Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

 

Trải nghiệm trong cảm nhận văn chương

Đọc văn, đọc thơ đúng và hay cũng là cách dẫn dắt quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương cho người học.

1. Trong nhiều cấp độ tiếp nhận tác phẩm văn học: tri giác, cảm thụ tác phẩm, ngôn ngữ, tình tiết, cốt truyện, thể loại để có thể cảm nhận hình tượng trong sự toàn vẹn; người đọc tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của nghệ sỹ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng và tình cảm của tác giả; nâng cấp lí giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn hoá, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật…; thì cấp độ: Đưa hình tượng vào văn cảnh đời sống và kinh nghiệm sống của mình để thể nghiệm, đồng cảm là yếu tố có nhiều bất ngờ và khá lý thú.

Lúc tôi mới 20 tuổi, tôi đã đọc tác phẩm “Ông già và biển cả” của nhà văn Hêminguây (nhà văn nhận giải thưởng Nobel vào năm 1954), đọc xong tôi suy nghĩ rằng: sao câu chuyện “cá kéo người, người kéo cá” trong mấy ngày đêm, rồi khi kéo vào bờ chỉ là “bộ xương con cá kiếm khổng lồ” mà nhà văn kể lên trên 100 trang văn; lúc đó tôi cũng chưa cảm nhận được ý nghĩa sâu xa về “nguyên lý tảng băng trôi” trong tác phẩm. Thế rồi, khi dạy học phần Văn học nước ngoài cho sinh viên, tôi lại  dạy tác phẩm “Ông già và biển cả”, lúc đó tôi rất lúng túng; tôi đọc tài liệu tham khảo, tài liệu hướng dẫn, đọc hết những gì liên quan đến tác phẩm, vẫn chưa thể dạy tác phẩm bằng chính cảm nhận gan ruột của mình. Vào lớp, tôi hỏi bâng quơ với sinh viên (hỏi để tự trấn an mình trước một tác phẩm văn chương mà mình chưa có cảm nhận sâu sắc): Vì sao tác phẩm “Ông già và biển cả” được xem là “kiệt tác”? Các em trả lời rất hồn nhiên: Vì đó là tác phẩm của nhà văn nhận được giải thưởng Nobel… Tôi vẫn giảng dạy, vẫn băn khoăn; cho đến một hôm, trong giờ thực hành, một sinh viên lên tập giảng trích đoạn “Xan-ti-a-gô và con cá kiếm”; tôi thấy em lúng túng, toát mồ hôi hột, dù ngoài trời mưa rất to, nước đã ngập đến sân trường, rất lạnh… Đột nhiên tôi hỏi em những câu hỏi không liên quan gì đến bài học: Em đi dạy được mấy năm rồi? Gia đình ở đâu? Chồng em làm gì? Vì sao phải đi dạy xa nhà như thế? Vì sao vẫn còn học nâng chuẩn trong hoàn cảnh khó khăn như thế?… Khi em trả lời những câu hỏi của tôi, tôi chợt nhận ra em rất vất vả, khó khăn, nhưng vẫn cố học cho được cái bằng chuẩn hoá để tự tin đứng trên bục giảng; thế là trong tôi xuất hiện một vùng cảm nhận mới về tác phẩm “Ông già và biển cả” – “con người – hai tiếng ấy mới thiêng liêng làm sao”. Giờ học hôm đó như là sự trải nghiệm cho tôi và các em, tôi nhận ra cảm nhận tác phẩm văn chương cần đến kinh nghiệm sống, vốn sống để lý giải những ẩn ý sâu xa mà nhà văn gửi vào trong hình tượng văn chương.

Có lần, tôi đến dạy ở Gia Lai vào tháng 6, Huế đang nắng chói chang, oi nồng mà lên đến Gia Lai thì “Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông”, khi các em đang làm bài kiểm tra bất giác tôi nhìn xuống các em, và chợt hiểu câu thơ của Vũ Hữu Định: “Em Pleiku má đỏ môi hồng”… thế là cảm, là thương mến; dạy xong rồi mà cô trò còn quyến luyến, rủ nhau đi uống cà phê, chuyện trò. Rồi các em lưu luyến, đưa tiễn, đến sân bay các em vẫn chưa về, còn nói: chừng nào cô bước lên máy bay, tụi em mới về. Tôi bước lên máy bay mà không dám nhìn lui, vì ngoái lui chắc là tôi đã khóc, cái tình của các em sao mà sâu sắc thế, đậm đà thế, lưu luyến thế… Nhờ đó mà tôi hiểu hơn câu thơ của Nguyễn Đình Thi: “Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”…

Thời còn là sinh viên, tôi sợ nhất là những bài thi về “Nhật ký trong tù”; thơ thì chưa hẳn là sợ, mà sợ cách ra đề: “Hãy phân tích bài thơ… để làm rõ tinh thần thép, chất thép”… Rồi đến khi đi dạy, đồng nghiệp tôi dạy mảng văn học này, cũng rất thích ra đề theo lối đó; hễ mỗi lần đọc loại đề thi này, tôi chắc chắn sinh viên sẽ sợ hãi giống tôi. Năm 2000, tôi đăng kí nghiên cứu đề tài khoa học cấp trường: “Đặc trưng thơ tứ tuyệt trong Nhật ký trong tù”, mục đích của tôi là tìm hiểu đến tận cùng đặc trưng nghệ thuật của tập thơ. Đặc trưng nổi bật của tập thơ là tính chân thực, bởi vừa được viết theo thể nhật ký, lại bằng thơ, nên cảm xúc ở mỗi bài thơ là cảm xúc chân thực, trực tiếp của chính tác giả. Với cảm xúc đó chúng ta nhận ra con người trong thơ Hồ Chí Minh là con người hướng nội – con người độc thoại với chính mình và con người với cảm thức nhân loại. Cũng nhờ đó, mà tôi đã có dịp đi sâu nghiên cứu đặc trưng của thể loại thơ tứ tuyệt: hàm súc tối đa về mặt ngôn từ và cấu trúc cân đối, hài hòa, ổn định; đồng thời với dung lượng gọn nhỏ tuyệt cú rất đắc dụng trong việc thỏa mãn nhu cầu “tốc ký nội tâm” và “câu tuy ngắn nhưng ý thì dài, lời tuy ngắn nhưng nghĩa lại xa”… Sau đó tôi đã viết bài báo đăng trên Tạp chí Giáo dục – đào tạo Thừa Thiên Huế: “Con người hướng nội trong Nhật ký trong tù qua hai bài thơ: Mộ – Chiều tối, Tẩu lộ – Đi đường”. Mục đích khi viết bài báo này của tôi là góp thêm những gợi ý về cách nhìn nhận chân xác giá trị của tập thơ “Nhật ký trong tù”, tránh lối dạy rập khuôn, máy móc, gán ghép…

2. Trải nghiệm trong cảm nhận văn chương nhiều khi bắt đầu từ những câu chuyện vu vơ, cũng có thể đánh thức những băn khoăn, trăn trở trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học.

Lúc đến Quy Nhơn dạy, tôi hăm hở đi tìm người bạn cùng học thời Cao học (1982 – 1984), bạn tôi đang dạy ở Đại học Quy Nhơn. Vừa vào nhà bạn tôi, vợ bạn tôi đã chào hỏi như là chúng tôi đã biết nhau từ lâu lắm rồi, sau đó cô ấy dặn: chiều mai chị đi dạy về để chồng em đưa chị đi thăm mộ Hàn Mặc Tử rồi về nhà em ăn cơm. Tôi rất vui, vì chưa đến mộ Hàn Mặc Tử bao giờ… Khi đến bãi đá trứng, chúng tôi ngồi nghỉ một chút, bạn tôi nhắc lại những kỉ niệm ngày xưa… phút chốc tôi chợt hiểu thêm một vài khổ thơ trong bài thơ “Chuyện mười năm trước” của nhà thơ Bessonov[1]: “Chỉ có một lần thôi/ Em hỏi anh im lặng/ Thế mà em hờn giận/ Để chúng mình xa nhau…/ Những đôi lứa yêu nhau/ Có nghe tôi kể lại/ Chỉ một lần trót dại/ Thế mà thành chia phôi”, dù rằng ngày xưa bạn ấy chưa hề hỏi tôi, nhưng khi bạn ấy nhắc về kí ức học cùng lớp Cao học ở Hà Nội, thì tôi chợt ngộ ra một điều cực kì giản dị: nhiều khi cơ hội chỉ đến một lần trong đời, nếu bạn không nắm bắt được, thì mãi mãi tiếc nuối…

Đọc văn, đọc thơ đúng và hay cũng là cách dẫn dắt quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương cho người học.

Tôi dạy học phần Rèn kĩ năng thực hành tiếng Việt cho sinh viên ngành Tiểu học, nên tôi vẫn thường thị phạm về cách đọc diễn cảm cho sinh viên. Tôi còn nhớ, có cô giáo từng lên nhà hỏi tôi về cách dạy bài thơ “Tiếng chổi tre” trong đợt thi giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh, tôi bảo cô ấy đọc bài thơ cho tôi nghe, sau khi cô ấy đọc xong, tôi lại nói: giờ tôi đọc nhé. Khi tôi đọc xong bài thơ, thì cô ấy sờ sờ cánh tay, rồi nói với tôi: em nổi gai ốc luôn, em biết cách dạy bài này rồi, và sau đó cô ấy đạt giải cao trong kì thi, trong khi tôi chưa hề trao đổi về cách dạy bài thơ.

Sinh viên thường mời tôi hát mỗi khi kết thúc buổi học, tôi biết mình hát không hay, nên tôi thường đọc thơ, bài thơ tôi đọc nhiều nhất là bài “Lịch sử những vì sao”[2] – (Có một đôi trai gái yêu nhau/ người con gái bỗng đem lòng phụ bạc/ quay trái tim đi tìm tình yêu khác/ Bỏ chàng trai bơ vơ/ Chàng trai lạnh lẽo cô đơn/ Trái tim lớn chứa quá nhiều đau khổ/ Nên một hôm trái tim bùng nổ/ Những mảnh tim bay đi bốn phương trời/ Những mảnh tim bay đi bốn phương trời/ Nhớ thương thành ánh sáng/ Cứ đêm đêm hiện về lấp loáng/ Nói những lời chung thủy khổ đau/ Vì thế khi yêu nhau/ người ta thường nhìn lên trời sao hẹn ước).

Tôi cứ đọc bài thơ từ năm này qua năm khác, từ lớp này qua lớp khác, vậy mà trong một lần trên đường đi dạy, tôi giật mình nhớ lại, nhận ra mình đã đọc sai bài thơ đến 7 năm, đọc mãi mà không biết là mình đã “giết chết bài thơ”. Bài thơ có 2 câu lặp nhau: “Những mảnh tim bay đi bốn phương trời”, thế mà tôi chỉ đọc 1 câu, vì lặp 2 câu khó cho việc lên bổng xuống trầm, nhấn nhá của tôi. Tôi giật mình, câu thơ lặp lại mới là câu hay nhất của bài thơ, đó là lời nhà thơ tự lẩm bẩm, tự nói một mình về nỗi đau khi bị phụ bạc… Từ đó tôi đọc bài thơ này hay hơn, và cũng lý giải vì sao, khi đi học tôi thường thích ngồi bàn đầu, vì tôi có thể nghe lời nói nhỏ nhất của giáo viên khi giảng bài, đó mới là lời giảng sâu lắng, là cung trầm khi cảm nhận tác phẩm văn chương; giọng của thầy không phải lúc nào cũng “sang sảng”, nếu không lắng nghe sẽ không cảm nhận hết vẻ đẹp của văn chương từ “nốt lặng” tuyệt vời mà tác giả đã gửi gắm vào đó. Tương tự như vậy, tôi đã hiểu cách đọc câu thơ: “Cô bé nhà bên (có ai ngờ)/ cũng vào du kích” – (Quê hương – Giang Nam)…

3. Từ một vài ví dụ trong quá trình cảm nhận văn chương qua trải nghiệm, chúng tôi nhận thấy rằng dạy học văn ngoài những kiến thức trong sách vở, thì kinh nghiệm sống hay còn gọi là “trải nghiệm” cũng có vai trò rất quan trọng, giúp cho quá trình cảm nhận và hiểu tác phẩm văn chương đến gần với ý đồ sáng tác của nhà văn. Câu nói “thầy giáo già, con hát trẻ”, phần nào nói đến kinh nghiệm quý báu của người thầy trải qua bao năm tháng trên bục giảng, càng dạy học những tác phẩm văn chương càng cần đến những cảm nhận chân xác và tự thân từ người thầy cũng như từ người học.

Chú thich:

[1] Ở dạng tồn nghi về chuyện tình của ông với nhà thơ Olga Berggoltz

[2] Thời đó, chúng tôi cứ nghĩ là thơ của Lermontov, sau này tra cứu thì không phải, hiện giờ vẫn chưa rõ tên tác giả.

Huế, 20/11/2020

Hoàng Thị Thu Thủy

Theo https://vanvn.vn/

 

Về tiểu thuyết “Từ Dụ thái hậu” của Trần Thùy Mai

Tôi thích Trần Thùy Mai từ những truyện ngắn chị in trên báo văn nghệ, với giọng văn rất “gái Huế”, nhẹ nhàng, ngọt ngào và trong trẻo. Cho nên, khi tiểu thuyết “Từ Dụ Thái hậu” được xuất bản, thì ngay lập tức nó có trên kệ sách của tôi.

Cũng như nhiều độc giả khác, tôi đọc 800 trang của bộ tiểu thuyết này một mạch với lòng yêu mến đức Nghi Thiên Chương Hoàng hậu trong chính sử, một mệnh phụ nhà Nguyễn (quý phi của hoàng đế Thiệu Trị, mẹ ruột hoàng đế Tự Đức) nổi tiếng đôn hậu, đức cao vọng trọng, từ vua quan đến dân thường đều yêu kính.

Tiểu thuyết khá dày, chia làm hai tập, quyển thượng và quyển hạ, được viết theo lối kết cấu tuyến tính truyền thống nên khá dễ dàng trong việc tóm tắt. Nhân vật chính trong truyện, như tên của truyện, là Từ Dụ Thái hậu. Tác phẩm kể về cuộc đời của bà, bắt đầu từ khi còn là cô bé Phạm Thị Hằng lên mười, ái nữ của viên quan đại thần tài giỏi Phạm Đăng Hưng cho đến lúc ở trên ngôi cao thái hậu. Mười ba tuổi, Phạm Thị Hằng được tiến cung, bắt đầu cuộc đời khác, một cuộc sống trong cung cấm mà với người ngoài là niềm ngưỡng vọng và mơ ước cao vời, nhưng với người trong cuộc thì thực sự là một hành trình nhọc nhằn, cay đắng và nguy hiểm. Cung đình không chỉ có những vàng son lấp lánh mà còn là chốn đầy máu và nước mắt. Đi đôi với những quyền lực ngất trời là sự mưu mô, toan tính, đấu đá, tranh giành, sát hại lẫn nhau. Phạm Thị Hằng, cô tiểu thư bé bỏng, xinh đẹp, ngoan lành và trong trẻo đã đi qua những tháng ngày đầy cam go nơi cung cấm với không ít hãi hùng. Kết duyên cùng hoàng tử Miên Tông, Phạm Thị Hằng có địa vị vững chắc nơi lầu son gác tía. Nhưng dù xinh đẹp, ngoan lành, nàng cũng không được sống một cuộc đời êm ấm, phẳng lặng bên người chồng “thanh mai trúc mã” hết mực yêu thương mình. Những mưu kế, ganh ghét từ hậu cung mà thái hậu Trần Thị Đang là người tạo dựng luôn tạo nên những đợt sóng ngầm khủng khiếp nhằm nhấn chìm những người không cùng bè cánh với bà. Không có mưu sâu kế hiểm, Phạm Thị Hằng chỉ có tấm lòng nhân ái bao la, sự trong trẻo, thiện lành làm vũ khí để đối lại với những tàn khốc chốn hậu cung. Và cuối cùng, nàng đã chiến thắng, với một kết cục khá có hậu khi nàng trở thành đức Từ Dụ Thái hậu.

Công bằng mà nói, Trần Thùy Mai đã khá dụng công khi viết tiểu thuyết này. Quãng thời gian được tái hiện trong tiểu thuyết chỉ khoảng 30 năm, nhưng trải 3 đời vua Nguyễn: Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Trong lịch sử các triều đại phong kiến nước nhà, mỗi lần có sự đổi ngôi vua là một lần có sóng gió triều chính, dù sóng ngầm hay sóng nổi, dù âm ỉ hay cuồn cuộn thét gào. Tác giả tiểu thuyết chắc chắn phải “cảo thơm lần giở trước đèn” để đọc kỹ lịch sử các triều đại nhà Nguyễn với biết bao thăng trầm, biến cố để hình dung ra số phận của các nhân vật lịch sử, từ đó xây dựng thành nhân vật văn chương. Tiểu thuyết “Từ Dụ Thái hậu” đã khá trung thành với chính sử. Có thể hình dung chính sử như một ngôi nhà đã xây dựng xong phần thô. Trần Thùy Mai hoàn thiện bằng những tô vẽ, thêm thắt các chi tiết hư cấu nghệ thuật để thành một công trình sinh động và đẹp đẽ.

Như vậy, điều quan trọng nhất trong việc sáng tác về đề tài lịch sử là sự “tô vẽ, thêm thắt”, là các yếu tố văn chương. Nếu không, tác phẩm chỉ như sự diễn giải cụ thể, thậm chí dài dòng và khô cứng về lịch sử. Trần Thùy Mai đã làm tương đối tốt việc “tô vẽ, thêm thắt” đó. Chị có ưu thế đặc biệt khi thực hiện cuốn tiểu thuyết lịch sử này: là người con của quê hương xứ Huế, có tình yêu da diết với mảnh đất cố đô, có sự am hiểu về những phong tục, tập quán nơi đây… Những điều mà nếu không phải là người Huế, chắc chắn sẽ phải bỏ công tìm hiểu rất nhiều. Điều khiến Trần Thùy Mai “ghi điểm” nhất trong tiểu thuyết “Từ Dụ Thái hậu”, theo tôi chính là việc nhà văn đã dựng lên được một cách sống động, chân thực và hấp dẫn cuộc sống phía hậu cung, điều mà chính sử không ghi chép lại nhiều, và nếu không phải là người trong cuộc, thì cũng khó lòng được thấy. Trần Thùy Mai đã vén tấm rèm lấp lánh của cung đình, để soi rọi vào cuộc sống nơi tử cấm thành, tưởng như êm đềm với những cung tần mỹ nữ, những hoàng hậu, hoàng thái hậu chỉ biết chuyên tâm chuyện phấn son váy áo, nấu nướng thêu thùa, sinh con đẻ cái cho hoàng tộc mà hóa ra nhiều sóng gió hơn cả chốn triều chính ngoài cung điện. Những mưu mô kinh hoàng nơi hậu cung không chỉ tác động tới thân phận bao con người trong đó mà còn có thể làm chao đảo triều chính, dập vùi bao đại thần trung chính, tài năng; thậm chí có thể quyết định vận mệnh của muôn dân, của cả giang san, đất nước. Những nhân vật của “Từ Dụ Thái hậu” bước từ chính sử vào tiểu thuyết một cách tự nhiên, nhuần nhị, được Trần Thùy Mai “nhuận sắc” khá tài tình. Nhân vật nào cũng mang thân phận. Nhân vật nào cũng sống động, cá tính. Đặc biệt là trong cả dàn nhân vật mỹ nữ nơi cung cấm, Trần Thùy Mai xây dựng “mỗi người một vẻ”: Phạm Thị Hằng nhuần nhị, đoan trang, hiếu hạnh, nhân từ; Hạnh Thảo trọng nhân nghĩa, khéo léo, đa cảm nhưng giàu nghị lực; Cam Lộ hừng hực sức sống, nuôi mộng lớn mà nông nổi, dại khờ, dễ bị lợi dụng; Ngọc Bình cả đời ôm nỗi đau hận câm lặng của một tam phi được sủng hạnh trong khoái lạc man rợ của       quân vương; thái hậu Trần Thị Đang đầy tham vọng quyền lực, tuy mưu lược, thông minh, sắc sảo,  nhưng tàn độc, lạnh lùng đến ghê rợn…vv. Những cơn bão quét qua chốn hậu cung toàn do Trần Thị Đang nhen nhóm, thổi bùng, đẩy bao cuộc đời vào bi kịch đớn đau. Thái hậu Đang mang bóng dáng của nhân vật Võ Tắc Thiên trong lịch sử Trung Quốc, người đàn bà quyền lực nghiêng trời, lệch đất nhưng cũng như rắn độc chốn hoàng cung (cho dù chính sử Trung Hoa vẫn còn nhiều bàn cãi về nhân vật phụ nữ quyền lực này).

Thành công nhất của Trần Thùy Mai trong tiểu thuyết “Từ Dụ Thái hậu” không phải là việc “viết lại sử bằng văn” dù có viết một cách sinh động, say mê, tỉ mỉ và trung thực mà là khám phá, tạo dựng, hư cấu những điều không có hoặc không được ghi trong sử sách. Chính chỗ khuyết thiếu, ảo mờ đó là mảnh đất cho sáng tạo văn chương. Những mối tình đẹp đẽ trong tiểu thuyết này là sáng tạo độc đáo của nhà văn. Tình yêu đơn phương câm lặng nhưng sâu sắc của Phạm Đan Quế dành cho Phạm Thị Hằng. Mối tình trong trẻo, keo sơn của hoàng tử Miên Tông với Phạm Thị Hằng. Tình yêu muộn màng, thử thách qua biết bao sóng gió của Phạm Đăng Hưng và Hạnh Thảo. Cả tình yêu quái gở của đức vua Gia Long với tam phi Ngọc Bình được ngòi bút tinh tế của Trần Thùy Mai lý giải thật thấm thía: Ngọc Bình vốn là hoàng hậu nhà Tây Sơn, chính thất của Cảnh Thịnh Đế Nguyễn Quang Toản, nhưng khi Tây Sơn bại trận nàng  trở thành phi tần của Gia Long. Gia Long đắm đuối Ngọc Bình vì nhan sắc nên mới giữ nàng lại làm phi, không giết như những tay chân, thân tộc khác nhà Tây Sơn. Nhưng ngài yêu Ngọc Bình trong sự giày vò thân xác dã man, chỉ cảm thấy hoan lạc trên nỗi đau hoảng loạn của Ngọc Bình, bởi, Trần Thùy Mai lý giải, Ngọc Bình như một nấm mộ nhà Tây Sơn còn hiện hữu, đêm đêm Gia Long khai quật lại, trong niềm hưng phấn man dại của kẻ chiến thắng, chà đạp lên kẻ thù đang quằn quại. Bởi thế, Ngọc Bình là thân phận đau đớn nhất, đáng thương nhất trong cuốn tiểu thuyết này. Tình yêu cũng chính là căn cốt sâu xa để dẫn đến bao tranh đoạt, ghen hờn, mầm mống của những tội ác  kinh hoàng. Thái hậu Trần Thị Đang trở thành một con người đáng sợ cũng do những cay đắng, ghen tuông, tủi hờn chốn hậu cung. Từ một  người vợ tào khang gắn bó với  vua Gia Long từ thuở hàn vi, được vua hết lòng yêu vì, nể phục, đến khi nhà vua nghiêm ngắn ở ngôi cao, nghĩa vợ chồng dường như đã lạt, tình phu thê dường như dần phai vì bên cạnh nhà vua còn biết bao nhan sắc mĩ miều mê hoặc. Không còn địa vị độc tôn trong trái tim người đàn ông duy nhất của đời mình, thì bà tìm cách củng cố địa vị quyền lực chốn cung đình với bao mưu mô hiểm độc. Nhân vật Trần Thị Đang trong tiểu thuyết của Trần Thùy Mai khác với thái hậu Trần Thị Đang trong lịch sử rất nhiều. Và chính cái khác này đã khiến cho đây là nhân vật được xây dựng thành công nhất của tiểu thuyết này. Dường như tác giả bứt ra được cái bóng của lịch sử để thỏa sức sáng tạo nhân vật của riêng mình. Đây là thành công và cũng là hạn chế của tác phẩm. Hạn chế bởi tên tác phẩm là “Từ Dụ Thái hậu”, nhưng nhân vật phụ đã lấn át nhân vật chính. Thậm chí thái hậu Trần Thị Đang xuất hiện nhiều hơn cả Phạm Thị Hằng. Gần hết quyển Thượng nhưng hình ảnh Phạm Thị Hằng vẫn còn rất mờ nhạt, ngược lại nhân vật Trần Thị Đang sinh động, sắc nét, cá tính nổi bật từ đầu đến cuối tác phẩm. Nếu không câu nệ vào tên sách, có lẽ người đọc sẽ thấy cuốn tiểu thuyết này viết về Trần Thị Đang hơn là Phạm Thị Hằng. Trần Thùy Mai viết “Từ Dụ Thái hậu” để thể hiện sự ngưỡng vọng, tri ân một con người được hậu thế hết lời ca tụng như bộc bạch của chị ở đầu sách: “Lúc còn ở Nam Giao, tôi hay vào thăm lăng Xương Thọ, nơi yên nghỉ của bà. Khi bước đi trên nền gạch vỡ nát của ngôi lăng cũ, những hình ảnh xa xưa thường hiện ra trong trí tưởng tượng của tôi như những thước phim sống động. Tính giản dị, khiêm nhường và tình thương của bà như dòng nước dịu mát giữa tàn khốc của những âm mưu chốn cung đình, những khúc quanh đau buồn của lịch sử”. Và nhà văn thực sự đã bị “đóng đinh” vào những ký ức quen thuộc của cộng đồng về nhân vật Từ Dụ Thái hậu: tính giản dị, đức khiêm nhường, tình thương bao la… Bởi vậy, Trần Thùy Mai đã không dám – vâng, thực sự là không dám, bứt ra khỏi ký ức quen thuộc đó để thỏa sức sáng tạo nhân vật. Phạm Thị Hằng – đức Từ Dụ Thái hậu trong truyện không có độ chênh với nhân vật ngoài đời (được ghi lại trong sử sách) nên ít gây hứng thú cho người đọc bằng các nhân vật khác, dù nhà văn đã hết sức nỗ lực chăm chút cho nhân vật này.

Trở lại tên truyện. Rõ ràng sức hàm chứa trong tiểu thuyết này lớn hơn tên truyện. Tôi vẫn lấy làm tiếc và cứ hình dung ra nhà văn trung thành với ý tưởng ban đầu là viết tác phẩm về đức Từ Dụ Thái hậu nên lấy tên bà là tên tác phẩm. Đành rằng qua một thân phận con người sẽ hiện lên cả xã hội, cả triều đại, nhưng trong tiểu thuyết này, như tôi đã nói, sức bao chứa của nó lớn hơn nhan đề nhiều và hỉnh ảnh những nhân vật phụ nhiều khi lấn át nhân vật chính. Tuy nhà văn viết rất kỹ, rất dụng công trong việc xây dựng bối cảnh lịch sử, miêu tả phong tục, tập quán, lễ nghi nhưng vẫn có lúc sơ xuất trong ngôn ngữ. Nhân vật triều Nguyễn của bà có lúc sử dụng ngôn ngữ hiện đại. Những cảnh miêu tả tình yêu trong sáng, đẹp đẽ của Phạm Thị Hằng với hoàng tử Miên Tông cũng theo chiều hướng “hiện đại hóa”, từ ngôn ngữ cho đến cử chỉ, điệu bộ, tâm trạng… của nhân vật. Một Phạm Thị Hằng thuần khiết, nết na, gia giáo trong tình yêu đầu đời mới chớm ở giữa chốn hoàng cung không thể giống Phạm Thị Hằng nhí nhảnh, say mê như những cô gái hiện đại trong miêu tả của Trần Thùy Mai được.

“Từ Dụ Thái hậu” viết theo lối an toàn, và so sánh với tiêu chí của tiểu thuyết lịch sử truyền thống thì khá thành công,  nhưng như đánh giá của nhà thơ Hữu Thỉnh – Trưởng Ban Tổ chức cuộc thi tiểu thuyết lần thứ V của Hội Nhà văn là “có sự cách tân về tiểu thuyết”, là  “cái mốc của sự phát triển tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” (trả lời phỏng vấn trên báo Thời Nay, ngày 25/9/2020, Hà Dương thực hiện) thì thực sự chưa tới. Nhìn tổng thể, “Từ Dụ Thái hậu” vẫn là sự diễn giải trung thành lịch sử, tuy có sinh động, tỉ mỉ, hấp dẫn bởi lối kể chuyện có duyên của Trần Thùy Mai. Nếu Trần Thùy Mai mạnh dạn thoát khỏi sự ám ảnh của việc “trung thành với lịch sử” để nhìn nhận, đánh giá, lý giải lịch sử theo cách riêng của mình, thì tôi tin cuốn sách sẽ hấp dẫn hơn rất nhiều.

Hải Dương, 20/2/2020

Nguyễn Thị Việt Nga

Theo https://vanvn.vn/

 

Nguyễn Linh Khiếu với Phồn Sinh: ”ta một mình ở lại để dòng sông trôi đi”

Đồng hành với các nhà thơ đương đại như Hoàng Hưng, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Trương Đăng Dung, Mai Văn Phấn, Nguyễn Trọng Hoàn… Nguyễn Linh Khiếu đã tạo được dấu ấn riêng từ quá trình đi tìm thế giới tự thân. Lặng nhìn qua ô cửa sổ cuộc đời, nhà thơ đối thoại với mình, lạnh hơn cả sương tuyết! Kẻ độc hành, cô đơn, một mình ở lại với đời, với người, trong thơ, không ai khác đó chính là anh, trước biến chuyển khôn lường của vũ trụ.

Từ Chùm mơ tiên cảm (1991), Mùa thiêng (1995), Hoa linh (2000) Sa hồng (2018), Beijing – Lá phong vàng (2018), Phồn Sinh (2018) và Dòng Thiêng (2019) có thể thấy một chân dung Nguyễn Linh Khiếu khá bí ẩn, luôn buồn lặng trước bộn bề cuộc sống. Dù bao lần thấy mọi người tranh cãi sôi nổi, nhiều chuyện, cả những vấn đề liên quan đến đổi mới nghệ thuật, cả những vấn đề liên quan trực tiếp đến thơ anh, tên anh cũng không thấy anh nói gì. Với anh Tranh cãi với những người không biết thì thật ngốc nghếch bởi Những thân cành khô kia làm sao chứng minh được đó là anh đào (Anh đào), [1, tr.37]. Anh vẫn ở đó, im lặng, hiện hữu với nỗi cô đơn, hoang hoải giữa cõi người. Đêm phương Bắc thăm thẳm trong suốt. Có thể nghe được tiếng thì thào của xa xưa. Bỗng dưng hoang mang hoảng hốt vô cùng (Trăng non) [1, tr. 27]; Nhìn cây run lên giữa đêm đông băng giá Beijing lòng mình bỗng dưng chùng xuống. Sự sống bị vùi dập giữa đêm đen băng giá (Gió đêm) [1, tr. 28]. Một mình, với anh là hạnh trắng, là triết luận về quan niệm đắc thời và thất thế chỉ là tích tắc trong cuộc đời mỗi con người. Vinh và nhục chỉ là chớp mắt trong nhân gian. Điều căn bản trong tâm thức nhà thơ là phải luôn giữ được phẩm hạnh bản nguyên của mình, dù hoàn cảnh thế nào mình vẫn cứ là mình. Như có lúc anh từng mơ ước nếu ta có một quốc gia/ trên lãnh thổ nhiệt đới phì nhiêu của mình ta chỉ trồng hoa hạnh/ người yêu hoa khắp thế gian hành hương về chiêm ngưỡng/ thiên đường hoa hạnh của thi nhân (thiên đường hoa hạnh) [2, tr 11]; ta một mình trong cơn mưa nhiệt đới mỡ màu thánh thiện/ ta một mình trú ẩn dưới trắng ngần hao hạnh giữa cơn dông (hạnh trắng), [2, tr 56]; một mình lang thang ngổn ngang hoang phế/ một mình sừng sững cột sắt chiều vàng/ hoa cỏ thì thào giai điệu phồn sinh (Cột sắt New Delhi- Sa hồng) [2, tr 76]…

Nhưng đến Phồn Sinh thì khác, nhà thơ lặng lẽ đối thoại, theo cách riêng của thơ, không cùng chung con đường với bất cứ ai! Một mình, ngẫm, hạnh phúc, đau khổ, được mất, những tổn thương, những biến cố bất ngờ, những quy luật phi lý không thay đổi được… càng cô đơn! Khi con người thật sự “tự do” về bản thể của mình, khi những rào cản về mặt tư tưởng đã được gỡ bỏ, nhà thơ thỏa sức kiến tạo thế giới nghệ thuật riêng. Phồn Sinh là kiểu hình thức mới của Cái Tôi bản thể Nguyễn Linh Khiếu soi ngắm thế giới từ bên trong mình. Anh đã từ một góc nhìn riêng, đồng hành với các nhà thơ thế hệ 5x trong quá trình nỗ lực cách tân nghệ thuật để tạo dựng một nền thơ Việt Nam hiện đại.

Thơ, với Nguyễn Linh Khiếu hình như ban đầu chỉ là kiểu nhật ký truyền thống ghi lại cảm xúc lúc cô đơn. Nhưng càng về sau, nhà thơ càng thấy không thể viết lại hết những cảm xúc chợt đến bằng một hình thức thơ gò bó. Nguyễn Linh Khiếu đột phá thể thơ, kết cấu, chuyển hóa ngôn từ “phồn sinh” theo nhiều cách khác để diễn tả tình yêu, nỗi cô đơn của tha nhân, của chính mình. Một mình, tự nguyện ở lại với lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc nhưng luôn tìm cách đổi mới hình thức thơ, hướng đến không gian trong trẻo như loài hoa hạnh trắng. Có lẽ đây cũng là một trong những khởi nguồn cho Phồn Sinh của Nguyễn Linh Khiếu. Những biến chuyển mới của thời hiện đại đáp ứng được nhu cầu vật chất nói chung, nhưng không phải giá trị nào của cuộc sống mới cũng phù hợp với văn hóa người Việt. Những khập khễnh, lệch chuẩn luôn tiềm ẩn những bất đồng. Nếu không giải quyết được những mâu thuẫn cuộc sống diễn ra hàng ngày, con người phải chấp nhận cô đơn. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhà thơ lựa chọn cách một mình, lặng lẽ bước vào hành trình định giá lại giá trị văn hóa lịch sử ngàn năm châu Thổ.

Nhà phê bình Hoàng Thụy Anh đã thống kê 287 lần tác giả dùng từ ta là (ta – Linh – Muslim) /136 lần dùng từ phồn sinh với nhiều ý nghĩa khác nhau. Với tâm thức ta – một mình, độc hành trên con đường sáng tạo, không có nhu cầu được khen chê, Nguyễn Linh Khiếu đã tạo nên một kiểu thơ không giống ai. Một mình ta đơn độc giữa thế giới náo nhiệt, đối diện với không cùng vũ trụ, Nguyễn Linh Khiếu mang phong cách của nhà thơ thời đại, của triết gia thời kỳ biến đổi. Phồn sinh vì thế có bàn về tự do, về dân chủ, về sự thật, về tinh thần giải phóng, về cội nguồn, về một dân tộc quật cường… nhưng một mình ở lại – ta là ai? … là con cái của dân tộc quật cường dân tộc hiên ngang bất khuất [3-110]// … là đứa con của dân tộc kiêu hãnh dưới mặt trời nhiệt đới [3-114] // … là đứa con của châu thổ Sông Hồng [3-123]

Ta soi vào khuôn mặt người để đối diện với cả loài người, ta soi vào khuôn mặt người để ta đối diện với cả thế giới. Trong thế giới này, con người, dù màu da có khác nhau, chính kiến có khác nhau nhưng vẫn cần phải luôn nương tựa vào nhau để sống. Con người là con người thế giới lớp lớp kế tiếp nhau, là nhân quả của nhau khăng khít trong kiếp luân hồi. Có khi nào ta – một mình soi vào khuôn mặt người để ta đối diện với chính mình, để đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi vì sao ta có mặt ở hiện tại, trong cõi phù sinh? Ta – khi một mình mới hiểu sâu về nguồn cội, ta sinh ra ở đâu, như thế nào?

ta sinh  ra nơi cửa mở sông Hồng/ nước rực đỏ cuồn cuộn dâng trào hùng tráng những bến bờ/ nước phơi phới phập phồng cồn cào sinh lực [3-136]

soi vào khuôn mặt ai ta khám phá ra khuôn mặt Linh

khám phá ra bản chất đời sống phương Đông thung dung an nhiên tự tại của các hiền nhân quân tử của các tao nhân mặc khách của các tài tử thi nhân của các bậc lão làng trưởng họ thâm trầm phơ phơ tóc râu đại thọ [3-163]

Cũng có khi một mình ta đơn độc giữa hành trình đi tìm chân dung nàng thơ theo một cách riêng. Con đường độc hành bao gian nan khó lường trước. Có khi nhà thơ một mình nhập thân vào loài vật tuân theo quy luật 12 con giáp theo quan niệm của người phương Đông: Từ Tí, Sửu, Dần…Hợi. Nhưng 12 con vẫn chưa đủ, một mình ta còn có thể ở lại với chú chim hải âu bé nhỏ, là chú vịt tài hoa, là chú cá nhỏ nòng đong cân cấn, là con tôm ngúng nguẩy, là thủy tức loài sinh vật nhỏ nhoi nhút nhát, là con giun cần mẫn, là con sâu yếu ớt và mềm nhũn, là cái kiến bé nhỏ lầm lũi, là con ruồi bay rối rít, là con muỗi với đời sống vô cùng ngắn ngủi, là con giòi nhung nhúc trong đống phân trâu, là con dế mèn võ sĩ, là con cánh cam xanh biếc, là con bọ hung đen thui bóng lộn bẩn thỉu hiện hình của Lý Thông gian ác… Là những con không hề xuất hiện trong lục thập hoa giáp nhưng đều có số phận riêng của nó, lận đận… như số phận bao người tự quàng vào mình thành kẻ làm thơ.

Một mình, nhập thân vào con vật vẫn không nói hết, nhà thơ còn hóa nỗi cô đơn vào thiên nhiên. Đó là khi một mình ta như tia nắng mặt trời tưới nguồn sống xuống khắp thế gian, khi là ngọn gió tự do bay dài rộng hay bạt ngàn bay mênh mông bát ngát, khi là cái cây lúc lỉu quả vàng, khi là ngọn cỏ bao giờ cũng xanh mướt, khi là cây nấm bất ngờ rơi từ trời rơi xuống, khi ta là dòng nước trong vắt chảy đầm đìa, khi ta là hạt phù sa cuồn cuộn trôi nổi trên sông Hồng. Nhưng một mình, thật lạ, không gì hơn vẫn mang cảm giác rợn ngợp, khi đã là con người phập phù trong vũ trụ.

khi ta là con người/ khi ta là bất cứ cái gì/ chẳng hiểu sao trong vũ trụ bao la này bao giờ ta cũng là một cái gì đó nhưng bao giờ ta cũng không phải là nó [3-54]. Phồn Sinh nói còn về vấn đề đối thoại và hòa hợp giữa phụ nữ với đàn ông. Phụ nữ với anh như que kem, mát lạnh và hấp dẫn, chứa bao điều vĩ đại. cơ thể phụ nữ chính là bí mật vĩ đại nhất của thế giới này [3- tr. 301]. trong thế giới này không có hành vi nào tuyệt vời bằng cưỡi lên lưng nhau cưỡi lên bụng nhau cắn đuôi nhau quấn quanh nhau không có hành vi nào tuyệt vời bằng hành vi đạp mái nhảy đực [3-tr.307]. Nhiều phát ngôn về phụ nữ nhẹ nhàng, trân trọng, chan chứa yêu thương, nhưng cũng có những lúc dữ dội:

đàn ông là thần dược của đàn bà/ đàn bà là thần dược của đàn ông/ đàn ông bao giờ cũng là bã thuốc của đàn bà/ đàn bà bao giờ cũng là vực thẳm chôn sống tất cả đàn  ông [3-396] / nơi nào nhiều đàn bà đẹp đàn ông ở đó bao giờ cũng là chó má trau bò ruồi nhặng giun dế giòi bọ ma quỷ [3- 362]

Phồn Sinh còn bàn về sự thông minh của con người, về chiến tranh, đao phủ thời hiện đại, về thiện ác, về đạo đức học, mỹ học, khoa học, triết học, văn chương, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, chính trị, tôn giáo… theo cách nhìn của người làm nghệ thuật. sự thông minh và vĩ đại của những con người hiện đại đang hàng ngày hàng giờ đưa nhân loại đến tự hủy diệt mình có phải trong triệu triệu năm vẫn xoay của trái đất nhân loại vẫn loanh quanh một vòng tuần hoàn tột đỉnh  giầu sang sung sướng đó cũng là khởi điểm con đường tất yếu tuyệt diệt nhân loại đã trải qua nhiều lần được sinh ra và nhiều lần tự mình hủy diệt [3-247]

ta chợt hiểu ra đã hàng ngàn năm nhân loại xưng danh con người nhưng nhân loại vẫn luôn hiện nguyên hình một loài thú dữ [3-267]

trên thế giới này chưa có loài dã thú nào ác hơn hơn loài thú tên người [3-270]

hạnh phúc bao giờ cũng giống nhau nhưng các xứ sở khác nhau các dân tộc các xã hội khác nhau rất khác nhau về hạnh phúc/ hạnh phúc chỉ là một nhưng cái kiểu hạnh phúc của mỗi con người mỗi dân tộc mỗi nền văn hóa lại khác nhau/ hạnh phúc chỉ là một nhưng mỗi người lại có  một hạnh phúc/ không có hạnh phúc chung cho tất cả mọi người [3-295]

ở đâu trên thế gian này cũng vang lừng khúc ca tinh cha huyết mẹ/ chẳng có gì hùng vĩ hơn cha/ chẳng có gì diệu kỳ hơn huyết mẹ [3-315]…

Và trong thời khắc chọn một mình ở lại, anh đã phải thốt lên:

hỡi con người hãy kính trọng tôn vinh nhau đúng như con người [3, tr 320]

Phồn Sinh còn nói về quy luật tự nhiên, ghi nhận, đồng thuận với quy luật tự nhiên. Thừa nhận tự nhiên tồn tại vĩnh hằng trong không gian và thời gian đời người. Câu thơ quy luật của tự nhiên là quy luật vô cùng tiết kiệm [3-331] được nhắc lại nhiều lần đầy ẩn ý:

con người buồn cười thật/ thế giới này có nghĩ gì đâu/ cái gì có là có cái gì không là không/ cái gì có là không cái gì không là có/ ngay cả không và có cũng chỉ là cảm giác của ta [3-tr.332]

quy luật tự nhiên muôn đời là tiết kiệm [3-tr.336]

quy luật tự nhiên muôn đời là tiết kiệm [3-tr 341]

Con người trong Phồn Sinh là con người cá thể soi mình vào xã hội, vào cái ngoài mình để nhận diện đúng mình. Con người với nỗi cô đơn bản thể luôn biết cách tự nhận diện mình trước các giá trị phổ quát của nhân loại để khẳng định rõ hơn về mình, ý thức về giới hạn của mình và nỗ lực vượt lên giới hạn.

mỗi chúng ta chỉ có năm mươi phần trăm để tồn tại trên đời/ còn năm mươi phần trăm kia là thuộc về người khác [3-341]

Phồn Sinh ẩn chứa năng lượng của thế giới reo gọi, những năng lượng tương đồng trong chính con người khi đối diện với bản thân mình. Đó cũng là thông điệp của một triết gia trong hành trình luận giải sự vô thường của thế giới, sự hiện sinh của cõi người, sự tồn tại của mọi sinh linh.

sự thông thái bao giờ cũng là kẻ thù của đám đông [3- tr.368]

ta chỉ là một triết gia nửa đời nửa đạo/ một thi nhân nửa tỉnh nửa mê/ một nam nhi nửa đàn ông nửa đàn bà một con đực nửa già nửa non [3- tr.392]

Trong hành trình dằng dặc cô đơn ấy, nhà thơ trở về bản thể của chính “ta”. Phồn Sinh như thế đã được viết bằng cảm xúc, bằng hơi thở, bằng nước mắt và cả máu. Phồn Sinh còn mang hơi thở dung dị của cuộc sống, gần với sự bắt đầu của  châu thổ Sông Hồng. Nhà thơ, nếu là nhà thơ chân chính thì muôn đời, vẫn còn luôn ở đó, sông Hồng vẫn cứ trôi! Và, anh vẫn một mình, cô đơn ở lại trong ngôi nhà ngôn ngữ hữu thể!

ta đã viết bản trường ca Phồn Sinh bằng chính sinh mệnh của mình/ bản trường ca Phồn Sinh đã viết ta bằng chính thiên mệnh của ta/ không viết bản trường ca Phồn Sinh nghĩa là ta không hề sinh ra trên mặt đất/ viết bản trường ca Phồn Sinh rồi không biết ta sẽ sống trong thời đại của ta thế nào [3-tr.709]

đi đâu rồi cũng trở về nơi mình ra đi/ trở về nơi mảnh đất cửa biển ven sông quê cha đất tổ [3- tr. 622]

đi đâu rồi cũng trở về ngôi nhà của mình [3- tr.137]

hạnh phúc biết bao nếu những người còn là con người [3- tr.673].

Một mình ở lại, suy tư, đặt lại vấn đề truyền giống, sinh sản, giao hoan, hôn phối, đàn ông, đàn bà… tất thảy. Thơ Nguyễn Linh Khiếu không chỉ có khả năng truyền lực sống theo nghĩa giống nòi (sinh sản đó là giá trị của mọi giá trị) [3- tr. 679], mà còn ăp ắp năng lượng tinh thần, tính nhân văn, chuyển tải nhiều thông điệp về đạo làm người trong xã hội… Phồn Sinh còn là sự cố tình sắp xếp các kiểu ngôn từ theo cách mạch đồng hiện cảm xúc. Các cấp độ từ đứng cạnh nhau ở nhiều dạng thái: khó hiểu – dễ hiểu; đơn nghĩa – đa nghĩa, sang trọng – bình dân; có học vấn – không học; có khả năng sống – hiện hữu của sự chết… Hình như ngay lúc cầm bút, tác giả không có nhu cầu được người đọc hiểu mình. Phồn Sinh vì thế đã “thật thà” giúp nhà thơ ghi lại cảm xúc, giải tỏa ẩn ức, giải phóng năng lượng ngôn từ chất chứa bao lâu, bao năm chưa nói ra được với mình. Đây cũng là những dòng tự thuật tâm trạng nhất, không ngại, không sợ, là chính mình trong phồn sinh tư tưởng. Một mình ở lại, vắng vẻ, chót vót trên đỉnh đồi tư duy. Một mình tự thay đổi các dạng thế: đứng đầu, bơi lên trên, lặn xuống đáy, bay trên, ngụp dưới, ngồi nhìn từ xa, lại gần… để cảm nhận sự biến ảo diệu kì của thế giới ngôn từ. Dòng sông ấy không còn là châu thổ mà đã hóa sông thơ, dòng phồn sinh trong cảm xúc của thi sĩ đa tài. Không cần đức tin vào một tôn giáo duy nhất, không cần nhà thờ, không cần không gian cầu nguyện linh thiêng của giáo đường nhưng Nguyễn Linh Khiếu đã như là một vị giáo chủ truyền “đạo đời” Phồn Sinh lạ, quyến rũ. Thơ anh vì vậy, có khi mộc mạc, giản đơn, có khi phức tạp, du dương như tiếng hót của một loài chim lạ. Là loài chim không cần tên tuổi trong vũ trụ bao la, hiếm khi phô trương thân hình, chỉ hiện diện khi cất lên tiếng hót vang vọng, trong trẻo.

Xét về mặt ngôn từ, thơ anh vừa có sự sáng tạo, vừa có sự hủy diệt ngôn từ vì khả năng sản sinh từ mới trùng điệp. Lối tư duy triết học hiện sinh, dòng chảy cảm quan vô thức vừa thừa nhận cái ngẫu nhiên và tất nhiên, vừa là sinh mệnh vừa là thiên mệnh, vừa tốt tươi, trẻ trung, ngây thơ, vừa khô héo, xù xì, từng trải… đều có trong thơ Nguyễn Linh Khiếu. Cũng như đã có lúc anh tự nhận mình là con của nhiệt đới gió mùa, của mặt trời quanh năm đỏ tươi nồng nàn bỏng cháy, là đứa con của trung tâm mưa giông bão tố, con của vành đai động đất sóng thần đất núi lửa… nhưng hơn tất cả, xem ra tự hào nhất với ông vẫn là ta – một mình trong vị trí người con trai lịch lãm ở lại với châu thổ sông Hồng luôn cồn cào rạo rực giàn dụa phù sa.

Thơ Nguyễn Linh Khiếu đã “khoe sắc” từ những điều giản dị. Không tô vẽ rực rỡ, nhưng không chấp nhận kiểu thơ thiếu dụng ý của kỹ xảo của hình thức ngôn từ, cũng không chủ ý chuyển tải đạo đức nặng nề như thơ truyền thống mà nhẹ nhàng đưa đến cho người đọc những ngẫm ngợi sâu xa về lẽ đời, về triết lý nhân sinh, về ngọn nguồn sự sống. Đọc thơ anh vì thế phải ngẫm “ngẫm mà xanh”. Bởi thơ Nguyễn Linh Khiếu trước hết là nhật ký của cảm xúc tâm hồn, cồn lên nỗi nhớ và nhớ, đồng vọng về quá khứ với khao khát yêu thương và hướng đến tương lai với những hành vi sống đẹp. Lược bớt hoàn toàn hình thức câu thơ truyền thống ở cách ngắt dòng, không sử dụng dấu câu, Phồn Sinh buộc người đọc phải theo dõi liên tục mạch cảm xúc của tác giả đôi lúc đến mệt mỏi, muốn bỏ cuộc. Tuy nhiên phồn Sinh có nhiều chương, nhiều câu thơ mang tính hài hòa về âm điệu khá rõ nên luôn tạo hứng thú cho người đọc cùng đồng hành sáng tạo với nhà thơ trên hành trình đến với chân trời châu thổ. Nhà thơ đã tận hiến, mê say, nâng niu từng khoảnh khắc sống, từng phút giây có mặt trong hiện tại. Những chuyến đi, những buổi gặp gỡ ân tình sâu nặng, cũng như những khoảnh khắc gặp gỡ ngắn ngủi vì công việc, vì hoàn cảnh, vì nhiều lí do, anh đều trân trọng, nâng niu như những báu vật. Đó là phong cách riêng của thơ cũng như trong cuộc sống của Nguyễn Linh Khiếu. Những điều bình dị trong cuộc sống được anh làm mới thêm trong thơ bằng trái tim nhạy cảm của thi sĩ. Giản dị cũng là phần thiết yếu tạo nên con người anh, nuôi dưỡng cuộc sống hiện tại của anh trong tình thân ái, chan hòa với mọi người.

Thơ Nguyễn Linh Khiếu có nói đến nhiều chủ đề khác như tình người, tình yêu, lẽ sống, tồn tại của xã hội, sự biến dịch của vũ trụ, hiện tồn của không thời gian…, nhưng đọng lại trong lòng người đọc là lời cảm ơn tình nghĩa của tác giả đến tất cả những người luôn yêu quý mình, hiện hữu bên mình, và cảm ơn cả những người khác mình, chưa thích mình, “lúc hiện hữu, lúc không”. Với anh, hiện hữu của tất cả họ đều luôn quan trọng, luôn có trong ký ức của anh để giúp anh hiểu, anh lớn thêm, để làm một con người đúng nghĩa. Dù những kỷ niệm có làm anh hạnh phúc hay đớn đau cả tâm hồn lẫn thể xác thì đó cũng là những phần thiết yếu cho anh có những bài học sống trải quý giá trong cuộc đời. Dù đã có lúc cô đơn đến cùng cực, không sẻ chia được đến phải lặng im, nhưng lặng im của anh là kiểu lặng im cồn cào đáy biển để chuẩn bị cho những đợt sóng dữ dội, sự “lên men” của thơ.

Con người sống trong đời là vì khao khát điều gì đó chưa làm xong. Sẽ hết lí do để sống nếu không còn biết khao khát! Thơ anh giúp người đọc hiểu rõ trong tận cùng nỗi cô đơn khắc khoải, con người vẫn phải biết cách sẻ chia để được bình yên, được sống tận hiến, sống có nghĩa với cuộc đời. Tôi chợt nhơ câu thơ của Nguyễn Trọng Hoàn, (không biết vô tình hay hữu ý) như là tâm giao với Nguyễn Linh Khiếu Người ta khổ là do không cháy được/ Dù cháy vì vui hay cháy vì buồn! (Hình như). Phồn Sinh cũng không phải là lời than thở khao khát giành quyền sống như thơ ca Việt Nam truyền thống một thời, mà là sự tự nhận thức bản thể tự cô đơn. Đó là nỗi cô đơn một mình đối diện, gắn liền với thân phận, luôn trăn trở với khát vọng sống, khát vọng giao cảm trong thế giới của chủ thể trữ tình. Cuối cùng, đọng lại với người đọc vẫn là màu sắc triết luận đa chiều trong thơ, nỗi niềm khắc khoải của thi sỹ về phận người cô đơn trước vũ trụ vần vũ, như có lần anh đã từng ngẫm ngợi: Trong cuộc sống, không phải tất cả ra đi là sẽ hết, có những lúc ra đi nhưng không có gì biến mất. Tiếng chim thiêng đâu đó vẫn vang vọng ngàn năm luôn thôi thúc các thi nhân. Đôi khi chỉ mình ta và hoa mưa vời vợi biển trời (mưa rơi dọc Cam Ranh) [2, tr 40].

Chú thích:

[1]. Beijing – Lá phong vàng, (tùy văn) Nxb Hội Nhà văn, 2018 [2]. Sa hồng, (thơ và trường ca) Nxb Hội Nhà văn, 2018 [3]. Phồn sinh, (Trường ca), Nxb Hội Nhà văn, 2018.

7/3/2021

Mai Thị Liên Giang

Theo https://vanvn.vn/

 

Những dòng suối xuân trong

Câu hỏi trẻ thơ là tuyển tập tác phẩm Lê Phương Liên viết từ năm 1970 đến 2020. Tôi gọi đó là cuốn album đời người và đời văn Lê Phương Liên. Không có mặt những truyện vừa đã làm nên tên tuổi của nhà văn, đây là bộ sưu tập gồm 50 truyện ngắn và tản văn của Lê Phương Liên trong 50 năm cầm bút. Những con số ấy làm chúng ta xúc động. Trong văn học Việt Nam, dễ gì tìm thấy nhiều đời viết có thâm niên như thế?

Lê Phương Liên đến với văn chương ở cái tuổi 19, 20 rất đẹp của cuộc đời và bền bỉ làm sứ giả niềm vui cho các em thiếu nhi. Ở cuốn album đặc biệt này, chiếm phần đa vẫn là những trang viết về thiếu nhi; viết về những kỉ niệm liên quan đến ấu thơ nhà văn; viết về những nhà văn thân quý của tuổi nhỏ (Tô Hoài, Phạm Hổ, Đoàn Giỏi, Trần Hoài Dương, Nguyễn Nhật Ánh…). Mỗi tác phẩm đều được chú thích rõ về thời gian xuất bản, nơi in ấn lần đầu, có khi là một số chia sẻ về các giải thưởng liên quan. Trong mỗi thông tin ấy, ta đọc được sự biết ơn của tác giả với năm tháng cuộc đời, với những con người và địa chỉ đã kết nối chị với văn chương và tình nguyện gắn bó dài lâu. Với tuyển tập này, ngoài giá trị tư liệu, độc giả biết thêm về một Lê Phương Liên nhà giáo với những trang viết đầy tin yêu về nghề; một Lê Phương Liên nghiêm túc với từng con chữ đúng như phẩm tính của một cán bộ biên tập lâu năm của nhà xuất bản Kim Đồng; một Lê Phương Liên nghĩa tình với quá khứ, luôn gom góp nâng niu từng kỉ niệm gắn với từng con người đã đi qua đời mình. Và hơn hết, là một Lê Phương Liên nhà văn với những riêng biệt đáng yêu và đáng trọng.

Lê Phương Liên rất trẻ thơ, tôi nhận ra và thích thú với điều đó. Trẻ thơ là phẩm tính người lẫn phẩm tính nghề mà không phải ai cũng có được. Lê Phương Liên luôn viết cho thiếu nhi bằng nguyên vẹn niềm tin ngây thơ của tuổi nhỏ. Chị lắng nghe “thứ ngôn ngữ vô thanh truyền cảm” của vạn vật và chuyển thiên nhiên thành những kí hiệu thẩm mĩ sống động, đẹp đẽ trong thế giới nghệ thuật. Mọi thứ diễn ra mềm mại, khéo léo vì ngoài văn chương Lê Phương Liên còn có năng khiếu hội họa. Không chỉ là vùng “an trú” của tâm hồn, sự tồn tại của thiên nhiên trong các tác phẩm của Lê Phương Liên làm ta tin người viết về nó thực sự nhân hậu, đa cảm trong từng nếp nghĩ. “Mỗi con vật, mỗi tấc đất, mỗi ngọn cây, mỗi con hồ, cái ao… đều biết kêu khóc nếu ta làm đau đớn” (Tiếng trò chuyện vô thanh). Đấy là kiểu tình yêu lương thiện, sáng trong, bé mọn, buộc chúng ta đôi ba lần phải dừng lại lắng nghe thanh âm của những mầm sống đặc biệt trong thế giới tự nhiên. Nhà văn còn cẩn trọng cài lên truyện ngắn, tản văn lẫn những truyện vừa không xuất hiện trong tuyển tập những cái tựa tràn đầy ánh sáng: Những tia nắng đầu tiên, Khi mùa xuân đến, Ký ức ánh sáng, Vị ngọt ban mai…. Những cái tên ấy như những gương mặt sáng trong, duyên dáng của sinh thể văn chương bé nhỏ, đủ để dẫn dụ người đọc về miền hạnh ngộ của thiên lương nồng ấm. Khi mỗi câu chuyện kết thúc cũng là lúc hành trình thắp lửa, kết hương khép lại, vẹn tròn trong những cái kết có hậu. Truyện Lê Phương Liên là thế, như một kiểu ảnh hưởng sâu sắc triết lí của truyện cổ dân gian, như chính một Lê Phương Liên chưa bao giờ vơi niềm tin về cuộc đời. Chị viết, không chỉ với tư cách nhà văn mà còn bằng cốt cách của một nhà giáo luôn xem học sinh là những bông hoa của đời mình. “Tâm hồn trẻ thơ như hương, như hoa, trong veo như nắng trời” là một hình ảnh so sánh xuất hiện trong truyện Kỉ niệm những ngày thực tập. Đấy là kiểu tư duy hình tượng rất Lê Phương Liên, lãng mạn, nhạy cảm, bao dung vượt qua mọi rào cản. Đến mức, “đôi khi một làn sương nhẹ nhàng của mùa thu khô lạnh bay đến tôi, đủ làm tôi nhớ đến bồi hồi một ngày thu ở rừng nước Đức, tôi đã gặp một em gái nhỏ bên một con thuyền cổ tích” (Rừng thu).

Có thể gọi Lê Phương Liên là nhà văn của “ngày xửa, ngày xưa”. Phần vì những câu chuyện được phỏng theo truyện cổ dân gian (Cây báo bão), phần vì thi pháp truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn nhuốm lên các tác phẩm (Cô bé Ốc Sên). Ở phương diện này thì độ đậm của “ngày xưa” trong truyện Lê Phương Liên khác với Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Võ Quãng, Phạm Hổ… Cốt cách, tâm thức nhuộm sắc vị “ngày xưa” của từng tác giả mới là điều đặc biệt. Tự nhà văn đã tự thửa một khoảng trời cho mình cũng như nhân vật mang bóng dáng mình. Giữa không gian văn hóa hiện đại, riêng riêng khoảng trời ấy sẽ làm nhiều người ngạc nhiên, “ngờ ngợ như họ vừa từ truyện cổ tích bước ra” (Hẹn hò ở phố hoa). Chính họ đã làm vẳng lên những thanh âm tao nhã của một thời đã xa: những mái tóc điểm bạc, những giai điệu xưa, những câu thơ cũ, trọn vẹn nỗi nhớ về những di tích lịch sử một thời, cung cách nín thở ngắm hoa, hành trình tìm về “Bên kia sông Đuống”… Các nhân vật lặng lẽ trôi chảy về vùng văn hóa cổ xưa. Ở thị thành mà vói vọng về chanh quê vườn nội (Cây chanh); thấp thỏm đợi chờ phút giây hội ngộ xứ Huế để được đặt chân lên những viên gạch trăm tuổi của ngôi nhà cổ kính và được lẫn trong tiếng rì rào “răng, mô, ni, tê…” (Giấc mơ xuân trong ngôi nhà Huế); lễ đền Ngọc Sơn ở mùa xuân năm nay mà bồng bềnh trôi về sáng xuân xưa, buổi vua Lý Thái Tổ “cầm kiếm sáng lòe như tia chớp vụt bay từ phía sông Hồng tới” (Mưa xuân hồ Gươm). Nỗi niềm “cố viên tâm”, hành trình kết nối với quá khứ trong tác phẩm Lê Phương Liên không giản đơn chỉ là tình yêu nguồn cội mà còn là sự ngưỡng vọng trong lo âu. Ở góc độ nào đấy, nhà văn đã trở thành “ông tướng canh đền” nghiêm khắc giữ gìn những nét thiêng của văn hóa truyền thống, như cái cách nhân vật người ông ra sức bảo vệ giấc ngủ của cánh chim Lạc Việt bấy lâu xa xứ, nay đã trở về quê hương ngay trong đêm trừ tịch (Chim Lạc Việt). Ở những câu chuyện thuộc đề tài này, truyện Lê Phương Liên thường có sự tồn tại song hành hai thế hệ: ông – cháu, bà – cháu. Tác giả thay vì chỉ ra sự khác biệt đến xung khắc giữa hai thế hệ thì lại lặng lẽ “thiết kế” những cuộc chuyển giao văn hóa.  Hình ảnh những đứa trẻ líu ríu theo chân bà, chân ông, chân mẹ đến lễ đền, lễ chùa trong truyện Lê Phương Liên đã thể hiện sự quyến luyến của thế hệ trẻ với những lễ nghi, phong tục, lối sống của cha ông.

Đời văn Lê Phương Liên dường như có hẹn với mùa xuân và Hà Nội. Chị dành rất nhiều trang viết về khung mùa tràn trề năng lượng, niềm vui và khát vọng. Đấy cũng là thời điểm con người lắng lòng kiếm tìm “tiếng Tết” (tên một tác phẩm của Lê Phương Liên), buông nhung nhớ về cái thuở “mấy nhà cùng chung một nồi nước lá mùi tỏa hương thơm, bọn trẻ con đứng xúm xít xung quanh sưởi ấm và ôm quần áo xếp hàng chờ “tắm Tết”” (Tết ở sân bay). Lê Phương Liên cũng có những trang văn vượt lên mình khi viết về Hà Nội. Tôi đọc Bốn mùa trong ánh nước với sự ngạc nhiên, thích thú. Chị như đang bay trong sự phóng túng của thể loại tản văn với những phát hiện sắc sảo: “Mình sinh ra ở một chỗ trung tâm, một nơi công cộng lắm, một nơi mà ai ai là người Việt Nam, và tất tật mọi người nước ngoài của cả thế giới này đều có thể đi đi lại lại ở chốn ấy, ăn quà và vứt rác ra chốn ấy, nói đủ mọi thứ tiếng ở chốn ấy… Mỗi tấc đất ở chốn ấy có cả triệu người đã giẫm đi, giẫm lại”; “Hồ Hoàn Kiếm sinh ra để mà gợn sóng lăn tăn mà thôi. Hồ Hoàn Kiếm mà nổi sóng lớn lên thì xấu, hết cả duyên. Ấy thế mà Hồ Hoàn Kiếm vẫn nhiều lúc trông xấu đau xấu đớn như vậy”. Hiếm hoi mới thấy Lê Phương Liên “xù gai” một cách đáng yêu như thế. Một chút thôi rồi lại quay về với dịu dàng tình yêu Hà Nội và thừa nhận, nơi ấy vẫn đẹp lộng lẫy, nhưng “chỉ có đến mùa thu Hồ Hoàn Kiếm mới đúng là mình nhất”.

Nói vậy là bởi văn chương của Lê Phương Liên rất mộc, rất dịu. Tiết tấu truyện kể lẫn tản văn Lê Phương Liên hao hao tiết tấu của thơ, chậm rãi, từ tốn. Xung đột hầu như vắng mặt trong 50 tác phẩm của tuyển tập, có chăng chỉ là những gợn xao động và suy tư. Là người đọc nhiều, tích lũy nhiều, lại có cơ hội đi nhiều để giao lưu văn hóa, đặc biệt là kinh nghiệm viết sách cho thiếu nhi, nhưng tác giả không tập trung tưới tắm văn chương bằng những cách tân hình thức. Hầu hết truyện của Lê Phương Liên là truyện sinh hoạt theo kiểu tả thực – dạng truyện phần lớn tựa vào đời mà kể và tả nên không nhiều yếu tố tưởng tượng. Có thể một số người đọc sẽ ái ngại về hướng đi của tác giả, hướng đi có thể làm nhòe mờ tên tuổi của nhà văn. Tôi cho rằng đó là cái tạng của một nhà văn tử tế, hiền hậu đến mức không muốn làm tổn thương ngay chính nhân vật của mình. Mặt khác, đấy là lựa chọn của một người gắn bó lâu năm với thiếu nhi ở vị trí của một nhà giáo, một người đồng hành với Câu lạc bộ Đọc sách cùng em, một giám khảo cuộc thi viết thư quốc tế UPU… Viết cho thiếu nhi, Lê Phương Liên chú trọng phần khơi gợi rung động của những tâm hồn non tơ. Chị dùng thứ văn chương trong lành giản dị để tiếp tục khơi mở những điều êm dịu, tử tế.

Có lần nhà văn đã nói: “Chúng ta viết cho trẻ em có thể bằng tiếng Pháp, tiếng Lào, tiếng Khơ me hay tiếng Việt… Thế nhưng trẻ em nước nào cũng giống nhau khi khóc, khi cười. Vì thế những tác phẩm hợp với tình cảm của trẻ em sẽ là những tác phẩm không có biên giới” (Ngày thu ở Lào). Càng ngẫm càng thấu ý vị sâu xa của câu nói ấy. 50 năm qua, cái tên Lê Phương Liên vẫn được nhắc nhớ thường xuyên, có lẽ chính vì chị đã nhẹ nhàng chạm đến được tiếng khóc cười chung của độc giả nhỏ. Tôi đọc Lê Phương Liên mà cứ vương vương những câu thơ của Basho:

Mưa mùa xuân

Xuyên qua từng chiếc lá

Nuôi dòng suối xuân trong.

Tác phẩm của Lê Phương Liên tựa như cơn mưa mùa xuân ấy, vẫn hàng ngày âm thầm “nuôi dòng suối xuân trong”.

Tựa bài “Những dòng suối xuân trong” từ ý thơ của Basho, Nhật Bản.

8/3/2021

Nguyễn Thanh Tâm

Theo https://vanvn.vn/

 

Thơ như giọt máu ứa

Nguyễn Thị Hoàng là nhà văn nữ nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975, sinh năm 1939 tại Huế, quê ở làng Quảng Điền, xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Nhắc đến Nguyễn Thị Hoàng là nhắc đến một tác giả văn xuôi tài năng, bút lực sung mãn, văn chương đậm chất hiện sinh, lối viết sang trọng, “quý phái”, với gần 30 tiểu thuyết và nhiều tập truyện ngắn, trong đó có tiểu thuyết “Vòng tay học trò” từng gây “chấn động”, xôn xao văn đàn miền Nam một thời. Nguyễn Thị Hoàng còn làm thơ và là một nhà thơ thứ thiệt từ trong máu huyết, theo đúng nghĩa của từ “nhà thơ”.

Sau năm 1975, Nguyễn Thị Hoàng vắng bặt trên văn đàn. Mãi đến năm 1990, tức là sau 15 năm, Nguyễn Thị Hoàng mới xuất hiện trở lại với “Nhật ký của im lặng” và năm 2007, với bài viết “Nghĩ từ thơ Thái Kim Lan” đăng trên Tạp chí Văn hóa Phật giáo số Xuân Mậu Tý, tháng 12/2007. Đáng chú ý, đầu năm 2020, có hai tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng được xuất bản, đó là tập thơ “Mây bay qua trời xưa” và tập truyện ngắn “Trên thiên đường ký ức”, đầu năm 2021, có năm tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng được xuất bản, đó là các tiểu thuyết, truyện dài “Vòng tay học trò”, “Một ngày rồi thôi”, “Tiếng chuông gọi người tình trở về”, “Tuần trăng mật màu xanh” và “Cuộc tình trong ngục thất”, thông qua Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Đây là lần xuất hiện trở lại của Nguyễn Thị Hoàng sau năm 1975 có vẻ như được chuẩn bị kỹ hơn, nhiều tâm sức hơn, khi hiện nay bà “vẫn sống và viết ở Saigon, trong “cõi riêng” biệt lập bình an” như lời ghi trên các bìa sách của bà vừa xuất bản.

Qua lời tựa “Nói với… ” của Nguyễn Thị Hoàng viết cho tập thơ “Mây bay qua trời xưa”, người đọc được biết năng khiếu làm thơ của Nguyễn Thị Hoàng phát lộ rất sớm, từ lúc còn học lớp 5, lớp 7. Tập thơ “Mây bay qua trời xưa”, tập hợp, tuyển chọn những bài thơ Nguyễn Thị Hoàng đã viết từ 1960 đến 2018. Nhận xét tổng quan về thơ Nguyễn Thị Hoàng, nhà thơ quái kiệt Bùi Giáng đã dành “lời lời châu ngọc” để ngợi khen: “Thơ Nguyễn Thị Hoàng trang nhã như thơ Bà huyện Thanh Quan, mà lại cũng cay đắng như thơ Hồ Xuân Hương, nhiều lúc nghe thống thiết như thơ bà Đoàn Thị Điểm”(1).

Bùi Giáng dùng từ “như”, tức là đã làm “văn học so sánh” khi đọc thơ Nguyễn Thị Hoàng trong mối liên tưởng đến các nhà thơ cổ điển nổi tiếng. Có “như” thì cũng phải có “khác” chứ! Ta hãy tạm gác từ “như” qua một bên để đọc “Mây bay qua trời xưa” với một tâm thế khác, để đi tìm nét mới, nét riêng, nét khác của thơ Nguyễn Thị Hoàng.

Thơ Nguyễn Thị Hoàng đề cập nhiều cung bậc nhân sinh, nhưng cũng như bao nhiêu nhà thơ khác, Nguyễn Thị Hoàng viết nhiều thơ tình và phải nói suối nguồn cảm hứng này ở bà tuôn trào dạt dào, lai láng.

Thơ Nguyễn Thị Hoàng có lối xưng tụng tình yêu khác với thơ tình của những người khác. Với Nguyễn Thị Hoàng, tình yêu có vai trò như một sự “sáng thế”, sự khởi nguồn cho tất cả, tình yêu tôn vinh ngôi vị con người trên cả hai trục không gian và thời gian: “đại cuộc” và “tương lai”:

Sẽ từ em tất cả

Sau lưng thời hai mươi

Cùng mặt trời rực rỡ

Mọc lên một loài người

Sẽ là chương thứ nhất

Huyền sử của muôn loài

Từ đôi môi ngây ngất

Một lần em mỉm cười

Vì em là tất cả

Ta sẽ nối tay đời

Vươn vai qua thế kỷ

Đưa Con Người lên ngôi

Xin tình yêu diễm phúc

Nuôi lòng lành trong tôi

Xin tiêu tan địa ngục

Để trần gian tuyệt vời

Xin tình yêu diễm phúc

Ghi lời thề không nguôi

Một đời cho Đại Cuộc

Một người cho Tương Lai

(Ước nguyện)

Mãi mãi từ em khởi nguồn tất cả

Ngàn muôn năm trời đóng mở luân hồi

(Vết thương vĩnh cửu)

Trong tình yêu, con người được giao hòa cùng vũ trụ, được hấp thu sinh lực từ muôn trùng:

Khi ta nhìn đắm đuối đôi môi em

Là tin vui hạnh ngộ đã lan truyền

Hồn tiểu ngã giao thoa cùng đại ngã

Vượt muôn trùng sức sống trở về tim

(Ngộ nhận)

Thế giới trong thơ tình Nguyễn Thị Hoàng là một thế giới khác thường, thể hiện trên cả hai trục không gian và thời gian: không gian “rợn ngợp”, còn thời gian “nghiêng thế kỷ”, một thế giới được nhân hóa mạnh mẽ:

Có phải bởi nhìn nhau nên đất trời rợn ngợp

Mấy ngàn năm yêu dấu chỉ một lần

Buổi em về trên đỉnh ngọn Lạp Sơn

Anh có thấy trần gian nghiêng thế kỷ

(Tiếc)

Trong thế giới khác thường đó, những cử chỉ âu yếm của đôi tình nhân dành cho nhau không còn là những cử chỉ thường tình muôn thuở nữa mà đã trở thành những nghĩa cử trân quý, những nghi thức xưng tụng đặc biệt của “tôn giáo ái tình”:

Em sẽ rửa chân anh

Bằng môi và tóc em

Em sẽ rửa chân anh

Bằng mồ hôi và nước mắt em

Em sẽ rửa chân anh

Bằng hồi sinh ngàn kiếp cho em

Em sẽ rửa chân anh

Bằng vầng sao long lanh

Em sẽ rửa chân anh

Với ngàn hoa hồng xanh

(Phục sinh)

Tình yêu là cùng chung hơi thở, như hơi thở của nhục cảm trong thơ Xuân Diệu: “Hãy khắng khít những cặp môi gắn chặt” (Xa cách) hay hơi thở của sự hòa điệu trong thơ Huy Cận: “Hồn em anh thở ở trong hơi” (Áo trắng). Hơi thở tình yêu trong thơ Nguyễn Thị Hoàng là hơi thở của “tôn giáo ái tình”, thở tha thiết, khẩn khoản như một nguyện cầu, thở nồng nàn khát vọng như lửa cháy:

Anh có thấy chiều nay em thở

Bằng lời thiêng thánh kinh

Chuyện chúng mình

(Phương trình hợp nhất)

Bao nhiêu lửa cháy lên trời

Từ khi hơi thở yêu người long lanh

(Phân thân)

Xưng tụng tình yêu hết mực, vẫn với bút pháp độc đáo dựng cảnh, dựng tình trên hai trục không gian và thời gian gắn kết nhau, thơ Nguyễn Thị Hoàng đã dựng nên hình ảnh người tình mang chiều kích đặc biệt. Trong sinh thể nhỏ nhoi của con người, có chứa sự trường sinh của thời gian và sự mênh mang của vũ trụ, như thể thấy được rằng “trong hạt cải có chứa núi Tu di” vậy:

Ngọn trường sinh từ hạt bụi nơi chân

Tòa vũ trụ ẩn trong ngần dưới áo

(Tuyệt tịnh)

Xưng tụng tình yêu hết mực, Nguyễn Thị Hoàng có nhiều thi tứ hoan ca chất ngất:

Hãy nhảy trong đời nhau

Khúc flamenco ngập nắng

Cát mặt trời và đêm lửa dậm chân

Trên nền định mệnh chói chang tuyệt phúc

(Thể hiện)

Bút pháp thơ kết nối khéo léo cõi thực và cõi mộng, cõi hư, cái hữu hình và cái vô hình, cái nắm bắt được và cái không nắm bắt được… trong thế giới vi diệu của tình yêu: gối đầu lên trăng tàn, gối đầu lên hương phai hay sấp mình trên nỗi ăn năn:

Dáng em khuất nẻo thiên đường

Tôi về gối chiếc trăng tàn khuya nay

(Tiếng gọi)

Ngồi gối đầu lên hương đã phai

(Lung linh)

Chiều nay xin nằm xuống

Sấp mình trên ăn năn

(Số phận)

Tình yêu hướng đến cái tuyệt đối, như Xuân Diệu viết: “Anh thèm muốn vô biên và tuyệt đích” (Phải nói). Diễn tả đến tận cùng cái tuyệt đối này, có lúc Nguyễn Thị Hoàng mượn ngôn ngữ toán học, hóa học để triết lý về cái một, cái nhất thể hòa điệu của tình yêu:

Đâu cần phải là những vòng tròn đồng tâm

Trong không gian tiền kiếp

Đâu cần là những vòng tròn tương giao nơi tiếp điểm

Mà những vòng tròn phải chính là nhau

Sống chết bằng nhau từng phân tử địa cầu

(Phương trình hợp nhất)

Lại có lúc Nguyễn Thị Hoàng mạnh bạo dùng từ “chết”. “Chết” không có nghĩa là mất mát, tiêu vong, hủy diệt. “Chết” ở đây chính là “nỗi chết”, “chết” tức là sống hết mình, sống cùng tận nỗi đời, sống với “cái tuyệt đối”, “chết” là “thú đau thương”, “chết” là để “phục sinh” trong nước mắt, trong khắc khoải của ái tình muôn thuở:

Người đã tới giữa trần gian vắng lặng

Chân rất êm và lời cũng rất thầm

Cả tinh cầu rung chuyển nhạc tri ân

Lòng tử tội ước trăm lần được chết

(Ác mộng)

Khát vọng của tình yêu là tìm kiếm cái tuyệt đối, cái vô cùng, Nguyễn Thị Hoàng đã diễn tả rất đạt điều này nhưng không dừng lại ở sự “lãng mạn” đó. Với cái nhìn xoáy sâu vào bản thể, nhà thơ cật vấn “thần ái tình” về bộ mặt đích thực của tình yêu:

Linh hồn hay thể xác

Trong mỗi lần yêu đương

Thiên thần hay quỷ ác

Trên những làn môi hương

(Giới hạn)

Nhận chân tình yêu không chỉ có “mê hoan” mà cả “thương đau”, không chỉ có ngọt bùi mà cả cay đắng, thơ Nguyễn Thị Hoàng có những dòng phản tỉnh đầy “cay nghiệt”, bi phẫn, nói như Nguyễn Thị Hoàng, thơ “đôi khi cũng là tiếng gào la thống hận”:

Khi đánh mất lòng tin

Ta chỉ còn đống rác

Khi bỏ quên trái tim

Ta chỉ còn trái nát

(Đổ vỡ)

Nhưng không thể sống mà không có tình yêu. Lời thơ nặng nỗi dỗi người, dỗi đời: “từ chối cõi sống thừa”, “trần gian xin trả lại”, khi tình yêu đã mất:

Ngày mai ta bỏ đi

Trần gian xin trả lại

Đá tảng nào vô tri

Chết một đời rêu ai

(Lời rêu)

Diễn tả tình yêu với muôn vàn sắc thái, cung bậc của nó trong đời, có hoan ca, bi ca, đắng cay, đổ vỡ…, nhưng rồi thơ Nguyễn Thị Hoàng hướng đến tiếng nói sau cùng, tiếng nói của trải nghiệm, của “dấn thân”, vượt thoát, tiếng nói của trái tim thương tích nhưng từ tâm, nhân bản, đôn hậu, bao dung. Như Nguyễn Thị Hoàng đã viết trong lời tựa của tập thơ này: “Thơ là tiếng im thoát ra từ niềm đau, như giọt máu ứa từ vết thương lặng lẽ”:

Ta chép lại tên em bằng nước mắt

Xin thời gian làm nhớ cũng làm quên

(Ảo cảm)

Ta sẽ viết tên em bằng nước mắt

(Ngộ nhận)

Suốt đêm dài ta cắn vỡ trăng mê

Trong tim ấy tình yêu ta chảy máu

(Mơ mòng)

Giữ lấy vết thương mà bay lên

(Vết thương vĩnh cửu)

Trải nghiệm vết thương giúp con trai hóa ngọc. Những viên ngọc thơ cũng vậy, là kết tinh từ những trải nghiệm nhân sinh, nỗi đời sâu sắc, ý vị. Tuy nhiên, việc “hóa ngọc”, “hóa thơ” nào đâu có dễ, vì nó là sự sinh thành từ cơn đau sáng tạo. Để trải nghiệm được mà không bị “nhấn chìm”, không bị đánh mất mình, chủ thể trải nghiệm phải có ý thức cao về bản thể của mình. Chịu ảnh hưởng của triết học hiện sinh, thơ Nguyễn Thị Hoàng đầy trở trăn về việc tìm kiếm, tạo nên cái tôi, “tôi làm ra tôi”, giữ gìn, khẳng định cái tôi bản thể, tránh nguy cơ vong thân, tha hóa, đánh mất mình:

Ta hiểu rồi, ta sẩy mất đời ta

(Mơ mòng)

Tôi trở về tôi cũng biến mất tôi

(Cuối cùng)

Tôi ơi tôi lạ tôi rồi

Ngàn năm biệt xứ mỗi đời vong thân

(Kinh định mệnh)

Bỗng một ngày ta trở lại tiền thân

(Trở lại)

Chiều rồi chiều ta đi tìm kiếm ta

(Mùa đông thứ mười bảy)

Hỡi ta 

Phải trở về nguyên sơ bản thể

(Thể hiện)

Và đây là cái tôi phong phú, giàu có về mặt tâm hồn, cái tôi an nhiên tự tại với chân tâm của mình, qua trải nghiệm nhân thế, cái tôi của con trai hóa ngọc:

Một thân qua khổ nạn

Thân ấy trải muôn ngàn

Một tâm qua bão loạn

Chân tính hoài vô can

(Thể nghiệm)

Thơ Nguyễn Thị Hoàng có một nẻo vào cõi Phật, vào Thiền như một lẽ thường tình, trên hành trình hóa giải “khổ nạn” và vượt thoát, thăng hoa về mặt tâm hồn, tâm linh trong cõi nhân sinh. Nhận ra sự vô thường của tạo hóa, sự hữu hạn của đời người trong cõi tạm:

Dưới bàn chân đại nguyện dẫm hư không

Trên cỏ biếc giọt sương hồng ảo hóa

(Vết thương vĩnh cửu)

Bởi vì ta là phóng ảnh phù du

Không mà có có mà không lở dở

(Trầm ca của gió)

Lạ lùng cơn mộng huyễn

Trẻ thơ thoắt bạc đầu

(Trời đi đâu)

thơ Nguyễn Thị Hoàng tập trung “thiền quán”, quán tưởng về lẽ “sắc không” theo cái nhìn của nhà Phật: “Bởi tất cả đâu phải là sự thật, Có rồi không không vẫn có vô cùng” (Vết thương vĩnh cửu). Chữ “không” của nhà Phật không phải dùng để nói về cái không có, mà dùng để nói rằng sự vật có đó, nhưng không có tự tính độc lập, tất cả do duyên hợp mà thành. Theo đó, nhà Phật bảo có mà không, không mà có (sắc tức thị không, không tức thị sắc). Ví như thân xác con người hình thành bởi tứ đại: đất, nước, gió, lửa, những thứ đó con người không tự có mà phải vay mượn của tạo hóa và trả lại tạo hóa khi lìa đời. Thơ Nguyễn Thị Hoàng đã diễn tả chữ “Không” trừu tượng đó của nhà Phật một cách dễ hiểu, rằng con người không nên nhầm tưởng ở cái có giả hợp, mà phải vượt qua cái giả hợp, vượt qua tham sân si để vào “Không”, tức là vào tận thể tính của sự vật: “không vẫn có vô cùng”, “chỉ hư không là của cải” (xin mở ngoặc, hư không ở đây không hiểu theo nghĩa: không có gì):

Đời như đá nén trong tim

Thoát thân khoảnh khắc qua Thiền vào Không

(Nhẫn)

Có thể nói, “Mây bay qua trời xưa” là tập thơ tinh tuyển một đời của Nguyễn Thị Hoàng, một cây bút văn xuôi nổi tiếng vẫn dành bao tinh lực, tâm huyết cho thơ. Thơ tình, thơ đời, dò thấu những miền thẳm sâu của tâm lý, đậm chất triết lý. Thơ có vần, thơ tự do, có những bài thơ dài, cảm xúc như lớp lớp sóng xô dào dạt, chan chứa. Chất thơ và bút pháp thể hiện có những nét mới, hiện đại. Đạt được kết quả đó là do Nguyễn Thị Hoàng ý thức sâu sắc về sự thai nghén, sinh thành tác phẩm:

Trời đứng nghiêng mình trên đỉnh non

Hai chân run rẩy mím môi hờn

Một dòng suối thắm trào trong đất

Vũ trụ tan tành sấm chớp tuôn

(Tác phẩm)

Đó chính là cơn đau sáng tạo: trải nghiệm, chất chứa, “bùng nổ”, thăng hoa!.

Chú thích:

(1) Bùi Giáng đười ươi chân kinh, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2012, tr. 305.

8/3/2021

Nguyễn Hoàn

Theo https://vanvn.vn/

  Trải nghiệm trong cảm nhận văn chương Đọc văn, đọc thơ đúng và hay cũng là cách dẫn dắt quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương cho ngườ...