VĂN THƠ NHẠC
Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026
Bảo Ngọc: Thắp lên một ngọn lửa đam mê thuần khiết
Bảo Ngọc: Thắp lên một
“Trong cơn mê của lửa” của nhà thơ Bảo Ngọc là một tập thơ mới và lạ, xét cả về nội dung và chất thẩm mỹ của tác phẩm. Tập thơ đã mang đến nhiều cách đọc trong những lần tiếp cận khác nhau, và tôi có cảm nhận riêng rằng, mỗi lần đọc lại thấy tập thơ trong veo như một khối cầu pha lê soi rọi rõ hơn thế giới của nhân sinh, của tình yêu và đam mê.
Lịch sử có mách bảo gì không
Lịch sử có mách bảo gì không?
Nhà thơ Quách Tấn (1910 –
1992), quê ở Bình Định, sinh trước nhà thơ Bích Khê (1916 – 1946), quê ở Quảng
Ngãi 6 năm, mất sau Bích Khê 46 năm. Bình Định và Quảng Ngãi đều là những nơi
sinh ra nhiều nhà thơ nổi tiếng cùng thời với hai ông. Tập thơ đầu tay “Một tấm
lòng” của Quách Tấn in năm 1939. Bích Khê, “Tinh huyết” cùng in năm 1939.
Cả hai ông đều xuất phát
từ thơ đường luật. Bích Khê mất 5 năm viết loại thơ này 1931 – 1936. Quách Tấn
có viết thơ lục bát nhưng mạch chính của cả đời thơ vẫn là đường luật. Ông viết:
“Đối với tôi, tôi không tách biệt mới và cũ. Tôi lựa thể đường luật vì thấy
thích hợp với tâm hồn mình. Vì đã lựa được con đường đi nên từ 1932 đến 1941, mặc
dù phong trào thơ mới sôi nổi, tôi vẫn giữ thể đường luật”. Bích Khê thì khác,
năm 1937, khi Hàn Mặc Tử tác động, ông chuyển sang ngay với thơ mới và từ bỏ
thơ Đường.
Những nhà thơ đương thời
và cả sau này có đánh giá về thơ hai ông. Với Quách Tấn, cụ Tản Đà trong lời
bình bài thơ Đến thăm vườn cũ cảm tác, viết: “Nói về tình thì rất lâm li mà nói
về bên tài cũng đến thế là hay”. Đặng Thị Hảo cho biết: “Tập thơ “Một tấm lòng”
vừa ra đời đã gây nên ai luồng dư luận trái ngược. Các nhà thơ cổ hoan nghênh;
những người hâm mộ “Thơ mới” lại làm ngơ, như ở báo Phong Hóa của bút nhóm Tự Lực
văn đoàn chỉ giới thiệu văn tắt mà không bình luận gì”.
Với Bích Khê thì khác,
trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh và Hoài Chân đã viết: “Tôi đã gặp trong
‘Tinh huyết’ những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam: “Ô hay
buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông”. Hai ông cũng dẫn
mấy câu thơ trong bài “Tranh lõa thể” rồi dẫn lời bình của nhà thơ Hàn Mặc Tử:
“Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế
thì sự thực sẽ thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền
diệu…”. Chế Lan Viên sau này đánh giá: “Khê không chỉ có một câu, không chỉ có
hai câu. Anh có nhiều câu và nhiều bài… mà các thầy có khi không có. Hàn Mặc Tử
không có, thơ Việt Nam trước đây không có.” Chú ý những ý kiến khen thơ Bích
Khê đều là khen thơ mới, thơ đường luật không có vị trí nào trong sự nghiệp của
Bích Khê.
Nếu ai hỏi, qua sự nghiệp
của hai ông, lịch sử có mách bảo gì không? Tôi nghĩ là có. Có thể mách rằng,
khi cuộc sống đã thay đổi thì các nhà thơ và thơ phải thay đổi theo. Muốn có sự
thay đổi cần nắm vững lý luận để nhận biết chính xác. Thay đổi cao nhất là thay
đổi thi pháp. Ai không nghe được để thay đổi hoặc cố tình không thay đổi cứ khư
khư ôm lấy cái cũ thì bị bỏ rơi phía sau.
Ta đã thấy nhà thơ Quách
Tấn khi nào cũng mang theo bên mình hai cái lồng, đường luật và lục bát. Hễ có
cảm xúc, ông cần có thời gian lựa chon nên bỏ thơ vào lồng nào. Thơ ông là thơ
gián tiếp (vì phải qua công thức). Cả đời ông nổi bật nhất chỉ có hai loại thơ ấy.
Ông không quan tâm đến những thay đổi của cuộc sống bên ngoài. Sự trung thành của
ông giống như những ông quan xưa chỉ thờ một vua. Ông dành tất cả thời gian cho
thơ công thức, nhất là thơ đường – một loại thơ do con người một thời cài đặt,
khắt khe, dùng để tự kỷ ngâm vịnh đã lỗi thời.
Nhà thơ Bích Khê thì
khác. Hàn Mặc Tử khuyên ông nên viết theo thơ mới. Ông nghe ngay. Sở dĩ ông
nghe được là do trong tim ông đã có nên khi gặp gió ngoài thì căng buồm lên.
Ông không mất thời gian lưu luyến đến thơ công thức. Ông bắt nhịp được với cuộc
đời đã thay đổi. Một nước phong kiến toàn tòng giờ đã tiến đến nửa phong kiến,
nửa thực dân. Thơ ông là loại thơ trực tiếp (Vì không theo công thức nào).
Nghĩa là có cảm xúc đến thấy ngôn ngữ là cứ thế mà chép. Ông không mất thời
gian loay hoay tìm lồng để nhốt thơ. Thế mới có những câu thơ xuất thần
như: “Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm/ Nàng là hương hay nhan sắc
lên hương?… “
Nếu bạn nghiên cứu sự
phát triển của thơ Việt Nam hiện đại hoặc chỉ là người thích đọc thơ của thời
vượt thoát 1930 – 1945, bạn có thể không đọc thơ Quách Tấn nhưng không thể
không đọc thơ Bích Khê…
19/8/2025
Vương Cường
Theo https://vanhocsaigon.com/
"Khát cháy" của Nguyễn Đức Hạnh: Phân mảnh để phát sáng
"Khát cháy" của Nguyễn Đức
Hạnh: Phân mảnh để phát sáng
Nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh vừa
ra mắt tập thơ song ngữ Việt – Anh “Khát cháy” (“The Ardour
of Thirst”, NXB Văn Học, 2025), do nhà thơ – dịch giả Võ Thị Như Mai
chuyển ngữ. Tập thơ gồm 95 bài, được Nguyễn Đức Hạnh viết trong thời gian gần
đây. Tôi xem đây là một bước rẽ thi pháp đầy ngoạn mục, đánh dấu sự dứt bỏ có
chủ ý khỏi phong cách thơ vốn ổn định của ông trong 4 tập thơ trước đây[1]. “Khát
cháy” mở ra một cấu trúc thi ca mới lạ, dẫn dắt người đọc bước vào thế
giới bất định, đầy ám gợi.
Ẩn sau bước chuyển ấy là
một kiến trúc thi ca được tổ chức đầy dụng ý, tập thơ chia thành bốn phần – tựa
bốn cung bậc tâm hồn đi qua những miền ký ức, khát vọng và chiêm nghiệm: “Khúc
hiếu thuận” – tập trung vào mạch thơ nội cảm, viết về mẹ cha, quê hương và ký ức
tuổi thơ; “Khúc sơn hà” – mở rộng cái tôi công dân với ý thức lịch sử và văn
hóa sâu đậm; “Khúc tri âm” – là tiếng lòng tri ân bạn văn, tiền nhân; và “Khúc
huê tình” – những thi phẩm về tình yêu và hiện sinh, nơi lửa và nước hòa quyện,
kết tinh thành khát vọng sống mãnh liệt. Tập thơ vận dụng nhiều thủ pháp hiện đại,
trong đó nổi bật là lối phân mảnh – một đặc điểm nghệ thuật chủ đạo, định hình
cấu trúc và thi pháp thơ Nguyễn Đức Hạnh. Mỗi phần thơ như một địa tầng cảm
xúc, nơi năng lượng tích tụ bùng cháy thành ngôn ngữ, rực rỡ và dữ dội.
Thế giới thi ca hiện đại
hầu như không còn là một cấu trúc toàn thể, thống nhất, mà đứt gãy, chồng lấn
và xáo trộn – phản ánh trạng thái tinh thần của con người hôm nay: rối loạn,
giãn cách và hoài nghi. Tính phân mảnh đã trở thành một cú trượt mỹ học tất yếu
của thơ đương đại – từ T.S. Eliot với “Đất hoang” (The Waste Land), Paul Celan
với “Tẩu khúc của tử thần” (Todesfuge), đến một số nhà thơ Việt Nam như Nguyễn
Quang Thiều, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Bình Phương, Trần Hùng, Nguyễn Đức Tùng, Lê
Vĩnh Tài… với những cách tân táo bạo về cấu trúc và ngôn ngữ thi ca. Trong mạch
vận động ấy, Nguyễn Đức Hạnh bước đi với nhịp điệu riêng. Thơ ông dồn nén rồi vỡ
ra thành những hạt nhân, lát cắt – như tiếng nói bị ngắt quãng, như nhịp thở gấp
gáp của một tâm hồn luôn trong trạng thái bất an. Người đọc buộc phải bước vào
mê cung của những đơn lẻ, mảnh vỡ, để tự kiến tạo mạch kết nối. Chính trong sự
không toàn vẹn ấy, thơ ông phát sáng.
“Căn nhà bé dựng cuối xa
xăm/ Mưa cứ ghé rồi ôm trong vắt/ Lấy gió đan tấm lưới xanh ngát/ Bẫy hương
thơm của hoa dại lạc đường” (nói với em khi tóc bạc);
hay “Đường mòn sợi dây níu rừng/ Còn ít lắm như bánh đa sắp vỡ/ Suối –
sợi dây xanh tôi níu chính tôi/ Thuở trong vắt đón bao lá thơm/ Rụng khẽ trong
chiều đỏ mặt” (Nghẹn rừng). Đó là những mạch cảm xúc tự do theo dòng ý
thức. Ở đó, nhà thơ không kể chuyện mà gợi mở, không lý giải mà phóng chiếu.
Các hình ảnh đặt cạnh nhau theo liên tưởng tức thời, mỗi thi ảnh vừa là đốm
sáng, vừa là vết thương. Tiết tấu thơ ngắt quãng, chập chờn, khiến người đọc
không thể lướt nhanh mà buộc phải dừng lại, lắng nghe dư ba lan tỏa qua từng
câu chữ. Ở đó, thiên nhiên và con người hòa quyện – như suối trong níu giữ tâm
hồn, như gió đan vào ký ức, như bông hoa rơi vào khoảng trống…
Thơ Nguyễn Đức Hạnh là
cách níu giữ bản thân giữa một thế giới đổ vỡ, đầy rủi ro. Những mảnh rời ấy mở
ra nhiều lớp liên tưởng, tạo nên không gian thi ca đa tầng, giàu cá tính và cộng
hưởng. Chính sự phân mảnh giúp thơ Nguyễn Đức Hạnh tạo những tiết tấu dị nhịp
mà ám ảnh, một cấu trúc xô lệch mà giàu biểu cảm. “Vỏ ống tre quê
hương/ Xanh lặng lẽ bụi cây ai biết/ Tình yêu tụ thành gạo nếp/ Mắt mẩy thơm thức
ngó đêm dài” (Tôi là ống cơm lam nướng vụng).
Nếu cần một hình ảnh để gợi
lên thủ pháp phân mảnh trong “Khát cháy”, tôi sẽ nhắc đến cánh rừng bùng cháy.
Sau mỗi bài thơ của Nguyễn Đức Hạnh, trong tâm trí người đọc còn vương lại những
tàn lửa sáng mãi. Không cốt truyện, không trật tự thông thường, thậm chí không
có cả thông điệp rõ ràng – nhưng thơ ông vẫn cuốn hút người đọc bằng sức nóng bức
bối, âm ỉ, đôi khi chói lòa đến nghẹt thở. “Nỗi nhớ gõ cửa cánh đồng
tìm sợi rơm vàng/ Rơm thành khói còn cong nưng nức/ Dòng sông gọi cánh diều/ Tiếng
sáo rơi mọc cây ngọc lan/ Hương hoa thiền trong gió/ Nỗi buồn liền sẹo như cây” (Cán
giấc mơ vỡ).
Tính phân mảnh trong
“Khát cháy” hiện diện trên nhiều tầng nghĩa, tạo nên một cấu trúc độc đáo. Một
số bài mở đầu bằng đoạn văn xuôi phóng dật, dày đặc liên tưởng – như tán cây lớn
– rồi nhanh chóng tách thành những câu thơ ngắn, rẽ nhánh như rễ cây vươn sâu
vào lòng đất. Chẳng hạn bài “Nhớ Vinh” mở đầu bằng đoạn thơ: “Lửa đỏ
trong nước lạnh. Tuyết trắng gói đa tình/ Giấu thép trong lụa bạch. Lấy bão làm
dây buộc tóc xinh/ Cửa Hội nghiêng chiều đổ sóng vào anh/ Mai xa rồi cắn sông
lâu chút nữa…” Sau đó, chúng tách thành những câu thơ lẻ, khô khốc và
gân guốc: “Tri kỷ toàn là gió/ Chân trời nghe bỏng nhau/ Tâm giao lăn
đá tảng/ Đau hoài có kêu đâu…”
Thủ pháp ấy được vận dụng
tương tự trong bài thơ “Ngược”, bắt đầu là những cành nhánh sum suê: “Ai
đổ mưa Vào cây? Hoa ngậm nắng chờ ngày mai tới/ Người người bay thành mây. Cười
sáng bao phương trời mới”. Và, tiếp đến chùm rễ sâu bên dưới: “Củ sắn
còi vêu vao ngày đói. Tay cha chai sần vỡ đất./ Lưỡi cuốc mòn chậm hơn đời người/
Lửa gộc sù sì không ngủ/ Cháy rực hồng gương mặt ban mai”. Lối kết cấu bài
thơ theo kiểu “tán cây và chùm rễ” như vừa đề cập xuất hiện khá nhiều trong tập
thơ “Khát cháy”, tạo nên một hệ thẩm mỹ riêng biệt – nơi tính
phân mảnh không gây đứt gãy mà ngược lại kích hoạt các lớp ý niệm sinh trưởng
theo cách riêng: tự do và bất định. Những bài thơ tiêu biểu sử dụng thủ pháp
này có thể kể đến như “Mất ngủ”, “Những loài nói thầm thường đau sâu”, “Khúc hạ
hồng”, “Ướp nắng sớm thành trà”… đã minh chứng rõ nét cho cách vận dụng độc đáo
của tác giả.
Tính phân mảnh trong thơ
Nguyễn Đức Hạnh thường hiện rõ qua những câu thơ đứng độc lập, không cần văn cảnh
vẫn gây ấn tượng mạnh mẽ nơi người đọc. Đó có thể là hình ảnh dị biệt, một cú
nhảy ngôn ngữ không theo quy luật, hay một câu tưởng chừng giản dị nhưng găm
sâu vào tâm não. Chính sự tách biệt này làm nổi bật sức vang động nội tại, nơi
mỗi câu thơ là khoảnh khắc nén chặt, kết tinh cảm xúc đến mức không thể rút gọn
hơn. Với Nguyễn Đức Hạnh, những câu thơ như vậy trở thành đơn vị biểu cảm hoàn
chỉnh, buộc người đọc tự đối thoại với khoảng trống giữa các dòng thơ
khác: “Cá lỡ hẹn hò nên lặn rất sâu” (Mẹ ơi con nhóm lửa rồi); “Trong
đáy chén phong ba ròng ròng” (Nghĩ về Văn Cao); “Con chó buồn
cắn tiếng rõ, tiếng câm” (Sinh ra ở bến Tượng); “Thơ là loài
cây uống nước mắt mà xanh” (Tháng Ba về Khau Vai); “Bảy cơn
bão qua phà. Hát những gì làm sông màu đỏ?” (Vụt hiện sau mưa); “Từ
cọng sen gầy sang màu áo nhớ” (Hà Nội lúc nào chẳng mưa)… Đó là những
“hạt nhân” cảm xúc được tạo dựng bằng trực giác và sự nhạy cảm tinh tế trước từng
chi tiết của đời sống và những biến động của tâm hồn. Tính phân mảnh không chỉ
tạo nên trải nghiệm đọc đòi hỏi sự chú ý, kiên nhẫn mà còn khơi gợi tầng nghĩa
mới lạ, đa chiều qua khoảng trống ngôn từ. Ở đó, mỗi câu thơ như đốm lửa bập
bùng, chập chờn sáng tối, vừa hiện hữu vừa mờ ảo, mở ra thế giới nội tâm đa dạng
và phức hợp.
Thơ phân mảnh dĩ nhiên
luôn đứng trước nguy cơ rơi vào mơ hồ hoặc vụn vỡ. Nhưng điểm khác biệt ở thơ
Nguyễn Đức Hạnh là: mỗi phân mảnh đều mang một trọng lượng nội tại, như những
tinh thể tự phát sáng. Bởi vậy, nhiều câu trong “Khát cháy” tựa những
viên than hồng – âm ỉ tỏa nhiệt, không cần liên kết vẫn đủ sức lan truyền năng
lượng thẩm mỹ: “Tóc con gái thành cầu vồng đen cong về hồi ức” (Sông
Cà Lồ còn giữ hộ ngày xưa); “Cộng tuổi cho sông bằng bao đời người đi
xa ngoái lại” (Sông và tôi)… Một trong những thi phẩm tiêu biểu cho cấu
trúc ấy là “Mẹ ơi, con vẫn chỉ là con nghé” – nơi mỗi phân mảnh thấm đẫm bản
năng và trực giác, được dẫn dắt bởi dòng cảm xúc thuần khiết. Bài thơ như một
dòng tồn sinh run rẩy, nơi ý thức và vô thức giằng co rồi buông trôi theo bản
năng; vận hành bằng dòng ý thức cuộn chảy, với từng hình ảnh hiện lên bất ngờ,
dữ dội. Trung tâm cảm xúc là hình tượng người mẹ, được soi chiếu từ cái tôi
nguyên sơ. Những mảnh ký ức, nỗi đau, day dứt hiện ra vụn vỡ mà găm sâu. Câu
thơ “Lời mẹ dặn dệt thành bao tải/ Con là con nghé hiền mặc suốt mấy
mùa đông”, cho thấy, việc buông lơi lớp vỏ cứng cỏi và chấp nhận yếu mềm
cũng có thể là cách gìn giữ cốt lõi bản thể – một lựa chọn sống theo cảm xúc
trung thực và nhân bản nhất.
Thơ Nguyễn Đức Hạnh thường
chạm tới những khoảnh khắc khó gọi tên. Dù chủ động buông bỏ suy lý và sự khôn
ngoan, nhưng trạng thái tỉnh thức trong thơ ông không hề mất đi – mà lắng sâu,
trở thành nền móng âm thầm nâng đỡ và nuôi dưỡng những hình ảnh biến hóa sinh động,
đầy bất ngờ. Chính sự cân bằng giữa buông lơi và tỉnh táo này tạo nên sức mạnh
đặc biệt, khiến thơ ông vừa có tính trực giác mạnh, vừa giữ được chiều sâu suy
tưởng. “Mũi tên đồng kể hoài Cổ Loa và Tinh gà trắng/ Đàn Đá mơ thác nước
tan tành” (Bảo tàng); “Đáy sông ấm nói cười trăm năm trước” (Hội
An); “Thôi hát thật trầm làm cửa kính vỡ” (Mùa đông Hà Nội)…
Mỗi câu thơ trong “Khát
cháy” không khép lại trong một nghĩa cố định, mà mở ra không gian cộng hưởng,
đan xen lịch sử, mộng tưởng và huyễn hoặc tâm linh. Từ đó, từng hình ảnh, từng
biểu tượng như những cánh cửa dẫn lối vào nhiều chiều kích khác nhau của nhận
thức và cảm xúc, kích thích người đọc không ngừng suy tưởng và tái tạo ý nghĩa
trong hành trình khám phá thi ca. “Người đổ đèo vẫn phẻn dao lấp loáng/
Mỗi bước chân rung nghịch một mặt trời” (Đường rừng về). Đây là thứ
thơ không hiển lộ từ lý trí, mà từ máu thịt, từ những giá trị thiêng liêng.
Điều cốt lõi trong “Khát
cháy” là từ bỏ cấu trúc mạch lạc truyền thống, nhường chỗ cho hình thức thơ
phân mảnh – nơi mỗi câu thơ trở thành một giá trị thẩm mỹ độc lập. Một câu thơ
bật sáng đúng lúc có thể đánh thức toàn bộ trường cảm xúc nơi người đọc. Chính ở
đó, bản lĩnh thi pháp của Nguyễn Đức Hạnh hiện rõ. “Trà nát thương người
nát/ Bã trà phảng phất thơm/ Nước sôi dìm thân phận” (Bã trà); “Mưa
suốt đêm không ướt nổi tiếng chim” (Đêm Hạ Long)… Những câu thơ ấy như
những hòn đảo nhỏ, khi ráp lại tạo nên một vùng khí hậu riêng – biệt lập mà cộng
hưởng, làm bật lên nhịp điệu nội tâm luôn biến động. Tính phân mảnh, trong trường
hợp này là phương cách tồn tại trong một đời sống đã nhiều hoài nghi và đổ vỡ.
Nguyễn Đức Hạnh làm thơ như thắp lửa – cháy đến đâu, phát sáng đến đó; khiến
cái độc sáng bật lên: như tia chớp trong đêm, như tiếng nổ trong sự tĩnh lặng.
Ông không tổ chức bài thơ bằng lý trí, mà để cảm xúc tự vỡ òa, phun lên như dòng
nham thạch: “Khi núi lửa ngả đầu vào mây trắng” (Giấc mơ mùa
thu). Thơ ông thường chuyển giọng đột ngột – từ đau buồn sang diễu nhại “Thơ
tôi lá tre đậu vào vại nước” (Nghĩ vụn trong đêm), từ trầm lắng sang
cao trào, từ chiêm nghiệm triết lý sang hồn nhiên bản năng: “Sông Đà ôm
em và anh kệ vầng trăng khuyết/ Đập uống say nằm khóc một mình” (Nhớ
Hòa Bình); “Em toàn lạc vào sen/ Lo một ngày không về nhân gian nữa” (Bỗng
yêu sau khi đọc truyện kinh dị). Chính sự bất ngờ ấy khiến người đọc không thể
đoán trước, không thể đọc vội – mà buộc phải dừng lại, lắng nghe và chấp nhận.
Tính phân mảnh, khi trở
thành một cấu trúc có chủ đích và được nâng đỡ bởi cảm xúc mạnh mẽ, có thể mở rộng
không gian tiếp nhận, khai phóng chiều sâu thẩm mỹ. Đây là thủ pháp đòi hỏi sự
nhất quán trong quan niệm nghệ thuật, để các mảnh rời không trở nên lỏng lẻo. Nếu
người viết “lỏng tay”, bài thơ rất dễ rơi vào trạng thái vụn rời – nơi từng câu
thơ tuy có thể gợi sáng riêng lẻ, nhưng không đủ sức nâng đỡ nhau, như những mảnh
vỡ phát quang yếu ớt, khiến người đọc không thể nhận ra bài thơ là một sinh thể
nghệ thuật hoàn chỉnh. Do vậy, dù viết bằng bất kỳ thủ pháp nào, thì thơ, rốt
cuộc, vẫn là câu chuyện của tâm hồn. Khi câu chuyện ấy thiếu đi một mạch chảy
ngầm xuyên suốt, người đọc có thể bị lôi cuốn bởi ngôn từ lạ lẫm, choáng ngợp bởi
hình ảnh, nhưng vẫn không thể chạm tới tầng sâu thực sự của xúc cảm. Và ở đó,
cái đẹp chỉ còn là bề mặt ánh kim, chứ không phải là sự sống.
Nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh
là Phó Giáo sư, Tiến sĩ ngành Ngữ văn, Nhà giáo ưu tú. Ông hoạt động song song ở
hai lĩnh vực: nghiên cứu – phê bình văn học và sáng tác văn chương. Với tư cách
nhà nghiên cứu, ông đã hoàn thành 4 công trình chuyên sâu[2]. Bên cạnh
hoạt động học thuật, Nguyễn Đức Hạnh còn là cây bút sáng tác giàu nội lực.
Ngoài thơ, ông còn viết văn xuôi và đã xuất bản 1 tập truyện ngắn[3],
thể hiện sự đa dạng và sâu sắc trong tư duy nghệ thuật, đồng thời khẳng định mối
quan hệ gắn bó mật thiết giữa nghiên cứu và trải nghiệm sáng tạo.
Trong bối cảnh thi ca hiện
đại không ngừng vận động và canh tân, tính phân mảnh trong “Khát cháy” biểu thị
một trong những quan niệm nghệ thuật tiên phong (avant-garde): thơ cần được cảm
nhận như một dòng mạch sống – tự do, phức hợp và giàu tính tương tác. Nguyễn Đức
Hạnh đã thiết lập không gian thi ca biến động nhưng tràn đầy sức gợi, nơi mỗi
câu thơ là một chấn động nội tâm, mỗi bài thơ là một mặt gương phản chiếu tồn
sinh nhiều chiều. Tập thơ không chỉ đưa người đọc vào mê lộ ngôn từ, mà còn
khơi gợi những vùng sáng – tối của tâm thức, ký ức và khát vọng. “Khát cháy” là
minh chứng rõ nét cho khả năng dung hợp giữa trực giác nghệ sĩ và chiều sâu tư
duy học thuật – sự kết tinh của kinh nghiệm sống, khả năng chiêm nghiệm và tinh
thần sáng tạo không thỏa hiệp.
Chú thích:
[1] “Núi
khát” (NXB Hội Nhà Văn, 2000), “Vết thời gian” (Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch
Thái Nguyên, 2004), “Khoảng lặng” (NXB Đại học Thái Nguyên, 2012), “Thầm” (NXB
Hội Nhà Văn, 2021).
[2] “Tiểu
thuyết Việt Nam thời kỳ 1965–1975 từ góc nhìn thể loại” (NXB Giáo dục, 2008),
“Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai” (NXB Đại học Thái Nguyên,
2011), “Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam – Truyền thống và hiện đại” (đồng chủ
biên, NXB Đại học Thái Nguyên, 2014), và “Văn học địa phương miền núi phía Bắc”
(NXB Đại học Thái Nguyên, 2015).
[3] Tập
truyện ngắn “Tiếng chuông chùa Tử Đằng” (NXB Hội Nhà Văn, 2022).
Hải Phòng, 14/7/2025
Mai Văn Phấn
Theo https://vanhocsaigon.com/
Biết trổ bông trên những nhánh buồn
Biết trổ bông trên những nhánh buồn
Cuộc sống làm dày hơn nỗi
đau mà con người phải chịu đựng nhưng cũng mang đến cho con người những trải
nghiệm mà từ đó ta nhận thức rõ hơn về bản thân và con đường mình chọn. Anh Thư
chọn cách đối diện với những nỗi buồn và khẳng định giá trị bản thân khi vượt
qua đau khổ, chông gai của cuộc sống, như chùm hoa sử quân tử tươi tắn dịu ngọt
sau cơn mưa, như bông hoa rạng ngời trên những nhánh buồn.
Tôi cầm trên tay tập thơ
thứ hai của Vũ Trần Anh Thư: Ban mai thơm mắt
nắng, lặng người đọc. Không chỉ một lần từ đầu đến cuối, mà tập
thơ này, tôi đã đọc lại rất nhiều lần. Đôi khi, đọc ngược từ bài thơ cuối tập số
123 trở về bài thơ đầu tiên. Đôi khi, vô tình lật trang bất kỳ, để tìm thấy tâm
hồn mình đang đồng điệu với câu thơ nào, như bói Kiều ấy.
Tập thơ thứ hai của Thư,
đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Người-Đàn-Bà-Trong-Veo mà tôi đã biết hai
năm về trước ở tập Tiếng mưa. Nếu Tiếng mưa đánh
dấu bước đầu thành công của một người đam mê thơ cháy bỏng, thì Ban mai
thơm mắt nắng là sự khẳng định bút pháp nghệ thuật và nhân sinh
quan của nhà thơ – Người-Đàn-Bà-Trong-Veo từng trải, hiểu đời.
Thư chọn một lối viết thơ
mới, mới với người đọc và mới với cả những người viết chuyên nghiệp. Thể thơ
1-2-3 (do nhà thơ Phan Hoàng sáng lập vài năm gần đây) đòi hỏi sự chắt lọc hình
ảnh, câu chữ, cấu tứ tinh tế với số lượng ngôn từ giới hạn, vừa đặc tả hình ảnh,
vừa truyền tải thông điệp cá nhân và triết lý về cuộc sống. Với ngôn ngữ thơ mới
này, không thể chỉ thành công bằng đam mê, mà phải bằng bản lĩnh của người vững
chãi trên con đường thơ ca và đường đời.
Thư đã thành công với
hình thức thơ mới này. 123 bài thơ là 123 lời chiêm nghiệm về cuộc sống, về những
người thân yêu, về thế giới hạn hẹp xung quanh Thư và cả thế giới bao la rộng lớn
đầy bất ổn ngoài kia. Tôi vẫn gặp những nét đáng yêu của Người-Đàn-Bà-Trong-Veo
trong tập thơ Tiếng mưa hai năm về trước. Mềm mại, dịu dàng, tinh tế, bao dung
khi ngắm hoa, thưởng trà, khi bất chợt mùa về ngang phố. Tình yêu đằm thắm nồng
nàn với con, với người đàn ông của đời mình. Lòng kính hiếu với cha mẹ. Bất cứ
nơi nào đặt chân đến, Thư đều thả tâm hồn mình vào đó để tiếp nhận và tích lũy
nét văn hóa và bề dày lịch sử.
Vẫn là Người-Đàn-Bà-Trong-Veo
nhạy cảm với mọi thay đổi xung quanh mình, nhưng đến tập thơ này, Thư bày tỏ niềm
đau xót, sự băn khoăn trăn trở, những khắc khoải, lo âu mà người đàn bà bước
vào tuổi trung niên ít nhiều đều mang nặng trong lòng. Câu thơ thảng thốt về sự
vô thường:“Cuộc đời ngắn lắm người ơi/ Sát na chưa ngỏ khắc thời vụt
bay”. Càng đi đoạn đường dài hơn trên cuộc đời, càng chứng kiến nhiều
hạn định trong cuộc sống, càng thấy tiếc rằng mình chưa yêu nhiều hơn thế, chưa
cho đi nhiều điều hơn thế.
Cuộc sống bộn bề bao điều
nhắc nhớ
Yêu thương không báo thức
theo giờ
Trái tim tự lên dây cót.
C…u…c…c…u…
Người đàn bà bước vào tuổi
trái tim đã chai sạn, hoài niệm về thanh xuân đã qua, ép kiệt mình
trang thơ vẹn nguyên tháng năm rực rỡ nên Thư thỉnh cầu điều mong ước
với người đàn ông của mình: “Nếu già đi bên nhau hãy thật chậm nhé anh”. Cho dù
thời gian và sóng gió cuộc đời hằn nếp, Thư vẫn giữ tâm hồn trong trẻo, bình
an.
Đã bao mùa lộc vừng thay
lá
Tình em tơ nõn buổi ban đầu
Trao tay lặng yên ngỡ một
thời chồi biếc
Tôi nể phục nhất về tuyên
ngôn của Thư trước cuộc đời, Người-Đàn-Bà-Trong-Veo khẳng định bản lĩnh kiên cường
của mình trước mọi thử thách hay đau khổ.
Nào ai biết mới đây vừa đẫm
đìa nước mắt
Thì em ạ, hãy như đời cây
cỏ
Biết trổ bông trên những
nhánh buồn
Cuộc sống làm dày hơn nỗi
đau mà con người phải chịu đựng nhưng cũng mang đến cho con người những trải
nghiệm mà từ đó ta nhận thức rõ hơn về bản thân và con đường mình chọn. Thư chọn
cách đối diện với những nỗi buồn và khẳng định giá trị bản thân khi vượt qua
đau khổ, chông gai của cuộc sống, như chùm hoa sử quân tử tươi tắn dịu ngọt sau
cơn mưa, như bông hoa rạng ngời trên những nhánh buồn.
Người đàn bà tinh tế giấu
sự thông minh, sắc sảo của mình bên trong sự dịu dàng. Hình ảnh trong thơ Thư
lúc nào cũng nhẹ nhàng, dịu êm nhưng ẩn chứa nội lực bứt phá tiềm tàng, biến
hóa ngôn từ như được tạo hóa ban phép xoay vần con chữ. Tôi thích những hình ảnh
ẩn dụ đắt giá, thông minh, chứa rất nhiều chiều của thời gian, không gian và nội
tâm sâu sắc.
Hiến dâng đâu chỉ vì hy vọng
tái sinh
(Chiếc bình pha lê và hoa
hồng)
Có lúc soi đêm thẳm sâu
thấy bóng mình đi vắng
(Gương)
Đêm chắt chiu tinh khiết
Vun tròn đầy giọt sương
Ban mai chiu chắt nắng
Gọi búp hồng lên hương
Ngày chắt chiu yêu thương
(Đợi hoàng hôn thắp lửa)
Em bỏ quên tháng Mười hai
Trái tim tháng Giêng lỗi
nhịp
Gỡ đúp tờ lịch. Nhân đôi
ban mai xanh
Order chiếc vé mùa xuân
đêm khuya nghẽn mạng
Em thả icon “thương
thương” làm giấy thông hành
(Xoay kim đồng hồ về chuyến
tàu anh)
Vẫn là người đàn bà yêu
thương con vô hạn, lo lắng thương nhớ khi con đi xa: Bay ngược kim đồng
hồ cùng con đón bình minh/ Bên này hết ngày dài, nối bên kia ngày mới/ Khoảng
cách khứ hồi nhờ nỗi nhớ truyền tin (Ngược chiều kim đồng hồ)
nhưng trong thơ Thư có nỗi đau của cá nhân trong nỗi đau của nhân loại, trước
những thảm họa mà cả thế giới phải đối mặt. Đến giờ, không ai dám nhắc lại những
ngày tất cả gồng mình trước Covid. Tôi có những chiếc áo dài mới may cất trong
tủ, thỉnh thoảng mở tủ ngắm nhìn, thở dài. Hay nhiều đàn bà khác ăn mặc trang
điểm lồng lộn chỉ để đi chợ theo tuần và đi đổ rác. Tôi đồng cảm với những câu
thơ thật là đàn bà:
Ước một ngày thế giới
không còn Covid
Chúng mình miên du hoàng
hôn
Rực rỡ váy không dây căng
phồng gió biển
Sóng tóc tự do bỏ quên bờ
vai trắng
(Này chiếc váy bị bỏ quên
trong tủ)
Covid đảo lộn cuộc sống,
thay đổi cả những điều thế giới đang tưởng là chân lý. Hình ảnh người mẹ đau
đáu nỗi lòng khi chứng kiến buổi lễ đánh dấu trưởng thành của con mình, sự
tương phản giữa cái ảo và cái thực:
Mẹ dự lễ tốt nghiệp
online của con
Yêu thương chỉ được chạm
bằng nỗi nhớ
Những cái nắm tay, những
nụ cười tươi, ánh nhìn trìu mến
Phút giây đón tấm bằng thầy
trao… chỉ là ảnh hình trực tuyến
Nhưng giọt mắt mẹ dâng
soi khuôn mặt con rất thật. Lúc này…
(Có thể nào cách ly cảm
xúc)
Có nỗi sợ hãi ẩn chứa
trong nội tâm khi đối diện với khủng hoảng: Chiếc khẩu trang hay bản
tin mỗi ngày rào kín mọi giác quan/ Có phải Covid khiến ta không
còn cảm thấu cái đẹp giữa những ngày nhân loại sống phấp phỏng trong bất
ổn, khi mà:
Cơn giông lốc đêm cuối
tháng Bảy
Bật tung bản lề âu lo
Gió thốc vào những số đếm
tăng dần mỗi ngày. Cuộn xoáy
Thêm mười bốn ngày thành
phố giãn cách
(Em đang dỗ giấc ngủ đây
anh)
Người với người – không vạch
sơn nào mà thăm thẳm cách chia
(Giới hạn đường biên chao
đảo cuộc người)
Rớm lệ ảnh hình dòng người
đùm túm hồi hương
Những bánh xe lăn dặm trường
nóng lòng neo bến Mẹ
(Hà Nội ngày thứ tám giãn
cách)
Tâm hồn trong veo nhạy cảm
trước cái đẹp, sự yêu thương nhân hậu đã dẫn đường vượt qua mọi thử thách của
cuộc đời. Những ngày tháng đằng đẵng cái chết rập rình nhân loại ấy, Thư vẫn nhận
ra:
May mà quỳnh da diết đơm
hương. Đêm nay. Em vừa kịp…
(Đừng bỏ lỡ nhé anh)
Kháng thể yêu thương
không ai đo đếm lặng lẽ nhân lên
(Những con số tịnh tiến
vào đêm)
Chân lý giản đơn của cuộc
đời sau những câu thơ Thư viết về thời Covid, chỉ có lòng bao dung mới đủ xoa dịu
những đau thương mà con người gánh chịu. Cái đẹp luôn ở bên cạnh ta ngay cả những
thời khắc nghiệt ngã nhất, chỉ là ta có đủ nhân từ để nhìn thấy nó không thôi.
Viết về những câu thơ của
Thư còn nhiều điều lắm. Người-Đàn-Bà-Trong-Veo còn rất nhiều góc khuất của tâm
hồn, mà ưu tư đâu đã được bày tỏ hết. Người đàn bà yêu cuồng nhiệt như “Hoa sữa
tháng Mười rưng rưng phím dương cầm”. Những nồng nàn chẳng biết giấu
vào đâu/ Lỡ một ngày vì yêu ngộp thở.
Tôi biết chặng đường thơ
của Thư vẫn còn đang ở phía trước, dù tình yêu dành cho thơ đủ lớn, đâu đó vẫn
canh cánh nỗi truân chuyên.
Những vần thơ chống mắt
xuyên đêm gọi nhau vượt sóng
Miết mải tay chèo bến chữ
vẫn mờ xa
(Những câu thơ mất ngủ)
Nhưng tôi mong Thư kiên định
với tình yêu thơ của mình như “Chữ nghĩa ân tình mắc nợ tháng năm”. Và cuối con
đường Thơ đầy chông chênh, sẽ là “Khoảnh khắc thăng hoa đền đáp luống cày ngữ
ngôn nhọc nhằn”.
Tôi tin Vũ Trần Anh Thư sẽ
thành công.
23/8/2025
Phạm Thị Xuân
Theo https://vanhocsaigon.com/
Trần Thị Thùy Vy - Những trao gửi yêu thương qua tiếng thơ 1-2-3
Trần Thị Thùy Vy - Những
trao gửi
yêu thương qua tiếng thơ 1-2-3
Thơ 1-2-3, có thể nói là
thể thơ mới mẻ, độc đáo của nghệ thuật thi pháp. Không hề bị gò ép trong thể thức
thơ, Thùy Vy một nhà thơ nữ xứ Quảng đã rất thành công trong thể hiện. Phải
chăng, những trao gửi yêu thương qua tiếng thơ của chị đã lắng lại trong lòng bạn
yêu thơ sự đồng điệu, những cung bậc cảm xúc bởi sự màu nhiệm của nghệ thuật
ngôn từ.
1- Trong
gần một thập niên trở lại đây, một thể loại thơ thuần Việt được sáng tác theo một
hình thức mới do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng – thơ 1-2-3. Một thể loại thơ
không tiêu đề mà lấy dòng thơ đầu tiên làm tiêu đề thì đúng là chưa từng thấy ở
Việt Nam và thế giới. Có một nhìn nhận, mọi sự sáng tạo, thể nghiệm cái mới
đều chông gai, nhất là trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, nhưng với hàng trăm
tác giả đang viết thơ dưới hình thức thơ này ở khắp mọi miền đất nước (và cả những
người Việt Nam ở xã tổ quốc) như hiện nay nên có thể khẳng định thơ 1-2-3 đã
bén rễ khá bền vững vào khu vườn văn chương nước nhà. Thơ 1-2-3 cốt là ở sự
“tinh” không quan trọng là viết về đề tài gì.
Ở Quảng Nam nay là thành
phố Đà Nẵng trong số những cây bút hưởng ứng theo trào lưu thơ mới không thể
không nhắc đến tác giả Trần Thị Thùy Vy – Chị là một giáo viên và là hội viên Hội
Văn học nghệ thuật của thành phố đã có “gia tài” thơ định hình được một “phong
cách” hay nói cách khác là tiếng thơ, giọng thơ nữ riêng có của vùng đất này. Với
thơ 1-2-3 chị đã không mấy “khó khăn” thả hồn mình trôi vào những ô ly, dòng kẻ
thơ mới vốn có quy định riêng của nó. Qua các chùm thơ của chị đăng tải trên
Vanvn.vn – Cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam hay trang Văn học Sài Gòn
đã cho thấy nét hồn hậu, thùy mị, lặng lẽ nhưng ẩn sau con chữ là cả những trăn
trở, sự tỉnh thức với nhưng gì vốn dĩ bình thường ở chung quanh ta, tồn tại ở
đâu đấy là các mối quan hệ, cảm xúc qua thời gian đã chất chứa vào hồn. Nhắc nhở
ký ức trong một bài thơ 1-2-3 chị viết:
“Xưa
Tôi đọc anh rất xưa
Hơn những gì xưa cũ
Vẫn đọc
Vẫn xưa
Vẫn cũ như xưa.”
Hay trong một bài thơ
khác chị viết: “Mắt buồn// Anh đánh rơi buổi chiều trong đôi mắt em/ Những
chiếc lá mùa rụng rơi/Hoàng hôn lặng tắt/ Anh tìm về đi qua chiều không nắng/
Đôi mắt thẳm buồn xa lắc một miền xanh.”
Đôi mắt là nơi biểu hiện
nhiều nhất cảm xúc, một biểu tượng của thơ từ cổ chí kim nhưng dưới góc nhìn của
Thùy Vy nó lại chuyển tải tâm trạng cả dòng thời gian, không quan và khoảnh khắc
cụ thể ở đây là một chiếc lá rơi để lòng ai bật lên cảm xúc, xao động trái tim
vốn nhạy cảm trước những nỗi buồn man mát, dịu êm. Và cũng với đôi mắt ấy, đặt
vào bối cảnh khác, chị đã đưa người đọc chạm đến những gì sâu thẳm nhất của tổ ấm
gia đình, hạnh phúc, ly tan.
“Cơn mưa thổn thức
Người đàn bà với
đôi mắt quầng thâm
Gương mặt thất thần nhìn
di ảnh chồng
Mưa, mưa, lại mưa
Những đôi mắt ngấn lệ
nhìn nhau rồi nhìn lên di ảnh
Mưa, lại mưa, trời không
thể cầm lòng.”
Đồng điệu với tiếng thơ của
Thùy Vy, nhà thơ, dịch giả Võ Thị Như Mai, từ nước Úc xa xôi, người có nhiều
đóng góp về chuyển ngữ thơ Việt để giới thiệu với bạn bè năm châu có nhìn nhận
riêng tư: Chúng tôi đều là giáo viên tiểu học, đều nhìn cuộc sống với một
lăng kính nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Chúng tôi thấu hiểu giá trị của những điều
giản dị, từ một buổi hoàng hôn rực rỡ cho đến từng nhịp thở của thiên nhiên
xung quanh… Mỗi khi đọc thơ của Vy, tôi như thấy mình trong đó, nhận ra những
tương đồng trong cách chúng tôi yêu thương, nhớ nhung, và đối mặt với cuộc sống…”
Đến với thơ 1-2-3 của
Thùy Vy, bạn đọc cảm nhận đến được với chiều sâu tâm hồn một người thơ đa cảm,
đa đoan giữa cuộc đời muôn nẻo sơn khê, bao vui buồn va vấp, bao ngang
trái ơ hờ nhiều khi đến ê chề, bất lực. Song điều quan trọng là chị biết dừng lại
lắng nghe và cảm nhận để chọn cho mình một lối đi trong yêu thương và biết yêu
thương chính bản thân mình hơn trong mỗi ngày qua.
Dừng lại lắng nghe để chị
cảm nhận nỗi buồn của chính mình trong cái hữu hạn thanh xuân đời người, trong
những tiếc nuối những gì đã qua, đó là ký ức, là kỷ niệm, thậm chí đó là những
ghềnh thác, va vấp… nhưng đó cũng là những thôi thúc để mỗi người biết sống nhiều
hơn cho thực tại. Và nhà thơ ý thức với thơ ca, mỗi sự dấn thân của chính mình
cũng chỉ là con suối nhỏ giữa ghềnh đá rong rêu,“những đôi chân tí hon trên
cánh đồng con chữ”
Trong một chiều liên tưởng
với không gian, rất dễ nhìn thấy một con mắt thơ nữa của Thùy Vy đó là: “Ô
cửa mùa đông/Em cầm trên tay mùa đông đi dọc triền nỗi nhớ/ Va vào dư âm ký ức
một thuở chòng chành/Con phố nghiêng về đêm cung đường quay mãi/Hàng cây xao
xác/Rưng rức chiều rưng rức em.”
Thơ là niềm tâm sự nhưng
đâu phải lúc nào cũng có thể bày biện, dẫu chẳng thế dối lòng, cái tôi bản ngã
nhiều khi cô đơn đến tận đỉnh sầu, giữa “bao nguồn cơn ngập tràn”. Trong một lần
tự sự Thùy Vy đã thổ lộ: Nhiều khi em muốn khóc/ giữa guồng xoay và
xoay/ nhiều khi em muốn viết/ những yêu ghét trong ngày”.
2- Thể
thơ 1-2-3 quy định câu 1, tên bài, gọi là đoạn một, tối đa 11 chữ; câu 2 và 3,
tức đoạn hai, mỗi câu tối đa 12 chữ; câu 4 và 5, tức đoạn ba, mỗi câu tối đa 13
chữ. Theo nhà thơ Phan Hoàng, 1-2 -3 là một câu, hai câu, ba câu; đồng thời
tương ứng với số chữ trong câu thơ ở mỗi vị trí: 11-12-13. Đặt tên 1- 2- 3, nhà
thơ ngầm đưa ra thông điệp, mỗi lần làm thơ là mỗi lần chúng ta gần với một sự
khởi đầu. Cuộc đời này, bất cứ thứ gì cũng cần có sự khởi đầu, để đi đến cái
đích ta mong muốn. Thể thơ 1- 2-3 không phải hoàn toàn tự do, muốn tung tẩy thế
nào mặc lòng, nhưng với Thùy Vy, bạn yêu thơ dễ dàng cảm nhận tác giả không bị
làm khó bởi thể thức thơ, mà chính thể thức ấy như đã chắp thêm đôi cánh cho những
ý thơ dào dạt tuôn chảy, kiệm lời nhưng vẫn có sức băng vươn về đích cuối như dụng
ý nhà thơ.
Trong tiếng thơ 1-2-3 của
Thùy Vy, người viết bài này có cảm nhận thơ chị là sứ giả của những gửi trao,
yêu đương, quê xứ làng mạc, thân phận, những nỗi sầu cảm của một tâm hồn vốn dĩ
mỏng manh dễ bị tổn thương bởi những va vấp, hững hờ và cả sự vô thường của
nhân thế. Những câu thơ dễ chừng như hờn trách, mang mát nỗi buồn tự ứa ra như
giọt sương mai, như gọt nước mắt long lanh rơi và tan trong ngại ngần ý thức.
Và cũng chính bởi điều này dù mỗi bài thơ 1-2-3 đẫm chất tự sự, một câu chuyện
thơ nhưng giọng thơ vẫn đằm thắm, rì rào như khúc sông quê xuôi qua đồng bãi,
nương nà…trước khi ra biển lớn
“Tại sao nước mắt
rơi vị mặn
Sớm nay đọc thơ anh
cuộn vào em nỗi nhớ
Đường cong nơi biển, cánh
buồm chở nắng, cả vệt sóng xa
Khi yêu nhau vũ trụ
là nhà, ngọt ngào dẫu đắng
Tại sao nước mắt rơi vị mặn
Bỏng rát mỗi ngày biển
mãi sáng xanh.”
Từ câu thơ đầu tiên như một
dấu hỏi “tại sao nước mắt có vị mặn” thì đến câu thơ cuối, câu hỏi không chỉ được
trả lời mà nó còn khẳng định thêm ý nghĩa chính vị mặn ấy đã làm cho “biển mãi
sáng xanh”. Không hề có sự so sánh nào nhưng bạn đọc vô hình dung đã có sự liên
tưởng thú vị giữa vị mặn của nước biển kia và vị mặn của nước mắt con người.
Bài thơ chỉ sáu câu thì một câu thơ được dùng lặp lại (nhưng không hề dư thừa
mà vẫn đầy đặn, ý tứ), những gửi gắm yêu thương, hy vọng mà tác giả đã đúc kết: “Khi
yêu nhau vũ trụ là nhà, ngọt ngào dẫu đắng”.
Có những bài thơ mượn cảnh
gửi tình, rất tự nhiên, tự tại như vốn dĩ không thể nào khác được thế nhưng dễ
chừng mấy ai viết được. Đó là các bài như “Nhớ biển”, “Biển và em”, “Nhớ”,
“Hình tượng con chữ”. Điển hình hơn cả mà người viết bài này khá thích dạng thể
này là “Mưa Sài Gòn/ khóc chi từng cơn nặng trĩu/Ướt hết vạt áo em tôi/
Khóc chi từng cơn như thế/ Dạt trôi quá những cuộc người/ Những cơn mưa nặng hạt
đến và đi rất nhanh”…
Thơ 1-2-3, có thể nói là
thể thơ mới mẻ, độc đáo của nghệ thuật thi pháp. Không hề bị gò ép trong thể thức
thơ, Thùy Vy một nhà thơ nữ xứ Quảng đã rất thành công trong thể hiện. Phải
chăng, những trao gửi yêu thương qua tiếng thơ của chị đã lắng lại trong lòng bạn
yêu thơ sự đồng điệu, những cung bậc cảm xúc bởi sự màu nhiệm của nghệ thuật
ngôn từ.
Tam Kỳ, 19/8/2025
Võ Văn Trường
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thi pháp của thơ ngắn: Trường hợp Mai Quỳnh Nam
Thi pháp của thơ ngắn:
Trường hợp Mai Quỳnh Nam
Mai Quỳnh Nam dường như
đã đẩy sự kết hợp giữa thi ca và những suy ngẫm đậm đặc tính minh triết lên đến
đỉnh cao, thông qua việc khám phá các hình thức ngắn gọn đa dạng, bằng một thẩm
mỹ nghệ thuật hướng tới sự đậm đặc, lối sắp xếp ngang hàng và sự va chạm của
các hình ảnh.
Trước tiên, hãy lưu ý rằng
trong tất cả các thể loại văn học, thơ ca là nơi ưu tiên hàng đầu cho các hình
thức ngắn gọn, và điều này không chỉ được phản ánh bởi độ dài thường gặp( tương
đối ngắn) của các tập thơ mà còn bởi đặc trưng nội tại của thơ, vốn được định
hướng để cô đọng hơn so với các thể loại văn học khác (chẳng hạn như tiểu thuyết).
Bài viết này có mục đích tái nắm bắt khái niệm thi pháp của thơ ngắn không chỉ
qua lăng kính thẩm mỹ của nhà thơ Mai Quỳnh Nam, mà còn đi xa hơn khi xem xét
nó như khái niệm trung tâm của một khuynh hướng thơ ca đương đại, khuynh hướng
thi ca tìm cách liên hệ với thế giới và đặt câu hỏi về thế giới theo những
phương thức ngắn gọn và phân mảnh.
Sợi dây thừng bị đứt
văng thành hai khúc
rời chặt một đời Bertol
Brecht
nửa kia tít tắp đâu rồi
chắc đã có người
nhặt về
và nối lại
(Luẩn quẩn khi yêu. Tr
91)
Mai Quỳnh Nam dường như
đã đẩy sự kết hợp giữa thi ca và những suy ngẫm đậm đặc tính minh triết lên đến
đỉnh cao, thông qua việc khám phá các hình thức ngắn gọn đa dạng, bằng một thẩm
mỹ nghệ thuật hướng tới sự đậm đặc, lối sắp xếp ngang hàng và sự va chạm của
các hình ảnh. Thơ ngắn của Mai Quỳnh Nam vì thế không chỉ liên quan đến một
cách “thực hành thơ” mà còn đến một sự hiện diện của chủ thể (nhà thơ) trong một
thế giới đặc thù, được xây dựng dựa trên trải nghiệm về thời gian, vốn dĩ ngắn
ngủi do tính hữu tử của chúng ta. Hình thức ngắn gọn trong thơ của Mai Quỳnh
Nam cũng cho phép chúng ta hình thức hóa mối liên hệ giữa thẩm mỹ của nhà thơ
và tầm nhìn của ông về thế giới, khôi phục lại cái ý nghĩa nguyên thủy của sự
ngắn gọn: sự ngắn gọn trước hết và trên hết là một khái niệm thời gian. Nói một
cách khác, nếu thơ ca của Mai Quỳnh Nam tuân theo nguyên tắc của sự ngắn gọn,
đó là nhờ một tầm nhìn và một trải nghiệm đặc thù về thời gian.
Em về để sợi tóc rơi
trăm năm một kiếp, một thời
tóc mây
(“Luẩn quẩn khi yêu”- bài
11)
Một thao tác phân loại
nhanh các hình thức ngắn gọn trong tác phẩm của Mai Quỳnh Nam cho phép chúng ta
khẳng định rằng những bài thơ được tinh kết và trở thành ngắn gọn nhất đã được
xác lập như một nguyên tắc hình thức chủ đạo chi phối mạch thơ của Mai Quỳnh
Nam. Các diễn ngôn thơ ca này dường như triển khai qua những tưởng tượng và
hình ảnh của sự ngắn gọn, theo ba góc độ khác nhau: sự chiếu sáng, sự phân rã,
và cuối cùng là tia chớp sáng lóe lên như một sự khải huyền. Hình thức ngắn gọn,
cuối cùng, thể hiện điều mà chúng ta có thể gọi là thử thách của khoảnh khắc,
viên đá thử vàng của mọi bài thơ.
Tạm ứng
anh xin ứng trước
anh mãi là người mắc nợ
thỉnh thoảng em nhắc thầm
anh biết
đó là tình cảnh đôi ta
từ dằng dặc sống đến dằng
dặc chết
(“Luẩn quẩn khi yêu”- bài
53)
Trong bài thơ này, sự ngắn
gọn dường như phục vụ cho việc nắm bắt tức thì về bản chất sâu xa nhất của trải
nghiệm yêu. Câu thơ đầu tiên hướng chúng ta tới cái “bản thể học” của tình yêu
, hướng tới việc định nghĩa tình yêu như một trải nghiệm khởi nguyên thông qua
một thuật ngữ thông dụng trong hoạt động tài chính: “vay mượn”. Thuật ngữ này
được đặt ở trung tâm của câu thơ thứ hai “anh xin ứng trước”. Sự
khó khăn trong việc diễn giải, ở đây, một phần lớn bắt nguồn từ hình thức ngắn
gọn của nó, bởi hai câu thơ ấy đã dẫn về một công thức bí ẩn và cô đọng “anh
mãi là người mắc nợ”, cái hiện thực trĩu nặng và không thể trốn tránh bởi “thỉnh
thoảng” đối phương vẫn kín đáo nhắc lại.
Hai câu cuối bày tỏ nỗi
hoài nghi trĩu nặng, một nỗi cay đắng ngập tràn của nhà thơ, linh cảm về một “cái
chết được báo trước của tình yêu” , một cái chết đến dần dần trên một
hành trình “dài dằng dặc”. Trò chơi ngôn từ (với các thuật ngữ: vay mượn, tạm ứng)
tuy mang lại một nét hài hước nào đó , nhưng không hề che khuất tính nghiêm túc
của mối liên hệ bản thể học mà văn bản này đã thiết lập giữa nền tảng tình yêu
và hoạt động yêu. Khía cạnh “bản thể học” này cho phép chúng ta trở lại với đặc
tính suy đoán truyền thống của hình thức ngắn gọn, vốn có thể gợi đến sự tương
đồng với những câu châm ngôn triết học hoặc các câu cách ngôn.
Sự ngắn gọn thực sự đặc
trưng cho lối viết của Mai Quỳnh Nam, được vận dụng trong tác phẩm của ông, mà
còn nhờ vào sự đậm đặc và tính tiết kiệm của lối viết, hướng tới một hiệu quả
thơ ca.
trong suốt cũng nhiều khi
bối rối
(Luẩn quẩn khi yêu ,
trang 9)
Trong câu thơ này ranh giới
giữa tư duy và hình ảnh tan biến, thi ca không còn là ngoại vi của lý tính, mà
là trung tâm của một hình thức tư duy khác.
Mai Quỳnh Nam cũng đã đẩy
ngôn ngữ đến tận ranh giới của tính khả diễn (communicability), nơi mà từng từ
trở nên dày đặc với nhiều tầng ý nghĩa, thường mang tính nghịch lý hoặc phản biện.
Vừa thân thiết
vừa xa lạ
em
khoảng rộng vô cùng
băng qua mọi điều anh
hình dung
Nếu đọc kỹ, đọc đi đọc lại
nhiều lần tập thơ “Luẩn quẩn khi yêu” mỏng manh này , chúng ta nhận thấy những
bài thơ ngắn của Mai Quỳnh Nam dưới một vẻ bề ngoài có vẻ gián đoạn, hỗn độn, bất
định thực ra lại không ngừng quy chiếu tới một sự liên tục sâu xa, một trật tự
cao hơn, một siêu định hướng- những thứ mà, sau cùng, được thúc đẩy bởi chính
thực thể (người sắp xếp, tổ chức, phân loại) là tác giả. Hình thức ngắn dường
như là nơi mà mọi vấn đề truyền thống bị chìm đắm và tan biến, khởi đầu từ những
vấn đề về ý nghĩa và về tác giả; nó tỏ ra đặc biệt thích hợp cho mọi kiểu trá
hình, cho trò chơi của ẩn đố và của giả thư (apocryphe); nhưng sâu xa hơn, thường
là một động lực ngược lại (tập hợp, tái cấu trúc, làm sáng tỏ) đang hoạt động,
khiến cho ta luôn thấp thoáng thấy khả năng giải quyết tất yếu của tất cả những
bí ẩn đó.
Tình yêu phong em thành
thánh, thành thần,
thành đức tin, anh ngưỡng
vọng
tình yêu cần thực chứng
chứng thực của kẻ si chẳng
mấy tường minh
nó đẩy anh về phía siêu
hình
(Luẩn quẩn khi yêu. Tr
67)
Những mảnh rời mang tính
sấm ngôn, những châm ngôn, những câu cách ngôn, những ý nghĩ — tất cả đều là những
hình thức có mật độ cao, cấu trúc chặt chẽ, dựa trên một dạng hoàn thiện hình
thức và một tính trọn vẹn ý nghĩa.
Tất yếu của sóng
là tan vỡ
tất yếu của thơ
là lơ mơ
tất yếu của yêu
là ghen
tất yếu của chuyên quyền
là cô độc
(Luẩn quẩn khi yêu. Tr
93)
Toàn bộ những bài thơ ngắn
của Mai Quỳnh Nam dường như luôn hướng về cái kết; tính ngắn gọn là lời hứa về
sự xuất hiện nhanh chóng của một kết thúc đầy khoái cảm và bất ngờ, nó là động
cơ lý tưởng của một cỗ máy tạo ra những “cú viết” (coups d’écriture). Nhà thơ Đặng
Huy Giang cũng đã nhận ra điều này khi anh viết “ […] thơ Mai Quỳnh Nam luôn
rơi theo chiều thẳng đứng mà điểm rơi tập trung tại một điểm rất nhỏ ( tạm gọi
là “ tiết diện”) Nhờ thế mà lực và sức công phá rất mạnh” (Đặng Huy Giang –
“Mai Quỳnh Nam và Một phía” – chuyên đề Viết và Đọc xuân 2025).
Có thể nói thơ ngắn là một
thách thức và một biểu tượng của sự hoàn tất văn bản, của tính văn chương
(littérarité). Và thơ ngắn sẽ không ngừng tự hào về cái nghịch lý của chính
mình: sự sáng tạo đến từ việc kết hợp giữa sự ngắn gọn mang ý nghĩa và sự phong
phú mang tính biểu đạt được hàm chứa trong nó. Điều đó có nghĩa là tính ngắn gọn
cũng tạo ra những thuận lợi cho sự bất ổn định, cho sự chưa hoàn tất, hay đúng
hơn là các bài thơ ngắn sẽ trở thành đối tượng ưu tiên của một nỗ lực hoàn tất
vô tận, cái khao khát cải thiện – nghĩa là chỉnh sửa ở nơi độc giả. Thơ ngắn vì
thế được trao cho những khả năng thực hành siêu văn bản (hypertextuelles) – bên
trong và bên ngoài, tức là của tác giả và của những độc giả khác- và thường bù
đắp cho tính ngắn gọn của chuỗi tuyến tính của nó bằng sức sống dồi dào ở cấp độ
hệ hình (paradigmatique). Tính ngắn gọn cũng có thể là yếu tố gây nhiễu, tạo ra
sự mơ hồ; nó cho phép một văn bản chơi đùa với nhiều thể loại văn học cùng lúc
giống như bài thơ dưới đây.
“Trên đời, có lẽ không một
trường hợp nào mà “cái này” gắn kết với “cái kia”, phụ thuộc vào “cái kia” triệt
để, bền bỉ, chung thủy, khăng khít , như quan hệ giữa ổ khóa và chìa khóa. Điều
đó, cũng có nghĩa là chúng cùng chấp nhận sự “nghèo đi” trong các tương tác
hàng ngày. Ổ khóa treo trên cửa, chìa khóa trong ngăn tủ, hay vất vưởng đâu đó,
hay phiêu du chỗ này, chỗ nó. Chỉ đến khi chìa khóa cắm vào ổ khóa, bằng một
chuyển động nhỏ, ổ khóa bật mở, chứng tỏ cho mọi người thấy rõ lý do tồn tại tất
yếu phải có. Ngoài chúng – không còn ai, không thể ai – ngoài chúng”. (Luẩn
quẩn khi yêu. Tr 111)
Thơ ngắn của Mai Quỳnh
Nam khiến người đọc bắt buộc phải tiếp cận với một cách đọc mới mẻ: cách đọc
liên văn bản. Mỗi một bài thơ chính là một “mảnh rời”, một hình mẫu nguyên thủy
của tính không trọn vẹn, một hình thức phơi bày sự gãy vỡ của mình , nói đúng
hơn cách viết những bài thơ ngắn của Mai Quỳnh Nam là cách viết phản hình thức
, là một hình thức thơ để nhắm tới “sự phá vỡ hình thức”. Về mặt “cấu trúc cứng”
là như vậy, thế nhưng sự mơ hồ của từng bài thơ ngắn- từng mảnh rời rạc ở đây sẽ
giúp chúng ta bớt bị ám ảnh bởi sự tiêu cực đó.
Mỗi bài thơ ngắn của Mai
Quỳnh Nam trong tập “Luẩn quẩn khi yêu này” nếu không xuất hiện như phần còn lại
của một bài thơ ngắn khác đã khuất dạng thì lại giống như điềm báo cho sự xuất
hiện của một bài thơ mới sẽ đến, những cảm hứng như thế này không chỉ đến với
tác giả mà còn đến với những độc giả của nó. Vì thế mỗi bài thơ ngắn
trong tập “Luẩn quẩn khi yêu” này của Mai Quỳnh Nam không ngừng gợi ra một
dòng suy ngẫm liên tục, chúng nói nhiều hơn những gì chúng đã thực sự nói và đồng
thời chúng cũng để lộ ra những khoảng trắng bao quanh như miền đất hứa dành
cho những cuộc tìm kiếm tất yếu và luôn hứa hẹn mầu mỡ.
25/8/2025
Dương Thắng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đò dọc - Một "Chuyến đò'' chở nặng tâm hồn Bình Nguyên Lộc
Đò dọc - Một "Chuyến đò''
chở nặng tâm hồn Bình Nguyên Lộc
Bình Nguyên Lộc (1914 –
1987) tên thật là Tô Văn Tuấn, xuất thân trong một gia đình có mười đời sống tại
Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (tỉnh Bình Dương cũ, nay sáp nhập vào TP. Hồ Chí Minh).
Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ chuyên nghiên cứu về dân tộc học, ngôn
ngữ và cổ văn (giai đoạn 1945-1975). Trong sự nghiệp cầm bút, ông có khoảng 50
tiểu thuyết, 1.000 truyện ngắn và 4 cuốn sách nghiên cứu.
Trong số khoảng 50 tiểu
thuyết của nhà văn Bình Nguyên Lộc, “Đò dọc” là một trong những tiểu thuyết được
đánh giá cao nhất, từng giành được giải nhất “Giải thưởng Văn chương toàn quốc
năm 1959 – 1960”. Đây là một tác phẩm xưa có giá trị hiện thực, giá trị nhân
văn và giá trị văn hóa sâu sắc, được viết bằng một bút pháp tinh tế và duyên
dáng.
“Đò dọc” – chuyến đò tình
yêu trong bi kịch dạt trôi
“Đò dọc” kể câu chuyện về
gia đình ông bà Nam Thành với 4 cô con gái sống giữa buổi giao thời ở Sài Gòn,
là một “gia đình lưng chừng, không dám Tây quá mà không chịu cổ quá”. Trong cơn
biến động của thời cuộc, hai vợ chồng gốc Bạc Liêu, vốn mới “bám rễ” đất Sài
Gòn đâu chừng chục năm, lại phải đùm túm nhau lên miệt Thủ Đức. Họ chọn làng
thuốc Linh Chiểu, cất một gia trang tàm tạm, đặt tên Thái Huyên Trang để làm
nông nghiệp, chăn nuôi.
Rồi từ Thái Huyên Trang dựa
lưng con đường Thiên Lý ấy, biết bao chuyện dở khóc dở cười xảy ra cho gia
đình. Nhưng bi kịch nhất, có lẽ là chuyện tình yêu của 4 cô con gái Hương, Hồng,
Hoa, Quá. Người quá lứa, kẻ lỡ làng, chị thì thờ ơ, em thì hăm hở háo hức yêu…
Nhưng rồi chuyến đò tình của 4 cô đều trắc trở, tròng trành, lật lên, úp xuống
khiến cha mẹ bao phen nức nở lo.
Thời đoạn cả nhà rời mảnh
đất Sài Gòn, họ “dọn nhà đi giữa sự thờ ơ của hàng xóm”. Nhưng kiểu gì thì, đô
thành vẫn có sự sống sôi nổi hơn cái làng thuốc mà các nhà lân cận cách xa “cỡ
hú một tiếng dài mới nghe thấy”. Sự tao loạn của thời cuộc buộc họ phải từ giã
cái nơi có ánh đèn điện sáng trưng, dạt trôi về thôn quê tù mù, chỉ có đèn măng
sông và tiếng côn trùng, đám cỏ bù xít, mớ gia súc gia cầm, mớ cây trái còn trơ
trọi giữa mảnh vườn, nghe mưa cũng buồn, hóng gió cũng kém vui… Cái nỗi vui của
4 cô con gái đang tuổi lấy chồng phút chốc bị bứt rời, bỏ lại giữa Sài Gòn, ngơ
ngác “mới hôm qua nầy!”. Cô Hồng bỏ lại mối tình đầu ngậm ngùi, cô Quá còn chưa
kịp xóa khỏi trí cô hình ảnh các rạp chiếu bóng hực hỡ đèn màu. Cô Hoa luyến tiếc
những tiệm kem mát lạnh ngon lành…
Trong cuộc chuyển dời
trên chiếc xe cam-nhông đó, chỉ mình ông Nam Thành là háo hức với những “mưu kế”
cho một cuộc đời – đời nông dân đúng nghĩa. Riêng bà Nam Thành, lòng rộn những
âu lo khi sớm nhận ra cảnh tình đáng thương của 4 đứa con: “Ở đây không phải chỗ
của chúng nó. Chỗ của chúng phải vui tươi trẻ trung, sinh động hơn cái không
khí ủ rũ nầy”. Khi ta còn lờ mờ chưa rõ nỗi lo của bà Nam Thành, thì đoạn “quay
xe” cực dị của Long: chàng có ý định hoãn cưới cô Hồng, con gái ông bà, dù trước
đó đã yêu thương đậm sâu – đã phơi bày ra tất cả bi kịch của gia đình: bi kịch
của giai cấp kẻ chợ – dân quê. Sự lạc lõng, cô đơn của gia đình ông Nam Thành
là sự cô đơn chung của phận người trôi dạt, chưa kịp neo đậu lâu ở bến nào.
Long – chàng họa sĩ ở Sài
Gòn, người vô tình bị tai nạn lật xe hơi trong sân gia trang ông bà, được cả
gia đình cứu giúp. Anh chàng có chất nghệ sĩ như một chuyến “Đò dọc” ghé đến
cái bến hiu quạnh này, mang đến bao nhiêu hy vọng và nguồn năng lượng, sinh khí
mới cho những người trong cái gia trang luôn ngơ ngác buồn.
Nhưng chuyến đò này cũng
mang đến những rắc rối to lớn nhân danh tình yêu. Cuộc chiến của những cô gái vốn
rất yêu thương nhau lại nảy nòi khi họ va vào tình yêu với Long. Anh chàng vì
cám cảnh chị em hiền lành, lại vướng mắc cái ơn cứu giúp, không nỡ trắng đen rõ
ràng ngay từ đầu, sợ mình “phũ” quá đâm ra bạc nghĩa. Nhưng rồi thật may, dưới
sự giáo dục tốt của ông bà Nam Thành, và với tấm lòng của Long, của người anh họ
tên Bằng, tất cả các cô lại đầm ấm bên nhau, sau cơn mê lạc đến mức dại dột đi
tìm cái chết của cô Hồng, cô Quá.
Dưới ngòi bút tả thực đầy
sinh động và cái nhìn cảm thông, Bình Nguyên Lộc cho chúng ta thấy một hiện thực
đau xót của xã hội miền Nam buổi giao thời. Nhưng rồi cũng chính ngòi bút nhân
văn ấy, cùng với những tư tưởng rất tiến bộ, đã giúp những nhân vật của ông tự
cởi trói cuộc đời.
Sự thương cảm của ông đối
với thân phận người phụ nữ được chuyển giao qua cái nhìn rất nhân hậu của chàng
họa sĩ Long; của người anh họ tên Bằng, của ông bà Nam Thành với 4 cô con gái.
Dẫu không thể làm gì thay đổi thời cuộc, nhưng cái tư tưởng tiến bộ về hôn nhân
của phụ nữ sẽ giúp người ta dễ dàng xoay chuyển hơn. Như Long, khi anh ngộ ra rằng
cô Hồng – vợ sắp cưới không được sành điệu như một cô gái ở đô thành chính hiệu,
bởi cô đã bị cuộc sống thôn quê tước mất cái mác thị dân lâu nay, thành một cô
gái quê thô kệch. Nhưng chỉ cần anh cưới và đưa cô về lại Sài Gòn, thì cô sẽ trở
lại là một người “kẻ chợ” đầy giá trị như trước đây.
“Đò dọc” không chỉ hấp dẫn
bởi câu chuyện biến động thời cuộc và chuyện tình đầy kịch tính, nó còn là nơi
để tác giả dụng công đưa lời ăn tiếng nói Nam Bộ xưa vào những trang viết thật
lôi cuốn. Ngôn ngữ chính là thứ độc đáo nhất trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc.
“Đò dọc” chính là một kho tàng lời ăn tiếng nói của người Nam Bộ mà ông đã cất
công sưu tầm và đưa vào.
Những nhân vật của “Đò dọc”
có cách nói chuyện vừa bình dân vừa tao nhã, vừa khách khí giữ kẽ vừa gần gũi
ân cần, đoán ý tứ nhau một cách tinh tế, sâu sắc. Nhân vật Long và Bằng lại là
tuyến nhân vật gây thú vị nhờ lời ăn tiếng nói đầy học thức đúng danh người “kẻ
chợ”. Cái cách Long tỏ tình, thật khiến các cô gái phải xiêu lòng nhanh chóng.
Là nhà văn hóa, Bình
Nguyên Lộc mô tả khung cảnh đời sống của người dân Nam Bộ với sự tỉ mỉ, hứng
thú và tái hiện chúng rất sinh động, rất đời. Căn nhà của gia đình ông bà Nam
Thành toát lên vẻ truyền thống với những “lọ sành Lái Thiêu”, “vách trỉ long mốt”,
“mâm gỗ mít tròn”, phên tre…
Thế giới văn chương và
tâm hồn Bình Nguyên Lộc
Bình Nguyên Lộc là một
nhà văn lớn của Việt Nam, thuộc tốp 3 nhà văn có sáng tác nhiều nhất của cả nước,
còn được gọi là “tam kiệt” của văn học Việt Nam, bên cạnh nhà văn Hồ Biểu Chánh
và Lê Văn Trương. Nhìn lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ của nhà văn Bình Nguyên Lộc,
người đọc sẽ không khỏi ngỡ ngàng và phải ngả mũ bởi sức viết, nghiên cứu và
cái tâm của ông trong việc bảo tồn văn hóa, lời ăn tiếng nói của người Việt, nhất
là ngôn ngữ bình dân nhưng sâu sắc của người miền Nam.
Bình Nguyên Lộc bắt đầu
viết văn vào năm 1936, khi thuyên chuyển công việc từ Kho bạc tỉnh Thủ Dầu Một
về làm nhân viên kế toán Kho bạc Sài Gòn. Năm 1946, ông lò dò viết báo. Năm
1949, ông xuống Sài Gòn và ở hẳn đó cho tới năm 1985.
Sài Gòn chính là nơi mà sự
nghiệp viết lách Bình Nguyên Lộc phát triển rực rỡ nhất (tính từ năm 1949 đến
năm 1975). Ông vừa viết văn, viết báo, nghiên cứu, đồng thời cũng là chủ bút của
nhiều tờ báo lớn tại đây. Giai đoạn này, ông cũng có mối giao hảo mật thiết với
rất nhiều cây bút tên tuổi trong làng văn, làng báo: Đông Hồ, Lê Sĩ Quý, Sơn
Nam… Tâm hồn của một nhà văn, nhà văn hóa lớn của Nam Bộ cũng bắt đầu dạt dào từ
đây.
Nguồn gốc, ngôn ngữ, di
dân, cõi âm – 4 yếu tố đặc sánh tâm hồn Bình Nguyên Lộc luôn hiện diện trong di
sản văn chương đồ sộ mà ông để lại cho đời, trong đó có “Đò dọc”.
Thế giới văn chương của
Bình Nguyên Lộc là một tấm gương lớn phản chiếu nỗi niềm đau đáu nhìn từ những
vấn đề cốt tử của truyền thống văn hóa, con người Việt Nam. Nhưng phong cách
văn chương của ông lại mở ra một sự giao lưu văn hóa giữa 2 miền Nam – Bắc,
không quá rạch ròi hay một chiều mà luôn ở cái ngưỡng dung hòa. Điều này thể hiện
rõ ở sự truy nguyên nguồn gốc ngôn ngữ 2 miền trong tiểu thuyết “Đò dọc”.
30/8/2025
Trần Huyền Trang
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Bảo Ngọc: Thắp lên một ngọn lửa đam mê thuần khiết
Bảo Ngọc: Thắp lên một ngọn lửa đam mê thuần khiết “Trong cơn mê của lửa” của nhà thơ Bảo Ngọc là một tập thơ mới và lạ, xét cả về nội du...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...



.gif)

