Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

Hồn buồn trường cửu trong thơ Huy Cận

Hồn buồn trường
cửu trong thơ Huy Cận

Với tôi, Huy Cận (1919 – 2005) trước sau vẫn là nhà thơ số một trong các nhà thơ mới (1932 – 1945). Sự xuất hiện của ông trên thi đàn Thơ mới có thể ví như mạch sóng ngầm, trầm buồn xiết chảy mạnh mẽ giữa sôi sục của cơn hồng thủy Thơ mới đang cuồn cuộn dâng trào, hòng cuốn bay đi bức tường thành thơ nghìn năm cổ kính Đông phương mà dường như chưa có hồi kết. Cái hồn buồn trong thơ Huy Cận là cái hồn buồn của chàng trai 19 tuổi đầy sức sống mãnh liệt. Chính cái hồn buồn trẻ trung đầy sức sống ấy đã làm nên sự trường cửu trong thơ ca của ông.
Tròn 100 năm tính từ ngày nhà thơ Cù Huy Cận ra đời (ông sinh ngày 31-5-1919) trong một gia đình nhà nho nghèo dưới chân núi Mồng Gà, bên bờ sông Ngàn Sâu (Hương Sơn, Hà Tĩnh). Tuổi thơ ông gắn liền với bờ ao, mảnh ruộng nghèo khó trên quê hương – nơi mà đại thi hào Nguyễn Du rồi Nguyễn Công Trứ đã từng cất lên những vần thơ trác việt giữa đất trời sông núi. Lớn lên, ông vào Huế học trung học, đậu tú tài, sau đó ra Hà Nội học Trường Cao đẳng Canh nông. Ông sống ở phố Hàng Than cùng với Xuân Diệu, sau chuyển về 24 Cột Cờ (nay là phố Điện Biên Phủ). Ông tham gia cách mạng từ năm 1942, là thành viên Ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc. Ông cũng từng cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn, từng giữ các chức vụ: Bộ trưởng kiêm Thanh tra đặc biệt của Chính phủ cách mạng lâm thời 1945, Bộ trưởng Bộ Canh nông, Bộ trưởng đặc trách văn hóa tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng… Tháng 8-1945, ông là một trong 3 thành viên của phái đoàn Chính phủ lâm thời (gồm Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận) đi vào kinh đô Huế để tiếp nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Sau này ông về làm Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học-Nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ủy ban chấp hành UNESCO, Viện sĩ Viện Hàn lâm thế giới về thơ, Chủ tịch Đại hội Văn hóa thế giới năm 1968… Ông mất ngày 19-2-2005, tại Hà Nội.
Huy Cận có thơ đăng báo từ năm 1936. Ông cho in tập thơ đầu “Lửa thiêng” năm 1940 và lập tức trở thành tên tuổi hàng đầu của phong trào Thơ mới lúc bấy giờ. Tập “Lửa thiêng” bao trùm một nỗi buồn mênh mang da diết. Thiên nhiên trong thơ ông bao la, hiu quạnh, đẹp và buồn. Nỗi buồn của phận người, của cuộc đời, buồn về quê hương đất nước. Các tập thơ sau này của ông tuy có cố gắng hòa vào mạch sống âm thầm trong vũ trụ và cõi đời, nhưng vẫn phảng phất một nỗi buồn man mác.
Tập “Lửa thiêng” chỉ gồm 50 bài thơ, nhưng lại ghi một dấu ấn sâu đậm, trở thành bước ngoặt quan trọng cho con đường đi của thơ ca dân tộc giữa cao trào Thơ mới lúc ấy. Vào những năm 30 của thế kỷ trước, khi mà loại thơ quy phạm viết theo lối Đường luật cổ xưa cũ kỹ đã quá chật chội, bức bối, không còn đủ khả năng phô diễn những tâm trạng, cảm xúc mới trong cõi thẳm sâu của tâm hồn, thì cũng là lúc nhiều nhà thơ đương thời mạnh dạn viết nên những bài thơ mang âm hưởng mới của thời đại, với những cách tân mạnh mẽ về cả nội dung và hình thức thơ. Nhiều tranh luận giữa mới và cũ diễn ra sôi nổi, thậm chí rất quyết liệt. Đúng lúc đó, một tập thơ mang tính cách tân triệt để xuất hiện, đó chính là tập “Mấy vần thơ” của Thế Lữ. Với “Mấy vần thơ”, người đọc lần đầu tiên được biết đến một phong vị thơ hoàn toàn khác lạ, một trải nghiệm mới với một cảm xúc mới, tâm hồn mới, cách nhìn mới. Bởi thế, ngay lập tức, “Mấy vần thơ” được tôn vinh như là sự khởi xướng, một sự bắt đầu của thời đại mới trong thi ca. Nó chấm dứt mọi tranh cãi giữa cũ và mới, mở ra một thế giới khác lạ đầy sôi động và háo hức, để rồi sau đó hàng loạt tập thơ gây tiếng vang lớn trên thi đàn liên tiếp ra đời: “Điêu tàn” (năm 1937) của Chế Lan Viên; “Thơ thơ” (năm 1938) của Xuân Diệu; “Tiếng thu” (năm 1939) của Lưu Trọng Lư; “Thơ say” (năm 1940) của Vũ Hoàng Chương… Cũng chính vào lúc cao trào Thơ mới đang dâng lên chót vót với đỉnh cao Xuân Diệu là đại diện, thì hình như trong sâu thẳm đâu đó, người đọc vẫn cảm thấy còn cái gì gờn gợn, chưa trọn vẹn. Cái sự gờn gợn, chưa trọn vẹn ấy là gì, người ta chưa thể minh định rạch ròi chính xác, nhưng cảm nhận thấy cái mới ấy đã đi quá xa chăng? Xa đến mức mới quá, Tây quá… Và đó cũng là lúc “Lửa thiêng” ra đời. Sự ra đời của “Lửa thiêng” giống một mặt hồ rộng lớn tĩnh lặng, cổ kính Đông phương, như muốn kéo chậm lại dòng chảy Thơ mới đang gầm gào cuộn xiết giữa muôn hình vạn trạng thác ghềnh, với những ồn ào náo động đậm chất Tây phương xa lạ, muôn vẻ sắc màu. Hình như trong thẳm sâu tâm hồn của thi hào Huy Cận, sự rộng lớn, khác lạ, mới mẻ của phương Tây cũng không đủ để ông bày tỏ những xúc cảm nhiều trắc ẩn, chân thực, thăm thẳm của cõi lòng ông. Có phải vì lẽ đó mà sau những bài thơ đậm chất Tây phương, ông lặng lẽ trở về với nỗi buồn vạn cổ Đông phương. Cái hồn thơ ấy thẳm vời về sâu xa ký ức ngàn năm dân tộc. Ông cô đơn một mình giữa mênh mông Thơ mới, cô đơn trong chính cõi lòng, trong chính sự ồn ào náo động Thơ mới. Phải chăng chính nỗi niềm ấy đã biến chàng trai đang tràn trề sức của tuổi hai mươi lại mang trong mình một tâm hồn thơ vạn cổ, nhưng đầy cuốn hút, trẻ trung.
Cảm hứng trong thơ Huy Cận khác hẳn với vẻ ồn ào nồng cháy trong thơ Xuân Diệu. Ông không dấn mình lạc sâu vào thế giới Tây phương, mà âm thầm bộc bạch một cách trung thực nhất cõi lòng mình, cái cõi lòng không biết từ bao giờ đã bao trùm một nỗi buồn xa xăm u tịch, cổ kính mà thâm trầm sâu sắc. Những vần thơ của ông cất lên như tự một cõi xa xăm nào đó của cố nhân: “Một hôm trận gió tình yêu lại/ Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ” (“Học sinh”). Nhà thơ chợt giật thót mình trước cơn cuồng phong mê sảng của Thơ mới, nên bần thần, ngơ ngác trông vời ký ức đẹp đẽ đang trôi qua đi mất. Bởi vậy, khi tĩnh tâm trở lại thì: “Lòng êm như chiếc thuyền trên bến/ Nghe rét thu về hạ bớt mui” (“Mưa”). Chao ôi! Nỗi buồn ấy sao mà mênh mông diệu vợi hắt hiu đến thế. Nỗi buồn ấy cũng chính là tâm trạng của thi sĩ sau những ồn ào náo động, lặng lẽ trở về với chiều sâu tĩnh lặng thâm trầm của tri âm cổ kính ngàn xưa.
Cảm nhận vẻ đẹp u hoài, có thể ví như những bức tranh thủy mặc Đông phương trong thơ Huy Cận, để ta biết một hồn thơ thâm trầm lặng lẽ giữa vũ trụ bao la nhưng hoang vắng đơn côi. Trong tập “Lửa thiêng”, những bài thơ trác việt nhất là những bài mang màu sắc thâm u huyền bí Đông phương… Với Huy Cận, “cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn”. Bởi thế, ví như cái buồn trong “Tràng giang” của ông cứ tầng tầng lớp lớp nối tiếp nhau như những đợt sóng xô dạt vào bất tận. Bản thân cái tên “Tràng giang” đã gợn lên một nỗi buồn xa xăm thầm kín mà âm vang mênh mông. Ngay từ câu thơ đầu “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” đã cho một thông báo về nỗi buồn sâu, chảy dài bất tận. Từ nỗi buồn điệp điệp chuyển sang nỗi buồn hai ngả “Con thuyền xuôi mái nước song song” rồi bỗng vỡ òa ra “trăm ngả”, bởi tâm thế “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Từ nỗi buồn “điệp điệp” đến “song song” rồi òa ra “trăm ngả” đã trào dâng một nỗi buồn cùng tận, nỗi buồn ẩn chứa bao đau đớn, xót xa. Một nỗi buồn chơ vơ không nơi bấu víu, bị dồn đến bước đường cùng trong vô định thời gian “lạc mấy dòng”… thì còn đâu có chỗ cho sự hồ hởi, vui tươi náo động kiểu “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” như Xuân Diệu nữa.
Cái buồn của “Tràng giang” cứ lơ thơ tan loãng đìu hiu từ cồn cát nhỏ lan sang tận nơi chợ chiều phía làng xa, rồi phát triển mở rộng đến: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/ Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”. Lớp lớp nỗi buồn triền miên trên con đường vô định “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng” để trở về với “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Cái buồn sao mà vắng lặng, hoang vu đến thế, cái buồn của nỗi day dứt khôn nguôi về tình người, tình đời giữa sa mạc cô đơn, dường như vắng bóng mọi sinh linh trên mặt đất. Nó chặn đứng mọi khát vọng mong manh của con người trên con đường vô định…
Có lẽ trong tất cả các nhà thơ mới, Huy Cận là người mang trong mình niềm trắc ẩn thầm kín sâu xa nhất. “Tai nương nước giọt mái nhà/ Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn” (“Buồn đêm mưa”). Cái sự nghe nỗi buồn này không phải nghe bên ngoài, nghe bằng tai mà nghe bằng tâm cảm thẳm sâu của thi sĩ. Chỉ là giọt nước rơi trên mái nhà mà “Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la”. Chính bản thân Huy Cận tự nhận: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm”. Nhưng cái sầu, cái buồn của Huy Cận lại mang vẻ đẹp thâm trầm của Đông phương, của dân tộc. Đọc thơ ông, tự sâu thẳm lòng ta dào lên niềm xúc động cảm thương sâu sắc. Đi suốt tập “Lửa thiêng”, ta bắt gặp triền miên nỗi buồn mênh mang sâu thẳm. Nỗi buồn Huy Cận thường là bột phát, vô cớ mà tự nhiên như chính con người ông. Nỗi buồn được coi là “ảo não bậc nhất” ấy, đậm sâu mà vẫn thanh thoát lạ thường. Nó không gay gắt, bực bội kiểu “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất/ Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật” (“Vội vàng”-Xuân Diệu) hay “Người ta khổ vì cố chen ngõ chật/ Cửa đóng bưng nên càng quyết xông vào/ Rồi bị thương, người ta giữ gươm dao/ Không muốn chữa, không chịu lành thú độc” (“Dại khờ”-Xuân Diệu). Cái buồn của Huy Cận là cái buồn đẹp, cái buồn mang khuynh hướng lãng mạn, của lý tưởng thẩm mỹ trong chính con người cá nhân nhà thơ. Cái buồn về thân phận con người giữa vũ trụ bao la. Nó chính là cái đẹp, là sự chiến thắng của thơ. Nỗi buồn ấy là cảm thức về con người thiên nhiên, vũ trụ, luôn khao khát vươn lên đi tìm ánh sáng của sự sống dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Lần theo “Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi” mà nghe “Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ” (“Buồn đêm mưa”) để nhận ra tiếng tiền nhân cổ xưa vang vọng trong thơ ông. “Vạn lý sầu lên núi tiếp mây” (“Vạn lý tình”), “Buồn gieo theo gió veo hồ”, “Phất phơ buồn tự thuở xưa thổi về” (“Chiều xưa”). Hồn thơ thi sĩ lặng lẽ trôi về miền xa xăm, mà ngẩn ngơ níu giữ: “Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về/ Sắc trời trôi nhạt dưới khe/ Chim đi lá rụng, cành nghe lạnh lùng” (“Thu rừng”). Cái nỗi buồn ấy thăm thẳm chùng xuống đến tận đáy: “Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung/ Có ai đàn lẻ để tơ chùng?” (“Nhớ hờ”)…
Hồn buồn Huy Cận không ngẫu nhiên mà có. Chúng ta biết vào thời bấy giờ, xã hội Việt Nam đang trong giai đoạn ngổn ngang muôn nỗi. Cuộc sống rối ren, tơi bời của xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến dẫn đến tâm trạng u uất, buồn rầu, lạc lõng giữa thế gian của các nhà thơ. Bản thân Huy Cận cũng mệt mỏi, ngột ngạt giữa hiện thực của người dân bị mất nước, tràn ngập thói hư tật xấu, bức bối nên tự nó đã dẫn tâm hồn thi sĩ của ông trở về đắm mình trong tòa lâu đài thi ca cổ kính nơi tiền nhân. Cái buồn, sự trống rỗng, cô đơn trong thơ ông là cái buồn mang đậm truyền thống thẩm mỹ thơ ca dân tộc. Nếu Xuân Diệu luôn mộng mơ, cứ bám riết vào đất mà nồng nàn say đắm thì Huy Cận vừa sâu sắc thâm trầm, vừa cao xa thăm thẳm…
Tiếng thơ của ông cất lên như tiếng vọng từ ngàn năm trước. Vẻ đẹp của tiếng thơ ông nghe như khúc độc huyền cầm vút lên giữa đêm trăng thu tĩnh lặng bên hồ Ngọc Bích. Một ai đó nhận xét: Chính bằng nghệ thuật kỳ ảo, vừa thông thái vừa giản dị, vừa vũ trụ vừa ngày thường, mà thơ ông đã đạt đến tính phổ biến của nhân loại…
Huy Cận – nhà thơ buồn nhất trong các nhà thơ mới và cũng là nhà thơ với những kiệt tác thơ còn sống mãi cùng thời gian.
2/11/2019
Trần Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/

Cô đơn và nhập cuộc kiểu Dương Nghiễm Mậu

Cô đơn và nhập cuộc
kiểu Dương Nghiễm Mậu

Nói cách khác, cảm tưởng về quá khứ văn nghệ và quá khứ lịch sử mới chính là những ám ảnh sâu sắc nhất của Dương Nghiễm Mậu. Ông thấy những vấn đề của đời mình, của thế hệ mình cũng là phóng chiếu từ những vấn đề của con người trong các thời đại trước…
Một cách sống chừng mực giữa các đồng nghiệp
Với tư cách một người cả đời sống trong không khí văn nghệ Hà Nội, tôi hay nhìn sinh hoạt văn nghệ Sài Gòn trước 1975 giống như là khung cảnh chung của đời sống chính chúng tôi. Ở đó có nhóm nọ nhóm kia, có sếp sòng chỉ huy, có đám đông vừa ù lì vừa nhạy cảm, có những người cùng ý chí, cùng hướng tìm tòi sáng tạo, tất cả quen biết nhau và làm việc trong sự hiệp đồng với nhau, tuy bên trong cũng đầy những ghen ghét lẫn đố kỵ. Với cái nhìn ấy tôi thường chú ý đến nhóm Sáng Tạo và các cây bút di cư sau 1954, chú ý tới tạp chí Bách Khoa, các tạp chí Văn, hoặc sau này mấy tờ Khởi Hành, Vấn Đề…
Võ Phiến và Mai Thảo tôi nhớ đầu tiên. Ngoài ra là Vũ Khắc Khoan, Thanh Tâm Tuyền, Nhã Ca Túy Hồng… đặt bên cạnh bức tranh sơ bộ như trên thì thấy Dương Nghiễm Mậu không thuộc vào nhóm nào cụ thể. Nhà văn có lần kể với tôi người thân nhất với ông là Lý Hoàng Phong – người làm tờ tạp chí Văn Nghệ và tờ này đã đóng cửa từ 1963.
Ở chỗ riêng tư Dương Nghiễm Mậu được coi như cùng lứa với Thanh Tâm Tuyền, họ đều là những người thanh niên từ Bắc di cư. Nhưng trong những hoạt động sôi nổi của nhóm Sáng Tạo bao gồm những thảo luận nghệ thuật là gì, đánh giá lại văn học tiền chiến… người ta chỉ nhớ Thanh Tâm Tuyền, Duy Thanh, Trần Thanh Hiệp và những tên tuổi tuổi khác. Còn Dương Nghiễm Mậu thì không tham gia vào những cuộc tìm tòi ồn ào và sôi nổi đó.
Mặc dầu vậy, một trong những bài viết hiếm hoi mà Dương Nghiễm Mậu còn viết sau năm 1975 chính là một bài viết dài về nhóm Sáng Tạo.
Hôm trước tôi vừa đưa lại lời bạt rất tâm tình của Dương Nghiễm Mậu viết cho tập thơ Nhã Ca.
Ở bài đó ta thấy, tác giả của Cũng đành… chơi với mọi người nhưng không tham gia vào nhóm nào cả. Đọc văn xuôi ông, cũng có người nhận ra ở ông những dấu hiệu của avant-garde, nhưng những phát biểu có tính chất là tuyên ngôn về những tìm tòi nghề nghiệp thì rất ít khi người ta tìm thấy ở các bài báo ký tên ông. Nếu ở ông có một thứ ngôn ngữ văn xuôi mới, thì sự tìm tòi ấy đã đến với ông một cách tự nhiên.
Ngay từ 1971 trong tập Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay của Tạ Tị, tên tuổi của Dương Nghiễm Mậu cũng được đặt bên cạnh những nhân vật tiêu biểu của SG 1945 – 1975 như Trịnh Công Sơn…
Trong tập hồi ký Nguyễn Hiến Lê, nhà biên khảo này hay tìm tòi về tiểu thuyết chỉ hạ một câu, đại ý Dương Nghiễm Mậu viết sâu sắc nhưng có màu đen tối.
Chính tôi được nghe Dương Nghiễm Mậu kể lúc đầu Võ Phiến chê văn ông, đại ý nói sao ông lại viết thế. Nhưng về sau Võ Phiến khi làm NXB Thời Mới lại lấy tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu về in. Nhà văn hỏi lại tại sao như vậy thì Võ Phiến trả lời đơn giản là vì tác phẩm của cậu người ta đọc nhiều.
Trong cuốn Tổng quan về văn học miền Nam của Võ Phiến cũng đã trích ra một đoạn ngắn trong truyện ngắn Rượu, Chưa đủ của Dương Nghiễm Mậu viết từ 1963. Mai Thảo có lần nói về Dương Nghiễm Mậu thì nhắc ngay đến truyện Rượu, Chưa đủ.  Ai thích chuyện hậu trường văn học tiền chiến  hẳn biết trường hợp thiên truyện Chí Phèo của Nam Cao, khi được  gửi tới tờ báo lúc đầu nó đã bị vứt vào sọt rác. Nhưng về sau thì lại được các nhà biên tập — theo tôi nhớ là Lê Văn Trương — tìm lại và coi như họ đã khai sinh ra một tác giả. Trường hợp xảy ra với Rượu, Chưa đủ cũng na ná như trường hợp trên.
Tóm lại, khi nhìn lại cuộc đời của Dương Nghiễm Mậu, tôi thấy ông không thuộc loại làm văn nghệ theo nhóm phái và thường xuyên có những cuộc trao đổi về nghề nghiệp với bạn bè, nói theo cái chữ suồng sã của bọn tôi là tồn tại kiểu bầy đàn. Những tìm tòi về nghệ thuật của ông cũng nảy sinh một cách tự nhiên, do chỗ nội dung yêu cầu như thế thì phải có hình thức tương ứng. Ông không “vào hùa”, “kéo bè kéo cánh”, hoặc làm hàng, chạy theo mốt. Ông không quá coi trọng và lo lắng sự đánh giá của người viết đương thời, mà cái chính là lo đọc đi và viết.
Nhưng đấy mới là một khía cạnh của Dương Nghiễm Mậu.
Gặp lại mình trong người xưa
Trong dịp Dương Nghiễm Mậu qua đời, tôi được đọc trên trang Da Màu một bài viết cũ của Dương Nghiễm Mậu mang tên là Nhân nghĩ về Khái Hưng. Bài này vốn in trên bán nguyệt san Văn số 22 ra ngày 15/11/1964. Trong bài, ngoài đoạn kể về cái chết của Khái Hưng, Dương Nghiễm Mậu nói tới hai cuốn sách của Khái Hưng mà ông có cảm tình đặc biệt. Trong khi những người khác thích ở Khái Hưng những Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân (vốn sau này đã được đưa vào chương trình giảng dạy ở trường trung học của SG trước 75) thì Dương Nghiễm Mậu lại chú ý đến hai tác phẩm là Tiêu Sơn tráng sĩ và Băn khoăn. Ông viết, “cuốn trên tôi thích có lẽ một phần vì nhân vật Phạm Thái – một nhân vật vừa là chiến sĩ vừa là tu sĩ vừa là nghệ sĩ mà Khái Hưng đã làm sống lại được. Còn cuốn sau tôi cho là một tiểu thuyết rất mới của thới đó mà cho đến bây giờ nữa đã cho tôi phần nào lý do sự thất bại của trí thức mới trong giai đoạn lịch sử vừa qua.”
Từ cách miêu tả của Dương Nghiễm Mậu trong bài này, thấy toát lên cái ý Băn khoăn chính là bức tranh hoàn chỉnh về đời sống tinh thần của một lớp trí thức như ông và sau ông. Trong tác phẩm ấy, sự bế tắc là cái chia đều cho mọi thế hệ. Người tri thức sau khi tự hỏi “học để làm gì và đỗ để làm gì” thì câu trả lời là “học để chẳng làm gì ráo, đó cũng chẳng ích lợi gì cho chàng, cho tương lai của chàng”. Các nhà thầu, các nhà làm kinh tế cũng bế tắc không hiểu kiếm tiền để làm gì. Các cô gái mới lớn cũng băn khoăn không hiểu tuổi thanh xuân của mình sẽ dùng để làm việc gì. Cả xã hội sống trong một khung cảnh nhiễu loạn, không có giáo dục gia đình, không có luân lý gia đình; đám thanh niên lớn lên sống không mục đích hay với chỉ mục đích là chơi bời phóng đãng.
Qua việc đọc ra những bế tắc của các nhân vật thời Khái Hưng, Dương Nghiễm Mậu nhận thấy đó cũng là những bế tắc của thế hệ mình. Cái trách nhiệm của người tri thức mà tác giả nhận lấy và coi những người đương thời của mình cũng phải nhận lấy, cái trách nhiệm đó không có gì thực hiện và điều đó kéo dài qua mấy thế hệ.
Dương Nghiễm Mậu đã mở ra một khía cạnh mới của văn học tiền chiến và sự liên lục của nó còn kéo dài đến sau 1975.
Từ bài viết trên về Khái Hưng tôi chợt nhận ra nhà văn nổi tiếng là hay lặn lội đi tới các tiền đồn này rất hay trở lại với lịch sử và tìm thấy trong cách sống cách nghĩ của người xưa những gợi ý cho ngày hôm nay.
Tôi chợt nhớ lại một tiểu luận khác của Dương Nghiễm Mậu, bài Tản Đà – kẻ làm loạn với chính mình in ở Văn số 35 ra 1-6-65
Nguyễn Tuân viết về nghệ thuật múa kiếm của Tản Đà, kể cũng đã lạ. Nay Dương Nghiễm Mậu còn đi xa hơn, thấy ở nhà thơ mà người ta chỉ nhớ như là ông thần ngông và ông thần rượu một khía cạnh con người hiện đại. Nhớ trong một lần trả lời Thời tập 1974 khi được hỏi Không lẽ người ta chỉ say sưa có chừng đó? Rượu, thiên nhiên, người yêu ông trả lời ngay Còn có những thứ say sưa khác nữa chứ, ví dụ như làm loạn chẳng hạn…
Trường hợp sau đây thì được biết tới nhiều hơn:
Dương Nghiễm Mậu với truyện ngắn Kinh Kha con chủy thủ và đất Tần bắt trắc. Tác giả đọc trong lịch sử của đời Tần Hán xa xôi những vấn đề của nước VN thời nay. Ông chấp nhận cả chuyện phần nho khanh thư vì thật ra trên đời này có biết bao kẻ làm loạn. Cái sự chuyên chế đã đành là phải tiêu diệt, nhưng sau đó thì cái gì sẽ thay thế, tất cả đều không biết. Cuối truyện này còn một đoạn trữ tình ngoài lề, trong đó tác giả liên hệ hoàn cảnh cuộc đời về Tần Hán với tình cảnh của con người ở giữa những sự lựa chọn thời gian từ 1945 – 1954. Cái giọng bao trùm của bài viết cũng là cái giọng thấy ở nhiều tác phẩm khác của Dương Nghiễm Mậu, đó là sự bế tắc của con người không biết lựa chọn điều gì cần thiết cho mình, nhưng lại cũng kiên quyết bảo vệ sự lựa chọn ấy, không đặt quyền hướng dẫn đời mình vào tay kẻ khác. Sự chọn đường của người trí thức bao giờ cũng là hành động tự nguyện và là sản phẩm của những hiểu biết về lịch sử và thân phận con người.
Từ những suy nghĩ của Dương Nghiễm Mậu về Băn khoăn của Khái Hưng và các sáng tác vừa kể, tôi nhận ra hình ảnh một nhà văn hôm nay, không quá lo lắng về quan hệ với các đồng nghiệp đương thời, nhưng lại luôn thấy mình chia sẻ với các tác giả trong quá khứ và biết sống với những vấn đề chung của con người ở các thời khác.
Nói cách khác, cảm tưởng về quá khứ văn nghệ và quá khứ lịch sử mới chính là những ám ảnh sâu sắc nhất của Dương Nghiễm Mậu. Ông thấy những vấn đề của đời mình, của thế hệ mình cũng là phóng chiếu từ những vấn đề của con người trong các thời đại trước. Với vẻ bề ngoài xù xì và bám sát của đời sống sĩ quan và lính tráng những năm chiến tranh, thật ra thì Dương Nghiễm Mậu cũng đặt những vấn đề của xã hội. Ở ông tuyệt nhiên không có sự viết văn làm dáng, nghệ thuật vị nghệ thuật như người ta nói. Trong khi đạt tới sự thiết thực tối đa thì đồng thời ông cũng đạt tới sự trừu tượng hóa tối đa mà trường hợp tập Cũng đành là một ví dụ.
2/11/2019
Vương Trí Nhàn
Nguồn: Blog VTN
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Người đàn bà qua hai mùa tóc" và tâm thức hiện sinh trong thơ Anh Hồng

"Người đàn bà qua hai mùa tóc" và
tâm thức hiện sinh trong thơ Anh Hồng

Phải chăng tâm thức hiện sinh trong cõi thơ Anh Hồng ở tập thơ Người đàn bà qua hai mùa tóc cũng chính là một trong những phẩm tính của thơ ca còn lại với thời gian và cuộc sống…
Nhà thơ Bùi Giáng, một trong những “quái kiệt” của văn chương miền Nam trước 1975 đã xem thơ là thế giới của mộng tưởng, của nhiệm mầu, của ám ảnh vô thức và tâm linh khi ông cho rằng: “Cõi thơ là cõi bồng phiêu”. Vì vậy, người làm thơ tất nhiên phải “phiêu bồng” trong cõi mơ tưởng ấy thì mới có thể sáng tạo nên thế giới thơ cho riêng mình, nếu không chỉ là sự tái tạo ra một sản phẩm tương tự như thơ chứ không phải là thơ, điều mà hiện nay đang tràn ngập ngổn ngang trong đời sống văn học, làm cho người đọc quay lưng với thơ. Và như vậy, vô hình trung giá trị của thơ đã bị hạ thấp, biến thành một món hàng ế ẩm trong siêu thị văn học của đời sống hiện đại.
Rất may, thơ Anh Hồng không rơi vào bi kịch ấy và thật sự là một giá trị khi chị biết tạo cho mình cõi thơ riêng – một điều rất cần cho sự sáng tạo văn học nói chung và thơ ca nói riêng. Bởi, nếu không sáng tạo được cõi riêng cho mình thì nhà thơ sẽ tự đào huyệt chôn mình trong nghĩa trang thơ. Đọc Người đàn bà qua hai mùa tóc (Nxb. Hội Nhà văn, 2014) của Anh Hồng, cái cõi riêng ấy đã hiện hữu trong thơ chị như một tâm thức hiện sinh với những câu hỏi về thân phận, về hiện hữu, về bản thể, về nỗi cô đơn phận người mà không phải sống ở đời ai cũng ý thức về điều ấy. Bài thơ mở đầu như một tuyên ngôn mang tâm thức hiện sinh ám ảnh suốt tập thơ.
Từng mảnh Tôi
Từng mảnh Tôi
Tan vỡ
Chơi vơi
Tìm nơi náu mình
Trên ngọn cỏ…
Mặt đất lè tè
Ngọn cỏ thấp
Từng mảnh Tôi
Lặng lẽ…
Tìm Tôi…
(Mở)
Việc trăn trở về sự hiện hữu của bản thể trong thơ Anh Hồng không phải là điều mới lạ. Bởi đây là vấn đề nhân loại luôn khát khao kiếm tìm và lý giải từ nhiều điểm nhìn triết học khác nhau. Và trong thơ vấn đề bản thể luận cũng được  nhiều thi nhân đề cập đến như một tâm thức hiện sinh. Nhà thơ Chế Lan Viên, trong Điêu tàn đã từng tự vấn: “Ai bảo giùm: Ta có, có ta không?”… Nhưng Anh Hồng lại tìm cho mình một cách thể hiện riêng về tâm thức hiện sinh. Nhà thơ không những đi tìm cái “Tôi hiện hữu” mà còn đi tìm từng “mảnh vỡ” của cái “Tôi” ấy. Và những mảnh vỡ của cái “Tôi” này đã hóa thân vào những phận người chảy dài trong dòng sông cuộc đời mà thi nhân trải nghiệm được thể hiện khá sâu sắc ở các bài thơ: Khúc ca về những dấu chân; Đêm Mường Bi, lắng nghe; Tương phản; Giọt nước mắt từ kinh Vu Lan; Ám ảnh; Đêm Lào Cai; Chiều đông, đồng Phú Thọ; Mảnh vỡ… mà khi đọc lên ta không khỏi thấy đắng chát cõi lòng.
… Muôn dấu chân đi, về…
Dấu chân in hoa lên đá
Dấu chân lấp lóa biển khơi
Dấu chân mang tiểu sử một kiếp người
Dấu chân lung linh hào quang huyền thoại…
Nội ơi!
Dấu chân nào của nội
Trong đêm biển cả tan hoang…
Chỉ có dấu chân đi không thấy dấu chân về?
(Khúc ca về những dấu chân)
Đó là niềm khắc khoải khôn nguôi về thân phận con người với những nỗi nhọc nhằn như một định mệnh có từ thuở hồng hoang của nhân loại được nhà thơ cảm nhận một cách tinh tế với sự thấu thị của một tâm thức hiện sinh.
Đêm Mường Bi
Nghe văng vẳng nỗi buồn lạc về từ miền cổ tích
Hoang hoải một cánh rừng
In dấu lên cái nhìn của Mẹ
Hằn vết trong khóe mắt của Cha…
Cuộc sinh nở chưa tròn…
Ôi! Những kiếp người dằng dặc mưu sinh…
(Đêm Mường Bi, lắng nghe)
Đó là hình ảnh những người chồng mất tích giữa biển khơi để lại trên cõi đời khốn khổ này những người vợ, những đứa con mà cuộc đời cũng tròng trành trong biển khổ của cuộc mưu sinh mặn đắng:
Ám ảnh
Một trưa nắng lửa
Hậu Lộc xứ Thanh
Những người chồng mãi mãi chìm sâu dưới đáy đại dương sau cuồng phong của biển
Những người vợ trên đầu trắng khăn tang
Quỳ gối trần trên lưng cát bỏng
Nạo vét mấy con ngao
Lũ trẻ con tóc cháy khét, mũi dãi chảy lòng thòng
Ráo cổ họng rao bán mấy bánh đa, vài gói bim bim kẹo lạc
Đôi mắt chúng đong đầy màu mưa nắng
Mây trời âm u
Ánh nhìn trẻ con già như biển cả
Trước những đồng xu lẻ leng keng…
(Ám ảnh)
Đó còn là hình ảnh những đứa trẻ H’Mông khốn khổ trên đỉnh Mãpìlèng đang vật lộn với thiên nhiên đầy khắc nghiệt của núi rừng để tồn tại mà dẫu có giàu tưởng tượng đến mấy chúng ta cũng không thể nghĩ rằng điều đó vẫn đang hiện hữu trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hôm nay!?
Chúng cởi trần giữa hai đợt lạnh tái tê buốt giá
Chân trần chạy trên đá tai mèo sắc nhọn
máu tươi rớt dưới chân ngô.
hay hình ảnh những người đàn ông Phù Lá
Hoàng hôn phủ đầy ánh mắt
Héo hắt nụ cười…
Cả đời không bao giờ bước chân rời khỏi hẻm núi  cheo leo…
(Ám ảnh)
Những mảnh đời bất hạnh ấy luôn là niềm khắc khoải, ám ảnh tâm thức nhà thơ trong từng sát na của hiện hữu. Đó cũng là nỗi đau bất tận luôn dằng xé, cào cấu tâm hồn người viết, nỗi đau như giông bão triền miên tràn về mà khi đọc lên, ta không khỏi se sắt cõi lòng:
Giông tố quất vào hồn tôi mỗi chiều, mỗi đêm mỗi sáng,
Mỗi sáng, mỗi chiều, mỗi tối, mỗi đêm đêm…
(Ám ảnh)
Nhưng có lẽ cái ám ảnh thường trực nhất, bao trùm nhất của tâm thức hiện sinh tạo thành cõi riêng trong thơ Anh Hồng đó chính là thân phận của Người đàn bà với những cơ cực, những khổ đau, những vui buồn, những đam mê và khát vọng, điều mà Nguyễn Du đã khái quát trong Truyện Kiều nổi tiếng:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.
Và chính điều này đã góp phần lý giải vì sao Anh Hồng lại lấy tựa đề cho tập thơ của mình là Người đàn bà qua hai mùa tóc.
Tôi rất ấn tượng với tên của tập thơ. Theo cảm thức thông thường để đếm bước đi của thời gian, người ta nói đến bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông chứ có bao giờ dùng “mùa tóc” để chỉ bước đi của thời gian!? Thế mà ở đây, bằng sự nghiệm sinh và sự cảm nhận tinh tế của Người đàn bà, Anh Hồng đã lạ hóa khái niệm về thời gian qua hình ảnh thơ đầy tính độc sáng: “Người đàn bà qua hai mùa tóc”. Mùa tóc ở đây không chỉ đơn thuần mang ý niệm thời gian mà còn chứa trong đó biết bao vinh quang và cay đắng, hạnh phúc và khổ đau của số phận con người…
Người đàn bà qua hai mùa tóc
Đôi mắt nâu mang theo ánh nhìn của biển chiều đông
Giông bão lật tung những giấc mơ chở đầy màu tro của đất
Với tay, không kịp túm lại chút mong manh còn lại
Mặt trời lẫn vào đêm…
Người đàn bà tự dắt mình bước qua định mệnh
Từng nhích nhích hao mòn
Từng ngón gầy xanh xao mỗi ngày bừng giấc mơ lạ lùng mê hoặc…
Ngỡ chạm búp non…
(Người đàn bà – những giấc mơ)
Và đây là cảm hứng chủ đạo, bao trùm tâm cảm thi nhân, quán chiếu trong cả tập thơ làm nên một cõi riêng trong thơ Anh Hồng như một ám ảnh của tâm thức hiện sinh. Vì vậy, trong tập thơ có nhiều bài nói về cuộc sống của Người đàn bà với những cảnh đời, những số phận, những vui buồn, những đam mê và khát vọng khác nhau… Đó là các bài thơ Tương phản; Thèm; Lời muốn nói; Những dòng tin để lại; Người đàn bà – những giấc mơ; Người đàn bà trên cao nguyên đá; Người đàn bà với trò chơi tiếp sức; Tình yêu; Nguồn sống; Giấc ngủ của em anh cất giấu nơi  đâu?; Người đàn bà ngồi bên ô của sổ; Ghép chữ… Và mỗi bài thơ như có một mảnh vỡ của cái “Tôi” thi nhân tan hòa trong đó. Vì vậy, cái nhìn của Anh Hồng về số phận những Người đàn bà trong thơ là cái nhìn sẻ chia, đồng cảm, đồng điệu trước những bất hạnh mà họ gánh chịu… mà khi đọc lên lòng ta không khỏi quặn thắt một nỗi niềm trắc ẩn.
Nhẫn nại bước chân đi, về
Người đàn bà xóm Bến
Gò lưng kéo những chuyến hàng thuê
Người đàn bà – chiếc áo không màu – chiếc xe cũ nát.
Chìm lấp giữa những âm thanh xanh đỏ phố phường
Đôi vai mỏng run run làn áo mỏng
Bóng xiêu xiêu đổ về phía mặt trời
(Tương phản)
Người đọc bắt gặp trong thơ Anh Hồng hình ảnh Người đàn bà H’Mông trên cao nguyên đá đang lặng lẽ âm thầm oằn lưng gánh “lũ ống, mưa rừng” và “ nắng hạ sém da, rét đông tê tái” với bao hiểm nguy để gieo mầm sự sống. Chính họ là những người đã truyền lửa cho cuộc đời nối tiếp cuộc đời ở một vùng núi cao, xa mờ, hoang sơ với thiên nhiên nghiệt ngã. Nếu không có một sự thấu cảm thì nhà thơ không thể nào viết được những câu thơ đầy ám gợi…
Người đàn bà H Mông lặng lẽ âm thầm
Đếm từng hạt đất màu treo trên từng kẻ đá
Người đàn bà H Mông
Nhẫn nại…
âm thầm…
nâng niu từng hạt đất…
Chắt chiu mầm sống
lớn lên…
(Người đàn bà trên cao nguyên đá)
Hay hình ảnh Người đàn bà đang đánh đu cuộc đời với những đỏ đen của “trò chơi số phận” mà Anh Hồng đã khái quát thật tinh tế và đầy chất nhân văn qua “trò chơi tiếp sức” trên truyền hình mà nếu không có tấm lòng cảm thương trước những được mất của phận người thì không thể nào nhận ra điều bi kịch ấy.
Người đàn bà đôi vai mỏng như lá lúa
Đánh cuộc
Thảng thốt
Với từng nhấc tay
Trắng đỏ trắng đỏ…
Ba đứa con thơ bệnh tật giày vò
Đang chờ mẹ
Với trò chơi Tiếp sức
Để chơi tiếp
Trò chơi số phận
Nghiệt ngã… mông lung
(Người đàn bà với trò chơi Tiếp sức)
Tuy nhiên cái tâm thức hiện sinh làm nên cõi riêng trong thơ Anh Hồng không chỉ dừng lại ở những nỗi đau với những vất vả lo toan từ cuộc sống thường ngày của Người đàn bà mà ẩn sâu trong đó còn có nỗi cô đơn thân phận với những đam mê cháy bỏng trong tình yêu mà chúng ta thường bắt gặp trong thơ Nữ Việt hiện đại với những gương mặt tiêu biểu như: Vy Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư, Cát Du, Đoàn Ngọc Thu, Ngô Thị Hạnh… Và cũng như trong thơ của các nhà thơ Nữ Việt hiện đại dấu ấn của thuyết “Nữ quyền luận” cũng hiện rõ trong thơ Anh Hồng. Phải chăng, chính cảm thức “Nữ quyền” này đã giúp Anh Hồng nói riêng và các nhà thơ Nữ hiện đại Việt Nam nói chung có thể vượt qua những rào cản đạo đức khắc nghiệt của một thời để nói lên những “khát vọng thành thực” (từ dùng của Hoài Thanh- TM) từ bản thể của mình.
Nhà thơ Vi Thùy Linh đã từng xác quyết trong thơ mình cái khát vọng sống và yêu của người phụ nữ thật mãnh liệt:
Khu vườn ắng lại chỉ còn anh và em
Khởi đầu phận sự thiêng liêng
Những cặp chân khóa chặt nhau khước từ chân lý
(Anh sẽ ru em ngủ – Đồng tử)
Đây cũng chính là những biểu hiện mạnh mẽ nhất tâm thức hiện sinh trong cõi thơ Anh Hồng với bao khát vọng kiếm tìm vốn là một yếu tính của tình yêu.
Tìm đâu, tìm đâu
Không – Cô – Đơn?
Cô đơn  nhảy múa điên cuồng
Muốn thiêu ta thành tro bụi
Chỉ muốn bay lên
Bay lên… thăm thẳm… bay lên…
(Trạng thái)
Và chính trong trạng thái cô đơn đến rợn ngợp này đã làm bùng cháy những khát vọng yêu đương đầy nhục cảm nhưng rất nhân bản của con người. Vì vậy, khát vọng ái ân ấy không hề tầm thường mà chứa đựng một giá trị nhân văn sâu sắc. Nó như một thông điệp tình yêu vừa thực lại vừa mộng.
Thèm một cái ôm ghì siết của anh
Để phiêu diêu vào cõi thiên đường
Của Eva và A Đam
Thèm anh ở trong em thăm thẳm
Thiêu đốt tận cùng bằng ngọn lửa
Ăn cắp của thần Dớt trên đỉnh Olympus
Nếu một ngày…
Không còn thèm gì nữa
Có nên quẳng đời vào Recycle Bin ???
(Thèm)
Vâng! Con người có rất nhiều thèm khát. Nhưng vấn đề là ta có dám nói ra những thèm khát của mình một cách thành thật hay không, hay cứ che đậy những thèm khát ấy dưới những mặt nạ đạo đức để rồi thực hiện nó trong bóng tối!? Thơ Anh Hồng đã nói lên rất thành thực nỗi khát khao của Người đàn bà trong cuộc sống. Bởi hơn ai hết Anh Hồng đã ý thức rất sâu sắc về sự mỏng manh và hư hao của kiếp người trong cuộc đời mà sự hư hao ấy ở Người đàn bà lại càng vô cùng cay nghiệt và đớn đau.
… Nửa yêu thương dành lại cho mình
Là chiếc bóng chập chờn trong hoang hoải
Lặng  lẽ quỳ giữa hai mùa tóc
Em bối rối … giật mình
Tro hoa hồng lả tả trắng không gian…
(Dành lại cho mình)
Triết gia Heraclite đã xác quyết: “không ai có thể tắm hai lần trên cùng dòng sông”. Và cuộc đời mỗi người không thể sống hai lần. Vì vậy, khi con người ý thức về sự hiện hữu của mình trên cõi đời thì sẽ trân quí hơn cuộc sống và khi đó mọi cái đi qua đời mình đều trở thành những giá trị. Điều này ta cũng bắt gặp trong thơ Anh Hồng khi nhà thơ ý thức rằng sự hiện hữu của thân phận cũng vô cùng mong manh và hư ảo và những gì đi qua trong cuộc đời rồi cũng hư hao theo năm tháng  của kiếp phù sinh.
Qua đi, qua đi những khoảnh khắc mong manh như lá
Qua đi, qua đi những ánh chớp vui, buồn…
Để một ngày chợt ngắm vầng trăng khuyết
Biết hao gầy thao thức giấc chiêm bao…
Để một ngày lặng nghe lòng buốt xót
Hiểu cát cũng buồn nếu không biển mênh mông…
(Để một ngày)
Chính vì ý thức qui luật của hiện hữu trong cuộc đời hư ảo với một tâm thức hiện sinh mạnh mẽ nên khát vọng của người đàn bà trong thơ Anh Hồng nhiều khi cũng bùng nổ những cảm xúc mãnh liệt mà nhà thơ gọi đó là những “nguồn sống”. Bởi lẽ, nếu không có những đam mê rất Người này liệu cuộc sống sẽ còn có ý nghĩa gì? Và lúc đó con người sẽ tự cật vấn là mình đang tồn tại hay đang sống!? Bởi nói như Phạm Công Thiện:“Thơ làm tôi sống lại – Thơ giải thoát tôi ra khỏi vòng tù hãm nhọc nhằn của cuộc sống. Thơ đặt tôi trước cuộc sống.”(1)
Rất muốn
Mỗi khi trong em cảm giác sắp nổ tung thành muôn mảnh
Được gục đầu vào anh chỉ thoáng chút thôi…
Nhắm mắt
Hít mùi nồng nàn quen thuộc
Ôm bờ vai anh
Và thấy mình phiêu diêu, phiêu diêu…
Bờ vai anh
Nồng nàn, hăng hắc
Rất – đàn – ông
Đã mang đến cho em
Nguồn sống
(Nguồn sống)
Và khát vọng tình yêu đó không chỉ là “nguồn sống” mà còn là nội lực làm nên sức mạnh giúp Người đàn bà vượt lên những muộn phiền, những đớn đau của thân phận để được sống đúng nghĩa với hai tiếng Con Người:
Siết chặt thân thể nhau trong vòng tay êm ái
Đêm choàng áo dịu dàng
Anh hút chặt em vào miền quên lãng
Gột rửa ưu phiền
Chỉ còn lại
Tiếng thì thầm mộng mị như nhung
Em!
Anh!
Em!!!!!!
(Tình yêu)
Như vậy, tâm thức hiện sinh trong thơ Anh Hồng không chỉ thể hiện những vật vã, đau đớn của con người trong cuộc mưu sinh đầy khó khăn với bao thân phận nổi chìm mà còn bộc lộ rõ khát vọng cháy bỏng, đê mê trong tình yêu, chạm vào những điều sâu kín nhất trong bản thể con người. Đây chính là những giá trị nhân bản là yếu tính làm nên tâm thức hiện sinh trong tập thơ Người đàn bà qua hai mùa tóc của Anh Hồng. Bởi theo sự xác quyết của Cyprian Norwid: “Thế giới này rốt cuộc chỉ còn lại hai thứ, chỉ hai thứ thôi: Thi ca và lòng nhân ái… không còn gì khác”.
Phải chăng tâm thức hiện sinh trong cõi thơ Anh Hồng ở tập thơ Người đàn bà qua hai mùa tóc cũng chính là một trong những phẩm tính của thơ ca còn lại với thời gian và cuộc sống…
Chú thích:
(1). Phạm Công Thiện Ý thức mới trong văn nghệ và triết học. Nxb. An Tiêm SG. 1970, tr. 217.
3/11/2019
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Sáng tác của Ngọc Giao từ góc nhìn phê bình sinh thái

Sáng tác của Ngọc Giao
từ góc nhìn phê bình sinh thái

Văn học sinh thái được hình thành dựa trên cơ sở những biến đổi theo chiều hướng xấu đi của môi trường sinh thái. Các nguy cơ sinh thái của con người không chỉ là thảm họa thiên nhiên, ô nhiễm môi trường nước, không khí, tiếng ồn, thức ăn…; mà cả những điều kiện bất lợi cho đời sống tinh thần. Khảo cứu văn học Việt Nam hiện đại, chúng tôi nhận thấy, ngay từ đầu thế kỷ XX, những tiếng kêu cứu cho con người đã khẩn thiết cất lên xuất phát từ những nhìn nhận sâu sắc về bản chất con người và các nguy cơ sinh thái đe dọa sự sống của họ. Ngọc Giao là một trong số đó.
Trong bối cảnh các thảm họa môi trường diễn ra ngày một dày đặc hơn, sự sống tự nhiên bị tàn phá dẫn tới nhiều biến đối khí hậu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống của con người như hiện nay, việc “phát động” một cuộc “ra quân” nghiên cứu văn học từ lý thuyết sinh thái là một sự “phản ứng” kịp thời và có ý nghĩa thiết thực. Ở lĩnh vực sáng tác, vấn đề sinh thái không phải đến bây giờ mới được đặt ra. Từ trong cảm thức, nhiều nhà văn Việt Nam, trong những bối cảnh sinh thái nhất định, đã ít nhiều lên tiếng về điều này. Do vậy, việc dùng quan điểm của phê bình sinh thái để nghiên cứu một số tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam cũng là có cơ sở. Trong phạm vi quan sát của mình, chúng tôi chọn nói về Ngọc Giao – nhà văn có một hành trình sáng tác bền bỉ, khỏe khoắn, trải dài gần hết thế kỷ XX với nhiều băn khoăn về môi trường sinh thái của con người.
Trước hết, phải nói ngay rằng, những sáng tác của Ngọc Giao mà chúng tôi nói đến ở đây phần lớn xuất hiện từ khi nhân loại còn chưa bước vào thời đại văn học sinh thái. Bởi vậy, sẽ thật khiên cưỡng nếu vận dụng lý thuyết mới mẻ này vào nghiên cứu các tác phẩm của ông. Trên tinh thần của phê bình sinh thái, chúng tôi chỉ xin nêu một vài luận điểm xung quanh vấn đề sinh thái và lấy đó làm định hướng để nghiên cứu trường hợp này.
Môi trường sinh thái được hiểu là môi trường mà ở đó các sinh vật được sống như là chính nó. Giản dị nhất để có thể hình dung, là cách nói của nhà thơ Tố Hữu: “Con ong làm mật, yêu hoa/ Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời” (Tiếng ru). Từ cách hiểu này, có thể thấy, trong vũ trụ, con người là sinh vật phức tạp nhất. Ngoài đời sống tự nhiên, con người còn có phần đời sống xã hội, đời sống tâm linh vô cùng phức tạp, phong phú. Bởi vậy, môi trường sinh thái để con người sống cho ra con người không chỉ bao gồm những điều kiện tự nhiên, mà còn cả các điều kiện xã hội, văn hóa, tinh thần.
Văn học sinh thái được hình thành dựa trên cơ sở những biến đổi theo chiều hướng xấu đi của môi trường sinh thái. Các nguy cơ sinh thái của con người không chỉ là thảm họa thiên nhiên, ô nhiễm môi trường nước, không khí, tiếng ồn, thức ăn…; mà cả những điều kiện bất lợi cho đời sống tinh thần. Từ hình dung này, có thể thấy, có vô vàn nguy cơ sinh thái tinh thần khác trong sự sống của con người, chẳng hạn: sự thay đổi môi trường sống, chiến tranh, ly tán, mất người thân, bị hắt hủi/ngược đãi, bị đọa đày, bị xúc phạm nhân phẩm, bị ép buộc, cấm đoán… Tuy vậy, lâu nay, những nguy cơ về sinh thái tự nhiên vẫn được quan tâm hơn, được xem như là yếu tố quan trọng nhất, có những ảnh hưởng mang tính chất quyết định đối với sự sống của con người. Có lẽ vì thế mà thời đại văn học sinh thái của nhân loại mãi đến nửa sau thế kỷ XX mới chính thức hình thành [1]. Nhưng rõ ràng, từ nhiều thế kỷ trước, nhiều nhà tư tưởng, nhà văn đã thức tỉnh điều này. Khảo cứu văn học Việt Nam hiện đại, chúng tôi nhận thấy, ngay từ đầu thế kỷ XX, những tiếng kêu cứu cho con người đã khẩn thiết cất lên xuất phát từ những nhìn nhận sâu sắc về bản chất con người và các nguy cơ sinh thái đe dọa sự sống của họ. Ngọc Giao là một trong số đó.
Ngọc Giao sinh năm 1911, mất năm 1997, thuộc trong số những nhà văn hiện đại được Vũ Ngọc Phan giới thiệu trong công trình nổi tiếng xuất bản lần đầu năm 1944: Nhà văn hiện đại. Khởi nghiệp từ chức thư ký tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ bảy, Ngọc Giao được biết đến đầu tiên là nhà văn của những truyện ngắn đậm chất trữ tình. Hơn ba trăm truyện ngắn của Ngọc Giao, phần lớn ra đời trước cách mạng tháng Tám, đã được in trong ba tập truyện nổi tiếng là Một đêm vui (1937), Phấn hương (1939) và Cô gái làng Sơn Hạ (1942). Truyện ngắn của Ngọc Giao thường được cấu trúc như là những tiếng nói của cái tôi trữ tình giàu lòng trắc ẩn. Ông tỏ ra không quan tâm đến cốt truyện. Bởi vậy, cốt truyện thường lỏng lẻo, mờ nhạt, khó xâu chuỗi. Dấu ấn tình cảm, cảm xúc và trạng thái tinh thần của người kể chuyện thường đậm hơn, chiếm phần nhiều hơn so với các biến cố, sự kiện. Quan tâm đến lớp người dưới đáy xã hội, những người không may mắn/chịu nhiều thiệt thòi, bị ruồng rẫy/ bỏ rơi, Ngọc Giao đã viết về họ bằng tất cả tình cảm của một nhà văn hiểu sâu sắc thế nào là giá trị con người. Do vậy, truyện của Ngọc Giao có thể không ngay lập tức tạo ra ở người đọc những trạng thái cảm xúc dữ dội, bất ngờ, nhưng mỗi câu chuyện đều để lại một dư vị sâu lắng, da diết. Các tiểu thuyết của Ngọc Giao như Nhà quê (1944), Quán gió (1948), Đất (1950), Xã Bèo (?), Cầu sương (1953), Xóm Rá (1957)… đã cho thấy sự đa dạng về đề tài. Không chỉ thể hiện nỗ lực của nhà văn trong việc chiếm lĩnh một thể loại mới và khó là tiểu thuyết, các sáng tác này của Ngọc Giao còn thể hiện những góc nhìn rất mới về hiện thực và con người.
Qua sáng tác của Ngọc Giao, nhất là hai tiểu thuyết Nhà quê và Đất, dù chưa thấy ông nhắc đến hai chữ “sinh thái”, người đọc vẫn nhận thấy một cảm thức sinh thái hiện ra thật rõ. Với tinh thần đọc lại người xưa để tìm ra những ý nghĩa sinh thái từng bị che lấp, từ góc độ phê bình sinh thái, chúng tôi nhận thấy mấy luận điểm cơ bản trong sáng tác của Ngọc Giao như sau:
1. Không gian thôn quê là một không gian đáng sống
Nhà quê là tiểu thuyết đầu tay, thể hiện sự nỗ lực vượt lên chính mình sau nhiều truyện ngắn đã được người đọc ít nhiều biết đến của Ngọc Giao. Tác phẩm được viết theo cách không trực tiếp tác động vào thị hiếu thiên về giải trí của phần đông độc giả là thị dân đầu thế kỷ XX. Nó là cuốn tiểu thuyết chọn người đọc. Vào thời điểm ấy, phải là người đọc có năng lực thẩm mỹ và tình yêu văn chương nhất định, hay nói như cách của Thạch Lam, phải là “hạng độc giả thích suy nghĩ, thích tìm trong sách những trạng thái tâm lí giống tâm hồn mình”, mới tìm đọc tác phẩm này. Điều dễ nhận thấy trong Nhà quê là Ngọc Giao đã miêu tả thiên nhiên như một phần rất quan trọng trong cuộc sống của con người. Thái – nhân vật chính của tiểu thuyết – rất lâu rồi mới trở về quê, định dứt khoát bán nốt phần đất đai còn lại của gia đình rồi sẽ ra ngay Hà Nội. Nhưng không gian thôn quê, nhất là ngôi nhà nhiều cảnh vật quen thuộc, đã khơi dậy trong lòng Thái những kỷ niệm cũ gắn liền với tuổi thơ và những người yêu dấu, đặc biệt là người mẹ.
Đầu tiên là “Chiếc cổng gạch rêu phong cũ kỹ anh vừa qua đã sụt nửa mái trông rõ cả một mảnh trời và một bên tường nứt vỡ chờ ụp hẳn. Thái thấy nao nao trong tâm trạng của kẻ đã lâu ngày xa bỏ đất cát cha ông để rồi có một buổi trở về” [2]. Sự hoang tàn của “căn nhà xưa yêu dấu” tiếp tục lên tiếng khi Thái được ông già Bút – người quản gia già của gia đình – đưa vào buồng ngủ: “Mùi ẩm hôi hám của chân tường, gậm phản, bàn ghế cũ nát xông lên khó chịu. Ngả lưng xuống lá chiếu do ông Bút mới thay, Thái hoang mang nhớ xưa kia bà mẹ đã sinh anh ở gian phòng này, và ngày ốm, bà đã nằm, đã chết ở đây” [3]. Cảnh ấy nhắc Thái về hơi ấm của người, về một bàn tay chăm sóc khi còn chưa quá muộn. Cùng với đó, bao nhiêu kỷ niệm gắn với những người thân yêu của gia đình đã lần lượt hiện ra. Là chiếc nồi đất chứa rau của mẹ khi sinh Thái đã tình cờ bị ông Bút cuốc phải. Lời nhắc nhở của người quản gia khiến Thái bùi ngùi, khổ sở: “Anh nhặt những mảnh nồi đất vụn cầm lên mâm mê và ngửi. Mùi đất, mùi đất thơm. Thái tưởng như thịt máu cha mẹ, thịt máu mình, lại lẫn vào đó cả một thứ cỏ gì quý hiếm” [4]. Là chiếc túi gấm đựng quân cờ của cha mà có lần hai mẹ con từ làng lên huyện, đi bộ mất nửa ngày trời chỉ có mỗi việc đưa ông thân chiếc túi ấy thôi. Là chiếc gối xứ tàu xưa kia cha Thái đã đặt mái tóc sương ngày lui về…
Thiên nhiên làng quê và cách sinh hoạt của người dân quê cũng đem đến cho Thái nhiều cảm giác thật dễ chịu. Khi là làn gió mát ở ao sau lùa vào song cửa, thoảng mùi hoa chanh. Khi là mùi hương đất khiến Thái có cảm tưởng hơi đất thơm chuyển vận mạch máu anh mạnh hơn. Khi là cây sung già “thân đã khô quặn lại, nhưng quả lớp này tiếp theo lớp khác vẫn còn xanh mọng và lớp lá dầy tươi tốt đang reo rào rào trên đầu Thái” [5]. Khi là chậu nước mưa trong vắt, mát rượi làm dịu vầng trán nóng. Rồi chiếc lược chải tóc bằng gỗ của Dậu, bữa cơm gạo đỏ với canh mướp nấu cua, sung muối, cháo khoai, bún đậu… Tất cả đều tạo nên ở Thái những cảm xúc mới mẻ, khác hoàn toàn với bát cơm gạo tám trắng như bông, những món thịt xào hạnh nhân, gà rán, canh nấm Chapa, bóng thủ, giò lụa; những đôi đũa bịt bạc, bát mẫu Giang Tây bày trên chiếc mâm đồng đánh bóng… của vợ Thái.
Nhưng điều làm cho Thái thực sự cảm động là sự nâng niu, trân quý, gìn giữ của ông Bút đối với những kỷ vật của gia đình: “Bức hoành phi nền gấm, những đôi câu đối vàng son nước sơn tuy đã cũ, nhưng nét chữ do ông thân Thái viết vẫn còn lưu giữ cái tài và cái tình của một ông chủ khoa lỗi lạc. Chiếc túi gấm đựng quân cờ của ông thân anh do tay bà mẹ anh khâu, ông Bút vẫn còn kính cẩn treo bên cái quang xách làm bằng trúc” [6]. Ngay cả chiếc mâm vuông chân quỳ sơn non và chiếc lồng bàn thép cũ do mẹ Thái sắm ngày xưa vẫn được ông Bút giữ gìn, chưa hề hư hỏng.
Tất cả những điều này đã tạo nên một cảnh giới khác hoàn toàn với môi trường Thái vẫn sống lâu nay. Nó khiến Thái đi đến một quyết định gây bất ngờ cho ông Bút và cả vợ Thái là ở lại nhà: “Không những sửa chữa lại nhà cửa, tôi còn chung sức với ông bón xới những miếng đất còn bỏ không kia để trồng các thứ rau” [7]. Bằng quyết định này, Thái đã tự điều chỉnh lại vị thế của bản thân. Nước da với những đường gân xanh nổi rõ dần chuyển sang màu dám nắng khỏe khoắn. Trong mắt ông Bút, Thái không còn là một cậu chủ bội bạc và vô dụng, “chỉ về để phá hoại mảnh đất này”, mà trở thành người kế thừa và tiếp tục tạo dựng gia tài cha mẹ để lại. Vợ Thái và ba đứa con trai ở thành phố cũng không còn giữ vị trí trung tâm của gia đình như trước đây, mà chỉ sau ít lâu đã phải chủ động về quê thăm Thái. Trong cuộc tìm lại chính mình của Thái, sinh thái thôn quê giữ vai trò quyết định.
Cũng ở môi trường nhà quê, Thái có điều kiện để nhìn nhận một cách bình đẳng về mọi người xung quanh. Thái thấy giữa vợ mình và những người quê như ông Bút, cô Dậu, có nhiều điểm khác biệt. Ông Bút sống ở nhà quê, hiền lành đến nỗi “với ai, ông cũng nhịn. Nhịn từ con chó đến đứa trẻ trong xóm, ngoài làng”. Thái thường thấy ông điềm đạm “dạ” khẽ hay “nín lặng” ngay cả khi vợ Thái đay nghiến những điều không đáng. Ông yêu đất đai, ruộng vườn bằng một tình yêu máu thịt. Ông đã đổ ra biết bao nhiêu công sức để từ đất, sự sống được sinh sôi: “Những ngọn cau sai buồng, những cây bưởi, cây cam trĩu quả… cả một khu trại lá xanh reo sự sống. Chính ông đã gây sự sống cho cây cối, chính ông đã gây màu cho đất cát. Chính ông từ ba mươi nhăm năm nay đã trần lực ra khai nhát cuốc đầu tiên, biến một khu đất cỏ đầy ra một mảnh đất phì nhiêu, cây cối tốt tươi như ngày nay” [8]. Dậu – con gái ông Bút – vừa hồn nhiên, tươi trẻ, như cái cây tràn đầy nhựa sống; vừa ý tứ, tế nhị. Tuy chênh lệch về tuổi tác, trình độ, địa vị, nhưng giữa Thái và Dậu có sự đồng điệu trong tâm hồn, cùng hướng đến và trân trọng những giá trị đích thực của đời sống, những điều chỉ có thể hiểu và cảm nhận bằng tâm hồn trong sáng, tình nghĩa, vượt lên trên những giá trị vật chất tầm thường. Trong khi đó, Nghĩa – vợ Thái – luôn sẵn lời mắng mỏ, miệt thị, khinh khi. Đức thực thà, nhẫn nhịn, trung thành của ông Bút, Nghĩa không biết đến. Trong mắt Nghĩa, Dậu chỉ là một đứa đầy tớ, hay con của một kẻ đày tớ mà thôi. Đối với Nghĩa, việc hưởng thụ những vật chất đủ đầy và sang trọng là lạc thú lớn nhất của cuộc đời. Thái biết rõ căn nguyên của nó: “Người đàn bà ấy xuất thân ở một gia đình cổ, cha ông khởi nghiệp bằng hai bàn tay trắng trong nghề buôn bán. Cô gái, bé bắt đầu lẫy, bò, rồi ngồi, rồi đi trên đống bạc; nhớn, đi học qua quít vài ba năm cho đến hăm hai tuổi lấy chồng, cô gái con buôn suốt ngày chỉ nghe đến chuyện thêm cân bớt lạng, thề gian hứa dối; suốt tháng chỉ nhìn những cái hạng người, hạng vật thuộc về sự lờ lãi, thiệt hơn, thì làm gì còn có tình cảm tế nhị, làm gì còn có lòng nhân hậu, nhân ái nữa.” [9]. Với “người đàn bà của số kiếp” ấy, cuộc sống của Thái là một chuỗi những tháng ngày u tối, quằn quại, cách biệt… Vậy nên, việc quyết định ở lại nhà, ngoài mục đích giữ gìn di sản cha mẹ để lại, Thái còn muốn được trở về sống là chính mình, trong cái bầu khí quyển mà Thái đã từng sống (một gia đình mà ông bố làm quan nhưng nhà vẫn túng nghèo, bà mẹ vợ quan mà không bao giờ nghĩ đến sự hưởng thụ cuộc đời trưởng giả, không hề sống một ngày ở huyện với chồng), để không phải “hằn học sống, điên cuồng sống” trong sự bất công, ích kỷ và thói trưởng giả kiêu bạc. Cuối cùng, chính trong cảnh giới làng quê, sau khi đã cảm nhận thật sâu những vẻ đẹp nguyên sơ, trong trẻo cùng những uẩn ức, nỗi u buồn của nó, Thái với tư cách một trí thức, đã cân bằng được mối quan hệ giữa mình với thế giới, đã tìm thấy được sức mạnh tư tưởng của mình: “Thái nghĩ đến một quyển sách, ước ao có ngày viết được. Cuốn sách sẽ không là váng nước, bọt mưa lâu nay Thái thấy rất nhiều ở các thư quán. Cuốn sách phải là xương máu những cuộc đời” [10].
Tương tự như gia cảnh hiện tại của Thái, Vĩnh – bạn thân Thái, có một “gia đình lộng lẫy” ở Hà Nội với một “ông bố chỉ khoái ngồi ngắm đôn Tàu, chóe cổ; mẹ thì chỉ thích xếp bằng tròn như đụn rạ trên sập gụ khảm để cho vay và khoe bằng cấp của anh con trai nhỏ, cơ nghiệp của anh con trai lớn; còn người chị thì tự nhiên rẫy chồng chê là đào mỏ để bây giờ về ngự xe nhà giúp bà mẹ đi thúc nợ, ngồi vắt vẻo ở sa lông để phê bình quần áo của lũ giai gái lượn qua trước cửa.” [11]. Nhưng cuộc sống đó không hề làm cho Vĩnh thấy hạnh phúc, trái lại, nhiều khi vì nó mà Vĩnh phát xấu hổ và phải trốn chạy. Trong mắt Vĩnh, cuộc đời Diễm – người bạn nghèo khổ về vật chất mà giàu có về tư tưởng, tâm hồn – mới là cuộc đời đáng sống: “Thằng Diễm như ốc bể trôi dạt trên bãi cát, bé nhỏ thế thôi, mà trong lòng nó chứa đựng cả sóng gió của biển”; “Nó mới đáng là một con người đúng nghĩa. Cơm rau áo vải, học lực cao, kiến thức rộng, từng trải lại nhiều. Nó sống như cây thông. Mình là lau, là sậy!” [12].
Khác với Thái và Vĩnh, cha Thái ngay từ khi còn ở chốn quan trường, đã nhận thấy nó chẳng có gì vui cả, “chẳng ra làm sao cả”. Gặp vợ con từ làng lên huyện thăm chồng, ông chỉ hỏi han và dặn dò: “Cái gốc mai bên tường hoa, bà nhớ dặn ông Bút bón tưới luôn mới được. Cái bụi trúc ao sau nữa, trận bão vừa rồi có bị hại không? Bụi trúc Nga my hiếm lắm đấy, tôi chỉ lo bờ ao lâu ngày sụt lở, hỏng mất thì đáng tiếc” [13]. Còn mẹ Thái, trước đề nghị của chồng là để con ở lại với mình cho vui, bà trả lời: “Nên cho con nó ở làng, ông ạ. Cái sinh khí ở đây tôi nghe không thuận cho sự giáo huấn con trẻ”.
Có thể thấy, ngữ cảnh sinh thái trong tiểu thuyết này của Ngọc Giao chính là thời hiện đại, là bối cảnh đô thị hóa, tư sản hóa đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đã tiến hành khai thác thuộc địa. Lối sống tư sản với tinh thần hưởng thụ và chủ nghĩa tiêu dùng đã hình thành tại các đô thị lớn. Nhiều người đã nghe theo tiếng gọi của đời sống vật chất thường thấy nơi thành thị mà quên mất cuộc sống bình dị, mộc mạc, gần gũi với tự nhiên ở nhà quê. Trong môi trường đô thị, trở thành những kẻ nghiện hưởng thụ tầm thường, con người cũng mất luôn những căn tính sơ khởi của tâm hồn. Vợ Thái và những người như bà Vĩnh Thịnh, bà Tham Chương, bà Quảng Phát, cha mẹ Vĩnh… thuộc vào loại “con người không thể độ qua u nhã được nữa, con người mất đi sức mạnh cổ điển và siêu việt về tinh thần, con người chỉ là dã thú có cái đầu văn minh thục mạng trong thế giới tham vọng vật chất” [14]. Trong ngữ cảnh ấy, Nhà quê có ý nghĩa phản tỉnh một xu thế nổi lên khá rõ đầu thế kỷ XX là tập trung về đô thị – nơi mà phần đông những người thất nghiệp, đói ăn cho rằng họ có thể dễ dàng kiếm sống và phần đông trí thức tiểu tư sản cho rằng họ sẽ có điều kiện để phát huy hết những năng lực nhân tính của mình. Như thế, tuy không trực diện bàn tới các vấn đề dễ nhận thấy của văn học sinh thái, nhưng tác phẩm của Ngọc Giao đã thể hiện một trí tuệ sinh thái, một tư duy sinh thái ở chiều sâu.
2. Chiến tranh không chỉ tàn phá sinh thái tự nhiên, mà còn hủy diệt cả sinh thái tinh thần của con người
Ngữ cảnh sinh thái trong tiểu thuyết Đất của Ngọc Giao lại là cuộc xâm lược lần thứ 2 của thực dân Pháp vào đất nước ta. Nhân vật trung tâm của tiểu thuyết là Xã Bèo – một người nông dân cần cù, lam lũ và yêu đất hơn cả sự sống của chính mình. Xã Bèo xuất thân nghèo túng, nhờ chăm chỉ và ra sức dành dụm, chắt bóp, lại thêm “được mồ được mả ra sao” mà mới có một năm trời trở lại đã tậu được vài sào ruộng tốt, mua được con trâu, ngâm bè tre và nay lại mới tậu được thêm mảnh vườn bương nữa. Nhưng niềm vui rửa nhục vì lời nguyền của Trương Dần năm nào chưa kịp hưởng, Xã Bèo đã nhìn thấy lửa chiến tranh cháy đến làng mình. Cảnh tượng ấy làm cho Xã Bèo vô cùng khiếp sợ, đau đớn. Ngay lập tức, Xã Bèo hình dung ra một tương lai của sự hủy diệt, tất cả mọi sinh mệnh rồi sẽ chết:
… “Anh ngao ngán thấy rằng binh lửa rồi sẽ tới, thui trụi, tàn phá hết, huống hồ là mấy chiếc măng non.”
“Về đến cổng, con Mực chạy ra đón, anh đứng lại. Tự nhiên anh thấy thương con vật, bởi vì anh mang mang nghĩ đến cái chết chóc sẽ chẳng tha từ mạng con chó đến con người”.
“Anh Xã không vào sân vội, đi tắt qua vườn sau nhà đến chuồng trâu. Anh lại đứng vững nhìn con vật thân yêu của mình, và lo sợ nghĩ đến một sớm mai người ta sẽ bắt nó đem đi mổ thịt hay nó sẽ ngã xuống vì một viên đạn trong những viên đạn vừa xuyên qua bao nhiêu mạng con người vô tội” [15].
“Xã Bèo lủi thủi dạo quanh vườn. Mấy luống rau cải tốt xanh trên mảnh đất xốp tươi, vợ chồng anh đã dầy công tưới bón thế mà chưa chắc kịp ăn. Những buồng chuối tiêu đang mẫm quả, anh vẫn để dành chưa chịu ngả. Mấy cây na, cam, hồng bì được chăm bón phân gio, năm nay bói quả, thế mà một sớm mai đây, những gót giày “khách lạ” sẽ đạp séo tan tành” [16].
Có thể nhận thấy ở nhiều trang mở đầu tiểu thuyết một cảm xúc gần như là tột cùng của sự đau đớn. Nỗi đau của Xã Bèo không chỉ xuất phát từ niềm tiếc của hoài công vì thành quả lao động bao năm của mình, của gia đình bỗng chốc thành mây khói, mà còn từ cả niềm tiếc thương cho những sự sống đang xanh tươi mơm mởm bỗng tan tành, chết chóc. Trong lý thuyết phê bình sinh thái, thái độ đó gọi là “sự đối xử công bằng với tất cả các sinh mạng”, thuộc phạm trù “luân lý học tôn trọng sinh mạng”. Càng nâng niu, trân trọng sinh mạng, Xã Bèo càng đau đớn khi nguy cơ sự sống bị hủy diệt hiển hiện trước mắt. Rất nhiều từ ngữ đã được dùng để chỉ trạng thái đau đớn cùng cực đó của Xã Bèo: “khiếp hoảng”, “rùng mình”, “quặn đau”, “mặt nhợt nhạt, miệng há hốc”, “lảo đảo bước ra sân”… Sợ đến nỗi, Xã Bèo gần như không còn thiết sống: “Tôi chẳng còn thiết gì đời nữa. Tình cảnh này, không chết nay cũng chết mai thôi”. Niềm xót thương dành cho tất cả các sinh mạng ấy, cũng chính là tình yêu sự sống thiết tha của Xã Bèo. Cũng bởi tình cảm ấy mà ngay cả việc đi phá đường mỗi đêm, với Xã Bèo, cũng là một sự cực chẳng đã, khổ sở vô cùng.
Nhưng bấy nhiêu vẫn còn chưa đủ, lệnh tiêu thổ kháng chiến và di cư mới thực sự là cú trời giáng. Xã Bèo, Lý Còng và bao nhiêu người đàn ông ở làng Nguyệt Đức đã gần như điên dại khi phải tự tay phá dỡ, tiêu hủy những căn nhà từng được dựng nên bởi mồ hôi nước mắt của mình: “Xã Bèo khổ não kêu trong cuống họng nghẹn uất, tiếng kêu giời xoáy nghiến trong đầu óc đang bốc cháy, anh vùng đứng lên như điên dại: – Cho nó mất cả đi, thế là xong hết”, Lý Còng thét to: “- Này tôi đốt đây này, bà con làng nước ôi, tôi đốt nhà tôi đây này!” [17]… Theo đó là biết bao nhiêu nước mắt đã nhỏ xuống. Biết bao nhiêu thứ tiếng khóc của đàn ông, đàn bà, người già, trẻ nhỏ, khi nghẹn ngào, khi nức nở… đã cất lên: Chị Xã “khóc sưng cả mắt, khóc suốt đêm qua”, “bác Lý gái khóc rống lên như nhà có đám tang”, “Lý Còng ngồi thừ ra nhìn lửa cháy trên đất nhà mình, nước mắt ròng ròng rơi xuống má”…
Sự tàn phá, hủy diệt các sinh mệnh đã dẫn tới một sự phá vỡ nghiêm trọng môi trường sống của con người. Xã Bèo sau khi tiêu thổ đã dắt díu mẹ già, vợ ốm, con thơ đem theo bu gà, con trâu, ba bốn gánh gồng nồi niêu chăn chiếu, tìm nơi lánh nạn. Bước chân rời khỏi làng Nguyệt Đức, lòng chị Xã đầy lưu luyến: “Chị Xã một bước một ngừng. Cứ mỗi lần đổi vai gánh nặng, chị lại quay nhìn mấy ngọn cau vườn nhà chị nhô lên khỏi rậu tre làng phơ phất trong sương gió sớm” [18]. Trong cuộc thiên di đầm đìa nước mắt, vợ chồng Xã Bèo đã chứng kiến một cảnh tượng loạn lạc, hoang tàn chưa từng thấy: “bốn bề cây đổ, nhà hoang, tường xiêu, mái rỡ”, “người chạy loạn từng toán một đi rải rác, áo tơi nón lá, trẻ già, thơ dại dắt díu như những đàn kiến chạy nước to”… Mặc cảm bơ vơ, lạc lõng, sợ sệt in hằn trên mỗi dấu chân đặt lên đất khác và vỡ oà thành tiếng khóc nhớ nhà, nhớ quê nức nở trong lòng: “anh muốn khóc lên, khóc rõ to cho vợi cái đau buồn tha hương đất khách lúc này”. Nhưng điều làm cho Xã Bèo khổ sở nhất là nỗi nhớ đất: “Ngày ngày đi đẵn củi rừng làm cái nghiệp chú tiều, tối về nằm co nhớ nhà, nhớ đất, – chao ôi đất! – đất là xương là máu của đời anh” [19]. Không chỉ Xã Bèo nhớ đất, anh hình dung cả con trâu cũng thèm đất. Vợ con anh nữa, từ lâu đã bỏ luống cày, gốc mạ, hương lúa chín…
Hơn một năm trời ở miền rừng sâu núi thẳm, không chịu đựng nổi bệnh tật, đói khát, cộng thêm nỗi nhớ quê nhớ đất cồn cào, gia đình Xã Bèo lại dắt díu nhau hồi cư. Trở về làng khi Nguyệt Đức đã chuyển thành vùng tề, Xã Bèo đau xót chứng kiến cảnh hoang tàn đổ nát: “Ruộng đất của vợ chồng anh đã thành bờ bãi cho cỏ mọc tung hoành, lại ngổn ngang mồ mả” [20]; rồi: “Bước chân qua cổng cái, Xã Bèo thấy lạnh người vì quang cảnh tiêu điều của xóm làng. Anh đứng sững nhìn bức tường nhà Hội Đồng lỗ chỗ nhiều vết đạn tròn như lỗ đáo” [21]. Cuộc sống ở vùng tề vừa đói khát, thiếu thốn, vừa sợ hãi đến nghẹt thở vì súng đạn, bắt bớ, cướp bóc… khiến sự sống của con người thường xuyên bị đe dọa. Nhưng vì yêu đất, vì muốn gắn bó với đất, Xã Bèo cam chịu sống trong kìm kẹp. Cuối cùng thì con trâu – con vật mà Xã Bèo “sống vì nó, với nó, cũng như anh ham sống, cần sống với cha mẹ, vợ con” – cũng bị lính tề cướp mất, vợ chồng Xã Bèo đau đớn đến phát dại. Lại phải bỏ làng đi, nhưng không thể rời xa đất, Xã Bèo xót xa nhìn vợ thay trâu rỏ nước mắt vào lòng đất mà không khóc nổi, bởi không còn nước mắt.
Từ tiểu thuyết này có thể thấy, chiến tranh chính là một loại căn nguyên của thảm họa sinh thái. Chiến tranh không chỉ tàn phá sinh thái tự nhiên, mà còn hủy diệt nghiêm trọng sinh thái tinh thần của con người. Quá nhiều nước mắt của vợ chồng Xã Bèo đã rớt xuống. Nói cách khác, đọc tác phẩm, chỉ cần thống kê những tiếng khóc của Xã Bèo là đủ thấy chiến tranh đã đày đọa sự sống của người ta khủng khiếp thế nào. Xã Bèo thấm thía hơn ai hết nỗi thống khổ mà chiến tranh đã đưa tới. Bởi vậy, tác phẩm cảnh báo con người về một đạo đức sinh thái: Vì sự sống bình yên của các sinh mạng, hãy chấm dứt mọi sự hủy diệt, nhất là hủy diệt bằng bom đạn chiến tranh.
Nhìn chung, hai cuốn tiểu thuyết của Ngọc Giao bàn đến hai ngữ cảnh và những nguy cơ sinh thái khác nhau, nhưng cả hai đều có chung một xuất phát điểm: coi trọng sự sống trong môi trường sinh thái đích thực của nó. Từ xuất phát đó, có thể nhận thấy hai khía cạnh cơ bản trong tinh thần sinh thái của Ngọc Giao là tôn trọng mọi sự sống và để cho mỗi sinh mạng được sống đời sống của chính mình. Không có chủ nghĩa nhân loại trung tâm trong cảm thức sinh thái của Ngọc Giao. Với những luận điểm cơ bản như vậy, từ góc nhìn văn hóa sinh thái, tác phẩm của Ngọc Giao có khả năng đánh thức nhân tính trong ứng xử với môi trường, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nhất là trong bối cảnh tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa vẫn chưa có dấu hiệu chậm lại và nhiều cuộc chiến tranh vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt như hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Lê Tú Anh – Vũ Thị Thủy, Đóng góp của Ngọc Giao vào thành tựu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Hồng Đức, Số 16, 2013, tr.5-10.
2. Ngọc Giao, Nhà quê, tiểu thuyết, Nxb Hà Nội (tái bản), Hà Nội, 2011.
3. Ngọc Giao, Đất, tiểu thuyết, Nxb Cây thông, Hà Nội, 1950.
4. Văn học sinh thái và lý luận phê bình sinh thái, Đỗ Văn Hiểu dịch từ cuốn Đương đại Tây phương tối tân văn luận giáo trình của Vương Nhạc Xuyên, Nxb Đại học Phúc Đán, Thượng Hải, 2008. Nguồn: http://www.dovanhieu.net/.
Chú thích:
[1] Các nhà nghiên cứu sinh thái cho rằng, tác phẩm Mùa xuân im lặng (1962) của nhà sinh vật hải dương học người Mỹ – R.Carson (1907-1964) là công trình mở đầu cho thời đại văn học sinh thái.
[2] Ngọc Giao, Nhà quê, tiểu thuyết, Nxb Hà Nội (tái bản), Hà Nội, 2011, tr.18.
[3] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.21.
[4] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.28.
[5] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.31.
[6] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.35.
[7] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.40.
[8] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.24-25.
[9] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.54.
[10] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.189.
[11] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.70.
[12] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.70.
[13] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.36.
[14] Vương Nhạc Xuyên, Đương đại Tây phương tối tân văn luận giáo trình Nxb Đại học Phúc Đán, Thượng Hải, 2008. Dẫn theo Đỗ Văn Hiểu.
[15] Ngọc Giao, Đất, tiểu thuyết, Nxb Cây thông, Hà Nội, 1950, tr.13-14.
[16] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr. 22-23.
[17] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.53-54.
[18] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.111.
[19] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.197.
[20] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.326.
[21] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.329.
4/11/2019
Lê Tú Anh
Nguồn: Trong Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế Phê bình sinh thái: Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2017.
Theo https://vanhocsaigon.com/

Bốn ấn tượng về Chất vấn thói quen của Phan Hoàng

Bốn ấn tượng về Chất vấn thói
quen của Phan Hoàng

Tập thơ Chất vấn thói quen của nhà thơ Phan Hoàng được trao Giải thưởng Hội Nhà văn TPHCM và Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012, tái bản 2015, nhà nghiên cứu Trần Phò đã nhận định: “Cảm hứng mạnh mẽ, cuồn cuộn làm nên tính cách của Chất vấn thói quen. Theo một định nghĩa kiểu Mỹ, “Thơ là tiếng kêu khi được 1 triệu đôla và khi đánh mất số tiền đó”. Nghĩa là tiếng nói của cảm xúc mãnh liệt mới là tiếng nói thật sự của thơ. Cảm xúc trong Chất vấn thói quen là cảm xúc dâng trào, cảm xúc lan toả và cảm xúc lắng đọng kết hợp với mạch tư duy sắc sảo”.
Cho đến nay, Phan Hoàng đã xuất bản 3 tập thơ: Tượng tình, Hộp đen báo bão, Chất vấn thói quen. Và đứa con thứ 3 cách đứa thứ 2 đến 10 tuổi, điều đó chứng tỏ Chất vấn thói quen là một sự chọn lọc, hay nói chính xác hơn sự tinh lọc thận trọng của một người làm thơ như lời tác giả tâm sự ở đầu sách: “Tôi luôn sống trong hơi thở nhịp sống thi ca, mày mò học hỏi và khám phá, làm thơ rất nhiều mà cũng tự xoá bỏ rất nhiều. Thơ khó tính, ma lực, linh thiêng. Thơ đòi hỏi sự khác biệt. Thơ cũng là nỗi sợ hãi lớn nhất mà suốt hành trình sáng tạo tôi nghĩ mình khó có thể chạm đến sự vi diệu của nó”.
Cũng đến nay, Phan Hoàng là tác giả của 4 cuốn sách Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam, Phỏng vấn người Sài Gòn, Phỏng vấn người Hà Nội, Dạ thưa thầy!. Nếu không nhầm, 4 cuốn sách này là kết quả của một Phan Hoàng làm báo.
Cầm trên tay “tập thơ 10 năm”, đáng lý tôi rất ngạc nhiên nhưng sự ngạc nhiên ấy đã được giải thích từ trước vì cách đây hơn một năm, tôi có dịp nói với tác giả: “Tôi nghĩ Phan Hoàng chủ yếu và bản chất vẫn là nhà thơ hơn là nhà báo” và nhận được câu trả lời: “Phan Hoàng vẫn làm thơ, hôm nào sẽ đưa anh xem”. Tôi nói thế vì trong thâm tâm và khát vọng của riêng mình, tôi rất thích những nhà thơ đích thực. Hemingway làm báo rất sớm và với tư cách phóng viên, ông đã có mặt ở nhiều chiến trường thời thế chiến. Nhưng ngày nay người ta chỉ biết ông là nhà văn. Tuy vậy, chính kiến thức và tính cách nhà báo đã góp phần một cách quan trọng và hình thành tính cách nhà văn Hemingway. Ở Việt Nam chúng ta hiện nay, có khá nhiều nhà thơ, nhà văn làm báo. Ước ao hoàn toàn có cơ sở hợp lý: chúng ta sẽ có những nhà văn nhà thơ xứng đáng, tầm cỡ trong số đó.
Trở lại với Chất vấn thói quen, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2012, phải nói là một tập thơ ấn tượng.
Ấn tượng thứ nhất 1: Một tập thơ đẹp. Trình bày trang nhã, giản dị, nhưng không dễ dãi, bìa sang trọng và sâu sắc. Kết cấu tập thơ gồm 3 phần: Văn bản dở dang (10 bài); Cái chết đen và vũ khúc trắng (12 bài); Bóng tối đang nuốt chúng ta (14 bài). Lúc đầu tôi cứ ngỡ những bài thơ được sắp xếp theo thứ tự thời gian sáng tác, nhưng không phải. Có lẽ đây là tính kết cấu nội tại của tác phẩm, đồng thời ngụ ý rằng tác giả sẽ có nhiều sáng tác thơ hơn!
Ấn tượng thứ 2: Chất vấn thói quen là hơi thở của cuộc sống, giàu tính hiện thực, dĩ nhiên là hiện thực xuyên qua lăng kính của ý thức sáng tạo. Ngay trong bài đầu tiên – Mẹ gánh ước mơ, ta có thể nhận diện được điều đó:
Mẹ quảy mẹ chạy
cắc bụp cắc đùng
người ngã sau lưng
người chúi trước mặt
Tuổi thơ tôi trên thúng gióng tản cư
mẹ gánh ước mơ chạy qua mùa loạn lạc
Đó là tiếng súng và cảnh nhân dân ta chạy giặc thời chống Mỹ. Hình ảnh người mẹ mở đầu tập thơ thật có ý nghĩa sâu xa. Phan Hoàng không đóng khung hình tượng người mẹ trong sân nhà, trên mảnh vườn mà mở rộng không gian hiện thực để người đọc có thể nhận ra một thời gian khó của thời đại:
Bàn chân trần rễ tre toé máu
thúng gióng gió đánh hụt hơi
mẹ đặt con ngồi dưới hố bom khét bầm thân đất
ngoái cổ ngóng về đồng làng tan hoang mồ mả ông bà
Gỡ nón quạt mùi bom
bóng mẹ che tầm đạn
âu yếm con mẹ khóc
bập bẹ mẹ con cười
nụ cười con thơ
mạnh hơn
tiếng gầm đại bác
nụ cười gieo vào lòng mẹ hạt giống hy vọng
đồng làng bình yên gặt những mùa sau…
Viết về người mẹ rất dễ mà rất khó vì có nhiều hình tượng người mẹ thành công trong thơ Việt Nam. Nhưng phải nói Mẹ gánh ước mơ là một bài thơ hay, không dễ trộn lẫn, hình tượng người mẹ rất thật, động đạt, có hồn, tràn đầy sức sống.
Chính tư duy mở rông biên độ đối tượng miêu tả khiến thơ Phan Hoàng luôn giàu giẫy chất hiện thực. Dù đối tượng ấy là cái gì rất riêng rẽ của nhà thơ. Tôi nghĩ Mặt trời trong ngôi nhà thân thuộc khởi điểm từ việc chào đời đứa con của mình, nhưng đối tượng khởi điểm ấy không bị cô lập trong một không gian hạn hẹp của ngôi nhà riêng tư mà được mở cửa và chuyển hoá thành ngôi nhà của “n… tôi”, “ngôi nhà mang gien giao chỉ”.
Hơi thở cuộc sống trong Chất vấn thói quen bắt đầu từ người mẹ, đến sự chào đời của đứa con và toả rộng tới muôn nẻo của hiện thực:
Đường cao tốc
dựng
tường bê tông
đồng vắng
gió nội ngoại tình mất trắng mùa xanh
(Ly hương gió)
Và “chữ nghĩa thị trường”:
Ai đầu tư cổ phần tri âm
văn chương tình nguyện liên doanh tri kỷ
chữ nghĩa thị trường xuống chó lên voi
(Chữ nghĩa thị trường)
Có thể nói hiện thực cuộc sống là nỗi ám ảnh trong thơ Phan Hoàng. Phải chăng điều kiện nhà báo đã làm cho thơ anh giàu có hơn. Ta đọc thấy ba bài thơ viết về Cần Giờ đặt liên tiếp nhau như một sự bủa vây, không thể không nói, không thể không viết, không thể không làm thơ:
Lãnh hải ập trận cuồng phong
ngư dân tay không chống chọi từng cơn áp thấp
Các ngôi sao cao giọng chỗ ngủ thiếu tiện nghi
rừng duyên hải trầm tư không quen thuỷ triều chữ nghĩa
Nâng ly rượu trắng canh khuya
nhà thơ quèn trong tôi
bất lực tiếng gà xóm chài báo thức
(Cần giờ bất lực)
Còn đây là bài Cần Giờ ngơ ngác:
Hãy thử tưởng tượng
những con khỉ nhảy nhót bên nhau
không cần giờ
Chúng ta khác gì những con khỉ?
chúng ta khác gì những con sấu?
chúng ta khác gì những con muỗi?
chúng ta khác gì
không cần giờ…
Một bạn thơ trẻ ngơ ngác
dọc ngang rừng ngập mặn
trong mỗi mắt lá tràm
trong rễ bần rễ đước
đâu đâu cũng ngây ngây mùi máu lẫn mùi bùn 
Trong ba ngày liên tiếp, Phan Hoàng có ba bài thơ về Cần Giờ đầy ấn tượng mà Cần Giờ ngơ ngác là một bất ngờ đối với tôi. Tôi nghĩ chỉ có tắm mình trong hiện thực cuộc sống, thở hơi thở cuộc sống, nhà thơ mới có tứ thơ vượt lên chính mình: “Chúng ta khác gì những con khỉ?/ Chúng ta khác gì những con sấu?/ Chúng ta khác gì những con muỗi?”.
Còn trong bài Cần Giờ lặng im, hiện thực cuộc sống lắng đọng thành nỗi đau:
Và còn những nỗi đau mà ta không bao giờ chạm được
nỗi đau đau đến lặng im
Lịch sử tầng tầng mỏ quặng số phận
văn học lọc cọc đóng nọc thủ công
Ấn tượng thứ 3: Cảm hứng mạnh mẽ, cuồn cuộn làm nên tính cách của Chất vấn thói quen. Theo một định nghĩa kiểu Mỹ, “Thơ là tiếng kêu khi được 1 triệu đôla và khi đánh mất số tiền đó”. Nghĩa là tiếng nói của cảm xúc mãnh liệt mới là tiếng nói thật sự của thơ. Cảm xúc trong Chất vấn thói quen là cảm xúc dâng trào, cảm xúc lan toả và cảm xúc lắng đọng kết hợp với mạch tư duy sắc sảo “làm nên giọng thơ hào sảng và nhịp thơ va động thanh âm không theo một bài bản thói quen” (Trần Nhã Thuỵ, Tuổi Trẻ, thứ hai 27.2.2012). Có lẽ nhờ cảm xúc ấy và ý thức sáng tạo mạnh mẽ, Phan Hoàng thoát khỏi sự lúng túng trong hình thức thơ. Trên một số báo hiện nay, có hiện tượng thơ lục bát bị ngắt dòng theo kiểu phi lục bát để có hình thức thơ tự do. Đó là dấu hiệu lúng túng về hình thức của người làm thơ. Nhưng điều nguy hiểm hơn là vô tình chúng ta phá vỡ kết cấu mỹ học của thể thơ thuần tuý Việt Nam. Nếu thơ Đường của Trung Quốc chọn kết cấu mỹ học đối xứng, thơ Haiku của Nhật xây dựng theo kết cấu mỹ học phản đối xứng thì thơ lục bát Việt Nam kết tinh hai vẻ đẹp đó để làm nên mỹ học độc đáo của mình. Đó là quá trình tiếp nhận và sáng tạo, đề kháng và phản kháng của văn hoá Việt Nam để không bị đồng hoá.
Trở lại với Phan Hoàng, cảm xúc dâng trào đã làm nên Cơn bão ký tự mới:
Cơn bão đưa tôi vào thượng tầng khí quyển
Say điệu luân vũ thiên nga
Lá rừng hoá than trở về xanh cành lộc mới
Đá bí mật mở dần pho ký tự núi lửa
Còn cảm xúc lan toả đã viết thành Cái chết đen và vũ khúc trắng:
Mang một vẻ đẹp khác nàng đến thế giới này
Mang một tinh thần khác nàng đến thế giới này
Mang một thông điệp khác nàng đến thế giới này
Trắng. Đồng phục trắng
Trắng. Da thịt trắng
Trắng. Năng lượng trắng
Trắng. Khát khao trắng
Trắng. Vũ khúc trắng
Trái đất không thể bảo vệ mình trước lỗ đen những nguy cơ
Bao em bé châu Phi chết đói chết khát chết đạn chết đen trên những ngả đường không ánh sáng
Bao cụ già Nhật bản chết chìm trong sóng thần đen sạm phóng xạ hạt nhân
Và cảm xúc lắng sâu:
Tôi đang ở đâu cây bút mang đầy danh hiệu sứ mệnh?
Cây bút vô cảm trước thân phận dân nghèo, im lặng trước lãnh thổ đe doạ ngoại xâm, bất lực trước cái ác trá hình nhũng nhiễu!
Tôi đang ở đâu cây bút mang đầy danh hiệu sứ mệnh?
Tôi đang ở đâu?
Ở đâu?
(Tôi đang ở đâu?)
Không phải mỗi sáng tác được hình thành từ một dạng cảm xúc mà các dạng cảm xúc trên giao thoa, hội tụ để tạo nên dòng cảm hứng định hình bài thơ. Về phương diện này có thể nói sự ra đời của tác phẩm thơ giống như sự chào đời của một sinh mệnh con người. Tinh trùng cảm hứng, khoái cảm gặp cái trứng tư duy tạo nên sự thụ tinh nghệ thuật. Và “ngoại hình” bài thơ được xác lập trong quá trình tiến triển của sự hình thành.
Ấn tượng thứ 4: Cái tôi trữ tình trong Chất vấn thói quen rất rõ nét, sắc cạnh và rất chân thật.
Trước hết đó là cái tôi luôn luôn truy vấn, truy vấn chính mình, đặt câu hỏi trước cuộc sống đúng như cái tên của một bài thơ dùng làm tựa đề tác phẩm. Những đấu hỏi trùng điệp đó làm nên tính triết lý nội tại của tập thơ. Triết lý ở đây, nếu có, không phải được biểu diễn bằng những mệnh đề mà chính là ký hiệu văn bản dấu hỏi (?). Vì bản chất của triết học là câu hỏi, những câu hỏi vô tận về con người, cuộc sống, vũ trụ:
Ốc đảo ngập tràn đức tin của con rồi sẽ
xanh hơn? Thế giới toàn cầu hoá của con rồi sẽ
tình người hơn? Và cả vũ trụ bí ẩn của con rồi sẽ…???
(Ốc đảo 31.8)
Cái tôi trữ tình trong Chất vấn thói quen hiện lên góc cạnh sắc nét của sự trăn trở tìm kiếm, khám phá, sáng tạo, khát khao đi tìm cái mới:
Giữa những cơn sóng tín hiệu
tôi tìm thấy gương mặt lênh đênh tôi
đúng tôi
đớn đau tôi
thăng hoa tôi
trong những văn bản dở dang
văn bản vô ngôn
văn bản không khuôn thước
văn bản không văn bản
Làm sao bùng lên nhiều cơn hồng thuỷ
dâng sóng tín hiệu đỉnh khoái
cuốn phăng những kho văn bản mộng mị ngủ muộn
những kho văn bản hư danh giả dối
khủng bố dòng chảy tự do ngôn từ
ám sát khát khao chồi xanh ý tưởng
đe doạ cánh rừng nguyên sinh rực hương thiếu nữ căng tràn văn bản nhựa sống tương lai
(Văn bản dở dang)
Ý thức đó khiến thơ Phan Hoàng vận động và sống động như bản chất cuộc sống. Nhưng chỉ một phút lơ là, mất cảnh giác thì “thói quen” sẽ lộ diện trong những dòng thơ có vẻ quen quen, chẳng hạn như:
từ nguồn sữa bầu ơi thương lấy bí cùng ru hời của mẹ
cổ tích ăn khế trả vàng run run hơi thở của bà
thần thoại nhổ tre ngà đánh giặc những khuya biển thức của cha ông
(Mặt trời trong ngôi nhà thân thuộc)
Đó cũng chính là trường hợp “hạt bụi vàng” trong bài Bụi vàng Sơn Nam.
Và sau cùng là cái tôi chân thật, thèm khát không khí tự do tuổi thơ, muốn vứt bỏ những trói buộc của máy móc, của đời sống phồn tạp:
Những bài báo đặt hàng đang truy đuổi tôi
nhuận bút ứng trước đang truy đuổi tôi
như con chuột bị lũ mèo rượt tới hang cùng ngõ tận
Gục đầu lên máy vi tính
tôi thèm đứt ruột
được làm ngọn gió không đồng phục
không điện thoại
không internet
bay về mái tranh vách đất của mẹ           
cởi trần lăn lóc tắm mưa
Đọc mấy câu thơ này, tôi bỗng nhớ đến Goethe, con người vĩ đại của văn học Đức và thế giới. Một lần vào công viên, thấy một người ăn mày nằm ngủ ngon lành trên thảm cỏ xanh, ông buột miệng nói với người đi bên: “Giữa ta và người ăn mày kia, không biết ai hạnh phúc hơn ai!?” Còn trong thơ Phan Hoàng, cái tôi khao khát được làm ngọn gió tự do không chỉ dừng lại ở đó.
Tác giả Trần Phò là nhà nghiên cứu, dịch giả, nhà giáo, nguyên giáo viên chuyên văn Trường PTTH Lê Hồng Phong và Lê Quý Đôn, TP.HCM.
Sài Gòn, 4/2/2012
Trần Phò
Nguồn: TT-VH
Theo https://vanhocsaigon.com/

Hồn buồn trường cửu trong thơ Huy Cận

Hồn buồn trường cửu trong thơ Huy Cận Với tôi, Huy Cận (1919 – 2005) trước sau vẫn là nhà thơ số một trong các nhà thơ mới (1932 – 1945). ...