Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai?

Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của nhà thơ có một con người thẳm sâu khác với con người xã hội đang cần sự sẻ chia, vỗ về. Viết bằng sự đắm say và chân thành. Viết như sự giải phẫu nội tâm trong tận cùng chiều kích khác nhau.

Tôi không tin một nhà thơ có thể viết được một bài thơ hay khi mà bắt đầu làm một bài thơ anh ta tự xác định sẽ viết cho đám đông đọc. Cái gọi là trách nhiệm công dân của nhà thơ có nguy cơ phá hủy cấu trúc thẩm mỹ của bài thơ ngay từ khi nhà thơ đang ấp ủ tứ thơ. Viết cho người khác chỉ tạo ra thứ thơ giả tạo nhằm xu nịnh, ve vuốt cho quuyền lực và thị hiếu của đám đông. Nếu nhà thơ viết được một bài thơ cho đám đông thì cũng chỉ là sự lừa lọc của lý trí nhằm tìm kiếm sự hư vinh.

Một số nhà thơ đương đại Việt Nam đang là những kẻ vong thân, bỏ quên vàng bạc châu báu trong nội tâm để đi tìm kiếm sự thừa nhận, tôn vinh của cộng đồng. Nhà thơ đã bỏ quên thiên chức khám phá bí ẩn của tâm hồn và sự vật, tôn vinh cái đẹp để trở thành một người hoạt động xã hội bằng những bài thơ hô khẩu hiệu hạng bét. Thơ của họ lẽo đẽo đi theo sau hiện thực. Thơ của họ chỉ là thứ Oshin dọn dẹp, lau chùi cho những tồn đọng, tù túng và ngổn ngang của đời sống xã hội. Thơ kiểu này sự tác động và sức sống của nó thua một bài báo.

Người Việt sính thơ. Nhiều người ngộ nhận cứ làm một bài thơ là có thể trở nên nổi tiếng. Người Việt cũng thực dụng. Nhiều người coi thơ là thứ vô bổ phù phiếm. Cả hai thái cực này đều là sự lêch lạc về nhận thức. Thơ trước tiên là chính nó. Thơ hiện diện và cần thiết cho nhu cầu tinh thần tâm linh của con người. Chất thơ hiện diện không chỉ trong một bài thơ cụ thể. Chất thơ bàng bạc trong sự vật, trong thiên nhiên trong hồn người… Bài thơ chỉ hàm chứa được vẻ đẹp của chất thơ khi tâm hồn nhà thơ ẩn chứa chất thơ của đời sống, thiên nhiên…

Các nhà lý luận phê bình văn học tự phong cho thơ ca và nhà thơ những thiên chức thật cao siêu hoặc thực dụng. Tất cả những điều đó đều là Phi Thơ. Thơ ca tự nhiên như những giá trị tinh thần khác do con người sáng tạo. Tuy nhiên thơ ca có giá trị cao nhất bởi vì chất liệu ngôn ngữ do nhà thơ sáng tạo không chỉ là phương tiện là “lớp vỏ của tư duy” mà còn là máu thịt và tâm linh của con người. Điều kỳ diệu là ở chỗ đó chứ không phải những thiên chức mà các nhà lý luận phê bình tự phong cho thơ ca. Cũng không phải là trách nhiệm công dân do các nhà xã hội học áp đặt cho nhà thơ…

Thời dịch corona thấy tội cho nàng thơ. Nàng thơ đeo khẩu trang che mất nhan sắc thơ. Nụ hôn thời dịch corona ẩn khuất bóng dáng thần chết. Thơ ca đúng nghĩa mãi mãi là sự tụng ca cái đẹp và ca ngợi sự sống của con người. Thời dịch corona phát sinh thêm dịch sợ hãi và bất an. Dịch dè bỉu chê bai các nhà thơ… Thật tức cười và đau lòng khi xã hội có bao điều xấu xa bỉ ổi và bao điều ác đang lộng hành mà con người không gọi tên và tìm cách đẩy lùi nhưng lại đi “kết tội” những người đam mê và sáng tạo nghệ thuật.

17/12/2020

Võ Tấn Cường

Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn, họ là ai

Nhà văn, họ là ai?

Nhà văn Cao Chiến là cây bút quen thuộc, năm qua tiểu thuyết Buổi chiều đi qua cánh đồng của ông được trao Giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM. Ông còn là luật gia, nhiều năm du học ở nước ngoài, từng phụ trách Văn phòng phía Nam của Bộ Tư pháp. Trước những câu chuyện bất thường của đời sống văn học gần đây, nhất là chuyện trang web cũ của Hội Nhà văn TP.HCM, nhà văn Cao Chiến đã có bài viết đầy suy tư trăn trở đã đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Chương Phương Nam và sau đây là văn bản đầy đủ của ông. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Trong bài viết này, nhà văn là đại từ chung chỉ người viết văn xuôi và thơ. Có một câu hỏi đã cũ như trái đất: Nhà văn, họ là ai? Cũ bởi không dưới một lần người ta đã nói về nó. Trong Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hóa Thông tin, HN 1998, trang 1227-1228) có hẳn định nghĩa nhà văn là “người chuyên sáng tác văn xuôi, có tài năng và đã có tác phẩm giá trị được thừa nhận”. Tưởng thế là kịch đường tàu rồi chẳng còn gì nói nữa. Nhưng với tôi thì chưa đủ. Từ nhỏ tôi đã vô cùng yêu mến và ngưỡng mộ nhà văn. Chao ôi, mấy từ văn nhân thi nhân cứ gọi là đẹp long lanh. Trong suy nghĩ của tôi, từ tận đáy lòng, họ là những thực thể gần như vô nhiễm.

Gần đây, sau Đại hội Nhà văn Việt Nam, danh xưng nhà văn lại nóng lên. Người trong giới tự sướng, kẻ ngoại giới thì soi. Gì cũng soi. Ồn ào, chen lấn bỏ phiếu cũng soi. Im lặng, chẳng ý kiến ý cò gì cũng soi. Nghĩ theo hướng tích cực sở dĩ nhà văn bị soi bởi họ được yêu quá. Không yêu thì mặc xác, ai thèm soi. Lại có người hô nhà văn cao quý nhưng việc tôn vinh chưa xứng tầm, người khác phụ họa nên cấp thẻ hành nghề cho văn nhân, như nghề báo; và thứ này nữa, mới đây chừng dăm bảy bữa, câu chuyện trang web của Hội Nhà văn TP.HCM lại sốt. Cái việc làm nóng đại loại là vậy!

Rốt lại thì nhà văn họ là ai? Tôi vẫn trung thành với tư tưởng văn nhân là thực thể gần như vô nhiễm, nhưng thêm chút khảo dị. Thiết nghĩ nhà văn là hạng người không giới tính, nữ có thể nhập thân thành nam nhi và ngược lại, sự xáo trộn này đôi khi kích thích nhà văn sáng tạo, lạ thế; thứ nữa là văn nhân không có tuổi. Lão già da dẻ nhăn nhúm, tay chân lẩy bẩy, nói như ai đó nhỉ, tôi không nhớ, rằng già thì còn kết tinh sáng tạo gì nữa, phải vậy không? Văn nhân già, trong văn họ yêu phơi phới. Nguyễn Xuân Khánh với Đội gạo lên chùa, Marguerite Duras với Người tình, và mới đây là Gánh gánh gồng gồng của Xuân Phượng, đều tám chín chục cả. Sáng tạo không có tuổi. Văn nhân không có tuổi. Trong văn và ngay trong đời thường, đứa ba mươi gọi lão bảy mươi cộc lốc cái bút danh, lão bảy mươi nhăn răng cười hề hề, sao đâu. Lại nữa, năm sinh năm chết của văn nhân cũng chỉ vài dòng số cụt lủn, ai thèm lưu tâm, thường người ta chỉ nhớ tác phẩm. Tôi nói văn nhân không giới tính và không tuổi là vậy!

Văn nhân dị biệt với phần còn lại của thế giới. Tôi nói thế này, họ là những kẻ bất phàm. Với người bình thường, cơm no, lăn đùng ra đánh một giấc thẳng cẳng là hạnh phúc. Văn nhân hẳn cũng muốn vậy nhưng bị lão trời già hành. Nhăn nhó vật vã suốt đêm, tưởng gì té ra vật vã tứ thơ, câu thơ, một hai con chữ; lại nữa, chuyện thiên hạ tự nhiên vơ vào làm chuyện của mình, rồi khóc cười âm ỉ. Hâm tỉ độ. Hâm đến thế là cùng!

Ai cũng có thể thành người của hội nhà văn miễn là đáp ứng điều kiện theo Điều lệ. Có tiền là có thể in sách. Nhà xuất bản chỉ làm một việc là cấp phép, tùy số lượng trang in mà ra giá. Bởi vậy tôi ngạc nhiên khi có người cắc cớ bản thảo gửi mãi chẳng xin được phép. Viết cao siêu quá chăng? Hay la lối gì? Sách không ra được tựu chung chỉ có vấn đề như vậy. Làng nhàng đã có biên tập sửa lỗi. Không ra được sách tốt nhất là nên tự xem lại mình, tiên trách kỷ hậu trách nhân là vậy. Nghịch lý ở đây là người giỏi có thể không vào được hội, vì họ không có sách. Vài triệu, vài chục triệu với người này là muỗi, nhưng với người kia có khi hơn cả gia tài. Biết sao được, cuộc chơi nào chả thế!

Vẻ như nhà văn chả cần cho ai nhưng dứt khoát là không thể không có họ. Họ ghi lại ký ức thời gian khiến cho mọi thứ có hồn vía. Bà lang vườn có thể vò nắm lá nhọ nồi hạ sốt cho con bệnh trong khi đợi bác sĩ. Già làng có thể lấy điều hơn lẽ thiệt hóa giải khúc mắc chẳng phiền đến luật sư. Giả như thi hào Homer không gảy cây đàn lia kể về cuộc chiến thành Troia thì nghìn năm sau ai biết Hector, Achilles. Văn nhân là thế, không ai thay được. Thế này còn hơn cả tôn vinh!

Nói thêm tí về trang web của Hội Nhà văn Thành phố. Văn nhân trong Nam ngoài Bắc đều gửi bài về, biến trang địa phương gần như là trang quốc gia. Sau 2018, thi sĩ Phan Hoàng bàn giao cho người khác. Điều khiến tôi ngạc nhiên là đã giao mà có người vẫn bảo này kia. Tôi nói thế này, cái gì mất thì mất rồi. Bảo dữ liệu quý, nhưng ghê gớm lắm đâu. Trách móc vô căn có khi gây họa cho mình!

Trong mắt tôi nhà văn đồng nghĩa với bao dung chia sẻ, thiếu một trong hai phẩm chất đó họ chỉ còn là thợ viết. Nghe hóng diễn đàn văn chương có người đề xuất cấp thẻ hành nghề nhà văn, kiểu như nghề báo, nghề y, nghề luật, cho oách! Văn là nghề cực nhọc làm say đắm lòng người khiến bao trái tim tan chảy. Chưa có thống kê về chỉ số yêu bền vững, tôi nghĩ chỉ số này ở văn nhân rất mong manh. Văn nhân cô đơn lắm. Chưa lấp đầy khoảng vắng này khoảng vắng khác đã mở ra. Cứ thế họ đi trong cuộc đời. Nhập môn nhiều phá giới cũng lắm, cơ man là thối, rụng, cuối đường lác đác dăm ba bóng hình đã là may mắn.

17/12/2020

Cao Chiến

Theo https://vanhocsaigon.com/

Mối quan hệ giữa cái tôi trần gian và cái tôi siêu việt trong thơ Trần Lê Khánh

Mối quan hệ giữa cái tôi trần gian
và cái tôi siêu việt trong thơ Trần Lê Khánh

Đời sống luôn đưa đến cho chúng ta những hiện thực không thể tranh cãi hay thay đổi. Đó là một hiện thực mà loài người thông thường vẫn chấp nhận/tiếp nhận như một ứng xử đương nhiên, vui buồn phụ thuộc vào những biến cố, may rủi. Nói như vậy thì có vẻ con người đã trở nên thụ động trước đời sống? Dù có ý chí và nỗ lực đến đâu nhưng vẫn có một đời sống đã rồi mà con người chỉ như một khách thể. Nhưng có-một-đời-sống-khác, đó là những tiềm ẩn của đời sống thực, và đây mới là đời sống thực sự riêng biệt của mỗi người. Tôi nghĩ nhiều về điều này khi đọc những trang thơ của Trần Lê Khánh. Nói một cách khác, thì đó là hai mặt của đời sống, ở đây không phải là sự luận bàn tốt xấu. Mà là giữa cõi thực và cõi mộng, nhận thức và vô thức. Và đây chính là lối dẫn để chúng ta đi tìm cái tôi trần gian và cái tôi siêu việt trong thơ Trần Lê Khánh.

Những người sáng tác là những người thuộc về một-đời-sống-khác như đã nhắc ở trên. Và ở đó mỗi người sẽ tự tạo tác nên một đời sống của riêng mình từ những tiềm ẩn của đời sống thực mà ai cũng phải tựa vào. Với Trần Lê Khánh, anh gây ấn tượng khi xác quyết thơ mình theo cách lấy hiện thực để lí giải cho hư vô, lấy cụ thể để diễn đạt cho phù du, lấy hữu hạn để đong đếm không cùng: Có khi đi qua một mặt người/ mịt mù để lại/ trùng trùng dấu chân/ vô hình, vô giới. Và ngược lại, lấy mênh mông để định hình bé nhỏ, gom những hư ảnh để tạo thành hình dung. mây xoa ngọn đồi/ sỏi đá mềm như khói/ tháng là ngày dần/ giờ là phút lân mẫn/ giây là chớp thậm thâm/ thuở sát na, trời lỡ tay thả núi trần/ thiên thu, là mây đong đưa chiếc áo.

Sức nặng của ngôn từ nằm ở trong tư tưởng người cầm bút, còn những mộng mơ thì dựa vào sự liên tưởng. Có được hai yếu tố này, nhà thơ là kẻ gây nên những lay động cố ý cho người đọc. Đó chẳng phải là điều mà các nhà thơ mong đợi? Tôi nghĩ điều này còn phụ thuộc vào quan niệm của mỗi người về thơ và đến với thơ. Đọc Trần Lê Khánh tôi chợt nghĩ, có lẽ những điều đó không quá quan trọng. Như một giọt sương trong khiết sớm mai thách thức sự nhận thức/nhận diện của muôn loài trước vẻ đẹp của nó. Thơ Trần Lê Khánh nhắc ta nên đọc chậm rãi và tinh tế nếu bạn không muốn vì bất cẩn mà làm rơi giọt sương. Bởi thơ anh quyết không phải là những rổn rảng, ồn ào mà là sự lắng đọng, lắng đọng đến mênh mông: gió/ nhặt tiếng lá rơi/ muôn đời/ còn sót lại. Chỉ vậy thôi nhưng bài thơ đủ gợi lên niềm tiếc nuối vô tận. đêm/ mây cựa mình thức giấc/ ngọn đồi ngủ/ trăm năm rồi/ ai mà nhớ tiếng ru. Tôi đang muốn nói về sức gợi mãnh liệt trong thơ anh. Bắt đầu từ sự thông thường, đêm như bao đêm, xao động nội tại bắt đầu từ những chuyển động ngoại giới, điều này đưa đến những suy ngẫm, trắc ẩn. Nhận thức và hoài niệm đưa con người dần về vô thức, và ở đó, đời sống khác nảy sinh. Ai mà nhớ tiếng ru, nghe sao nhẹ như một chối từ niềm nhớ nhưng đó lại là những hình dung sâu đậm, gan ruột nhất về hình ảnh mẹ.

Trần Lê Khánh không để lại dấu vết của sự gò công trong thơ mình cho dù đọc anh ta hiểu, càng cô đọng thì càng khổ luyện. Điều thú vị ở chỗ, chẳng thể đem lao động của một nhà thơ ra để so sánh với một người thợ rèn. Có lẽ thơ đã chọn Trần Lê Khánh theo một cách nào đó. Chiều đoạn chiều khúc biệt li/ mây vò mây lưu luyến gì/ sóng đẩy sóng ngang chốn cũ/ đáy lòng lay động mà chi. Có lẽ bởi những lay động không cách gì dừng lại, và không gì có thể diễn đạt thay nên thơ đã đến để thi sĩ trổ lòng mình. Và cho dù đã có lúc anh cho rằng thơ cũng chỉ là lời thì thầm ở lại lâu hơn một chút: Gió lạnh quá/ lời thì thầm/ trốn trong tai em/ lâu hơn một chút.

Lần này vỡ bong ra/ lớp lớp thời gian lợp mái nhà/ đến rồi để đi nữa vậy/ tróc hoài có giữ được phôi pha. Thời gian như một ám ảnh trong thơ Trần Lê Khánh. Đó là sự phai tàn nhưng đáng suy tư ở cách của sự phai tàn. Mùa thu trắng tinh như tờ giấy/ vì em đã vẽ/ anh và rừng lá xưa vàng úa/ làm thu lần này/ không còn gì để phai. Nếu nói về đề tài thì thời gian là một đại tự sự, cách thời gian hiện hữu trong thơ anh như sự xâm nhập âm thầm. Để thấy được sự hủy diệt lặng lẽ của thời gian hay vẻ đẹp của tàn phai? Điều đáng nói ở chỗ cách anh đưa đến và cách anh kết thúc, nhiều khi đó là sự kinh ngạc. Rất nhiều bài thơ của anh mở đầu bằng sự thông thường để rồi kết thúc bằng những khác thường. Điều này như một lí giải cho cái tôi trần gian/bình thường và cái tôi siêu việt/khác thường. Em đi tìm dấu vết hư vô/ lần theo dấu chân sắp bước/ thời gian rơi lả tả/ đỏ đôi tay trần/ giữ chặt mông lung.

Sẽ là rất cũ khi nói rằng nhà thơ là người nhìn thấy những điều người khác không thể thấy, nhưng những suy tư, dự cảm trong thơ Trần Lê Khánh dường như không đơn thuần đến từ cách nghĩ ấy: Con chim đậu trên chiếc lá vàng/ kiếp sau cả hai sẽ hóa người/ thành đôi tình nhân mỏi bước/ tìm về gốc cây cũ/ chờ nhau. Như một khắc khoải, như một tiền định, không chỉ là cho thân phận con chim và chiếc lá vàng ở kiếp sau, mà cho cả tác giả của bài thơ. Tôi không rõ anh đến với thơ như thế nào nhưng chắc chắn anh phải từng khắc khoải với thơ, thơ với anh như một tiền định. Chính những bài thơ là minh chứng cho điều đó.

Thơ là một thân phận, thân phận ấy phủ dụ cho bản mệnh của nhà thơ. Điều đó cho thấy thơ chính là diện mạo tâm hồn của người viết. Cái tôi của Trần Lê Khánh là cái tôi lí tính, tỉnh táo. Anh nhìn mọi thứ đều rõ ràng, sắc sảo cho dù ít nhiều mọi thứ đã được chất thơ làm mờ đi thì cá tính của anh vẫn thể hiện rõ nét: lá xuống tay/ thu đỏ rực/ gió rơi lả chả trong mây/ hàng cây đau hiện nguyên hình… Cái tôi thường hằng ấy trở thành cái tôi siêu việt trong sự thăng hoa của thơ ca. Điều này được minh định ở câu cuối: thu đi rồi/ nhát chém rung rinh. Đó không chỉ là một bài thơ hoàn tất, một bức tranh hoàn chỉnh. Đó là mối quan hệ giữa đời thường và nghệ thuật, giữa cái hiện hữu và cái khuất lấp, giữa cái tôi trần gian và cái tôi siêu việt – điều mà bài viết này luôn muốn trở đi trở lại để khẳng định thơ Trần Lê Khánh không phải sự thốt nhiên mà là một quá trình. Quá trình ấy in đậm dấu ấn của thế giới thực tại chúng ta đều thấy và thế giới thơ mà Trần Lê Khánh thấy. Như cái nhát chém kia còn rung rinh lay động trong tâm khảm, trong hình dung của mỗi người.

Trong một ví dụ khác cũng đưa đến một kết quả tương tự như trên cho dù những hình ảnh viện dẫn khiến ta ngỡ ngàng theo một cách khác: lão tiều phu/ chiều chiều/ vung búa bổ vào bóng mình/ đã tám vạn bốn ngàn lẻ tịch lần/ bó chặt từng cái bóng/ nhiều bó nặng/ gánh về đâu? Ai đã đọc Trần Lê Khánh hẳn cũng sẽ không quên được hình ảnh lão tiều phu vung búa bổ vào chiếc bóng của mình, như một ám tượng. Lão tiều phu là thực, chiếc bóng là hình ảnh phản chiếu. Cái tôi siêu việt chính là sự phản chiếu của cái tôi trần gian qua lăng kính thơ. Qua thơ ta sẽ soi chiếu lại mình một cách rõ rệt hơn, không ai giấu được mình trong tác phẩm. Thơ chính là sự phản ánh những diễn biến, cảm nhận bên trong nhà thơ trước những biến cố của ngoại cảnh.

Tôi luôn nghĩ về sự thăng hoa của thơ, và ở đó tôi bắt gặp nhà thơ ở ngay khoảnh khắc anh ta tự phơi bày mình. Sẽ không phải là sự gán ghép, ép uổng thông thường khi tôi muốn nhìn nhà thơ theo cách anh suy tư thơ: ngọn lửa/ men theo que diêm/ tìm bóng mình/ trên ngọn nến lung linh. Đó là phút giây bừng sáng mà mọi con người đều ao ước, cho dù có người muốn bừng sáng theo cách tán tụng của đám đông, trên ánh đèn sân khấu, trên đỉnh cao danh vọng, nhưng cũng có người bừng sáng trong lặng lẽ, theo cách muốn của họ. Ở bài thơ này tôi nghĩ về vẻ đẹp của sự nhân bản, sự tỏa sáng của nhân bản.

Trong sự khôn cùng của cõi người tôi đọc Trần Lê Khánh để thấy những khắc khoải kiếp người: sóng từ đâu đó biển khơi/ người từ đâu đó trong vời vợi nhau. Khắc khoải luôn song hành với kiếm tìm nhưng trong sự mênh mông của đời sống cả hai trạng thái ấy dường như không thể định hình. Anh khắc khoải điều gì? Anh kiếm tìm điều gì? Khó để có câu trả lời thấu đáo nhưng thơ luôn thấu suốt lòng người, cho dù chẳng thể rành rẽ. Trong sự vời vợi của thơ Trần Lê Khánh ta cảm thấy mình được đồng cảm và yên ủi. Chỉ một câu thơ cất lên thôi đã nói hộ bao nhiêu nỗi lòng, vậy thì cớ gì đâu ta phải cặn kẽ. Sự đồng điệu khi đọc thơ giống như gặp người tri kỉ, không cần nói cũng đủ hiểu lòng nhau. Đó là sức mạnh của thơ và là ý nghĩa của thơ mà đôi khi người ta vẫn cứng nhắc hỏi nhau, thơ là gì.

Những khắc khoải và kiếm tìm trong thơ chưa bao giờ là vô vọng, cho dù hiện thực lại đưa đến những điều bất khả: con cá đỏ/ khắc khoải tình nhân/ nó chờ dòng sông cạn/ đi tìm dấu chân; người như lá/ từng đôi rụng khỏi cây địa đàng/ miên man tìm nhau vô tận… Tôi muốn trở lại cái đời sống tiềm ẩn đã nhắc ban đầu. Nhà thơ là người kiếm tìm và âu lo hay dự báo về cái đời sống tiềm ẩn ấy. Và không gì khác hơn, đời sống tiềm ẩn ấy cũng chính là cái tôi siêu việt mà nhà thơ phát hiện và biểu đạt nó trong thơ mình.

Trần Lê Khánh khao khát chạm đến cái không cùng, đó là hư vô. Chớ đọc thơ anh để tìm ra một cái gì cụ thể. Sự xác tín làm người ta yên tâm nhưng chỉ những bí ẩn mới làm nên say đắm. Thơ Trần Lê Khánh vượt qua những giới hạn để chạm đến hư vô, và đó là nơi ta thấy rõ nhất những khả thể của con người. Ngày em về/ con đường mòn thức dậy/ dãy núi úp mặt vào bật khóc/ bên kia hư vô. Nhà thơ trao cho ta một sợi chỉ nhỏ như một nét phác gợi, như một chỉ dẫn để ta nắm níu vào rồi phiêu lưu trong cõi thơ của anh. Vậy nên dẫu khó nắm bắt, không định hình nhưng phải thừa nhận đó là cuộc phiêu lưu của cảm xúc và nghệ thuật đầy thi vị và mê đắm: dòng sông chảy dài hơn năm tháng/ chảy dài hơn đôi bờ/ uốn lượn phù du. Đôi khi trong cõi phù du con người ta hiểu mình và hiểu đời hơn bao giờ hết.

Khi cái tôi trần gian vượt thoát khỏi những rào cản, giới hạn, ở đây là trong tư duy và sáng tạo thơ ca để đạt đến cái tôi siêu việt là khi nhà thơ đã khẳng định được mình trong cõi chữ mông lung.

18/12/2020

Kim Nhung

Theo https://vanhocsaigon.com/

Lửa thơ sáng từ mắt chữ

Lửa thơ sáng từ mắt chữ

Một lần chúng tôi ngồi trò chuyện cùng nhà thơ Vũ Quần Phương, ông bảo: “Thơ hay ở cái tư tưởng, rất nhiều bài thơ bây giờ, câu chữ sáng choang, nhưng đọc xong chả thấy đọng lại gì, ấy là do nó không có tư tưởng, nên nó cứ tuột đi”. Nhận xét trên đây của Vũ tiên sinh cũng nằm trong cái nội hàm câu tổng kết của người xưa: “Thi dĩ ngôn chí!”.

Quả thật, trong cuộc cách tân, cách mạng của thơ hôm nay, câu chữ, thể thức, hình hài của thơ Việt đang được triển khai làm mới khá rầm rộ. Nhưng thực tế thì những mới mẻ kia phần nhiều mới chỉ dừng lại ở cái vỏ chữ của thơ.

Cứ mỗi ngày qua đi, thời lượng mà cuộc sống dành cho thơ ngày một ít hơn, bởi thời nay có vô vàn những chia sẻ khác đang ập vào cuộc sống mỗi con người, còn thơ thì cứ loay hoay đập mình ra để xây lại bằng nhiều cách.

Rồi sau những phá, những xây của thơ hôm nay, dung nhan thơ hiện ra đôi chỗ thì mờ mịt quá, vài chỗ lại thâm sâu quá, mật mã cài đặt nhiều quá, chả có chìa nào mở nổi xem ý tứ trong ấy là gì.

Bởi vậy mà thời này, thơ kén người đọc và người tìm đến với thơ cứ vơi dần đi, ấy cũng là lẽ đương nhiên. Trong khi đó thì cuộc sống thời hội nhập quanh ta đang hối hả diễn ra, Tổ quốc, quê hương và những kiếp người trong bể phù sinh hôm nay đang có muôn điều cần thơ chia sẻ…

Vừa mới đây, tôi được đọc tập thơ “Mượn lửa mặt trời” của Nguyễn Thế Hùng – một nhà văn chuyên ngành văn xuôi, lại gặp những chân thành, dung dị, lớp lang quen thuộc đang động cựa trở mình qua hơn một trăm trang thơ cùng những con chữ đầy ắp nỗi niềm! Đọc thơ ấy rồi, xin có mấy dòng tri âm đồng vọng.

Ấn phẩm “Mượn lửa mặt trời” được hình thành từ 3 mạch nguồn cảm xúc chính, là: Tổ quốc, quê hương, Tình yêu lứa đôi và Những trăn trở, suy tư, chiêm nghiệm về thời thế. Ba mảng cảm xúc này được sắp đặt theo từng nhóm bài rất hợp lý, khiến cho mạch thơ của tác phẩm luôn tự nhiên và thông thoáng.

“Mượn lửa mặt trời “của Nguyễn Thế Hùng vời vợi những cảm xúc yêu tin, trăn trở chân thực về Tổ quốc, quê hương và những kiếp người. Với thi ca, để làm nên những bài thơ hay thì điều tối cần thiết là cái hồn thơ, tình thơ nồng đượm, chứ đâu phải ở sự mới lạ của câu chữ, của hình thức thơ: “Đường lên dãy Giăng Mà giăng mắc/ Bao tháng năm bóng áo lính trập trùng/ Những đoàn quân chân đi không bén đất/ Chỉ mong ngày đất nước hết lao lung” (Chợ Phố).

Thơ với Nguyễn Thế Hùng là phương tiện để chuyển tải tình yêu Tổ quốc, quê hương cùng cuộc đời này: “Đã bao lần giặc lăm le phên giậu/ Núi thâm trầm trận địa lòng dân/ Muốn nước yên hãy nhờ dân giữ nước/ Thế gốc bền là thế dựa vào dân” (Nếu thương dân hãy cho con ra trận).

Thơ với Nguyễn Thế Hùng là tròn trịa một nỗi yêu. Cái yêu từ ý thức, từ tinh thần dân tộc, và từ một trái tim đập theo nhịp trường tồn của Tổ quốc, quê hương: “Thôi về thôi họ đã thành mây trắng/ Neo ngàn đời vào núi đá Vị Xuyên/ Mỗi linh hồn vẫn còn giăng thành lũy/ Cho yên bình phên giậu Hà Giang” (Viết ở mặt trận Hà Giang xưa).

Cái chất chữ ấy, nghĩa ấy rõ ràng là của một nhà văn luôn đặt Tổ quốc, quê hương thiêng liêng lên mỗi trang viết. Mỗi cảm xúc, mỗi nguồn cơn của thơ được tác giả nâng tầm trong cách nhìn mới, độc đáo và luôn có tính dẫn gợi: “Nếu thực/ có kiếp sau/ Tôi xin được làm một phiến đá/ Mẹ Tổ quốc hãy khắc lên lưng tôi/ lịch sử dân tộc mình/ chôn xuống thật sâu/ khỏa bằng huyệt mộ/ để người chơi cờ/ không xóa đi những ván cờ thế…” (Lịch sử).

Đỗ Phủ thi thánh đã từng nói về việc dùng chữ trong thơ: “Ngữ bất kinh nhân tử bất an” (Làm thơ mà dùng chữ không khiến người khác nể sợ, thì chết không nhắm mắt), đọc thơ Nguyễn Thế Hùng, thấy nhiều lắm những câu chữ quen thuộc của đời sống, đã được anh mã hóa thành ngôn ngữ thi ca, để tự chúng nhân bản mình lên mà chở cái ý rộng dài của người viết: “Neo quê còn mỗi mẹ già/ Bốn tao nôi mỏng chia ra ba miền/ Cha giờ hóa nắng Điện Biên/ Hai anh hóa cát Trị Thiên bời bời/ Xòe tay mượn lửa mặt trời/ Đốt mây gom khói gửi người còn xa” (Mẹ già neo lại đất quê).

Thơ Nguyễn Thế Hùng có tư tưởng, nên trong thơ ấy, cái ý, cái tình thơ mà người viết hướng đến mới là điều làm trọng: “Ta có kịp về trước lúc mưa chan/ Nơi thời gian thắm quết trầu bậu cửa/ Thắp nén hương đốt một thời nênh nổi/ Đất mẹ neo con từ phía xóm làng (Chuyến tàu thời gian).

Những câu thơ mà tác giả đã gây chụm nên từ gan ruột miền Trung trổ lên câu chữ như thế này, cứ bền bỉ, ngân nga bằng sự dung dị mà khéo léo, rồi nhập vào bất cứ trang lòng người Việt nào mà nó tiếp cận: “Bốn đứa con như bốn tao nôi/ no tiếng ru rồi bay đi mỗi ngả/ mẹ thương con đường về vất vả/ nên cứ bảo đừng về, mẹ khỏe chớ lo” (Chớm thu).

Những trang tình quê trong “Mượn lửa mặt trời”, dẫu đã ít nhiều được mã hóa bằng ngôn ngữ thơ, nhưng trong cái vỏ chữ của thi ca vẫn là những ngậm ngùi trần trụi: “Hà Tĩnh gầy như cái cần câu/ một đầu cắm vào bờ thành Vinh/ một đầu cắm vào đèo Ngang đang nghèo/ Dân tôi ước đèo Ngang thành đèo Nghếch/ để gió Lào bớt thổi rát đồi khe” (Mưa trên bến Giang Đình).

Đọc thơ về mẹ, về quê trong tập này, thấy nhiều lắm những bức phù điêu dựng lên từ chữ nghĩa như thế: “Gió hào phóng cứ thức suốt đêm hè/ để lúa lép mãi bay vào mắt mẹ/ cả một đời chỉ quần đen áo cộc/ Mẹ quên mình, quên cái đói Giêng Hai” (Quên).

Văn sĩ Nguyễn Thế Hùng rẽ ngang vào một cuộc “lên đồng” với thơ, mới hiện ra chữ nghĩa thế này: “Tháng Ba tôi về/ hoa gạo đỏ như bát hương vừa hóa/ cầu gì lên trời xanh, khấn gì ở đất/ đất lành thế sao chim không đậu?/ Đừng thổi nữa gió mùa giáp hạt/ thổi chi nhiều bạc phếch râu cha” (Tháng ba).

Những câu chữ trong ấn phẩm “Mượn lửa mặt trời” sinh ra từ miền Trung sỏi đá, lại được tôi luyện trong muôn nỗi cuộc người, nên nó không chỉ là chia sẻ, là đồng cảm cùng phận người, phận đất, mà  nhiều bài thơ trong tập này chạm đến những điều lớn lao, chạm đến những mặt khuyết, những góc tối của thời thế hôm nay: “Cháu/ tựa vành nôi/ Ngủ trên đôi cánh đại bàng/ Tin rằng Lý Thông đã chết/ lẫm chẫm bước/ Cháu vấp vào cơ chế/ Mẹ/ sấp mặt ngửa mày/ mót niềm tin giáp hạt/ Cha/ tân binh ngơ ngác đời thường/ trước ngổn ngang thời hậu chiến/ Chiều xám buồn/ Bà/ rũ váy/ ra phơi” (Tựa).

Nguyễn Thế Hùng là một nhà văn tên tuổi ở mảng văn xuôi. Nhưng đọc thơ của anh, người ta không bị cái “chất” rành mạch của văn xuôi ám vào ngôn ngữ thơ. Có như thế thì độc giả mới được gặp một Nguyễn Thế Hùng thi sỹ qua những câu thơ như thế này: “Người gom về cả tướng lẫn vương/ Anh hành khất từ ấy lỡ độ đường/ Tìm nhau từ Tràng Kênh/ Lại gặp sư ông chùa Mỹ Cụ…/… Trời xa chạm ngõ thiên di/ Anh sợ mình đi lạc/ Thêm một lần trong đôi mắt Thủy Nguyên xanh” (Một lần Thủy Nguyên).

Ngạc nhiên ư? Sửng sốt ư? Rằng thì là với thơ, cái duyên chữ cho ai người ấy được, vậy nên khối ông bà nhà văn viết văn xuôi rất búa bổ, nhưng trước một tứ thơ nảy ra trong đầu là phải lúng túng xoay ngang sửa dọc ngôn ngữ để văn bản hiện lên chữ của thơ.

Sinh thời cụ Lê Đạt bảo: “Chữ bầu lên nhà thơ”, thì đây, “chữ” của ông nhà văn có tiếng trên văn đàn trong suốt thập kỷ vừa qua với “Lộc trời”, với “Họ vẫn chưa về” hiện lên trong thi ca như thế này: “Dẫu biết sẽ chẳng là vàng đá/ em loa kèn tháng Tư/ cắm trong bình nhà người/ đêm ấy dậy hương”… (Hoa lãng tử). Cái chất thi nhân ủ men vào chữ mới thành ngôn ngữ của thơ: “Uống đi mình, uống đi em/ Quờ trăng làm nậm ta đem men về/ ta còn tỉnh giữa cõi mê/ Uống cho trăng cạn mà về chính ta” (Uống cho trăng cạn). Sự sáng tạo của thi ca nằm ở cái tinh tế, cái chuyển động trong lòng chữ, chứ đâu phải ở cái mới lạ của vỏ chữ mà nên: “Chân guốc nhỏ lên cầu thang váy ngắn/ hương còn theo qua phía vườn hồng” (Hà Nội sông).

Đọc “Mượn lửa mặt trời”, ta được tiếp cận từng cung bậc cảm xúc thơ của một nhà văn đang cặm cụi hành nghề lọc chữ (Nguyễn Thế Hùng hiện đang gắn bó với tờ Văn nghệ Công an). Ấn phẩm thơ này, chắc chắn sẽ nhận được nhiều sự tương tác tích cực từ văn giới và độc giả, bởi tác giả của nó là một tên tuổi quen thuộc của nền văn học đương đại.

Rồi đây, cái đầy cái vơi về nghệ thuật của nó sẽ còn được bàn đến ở nhiều nơi, nhiều chỗ, nhưng trước hết, điều đáng ghi nhận là những trang thơ trong trẻo dung dị, gần gũi của nhà văn Nguyễn Thế Hùng đã tiếp cận và tương tác được với những buồn vui của non sông, đất nước, cùng những nỗi niềm người trong cuộc sống hôm nay. Với thơ, đấy là một sứ mệnh!.

Lĩnh Nam, 25/11/2020

Nguyễn Thế Kiên

Theo https://vanhocsaigon.com/

Men theo mùa hạ, tìm một lối đi thu

Men theo mùa hạ, tìm một lối đi thu

Mỗi nhà thơ xuất hiện đều có khát vọng mang đến cho người đọc một chút riêng biệt của mình. Nhưng có khi chỉ một chút riêng biệt này thôi cũng đủ để đánh mất một đời người. Kí tự thì cố định, ngữ pháp là tài sản chung, vần điệu đã có sẵn, lại có bề dày văn tự truyền thống cả ngàn năm, lại thời nào cũng đông đảo thi hữu đồng nghiệp chen vai thích cánh… Vậy nên có một chút riêng bút mực là điều không dễ, cần được cẩn trọng xem xét, không thể “thấy không thích, không phù hợp” với quan niệm của mình thì vội vàng phủ nhận. Phan Huyền Thư có khát vọng mang đến cho người đọc một chút riêng đầy thử thách của thơ chị. Ý thơ men theo mùa hạ, tìm một lối đi thu trên đây trích từ bài Men theo mùa hạ trong tập Nằm nghiêng (2002) cũng cho thấy phần nào khát vọng ấy của Phan Huyền Thư.

Tôi hình dung men theo mùa hạ, tìm một lối đi thu nghĩa là đi tìm cái riêng biệt, khác biệt với những gì đã có mà mỗi khi cầm bút Phan Huyền Thư tâm niệm. Cần nói ngay, ý tứ của câu thơ trên cho thấy Phan Huyền Thư không hề muốn dứt bỏ, đoạn tuyệt với truyền thống. Có sự khác nhau ở đây: mùa hạ chói chang ánh sáng, mùa của hạ trắng, mùa của sen hồng, phượng đỏ; mùa thu trời xanh mây trắng, mùa của cúc vàng dịu nhẹ với những mưa thu, tàn thu, thiên thu, giọt lệ thu… Ý tưởng muốn có cảm giác mùa thu ngay trong không gian mùa hạ như một ẩn dụ của khát vọng sáng tạo. Đọc thơ Phan Huyền Thư thấy chị không muốn gò bó mình vào những niêm luật, quy tắc cũ của thơ nữa, cũng không muốn thứ thơ “mono” mặt phẳng, dễ dàng đọc hiểu nữa, mà người viết như chỉ muốn giữ lại chút nhịp điệu, nhạc điệu giữa các dòng chữ, để tự do giải phóng ngôn ngữ, đưa lối tư duy thơ đến giới hạn có thể. Đây là việc làm đáng được ủng hộ, đáng được khích lệ, ngõ hầu tạo ra một sự thay đổi để thơ bớt đi sự chậm chạp, bớt đi sự đơn điệu, sự na ná (đọc câu thơ đồng chí tưởng thơ mình – Tế Hanh), bớt đi sự cân xứng, đăng đối, sự thiểu năng tư tưởng, bớt đi cái nhùng nhằng vần vè hoa hòe hoa sói mà Phan Huyền Thư gọi là những bài thơ đã bục chỉ, ố vàng được là lượt phơi phóng/ thơm lên mùi băng phiến tài năng (Xa vắng) bởi ngôn ngữ đang chết trên cánh đồng/ gieo vần… (Giấc mơ của lưỡi) trong thơ hôm nay. Tại đây, những cách-tân-thơ của Phan Huyền Thư đã ít nhiều thành công: viết/ buồn thành mưa/ trút vào giếng đầy lên, lắng xuống/…/ viết/ buồn thành gió/ lang thang cánh đồng (Viết); buồn rất trong/ lấm tấm mồ hôi gương mặt hoài niệm/ bệnh cúm mùa thu đỏng đảnh/ em cốm mềm ủ lá sen khô (Gió).

Với Phan Huyền Thư, nỗi buồn đi liền với mưa, đi liền với gió. Và mưa gió trong sự liên tưởng với giếng, với cánh đồng. Điều này xác lập logic trong liên tưởng về mưa (giếng đầy lên), về gió (lang thang cánh đồng). Ở đây ý khá cô đọng, lời khá gợi cảm: viết/ buồn thành mưa/…/ viết/ buồn thành gió/…/ em cốm mềm ủ lá sen khô. Tuy khá gợi cảm (nhớ một câu thơ cảm khái của Trần Huyền Trân: nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió – Lưu biệt) nhưng buồn thành mưa, buồn thành gió thì có thể cản trở ít nhiều việc giải nghĩa vì những mảnh vỡ ngôn ngữ này, hình như là sự nhảy cóc trong tư duy của người viết đã tạo ra sự gián đoạn trong tiếp nhận của người đọc. Tư duy thơ của Phan Huyền Thư không đơn thuần tuyến tính, tuần tự mà có sự trộn lẫn ám thị của ảo giác, hiển thị của những tri giác, sau những cảm nhận về năng lực ngữ nghĩa của ngôn từ: nước/ chưa bao giờ là kẻ chung tình/ mà luôn yêu say đắm/ “lưu thủy hành vân”/ triết lí cuộc sống/ một chảy một trôi// nước/ chẳng tội gì chung tình/ yêu bằng ảo giác/ mềm/ chạy bằng ảo giác thoát/ mềm buộc chưa chặt/ không trói nổi tiếng chim (Thực dụng hư vô).

Bài thơ trên diễn tả về nước, một thực thể hiển hiện với những đặc tính vật lí cần thiết là chảy, là trôi: một chảy một trôi là những gì nhìn thấy. Nhưng cái nhìn thấy này được đặt ngay cạnh những liên tưởng về những đặc tính phi vật lí mà người viết muốn áp đặt một trạng thái nhân sinh: (nước) chưa bao giờ là kẻ chung tình/ chẳng tội gì chung tình (vậy mà) luôn yêu say đắm, yêu bằng ảo giác… lại mang một ẩn dụ khác. Người viết chỉ đóng vai trò gợi lên, mà không hề có ý định phản biện, không hàm chứa sắc thái định hướng chủ quan về tính nết, lối sống, thói quen của một loại người trong cõi người, mà như chỉ đưa ra một tất yếu từ nguyên nhân: dù có thế nào cũng không thể đồng hóa được cái đẹp (không trói nổi tiếng chim)! Nhưng chắc gì lập luận như vậy đã đúng, hoặc đã đúng như điều Phan Huyền Thư muốn diễn đạt?

Với thơ Phan Huyền Thư, mỗi người đọc tùy tầm đón (kinh nghiệm, thói quen, năng lực thẩm định, thẩm thấu ngôn ngữ, khả năng liên tưởng, tích hợp…) mà có thể lĩnh hội theo cách của mình. Sự đọc tất nhiên vì thế sẽ mệt hơn, thưởng thức có thể vấp ngay phải sự cắc cớ của ngôn ngữ, sự khác thường của tư duy. Cảm nhận của người đọc sẽ không tĩnh nữa, mà động hơn. Nghĩa là từ một văn bản cố định cần một sự tham gia, nhập cuộc, đồng sáng tạo của người đọc. Cái dư vị trong tâm hồn người đọc thơ Thư không phải là cái ngọt ngào, du dương, êm dịu thường thấy của thể loại trữ tình (cho nên qua bốn tập thơ của chị gồm Nằm nghiêng – 2002, Rỗng ngực – 2005, Sẹo độc lập – 2014, Đạo thơ – 2018, hầu như Thư không làm thơ lục bát), mà cái dư vị kia có từ phẩm chất khác: sự kích thích của tri giác, cái ẩn kín sâu giữa mỗi hàng chữ, cái thi vị đọng lại sau mỗi câu, đoạn, bài, sự lạ hóa của ngôn ngữ khi được xếp cạnh nhau hơi “biêng” một chút so với quy luật, so với thói quen, như thể muốn phá vỡ logic thông thường của diễn đạt…

Chẳng hạn, cái đợi này vẫn là đợi, nhưng đã khác với cái đợi bình thường, như thể Thư đang thích ghép vần từ văn bản hư không (Âm bản hồn nhiên): đợi anh/ qua bao mùa nắng quái mưa dông/ cuống quýt rụng tàu cau khô/ gió đãng trí quẩn quanh ngõ hẹp/…/ đợi anh/ em hóa bến/ hóa cánh chim chiều liệng bắt bóng hoàng hôn/ tà dương tịch mịch tự ve vuốt/ sóng hoang mang mơn trớn mạn thuyền (Đợi).

Còn cái ngắt nhịp, chấm câu sau đây là không bình thường, ít thấy trong thơ của các nhà thơ thế hệ trước. Đọc lên, nếu lắng nghe, vẫn có thể nghe được âm nhạc chuyển bên trong câu chữ, dù nó đang chối bỏ đăng đối, dù nó như là khuyên tai một bên của lớp trẻ bây giờ: Nhưng. Cả câm lặng và nước mắt/ đều trong suốt. Vì thế. Em kiêu hãnh/ phiêu du với cánh buồm tự trọng. Theo gió/ khỏa thân vẫy gọi chân trời (Cởi nỗi buồn).

Có khi giữa một bài đang hào hứng cách tân ngôn từ mang dáng vẻ kiêu sa, điệu đà, tác giả lại trở về truyền thống, câu thơ trở nên dễ gần và truyền cảm, có thể nghe được ẩn sau mỗi câu thơ đẹp/…/ có một khoảng lặng/ đủ để nghe thấy/ tiếng nhân sinh thở dài (Lặng): tôi/ vùi sâu lòng đất bên trên không cỏ/ không con dế buồn, không cả giọt sương (Người người đi tương lai); em thở dài/ buốt mùa đông rỗng ngực/ buồn xa xa, thương cũng xa xa (Rỗng ngực); đêm nay lạnh và thiếp/ nằm đáy sông Tiền Đường/ nghe tiếng chàng tha thiết/ thanh minh cùng phu nhân/ nghĩa tình liêm khiết/ minh bạch trò chơi/ ái tình/ cay nghiệt (Gửi Thúc Sinh).

Quả thực, thơ Phan Huyền Thư không quá lệ thuộc với truyền thống về niêm luật, về vần điệu, và các quy tắc ngữ pháp: tháng sáu làm đau em, tia nắng/ xuyên qua lá bàng/ xâu qua lỗ thủng/ hằn vào trang giấy trắng/ tung tóe tuổi dậy thì/ ướt đạn súng cao su (Tháng sáu). Tháng sáu là tháng dương khí. Tháng sáu làm đau em gợi mở nhiều điều, kể cả gợi mở suy diễn những điều sâu kín nào đó như tia nắng xuyên qua lá bàng, xâu qua lỗ thủng. Tuy nhiên đoạn thơ không phải ai đọc cũng hiểu ngay được, bởi vì tại đây logic về ngữ nghĩa giữa các câu thơ bị xâm phạm. Nhất là sau chủ ngữ tia nắng đến các vị ngữ hằn (vào trang giấy trắng), tung tóe (tuổi dậy thì), ướt (đạn súng cao su) thì chỉ có thể hiểu lơ mơ, như thể bất khả tri.

Bởi vì, mọi thứ cảm xúc bề mặt/ đều được đảo lộn (Thi nhân). Ngôn ngữ thơ thường khi rất nhạy cảm. Dừng lại đúng chỗ thì thi vị: khóc đi/ rồi ngửa mặt lên trời/ sẽ thấy thiên hà cát bụi/ lửng lơ trôi (Xin lỗi); khi tôi vấp/ người đỡ tôi bằng tiếng cười đau/ tôi thành công/ người mắng mỏ tôi bằng lo lắng/…/ giờ đây/ “vườn vẫn thức một mùi hương đi vắng” (Ghi trong sổ tang nhà thơ Lê Đạt). Nhưng nếu đi xa một chút thì bí hiểm: nắng tê tái/ mộng du con sẻ già/ xù lông ẩn ức/ gục vào hờn ghen/ hờn ghen độ lượng (Độ lượng); giọt/ giọt/ màu mẫn cán/ tinh tế trườn vào vệt buồn/ thiếu sáng/ phác họa vùng kí ức/ tìm nhau trong hoang tưởng/ miền đêm (Coda)…

Thơ có thể khó hiểu, nhưng không thể bí hiểm. Bởi vì ai cũng hiểu bí hiểm (hũ nút) thì không những gây khó trong cảm nhận mà còn không thể truyền tải thông điệp của người viết. Mà nhà thơ từ cổ chí kim, từ đông sang tây thì luôn có ý thức chuyển thông điệp, vì thế thơ luôn có sứ mệnh tải đạo, đạo của con người theo nghĩa rộng của từ này. Thơ Phan Huyền Thư khá nhiều thi vị, nhưng cũng nhiều chỗ chưa thoát khỏi bí hiểm.

Nhưng thơ Phan Huyền Thư cũng không xa hẳn truyền thống trong cách cảm nhận, lập ý và triển khai cấu tứ. Đó là khi có thể cảm xúc đến trước, mọi thứ khác lùi lại, câu thơ thanh thoát hơn, chữ nghĩa cũng theo đó mà giản dị hơn. Nhưng thanh thoát, giản dị mà vẫn không vơi đi chất thơ, mà vẫn tăng thêm sự gợi cảm. Như thể, thi sĩ là người phát hiện ra cái thi vị trong hình thức giản dị, trong những điều bình thường. Đây là những câu thơ viết bằng kí ức, những kí ức thường ngày, lưu giữ như trầm tích, được đánh thức từ đâu đó rất sâu trong tâm hồn: tôi đã run lên cùng nhịp con tàu chuẩn bị vào ga Long Biên/ lắc lư tiếng chuông ngân nhà thờ Cửa Bắc (Thi nhân); em u mê từ thuở/ theo gió đi chăn mây/…/ em xanh xao từ thuở/ không dạy bảo được tim (Nghĩ lại); con chuồn chuồn lửng lơ/ nhớ mưa trên rào thưa mỏi cánh/…/ kìa trăng mải chơi/ xanh xao về gõ cửa (Độ lượng).

Bài thơ phác chân dung Phan Vũ với những nét vẽ tinh tế pha trộn ảo giác và đời thường, lãng mạn và xúc động, rất gợi cảm, gợi nghĩ: người nhẹ rắc xuống luống hoa của tôi/ vài hạt mưa đãng trí/…/ đêm qua/ hạt mưa của người cựa mầm kí ức/ sáng nay/ hàng cây tương tư trong suốt/ bỗng hiện ra lóng lánh trong mưa (Phan Vũ). Logic bên ngoài diễn đạt cái phi lí mưa đãng trí, mầm kí ức, cây tương tư trong suốt và logic bên trong diễn đạt cái có lí rắc xuống luống hoa của tôi, hạt mưa của người (đã) cựa mầm, và cây tương tư… bỗng hiện ra lóng lánh trong mưa.

Một kiểu “tư duy thơ trên chất liệu ngôn ngữ” (Nguyễn Phan Cảnh) kích thích tri giác từ đó tạo ra hưng phấn trong tâm trạng người đọc. Độ sáng của ngữ nghĩa không gây chói trong tiếp nhận. Mối liên hệ lặng thầm giữa chữ với nghĩa, giữa câu với câu, giữa tên bài với nội dung… không bị che khuất, không bị giấu kín, không bị rắc rối hóa. Vì vậy, thơ dễ tạo sự đồng cảm, dễ lan tỏa.

Như một nét truyền thống của thơ Việt, Phan Huyền Thư gắn thơ với sự kiện theo cách riêng của mình. Chị dùng những nét tả thực đầy ám tượng với ngòi bút mô tả trực tiếp khi cần, để tố cáo sự man rợ tàn bạo mà kẻ xâm lược gây ra đối với dân lành ngày 17/2/1979, hay phản ánh những vấn đề người đọc đang quan tâm ở ngoài biển đảo, ở trên núi cao, ở trong gác tối những phận đời cần lao…

Khi chị muốn chia sẻ những mất mát, trống vắng riêng tư, câu thơ như chùng xuống, sẽ sàng như bước chân lách qua vạt cỏ mềm đẫm sương tháng ba, có âm thanh từ linh cảm tiếng cha gọi, có màu sắc từ thị giác bông cúc dại… trong đám tầm xuân, có cảm thương từ trực giác xơ xác gầy: tháng ba/ bỗng nghe tiếng cha gọi về xén cỏ trên mộ chí/ gặp một bông cúc dại/ xơ xác gầy trong đám tầm xuân (Tháng ba). Chị thấm thía lẽ đời sau những thăng trầm: đường đời trơn/ khi mưa xuân/ lầy lội/ khi mưa rào mùa hạ/ gập ghềnh/ những vũng lầy sỏi đá/ khi mùa thu dông bão đong đầy/ mùa đông về/ tím tái heo may (Ứng xử).

Đường đời chưa bao giờ đơn giản, bốn mùa lầy lội, gập ghềnh, dông bão, tím tái… vốn là mối quan tâm truyền thống của thơ Việt, làm nên tính hiện thực trong thơ Việt. Nếu thơ cách biệt với hiện thực đời sống, chỉ nói chuyện hão huyền thì chắc chắn không thể thuyết phục được người đọc. Nhưng gắn với hiện thực không phải là nệ thực, gắn với hiện thực để tìm ra nỗi đời trong đời sống hiện thực, đúng như Phan Huyền Thư quan niệm: ẩn sau mỗi câu thơ đẹp/ cần có một khoảng lặng/ đủ để nghe thấy/ tiếng nhân sinh thở dài (Lặng).

Để thực hiện sứ mệnh “nhân sinh” ấy thơ cần phải luôn thay đổi, bởi vì đời sống không dừng lại, nhận thức và ý muốn của người đọc cũng không bao giờ giẫm chân tại chỗ, bởi vì thế giới hàng ngày tôi đang sống/ khiến tôi phải lặng người nghĩ suy (Lặng). Cho nên, nếu Phan Huyền Thư có sốt ruột, muốn nhanh hơn, muốn khác hơn… cũng là điều cần thông cảm: sự bất động của nghệ thuật/ là tượng đài hình chiếc cột/ đợi tương lai thi hành án/ tử hình (Giới hạn).

Từ nhận thức ấy, Phan Huyền Thư rất nỗ lực đi tìm chữ nghĩa, tìm nghĩa cho chữ, tìm nghĩa mới cho những chữ đã cũ. Hiển nhiên cách làm này nhà thơ Lê Đạt, người “phu chữ” quả quyết lục tìm “bóng chữ” đã đi trước chị. Việc ảnh hưởng là điều khó tránh. Nếu đọc thơ Thư ở những tập đầu (Nằm ngiêng, Rỗng ngực) thỉnh thoảng lại buộc ta nhớ đến Lê Đạt. Chẳng hạn lối diễn đạt này: trăng non cong nỗi thượng tuần (Men theo mùa hạ); bầu trời của riêng em/ đương nhiên/ đau vùng sao sáng (Phiên bản)…

Có một thực tế là thường khi trong quá trình đọc, những câu thơ hay, những ngôn từ lạ của đồng nghiệp tự nhiên được lưu giữ vào kho tư liệu trong tiềm thức của chúng ta, lâu ngày nếu không cảnh giác rất dễ bị lẫn (một cách vô thức) vào trang viết của mình. Hình như một số ngôn từ của Phan Huyền Thư có sự vô thức này. Nhưng ở các tập sau Thư ý thức được điều từa tựa nhau kia, nên tác giả cố gắng để né tránh, và thơ chị thanh thoát, tung tẩy hơn: tôi không dám có chữ…/ chỉ có nước mắt/ máu/ và sự im lặng/ thiên thanh (Thiên hà).

Không dám có chữ là sự khiêm nhường cần thiết của người viết. Nhưng không có nghĩa sáng tạo không cần sự cố gắng cao nhất của mỗi người cầm bút. Một khi cảm thấy tôi lạc giọng giữa đại dương thơ/ ú ớ gọi tên mình trong câm lặng (Đại dương) là khi biết được mình cần phải làm gì. Nước mắt/ máu/ và sự im lặng/ thiên thanh đủ để làm nên bản lĩnh của ngòi bút.

Thành công trong bất cứ lĩnh vực nào cũng bắt đầu bằng sự quả quyết. Tôi tin sự quả quyết tôi vẫn viết, tôi cứ viết của Phan Huyền Thư. Có điều, quả quyết trong lĩnh vực thơ ca chỉ là một phần thôi, cái khó là làm sao nuôi dưỡng tâm hồn tươi trẻ mãi (như thể cái im lặng thiên thanh kia) để không ngừng sáng tạo, để tránh người, tránh cả chính mình vì chúng ta ai cũng phải về ngôi nhà mang tên chính mình (Thi nhân). Vẫn biết, nói một câu thì dễ, làm một đời mới khó. Nghịch lý này giản dị một cách rất quái dị, vì không biết tại sao lại thế.

19/12/2020

Lê Thành Nghị

Theo https://vanhocsaigon.com/

Bắt đầu cất lên tiếng cười

Bắt đầu cất lên tiếng cười

“Cái đẹp của văn chương nhiều khi lại ở sự đủ đầy viên mãn, ở xúc cảm được thấy một bầu trời xanh, một giọt sương sáng ra còn đọng trên cỏ, một nỗi nhớ mơ hồ, một ánh vàng lấp lánh trên chiếc hoa tai thiếu nữ hay nét chạm khắc trên vương miện… Bất cứ điều gì mà tài năng của nhà văn làm cho người đọc rung cảm, thì điều ấy còn lại như một giá trị được trân trọng”. Nhà văn Hồ Anh Thái còn “dự báo một tương lai sáng sủa đang đến, khi nền văn chương không còn sầm mặt nghiêm lạnh mà đã bắt đầu cất lên tiếng cười sảng khoái”…

Nhà văn là phải nghèo khổ

Từ đâu sinh ra cái tín điều rằng nhà văn phải nghèo khổ thì viết mới hay?

Xuất phát từ tư tưởng tất cả những gì gắn với giai cấp vô sản thì mới có giá trị đích thực. Ngay cả nỗi đau, phải là nỗi đau của vô sản mới là nỗi đau đích thực. Đám nhà giàu nào có biết đau khổ là gì. Kẻ sống trong của cải vật chất thừa mứa thì tất nhiên về tinh thần, họ không có đau đớn giằn vặt giằng xé nội tâm, không hề có những day dứt tra tấn về trí não, không có những giác ngộ bừng thức về tâm can. Nói tóm lại, tâm và trí của giới giàu sang được biểu hiện bằng đồ thị chạy ngang một đường thẳng, giản đơn bằng phẳng.

Không thể phủ nhận rằng nỗi đau của người nghèo là có thật. Nỗi đau vật chất dẫn đến nỗi đau tinh thần, và nỗi đau tinh thần làm khốn cùng thêm nỗi đau vật chất. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã có thời thành công trong việc truyền bá tín điều rằng những tác phẩm lớn đều ra đời từ hiện thực đau thương, do chính những nhà văn đã trải nghiệm đau thương viết ra. Maxim Gorky có những truyện ngắn xuất sắc viết từ trước cách mạng, nhưng chỉ từ sau cách mạng vô sản 1917, khi tiểu thuyết Người mẹ viết từ năm 1906 được chính quyền coi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa thì ông mới trở thành nhà văn có giá trong xã hội mới. Cuộc đời lang bạt làm phu làm thợ của ông được khai thác để trở thành đức thánh của văn chương vô sản. Sau cách mạng tháng mười Nga 1917, thế giới chia ra ít nhất là hai phe. Văn chương của phía bên kia, dù đa dạng đặc sắc thế nào thì bên này cũng chỉ gạn lọc lấy những tác gia kiểu Jack London, cũng là một kiểu đời đói khát lặn lội trong băng tuyết để kiếm sống, cũng là một kiểu văn chương hiện thực trần trụi.

Ngay cả khi khai thác văn chương kinh điển để phục vụ cho chủ nghĩa xã hội, người ta cũng đặc biệt ưu ái những nhà văn thành phần nghèo khổ thua thiệt như Dickens, Balzac. Những giai thoại nghèo đói của họ được phổ biến để gây thương cảm đồng cảm, ngầm ý xa xôi lên án những chế độ đã làm cho họ nghèo đói. Tương truyền Balzac phải viết đến kiệt sức trong triền miên tiếng đập cửa đòi nợ. Đồn rằng nửa đêm có kẻ trộm vào nhà lục ngăn kéo của ông để tìm nơi giấu tiền, Balzac tỉnh dậy bật cười mà rằng, cậu đừng mất công tìm trong đêm tối cái mà ban ngày tôi còn không tìm thấy. Tất nhiên là truyền thuyết gây được thương cảm và thiện cảm của người đọc vô sản.

Nhưng mà ngay cả khái niệm người đọc vô sản cũng thể hiện sự sai lầm của việc phân loại. Người đọc, hay độc giả, chỉ có một. Không có người đọc phân ra là người đọc vô sản và người đọc tư sản, người đọc quý tộc và người đọc bình dân. Đưa tính giai cấp vào khái niệm người đọc là sự chia rẽ thiển cận. Người đọc văn chương chỉ đơn giản là người mê sách, mê văn chương, đang sẵn sàng về tâm trạng và sẵn sàng về thời gian để tiếp nhận những dòng chữ. Người ta không đọc sách khi đang đầm đìa mồ hôi nhem nhuốc dầu mỡ trong nhà máy, không đọc sách khi đang lặn lội bùn sâu, không đọc sách khi đang bị chủ nợ réo gào đe dọa, không đọc sách khi đang ốm đau đói khát, vợ con eo sèo. Không chỉ văn chương mà nghệ thuật nói chung đều không dành cho người đang lao lực về thể xác và kiệt quệ về tinh thần. Người ta chỉ thưởng thức trong trạng thái thể xác và tinh thần bình ổn và thanh thản. Người đọc văn chương không cần có tính giai cấp nhưng không thể là người đang nghèo, đang đói, đang bấn loạn tinh thần.

Người sáng tác văn chương cũng vậy. Một thời người ta chỉ kể tên những nhà văn nghèo túng như trên mà phớt lờ sự thật rằng có nhiều nhà văn không hề xuất thân bần cùng. Trái lại, có một ông bá tước Leo Tolstoy, một ông quý tộc Aleksey Tolstoy, một ông quý tộc Turghenev, một ông bác sĩ Chekhov ở Nga. Một ông quý tộc Goethe ở Đức. Một ông huân tước Byron ở Anh. Văn chương Pháp có ông Balzac nhìn thấu tấn trò đời thì cũng có những nhà văn không hề nghèo nhưng tinh tế nhìn ra sự nghèo nàn về tâm hồn như Victor Hugo, Stendhal, Gustave Flaubert, Afred de Musset, George Sand, Jean-Paul Sartre… Nỗi đau của người nghèo là có thật thì nỗi đau của người giàu cũng có thật. Thậm chí phải tài năng thế nào thì mới nhìn ra những đớn đau về tinh thần trong cuộc sống đủ đầy. Cho rằng đời sống tinh thần của tầng lớp trên là quẩn quanh, bế tắc, vụn vặt, đơn giản, nhạt nhẽo, không có gì đáng viết… là sự tuyên truyền thô sơ của những người theo chủ thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa. Sự tuyên truyền ấy tạo ra tín điều ngây ngô của một thời.

Mà nhấn sâu vào khía cạnh văn chương phản ảnh nỗi đau cũng là làm nghèo văn chương. Nhân loại không chỉ toàn nỗi đau. Một đời người thăng trầm cũng không chỉ toàn nỗi đau. Cái đẹp của văn chương nhiều khi lại ở sự đủ đầy viên mãn, ở xúc cảm được thấy một bầu trời xanh, một giọt sương sáng ra còn đọng trên cỏ, một nỗi nhớ mơ hồ, một ánh vàng lấp lánh trên chiếc hoa tai thiếu nữ hay nét chạm khắc trên vương miện… Bất cứ điều gì mà tài năng của nhà văn làm cho người đọc rung cảm, thì điều ấy còn lại như một giá trị được trân trọng. Khi ấy không còn đặt ra vấn đề giai cấp của nhà văn và giai cấp của người đọc. Nhân tiện thì nói thêm: đẳng cấp của người đọc thì có. Người ta vẫn phân ra kiểu người đọc trưởng thành và chưa trưởng thành (mature reader/ immature reader) – không phải dựa trên tuổi tác mà dựa vào kiến thức và sự trải nghiệm trong “nghề đọc sách” của họ.

Chỉ cần ghi chép là thành tác phẩm

Một tín điều nữa của văn chương một thời là bản thân hiện thực đời sống đã đủ hay, nhà văn chỉ cần chép lại nó là đã có thể thành tác phẩm lớn.

Quần chúng thực hiện cách mạng vô sản là giai cấp công nhân cùng nông dân, nhưng người lãnh đạo hầu hết đều thuộc tầng lớp trên. Là những người được học hành, có kiến thức, họ có điều kiện để nhìn thấu những vấn đề đặt ra cho cách mạng, có khả năng tổ chức và phát động quần chúng. Những người lãnh đạo giai cấp vô sản này thấy cần đi sâu vào quần chúng để vô sản hóa, để hiểu quần chúng, tuyên truyền cho quần chúng và dẫn dắt quần chúng làm cách mạng. Khi đã giành được chính quyền, họ khuyến khích văn nghệ sĩ cũng vô sản hóa, như thế mới có thể ghi chép lại hiện thực vĩ đại mà giai cấp vô sản đã tạo dựng được.

Các văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa đã nhiệt tình hưởng ứng. Họ nô nức tham gia những chuyến đi thực tế về nhà máy, xí nghiệp, nông trường quốc doanh, trạm máy kéo, hợp tác xã nông nghiệp tiên tiến, vùng sâu vùng xa. Từ những bút ký phóng sự ở dạng phi hư cấu cho đến những tác phẩm hư cấu như truyện ngắn, tiểu thuyết, trường ca. Xuất hiện những Boris Polevoy của Việt Nam, chuyên viết những cuốn sách dày về người thật việc thật. Ông Polevoy viết Chuyện một người chân chính thì nhà văn Việt Nam viết về anh hùng miền núi đánh Pháp, về người lính với bài ca ra trận thời chống Mỹ, về các anh hùng lao động trong nhà máy và trong hợp tác xã nông nghiệp…

Cũng thế, xuất hiện những Dostoyevsky của Việt Nam chuyên viết về những số phận thống khổ khốn cùng dưới chế độ phong kiến và đế quốc. Và khi tiểu thuyết phóng sự Chuyện thường ngày ở huyện của Valentin Ovechkin được dịch ra tiếng Việt thì theo cái đà ấy, ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều Chuyện thường ngày ở huyện. Hiện thực lớn lao tự thân nó đã là tác phẩm, chỉ còn chờ nhà văn nhìn ra nó và chép lại – người ta tin như vậy.

Mới đây, để xem lại một vài tư liệu tham khảo, tôi đã đọc lại tiểu thuyết Thời gian của người cửa Nguyễn Khải, cuốn sách được viết từ năm 1983.

Câu chuyện của ba con người gặp nhau sau ngày đất nước thống nhất, trong một nông trường cao su, điển hình của mô hình sản xuất xã hội chủ nghĩa. Một nhà tình báo hoạt động trong vỏ bọc nhà báo cho các hãng thông tấn nước ngoài – nguyên mẫu là ông Phạm Xuân Ẩn. Một nữ chiến sĩ biệt động lừng danh, giờ là giám đốc nông trường. Một linh mục trẻ, thức thời, hòa lẫn lý tưởng tôn giáo và lòng yêu nước. Họ cùng nhau luận về thời thế và tư thế lên cao của mỗi người để nâng mình lên cùng tiến bộ xã hội.

Nguyễn Khải, so với những nhà văn cùng thế hệ, có giọng riêng, giọng văn thông minh, khôn khéo, luận bàn thế sự theo kiểu báo chí. Giọng văn ấy hấp dẫn, lôi cuốn được người đọc so với các nhà văn cùng thời của ông, vốn trầm lắng và nhạt hơn.

Nhưng ở tiểu thuyết này, bộc lộ điển hình phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa của văn chương Việt Nam một thời. Các nhà văn được khuyến khích đi thực tế, thực hiện ba cùng với cơ sở sản xuất: cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Khi chuyển hóa vốn thực tế thành tác phẩm, họ đưa vào rất nhiều kiến thức về lao động sản xuất. Ví dụ ở tiểu thuyết này là nông trường cao su. Con dao cạo mủ cao su phải được mài như thế nào để có thể khía vào thân cây lấy được nhiều mủ. Cái thùng đựng mủ hằng năm phát cho công nhân một chiếc được sáng kiến tận dụng ra sao. Trên một héc ta, ngày xưa Pháp trồng được mấy trăm cây cao su, sau thống nhất trồng được bao nhiêu. Thời chiến tranh đây là vùng đệm, hai bên tham chiến có những cách gì để giành đất giành dân… Tức là đưa kiến thức thu lượm được vào sách để chứng minh mình đã ba cùng, đã biết cách thu hoạch vốn sống, không uổng phí những chuyến đi thực tế.

Nhưng những điều như thế này thể hiện mặc cảm của các nhà văn. Không kể hết cả ra như vậy dễ bị đánh giá là không hiểu thực tế. Liệt kê ra như vậy cũng có cái lợi như thiếu gạo thì nấu một nồi cơm độn khoai, cuốn sách cũng thêm phần dày dặn. Phải kể thêm rằng thời bao cấp có lúc nhà nước thiếu gạo bán cho dân, người dân phải có sáng kiến nấu cơm độn khoai độn sắn hoặc độn mì sợi. Một nồi cơm xem ra thì đầy nhưng toàn khoai sắn, chỉ có ít hạt cơm dính vào cho gọi là có cơm.

Ở trong những cuốn sách ghi chép hiện thực ta đang kể, thực sự là những phần độn ít phục vụ cho việc duy trì đường dây nhân vật và tiến trình biến cố, làm gián đoạn việc miêu tả tâm lý nhân vật, rất nhiều khi làm người đọc sốt ruột vì phải “ăn độn”.

Cũng là tác gia hiện thực, nhưng Balzac không cần phô trương kiến thức về đời sống theo kiểu độn như vậy. Còn Victor Hugo trong tiểu thuyết lãng mạn của mình, khi muốn thể hiện kiến thức, ông sẵn sàng dành riêng một phần dăm bảy chục trang, để viết về hệ thống cống ngầm Paris, về lịch sử và kiến trúc nhà thờ Đức Bà, về một cái eo biển kỳ bí… Nhưng phần biểu diễn kiến thức ấy được Hugo chia tách ra khỏi đường dây câu chuyện, như một bản khảo luận độc lập hoặc phụ lục, ai có nhu cầu thì đọc, không thì lật qua để đọc tiếp câu chuyện của tiểu thuyết.

Lại nói về mặc cảm của cánh nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa. Người thì viết tiểu thuyết dày dặn về nhà máy xi măng, nhà máy gang thép biểu tượng công nghiệp nặng, người viết về việc nông dân đấu tranh tư tưởng có nên bỏ lối sản xuất tư nhân để vào hợp tác xã, người viết về trạm máy kéo thực hiện công nghiệp hóa, giúp cho nông dân sản xuất lớn… Những cuốn tiểu thuyết dày mà phần lớn trong ấy là cơm độn, đưa vào đầy đủ báo cáo kế hoạch năm năm của nhà máy, biên bản họp hợp tác xã, số liệu thống kê các hộ nông dân và tỷ lệ phần trăm ủng hộ chủ trương xây dựng huyện trở thành pháo đài kinh tế của chủ nghĩa xã hội… Càng đưa nhiều càng tốt, càng nhiều số liệu càng tốt, người viết này nhìn ngó người viết kia, như sợ không chứng minh được là mình đã rất nỗ lực trong việc đi thực tế và đã thu lượm được nhiều vốn sống quý giá. Dàn đồng ca vì vậy, gồm toàn những ca sĩ cố hát cho to hơn những người khác.

Trong bối cảnh này, viết theo kiểu ghi chép này, nhà văn phải che giấu khả năng hư cấu của mình. Họ phải cam đoan rằng mình chỉ viết truyện thật và chỉ truyện thật mà thôi. Đây là chuyện có thật của dòng họ nhà tôi. Đây là chuyện do chính anh hùng lực lượng vũ trang kể lại. Đây là một chuyện nghe được ở bệnh viện, chuyện ghi ở nhà máy thủy điện, chuyện nghe kể lại bên bếp lửa vùng cao… Không cam đoan thế, sợ người duyệt bài và người đọc không tin. Đến tận đầu những năm 1980 mà trên một tạp chí văn nghệ còn có truyện ngắn bắt đầu bằng chi tiết một cô gái nói với ông nhà văn mà cô tình cờ gặp: Em không hiểu được sao trong nhà văn các anh lại có người chỉ toàn viết truyện bịa? Đấy thực sự là câu nói của người quản lý văn hóa mà tác giả đã mượn nhân vật cô gái để phát ngôn, cho có vẻ nhân danh quần chúng. Quan niệm triền miên hàng chục năm trời như vậy, hỏi làm sao mà nhiều thế hệ nhà văn nối tiếp nhau thực sự là những người không biết hư cấu.

Các nhà văn bây giờ ít biết về đặc điểm này của dòng văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ít biết thì khó có điều kiện so sánh, và không so sánh thì có thể vô tình sa vào những kiểu “văn độn” khác, tất nhiên là không tự biết.

Lấy ước mơ làm hiện thực

Những tín đồ của chủ nghĩa hiện thực này đã đi xa hơn tiền bối của họ. Không chỉ phản ảnh hiện thực, họ còn lồng ghép vào đấy ước mơ cải thiện cái hiện thực đang bày ra trước mắt. Họ được chỉ đạo rằng nếu chỉ viết về hiện thực không thôi, thì chưa cần đến nhà văn. Một người công nhân chỉ cần ghi nhật ký về công việc hàng ngày của mình cũng đã là phản ảnh hiện thực. Nhà văn thì phải hơn thế. Nhà văn phải nói lên được cái ước mơ của mình sau những ghi chép đó. Sản lượng lúa hiện mới đạt được bốn tấn lúa trên một héc ta, thì nghệ sĩ phải ca lên “bài ca năm tấn”, thậm chí “hát trên đồng mười tấn” (đây là tên của những ca khúc một thời rất thịnh hành). Thế là trong các tiểu thuyết và truyện ngắn, người ta thấy những điển hình tiên tiến làm việc quên ngày quên đêm quên ăn quên ngủ, vợ ốm con đau đã có tập thể các đồng chí lo giúp để họ nỗ lực vượt qua khó khăn, thực hiện sáng kiến đẩy mạnh sản xuất. Dù bao nhiêu trở lực như thiên tai địch họa, như một vài cá nhân tiêu cực cản đường, nhưng kết thúc tiểu thuyết thì nhà máy đạt thành tích lớn, mẻ xi măng mẻ thép mới phải ra lò. Dù ngoài đời, ông nông dân cá thể vẫn không chịu vào hợp tác xã thì trong tiểu thuyết, tác giả không được để cho ông đứng ngoài. Như vậy nhà văn mới làm trọn sứ mệnh của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa: không nhất thiết phải phản ảnh hiện thực như nó hiện tồn tại, anh ta phải xây dựng hình ảnh một xã hội như mơ ước.

Mơ ước của ai? Một thời ngây thơ hồn nhiên, người ta đã tưởng ước mơ trong một chủ thuyết là ước mơ của chính mình.

Mới cách đây không lâu, tôi tình cờ xem được một bộ phim của điện ảnh Triều Tiên. Phim mới làm những năm đầu thế kỷ hăm mốt nhưng ai xem cũng phải nhớ đến phim Việt Nam từ những thập niên 1960-1970. Câu chuyện về một anh công nhân bừa bãi ngang bướng, đang giờ sản xuất anh ta bỏ ra ngoài để hút thuốc, khi buồn ngủ thì chui vào một góc nào đó trong phân xưởng để ngủ. Cách ăn mặc và đầu tóc lố lăng học đòi của phương Tây. Các hoạt động văn thể dã ngoại tuyên truyền đời sống mới thì anh ta đều không tham gia hoặc phá ngang, gây bất bình. Đoàn thanh niên nhà máy, công đoàn, tổ sản xuất góp ý nhiều lần mà không được. Ngoài đời ta vẫn thường gặp những người như thế. Có người sau này sửa đổi tính cách, có người thì chứng nào tật ấy. Đấy là thực tế đời sống.

Nhưng bộ phim đã đi theo đúng hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa: nói lên ước mơ về sự cảm hóa của tập thể và ước mơ cảm hóa con người theo hướng tiến bộ. Anh chàng cá biệt/ ngoại diện/ tiêu cực kia bỗng nhiên si mê cô tổ trưởng xinh đẹp. Anh ta ra sức tiếp cận cô gái. Nhưng cô gái hạt nhân tích cực tất nhiên không thích anh chàng tiêu cực. Cô ra điều kiện cho anh ta phải đạt được danh hiệu công nhân tiên tiến thì mới… xem xét (như thơ lãng mạn của Nguyễn Bính: Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng). Thế là phim thể hiện hình ảnh anh chàng tiến bộ bất ngờ: đi sớm về muộn vì công việc, làm ăn có trách nhiệm, tật cũ bỏ hết, áo quần sau giờ làm việc đi với người yêu cũng đơn sơ giản dị như một người thợ. Kết cục của bộ phim hoàn toàn ở trong quỹ đạo của chủ nghĩa hiện thực mà các tác giả đang theo đuổi.

Tôi cứ muốn cho các văn nghệ sĩ ở ta được xem phim này. Người đã trải thì thú vị được thấy lại hình bóng xưa cũ. Người chưa trải có thể thú vị mà mỉm cười một mình.

Trả lại tiếng cười

Cười được không dễ. Các nguyên thủ quốc gia phương Tây thường phải thuê chuyên gia huấn luyện cho họ cách khôi hài. Không phải chính trị gia nào cũng có tính hài hước bẩm sinh, không bẩm sinh thì phải học. Hài hước để gỡ bí trong những tình huống bị công kích, hài hước để đánh lạc hướng đối tượng, hài hước để đá bóng về sân đối phương. Nhưng hài hước trong sâu xa còn như thường xuyên đặt trước mặt mình một tấm gương lồi, không phải là gương nịnh mặt. Nhìn vào tấm gương lồi ấy, thấy mọi thứ cong vênh phồng rộp méo xệch, lại còn được phóng đại, mà nhận ra khiếm khuyết của mình, mà tự cười mình. Cười mình để thường xuyên được sửa mình.

Tuy nhiên có một đặc điểm dễ thấy: chính khách phương Đông hầu như không quen với hài hước. Mà phương Đông bản tính dân gian lại có truyền thống hài hước từ nghìn xưa. Các hình thức sân khấu dân gian không thể thiếu nhân vật hề. Văn học dân gian cũng tràn đầy tinh thần trào phúng. Nhưng ở thời cách mạng vô sản, hình như người ta quan niệm cái hài thì hãy để lại cho bình dân, còn khi bước chân vào chính trường phải khoác lên mình vẻ nghiêm nghị. Tuy nhiên, hãy xem tổng thống Mỹ có lúc không com lê mà áo sơ mi dài tay xắn cao lên xuất hiện trước đám đông. Rất tự nhiên, rất dí dỏm vui tươi, như không cần phải diễn vẻ nghiêm nghị. Còn chính khách phương Đông đôi khi lời lẽ rất mực sơ sài mà vẻ mặt lại như đang diễn tả vấn đề nặng nghìn cân.

Văn chương một thời ở ta cũng thế. Vấn đề nhẹ tênh thôi, đơn giản thôi, thế mà giọng văn nặng trình trịch. Đằng sau giọng văn nghìn cân ấy, người ta đọc được thái độ nhà văn, theo kiểu các người hãy giỏng tai lên mà nghe, ta đang nói những điều lớn lao vĩ đại, những lời lẽ có thể rung trời chuyển đất, có thể thay đổi thế giới này và cải hóa toàn nhân loại. Nhà văn được động viên bằng những danh hiệu thư ký của thời đại, lương tâm của thời đại, không phải chính nhà văn là lương tâm mà có sứ mệnh đánh thức lương tâm của người đọc. Đã gọi là động viên thì người động viên không hẳn đã nghĩ thế, nhưng người được động viên thì lại sống trong ảo tưởng. Nhà văn luôn tự dặn mình nghiêm túc, nghiêm túc hơn, nghiêm túc nữa. Tôi biết có những ông nhà văn chỗ tụ bạ trà dư tửu hậu thì nói một câu đệm một câu, trần trụi thô lỗ, nhưng lạ lùng là trong văn ông ấy toàn viết những điều luân lý cao cả. Họ quan niệm thế, đã là văn thì phải: Nghiêm!

Như thể quân lệnh vừa hô lên trong quân ngũ.

Dễ hiểu là trong văn chương không có chỗ cho sự hài hước. Hài hước giễu cợt đồng nghĩa với phê phán chê trách. Mà hiện thực cuộc sống là bừng sáng, tươi mới, xán lạn. Chê trách chỉ chứng tỏ sự thiếu thiện chí, sự phá ngang, thậm chí là ác ý và phản lại sự vận động theo quy luật (gọi tắt là phản động). Một xã hội vững mạnh, bề thế, nghiêm túc, vận động theo hướng phát triển tiến bộ thì không có gì đáng cười chê, giễu cợt, châm biếm, thậm chí dăm ba câu dí dỏm cũng không.

Dễ hiểu là cả nền văn chương khoác chung bộ đồng phục màu xám, nghiêm nghị lạnh lùng. Niềm vui duy nhất chỉ là niềm vui hội nghị thành công tốt đẹp, niềm vui nhà máy hoàn thành vượt mức kế hoạch, niềm vui vụ mùa bội thu. Hoàn toàn vắng bóng niềm vui của tinh thần tiếu lâm rừng cười vốn vẫn trường tồn trong cuộc sống nhân gian. Ai hài ai hóm thì cứ việc, trong cuộc sống đời thường, nhưng nhà văn không được đưa nó vào trong tác phẩm. Đấy là những thứ vô duyên, vớ vẩn, vụn vặt như rơm rạ vương vãi trên đồng sau mùa gặt. Nhân danh cái cao cả cao sang, nhà văn phải loại chúng ra khỏi văn chương. Từ đó mà bói không ra văn chương trào phúng. Báo chí miễn cưỡng lắm thì có mục chuyện cười, lèo tèo vài mẩu chuyện vui, vài bức tranh vui, chế giễu anh công nhân chị nông dân lười lao động. Ở những nơi thoáng hơn nữa thì ra được cuốn tạp chí mỏng kiểu tranh vui, mẩu chuyện vui, dài hơi hơn một tí thì có cái tiểu phẩm cười, già ngụ ngôn non truyện ngắn. Chỉ dừng ở mức ấy. Không bao giờ có tranh hí họa vẽ hình lãnh đạo hoặc tiểu phẩm cười ông bộ trưởng quan liêu – tất cả mới chỉ là tắm từ cổ trở xuống. Tuyệt nhiên vắng bóng những tác phẩm trào phúng dày dặn, vắng bóng truyện ngắn hoặc tiểu thuyết vạm vỡ. Mới chỉ là dăm ba tiếng cười khúc khích chưa đủ mặn mà, còn lâu mới có những tràng cười sảng khoái bất tận. Nói cách khác, nền văn chương chỉ mới le lói đôi ba ý tưởng dí dỏm vụn vặt mà không được khuyến khích nảy nở trào phúng như một tư tưởng, một thể loại độc lập.

Trong tiểu luận Không biết cười, tôi từng kể câu chuyện một vị đi duyệt vở kịch mới ở một nhà hát trung ương. Một chùm tiểu phẩm hài, châm biếm sâu cay thói hư tật xấu của dân chúng và quan chức. Cả nhà hát cười ngả nghiêng, nhưng ông quan duyệt vở ngồi hàng đầu thì không cười. Không một lần. Có thể ông bẩm sinh không phải là người vui tính, không có khiếu hài hước, nhưng cũng có thể ông quan niệm chính khách là phải giữ mình. Không theo đuôi quần chúng, không a dua với quần chúng, chính khách có thể đau nỗi đau nhân loại nhưng không nhất thiết phải cười cái cười của nhân loại. Cũng có thể ông giữ mình theo kiểu phải nén cười, vì cái cười có thể bị chụp ảnh ghi hình, có thể bị đưa lên mạng xã hội để bình phẩm. Ông có thể bị suy diễn là mượn cái cười khi xem kịch để cười cợt thói hư tật xấu của một quan chức khác, thậm chí là cấp trên của ông. Ông đã chọn sự an toàn, mà sự an toàn theo cách hiểu của chính khách phương Đông là không cười, dù bị kích động thế nào.

Phải đến sau năm 1975, chiến tranh chấm dứt, nhất là từ sau Đổi Mới 1986, văn chương Việt Nam đương đại mới bắt đầu lác đác có những giọng điệu trào phúng. Ngay cả đổi mới rồi, không phải ai cũng hiểu được tiếng cười và dễ nghe cười. Nhiều tác phẩm hài hước vẫn bị “ghi sổ đen” là giọng điệu lạc lõng thiếu thiện chí, bất kể nó được sự hưởng ứng rộng rãi. Nhưng theo cách kết tươi sáng của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, người viết bài này vẫn muốn dự báo một tương lai sáng sủa đang đến, khi nền văn chương không còn sầm mặt nghiêm lạnh mà đã bắt đầu cất lên tiếng cười sảng khoái.

21/12/2020

Hồ Anh Thái

Theo https://vanhocsaigon.com/

Cha và con lính trận - Khúc tráng ca của một thời đạn bom

Cha và con lính trận - Khúc
tráng ca của một thời đạn bom

Sau hơn 40 năm, chiến tranh đã lùi xa, cuốn sách “Cha và con lính trận” của Trần Khởi – người lính, thầy giáo dạy văn, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình đã ra mắt bạn đọc. Cuốn sách với 289 trang sách của 26 câu chuyện kể theo thể loại truyện và ký.

Ký thì xác thực từ tên người, tên đất, thời gian, địa điểm, sự kiện. Ký có ngả sang tùy bút khi có vài chuyện xen vào bài thơ hay đoạn thơ của người lính – thầy giáo dạy văn Trần Khởi. Truyện thì hư cấu từ cách nhìn về đồng đội, về bản thân, đến các sự kiện. Nói như nhà văn Sôlôkhốp: đi qua ký ức xưa như đi qua cánh đồng sương mù. Nếu không có phần hư cấu, tập truyện sẽ khô khan, bởi chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, bạn đọc bây giờ mang tư duy của thời đại mới, nếu chỉ khư khư thiên về ký, văn của anh sẽ kém hấp dẫn ngay. Đây chính là điểm ưu trội của nhà văn Trần Khởi.

26 câu chuyện kể về cuộc chiến tranh chống Mỹ khốc liệt nhất, giai đoạn từ 1968 đến 1975 và những ký ức sau hòa bình. Mỗi câu chuyện là một vùng ký ức, mà nhân vật tôi là người tham gia chiến trận, là người trong cuộc, là người chứng kiến và trải qua tất cả những gian nan, hiểm nguy, kề cận giữa sinh tử… cho nên dẫu là truyện ký thì hình tượng nhân vật tôi vẫn ngời sáng trong từng trang văn. Và khi đọc xong tập truyện, tôi nhận ra, hình tượng nhân vật tôi là người lính đa năng nhất trong thời kì đánh Mĩ, cái thời mà “mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt” (Chế Lan Viên). Anh là lính công binh, anh là lính trinh sát, là lính làm về công tác chính trị, hay anh là lính điện đàm? Nghĩa là càng tham gia sâu vào cuộc chiến, thì người lính Trần Khởi càng đảm trách thêm vị trí mới, công việc mới; cũng chưa hẳn là công việc nào cũng toàn bích, cũng có lúc “đứng ngẩn tò te”, “đứng như trời trồng”, “khóc như mưa”… thử thách là không ít, sai lầm có thể xảy ra, nhưng với tinh thần quyết đánh quyết thắng thì anh chính là hình tượng anh hùng trong chiến tranh vệ quốc; bởi anh chưa một lần kể lể về cái khổ, cái đói, cái sợ, kể cả lúc bị thương… mà anh chỉ kể về đồng đội, về đồng chí đã hi sinh, rồi thương xót và tiếc nuối. Con người biết lo cho người khác sẽ sống tốt nhất cho bản thân mình. Tôi đã từng gặp anh ở quê hương anh cách đây 2 năm, tôi đã chứng kiến nhiệt tâm của anh khi hướng dẫn chúng tôi thăm chùa Hoằng Phúc, rồi nghe hò khoan Lệ Thủy… nghĩa là con người đã từng dạn dày với bom đạn, linh hoạt trong cuộc sống hiện tại, nhiệt tình với bạn bè trong mọi lúc, mọi nơi.

Ấn tượng sâu lắng nhất là tên đất, tên người trong toàn tập truyện. Những nơi mà người lính Trần Khởi đã tham gia chiến trận, bắt đầu từ đồi Mỹ Cương ở Quảng Bình, đến các địa danh ở tỉnh Bình Định, như Hoài Nhơn, Hoài Ân… Rồi các cứ địa ác liệt: Gò Loi, chốt Đây En, Đồi Đá, Gò Dê, Gò Thị… Dường như, mỗi nơi người lính Trần Khởi đóng quân và chiến đấu đều thấm mồ hôi, máu và nước mắt của anh cùng đồng đội. Các anh đã kiên cường trong từng trận đấu, nhưng không thể nén xúc động khi đồng chí, đồng bào của mình hi sinh. Những nơi này có được tập truyện “Cha và con chiến trận” của nhà văn Trần Khởi đưa vào nhà Bảo tàng thì thật quý hóa, vì đây chính là lịch sử hào hùng nhất của những vùng đất, những con người “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Khi dạy văn học, về phần thơ ca chiến tranh chống Mỹ, tôi vẫn nói rằng, ngọn cờ đầu của thơ ca Việt Nam lúc này là thơ ca của những người lính viết trên chiến trường đánh Mỹ. Chỉ những nhà thơ, nhà văn mang áo lính cầm bút thì văn thơ của họ mới mang hơi thở chiến trường: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “Tiếng bom ở Siêng Phan”… (Phạm Tiến Duật)…

Ở câu chuyện thứ nhất: Cha và con. Lý tưởng của Trần Khởi là bằng bất cứ giá nào phải lên đường nhập ngũ. Vào quân đội rồi thì bằng tất cả nhiệt tình, kể cả sự xốc nổi của nhiệt huyết yêu nước, anh nằng nặc xin ra chiến trường, đối đầu với mũi tên hòn đạn. Câu chuyện hai cha con cùng chung chiến hào, cùng lo lắng, trao gửi cho nhau những kinh nghiệm của người lính già và trái tim của người lính trẻ được kể thật xúc động. Người đọc vừa cười vừa rơm rớm nước mắt trước hình ảnh đồng chí giữa lớp cha trước, lớp con sau, tình cha con hòa quyện trong tình yêu Tổ Quốc. Đọc xong câu chuyện này, tôi tiếc ngẩn ngơ, sao đây không hình thành thành một cuốn tiểu thuyết. Anh vào lính đã có cái bóng của cha che chở, nhưng anh không dựa vào cái bóng đó mà nằng nặc xin ra trận, lại còn trốn cha, để được ra nơi tuyến đầu, để được đối mặt với quân thù. Càng đọc tôi càng quý mến anh, thương cảm cho cả hai bố con, những tấm gương yêu nước tuyệt vời. Đâu cần khi người lính ngã xuống, mới có tấm biển đề: Anh hùng. Hai cha con cùng ra trận “Lớp cha trước, lớp con sau/ đã thành đồng chí chung câu quân hành” (Tố Hữu).

Hình ảnh người lính Trần Khởi vừa gan dạ, vừa thông minh, vừa dũng cảm, vừa xông xáo tham gia biết bao nhiêu trận đánh, vượt qua biết bao nhiêu trận vây ráp của kẻ thù, chứng kiến sự hi sinh của đồng đội, của những người lính trẻ với tấm lòng thương cảm mà không yếu mềm bởi niềm tin chiến thắng.

Người lính Trần Khởi dám gửi thư lại cho cha mình để một mình đi vào vùng trọng điểm lại đã khóc khi mình phạm lỗi lầm…; lại tủi hờn khi cha gọi điện chúc Tết cho đơn vị mà không dặn riêng cho con trai câu nào. Tôi càng đọc văn của anh, tôi càng nhận ra trái tim anh thật bỏng cháy trước tình bạn, tình đồng chí, tình cha con. Trên chiến trường anh đã đối mặt với tất cả, từ bom đạn ác liệt nhất, đến lúc bị giặc đánh phá, càn quét đói rét nhất, kể cả lúc phải đứng trong máu của đồng đội mình sau trận bom kẻ thù giội xuống để kịp thông đường cho xe qua… anh đã kể với giọng văn thật ấn tượng, không thể nào quên được khi đọc văn của anh. Tôi đọc truyện thường có kĩ thuật đọc nhanh, vậy mà với cuốn truyện này, tôi không thể đọc bằng kĩ thuật, mà phải đọc chậm, đọc kĩ, bởi mỗi câu chuyện kể là “một lát cắt về cuộc sống” (Chu Lai).

Lợi thế của anh ở thể ký là nhờ vào trí nhớ tuyệt vời của anh về thời gian, địa điểm, không gian và cả các cuộc chiến ác liệt nhất. Từ anh lính công binh, anh trở thành một thông tín viên rất giỏi trong chuyện kể “Đêm sinh nhật Bác trên đồi 282”, giọng kể của anh dí dỏm, cách hành xử của anh có cái liều lĩnh, dường như sự liều lĩnh trong anh cộng với trí tuệ đã làm nên chiến công. Ngay từ những ngày đầu tham gia chiến trận, trong anh đã có tư chất đó, nên anh đã liên tiếp lập nên thành tích chiến trận; và với tư chất đó, thì anh mắc những sai lầm là không tránh khỏi, câu chuyện “Hai lần dại dột làm phiền cha nuôi” cho thấy anh vừa thẳng thắn, vừa thật thà không che đậy những lỗi lầm, dù thời gian đã lùi xa.

Viết văn, quan trọng là tìm ra được cái giọng, và nếu người đọc nhận ra thì đó là tri âm. Trong vài truyện ký anh xen vào vài bài thơ, vài đoạn thơ, thơ anh viết ra vội vàng nhưng nó rất thật, mang hơi thở thời đại. Vì thế nhiều truyện ký của anh có xu hướng nghiêng sang thể loại tùy bút, đó cũng là nét tài hoa của nhà văn. Nhờ thế mà kết cấu của cả tập truyện trở nên đa dạng, dễ đọc, người đọc thay đổi các cung bậc cảm xúc khi kết thúc chuyện này, đọc sang chuyện khác. Viết văn đã khó, tìm bố cục cho tập truyện càng khó, nếu bố cục chặt chẽ thì sẽ làm nên hiệu ứng của nghệ thuật kết cấu. Tập truyện này đã đạt đến độ đó. Khi đọc chuyện “Tổ quân báo trinh sát kỹ thuật trong chiến dịch Bắc Bình Định 1972”, bất giác tôi nhớ đến nhịp điệu hùng văn trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi. Giọng văn, nhịp điệu hùng tráng tuôn chảy trong 8 trang văn với các tín hiệu thẩm mĩ mang đậm chất ký: thời gian, địa điểm, trận đánh, thắng lợi của ta, thất bại của quân thù…

Câu chuyện “Anh ơi, mày đã về chưa”, đọc mà trào nước mắt. Bút lực của anh thật thâm hậu, ngắn gọn mà kể về những chiến tích và sự hy sinh của đồng đội thật hay. Người lính Nguyễn Văn Anh đã hi sinh ngày đó, nay vẫn chưa tìm được xác, và hôm nay trong giấc ngủ của anh giấc mơ về đồng đội hi sinh vẫn ám ảnh và giày vò anh. Hình ảnh người lính can trường trong những trang sử được bổ sung thêm những trang văn của anh Trần Khởi sẽ sinh động, hấp dẫn và không còn khô khan, nhàm chán để học sinh không còn nỗi sợ về môn lịch sử trong nhà trường. Hình ảnh bé Út Giang (Út Giang) vừa thông minh, vừa dũng cảm bảo vệ những người lính bằng cả tính mạng bé nhỏ của mình, thật đau đớn không chịu nổi. Trái tim can trường của anh đã bao lần đau khổ, bao lần lo lắng, bao lần vượt qua những lằn ranh giữa sự sống, cái chết, sự hy sinh… Tôi gặp anh rất ít, nhưng tôi biết anh rất nhiệt tình. Trong đám tang của nhà văn Ngô Minh, chỉ một câu nói của một đồng nghiệp, khiến tôi và anh đều chạnh buồn, nhưng không sao, người lính Trần Khởi, người anh hùng Trần khởi, nhà văn Trần Khởi, thầy giáo Trần Khởi quá từng trải, quá dạn dày với bom đạn, sao có thể để tâm đến những chuyện nhỏ nhặt, vụn vặt như thế. Người lính là vậy, họ xuề xòa, họ nhiệt tình, họ lăn xả trong mọi chuyện bởi khi phơi lưng với bom đạn họ đã nhận ra giá trị của cuộc sống, họ đã vượt lên cái tủn mủn hàng ngày, họ bổ bã bởi họ đã từng lấy núi rừng làm nhà, chiến trường là cuộc sống, có sá gì chỗ này chỗ kia. Câu chuyện đón giao thừa trong truyện ký “Mùa xuân trên đỉnh Hòn Chè”, càng đọc càng trân quý hôm nay. Khi ngày xuân ta thung thăng đón giao thừa, ta ngắm pháo hoa trên trời, đó cũng là nhờ sự hi sinh của các anh trên chiến trường. Cành đào cắm vội trên miệng hầm là một ký ức không thể nào quên của người lính năm xưa. Đón giao thừa trong bom đạn gầm réo, trong cuộc chiến giành giật từng tấc đường để thông xe ra chiến trường thật cảm động. Trong cuốn sách của anh, các tầng lớp tham gia đánh giặc đầy đủ, hùng hậu, từ bố anh – thế hệ đi trước, đến đội quân tóc dài, trẻ em, thiếu nhi (Đội thiếu niên quân giải phóng) đều có mặt đầy đủ.

Rất nhiều chi tiết lịch sử được làm sống lại dưới trang văn của anh Trần Khởi: “Bài thơ xin nước”, “Trao trả tù binh năm 1973”… Người ta từng nói rằng: Mọi cuộc chiến tranh lớn nhỏ khi kết thúc thì hậu quả của nó vô cùng ghê gớm với những người vợ góa, những người mẹ già và những đứa con thơ. Với hai mẩu chuyện này chúng ta thấy rằng dù cuộc chiến đang ở hồi gay cấn, thì quân đội hai bên vẫn phải nhân đạo với nhau khi lấy chung một giếng nước (Bài thơ xin nước); hoặc có hiệp định ký kết hòa bình, nhưng việc trao trả tù binh chưa xong thì tiếng súng đã vang rền trở lại, và trong đoàn người trao trả người ta vẫn nhận ra những kẻ đớn hèn, bán đứng đồng đội, nhân dân. Đọc những mẩu chuyện này thật hay, người thật, việc thật và người chứng kiến kể lại nên độ tin cậy khá cao, cũng cho chúng tôi thật nhiều suy ngẫm.

“Người lính đào hoa” là câu chuyện đời thường trong thời chiến, đọc rất xúc động. Người lính ra trận, họ mang theo cả tài năng và khát vọng, khát vọng tình yêu đã đưa người lính đến gần với nhân dân, và rồi sự nuối tiếc, sự gặp gỡ vẫn kéo dài cho đến hôm nay. Đó là gì vậy, là tình yêu là tình người, là vẻ đẹp nhân văn của con người, chứ người lính không chỉ có bắn, không chỉ có hành quân… mà lúc tạm ngưng tiếng súng họ vẫn có những rung động và cảm xúc đẹp như hình tượng “đầu súng trăng treo” trong thơ ca kháng chiến. Có những bóng hồng đi qua cuộc đời người lính trận Trần Khởi, ấn tượng sâu đậm và những rung động rất đời thường được anh kể lại thật thú vị “Người con gái ở ngã ba Xuân Lộc”; duyên tình với người vợ tào khang với Cô Bảy đến bây giờ cũng được anh kể chân thành và bộc trực.

Câu chuyện “Mái trường bên dòng sông Kiến” gợi liên tưởng trong tôi về một thế hệ của những con người tài hoa, dũng cảm, sống hết mình vì lý tưởng, tình yêu và cuộc sống. Thế hệ các anh vừa biết trân trọng những ký ức, những kỷ niệm, vừa biết ơn những người thầy, người bạn, người cha, đã dạy dỗ, cưu mang, giúp đỡ mình. Và ba tôi cũng thật vinh dự khi đã dạy văn cho những thế hệ như thế. Mỗi khi nghĩ về các anh, chúng ta tin tưởng rằng sự trường tồn của một nền độc lập của dân tộc, sự phồn vinh của một dân tộc là phải nhờ vào tinh thần, tâm hồn, tình yêu và lý tưởng của những con người chân chính như họ. Tôi nghĩ rằng cuốn truyện ký “Cha và con lính trận” còn nhiều giá trị thẩm mĩ người đọc sẽ tiếp tục khai thác, tìm kiếm nét đẹp tiềm ẩn trong những trang sách và trong cả chính nhà văn Trần Khởi – một ông đồ viết chữ, một nghệ nhân trồng hoa, một nhà thơ… Và hơn tất cả là một con người chân chính.

Huế, 18/2/2019

Hoàng Thị Thu Thủy

Theo https://vanhocsaigon.com/

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...