Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

Chi tiết - Yếu tố quyết định truyện ngắn hay

Chi tiết - Yếu tố quyết định
truyện ngắn hay

Những người làm công tác biên tập ở các tờ báo văn nghệ thường hay nhận được những câu hỏi từ các nhà văn có truyện gửi đến cộng tác là: Truyện có được in không? Nếu không in thì tại sao không in? Nếu trả lời vì không hay thì sẽ hỏi là không hay ở chỗ nào?…
Lần gần đây nhất, có một nhà văn nhơ nhỡ gửi đến một truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh, trong đó có chi tiết là khi người con đang chiến đấu ở chiến trường, thì ở quê hương người bố đẻ của anh ấy đã ngủ với vợ của anh ấy và đẻ ra một đứa con để nối dõi tông đường.
Từ chi tiết đó để dẫn dắt câu chuyện đi dài hơi. Khi đọc xong truyện ngắn, tôi đã đề nghị không in. Truyện ngắn ấy không in đơn giản là vì nó không hay chứ không phải đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị. Nó không hay cũng xuất phát từ chi tiết đinh, chi tiết dẫn dắt để chuyển tải ý tưởng của truyện ngắn.
Thực lòng mà nói rằng, những truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh, đặc biệt là những truyện ngắn xuất hiện thời hậu chiến, các nhà văn đã khai thác quá nhiều đến các chi tiết dạng như người lính anh dũng ở chiến trường nhưng về nhà phải dùng vợ thừa của người khác, mà người khác đó nhiều khi không ai khác đó là cha ruột, anh em ruột, những người bạn thân, ông Chủ nhiệm hợp tác, ông Chủ tịch xã, gã Đội trưởng Đội sản xuất…
Bản thân chi tiết không có lỗi, vấn đề là người viết sau sử dụng chi tiết đó như thế nào trong một truyện ngắn. Và nhiều khi có quá cần thiết để sử dụng hay không khi trước mình đã có nhiều người đã sử dụng?
Để trả lời cho chỉn chu, rốt ráo, tâm phục khẩu phục với những câu hỏi mà các tác giả, nhà văn hay gọi đến hỏi người biên tập với một truyện ngắn cụ thể thì không khó, nhưng nếu để trả lời cho truyện ngắn nói chung thì e rằng phải có cả buổi để ngồi đàm đạo hoặc chí ít cũng phải trả lời qua một bức thư dài. Nhưng cho dù trả lời bằng hình thức nào về câu hỏi: Thế nào là truyện ngắn hay? Thì thực tình là khó lắm thay.
Khó bởi rằng cho đến nay, đã có quá nhiều định nghĩa về truyện ngắn nhưng vẫn chưa thể tìm được sự đồng thuận cao trong giới sáng tác cũng như những người làm công tác nghiên cứu. Người thì quan niệm truyện ngắn chỉ là một lát cắt, cắt ngang thân gỗ nhưng nhìn vào vân, vào thớ gỗ chúng ta biết được cả một đời cây.
Truyện ngắn là: “Một câu chuyện lạ đang xảy ra có thể làm ta kinh ngạc” (Nhà thơ Đức J. Goethe); “Truyện ngắn là một thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi khôn cùng(…). Biến hóa về khuôn khổ: Ba dòng hoặc ba mươi trang. Biến hóa về kiểu loại: tình cảm, trào phúng, kỳ ảo, hướng về biến cố thật hay tưởng tượng, hiện thực hay phóng túng. Biến hóa về nội dung: thay đổi vô cùng vô tận. Muốn có chất liệu để kể, cần một cái gì đó xảy ra dù đó là một thay đổi chút xíu về sự cân bằng.
Về các mối quan hệ. Trong thế giới của truyện ngắn, cái gì cũng thành biến cố. Thậm chí sự thiếu vắng tình tiết diễn biến cũng gây hiệu quả, vì nó làm cho sự chờ đợi bị hẫng hụt” (Nhà văn Pháp D. Grojnowki); “Đặc điểm của truyện ngắn phải ngắn gọn, cô đúc, kiệm lời, dung lượng nhỏ nhưng sức chứa lớn “lõi phải dầy, vỏ phải mỏng”” (nhà văn Việt Nam Nguyễn Khải).
Định nghĩa về truyện ngắn đã khó, định nghĩa thế nào là truyện ngắn hay lại càng khó hơn. Tuy khó đi đến được sự đồng thuận trong việc đánh giá một truyện ngắn hay, nhưng nhìn chung trong các cuộc trò chuyện và trong các bài nghiên cứu đã phát hành trên các phương tiện thông tin đại chúng, ý kiến cho rằng một truyện ngắn muốn được đánh giá là hay thì phải phụ thuộc rất nhiều vào chi tiết hay: “Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn… tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết” (Lí luận văn học – NXB Giáo dục 1997, tr 398).
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, nhà văn Bảo Ninh khẳng định: “Kinh nghiệm đọc cũng cho thấy một truyện ngắn đáng gọi là hay nhất thiết phải có ít nhất một chi tiết hư cấu thần tình mà nếu không có nó thì dẫu cốt truyện có khác lạ cỡ nào cũng chỉ là truyện đọc đấy rồi quên”. Từ nhận định trên ta thấy, để có một truyện ngắn hay, điều không thể thiếu đó là chi tiết hay, trong cái hay tất yếu sẽ có cái mới, bản chất của nghệ thuật là sáng tạo ra những cái mới.
Truyện ngắn hay là truyện ngắn làm cho ta có thể đọc được nhiều lần, khi đọc và đọc xong thì thấy khác về cảm xúc và điều đặc biệt là đọc xong rồi nhưng truyện ngắn đó cứ mãi neo vào trong lòng người đọc. Chính chi tiết hay là những đinh móc để neo tác giả, tác phẩm vào trong lòng người đọc, ngoài chi tiết ra, không còn yếu tố nào trong truyện ngắn làm được điều kỳ diệu đó.
Đã không ít lần khi nhắc đến một tác giả, tác phẩm nào đó nhưng chẳng còn ai nhớ cả, nhưng nếu ta chỉ cần nhắc một chi tiết trong tác phẩm thôi (tất nhiên là chi tiết hay), mọi người sẽ ồ lên là tôi có đọc truyện ấy. Từ một chi tiết hay để nhớ cả tác phẩm hay, từ nhớ tác phẩm đến nhớ tác giả. Chính những chi tiết nhỏ trong tác phẩm đã nuôi sống hay nói một cách khác là làm tác giả sống lại trong lòng bạn đọc.
Nếu ai đã đọc truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao thì chắc chắn rằng không thể quên được trường đoạn Chí Phèo cùng Thị Nở ở vườn chuối, trong trường đoạn đó có chi tiết “bát cháo hành”. Nhiều lần tôi đã thử thay trường đoạn “vườn chuối” bằng một trường đoạn khác và thay cho chi tiết “bát cháo hành” bằng chi tiết Chí Phèo bị đánh thập tử nhất sinh hoặc Chí Phèo nhặt được một cục tiền thật to chẳng hạn. Nhưng đều không thể ổn vì chịu đòn là “nghề của Chí” còn nhặt được nhiều tiền thì Chí lại đi uống rượu nhiều hơn và càng tha hóa hơn mà thôi. Chỉ có tình yêu mới lay gọi được tình yêu.
Với truyện ngắn “Chí Phèo“, sẽ có đôi khi, đôi lúc chúng ta quê các tình tiết, các trường đoạn trong thiên truyện ngắn khá dài này, nhưng chắc chắn một điều rằng ít ai quên được “bát cháo hành thị Nở”. Bát cháo hành đánh thức thiên lương, đánh thức khát vọng làm người trong con quỷ Chí Phèo, để Chí Phèo khao khát được làm người lương thiện.
Ai đọc truyện ngắn “Sang sông” của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp chắc khó quên chi tiết đứa bé con đút tay vào trong chiếc bình cổ và không thể rút tay ra được. Nếu không có chi tiết đó thì chuyến đò hôm ấy cũng giống như hàng vạn chuyến đò đã cần mẫn đưa khách qua sông từ trước đến nay, hoặc có những chi tiết khác xuất hiện thì truyện sẽ đi theo một hướng khác và chuyến đò hôm đó khó lòng chuyển tải được ý đồ nghệ thuật của tác giả.
Một lần nữa tôi lại dở hơi thử ngồi thay chi tiết đó bằng những chi tiết khác thì đều thấy truyện ngắn “Sang sông” gãy đổ hoặc hạ thấp nó xuống một bậc. Tất nhiên là người viết bài này không phải là tài văn Nam Cao hay Nguyễn Huy Thiệp và điều cốt tử là chính chi tiết đinh, chi tiết đặc sắc có một không hai đó đã làm nên truyện ngắn “Chí Phèo” hay “Sang sông”.
Chi tiết “đoàn tàu” trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam cũng thế. Câu nói trở thành chi tiết đinh: “Ăn gì thì ăn chả ăn giầu” trong truyện ngắn “Vợ Nhặt” của Kim Lân… Và chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng những nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Kim Lân, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái… đều là những nhà văn mà trong mỗi tác phẩm của họ đều có những chi tiết đắt, đinh, duy nhất có…
Chi tiết đinh, chi tiết có một không hai đó nó giống như ngọn nến thắp trong chiếc đèn ông sao của trẻ con chơi vào đêm Trung thu. Ngọn nến nếu cháy to quá thì sẽ thiêu cháy mất cái đèn, còn nếu ngọn nến quá bé thì đèn sẽ không được sáng, không được “oách” bằng đèn của chúng bạn, đứa trẻ sẽ mất vui. Bao giờ cũng thế, khi đọc một truyện ngắn hay, người đọc muốn nhà văn cho họ được những giây phút ngẫm nghĩ, đồng sáng tạo cùng nhà văn.
Trong quá trình đọc, đôi khi có những chi tiết được nhà văn cài cắm kín kẽ, đọc lần một chưa phát hiện ra, chưa thấy hay, nhưng đọc đến nhiều lần mới vỡ òa thích thú. Chính vì yếu tố này nên người viết bài này luôn tự nhủ mình khi làm biên tập rằng: mình chỉ mất có mấy tiếng để đọc một truyện ngắn nhưng người viết họ phải mất cả ngày, cả tháng, cả năm thậm chí là cả một đời để viết được một truyện ngắn, chính vì thế để đưa ra đánh giá một truyện ngắn phải hết sức thận trọng, khách quan và công tâm.
Dù chi tiết là yếu tốt có tính quyết định nhưng hoàn toàn không phải là yếu tố duy nhất để làm nên một truyện ngắn hay, chính vì thế nếu nhà văn khi sáng tác chỉ chăm chăm để tìm cho được những chi tiết hay mà quên đi những yếu tố khác về đặc trưng thể loại của truyện ngắn thì e rằng cái đích tìm kiếm một truyện ngắn hay vẫn cách xa nhau như nghệ thuật và sự thực cuộc sống trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu vậy.
28/8/2022
Nguyễn Thế Hùng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Dante với sức mạnh tình yêu trong sáng tạo

Dante với sức mạnh
tình yêu trong sáng tạo

Dante Alighieri là một nhà thơ lỗi lạc người Ý, sinh ra thế kỷ 13. Nhiều thế kỷ đã trôi qua, nhưng thơ ông vẫn được người Ý đọc và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Người ta nghiên cứu về thơ Dante mỗi khi cần học hay nghiên cứu về ngôn ngữ Ý, nước Ý.
Dẫn nhập:
Khi còn là một học sinh trung học cơ sở, có niềm yêu thích văn chương, tôi đã loáng thoáng nghe bố tôi và một số người lớn khác nhắc tới một nhân vật tên Dante. Lúc ấy, tôi cứ tưởng rằng ông là một nhà hiền triết phương Tây nổi tiếng, nên những câu trích dẫn Dante thường được người Việt Nam ưa thích sử dụng hàng ngày. Đây đó trên báo chí cũng có nhắc tới Dante cùng với những danh nhân thế giới khác.
Sau này, khi quan tâm tới văn học thế giới nhiều hơn, thì tôi được biết Dante Alighieri là một nhà thơ lỗi lạc người Ý, sinh ra thế kỷ 13. Nhiều thế kỷ đã trôi qua, nhưng thơ ông vẫn được người Ý đọc và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Người ta nghiên cứu về thơ Dante mỗi khi cần học hay nghiên cứu về ngôn ngữ Ý, nước Ý. Chứng tỏ Dante có vai trò vô cùng quan trọng trong thơ ca, ngôn ngữ, và tinh thần người Ý.
Ở Việt Nam, người đọc biết nhiều nhất tới tác phẩm Thần khúc (Divine Comedy) của Dante. Có một trung tâm văn hóa mang tên Dante tại Hà Nội. Nơi đây, những cuộc trò chuyện, hội thảo về Dante, về văn hóa Ý, văn học Ý diễn ra hàng tháng. Bạn đọc yêu thích thơ Dante cũng có thể tìm thấy sách thơ của ông ở đây, qua bản dịch của các dịch giả Nguyễn Văn Hoàn, Hoàng Nguyên Chương, Khương Hữu Dụng, Lê Trí Viễn, Hồ Thượng Tuy,…
Trước đây, tôi từng đọc đôi câu, hoặc một khúc thơ Dante trong nhưng bài trích dẫn, chứ chưa từng đọc trọn vẹn tác phẩm của Dante. Chỉ cho đến tháng 3.2021 khi tôi được nhà thơ người Ý – chị Laura Garavaglia – chủ tịch ngôi nhà thơ Como (Ý) mời tham gia Dự án “Đọc và tìm hiểu thơ Dante trên toàn cầu”, lúc nhận lời, tôi mới chính thức tìm hiểu và đọc, nghiên cứu thơ Dante. “Thần khúc” đã thực sự khiến tôi choáng ngợp. Khi đắm mình trong tác phẩm vĩ đại này của Dante, tôi có được sự đồng cảm sâu sắc với tâm hồn của một tác giả sống cách nay 700 năm. Dường như trong những ngày đó, Dante luôn bên tôi tại Hà Nội. Tôi đã chọn vị trí trước cửa Đền Ngọc Sơn để ghi hình video đọc thơ Dante bằng tiếng Việt. Tôi cho rằng vị trí này là một điểm tượng trưng của Hà Nội, khi ghi hình, mọi người trên cả thế giới chỉ cần nhìn qua là thấy rõ biểu tượng Hà Nội thân thương của người Việt Nam.
Ngày ghi hình, tôi vô tình chọn mặc chiếc áo dài màu đỏ cam. Khi ghi hình xong, tôi chia sẻ video đọc thơ với một đồng nghiệp – nhà thơ Hungary Sandor Halmosi – người cùng tham gia Dự án “Đọc và tìm hiểu thơ Dante trên toàn cầu” thì anh phát hiện ra màu áo dài tôi mặc trùng với màu áo tiêu biểu mà chính Dante hay mặc. Phát hiện ấy một lần nữa khiến tôi xúc động, dường như Dante đang nhập vào hồn tôi, nên khi đọc thơ ông, phải chăng ông đã ngầm chỉ dẫn để tôi chọn đúng màu áo ông thích. Và trong ngày tôi được Đại sứ quán Ý mời tới dự một buổi tọa đàm nhân kỷ niệm 700 năm ngày mất của Dante, tôi đã dừng lại trước tấm pano chương trình lễ kỷ niệm màu đỏ cam, màu của Dante, và chụp lại một tấm hình của mình ở đó, gửi cho nhà thơ Laura Garavaglia ở Ý. Chị ấy đã rất vui mừng, và đăng bức hình cùng tin tức về lễ kỷ niệm Dante ở Việt Nam lên trang web của Dự án. Sự đồng cảm ấy, chỉ có thể dùng từ “Thiêng liêng”.
Đoạn thơ 3 câu mà tôi chọn đọc trong “Thần khúc” là:
Như đôi chim câu theo tiếng gọi của đam mê,
Sải thẳng cánh hướng về tổ ấm,
Vượt không khí theo niềm hi vọng!
Chỉ ba dòng thơ gói gọn này, mà thể hiện được sức mạnh của gắn kết, mối tình cảm rực rỡ, niềm say mê và mật ngọt hy vọng của tình yêu, sức sáng tạo, đôi cánh bay mạnh mẽ và quyết liệt của thi hứng, dẫn dắt đôi tâm hồn đến với thế giới thánh khiết bao la. Tình yêu đẹp đẽ ấy lay chuyển cả trời đất, khiến vũ trụ sắp xếp lại, khiến không khí trở nên trong veo, gió vờn mềm lá và mặt nước hồ lấp lánh…
Riêng tôi, khi đọc Dante, cảm nhận rõ rệt một tình yêu vĩ đại ông dành cho một người con gái. Tình yêu ấy kỳ lạ tới nỗi, ông không dám tiếp cận với nàng, thậm chí còn chạy trốn nàng. Nhưng ông đã dùng năng lượng vô biên sản sinh từ tình yêu thầm lặng ấy để chuyển hóa thành tác phẩm thơ. Tình yêu ấy là bất diệt, và thơ ông cũng bất diệt. Qua mối tình của ông kết tinh trong thơ, tôi nhận ra rằng, một tình yêu không dẫn tới sự kết đôi, chỉ thông qua sức tưởng tượng, khả năng phóng chiếu của một tâm hồn giàu có, sẽ chính là một tình yêu mãnh liệt nhất, và vĩnh cửu trong thế giới luôn đổi thay và phù du này.
Tình yêu ấy tạo cho Dante sức mạnh không ai địch nổi. Sức mạnh ấy sáng tạo nên thơ. Thơ của ông là cuộc du hành phi tưởng qua không gian và thời gian, để khám phá tận cùng vũ trụ, để đưa con người vào những tầng sống chưa từng ai biết, giúp con người vượt qua nỗi sợ hãi cái chết, bằng một năng lực có sẵn trong con người, đó là tình yêu. Tình yêu của Dante đã vượt qua những giới hạn, khuôn khổ thông thường của đời sống, vượt qua không gian, thời gian, vượt qua cả cái chết. Một thế giới tinh thần phong phú, sự sáng tạo không giới hạn được Dante gói lại trong ngôn ngữ thơ bạo liệt nhất, ngôn ngữ không biết đến nỗi sợ.
Tình yêu dẫn Dante tới một cuộc du hành vĩ đại của tâm tưởng
Dante thực may mắn khi tìm ra nàng thơ của mình khi ông mới lên 9 tuổi. Nàng thơ Beatrice đã đánh thức tình yêu từ rất sớm trong Dante, và khơi nguồn cảm hứng bất tận để Dante dấn thân vào một hành trình thơ kỳ thú, lạ lùng suốt cuộc đời mình. Dante mê đắm nàng thơ Beatrice. Nhưng ông cũng thực tỉnh táo khi chỉ một mực yêu nàng, mà từ chối tiếp cận nàng thực sự trong đời sống. Tình yêu cũng như mọi sự vật hiện tượng khác, không thể thoát khỏi luật đối tính, tính sóng đôi, hay còn gọi là vòng xoáy của tính hai mặt. Vì thế ông cứ để nàng thơ đi lấy chồng, trong khi ông vẫn từ xa ngưỡng vọng, yêu nàng thiết tha. Và ông sử dụng niềm thương nỗi nhớ dày lên mỗi ngày ấy chuyển hóa thành dòng năng lượng mãnh liệt, chảy thành những dòng thơ bất tử, mang lại nguồn sống cho tâm hồn của biết bao người yêu thơ trên khắp thế gian, từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Giả dụ Dante cứ theo thói thường mà tấn công quyết liệt Beatrice, chiếm đoạt nàng thơ bằng được, biến nàng thành vợ của ông, sống trong khuôn khổ vợ chồng muôn thuở, thì tôi tin rằng, chẳng mấy chốc hôn nhân nhàm chán sẽ trở thành ngục tù cho tâm hồn ông, giết chết chính nàng thơ của ông, và chúng ta không thể có được những tuyệt phẩm như “Cuộc đời mới”, hay “Thần khúc” để mà thưởng thức. May mắn làm sao Dante đã không để cho cái bản năng mưu cầu hạnh phúc lứa đôi, tham vọng sở hữu nàng thơ hoàn toàn điều khiển tâm trí mình, chỉ huy hành động của mình. Cái bản năng ấy càng gào thét, càng khát khao, và càng không được thỏa mãn, thì nó càng sinh ra năng lượng trong ông, như một dòng nham thạch, và biến hóa thành dòng thơ tuôn trào.
Tôi từng biết trong đời thực, có những nhà thơ đã không chiến thắng được bản năng ấy, đã tìm mọi cách biến nàng thơ thành người vợ, suốt ngày quẩn quanh bên mình. Và rồi nhanh chóng hình bóng người vợ lấn át khiến hình bóng nàng thơ mờ dần, mờ dần và biến mất. Lẽ tất yếu nhà thơ ấy lại quay lưng với người vợ, bắt đầu hành trình đi tìm nàng thơ mới, trong vô vọng, trong đau khổ gây ra cho chính mình và người vợ của mình. Dante sáng suốt và Dante dùng tâm trí nuôi dưỡng nàng thơ thành bất tử. Sau cái chết trẻ của Beatrice, Dante đã biến nỗi đau, niềm nhớ tiếc thẳm sâu ấy thành cảm hứng để ông viết mãi mãi. Nàng thơ ấy chỉ có một, hoàn hảo, bất tử, và Dante cũng bất tử cùng dòng suốt thơ ông sáng tạo ra.
Thực ra, nàng thơ Beatrice chỉ là bóng hình mà Dante phóng chiếu trong tâm tưởng mình. Ông để cho nàng trở thành một động lực từ xa vẫy gọi ông lên đường, dấn thân vào một cuộc du hành vĩ đại của tâm tưởng, để đạt được mục đích cao cả, một sứ mệnh cuộc đời nhà thơ, nhà triết học, nhà tiên tri, tìm ra phương cách giúp loài người thoát khỏi nỗi sợ cái chết. Nàng là người dẫn đường cho ông trong cuộc du hành kỳ vĩ ấy. Nàng hóa thân thành người đồng hành, người chỉ dẫn, người tạo cảm hứng cho ông, cùng ông khám phá chân lý. Nàng cũng có thể là dấu hiệu ở mỗi chặng đường mà Dante phải nhận ra. Những thông điệp được nàng mã hóa, những hình ảnh, sự việc ẩn dụ đã kích thích trí tưởng tượng phi thường của Dante, khiến ông viết ra những điều mà con người bình thường không thể nào tưởng tượng nổi, không ngôn ngữ đời thường nào diễn đạt nổi.
Beatrice – nàng thơ diệu kỳ đã mở mắt thần cho Dante, khiến ông tự chuyển biến thành người hùng trong cuộc du hành của chính mình, qua các tầng thức tồn tại, qua các chiều không gian. Qua mỗi một đoạn của cuộc du hành, từ Địa ngục, tới Tĩnh ngục, tới Thiên đường, Dante chỉ ra cho chúng ta thấy muôn mặt đời người, từ những kẻ tội lỗi, giấu diếm bộ mặt ác quỷ sau những cái vỏ danh giá, hay mặt nạ người, hoặc những kẻ tham vọng làm thánh nhân, tham thực hành thiện để mưu cầu danh vọng, hoặc những kẻ si mê đốt cháy chính mình vì tình yêu, những kẻ ham dục vọng,… tất cả đều bị vòng xoáy của tính đối ngẫu hành hạ ngày một tàn tệ hơn. Nếu không thức tỉnh, con người sẽ không bao giờ thoát ra khỏi địa ngục không đáy của ham muốn, mưu cầu đời thường. Không thể thoát, bởi con người chính là địa ngục của mình. Cho dù có lên tới cái nơi được gọi là Thiên đàng kia, thì chính họ đã mang theo địa ngục do mình tạo ra từ chính những mưu cầu. Càng đọc thơ Dante, chúng ta càng thấy rằng, mỗi con người, với việc ta làm gì thật ý nghĩa cho cuộc đời của  mình, chính là một người hùng tham gia vào cuộc du hành tìm chân lý và tự do. Và thật may mắn nếu ta có đủ tinh anh và thấu suốt mà nhìn ra nàng thơ của mình và để nàng thơ dẫn dắt, có thể thấy được các dấu hiệu chỉ đường mà đi được tới đích.
Dante không đi theo lối đi chung thường tình đã được vạch kẻ an toàn của thời đại, cho tất cả mọi người, mà ông lắng nghe tiếng gọi đặc biệt, tiếng gọi mơ hồ mà chỉ có những ai để ngỏ đôi tai bên trong cũng như bên ngoài của mình có thể nghe thấy được, để dấn bước vào chuyến phiêu lưu, một mình đi “những chặng đường gian truân khổ ải mà bình thường khó xảy ra, để biết được đêm đen của tâm hồn người, để qua cả khu “rừng tối, giữa hành trình cuộc sống” và những khổ đau dưới địa ngục. Ông tận mắt thấy “Một con suối nhỏ có màu đỏ nay còn khiến tôi rùng mình… đám đàn bà tội lỗi xuống ngâm chung” (Thần khúc – phần Địa ngục). Như vậy đó, với những ai dám nghe và đi theo tiếng gọi bí mật thì đều sẽ được nếm trải những hiểm họa của chuyến đi qua đơn độc, trắc trở. Nhưng rồi Dante sẽ được Beatrice dẫn dắt, qua những cửa ải kinh khủng nhất, như được trợ giúp bởi phép lạ, và ông có thể mang cái sứ mệnh khó khăn, nguy hiểm của mình tới tận đích đến của tâm hồn.
Tác phẩm của Dante, chuyến du hành của Dante chính là một biểu tượng, khuyến khích mỗi người chúng ta, dù ở bất kỳ thời đại nào, trong hoàn cảnh nào, từng nghe thấy tiếng gọi bên trong thì sẽ dũng cảm bắt đầu chuyến du hành của mình, chuyến phiêu lưu cao cả của linh hồn với niềm tin rằng ở đâu đó trên đường đi, ta sẽ gặp được người dẫn đường, như Dante mãi mãi có được nàng Beatrice xiết bao xinh đẹp và quyến rũ, người nâng mỗi bước chân Dante và khiến ông vượt qua mọi khổ ải bằng khúc ca diệu kỳ của tình yêu.
Trong chuyến du hành, Dante phải biết địa ngục, thì mới thấu thiên đường. Cũng như chúng ta phải học từ bóng tối thì mới có thể sống và phát triển trong ánh sáng vậy. Ai trong chúng ta cũng sống và nỗ lực thật nhiều trong ngày hôm nay, nỗ lực tới mức tham lam và quên mất cả tâm hồn mình, chỉ vì kỳ vọng vào một ngày mai tốt hơn, đầy đủ hơn, giàu có hơn, dễ chịu hơn ngày hôm nay. Nhưng một khi ngày mai đến, thì nó lại trở thành hôm nay, và ta lại tiếp tục nỗ lực đến tàn hơi, giống như một kẻ cố gắng lăn một quả bóng lên đỉnh dốc, để rồi khi buông tay thì quả bóng lại lăn tòm xuống vực. Chúng ta dường như không hề cảm nhận thấy sự vô nghĩa này, cho tới ngày nhắm mắt tàn hơi, đối diện với cái chết và mọi kỳ vọng, hy vọng tắt ngấm. Như mọi kẻ khi đứng trước cánh cửa địa ngục, buộc phải bỏ lại tất cả hy vọng. Hy vọng tắt ngấm khi chúng ta đem cái tạm thời đối diện với cái vĩnh cửu. Hay nói cách khác, hy vọng mất đi ở đoạn giữa thời gian và vĩnh cửu. Dante đã đi xuyên qua thời gian và phi thời gian, để phát hiện ra đặc tính tạm thời của cuộc sống loài người, để khám phá ra thời của chính mình, để được tự do.
Tại sao tác phẩm của Dante trường tồn?
Dante đã đi qua chúng ta 700 năm, nhưng những tác phẩm của ông, nhất là “Thần khúc” thì giá trị tinh thần vẫn đang bao trùm tới cả ngày nay và mai sau. Thế giới nay đã đạt được nhiều tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, xã hội, điều kiện sống của chúng ta cũng đã được nâng lên ở tầm cao hơn xưa rất nhiều. Nhưng đó chỉ là cái vỏ vật chất của sự vật, hiện tượng. Còn tinh thần, cái cốt lõi nội tại của con người thì vẫn chẳng thay đổi bao nhiêu. Những niềm vui, nỗi khổ của con người vẫn chỉ xuất phát từ cùng một nguyên nhân như cũ, mà Dante đã chỉ ra trong tác phẩm của ông. Trạng thái tâm linh của thế giới và những tổn thương tâm hồn người thì vẫn như cũ. Thói đạo đức giả, tham quyền lực, háo danh vọng, vơ vét của cải vô độ, những dục vọng sôi sục vô phương cứu chữa. Tham vọng và sự dối trá càng ngày càng đẩy con người vào hố sâu tự hủy. Địa ngục mà Dante mô tả không còn nằm ở một chiều không gian khác, nó đã hiển hiện ngay trong đời sống của con người ngày nay. Những mưu cầu bị đẩy đến quá độ khiến ngôi nhà chung của thế giới bị hủy hoại ngày một nặng nề và sự thảm sát không chỉ đến từ tự nhiên, mà đến từ chính tâm trí hỗn loạn của mỗi người. Khi kẻ địch đã ở trong tim của mỗi con người thì không cách gì loại bỏ.
Sự khác biệt giữa thời của Dante (thế kỷ 14) và thời chúng ta đang sống (thế kỷ 21) có lẽ ở việc: Dante phải nhờ sự chỉ dẫn của Beatrice để tham gia vào cuộc du hành xuyên thời không, mà tận mắt chứng kiến địa ngục, thiên đường; còn chúng ta hiện nay, thì đang sống trong chính địa ngục mà chẳng cần đi đến cái chết ở một thời điểm nhất định nào đó. Địa ngục chính là cơ nghiệp của ta hiện nay, ở đây. Hiệu ứng nhà kính, băng tan, trái đất nóng lên, đại dịch, chiến tranh, bạo lực, khủng bố gia tăng ở mọi ngõ ngách, trong cả chiếc giường của chúng ta ngủ mỗi đêm. Chúng ta cứ ra rả rêu rao rằng ta chống chiến tranh, bài trừ khủng bố, chống ô nhiễm môi trường,… nhưng chính ta đã bỏ phiếu bầu cho những kẻ tạo ra chiến tranh, ta hàng ngày khủng bố lẫn nhau bằng những lời lẽ thù địch, ác ý, chúng ta vẫn tiêu dùng những sản phẩm mà quá trình sản xuất ra nó gây ô nhiễm môi trường,… Dường như chúng ta đã tiếp cận mọi vấn đề của cuộc sống một cách sai trái nên đã làm cho chúng ngày một thêm căng thẳng và dẫn tới bùng nổ. Chúng ta đang làm tất cả để có cho nhiều hơn: nhiều tiền hơn, nhiều danh vọng hơn, hiểu biết hơn, được vì nể nhiều hơn, được yêu nhiều hơn,… và để mình bị cuốn vào vòng xoáy hủy diệt của địa ngục trần gian, khi linh hồn ngày một bóp nghẹt, teo tóp, hành hạ, đau đớn khôn cùng. Một cách hình ảnh hơn, đó là chúng ta đang mải mê nạp vào tài khoản ngân hàng của mình ngày một nhiều hơn, nhưng tài khoản tinh thần thì trống rỗng.
Vậy thì điều gì còn có chút khả năng cứu rỗi chúng ta? Như Dante đã chỉ ra, chỉ có tình yêu thánh khiết như tình yêu mà ông dành cho nàng Beatrice, mới có thể truyền năng lượng đủ để linh hồn Dante vượt qua mọi cửa ải địa ngục và tới được thiên đường. Cần có một nàng thơ dẫn dắt, một nàng thơ đẹp đẽ, thanh cao, tuyệt mỹ, truyền cảm hứng để giải thoát ta khỏi ngục tù của mọi mưu cầu tầm thường, cho ta đủ sức mạnh giúp ta dấn thân đi tìm chân lý cho loài người. Nhưng tình yêu như thế, trong thế giới này còn được bao nhiêu? Chúng ta hãy tự hỏi chính mình, ta đã bao giờ yêu thực sự? Tình yêu cao cả, tình yêu thánh thiện, cảm giác yêu thiêng liêng tinh khiết vời vợi đó đã bao giờ hạ cố chạm đến ta? Và liệu khi tình yêu tối thượng đó chạm đến ta, ta có để thói tham thường tình hạ đẳng khiến nó bị vấy bẩn, và lập tức tan biến vào thinh không? Chỉ có tình yêu như thế mới bảo toàn được linh hồn, mới thanh lọc được thế giới và giải phóng được con người khỏi địa ngục trần gian.
Chính Dante đã chỉ ra rằng, khi tình yêu quá lớn, thì ông chính là người đó, là Beatrice. Linh hồn ông và Beatrice hòa nhập làm một. Khi được tình yêu truyền cảm hứng, Dante cầm bút và viết ra ào ạt, những gì mà Beatrice “khắc ghi” trong trái tim ông. Thơ ông sẽ tiếp tục còn tồn tại khi nào còn nhân loại trên trái đất này. Từ tình yêu cuồng nhiệt nhưng trong sạch bậc nhất, Dante đã sáng tạo nên tác phẩm vĩ đại, và sáng tạo nên cả ngôn ngữ Ý. Không chỉ cải cách ngôn ngữ, thơ ca, nghệ thuật, Dante cải cách cả đời sống xã hội thông qua hành trình thay đổi, nuôi dưỡng tâm hồn. Dường như những cảnh báo của Dante về hậu quả của bạo lực, tội ác gây nên từ lối sống con người, suốt 700 năm qua vẫn nguyên giá trị.
Dante với tác phẩm của mình, cho chúng ta một niềm tin rằng, hơn tất cả mọi điều, nhà thơ và thơ ca sẽ giúp chúng ta mở ra một cánh cửa, vào lúc thế giới hỗn loạn vì chiến tranh, tội ác, hay đại dịch, để tìm ra một lối thoát, không phải là cố gắng bất khả thay đổi thế giới, mà thay đổi chính mình, chiến thắng sự đen tối bên trong, trục xuất mê tín và tội ác khỏi trái tim con người.
Và tôi luôn cảm ơn Dante – nhà thơ – nhà tiên tri đã đi qua địa ngục và tới thiên đường – bởi ông khiến tôi biết tự đặt câu hỏi “Nếu bỏ lại tất cả hy vọng, thì tôi còn lại gì?” Câu hỏi ấy khiến tôi thức tỉnh, và luôn tỉnh táo với chính mình trước mọi hạnh phúc hay khổ đau diễn ra hàng ngày. Dante chính là sự tượng trưng cho nhắc nhở thường xuyên loài người về tầm quan trọng của thơ, về cách mà tâm hồn nhạy cảm, thậm chí mong manh của nhà thơ, lại có thể mạnh mẽ đến nhường nào trong việc dẫn dắt loài người vượt qua đau khổ. Nhờ đôi cánh thơ ca, mà tâm hồn người có thể đi tới tận sâu những nơi không gì có thể, bay cao tới tận nơi không gì có thể.
Và vì thế, đến bây giờ, chúng ta biết Dante đã có được một cuộc sống vĩnh cửu.
29/8/2022
Kiều Bích Hậu
Theo https://vanhocsaigon.com/

Cho em giọt nắng thần tiên

Cho em giọt nắng thần tiên

Tôi từng đọc những bài thơ của nhà thơ, TS Lê Văn Ri, bút danh Lê Nguyên Khôi, hiện là Giám đốc Trung tâm Thanh thiếu niên miền Trung thuộc Trung ương Đoàn. Sự đồng cảm của tôi với thơ anh bởi giọng thơ hồn hậu, thấm đẫm chất quê kiểng, tình mẫu tử thiêng liêng, những tình yêu lứa đôi đa tầng cung bậc mà anh gởi gắm về phía vô cùng.
Nơi ấy là ký ức về khoảng trời tuổi thơ một đi không trở lại, nơi ấy không biết tự bao giờ con sông Vu Gia quê anh đã biết châm nguồn ra biển lớn. Nơi ấy là hình bóng người mẹ hiền yêu dấu tảo tần một nắng hai sương để đi qua những năm tháng đất nước hết khói lửa chiến tranh lại cơ cực gánh gồng nghèo khó qua hai tập thơ “Gió qua triền cát” và “Phía xa xăm”.
Với thơ Lê Nguyên Khôi viết cho thiếu nhi tôi đã có dịp đọc trên các trang báo, tạp chí và đến hôm nay tôi may mắn được đọc bản thảo tập thơ “Tuổi thơ màu giấy kính”, tác phẩm tâm huyết mà anh viết dành tặng tuổi thơ. Ngay cái tên tập thơ cũng phần nào thể hiện sự lóng lánh của lứa tuổi thần tiên. Lứa tuổi vô tư nhất, hồn nhiên nhất, trong sáng nhất trong cuộc đời của mỗi chúng ta.
Viết cho thiếu nhi chưa bao giờ dễ dàng và đang là vấn đề quan tâm lớn của Hội Nhà văn Việt Nam trong thực hiện chiến lược văn học cho thiếu nhi để kêu gọi các nhà văn hãy viết những tác phẩm đẹp nhất, nhân văn nhất cho trẻ em. Theo nhà văn Nguyễn Quang Thiều: “Tất cả những người có lương tâm và vì con người đều có thể trở thành nhà tiên tri của dân tộc mình, bởi qua tâm hồn những đứa trẻ hôm nay, họ có thể nhìn thấy số phận của dân tộc họ ngày mai. Họ hiểu rằng: chỉ có thể làm cho tương lai tốt đẹp khi thấu hiểu hiện tại và chuẩn bị cho tương lai của dân tộc mình bằng cách chuẩn bị cho hiện tại với một trách nhiệm cao cả nhất và nhân văn nhất”. Có lẽ thấu hiểu điều đó và với trải nghiệm gần 30 năm làm công tác thanh thiếu niên, nhà thơ Lê Nguyên Khôi luôn dành cho trẻ thơ tình yêu thương, sự đồng điệu với tâm hồn các em để bật lên những tiếng thơ hồn nhiên, trong trẻ, giàu thi ảnh và lung linh sắc màu. Đó còn là ngôn ngữ, cách diễn đạt như thế nào về cả bầu trời tuổi thơ mà các em gắn bó…
“Em yêu tiếng cười của mẹ
Âm vang giọng nói của cha
Tết vui cả nhà sum họp
Giao thừa pháo sáng đường hoa…”
(Em yêu)
Hình ảnh trong các bài thơ mà nhà thơ viết cho các em bao giờ cũng gần gủi, thân thuộc có thể tìm thấy ở bất cứ làng quê nào đó của Việt Nam. Đó là dòng sông quê nội có cánh diều no gió trên đồng, đó là lời giảng bài của cô vang lên bên sân trường yên ả, có bóng cây vòm lá che nghiêng… Ở đó là tuổi thơ của các em và tôi biết đó cũng là ký ức ngày thơ của tác giả. Song cũng trong bức tranh chung ấy ta vẫn tìm được nét riêng của một vùng quê xứ Quảng từ ánh sáng chỉ một ngọn đèn hay từ một niêu cá bống được bắt lên từ dòng Vu Gia.
“Em yêu dòng sông quê nội
Sóng xô mát dịu trưa hè
Đêm đêm ngọn đèn be bé
Vàng thơm cá bống mẹ kho”
(Em yêu)
Với quê hương tuổi thơ ai chẳng từng thích thú trò tắm mưa, “mùa lụt nước lũ bắt cá giữa đường”, nhưng cũng với “tắm mưa”, nhà thơ đã cho các em tìm lại cảm giác tha hồ thỏa thích nhảy nhót theo bước chân vui đùa cùng những giọt nước mát. Mưa phải chăng đã trở thành người bạn với trẻ thơ để dạo chơi khắp phố phường rồi bất chợt phút giây trong chiều hè…tan biến như là trò chơi trốn tìm vậy.
“… Mưa nhảy nhót say sưa
Xoa lưng trần thật thích
Tiếng cười vui rúc rích
Tan biến cả chiều hè…”
Chiều hè thì tan biến nhưng tiếng mưa lại đọng vào đâu đó giữa muôn vàn cảnh vật của mùa tuổi thơ. Ở đó không hề có sự lo toan, phiền muộn mà chỉ có ước vọng, chơt lóe lên, nhòa đi như mơ như thực. Đó chính là tâm lý lứa tuổi về những điều bất chợt. Và rồi cơn mưa tuổi thơ cũng đã mở ra bao điều mới mẻ. Chỉ một chữ “nhòa” thôi, (không phải nhòe) hình ảnh thơ đã biến tấu một cách lấp lánh như câu chuyện về chiếc hộp cổ tích, đang ẩn chứa những điều bí ẩn trong tiếng mưa rơi.
“…Mưa rơi trên vòm me
Chú ve sầu sũng nước
Mưa gieo bao điều ước
Mắt em nhòa tiếng mưa”
Viết cho thiếu nhi không chỉ là sự thấu hiểu, đồng điệu với tâm hồn trẻ thơ mà thiên sứ của nhà thơ còn hướng đến giúp thiếu nhi có những cảm nhận về cái đẹp của cuộc sống, thiên nhiên, góp phần giáo dục hình thành nhân cách, mở lối bằng sự dìu dắt của tứ thơ, ngôn từ cho cách tri nhận, cảm quan của các em. Đọc “Tuổi thơ màu giấy kính” chúng ta bắt gặp nhiều bài thơ như vậy: “Đám mây và cô giáo”, “Cảm ơn cô giáo”, “Mùa Đông của em”, “Mặt trời của em”…đã mở lối, giúp các em cảm nhận những giá trị nhân văn trong cuộc sống. Đó là tri nhận lòng yêu thương đối với gia đình, thầy cô giáo, đưa các em đến với sự cảm nhận một cách chân thành, nồng ấm tình cảm gửi trao trong mối quan hệ tình thân “cô giáo như mẹ hiền”, “mẹ của em ở trường là cô giáo mến yêu”. “Cảm ơn cô giáo/ Lời ru ngọt ngào/Nắng mai thức dậy/Tung tăng gọi chào/ Em đi đến lớp/Sân trường lao xao/Mai sau em lớn/Ấm nồng tình cô.”(Cảm ơn cô giáo) hay một tri nhận khác giàu thi ảnh: “Thầy, cô như bóng tỏa/Lặng thầm theo tháng năm/Xanh màu trang giáo án/Cho em bước vào đời”(Tuổi hồn nhiên). Đối với tuổi thơ thì tình cảm gia đình, tình yêu thương của ba, mẹ bao giờ cũng thiêng liêng nhất. Nhà thơ đã có sự liên tưởng và quan sát tinh tế để biểu đạt tình cảm gia đình trong mắt trẻ thơ: “…Thẳm sâu nơi mắt biển/Lời sóng ru dạt dào/Sóng ba cùng sóng mẹ/Vỗ tháng ngày bình yên” (Biển).
Tuổi thơ bao giờ cũng mong được che chở, yêu thương trong vòng tay của gia đình. Nhà thơ đã có sự cảm nhận về sự xáo trộn trong đời sống gia đình thời kỳ công nghệ số đang làm cho thời gian và không gian cuộc sống nhiều gia đình bị chi phối, đứt gãy mang đến cho không ít thiếu nhi cảm giác bâng khuâng, lo lắng:
“…Sao mọi người ít nói/Chỉ vui chuyện của mình/Ôm điện thoại thông minh/Để làm gì hả bố?” (Bố ơi sao lạ thế). Ngay cả trong giấc mơ của mình các em cũng chỉ mong cuộc sống gia đình được êm ấm, vui vẻ:
“..Giấc mơ rất đẹp
Đơn giản thôi mà
Bé mong cả nhà
Chan hòa vui vẻ
(Giấc mơ của bé)
Ai trong mỗi chúng ta khi làm bố mẹ mà không đồng cảm, xúc động với những dòng thơ đầy tự sự:“Bố đi công tác/Ở tận miền xa/Mấy hôm xa nhà/Mà sao lâu thế/Con mong bố về/Căn nhà trống vắng/Đêm về im lặng/Mình con học bài/Cứ mỗi sáng mai/Con mong bố gọi/Mẹ thì ít nói /Trông thật là buồn/Đêm qua mưa tuôn/Càng buồn hơn nữa/Mẹ luôn tựa cửa/Mau về bố ơi!” (Khi bố vắng nhà)
Thế giới thiên nhiên, động vật luôn hiện lên trong suy nghĩ trẻ thơ thật màu nhiệm, lý thú, thôi thúc các em tìm tòi khám phá. Trong “Tuổi thơ màu giấy kính” chúng ta bắt gặp nhiều bài thơ về thiên nhiên, thế giới con vật yêu thích hàng ngày của thiếu nhi. Đó là hình ảnh rất thân thuộc gần gủi với trẻ thơ như “Cây Bàng” trước ngõ “Chú lợn nhà em”, “Thăm nhà chú khỉ”, “Mèo cưng”, “Du xuân”, “Mùa thu của em”. Nghe đúng là quen thật nhưng quen mà vẫn cứ lạ. Lạ ở đây cách suy nghĩ, cảm nhận của trẻ thơ đầy những cảm xúc riêng tư. Những vầng thơ đã thật sự tạo được niềm thích thú cho trẻ khi đọc, nhất là những câu thơ hồn nhiên:“Chẳng thích nằm nôi/Hay cần quạt mát/Khi nào đói khát/Mẹ luôn vỗ về”(Chú lợn nhà em) .
Với chú “Mèo con” thì sao. Thật không thể đáng yêu hơn. Bởi đây không chỉ là con vật ngoài đời mà hình ảnh “chú mèo mà trèo cây cau” còn ở đâu đó rất quen.
“Suốt ngày leo nhảy
Trông thật là hiền
Lắm lúc ưu phiền
Mèo vờn lũ chuột
Họ hàng thân thuộc
Mèo chẳng thích chơi
Quấn quýt rạng ngời
Trong vòng tay bé…”.
Còn chú khỉ thì sao. Chúng ta sẽ có dịp thăm nhà chú khỉ, cảm nhận sự ngộ nghĩnh khi được nhận diện qua những câu thơ tả thực nhưng giàu chất suy tưởng thú vị:
“.. Hả hê khỉ nhảy tít mù
Mắt xoay lấc láo đánh đu mấy vòng
Chẳng khi nào khỉ thong dong
Gãi đầu suy ngẫm chờ mong được quà”
(Thăm nhà chú khỉ).
Chính tình yêu thương, sự đồng cảm mà tác giả đã bật rung cảm xúc, day dứt trước những em thiếu nhi không may mắn, thiếu vòng tay yêu thương của gia đình, phải tự
mình vất vả mưu sinh: “Những góc phố thân quen, những phận người may rủi/Em cứ đi lầm lũi chân trần/Cầm trên tay những con số xoay vần/Những tấm vé mỏng manh nuôi những phận đời lay lắt/Gieo khát vọng cho đời, ai đổi vận cho em?” (Em gieo phận đời may rủi trên tay). Nhà thơ dành sự thấu cảm, chia sẻ với các em khi tuổi thơ bị đánh mất bởi đại dịch Covid-19, nhà thơ đã xúc cảm nghe quanh mình đến giọt nắng cũng bơ vơ:
“Trống trường lặng im ngày xuân sắc biếc
Ký ức tuổi thơ đứt gãy nắng sân trường
Rộn rã tiếng ve, ngỡ ngàng cánh phượng
Lỗi hẹn hè, dằng dịt mùa thi”
Ai hát đồng dao lạc lõng trời chiều
(Gọi hè gọt nắng bơ vơ)
Hay
“…Mùa xuân vắng tiếng trống trường
Ve chưa gọi bạn nắng vương nỗi niềm
Lỗi mùa trống giục triền miên
Trưa hè cháy bỏng trôi miền trẻ thơ…”
(Lỗi hẹn mùa thi)
Hình ảnh nắng sân trường đứt gãy và miền tuổi thơ bị trôi đi cứ ám ảnh, khắc khoải như chính những gì đã diễn ra trong thực tại. Câu thơ cũng như vừa bị đứt gãy, vỡ òa, bật khóc. Mong thay những ngày tháng đó sẽ trôi qua thật nhanh để “Tuổi thơ màu giấy kính” mãi là tuổi thơ hồn nhiên đẹp đẽ nhất.
“Tuổi thơ màu giấy kính
Xanh, đỏ, vàng, trắng xinh
Mắt em màu cổ tích
Nhìn bầu trời lung linh…”
(Tuổi thơ màu giấy kính)
Thế giới tuổi thơ trong “Tuổi thơ màu giấy kính” không bàng bạc, vô vị mà đầy sắc màu, thi ảnh: “Em nắm tay mùa xuân/ Đi qua nhiều ô cửa/ Phố nghiêng màu sấp ngửa/ Khoe sắc vàng hoa mai” (Du xuân); không chỉ ầm ào, rộn rã mà tinh tế, lắng sâu: “Em bé nhỏ xuyên màu hoa nắng/ Điệp khúc mưa gảy khúc trên cành/ Gió miên man ru khung trời vắng/ Tiếng rao chiều hun hút vòng quanh” (Chạm vào xuân).
Với cách viết giàu cảm xúc chân thật, gần gũi với tâm hồn trẻ thơ, sự quan sát tinh tế, thấu cảm tâm lý lứa tuổi, bút pháp đa dạng, nhà thơ không chỉ thành công trong việc biểu đạt tâm hồn trẻ thơ, vẽ nên bầu trời đầy sắc màu, hồn nhiên trong trẻo của tuổi thơ, mà còn giúp các em phần nào nhận diện được thế giới xung quanh, cùng những nét chấm phá non trẻ trong hành trình đi đến tương lai của các em. Chính vì vậy, cho tôi gọi những lời thơ trong tập thơ “Tuổi thơ màu giấy kính” là những giọt nắng thần tiên mà nhà thơ Lê Nguyên Khôi đã dành tặng riêng cho các em thiếu nhi. Mạo muội xin có đôi lời cảm nhận về tập thơ của anh.
31/8/2022
Võ Văn Trường
Theo https://vanhocsaigon.com/

Triết lý yêu trong thơ tình Xuân Diệu

Triết lý yêu trong
thơ tình Xuân Diệu

Với Xuân Diệu, tình yêu được coi như một giá trị sống đích thực, tình yêu đáng được tôn thờ như một thứ “tôn giáo” và thi sĩ đã tin vào tình yêu với một niềm tin thiêng liêng nhất…
Nhà thơ Xuân Diệu đã có một định nghĩa rất thú vị và độc đáo về thơ và tình yêu: “Tình yêu và thơ là hai phạm trù mà trong đó cái tuyệt vời thông minh kết hợp với cái tuyệt diệu ngây thơ, là hương đặc biệt của một số tâm hồn thi sĩ và tình nhân”(1). Trong sự nghiệp cầm bút của mình, với hơn 450 bài thơ tình để lại, Xuân Diệu đã minh chứng một điều: Tình yêu không thể thiếu thơ và thơ không thể thiếu tình yêu. Với Xuân Diệu, tình yêu được coi như một giá trị sống đích thực, tình yêu đáng được tôn thờ như một thứ “tôn giáo” và thi sĩ đã tin vào tình yêu với một niềm tin thiêng liêng nhất… “Thiêng liêng quá những chiều không dám nói…Ôi vô cùng trong một phút nhìn nhau” (Xuân đầu). Chính niềm tin vào tình yêu với tất cả sự “ngoan đạo” của một “con chiên” có trái tim yêu đến cuồng si, nồng nàn là cội nguồn khiến thơ tình Xuân Diệu mang đậm sắc màu triết lý đặc biệt: Triết lý yêu. Và Triết lý yêu là một trong những giá trị nhân văn độc đáo, sâu sắc nhất của thơ tình Xuân Diệu.
Xưa nay tình yêu nam nữ vốn luôn hiện hữu với rất nhiều cung bậc: Lãng mạn, mơ mộng, thiêng liêng, cao thượng, phàm tục, nhục thể, bi đát, đắm đuối, si mê, lỗi lầm… như một nhận thức tất yếu về đời sống, thơ Xuân Diệu cũng cắt nghĩa về tình yêu trên nhiều phương diện. Trước hết, đối với thi sĩ, yêu là nguồn sống: Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ, không thương một kẻ nào? (Bài ca tuổi nhỏ).
Quả thật, cuộc sống đúng như thi sĩ quan niệm: “Đời không ân ái đời vô vị/ Kiếp sống không yêu kiếp sống thừa”. Cuộc sống thiếu tình yêu không phải là sống mà chỉ là sự tồn tại đơn điệu, vô nghĩa, nhạt nhẽo. Không thể sống thiếu tình yêu vì con người sinh ra vốn là để sống và yêu nói như Gớt: “chúng ta sinh ra trong tình yêu, lớn lên trong tình yêu và chết đi trong tình yêu”. Tình yêu cho con người được trải nghiệm những cảm xúc Người nhất: buồn, vui, thương, nhớ, đau khổ và hạnh phúc… Cuộc sống thiếu tình yêu như mặt trời không có nắng, tình yêu tiếp thêm sinh lực cho con người, tình yêu là nơi vực dậy tinh thần cho con người trên hành trình cuộc sống đầy thử thách. Trong cái nhìn của người đang yêu vạn vật ánh lên những sắc màu tươi vui, ánh sáng tràn ngập khắp cõi thế gian… Tình yêu khiến con người trở nên cao thượng và nhân hậu, bao dung hơn. “Được yêu, một sự kiện quan trọng biết bao! Yêu, càng trọng đại hơn nữa! Vì yêu, trái tim trở nên can đảm. Nó chỉ còn toàn những gì thuần khiết, chỉ dựa vào những gì cao thượng và lớn lao” (Victor Hugo).
Hơn ai hết Xuân Diệu thấu hiểu sâu sắc tình yêu cần thiết cho cuộc sống con người đến nhường nào, con người chỉ có thể sống có ý nghĩa trong sự gắn bó với tình yêu. Và có lẽ thế nên suốt cuộc đời mình, thi sĩ đã luôn trong tâm thế đi tìm những cung bậc cảm xúc tình yêu, và thơ là nơi ông gửi gắm bao cung bậc của con tim luôn tha thiết yêu đương đến si mê, cuồng nhiệt. Con người ấy đã nhận kiếp trước ông đã yêu và kiếp này vẫn tiếp tục yêu, ngọn lửa tình yêu dường như bất tận trong ông: Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi/ Lúc chưa sinh vơ vẩn giữa luân hồi/ Tôi sẽ yêu khi đã hết tuổi rồi/ Không xương xóc chỉ huyền hồ bóng dáng. (Đa tình)
Những người đã yêu, đang yêu và sẽ yêu mãi mãi không bao giờ trả lời được trọn vẹn câu hỏi: tình yêu bắt đầu từ đâu? Và Xuân Diệu cũng vậy, với một khát vọng truy tìm câu trả lời cho câu hỏi muôn thuở của nhân loại: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu? Thi sĩ đã đưa ra cách lý giải tưởng như rất vu vơ, hồn nhiên ngây thơ nhưng lại đúng với quy luật tình cảm, tâm lý của con người: Có khó gì đâu, một buổi chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu (Vì sao)… Yêu giản dị chỉ là như vậy, yêu như hít thở khí trời để sống, có duyên thì tình yêu tự đến, tình yêu nằm ngoài những toan tính, sắp đặt… đối với Xuân Diệu khởi đầu cho một tình yêu đích thực là tiếng tơ lòng rung động chân thành, đánh thức miền yêu nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người. Trong thơ của ông người đọc có thể thấy rõ sự phát hiện tinh tế diễn biến tâm lý của tâm hồn mới chớm yêu thương, và ông cho rằng khi yêu tâm hồn trở nên dễ xúc động, tinh tế, lãng mạn đến vô cùng: Bâng khuâng chân tiếc dậm lên vàng/ Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang/ Ngơ ngác hoa duyên còn núp lá/ Và làm sai nhỡ nhịp trăng đang. (TrăngKhí trời quanh tôi làm bằng tơ/ Khí trời quanh tôi làm bằng thơ (Nhị hồ)
Thi sĩ nâng niu những cảm xúc tình yêu vừa hé nở như nâng niu những gì quý giá nhất nhưng mong manh, dễ vỡ, dễ tan. Thái độ sống tích cực ấy của Xuân Diệu cho thấy ông không chỉ rất có ý thức gìn giữ tình yêu mà còn tôn thờ tình yêu như một chân giá trị, một khát vọng mà cuộc đời hướng tới. Ông trân quý tình yêu như trân quý cuộc sống của chính mình, và tình yêu đẹp bao giờ cũng là mục đích để con người dấn thân và hy sinh mà không hề nuối tiếc. Cho nên thi sĩ ví tình yêu như “viên ngọc thiêng liêng” và ông trân trọng tất cả những gì liên quan đến tình yêu và liên quan đến người mình yêu: đôi bàn tay, đôi mắt, làn môi hé nở, thân hình người yêu, và đến cả “dấu nằm”, cái nhìn, giọng nói … Đọc thơ Xuân Diệu chúng ta có cảm giác xúc cảm yêu như một dòng chảy khôn nguôi ám ảnh trong tâm thức thi sĩ. Trong sự luận giải đa dạng, phong phú của Xuân Diệu về tình yêu chúng ta có thể hiểu: Tình yêu có sức mạnh giúp con người sống vượt lên giới hạn của chính mình, giúp con người dám sống và được sống là chính mình…
Vì quan niệm yêu là nguồn sống nên hầu hết các bài thơ tình của Xuân Diệu như Hôn cái nhìn, Biển, Bóng đêm biếc, Bài thơ tuổi nhỏ, Vì sao, Yêu… đều cho thấy những cảm xúc trong ông luôn được đẩy đến tận cùng. Thi sĩ yêu cuộc sống đến cuống quýt “muốn ôm, muốn riết, muốn say…” (Vội vàng), và bởi thế nên ông như đắm chìm trong cõi yêu đương nồng nàn, cháy bỏng. Chính thi sĩ đã thừa nhận: Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá/ Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì (Vì sao?). Ở đây, có thể coi sự “khờ khạo, ngu ngơ” của thi sĩ như một giá trị, một lối ứng xử văn hóa trong tình yêu. Nó chính là biểu hiện của những gì thanh khiết, chân thành, trong sáng, vô tư, phi vụ lợi của tình yêu đích thực. Sự thừa nhận “chỉ biết yêu thôi” đồng thời cũng cho chúng ta thấy một minh triết yêu trong thơ tình Xuân Diệu: Yêu chính là phải biết sống hết mình cho người mình yêu, yêu là sự dấn thân và tận hiến vì nhau và cho nhau.
Quan niệm “tận hiến” trong tình yêu được thể hiện trong thơ Xuân Diệu rất rõ ràng, không chung chung, trừu tượng. Đó là sự tận hiến cả về tinh thần và thể xác. Khát vọng hướng tới hòa hợp về tinh thần của những trái tim yêu được thể hiện qua rất nhiều bài thơ “để đời” của Xuân Diệu: Xa cách, Thân em, Biển, Bài thơ tuổi nhỏ, Cảm xúc, Thanh niên, Vô biên, Dâng, Phải nói
Trong thi ca nhân loại đã có rất nhiều thi sĩ thừa nhận quy luật tình yêu như một chân lý bất biến: Yêu là khát khao mong muốn phát hiện vẻ đẹp trong sáng tiềm ẩn trong tâm hồn người mình yêu. Dường như những trái tim đang yêu không bao giờ thỏa mãn khát vọng kiếm tìm những “hạt ngọc” ẩn giấu trong tâm hồn người yêu và luôn muốn đi đến tận cùng sự khám phá, thấu hiểu những điều bí ẩn trong tâm hồn người yêu. Tâm hồn mỗi người luôn là thế giới đầy bí ẩn, là niềm say mê, cuốn hút khám phá đến vô cùng. Nhà thơ Ấn Độ R.Tagor từng viết:
Đôi mắt băn khoăn của em buồn
Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh
Như trăng kia muốn vào sâu biển cả… (Thơ tình số 28)
Xuân Diệu cũng cho chúng ta thấy một khát vọng về yêu như vậy:
Anh thèm muốn vô biên và tuyệt đích/ Em biết không? Anh tìm kiếm em hoài…Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ/ Phải nói yêu, trăm bận đến ngàn lần (Phải nói);
Em là em, anh vẫn cứ là anh/ Có thể nào qua Vạn lí trường thành/ Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật (…) Ôi mắt người yêu, ôi vực thẳm!/ Ôi trời xa vừng trán của người yêu/ Ta thấy gì đâu sau sắc yêu kiều (Xa cách).
Gần gũi là thế mà sao vẫn cách xa là vậy… cho nên suốt một đời những trái tim biết yêu luôn luôn trong tâm thế hành trình kiếm tìm những giá trị chân thực của tình yêu, và càng kiếm tìm càng như chẳng hiểu gì về thế giới tâm hồn con người vốn vô cùng phong phú và phức tạp, quả đúng là “cuộc đời anh ở bên em như chính đời em vậy/ nhưng chẳng bao giờ em hiểu được nó đâu” (R.Tagor).
Đọc Xuân Diệu chúng ta thấy Nhà thơ thật tinh tế khi phát hiện quy luật chi phối thế giới tinh thần vô cùng phong phú, phức tạp của con người: Yêu là hạnh phúc vô biên và yêu cũng là đau khổ tột cùng. Trong sự luận giải của thi sĩ, yêu là hạnh phúc bởi tình yêu mang lại cho con người cảm xúc khác lạ, vừa dịu dàng, êm ái như sống trong cõi thần tiên: Lòng anh rạo rực không duyên cớ/ Khi nắng chiều tơ giỡn với cành (Có những bài thơ), Chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc/ Như thuyền ngư phủ lạc trong sương (Vì sao?), Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ/ Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ (Trăng); Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên…con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu/ Lả lả cành hoang nắng trở chiều/ Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn/ Lần đầu rung động nỗi thương yêu (Thơ duyên)… vừa mạnh mẽ, xôn xao, dữ dội: Giơ tay muôn ôm cả Trái đất/ Ghì trước trái tim, ghì trước ngực…Hãy đốt đời ta trăm thứ lửa/ Cho bừng tia mắt đọ tia sao (Bài ca tuổi nhỏ) và trên hết là hạnh phúc được là chính mình để “hồn giăng rộng khắp không gian” được “ngơ ngẩn”, “nhung nhớ”, “bâng khuâng” (Dâng), được “bỡ ngỡ”, “xôn xao”, “rợn rợn”, “hồi hộp”… (Xuân không mùa).
Yêu cũng là lĩnh vực tình cảm nhiều khi khiến con người đau khổ tột cùng bởi không phải lúc nào mọi sự cũng đều chiều theo ý muốn của con người. Khát vọng tình yêu là vô biên, tuyệt đích, nhưng hành trình hướng đến khát vọng ấy lại luôn gặp phải rất nhiều giới hạn, rào cản. Xuân Diệu thấu hiểu quy luật vận hành tự nhiên bất khả kháng “Sông trôi núi lở âm thầm/ Đường đi vũ trụ có cầm được đâu?” cho nên trong thơ của mình Xuân Diệu đã tìm cách cắt nghĩa rất riêng, rất sâu sắc về nguyên nhân gây nên nỗi đau khổ của yêu: Yêu là chết ở trong lòng một ít/ Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu? Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu/ Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết (…). Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt/ Những người si theo dõi dấu chân yêu/ Và cảnh đời là sa mạc vô liêu/ Và ái tình là sợi dây vấn vít/ Yêu, là chết ở trong lòng một ít (Yêu). Người ta khổ vì thương không phải cách/ yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người/ người ta khổ vì xin không phải chỗ…(Dại khờ), Bao nhiêu sầu, ôi sầu biết bao nhiêu/ Khi yêu tình, khi theo mãi tình yêu (Yêu mến). Tôi là một kẻ điên cuồng/ Yêu những ái tình ngây dại/ Tôi cứ bắt lòng tôi đau đớn mãi/ Đau vô duyên, đau không để làm gì. (Thở than). Suốt đời nuốt lệ vào trong ngực/ Đem ái tình dâng kẻ phụ ta (Muộn màng). Tôi một mình đối diện với tình không/ Để lắng nghe tiếng khóc mất trong lòng (Dối trá)…
Và trong việc luận giải nguyên nhân gây nên nỗi đau khổ của yêu, Xuân Diệu cho rằng sự xa cách luôn là nguyên nhân thường trực nhất. Nó làm cho lòng người luôn trong trạng thái bất ổn. Xa cách giày vò những trái tim yêu, làm cho người đang yêu rơi vào cảm giác lo sợ bởi tình yêu vốn mong manh, dễ bất ngờ tan vỡ “tình yêu đến, tình yêu đi ai biết” (Giục giã), và con người nhiều khi cũng rơi vào trạng thái không thể kiểm soát và không hiểu nổi chính bản thân mình: “Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn/ Ai nói trước lòng anh không phản trắc/ Mà lòng em, sao lại chắc trơ trơ? ” (Giục giã)… bởi mọi cái “vô thường” như thế nên xa cách làm cho nỗi nhớ thêm đầy và nhiều khi nỗi nhớ ấy quặn thắt con tim yêu đến đớn đau: Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em! Không gì buồn bằng những buổi chiều êm…Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ (Tương tư chiều)…
Trong tình yêu, đau khổ cũng là một “thú đau thương”, cho nên Ler montov từng nói: “Anh chỉ mang đến cho em toàn là đau khổ…Có lẽ vì vậy mà em yêu Anh. Bởi vì niềm vui thì dễ quên, còn đau khổ thì không bao giờ”. Victor Hugo lại nói: “Ai khổ vì yêu hãy yêu hơn nữa, chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Còn với Xuân Diệu, biển yêu dẫu “đắng” nhưng con người chưa bao giờ “nguôi nỗi khát thèm”…thậm chí khát vọng ấy mãnh liệt ấy đến mức giục lòng người “yêu khi đã hết tuổi rồi”, “khi chết rồi, thì tôi sẽ yêu ma” (Đa tình)…và điều ấy phải chăng đồng nghĩa với thông điệp nhắn nhủ của thi sĩ tới bạn đọc muôn sau: cho dù hạnh phúc hay đau khổ con người vẫn luôn khát vọng yêu và được yêu, vẫn mơ ước về một tình yêu viên mãn, vĩnh hằng.Yêu là câu chuyện dài bất tận, không biên giới, bến bờ, yêu không bao giờ có tuổi… và chỉ có những trái tim biết yêu chân thành, biết trân trọng, nâng niu hạnh phúc và biết chấp nhận đau khổ mà tình yêu mang lại thì mới mong thấy được giá trị thật sự của tình yêu đối với đời sống của riêng mình.
Tình yêu trong thơ Xuân Diệu là tình yêu của con người sống giữa đời thường chứ không phải tình yêu đạo đức trong sách vở của một “ông hoàng” nào đó. Đó là thứ tình yêu dám bộc lộ những khát vọng thành thực đến cháy lòng. Do đó triết lý yêu trong thơ tình Xuân Diệu bên cạnh việc luận giải vấn đề yêu là hướng đến sự hòa hợp tâm hồn thì còn khẳng định một chân giá trị đầy tính nhân bản: yêu là khao khát được hòa hợp với thân xác người mình yêu. Nhiều bài thơ, câu thơ của Xuân Diệu đã bộc lộ khát vọng trên một cách say mê, đắm đuối:
Hãy sát đôi đầu ! Hãy kề đôi ngực ! Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài ! Những cánh tay ! hãy cuốn riết đôi vai ! Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt ! Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt (Xa cách). Chúng ta đau, thôi em tới đây mà ! Mơn man nào, em đừng khóc đôi ta/ Thế, riết thế, hãy vòng tay chặt nữa/ Cho em hút những chút hồn đã rữa/ Cho em chuyền hơi độc rất tê ngon (Sầu). Hãy tuôn âu yếm, lùa mơn trớn/ Sóng mắt, lời môi, nhiều – thật nhiều (Vô biên). Em phải nói, phải nói, và phải nói/ Bằng lời riêng nơi cuối mắt, đầu mày/ Bằng nét buồn bằng vẻ thẹn, chiều say/ Bằng đầu ngả, bằng miệng cười, tay riết (Phải nói).
Xưa nay, trong ý thức của nhiều người, dục tính trở thành vùng cấm địa không dám đụng tới, không dám nói tới, không dám nghĩ tới. Dục tính trở thành một ẩn dấu hoàn toàn. Nhiều khi đám đông trong xã hội luôn nói tới đạo đức, đề cao giá trị tinh thần thiêng liêng trên lý thuyết, ở những nơi đó, lúc nào cũng thấy nhân danh Thượng đế đề cao giá trị tinh thần và dĩ nhiên người ta cấm động đến những gì là vật chất, xác thịt bị coi là thấp hèn, vô luân, tội lỗi. Trong một số xã hội, “đạo đức không bao giờ nói đến những việc liên quan tới dục tính (…) trong ngôn ngữ hàng ngày người ta cố tránh không nói tới hoặc khi cần phải nói chỉ nói một cách ám chỉ”(2).
Dưới ánh sáng của tư duy khoa học hiện đại, tiến bộ, ngày nay quan điểm phiến diện trên đã được hoàn thiện thêm bởi những nhận thức mới. Thân xác con người cũng là một giá trị cao quý xứng đáng được ca tụng, tôn vinh. Trong tình yêu, bên cạnh giá trị tinh thần, khát khao hòa hợp về thân xác được coi như một niềm khoái cảm thiêng liêng và thể hiện sự kết tinh cao độ của văn hóa ứng xử giữa con người với con người. Những người biết yêu thật sự luôn là những người biết trân trọng vẻ đẹp thân thể của người mình yêu thương, biết thưởng thức vẻ đẹp ấy trong một niềm đam mê, say đắm của “nhục cảm lành mạnh” (F.Engels). Và với Xuân Diệu, khoái cảm về thân xác mật thiết gắn bó với khoái cảm mà vẻ đẹp tâm hồn do người yêu mang lại và chỉ khi nào yêu và được yêu như thế con người mới được sống trọn vẹn trong hạnh phúc. Làm chủ thân phận Người, được tự do vui, buồn, đau khổ, yêu đương, được sống là chính mình trong từng sát na hiện hữu… đó là giá trị đích thực của mỗi con người với tư cách là một Nhân vị tồn sinh trên cõi đời đầy bất an và cũng lắm nghiệt ngã này.
Và bởi coi sự hòa hợp với thân xác người yêu cũng là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì tình yêu, duy trì sinh lực sống nên trong thơ tình Xuân Diệu người đọc thấy tràn ngập hình ảnh tôn vinh vẻ đẹp hình thể của con người: Đôi môi, đôi mắt (Tương tư chiều), tóc liễu buông xanh (Nụ cười xuân), miệng vàng, nhan sắc (Mời yêu), đường vai, nét tay (Dấu nằm)… đối với thi sĩ vẻ đẹp hình thể của người yêu là “ngọc ngà tinh anh” do đất trời ban tặng. Và có lẽ vì thế cho nên chỉ đến Xuân Diệu trạng thái khát khao được hòa hợp cùng thân thể người yêu mới được diễn tả một cách đầy táo bạo. Thi sĩ đã không hề ngần ngại diễn tả những trạng thái yêu mạnh mẽ như muốn “ôm“, muốn “riết“, muốn “say”, muốn “cắn“, muốn “ngoàm“, muốn “hút”… tất cả đều gợi cảm giác nồng nàn, tha thiết, đê mê của tình yêu rất trần thế, rất con người: Nên lúc môi ta kề miệng thắm/ Trời ơi, ta muốn uống hồn em (Vô biênHỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi (Vội vàngEm vui đi răng nở ánh trăng rằm/ Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự (Giục giãNghiêng đầu bên trái hãy kề nghe/ Những ngón tay thần sẽ vuốt ve/ Cho điệu lòng anh thêm ấm dịu; Sờ xem ngực nóng khúc đê mê (Có những bài thơ)… Vượt qua rào cản của những quan niệm ấu trĩ, lạc hậu về tình yêu nam nữ coi sự va chạm, tiếp xúc về thể xác là điều “xấu xa, hổ thẹn”, những cảm xúc nhục thể trong thơ Xuân Diệu rất chân thực, rất đời thường, gợi nhiều suy ngẫm về giá trị hiện hữu của con người. Có lẽ chính vì vậy nên đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất khiến thơ tình Xuân Diệu thấm nhuần triết lý nhân sinh sâu sắc và có sức sống bền lâu trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ.
Trong Tình mai sau Xuân Diệu viết: Người thi sĩ đã vào làng mây khói/ Không ở đâu, và ở khắp mọi nơi/ Như tiếng vọng trong sương xa dắng dỏi/ Máu vu vơ theo giữa trái tim đời… Như vậy ngay từ lúc sinh thời Xuân Diệu đã ý thức sâu sắc về ý nghĩa tồn sinh và bất tử của người nghệ sĩ: điều duy nhất có giá trị trong cuộc đời chính là những dấu ấn của tình yêu mà chúng ta đã để lại phía sau khi ra đi. Nhà thơ Xuân Diệu với trái tim yêu nồng nàn, si mê, tha thiết nhất trong các thi sĩ Việt Nam đã đi vào “làng mây khói” vĩnh hằng. Nhưng những câu thơ mang đậm triết lý yêu của ông còn lưu lại “giữa trái tim đời” mãi mãi bởi: “Nhà thơ, ngay cả các nhà thơ vĩ đại nhất cũng phải đồng thời là những nhà tư tưởng” (Bêlinxki).
Triết lý yêu trong thơ tình Xuân Diệu thể hiện một tầm tư tưởng lớn, nó khác lạ và vượt lên những lối nghĩ suy tầm thường tưởng “cao đạo” mà giả dối, thiếu thành thực mà người ta vẫn cứ “tụng ca” như những “giá trị đạo đức” nhưng đó là những thứ đạo đức hoàn toàn xa lạ với bản chất Người. Vì vậy, những bình diện của triết lý yêu trong thơ Xuân Diệu như đã trình bày ở trên, suy cho cùng đó chính là những tư tưởng mang tinh thần nhân bản, nhân văn sâu sắc nhất mà nhân loại luôn hướng đến. Và chính những bài thơ với triết lý yêu rất Người và rất Đời (chứ không phải là những bài thơ tụng ca nào khác) trong sự nghiệp thơ đã làm cho thơ Xuân Diệu trở thành thơ của một đời chứ không phải thơ của một thời ngắn ngủi dễ quên… Triết lý yêu trong thơ tình Xuân Diệu là một trong những giá trị quan trọng làm nên sự bất tử của thơ Xuân Diệu. Bạn đọc nhớ đến Xuân Diệu sau 100 năm hay 1000 năm hoặc lâu hơn nữa phải chăng, cũng bắt đầu từ những bài thơ tình thấm đẫm triết lý yêu mang vẻ đẹp nhân sinh cao cả và đầy khao khát trần thế – những bài thơ dạt dào, tha thiết, êm đềm và sâu lắng, ru lòng người mãi mãi khôn nguôi:
… Anh xin làm sóng biếc/ Hôn mãi cát vàng em/ Hôn thật khẽ, thật êm/ Hôn êm đềm mãi mãi/ Đã hôn rồi, hôn lại/ Cho đến mãi muôn đời/ Đến tan cả đất trời/ Anh mới thôi dào dạt…/ Cũng có khi ào ạt/ Như nghiến nát bờ em/ Là lúc triều yêu mến/ Ngập bến của ngày đêm… (Biển)
Chú thích:
(1) Xuân Diệu, Tác phẩm văn chương và lao động nghệ thuật (Lưu Khánh Thơ giới thiệu và tuyển chọn), Nxb. Giáo dục, H. 1999, tr.11
(2) Nguyễn Văn Trung, Ca tụng thân xác, Nxb. Văn nghệ, TP.HCM, 2006, tr. 73,74.
4/9/2022
Cao Thị Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nghĩ suy về ngày mai

Nghĩ suy về ngày mai…

Nằm giữa hai luồng giao lưu địa – chính trị Âu Á, trong mấy chục năm vừa qua nước Nga nói chung và nền văn hóa Nga nói riêng chịu nhiều ảnh hưởng cùng sự xáo trộn dữ dội, đặc biệt từ sau những chính biến xảy ra vào đầu những năm 1990. Ở giữa những luồng bão gió luôn đổi chiều đó, hãy thử xem những người viết trẻ nước Nga hiện nay đang suy nghĩ gì. Vanvn.vn xin giới thiệu với bạn đọc bài viết sâu sắc của nhà văn trẻ Viktor Marakhovsky đăng trên Báo Văn Hóa – Nga gần đây do nhà văn – dịch giả Tô Hoàng chuyển ngữ.
Trong kho lưu trữ của ngôn ngữ học tâm lý, có hàng loạt những quan sát thú vị liên quan đến những người biết nhiều thứ tiếng ở các vùng quê thuộc Đông Âu vào cuối thế kỷ XIX. Những người này thường hoàn toàn mù chữ nhưng họ lại nói một cách hoàn hảo một số ngôn ngữ và họ thường coi tất cả là ngôn ngữ mẹ đẻ của họ.
Tuy nhiên, nếu họ được yêu cầu dịch một số cụm từ, chẳng hạn như từ tiếng Đức sang tiếng Rumania, hoặc từ tiếng Slovak sang tiếng Hungary, họ thật sự ngu ngơ, không hiểu làm thế nào để có thể “dịch” một thứ gì đó nói chung trên thế gian này. Lý do là mỗi một câu trong bất cứ một ngôn ngữ trong thế giới của họ đều đã được gắn với ngữ cảnh. Ngay cả khi yêu cầu họ dịch tiếng “muối” sang tiếng Đức hay tiếng Rumania, đối với họ cũng có nghĩa là hai yêu cầu khác nhau, bởi vì từ đầu tiên đối với họ là một thương gia trong thành phố, còn từ thứ là một người hàng xóm vượt qua cái rãnh nước.
Những người yêu thích văn hóa Nhật Bản hiện đại cũng có vấn đề ấy với người Nhật. Những ai sau khi nghe tiếng Nhật của những người tập tọng nói tiếng Nhật đã khúc khích cười, giải thích rằng học từ theo truyền khẩu không phải là ý tưởng tốt nhất, bởi vì trong truyền khẩu, mỗi người nói một phương ngữ tự tạo, với tương ứng trang trí phù hợp giới tính, độ tuổi và các thông số xã hội của người đó. Trong cuộc sống bình thường của đúng là người Nhật, ngự trị một ngôn ngữ trung lập – lịch sự mà bạn sẽ không thể nghe thấy trong khẩu ngữ hay phim hoạt hình.
Do đó,khả năng “dịch” một điều gì đó – như vậy, đòi hỏi chúng ta phải có một lãnh thổ trung lập (hoặc trừu tượng) đã biết, ở đó muối không còn là tiếng Rumania hoặc tiếng Đức, mà chỉ đơn giản là muối.
Đôi khi điều này là có thể, nhưng một không gian trung lập như vậy luôn khá hạn chế. Ví như, từ “đầm lầy” trong tiếng Hungary chỉ đơn giản có nghĩa là một loại địa phương, còn ở tiếng Nga có chút gì ma quái và mối đe dọa lãng quên mơ hồ bắt đầu xuất hiện trong đó;còn trong tiếng Phần Lan “đầm lầy” có các đặc điểm cảm xúc gần giống như chúng ta có “pho mát đất”.
Tất cả những điều này đưa chúng ta đến vấn đề về cái gọi là “đối thoại của các nền văn hóa” liệu có thể thực thi được đến mức nào. Vì những lý do rõ ràng, có cơ sở để tin rằng cuộc đối thoại này – trên thực tế, luôn là sự tái cấu trúc lẫn nhau của các nền văn hóa và mức độ hiểu biết lẫn nhau đặc biệt phụ thuộc vào “mức độ xung đột của một Trung Quốc mà tôi vẫn hình dung với một Trung Quốc mà người Trung Quốc hình dung ra”.
Nhiều người trong số những người đồng hương của chúng tôi chắc chắn đã quen thuộc với một số tác phẩm kinh điển của Trung Quốc (ví dụ, họ đã cố gắng nghiên cứu một trong những tiểu thuyết kinh điển). Tuy nhiên để nói rằng việc làm quen với các tác phẩm kinh điển của Trung Quốc, thậm chí ngay cả trong các bản dịch hay nhất, sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về thế giới quan của người Trung Quốc, điều này nên hết sức thận trọng. Chúng ta quá khác biệt, và khi chúng ta đọc tất cả những điều này bằng tiếng Nga, chúng ta chỉ đọc một nửa phần dịch giả và những phép loại suy mà dịch giả ấy đã cố gắng thay thế bản chất có thật của cuộc sống Trung Quốc.
Để các nền văn hóa bắt đầu hiểu nhau như thế nào đó, các nền văn hóa ấy không chỉ cần sống cạnh nhau hoặc bên nhau trong một thời gian rất dài – những nền văn hóa ấy còn cần đồng bộ hóa cuộc sống hàng ngày của mình, và thường không chỉ là cuộc sống hàng ngày, mà còn là cả các vị thần thánh. Không có sự đồng bộ như vậy, không thể có sự hiểu biết lẫn nhau thực sự. Người Do Thái đã sống ở Venice trong nhiều thế kỷ – và cũng trong nhiều thế kỷ, họ đã tranh luận với người Ý về những điều linh thiêng liêng; tuy nhiên, chính thời gian kéo dài của các cuộc tranh cãi đã nói lên sự vô bổ của họ. Cả hai bên đều có cái riêng, những xúc cảm không thể “dịch” được về thần thánh, bắt nguồn phần lớn từ kinh nghiệm thực nghiệm cá nhân, không thể thay thế được.
Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết lẫn nhau ở cấp độ cao nhất này đã không cản trở sự đồng bộ hơn ở các cấp độ hàng ngày: những âm mưu, lời bài hát, tiền bạc và tình dục tự do thâm nhập vào các bức tường của khu ổ chuột theo cả hai hướng. Dần dần, các khu ổ chuột tự nó được thấm nhuần với văn hóa của môi trường. Kết quả là, bảy trăm năm đã trôi qua, và ngay cả chủ nghĩa phát xít của Mussolini cũng không nhìn thấy bất cứ điều gì đặc biệt xa lạ ở người Do Thái Ý của nó, và người Do Thái, về phần họ, đã trở nên Ý hóa đến mức vị giáo sĩ trưởng của Rome, người đã trốn khỏi bọn Đức cùng với giáo dân bạn hữu của ông ta, sau chiến tranh đã gây ra một vụ tai tiếng lớn khi cùng gia đình chuyển sang Cơ đốc giáo.
Điều này nói với chúng ta rằng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa vẫn có thể xảy ra – ở mức độ mà cấu trúc cuộc sống hàng ngày của chúng có thể hội tụ.
Bí quyết là ở chỗ sự gần gũi đó không đòi hỏi sự hiểu biết lẫn nhau.
Ví dụ, con người hoàn toàn không cần phải trở thành ong để lo lắng về các mối đe dọa gây ra cho ong do sử dụng thuốc trừ sâu. Chỉ cần hạn chế sử dụng các hóa chất có nguy cơ tuyệt chủng đối với những sinh vật không thể thay thế này của hệ sinh thái.
Và để học hỏi điều gì đó, ví như từ Trung Quốc chẳng hạn, không nhất thiết phải trở thành Trung Quốc. Nếu kinh nghiệm “Trung Quốc”, được các thế hệ triết gia và các nhà Đông phương học, viết lại và suy nghĩ lại theo cách Nga, hóa ra lại phù hợp để sử dụng ở Nga, trên thực tế chúng sẽ có hại gì, nhưng không giống với bản gốc.
Tôi xin nói thêm: đó là trường hợp nguyên bản gốc được giữ lại đối lập với trải nghiệm đã được thông qua. Bởi kinh nghiệm của Trung Quốc chỉ phù hợp với Trung Quốc – và nếu Trung Quốc quyết định xây dựng ”chủ nghĩa xã hội với đặc điểm của Trung Quốc” không quá giống với chủ nghĩ xã hội thời Xô Viết thì càng đúng hơn nếu ở Nga xây dựng “ Nho giáo với đặc điểm Nga” thì cũng không giống với những gì đang diễn ra trên đất Trung Quốc.
Trong một thế kỷ qua, Nga là sự kết hợp độc đáo giữa cuộc sống hàng ngày có chủ quyền và “nền văn hóa cao” được du nhập, và đã nhiều lần đối mặt chỉ với cùng một vấn đề: Nga nhiều lần phát hiện ra rằng họ coi châu Âu là ruột già, nhưng lại bị người bà con này coi họ là những người ngoài hành tinh, cần phải bị hủy diệt.
Tôi mạo hiểm gợi ý rằng nguyên nhân của sự không có đi có lại bi thảm này không phải là Nga “không hiểu đúng về châu Âu”, mà ngược lại, họ hiểu nó quá chính xác, nhưng không để ý tới sự khác biệt. Những người theo chủ nghĩa nhân đạo Nga trong nhiều thế kỷ đã tự coi mình là người châu Âu (đó rõ ràng là sự ngu ngốc), còn người châu Âu chỉ luôn luôn chỉ nghĩ đến họ, vì họ (đó cũng là sự ngu ngốc hiển nhiên).
Nhưng giờ đây, có vẻ như, ba thế kỷ mà thú chơi này kéo dài dần dần đi đến hồi kết.
Ngày nay, chúng ta đang trải qua tình cảnh hoàn toàn kịch tính – hóa ra mối đe dọa nhiều thế kỷ kia vẫn còn nguyên, khi đến lượt chúng ta tin chắc rằng  người họ hàng tưởng tượng của chúng ta không thực sự nhận ra mối quan hệ họ hàng của mình và có ước mong tiêu diệt chúng ta. Và chúng ta với tư cách là cả một quốc gia quay lưng lại (về cả kinh tế và ý thức chính trị) với đám họ hàng tưởng tượng ấy.
Rồi như một điều tự nhiên, cái nhìn của chúng ta đổ dồn cả về phía Đông.
Dưới ánh sang của điều này, có thể sẽ là hợp lý khi chúng ta phải hình dung ra những sắc thái của sự hiểu biết lẫn nhau mà chúng ta đang phải xây dựng.
Nhưng điều chính phải suy nghĩ là ở chỗ giọng điệu hiểu được nhau trong quan hệ hiện nay sẽ còn lâu nữa mới trở thành ngôn ngữ để hiểu nhau (chung cả với phương Đông) giữa chúng ta với các đối tác và đối đầu lịch sử, nếu nếu không muốn nói là kẻ thù.
Tuy nhiên,ở đây, liệu có cần tính tới tấn thảm kịch bùng phát không. Xưa kia, người Đức, từng thành công trong việc chống lại Đế chế La Mã và kết quả đã vô hiệu hóa phần phía tây của Đế chế này, nhưng đã phải đối mặt với thực tế là một phần đất của họ, chuyển thành lãnh thổ của Pháp hiện nay, đã chuyển sang người nói tiếng địa phương, trong khi phần thứ hai vẫn đúng là với nguồn gốc Đức.
Kết quả là, hoạt động ngoại giao giữa những người ủng hộ Pháp và ủng hộ Đức đã được tiến hành bằng tiếng Latin, ngôn ngữ của tôn giáo chung.
Ngày nay, với Nga và phía kia là Trung Quốc may mắn sao, không đặt ra nhiệm vụ phải yêu thương nhau bằng cả trái tim hoặc hiểu nhau thật sâu sắc.
Nhiệm vụ của chúng ta dễ dàng hơn. Chúng ta không cần phải cầu nguyện chung một vị thần, nói cùng một ngôn ngữ. Các nhiệm vụ hiện tại và chiến lược tầm trung của chúng ta đơn giản hơn nhiều: không để mình trở thành vật thí mạng cho thế giới tiến bộ và khoan dung- một thế giới vốn đã coi chúng ta và phương Đông là kẻ thù và đã buộc chúng ta phải lựa chọn giữa cái gọi là tuân thủ về chiến lược, tức một sự tự tử dần dần, hoặc một cái chết nhanh chóng.
May mắn của thời điểm lịch sử này cho cả hai bên (chúng ta và phương Đông huyền bí) là cả hai không có lý do và cơ hội để gây hấn lẫn nhau. Trong chương trình nghị sự hàng ngày là những gì thực chất hơn nhiều, được mô tả đầy đủ bằng ngôn ngữ tiếng Anh chính thức của giao tiếp quốc tế. Đó là, tấn-km, chất bán dẫn, lúa mì, dầu, khí đốt, hàng tiêu dùng, kim loại đất hiếm và các cuộc tập trận quân sự chung.
Còn đối với “cái bên trong của phương Đông”, tức là phần thông thái được du nhập từ nơi đó, lại đã được biên soạn bằng tiếng Nga, thì có vẻ như điều tốt nhất mà chúng ta có thể và nên áp dụng là khả năng tuyệt vời: không để mất lòng người.
Và gắng làm trong hôm nay, ngày mai và ngày kia để “đạt được một số kết quả khả quan vào thế kỷ sau”.
8/9/2022
Viktor Marakhovsky
Tô Hoàng dịch
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đọc lại "Rừng Na uy" của Haruki Murakami

Đọc lại "Rừng Na uy" của
Haruki Murakami

Ở nước Nhật có một cuốn sách mà theo thống kê từ năm 2006, cứ 7 người Nhật thì có một người đọc và tác giả của nó suốt 20 năm nay đã trở thành một thần tượng văn hoá đại chúng. Cuốn sách đó là tiểu thuyết Rừng Na uy và tác giả đó là nhà văn Haruki Murakami. Một cuốn sách mà một khi bạn đã cầm nó lên và đọc thì khó lòng bỏ xuống. Bởi từ đầu đến cuối của cuốn tiểu thuyết đó là một câu chuyện tình yêu gây nên sự xúc động “đến ngạt thở”.
Cuốn tiểu thuyết này kể về những năm tháng là sinh viên đại học ở Tokyo của một chàng trai trẻ có tên là Toru Wantanabe. Cùng với thời gian dùi mài kinh sử ở trường đại học, Wantanabe đã đi hết tuổi thanh xuân của mình trong những mối tình với những người con gái trẻ, đẹp và đầy cá tính. Wantanabe cùng với những người bạn, người yêu của anh là một thế hệ những người trẻ của nước Nhật biết sống hết mình, yêu hết mình nhưng học tập và làm việc cũng hết mình. Nói cách khác là họ đã biết cách đốt cháy mình để tỏa sáng.
Rừng Na uy là tên một ca khúc nổi tiếng của ban nhạc Beatles mà nhân vật chính Wantanabe rất thích nghe của một thời sinh viên sôi nổi – cái thời mà cuộc đời anh gắn bó với số phận những người mà anh yêu và yêu anh.
Người con gái đầu tiên mà Wantanabe yêu có tên là Naoko. Điều oái oăm ở chỗ là Naoko lại là người yêu của người bạn thân của anh tên là Kizuli. Cái mối tình tay ba cực kì thơ mộng nhưng lại rất rắc rối và tuyệt vọng ấy kết cục lại là một tấn bi kịch. Cả Naoka, cả Kizuki cuối cùng đều chết vì tự tử.
Người con gái đầu tiên mà Wantanabe yêu có tên là Naoko. Điều oái oăm ở chỗ là Naoko lại là người yêu của người bạn thân của anh tên là Kizuli. Cái mối tình tay ba cực kì thơ mộng nhưng lại rất rắc rối và tuyệt vọng ấy kết cục lại là một tấn bi kịch. Cả Naoka, cả Kizuki cuối cùng đều chết vì tự tử.
Và điều đáng kinh ngạc của cuốn sách là ngoài Naoka và Kizuki, còn có hai cái chết trẻ khác cũng bằng cách tự tử là chị của Naoka và của một cô gái khác nữa có tên là Hatsumi. Họ chết không phải vì thất tình, không phải vì bất lực và khủng hoảng tinh thần trước cuộc sống như mọi người vẫn nghĩ. Họ chết chỉ vì một lí do đơn giản là họ không sợ chết. Đối với họ cũng như trong quan niệm của số đông người Nhật, cái chết chỉ là một sự tiếp tục của cuộc sống. Bởi chết chưa phải là hết chuyện. Vì thế mà họ coi cái chết rất nhẹ nhàng. Cũng như họ đã sống vì rất yêu cuộc sống. Câu chuyện tình của Wantanabe trong Rừng Na uy do vậy mà nhuốm màu bi thương nhưng có một điều lạ là  không hề bi quan.
Ngược lại, sự lạc quan và niềm tin yêu cuộc sống tràn ngập trong mỗi trang sách của Rừng Na uy. Và chính điều đó làm cho bạn xúc cảm, cuốn hút bạn vào với tác phẩm kì lạ này. Câu chuyện của Rừng Na uy vừa chân thật, giản dị nhưng cũng hết sức kì ảo.
Cứ như là tác giả đang đưa ta trở lại với những câu chuyện tình ma quái trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh THỜI Trung Quốc trung cổ vậy. Cái hay của Rừng Na uy còn ở chỗ tác giả đã dắt dẫn người đọc đi hết bất ngờ này sang bất ngờ khác trong một bối cảnh trần trụi của cuộc sống Nhật bản thời văn minh và hiện đại. Những chuyện tình đầy khêu gợi, những pha làm tình được miêu tả rất chi tiết và xảy ra liên tục trong tác phẩm. Nhưng Rừng Na uy không phải là một cuốn sách viết về tình dục; cũng không phải là một tiểu thuyết diễm tình lãng mạn. Rừng Na uy là một điển hình của tác phẩm văn học viết theo trường phái hiện thực chủ nghĩa. Câu chuyện của rừng Na uy dù viết ở cuối thế kỉ 20 nhưng mô hình  đời sống của nó vẫn rất mang tính thời sự ở thế kỉ 21 này. Vì thế mà sức sống của Rừng Na uy là bất diệt.
Hãy trở lại ca khúc Rừng Na uy của ban nhạc Beatles với những lời tình ca da diết: “Tôi từng có một cô gái, mà đúng hơn là cô gái ấy đã từng có tôi. Cô dẫn tôi vào phòng, thế có thích không. Và bảo tôi ngồi đâu cũng được, nhưng tôi thấy chẳng có chiếc ghế nào. Khi tỉnh dậy tôi chỉ có một mình. Con chim ấy đã bay đi rồi”. Đó là những ca từ rất giản dị. Và Rừng Na uy cũng vậy, rất giản dị. Mà ở đời, cái gì càng giản dị thì càng vĩ đại; và ngược lại, càng vĩ đại, con người ta càng giản dị. Chỉ có những kẻ ít học hành thì mới làm ra vẻ quan trọng và vì thế, trông chúng càng kệch cỡm. Với cách hiểu ấy, Rừng Na uy thực sự là một tiểu thuyết kiệt xuất của nước Nhật thời hiện đại. Và ý‎ nghĩa lớn lao nhất của nó là sự cảnh tỉnh đối với bạn đọc trong một xã hội hiện đại. Nói cách khác, đọc Rừng Na uy, bạn sẽ tỉnh ra rất nhiều điều.
Dù bạn là ai, dù bạn ở đâu và làm gì, một khi bạn đã cầm Rừng Na uy lên và lật ở một trang bất kỳ nào, chắc chắn bạn sẽ bị nó cuốn hút. Bởi đó là những trang sách kể về những mối tình tươi trẻ. Những hồi ức ngọt ngào cay đắng về thuở đầu đời, đặc biệt là đối với những ai đã từng có một thời sinh viên sôi nổi.
Tác giả Haruki Murakami sinh năm 1949 tại Tokyo. Ông lấy vợ là bạn học cùng thời đại học. Hai người mở một câu lạc bộ nhạc jazz tại Tokyo có tên gọi là Peter Cat. Ông viết và cho xuất bản Rừng Na uy vào năm 1987. Thành công vang dội của cuốn tiểu thuyết dày hơn 500 trang này đã đưa ông lên hàng những nhà văn lỗi lạc có nhiều người đọc nhất của Nhật Bản. Tại Trung Quốc, Rừng Na uy của Murakami là một trong mười cuốn sách có ảnh hưởng nhất của thế kỷ thứ 20 và tác giả xứng đáng được xếp hạng là một trong những tiểu thuyết gia đương đại lớn nhất thế giới.
10/9/2022
Hà Tùng Sơn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chi tiết - Yếu tố quyết định truyện ngắn hay

Chi tiết - Yếu tố quyết định truyện ngắn hay Những người làm công tác biên tập ở các tờ báo văn nghệ thường hay nhận được những câu hỏi từ...