VĂN THƠ NHẠC
Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026
"Lời gió" của Đậu Hoài Thanh: Rưng rưng câu hát gọi người
"Lời gió" của Đậu Hoài Thanh: Rưng
Tập thơ “Lời gió” không còn là tiếng nói cá nhân, tâm tư riêng của nữ nhà thơ Thượng tá Đậu Hoài Thanh nữa. Tập thơ trở đầy cảm xúc rung động từ trái tim đến trái tim này khiến người đọc thấy bóng dáng mình trong đó với nhiều cung bậc tình cảm…
Giao cảm mùa xuân trong thơ 1-2-3
Giao cảm mùa xuân trong thơ 1-2-3
Mùa xuân là mùa của sự sống
bừng nở. Đất trời như thay áo mới, dòng chảy cuộc sống vừa rạo rực vừa mê
say. Thơ trong/ về mùa xuân vì thế mà thường dạt dào cảm xúc, hân hoan và tươi
sáng. Xuân hiện diện trong thể thơ 1-2-3 non trẻ, vừa trong trẻo, vừa nồng đượm,
vừa tinh tế vừa khoáng đạt, đã ít nhiều lan tỏa năng lượng xanh cho độc giả yêu
thơ!
Đó là buổi sáng đầu năm,
thiên nhiên nguyên khôi tinh khiết. Ánh bình minh mang đôi chân của đứa trẻ “chập
chững bước ra” từ cánh cửa bầu trời, cội mai vàng “ấp e rửa mặt”,
cành sấu “ dậy thì” có tiếng bầy chim rộn rã. Cảnh như thế, còn người
thì “ viên mãn nụ cười xuân”.
Sớm đầu năm tỉnh
thức giấc nồng
Ánh bình minh non tơ chập
chững bước ra từ kẽ trời
Lau khô dòng nước mắt đêm
lạnh lẽo
Cội mai vàng điểm nụ ấp e
rửa mặt
Bầy chim trên cành sấu dậy
thì gọi ta bừng tỉnh
Vội tìm em viên mãn nụ cười
xuân.
(Thơ Mai Xuân Thắng tham
dự Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Đó là âm thanh trong trẻo
của mùa xuân, tựa như bắt nhịp cho bản hòa âm của tâm hồn, kết nối giữa
con người và thiên nhiên tươi đẹp. Màu trắng trinh của hoa bưởi, hương thơm của
muôn loài hoa xuân đánh thức ký ức tuổi trẻ trở về. Dường như trong thơ có lời
nhắn nhủ kín đáo: Quá khứ chỉ lùi xa mà không biến mất. Lưu giữ kí ức với lòng
trân trọng, hạnh phúc sẽ nảy mầm ở hiện tại và hoa trái cho tương lai:
Một thanh âm trong
trẻo cất lên
Hơi thở của ta hòa vào vũ
trụ
Mùa xuân đang dâng hương
Khóm bưởi trắng làm ta
rưng rưng
Giọt ký ức vẫn còn nồng
nàn
Anh có gọi tuổi mình về
xanh ký ức em không?
(Thơ Hà Vinh Tâm tham dự
Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Đôi khi, mùa xuân trong
thơ là một ấn tượng, là cảm thức không- thời gian tâm tưởng. Ở đó, mùa xuân đồng
nghĩa với cái đẹp, với tình yêu. Vì thế mà xuân “nồng nàn”, “đắm đuối”
và người đang yêu chẳng thể cưỡng lại mê lực đó, để rồi bị/ được “cuộn vào”.
Phác nét bán nguyệt
khuôn mặt em mái phố.
Tiếng rì rầm của dòng
sông đêm mất ngủ.
Những vì sao mùa nào cũng
xanh.
Lặng nhớ đôi mắt em buổi ấy
Chạm ngón tay lên cánh hồng
run rẩy
Cả mùa xuân đắm đuối cuộn
anh vào.
(Thơ Trần Thị Bảo Thư
tham dự Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Nếu khởi đầu mùa xuân
phương Nam đặc trưng bởi tín hiệu “Cội mai vàng điểm nụ ấp e” thì
khởi đầu mùa xuân xứ Bắc có đặc sản là “sương”. Sương giăng mắc để cảnh
vật thêm hư ảo, để con người thêm chút se lạnh mà muốn gần nhau hơn- vì thế mà
“đường link” xuất hiện. “Đường link” của mùa xuân chở “bát ngát cỏ hoa nồng nàn hương đất”, “đường link” của bầu bạn “hiện hữu vòng ôm ấm”, “đường link” của tình yêu ngọt ngào “nụ hôn
mùa xuân”:
Cảm ơn đường link
ban mai
Trong mang mang hơi sương
tháng giêng
Có bàn tay nhẹ nâng bàn
tay nàng chạm nút home
Dẫn dụ đường link bát
ngát cỏ hoa nồng nàn hương đất
Miên ảo đường chân trời.
Hiện hữu vòng ôm ấm
Người vén sương đặt lên
môi nàng nụ hôn mùa xuân.
(Thơ Vũ Trần Anh Thư
tham dự Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Từ “ mái phố”
đến “đỉnh núi mây bay”, “ trên biển mây”… mùa xuân có muôn
vàn cách để ban tặng cho cảnh vật và con người vẻ đẹp đầy sức sống. Cheo leo
nơi sườn núi, bản Mông“ nhóm lửa đón mặt trời”, hoa văn “thổ cẩm”
và “tiếng khèn” trở thành nét văn hóa bản địa đặc sắc:
Trên đỉnh núi mây
bay
Những tơ sương bảng lảng
Bản Mông nhóm lửa đón mặt
trời
Em thổ cẩm niềm vui, tôi
man mác tiếng khèn
Hội ngộ rồi chia xa, hẹn
ngày trở lại
Khi trái tim hồng vẫn hòa
nhịp vạn nẻo đường xuân.
(Thơ Đỗ Mạnh Hùng
tham dự Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Hay “Phan xi păng bồng
bềnh cánh buồm mang hồn gió”, kì vĩ mà không rợn ngợp, tráng lệ mà ấm áp
tình đời:
Trên biển mây mùa
xuân
Phan xi păng bồng bềnh
cánh buồm căng hồn gió
Chiêu dương tỏa hào quang
khai mở thiên đường.
Vũ trụ bao la thu lại tầm
nhìn
Khoảng cách nghìn trùng
hóa vòng tay dấu yêu gần gụi
Triệu đóa hồng đào cài
lên ngực núi – đính ước lễ Tình nhân.
(Thơ Hà Phi Phượng
tham dự Tuyển tập Thơ 1-2-3)
Viết về mùa xuân, thơ
1-2-3 đủ sức để biểu hiện nét tinh tế trong cận cảnh, sự lộng lẫy khoáng đạt
trong viễn/ đại cảnh. Và dù không gian nào, thơ cũng thấm đượm tình yêu của chủ
thể trữ tình, do đó có sức lan tỏa đến người đọc, như làn gió ấm nồng tươi trẻ
đang“ hòa nhịp vạn nẻo đường xuân”.
10/2/2024
Hà Phi Phượng
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Hình dung nhà thơ Trần Nguyệt Ánh trong "Vọng núi"
Hình dung nhà thơ Trần
Nguyệt Ánh trong "Vọng núi"
Trong lần dự ra mắt sách
“Đàn bà thơ” tôi đã gặp Trần Nguyệt Ánh, nhà thơ gốc Thái Bình sinh sống ở thị
xã Buôn Hồ, Đắk Lắk. Ấn tượng trong tôi đó là một nhà thơ xinh đẹp, khả ái. Thế
rồi tôi nhận được tập thơ “Vọng núi” tác giả gửi tặng qua bưu điện. Một tập thơ
in đẹp với những bức tranh minh hoạ cũng rất thơ. Lại có lời giới thiệu của nhà
thơ Phan Hoàng, người đề xướng loại thơ 1-2-3 ở đầu sách và phần lời bạt có 2
bài viết của nhà phê bình Khang Quốc Ngọc và nhà thơ Trương Nhất Vương.
Thật đáng quý!
Nhưng tôi có thói quen là
cứ đọc thơ đã, tự mình cảm nhận và khám phá. Rồi sau đó mới đọc các bài viết
liên quan. Đọc xong tập thơ, tôi hình dung ra Trần Nguyệt Ánh từ những gì mà những
bài thơ của tác giả gợi nên.
Trước hết, đây là nhà thơ
của vùng Tây Nguyên hùng vĩ. Hình ảnh Tây nguyên khá nổibật trong cả tập thơ.
Không chỉ nghe thấy “Âm vang Tây Nguyên ngập tràn hương sắc” (Muốn hoá
thân thành chim phí bay khắp bầu trời), nghe thấy “Bản hoà tấu cồng chiêng
vút lên”, nghe thấy “Tiếng đàn Chapi…”, nghe thấy “Âm vang đại
ngàn hoà vũ khúc đêm xoang”,… Bạn còn nhìn thấy “đỉnh Chư Yang Sin”,
thấy “Trời Tây Nguyên căng đầy nhựa sống”, thấy “Tây Nguyên hồn nhiên
đất đỏ ba dan/ Tựa lưng núi lòng ta ngập tràn hương sắc” (Ta ru mình trên
ngọn núi Chư Yang Sin), thấy gùi tre, thấy nhà rông, thấy tượng nhà mồ,… Có khi
vừa nhìn thấy, vừa nghe thấy, vừa cảm nhận bằng khứu giác (ngửi thấy) như trong
bài thơ này:
Chiều trôi, hoàng
hôn lao mình trên dốc
Là lúc khăn phiêu em da
diết nhớ người
Tiếng chim chơ rao quắt
quay gọi bạn
Lúa mới thơm nồng rượu cần
Ban Mê
Cúc quỳ tô má em ngời sắc
xuân thì
Cùng nắm tay nhau đi hết
nấc thang nhà sàn quê mẹ
Và bài thơ này nữa, có
mùi, có vị, có hương, có âm thanh, màu sắc:
Ống cơm lam cho ta
biết bản sắc quê mình
Ngọt mùi nếp nướng thơm nồng
trong nứa
Ấp ủ hương tình nồng đượm
đất Tây Nguyên
Rượu cần thơm mát ngọt
say lòng khách lạ
Tiếng cồng chiêng rộn rã
khúc giao mùa
Tinh hoa đại ngàn hoà vũ
khúc đêm xoang
“Vọng núi” thấm đẫm màu sắc,
âm thanh, hương vị của Tây Nguyên, của đại ngàn qua con mắt thơ của Trần Nguyệt
Ánh.
Không chỉ có vậy! Bạn sẽ
gặp một Trần Nguyệt Ánh luôn dành tình cảm yêu thương, biết ơn cha mẹ, biết ơn
đấng sinh thành đã cho nhà thơ có cuộc sống trên quê mới Tây Nguyên. Mẹ cha “Người
là điểm tựa cho con nương náu bình yên”. Hình ảnh người mẹ thật đẹp, thật ấn
tượng trong lòng người con hiếu thảo:
– Ánh mắt mẹ sáng
bừng trang cổ tích
– Mẹ đội cả bầu trời nâng
cánh ước mơ con
– Tấm lưng mẹ uốn cong cả
hoàng hôn
Tần tảo ngược xuôi cho đời
con thơm thảo
(Ngày đã cạn ngày)
– Tuổi thơ con hạnh
phúc vuông tròn
Đổi những tháng ngày mẹ
cha ngày đêm cơ cực
(Con cúi nhặt bàn chân
cha trong mùa đông cũ)
Các bài thơ “Mẹ tất tả
gánh cong chiều xóm núi”, “Đi xa vương vấn hương làng quê ngấm tận lòng mình”,
“Tìm lại mình trong kí ức mùa thu”, “Tìm bóng dáng xưa trong quang gánh mẹ”, “Hạnh
phúc bàn tay người gieo trồng”, “Mẹ quên tuổi mình trên vòm lá quê hương”,… là
tấm lòng biết ơn của người con với cha mẹ kính yêu của mình.
Một nội dung cũng khá đậm
nét là lòng biết ơn đối với các chiến sĩ đã hi sinh vì Tây Nguyên,vì đất nước.
Người giàu tình cảm gia đình, cũng là người biết ơn sâu sắc các anh hùng liệt
sĩ đã cho mình cuộc sống trong hoà bình, hạnh phúc. Các bài thơ “Mẹ đợi anh về
bên mâm cơm chiều”, “Em hát anh nghe bài ca Đất nước”, “Khi biết anh, em đã quá
nửa đời”, “Tháng Bảy tri ân gợi về miền kí ức”, “Anh lên đường theo tiếng gọi
non sông” là tấm lòng, là tình cảm dành cho những “Dũng sĩ kiên cường”.
Nhà thơ còn nói đến đại dịch
Covid-19, đến quê hương năm tấn Thái Bình, đến những con voi thuần hoá, tượng
nhà mồ, đến công việc làm thơ, viết lách,… Nhưng có lẽ chủ đề mà tác giả dành
cho nhiều bài thơ nhất. Ấy là chủ đề tình yêu. Cũng là hợp lí thôi. Vì tác giả
còn đang trẻ. Những bài thơ liên quan đến chủ đề này thường nói đến nhân vật
Anh. Nhưng hình như Anh này là người mang đến nhều nỗi buồn hơn là niềm vui.
Mặc dù có lúc người viết
đã thừa nhận: “Và anh đến như mùa xuân phồn thực”, và thú nhận: “Đã
hơn một lần chết đuối trong mắt anh”. Thế nhưng cuộc tình hình như không
suôn sẻ. Bởi vì “Anh trượt dài lạc bến yêu”, anh “vô tâm pha màu đen,
chàm, xám…” làm hỏng “Bức tranh màu hạnh phúc hai ta”. Rồi “Anh mải
mê hái những vì sao tận cuối chân trời/ Hòn vọng phu em ngàn năm bạc đầu Tô Thị”
(Em độc hành hun hút phía không anh). Chính “Anh hoá lốc đời cuốn sạch mọi
niềm tin”, chính anh khiến “Em trả giá lòng thuỷ chung bằng cực hình tê
tái”. Và Anh khiến cho em “Tàn đêm vắng uống cạn niềm cay đắng”, anh để
cho “Em tin rằng nếu có kiếp sau/ Trọn đời này se chỉ nước mắt mình vá tình đầu
dang dở”… Có vẻ hơi “sến” chút nhưng không sao! Mỗi người có một cách ứng xử
với tình đầu tan vỡ…
May mà người viết không gục
ngã, không bi quan gặm nhấm nỗi buồn. Cô đã tìm lại được “nụ cười đánh rơi”, đã
tìm thấy “sợ tơ nhiệm màu” nối lại giấc mơ, đã tạm “quên quá khứ một thời
ngây ngất nắng” (Có một chiều gió bỗng bỏ cuộc chơi). Tây Nguyên đã cho cô
niềm yêu đời, yêu cuộc sống. Và người giaù lòng thương mến, không thể không nói
lời cám ơn tự đáy tim:
Cám ơn mảnh đất đã
cho ta nguồn cội
Nơi cho ta hưởng trọn yên
ấm, hoà bình
Nơi chiến tích năm xưa từng
găm đầy bom đạn
Máu thấm đất dày, phủ đầy
cánh rừng bất tận đau thương
Yêu lắm quê mình những
người con dũng cảm kiên trung
Từ bàn tay cần cù, tô đẹp
vùng đất Tây Nguyên hùng hậu!
“Vọng núi” cũng là để góp
phần nhỏ bé tô đẹp vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ, ân tình!.
Sài Gòn, 31/12/2023
Vũ Nho
Theo https://vanhocsaigon.com/
Góc tâm linh trong thơ Nguyễn Bính
Góc tâm linh trong thơ Nguyễn Bính
Nếu nói về sự chí thú với
các thuần phong, mĩ tục ở làng quê thì Nguyễn Bính không thể so với nhà thơ đồng
hương Đoàn Văn Cừ. Thi nhân họ Nguyễn không có một bài thơ nào nghi ngút khói
hương, vang rền chiêng trống như thi sĩ họ Đoàn. Tuy nhiên, cái tâm, cái tình của
Nguyễn Bính với chốn cửa thiền, chỗ cửa thánh và nơi bàn thờ gia tiên, cũng đủ
làm thành một góc tâm linh riêng có trong thơ ông.
Tiếng chuông “giải thoát”
nơi cửa thiền
Trong bài thơ “Quê
tôi”, có ý nhắn gửi “một người phồn hoa” nào đó đang “đi nghỉ mát
những đâu/ Đồ Sơn, Tam Đảo, nhà lầu xe hơi”, Nguyễn Bính viết “Quê
tôi có gió bốn mùa/ Có giăng giữa tháng, có chùa quanh năm/ Chuông hôm, gió sớm,
giăng rằm/ Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi”.
“Quê tôi” tiêu biểu cho
làng quê đồng bằng xứ Bắc, vừa duyên dáng, lãng mạn lại vừa cổ kính, cổ điển.
Duyên dáng, lãng mạn vì ở đó có rất nhiều giăng gió, cổ kính, cổ điển vì còn có
chùa quanh năm. Có lẽ viết thế, ngoài chuyện kín đáo khoe quê hương mình, Nguyễn
Bính còn như bảo khéo với “người phồn hoa” rằng, ông cũng “thanh đạm”, “âm thầm”,
kín đáo, duyên dáng như quê ông, chứ có đâu rộn ràng phô trương như người nơi
“Đồ Sơn”, “Tam Đảo” với những nhà lầu, xe hơi thời thượng. Đang mê đắm với những
“Chuông hôm, gió sớm, giăng rằm”, sực nghĩ đến cái ngày sớm “Đem thân
đi với giang hồ/ Sân ga phẳng lặng, bến đò lênh đênh”, Nguyễn Bính chợt
như nấc lên “Mai ngày tôi bỏ quê tôi/ Bỏ trăng bỏ gió chao ôi bỏ chùa”.
Vì sao trong ba cái tiêu
biểu cho quê mình là trăng, gió và chùa, thì “bỏ chùa” lại khiến ông day dứt,
đau đớn thốt lên “chao ôi” như vậy?
Ai cũng biết, cái bộ tam
“đình-đền-chùa” chẳng biết tự bao giờ đã là chốn tâm linh của người dân quê làm
ruộng, trồng lúa. Đền thờ người có công với làng với nước, được xem như là
Thánh. Đình thờ Thành Hoàng làng, cũng là nơi diễn ra sinh hoạt của cộng đồng
cư dân làng. Chùa là nơi thờ Phật (Bụt) “Chuông làng nào làng ấy đánh/
Thánh làng nào làng ấy thờ”, “đẩt Vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” đã thành
tục ngữ, thành ngữ, như tín điều khó suy suyển của mỗi cộng đồng làng xã xưa. Bỏ
chùa là bỏ cái hương hỏa, cái linh thiêng nhất, vậy nên mới nghĩ đến “bỏ chùa”
mà tác giả quê tôi đã phải đau xót mà nức lên hai tiếng “chao ôi”.
Chùa là nơi ký thác linh
hồn, gửi gắm đức tin, mong tìm giải thoát. Đi lễ chùa là hướng thượng, hướng
thiện, tịnh hóa thân tâm, nên người đi lễ, thường là đàn bà con gái, rất chú ý
đến lễ phục. Cũng do tôn thờ cái đẹp, cái gia đạo như thế mà chàng trai trong
bài thơ “Chân quê” mới đau khổ khi phải hạ mình mà “Van
em hãy giữ nguyên quê mùa/ Như hôm em đi lễ chùa”. Giữ nguyên quê mùa là em
cứ giữ cái yếm lụa sồi, cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen truyền thống để cho
“vừa lòng anh”. Cái “chao ôi” ở bài thơ trên, cũng như cái “van em” ở bài thơ
này, tuy khác nhau về hoàn cảnh song cùng phản ánh tâm thế giữ gìn nét đẹp truyền
thống, có tính chất “hương đồng gió nội” của Nguyễn Bính. Nếu mất nó, hay để nó
mai một đi thì, nói dại, sẽ như có tội với quê hương, đất nước.
Đi lễ chùa còn là một thi
ảnh nhiều lần xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính, mà lần nào xem ra cũng đẹp, cũng
tươi tắn, gợi cảm, dù có phảng phất một chút buồn dịu nhẹ của “những người muôn
năm cũ”: “Trên đường cát mịn một đôi cô/ Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội
chùa/ Gậy trúc dắt bà già tóc bạc/ Tay lần tràng hạt miệng Nam mô” (Xuân
về); “Có những ông già tóc bạc phơ/ Rượu đào đôi chén bút đề thơ/ Những bà
tóc bạc hiền như Phật/ Sắm sửa hành trang trẩy hội chùa (Thơ xuân).
Cùng với cảnh chùa, thì
tiếng chuông chùa cũng không chỉ một lần vang vọng trong thơ Nguyễn Bính. Trên
bước giang hồ vô định, mỗi khi nghe tiếng chuông, nhà thơ như tìm thấy ở đó một
sự đồng cảm, một niềm an ủi xoa dịu đi phần nào nỗi cô đơn của kẻ tha hương, nhất
khi bóng chiều buông, lòng người chùng xuống: “Trăng chiều rụng xuống
lòng sông/ Có nhà sư nữ đi trong chuông chiều” (Hai buổi chiều); “Gió
chiều cầu nguyện đâu đây/ Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu/ Sư già quét lá
sau chùa/ Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông (Chùa vắng). Thiếu tiếng
chuông từ bi quen nghe, nhà thơ bồn chồn vào ra như mất một cái gì trân quý lắm “Mấy
chiều vắng bặt hơi chuông/ Sư bà khuyên giáo thập phương chửa về” (Trời
trở gió). Thậm chí có lần Nguyễn Bính còn trách (mà cũng có ý thầm ghen) với
“con nhà nho cũ” Bùi Hạnh Cẩn, khi ông anh bên ngoại này đang giữa chừng giang
hồ với mình đã bỏ cuộc về quê yên phận làm một “Uyên Minh họ Bùi”: “Cắm
sào sông Mã xứ Thanh/ Tôi buồn khi biết đò anh quay về/ Cát lồng nước lạnh
trăng khuya/ Sông Vân bến cũ nằm nghe chuông chùa”.
Ở truyện thơ “Cây
đàn tỳ bà” (1944), dài 1548 câu, kể về chuyện tình buồn giữa nàng Triệu
Ngũ Nương và chàng Thái Bá Giai, thì chùa cùng tiếng chuông xuất hiện nhiều lần,
song mỗi lần là mỗi biến thái. Ở phần đầu truyện, đoạn Thái sinh chuẩn bị vào
kinh ứng thi, cảnh chùa xuất hiện vẫn với dáng vẻ truyền thống, rất Nguyễn
Bính “Tháng Giêng vừa Tết đầu xuân/ Xanh um lá mạ, trắng ngần hoa cam/
Mưa xuân rắc bụi quanh làng/ Bà già sắm sửa hành trang đi chùa”. Nhưng
rồi lần theo mỗi bước truân chuyên của Ngũ Nương đi tìm chồng, thì hình ảnh
chùa cùng tiếng chuông cũng mang nhiều sắc thái, cung bậc.
Ấy là “Chuông
chùa ràn rạn xa nghe/ Đinh nghinh tân chủ khách về song song” như điềm
báo một điều không hay sắp xảy ra, khi Thái sinh đỗ trạng và được mời đến dinh
quan thừa tướng đương triều. Ấy là cảnh “Mưa bay đồi núi phai nhoà/ Tiếng
chuông sơn tự, canh gà ải quan” nghe như phảng phất cái cảnh “Canh
khuya thân gái dặm trường” của Thúy Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư ngày
nào. Thế rồi “Trống chiêng rộn rã nẻo xa/ Dường như ở đó người ta hội
chùa” ấy là khi Ngũ Nương đang có mặt ở kinh đô Tràng An. Bị chồng,
bây giờ là quan lớn phụ tình, Ngũ Nương trong tận cùng đau khổ:
Nàng đi trong bóng chiều
mờ
Nàng đi trong tiếng
chuông chùa ngân nga
Nàng đi với chiếc tỳ bà…
Nàng đi hạc nội mây ngàn
Bóng đêm vùi lấp bóng
nàng rồi thôi
Tiếng chuông từ bi, tiếng
chuông cứu khổ tắt dần và nàng Ngũ Nương cũng từ từ biến vào hư vô, như một tiếng
thở dài không có hồi kết của một kiếp tài hoa, nết na, mà mệnh bạc.
Sau này, tức là sau thời
Thơ Mới, tiếng chuông từ bi, giải thoát còn đôi lần đồng vọng trong thơ Nguyễn
Bính. Ấy là cái “giọng chuông mờ” đầy ẩm ướt trong bài “Mưa xuân II”: “Bãi
lạch bờ dâu sẫm lá tơ/ Làng bên ẩm ướt giọng chuông mờ/ Chiều xuân lưu luyến
không đành hết/ Lơ lửng mù sương phảng phất mưa”. Trong bài “Tiếng
trống đêm xuân”, giữa đoạn diễn tả cái náo nức của “hội xuân gió loạn đuôi
cờ”, ông vẫn không khỏi chạnh lòng “Thương nàng Thị Kính oan khiên/ Đã
nương cửa Phật chưa yên tội đời”.
Tiếng chuông “cứu rỗi”
nơi giáo đường
Ngoài tiếng chuông “giải
thoát”, nơi cửa thiền, thì có một lần trong thơ Nguyễn Bính tiếng chuông “cứu rỗi”
nơi giáo đường đã được gióng lên, đúng lúc 12 giờ trưa – “Chuông ngọ”.
Bài thơ mở đầu bằng “lạy
Chúa” (Jê-su-ma, lạy Chúa tôi!), vốn là câu cửa miệng của mỗi con chiên ngoan đạo:
“Lạy Chúa con xin chúa một giờ”. Vì sao lại phải xin chúa cái giờ ấy? Vì “Mười
hai giờ ngọ của tình xưa/ Chúng con hai đứa Uyên và Bính/ Thường hẹn hò nhau mỗi
buổi trưa”. Hai đứa hẹn hò nhau cái gì ở mỗi buổi trưa ấy? “Khi
bóng cây xanh trước ngõ tròn/ Là giờ hắn sẽ nhớ thương con”. Thì ra,
đây là câu chuyện của “tình xưa” tác giả hồi tưởng lại. Theo đó, Bính hẹn hò với
người yêu tên Uyên, cứ đến giờ ấy, tức giờ Ngọ, giờ “bóng tròn” chuông đổ, là
hai đứa giáp mặt nhau. Còn nếu không gặp được thì cũng “nhớ thương nhau”, dành
tình cảm cho nhau, cùng ngước nhìn lên nơi cao xanh mà cầu nguyện cho linh hồn
của một tình yêu đã tan vỡ.
Vấn đề ở đây là, tại sao
họ lại hẹn nhau ở 12 giờ trưa giữa thanh thiên bạch nhật, mà không phải là lúc
đêm buông. Khi bóng tối (không với nghĩa vụng trộm), chẳng đã là, vẫn luôn là,
và muôn thuở là “đồng minh” đáng tin cậy của tình yêu!
Bất cứ ai, nhất là dân xứ
đạo cũng biết rằng, nơi nào có nhà thờ, nơi đó có tiếng chuông. Tiếng chuông
nhà thờ, cũng như tiếng chuông chùa, được người có đạo xem là rất linh thiêng
và tôn quý. Vì nó hằng nhắc nhở tín hữu Ki-tô hãy hướng tới Thiên Chúa, hãy mến
Chúa – yêu người, yêu như Chúa yêu. Hãy tin tưởng rằng Chúa vạn năng sẽ ra tay
cứu rỗi, nếu ai đó gặp chuyện khúc mắc trên đường đời. Ba lần mỗi ngày, đã
thành lệ chuông nhà thờ sẽ vang lên vào đầu buổi sáng, giữa buổi trưa và cuối
buổi chiều, ứng với ba lần báo giờ Kinh Truyền Tin. Còn như lời Thánh Vịnh
trong kinh Cựu Ước thì “Sớm trưa chiều, tôi than sầu rên rỉ, Người sẽ nghe tiếng
tôi”. Với người con trai trong bài thơ này, nỗi đau tình yêu tan vỡ như là cộng
hưởng với nỗi đau của Chúa Jêsu khi chịu nạn treo mình trên cây thập giá: “Khi ấy
là giờ Ngọ, mà cả và trời đất liền tối tăm mù mịt, mặt trời xem chẳng đang,
Chúa sinh nên muôn vật chịu nạn cùng chịu xấu hổ dường ấy” (Lời kinh ngắm nguyện
mùa thương khó).
Vì đã hẹn ước với nhau
như vậy, nên nay đúng giữa trưa khi nghe thấy “Chuông ngọ, từng hồi
chuông ngọ đổ/ Từng hồi chuông ngọ đổ chơi vơi”, thì cái nỗi đau xưa lại
như sống dậy. Cụm từ “chuông ngọ” được tác giả láy đi láy lại nhiều lần, khiến
ta như liên tưởng đến cảnh chuông nhà thờ đổ liên hồi, hết lớp này đến lớp khác
dội vào lòng kẻ thất tình. Thế nên trong giây phút “cách mặt khuất lòng” tuyệt
vọng ấy, chàng trai tìm đến với Chúa “Con nghe chuông đổ rồi con khóc/
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!”. Vừa cầu Chúa trong đau xót, luôn thể anh ta
cũng thầm trách móc đấng bề trên tối cao “Cái hôm hắn bước lên xe cưới/
Khóc lả người đi Chúa biết không?”. Chúa lòng lành, chúa vạn năng, sao Chúa
lại không biết đến nỗi đau bị đoạn tình của chúng con mà ra tay cứu rỗi?
Bài thơ kết thúc bằng hai
câu cùng với một dấu than “Chúng con ngoại đạo hay ngoan đạo/ Vẫn biết
và tin có “Chúa lòng!”. Tình yêu của đôi trẻ chớm nở ở buổi ban đầu với
phép màu của nó đủ vượt qua mọi khác biệt tôn giáo và văn hóa nhưng không vượt
qua được thành kiến của người đời. Ở bài thơ này, có thể hiểu là cha mẹ Uyên đã
ép nàng phải lấy người nàng không yêu, vì chắc người đó giàu sang, danh vọng
hơn Bính. Vậy nên mới có cảnh nàng “khóc lả người đi” lúc nên xe cưới về nhà chồng.
Tuy nhiên, cứ theo văn cảnh
bài thơ thì dù bị đoạn tình, nhưng hai người vẫn dành cho nhau một khoảng tình
cảm, ấy là giờ Ngọ “là giờ hắn sẽ nhớ thương con”. Bính là kẻ ngoại đạo, song
cũng như Uyên người có đạo, vẫn “biết” và “tin” có “Chúa lòng”. Chúa lòng là
“Chúa lòng lành” mà cũng có thể hiểu rằng đó là Chúa trong lòng của hai ta. Vì
như ai đó bảo rằng, tình yêu cũng là một thứ tôn giáo mà “em”, hay “nàng” chính
là Chúa tể của tôn giáo ấy. Ngẫm ra cũng thấy có lý.
Hồi chuông ngọ, gióng lên
một lần duy nhất trong thơ Nguyễn Bính, từ lâu đã tắt tiếng. Bính và Uyên thì từ
lâu cũng đã thành người thiên cổ. Song dư âm, cùng dư chấn của nó thì còn đồng
vọng mãi trong thơ và lan tỏa trong lòng bạn đọc. Tiếng chuông ấy chẳng những
thi vị hóa mà còn thiêng liêng hóa tình yêu – cái thứ tình cảm cao đẹp nhất, mà
Thượng đế đã ban cho con người. Không thể không tin rằng lời nguyện cầu hợp nhất
trong cùng một đức tin, cũng như tình cảm chan chứa, chân thành, trong trắng của
đôi trẻ, nhất định sẽ nhận được sự thưởng thưởng xứng đáng, cùng sự an ủi, cứu
rỗi nơi Thiên giới.
Bài thơ “Chuông
ngọ” chẳng biết đích xác Nguyễn Bính viết khi nào, ở đâu, em Uyên có
phải là nàng Tú Uyên trong “Người con gái ở lầu hoa không”? Song, ở
bài “Trường hận ca”, viết cuối năm 1943, Nguyễn Bính vẫn không
thôi “khóc” nàng: “Cây nào cũng đứng bóng trưa/ Chuông nào cũng đổ trúng giờ
mười hai/ Rừng nào cũng nở hoa mai/ Nơi nào cũng có hai người yêu nhau/ Nhưng
mà bất cứ ở đâu/ Riêng tôi vẫn đắp mối sầu thành non/ Vẫn hằng khóc phấn than
son/ Vì trong thiên hạ không còn Tú Uyên”. Không còn Tú Uyên,
không còn người con gái ở lầu hoa, thì chỉ có nhà thơ khóc người trong mộng, chứ
thiết nghĩ thiên hạ vốn vô tâm, vô tình, như nàng Thúy Vân năm xưa trách chị
Thúy Kiều là “nực cười” vì “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”!
Song, cho dù Uyên là ai,
thì điều đó có gì quan trọng. Chỉ biết rằng, với Chuông ngọ, ta được thấy thêm
một góc thơ tình nhuốm màu tâm linh Thiên chúa giáo khá độc đáo của Nguyễn
Bính.
Nếu như nhà chùa, nhà thờ,
là chốn tâm linh của cả cộng đồng làng, thì bàn thờ gia tiên là góc tâm linh của
mỗi gia đình người Việt. Đã là người Việt thì ở đâu, đi đâu cũng có ban thờ gia
tiên, dù đó là sơn son thếp vàng của người có điều kiện, hay đơn sơ giản dị của
người nghèo khó. Ngay cả ở những gia đình Công giáo thời nay, bên cạnh bàn thờ
Chúa thì vẫn có bàn thờ gia tiên. Đấy chính là biểu hiện của triết lý “nhập gia
tùy tục”. Nghĩa là để ngự tại bền vững thì Công giáo của trời Tây cũng phải
thích ứng với tín ngưỡng bản địa phương Đông, phía trời Nam. Chốn thừa tự, hay
góc tâm linh này, cũng có mặt trong thơ Nguyễn Bính không phải chỉ một lần.
Trong bài thơ dài “Lỡ
bước sang ngang” không phải vô tình mà Nguyễn Bính lặp lại hai lần lời
người chị dặn dò em trước khi giã biệt gia đình bước chân về nhà chồng “Em
ơi em ở lại nhà/ Vườn dâu em đốn mẹ già em thương”. Trong cái “trăm đường
xót xa” của người chị thì cái xót xa nhất là “Miếu thiêng vụng kén người
thờ/ Nhà hương khói lạnh chị nhờ cậy em”.
Vì sao người chị lại phải
hạ mình nhờ cậy em như vậy?
Là người Việt, ai cũng biết
rằng giữ gìn mồ mả và thờ cúng người thân đã khuất được xem là việc hệ trọng và
thiêng liêng vào hàng bậc nhất. Vậy nên bàn thờ gia tiên, nơi diễn ra “hương
khói” là góc thiêng của mỗi gia đình. Hương khói cùng những lời cầu khấn trong
ngày giỗ, tết hay tuần tiết, là sợi dây vô hình chắp nối, cộng thông giữa cõi
dương và cõi âm, giữ người trần với thần linh. Vậy nên nếu để bàn thờ lạnh
hương khói trong ngày tuần tiết, giỗ tết là chuyện không thể chấp nhận, là vô
phúc, là đại bất hiếu.
Chuyện hương khói nơi bàn
thờ ấy thường là do người mẹ lo liệu. Song, nay mẹ đã già yếu vì đã trải qua
nhiều “một nắng hai sương” thì đương nhiên sẽ là bổn phận của chị. Ấy thế mà
nay chị lại “sang ngang”, nên muốn ký thác lại cái nghĩa vụ, cái bổn phận lẽ ra
là của mình cho em. Ngoài chuyện chăm vườn dâu, phụng dưỡng mẹ già thì em sẽ
thay chị săn sóc, phụng thờ cái “miếu thiêng” ấy. Thiết nghĩ, tâm trạng chị dặn
em này chẳng khác mấy với tâm trạng “trao duyên” của nàng Kiều xưa, dù khác
nhau về hoàn cảnh, về duyên cớ. Nàng Kiều xưa “Dùng dằng khi bước chân
ra/ Cực trăm nghìn nỗi dặn ba bốn lần”, còn người chị nay thì cũng dùng dằng
không kém vì “Một vai gánh lấy giang san/ Một vai nữa gánh muôn ngàn nhớ
thương”. “Giang san” ở đây là giang san nhà chồng mà mình sẽ ghé vai vào,
muôn vàn nhớ thương là ngoái nhìn lại nhà mình, lo cho chuyện hương khói nơi cửa
nhà mình.
Cái sự linh thiêng của
bàn thờ gia tiên trong ngày tết còn được Nguyễn Bính khắc họa trong hình ảnh bà
mẹ quê trong bài “Cái tết của mẹ tôi”. Nếu để ý ta thấy hình ảnh người mẹ xuất
hiện trong thơ Nguyễn Bính lần nào cũng đẹp, song ấn tượng nhất là những ngày
xuân tết. Bà tiêu biểu cho sự đảm đang, chu đáo, của người phụ nữ Việt truyền
thống đã thành chuẩn mực. Để chuẩn bị cho ngày tết, từ lâu mẹ đã nuôi lợn, trữ
gạo, mo gói bánh, rồi thì lau rửa bàn thờ, đi chợ tết, đồ xôi, giết gà, làm cỗ,
dặn con…
Nguyễn Bính chỉ kể, chỉ tả,
song với bút pháp tự sự bậc thầy, mà hình ảnh bà mẹ quê hiện lên mới đẹp làm
sao. Đẹp ngay trong dáng vẻ tất bật tần tảo chợ búa, bếp núc. Đẹp trong cái nền
nếp đạo đức cổ truyền Á-đông: “Suốt đêm giao thừa, mẹ tôi thức/ Lẩm nhẩm
câu kinh Đức Chúa Ba”. Nhưng đẹp nhất là hình ảnh bà vào sáng mồng một Tết
Nguyên đán, thể hiện trong cái đi nhẹ nói khẽ, rất mực giữ gìn, thành kính trước
bàn thờ gia tiên nhà chồng, cũng là nhà mình:
Mẹ tôi thắt lại chiếc
khăn sồi,
Rón rén lên bàn thờ ông
tôi
Đôi mắt người trông thành
kính quá
Ngước xem hương cháy đến
đâu rồi
Hình ảnh của ông bố cũng
cũng rất đẹp, song vì đây là “cái tết của mẹ tôi” nên “thầy tôi” chỉ xuất hiện
trong một khổ thơ với vai trò khá khiêm tốn của người “giải quyết khâu oai”. Là
trụ cột tinh thần của gia đình, lại là người có chữ nghĩa, mà là thứ chữ của
Thánh hiền, nên việc của ông là “lấy một tờ hoa tiên/ Bút lông dầm mực,
viết lên trên/ Trên những gì gì, tôi chẳng biết/ Giữa đề năm tháng, dưới đề
tên”. Có lẽ đây là một bài thơ “khai xuân” viết theo lối chữ thảo, có cả
dòng “lạc khoản” để dán lên cột, hay đặt ở ban thờ cạnh mâm ngũ quả, cặp bánh
chưng.
Ta sẽ càng trân trọng,
yêu quý tác giả cái tết của mẹ tôi, nếu biết được rằng Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ
khi ông mới ba tháng tuổi “Còn tôi trời bắt làm thi sĩ/ Mẹ chết khi
chưa kịp bạc đầu”. Ông sống được và làm thơ là nhờ sự bú mớm, cơm cháo của
người thân và hàng xóm “Còn tôi sống sót là may/ Mẹ hiền mất sớm trời đầy
làm thơ”. Vậy nên, không lạ gì khi hình ảnh mẹ ông là sự “tổng hòa” hình ảnh
của các bà mẹ Việt truyền thống, đẹp người đẹp nết, đầy chất lý tưởng. Phải là
những người yêu quê, yêu cội nguồn, giàu tâm linh lắm mới có thể khắc họa lên
hình ảnh người mẹ bình dị mà giàu sức chứa, sức gợi, làm rung động lòng người
lâu dài đến vậy. Cứ mỗi khi năm mới đến, người ta lại “thỉnh” Nguyễn Bính, thỉnh
Đoàn Văn Cừ về trên những trang báo Xuân, trong đó thế nào cũng có bài “Cái tết
của mẹ tôi” và “Chợ Tết”.
Nguyễn Bính không là Phật
tử, không có thơ thiền. Nguyễn Bính cũng không phải là một Ki-tô hữu, không
rành Thánh kinh. Vậy mà trong thơ ông đã nhiều lần xuất hiện tiếng chuông từ bi
cứu khổ, và hơn một lần tiếng chuông thánh thiện cứu rỗi. Ông xa quê, xa gia
đình từ sớm, song không xa bàn thờ gia tiên trong tâm tưởng. Điều này chứng tỏ
trong Nguyễn Bính thường trực có một cõi tâm linh ẩn sâu, chỉ chờ có dịp chạm đến
là nó thức dậy, ngân lên, cộng hưởng.
Thiết nghĩ, người đời yêu
Nguyễn Bính, thuộc thơ Nguyễn Bính vì nhiều lẽ, song trước nhất bởi ông là “thi
sĩ của thương yêu”, mà tâm linh là cái góc trong trẻo, thánh thiện và nhân văn
nhất trong thơ ông.
25/2/2024
Phạm Công Trứ
Theo https://vanhocsaigon.com/
"Trôi" - Vùng nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
"Trôi" - Vùng nhà
văn
Nguyễn Ngọc Tư
Từ những năm đầu thập
niên 2000, Nguyễn Ngọc Tư đã ghi dấu ấn trên văn đàn. Cùng với nhiều thế hệ cầm
bút khác nhau, có thể nói, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã góp phần ít nhiều làm
phong phú, sôi động văn học Nam Bộ trong đời sống văn học nước nhà buổi đương
thời – nhất là, đã giúp bạn đọc gần xa hiểu thêm, yêu mến hơn những tác phẩm
văn chương đậm đà bản sắc văn hóa Nam Bộ. Trôi – tập truyện mới
nhất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư vừa được nhà xuất bản Trẻ ấn hành quý IV năm
2023 – cho thấy, nhà văn Cà Mau này đã và đang tiếp tục miệt mài cùng chữ
nghĩa; cũng như tiếp tục mở rộng biên giới sự nghiệp văn chương của mình.
1.
Trôi –
tập truyện mới nhất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư – quen mà lạ. Chất Nam Bộ (biểu
hiện ở giọng điệu, ngôn từ) trong tập truyện này vẫn còn đậm đà nhưng bạn đọc
cơ hồ thấy quá trình “đô thị hóa” trong quan niệm nghệ thuật, tư duy nghệ thuật
và tất nhiên cả trong bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư. Quen phần vì có dấu
vết hình bóng những nhân vật mà bạn đọc đã biết (như hình tượng người đàn bà
ngoại tình) nhưng lạ vì dường như làn sương bí ẩn, thủ pháp mờ hóa, khuynh hướng
huyền ảo khiến cho văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư dao động giữa hư và thực, giữa thực
và hư; khiến cho trang viết của cô không còn nhắm đến việc kể một câu chuyện mà
nhằm tạo ra một cảm thức, một trạng thái liên miên nghĩ tưởng nào đó khi đối diện
với các “vấn đề” đời sống do cô đề cập đến. Kể không phải để cho thành chuyện,
kể để tạo ra cảm giác. Và, cảm giác này, nên được hiểu là thứ trạng thái thuộc
về tầng sâu, trạng thái nhập nhằng giữa ý thức – tiềm thức – vô thức.
“Mơ người” – câu chuyện
khoác lên vẻ bí ẩn như hành trình phá án, như thể loại trinh thám. Nhưng, đúng
hơn, đó là hành trình đi sâu vào tâm lý, khám phá miền u uẩn trong tâm hồn con
người. Những con người bí ẩn, kỳ quặc, thậm chí biến thái (như nhân vật Tường).
Kiểu nhân vật này dường như báo hiệu một “đại dịch” u buồn của nhân tính. Nguyễn
Ngọc Tư không quy kết, chẳng lý giải và hình như, cũng không nghĩ đến việc lý
giải hành vi kỳ lạ của Tường khi lẻn vào nhà người khác chỉ để nhìn người ta ngủ.
“Ngắm thật lâu những người ngủ sâu, ta có thể nhìn thấy giấc mơ của họ”
(tr.18). Không giải thích cho hành động kỳ quặc đó, Nguyễn Ngọc Tư chỉ lặng lẽ
nhớ lại, rà soát lại những kỷ niệm. Cuộc sống của nhân vật xưng anh, với Tường,
với dượng Lê và người mẹ tự dưng một ngày biến mất không rõ tung tích. Tất cả
những nhân vật trong truyện Mơ người đều hư vô, không đầu đuôi. Dường như Nguyễn
Ngọc Tư không chuyển tải hiện thực cuộc sống nào, cô chỉ muốn tạo ra một cảm thức
mơ hồ về cuộc sống. Ngôn từ của Nguyễn Ngọc Tư như thể thôi miên! Trôi, vì thế,
chính là cảm thức trôi!
2. Trôi –
mà có lẽ, nhiều tác phẩm sau này của Nguyễn Ngọc Tư – cơ hồ đều là những phát
hiện. Truyện là chuỗi trần thuật của những phát hiện ấy. Thế nên, đọc Trôi cần
nhấn nhá, nghiền ngẫm, thấm ngấm… Những chi tiết được tác giả phát hiện phần
nhiều đều là những gì mà cô đã ngộ ra được giữa dòng đời. Con người – hay những
dạng sống nào khác nói chung, thí dụ như lục bình – đều là những sinh vật mắc kẹt.
Đến nỗi, sống tức là mắc kẹt. “Sau này khi bụi lục bình mắc kẹt vào chính nó
(trên đường đi nó sinh con đẻ nhánh, kết cụm kết bè và rồi tự cầm tù mình trong
một con kinh nào đó), anh nhớ lời của vợ, rằng mắc kẹt là chung cuộc được mặc định,
không ngoại lệ nào, kể cả những thứ có sinh mệnh nổi trôi” (tr.24). Nếu chỉ vin
vào nhân vật, cốt truyện, … e rằng bạn đọc khó phát hiện thông điệp của tác giả.
Thế nhưng, trong suốt quá trình tiếp nhận, bạn đọc sẽ thường xuyên rơi vào những
chi tiết mang tính phát hiện và bộc lộ nhãn quan của người viết về đời sống, về
con người, về chính mình. Có lẽ, thông điệp và tư tưởng của tác phẩm chính là ở
những chi tiết như thế!
Nhưng, cách Nguyễn Ngọc
Tư gửi thông điệp không phải như cách người ta nghĩ có đầu có đuôi. Cảm giác,
cô chỉ gửi một nửa thông điệp! Những chi tiết, những suy ngẫm như thế chỉ trưng
ra đó, nửa phần bí ẩn, nửa phần dở dang. Loại thông điệp để cảm chứ không phải
để suy lý. “Chẳng cuộc trôi nào là vô tình hết, bản thân sự nổi trôi là thông
điệp, tín hiệu, thư mời của chân trời. Sớm hay muộn thì cũng có kẻ nhận lời”
(tr.39). Cuộc đời “ông cố” của đứa chắt trong truyện “Khởi đầu của gió” và
hàng loạt thanh niên trong làng được nhà văn so sánh với hàng loạt đồ vật trôi
nổi xô dạt vào bãi biền. Sống cho thành đời tức là sống như là trôi dạt. “Nước
lớn ròng để lại trên bùn nhão vô số những món đồ trôi dạt. Cố nhìn vào chúng,
đoán xóm mình nằm ở giữa biển và thị tứ nào đó, chỉ không rõ khoảng cách với
hai nơi nọ bao xa” (tr.38). Bến bờ không quan trọng, không nghĩa lý, chỉ có sự
trôi dạt từ bến này sang bãi nọ mới đáng kể, đáng chú ý.
Chính vì vậy, Ngọc Tư
không lôi kéo sự chú ý của độc giả vào nhân vật và suy nghĩ của nhân vật mà lôi
kéo sự chú ý của bạn đọc vào cuộc trôi dạt của nhiều thứ khác nhau: con búp bê
hư, trái banh da, chiếc dép, kẹp cài tóc, bông bần, trái mắm, ông nược, cái
chân giả,… cho tới mỗi con người trong cái xứ sở nào đó cũng lần lượt rời quê,
rời khỏi bến bờ ban đầu để trôi dạt về muôn ngàn phương hướng. Đời tức là trôi
dạt và cũng vì vậy, người ta hay nói cuộc đời ba chìm bảy nổi chín lênh đênh,
thực có lý lắm! Và, thường thì, không ai biết từ đâu mà trôi đến đây, cũng
không ai biết đời mình sẽ trôi về đâu – về đâu…? Đó là huyền nhiệm của đời
chăng!
3. Truyện “Trôi” trong
tập cùng tên dễ khiến người ta liên tưởng đến cảnh sạt lở ngày càng xảy ra phổ
biến ở khu vực miền Tây Nam Bộ. Nhiều bản tin đề cập nhà này nhà nọ chỉ ngủ đêm
sáng đã mất trắng gia tài sự sản. Những vạt đất ven sông, kinh, rạch dần dà
trôi tuột vào lòng nước, biến mất, tiêu tan. Nhưng liệu có phải Ngọc Tư đề cập
chuyện thời sự xã hội. Khó nói! Nhưng có thể thấy, “Trôi” trong
tập cùng tên khiến bạn đọc lờ mờ nhận ra bóng hình quê hương tan rã. “Ông già
Ba Hào, người cả đời không ra khỏi nhà vì chẳng nỡ xa mớ của cải chồng chất
quanh mình, cũng đành chịu trôi trên cái ghế cẩn xà cừ, khóc nấc từng hồi khi rẻo
đất ông ngồi cứ chia tách không thôi, mang theo mớ tủ bàn chạm trổ, những món đồ
sứ cổ” (tr.59). Còn Chị Vẹn trôi với đống củi trâm bầu ướt; Tư Điền trôi cùng
cái máy may của vợ; Chương móm trôi với bộ bàn đá có mặt kẻ ô cờ; cậu Chín Cung
thì có qua nhiều thứ không biết trôi theo cái nào; thằng nhỏ Mười Hai thì không
có gì để trôi theo nên trôi một cách bơ vơ;…
Những nền nếp đời sống vốn
có dần dà phân hủy. Lòng người tan rã khiến những khúc sông, những miền quê lần
hồi tan rã. “Nhưng những gì còn sót lại của một cù lao phân rã không là bao.
Vài ba mái nhà lấp ló trên mặt nước, một vài cái lu, những rẻo đất đủ rộng cho
một người ngồi thì cũng có, lại trôi đờ đẫn đằng xa. Mãi mới có mảnh đất trôi gần,
đúng lúc nó rùng mình nứt hai. Nó từng là vườn sau nhà ai đó, mình có thể nhìn
thấy mấy bụi khoai báng lúp xúp cao ngang đầu gối. Cú chia tách tạo vài lượn
sóng vỗ vào vách thẳm bên dưới chỗ mình ngồi” (tr.68). Vách thẳm đó là sự sụp
lún của đời người, là gánh nặng chấp niệm nếu một mai không chống đỡ nổi trọng
lượng của chính nó thì nó sẽ tự sụp đổ. Mỗi người gánh lấy chấp niệm của riêng
mình để từ đó mất dần liên hệ với nhau. Mối liên kết người gãy đổ, tình thân đứt
đoạn, đó là nguồn cơn tan rã. Cuộc sống con người tưởng chừng như bục vỡ.
Cấu trúc đối lập giữa
nhân vật “em” và nhân vật xưng “tôi” trong truyện “Trôi” cơ hồ
tạo ra thế đối lập giữa thực dụng và hư huyễn, giữa mất và còn, giữa cái ăn được
và cái không ăn được. Tưởng chỉ nói bâng quơ, nhưng nếu bạn đọc ngẫm lại, thấy
rằng: không chờ đến lúc tan rã, chẳng chờ đến khi trôi theo dòng nước mới rơi
vào tình thế mất/còn, ăn được/không ăn được, thực dụng/hư huyễn, … mà thường trực
trong đời sống chẳng phải chúng ta vẫn phải liên tục chọn lựa như vậy
sao? “Trôi” chỉ là cái tình thế giúp Nguyễn Ngọc Tư xây dựng để
cuộc sống hiện ra bản chất bộn bề, ngổn ngang, xáo trộn, dịch chuyển thường
xuyên … ẩn chứa trong ấy, lòng người bị căng xé, dồn nén, ép buộc phải trôi về
phía nào đó. Nhưng, cho dù trôi về phía nào thì cũng tức là đánh mất phần còn lại.
4. Ẩn
ức về người đàn bà ngoại tình! Hình tượng người đàn bà trong truyện của nhà văn
Nguyễn Ngọc Tư hoặc thương khổ bởi chồng con; hoặc người đàn bà phụ bạc, dan
díu, ngoại tình. Hình tượng này liệu phản ánh ẩn ức gì trong tâm lý sáng tạo? Hẳn
phải chờ thêm những cứu xét từ khoa phân tâm để minh định rõ hơn. Nhưng, có thể
nói ngay, từ người đàn bà bỏ chồng trong Cánh đồng bất tận cho
đến nay, từ người mẹ bỏ con, người vợ bỏ chồng trong truyện Mơ người và
người đàn bà bỏ chồng trôi theo ông chủ vựa trái cây trong truyện Trôi đều
nhất quán một nghĩa lý: tình người và lòng người thật có những làn sương mờ phủ
muôn vàn sợi khói ảo không thể thấu hiểu cho đến ngọn ngành. “Vợ mình trôi cùng
với ông chủ vựa trái cây bên Láng Sen, cả hai quấn chung trong một tấm vải trải
giường, người ta kể lại vậy, nhưng mình cãi cổ nói với tôi là đi chợ Vàm, đâu
mà qua tận bên mé đó. Em gái lúc ấy hay nhìn vào đầu mình, cười rũ, “đầu đồ ngu
ông mọc sừng kìa”” (tr.65) Và, cái hiện tượng dan díu ấy, đôi khi thấy vậy thì
biết vậy, thật không thể nhất thời đánh giá. Vì khi bạn đọc thử mổ xẻ thì chỉ
càng thấy thêm nhiều ẩn khuất, nhiều ẩn tình đa đoan mơ hồ và khó nói.
Nhìn rộng hơn, bạn đọc sẽ
thấy rằng hình tượng người đàn bà ngoại tình xuất hiện khá nhiều trên văn đàn
thế giới. Lev Tolstoy với Anna Karenina, Gustave Flaubert với Bà
Bovary, Tanizaki Junichiro với Hai cuốn nhật ký, Robert
James Waller với Những chiếc cầu ở quận Madison, Paolo
Coelho với Ngoại tình,… Phải chăng, hình tượng người đàn
bà ngoại tình biểu thị những góc khuất, những mâu thuẫn, những đối nghịch ngổn
ngang vốn có trong tâm khảm con người (bất kể dân tộc, giới tính, tuổi tác).
Và, Nguyễn Ngọc Tư vì thế cũng chẳng ngoại lệ. Hơn ai hết, người cầm bút luôn
là người thường trực đối diện với những đối nghịch ngổn ngang trong lòng mình.
Rồi, khi người cầm bút nhìn ngó cuộc đời, ba đào thế sự càng khiến cho những đối
nghịch nội tại đó trỗi dậy sóng cồn, càng sâu càng tĩnh lặng trên chiều mặt nổi.
Trước khi những nhân vật trong truyện Trôi thực sự trôi theo
con nước thì người tạo nhân vật đã trôi trước đó rồi!
5. Bạn
đọc có thể nhìn thấy sự lạc trôi của Nguyễn Ngọc Tư qua: tốc độ kể, nhịp kể.
Hai biểu hiện này của văn phong Nguyễn Ngọc Tư khiến ta liên tưởng đến về lục
bình bồng bênh trên mặt nước. Hoàn toàn lạc lỏng, hoàn toàn bơ vơ – tâm trí người
cứ trôi vô định – vô định. Vẫn như thế, một cảm thức mà thôi, Nguyễn Ngọc Tư
gieo vào tâm khảm bạn đọc. Và, cảm thức đó, cũng khiến ta cảm giác như đang ở
trong tình thế của những ngày tháng tàn lụi. Kiểu như sống trong những ngày tàn
tháng lụn, dần kết thúc cái gì đó chẳng rõ. “Và khi hồi nhớ những cú rơi ghi được
từ máy quay dính theo bụi lục bình, thử nhét một vài thứ vào bao tải sao cho gần
giống một người trưởng thành, ngắm nó chìm vào lòng hồ, anh bỗng nghĩ có giả lập
được chính xác đến mấy thì cảm giác khi rơi, chới với ấy, thảng thốt ấy, rồi
yên tĩnh ấy, anh không thể nào mô phỏng” (tr.31). Ta bần thần nhận ra: cũng tốc
độ kể, nhịp kể và giọng điệu kể tưởng như tương đồng mà lại khác. Cái cách kể
như thế có thể bạn cũng nhận ra ở Nương trong Cánh đồng bất tận, ở
Đậm trong Giao thừa, ở người đàn bà đuổi theo đám thợ gặt
trong Cái nhìn khắc khoải, … nhưng ở Trôi lại
khác. Bạn nhận ra phong cách tự sự này là phong cách tự sự đang phân hủy. Sự
phân hủy của cảm giác, của tri giác, của tư tưởng, … Trôi ở
đây phải chăng nên được hiểu như ý thức đang dần tàn lụi. Mỗi truyện ngắn trong
tập Trôi đều kết thúc trong im lặng, chưng hửng, hụt hẫng, hoặc
không gì cả.
Mỗi truyện trong tập Trôi đều
có tính độc lập tương đối. Thế nhưng, giữa chúng, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư chìa
ra một chi tiết bé xíu để bạn đọc thấy rằng giữa các truyện trong tập thống nhất
và liên đới với nhau. Phải chăng, cuộc sống cũng thế thôi, cũng chỉ là một cuộc
đời chung chung. Nói rằng tách rời nhau cũng không phải, nói rằng dính líu với
nhau cũng không đúng, mà chỉ là những liên kết mơ hồ (ví dụ như người vợ trong
truyện “Giữa đây và kia” là người mẹ bỏ chồng bỏ con ra đi không một
lý do trong truyện “Mơ người”). Có thể hơi vội vàng và cần thêm cứu
xét, nhưng ta có thể nói Nguyễn Ngọc Tư đang dần dịch chuyển đến chặng đường
khác trên con đường văn chương của mình.
Chí ít, từ Biên sử nước đến Trôi, độc
giả có thể nhận ra một Nguyễn Ngọc Tư khác. Trong hình thức văn chương phảng phất
nhiều dấu ấn của chặng đường trước, nhưng có một nhà văn Nguyễn Ngọc Tư khác đã
dần hình thành từ tư duy nghệ thuật đến quan niệm nghệ thuật về thế giới và
quan niệm nghệ thuật về con người. Điều đó cho thấy: sự dịch chuyển về hình thức
nghệ thuật theo sau sự dịch chuyển về tư tưởng nghệ thuật. Tập truyện Trôi của
nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, khiến người đọc nhận ra: đời sống vốn khó lòng cắt
nghĩa. Một khi thực hiện việc cắt nghĩa tức là đã thiên lệch mất rồi. Có lẽ, bởi
vậy, tác giả trong tập truyện này chẳng khi nào cắt nghĩa, đánh giá, phán đoán
đời sống. Nhà văn nữ họ Nguyễn chỉ đóng vai người quan sát, ghi nhận và tường
thuật. Chuyện vậy, thì kể ra vậy; người đọc hiểu sao hiểu. Quyền hiểu đó, nhà
văn Nguyễn Ngọc Tư trao lại cho người đọc. Chẳng phải cuộc sống vốn dĩ thế sao!
Cùng hoàn cảnh, người này nói khác và người kia, có khi nói khác. Sự khác nhau
của đời, hóa ra chỉ là sự phản ánh cái khác nhau ở tâm người mà thôi!.
27/2/2024
Trần Bảo Định
Theo https://vanhocsaigon.com/
Giai thoại không chỉ mình ta biết
Giai thoại không chỉ mình ta biết
Tự tạo ra giai thoại thì
bao giờ cũng cần một sắc độ mờ, một mức độ chồng lấn, còn sự sáng rõ sẽ xua tan
mất huyền thoại. Truyền thuyết và giai thoại có nhiều dị bản sẽ tạo ra huyền
thoại. Đứng ở sau màn sương huyền thoại, đối tượng có khả năng trở nên siêu
phàm.
1. Nhiều thế hệ người đọc Việt
Nam đã đọc truyện Người đầu bếp già của K. Paustovsky, nhưng vẫn
xin kể lại vắn tắt.
Ông đầu bếp già đang hấp
hối và muốn được xưng tội với một ai đó, không phải là thầy tu. Cô con gái ra
trước cổng, mời được người đầu tiên đi ngang qua. Ông già xưng tội xong, và
mong ước được thấy lại người vợ thời thanh xuân, khi họ lần đầu gặp gỡ. Điều ao
ước như không tưởng được vị khách qua đường sẵn lòng thực hiện. Vị khách ngồi
xuống chiếc đàn dương cầm và chơi một bản nhạc. Âm nhạc đó khiến ông già thấy lại
cảnh sắc khu vườn và mặt trời mùa xuân cùng người con gái mà ông yêu. Âm nhạc
làm được tất cả. Trước khi nhắm mắt, câu cuối cùng ông già hỏi tên vị khách.
Thì ra đó là nhạc sĩ thiên tài Mozart.
Phải kể lại sơ lược kiệt
tác nhỏ của Paustovsky vì sau khi truyện ra đời vào thập niên 1930 thì việc sao
chép nó trở nên quá phổ biến. Chỉ tính riêng ở Việt Nam đã có cả mấy thế hệ mê
Paustovsky và có một số người viết mô phỏng lối viết của ông mà thành mấy ông
Pau tầm cỡ Việt. Có cả những câu chuyện mượn hồn của nó mà đắp ra ngoài “tấm da
hàng thịt” như truyện Người trồng hoa và chàng tu sĩ.
Bây giờ ta thử đọc một
giai thoại đời mới: một đêm giao thừa có chàng nhạc sĩ xa quê đi một mình trên
đường, rồi được một gia đình nào đó mời vào vui tết cùng họ. Nỗi niềm xa xứ âm ỉ
trong lòng chàng được dịp bùng ra. Chàng ngồi vào bên chiếc dương cầm và cứ thế
ứng tác một ca khúc mới. Gia đình nọ hoan hỉ tấm tắc tụng ca bài hát đã nói
đúng nỗi lòng cô quạnh đêm đông. Họ hỏi tên và lúc ấy mới biết tên chàng, về
sau là một nhạc sĩ danh tiếng. Nhạc sĩ của những ca khúc Việt.
Thao tác đúng kiểu của Paustovsky: một người qua đường vô danh, ghé vào một căn
nhà lạ, xuất thần sáng tác, sức mạnh của âm nhạc tuyệt vời khiến cho người nghe
cảm nhận được những điều tưởng như không thể, đến đỉnh cao của cảm xúc thì mới
tiết lộ danh tính của nghệ sĩ, hóa ra đó là một tài danh.
2. Một người viết khác trước
khi kể giai thoại thì đã cẩn thận bày tỏ tình thân thiết vô cùng với một ca sĩ,
để chứng tỏ chuyện ta sắp kể là kiểu chuyện mắt thấy tai nghe. Một ca sĩ hàng đầu,
thời chiến tranh bỗng nhiên có một người lính đến thăm nhà. Anh lính mang theo
những kỷ vật thời chiến: một chiếc lược làm từ mảnh xác máy bay Mỹ, một cát tút
quả đạn pháo bằng đồng sáng bóng được chế thành bình hoa. Đấy là quà của anh em
trong đơn vị, những người mê giọng hát của ca sĩ, giữa nơi đạn bom khốc liệt, họ
nhớ đến chị. Rồi người lính chia tay ca sĩ, đi vào chiến trường. Từ đó ca sĩ
lưu luyến nhớ về anh, băn khoăn về số phận anh, đã hy sinh hay sau chiến tranh
lưu lạc về đâu…
Phải nói là kiểu giai thoại
này đã có một công thức: nghệ sĩ tình cờ gặp người hâm mộ, người hâm mộ thường
là người lính hoặc công nhân nông dân trong chiến tranh, những công nông binh ấy
được tiếp thêm sức mạnh từ nghệ thuật, rồi họ không bao giờ gặp lại và nghệ sĩ
luôn khắc khoải trong lòng về số phận của họ… Công thức tức là rất dễ chế tác.
Dễ chế tác tức là không phải tốn nhiều tâm lực, không quá công phu. Mà đã thiếu
công phu thì như cách nói bình dân, nó rất… nghĩa lộ.
Những giai thoại như thế,
người viết dễ dãi thường lấp lửng hàm ý mình là người thân của nghệ sĩ, mình được
biết theo kiểu “độc quyền”. Hoặc để tăng độ tin cậy, họ sẽ đổ cho việc chính
nghệ sĩ kể lại câu chuyện này. Cả hai khả năng đều có thể. Người viết hoặc là tự
chế tác, hoặc là nghệ sĩ lúc trà dư tửu hậu đã kể ra. Chuyện trà dư tửu hậu
đúng ra nghe đâu phải bỏ đó, vì nó chưa được chính người nói biên tập lại. Cho
nên việc nghe thế rồi chép lại nguyên xi là hành động hấp tấp và bất cẩn. Nó để
lộ dấu vết hư cấu vụng, nó nôm na, thậm chí là sao chép chuyện của những người
khác nữa có cùng một công thức, một motif.
Riêng cái truyện Người
đầu bếp già là một tác phẩm độc đáo vô song, dập khuôn từ đấy không
còn gọi là sao chép nữa mà phải dùng những lời lẽ nặng nề hơn.
3. Như ở trên đã nói, rất
nhiều khi giai thoại là do chính đương sự thêu dệt ra cho mình. Một tài năng
làm thơ từ thiếu thời, sau này ở độ lão thời, khi thì kể với báo chí là mình được
nhà thơ danh tiếng nọ cho lọt vào mắt xanh, lúc thì lại kể chính mình đã sửa
thơ cho bậc thầy của mình. Đại loại thế, báo chí in ra mỗi báo một phách, độ
vênh là rất đáng kể, nhưng thần đồng biết mà không bao giờ nói lại cho sáng rõ.
Tự tạo ra giai thoại thì bao giờ cũng cần một sắc độ mờ, một mức độ chồng lấn,
còn sự sáng rõ sẽ xua tan mất huyền thoại.
Huyền thoại, đúng vậy.
Truyền thuyết và giai thoại có nhiều dị bản sẽ tạo ra huyền thoại. Đứng ở sau
màn sương huyền thoại, đối tượng có khả năng trở nên siêu phàm.
Một nhà thơ lão thành chẳng
hạn. Càng lão thì hình như ông càng thích nói chuyện giới tính. Ông nói với tờ
báo A rằng ông mê một chị hàng xóm mặc váy yếm từ đầu thế kỷ XX. Ông khi ấy mười
hai tuổi dậy thì. Năm sau ông nói với báo B rằng ông dậy thì năm mười một tuổi.
Năm sau nữa ông nói với báo C dậy thì lúc mười tuổi. Cứ thêm một năm thì ông hạ
tuổi dậy thì xuống, bớt đi một năm. Báo chí không đọc của nhau. Nhà thơ cao
niên dù không nhớ nhớ quên quên cũng cứ để yên thế, không đính chính. Đính
chính thì còn đâu là giai thoại đang có xu hướng hóa thành huyền thoại. Tam sao
thất bản là đặc điểm của huyền thoại. Người tự tạo huyền thoại hiểu hơn ai hết
quy luật này.
4. Huyền thoại sau khi rời bệ
phóng thì nở bung ra như pháo hoa thành nghìn vạn đốm sáng. Nghìn vạn thì không
cái nào giống cái nào, nó luôn có độ sai khác mà người đời không bao giờ thắc mắc.
Tôi từng viết về việc một vị còn kể về hành trình vượt khó thoát nghèo của mình
rằng thời tuổi thơ ở nhà quê không có đèn điện, gia cảnh khó khăn đến mức thiếu
cả dầu thắp sáng. Chú bé muốn học bài ban đêm phải bắt đom đóm bỏ vào một cái lọ
thủy tinh thay đèn. Vị này học gạo nhưng chắc ít đọc sách, bởi nếu có đọc thì
không thể không biết đấy là giai thoại về Mạc Đĩnh Chi ở cuối thế kỷ XIII. Dập
khuôn giống như hệt, chỉ có cập nhật bằng đèn chai thủy tinh, trong khi Mạc
Đĩnh Chi ở thế kỷ xa xưa thì bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng. Đấy là giai thoại chỉ
có thể gắn với một tầm cỡ như Mạc Đĩnh Chi, khó có thể là ai khác. Hoặc nếu có
thì là người đời sau bắt chước tiền nhân mà thôi. Đã là bắt chước thì có trưng
ra cũng chỉ như bức tranh chép lại.
Tạo tác ra giai thoại về
người nổi tiếng. Nếu gia công khéo léo công phu thì cũng được những câu chuyện
lạ, mua vui cũng được một vài trống canh. Nhưng hầu hết đều sơ sài thô vụng và
cũng gây cười, cười vì cái sự đơn giản nôm na, vì cái sự thấy người sang bắt
quàng làm họ.
Nhiều khi cũng chẳng sang
lắm đâu. Một chuyên gia làm giai thoại văn nghệ sĩ kể chuyện nhạc sĩ nọ phổ thơ
của một vị quan chức. Người viết gọi nhạc sĩ là anh xưng em, “thân” mà. Cái ông
làm thơ kia là người yêu trẻ thương dân anh ạ. Ông ấy được hai nhà thơ danh giá
giới thiệu vào hội nhà văn anh ạ. Ông ấy được kết nạp vào hội nhà văn cùng một
đợt với em anh ạ.
Tranh thủ anh ạ để khoe rằng
mình thân với nhạc sĩ, thân với ông thơ, và mình cũng được làm hội viên nhà
văn. Chỉ có điều trèo lên thang hăm hở mà không nghĩ đến lúc phải xuống thang.
Đấy là không biết rằng chỉ sau đó không lâu thì ông thơ thẩn được đôn lên kia
đã phải làm củi vào lò, anh ạ.
Đấy, có rất nhiều thứ ta
tưởng chỉ ta biết, hóa ra nó là kiệt tác ở đâu đó, nó ngấm vào ta và ta tưởng
nó là cái biết của riêng ta.
Có nhiều thứ ta tưởng chỉ
ta biết, hóa ra nó là công thức đại trà.
Có những thứ những người,
ta tưởng là sang, hóa ra không sang đến thế.
28/2/2024
Hồ Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/
Kiếp sau
Kiếp sau
Stephen King là nhà văn
chuyên viết truyện kinh dị người Mỹ. Truyện ngắn “Afterlife” được xuất bản lần
đầu trên tạp chí Tin House số Summer Reading (#56) tháng 6 năm 2013, và được sửa
và in trong tập The Bazaar of Bad Dreams (New York: Scribner, 2015) 193–206.
William Andrews, một nhân
viên ngân hàng đầu tư ở Goldman Sachs, qua đời chiều ngày 23 tháng 9 năm 2012.
Đó là cái chết đã được dự tính; vợ và các con đã trưởng thành của ông ở bên giường.
Tối hôm đó, khi cuối cùng bà cũng cho mình một khoảng thời gian được ở một
mình, tránh dòng họ hàng và khách viếng không ngớt, Lynn Andrews gọi cho người
bạn lâu năm nhất, vẫn sống ở Milwaukee, của bà. Sally Freeman là người đã giới
thiệu bà với Bill, và nếu có ai xứng đáng được biết sáu mươi giây cuối cùng của
cuộc hôn nhân ba mươi năm của bà, thì đó là Sally. “Anh hôn mê gần như cả tuần
rồi – do thuốc – nhưng sau cùng thì tỉnh. Mắt anh mở, và anh nhìn mình. Anh cười.
Mình cầm tay anh và anh hơi nắm chặt lại. Mình cúi xuống hôn má anh. Khi mình đứng
lên, anh đã đi rồi.” Bà đã đợi hàng giờ để nói ra điều này, và nói được nó ra,
bà bật khóc. *** Bà cho rằng nụ cười của ông là dành cho bà cũng là điều tự
nhiên, nhưng sai lầm. Trong lúc ông nhìn lên vợ và ba đứa con đã lớn của mình –
trông họ cao không tưởng, những sinh linh khỏe mạnh sống trong một thế giới mà
ông đang rời bỏ – Bill cảm thấy cơn đau ông chung sống trong mười tám tháng qua
rời cơ thể ông. Nó đổ ra như nước tràn khỏi xô. Vậy nên ông mỉm cười. Với cơn
đau đã đi, không còn nhiều ở lại. Cơ thể ông có cảm giác nhẹ như một sợi bông.
Vợ ông cầm tay ông, vươn xuống từ thế giới cao và khỏe mạnh của bà. Ông còn
dành lại một chút sức lực, và giờ thì ông sẽ dùng hết nó bằng cách siết chặt những
ngón tay bà. Bà cúi xuống. Bà sắp hôn ông. Trước khi đôi môi bà có thể chạm vào
làn da ông, một cái lỗ xuất hiện ở chính giữa tầm mắt ông. Nó không phải lỗ đen
mà là lỗ trắng. Nó lan ra, xóa nhòa thế giới duy nhất mà ông biết kể từ năm
1956, khi ông ra đời tại bệnh viện nhỏ của quận ở Hemingford ở Nebraska. Trong
năm ngoái, Bill đã đọc rất nhiều về hành trình từ sự sống đến cái chết (trên
máy tính của ông, luôn cẩn thận xóa lịch sử để không làm Lynn khó chịu, bà vốn
liên tục lạc quan đến phi thực tế), và trong khi với ông nó đa phần là nhảm
nhí, cái gọi là hiện tượng “ánh sáng trắng” lại có vẻ khá hợp lý. Thứ nhất, nó
được ghi nhận trong mọi nền văn hóa. Thứ hai, nó có một chút uy tín khoa học. Một
lý thuyết ông từng đọc cho rằng ánh sáng trắng là kết quả của việc máu đột ngột
dừng lưu thông đến não. Một lý thuyết khác, thú vị hơn, thừa nhận bộ não đang
tiến hành một hoạt động rà quét toàn bộ cuối cùng trong nỗ lực tìm ra một trải
nghiệm có thể so sánh được với cái chết. Cũng có thể nó chỉ là phản ứng cuối
cùng. Dù nguyên nhân là gì thì Bill Andrews cũng đang trải qua nó. Ánh sáng trắng
xóa nhòa gia đình ông và căn phòng thoáng khí mà từ đó nhân viên nhà xác sẽ sớm
đem thi thể bất động được trùm kín của ông đi. Trong những nghiên cứu của mình,
ông đã trở nên quen thuộc với cụm từ viết tắt TNCT, nghĩa là trải nghiệm cận tử.
Trong nhiều trải nghiệm như vậy, ánh sáng trắng trở thành một đường hầm, đứng ở
cuối là những thành viên đã mất trong gia đình, hay bạn bè, hay thiên thần, hay
Jesus, hay một vị thần nhân từ nào khác. Bill không mong đợi một ủy ban chào
đón. Điều ông mong đợi là phản ứng cuối cùng sẽ mờ dần vào bóng tối của sự quên
lãng, nhưng điều đó không xảy ra. Khi ánh sáng mờ đi, ông không ở thiên đường
hay địa ngục. Ông ở trong một hành lang. Ông nghĩ có thể nó là luyện ngục, một
hành lang được sơn xanh công nghiệp và gạch sàn vừa xước vừa bẩn cũng có thể là
luyện ngục, nhưng chỉ khi nó kéo dài mãi mãi. Hành lang này dài sáu mét dẫn tới
một cánh cửa có tấm biển đề GIÁM ĐỐC ISAAC HARRIS. Bill đứng ở nơi ông vẫn đứng
một lúc, kiểm kê lại mình. Ông đang mặc bộ đồ ngủ ông mặc khi chết (ít ra ông
cũng cho rằng mình đã chết), và đi chân trần, nhưng không có dấu hiệu gì của
căn bệnh ung thư, thứ ban đầu chỉ nếm cơ thể ông, rồi ngấu nghiến đến mức không
còn gì ngoài da bọc xương. Trông ông như trở lại hồi gần chín mươi ký, hạng cân
của ông (phải công nhận là hơi mềm) trước khi ung thư tấn công. Ông cảm nhận được
mông và lưng dưới của mình. Các vết loét giường đã biến mất. Tốt. Ông hít một
hơi thật sâu và thở ra mà không ho. Quá tốt. Ông bước một đoạn xuống hành lang.
Bên trái ông là một bình chữa cháy với một dòng graffito kỳ lạ ở phía trên: Muộn
còn hơn không! Bên phải ông là một bảng tin. Trên đó ghim một số bức ảnh kiểu
cũ có mép răng cưa. Phía trên chúng là biểu ngữ viết tay đề DÃ NGOẠI CÔNG TY
1956! ĐÃ THẬT LÀ ĐÃ! Bill xem xét các bức ảnh, có hình các giám đốc điều hành,
các thư ký, nhân viên văn phòng, và một bầy trẻ con dính đầy kem đang nô đùa.
Có một nhóm đàn ông đang chăm sóc món thịt nướng (một người phải đội mũ hề đầu
bếp bắt buộc), đàn ông và phụ nữ chơi quăng móng ngựa, đàn ông và phụ nữ chơi
bóng chuyền, đàn ông và phụ nữ bơi trong hồ. Đám đàn ông mặc quần bơi nhìn ngắn
và bó gần như khêu gợi với con mắt thế kỷ hai mươi mốt của ông, nhưng rất ít
người có bụng bia. Họ có vóc dáng của những năm năm mươi, Bill nghĩ. Đám phụ nữ
mặc áo tắm một mảnh Esther Williams kiểu cũ, loại áo khiến họ trông như thể
không có mông mà chỉ có một đường cong mịn phình ra phía trên đùi sau. Bánh mỳ
xúc xích đang được tiêu thụ. Bia đang được uống. Mọi người có vẻ đều có một khoảng
thời gian hết sức vui vẻ. Trong một bức ảnh ông thấy cha của Richie Blankmore
đang đưa cho Annmarie Winkler một viên marshmallow nướng. Điều này là vô lý, bởi
vì cha của Richie là tài xế xe tải và ông chưa từng đến một buổi dã ngoại của
công ty trong cuộc đời mình. Annmarie là cô gái ông hẹn hò ở trường đại học.
Trong một bức ảnh khác ông thấy Bobby Tisdale, một người bạn cùng lớp đại học hồi
đầu những năm bảy mươi. Bobby, tự gọi mình là Tiz the Whiz, qua đời vì đau tim
khi vẫn đang ở tuổi ngoài ba mươi. Có lẽ năm 1956 cậu đã ở trên trái đất, nhưng
nhẽ ra mới mẫu giáo hay lớp một, thay vì uống bia bên bờ hồ Gì-cũng-được. Trong
bức ảnh này trông Whiz tầm hai mươi, bằng tuổi cậu khi Bill quen cậu. Trong bức
ảnh thứ ba, mẹ Eddie Scarponi đang đập một quả bóng chuyền. Eddie là bạn thân
nhất của Bill khi gia đình ông chuyển từ Nebraska đến Paramus, New Jersey, và
Gina Scarponi – một lần bị thoáng thấy đang tắm nắng ở sân trước trong chiếc quần
nhỏ trắng mỏng tang và chỉ mặc mỗi vậy – là một trong những tưởng tượng yêu
thích của Bill khi ông còn tập lấy bằng thủ dâm. Người đội mũ hề đầu bếp là
Ronald Reagan. Bill nhìn gần hơn, mũi ông gần như dí lên bức ảnh đen trắng, và
không thể nghi ngờ gì. Tổng thống thứ bốn mươi của Hoa Kỳ đang lật burger trong
một buổi dã ngoại của công ty. Nhưng công ty nào? Và chính xác thì Bill đang ở
đâu? Cơn khoái cảm của ông vì được trở lại lành lặn và không còn đau đớn đang dần
biến mất. Thay vào đó là một cảm giác xáo trộn và bất an ngày càng hiện rõ.
Nhìn thấy người quen trong những bức ảnh này thật là khó hiểu, và việc ông
không biết phần lớn trong số họ cùng lắm chỉ đem lại chút an ủi nhỏ nhoi. Ông
nhìn đằng sau mình, và thấy cầu thang dẫn lên một cánh cửa khác. In trên cánh cửa
này bằng chữ cỡ lớn màu đỏ là ĐÃ KHÓA. Vậy là chỉ còn văn phòng của ông Isaac
Harris. Bill bước xuống đó, ngần ngại, rồi gõ cửa. “Cửa mở.” Bill bước vào. Đứng
cạnh chiếc bàn bừa bộn là một người mặc quần cạp cao rộng thùng thình níu bằng
dây đeo quần. Mái tóc nâu của ông bết vào hộp sọ và rẽ ngôi giữa. Ông đeo kính
không vành. Bốn bức tường được phủ bằng hóa đơn và ảnh gợi cảm khoe chân lỗi mốt
khiến Bill nghĩ về công ty vận tải mà cha của Richie Blankmore làm việc. Ông từng
đến đó mấy lần với Riche, và phòng văn thư trông giống như thế này. Theo tấm lịch
trên tường, hôm nay là tháng 3 năm 1911, chẳng hợp lý gì hơn năm 1956. Bên phải
Bill khi ông bước vào có một cánh cửa. Bên trái là một cánh cửa khác. Không có
cửa sổ, mà chỉ có một đường ống bằng kính đi xuống từ trần nhà và đung đưa trên
một giỏ giặt là Dandux. Chiếc giỏ chất đầy một đống giấy tờ màu vàng trông giống
hóa đơn. Cũng có thể chúng là giấy nhớ. Tài liệu xếp cao hơn nửa mét trên chiếc
ghế đặt trước bàn. “Bill Anderson, đúng không?” Người đàn ông đi ra sau bàn và
ngồi xuống. Không có đề nghị bắt tay. “Andrews.” “Phải. Tôi là Harris. Vậy là một
lần nữa anh ở đây, Andrews.” Với mọi nghiên cứu của Bill về cái chết, nhận xét
này thật ra có ý nghĩa. Và nó khiến ông nhẹ nhõm. Miễn là ông không phải quay lại
như một con bọ hung hay gì đó. “Vậy đây là luân hồi? Chuyện là thế à?” Isaac Harris
thở dài. “Anh luôn hỏi cùng một điều, và tôi luôn trả lời cùng một câu: không hẳn.”
“Tôi chết rồi, đúng không?” “Anh thấy mình đã chết?” “Không, nhưng tôi thấy ánh
sáng trắng.” “Ồ phải rồi, ánh sáng trắng nổi tiếng. Anh ở đó và giờ anh ở đây.
Đợi một phút, chút thôi.” Harris sục sạo giấy tờ trên bàn, không tìm thấy thứ
ông muốn, và bắt đầu mở ngăn kéo. Từ một ngăn ông lấy ra thêm vài tập hồ sơ và
chọn một. Ông mở nó, lật một hai trang, và gật đầu. “Tự nhắc mình chút thôi.
Nhân viên ngân hàng đầu tư, phải không?” “Phải.” “Vợ và ba con. Hai trai, một
gái?” “Chính xác.” “Xin thứ lỗi. Tôi có vài trăm khách hành hương, khó mà nhớ
ai với ai được. Tôi vẫn định xếp mấy tập hồ sơ này theo thứ tự gì đó, nhưng đấy
quả thật là công việc cần thư ký, mà vì họ chưa bao giờ cho tôi một…” “Họ là
ai?” “Không biết. Mọi liên lạc đến qua cái ống.” Ông gõ nó. Cái ống lắc lư, rồi
dừng lại. “Chạy bằng khí nén. Đồ hiện đại.” Bill nhấc đống hồ sơ trên ghế dành
cho khách lên và nhìn người đàn ông đằng sau chiếc bàn, nhướng mày. “Cứ để xuống
sàn,” Harris nói. “Giờ thì thế là được rồi. Thật ra mấy ngày tới tôi sẽ sắp xếp.
Nếu đây là ngày. Cũng có thể là đêm – nhưng ai dám chắc? Ở đây đâu có cửa sổ,
anh cũng thấy đấy. Còn không có cả đồng hồ.” Bill ngồi xuống. “Sao lại gọi tôi
là khách hành hương, nếu đây không phải luân hồi?” Harris nghiêng người ra sau
và chắp tay sau gáy. Ông nhìn lên chiếc ống khí nén, thứ có thể từng là món đồ
hiện đại ở một thời điểm nào đó. Khoảng năm 1911 chẳng hạn, dù Bill nghĩ đến
năm 1956 những thứ như vậy có thể vẫn còn tồn tại. Harris lắc đầu và cười khúc
khích, dẫu không phải một cách thích thú. “Giá mà anh biết các anh đã trở nên tẻ
nhạt đến thế nào. Theo hồ sơ, đây là cuộc gặp thứ mười lăm của chúng ta.” “Tôi
chưa bao giờ đến đây trong đời,” Bill nói. Ông ngẫm nghĩ. “Trừ khi đây không phải
cuộc đời tôi. Đúng không? Đây là kiếp sau của tôi.” “Thật ra, nó là của tôi.
Anh là khách hành hương, còn tôi thì không. Anh và những gã khác diễu đến và diễu
đi khỏi đây. Anh sẽ dùng một trong những cánh cửa kia và đi. Tôi ở lại. Ở đây
không có phòng tắm, bởi vì tôi không còn phải thực hiện các chức năng vệ sinh.
Không có phòng ngủ, bởi vì tôi không còn phải ngủ. Tất cả những gì tôi làm là
ngồi đây và gặp khách du lịch các anh. Các anh đến, các anh hỏi cùng những câu
hỏi này, và tôi đáp cùng những câu trả lời này. Đấy là kiếp sau của tôi. Nghe
thú vị không?” Bill, đã gặp mọi chi tiết thần học trong dự án nghiên cứu cuối
cùng của ông, quyết định rằng ông đã nghĩ đúng trong lúc còn ở hành lang. “Anh
đang nói về luyện ngục?” “Ồ, chẳng ngờ gì. Câu hỏi duy nhất mà tôi có là tôi sẽ
ở đây trong bao lâu. Tôi muốn nói với anh là cuối cùng tôi sẽ phát điên nếu tôi
không thể đi tiếp, nhưng tôi không nghĩ mình có thể làm vậy, chẳng hơn gì chuyện
tôi không thể đi ngoài hay chợp mắt. Tôi biết tên tôi chẳng có ý nghĩa gì với
anh, nhưng trước đây ta đã thảo luận vấn đề này – không phải mọi lần anh xuất
hiện, nhưng nhiều lần.” Ông phẩy tay với đủ lực làm mấy tờ hóa đơn dính trên tường
xao động. “Đây là – hoặc từng là, tôi không chắc thật ra thì thế nào mới đúng –
văn phòng trên trần thế của tôi.” “Năm 1911?” “Đúng thế. Tôi vẫn hỏi anh có biết
sơ mi thắt eo là gì không, Bill, nhưng vì biết anh không biết, tôi sẽ nói anh
nghe: áo blouse nữ.” Hồi đầu thế kỷ, tôi với cộng sự, Max Blanck, sở hữu một
doanh nghiệp gọi là Triangle Shirtwaist Factory. Kinh doanh có lãi, nhưng đám nữ
công nhân lại là cái gai nhọn trong mắt. Lúc nào cũng lẻn ra ngoài hút thuốc,
và – cái này tệ hơn – ăn cắp, rồi chúng nó sẽ giấu trong ví hoặc gài dưới váy.
Thế nên chúng tôi khóa cửa để giữ chúng nó trong ca làm việc, và khám xét lúc
ra về. Chuyện dài nói ngắn là một hôm cái nơi chết tiệt đấy bốc cháy. Tôi với
Max thoát ra bằng cách trèo lên mái và xuống cầu thang thoát hiểm. Nhiều đứa
không may mắn đến thế. Nhưng hãy thành thực mà thừa nhận rằng lỗi là ở chúng
nó. Việc hút thuốc trong nhà máy đã bị cấm nghiêm ngặt, nhưng nhiều đứa vẫn cứ
hút, và chính một điếu thuốc đã làm ngọn lửa bùng lên. Sở cứu hỏa nói vậy. Tôi
với Max phải ra tòa vì tội ngộ sát và được tha bổng.” Bill nhớ lại chiếc bình
chữa cháy trong hành lang, với dòng chữ Muộn còn hơn không in phía trên nó. Ông
nghĩ: Ông bị tuyên có tội trong tòa phúc thẩm, ông Harris, không thì ông đã chẳng
ở đây. “Bao nhiêu phụ nữ đã chết?” “Một trăm bốn mươi sáu,” Harris nói, “và tôi
thương tiếc từng người một, anh Anderson.” Bill chẳng buồn sửa tên mình. Hai
mươi phút trước ông còn đang hấp hối trên giường; giờ thì ông bị cuốn hút trước
câu chuyện cũ ông chưa từng nghe trước đây. Điều đó thì ông lại nhớ. “Không lâu
sau khi tôi với Max xuống cầu thang thoát hiểm, bọn họ ùa lên nó. Cái thứ chết
tiệt đó không chịu được sức nặng. Nó sập và đổ hai chục người từ ba chục mét xuống
mặt đường lót đá. Bọn họ chết hết. Bốn mươi người khác nhảy từ cửa sổ tầng chín
và mười. Một số bắt lửa. Bọn họ cũng chết hết. Đội cứu hỏa có lưới cứu sinh,
nhưng bọn họ rơi toạc qua và nổ tung trên vỉa hè như những túi máu. Cảnh tượng
khủng khiếp, anh Anderson, khủng khiếp. Một số nhảy xuống trục thang máy, nhưng
hầu hết… chỉ… bị thiêu cháy.” “Giống 11 tháng 9 với ít thương vong hơn.” “Các
anh luôn nói vậy.” “Và ông đang ở đây.” “Đúng thế. Đôi lúc tôi băn khoăn không
biết có bao nhiêu đàn ông cũng đang ngồi trong những văn phòng như thế này. Cả
phụ nữ. Tôi dám chắc có cả phụ nữ, tôi vẫn luôn nhìn về phía trước và thấy
không có lý do gì mà phụ nữ không thể ngồi vào những vị trí điều hành cấp thấp,
và làm thế một cách đáng ngưỡng mộ. Tất cả chúng tôi trả lời cùng những câu hỏi
và gửi đến cùng những vị khách hành hương. Các anh nghĩ gánh nặng sẽ nhẹ bớt đi
mỗi lần một người trong số các anh quyết định đi vào cánh cửa bên phải thay vì
cái đó” – ông chỉ sang trái – “nhưng không. Không. Một cái hộp mới đến từ cái ống
– vút – và tôi lại có một gã mới để thay thế gã cũ. Có khi hai.” Ông nghiêng
người về phía trước và gằn giọng. “Đây là công việc khốn nạn, anh Anderson!”
“Là Andrews,” Bill nói. “Và nghe này, tôi rất tiếc ông cảm thấy như vậy, nhưng
chúa ơi, có trách nhiệm một chút với hành động của mình đi! Một trăm bốn mươi
sáu phụ nữ! Và ông đã khóa cửa.” Harris đập bàn. “Chúng nó ăn cắp của bọn tôi!”
Ông nhấc tập hồ sơ lên và lắc lắc về phía Bill. “Xem lại anh đi! Ha! Chó chê
mèo lắm lông! Goldman Sachs! Gian lận chứng khoán! Lợi nhuận hàng tỷ, thuế hàng
triệu! Hàng triệu tiền bẩn! Bong bóng nhà đất nghe có quen không? Bao nhiêu
lòng tin của khách hàng anh đã lợi dụng? Bao nhiêu người đã mất tiền dành dụm cả
đời của họ nhờ lòng lam và sự thiển cận của anh?” Bill biết Harris đang nói về
điều gì, nhưng tất cả (chà… hầu hết) những lời xảo ngôn đó đều vượt quá trách
nhiệm của ông. Ông cũng ngạc nhiên như bất cứ ai khi thế thời đảo lộn. Ông thôi
thúc muốn nói có sự khác biệt lớn giữa chịu cảnh đói nghèo và bị thiêu sống,
nhưng sao phải xát muối vào vết thương? Bên cạnh đó, có lẽ nó còn nghe có vẻ tự
cho mình là đúng. “Đừng nói nữa,” ông nói. “Nếu ông có thông tin tôi cần thì
sao không đưa nó cho tôi. Cho tôi chi tiết về chuyện này, rồi tôi sẽ khuất mắt
ông.” “Tôi không phải cái đứa đã hút thuốc,” Harris trầm giọng ủ ê. “Tôi không
phải cái đứa đã đánh rơi que diêm.” “Ông Harris?” Bill có thể cảm thấy bốn bức
tường như đang siết lại. Nếu phải ở đây mãi mãi mình thà tự bắn mình còn hơn,
ông nghĩ. Chỉ khi nào điều ông Harris nói là đúng, ông mới không muốn, chẳng
hơn gì chuyện ông không muốn đi vệ sinh. “Được, được thôi.” Harris thở phì qua
miệng thành tiếng, nhưng không hẳn là bật môi. “Chuyệnlà thế này. Đi qua cánh cửa
bên trái và anh sẽ được sống đời mình lần nữa. A tới Z. Từ đầu tới kết thúc. Chọn
cánh cửa bên phải và anh biến mất. Phụt. Như ngọn nến trong gió.” Thoạt đầu
Bill không nói gì. Ông không có đủ khả năng để nói và không chắc ông có thể tin
tưởng đôi tai mình. Nó quá tốt để có thể trở thành sự thật. Đầu tiên tâm trí
ông xoay sang em trai Mike, và vụ tai nạn xảy ra khi Mike tám tuổi. Tiếp theo,
sang vụ chôm chỉa ngu ngốc khi Bill mười bảy. Chỉ là đùa giỡn, nhưng nó có thể
đã làm hỏng kế hoạch đại học của ông nếu bố ông không can thiệp và nói chuyện với
đúng người. Chuyện với Annmarie trong nam sinh cư xá… thứ vẫn ám ảnh ông trong
những khoảnh khắc lạ lùng, ngay cả sau ngần ấy năm. Và dĩ nhiên, vấn đề quan trọng—
Harris đang mỉm cười, và nụ cười không một chút dễ chịu. “Tôi biết anh đang
nghĩ gì, bởi vì tôi đã nghe tất cả từ anh trước đây. Về chuyện hồi nhỏ anh và
em trai anh đã chơi trốn tìm như thế nào, anh đóng sầm cửa để nhốt thằng bé ở
ngoài và vô tình làm đứt đầu ngón tay út của nó ra sao. Cái thôi thúc chôm chỉa,
cái đồng hồ, rồi chuyện cha anh đã tác động như thế nào để đưa anh ra—” “Đúng vậy,
không tiền sự. Ngoại trừ với bố tôi. Ông không bao giờ cho phép tôi quên điều
đó.” “Còn cô gái trong nam sinh cư xá.” Harris nhấc tập hồ sơ. “Tên cô ta ở đâu
đấy trong đây, tôi đoán vậy, tôi đã làm hết sức để giữ đống tài liệu dễ thấy –
khi tôi cần tìm – nhưng sao anh không nhắc tôi nhỉ.” “Annmarie Winkler.” Bill
có thể cảm thấy má ông nóng lên. “Đấy không phải cưỡng hiếp, nên đừng nghĩ như
thế. Cô ấy quàng chân qua người tôi khi tôi nằm lên cô ấy, và nếu như thế không
phải là đồng thuận thì tôi chẳng biết thế nào mới phải.” “Cô ta có quàng chân
qua người hai gã đến sau không?” Không, Bill thôi thúc muốn nói, nhưng ít nhất
chúng tôi cũng không thiêu sống cô ấy. Và im lặng. Ông đang chuẩn bị đánh một
cú putt trên sân thứ bảy hoặc đang làm việc trong xưởng gỗ hoặc đang nói chuyện
với con gái (giờ là sinh viên đại học) về luận án tốt nghiệp của con bé, và ông
sẽ tự hỏi giờ này Annmarie ở đâu. Cô đang làm gì. Cô còn nhớ gì về cái đêm ấy.
Nụ cười của Harris dãn ra thành điệu nhếch mép ghẹo gái. Nó có thể là một công
việc khốn nạn, nhưng rõ ràng vẫn có một vài phần ông thích thú. “Tôi có thể thấy
đấy là câu hỏi anh không muốn trả lời, vậy sao chúng ta không bỏ qua nhỉ. Anh
đang nghĩ về tất cả những điều anh sẽ thay đổi trong hành trình tiếp theo của
anh trên chiếc đu quay vũ trụ. Lần này anh sẽ không đóng sầm cửa vào ngón tay của
em trai anh, hay cố đánh cắp đồng hồ ở chợ Paramus—” “Là chợ New Jersey. Tôi
đoan chắc nó có ở đâu đấy trong hồ sơ của ông.” Harris lật phần phật tập hồ sơ
của Bill và tiếp tục. “Lần tới anh sẽ từ chối làm tình với cô bạn gái nửa hôn
mê của anh trong khi cô ta nằm trên sofa trong tầng hầm nam sinh cư xá, và –
cái này quan trọng! – anh sẽ đến thay vì trì hoãn buổi hẹn nội soi, vì giờ anh
đã quyết định – cứ sửa nếu tôi nói sai – rằng bị sỉ nhục vì một cái camera
thông lên lỗ hậu dù sao cũng tốt hơn một chút so với chết vì ung thư ruột kết.
Bill nói, “Nhiều lần tôi đã gần nói cho Lynn biết chuyện ở cư xá. Tôi chưa bao
giờ có đủ can đảm.” “Nhưng có cơ hội, anh sẽ sửa chữa.” “Dĩ nhiên – có cơ hội,
ông sẽ mở khóa cửa nhà máy chứ?” “Chắc chắn tôi sẽ, nhưng không có cơ hội thứ
hai nào cả. Rất tiếc phải làm anh thất vọng.” Trông ông không có vẻ lấy làm tiếc.
Harris trông mệt mỏi. Harris trông buồn chán. Harris trông cũng đắc thắng một
cách hẹp hòi. Ông chỉ vào cánh cửa bên trái Bill. “Chọn cái đó – như anh vẫn
làm vào mỗi dịp khác – anh sẽ bắt đầu lại từ đầu, như một cậu bé ba cân trượt
khỏi tử cung mẹ anh vào đôi bàn tay bác sĩ. Anh sẽ được bọc trong vải thô và
đưa về nhà ở một trang trại ở miền trung Nebraska. Khi bố anh bán trang trại
năm 1964, anh sẽ tới New Jersey. Ở đó anh sẽ làm đứt đầu ngón út của đứa em
trai trong khi chơi trốn tìm. Anh sẽ đến cùng một trường trung học, cùng những
khóa học, và có cùng điểm số. Anh sẽ đến Đại học Boston, và anh sẽ thực hiện
cùng hành vi nửa cưỡng hiếp đó trong cùng tầng hầm của nam sinh cư xá. Anh sẽ
nhìn hai anh em cư xá làm tình với Annmarie Winkler, và dù anh nghĩ anh nên
ngăn chặn điều đang diễn ra, anh sẽ không bao giờ thu đủ dũng cảm đạo đức để
làm như vậy. Ba năm sau anh sẽ gặp Lynn DeSalvo, và hai năm sau nữa anh sẽ cưới.
Anh sẽ đi theo cùng một con đường sự nghiệp, anh sẽ có cùng những bạn bè đó,
anh sẽ có cùng những bất an sâu thẳm về hoạt động kinh doanh của công ty… và
anh sẽ giữ cùng một sự im lặng. Cũng vị bác sĩ ấy sẽ giục anh nội soi đại tràng
khi anh sang tuổi năm mươi, và anh sẽ hứa – như anh vẫn luôn hứa – rằng anh sẽ
để ý đến vấn đề nhỏ nhặt đó. Anh sẽ không làm thế, và kết quả là anh sẽ chết vì
cùng một căn bệnh ung thư.” Nụ cười của Harris khi ông thả tập hồ sơ xuống chiếc
bàn bừa bộn giờ nở rộng gần như chạm đến mang tai. “Rồi anh sẽ lại đến đây, và
chúng ta sẽ lại có cuộc trò chuyện này. Lời khuyên của tôi sẽ là chọn cánh cửa
còn lại và thế là xong, nhưng dĩ nhiên quyết định là của anh.” Bill lắng nghe
trong lúc ngày càng hoảng loạn. “Tôi sẽ không nhớ gì? Không nhớ gì?” “Không hẳn
là không nhớ gì,” Harris nói. “Có lẽ anh đã để ý mấy bức ảnh ở hành lang.” “Buổi
dã ngoại của công ty.” “Phải. Mỗi vị khách đến với tôi đều nhìn thấy những bức ảnh
chụp từ năm sinh của họ, và nhận ra một vài gương mặt quen thuộc giữa những người
lạ. Khi sống cuộc đời mình lần nữa, anh Anderson – giả sử anh quyết định như vậy
– anh sẽ có cảm giác déjà vu khi lần đầu anh thấy những người này, cảm giác như
anh đã sống qua tất cả trước đây. Dĩ nhiên, anh đã sống. Anh sẽ có một cảm giác
thoáng qua, gần như một sự chắc chắn, rằng còn nhiều… có thể nói là chiều sâu
trong cuộc đời anh, và trong sự tồn tại nói chung, hơn là anh tin trước đây.
Nhưng rồi nó sẽ qua.” “Nếu tất cả đều như vậy, không có khả năng cải thiện, thì
tại sao chúng ta lại ở đây?” Harris nắm chặt tay và đấm vào đầu cái ống khí nén
đang treo lơ lửng trên giỏ giặt là, khiến nó lắc lư. “KHÁCH MUỐN BIẾT SAO TA Ở
ĐÂY! MUỐN BIẾT CỐT LÕI LÀ GÌ!” Ông đợi. Không có gì xảy ra. Ông xòe tay chống
lên bàn. “Khi Job muốn biết điều đó, anh Anders, Đức Chúa hỏi Job có ở đó không
khi ngài – Đức Chúa – tạo ra vũ trụ. Tôi đoán anh không cho đó là câu trả lời.
Vậy nên hãy cân nhắc cụ thể vấn đề. Anh muốn làm gì? Hãy chọn một cánh cửa.”
Bill đang nghĩ về ung thư. Cơn đau của ung thư. Trải qua toàn bộ điều đó một lần
nữa… ngoại trừ việc ông sẽ không nhớ mình đã trải qua nó. Vậy đấy. Giả sử Isaac
Harris nói thật. “Không ký ức gì hết? Không thay đổi gì hết? Ông có chắc không?
Làm sao ông dám chắc?” “Vì lúc nào cũng là cuộc trò chuyện này, anh Anderson. Lần
nào cũng vậy, với tất cả các anh.” “Là Andrews!” Ông rống lên, làm cả hai đều bất
ngờ. Bằng một giọng thấp hơn, ông nói, “Nếu tôi cố gắng, thực sự cố gắng, tôi
chắc chắn mình có thể giữ lại gì đó. Ngay cả khi chỉ là chuyện xảy ra với ngón
tay Mike. Và có thể một sự thay đổi cũng đủ để… tôi không biết…” Để đưa
Annmarie tới rạp chiếu phim thay vì tới bữa tiệc thác loạn đó, thế nào? Harris
nói, “Có một câu chuyện dân gian kể rằng trước khi sinh ra, mỗi linh hồn con
người đều biết mọi bí mật của sự sống và cái chết và vũ trụ. Nhưng sau đó, ngay
trước khi sinh ra, một thiên thần cúi xuống, đặt ngón tay lên môi đứa bé, và
thì thầm ‘Shhh.’” Harris chạm vào nhân trung của mình. “Theo câu chuyện đó, đây
là dấu vết mà ngón tay của thiên thần để lại. Mỗi người đều có một.” “Đã bao giờ
ông thấy thiên thần chưa, ông Harris?” “Chưa, nhưng tôi từng thấy một con lạc
đà. Ở vườn thú Bronx. Chọn một cánh.” Trong lúc suy nghĩ, Bill nhớ lại một câu
chuyện họ phải đọc ở trường trung học: “Cô gái và con hổ.” Quyết định này chẳng
hề khó khăn. Mình phải giữ lại chỉ một điều, ông tự nhủ trong khi mở cánh cửa dẫn
trở lại cuộc sống. Chỉ một điều. Ánh sáng trắng của sự trở về bao bọc lấy ông.
*** Bác sĩ, người sẽ bỏ Đảng Cộng hòa và bầu cho Adlai Stevenson vào mùa thu (một
điều mà vợ ông sẽ không bao giờ được biết), cúi gập người xuống như một anh bồi
bàn bày đĩa thức ăn và ngẩng lên bế gót một đứa trẻ trần truồng. Ông vỗ mạnh
lên nó và tiếng thét ré lên. “Bà có một bé trai khỏe mạnh, bà Andrews,” ông
nói. “Trông khoảng ba cân. Chúc mừng.” Bà Andrews đỡ đứa bé. Bà hôn lên đôi má
và vầng trán ướt của nó. Họ sẽ đặt tên thằng bé là William, theo tên ông nội
nó. Khi thế kỷ hai mươi mốt đến, thằng bé vẫn đang ở tuổi ngoài bốn mươi. Ý tưởng
này thật choáng váng. Trong tay mình bà ôm không chỉ một cuộc sống mới mà còn cả
một vũ trụ của những điều khả dĩ. Không gì, bà nghĩ, có thể tuyệt vời hơn.
4/9/2026
Stephen King
Nguyễn Huy Hoàng dịch
Theo
https://vietnamthuquan.eu/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
"Lời gió" của Đậu Hoài Thanh: Rưng rưng câu hát gọi người
"Lời gió" của Đậu Hoài Thanh: Rưng rưng câu hát gọi người Tập thơ “Lời gió” không còn là tiếng nói cá nhân, tâm tư riêng của nữ ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...





