Thứ Tư, 15 tháng 4, 2026

Thụy Khuê, nhà phê bình văn học mành mành

Thụy Khuê, nhà phê bình
văn học mành mành

Thật khó để khen một điểm gì đó trong cuốn sách của Thụy Khuê: chỗ đúng thì không mới, mà chỗ mới lại không đúng. Phong cách đặc trưng của Thụy Khê là không đọc nhưng ra vẻ đọc. Ở chương 8, Bakhtin và xã hội học văn chương, bà nói đến hai cuốn sách của Medvedev là Phương pháp hình thức trong khoa học văn chương (1928) và Thi học xã hội nhập môn (1928). Chắc bạn đang phì cười: Vì không đọc, Thụy Khuê không biết rằng “Thi học xã hội nhập môn” chỉ là cái phụ đề của cuốn Phương pháp hình thức trong khoa học văn chương mà thôi!…
Trong cuốn Phê bình văn học thế kỷ XX, khi đăng trên Văn Việt, Thụy Khuê phê phán quyết liệt một “nạn dịch” của phê bình Việt Nam, đó là “cái gì người ta cũng muốn biết, biết nhanh, biết gấp, cho nên, tất cả đều chớp nhoáng, đến độ chóng mặt”. Trong bài Trả lời nhà báo Thụy Khuê (2016), chúng tôi đã chỉ ra rằng những điều đó thật ra lại rất phù hợp để nói về bà. Đó là chưa kể việc bà thuổng ý của Zenkin. Không trả lời, nhưng khi in thành sách, bà ngấm ngầm cắt bỏ những đoạn bị phê phán và hai đoạn thuổng của Zenkin.
Nhưng sự kiêu ngạo thì không đổi. Bà trả lời Tuổi Trẻ: “Đúng là phê bình của chúng ta còn khá phôi thai. Sau khi đọc một số sách về lý luận phê bình văn học đã xuất bản trong nước, tôi nhận thấy phần lớn các sách ấy đều trình bày những lý thuyết phê bình thế giới theo lối: hoặc dịch hay chia các lý thuyết ra thành từng mảnh rời rạc, hoặc không đi đến tận cùng một vấn đề, hoặc đưa vấn đề ra một cách phiến diện, có thể gây hiểu lầm. Chưa kể chúng ta còn có thói quen không tiếp cận thẳng tác phẩm, mà thường đọc qua nhà nghiên cứu này, nhà phê bình kia của phương Tây, mà những “ông phương Tây” được chọn nhiều khi lại không phải là chuyên gia về vấn đề đó, hoặc có những sai lầm trầm trọng”[1].  Bà chê bai không chỉ các tác giả Việt Nam, từ Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh (tr. 70) đến Trần Đình Sử (tr. 132-133), mà cả các tác giả nước ngoài, từ Pháp, Nga đến Mỹ, như ta sẽ thấy dưới đây.
Tạ Duy Anh, người biên tập sách Phê bình văn học thế kỷ XX, ca ngợi: “Đây có lẽ là cuốn sách mà những người yêu văn học nước nhà chờ đợi từ lâu. Thụy Khuê, bản thân tên bà đã là một đảm bảo bằng vàng về sự nghiêm túc cũng như tinh thần khai phóng trong học thuật, không chỉ khảo cứu rất công phu những xu hướng chủ đạo bao trùm suốt thế kỷ 20 về sáng tác, phê bình văn học trên thế giới, mà còn – đây là phần đáng biểu dương nhất – có khả năng phi thường trong việc truyền đạt, diễn giải kiến thức đến bạn đọc khó có thể súc tích và rành mạch hơn, khiến những tư tưởng, những quan điểm lớn vốn vô cùng rắc rối, trừu tượng thậm chí mù mờ trở nên thú vị, hấp dẫn, sáng tỏ…”
Nhận xét của tôi hoàn toàn ngược lại. Cuốn sách của Thụy Khuê hết sức lộn xộn, cẩu thả và có vô số sai lầm mà nguyên nhân là bà rất ham nói to về những điều bà không biết và không hiểu.
Thụy Khuê tuyên bố rằng công trình của bà “là cuốn sách toàn cảnh về nền phê bình thế giới thế kỷ 20, nó sẽ giúp người nghiên cứu biết bản chất của văn chương và công việc của mình”[2]. Hãy giở cuốn sách. Cái đầu tiên là Mục lục, và nó làm ta bật cười. Để viết một công trình toàn cảnh, ta phải có tư duy hệ thống để trình bày vấn đề dựa trên những tiêu chí thống nhất. Chẳng hạn, theo trường phái (Phê bình cấu trúc, Phê bình tâm phân học, Phê bình Marxist…), hoặc theo thời kỳ (Tiền hiện đại, Hiện đại, Hậu hiện đại), hoặc theo quốc gia (Nga, Pháp, Đức…). Còn đây là cách của Thụy Khuê:
Chương 04: Phê bình phân tâm học của Freud
Chương 05: Ngôn ngữ học
Chương 06: Trường phái hình thức Nga
Chương 07: Những nhà cấu trúc Nga
Chương 11: Erich Auerbach (1892-1957)
Chương 13: Phê bình văn học Pháp – Jean-Paul Sartres
Chương 15: Maurice Blanchot – sự im lặng của văn chương
Thật chẳng khác gì phân loại bò thành bò tây, bò ta, bò cái và bò bị mất trộm! Nhưng xin các bạn đừng cười to quá, vì còn nhiều điều buồn cười hơn.
Thiếu tư duy khoa học đối với Thụy Khuê hóa ra lại là một ưu thế, vì nó cho phép bà viết một cuốn sách đồ sộ mà không cần nhiều công sức. Cách làm đặc trưng của bà là kể lể dông dài, đôi khi rất ngôn tình, về đời tư của nhân vật, kiểu: “Nhờ bài phê bình tập thơ Odes et Ballades của Victor Hugo mà Sainte-Beuve quen với nhà thơ nổi tiếng này; kết thân với gia đình Hugo và khoảng 1831, ông trở thành người tình của bà Hugo. Năm 1834, Sainte-Beuve đoạn tuyệt với Hugo, hai năm sau, chia tay với Adèle Hugo, rồi sang Lausanne ở một năm…” (tr. 44-45). Một cách khác mà bà hay sử dụng là đưa vào những đoạn trích dẫn rất dài (các trang 51-52; 53-54; 55-57 và rất nhiều chỗ khác) thay vì chiết xuất ra nội dung chính của chúng.
Phần lớn những điều bà đưa vào sách là thông tin thiếu kiểm chứng, được lượm lặt một cách dễ dãi. Ví dụ về Bakhtin. Chuyện như sau: Vì mắc bệnh từ nhỏ, Bakhtin chưa bao giờ học đại học, làm nghề kế toán, nhưng chơi với một nhóm bạn, trong đó có Medvedev và Voloshinov, hai giáo sư đại học nổi tiếng. Tại nhà thủ lĩnh Medvedev, nhóm bạn thường tranh luận về học thuật. Theo lời Bakhtin, ông chỉ ngồi chầu rìa. Khi Bakhtin bị bắt giam vì chống chính quyền, Voloshinov và Medvedev, khi đó là trưởng đại diện NXB Quốc gia tại Leningrad, đã sửa chữa bản thảo cuốn sách về Dostoievsky của Bakhtin và đem in để gỡ tội cho bạn. Năm 1936, khi Bakhtin mãn hạn đi đày, Voloshinov đã chết vì lao phổi. Medvedev xin cho Bakhtin làm giáo viên tại một trường trung cấp sư phạm dành cho các dân tộc thiểu số mới thành lập, chỉ có 10 giáo viên (Năm 1957, trường này được nâng cấp thành đại học). Năm 1938, Medvedev bị Stalin xử tử. Năm 1946, Bakhtin được đặc cách bảo vệ luận án phó tiến sĩ. Những năm 1960, Bakhtin tuyên bố rằng ông là người viết tất cả các công trình kiệt xuất của hai người bạn đã chết. Nhiều người đã tin vào chuyện bịa đặt đó, như Jakobson trong Lời tựa bản dịch cuốn Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ của Voloshinov (Minuit, 1977) và Aucouturier trong Lời tựa cuốn Mỹ học và lý luận tiểu thuyết của Bakhtin (Gallimard, 1978). Sau khi Liên Xô sụp đổ, việc khảo sát tài liệu lưu trữ đã bác bỏ những tuyên bố của Bakhtin. Tại Nga, người ta đã từ bỏ dự định gộp các công trình của Voloshinov và Medvedev vào Toàn tập Bakhtin. Hai tác giả Thụy Sĩ, Bronckart và Bota, trong cuốn sách hơn 600 trang Lột mặt nạ Bakhtin – câu chuyện về một kẻ lừa dối, một chuyện bịp bợm và một cơn mê sảng tập thể (Droz, 2011), bằng những khảo sát hết sức thuyết phục, đã khôi phục danh dự và tác quyền cho Voloshinov và Medvedev.
Tất nhiên, Thụy Khuê có quyền phản bác. Nhưng thay vì dựa trên cứ liệu, bà lại trích hai Lời tựa những năm 1970 của Jakobson và Aucouturier rồi phán: “Lời hai nhà nghiên cứu có uy tín trên đây giúp ta hiểu rõ hơn tình hình…”. Thật buồn cười. Hãy tưởng tượng: Ông X. dẫn ở đâu đó về mấy con chó. Vị trưởng thôn khả kính hỏi, ông X. nói: “Chó tôi nhờ người nuôi”. Về sau, công an thấy có đủ bằng chứng buộc tội ông X. ăn trộm, bèn tịch thu lũ chó để trả lại cho chủ cũ. Nhưng nhà phê bình uyên bác của chúng ta vẫn khăng khăng: “Ông X. không ăn trộm. Vị trưởng thôn khả kính giúp ta hiểu rõ tình hình!”
Một ưu thế khác của Thụy Khuê là ít hạ cố đọc ai. Một phê bình thực thụ khi bắt đầu viết về bất cứ điều gì đều bắt đầu bằng “Tổng quan tài liệu” – đó vừa là sự tôn trọng tiền bối, đồng thời là cách để chúng ta tiếp thu thành tựu và tránh sai lầm của. Nhưng Thụy Khuê không ứng xử như thế. Bà tung hoành như ở chỗ không người, hào hứng và cao ngạo phát minh lại những điều ai cũng biết.
Ví dụ là lý thuyết ngôn ngữ của Ferdinand de Saussure. Cuốn Cours de linguistique générale của ông đã có ít nhất hai bản dịch khá tốt, một của ĐH Tổng hợp Hà Nội (Khoa học Xã hội, 1973); một của Cao Xuân Hạo, cũng do NXB Khoa học Xã hội ấn hành. Hàng vạn sinh viên đã sử dụng các bản dịch này và đã quen với nhiều thuật ngữ như “Langue” (Ngôn ngữ), “Langage” (Hoạt động ngôn ngữ), “Parole” (Lời nói) v.v…
Nhưng Thụy Khuê dịch lại: “Langue là tiếng nói (như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt…); Langage là ngôn ngữ, bao gồm nhiều cách diễn đạt khác nhau (như ngôn ngữ loài chim, ngôn ngữ điện tử, ngôn ngữ con người, ngôn ngữ nhà văn…); Parole là lời nói (như lời anh Năm, chị Bảy…” (tr. 151)
Đoạn văn cho thấy rằng Thụy Khuê hoàn toàn không hiểu lý thuyết của Saussure. Xin hãy đọc chính Saussure qua bản dịch của Cao Xuân Hạo: “Nhưng ngôn ngữ (langue) là gì? Đối với chúng tôi, nó không đồng nhất với hoạt động ngôn ngữ (langage); nó chỉ là một bộ phận nhất định của hoạt động ngôn ngữ, tuy là bộ phận cốt yếu. Nó vừa là một sản phẩm xã hội của năng lực ngôn ngữ, vừa là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận, để cho phép các cá nhân vận dụng năng lực này. Nhìn chung toàn bộ, hoạt động ngôn ngữ vốn đa dạng và kỳ lạ; nó cưỡi lên nhiều lĩnh vực, vừa vật lý, vừa sinh lý, vừa tâm lý, lại còn liên quan đến lĩnh vực cá nhân, lĩnh vực xã hội nữa; không thể đem xếp nó vào một phạm trù nào của các sự kiện nhân loại, vì người ta không biết làm thế nào để xác định tính thống nhất của nó. Ngược lại, ngôn ngữ tự nó là một thể hoàn chỉnh và một nguyên lý phân loại. Hễ đặt nó lên hàng đầu các sự kiện trong hoạt động ngôn ngữ, thì chúng ta đưa ngay được một trật tự tự nhiên vào một tổng thể vốn không thích ứng với cách phân loại nào khác”[3].
Bất kỳ ai có kiến thức phổ thông về ngôn ngữ học cũng thấy rằng Thụy Khuê không hiểu bản chất cấu trúc luận trong lý thuyết của Saussure, nhất là sự phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói. Vì vậy, bà đồng nhất ngôn ngữ học với lý thuyết ngôn ngữ cấu trúc của Saussure và không biết rằng lý thuyết này đã bị Voloshinov (1929) và nhiều tác giả khác phê phán (Bà làm ra vẻ biết Voloshinov, nhưng nếu đã đọc, hẳn bà phải biết rằng Voloshinov chính là tác giả của Nguyên lý đối thoại cũng như các khái niệm Liên văn bản, Diễn ngôn, Thể loại diễn ngôn, Tiểu thuyết phức điệu và nhiều ý tưởng kiệt xuất khác). Chính sự phê phán ngôn ngữ học cấu trúc của Saussure đã mở đường cho Chủ nghĩa Hậu cấu trúc, về cơ bản là một tên gọi khác của Chủ nghĩa Hậu hiện đại.
Có hàng trăm thuật ngữ thông dụng bị Thụy Khuê dịch lại như vậy, không phải là vì chúng không chính xác, mà vì bà không hiểu. Chẳng hạn, cặp thuật ngữ signifiant/signifié vẫn được dịch là “cái biểu hiện/ cái được biểu hiện” hoặc “cái năng biểu/ cái sở biểu”, được bà dịch lại là “chữ/ nghĩa”: “Từ sự phân tích hành trình của lời nói trên đây, Saussure mới định danh ba thành phần chính của tiếng nói, là ký hiệu (sign), chữ (signifiant) và nghĩa (signifié)” (tr. 157). Bà không hiểu rằng trong ngôn ngữ nói, signifiant là “âm” chứ không phải là “chữ”.
Từ arbitraire vẫn được dịch là “võ đoán” (Hoàng Tuệ, Cao Xuân Hạo), hoặc “tùy ước” (Nguyễn Văn Độ). Nay Thụy Khuê dịch lại là “Bất kỳ”. Sao lại “bất kỳ”? Sự tương ứng giữa “âm” và “nghĩa” của một từ, theo Saussure, hoàn toàn không bất kỳ, mà là một-đối-một. Có điều, chúng ta không thể, nói đúng hơn là không cần, giải thích một cách logic.
Không hiểu nên không nhất quán. Các từ “Style” và “Stylistique” vẫn được dịch là “Phong cách” và “Phong cách học”, riêng Thụy Khuê có chỗ dịch là “Văn phong” và “Văn phong học”, chỗ khác lại dịch là “Văn cách”: “Theo Bakhtin, tiểu thuyết nhìn toàn diện, là một hiện tượng nhiều văn cách (pluristylistique), nhiều lọng lẹo (plurilingual), nhiều cách phát âm (plurivocal)” (tr. 295).
“Nhiều lọng lẹo” là gì vậy? Sợ rằng đây là lỗi nhà in, tôi phải kiểm tra trên trang cá nhân của bà. Vâng, đó đùng là điều bà viết. Tại sao bà lại dịch “Plurilingual” (đa ngữ) thành “Nhiều lọng lẹo” – điều ấy chỉ có trời biết!
Rồi bà đồng nhất “Style” với “Écriture”: “Thực ra style và écriture đồng nghĩa, nhưng chữ écriture có vẻ mới hơn, trực tiếp và trần trụi giống như tính khí của Sartre” (sic!). (tr. 172). Bà trích dẫn cuốn Độ không của lối viết của Roland Barthes, đoạn phân biệt giữa style (phong cách) và écriture (lối viết), rồi phán: “Barthes có nhiều câu ‘bùa phép’ như thế: rất văn chương, rất trí thức, nhưng khó đoán ông muốn nói gì, vì vậy, lập luận này của ông không mấy thuyết phục: đã đành style có nguồn cội từ cơ thể, mà tại sao écriture lại không?” (tr. 503).
Dễ thấy rằng Thụy Khuê dựa vào bản dịch của Nguyên Ngọc. Ông dịch “écriture” là “lối viết” – rất hay và rất đúng. Nhưng người Việt dễ liên tưởng “lối viết” với “phong cách”. Thực ra trong tiếng Pháp, sự khác nhau rất rõ. Nói đơn giản, écriture là “sự viết”. Barthes rất tinh tế nhận thấy rằng ngôn ngữ là chung cho mọi nhà văn cùng thời đại, còn phong cách (style) gắn liền với tác giả. Nhưng khi sáng tác, nhà văn có thể chọn những lối viết khác nhau, phụ thuộc vào đối tượng, mục đích, bối cảnh, cam kết chính trị và nhiều yếu tố khác nữa. Barthes viết: “…giữa ngôn ngữ và văn phong vẫn còn chỗ cho một thực tại hình thức khác: lối viết. Trong bất cứ hình thức văn học nào, cũng có sự lựa chọn tổng quát một giọng điệu, một đặc tính, nếu ta muốn gọi như thế, và chính tại đây nhà văn tự cá thể hóa rõ ràng, bởi chính ở đây anh ta dấn thân”. (Nguyên Ngọc dịch, Bản điện tử: Talawas).
Bằng thứ kiến thức hời hợt như vậy, Thụy Khuê bác bỏ Trần Đình Sử khi ông viết: “Phê bình phân tâm học là một trường phái phê bình rất rất thịnh hành ở phương Tây ở nửa đầu thế kỷ XX. Sức ảnh hưởng của nó đối với phê bình văn học phương Tây đương thời có thể nói không phương pháp phê bình văn học nào sánh được”. Bà đưa ra bốn bài tiểu luận của Freud và phán: “Không hiểu tại sao chỉ một đoạn văn ngắn như vậy mà lại chứa nhiều cái sai như vậy? Thực ra phê bình phân tâm của Freud chưa bao giờ có ảnh hưởng đến độ không phương pháp phê bình văn học nào sánh được, vì có mấy ai biết đến những bài phê bình của Freud mà chúng tôi vừa giới thiệu ở trên, trừ một số rất ít người nghiên cứu văn học”. (tr. 133)
Vẫn cái bệnh không chịu đọc đến nơi đến chốn! Trong đoạn văn trên, Trần Đình Sử bàn về Phê bình phân tâm học, chứ không phải về Phê bình phân tâm học của Freud. Freud có thể viết rất ít, thậm chí không hề viết, về văn chương, nhưng người ta có thể dựa trên lý thuyết của ông để xây dựng một trường phái phê bình. Tương tự, ta có Phê bình Marxist, Phê bình Hiện tượng luận, dù Marx và Husserl viết rất ít về văn chương.
Trần Đình Sử có sai như Thụy Khuê phán hay không? Trong vô số ví dụ, tôi xin dẫn ra đây cuốn Literary Theory của Terry Eagleton, một trong những nhà phê bình văn học nổi tiếng nhất thế giới hiện nay. In lần đầu năm 1983, cuốn sách đã được tái bản hàng chục lần, với hàng triệu bản, trở thành cẩm nang của sinh viên khắp thế giới (Bản năm 1983 của tôi là bản in lần thứ 12). Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, cuốn sách có năm chương. Chương 1 bàn về sự xuất hiện và lên ngôi của các khái niệm “văn học” và “văn học dân tộc”. Chương 2 trình bày về ba trường phái Phê bình Hiện tượng luận, Phê bình thông diễn học và Phê bình Tiếp nhận. Chương 3 giới thiệu hai trường phái Phê bình Cấu trúc luận và Phê bình Ký hiệu học. Chương 4 dành trọn vẹn cho Phê bình Hậu cấu trúc và chương 5 dành cho Phê bình Phân tâm học. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của Phê bình hậu cấu trúc và Phê bình phân tâm học.
Thụy Khuê dành 42 trang cuối sách để chế giễu Chủ nghĩa Hậu hiện đại là “ảo tượng”. Trong bài phỏng vấn nói trên, bà nói: “Trường hợp lý thuyết hậu hiện đại mà tôi viết trong sách là một ví dụ sống động về sự “tam sao thất bản” này. Người Mỹ đã hiểu sai khi tiếp cận hậu hiện đại của Pháp và họ mang cái sai đó về bên kia châu lục, người Nga lấy lại cái sai đó của Mỹ và cuối cùng người Việt lại lấy cái sai đó từ Nga, cộng với việc dịch thuật không chuẩn thành ra méo mó hết cả”[4].
Ở đây nữa, bà đồng nhất Chủ nghĩa Hậu hiện đại với một vài ý tưởng cụ thể của Jean- François Lyotard. Bà không biết rằng Chủ nghĩa Hậu Hiện đại là một trào lưu rộng lớn với nhiều tác giả mà tinh thần chung là chống lại những quan niệm của Chủ nghĩa Hiện đại, trong đó đặc biệt là quan niệm máy móc về thế giới, niềm tin vào Lý trí phổ quát và ý niệm Cái tôi bản thể. Vào thập niên 1920, Voloshinov, Medvedev và Vygotsky đã chỉ ra rằng “Lý trí phổ quát” không hề tồn tại và “Cái tôi bản thể” cũng chỉ là “tổng hòa các quan hệ xã hội” (Marx). Mọi hiện tượng tư tưởng, theo họ, đều có bản chất xã hội, và ý tưởng về cơ sở khách quan và phổ quát cho nhận thức các hiện tượng tư tưởng (khoa học, thẩm mỹ, đạo đức, tôn giáo, giới tính, chính trị…) chỉ là những kiến tạo xã hội, những câu chuyện lớn mà thôi. Những lập luận nền tảng này về sau được các nhà tư tưởng Hậu hiện đại phát triển: Lyotard phê phán đại tự sự, Derrida nghiên cứu quá trình Giải kiến tạo, Foucault phân tích quan hệ quyền lực trong diễn ngôn, Gramsci và Said giải phẫu bá quyền văn hóa, Barthes nói về cái chết của tác giả v.v…
Vì khuôn khổ của bài báo, chúng tôi chỉ muốn nói rằng nhận định của Foucault được Thụy Khuê trích dẫn cuối sách với giọng chế giễu rất đúng để nói về bà: “Khi ta chưa biết hiện đại là gì thì khó có thể trả lời cầu hỏi: Hậu hiện đại là gì”. (tr. 565).
Thật khó để khen một điểm gì đó trong cuốn sách của Thụy Khuê: chỗ đúng thì không mới, mà chỗ mới lại không đúng. Phong cách đặc trưng của Thụy Khê là không đọc nhưng ra vẻ đọc. Ở chương 8, Bakhtin và xã hội học văn chương, bà nói đến hai cuốn sách của Medvedev là Phương pháp hình thức trong khoa học văn chương (1928) và Thi học xã hội nhập môn (1928). Chắc bạn đang phì cười: Vì không đọc, Thụy Khuê không biết rằng “Thi học xã hội nhập môn” chỉ là cái phụ đề của cuốn Phương pháp hình thức trong khoa học văn chương mà thôi!
Buồn cười hơn nữa là đoạn về thủ lĩnh của Tiểu thuyết mới: “Alain Robbe-Grillet không viết một cuốn sách lý luận nào về chủ nghĩa hậu hiện đại, người ta lầm với cuốn Vì một nền tiểu thuyết mới (Pour un nouveau roman) của ông. Robbe-Grillet nổi tiếng từ thập niên 1950-1960, với ba tiểu thuyết chính: Những cục tẩy (Les gommes, 1953), Kẻ nhòm trộm (Le voyeur, 1956) và Bức mành mành (La jalousie, 1957)” (tr. 561).
Chắc bạn lại phá lên cười. Cuốn La jalousie kể về một chuyện mơ hồ, có lẽ là tình tay ba, giữa một phụ nữ, một người đàn ông (có lẽ là nhân tình) và người kể chuyện (có lẽ là chồng của người phụ nữ). Người kể chuyện này không xuất hiện, nhưng lại hiện hữu mọi nơi. Nếu đọc, hẳn bà phải biết rằng tên chính xác của cuốn tiểu thuyết là Ghen. Nhưng nhà phê bình khả kính Thụy Khuê không cần đọc. Vì trong từ điển, “Jalousie” có một nghĩa khác là “Bức mành mành”, bà có thể yên tâm bàn luận một cách uyên bác về “Bức mành mành”!.
Một biểu tượng tuyệt vời. Xin trân trọng tặng bà danh hiệu ấy: “Nhà phê bình văn học mành mành”!.
Chú thích:
[1] Thư Hân, Phê bình văn học thế kỷ XX có mở đại lộ cho văn chương?
[2] Thư Hân, đã dẫn.
[3] Ferdinand de Saussure, Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Cao Xuân Hạo dịch, in lần thứ hai, NXB Khoa học xã hội, 2005, tr. 43-44.
[4] Thư Hân, đã dẫn.
12/10/2021
Ngô Tự Lập
Nguồn: Văn Nghệ bộ mới số 41/2021
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thơ Quang Dũng nhìn từ tâm thức văn hóa Việt

Thơ Quang Dũng nhìn
từ tâm thức văn hóa Việt

Đọc và tìm hiểu tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, một mặt giúp chúng ta giải mã những vẻ đẹp của “giòng sinh mệnh” văn hóa dân tộc kết tinh trong thơ ông, làm nên hệ giá trị riêng của thơ Quang Dũng. Mặt khác, chúng ta hiểu sâu sắc hơn về những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp phong phú đa dạng của nền văn minh sông nước và các phong tục tập quán làm nên phong hóa dân tộc cùng những giá trị văn nghệ dân gian mà nhà thơ Quang Dũng đã phản ảnh trong thơ của mình.
1. Khi nghĩ về Quang Dũng, một gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp, các nhà nghiên cứu thường luận bàn đến phong cách thơ độc đáo của ông qua các bài thơ nỗi tiếng với giọng sử thi đầy chất bi tráng đã trở thành những tượng đại thi ca trong tâm thức người đọc như: Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Quán nước, Đôi bờ… mà ít quan tâm đến việc giải mã tâm thức văn hóa Việt, một phẩm tính làm nên hồn thơ Quang Dũng. Trong bối cảnh văn hóa nước nhà đang đứng trước thảm trạng bị văn hóa Phương Tây xâm lấn dẫn đến nguy cơ mất dần bản sắc văn hóa dân tộc, việc tìm hiểu tâm thức văn hóa của thơ ca, trong đó, có thơ Quang Dũng là vấn đề không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất sâu sắc. Bởi, nói như Abert Camus, một triết gia, một nhà văn nổi tiếng của nhân loại thế kỷ XX, người được trao giải thưởng Nobel văn chương năm 1957 đã xác quyết: “Khi văn hóa xuống cấp, nó rút ngắn con đường dẫn đến nô lệ”. Vai trò của văn hóa đối với sự tồn vong của đất nước và dân tộc là vô cùng hệ trọng. Đây cũng là lý do vì sao tôi chọn tìm hiểu về tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, nhân 100 năm ngày sinh của ông. Bởi, Quang Dũng không chỉ là thi sĩ, ông còn là một họa sĩ, một nghệ sĩ rất am hiểu văn hóa truyền thống dân tộc và văn hóa Việt đã thấm vào hồn thơ của ông như một ám ảnh của vô thức và tâm linh. Điều nầy tạo nên phẩm tính riêng, là hệ giá trị mỹ cảm độc đáo trong thơ Quang Dũng, một thi sĩ mà lòng luôn mở ra với “bốn cõi” để giao cảm và tình tự với thiên nhiên, với cuộc đời như thi nhân đã chia sẻ:“Gói, khăn, trăng, gió trời mây bạc / Hồn nhẹ quên trong xác nặng nề.” (Giang hồ). Tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, vì thế là một điệu hồn làm nên hệ giá trị về những biểu tượng văn hóa đa dạng của thơ ông.
2. Dòng sông – biểu tượng văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng
Nhà thơ Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh ngày 11-10-1921 tại làng Phượng Trì, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông rời xa cõi tạm ngày 13-10-1988. Nơi, thi sĩ Quang Dũng sinh ra, lớn lên là một vùng đất có bề dày truyền thống với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, không phải nơi nào cũng có được. Đan Phương, trước đây gọi là xứ Đoài, nơi đã để lại trong tâm thức nhà thơ biết bao nỗi nhớ tha thiết, đắm say: “Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm / Em đã bao ngày em nhớ thương?” (Mắt người Sơn Tây). Đây cũng là vùng đất có hệ thống sông ngòi chảy qua nên địa hình tương đối bằng phẳng, với lượng phù sa màu mở tạo nên sức sống xanh tươi của vùng nông nghiệp lúa nước. Và cảnh quang môi trường sinh thái này là một dấu ấn văn hóa trong tâm cảm thi nhân, từ đó hình thành phẩm tính của tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng mà biểu hiện rõ nhất là hình ảnh của các giòng sông quê luôn trôi trong tâm thức văn hóa thi nhân như nỗi ám ảnh của cảm thức hiện sinh. Đó là dòng sông Hồng luôn chất chứa trong đôi bờ những trầm tích văn hóa văn hóa làng, là hệ giá trị hình thành căn tố văn hóa dân tộc, bình dị, lắng sâu, ngọt ngào, ẩn chứa những giá trị nhân văn: “Dòng sông Hồng/ Nước đỏ trường giang đất Bắc/ Có đôi bờ xanh ngô lúa phì nhiêu/ Có những làng quê trăng sáng sáo diều/ Bóng cây đa cổ thụ/ Nước vận phù sa/ Bóng soi lều chợ/ Đò ngang tên bến ca dao/ Nghìn năm miếng nước ngọt ngào/ Nuôi sống quê hương dân tộc/ Ai biết tự bao giờ/ Dòng nước đổ về chở nặng đất nguồn/ Bồi lên xứ sở/ Dựng những làng xanh/ Bãi mía nương dâu/ Tươi tốt mỡ mầu/ Thị trấn mái nhà/ Lên dòng khói biếc. (Sông Hồng)
Dòng sông ấy không chỉ là nơi tạo nên các giá trị văn hóa mà còn là nơi lưu giữ những tri thức văn hóa dân gian làm nên sự phong phú của kho tàng văn hóa dân tộc: trữ tình, lãng mạn, chất chứa tinh thần lạc quan, khát khao vươn lên cuộc sống an bình trong sự hòa hợp giữa con người với tự nhiên: “Sông Hồng Hà xa xưa/ Đời cổ tích/ Vua Thủy Tề dâng nước/ Đánh Sơn Tinh/ Núi và sông/ Tranh nhau một chuyện tình/ Gầm thét phong ba phá phách/ Những mẹ già ta/ Lần xâu tràng hạt/ Lầm rầm khấn vái cầu xin/ Khi nhìn dòng nước dâng lên/ Lấp loáng một màu máu đỏ/ Cuốn băng cây rừng/ Xác người, xác hổ/ Trâu, bò, gà, lợn, xác nhà…/ Nhưng Đời Người/ Từ những thuở ông cha/ Vẫn dọc đôi bờ/ Dựng nên cuộc sống (Sông Hồng). Chính vì vậy, dòng sông trong tâm thức văn hóa của thơ Quang Dũng không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa mà còn thức nhận tinh thần ngưỡng vọng về cội nguồn dân tộc như một sức mạnh của “giòng sinh mệnh” văn hóa luôn chảy trong huyết quản mỗi con người: “Con người chúng ta/ Làm sao quên được/ Gốc nguồn theo khu vực về đây/ vận mệnh ta theo/ Sau những luống cày Dọc suốt dòng sông màu mỡ/ Rừng Phú Thọ non cao mộ Tổ/ Nước thiêng soi bóng Hùng Vương/ Mở lối trung du/ Như cổng lớn mở đường/ Tam Đảo Ba Vì tả hữu/ Đỉnh lấp trong mây/ Cột trời kỳ diệu/ Giang sơn ngàn thuở thân yêu (Sông Hồng)
Tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng còn biểu hiện qua nỗi nhớ con sông quê đến quặn lòng những khi xa cách. Đó là nỗi nhớ vừa cụ thể, lại vừa trừu tượng, vừa hiện thực lại vừa lãng mạng nên đi vào lòng người khá tự nhiên: “Trưa hè bỗng nhớ sông quê/ Nước soi bóng vải thuyền đi nặng lòng/ Thóc nhà em có phơi không/ Chói chang lửa thóc sân trông bóng người/ (…) Xa quê đâu chẳng võ vàng/ Trông mây núi nhớ mây làng về trưa (Mây làng)
Không gian văn hóa qua biểu tượng dòng sông của tâm thức Văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng không chỉ có sông Hồng mà còn có vẻ đẹp của sông Đáy. Đây cũng là dòng sông ôm ấp làng quê Đan Phượng của thi nhân. Vì vậy, hình ảnh sông Đáy đi vào thơ Quang Dũng cũng mang sắc màu văn hóa riêng với một vẻ đẹp riêng của phù sa văn hóa Việt: “Rặng vải ven sông Đáy/ Um tùm bóng cuối xuân/ Sông cạn phơi lòng cát trắng/ Người qua nâng váy ôm quần”. (Đất nước) Và cũng là dòng chảy của tình tự dân tộc vốn là những phẩm tính văn hóa luôn hiện hữu trong tâm thức Việt: “Sông Đáy xuôi dài cồn cát mênh mông/ Làng bên bờ xanh mía/ Thoảng mùi hoa lan hoa nhài nhè nhẹ/ Tiếng nói xa dần/ Chiều tím cuối mùa xuân/ Sông nước trong xanh/ Những bước chân tròn cát mịn” (Những cô hàng xén) Có thể nói dòng sông là một không gian văn hóa luôn hiện hữu trong tâm thức của cư dân gốc nông nghiệp như dân tộc Việt. Vì thế, xuyên suốt chiều dài đất nước đã có biết bao dòng sông làm nên phù sa văn hóa của các vùng miền như sông Hồng, sông Thương, sông Lô, sông Cầu, sông Lam, sông Hương, sông Thu Bồn, sông Trà, sông Hậu, sông Tiền… Và gắn với không gian văn hóa của mỗi dòng sông là những quang cảnh văn hóa mang nét đẹp riêng về sinh thái mỗi vùng miền. Điều nầy cũng hiện rõ trong thơ Quang Dũng qua hình ảnh sông Hồng và sông Đáy.
Vốn sống, gắn bó với văn minh sông Hồng, nên thơ Quang Dũng luôn hiện lên bản sắc của nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Đó là hình ảnh những sân vườn của ngôi nhà Việt luôn hiện hữu trong tâm cảm thi nhân với niềm tiếc nhớ khi xa cách : “Trăng sáng sân vườn đôi bóng cau/ Ngồi đây mà gửi nhớ phương nào/ Gió mát long lanh vầng Bắc đẩu/ Tiết hè ếch nhái rộn bờ ao/ Ngồi đây năm năm niềm ly hương/ Quê người đôi gót mỏi tha phương/ Có những chiều trăng tròn đỉnh núi/ Nhà ai chày gạo giã đêm sương/ Tịch mịch sầu rơi bèo râm ran/ Chuối vườn khuya lọt ánh trăng tàn/ Người ơi quê cũ đèn hoe ngọn/ Tóc bạc trông chừng cổng héo hon” (Cố Quận). Hay là hình ảnh ao bèo, vườn chanh, bóng trúc, hương cau nơi vùng quê Bắc Bộ hiện lên trong thơ Quang Dũng như một hệ giá trị của văn hóa Việt đã tích tụ trong hàng ngàn năm văn hiến nhằm minh chứng cho “giòng sinh mệnh văn hóa” dân tộc trong tâm thức thi nhân: “Ngàn năm bèo đọng ở trên ao/ Cô gái vườn chanh thắm má đào/ Quê Việt Nam nằm trong bóng trúc/ Dòng đời thoang thoảng suối hương cau (Hoa Chanh); “Chốc đã bao năm trời/ Chiêm ngập bờ xanh lại/ Sông quê hương như gợi/ Ngày ấy hoa bèo trôi/ Mây thành giăng ngang trời (Đám cưới qua sông Đáy); “Đêm quê càng tỉnh mịch/ Chỉ bèo đê sương rơi/ Quả xoan rụng mái lá/ Lòng khuya càng rối bời” (Cuối thu)
3. Làng – biểu tượng văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng
Nói đến văn hóa Việt không thể không nói đến văn hóa làng, mà trong đó đình làng là một trong những biểu tượng thiêng liêng, là linh hồn của làng. Kim Định trong công trình nghiên cứu văn hóa Triết lý cái đình đã xác quyết: “Cái đình có thể coi là đỉnh chót vót của nền văn minh Viêm Việt. Nền văn minh này đặt nền tảng trên gia đình, nhiều gia đình hợp thành khu, xóm, ấp và đợt cuối cùng là làng” (1) . Vì vậy, tiếp cận tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, ta thấy hình ảnh Đình Chùa, hiện lên trong thơ như những biểu tượng của văn hóa tâm linh, gắn với những ngày lễ hội của làng, hình thành hệ giá trị tinh thần làm nên sức sống ngàn đời của cư dân Việt, để chia sẻ những buồn vui trong phận số con người. Và đây là một bình diện của văn hóa làng luôn khắc sâu trong tâm khảm con dân nước Việt: “Sột soạt khắp đường làng/ Những nếp áo còn mới/ Màu khăn nhiễu tam giang/ Cụ già ấm ly rượu/ Đình chùa vắng khói hương/ Những mẹ già niệm Phật/ Nam vô trong bóng làng” (Có nhớ về đất Bắc). Và cùng với đình, chùa là hình ảnh giếng làng, một biểu tượng của văn hóa nông thôn Việt Nam cũng đi vào tâm thức văn hóa trong thơ Quang Dũng như một hiện thân của bản sắc văn hóa Việt: “Giếng làng còn ướt trăng trên đá/ Chim ngủ xôn xao động lá cành (Đường trăng); Hay hình ảnh một Quán nước ven đường vẫn ẩn chứa trong đó sự ấm êm của một ngôi nhà Việt với những tấm lòng bao dung nhân ái Việt Nam, dù nghèo về vật chất nhưng không nghèo về tình cảm đã làm ấm lòng người lính để họ vững tin trên bước đường hành quân: “Tôi lính qua đường trưa nắng gắt/ Nghỉ nhờ em quán lệch tường xiêu/ Giàn mướp nghèo không hứa hẹn bao nhiêu/ Mùa gạo đắt, đường xa thưa khách vắng” (Quán nước). Sức mạnh tinh thần của văn hóa Việt phải chăng bắt nguồn từ những biểu tượng văn hóa bình dị của nông thôn làng xã Việt Nam nên các nhà nghiên cứu văn hóa đã xác quyết: người Việt Nam có thể mất nước nhưng không thể mất làng là vì thế!?
Như vậy, từ điểm nhìn địa văn hóa, mỗi dân tộc, mỗi vùng miền luôn có một không gian hội tụ và kết tinh khí thiêng sông núi để hình thành nên bản sắc văn hóa của dân tộc đó, vùng miền đó và mỗi con người trong cộng đồng có quyền tự hào về ý thức bảo vệ bản sắc văn hóa của mình nhằm không bị đồng hóa. Là một nhà thơ lại là một mghệ sĩ rất am hiểu văn hóa dân tộc cả văn hóa bác học lẫn văn hóa dân gian, mà văn hóa dân gian phần lớn hội tụ ở văn hóa làng, Quang Dũng luôn quan tâm đến văn hóa dân gian và đây cũng cơ sở hình thành tâm thức văn hóa Việt trong thi giới Quang Dũng. Vì vậy, bên cạnh dòng sông, cánh bèo, giếng làng, đình chùa vốn là những biểu tượng văn hóa Việt gắn cuộc sống ngàn đời của dân tộc Việt, ta còn thấy hiện lên trong thơ Quang Dũng hình ảnh một không gian văn hóa nông thôn Việt Nam hiền hòa, thơ mộng và chất chứa một chiều sâu tâm cảm của cảnh sắc bình dị chân mộc của làng quê Việt: “Bến cuối thôn xuân hoa gạo rơi/ Sông xanh hiền triết lặng trôi xuôi/ Đò ngang một chuyến qua mưa bụi/ Ấm áp trong mưa tiếng nói cười/ Cái giọng ru con từ ngõ trúc/ Thanh bình như phút sống đang trôi (Đất nước). Và đây chính là căn tố tạo nên niềm tưởng vọng trong ký ức văn hóa làng quê đầy hoài niệm đã kết tinh thành tâm thức văn hóa Việt, khiến thi nhân không khỏi chạnh lòng mỗi khi nghĩ về cảnh cũ, người xưa với bao kỷ niệm dấu yêu, hằn sâu trong cuộc đời: “Ngồi đây vời tưởng đường quê hương/ Lúa đã xanh xanh mấy nẻo làng/ Cốm đã thơm mùi, hồng đã chín/ Ao sau vườn cũ nước xanh trong (…) Diều sáo vang không hồn ấu thơ/ Bèo lạnh cầu ao ai đợi chờ? / Một tiếng sung rơi đo lặng lẽ/ Mùa thu xào xạc lá tre khô”. (Thu). Vẫn là dòng sông đó, giếng nước đó, ao bèo đó, đình làng đó mà sao khi xa cách lòng ta lại thấy nhớ thương đến quặn lòng. Làng quê vì vậy, là tình cảm thiêng liêng sâu kín khó thay thể trong tâm thức mỗi người. Phải chăng, bi kịch lớn nhất trong cuộc đời mỗi người là không có một làng quê để tưởng vọng, để thương nhớ, để trở về mỗi khi đời mình chênh chao giữa sóng biển cuộc đời. Có phải vì thế, trong thơ Quang Dũng những giá trị văn hóa làng, một căn tố của văn hóa Việt cứ xao xác mãi trong điệu hồn thơ ông!? Vì vậy, văn hóa làng, một biểu tượng của tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, không chỉ thể hiện qua đình làng chùa làng, vườn tược với hoa trái xanh tươi mà còn thể hiện qua hệ thống giá trị văn nghệ dân gian với các làn điệu dân ca, tiếng đàn bầu, đàn nhị như những thanh âm đồng vọng của tâm hồn dân tộc mà dù ở đâu khi nó ngân lên vẫn chạm đến những nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn văn hóa Việt vì nó chính là hồn quê, hồn nước: “Đâu tiếng đàn bầu hòa trong tiếng nhị/ Tiền đồng vang tiếng chậu thâu/ Quán nước bên sông / Đời của bến tàu/ Trong điệu hát của những người hát xẩm/ Khăn gói trên vai/ Kẻ giang hồ bước chậm/ Nghe hát bài “Anh Khóa” bâng khuâng/ Hồn nước mang đi theo gót ngàn trùng/ Người đi không mấy người trở lại” (Sông Hồng)
Theo Vũ Bằng, khi trò chuyện với L.K.T để tìm hiểu tư liệu về Quang Dũng, ông cho biết: “Quang Dũng còn có cái tài nữa ít có người biết. Sống chung với vợ chồng chúng tôi, găp lúc mưa sầu gió thảm nằm khằn một chỗ Quang Dũng mà ca “sáu câu vọng cổ” thì “mùi” một cây, nhưng đặc biệt không phải là ở điểm đó, mà chính là ở chỗ Quang Dũng đã từng làm nhiều bài ca cải lương cũng hay như thể là thơ anh vậy (…) Ngoài thơ, cải lương, Quang Dũng còn soạn tân nhạc nữa”. (2)  Như vậy, từ trong máu thịt của Quang Dũng những giá trị văn hóa dân gian Việt đã là một phẩm tính trong tâm hồn của thi nhân. Thế nên, tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, còn biểu hiện trong những bài hát cải lương, những câu vọng cổ, những loại hình sân khấu dân gian ăn sâu trong tiềm thức dân tộc và làm say mê tâm hồn những người con dân đất Việt:  “Cô thiếu nữ xinh xinh/ Vừa tan rạp hát/ Bắt chước cải lương/ Hát giữa cầu thang / Một câu vọng cổ (Đường chiều thứ bảy). Không chỉ cải lương, một đặc sản của văn hóa Nam Bộ hiện hữu trong thơ Quang Dũng mà còn có những bài hát ả đào, đặc sản của văn hóa Bắc Bộ cũng ngập tràn trong tâm thức văn hóa Quang Dũng: “Bến vắng thuyền xuôi giọng hát ả đào/ Trăng lạnh mái chèo ca nữ/ Nước êm trôi/ Giấc ngủ nhà chài”. (Bắt đầu) và dòng máu con Lạc cháu Hồng vẫn sống trong tâm thức thi nhân như một biểu hiện rực rỡ về tình tự dân tộc của tâm thức văn hóa Việt: “Xuân đang về khắp nơi/ Giang sơn thắm nụ cười/ Miệng cười trên máu đỏ/ Dòng máu Lạc Hồng tươi” (Bài hát ra đi). Không chỉ có dòng máu lạc Hồng mà những phong tục tập quán trong nền văn hóa Việt vẫn luôn ám ảnh tâm thức của người thi sĩ – chiến sĩ. Vì thế  trên bước quân hành, những biểu tượng văn hóa truyền thống là một thứ dưỡng chất làm nên sự sống, tạo sức mạnh để họ chiến đấu bảo tồn độc lập tự do cho tổ quốc cũng như các giá trị phong hóa của dân tộc: “Những làng trung đoàn ta đóng lại/ Tiếng nêu đưa khách dưới mưa phùn/ Hương đen ngũ quả, màu tranh Tết/ Câu đối mực Tàu bay xa ngát/ Cột nhà tre trúc dãi gan vàng/ Mang câu đối đỏ niềm son sắt…” (Những làng đi qua). Còn đây là hoài niệm về một đám cưới ngày xưa, một trong những vẻ đẹp của phong tục, thể hiện văn hóa hôn nhân và gia đình trong tâm thức văn hóa Việt vẫn hiện hữu trong tâm cảm thi nhân “Ai biết Hồ Nam giờ ra sao/ Xa cách hồn quê động bóng cau/ Đám cưới qua đò quai nón mới/ Mười năm còn tưởng bóng cô dâu” (Hồ Nam)
4. Người phụ nữ – biểu tượng văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng
Trong chuyên luận Triết lý văn hóa – Khái luận, (Văn hữu –Á Châu  Xuất bản, 1959) của Nguyễn Đăng Thục, khi luận bàn về “Tinh thần Việt hóa”, ông viết: “Tinh thần nghệ thuật Việt Nam nằm ở trong cái vũ trụ quan truyền thống của dân tộc. Cái vũ trụ quan ấy thuộc về cái vũ trụ quan truyền thống Á Châu mà dân tộc Việt Nam đã Việt hóa theo dân tộc tính của nó. Vì trước khi thâu hóa của người, thì tự nó đã ý thức được nó là một đơn vị nhân loại sinh hoạt sống động trong một khung cảnh địa lý, khí hậu riêng biệt” (3). Như vậy, Văn hóa của một vùng miền bao giờ cũng gắn cuộc sống và con người văn hóa của vùng miền đó, tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng cũng không nằm ngoài qui luật nầy. Đọc thơ Quang Dũng, biểu tượng văn hóa Việt hiện hữu trong thơ ông không chỉ thể hiện qua không gian văn hóa của một làng quê mang sắc màu của nền văn minh nông nghiệp với dòng sông, giếng nước, ao bèo, hoa trái, phong tục tập quán, những làn điệu dân ca mà còn hiện hữu qua hình ảnh những con người kết tinh những mỹ cảm văn hóa đã đi vào trong văn chương như những tinh tú trên bầu trời văn hóa Việt. Đó là hình ảnh “Cô hàng xén” hiện lên ở những câu thơ đầy mỹ cảm văn hóa mà Quang Dũng đã khắc họa khá tinh tế như một biểu tượng cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam tự ngàn đời: “Những gánh hàng xén bồ căng/ Má hồng thôn nữ/ Thoảng mùi thơm quê mùa/ Hơi thở ấm trầu răng đen rưng rức/ Mẹ già nón nhẹ bay tua/ Tu hú tu hú/ Mùa vải ven bờ/ Nơi quê hương trời xưa ấu thơ/ Mái tóc em vừa vương hương bưởi/ Chân nhẹ nhàng còn dính phấn hoa/ Thôn nào cô mới đi qua/ Gà vừa gáy sáng/ Thắt lưng đào bên sông im lặng/ Kiũ kịt đôi bờ. (Những cô hàng xén). Đó cũng là hình ảnh Cô hàng xén mà nụ cười “như mùa thu tỏa nắng” trong “Bên kia sông Đuống”, của Hoàng Cầm, hay “Cô hàng xén” trong câu truyện cùng tên của Thạch Lam. Đó là những con người mang trong mình  chiều sâu văn hóa Việt, rất đáng để chúng ta ngưỡng vọng.
Vẻ đẹp văn hóa của người phụ nữ qua biểu tượng hình ảnh cô hàng xén hiện lên trong tâm thức thơ Quang Dũng, không chỉ có vẻ đẹp hình thức trang nhã lịch thiệp, dịu dàng vốn là phẩm tính của người phụ nữ Việt mà còn có vẻ đẹp tâm hồn được nuôi dưỡng bằng những giá trị của văn hóa dân tộc qua những  truyện nôm mang sắc màu liêu trai như: Nhị Độ Mai, Phạm Công Cúc Hoa, Truyện Kiều và những chuyện kể đầy huyền thoại trong vườn cổ tích với: Thạch Sanh, Trê Cóc. Và đây cũng là biểu hiện của dấu ấn tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng: “Các cô hàng xén ngày xưa/ Gương tròn bỏ túi/ Tóc giắt hoa nhài/ Hay ngậm ngùi xem Nhị Độ Mai/ Gấp trang sách lại thương đời Cúc Hoa (…) Đôi cuốn Thạch Sanh / Một chồng Trê Cóc/ Khi gió mùa xuân/ Xanh cành tươi lộc/ Bói trang Kiều xem chuyện nhân duyên”. (Những cô hàng xén) Hay thanh âm một tiếng võng đưa kẻo kẹt giữa trưa hè trong âm hưởng của một câu Kiều sâu lắng, thiết tha cũng mang sắc màu văn hóa Việt: “Đôi quán nằm im trong bóng lá/ Bộ hành thiêm thiếp nhớ trung châu/ Kẽo kẹt võng đưa người xứ Bắc/ Oán than Kiều lẩy một vài câu”. (Trưa hè) Và những cô hàng xén trong cái nhìn của Quang Dũng không chỉ là sự tích tụ những giá trị văn hóa truyền thống mà còn là hiện thân của đời sống văn hóa làng quê chân mộc với những buồn vui của phận số con người, trong đó có phận số của những người phụ nữ Việt Nam, cả một đời thương khó, gắn bó cùng quê hương để làm nên bản sắc văn hóa dân tộc mà nếu không có hình ảnh và cuộc sống của họ bản sắc văn hóa dân tộc chắc cũng sẽ bị nhạt nhòa: “Sông hiu hiu chiều/ Gió mát ven đê/ Các cô hàng xén gánh về/ Tiếng cười khúc khích/ Tu hú im rồi/ Vàng nghiêng nắng chếch/ Các cô về qua sông/ Sông Đáy xuôi dài cồn cát mênh mông/ Làng bên bờ xanh mía/ Thoảng mùi hoa lan hoa nhài nhè nhẹ/ Tiếng nói xa dần/ Chiều tím cuối mùa xuân/ Sông nước trong xanh/ Những bước chân tròn cát mịn/ Hàng cau chiều phất phơ/ Diều sáo vang lên trăng sáng tỏ/ Ngõ làng rộn tiếng cười reo, chó sủa/ Hoa lan vào ngõ tối còn thơm”. (Những cô hàng xén). Vì vậy, nhìn từ hệ hình văn hóa dân tộc, hình ảnh những cô hàng xén trong thơ Quang Dũng là sự kết tinh của các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, bởi chính họ là hiện thân vẻ đẹp của văn hóa Việt, sống mãi trong ca dao cổ tích: “Các cô hàng xén về làng/ Mai lại đi từ tối đất/ Cần cù nuôi mẹ nuôi em/ Những cô hàng xén tên xinh/ Đẹp như ca dao nước Việt” (Những cô hàng xén)
Có thể nói, trong thơ Quang Dũng vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc luôn gắn với tài hoa và nhan sắc của người phụ nữ. Hay nói cách khác, vẻ đẹp của người phụ nữ đã trở thành một phần không thể thiếu của tâm thức văn hóa Việt, là nét độc đáo trong thi giới Quang Dũng. Thế nên, bên cạnh hình ảnh cô hàng xén đã “gồng gánh trên vai” mình những dấu ấn văn hóa Việt thì hình ảnh  người ca nữ ngày xưa cũng hiện lên trong tâm thức của thi nhân với một vẻ đẹp của sự tài hoa độc đáo của văn hóa Việt: “Em là con hát ở bên sông/ Đàn phách là đôi bạn khốn cùng/ Khách ghé phương nào thây kiếp khách/ Hoài đâu nước mắt khóc tình chung”. (Đêm Việt Trì). Người ca nữ ngày xưa trong xã hội cũ vốn được / bị xem là “xướng ca vô loại” nhưng trong thơ Quang Dũng họ được xem là một phần không thể thiếu của văn hóa Việt. Sự chuyển hóa cảm thức nầy cho thấy cái nhìn của Quang Dũng về cô Ca Nữ là cái nhìn cảm thông của những người nghệ sĩ “liên tài”, cho dù họ có hoàn cảnh sống khác nhau. Thế mới biết sự cảm thông và độ lượng, khoan hòa cũng là một phẩm tính của nhân cách văn hóa ở người nghệ sĩ đích thực!? Và đây cũng là bình diện cho thấy tính nhân văn trong thơ Quang Dũng.
Song hình ảnh Người phụ nữ – biểu tượng văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng không chỉ có Cô hàng xén, cô kỹ nữ mà ẩn sâu trong tâm thức văn hóa và thi ca của nhà thơ đó là hình ảnh của Người mẹ Việt Nam, một biểu tượng cao đẹp của văn hóa Việt luôn gắn với hình ảnh quê hương, qua tiếng ru hời lắng sâu trên dòng sông, bến nước, tan hòa trong những khúc ca dao, những câu truyện cổ tích, trôi trong tâm cảm thi nhân như hiện thân của linh hồn văn hóa Việt: “Chiều xuống hồn người/ Bến rộng sông dài/ Nước đỏ mênh mông/ (…) Mẹ là Việt Nam hiền hậu vô cùng/ Đã hát ru con những lời cổ tích”. (Nhớ về mẹ). Vì vậy, trong tâm thức thi nhân nhớ về Mẹ là nhớ về những ký ức văn hóa mà ở đó hình ảnh quê hương luôn hiện lên từ những hoài niệm hằn sâu dấu ấn tâm thức văn hóa Việt: “Mẹ sống những ngày đất khách/ Nhớ mẹ ngày xưa thuộc hết truyện Kiều (…) Đi về một miền quê ngoại ngày xưa/ Có khói thui bò/ Có trống làng tế lễ/ Và có những tiếng cười con trẻ/ Cầm nắm xôi phần/ Có hơi rượu cụ già/ Ấm trong hơi mùa xuân” (Nhớ về mẹ). Và hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, hình ảnh người mẹ trong thơ Quang Dũng đã hóa thân thành hình ảnh đất nước quê hương mãi ám ảnh tâm thức thi nhân như là một biểu tượng cao đẹp của tâm hồn Việt, văn hóa Việt chảy mãi trong thơ, tồn sinh cùng sức sống văn hóa dân tộc…
5. Thay lời kết:
Từ điểm nhìn Dân tộc, Nhân bản và Khai phóng, văn hóa không chỉ là chìa khóa mở cánh cửa tri thức để con người biết khám phá và sáng tạo những giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần mà cũng là chìa khỏa mở cánh cửa tâm hồn con người để xua tan bóng tối vốn là nơi ẩn nấu của cái ác, cái xấu, cái đớn hèn, giúp con người vươn đến ánh sáng của những giá trị nhân văn vốn là căn tố để hình thành những nhân cách văn hóa cao đẹp gắn với bản sắc văn hóa dân tộc. Đọc và tìm hiểu tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, một mặt giúp chúng ta giải mã những vẻ đẹp của “giòng sinh mệnh” văn hóa dân tộc kết tinh trong thơ ông, làm nên hệ giá trị riêng của thơ Quang Dũng. Mặt khác, chúng ta hiểu sâu sắc hơn về những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp phong phú đa dạng của nền văn minh sông nước và các phong tục tập quán làm nên phong hóa dân tộc cùng những giá trị văn nghệ dân gian mà nhà thơ Quang Dũng đã phản ảnh trong thơ của mình. Từ góc nhìn này, ta thấy thơ Quang Dũng không chỉ là một tượng đài thi ca mà còn là một tượng đài văn hóa trong tâm thức người đọc mà chúng ta cần có ý thức gìn giữ và phát triển, nhất là  hiện nay, khi nền văn hóa dân tộc đang đứng trước những thách thức của xu hướng toàn cầu hóa, nếu không có ý thức và bản lĩnh giữ gìn văn hóa dân tộc thì việc bị tha hóa và lưu vong về văn hóa ngay trên đất nước mình là một tất yếu khó tránh khỏi. Bởi, nói như F. Konoye: “Văn hóa của một dân tộc là gương soi phản chiếu kiến thức, tín ngưỡng và truyền khẩu của nó. Nói tắt đó là chìa khóa mở của kiến thức và luật pháp của dân tộc” (4). Tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng vì vậy là một hệ giá trị làm nên phẩm tính dân tộc trong thơ ông, góp phần lưu giữ, trao truyền văn hóa truyền thống dân tộc trước những cơn bão của văn hóa phương Tây, trong xu hướng hội nhập và phát triển. Bởi, một dân tộc không giữ được nền văn hóa với bản sắc riêng thì dân tộc đó không thể tồn sinh và con đường dẫn đến nô lệ văn hóa là tất yếu. Văn hóa, vì thế, không chỉ là một hệ giá trị mà còn là một là một yếu tính tồn sinh của dân tộc.
Chú thích:
(1) Kim Định, Triết lý cái đình, Nguồn Sáng xuất bản, Sài Gòn, 1971, tr.31
(2) Vũ Bằng “Tất cả sự thật về nhà thơ Quang Dũng”, Văn học số 140, ngày 15/11/1971, tr.29 – 30
(3) Nguyễn Đăng Thục, Triết lý văn hóa – Khái luận, Văn hữu – Á Châu Xb, Sài Gòn, 1959, tr.180
(4) Hoàng Xuân Việt, Danh ngôn từ điển, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1972, tr.383
* Thơ trích dẫn ở bài viết đều lấy trong Quang Dũng, Mắt người Sơn Tây, (Thơ văn tinh tuyển), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2012.
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 18/8/2021
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nh. Tay Ngàn - Đùa gió Trà Vinh, sang Paris cơn điên mửa máu

Nh. Tay Ngàn - Đùa gió Trà Vinh,
sang Paris cơn điên mửa máu

“Chim Việt hôm nay chỉ là những gì mình động vào ảo ảnh của ngàn tiếng vỗ cánh không trung trong phút giây tan tành của Linh Thức. Thôi bây giờ cũng là kiếp hư thôi.” – Nh. Tay Ngàn 
Thập niên 1960, nhiều nhà văn, nhà thơ du học từ Pháp về tạo nên làn gió đổi mới văn nghệ ở miền Nam như Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Hoàng Anh Tuấn… Còn Nh. Tay Ngàn lặng lẽ xuất hiện trên báo Văn, trong số 28 ra ngày 15.2.1965 trang “Giới thiệu những cây bút có triển vọng đi xa” viết: “Nh. Tay Ngàn là nhà thơ có bài được chọn đăng nhiều nhất trong số các bạn trẻ tìm đến Văn. Tên thật là Nguyễn Văn Nhĩ, sanh năm 1943, nguyên quán Vĩnh Bình. Hiện đang theo học ngành Canh nông tại Pháp”.
Ông viết nhiều trên tạp chí Quê Mẹ ở Paris, theo Thi Vũ thì Nh. Tay Ngàn còn để lại di cảo khoảng bốn ngàn trang, đóng thành 20 tập tại nhà thân nhân. Định mệnh khắc nghiệt lại cướp mất nhà thơ tài hoa, bệnh hoạn, đau khổ tận cùng, từng có thời gian nằm ở bệnh viện tâm thần: “Đầu tháng Giêng 1978, các bạn của Nhĩ gọi dây nói cho biết Nhĩ chết rồi. Một hôm, bà gác dan (concierge) thấy mấy ngày qua Nhĩ không ghé lấy thư. Bà lên đập cửa phòng. Không nghe hồi đáp, bà lo lắng mở cửa xem thì Nhĩ đã nằm chết trên giường nhiều ngày… Thi hài đốt ở nghĩa địa Père-Lachaise, Paris quận 20. Dự tính sau này sẽ gửi tro về Việt Nam. Dường như Nhĩ có một người anh sống ở Saigon. Nghĩa địa Père-Lachaise còn lưu giữ những mộ chí của Gerard de Nerval, Chopin, Balzac, Alfred de Musset, Proust, Apollinaire, Pissaro, Oscar Wilde…”. (Thi Vũ – Nh. Tay Ngàn, Lập lòe trí nhớ)
Nh. Tay Ngàn làm thơ, viết văn và vẽ tranh, có lần triển lãm cá nhân tại phòng tranh Louis Soulanges, đường Montparnasse.
Ông “xa lạ” với văn thơ Sài Gòn thời ấy: “Có thể vốn sống trong thời loạn ly của họ bị nghẹt nên sanh ra nhiều tánh ganh tị trách móc hoặc ghen ghét nhỏ nhoi, bởi đó mức văn hóa trì trệ rồi rút lì vào ảo tưởng bất nhất kia” (thư viết ngày 17.12.76). Kể cả “dị ứng” văn chương thời tiền chiến và Tự lực Văn đoàn, vì cho rằng : “Giá trị họ ở trong tầng lớp sinh viên học sinh còn trẻ, thiếu sáng tác chứ không thể là giá trị vĩnh cữu cho chúng ta nữa, đành rằng mọi tư thế phê bình luôn toa rập với số đông. Ngay cả tôi hồi nhỏ cũng chẳng bao giờ ưa “tự lực văn đoàn”, tới nay chuyện xưa rồi, nhắc lại để tự mình thấy điềm nào đó không hay ho nữa” (thư viết ngày 17.12.76). Lúc đầu ông thích nhóm Sáng Tạo, rồi cũng quay ngoắt đi vì thấy mình không dung nạp được.
Rất nhiều người gán cho ông là poète maudit, một tay ngoài lề xã hội, lang thang, khốn khó ở Paris, ở Ý, có lúc phải mang bệnh lao, từng vào nhà thương điên mà vẫn đam mê cuồng nhiệt với văn chương.
Ngay từ thiếu niên, trải qua cuộc chiến tranh chống Pháp khổ ải, chứng kiến cái chết thảm thương của người cha bị bắn vỡ sọ trên đồng, nên chấn động tâm thần, có lẽ vì thế những bài thơ tình của Nh. Tay Ngàn đều có những khoảng hư không tối tăm, quặn thắt, âm vang khó hiểu.
Bài Nỗi Liên đen tối vô cùng, dài 253 câu, là lời tâm sự trường thiên với người yêu, quê hương Trà Vinh, mang nặng tâm cảm siêu hình điên loạn:
… Chợt tiếc đau ở những chiều không thần tượng
Tôi có làm gì đâu cho bản thân tôi
Chỉ còn trái tim tôi tâm sự
Ngày thu đang rụng lá nhiều hơn
Bản sầu ca không còn nàng ca sĩ cũ…
… Đùa gió Tháp Mười sang Cửu Long đầy máu…
Không gian Trà Vinh, nơi người Việt, Hoa, Khơ Me chung sống, đượm hơi thở bàng bạc Phật giáo Tiểu thừa luôn ẩn hiện lập lòe:
…Có những oan hồn nhắn tôi cuộc gặp gỡ
Nơi Liên đã khóc đêm ngày
Trong mười hai năm Trà Vinh đầy quạ…
…Tôi giấu một con rồng trên bãi không gian mun
Chờ những đoàn trẻ thơ bay qua ốc đảo…
Ông kết thân với những người bạn lớn tuổi, hiểu tâm trạng bơ vơ, cuộc sống đói rách và những khoảng lạnh vắng trong tâm hồn mình như Phạm Công Thiện, Thi Vũ, Vĩnh Ấn…
Thi Vũ viết: “…Tôi ít thấy ai say sưa viết như Nhĩ. Âm thầm. Cặm cụi. Không nói. Không ba hoa. Những chuyến viễn trình, những cuộc tình vặt, những đêm đốt thuốc bên quầy bar với rượu rhum từng ngụm cay nhè… chỉ để dàn ra từng dòng chữ chân chỉ trang này sang trang khác. Có hôm tôi nhìn thấy trên 20 tập bloc, dễ cũng trên bốn nghìn trang, chữ nhỏ đều đặn. Từ chữ đầu đến chữ cuối không một lần mất kiên nhẫn, như một vũ trụ kiến kéo nhau đi thành hàng dọc. Khi thơ khi văn. Trong văn học Việt Nam có hai người không viết văn, viết thơ thành bài, mà dàn trải tới vô tận dòng thơ văn không có dấu chấm. Đó là Bùi Giáng và Nh. Tay Ngàn. Văn và ý tưởng, thơ và ý tưởng trộn nhau như chớp với đá kết ngọc. Hết õng ẻo với quá khứ, không thời trang thế cuộc, không nép mình vào ca dao hay bốc khói trên chợ trời văn học. Đọc Nhĩ phải có mắt xanh với tấm lòng rớm máu thì mới cùng Nhĩ song thoại trong “thế giới vốn nhỏ và hạt bụi muốn đau”, khi nhà văn Việt Nam “thấy ngu trước nhà văn quốc tế”.”  (Thi Vũ – Nh. Tay Ngàn, Lập lòe trí nhớ)
Trong tùy bút tự sự trên tờ Quê Mẹ (Xuân Canh Ngọ, năm 1990) Phạm Công Thiện thuật lại cuộc gặp gỡ ở Paris: “… cả hai đều nghèo đói và chỉ biết sống hết mình với văn thơ nghệ thuật; cả hai thường lang thang suốt đêm trên những đường phố Paris, lúc nào có chút ít tiền thì la cà ngày đêm trong những quán café ở Montmartre. Cả hai đều say sưa viết, mộng và mơ bất tận… Có lúc dắt nhau ra bờ sông Seine, thòng mấy chai rượu đỏ xuống nước sông, uống rượu say lướt khướt, ngâm thơ Lý Bạch và Nguyễn Du, đọc thơ Appollinaire ngay nơi chỗ ở xưa của thi nhân, ngó những cụm mây trắng ngập ngừng trên tháp chuông nhà nguyện Saint Germain-des-Prés…”.
Hay trong thư Lettre à un poète vietnamien avant son suicide… Phạm Công Thiện viết: “Nh. Tay Ngàn thân quí, …tao vẫn còn giữ lại màu xám đậm đà ở Paris, trong đó có màu của đôi mắt mày, đôi mắt nửa đêm nửa ngày của Ý thức mới, của một thứ mây mai vừa hiện trên bầu trời thắp sáng, “một khung trời mưng mủ” như một lần mày đã gọi thế, phải không Nh. Tay Ngàn?”.
Ở mảng thơ tình của Nh. Tay Ngàn là niềm đau vô hạn, từ ngữ như có ma lực làm thành những câu thơ tân kỳ, quyến rũ:
… Khoảng ngực trần của em gió bấc
Anh yêu em vô ngần dù đêm nay em đã quên anh
(Nụ cười)
… Khi những chiều anh đáp xe về thành phố và qua vườn Luxembourg,
Nhìn pho tượng trần truồng gục đầu ngó đất;
Lá rụng dày thương nhớ trở vàng thêm.
(Ảnh tượng cuối thu)
Nghĩ về tập di cảo bốn ngàn trang chi chít chữ, cuộc đời yểu mệnh của gã poète maudit Nh. Tay Ngàn với niềm bùi ngùi tiếc thương vô hạn và tôi viết bài thơ:
Mộ chí cho Nh. Tay Ngàn 
Những con chữ chết ngộp trong nước sông Mê Kông,
Xác ùn cao chất thành mộ chí.
Lúa hát lời ru, sóng vỗ thay lời kinh tụng bình yên
Nơi đây an nghỉ giấc ngủ nhà thơ tự sát,
Chưa kịp gia nhập vào đội ngũ tiền vệ hay hậu hiện đại nước Việt.
Một nấm mộ gió giữa đồng bằng
Đơn sơ và trơ trọi
Kết thúc không có hậu, mang mùi vị chua xót, ngậm ngùi
Đó là câu xề vọng cổ nghẹn hơi,
Con dơi đen tức tưởi     
Đậu cô đơn nơi nóc chùa Miên
Và bông huệ trắng xứ Trà Vinh ứa lệ tinh khiết.
Thơ NH. TAY NGÀN
BÀN TAY
trên cao xa kia nhớ nhung nàng chỉ còn mảng trời tím lạnh.
buổi chiều tắt dần tắt dần tiếng chuông,
cây lá sẩm.
nàng vuốt lấy mặt nàng,
thấy ngón tay nàng ướt đẫm.
những đớn đau lớn theo đời nàng
nàng đếm mãi trên bàn tay
(ôi những ngón tay yếu ớt như côn trùng đơn chiếc).
còn thanh xuân nàng ư?
nàng hỏi sao mùa đông loài chim ủ rũ?
ôi những chiều những chiều kéo nàng vào bóng tối
những xót đau khó hiểu của hồn chàng,
chàng đặt giữa vũng tay nàng,
chàng bỏ chàng đi;
rồi mặc tình cho con lốc bi thương cháy rực.
nàng vuốt lên thân thể nàng;
ôi bàn tay em đâu là cánh tay anh.
nàng hôn lấy hôn lấy từng chiếc móng.
ở cuối đêm khuôn mặt chàng xanh.
CHIM
một sáng thức dậy nàng biết nàng không còn tiếng hót
mặt trời nàng nhìn thẳng
cũng hóa đen
rồi mùa rét mang về nhớ nhung
lòng nàng mướt xanh
vết thương tự đấy mưng lên
nàng muốn bay vào miền ấm áp của lòng chàng
nhưng cánh nàng đã mỏi
và bắt đầu nàng gọi
rừng chập chùng
căn lầu vườn cây bốc cháy
đêm ơi đêm anh ơi anh
MÙA THU THÀNH PHỐ
Một sớm thức giấc anh chợt nhớ ra mình đang ở trong một thành phố xa lạ
Anh chợt nhớ ra sau cơn mộng kinh hoàng em đã ngàn trùng mây nước kêu gào vô vọng nhớ thương
Đáng lẽ giờ này em đang nũng nịu trong vòng tay anh, mớ tóc đen mềm mướt, đôi mắt ngái ngủ dịu dàng và bên ngoài nắng ấm dọi qua song
Căn phòng vang tiếng em cười vui bữa ăn sáng mà anh nghe thấy cùng một lúc với giọng chim sẻ ca hát trên những mái ngói
Rồi anh đưa em qua những cửa nhà thân thuộc, một cái dốc một chiếc cầu con sông chợ nhóm, vườn thú có những lùm cây xanh tươi hoa đỏ và anh rẽ tay mặt
Trên đường về nhà qua những con đường bóng mát anh thường huýt sáo
Đâu ngờ đến ngã rẽ cuối cùng bây giờ anh ở đây với bầu trời xám thấp, các cửa kính đóng chặt – đóng chặt ngàn đời, những ống khói đen sầm
Anh lo sợ cho em trong những buổi chuông về bước nhỏ đánh thức mọi vật reo hò kỷ niệm
Anh lo sợ trong những chiều sụp tối gian phòng vắng lạnh bóng đêm lặng lẽ vây lấy em
Anh lo sợ ở cuối đêm anh trở về hình bóng chập chờn không sưởi đủ chuỗi ngày em đốt bằng ký ức
Em ơi, đâu còn ai cận kề bên em những giữa đêm mưa dưng không òa khóc
Làm thế nào có thể quên em những khi hoàng hôn sậm mặt
Trong vườn Luxembourg anh ngó anh ngồi im một mình
Những hàng cây đượm vàng lá úa
Mỗi trận gió đem rơi từng chiếc u sầu
Những pho tượng hoen rỉ kia yêu nhau ngàn năm
Cặp tình nhân trong một góc hôn dài đắm đuối
Đâu như đôi ta phải vội vã xa lìa
Để những giọt nước mắt em anh chưa kịp lau
Chưa kịp nếm đắng cay trên môi em đầu lưỡi
Làn tóc rối tung không đợi anh kịp vuốt
Để tháng ngày em xõa mộng thương đau
Em ơi em, làm cách nào em giam giữ  hoài con chim giữa lòng ngực
Anh bay ra thương tích đầy hồn
Em ơi em, những nắng mưa bên kia miền nhiệt đới
Với âu lo chuông đổ gió về
Em lụn tàn đêm gối chiếc bơ vơ
Ôi mộng mị  nuôi cuộc đời sao đủ
Còn tương lai kia anh mang bỏ giữa rừng
Em lạc lõng giữa hùm beo rắn rít
Với thân gầy em chỉ khóc van xin.
Làm thế nào có thể quên em được khi đèn đường bật lên vàng võ
Trong những nẻo quanh co phố lầu tẻ ngắt
Anh tìm một vì sao như lệ mắt em
Anh chỉ thấy một khung trời mưng mủ
Và hai tay lạnh giá đã dầy.
ẢNH TƯỢNG CUỐI THU
Khi anh mệt mỏi leo lên ngọn đồi ở miền Orsay nghe những chuyến xe lửa hú,
anh dẫm lên lớp lá khô như giấc mộng tàn;
nhớ lại khi xưa em là đồng bằng mỗi ngày anh núi rừng ao ước,
muốn gặp nhau anh cất lời gọi vọng,
em trao tình hoa dại đọng sương;
giờ anh đã mờ xây xa vắng,
ngóng về em tiếng gào còm cõi,
chạm xác xơ mặt cỏ nám u buồn.
Khi những chiều anh đáp xe về thành phố và qua vườn Luxembourg,
nhìn pho tượng trần truồng gục đầu ngó đất;
lá rụng dày thương nhớ trở vàng thêm.
ĐÊM XỨ LẠNH
Nàng nhỏ xuống trí nhớ những giọt lệ xanh
Mộng mị hoang vu tôi mọc dày nấm mốc
Nàng thở trong tim những ngày tháng ấm
Tôi ôm nàng tay vắng hư không
Cay đắng hiện lên như luồng gió lạnh
Tôi cuồng quay như trái bóng dưới chân.
Trong dĩ vãng móng tay nàng nhọn
Đêm trở mình tôi ve vuốt vết thương
Và mắt nàng nửa đêm tinh tú
Triền miên rơi xa xót nhớ nhung.
ĐƠN KHÚC CỦA LIỄU
Ba giờ trưa một khúc nhạc sầu
Un jour sans toi
Những chiếc lá tàn rơi  không cần một làn gió
Điếu thuốc đốt lên hình bóng
Và chợt tắt bơ vơ
Kỷ niệm xuống đêm
Ở chót vót của tuyệt vọng
Anh im lìm ngắm hai tay không
Un jour sans toi
Người thủy thủ già từ bỏ biển khơi
Chiếc tàu đã chìm
Căn phòng nhuộm đầy bóng tối
Mền gối bắt đầu rã mục
Liễu ơi Liễu
Un jour sans toi
Tiếng hát cuối cùng nhỏ xuống
Gạch ngói hoang tàn hồn anh
Cùng tiếc thương mọc lan trên đó
Un jour sans toi
Một ngày người thủy thủ già
Vô vọng chuyến ra khơi
Liễu ơi Liễu
CỔ TÍCH
Xưa kia người mẹ sanh một đứa con trai
Bà nuôi chàng nuôi chàng ngót bốn ngàn năm
Rồi một ngày nọ người từ trần
Chàng thì ốm yếu và khóc than
Từ đó cỏ sắc mọc xuyên suốt hồn
Còn trái tim chàng chứa thanh kiếm báu
Của người cha anh hùng
Với thanh kiếm ấy người ta cắt đầu chàng
Một dòng sông chảy qua
Với giọt máu tự trái tim chàng
Mỗi buổi chiều khi mây đen gieo mưa xuống
Mỗi buổi chiều khi biển thổi gió về
Chàng nhớ chàng thương
Người mẹ nuôi nấng chàng bốn ngàn năm khổ nhọc
Mỗi buổi chiều khi ánh nắng cuối cùng chui xuống lòng biển
Những đàn chim phương bắc xa xưa bay về cùng bầu trời tối đậm
Những đàn chim đau thương câm miệng
Chàng sờ lên vết máu
Bốn ngàn năm, bốn ngàn năm chàng đà tìm thấy tận hưởng gì đâu
Duy hai giọt lệ đọng hoài trên gò má.
DI HÀNH TRONG NGÀY
Tôi bị đánh thức một buổi chiều dưới đường hầm
Chiếc metro ngừng rước người đứng chật
Chưa bao giờ tôi bị dồn nghẹt một xó như thế
Tôi vinh thân gì chính tôi đâu
Chưa bao giờ tôi thở nhọc nhằn bằng lúc này
Không khí sắp hết cho hai buồng phổi
Không lấy được một tiếng kêu
Dù để nhắc lại một chiều nào hò hẹn
Hành khách ùa xuống một trạm
Đùn tôi ra mặt đất
Vây lấy tôi giận dữ
Tôi la hét giữa phố
Lánh xa tôi để tôi yên
Óc yếu đuối nhìn lầu cao lộn ngược
Tư tưởng nằm úp mặt đường bừa bãi đá ong
Xe cộ tàn nhẫn
Anh cố quên viễn ảnh hãi hùng một sớm mai
Chết cô đơn khu phố hẻo lánh
Em không hay biết gì nửa đêm bên ấy
Hẳn nhiên em tin anh đang sung sướng
Và bạn bè vẫn gắng đỗ đạt cao
Tôi leo mất thăng bằng trên khải hoàn môn
Chưa bao giờ tôi mãn nguyện cho công việc
Hạnh phúc chỉ là sự tình cờ hiếm hoi
Cả tình yêu anh coi một huyền tích
Hai đứa xuống trần gian tìm dấu chân nhau
Thành phố mô hình xoay vòng tròn
Người vật di dịch như đàn vi khuẩn trong não
Anh them muốn nỗi chết dưới mắt
Làm sao có ngày ngưng chiến em tận mặt anh.
MỘT NGÀY ĐẸP TRỜI THÁNG SÁU
Những trái anh đào chưa có dấu răng
Đàn chim reo mừng trong chòm lá
Những quả bôm bày nụ cười ửng hồng
E thẹn như đôi má lần anh bạo dạn đặt môi
Sầu riêng và hoa hồng nở nửa đêm
Thơm ngon như trái măng cụt bên nhà
Tháng sáu em quên buồn phiền
Ngày tuyết phủ xa lắt xa lơ
Đêm em hát
Để tinh tú xúm lại ngủ
Trên miền tóc không chải
Anh gỡ chiếc mặt nạ của cuộc sống
Chụm hai tay uống cạn nguồn lệ
Suồng sã trên ngực em
Khiến những vì sao hốt hoảng buông mình lã chã.
NỤ CƯỜI
Lũ bồ câu lười héo mái nhà đội tuyết
Chúng sẽ chết trước khi nắng về
Trong vườn Luxembourg jardin des Plantes giữa boulevard Saint Michel
Trên tháp chuông trên ống khói
Vùng nhiệt đới bên kia trùng dương sa mạc bão cát lòng vực thâm u
Người ta yêu nhau chậm chạp chuyến xe mỏi
Rồi quên hết sau đó
Khoảng ngực trần của em trời mùa đông
Anh yêu em vô ngần lúc chập tối
Muốn nói vạn lời cho sao hôm mọc
Lúa vàng chờ lưỡi hái
Tử thần chờ anh nhà cửa lầm lì
Sao hôm sau áng mây ám thần trí anh kiệt quệ
Anh sợ nằm trong căn phòng đơn đêm ngủ không được
Ra đón em ngoài gió bấc tuyết rơi
Chuyến tàu bị nạn ngoài biên giới
Anh thầm hỏi ga nào có em
Nụ cười ánh đèn khuya khoắt
Người ta còn có thể yêu nhau nữa không
Khi hồn đêm không nhấc nổi nụ cười
Lũ bồ câu trên mái nhà
Đêm nay chúng gắn liền tuyết giá
Chết sung sướng địa phận thân yêu
Rạng ngày những bà lão mủi lòng cho
Con vật trông thấy thường ngày nơi khung cửa
Ai biết anh sáng hôm sau
Khoảng ngực trần của em gió bấc
Anh yêu em vô ngần dù đêm nay em đã quên anh
Anh còn đủ một giây hôn em ngủ ngon
Dù cạn thuốc quẹt lửa hết xăng
Anh còn đủ một giây đốt nụ cười
Thốt gọi tên người yêu dấu lần cuối
Rồi quay lui về thần chết anh.
(Tập san Văn số 58)
16/10/2021
Trần Hữu Dũng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thơ Đỗ Trung Lai và những cảm thức về mùa thu

Thơ Đỗ Trung Lai và những
cảm thức về mùa thu…

Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai là những mỹ cảm mang tính khai phóng, nhân bản, dân tộc, nên có ý nghĩa dự báo khá sâu sắc. Bởi, trong tâm cảm thi nhân luôn hiện hữu một tâm hồn Việt Nam mà ở đó: “Có một Thăng Long thương nhớ/ Người đi mở cõi mơ về/ Có một Thăng Long thon thả/ Khép hờ vạt áo ngoài kia”…
1. Tự ngàn xưa, mùa thu đã là đề tài muôn thuở của thi ca nhạc họa. Song, không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa một phạm vi phản ảnh cuộc sống, mùa thu còn là mỹ cảm, là nỗi ám ảnh của vô thức và tâm linh tạo nên dự phóng sáng tạo của người nghệ sĩ. Vì vậy, không lạ gì, trong âm nhạc Việt Nam đã tồn tại những tình khúc tuyệt đỉnh về mùa thu như: Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong; Gửi gió cho mây ngàn bay, Lá đổ muôn chiều, Thu quyến rũ của Đoàn Chuẩn -Từ Linh; Thu cô liêu, Buồn tàn thu của Văn Cao; Mùa thu chết, Nước mắt mùa thu của Phạm Duy; Thu vàng của Cung Tiến; Nhìn những mùa thu đi của Trịnh Công Sơn; Mùa Thu cho em của Ngô Thụy Miên; Thu hát cho người của Vũ Đức Sao Biển… Hay trong thi ca như: Thu ẩm; Thu Vịnh; Thu Điếu của Nguyễn Khuyến; Cảm thu – tiễn thu của Tản Đà; Tiếng thu của Lưu Trọng Lư; Đây mùa thu tới của Xuân Diệu; Nắng thu của Nam Trân; Thu của Chế Lan Viên; Chiều thu của Thái Can; Cây bàng cuối thu của Nguyễn Bính; Cuối thu của Hàn Mặc Tử, … Thế nên, không phải ngẫu nhiên, trong “Khúc ngâm mùa thu”, Đỗ Trung Lai đã viết những câu thơ với xúc cảm khá tinh tế, thể hiện niềm khắc khoải, ưu lo về sự hiện hữu và tồn sinh của mùa thu mà khi đọc lên ta không khỏi thấy nao lòng: “Ngàn năm xưa đã thu rồi/ Ngàn năm sau nữa đất trời còn thu/ Chỉ lo lòng đất không mùa/ Làm sao nghe được tiếng thu dịu dàng!/ Tìm đâu cho đủ hoa vàng/ Để ta kết chuỗi trang hoàng cho thu”?.
Như vậy, đề tài mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, không phải là điều mới lạ. Song, cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai mang những nét suy tưởng riêng, thủ pháp riêng, thể hiện nét độc đáo trong cá tính sáng tạo mang dấu ấn Đỗ Trung Lai, không lặp lại ai và cũng không lặp lại chính mình, điều quan thiết trong hành trình sáng tạo của người nghệ sĩ. Bởi, đối với sáng tạo nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật thi ca, việc lặp lại người khác hay lặp lại chính mình là tự đóng đinh mình trên cây thập giá văn chương. Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai vì vậy, là một sáng tạo riêng có của thi nhân. Đó là một bức tranh đa sắc màu, đa chiều kích, mà ở mỗi bài thơ viết về mùa thu đều thể hiện một cảm thức, một cái nhìn riêng về thiên nhiên, con người trong cõi nhân sinh đầy biến động khôn lường. Mùa thu đã trở thành một không gian văn hóa – hiện sinh, một thế giới nghệ thuật ám ảnh tâm thức thi nhân. Thế nên, chỉ với ba tập thơ xuất hiện những năm gần đây của Đỗ Trung Lai như: Thơ – 30 (2013); Ơ thờ ơ (2013); Bảo dông dài ừ dông dài… (2019) đã có 18 bài thơ viết về mùa thu, chưa kể những câu thơ nói đến mùa thu trong các bài khác. Đó là các bài thơ: Khúc ngâm mùa thu; Thu cảm; Thu sang (Thơ – 30); Môi dịu dàng, ta gọi:“Bắc Giang thu!”; Thu tàn Tam Cốc; Tìm một mùa thu cũ;  Mùa thu uống rượu bên hồ Thiền Quang; Một chiều thu; (Ơ thờ ơ); Thu vào chơi Yên Tử; Thu qua cửa Bắc; Tết trùng cửu, cùng thu qua Chùa Hương; Thu, nhớ Lưu Trọng Lư; Thu, nhớ Quang Dũng; Thu về với sông Thao; Thu sớm; Đêm thu, dắt cháu vào phố cổ; Nhời thu đã cạn (Bảo dông dài ừ dông dài…). Có thể nói, mỗi bài thơ viết về mùa thu là một thi giới thể hiện một nhãn quan, một mỹ cảm riêng của thi sĩ, kết tinh thành cảm thức thu vừa truyền thống, vừa hiện đại mà các bài thơ nói trên là một minh chứng. Bởi, theo Max Jacob: “Cả một thế giới trong một con người, đó là nhà thơ hiện đại”. (1)
2. Điều nhận biết trước tiên, khi giải mã cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai đó là sự hoài niệm về không gian văn hóa thu của Thăng Long hiện hữu  từ ngàn năm, có thể mất đi bất cứ lúc nào trước sự thờ ơ, vô cảm của chính những con người đã/ đang/sẽ sống ở đất kinh kỳ như một lời tự vấn đến tê buốt!?: “Có một Thăng Long xa lắm/ “Lối xưa, xe ngựa, hồn thu…/ Có một Thăng Long đang thở/ Bên ta từng phút từng giờ/ (…) Có một Thăng Long răng trắng/ Cắn vào quả sấu đầu thu”. (Thăng Long) Hoài niệm về những ký ức lịch sử, văn hóa Hà Nội hiện hữu trong thơ viết về mùa thu của Đỗ Trung Lai, còn là sự cảm nhận từ tinh thần mùa thu cách mạng Tháng Tám năm nào khi “Tám mươi năm vong nô/ Giờ thành dân độc lập/ Lòng ai không mở cờ/ Tái sinh cùng giời đất”, để rồi: “Nay cùng thu bình thường/ Dạo bên thành Cửa Bắc/ Nhớ về thu năm xưa/ Lòng tự nhiên hành khúc”. (Thu, qua cửa Bắc) Hay là cảm thức hiện sinh về sự hiện hữu của mùa thu qua biểu tượng: “một chiếc lá bàng vàng mơ… trỏ về cuối thu…” và những suy niệm giàu chất triết luận với diễn ngôn mang tính chất vấn về những vấn đề nhân sinh không dễ trả lời: “Ông ơi! Lá vàng tên gì? / Lá vàng tên là hữu hạn/ Ông ơi hữu hạn là gì? / Nghĩa là rồi xa muôn dặm (…) Là cháu không còn ông dắt!/ Sao cháu lại không còn ông”. (Đêm thu, dắt cháu vào phố cổ) Và, cuộc “đối thoại” giữa “ông – cháu” đó là cuộc “đối thoại” giữa hai thế hệ kết thúc bằng một câu thơ bất ngờ nhưng hợp logic và thú vị: “Kìa! Khéo lá vàng bay mất!”… Thông điệp của bài thơ đã rõ: Hãy biết trân quí những gì hiện hữu dù đó chỉ là “chiếc lá vàng” cuối thu còn lại, không nên đi tìm những gì viễn mơ, chẳng có ích cho cuộc sống. Tâm thức hiện sinh nhân bản cũng bắt nguồn từ những điều bình dị ấy!?
Luận bàn về phẩm tính của nhà thơ, Friedrich Schiller xác quyết: “Tiềm thức hợp với suy tưởng, tạo thành nhà thơ”.(2) Như vậy, tiềm thức có vai trò quan trọng trong sáng tạo thi ca và đây là điều thể hiện khá rõ ở cảm thức mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, khi phần lớn các bài thơ viết về mùa thu của Anh luôn bắt nguồn từ trong “tiềm thức và suy tưởng” mà cảm thức hiện sinh mang màu sắc triết luận là một bình diện thể hiện khá sâu sắc vấn đề nầy. Đó là không khí Phật đài mang sắc màu huyền ảo và thiền định ở bài thơ “Tết trùng cửu, cùng thu qua chùa Hương”: “Gác gió, chuông chùa buông đủng đỉnh/ Sơn Thủy đồng sàn cùng vô thường/ Phật điện đồng môn tam –tứ phủ/ Tục lụy xa dần, gần thiên lương …”; Là những hoài niệm đang xen giữa quá khứ và hiện tại, giữa xưa và nay với những lời tự vấn đầy trăn trở trong “Mùa thu uống rượu bên hồ Thiền Quang”, một danh thắng của Hà Nội ngàn năm: “Thiền Quang xanh dưới thấp/ Da trời xanh trên cao/ Thu phân rồi đấy nhỉ? Người xưa giờ ra sao?“, để rồi, điều còn lại trong tâm cảm thi nhân là những hoài vọng xa mờ về một thời quá vãng: “Ly này ai vừa rót/ Ta rót vào hồ thu/ Người xưa là chiếc bóng/ Ngày xưa là sương mù”. Bởi, nói như Huỳnh Phan Anh: “Thơ ở giữa có và không, thực hữu và hư vô, mời gọi và từ chối”.(3)
3. Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai không chỉ có những hoài niệm, ký ức đong đầy không gian văn hóa về thu Hà Nội, mà còn có thi giới thu ở nhiều vùng văn hóa khác của đất nước. Đó là một thi giới đầy ám ảnh với những dấu ấn khó phai mờ của sự quyện hòa giữa mộng và thực, giữa hiện hữu và hư vô kết tinh thành những suy niệm đầy tính triết luận thấm đẫm không gian thiền học: “Cuối đường hun hút cỏ/ Đền hai Vua chập chờn/ Nợ anh hùng trả hết/ Về đây ngồi tham thiền”. (Thu tàn Tam Cốc) hay: “Lá chạm tay người dường tay Bụt/ Tán oan, phổ độ cả mười phương/ Nâng lão mai trà là thu ẩm/ Thiền đàm, Phật pháp được hoằng dương” (Tết trùng cửu, cùng thu qua chùa Hương). Sự kết tinh tư tưởng triết luận nầy được thi nhân biểu đạt khá uyên áo trong bài “Thu vào chơi Yên Tử” với việc sử dụng câu hỏi tư từ như một thủ pháp độc thoại: “Hỏi ai người lục thức/ lục căn/ hiếu tử/ minh quân/ nghiêm phụ…/ Hỏi ai người thiền nhân/ Hỏi ai người thi sĩ/ Hỏi ai ngang thánh thần” và kết thúc bằng câu trả lời mang chất thiền luận: “Không người, đành hỏi gió/ Gió thổi vào Trúc Lâm”. Còn ở bài thơ “Thu tàn Tam Cốc” là niềm trăn trở về những giá trị văn hóa tốt đẹp từ truyền thống vọng về: “Sen Tam Cốc tàn rồi/ Chờ người người chẳng tới/ Một trời thu vô duyên/ Ta quay về bến đợi/ Đá muôn tuổi làm núi/ Nước muôn năm làm đường/ Thu tàn muôn năm khói/ Đò đi về trong sương”. Bài thơ là một lời tự vấn đầy khắc khoải về quá khứ, không dễ trả lời luôn ám ảnh tâm cảm thi nhân: “Sơn hà đầy trong mắt/ Người của ta đâu rồi?/ Mặc ba ngàn du khách/ Ta cùng thu gọi người”.
Mặt khác, trong cảm thức về mùa thu, cùng với không gian văn hóa, lịch sử ở các danh thắng, Đỗ Trung Lai còn dành tình cảm đặc biệt cho các nhân vật lịch sử của dân tộc. Đó là hình ảnh người anh hùng Đề Thám và những nghĩa quân Yên Thế đã hy sinh đời mình cho tổ quốc trong bài thơ “Môi dịu dàng, ta gọi: “Bắc Giang thu!”, mà mỗi câu thơ đều mang sức nặng của tình yêu nước: “Nắng nhuộm vàng cây, lúa trải đỏ đồng/ Thu thắng trận, thu hòa đàm, thu thất thế/ Thu chết tướng, thu tan quân, thu yên nghỉ/ Thu lộng lẫy, thu hào hùng, thu giản dị/ Chuốc rượu dưới quân kỳ, bao cung bậc thu qua/ Chuông thu không, rừng động dưới trăng già/ Tiếng trống trận, tiếng tù và đã tắt/ Nhưng tiếng hát thì không bao giờ chết/ Tiếng hát giữa lòng người, tiếng hát giữa non sông/ Rằng: “Muôn năm dòng máu anh hùng!”/ Rằng:“Vạn tuế giống dòng hào kiệt!”/Thời gian trôi, thời gian trôi mãi miết/ Dạ ngọc gan vàng chói lọi giữa thiên thu”. Hay hình ảnh ông Kim Ngọc, người đem ấm no cho nhân dân Vĩnh Phú trong cải cách nông nghiệp – nông thôn thời bao cấp ở miền Bắc, mà cuộc đời phải chịu bao oan khuất: “Hoa như bảo: Kim phải tôi trong lửa/ Gió như kêu: Ngọc nát cũng cam lòng/ Nhà muôn nóc giờ thơm cơm Việt/ Nơi suối vàng, hoa cải có vàng không?” (Thu, về với Sông Thao)
Đi tìm cảm thức mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, không thể, không nói đến những ưu tư về đời thơ của Lưu Trọng Lư và Quang Dũng trong “Thu, nhớ Lưu Trọng Lư” và “Thu, nhớ Quang Dũng” mà bài thơ nào cũng thể hiện sự tài hoa, hướng thiện trong hành trình đến với nghệ thuật của người nghệ sĩ. Đó là một Lưu Trọng Lư với những câu thơ đầy mỹ cảm trong Tiếng thu đã chất chứa bao niềm trắc ẩn về thân phận người thi sĩ: “Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng mờ thổn thức” Người làm thơ, từ lâu/ Đã không cần giấy mực/ Em không nghe mùa thu/ lá thu kêu xào xạc/ Người làm thơ, từ lâu/ Lá vàng là thân xác/ Em không nghe mùa thu/ Dù ta còn hay thác/  Gió thu vẫn qua rừng/ Kêu những chiều diệp lạc”. Hay ảnh hình Quang Dũng, một thi sĩ tài hoa mà tài năng và số phận luôn ám ảnh trong mỗi câu thơ, khi đọc lên không thể, không xa xót: “Thơ ứa mỗi vần như máu ứa / Quê hương mờ mịt sau lưng người … Độc mộc trông hoài sao chẳng thấy/ Mỹ nhân, thi sĩ phận như vôi …Thu cũ vàng trong màu lúa mới/ Lúa mới vàng trong thu cũ rơi”. Và ẩn trong niềm tưởng nhớ Lưu Trọng Lư và Quang Dũng qua cảm thức về mùa thu, Đỗ Trung Lai đã “ngộ” ra phận số của người thi sĩ cũng bạc mệnh như mỹ nhân. Vì vậy, Nguyễn Du, khi hiện hữu vẫn lắng lo than thở: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”!?. Bởi, nói như Apollinaire: “Các thi nhân bao giờ cũng tiêu biểu cho một hoàn cảnh, một dân tộc”.(4)  Mùa thu là mùa của vàng úa, của phôi phai. Phải chăng, mùa thu gợi cho Đỗ Trung Lai nhớ đến phận số người thi sĩ!?
4. Một bình diện khác khi luận giải về cảm thức mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, ta thấy thi nhân vẫn sử dụng những thi liệu quen thuộc trong văn học dân tộc đã thành điển phạm khi viết về mùa thu như: lá vàng, gió heo may, con đò, dòng sông, bầu trời… và những tâm cảm vốn có trong các bài thơ thu như: hoài niệm về quá vãng, về tình yêu, về nỗi buồn, niềm cô đơn của cái tôi bản thể. Song, điểm khác biệt ở cảm thức mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, là anh nói đến những ưu tư về nỗi cô đơn phận người, nhất là những con người dấn thân cho sự sống còn của đất nước và sự tồn sinh của các giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc mà các bài thơ: “Thu, vào chơi Yên Tử”; “Thu tàn Tam Cốc”; “Mùa thu uống rượu bên hồ Thiền Quang”; “Tết trùng cửu, cùng thu qua chùa Hương”; “Môi dịu dàng, ta gọi: “Bắc Giang thu!”; “Thu, qua cửa Bắc”; “Thu, về với Sông Thao”; “Thu, nhớ Lưu Trọng Lư” và “Thu, nhớ Quang Dũng” … là một minh chứng.
Mùa thu là mùa của ký ức, hoài niệm, nhớ nhung. Viết về mùa thu mà thiếu những xúc cảm tha thiết nầy, sẽ là khoảng trống về mỹ cảm thi ca khó chấp nhận. Vì vậy, bên cạnh những cảm thức về văn hóa, lịch sử, về phận số con người, trong thi giới  thu, Đỗ Trung Lai cũng dành một không gian tâm tưởng cho làng quê, gia đình, cho “cô láng giềng” xa xưa của thuở thiếu thời mà từ trong vô thức những tình cảm ấy luôn ám ảnh thi nhân. Đó là khung cảnh gia đình trong “Thu sớm” với những câu thơ đầy sức ám gợi: “Heo mây về quanh nhà/ Gia đình là có thực/ Em gương lược trong phòng/ Thu đầy trên mái tóc”. Hay ảnh hình một “Cô láng giềng” nào đó, dẫu không “đứng bên hàng tường vi” như “Cô láng giềng” của Hoàng Quý và dù đã xa xôi, vẫn không làm cho thi sĩ thôi “xao lòng” mỗi độ thu về: “Ở một phương nào đó/ Em còn nghe thu đi?/ Phương nầy trong ngõ nhỏ/ Buông bước sầu, anh về”. (Nhời thu đã cạn) Hay nỗi day dứt trong khúc biệt ly đầy luyến nhớ không dễ mờ phai mà đọc lên lòng ta không khỏi xốn xang trong thi phẩm “Một chiều thu”: “Ngày đi theo cánh chim đi/ Mây chiều hấp hối sau đê/ Đò đưa em sang bờ bắc/ heo mây từ đó bay về!” Mùa thu vì thế, là nơi tâm thức nhà thơ luôn tìm về những ký ức thu xưa trong cuộc đời mình mà hôm nay chỉ còn là những ảo ảnh xa mờ của một thời quá vãng dù thi nhân muốn “đếm ngược thời gian” hay “đi vào trong mơ” để “tìm một mùa thu cũ”, nhưng “Chỉ thấy thu nay về/ Thu xưa còn đâu nữa!” (Tìm một mùa thu cũ). Còn đây là nỗi nhớ đến quặn lòng, sự ân hận về tình cảm nhạt nhòa với quê hương là sự tự thú rất thực, không chỉ của thi nhân mà của nhiều người, khi hàng ngày bị cuốn vào cuộc sống áo cơm chốn thị thành, khiến ta cứ xa dần nguồn cội. Bài “Thu cảm”, vì thế đã gợi bao niềm thao thức, ưu lo về cố hương: “Muống già tiết trời lạnh/ Nhà vắng, ta ngồi nhớ quê/ Quê cũng không xa là mấy/ Mà dăm bảy tháng chưa về … Nhớ quê thơ làm dăm khổ/ Ngồi buồn ta đọc Thu nghe”. Và lúc này, Thu đã hóa thân thành người tri kỷ để thi nhân giải bày tình cảm đối với cha mẹ, với người thân, với gia đình. Giá trị nhân bản của thi ca nhiều khi bắt nguồn từ những câu thơ viết về các điều bình dị như thế!?
5. Không hiểu mùa thu có một ma lực mầu nhiệm như thế nào mà luôn ám ảnh tâm thức của các văn nghệ sĩ, đến nỗi Chế Lan Viên đã tiếc nuối sự tàn phai của mùa thu đến nỗi ông đã mong ước đến phi lý, khi muốn nhặt lá vàng của mùa thu để ngăn lối xuân về: “Ai đâu trở lại mùa thu trước / Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?/ Với của hoa tươi muôn cánh rã/ Về đây đem chắn nẻo xuân sang!” Rồi thi nhân xác quyết sự gắn kết hồn mình với mùa thu trong nỗi nhớ mong ngút ngàn: “Ai biết hồn tôi say mộng ảo/ Ý thu góp lại cản tình xuân?/ Có một người nghèo không biết Tết/ mang lì chiếc áo độ thu tàn ? (…) / Chao ôi! mong nhớ! ôi mong nhớ/ Một cánh chim thu lạc cuối ngàn”. (5) Còn Đoàn Chuẩn – Từ Linh thì “tự thú” một cách đáng yêu đầy chất nghệ sĩ tính trong tình khúc “Thu quyến rũ” với những lời ca chứa chan cảm xúc và giai điệu đẹp đến lạ thường về mùa thu: “Anh mong chờ mùa thu, dìu thế nhân dần về chốn thiên thai. Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay, mùa thu quyến rũ anh rồi”. Có lẽ, Đỗ Trung Lai khi viết về mùa thu cũng không đi ra ngoài từ trường mỹ cảm nầy. Vì vậy, cảm thức bao trùm trong thơ viết về mùa thu của Đỗ Trung Lai vẫn là những hoài niệm, những nuối tiếc về thu xưa với những giá trị văn hóa truyền thống lịch sử của dân tộc quyện hòa trong tình yêu làng quê, gia đình cùng những giá trị nhân văn làm nên phẩm tính văn hóa Việt mà thi nhân lo sợ sẽ mất dần trong xã hội hiện đại như chia sẻ của thi sĩ trong “Khúc ngâm mùa thu”: “Tìm đâu đủ khói lam mờ/ Thả vào đồng đất bãi bờ, rừng cây?/ Tìm đâu vài hạt mây bay/ Để trời bớt nỗi ngày ngày thiên thanh?/ Tìm đâu ra lá sen xanh/ Để còn bọc cốm cho mình gửi ta/ Tìm đâu móc với sương sa/ Để vai mình lạnh, để da mình mềm?/ Tìm đâu lá lạc bên thềm/ Để than van những nỗi niềm biệt ly?”. Điều mà Đỗ Trung Lai khao khát đi tìm là những tín hiệu mỹ cảm làm nên cảm thức về mùa thu trong thơ của thi nhân nhưng đó cũng chính là những hệ giá trị văn hóa truyền thống làm nên vẻ đẹp của tâm hồn Việt, văn hóa Việt. Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, vì thế không chỉ là những khát khao tìm về những mỹ cảm của mùa thu xưa để nuôi dưỡng nguồn cảm hứng của một nghệ sĩ mà đó còn là khát khao tìm về những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc để nuôi sống tâm hồn của một công dân nước Việt để không bị tha hóa, vong thân ngay trên đất nước mình. Bởi, nói như Guillaume Apollinaire: “Nhà thơ là kẻ tìm ra được những hứng thú mới, dẫu hứng thú đó khó chịu đựng. Có thể thành nhà thơ ở mọi lĩnh vực: miễn là thích phiêu lưu và đi khám phá”.(6)
Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai là những mỹ cảm mang tính khai phóng, nhân bản, dân tộc, nên có ý nghĩa dự báo khá sâu sắc. Bởi, trong tâm cảm thi nhân luôn hiện hữu một tâm hồn Việt Nam mà ở đó: “Có một Thăng Long thương nhớ/ Người đi mở cõi mơ về/ Có một Thăng Long thon thả/ Khép hờ vạt áo ngoài kia”. Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai là những cảm thức mang niềm trắc ẩn khôn nguôi về đất nước quê hương mà anh đã tự nguyện dấn thân trong tư cách một người Lính – một Công dân – Thi sĩ. Bởi, “Mọi sự đều qua – chỉ có nghệ thuật mạnh mẻ mới có sức muôn năm trường cửu” (Théophile Gautier).(7)
Chú thích:
(1) (2) (4 ) (6) (7)  Đoàn Thêm, Quan niệm và sáng tác thơ, Viện Đại học Huế,1962, tr.41; tr.189; tr.78; tr.44; tr.95
(3) Huỳnh Phan Anh, Văn chương và kinh nghiệm hư vô, Nxb. Hoàng Phương Đông, Sài Gòn, 1968, tr.104
(5) Chế Lan Viên, Điêu Tàn, Hoa Tiên xuất bản, Sài Gòn, 1967, tr.55
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, Sài Gòn, 10/8/2021
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thụy Khuê, nhà phê bình văn học mành mành

Thụy Khuê, nhà phê bình văn học mành mành Thật khó để khen một điểm gì đó trong cuốn sách của Thụy Khuê: chỗ đúng thì không mới, mà chỗ mớ...