại sao không? … Nói kiểu ấy một
vài lần thì được, nói hoài kiểu câu hỏi ấy thì gây khó chịu cho người đọc. Người
đọc báo có quyền bắt bẻ lại nhà báo với những cái title cụ thể hơn: Có thể/không
thể cá cược bóng đá; hoặc Nên/không nên có tết sách …
Đa số bạn đọc không thú vị gì với các title bài đồng thời là
một câu hỏi. Bởi nhiệm vụ của họ không phải là đi tìm câu trả lời mà là tìm đến
với sự thật là câu trả lời của nhà báo nằm trong nội dung bài báo. Và như vậy,
cũng có nghĩa là các title bài không nên là những câu hỏi. Trong lúc đó thì
đáng buồn thay đang có nhan nhản những title đề như thế trên các trang báo ra
hàng ngày.
Về sử dụng từ
Như đã biết, lượng từ Hán – Việt chiếm đến 70% trong ngôn ngữ
tiếng Việt. Chúng ta không máy móc là phải Việt hoá tất cả các từ Hán – Việt để
cho tiếng Việt được trong sáng. Và trên thực tế không phải từ Hán – Việt nào
cũng có thể Việt hoá được. Tuy nhiên, lạm dụng và sử dụng quá nhiều từ Hán – Việt
trong khi có thể sử dụng từ thuần Việt là không nên. Điều này trong giới ngôn
ngữ học đã nói nhiều, chúng tôi xin không nhắc lại.
Điều chúng tôi muốn nói là tình trạng sử dụng sai từ Hán – Việt
trong báo chí. Rõ nhất là ở từ khiêm tốn. Ai cũng biết khiêm tốn là
từ dùng để chỉ một phẩm chất tốt của con người. Ông ấy giỏi nhưng
khiêm tốn lắm; Những người thông minh là những người biết khiêm tốn. Bác Hồ
cũng dạy các cháu thiếu niên nhi đồng là Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. Từ
nghịch nghĩa với khiêm tốn là tự cao, một thói xấu của con người.
Tuy nhiên gần đây từ khiêm tốn đang được dùng để chỉ những cái gì còn
ít, như là một từ định lượng. Ví dụ: Kết quả đạt được của doanh nghiệp
trong năm qua còn khiêm tốn; hoặc: Thành tích của đội bóng A trong
mùa bóng vừa qua là quá khiêm tốn … thậm chí có nhà lãnh đạo khi đi
nước ngoài cũng đã phát biểu: Tiềm năng hợp tác kinh tế giữa hai nước Việt
– Nga là rất to lớn nhưng chúng ta thực hiện còn quá khiêm tốn. Tại sao không
nói thẳng, nói rõ ra là …còn ít; …còn thấp mà lại thay từ khiêm tốn vào
đấy. Nếu vậy, chúng ta phải hiểu từ khiêm tốn trong Năm điều Bác Hồ dạy
thiếu niên và nhi đồng “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” như thế nào đây! Chẳng
thế mà có độc giả đã viết bài than phiền về cái sai phổ biến và trầm trọng của
báo chí khi dùng từ khiêm tốn với nhan đề chua chát: Tôi sợ
khiêm tốn lắm rồi!
Đó là cái sai rất đậm nét trong dùng từ Hán – Việt mà không
ít người đã lên tiếng phê phán nhưng chưa thấy ai sửa, ngược lại kiểu sai này
ngày càng phổ biến và trầm trọng hơn. Báo chí, hơn ai hết phải thấy được khả
năng lan toả và tác động to lớn của mình trong đời sống xã hội để từ đó cũng phải
cẩn trọng hơn ai hết trong sử dụng từ ngữ.
Một cái sai khác trong dùng từ cũng đang rất phổ biến trong
báo chí của ta là dùng từ bà con, nhất là trong các bài báo, các
chương trình phát thanh và truyền hình hướng về đối tượng đọc và nghe là nông
dân, đồng bào các dân tộc thiểu số. Ví dụ: Bà con và các bạn thân mến! Theo
từ điển tiếng Việt, nghĩa của từ bà con là để chỉ những người có cùng
quan hệ huyết thống, có quan hệ họ hàng thân thuộc bên nội, bên ngoại với nhau…
Có lẽ khi các nhà báo và các báo, đài gọi đối tượng hướng tới để tuyên truyền của
mình, những người nông dân, những đồng bào các dân tộc thiểu số là bà con nhằm
tạo sự gần gũi, thân thiết. Nếu vậy khi viết về những người công nhân, những
tầng lớp lao động khác trong xã hội thì không cần sự bà con gần gũi
đó hay sao! Đó là chưa nói tới chuyện người nông dân trong xã hội ta ngày nay
cũng đã được nâng cao về dân trí và các nhận thức khác, họ sẽ không muốn cánh
báo chí gọi mình theo lối mị dân như thế. Và khi đó, tác dụng tuyên truyền sẽ bị
giảm sút do lỗi dùng từ không chính xác.
Trong trường hợp này, nên thay từ bà con bằng đồng
bào là thích hợp hơn cả: Đồng bào và các bạn thân mến! Bởi rằng, đồng
bào là một từ gốc Hán nhưng không hề xa lạ trong tiếng Việt.
Lỗi trong dùng từ theo kiểu khẩu ngữ cũng đang phổ biến
trên các mặt báo. Có lẽ chưa có bao giờ mà lời ăn tiếng nói thông thường trong
cuộc sống hàng ngày lại được các nhà báo sử dụng thoải mái đến mức hồn nhiên
như hiện nay. Tác dụng của nó là khiến cho báo chí trở nên gần gũi hơn với người
đọc nhưng nếu lạm dụng quá thì sẽ làm mất đi tính nghiêm túc của bài báo, và của
cả tờ báo.
Chẳng hạn một từ đang được báo chí dùng rất thịnh hành
là bật mí. Ví dụ: Bật mí về hậu trường làm phim truyền hình Việt Nam;
hoặc Bật mí về những cây xăng gian lận thương mại ở Long An .v.v. Ai cũng
biết, bật mí là nói lái của từ bí mật, như một sự chơi chữ, nhằm
chỉ những điều đã bị lộ diện, không còn bí mật nữa. Dùng ở ngoài sách vở theo dạng
khẩu ngữ, ngôn ngữ đường phố không thì không sao nhưng nếu sử dụng chính thức
trên báo chí sẽ làm mất hẳn sự nghiêm túc của bài báo, biến một vấn đề nghiêm
túc thành một sự bông lơn, đùa cợt.
Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ, lượng từ mới xuất hiện
ngày càng nhiều và đi vào đời sống ngôn ngữ như một lẽ tự nhiên. Điều đó làm
cho ngôn ngữ nước nhà ngày càng phong phú. Tuy nhiên, không phải từ mới nào
cũng có lí để tồn tại. Lẫn trong những từ mới, đã có những từ ghép được các nhà
báo “sáng tạo” một cách khập khễnh, làm biến dạng cả tiếng Việt. Ví dụ: viết thanh
thiếu nhi thay cho viết đầy đủ là thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; chi
đảng bộ thay cho chi bộ, đảng bộ; khán thính giả thay cho khán
giả, thính giả; phối kết hợp thay cho phối hợp, kết hợp .v.v. Thực ra
các trường hợp trên chỉ là một cách viết tắt chứ không phải là những từ ghép.
Trong khẩu ngữ khi nói không chính thức có thể dùng nhưng khi đi vào văn bản viết
của ngôn ngữ báo chí thì không nên bởi nó làm mất đi độ chính xác và tính
nghiêm túc của bài báo. Nếu chấp nhận “sáng tạo” và cứ phát triển theo xu
hướng trên thì sẽ có lúc dùng ngoan cố thay cho ngoan ngoãn và cố gắng; cao
xà lá thay cho cao su, xà phòng, thuốc lá. Như vậy có mà loạn từ ngữ! Phát
hiện và sử dụng cái mới là một điều tích cực nhưng không phải cái gì
khác lạ cũng là cái mới.
Về dùng từ nước ngoài
Khi đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có ngôn ngữ cũng tham gia mạnh mẽ
vào quá trình hội nhập ấy. Ngày nay, khi lật bất cứ trang báo nào, người đọc
cũng có thể thấy ngay những từ nước ngoài được sử dụng một cách phổ biến
như: Phone, fax, mail, website, blog, computer, hacker, show, live show,
game show, shopping v.v. và v.v. Đó là những từ nước ngoài mà con
người trong thế giới hiện đại dù ở bất cứ quốc gia nào cũng không thể không sử
dụng. Bởi dù có bảo thủ đến đâu chúng ta cũng khó mà thay thế các từ thuần Việt
vào các từ nước ngoài như fax, mail, website, blog… Trong trường hợp nếu cố
tình thay thế, chúng ta sẽ có cách diễn đạt dài dòng, thậm chí là không chính
xác, không rõ nghĩa. Có thể khẳng định rằng, với sự xuất hiện ngày càng dày đặc
các từ nước ngoài trên các phương tiện truyền thông mà chỉ cách đây mấy năm còn
xa lạ nhưng nay đã trở nên quen thuộc với số đông đã góp phần cho sự diễn đạt
chính xác và làm phong phú thêm cho ngôn ngữ Việt nói chung và ngôn ngữ báo chí
nói riêng. Mặt khác, điều đó cũng góp phần nói lên sự hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng của đất nước ta ngày nay.
Tuy nhiên, cùng với sự tiếp thu và Việt hoá được nhiều cái
hay của từ ngữ nước ngoài trong thời buổi đất nước hội nhập thì có một điều
chúng ta đã nói rất nhiều, rất lâu rồi nhưng ngày càng trở thành một thói quen
xấu là việc lạm dụng từ nước ngoài, sử dụng từ nước ngoài trong những trường hợp
không cần thiết. Tình trạng này làm cho tiếng Việt bị mất đi sự trong sáng, thậm
chí bị biến dạng, lai căng trông rất kệch cỡm. Điều đáng báo động là xu hướng
này đang ngày càng thịnh hành, nhất là thói quen sử dụng tiếng Anh thay cho tiếng
Việt ngay cả trong những trường hợp không cần thiết.
Có lẽ ngày nay, chỉ trừ số ít tờ báo như Nhân dân, Quân
đội nhân dân, Tiền phong thì đa số các mặt báo còn lại, nhất là báo
điện tử, báo mạng, thậm chí cả trong các văn bản hành chính; rồi cách gọi, cách
đặt tên cho sự kiện cũng nhan nhản sự lạm dụng từ tiếng Anh. Như không nói
là liên hoan mà nói là festival. Trong các cuộc liên hoan
mang phạm vi quốc tế thì dĩ nhiên là và hoàn toàn có thể sử dụng từ festival như Festival thanh
niên, sinh viên quốc tế ; Festival Huế (với thành phần tham gia có
nhiều khách quốc tế)… nhưng cũng có những liên hoan mà tính quốc tế hầu như
không có hoặc có rất ít như Festival lúa gạo ; Festival trái
cây ; Festival thuỷ sản Cần Thơ, Festival thanh niên nông thôn,
Festival Tây Sơn – Bình Định v.v. thì hoàn toàn nên gọi là liên hoan chẳng
những là để giữ gìn sự trong sáng cho tiếng Việt mà còn là để gần gũi với đa số
nhân dân, nhất là với nông dân. Ngoài ra có thể kể thêm cho những trường hợp lạm
dụng tiếng Anh như: dùng building, villa thay cho nhà cao tầng, biệt
thự ; sale off thay cho hạ giá ; scandal thay cho
bê bối ; collection thay cho sưu tập. Ngay cả khu du lịch nổi tiếng
ở Nha Trang hoàn toàn được xây dựng với sự đầu tư của người Việt nhưng lại được
đặt tên là Vinpearland chứ không chịu gọi là Hòn ngọc Việt, một
cái tên thuần Việt vừa đẹp vừa nhiều ấn tượng. Hình như là có một bộ phận người
Việt cho rằng có gọi theo tên Tây như thế thì mới sang, mới hiện đại ; còn
gọi theo tiếng Việt thì bị giảm giá (!).
Trong phạm vi vấn đề này, như đã nói ở trên, chúng tôi không
phản đối mà ngược lại, còn phần nào ủng hộ việc sử dụng những từ ngữ nước ngoài
trong những trường hợp không thể dùng tiếng Việt, hoặc nếu cố tình sử dụng tiếng
Việt sẽ làm cho câu chữ dài dòng, không nói hết nghĩa của từ và thuật ngữ. Chẳng
hạn trong việc sử dụng mạng thông tin điện tử thì dùng mail, fax, hacker,
gameshow, forum … Hoặc trong hệ thống các trang blog hoàn toàn mang tính
cá nhân thì người chủ các blog có thể dùng từ theo ý thích của họ. Chẳng
hạn dùng entry, comment, post, up… thay cho các từ tiếng Việt tương
đương, bởi chúng chỉ giới hạn trong phạm vi cá nhân hoặc trong một bộ phận người
dùng. Tuy nhiên, nếu qúa lạm dụng và nhân bản ra với cả các loại hình báo chí
chính thống khác thì chắc chắn là sẽ loạn ngôn ngữ. Cái gì cũng nên có giới hạn
của nó.
Ở đây, chúng tôi muốn đề cập thêm đến việc sử dụng không
chính xác hoặc sai nghiêm trọng khi sử dụng từ Hán – Việt hoặc từ gốc Hán của
báo chí. Chúng tôi xin dẫn ra đây hai ví dụ tiêu biểu: Ai cũng biết nước Việt
ta từ xưa đến nay mới chỉ có duy nhất một bản Tuyên ngôn độc lập do
Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố trong ngày Quốc khánh 2 – 9 – 1945 tại Hà Nội. Vậy
mà trong không ít các lời dẫn chương trình, các bài viết trên một vài tờ báo,
các biên tập viên và người dẫn chương trình khi nói đến bài thơ Nam quốc sơn
hà của Lý Thường Kiệt và bài Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi
vẫn cho rằng đó là hai bản tuyên ngôn độc lập khác nữa của nước Việt Nam ngoài
bản Tuyên ngôn nói trên do Hồ Chí Minh công bố ; và khẳng định luôn là nước
ta có đến ba bản tuyên ngôn độc lập. Trong lúc thực ra, hai tác phẩm kể trên của
Lý Thường Kiệt và Nguyễn Trãi xét về mặt ý nghĩa chỉ có giá trị như
một lời tuyên ngôn mà thôi. chương trình đã nhầm lẫn chữ môn nghĩa là
cổng, cửa với môn là môn học. Những hạt sạn to như thế ngày nay trên
báo chí, đài phát thanh, truyền hình, báo mạng … có mà nhặt cả ngày cũng không
hết.
Mấy đề xuất:
Trước thực trạng đáng lo ngại như đã trình bày ở trên, đề nghị
các nhà ngôn ngữ, các nhà giáo trong nghiên cứu, giảng dạy qua các báo và tạp
chí nên có nhiều bài viết về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nhất là mở
các mục kiểu như mục Dọn vườn của báo Văn Nghệ trước
đây. Mục này vốn rất được bạn đọc chú ý và thích thú nhưng có lẽ do ngày nay có
quá nhiều cỏ rác dọn không xuể nên duy trì không đều.
Hãy xem việc giữ gìn và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt,
nhất là trong thời kì cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, là một trong những biểu
hiện, là một nội dung của lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
8/8/2020
Hà Tùng Sơn
Theo https://vanhocsaigon.com/
Bây giờ, văn chương thì để làm gì
Bây giờ, văn
chương thì để làm gì?
“Bây giờ, văn chương thì để làm gì?”. Khoan trả lời, mà
hãy “ngần ngừ” một chút trước câu hỏi “cắc cớ” này, có thể nhiều người sẽ thấy ở
trong đó, ngoài sự hoài nghi, còn thoáng một nỗi bi quan cho vận mệnh của văn
chương, cho lý do thực sự mà nhờ đó văn chương trụ lại được trong dòng đời sống
ngày hôm nay. Nỗi bi quan ấy không ngẫu nhiên nảy sinh theo kiểu nảy sinh một ý
thích bất chợt. Nó có nguyên cớ của nó. Sự thui chột thói quen đọc sách, trong
đó có sách văn chương, ở một bộ phận lớn độc giả tiềm năng – cái mà giới truyền
thông Việt Nam ngày nay thường gọi là “sự khủng hoảng của văn hóa đọc” – cần phải
được cắt nghĩa vượt qua và nhiều hơn một tình trạng “suy bại tinh thần xã hội”
hay “học phong đình đốn” dễ dãi nào đó. Theo hướng ấy, một cách rốt ráo, có lẽ
nên đưa ra một câu hỏi khác, đầy tính thực dụng: Đọc tác phẩm văn chương để được
cái gì?
Cách đây một thế kỷ, thậm chí chỉ nửa thế kỷ thôi, câu trả lời
sẽ đến rất nhanh: Để được biết nhiều hơn về thế giới này. Người trả lời có thể
diễn giải như sau: Chúa nặn ra con người với tư cách là một sinh vật bất toàn,
một sinh vật bị đóng khung trong cái bi kịch của sự giằng xé giữa hữu hạn và vô
hạn. Nó sống ở đây, bây giờ, nhưng lại luôn thường trực niềm ham muốn được trải
nghiệm đời sống của mình ở mọi nơi, mọi lúc. Chỉ có một cây cầu để đưa nó đi từ
bờ hữu hạn sang tới miền vô hạn thôi, đó là văn chương. Đọc tác phẩm văn
chương, con người được lên rừng, xuống biển, vào lòng đất, ra sa mạc, tới thảo
nguyên, đang ở hiện tại bỗng trở về quá khứ rồi thoắt cái lại nhảy vọt đến
tương lai. Trong những cuộc dịch chuyển tọa độ không gian/ thời gian ấy, tri
giác địa – lịch sử của người đọc được mở rộng, mà kiến văn về địa – nhân học, về
địa – văn hóa của anh ta cũng trở nên dầy dặn thêm. Bởi anh ta được tiếp xúc với
các cộng đồng người cùng phong tục tập quán và các thiết chế văn hóa xã hội của
họ, anh ta được sống với các cuộc đời cá thể cùng bao niềm vui nỗi buồn, bao éo
le khuất khúc, bao bi kịch hài kịch và những tấn kịch nhân sinh chưa được gọi
tên khác. Biết được nhiều hơn về thế giới này cũng có nghĩa là biết được nhiều
hơn về chính mình, biết được những khả năng cùng những giới hạn, những sức níu
và những sức vươn nằm trong bản thân mình, một hạt bụi người trong thế giới. Tất
cả những điều đó, người đọc có được là nhờ tác phẩm văn chương. Nhưng, trớ trêu
thay, trong điều kiện của đời sống xã hội ngày nay, sức mạnh ấy của văn chương
chừng đã không còn nguyên vẹn như trước; hay nói cách khác, sau câu khẳng định
đã xuất hiện một vài câu hỏi nghi ngờ: Duy nhất văn chương làm được điều đó
chăng? Liệu có thể có những loại hình khác sẽ đảm nhận công việc với hiệu quả
cao hơn, và bởi thế, chúng sẽ đẩy văn chương xuống “bàn hai”?
Có. Báo chí, truyền hình, điện ảnh, đặc biệt là mạng xã hội,
đã và đang là những thế lực biến văn chương thành kẻ “ở chiếu dưới” trong việc
giúp con người hiểu biết nhiều hơn về thế giới này. Chúng mang cái thế giới rộng
lớn, đa chiều và dồn dập các sự kiện đến với con người nhanh hơn, cụ thể hơn, sống
động hơn nhiều so với điều tác phẩm văn chương có thể đem lại. Chỉ cần một cái
nhấp chuột hay một cái nhấn nút chuyển kênh, ngay lập tức ta đã có thể biết những
chuyển động ở thì hiện tại (hoặc quá khứ rất gần) trong thế giới mà ta đang sống:
bầu cử Tổng thống ở Hoa Kỳ, chiến tranh ở Iraq, căng thẳng chính trị ở bán đảo
Triều Tiên, sụt hầm mỏ ở Chile, bão lụt ở Trung Quốc, nạn đói và dịch bệch ở
Somali, biểu tình ở Hương Cảng v.v… Sự lệch pha về thời gian giữa “sự kiện đang
diễn ra” và “sự kiện đang được chứng kiến” là rất không đáng kể, và đó là điều
mà tác phẩm văn chương không có cách gì giải quyết được. Hoặc giả, một cách chậm
rãi hơn, nếu ta muốn biết về phong tục tập quán, đời sống xã hội, các thiết chế
và giá trị văn hóa của một cộng đồng người nào đó ở một vùng đất nào đó trên bề
mặt quả địa cầu này, rõ ràng là những chương trình truyền hình thực tế hoặc những
bộ phim tài liệu khoa học sẽ thỏa mãn nhu cầu ấy tốt hơn nhiều so với một tác
phẩm văn chương (Cần phải mở ngoặc đơn để nói thêm một chút ở đây: Chẳng cần so
với truyền hình và điện ảnh, trong trường hợp này, một tác phẩm văn chương tốt
nhất cũng không thể hơn được một ghi chép dân tộc học vào loại “cẩn thận”. Tôi
không tin khi đọc một tác phẩm văn chương nào đó về đời sống của người Mường,
tôi sẽ biết về người Mường nhiều hơn khi tôi đọc cuốn Người Mường ở Hòa Bình của
Trần Từ, tức nhà dân tộc học Từ Chi. Tương tự như vậy, là người M’nông Gar
trong Chúng tôi ăn rừng của G.Condominas, thổ dân châu Mỹ trong Nhiệt đới buồn
của C.Levi Strauss). Cách đây không lâu, khi nhìn vào những thành tựu của văn học,
khi phải cắt nghĩa giá trị của một số tác phẩm, chúng ta thường nhấn mạnh đến
khả năng thâm nhập hiện thực của tác giả, cái cách anh ta sống cùng hiện thực,
khám phá nó, rút tỉa nó, để từ hiện thực ấy làm nên một hiện thực khác, chân thật
hơn, sống động hơn trong cuốn sách của mình. Những tác phẩm viết về đời sống của
người dân công giáo vùng duyên hải Bắc bộ của Nguyễn Khải vài chục năm trước là
ví dụ khá tốt cho câu chuyện này. Thời đó, khi mới ra đời, các tác phẩm loại
này của Nguyễn Khải được đón nhận rất nồng nhiệt, mà một trong những lý do chủ
yếu là chúng đã mở ra trước mắt người đọc cả một mảng đời sống phức tạp, có
phong vị rất riêng, mảng đời sống mà lúc ấy không phải ai cũng dễ dàng có điều
kiện thâm nhập và trải nghiệm. Một tác giả ở tạp chí Văn nghệ quân đội, khi nói
về người tiền bối của mình, đã có nhận xét khá tinh: Lúc đó, nhà văn không chỉ
là nhà văn, mà nhà văn còn gánh luôn công việc của nhà báo, tác phẩm của nhà
văn là thông điệp nghệ thuật, và tác phẩm ấy cũng kiêm luôn chức năng của thông
tin báo chí. Vài chục năm trước là thế, còn hiện nay, khi báo chí đã phát triển
mạnh đến vậy, lại được sự hỗ trợ tối đa của công nghệ hiện đại, điều hiển nhiên
là nó sẽ vượt trên văn chương rất xa trong việc đem lại cho con người những
hình ảnh nóng ấm, tươi rói và hết sức cụ thể về thế giới này.
Nhưng nói vậy không phải là nhà văn đã hết việc (cũng có
nghĩa là hết lý do để tồn tại, điều này sẽ nói sau), nhưng một cái nhìn khác đi
về chức năng của văn chương theo cách như vậy là cần thiết. Vài ba năm trở lại
đây ở ta rộ lên những ý kiến xung quanh nội dung “văn học phản ánh hiện thực đất
nước hôm nay”. Đã có hẳn mấy cuộc hội thảo như “Văn học với đề tài nông nghiệp,
nông thôn”, “Văn học với doanh nhân” v.v… Một mặt, có thể xem điều đó như một nỗ
lực nhận diện, đánh giá văn chương đương đại. Nhưng mặt khác, dễ nhận thấy hơn,
động thái ấy chính là lời thúc giục, là sự yêu cầu người sáng tác văn chương phải
lao mình vào những “dòng chảy lớn” của đất nước hôm nay, phải viết về nó, phải
biến văn học thành nơi in đậm hình ảnh của xã hội.
Có hai vấn đề cần phải/ đáng được bình luận ở yêu cầu này.
Thứ nhất, Phải chăng đang xuất hiện xu hướng coi văn chương
như một sự “chứng kiến” đối với những sự kiện, những vấn đề xã hội mà nhà văn
là người phải thể hiện sự có mặt của mình, bất kể anh có cảm thấy đủ điều kiện
và thời gian lắng đọng để làm điều đó hay không. Nông nghiệp, nông thôn ư? Việt
Nam ta chẳng phải là đất nước mà nông nghiệp chiếm một vị trí tối quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân, nông thôn phủ trên đa phần diện tích lãnh thổ và
trong mỗi người dân – dù là thị dân nhiều đời – đều sống một “người nhà quê” đó
sao? Vậy tại sao nhà văn không viết về đề tài đó, nhất là khi nông thôn đang
chuyển mình mạnh mẽ dưới sự tác động tích cực của những chương trình hành động
lớn? Doanh nhân ư? Đó chẳng phải “một anh hùng của thời đại chúng ta”, một mẫu
người mới, mẫu người mang lại sự giàu có cho quốc gia, bởi thế rất đáng biểu
dương sao? Vậy vì cớ gì nhà văn chưa hăm hở viết về mẫu người này như trước đây
đã từng hăm hở viết về các nhân vật công – nông – binh? Yêu cầu được luận chứng
rất hợp lý, chỉ có một chi tiết dường như chưa được tính đến (hoặc cố tình bị bỏ
qua): với tư cách người sáng tạo tự do, nhà văn cần có đầy đủ điều kiện và cơ hội
để tiếp cận với đề tài một cách đầy đủ và toàn diện, và thực ra thì anh ta cũng
chẳng “dại gì” không viết nếu đó là một đề tài hấp dẫn và người viết tự thấy bản
thân mình có đủ năng lực để giải quyết nó.
Thứ hai, đặt ra yêu cầu công việc cho văn chương trước “hiện
thực đất nước hôm nay”, trước “sự kiện đang diễn ra” chính là yêu cầu nhà văn
phải trở thành nhà báo, trong khi, như đã nói ở trên, phương tiện tác nghiệp
báo chí của nhà văn cùn nhụt hơn rất nhiều so với phương tiện tác nghiệp báo
chí của nhà báo “thứ thiệt” trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như
vũ bão hiện nay.
Vậy nhà văn đành quay lưng ngoảnh mặt trước “hiện thực đất nước
hôm nay” chăng? Tôi không mấy tin vào cái kịch bản buồn bã này. Dù thế nào đi
chăng nữa, dù theo đường thẳng hay đường vòng, dù hữu ý hay vô ý, thế nào “hiện
thực đất nước hôm nay” cũng in dấu vết và lưu vọng âm của nó trong sáng tác của
các nhà văn đương đại. Ngay ở một cuốn tiểu thuyết tình rất “sến” như Phải lấy
người như anh chẳng hạn, đọc kỹ, ta sẽ thấy có những vấn đề của cuộc sống đương
đại, những vấn đề trong cách nghĩ và trong tình cảm của một bộ phận người trẻ
tuổi hôm nay. Mặt khác, có thể tin rằng văn chương ngày nay, cũng như văn
chương muôn đời trong mai sau, không bao giờ hết việc để làm nếu nó nhắm đúng
miền xác định của mình, cái miền mà báo chí chỉ có thể khoan thủng ở vùng ven.
Đó là thân phận Con Người. Con người như là nguyên nhân và kết quả của các thiết
chế xã hội, là sự bất mãn khôn nguôi trước hiện thực, con người với những giới
hạn không thể vượt qua, với sự giằng xé thường trực giữa các ham muốn, với những
nỗi đau có thật, có lời và không lời. Hoặc, mượn cách nói của Albert Camus (với
một chút thay đổi): Văn chương vẫn còn có thể làm được điều gì đó có ý nghĩa thực
sự nếu như nó bước thật chắc chân trên con đường độc đạo, giữa hai bờ vực: một
bên là thứ văn chương của những tràng vỗ tay tán dương tuyên truyền, bên kia là
thứ văn chương trưởng giả đầy những tình cảm xa hoa điêu trá.
9/8/2020
Hoài Nam
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đọc "Nỗi buồn đan cẳng chéo" của Đặng Tường Vy
Đọc "Nỗi buồn đan cẳng
chéo" của Đặng Tường Vy
Đọc “Nỗi buồn đan cẳng chéo”của Đặng Tường Vy ta như đi
qua một căn phòng treo nhiều tranh lạ, màu sắc tưởng như phản cảm nhưng lại cuốn
hút ta đứng lại nhìn, nhìn lâu và nhìn say sưa, bỏ đi còn nuốn quay lại nhìn…
NỖI BUỒN ĐAN CẲNG CHÉO
Ai cầm tay ngọn gió
Xước cả một trời đau
Dấu sầu mang bụi đỏ
Đường về có còn nhau
Nhịp đời nung đỏ đóm
Đếm từng hơi thở buồn
Gã mặt trời giấc muộn
Thôi làm bạn chim muông
Cõng buồn sang ngõ nhỏ
Nói lời với người xa
Nổi trầm qua nhịp gõ
Thời gian có đâu là
Vuốt giọt sương kẽ lá
Vô thường có gọi tên
Giả vờ thôi đừng dạ
Đời còn chút nhớ quên
Ao tù qua mấy nẻo
Quạ quang quác trời xa
Nỗi buồn đan cẳng chéo
Chân trần thắt ngõ qua
Tay buông lơi tràng hạt
Thôi nguyện cầu ngày mai
Chữ duyên còn bỏng rát
Chén rượu đời men cay.
04.8.2020
Đặng Tường Vy
Những ngày trốn dịch Covid trong nhà, tôi tìm nguồn vui riêng
cho mình, là đọc thơ của các bạn facebook, khám phá cho mình nhiều bài
thơ hay của những tác giả còn xa lạ đối với tôi. Sáng nay vừa thức giấc, còn nằm
trên giường đã đọc được một bài thơ hay. Đó là một bài thơ có ý tứ lạ lùng
nhưng độc đáo.
“Nỗi buồn đan cẳng chéo”: Chỉ cái đầu đề thôi có thể cho ta
trề môi chê trách vì thật là vô nghĩa. Thế nhưng chịu khó đọc bài thơ, ta sẽ
tìm được một hình ảnh trẻ vui và lạc quan trong nỗi buồn của tác giả.
Vậy hãy vào ngay khổ đầu của bài thơ để thấy nó lạ và nó độc
đáo ở đâu:
Ai cầm tay ngọn gió
Xước cả một trời đau
Dấu sầu mang bụi đỏ
Đường về có còn nhau
Trước hết tác giả ngược đời khi tả nỗi sầu nằm trong ngọn gió
mang đầy bụi đỏ. Người đi trên đường về cô đơn, không còn nhau nữa. Gió
cuốn qua không gian như có người cầm tay nó chạy, để lại sau nó, bụi đỏ bám
trên những dấu tích kỷ niệm nằm trên đường về.
Thường thường thì cảnh sinh tình, nhưng để sinh tình buồn, cảnh
phải sâu lắng, nên thơ và hiu hắt, giống như Thúy Kiều buồn khi ở “Trước
lầu ngưng bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”vậy.
Thế nhưng ở đây, đọc khổ thơ đầu của “Nỗi buồn đan cẳng chéo”
ở trên, ta thấy ngay nhà thơ có khuynh hướng tả thật. Sự thật thì nhìn có thể
nghịch lý, nhưng chính nó là thật thì có nghịch lý vẫn là sự thật.
Đây là sự thật có ý vị, là một cảm xúc bất chợt sinh ra trên con đường về,
mà một cây bút e dè không dám viết thành thơ bao giờ, và một cây bút non tay
cũng chẳng bao giờ viết thành một bài thơ hay được.
Bây giờ xin mời bước qua khổ thơ thơ thứ hai:.
Nhịp đời nung đỏ đóm
Đếm từng hơi thở buồn
Gã mặt trời giấc muộn
Thôi làm bạn chim muông
Trong khổ thơ nầy, chiều đang xuống dần dần. Chiều đang xuống
dần dần vì “Gã mặt trời giấc muộn/Thôi làm bạn chim muông” trong khi “Nhịp đời
nung đỏ đóm/Đếm từng hơi thở buồn”. Chỉ có buổi chiều thì cảnh mới làm cho buồn,
và chỉ có cảnh mặt trời lặn thì mặt trời mới “Thôi làm bạn chim muông”. Nếu cảnh
bình minh thì mặt trời “sẽ” hoặc “sắp” làm bạn chim muông chớ không “thôi” bao
giờ.
Khổ thơ vẽ nên một khung cảnh không đẹp nhưng bức tranh lại đẹp
vì tài hoa của bàn tay nghệ sĩ, đã phát họa như thật cả hơi thở buồn của
buổi chiều trong sắc đỏ, là một màu sắc đối nghịch với vẻ buồn mà người họa
tranh hay người viết văn thường hay né tránh.
Qua khổ thơ thứ ba:
Cõng buồn sang ngõ nhỏ
Nói lời với người xa
Nổi trầm qua nhịp gõ
Thời gian có đâu là
Nhiều nhà thơ đã viết “cõng mẹ”, “cõng vợ” hay “cõng em” để
diễn tả hình ảnh thân thương với những người thân yêu của mình. Nhà thơ dùng từ
ngữ “cõng buồn” cũng cho ta một cảm nhận thi vị trong nỗi buồn của tác giả. Có
lẽ tác giả muốn nói mình đến con ngỏ nhỏ, kỷ niệm hiện về êm ái, nỗi buồn nhè
nhè đến, đem hạnh phúc trở về trong tâm tưởng, như những điều âu yếm năm xưa
còn đó, nỗi buồn không làm nặng bờ vai.
Khổ thơ hoàn toàn diễn tả được sự giao cảm giữa hai người qua
giác quan thư sáu. “Nói lời với người xa” là nói tiếp những gì ngày xưa
đã nói với nhau. “Nối trầm qua nhịp gõ” là truyền thông hiểu nhau qua nhịp thời
gian trầm gõ, và “Thời gian có đâu là” nghĩa là thời gian không thể làm mờ
phai tình yêu và kỷ niệm.
Bước qua khổ thơ thứ tư:
Vuốt giọt sương kẽ lá
Vô thường có gọi tên
Giả vờ thôi đừng dạ
Đời còn chút nhớ quên
Nhà thơ vuốt giọt sương trên kẽ lá, tức thì cảm nhận ngay sự
vô thường ở đời giống như “trực chỉ nhân tâm/kiến tánh thành đạo” trong giáo lý
nhà Phật. Thế nhưng ở đây nhà thơ không kiến tánh sự vô thường trời đất mà kiến
tánh sự vô thường của tình yêu. Sự vô thường đó chính là tình yêu của mình.
Tình yêu của tác giả thì có năm, có mùa, có tên tuổi được gọi lại trong
con tim lúc nầy, nên nhà thơ đã “Giả vờ thôi đừng dạ” và tự an ủi lòng mình “Đời
còn chút nhớ quên”.
Khổ thơ diễn đạt sự nhớ nhung, sự bâng khuâng xảy ra trong
lòng tác giả. Câu thơ dung dị, dễ thương mà xâu xa ý nghĩa, bộc lộ một tâm hồn
cởi mở, lạc quan, vị tha trong tình yêu và cuộc sống.
Qua khổ thơ thứ tư, không gian nặng nề hơn, nỗi buồn của tác
giả “Cõng” trên vai đã trĩu, nên tác giả phải rũ bỏ nó, bằng cách vừa đi vừa nhảy,
đan cẳng chéo như trẻ em tung tăng khi phấn chấn trong lòng:
Ao tù qua mấy nẻo
Quạ quang quác trời xa
Nỗi buồn đan cẳng chéo
Chân trần thắt ngõ qua
Hình ảnh trong thơ thật là sống động, cho ta tưởng tượng được
vạn vật đã u trầm, người đi mang đầy tâm sự, đã quyết tâm vứt bỏ nỗi buồn bằng
dáng đi như in nốt nhạc trên con đường chiều. Khổ thơ như một đoạn phim
hiển hiện trước mắt có bóng dáng, màu sắc và tiếng nhạc từ vết chân chim của
thiếu nữ.
Khổ cuối bài thơ hơi nghịch lý ở chổ cô gái có tràng hạt trên
tay:
Tay buông lơi tràng hạt
Thôi nguyện cầu ngày mai
Chữ duyên còn bỏng rát
Chén rượu đời men cay.
Nếu không khó tính, người đọc có thể hiểu câu thơ mang ý
nghĩa quyết tâm quên quá khứ vừa nẩy sinh trong lòng tác giả. “Tay buông lơi
tràng hạt/ Thôi nguyện cầu ngày mai” là bỏ trong lòng đi những ước nguyện tái
ngộ hay mơ ước một lâu đài tình ái sau nầy. “Chữ duyên còn bỏng rát/ Chén rượu
đời men cay” là tiếng than cho mối tình nồng nàn như chén rượu đã uống. Hương vị
của mối tình đó khi tưởng niệm, tác giả còn tưởng tượng được như còn bỏng
rát trên làn môi.
Đọc “Nỗi buồn đan cẳng chéo” của Đặng Tường Vy ta như đi qua một
căn phòng treo nhiều tranh lạ, màu sắc tưởng như phản cảm nhưng lại cuốn hút ta
đứng lại nhìn, nhìn lâu và nhìn say sưa, bỏ đi còn nuốn quay lại nhìn. Với tôi,
bài thơ cho tôi niềm vui khi vừa thức giấc và giết được thì giờ của tôi cả buổi
sáng hôm nay.
11/8/2020
Châu Thạch
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Tô Hoài, một phong cách văn xuôi nhiều màu sắc*
Tô Hoài, một phong cách văn xuôi nhiều màu sắc * Trong dòng văn học hiện thực thời kỳ 1939-1945 – Tô Hoài là một cây bút tiêu biểu đa năng...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...




