Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

Lâm Thị Mỹ Dạ và Trái tim như dáng lưỡi cày

Lâm Thị Mỹ Dạ và Trái tim
như dáng lưỡi cày

“Ðể suốt đời cày lên cày lên đớn đau và hạnh phúc” (Nói với trái tim)
Tôi ‘ngạc nhiên lại’ khi đọc lại những bài thơ tưởng đã quen của nữ thi sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ. Chị làm thơ dễ dàng hơn tôi tưởng, mà cũng vất vả hơn tôi tưởng. Chị còn phức tạp hơn tôi tưởng rất nhiều. Nếu trên thế giới này có những “người đàn bà hát”, thì tôi nghĩ, cũng có không ít những “người đàn bà thơ”. Một trong những “người đàn bà thơ” ấy là Mỹ Dạ.
Khi nào em còn thở
Ngày sinh còn ra đi
Ðến tận cùng ngày chết
Như một khoảng lạ kỳ 
Ngỡ như ta đã sống
Ở thế giới nào kia
Yêu trái đất ghé lại
Rồi ngày mai xa chia
(Hái tuổi em đầy tay)
Cứ nói một cách giản đơn và thực tình, thơ Mỹ Dạ chinh phục ta không phải bằng vẻ lạ lẫm tân kỳ, mà bằng những bất ngờ quen thuộc. Thì cuộc sống vẫn vậy, quen mà lạ, lạ mà quen, cứ ngỡ ta gặp ở đâu đó rồi, nhớ mãi lại chẳng ra. Tôi thấy thơ chị rất buồn, buồn hơn cả cuộc đời có thể buồn mà chị đã sống, đang sống:
Em chết trong nỗi buồn
Chết như từng giọt sương
Rơi không thành tiếng
(Tặng nỗi buồn riêng)
Một người làm thơ buồn như vậy, lại sống như một người yêu đời, đủ biết cuộc đời thật nhiều lối, nhiều ngả, nó đủ cho ta sống, và đủ cho ta thể hiện mình ở những cung bậc khác nhau nhất, thậm chí đối lập nhất.
Ngày mới quen Mỹ Dạ, tôi cứ ngỡ chị là người sống tươi vui và đơn giản. Có như vậy thật, trong con người hằng ngày của Mỹ Dạ thường trực một vẻ hồn nhiên bẩm sinh, một lòng tốt tự nhiên và nhiều khi trang trải ra không khách sáo. Nhưng thơ Mỹ Dạ lại phát hiện một con người khác của chị, đầy những khắc khoải, lo âu, đầy nữ tính. Không phải cứ nhà thơ nữ là làm thơ đầy nữ tính đâu. Nhưng tôi có cảm giác “người đàn bà thơ” nào mà thơ đẫm chất đàn bà, người ấy thường khổ, từ khổ tâm tới khổ đời. Tôi thử lật tình cờ một bài thơ của Mỹ Dạ, theo kiểu “bói thơ”, và tôi gặp bài này:
Nhỏ bé tựa búp bê
Làm sao anh đủ sâu
Cho em soi hết bóng
 Làm sao anh đủ rộng
Che mát cho đời em
Làm sao anh đủ cao
Ðể thấy em cho hết…
Cuộc đời bao nhọc mệt
Cuộc đời bao dịu êm
Người đàn bà bước lên
Người đàn bà lùi lại
Này tôi ơi, có phải
Làm một người đàn bà
Người ta phải nhỏ bé
Nhỏ bé tựa búp bê
Mới dễ dàng hạnh phúc?
Thú thật, bói ra bài thơ này khiến tôi choáng. Thơ phải thật sự giản dị mà đầy thân phận như thế, mới là thơ. Một bài thơ ngắn ngủi gọi mời ta đi hết, trải hết một đời người, nó khiến những người đàn ông tự lùi lại, tự biết mình khi muốn thành một chỗ dựa, một cái cây hay một giếng nước cho cuộc đời một ai đó. Bài thơ nhỏ đặt một câu hỏi không hề nhỏ: rằng có phải cứ “Nhỏ bé tựa búp bê/ Mới dễ dàng hạnh phúc ?”, hay phải khác? Nhưng phải khác như thế nào mới có hạnh phúc đây?
Bởi hạnh phúc chính là câu hỏi lớn nhất của loài người từ khi chính thức thành người, một câu hỏi day dứt hàng nghìn, hàng vạn năm qua, được trả lời bằng hàng nghìn, hàng vạn bài thơ hay bản nhạc, nhưng câu hỏi mãi còn ở phía trước. Nhà thơ đặt cho ta câu hỏi ấy từ góc độ một người phụ nữ bình thường nhưng không hề bình thường, một người phụ nữ làm thơ, một-người-đàn-bà-thơ, không chỉ khát khao mà còn tự biết giá trị của mình, không chỉ khiêm nhường mà còn kiêu hãnh. Nhưng không hề “làm giá” hay “treo giá”, mà thật sự tuyệt vọng. Tuyệt vọng là vô giá. Thơ Mỹ Dạ kêu gọi đồng cảm từ những bế tắc, từ những “câu hỏi lớn không lời đáp”. (Huy Cận)
Hiểu một con người, quả là không dễ!
Nhưng, hơn bất cứ nghệ thuật nào, thơ mở cho ta những cánh cửa bất ngờ vào mê cung của tâm hồn, những cánh cửa mà nhiều khi chìa khoá đã bị mất:
 Nếu biển đau, mong chi người chia sẻ
 Vết thương kia xin trả lại ta nào
Sóng trắng xóa vỗ vào bờ nhè nhẹ:
– Ta mặn lắm rồi người không hiểu ta sao?
(Với biển)
Ðó là một cách “với biển” mà chỉ Mỹ Dạ có, nửa hồn hậu nửa điên khùng, nửa muốn sẻ chia mà nửa tuyệt vọng. Và đây là một “Cái tổ chim”:
Lặng im đến lạ lùng
Từng cọng rơm, cọng cỏ
Lặng im như run lên
Cái tổ chim bé nhỏ
Sự mỏng manh luôn được nhắc tới, nhấn lại nhiều lần trong thơ chị, nó vừa như một cảm nhận vừa như một cảnh báo: không chỉ một tổ chim, không chỉ một con chim non, mà cả con người, cả tình yêu, cả hạnh phúc nhiều khi cũng rất mong manh. Nó nhắc nhở con người phải biết nâng niu, gìn giữ và khẽ nhẹ với nó. Ðó là một cảm giác mà người phụ nữ, nhất là người phụ nữ làm thơ vẫn thường trực có, nó trĩu nặng ở ngay lúc con người thường lơ đãng bỏ qua, nó nhắc nhớ ngay khi ta hay quên lãng:
 Con ơi mẹ nhìn con ngủ
 Biết thời con gái kề bên
 Rồi mai phút nào cay cực
 Mẹ có còn mà gọi tên
(Một thời con gái)
Vì sao khi ngắm nhìn đứa con gái “chớm vào thời thiếu nữ” của mình, người mẹ lại nghĩ ngay tới ngày mình không còn nữa trên đời, gặp cay cực con gái mình biết gọi ai? Nỗi lo xa ấy thật thà tới mức khiến ta phải cảm động. Tình mẹ thương con quả là vô cùng, và quả rất khó lường.
Một “người đàn bà thơ” lại không hề là một người tự tin quá mức trong thơ cũng như trong đời. Ðã nhiều hơn một lần chị nói về sự dễ vỡ của những câu thơ:
“Bây giờ ta như vỏ ốc/ Trống rỗng hết bao điều quên nhớ/ Lơ lửng cả những câu thơ dễ vỡ” (Trước Nha Trang)
Sự tự tin nào cũng cần thiết, nhưng tự tin quá mức thì không cần thiết, nhất là trong thơ. Mỹ Dạ cảm được điều đó, như chị cảm được cái mong manh khó lường của cuộc đời. Cảm được quá mức cái nhiều người cảm, ấy là nhà thơ. Thấy được những giấc mơ ít người khác thấy, đó là nhà thơ. Tôi còn nhớ, sau ngày mạ (mẹ) Mỹ Dạ – người mẹ cay cực mà chị yêu thương hơn tất thảy – mất, Mỹ Dạ đã kể về những giấc mơ của mình, rằng mình đã gặp mẹ ra sao, mẹ đã nói những gì, và những dấu hiệu gì biểu hiện linh hồn mẹ mình vẫn quanh quẩn đâu đây… Có thể nhiều người khi nghe những chuyện ấy chưa tin, nhưng tôi thì tin. Tôi nghĩ, những giấc mơ lạ cũng là một đặc ân mà trời phú cho người làm thơ. Nhà thơ không hơn người khác được cái gì, thì họ có thể hơn về những giấc mơ, chẳng hạn. Những giấc mơ an ủi họ rất nhiều, dù khi tỉnh giấc, nỗi buồn trĩu nặng thêm. Khi chúng ta sống quá tỉnh trên đời, thì giấc mơ giúp ta cân bằng được tâm trí, điều hòa được mơ và tỉnh. Nó giúp ta tin rằng, ngoài thế giới này, ngoài cuộc đời này mà ta đang sống còn nhiều thế giới khác, nhiều cuộc đời khác mà có thể ta sẽ sống, trong những hình thái khác.
Mỹ Dạ là nhà thơ nhạy cảm. Sự nhạy cảm có khi quá lên thành linh cảm. Với nhà thơ, đó là tài sản trời cho, chứ không cố mà được. “Biết gió thổi mang dấu chân người bay đi”  là một câu thơ bình dị nhưng đầy linh cảm. Những dấu vết ta để lại trên đời, là những câu thơ, cũng có thể được (hay bị) gió mang đi một lúc nào đó. Nhưng có lẽ nó không hoàn toàn vô ích. Vậy thì hãy cứ trắng trong, hồn nhiên, vô ngại, như bài thơ “Trắng trong” này:
Ðôi làn môi con
Nghiêng về vú mẹ
Như cây lúa nhỏ
Nghiêng về phù sa
Như hương hoa thơm
Nghiêng về ngọn gió
Ðôi làn môi con
Ngậm đầu vú mẹ
 Như búp hoa huệ
 Ngậm tia nắng trời
Sữa mẹ trắng trong
Con ơi hãy uống
Rồi mai khôn lớn
Con ơi hãy nghĩ
Những điều trắng trong”
Cứ trắng trong, dù có thể trắng tay, đó là lời hứa trong lặng lẽ của nhà thơ. Cứ trắng trong, dù thế nào. Vậy thì trái tim ơi, hãy cứ trắng trong cày lên, đớn đau và hạnh phúc.
2/8/2021
Thanh Thảo
Theo https://vanhocsaigon.com/

Những thứ trong suốt, những người hư ảo và những câu mờ đục

Những thứ trong suốt, những người
hư ảo và những câu mờ đục

Lúc này vì dịch bệnh nên tôi có thời gian xem lại tranh của những họa sĩ mình yêu thích, đồng thời cũng quan tâm đến hội họa của Việt Nam trong thời đại tưởng chừng như người ta đang sống nhanh và chết gấp như thế này. Cũng tình cờ hôm nay Facebook nhắc lại kỷ niệm là đúng vào ngày này năm ngoái, tôi được dịch giả Thiên Lương tặng cho cuốn tiểu thuyết “Những thứ trong suốt” của Vladimir Nabokov do Công ty ANDI và NXB Văn học ấn hành. Tất nhiên anh Thiên Lương là người dịch. Có lẽ vì cái bóng quá lớn của bản dịch tác phẩm “Lolita” đình đám của Nabokov, khiến cho người ta khi nói về dịch giả Thiên Lương, hầu như chỉ nói nhiều về chuyện anh dịch “Lolita”. Người ta quên rằng anh đã dịch khá nhiều về Nabokov, gồm 51 truyện ngắn in trong ba tập “Mỹ nhân Nga”, “Thanh âm”, “Mây, hồ, tháp” và 5 tiểu thuyết của Nabokov là “Lolita”, “Pnin”, “Mashenka”, “Phòng thủ Luzhin”, “Những thứ trong suốt”.
Năm ngoái khi nhận sách tặng tôi đã viết một bài về tác phẩm “Những thứ trong suốt”, nhưng rồi lại không đăng ở đâu, vì tôi muốn đọc hết những tác phẩm của Nabokov để có một cái nhìn mang tính tổng thể hơn về một nhà văn nổi tiếng mà giới nghiên cứu văn học gọi là “nhà văn nhân sư”. Gọi Nabokov là “nhà văn nhân sư” bởi vì mỗi tác phẩm của ông đều là những câu đố bí hiểm mà khó ai có thể giải được và nếu có lời giải thì thường lại nảy ra những tranh cãi xung quanh lời giải ấy. Theo quan điểm của lý thuyết phản hồi của độc giả, có lẽ người đọc tác phẩm của Nabokov hẳn phải là người đọc tinh hoa, bởi tác phẩm của ông khá kén người đọc.
Nhưng trong thời gian này Sài Gòn đang thực hiện giãn cách xã hội và Hà Nội cùng nhiều tỉnh thành khác cũng thế. Tôi bị trói chân ở nhà, ngày ngày nhìn bầu trời xanh qua khung cửa sổ và thỉnh thoảng đi dạo dưới sân cao ốc nơi tôi sống. Sáng nay tôi ngồi ở ghế đá ngắm bầu trời quá xanh, mây trắng quá đẹp và không khí quá tinh khiết, bỗng nhớ đến cuốn tiểu thuyết “Những thứ trong suốt” của Nabokov. Thật ra mọi thứ đều rất đẹp, chỉ có những con người đang mờ đục dần vì nỗi lo cơm áo gạo tiền, vì dịch bệnh, vì những dục vọng thẳm sâu trong tâm hồn họ và vì đủ thứ mà chính họ cũng nhiều khi chẳng thể hiểu nổi.
Tôi nhớ lại những ấn tượng của tôi về tác phẩm “Những thứ trong suốt”. Có lẽ nếu ai hỏi tôi nên đọc Nabokov như thế nào, tôi sẽ khuyên họ nên đọc truyện ngắn của ông trước, sau đó sẽ đọc lần lượt các tiểu thuyết và cố gắng đọc theo thứ tự mà ông cho ra mắt công chúng. Lý do đơn giản là đọc như vậy sẽ dễ hiểu tính chất siêu liên kết và tính liên văn bản trong tác phẩm của Nabokov. Chẳng hạn với tác phẩm “Những thứ trong suốt”, ai chưa từng đọc tác phẩm “Lolita” sẽ không cảm nhận được hết cái hay và tính liên văn bản được Nabokov chuyển tải trong lời kể, chi tiết và tình tiết.
Vậy khi đọc tiểu thuyết “Những thứ trong suốt”, tôi có những ấn tượng gì? Tôi không muốn nói quá nhiều về nội dung của tác phẩm này, bởi lẽ tôi hy vọng độc giả sẽ tìm đọc toàn văn tác phẩm, thay vì dựa vào một hay nhiều bài bình luận sách. Tác phẩm nói về những lát cắt cuộc đời của một nhân vật có thể tạm gọi là nhân vật chính: Hugh Person. Y đã sống, đã làm việc, đã yêu, đã giết người và đã chết. Cốt truyện chủ yếu xoay quanh nhân vật này với những tuyến nhân vật phụ.
ĐIỂM NHÌN TỪ PHÍA TÁC GIẢ: CHÂN THỰC HAY LÀ MỜ ẢO?
Cuốn tiểu thuyết “Những thứ trong suốt” có thể gây sốc cho ai không quen với lối viết của Nabokov. Còn những ai đã quen với “Tiểu thuyết Mới” (Nouveau roman), một trào lưu viết và phê bình văn học ở Pháp khoảng từ thập niên 50 đến thập niên 70 của thế kỷ trước, và nếu ai cũng đã quen với lối viết hậu hiện đại thì họ sẽ dễ tiếp nhận tác phẩm này của ông. Mở đầu tác phẩm là câu: “Đây là nhân vật tôi cần. Chào, nhân vật! Không nghe thấy tôi” (trang 11). Có thể hiểu đây là lời của người kể chuyện hoặc là lời của tác giả. Tôi cho rằng khi viết tác phẩm này, Nabokov một mặt vẫn giữ lối viết “nhân sư” của mình, đồng thời thử tách mình ra khỏi vai người kể chuyện truyền thống. Ông viết: “Tôi sẽ không làm phiền y” (trang 11). Điểm nhìn có tính gián cách như vậy tạo được sự khách quan. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Nabokov còn được mệnh danh là nhà khoa học giữa các nhà văn. Có vẻ như khi sáng tác, ông đã tính toán, cân nhắc từng câu chữ sử dụng để cho vẻ đẹp của văn chương hiện lên toàn vẹn nhất, tinh tế nhất. Cũng từ điểm nhìn này, nhân vật chính Hugh Person được phân tích tỉ mỉ bằng thứ ngôn ngữ sắc lạnh như lưỡi dao phẫu thuật lạnh lùng, mổ xẻ từng sự – thay – đổi – không – cách – nào – hiểu – nổi – nhưng – thật – ra – lại – phù – hợp trong tâm lý anh ta. Nabokov ném nhân vật ra xa mình, nhưng thật ra là để tạo khoảng cách cho chính ông và độc giả có dịp nhìn lại những nhân vật mà ông sáng tạo. Có những điều chúng ta cứ nghĩ là nhìn gần thì sẽ rõ và cụ thể, song dường như ít ai hiểu được nhìn xa cũng là một điểm nhìn thú vị, cho chúng ta một tầm mắt bao quát hơn, dễ đánh giá hơn. Ở đây tôi lại liên tưởng đến hình thức kịch gián cách của nhà viết kịch người Đức Bertolt Brecht (1898 – 1956) với phương châm “Sân khấu tự sự không trình bày sự việc mà là bình luận sự việc”. Tất nhiên đối với Nabokov, ông vừa trình bày sự việc nhưng đồng thời cũng bình luận sự việc trong những tác phẩm của mình. Nabokov đã cố gắng biến mình thành tác giả hư ảo trong mắt độc giả, nhưng lối viết văn nhân sư của ông vẫn được giữ nguyên. Ông khẳng định: “Sự can thiệp trực tiếp vào đời nhân vật không nằm trong phạm vi hoạt động của chúng tôi” (trang 138). Nếu có độc giả nào đọc hết cuốn tiểu thuyết này vẫn không thể hiểu một chút nào, Nabokov có ngay một lời khuyên như tát vào mặt cho độc giả ở cuối tác phẩm: “Một việc nữa mà ta không phải làm là giải thích sự không thể giải thích” (trang 139). Vậy thì chúng ta, những độc giả hãy đành phải cố gắng để hiểu lối viết văn của ông.
PERSON LÀ NGƯỜI HAY LÀ NHÂN VẬT? LIÊN VĂN BẢN NHƯ LÀ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT
Tên nhân vật chính là Hugh Person “(bị một vài người phát âm là Parson” và sửa lại thành “Peterson”)” (trang 13). Đặt cho nhân vật Hugh cái họ là Person (con người) có phải là Nabokov ẩn ý nhắc đến vở kịch “Chờ Godot”. Với độc giả bình thường có thể họ không biết đến vở kịch phi lý “Chờ Godot” nổi tiếng của nhà viết kịch Ireland Samuel Becket (1906 – 1989), một “Dubliner” – tên một tác phẩm nổi tiếng của một nhà văn và cũng là một Dubliner – James Joyce (1882 – 1941). “Chờ Godot” chỉ có 2 nhân vật chính Estragon và Vladimir thất nghiệp tìm mọi cách giết thì giờ, đối thoại với nhau trong khi chờ đợi một người được gọi là Godot đến với họ. Nhưng vở kịch kết thúc mà Godot mãi không đến. Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng Godot chính là God (Thượng đế/Chúa). Khi mà con người chờ đợi Thượng đế/Chúa nhưng sự chờ đợi đó mãi không có kết quả, thế thì sự tồn tại của con người và ngay cả Thượng đế/Chúa có phải là sự tồn tại phi lý không?
Liên văn bản (intertextuality) là một thủ pháp được nói đến nhiều và là một trong những thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất, nhưng đồng thời cũng là một trong những thuật ngữ khó định nghĩa nhất trong những lý thuyết văn học thịnh hành từ nửa sau thế kỷ XX cho đến ngày nay. Julia Kristeva sử dụng thuật ngữ lần đầu tiên trong công trình “Bakhtin, ngôn từ, đối thoại, tiểu thuyết” (1967) của bà. Sau đó một loạt các nhà hậu cấu trúc luận, giải cấu trúc luận, hậu hiện đại sử dụng. Có thể tạm hiểu đơn giản liên văn bản là sự tương tác giữa các văn bản. Có định nghĩa của Roland Barthes như sau: “Mọi văn bản đều là liên văn bản đối với một văn bản khác, nhưng không nên hiểu tính liên văn bản này theo kiểu là văn bản có một nguồn gốc nào đó; mọi sự tìm kiếm “cội nguồn” và “ảnh hưởng” là phù hợp với huyền thoại về quan hệ huyết thống của tác phẩm, văn bản thì lại được tạo nên từ những trích đoạn vô danh, không nắm bắt được nhưng đồng thời lại đã từng được đọc – những trích đoạn không để trong ngoặc kép” (Ngân Xuyên dịch – Roland Barthes: “Tuyển tập các công trình. Ký hiệu học. Thi pháp học”. M, 1989, tr. 418.)
Chúng ta thấy nếu Godot là một nhân vật không bao giờ đến, thì Hugh Person là một nhân vật có đời sống, có tình cảm yêu đương, có tội ác hay là sự ngộ sát, có những mối quan hệ. Tóm lại, đó là một nhân vật bằng xương bằng thịt – một con người. Nabokov muốn thông qua nhân vật này để nói gì? Có phải ông muốn nói: Con người là như thế đấy, có tốt đẹp, có xấu xa, có ghen tỵ, có oằn mình vì công việc, có những phút giây điên khùng, có những điều muốn làm nhưng bất lực, có những nỗi buồn, sự trầm cảm… nhưng đó mới là một con người thực sự, chứ không phải như một Thượng đế/Chúa hư ảo mãi mãi không bao giờ xuất hiện.
Tác phẩm “Những thứ trong suốt” dày đặc những liên văn bản. Mít-xtơ R. ra sức tán tỉnh cô con gái riêng  Julia Moore của bà vợ Marion của ông ta. Christian Pines, một tay chơi trẻ tuổi lại là tình nhân của cả cô con gái lẫn bà vợ. Những chi tiết này khiến chúng ta nghĩ ngay đến tiểu thuyết “Lolita” của Nabokov. Những giấc mơ vô nghĩa được nói đến nhiều lần, khiến cho độc giả nghĩ là Nabokov đang giễu nhại nhà phân tâm học Sigmund Freud. Nghe nói lúc sinh thời Nabokov không hề ưa Freud. Cuối chương 25 của tác phẩm, Nabokov lại nhắc đến chi tiết “Quý bà và con chó nhỏ” làm cho độc giả nhớ đến truyện ngắn kinh điển “Người đàn bà và con chó nhỏ” của nhà văn Nga Anton Chekhov (1860 – 1904) và “bệnh viện tâm thần” giống như truyện ngắn “Phòng số 6” cũng của Chekhov. Là người không ngần ngại sử dụng thủ pháp liên văn bản, Nabokov còn gia công cho thủ pháp ấy bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, với một văn phong độc đáo chỉ riêng ông có. Có vẻ như nhà văn đang vui sướng làm xiếc với ngôn ngữ khi viết tác phẩm “Những thứ trong suốt” và ngôn ngữ của ông đẫm màu sắc của hội họa
SỰ TINH TẾ VÀ HƯ ẢO CỦA MONET CÙNG VỚI SỰ SẮP ĐẶT TRỪU TƯỢNG KIỂU CÉZANE.
Dịch giả Thiên Lương có viết trong “Lời người dịch” là tác phẩm “Những thứ trong suốt” làm gợi nhớ đến danh họa Pháp Paul Cézane (1839 – 1906) bởi tính trừu tượng, hư ảo của nó. Còn tôi, tôi lại cảm thấy tác phẩm “Những thứ trong suốt” nếu phải dùng ngôn ngữ của hội họa để miêu tả thì nó là sự pha trộn giữa hai danh họa Pháp là Claude Monet (1840 – 1926) và Paul Cézane. Tác phẩm “Những thứ trong suốt” vừa có sự bảng lảng sương mù hư ảo như trong tranh của Monet, vừa có sự soi chiếu màu sắc tinh tế như Monet đã từng làm với những bức tranh vẽ về những người phụ nữ thân thuộc của ông. Tác phẩm cũng phảng phất những sắc màu nét vẽ của Paul Cézane với những mảng đời nhân vật được xếp đặt chồng lắp, lộn xộn, không theo một quy tắc nào, đầy tính trừu tượng nhưng mang đậm dấu ấn nghệ thuật. Nhân vật cô gái Armande được miêu tả bằng một ngôn ngữ đầy sắc màu với lối vẽ tranh chân dung. “Ôi, nàng đẹp và có lẽ còn tuyệt đẹp hơn nếu môi nàng đầy hơn. Nàng có mái tóc huyền, mái tóc vàng óc, da màu mật ong. Hai lúm đồng tiền kiểu lưỡi liềm chạy xuống đôi má rám nắng của nàng ở hai bên cái miệng buồn rầu. Nàng mặc vét đen ngoài áo cánh có diềm xếp nếp. Một cuốn sách nằm trong lòng nàng dưới đôi bàn tay đeo găng đen. Y nghĩ, y nhận ra được cuốn sách bìa mềm – lửa – và – muội ấy” (trang 41 – 42). Nhân vật mít-xtơ R. được miêu tả bằng ngôn ngữ tương tự: “Mít-xtơ R. đi giày Wallabee sắc ca cao mượt như nhung, sơ mi vàng chanh với khăn quàng cổ màu hoa tử đinh hương và bộ vét xám màu trông như không có nét đặc biệt nào cả” (trang 48). “Ông trùm R. có nét mặt thô, nước da vàng bủng, cái mũi lổn nhổn với các lỗ chân lông nở rộng, lông mày tua tủa hiếu chiến, cái nhìn chòng chọc luôn chính xác, cái miệng chó bun đầy răng xấu” (trang 49). Bản thân nhân vật Hugh Person cũng có cái nhìn về cảnh vật với con mắt của một họa sĩ: “Dùng mực và màu nước, tôi có thể vẽ phong cảnh hồ trong mờ vô song với mọi ngọn núi thiên đường soi bóng tại đó, nhưng tôi không thể vẽ thuyền hoặc cầu hoặc bóng hình hoảng loạn của con người trong các cửa sổ rực sáng của một biệt thự gần Plam.”
Những trang viết trong tiểu thuyết “Những thứ trong suốt” lại rất dày đặc sắc màu, dường như có vẻ ngược lại với chính tên tác phẩm. Tôi nghĩ đến tên một bài thơ nổi tiếng của Nabokov “Em hãy giản đơn, hãy trong suốt hơn”. Có phải vì nàng Armande quá sắc màu, từ nhan sắc đến cuộc sống mà khiến cho nàng phải chết? Có phải khi người ta trong suốt hơn, tưởng là đẹp đẽ hơn, nhưng hóa ra sự trong suốt ấy lại đi liền với sự hư ảo. Hư ảo như cái chết của nàng Armande, hư ảo như cái chết của chính Hugh Person? Những cái chết hư ảo ấy, mơ hồ ấy rồi cuối cùng cũng trở nên mờ đục, khuất lấp dần trong tâm trí những nhân vật còn tồn tại, chỉ còn lại một câu triết lý của một bệnh nhân tâm thần viết cho nhân vật Hugh Person: “Nói chung cho rằng nếu con người đã xác minh được sự thật về sự sống sót sau cái chết, y cũng sẽ giải được, hoặc trên đường giải được, bí ẩn về sự tồn tại. Than ôi, hai vấn đề này không nhất thiết lấn lên nhau hoặc trộn lẫn vào nhau” (trang 140).
Vậy thì chúng ta, những độc giả, chúng ta muốn một cuộc đời như thế nào? Trong suốt? Hư ảo? Sắc màu? Hay mờ đục?
Khi dịch tiểu thuyết “Những thứ trong suốt”, có lẽ dịch giả Thiên Lương đã có kinh nghiệm với văn phong của nhà văn Nabokov. Qua những trao đổi trực tiếp với anh và qua nhiều bài phỏng vấn, tôi được biết dịch giả Thiên Lương có quan niệm cao nhất về một bản dịch tốt là phải dịch đúng. Dịch giả Thiên Lương cũng quan niệm rằng dịch giả phải có nhiều điểm tương đồng với tác giả, ví dụ như giới tính, nhân sinh quan, độ tuổi, trình độ văn hóa… Trên phương diện chủ quan của cá nhân tôi, tôi đồng tình với quan điểm này của dịch giả Thiên Lương. Nhưng tôi muốn nói thêm một điều với dịch giả: Nghiêm Phục (1853 – 1921) là một dịch giả nổi tiếng của Trung Quốc, có công dịch nhiều sách phương Tây. Ông đưa ra quan niệm dịch thuật phải đạt được tiêu chuẩn là tín, đạt, nhã. Tín ở đây là dịch đúng, dịch chính xác so với văn bản gốc. Đạt là dịch phải sao cho độc giả hiểu được, lĩnh hội được nội dung của văn bản tác phẩm. Nhã là khi chuyển sang ngôn ngữ dịch, thì ngôn ngữ ấy cũng phải đảm bảo được vẻ đẹp ngôn từ. Vậy với dịch giả Thiên Lương, có phải chăng điều khó nhất khi dịch các tác phẩm của Nabokov là phải đảm bảo được cả sự trong suốt, sự hư ảo, sắc màu và sự mờ đục trong ngôn ngữ viết của nhà văn?.
4/8/2021
Hà Thanh Vân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Trần Mai Châu và giấc mộng Dạ Đài

Trần Mai Châu
và giấc mộng Dạ Đài

Nhà thơ, nhà giáo, dịch giả Trần Mai Châu, sinh năm 1924, thành viên trong nhóm Dạ Đài (1946) ở Hà Nội cùng với Trần Dần và Vũ Hoàng Địch, cựu hiệu trưởng Trường Trung học Lý Thường Kiệt, Gia Định, vừa từ trần lúc 8h20 sáng ngày 04.8.2021 tại Cư xá Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh, hưởng thượng thọ 98 tuổi. Chúng tôi đăng lại bài này của GS-TS Huỳnh Như Phương để tưởng niệm nhà văn, nhà giáo lão thành…
Nếu văn chương là bản mệnh đeo đuổi một con người, thì nó sẽ gõ cửa số phận không chỉ một lần, bởi nó tin rằng người được gọi sẽ góp phần làm nên công tích. Trần Mai Châu là một người được gọi dù con đường văn học của ông không ít gian nan, trắc trở.
Đầu thai nhằm lúc sao mờ
Nguyên quán Hà Nội, Trần Mai Châu sinh năm 1924 tại Sơn La, nơi thân sinh ông lên nhận nhiệm sở sau khi tốt nghiệp y sĩ Đông dương tại Trường Cao đẳng Y Dược Hà Nội. Trong những năm đi học, Trần Mai Châu bắt đầu làm thơ. Trong hơn 200 bài thơ hoà vào mạch thơ lãng mạn đương thời mà tác giả đã sẵn sàng quên đi không nuối tiếc, vẫn còn những vần thơ giữ lại cảm hứng và tình điệu tuổi trẻ, chẳng hạn bài Em đến mùa xanh được ghi lại nguyên văn dưới đây:
Em đến mùa xanh lạnh đã lâu
Trang thơ chưa đẹp giấc mơ đầu
Đêm hoàng lương ấy khôn chung mộng
Ba bốn năm trời lỗi hẹn nhau.
Ngàn thương em đến rồi sao
Vầng trán xuân nào băng tuyết
Ngàn thương thức tỉnh rồi sao
Sao bỗng chào thưa thân thiết.
Em ơi chuyện cũ vui buồn
Đừng có bao giờ kể lại
Mây vàng đã bỏ lầu son
Nước cũng qua cầu trôi mãi.
Sương xuống đầy song gió thổi
Trăng tà về sáng ngàn dâu
Có sáng đời anh tăm tối
Từ khi em bước chân vào?
Mỏi nhớ mòn thương chẳng trách nhau
Không dưng em đẹp đến u sầu
Hoàng lương tỉnh giấc thiên thu lạnh
Biền biệt mùa xanh đôi mắt nâu.
Bài thơ này được sáng tác năm 1944, vào lúc hậu kỳ Thơ Mới, cho nên tác giả cũng dự cảm một sự thay đổi nào đó cần thiết cho thơ ca. Như một run rủi của số phận, trong thời gian đó, Trần Mai Châu làm quen với Trần Dần, Vũ Hoàng Địch và cả ba cùng hợp tác xuất bản một tờ báo văn học. Tập thơ Một mùa địa ngục (Une saison en enfer) của A. Rimbaud gợi cảm hứng cho họ đặt tên tờ báo là Dạ Đài, phát hành đúng một tháng trước ngày Toàn quốc kháng chiến. Tờ báo mỏng chỉ có bảy trang, ghi rõ ở trang bìa:
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ – NĂM THỨ HAI
DẠ – ĐÀI
tuần báo văn chương ra ngày thứ bảy
Số 1                 Chủ bút:                    Vũ Hoàng Địch
16-11-46             Chủ nhiệm, Quản lý: Trần Mai Châu
Báo quán: 30, Bùi Quang Trinh, Hà Nội
Điều thú vị là chính ông Lưu Văn Lợi, lúc đó làm giám đốc Nha Báo chí của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa mới thành lập, đã ký giấy phép cho xuất bản Dạ Đài.
Nằm ở trang bìa, chiếm gần nửa số trang báo là Bản tuyên ngôn tượng trưng mà ba người cùng ký tên, do Trần Dần chấp bút với sự góp ý của Trần Mai Châu và Vũ Hoàng Địch. Có thể nói những tích tụ của yếu tố tượng trưng trong thơ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đoàn Phú Tứ… đã chuẩn bị cho sự xuất hiện đầy tự tin này, như lời tự giới thiệu ngay từ đầu bản tuyên ngôn:
“Chúng tôi – một đoàn thất thổ – đã đầu thai nhằm lúc sao mờ.
Cho nên buổi chúng tôi xuất hiện, chúng tôi để cho tàn suy giấc mơ của những người thuở trước.
Sụp đổ: lâu đài phong nguyệt; và mai một: ý tứ những thi nhân mò ánh trăng mà thác.
Chúng tôi không còn khóc – không còn muốn khóc – vì người ta đã khóc mãi ái tình, công danh và thế sự.
Chúng tôi không còn nhìn mây – không còn muốn nhìn mây – vì người ta đã nhìn mãi mây chiều cùng nắng sớm.
Chúng tôi đã gào thét những đêm thâu, đã rên la những ngày dài dằng dặc. Chúng tôi đã nhìn lên Tinh đẩu, đã nhìn xuống Thế nhân. Chúng tôi đã về giữa non sâu để trở lại những bình nguyên hoang lạnh. Chúng tôi đã sống, sống hết cả những hình thức dương trần, đã đau khổ hết cả những mối sầu vui nhân loại”.
Bản tuyên ngôn đầy chất thơ đã không ngần ngại đối thoại và tranh luận một cách tinh tế với quan niệm thơ lãng mạn thịnh hành suốt hai thập niên trước đó:
“Vả lại, làm sao người ta cứ lăn lộn mãi trong mối thất tình eo hẹp? Làm sao người ta cứ khóc mãi, than mãi, rung động mãi theo những con đường rung động cũ? Làm sao người ta cứ nhìn mãi vũ trụ ở ba chiều và thu hẹp tâm tư ở bảy giây tình cảm? Chúng ta có còn nghèo nàn thế nữa đâu? Chúng ta đã mang nặng: – những thế hệ tàn vong – những triều đình đổ nát – trăm nghìn lớp phế hưng. Chúng ta đã thâm cảm: – những trời sao vằng vặc – những sự vật điêu tàn – sự mòn mỏi của ngày đêm liên tục. Biết bao nhiêu chuyện tang điền đã xao động tấm hình hài nhân thế! Biết bao nhiêu thế kỷ đã trầm tư! Biết bao nhiêu núi lở non tàn đã bắt buộc chúng ta phải sầu thương, chúng ta phải trở lại chúng ta mà tư tưởng! Chúng ta đã suy nghĩ nhiều rồi, chúng ta đã suy nghĩ quá nhiều rồi ở một Con đường Tuyệt vọng”.
Không bằng lòng với con đường mà thơ ca lãng mạn đã đi, những người tự khẳng định là thi sĩ tượng trưng ý thức về sứ mệnh của mình qua những lời hứa hẹn:
“Chúng tôi sẽ vén cao bức màn nhân ảnh, viết lên: – quỹ đạo của trăng sao – đường về trên cõi chết. Chúng tôi đã sống, lấn cả sang bờ bến u huyền, cho nên buổi chúng tôi quay về thế tục, chúng tôi nhìn hoa lá với những cặp mắt mờ hoen. Nhỡn tiền bỗng thấy thay đổi tất cả những hình sông, vóc núi. Chúng tôi lạ: lạ từng đám mây bay, từng bóng người qua lại – Chúng tôi lạ từ sắc nắng bình minh đến mầu chiều vàng vọt. Chúng tôi lạ, lạ tất cả. Và chúng tôi đã thấy những cái gì người ta chẳng thấy. Chúng tôi đã thấy muôn nghìn thực tại ẩn sau cái thực tại cảm thâu bằng những năng khiếu nông gần. – Chúng tôi đã thấy: thế giới bên kia, những thế giới bên kia lẩn ngay trong đám bụi dương trần một giây phút có thể bừng lên như Thực Cảnh”.
Qua một đoạn văn như trên đây, ta có thể thấy những người viết tuyên ngôn muốn xa rời chủ nghĩa lãng mạn thế kỷ 19 để đến với chủ nghĩa hiện đại thế kỷ 20, thâu tóm những quan niệm mới mẻ nhất lúc đương thời: vai trò của trực giác và biểu tượng, nghệ thuật như là phương thức lạ hoá, sự bừng ngộ về cõi siêu thực như là sự thức nhận sâu sắc hơn về cõi thực.
Khi xuất hiện vào đầu thập niên 30 thế kỷ trước, thơ lãng mạn Việt Nam cũng đã có chỗ dựa ở những phát ngôn lý thuyết của Lưu Trọng Lư, Phan Khôi, Nguyễn Thị Kiêm..; nhưng yếu tố quyết định chiến thắng của nó chính là những bài thơ giàu năng lượng nghệ thuật và sức lan toả. Giờ đây cũng vậy, thơ tượng trưng Việt Nam muốn thay thế thơ lãng mạn thì không thể chỉ bằng tuyên ngôn thuần lý mà chủ yếu phải chinh phục bằng chính sáng tác. Điều này cũng giống như Manifeste du Symbolisme của Jean Moréas không thể thay cho sáng tác của Baudelaire, Rimbaud, Verlaine, Mallarmé…
Hiểu vậy cho nên ngay sau Bản tuyên ngôn tượng trưng, Dạ Đài đã in sáu bài thơ của Trần Dần, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu, Nguyễn Văn Tậu (một bút danh của chính Trần Mai Châu) như là những lời hô ứng cho bản tuyên ngôn. Chỉ trong vòng chưa đầy hai năm, cảm hứng lãng mạn của thi nhân đã chuyển đổi thành cảm hứng tượng trưng pha màu siêu thực, như có thể thấy qua bài thơ Theo bóng tử thần của Trần Mai Châu:
Thế kỷ ta rung ánh lửa thần
Hoa vàng nghiêng mặc áo Siêu nhân
Trăng ơi! Trở lại đêm tàn sát
Này ánh tà dương khóc Bạo Tần
Em có buồn không, giờ tử nạn
Ta cười ghi lại nét phù vân
Nửa đêm sao biếc về trong Mộ
Mừng cuộc hồi sinh hiện giữa trần…
Đọc bài thơ này, Lại Nguyên Ân cảm nhận rằng tác giả “về tiềm năng vốn hứa hẹn những bung phá theo hướng văn nghệ tiền phong”. Dạ Đài còn rao trước số tiếp theo sẽ tăng lên 12 trang, với những tiểu luận Hiệu triệu các nghệ sĩ của Trần Mai Châu, Toà án tượng trưng: cái nhầm Xuân Diệu của Trần Dần và sáng tác của những cây bút mới. Nhưng cuộc kháng chiến đã bùng nổ, mọi thể nghiệm nghệ thuật đều phải xếp lại. Trần Mai Châu cùng Trần Dần, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch… giã từ Hà Nội, giã từ giấc mộng văn chương thời tuổi trẻ.
Khối tình mang xuống… Dạ Đài chưa tan
Đằng sau ảo vọng của tuổi trẻ, Dạ Đài không giấu được một khối tình lớn với thơ ca. Dạ Đài, cái tên như vận vào số kiếp, là ngọn nến bùng lên cuối một thời thơ nhiều hứng khởi và bứt phá. Ngọn nến đó sớm tắt vì hoàn cảnh không cho phép “dung hợp được thực và hư bằng hình tượng”.
Thời kháng chiến, Trần Mai Châu lập gia đình và sống ở Thái Bình. Gánh nặng trách nhiệm với gia đình nhỏ buộc ông trở về Hà Nội năm 1952 và vào Nam năm 1954, để lại một người con trai ở miền Bắc. Trong khi đó, song thân và gia đình lớn của ông tham gia trọn hai cuộc kháng chiến cho đến ngày cả nhà đoàn tụ sau 1975.
Vào Sài Gòn, Trần Mai Châu ghi danh học Đại học Văn khoa, tốt nghiệp cử nhân Pháp văn năm 1962, ra trường dạy ngoại ngữ và có hơn muời năm làm hiệu trưởng Trường trung học tổng hợp Lý Thường Kiệt ở Hóc Môn, Gia Định. Sau năm 1975, ông chuyển về dạy học ở Trường trung học cơ sở Hà Huy Tập, Bình Thạnh, cho đến khi nghỉ hưu (mà không có lương hưu) vào tuổi lục tuần.
Với Trần Mai Châu, gần 40 năm, vì chiến tranh, vì nợ áo cơm, giấc mộng Dạ Đài chôn vùi trong quên lãng, những tuyên ngôn và sáng tác cũng nằm sâu trong ngăn kéo. Gặp lại những người bạn cũ thời Dạ Đài, Trần Mai Châu chắc cũng nhận ra văn chương đã khiến không ít người tơi tả. Nhưng có lẽ khát vọng thơ ca vẫn âm ỉ ở một góc nào đó của tâm hồn văn nhân, chỉ chờ dịp bùng cháy trở lại.
Trong những ngày hưu trí rảnh rỗi, Trần Mai Châu đã nhận lời dịch một số tiểu thuyết cho các nhà xuất bản ở An Giang và TP Hồ Chí Minh. Nhưng những tác phẩm không thôi ám ảnh tâm hồn ông lại là những bài thơ Pháp thế kỷ 19 mà ông thuộc làu từ thời đi học ở Hà Nội và Sài Gòn. Ông tin mình có thể chuyển ngữ thành công những bài thơ đó sang tiếng Việt. Có lần ông tâm sự với Phan Phú Yên, tức nhà thơ Phan Hoàng: “Tôi thấy người dịch thơ Pháp phải hết sức cố gắng để xứng đáng một phần nào với những tác giả nổi tiếng. Ta phải cung cấp cho độc giả những bài thơ thực sự là thơ Việt Nam và khi đọc mọi người không có cảm tưởng là đang đọc một bài thơ dịch […]. Những bài thơ mình dịch là những bài thơ hay nhất của một thi sĩ ngoại quốc nổi tiếng, nếu mình đưa ra những bản dịch tầm thường thì phản bội lại họ. Điều quan trọng nhất của một bản dịch là phải hay”[1].
Trả lời nhà phê bình Thuỵ Khuê trên đài RFI ngày 04-12-1999, Trần Mai Châu cũng nói rõ quan niệm của mình về dịch thơ: “Quan điểm dịch thơ của tôi là phải cố gắng dịch đúng và hay. Bài thơ dịch phải là một bài thơ Việt thực sự. Nhưng muốn vừa đúng vừa hay thì nhiều khi phải cân nhắc. […]. Đi vào cụ thể thì tôi thấy tình ý bài thơ đã có sẵn, vấn đề chỉ còn là kỹ thuật, là diễn đạt. Nhưng tình ý là tình ý của tác giả nguyên tác, nếu không thấy rung động thực sự vì những tình ý đó, không cảm thấy những tình ý đó cũng là tình ý của mình thì không diễn tả hay được”.
Nhờ tài nghệ của Trần Mai Châu, hồn thơ Pháp hoà điệu với tiếng Việt giản dị và tinh tế, qua những câu thơ năm chữ:
Nắng đã tắt từ lâu
Tôi ngồi bên cửa lớn
Nhìn chút ngày ngả muộn
Sáng ánh lửa cần lao.
(Hugo: Chiều, mùa gieo hạt)
hay những câu thơ tám chữ:
Đêm tăm tối nhưng vẫn còn leo lét
Ánh trăng mờ ở tận tít mù xa
Giữa trần thế một linh hồn thân thiết
Hiểu tình ta và sẽ trả lời ta.
(Lamartine: Thu)             
Trần Mai Châu đã dự cảm đúng về thành công của ông trên lĩnh vực dịch thơ. Cuốn Thơ Pháp thế kỷ 19 (NXB Trẻ, 1996) do ông tuyển dịch, lược khảo, bình chú đã được dư luận hồi đáp tích cực, được tặng thuởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1997 và nay đã in đến lần thứ ba. Có thể mượn lời của James Mc Gowan, người dịch Les Fleurs du Mal của Baudelaire sang tiếng Anh, để nói về những dịch giả thành công, trong đó có Trần Mai Châu: “Tôi hoạt động như một nhà thơ khi thực hiện những bản dịch của tôi, và như một nhà thơ, tôi hy vọng phục vụ cả Baudelaire lẫn người đọc hiện đại”. Dường như nhà thơ Trần Mai Châu thời Dạ Đài đã sống lại trong kích thước mới của những bản dịch này. Điều khiến ông đắc ý nhất là hầu hết những bài thơ dịch đó, nhờ nhạc điệu, đều có thể được ngâm lên chẳng khác nào những bài thơ Việt.
Việc tích lũy kinh nghiệm đọc thơ, làm thơ và dịch thơ dẫn đến nhu cầu bàn luận về thơ bằng ngôn ngữ chính luận. Ở tuổi ngoài 80, Trần Mai Châu biên soạn công trình Thơ – nhận định và thưởng thức[2]. như một sự đúc kết lý thuyết về thơ. Từ việc đi tìm đặc trưng của thơ, tác giả lý giải mối quan hệ giữa thơ và văn xuôi, thơ và nhạc, thơ và thi hứng, thơ và hình ảnh, tưởng tượng, thơ và tường thuật, mô tả. Cuốn sách trở thành một tài liệu thi học khi tác giả trình bày vừa cặn kẽ, vừa khúc chiết những hình thái tu từ của thơ và các thể thơ quen thuộc của dân tộc. Là người được đào tạo trong môi trường Tây học, tác giả tỏ ra rất am hiểu đặc trưng nghệ thuật và tiến trình thơ ca Pháp thế kỷ 19 – 20. Đọc cuốn sách này, ta còn hiểu được nhận định và chủ kiến của ông về một số nhà thơ hiện đại, về tác dụng của thơ cũng như về giá trị của một số bài thơ hay. Là một nhà biên khảo chừng mực và lão thực, Trần Mai Châu lắng nghe, ghi nhận và tiếp thu ý kiến của nhiều người thuộc nhiều thế hệ bàn về thơ. Chỉ tiếc là đôi khi ông trích dẫn hơi dài dòng một số ý kiến không thật tiêu biểu và sâu sắc.
Lại Nguyên Ân nhận xét xác đáng về Thơ – nhận định và thưởng thức của Trần Mai Châu: “Đây là câu chuyện của một người rất yêu thơ. Ông giãi bày tình yêu ấy bằng một sự hiểu biết được tích luỹ khá súc tích của mình về nó. Ông đã gắng trình bầy nó đưới các dạng tri thức, song người ta thấy chỗ mạnh nhất ở ông là sự trải nghiệm, là kinh nghiệm tiếp xúc với thơ của ông, với tư cách người thưởng thức thơ và người dịch thơ”. Lại Nguyên Ân cũng có lý khi cho rằng cuốn sách này “không thực sự là một chuyên luận, mà vẫn thuộc loại sách tập hợp, tức là sách được tổ hợp lại từ một số bài viết, mang một số nội dung khác nhau, tuy giữa chúng có sự gần gũi nào đó, nhưng không gắn bó hữu cơ với nhau”[3].
Thật ra, theo chúng tôi được biết, Trần Mai Châu có chủ định viết cuốn này như một chuyên khảo về thơ. Nhưng do điều kiện sức khoẻ và nhất là do cách viết thiên về “thưởng thức”, có tính nghệ sĩ, nên công trình của ông, “tuy có chia thành các chương, mục, song tính hệ thống của chúng khá lỏng lẻo, nhiều chỗ giống như những trang bút ký hay tuỳ bút về thơ”, như Trần Thanh Đạm đã chỉ ra và đi đến nhận xét thoả đáng: “Tóm lại, tôi cho rằng tập sách của Trần Mai Châu thuộc một thể loại mà các nhà phê bình thơ ở Việt Nam và Trung Quốc xưa nay từng viết, đó là thi thoại (nói chuyện về thơ)”[4].
Trong tinh thần đó, có thể nói Thơ – nhận định và thưởng thức là một công tích nữa của Trần Mai Châu, với tư cách một người làm văn học và một nhà giáo, đóng góp vào tủ sách những người yêu thơ ở một đất nước có truyền thống sáng tạo và bình luận thi ca.
Chú thích:
[1] Phan Phú Yên, “Đường một thuở trăng xanh”, Kinh Tế Nông Thôn cuối tuần, số 27, ngày 10-7-2004.
[2] NXB Văn Hoá Sài Gòn, 2008; NXB Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh tái bản, 2011.
[3] Lại Nguyên Ân: “Trần Mai Châu – duyên nợ với thơ”, Báo Thể Thao Văn Hoá, ngày 31-5-2008.
[4] Trần Thanh Đạm: “Những trang sách về thơ của nhà thơ, nhà giáo lão thành Trần Mai Châu”, Báo Giáo Dục TP. Hồ Chí Minh, ngày 11-8-2008. 
5/8/2021
Huỳnh Như Phương
Nguồn: Báo Văn Nghệ số 35&36, ngày 1.9.2012
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ngô Phan Lưu với lối viết độ không

Ngô Phan Lưu với lối viết độ không

Dù muốn dù không thì hình thức được lựa chọn là đối tượng của nhà văn. Vậy nhà văn Ngô Phan Lưu chọn hình thức nào để xác lập lối viết? Tôi không nói văn phong, vì văn phong tức là người sao thì văn vậy, là tâm tính bẩm sinh xuất phát từ hồn vía và thân thể, vấn đề ở đây là lối viết, tức có cả yếu tố tư tưởng, cái nhìn, suy tư và cả văn hóa nền, tức là ý thức xã hội và ý thức cá nhân được hòa trộn, điều này quyết định người viết có được xem là nhà văn hay không.
Trường hợp nhà văn Ngô Phan Lưu, một trong những “cây gộc” nhà văn – nông dân của miền Trung vào những năm gần đây là lối viết trở về, ông đã xóa hết những ảnh hưởng Tây học với mong muốn có lối viết trơn, lối viết hồn cốt của minh triết Việt. Nói thêm: Trước khi làm nông dân rồi nhà văn, ông là sinh viên triết nhiều năm. Ngô Phan Lưu sinh năm 1946 tại Phú Yên. Cho đến giờ này, ông đã xuất bản bốn tập truyện ngắn: Người không giăng câu Kiều, Cơm chiều, Xoa tay và cười, Con lươn chép miệng.
Thử khảo sát một số truyện của ông trong ý định không xâu chuỗi vì rằng sợ như vậy sẽ đánh mất nét độc đáo của từng truyện. Con lươn chép miệng là tên tập truyện (tôi chọn ngẫu nhiên) và cũng là tên của truyện ngắn đầu tiên trong tập. Riêng cái tiêu đề phần nào đã nói lên lựa chọn của ông, là cách nói dân dã, cách nghe dân dã, cách buồn dân dã và cách không buồn cũng của dân dã. Dường như sự nhấn mạnh “nhà văn nông dân” là một khế ước mà Ngô Phan Lưu muốn kí với cuộc đời. Đó là tín hiệu đầu tiên.
Trong truyện ngắn thay lời phi lộ của tập sách này, cái lựa chọn cục phân của thằng cu Phát cháu nội, “cục phân đã khô quắt lại, nhỏ xíu, mũi nhọn vươn cong lên trời”, để nỗi nhớ bám víu vào, tôi nghĩ tác giả không dùng cái cách “ăn cục nói hòn” quê mùa nhằm gây xúc động hay chủ ý kích thích tình cảm của mọi người, theo tôi nó ngầm dự báo một ý nghĩ, một tình trạng thay đổi, sẽ quay về trong cách viết, trong tình cảm con người, nhất là của người nông dân, cũng có thể gọi nôm na là “cách mạng”. Chắc chắn có ý nghĩa song song, nhưng tiếng lươn chép miệng ở đây là tiếng cười “dứt khoát không buồn”, nó vừa là cười chính sự lẩm cẩm bé mọn của mình vừa là cười người khác, cười mà không gây tổn hại, cười để thay đổi. Câu hỏi đặt ra: Tại sao có những điều thuộc về con người, văn bản văn chương lại chối bỏ, lại e ngại?! Tiếng cười tự nó không có ý nghĩa gì nhưng trong cuộc vận hành này nó lại có nghĩa. Một dự báo nữa từ tập truyện: Ngô Phan Lưu, một lối cười thoát khỏi các định chế, thoát khỏi các công thức, các khung, các sườn cũ, ông đã chọn lối nhếch mép thâm thúy như ban đầu, như nguồn, như muôn đời của người nông dân cùng khổ miền Trung.
Sang truyện ngắn “Giải thoát” thì cái ý nghĩ “cách mạng” lại tung tẩy sang một lãnh địa khác. Tôi không viết bài này nhằm phê bình văn bản, tôi muốn tham dự vào “cuộc chơi” cùng nhà văn Ngô Phan Lưu với cấu trúc sâu xa – trơn trắng của tác phẩm. Tôi có quyền như vậy vì nghĩ rằng người đọc không phải là người “tiêu thụ” tác phẩm mà là người “sản xuất” trên cái nền nhà văn đã viết nên. Mã hiệu đầu tiên mà chúng ta khảo sát là loại mã hiệu chú giải: “Lão Bốn Nham nay bảy mươi sáu, sống cùng vợ tại nhà số 6 hẻm 13 tổ 9 khu phố Bà Triệu”. Sao phải cụ thể, rõ ràng, chi li như vậy? Chính sự cố ý này đã tạo trong lòng người đọc một nghi vấn ngược lại, không gian bắt đầu lồi lõm, bí mật thứ nhất được gieo vào truyện là bí mật ẩn dụ về không gian. Cách thức này hơi mới một chút, hơi tinh một chút so với những “làng”, “thôn”, “chiếc hộp”, “trại”… nhằm ẩn dụ một bối cảnh khác được dùng nhiều trước đây, bởi vì trong tiếng Việt cứ nhấn nhá, dây cà dây muống một cách cố ý thì y như rằng người nghe sẽ có phản ứng nghi ngờ, nói vậy mà không phải vậy. Chiếc chìa khóa an toàn đã được tra vào ổ. Mã hiệu thứ hai khơi lộ là chiếc bình cắm hoa trên bàn thờ, tới đây thì chúng ta cứ ngỡ truyện như một câu chuyện bình dân dễ hiểu, nhưng hai lần nhà văn nhấn mạnh thủ phạm trong sự nhập nhằng giữa chuột và mèo thì cái nghĩa “dễ hiểu” trước đây đã bị bỏ rơi. Lần thứ nhất nghi ngờ chuột hay là mèo từ phía vợ Bốn Nham, lần thứ hai thì chính trong suy nghĩ của lão Bốn Nham: “Lúc ngồi co rút trông giống con mèo”. Và mập mờ về bản lai diện mục là “một con vật đa hình thể” làm cho người đọc bị dẫn đi theo hướng của nhà văn, hướng của “sương mù”, của thế giới khác. Xem như đối tượng thực muốn nói đến đã bắt đầu lộ diện ở phân đoạn thứ nhất. Phân đoạn thứ hai – đặt bẫy – làm rõ hơn về thủ phạm: “nghe được tiếng người”, “thù vặt”… chỉ là một bước bồi để rồi cố ý dẫn tới sự nhận diện đến bàng hoàng, “há hốc mồm” nhìn thủ phạm “ác độc đến ma quái” đang thản nhiên hiện ra. Sự đóng băng vì sợ, trốn chạy vì sợ là một thực trạng nhưng tại sao đến cuối truyện thì cả hai vợ chồng Bốn Nham đều hết sợ? Tìm săn – sợ hãi – tôn thờ là một quá trình chuyển biến, đảo lộn tâm lý đặc biệt, cường độ cảm xúc được đẩy lên cực mạnh, để đến khi tưởng là gỡ bỏ được dồn nén thì thật ra đó là lúc con người khác đi, làm cho bị khác đi, mất tự chủ. Phải chăng chính sự nhận diện cuối cùng mà nhà văn gọi là định thần đã làm cho họ không còn sợ hãi nữa? Không phải! Hai chữ “định thần” ở đây được hiểu theo nghĩa định thần – giả tạo, định thần – tự lừa mị. Hệ quả của sự bất lực là bệnh thần thánh hóa, hình ảnh vợ chồng Bốn Nham vái lia vái lịa là thực trạng đau đớn hơn rất nhiều thực trạng “co rúm” vì sợ hãi trước đây. Mã hiệu cuối cùng là loại mã hiệu tượng trưng đã phát huy được tác dụng và đương nhiên nó cũng thú nhận một sự thật về nguồn gốc vô thức của văn bản truyện ngắn này là bệnh sùng bái cái mạnh, cái ác trong mỗi con người chúng ta, cả tôi và cả bạn.
Văn bản cần khảo sát thứ ba là “Buổi sáng biến mất“, với truyện ngắn này ông được trao giải nhất báo Văn Nghệ 2007. Như ông tâm sự: Văn chương phải khảo sát những gì có thể xảy ra trên cái nền hiện thực đã xảy ra, nên việc đọc của tôi sự thực là khảo sát của những khảo sát.
Mô típ gieo ẩn dụ không gian được lặp lại, “Xóm ao”, nghe chừng cái liên văn bản ca dao “ta về ta tắm ao ta” chuẩn bị được lộn trái. Cái cách nói tưng tửng: “đội banh Nhà thương”, “gôn Tử thần” nhằm làm cân bằng cho những thổn thức trong căn nhà rã nát mà tác giả sẽ mở ra: “Đau đớn mà đòi sống, đúng là người ngu. Phải đòi chết cơ, như chú đã đòi. Có lẽ, cạnh những chân lý năm tháng dài hạn, còn có chân lý phút giây ngắn hạn. Mà cái chân lý phút giây ngắn hạn ấy lại có thể là chân lý vĩnh hằng.” Sự tàn nhẫn không sinh ra từ nghèo khổ, nó nảy nòi từ cái phần ác bên trong con người, nhưng nghèo khổ chính là môi trường, chính là cái cớ để sự tàn nhẫn phình to, chiếm đoạt đời sống, sự sống.
Thử đọc thành lời đoạn thoại mà qua đó nó nói đến những thứ không phải là xương thịt của nhân vật Khiêu đã rã nát, một loại rã nát từ bên trong: “- Nói thế sao được, hả chú? Cứ xem lão Phiệt đấy, cũng trầm trọng chí tử liên miên, mua hòm trước có đến ba lần, đều cất đấy chờ mọt ăn. Vậy mà nay vẫn sừng sững chén thịt chó”.
Chú Khiêu quay mặt lơ đãng ra cửa sổ, nơi có tiếng hót trong veo, ríu rít của mấy chú chim sâu trong khóm lựu xơ xác. Chú lại nói, giọng yếu ớt:
“Mua hòm trước là… người khôn. Không mua hòm trước là… kẻ dại. Chú đã dại. Chết rồi, Ai mua?”
“Thuấn lại nín lặng. Cái nín lặng buộc anh nín lặng. Lại cũng ở tầng sâu câu nói ấy, trùng trùng cay đắng oán hờn.” Đến đây thì người đọc không cười được nữa, hoặc cười thì là kiểu cười méo xệch, kiểu cười bẽ bàng, cười hiểu ra cái sự đời thật khốn nạn cùng với tác giả. Đó, cái “xóm Ao” mà con người luôn muốn quay về nay đã ra nông nỗi. Nhà thương, lòng thương, tình thương lần lượt tan rã, biến mất như sự biến mất của buổi sáng cuộc đời, biến mất ngay cả cái không tính ban sơ. Một cảnh báo chấn động được viết ra chỉ bằng lối kể rất đặc thù của người nông dân, không hoa hòe hoa sói, không vận dụng một thi pháp sách vở, vay mượn nào…
Một truyện ngắn lý thú ông viết gần đây là “Con kỳ nhông nhựa”. Lão Lú của xóm Rọ Hươu chuyên kể chuyện ma láo đã “nắm thóp” tâm lý đám đông, đám đông: dễ bị kích động, dễ trở thành ngây ngô, dễ tin, dễ không tin và cũng dễ bị lừa. Ma láo nhưng đề phòng thật, người được đặt vào thế giới ma, ma lại đặt vào thế giới người, nhờ vào tài quan sát nhạy bén Ngô Phan Lưu đã khai thác rất tinh các mô típ kể chuyện quen thuộc của dân gian để biến nó thành lối viết của mình, do vậy đọc văn Ngô Phan Lưu ta biết, không lẫn vào đâu, đây là một nhà văn nông dân Việt Nam chính hiệu.
Ấy là độ không của lối viết vậy. Và người đọc là tôi chợt muốn rũ bỏ những “hành trang không cần thiết” trên người, chợt khao khát trở về với cái sạch, với độ không nhờ tiếp xúc với độ không.
8/8/2021
Nguyễn Hiệp
Theo https://vanhocsaigon.com/

Bản đồ văn chương - Tìm mãi tên anh

Bản đồ văn chương
Tìm mãi tên anh

Cần nhắc lại: Dăm bảy con én chưa đủ làm nên mùa xuân. Phải là đàn đàn lớp lớp những đàn én nối nhau mà bay. Những con chim đầu đàn mạnh mẽ kiêu hãnh đưa cả đàn theo đi. Chỉ khi ấy, một nền văn chương mạnh mẽ hình thành, khiến cho người ta phải giật mình sửng sốt, phải tấm tắc xuýt xoa, phải không thể nào bỏ quên bỏ qua khi thảo luận trong những diễn đàn chuyên môn…
Trên một bản đồ văn chương
Phải nói thẳng với nhau rằng Việt Nam chưa có tên trên bản đồ văn chương thế giới.
Chính thức ra thì không ở đâu công bố một cái bản đồ như vậy. Cũng không có một hội đồng chính thức nào được lập ra để vẽ một cái bản đồ như vậy. Nhưng thực tế thì cái bản đồ ấy vẫn có. Có, trong đầu những thành viên các hội đồng giải thưởng quốc tế và hội đồng khu vực, các viện hàn lâm quốc gia và quốc tế. Hội đồng Nobel chẳng hạn, Hội đồng Booker chẳng hạn, Viện Hàn lâm Thụy Điển và Viện Thụy Điển chẳng hạn. Nói thì bảo nghiệt ngã, sự thực thì mấy ông lớn bà lớn văn chương ấy chỉ cần nghe nói đến văn chương Á – Phi – Mĩ Latinh chung chung thì trong thâm tâm đã biết nên lướt qua cho nhanh.
Thử tưởng tượng, hầu hết những ông bà cầm cân nảy mực ấy họp nhau trong một hội đồng quốc tế, thì bản đồ văn chương thế giới mà họ vẽ ra chắc chắn là chưa có Việt Nam.
Cho đến một ngày, ông chủ tịch hội đồng bản đồ văn chương xem qua bản đồ quân sự thế giới, bản đồ nông nghiệp thế giới, thấy có tên Việt Nam. Nổi bật là khác. Bao nhiêu trận đánh lớn trong vài nghìn năm. Hàng đầu thế giới về sản lượng gạo và cà phê. Thế là quá đủ cho dải đất hình chữ S có tên trên bản đồ chuyên môn.
Ông chủ tịch hội đồng bản đồ văn chương cho triệu tập cuộc họp hội đồng thành viên. Đề nghị rà soát lại thành tựu văn chương Việt Nam trong một trăm năm qua. Tức là xem văn chương Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay có gì đáng chú ý, bảo đảm để hội đồng không bỏ sót một giai đoạn, không bỏ sót một tác giả. Cần lưu ý là trong quy mô một đất nước, nước nào cũng có vô vàn thành tựu văn chương. Nhưng hội đồng chỉ quan tâm những thành tựu ở tầm mức toàn cầu.
Ý kiến của các thành viên rất thống nhất. Đề tài văn chương Việt Nam suốt thế kỉ qua đã được các chuyên gia nghiên cứu kĩ lưỡng và công phu. Đặc biệt là giai đoạn từ “đổi mới” 1986 đến nay, họ cập nhật thường xuyên. Tất cả thêm một lần khẳng định: Bản đồ văn chương thế giới chưa thể ghi tên Việt Nam. Dăm bảy con én không làm nên mùa xuân.
Và một Olympic văn chương
Cũng như Olympic thể thao thế giới vậy. Đoàn Việt Nam có thể kéo quân hùng hậu đến đấy. Đoạt được một số huy chương vàng, bạc, đồng. Thế đã đủ hân hoan và đáng cổ vũ. Nhưng toàn đoàn thì vẫn loanh quanh xếp thứ 100 và xa hơn, trong tổng số 200 nước tham dự.
Chính xác đấy là tình trạng thành tích và thứ hạng của đoàn Việt Nam nếu có một Olympic văn chương thế giới.
Điểm, thì đã có dăm bảy điểm le lói. Nhưng diện, chưa gây ấn tượng cho thế giới rằng ở đất nước vùng Đông Nam Á bên bờ Thái Bình Dương ấy có một nền văn chương lớn mạnh. Vậy để thấy, hội nghề nghiệp văn chương có nỗ lực đến mấy thì cũng mới chỉ thúc đẩy được một nền văn chương mang tính phong trào, đại trà. Tức là mới tập trung phát triển diện rộng, như ươm trồng một vườn hoa. Vườn thì có nhưng hoa lạ thì hiếm hoi. Trong ấy chưa có đủ hoa quý hoa hiếm để gây ấn tượng với thế giới bên ngoài.
Đại lộ danh vọng – bao giờ?
Thế còn những người có tên trong danh sách các hội đồng bản đồ và Olympic văn chương? Nobel văn học chưa hẳn là một giá trị khi đứng trước cái khắc nghiệt của thời gian. Bản đồ văn chương thế giới và Olympic cũng chưa hẳn là giá trị. Huy chương trao xong, người ta vẫn có thể phản biện hoặc tỏ ý không tán đồng.
Đúng vậy. Nhưng như trong thể thao, trọng tài là cha mẹ. Như trong thi cử học đường, bút sa gà chết, bút đỏ thầy đã phê thì khó cãi. Như trong quán ăn, quyền phán xét chất lượng món ăn là ở người thưởng thức. Còn giới chuyên môn có quyền tôn vinh hoặc bác bỏ.
Cái danh sách mà hễ cần nhắc đến văn chương Việt Nam là người ta đưa ra, danh sách ấy nhắc lại là để cho các hội đồng và công chúng cùng nhau lưu ý và kiểm chứng theo thời gian. Có người còn tiếp tục đạt thành tích trong thi đấu. Có người kì trước đoạt huy chương nhưng kì sau ngã ngựa.
Nói cách khác, sự liệt kê bao gồm hầu hết những người đang ở trong tầm ngắm. Mỗi tác phẩm mới của họ được quan tâm phân tích mổ xẻ. Sự trồi sụt chất lượng của tác phẩm được ghi nhận. Họ được đặt trong dòng chảy văn chương đất nước mình và tiến trình văn chương toàn cầu. Một ngày nào đó, họ có thêm nhiều tác phẩm được chú ý, nền văn chương của họ có thêm nhiều tác giả được chú ý, hình thành một đội ngũ mạnh mẽ vững vàng, thì chính là ngày đó.
Đó là ngày người ta sẽ ghi tên Việt Nam trên bản đồ văn chương thế giới.
Cần nhắc lại: Dăm bảy con én chưa đủ làm nên mùa xuân. Phải là đàn đàn lớp lớp những đàn én nối nhau mà bay. Những con chim đầu đàn mạnh mẽ kiêu hãnh đưa cả đàn theo đi. Chỉ khi ấy, một nền văn chương mạnh mẽ hình thành, khiến cho người ta phải giật mình sửng sốt, phải tấm tắc xuýt xoa, phải không thể nào bỏ quên bỏ qua khi thảo luận trong những diễn đàn chuyên môn.
Phải là khi ấy.
Chờ đợi trong nỗ lực
Nhưng làm thế nào để đến được “khi ấy”?
Câu trả lời là chỉ khi nào xuất hiện nhiều tài năng. Tài năng lớn. Tài năng thực sự.
Trong bài Điện ảnh của ta ơi, hãy xem phim Iran, tôi từng kể về một lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho các nghệ sĩ điện ảnh. Họ được một đạo diễn nước ngoài hướng dẫn, được xem một số phim thuộc hàng kiệt tác của điện ảnh Iran. Rồi ông thầy nước ngoài hỏi các đạo diễn Việt Nam: Nếu được làm một phim như phim Iran ấy, anh chị thấy mình thiếu gì?
Trả lời: Thiếu tiền.
Hỏi: Ấy chết, nghĩ lại đi. Những phim Iran ấy đều là phim ngân sách thấp, hầu như không có đại cảnh, rất ít nhân vật?
Trả lời: Thế thì thiếu máy móc phương tiện hiện đại.
Hỏi: Thật thế sao? Nhiều phim Iran chỉ dùng máy móc không hiện đại, thao tác đơn giản, nhiều khi để máy quay trên vai, không chân, không cần trục… Thao tác cũng giản dị luôn. Còn hậu kì thì Việt Nam cũng có phim được mang ra làm ở nước ngoài rồi đấy thôi?
Trả lời: Thế thì tôi thiếu một hội đồng duyệt kịch bản mang tính chuyên nghiệp và cởi mở.
Hỏi: Anh chị hãy nhớ rằng Iran là nước đạo Hồi, rất khắt khe với đề tài xã hội, tình yêu, tôn giáo?
Thôi, đến đây chẳng cần nghe thêm cuộc đối thoại bất tận, đổ vấy lung tung ấy nữa. Nghe đến thế cũng đã ngầm thấy rằng lẽ ra phải thành khẩn trả lời ngay: Chúng tôi thiếu tài.
Cái tài sẽ tạo ra mê đắm, ra lửa, ra sự tử vì đạo. (Ví dụ hi sinh tiền thù lao, chứ không phải đạo diễn và chủ nhiệm phim càng hạ thấp yêu cầu, càng cấu véo nhiều cho túi riêng càng tốt. Ví dụ phải rưng rưng xúc cảm trên từng khuôn hình mà người đời ai cũng đã thấy, nhưng ai cũng coi thường lướt qua, chỉ người có tài là biết dừng lại, biết ngạc nhiên…)
Cũng vậy với các nhà văn ta. Đã có nhiều cuộc hội nghị hội thảo tọa đàm theo chủ đề làm thế nào để có tác phẩm lớn. Rất nhiều quan điểm được đưa ra, tựu trung chỉ loanh quanh mấy đòi hỏi:
– Phải có tiền (nhà nước hoặc tài phiệt đầu tư).
– Phải được thông thoáng về duyệt.
– Phải có phương tiện kĩ thuật hiện đại (sân khấu, điện ảnh và những ngành nghệ thuật liên quan đến kĩ thuật thì đòi thêm điều này).
Tiền!
Duyệt!
Phương tiện!
Đấy là mấy lý do muôn đời đưa ra để tránh nhìn thẳng vào một sự thật: Phải có tài năng lớn. Mà tài năng lớn thì đời nào cũng thiếu. Đời nay lại càng trông chờ mỏi mắt.
Nhưng không phải cứ quyết tâm duy ý chí mà được. Tài năng như hoa của cây vô ưu ashoka, trăm năm mới nở một lần, có khi cả thế kỉ chẳng nở được bông nào.
Vậy thì chẳng cần phải sôi sục lên, loay hoay tìm đủ biện pháp để kích cho hoa nở sớm. Mọi biện pháp nhân tạo sẽ cho ra thứ hoa nhân tạo, hoa ngắn ngày. Một môi trường tự do thông thoáng không tạo ra thiên tài. Bởi nếu như vậy thì các nước dân chủ Âu – Mĩ đã đầy ắp thiên tài. Nhưng một môi trường thông thoáng sẽ như bầu không khí trong veo không ô nhiễm, nước sạch cỏ xanh, nơi ấy mới mong một ngày hoa vô ưu sẽ nở.
Nói gọn lại, thế giới này đều thiếu thiên tài. Phải thừa nhận thành thật chứ không đổ vấy sang chuyện khác. Và không thể nóng vội rùm beng lên bằng những biện pháp sản sinh nhân tạo. Hãy tạo môi trường nước sạch trời xanh và chờ đợi. Đừng nghĩ thế là thụ động. Đó là sự chờ đợi trong nỗ lực xây dựng bầu khí quyển lành mạnh.
10/8/2021
Hồ Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/

Điên và Đẹp trong thơ Bùi Giáng

Điên và Đẹp trong thơ Bùi Giáng

Đẹp thì ai cũng thích. Điên thì ai cũng sợ. Khổ nỗi chẳng ai thừa nhận có thoáng điên điên mới thấy đẹp lạ quanh mình mà dám cá biệt liều mình. Đơn giản, điên là mất tất cả những gì thuộc về người tỉnh táo bình thường, nhưng được một cái gì riêng họ mà ta không biết, vì ta chưa kịp điên, lỡ điên cũng chẳng chịu nhận mình điên, như thằng say có bao giờ chịu nhận mình say… cho nên đố mà ai hiểu được cái gọi là bí nhiệm ở những kẻ thơ điên, thơ say… mãi tôn vinh cái Đẹp, chạy theo cái kỳ mỹ giữa đời.
Trong cõi người trăm năm, đằng sau sự nghiệp người đàn ông là bàn tay người đàn bà, dẫu bình thường cũng chẳng mấy ai thoát khỏi “cõi đàn bà” như một mê cung. Đi vào giữa cuộc thị phi – Nửa tam bành tới nửa nghi vấn về… Chỉ còn cách bất bình thường… điên lên trong cõi mẫu quốc thiêng liêng hay Liêu trai nhục cảm phiêu linh mà xóa nhòa đường biên mong thoát khỏi ngục tù tha nhân. Đó là nghịch lý khát khao mãi tìm cái được gọi: bí ẩn làm nên bản sắc nữ tính.
Bao giờ mới hiểu được Em
Chẳng người đàn ông nào trên thế giới này có thể hiểu được người phụ nữ. Nếu có một người, người đó… điên hoặc kịp hiểu ra đã sang thế giới bên kia. Câu hỏi đẹp giản đơn mà đố cả loài người giải được. Suy tư như Nguyễn Du cũng phải buột miệng. Càng điên càng đẹp. Cái mùa đông của ai đó ấm vườn địa đàng cũng chỉ có ở người điên, người say… Chả trách, cả cái hay cái dở của Bùi Giáng nằm trong sự điên say mà thấu cảm đến độ “đạo văn” Nguyễn Du trên các cấp độ câu chữ và cả tư tưởng định mệnh phận người trong sắc thái hiện sinh hiện đại… một cách hồn nhiên.
Và hẳn nhiên Bùi Giáng rất khoái tạng thơ bất tuyệt lãng đãng mộng hồn chiêm bao và dạng thơ điên của Hàn Mặc Tử nên mới nhấn đi nhấn lại. Thưa tôi không dám si mê – Một mai tôi chết bên khe ngọc tuyền – Bây giờ tôi dại tôi điên – Chắp tay tôi lạy cả miền không gian. “Ông nói lời như thế mặc nhiên xóa sạch hết mọi nguồn thơ thế gian. Còn ai có thể làm thơ được nữa… Hãy để yên cho tôi điên tôi dại… Cả thế giới này đang cùng Hàn Mặc Tử chỉ ra một thảm họa.
Em có nghĩ ra một chiều vàng úa”. Đó là bình cảm thấu thị con tim trong khát vọng cứu rỗi vô cùng. Lấy lòng người mà hiểu lòng mình và đến lượt mình tự xóa nhòa mọi lằn ranh. Hẳn nhiên Bùi Giáng cũng tự lượng thức trong thẳm sâu vô thức. Bây giờ tôi rất có quyền – Hỏi ông trời chớ thuyền quyên là gì? Trai tài – gái sắc, tài tử – giai nhân, anh hùng – thuyền quyên… là chuyện muôn đời. Mà nhân gian nhớ li bì – Từ thiên thư tới tám kỳ càn khôn… Nhưng dù ngươi rất có quyền mà hỏi như rứa đó… đến cả ông trời chịu thua.
Và “sờ sờ” ra đấy một Bùi Giáng mộng chiêm bao điên dại riêng mình mà “phó thác thảm họa trần gian mang trên hai cánh mỏng bay đi”. Điên như vậy, trên con chữ em bỏ quên, là vui vẻ thoát chấp trước mà về với cội nguồn trí tuệ bao dung. Đời xiêu đổ nguồn xưa anh trở lại – Giữa hư vô em giữ nhé ngần này. Khát vọng cái Đẹp vô cùng ngay trong cái hữu hạn ngần này cũng chính là sự cứu rỗi.
Cho nên, cái chết và sự điên là một ám ảnh nghệ thuật, trở thành hệ hình thẩm mỹ trong thơ Bùi Giáng, tinh hoa phát tiết ở thi sĩ mang gien điên, vợ quê chết sớm, mãi lang thang… mới thấy vẻ đẹp thiên tính nữ trong bản năng nguyên sơ. Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn. Sống thì điên bất chợt hóa dài dài. Bình sinh ta, bình sinh ta – Vì mê gái đẹp mà ra điên rồ.
Giữa Bùi Giáng và miền gái đẹp là khoảng cách giới hạn mà vô cùng, cụ thể mà mông lung, chạm vào mà không với tới… như một tiên thiên khởi nguyên tự trời xanh. Một cô hàng xóm nghịch đùa – Gọi tôi như gọi già nua ông trời – Thật ra có lẽ lầm rồi – Ông trời muôn thuở ông trời đã điên. Chết tròn 20 năm và mai này hơn thế, điên tái sinh trên vòng tròn Nỗi buồn điểm kết cũng là điểm khởi vô thỉ vô chung. Cuộc điên đã chấm dứt rồi – Bây giờ điên nữa cho đời điên thêm.
Điên và chết như mối sầu vạn cổ hóa màu hiện sinh là mỹ học khát khao đầy xung động – tự hòa giải trong đời sống thơ người con trai xứ Quảng từ bỏ gia thế mà lang thang hành hương, đa tình đa đoan đến ngang ngạnh mà hiền như một thiền sư, già nua trong tiền kiếp cỏ úa mà hồn nhiên như anh nhi… rong ruổi phương Nam Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi – Đi lên đi xuống đã đời du côn…, làm nên miền gái đẹp nguyên sơ… ở điểm tựa Nàng Thơ trong nhịp đưa sáu – tám vô cung bậc tình yêu.
Sóng ba đào xòe nở cánh tay hoa
Thơ tìm đến với người, thơ thành lẽ sống tự nhiên. “Ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ” (Thanh Tâm Tuyền). Và thơ trở thành một sinh mệnh. Người con gái trong thơ Bùi Giáng là một sinh mệnh tự nó – không nhằm thỏa mãn những nhớ nhung vị kỷ, không chịu sự phân tích mà cảm nghiệm, không hiểu mà thấm, không chiếm lĩnh mà thưởng thức chiêm ngưỡng… ở góc độ nào đó.
Nửa thế giới cái Đẹp là cụ thể có thật mà trừu tượng vô biên, là Địa ngục mà cũng là Thiên đàng, là hủy diệt mà sinh sôi sự sống, là lặng mềm như cỏ nước mà đầy những bất ổn làm tiền đề cho đổi thay, trôi chảy, sáng tạo, là giản dị êm đềm điểm tựa mà đầy khuất lấp ba đào bão tố… “Thơ tôi làm… là một cách dìu ba đào về chân trời khác”.
Dìu ba đào bằng ngôn ngữ sang địa hạt khác, ba đào vẫn là ba đào trong một dạng thức khác. Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách – Sắc bất ba đào dị nịch nhân. Yên lặng nằm trong rốn nước, thinh không trong mắt bão. Chỉ có điên đến độ Thiên tài tự hủy mới bất chấp những mặc định giới hạn của ngôn ngữ. Ngữ ngôn khép kín mặc dầu – Hùng tâm tim máu óc đầu mở ra.
Đẹp ở nhiều góc độ, như một chân lý giản dị, nhưng chân lý lại đa diện, tự mỗi người tìm thấy ở góc nhìn nào là tùy. Em về giũ áo mù sa – Trút quần phong nhụy cho tà huy bay. Nghịch lý thay trong sự hóa giải xóa nhòa sống Vui thôi mà… mà hiền tội nỉ năn. Tặng nhau từ ngữ lạc lầm – Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn. Cho nên mới có chuyện buồn cười xóa nhòa giữa tục và thanh, bác học và bình dân, cao thượng và thấp hèn… trong vết thương không lành miệng, xin người đẹp như khát vọng tôn thờ nhỏ cho một giọt nước mắt, hay… một giọt nước tiểu lên mồ… trên hành trình đời người – đời thơ. Sống – chết trong vòng nhân gian tự nó là vậy.
Đường qua ngôn ngữ tuyệt trù – Đường qua ngôn ngữ điệp trùng… Đường qua ngôn ngữ cuối cùng… Con đường nào ta qua… rốt lại là lẽ biến hóa giản dị đến vô thường trong Em đi – Em về sơ nguyên. Em về mấy thế kỷ sau – Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không…
Giới nữ lưu nước Việt vốn được nhìn nhận, đánh giá, định vị… dưới mắt nhìn của đàn ông, minh họa và thể hiện các diễn ngôn tri thức lịch sử, khoa học và văn chương nghệ thuật… tạo nghĩa lên hình ảnh nữ Việt qua chính những hoạt động chính trị xã hội của đàn ông, chứ không phải ở tính tự thân với tư cách phụ nữ. Người đàn bà chỉ là cái xương sườn của người đàn ông.
Phận đàn bà qua nhãn quan sử Việt, trường hợp ở người phụ nữ kỳ lạ đáng nhớ nhất là Dương Vân Nga hiện lên trong diễn ngôn từng thời, dù là buộc tội, minh oan, ca ngợi… đều không thoát khỏi trung tâm đầy dụng ý có lợi cho mình ở người đàn ông luôn ý thức quyền lực và danh dự mang tầm đại tự sự. Hành vi phân biệt đối xử về giới bao giờ cũng được biện minh và thỏa thuận ở chiêu bài lợi ích cộng đồng – xã hội tùy thời.
Phải chờ đến tinh thần phê bình nữ quyền, xuất phát từ quan điểm và giọng nói phụ nữ Lee Seon Hee mới nhìn nhận hình tượng này đầy phẩm tính thông minh, nữ tính, bao dung, quyết đoán… trong sự chọn lựa quyền tự quyết vận mệnh bản thân mình, tự do yêu đương, tự do hôn nhân… mang tính nhân bản trong sức mạnh bản năng tự nhiên không lệ thuộc vào giáo lý phong kiến, thói thường dư luận… giữ được căn tính nữ của chủ thể trong dòng chảy lịch sử cộng đồng .
Tiến trình nhìn nhận ấy là một nỗ lực xóa nhòa mọi rào cản, còn có trả lại cho người đàn bà họ Dương như vầng trăng mây cái nguyên màu ấy không… là chuyện khác. Hóa ra, trong một khoảng cách không trói buộc – tự do, vô cầu, vô hại, vô vị lợi… anh Bùi điên kia mới trả thiên tính nữ về màu nguyên sơ tự nó. Tỉnh thì chỉ chừng ấy nó xáo xào, ai cũng giống ai. Điên thì mỗi người một khác. Từ chối quyền lực và danh dự thì chỉ còn quyền… tự điên vui.
Dạng điên – siêu tỉnh không phân biệt đâu được giữa ngây thơ bản năng và ngây thơ tỉnh thức như Bùi Giáng mới tạo ra được miền gái đẹp cụ thể mà phiêu linh, quen mà lạ, lượn những nét cong mà nhòa đường biên như cỏ phất phơ trong gió nắng trăng sương, như sóng đong đưa trong hằng hà tơ tằm, tơ lụa, tơ sen, tơ lòng, tơ trời… Người con gái như cỏ cây trong Mưa Nguồn, nước trong nguồn như như…
Sống làm một dạng thiền sư hành khất mà không từ chối thưởng thức khoái lạc cái Đẹp, nồng nàn nhục cảm mà hồn nhiên tan biến trong sắc thái tâm linh, chẳng khó lắm ru… Tình yêu gắn liền với mỹ học của sự hài hòa trong 4 cấp độ; dục tính, tình cảm, nhận thức và tâm linh. Ôm nhau hôn hít thiết tha – Tình yêu vô tận ấy là từ em. Cái vô tận trong sự bao dung không suy niệm ấy từ nguồn Em. Không pha màu, không đổi thay, không khởi không kết, Em và Ta tan trong tụng ca như kinh cầu hòa điệu.
Mai sau hẹn với ban đầu – Chờ nhau ngõ khác ngã màu nguyên xuân. Cái màu nguyên xuân ấy tự nó như một hằng số giản dị mà chỉ là khát vọng lý tưởng chẳng mấy ai giữ được trong hai trục tung – hoành mãi đổi thay. Trong căn nguyên cội nguồn, thiền tính và nữ tính giao nhau trong sự rỗng mềm bao dung qua mắt ấm nheo cười. Cõi bờ con mắt Hoa Nghiêm – Tường vôi lá cỏ lim dim vô cùng.
Xin chào nhau giữa bàn tay
Thiên tính nữ trong thơ Bùi Giáng là nẻo đường hồn nhiên thanh tẩy trong Mưa Nguồn, mang gương mặt phúc hậu vị tha của Mẹ sinh thành, phảng phất nét Đức Mẹ Maria của phương Tây và Đức Quán Thế Âm Bồ Tát của phương Đông qua cái nhìn đong đưa nhịp thơ 6 – 8 mềm như sóng, dịu như gió, hiền như cỏ, mộc như đất, ngọt buồn hời ru… Em vui nước ngọt xuôi dòng – Em buồn toàn diện đèo bồng buồn theo – Em vui tinh thể bọt bèo – Em vui toàn diện thu vèo sang đông.
Nghe như có chút gió lật trang Kiều trong cảm thức buồn trông, chút nõn nường đong đưa quẫy đạp của bà Chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, như có tiếng thở dài kín đáo của cái tôi nữ sĩ Thanh Quan lặng dấu. Một mảnh tình riêng ta với ta đau gầy của người đàn bà Việt trong cõi người bể dâu trời mây non nước. Tạo hóa gây chi cuộc hí trường… Không biết cái sự buồn vui kia là ở một Em nào đó, hay là ở thân gầy Bùi Giáng trong bào thai vũ trụ Buồn vui như thể thân mình – Ai chia nửa máu, ai giành nửa xương.
Thật khó trả lời. Khi hỏi ông lại gặp nụ cười điên. Điên duỗi dọc, điên ngửa nghiêng – Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời. Khi hỏi cõi người ta – bơ vơ đông đảo… Ai người đau nữa để xẻ chia – Trời đất hoang mang buổi mộng lìa. Thương níu nhau trong lời ru tiếng đất. Lạc rời nhau trong ngọn gió hư phù. Lời ru nào nằm giữa ta người. Ngoi lên ngụp xuống bao lời mấy cung.
Giỏi triết học phương Tây mà không hề duy lý đo đếm. Trong cái Ngổn ngang gò đống chất chồng… như cuộc đời nó vậy, em như vậy mãi quàng gánh mang mới sự cứu rỗi. Em về vĩnh viễn đêm mồng một giêng. Ấy là ngày ăn chay đầu tháng, là lễ chùa đầu năm, thanh lọc, dâng ướp hương hoa. Làn da mềm mại, hơi thở thơm tho, tâm hồn cứu rỗi, tự làm mới lại, khoảng khắc chân như…
Người điên siêu tỉnh thừa biết bằng con tim yêu tấm thân có đi có về trong một cõi. Cá khe nước cõng lên đồng – Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng… Về là vậy, còn đi… Em đi thanh thản ngọc tuyền. Đẹp nhẹ nhàng như dòng suối ngọc mãi chảy. Kẻ quá khôn tỉnh táo thì vị kỷ trói buộc, ngăn giữ. Người dại khờ hóa ra cao thượng lặng im hóa đá ngây ngô mà tiễn em đi. Anh ngồi nốc rượu nốc phiền thiên thu.
Và cứ thế, Chiều xuân thơ mộng dưới trời bước đi. Không phải thời gian đi, mà con người trôi qua thời gian, biết bất lực nên cố bấu víu định vị trong không gian. Người con gái trong thơ Bùi Giáng xuất hiện nhiều trong tư thế dáng vẻ đứng – đi – chạy – về… Chân cứ bước theo nhịp hồn cứ động – Em là em anh đợi khắp nẻo đường… Say điên xoay vần con chữ.
Cái nhìn dịch chuyển của kẻ từ ruộng quê yên tĩnh bước ra pha dòng máu du mục lang thang mang sắc thái cảm tính nội tâm trong trò chơi Đi và Về hí lộng thầm đau Buồn tênh ngôn ngữ thì thào – Xuân đi động đậy mận đào đào nguyên… Những mận đào từ vườn hồng ca dao, đào nguyên thiên thai ngự vườn địa đàng lãng mạn… kỳ lạ thay, cứ mãi động đậy… mà không ngã màu nhục thể, mơ mộng, hẹn hò, nhớ mong, đau khổ, độc chiếm, thụ hưởng… như trong bao nguồn thơ tình khác, động đậy mà lặng lẽ làm nên những gương mặt đẹp nhất, những con người hiền thục nhất như một hằng số lặng sâu trong dòng nữ lưu nước Việt.
Đó là siêu lý tình yêu ẩn chứa những uyên nguyên sâu kín trong những ngụ ngôn, hoa ngôn… Nguyên hình Nữ Chúa trên ngày phù du. Đã là Nữ Chúa thì miễn phân tích định vị. Có thể là Mẹ Đất, Mẹ thiên nhiên, Mẹ sinh ra ta, nửa đời ta mãi tìm không ra… đồng nhất trần thế – tâm linh. Có nhớ thương cũng chỉ là một cái chẩu môi hôn gửi gió trong thân cỏ mang mang. Bây giờ em ở nơi đâu – Cả trên mình mẩy em sầu ra sao.
Có ẩn ức nhục cảm libido thì cũng thăng hoa đến độ cà rỡn tưng tửng ở nhịp ngắt lẽ – chẵn luân chuyển nhất âm nhất dương chi đạo trong hình ảnh người con gái – lội – khe – bàn chân – nước lạnh và những hai lần đè… đè lên nhau – cùng nhau lại đè trong khổ thơ 4 câu. Người con gái lội qua khe – Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau – Nỗi niềm tưởng lại xưa sau – Bàn chân với nước cùng nhau lại đè. Chẳng trách có lúc ông thảng thốt kêu lên. Ôi gót chân, anh đứng ngó như ngây. Ngây là một dạng yêu trong bản năng hóa điên mà ngưỡng vọng. Ngây là tiền đề chuyển hóa sang thơ.
Chân là vậy. Còn tay… hoa nguyên xuân hẹn thề thương yêu trong đóa hoa tay. Xin chào nhau giữa bàn tay – Có năm ngón nhỏ phơi bày ngón con – Thưa rằng những ngón thon thon – Chào nhau một bận sẽ còn nhớ nhau. Bàn tay xuân thì là cái Đẹp hiện hữu. Bàn tay thu vàng là bóng của cái Đẹp phôi pha, một lần qua mãi còn. Bụi thu mờ ai phủi với bàn tay… Ấy là bàn tay say trăng. Ba đào kết sóng nở hoa trên ngàn.
Em có thấy Em trong giọt lệ thương
Miền gái đẹp trong thơ Bùi Giáng, nói theo tình ca hiện đại mang sắc thái dân gian Chín bậc tình yêu đủ đầy mà côi cút hoang vắng những nẻo đường Liêu trai mộng mị. Có thể quay về ký ức cố hương. Chiêm bao tôi thấy tôi về Quảng Nam – Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên – Xiết bao tình nghĩa thần tiên mộng đầu. Có thể ghé xứ Thần Kinh, ngọt thương trong 2 tiếng dạ thưa thủy chung mà kín đáo mộng mơ. Dạ thưa xứ Huế bây giờ – Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương. Hạnh phúc giản dị nằm trên sống mũi mà mãi loay hoay tìm, như suối nguồn mà chẳng nhận ra. Đêm thưa Vĩ Dạ về gần – Đã từ lâu lắm thiên thần nhớ em.
Có thể rong chơi như trong Tiểu sử tự ghi – “Lang Thang Du hành Lục Tĩnh – Gái Châu Đốc Thương yêu và Gái Long Xuyên yêu dấu”… diễm phúc gặp những thục nữ, thuyền quyên mịn màng phù sa, ngọt ngào cây trái, chân chất lục bình trôi. Ôi người thục nữ Long Xuyên – Tìm đâu thấy lại thuyền quyên một lần. Em sáng ngọt mềm thương trong những miền sông nước nghiêng trôi. Ngồi đây tưởng nhớ xa xăm – Nhớ nhung Lục tỉnh trăng vần Long Xuyên – Ba mươi năm trước hiện tiền – Hình về hiện tại bóng nghiêng nghiêng đều. Nỗi nhớ đẹp buồn muốn khóc, trong ngân ngấn lệ thương bay dáng hoa Bồ Công Anh ánh màu dang dở… Điên như Bùi Giáng, thừa biết chẳng có cái Đẹp nào là hoàn thiện. Và chính không hoàn thiện nên đẹp thật – nó – là…
Xóa mọi địa danh, và xóa cả mọi giai tầng. Có thể là người thôn nữ từ Ca Dao bước ra tắm trong Mưa Nguồn… Viết thơ là trở lại bên – Con người thôn nữ răng đen hai hàng. Có thể là Sơn nữ, Gái Núi, Em Mọi nhỏ… ở đầu nguồn rừng núi nguyên sơ. Em từ Mọi Nhỏ thanh tân – Mười hai con mắt thiên thần mở ra. Có thể là Người con gái Thiên nhiên. Rừng xanh nắng biếc em cười nói – Một thoáng bình sinh giữa bốn trời.
Có thể là người con gái trong tình yêu ba thì nghịch lý đồng hiện. Nàng tiên kỳ bí thập thành – Cỗi nguồn vô tận ngọn ngành tới đâu – Nàng đi đứng giữa thiên thâu – Tương lai hiện tại một màu phôi pha… ở Người điên ngôn ngữ điệp trùng – Dở chừng như mộng dở chừng như mê… Và cứ thế, muôn vàn mảnh vỡ thi ca xa xót hồn máu trong màu ngọc thủy tinh, cụ thể mà hư hóa, phân hóa mà nhất thể hiện sinh, cá biệt độc đáo mà làm nên bản sắc chung trong giọt lệ phân ly ở kẻ Bây giờ tôi đối diện tôi – Còn hai con mắt khóc người một con… Ngẫm ra, ở mỗi chúng ta, khi Con mắt còn lại mà nhìn một thành hai… là đã có dấu hiệu… chớm điên…
Có một Em ở trong cõi thơ điên Bùi Giáng, cả thế giới thực biến mất. Em như thế nào… Em vẫn là Em. Không phân tích cân đong Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm… mới có một tình yêu giản dị trong siêu nhiên tự nó. Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt – Tôi đui mù để thỏa dạ yêu em. Rỗng mà đầy, ngộ nghĩnh mà thâm thúy, giản đơn mà thanh thản… của cái gọi là hạnh phúc. Ấy là tâm nguyện Mưa Nguồn của kẻ đa mang, đa ngã mà trọn vẹn sinh mệnh. Tôi đã nguyện yêu trần gian trọn vẹn – Hết tâm hồn và tất cả da xương. Ừ, bao năm rồi, một nắm da xương… sống gửi thác về… Thơ như cánh tay vẫy chào cuộc sống. Em soi thấy gì trong giọt sương thương…
11/8/2021
Lê Từ Hiển
Theo https://vanhocsaigon.com/

Lâm Thị Mỹ Dạ và Trái tim như dáng lưỡi cày

Lâm Thị Mỹ Dạ và Trái tim như dáng lưỡi cày “Ðể suốt đời cày lên cày lên đớn đau và hạnh phúc” (Nói với trái tim) Tôi ‘ngạc nhiên lại’ khi...