Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

Mặc khải xuân thì qua tuyệt phẩm Thiếu nữ bên hoa huệ

Mặc khải xuân thì qua tuyệt phẩm
 Thiếu nữ bên hoa huệ

Trong lịch sử nghệ thuật truyền thống Việt Nam, hội họa có vị trí khiêm tốn, mờ nhạt đến độ gần như vắng mặt. May thay, một trong những hệ quả tích cực nhất mà cuộc gặp gỡ văn hóa Đông-Tây khởi từ thế kỷ XVI [1] đã đem lại là sự ra đời của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương tại Hà Nội vào năm 1924.[2]

Trong các thế hệ họa sĩ xuất thân từ lò đào tạo chính quy này, Tô Ngọc Vân đứng vào hàng những nhân vật nổi tiếng nhất. Danh tánh ông từ lâu đã vượt ngoài biên giới đất nước và đặc biệt còn hưởng cái vinh dự hoàn vũ cực hiếm là được lấy đặt tên cho miệng một hỏa sơn phát hiện năm 2008 trên Sao Thủy [3].

 

Song, nếu nhìn kỹ lại, tác phẩm của ông cũng như bối cảnh hình thành và hoạt động của Trường, cùng điều kiện làm việc cụ thể của người làm nghệ thuật thời ấy, ít khi được đề cập một cách quy củ, nghiêm túc và xứng đáng với tầm vóc tài năng nhà danh họa : bài viết này, vì thế, mong được góp phần khơi gợi – gióng lên một “tiếng chuông” nào đó, dù nhỏ nhoi – để ước ao sẽ có ngày nhận biết được thêm những chia sẻ, phân tích và tư liệu bổ sung vào nguồn hãy còn quá ít ỏi hiện giờ của nó.

 

Tô Ngọc Vân vẽ không nhiều, và phần lớn những tác phẩm hoàn chỉnh nhất của ông lại bị “thất thoát”, lưu lạc ra xứ người. Các thông tin gần đây [4] cho thấy ngày nay trong nước chỉ còn lại những bản chép của bức tranh huyền thoại Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ, mà ngay hình chụp đang lưu hành (theo bản chép hay bản gốc[5]?) và thậm chí cả năm sinh của tác giả (1906 hay 1908?) cũng còn chưa được xác minh thỏa đáng.

 

Sẽ không có chỗ cho dửng dưng vô cảm trước một sự thực phũ phàng như vậy. Những đánh giá trách nhiệm và biện pháp sửa chữa rồi phải đến.

 

Nhưng trước mắt là một niềm tiếc nuối vô biên, mỗi khi ta cố lắng lòng để tĩnh tâm chiêm ngưỡng, thả hồn vào thế giới riêng lạ của kiệt tác này…

 

Xuân sắc và nhịp điệu : đôi cánh nâng lên tầm hiện đại

 

Bức tranh không giống bất cứ một họa phẩm nào khác, cho dù mang cùng cái chủ đề rất ư cổ điển là hoa với giai nhân[6]. Không phối cảnh (perspective) hay khung cảnh nào hết, nó không như những tranh khác thường gặp, kể cả của chính tác giả. Hình trong tranh gần như trải phẳng trên hai chiều khung vải, cộng thêm với chủ ý « cắt hình » sát nút của người vẽ, tạo nên hiệu ứng làm tập trung nhãn giới vào đối tượng : bỗng chốc nó như được khuếch đại, chiếm hết cả không gian.

 

Toàn bộ bức tranh là một cái nhìn cận cảnh, xuất phát từ một chủ thể đang ở kề sát vì bị lôi theo cơn mê đắm thôi miên, như một Đinh Hùng trong Đường Vào Tình Sử :

 

“Có những buổi ta nhìn em kinh ngạc

Hồn tan dần trong cặp mắt lưu ly” …

                                             

        Thiếu nữ bên hoa huệ (1943) 

 

  [Bản Wikipedia]                                                                                                                                                               

                   

                                                                                                                  

 

Nhưng cặp mắt thiếu nữ không nhắm một ai. Nàng chìm vào cõi mộng, tay vén nghiêng mái tóc về phía trái – phía của trái tim –, để lộ dưới vành tai e ấp một vùng ót cổ thiên nga ngà ngọc. Như hoa quý khoe hương. Như một nỗi rạo rực đợi chờ. Như Mùa Xuân dâng hiến.

 

Chỗ nõn nà ửng sáng ấy là điểm nhấn độc đáo, là “cái đinh” hình tượng của tác phẩm : trước và sau họ Tô, trong hội họa Việt Nam, không có ai biểu đạt xuân sắc ý nhị và nồng nàn đến như thế.

 

Thiếu nữ trong tranh có thân hình cân đối và gợi cảm như một pho tượng Hy Lạp, bó sát trong bộ áo dài tha thướt, biểu tượng sáng giá của những gì mà một cách tân bứt phá có thể đem lại trong kỷ nguyên mới. Mơ màng theo một ý nghĩ riêng tư nào đó, nàng hơi khum người lại như muốn giữ kín niềm tâm sự. Rất có thể nàng cũng mang cùng tâm trạng với người đàn bà đáng yêu trong điệp khúc bất hủ của Phan Vũ-Phú Quang:

 

“Ai đó chờ ai, tóc xõa vai mềm”    (Em Ơi Hà Nội Phố)

 

Toàn bức tranh, thoạt đầu, toát ra một sự tĩnh lặng. Một chút se lạnh loang từ màu sắc chủ đạo. Có người nói đến một nỗi buồn man mác.

 

Rồi từ bờ vai thon mềm ấy, mỗi cánh tay nhịp nhàng vẽ lên một vòng bán nguyệt đa nghĩa : hai bàn tay đối ứng âm dương, tay dưới vừa đủ chạm đóa hoa chủ với đài hoa căng tròn, nằm ở trung tâm bức tranh – ngang tầm bộ ngực – và cũng là môi giới duy nhất giữa giai nhân với ngoại cảnh. Hoa thường là chỉ phái đẹp, nhưng ở đây, đối ngẫu với kiều nữ, nó trở thành một biểu tượng mang dương tính. Chỉ riêng điều này cũng có khả năng gợi mở cho một diễn dịch dựa vào vô thức, trong chiều hướng phân tâm học theo thuyết lý của Freud [7]

 

Đối với khách thưởng ngoạn giàu tưởng tượng, đóa hoa chủ có thể là mô-típ đầu tiên để đan kết thành một vòng hoa vĩ đại, một vũ điệu vòng tròn xoay theo chiều mấy ngón tay mủm mỉm định hướng : ý tưởng hoàn toàn nằm trong khả thể, bởi những đường cong đầy nghệ cảm trong tranh Tô Ngọc Vân làm liên tưởng đến bức bích họa trứ danh La Danse của Matisse. Và âm nhạc trong tranh cũng trỗi lên từ đó.

 

Sự gần gũi giữa hai thiên tài còn lặp lại nữa, khi ta đối chiếu dáng dấp Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ với điệu bộ nhân vật trong một tác phẩm nổi tiếng khác, loạt hình Nu bleu, cũng của nhà danh họa này. Phải chăng cả hai, trong quá trình chiêm nghiệm nghệ thuật cố đại, đều đã cùng bị mê hoặc bởi nữ thần tình yêu, đặc biệt qua pho tượng “Aphrodite ngồi” [8] diễm lệ?                                           

              

 

 

     

 

 La Danse (1909)                                 

 

                                                                                      

                                                                

 HENRI MATISSE (1869-1954)           

 Nu bleu II (1952)

 

 

Không chỉ có thế. Chàng trai trẻ Tây học tài hoa ấy, thuộc tầng lớp thanh niên ưu tú Hà thành những năm đầu thế kỷ XX, làm sao không biết đến bài thơ rực màu trần thế của một Arthur Rimbaud (1854-1891) thần tình, L'étoile a pleuré rose... : ai dám bắt bẻ chuyện không chừng nó đã gợi hứng cho họa phẩm ra đời ? Nhất là khi – từ vành tai, vai cổ đến bờ lưng, nét ngực – toàn thân người đẹp-nữ thần trong thơ như ngân lên một tiết tấu huyễn hoặc, làm xốn xang cả biển rộng, sao trời :

 

L'étoile a pleuré rose au cœur de tes oreilles,
L'infini roulé blanc de ta nuque à tes reins
La mer a perlé rousse à tes mammes vermeilles
Et l'Homme saigné noir à ton flanc souverain.

 

(Bản dịch theo gợi ý của Đăng Khoa [9]:

 

Sao trời khóc, lệ hồng tai mộng ảo

Vô biên lăn trắng cả ót lưng thân

Biển đọng giọt đỏ au đôi bồng đảo

Bên hông trần, ta chết lặng chôn chân)

 

 

Vâng, Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ là hiện thân của cái đẹp phổ quát cho nên – gần đây hơn – trong thi ca chúng ta, Chu Trầm Nguyên Minh (1943-2014) cũng đã khắc họa theo cùng đường nét :

 

Cổ em cao, tay mười ngón thiên thần

Tóc em xanh, trùng dương sóng lượn…         (Lời Tình Buồn)

 

Vai hờ, cổ cao, ngần ấy nét nữ tính đã đủ để quyến rũ chết người, không riêng gì trường hợp Rimbaud. Tô Ngọc Vân, nói cho cùng, cũng chỉ tuân theo sứ mạng nghệ sĩ : ghi lại những vết thần tiên tại thế. Trong một chừng mực nào đó, Tô tử [10] đã tiếp nối công trình đầy tính thuyết phục của một Gerard Ter Borch chẳng hạn, ở thế kỷ XVII, qua bức vẽ nhìn lưng Nữ nhạc sĩ trung-hồ-cầm lộng lẫy[11]. Và sau chàng, ít nhất cũng đã có một Gerhard Richter làm tái hiện vùng tóc dấu xinh xắn qua hình ảnh phía sau Betty (1988), một trong những tranh đánh dấu sự trở về của lối vẽ tượng hình trong nghệ thuật đương đại.[12]

 

        

 

La violoncelliste, Gerard Ter Borch (1617-1681)

 

 

Điều đáng nói là người họa sĩ tốt nghiệp Mỹ Thuật Đông Dương khóa II này của chúng ta đã làm hiển lộ, một cách tinh tế và hài hòa, cái nóng hổi hiện đại trên nền một âm hao truyền thống yên ắng dịu dàng, thể hiện qua màu áo trinh nguyên đi đôi với chùm hoa trắng.

 

 

 

Những xuyến xao nhục cảm, đối với chàng, vốn nằm trong thể chất con người và tùy lúc lung linh trên khuôn mặt nhân loại, mà nghệ thuật là tấm gương soi. Đã hơn một lần, Tô Ngọc Vân ngợi ca sự lên ngôi của giác cảm (sensualité) dưới ma lực diệu kỳ của bạn đồng môn Nguyễn Gia Trí, một trong những bậc phù thủy hội họa nước ta, trong thao tác vẽ tranh sơn mài của anh ta[13] :

 

“Trên những màu hồng nhợt biến hoá, những sắc nâu ngon thiệt là ngon, những vỏ trứng như đổi cả thể chất thành quí vật, vài nét bạc, vài nét vàng sáng rọi, rung lên, rít lên như tiếng kêu sung sướng của xác thịt khi vào cực lạc. Chàng nghệ sĩ ấy yêu tấm sơn như ta có thể yêu một người đàn bà. Lúc âu yếm bằng những nét vuốt ve mềm mại, lúc dữ dội bằng năm bảy nét quệt mạnh đập tung, cào cấu"...

 

cũng như trong hiệu quả nghệ thuật tuyệt vời đạt được:

 

“Trong những hình sắc ấy như ẩn hiện một chút gì huyền ảo, đắm say, nồng nàn còn run rẩy trong bóng tối hoà với máu, một sức sống còn bế tắc, một linh hồn kiên quyết, đam mê, đang quằn quại vì muốn thoát nhanh ra ngoài ánh sáng..."

 

Tương tự như thế, khi bàn về một cuộc triển lãm nhiếp ảnh[14], Tô tử cũng đã không ngại đi sâu vào từng chi tiết, từng dấu hiệu ý nghĩa nhất :

 

“Người ta thấy nhà mỹ thuật thận trọng, tằn tiện từng chút bợn sáng, hay ánh sáng lõa lồ, từng màng bóng hay đặc đen phủ lên phải chỗ, không quá tay, để ta cảm thấy điệu nhịp nhàng cân đối trong tấm ảnh. Cái chấm sáng trên môi của hình thiếu-nữ ngực lộ trần, nở nang và sám dịu, đã gợi ý sắc dục, một cách điều độ và có duyên. Nét mặt hơi tươi như sắp cười chìm trong nửa sáng nửa tối làm phảng phất một bầu không khí đầy yêu…"

 

 

 

Một ngôn ngữ hiếm thấy trong văn chương Việt, nhất là vào thời ấy. Thế mới « vỡ lẽ » : nhẩm lại bài tứ tuyệt của Rimbaud trên kia, ta mới thấy rõ ràng bây giờ là nó không thể nào xa lạ với vũ trụ Tô Ngọc Vân…

 

 

Có người dùng « toán học » để giải thích vì sao bức tranh Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ được yêu thích, bằng « quy luật » bố cục theo đường xoắn ốc vàng trong hội họa[15] . Nhưng phải chăng, đó chỉ là một thứ trò chơi chữ nghĩa, tuy có lý thú và thông minh thật, vẫn không cắt nghĩa được gì ? Mà lại ngàn dặm cách xa một chân lý hiển nhiên hơn : nghệ thuật không bao giờ ở chung với chủ nghĩa tất định (déterminisme), bất luận dưới dạng thức mô hình nào, mà luôn luôn mang máu thịt kẻ đã hoài thai, và chỉ lên tiếng với người đồng cảm. 

 

Nghệ thuật lúc nào cũng có gốc gác. Nó nằm trong phả hệ (généalogie) của xã hội, cuộc đời, trong mối tương quan giữa con người và ngoại giới. Mặc khải về hương sắc Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ, vì vậy, cũng cùng lúc khiến ta ngộ ra vẻ sung mãn xuân thì của thời đại đã sản sinh ra nó.

 

 

Những nét thanh tân và thành tích rực rỡ buổi đầu của hội họa Việt

                                      

 

Những kẻ đồng cảm nghệ thuật, nói như quan niệm ta vừa nhắc trên, thì Tô Ngọc Vân không thiếu : đó là một hạnh phúc. Nhưng hơn thế nữa, chàng còn có biết bao người đồng hành ngoại hạng, kể cả thầy dạy. Đó là một cơ may lịch sử.

 

Để tạo người đồng cảm, họa sĩ đã đầu tư khá nhiều vào việc nâng cao trình độ thẩm mỹ quần chúng. Có lẽ Tô tử là một trong những nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên quan tâm đến ngành phê bình và đã mạnh dạn nhóm lên ngọn lửa khai sáng bằng nghệ thuật giữa bóng đêm nô lệ : giáo dục thẩm mỹ là một khâu không phù phiếm trong toàn bộ cuộc cách mạng dân trí.

 

Trước hết, còn ai đủ tư cách hơn Tô Ngọc Vân để chỉ ra một sự thật phật lòng về ngành vẽ truyền thống dân tộc ? Họ Tô nói thẳng :

 

« Ngày xưa nước ta có hội-họa không ? Những tranh bảo là của các cụ để lại, chúng ta ít được xem quá. Một vài nhà còn giữ một vài bức truyền-thần, một vài tấm tranh hoa điểu, hay sơn thủy. Trừ những bức truyền thần rất hiếm, đại để những tranh đó tả phong cảnh Tầu, nhân vật Tầu, không một giấu vết gì giang sơn nước Nam cả, chứ đừng nói đến tính cách đặc biệt Việt-Nam nữa. Một sản phẩm giá trị ấy chỉ đủ cho ta tin là đã phỏng theo những họa phẩm mỹ-thuật Tầu. Phỏng theo một cách nô lệ chứ không phải là chịu ảnh hưởng […] Nếu các cụ khi xưa để ý đến hội-họa ! Làm gì chả dành lại cho họ một gia sản họa phẩm quý giá, làm gì ngày nay, họ, người Việt-nam, phải băn khoăn đi tìm một văn bản Việt-nam trong mỹ-thuật ! … » [16]

 

 

Một văn bản Việt-nam trong mỹ-thuật : cụm từ đầy chất học thuật này tóm lược cái dự án táo bạo và có lẽ đẹp nhất mà thế hệ thanh niên yêu nghệ thuật thời đó đã dám đề ra và làm được.

 

Nó là thành quả của một sự « tâm đầu ý hợp » tuyệt vời, giữa hai nhân vật lịch sử là Nam Sơn Nguyễn văn Thọ và Victor Tardieu. Người sau thường được thiên hạ – có thể do đầu óc bất công, xu nịnh lúc đầu, rồi sau đó thì thiếu thông tin – xua nhau xưng tụng là nhà (thay vì chính xác chỉ là đồng) sáng lập Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương trong khi, trên thực tế, ý tưởng và quyết tâm muốn mở Trường là của người trước. Những chứng từ quý giá và phong phú – phải nói là kho tàng mới đúng – của Ngô Kim Khôi[17] cùng Đinh Trọng Hiếu[18], bằng tiếng Việt lẫn tiếng Pháp trên mạng, đã góp phần làm sáng tỏ sự kiện quan trọng này. Song, ngay cả trong bài giới thiệu một cuộc triển lãm liên quan gần đây nhất tại Paris, vẫn còn sót lại nguyên si cái sai lầm đáng tiếc ấy trên « giấy trắng mực đen » của các… chuyên gia[19], không phân biệt vai trò hiệu trưởng (directeur) với nhà sáng lập (fondateur) !

 

Nam Sơn không phải chỉ đáng khâm phục do chí lớn và công lao với Trường – và do đó với dân tộc –, mà còn là một họa sĩ danh tiếng được nhìn nhận tài năng qua những sự kiện như : bức Trên bờ hữu ngạn sông Hồng… (1928) được Bộ MỹThuật Pháp mua, ông đã nhận Bằng khen thưởng ở Triển lãm quốc tế nghệ thuật thuộc địa tại La Mã năm 1931, bức Chân dung Mẹ tôi (1930) đoạt huy chương bạc ở Salon des Artistes Français năm 1932, v.v...

 

Họa sĩ Công Văn Trung ( khóa đầu tiên của Trường) đã tuyên bố năm 2003 : “Không có thầy Nam Sơn thì không có trường Mỹ thuật Đông Dương”[20]

 

                   

 

                          Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ (1890-1973)                                      

                             

                                       

      Victor Tardieu, tượng đồng (1935) của Georges Khánh



                                                                                                                                                         

 (sinh năm 1906, tôt nghiệp khóa đầu tiên)

 

 

 

Trong một bài báo tựa đề Les Premiers Pas de la Peinture Vietnamienne Moderne, in lần đầu trong Xuân Thu Nhã Tập năm 1942[21],Tô Ngọc Vân mô tả – với nhiều chi tiết dí dỏm thú vị –  không khí hăng say và hoàn cảnh ra đời của nền hội họa mới từ « cái nôi thiêng » của mỹ thuật Việt ấy. Nó lớn lên như Phù Đổng với nhiều lớp anh tài ở độ tinh hoa phát tiết, như một phép lạ dị thường.

 

Phép lạ ư ? Hình như vừa có lại vừa không.

 

Có, vì làm sao cắt nghĩa cuộc hạnh ngộ hi hữu giữa nhiều nhân tài giàu trí tuệ lẫn tâm huyết trên mảnh đất thuộc địa với nhãn quan nhân bản, phi-thực dân ?

 

Không, vì nó là kết quả của « mồ hôi nước mắt », của tầm nhìn, của phương pháp luận (méthodologie), của bao nỗ lực trút ra, đâu phải lúc nào cũng êm đềm, lãng mạn.

 

May thay, Nam Sơn không một mình, Tardieu không riêng lẽ : chân kiềng thứ ba của chiếc đỉnh kỳ diệu « đầu não » đã hình thành đúng lúc, qua sự xuất hiện kịp thời của Joseph Inguimberty, người thầy nhân từ dường như đã có lần vẽ cho Tô Ngọc Vân một bức chân dung[22]. Inguimberty – ngoài công lao xây dựng môn sơn mài hiện đại trong quá trình sư phạm – đã thổi thêm cho hoa thơm của nền hội họa non trẻ đó làn gió mát đến từ những cách tiếp cận mới, mà điển hình là phương pháp đi dã ngoại vẽ giữa thiên nhiên[23].

 

       

 

Chân dung Tô Ngọc Vân (1942), được cho là vẽ bởi Joseph Inguimberty [?] (1896-1971)

 

 

Rồi hoa thơm quả ngọt thu hoạch ngay từ những vụ đầu mùa của Trường Mỹ Thuật cứ phát triển, làm danh tiếng họa sĩ Việt Nam bay khắp thế giới, qua nhiều cuộc triển lãm khác nhau: Paris đã đành, mà còn tới cả những nơi không thuộc quỹ đạo Pháp như Rome (1932), Cologne (1933), Milan (1934), nước Bỉ (1935-1937), San Francisco (1937), Nhật (1940)…[24] !

 

Nhiều họa sĩ kỳ tài, chẳng hạn như Lê Văn Đệ, thủ khoa khóa đầu tiên của Trường, tiếc thay, ngày nay đã dần dà bị chìm trong quên lãng. Trong một bài viết không ở « kênh chính thức » nên không chắc được nhiều người biết đến, Nguyễn Thanh[25]  kể lại thành tích xuất sắc của người sinh viên gốc Bến Tre ấy sau khi được học bổng du học :

 

« Chỉ một năm vừa đặt chân tới “kinh đô nghệ thuật” Paris, Lê Văn Đệ đã có tác phẩm chiếm giải nhì trong cuộc thi mỹ thuật do Hội Nghệ sĩ Quốc gia Pháp tổ chức ngày 1/05/1932 […] Theo Đông Dương tuần báo, đã có hơn 40 tờ báo Pháp đưa tin và bình luận về các tác phẩm của Lê Văn Đệ […] Họa phẩm “Trong gia đình” tác giả vẽ năm 1934 được triển lãm tại Milan […] được Bộ trưởng Thương mại Pháp Lamoureux mua về, đem trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg tại Paris. Một thành công lớn cho tác giả đồng thời cũng là niềm tự hào cho nền mỹ thuật Việt Nam lúc bấy giờ, ngay đến như họa sĩ nổi danh Nhật Foujita cùng thời cũng chưa có được vinh dự ấy. Lê Văn Đệ chắc chắn cảm thấy hạnh phúc khi nhận biết mình là họa sĩ Á Đông đầu tiên có tác phẩm được trưng bày tại nơi vô cùng trang trọng…»

 

Thế là, cứ như …đương nhiên :

 

« Lê Văn Đệ trở thành người Việt Nam thứ nhất được kết nạp vào Hội Nghệ sĩ Pháp […] chàng sinh viên tài hoa đất Nam bộ tiếp tục nhận học bổng tu nghiệp thêm về hội họa tại Roma (Ý) ».

 

Nguyễn Thanh còn cho thêm nhiều chi tiết khác, trích từ một quyển sách xuất bản năm 1939[26] , tuy có hơi dài đối với khuôn khổ trang báo ở đây nhưng là hết sức đáng đọc, để biết và tự hào, như sau :

 

« Năm 1936, Lê Văn Đệ được vào đền Vatican xếp đặt các gian phòng Đông Pháp và luôn cả các nước Á châu gồm có Tiểu Á, Thiên Trước, Mã Lai, Xiêm La, Nam Dương quần đảo, Trung Hoa, Nhật Bản đến Úc Châu trong cuộc Đấu Xảo báo chí toàn cầu mở ra năm ấy. Lê Văn Đệ chỉ huy kiến trúc, điêu khắc, trang sức, hội họa, gia cụ. Dưới quyền họa sĩ da vàng có 1 nhà kiến trúc, 1 nhà điêu khắc, 3 họa sĩ, 1 kỹ sư, 5 chuyên viên trang trí... Tất cả đều là người da trắng ! …Cuộc Đấu Xảo này có trên 30 nước tham dự và có tặng thưởng của thành Rome (Ý). Nước Pháp cũng cử qua kiến trúc sư lừng danh Hilt và họa sĩ nổi tiếng Bouleau. Nhưng chỉ một mình Lê Văn Đệ vinh hạnh được lãnh công việc trong tòa thánh trước bao nhiêu tài nhân nghệ thuật khác. Khi thực hiện xong công việc, bức bích họa của Lê Văn Đệ chiếm giải nhất, được giới mỹ thuật Ý hết lời ngợi khen. Cũng trong năm này, họa sĩ có sáng tác thêm 2 bức bích họa hoành tráng mang nội dung tôn giáo khác được lưu trữ tại viện Bảo tàng Vatican… ».

 

Ít ngoạn mục hơn, nhưng không kém phần đáng trân trọng, là sự đón nhận thuận lợi mà giới nghệ thuật phương Tây đã dành cho tranh các họa sĩ ta mỗi lần được đem đi giới thiệu.

 

Nếu Vũ Cao Đàm đã được ca ngợi dưới ngòi bút của Jeannine Auboyer[27] năm 1949, trước khi bà trở thành giám đốc viện bảo tàng Guimet, thì ngay từ năm 1933 Lê Phổ [28] , Nguyễn Phan Chánh và Tô Ngọc Vân đều là những tên tuổi được báo chí nhắc tới nhiều với những lời khen tặng nồng nhiệt[29].

 

                                                                   x

                                                               x      x

 

Theo chân những bậc đàn anh như Lê Huy Miến[30], Nam Sơn, Tô Ngọc Vân và những đồng môn đã mở ra những chương tân kỳ, tráng lệ, cho hội họa Việt Nam. Cái đẹp đó đã thừa hưởng cái đẹp của những nhân cách lớn như Victor Tardieu và Joseph Inguimberty đã dũng cảm và khôn khéo làm những điều hữu ích cho nghệ thuật nước ta, bất chấp ý đồ khai thác của chính quyền thuộc địa.

 

Ta không có những triết gia như Michel Foucault (1926-1984) đã dành đến 13 trang sách để « đọc tới bến » trên bức tranh xưa Les Ménines của Vélasquez (1599-1660) [31] những gì làm say sưa thán phục cả thế giới : trí thức ta khiêm tốn, dè dặt với nghệ thuật hơn nhiều.

 

Thế nhưng, từ những nét xuân thì trên Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ đến bao sự kiện trong « gia phả » tiền nhân còn bị chôn kín, thậm chí bị lờ đi như trường hợp đáng « ngậm ngùi »[25] của một Lê Văn Đệ –  mà phía sau không chắc là đã không có bàn tay ý thức hệ –, con đường còn rộng thênh thang cho những tâm hồn yêu nghệ thuật, để thử làm cuộc « khai quật chân lý » tương tự như Foucault đã làm, trong một hành trình « khảo cổ » văn hóa Việt giữa mùa Xuân phơi phới này.       

Chú thích:

 

[1] Xem http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/1217/Khai_quat_ve_lich_su_truyen_giao_va_phat_trien_dao_Cong_giao_o_Viet_Nam

 

[2] Theo nghị định ngày 27/10/1924 trên Công báo, với khóa học đầu tiên khai giảng vào tháng 11 năm 1925 (xem : http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tintuc&action=detail&id=3468 )

 

[3]  https://en.m.wikipedia.org/wiki/To_Ngoc_Van_(crater) ; https://planetarynames.wr.usgs.gov/Feature/14589?__fsk=-1175379531

[4]   70 năm ra đời kiệt tác "Thiếu nữ bên hoa huệ": Trẻ mãi một nàng tố nữ ( 26/12/2013),

http://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/70-nam-ra-doi-kiet-tac-Thieu-nu-ben-hoa-hue-Tre-mai-mot-nang-to-nu-331505/ ; Chuyện chưa kể về Tô Ngọc Vân và bức vẽ cuối cùng (14/06/2009),  https://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/chuyen-chua-ke-ve-to-ngoc-van-va-buc-ve-cuoi-cung-n20090614045135605.htm ;

 https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/san-khau-my-thuat/so-phan-buc-tranh-thieu-nu-ben-hoa-hue-gio-ra-sao-1873229.html  ( 2/4/2002) ;

http://vietnamarts.vn/news/Tin-Tuc-Su-Kien-/17/Hoa-si-To-Ngoc-Van-%7C-1908---1954.html ;

 

 

[5]   Một bản « phục chế » mà tác giả cho là « tối ưu » hiện nay có thể được xem ở :     http://www.tranh-dep.com/y-tuong/ban-phuc-che-thieu-nu-ben-hoa-hue.html

                               

 

[6]   Ví dụ : Thiếu nữ bên hoa sen (1940) của Lương Xuân Nhị, và Thiếu nữ với hoa sen (1944) của Tô Ngọc Vân

 

[7]  Mời xem trong  http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=24150

 

[8]   http://tarotsanciens.canalblog.com/archives/2015/05/30/26192721.html

 

[9] Người viết chân thành cảm tạ hai thân hữu Đăng Khoa và Lê Miên Khương về những trao đổi lý thú và những gợi ý xác đáng trong việc « chuyển ngữ » bài thơ tiêu biểu này.  Xem thêm một phân tích đầy đủ về nó ở :   http://abardel.free.fr/petite_anthologie/l_etoile_commentaire.htm

 

[10] Tô Ngọc Vân còn ký tên qua các bút danh Tô Tử, Ái Mỹ, TNV

 [11] Gerard Ter Borch trong bức Joueurs de cartes cũng để lộ bờ vai tuyệt vời của nhân vật :

http://enigm-art.blogspot.fr/2011/02/personnages-de-dos-dans-la-peinture.html

 

Edgar Degas (1834-1917) cũng rất thích nét đẹp này, thường được ông lột tả, đặc biệt qua bức Le Tub, trình bày ở cuộc triển lãm Hội họa Ấn tượng lần thứ tám vào năm 1886.

Nói về mối quan tâm của họa sĩ Watteau (1684-1721) đối với phía ót phụ nữ, Nicole Avril trong tác phẩm Le Roman du visage (Plon, 2000), đã viết như sau :

« Toute la sensualité, chez Watteau, se condense sur la nuque des femmes. Là, point de maquillage et point de masque. C'est l'endroit le plus nu. A peine une mèche échappée du chignon ou une perle de sueur. La gracilité appelle le baiser. Watteau ne s'intéresse qu'aux femmes qui s'éloignent. Elles le renvoient à sa solitude, ne lui laissant que le souvenir de leur nuque. »

 

[12] Mời xem trong http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19779

 

[13] Trích từ hai bài viết của Tô Ngọc Vân đăng trên Ngày Nay số 146 năm 1939, và Thanh Nghị số 77 năm 1944

 

[14] Liên lạc hội-họa với nhiếp ảnh nhân cuộc triển lãm ảnh mỹ-thuật của ông Tranh, An và Nghi, tạp chí Thanh Nghị số 15, 6/1942, đang lại ở

http://soi.today/?p=2648

 

[15] TỈ LỆ VÀNG VÀ ĐƯỜNG XOẮN ỐC VÀNG TRONG HỘI HỌA (14/03/2011), Phùng Hồng Kổn,

 https://phungkon1.wordpress.com/2011/03/14/t%E1%BB%89-l%E1%BB%87-vang-va-d%C6%B0%E1%BB%9Dng-xo%E1%BA%AFn-%E1%BB%91c-vang-trong-h%E1%BB%99i-h%E1%BB%8Da/

 

[16] Tranh cổ Việt Nam, tranh Tết, Tô Ngọc Vân, tạp chí Thanh Nghị số 9, 2/1942, tr. 4-5), đăng lại ở : http://soi.today/?p=1718

[17] Trường cao-đẳng mỹ-thuật đông-dương (1925-1945) (l’école des beaux-arts de l’indochine), Ngô Kim Khôi,

http://damau.org/archives/6284

 

[18] https://www.maguytran-pinterville.com/arts/nouveau-inédit-nam-son-co-fondateur-esbai/

 

[19] Thư mục Triển lãm Du fleuve Rouge au Mékong (20/9/2012- 27/1/2013), Musée Cernuschi, Paris.

 

[20] Trích từ bài của Anh Chi ở http://phannguyenartist.blogspot.fr/2014/07/nam-son.html -> cần lưu ý ở trang này có lỗi viết sai tên Nguyễn Văn Thọ ( thành Nguyễn Vạn Thọ).

 

[21] Les Premiers Pas de la Peinture Vietnamienne Moderne, Tô Ngọc Vân : nguyên văn tiếng Pháp in lần đầu trong Xuân Thu Nhã Tập (1942) đăng lại trên mạng ở  http://hoamaiparis.com/A_VanModernPaintFR.htm

 

[22] 

Theo nguồn https://www.pinterest.fr/pin/536702480575738253/; tuy nhiên, trên vấn đề này, người viết xin chân thành cảm tạ nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi đã  cho biết ông hoàn toàn đặt nghi vấn về tính đích thực của bức tranh này : xin được cảnh báo cùng quý bạn đọc.

[23] Theo Thư Mục cuộc Triển lãm tranh Joseph Inguimberty tại Musée Regards de Provence (6- 12/11/2017),      https://www.artcotedazur.fr/actualite,109/exposition,110/poesie-de-joseph-inguimberty-a-decouvrir-des-le-6-mai,11228.html

                                                                

[24] Nguồn: https://hoasivietnam.wordpress.com/truong-my-thuat-dong-duong/

 

[25] Lê Văn Đệ nghệ sĩ hội họa bậc thầy, Nguyễn Thanh, http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=22569

 

[26] Một nhà họa sĩ ta : Lê Văn Đệ, Nguyễn Văn Hanh (Sài Gòn, 1939)

[27] Trong « Vũ Cao Đàm », France Illustration, Le Monde illustré, số 190(đặc biệt về Đông Dương) ngày 4/6/1949

 

[28] Bởi Albert Maybon trong Une nouvelle exposition de peintures annamites, Les Arts, 1933

[29] Báo La République, số ra ngày 6/3/1933

 

[30] Họa sĩ lê huy-miến (1873-1943): cuộc đời và tác phẩm(08.07.2009)

Ngô Kim Khôi, http://damau.org/archives/7257

 

[31] Les Mots et les Choses une archéologie des sciences humaines, Michel Foucault, coll. Tel, nxb Gallimard (1966), tr.19 - 31.

4/4/2018

Bùi Đức Hào

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Ngô Thụy Miên, giấc tình ca bất tuyệt


Ngô Thụy Miên, giấc
tình ca bất tuyệt

“L’amour est au monde pour l’oubli du monde

(Tình yêu có trên đời là để cho quên hết đời đi)” - Paul Éluard



 

Cuối thập niên 1960, đầu những năm 70 thế kỷ trước, nền tân nhạc Miền Nam Việt Nam đặc biệt khởi sắc với sự ra đời của nhiều bản tình ca ấn tượng, viết bởi “bộ năm” [1,2] những người nhạc sĩ trẻ, giàu sáng tạo, phần đông chỉ mới vừa xuất hiện vào thời điểm đó song đã nhanh chóng được quần chúng yêu chuộng, đó là: Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương và Ngô Thụy Miên. Toàn những tài năng ít thấy, ẩn dưới những cái tên ngân nga khéo chọn. Đẹp khơi gợi, như từng đường thư pháp tung bay…

Trong số những nhân vật sớm thành danh và đến nay vẫn tiếp tục được mến mộ đó, dù trực diện hay chỉ còn qua tác phẩm, bài viết này xin chỉ được đề cập riêng đến tác giả phần nhạc bài Áo Lụa Hà Đông, là người đã cống hiến bao đóa hồng vào hàng đẹp nhất cho vườn hoa văn nghệ Việt, không những trước 1975 và cả về sau, qua việc thử nhìn lại những nét tiêu biểu – nhưng đồng thời cũng không tùy tiện bỏ qua các chi tiết thuộc phần góc khuất, nhỏ mà chẳng phải vô nghĩa – trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác nổi bật của ông.

 

                

      Nhạc sĩ NGÔ THỤY MIÊN 

         tranh Ninh Pham Hi                                  

          

        

     

                 Tình Khúc Ngô Thụy Miên, băng nhạc đầu tay (Sài Gòn,1974)                                                                                  

         (sưu tầm trên mạng [sttm])                                                                                                                                                                                                                                                                  

                                                                                                                                                                                                                                                                                            

Từ ý nghĩa bút danh đến ý niệm sáng tác: cuộc hóa thân Tình Yêu qua lối mộng  

         

Theo lời kể của nhạc sĩ Bảo Chấn [3] thì cái bút danh của người bạn học gốc Bắc tên thật là Ngô Quang Bình này (sinh năm 1948 tại Hải Phòng) bắt nguồn từ việc anh ta hay… ngủ gật trong lớp, vào những giờ có môn anh chán: từ điển Đào Duy Anh quả có ghi Thụy  là điềm tốt (và Thụy  là ngủ); Miên  cũng là ngủ.

 

Nhạc sĩ họ Ngô (chữ có nghĩa là “Ta, tiếng tự xưng”)[4], như vậy, hẳn đã chọn bút danh với một chủ ý, một quan niệm sáng tác được xác định ngay từ đầu. Tác giả Mùa Thu Cho Em đã có lời phát biểu hùng hồn sau đây, gần như cho một thứ “cương lĩnh nghệ thuật” nhắm tới con người trong mối quan hệ toàn diện của nó với nhân thế và thiên nhiên kể cả môi trường, là điều rất mới:

 

“Tôi có tham vọng là muốn mang lại cho thế hệ tuổi trẻ chúng tôi một niềm tin, một niềm hy vọng mới cho tương lai khi con người sẽ thương yêu nhau, sẽ quên đi những mất mát, những hận thù đang xảy ra hàng ngày quanh mình. Qua những bản tình ca trong sáng, lãng mạn và mộng mơ, tôi hy vọng mình đã mở ra được một cánh cửa khác cho tuổi trẻ cuả thế hệ mình, và ở đó chỉ có tình yêu giữa người và người, tình yêu giữa người và cuộc sống, cũng như cuả thiên nhiên, của thời tiết, khí hậu. Âm nhạc với tôi là một món quà cuả Thượng Đế, và cũng chính là tình yêu.” [5]   

 

Một ý đồ trong suốt và đầy thiện chí. Một dự phóng nồng nàn lý tưởng thời đại. Hãy để thời gian và các chuyên gia có thẩm quyền giúp ta đánh giá mức thành tựu của những mục tiêu cao đẹp đó. Điều có thể nói ngay ở đây là chính đam mê âm nhạc đã đưa Ngô đến với say đắm tình yêu, rồi một mối quan hệ hai chiều từ đó được xác lập. Tính chất tuyệt đối trong cái trước – “món quà của Thượng Đế”, như ông nói – trở thành yếu tính (essence) cái sau: tình yêu Ngô Thụy Miên, vì thế, mang màu sắc siêu nghiệm (transcendance).[6]

Về điểm này, ông không phải là trường hợp duy nhất. Bởi có một Nguyễn Đình Toàn – như đã từng được phân tích trên mặt báo này[7] – là người, qua lời ca đặt cho bài Tình Khúc Thứ Nhất [8], đã tạo nên một tuyệt phẩm làm bệ phóng cho nhạc Vũ Thành An từ đấy và đồng thời cũng đã góp phần «đánh dấu một thời kỳ, thâm nhập tâm thức một thế hệ bị rẻ rúng phụ bạc: càng hoang mang thất vọng trước thực tại, càng khát khao mơ ước những sắc màu vĩnh cửu».[7]

Song, nếu họ Nguyễn «tẩm liệm tình yêu trong đắng cay, chua xót, để rồi – như một phản xạ tự giải cứu – tìm ra cho mình liều thuốc qua giấc mơ Tuyệt Đối […]»[7] , là điều ta đã đọc được trong bài hát nổi tiếng «số một» của ông, thì họ Ngô trái lại hầu như lúc nào cũng tôn vinh một thứ hạnh phúc êm đềm, có hậu, kể cả khi cuộc tình hãy còn xa xôi chưa tới hoặc, ngược lại, đã vuột khỏi tầm tay.

 

Vì vậy, nhìn qua sáng tác, có thể nói luyến ái quan Ngô Thụy Miên mạnh trong ước muốn vượt cả thời gian lẫn không gian, và vững nhờ dựa trên hai cột trụ chủ yếu sau đây:

 

Một là Tình Yêu vô điều kiện, thể hiện rõ nét nhất qua câu kết «số mệnh», chắc như đinh đóng cột, của bài ca biểu tượng Niệm Khúc Cuối: «Tình ơi! Dù sao, dù sao đi nữa, tôi vẫn yêu em».

Ngay cả khi chủ thể có tỏ ra bớt cực đoan đi nữa, thì tình yêu – trong trường hợp phải chia tay – vẫn được khẳng định một cách tế nhị bằng thể nghi vấn phiếm định (theo lối hỏi-là-đáp và có-là-không, tựa hồ đang đứng trước một vấn nạn triết học gai góc), như ta có thể thấy ở câu chót Bản Tình Cuối :

 « …Trên cuộc tình yêu em ngày nào/ Ta vẫn yêu hồn ta vẫn say/ Qua bao nhiêu năm tháng ơ thờ/ Một ngày nào đó tóc xanh xưa bạc màu/ Một ngày nào đó ta có thôi hết yêu người».

 

Đến từ họ Ngô, một khi đã nghe quen, ai cũng biết dẫu cho thế nào thì cuối cùng vẫn có sự xác nhận của tình yêu bất biến, mà đoạn sau đây trong Bản Tình Ca Cho Em là một bằng cớ: “…Anh chúc cho em dù lòng nghe đắng cay/ Một ngày nào đó dẫu tình ta đã lỡ/ Một ngày nào đó ta vẫn yêu mãi người thôi”.

 

Hai là Tình Yêu phi sử tính (anhistorique), sợi chỉ đỏ xuyên suốt hầu hết các tác phẩm, nguồn năng lượng bất tận cho một niềm tin mãnh liệt ở sức sống của con tim, vượt lên trên các phạm trù thế sự và đứng ngoài thực giới: bất chấp thời đại có thấp thỏm sang trang, bất luận hoàn cảnh cá nhân có rậm rật xoay chiều, bất kể tâm lý tha nhân có đoái hoài tâm tưởng …

Điều này dễ khiến người ta trách tác giả đã lấy một chọn lựa quá ư an toàn, bàng quan sống cách ly trong «ổ kén». Nó hoàn toàn đối cực với lập trường của nhiều nhà viết nhạc cùng thời, kể cả những người không điển hình là phản chiến dấn thân như Trầm Tử Thiêng[9]chẳng hạn.

Bài Mùa Thu Cho Em, chính thức ra mắt năm 1967, và sự thành công của nó trước công chúng Miền Nam (sau tác phẩm đầu tay Chiều Nay Không Có Em được viết hai năm trước đó, khi Ngô Thụy Miên mới 17 tuổi) có thể được xem là một ví dụ «minh họa kép» (double illustration) cho khuynh hướng chối từ hiện tại ấy của một thời Đất nước lao sâu vào máu lửa. Là vì, về phía người sáng tác thì đã phải đi tìm cảm hứng từ mãi tận nguồn thơ tiền chiến Lưu Trọng Lư. Còn về phía người nghe, hầu hết giới trẻ hồi ấy đều mê thích bài hát (một trong những bản được yêu cầu nhiều nhất trên đài phát thanh Sài Gòn [10]), như thể họ say sưa đắm mình trong sinh quyển lãng mạn nối dài; và, thoạt trông, chẳng mấy ai bị «nhiễu» bởi những ca khúc «đối thủ cạnh tranh» chung quanh, cho dù đó là những kiệt tác-chứng tích thời đại, những tiếng kêu đứt ruột xé lòng, như Tình Ca Người Mất Trí (Trịnh Công Sơn) hay Kỷ Vật Cho Em (Phạm Duy)…

 

Mặt khác, đứng trên phương diện lịch sử nghệ thuật, trong một số trường hợp «kinh điển» được các nhà nghiên cứu ngày nay nhắc tới [11]như của Beethoven, Schubert và Wagner, người ta cho rằng hình như có một thứ quan hệ «ngẫu phát» giữa tác phẩm với cơn mơ trong giấc ngủ. Vậy thì, cũng có thể hình dung – trong một phút giây kỳ diệu nào đó, tại sao không? – Thụy Miên của chúng ta mơ màng nắm bắt những nốt nhạc mở đầu chợt hiện đến; rồi sau đó, trọn thân bài hát cứ tiếp tục thành hình: chuyển hóa theo một quy trình vòng tròn, tác phẩm được thai nghén trong chiêm bao những «cơn mê chiều» sung mãn như thế, để ngợi ca tình yêu với đời, mà dung nhan của chính tình yêu đó thì lại chỉ hé lộ khi chủ thể về lại… cõi mơ. Nói cách khác, tình yêu Thụy Miên chỉ thật sự vỗ cánh, được ban cho đầy đủ các phẩm tính và sự chở che mầu nhiệm trước cuộc đời, khi nào nó chạm đúng chiếc đũa tiên đỡ đầu huyền ảo của mộng giới. Tiếng Việt dùng từ kép thơ-mộng để nói về một vẻ đẹp thanh thoát, gợi hứng nào đó, như chính sự khắng khít của cặp bài trùng sánh đôi suốt chiều dài văn học này. Thay «thơ» bằng «nhạc», ta sẽ đi vào mỹ học nhị nguyên Ngô Thụy Miên.

Thế còn người yêu? Thì vẫn «thẩm thỉ với ai ngồi dưới trúc», có đó, trong cùng thế giới: là người tình được mặc khải vào những thời khắc diễm tuyệt nhất, thường hiện đến với ta, hoặc trong mơ (nào ai quên được câu “Đêm qua nằm mộng thấy Thương Thương”!), hoặc như mơ, trên đường biên hư thực, nơi “sương khói mờ nhân ảnh”, như thiên tài Hàn Mặc Tử đã từng mô tả…

 

Mơ là cánh cửa diệu huyền mở ra cho cuộc sống. Cho nên, cũng trong đoạn cuối bài Mùa Thu Cho Em, ta nghe lặp lại đến những năm lần chữ «mơ» linh nghiệm:

 

Em có mơ mùa thu cho ai nức nở/ Em có mơ, mơ mùa mắt ướt hoen mi/ Và em có mơ khi mùa thu tới/ Hai chúng ta sẽ cùng chung lối/ Em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương…

 

Một quan niệm như vậy có là quá viễn vông, vị kỷ và phản thời đại không?

 

Thiết tưởng rằng không. Bởi vì, bao lâu thân xác còn ôm nhịp chu kỳ thức/ngủ, trái tim còn đập và bộ óc không ngớt vận hành, thì con người vẫn luôn cần đến mơ tưởng và tình yêu. Đồng thời, phải nhìn nhận rằng đó cũng là một cách hữu hiệu để tách tác phẩm ra khỏi sự chi phối đáng sợ của cái thường nhật, sự khống chế cay nghiệt của tình thế. Để bảo toàn, nếu không nói là cứu vớt, những khả năng tiềm ẩn quý báu, những xung lực đa sắc nền tảng, bất khả phân ly trong đời sống – không phải chỉ riêng trên mặt tinh thần thôi đâu – của con người…

Do đó, nếu muốn công bằng dứt điểm với những gì trình bày ở trên, ta không thể loại trừ khả năng giới sinh viên học sinh Miền Nam thuở ấy, trên thực tế, đã biết nhận ra cùng lúc tiếng dội bi đát từ những Đại Bác Ru Đêm, Người Con Gái Việt Nam Da Vàng (Trịnh Công Sơn) song song với lời ru êm ái của dòng nhạc trữ tình.

 

Như vậy, chính toàn bộ sự đa dạng của cuộc sống – bất luận đang trong chiến tranh hay hòa bình – và tính đa diện những nhu cầu cùng tâm lý con người hợp lại mới thành tác nhân đầy đủ dẫn đến sự đón nhận mà đa số quần chúng, hôm qua cũng như hôm nay, dưới mọi góc trời, đã nồng nhiệt dành cho nhạc Ngô Thụy Miên. Đó là một phán quyết, là quyền bính, quyền bình chọn của người thưởng ngoạn: điều quan trọng bậc nhất đối với bất cứ ai làm nghệ thuật.

 

Những nét lạ trong âm nhạc Ngô Thụy Miên

 

2.1 Tình Yêu như một trải nghiệm tích cực tự thân                           

 

Tự nhận là “sứ giả của tình yêu” [12], nhạc sĩ họ Ngô dành sức sáng tạo đời mình để viết tình ca, và chỉ tình ca mà thôi. Ông may mắn được nằm trong số ít ỏi những nhạc sĩ có thể hãnh diện tuyên bố “sống để viết chứ không phải viết để sống” Thêm vào đó, có những bài ông viết chỉ để cho riêng mình…

 

Không dính dáng đến sinh kế, không bị tì vết bởi những lo toan tiếp thị hay lùm xùm showbiz, tác phẩm của ông thong dong bay bổng, với những đề tài, phong cách và thời hạn sáng tác hoàn toàn tự do. Nếu ai đó có chút nào hơi tiếc so với tài năng và tiềm lực sẵn có của ông, sẽ dễ trộm nghĩ rằng chắc vì do không nhận được thôi thúc từ bên ngoài nên danh mục sáng tác – khoảng trên sáu mươi [13] hoặc bảy mươi[14] bài, tùy theo nguồn – tương đối là không nhiều. Song, vấn đề không ở đó: trong văn nghệ, không phải lượng mà phẩm mới là cái chính.

 

Tình ca Ngô Thụy Miên, nói chung, đa số đều đạt. Băng nhạc đầu tay, gồm những bài viết trong giai đoạn 1965-1972, do tác giả thực hiện năm 74[15], với sự góp mặt của nhiều nghệ sĩ hàng đầu lúc đó, đã làm ông nổi tiếng và nhanh chóng trở thành một hiện tượng [13]. Ca sĩ Tuấn Ngọc có lần ví von rằng, nếu như ra đời ở Mỹ và theo cách Mỹ, thì sản phẩm ấy đã xứng đáng nhận được nhiều giải Grammy…[1]

 

Điểm đầu tiên, như vừa được khởi sự đề cập, «Miên Tình Ca»  là những bài hát nhẹ nhàng, dễ thương, dễ hát. Nói về cuốn băng đầu tay của mình, Ngô Thụy Miên có tâm sự rằng “những bài tình ca này đã đánh dấu một quãng đời mà tôi nghĩ là đẹp nhất cho tuổi trẻ của tôi” [16]. Bởi thế, nhạc của chàng dịu dàng, từ tốn, không cường điệu, dù trên mặt này hay mặt khác. Và nhất là chẳng bao giờ bi lụy, ai oán hay chua chát, tuyệt vọng.

Nếu cuộc tình có đi đến chỗ bất thành ư? Thì đối tượng ấy cũng sẽ hóa thành bất tử theo tác phẩm, một khi được người đời yêu thích, và không nhất thiết chỉ với tư cách một “nàng tiên cảm hứng”  khuyết danh thôi đâu: hãy xem trường hợp bài Giáng Ngọc, xuất phát từ sự gặp gỡ với một nữ sinh Trưng Vương có “vẻ đẹp lãng mạn, kiêu sa” mà tác giả đã say mê, đến độ tự đặt tên cho [17] và lấy luôn đó làm tựa; chẳng bao lâu, nó đã đi vào huyền thoại.

Còn nếu, ngộ nhỡ, những hờn dỗi, cách xa – thậm chí cả sự chia phôi – có xảy ra ư? Người nhạc trưởng họ Ngô vẫn ung dung giữ đều nhịp đũa thăng hoa trên chất liệu cuộc đời: mỗi thứ đều như được hóa thành một phần tử nhạc cụ-nhạc công cá biệt nào đó, một chỗ xứng đáng trong dàn giao hưởng sáng tạo vĩ đại của chàng… Tình yêu có thể ra đi, song lý tưởng thẩm mỹ ở lại. Trung thành. Bất tận. Gây bâng khuâng xao xuyến, như dư âm câu nói chàng có lần thổ lộ: “cái đẹp của cuộc tình là có đổ vỡ nhưng mà vẫn thấy nó đẹp”.[18]   

 

Lửa ấy, tình cảm ấy, ẩn hiện theo nhịp đời trên khuôn mặt «thư sinh muôn thuở» của người nhạc sĩ tài hoa, ngay cả khi chàng bắt đầu có tuổi: nhạc là người!

Sự nồng nàn, tươi tắn, dễ nhận ra ấy qua mỗi cuộc đối thoại với tình yêu trong tác phẩm, là hệ quả tất nhiên của thực tế sống do chính Ngô trải nghiệm ngoài đời: không như những kẻ ra đi rủi ro gặp thảm cảnh giữa biển khơi hay bi kịch trên đất người, và tuy cũng có lúc phải sống với bao thử thách (tình duyên gián đoạn, nằm trại tị nạn nửa năm…), tác giả nói cho cùng vẫn là người may mắn; và chuyện tình Thụy Miên vẫn diễm lệ, chỉn chu, gương mẫu. Ngoài hình tượng ít ỏi đôi bóng hồng đã góp công gợi hứng sáng tác, mấy mươi năm sự nghiệp tình ca Ngô Thụy Miên dường như chỉ chủ yếu dựa trên một nguồn thi cảm duy nhất, độc tôn, không vơi cạn: đó chính là người yêu-bạn trăm năm Đoàn Thanh Vân của nhạc sĩ.

 

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên và phu nhân Đoàn Thanh Vân

(trong dịp Nghiêm Xuân Cường phỏng vấn)[16]

 

Albert Camus, trong Le Mythe de Sisyphe (1942), có viết “Il n'y a d'amour éternel que contrarié (Chỉ có tình yêu vĩnh cửu khi nào nó bị nghịch cảnh trái ý)”. Họ Ngô, qua quá trình sống chung tình, bằng phẳng, đã chứng minh cái ngược lại. Điều này hiếm thấy trong giới nghệ sĩ và, tự nó, sáng đẹp. Khiến ta không thể không đề xuất mệnh đề này, mà điệp ngữ trung tâm là dấu ấn tượng thanh của tiếng vỗ tay cho con người và tác phẩm: đằng sau cái thần nghệ thuật, có thần đạo đức.

 

Nhạc tình Ngô Thụy Miên, vì thế, không có chỗ cho hoang mê cuồng vội, trách cứ thở than hay uất ưu phẫn hận (ressentiment). Ở đó, dù buồn, vẫn không thấy lai vãng bất cứ nỗi đắng cay, dằn vặt nào. Một nhận xét không do suy luận chung chung, mà đến thẳng từ tác phẩm, và được thêm chính nhạc sĩ xác nhận qua câu trả lời này, trong một lần phỏng vấn: “Nhạc của tôi, luôn luôn tôi muốn viết cho được vui; mặc dầu là một chuyện buồn, nhưng mà về ý nó vẫn vui”.[19]

 

Bức tranh Ngô Thụy Miên thường hiện ra như thế: dưới một gam màu tao nhã, đằm thắm, một bố cục cổ điển, hồn hậu, tưởng đã quá “nhàm mắt quen tai” nhưng kỳ thực vẫn chứa nhiều nét lạ và lung linh cảm tính. Nhạc ông tươi trẻ, tròn đầy. Hiền lành, ý nhị, nó thẩm thấu tâm tư. Dễ gợi cho kẻ từng trải, nơi này, nhớ về những trang kỷ niệm – dẫu có nhàu nát đi nữa vẫn mãi bất ly thân – đậm dấu đời mình. Cho tuổi trẻ đương thì hoa mộng, nơi kia, nó vén mở khung trời ngưỡng vọng, đánh thức những giá trị trong sáng, trường cửu: liều thuốc khử linh diệu là đây, trước những nhiễu nhương thời thế đã qua, cũng như những bóng ma vất vưởng bây giờ…

 

 

 

 

 Nhạc thuật

 

Trên bình diện kỹ thuật, không hổ danh xuất thân Quốc Gia Âm Nhạc và học trò danh sư – các thầy Hùng Lân dạy nhạc, Đỗ Thế Phiệt dạy vĩ cầm –, Ngô Thụy Miên đã tỏ rõ qua các thành tựu rằng nhạc hay cần có đào tạo giỏi. Đến với tác phẩm của ông, kẻ sành điệu không bao giờ bị rơi vào tình trạng                                                           cảm thấy một chút nghèo thiếu, đơn điệu, nào đó trong nhạc ngữ – hoặc thậm chí, tệ hơn, phải đụng với những nốt gượng gạo (không khớp lời chẳng hạn, do tiếng Việt có dấu!) – như trong trường hợp một số bài hát cùng thời: tài năng nghệ sĩ là một chuyện, nhưng trình độ lý thuyết và tính chặt chẽ (rigueur) của người viết nhạc mới là điều kiện đảm bảo hình hài cứng cáp tinh khôi của đứa con anh ta cho ra đời.

Nghe băng nhạc Tình Khúc 1974, người ta thấy rõ Ngô Thụy Miên lúc đó đã đạt tới đỉnh cao của một tài năng chín muồi: trên suốt 17 bài hát được trình bày, tất cả các yếu tố tiết tấu, giai điệu cũng như hợp âm đều đúng chuẩn, hài hòa, đa dạng và nhất là lôi cuốn. Cái thần trong nghệ thuật họ Ngô, như vừa nói trên, được biểu hiện có lẽ qua ít nhất là ba thành tích, bắt nguồn từ ba cách tiếp cận khác nhau trong sáng tác, mà ta có thể lần lượt điểm qua.

 

                2.2.1/ Thứ nhất, là sự làm mới âm nhạc trữ tình Việt Nam theo một khuynh hướng mà Phạm Duy gọi là «tân lãng mạn», trong tập Hồi Ký [20] của ông.

 

Nói về những sáng tác đầu đời của nhạc sĩ họ Ngô, có ý kiến cho rằng ông đã chịu ảnh hưởng nền văn nghệ lãng mạn Pháp,[21] hoặc nhạc tiền chiến Việt[13]. Bản thân tác giả cũng đã bộc bạch về điều này[22,23], cùng với sự ngưỡng mộ đặc biệt dành cho[24]hai khuôn mặt lớn mà ông có nói «yêu quý nhất» của dòng nhạc đó, ngoài chuyện cùng đồng hương Hải Phòng: Văn Cao và Đoàn Chuẩn. Những sáng tác khởi nghiệp của ông đúng là chứa nhiều nét nên thơ – đôi lúc ngây thơ – khá tiêu biểu cho những mối tình «tuổi măng tre» [25] áo trắng học trò. Dưới con mắt một thanh niên sành đời trước tuổi, bài ca rất có thể có đôi chút ngây ngô, non nớt, như cử chỉ ai kia còn quá e ấp, ngại ngùng. Nhưng, ngay như thế, cũng không thể chối cãi rằng nó chưa bao giờ thuộc loại «sến sướt» hay thương mại thị trường. Cấu trúc và diễn ngôn ca khúc rất có thể bị cho là đơn sơ, thậm chí dễ dãi, song vẫn đẹp. Mấu chốt là ở đó, như một định đề mỹ học bất di dịch: nghệ thuật và cái tầm thường khác nhau ở chỗ là có tạo ra được mỹ cảm hay không.

 

Ngô nắm chắc trong tay chìa khóa ấy. Nghiêm Xuân Cường có lần đặt một câu hỏi mở, khá hóc búa, về “chữ ký âm nhạc” của nhạc sĩ trong tác phẩm[16]: với tư cách người thưởng ngoạn, ta vẫn có thể tự tìm câu trả lời cho chính mình bằng cách dò lại cảm quan và ký ức. Điều chắc chắn là nhạc tình “tuổi ô mai” của họ Ngô hoàn toàn khác – và chẳng hề thua sút – so với những sáng tác cùng loại của một Phạm Duy chẳng hạn (Con Đường Tình Ta Đi [25], Trả Lại Em Yêu [26]). Cũng thế, nếu sánh với Từ Công Phụng (ngoại trừ tuyệt tác đầu tay Bây Giờ Tháng Mấy của người nhạc sĩ đa tài gốc Chàm khả ái này), tình ca Ngô Thụy Miên ngay cả khi đẫm nét tương tư cũng không bao giờ bị sa vào sự ướt át, thậm chí điệu đà (bàng bạc trong một số ca khúc họ Từ, theo những phản hồi chủ quan nhưng chân thực và được thẳng thắn chia sẻ bởi nhiều bạn yêu văn nghệ), nghĩa là: nhạc, không lấy tempo quá đỗi từ…Từ, lững thững đi theo các mô típ nhung êm đã mòn mỏng [27]; ý, không dệt thêu những ảo tượng vỗ về dễ dãi; lời, không mượn khi thì những hình ảnh “đỉnh” này “mây” nọ mút mắt xa cao, khi thì – ở thái cực đối nghịch – những tiếng … “sát rạt mặt đất” (đây là chỉ đứng trên quan điểm khảo sát thuần túy, về mối tương quan đối chiếu với phong cách họ Ngô mà thôi), cỡ như “điêu ngoa”, “gian dối” (được dùng trong bài Như Chiếc Que Diêm, là tác phẩm mà khi đứng riêng thì tỏa sáng, với một sức hút dĩ nhiên không chối cãi).

 

Như vậy, trong nhạc lãng mạn Ngô Thụy Miên, nói theo thuật ngữ của đàn anh họ Phạm, đâu là cái tân?

Xin thưa, đó là nhịp điệu và nhạc sắc (hay màu sắc, nói theo cách của Âu tây, chủ yếu nhờ sự thay đổi hợp âm và tìm tòi giai điệu). Ví dụ điển hình là bài Giọt Nước Mắt Ngà chẳng hạn: câu nhạc uyển chuyển, nhịp nhàng, từng bước chuyển cung, xoay nhẹ như động tác khiêu vũ, rồi lướt đi, óng ả, ngọt ngào, như tiếng hạ-uy-cầm vuốt theo từng con sóng hải đảo…

                                                 

Đằng khác, nếu phải nêu ra một đặc trưng làm mẫu số chung cho phần đông sáng tác – nhất là trước 1975 – của Ngô Thụy Miên, có lẽ người ta có thể đề nghị mẫu thức này: câu nhạc mở bài thường mang dấu nhấn nốt cao, thảng thốt vút bay (như muốn vội vàng vứt bỏ hết sau lưng những “nhàm-nhạt-lây-lất-qua-ngày” để vươn tới một chốn quân bình mới, nơi hẹn hò tâm sự của những nỗi lòng sâu lắng). Đó là điều khá dễ nhận ra, ngay từ bài đầu tiên Chiều Nay Không Có Em, và tiếp theo, như Giọt Nước Mắt Ngà, Từ Giọng Hát Em, Mắt Biếc, Tuổi Mười Ba…

 

                2.2.2/ Thứ hai, là sự kết nối hoàn hảo với thi ca, qua sự gặp gỡ Nguyên Sa-Ngô Thụy Miên mà có người cho là «định mệnh»[28],  đã tạo nên một thứ “hiệu ứng tao đàn” thuận lợi trong sự quảng bá rộng rãi và gắn liền tên tuổi đôi bên.

 

Tác giả thì nói đến “duyên” [17] nhiều hơn, và có viết về quá trình cuộc hạnh ngộ đó như một lời tri ân, ngay sau khi hay tin nhà thơ mất, năm 1998: «Tôi đến với thơ Nguyên Sa, không từ một chọn lựa, mà vì tôi đã nhìn thấy mình trong thơ của ông, đã nghe những rung động thầm kín nhất của tuổi trẻ mình được ông tạo lên bằng những lời thơ ngọt ngào tình tứ, tươi mát». Nhạc sĩ chân thành nhìn nhận: «Áo Lụa Hà Đông, Paris Có Gì Lạ Không Em, Tuổi 13, đã trở thành một phần đời nhạc Ngô Thụy Miên».[28]

Đối lại, theo Hoài Nam[29], nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan cũng đã từng bày tỏ niềm vui sướng đặc biệt của mình khi nghe Duy Trác thể hiện ca khúc Áo Lụa Hà Đông, bài hát đã nhanh chóng được nâng lên hàng biểu tượng. Và cũng đúng như nhận xét của nhà biên tập tài ba đất Úc này, cái hay của Ngô là biết lấy cảm hứng sáng tạo từ nguyên tác – ở đây, cũng như đối với những nguồn khác mà ta sẽ thấy – nhưng không hề bị ảnh hưởng đến độ để mất đi cá tính.

Mỗi thi sĩ, mỗi bài thơ thường đem tới cho người phổ – trong phạm vi tác phẩm ta phân tích – một hơi thở mới, một giọng điệu khác với bình thường, làm phong phú chất liệu lẫn ngôn từ, câu cú, khâu khổ, có khi thay đổi cả cấu trúc nhạc cố hữu của mình (đến độ khiến cho có người nói chắc mẩm ngay, như thể là một mối quan hệ nhân quả, rằng “Ngô Thụy Miên định hình phong cách riêng” sau loạt bài phổ thơ lúc khởi nghiệp[13]).

Dù không thể quả quyết như vậy về tác dụng định hình nhạc thuật nói chung, ta vẫn dễ dàng nắm được sự kiện Ngô Thụy Miên đã tự sở hữu nhiều tố chất – không chỉ giới hạn riêng trên mặt hình thức – xuất phát từ vũ trụ thi ca Nguyên Sa. Nhạc sĩ còn đi xa hơn, cho ra đời nguyên cả ca khúc hẳn hòi, thoạt nghe tưởng là do phổ thơ nhưng không phải (như trường hợp bài Tình Khúc Tháng Sáu Ngô tự viết lấy năm 1970, trước khi phổ bài Tháng Sáu Trời Mưa đích thị của Trần thi sĩ, mãi 14 năm sau) [28]: phải chăng đó là một cách ngoạn mục để chứng tỏ sự thoát Nguyên Sa trọn vẹn, và độ chín tài năng của chàng?

 

Điều này không qua khỏi mắt một Nguyễn Đình Toàn tinh tường, uyên bác, ngay từ những lúc đầu tiên:

 

“Trong những ca khúc mà Ngô Thụy Miên viết cả lời ca, ông đã cho người ta thấy ông đã mở những cánh cửa thế giới riêng của mình […] Phổ thơ Nguyên Sa là một giai đoạn. Ngô Thụy Miên vẫn còn có thể tiếp tục làm công việc này, nếu ông còn tìm thấy sự đồng điệu trong những bài thơ khác của Nguyên Sa. Kosma phổ rất nhiều thơ của Prévert. Nhưng Kosma vẫn cứ là Kosma và Prévert vẫn cứ là Prévert, nếu không muốn nói đó là một cuộc hôn phối tuyệt đẹp giữa thơ và nhạc.” [24]

 

Đến đây, tưởng cũng nên bổ túc thêm rằng, ngoài Nguyên Sa là chính, Ngô Thụy Miên còn phổ thơ của một số người khác – kể cả tác giả từ quần chúng, như ta sẽ thấy sau –, trong đó đặc biệt có Phạm Duy Quang mà sáng tác thơ đã sớm lọt cặp mắt xanh họ Ngô để trở thành lời ca cho bài Tình Khúc Buồn: một ca khúc thành công, hiện đại, trong đó đặc biệt nhạc sĩ có xử dụng tuyệt chiêu «bỏ nhỏ» chữ “buồn” da diết, trĩu nặng ở cuối câu, đọng lại trong ta như một ám ảnh khó rời…

 

                 2.2.2/ Thứ ba, là nỗ lực cách tân lãnh vực ca khúc Việt qua sự tích hợp âm nhạc phương Tây một cách hài hòa, thuần Việt.

 

Đây là điểm ít thấy nói tới, nhưng đáng được nhấn mạnh, ngay cả khi đem so với Cung Tiến, do chỗ vị nhạc sĩ đàn anh ưu tú và nhiều hào quang này, dù vậy – theo thiển ý –, vẫn không nhuần nhị bằng Ngô Thụy Miên trong cách chêm chút «Tây hóa» vừa đủ đúng liều lượng, để làm mới và làm giàu cho nền tân nhạc. Nên nhớ rằng sở dĩ có được như thế, hoàn toàn không phải do ngẫu nhiên mà là kết quả của một quyết định can đảm và sáng suốt: từ rất sớm, chàng Ngô đã biết...cắn răng thắt ruột «cất bỏ» hai tác phẩm thực sự đầu tay (sáng tác trước bản Chiều Nay Không Có Em), chịu hai ảnh hưởng khác nhau, mang tên Người Tình Mắt Xanh và Bến Thương; chỉ vì lý do tự nhận thấy bài trước thì lỡ “mang nhiều nét nhạc cổ điển, cầu kỳ với những nốt, quãng khó hát, thích hợp cho dàn nhạc hoà tấu hơn là ca khúc”, còn bài sau thì “nghe đầy âm hưởng Tiền Chiến, với những lời ca ướt át…” [30] Quả là một cái nhìn xuyên thấu, thấy trước được rất xa!

 

Hãy thử nghe Từ Giọng Hát Em [31], một tác phẩm xuất sắc, mà chính tác giả nói đã rõ là «có mang một chút âm hưởng nhạc cổ điển Tây phương, […] vài hợp âm giống như những bài aria» [17] của Jean-Sébastian Bach (sự thổ lộ về xuất xứ này đáng được biểu dương và hiển nhiên rất tương phản với sự im lặng của Cung Tiến về gốc gác nguyên thủy Tây phương, liên quan tới một số đoạn trong vài tác phẩm nổi tiếng của ông, mà nhà phê bình âm nhạc Phạm Văn Kỳ Thanh đã rành mạch chỉ ra[27]). Để đánh giá – mà không cần phải dựa sẵn vào lời khen rất ư nồng nhiệt của một Hoài Nam [29] vốn quá sành sỏi –, xin hãy tham khảo chứng từ [32] thú vị sau đây của một khách tao nhân đã tình cờ «khám phá» tuyệt phẩm này, ngay nơi quán nhỏ bên đường:

 

«Quán vắng thưa người. Tôi ngồi trầm ngâm, co rúm hình hài. Bèn yêu cầu một bản nhạc. Chủ quán nhấn nút. Một ca khúc phát ra từ những loa gần đâu đó trên trần nhà, toả xuống gây bồi hồi xao xuyến trong tôi. Giai điệu đã thu hút tôi, tạo cảm xúc bàng hoàng nơi tôi. Như một tảng đá lớn chợt ném xuống mặt hồ phẳng lặng của hồn tôi. Tiếng động làm chất ngất choáng váng và làn sóng cảm xúc mỗi lúc một lan rộng. Tôi lắng nghe những lời ca ngọt ngào như mặt keo óng ánh, như hơi thở xuân thì. Tâm thần tôi chấn động trong ngất ngây…»

 

Khách chẳng những nhạy cảm tâm hồn mà còn là một «cao thủ» rành nhạc lý, nên đã phân tích cặn kẻ bài hát:

 

«Ngôn từ sử dụng ở đây đầy phù phép […] có một ma lực gây chấn động trong tâm tưởng người nghe. Chúng phù hợp với tiết điệu dồn dập trong 2 trường canh diễn tả tình yêu mù loà cuồn cuộn dâng như một con lốc xoáy tít lên cao (trường canh đầu tới 9 nốt nhạc, trường canh sau 7 nốt) rồi sau đó nhè nhẹ giảm dần tốc độ để chấm dứt đoạn đầu của ca khúc. Với đoạn 2, tiết điệu còn dồn dập hơn nữa – có trường canh đã chứa đựng cả 10 nốt nhạc – khiến cho người nghe gần như ngộp thở khi bị dòng nhạc thu hút».

Và kết luận, như của tay yêu nhạc – ký tên Đan Thanh – kỳ cựu này, thì đúng là khó kiếm đâu chuẩn mực, kỹ lưỡng và thuận lợi hơn:

 

«Tôi đã nghe đi nghe lại nhiều lần trong vòng một thập niên ca khúc nầy như một trắc nghiệm với chính cảm nhận mình. Có thể nói, nếu cảm xúc không toàn vẹn y nguyên như thuở ban đầu (có bao giờ ta tắm lại cùng một dòng nước trong một con sông đâu!) thì nó cũng chẳng thay đổi bao nhiêu. Ca khúc Từ Giọng Hát Em đã chấp nhận được sự nghe lại, một sự nghe lại không mỏi mệt, chán ngán ở nơi tôi.»

Ngần ấy phản hồi từ người nghe về tác phẩm là một phần thưởng đích đáng – thật bõ công – cho nhạc sĩ, bởi khi nói đến nó ông khẳng định: «là một trong những bản nhạc mà tôi thích nhất, là bài tôi đã bỏ ra rất nhiều công phu, nhiều thì giờ để viết, rồi trau chuốt từ lời ca đến ý nhạc». [17]

 

Bài hát thứ hai cũng thuộc dạng mang âm hưởng cổ điển Âu châu là Mắt Biếc (1972), rất được ưa thích[33-34]. Có người cho rằng nó hơi giống tác phẩm cùng tên[34] của Cung Tiến, ra đời trước đó (1966, được sửa đổi thêm năm 1981)[35]; song, việc Ngô Thụy Miên viết sau mà cứ để trùng tựa như thế, hẳn không phải vì muốn… cung cấp thêm lý lẽ cho kẻ  thích bảo vệ luận điểm «cái bóng bao trùm» của họ Cung trên văn đàn nghệ thuật, mà phải chăng chính là nhằm mục đích muốn được hiểu theo một cách khác: sự thách đố trên sân chơi âm nhạc – và có lẽ hơn thế nữa –, sự vượt Cung Tiến?

Giả thuyết quá táo bạo? Rất có thể. Nhưng trên thực tế khách quan, sự sàng lọc của thời gian, cho đến nay, hầu như đã trao lẽ phải cho giả thuyết này rồi, nếu chỉ dựa trên tiêu chuẩn về con số người chuộng phiên bản họ Ngô (theo lời của chính tác giả bài viết trên). Điều đó, nghĩ cho cùng, không hề gây đối kháng, mà chỉ kích thích tiến bộ và tô bồi thêm sự trù phú cho cánh đồng nhạc Việt…

Bài Mắt Biếc [36] của Cung Tiến, theo thiển ý, nghe quả giống như một lied nào vậy – đúng theo khuynh hướng sáng tác chủ đạo thời kỳ đầu của nhạc sĩ –, nhưng ở đây thì ta phải hoàn toàn “thông cảm”: nó được tác giả viết «đề tặng Josée, vì vậy hiền thê của ông cũng được bạn bè gọi là “Josée Mắt Biếc”».[35]

 

Bây giờ, vẫn nằm trong số những bó hoa đáng trao tặng họ Ngô, xin đan cử thêm một ví dụ cuối cùng – gần đây hơn – về ưu điểm nhạc của ông trong cách tiếp cận văn hóa trời Âu này, tức ca khúc Dốc Mơ.[37] Đây có thể xem là môt thứ… «phản-ví dụ» (contre-exemple), độc đáo: có ai dám chọn cái dốc làm hình ảnh cho một bài hát lãng mạn? Có ai dám đề cập đến dấu giày (trừ Van Gogh, rồi Heidegger)[38] trong diễn ngôn một nghệ phẩm (ở đây lại càng «trái cựa» hơn, vì là một tình khúc)? Vậy mà Thụy Miên làm được, và đã thành công.

 

Rõ ràng ta sẽ thôi không thắc mắc bâng quơ gì nữa, một khi thử ngồi yên thưởng thức tác phẩm này, qua giọng ca thiên phú và gợi cảm của Khánh Hà,[39] người mà Đan Thanh – khi bàn về bài đầu – đã hết lời khen ngợi.[32]

 

 Nghịch lý những sự đồng dạng bất thường

 

Ba tác phẩm vừa kể thuộc bộ 4 bài hát (bài còn lại là Miên Khúc, cũng đẹp như thơ, nhất là khi do Khánh Hà trình bày[40]) được viết nhạc trước, lời sau, và – vẫn theo tác giả – đã chịu ảnh hưởng nhạc cổ điển Tây phương. Chúng được đánh giá cao chẳng những trên phần nhạc mà cả ca từ, qua nhiều trang mạng tiêu biểu (không thể nào kể hết ra đây) [41,42], khẳng định thành quả lao tác nghệ thuật của họ Ngô, theo những gì ông đã từng chia sẻ: «Những sáng tác của tôi đều được cẩn trọng, chăm sóc từ lời ca đến ý nhạc. Những năm tháng học nhạc cổ điển Tây Phương đã giúp tôi rất nhiều trong việc sáng tạo, chọn lựa cũng như trau chuốt, làm đẹp câu nhạc. Đã có những bài tôi để cả năm trời chỉ để viết đi, viết lại những giai điệu mà mình chưa vừa ý!» [16]

 

Kết quả là những gì ta vừa thấy trên, đáp đúng với sự chờ đợi. Đáng chú ý là – nếu cần phải nhắc thêm trên mặt từ ngữ – tác giả thường chọn những tiếng rất thích hợp, có khi hiếm thấy, chẳng hạn như «tình bền» trong bài Dốc Mơ, đập vào tai một cách khá bất ngờ, thú vị.

 

Thế mà, khi nghe kỹ một vài tác phẩm «kinh điển» của Ngô Thụy Miên, thỉnh thoảng người ta lại vướng phải một đôi chỗ không được ổn lắm (trên một phương diện chẳng dính dáng gì đến nhạc pháp), không khỏi gây ngạc nhiên – cứ ngỡ mình bị ảo giác nào đó! –, nhưng càng ngẫm nghĩ lại càng thấy băn khoăn…

 

2.3.1/Nêu vấn đề 

 

                                            

Trước hết, là trường hợp bài Giọt Nắng Hồng. Nó chứa nhiều điểm tương đồng với ca khúc Nắng Thủy Tinh (1962-64) [43] của Trịnh Công Sơn trên nhiều phương diện: cùng âm giai (cung La trưởng); khung cảnh/hình ảnh nghệ thuật là một (nắng chiều trong công viên); ý tưởng có chỗ gặp nhau (nắng giao thoa với mắt, màu nắng đồng nhất với màu mắt); một vài từ giống hệt (công viên, màu nắng, mắt em), mà khi chắp thành câu nhạc – tính cả nốt – thì gần như trùng hẳn, chỉ «lệch» nhau trên một tiếng (chữ/nốt) thôi (xem 2 khuông nhạc  cạnh đây).

                                      

          Ngoài ra, trong bài còn có hai chữ «Gọi nắng» là một thứ «leitmotiv» về lời ca đặc trưng của  

          Hạ Trắng (1961).[43]

Kế đến là việc xử dụng một số từ đã có ở tác phẩm khác. Chẳng hạn, trong một câu bản Dấu Tình Sầu, ta gặp cụm từ «dấu địa đàng», rất khó lẫn, của tựa một bài nhạc Trịnh.

 

     -    Thế rồi, ngay cả trong tuyệt tác Từ Giọng Hát Em cũng bị «sót» ba chữ «tuổi đá buồn», là tựa  

          một bài nổi tiếng khác của Trịnh. Và bây giờ, có thể nói «nôm na» theo cách của người Pháp rằng   

          "cái vòng được khóa trọn (la boucle est bouclée)" ở đây, bởi vì trong ca khúc Mắt Thu, Ngô Thụy  

          Miên mở đầu bằng «Trời làm mưa…» khiến ta không khỏi liên tưởng đến câu hãy còn lảng vảng

          miên man, trong trí nhớ một thời, của chính bài hát Trịnh Công Sơn rất phổ biến ấy: "Trời còn  

          làm mưa, mưa rơi mênh mang…".

          Trước tác giả Diễm Xưa, đã có biết bao nhiêu là nhạc sĩ viết về mưa, nhưng hình như chưa ai nói

          trời «làm mưa» như ông.

 

    2.3.2/ Vài gợi ý tìm hiểu

 

Tất cả những gì được trình bày, về đặc tính và thế mạnh của Ngô Thụy Miên ở trên, không cho phép ta tưởng tượng ngược đời ra rằng Ngô Thụy Miên đã cần phải dựa trên ca khúc của người khác để viết cho chính mình, bất kể nhạc hay lời, dù chỉ là một chút phân mảnh «vi mô» nào đó.

Song, thiết tưởng có ba điều cần lưu ý, trên «vấn nạn» không mấy chờ đợi này:

 

Một là, trong giai đoạn đầu đời, họ Ngô mặc dù có sáng suốt [30] nhưng dường như vẫn còn chưa hoàn toàn ổn định, hơi thiếu tự tin mà lại cầu toàn, và do đó đã tỏ ra hay thay đổi, từ việc chọn bút danh (đầu tiên là Đông Quân) đến đặt tựa cho nhiều ca khúc của ông (có lẽ chưa thấy nhạc sĩ nào đổi tên bài nhiều như thế!), điều mà Wikipedia có nhắc lại cụ thể như sau:

« …"Mùa thu này cho em" (sau đổi là "Mùa thu cho em"), "Gọi nắng" (sau đổi là "Giọt nắng hồng"), "Dấu vết tình yêu" (sau đổi là "Dấu tình sầu"), "Cho những mùa thu" (sau đổi là "Thu trong mắt em")[… ] "Mùa thu về trong mắt em" (sau đổi là "Mắt thu" … » [14].

                        Ngoài ra, trong băng nhạc Thúy Nga đã dẫn[1], Ngô Thụy Miên cũng có kể lại chuyện đã

                        phải bán lại bản quyền tác phẩm Mùa Thu Cho Em cho ca sĩ Phượng Bằng vì khi ấy ông

                        không nghĩ mình sẽ đủ sức để khai thác nó.

 

Hai là, như đã có lần được đề cập cũng trên mặt báo này trong một bài viết về Lệ Quyên[44], sẽ không là vô bổ nếu ta thử soi chiếu những sự kiện trái chiều vừa nêu, dưới góc nhìn theo quan điểm «Désir mimétique» [45] hay được nói đến (dù chưa có sự nhất trí trong giới chuyên gia hiện nay) của René Girard, mà hệ quả tất nhiên cho chúng ta sẽ là câu hỏi này (chưa nói đến khái niệm triết luận về «kẻ trung gian»): phải chăng «triệu chứng» lặp lại những cái mắt thấy tai nghe (theo lý thuyết này), trong thời kỳ nhạc Trịnh chiếm lĩnh không gian âm nhạc Miền Nam, đã khiến Ngô Thụy Miên có khuynh hướng «đổi cho tiệp màu» ngay cả từ vựng của chính mình, một cách hoàn toàn thụ động, «ngẫu nhiên», máy móc?

 

Ba là, trong trường hợp nhạc sĩ đã có làm như thế, nhưng không phải một cách hoàn toàn vô thức, thì hành động ấy rất có thể được xem như là khá phù hợp với một giả thuyết khác, ít «bác học» hơn: trong giai đoạn khởi sự hành trình âm nhạc [xem i) ], với tất cả sự thuần phác sẵn có, chàng Ngô khi ấy dường như hãy còn rất vô tư, dù có thấy cũng chẳng mấy bận tâm (coi như chẳng đáng để mất công «nhặt sạn»?), trước những mảnh vụn rơi rớt từ bầu trời thời sự văn nghệ Sài Gòn nổi sôi bung phá lúc đó, mà sự chấp nhận thói quen ngôn ngữ – kể cả trong tác phẩm đương thời – có khi còn được coi như là một bằng cớ đáng tán dương của sự hòa mình, đồng ứng?

 

Trong một bài báo gần đây về Thanh Thảo, Huỳnh Như Phương có một nhận xét ít ai dám viết nhưng thật đích đáng:

“Nhà thơ có đẳng cấp thường cũng là người thật thà và cả tin có đẳng cấp.” [46]

 

Phải chăng, nếu đem thay hai chữ “nhà thơ” bằng “nhạc sĩ”, thì câu ấy cũng sẽ áp dụng được luôn cả cho Ngô Thụy Miên, trong hoàn cảnh đặc thù của môi trường Sài Gòn những ngày tháng đó? 

 

                                                                                                                      (Còn tiếp)

 

 

Nguồn : Diễn Đàn Forum (bản cập nhật tác giả gửi)

 

Kỳ tới: Ngô Thụy Miên II : mùa hải ngoại

                  

Chú thích

[1] Theo lời Nguyễn Ngọc Ngạn, trong một chương trình Paris By Night 66, được trích đoạn trên Youtube: Paris By Night 66 - Tình Khúc Ngô Thụy Miên - Bing video

[2] Theo  Tiểu sử NGÔ THỤY MIÊN|| Cuộc đời và sự nghiệp nhiều sóng gió của nhạc sĩ “chuyên viết tình ca” - YouTube

[3] Nguồn gốc những bút danh của các nhạc sĩ nổi tiếng trước 1975: Ngô Thụy Miên, Anh Việt Thu, Mặc Thế Nhân... (nhacxua.vn)

[4] Hán Việt Từ Điển giản yếu, Đào Duy Anh, in lần thứ 3, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1957: chữ Ngô ở tr.37, Quyển Hạ ; chữ Thụy ở tr. 447, Quyển Hạ ; chữ Miên ở tr.557, Quyển Thượng.

(Người viết chân thành cảm ơn bạn Hậu Hiền NMK về sự khích lệ thân tình, cùng những góp ý xác đáng đặc biệt trong sự phân biệt những dạng viết khác nhau của cùng một từ đa nghĩa)

[5] Mời xem ở: Bài phỏng của nhà báo Người Việt Tây Bắc: (saigonocean.com)

[6] Về siêu nghiệm trong nghệ thuật, mời xem ở đây : văn học & nghệ thuật (vanchuongviet.org)

Ý niệm siêu nghiệm này không phải là thuyết siêu nghiệm như đã được Hoàng Hưng trình bày trong bài ông viết về Walt Whitman ( Bài hát chính tôi - Bài hát mọi người — Diễn Đàn Forum (diendan.org) )

[7] văn học & nghệ thuật (vanchuongviet.org)

[8] Hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa ca khúc "Tình Khúc Thứ Nhất" (Nguyễn Đình Toàn - Vũ Thành An) - Những ca từ lấp lánh sắc màu thần thoại (nhacxua.vn)

[9] văn học & nghệ thuật (vanchuongviet.org)

[10] Theo tác giả bài viết  Cảm nhận âm nhạc: "Mùa Thu Cho Em" (Ngô Thụy Miên) - Lời tỏ tình của mùa thu (nhacvangonline.com)

[11] La musique et le rêve, Élizabeth Giuliani, Études 2003/3 (Tome 398), pages 375 à 381:https://www.cairn.info/revue-etudes-2003-3-page-375.htm

[12] Blog: Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên: Một đời cho tình ca. (sydney6920003.blogspot.com)

[13] Theo Tâm Huyền, tác giả bài viết Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên: Hạnh phúc riêng một góc trời - Báo Công an Nhân dân điện tử (cand.com.vn)

[14] Theo trang  Ngô Thụy Miên – Wikipedia tiếng Việt

[15] Tình Khúc Ngô Thụy Miên, băng nhạc đầu tay của tác giả phát hành năm 1974 tại Sài Gòn: Tình Khúc NGÔ THỤY MIÊN (saigonocean3.com)

[16]  Ho^`n Que^- Vietnamese Multimedia Magazine (honque.com)

[17] Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên kể về hoàn cảnh sáng tác những bài tình ca bất tử – Tân nhạc Việt Nam (nhacxua.org)

[18] Theo tác giả bài viết ở đây : Nắng mưa đã phai trên cuộc tình ngày nào - Hợp Âm Việt (hopamviet.vn) ;

[19]  Chiều Nay Không Có Em" của Ngô Thụy Miên: Bản tình ca dành cho tuổi trẻ (nhacvangonline.com)

[20] Phạm Duy, Hồi Ký, tập 3, nxb PDC Musical Productions, tr.283

[21] Larry De King, Ngô Thụy Miên: Góc trời riêng của những tình khúc bất hủ (ntdvn.net)

[22] 30 Lời Tâm Sự của Ngô Thụy Miên – Quê Nội (quenoi.com)

[23] -Ngô Thụy Miên 38 năm viết nhạc tình (saigonocean.com)

[24] Việt Hải: NGÔ THỤY MIÊN: Người nhạc sÄ© tài hoa (trinhnu.net); hoặc ở : https://nguoisantin.wordpress.com/2016/02/01/ngo-thuy-mien-nguoi-nhac-si-tai-hoa/

[25] Con đường tình ta đi. (phamduy.com)

[26] https://www.youtube.com/watch?v=1TBqgDCJXRk

[27] Trong một bài viết xuất sắc phân tích nhạc thuật (hiếm hoi trên văn đàn người Việt!) chủ yếu nói về Cung Tiến (với những định dạng chính xác liên quan đến gốc gác nguyên thủy của một số đoạn nhạc trong vài ca khúc họ Cung), nhà phê bình âm nhạc Pham Văn Kỳ Thanh cũng có đề cập đến Từ Công Phụng và cho rằng nhạc sĩ này đã phạm lỗi về kỹ thuật khi lạm dụng quá nhiều các quãng sáu, dễ gây nhàm tai:

COMPOSER-SONGWRITER CUNG TIẾN. MỘT NGHỆ SĨ TRÍ THỨC ĐA TÀI, ĐA NĂNG. (Phạm Văn Kỳ Thanh) – CHÍNH NGHĨA VIỆT NAM CỘNG HÒA (chinhnghiavietnamconghoa.com)

[28] Ngô Thụy Miên viết về cuộc gặp gỡ định mệnh với Nguyên Sa trong âm nhạc (nhacxua.vn)

[29] Hoài Nam, SBS Radio Úc châu, về Ngô Thụy Miên trong 70 Nam Tinh Ca (ngaydochungminh.com);

 70 Năm Tình Ca Trong Âm Nhạc Việt Nam (namquoc.com)

[30] Tản mạn viết bởi ngô thụy miên trên phu-tran.blogspot.com

[31] Mời nghe Khánh Hà hát Từ Giọng Hát Em - Bing video

[32] Đan Thanh (08/06/2018), Nỗi Buồn Trong Nhạc Của Chúng Ta (1994), có thể xem một phần ở:

Nỗi buồn trong nhạc của chúng ta - Trí Thức VN (trithucvn.org)

[33] Về bài này, mời xem một lời bình khá tiêu biểu: (20+) Facebook

=> bạn có thể thưởng thức trọn vẹn qua sự so sánh thú vị ( giống trên France Musique từ bao nhiêu năm qua đối với nhạc cổ điển) 3 cách trình bày tác phẩm bởi 3 danh ca khác nhau : - Tiếng hát Sĩ Phú :https://youtu.be/5IeET2dVFo0 ; https://youtu.be/i1OFLLJ708Yhttps://youtu.be/HIEzaNglurEhttps://youtu.be/KXIX5qSRu4A- Tiếng hát Tuấn Ngọc : https://youtu.be/bPDH2cibgiwhttps://youtu.be/3VTXROc-uV4; ;https://www.nhaccuatui.com/.../mat-biec-ngo-thuy-mien...- Tiếng hát Bằng Kiều : https://youtu.be/pVY0PhewFs4 ; ; https://youtu.be/XjEWX-qmopQhttps://youtu.be/nMxkxLL0GtUhttps://youtu.be/Aa2PC3FbiO4 ;  ; https://nhac.vn/bai-hat/mat-biec-bang-kieu-soLpRr0

[34] Cảm nhận âm nhạc: Mắt Biếc (Ngô Thụy Miên) - "Dĩ vãng như bao cung tơ..." (nhacvangbolero.com)

 

[35] Theo tác giả trang này: (20+) Fb Chìm Đắm Trong Âm Nhạc - Publications | Facebook

[36] Mời nghe Lệ Thu thể hiện một cách xuất sắc (năm 1971): https://youtu.be/YoZv5n_qQQM

[37] Lời bài Dốc Mơ: QueHuong Loi Nhac - Lời Nhạc: Dốc Mơ - Ngô Thụy Miên / Doc Mo - Ngo Thuy Mien

[38] Trong hội họa, đôi giày đã từng làm chủ đề cho một tác phẩm Van Gogh (chú thích số 193 nằm trong trích đoạn này của bài viết đã dẫn ở [6], đầu trang): <<…Trước hết, cần ghi nhận rằng hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, việc nhiều triết gia (tức là – xin nhắc lại – « người đẻ ra các ý niệm [concept] », theo định nghĩa gọn ghẽ và hợp lý của Deleuze) đã bỏ công để phát hiện những điều ẩn kín đằng sau nét vẽ các danh hoạ. Từ Heidegger (L’Origine de l’œuvre d’art trong Chemins qui ne mènent nulle part) luận về bức tranh đôi giày193 dân dã của Van Gogh (1853-1890) đến Deleuze rọi tư duy về phía những họa phẩm của Bacon, qua một Foucault lần lữa vén tấm màn épistémè – như ông đã đặt tên – bao trùm trên kiệt tác Les Ménines của Vélasquez194: tất cả, bằng trực quan bén nhạy, đã thấy và nghe được những gì mà nghệ phẩm thầm thì thố lộ.>>

[39] Vidéo Khánh Hà thể hiện bản Dốc Mơ: (1) Dốc Mơ (Ngô Thụy Miên) - Khánh Hà | Asia 19 - Bing video

[40] Miên Khúc hát bởi Khánh Hà: https://www.youtube.com/watch?v=2sVmXim9ZXE

[41] Đặc biệt qua ví dụ bài viết này: Goc Troi Ngo Thuy Mien (honque.com)

[42] Đối với một tác giả khác, tuy có đôi lúc hơi sa đà, ca từ bài Niệm Khúc Cuối được tán thưởng dưới một khía cạnh ít người đề cập: tình yêu như một trải nghiệm sự cận kề thân xác và đáng được nói lên =>  EM CÒN NHỚ MÙA XUÂN (forumvi.com)

[43] Theo dữ liệu về năm sáng tác ở: -Danh sách bài hát của Trịnh Công Sơn – Wikipedia tiếng Việt

[44] văn học & nghệ thuật (vanchuongviet.org)

[45] https://www.philolog.fr/le-desir-mimetique-rene-girard/ ; https://fr.wikipedia.org/wiki/D%C3%A9sir_mim%C3%A9tique

[46] 50 chân dung văn nghệ nổi tiếng dưới góc nhìn Thanh Thảo - Báo Người lao động (nld.com.vn)

 


                 “L’amour est au monde pour l’oubli du monde

              (Tình yêu có trên đời là để cho quên hết đời đi)”

                  Paul Éluard

                                                                                      

                                                                                                                                          

 

 (…)

 

Ngô Thụy Miên II : mùa hải ngoại

 

                 2.4.1/ Về những cái khác trước… 

 

Những biến thiên lịch sử thường dẫn tới sự đổi đời. Ngô Thụy Miên cũng nằm trong sức cuốn của dòng chảy đó.

Em Còn Nhớ Mùa Xuân [47], vì thế, có vị trí đặc biệt của một nhạc phẩm bản lề trong sự nghiệp sáng tác họ Ngô: khởi  viết tại Sài Gòn sau tháng Tư 1975 và hoàn tất nó vào cuối 1978 khi vượt biên đến được Pulau Bidong, ông xác định đó là bài hát đầu tiên có mang hơi hướng thời sự. Nó làm chuyển tiếp cho những ca khúc về sau của Ngô Thụy Miên ở hải ngoại – lần lượt ra đời từ thành phố Seattle (1980) rồi đến Olympia (1983) là nơi ông định cư luôn cho tới nay – đánh dấu giai đoạn II, với nhiều nét chuyển biến khác xưa, trong cuộc đời người nhạc sĩ.

Hai vợ chồng Ngô Thụy Miên cùng Tuấn Ngọc

                               (sttm)      

Thỉnh thoảng, đó đây, ta hay thấy nói đến nếp sống «ẩn dật» của một Ngô Thụy Miên «ẩn sĩ» nơi «góc trời riêng» của mình, hiểu theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nhưng thực ra – căn cứ vào con số các sự kiện bao gồm những  bài viết hoặc phỏng vấn trên mạng, những trang ông bày tỏ quan điểm, những cuộc tiếp xúc với văn nghệ sĩ, báo chí, những buổi trình diễn hay gặp gỡ, trao đổi với cộng đồng người Việt, trong cũng như ngoài nước – thì họ Ngô chưa chắc đã thua kém bất cứ nhạc sĩ danh tiếng nào khác, nhất là nếu tính thêm đến sự sẵn sàng, cởi mở đáng quý của ông. Có thiếu chăng là sự ít phổ biến về ông và cả về các giải thưởng cộng đồng nữa – do trách nhiệm của giới truyền thông –, trước những cơ hội đặc biệt như việc ông được vinh danh Pioneer in Music năm 2009 tại Seattle, đã từng đạt thành tích sáng tác Bài Hát Hay Trong Năm v.v., thì đúng hơn!

Chính nhờ những chia sẻ chân thành ấy của nhạc sĩ mà khách mộ điệu mới có thể kiểm chứng được rằng cảm nhận của mình, chẳng hạn về «Miên tình ca II»  sau này, so với trước kia, là không hề phản lại chủ ý tác giả: ông có chính thức nhìn nhận việc dòng nhạc đã đổi khác, từ vui sang buồn.

 

                           

Trong hoàn cảnh mới như vậy, dĩ nhiên cái khí chất linh hoạt biện chứng của sáng tạo nghệ thuật – mỗi khi người nhạc sĩ còn tìm được cảm hứng – cũng đã bám sát đi theo, như bóng với hình, cái vô thường bất định của cuộc sống và đời người. Rất khoa học, nhà nhạc sĩ kiêm B Sc. chuyên khoa máy tính [48] của chúng ta phân tích: 

 

«Cái khác là trước 1975 khi còn ở Sài Gòn với những thân yêu quanh mình, với những luạ là, mưa nắng hai muà, những quán hàng, những đường phố quen thuộc, từng nguời yêu buổi sáng, buổi chiều… đã cho tôi những cảm xúc để viết lên những tình khúc với ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca dịu dàng, đầy thơ tính. Còn bây giờ, ở hải ngoại, người ta thật vội vàng, xa lạ, bận rộn… Những thành phố, nhà cửa thật to lớn, nhưng cũng thật là lạnh lẽo, cô đơn… Tất cả những hoàn cảnh những tình cảm này cũng lại trao cho tôi những hứng khởi mới: ngày tháng bên này đã và đang để lại trong tôi những nét muộn phiền rất riêng, rất độc đáo, và tôi ghi lại những lời ca “mệt mỏi buồn bã cuả cuộc sống tạm dung”.» [5]

Những “nét muộn phiền rất riêng” ấy, may thay, là chất liệu quý báu cho nhạc sĩ tiếp tục nhả tơ, với cái năng khiếu hưởng  từ “món quà của Thượng Đế” như ông nói. Bởi cái Trời ban cho ấy cũng vừa là mạch dưỡng nuôi sức sáng tạo, vừa là nguồn phát đi những thôi thúc, khơi gợi, những tiếng nói diễn giải sứ mệnh từ bên trong, cho những chủ thể có cơ duyên được đắc nhiệm như thế: những tinh hoa đích thực tằm người…

 

Nhìn chung, nếu những ca khúc khởi đầu «mùa mới» trên xứ lạ vẫn còn chất lãng mạn thời trước (Bài Tình Ca Cho Em, Mùa Thu Xa Em, Tháng Giêng Và Anh …), thì loạt tác phẩm theo sau, kể từ thập niên 1990, đã khẳng định bút lực lẫn sự phong phú đáng mừng trong thể điệu và nội dung cảm hứng nghệ thuật họ Ngô: với tỉ lệ số bài hát mới gấp đôi lúc còn ở quê nhà, có lẽ ông đáng – hoặc đang – giữ ngôi quán quân, so với những nhạc sĩ Việt Nam khác, cùng (hoặc có lúc đã cùng) cảnh ngộ, kể cả Phạm Duy. Mà quả thế, Ngô Thụy Miên đáng nể phục ở chỗ không bao giờ rời vị trí, nhờ đó mà không già cỗi: đời sống mới, hứng khởi mới. Để tiếp tục viết, dù đó là «những lời ca “mệt mỏi buồn bã cuả cuộc sống tạm dung”» theo như cách nói của ông, với đôi chút dư vị thậm xưng của lối mỹ từ pháp quen thuộc…

 

Trong một bài viết vào tháng 10 năm 2014[30], tác giả có lưu ý chúng ta trên vấn đề chủ âm các nhạc phẩm của ông, bằng những lời lẽ như sau :

«Vâng, hãy nghe lại một vài tình khúc tôi viết trước 75. Bắt đầu là Chiều Nay Không Có Em, rồi thì Mùa Thu Cho Em, Niệm Khúc Cuối, hai trong số những ca khúc tôi yêu thích nhất – Từ Giọng Hát Em, Mắt Biếc – đều được viết theo âm giai trưởng. Và ngay tình khúc duy nhất tôi viết ở Sài Gòn sau 75, Em Còn Nhớ Mùa Xuân, cũng được viết theo“tông” trưởng.

Năm 1980, tình khúc đầu tiên tôi viết ở hải ngoại là Bản Tình Ca Cho Em, rồi một thời gian sau là Riêng Một Góc Trời, Một Đời Quên Lãng, Nỗi Đau Muộn Màng, Biết Bao Giờ Trở Lại,... đều được viết theo âm giai thứ!» 

 

Tiếp đó, ông khẳng định chuyện cung trưởng hay thứ là không quan trọng. Thế nhưng, ai cũng hiểu được rằng sự khác biệt có tính đồng loạt, như ông chỉ ra ấy, mang ý nghĩa một đổi thay cơ bản, chẳng phải chỉ đơn thuần dính tới hình thức kỹ thuật, mà tương ứng với một chuyển hóa về chất: âm giai thứ thường được dành cho nhạc buồn.

                                                                   

Mà vui sao được, khi chính tác giả cũng nhìn nhận "ngay cả những lời từ và dòng nhạc cũng vậy, chậm hơn và buồn bã hơn. Lời có vẻ bi quan hơn, không đẹp như những năm 60, 70 nữa".[23]

Theo sau là lời giải thích mà bất cứ ai có vốn sống, đã từng trải qua, đều không thể không đồng tình:

 

"Tôi nghĩ là âm nhạc cũng như đời sống. Qua tới đây tất cả không gian và thời gian đều biến đổi, thành ra con người mình cũng biến đổi theo. Có những lúc tình cảm của mình chùng xuống, không còn được vui vì chung quanh mình, cái ambiance không còn như ở quê hương nữa. Thời gian 60, 70 là đẹp nhất của mình. Bây giờ làm sao tìm lại được những đêm đi lang thang ngoài phố, gặp gỡ bạn bè để chơi nhạc hay tổ chức những buổi trình diễn?".

 

Câu hỏi dĩ nhiên không có lời giải đáp trong thực giới.

 

Nhưng, cũng chính từ đó mà trỗi dậy ma lực kỳ ảo của nghệ thuật, làm hiện lên dạng hình cụ thể của cái sứ mạng kiếp tằm tơ kia, cho người, cho đời: Ngô Thụy Miên hải ngoại đã thực hiện cùng lúc hai việc, vừa tái tạo lại không gian yêu dấu những hoài niệm thời quá vãng, vừa nặn mới ra thế giới những cảnh sắc, xung lực, cọ xát nội tâm muôn mặt của cái tôi nơi xứ người, ở đây và bây giờ.

 

Nhờ thế, từ góc trời này – hôm nay–, tôi bỗng nghe nối liền hai thế giới, dường như đúng vào khoảnh khắc tôi đang hân hoan nhận ra hai vết sao băng trên vòm tâm thức, xuất phát từ cùng một giọng điệu da diết bên tai:

 

«Tôi đi giữa trời Paris mà nhớ thương Ѕài Gòn/Ɲắng Ѕài Gòn hôm nao dìu bước chân em/Qua phố phường vào quán chợ thân quen.

Tôi bỗng thấу lòng bâng khuâng/Vì nắng Paris sao quá ư mặn nồng/Ϲó một trời thênh thang và có riêng tôiƝhưng hết rồi ngàу tháng mặn ngọt bùi

 […]

Tôi cất tiếng đàn hôm naу/Và hát cho em bài hát tình nàу/Ɲắng Ѕài Gòn xin em còn giữ trong tim

Xin vẫn còn màu áo lụa Hà Đông.»              (Nắng Paris, Nắng Sài Gòn)

 

Không, tôi không mơ. Vết sao đầu đến từ một dàn giao hưởng phối khí nhạc cụ Tây phương, mà ta tưởng tượng như là đang biểu diễn tại Paris, làm thăng hoa một giọng nam trẻ thể hiện bài hát [49]; vết sao sau, hóa thân từ sân khấu một phòng trà Sài Gòn, cho ta nào là hình ảnh – một Thái Hiền tóc nhuốm hoa lau, màu của sự thuần khiết giản dị như chính chất giọng người hát – nào là âm thanh, với tiếng ca vẫn đằm thắm, thon thả như chính dáng người nữ ca sĩ, tự nó đã là một cái nháy mắt kiêu hãnh trước tháng năm[50]: còn minh họa nào “mùi” hơn, cân đối hơn, cho tác phẩm nhị phân ý nghĩa này của họ Ngô, mà cái tựa dù cô đọng đến mấy cũng không sao nén hết được hàm lượng những nhung nhớ yêu thương chất đầy?

 

Vâng, hai thế giới thật, nhưng chỉ một vũ trụ: cái mà Nguyên Sa đã khai mở, từ độ những Áo Lụa Hà Đông, Paris, Cần Thiết…lên ngôi.

 

                 2.4.2/ …và những cái không khác qua vài ghi nhận           

 

Cho nên, nói gì thì nói, nhưng – ô hay – làm chi có chuyện Thụy Miên “thoát Nguyên Sa”! Vũ trụ đó, từ lâu, đã trở thành chung cho một thế hệ bao gồm cả chính chàng Ngô mẫn cảm, nhiệt thành: không phải chỉ trong bài hát trên đây ta mới gặp những cụm từ rất quen thuộc như “Em ở đâu, hỡi người em rất nhớ ’’ (làm sao không nghĩ đến câu bùa ngãi một thời: “Em ở đâu, hỡi màu thu tóc ngắn?), hay “màu áo lụa Hà Đông”, mà ta còn nghe lại thêm nhiều lần nữa, dưới dạng biến tướng, chẳng hạn như trong bài Mây Bốn Phương Trời, cũng ra đời tại Mỹ, qua câu “mặc cho anh màu áo lụa ngày xưa’’… Chẳng tránh đâu được.

 

Nhưng, dù là thế đi nữa, vẫn có cái khác giữa những cái không khác, bởi vì Ngô Thụy Miên không hề neo mình trong quán tính. Chàng đã xuất thần làm nên cái mới, một tác phẩm để đời, chẳng có chút họ hàng gần xa gì với Nguyên Sa, Cung Tiến, Đoàn Chuẩn, hay bất cứ ai khác: Riêng Một Góc Trời.[51]

 

“…Người ᴠui bên ấу, хót хa nơi nàу, thương hình dáng ai/ Vòng taу tiếᴄ nuối, bướᴄ ᴄhân âm thầm, nghe giọt nắng phai

Đời như ѕương khói, mơ hồ, trong bóng tối/ Em đã хa хôi, tôi ᴠẫn ᴄhơi ᴠơi, riêng một góᴄ trời…”

 

Vâng, một bài hát lúc đầu được viết chỉ để… giữ riêng cho tác giả nhưng rồi may thay, do “xui khiến” bất ngờ, cuối cùng đã đến tay Tuấn Ngọc [52] và từ đó đưa tên tuổi giọng ténor thứ thiệt (mà người mình ít có) này lên bậc nấc cao nhất trong hàng nam ca sĩ Việt. Cũng giống như nhiều tác phẩm đẳng cấp khác xưa nay, ca khúc này chẳng thấy có chi là “siêu phàm” lạ lẫm, mà chỉ là sự suôn sẻ thẳng mạch của một bài hát lưu loát tự nhiên như dòng suối chảy, giản dị mà lại rất hay: dấu hiệu của một cú thần tình!

 

Chỉ tiếc một điều duy nhất là câu cuối, không hiểu sao, lại quá giống câu cuối một bài hát khác:

 

Gọi tên em mãi, trong ᴄơn mê nàу (Riêng Một Góc Trời)

Gọi tên em mãi, suốt cơn mê này  (Hạ Trắng)

 

Sơ suất “kỹ thuật” hay vết sót của cái “triệu chứng” thời kỳ đầu, như đã được phân tích ở trên? Thật khó mà phân định.

 

Mặt khác, cũng trên vấn đề câu chữ, có người hâm mộ Ngô Thụy Miên đã chịu khó tìm tòi, viết lách, và nêu ra mấy chi tiết về hiện tượng trùng lặp trong một số tác phẩm của nhạc sĩ [53], đáng để cho ta tham khảo (dù chỉ nên xem đó như có tính giai thoại): có 8 lần 2 câu hát “tương đồng” về ý lẫn từ giữa hai bài Bản Tình Cuối (1971) và Bản Tình Ca Cho Em (1980); còn khi đem so Tình Cuối Chân Mây (1992) với Riêng Một Góc Trời (1996), thì cũng có đến 5 lần 2 câu giống nhau kiểu như thế. Năm sáng tác đặt trong dấu ngoặc là nhằm cho ta có khái niệm về khoảng cách thời gian giữa hai ca khúc so sánh. Để kết thúc, tác giả Yên Hà của bài viết có dí dỏm chua thêm:

 

“Nhắc đến Riêng Một Góc Trời, chắc ai cũng có đế ý đến hai chữ “chơi vơi”. Ông anh tôi hình như rất yêu chuộng hai chữ này vì anh đã dùng đến 16 lần, trong 15 bài nhạc. Một bài nhạc mà nghe có hai chữ này thì chắc hẳn phải là nhạc Ngô Thuỵ Miên.”

 

Thực ra, câu chuyện “kiểm kê” câu chữ này hoàn toàn không phải là để chi li “bới lông tìm vết”, hay mang ác ý gì cả, mà chỉ góp phần minh họa cụ thể sự biểu lộ ra ngoài của một cái gì sâu xa hơn bên trong, tế nhị và nghiêm túc hơn ta tưởng. Bởi vì, nếu dựa trên ý kiến – khá hiếm hoi và biết bao quý báu – lúc sinh thời của cây đại thụ Phạm Duy thì sự đánh giá của ông về hai nhạc sĩ đàn em Ngô, Trịnh là hết sức mẫu mực, qua nguyên văn những dòng cực khéo sau đây [54] :

 

“…nhạc của Miên tươi hơn nhạc của Sơn. Với họ Trịnh, mưa cho em tay buồn đi về giáo đường. Với họ Ngô, mưa cho tình thắm tươi nồng nàn. Người thi nhân có nhiều hơn trong người thứ nhất, nhưng người nhạc sĩ nổi bật hơn trong người thứ hai.”

 

Đúng là con mắt bậc thầy! Nó góp phần soi sáng, nếu không nói là cắt nghĩa, gần như toàn bộ những ưu khuyết điểm  ta đã đề cập ở trên: Miên có vinh dự được nhìn nhận là trội hơn về nhạc nhưng, ngược lại, phải đứng sau Sơn xa lắm trong lĩnh vực ca từ.

 

                 2.4.3/Những nỗ lực mới trong sáng tác và trao đổi

 

Hình như Ngô Thụy Miên có ba ám ảnh chính: mùa thu, Sài Gòn và… Paris. Paris của những Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa. Paris như một mơ ước lãng du trong trí tưởng người trẻ mê văn hóa Pháp ở Miền Nam những năm 60.

 

Làm nên tên tuổi ông, đã có những bài hát nổi tiếng về mùa thu. Bây giờ, ở bên kia bờ Thái Bình Dương, mùa thu vẫn đến nhắc ông gõ phím bao lần, để hiến tiếp cho đời nhiều bản thu ca mới: Em Về Mùa Thu, Thu Trong Mắt Em, Sao Vẫn Còn Mùa Thu, Mùa Thu Xa Em, Thu Tưởng Nhớ, Thu Khóc Trên Ngàn…

 

Còn Sài Gòn ư? Vâng, Sài Gòn nhưng không phải của hôm nay, mà là của hôm qua, của trí nhớ, như đã được gợi ra – từng chi tiết rõ mồn một – trong những dòng Thụy Miên có lần say đắm gửi Thanh Vân: “…những mùa Xuân của tuổi trẻ, của những háo hức, đợi chờ, của những môi hôn vội vã, vòng tay quấn quít trao nhau trên đường phố thân thương, quán hàng quen thuộc. Em nhớ không, La Pagode, Givral của những sáng hẹn hò, Hoàng Gia, Pôle Nord của những chiều đưa đón, dạo phố tết Nguyễn Huệ, Lê Lợi tấp nập người qua, và những tối ghé quán Bà Cả Đọi, rồi Đêm Mầu Hồng. Cái không khí ấm áp tràn đầy tình thương của quê hương…” [55]

 

Nguồn cảm xúc đó đã cho ra đời biết bao nhiêu là nốt nhạc lời ca, có lúc cũng xót xa cay đắng – vượt quá sự ngậm ngùi, nhung nhớ thường tình – hoặc lên mức gắt gay phê phán, nhưng hình như chưa bao giờ đi đến chỗ hận căm cuồng nộ (và đó cũng là một điểm mạnh khác của họ Ngô): Nắng Paris Nắng Sài Gòn, Lời Tình Cuối Cho Sài Gòn, Thu Sài Gòn, Biết Bao Giờ Trở Lại…

 

Riêng Paris, Thành phố-Ánh sáng của ước vọng một thời, Ngô Thụy Miên đã dành cho nó những ưu ái đặc biệt so với những thành phố chàng đã đi qua hoặc đã sống: chọn sông Seine làm khung cảnh để khắc họa những nỗi niềm day dứt hiện tại, hòa lẫn với đôi chút dư âm của một ngày xưa vàng ngọc. Những thanh âm hình ảnh chừng như hãy còn đọng lại nơi tiềm thức, ấp ủ đến dậy men tự thuở nào trên từng thớ chữ đoạn văn nổi tiếng của một Anatole France – nhớ đến kỷ niệm tựu trường ngày thơ ấu đi ngang vườn Luxembourg[56] –, mà chàng Ngô hẳn đã ngấu nghiến say mê thời niên thiếu:

 

“…Mùa thu Paris có ai đi trong nắng vàng

[…] vườn xưa còn đây sao bờ vai nhớ thương vơi đầy

[…] Chiều qua giòng sông lá vàng rơi dáng ai mơ mộng…” (Một Cõi Tình Phai)

 

Có thể nói rằng nếu Phạm Duy có tuyệt tác Chiều Về Trên Sông [57] tráng lệ, khởi từ cảm hứng bài thơ Huy Cận Tràng Giang bên dòng Cửu Long vạm vỡ của Đất nước, thì Ngô Thụy Miên có Một Cõi Tình Phai vàng võ bên bờ sông Seine  xa vắng để tự tình cùng thân phận – qua trung gian ẩn dụ một cuộc hẹn hò thất bại, một mối tình thơ ngây tan vỡ – trong tư thế nội tâm đắng mặn chốn quê người.

Một quà tặng dành cho bạn tri âm, cho chính kẻ tha hương nằm trong mỗi chúng ta, vào đúng thời điểm cái bóng ấy tần ngần men lối con sông Seine nhân chứng kia, để đếm bước cuộc đời… Và, sẽ lại càng thấm thía hơn, nếu giờ đã điểm để lữ khách ta “đi sâu vào không gian trong”[58], giữa song song hai bóng chiều nghiêng ngả, một từ ngoại giới, một ở trong lòng:

 

“…Chiều qua dòng sông, riêng mình ta mòn mỏi chờ mong

Chiều qua sông Seine, có con chim bay cuối trời

Cất lên tiếng ca rã rời, cuộc tình sầu khôn nguôi.”      (Một Cõi Tình Phai)

 

 

Ngô Thụy Miên gần đây có nhìn nhận "vẫn còn nguồn cảm hứng, tuy nhiên không cách gì viết được nhiều như trước. Bây giờ cần có cảm hứng thật mạnh, thật lớn mới có thể viết được. Lý do là đầu óc mình nó cũng không còn nhặm lẹ như trước. Có thể do hoàn cảnh sinh sống, cách suy nghĩ và số tuổi tương đối khá cao".[23]

 

Đó là một cách nói khiêm tốn và đáng trân trọng. Trên thực tế, thành quả làm việc của ông đã khiến nhiều người phải thốt lên lời thán phục, như trường hợp tác giả Đan Thanh – từ đất Mỹ – mà ta mới vừa làm quen:

“Ở đây, bây giờ, phần lớn các nhạc sĩ của chúng ta đang đi vào quên lãng vì thiếu cảm hứng nên nghèo nàn sáng tác. Ngô Thụy Miên trái lại, không ồn ào, vẫn sáng tác đều đặn và liên tục cống hiến cho chúng ta những tuyệt phẩm.” [32]

 

Ngô Thụy Miên chối từ lãng quên bằng cách gọi tên nó. Chuyển hướng giai điệu, tìm sang những nốt trầm sâu lắng, ông viết những bài như Một Đời Quên Lãng [59], Sao Vẫn Còn Mùa Thu [60], mà có danh ca (xin khỏi nhắc tên) – theo thiển ý – do thiếu tìm tòi cách hát và hòa âm phối khí thích hợp nên đã không thể hiện nổi cho đúng hết giá trị. Sự «kén người ca» này cũng áp dụng cho nhiều bài hát khác thuộc thời kỳ sáng tác sau này: chẳng hạn như Tình Cuối Chân Mây [61] hoặc Nỗi Đau Từ Đấy (một bài có lẽ không dễ gì tìm được ca sĩ trình bày thành công như Hương Giang ở đây[62] chẳng hạn, một ca sĩ có âm sắc đẹp và thang giọng hiếm thấy – vừa thổ vừa kim –, nhưng tiếc thay lại không  được nhìn nhận đúng mức, để nhập vào lớp hàng đầu trong làng ca nhạc). Tương tự thế, bài Nỗi Đau Muộn Màng cũng không là ngoại lệ: có lẽ, nếu được phép so sánh, ít ai đủ khả năng về chất giọng và độ cảm để diễn tả nó hay bằng hai anh em nhà «nòi» Tuấn Ngọc [63] (chủ yếu với món bửu bối thứ nhất) - Khánh Hà[59] (sở hữu được cùng lúc cả hai).

 

Thêm nữa, đặc biệt khác lạ so với trước kia, Trong Nỗi Nhớ Muộn Màng là một bài hát điển hình có nhiều chỗ luyến láy, tạo một hiệu ứng mới cho nhạc Ngô: tha thướt, quyến rũ, như chính người ca sĩ trẻ tuổi Thu Hằng xuất hiện trong chương trình mang tên Người Kể Chuyện Tình, một sáng kiến rất hay của Đài Truyền Hình Vĩnh Long [64] làm vinh dự cùng lúc cho  nền  văn nghệ đại chúng hiện nay nói chung và địa phương thành phố Nam bộ này, nói riêng.

Nữ ca sĩ Thu Hằng hát Ngô Thụy Miên trên Truyền Hình Vĩnh Long

                                        (sttm)                                  

Không chỉ có vậy, Ngô còn có những tìm tòi thay đổi để nhạc ông sau này cho phép nhiều cách hòa âm phối khí mới mẻ (chẳng hạn dùng những hợp âm mà người Pháp gọi nguyên văn là «dominantes secondaires», thường được các nhạc sĩ ở trời Tây áp dụng, ví dụ để đệm cho một số ca khúc của Brel, Brassens, như có dẫn trong chú thích). [65]

 

Tất cả những cố gắng làm mới liên tục trên nhiều mặt này đã phần nào giúp Ngô Thụy Miên triệt tiêu được cái ảnh hưởng tiêu cực của tuổi tác mà nhạc sĩ đã đề cập: các bài hát mới bây giờ tuy mức thành công không lên tới tỉ lệ lý tưởng 10/10 (hoặc gần gần như thế) của thời trước, song nếu ước tính nhanh – theo thiển ý – thì cũng là vào khoảng chừng 1/3, tức là một thành tích hãy còn rất đáng kể, mà không phải ai cũng có thể đạt được ở khúc cuối con đường sáng tác.

 

Điều đáng nói là Ngô không chỉ khép mình riêng trong lãnh vực âm nhạc, mà còn biết quan tâm chia sẻ với người khác. Câu chuyện về bài Tóc Xưa được kể lại [66]cho ta thêm những bằng chứng cảm động: Ngô đã tạm quên đi cái ý định «treo đàn gác bút» của bản thân để «xé rào» nhận phổ nhạc «dùm» cho người bạn của một bạn đồng môn Trung học, là tác giả bài thơ mang tên tựa, được viết ra trong cơn xúc cảm khi tình cờ thấy lại sợi tóc của người vợ mới lìa trần. Để tỏ lòng đặc biệt quý mến tác giả, nhạc sĩ đã ra sức làm hơn: phổ ra thành tới hai phiên bản, một trưởng một thứ! [30] Cũng trong tinh thần đó, bài Biển Và Em có thể được xem như có gần cùng cảnh ngộ với bài trên, bởi vì Ngô đã viết ra nó từ tâm sự chuyện đời thật của một người hâm mộ. Ngoài ra, vẫn trong chương «những nhạc phẩm không định trước» này, người ta còn ghi nhận thêm vài ca khúc khác: bài Ngủ Yên Đi Khanh [53] do nhạc sĩ sáng tác ngay sau khi được tin một người bạn học cũ qua đời; ba bài Phật Ca[67] ít ai biết mà Ngô đã làm chỉ vì, trong một lần đi chùa, có nghe vị sư tỏ ý muốn dùng âm nhạc để «trẻ trung hóa» sinh hoạt Phật tử…

 

Sự quảng đại đó nơi con người Ngô Thụy Miên còn bộc lộ trong những lần trao đổi đi vô chiều sâu với giới thanh niên, đặc biệt qua quan điểm ông phát biểu trên các chủ đề văn hóa và âm nhạc – cho cả phía người nghe lẫn người sáng tác – liên quan đến thế hệ trẻ. Điển hình nhất là cuộc phỏng vấn khá dài với phóng viên Hoàng Vi Kha [22] , cũng như lá thư cảm động ông viết cho nhạc sĩ trẻ Nguyễn Quang [68] nhân dịp anh ta tổ chức đêm nhạc Ngô Thụy Miên 6/12/2015 tại Nhà hát lớn Hà Nội.

 

Ngay tại Mỹ, Ngô cũng tham gia nhiều sinh hoạt văn nghệ có mục đích xã hội hoặc từ thiện dành cho nhiều đối tượng khác nhau, thường được nhắc tới trên báo chí.[23]     

 

Trên phương diện thuần túy nghệ thuật, Ngô Thụy Miên được yêu thích không phải chỉ riêng với công chúng thời Việt Nam Cộng Hòa, mà cả với khách mộ điệu «sanh sau đẻ muộn» hoặc thuộc thành phần tuy đã có tuổi nhưng cũng chỉ mới khám phá nhạc của ông sau 1975: nhiều cuộc biểu diễn nhạc Ngô đã được tổ chức trên đài truyền hình hoặc tại những tụ điểm hoành tráng nhất nước[69]. Đó là một phần thưởng tinh thần, một phúc lớn lao mà không nghệ sĩ nào lại không mơ  

                                                               ước.                                                                            

Áp-phích đêm nhạc Ngô Thụy Miên tại Hà Nội năm 2015

    (sttm)    

 

 

     3. Thay lời kết

                                                                                               

Không là chủ nhân một gia tài âm nhạc đồ sộ như Phạm Duy, không sáng tạo ngôn ngữ tân kỳ như Trịnh Công Sơn, song cũng không dễ dãi buông lời thái quá – dù là ngọt lịm hay yếm thế, như trong một số ca khúc Từ Công Phụng hoặc, ngược lại, làm đau như những mũi kim không tên ẩn trong tình khúc Vũ Thành An –, Ngô Thụy Miên đã tạo cho mình một vị trí trung dung, một chỗ đứng đặc biệt: chỗ của vựa tình ca những giấc mộng bình thường. Để nuôi lớn những ước mơ của mọi lứa tuổi, mọi lớp người, mà từ khi được âm nhạc chắp cánh, bỗng hết thảy trở nên bình đẳng trước tình yêu. Bình đẳng trong sự thụ hưởng từ âm nhạc khả năng biểu hiện phổ quát, qua trung gian nghệ thuật của nó, những tình tự riêng tư cá biệt của mình. Và bình thường giấc mộng, bởi vì mơ hết còn bị xem như xa xỉ phẩm trong đời sống. 

 

Nằm giữa nhạc boléro và nhạc hàn lâm, tình ca Ngô Thụy Miên thường giàu về âm điệu, những giai điệu tiết tấu dễ lọt tai, hầu như luôn có tiềm năng để trở thành «top hit» khi gặp cơ hội. Đó là một ưu thế, nhờ năng khiếu trời cho và cái mà Du Tử Lê gọi là «tinh thần lạc quan»[70] ở Ngô,  khiến nhạc ông khoáng đạt, quý cách nhưng không quý tộc, đẳng cấp mà không giai cấp: nó lan tỏa từ trí thức đến bình dân, từ nông thôn đến thành thị.

 

Sáng giá, đắc địa, đắc nhân tâm như vậy, Ngô Thụy Miên đáng được tiếp tục xem là một hiện tượng, là người đại diện xuất sắc – có lẽ sau cùng – của dòng nhạc tân-lãng mạn Việt Nam, trong và ngoài nước.

 

Ngô đã đem lại một kích thước khác cho tình ca: sự tâm nguyện đi hết tận cùng con đường tình yêu cho dù có  nghịch cảnh, để đến với phép lạ của trái tim rộng mở, vô hạn. Thụy Miên, bằng thực chứng cuộc sống, đã kéo thế giới tình yêu về phía những phẩm hạnh đạo đức, tìm lại được cho nó cái giá trị nhân văn nguyên thủy: luyến ái quan đề cập ở trên, trở thành một nhân sinh quan mạch lạc, thuyết phục, nhân bản. Hai tiếng tình ca bây giờ ngân lên một âm vang mới: ca hát không phải là động tác tiêu thụ sản phẩm tầm thường mà là một chọn lựa thẩm mỹ cho mối tơ lòng muốn được phát ngôn.

 

Ngô đã thắng cuộc trong thách thức tiếp tục hành trình âm nhạc dẫu phải sống xa Quê hương và được nhìn nhận như thế, khắp nơi, là điều mà văn học hải ngoại, mặc dù sự hiện diện đông đảo những khuôn mặt tiêu biểu một thời, dường như đã không làm được: một điểm son trên trang sử văn nghệ Việt Nam đương đại.

 

Là ca nhân (chantre) của tình yêu, của những cơn mơ bất tuyệt như phần đông những nhân cách lớn, Ngô Thụy Miên đã sống trung thành với cái định nghĩa cô đọng ông thường nhắc tới, rằng Tình Yêu là «Cho, Chấp Nhận, và Tha Thứ».

 

Nới rộng ra cộng đồng dân tộc, phải chăng quan niệm âm nhạc Ngô Thụy Miên cũng là một thông điệp cho thương yêu hòa giải, góp phần xoa dịu những vết thương hơn bốn mươi năm lịch sử còn để lại, mà mọi diễn ngôn chính trị nói hàn gắn đến nay đều đã tỏ ra bất lực, nếu không phải là lọc lừa giả trá?

                                                                                                                                                

 

       Marseille, ngày mưa sa nhớ tiếc Nguyễn Văn Trung, Ngô Vĩnh Long, Cung Trầm Tưởng,

       những tấm gương trong đã sống trọn Tình Yêu bát ngát…

                                                                                                                                                                                         

  Nguồn : Diễn Đàn Forum (bản cập nhật tác giả gửi)

                                                                                                                                                                                                                                                                                

Chú thích

[1] Theo lời Nguyễn Ngọc Ngạn, trong một chương trình Paris By Night 66, được trích đoạn trên Youtube: Paris By Night 66 - Tình Khúc Ngô Thụy Miên - Bing video

[2] Theo  Tiểu sử NGÔ THỤY MIÊN|| Cuộc đời và sự nghiệp nhiều sóng gió của nhạc sĩ “chuyên viết tình ca” - YouTube

[3] Nguồn gốc những bút danh của các nhạc sĩ nổi tiếng trước 1975: Ngô Thụy Miên, Anh Việt Thu, Mặc Thế Nhân... (nhacxua.vn)

[4] Hán Việt Từ Điển giản yếu, Đào Duy Anh, in lần thứ 3, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1957: chữ Ngô ở tr.37, Quyển Hạ ; chữ Thụy ở tr. 447, Quyển Hạ ; chữ Miên ở tr.557, Quyển Thượng.

(Người viết chân thành cảm ơn bạn Hậu Hiền NMK về sự khích lệ thân tình, cùng những góp ý xác đáng đặc biệt trong sự phân biệt những dạng viết khác nhau của cùng một từ đa nghĩa)

[5] Mời xem ở: Bài phỏng của nhà báo Người Việt Tây Bắc: (saigonocean.com)

[6] Về siêu nghiệm trong nghệ thuật, mời xem ở đây : văn học & nghệ thuật (vanchuongviet.org)

Ý niệm siêu nghiệm này không phải là thuyết siêu nghiệm như đã được Hoàng Hưng trình bày trong bài ông viết về Walt Whitman ( Bài hát chính tôi - Bài hát mọi người — Diễn Đàn Forum (diendan.org) )

[7] văn học & nghệ thuật (vanchuongviet.org)

[8] Hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa ca khúc "Tình Khúc Thứ Nhất" (Nguyễn Đình Toàn - Vũ Thành An) - Những ca từ lấp lánh sắc màu thần thoại (nhacxua.vn)

[9] văn học & nghệ thuật (vanchuongviet.org)

[10] Theo tác giả bài viết  Cảm nhận âm nhạc: "Mùa Thu Cho Em" (Ngô Thụy Miên) - Lời tỏ tình của mùa thu (nhacvangonline.com)

[11] La musique et le rêve, Élizabeth Giuliani, Études 2003/3 (Tome 398), pages 375 à 381:https://www.cairn.info/revue-etudes-2003-3-page-375.htm

[12] Blog: Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên: Một đời cho tình ca. (sydney6920003.blogspot.com)

[13] Theo Tâm Huyền, tác giả bài viết Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên: Hạnh phúc riêng một góc trời - Báo Công an Nhân dân điện tử (cand.com.vn)

[14] Theo trang  Ngô Thụy Miên – Wikipedia tiếng Việt

[15] Tình Khúc Ngô Thụy Miên, băng nhạc đầu tay của tác giả phát hành năm 1974 tại Sài Gòn: Tình Khúc NGÔ THỤY MIÊN (saigonocean3.com)

[16]  Ho^`n Que^- Vietnamese Multimedia Magazine (honque.com)

[17] Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên kể về hoàn cảnh sáng tác những bài tình ca bất tử – Tân nhạc Việt Nam (nhacxua.org)

[18] Theo tác giả bài viết ở đây : Nắng mưa đã phai trên cuộc tình ngày nào - Hợp Âm Việt (hopamviet.vn) ;

[19]  Chiều Nay Không Có Em" của Ngô Thụy Miên: Bản tình ca dành cho tuổi trẻ (nhacvangonline.com)

[20] Phạm Duy, Hồi Ký, tập 3, nxb PDC Musical Productions, tr.283

[21] Larry De King, Ngô Thụy Miên: Góc trời riêng của những tình khúc bất hủ (ntdvn.net)

[22] 30 Lời Tâm Sự của Ngô Thụy Miên – Quê Nội (quenoi.com)

[23] -Ngô Thụy Miên 38 năm viết nhạc tình (saigonocean.com)

[24] Việt Hải: NGÔ THỤY MIÊN: Người nhạc sÄ© tài hoa (trinhnu.net); hoặc ở : https://nguoisantin.wordpress.com/2016/02/01/ngo-thuy-mien-nguoi-nhac-si-tai-hoa/

[25] Con đường tình ta đi. (phamduy.com)

[26] https://www.youtube.com/watch?v=1TBqgDCJXRk

[27] Trong một bài viết xuất sắc phân tích nhạc thuật (hiếm hoi trên văn đàn người Việt!) chủ yếu nói về Cung Tiến (với những định dạng chính xác liên quan đến gốc gác nguyên thủy của một số đoạn nhạc trong vài ca khúc họ Cung), nhà phê bình âm nhạc Pham Văn Kỳ Thanh cũng có đề cập đến Từ Công Phụng và cho rằng nhạc sĩ này đã phạm lỗi về kỹ thuật khi lạm dụng quá nhiều các quãng sáu, dễ gây nhàm tai:

COMPOSER-SONGWRITER CUNG TIẾN. MỘT NGHỆ SĨ TRÍ THỨC ĐA TÀI, ĐA NĂNG. (Phạm Văn Kỳ Thanh) – CHÍNH NGHĨA VIỆT NAM CỘNG HÒA (chinhnghiavietnamconghoa.com)

[28] Ngô Thụy Miên viết về cuộc gặp gỡ định mệnh với Nguyên Sa trong âm nhạc (nhacxua.vn)

[29] Hoài Nam, SBS Radio Úc châu, về Ngô Thụy Miên trong 70 Nam Tinh Ca (ngaydochungminh.com);

 70 Năm Tình Ca Trong Âm Nhạc Việt Nam (namquoc.com)

[30] Tản mạn viết bởi ngô thụy miên trên phu-tran.blogspot.com

[31] Mời nghe Khánh Hà hát Từ Giọng Hát Em - Bing video

[32] Đan Thanh (08/06/2018), Nỗi Buồn Trong Nhạc Của Chúng Ta (1994), có thể xem một phần ở:

Nỗi buồn trong nhạc của chúng ta - Trí Thức VN (trithucvn.org)

[33] Về bài này, mời xem một lời bình khá tiêu biểu: (20+) Facebook

=> bạn có thể thưởng thức trọn vẹn qua sự so sánh thú vị ( giống trên France Musique từ bao nhiêu năm qua đối với nhạc cổ điển) 3 cách trình bày tác phẩm bởi 3 danh ca khác nhau : - Tiếng hát Sĩ Phú :https://youtu.be/5IeET2dVFo0 ; https://youtu.be/i1OFLLJ708Yhttps://youtu.be/HIEzaNglurEhttps://youtu.be/KXIX5qSRu4A- Tiếng hát Tuấn Ngọc : https://youtu.be/bPDH2cibgiwhttps://youtu.be/3VTXROc-uV4; ;https://www.nhaccuatui.com/.../mat-biec-ngo-thuy-mien...- Tiếng hát Bằng Kiều : https://youtu.be/pVY0PhewFs4 ; ; https://youtu.be/XjEWX-qmopQhttps://youtu.be/nMxkxLL0GtUhttps://youtu.be/Aa2PC3FbiO4 ;  ; https://nhac.vn/bai-hat/mat-biec-bang-kieu-soLpRr0

[34] Cảm nhận âm nhạc: Mắt Biếc (Ngô Thụy Miên) - "Dĩ vãng như bao cung tơ..." (nhacvangbolero.com)

[35] Theo tác giả trang này: (20+) Fb Chìm Đắm Trong Âm Nhạc - Publications | Facebook

[36] Mời nghe Lệ Thu thể hiện một cách xuất sắc (năm 1971): https://youtu.be/YoZv5n_qQQM

[37] Lời bài Dốc Mơ: QueHuong Loi Nhac - Lời Nhạc: Dốc Mơ - Ngô Thụy Miên / Doc Mo - Ngo Thuy Mien

[38] Trong hội họa, đôi giày đã từng làm chủ đề cho một tác phẩm Van Gogh (chú thích số 193 nằm trong trích đoạn này của bài viết đã dẫn ở [6], đầu trang): <<…Trước hết, cần ghi nhận rằng hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, việc nhiều triết gia (tức là – xin nhắc lại – « người đẻ ra các ý niệm [concept] », theo định nghĩa gọn ghẽ và hợp lý của Deleuze) đã bỏ công để phát hiện những điều ẩn kín đằng sau nét vẽ các danh hoạ. Từ Heidegger (L’Origine de l’œuvre d’art trong Chemins qui ne mènent nulle part) luận về bức tranh đôi giày193 dân dã của Van Gogh (1853-1890) đến Deleuze rọi tư duy về phía những họa phẩm của Bacon, qua một Foucault lần lữa vén tấm màn épistémè – như ông đã đặt tên – bao trùm trên kiệt tác Les Ménines của Vélasquez194: tất cả, bằng trực quan bén nhạy, đã thấy và nghe được những gì mà nghệ phẩm thầm thì thố lộ.>>

[39] Vidéo Khánh Hà thể hiện bản Dốc Mơ: (1) Dốc Mơ (Ngô Thụy Miên) - Khánh Hà | Asia 19 - Bing video

[40] Miên Khúc hát bởi Khánh Hà: https://www.youtube.com/watch?v=2sVmXim9ZXE

[41] Đặc biệt qua ví dụ bài viết này: Goc Troi Ngo Thuy Mien (honque.com)

[42] Đối với một tác giả khác, tuy có đôi lúc hơi sa đà, ca từ bài Niệm Khúc Cuối được tán thưởng dưới một khía cạnh ít người đề cập: tình yêu như một trải nghiệm sự cận kề thân xác và đáng được nói lên =>  EM CÒN NHỚ MÙA XUÂN (forumvi.com)

[43] Theo dữ liệu về năm sáng tác ở: -Danh sách bài hát của Trịnh Công Sơn – Wikipedia tiếng Việt

[44] văn học & nghệ thuật (vanchuongviet.org)

[45] https://www.philolog.fr/le-desir-mimetique-rene-girard/ ; https://fr.wikipedia.org/wiki/D%C3%A9sir_mim%C3%A9tique

[46] 50 chân dung văn nghệ nổi tiếng dưới góc nhìn Thanh Thảo - Báo Người lao động (nld.com.vn)

 

[47] Thể hiện bởi một Thái Hiền đáng lẽ đã phải được nhìn nhận nhiều hơn nữa bời công chúng: https://www.youtube.com/watch?v=xAyeYYWiQ7E

[48] Thông tin cho bởi người viết trang này:   Ngo Thuy Mien biography | Last.fm

[49] Nắng Paris Nắng Sài Gòn do Anh Dũng hát với dàn nhạc giao hưởng https://youtu.be/Z__BA5l2dBM

 

[50] Nắng Paris Nắng Sài Gòn do Thái Hiền hát “live” https://youtu.be/Gnma4Q93liY

[51] Tuấn Ngọc có lần nói: "Riêng một góc trời là ca khúc mà cuộc đời tôi hàm ơn. Nó như một định mệnh, một sự may mắn trong sự nghiệp ca hát của tôi. Tôi đã hát thành công rất nhiều ca khúc của Ngô Thụy Miên nhưng chưa có bài hát nào được công chúng yêu mến dài lâu, bền bỉ như Riêng một góc trời"

(Tuấn Ngọc, Lệ Thu hát vinh danh Ngô Thụy Miên - VnExpress Giải trí ); Hát bởi Tuấn Ngọc:  PBN 38 | Tuấn Ngọc - Riêng Một Góc Trời - Bing video

[52] Theo lời kể của Tuấn Ngọc trong nguồn dẫn ở chú thích[1], bài hát này được ông hát lần đầu trên Paris By Night năm 1997. Theo Tâm Huyền (chú thích [13]) thì ““Riêng một góc trời” chỉ được Ngô Thụy Miên hát cho vợ suốt nhiều năm, sau đó ca sĩ Tuấn Ngọc mới đến tận nhà để xin được thu âm và lan tỏa cực nhanh vào công chúng”

[53] Yên Hà: http://phu-tran.blogspot.com/2012/12/thi-si-ngo-thuy-mien-phan-3.html?m=0

[54] Phạm Duy, Hồi Ký, tập 3, nxb PDC Musical Productions, tr.290

[55] “Riêng một góc trời” (gocnhosantruong.com)

[56] La Rentrée - Anatole France. - Blanc-seing.

[57] Phiên bản ca khúc biểu diễn bởi Đức Tuấn: CHIỀU VỀ TRÊN SÔNG (PHẠM DUY) - ĐỨC TUẤN - Bing video ;Mời nghe hòa âm rất thành công của Duy Cường Chiều Về Trên Sông (Phạm Duy) Duy Cường (1987) - Bing video

[58] Thơ Nguyên Sa (Tiễn Biệt)

[59] Nằm trong CD Khánh Hà hát Ngô Thụy Miên: https://youtu.be/2sVmXim9ZXE

[60] Trong khi chưa thấy ca sĩ nào hát nghe thật đạt bài Sao Vẫn Còn Mùa Thu , thì phiên bản có sẵn vào thời điểm bài này hoàn tất, để bạn đọc có ý niệm, là: https://youtu.be/85bxqTI6mSM

[61] Tình Cuối Chân Mây hát bởi Lê Tâm tại một phòng trà Hà Nội: https://youtu.be/1Xl0xAzsFJQình

[62]  Hương Giang thể hiện Nỗi Đau Từ Đấy: https://youtu.be/pU4XJUXAxe4

[63] Tuấn Ngọc hát Nỗi Đau Muộn Màng: https://youtu.be/dqPCqQYSx78

[64] Trong Nỗi Nhớ Muộn Màng, qua giọng hát Thu Hằng: https://youtu.be/WXU6U5Jq8VA

[65] Về các khái niệm cơ bản, liên quan đến vấn đề hợp âm, bạn đọc có thể tham khảo ở đây (bằng tiếng Pháp):  Accord de septième de dominante avec fondamentale — Wikipédia (wikipedia.org) và nhất là, với ví dụ cụ thể , theo một bài viết ngắn gọn này: Les dominantes secondaires — Mamie Note (mamie-note.fr)

Người viết chân thành cảm ơn bạn đồng môn BS Trần Việt Trúc về những gợi ý xác đáng qua các trao đổi gần đây trong quá trình hình thành bài viết, đặc biệt trên các vấn đề nhạc thuật mà anh đã chia sẻ tư liệu, sự hiểu biết và khiếu thẩm âm của mình.

[66] . Nguyễn Ngọc Chính's: Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên và bản nhạc cuối đời: Tóc Xưa (chinhhoiuc.blogspot.com)

[67] Ngô Thụy Miên: Hành trình ba bản Phật ca, Huyền Lam : E.E - Emprunt Empreinte - Mượn Dấu Thời Gian: Ngô Thụy Miên (phannguyenartist.blogspot.com)

[68] Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên xúc động viết thư từ Mỹ gửi về Việt Nam - 2sao

[69]  https://thoixua.vn/nghe-si/nhac-si/nhac-si-ngo-thuy-mien.html  

 Trich từ bài dẫn: «Ngô Thụy Miên và những sáng tác của ông được vinh danh trong chương trình Paris By Night 21 và 66 do Trung tâm Thúy Nga thực hiện. Ngày 6/12/2015 tại Nhà hát lớn ( Hà Nội) đã diễn ra đêm nhạc Riêng một góc trời để vinh danh các nhạc phẩm của Ngô Thụy Miên. Ngày 12/03/2016 diễn ra đêm nhạc tôn vinh nhạc sĩ tài hoa Ngô Thụy Miên với chủ đề Ngô Thụy Miên – Dấu tình sầu, do VTV9 và Jet Studio phối hợp thực hiện».

Ngoài ra, người ta cũng biết rằng Tuấn Ngọc có về Việt Nam thực hiện album Chiều nay không có em, và đã làm chương trình In the Spotlight số 1 "Riêng một góc trời"  diễn ra trong ba đêm tại Nhà hát Lớn Hà Nội năm 2012.

[70] https://dutule.com/p128a10298/6/ngo-thuy-mien

8/12/2022

Bùi Đức Hào

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Mặc khải xuân thì qua tuyệt phẩm Thiếu nữ bên hoa huệ

Mặc khải xuân thì qua tuyệt phẩm  Thiếu nữ bên hoa huệ Trong lịch sử nghệ thuật truyền thống Việt Nam, hội họa có vị trí khiêm tốn, mờ nhạt ...