Thứ Ba, 4 tháng 8, 2026

 

Tâm hồn tinh tế bẩm sinh của “Chàng thơ” Xuân Diệu qua thi phẩm Vội Vàng

Đôi đồng tử của “chàng” nhấp nhánh như ánh sao, đen và sâu không đáy, ẩn mờ sau bờ mi màu sẫm tuyệt vời, ánh lên những đốm lửa vui tràn đầy sinh lực. Viền tóc mềm mại chảy lửng lơ trước vầng trán toát lên vẻ hồn nhiên, tinh nghịch. Tính tinh tế của tâm hồn thể hiện qua nét môi đỏ mọng như hoa anh đào. Những nếp gấp nơi khóe miệng, nơi hàng lông mày biểu đạt sự phong phú của nhiệt tâm. Chàng là Xuân Diệu, người "nồng" và "trẻ" nhất trên chiếu thơ đương thời. “Chàng” đã đưa cái nồng, thắm, dào dạt vào thế giới thi ca vốn tẻ lặng, bình yên này. Sức xuân đang ca hát, nhảy múa trong tâm linh “chàng” một thoáng mê đắm như muốn níu kéo lòng người. Vội Vàng là phút giây bừng sáng nhất của tình yêu trong tâm hồn thi nhân, sự cao đẹp từng khoảng khắc đó, vĩnh cửu qua một đời người.

Triết lý nhân sinh độc đáo trong Vội Vàng có được nhờ tiên cảm sâu sắc, cùng dòng năng lượng giàu đam mê của nhà thơ. Đó là khái niệm sống vội vàng, một lối sống rất trần tục và rất con người của một tâm hồn tinh tế bẩm sinh.

Vội vàng  "tuyên ngôn" cho thế gian thấy được sự ngắn ngủi của đời người và nên xây dựng một tốc độ sống gấp gáp để nếm nhận đủ đầy những nồng ấm, êm say của cuộc đời tươi đẹp này. Trong những năm tháng đó, thơ ca hiện đại đang nương náu ẩn mình trong nỗi buồn sâu sắc của cả một thế hệ chìm lút trong cơn đại hồng thủy của Chủ nghĩa Thực dân. Việc “thiếu quê hương” khiến họ lúng túng trong những góc tối của quá khứ, trong tình yêu và trong khung cảnh thiên nhiên đất nước. Có bao nhiêu nhà thơ yêu cuộc sống, yêu một cách nghiêm túc nhưng vẫn trống rỗng, buồn, cô đơn, lạc lõng. Xuân Diệu khác, nhà thơ mang đến một hơi thở rất thực tế, nhưng vẫn giàu cảm xúc, đó là giai điệu của tình yêu. Tâm hồn thi nhân chóng mở cửa đón mùa xuân với sự nguyện hiến thiết tha, cháy bỏng.

Chàng muốn mặt trời ngưng chiếu sáng để màu đừng phai, chàng muốn gió ngừng thổi, làm ơn đừng bay hương. Chàng đang muốn vì cái đẹp mà sẵn sàng chống lại tạo vật : “Tôi muốn tắt nắng đi/Cho màu đừng nhạt mất/Tôi muốn buộc gió lại/Cho hương đừng bay đi”

Luật lệ của tự nhiên đã định sẵn không thể thay đổi, chủ thể cảm xúc nồng nàn, cuồng quyến, tham vọng tuột bậc muốn can thiệp, giành lấy quyền được tự mình dừng lại cái qui luật đã mặc định của thượng đế. Chìa khóa của khát vọng đó là giữ lại vẻ đẹp của cuộc sống để tận hưởng chìm đắm. Quả là một tâm hồn cuồng nhiệt, nồng thắm mới dám táo tợn tranh quyền đoạt vị với hóa công.

Tình yêu cuộc sống của chàng chưa dừng lại ở ham muốn mà còn ở sự khát khao được cháy hết mình, bởi mặt đất là thiên đường, để rồi chàng sợ hãi, run rẩy trước dòng chảy nghiệt ngã, trôi lăn của vạn vật mà cuống quýt, rạo rực. Xuân Diệu đã giải thích độc đáo về thời gian để bày tỏ tình yêu róng riết của mình và trả lời cho các “thi dân”, vì sao anh muốn tắt nắng, ngừng gió.

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Miền cảnh đẹp như ru đó không phải là chốn tiên thiên mà đều gần gặn, quen thuộc xung quanh chúng ta. Xuân Diệu đã thêm những cử động của linh hồn để làm cho những cảnh vật  kéo giãn, tươi mới, tưới tắm sắc màu mùa xuân trên trang giấy, như nha phiến quyến rũ lòng người. Sắc Xuân được chuyển tải bằng phương pháp liệt kê, biến tất cả những vẻ đẹp thực tế thành một bữa tiệc thơ mà Chàng vẫy tay chào mời. Xuân Diệu đã đốt cháy hiện trường cõi mơ, xua mọi người ra thế giới thực, để gắn bó với cuộc sống hiện hữu muôn sắc ngàn hương, tươi trẻ, nồng đượm. Trong cuộc dạo chơi trần gian đó, chàng không quên trao tình yêu cho con người. Những phận người trong thơ Diệu không xuất hiện với những hình thức, chân dung cụ thể mà thông qua những so sánh đặc biệt, nhà thơ đã trưng ra những mỹ cảm nghệ thuật mới, độc đáo, ý vị: “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”; “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.

Nếu như đoạn thơ trên tác giả xây dựng những ảnh tượng lấy từ những sự vật của thiên nhiên thì lúc này bình mình lại nhấp nháy trong đôi mắt cô gái, tháng giêng ngọt như một cặp môi gần. Nay Xuân Diệu táo tợn lấy nhân loại làm thước đo cho vẻ đẹp của đất trời, đó là cách thi sĩ khẳng định, nâng cao, tôn vinh con người và sự sống, con người chính là ưu phẩm của đấng toàn năng.

Nhưng con người không thể chống lại các qui tắc của tạo vật. Xuân Diệu đã sử dụng một bài thơ dài để lập luận, tuyên xưng về sự tàn ác trong luật pháp của hóa công. Anh đếm được từng bước đi lạnh lẽo của thời gian :“xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua/ xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”.

Thời gian không phải lưu thông không một gút sợi như ta từng nghĩ, nó lặng lẽ đi và uống lẹm những giấc mơ đẹp. Mỗi phút giây là một mất mát, thời gian rút máu thanh xuân và cuộc đời. Nhà thơ đã trưng ra bằng chứng phạm tội của thời gian bằng một sự khiêm hạ khi nói về thực tại “Lòng ta rộng nhưng lượng trời cứ chật/ không cho dài thời trẻ ở nhân gian”.

Sau tất cả, Xuân Diệu cũng như bao nhà thơ mới khác, yêu say đắm nhưng cũng đốn tận tim, bàng hoàng cơ thể vì luật lệ khắc kỉ của đấng quyền năng, chàng lo lắng, buồn đau cho những “niềm đáng tiếc”. Quan niệm về thời gian của tác giả trong Vội vàng cũng chính là quan điểm triết học sâu sắc về một đời người. Do đó, Vội vàng không phải là một bài thơ buồn, cũng không phải là một bài thơ nặng nề, ảo ảnh về sự suy tư. Ngược lại, nó cực kỳ giàu “sinh quyển” nhờ sự hùng biện sắc sảo của nhà thơ đối với đất trời về lí do tại sao tác giả đưa ra quan niệm sống vội vàng. Thơ của Xuân Diệu luôn đầy nhiệt huyết, nhiệt tình, và hàm chứa tính triết luận uyên nguyên. Nhà thơ nói: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm....Hỡi xuân hồng! Ta muốn cắn vào người”

Ý nghĩa của bài thơ được thực thành từ sự thôi thúc "buông" để sống, cống hiến và tận hưởng. Xuân Diệu khuấy động mọi người bằng cách đưa ra những điều kiện sống mạnh mẽ nhất, hãy đến ôm, say, siết và thậm chí cắn riết. Anh không lãng phí, bỏ lỡ một phút hân hưởng thuần lành nào trong cuộc sống. Những khoảnh khắc này phải toàn tâm, toàn trí, toàn hồn để say mê nếm trải. Con người trong cuộc sống đôi khi cảm thấy yếu đuối, mềm mại, chán nản... nhưng ở mọi thời điểm, đặc biệt là ở tuổi trẻ rất đáng để trải nghiệm nên đừng hoài phí thanh xuân.

Giá trị lớn nhất của triết học là giúp cho con người nhận ra rằng bản thân mình là một hiện hữu, nhìn nhận cuộc sống như một thực tại sống động. Vội vàng chỉ là một bài thơ, không phải là một báo cáo luận đề triết học nhưng Xuân Diệu thông qua thi cảm tinh tế của mình cũng xứng đáng được liệt kê trong số những nhà triết thuyết vĩ đại. Thơ ca giúp mọi người nhận diện cách sống, giúp chúng ta nhận thức được vai trò, giá trị của con người trong cuộc sống, đó là yếu nghĩa mà một kiệt tác nghệ thuật hướng tới người đọc.

Đã vắt qua hai thế kỉ trôi lăn kể từ ngày Xuân Diệu bước đến thi đàn, cũng đã biết bao biết đổi bể dâu về nhân tình thế thái, quan niệm xã hội, ngay cả bản thân tình yêu cũng có nhiều những biến đổi bạo liệt. Thế nhưng sự nồng, trẻ và quan niệm sâu sắc về tình đời, tình người trong bài thơ Vội vàng vẫn sống mãi trong người đọc bao thế hệ, đánh thức bao hoài vọng, bao khát khao cao quí, muốn được sống hết mình, yêu hết mình và khi cần được hi sinh cho tình yêu.

3/1/2024

Trần Tuấn 

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

An Bình Minh: Im lặng sống - Im lặng... viết

Nhà văn An Bình Minh - dù tôi thường quen gọi anh theo tên cha sinh mẹ đẻ là Bùi Bình Thiết - sinh ra trong một gia đình có truyền thống về văn học nghệ thuật.

Thân sinh của anh là Mục sư Bùi Hoành Thử - Tổng thư ký Tổng Hội thánh Tin lành Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Thống nhất của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội khóa III, IV, V, VI- Người được Cụ Hồ rất trân trọng, bác của anh là Bùi Bằng Đoàn - Trưởng ban Thường vụ Quốc hội khoá I của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, người rất thân thiết và từng được Cụ Hồ tặng thơ:

Tặng Bùi Công

Khán thư sơn điểu thê song hãn,

Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì.

Tiệp báo tần lai lao dịch mã,

Tư công tức cảnh tặng tân thi.

Dịch là:

Tặng cụ Bùi Bằng Đoàn

Xem sách chim rừng vào cửa đậu

Phê văn hoa núi ghé nghiên soi

Tin vui thắng trận dồn chân ngựa

Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài

Ấy là bên nội. Còn bên ngoại thì ông ngoại của anh là nhà điêu khắc, họa sĩ nổi tiếng Nguyễn Đức Thục, và người con trai của cụ, mà An Bình Minh gọi là cậu ruột chính là nhạc sĩ quân đội Nguyễn Đức Toàn, tác giả của những bài hát nổi tiếng như Quê em miền Trung du, Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Mời anh đến thăm quê tôi, Hà Nội ơi một trái tim hồng, Tình em biển cả, Chiều trên bến cảng...

Lại cũng phải kể bên vợ của anh - bố vợ anh là nhà thơ Xuân Hoàng lẫy lừng thời đánh Mỹ của đất lửa Quảng Bình, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Bình, còn vợ anh là một nữ sinh khoa văn xứ Huế, từng hàng chục năm cầm bút làm thơ, viết báo khá nổi danh...

Tôi thân thiết với An Bình Minh cũng đã khá nhiều năm, từ thuở là những chàng trai Hà Nội. Nhà tôi ở số 1 Lê Phụng Hiểu, nhà anh ở số 2 Ngõ Trạm, cùng khu Hoàn Kiếm có Tháp Rùa và Tháp Bút thiêng liêng. Rồi cả hai cùng lên đường nhập ngũ,” Mày lên đường hôm trước/ Tao ra đi hôm sau/ Trường Sơn gánh cả nước/ Hai đứa mình đuổi nhau” (Thơ Châu La Việt), anh là pháo thủ Đồ Sơn, Hải Phòng, tôi là pháo thủ ở Cánh đồng Chum đánh máy bay Mỹ chí chết, rồi anh về Đoàn văn công phòng không không quân và tôi về Đoàn nghệ thuật của một Binh trạm lính vận tải Hậu cần... 

Chiến tranh qua đi, chúng tôi lại cùng tụ hội ở TP Hồ Chí Minh, anh làm báo Người lao động và tôi ở báo Thanh niên. Lại cùng là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, dù anh viết khỏe hơn tôi nhiều, đã là tác giả của 10 tập truyện ngắn và ba tập tiểu thuyết dày dặn, mà tập tiểu thuyết Im lặng sống là tập thứ 4, là sáng tác mới nhất của anh những ngày tháng 8 vừa qua, khi anh cùng chúng tôi, bao gồm những Hoàng Dự, Hà Đình Cẩn, Hà Phạm Phú, Nguyễn Minh Ngọc, Nguyễn Trọng Tân, Trần Khánh Toàn, Châu la Việt... hội tụ tại Trại sáng tác văn học về đề tài “Lực lượng vũ trang - Chiến tranh cách mạng” năm 2023 do Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân phối hợp Trung tâm Hỗ trợ sáng tác văn học nghệ thuật (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức tại Nhà sáng tác Đà Nẵng.

“Im lặng sống” của một người trầm tư “Im lặng... viết”, An Bình Minh nói gì?

Cùng ở TP Hồ Chí Minh nên chúng tôi cùng thầm hiểu: Phòng chống Covid-19 là một cuộc chiến toàn dân, toàn diện; mỗi căn nhà, mỗi chung cư, thôn xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ. Chống dịch như chống giặc, vì thế chúng ta đã quy định ngặt nghèo thực hiện khoanh vùng diệt dịch. Chúng ta đã có những mất mát đau thương, những sai lầm  không đáng có, cách ly tuyệt đối giữa các phường xã, giữa các quận, huyện và giữa các tỉnh thành phố. Tất cả những điều ấy đã khiến hoạt động phòng chống covid trở thành một cuộc chiến tranh với đầy đủ ý nghĩa dẫu đó là kẻ thù vô hình đã trôi qua. Cuộc chiến tranh có thể thuộc về quá khứ và dần phải quên đi để tiếp tục sống.

Đã từng có một phạm trù nhân sinh thế này: Ai cứ đăm đắm nhớ về một cuộc chiến tranh, kẻ đó không có đầu óc. Nhưng ai quên một cuộc chiến tranh thì kẻ đó không có lương tâm. Với cuộc chiến chống covid là như thế. Còn với tiểu thuyết Im lặng sống thì hơn thế. Tác giả không kể về một cuộc chiến tranh với những điều xưa cũ từng được nhiều người biết đến mà về một cuộc chiến tranh đặc biệt với những tình tiết không phải ai cũng được biết.

Trong Im lặng sống, cuộc chiến đấu với covid được khúc xạ, thu nhỏ vào một thành phố có tên Bình Hải, là nơi có dịch covid bùng phát mạnh nhất, khốc liệt nhất trong cả nước. Ở đó, cuộc chiến chống covid với sự thảm khốc, sự chết chóc hy sinh, những con số thật về người chết khó có thể đo đếm. Ở đấy đã diễn ra một cuộc chiến hơn cả một cuộc chiến tranh khi mà lần đầu tiên chúng ta đã phải chiến đấu với một kẻ thù không rõ hình hài, nằm ngoài cả sự hiểu biết của khoa học hiện đại. Hơn cả một cuộc chiến tranh bởi không có đối kháng, không kẻ thù hiện hữu để có thể biến đau thương thành hành động cách mạng. Ở đấy là những cái chết bất ngờ, tức tưởi. Sự bất lực của những phương tiện khoa học, của những kinh nghiệm thực tiễn sự hiểu biết của ngoài người...

Im lặng sống kết thúc ở “Ngày bình thường mới” với một ao ước giản đơn  của người dân được trở lại nhịp sống bình thường, được đi lại được nói cười, được nghe những âm thanh quen thuộc của cuộc sống. Nhưng niềm vui ấy chưa trọn thì bất ngờ xảy ra “vụ nổ” khủng khiếp khiến cả nước chao đảo, hoảng sợ và mất mát niềm tin. Đó là vụ nổ của “hai trái bom” Kit xét nghiệm Bắc Á và Cầu hàng không hồi hương. Hai quả bom khổng lồ này đã thêm một minh chứng cho cuộc chiến tranh đặc biệt, hơn cả một cuộc chiến tranh.

Để chiến thắng covid, chúng ta đã phải áp dụng chính sách thời chiến, với nhiều điều khoản nhân đạo. Vậy mà “Cầu hàng không hồi hương” đã lợi dụng chính sách đẩy giá vé máy bay và chỗ lưu trú lên cao ngất ngưởng để tham nhũng, hối lộ và chạy án hàng nghìn tỷ đồng. Đặc biệt là “Kit xét nghiệm Bắc Á”, với toàn bộ hoạt động từ nghiên cứu, sản xuất đến mua, bán đã thể hiện một chu trình lũng đoạn chính sách đẩy giá kit xét nghiệm lên cao để tham nhũng và hối lộ hàng nghìn tỷ đồng - Hàng trăm nghìn tỷ đồng, xin nhắc lại và tất cả đều do ngân sách chi trả.

Cũng chính vì vậy, thời gian này dư luận xã hội đã rộ đồn đoán về một “trùm cuối”. Một mình Bắc Á không thể vơ vét tiền của Nhà nước một cách trơn tru như không hề có pháp luật. Phải có một ai đó là trùm cuối hoăc, các trùm cuối đã lũng đoạn chính sách, tạo ra hành lang pháp lý cho Bắc Á thao túng trục lợi. Chính trùm cuối với sự lũng đoạn này, đã khiến cho việc thực hiện chính sách và những người thụ hưởng chính sách khủng hoảng niềm tin, “lệch pha” trong các quyết sách phòng chống dịch bệnh.  

Tiểu thuyết Im lặng sống kết lửng ở vụ án Bắc Á đang trong thời gian điều tra với nhận định: Cũng như Covid biến thể, Trùm cuối biến thể đang treo lơ lửng trên đầu người dân, ngay ngáy về một nỗi bất an xã hội trong tương lai. Chính vì thế, Im lặng sống đã có một thông điệp hãy im lặng để lắng nghe mệnh lệnh của sự sống, như đã từng nghe trong suốt cuộc chiến tranh chống covid. Và cuối cùng là phá vỡ sự im lặng ngăn không cho trùm cuối biến thể có đường trở lại tác họa cuộc sống. Để những người đã chết im lặng trong cuộc chiến chống covid được siêu thoát.

Hãy đọc Im lặng sống để thấy thông điệp ấy.

Tập tiểu thuyết không dày, quãng 200 trang in, cách viết và bố cục nhiều mới lạ. Trong buổi tổng kết Trại viết, Ban tổ chức đánh giá cao tiểu thuyết này và NXB Quân Đội đã đưa ngay vào kế hoạch xuất bản.

Đồng thời, nhà văn Hoàng Dự - Trưởng Ban tổ chức cuộc thi tiểu thuyết của Thời báo Văn học nghệ thuật vì chất lượng  của tiểu thuyết Im lặng sống, đã đề nghị tác giả và tác phẩm (ùng một số tiểu thuyết khác hoàn thành trong Trại sáng tác) tham gia cuộc thi tiểu thuyết của Thời báo.

Nâng ly mừng An Bình Minh, anh em tủm tỉm: Năm xưa người anh ruột - nhà văn Bùi Bình Thi dậy sóng tưng bừng trên văn đàn nước, nay đến lượt ông em Bùi Bình Thiết (tức An Bình Minh) cũng lại sẽ dậy sóng tưng bừng...

Văn chương nhà họ Bùi hẳn nhiên là thế!.

3/1/2024

Châu La Việt  

Nguồn: Thời báo Văn học và Nghệ thuật

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Góp... tìm tên cho “Khúc vĩ thanh 109” của Nguyễn Phúc Lộc Thành

Cách đây cũng đã hơn sáu năm, một bữa tôi vô tình vào fb của Nguyễn Phúc Lộc Thành và đọc được chia sẻ của nhà thơ như dưới đây.

  • Xin dẫn trích:

“Trưa nay, tôi (Nguyễn Phúc Lộc Thành) vinh dự và rất cảm động vì sự nồng ấm đến từ nhà thơ, hoạ sỹ Nguyễn Quang Thiều - người đã vẽ 18 bức tranh sơn dầu để dùng minh hoạ cho 108 bản thơ lục bát trong 3 tập “Giấc mơ Sông Thương”, “Chiều”, và “Chân quê” của tôi...”

[... Cùng nhà văn Tạ Duy Anh, nhà thơ Trần Hùng và “hoạ sỹ tài danh Văn Sáng, người sẽ phụ trách trình bày “Giấc Mơ Sông Thương” (GMST)... đang chuẩn bị xuất bản”... (Xin lược bớt chữ của đoạn này -Lâm)]

“Chúng tôi cùng ăn trưa và bàn bạc, mỗi người “một chân một tay” góp sức để “Giấc Mơ Sông Thương” ra mắt bạn đọc đúng vào ngày 18/08/2018 âm lịch...”

“Tôi định đưa vào in thêm trong tập GMST bản “Khúc Vĩ Thanh 109”, là vĩ thanh của 108 thi phẩm lục bát trong tập GMST sắp xuất bản, nhưng các anh đều khuyên là giữ nguyên con số 108 cho đẹp và có ý nghĩa. Vậy nên, trước khi thay tên mới cho “Khúc Vĩ Thanh 109”, tôi xin đăng lên đây để các anh chị em fb đọc và góp ý, chia sẻ ạ”.

  • Dưới đây là nguyên văn bài thơ trên fb của Nguyễn Phúc lộc thành:

KHÚC VĨ THANH 109

1-
Tiễn người.
Một sớm tinh khôi
Mắt hoen hoen lệ,
con ngồi khóc thu

Con từ phố thị ngục tù
Đã nghe ruộng nấc,
đồng tru tiếng hờn

Võng nghèo
hắt hắt từng cơn
Rêu thềm mốc mốc
Rạ rơm ru hời

2-
Mẹ gối lên ruộng,
thảnh thơi
Nhìn đòng đòng chết giữa trời thênh thang

Sông Thương
ngầu đục mắt làng
Có đàn nghé đói
khóc khan gọi Người

Một ngày,
nấm đất còn tươi
Bùn chưa kịp lấm môi cười mẹ yêu

Gò chưa mở kịp cửa chiều
Mẹ tôi
lạc giữa tiêu diêu trăm bề

Mẹ nằm,
gối mặt lên quê
Tóc mầm mẹ bạc.
Ngô bề bề non.

Thấy phù sa trắng cát cồn
Giấc phù vân,
mẹ đem chôn xuống chiều

3-
Mẹ ơi,
cùng tận giáo điều
Con rũ sạch một trời điêu,
con về

Mẹ ơi,
đắm ngộ cơn mê
Tha nhân nhem nhẻm lời thề trên môi

Sâu bầy
chồng chất lưng trời
Mẹ cầm nước mắt
dạo chơi cõi trần

Mẹ ơi,
đau đến ngàn lần
Non kia chôn dưới bội phần hoang vu

Tám mươi mùa chết từ từ
Thấy trong sài đẹn,
ngu ngu
mặt người

Mẹ già
vá lại mặt đời
Phía sau đạo đức là ngời ngợi đau

Thấy cơn mửa chết từ lâu
Lẫn trong nghèn nghẹn miếng trầu mẹ ăn

Xác này
bó chiếu nhân gian
Con xin đem cả thiên đàng đi chôn

4-
Mẹ nằm
gọi những khóc hờn
Thương đàn nước mắt
trong cơn đoạ đày

Bàn tay
mẹ duỗi chiều nay
Móng còn cáu bẩn
mặt ngày
nhân gian...

26/7/2018
Nguyễn Phúc Lộc Thành

... Nhà thơ băn khoăn, về “Khúc vĩ thanh 109”, định làm “Khúc cuối” cho 108 khúc, của toàn tập “Giấc mơ Sông Thương” ... giờ “Các chức sắc đỉnh” của Hội “khuyên” gác bỏ lại, không để đứng cuối tập thơ nữa... thì đặt tên là gì?

Đúng là để “Khúc vĩ thanh 109” đứng riêng ra như một bài thơ, thì cần phải đặt tên riêng, chứ chả nhẽ lại giữ cái phiên hiệu số đã không còn là chức phận của nó nữa?! Nhưng…

Tôi đọc “Khúc vĩ thanh 109”… rồi ngay sau đó đi tìm mua thơ Nguyễn Phúc Lộc Thành, những mong xem 108 các “khúc đầu” với “khúc mình” kia nó thế nào, mà người ta khuyên tác giả bỏ “khúc đuôi” ra hẳn tập thơ? Nhất là vì sao chính nhà thơ... cũng không nói nên lời... về cái lý do phải cắt để “khúc đuôi” riêng ra?...

Đáng tiếc là mãi mới đây, tôi mới tìm được “Giấc mơ sông thương”, “Chiều” và “Chân quê”. Đọc cả ba tập thơ, tôi hiểu “tại sao tác giả lại đã đồng ý bỏ “khúc đuôi” của tập thơ ra, và băn khoăn ngỏ ý tìm tên mới cho nó?”…

Trở lại “Khúc vĩ thanh 109”… Và tôi cảm nhận đó như là một AI ĐIẾU !

Hiển ngôn của “Khúc vĩ thanh 109” lần lượt trả lời bốn câu hỏi mà tôi đã tự đặt ra cho mình. Đó là điếu ai? Người ấy từ giã cõi đời thế nào? Vì sao? Và còn để lại gì?...

Đây là “đoạn 1”, thoạt nhìn như ba cặp lục bát, đọc với nhịp hai – bốn tiếng một, sẽ cảm nhận ngay nỗi khắc khoải... buồn đau…; nhưng lại được ngắt nhịp, cách dòng thành 11 câu thơ, tạo ra các nhịp 2/4/4/4, 6/4/4 và 2/4/4/4 , với những tiếng lòng, có khi nấc lên, lắp láy biết mấy ẩn ức nỗi niềm; có khi nghẹn xuống thinh không, rồi lại bỗng “tru” réo lên… để rồi lại lịm tắt... trong “ru hời” của “rêu thềm” và “rơm rạ”

Khóc ai? Thì hiển ngôn đây : “con ngồi khóc thu” chứ còn ai nữa!?...

Cầm được cái chìa khóa ẨN DỤ “khóc thu” của “đoạn 1”, tôi mở được thông điệp của các “đoạn 2”, nhất là “đoạn 3”, để rồi đi đến “đoạn 4” với một cái dấu chấm nhiễu chung cuộc … thật kinh hoàng!...

Và... tôi chợt hiểu ra vì sao  “Khúc vĩ thanh 109” này chưa thể đứng cuối, để chuyển tải trọn vẹn thông điệp của “Giấc mơ Sông Thương”; để hoàn thành cái sứ mệnh của tập thơ...

Nên thôi… thì cứ như  ý tôi, “Khúc vĩ thanh 109”  hiện tại cũng nên tạm đứng riêng ra với một cái tên mới...

Gọi là KHÓC MẸ… được chăng?...

6/1/2024  

Lê Xuân Lâm

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Cao Bá Quát - Xuất khẩu thành thơ để phê bình thơ

Cao Bá Quát được mệnh danh là Thần đồng Thơ. Ông tài chữ, tài thơ, nên người đời tôn vinh nhà thơ Cao Bá Quát là Cao Chu Thần. Ông sinh năm 1808, mất năm 1855. Ông sống cùng thời với Thần chữ Nguyễn Văn Siêu, người dùng chữ như của Trời, Phật, đã có chữ đề trên Đài Nghiên Tháp Bút nơi Hồ Gươm cùng nhiều nơi danh thắng, linh thiêng khác. Bởi thế, người đương thời tụng ca và đặt danh xưng cho hai ông là "Thần Siêu, Thánh Quát", đồng thời luôn thán phục, trân trọng, tôn vinh hai ông, với nhiều mỹ từ đặc biệt, như: "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán".

Thời gian Cao Thần ở Huế, giữ chức quan Hành tẩu Bộ Lễ của Triều đình nhà Nguyễn. Tuy làm chức quan nhỏ, nhưng ông được mọi người mến mộ, nể trọng,  kính phục, bởi ông là tấm gương sáng về nhân cách và tài năng, nhất là thơ. Vua các đời, đều kính nể ông, kể cả ông Vua giàu trí thức, tài thơ nhất trong 13 đời Vua, như Tự Đức, với việc Tự Đức cho ra đời hàng loạt tác phẩm thơ sáng giá, như "Ngự chế thi tập", "Cơ dư tự tình thi tập", " Việt sử tổng vịnh thi tập"…, được cả quan quân Triều đình hết lời ca ngợi. Suốt đời mình, Cao Bá Quát luôn thẳng thắn, khách quan, khảng khái, quyết liệt, kiên định, coi khinh hám danh, trục lợi, tầm thường, nịnh bợ, hèn nhát…

Trong thơ của Cao Thần cũng vậy, nên nhiều người ghen ghét, bực tức, mà vẫn ngầm mến phục và ngậm đắng nuốt cay. Trong giao lưu thơ ở chốn Cung đình, tính ông cũng thể hiện rõ, không kiêng nể một ai, kể cả Vua, ông cứ nói toạc ra câu hay, câu dở những bài thơ của Vua. Mà lại là những ý kiến phê bình thơ rất thẳng thắn, chính xác. Thế mới lạ về tính khí Cao Thần.

Một lần, vua Tự Đức khoe rằng: Đêm qua nằm mơ, bỗng nẩy ra câu thơ rất hay, nay trẫm đọc cho mọi người nghe:

Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ

Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai…

Nghe Vua đọc xong, các nhà thơ Cung đình hết lời ca ngợi thơ của ông Vua, họ khen đến xôn xao cả lên. Ngược lại, Cao Bá Quát đứng lên trình tâu: "Thưa Bệ hạ! Đây là thứ thơ cũ, mà hạ thần đã nghe và thuộc từ lúc còn trẻ… Nghe Cao Bá Quát nói, vua Tự Đức chưa hết ngạc nhiên, và bực tức. Không những thế, Cao Bá Quát còn tức khí, xuất khẩu ngay bài thơ phê bình thơ của Vua:

Bảo mã tây phong huếch hoác lai

Huênh hoang nhân tự thác đề hồi!

Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ

Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai

Xuân nhật bất văn sương lộp bộp

Thiên thu chi kiến vũ bài nhài

Khù khờ thi tứ đa nhân thức

Khệnh khạng tương lai vẫn tú tài…!

Bài thơ được dịch ra là:

Huếch hoác ngựa về theo gió đưa

Huênh hoang người cũng tự đi về

Oanh vườn học nói khề khà giọng

Đào nội đưa cười lấm tấm hoa                                         

- 2 -

Lộp bộp chẳng nghe xuân móc nặng

Bài dài chỉ thấy hạt mưa thu

Khù khờ cu cú ai chẳng biết

Khệnh khạng còn đem hỏi khách thơ!

Bình thơ thẳng thắn bằng thơ của Cao Bá Quát. Đây là kiểu bình thơ có một không hai ở Việt Nam. Qua lời bình, vua Tự Đức đã hiểu Cao Bá Quát đánh giá thơ của mình là ý cũ, tứ không có gì mới và thơ sáo rỗng… Đó là, Cao Bá Quát đánh giá chính xác thơ của Tự Đức không hay, một cách bộc trực, không kiêng nể, không sợ Tự Đức là Vua, mà đánh giá bằng thơ về thơ của Vua, với sự lập tức nẩy ra bằng các ý thơ chính xác, sâu sắc, chắc chắn… Thế mới thật kỳ tài. Nhưng, "Cái tài đi với cái tai một vần", và "Thẳng thắn thật thà thì thua thiệt". Họ tức bực Cao Bá Quát, coi ông như cái gai trong mắt của ông Vua hám danh, khoe tài-Tự Đức.

Ngay cả nhiều bài thơ của những nhà thơ nổi tiếng trong Triều đình, và ở "Thi xã Mặc Vân" của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, với tài chữ, tài thơ, Cao Bá Quát đã không khách khí, giữ ý, giữ nhẽ, mà phê bình thẳng thừng:

Ngán thay, cái mũi vô duyên

Câu thơ Thi xã con thuyền Nghệ An

Lại dùng thơ phê bình thơ, mà lại so sánh những câu thơ của Thi xã với mũi của con thuyền buôn mắm Xứ Nghệ, có mùi không thể ngửi được, thì là cách phê bình vừa tài, vừa chính xác, mạnh mẽ, và ghê gớm.

Dù Tùng Thiện Vương không thích cách phê bình thẳng thừng, chính xác của Cao Bá Quát, nhưng cũng ngấm thấy ý đúng của Cao Thần, mà dần dần nhận ra điều là Cao Thần phê đúng, nói giỏi bằng thơ. Cho nên, dù có lúc Tùng Thiện Vương tức bực Cao Bá Quát, nhưng do phục tài, ông đã sớm biết hối, rồi từ trân trọng tài năng thực sự nức tiếng của Thánh Quát. Từ đó, tình thi hữu, tình bạn, tình thơ của hai thi sĩ lớn này càng hay, càng đẹp, thắm thiết, như hoa, như gấm, bền như thép, như gang.

7/1/2024  

Nguyễn Tiến Bình

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Hồn quê trong một sắc thơ miệt vườn

Nhà thơ Kiên Giang (1929-2014) - đúng ra năm sinh: 1927 - tên thật Trương Khương Trinh (bút danh khác: Hà Huy Hà, Ngân Hà, Trinh Ngọc, Cửu Long Giang…, gốc người làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là Kiên Giang).

Nhà thơ Kiên Giang (1929-2014) - đúng ra năm sinh: 1927 - tên thật Trương Khương Trinh (bút danh khác: Hà Huy Hà, Ngân Hà, Trinh Ngọc, Cửu Long Giang…, gốc người làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là Kiên Giang). Ông còn là ký giả, soạn giả cải lương hàng đầu cùng thời với Năm Châu, Viễn Châu, Thái Thụy Phong, Quy Sắc…và là thầy của hai soạn giả tài danh: Hà Triều - Hoa Phượng. Bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ thành ca khúc, công chúng rất hâm mộ. Vở cải  lương Người vợ không bao giờ cưới đã giúp cho Thanh Nga (1942-1978) đạt giải Thanh Tâm (1958) và trở thành “nữ hoàng sân khấu”. Trước 1975, Kiên Giang phụ trách ban Thi văn Mây Tần trên đài Phát thanh Sài Gòn, làm thơ và viết cho các báo : Tiếng chuông, Tiếng dội, Điện tín, Tia sáng…Ông tham gia phong trào ký giả đi ăn mày, dẫn đầu đoàn biểu tình chống chế độ Cộng hòa đàn áp đặt quy chế khắt khe lên báo chí nên bị vào tù. Sau ngày thống nhất đất nước, Kiên Giang làm Phó đoàn Cải lương Thanh Nga, kiêm cán bộ phòng Nghệ thuật, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Sân khấu thành phố Hồ Chí Minh. Tác phẩm : + Tập thơ: Hoa trắng thôi cài trên áo tím, Lúa sạ miền Nam, Quê hương thơ ấu. + Vở cải lương : Người đẹp bán tơ (1956), Người vợ không bao giờ cưới, Áo cưới trước cổng chùa, Phấn lá men rừng, Hồi trống trường làng, Lưu Bình Dương Lễ…, +Tân cổ giao duyên: Đội gạo đường xa, Người đẹp bán tơ, Hương cau quê ngoại, Cô gái miền Tây… Cuộc đời nhà thơ được hảng phim Truyền hình TP. HCM (TFS) thực hiện thành phim (1999) với nhan đề: “Chiếc giỏ đời người”. Thơ Kiên Giang được coi là ấn tượng giọng thơ chơn chất, mộc mạc của người Nam bộ.

Trong lịch sử văn học Việt Nam, Rạch Giá (nay là Kiên Giang) từng được coi là vùng đất thơ phương Nam với hiện diện của nhiều danh sĩ trên văn đàn : nhà thơ Mạc Thiên Tích (1706-1780) với Chiêu Anh Các, đôi uyên ương thi sĩ : Đông Hồ (1906-1969) - Mộng Tuyết (1914-2007), Sơn Nam (1926-2008) cùng người bạn văn nghệ đồng hương tri kỷ Kiên Giang… và còn nữa dấu ấn không phai của nhà thơ lãng tử yêu nước Nguyễn Bính (1918-1966) tại Hà Tiên … Với Kiên Giang, một khuôn mặt thơ thuộc thế hệ đàn em gần gũi với Nguyễn Bính, mà phong cách thơ có nhiều sắc điệu cọng hưởng với tác giả “Lỡ bước sang ngang”.

Nhà thơ Kiên Giang sinh ra tại làng Đông Thái, Gò Quao, vùng U Minh Thượng, cùng quê với nhà văn Sơn Nam. Thuở nhỏ, anh học trò Trương Khương Trinh sống với gia đình tại quê nhà, sau lên Rạch Giá vào tiểu học. Thi đậu bằng Tiểu học Pháp Việt, Khương Trinh lên Sài Gòn học trường Lê Bá Cang rồi trở xuống Cần Thơ, học lớp Đệ Nhị (nay là lớp 11) trường Nam Hưng (khu vực Tư thục Nam Cường, sau đó là trường Tân Văn tọa lạc  khoảng giữa đường Phan Đình Phùng hiện nay). Tại đây, nhờ có khiếu văn chương, anh được thầy giao cho thực hiện tờ bích báo lấy tên là “Ngày xanh”. Anh lo biên tập bài vỡ kiêm luôn việc trình bày là vẽ và trang trí. Cô bạn học Nguyễn Thị Nhiều có nét chữ đẹp, giúp anh nắn nót lo chép bài vở. Nhiều có cái tên mộc mạc, dân dã nhưng vóc người duyên dáng với khuôn mặt thanh tú và mái tóc huyền liêu trai buông thỏng ôm ấp đôi bờ vai. Gia đình người bạn gái theo đạo Thiên Chúa, nên anh học trò giỏi văn nghệ đa tình thường lén theo rình bạn đi lễ tại nhà thờ Chánh Tòa (ở đường Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ) mặc dù mình là người ngoại đạo.

Tình cảm giữa hai người rất “thơ”, và có lẽ trong cõi lòng sâu kín, họ cũng đã cảm nhận nhau tình yêu trong thầm lặng, chẳng khác nào chuyện tình nên thơ giữa chàng thi sĩ tài hoa Pháp Félix d’Avers (1806-1850) và người đẹp Marie Nodier (trong bài thơ “Tình tuyệt vọng” mà nhà văn Khái Hưng (1890-1946) đã dịch rất hay từ tiếng Pháp sang tiếng Việt (1)). Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Kiên Giang cùng những người bạn thanh niên yêu nước như Nguyễn Bính, Sơn Nam vào vào khu 9 cùng toàn dân, tham gia chống giặc ngoại xâm. Bài thơ nổi tiếng một thời “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” (2) của Kiên Giang mang tình tự của tác giả và có nguồn gốc xuất phát từ thời điểm, không gian này.

Kiên Giang là một nhà thơ yêu nước, một soạn giả, một ký giả được sinh ra tại Hậu Giang và lớn lên trong kháng chiến 9 năm chống Pháp ở Nam bộ. Ngoài những vở cải lương mang đề tài lịch sử, văn học, những tấm gương trung hiếu tiết nghĩa cao đẹp trong dân gian,  Kiên Giang thể hiện trong tác phẩm tấm lòng chơn chất, tình cảm dung dị hồn nhiên của con người miền Nam.  Tác phẩm Kiên Giang được coi là thông điệp chung nhà thơ nói hộ tâm tư trong sáng, tình cảm thanh cao cho bà con, làng xóm và đồng bào mình không chỉ vủng sông nước ruộng đồng mà còn cho khắp cả ba miền quê hương ruột thịt. Nếu trước đây có dịp được nghe những bài thơ Kiên Giang chọn ngâm trên sóng đài Phát thanh Sài Gòn của ban Thi văn Mây Tần, thính giả bốn phương cũng đã nhận ra được tính nhất quán ở chủ đề những bài thơ và lập trường chân chính của người phụ trách chương trình. Đó là tình yêu làng xóm, nghĩa tình đồng bào ruột thịt, gián tiếp nói lên lòng yêu quê hương, tinh thần bảo vệ đất nước và ý chí đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Với Kiên Giang, trước tiên, bài thơ nổi tiếng “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” được coi là thiên tình sử đẹp tuổi học trò thời hoa niên, lồng trong bối cảnh chiến tranh của tác giả với cô gái có đạo yêu nghệ thuật văn chương ở khu Nhà Thờ Lớn tại Tây Đô - tác phẩm đã làm cho tên tuổi nhà thơ thêm rạng rỡ trên thi đàn. Hầu hết những bài thơ còn lại trong ba thi phẩm của tác giả, đều nói lên được cái tình cảm hồn hậu, chơn chất và ngôn ngữ thơ dung dị, giản đơn như lời ăn tiếng nói thật thà của con người miệt vườn Tây Nam bộ. Thơ Kiên Giang đa phần nghiêng về tả cảnh và tự sự. Kiên Giang là thi sĩ của miền sông nước Hậu Giang nên người đọc thường bắt gặp những cảnh quen thuộc nơi quê hương tác giả. Đó là hình ảnh của con sông Hậu hiền hòa mang nước dòng nước ngọt phù sa màu mỡ cho ruộng lúa vườn cây như đem hơi thở trong lành về cho bà con làng xóm : “Đây Hậu Giang, đây Hậu Giang/ Nhánh sông gắn bó Cửu Long Giang/ Phù sa cuộn chảy trong lòng nước/ Khói sóng hòa hơ thở xóm làng…” (Đẹp Hậu Giang). Yêu đất nước là yêu quê hương, nơi chôn nhau cắt rún còn in đậm dấu vết kỷ niệm của người thân và biết tự giác đứng lên cầm súng,  đấu tranh bảo vệ tổ quốc : “Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo/ Anh làm chiến sĩ giữ quê hương/ Giữ màu áo cưới người yêu cũ/ Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường” (Hoa trắng thôi cài trên áo tím).

Thơ Kiên Giang là những bức tranh hồn hậu về gia đình, về trường học được phác họa đơn sơ, chơn chất mà tinh tế và trữ tình, dễ lôi cuốn người đọc vì dễ hiểu, dễ nhớ, chỉ đọc qua một lần có thể thuộc ngay. Dù có người bảo thơ Kiên Giang có giọng điệu gần gũi với Nguyễn Bính, vì hai thi sĩ nổi tiếng này, ngoài cá tính tương đồng ngẫu nhiên, họ đã có dịp sống và công tác văn nghệ gần nhau lúc còn ở trong chiến khu. Đọc lại thơ Kiên Giang, ta bắt gặp hình ảnh quen thuộc, gần gũi của mọi người trong gia đình, nơi trường học…Đó là cử chỉ bỡ ngỡ của cậu học trò nhỏ ngây thơ rất dễ yêu, bắt đầu làm quen với từng con chữ viết xa lạ lúc mới vào tiểu học dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo : “Từ khi cô giáo tập em đồ/ Không kê giấy chậm em vô ý/ Để dấu tay lem vở học trò ” (Đồng xu giấy chặm). Bút pháp Kiên Giang, dù mộc mạc đơn sơ nhưng tác giả đã nắm bắt tài tình được những chi tiết đáng giá. Cũng như những dòng thơ mới thất ngôn dung dị nhưng đầy hình tượng và sắc màu theo đó nhà thơ đã nhớ lại và mô tả về người mẹ quê Nam bộ tão tần và đáng kính: “Nhớ mùa cau trổ trong vườn cũ/ Mẹ quét lá vàng ủ lấy phân/ Khói trắng lên trời như tóc bạc/ Con ngờ khói tóc quyện mây Tần” (Khói trắng). Những đường nét, vệt màu tiêu biểu trong bức tranh sinh hoạt của người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long luôn hiện diện trong chiều dài và độ sâu của thơ Kiên Giang. Từ chiếc “Bánh ống Trà Vinh” xinh xắn, thơm ngọt đến hình ảnh đặc thù Nam bộ của chiếc cầu tre quen thuộc bắt gặp rải rác ở các sông rạch đồng bằng, luôn được nhà thơ Kiên Giang trìu mến mô tả bên cạnh những câu ca dao ý vị : “Ai ở làng quê…/Đã từng …/ Qua nhịp cầu tre/ Tiếng hò tiếng hát/ Dưới mái nhà tranh/ “Ầu ơ… Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh khó đi/ Khó đi mượn chén ăn cơm/ Mượn ve mua rượu, mượn đờn kéo chơi”. Tiếng “Sàng gạo” vang vọng sột soạt trong ánh hoàng hôn bảng lảng với người mẹ hiền mái tóc trắng phau, tiếng “Xe trâu” cót két, lang thang trên lối mòn làng quê, là những âm vang quen thuộc trong đời nhà thơ: “Mẹ rắc hoàng hôn theo hạt tuyết/ Cám bay phảng phất quyện hương cau/ Nghiêng nghiêng bóng xế sau lưng mẹ/ Gạo trắng như màu tóc trắng phau” (Sàng gạo)- “Xe trâu cót két/ Cót két xe trâu/ Bánh xe nằng nặng in sâu lối mòn…” (Xe trâu). Bài thơ”Tiền và lá” mang tính triết lý khiến ta dễ ngậm ngùi về một thói đời không phải là hiếm gặp ở cõi nhân gian : “Tiền không là là em ơi/ Tiền là giấy bạc của đời in ra/ Người ta giấy bạc đầy nhà/ Cho nên mới được gọi là chồng em” (Tiền và lá”). Còn nữa, vẫn với lời thơ chơn chất, thật thà và bút pháp bình dị, hồn nhiên, nhà thơ Kiên Giang tiếp tục cho ta hình tượng những con đòchiếc quán đình làng.. luôn đưa ta về với quê hương, nguồn cội. Trên tất cả ở nội dung thơ Kiên Giang vẫn là tình yêu đất nước quê hương như luôn bàng bạc theo từng tứ thơ, câu thơ :”Quê hương là máu, là xương thịt…/ Nếu ai xâm chiếm đến quê hương/ Tình quê sẽ hóa ra tình nước/ Tình nước đúc thành súng với gươm…/ Dân đứng lên siết chặt quân hàng/ Giặc vào đây, giặc sẽ rã tan…” (Tình quê tình nước).

Với tình cảm nhạy bén của một nhà thơ cộng với sự năng nỗ bộc trực của một ký giả, Kiên Giang không thể thờ ơ trước các vấn đề thời sự chướng tai gai mắt diễn ra trong xã hội. Những ngày đất nước chưa giải phóng, nhà thơ đã hăng hái tham gia, dẫn đầu đoàn biểu tình chống chế độ khắt khe với giới báo chí mà không sợ tù đày. Phong trào chống chế độ độc tài mục nát đã phong tỏa chùa chiềng, đàn áp ni cô, nhà sư xuống đường, sau sự kiện tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức, Nhất Chi Mai, rồi đến hành động quả cảm coi thường mạng sống của Quách Thị Trang, Mai Tuyết An…Cả đến cái chết của anh sinh viên Mỹ Morisson từ bên kia bờ Thái Bình đương đã thiêu trước lầu Năm Góc để chống đối cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ, đòi hòa bình tại Việt Nam, Kiên Giang đều có làm thơ để bày tỏ tấm lòng ngưỡng mộ, tiếc thương: “Nhất Chi Mai, Morisson/ Đôi bồ câu trắng giữa lòng thiên thu” (KG) – “Mai Tuyết An, Mai Tuyết An/ Là hoa mới nở giữa vườn xuân/ Tuổi băng trinh đẹp màu thanh khiết/ Ánh mắt chưa hoen lấm bụi trần…”(KG). Những năm cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, thấy các cô gái đua nhau hăm hở lấy chồng Mỹ - cũng như phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc gần đây, nhà thơ thay lời người mẹ, bày tỏ nỗi niềm : “Một sáng qua đò đi chợ Tết/ Mẹ khuyên con gái lọc lừa yêu/ Lấy chồng ngoại quốc, quên nguồn gốc/ Tiền bạc đâu xe sợi chỉ điều/ Mai mốt nó về bên xứ nó/ Dân mình đùm bọc đức con lai/ Lớn lên nó oán hờn cha mẹ/ Tham bã phù hoa bỏ giống nòi” (KG).

Chúng tôi không quên khoảng thời gian giữa “Phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc” và “đấu tranh  chống đế quốc Mỹ”, những ngày anh em giáo viên, sinh viên học sinh có tư tưởng tiến bộ, hăng hái làm tờ tạp chí “Văn nghệ Miền Tây” (3) vào cuối năm 1967, được gặp Kiên Giang và Sơn Nam ở khu Nancy (cuối đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn). Hay dưới khung trời đêm Tây Đô xám xịt, thỉnh thoảng thành phố gầm rung lên với tiếng bom do phi cơ B52 dội xuống U Minh vào đầu năm 1970 khi làm VNMT và tờ Lập trường (4)  tại quán cà phê “Giọt buồn” của cô giáo Mai trước sân xưởng Cơ khí tại đường Mạc Tử Sanh (nay là đường 30/4, đối diện với Bệnh viện 121 bây giờ). Những lần lại được gặp mặt nhau, các anh Kiên Giang, Sơn Nam, nhà văn yêu nước Vũ Hạnh (Nguyễn Đức Dũng) cùng nhà báo Mặc Tuyền, các anh tặng sách, gởi sách cho chúng tôi bán hộ và không quên nhắc nhở nhóm biên tập giữ vững lập trường dân tộc. Những cây bút văn nghệ tại Cần Thơ lúc ấy : Ngũ Lang, Nguyễn Bá Thế (Nhất Tâm, Nam Xuân Thọ), Huyền Vân Thanh… là những tác giả thường có thơ được Kiên Giang chọn ngâm và bình trong chương trình của ban thi văn Mây Tần do anh phụ trách trên đài Phát thanh. Ngày nay, những anh em cùng nhóm dạo ấy, nếu may mắn còn khỏe mạnh và được gặp lại nhau, thường không quên nhắc lại những kỷ niệm đẹp về nhà thơ quá cố Kiên Giang kèm theo những lời chia sẻ ân tình chung thủy về một bậc văn nghệ đàn anh.

Tóm lại, Kiên Giang là một khuôn mặt thơ đáng kính trong dòng thi ca yêu nước suốt cả hai thời kỳ đấu tranh chống thực dân và đế quốc. Tài hoa ở nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng tài năng trên văn đàn, sân khấu mà còn nổi bật nhân cách ở sự nhạy bén trong hoạt động và đấu tranh xã hội. Chính nhà văn Sơn Nam, người bạn cùng quê và “đồng thanh khí” của Kiên Giang đã chân tình thổ lộ : “Đây là người bạn cùng xóm, cùng làng, cùng xứ U Minh mà tôi lấy làm tự hào và thật lòng ca ngợi”. Nội dung thơ Kiên Giang thiên về đề tài quê hương, làng xóm, tình yêu đất nước và sinh hoạt dân dã nơi làng quê. Về nghệ thuật, ít khi nhà thơ dùng từ hoa bay bướm như Nguyễn Bính vốn là một nhà thơ gần gũi với ông. Lời thơ Kiên Giang giống như cuộc đời thi sĩ, luôn sáng trong, giản dị, như tiếng nói tự nhiên, mộc mạc của người Nam bộ nên rất giàu tính nhân văn, được nhiều người thuộc lòng. Do vậy, ta có thể nói : thơ Kiên Giang đậm tính “về nguồn”, và tạo nên một sắc thơ đặc biệt của miệt vườn.  

Chú thích:

(1) Xem KTNN số 834  ra ngày 10.10.2013 bài “Danh sĩ và giai nhân” của Ngũ Lang, tr. 13

(2) Cũng là tên tập thơ của Kiên Giang, do họa sĩ Duy Liêm vẽ bìa. NXB Phù Sa Sài Gòn ấn hành trước 1975

(3) “Văn nghệ Miền Tây”, Tạp chí Văn nghệ (1967-1970) ra được 5 số, do Ngũ Lang chủ trương biên tập, cùng  sự cộng tác của một số nhà văn, SVHS có tư tưởng tiến bộ  và lập trường dân tộc, yêu nước, chống xâm lược. Số đặc biệt Xuân Mậu Thân (1968)  được GS. Pháp văn Nguyễn Bá Thảo - nguyên Phó Chủ tịch MTDTGP Khu Tây Nam bộ mang ra chiến khu (5/1968)

(4) “Lập trường”, tạp san Xuân 1970 ra tại Vị Thanh (nay là Hậu Giang)  do Ngũ Lang chủ  trương biên tập với sự cộng tác của Nguyễn Bá Thế, Nhất Tâm, Sơn Nam, Kiên Giang...      

1/1/2024  

Nguyễn Thanh

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Khối đa diện “Mộng đế vương”

Nhà xuất bản Book Writer Corner (Hoa Kỳ) mới ấn bản tiểu thuyết “A glorious Dream - NGUYEN TRUONG” Mã số ISBN: 978-0-99-702549-1. Sách dầy 199 trang; phát hành qua 17 hệ thống phân phối sách: AMAZON, APPLE BOOKS,...

“A glorious Dream” dịch từ tiểu thuyết “Mộng đế Vương”, tác giả Nguyễn Trường, NXB Phụ nữ tái bản năm 2019, Mã số ISBN: 978-604-56-6502-2.

Sinh thời, nhà văn Nguyễn Khải chưa bình tác phẩm nào của nhà văn khác. Vào năm 2000, khi biết mình sắp về cỏi vĩnh hằng, ông có lời bình trước cho tái bản tiểu thuyết “MỘNG ĐẾ VƯƠNG”. Tôi trích lại:

Đề tài đã hay, câu chuyện lại kỳ dị, hấp dẫn, có cả cái cười lẫn nước mắt, do cuộc sống nhiều màu vẻ đã tạo ra chứ không do người viết bịa ra. Bịa thế nào được những nhân vật, cảnh ngộ, tình tiết sống động đến thế!” trang 7. Ông kết lại “Chưa được đọc đầy đủ một cuốn tiểu thuyết đã được viết lại mà dám viết bài giới thiệu với bạn đọc là sao? Là do Nguyễn Trường tin lời tôi nói rằng năm 2002 rất có thể tôi phải giã biệt bạn bè, nêu yêu cầu tôi cứ viết trước, theo cái cảm nhận tổng thể của bản in lần đầu, cũng là lưu lại một chút tình với người bạn vong niên.” Trang 9 tiểu thuyết Mộng Đế Vương, Nhà xuất bản Phụ nữ, năm 2019 tái bản có sửa chữa, mã số ISBN: 978-604-56-5865-9.

Lấy bối cảnh xảy ra ở Cồn Phụng, một cái cồn nhỏ như một hòn đảo nổi lên giữa sông Tiền Giang hồi những năm 60- 70 của thế kỷ 20, có một ông đạo Dừa tên là Nguyễn Thành Nam đã lôi kéo được gần triệu tín đồ theo đạo, lấy Cồn Phụng làm “quốc gia” riêng. Đạo của ông cũng rất lạ, kết hợp giữa đạo Phật lẫn đạo Thiên Chúa, thành đạo Vừa Vừa, nhưng vì ông sống ở xứ dừa, lại chỉ dùng dừa làm thức ăn, nước uống nên người dân gọi đạo của ông là đạo Dừa. Giáo lý của ông cũng mù mờ, hành xử của ông nhiều khi rất hài hước. Ông ôm mộng giải quyết cuộc chiến tranh giữa người Mỹ và người Việt băng lý thuyết “Bất chiến tự nhiên thành” nên ông luôn hành động làm sao cho các bên chọn ông làm trung tâm hòa giải quốc tế để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Bởi thế ông đã nhiều lần tìm đường ra Hà Nội để gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, thuyết phục Cụ cho ông đứng ra dàn xếp cuộc chiến tranh, vãn hồi hòa bình. Nhiều lần ông tìm đến tòa đại sứ Mỹ, gặp đại sứ Bân-cơ, rồi gặp Tổng thống Việt Nam Cộng hòa như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, phó Tổng thống miền Nam Nguyễn Cao Kỳ, để ông đứng ra làm trung tâm hòa giải, đem lại hòa bình cho Việt Nam. Thậm chí ông nộp tiền, nôp đơn ra ứng cử Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Bởi đầu óc lẫn thẩn, hành xử ngô nghê nên những việc làm của ông khá hài hước. Tuy nhiên ông có lòng yêu nước, tu hành nghiêm túc nên những cố gắng của ông có khi thành công trong ngắn hạn. Điều kỳ lạ là ông cai quản cái vương quốc của ông nửa thần thánh, nửa bạo chúa, hay vì sự lẫn thẩn của ông là mảnh đất màu mỡ cho sự hà khắc của độc tài nảy nở và phát triển, bóp nghẹt quyền sống, quyền tự do của nhân dân Cồn Phụng.

Mọi hiện tượng, sự vật tồn tại, vận động trong hữu hạn của không gian và thời gian.

1. Không gian

Nhà văn Nguyễn Trường chọn xứ đạo ở Cồn Phụng của ông Nguyễn Thành Nam, đạo vừa vừa, gọi là Đạo Dừa: gói gọn trong một vùng đất nhỏ, có số lượng tín đồ lúc cao điểm lên đến triệu người, ngang bằng với các tôn giáo khác ở nước ta trong cùng thời điểm; cô đặc trong diện tích nhỏ bé với mật độ dân số cao nhất thế giới, làm nhanh chóng nảy sinh những vấn đề sinh tồn vốn gay gắt…

2. Thời gian

Đạo Dừa tồn tại trong ba thập niên, không ngắn, không dài; có đầy đủ các giai đoạn của một nền đạo phải kinh qua: phát sinh, phát triển và tiêu vong trong đời một giáo chủ, lý do để nó suy sụp vì đời sau là không có, khiến cho tính liên tục của triết lý phát triển và tiêu vong của nó rất cao.

Từ không thành có rồi đến lúc không phục vụ được lợi ích trước mắt của tín đồ, chính họ khai tử nền đạo, chỉ còn tàn dư là những ngày cuối đời của ông Nguyễn Thành Nam với biến tướng đạo bất tạo con và cũng tiêu vong khi ông mất.

3. Tư tưởng

Tác giả khai thác tiểu sử bản thân Nguyễn Thành Nam du học ở Pháp trở về, đến Pháp, quê hương của tư tưởng Cộng Hòa. So với người đương thời, anh có nhiều kiến thức hiện đại hơn. Tác giả hư cấu cho Nam ngẫu nhiên vào Nhất dạ đế vương để khám phá thiên bẩm làm vua của mình. Từ đây, con người hiện đại, ảnh hưởng của tư tưởng khai sáng, tư bản bị lẫn lộn với tư tưởng phong kiến và bị lấn át bằng tham vọng quyền lực. Do kết hợp đông tây một cách thiếu phủ định kế thừa nên phát triển tự nhiên theo cái cách mà chúng ta cho là ngớ ngẩn. Nhưng giả sử Nam thành công, có thể chúng ta lại dùng cách nhìn khác, gọt giũa tư liệu để cho ra hình ảnh khác, là vầng hào quang sáng chói chẳng hạn…

4. Tôn giáo

Nam sử dụng tôn giáo cho mục đích tạo quyền lực. Tôn giáo cần tín đồ. Khổ công tầm sư học đạo để tạo ra triết lý cho nền đạo của mình, tu luyện, tịnh khẩu cả chục năm trời. Người sáng lập ra đạo rất cần có nhiều tín đồ. Để có tín đồ nhanh nhất là dùng các biện pháp mê tín. Những người hành nghề mê tính dị đoan cần tôn giáo. Họ lợi dụng nhau. Ông thầy bói đồng hành cùng Nam trong quá trình xây dựng niềm tin. Vai trò ông thầy bói rất quan trọng, cho tới lúc ông tổ chức ra sự kiện xuống hang Bác vật Lưu Văn Lang khám phá để Nguyễn Thành Nam ngộ đạo. Mối quan hệ giữa tôn giáo và thần học, mê tín dị đoan là ruột thịt khi cần phát triển và duy trì nền đạo. Ông Đạo Dừa ở đỉnh cao quyền lực và sự ngưỡng mộ của tín đồ, một phần do ông thầy bói mất, những tưởng hào quang là tự thân mình có, Nguyễn Thành Nam quên đi vai trò của mê tín dị đoan nên bắt đầu xuất hiện những rạn nứt…

5. Quản trị nền đạo

Tôn giáo phải quản lý tín đồ và tổ chức các hoạt động của nó. Chính quyền Việt Nam cộng hòa buông lõng quản lý khu vực Cồn Phụng, buộc ông Đạo Dừa phải lập ra nhà nước để quản lý dân chúng; để có nhiều thời gian tham thiền, nhập định... Đây là lĩnh vực chính trị, khó có tiếng nói chung với giới chức sắc tôn giáo. Được ông Đạo Dừa ban chức (bổ nhiệm); ông Lý tổ chức bộ máy nhà nước tại Cồn Phụng. Bộ máy đó có cách quản lý khác với ông Đạo Dừa và dần đi đến mâu thuẫn quyền lợi. Tôn giáo cần phải có sự quản lý của nhà nước, tức là của ông Lý. Nhưng vì mới thoát thai từ bộ máy tôn giáo mà hầu hết người dân là tín đồ, để thâu tóm được quyền lực về tay nhà nước, ông Lý cần có thời gian sống cộng sinh chờ đến lúc trưởng thành.

Tác động tương hỗ từ chiều ngược lại, buộc ông Đạo Dừa phải chấp nhận thực tế đã có nhà nước, ông phải chia quyền chứ không phải ông muốn buông dần quyền lực. Ông có thể lợi dụng nhà nước để tăng ảnh hưởng lên tín đồ chứ không thể đảo ngược tiến trình của vương quốc Cồn Phụng, càng không thể tạo thêm một thiết chế nữa đứng trên nhà nước. Và do không biết cách quản lý, tự thân ông Đạo Dừa làm các vấn đề xã hội nhanh chóng nảy sinh theo hướng tự diệt…

6. Xã hội Cồn Phụng

Khi ra khỏi trái đất, loài người hiểu: không có thứ ánh sáng nhân tạo nào giống với ánh sáng tự nhiên, vì nó là kết hợp hàng tỷ tỷ ngôi sao rực sáng trong vũ trụ và nó đến với ta bằng vô số những khoảng cách thời gian, như ánh mặt trời từ điểm xuất phát đến ta mất 8 phút, nhưng có những tia sáng đã đi hàng triệu năm mới đến được trái đất và hòa quyện vào các loại ánh sáng khác để cho ra thứ ánh sáng muôn màu khi phân tích quang phổ.

Do được nuôi dưỡng bằng nguồn ánh sáng tự nhiên, xã hội loài người có điểm tương đồng, con người đến từ mọi nguồn, mọi nơi, mọi lúc, không đồng đều và không thống nhất. Xã hội Cồn Phụng, được ông Lý cai quản hà khắc, nhưng không vì thế mà mọi người giống nhau như một và có cùng đức tin. Nó không biệt lập hoàn toàn do đó không thể ngăn sông cấm chợ, không thể bế quan tỏa cảng.

Người dân đứng lên đấu tranh đòi tự do hóa tàu thuyền qua lại Cồn Phụng và các vấn đề kinh tế khác nảy sinh cũng là xuất phát từ nhu cầu phải có các mối quan hệ giữa trong và ngoài để phát triển. Nhu cầu tự do tư tưởng và lợi dụng nhu cầu này phát sinh theo...

7. Chính trị

Đan xen vào đó là các vấn đề chính trị do ông Đạo Dừa gây ra như ra Bắc gặp cụ Hồ, tranh cử Tổng thống, mua sắm vũ khí phục vụ đấu đá…

Tệ nạn tham nhũng của bộ máy do ông Lý đứng đầu… đòi hỏi chi tiêu cho bộ máy nhà nước và bộ máy tôn giáo đều lấy từ nền kinh tế Cồn Phụng… Nhà nước của ông Lý phải bóc lột dân nhiều hơn nhằm cung phụng cho nền đạo và cho bộ máy, cho cá nhân, cho cả những tham vọng của tất cả các bên... Trớ trêu, người đứng đầu vương quốc Cồn Phụng đòi hỏi phải có một cuộc sống công bằng, không áp bức bóc lột nhân dân mà không có giải pháp.

Tác giả đã dựng lại một xã hội phức tạp, đầy rẩy mâu thuẫn, bất công, đấu đá nội bộ bất phân thắng bại, do không phân định rõ đúng sai, minh bạch. Một xã hội mang màu sắc không tưởng do pha lẫn thời đại hồng hoang cai quản bằng niềm tin: tôn giáo, mê tín, dị đoan trong thiết chế phong kiến với hệ tư tưởng cộng hòa ở bên ngoài tràn vào. Bản thân ông Đạo Dừa không làm được việc lớn: “không chiến tự nhiên thành”: hòa bình cho dân tộc và thế giới nhằm vinh danh nền đạo để phát triển và tồn tại lâu dài. Ông để họ lầm than khốn khổ dưới bộ máy do ông tạo ra và đang dần tước đoạt quyền lực của ông, biến ông thành một thứ bù nhìn. Tổng kết và phát triển giáo lý cho nền đạo, cũng không làm được.

Hậu quả là một bộ phận thanh niên, động lực phát triển của xã hội, lợi dụng nền đạo của ông để tránh quân dịch, tránh đạn bom và chờ ngày hòa bình lập lại với thái độ bất cần do ai kiến tạo nên. Số này ngày càng đông và trở thành lực lượng chính của nhân dân, lật nhào tất cả công sức của ông Đạo Dừa, ông Thầy bói, ông Lý, cô Diệu Ứng (một sáng tạo của nhà văn Nguyễn Trường, đại diện cho trí tuệ nhân dân sử dụng vào mục đích tôn giáo), chỉ vì tất cả họ không vì nhân dân.

8. Quan hệ nhà nước và tôn giáo

Tiểu thuyết dựng lên vòng đời của một tôn giáo, từ phát sinh, phát triển, nảy sinh mâu thuẫn từ bên trong, sụp đổ và trở thành tàn dư rồi chết hẳn.

Vấn đề sụp đổ của nền “đạo vừa vừa” là do chính tín đồ, người sáng lập, bộ máy quản lý… gọi chung là nhân dân Cồn Phụng; là tự thân nền đạo, không có sự can thiệp nào khác từ bên ngoài.

Đây là một mô hình có giá trị khoa học xã hội, do tác giả sáng tạo nên để tìm hiểu tôn giáo và các mối quan hệ phức tạp của nó trong điều kiện loại bỏ vai trò nhà nước. Không có sự quản lý của nhà nước, xứ đạo sẽ đi lại từ đầu mô hình phát triển của loài người từ hữu thần đến vô thần và cuối cùng, nhân dân tự quyết theo con đường vô định nhiều rủi ro…

Góc nhìn từ Hoa Kỳ

Đoạn bản dịch bìa 4 cuốn “A glorious Dream”: “… Bóc tách những phức tạp của nhân bản và đức tin, tiểu thuyết này thêu nên một tấm thảm của sự khám phá triết học, chính trị, văn chương và tôn giáo cộng hưởng sâu sắc trong lòng người đọc.”

Đa diện

Ánh sáng tự nhiên là tổng hợp của vô vàn màu, nhưng chắc chắn nó không là màu trắng. Chỉ cần có một lăng kính để phân tích ánh sáng ra nhiều màu. Bút pháp khiến tác phẩm hấp dẫn: hiện thực chủ quan, tái hiện cuộc sống tự nhiên trong mô hình (lăng kính) giống như thật.  

VỀ TÊN GỌI TIỂU THUYẾT

Nhà văn Nguyễn Trường đặt tựa đề "Mộng đế vương" có nghĩa là làm "Mộng" làm "đế" của "vương" tạm hiểu là vua của vua và do đó ông Đạo Dừa cùng lúc ham muốn:

- Làm vua vương quốc Cồn Phụng.

- Làm thủ lĩnh tinh thần của người dân Cồn Phụng

- Làm người khai sáng đạo trí tuệ của Pháp và người Việt Nam.

Tổng hợp lại là là muốn trở thành thánh sống của người dân Việt Nam.

Bằng công sức lấy tư liệu, chắt lọc; kết hợp nghiên cứu các tôn giáo khác trong nước và trên thế giới, gắn cảm nhận về các vấn đề chính trị xã hội qua các thời kỳ biến động,… tác giả cho ta bức tranh sống động, giống như tự nhiên, về một xã hội tự do, tự thân, không có sự quản lý của Nhà nước… mà ta gọi là hấp dẫn.

9/1/2024

Lê Thanh Huệ

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

‘Bút chiến’ thời Tự Lực Văn Đoàn

Trước khi được giải Lý luận phê bình của Hội Nhà văn năm nay thì “Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do” đã được chú ý trong cộng đồng đọc. “Câu chuyện cũ nhưng cách tiếp cận mới, khảo tả công phu, chưa kể những dẫn chứng “đấu đá” hậu trường văn chương, đọc rất vui”, độc giả bình luận.

Công trình nghiên cứu nhưng viết thú vị

Về ý kiến cho rằng, câu chuyện của văn học thuộc địa giai đoạn những năm 30 của thế kỷ trước không khỏi “đã cũ” trong bối cảnh hiện tại, TS. Đoàn Ánh Dương (đồng tác giả cuốn sách) cho rằng: Thực tế không bao giờ có một đối tượng nghiên cứu cũ “đã xong xuôi”, mọi vấn đề và câu chuyện đều luôn mới nếu đặt trong cách diễn giải khác.

Một trong những độc giả đầu tiên của cuốn sách, TS. Phạm Phương Chi đánh giá: “Một công trình nghiên cứu nhưng viết thú vị kể cả lập luận, giọng điệu và sự kiện. Khi đọc, tôi cũng nhiều lần bật cười một mình, các tác giả có sự hài hước, duyên dáng, vốn rất hiếm trong các công trình khoa học, học thuật”. Chị Chi còn khẳng định: Đây là cuốn sách dành cho mọi người.

Hầu hết những người từng đọc qua “Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do” đều bày tỏ thích thú với những câu chuyện hậu trường văn chương được kể lại trong sách. Ở đấy, chi chít những “vụ áp phe” công kích giữa các báo, các nhân vật nổi tiếng như một sự gây chú ý cho độc giả hay như chiến lược kinh doanh văn học nghệ thuật.

Ví như: “trong số Mùa xuân báo Phong Hóa vu cho Nguyễn Công Hoan đã “sưu tầm” để viết “Lá ngọc cành vàng”, giống “Nửa chừng xuân” và “Cô giáo Minh” giống hệt “Đoạn tuyệt”, nói một cách khác tức là Nguyễn Công Hoan ăn cắp văn của Nhất Linh và Khái Hưng. Nếu Phong Hóa nói đúng, thì là một cái nhục cho nhà văn Nguyễn Công Hoan. Mà trái lại, ông Hoan quả không ăn cắp văn, thì với một việc này cũng có thể tan tành hết cả công gây dựng của TLVĐ”, trích bài của tác giả Lê Cường trên Hà Nội báo (1936). Đáp lời, báo Phong Hóa thẳng thắn: “Chúng tôi không trả lời Hà Nội báo, nghĩa là ông Lê Cường, chủ hiệu thuốc lậu Hồng Khê, vì ông Lê Cường có ý ở giữa nói khích hai bên, mong đục nước để béo cò. Hành vi ấy trẻ con lắm, dùng để quảng cáo thuốc lậu tốt hơn là dùng quảng cáo văn”.

Theo TS. Nguyễn Phương Chi, những câu chuyện kiểu này không cần có hồi kết ai đúng ai sai nhưng tạo ấn tượng về một đời sống trí thức đầy sôi động, đầy hỉ nộ ái ố những năm trước cách mạng. “Việc bao gồm những câu chuyện văn chương trong một công trình học thuật khiến cho cuốn sách có giá trị như một sự giải thiêng với tôi – nếu đặt trong bối cảnh những công trình nghiên cứu về đời sống trí thức giai đoạn thuộc địa từ góc nhìn hậu thuộc địa mà ở đó hầu hết trí thức đều được miêu tả như những nhà tư tưởng, nhà hoạt động chính trị hay là những nhà lập quốc rất nghiêm túc”, chị Chi chia sẻ.

Tự chủ văn chương nhân trường hợp Tự Lực Văn Đoàn

Cuối tháng 12, trước khi giải thưởng Hội Nhà văn chính thức công bố, một tọa đàm khoa học về cuốn sách đã được tổ chức “xôm tụ” ở Đại học KHXH&NV Hà Nội. Nói là xôm vì cả hội trường liên tục phải dồn chỗ ngồi, sinh viên đến rất đông, phá vỡ định kiến “chuyện từ thời 1930 -1945 ai còn hứng thú nghe”.

PGS, TS Phùng Ngọc Kiên, chủ biên cuốn sách cho biết: “Đây là một phần kết quả nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ đề tài cấp Nhà nước do Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia tài trợ”. Đường đi của những công trình nghiên cứu “cao siêu” kiểu này trước nay đa phần đều chỉ lưu hành trong nhóm nhỏ, rất ít phổ biến cho công chúng, đừng nói đến in sách và bán đại trà. Nên có thể coi “Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do” (NXB Hội Nhà văn) là một ngoại lệ.

Cuốn sách bắt đầu bằng luận điểm của TS. Phùng Ngọc Kiên về “tính nước đôi” trong sự khai phá văn minh của người Pháp ở Đông Dương. Theo chứng minh của anh Kiên: “Công cuộc khai hóa thuộc địa của Đế chế Pháp theo sau các cuộc chiếm đóng và bình định đã làm thay đổi sâu sắc xứ Đông Dương”. Và rằng: “Người Pháp vào Việt Nam đã mang đến báo chí như một không gian công cộng mới mẻ”. Để từ đó “thế giới có vẻ đã được thu nhỏ lại hơn, và dễ bề hình dung hơn với người trí thức Việt Nam”.

Mạch khảo cứu cứ thế được dẫn dắt khéo léo với lối viết hoạt, dẫn chứng chi tiết, pha chút hài hước khiến người đọc dễ dàng bị cuốn theo. Từ đây, bức tranh về những hoạt động báo chí, văn chương chữ quốc ngữ thời kỳ đầu ở Việt Nam được phục dựng hết sức cụ thể.

Tiến sĩ Mai Anh Tuấn đánh giá: Đây là cuốn sách đầu tiên trong giới nghiên cứu Việt Nam giúp chúng ta nhìn thấy vấn đề then chốt của văn học Việt Nam thuộc địa: chính là tính tự chủ.

Nói rõ hơn về tính tự chủ trong văn chương, một số diễn giả cho rằng: tự chủ có thể hiểu là người viết sống được bằng ngòi bút mà không dựa vào nhà tài trợ. Trước thế kỷ 17, trên thế giới, đa số nhà văn vẫn chỉ sống bằng tài trợ hoặc tiền trợ cấp của nhà vua.

PGS, TS. Nguyễn Bá Thành chia sẻ, theo nghiên cứu lịch sử văn học nhiều thời kỳ thì văn học tự chủ luôn có đời sống lâu hơn, khỏe hơn văn học không tự chủ (phụ thuộc, ít giá trị tự thân).

“Điểm nhấn của cuốn sách là phân tích quá trình tự chủ về kinh tế và tự chủ về nghệ thuật thông qua ví dụ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ). Nỗ lực rất lớn của TLVĐ là xây dựng quá trình tự chủ kinh tế thông qua nhiều hoạt động như: báo chí, xuất bản, in ấn, quảng cáo… để quyết định việc họ sẽ tồn tại với tư cách một nhóm phái văn chương ra sao. Giữa tự chủ về kinh tế và tự chủ về nghệ thuật cái gì quan trọng hơn? Cá nhân tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ tự chủ nghệ thuật là tiên quyết, trước khi tạo lực về kinh tế.

Ví dụ qua khảo sát lượng sách bán chạy của TLVĐ, rõ ràng không phải chỉ vì họ làm quảng cáo tốt, cũng không phải vì chiến lực in ấn khôn khéo, hay nhờ cả vào lượng độc giả đã được tập dượt về văn chương mới, mà vì tất cả sản phẩm văn chương đó đủ tạo thành một hệ thẩm mỹ mới hấp dẫn người ta mua sách. Điều này nói lên rằng: trong văn chương nếu muốn tích lũy tư bản thì phải có sự khác biệt về nghệ thuật, chính sự khác biệt này khiến cho công chúng nhận ra người nghệ sĩ và tác phẩm của họ”, ông Mai Anh Tuấn nói thêm.

9/1/2024

Hạnh Đỗ

Nguồn: TPO

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

  Tâm hồn tinh tế bẩm sinh của “Chàng thơ” Xuân Diệu qua thi phẩm Vội Vàng Đôi đồng tử của “chàng” nhấp nhánh như ánh sao, đen và sâu khôn...