Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

 

Tọa đàm “Tác phẩm hay – Từ tiếp nhận và sáng tác”

Chiều 11/8/2025, tại Nhà sáng tác Đà Lạt, Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh tổ chức buổi tọa đàm “Tác phẩm hay – Từ tiếp nhận và sáng tác” trong khuôn khổ Trại sáng tác Đà Lạt 2025. Đây là dịp để các nhà văn, nhà thơ và bạn viết nhiều thế hệ gặp gỡ, trao đổi cởi mở về câu hỏi tưởng đơn giản nhưng day dứt muôn thuở: “Thế nào là một tác phẩm hay?”

Không khí mở đầu trở nên ấm áp và sôi nổi với ca khúc Khách đến chơi nhà do các nhà thơ Mai Thị Thu Cúc và Phạm Thu Hường thể hiện. Nhà thơ Huệ Triệu dẫn chương trình, giới thiệu đại biểu và khách mời, gồm Giám đốc Nhà sáng tác, lãnh đạo Hội Nhà văn TP.HCM, các nhà văn – nhà thơ của đoàn trại sáng tác, cùng một số văn nghệ sĩ Lâm Đồng và dịch giả người nước ngoài.

Nhà văn Bích Ngân – Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM – phát biểu khai mạc, nhấn mạnh ý nghĩa của việc bàn luận về “tác phẩm hay” trong bối cảnh đời sống văn học đang ngày càng đa dạng về phong cách, giọng điệu và kênh tiếp nhận.

Tiến sĩ, nhà thơ Nguyên Hùng, Ủy viên BCH Hội, Trưởng đoàn trại sáng tác, trình bày đề dẫn với hàng loạt câu hỏi gợi mở: Ai quyết định giá trị của tác phẩm – nhà phê bình, ban giám khảo hay thời gian? Có phải tác phẩm hay luôn gây tranh cãi? Từ một tác phẩm vừa đoạt giải cao gần đây, tác giả cho thấy sự khác biệt trong tiếp nhận chính là minh chứng sống động cho tính đa thanh của đời sống văn chương.

Nhà thơ Inrasara chia sẻ góc nhìn từ ba cấp độ “tác phẩm tốt – hay – lớn”, nhấn mạnh nhu cầu vươn tới tầm vóc tác phẩm lớn, đòi hỏi nhà văn dấn thân, dám khai phá đề tài độc đáo, không ngại thử thách. Ông cũng chỉ ra hạn chế của văn học Việt Nam hiện nay: thiếu sự cô đơn cần thiết cho sáng tạo, thiếu chuyên nghiệp và nền tảng triết học, đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế và môi trường văn hóa cởi mở. Ông nhận định mỗi thời kỳ khác nhau, nhà thơ có cách sáng tác khác nhau và người yêu thơ cũng thay đổi cách đọc; vì thế, người sáng tác phải luôn đổi mới, tránh lặp lại cái cũ.

PGS.TS, nhà thơ Nguyễn Mộng Sinh bàn về tiêu chí “hay” trong văn chương, cho rằng kỹ thuật và hình thức chưa đủ, điều cốt lõi là cảm xúc chân thành lay động được người đọc. Ông đề cao vai trò của phê bình như chiếc cầu nối sáng tác – tiếp nhận, góp phần nuôi dưỡng năng lực thưởng thức của cộng đồng, đồng thời chia sẻ một phần bài viết của cố nhà thơ, nhà lý luận phê bình Phạm Quốc Ca với thái độ trân trọng. Ông bày tỏ sự xúc động khi được Hội Nhà văn TP.HCM quan tâm, tạo điều kiện gặp gỡ bạn văn và chia sẻ những suy nghĩ tâm huyết.

Nhà thơ Lê Tú Lệ, nguyên Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các Hội VHNT TP.HCM, góp tiếng nói thiết thực và được mời đọc bài thơ Bà mẹ Gạc Ma, sáng tác trong chuyến đi Trường Sa năm trước, đã được nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn phổ nhạc và biểu diễn trên nhiều sân khấu lớn. Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh chia sẻ ký ức vượt Trường Sơn tìm chồng trong kháng chiến, những tháng năm sống và sinh con trong rừng, cùng hành trình trở thành một tác giả có thơ được dịch ra nhiều thứ tiếng và phát hành rộng rãi.

PGS.TS, nhà thơ Ngô Minh Oanh, với kinh nghiệm nhiều năm công tác tại Viện Giáo dục Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, có những phát biểu mang tính học thuật về chủ đề tọa đàm. Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo nêu thực tế nhiều tác phẩm đạt giải nhưng nhanh chóng rơi vào quên lãng, đặt vấn đề về độ “rung”, sức sống lâu dài và sự công tâm trong đánh giá. Ông cho rằng tác phẩm hay cần mới lạ, độc đáo, giàu hình ảnh, cấu trúc hợp lý, đạt giá trị nghệ thuật cao và được thời gian kiểm nghiệm.

Dịch giả Alec Schachner, người chuyển ngữ tập thơ Lễ Tẩy trần tháng Tư của Inrasara sang tiếng Anh, cũng mang đến những chia sẻ thú vị về công việc dịch thơ Việt ra tiếng Anh.

Thạc sĩ Văn học, NGƯT, nhà thơ Huệ Triệu, bên cạnh vai trò dẫn chương trình, cũng đóng góp những ý kiến sâu sắc về chủ đề tọa đàm. Chia sẻ quan điểm sáng tác của mình, nhà thơ đã trình bày hai bài thơ ngắn – một theo thể lục bát truyền thống và một theo thể tự do – như một minh họa cho sự đa dạng hình thức và cảm xúc trong sáng tác.

Ngoài ra, nhiều ý kiến từ các nhà thơ, nhà văn như Lê Mưu, Nguyễn Thánh Ngã, Phương Liên… đã góp thêm sự phong phú cho buổi tọa đàm. Mỗi người một quan điểm, nhưng cùng chung nỗi trăn trở về giá trị đích thực của sáng tạo và mối quan hệ hữu cơ giữa người viết – người đọc – người phê bình.

Bế mạc, nhà văn Bích Ngân ghi nhận tinh thần cởi mở, thẳng thắn và trách nhiệm của các tham luận, đồng thời bày tỏ hy vọng những trao đổi hôm nay sẽ tiếp tục lan tỏa, tạo động lực cho các sáng tác mới. Buổi tọa đàm khép lại trong không khí thân tình, các đại biểu cùng dự bữa cơm ấm áp tại Nhà sáng tác Đà Lạt, nối dài câu chuyện văn chương trong những phút không chính thức.

12/8/2025

Nguyên Anh

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Phù sa tâm hồn qua “Ký ức bão!” của Lương Duy Cường

Những ngày đầu tháng Tám, tôi có chuyến đi miền Trung vào đúng dịp trời như rút ruột để nắng, đến nỗi chỉ cần thêm một giọt bỏng sẽ vỡ cả thinh không. Để mấy ngày sau trở về nhà, trong giấc mơ, quờ tay, tôi vẫn chạm vào bỏng rát. Người ta nói, trước những cơn thiên tai, nắng thường đi trước để dọn đường.

Trước đó ít bữa, tôi đã kịp chạm vào hồn bút kí “Ký ức bão” (NXB Hội Nhà văn - 2025) của luật gia, nhà báo Lương Duy Cường. Anh viết về BÃO rất BÃO, như bởi anh chính là một mảnh văng ra từ những cơn bão kí ức, để những người Quảng Bình là bạn cùng trang lứa, đọc anh, họ thấy được những ngày đã qua.

Khi những day dứt khôn nguôi về bóng ngày cũ, được hóa thân thành con chữ, Lương Duy Cường mới bớt nhức nhối. Nhưng quý hơn cả, là khi soi vào chữ của anh, lại gặp được chính mình. Chỉ điều giản dị ấy thôi đã là động lực, hối thúc người cầm bút như Lương Duy Cường.

Là cựu sinh viên Văn khóa VI - Đại học Tổng hợp Huế, kinh qua sự nghiệp báo chí nên chất văn của Lương Duy Cường riết róng, tựa máu thịt nuôi anh từng ngày. Trong tập bút kí này, tôi đã chạm tới bức tranh phong cảnh tâm hồn dữ dội của Lương Duy Cường. Ngòi bút sắc sảo của anh đã ghi lại vết xước thời gian bằng một ngôn ngữ giản dị nhưng khả năng dung chứa cảm xúc là vô biên.

Tôi dùng từ “ghi lại”, vì sự thật luôn hiển hiện trong hồn chữ - đặc trưng của thể kí, tuy nhiên anh đã có một đời sống khác, trong sự sáng tạo không giới hạn của kẻ luôn thấy mình khát thèm những phương trời viễn mộng.

Không phải ngẫu nhiên mà con sông Gianh - chứng nhân của nỗi tủi buồn phân ly và khát vọng hàn gắn trong lịch sử dân tộc, trở thành nhân vật trong “Ký ức bão!” của Lương Duy Cường. Đó là quê hương, là mẹ, là hợp lưu quá khứ, hiện tại và tương lai của anh.

Trong tiểu thuyết “Sông Hằng mẹ tôi”, tác giả người Ấn Độ B.P.Gupta (Bhairava Prasad Gupta) đã chọn sông Hằng là biểu tượng về thời gian: dòng chảy - ký ức và không gian - nhà, để nâng tầm ký ức cá nhân thành ký ức tập thể. Ở một nghĩa khác, con sông còn là dòng chảy văn hóa của một cộng đồng, một vùng miền dân cư. Sông Gianh cũng như thế, luôn thao thiết chảy trong tim đứa con Quảng Bình sống xa quê nhà.

Trong tầng diễn dịch khác, sông Gianh ẩn dụ cho dòng chìm trôi, nhưng phù sa văn hóa lại tái hiện đa thanh, đa diện, lớp lang. Sông là cội nguồn đạo lý, để cội nguồn vuột qua, ấy là sự mất và vô ơn, trở về để mặc nước sông tẩm tưới bụi bặm là một thứ nghi lễ thanh tẩy. “Ký ức bão!”giá trị ở điều này.

Ký ức bao giờ cũng thế, thường dậy lên sau lớp bụi thời gian, khi con người đã đủ đầy hoặc ở vào cảnh thanh bần. Khi đủ, người ta khoác cho ký ức cái gọi là “ôn cố tri tân”; lúc deo dắt, ký ức lại là chiếc gối êm, để úp mặt vào mà tự hờn xót hay lấy ngày xa ngái mà thấm lệ mặn.

Những cơn thiên tai đã đẩy người dân Quảng Bình vào những cơn đói - cái đói đã bứt nhiều người trong số đó phải rời khỏi mảnh đất quê nhà để bươn chãi lập nghiệp nơi xa xứ. TP.HCM - quê hương thứ 2 của anh, nơi mỗi đêm tỉnh dậy trong căn phòng ấm, anh vẫn thấy thiếu thốn một cơn gió quất chảy máu da thịt, vệt nắng nỏ khô người. TP.HCM ân tình đã cưu mang gia đình anh, nhưng vẫn không lấp đầy khoảng trống khi xa ngôi làng Lệ Sơn nhỏ bé mà quật cường.

Mỗi “cận Tết là mưa tầm tã, rét cắt da cắt thịt, như muốn trút bỏ lần cuối tất tật những gì còn lại của mùa đông”, là mỗi lần xăm vào anh một vết nhớ quê, nó như một vết thương dai dẳng, chỉ cầm miệng, khi bàn chân anh được trở về mảnh vườn cũ. Mà vườn cũ còn đâu “bao năm lũ lụt cào vét, rồi những đợt di dời… khiến vườn tược, nhà thờ tự cũng không còn”.

Nhưng nấm tròn vùi xương cha nằm lại nơi chôn nhau như một quy luật, một nhưng nhức trong lòng, 10 năm xa, chỉ cúng vọng ông bà tổ tiên và cha bằng những giọt mặn nuốt thầm - một niềm thăm thẳm khôn khuây. “Cha tôi khuất núi sớm. Cơn đột quỵ kéo dài hàng năm trời của cha khiến gia đình đang bề thế bỗng khánh kiệt. Túng bấn, mẹ tôi bán con heo cuối cùng rồi khăn gói đưa đàn con vào Nam mót thuê, lay lắt nuôi con ăn học”.

Anh vẽ chân dung mẹ sau cơn bạo bệnh và sự ra đi của cha. Tạc mẹ anh can trường trong nỗi cô đơn, lần hồi nuôi đàn con khôn lớn. Hơn cả niềm cảm phục và biết ơn. Cơn bão đời đã trao sinh mệnh cho chữ anh. Người đàn bà cặm cụi trong những đêm trường góa phụ, người đàn bà đã cùng con vượt qua cơn bão số phận. Trong đời thường, không thiếu những thân phận đàn bà éo le như thế, nhưng để lưu lại được hình ảnh người mẹ trong trang viết, hẳn không nhiều.

Rồi Tết năm ấy, gia đình anh trở về trong vòng tay người làng. “Đò cập bến, bao nhiêu là người chen nhau ùa xuống, kẻ đỡ tay dìu mẹ tôi lên bờ, người xách giúp vợ tôi mấy cái giỏ. Mấy anh trai tráng giành nhau cõng thằng bé con tôi phăm phăm chạy lên bờ khiến cu cậu cứ tít cả mắt”. Người làng Lệ Sơn đùm bọc, tặng cho gia đình anh cái Tết yêu thương, bù đủ cho 10 đêm trừ tịch dưới bầu trời lộng lẫy Sài thành mà ngóng vọng vòm quê thăm thẳm.

Xa xôi địa lý là một cơ hội để anh hiểu hơn 2 tiếng “người làng”. “Nhang khói nghi ngút trên bàn thờ. Mẹ lau vội mấy giọt nước mắt. Bao năm xa xứ, bây giờ mẹ mới có lại cảm giác của một người con dâu trước bàn thờ tiên tổ”.

Mẹ là quê hương, là tuổi thơ của Lương Duy Cường. Đứa trẻ nào không nôn nao dưới vòm trời mùa hạ? Hạ châm lửa vào những thế hệ hồn nhiên của dải đất hình chữ S thân thương này. “Những cánh hoa mịn màng, chấp chới tựa những cái đuôi dài của loài chim phượng. Tôi cứ ngây người như thế, cứ ngửa mặt lên khoảng trời ấy. Dù gió lớn quăng quật từng cành, từng nhánh, nhưng vẫn thế, vẫn không cánh hoa nào rơi xuống… Như tuổi thơ tôi đã qua lâu rồi, đã mãi trầm tích trong quá vãng”.

Vin cành phượng hồng, cứ thế anh đi trong dòng tự sự về tháng ngày chân trần bỏng rát trên những nẻo đường thơ ngây. Ngôi trường dưới chân đồi Nậm Chu, phượng cháy ngang trời, “bến phà vận hành bằng cách dùng tay kéo cáp” để mỗi lần nhớ cơm mẹ, cả lũ lại rủ nhau về, rồi bươn bả qua sông, áo mũ quấn trong túi nilon đội trên đầu cho kịp giờ học.

 Nỗi nhớ sao mà da diết, vương mắc vào khóm rong tóc tiên, chảy theo làn nước sông Gianh, treo trên tràng hoa phượng thắp đỏ ngực người bạn ra chiến trường, gieo vào con mắt biết nói của người yêu phượng tím…

Cứ thế, nhẩn nha mà kể, nhưng cuối khúc đột ngột một nỗi đau không da thịt mà sao ám ảnh khôn nguôi, trên dòng nước hiền hòa, lòng tham đã biến con người thành cát tặc, những hút xoáy sau khai thác cát đã dìm chết bao sinh mệnh vô tội. “Bỗng thấy con sông hiền hòa thơ mộng của tuổi thơ tôi ngày nào giờ đây như một nỗi ám ảnh không nguôi?”

Từ nỗi nhớ tuổi thơ, đặt ra những vấn đề nhân sinh hàng ngày, ấy chính là chất văn ngào trộn trong ngòi bút sắc của nhà báo Lương Duy Cường.

Thế hệ Lương Duy Cường đã có rất nhiều những chàng trai, cô gái ra trận. Họ đi không tiếc tuổi trẻ, có người may mắn trở về, nhiều người đã mãi mãi nằm lại để thắp lên màu quê xanh đến nhức nhối trong nỗi nhớ thương của những người đang sống.

Anh nhắc tới chiến tranh, đôi khi như một trò ú tim mà hiểm nguy trộn với thú vị. Thì ra, ở nơi mà thiên nhiên rất khắc nghiệt với con người, thì con người lại hóa giải bằng sự lạc quan, chắt chiu sự sống từ cái chết. “Chiến tranh ác liệt, mẹ suốt ngày đêm bám trụ ở xí nghiệp dược để sản xuất thuốc chuyển ra chiến trường. Lũ trẻ chúng tôi thì đợi con nước lên là lao ra sông Gianh, kiên nhẫn ngồi hóng hàng cứu trợ là những bao bột mì hoặc gạo, nước mắm đóng viên, thảng hoặc sẽ theo dòng nước từ ngoài cửa biển lập lờ trôi trên thượng nguồn. Thích nhất là khi vớt được bao bột mì hoặc bao gạo, vì ngoài cái ăn, chúng tôi còn có bao vải để may quần áo hoặc bao nilon đê làm áo mưa, rồi che chắn mái nhà ngay sau khi B52 tàn phá”.

Sông Gianh, nơi anh đã có chuyến đi để đời với ông Bường dân Kẻ Nôốc, để thấm vào mình phận người được con sông bao dung “họ rất hào hiệp nhưng lênh đênh sông nước, không một miếng đất dung thân”. Cũng con sông ấy, mang nước trong bão đổ, nhấn chìm bao kiếp người. “Bác tôi mất…Cả nhà anh tôi ngồi cầu nguyện mong nước rút để tiễn bác đi. Nhưng nước lên, quan tài bác nổi lên đến nóc nhà… Gia đình anh tôi cả 5 người phải phá mái nhà, dìu nhau sang ngọn cây duối còn chút ngọn vật vờ ngoài ngõ, bứt dây neo người lại với nhau để có chết thì không mất xác”.

Bên bờ sông Gianh, có bao cô gái đã tiễn những chàng trai của mình ra trận, vòm ngực trai vồng lên sau những tràng hoa phượng đỏ như máu chảy. Rồi chính các cô, chỉ vài tháng sau, đón tin chàng trai trở về trên tờ giấy báo tử. Đêm, sông Gianh đã hòa vào mình những giọt lệ nghẹn ngào của mối tình chưa dám ngỏ và trong lòng đất mẹ, có biết bao nhiêu đôi môi con trai chưa kịp biết nụ hôn có vị gì, đã mãi mãi câm lặng. Con sông đau mòn phế phủ, con sông ngọt ngào, con sông chảy trôi bao thế hệ. Sau bão là phù sa. "Ký ức Bão" của Lương Duy Cường cũng chính là một thứ phù sa chữ - phù sa tâm hồn.

Trong “Ký ức bão”, Lương Duy Cường còn là một gã pha màu năm tháng. Anh dụng công vào cặp màu đối nghịch: đỏ - năng lượng dương, tím - năng lượng âm. Nếu màu đỏ loang triền sông Gianh, cháy suốt năm tháng thơ ngây và thanh tân của anh, thì tím là một lời thì thầm rất mộng. Huế là cột mốc định danh đường về của một người con xa quê như anh, nên đến Huế là về. Hơn thế, đây cũng chính là nơi thắp lên thời thanh niên sôi nổi của anh, nơi anh gặp mối tình của mình.

Ngòi bút của anh không từ chối những gai góc, khuất lấp của cuộc đời, nhưng không vì thế mà khô cứng trong tình yêu. “Tím độ em về” là một đoản khúc vài trang trong cuốn sách, nhưng nó là trường khúc bất tận trong tim anh.

Từng qua Huế 2 lần, kịp lướt qua màu tím xứ Thần Kinh, nhưng đọc anh, tôi sâu vào tím. Màu dìu dịu loang tràn con chữ, thắm vào cái bổi hổi của phập phồng ngực trai với những ghì xiết, quấn quýt của một vùng cảm xúc tuổi trẻ. “Tôi và em đã ngồi bên nhau trong đêm chia tay, dưới một gốc xoan già ở chân cầu Trường Tiền. Ở đó, những nụ xoan theo gió lả tả bay xuống, rụng trên mái tóc trinh nữ thoảng một chút hương si mê”.

Màu tím lặn vào anh một nốt lặng trên khuông nhạc nhớ chơi vơi, rồi lớn lên theo năm tháng thành mối lương duyên vợ chồng.

Ngòi bút anh soi vào màu tím hoa xoan mỗi độ xuân nồng, đẩy thành một cơn ký ức về lịch sử Kinh Đô xứ Huế, nơi những vương triều soi bóng. Nhớ chạm dòng sông dùng dằng trong thơ Thu Bồn. Rồi diễm lệ, u huyền trong cơn phóng sinh sắc màu thiên nhiên của hoang sơ đỉnh cao Bạch Mã.

Trong một phút hưng cảm giữa đại ngàn trùng điệp, bút anh đã tỏa màu ảo diệu, đẹp thổn thức “Ngay dưới chân những luồng sáng ấy là vô số đàn bướm thoắt xanh, thoắt tím, thoắt vàng trong vũ khúc hoan mê của bất tận khói sương, bất tận hoang sơ. Và từ những bậc đá nơi dòng nước đang lao ầm ầm như ngựa chứng ấy, bỗng đột ngột khởi cả một dải lụa tím đến nao lòng của tầng tầng hoa mua, hoa bằng lăng và cả loài quyên tím”. Tôi đọc như uống, vì sợ dừng lại thì cái màu tím đẹp đến vô thực kia sẽ tan biến.

Lương Duy Cường là kẻ nặng ân tình, nên vốn liếng giàu có của anh là sự tử tế. Chữ anh Chan chứa những ân tình. Bao năm xa quê, vất vưởng gió bụi triền đời, cuối cùng gia đình anh cũng có được hộ khẩu thành phố, vì thế mà có được ngôi nhà an ấm.

Anh bùi ngùi nhớ lại cơ duyên ấy. “Nhiều dịp được tháp tùng ông Năm Xuân (Đại tướng Mai Chí Thọ) trong các chương trình từ thiện cho người nghèo hay vùng sâu vùng xa”. Câu chuyện về cha anh, đã khiến ông Năm Xuân rất cảm động, ông nói với anh “Ba cháu nhất quyết xin quay trở lại tuyến lửa. Chính bác đã dọa sẽ kỷ luật ba cháu, vì đánh giặc ở tuyến lửa không sợ mà đối đầu với cải tạo công thương thì sợ. Nhưng ổng vẫn dứt khoát xin quay về phục vụ tuyến lửa nên rốt cuộc tổ chức đồng ý”.

Ông Năm Xuân đã đề nghị lãnh đạo Công an Thành phố Hồ Chí Minh nhập hộ khẩu cho anh. “Ông dặn rất kỹ rằng số cán bộ từng vào tiếp quản miền Nam ít nhiều đều có công với thành phố này. Đặc biệt con em tuyến lửa và thì thành phố phải tạo mọi điều kiện để giúp đỡ, vì trong chiến tranh họ đã thiệt thòi nhiều”. Ký ức ấy như sự biết ơn với đấng sinh thành, với người đã giúp đỡ anh. Người không ký ức là người bất hạnh và nghèo khó.

Tôi nghĩ, mỗi ngày sống của Lương Duy Cường sẽ là mỗi đắp đổi cho đầy vơi ký ức. Chắc chắn, anh còn rất nhiều mong ước về cuốn ký ức đời mình, đó là bất ngờ của ngày mai. Nhưng hiện tại, với “Ký ức bão”, anh đã cho tôi thấy được những trải nghiệm của thế hệ anh - một thế hệ từng chứng kiến chiến tranh quét qua những người thân, người bạn và quê hương mình, đau thương, mất mát đã khiến họ chắt chiu sự sống, kiên cường bản lĩnh và chân thành.

Chữ cũng vậy, nếu không thật, sẽ chỉ lấy được những khóc cười giả tạo. Kí là thể loại hấp dẫn độc giả bằng sự thật nhưng lại mê hoặc họ bằng sự mộng mơ. Thử tưởng tượng xem, nếu một ngày kia, sự thật bị đánh cắp và tâm hồn cạn vốn liếng, bạn hay tôi, chúng ta chỉ là những kẻ nghèo khó kiệt cùng mà thôi.

Cũng như, vào đời, mong cầu bình an, ấy là cách bạn biến mình thành một kẻ nhợt nhạt. Vì suy cho cùng, vượt qua những cơn BÃO chính là cách để bạn lớn lên cuộc đời.  

12/8/2025

Nguyên Tô

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Văn học Đổi mới, một cách nhận diện

Cho đến nay, cụm từ “Văn học Đổi mới" đã được sử dụng khá rộng rãi. Từ trong nhà trường đến ngoài xã hội, từ báo chí đến các các cơ quan truyền hình, đài phát thanh, trong các bài nói chuyện hay phát biểu của các nhà sáng tác, phê bình văn học, nó được xuất hiện một cách tự nhiên giống như một thuật ngữ đã được định hình.

Nhưng nếu ai đó nêu ra một câu hỏi: “Văn học Đổi mới là cái gì?", thì tất ta sẽ không tránh khỏi lúng túng. Trong sáng tác văn chương và nghiên cứu học thuật, một cụm từ khi được hiểu là một thuật ngữ hay một chuyên ngành nó phải đi vào một hệ thống nhất định.

Như đã biết, khi phân loại các tác phẩm văn học, người ta thường dựa vào lịch sử và dựa vào phương pháp sáng tác. Dựa vào lịch sử, cái đập ngay vào mắt ta là những lát cắt trên dòng lịch đại. Bởi thế, ta thường nói: Văn học cổ đại, văn học trung đại, văn học hiện đại.

Ngoài lát cắt này, người ta thường chú ý đến đề tài sáng tác mà người viết hướng tới để hình thành ra các đối lập, ví dụ: tiểu thuyết hiện đại, tiểu thuyết lịch sử, truyện dân gian, truyện ngắn hiện đại... Tại đây, cách tiếp cận khái niệm lại có những bước quanh co. Chẳng hạn, cũng viết về đề tài lịch sử, nhưng ở địa hạt thơ lại không hề có cặp phạm trù: thơ hiện đại/thơ lịch sử. Trong nghiên cứu, tình hình lại còn có những khác biệt hơn nữa. Chẳng hạn, sự đối lập giữa "Văn học hiện đại", và "Văn học sử” không được hiểu là sự đối lập của hai nền văn học phân cắt theo thời gian. Ở đây, “Văn học hiện đại" được hiểu là các tác phẩm được sáng tác trong giai đoạn từ 1920 (có người tính từ 1925) đến hết thế kỷ XX, còn “Văn học sử lại được hiểu là: văn học theo tiến trình lịch sử. Vì vậy, bộ môn văn học sử ở các trường thường chỉ có nhiệm vụ dạy lịch sử phát triển của văn học.

Cách phân loại tác phẩm văn học phổ biến hơn, được nhiều người biết đến là cách phân chia theo phương pháp sáng tác, và gắn liền với nó là trào lưu sáng tác. Theo cách này ta có các phạm trù: Văn học dân gian/Văn học tác gia; Văn học lãng mạn/Văn học hiện thực phê phán; Văn học hiện thực XHCN. Cũng theo cách phân chia này, ta lại có đối lập: Văn học hiện đại/Văn học hậu hiện đại.... Thông thường, trong tiến trình phát triển, mỗi khi có một phương pháp mới ra đời thì sớm hay muộn trong nền văn học sẽ có một trào lưu văn học mới. Chẳng hạn, vào khoảng thập niên 20-30 của thế kỷ XX, tác phẩm Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách được coi là tác phẩm hiện thực đầu tiên của Văn học hiện đại Việt Nam bởi nó có một phương pháp sáng tác hoàn toàn khác với các tác phẩm của các văn gia thuộc phái Tự lực văn đoàn sau này. Cái công thức phổ biến để định giá cho sự khác biệt đó được thể hiện: Văn học hiện thực là văn học hướng về miêu tả thực tế xã hội, còn văn học lãng mạn thì thoát ly, quay lưng với thực tế, trốn vào cái tôi cá nhân với những mối tình du dương, mộng mị. Bởi thế, khoảng từ 1986 trở về trước, nó được gắn với một mỹ từ thấm đậm chất phê phán “Đó là thứ văn học ru ngủ quần chúng", "thủ tiêu đấu tranh". Phương pháp sáng tác ở đây chủ yếu được hiểu là thái độ của nhà văn trước hiện thực, sâu xa hơn là trước vận mệnh của đất nước. Cũng với cách nhìn ấy, các nhà lí luận Mácxít lại đưa ra một đối lập mới: Văn học hiện thực phê phán và Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trong đó, Văn học hiện thực phê phán được nhìn nhận như là sự phản ảnh hiện thực mang tính tiêu cực: nhà văn đã thấy được sự đen tối của hiện thực, dám dũng cảm tố cáo hiện thực bất công nhưng không tìm ra lối thoát cho xã hội. Vì thế có nhà nghiên cứu coi nó là “tiếng thở dài chống thực dân phong kiến". Kết thúc “Tắt đèn" Ngô Tất Tố cho mẹ con chị Dậu đi loanh quanh trong đêm vắng tối đen như mực. Kết thúc "Chí Phèo", Nam Cao cho Chí Phèo tự sát trên sân nhà Bá Kiến...

Khác với Văn học hiện thực phê phán, Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa được coi là thứ văn học tích cực nhất của thời đại vì nó biết “miêu tả hiện thực theo qui luật khách quan, tất yếu" và kết thúc tác phẩm thì bao giờ nhà văn cũng vạch ra được con đường đi đến trong tương lai. Có thể nói, cách nhìn nhận văn học theo hướng này được du nhập vào Việt Nam chủ yếu từ Văn học hiện đại Xô viết và một số các nước xã hội chủ nghĩa khác. Công thức chung của nó là: Văn học phải ca ngợi cái mới, cái tích cực đấu tranh chống cái tiêu cực. Tuyên ngôn thì như vậy, nhưng trên thực tế, nếu tác phẩm nào đấu tranh mạnh mẽ với tiêu cực thì chưa biết chừng lại bị chụp cái mũ “hiểu biết cuộc sống hời hợt, quan điểm thiếu vững vàng, nhìn nhận hiện thực phiến diện, một chiều..." Thành ra, nhiều nhà văn chỉ miêu tả hiện thực vừa phải: Có đúng, có sai, có tích cực, có tiêu cực, nhưng tích cực bao giờ cũng là số đông. Nói cho chính xác, các hiện thực thực tế thì thường bị né tránh. Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đề cao tính chiến đấu, nhưng nhà văn ngại “đấu tranh" vì biết “tránh đâu”. Phương pháp sáng tác thực chất được phân tích theo quan điểm triết học và chính trị học hơn là phân tích thi pháp, ngôn ngữ. Không khí chung của nền văn học là nặng về công thức, giáo điều, có khi còn nặng về giáo huấn hơn là nghệ thuật. Bởi thế, bước sang thời kỳ Đổi mới, nhiều nhà văn, nhà lý luận từng nhận được danh hiệu là tác giả tiêu biểu của Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa lại quay lưng lại, phủ định chính mình. Nguyễn Minh Châu gọi nền văn học ông đã từng tham gia là “nền văn học cần ai điếu", Hoàng Ngọc Hiến gọi đó là thứ “văn học phải đạo" ("chủ nghĩa hiện thực phải đạo"), Trần Đình Sử và nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có những phê phán quyết liệt. Từ các hiện tượng lẻ tẻ, nó hiện hữu trở thành quan niệm rộng rãi. Biểu hiện rõ nhất là việc Đổi mới  sách giáo khoa (SGK) văn học chương trình phổ thông trung học. Một loạt các nhà văn, nhà thơ thuộc dòng Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa bị đưa ra khỏi chương trình, thay vào đó là tên tuổi của các nhà văn, nhà thơ một thời bị phê phán gay gắt. Đó các tác giả của Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn. Đã có những giai đoạn số tiết giảng về thơ Xuân Diệu bằng một nửa số tiết giảng về Phong trào Thơ mới, và hơn cả số tiết dạy về Tố Hữu cùng Hồ Chí Minh cộng lại. Sự thái quá trong chương trình Đổi mới văn học của SGK phổ thông đã dẫn đến tình trạng ngộ nhận văn chương. Có không ít người nghĩ rằng, cái thứ mà trước đây người ta gọi là văn học cách mạng đến giai đoạn này đã gần như hoàn toàn mất giá trị. Trong con mắt của nhiều thế hệ học sinh, đỉnh cao thơ ca hiện đại Việt Nam là Xuân Diệu và đỉnh cao văn xuôi là Nguyễn Tuân. Nhưng trên thực tế, tình hình lại hoàn toàn không phải như vậy. Thơ Xuân Diệu, nếu chọn lọc kỹ thử hỏi được bao nhiều bài gọi là thực sự hay? Đó là chưa nói, dạy thơ Xuân Diệu nhiều như thế sẽ giúp gì cho lớp trẻ trong nhận thức? Còn Tố Hữu, nếu ta cứ loại đi những bài có tính “ngợi ca" thì vẫn có không ít những bài có tính nghệ thuật cao, đằm thắm tình người có thể mang đến cho người đọc cả giá trị nghệ thuật lẫn nhận thức. Thế nhưng, trong chương trình SGK văn học, ông đã phải lùi ra xa để nhường chỗ cho thi sĩ tình yêu Xuân Diệu (mà ngay cả những bài thơ tình trứ danh nhất của Xuân Diệu thì so với tư duy thời đại cũng đã lạc hậu lắm rồi). Đây có thể coi là một trong những thể hiện rõ nhất về Đổi mới văn học về mặt lý luận mà ở đâu trong các Hội nghị người ta cũng oang oang tuyên bố: Lý luận văn học đang ngày càng Đổi mới, tiến kịp với bước đi của thời đại. Liệu có đúng không? Không đúng. Sau bao năm Đổi mới về kinh tế, xã hội... nền lý luận của chúng ta vẫn là một cái nền lý luận phập phù, a dua, phê bình theo bầy đàn, nếu không muốn nói là cơ hội chủ nghĩa. Nó vừa thoát khỏi giáo điều cực đoan thì lại rơi vào cảm hứng, tùy tiện.

Nhờ tư tưởng Đổi mới, nhiều tác giả của “Phong trào Nhân văn giai phẩm" đã được phục hồi. Tuy nhiên, về phương diện lý luận, chúng ta lại gặp một tình trạng đáng buồn, có nhiều sáng tác của nhóm tác giả này thực tế cũng không đến mức như ta ca ngợi nó, thổi phồng nó. Sự biện giải của nhiều nhà lý luận về một hiện tượng văn học đã làm cho người đọc thấy hẫng hụt. Thực tế, sau khi được “phục hồi", hầu hết các tác phẩm của nhóm này đã được xuất bản trở lại. Cũng hay, nghe thì ghê gớm vậy, nhưng khi tất cả được bày lên trên "giấy trắng mực đen" thì mới thấy giá trị văn học đích thực cũng không được như các nhà phê bình ca ngợi.

Như vậy, thực chất khái niệm Văn học Đổi mới chủ yếu là phương diện sáng tác. Những tác phẩm tiêu biểu nhất cho Văn học Đổi mới được nhắc đến đầu tiên là những bài ký, truyện ngắn đăng trên tuần báo Văn nghệ và một số báo khác vào những năm 1986-1989, như "Cái đêm ấy đêm gì" (Phùng Gia Lộc), “Lời khai của bị can” (Trần Huy Quang), "Người đàn bà quỳ”... Sau đó là một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Đặc điểm nổi bật nhất của những tác phẩm này là người viết dám đối mặt với sự thật, phản ánh sự thật đúng như nó hiện hữu. Cho nên, khi đọc "Cái đêm ấy đêm gì” người đọc thấy sửng sốt như không tin được. Một đêm thu thuế ở Thọ Xuân Thanh Hóa sao lại chẳng khác gì cái đêm “thuế thúc trống dồn" được miêu tả trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố? Còn đọc “Lời khai của bị can" người đọc cứ ngớ ra khi chứng kiến cảnh một con người lao động chân chính, giàu óc sáng tạo lại bị tù đày bởi những lý do rất vớ vẩn. Rõ ràng, chỉ nói riêng về cách tiếp cận của người viết, ta có thể thấy một luồng sinh khí mới đang thổi vào văn học. Đó là sự không né tránh trước hiện thực nghiệt ngã. Chính thái độ này của một số nhà văn đã làm cho văn học bừng lên một bầu không khí mới. Cái mới đến khá nhanh, khiến cho không ít bạn đọc còn bị sốc khi đọc “Kiếm sắc”, “Không có vua” hay “Tướng về hưu" của Nguyễn Huy Thiệp. Khác với cách hành văn đương thời, ít nhiều bị ảnh hưởng bởi lối văn của Nga và Pháp với cách dùng các định ngữ mở rộng để miêu tả, văn Nguyễn Huy Thiệp ngắn gọn, ít miêu tả, dồn nén thông tin theo kiểu hành văn của "Hoàng Lê nhất thống chí” khiến bạn đọc bị cuốn vào các sự kiện. Hiện thực trong văn ông là hiện thực chát chúa, đôi khi đớn đau, quằn quại. Cái người ta dễ nhận thấy nhất về Văn học Đổi mới trên phương diện sáng tác là văn học lúc này đã dám xông vào những “vùng tối”, “vùng cấm", dám phản ánh những mặt trái của xã hội. Với cương vị của mình, tiếng nói của đồng chí Nguyễn Văn Linh đã có một tác động mạnh mẽ đến tư tưởng và nhận thức của nhà văn. “Hãy tự cứu mình trước khi Trời cứu". Mỗi nhà văn hãy “tự cởi trói" cho mình. Sau giai đoạn 1986-1990, cũng còn có những tìm tòi ở một số nhà văn khác. Trong thơ ca cũng như trong văn xuôi còn xuất hiện cái gọi là "yếu tố hậu hiện đại" nhưng không phải tất cả đều được độc giả đón nhận. Nói một cách khác, về mặt ý thức, mỗi nhà văn đều có những cố gắng tự làm mới mình. Nhưng xét trên tổng thể văn học thì Văn học Đổi mới chưa tạo ra được phương pháp sáng tác riêng. Và vì thế, nó chưa đủ sức tạo ra một trào lưu hay một dòng văn học. Nhận diện chung, Văn học Đổi mới mới chỉ là một phạm trù mang tính lịch sử. Nó là sản phẩm văn học được sáng tạo trong giai đoạn Đổi mới.

13/8/2025

Hữu Đạt

Nguồn: Báo Văn nghệ

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Inrasara: Tác phẩm văn chương, từ tốt và hay đến lớn

Tác phẩm hay – không phải là sản phẩm một chiều của người viết hay người đọc, mà là kết quả của một cuộc đối thoại liên tục.

Tại tọa đàm “Tác phẩm hay – Từ tiếp nhận và sáng tác” do Hội Nhà văn TPHCM tổ chức, nhà thơ – nhà phê bình Inrasara đã mang đến những luận điểm sắc sảo, giàu trải nghiệm, mở ra cách nhìn mới về sự cộng hưởng giữa sáng tác và tiếp nhận, để văn chương thực sự chạm tới và ở lại lâu dài trong lòng người đọc.

[Vài ghi chú về văn học Việt Nam đương đại]

Nhà thơ Inrasara phát biểu tại cuộc tọa đàm “Tác phẩm hay – Từ tiếp nhận và sáng tác” - Đà Lạt, 11/8/2025

Lâu nay ta ưa bàn về tác phẩm hay, hoặc thấp hơn một bậc: tác phẩm tốt, chớ ít khi nâng tầm lên thành: tác phẩm lớn, để qua đó có được tác gia lớn.

Có thể gọi Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư là hay, độc đáo, chứ không lớn. Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác hay Gia đình Thibault của Martin du Gard dày dặn, [dung lượng] lớn, chứ không là tác phẩm lớn. Ngược lại, Hóa thân của Franz Kafka, Kẻ xa lạ của Albert Camus hay Trong khi chờ Godot của Samuel Beckett là lớn, lớn thực sự, dù chúng khá mỏng.

Hôm nay ta thử bàn về nỗi này.

1. Thế nào là thơ hay?

Thơ dẫu là loài vô bằng, không phải là không thể [lôi nhau ra tòa] phân xử. Cứ truy sáu thành tố: Cấu trúc bài thơ kia khác lạ tới đâu; Thơ ca là nghệ thuật của ngôn từ, vậy ngôn từ bài thơ ấy độc sáng thế nào; Thi ảnh mới mẻ chỗ mô; Tứ thơ độc đáo ra sao; nữa, đâu là nhịp điệu sáng giá của bài thơ; và cuối cùng toàn bài thơ có làm lay động mạnh [con tim/ khối óc] bạn không?

Vẫn là các chuẩn cũ. Hay mà không cũ, không sáo, không sến mới là hay thứ thiệt. Dĩ nhiên muốn cảm nhận được một bài thơ hay, và biết nó hay tới mức nào, bạn cũng cần đọc thật nhiều thơ… hay, cả cũ lẫn mới. Vậy mà ta cứ mãi mê mẩn với cái hay cũ. Thơ Việt hôm nay đa phần dừng lại ở Lãng mạn hậu thời, và phần nào Tượng trưng với một ít Hiện đại.

Thời đại khác, thơ khác, cách đọc thơ cũng phải khác.

Sao cứ phải chạy theo trào lưu này nọ, ta ưa hỏi thế. Thơ Mới đã làm cuộc cách mạng lay chuyển nền thơ ca Việt Nam thế kỉ XX, các nhà thơ Tiền chiến học lại từ Hiện thực, Lãng mạn và Tượng trưng Pháp “lạc hậu” non thế kỉ, thì sao? Tại sao sợ ảnh hưởng? Nếu không “lai căng” thì làm gì có tiếp biến? Ôm khư khư cái mình có, có phải là đậm đà bản sắc? Hãy thử ngó ra ngoài.

Thơ chỉ có thể bình, chứ không phê, thêm ý kiến quen thuộc khác. Trên các chuẩn trên, vẫn có thể phê, và rất cần phê. Bởi phê bình không chỉ đi sau sáng tác, mà còn có thể song hành, thậm chí đi trước sáng tác.

2. … đến truyện ngắn hay

Tạm tóm mấy ý.

Chủ đề truyện ngắn ấy mới lạ không? Nội dung tư tưởng có gì độc đáo? Nếu chủ đề cũ, hãy xét cách xử lí nghệ thuật. Người viết có tạo được mô-típ mới lạ nào không? Xét thêm về khả năng quan sát của tác giả, nó có tinh tế không, phát hiện điều chưa có nhà văn nào thấy trước đó. Cách kết truyện: mở hay đóng, và hướng giải quyết “vấn đề” đặt ra trong truyện có là “đầu tiên” không?

Yếu tố quan trọng nhất là chi tiết. Truyện ngắn chứa không nhiều chi tiết, thậm chí chỉ vài, nhưng đó phải là chi tiết đắc địa để có thể neo lại trong lòng người đọc. Người đọc có thể quên cốt truyện, mà vẫn nhớ chi tiết, nếu nó độc, lạ.

Cuối cùng là nhân vật, nó có làm nên điển hình hay lẫn lộn với vô số nhân vật khác từng xuất hiện trong văn chương?

Nhìn theo lối cũ là vậy, đến hậu hiện đại, truyện ngắn không cần cốt truyện hay nhân vật nữa. Vậy hãy xem cách kể của tác giả tạo không khí truyện ra sao, để qua đó nó có thể thức tỉnh người đọc, khiến họ bị ám ảnh và buộc họ suy nghĩ lại vấn đề.

3. … đến tiểu thuyết lớn

“Nhà văn Việt Nam không muốn lớn”, tôi cố ý nói to thế ở vài diễn đàn. Tại một Hội VHNT, bàn về “Làm thế nào có bút kí hay?”, tôi cố tình đi xa đề. Giờ giải lao, có bạn hỏi hà cớ, tôi đùa: Ai muốn viết bút kí hay, cứ lật Từ điển Văn học bộ mới hay đọc báo Văn nghệ, chứ ở đây tôi gợi mở về bút kí khác lạ, và lớn. Bút kí cần gì?

Sự thật, và chỉ sự thật. Không né tránh, không bẻ cong. Riêng phần phỏng vấn, đối tượng có thể kể sai do trí nhớ suy tàn hay kí ức tự hư cấu, nhà văn vẫn ghi ‘sự thật’ ấy. Nữa, cần nhìn toàn cảnh lẫn chi tiết, xa và gần từ nhiều góc cạnh và quan điểm khác nhau. Ở đó, nhà văn phát hiện điều người khác chưa thấy, chuyện nhà văn khác chưa nói. Cuối cùng, là kết cấu hấp dẫn, giọng điệu đa phức càng tốt.

[1] Svetlana Alexievich, Nobel 2015.

Lời cầu nguyện từ Chernobyl động cập đến một trong những vấn đề nóng nhất của thế giới hôm nay. Là nạn nhân của thảm họa, sau 10 năm rời đi, bà trở lại làm 500 cuộc phỏng vấn người trong cuộc để làm nên tác phẩm - không như sử gia mà như một nhà văn. Bà nói: “Tôi chọn một thể loại [báo chí] mà tiếng nói con người được lên tiếng cho chính họ”.

Chiến tranh không mang khuôn mặt một người phụ nữ - hồi kí về thế chiến thứ II với cách nhìn mới, khác về vấn đề rất cũ, điều chưa nhà văn nào nhìn như thế trước đó. Bà lí giải:

“Phụ nữ là tù nhân của hình ảnh “đàn ông” và xúc cảm “đàn ông” về chiến tranh. Chúng ta vẫn mãi náu mình trong im lặng, thi thoảng có quyết định nói, chúng ta cũng không kể về cuộc chiến của mình, mà là của những ai khác.”

Tất cả được thể hiện bằng “lối viết phức điệu”.

[2] Gần hơn, Việt Nam - Ngô Thế Vinh với Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng mang tính đánh động, dự báo nhiều năm trước khi sự kiện Biển Đông nổ ra. Ông không gọi tác phẩm của mình là fiction, mà là “faction” - thứ tiểu thuyết sự kiện.

Tác phẩm lớn ra đời không tiếng vang, do xuất hiện ở ngoại vi - có lẽ. Mãi khi tôi viết giới thiệu: “Giải thưởng cho Cửu Long cạn dòng Biển Đông dậy sóng, cơ quan hay tổ chức nào sẽ trao cho nó?” thì faction này mới được một tổ chức trao giải ngay năm sau đó. Buồn không?

[3] Nguyễn Thanh Việt, nhà văn người Mỹ gốc Việt, hiện là Giáo sư tại Đại học Nam California. Là cây bút bình luận trên The New York Times, thời gian dạy học và viết báo, ông đã bỏ ra bao nhiêu năm vào các thư viện, đọc vô số tư liệu ở cả hai bên: Bắc và Nam, Việt và Mỹ… để làm tác phẩm đầu tay: Sympathizer (Kẻ nằm vùng hay Cảm tình viên) giật ngay Giải thưởng Pulitzer của Hoa Kỳ.

Chưa bàn đến hay, chỉ cần “lớn” thôi, ta cũng không dám.

[4] Ở Hội VHNT Quảng Bình, tôi hỏi: Vùng đất này nơi các bạn đang sống, đâu là cái độc nhất không nơi nào có khả dĩ làm đề tài lớn cho tác phẩm văn chương? Không gì cả! Tôi nói: Đây chính là ranh giới, vùng độn ngàn năm lịch sử giữa Champa với Đại Việt, trăm năm Trịnh Nguyễn phân tranh, 20 năm đất nước chia cắt. Có vô số điều để nói, tại đây. Ai, trong các bạn - nhà văn của hôm nay dám ném tất cả sau lưng, hết mình và tới cùng với nó?

[5] Thời hiện đại, chiến tranh biên giới Tây nam, biên giới phía Bắc là chủ đề lớn. Ai nhà văn Việt Nam dám bỏ cả đời mình cho nó, để dựng lên một lâu đài đồ sộ? Không phải viết như sử gia mà như một nhà văn? Ở đó không chỉ có chiến tranh, mà nhiều thứ khác: văn hóa, sắc tộc, chính trị…

[6] Bộ Sử thi Tây Nguyên 62 tập đã có, mươi năm qua vẫn nằm yên trong thư viện. Ở buổi tổng kết Hội VHNT các DTTS Việt Nam, tôi hỏi các nhà văn Tây Nguyên, và khích: Có ai chịu bỏ ra  dăm năm ăn nằm cùng kho tàng vô giá ấy, từ đó sản sinh tác phẩm văn chương lớn? Không ai cả! Chúng ta tiêu lãng tháng ngày làm mấy chuyện cỏn con đâu đâu, lẻ tẻ, vụn vặt ngoài lề văn chương.

Với văn học Cham, trước đó vài nhà vẫn cứ lẻ tẻ, rời rạc, tôi ngược lại. “Từ con số không, từ con số âm”, lãng phí 24 năm tuổi trẻ đi và tìm, để dựng nên bộ Văn học Cham đồ sộ!

4. Tạm lấy Nobel làm chuẩn, để vươn đến “tầm Nobel”, Việt Nam chuẩn bị gì? - Rất ít, nếu không nói là chưa gì cả! Thử nhìn quanh, từ gia đình đến xã hội, vẫn là giáo dục theo-ism. Theo-ism từ “thuật nhi bất tác”, “Tử viết” suốt ngàn năm, vẫn là theo-ism ấy bám ta đến tận hôm nay. Sẽ không bao giờ có sự phá cách, nói chi đến hi vọng một phiêu lưu [tư tưởng] mang tính đột phá táo bạo sẽ xảy ra, ở đó. Còn lối nghĩ lớn tiếng như kiểu Italo Calvino:

“Những dự án mang tham vọng quá trớn có thể bị chối từ trong nhiều lĩnh vực nhưng không thể bị chối từ trong lĩnh vực văn chương. Văn chương chỉ còn sức sống nếu chúng ta tự đặt ra cho chính mình những mục tiêu bất khả lượng đạt, vượt quá tất cả những hi vọng về sự thành tựu. Chỉ chừng nào các nhà thơ và nhà văn tự đề ra cho chính mình những công tác không có bất cứ ai dám tưởng tượng đến, thì văn chương mới đạt được tác dụng của nó”(1)

thì - hãy đi chỗ khác chơi.

Nữa, nhà văn chỉ có thể khai triển tối đa công lực, mở rộng tối đa tiềm năng sáng tạo khi được sống và viết trong thể chế chính trị mở. Nơi đó, tự do ngôn luận được tôn trọng. Ở đó, viết - in ấn - đọc - thảo luận được khuyến khích, hay ít ra không bị kiềm hãm, áp chế. Đành rằng, một tư tưởng lớn khai sinh luôn làm bùng vỡ hay đảo lộn lối sống và tư duy đương thời, khó lòng được cộng đồng đón nhận và chấp nhận ngay. W. Whitman, F. Nietzsche hay gần hơn: Henry Miller, Allen Ginsberg đã chịu sự kì thị. Dẫu sao tiếng nói thiên tài phi thời đó không bị cả một cơ chế áp chế hay dập tắt.

Câu hỏi đặt ra cho cá nhân nhà văn, có ai trong chúng ta đã sẵn sàng để… lớn? - Rất ít! Thiếu triết học, ta có thể đổ lỗi cho bác cơ chế với ngài khách quan, dẫu sao - theo quan sát của tôi - nhà văn ta còn chưa nắm bắt đầy đủ thực tế cuộc sống sôi động ngoài kia, nắm bắt và suy tư đủ sâu về nó. Đi thực tế, ta từng đi nhiều nhưng vẫn chưa đủ: chưa đủ cô đơn trước trang viết.

Thêm, bao nhiêu là nỗi sợ hãi bủa vây. Dưới hay trên, ngoài và trong, xa và gần. Sợ bị soi mói, bị chụp mũ, sợ tác phẩm không được in hay bị thu hồi sau khi phát hành. Sợ cho mình, sợ cho nhau và sợ nhau, thế nên ta rất sợ mình không giống ai. Ta vừa viết vừa liếc nhìn người bên cạnh, người đi trước, đàn anh chị hay bạn đồng hành cùng trang lứa. Ta sợ đi một mình. Là nỗi chưa đủ cô đơn cho sáng tạo. Cô đơn đầu tiên và cuối cùng, cần thiết để tạo nên tác phẩm chiều sâu(2).

Rào cản cuối cùng, là nhà văn chưa đủ ý thức về nghề. Ch. Fredriksson: “Ý tưởng dường như có tính tiên quyết, xem nghệ sĩ làm gì và làm như thế nào với tác phẩm của mình, để làm sao cho tác phẩm ấy có hiệu quả nhất khi đến với công chúng. Dường ở Việt Nam các nghệ sĩ thích làm tác phẩm hơn là nói về các tác phẩm của mình”(3).

Không bàn, không muốn bàn, không dám bàn vì, không khả năng bàn, thậm chí, dị ứng với lí luận. Nhà văn Việt Nam thiếu chuyên nghiệp, là vậy.

Trường hợp Nguyễn Huy Thiệp là một. Ông thành công, một thành công lớn ở truyện ngắn, ngoài ra không gì khác. Tiểu luận và phê bình của ông không đáng kể, trong khi thành tựu của một nhà văn chủ yếu được đánh giá qua tiểu thuyết. Thể loại này, ông có thử qua rồi tất cả chỉ ngưng ở hạng trung bình.

Nguyễn Huy Thiệp chưa có gì gọi là tác động đến thời đại ông sống mang tính toàn cầu như Jean-Paul Sartre được coi là kẻ mở màn phong trào hiện sinh lan tỏa khắp thế giới. Bên cạnh là triết gia cùng tác phẩm kịch và tiểu thuyết để triển khai tư tưởng, Sartre còn là một nhà trí thức hàng đầu. Cứ xem bộ Situations do nhà Gallimard xuất bản 7 tập, cũng đủ thấy sức làm việc ghê gớm và tầm hoạt động bao quát của ông.

Kẻ tư tưởng, nghệ sĩ sáng tạo và con người dấn thân hội tụ trong một cây bút xuất chúng, chưa một nhà văn Việt Nam nào đạt tới tầm đó. Xét từ góc độ nhà văn “thuần túy”, Nguyễn Huy Thiệp cũng chưa. Ông chưa phát kiến nghệ thuật độc đáo ảnh hưởng lan rộng như William Faulkner, Márques.

Hơn nữa, một nhà văn tầm Nobel đòi hỏi độ dày của trang sách, thậm chí rất dày, Nguyễn Huy Thiệp càng chưa. Faulkner từ thi sĩ hụt “failed poet” trở thành một tiểu thuyết gia lớn. Cả hai đều chuyên trị một vùng đất. Thiệp là nông thôn miền Bắc Việt Nam, Faulkner: miền Nam Hoa Kỳ. Tuy thế thay vì bó gọn trong 700-800 trang truyện ngắn như nhà văn Việt Nam, văn hào Mỹ có đến 20 tiểu thuyết. Nghĩa là độ dày gấp chục lần hơn.

Và điều không thể không nói lên là Nguyễn Huy Thiệp không trường sức, thành tựu của ông vẫn còn khá mỏng. Ông “hưu” sớm, mà đỉnh cao nằm ở quãng 10 năm: 1986-1996, sau đó một phần tư thế kỉ ông không vượt qua chính mình, nếu không muốn nói là tụt xuống.

Nhìn từ góc độ nghệ thuật, Faulkner đã đẩy kĩ thuật dòng ý thức, và… lên cấp độ siêu đẳng, đến nhiều nhà văn lớn trên thế giới học tập và xài lại(4).

5. Cuối cùng mặt bằng độc giả là yếu tố không thể thiếu góp phần kích thích sự phát triển văn học. Ở điểm này, Việt Nam vẫn chưa có bộ phận độc giả văn chương đúng nghĩa, cả độc giả được cho là chuyên nghiệp: nhà phê bình(5).

Khủng hoảng và tê liệt phê bình ảnh hưởng không nhỏ đến sáng tác. Ta có đủ kiểu phê bình, từ phê bình hũ nút đến phê bình hàng hai, từ phê bình quan phương đến phê bình du kích, phê bình bè phái hay phê bình chỉ điểm…(6).

Thử nêu ba điển hình tiên tiến:

[1] Chuyện “lục bát hóa thơ Tự do”, Đỗ Kh đã làm vào năm 1996, qua năm 2007 Inrasara làm Bàn tròn Văn chương về Lê Vĩnh Tài bàn về tự lục bát hóa thơ tự do của anh. Vậy mà bốn năm sau, Đỗ Hoàng lặp lại, để Lê Quang Đạo tụng ca trên báo Sinh viên Việt Nam, rằng là sáng tạo, vô cùng độc đáo(7).

Người làm lạc hậu đã đành, người bình cũng lạc hậu nốt. Lạc hậu không biết lạc hậu chính là lạc hậu bình phương!

[2] Nhà thơ Trần Mạnh Hảo chê thơ Nguyễn Quang Thiều là loài “thơ Tây giả cầy”. Đâu phải đọc vài chục tập thơ Tây dịch là nắm được hồn vía thơ Tây! Mình chưa biết thơ Tây thế nào, thì làm sao biết nó giả hay không giả cầy ra sao. Ngoài kia đâu phải Tây nào cũng giống Tây nào, mà có ngàn loài khác nhau. Thơ Pháp thôi, thế kỉ XIX, Lamartine khác Baudelaire khác Rimbaud; thế kỉ XX S-J-Perse khác René Char khác J. Prévert.

Vài nhà ta ưa nói bừa kiểu ấy. Nói bừa nhỏ đến nói bừa to bự, dễ làm vẩn đục khí quyển văn chương(8).

[3] Thụy Khuê trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ, kêu: “Người Mỹ đã hiểu sai khi tiếp cận hậu hiện đại của Pháp, và họ mang cái sai đó về bên kia châu lục, người Nga lấy lại cái sai đó của Mỹ, và cuối cùng người Việt lại lấy cái sai đó từ Nga, cộng với việc dịch thuật không chuẩn, thành ra méo mó hết cả.”(9)

Chưa kể lối nhìn hậu hiện đại đơn tuyến từ Pháp sang Mỹ đến Nga qua Việt Nam, đã là phi hậu hiện đại; còn chuyện cho người Việt học hậu hiện đại từ Nga, mới liều toàn phần.

Người Việt - từ đầu thế kỉ XXI đến nay, viết nhiều về hậu hiện đại, ở ngoài nước có: Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng-Ngọc Tuấn, Nguyễn Minh Quân; trong nước: Bùi Văn Nam Sơn, Nhật Chiêu và Inrasara. Họ biết tiếng Anh, Pháp để đọc hậu hiện đại từ nguồn, chớ ai dại dột đi “học” hớt lớp váng cái sai về hậu hiện đại từ Nga!

Phê bình văn chương đang ở đâu?

Cứ ngoái lại Hoài Thanh ứng xử kịp thời và tài tình với Thơ Mới thế nào ngay khi phong trào thơ này đang diễn ra, cũng đủ hiểu. Còn hôm nay, sau 20 năm - có nhà phê bình nào làm được thao tác tương tự với Thơ Đổi mới? - Không ai cả! Ngay ý định làm một cuốn sách như thế, đến hôm nay - vẫn chưa(10).

Ta tranh thủ viết tản văn, tạp ghi theo kiểu… tản mạn; ta làm hội hè, hội thảo đủ loại; rồi thì rẽ sang làm công tác nghiên cứu, giảng dạy hoặc nhanh nhẩu nhảy vào cuộc cãi cọ nhảm nhí bằng phản ứng nhếch nhác chỉ bởi vài quy kết, xuyên tạc ngoài lề nào đó. Ta có đủ lí do chính đáng cho các sự vụ ấy. Trong khi tập trung vào công việc chính là phê bình thì, vẫn cứ là chưa.

Đành rằng, với nỗi “dồi dào” và “phong phú đa dạng” các tác giả, trào lưu, khuynh hướng văn chương xuất hiện trên đủ loại phương tiện thông tin, không nhà phê bình nào tự nhận quán xuyến tất cả. Ít ra người làm phê bình vẫn có thể chọn một/ một vài trào lưu nhất định để làm phê bình. Vậy mà mãi tận hôm nay, giới phê bình Việt Nam vẫn chưa cho ra đời tác phẩm như thế.

6. Ý hướng tính của viết

Viết, đâu là điều thôi thúc bạn? Thôi thúc đến bạn không thể rời bỏ nó, để đi đến quyết định: tôi phải viết! Thử nêu ba tên tuổi lớn:

[1] Tolstoi, văn hào Nga - đó là tinh thần công chính và sự công bằng xã hội. Mang danh bá tước đồng thời là một nhà văn nổi tiếng nhất thế giới ở thế kỉ XIX, ông sở hữu mấy trăm mẫu đất cùng hàng trăm người làm công.

Từ đâu có sự chênh lệch này, ông đặt câu hỏi. Và ông muốn giải quyết nó, bằng đấu tranh - từ ngoài xã hội đến trong chính gia đình ông, quyết liệt đến vợ con chống lại ông. Cuối cùng, 82 tuổi ông bỏ nhà lang thang rồi chết ở ga xép nơi thị trấn nhỏ.

[2] Pasternak nhà văn Nga, là: Con người sinh ra để sống chứ không phải để chuẩn bị sống.

Quan niệm khác hẳn lối nghĩ của đại bộ phận người nơi đất nước ông đang sống, rằng cần hi sinh hiện tại cho tương lai tươi sáng.

Ông có lý tưởng sống, lặng lẽ gây phản tỉnh nhân quần bằng văn chương cho lý tưởng ấy, và ông chấp nhận tai ương khi nó xảy tới, ở đó Bác sĩ Zivago đoạt Giải thưởng Nobel Văn chương không được Nhà nước Liên Xô cho phép đến nhận, là một.

 

[3] Camus, nhà văn Pháp: sự phi lý của đời người.

Con người sinh ra, sống, quanh đi quẩn lại làm mấy việc nhàm chán, thứ Hai, thứ Ba, thứ Bảy… rồi chết đi. Sự thể cứ lặp lại, thế hệ này sang thế hệ khác, đã thế rồi con người mãi chém giết nhau, thế kỉ này sang thế kỉ khác, đổ thêm dòng sông đau khổ vào biển khổ cuộc đời.

Camus viết tiểu thuyết, kịch, tiểu luận, triết lí… để chống lại sự phi lý đó. Với hy vọng mang đến niềm hạnh phúc nhỏ nhoi cho con người, tìm ý nghĩa trong vô nghĩa của nỗi phi lí kia.

Đến thời điểm ấy, ông là nhà văn trẻ nhất đoạt Nobel Văn chương.

Kết:

Để kết “vài ghi chú” này, xin được trở về nhà mình qua câu hỏi: Inrasara thế nào, với tư cách một nhà văn?

Đứng vững trên bốn chân kiềng: [1] Tâm thế giải sân hận của Ariya Glơng Anak; [2] Tư tưởng Phi tâm hóa hậu hiện đại: Phá bỏ bức tường ngăn trung tâm ngoại vi, qua đó giải mặc cảm thiểu số, tỉnh lẻ; Tinh thần tôn trọng sự khác biệt, và Hành động theo châm ngôn “Suy tư toàn cầu, hành động cục bộ”; [3] Tinh thần Hóa giải & hòa giải của Pô Rômê và [4] Thái độ Nhập cuộc về hướng mở, tôi dấn mình vào thế giới chữ nghĩa.

Sáng tác, là các tập thơ, tiểu thuyết, cùng bút kí dài kể câu chuyện Cham: Đường về Chàm; nghiên cứu, đó là bộ Văn học Cham, Hải sử & văn hóa biển, Minh triết Cham; cạnh đó tôi còn sắm cả vai nhà phê bình. Tại đây tôi bày ra bảy phụ lưu nền Văn học ngoại vi – khu vực đang bị bỏ quên, bị phân biệt đối xử. Phê bình mang ý hướng gom vào chứ không tâm thế đẩy ra, tránh gây thiệt thòi cho độc giả, cả thiệt hại cho nền văn học Việt Nam đa dân tộc và đa vùng miền.

Là những mới lạ, góp phần mình vào tư tưởng và chữ nghĩa Việt Nam.

Và gì nữa?...

Chú thích:

(1) Italo Calvino, “Tính cách bội trương trong văn chương tương lai”, trong Six Memos for the Next Millennium, bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn; dẫn lại từ Văn học hiện đại và hậu hiện đại qua thực tiễn sáng tác và góc nhìn lí thuyết, NXB Văn nghệ, California, Hoa Kì, 2002, tr. 593

(2) Xem thêm: Inrasara, “Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo”, Song thoại với cái mới, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2008, tr. 17-28.

(3) Ch. Fredriksson trả lời báo Thể thao & Văn hóa, số 142, 28-11-2006.

(4) “Nguyễn Huy Thiệp chưa thể với tới Nobel, tại sao?”, báo Văn nghệ TPHCM, 17-3-2022.

Về phát kiến kĩ thuật mới, thời gian gần đây, lối “Thơ 1-2-3” do Phan Hoàng chủ xướng được vài bạn thơ làm theo. Mạng Vanchuong Phuongnam giới thiệu: “Nhằm tìm một hình thức thơ mới để thể hiện, nhà thơ Phan Hoàng đã thử nghiệm cách viết Thơ 1-2-3. Mỗi bài thơ gồm 3 đoạn, 6 câu”. Là loài thơ thuần “kĩ thuật” chứ không đặt trên nền tảng tư tưởng nào bất kì, thế nên nó chỉ là “trò trẻ nhỏ” [chữ của Xuân Diệu] không hơn không kém.

Cũng thuần kĩ thuật, Tân hình thức khác hơn. Phản ứng nỗi khó hiểu của thơ Tự do, phong trào này quyết trở lại với truyền thống, và lập thuyết. Tiếc là, 4 trụ cột kĩ thuật là: tính truyện, ngôn ngữ đời thường, vắt dòng và lặp lại, không xa lạ với truyền thống thơ Việt. Thế nên cho dù nhà thơ Khế Iêm - người khởi xướng và xiển dương có nhiệt tình tới đâu, Tân hình thức Việt vẫn chưa thể nẩy ra tác phẩm lớn.

Hậu hiện đại hoàn toàn khác, đây là trào lưu văn hóa mang tính toàn cầu ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống con người đương thời, trong đó có văn học. Để qua 30 năm, thế giới cho ra đời nhiều tác phẩm hậu hiện đại lớn.

(5) Xem thêm: Vương Trí Nhàn, “Vì sao người Việt không mê đọc sách?”, Chungta.com, 22-9-2008

(6) “Đỗ Hoàng đã gây sự chú ý, ngỡ ngàng trong làng văn chương nước nhà”, Trần Quang Đạo viết trên báo Sinh viên Việt Nam, xuân Mậu Tý.

(7) “Điểm danh căn bệnh phê bình hôm nay”, website Hội Nhà văn, 24-10-2008.

(8) Trần Mạnh Hảo, Thơ - phản thơ, NXB Văn học, H., 1995, tr. 66-83.

(9) “Nhà phê bình Thụy Khuê: Phê bình văn học thế kỷ XX là cuốn sách quan trọng nhất trong đời tôi”, Diệu Thủy thực hiện tháng 1-2018, Vanviet.info đăng.

(10) Thực tế là có một: Nguyễn Việt Chiến, Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân, NXB Hội Nhà văn, 2007, nhưng thất bại. Bởi tác giả đã không xác định được nội hàm một thuật ngữ “cách tân” ở phần dẫn nhập, từ đó hỏng từ bình mỗi tác giả cho đến cách tuyển thơ.

5/8/2025

Inrasara

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Hãy sống như những người đã chết - Một nhan đề độc đáo

Lúc đi học, thầy cô từng bảo nhan đề là tên của tác phẩm, còn có cách gọi khác là  đầu đề, là cái "tít" chung của một văn bản. Nhan đề (đầu đề) thường do người viết đặt ra - như người bố, người mẹ đặt tên cho đứa con của mình; nhưng cũng có khi do người khác (cán bộ biên tập) đặt hộ, hoặc đổi tên đi cho hay, cho phù hợp với chủ đề của tác phẩm..

Nhan đề phải khái quát ở mức cao về nội dung tư tưởng của văn bản, của tác phẩm; phải nói cô đọng được nội dung cốt lõi của tác phẩm. Do đó, nhan đề giữ vị trí quan trọng đối với không chỉ người sáng tác mà đối với cả người tiếp nhận. Đặt được nhan đề cho tác phẩm rất quan trọng, quan trọng như đặt tên cho đứa con của mình vậy! Và hôm nay được anh - Nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên - Chủ tịch Hội Nhà văn Cần Thơ tặng sách, tôi đã thật ngỡ ngàng trước nhan đề của tập thơ Hãy sống như những người đã chết.

Đây chính lả một nhan đề dụng công. Rất có thể khi cầm bút viết tên cho tập thơ của mình anh đã thật nhẹ nhàng chứ không nhọc công nhưng tôi chắc chắn anh đã từng dụng công trong tiềm thức!

Văn học nghệ thuật có một hiện tượng lạ là có khi người ta viết bằng tiềm thức. Phê bình cũng không ngoại lệ. Chẳng phải thế sao? Nhà thơ Hoàng Cầm nói “Bài thơ Lá diêu bông tôi viết về một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời tôi. Vào một đêm năm 1959, khoảng 3 giờ sáng, tôi chợt tỉnh giấc rồi thao thức không ngủ lại được. Căn nhà ở phố Lý Quốc Sư nằm sâu phía trong, lại thêm thuở ấy ban đêm không có tiếng xe tiếng còi ầm ĩ như bây giờ, nên đêm khuya càng thêm thanh vắng. Chợt tôi thấy lóe trong đầu văng vẳng mấy câu thơ do một người đàn bà đọc bằng giọng lanh lảnh: Váy Ðình Bảng buông chùng cửa võng...

Tôi lấy ngay cây bút chì và tập giấy luôn để sẵn trên đầu giường ghi lại. (Nguồn Internet - Báo Bình Dương). 

Theo Tuy Hòa, báo Nông nghiệp và Môi trường, nhà thơ Hoàng Cầm kể: “Một đêm, tôi ở phố Lý Quốc Sư - Hà Nội, có lẽ quá nửa khuya rồi, tôi trằn trọc nửa thức nửa ngủ, nửa mê nửa tỉnh… Trong cái đêm bồn chồn ấy, tôi chợt nghe tiếng văng vẳng bên tai như có ai nói, giọng phụ nữ, không phải giọng chị Vinh, không phải xa xôi lắm như tự kiếp nào chứ không phải của kiếp này….” Và nhà thơ chỉ việc chép lại. Đó là hoàn cảnh ra đời của bài thơ nổi tiếng Lá diêu bông.

Trường hợp Nguyễn Vinh Tiến, thiết nghĩ, anh sáng tác bài hát Bà tôi do tiềm thức còn Ông tôi là do ý thức! Có thể anh yêu ông bà như nhau nhưng Bà tôi là ca khúc được đông đảo công chúng hào hứng đón nhận hơn Ông tôi. Viết bằng tiềm thức là kết quả của sự thôi thúc mãnh liệt từ bên trong! còn được gọi những cái tên khác như “viết như lên đồng”  hoặc “như ma ám”... Khi đó người viết (văn, thơ, nhạc, hoạ…) không phải suy nghĩ nhiều vẫn có tác phẩm hay. Có thể hiểu cách khác là người viết đã dụng tâm, chủ ý từ lâu và điều đó được tích luỹ ngầm, dần dần tràn đầy trong tâm trí; khi đã đủ độ chín thì không cần dụng công, tác phẩm sẽ ra đời rất nhanh. Với nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên, cách đặt nhan đề kia cũng vậy!

Có một hiện tượng là ngày nay không ít bài báo giật tít câu like nên đã đặt tên cho bài của mình thật “giật gân” và cũng nhiều khi cách đó đưa người đọc đến sự thất vọng sau khi đọc tác phẩm. Với Nguyễn Trung Nguyên thì không! nhan đề gây chú ý, gây sự tò mò là lẽ đương nhiên, nhưng, nó không đưa cho người đọc một cảm giác câu like giật tít mà lại khiến người đọc tò mò khám phá

Hành trình cuộc đời mỗi người không ai chệch ra khỏi quy luật sinh - lão - bệnh - tử, vậy nên khi dân số trên trái đất tăng lên đồng nghĩa với người chết cũng tăng lên. Và tất nhiên có những cái chết do quy luật và có những cái chết do chủ động (hiện tượng nhà văn Quỳnh Dao - Trung Quốc, gần đây).

Vậy ở đây Nguyễn Trung Nguyên nói đến cái chết nào? Tìm hiểu một bài thơ được lấy nhan đề làm tên chung cho cả tập, để hiểu phần nào triết lý, suy tư, suy cảm, cảm nghiệm của thi sỹ.

Tôi sinh ra vào những ngày tháng tư lịch sử/Các anh nằm xuống đã lâu/Năm mươi năm đất nước mình thay đổi/ Tôi sinh ra vào những ngày tháng tư lịch sử/Cha bảo “Con đến tuổi lập thân!”

Khổ thơ đầu tựa như lời dẫn truyện, nhẹ nhàng, tự nhiên và rất đỗi chân thành. Tháng tư lịch sử được nhắc đến như nhắc về kỷ niệm thân thiết, thiêng liêng. Có lời người cha thủ thỉ, có sự tiếp nối dòng lịch sử, dòng đời. Và cũng rất nhẹ nhàng là lời kể

Chúng tôi lớn lên đã hết chiến tranh/Chẳng biết “lễ truy điệu” trước giờ ra trận/Không thể hình dung “củ mài- lá bép”/Một bữa ăn sáng bây giờ cũng cân nhắc “dở - ngon”.

Sinh ra trong thời bình và thụ hưởng cuộc sống hòa bình, mấy ai hiểu sự gian khó, hy sinh của một thời cha ông “củ mài- lá bép” thay cơm; không hiểu được trước mỗi giờ ra trận cha anh mình lại làm lễ truy điệu cho đồng đội. Bỗng dưng tôi nhớ tới hình ảnh rừng xà nu trong trang văn Nguyên Ngọc, cây xà nu lớn bị thương, bầm máu và cây xà nu dính đạn ngã xuống bên cạnh những cây xà nu con mọc lên, vươn mình khỏe khắn dưới ánh nắng mặt trời.

Và đọc thơ Nguyên Trung Nguyên, tôi cũng nhớ về một thời đi học, đọc say sưa thơ Tố Hữu. Nếu như xưa kia Tố Hữu từng viết “Đường ta rộng thênh thang tám thước”, hạnh phúc thời điểm đó như vậy, con đường tám thước là rộng. Ngày nay Năm mươi năm rồi đường cao tốc thênh thang/ Hà Nội - Cà Mau chỉ là chuyện nhỏ. Câu thơ của Nguyễn Trung Nguyên nói trực diện về sự tiến triển vượt bậc của hạ tầng cơ sở, của đất nước 50 năm sau chiến tranh. Nếu là người bình thường, chắc chỉ nhận thấy ít thôi, thậm chí không nhận thấy sự tiến bộ vượt bậc về đời sống kia đã được đánh đổi, được trả giá bằng bao nhiêu xương máu của các anh hùng, liệt sỹ. Từng trải và suy nghĩ sâu sắc với cuộc đời, thi sỹ Trung Nguyên cảm nhận Một cung đường thôi - có người đi mãi không về. Và vẫn trong dòng hoài niệm, nhớ nhung đồng đội, biết ơn các anh hùng, liệt sỹ, nhà thơ viết những dòng thơ như chắt ra từ cõi lòng đau khôn tả khi có những người hồn nhiên ra trận không về, có người nằm xuống cho thế hệ sau sung túc trong tiện nghi ngập lối. Có nghười được bảng vàng ghi danh rõ tên, rõ tuổi, có nhiều người Thân xác hóa vào hồn thiêng sông núi. Nhiều người “hồn nhiên” ra đi, nhưng nỗi đau còn vương vấn mãi trong lòng người thân, có những bà mẹ Nhiều đêm mẹ giật mình ngồi dậy/Quờ tay tìm “mộ con đâu?!. Đọc thơ Nguyễn Trung Nguyên, thấy một trường hoài niệm; đọc thơ Nguyễn Trung Nguyên thấy sự so sánh cặp đôi được sử dụng với mật độ khá dày khi nói về “chúng tôi” - những người đang sống, đang hưởng thụ vật chất, tiện nghi thời bình với “các anh” sống giản đơn quá đỗi, Chỉ hương bưởi thơm vấn vít tim mình... Và nữa, khi chúng tôi “nhấp chuột” là thấy mặt người yêu dù xa nhau cả ngàn cây số, còn các anh vĩnh viễn để lại thanh xuân trên chiến trường. Thật sự ám ảnh những câu thơ như

Các anh hồn nhiên ra trận không về/Chúng tôi bước vào tương lai lạc quan rộng mở

Và sâu đằm một cõi tri ân Các anh nằm xuống cho chúng tôi đứng thẳng/Mặt trời trên đầu, bóng bia mộ nghiêng nghiêng. Mặt trời là nhân chứng, mặt trời chứng ngộ cả đau khổ và hạnh phúc. Mặt trời tồn tại vĩnh viễn, các anh nằm lại chiến trường. Mặt trời bất tử và các anh cũng hóa vào hồn thiêng sông núi. Chiều sâu của thơ Nguyễn Trung Nguyên không chỉ tồn tại trong câu chữ, còn tồn tại trong những ẩn dụ, so sánh ví von và liên tưởng đa chiều.

Không phải ai cũng nhận thức được sâu sắc như nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên rằng “Hạnh phúc ngọt ngào/Thiêng liêng lắm nỗi đau”. Nhà thơ nói bằng trải nghiệm và suy cảm, nói bằng lương tri và sự biết ơn sâu sắc đối với các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống cho Tổ quốc thiêng liêng mãi mãi trường tồn.

Đọc xong bài thơ chúng ta hiểu Nguyễn Trung Nguyên nói đến cái chết của những anh hùng liệt sỹ - sự ra đi của họ làm vẻ vang sông núi này. Bất luận họ đã ra đi như thế nào nhưng chỉ riêng việc họ xuất hiện ở chiến trường, cầm súng chiến đấu là hành động đẹp, hành động cao cả, không chỉ vì cái tôi, không ích kỷ, không tính toán nhỏ nhen. Và tất nhiên Hãy sống như những người đã chết còn bao hàm nghĩa ở thế giới đó không còn sự bon chen, chỉ có sự đoàn kết và ấm áp yêu thương…

Hãy sống như những người đã chết là bài thơ gọn gàng hàm chứa một  thông điệp giàu giá trị nhân văn, thấm đượm triết lý và ý vị nhân sinh sâu sắc của phương Đông khiến mỗi chúng ta sau khi đọc xong đều cảm nhận được một cách hết sức nhẹ nhàng và thấm thía về thông điệp cảnh tỉnh và tri ân, để từ đó điều chỉnh lối sống của mình, trân trọng hơn từng phút giây của cuộc sống và biết ơn sâu sắc hơn đối với thế hệ cha ông đã ngã xuống cho chúng ta được đứng thẳng hôm nay. 

Việt Trì, 22/7/2025

Đỗ Nguyên Thương

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Xuân Trường say hai vệt nắng chiều

Với tập thơ này, những buổi chiều như ngưng đọng, nỗi xót xa đã lặn vào sâu, thăm thẳm chiêm bao.

"Rồi Mỹ Đông - Mỹ Hảo chia hai vệt nắng chiều/ lần đầu tiên tôi xa mùa gặt trên cánh đồng mười bốn/ mười lăm năm sau tôi về - trống vắng/ tất cả ngày xưa đã lên đò nhan sắc qua sông"...

Bài thơ làm tựa đề cho tập thơ "Hai vệt nắng chiều" của nhà thơ Xuân Trường (NXB Hội Nhà văn, 2018) lôi cuốn người đọc bằng chất tự sự, cũng là câu chuyện của hồi ức, phảng phất như ca khúc "Nắng chiều" của Lê Trọng Nguyễn: "Nay anh về/ qua sân nắng/…chẳng biết bây giờ/ người em gái/ duyên ghé về đâu"…

Lối kể chuyện dung dị, lớp lang đó được Xuân Trường thể hiện ở khá nhiều bài trong tập thơ này. Bởi đó là những hồi ức đời người, những ký ức thẳm sâu, chôn chặt, mang theo, được tác giả sắp theo 3 cụm: Dấu chân ngày cũ, Miền xưa thương nhớ, Ngang chiều mây trắng. Nhưng chất thơ vẫn thể hiện rõ bởi cái man mác của hoài niệm, sâu nặng của tự tình và ý tứ, ngôn từ đẹp: "Trở về thăm em giữa một chiều độc thoại/ mây trắng trời An Định, nắng hanh hao"…

Trở lại với quê hương, Xuân Trường tìm dấu chân ngày cũ: "Đã cạn mấy lần rồi mà trưa còn mãi trong ly/ tôi nhắm mắt viết trưa lên ký ức Đà thành" (Trưa Đà Nẵng); bồi hồi xao động mảng ký ức: "Chợt con cá niên quẫy đuôi vào thơ hương vị đặc sản quê nhà/ ấn tượng lần về lại là môi em tràn ta tiếng Quảng" (Mưa hạ Tam Kỳ).

Đó là những kỷ niệm của một thuở hoa niên đến một thời trai trẻ, anh trải đời ở những miền đất đó, ra đi, nhớ về, trở lại với rất nhiều rung động. Từ đó, anh bật ra những câu thơ đầy ấn tượng: "Và tôi thở mùa bằng đôi mắt em - nâu/ tôi lại chợt nghe mưa rừng rụng hạt xuống chiêm bao" (Nhớ Đăk Tơ Pang). "Em đã đến rồi đi như bóng mây vạt nắng/ ta một mình đâu giữ nổi heo may" (Huyền cảm sông Hàn)…

Với tập thơ này, những buổi chiều như ngưng đọng, sâu lắng. Chiều khép lại một ngày. Đời người ngả về chiều, trôi về phía bên kia sườn dốc cuộc đời. Nên chiều lao xao, mang mang hoài cảm: "Không biết có bao nhiêu chiều quê cho tôi khôn lớn đến bây giờ/ nhưng tôi biết chắc những chiều quê đã thành máu thịt trong tôi" (Chiều quê). Từ buổi chiều Ái Nghĩa xứ Quảng Nam lưu luyến "Tôi nấn ná nghe sông chảy ca dao" đến buổi chiều Phú Yên dùng dằng "Em hãy ra Ô Loan nghe vết chiều sước nhớ/ con sò cười nghiêng lửa đợi môi ai"…

Trong dòng cảm xúc đó, Xuân Trường diễn bày ý tứ và ngôn ngữ khá mới mẻ: "Chông chênh đá gài chân chiều thứ bảy" (Chiều Quy Nhơn); "Em hãy nhìn hộ giùm ta những mái chùa vít cong hoàng hôn vào xa thẳm" (Em có về Hội An); "Em thở dài bằng mắt" (Nhớ An Khê); "Câu thơ chết điếng trước bờ môi tươi" (Sáng nay lên đỉnh Kê Gà)…

Dĩ nhiên với người làm thơ, không thể thiếu thơ tình. Xuân Trường vừa có sự từng trải với được mất, vừa có sự tươi trẻ của hồn nhiên trong những hồi ức đan xen, quyện chặt tâm tư. Giữa bộn bề nỗi nhớ ngày vụng dại ở Quy Nhơn mà người xưa giờ nay xa nửa vòng trái đất, anh đã nhói lòng: "Nên đêm đêm tôi cứ giật mình đôi tay trở giấc/ giữa Sài Gòn lưu đọng một Quy Nhơn"; là thoáng âu lo về ngày mai bất định: "Em nhìn trong rượu có anh/ ngập ngừng chưa uống sợ thành ngày mai" (Sao em uống rượu một mình); là một người đi lấy chồng, như lẽ thường và thế gian đông người mà nhà thơ cứ thật thà làm kẻ chung tình: "Cạn chiều tôi uống vu vơ/ cạn em - tôi rót - bất ngờ - vào tôi" (Bước chân tháng chạp)…

Những dòng thơ trong tập đậm chất tự sự, song sự chân thành đem lại thiện cảm và tác giả sử dụng khá thành công nhiều thi ảnh nên bớt nặng sự kiện mà nâng lên cái tình: "Ai gánh ca dao qua miền cát trắng/ mà bồng bềnh hoa Khánh đến xôn xao" (Bất ngờ). Cả những nỗi xót xa cũng đã lặn vào sâu sau tháng năm dài, còn mất của một tình yêu đã thăm thẳm chiêm bao, sau khói sương có thấy gì đâu hay vẫn thấy rằng: "Em vẫn còn mãi trong tôi những gì đã mất/ tôi sẽ còn mãi trong em những cố ý vô tình" (Thăm thẳm bờ xa)…

Và hơn hết, gia đình là những hoài niệm thân thương, Xuân Trường thương cha nhớ mẹ, ơn nghĩa sinh thành trời biển. Cha anh hy sinh khi tuổi còn rất trẻ "đã bảy mươi năm rồi cha tôi vẫn nằm ngủ dưới sông/ những con sóng cứ ru cha về miền cổ tích/ mẹ tôi góa bụa giữa xuân thì chín ửng/ đã sống trong veo với những tháng năm" (Ngày của tôi). Nay anh hạnh phúc vì mẹ anh đại thượng thọ "Chín chín xuân - mẹ tuyệt vời/ bảy mươi xuân - con vẫn một thời - tìm cha" (Lần Xuân chín bảy).

Lúc trở lại quê nhà, dù đối ẩm hay độc ẩm, những câu thơ đều vang vọng nỗi tiếc nuối, day dứt. "Ngụm buồn - dâu bể đắng môi/ ngụm vui - nắng giấu bên trời trốn mây" (Chiều Xuân uống rượu một mình). Cũng những buổi chiều đó, "mây trắng bay chiều qua ngõ vắng người xưa/ khu vườn tuổi thơ tôi không mang theo được/ và bây giờ chỉ đất cũ với vườn nay" (Khu vườn tuổi thơ)…

Có thể nói, "Hai vệt nắng chiều" của Xuân Trường là tập thơ hay, đầy đặn, chân thành, càng đọc càng thấm. 

14/8/2025

Bùi Phan Thảo

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Nguyễn Thành Phong – Nhà thơ tài hoa trữ tình, quan chiêm ngoại vi và nội hàm tự sự luận cảm của thơ Việt Nam thời kỳ đổi mới

Trữ tình và tự sự là những khái niệm của thơ, ngoại diên và nội hàm là những khái niệm của logic học. Ngoại vi là một phần của ngoại diên chỉ các đối tượng có phạm vi nhất định và chỉ định. Trong thơ, nó là các địa danh, hoặc các nhân vật trữ tình, các không thời gian xác định, tạo nguồn cảm hứng. Ngoại vi nhỏ hơn ngoại diên. Nội hàm là nội dung thuộc tính bên trong cả chủ quan và khách quan của sự vật, hiện tượng.  Trữ tình nói bằng cảm xúc, gắn với bộc lộ chủ thể. Tự sự kể lại, tả lại khách thể. Phàm lệ mấy câu để bài viết này đỡ cảm thấy gượng ép, mong được đồng cảm.

Nguyễn Thành Phong làm thơ sớm lắm. Sớm ngay khi vừa bước vào nghiệp thơ, ông đã tự tin và tài hoa như nhóm văn thơ Bách Khoa những năm 1980 có tiếng.Tôi nhớ năm 1985 có buổi giao lưu đêm thơ các trường Đại học ở Hà Nội tại Hội trường C2 Bách Khoa, phần giới thiệu đã có tên Nguyễn Thành Phong cùng thày giáo nhà thơ Đinh Phạm Thái. Sau này, trong một chương trình văn nghệ trên VTV3 do Thuý Mai đạo diễn, ông ngồi trong thành phần tổ chức cùng nhà thơ Vũ Quần Phương, thấy càng chững chạc hơn.

Tôi được ông tặng tập Nghi Lễ Ngày Ngày từ năm 1998, có bài sáng tác từ năm 1981, thời của những bài thơ nổi tiếng như Hai Nửa Vầng Trăng của Hoàng Hữu, Những phút Xao Lòng của Thuận Hữu, Ngựa Gióng Lại Về của Từ Ngàn Phố,…ngay lúc đó, tôi thấy Nguyễn Thành Phong trữ tình tài hoa lắm. Tôi định viết về ông từ ngày ấy, nhưng vẫn thấy thiêu thiếu một cái gì. Lúc Nguyễn Thành Phong làm ở báo Văn Nghệ, tôi chưa thấy sự khẳng định đột phá nơi thơ ông.

Kịp đến 20 năm sau, cầm trên tay và đọc tập thơ Đêm Ngồi Ngã Ba Sông, Tôi mới thấy hết một chân dung 40 năm thơ của ông, như nhan đề bài viết này. Tôi trình bày theo ba đề tài lớn: 1. Nội hàm tự sự luận cảm; 2. Thơ viết ở Trường Sa; và 3. Trữ tình quan chiêm ngoại vi. Thơ ông còn một phần không thể thiếu là đề tài thế sự công dân, tôi dành cho dịp khác.

Tôi xin bắt đầu bằng bài Đêm Ngồi Ngã Ba Sông. Khoảng 3 thế kỷ trước, thời Lê Trung Hưng, Nguyễn Bá Lân (1700 - 1785) có bài Ngã Ba Hạc phú, vừa nói về vẻ đẹp hung vĩ của cảnh quan, vừa nhắc đến những tích ghi lại chiến công của quân dân ta, cuối là cái đạo Nhàn của nhà Nho. Đây là bài thơ tả thực, lấy thực để dựng ý tứ, hình ảnh, nhân thực để tỏ lòng. (Theo cách sắp xếp trung cận đại thì phú không nằm trong thơ thuần nhất vốn lấy vần điệu và niêm luật làm chủ đạo. Năm 1948 có cuộc tranh luận đối chọi, giữa một bên do Xuân Diệu cầm đầu chủ trương thơ phải trọng vần, trọng tứ, với một bên là thơ không vần, có thể có ý nhưng không nhất định tứ, mà chủ tướng là Nguyễn Đình Thi, nếu xếp thế thì sau này thơ chống Mỹ mà hơn 70% là thơ tự do, có cả thơ văn xuôi nữa, bị loại ngay vòng thi thơ sơ khảo).

Tất nhiên là Nguyễn Thành Phong phải thuộc làm lòng bài phú này khi xây dựng cấu trúc tác phẩm của mình. (Nhân đây cũng xin nêu thơ có ý thức chuyên nghiệp thường theo phương pháp cấu trúc. Bài thơ vì vậy chặt chẽ cả về ý tứ, hình ảnh và ngôn từ).

Ngay tên của bài thơ đã chỉ cái vị thế của nó. Thời gian về đêm thường dành cho suy tưởng. Ngồi thường là vị trí tư thế của triết nhân. Ngã ba sông, thời điểm này, có gay gắt biển Đông (có cả biểu tình một nhóm người) - thoát Tàu, có Văn đoàn Độc lập ly khai, có diễn đàn Shangri la,…Đây là lúc đặt vấn đề của thái độ. (Ngã ba là một phiếm chỉ). Gần một thế kỷ trước, Trong Lời Tổ Quốc, Tố Hữu viết: “Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước/Chọn một dòng hay để nước trôi”. Cùng thời điểm ấy, trong Tràng Giang, Huy Cận viết: “Thuyền về, nước lại, sầu trăm ngả/Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Nhưng đấy là nói về cách sống, về lý tưởng. Bây giờ là hiện thực hiện sinh phi lý và tồn tại, kiểu như Ham let. Mỗi thời điểm, thời đại có nhu cầu và yêu cầu của nó. Anti độc lập ly khai là có, nhưng chỉ ở một bộ phận nhỏ, chưa thành phong trào, chưa thành lực lượng, chưa thành quy luật. Chỉ có thể là ngã ba sông, mênh mang nước quẩn, nước chảy, hoặc thành mưa trong luật sinh tồn. Không có bão dông, cũng không thể bão dông.

Nếu nói theo Kinh Thi, bài thơ này theo thể phú mà hứng mà tỷ, tức là lấy cái thực để khai đề làm cảm hứng cho câu chữ rồi nhân đó mà nêu ra, mà so sánh. Nhưng nếu chỉ như vậy thì hơn hai ngàn năm nước sông chỉ “quẩn” à? Nguyễn Thành Phong đã thêm cái tự ý thức, cái bất khả tri – hành – thức để mà phú mà hứng mà tỷ, đó là một đóng góp thi pháp.

Cái tư thế của Nguyễn Thành Phong có cái ổn định của một bản lĩnh thông suốt thiên địạ nhân theo thuyết Tam Tài của triết học phương Đông. Trong ông có tâm sự, cảm với “chảy đi sông ơi” của Nguyễn Huy Thiệp mà ra với sông. Nhưng bài thơ này không nói về cái sự việc cảnh tình to lớn tích cũ, không nói về tranh giành Lã Vọng đi câu. Bài thơ nói về cái kiếp tầm thường lóp ngóp trong bùn, gần bùn, trên bùn của “con dân lầm bụi tài hoa”, kiếp thi sĩ bất lực “nhất sinh từ phú tri vô ích/mãn giá thư cầm đồ tự ngu” (Nguyễn Du – Một đời theo văn chương từ phú thấy cũng vô ích/Trên giá đầy sách đàn chỉ càng ngu thôi), cái kiếp con vờ ngắn ngủi tử sinh rồi trắng xoá, nhưng dù ngắn vẫn hạnh phúc đực cái bản thể. Ngã ba sông thượng nguồn một phương nhưng đầy trách nhiệm đổ xuống vai mình: “ Đêm ta ngồi giữa ba dòng sông sâu/Nghe nước thở mấy ngàn năm vẫn thở/Nghe nước kể chuyện những đời người/Cay đắng và vinh quang/Kiếp sống nhọc nhằn lòng cứ thắm tươi”.

Nói thêm về địa danh Mỏm Soi, Đôi Cô, đều ở làng Bắc Cầu, Ngọc Thuỵ, Long Biên. Tôi chắc lúc ấy, Nguyễn Thành Phong ngồi ở đền Đôi Cô ba mặt sông nước, đáng lẽ ta hề! nâng chén hề! lại khởi câu thơ!

Tôi thấy có nhiều cái hào sảng, cái buồn, cái ngẫm của bài thơ này. Những năm 20 của thế kỷ 21, bài thơ này là một trong những đỉnh cao biểu tượng! Hãy ngồi xuống, hãy ngồi lại, thế thôi!

ĐÊM NGỒI NGÃ BA SÔNG

Đêm dài thao thức

Nghe sông Cái buồn dào dạt gọi ra chơi

Ta đứng dậy bước miên man rồi bỗng thấy

Mỏm Soi Đôi Cô Hồng Hà chia ba

Tam Giang tối linh trắng mờ bọt sóng

Từ thượng nguồn

Nước như tràn vào ta vai rộng

Ngực nóng thành mềm mại

Đôi cánh tay ta quẫy trong sóng lộng

Hai bên hai sông chảy ầm ào

Mấy ngàn năm bao triều đại nối nhau

Để khuyết lửa máu gươm đao

Quân vương ngờ tôi trung, tiện nhân vẫy kẻ sỹ

Trùng trùng tráng ca bi kịch

Sông Hồng nóng đỏ phù sa

Con dân lầm bụi tài hoa

Xong giặc giã lại về quét chợ

Về làm đồng thương vợ chăm con

Giêng hai rộn rã hội làng câu hát ầu ơ

Xanh ngăn ngắt đôi bờ sông Đuống

Những bóng người giữa trời lồng lộng

Những bóng người lóp ngóp dưới dòng sâu

Người kề vai kề vai bắc cầu

Cho tướng lĩnh cầm quân đuổi giặc

Người oan trái xương khô ngùn ngụt nỗi đau                    

Đêm ta ngồi giữa ba dòng sông sâu

Nghe nước thở mấy ngàn năm vẫn thờ

Nghe nước kể chuyện những đời người

Cay đắng và vinh quang

Kiếp sống nhọc nhằn lòng cứ thắm tươi

Ban mai mờ ảo góc trời

Đàn vờ giao hoan rồi lao thân xuống nước

Cái chết mãn nguyện phủ trắng mặt sông nâu

Một kiếp sống chỉ tính bằng chớp mắt

Cũng lộng lẫy huy hoàng trời nước giao nhau

Ta ngửa mặt nhìn trời cao

Ta sống vậy đã là như sống

Hay phải sống làm sao?

Trời im lặng, ta cúi nhìn mặt nước

Những xác vờ trắng ấm chảy về Đông!

Tháng 6, 7/2017

Tư duy của thơ trong Chuyển Mùa là cách trình những mạch ngầm nổi, chính phản, của bất lực và ẩn tàng. Khinh trọng trong Chuyển Mùa cũng chỉ nôn nao tâm trạng thôi! Cũng được. Thơ tư duy vậy thì thơ đóng góp tích cực. Quan trọng là không nhạt. Và không thường.  

CHUYỂN MÙA...

Ôi cái mùa sao làm ta trĩu nặng

Nhìn đi đâu cũng gặp nỗi buồn

Người với người cùng chung ước vọng

Giờ sững sờ lạc nhịp vô duyên...

Con đường quen thành con đường lạ

Bài hát cũ nhạt nhòa vô vị

Ru rạc rời trên cùng chuyến xe qua...

Đồng nhân nghĩa bạc mặt người đi mót

Lội phía nào cũng quẩn gió quạnh hiu

Bước chân gần bước chân xa tít tắp

Bải hoải chiều bằn bặt tiếng tin yêu.

Kẻ tài trí bất ngờ ngã ngựa

Người cương trường lịm mỏi tim đau

Biển mới lặng mà cồn lên sóng đỏ

Sông vừa xanh lại với nước đổi màu...

Con cá buồn bơi đi tìm biển khác

Trên cây cao gió rào rào lá cũ

Dưới đáy suối nước bòn từng mạch rẽ

Chờ nôn nao trời đất chuyển mùa đi...

Chuyển mùa thu đông, 2018

Tam đoạn luận của tụng ca, của bài học lịch sử, của khát vọng hoà bình, được ý tứ tài hoa kết lại trong Đất Nước Không Bình Yên. Từ 40 năm trước, mấy anh em nghệ sĩ hay nói với nhau, nếu cứ cách biệt giàu nghèo, cứ để nông thôn nghèo túng, thì hãy coi chừng cho sự an ninh và môi sinh. Ngẫm câu thơ Tố Hữu  năm 1961 “Đời trẻ lại tất cả đều cách mạng/Rũ sạch cô đơn, riêng lẻ, bần cùng” được hồi ức phóng sự: “ Khi chính quyền lần đầu ra mắt/Giữa Ba Đình mây dừng lại che cho/Nghe rõ không? Đồng bào ơi, Bác hỏi/Nắng bỗng hiền, dịu mát đầu thu./Người giàu có dựng kỳ đài độc lập/Kẻ đói nghèo đứng bảo vệ xung quanh /Quần soóc xám, mũ ca lô, xe đạp/Đủ uy nghi, tin cậy, vững bền.” 4 câu trên chỉ cái đinh lịch sử để treo chiếc áo choàng tư duy cho bình đẳng xã hội. Ý ngầm chỉ tiện tay phết phẩy.

ĐẤT NƯỚC KHÔNG BÌNH YÊN

Người ta dựng một chương trình rất lớn

Dàn nhạc dây, ca sỹ hàng đầu

Nhà hát Lớn sáng bừng ánh sáng

Để nhắc về quá khứ thương đau...

"Có một bài ca không bao giờ quên

Là lời đất nước tôi chẳng phút bình yên"...

Không, không phải hát về quá khứ

Mà là chính hôm nay, hiện thực nhãn tiền...

Khi chính quyền lần đầu ra mắt

Giữa Ba Đình mây dừng lại che cho

Nghe rõ không? Đồng bào ơi, Bác hỏi

Nắng bỗng hiền, dịu mát đầu thu.

Người giàu có dựng kỳ đài độc lập

Kẻ đói nghèo đứng bảo vệ xung quanh

Quần soóc xám, mũ ca lô, xe đạp

Đủ uy nghi, tin cậy, vững bền.                    

Người lớp lớp giữ đất đai bờ cõi

Đất nước tôi không bao giờ quên.

Máu đã đổ bao năm dài vệ quốc

Vẫn là nỗi đợi chờ năm tháng bình yên!

Ngày 9/1/2020

Tự sự luận cảm còn rất nhiều, nhưng tôi muốn trích một bài nữa để nói cái ngẫm ngôn của Nguyễn Thành Phong. Thực ra, lịch sử ghi thêm tầng lớp bình dân bắt đầu từ các cuộc Cách mạng Tư sản, như ở Anh (1646), Pháp (1789), đặc biệt là Cách mạng Vô sản Nga tháng Mười năm 1917. Nhân văn lớn nhất, theo tôi, là nhân văn chính trị thuộc về số đông trong xã hội. Trao quyền chính trị cho số đông và lập hiến bảo vệ số đông, là nhân văn văn dân chủ nhất.

Trở lại bài thơ. Các số phận khác nhau sau chiến tranh được khắc hoạ, cũng là lẽ tự nhiên nhi nhiên. Mỗi khổ là một luận cảm. Nhưng các số phận cá thể ấy, ở vào thời “dửng dừng dưng” ấy, bây giờ lại không ngồi được với nhau (!), không thể sống được với nhau. Như thế, theo Nguyễn Quang Thân từ năm 1980, là “Không thể được!”. Nguyễn Thành Phong lại bất lực, dù chỉ tài hoa đặt nghi vấn mà thôi.   

NHỮNG NHÀ THƠ CHIẾN TRƯỜNG

Những câu thơ chiến trận tưng bừng

Nhập thế chích thân lễ hội reo mừng

Những câu thơ cháy chiến hào lửa đạn

Sao bây giờ bỗng dửng dừng dưng?

Có nhà thơ chiến trường đã ngồi bên trên ghế

Ghế kê cao, sang trọng, an lành

Ở trong tủ, huân huy chương xếp gọn

Đợi đến mùa lễ lạt lại vang danh.

Có nhà thơ chiến trường theo ngày thường nhập cuộc

Lần hồi xoay bút viết văn buôn

Bữa rượu cạn trăng rơi hồ sũng ướt

Anh la đà xuống vớt để theo luôn.                 

Ở làng quê có những cựu binh buồn

Đêm trở gió vẫn đau rừng sốt rét

Giấy chứng chiến đã bay đâu mất hết

Kêu phía nào bạc lẻ vẫn tay không        

Có nhà thơ chiến trường giờ đi lang thang

Việc của anh là cố ghìm cơn mửa

Hiện thực này bội phản với thi ca

Tay động bút là ngực sôi máu vỡ             

Ngoài chợ lộng hành thương bình giả

Trên diễn đàn nguy anh hùng thớ lợ

Ngụy quân từ vênh vang chém gió

Rừng rực cờ hoa ngày quốc lê...

Có nhà thơ chiến trường rời quan trường lặng lẽ

Đêm dài lạnh nghe lá cờ vẫy gió

Nghe cả quẫy trong dòng sông cũ

Nhân tình giờ đã quá khác xưa               

Có nhà thơ chiến trường bỏ nước mà đi

Bởi số phận đã xếp anh đối tuyến

Hơn mười năm đọa đày nơi rừng thẳm

Thơ ngân lên đau xé nỗi ta về...              

Đất đã liền mà lòng vẫn phân ly

Người khốn khó vẫn nguyên người khôn khó

Bọc trăm trứng vẫn hồng trong tâm tưởng

Khắp địa cầu giăng mắc mịt mờ xa...

(bài này tôi xin phép nhà thơ tách khổ cho dễ đọc, chứ trong tác phẩm thì liền mạch).
Nhưng cũng có những luận cảm đáng yêu làm mát rượi hồn ta. Đấy là Những Hàng Dừa Nước của em gái, chị gái, bà má miền Nam.

Năm 1990. Từ Sài Gòn xuống biên giới Mộc Hoá, tôi đi trên con đường 49 cây số Tân An – Tân Thạnh hai bên ngợp rừng tràm và lò nấu dầu tràm. Hai bờ sông Vàm Cỏ là san sát những hàng dừa nước. Không biết có trùng với hàng dừa nước của Nguyễn Thành Phong không, nhưng bài thơ là cả một sự khẳng định của biểu tượng Mẫu Thuỷ nhân dân của dân tộc ta.

Những hàng dừa nước

Như đội quân kỳ
Những lá cờ biểu trưng cho sức sống
Xanh ngút ngàn dọc các triền kênh rạch
Châu thổ Cửu Long giang tràn tầm mắt...

Người đã sống với những hàng dừa nước
Học được nhiều những phóng khoáng xanh tươi
Học được những nhẫn nại và bền bỉ
Để làm nên Nam Bộ chẳng nhiều lời...

Em đã sống với những hàng dừa nước
Mơn mởn giữa đời bên sóng gió thiên nhiên
Chị đã sống với những hàng dừa nước
Khuôn mặt luôn ngẩng cao kiêu hãnh dịu dàng
Má đã sống với những hàng dừa nước
Là bóng mát chan hoà da diết ấp iu con!

(Xin phép được chuyển sang những bài thơ về Trường Sa của Nguyễn Thành Phong).

Bắt đầu là bài Những Tấm Ảnh Trường Sa.

Không thể bắt chước câu thơ chép trong trí nhớ “Đã yêu nhau đâu cần chi tặng ảnh/Cái quý nhất không thể nào có được/Là bức hình chụp được ở trong tim”. Hoa ngôn vậy thôi, chứ nếu mà có một kỷ niệm về khoảng khắc của cái thực, và đẹp nữa, thì quý giá biết bao.

Ở Trường Sa thật không đơn giản. Trường sa đẹp về hình tượng, trở thành biểu tượng, còn thực tế thì khắc nghiệt lắm. Nếu tính về diện tích thì đảo ở đây chỉ xấp xỉ đảo theo luật về đảo của thế giới. Chưa có đảo nào vượt qua năm cây số vuông, nên cũng cưỡng cầu xếp vào loại đảo nhỏ. Nhưng đó là thực thể của Tổ quốc. Nhưng đó là quyền và chủ quyền của Tổ quốc. Biết bao mồ hôi, xương máu, tuổi trẻ đổ xuống mới làm cho Trường Sa có diện mạo hôm nay.

Những tấm ảnh Trường Sa

Những mặt đá phập phồng như giọt máu

Đang neo chặt lại giữa biển trời

Những cánh chim bay mát lành mặt cát

Nhịp bồi hồi cùng nhịp trái tim tôi

Trường Sa dữ dằn sóng gió chẳng xa xôi

Lá phong ba xanh mắt người lính đảo

Cát Trường Sa trắng màu vai áo

San hô đỏ màu máu đỏ

Chảy nồng nàn từ dòng máu mẹ cho

 Anh đã mang về từ Trường Sa

những tấm ảnh hiện lên từ lốc cát

Từ bão xô gió giật

Từ sương mù đậm đặc

Từ khói súng bất ngờ […]

Như người lính kiên nhẫn lặng im

Anh đặt tay lên nút

bấm máy ảnh như đặt vào cò súng

Trường Sa trồi lên, Trường Sa chìm xuống

Trái tim đã chọn đúng tầm nhìn

Trường Sa đầy một dáng đứng yêu thương

Những tấm ảnh treo ở phố Ngô Quyền

Đâu còn là của riêng người nghệ sĩ

Trường Sa đau thương, Trường Sa gian khổ

Gần kề vừa trong một cánh tay ôm.

Những năm qua, nhắc đến liệt sỹ biển Đông, trong văn thơ hay dùng biểu tượng mộ gió. Đây là một hình ảnh đậm chất bi thương. Thời xưa là da ngựa bọc thây. Thời những năm 1980 là mộ gió. Nhưng vẫn có nghĩa trang liệt sỹ trên đảo của đất nước ta. Đó là sự khẳng định chủ quyền. Đó còn là sự khẳng định về chủ tài nguyên. (theo luật tài nguyên môi trường thì nghĩa trang là phần đất tài nguyên thuộc về tài sản đất công). (Tôi bám theo mạch tư tưởng, nên không dừng ở từng câu thơ. Cả bài thơ đọc đã thấy nhân vật trữ tình, cảnh, tình, ảnh, nhạc, và cảm xúc).   

Trước mồ liệt sĩ trên đảo Nam Yết

Các em nằm lại đây trước mênh mông biển sóng
Những chân hương bạc trắng vì muối mặn
Trên mộ chí nghẹn ngào ngày sinh tháng mất
Có em nằm xuống mới tròn năm...
Các em chết khi còn quá trẻ
Mười tám, mười chín, hai mươi...
Các em chết không phải vì súng bắn
Mà chết vì sóng đánh
Vì gió quật, mưa tuôn
Vì xây nhà giữ biển...
Ở xa kia dưới đáy đại dương
Có hài cốt của bao người lớp trước
Thành những mỏ neo thiêng
Ghì đảo vào Tổ Quốc...
Và ngay dưới thềm san hô dập dềnh mép nước
Những Gạc Ma, Cô Lin
Còn bao thân xác cha anh
Họ tôn lên quần đảo hiện hình
Trên Biển Đông sừng sững...
Đảo đá giờ đây đã bao nhiêu người đến
Đã xanh xanh màu xanh cây lá
Các em nằm lại đây
Để thôi thúc cát bỏng hoá phù sa
Dáng vóc các em đã tan vào trong gió
Hát yên lành trên những tầng cây.
Một mai
Rạng rỡ dưới trời
Trường Sa nhộn nhịp chân người dựng xây
Lặng yên nghiêng mình phút giây
Tuổi tên mãi nhắc nơi này linh thiêng...
Đảo Nam Yết, Trường Sa, tháng 4/2013

Giải phóng đảo từ năm 1975, đến lúc này, Nguyễn Thành Phong đã có một đại ý sáng tạo: Làng mình!
Đã đến mức làng, đối với người Việt mình là thân thuộc, chôn nhau cắt rốn lắm rồi. Theo sự phân tích của các nhà nghiên cứu, hơn một nghìn năm Bắc thuộc mà người Tàu không đồng hoá được nước ta như họ đã đồng hoá các tộc Man Di Nhung Địch chính là do tiếng Việt và làng Việt. Tô nhớ khi học về kinh tế chính trị năm 1980 ở khoa Triết học – Đại học Tổng hợp Hà Nội, Giảng viên có nói, hàng triệu tấn bom do Mỹ thả xuống miền Bắc Việt Nam, chẳng đánh tan được kinh tế làng xã nước ta, lại làm cái ao chuôm cho bà con ta nuôi bèo thả cá. Tôi miên man vậy, vì tứ thơ nó vậy, đến chịu Nguyễn Thành Phong.

Trường Sa làng mình

Trưa ngồi quanh gốc phong ba
Ríu ran bàn chuyện cửa nhà nông tang:
- Lợn nái vừa đẻ bầy con
Lứa gà đang ấp, vịt đàn sinh sôi
Ngửa mặt ngóng gió trông trời
Mong cho mưa xuống để tôi thả bò
Rồi đi giồng đậu giồng cà
Hoa gạo không xuống vẫn tra hạt vừng...
Câu ca vun xới gieo trồng
Xôn xao đảo đá sóng lừng nghe không
Nước, phân, cần, giống… đã tường
Trường Sa ấm chuyện mùa màng quê ta.
Buổi trưa ngồi gốc phong ba
Rưng rưng tôi gọi: Trường Sa làng mình...
Quần đảo Trường Sa, tháng 4/2013

Nhưng còn ghê gớm hơn khi Nguyễn Thành Phong dựng nên cả một tượng đài ngang ngửa với các cuộc thi sắc đẹp ở đất liền. Đó là Gót Chân Hồng Trên Biển Cả. Ở đâu mà có phụ nữ thì ở đó có tình yêu và sự sống. Quan yếu hơn, ở đó có phấn đấu và bảo vệ. Và, tất nhiên rồi, ở đó có văn minh!

Gót chân hồng trên biển cả

Những hải trình dằng dặc
Xuyên qua nhiều trăm năm
Những hải đội ra khơi bóng người hoà sóng bể
Biển rập rờn những vỉa san hô
Đảo tượng hình những mỏm đá mồ côi...
Giữa đại dương vươn dậy những dáng người
Vượt qua cái chết không thành mồi cá dữ
Bỏ lại sau lưng bạn chài thân chìm sâu đáy biển
Những chàng trai đất Việt
Níu thuyền xuống san hô
Đá mồ côi trở thành neo buộc
Ngày mở mang bờ cõi...
Rồi tiếp nối bao đời
Sắt thép xuyên vào lòng biển
Rùa bê tông bám vào lòng biển
Mọc những nhà chân cao, nhà giàn
Mọc nơi ở bền gan nhô lên trên sóng gió
Giữa mênh mông thăm thẳm biển trời xa...
Sáng nay những gót chân hồng đã đi ra nơi biển cả
Các em vượt qua những cơn say sóng
Bước thênh thang mát lành trên đảo đá
Bữa cơm trưa có hương vị quê nhà
Khi các em sà xuống dịu dàng bên bếp lính.
Các em vượt qua nỗi sợ hãi thường tình 
Treo mình trên dây lên với nhà giàn
Các em ôm vào lòng những chàng trai biển
Nước mắt oà trên áo lính
Nỗi thiết tha nhung nhớ của đất liền.
Biển động quá ngăn không cho em đến
Xuồng thả xuống mấy lần rồi xuồng lại câu lên
Tàu phải chạy vòng quanh để em vang tiếng hát
Vượt qua đầu sóng cả
Tiếng hát dệt yêu thương
Thành ngọn gió bắc cầu...
Mỗi các em một nét mẹ Âu Cơ
Ngày mang nửa đàn con đi ra nơi biển cả
Các em đến nhà giàn và đảo đá
Mang theo nhớ thương, tươi mát, ngọt lành
Các em thoả nỗi khát khao đất liền
Đảo đá mềm dưới bước chân con gái
Dải san hô muốn hoá bờ đất bãi
Vạt cát mặn muốn mọc lên cây trái
Đảo đá sẽ xanh tươi, đảo đá mãi vững bền!
Trường Sa, nhà giàn ĐK1, tháng 4/2013

Tôi xin sang phần thứ 3 của tiểu luận này: Trữ tình quan chiêm ngoại vi. (nhân đây cũng nhắc lại, tôi dùng ngoại vi để chỉ những sự, những việc, những vật khách quan tạo thành cảm hứng cho thơ, còn nội hàm là nội dung hàm chứa những tư duy cấu trúc suy tưởng để cảm xúc theo đó mà tổ chức ngôn từ. Thực ra đó là đại thể. Làm thơ mà như vậy khác chi làm lúa, cứ gieo mùa thì phần lớn có thu hoạch – Làm thơ thuộc về tài hoa của nhà thơ).

Bài thơ Em Vô Tư tả cái tình của các thanh niên đôi tám. Đây thuộc dạng tả tâm lý sinh học. Anh khôn hơn, còn em vờ như không biết, kiểu như con dế vô tư mà ca sĩ Hồng Nhung hát rất hay từ 30 năm trước. Nguyễn Thành Phong làm bài này từ năm 1981. (Con người tài hoa mà). Thôi thì cứ giả lộng thành chân, mà say, mà ước, nghe thơ!

EM VÔ TƯ...

Em vô tư đến làm tôi sốt ruột

Nắng cứ rơi vàng ngõ phố nhà em

Cây bàng xanh tơ non em đứng tựa chiều êm

Em ngây thơ đến làm tôi nghi ngại.

Chiều buông xuống em đứng ngắm trời mê mải

Em quen gửi ánh mắt mình tới những ngôi

sao cao biếc

Tôi thì như một giọt mực tím

Muốn giây vào trang giấy trắng là em.

Giữa mùa đông em ấm mặt trời riêng

Tôi như người đứng giữa ngã ba tồng tuềnh

gió lạnh

Tôi tìm đến em khao khát làm hành trang

Đường dẫu gập ghềnh xa khao khát chẳng

lấm chút bụi nào.

Chiếc hộp thư con treo trước cửa nhà em

có nhiều lá thư rồi

Các chàng trai nói lời yêu nồng nhiệt

Tôi thả vào đây một khoảng giấy nhỏ xinh

Bên bao nhiêu bức thư mà em chưa hề đọc

Lời thầm thì vọng lại nơi tôi:

- Xin đừng thôi vô tư

Dẫu vô tư có phút làm sốt ruột

Xin đừng thôi ngây thơ

Dẫu ngây thơ có phút làm nghi ngại!       

Trong tình yêu không thể làm người

từng trải

Để tôi còn tìm đến em!

1981

Trữ tình còn bắt đầu từ trạng ngữ thời gian trong Tháng Tư Gõ Cửa. Biến thời tiết – thời gian thành chủ ngữ để nói một chuyện tình. Biến một chuyện tình sang biểu tượng lá đỏ của Trường Sơn “vai áo bạc quàng súng trường”. Rồi liên hệ với tri ân, trước là người lính, sau là em đã nhắc nhở, về lòng biết ơn, về sự trân trọng. Từ một chuyện tình biến thành quan chiêm về vật thể và phi vật thể.

THÁNG TƯ GÕ CỬA

Bỗng ngỡ ngàng gặp vòm trời hoa xoan

Tháng tư đến như em không hẹn trước

Quyển lịch treo lật một trang nắng biếc

Lấp lánh màu đôi mắt đang yêu.

Em mới từ Hà Bắc về buổi chiều

Đêm nhè nhẹ để cho ta đi dạo

Cây bằng lăng tơ non cuối đường

Thợ Nhuộm

Em gọi tên: cây lá đỏ của mình.

Cây lá đỏ trong bài hát Trường Sơn

Em vừa gọi tên lên đã về trong thành phố

Để lòng anh rạo rực với tháng tư

Trái tim rung như là mình đang hát.

Sau đêm nay, thanh âm của đất trời

nồng nhiệt

Cây sẽ xanh hơn vốn có của mình

Tình yêu đã gõ vào cánh cửa tháng tư

Sau khoảng nắng ban mai là ngập

tràn mùa hạ...

Xin cảm ơn bài hát về lá đỏ

Người lính đã mang theo đến đích

cuối cùng

Như cảm ơn em đã gõ vào cánh cửa

Gọi tình yêu với mùa hạ đi cùng!

4-1982

Nguyễn Thành Phong, trong đời và văn nghiệp của mình, gắn bó rất nhiều với Tây Bắc. Tây Bắc là của Thái Mèo. Bài thơ Gặp Em Gái Thái Ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng là tri ân sâu lắng. Trong đời có những khoảng trong veo và mênh mang cảm động. Đâu chỉ là chuyện nam nữ bắt tình. Có những chuyện ngoài lứa đôi, còn là đồng hiện hồi ức đẹp đẽ.

GẶP EM GÁI THÁI

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Anh đã từng lội suối trèo nương

Ăn măng đắng suốt mùa mưa lũ

Đã xuống sông Đà bắt con cá đá

Chảm chấu * còn cay ngọt suốt đời anh.

Bàn chân qua bao miền đất trắng đất xanh

Còn say mãi rượu cần tay em vít ống

Quả còn đón hội mùa xuân

Tay anh vẫn nồng nỗi nhớ

Đêm xoè chân có lửa

Bước bập bùng qua tháng qua năm

Khi nhớ về Tây Bắc

Môi ngọt ngào câu xống chụ xôn xao

Là con trai qua bao gian lao

Nhớ Tây Bắc giờ trắng xoá hoa ban        

Rực hồng hoa đào ven suối

Hoa pặc - piền tím ngát mắt em thương...

Đêm nay anh gặp lại em

Thành phố phương nam em chưa từng

mơ đến

Anh gặp lại một miền kỷ niệm

Gặp lại khoảng đời sống động

Gió ngàn phóng đãng với non cao

Gặp hồi ức một tình yêu vời vợi

Giữa rừng non sao trời.

Em vào đây giữa bao người

Giữa bao nhiêu tấm lòng nồng hậu

Không kịp có kèn môi anh thổi

Mềm suối mát Nậm La

Không kịp có pí pặp, pí đôi *

Mượt giọng nhà sàn đêm lửa

Đôi bàn tay anh xoè như cánh lá

Và ánh mắt xưa này, em có nhận ra anh?

1987

* Chảm chấu: Một món ăn giản dị của người Thái

* Kèn môi, pí pặp, pí đôi: Các nhạc cụ dân gian của người Thái

Cũng như Bản Phiềng Ngùa. Hồi ức thật đẹp. Tiếc nuối thật đẹp. Quan chiêm thật đẹp. Và tài hoa. Đã là tài hoa thì không sở hữu, cũng không nên sở hữu, phải vậy không?

BẢN PHIỀNG NGÙA

Phiêng Ngùa Phiêng Ngừa

Sương lâng lâng trắng ngực bản xa mờ

Tuổi thơ ta vẫn còn nguyên ở đó

Lòng suối sâu giữ một viên sỏi đỏ

Ta đánh rơi rồi giờ vẫn tiếc ngẩn ngơ.

Phiêng Ngùa Phiêng Ngùa

Hoa bí trổ những triền đồi xao xác

Mùi cơm lam thơm lựng trước mùa trăng

Ta lớn vổng lên rồi không kịp biết

Sao lại hay buồn, cô bạn gái ngày xưa.

Phiêng Ngùa Phiêng Ngùa

Thế giới bé con ngun ngút trời núi đá

Ta không hiểu vì sao ta trèo cây thật giỏi

Những chùm quả chín vàng dưới những

vòm lá tối

Như ám ảnh thần kỳ đi suốt ấu thơ.

Phiêng Ngùa Phiêng Ngùa

Ta một mảng của rừng về thành phố

Chuyện săn gấu, chuyện rừng ma vẫn luôn

về trong giấc ngủ

Những chùm quả trong đời không dễ hái

Mà bản Phiêng Ngùa vẫn đang gọi tên ta!

1993

Nguyễn Thành Phong ít làm thơ lục bát. Cái làm báo phóng sự nó cứ hay khuôn khổ. Nhưng Nỗi Nhớ Từ Rừng bắt buộc phải thơ vần điệu. Vần điệu mới tải được nỗi tình. (Nguyễn Thành Phong cũng hay dung từ “nỗi”. Cũng là một nhãn tự, ông hay lựa chọn dấu ngã nếu có thể phân tâm ba dấu huyền, ngã, nặng). Và ông khéo dùng điển. “Cái lá rừng chạm vai tôi rất mềm!”. Chuyện rằng con hổ không thoát ly rừng, vì đang đi, chạm vào lá rừng, là quên mất mình định đi đâu. Nguyễn Thành Phong không quên. Nỗi nhớ ấy, như chiếc lá mềm chạm vai. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo rất thân với Nguyễn Thành Phong, trong bài Uống Rượu Với Nguyễn Du, đảo câu thơ Kiều “Mai sau còn có bao giờ” thành câu kết, đổi chữ còn thành chữ dù, từ nghi vấn, thành nghi vấn mặc định:

Bao giờ

dù có

mai sau…

Cái tài hoa của tác giả bài hát Làng Quan Họ Quê Tôi (thơ Nguyễn Phan Hách) và Khúc Hát Sông Quê (thơ Lê Huy Mậu), thì khỏi phải bàn. Đều là hồi ức tái hiện để mà nhớ mãi không nguôi!          

NỖI NHỚ TỪ RỪNG

Bài thơ tôi viết ở rừng.

Vần gieo sao cứ ngập ngừng... lời xa

Cánh rừng này đã từng qua

Nôn nao... giờ mới hiểu là nhớ đây!

Cái lá rừng cứ lay lay

Như tay em vẫy sáng ngày tôi đi

- Bông hoa đỏ lạ, tên gì?

Gió rừng như cũng thẩm thì giọng em

Tiếng chim khắc-khảm * trưa mềm

Gọi nhau rồi liệu có tìm thấy nhau?

Lên núi cao vào rừng sâu

Ước sao mình ở bên nhau đi cùng

Bàn chân vừa chạm đỉnh rừng

Gọi tên em vang lòng thung đấy rồi...

Biết em còn ở xa xôi

Cái lá rừng chạm vai tôi, rất mềm!

Dốc Cao Pha, 26-6-1982

* Chim khắc khảm: Chim từ quy.

Nguyễn Thành Phong ở bên ta, bản lĩnh như một sự tin tưởng. Thời gian dẫu có lúc làm ông buồn, nhưng cả hành trình của thơ ông là một cuộc bền bỉ với cái đẹp, với nhân sinh. Ông luôn là sự phức tạp thăng hoa của tri thức – tri huệ - tri ân…

Nguyễn Thành Phong làm thơ như là thiên chức. Ông tự ý thức chính mình để mà luận lý bằng văn chương. Có thể nói, mỗi bước đi của ông vừa là quan giác, vừa là hành thiện, vừa là giới mĩ cho sáng tác và cuộc đời. Và cứ như thế ông cần mẫn khoái hoạt mà bước.

Và ông cảm động cái nghĩa tận của con người. Không có đại bác lễ trọng. Không có rầm rộ hàng dài xe nọ xe kia. Chỉ là sự đưa tiễn cuối cùng bình dị của những người bình thường đến mức vô cùng là bình thường. Nhưng Nguyễn Thành Phong vẫn định vị luận cảm mình trong mưa bụi “Ngày cuối năm đi giữa trời mưa bụi /Ta ảo mờ một hạt nước đang bay...”

BAY TRONG MƯA BỤI

Mưa bụi bay bay giăng kín đường làng

Những tiếng nói cười vấn vít nghĩa trang

Sáng nay bao bước chân từ phía ấy

Khói nhang thơm lan tỏa nóng nàn...

Trong tỏ mờ đóng cuối đông quẩn gió

Lặng cúi đầu nơi cốt xương khuất lấp

Xin âm dương mở lối an lành

Người nay đón người xưa về gặp mặt.

Những con người tận tụy và cay đắng

Trải phận mình trong binh lửa, nông tang

Những hạt nước tụ hình bao khuôn mặt

Thành bụi mưa bay vương vẫn khắp làng.

Trên thôn xóm cha ông muôn đời lộng lẫy

Những ngôi nhà dưới những tầng cây

Đất vườn cũ bao dấu chân người cũ

Gió thanh lành nguyên khí ấm nơi đây...

Người tiếp người sinh ra trên đất này

Người tiếp người bền bỉ bước chân xa

Người tiếp người khổ đau và hạnh phúc

Cứ ra đi rồi lại trở về...

Ta đã sống như bao người đi trước

Đầy nhọc nhằn tin cậy với mê say

Ngày cuối năm đi giữa trời mưa bụi

Ta ảo mờ một hạt nước đang bay...

Cảm ơn bạn đọc đã cùng tôi theo thơ Nguyễn Thành Phong đến giờ. Thơ, đôi khi đi cùng cái ngoài thơ. Đời có thể đôi lúc vắng thơ, nhưng thơ không thể vắng đời. Tôi nghĩ, đời sống tinh thần và non nước cảnh tình là những bức ảnh đẹp nhất mà thơ Nguyễn Thành Phong dâng tặng!

Hà Nội, 15/8/2025

Bùi Văn Kha

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

  Tọa đàm “Tác phẩm hay – Từ tiếp nhận và sáng tác” Chiều 11/8/2025, tại Nhà sáng tác Đà Lạt, Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh tổ chức buổi tọa...