VĂN THƠ NHẠC
Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường"
Ngày khai trường với kỷ niệm mơn man làm tôi nhớ đoản văn LA RENTRE'E DES CLASSES (TỰU TRƯỜNG) của nhà văn Anatole France - trích từ quyển “Le Livre de mon ami” (Cuốn Sách Của Bạn Tôi). Đoản văn TỰU TRƯỜNG của nhà văn Anatole France có ảnh hưởng lớn tới tâm hồn nhà văn Thanh Tịnh, khi ông viết truyện ngắn TÔI ĐI HỌC. Hình ảnh chú bé A.France trong ngày tựu trường khơi dậy những tình cảm trong sáng, bỡ ngỡ và êm ái của tuổi thơ. Bởi hơn đâu hết, chính những thầy giáo vỡ lòng, thông qua trang hồi ký tuyệt vời ấy, đã đánh thức ở họ những xúc cảm đầu đời: niềm đam mê học hành và tình yêu văn chương nghệ thuật.
Mùa thu, Apollinaire, Bùi Giáng, Phạm Duy, hoa thạch thảo
Mùa thu, Apollinaire, Bùi Giáng,
Phạm Duy, hoa thạch thảo
Sắc màu thu đã gieo nhiều
cảm hứng cho hồn thơ tứ nhạc. Nhiều bài thơ, bản nhạc viết về THU dù đã trải
qua bao năm tháng phôi pha vẫn in đậm nét trong lòng người thưởng lãm. Là người
yêu nhạc (loại nhạc có air “bán cổ điển”), ai mà không thuộc các bản “Buồn
tàn thu” của Văn Cao, “Giọt mưa thu”, “Đêm thu”, “Con thuyền
không bến”… của Đặng Thế Phong, “Thu quyến rũ” của Đoàn
Chuẩn Từ Linh, “Thu vàng” của Cung Tiến, “Em ra đi
mùa thu” của Phạm Trọng Cầu, “Chiếc lá thu phai” của
Trịnh Công Sơn , “Mùa thu Paris” của Phạm Duy, “Thu
hát cho người” của Vũ Đức Sao Biển, “Thu ca” của Phạm
Mạnh Cương v.v… Đặc biệt, bản “Mùa thu Chết” của Phạm Duy, bản
nhạc hay nhưng có nhiều thắc mắc về xuất xứ của ca từ.
Bản nhạc này lấy ý của
bài thơ “L’ADIEU” của Guillaume Apollinaire, điều này có lẽ được nhiều người chấp
nhận. Tuy nhiên lời Việt của bản nhạc “Mùa thu chết” thì không
ít ý kiến cho rằng là do chính thi sĩ Bùi Giáng chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng
Pháp bài “L’ADIEU” nói trên, Phạm Duy chỉ phổ nhạc mà thôi. Để nhìn nhận cho
khách quan, ta thử đối chiếu nguyên tác với bản dịch của Bùi Giáng và lời nhạc
của Phạm Duy.
a/ Bài thơ của
Apollinaire:
L'ADIEU
J'ai cueilli ce brin de
bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends
GUILLAUME APOLLINAIRE
b/ Bản dịch của thi sĩ Bùi
Giáng:
LỜI VĨNH BIỆT
Ta ngắt đi một cành hoa
thạch thảo (*)
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tương phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó...
BÙI GIÁNG
(*) Câu này
còn có dị bản:
Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
c/ Ca từ trong bản “Mùa
thu chết” của Nhạc sĩ Phạm Duy :
MÙA THU CHẾT
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho Mùa Thu đã chết
rồi!
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu đã chết, đã chết rồi. Em nhớ cho!
Em nhớ cho,
Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
Trên cõi đời này, trên cõi đời này
Từ nay mãi mãi không thấy nhau
Từ nay mãi mãi không thấy nhau...
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi !
Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em.
Vẫn chờ em, vẫn chờ em
Vẫn chờ....
Vẫn chờ... đợi em!
PHẠM DUY
Như vậy, xem hai bản dịch
nói trên, chúng ta thấy, chỉ có 2 câu đầu tiên là giống nhau thôi, thi sĩ Bùi
Giáng chuyển ngữ tựa đề “LỜI VĨNH BIỆT” rất sát với nguyên ngữ “L’ADIEU”, trong
bản dịch ông có dùng từ Hán Việt: “tương phùng”, “mộng trùng lai”,
toàn bài dịch hơi thoát (thêm câu “Mộng trùng lai không có ở trên đời”).
Riêng nhạc sĩ Phạm Duy thì trừ cái tựa bài nhạc “Mùa thu chết” là
dịch có khác với nguyên ngữ, còn lại lời nhạc toàn bài dịch khá sát với nguyên
tác. Lời dung dị nhưng cảm động. Phạm Duy khi phổ nhạc thì ở phần ca từ có thể
chuyển dịch vị trí các câu thơ và có thể thay đổi từ ngữ, nhưng nhờ vậy bản nhạc
có sắc thái riêng làm cho bài thơ được phổ có sức sống mới và giới yêu nhạc đón
nhận nồng nhiệt, chính ngay nhiều tác giả có thơ được phổ nhạc cũng đồng tình
như thế. Riêng Bùi Giáng, chính trong bài “Lời vĩnh biệt”ông lại
chuyển dịch 2, 3… lần nữa thậm chí chuyển dịch ra lại tiếng Pháp. (Mời xem tiếp
phần sau: “BÙI GIÁNG BÌNH THƠ APOLLINAIRE” và vài hình ảnh HOA THẠCH THẢO cũng
trong bài viết này)
Khi bản nhạc MÙA THU CHẾT
xuất hiện, nhiều người cho rằng Phạm Duy đang ám chỉ điều gì đó, có không ít ý
kiến phản hồi. Riêng nhạc sĩ Châu Kỳ sáng tác bản nhạc "MÙA THU CÒN
ĐÓ" với ca từ như sau:
MÙA THU CÒN ĐÓ
Cảm xúc vì nghe mùa thu
chết
Tôi viết bài này thương tiếc bởi mùa thu
Châu Kỳ
Mùa thu ơi! Nghe nói rằng em đã chết
Mùa thu ơi! Em còn đó hay chết rồi
Em còn đó, em còn đó hay chết rồi…
Thu! Em hãy nói, em hãy nói, nói đôi lời
Rằng mùa thu vẫn sống dài trên sông núi
Hồ thu xưa, trăng nhìn nước vẫn sáng ngời…
Xin đừng nói, xin đừng nói thu chết rồi
Không! Thu vẫn sống, em vẫn sống, sống đời đời…
Lạc vào vườn thu nghe lá vàng rơi xao xác
Lạc vào vườn thu thương nai buồn đang ngơ ngác
Dáng thu xưa vẫn chưa mờ, vẫn chưa mờ
nói sao vừa, nói sao vừa
nỗi mong chờ, đến bao giờ
Này thu ơi, thương bóng hình em năm đó...
Dù thu đi, trăng và gió vẫn ngóng chờ
Xin đừng nói, xin đừng nói thu chết rồi!
Không, thu vẫn sống
Đem hình bóng cho cuộc đời…
Châu Kỳ
BÙI GIÁNG BÌNH THƠ
APOLLINAIRE
Ta đã hái nhành lá cây thạch
thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
L'ADIEU
J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automme est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends.
AP0LLINAIRE
Và nhớ nhé! Ta đợi chờ em
đó
Bài thơ chỉ vẽn vẹn chỉ
có năm câu. Năm câu phiêu hốt mang thiên nhiên nằm giữa nền thi ca Tây Phương
Hiện Đại – năm câu cũng đồ sộ như toàn khối Đường Thi Trung Hoa hay mấy vần tứ
tuyệt của một Thôi Hộ.
Ta đã hái nhành lá cây thạch
thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó…
Dịch ra làm sáu câu, tôi
có phần áy náy. Nhưng không biết phải làm sao. Cái chất đạm nhiên bát ngát
trong bài thơ Apollinaire đang trừ khử hết mọi lối dịch diễn, dịch di, dịch
tinh, dịch thể. Cứ thử liều một trận xem sao.
Ta đã hái nhành lá cây thạch
thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ chẳng nhìn nhau trên đất nữa
Hương thời gian nhành thạch thảo tí hon
Và nhớ nhé ta đợi chờ em nhé…
Cũng tạm gọi là được. Nếu
ta đem bài thơ bát ngát kia đặt vào giữa nguồn thơ mênh mông của Apollinaire ắt
ta dám dịch nó ra làm lục bát Huy Cận, lục bát Nguyễn Du hoặc làm thất ngôn Du
Nguyễn.
Đã hái nhành kia một buổi
nào
Ngậm ngùi thạch thảo chết từ bao
Thu còn sống sót đâu chăng nữa
Người sẽ xa nhau suốt điệu chào
Em nhớ anh quên và em cũng
Quên rồi khoảnh khắc rộng xuân xanh
Thời gian đất nhạt mờ năm tháng
Tuế nguyệt ta đà nhị hoán tam.
Dịch như thế là diễn giải
một mùi hương ẩn tàng trong nếp gấp. Nhưng đâu có cần gì. Nếu như cần, thì tớ cứ
buông bừa bút mực viết bừa thơ.
Mùa thu chết liễu nhớ chăng em?
Đã chết xuân xanh suốt bóng thềm
Đất lạnh quy hồi thôi hết dịp
Chờ nhau trong Vĩnh Viễn Nguôi Quên
Thấp thoáng thiều quang mỏng mảnh dường
Nhành hoang thạch thảo ngậm ngùi vương
Chờ nhau chín kiếp tam sinh tại
Thạch thượng khê đầu nguyệt điểu mang
Xa nhau trùng điệp quan san
Một lần ly biệt nhuộm vàng cỏ cây
Mùi hương tuế nguyệt bên ngày
Phù du như mộng liễu dài như mơ
Nét my sầu tỏa hai bờ
Ai về cố quận ai ngờ ai đi
Tôi hồi tưởng lại thanh kỳ
Tuổi thơ giọt nước lương thì ngủ yên.
Dịch ra như vậy thì tiếp
giáp với bài thơ “JE ME SOUVIENS":
Je me souviens de mon
enfance
Eau qui dormait dans un verre
Avant les tempêtes
l’espérance
Je me souviens de mon enfance
Tôi hồi tưởng tuổi thơ ngày trước
Đáy ly nào giọt nước ngủ yên
Trước khi giông bão muộn phiền
Giậy cơn hy vọng cuối miền thơ ngây.
Je songe aux métamorphoses
Qui s’épanouissent dans un verre
Comme l’espoir et la tristesse
Je songe aux métamorphoses
C’est ma destinée que je lis
Dans les reflets incertains
Les jeux sont faits rien ne va plus
C’est ma destinée que je lis
Tôi nghĩ tới tháng ngày chuyển dịch
Những
thay hình đổi dạng mở phơi
Trong ly nước mộng tuyệt vời
Với sầu dao động nỗi đời giao thoa
Linh hồn định mệnh âm ba
Bóng vang khép mở đầu hoa mơ hồ
Hỡi ôi dâu biển xô bồ
Hồn trong định mệnh bây giờ đọc ra
(Sương Bình Nguyên)
BÙI GIÁNG
HOA THẠCH THẢO
Nguồn: Tài liệu tổng hợp
từ internet
Hoa bruyère trong thơ
Guillaume Appolinaire đã được Bùi Giáng và Phạm Duy dịch là hoa thạch thảo. Tự
điển Pháp - Việt giải thích hoa bruyère là một loài hoa chuông dại mọc trên cát
sỏi. Nhưng ở Việt Nam, hoa Thạch thảo chính là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, Cúc Nhật.
Chúng ta thử tìm hiểu về HOA THẠCH THẢO nhé!
* Hoa thạch thảo ở
Việt Nam
Hoa Thạch thảo (Aster
amellus L) thuộc họ Cúc (Asteraceae). Tại Việt Nam, người miền Nam hay gọi là
Cúc Sao, Cúc Cánh mối, người Bắc gọi là Thạch thảo. Thạch thảo hay mọc thành bụi,
nhiều bông với cánh đơn xoè rộng ra. Hoa Thạch thảo có ba màu chính: tím, hồng,
trắng. Thạch thảo ngày nay được lai tạo thêm thành loại hoa cánh kép. Hoa Thạch
thảo cánh mối cũng như các loại hoa cúc thường nở vào mùa Thu, khi mà đa số các
loại hoa khác đã tàn.
Như vậy, hoa Thạch Thảo
(hay cúc Sao, cúc Nhật, cúc Cánh Mối) là 1 tên Việt của loài Aster amellus L.
thuộc họ Cúc (Asteraceae), tên Anh ngữ là Aster và Pháp là Astère.
Nhóm Cúc (cả trồng làm
hoa hay mọc hoang) thường được gọi chung là Chrysanthemum/Aster, trong đó các
loài mọc hoang thường có 1 chùm lông ở cuối mỗi hột (khi trái chín) và phát tán
nhờ gió (nên mọc hoang, rải rác vào mùa xuân khi có nắng ấm ở Âu châu, hoa chỉ
sống trong vài tháng!). Các loài cúc trồng thì không phát tán tự nhiên được vì
hột không có lông như Vạn Thọ (marigold), cúc Giấy (zinnia). Có loại được trồng
từ hột, có loại trồng bằng củ; cúc Thạch Thảo (cúc sao/Aster), và nói chung loại
nhiều loại cúc thường trồng từ cây con nhảy chồi (do mọc thành bụi, hoa thường
bất thụ)
* Hoa Thạch Thảo ở
Âu Châu
Hoa Thạch thảo Âu châu là
thuộc cây Bruyère (tiếng Pháp) hay Heather (tiếng Anh) còn gọi là Common Ling
hay Briar.
Từ điển Sinh Học Anh Việt
và Việt Anh, nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật dịch heather là cây thạch nam.
Erica. Trung hoa gọi là Hồng phương bách hay Thạch nam. Từ điển phổ thông Pháp
Việt gọi là cây Thạch thảo.
Phân loại:
Tất cả các loại thạch thảo
đều trong gia đình Ericaceae, có một loại hoa thạch thảo duy nhất thuộc
giống Calluna, ngoài ra là loại Erica. Dưới đây là một số giống Erica khác nhau
trong hàng vài trăm loại khác nhau trên thế giới.
Loại Calluna vulgaris là
loại thạch thảo thật sự (true heather), loại cây nhỏ, có hoa nhỏ hình chuông
màu tím, hay hồng nhạt.
Loại Erica gồm nhiều giống
khác nhau từ giống cây nhỏ mọc từng bụi nhỏ hoặc có thể là cây lớn.
- Erica arborea, treeheath, briar, brier: cây nhỏ ở vùng Địa Trung Hải có chùm
hoa trắng hình chùy, thơm và có rễ cứng như gỗ được dùng để làm ống điếu hút.
- Giống Erica carnea, spring heather, winter heather, là loại cây hoa nhỏ mùa
đông hay mùa xuân, ở Âu châu có hoa hình chuông màu đỏ hay hồng.
- Giống E. cinerea: loại thạch thảo có lá nhỏ, hoa hình chuông màu đỏ tím
- Giống E. tetralix, bellheather, cross-leaved heath là loại cây nhỏ lùn có hoa
màu hồng
- Giống E. vagans hay còn gọi là Cornish heath là loại thạch thảo mọc cả bụi có
hoa màu hồng hay trắng thường thấy ở cánh đồng hoang tại Cornish và đông nam Ấu
châu.
- Giống E. lusitanicahay Portugese heath, Spanish heath mọc rậm rạp ở vùng bán
đảo Iberia , có hoa trắng hồng.
- Giống E. perspicua hay Prince of Wales heath mọc rất nhiều ở Anh quốc và Nam
Phi châu, có hoa màu trắng. Hoa dài và trông tựa như chùm lông của huy hiệu
trên Coat of Arms của Hoàng tử xứ Wales- Anh Quốc, nên mang tên Prince-of-Wales
heath
- Erica mammosalà loại Erica có nhiều màu nhất từ màu trắng, tím, cam đến màu đỏ.
Hoa chuông đặc biệt dài hơn các loại Erica khác
Nếu nói về ý nghĩa của
màu hoa thạch thảo thì thạch thảo trắng tượng trưng cho sự che chở, cho sự mong
mỏi. Thạch thảo mầu hồng tượng trưng cho may mắn, và màu xanh lạt lavender tượng
trưng cho cô đơn, sự hâm mộ thán phục.
Mùa thu về, nhìn lá vàng
chao nghiêng trong gió, thấm đẫm nắng hanh vàng, bất chợt bừng trải lòng lắng
nghe tiếng thu man mác bâng
khuâng.
18/7/2022
La Thụy
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Phiếm luận về bài bình thơ "Tuệ Sỹ" của Bùi Giáng
Phiếm luận về bài bình
thơ "Tuệ Sỹ" của Bùi Giáng
Tiếc thương Hòa thượng
Thiền sư Thích Tuệ Sỹ viên tịch chiều 24.11.2023. Trong niềm suy niệm về Tuệ Sỹ
khi Thầy vừa tạ thế, chúng ta hãy cùng thắp nén hương cầu nguyện cho linh thức
của Người được siêu thoát.
Trong quyển “ĐI VÀO CÕI
THƠ”, Bùi Giáng viết về Tuệ Sỹ:
“Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết
văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô
cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn
thơ thâm viễn u u...
Một bữa ông đọc cho tôi
nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:
Thâm dạ phong phiêu nghiệp
ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa
phi
Ông bảo làm sao tiếp cho
hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ Ni cô Trí Hải tiếp
giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử
viết:
Thâm dạ phong phiêu nghiệp
ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa
phi
Phiêu bồng tâm sự tân
toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn
ty
Và xin ông chả nên lấy thế
làm bực mình.
Nhưng ai có ngờ đâu nhà
sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ
Việt phi phàm? Một bài thơ “KHÔNG ĐỀ” của ông đủ khiến ta khiếp vía
mất ăn mất ngủ”
Có lẽ Bùi Giáng là người
phát hiện và bình bài thơ KHÔNG ĐỀ này đầu tiên trong tập 1, ĐI VÀO CÕI THƠ.
Thế mà, bỗng dưng bài thơ
biến cái tên thành KHUNG TRỜI CŨ và từ ngữ CUNG TRỜI trong bài thơ lại biến
thành KHUNG TRỜI.
“Cung trời” như
là một cõi trời, một cảnh giới, còn “khung trời” chỉ là một
không gian bị hạn chế. bị đóng khung…
CUNG TRỜI trong Phật giáo
được biết qua sáu cõi, đó là:
1. Tứ thiên vương thiên.
2. Đao lợi thiên.
3. Dạ ma thiên.
4. Đâu Suất thiên.
5. Hóa Lạc thiên.
6. Tha hóa tự tại thiên.
Sáu “cung trời” đã
nêu ở trên thuộc về Dục giới. Ngoài ra còn có Tam thanh thiên giới, Phạn Thiên
giới, Vô sắc giới, Sắc giới nữa, gồm tất cả 36 cung trời.
Trong 2 câu thơ Bùi Giáng
làm nối tiếp thơ Tuệ Sỹ:
“Phiêu bồng tâm sự, tân
toan lệ,
Trí Hải đa tàm, trúc loạn
ty.”
Cụm từ “Trí Hải
đa tàm” được hiểu như thế nào đây?
- Cách hiểu thứ nhất:
“Đa” 多 nghĩa là “nhiều”
“Tàm” 蚕 nghĩa là “con tằm / lông mày”
“Đa tàm” 多 蚕
nghĩa là “nhiều lông mày”, “lông mày dày, rậm”
Trí Hải là tên ni cô được
Bùi Giáng nhắc đến hai lần trong lời kể ở trên, nên cụm từ “Trí Hải đa
tàm” có nghĩa là “Trí Hải nhiều lông mày, lông mày Trí Hải
dày, đẹp”
Đây chỉ là lời đùa cợt
cho vui của Bùi Giáng. Mà Bùi Giáng đã từng đùa gọi ni cô Trí Hải là “mẫu
thân Phùng Khánh” đó thôi:
“Trí Hải Ni Cô vừa rời bỏ Vạn Hạnh đi tu tiên ở trên núi. Nguyên nhân
là: các vị sư ở Vạn Hạnh chế ni cô đã đẻ ra Bùi Giáng già nua, ni cô bẽn
lẽn bèn giũ áo ra đi.
Sự tình nông nỗi ấy,
Thích Minh Châu phải chịu trách nhiệm một phần lớn.
Phùng Khánh là bà mẹ
loài người. Tôi là con người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi
không phải là con của Phùng Khánh, thì chẳng ra tôi chẳng phải con người?
Chẳng ra tôi là con vật?
Phân tích nghiêm mật
luận lý học ra như thế, rành rành Phùng Khánh là mẹ của tôi.
Huống nữa là: trong cõi
mộng mơ chiêm bao tại bình diện thi nhạc phiêu bồng, Phùng Khánh đích
nhiên cũng lại là mẹ của tôi nốt. Tôi vốn là Trung Niên Thy Sỹ.
Ai đâu có ngờ rằng
những bài thơ bất tử tôi làm ra là do Phùng Khánh cả đấy?
Mỗi phen tôi mơ màng
nghĩ tới dung nhan diễm lệ Phùng Khánh thì giòng thơ bát ngát lại tuôn ra
ào ào. Vậy thì hiển nhiên như nhiên thiên tài của tôi là do liên tồn Phùng
Khánh đẻ ra vậy.
Tôi suy ngẫm suốt bao
nhiêu năm trời, nhận ra sự tình cố kỳ nhiên đó, mới dám mạo muội mạnh
bạo gọi Phùng Khánh bằng một tiếng Mẫu Thân. Há đâu dám bốc đồng mà
gọi bướng!”
(Trích: Bùi Giáng Thi
Ca Tư Tưởng - Saigon 1969)
Cho nên, 2 câu thơ
“Phiêu bồng tâm sự, tân
toan lệ,
Trí Hải đa tàm, trúc loạn
ty.”
Trí Hải viết hoa, tức là
ám chỉ tên của ni cô.
Có thể hiểu là:
“Nỗi lòng xôn xao nước mắt
chua cay rơi
Nhìn đôi mày đẹp của Trí
Hải làm tâm hồn rối như tơ.”
Hay:
Tâm sự lâng lâng, dòng lệ
chua cay chảy
Trí Hải mày tằm, đàn trúc
rối cung tơ
Phải chăng “Trí Hải
đa tàm”, Trí Hải mày tằm với nhan sắc như thế đã lắm phen làm Bùi
Giáng “mơ màng nghĩ tới dung nhan diễm lệ Phùng Khánh thì giòng thơ
bát ngát lại tuôn ra ào ào”.
- Cách hiểu thứ
hai:
TÀM 惭 nghĩa là hổ thẹn
TRÍ HẢI 智海 nghĩa là “biển trí”
ĐA TÀM 多慚 nghĩa là hổ thẹn nhiều
“Trí hải đa tàm” nghĩa
là “hổ thẹn nhiều trước biển trí”
TRÚC 筑 là một loại nhạc cụ làm từ tre trúc, gọi là đàn trúc
TY 絲 có nghĩa là dây đàn, còn được gọi là dây tơ,
cung tơ.
Câu “trí hải đa
tàm trúc loạn ty” có thể hiểu là “biển học mông mênh làm thẹn lòng vì
đầu óc mình thiếu minh mẫn lúng túng chưa ngộ được như đàn trúc rối loạn cung
tơ”
Trở lại 2 câu thơ đầu của
Tuệ Sỹ
“Thâm dạ phong phiêu nghiệp
ảnh tùy
Hiện tiền vi liễu lạc
hoa phi”
Tuệ Sỹ đang nói về triết
lý Nghiệp / Karma. Nghiệp thiện ác đã gieo, bây giờ tác giả bâng khuâng với
“bóng nghiệp” nên trước mắt còn thấy liễu rớt hoa bay.
Nên hai câu thơ:
“Phiêu bồng tâm sự, tân
toan lệ,
Trí hải đa tàm, trúc loạn
ty.”
Có nghĩa:
Tâm sự bâng khuâng, dòng
lệ chua cay chảy
Thẹn lòng trước biển trí,
đàn trúc rối loạn cung tơ
Hiểu như vậy thì bài tứ
tuyệt “Vô đề” ý mới liền mạch được.
Quý bạn nghiêng về cách
giải thích nào nhỉ!
Xin dẫn những bài thơ có
dùng chữ Đa tàm 多慚
nghĩa là hổ thẹn nhiều
Thơ Trần Tung:
Đa tàm thân trọc phùng thời
trọc,
Tiểu tại tâm thanh ngộ quốc
thanh.
(Thoái cư-Ẩn cư)
Dịch:
Thân đục thẹn sinh thời
buổi đục,
Lòng trong may gặp nước
nhà trong.
Thơ Kiều Nguyên Lãng:
Thượng quốc ân thâm tình
dị cảm,
Tiểu bang tục bạc lễ đa
tàm.
(Tống Bắc sứ Ma Hợp)
Có nghĩa:
Ơn thượng quốc sâu sắc dễ
cảm tình người,
Phong tục nước nhỏ đơn giản,
thẹn lễ nghi có phần sơ suất.
Thơ Trần Nhân Tông:
Nhất thị đồng nhân thiên
tử đức.
Sinh vô bổ thế trượng phu
tàm.
(Họa Kiều Nguyên Lãng Vận)
Có nghĩa:
Thương yêu mọi người như
nhau là đức của Vua,
Sống mà không giúp ích gì
cho đời là điều đáng thẹn của kẻ trượng phu.
Bùi Giáng viết nhiều tùy
bút văn học, đặc biệt là tùy bút về thi ca.
Thơ của các thi sĩ được Bùi Giáng cảm nhận theo một phong cách riêng “rất Bùi
Giáng” thật dí dõm. Tuệ Sỹ là nhà thơ đầu tiên được Bùi Giáng bình thơ trong tập
ĐI VÀO CÕI THƠ. Bùi Giáng viết cảm nhận thơ như người bạn tri âm đồng điệu và
bài TUỆ SỸ của ông để lại những “dư vang nghệ thuật” trong lòng người đọc.
5/12/2023
La Thụy
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Bao la, mênh mông, bát ngát giống và khác nhau như thế nào
Bao la, mênh mông, bát ngát
giống và khác nhau như thế nào?
BAO LA
Chúng ta thường
dùng “bao la” để chỉ thứ gì đó “rộng lớn đến mức vô cùng tận”
(Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên), chẳng hạn như “vũ trụ bao la”, “biển
rộng bao la”… Tuy nhiên, nghĩa đen của từ này không hẳn ai cũng rõ.
Thực tế, “bao la” là một
từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅.
Trong đó:
“Bao” (包) là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong
“bao quát”, “bao hàm”
“La” (羅) nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la"
trong “thiên la địa võng”, “la liệt".
Như vậy, “bao la” có thể
được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.
Nói đến không gian rộng lớn,
ta còn có từ “bát ngát". Thực tế, từ này vốn có nghĩa gốc là “thương nhớ,
lo buồn" (xem Tiếng Việt ân tình, tập 1)
Tóm lại, “bao la” là một
từ gốc Hán, có nghĩa đen là “cái lưới bao trùm tất cả”.
Lê Trọng Nghĩa
“Bao la” là
một từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅.
Trong đó:
“Bao” (包) là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong “bao quát”,
“bao hàm”
“La” (羅) nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la" trong “thiên
la địa võng”, “la liệt".
Như vậy, “bao la” có
thể được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.
Phiếm luận của La Thụy:
Từ định nghĩa trên, tôi
liên tưởng đến Thánh kinh: “Ta là Alpha (A) và là Ômêga (Ω), là Khởi
nguyên và là Cùng tận!”
Điều này nói lên rằng Vua
Giêsu Kitô là căn nguyên và cùng đích của mọi loài. Trước khi tạo dựng vũ trụ
này, Người đã hiện hữu; và khi vũ trụ này qua đi, người vẫn hiện hữu.
Chúa là Vua Vũ Trụ, Chúa
là Alpha và Ômêga, là Đấng Toàn Năng.
MÊNH MÔNG
Mênh mông 冥 蒙 (chữ
Nôm): rộng lớn đến mức như không có giới hạn
Tra từ điển Hán Nôm, tôi
thấy chỉ có MÊNH chữ Nôm, không có MÊNH chữ Hán
Có 5 kết quả về MÊNH chữ
Nôm đều nói về “mênh mông”
冥 mênh
• 明 mênh • 溟 mênh • mênh • mênh
MÔNG 濛 (chữ Nôm)
Cả MÊNH và MÔNG chữ Nôm,
mỗi từ không có nghĩa riêng biệt, đều chỉ về MÊNH MÔNG
MÔNG (chữ Hán) có đến 20
kết quả và nhiều nghĩa khác nhau, tôi thấy có chữ Hán có thể có ý nghĩa liên
quan đến chữ “bao” 包 trong
“bao la” đó là:
MÔNG 蒙 (chữ Hán): Che, đậy, trùm.
Phiếm luận của La Thụy:
Như vậy MÊNH MÔNG là từ
thuần Việt từ láy âm đầu, và là từ láy tượng hình có nghĩa “rộng lớn đến
mức như không có giới hạn”
Vd:
đồng ruộng mênh mông
"Núi cao biển rộng
mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng
con ơi!"
(Ca
dao)
BÁT NGÁT
Bát ngát 叭兀 (chữ Nôm):
Đây là một từ thuần Việt,
có nghĩa là rộng lớn, mênh mông, vượt xa tầm nhìn của con người
- Tra chữ Hán thì BÁT có
đến 32 kết quả với những ý nghĩa khác nhau, nhưng tôi không tìm thấy ý nghĩa
nào có liên quan đến “sự rộng lớn”
- Tra chữ Nôm thì BÁT có
đến 17 kết quả với những ý nghĩa khác nhau, trong đó có 叭 được dùng với “bát ngát”
Tra từ điển Hán Nôm, tôi
thấy chỉ có NGÁT trong chữ Nôm, không thấy có NGÁT trong chữ Hán.
Có 6 kết quả về “ngát” chữ
Nôm đều nói về “bát ngát” hoặc “thơm ngát”
兀 ngát
• 吃 ngát • 咯 ngát • ngát • ngát • ngát
Cả "bát"
hoặc "ngát" riêng biệt đều không có nghĩa cụ thể.
Trang “Tiếng Việt giàu đẹp”
viết:
“Ngày nay, hầu hết chúng
ta đều dùng “bát ngát” với nghĩa là “rộng lớn, mênh mông”. Từ điển tiếng Việt
do Hoàng Phê chủ biên cũng giảng: “Bát ngát: Rộng lớn đến mức tầm mắt không bao
quát hết được. Cánh đồng bát ngát. Bốn bề bát ngát”. Ít ai biết được rằng, từ
này xưa kia vốn được dùng với nghĩa hoàn toàn khác.
Từ điển từ cổ của Vương Lộc
giảng: “Bát ngát: Ở trạng thái lo buồn, thương nhớ dai dẳng, bâng khuâng”. Đại
Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của ghi chép ngắn gọn hơn: “Bát ngát: Lo xa,
lo buồn nhiều nỗi”. Từ điển Việt - Pháp của J. F. M. Génibrel cũng đồng tình:
“Bát ngát: U sầu, lo âu, nghĩ ngợi”.
Các tư liệu này không hề
giảng sai. Bằng chứng là sắc thái “lo âu, thương nhớ” của “bát ngát” đã xuất hiện
trong rất nhiều tác phẩm văn học xưa, chẳng hạn:
“Bát ngát mặt ngừng chau
giọt ngọc,
Dùng dằng chân ngại bước
đường mây”
(Hồng Đức quốc âm thi tập,
Nhân đạo, bài 34)
“Cảnh ly biệt nhiều phần
bát ngát,
Mạch sầu tuôn ai tát cho
vơi”
(Ai tư vãn, câu 145, 146)
“Bát ngát thay cành hoa
trôi nước,
Chiếc nhạn về nam”.
(Nguyễn Hữu Chỉnh, văn tế
chị)
Như vậy, rõ ràng “bát
ngát” xưa kia vốn được dùng với nghĩa lo buồn, thương nhớ. Và có lẽ từ đó mới
hình thành nên cụm “bát ngát mênh mông” là cảnh vật rộng lớn, hiu buồn. Chắc hẳn
do lưu truyền trong dân gian, “bát ngát” dần bị mất nghĩa, và do thường đặt cạnh
“mênh mông” nên người ta đã hiểu từ này thành “rộng lớn”.
(Tiếng Việt giàu đẹp)
https://www.facebook.com/.
Phiếm luận của La Thụy:
Sự rộng lớn đến mức như
không có giới hạn của “mênh mông” và “bát ngát”,
làm tôi liên tưởng tới từ ngữ “vô thủy vô chung”
Vô thủy: không có điểm bắt
đầu.
Vô chung: không có điểm kết
thúc.
Cụm từ "vô
thủy vô chung" có hàm ý chỉ những điều vô cùng vô tận, không có
điểm khởi đầu, cũng không có điểm kết thúc. Tôi liên tưởng đến chữ ĐẠO 道 của Lão Tử.
Theo Đạo Đức Kinh:
“Đạo là Nguồn gốc của Vũ
Trụ. Vì nó là một cái gì Lớn tuyệt đối nên mới nói: “nghinh chi nhi bất kiến kỳ
thủ, tùy chi nhi bất kiến kỳ hậu” 迎之不見其首, 隨之不見其後
(Đón nó thì không thấy đầu,
theo nó thì không thấy đuôi). Tức là “vô thủy vô chung” 無始無終 vậy.”
Cụm từ "vô
thủy vô chung" làm tôi liên tưởng đến Phật giáo
Cụm từ này đồng nghĩa: Vô
lượng vô biên 無量無邊
Chỉ PHẬT, theo tín ngưỡng,
là không đếm được, không có giới hạn.
Như vậy, BAO LA là từ
ghép Hán Việt, nhưng MÊNH MÔNG và BÁT NGÁT là từ láy thuần Việt. Chúng có ý
nghĩa gần giống nhau, nhưng vẫn có điểm khác biệt.
Kỳ sau, nếu có thời giờ,
chúng ta sẽ thử so sánh chúng với các từ "bạt ngàn", "ngút
ngàn" nhé!.
20/12/2025
La Thụy
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...


.gif)