Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

 

Văn học và văn hoá truyền thống

Văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phong tục… là những bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hoá. Nếu văn hoá thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu giữ những thành quả đó một cách sinh động nhất. Để có được những thành quả quả đó, văn hoá của một dân tộc cũng như của toàn thể nhân loại từng trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, chọn lựa, đấu tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trong xã hội. Văn học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị đã hình thành. Cũng có thể nói văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật.

Văn học biểu hiện văn hoá, cho nên văn học là tấm gương của văn hoá. Trong tác phẩm văn học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn. Đó là bức tranh văn hoá dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương (tục ngữ, câu đố tục giảng thanh, trò chơi…), là những vẻ đẹp của văn hoá truyền thống trong truyện ngắn và tuỳ bút Nguyễn Tuân (hoa thuỷ tiên, nghệ thuật pha trà, thư pháp…), là những tín ngưỡng, phong tục trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (đạo Mẫu và tín ngưỡng phồn thực, tục thờ Thần Chó đá, Thần Cây đa, Thần Thành hoàng, cách lên đồng, hát chầu văn, tục kết chạ, ma chay, cưới hỏi…). Tác phẩm văn học còn dẫn ta đi đến những nguồn mạch sâu xa của văn hoá qua việc lý giải tấn bi kịch lịch sử trong kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng hay cốt cách người nông dân được đào luyện qua những biến thiên cách mạng trong các truyện ngắn Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu.

Văn hoá tác động đến văn học không chỉ ở đề tài mà còn ở toàn bộ bầu khí quyển tinh thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc. Bản thân nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hoá. Người đọc, với chân trời chờ đợi hướng về tác phẩm, cũng được rèn luyện về thị hiếu thẩm mỹ trong một môi trường văn hoá nhất định. Chính không gian văn hoá này chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác; đồng thời cũng chi phối cách phổ biến, đánh giá, thưởng thức… trong quá trình tiếp nhận. Một nền văn hoá cởi mở, bao dung mới tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển. Vì vậy, có thể nói văn học là thước đo, là “nhiệt kế” vừa lượng định, vừa kiểm nghiệm chất lượng và trình độ văn hoá cuả một xã hội trong một thời điểm lịch sử nhất định.

Trong tinh thần đó, nhiều nhà nghiên cứu đã căn cứ vào những dữ liệu văn học để tìm hiểu bức tranh văn hoá của một thời đại. Nói cách khác, thực tiễn văn học có thể cung cấp những cứ liệu đáng tin cậy cho khoa nghiên cứu văn hoá. Chẳng hạn, thông qua nội dung tái hiện của văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XX, người ta có thể chứng minh cho quá trình thâm nhập của văn hoá Tây Âu trong xã hội thời kỳ này, cũng như khoảng cách văn hoá của người thị dân so với người sĩ phu bị buộc chặt vào những tín điều Nho giáo, một bên, và với người nông dân bị giới hạn trong văn hoá nông thôn ở làng xã, một bên khác.

Tuy nhiên, cách nghiên cứu có phần “thực dụng” này cũng có nguy cơ làm cho nghiên cứu văn hoá nuốt chửng nghiên cứu văn học và thủ tiêu chính đối tượng toàn vẹn của văn học.

Nếu văn hoá chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học, thì ngược lại, văn học cũng tác động đến văn hóa, hoặc trên toàn thể cấu trúc, hoặc thông qua những bộ phận hợp thành khác của nó. Những nhà văn tiên phong của dân tộc bao giờ cũng là những nhà văn hoá lớn. Bằng nghệ thuật ngôn từ, họ đấu tranh, phê phán những biểu hiện phản văn hoá, đồng thời khẳng định những giá trị văn hoá dân tộc, nhân bản và khai phóng. Dù là phản ứng trước những làn sóng văn hoá tiêu cực hay cổ vũ cho sự tiếp biến văn hoá, giới trí thức sáng tác tinh hoa bao giờ cũng là những người tiên phong mở ra hướng nhìn về vận hội mới của văn hoá dân tộc.

Giữa văn học và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ mật thiết như vậy, nên việc tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hoá là một hướng đi cần thiết và có triển vọng. Cùng với những cách tiếp cận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học…, cách tiếp cận văn học bằng văn hoá học giúp chúng ta lý giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hoá được bao hàm bên trong nó. Những yếu tố văn hoá liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn ngữ… có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm. Nó cũng có thể góp phần lý giải tâm lý sáng tác, thị hiếu độc giả và con đường phát triển nói chung của văn học.

Cách tiếp cận văn hoá học như vậy thực chất là đặt văn học trong không gian văn hoá với những đặc trưng của nó đã thâm nhập một cách tinh vi vào thế giới sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Ở những người nghệ sĩ lớn, đó không phải là sự “ăn tươi nuốt sống” mà là sự tiêu hoá và thẩm thấu vào từng hình tượng, chi tiết của tấm thảm dệt ngôn từ. Sự thẩm thấu này truyền đi cả theo hai chiều lịch đại và đồng đại. Một mặt, những giá trị từ nguồn  văn hoá truyền thống rì rầm chảy trong mạch ngầm của nó và thấm vào thế giới hình tượng và ngôn từ của tác phẩm mà đôi khi chủ thể sáng tạo không ý thức một cách tự giác. Mặt khác, những giá trị văn hoá mới hình thành vào lúc đương thời không thôi cám dỗ, kêu gọi, thách thức, đòi hỏi nhà văn phải trả lời, trực tiếp hay gián tiếp, bằng ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm của mình. Đối với những tài năng bậc thầy, cả hai chiều thẩm thấu ấy hoà trộn một cách nhuần nhuyễn đến mức khó mà tách bạch rõ ràng.

Văn hoá không bao giờ là một hiện tượng thuần nhất. Sự đan xen văn hoá có khi dẫn đến sự pha tạp, trộn lẫn, nhưng cũng có thể dẫn đến sự kết tinh, chưng cất nên những giá trị mới. Về mặt thời gian, khi cái cũ chưa bàn giao cho cái mới, văn học có thể là nơi hội tụ của những tìm tòi cho sự chuẩn bị chuyển tiếp thời đại. Còn về mặt không gian, khi một địa bàn trở thành ngả ba đường của sự giao lưu văn hoá, thì văn học có thể là nơi hoà giải của những xung đột tinh thần, nhằm tìm một tiếng nói cho sự chung sống giữa các nhóm người.

Ở xa, văn học thừa hưởng và hấp thụ những yếu tố của một không gian văn hoá rộng: văn hoá phương Đông, văn hoá dân tộc. Ở gần, văn học thừa hưởng và hấp thụ những yếu tố của một không gian văn hoá hẹp: văn hoá tộc người, văn hoá vùng. Những vùng văn hoá giao nhau sẽ tạo ra những nét chung trong văn học của từng vùng, đồng thời nó vẫn giữ lại những nét riêng làm căn cước giúp ta nhận diện bộ mặt của từng vùng văn hoá, từ đó phân biệt “lãnh thổ” trên bản đồ văn học. Công trình khảo cứu Hồ sơ Lục châu học của Nguyễn Văn Trung là một nỗ lực đáng trân trọng nhằm khảo sát, phân tích và đi đến khái quát về đặc điểm và sự phát triển của văn học Nam bộ trong bối cảnh văn hoá-lịch sử nước ta đầu thế kỷ XX. Thiên nhiên, địa lý, phong tục, tập quán, lề thói sinh hoạt ở vùng đất mới là cái nôi văn hoá hình thành nên tính cách con người và tính cách văn chương ở đây, thể hiện qua tâm lý, hành động và ngôn ngữ.

Trong một phối cảnh văn hoá như vậy, chúng ta sẽ thấy sự nối tiếp và gần gũi giữa Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Phi Vân ở nửa cuối thế kỷ XX với Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bửu Mộc, Nguyễn Chánh Sắt… ở nửa đầu thế kỷ đó. Và mặc dù không thiếu những nét chung với những nhà văn cùng cộng đồng vận mệnh trong thế kỷ đầy biến động này, ngay trong đề tài về cuộc sống ở nông thôn, sáng tác của họ cũng có một khoảng cách nhất định với sáng tác của Võ Hồng, Nguyễn Văn Xuân, Võ Phiến… ở miền Trung và Trần Tiêu, Bùi Hiển, Nguyễn Đình Lạp, Mạnh Phú Tư… ở miền Bắc.

Nằm trong cấu trúc văn hoá, đạo đức là những quy luật tinh thần hướng con người vươn đến điều Thiện, bao gồm những nguyên tắc ứng xử, những chuẩn mực và quy phạm trong đời sống xã hội. Nói đến quan hệ giữa văn học và đạo đức chính là nói đến quan hệ giữa cái đẹp và cái Thiện. Mỹ học truyền thống phương Đông cũng như phương Tây luôn nhấn mạnh sự thống nhất của hai phạm trù này và khẳng định văn học góp phần củng cố bầu không khí đạo đức của xã hội, trong đó tình người, lương tâm, bổn phận, sự trung thực, lòng nhân ái, lẽ công bằng… được đề cao. Ngược lại, khi xã hội vững chãi về phong hoá, đạo đức, thì văn học sẽ tiếp nhận nguồn động lực để nói lên sự thật về cuộc đời và về lòng người.

Kant quan niệm ý thức đạo đức là quy luật của bổn phận. Có bổn phận được thôi thúc do sức mạnh và áp lực của dư luận từ bên ngoài; có bổn phận được thôi thúc do ý thức của chính lương tâm từ bên trong. Từ đó, Kant phân biệt hai loại hành động là hành động thích nghi theo bổn phận và hành động vì bổn phận. Ông kêu gọi: “Hãy hành động sao cho nhân tính trong bản thân mình cũng như nơi người khác luôn luôn được xem là cứu cánh và không bao giờ bị sử dụng như là phương tiện” (Fondements de la métaphysique des moeurs, Delagrave, Paris, 1971, p. 150).

Văn học gắn liền với ý thức đạo đức theo nghĩa thứ hai. Đó là tiếng nói của bổn phận và lương tâm ngay cả khi không có áp lực của xã hội và dư luận. Văn học khơi dậy sự ăn năn, cắn rứt của lương tâm con người về những tội lỗi mà có thể không một toà án nào xử phạt được. Đó là sự sám hối, xưng tội của con người với chính bản thân mình: con người tự kết án, tự biện hộ, tự phán quyết và tự hoà giải với lương tâm mình. Có thể nói, ở nơi mà luật pháp, dư luận xã hội không can thiệp được, thì văn học có khả năng khơi dậy và tỉnh thức lương tri của con người.

Đạo đức là một thực thể luôn vận động và thay đổi theo sự tiến hoá của xã hội chứ không mang một khuôn khổ bất di bất dịch. Nói đúng hơn, trong đạo đức có phần căn cốt, bất biến; lại có phần biến đổi, thích nghi theo từng thời đại. Chẳng hạn, ở thời đại nào con người chân chính cũng coi trọng nghĩa vụ và danh dự; nhưng quan niệm về nghĩa vụ và danh dự thời nay không thể giống với quan niệm thời Racine, Corneille… Cũng vậy, ở thời đại nào tình mẫu tử cũng thiêng liêng, sâu nặng; nhưng mỗi thời lại có cách đối xử với người phụ nữ khác nhau, và do vậy nhìn nhận vấn đề nữ quyền một cách khác nhau. Văn học tiên phong đấu tranh cho nữ quyền chính là góp phần làm chuyển biến đạo đức theo hướng tiến bộ.

Trong xã hội, tình trạng đạo đức suy đồi có thể dẫn đến một loại văn học suy đồi nào đó; nhưng văn học chân chính luôn có ý thức phản kháng lại sự suy đồi. Vì vậy, văn học là lương tri của xã hội ngay cả trong tình huống bất lợi nhất. Văn học kiên trì bảo vệ những giá trị đạo đức vĩnh cửu hay đấu tranh với những lề thói đạo đức cổ hủ không phải bằng những lời rao giảng thống thiết mà bằng sự trải nghiệm của nhà văn và nhân vật của mình. Tiếp xúc với sự trải nghiệm đó, bạn đọc sẽ tự rút ra cho mình những bài học về cách ứng xử đạo đức mà họ tin là phù hợp với phẩm giá con người. Nhà văn cần tin rằng con người tự mang phẩm hạnh bên trong mình. Văn học không dạy dỗ, mà là nâng đỡ, “hộ sản” (maieutique), như phương pháp của Socrate, cho những phẩm hạnh đó có điều kiện thuận lợi để xuất hiện.

Có liên quan đến cả văn học và đạo đức, giáo dục là hoạt động nền tảng của văn hoá, đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và nâng cao dân trí, hướng đến mục tiêu đào tạo những con người có nhân cách và năng lực nghề nghiệp. Một nền giáo dục toàn diện bao gồm giáo dục tri thức, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất và giáo dục thẩm mỹ. Văn học có vai trò quan trọng trong giáo dục đạo đức và giáo dục thẩm mỹ, là con đường đưa con người vươn đến điều Thiện và cái đẹp; đồng thời cũng góp phần vào hai lĩnh vực giáo dục kia, khi nó giúp con người nhận chân sự thật và vững vàng về mặt tâm lý.

Từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, không có một nền giáo dục chân chính nào xem nhẹ văn học. Văn học giữ một vị trí then chốt trong hệ thống các môn khoa học nhân văn ở nhà trường tiểu học, trung học và đại học. Trên những chặng đường đời người ta có thể quên đi những định lý toán học, định luật vật lý hay công thức hoá học; nhưng người ta sẽ nhớ mãi những bài văn hay được học từ thời thơ ấu: nhớ ông đại tướng Carnot về trường cũ thăm thầy, nhớ cậu bé đeo cặp sách ngang qua vườn Luxembourg một sáng mùa thu, nhớ người lãng du khắp năm châu bốn biển nhưng vẫn thấy quê hương mình đẹp nhất… Văn học trong nhà trường là sợi dây kết nối những tâm hồn như đã được thể hiện chân thành trong truyện ngắn Tình nghĩa giáo khoa thư của Sơn Nam.

Một xã hội khủng hoảng về lý tưởng sẽ dẫn đến khủng hoảng về giáo dục; mà một nền giáo dục khủng hoảng thường biểu hiện rõ nhất ở việc khủng hoảng dạy và học môn văn. Vì vậy, những nhà giáo dục có trách nhiệm luôn quan tâm đến việc cải tiến nội dung, chương trình, sách giáo khoa văn học và cả phương pháp dạy văn. Dạy văn ở đại học là dạy nghề, là truyền đạt một khoa học, cần sự phân tích nghiêm ngặt và lý giải hệ thống; còn dạy văn ở nhà trường phổ thông là dạy người, là truyền đạt tình yêu cái đẹp, là giáo dục tình cảm. Dạy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ở trung học không phải là làm một bài thuyết giảng vô hồn về những điển cố, mà phải làm cho học sinh cảm được thần thái của một bài văn đọc giữa khói hương để hiệp thông với linh hồn những người đã hy sinh vì nghĩa cả. Đó là một nghệ thuật.

Môn văn học cần được đầu tư nhiều hơn nữa trong hệ thống giáo dục quốc dân: xây dựng một đội ngũ viết sách giáo khoa có tài năng và tâm huyết, tuyển chọn được những áng văn ưu tú để trao truyền cho thế hệ trẻ, đào tạo một đội ngũ thầy cô giáo có năng lực và yêu nghề. Chỉ có như vậy thì tình yêu dành cho văn học, và qua đó tình yêu cái đẹp mới được nuôi dưỡng và không ngừng nâng cao.

Văn học là một kho tàng bao la, ngày mỗi ngày sinh sôi nẩy nở. Văn học trong nhà trường là phần tinh hoa được chắt lọc, gồm những giá trị đã được thời gian thử thách, phù hợp với thiên chức của giáo dục. Đó là vốn liếng căn bản để con người làm hành trang tiếp tục khám phá, cảm nhận, chinh phục kiến thức và vẻ đẹp của văn học ở ngoài nhà trường. Giáo dục cần chuẩn bị cho tuổi trẻ một tâm thế nhạy bén, tự tin và tự chủ khi tiếp xúc với những sản phẩm của thị trường văn học phức tạp ở bên ngoài, nhiều khi vàng thau lẫn lộn, để nhận ra đâu là giá trị đích thực.

Sức hấp dẫn của một bộ sách giáo khoa văn học bậc phổ thông trước hết là ở những tác phẩm được chọn lựa để giảng dạy, sau đó mới là ở phần phân tích, bình giảng những tác phẩm đó. Cấu tạo chương trình với những tác phẩm kém chất lượng thì dù soạn giả có là các chuyên gia bậc thầy, việc thu hút học sinh yêu thích môn văn cũng là vô phương. Cho nên thiết kế được một chương trình đào tạo môn văn hợp lý, có tính sư phạm là đã bảo đảm thành công một nửa cho việc biên soạn sách giáo khoa, đặt tiền đề quan trọng cho cải tiến việc giảng dạy môn học này. Rất tiếc, hiện nay, người ta tập trung công sức và tiền của vào việc tổ chức biên soạn sách giáo khoa văn học mà không đầu tư thích đáng cho việc biên soạn một chương trình phù hợp và nhất quán.

Theo thiển ý của chúng tôi, trong chương trình đó, chiếm tỉ lệ áp đảo phải là những tác phẩm có giá trị bền vững, lâu dài, trong đó những tác phẩm cổ điển phải giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Chương trình, cách dạy học, cách ra đề thi hiện nay, tuy không quên lãng văn học cổ điển, nhưng vẫn ưu tiên cho văn học hiện đại, với không ít tác phẩm chưa kinh qua thử thách của thời gian, vô hình trung góp phần làm xóa nhoà ý thức về văn hoá truyền thống nơi học sinh. Chúng tôi cũng không tán thành việc đưa các bài văn “nhật dụng” vào chương trình ngữ văn, như ta thấy trong sách giáo khoa được biên soạn gần đây. Đành rằng đọc những bài văn như vậy cũng là cần thiết, nhưng trong khi chương trình luôn bị thầy và trò phản ánh là quá tải, thì người làm chương trình phải cân nhắc để chọn lựa giữa văn học và cận văn học, giữa văn học tinh hoa và văn học thực dụng. Đưa vào chương trình một bài báo chưa ráo mực của một quan chức nào đó, điều đó cho thấy tính chất xu thời của của người soạn sách, sẽ dẫn đến hậu quả tai hại là cắt đứt sợi dây truyền thông giữa các thế hệ cùng thụ hưởng bộ sách giáo khoa đó.

Đặc điểm và chất lượng của nền giáo dục có thể được phản ánh qua đặc điểm và tài năng của những nhà văn thụ hưởng nền giáo dục ấy. Một nền giáo dục què quặt, phiến diện tất nhiên không thể sản sinh ra những nhà văn ưu tú. Giáo dục cũng phát triển thuận chiều với văn học khi nó góp phần hình thành một công chúng có thị hiếu thẩm mỹ cao, không loá mắt choáng ngợp trước những sản phẩm văn học tầm thường, hào nhoáng. Công chúng đó có khả năng tiếp nhận những tác phẩm văn học giàu hàm lượng trí tuệ, sẵn sàng ủng hộ, biểu dương hay ít ra, biết chờ đợi và lắng nghe những tìm tòi thể nghiệm trong văn học.

Văn học và giáo dục, như vậy, cùng đồng hành trong việc xây dựng một nền văn hoá đậm đà tinh thần dân tộc và sâu sắc ý nghĩa nhân văn. Sự quan tâm đến lĩnh vực này sẽ làm lợi cho lĩnh vực kia và có tác dụng tích cực đến nhiệm vụ xây dựng văn hoá và con người.

Cùng chia sẻ những giá trị đạo đức chung, nhưng mỗi dân tộc, mỗi tộc người, thậm chí mỗi vùng đất có thể có những phong tục, tập quán riêng. Tôn trọng bản sắc văn hoá cũng là tôn trọng những phong tục, tập quán đó và không lấy phong tục nơi này làm chuẩn mực đánh giá phong tục nơi khác.

Ở Việt Nam đã hình thành cả một dòng văn xuôi phong tục với những tác gia am hiểu sâu sắc đời sống nông thôn: Ngô Tất Tố với Việc làng và Lều chõng, Trần Tiêu với Con trâu vàChồng con, Mạnh Phú Tư với Làm lẽ và Sống nhờ, Bùi Hiển với Nằm vạ, Nguyễn Đình Lạp với Ngoại ô… Tất nhiên, tác phẩm có sức ám ảnh là nhờ trên cái nền của sự miêu tả phong tục đó, nhà văn tái hiện những tình huống bi kịch của kiếp người. Viết về phong tục, các nhà văn không chỉ làm công việc miêu tả đơn thuần, mà còn bày tỏ một thái độ trước những phong tục tập quán đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại mới vì ngăn trở con người đi tìm tự do và hạnh phúc.

Thực tiễn tiếp nhận văn học cho thấy giữa phong tục và văn học từng diễn ra những bất hoà, xung đột. Chẳng hạn, những tác phẩm có yếu tố tính dục thường là nguyên cớ của mối bất hoà này. Ngay từ những năm 30 thế kỷ trước, chính quyền thực dân  Pháp đã ra lệnh tịch thu và tiêu hủy Hà hương phong nguyệt truyện của Lê Hoằng Mưu với lý do “vi phạm thuần phong mỹ tục”. Vào đầu những năm 70 chính quyền Sài Gòn cũng từng gây khó khăn cho việc xuất bản Ngàn cánh hạc của Y. Kawabata với lý do tương tự. Gần đây hơn, việc dịch và ấn hành Chiếc chìa khóa của J. Tanizaki, Tình yêu thời thổ tả của G. Marquez, Tình ơi là tình cuả E. Jelinek đã gây ra những cơn “sốc” văn hóa trong dư luận. Bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết Một nỗi đau riêng của Oe Kenzaburo không ra mắt bạn đọc với nội dung trọn vẹn mà phải cắt mất một chương, là một thí dụ khác.

Trong cấu trúc văn hoá, phong tục là yếu tố thường xuyên biến đổi. Phong tục quy định ứng xử của con người nhưng chính con người lại làm ra phong tục. Thời gian sẽ thử thách và bảo tồn những phong tục tốt đẹp như những giá trị văn hoá, đồng thời điều chỉnh, sửa sang những phong tục tỏ ra chỉ thích hợp với một không gian văn hóa và thời gian lịch sử nhất định. Trong lĩnh vực này, công chúng nhìn vào thái độ của văn học để tham khảo cho một cách ứng xử phù hợp.

Tóm lại, văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác nhau của văn hoá truyền thống. Có thể nói nhà văn đích thực là một nhà hoạt động văn hoá, tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hoá và người đọc là một người thụ hưởng văn hoá. Trong thời đại ngày nay, đa số quốc gia đều là xã hội đa văn hoá, văn học vì vậy cũng đa dạng như văn hoá. Chính sách đối với văn học là một phần của chính sách văn hoá mà tiêu điểm là con người với những nhu cầu tinh thần ngày càng phát triển, và nói theo Jacques Rigaud, nó hướng đến việc tìm kiếm “một ngôn ngữ chung giữ cho chúng ta không quay trở lại thời kỳ man rợ”.

5/11/2019

Huỳnh Như Phương

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Cảm thức về phái đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử – Ngôi sao “Đồng trinh” chỉ xoẹt qua bầu trời thi ca Việt nhưng đã kịp cháy bùng, để lại một vầng sáng rực rỡ, dữ dội, lạ lùng. Những da diết khắc khoải khôn nguôi về con người, nỗi đớn đau, trăn trở về sự tồn sinh của cái Đẹp trong thơ Hàn đã, đang và mãi mãi thắp lên ngọn lửa ấm áp, nâng đỡ, an ủi trái tim bạn đọc.

1. Huỳnh Phan Anh trong “Hàn Mặc Tử hay là hiện hữu của thơ” đã băn khoăn với hàng loạt câu hỏi: “Trong ám ảnh của cái chết, trong thôi thúc của thời gian, trong khả hữu của hư vô toàn diện, đâu là cơ hội sau cùng của thi sĩ? Đâu là sự cứu rỗi cho phận số hữu hạn? Phải chăng đó là niềm tin ở một đấng? Phải chăng đó là phút huy hoàng mãnh liệt và đầy ắp? Phải chăng đó là sự kêu đòi hay nguyện cầu vô vọng?”(1)

Những trăn trở của Huỳnh Phan Anh muốn truy tìm cội nguồn cảm xúc thẩm mỹ trong thơ Hàn Mặc Tử cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng bởi lẽ thân xác “Người thơ” đã vĩnh viễn về cùng cát bụi nhưng “Hồn thơ” của ông đã sống một “cuộc sống” vô cùng mãnh liệt, đầy ẩn số mà bất cứ ai, ở thời đại nào khi nghiền ngẫm tiếp nhận đều có thể nhận ra những điều thú vị bất ngờ. Thời gian càng lùi xa, những vần thơ của Hàn Mặc Tử càng phát lộ hào quang vi diệu và có sức hấp dẫn đặc biệt. Vũ trụ thơ của Hàn là không giới hạn, thi nhân đã từng bộc bạch trong Quan niệm thơ: “Trong khi làm thơ Trí đã tận hưởng những phong vị của nhạc, của hoa, của trăng, của gái một cách vô tội…”(2). Đọc thơ Hàn thấy quả đúng là hàng trăm ngàn vũ trụ cũng chưa đủ cho thi sĩ sống kịp đời mình. Khi “định mệnh tàn khốc theo riết bên mình” (HMT), ở những giây phút tuyệt vọng nhất, Hàn Mặc Tử đã không từ chối bất cứ một cơ hội, một sự cứu rỗi nào. Thi nhân đã “tận hưởng” những gì tinh túy nhất, đẹp đẽ nhất của cõi trần ai để có thêm sinh lực sống và sáng tạo. Một trong những “đấng” cứu rỗi tinh thần cho Tử phải chăng chính là phái đẹp? Đọc thơ Hàn Mặc Tử, không thể phủ nhận một sự thật đó là những bài thơ hay, ám ảnh nhất là những bài thơ đều ít nhiều xuất hiện hình ảnh phái đẹp: Bức thư xanh, Thánh nữ Đồng trinh Maria, Gái đồng trinh, Gái ở chùa, Chưa biết yêu, Trên cầu Tràng Tiền, Đây thôn Vĩ Dạ, Nhớ nhung, Một đêm nói chuyện với gái quê, Nguồn thơm, Lời gái giang hồ, Phan Thiết!Phan Thiết!, Ghẹo cô bán chè bông cỏ, Kén chồng, Say chết đêm nay, Trường tương tư, Cô bán trầu, Thương, Trên dòng tiêu Kim Thủy, Huyền ảo, Mùa xuân chín, Tặng Mộng Cầm, Lưu luyến,  Mơ hoa, Mơ duyên, Sáng trăng, Một miệng trăng, Một nửa trăng, Cưới trăng, cưới vợ, Những giọt lệ, Duyên kỳ ngộ, Tối tân hôn,Đàn ngọc, Nỗi buồn vô duyên…  có thể thấy tràn trề trong thơ Hàn Mặc Tử là cảm xúc của thi nhân dành cho phái đẹp – thứ cảm xúc thiết tha, da diết, phong phú  sắc màu, đa dạng cung bậc. Đằng sau những dòng tâm tư bất định đó phải chăng là cả một bầu trời cháy bỏng khát vọng yêu thương và vời vợi ước mơ về hạnh phúc, và trên hết là niềm ham sống, hướng về những giá trị nhân văn, nhân bản nhất dẫu cho cuộc sống thật phũ phàng! Với Hàn Mặc Tử, Đức Mẹ Maria đồng trinh, Mẹ, Chị, hoặc những bóng hồng mà Hàn yêu thương, đã ít nhiều ngang qua đời thi sĩ, và thậm chí những cô “gái quê”, hoặc những “nàng tiên” chỉ xuất hiện trong những giấc mơ bất chợt hắt lên từ tiềm thức đều là biểu tượng cho cái Đẹp, tình yêu và sức mạnh tinh thần cứu rỗi linh hồn, là niềm tin yêu, lẽ sống của cuộc đời thi sĩ. Ở bài viết này, chúng tôi muốn bàn đến cảm thức về phái đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử như một phương diện mang giá trị thẩm mỹ sâu sắc, bởi bên cạnh nhiều phương diện khác như nhạc, hoa, trăng, hồn, máu… đã được các nhà nghiên cứu quan tâm luận giải thì phái đẹp trong thơ Hàn cũng là một trong những phương diện hé lộ nhiều thông điệp mang ý nghĩa sâu sắc về “con người bên trong con người” của thi nhân; và trên hết, nghiên cứu cảm thức về phái đẹp cũng là góp phần tiếp tục hành trình khám phá những ẩn số trong thơ Hàn Mặc Tử.

2. Luận giải về cội nguồn cảm xúc thẩm mỹ trong thơ Hàn Mặc Tử, Nguyễn Kim Chương dựa vào tri thức tâm lý học sáng tạo đã đưa ra nhận xét xác đáng và tinh tế: “Với Hàn Mặc Tử, đau thương mang một nội dung lưỡng giá: nó làm cho nhà thơ suy nhược thể xác nhưng làm lớn dậy tâm hồn ông” (3). Thực tế cho thấy, năm 1937, khi đó Hàn Mặc Tử mới 24 tuổi thì phát hiện mình mang bệnh hiểm nghèo. Với tất cả sự tự trọng và nỗi niềm đau khổ, choáng váng tột cùng thi nhân đã giấu bệnh và tuyệt giao với bạn bè. Căn bệnh nan y ập xuống số phận, tước đoạt tất cả, tuổi trẻ, tình yêu, khát vọng, khoái lạc…Tất cả đổ vỡ, rạn nứt, băng hoại… “Bệnh càng tăng, nỗi đau khổ càng ray rứt, thấm thía. Nỗi đau khổ càng ray rứt, thấm thía, thơ Tử càng thêm sức mạnh, càng thêm dồi dào và dào dạt phun ra những “luồng sóng điện nóng ran”, những “tia sáng xôn xao”, thoát ra những “tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú”… “Con trai bị hạt sạn hạt cát làm tổn thương cõi lòng, liền nhả tinh ba ra quấn lấy hạt sạn hạt cát cho êm dịu vết thương, mỗi ngày tinh ba mỗi tiết, lần kết thành ngọc trai” (4). Như vậy nguồn cảm hứng thơ của Hàn Mặc Tử xuất phát từ bi kịch bất hạnh, đau thương, xuất phát từ tận đáy tâm hồn đau khổ vô biên của một đời trai trẻ – tất cả như một dự phóng sáng tạo để Hàn Mặc Tử phát tiết ra thơ bằng tất cả tinh lực của mình, và ám ảnh những người đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử cũng không nằm ngoài cội nguồn xúc cảm thẩm mỹ đó.

Thường khi gặp bi kịch, trắc trở trong cuộc đời con người tìm đến tôn giáo để cầu sự bình an, hóa giải sự phiền muộn. Hàn Mặc Tử đã nhìn thấy từ Đức Mẹ Maria vẻ đẹp khải huyền và sức mạnh cứu rỗi con người. Quách Tấn kể: “Một đêm Tử nằm mộng thấy Đức Mẹ Maria lấy nhành dương nhúng nước thánh rảy khắp mình Tử, Tử cảm thấy “mát đến ớn lạnh”. Cho nên khi cầm viết viết được, liền soạn bài Thánh nữ Đồng Trinh để tạ ơn Đức Mẹ” (5) Ave Maria  được coi như một bài thơ xuất thần của Hàn Mạc Tử  đã làm xúc động và cuốn hút bao tâm hồn say thơ, kính Mẹ, không kể là lương hay giáo. Giọng điệu vừa dịu dàng vừa mãnh liệt của bài thơ như ru hồn người: Maria linh hồn tôi ớn lạnh!/ Run như run thần tử thấy long nhan/ Run như run hơi thở chạm tơ vàng… , trong cảm thức của thi nhân Đức Trinh Nữ Maria hiển hiện như một đấng cứu thế vô cùng thiêng liêng, cao quý, Đức Mẹ mang một quyền năng huyền bí nhưng không hề xa lạ, cao vời, Bà gần gũi và ấm áp biết bao, Bà trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho thơ, tiếp thêm sinh lực cho đứa con khốn khổ luôn mến yêu cung chúc Người ngay cả trong đau thương cùng cực:

Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn/ Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi/… Tôi cảm động rưng rưng hai dòng lệ/ Dòng thao thao như bất tuyệt của nguồn thơ/ Bút tôi reo như châu ngọc đền vua/ Trí tôi hớp bao nhiêu là khí vị…/Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí/ Và trong tay nắm một vạn hào quang…/

Số phận đã nhận chìm thi sĩ tài hoa trong biển máu lệ cuộc đời, để chính trong đau thương vô biên ấy, có sự nâng đỡ của Thánh nữ “đầy ơn phước” thi sĩ đã được chạm vào các dấu đinh, vào vết đòng của Chúa Giêsu, phát tiết bao câu thơ huyền bí, thần nhiệm trong sự tôn thờ, mến yêu, cảm phục đến ngây ngất Thánh Nữ Đồng Trinh Maria – Mẹ của Chúa Giêsu tử nạn – Mẹ đã sinh ra Hàn Mặc Tử lần thứ hai trong cuộc đời:

Cho tôi thắp hai hàng cây bạch lạp/ Khói nghiêm trang sẽ dâng lên tràn ngập/ Cả Hàn giang và màu sắc thiên không/ Lút trí khôn và ám ảnh hương lòng/ Cho sốt sắng, cho đê mê nguyền ước…/

Hàn Mặc Tử đã sống với một đức tin mãnh liệt, chính vì vậy thơ của ông không hạn hẹp với những gì thuộc thực tại trần gian mà nó còn như một sự cảm nghiệm độc đáo về Đức Tin – Tình Yêu và về Thiên Chúa. Trong sự mong manh của kiếp sống, Đức tin và Tình yêu đó như một điểm tựa, như liều thần dược giúp Hàn vượt qua khổ đau về thể xác và tinh thần, giúp thơ Hàn thanh thoát, bay xa, và tiến vào đời sống tâm linh thăm thẳm. Trong mê cuồng hồn say,  đau nỗi khổ đau của bản thân mình và đồng loại, Hàn quì lạy trong thơ, cầu xin và ca tụng đấng siêu nhiên. Thi nhân dang tay hướng về phía Mẹ Maria với tất cả sự sùng kính và hy vọng: Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước/ Cho tình tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm/ Thơ trong trắng như một khối băng tâm/ Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu…/Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu/ Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu...

Trong phần kết của bức thư gửi cho Hoàng Trọng Miên vào năm 1939 với tựa đề Quan niệm thơ, Hàn Mặc Tử viết: “Cho nên tất cả thi sĩ ở trong đời phải quy tụ, phải khơi mạch thơ ở Đức Chúa Trời. Thi sĩ không phải là một người thường. Với một sứ mệnh của Trời, thi sĩ phải biết đem cái tài năng ra ca ngợi Đấng chí Tôn và làm cho người đời thấy rõ vẻ đẹp của thơ để đua nhau nhìn nhận và tận hưởng. Những thi sĩ nào không biết đem tài ứng dụng vào chỗ tốt đẹp thì sẽ bị Đức Chúa Trời lấy lại một cách nhãn tiền! Thơ là tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ cảnh chiêm bao, giải thích bằng hai mặt: lạc quan và bi quan. Còn Trí phải lấy Đức Chúa Trời làm Chân lý, làm tiêu chuẩn cho văn thơ. Văn thơ không phải bởi không mà có”(6).

Như vậy, cùng với bài thơ Ave Maria tuyên ngôn thơ của Hàn Mặc Tử thêm một lần nữa khẳng định: đối với Hàn Mặc Tử,  Đức Chúa Trời mà đại diện là Thánh Nữ Đồng Trinh Maria có một vai trò vô cùng quan trọng – Mẹ Maria Đồng Trinh chính là  “nguồn thánh thiện như tơ vàng trọng thể”, là “nguồn Trăng yêu mến”, là “nguồn Đau chầu lụy”, Bà tựa như ngọn hải đăng soi đường để Hàn Mạc Tử có thể mơ về một bến bờ neo đậu cho thân phận lưu đày chìm nổi của thi nhân, tìm thấy “nguồn thiêng liêng yêu chuộng Mẹ Sầu bi” – nguồn cảm xúc giúp tâm hồn Hàn bay lên ánh sáng khải huyền, tái tạo năng lượng và phát huy trí tưởng tượng sáng tạo phi phàm để từ đó hiến dâng cho đời những vần thơ vừa chân thực vút lên tự cõi lòng tan nát khổ đau, vừa thánh thiện tinh tuyền lộng lẫy từ trời cao phủ xuống. Từ cảm thức của Hàn về Mẹ Maria Đồng Trinh, chúng ta nhận thấy lý tưởng Thiên Chúa giáo với tất cả những gì nhân văn, nhân bản nhất có thể coi như một chỗ dựa tinh thần, một yếu tố tiên quyết, ảnh hưởng, chi phối sâu sắc thế giới quan, nhân sinh quan của Hàn Mặc Tử trong suốt quá trình sáng tạo thi ca của ông. Để rồi khi thân thể Hàn mãi mãi trở về cùng cát bụi, thơ của ông lại càng đến gần với Chúa hơn để góp phần cứu rỗi, an ủi những phận người mà sự sống mong manh như ảo ảnh.

Sinh thời, Hàn Mặc Tử không chỉ nổi tiếng về thi ca mà còn nổi tiếng với những bóng hồng đi ngang qua cuộc đời ông, với những mối tình đẹp và buồn của thi nhân. Cũng như các nhà thơ của phong trào Thơ mới, tình yêu là nguồn cảm hứng, là đường dẫn đến với “nàng Thơ” của Hàn Mặc Tử. Nhưng có lẽ không nhà thơ nào kể cả Xuân Diệu – người được mệnh danh là “ông hoàng của thơ tình”… lại có nhiều bóng dáng người tình trong thơ như Hàn Mặc Tử. Những cái tên giai nhân Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai Đình, Ngọc Sương, Thương Thương đã gắn liền cùng những thi phẩm tuyệt bút của Hàn Mặc Tử: Đây thôn Vỹ Dạ, Lưu luyến, Trường tương tư, Người ngọc, Tiêu sầu, Phan Thiết! Phan Thiết! Những người con gái đã tạo nguồn thi hứng để nhà thơ bộc bạch bao khát khao, mộng tưởng hạnh phúc vừa ngọt ngào, đắng cay, vừa tuyệt vọng, hy vọng… Song dù thế nào, trong tiềm thức của Hàn, những người con gái Hàn yêu thương đều mang một vẻ đẹp dịu dàng, trong sáng, thánh thiện vô ngần:

Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa/ Sương điểm trăng lồng bóng thướt tha/ Vẻ mặt khác chi người quốc sắc/ Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta (Vịnh hoa Cúc); Lệ Kiều ơi! Em còn giữ ý thơ?/ Trong đôi mắt mùa thu trong leo lẻo (trường tương tư); Với đôi tay nàng trút hết đê mê/ Dạ lan hương bừng nở cánh e dè (Đàn ngọc); Nghe tiếng gió ôm ngang lấy gió/ Tưởng chừng như trong đó có hương/ Của người mình nhớ mình thương (Muôn năm sầu thảm);  Nhưng phép lạ! Có một vì tiên nữ/ Hao hao như nường Nguyệt cõi Đào Nguyên/ Ta đắm mê trong ánh sáng trần duyên…(Phan Thiết! Phan Thiết!); Đặc biệt, trong cuộc đời Hàn Mặc Tử, sự hiện hữu của nữ sĩ Mai Đình trong những ngày nhà thơ vừa lâm trọng bệnh, vừa bị phụ tình (Mộng Cầm chia tay Hàn Mặc Tử vì hoàn cảnh không thể chờ đợi và tiếp tục chung đường) là niềm an ủi lớn, phần nào xoa dịu nỗi đau nhức nhối tưởng chừng khôn nguôi trong lòng thi sĩ: Thơ em cũng giống lòng em vậy/Là nghĩa thơm tho như ánh trăng / Mềm mại như lời tơ liễu rủ /Âm thầm trong áng gió bâng khuâng/ Anh đã ngâm và đã thuộc làu / Cả người rung động bởi thương đau/ Bởi vì mê mẩn vì khoan khoái /Anh cắn lời thơ để máu trào (Lưu luyến). Từ cuộc đời thực, cô gái có tên Mai Đình đã đi vào thơ Tử với tất cả sự đam mê mãnh liệt chân thành của một trái tim trai trẻ. Tình yêu tha thiết của Mai Đình đã khiến Hàn Mặc Tử rất cảm động, khi hai bên từ biệt nhau, Tử tặng nàng một bài thơ có nhiều câu thống thiết: Đây Mai Đình tiên nữ ở Vu Sơn/ Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng mắt/ Nàng, ôm nàng hai tay ta ghì chặt/ Cả bài thơ êm mát lạ lùng thay (Thắm thiết). Phải trân quý người mình yêu lắm, Hàn mới ví người mình yêu là “cả bài thơ êm mát”. Bởi vì đối với cuộc đời Hàn chỉ còn lại Thơ là lẽ sống thiêng liêng nhất.

Mối tình với Ngọc Sương (chị gái của thi sĩ Bích Khê) chỉ là giấc mơ thoáng qua trong đời Hàn Mặc Tử, như bẩy sắc cầu vồng hiện lên trong  khoảnh khắc sau mưa nhưng cũng đủ cho bạn đọc muôn sau thấy khát khao đến cháy lòng của một tâm hồn mong manh dễ tổn thương trong cuộc đời vốn nhiều chua chát: Ta đề chữ Ngọc trên tàu lá/ Sương ở cung thềm gió chẳng thôi /Tình ta khuấy mãi không thành khối/ Nư giận đòi phen cắn phải môi (Người ngọc). Ngọc Sương trong thơ Hàn mãi mãi long lanh như một giọt sương mai hiền dịu, bao dung, nhân hậu.

Câu danh ngôn: “Không phải bạn sống bao lâu mà là cách bạn chọn sống cuộc đời mình” quả là đã ứng vào định mệnh của Hàn Mặc Tử. Trong hành trình ngắn ngủi của cuộc đời, bệnh tật nan y từng ngày tỉa rút từng hơi thở, ngăn giữa sự sống và cái chết chỉ là một đường biên mỏng mảnh, Tử đã lựa chọn, đã nhân lên gấp bội quỹ thời gian sống của mình bằng cách chắt chiu từng giây phút để sống có ý nghĩa, và thi nhân đã sống, đã yêu hết mình. Trong cơn đau tuy thân xác bị rỉa rói, hao mòn, nhưng chỉ với hình ảnh Thương Thương ấp ủ ngày đêm trong tưởng tượng, hư cấu mà Tử đã để lại cho đời sau tập thơ tình Cẩm Châu duyên, hai vở kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội. Những thi phẩm cuối đời của Hàn Mặc Tử vẫn in đậm dấu ấn của nàng Thơ mà thi nhân đắm đuối, yêu thương: Hương trầm bâng khuâng quyện mình hoa/ Nhịp nhàng nường đi theo nhịp đàn/ Âm thanh lên cao nhạc lừng ran/ Tôi lại gần bên ồ! Lạ thường! Nường trăng. Ô! Chính là Thương Thương (Tiêu sầu). Điều đó cho thấy nội lực phi thường của Hàn Mặc Tử…

Trong cơn mê thi nhân đã trải niềm đau – những mảnh vỡ tâm trạng qua những vần thơ cùng những cô gái mà Hàn quyến luyến bởi trăm tình yêu mến. Nhưng nếu biết rõ rằng trong đời thực những người đẹp bước vào thơ Hàn dường như Hàn ít hoặc chưa từng gặp, tất cả chỉ là sự tưởng tượng bay bổng của thi nhân, là cái cớ để Hàn giãi bày tâm trạng thì chúng ta càng thấm thía hơn nỗi thương đau của chàng trai trẻ đang ở độ tuổi đôi mươi với trái tim nồng nàn, tràn đầy khát vọng hạnh phúc, yêu đương. Trong cô đơn tuyệt vọng đến cùng cực có lúc Tử điên cuồng, gào khóc xót xa, đau đớn tự hỏi: Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu? (Những giọt lệ). Không có lời giải đáp, câu trả lời rơi vào hố thẳm khôn cùng của vũ trụ. Nhưng rồi, Tử vẫn tiếp tục bước đi trên con đường đầy tuyết trắng và máu…Trên hành trình nhọc nhằn của kiếp người, hình bóng những giai nhân ám ảnh, trở đi trở lại như một điểm tựa quan trọng để nâng đỡ, vực dậy tâm hồn đầy vết thương tâm của Hàn Mặc Tử, và thi nhân cứ tự tin bước về phía trước: “Tôi đang đi trên con đường sáng láng tìm lấy Chân lý ngàn năm, mà hào quang của tinh tú, của những ngọc ngà, châu báu, trời tuôn xuống không biết hằng hà sa số nào nữa…” (Chiêm bao với sự thực).  Ở đây, cái Đẹp thực sự đã “cứu rỗi thế giới”, cái Đẹp cứu rỗi linh hồn, đọc thơ Hàn Mặc Tử chúng ta hiểu hơn rằng chính phái đẹp – “một nửa thế giới” chứ không phải bất kỳ điều gì khác đã cứu vãn một hồn thơ tài năng thuộc loại độc nhất vô nhị của thi ca Việt. Nhờ hình ảnh những người đẹp dịu dàng, bao dung, vị tha, hiền thục, bảng lảng như sương khói, lưu giữ trong tâm tưởng mà: “Hàn Mặc Tử đã có những câu thơ tình hay vào bậc nhất trong thi ca Việt Nam hiện đại. Những câu thơ như tiếng kêu tự đáy lòng, lời thơ như dính máu, dính hồn và nước mắt thi sĩ” (Chế Lan Viên).

Tình yêu và phái đẹp phải chăng muôn đời luôn là nơi nuôi dưỡng cảm xúc mãnh liệt để thi nhân chắp cánh cho thơ. Đối với Hàn nguồn năng lượng đó càng gấp nhiều lần giá trị – đó là nơi truyền lửa, là cứu cánh, tiếp thêm niềm tin để thi nhân tiếp tục ru hồn mình vào viễn mộng, sáng tạo nên những vần thơ bất tử… Những nàng Thơ hiện diện trong thơ Hàn Mặc Tử mãi mãi như biểu tượng của tình yêu, của niềm tin, lẽ sống trong đời. Có một dòng sinh lực như mạch ngầm dẻo dai, bất tận chảy trong thơ Tử, đối với thi nhân, tuyệt vọng không phải là chấm dứt mà tuyệt vọng để lại tiếp tục sống, yêu và sáng tạo… Càng tuyệt vọng lại càng như mong mỏi/ Càng xa nhau càng thấy được gần nhau/ Ai có dè hoa cỏ cũng thương đau/ Mở rộng cửa bốn phương trời ảo não/ Viết bằng chữ là thơ không kín đáo/ Giơ tay thề mà ai chứng lòng cho/ Anh yêu em không cần phải so đo/ Vì trinh tiết há là hương vạn đại?/ Không dò xét, mặc cho lòng giả dối/ Ta cười thầm tình ái dại vô song (Tràn đầy). Chiêm nghiệm những vần thơ bất tử của Hàn để lại cho đời, thấy quả đúng là “thân phận con người thì hư ảo và mong manh như sương khói mù khơi. Nhưng tình yêu của con người nếu biết nuôi dưỡng, tôn thờ sẽ là một giá trị hằng có của cái đẹp hiện sinh, góp phần nối dài ý nghĩa về sự hiện hữu vốn rất hữu hạn của kiếp người”(7).

Tiếp nhận ngọn gió tư tưởng từ phương Tây thổi đến để nhanh chóng trở thành “chủ soái” của “Trường thơ Loạn”,  một vấn đề đặt trong thơ Hàn Mặc Tử đó là liệu ông có mắc vào một lỗi nghệ thuật mà nhiều nghệ sĩ phương Tây ở cuối thế kỷ XIX đã mắc phải: mượn hình bóng phụ nữ để giải phóng ức chế nhục thể và sự bất an của linh hồn từ đó có xu hướng trục xuất linh hồn ra khỏi thân xác người phụ nữ, đánh mất ý nghĩa nữ tính, tước đoạt chủ thể tính của họ? Khảo sát thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta thấy tuyệt nhiên không có điều này. Trong thơ của Hàn Mặc Tử, phái đẹp luôn hiện diện với vẻ đẹp tinh khôi, đầy nữ tính từ tâm hồn đến thể xác. Thi nhân luôn ngưỡng mộ tôn thờ, coi phái đẹp như một hệ giá trị.

Trong ký ức của Hàn, người đẹp xứ Huế mơ mộng, diễm lệ Trên cầu Tràng Tiền : Biết bao cô áo tím/ Nước da trắng nõn nà/ Tà áo gió tung bay… trong Chiêm bao với sự thực Hàn đã so sánh: “Hỡi quý nhân, người có nghe thấy điều gì mới lạ, tinh khôi, reo lên, hiện lên, và sử linh tư tưởng của người?(…) Người thấy gì trong ánh sáng? Một chất cao quý thanh khiết, trắng hơn hàm răng của người gái đẹp?. Trong lung linh tinh khôi và sắc trắng thanh  khiết, thi nhân chỉ cần chấm phá, điểm xuyết một “hàm răng của người gái đẹp” cũng đã đủ tạo nên điểm nhấn có sức quyến rũ hút hồn người, điều này cũng giống như ca dao xưa có câu: Ta về ta nhớ hàm răng mình cười – chỉ một nụ cười duyên cũng khiến người đẹp có thể in dấu vĩnh hằng trong tâm thức bao thế hệ. Vẻ đẹp thanh tân, trong trắng của thiếu nữ được Hàn Mặc Tử coi như một vẻ đẹp lý tưởng, ở đó thi nhân gửi gắm bao cồn cào khao khát, mê đắm của một trái tim yêu đời, yêu người đến cuống quýt, khờ dại:  Xuân trẻ, xuân non, xuân lịch sự/ Tôi đều nhận thấy trên môi em/ Làn môi mong mỏng tươi như máu/ Đã khiến môi tôi mấp máy thèm/ Từ lúc bóng em bỏ trái đào/ Tới chừng cặp má đỏ au au/ Tôi đều nhận thấy trong con mắt/ Một vẻ ngây thơ và ước ao (Gái quê). Trong cái nhìn của thi sĩ, người thiếu nữ mới bắt đầu biết yêu đáng yêu làm sao! Sắc xuân, sức xuân, khí xuân dâng tràn… hiển lộ thành sắc màu, thành cử chỉ, thành hơi thở, thành hương thơm, thành tiếng hát của “Em”: .Em tôi thì hổn hển / áo xiêm lấm tấm vàng / Em tôi đã hiểu chưa?/ Đó là khúc tình ca / Nẩy theo hơi thở nhẹ / ở trên làn dây tơ / Của lòng em rộn rã… (Sáng trăng).

Sáng tác với phương châm “Thi sĩ phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã tạo nên… và trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho tinh sạch” (Quan niệm về Thơ). Chính vì vậy cho nên bên cạnh trăng, hoa, nhạc, hương thì “phong vị  của gái” (từ dùng của HMT) đối với Hàn Mặc Tử cũng là “công trình châu báu của Đức Chúa”, sinh ra để cho người đời “tận hưởng”, và Hàn đã “tận hưởng” nguồn khoái lạc vô biên tuyệt đích đó một cách say sưa với những câu thơ bay bổng về một giấc mơ hướng đến thế giới thần tiên mà ở đó cảnh và người ngập tràn tự do và hạnh phúc: Ta cắp Nàng bay cao hơn tiếng nhạc/ Cho Nàng hớp đầy môi hương khoái lạc/ Cho hồn nàng dính chặt với hồn ta/ Tình đôi ta muôn kiếp gỡ không ra (Bức thư xanh); Em như trái đào tơ/ Đôi mắt còn ngây thơ/ Chưa biết say tình ái/ Đuổi trăng em nô đùa/ …Em là nước ngọc truyền/…Em là bóng trăng thinh…(Chưa biết yêu).

Có thể nhận thấy rất rõ, trinh khiết trở thành vẻ đẹp phổ biến của những Nàng thơ trong cõi thơ Hàn Mặc Tử, gắn cùng hình bóng họ là sắc trắng tinh khôi, thanh khiết, lung linh nhất: Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang (Mùa xuân chín), Mơ khách đường xa, khách đường xa/ áo em trắng quá nhìn không ra…( Đây thôn Vỹ Dạ). Vẻ đẹp trinh khiết như là chuẩn mực cho cảm quan thẩm mĩ của Hàn Mặc Tử. Lấy vẻ đẹp của con người làm chuẩn cho việc định giá cái Đẹp, điều đó cho thấy tư duy thơ của Hàn Mặc Tử đã bắt kịp tư duy thơ hiện đại, bứt thoát khỏi những quy phạm cổ điển đã trở nên tẻ nhạt, đơn điệu, vươn lên tầm cao mới trong thời đại Thơ mới. Căn bệnh phong quái ác khiến chàng trai trẻ Hàn Mặc Tử phải sống trong mặc cảm bị kỳ thị, buộc phải cách biệt với cuộc sống đầy hương sắc, quyến rũ, phải chia cắt với những người thân yêu, tất cả điều đó là nỗi khổ tâm, hành hạ chàng hơn cả cực hình tra tấn đã khiến cho tâm lý của Hàn Mặc Tử rơi vào tình trạng bất ổn, thi nhân luôn luôn phân thân, mộng mị và thậm chí sống trong miền hoang tưởng. Hoàn cảnh buộc Hàn phải tìm đến một thế giới tưởng tượng, ru hồn mình trong một thế giới đầy ảo ảnh để tiếp tục sống và sáng tạo. Vì lẽ đó, đọc thơ Hàn chúng ta không ngạc nhiên khi thấy trong cảm thức của thi nhân luôn có sự trộn lẫn giữa vẻ đẹp quyến rũ của mỹ nhân với vẻ đẹp của thiên nhiên:

Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi/ Hoa lá ngây tình không muốn động/ Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi/ Trong khóm vi vu rào rạt mãi/ Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?/ Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe/ Vô tình để gió hôn lên má/ Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm…(Bẽn lẽn). Vầng trăng trong tâm thức của Hàn không còn là một khối vật chất vô hồn mà đó là một vầng trăng đã bị “bóp méo” bởi trí tưởng tượng, là một ảo ảnh trăng trong hình hài thiếu nữ nóng bỏng, tràn trề sức sống,  đang độ khao khát yêu và được yêu. Có khi trăng lại có tâm hồn tinh tế, trang nhã như cô gái mới lớn: Mới lên trăng đã thẹn thò/ Thơm như tình ái của ni cô…(Huyền ảo). Có lúc thi nhân lại muốn: Em hãy nhập hồn em trong bóng nguyệt (Hãy nhập hồn anh). Khối hình hài vô tri vô giác được thổi hồn đến mê hoặc lòng người.Trăng hay thiếu nữ? Thiếu nữ hay trăng? Khó có thể phân định! Chỉ có thể cảm nhận đằng sau cặp đôi hòa quyện trăng – thiếu nữ là hình ảnh của một “Thi sĩ đồng trinh” đã dồn hết tâm lực còn lại, vượt qua nỗi đau thể xác để vươn đến cái kỳ vĩ, cái vĩnh hằng của khát vọng được tận dâng, tận hiến, được sống thật đến tận cùng bản chất Người của mình. Cho nên có thể xác quyết những màu sắc dục tính trong thơ Hàn rạo rực, say đắm nhưng không hề vẩn đục vì nó được Người khách lạ “dừng lại để hái những tinh hoa”. Tài năng của Hàn Mặc Tử là ở đó, thanh khiết, cao xa mà vẫn mang hơi ấm trần thế, trần thế nhưng lại có cả vạn sắc thiên đường.

Hàn Mặc Tử quan niệm “Thơ là tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ao ước trở lại với trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt” (Quan niệm thơ). Chính vì vậy, trong cảm thức nghệ thuật của mình Hàn luôn bộc bạch trạng thái “chưa bưa”, chưa đã, chưa hả hê chút nào khi “nuốt khí thanh tao của mùa xuân ấm”, tận hưởng vẻ đẹp thanh tân của “nàng” trên cõi trần gian. Cho nên thi nhân vẫn khát khao vô tận, cứ muốn “hưởng cái thơ trên thơ khác nữa” , và vẫn mãi đi tìm…Bởi mong ước không bến bờ như thế, cho nên Hàn Mặc Tử đã vượt hẳn ra ngoài Hư Linh. “Thơ ông là sự trộn trạo của những dòng “tâm tư bất định”, những thi ảnh rực rỡ vượt tầm sự thực để hòa lẫn chiêm bao. Với Hàn, chiêm bao cũng là một sự thực”. Vì lẽ đó, đọc Chơi giữa mùa trăng chúng ta hiểu vì sao hình ảnh “Chị” lại được thi sĩ “tắm” trong một thứ ánh sáng vô cùng huyền bí, vi diệu: Chị tôi cười nả nớt, tiếng cười trong như thuỷ tinh và thanh khiết lạ thường/Tôi bỗng thấy chị tôi có vẻ thanh thoát quá, tinh khôi, tươi tốt và oai nghi như pho tượng Đức Bà Maria là đức tinh truyền chí thánh. Tôi muốn sốt sắng quỳ lạy mong ơn bào chữa. Nhưng trời ơi, sao đêm nay chị tôi đẹp đẽ đến thế này. Nước da của chị tôi đã trắng, mà vận áo quần bằng hàng trắng nữa, trông thanh sạch quá đi (…) Chị tôi hí hửng như xuân, chạy nhảy xênh xang cơ hồ được dịp phát triển hết cả ngây thơ của người con gái mười lăm tuổi, tôi ngắm mãi chị tôi, và tự vui sướng trong lòng vô hạn. Có lúc tôi đã kiêu ngạo thay cho cái sắc đẹp nhu mì ấy, mà chỉ dưới trời thu đêm nay tôi mới biết thưởng thức. Những phút sáng láng như hôm nay, soi sáng linh hồn tôi, và giải thoát cái “ta” của tôi ra khỏi nơi giam cầm của xác thịt… Tôi bỗng rú lên một cách điên cuồng, và chực ngửa tay hứng một vì sao đang rụng (Chơi giữa mùa trăng).

Từ trong sâu thẳm tiềm thức, thơ của Hàn vút lên những tiếng kêu “trời ơi!”, và “rú” lên thảng thốt, điên cuồng. Đối diện thường trực với tai họa không lường trước được của cuộc sống, thơ Hàn phản ánh tâm trạng đối cực: bi quan và hưởng lạc, hạnh phúc và đớn đau. Thi sĩ phóng chiếu vào sáng tác của mình nỗi lo, sự sợ hãi và hoang mang khi ý thức được mọi cái đang dần dần rời xa tay với của mình, và sợ nhất đối với chàng là cái Đẹp dần dần tan loãng rụng rơi vào cõi xa xôi, đơn lạnh…

Thi giới Hàn Mặc Tử không phải là một thi giới dễ tiếp nhận. Đọc Hàn Mặc Tử người đọc cũng phải đắm chìm trong thế giới của trí tưởng tượng để “đồng sáng tạo” với thi nhân. Nói thơ của Hàn Mặc Tử là thơ có sức “vẫy gọi” là vì vậy! Tinh thần tự do trong tư tưởng, khát vọng kiếm tìm cái mới trong sáng tạo nghệ thuật khi phải sống trong nhức nhối, đau thương đến tột cùng của thân phận “lưu đày” giữa cõi trần ai…tất cả đã minh chứng cho thấy một nghị lực phi thường, một trí tưởng tượng ở đỉnh cao của trí tuệ mẫn tiệp, một tâm hồn phong phú, sâu sắc, giàu cá tính. Cảm thức về phái đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử cũng không nằm ngoài “từ trường” sáng tạo đó.

Trong thơ Hàn Mặc Tử, cảm thức về phái đẹp đã vượt thoát khỏi hệ quy chiếu của quan điểm nam quyền vốn đã tồn tại từ lâu trong đời sống văn học. Tâm hồn thánh thiện và vẻ đẹp thanh tân của những “Em”, “Nàng”, “Chị” được Hàn Mặc Tử tôn thờ, nâng niu, trân trọng, coi họ là những “Ngọc nữ”, là biểu tượng của cái Đẹp kiêu sa, cao quý, là niềm kiêu hãnh của thi nhân. Dẫu họ chỉ hiện lên trong giấc mơ dằng dặc nỗi buồn của thi nhân nhưng cũng đủ để Hàn giữ vững niềm tin trên hành trình khó khăn khám phá chính bản thân, khẳng định sức mạnh nội lực của mình và trên hết là đóng đinh nhân vị của mình trên dòng chảy của dòng sông cuộc đời đầy nỗi oan khổ, đắng cay. Hàn Mặc Tử đã bay lên với những giấc mơ cùng người đẹp để phiêu lãng với những buồn, vui, hoặc tái tê trong hạnh phúc bình dị nhưng rất đỗi thiêng liêng, để được sống cuộc sống phong phú, muôn màu mà mình khao khát mơ ước, cuộc sống khác thực tại đau thương… L.Tolstoi đã từng viết: “Khó khăn hơn cả là yêu cuộc sống với những nỗi đau khổ của mình”, đọc Hàn Mặc Tử hôm nay, phiêu diêu và chiêm nghiệm cùng thi giới rực rỡ của thi nhân – một thế giới thiêng liêng của cái Đẹp và sự hướng thiện, chúng ta không thể không ngậm ngùi và cúi đầu cảm phục: Hàn Mặc Tử đã vượt lên hố thẳm của hư vô tuyệt vọng, vượt lên những mặc cảm nặng nề về thân phận hẩm hiu của một “con hủi” để sống và đi vào cõi vĩnh hằng với tất cả niềm hy vọng kiêu hãnh của một Con Người.

Yêu cuộc sống và con người một cách nồng nhiệt, cuồng si cho nên trong thơ của Hàn, chúng ta còn bắt gặp những trăn trở phận người mà Hàn chia sẻ cùng phái đẹp. Đây đó là ý nghĩ đau đớn, lo âu cho những bóng dáng yêu kiều mà sự đổi thay số phận rình rập ở đâu đó có thể đột ngột giáng xuống: Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời/ Bao cô thôn nữ hát trên đồi/ – Ngày mai trong đám xuân xanh ấy/ Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi (Mùa xuân chín). Tài hoa đến lạ thường! Chỉ bằng một vài nét phác họa đơn sơ mà cả một bầu trời ly biệt hiện ra như tiền định. Có lúc thi nhân tiếc thương, than khóc cho những người con gái “đồng trinh” mà thân thể vẫn còn “thơm hơn ngọc” nhưng đã sớm phải lìa xa cuộc sống: Đêm qua trăng vướng trong cành trúc/ Cô láng giềng bên chết thiệt rồi/ Trinh tiết vẫn còn nguyên vẹn mới/ Chưa hề âu yếm ở đầu môi/Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc/ Cả một mùa xuân đã hiện hình/ Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi/ Chết rồi – xiêm áo trắng như tinh…(Cô gái đồng trinh).  Hàn khóc cho những thân phận bọt bèo trôi dạt vào cõi hư vô hay khóc cho cái Đẹp mong manh bị phôi pha theo năm tháng? Khóc cho chính số kiếp đau thương của đời mình? Tất cả hòa nhập làm một trong một vũ trụ thơ bay bổng, có sức mê hoặc lòng người kỳ lạ, và có lẽ cũng không nên phân cắt rõ ràng mọi nhẽ khi chiêm nghiệm thơ Hàn, bởi lẽ mơ hồ nghĩa chính là nghệ thuật cao cường nhất của “loài thi sĩ” (HMT) và Hàn Mặc Tử là một thi sĩ đích thực luôn đạt tới đỉnh cao của sự cao cường đó.

3. Sinh thời, Hàn Mặc Tử từng ao ước: Tôi ước ao là tôi ước ao/ Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao/ Như bông trăng nở, bông trăng nở/ Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào…Gần 80 năm đã trôi qua, kể từ khi thi sĩ giã từ cuộc sống để đi vào cõi vĩnh hằng dường như chưa phút giây nào bạn đọc nguôi quên “những cánh bông thơ trắng ngạt ngào” của ông. Như mỏ vàng quý giá giàu trữ lượng, thơ của Hàn càng khai thác càng thấy phát lộ hào quang huyền bí vi diệu đặc biệt. Trong nỗi đau tận cùng của bi kịch cuộc đời, giữa muôn màu cuộc sống, giữa vụ trụ bao la, Hàn Mặc Tử đã lựa chọn phái đẹp như một niềm an ủi, một chỗ dựa tinh thần để thi nhân lấp đầy khoảng trống vắng của cuộc đời cô độc, thiếu vắng tình thương và nhất là những mất mát trong tình yêu…Những ẩn ức cô đơn, bơ vơ, sự thèm khát hạnh phúc, tình yêu và hơi ấm của tình người đã trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi trong suốt một đời thơ Hàn Mặc Tử. Phái đẹp đã trở thành chuẩn mực thẩm mỹ, nguồn cảm hứng bất tận, nuôi dưỡng và tiếp lửa một trong những hồn thơ tài năng bậc nhất của thi đàn văn học dân tộc. Phái đẹp là một yếu tố không thể thiếu để bút lực Hàn Mặc Tử có thể thăng hoa “thấm nhuần những ý nghĩ cao cường, truyền sang bởi điện tinh truyền của trí tuệ” (HMT) và để “phơi lên mảnh giấy thanh sạch này những tình cảm nóng ran, tràn trề và thơm lựng”(HMT). Cảm thức về Phái đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử là một hệ giá trị thẩm mỹ độc đáo mang giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc. Từ đây, nó hé lộ cho người đọc nhiều thế hệ hiểu hơn: vì sao thơ Hàn Mặc Tử không thể có phiên bản thứ hai và luôn tiềm tàng một sức cuốn hút mê hoặc lòng người, bất chấp dòng chảy nghiệt ngã của thời gian.

Người thơ phong vận như thơ ấy (Xuân đầu tiên), qua thơ có thể thấy Hàn Mặc Tử đã sống thật mạnh mẽ, chưa bao giờ nguôi ngoai khát vọng, chưa bao giờ mất đi tình yêu thương với con người. Thi nhân luôn tin ở cái Đẹp và lòng nhân ái của con người. Hàn Mặc Tử – Ngôi sao “Đồng trinh” chỉ xoẹt qua bầu trời thi ca Việt nhưng đã kịp cháy bùng, để lại một vầng sáng rực rỡ, dữ dội, lạ lùng. Những da diết khắc khoải khôn nguôi về con người, nỗi đớn đau, trăn trở về sự tồn sinh của cái Đẹp trong thơ Hàn đã, đang và mãi mãi thắp lên ngọn lửa ấm áp, nâng đỡ, an ủi trái tim bạn đọc. Và cũng như thi nhân, chúng ta tin tưởng và hy vọng vào một chân lý vĩnh hằng: Chỉ có trăng sao là bất diệt/ Cái gì khác nữa thảy đi qua/ Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi/ Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà... (Thời gian).

Chú thích:

(1). Huỳnh Phan Anh, “Hàn Mặc Tử hay là hiện hữu của thơ” ,  Văn, số 73-74, Sài Gòn, 1966, tr.9.

(2). Nhóm tri thức Việt (tuyển chọn), Hàn Mặc Tử thơ và đời, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2016, tr.125.

(3),(4),(6). Nhóm tri thức Việt (tuyển chọn), Hàn Mặc Tử thơ và đời, Nxb. Văn học, Hà Nội,2016, tr.148,75,128.

(5). Quách Tấn “ Đôi nét về Hàn Mặc Tử”,  Văn, số 73-74, Sài Gòn, 1966  tr.81.

(7). Trần Hoài Anh, Đi tìm ẩn ngữ văn chương, Nxb. Hội Nhà văn Hà Nội, 2017, tr.339.

(8). Nguyễn Đăng Điệp, Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình và hiện tượng, Nxb.Văn học, Hà Nội,2014,tr.156. 159.

5/11/2019

Cao Thị Hồng

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Từ “Nỗi đau của lá” đến “Lời cầu hôn đêm qua”- một lối đi mang tên Vũ Thanh Hoa

Mỗi lần viết về một nhà thơ tôi thường rất lo lắng. Tôi rất dị ứng với bài bình theo lối “Tầm chương trích cú” rồi bình tán ban phát vài câu, một tí khen, một tí gợi ý gọi là…Thơ thực thơ không cần cái món điểm tâm lõng bõng nước ấy. Nó cần một sự thấu hiểu, chí ít là trình bày những thấu hiểu (dù chủ quan), sự thấu hiểu của phía được tặng với người đã lao lung sáng tạo.

Khi đọc “Ngày đi qua” của Hà Đình Cẩn, tôi đã rất đỗi ngạc nhiên khi bạn tôi, một nhà viết ký và viết kịch lại xuất hiện tập thơ có nhiều mồ hôi và cả máu trong chữ. Vì thế tôi mới hân hoan rằng “Anh cứ nghĩ anh chỉ chăm chăm với văn xuôi thôi, cuộc đời nào có đơn giản vậy. Thơ, có khi nó nằm ngay bên lề trinh trắng trang văn mà anh không thình lình nhận thấy đấy thôi. Người ta đã đo được thời gian có khi trước cả văn minh sông Hằng, tôi đoan chắc các nhà thơ còn có thể cân được thời gian xem nặng, nhẹ thế nào từ thủa con người biết hát ca tiếng nói”. Vũ Thanh Hoa tôi biết trước hết là tiếng văn. Nhưng tiếng thơ có lẽ mới Vũ Thanh Hoa nhất. Tôi cứ tưởng khi Hoa nhờ viết lời bạt cho “Nỗi đau của lá”, thì thơ với Hoa chỉ là một cuộc dạo chơi cho đỡ “cuồng cẳng”. Lúc ấy tôi nghĩ, cái công viên tráng lệ thi ca có đường pit, vậy thì cứ thư dãn, dạo hoặc chạy trên đưởng pit thơ bổ, khỏe chứ có làm mấy ai sai khớp, gẫy chân. Mà, cái cô có tiếng văn trẻ trung này thì… chả cái gì không dám thử!

Trên giá sách của tôi giờ đĩnh đạc ba tập thơ của Vũ Thanh Hoa đặt cùng hàng một số tác phẩm của các nhà thơ nữ mà tôi có. “Nỗi đau của lá” (2005), “Trong tôi có người đàn bà khác” (2009), “Lời cầu hôn đêm qua” (2012). Ba tập thơ với 182 bài thơ, trên 270 trang in, 12 năm dồn nén 43 năm sống, mà chắc chắn mới chỉ như chặng đầu của cuộc đi lao lực và đầy bất trắc trong cái công viên bao la có bao nhiêu là tráng lệ, nhưng đã nhằng nhịt các lối người đời khai mở. Tôi “nhìn” thấy bước chân Vũ Thanh Hoa đi có ý thức trên một lối riêng tự mở trong cái công viên ấy. Vì thế tôi linh cảm rằng thơ mới là Vũ Thanh Hoa nhất. Đành rằng, thi thoảng tôi vẫn đọc văn xuôi của Hoa, thi thoảng có ghé cái web đầy màu sắc mà Hoa xây riêng cho mình, để chơi, và dành cả những tòa văn trang trọng cho bè bạn văn chương cả trước, và cả người cùng thời…

1. “Trời đã khuya rồi, tôi ngẩn ngơ

Ngắm nhìn ngọn núi phủ mây mờ

Gió ơi gió có về nơi ấy

Cho gửi lòng này một ý thơ”

(Không đề -1985)

Tôi phải trích cẩn thận, ghi rõ năm Vũ Thanh Hoa viết bài thơ có lẽ thuộc những bài thơ đầu tiên trong vô số thơ kiểu học trò, thơ học mót “chả biết vì sao tôi buồn” thì sinh ra … cái sự. Một bài tứ tuyệt của người thích làm thơ. Thế thôi. Chắc bây giờ mỗi lần đọc lại, cô nữ sĩ với bút pháp mới và hiện đại, cô nữ sĩ làm ta choáng ngợp với lập ngôn thơ tình khai nguyên, tươi tắn và tràn trề ý thức về tình yêu: “24 giờ vòng quanh tờ lịch mỏng/ 24 giờ trống rỗng/ 24 giờ ngổn ngang/ 24 giờ đấu giá từng giây từng phút/ Lơ lửng giấc mơ tỉa tót” (24 giờ); cô nữ sĩ có đôi mắt nhân hậu nhìn vết sẹo làm đau cô như một bông hoa vừa nở, sẽ không khỏi tự mỉm cười, tự độ lượng. Bài thơ này nữ sĩ in trang trọng mở đầu tập thơ con so “Nỗi đau của lá”. Vì sao Vũ Thanh Hoa làm thế? Vì muốn trung thực được với người thì trước hết phải tập trung thực với mình. Nó là một bài thơ quá tầm thường, dĩ nhiên. Nhưng Hoa lại in trang trọng cho tập thơ chào bạn đọc, như thế là tự trọng, là Hoa công khai rằng có thể bạn sẽ chê bài thơ con con và rất đỗi tầm thường khai nghiệp của tôi, nhưng tôi là tôi, tôi bắt đầu có thể từ một cái gì không đáng kể. Đã có bao tài danh cũng bắt đầu để dựng một sự nghiệp từ cái… không đáng kể!

Trong cái lời bạt viết cho tập thơ đầu tiên của Vũ Thanh Hoa 12 năm trước, tôi nhớ rằng, cái cô nữ sĩ thuộc về thì tương lai rất gần từng nhiều năm theo cha, mẹ (các nhà ngoại giao) sống không ổn định ở nhiều nước khác nhau vùng Phi Châu rộng lớn, táp cháy và xa xôi. Tôi đã từng nêu một phỏng định rằng có bao nhiêu phần trăm cái tinh thần “Phi” trong văn thơ Vũ Thanh Hoa khi cô đối thoại trước trang viết để dần thành một cá tính chữ, một bản sắc chữ, một thể chất nghĩ?

Có ngay đây:

“Đứng trước biển rộng, em nói: Em yêu anh

Ngước mặt nhìn trời xanh, em nói: Em yêu anh

Giữa phố đông người, em nói: Em yêu anh

Khi gặp anh, em lạnh lùng thinh lặng

Em nghe thấy có muôn vàn tiếng vọng

Giữa biển, giữa trời, giữa nghìn người, Anh nói:

Anh yêu em”

(Tiếng vọng)

Đây nữa:

“Trước bão giông em bình thản

Trước thị phi em mỉm cười

Trước núi cao, biển rộng, vực sâu em cắn răng bước đi

đôi chân trần rướm máu

Thế nhân đổi trắng thay đen, thế nhân ô trọc,

thế nhân lọc lừa, em ngẩng đầu kiêu hãnh”

(Trước Anh)

Có một chiều hoàng hôn xuống thấp, mặt trời dường như đã bị những con sóng Thái Bình Dương chờ chực nuốt chìm. Tôi ngồi với Xa Di, anh bạn làm thuê khoan dầu người Phi Châu da đen. Chúng tôi cùng nhìn ra biển. Xa Di nhớ Phi Châu. Xa Di khe khẽ hát: “Mặt trời vội vàng thế/ Mặt trời thiêu đốt và cát xám mênh mông của ta cũng thiêu đốt/ Sao không ở lại thêm với nhau/ Ta biết rồi/ Mặt trời lại đi tìm biển/ Người yêu ta hàm răng đều và trắng như ngà voi/ Người yêu ta nước da đồng hun và bộ ngực nở trần lấm tấm bụi cát/ Người yêu của ta đã bỏ ta rồi/ Chỉ còn xa mạc và ta chơ vơ trên mặt đất/ Ta vẫn hát/ Ta hát chia tay mặt trời và chia tay em…”. Tôi không hiểu hết tinh thần của lời ca Xa Di. Một giai điệu đăm đăm ẩn ức. Một giai điệu mênh mang và buồn se thắt. Khi “Thế nhân đổi trắng thay đen, thế nhân ô trọc, thế nhân lọc lừa” mà “ngẩng đầu kiêu hãnh” là một sự tự trọng. Chứ sao? Cái tinh thần “Phi” nó ngấm trong thơ Hoa lúc nào, tôi không biết. Mà sao lại cần phải giải thích? Hãy cứ đọc: “Phút anh nói yêu em, em nghe thổn thức trong lòng/ Phút ôm anh trong vòng tay, em thấy buồn bất tận/ Thời gian có dừng lại đâu, đang dần trôi về sáng/ Đến ngày mai anh có còn của em?/ Đến ngày mai anh vừa lạ vừa quen/ Là người đàn ông đi qua em như bao người đàn ông khác…” (Hư ảo). Khi “chữ” dám đi tới tận cùng của sự trung thực “chữ” trở nên kiêu hãnh. Một nhà thơ đã nói với tôi như thế!

Tôi đã dừng rất lâu trước bài thơ “Gửi chồng cũ”. Bài thơ này Vũ Thanh Hoa viết ngày 1 tháng 5 năm 2004. Thật trớ trêu. Cái ngày Quốc tế lao động, cái ngày loài người lựa chọn làm lễ hội tưng bừng cho những người lao động cải tạo và xây nên thế giới thì nữ thi sĩ một mình lặng lẽ viết gửi người chồng cũ:

“Vầng trăng mãi xẻ đôi, câu thề đành bỏ ngỏ

Chẳng thể nào bắt trái tim lặng vắng

Dập dồn cung bậc nồng say

Càng cố ngọt ngào càng nhận lắm đắng cay

Bi kịch của đời người khi tình yêu giả dối

Anh có lỗi hay em có lỗi?

Tìm làm chi, câu thơ đã nhạt nhòa”

Không! Câu thơ sẽ không nhạt và cũng sẽ không nhòa. Thơ Vũ Thanh Hoa nhất định sẽ không nhạt và không nhòa. Sự thương tổn có thể giết chết con người, nhưng, sự thương tổn với nhà thơ, đôi khi, lật một trang không định trước. Bởi vì: “Lũ trẻ sẽ lớn lên, hai ta sẽ già/ Theo thời gian, lỗi lầm thành bé nhỏ/ Ta chắt chiu sợi tình còn sót lại/ Đan lẫn vào tấm thảm của ngày mai” (Gửi chồng cũ). Bởi vì sức chịu đựng của con người trước những tổn thương, trước thất vọng còn quá nhiều bí ẩn. Phàm các nhà thơ hay lô loa rằng họ là cái loài dễ bị thương, dễ bị chèn ép, dễ bị đánh khuỵu nhất. Ngoa quá. Những nhà thơ thực tài là những cây phong ba. Mọi bão táp chỉ làm họ thêm cứng vững. Vũ Thanh Hoa là một cây phong ba, cây phong ba trong cơn bão đời Hoa. Hoa khảng định mình khi gửi cho người chồng cũ, người chồng từng mơ mộng và hy vọng chở che, nương tưa. Và, ở cái khúc ngoặt không mong muốn ấy chứng minh một Vũ Thanh Hoa không chịu ngã: “Trên nhành cây, gió ngừng thổi bao giờ…/ Thơ chẳng giống hôm qua, đã sang bài thơ khác/ Mỗi bình minh em vẫn khe khẽ hát/ Đã lỗi nhịp rồi, giai điệu của ngày xưa” (Gửi chồng cũ).

Trạng thái trầm cảm, bị bỏ rơi, thất vọng, tan nát có lẽ không tránh khỏi. Vũ Thanh Hoa không che đậy hay phủ định nó. Sự cô đơn, đôi khi cô độc sau cú sốc nghiệt ngã dễ gì không để lại sẹo. Vũ Thanh Hoa cũng không ảo tưởng chối bỏ hay hắt hủi: “Tàn tro của mùa đông/ Ủ những cánh hoa rơi…”, cho nên sau mất mát ta có thể cảm thông khi Hoa viết: : “Tàn tro của mối tình đánh mất/ Cứa vết sẹo dài, đau buốt số phận người rỉ máu…”. Ta có thể tìm thấy tâm trạng ấy trong “Tàn tro”, Soi gương”, “Ngoảnh lại” và rất nhiều bài thơ trong thi tập đầu tiên. Ta cũng có thể thấy cả gai xước và một cách tự trình bày điềm tĩnh, trần trụi, váng vất, có khác thường nhưng cũng đầy khao khát trong nhiều bài thơ của Hoa ở tập thơ này. Có thể tâm trạng bạn đọc khi đọc “Nỗi đau của lá” sẽ dừng lại giống tôi ở các bài thơ mà thi tập này không bỗng dưng mang tên. Nhưng, đó lại là những câu chuyện dễ gây mất ngủ. Nếu phải viết thêm, nói thêm về tập thơ này, tôi không muốn. Cứ để cho lớp da non trở lại dần tươi nhuận trên vết sẹo phũ phàng hôm nào. Tôi chỉ những muốn một lần nữa nhắc lại câu thơ Hoa đã viết: “Trên nhành cây, gió ngừng thổi bao giờ”. Gió vẫn ngầm thổi, nhiều tái tê và còn thổi. Đúng thế. Câu thơ đã nói. Và, nghĩa là Vũ Thanh Hoa đã bộc bạch và thú nhận. Ta sẽ nhiều bất ngờ với một thi sĩ Vũ Thanh Hoa khác đi ở hai tập thơ nối tiếp. Hai tập thơ khảng định con đường thơ vào chín đã và đang gọi mời, đĩnh đạc lật qua trang, đã và sẽ gọi tên một giọng điệu riêng, một tư duy mới và trẻ, một hướng cách tân thơ cám dỗ.

2. Trên thi đàn Việt thế kỷ XX, Hoàng Cầm là ông hoàng thơ tình tôi yêu thích nhất. Hồn thơ ông là đôc đáo, còn hơn thế, là đôc nhất vô nhị. Ông yêu khăng khăng vũ trụ quan yêu của riêng ông, nên thơ Việt bi tráng và diễm lệ mới hữu sinh cây thảo quế Hoàng Cầm:

Chiều nay cuốc gọi ngoài đê

Chị em thui thủi về quê với bà

Bao giờ chạch đẻ ngọn đa

Cáo nằm chung gối thì ta lại về

Bấy giờ em hát chị nghe

Không còn tiếng cuốc sang hè nữa đâu

(Mưa đêm – Hoàng Cầm)

Cũng trên thi đàn Việt thế kỷ XX, một tài nữ bất tử nữa mà tôi nghiêng mình thi lễ duy chỉ một Xuân Quỳnh. “Thơ tình cuối mùa thu”, “Thuyền và biển”, “Sân ga chiều anh đi”… và bao nhiêu thi phẩm của tài nữ thi nhân đã là tài sản chung không mấy ai không đọc, hoặc đã nghe, hoặc hát lên dẫu chỉ một lần!

Một đôi lần tôi đã nghe Vũ Thanh Hoa hát ca khúc phổ thơ Xuân Quỳnh. Và cũng có lần tôi nghe người thi sĩ trẻ thông minh và dễ mến trò chuyện với các đồng nghiệp về vẻ đẹp duy mỹ trong thơ Hoàng Cầm. Như thế, cũng có nghĩa thơ của thế hệ đi trước được Hoa nâng niu, trọng thị và lưu một góc trong sâu thẳm.

Quan trọng hơn, Vũ Thanh Hoa đang chăm chỉ một bàn tiệc thơ tình với chất liệu và cách thức của riêng Hoa, vị cuốn hút của riêng Hoa. Có đắng, có chua chát, có cay tê và có ngọt ngào. Có gì đó trong sắp đặt, trong cấu tứ, thi ảnh, cách nghĩ mới mẻ, sáng trưng và trực diện. Có tinh khôi và có đâu đó còn đôi ba vết xước. Nhưng chỉ việc dốc lòng làm một bàn tiệc tặng bao cung bậc của tình yêu và dâng tặng con người sao lại không vui mừng trước bữa tiệc nhọc nhằn và nhiều công phu ấy. Vũ Thanh Hoa là một trong đội ngũ tươi mới những nhà thơ thế hệ mới như Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Lê Mỹ Ý, Bình Nguyên Trang, Nguyễn Vĩnh Nguyên,  Hoàng Chiến Thắng, Trịnh Sơn, Nhụy Nguyên và… Thơ của mỗi họ có thể chưa mĩ mãn cho mọi đòi hỏi nhiều khi quá đơn chuẩn, có khi là những đòi hỏi võ biền và lạ kỳ, nhưng đích là những bàn tiệc, những bàn tiệc đầy màu sắc và hương vị mới. Họ thuộc một thế giới cụ thể chứ không quá đa cảm, cả tin, nhiều duy lý. Một thế giới khó khăn hơn, đa chiều, nhiều quyết liệt và cũng bộn bề hơn. Họ xả thân, đôi khi đơn độc đối mặt với chiều ngược lại để khảng định mình, để tồn tại hòa đồng và rắn giỏi mở cánh cửa ra thế giới. Cũng có người bỏ dở, lưỡng lự, so đo. Có người đã hoặc đang gây sức nóng và thu hút được những ánh mắt tin tưởng. Hãy tôn trọng quyền chọn đường thơ của họ. Họ là đội ngũ những nhà thơ của thế kỷ XXI. Họ sẽ thay chúng ta xây một thế giới thi ca mới. Sẽ rất lâu, sẽ rất dài, sẽ nhiều thành công nhưng nhiều hơn là những thất bại. Phải mất bao nhiêu năm Thơ Việt mới vượt thoát cớm bóng thơ luật Đường? Thơ luôn luôn đòi hỏi những cách tân. Mà đội ngũ cách tân cho thơ dòng chủ đạo ắt là những thi sĩ trẻ. Điều ấy không cần bàn cãi!

Có một người đàn bà khác trong Vũ Thanh Hoa, đó là người đàn bà thơ của tín ngưỡng thơ mới, hiện đại và mạnh mẽ – đó là thơ quyết tìm hướng khác với ngôn ngữ,thi ảnh và nhịp điệu đang thúc bách để ứng xử tương thích với thời đại không giống hôm qua. Người đàn bà khác ấy có tự vấn thì cũng tự vấn và tự trả lời không thể như cái nếp sống chậm, mơ mơ của văn hóa đình làng, bến nước, cây đa và tre lũy, hay nhịp một hai trong đô thị nho nhỏ, xinh xinh với ôn hòa trước đó. Họ hào phóng hơn, mạnh mẽ hơn, ít thời gian hơn, gấp gáp hơn nên quà thơ có khác: “Anh hỏi: Anh là gì của em/ Là mặt trời/ Là vì sao/ Là một nửa/ Tất cả vẫn đúng đấy/ Nhưng anh yêu/ Thiên hạ nói rồi…”. Và cách Hoa trả lời thật ngắn gọn, không thể phủ nhận sự mới mẻ, trực ngôn, độc đáo. Đây là cách trả lời mang tên Vũ Thanh Hoa:

“Nốt ruồi nhỏ trên ngực em

Anh thấy

Từ lúc mẹ sinh em

Đến khi em chết

Em gọi đó là Anh”

(Định nghĩa anh)

“Bây giờ mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa/ Mận hỏi thì đào xin thưa/ Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”. Bây giờ người ta không yêu thế đâu, đa phần ngưới ta yêu…ào một cái. Đấy là thời xa xôi, thời cụ cố chúng ta yêu nhau. Có nuối thì cũng: “Từ thủa ấy/ Em cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọi/ Diêu bông hời!…/…ới diêu bông!” (Hoàng Cầm). Thời ấy cả thẹn vân vi mận mận đào đào không phải của thời mở cửa, thời công nghiệp hóa, thời nối mạng với toàn thế giới.. Quần bò, áo phông, la tốp, phôn tay… thì phải “Nốt ruồi nhỏ trên ngực em” đàng hoàng, kiêu hãnh. Kiêu hãnh đến độ “Em gọi đó là Anh”. Tháng năm gần gặn Vũ Thanh Hoa hơn là thế giới thơ Xuân Quỳnh. Xuân Quỳnh sẽ định nghĩa về người yêu của chị thế nào? Khác nhiều chứ: “Anh thân yêu, người vĩ đại của em/ Anh là mặt trời, em chỉ là hạt muối/ Một chút mặn giữa đại dương vời vợi”. Ba vẻ đẹp của ba thời đại chuyển luân. Thời mận mận đào đào là nón thúng ấp e, là áo mớ bảy mớ ba, là mượn lá diêu bông để nói hộ lòng mình. Thời của Xuân Quỳnh nữ sĩ là vẻ đoan trang của người đàn bà luôn nhận mình thua thiệt. Nhưng, thời của Vũ Thanh Hoa là thời người đàn bà mạnh mẽ “Trong em có người đàn bà khác”.

Trước thời mở cửa, trước thời công nghệ thông tin tặng cho con người cái công năng vô biên của nó thì Hoàng Cầm phải đi tìm bóng hình người thương cô lẻ quá:

“Nếu có ngày mai anh trở gót

Quay về lãng đãng bến sông xa

Thì em còn đấy hay đâu mất?

Cuối xóm buồn teo một tiếng gà”

(Nếu anh còn trẻ)

Còn thời @, thời Vũ Thanh Hoa chỉ cần:

“Dỗi lòng ảo ảnh thôi mà

Mong mang nối mạng như là chiêm bao

Đường truyền bất chợt chênh chao

Cúi đầu mật mã gánh bao la buồn”

(Lục bát internet)

Thế là một cái cô đơn một cái buồn bã của anh đi bộ, quá lắm là cưỡi cái xe đạp Sít – tẹc- linh. Còn một cái cô đơn, cái bất chợt buồn không kịp bã hôm nay là lap-tốp và siêu xe bao nhiêu là nhãn hiệu.

Nhưng chớ vội chì chiết rằng thời lap-tốp và siêu xe người ta lòng dạ khô ngói và quá nhiều vô cảm. Tất nhiên có nhưng đâu phải loài thi sĩ. Người thi sĩ mọi thế hệ đều dễ buồn, buồn nhân bản:

“Nhận dòng tin nhắn vu vơ

Lặng mình ngơ ngẩn bây giờ… ngày xưa

Chợ chiều tất tả bán mua

Một mình xuôi phố mưa lưa thưa

… buồn”

(Lục bát phố)

Tôi tìm vào thế giới thơ Vũ Thanh Hoa càng nhận ra mình bảo thủ. Thời đại công nghiệp hơn nhưng cũng thực dụng hơn. Thời đại tốc độ hơn, nhanh yêu và cũng có thể chóng tàn. Một thời đại có thể thổi lệch mọi giá trị. Mà mình khư khư níu lại thời gian đã mất thì chính mình rất có thể biến mất. Anh là con chim vặn dây cót, có thể, nhưng anh là metal toys hay là con chim đầy sức sống có tiếng hót của họa mi lại là chuyện khác.Thơ Vũ thanh Hoa hiện sinh hơn, bắt kịp, đúng lúc, hòa vào chứ không chối bỏ đương đại. Nữ thi sĩ biết tiếp nhận những biến thiên và cả biến thái, bình tĩnh và gọi tên nó vang lên trong thơ mình: “Em giật mình tỉnh dậy/ giấc mơ ngủ lại trên giường/ mặt trời lay/ đồng hồ gọi/ tích tắc em trôi vào phố đông/ những đứa bé trên phố đều giống con em/ những người đàn bà trên phố đều giống em/ vội vã/ nặng trĩu/ lập trình”. Nhưng, Hoa biết tìm ra sự cân bằng của chính mình trong cái thế giới tốc độ ấy: “còn xanh trời và trắng mây yên ả/ lá rơi/ vàng hoe phố/ thu/ xa…” (Phố lá). Thật hay, nhịp thơ ngắn, gọn, cô quánh, nhanh, hiện đại, mà vẫn gợi, điều đó rất rõ. Tôi không theo kịp và chậm dần rồi thở dốc trong nhịp sống ấy. Nhưng may thay Vũ Thanh Hoa đã chỉ dẫn cho tôi rằng những người đàn bà trong thế giới công ngiệp và thực dụng hôm nay vẫn nguyên vẹn trái tim biết yêu và… dễ mủi lòng, chỉ có cách yêu có lẽ nhanh hơn, cuống quýt hơn và khang khác mà thôi: “khi em hờ hững lạnh lùng/ trong em có người đàn bà khác”… “khi em nói lời đắng cay/ trong em có người đàn bà khác”…”khi em nói lời chia tay/ trong em có người đàn bà khác”. Không! Em thề là không, thực ra em vẫn là người đàn bà yếu lòng, nên: “người đàn bà nồng nàn hơn lửa/ muốn đốt cháy anh”…”người đàn bà mong manh yếu ớt/ muốn khóc trên vai anh”… “ngưới đàn bà muốn ôm anh thật chặt/ vùi anh trong biển mưa hôn” (Trong em có người đàn bà khác). Đây là bài thơ xứng đáng chọn vào tuyển tập thơ tình.

Trong bài “Phố thở” lại là một bài thơ gọi đúng cái nhịp điệu quá nóng hôm nay. Tôi thích bài thơ vì nó vẫn cứ là thơ tình theo cách Vũ Thanh Hoa. Nghĩa là dù thế nào, nói điều gì thì chất liệu trữ tình, ngôn ngữ biểu cảm trữ tình, thi ảnh trữ tình vẫn là chủ thể. Không phải ai cũng viết được thơ tình theo cách ấy:

“mở cửa ngày

sáng nghe phố thở

những mặt người kín mít khẩu trang

tay đeo găng

đầu bảo hiểm

Em lẫn vào thế giới mộng du

múa theo điệu valse của nộm

cười nụ kĩ thuật số

phát âm lập trình”

Nhưng chỉ gọn ba câu: “trả khói bụi về màn hình computer trắng/ đêm nghe phố thở/ em lạc trong giấc mơ anh” là lập tức nguyên vẹn thơ tình- thơ tình hiện đại và mới mẻ Vũ Thanh Hoa.

3. Trong một lần về quê mấy năm trước, tôi có dịp dự một tiệc văn mi-ni với vài nhà thơ đàn chị, đàn anh ở Hà Nội. Đêm ấy lạnh buốt, gió bấc vỗ và rít qua khe cửa kính nhỏ mà tiệc văn có nóng lên bất chợt . Có nóng không vì rượu, tôi vốn miễn nhiễm rượu. Các anh, chị đêm ấy cũng không ai quá chén. Mà khổ quá, viêm túi triền miên đâu dễ lu bù. Nói như người Nam, quá lắm vài xị đế. Cái nóng bất thình lình vì một nhà thơ bỗng nói: Cánh trẻ bây giờ nhiều đứa mình hãi quá. Mình mới viết một bài phê bình tháng trước, cũng chỉ là điểm qua loa một số câu thơ làm tình làm tội ngữ pháp và quá gợi dục, dẫn bình mấy câu thơ nhàn nhạt nói về cái buồn chả biết buồn gì, thế là cô ta lên blog nhảy dựng viết bài sỉ vả, có ghê không! Bạn văn cười ồ nêm vui chút ớt tỏi, tuy thực chất không ai ác ý. Chỉ hơi lạ là không có sự bình tĩnh lái đi làm cho lời chê sục sạo sang đàm tiếu những sinh hoạt ngoài văn chương. Tôi, kẻ đi sau, lại trú tỉnh lẻ, đành giữ miệng. Quả là thi thoảng cũng có những phản ngôn thái quá. Cô nọ khăng khăng từ chối giải thưởng nọ. Chị kia phân phát mấy trang đánh máy ngay Đại hội Nhà văn, kèm một ông văn trẻ trai tốt mã tháp tùng phấn chấn. Kể ra người đàn anh buông lời phàn nàn cũng là dễ hiểu. Vì ông bức xúc. Tôi là nhà thơ chả có thành tựu gì, tuy nhiên ngoài sự ứng xử quả có cương thái, tôi nghĩ, thời buổi dễ dàng công bố tác phẩm và văn chương mạng bùng nổ, xem ra vẫn ít cái sự đọc nhau chu đáo và hệ thống cho đến nơi đến chốn. Ấy là chưa kể có không, cả sự ngộ văn (tôi không viết: ngộ nhận). Mà ngộ văn đâu chỉ lớp trẻ!

Tôi không trung dung. Sách in la liệt, cho, biếu, tặng là chính. Tuy thế cũng có đọc chứ. Vẫn cố đọc cả trẻ lẫn già khi kiếm được sách. Mình là anh nhà thơ quê lại trú tỉnh lẻ, cũng cố gắng đọc để bớt ngu. Tôi cứ nghĩ cảm tính thế này: Cuộc cách tân văn chương xin đừng khe khắt. Nó là tất yếu, chưa bao giờ ngừng, sẽ là mãi mãi khi loài ngưới còn cần văn chương. Song hành với tất yếu ấy luôn là sự cố gắng thử tìm ra cách diễn đạt khác đi, nên diễn tiến ấy chênh chao đôi chút, cả thi hình, thi ảnh, nghữ pháp, văn ngôn có khi nghịch nhĩ ngược quán tính, cương sốc bất thình lình trong một số tác giả trẻ quãng tuổi nào đó chứ không là tất cả.

Vũ Thanh Hoa viết:

“góa phụ

ký sinh hoài niệm

non nõn mộng hoa

nhập nhòe vàng hiu cuống lá

hổn hển hồi sức những chùm lông tơ

thoi thóp mọc trên vết rạn của kỳ sinh nở”

(Ký sinh)

Đọc đoạn trích này, chắc người đàn anh của tôi trong tiệc mi-ni bữa nọ sẽ đăm chiêu. Nó sex à? Đã “Hổn hển hồi sức những chùm lông tơ” lại còn “Thoi thóp mọc trên vết rạn của kỳ sinh nở”. Nó tả “cái kia” à? Dạ thưa không. Khi Hoa viết tiếp “chuốt búp măng/ những móng tay xây xát nợ nần/ đánh phấn tô son/ nhằng nhịt chân chim nơi chân trời bí mật/ vớt mùa/nhớ/ quên/ vương vãi/ ký sinh trườn dậy/ ký sinh dãy chết/ hoài niệm vỡ tan giữa viện bảo tàng” sao lại bảo nó tả cái kia? Người đàn bà muốn quẫy thoát khỏi kiếp buộc vào sống ký đấy ạ. Nếu đọc tiếp đoạn kết tái tê của bài thơ: “góa phụ âm thầm/ đếm/ mảnh/ vết thương” (Ký sinh), rõ những thằng sở nó gây ra sự hồi tỉnh và công phẫn đấy ạ. Chưa bàn đến hay, hay chưa hay theo tiêu chí quán tính. Ngôn ngữ thơ trẻ gắt chói lên như thế, vì bóng tối ê chề là trơ trẽn có thật. Những bóng tối tàn nhẫn mang khuôn mặt nhơn nhơn cần vả cái bốp. Cần thứ thơ với biểu đạt mạnh có lẽ phải thế. Mới và vì sao không hay. Tôi ao ước học hỏi cách mới của thơ. Nhưng không làm được! Vậy quán tính của tôi có chịu vỡ ra để nhận lấy và có nên khư khư quán tính?

Ở bài thơ “Nỗi buồn mặc định” Vũ Thanh Hoa viết như có thể hát lên, câu thơ rất ngắn, mát rượi và đẹp tinh vi, ấm nóng và nồng nàn dư ba:

“em nắm tay em

thầm thì gió gọi

mây đổ xuống chiều rưng rức mưa”

Rồi Hoa lại viết:

“úp mặt vào yêu

em đọc kinh sám hối

xin từ bi về ngụ cư

nhắm chặt mắt

người bước đi

bóng lại trở về”

Khi tự họa, cũng là lúc Vũ Thanh Hoa vừa nhìn thấy thực mình và bóng hồn bằng thi điệu cùa một nữ sĩ còn trẻ nhưng đã mang vấp vỡ vừa của ngoại cảnh vừa đoan dị số phận. Nhịp thơ trầm đi, nhạc thơ nhiều quãng lặng, nhưng thi ảnh, thi hình đậm đặc tâm hồn đa cảm, như nến cháy dịu dàng: “tôi vẽ hình nhân tôi/ bóng đổ dài bức tường lạnh/ tôi khóc tôi cười/ hình nhân thinh lặng/ tôi hao mòn/ hình nhân tinh nguyên/ tôi đếm trên tay những sợi gân xanh/ chằng chịt mùa thay giấc/…tôi cúi đầu thay áo/ hình nhân bất tận son môi”. Nhà thơ trẻ không giả chữ hay che đậy chữ lên thông minh, vì thế: “tôi vẽ hình nhân tôi/ tôi gặp bóng/ tôi gặp bão/ tôi gặp mùa”. Cảm xúc như sóng lớp trong lòng nữ sĩ, chao… và ru.

Vũ Thanh Hoa muốn đi tới gốc giấc mơ số phận mình, nên :”trong giấc mơ đêm qua/ tôi cầu hôn/…tôi kết một chiếc nhẫn/ đeo vào ngón tay mình/ tôi nói: đồng ý”.(Lời cầu hôn đêm qua).

Rất nhiều bài thơ trong tập thứ 3 đắc dụng một kết cấu thi ảnh linh động, gợi nghĩ, đan cài không diễn ngôn thuần, chủ động hé một không gian mở cho bạn đọc thoại cùng nhà thơ.

Cuộc hôn nhân với thi ca là đừng từ hôn chính mình. Vũ Thanh Hoa là một trong những tiên phong của cuộc đi không dễ dàng này.

Thơ Vũ Thanh Hoa không chối bỏ cách chọn và tiếp nhận tinh hoa của người đi trước. Những cung bậc trong thơ nữ thi sĩ đã và đang gọi tên một giọng điệu riêng, đa thanh và đa sắc. Tôi cố gắng tìm hiểu hướng cách tân của nữ thi sĩ, dù biết rằng 182 bài thơ của ba thi tập mở hàng là thách thức cám dỗ. Bài viết còn đại cương này chỉ là mới khởi đi việc tìm những hạt vàng vừa thấy. Hy vọng sẽ trở lại với các bài viết chuyên đề, các lời bình một hoặc nhiều bài thơ cụ thể đối với khu vườn Thơ Vũ Thanh Hoa!.

5/11/2019

Hoàng Quý

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Văn học và văn hoá truyền thống Văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phong tục… là những bộ phận hợp th...