VĂN THƠ NHẠC
Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Con mắt tỉnh thức trong
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Trần Nhật Vy đi tìm ký ức chữ nghĩa
Trần Nhật Vy đi tìm ký ức chữ nghĩa
Ông ngồi đó với chiếc pipe cũ. Trông ông dáng vẻ bình dị, ánh
mắt vẫn sáng rực như còn giữ nguyên ngọn lửa của thời tuổi trẻ. Được biết, trước
năm 1975, ông học đại học Văn khoa Sài Gòn.
Bây giờ ở tuổi thất thập, có thể nói ông là một trong những
nhân chứng của lịch sử chữ nghĩa, là người kể chuyện, hay người giữ nhiều ký ức
cho thành phố này.
Sau Tết Bính Ngọ, tại một quán cà-phê bình dân trong con hẻm đã hơn 60 năm tuổi, ven kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè của Sài thành, tôi cùng trò chuyện với nhà báo, nhà nghiên cứu Trần Nhật Vy.
1. Một con người với ý chí bền bỉ. Đến thời điểm hiện tại,
ông đã viết hơn 10 quyển sách và bộ sách biên khảo. Theo tôi, đó không phải là
chuyện dễ dàng. Từ tập thơ đầu tiên “Khúc dạo đầu” (1987), “Đô
la” (1991) đến “Chữ quốc ngữ – 130 năm thăng trầm” (2013), “Mười
tám thôn vườn trầu” (2015), “Kim Vân Kiều truyện”(2015), “Từ Bến Nghé
tới Sài Gòn” (2025)… đến “Nghề báo, nhà báo Sài Gòn” (2026), “Báo
quốc ngữ ở Sài Gòn cuối thế kỷ 19” (2015), “Sài Gòn chốn rong chơi” (2016), “Văn
chương Sài Gòn” (5 tập, 2018) và “Sài Gòn chuyện nghề báo” (2026)…
“Chữ quốc ngữ – 130 năm thăng trầm” đến “Kim Vân Kiều
truyện”, từ “Từ Bến Nghé tới Sài Gòn” đến “Sài Gòn – chuyện nghề
báo”, mỗi tác phẩm là một hành trình dài, đòi hỏi sự kiên nhẫn và sức chịu đựng.
Ý chí ấy là sức mạnh cá nhân, là niềm tin và sứ mệnh vào việc bảo vệ, lưu giữ
và soi sáng lịch sử – văn chương Việt bằng ngòi bút. Trả lời câu hỏi của người
viết, ông nói: “Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ dừng lại. Viết là cách tôi sống,
cách tôi giữ cho ký ức không bị lãng quên”.
2. Kiến thức của ông đến từ sách vở, trải nghiệm và
nghiên cứu. Trong “Báo quốc ngữ ở Sài Gòn cuối thế kỷ 19”, ông tái hiện cả
một giai đoạn báo chí của thời sơ khai, nơi chữ nghĩa trở thành công cụ khai
sáng. Quyển sách là kết quả dày công nghiên cứu của tác giả về nền báo chí Nam
Bộ. Qua những bài báo xưa, người đọc có cái nhìn bao quát về xã hội Nam Kỳ cuối
thế kỷ 19, khi thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc xâm chiếm nước ta, về sự đổi
thay từng ngày của miền đất này, cách người dân loay hoay kiếm sống trong tình
hình mới, nạn cờ bạc gây bao tai hại… Qua quyển sách người đọc hiểu hơn những
cuộc kháng chiến của nhân dân, về những người bị chính quyền thuộc địa coi là
“giặc”, những cuộc nổi dậy có thể không lớn mạnh nhưng chưa bao giờ im tiếng.
Trong “Mười tám thôn vườn trầu”, ông đưa người đọc về một không gian văn hóa đặc thù, vừa dân dã, vừa thấm đẫm lịch sử. Kiến thức của ông được thổi hồn bằng văn phong gần gũi, khiến bạn đọc cảm thấy như đang trò chuyện với một người bạn tri âm.
Lịch sử Mười tám thôn vườn trầu đã xấp xỉ hơn 300 năm và liên
quan chặt chẽ đến quá trình hình thành, phát triển của Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh
ngày nay. Khoảng cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18, dưới thời Trịnh – Nguyễn phân
tranh, một số người dân từ miền bắc và miền trung chịu không nổi cuộc sống khốn
cùng đã quyết định rời bỏ quê hương để tìm kiếm cơ hội mới ở vùng đất này, lúc
đó Mười tám thôn vườn trầu còn hoang sơ, hiểm trở. Ban đầu, người dân trồng lúa
và hoa màu là chính, sau chuyển sang trồng cây ăn quả rồi trầu cau. Đặc điểm thổ
nhưỡng ở đây đặc biệt phù hợp với cây trầu nên dần dần vùng đất này được bao phủ
bởi những vườn trầu cau xanh mướt quanh năm. Nơi đây thành nơi chuyên canh trầu,
cung cấp cho khắp Nam Kỳ…
Nhà nghiên cứu Trần Nhật Vy tâm sự: “Tôi viết để người đọc thấy
lịch sử gần gũi, để họ cảm nhận rằng mình là một phần trong dòng chảy ấy”. Có lẽ
điều khiến ông khác biệt chính là tình yêu công việc. Viết, với ông, không phải
là gánh nặng, mà là niềm vui. Ông từng nói: “Mỗi trang sách là một cuộc đối thoại
với quá khứ”. Chính tình yêu ấy giúp ông vượt qua những khó khăn, những giới hạn
của tuổi tác. Hỏi chuyện một bạn trẻ trước đó, sinh viên khoa sử Trần Phương Ngọc
nói: “Đọc sách của tác giả bậc thầy Trần Nhật Vy, tôi thấy lịch sử về Sài Gòn
không còn xa lạ. Nó gần gũi như câu chuyện của chính gia đình mình”.
3. Trong từng trang sách, tình yêu lịch sử Việt hiện rõ.
Ngoài việc ghi chép sự kiện, ông còn tìm cách lý giải, soi chiếu, để lịch sử trở
nên sống động. Với “Từ Bến Nghé tới Sài Gòn”, ông kể lại hành trình của một
vùng đất từ thuở sơ khai đến khi trở thành đô thị phồn hoa. Với “Sài Gòn
chốn rong chơi”, ông không chỉ miêu tả địa danh, mà còn khắc họa tâm hồn của phố
thị, nơi con người sống, yêu và sáng tạo. Lịch sử, dưới ngòi bút ông là những
câu chuyện đầy hơi thở nhân sinh. Ông chia sẻ: “Lịch sử Việt Nam là dòng sông lớn.
Tôi chỉ là người chèo thuyền, cố gắng đưa một vài hạt phù sa đến cho thế hệ mai
sau”.
Ngọc Hương, nữ ký giả trẻ, đã từng đọc “Từ Bến Nghé tới
Sài Gòn”, nói: “Tác giả Trần Nhật Vy đã mở cho tôi một cánh cửa. Từ những trang
biên khảo, tôi tìm thấy nguồn tư liệu quý giá để tiếp tục công việc nghiên cứu
và viết về Sài Gòn hôm nay”.
Qua những tác phẩm của mình, Trần Nhật Vy bộc bạch, sách ông đặc biệt dành cho công chúng và họ rất yêu lịch sử vì ông đã góp phần làm sống lại ký ức của Sài Gòn, của chữ quốc ngữ, của báo chí Việt. Đó là những đóng góp thiết thực, bởi chúng giúp thế hệ sau hiểu rằng văn hóa và lịch sử phải là nền tảng cho hiện tại và tương lai. Năm tập “Văn chương Sài Gòn” cho thấy tâm huyết rõ rệt: Ông đã gom nhặt, hệ thống và trao lại cho đời một kho tàng văn chương đô thị, nơi chữ nghĩa phản ánh đời sống xã hội.
4. Nhìn ông, tôi nghĩ đến hình ảnh con người “giữ gìn ký
ức”. Trong triết học, ký ức không chỉ là sự lưu giữ quá khứ, mà còn là cách con
người định hình bản thân và cộng đồng. Nhà báo, nhà nghiên cứu Trần Nhật Vy viết
bằng ý chí, kiến thức, tình yêu công việc và lịch sử, đã trở thành người giữ ký
ức cho Sài Gòn, cho văn hóa Việt. Trong tâm nguyện, ông viết để nhớ và viết để
người khác cùng nhớ, để ký ức và lịch sử không bị phai mờ.
Cuộc gặp gỡ kết thúc khi trời Sài Gòn chưa ngả chiều. Ông đứng
dậy, dáng chậm rãi nhưng ánh mắt luôn sáng. Tôi hiểu rằng ngọn lửa trong ông sẽ
không tắt. Sau buổi trò chuyện với nhà báo, nhà nghiên cứu Trần Nhật Vy, tôi
đem câu chuyện này đi hỏi vài độc giả am hiểu về tác giả. Chị Ngô Thị Thu Hồng,
một giáo viên trung học, nói: “Nhờ ông, tôi hiểu thêm về thành phố mình đang sống.
Sài Gòn là nơi tôi sống đã 3 đời hiện tại, và tôi cho rằng, những quyển sách
biên khảo công phu của Trần Nhật Vy là ký ức của nhiều thế hệ”.
Huỳnh Ngọc Đán, một việt kiều lớn tuổi từ châu Âu thường quan
tâm đến lịch sử nước nhà, đã đọc được quyển “Báo quốc ngữ ở Sài Gòn cuối
thế kỷ 19” của Trần Nhật Vy, nói: “Tôi thấy mình trong những trang sách của
ông – một phần ký ức chung. Ông đã viết cho chúng tôi và cho cả những người
chưa từng biết đến quá khứ này”.
Tác giả Trần Nhật Vy, tên thật: Nguyễn Hữu Vang, sinh tháng 1.1956 tại Cao Lãnh – Đồng Tháp, sống tại quê mẹ: Bà Điểm – Hóc Môn. Ông làm báo Tuổi Trẻ từ năm 1981.
9/4/2026
Giản Thanh Sơn
Nguồn: NDO
Theo https://vanhocsaigon.com/
Một đời vấn vương mùi hương ký ức
Một đời vấn vương mùi hương ký ức
Chỉ một tiếng hô: “Mưa…” được phát ra, không kể già trẻ gái trai, hàng xóm ùa ra, người chổi, người cào, người quét phụ giúp nhau. Không khí khẩn trương, náo động hơn cả lễ hội sân đình đầu năm. Bà tôi móm mém nhai trầu ôn tồn: “Đói cho sạch, rách cho thơm con ạ! Mình nghèo vật chất nhưng dạ mình trong sạch, tình nghĩa xóm làng nương tựa nhau mà sống, đâu có bỏ được đâu con!”
Chiều phai nắng. Phía chân trời buông hoàng hôn ráng đỏ, giọt
nắng cuối ngày hanh hao rơi lọt thỏm vào khoảng không vô định, từng đám mây lững
lờ, lác đác như kẻ bộ hành độc bước trên lộ trình dài xa xăm mà chưa thấy điểm
dừng chân an trú. Tôi bon bon trên con xe chiến mã đã đồng hành suốt những
tháng ngày rong ruổi trên hành trình tha phương, gửi phận mình nơi miền đất hứa.
Chiếc xe máy vẫn thân quen, con đường đi cũng thân thuộc. Bất
giác, làn gió nhè nhẹ thổi qua chân tóc khẽ đưa mùi hương ngòn ngọt vuốt ve mơn
man da mặt rồi quyện tròn vào sống mũi đánh thức miền ký ức từ thuở nào khiến
tôi chậm lại ngẩn ngơ mùi hương rơm mới của cánh đồng lúa đương vào vụ gặt lúc
ánh chiều tà, mùi ký ức phảng phất nơi miền cố hương.
Những ai sinh ra từ miền quê nghèo, trải qua tuổi thơ cơ cực
chắc hẳn không thể quên mùi hương dịu ngọt này. Mùi của hạnh phúc tròn đầy hay
lưng tròng ngấn lệ đã ám ảnh bao kiếm người tha hương. Tôi luôn thầm cảm ơn tuổi
thơ đầy ắp những buồn vui đã dìu dắt nâng bước vào đời. Cũng bởi con người ta sống
trên đời, không có ký ức, không có hoài niệm sẽ tẻ nhạt và hẩm hiu biết chừng
nào?
Quê hương tôi là miền đất lúa chiêm trũng thẳng cánh cò bay.
Mái chùa, sân đình, cây đa, giếng nước, con đê xanh thắm xanh màu hiện lên mồn
một như ca dao, như tục ngữ trong lời hát ru của bà, của mẹ. Dòng sông Hóa hiền
hòa như dải lụa mềm nặng đỏ phù sa uốn lượn bên lở bên bồi ôm ấp lấy miền quê đậm
đà tình nghĩa. Nước trên sông có khi thay đổi từng dòng, còn lòng chung thủy sắt
son chân chất của người dân quê lúa khó có thể nào đổi thay.
Gốc đa trên con đê đầu làng chứng kiến bao cuộc chuyển mình,
trở dạ của làng quê – nơi gửi gắm bao trầm tích của xóm làng, bao hỷ nộ ái ố để
rồi tái sinh ra muôn vàn điểm tựa cho kẻ lữ thứ đau đáu nhớ về.
Hình ảnh người nông dân chân chất quanh năm “bán mặt cho đất,
bán lưng cho trời” cần mẫn cấy hái chăm bẵm 2 vụ lúa để sản sinh ra hạt ngọc trời
đã từng ghi dấu “quê hương chị hai 5 tấn” được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư
khen năm 1965, khi năng suất lúa của tỉnh Thái Bình đạt 5 tấn/ha, đánh dấu mốc
lịch sử về năng suất lúa của miền Bắc. Tên gọi đó đã đi vào thơ ca như một minh
chứng sinh động của hậu phương vững chắc và trở thành biểu tượng cho những người
phụ nữ anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang của vùng quê lúa, những người
đã góp phần quan trọng vào sản xuất nông nghiệp, cung cấp lương thực cho cả nước,
đặc biệt trong giai đoạn chiến tranh.
Quay gót tuổi thơ về những ngày mùa, làng xóm tôi luôn rộn
ràng tiếng nói cười rôm rả. Cánh đồng lúa mới ngày nào còn xanh thời con gái,
nay đã trải một màu vàng tươi của mùa màng bội thu. Khi mặt trời ngái ngủ phía
đằng đông, làn sương sớm mỏng tang đọng trên bông lúa căng mẩy, con đường dẫn
ra cánh đồng còn tờ mờ sáng.
Mẹ tôi và các bác gái đã quẩy đôi quang gánh cắt lúa từ độ
nào. Chẳng mấy chốc từng hàng lúa được cắt ngọt, phơi mình trên cánh đồng. Bố
tôi và các bác trai quanh xóm sau khi nhấp ngụm trà nóng dưới gốc đa và nhẩn
nha điếu thuốc lào, thổi làn khói bồng bềnh vấn vít trên không trung và tan ra
khi vạt nắng đầu ngày chiếu tới. Ấy cũng là lúc, những người đàn ông lực điền
thủng thẳng xén từng hàng lúa đã cắt sẵn, cột lại thành từng bó to rồi khuân
vác lên xe thồ. Thời tiết mưa thuận gió hòa nên được mùa, nụ cười hạnh phúc hiển
hiện rõ trên từng khuôn mặt của những người nông dân.
Khi mấy đứa tôi ngủ nướng tỉnh giấc thì bố đã chở những chuyến
xe lúa đầu tiên về nhà. Quệt giọt mồ hôi lăn dài xuống chiếc áo bạc màu ướt đẫm,
bố mỉm cười lấy trong túi áo trước ngực những con muồm muỗm béo ú, núng nính bắt
được khi xén lúa đưa cho tôi. Với đứa trẻ quê ngày đó, đây là một món ăn mà chẳng
sơn hào hải vị nào sánh bằng. Đầu bếp nghiệp dư tại gia từ ấy mà khởi phát, tụi
tôi lúi húi cầm bật lửa ra gốc rơm để nướng, mùi thơm tỏa ra khi muồm muỗm cháy
sém kích thích thính giác. Đứa nào đứa ấy mắt lim dim, chúi mũi hít nấy hít nể,
nuốt nước bọt ừng ực chờ thưởng thức.
Tin tôi đi! Vị ngọt thanh, ngầy ngậy khi cắn miếng muồm muỗm được nướng chín vàng, những dòng sữa ứa ra trong khoang miệng rồi nhồm nhoàm nhai sẽ khiến bạn muốn ăn hoài, ăn mãi. Có đận, thằng Tý hậu đậu nướng sao để cháy sém cả cây rơm, may mà chú Năm phát hiện dập tắt kịp. Mặt trời đứng bóng, bố mẹ đi gặt về nghe tin, như một điều tất yếu, mông thằng Tý nổi hằn cả mấy đường lươn. Trẻ con mà! Mau giận và cũng nhanh quên lắm. Mọi thứ thoảng nhanh như mưa bóng mây ngoài ngõ.
Những bó lúa đưa về được máy tuốt xình xịch cho ra những
thúng thóc vàng óng, những đống rơm xác xơ tỏa ra vị dịu ngọt khiến ta hít hà
không thôi. Cảm giác được nhảy lên đống rơm mới tuốt lúa mà tận hưởng mùi
hương, cảm nhận độ êm ái hơn ga đệm trên giường là trò chơi tiêu khiển khiến mấy
đứa nhỏ khó cầm lòng tay chân mà yên vị.
Tình làng quê nghĩa xóm tối lửa tắt đèn có nhau đâu chỉ thể
hiện qua lời nói. Cái nghĩa ân tình đơn giản chỉ là những ngày mùa, hàng xóm
chia nhau, nhà này xúm xít hộ nhà kia rồi ngược lại và công việc cấy hái, thu gặt
dẫu vất vả cực nhọc, rồi đâu cũng vào đấy, nhẹ tựa lông hồng. Khoảng thời gian
phơi thóc, chạy mưa thì càng thú vị hơn.
Trời đang chang chang nắng, bỗng mây đen từ đâu kéo đến. Chỉ
một tiếng hô: “Mưa…” được phát ra, không kể già trẻ gái trai, hàng xóm ùa ra,
người chổi, người cào, người quét phụ giúp nhau. Không khí khẩn trương, náo động
hơn cả lễ hội sân đình đầu năm. Bà tôi móm mém nhai trầu ôn tồn: “Đói cho sạch,
rách cho thơm con ạ! Mình nghèo vật chất nhưng dạ mình trong sạch, tình nghĩa
xóm làng nương tựa nhau mà sống, đâu có bỏ được đâu con!”
Cuộc sống không phải lúc nào cũng màu hồng, và con đường đi
đôi khi có gập ghềnh, trắc trở. Người dân quê tôi cũng vậy. Công việc cấy hái
không phải lúc nào cũng thuận lợi. Có năm lúa trên đồng còn đang đỏ đuôi mà bão
giông ào ào kéo tới quăng quật, thét gào rồi trút nước. Cánh đồng lúa đương đến
độ thu hoạch không đủ sức chống chọi với mẹ thiên nhiên đổ ràn rạt, khắp cánh đồng
chỉ còn lại biển nước lênh đênh trắng xóa đã giấu nhẹm đi sự hồi sinh từng tồn
tại. Nuốt nước mắt vào trong, bà con trong xóm chẳng ai nói ai rằng ra đồng “cứu
được những gì trong cái mất”. Lon gạo, mớ rau, con cá trong những ngày chống
bão chia sớt cho nhau là động lực để mọi người vượt qua những ngày vần vũ.
Hình ảnh làng quê cứ dìu dặt kéo về lắng đọng trong tâm khảm
của một kẻ quá giang nơi viễn xứ. Bất chợt đấy! Nhưng ấm áp biết chừng nào! Mùi
hương ký ức không chỉ là mùi thơm của rơm mới, vị ngọt thanh của thức quà quê
kiểng, cái dại dột của tuổi ấu thơ, mà là tình nghĩa xóm làng đã ngấm vào trong
tiềm thức như hơi thở của cuộc sống.
Ánh đèn đường đô thị bật sáng, tiếng còi xe ô tô tải của
thương lái thu mua lúa thóc cho tôi quay trở về thực tại. Hành trình lại bắt đầu,
cất gói ký ức cũ càng giữ vào một khoảng trong tim để làm hành trang bước tiếp.
Đâu ai xa xứ mà không nhớ quê nhà. Đâu ai khắc khoải mà không
tìm về nhớ thương. Đâu ai vấn vương mà không cảm thương kỷ niệm.
Thương! Thương hoài, thương mãi miền quê!.
18/6/2026
Tặng Vũ
Theo https://vanhocsaigon.com/
Chàng kỹ sư yêu biển viết văn Trương Anh Quốc
Chàng kỹ sư yêu biển
viết văn Trương Anh Quốc
Trương Anh Quốc là một trong những người bạn có nhiều gắn bó với Phú Yên trong các hoạt động văn học. Sinh trưởng ở Quế Sơn, Quảng Nam, anh tốt nghiệp kỹ sư điện Trường Hàng hải, định cư tại TP Hồ Chí Minh, làm việc trong ngành vận tải biển và dầu khí. Biển cả không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là tình yêu, nguồn cảm hứng cho chàng kỹ sư trẻ sáng tác văn học mà mới nhất là tiểu thuyết du ký độc đáo “Sóng” do NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2019.
Tiểu thuyết du ký là thể loại hiếm thấy trong văn học Việt
Nam và thế giới. Và có lẽ “Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc là tiểu thuyết du
ký biển đầu tiên của nước ta. Tác phẩm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn nghề đi
biển của các thủy thủ và nhân viên tàu viễn dương, một nghề vốn rất quyến rũ
nhưng cũng đầy khó nhọc và còn xa lạ với nhiều người. Đồng thời “Sóng” còn mang
lại những kiến thức, vẻ đẹp của các vùng biển, vùng đất, con người ở nhiều nơi
trên thế giới mà tác giả đặt chân tới bằng góc nhìn, cảm nhận tinh tế riêng biệt.
Chính những điều trên, tiểu thuyết du ký “Sóng” lôi cuốn sự
tò mò của bạn đọc, nhất là giới trẻ thích xê dịch khám phá. Ngoài ra, theo nhà
văn Trương Anh Quốc: “Viết “Sóng” mình chọn lối viết nhẹ nhàng, không tập trung
vào xây dựng cốt truyện với tuyến nhân vật xung đột mâu thuẫn rồi đi tìm cách gỡ,
mình chú trọng đến nét mới lạ của văn hóa vùng miền của bước chân nhân vật du
hành bằng đường biển trải qua. Đi bằng đường biển sẽ có sự thú vị riêng, dưới
đôi mắt của nhân vật – người đi biển sẽ có cách nhìn khác qua một lăng kính
khác, nhất định sẽ khác với lăng kính của người du hành bằng đường hàng không
hay đường bộ, đường sắt. Góc nhìn từ ngoài biển vào bờ, có cả sự mong ngóng,
trìu mến và bao dung”.
Trương Anh Quốc xuất hiện trên văn đàn hơn mười năm trước và
nhanh chóng gặt hái thành công. Anh đã xuất bản ba tập truyện ngắn “Sóng biển
rì rào”, “Lũ đầu mùa”, “Hợp đồng chiều thứ bảy” cùng một tiểu thuyết “Biển” và
bây giờ là “Sóng”. Anh cũng được trao những giải thưởng có giá trị: Giải nhì
Văn học tuổi 20 lần 3 và Giải nhất Văn học tuổi 20 lần 4 do NXB Trẻ phối hợp Hội
Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức, giải các cuộc thi truyện ngắn của báo Sài
Gòn Giải Phóng, tạp chí Văn Nghệ Quân Đội.
Trong số 5 tác phẩm đã xuất bản của Trương Anh Quốc thì có 3 tập viết thuần về biển là tập truyện ngắn đầu tay “Sóng biển rì rào”, 2 tiểu thuyết “Biển” và “Sóng”. Có thể nói biển đã mang lại nguồn cảm hứng lớn lao, giúp cho chàng kỹ sư trẻ sớm tự phát hiện và chọn cho mình con đường riêng để bước vào thế giới văn chương. Như lời tâm sự của anh: “Có lẽ mình may mắn khi chọn viết về biển trong lúc có rất ít người viết về đề tài này và họ không phải là người trong cuộc. Mình viết sẽ dễ dàng hơn khi ngành hàng hải đặc thù với rất nhiều ngôn ngữ chuyên ngành. Ngôn ngữ chuyên ngành tiếng quốc tế có khi không thể tìm từ tiếng Việt sát nghĩa để thay thế. Tiểu thuyết “Sóng” chỉ gói ghém trong một hành trình đi trên một con tàu, trong khi mình đã làm việc trên nhiều con tàu đi khắp nơi như thế”.
Hành trình để nhà văn Trương Anh Quốc viết nên tiểu thuyết
“Sóng” chính là chuyến đi biển xa đầu tiên sau khi anh rời trường đại học với tấm
bằng kỹ sư điện ngành hàng hải. Theo lời anh: “Chuyến tàu biển vòng quanh thế
giới đầu tiên trong cuộc đời đi biển của mình đã để lại nhiều ấn tượng đẹp và
thú vị. Khi đó, mỗi lần đến cảng nào, nước nào, đi bờ ra sao… khi về tàu mình đều
ghi lại trong những tập giấy A4. Cũng trong chuyến đó mình mua được chiếc máy
tính xách tay nên cặm cụi gõ chữ từ xấp giấy vào máy tính. Mình cũng mua được một
chiếc máy ảnh kỹ thuật số bấy giờ mới ra nên quý lắm, đi bờ chụp hình về tàu
lưu hết trong máy tính”.
Thế nhưng điều bất ngờ đã xảy ra. Khi Trương Anh Quốc cùng
con tàu trở về nước thì chiếc máy tính đó bị trộm vào nhà cuỗm mất. Bao nhiêu
công sức, chữ nghĩa, hình ảnh anh lưu trong máy bay luôn. Anh cất công tìm kiếm
mua lại nhưng cái máy vẫn biệt tăm, không thể nào tìm lại được. Thế rồi một điều
kỳ diệu lại đến với anh khi khởi động viết tiểu thuyết “Sóng”, đó là bao nhiêu
cảm xúc hơn 15 năm trước chợt ùa về với những hình ảnh rõ mồn một.
Dù chuyến đi biển đầu tiên Trương Anh Quốc đặt chân lên hơn
ba chục quốc gia, hàng mấy chục bến cảng nhưng anh chỉ chọn những bến cảng,
vùng đất đã để lại ấn tượng thật sâu sắc để đưa vào tiểu thuyết du ký “Sóng”.
Anh cho biết: “Mình chọn những điểm nhấn điển hình nói lên được tập tục, văn
hóa của vùng ấy nhưng không sa đà vào chi tiết, tránh không đưa ra những thông
tin có thể tra tìm trên gu gồ (google). Nơi đến nhiều khi chỉ là cái cớ để có
câu chuyện mà thôi. Với phương châm ấy, “Sóng” nhẹ nhàng như một cuộc dạo chơi
thăm thú các vùng đất mới, mỗi nơi để lại một câu chuyện thú vị nho nhỏ vậy”.
Đúng vậy, có nhiều câu chuyện độc đáo trong tiểu thuyết
“Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc. Chẳng hạn, chuyện về hòn đảo Tenerife cách
châu Phi chưa đầy 300km và cách Tây Ban Nha đến vài ngàn cây số nhưng nó là khu
tự trị thuộc Tây Ban Nha. Thật kỳ lạ. Mỗi năm Tenerife đón lượng khách du lịch
quốc tế gấp mười lần số dân trên đảo. Chính quyền ưu tiên phát triển đảo còn
hơn đất liền. Biển đảo gắn liền lợi ích kinh tế, du lịch cả vị trí địa lý, vùng
trời lòng biển lòng đất…
Cũng ở châu Phi, theo nhà văn Trương Anh Quốc, khi tàu đi qua
một hòn đảo bé tẹo thì thuyền trưởng người Pháp cho tàu tạt gần hòn đảo một
chút rồi thông báo cho thuyền viên ra xem. Chỉ một thoáng, từ trong đảo có các
canô chạy ra xua đuổi tàu hàng vì xâm phạm 12 hải lý chủ quyền hòn đảo. Họ phát
loa thông báo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp một cách kiên quyết. Bất ngờ, thuyền
trưởng tàu hàng cho căng cờ Pháp lên và cũng đáp lại bằng tiếng Pháp. Vậy là mấy
chiếc canô kia quay đầu vào bờ. Thuyền trưởng cùng mấy thuyền viên người Pháp
cười khoái chí và tỏ ra rất tự hào. Hóa ra thuyền trưởng biết hòn đảo xa tít mù
khơi tận biển châu Phi này là của nước Pháp nên trêu đùa cho vui với thuyền
viên trên tàu.
Còn trẻ và còn nhiều cơ hội lênh đênh trên khắp các đại dương, chàng kỹ sư yêu biển Trương Anh Quốc nhất định sẽ tiếp tục mang lại cho bạn đọc nhiều trang văn hay và độc đáo như “Sóng”.
11/10/2019
Phan Tấn Hùng
Nguồn: PYO
Theo https://vanhocsaigon.com/
Du Tử Lê: Người dâng hiến trọn đời cho thi ca
Du Tử Lê: Người dâng
hiến trọn đời cho thi ca
Sau sự ra đi của nhà thơ Tô Thùy Yên mấy tháng trước,
ngày 9-10-2019, giới văn nghệ hải ngoại lại thêm một mất mát nữa. Đó là sự ra
đi của nhà thơ Du Tử Lê.
Nhà thơ Du Tử Lê (1942) vừa qua đời. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972). Ông có tới 70 tập thơ và văn xuôi. Du Tử Lê cũng là nhà thơ châu Á duy nhất được phỏng vấn và có thơ đăng trên hai nhật báo lớn của Hoa Kỳ: Los Angeles Times (1983) và New York Times(1996). Thơ ông cũng đã và đang được đưa vào giảng dạy, làm tài liệu nghiên cứu, đọc thêm tại một số trường đại học tại Hoa Kỳ và Châu Âu. Vĩnh biệt ông, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết về ông của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha và ba bài thơ của ông.
Sau sự ra đi của nhà thơ Tô Thùy Yên mấy tháng trước, ngày
9-10-2019, giới văn nghệ hải ngoại lại thêm một mất mát nữa. Đó là sự ra đi của
nhà thơ Du Tử Lê.
Ngay sau ngày thống nhất, tôi đã đọc thơ Du Tử Lê in trên các
tạp chí văn nghệ ở miền Nam trước 1975. Được biết ông đã đoạt giải văn chương
năm 1972 do nhà thơ Vũ Hoàng Chương và nhà thơ Bàng Bá Lân làm chủ khảo. Tôi đồ
rằng có lẽ Du Tử Lê rất thích bài hát “Lời du tử” của Nguyễn Đình Phúc nên mới
lấy chữ “Du Tử” gắn với họ Lê của mình thành ra bút danh Du Tử Lê. Tôi gặp ông ở
TP.HCM trong một cuộc bàn tròn trao đổi về thơ hồi cuối tháng 3-2007. Năm đó,
tôi cũng sang Mỹ dự hội thảo về chủ nghĩa cổ điển tự nhiên tại đại học Dallas,
người ta bảo Du Tử Lê cũng đã từng đến đây đọc thơ. Trong số các nhà thơ Việt
Nam ở hải ngoại, có lẽ thơ Du Tử Lê được quảng bá ở Mỹ và châu Âu khá nhiều.
Có lẽ vì hơi thơ lãng mạn hòa trộn với hiện đại ở thơ ông đã
khiến cho bạn đọc nước ngoài chú ý. Tới năm 2014, khi Du
Tử Lê ra mắt tập thơ “Giỏ hoa thời mới lớn” ở Hà Nội, tôi mới có dịp đọc thơ
ông nhiều hơn bởi được ông tín nhiệm để tôi giới thiệu thơ ông với mọi người. Ở
tập thơ, tôi chú ý những bài viết về mảnh đất Gia Lai mà tôi đã từng gắn
bó thời chiến tranh. Du Tử Lê cũng thế. Chỉ có khác là hai người ở hai chiến
tuyến đối đầu nhau. Khác với Nguyễn Bắc Sơn trăn trở về cuộc chiến tranh thật
rõ nét qua tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi”, Du Tử Lê luôn lãng
mạn hóa vùng chiến địa này qua những bài thơ tình, như thể ở đó chưa hề xảy ra
bom rơi, đạn nổ. Ngay cả đến dấu vết “mai xa lắc trên đồn biên giới” như Vũ Hữu
Định, cũng không có trong thơ Du Tử Lê. Đọc bài “Khi ngang qua Pleime” – một địa
danh nổi tiếng với chiến công thắng Mỹ cuối 1966, không thấy
một tí ti ùng oàng nào trong thơ Du Tử Lê: “Khi ta đến cây im rừng nín thở – một
mặt trời rực rỡ đỉnh truông xa – một hồn xanh gọi rét mướt hiên nhà – một tóc
chảy theo trăm dòng suối lạ…” Ở bài “Pleiku và hoa quỳ” cũng thế. Đọc thơ Du Tử
Lê, thấy rười rượi một màu vàng hoa quỳ trên đất đỏ bazan phố núi: “Khi ta trở
lại rừng – chỉ còn nghe gió hú – núi trong buổi chiều nay – nhìn ta bằng mắt lạ
– hoa nở vàng chân mây – tái tê từng cánh nhỏ”. Có lẽ bởi thế, Du Tử
Lê được phổ nhạc khá nhiều. Trong những tình ca ấy, ám ảnh nhất là “Khúc Thụy
Du” qua giai điệu Anh Bằng. Bài thơ nói về việc tìm kiếm người yêu ở miền Phú
Lâm (bây giờ thuộc quận 6) Sài Gòn sau đổ nát của cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu
Thân 1968, từ đấy tác giả thấm thía về những mất còn mà chiến tranh mang lại.
Năm 2017, tôi sang Mỹ và ghé chơi quận Cam, lại gặp Du Tử Lê
nhỏ thó nơi góc bàn cà phê quen thuộc. Cũng năm ấy, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã
ấn hành trường ca “Mẹ về biển Đông” của ông. Trường ca lấy cảm hứng từ sự ra đi
của chính mẹ ông. Nó gồm 5 khúc. Khúc thứ nhất “Ngôi nhà trắng, chiếc quan tài
và những cây phong ở đường Beach”. Khúc thứ hai “”Những cánh cửa sổ, hồi chuông
và buổi sáng”. Khúc thứ ba “Những bông hoa birdflower, nắm đất và sự trở lại”.
Khúc thứ tư “Chuyến bay muộn ký ức và mẹ ở xa”. Khúc thứ năm “Cõi mẹ về”. Thật
rưng rưng khi ông viết: “Những ngôi mộ ở bên ngoài đất nước – ngàn năm sau hai
tiếng Việt Nam – không ai gọi, không còn ai nhắc nữa! dúm xương xưa tanh lợm,
thiếu nguồn”. Nỗi bi kịch sinh tử của người xa xứ hình như đã được
ông cảm nhận trước khi bước đến khoảnh khắc làm bạn với cái chết. Vĩnh biệt
ông. Cầu mong linh hồn ông sớm bay về đất mẹ Việt Nam.
Chùm thơ Du Tử Lê:
Chân dung
tôi ngồi trong
nỗi tôi riêng
bên trong ghế
lạnh, ngoài hiên bóng rời
phòng tôi trần
thiết gương người
tường sơn kỷ
niệm, vách bồi dáng xưa
tóc người chảy
suốt cơn mưa
ngực thơm hoa
bưởi, môi đưa bão về
tôi ngồi giữa cõi-tôi-khuya
có ai gõ cửa? mà nghe lá chào
tưởng người ngọn
sóng lao xao
biển muôn năm
gọi tôi nào có vui
người về có
nén hương, thôi
cắm lên phần mộ
hồn tôi úa vàng
Chẳng lớn lao nào hơn nỗi cô đơn
cảm ơn kỷ niệm
nuôi em lớn.
như bóng nuôi
hình lúc thiếu nhau.
cảm ơn ngực ấm
nuôi thương bạn.
giọt lệ nuôi tình
sâu kiếp sau.
cảm ơn xa, vắng
nuôi em lớn.
như lá nuôi rừng
thuở thiếu niên.
cảm ơn chăn, gối
cho mưa, nắng.
quá khứ như
người có tuổi, tên.
cảm ơn định mệnh
nuôi em lớn.
hạt giống u tình
kia, tự tâm.
cảm ơn lênh
láng / đêm / da, thịt.
những ngón tay
thơm chọn lựa, mình.
cảm ơn thần
thánh nuôi em lớn.
như gió nuôi
trời lúc bão lên.
cảm ơn núi nhắc
sông xa, nhớ.
chẳng lớn lao
nào hơn cô đơn.
cảm ơn sách vở
nuôi em lớn.
con chữ nuôi
người trong giấc mơ.
hồn nuôi rưng
rưng từng khối đá.
tôi trầm mình
trong em, đời sau.
cảm ơn hiện tại không sau, trước.
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi, sao trở lại quê nhà
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa
muôn tuổi vẫn xanh rì
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã
buồn hơn bóng tối
khi tôi chết nỗi
buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận
huyệt với linh hồn
(12-1977)
11/10/2019
Nguyễn Thụy Kha
Nguồn: VNN
Theo https://vanhocsaigon.com/
Tình yêu Hà Nội của một hồn thơ xứ Quảng
Tình yêu Hà Nội của
một hồn thơ xứ Quảng
Tế Hanh (1921-2009) là một trong những gương mặt tiêu biểu của
nền thơ Việt Nam hiện đại. Ông nổi danh từ trước năm 1945 với tập thơ Nghẹn
ngào (1939) được giải Khuyến khích của Tự lực văn đoàn, sau đó là một trong 46
thi sĩ được Hoài Thanh – Hoài Chân giới thiệu trong tuyển tập Thi nhân Việt
Nam. Sự nghiệp sáng tác thi ca hơn 70 năm của Tế Hanh gồm hơn 20 tập tác phẩm
in riêng, 2 tuyển tập thơ cùng nhiều bài thơ dịch và một số tiểu luận phê bình
văn học.
Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi muốn bàn riêng về một mảng đề tài đặc biệt trong thơ ông, đó là những bài thơ, câu thơ viết về tình yêu Hà Nội.
Tế Hanh vốn nguyên quán tại làng Đông Yên, phủ Bình Sơn, nay
là xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đồng hương với hai thi sĩ
lãng mạn nổi tiếng đương thời là Nguyễn Vỹ và Bích Khê. Từ 1936 đến 1945, ông học
ở Huế và tham gia các công tác văn hóa, giáo dục của Việt Minh. Từ 1949 cho đến
1954, Tế Hanh ở trong Ban phụ trách Chi hội Văn nghệ Liên khu V. Sau hiệp định
Genève 1954, ông tập kết ra Bắc, sống và làm việc ở Hà Nội cho đến cuối đời.
Như vậy, cuộc đời Tế Hanh có hơn nửa thế kỷ gắn bó với Thủ đô. Từ nhà ông chỉ
bước vài chục bước chân là ra tới hồ Thiền Quang Hà Nội, đó đã trở thành một
nguồn cảm hứng dồi dào và liên tục trong thơ ông, từ những bài thơ của thập
niên 50 cho đến những bài thơ cuối đời.
Nếu đọc các tác phẩm của Tế Hanh, có thể nhận thấy, một trong
những chủ đề, đề tài nổi bật trong thơ ông chính là những thi phẩm thể hiện
tình yêu quê hương đất nước, bên cạnh những bài thơ về tình yêu đôi lứa. Trong
4 bài được Hoài Thanh chọn vào Thi nhân Việt Nam đã có tới hai bài về
quê hương là Quê hương và Lời con đường quê, trong đó bài
thơ Quê hương hiện nay vẫn được đưa vào SGK Ngữ văn lớp 8: Làng
tôi vốn làm nghề chài lưới/Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông/Khi trời
trong, gió nhẹ, sớm mai hồng/Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Sau này, Tế
Hanh còn nổi tiếng với bài thơ Nhớ con sông quê hương (1956): Quê
hương tôi có con sông xanh biếc/ Nước gương trong soi tóc những hàng tre/ Tâm hồn
tôi là một buổi trưa hè/ Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng/ Chẳng biết nước có
giữ ngày giữ tháng/Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi/ Hỡi con sông đã tắm cả
đời tôi/ Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ/Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ/
Sông của miền Nam nước Việt thân yêu.
Tôi có cảm giác rằng, với một trái tim đôn hậu và tha thiết
như Tế Hanh, có lẽ ông cũng đã dành cho Hà Nội một tình yêu như quê hương thứ
hai của ông. Hà Nội – Thủ đô của cả nước, trái tim của dân tộc không chỉ mang
trong nó những vẻ đẹp đặc trưng mà còn là một biểu tượng về lịch sử và văn hóa.
Chính ngay trong năm 1956 (cùng thời điểm ra đời bài thơ Nhớ con sông quê
hương), Tế Hanh đã viết Bài thơ tình ở Hàng Châu với nỗi nhớ đắm say Hà Nội. Nỗi
nhớ người yêu, người bạn đời của ông đã hòa chung cùng với cái tình của không
gian quê hương xứ sở: Bàn tay nào đã dệt nỗi lòng anh?/ Tiếng mùa xuân đem sóng
vỗ bên mình/ Vơ vẩn tình chăn chập chờn mộng gối/Anh mơ thấy Hàng Châu thành Hà
Nội/Nước Tây Hồ bỗng hóa nước Hồ Tây/Hai chúng mình cùng bước dưới hàng cây.
Dường như với chuyến đi xa nào cũng vậy, trái tim thi sĩ luôn
thao thức nhớ về Hà Nội thân yêu, nơi có một bóng hình phụ nữ đang ngày đêm
trông ngóng, nơi có mùi hoàng lan mùi hoa sữa ngọt ngào trên những con đường
quen, nơi có những mặt hồ thơ mộng với từng hàng cây in bóng. Bài thơ Nhớ về Hà
Nội hôm nay được viết trong chuyến đi công tác ở Kavkaz tháng 10/1979 là một
thi phẩm như vậy: Ở đây rét lắm em ơi/ Con chim én cuối đã rời về Nam/Đêm nghe
gió rít quanh thềm/ Nhớ về Hà Nội của em vô chừng/ Cuối thu trăng vẫn sáng
trưng/ Hoàng lan hoa sữa thơm lừng không gian/ Hồ Tây, Hoàn Kiếm, Thuyền
Quang/Nước thu sóng sánh soi hàng mây bay/Nhớ về Hà Nội hôm nay/Cây me cây sấu
có thay lá vàng?/ Con chim én đã về Nam/Giục anh trở lại cầm bàn tay em.
Nếu như bên trên, chúng tôi vừa giới thiệu hai thi phẩm viết
về nỗi nhớ Hà Nội khi nhà thơ đang ở những phương trời xa xăm thì trong một bài
thơ khác, tình yêu Hà Nội lại được thắp lên ngay chính giữa lòng Thủ đô, gắn với
tình yêu đôi lứa, gắn với bóng hình của một người con gái yêu thương nay đã rời
xa. Thi sĩ yêu từng góc phố, vườn hoa, từng bóng cây của Hà Nội. Và độc đáo hơn
cả là yêu chính sự trống vắng của một bóng hình. Điều này đã mang đến một tứ
thơ độc đáo và mới mẻ cho bài lục bát Hà Nội vắng em: Thế là Hà Nội vắng em/
Anh theo các phố đi tìm ngày qua/ Phố này ở cạnh vườn hoa/ Nhớ khi đón gió quen
mà chưa thân/ Phố này đêm ấy có trăng/ Cùng đi một quãng nói bằng lặng im/ Phố
này anh đến tìm em/ Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây/ Anh theo các phố đó
đây/ Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em. Đọc đi đọc lại bài thơ, càng đọc càng thấy
yêu thương cái tình bơ vơ ngơ ngác của người thi sĩ. Những tưởng bài thơ sẽ rơi
vào bi lụy bởi sự chia cách giữa hai con người, không biết đến ngày nào gặp lại.
Nhưng không, chàng thi sĩ đã biến nỗi trống vắng ấy thành thi vị, coi Hà Nội
như một nhân chứng đầy hồn vía cho mối tình của mình. Thế nên, tình yêu với một
bóng hình không còn gặp lại đã được chuyển vị thành tình yêu Hà Nội, yêu thêm mỗi
góc phố hàng cây đã từng in dấu kỷ niệm của hai người.
Những năm tháng cuối đời, tình yêu Hà Nội trong hồn thơ Tế
Hanh dường như được dồn về một nơi quen thuộc, thân thương, nơi mà hàng ngày
nhà thơ có thể dễ dàng dạo bước. Đó chính là hồ Thiền Quang. Năm tháng qua đi
làm tàn phai nhiều thứ. Chàng trai Tế Hanh thuở nào nay đã trở thành một lão
niên. Cặp mắt sáng tinh anh ngày xưa bỗng bị mờ dần trong những năm cuối đời.
Nhà thơ đã tự bạch về tình yêu với hồ trong chính nỗi niềm đó. Bài thơ chia làm
hai đoạn, tương ứng với hai thời kỳ khác nhau trong cuộc đời: Tôi đi quanh hồ
hàng nghìn cây số/ Bước tôi đi đo thử bước thời gian/ Trong đời tôi những vui
buồn sướng khổ/ Hồ biết không, hỡi hồ Thiền Quang (…) Đi dò dẫm bên hồ từng bước/
Tôi thấy hồ như một khối mơ hồ/ Tôi biết hồ nhờ nghe qua hơi nước/ Đi bên hồ
như bước giữa hư vô (Hồ Thiền Quang). So với những bài thơ viết về Hà Nội ở
giai đoạn trước, ta thấy có sự thay đổi đáng kể về sắc thái, giọng điệu, nhịp
điệu. Nếu như những bài thơ về Hà Nội ở giai đoạn trung niên sôi nổi, dạt dào,
nhịp điệu lôi cuốn, thì cho đến bài thơ về hồ Thiền Quang, nhịp điệu thơ chậm lại,
bùi ngùi ngẫm ngợi. Cùng với tình yêu cho Hà Nội vẫn vẹn nguyên, trái tim thi
sĩ có thêm những suy tư về thân phận, về kiếp người. Ngôn ngữ thơ vì thế trầm lắng
hơn mà cũng da diết, khắc khoải hơn.
Trong số những sáng tác của Tế Hanh có một phần không nhỏ những
bài thơ viết cho thiếu nhi. Những bài viết cho thiếu nhi hầu hết có âm hưởng
trong trẻo, tươi sáng. Và ở khu vực tác phẩm này, ta cũng thấy thấp thoáng hiện
lên bóng dáng một tình yêu Hà Nội. Bài thơ Hai ông cháu và cái hồ được gợi cảm
hứng từ chính hồ Bảy Mẫu trong công viên Lênin là một điển hình cho những sáng
tác này: Cháu mới lên bốn tuổi/ Chưa biết biển bao giờ/Mẹ bảo: biển rộng lắm/
Nhìn xa chẳng thấy bờ/Ông đi khắp bốn biển/Trở về già mắt mờ/Chỉ còn nhớ mặt nước/Không
nhớ rõ bến bờ/Một chiều sương ông cháu/ Dạo công viên Lê nin/Đến trước hồ Bảy Mẫu/Ông
cháu cùng đứng nhìn/Mở to đôi mắt bé/Cháu ríu rít: Ơi ông!/Chỉ toàn nước là nước/Biển
là đây phải không?/Mắt ông thoáng mây qua/ Như thấy mà không thấy/Ông ôm cháu
cười xòa:/-Ừ, biển của cháu đấy/Trước hồ hai ông cháu/ Cả hai đều ngây ngô/Cháu
cho hồ là biển/ Ông thấy biển như hồ.
Nhà thơ Tế Hanh đã đi xa tròn 10 năm. Những con phố, những hàng cây, những mặt hồ của Hà Nội không còn được thấy bóng dáng ông chầm chậm dạo bước mỗi ngày như thể muốn ôm ấp nâng niu bao yêu thương trìu mến. Thế nhưng tình yêu Hà Nội ông để lại qua những vần thơ sẽ còn lại mãi trong lòng bao thế hệ người đọc. Cùng với những thi phẩm về Hà Nội, những bài thơ tình nổi tiếng một thời như Vườn xưa, Bão, Con đường vẫn còn lắng đọng trong trái tim bao đôi lứa đã từng yêu đương, từng đắm say những khung trời kỷ niệm…
17/10/2019
Đỗ Anh Vũ
Nguồn: THV
Theo https://vanhocsaigon.com/
Nhà thơ Phạm Phương Lan: Xác tín lời ru
Nhà thơ Phạm Phương
Lan: Xác tín lời ru
Ai cũng biết làm cả một tập thơ tình là rất khó, nếu không tinh, dễ bị lặp trạng huống, mô típ. Khâu tình là một nỗ lực của Phạm Phương Lan, hy vọng những mũi khâu đan của chị cho tấm thảm thơ, cho tấm thảm tình yêu… ngày càng đẹp lên.
Cái tựa sách Khâu tình của Phạm Phương Lan quả khiến
cho người đọc có một chút tò mò.
Tình của nàng ra sao nhỉ, nó “rách” thế nào, và cái sự khâu
tình là lạ, nghe cũng có vẻ đa đoan rồi. Nàng khâu được không đây? Bởi, tình
yêu không phải lúc nào cũng cơm ngon canh ngọt như người ta mơ ước, nhất là với
những người đẹp, lại có cá tính mạnh mẽ?
60 bài thơ trong Khâu tình, chủ yếu là thơ tình; một đôi bài
viết về mẹ, tình mẹ; một vài bài viết về mùa, mùa thu, vận khí của trời đất
trong “thời tiết yêu”, nhiều mơ ước… Và ở đây, Phương Lan sử dụng khá nhiều thơ
ngũ ngôn truyền thống, theo lối “thung thăng” kể dẫn và vần điệu, giàu nữ tính,
nhiều cảnh ngộ, tình huống, buồn vui giằng xé trong những đợi chờ, nhớ nhung,
thất vọng và hy vọng như là thuộc tính của người phụ nữ đa đoan, yêu thương diết
dóng.
Nhưng thực ra, tình yêu ở Khâu tình không đến mức chao chát,
“ngầu” và “phơi tông” như tôi tưởng ban đầu mà nó “da diết lành”, nữ tính và hồn
hậu hơn; như Em & ngày không anh chẳng hạn: “Ngày không anh và
gió/ Nắng hờn đôi môi xinh/ Tóc loà xoà sợi nhỏ/ Vương mắt nào long lanh”. Hờn
một chút xíu thôi, với thi ảnh đẹp “Nắng hờn đôi môi xinh” và sau đó tự bộc bạch
nỗi niềm tâm sự của mình trong bẫng lẫng trống vắng, dễ thương làm sao: “Em tâm
hồn cỏ dại/ Em gót chân phố đông/ Lạc loài như cơn gió/ Giữa ngày hè không anh/
Lạc loài như cỏ dại/ Giữa phồn hoa thị thành”.
Thế mà anh không đến, thế là em lạc loài, dù đã “Hây hẩy tóc em thơm mùi tắm gội/ Nức những ái ân” (Thơm mùi tắm gội). Lại đây, một ngày không anh nữa nhưng là “Ngày mai không anh”, nghĩa là cái chưa đến, cái giả định của tình yêu, Phạm Phương Lan đã biểu lộ cảm xúc và trạng huống hiện tại của tương lai. Lúc ấy nàng thơ đang: “Khát cháy ruột gan/ Bờ môi khô vắng nụ cười vang/ Vắng nụ hôn nồng hương say cuồng dại/ Mái tóc mây sóng xoài thẫn thờ khờ dại”. Trong cảm giác cô đơn, trống rỗng vắng tình: “Em đi về phía ấy hương say/ Khật khưỡng ngày không anh/ Không tình yêu/ Không mây chiều/ Không lời hẹn hò, lả lơi luyến ái/ Không một sợi buồn vắt ngang cơn mưa rồ dại/ Chỉ có áng chiều rơi trên hai vai”. Đi mãi, đi mãi trong cái chiều tương lai lạ lùng, khát vọng và cô hoang ấy, đến nỗi: “Chiều nay/ Bờ môi vỡ rạn/ Hạn hán nỗi buồn, trống rỗng mi cay”.
Đến cả nỗi buồn cũng hạn hán, nhưng không khô héo đến tuyệt vọng,
bởi có niềm tin tự tại và tiếp tục hy vọng: “Máu chảy mềm tim/ Em ở trong mình/
Ngực tràn hơi ấm/ Như lá hoa đón chờ làn sương ẩm”. Cái làn sương ẩm của tâm hồn,
của tính nữ làm dịu đi “hạn hán nỗi buồn”! Chính vì có niềm tin yêu trong tình
yêu, rộng lớn hơn là tin yêu vào tình người, mặc dù tình người trong xã hội
đương đại cũng đang bị thách thức bởi sự vô cảm, bởi cái ác… làm băng hoại đạo
đức xã hội ghê gớm; nhưng người thơ tự “trấn an” mình, tự ru cái sự lận đận, có
màu sắc đa đoan, nhiều nếm trải của mình: “Ru tình nào sợi mây/ Ru đời làn môi ấm/
Ru ta thôi lận đận/ Vùi vào giấc mơ ngày./…/ Mi thèm giấc ngủ say/ Tóc thèm
hương yên ấm/ Ta thèm mùa sâu đậm/ Giọt yêu thương vơi đầy” (Giọt yêu thương
vơi đầy).
Cả đây nữa, dù có nếm trải cay đắng thế nào thì xác tín của lời
ru, tức sự tĩnh tại và niềm tin vào cái tình, cái đẹp… thêm một lần được Phạm
Phương Lan khẳng định rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn, mà vẫn “ngào ngạt” hương vị cuộc
đời: “Ru tình nhé một đời ngào ngạt/ Ru mình nhé dẫu lòng tan tác” (Trầm tích
không lời). Thơ tình Phạm Phương Lan nhiều ru, nhiều say, nhiều mùa bảng lảng,
nhiều thảng thốt của trái tim dịu dàng, ẩn giấu “trầm tích” nữ hơn là sự “dấn
thân” bạo liệt. Nói thế, không phải Phạm Phương Lan thiếu mạnh mẽ, thiếu nhiệt
năng bùng cháy của tình yêu, và đây là một hiển lộ như vậy: “Em muốn là con
sóng/ Vùi giấc ngủ mệt nhoài/ Sau đêm tình bỏng cháy/ Ai cứ cười mặc ai”
(Tình ơi tha thiết).
Ai cũng biết làm cả một tập thơ tình là rất khó, nếu không tinh, dễ bị lặp trạng huống, mô típ. Khâu tình là một nỗ lực của Phạm Phương Lan, hy vọng những mũi khâu đan của chị cho tấm thảm thơ, cho tấm thảm tình yêu… ngày càng đẹp lên.
19/10/2019
Trần Quang Qúy
Nguồn: Lời tựa tập thơ Khâu tình
Theo https://vanhocsaigon.com/
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...





