Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân

Những con chữ đối
thoại của Trương Văn Dân

Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Nửa đầu thế kỷ XX, trong các công trình khoa học của mình, nhà lý luận M.Bakhtin đã đề ra thuyết đối thoại trong văn học. Qua tiểu thuyết của Đôtxtôiepxki, M.Bakhtin khẳng định: “Tất cả đều là phương tiện, đối thoại là mục đích. Một tiếng nói không kết thúc gì hết và không giải quyết gì hết. Hai tiếng nói là cái tối thiểu của sự sống, cái tối thiểu của tồn tại”1. Đối thoại chính là việc “dẫn dắt chủ đề theo một số tiếng nói khác nhau, là bản thân tính nhiều tiếng nói, tính khác tiếng nói về nguyên tắc”. Đối thoại thực chất là thể hiện sự đối lập về lập trường tư tưởng của nhân vật, làm nên đặc điểm đa thanh, phức điệu cho tác phẩm. Trong những tác phẩm của Trương Văn Dân, đối thoại thể hiện ba mục đích sáng tác rất rõ. Đó là sáng tác để trình bày luận đề, sáng tác để giãi bày tình cảm và sáng tác để chia sẻ tri âm.
Đối thoại với thế sự thể hiện tính luận đề là đặc điểm chung của tiểu thuyết Trương Văn Dân. Trong Bàn tay nhỏ dưới mưa và Trò chuyện với thiên thần2, nói như nhà văn Nhất Linh, Trương Văn Dân đã thực hiện cái ý định dùng tiểu thuyết để làm một việc gì đó. “Việc” mà Trương Văn Dân muốn làm, theo thuật ngữ văn học, chính là luận đề tiểu thuyết. Thông qua đối thoại với nhiều hình thức văn bản: văn bản trần thuật, văn bản báo chí, nhật ký, thư tín, thơ ca, báo cáo…, rất nhiều vấn nạn của quốc gia và thế giới, của cá nhân và cộng đồng nhân loại hiển hiện. Đằng sau câu chuyện về một cuộc tình không trọn vẹn của người đàn bà đi qua bao giông bão đời người trong Bàn tay nhỏ dưới mưa và niềm hạnh phúc lẫn nỗi âu lo đầy trách nhiệm của đôi vợ chồng hiếm muộn trong Trò chuyện với thiên thần, Trương Văn Dân đã luận đề về mọi mặt của đời sống trong “trần gian điên dại này”. Trái đất cạn kiệt, môi trường ô nhiễm, dịch bệnh hiểm nguy, thực phẩm biến đổi gien, con người vô cảm, mặt trái của văn minh và toàn cầu hóa và rất nhiều vấn đề “nóng” thuộc về hậu quả của “cơn điên tăng trưởng” được thể hiện vừa trực diện vừa hàm ẩn cho thấy mối quan tâm và âu lo của nhà văn với cõi nhân sinh.
“Viết luận đề tiểu thuyết nghĩa là viết tiểu thuyết để nêu lên một lý thuyết, để tán dương, tuyên truyền một cái gì tác giả cho là tốt đẹp, để đả đảo một cái gì tác giả cho là xấu xa, viết tiểu thuyết để phụng sự, để chứng tỏ một cái gì đó”3. Những điều tốt đẹp lẫn xấu xa trong tiểu thuyết được Trương Văn Dân tích lũy từ vốn sống của cả đời người và đưa vào trang văn của mình chủ yếu thông qua đối thoại. Đó có thể là những vấn đề lớn như “Thảm hoạ hạt nhân”, “Những quái vật nhân tạo”, “Trí tuệ và khoa học”,  “Chính trường và chiến trường”, “Thân và phận”… của “một giống loài khốn khổ” khiến nhà văn thẳng thừng tuyên bố: “Xin các nghị viện quốc tế hãy chấm dứt thảo luận các vấn đề vô bổ. Xin các vị đừng nhắm mắt như con đà điểu vùi đầu dưới cát hay quyết định không quyết định gì để biến di sản Trái đất thành hỏa ngục. Nếu không, khi các người chết đi và để lại cho thế hệ kế tiếp là chúng tôi và con cháu một tương lai đầy rác rưởi, đau khổ. Chúng tôi không thể đồng lõa với tội ác của các người. Và chúng tôi muốn nói với những người có trách nhiệm là chúng tôi đang mang trong lòng một nỗi khinh bỉ vô tận; các người luôn rao giảng đạo đức và khuyên chúng tôi phải sống thế này, thế kia nhưng chính các người đang sống phi đạo đức nhất. Chúng tôi biết các người sẽ chết trước khi chịu trách nhiệm về những điều mình làm. Nhưng chúng tôi sẽ phỉ nhổ lên những bộ xương khô thế hệ đã hành động vô trách nhiệm với Quả địa cầu” (Bàn tay nhỏ dưới mưa). Đó có thể là những vấn đề nhỏ khiến nhà văn day dứt: “Mẹ biết lấy gì nuôi con?” giữa cơ man nào là thực phẩm biến đổi gien, thực phẩm chứa độc tố nếu như ngay bây giờ con “gõ cửa trần gian” (Trò chuyện với thiên thần).
Trò chuyện với thiên thần là một cuộc đối thoại (tâm tình) dài giữa ba nhân vật: người cha, người mẹ với thai nhi. Hai đấng sinh thành đã nói lên những âu lo, trăn trở, buồn nản về thế giới loài người những năm tháng này. Thế giới ấy không có chỗ nào, lĩnh vực nào an toàn cho con trẻ trú ngụ. Ba mẹ nói hết với con về tất cả những gì chờ đón con, để con chuẩn bị tinh thần trước khi trở thành thành viên của cõi đời này. Bạo lực, tham nhũng, ô nhiễm, bất công… bao phủ lên bầu khí quyển mà con sẽ hít thở. Hiểu tất cả rồi, con có quyền chọn lựa nên hay không nên làm người. Đây quả là một ý tưởng táo bạo theo motif hỏi ý kiến thai nhi trước khi chào đời trong Xã hội thủy quái Kappa của nhà văn Nhật Bản R.Akutagawa và quan điểm “Sinh ra tôi sao không hỏi ý kiến tôi” của triết gia J.P.Sartre. Sử dụng hình thức tự sự đối thoại qua trần thuật đa chủ thể, Trương Văn Dân đã phác họa bức tranh màu xám của thế giới từ suy nghĩ và ngôn ngữ đậm màu sắc triết học của nhân vật.  
Từng mẫu đối thoại, khi ngắn gọn khắc khoải; khi dằng dặc miên man, Trò chuyện với thiên thần chất chứa tầng tầng lớp lớp những luận đề mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc. Tất cả đều thể hiện một tấm lòng mượn nghệ thuật để luận nhân sinh đầy trách nhiệm, đầy tâm huyết và vô cùng thiết tha của nhà văn.
Đối thoại với lòng mình ăm ắp tình cảm được Trương Văn Dân tập trung ở mảng tùy bút, đặc biệt là tùy bút về người thân. Trong bút ký Tia nắng mùa đông của tập truyện Hành trang ngày trở lại, tình cảm gia đình, lịch sử gia đình trải dài cùng dòng tâm tình được viết theo mô thức “vi đối thoại” (đối thoại với chính mình) qua một sự cố buồn đau: cái chết của người anh trai. Tình cảm, lòng biết ơn, nỗi xót xa pha lẫn ân hận đối với người anh chất chứa trong tim và vỡ òa trên trang viết. Ở tản văn mang tính riêng tư này, chắc chắn Trương Văn Dân không viết cho độc giả. Ông viết cho chính mình, viết về nỗi đau thương của dân tộc, gia tộc và cá nhân. Đây không phải là lúc, là chỗ để thi triển tài nghệ văn chương hay tô trát phấn son chữ nghĩa. Tuy vậy, bằng tất cả xúc cảm chân thành được dồn nén bấy lâu, Trương Văn Dân đã chắt chiu những con chữ yêu thương để trao về người yêu thương. Và, những con chữ giàu sức nặng nội tâm ấy lại thể hiện nét bút tài hoa của một người khiêm tốn tự nhận rằng mình viết văn với vốn liếng tiếng Việt của năm mười tám tuổi - năm rời xa tổ quốc - và hơn bốn mươi năm sau mới cất bước trở về.
Tia nắng mùa đông tỏ rõ thế mạnh của văn viết về cảm xúc của Trương Văn Dân. Ba mươi lăm trang viết cuốn hút người đọc không chỉ bằng nỗi lòng tử biệt sinh ly gây xúc động mà còn bằng thứ tiếng Việt “mười tám tuổi” đẹp đẽ một cách vừa non tơ vừa già dặn: “Vậy thì anh hãy đi đi!… Anh sẽ ngủ một giấc dài… Kết thúc mọi nghiệp chướng tiền oan. Anh sẽ không còn phải băn khoăn, nhọc lòng quyết định một việc gì. Anh sẽ mãi mãi không còn tự ép mình, thôi thúc mình, buộc phải làm những điều mình không muốn như đã phải từng làm trong suốt sự hiện hữu đầy khổ đau và nhẫn nhục của anh. Anh sẽ không còn phải sống những bi kịch bi đát của nội tâm vò xé, suy gẫm về những mâu thuẫn của bổn phận và nhiệm vụ… Thôi, hãy bỏ lại tất cả những phù phiếm đó, cho tất cả tan vào hư không, anh nhé!”… “Tất cả cuộc đời của thế hệ chúng tôi hỗn tạp một cách kỳ lạ đến nỗi phải gánh lấy những trách nhiệm và ưu tư quá lớn trước khi đến tuổi trưởng thành... Rồi bỗng nhiên tôi muốn khóc, muốn để mặc cho những giọt nước mắt chảy dài, để có thể nức nở rồi chìm sâu vào cơn sóng tuyệt vọng rồi quỵ ngã trong nỗi đau cùng cực. Tôi muốn được tự do gào thét, nằm duỗi người hai chân vùng vẫy, đạp liên hồi trên thảm cỏ như một đứa bé thảm sầu trong cơn cuồng nộ...”
Tia nắng mùa đông như là tản văn đại diện cho phong cách ngôn từ nghệ thuật của Trương Văn Dân trong toàn tập truyện Hành trang ngày trở lại. Tác phẩm này có những ưu điểm của tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa. Đó là văn phong. Trương Văn Dân có vốn từ ngữ biểu cảm rất phong phú và dồi dào, như thể đó là vốn từ của người Việt chưa hề rời xa quê hương, dù chỉ một giây phút. Ông lại có một bút lực rất mạnh với khả năng viết, khả năng diễn đạt cảm xúc bền bỉ hiếm có. Buổi chiều trên nghĩa trang cũng thế. Nó giản dị nhưng bộc lộ được tâm hồn người viết. Trong văn chương của mình, Trương Văn Dân hay viện dẫn nhiều triết lý. Tuy vậy, ông chinh phục người đọc bằng chính những câu chữ bình dị nhất - câu chữ của tình yêu. Bởi, như ông từng nhận định trong bài viết về người bạn đời của mình: “Tình yêu là hằng số cuộc đời”.  
Những đối thoại với bạn bè, đặc biệt là bạn văn chương, lại gây bất ngờ về một Trương Văn Dân rộn ràng, sôi nổi, tinh nhạy và dí dỏm trong những bình luận chính xác về chất người và chất văn của người khác. Huỳnh Kim Bửu và Tiếng hạc bay qua trên dòng sông Côn, Nguyên Minh - Một cuộc đời với văn chương… và đặc biệt là Kiệt Tấn, đôi khi thèm chết nhưng vẫn mê đời cho thấy năng khiếu tạc dựng chân dung bằng ngôn từ của Trương Văn Dân. Đây là bút ký chân dung thành công về mọi mặt, từ nhan đề, tiêu đề cho đến ngôn ngữ, giọng điệu; lột tả được cả phẩm cách của người viết lẫn người được viết. Từ tính cách rất cá biệt “chỉ biết ham sống”, “si tình và đam mê đàn bà”, “điên có bằng cấp hẳn hoi” để “cười vào mũi cuộc đời” bằng “những ý nghĩ cuốn theo gió ngược chiều” của nhà văn Kiệt Tấn, Trương Văn Dân khái quát được cái “nết” rất chung của những người cầm bút: “Ngẫm cho cùng, người viết nào mà không ngu ngu và điên điên? Có lẽ chính trong sự ‘cô-đơn-sáng-tạo’ đó họ đã tìm thấy chính mình… Những trang viết giúp họ lướt qua những ngày thống khổ của kiếp người!”  
Các nhân vật trong những tùy bút của tác phẩm Milano Sài Gòn, đang về hay sang? đều có hình có sắc, sống động đến bất ngờ đã bộc lộ một sở trường khác của Trương Văn Dân. Đồng thời, qua những tùy bút này, người đọc còn nhận ra khả năng thẩm bình tác phẩm của ông. Câu chuyện bàn rượu về “những thằng già nhớ mẹ” lột tả được cái hồn cốt của văn phong “sặc mùi ethanol” của Vũ Thế Thành: “Anh viết như người say. Mà té ra rất tỉnh… bằng giọng điệu của kẻ “buôn dưa lê” có chút “duyên” ngầm,… thể hiện những điều mình đề cập bằng thứ ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh khiến người đọc cứ phải buồn vui theo dõi”. Vũ Thế Thành viết: “Sáng nay, khi xuống lầu đi làm, tôi buộc miệng ‘Mẹ ở…’ (… nhà con đi làm đây!). Tôi khựng lại, chợt nhớ ra bà mất rồi. Tôi nhìn lên bàn thờ, thắp nén nhang, rồi đi…”. Vũ Thế Thành thật và hay đến choáng váng. Trương Văn Dân cũng thấu cảm thế này: “Tôi thấm thía và cảm thấy ớn lạnh toàn thân khi đọc đoạn văn này! Giọng văn sắc và lạnh, cảm giác dồn dập như đang chạy, gặp phải bức tường mà dừng không kịp. Mấy dấu chấm lửng sau hai chữ “rồi đi” giống như những giọt nước mắt của người vừa mất mẹ đang chảy trên trang viết…”. Bình luận và phân tích như thế, thật chẳng uổng phí văn chương của người khác.
Theo tôi, đối thoại với các nhà văn và tác phẩm trong phần tùy bút là mảng đề tài thành công nhất của toàn tập văn nhiều thể loại Milano Sài Gòn, đang về hay sang? Chính mảng đề tài này đã thắp lên ngọn lửa đủ sưởi ấm cho cái giá lạnh của phần truyện ngắn và những trích đoạn từ tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa ở phần phụ lục.
Nếu đánh giá thật đầy đủ và chính xác về hoạt động văn học của Trương Văn Dân, cần phải kể đến vai trò và tâm huyết của ông với tập san văn học nghệ thuật Quán Văn; đồng thời, không thể bỏ qua thành tựu dịch thuật từ tiếng Ý với tiểu thuyết Mùa hè tươi đẹp của Cesare Pavese, nhiều truyện ngắn, truyện vừa, tùy bút của Dino Buzzati, Elena Pucillo Truong và các tác giả khác. Tiếc thay, không mấy người cùng lúc rành rẽ cả tiếng Ý lẫn tiếng Việt để có thể đưa ra những nhận định, đánh giá về vai trò của Trương Văn Dân với tư cách là một dịch giả văn chương. Ở phương diện sáng tác, Trương Văn Dân là người sáng tác có tư tưởng, có nền tảng văn hóa và triết học. Cái chết, sự hy sinh, tình thương, sự vô cảm và cảm nghiệm nhân sinh như mộng là nỗi ám ảnh xuyên suốt, trở thành tâm thức sáng tác của ông. Đọc tác phẩm của Trương Văn Dân, ta thấy được nỗi day dứt, nghe được tiếng kêu cứu vì môi trường sinh thái đang bị hủy hoại, môi trường xã hội đang bị suy thoái về mọi mặt. Đó chính là sự nhạy cảm, là trách nhiệm của nhà văn “nghệ thuật vị nhân sinh”. Về nghệ thuật sáng tác, thế mạnh của Trương Văn Dân là văn biểu cảm - cảm xúc và cảm giác. Đi liền với nó là văn miêu tả tính dục đầy cảm xúc, giàu nhục cảm nhưng không sa vào dung tục tầm thường (Bàn tay nhỏ dưới mưa).
Tuy nhiên, để tiếp tục cày cuốc trên cánh đồng chữ nghĩa, Trương Văn Dân còn phải khắc phục, gọt giũa ngòi bút của mình nhiều để có thể thu về những hạt thóc tròn trịa hơn. Vì vậy, chúng tôi dành phần kết của bài viết này để đối thoại cùng tác giả với thiện chí mong muốn được đón nhận nhiều tác phẩm hoàn thiện hơn của ông. Sâu và sắc, nén và bung, chặt chẽ trong từng chi tiết nhỏ đến cấu trúc lớn là những nguyên tắc sáng tác đòi hỏi nhà văn phải kỳ công theo đuổi. Tiểu thuyết luận đề là con dao hai lưỡi. Nếu không giỏi điều khiển trận đồ chữ nghĩa, tác phẩm văn chương sẽ trở thành những văn bản tuyên truyền, giáo điều, phê phán và thậm chí là mạt sát mang đậm dấu ấn của “tác giả thực tế”; trong khi văn chương hư cấu rất cần “tác giả ẩn tàng” và “người kể chuyện”. “Cái chết của tác giả” trong lý thuyết của M.Foucault và R.Barthes luôn là nguyên tắc vàng của tác phẩm hư cấu. Mục đích của tiểu thuyết luận đề là diễn giải cho một tư tưởng hoặc một quan điểm có trước, vì thế, dẫu có viết khéo đến đâu thì đôi lúc vẫn để lộ những chỗ gượng gạo, khiên cưỡng, áp đặt. Bậc thầy tiểu thuyết luận đề Nhất Linh cũng đã từng tiếc nuối rằng vì mải theo luận đề mà không cố viết cho đúng tâm lý, tính cách nhân vật trong các tiểu thuyết Đoạn tuyệt và Lạnh lùng. Ông “chỉ coi nhân vật như những quân cờ để đánh một ván bài” và chỉ dùng những chi tiết nào có lợi cho cái ý chứng tỏ luận đề của mình, “không theo sát cuộc đời thực”… mà đổi cuộc đời thực cho luận đề4.
“Tiểu thuyết luận đề minh hoạ cho một tư tưởng, một quan điểm có sẵn, một vấn đề mà nhà văn luôn đau đáu suy nghĩ và tìm cách đấu tranh cho nó. Nhà văn có khi sẵn sàng hy sinh nghệ thuật, bỏ đi những cái hay trong nghệ thuật để phục vụ cho luận đề của mình”5. Dẫu biết vậy, nhưng Trương Văn Dân đã “hy sinh” hơi quá, khiến hai tiểu thuyết của ông rơi vào ôm đồm (vì luận quá nhiều vấn đề). Nhìn tổng thể, hai tác phẩm (đặc biệt là Trò chuyện với thiên thần) đều mắc lỗi dài dòng và trùng lặp ý, trích dẫn nhiều, chuộng diễn giải và nhận định chủ quan; đặc biệt là chưa thật sự thể hiện chủ đề thông qua hệ thống hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, tình tiết, sự kiện. Nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng luôn yêu cầu “less is more”, nghĩa là viết ít nhất nhưng biểu đạt nhiều nhất, cô đúc tiết chế nhất nhưng mở rộng và lan tỏa nhất. Tất cả phải toát lên từ hình tượng, nếu thoát ly hình tượng, nếu để cái biểu đạt ngang bằng với cái được biểu đạt thì nghệ thuật sẽ không còn là nghệ thuật nữa.
Trong xây dựng tính cách nhân vật, khát vọng gửi gắm những suy nghĩ của mình đến với người đọc rất mạnh mẽ, đầy tâm huyết và nhiệt tình đã khiến nhà văn Trương Văn Dân thiên về thi pháp “Schiller hóa” hơn là “Shakespeare hóa”6. Nghĩa là biến nhân vật thành những “cái loa phát thanh cho tư tưởng của nhà văn”7. Điều đó đã khiến cho nhân vật không bộc lộ được tính cách, tác phẩm cũng vì thế mà trở nên đơn điệu, không trở thành “thế giới của vạn tâm hồn”.
Trương Văn Dân là người am hiểu lý luận sáng tác, có vốn sống, vốn trải nghiệm phong phú. Chúng ta tin rằng, nhà văn Trương Văn Dân sẽ còn tiếp tục trao cho người đọc những bản dịch hay, những sáng tác mới - những đối thoại mới - hoàn hảo hơn, xứng đáng với tâm huyết chọn văn chương để thể hiện trách nhiệm với cuộc đời của ông.
Chú thích:
1. Bakhtin M. (1993),  Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử dịch), NXB Giáo dục, tr.235.
2. Tiểu thuyết đang ở dạng bản thảo
3&4. Nhất Linh, Viết và đọc tiểu thuyết,
5. Nguyễn Thị Phương Thúy, Ảnh hưởng của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn đến tiểu thuyết ở đô thị Nam Bộ 1945-1954, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/.
6. “Shakespeare hóa” là khái niệm chỉ phương thức tư duy nghệ thuật đối lập với phương thức “Schiller hóa”, nghĩa là phải “cá tính hóa nhân vật thật cụ thể, sinh động, sắc nét”… để tác phẩm văn học trở thành “thế giới của vạn tâm hồn”.
7. Đặng Thị Hảo và tgk (2004), Từ điển văn học, NXB Thế giới, tr. 1542.
14/2/2026
Nguyễn Thị Tịnh Thy
Nguồn: Quán Văn 61
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Triết lý nhân sinh trong tập thơ "Nghe mùa thay lá" của Hoàng Thân

Triết lý nhân sinh trong tập thơ
"Nghe mùa thay lá" của Hoàng Thân

Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Tập thơ để lại ấn tượng trong lòng người đọc bởi triết lý nhân sinh mang dấu ấn của triết học phương Đông, đặc biệt là Phật giáo và Lão giáo. Triết lý ấy được thể hiện rõ trong các bài thơ như “Bể dâu”, “Có đủ cho nhau”, “Chở nặng thời gian”, “Nghe mùa thay lá”, “Nhân sinh”... Đọc những bài thơ này, ta thấy thời gian trong thơ Hoàng Thân đã trở thành một thời gian ý niệm, nơi con người đối diện với sự hữu hạn của đời sống. Điều này đã cho thấy sự nhạy cảm của Hoàng Thân đối với thời gian. “Lá về/ theo gió cuốn đi/ Cành còn ở lại/ nuối gì chuyển xoay/ Thời gian khắc tự an bày/ Dòng đời luôn chảy, chẳng ngoài riêng ai” (Bể dâu). Hình ảnh ẩn dụ “Lá về” và “Cành còn ở lại” không dừng lại ở cảm xúc tiếc nuối mà mở ra một chiều sâu triết lý, đó là sự biến dịch là quy luật tất yếu của thời gian. “Bể dâu” không chỉ là biến động của đời sống, mà còn là sự vận động nội tại của tâm thức con người khi đối diện với vô thường. “Vai gầy chải tóc ra hong/ Nghe mùa thay lá bên lòng còn xanh/ Nghe con sóng vỗ đầu gành/ Chợt thương màu nước quẩn quanh bến chiều” (Nghe mùa thay lá). Ở đó, con người vừa lắng nghe nhịp chuyển của thiên nhiên, vừa đối diện với chính mình, nhận ra sự mong manh của kiếp sống và tính hữu hạn của mọi giá trị từng tưởng là bền vững. Đời người, suy cho cùng, chỉ là một hành trình đi qua những biến thiên không thể cưỡng lại, nơi mọi đối cực như được - mất, có - không, vui - buồn đều quy tụ trong quy luật vô thường của “bể dâu”. Chính từ điểm nhìn ấy, cái tôi trữ tình của Hoàng Thân hướng đến một thái độ tự tại, chấp nhận và chiêm nghiệm số phận như một tất yếu của nhân sinh. “Nắng mưa mấy độ đã từng/ Không không có có cũng chừng ấy thôi/ Tôi về nhặt lấy đời tôi/ Tự nhiên như đã, mặc trôi phận người” (Nhân sinh). Hoàng Thân thấu hiểu rằng con người dù khóc hay cười, thành hay bại rốt cuộc vẫn không thoát khỏi quy luật bể dâu. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là thơ Hoàng Thân không dẫn người đọc đến bi quan hay yếm thế, mà gợi ra một thái độ sống tỉnh táo, một cách nhìn điềm tĩnh trước những nghịch lý của đời sống. Bởi thế, khi đọc “Nghe mùa thay lá”, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, mà còn thấy mình đang đứng trước một hành trình nhận thức. Đó là hành trình con người quay về lắng nghe những chuyển động âm thầm của tâm hồn, đối diện với ký ức, với thời gian và những giá trị đã từng nâng đỡ đời sống tinh thần mình.
Từ chiều sâu ấy, thơ Hoàng Thân mở ra một không gian cảm xúc nơi những rung động cá nhân hòa vào những trải nghiệm phổ quát của con người, đặc biệt là miền ký ức gia đình, nơi neo giữ những yêu thương bền bỉ nhất của đời người. Những bài thơ như “Con về quê mẹ”, “Con thèm tiếng mẹ ru nôi”, “Nhớ cha”… không chỉ là ký ức riêng của nhà thơ, mà còn chạm đến miền ký ức chung của nhiều thế hệ độc giả. Đó là những ký ức về tuổi thơ, về tình mẫu tử, phụ tử và quê hương, những giá trị tinh thần bền bỉ trước dòng chảy thời gian: “Con về quê mẹ chiều nay/ Để nghe hơi ấm vòng tay mẹ gầy/ Tuổi thơ ùa chảy về đây/ Nghe thương, nghe nhớ trải đầy lối xưa” (Con về quê mẹ). Ở những câu thơ này, chất liệu đời sống được chuyển hóa thành cảm xúc nghệ thuật một cách tự nhiên. Hình ảnh thơ bình dị, giọng điệu chân mộc nhưng ẩn chứa trong đó là những tầng nghĩa sâu xa về tình thân, về cội nguồn, nơi con người tìm thấy bản thể của mình giữa thế giới nhiều biến động.
Đọc tập thơ “Nghe mùa thay lá” ta còn cảm nhận được một phương diện khác của triết lý nhân sinh. Đó là tình yêu tuổi học trò trong trẻo, mộng mơ. Ở đó, tình yêu đã trở thành dấu ấn đầu tiên giúp con người ý thức về thời gian, về sự chia xa và về giá trị của những điều không thể nắm giữ. Trong bài “Hạ nhớ”, ký ức về sân trường, tiếng ve, hoa phượng hiện lên như một miền ký ức vừa dịu dàng vừa day dứt: “Niềm mơ nhuộm đỏ bên thềm/ Phượng thêm mấy hạ càng thêm ngọc ngà/ Sân trường ve vẫn thiết tha/ Dõi người xưa cũ phương xa trở về” (Hạ nhớ). Trong cảm thức của Hoàng Thân, tình yêu ấy không chỉ là ký ức khó phai, mà còn là một món nợ ân tình: “Tình còn/ nợ một vòng tay/ Bến khao khát nhớ/ sóng lay vỗ bờ” (Nợ một vòng tay).
Có thể nói, “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân là một tập thơ mang đậm dấu ấn tư duy triết lý nhân sinh nhưng không khô cứng. “Thơ Hoàng Thân luôn có những liên tưởng bất ngờ tạo nên những hình ảnh thơ lạ, găm được vào tâm hồn người đọc” (PGS.TS Trần Hoài Anh).
16/2/2026
Phạm Văn Hoanh
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn

Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn

Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc "bừng nắng". Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Hoa vàng
(Trần Văn Lợi)
Bà lão ăn mày không rõ tuổi tên, quê quán ở đâu?
Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói
Đôi mắt u buồn và dáng đi mệt mỏi
Hành khất niềm vui
Đến một hôm sức lực không còn nữa
Bà co ro nằm lại bên đường
Trông thấy đầu tiên là những người đàn ông lực điền
Khi đang đào mương trong buổi sáng mùa đông rét mướt
Họ vội cởi tấm áo mưa đang mặc
Khoác cho bà cụ già
Rồi đào vuông ruộng nhỏ
Dâng bà cho cánh đồng
Đặt lên mộ nắm cơm (khẩu phần ăn giữa buổi)
Và khấn
Dù chẳng kịp mua hương và hoa…
Những thợ cấy đi qua
Ngày lại ngày
Nhặt nắm đất đắp dần lên thành nấm
Mồng một ngày rằm
Dâng cho bà nải chuối, thẻ hương…
Những đứa trẻ chăn trâu quen nhặt cỏ gà dọc bờ mương
Chúng rủ nhau dứt dây hoa cúc dại
Đem phủ đầy trên mộ
Rồi dây hoa bén rễ
Thành tấm chăn rực rỡ hoa vàng
Trên cánh đồng lúa bắt đầu xanh…
Và từ đó, mỗi độ đông sang
Hoa cúc lại bừng nắng vàng trên mộ…
(Rút từ tập thơ “Bàn tay châu thổ”, NXB Hội Nhà văn, 2010)
​Lời bình: “Hoa vàng” (Trần Văn Lợi) - Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Thơ ca, xét đến cùng, là tiếng vọng của đời sống, là nơi neo đậu của những phận người. Có những bài thơ đọc lên thấy choáng ngợp bởi ngôn từ lạ lẫm, nhưng cũng có những bài thơ đi thẳng vào tim ta bằng sự giản dị đến nao lòng. "Hoa vàng" của Trần Văn Lợi là một bài thơ như thế. Một câu chuyện buồn nhưng kết thúc lại đẹp như một cổ tích giữa đời thường, một bài ca ấm áp về tình người.
Bài thơ mở ra bằng hình ảnh một bà lão ăn mày. Cái hay của Trần Văn Lợi là không tô vẽ sự bi ai bằng những từ ngữ đao to búa lớn, mà bằng sự "vô danh" đến xót xa:
"Bà lão ăn mày không rõ tuổi tên, quê quán ở đâu?
Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói"
Cả cuộc đời bà gói gọn trong sự không rõ ràng: không tên, không tuổi, không quê. Bà là hiện thân của những gì mong manh, trôi nổi nhất. Nhưng câu thơ thứ hai mới thật sự ám ảnh: "Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói". Cái bị cói ấy không chỉ đựng cơm thừa, canh cặn, mà đựng cả chút tình thương rơi vãi của người đời. Cách nói ấy vừa hiện thực, vừa nâng niu, cho thấy cái nhìn đầy trân trọng của nhà thơ.
Và rồi, sự ra đi của bà cũng lặng lẽ như cách bà tồn tại:"Đến một hôm sức lực không còn nữa/ Bà co ro nằm lại bên đường." Chữ "co ro" gợi cái lạnh của thể xác và cả cái lạnh của sự cô độc. Nỗi buồn dường như đã chạm đáy.
Nếu khổ thơ đầu là gam màu xám lạnh của cái chết và sự cô đơn, thì từ khổ thứ hai, hơi ấm bắt đầu lan tỏa. Không phải hơi ấm của mặt trời, mà là hơi ấm từ những bàn tay lao động thô ráp. Đầu tiên là những người đàn ông lực điền:
"Họ vội cởi tấm áo mưa đang mặc
Khoác cho bà cụ già
Rồi đào vuông ruộng nhỏ
Dâng bà cho cánh đồng"
Hãy chú ý đến chữ "vội". Cái vội vàng ấy không phải là sự cẩu thả, mà là sự thôi thúc của lòng trắc ẩn. Họ sợ bà lạnh. Hành động nhường áo mưa, nhường nắm cơm, đào huyệt mộ ngay trên cánh đồng họ đang làm việc là những hành xử đầy tính "người". Câu thơ "Dâng bà cho cánh đồng" nghe sao mà thiêng liêng. Bà trở về với đất mẹ, được đất đai và những người nông dân bao bọc. Dù "chẳng kịp mua hương và hoa", nhưng tấm lòng của họ còn thơm thảo hơn mọi lễ nghi.
Tiếp đến là những người thợ cấy, những người phụ nữ tần tảo: "Nhặt nắm đất đắp dần lên thành nấm/Mồng một ngày rằm/ Dâng cho bà nải chuối, thẻ hương…" Nếu những người đàn ông lo việc an táng, thì những người phụ nữ lo việc hương khói, vun đắp. Nấm mộ vô danh ven đường không bị bỏ hoang, mà ngày càng cao lên nhờ những "nắm đất" của người qua đường. Sự quan tâm ấy bền bỉ, "ngày lại ngày", biến người dưng thành người thân.
Đỉnh điểm của bài thơ, và cũng là nơi nhan đề "Hoa vàng" tỏa sáng, nằm ở khổ thơ viết về những đứa trẻ:
"Những đứa trẻ chăn trâu quen nhặt cỏ gà dọc bờ mương
Chúng rủ nhau dứt dây hoa cúc dại
Đem phủ đầy trên mộ"
Trẻ thơ với tâm hồn trong trẻo đã làm một việc mà người lớn có khi không nghĩ tới: làm đẹp cho nấm mộ. Chúng không có hương hoa đắt tiền, chúng chỉ có hoa cúc dại, loài hoa của đồng nội, bền bỉ và kiên cường. Hình ảnh "tấm chăn rực rỡ hoa vàng" là một sự chuyển đổi cảm giác tuyệt vời. Từ chiếc áo mưa của những người đàn ông, đến những nắm đất của người thợ cấy, và giờ đây là tấm chăn hoa của lũ trẻ. Bà lão ăn mày, người từng "co ro" vì rét mướt, nay đã được ủ ấm vĩnh viễn trong màu vàng rực rỡ của hoa và tình người.
"Và từ đó, mỗi độ đông sang
Hoa cúc lại bừng nắng vàng trên mộ…"
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc "bừng nắng". Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Đọc "Hoa vàng" của Trần Văn Lợi, tôi không chỉ thấy một câu chuyện thương tâm, mà thấy lấp lánh vẻ đẹp của văn hóa làng quê Việt Nam. Ở đó, người với người sống bằng cái tình, cái nghĩa. Cái chết của bà lão ăn mày không rơi vào hư không, mà trở thành cái cớ để lòng tốt được đánh thức và kết nối. Bài thơ, tiếng lòng riêng của Trần Văn Lợi, trở thành lời nhắn nhủ với bao người: Lòng hảo tâm có thể biến nấm mồ lạnh lẽo thành một vườn hoa rực rỡ, và tình người chính là ngọn lửa sưởi ấm thế gian.
16/2/2026
Nguyễn Văn Luyện
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có

Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử,
đôi tri kỷ thơ hiếm có

Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Cả hai có mặt trong nhóm “Bàn thành tứ hữu” (bốn người bạn ở thành Đồ Bàn, Bình Định) gồm: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan và Quách Tấn. Vì yêu quý tình bạn, tình thơ của nhóm này, có người đã dùng tên của bộ tứ linh “long, lân, quy, phụng” để đặt cho từng người trong nhóm: Hàn Mặc Tử là rồng (long), Chế Lan Viên là phụng, Yến Lan là lân và Quách Tấn là rùa (quy). Tên tứ linh chỉ là “đặt chơi” nhưng đã thể hiện đúng về con người và văn nghiệp của mỗi người, trong đó, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên là rồng, phụng. Và rồi, cả hai đều có mặt trong Trường thơ Loạn, một hiện tượng độc đáo của phong trào Thơ Mới. Ở đây, “Loạn” chính là tìm kiếm cái mới lạ, kỳ dị, siêu thực. Theo nhà thơ Quách Tấn: “Trường thơ Loạn ra đời năm 1938, lúc bấy giờ Chế Lan Viên đã xuất bản tập “Điêu tàn”, Hàn Mặc Tử đã hoàn chỉnh tập “Thơ điên”, Yến Lan đã hoàn thành tập “Giếng loạn”. Nhân đó ba bạn Hàn - Chế - Yến mới cao hứng dựng nên Trường thơ Loạn. Bài tựa tập “Điêu tàn” và bài tựa tập “Thơ điên” thay thế lời tuyên ngôn lúc Trường thơ mở cửa” (Quách Tấn, Bóng ngày qua, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr. 5). Qua hai bài tựa “tuyên ngôn” về xu hướng, tính chất của Trường thơ Loạn này, cho thấy cách nghĩ tương đồng của Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử trong việc làm thơ, trong cùng “trường thơ”. Khi viết lời tựa cho tập thơ “Điêu tàn”, Chế Lan Viên nghĩ ngay đến Hàn Mặc Tử, người bạn chủ trương “thơ điên”: “Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: làm thơ là sự phi thường. Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xối trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm Tương Lai”. Cùng mối hoà điệu với Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử khi viết tựa tập thơ “Đau thương (Thơ điên)” đã tỏ nỗi bàng hoàng, “mê sảng” khi được sống tận cùng nhờ thơ, vì thơ: “Tôi làm thơ? Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống”, “vườn thơ tôi rộng rinh, không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh”.
Hàn Mặc Tử là đàn anh của Chế Lan Viên (hơn Chế Lan Viên 8 tuổi), “vốn Hàn coi Chế như em ruột và quý như bạn thân” (Quách Tấn). Khi tập thơ “Điêu tàn” xuất hiện, Hàn Mặc Tử đã nhiệt thành chào đón và khen ngợi hết mực. Hàn Mặc Tử đã làm bài thơ “Thi sĩ Chàm” tặng Chế Bồng Hoan (tên Hàn Mặc Tử đặt cho Chế Lan Viên), lột tả cái hay lạ lùng của “Điêu tàn”: “Người lắng nghe, lắng nghe trong đáy giếng/ Tiếng vàng rơi chìm lỉm xuống hư vô/ Tiếng ngọc địch nhớ nhung còn uyển chuyển/ Bên cầu sương lưu đọng ánh trăng mơ/ Người thổn thức tiếc buồn bao cảnh sắc”. Hàn Mặc Tử còn viết bài “Chế Lan Viên - một thi sĩ “điên” (Tựa tập thơ “Điêu tàn” của Chế Lan Viên)” đăng trên báo “Công luận”, số 7800, ra ngày 9/9/1938 với nhiều dòng phấn khích trước tài thơ độc đáo của Chế Lan Viên: “Chế Lan Viên quả là một tướng giặc đã can đảm xách giáo, mang gươm, xông vào trận mạc để chém lão tướng “Đường”, quét “thất luật”, đánh “kháng vận”, dẹp “tám câu”, chặt “năm vần”. Chế Lan Viên quả là một dũng sĩ, dám xông pha giữa cung cấm, gào thét trong khi các “lá ngọc cành vàng” yên lặng ngủ… ”, “sau khi đọc xong quyển “Điêu tàn” của anh thì bao nhiêu cái buồn, cái chán, cái rùng rợn, cái hãi hùng đã làm cho tôi khóc, tôi cười, tôi vui, tôi khổ!”. Hàn Mặc Tử qua bài thơ “Trường thọ” còn vẽ nên hình ảnh Chế Lan Viên quỳ nguyện Thần Thơ, tức là Khúc Tinh chiếu mạng cho người thơ có được nguồn thơ sáng láng, chan chứa ly tao và sống mãi, trường thọ (theo Tử vi Đẩu số, Khúc Tinh là hai sao Văn Khúc, Vũ Khúc chiếu mạng ai thì người đó văn hay chữ tốt): “Chế Lan Viên quỳ dâng tràng chuỗi hột/ Cầu Khúc Tinh hằng chiếu mạng người thơ/ Nên đường trăng sáng láng tự bao giờ/ Lạy chín phẩm thiên thần xin chứng giám!”.  
Với tập thơ đầu tay “Điêu tàn”, Chế Lan Viên có được tiếng tăm và vị trí trang trọng trên chiếu thơ của làng Thơ mới, như Hoài Thanh - Hoài Chân đã khẳng định: “Quyển “Điêu tàn” đã đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị”, “Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật” (Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, tr. 221, 225). Khác với Chế Lan Viên, đường thơ Hàn Mặc Tử gặp ít nhiều “sóng gió”. Thơ Hàn Mặc Tử mới lạ mà cái mới ban đầu đâu dễ vào được với số đông? Hoài Thanh - Hoài Chân cho biết: “Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm”. Đến như Xuân Diệu, một chủ tướng của Thơ mới đã không hiểu được Hàn Mặc Tử lại còn “bóng gió” chê thơ Hàn Mặc Tử: “Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: Tôi điên đây! Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống”. Nhưng thơ hay thì không thiếu tri kỷ, nhất là tri kỷ ở “cấp độ” Bá Nha - Tử Kỳ. “Đương thời không ai yêu Hàn Mặc Tử hơn Chế Lan Viên” (Ngô Văn Phú). Trong hồi ức thẳm sâu của mình, Quách Tấn nhớ đến lúc Chế Lan Viên nằm gối đầu lên vế Quách Tấn mà ngâm thơ Hàn Mặc Tử. Giọng ngâm của Chế Lan Viên rất hay, trong và cao, khi ngâm thường nhấn vào những chữ tuyệt bút trong bài thơ làm tăng sức truyền cảm. Chế Lan Viên thích ngâm nhất là bài “Một nửa trăng” của Hàn Mặc Tử: “Hôm nay có một nửa trăng thôi/ Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi/ Ta nhớ mình xa thương đứt ruột/ Gió làm nên tội buổi chia phôi”. Quách Tấn cho biết, thơ Hàn Mặc Tử bấy giờ chưa xuất bản, nhưng được nhiều người nhớ, nhiều người thuộc, đó là nhờ Chế Lan Viên. Từ hồi còn ngồi trên ghế trường Quy Nhơn, Chế Lan Viên đã chép thơ Hàn Mặc Tử đem vào trường phổ biến. Học sinh xúm nhau chép và học thuộc lòng. “Thơ Tử từ trường Quy Nhơn bay ra trường Khải Định, trường Đồng Khánh Huế. Lần lần thơ Tử lan rộng ra ngoài. Thanh danh Tử được truyền trong giới trí thức” (Quách Tấn, sđd, tr. 134). Sau khi Hàn Mặc Tử mất trong cô độc vì bệnh nan y, chỉ hơn mươi hôm sau, Chế Lan Viên đã viết bài “Những kỷ niệm về Hàn Mặc Tử”, khóc Tử thống thiết và tỏ rõ “chính kiến” đầy bản lĩnh của mình khi xưng tụng Tử là một thiên tài với tài thơ vượt thời gian: “Tử là một thiên tài. Tử mới chính thật là thiên tài trên cái nghèo kém của đất nước này”, “Tử không có tăm tiếng. Tử không được nâng chiều, nhưng đó chỉ là bây giờ mà thôi. Chứ mai sau, tôi xin hứa hẹn với các người rằng, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”. Cho dẫu còn có những ý kiến khác nhau về bài viết này, Quách Tấn đã bày tỏ sự tán đồng cao với Chế Lan Viên trong đánh giá về Hàn Mặc Tử: “Bài của Lan Viên được chú ý nhiều là vì có nhiều ý kiến trái với phần đông các thi sĩ đương thời… Thật là táo bạo nhưng cũng thật là chân thành. Nếu lời nói ấy là của một kẻ tầm thường thì người ta sẽ cho là một lời đại ngôn, vô giá trị. Nhưng đây là lời một thiên tài đã có tác phẩm đảm bảo chắc chắn, lời một người chưa hề ca tụng ai. Do đó mà người ta bàn tán nhiều. Kẻ biểu đồng, người phản đối. Lúc ấy tôi chưa quen thân cùng Chế Lan Viên, nhưng đọc văn tôi rất khoái ý, khoái không phải vì Tử được khen mà chính vì được nghe một lời nói khác thường” (Quách Tấn, sđd, tr. 97-98).
“Cảo thơm lần giở trước đèn” (Nguyễn Du). Năm 1987, Chế Lan Viên lần giở thơ Hàn, tuyển chọn, viết lời giới thiệu để làm “Tuyển tập Hàn Mặc Tử”. Bài “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” của Chế Lan Viên viết cho tuyển tập này là một bài viết công phu, tài hoa, đánh giá khá đầy đủ và đúng tầm về thơ Hàn Mặc Tử: “May thay Tử là một đỉnh cao, loà chói trong văn học của thế kỷ, thậm chí qua các thế kỷ”. Chế Lan Viên đã nêu bật hành trình thơ Hàn Mặc Tử, từ một nhà thơ vốn làm thơ Đường luật, được cụ Phan Bội Châu ca ngợi và hoạ thơ cùng, Hàn Mặc Tử đã tiến đến thơ hiện đại như những nhà thơ hiện đại nhất châu Âu. Cho rằng, Hàn Mặc Tử trước sau vẫn là nhà thơ lãng mạn nhưng Chế Lan Viên đánh giá thơ Hàn Mặc Tử dùng nhiều yếu tố siêu thực và “chưa có ai dùng đậm đặc như anh”, “anh vẫn là của hiếm”. Đặc biệt, Chế Lan Viên nhấn mạnh cái siêu thực của Hàn Mặc Tử không đến từ lý thuyết sách vở mà từ chính trải nghiệm sống đầy đau thương của Hàn Mặc Tử: “Hơn nữa, thiên hạ hiện đại bằng óc, bằng lời còn Hàn Mặc Tử thì bằng máu: Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy/ Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra”, “siêu thực của anh không phải từ sách vở ra, từ châu Âu đến, mà từ thảm kịch của anh mà ra”. Qua cảm nghiệm sâu về chất thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên đã thấy rõ một chân lý nghệ thuật: “Tân là mới. Nhưng sau tân, lại còn tân của tân nữa, đó là kỳ (lạ)”. Trong bài viết “Thơ Bích Khê”, Chế Lan Viên có một phát hiện sâu sắc, tinh nhạy: Bích Khê “làm thơ”, còn Hàn Mặc Tử “bị thơ làm”. Chính Hàn Mặc Tử, qua lời tựa viết cho tập thơ “Đau thương (Thơ điên)” của mình đã bộc bạch: “Nàng (tức là Nàng Thơ - chú thích của người viết) đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú… Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi?”. Tức là thơ đã “ốp đồng” lên hồn Hàn Mặc Tử, cho ra loại thơ dị thường, khiến người đọc cộng cảm, “lên đồng” theo nhà thơ kỳ tài.
Từ khi Hàn Mặc Tử qua đời, phải chờ đến năm mươi năm sau (tức là năm 1990, dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất Hàn Mặc Tử), “thiên tài trác tuyệt ấy mới được công nhận trong cả nước” (Nguyễn Viết Lãm). Nhưng ngay từ năm 1940, lúc Hàn Mặc Tử mới mất, Chế Lan Viên đã sớm “tiên tri” về sức sống “vượt thời gian” của thơ Hàn Mặc Tử. Chế Lan Viên đã giữ bền mối tri kỷ với Hàn Mặc Tử lúc Tử còn sống và cả sau khi Tử về cõi thiên thu. Một mối tri kỷ hiếm có của hai tài thơ vào loại hiếm của đất nước. Một mối tri kỷ “biệt nhãn liên tài” dành cho nhau của hai thiên tài có chung ý hướng đem đến cho thơ ca Việt Nam một dòng thơ mới mẻ, tân kỳ và hiện đại. Ở xã Hiếu Giang, tỉnh Quảng Trị có Nhà lưu niệm nhà thơ Chế Lan Viên. Nơi đây trưng bày khá nhiều hình ảnh, hiện vật, tác phẩm của Chế Lan Viên, thể hiện phong phú về cuộc đời và sự nghiệp Chế Lan Viên. Nhưng nơi đây cần bổ sung trưng bày sâu, có tính chuyên đề về “Chế Lan Viên với Hàn Mặc Tử và Hàn Mặc Tử với Chế Lan Viên” để làm rõ hơn về mối tri kỷ thơ đặc biệt của hai nhà thơ lớn này, nhất là khi cả hai đã về với nhau trong tỉnh Quảng Trị. Việc hiểu sâu về hai nhà thơ độc đáo này giúp bạn đọc có những cơn sảng khoái “toát mồ hôi” trí tuệ khi đọc thơ Chế Lan Viên và mê sảng “toát mồ hôi” thần trí khi đọc thơ Hàn Mặc Tử: “Thơ chưa ra khỏi bút/ Giọt mực đã rụng rồi.../ Lòng tôi chưa kịp nói/ Giấy đã toát mồ hôi... ” (Mùa thương - Hàn Mặc Tử).
21/2/2026
Nguyễn Hoàn
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Tôi lại thở dài ngó xa xăm

Tôi lại thở dài ngó xa xăm

Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa xăm" của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM
Tôi xa làng Đá đã nhiều năm
Từ độ người ta tuổi chớm Rằm
Cái tuổi xúi người say má thắm
Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm
Tôi nhớ, người ta một cuối năm
Giữa chiều mưa ấy rét căm căm
Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm
Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.
Tôi biết người ta với làng Chằm
Ân tình riêng nặng đã nhiều năm
Người ta lại giỏi cam chịu lắm
Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.
Tôi về làng Đá mỗi cuối năm
Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm
Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm
Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...
Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026
Sức hấp dẫn đầu tiên của tác phẩm nằm ở nghệ thuật kiến tạo hình ảnh và xây dựng tứ thơ độc đáo. Đặng Xuân Xuyến đã khéo léo khai thác tứ "Vọng phu" nhưng đặt trong bối cảnh đời thường, không mở ra theo chiều rộng của không gian mà xoáy sâu vào chiều âm của số phận, khiến nó trở nên gần gũi mà buốt nhói. "Làng Đá" – từ một địa danh hành chính cụ thể – qua dòng thời gian đã biến chuyển thành một biểu tượng nghệ thuật: sự hóa thạch của nỗi đau. Hình ảnh "Người hóa đá giữa đêm Rằm" là một nhãn tự đắt giá, lột tả sự tàn nhẫn của thời gian. Ở đó, người phụ nữ không hóa đá trên đỉnh núi cao để thiên hạ chiêm bái, mà họ "tự lấp sâu vạn dặm" tuổi xuân của mình ngay giữa lòng làng quê, trong sự im lặng của lòng thủy chung lầm lạc. Đây là một bước chuyển mình về tư duy nghệ thuật. Sự "hóa đá" ở đây không phải là sự thăng hoa thành huyền thoại, mà là một sự "tự lấp sâu vạn dặm" của tuổi xuân. Tác giả đã nhìn ra một bi kịch hiện đại: con người ta không chết đi, nhưng họ tự đóng băng đời mình trong sự cam chịu và những giá trị đã lỗi thời.
Để chuyển tải tứ thơ ấy, Đặng Xuân Xuyến đã xây dựng được những cặp hình ảnh đối lập đầy ám ảnh. Hình ảnh "má thắm" của tuổi trăng tròn đối diện với cái "ngó xa xăm" vô định ngay từ khổ đầu đã dự báo về một sự lệch pha giữa sức sống thanh xuân và định mệnh u buồn. Đặc biệt, chi tiết "thảng thốt tay chặt nắm" trong chiều mưa "rét căm căm" là một nhãn tự đắt giá. Chữ "thảng thốt" ở đây không chỉ là trạng thái tâm lý mà là một hành động vật lý mang tính biểu đạt cao; nó cho thấy sự chới với của một người đang cố níu giữ cái thực tại đang tan rã. Đối lập với sự "thảng thốt" ấy là cái "nhẹ lắc đầu" – một hình ảnh tĩnh lặng nhưng có sức công phá mạnh mẽ hơn mọi lời cự tuyệt. Đặng Xuân Xuyến đã dùng cái "tĩnh" để chế ngự cái "động", dùng sự im lặng để biểu đạt sự tuyệt vọng cùng cực. Chính sự "giỏi cam chịu" mà nhà thơ nhắc đến không đơn thuần là lời ngợi ca phẩm hạnh, mà là một tiếng thở dài phê phán những lề thói, những ân tình cũ kỹ đã vô tình giam cầm biết bao kiếp người.
Cái hay của tứ thơ còn nằm ở sự dịch chuyển điểm nhìn. Từ cái nhìn khách thể của người đi xa trở về, tác giả chuyển dần sang sự đồng cảm và cuối cùng là sự đồng điệu trong nỗi đau. Câu kết "Tôi lại thở dài, ngó xa xăm" là một sự lặp lại có chủ đích, hoàn tất vòng lặp của bi kịch. Nếu cái "xa xăm" của người phụ nữ là sự chờ mong kẻ biệt tăm, thì cái "xa xăm" của thi sĩ là sự bất lực trước sự tàn nhẫn của thời gian và lòng người.
Trong chỉnh thể của bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa xăm", Đặng Xuân Xuyến không cầu kỳ trong việc dụng chữ bằng những thuật ngữ tân kỳ, nhưng lại đặc biệt thành công trong việc kiến tạo một hệ thống ngôn ngữ giàu tính gợi hình và một tứ thơ mang đậm hơi thở của bi kịch nhân sinh. Ngôn ngữ và hình ảnh trong tác phẩm này không tồn tại độc lập mà đan cài chặt chẽ để phục vụ cho một ý đồ nghệ thuật nhất quán: sự hóa thạch của nỗi đau.
Khổ thơ cuối là một sự thăng hoa của cảm xúc nhưng lại hạ cánh trong một hiện thực tàn khốc. Hình ảnh "Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm" là một ẩn dụ đầy sức nặng. Làng Đá không còn là tên gọi hành chính, nó đã thấm vào máu thịt, vào số phận của con người. Người phụ nữ ấy, sau bao năm tháng đợi chờ, đã tự hóa thạch chính tuổi xuân của mình. Cụm từ "Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm" gợi lên một sự hy sinh tự nguyện nhưng vô vọng, một sự tự chôn vùi cái tôi cá nhân vào hố sâu của định kiến và lòng thủy chung lầm lạc.
Điểm đáng chú ý nhất về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ là hệ thống vần "ăm" (năm, Rằm, thắm, xăm, căm, nắm, Chằm, tăm, dặm) được gieo xuyên suốt tác phẩm. Trong ngữ âm tiếng Việt, vần "ăm" là một âm đóng, tạo cảm giác tù túng, quẩn quanh và bế tắc. Việc lặp lại âm hưởng này không chỉ tạo nên tính nhạc cho bài thơ mà còn tạo ra một không gian tâm lý chật hẹp, nơi nhân vật trữ tình và cả người phụ nữ kia đều bị giam cầm trong những ký ức không lối thoát. Bên cạnh đó, cách sử dụng các từ láy như "căm căm", "thảng thốt", "biệt biệt tăm" đã đẩy cao tính biểu cảm, làm đậm thêm cái lạnh lẽo của không gian và cái dài dặc của thời gian.
Kết thúc bài thơ, tác giả lặp lại hành động "ngó xa xăm" nhưng lần này là cái nhìn của chính chủ thể trữ tình. Nếu cái "xa xăm" của người phụ nữ là sự chờ đợi vô định, thì cái "xa xăm" của nhà thơ là sự bất lực trước vòng xoáy của nhân duyên và số phận. Tiếng thở dài của Đặng Xuân Xuyến không chỉ dành cho một mối tình đơn phương, mà là tiếng thở dài cho những kiếp người tự buộc mình vào những giá trị xưa cũ để rồi tàn héo trong thầm lặng.
Bằng việc sử dụng ngôn ngữ giàu nhạc tính và xây dựng những hình ảnh có sức nặng biểu tượng, Đặng Xuân Xuyến đã nâng một câu chuyện tình lỡ dở lên thành một suy tưởng về thân phận. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một cá nhân mà là bản cáo trạng nhẹ nhàng nhưng buốt nhói về những lề thói, những ân tình cũ kỹ đã vô tình chôn vùi biết bao kiếp người trong sự tĩnh lặng đáng sợ.
Có thể nói, với "Tôi lại thở dài ngó xa xăm", Đặng Xuân Xuyến đã thành công trong việc nâng một câu chuyện riêng tư lên thành một suy tưởng mang tính nhân văn sâu sắc. Bài thơ không chỉ chạm đến trái tim độc giả bằng sự chân thành, mà còn khẳng định bản sắc của một cây bút biết cách dùng những ngôn từ giản dị để chạm tới những vỉa tầng sâu kín nhất của tâm hồn con người.
22/2/2026
Đỗ Anh Tuyến
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Một mùa hè dưới bóng cây

Một mùa hè dưới bóng cây

Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế được Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ chúc mừng nhận giải thưởng ASEAN.
Năm 2024, Khi tập truyện ngắn Một mùa hè dưới bóng cây của anh đạt giải A của hội nhà văn Việt Nam, tôi cũng đã háo hức đặt sách trên Tiki về đọc.
Và năm nay nghe tin nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế (với Tập truyện ngắn Một mùa hè dưới bóng cây) cùng với nhà văn Y Ban (Truyện ngắn Trên đỉnh giời) đoạt giải ASEAN, một giải văn học danh giá mà hầu như tất cả những ai cầm bút thuộc Khu vực Đông Nam Á đều mong muốn hướng tới.  
Nguyễn Tham Thiện Kế có thể được gọi là một hiện tượng văn học; người khen khen không tiếc lời và người chê cũng không hiếm.
Những người khen và ủng hộ thì đánh giá cao sự sáng tạo của nhà văn và gọi những trang viết mang dấu ấn phong cách cá nhân của anh là lối viết sáng tạo, những câu văn tài hoa, có sức hấp dẫn đặc biệt nhưng kén độc giả.
Trường phái không ủng hộ thì nói rằng văn của anh cầu kỳ quá, từ cách dùng từ, đặt câu tới diễn đạt đoạn văn, bài văn, truyện ngắn hoặc tiểu thuyết đều có sự cầu kỳ và không phù hợp với người đọc đại chúng. Có ý kiến còn cho rằng anh hay “làm xiếc ngôn từ”, điệu đà trên mức cần thiết…
Một số ý kiến cho rằng văn Nguyễn Tham Thiện Kế kén người đọc, điều đó cũng nói lên hai mặt của một vấn đề;  nói cách khác cũng phản ánh thông tin đến từ hai trường phái, trường phái ủng hộ thì đánh giá rằng đây là sự thông minh, tài hoa, là sự tâm huyết và sáng tạo, không bằng lòng với dấu ấn cá nhân, không bằng lòng với những gì sẵn có, không bằng lòng với sự diễn đạt câu cú bình thường theo chuẩn ngữ pháp Việt Nam mà mọi người được học từ chương trình giáo dục phổ thông! Trường phái không ủng hộ thì có thể lên tiếng rằng với xã hội hiện đại khi văn hóa đọc có vẻ mai một thì cần viết giản dị, bình dân, hướng về đại chúng mới thu hút được nhiều độc giả.
Từ góc nhìn cá nhân, công bằng mà nói Nguyễn Tham Thiện Kế là một tác giả tài năng có lối viết sáng tạo, độc đáo, là người chịu nghĩ, chịu viết và có khả năng chịu trách nhiệm cao trước sự sáng tạo của mình; đồng thời anh cũng là một nhà văn đầy bản lĩnh khi ý thức được rằng tác phẩm mình viết ra lượng công chúng không phải đông đảo. Văn của anh kén người đọc nhưng đã đọc được văn của anh thì đó phải là những người chịu đọc, là người có tư duy mở, là người có kiến văn đầy đặn và nhất định phải là người yêu văn học đương đại….
Trong tập Một mùa hè dưới bóng cây, cách đặt nhan đề cho mỗi một truyện ngắn thể hiện sự dụng công của tác giả; rất nhiều nhan đề giàu chất thơ (Ngõ thơm từng tiếng guốc em về; Hoa trắng rụng dòng trong, Nằm dưới hoa mộc miên, Đào phai theo dấu khói, Lời hẹn mùa hoa cũ…). Nhân vật trong các câu chuyện hầu hết là những người bình dân, giản dị và chân thực, được thể hiện theo một cách viết riêng, mang rõ phong cách Nguyễn Tham Thiện Kế. Có nhà phê bình đã liên tưởng thế giới nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế chính là hồi ức về quá khứ của anh hoặc người thân. Dẫu hiểu theo cách nào, vẫn chung nhận định rằng anh đã thành công khi tạo dựng được nhân vật có dáng hình, có số phận, có sự neo giữ trong tâm thức người đọc.
Làm nên sức sống mỗi truyện ngắn, ngoài yếu tố dung lượng phải ngắn, còn có các yêu cầu về bố cục, về nhân vật, ngôn ngữ. Đặc biệt là yêu cầu về tình huống. Không thể không có lý khi ai dó đã nói rằng “Tình huống là vấn đề cốt tử của truyện ngắn”. Mỗi câu chuyện trong tập Một mùa hè dưới bóng cây đều có dung lượng vừa phải, bố cục chặt chẽ. Thế giới nhân vật trong cả tập truyện này là người bình dân, là những người lao động thủ công, lao động chân tay; họ có thể là lão, là chị, là gã… là những người lao động bình thường. Mỗi người mỗi hoàn cảnh, vất vả nhưng có phong cách, nét dáng riêng. Bởi thế, tập truyện Một mùa hè dưới bóng cây được nhiều công chúng yêu thích. Và cách viết của Nguyễn Tham Thiện Kế cũng rất riêng. Không thể phủ nhận có những cách cảm nhận sâu, cách so sánh độc đáo, cách sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và giàu sức gợi. Này nhé, là “Ngõ thơm từng tiếng guốc em về” với những câu văn Đôi lần cuối xuân, chớm thu, trên gác xép nhà nàng, tôi nghe sông Hồng âm ỉ chạy dưới lưng. Tôi đợi tiếng guốc, dù đã dán đế cao su giảm chấn rón rén mà vẫn giòn ron của nàng suốt con ngõ beton hút xa dưới bóng hoàng lan. Nàng bước ngắn, bước dài tránh giẫm lên những bông hoa rụng. Mỗi guốc bước lại thức hương đã ngủ rơi trên mặt đất, khe tường… Mỗi tiếng guốc một cung bậc hương thơm lan.
Và đoạn cuối là “Đã nhiều lần cuối xuân, chớm thu. Khoảng giữa chúng tôi, là không gian mờ ảo, không hẳn là tình nhân nhưng nhớ thương, chẳng phải anh em, bạn bè nhưng day dứt vấn mình về trách nhiệm. Nàng bước ngắn, bước dài để tránh dẫm lên những bông hoa đã rụng trên lối. Mỗi một bước lại thức dậy hương, đã ngủ rơi quên trên mặt đất khe tường”
Và đây nữa, là một câu văn giàu chất thơ trong “Hoa trắng rụng dòng trong”, Cơn mưa chiều xuân nhuộm tháng hai một trời ghi xám. Hoặc Một trăm linh tám cây mộc miên uốn lượn theo kênh đào buổi mãn xuân khởi bung hoa, vẽ thành con rồng hoa ngậm lửa phủ phục trước cổng làng trong truyện ngắn “Nằm dưới hoa mộc miên”.
Dễ dàng nhận thấy ở tập truyện này có những câu văn điệu đà làm duyên, có những so sánh đắt giá, để lại ấn tượng đẹp trong lòng độc giả. Tuy nhiên, tôi vẫn mong muốn ở anh một cách viết sao cho có nhiều độc giả hơn bởi có những câu văn chưa chắc cần đến sự tỉ mỉ và cầu kỳ đến thế… và tôi thật sự vui khi được chúc mừng anh; chúc mừng nhà văn tài hoa của Đất Tổ đã vinh dự nhận giải ASEAN cao quý mà nhiều người mơ ước.
Chúc mừng sự thành công của anh, chia vui cùng anh và Hội liên hiệp văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ, Hội nhà văn Việt Nam về thành tựu của năm 2025,  trong đó, có công lao, có thành tích của nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế qua tập truyện ngắn Một mùa hè dưới bóng cây.
22/2/2026
Đỗ Nguyên Thương
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Nối tiếp

Nối tiếp

Bài thơ “Chuyện riêng ở binh đoàn” của thi sĩ, bác sĩ Tố Hoài, có đề từ: Tặng các chiến sĩ nữ Quân y 19 – Binh đoàn 70. Anh viết sau chiến dịch phá cuộc “Hành quân Lam Sơn 719” năm 1971 và Chiến dịch đường 9, Nam Lào” năm 1972 lúc đang phục vụ ở mặt trận Quảng Trị :
CHUYỆN RIÊNG Ở BINH ĐOÀN
Chiến dịch đi, nối tiếp những binh đoàn
Nối tiếp Trường Sơn, nối dài chiến thắng
Có một không gian trong bề dày trận đánh
Trận xong rồi lại chuyện kể tư, riêng.
Chuyện rất gần... áp sát tiền duyên
Về mỗi chiến công lập trong âm thầm lặng lẽ
Bằng mũi chỉ, đường dao an lành nhỏ bé
Mang tình người thấm đậm tự trong tim.
“Tát nước đến cùng” giành tín hiệu hồi sinh
Nụ cười em - Vỡ òa cơn nín thở
Trang bệnh án gấp vào và trang đời bật mở
Trời xanh hơn! Mầu áo cũng xanh hơn!
Ơi em gái quân y giữa rừng Trường Sơn
Những cánh lá tay xòe che biêng biếc
Quả nhân hậu kết mùa thơm thanh khiết
Em chia đều dịu bớt mỗi lần đau!
Lời chân tình – Tròn vạnh quả cau
Lòng yêu thương – Lá trầu tươi nhỏ
Đã quyện lại, rực lên mầu thắm đỏ
Giọt máu đồng đội tôi san sẻ chan hòa.
Hoa nở bông ngan ngát vườn nhà
Cây tình yêu lá xanh, bền rễ!
Chuyện lính trẻ chúng tôi, khoảng trời riêng be bé
Chiến dịch đi, nối tiếp những binh đoàn...!.
Quảng Trị 16/4/1972.
Bài thơ thể tự do, phảng phất biền ngẫu. Ngay khổ đầu bài thơ, dễ nhận ra thế trận “chiến dịch” ở giai đoạn tác chiến hợp đồng binh chủng: bộ binh, thiết giáp, pháo binh hạng nặng, pháo phòng không... với những binh đoàn của nửa đầu thập niên 70 thế kỉ trước; làm nên bài ca hùng tráng, khẩn trương của đoàn quân vào chiến dịch “Nối tiếp Trường sơn... nối tiếp những binh đoàn” và để “nối dài chiến thắng”. Âm vang câu thơ, cảm nhận như hành khúc nhịp đi 2/4 rung động người đọc sau nửa thế kỉ trôi qua.
Đồng thời với đoàn quân là hành trang, những căn hầm nhỏ bé giáp tiền phương, các chiến sĩ quân y vũ khí là bơm tiêm, dao kéo... mang ý chí “...tình người thấm đậm tự trong tim”. Chiến tuyến là bờ sinh - tử ở đó không kém phần khẩn trương, kiên định “Tát nước đến cùng, giành tín hiệu hồi sinh”. Họ đã chiến đấu với tử thần, cũng giằng co, cũng hồi hộp, nén thở nắm bắt thời cơ và hi vọng giành sự sống cho đồng đội. Cuối cùng, tín hiệu thắng lợi được đánh giá bằng “nụ cười”, “vỡ òa” giải tỏa những lắng lo chờ đợi.
Sau tầm bom rơi đạn nổ tử - sinh, khi “Trang bệnh án gấp vào và trang đời bật mở” một hiệu ứng xanh của sự sống thanh bình: “Trời xanh hơn! Mầu áo cũng xanh hơn”. Và làm “dịu bớt mỗi lần đau” chính là “Em chia đều” “Quả nhân hậu kết mùa thơm thanh khiết”! Bởi lòng chân tình, tạo ra yêu thương mà liệu pháp “lá trầu, quả cau” là sự ghi nhận một tình yêu thắm đỏ!
Bài thơ, từ “nối tiếp” được lặp lại hai lần rồi gắn tiếp từ “nối dài” tạo hiệu ứng sức mạnh vô tận, mở ra khí thế hào hùng. Đó là sức mạnh trùng điệp của đoàn quân, sức mạnh của lòng yêu nước ẩn trong sức mạnh Việt Nam. Từ “nối tiếp” được lặp lại lần thứ ba ở đoạn kết. Là lời khẳng định mạch nguồn cha ông đến hiện tại. Hôm nay, hơn nửa thế kỉ trôi qua, mạch nguồn đó vẫn duy trì tiếp tục...
Thực tế chiến trường:
Bài thơ ra đời vào Ngày truyền thống Quân y 16 tháng Tư. Lúc ấy chiến dịch xuân hè 1972 đã đến giai đoạn 2; sau 6 ngày Quân giải phóng miền nam Việt Nam tiến chiếm sân bay Ái Tử và đánh sập cầu Quảng Trị (10/4/1972), nối tiếp bằng các trận đánh giằng co để nối dài vào giai đoạn 3, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị (02/5/1972). Đại úy Bác sĩ quân y Nguyễn Tố Hoài (tên thật của Nhà văn khoa học Tố Hoài), trưởng khoa ngoại kiêm y vụ của Bệnh viện quân y dã chiến 19 -B70, lại tiếp tục vào cuộc chiến đỏ lửa mùa Hè 81 ngày đêm Thành Cổ Quảng Trị.
Bệnh viện dã chiến nằm trong các căn hầm nối liền nhau bằng giao thông hào. Trung tâm là hầm phẫu thuật rộng trung bình chục mét vuông, đủ bố trí bàn mổ, hòm dụng cụ quân y, dinamo quay tay phát điện chỉ đủ sáng cho vết mổ, một giá treo dịch chuyền và một máy đo huyết áp loại cơ khí, khi áp huyết đủ sẽ tiến hành mổ... Không có đủ máu để truyền nên thường lấy máu từ vết mổ truyền lại cho thương binh đang mổ. Phòng hậu phẫu là căn hầm có 3 chỗ nằm. Thương binh ổn định chuyển về hầm chữ A, mỗi hầm 2 thương binh. Quân y viện Lấy lá cây làm chiếu trên nền áo mưa lót chống ẩm, lâu dần lá khô sẽ ấm hơn. Khi thương binh lên cơn sốt, rét run, các chiến sĩ quân y phải ôm để dùng chính hơi ấm của mình sưởi cho thương binh.
Cạnh hầm mổ có hầm chụp X-quang nhưng không thể in được phim. Chỉ là đầu dò phát tia x để bác sỹ thấy vị trí mảnh đạn, bom trong cơ thể thương binh hiện lên ở màn hình nhỏ, giúp vết mổ chính xác. Hầm xét nghiệm có chai lọ đựng hóa chất, ống nghiệm và một kính hiển vi thường. Máy nổ phát điện dùng cho chụp X-quang rất nặng đi kèm với xăng dễ cháy; các ống nghiệm, cốc, chai lọ thủy tinh dễ vở phải bọc vải khi di chuyển địa điểm… Tất cả vật tư, máy móc của quân y viện có cơ số tối thiểu, trông cậy vào đội ngũ quân y để phục vụ tối đa, trong hoàn cảnh chật hẹp tối đa hơn mức đơn giản. 
Bếp ăn cũng dưới hầm và chỉ đủ cho 3 người cùng ăn nên phải ăn nhanh để thay phiên nhau. Mọi sinh hoạt chủ yếu ở dưới hầm tối....
Tuy hoạt động chủ yếu diễn ra trong các hầm, không có nghĩa là an toàn. Trong tiểu thuyết Hoàng hôn dát đỏ (Tạp chí Văn Nghệ Quân đội liên kết xuất bản) Tố Hoài đã viết rất sinh động về quân y giai đoạn chiến trường rực lửa Quảng Trị từ năm 1971, chiến dịch Đường 9, nam Lào mà anh là bác sĩ quân y. Trạm quân y tiền phương của anh đã gánh chịu sự khốc liệt do bom nhồi, pháo kích. Thực ra, ở chiến trường không đâu là tiền phương hay hậu phương. Bởi họ phải luôn bám sát mặt trận và không chỗ nào an toàn ngoài tầm bom đạn. Chi tiết người lính quân y sau 4 kíp mổ xuyên đêm, sáng ra, đói quá, tìm nước pha bát sữa uống, bị bom đánh trúng hầm và ruột vướng vào cành cây. Nhiều kiểu hy sinh của các chiến sỹ quân y diễn ra trước mắt; nhưng họ vẫn phải gồng mình đứng vững làm điểm tựa cuối cùng cho bộ đội chiến đấu.
Thuốc men, trang thiết bị y tế luôn thiếu thốn... các y bác sĩ ngoài nhiệm vụ cứu chữa, điều trị thương bệnh binh, kịp thời trả lại sức chiến đấu cho chiến trường, họ còn nhọc nhằn cho mỗi bữa ăn thiếu thốn hàng ngày, việc dành khẩu phần ăn ít ỏi cho thương binh lúc cạn lương thực, xảy ra thường xuyên lúc địch đánh phá ác liệt cắt đường tiếp vận.
Dạo ấy, tham gia chiến trường, các chiến sĩ nữ thường biên chế ở bộ phận hậu cần mà chủ yếu các nữ y bác sĩ ở bệnh viện, đội điều trị dã chiến. Song họ góp phần không nhỏ vào công tác phục vụ chữa trị thương bệnh binh. Mỗi cử chỉ, lời nói hiền dịu của họ như “Quả nhân hậu ... thơm thanh khiết” đem “chia đều dịu bớt mỗi lần đau! Đó cũng là liều thuốc chữa trị vô cùng hiệu quả.
Đóng góp của bộ phận văn học lãng mạn cách mạng
Tố Hoài là nhà văn quân đội, anh viết văn và viết báo ngay thời kì anh là chiến sĩ quân y ở chiến trường Quảng Trị. Trong gần chục tiểu thuyết của anh, hầu như tiểu thuyết nào cũng dính dáng đến hiện thực chiến tranh, tới quân nhân cách mạng. Cái lãng mạn trong từng tư duy, trong từng hành động của nhân vật là một tấm gương sáng trong tu dưỡng và rèn luyện vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ. Và ngay cả khi xây dựng các mối tình thì đều tích cực và trong sáng hướng về chân thiện mỹ.
Cho nên bài thơ “Chuyện riêng ở binh đoàn” cũng có thể xếp vào loại văn học lãng mạn. Giữa mặt bằng chiến tranh đâu chỉ có chết chóc đạn bom mà vẫn có chỗ thanh bình nảy nở “Hoa nở bông ngan ngát vườn nhà” của sự sống “Cây tình yêu lá xanh, bền rễ” hồi sinh. Sâu sắc hơn, hình tượng lá trầu, quả cau như một lương duyên. Là “Chuyện lính trẻ chúng tôi, khoảng trời riêng be bé” nhưng tồn tại theo “Chiến dịch đi” và luôn luôn “nối tiếp những binh đoàn...!”
Không khó để tìm thấy các tác phẩm văn chương thuộc thể loại văn học lãng mạn cách mạng. Nếu tính cả những tác phẩm ít nhiều có tính chất lãng mạn cách mạng; bộ phận này làm nên dòng chủ lưu của văn học nghệ thuật cách mạng sinh ra trong hoàn cảnh chiến tranh.
Lý do
Các tác giả của bộ phận văn học cách mạng trong thời kỳ chiến tranh đều lăn lộn ở các chiến trường ác liệt nhất và nhiều văn nghệ sĩ đã hi sinh. Họ có đầy đủ vốn sống, tư liệu chiến tranh với cấp độ ác liệt, phức tạp không thể hư cấu nổi...
Văn nghệ sĩ nhận thức rõ đối phương có sức mạnh về quân sự, khoa học kĩ thuật và kinh nghiệm tác chiến cao hơn; do đó những người cách mạng không có cách nào khác là phải hi sinh xương máu nhiều hơn, và luôn rút kinh nghiệm từ gian khổ hi sinh để tìm ra cách đánh phù hợp hơn, quyết tâm chiến đấu cho đến ngày toàn thắng.
Từ đó, các tác giả dồn tình cảm, trí tuệ vào sáng tác để nâng đỡ tinh thần cho nhân dân và chiến sĩ trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn nếu không nói là vô vọng trong mắt một số người nước ngoài cùng thời.
Khi đất nước qua cơn binh đao, những văn nghệ sĩ còn sống nối tiếp tác phẩm; đi vào địa hạt văn học hiện thực cách mạng để vinh danh, góp phần nối dài hòa bình cho đất nước và nhân loại.
Sài Gòn, 25/2/2026
Lê Thanh Huệ
Nguồn: Văn nghệ Online
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân

Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà ...