VĂN THƠ NHẠC
Thứ Tư, 21 tháng 10, 2026
Diện mạo thơ Việt đầu thế kỷ XXI
Diện mạo thơ Việt
Giờ đây, khi nhìn lại, chúng ta thấy thế kỷ XX là một thế kỷ đầy những biến động to lớn của văn học Việt Nam nói chung, thơ ca Việt Nam nói riêng. Biến động về hệ hình văn học với sự chuyển đổi từ mô hình văn học trung đại sang hiện đại. Biến động về đội ngũ tác giả. Sau thế hệ “những người muôn năm cũ” với những Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải là thế hệ Thơ mới, thế hệ nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, trong chiến tranh biên giới và rồi tiếp đến thế hệ nhà thơ sinh ra trong hòa bình, độc lập. Biến động về thể loại. Nhiều thể loại đã lui vào ở ẩn trong tháp ngà như Đường luật, song thất lục bát, nhường chỗ cho thơ tự do, trường ca… Trở lại với thực tại, ở cuối thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, chắc hẳn sẽ có nhiều người tự hỏi, vậy diện mạo thơ Việt hiện tại ra sao? Đây là một câu hỏi lớn, rất lớn. Trong khuôn khổ của một bài viết, chắc chắn không thể giải đáp hết được. Dưới đây, chúng tôi chỉ trình bày những nét khái lược nhất.1.
Ý Nhi và những bến bờ của sáng tạo
Ý Nhi và những
bến bờ của
sáng tạo
Trong thế giới này
xuất hiện một nữ thi nhân
với những bài ca
nâng chúng tôi hướng thượng
vượt bản thân lên
cõi tinh thần
đem lửa thếp vàng
vách nhà tù tăm tối
và đem trời cao
vào tận buồng tim
lời tro nguội bỗng
biến thành lửa cháy - HARRY MARTINSON
Những câu thơ trên đây của
Harry Martinson (1904-1978), nhà thơ Thụy Điển được giải thưởng Nobel văn
chương năm 1974, trích từ thiên sử thi khoa học giả tưởng Aniara – về
con người, thời gian và không gian (bản dịch của Hoàng Hưng), nói lên
điều kỳ diệu khi xuất hiện một người nghệ sĩ hát thơ, được tôn vinh làm nữ tư tế
của Thần Ánh sáng. Thơ ca tự nó là một niềm bí ẩn; thế giới vừa mới mẻ hơn, vừa
lạ lùng hơn từ khi có thơ ca, đặc biệt là những câu thơ cất lên từ một tâm hồn
nữ.
Không phải ngẫu nhiên mà
Ý Nhi nhắc lại những câu thơ ấy khi bà trở thành nhà thơ Việt Nam đầu tiên nhận
được giải thưởng Cikada (1), giải thưởng văn học dành cho
các nhà văn châu Á do Thụy Điển thành lập nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của
Martinson. Thật tự nhiên, những câu thơ từ Bắc Âu tìm thấy sự đồng cảm nơi những
nhà thơ Đông Á xa xôi trong quan niệm về điều kỳ diệu của thơ ca, cũng như
trong cách nhìn về sự có mặt của một nhà thơ trong cõi đời này.
1. Ý Nhi đã khởi đầu con đường
dài nửa thế kỷ với thơ ca như thế nào? Đó là khi đôi mắt bé thơ mở
to ngắm nhìn thị xã Hội An thương hồ mà trầm mặc? Đó là nhờ ảnh hưởng của dòng
tộc Huỳnh Quế Sơn, những người đã rời bỏ đô thị Hội An, ngược sông Thu Bồn,
khai thiên lập địa ở nơi rừng thiêng nước độc? Khí phách, niềm tin và sự lãng mạn
đã đem cho họ không chỉ sản nghiệp mà còn là những vần thơ ghi lại trong một
thi tập được lưu giữ từ đời cụ tổ cho đến hôm nay. Đó là khi cô gái mười
tuổi nắm tay mẹ và em giã từ quê hương, lên tàu ra phương Bắc xa xôi? Đó là khi
người thiếu nữ “mặc áo rộng thùng thình và tóc tết đuôi sam” lang thang
trên đất cảng Hải Phòng? Đó là khi mối tình văn khoa chớm nở trong khung trời đại
học Hà Nội? Hay phải đợi cô gái đó lớn lên thành một người đàn bà thì nhà thơ mới
trọn vẹn tìm thấy hình ảnh chính mình?
Những sáng tác đầu tiên của
Ý Nhi trong Nỗi nhớ con đường (NXB Văn Học, 1974, in chung với
Lâm Thị Mỹ Dạ), Đến với dòng sông (NXB Tác Phẩm Mới,
1978), Cây trong phố chờ trăng (NXB Hà Nội, 1981, in chung với
Xuân Quỳnh) có thể xem là những bài thơ Dự cảm. Như những nhà thơ
cùng thế hệ, Ý Nhi cũng khởi đầu con đường nghệ thuật của mình từ những vần thơ
tức cảnh và thuật cảm, với sự tinh tế của nhận biết, sự dào dạt của hình ảnh.
Thiên nhiên ở đó xanh trong như hồn người, cái tôi nhòa lẫn trong lòng thung đầy
bướm, những giọt mưa đọng đầy nhị hoa hay cây bàng vừa nhuốm lửa.
Nhưng từ rất sớm, thơ Ý
Nhi đã xuất hiện những điềm bất tường về đời sống cùng với những dự cảm bất an.
Trong yên bình của hàng cây hoa nở trắng hay những ngôi nhà cao rộng, nhà thơ lại
nghĩ đến một ngày biển động và con thuyền trên biển chơi vơi, đến nỗi lo âu về
con đường xa tít tắp và chân trời ngút mắt. Người con gái mang về từ phố biển
cánh buồm ngoài khơi, tiếng sóng vỗ ì ầm vách đá, tự biết tâm hồn mình không
còn vẹn nguyên như cũ, khi “phố biển giữa lòng em như thác/ sóng gió theo về/
náo động một mùa thu” (Từ phố biển em về).
Những xáo động, âu lo,
run sợ đó dự báo hình ảnh tương lai của nhà thơ, khi cảm hứng và tài năng hình
thành cùng với những biến đổi của đời sống: Đột ngột đến rồi đi cơn rét
cuối mùa/ Cây chanh nhỏ đã bắt đầu tụ quả/ áo con gái đã dần sang mùa hạ/ chỉ
chút gì nán níu của ngày đông. (Tháng Ba). Dù sao,
những biến đổi đó còn mong manh, chưa đủ âm vang trong một cõi lòng ít nhiều
khép kín.
Người đàn bà ngồi
đan (NXB Tác Phẩm Mới, 1985), Ngày thường (NXB
Đà Nẵng, 1987), Mưa tuyết (NXB Phụ Nữ, 1991), Gương mặt (NXB
Trẻ, 1991) là những mốc đánh dấu sự Bừng nở của thơ Ý Nhi. Ở
đây có cả sự bừng tỉnh của ý thức về cá nhân lẫn sự bừng tỉnh của ý thức về thực
tại. Và sự bừng tỉnh đó dẫn đến sự bừng nở trong nghệ thuật. Những năm 1980 là
thời gian Ý Nhi viết được nhiều bài thơ hay nhất.
Trong những câu thơ Ý Nhi
viết sau chiến tranh vẫn còn đan cài niềm hy vọng xen lẫn với sự phân vân, lưỡng
lự, thậm chí hoang mang. Cảm hứng và ngôn ngữ thơ đã có dấu hiện rạn vỡ nhưng
chưa mang tâm thức lạc loài, một dấu hiệu của thế hệ những trí thức trẻ
sau chiến tranh:
Đã đóng kín rồi cửa sổ những
ngôi nhà
đã xao xác bao vòm đại thụ
ánh sáng cô đơn ngọn đèn
ngoài phố
bao con đường vắng bóng
người qua
thuyền đã về nép dưới
chân đê
lá đã rụng trong vườn cây
ngoài cửa. […]
Đêm mùa đông ầm ào tiếng
gió
ai hát xa vời lẩn khuất
trong mơ
trang sách mở ra khép lại
tự bao giờ
những hàn gắn ồn ào
cách chia lặng lẽ
bước chân khua vang
bước âm thầm nức nở
như vẫn còn xao động cuộc
đời ta.
(Thư mùa đông)
Những bài thơ viết về biền
cát quê hương, về Hải Phòng, Thái Nguyên, sông Trà… bắt đầu mở rộng tầm cảm và
tầm nghĩ của nhà thơ. Tứ thơ không còn đi từ ngoại giới vào nội tâm mà là sự
phóng chiếu của tâm cảm:
Tôi cách xa nơi này hai
mươi năm
thiếu nữ đã là người đàn
bà tuổi bốn mươi
cam chịu và cuồng nộ
mong mỏi và buồn nản
đem cho và nhận về
kiếm tìm và đánh mất
giản đơn và rối ren, lớn
lao và hạn hẹp
tôi đứng kề bên giới hạn
của mình
như đứa trẻ lên mười
trong giờ thể thao
đứng run sợ trước con cừu
gỗ
nhưng tôi không còn nhiều
thời gian cho do dự
không còn nhiều thời gian
cho sai lầm
tôi đi trên đoạn đường
còn lại
không nguôi quên
nguồn sáng mặt trời chảy
như xối qua cánh rừng hai mươi năm cũ.
(Về Thái Nguyên)
Cả một đoạn thơ dài chỉ
có câu cuối là họa cảnh, mà là cảnh trong ẩn dụ, còn là tự họa chính mình trong
giằng xé của những nghịch lý và đối cực. Và nhà thơ biết từ đây mình sẽ tách khỏi
những người cùng thế hệ, một mình đi trên đoạn đường còn lại cho đến hồi kết cục:
Tôi là đứa trẻ muốn kêu
to lên để nghe thấy lời mình trong biển
là người đàn bà tìm về kết
cục
tôi đang đứng kề bên cái
vạch mỏng manh
của thủy chung và phản trắc
của tan vỡ và hy vọng của hằn thù
và tha thứ.
(Biển
chiều)
Bài thơ Người đàn
bà ngồi đan có lẽ ra đời trong mạch thơ đó. Tại sao bài thơ chỉ hơn 20
câu này trở thành một tác phẩm tiêu biểu cho thi ca thời Đổi mới? Phải chăng vì
nó không chủ yếu giãi bày, không tuyên ngôn hô hào, không một chiều cảm xúc mà
hóa giải những cảm xúc đối nghịch: nhẫn nại và vội vã, đau thương và hạnh phúc,
tin tưởng và ngờ vực, hân hoan và lo âu, chán chường và hy vọng. Bài thơ của
ngày thường nhưng không chỉ là bức tranh tâm cảnh mà còn là một ứng xử với cuộc
đời, vừa như chấp nhận nó, lại vừa như hờ hững đối với nó. Nói theo ngôn ngữ hiện
tượng luận, bài thơ này vừa phô bày những chiều kích của tâm hồn, vừa che giấu
những niềm hồ nghi, những bí mật không thể đoán định.
Giữa chiều lạnh
một người đàn bà ngồi đan
bên cửa sổ
dưới chân chị
cuộn len
như quả cầu xanh
đang lăn
những vòng chậm rãi.
(Người đàn bà ngồi đan)
Trong văn bản công bố lần
đầu, câu thơ cuối vốn chỉ có hai dòng: cuộn len như quả cầu xanh/ đang
lăn những vòng chậm rãi. Nhờ thay đổi hình thức ngắt nhịp, câu thơ biểu hiện
rõ hơn nhịp chậm của thời gian qua vòng quay chậm của cuộn len. Không phải người
đàn bà đang ngồi trong buổi chiều, mà chính sự hiện hữu của chị đang làm ra buổi
chiều ấy.
Trong các tập Ngày
thường, Mưa tuyết, Gương mặt, tác giả ngày càng kín
đáo khi phô diễn cái tôi: Lòng chợt ước ao/ một tiếng gõ bất
thường/ sau cánh cửa. (Ngày thường 1). Bà gửi lòng mình
qua cảm hứng về thân phận của những văn nhân – tinh hoa một thời Hà Nội: Dương
Bích Liên, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyên Hồng, Nguyễn Minh Châu… Vì những
nhà thơ luôn đồng bệnh với Đan Thiềm, nói theo ngôn ngữ Nguyễn Huy Tưởng, rồi
thơ bà sẽ đi xa cả về tâm thức lẫn không gian để khám phá vẻ đẹp của những tài
năng và tài hoa trong cờ vua, bóng đá, hội họa, thi ca.
Những năm về sau, dành
tâm sức cho truyện ngắn và chân dung văn học, Ý Nhi vẫn không hoàn toàn rời bỏ
thơ ca. Dù vậy, nhìn cả quá trình thơ bà, có thể xem Vườn (NXB
Văn Học, 1998) như một khúc Coda của sự nghiệp và những bài
thơ sau này như vẫn được viết ra dưới bóng mát của Vườn. Sau khi trải
qua Dự cảm và Bừng nở, Vườn đánh
dấu những ngày tháng Lắng đọng của thơ Ý Nhi. Đây phải chăng
là giọng thơ của một người được chứng ngộ? Người đã đi qua những độ đường không
cây, những miền viễn xứ tuyết giá, đã thăm dò đời sống qua những trải nghiệm,
giờ sẽ tự nghiệm chính mình. Đến cái tuổi không còn bị cám dỗ và ám ảnh của những
cuộc phiêu lưu, người ta trở về với một góc vườn, nơi có tán cây và tiếng chim
khuyên:
Đôi lần
em nhìn tán cây mà ứa nước
mắt
vì màu xanh
Đôi lần
em nghe tiếng chim khuyên
mà ứa nước mắt
vì sự trong trẻo
Rồi em khóc vì đốm nắng
lan trên vạt cỏ
vì bông hoa trắng như hạt
lệ
vì phiến đá dần tan trong
ly nước mùa hè
Rồi em nhớ miên man tới bến
sông chiều
tới cơn mưa trên mái đầu
trần
tới chiếc võng đơn sơ
ngoài hiên vắng
lời bản tình ca cầu ước
sum vầy.
(Vườn)
Giờ là lúc có thể nhìn lại
những quãng đường thơ Ý Nhi đã đi qua. Có cần gọi tên cho thơ bà: thơ lãng mạn,
thơ hiện sinh, hay thơ tân cổ điển? Thiết nghĩ, không có tên gọi nào bao quát
được cho những chặng đường đó. Chắc chắn bà có chịu ảnh hưởng của những trào
lưu thi ca hiện đại. Nhưng đối với thế hệ của bà ở miền Bắc thời đó, Thơ Mới
lãng mạn cũng như thơ miền Nam là những điều cấm kỵ, không dễ tiếp nhận. Trong
một chiều hướng khác, có lẽ nhờ người cha – giáo sư, nhà nghiên cứu sân khấu
Hoàng Châu Ký, người chồng – giáo sư, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Lộc và những
năm đại học, mà Ý Nhi có một vốn liếng khá nhuần nhuyễn về thơ ca cổ điển, điều
hiếm thấy nơi những nhà thơ cùng thế hệ. Đâu phải ngẫu nhiên mà bà viết được
bài thơ mang suy tưởng sâu sắc Nguyễn Du, 1813, biểu hiện nỗi cảm
khái của người nghệ sĩ trước những biển dâu, tàn phai và hoang phế:
Nào còn đâu
những lâu đài đồ sộ nghìn
xưa
những thành quách tưởng
muôn đời bền vững
ta bước giữa những con đường
mới
những đền đài mới
lòng kinh sợ
như đứa trẻ đi trong mưa
lạc lối
Những bạn bè cũ đã cáo
quan
ăn măng trúc măng mai ngồi
câu bên sông vắng
làm thơ thưởng hoa
làm thơ vịnh nguyệt
coi cuộc đời như phù vân
Các bạn gái ngày xưa
nay tay dắt tay bồng
vẻ đẹp chóng tàn phai
không ai còn mặc áo màu
thiên thanh
không ai còn cài hoa trên
tóc
không ai còn hát bài hát
cũ.
Ý Nhi ít làm thơ lục bát,
thơ năm chữ và tám chữ nhiều hơn, nhưng nhiều nhất là thơ hợp thể và thơ tự do.
Bà đưa ngôn ngữ đời sống vào thơ rất tự nhiên:
Sau một mùa đông không hề
buốt giá
Hoa loa kèn nhiều và rẻ
Đến nỗi
Tôi không còn muốn cắm
hoa như lệ thường.
(Hà Nội, tháng 5.1987)
Đó thực là một câu văn
xuôi, nó đã thành thơ nhờ nhịp điệu.
Hẳn nhiên thế hệ đó không
phải chỉ có bà muốn vượt thoát ra khỏi vùng từ trường thẩm mỹ của một thời đại.
Điều thú vị là, một mặt, dù mang hình thức tự do, thơ Ý Nhi vẫn mang tính cấu
trúc trong sự liên kết của những hình ảnh và từ ngữ song song hay đối lập. Mặt
khác, tính cấu trúc đó lại trở nên linh hoạt nhờ nhịp điệu luôn biến hóa của
thơ. So với văn bản công bố trước đây, trong Tuyển tập này (Ngọn gió qua vườn, NXB
Phụ Nữ, 2019), tác giả đã thay đổi nhịp điệu của hầu hết các bài thơ, cả thơ
tám chữ lẫn thơ tự do. Hình như bà nhận ra rằng những câu thơ dài, “êm ả” của
20, 30 năm trước không còn thích hợp với nhịp điệu hôm nay.
Khác với Xuân Quỳnh, cảm
thức về cá nhân trong thơ Ý Nhi không tuôn chảy dào dạt. Xuân Quỳnh thả cảm xúc
ra, đẩy cảm xúc tới, đi hết cõi lòng mình, muốn nói một lần cho tất cả, như
linh cảm không còn nhiều dịp để nói nữa. Ý Nhi nén lòng mình lại, luôn giữ một
chút gì đó trong lòng, chưa bày tỏ hết. Thơ Ý Nhi không vụ cái mềm mại nữ tính
của cảm xúc. Hồ Anh Thái thật tinh tế khi viết: “Dường như lạm dụng cảm xúc là
điều gì đó hiếm thấy trong thơ Ý Nhi…”. Nguyễn Đức Tùng thì nói cô đọng mà xác
đáng: “Ý Nhi vượt qua chủ nghĩa thương cảm”. Nói theo thuật ngữ của B.
Eikhenbaum, thơ Xuân Quỳnh chủ yếu là thơ điệu ngâm, thơ Ý Nhi chủ yếu là thơ
điệu nói. Điều đó giải thích vì sao thơ Xuân Quỳnh được Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc
rất hay (Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu); còn thơ Ý
Nhi thì kén phổ nhạc: bài Trong ánh chớp của phận số không thuộc
những ca khúc hay nhất của Phú Quang.
Làm thơ sớm hơn Xuân Quỳnh
và Ý Nhi một chút, ở miền Nam, có hai nữ thi sĩ nổi tiếng là Minh Đức Hoài
Trinh và Nhã Ca. Thơ điệu ngâm của Minh Đức Hoài Trinh tràn đầy cảm hứng lãng mạn
và hiện sinh, bà trở thành đồng tác giả những tình khúc để đời của Phạm Duy (Đừng
bỏ em một mình, Kiếp nào có yêu nhau…). Thơ Nhã Ca là thơ điệu
nói, hàm súc, triết lý, hầu như chưa có ai phổ nhạc, hay đúng hơn nó không muốn
phổ nhạc.
Nếu văn chương là một cuộc
hành trình không ngơi nghỉ, thì đối với Ý Nhi, thơ ca là một bến bờ sáng tạo,
quan trọng nhất nhưng không phải là duy nhất.
2. Với một người cầm bút, sự
tự biểu hiện nhiều khi không đủ để trang trải hết thông điệp muốn gửi đến cuộc
đời. Người ta không chỉ muốn tỏ lòng mình mà còn muốn tái hiện trần gian dưới
đôi mắt của mình. Thơ dù trút hết gan ruột cũng không làm đủ đầy đời sống trong
ngôn ngữ. Nhà văn xuôi có khi là một nhà thơ không thành đạt, mà cũng có
khi là nhà thơ đã thỏa nguyện. Phải chăng Ý Nhi thuộc về trường hợp thứ hai.
Năm 1998, sau mười năm
vào sống ổn định ở Sài Gòn, Ý Nhi viết truyện ngắn đầu tiên và năm năm sau, bà
in tập truyện ngắn Có gió chuông sẽ reo (NXB Trẻ, 2013). Hình
như bà thỏa nguyện với thơ mà chưa thỏa nguyện với văn chương nói chung.
Thật lạ, những nhân vật
bà chăm chút nhất bây giờ không phải là những người nữ bà quen thuộc tính nết
mà là những người đàn ông trung niên nhiều trải nghiệm trong cuộc đời, giờ nhìn
lại đời mình khi đời đã xanh rêu, dù đôi khi họ không giấu được rằng “thực
ra họ chỉ là những đứa trẻ”.
Nói Sài Gòn làm cạn nguồn
thơ bà, nơi đây đất của văn xuôi và thời của văn xuôi cám dỗ bà, thì không đủ
lý. Vì truyện ngắn của bà tuy nói chuyện thời nay nhưng điểm nhìn vẫn thiên về
hoài niệm. Nỗi buồn tưởng đã hóa giải trong thơ bà, giờ lại tràn sang văn xuôi.
Những ánh mắt thoáng hiện buồn bã. Những nụ cười tỏ mờ buồn bã. Dưới ngòi bút kể
chuyện của Ý Nhi, đời chẳng qua là một phòng chờ, chờ ở sân bay, chờ ở bệnh viện
hay ở một nhà ga, chờ tàu xuôi hay chờ tàu ngược thì cũng vậy thôi. Những người
đàn ông với dáng ngồi cô độc, khổ não; họ ngồi đó chờ cái gì, chờ ai, và biết
khi nào gặp?
Đọc Cỏ, Biển, Tiếng
chuông, Một giờ sáng… ta bắt gặp mô-típ những cuộc hôn nhân thất
bại, khiến ta tự hỏi hạnh phúc có thật hay hạnh phúc chỉ là thoáng chốc, mong
manh, tạm thời; khổ đau mới là vĩnh cửu, dài lâu, bất tận? Ngòi bút Ý Nhi nhạy
cảm với những cuộc chia tay, những chọn lựa nhầm lẫn, những cuộc tình đã đến hồi
khô tạnh, những lừa dối và phản trắc gây tai họa mà không dẫn tới hận thù.
Thơ Ý Nhi viết hay về tuổi
trẻ và tình yêu; truyện Ý Nhi viết hay về tuổi già và tình bạn, nhất là khi
tình bạn hóa thân thành tình yêu hay tình yêu chỉ còn là tình bạn. Người già
trong truyện bà như người đi lạc, lạc loài và lạc lõng trên thế gian này. Một
nhân vật của bà đã tự trào: “Mình bây giờ là kẻ đi lạc, chẳng làm sao mà hiểu
nổi mọi thứ ở đây, làm cái gì cũng không phải, nghĩ cái gì cũng không đúng, nói
như bọn trẻ là chẳng giống ai.” (Mix).
Nhân vật sở trường của Ý
Nhi là những con người nhỏ bé không tên tuổi, hay tên chỉ là một mẫu tự, những
người đa cảm dễ bị tổn thương, những người trí thức hoang mang và sầu muộn, những
nhà thơ trẻ sinh bất phùng thời, những người từng “có một mảnh đạn nằm đâu
đó trong cơ thể mình…, không nằm trong đầu mà nằm trong tâm khảm.” (Quán
chữ cái). Những khuôn mặt in dấu truân chuyên của họ ứng với những đồ vật
đã qua thời gian sử dụng: chiếc đồng hồ, cái điện thoại, chiếc túi du lịch, bộ ấm
chén, những cuốn sách cũ…
Niềm vui mà tác giả ban
phát hay đền bù cho nhân vật hình như cũng là niềm vui của chính tác giả: thưởng
ngoạn những khúc ca hay, những bức tranh đẹp, một trận túc cầu hấp dẫn. Điều đó
đủ tiếp sức cho họ kéo lê kiếp sống mệt mỏi này.
Có thể mượn lời của người
kể chuyện nói về một nhân vật – nhà văn trong truyện Ý Nhi để nói về chính văn
phong của bà: “Người ta gọi những nhân vật của ông là loại nhân vật nhỏ bé,
loại nhân vật không tên tuổi, không tiếng tăm, không biến cố. Họ là bất cứ ai
trong đám đông ngoài kia. Những mơ ước, những lo âu, những chờ đợi của họ thật
bình thường, thậm chí tầm thường. Người ta bảo văn của ông dẫn dụ người đọc như
tiếng rì rầm của những cơn mưa nhỏ về đêm. Người ta bảo không thể kể lại câu
chuyện của ông nhưng cũng không thể rời bỏ cuốn sách khi đã cầm nó trên tay…”
(Món quà).
Như thế, truyện ngắn Ý
Nhi có thể xem như thuộc loại hình văn xuôi tâm lý – đời thường. Đó là những
tác phẩm mà cốt truyện tan biến trong sinh hoạt và dòng tâm trạng của nhân vật.
Nếu văn bản thơ Ý Nhi có nhiều khoảng trống, thì văn bản truyện ngắn của bà đan
kết những lời kể, lời độc thoại và đối thoại không đứt đoạn. Những truyện viết
về sau (Có người gõ cửa, Con ngựa trên bãi biển, Người
đứng bên kia đường…) cho thấy tác giả vận dụng kỹ thuật chồng lắp thực tại
và ảo giác, ý thức nhân vật hòa trộn với tiềm thức và vô thức, ám tượng và ám
thanh, tưởng tượng và hoang tưởng; văn bản trở thành một bức tranh đan dệt bằng
những sợi tơ mỏng manh của hiện thực và phi thực.
3. Sáng tác truyện ngắn, một
thể loại văn-xuôi-hư-cấu, không phải là bất ngờ cuối cùng Ý Nhi đem đến cho bạn
đọc. Sau Có gió chuông sẽ reo, Ý Nhi lại thử sức với
văn-xuôi-phi-hư-cấu qua thể loại chân dung văn học, một thể loại chưa mấy thịnh
hành ở nước ta: ít có nhà văn xem việc tái hiện chân dung tinh thần của đồng
nghiệp như một niềm hứng thú lớn lao đủ để người ta dồn cả tâm sức vào đó. Điều
ấy một phần do khó khăn về tư liệu, hạn chế về hoàn cảnh, nhưng cái chính
vẫn là do quan niệm: người ta ngại chạm vào chỗ riêng tây của cá nhân, ngại
phơi bày những điều uẩn khúc trước mắt thiên hạ, ngại những mối quan hệ bình ổn
bị sứt mẻ…
Nhà văn viết chân dung
văn học đã ít, nhà văn nữ viết thể loại này lại càng hiếm hoi. Không phải là
người nữ không nhìn sâu được vào thế giới bên trong của đồng nghiệp – trái lại
là đằng khác, nhưng có lẽ vì người nữ vốn cẩn trọng hơn nên vẫn giữ một khoảng
cách nhất định trong những ứng xử nghề nghiệp. Ở nước ta, hình như chưa có cây
bút nữ nào viết ra những tập chân dung như Những gương mặt – những câu
thơ (NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2008) và Kỷ niệm không có mưa (NXB
Đà Nẵng, 2018). Trong Từ bến sông Thương của Anh Thơ có hiện
ra đời sống và tính cách của một số văn nghệ sĩ, nhưng đó là hồi ký, không phải
chân dung văn học. Những tập tiểu luận phê bình của các cây bút nữ tài hoa thường
điểm xuyết những nét chân dung của các tác gia đương đại, nhưng đó chủ yếu vẫn
thuộc văn phong khoa học.
Ý Nhi viết về số phận và
tâm tình của những nhà văn, hoạ sĩ đương đại trong quan hệ với cá tính sáng tạo
của họ. Bà không chủ ý nói về cái thời của mình, nhưng những bài viết vẫn có thể
quy chiếu về một bối cảnh. Bà cũng không nhằm biểu hiện cái tôi như khi làm
thơ, nhưng với tư cách chứng nhân tham dự, bà không thể giấu được cảm xúc của một
tâm hồn bè bạn. Đọc những trang miêu tả cảnh Nguyên Hồng lúc nào cũng vội vã, tất
bật với cái làn cói buộc trên chiếc xe đạp cũ, cảnh Xuân Diệu lúi húi đếm tiền
sau một buổi nói chuyện thơ, cảnh Xuân Quỳnh vừa trao đổi công việc văn chương
vừa tranh thủ giặt áo quần ngay ở cái vòi nước của cơ quan, người ta thấy dấu vết
của một thời chưa xa lưu lại với biết bao tình thương yêu trong kỷ niệm.
Những ai am hiểu văn học
Việt Nam đương đại đều biết Ý Nhi từng nhiều năm liền làm công tác biên tập ở một
nhà xuất bản lớn, đã góp phần cho sự ra đời của nhiều tác phẩm giá trị. Nhưng
có lẽ ít ai biết rằng bà đã từng có thời gian làm một công việc có thể là rất
nhàm chán đối với những người sáng tác, là nghiên cứu – phê bình văn học. Nhưng
chính nhờ trải qua công việc có thể thành chỗ sa lầy của một tư chất nghệ sĩ đó
mà bà vừa có sự thấu cảm với chuyện bếp núc trong nghề văn, vừa có cái tinh nhạy
khi nắm bắt và khắc hoạ những chân dung văn học.
Có phần giống với văn bản
thơ, viết về phong cách những người nghệ sĩ, Ý Nhi thường kết hợp những nét đối
cực trong một thể thống nhất để làm nổi bật lên cá tính sáng tạo của họ. Bà thấy
trong tranh Dương Bích Liên “một thế giới giản dị mà sang trọng, êm ả mà hừng
sáng, dịu nhẹ mà huy hoàng. Ông đã lưu lại vẻ đẹp trong ngần từ một đời sống đầy
cơ cực, dằn hắt, đau đớn.” (Rời thành phố vào sáng sớm). Dưới mắt
bà, Phan Thị Thanh Nhàn “vừa duyên dáng vừa vụng về, vừa sâu sắc vừa nông nổi,
vừa chi chút vừa hào phóng. Tất cả những đức tính tưởng như trái ngược ấy đều
có nơi Nhàn, tạo nên sức hấp dẫn của Nhàn, một sức hấp dẫn đầy nữ tính.” (Bạn
cũ ơi là cũ). Theo Ý Nhi, “thơ Trần Vũ Mai là sự va đập, dồn đẩy giữa niềm
vui và nỗi khổ, giữa tin cậy và hồ nghi, giữa hân hoan và cay đắng, giữa hy vọng
và tuyệt vọng.” (Tay em lạnh mà không run sợ). Bà hình dung “một
Phạm Thị Ngọc Liên vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ, vừa cả tin vừa tự tín, vừa mê đắm
vừa sáng suốt, vừa hồn nhiên vừa cay đắng.” (Hình dung về Phạm Thị Ngọc
Liên). Bà cắt nghĩa sự lặng lẽ của Tôn Nữ Thu Thuỷ là “sự lặng lẽ giấu
kín trong nó những lo âu, đau đớn, những đam mê, khao khát.” (Sự lặng lẽ
của Tôn Nữ Thu Thủy). Để có những câu văn đọng lại trong tâm trí người đọc
như vậy, người viết phải nhập cảm vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm và “thuộc”
tính cách của tác giả.
Hầu như Ý Nhi chỉ viết về
những nhà thơ, nhà văn, họa sĩ mà bà quen biết lâu năm, đồng cảm với số phận để
có thể tái hiện thần thái và cái tình từ con người cũng như tác phẩm của
họ: Nguyên Hồng, Bùi Giáng, Bùi Xuân Phái, Thái Tuấn, Nguyễn Minh Châu, Trang
Thế Hy, Hoàng Trung Thông, Tô Thùy Yên, Chim Trắng… Trước khi được tái hiện
trong những bài chân dung này, những đời văn ấy đã từng đi vào thơ và truyện Ý
Nhi như những niềm tương ngộ. Họ đã đến với bà không chỉ như những đối tượng để
miêu tả mà còn như những nguồn cảm hứng kích thích sự sáng tạo.
Do khuôn khổ của cuốn
sách, Tuyển tập này không đưa vào những bài chân dung văn học của tác giả.
Nhưng thiết nghĩ, muốn hiểu đời văn Ý Nhi, không thể không khảo sát đóng góp của
bà trong lĩnh vực này. Chân dung văn học làm cho đời văn Ý Nhi đa dạng hơn mà lại
cho thấy tính nhất quán trên hành trình nghệ thuật: khi cái tôi đi đến cùng con
đường của nó, nó sẽ được những cái tôi khác đón chào nơi bến bờ của sáng tạo.
Tài liệu tham khảo:
[1] Lê Thành Nghị (2019),
“Bông cúc nhỏ nơi vườn khuya lặng lẽ”, Tạp chí Văn Hiến, tháng 7-
2019.
[2] Ý Nhi (2008), Những
gương mặt, những câu thơ, Nxb. Văn Nghệ, Tp. Hồ Chí Minh.
[3] Ý Nhi (2000), Thơ,
Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.
[4] Ý Nhi (2010), Tuyển
tập, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
[5] Ý Nhi (2014), Có
gió chuông sẽ reo, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
[6] Ý Nhi (2019), Ngọn
gió qua vườn, Nxb Phụ Nữ, Hà Nội.
[7] Lê Hồ Quang (2015),
“Thơ Ý Nhi, hành trình trong lặng lẽ”, trong Âm thanh của tưởng tượng,
Nxb Đại học Vinh, Tp. Vinh.
[8] Chu Văn Sơn (1987),
“Thơ của tâm hồn xao xác giữa ngày yên”, Báo Văn Nghệ số 36,
ngày 5-9-1987.
[9] Mai Sơn (2017), “Một
vẻ đẹp khác”, trong Sự quyến rũ của chữ, Nxb Văn hóa – Văn nghệ,
Tp. Hồ Chí Minh.
Chú thích:
(1) Nguyên
nghĩa là Con ve sầu, tên một tập thơ của Harry Martinson.
11/3/2020
Huỳnh Như Phương
Nguồn: Tạp chí Nghiên Cứu Văn Học (Viện Văn học), số 1-2020
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ
Thân phận con người
trong
thơ Lưu Quang Vũ
Xét trên bình diện
phổ quát, thân phận con người cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ cũng là vấn đề thường
gặp trong văn chương của nhiều thi nhân mà tên tuổi của họ đã trở nên gắn bó với
nền văn hóa dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Xuân Diệu, Hàn
Mặc Tử, Nguyễn Bính… Vấn đề đặt ra ở đây là trong thơ Lưu Quang Vũ chân
dung con người cô đơn được tái hiện như như thế nào?
1. Trong
bài thơ Giấc mộng đêm Lưu Quang Vũ với trí tưởng tượng bay bổng
của mình đã mơ được gặp Thi hào Nguyễn Du và nghe tiền nhân căn dặn: “Anh
chớ ngại con đường gian khổ nhất/ Đau nỗi đau của mỗi trái tim người/ Để thơ
anh mang lửa đến cho đời/ Trên chữ “tài”, chữ “tâm” kia phải “lớn”. Thực
ra, đây chính là những lời tự vấn đầy trăn trở bật lên từ thẳm sâu tiềm thức của
Lưu Quang Vũ – một thi sĩ có trái tim vô cùng nhạy cảm và luôn đau đáu, nồng
nàn, da diết những yêu thương với cuộc đời và con người. Suốt một đời cầm bút,
sáng tác trên nền tảng tinh thần lấy chữ “tâm” làm điểm tựa cơ bản cho nên dẫu
chỉ có mặt trên “cõi tạm” bốn mươi năm ngắn ngủi nhưng Lưu Quang Vũ đã để lại một
sự nghiệp văn chương đầy ấn tượng trong đó có sự thành công của thơ ca. Song nếu
với kịch – một thể loại mà ngay từ những vở công bố đầu tiên đã khiến tên tuổi
của Lưu Quang Vũ tỏa sáng, từ đó ông trở thành kịch gia lừng danh nhất trên văn
đàn Việt Nam ở thế kỷ XX thì sự nghiệp thơ ca của Lưu Quang Vũ cũng như số phận
của chính tác giả đã chịu nhiều nỗi truân chuyên. Lưu Quang Vũ từng ngậm ngùi
chia sẻ: “Hàng vạn người biết đến tên Lưu Quang Vũ nhờ sân khấu, nhưng mình
không thích bằng có năm trăm người yêu thơ mình. Mình chỉ mong in được một tập
thơ thôi…” (Lưu Quang Vũ, Di cảo, 2018, Nxb.Trẻ, Hà Nội, tr.390). Lời
tâm sự chân thành cho thấy đối với Lưu Quang Vũ, thơ mới chính là thể loại mà
ông đam mê nhất, nhưng cũng đồng thời hé lộ bi kịch đau đớn của người cầm bút.
Song, cùng với năm tháng, vẻ đẹp vĩnh hằng trong thơ Lưu Quang Vũ cũng như bản
lĩnh, nhân cách nghệ sĩ với “một trái tim trung thực” của ông ngày càng tỏa
sáng. Âu đó cũng là điều tuân theo quy luật mà không cường quyền, bạo lực và sự
phi lý nào có thể phủ nhận: nghệ thuật đích thực bao giờ cũng là viên ngọc phát
ánh hào quang trong tro bụi thời gian. Những vần thơ cất lên từ trái tim chưa
bao giờ yên ổn vì tình yêu thương con người của Lưu Quang Vũ như một liên khúc
thanh âm phủ đầy nốt lặng, trầm buồn, vang ngân xuyên thấu thời gian, mãi mãi
thắp lên trong tâm thức bạn đọc những nỗi buồn, niềm vui, những sẻ chia đau khổ,
hạnh phúc cho con người và vì con người – quan tâm đến thân phận con
người với tất cả những vui buồn, được mất, hạnh phúc, khổ đau, vinh
quang, cay đắng trong kiếp nhân sinh đầy biến đổi và bất an và đó là một trong
những hệ giá trị nhân văn sâu sắc nhất khiến thơ Lưu Quang Vũ có sức cuốn hút,
say lòng bạn đọc bao thế hệ.
2. Sinh
thời Lưu Quang Vũ mới in được nửa tập thơ, kể từ sau khi nhà thơ đi vào cõi
vĩnh hằng cho đến hôm nay, thơ ông đã được xuất bản nhiều lần, tập trung phần lớn
ở các tập: Lưu Quang Vũ, Thơ tình, (NXB Văn học, 2002), Gió
và tình yêu thổi trên đất nước tôi (tuyển thơ, Nxb Hội Nhà văn,
H.2010), Di cảo Lưu Quang Vũ, (Lưu Khánh Thơ tuyển soạn, Nxb.
Trẻ, H.2018). Đọc thơ Lưu Quang Vũ có thể nhận thấy ngọn gió mang nỗi đau về
thân phận con người thổi xuyên suốt thơ ông – đó là ngọn gió “không ngừng lo
âu không ngừng phẫn nộ/ bởi vô biên là khát vọng của con người” (Những đám
mây ban sớm). Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh khốc liệt,
do đó cũng như nhiều người cùng thời, Lưu Quang Vũ nếm trải “ngọn gió dữ của rừng
già khắc nghiệt”, chứa chất trong lòng muôn nỗi buồn, sự lo âu và những trăn trở,
khát vọng. Nhưng khác nhiều người, Lưu Quang Vũ đã dám sống và dám bộc bạch thật
lòng mình. “Bởi như gió, anh phóng túng, tự do. Dám sống đúng mình, dám nghĩ
đúng mình. Anh không thể yên ổn trong những cái mực thước, khuôn phép, vừa phải,
lừng chừng”. (Phạm Xuân Nguyên, 2014, Nhà văn như Thị Nở, Nxb.Hội
Nhà văn, Hà Nội, tr.248). Khi Lưu Quang Vũ tự hỏi: Anh chẳng mang cho đời
những tiệc vui ảo ảnh/ Nỗi buồn chân thành đời chẳng nhận hay sao? (Anh
đã mất chi, anh đã được gì?), hoặc chân thành bộc bạch: Tình yêu trong
lòng tôi chẳng ích lợi cho ai/ Còn những gì mọi người cần tôi chẳng thiết (Có
những lúc) thì cũng chính là thời khắc nhà thơ thấm thía nỗi đau “bị chối bỏ” của
thân phận nghệ sĩ, nhận diện rõ hơn giá trị nhân vị, ý nghĩa sự tồn sinh của mỗi
cá nhân, sẵn sàng tâm thế đối diện với sự thật nghiệt ngã của cuộc sống vốn tồn
tại nhiều điều phi lý. Và tất cả những điều trên là cơ sở để chúng ta suy ngẫm,
luận giải vì sao vấn đề thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ lại ám ảnh
nhiều nỗi buồn đến thế?! Đó là nỗi buồn về con người – nạn nhân đau khổ
bởi chiến tranh; đó là nỗi buồn vì đổ vỡ niềm tin, con người cô đơn, tuyệt vọng;
đó là con người mang tâm trạng “lưu đày” ngay chính trên quê hương xứ sở của
mình;là nỗi lo âu về sự hữu hạn, mong manh của kiếp người trong dòng chảy vô thủy
vô chung của thời gian…Đằng sau nỗi buồn dằng dặc, đầy khắc khoải trong thơ
Lưu Quang Vũ về thân phận con người phải chăng tiềm ẩn lớp lớp thông điệp cần
được “đọc”, được tiếp tục khám phá bằng tấm lòng “tri âm”, đồng điệu, để từ đó
có thể khẳng định tầm tư tưởng nhân văn sâu sắc cũng như tài năng, nhân cách và
bản lĩnh của một nhà thơ – nhà văn hóa lớn của dân tộc ở thế kỷ XX đầy biến động.
Đọc thơ Lưu Quang Vũ, có
thể nhận thấy đối với nhà thơ chiến tranh quả thực “ không phải trò đùa”. Giữa
dàn đồng ca hào hùng, lãng mạn tụng ca khí thế của một thời cả nước lên đường: đường
ra trận mùa này đẹp lắm (Phạm Tiến Duật), Súng nhỏ súng to chiến
trường chật chội/ Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu (Chính Hữu),
Lưu Quang Vũ riêng mình sớm nhận diện bản chất thực của chiến tranh “giữa
chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều/ Rách tan cả những làn sương đẹp phủ”
(Gửi một người bạn gái). Trong tâm thức của Lưu Quang Vũ, cho dù ở đâu và bất cứ
ở thời đại nào chiến tranh cũng mang gương mặt lạnh lùng, hắc ám của tên đao phủ,
là gieo rắc cái chết thương tâm khắp nơi, là sự đổ máu, và những phá hủy tàn khốc
cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Ngay trong tập thơ đầu đời Hương
cây đã thấy những mất mát bởi chiến tranh đã chi phối âm hưởng buồn
man mác trong nhiều bài thơ (Qua sông Thương, Phố huyện, Phủ Lý tháng hai,
Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa, Mùa xoài chín, Chia tay), và dòng cảm thức
về thân phận con người trong chiến tranh càng ngày càng
đậm nét ở những tập thơ sau này của Lưu Quang Vũ như Viết cho em từ cửa
biển, Đất nước đàn bầu, Mắt của trời xanh, Những đám mây ban sớm, Những bông
hoa không chết.
Như bức họa về chiến
tranh phủ đầy gam màu tối u buồn, trong thơ Lưu Quang Vũ hình ảnh con
người và cái chết thê thảm vô nghĩa luôn được tô đậm một cách có
chủ ý nghệ thuật. Lưu Quang Vũ đã không cường điệu hóa hiện thực, nhà thơ cảm
nhận chiến tranh và cái chết bằng cảm xúc rất thật của mình. Cái chết thương
tâm được tái hiện cực thực, tỷ mỉ, chi tiết mang đến cho bạn đọc một ấn tượng
khó phai mờ, một cảm giác tê điếng, hãi hùng, đau đớn: những người chết
trong đêm thân gãy nát/ óc chảy ròng trên gạch/ những người chết cháy đen miệng
há mắt mở trừng/ tay chân vặn vẹo thịt xương/ lòng ruột mắc trên dây điện/ phố
Khâm Thiên ầm ầm đổ sụp/ tiếng người la khủng khiếp đêm dài/ mặt trời lên trên
bãi thây người/ mặt dập vỡ ngực trần thủng hoác/ những đống tóc gân đầu mình lẫn
lộn/ những xác tím bầm lạnh buốt sương đêm (Khâm Thiên); Người
chết vùi thân dưới hố bom.(Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh
nói về những cuộc chia tay thời loạn); Xác người trôi trên biển sóng xô
tan/ huyệt bom tối ầm ào cơn gió hú (Em – tình yêu những năm đau xót
và hy vọng); Bao đầu người bêu trên cọc gỗ (Đất nước đàn bầu); Xác
gục giữa bùn lầy/ thái dương rỉ máu (Những đám mây ban sớm); Xác
nguỵ nằm ruồi muỗi bâu đầy/ những đôi mắt bệch màu hoa dại/ những gương mặt trẻ
măng xanh tái/ những bàn tay đen đủi chai dầy (Cơn bão); Những
đứa trẻ con bị giết/ nằm kín hàng hiên / mùi xác chết u ám cả bầu trời (Sông
Hồng – năm mẹ sinh em); Ta có thằng bạn học/ hy sinh chôn dưới nền nhà (Sông
Hồng – lời từ giã của Trung đoàn Thủ đô) ; Hùng chết giữa trời cao/
Trong chiếc Mig bị quân thù bắn cháy/ Dù không mở, bọn mình tìm chẳng thấy/
Xương thịt Hùng lẫn với đất nâu (Giấc mộng đêm)… Như vậy, trong thức
nhận của Lưu Quang Vũ sự lạnh lùng tàn bạo là một thuộc tính của chiến tranh và
vì vậy chiến tranh dù bất luận vì lý do gì đều gieo rắc chết chóc đau thương
cho nhân loại, không trừ một ai và lứa tuổi nào, cho dẫu đó có là mẹ già hay em
nhỏ trong nôi…chiến tranh giáng xuống số phận con người hậu họa khôn lường, vết
thương do chiến tranh để lại trong lòng mỗi người khó có thể hàn gắn được.
Trong lúc nhiều nhà thơ cùng thời vì nhiều lý do khác nhau không nói (hoặc
không dám nói) đến cái chết trong thơ mình, hoặc có nói đến thì cũng oai hùng
hóa về cái chết thì trong thơ Lưu Quang Vũ, ta bắt gặp nhiều lần ông nhắc đến
cái chết. Cái chết trong thơ Lưu Quang Vũ như một thảm họa mặc định
của chiến tranh, cái chết mang đầy nỗi ưu lo về phận người, trong suy niệm của
Lưu Quang Vũ, chiến tranh luôn mang lại đau thương vô hạn cho con người mà cái
chết là tận cùng nỗi đau thương đó. Khi vấn đề sự sống và cái chết của con người
được đặt lên hàng đầu và trở thành một hệ giá trị nhân văn, có giá trị thức tỉnh
nhân loại chấm dứt chiến tranh, hướng đến hòa bình vì hạnh phúc của con người
thì thiết nghĩ Lưu Quang Vũ rất xứng đáng được tôn vinh là “đại sứ hòa
bình” bởi thơ ông khiến bạn đọc ghê sợ chiến tranh và tội ác, thêm trân quý sự
sống, trân quý từng phút giây hiện hữu của mỗi con người.
Chiến tranh không chỉ khiến
con người phải chết một cách vô nghĩa mà còn đày đọa con người trong biết bao cảnh
đời ly tán, loạn lạc, đói nghèo lam lũ. Đi từ những nỗi đau riêng trong sự nghiệm
sinh của chính cuộc đời mình, Lưu Quang Vũ đã đến với nỗi đau chung của phận số
con người, của cộng đồng thấm đẫm nỗi niềm xót xa, thương cảm:
Thổi xoã tóc đoàn người
chạy giặc/ những dòng người kéo đi xé ruột/ đội chiếu, ôm chăn, đeo làn, vác bọc/
chút gia tài nghèo cực địu trên lưng/ bao gia đình dắt díu chị bồng em/ những
quần áo khói bom lấm rách/ những cụ già vịn nhau dò dẫm/ máu ròng ròng trên những
chiếc cáng thương(Khâm Thiên); Cả dân tộc cởi trần
đứng trên bùn ướt/ Đầu đội mưa bom, tay cầm khẩu súng trường/ Những lòng người
chia cắt đến tan hoang/ Những núi rào gai và vỏ đạn/ Đồng bãi hoang liêu, phố
phường gạch vụn/ Bao cỏ ngọt bị giày đinh dẫm đạp/ Bao tha ma gò đống ngổn
ngang nằm (Những Đám Mây Ban Sớm); Những mặt vàng sốt rét/ Những
bộ xương đói khát vật vờ đi (…) con trai chinh chiến liên
miên/ Con gái mong chồng, hoá đá (Đất nước đàn bầu); giải đất
tối tăm giải đất nghèo hèn/ chỉ còn những cơn gió lang thang/ chỉ còn cái đói (Sông
Hồng – năm mẹ sinh em);
Người mẹ nghèo đầu ô/ chiếc
xe nôi trẻ thơ/ lỗ chỗ đầy vết đạn/ chiếc dương cầm nhà ai/ tiếng dây đứt trong
đêm chờ giặc (Sông Hồng – lời từ giã của Trung
đoàn Thủ đô); Nhưng mãi mãi chẳng bao giờ sống dậy/ những tháng năm đã
mất/ những nhịp cầu gẫy gục/ những toa tầu sụp đổ tan hoang (Những đứa
trẻ buồn)…
Cuộc sống của con người
trong và sau chiến tranh ủ rũ thảm hại! Tất cả còn lại chỉ là đống hoang tàn, đổ
nát, đầy tử khí. Con người tồn tại vật vờ giữa cõi dương gian mà tối tăm, mù mịt,
nghẹt thở như ở chín tầng địa ngục. Có cái gì như uất nghẹn trong lồng ngực…Cảm
xúc thẩm mỹ được đẩy lên đến cao trào, ào ạt, triền miên dồn dập đầy ắp hình ảnh
pha trộn giữa ảo và thực… Có cảm giác nhà thơ như đắm đuối chìm trong một cơn
ác mộng. Thi giới Lưu Quang Vũ là thi giới của tưởng tượng phong phú, điệp điệp
lớp lớp hình ảnh sống dậy từ tiềm thức…Từ góc nhìn tích cực, nhân bản của chủ
nghĩa hiện sinh có thể thấy thơ Lưu Quang Vũ đã truyền được sang người đọc nỗi
đau đớn tột cùng, niềm day dứt khôn nguôi khi ngẫm về chiến tranh và những điều
phi lý của nó đổ xuống những kiếp người bé nhỏ, đáng thương.
Là một người từng tham
gia cuộc chiến, hơn ai hết Lưu Quang Vũ thấu hiểu “nỗi buồn chiến tranh” thăm
thẳm đến chừng nào. Trong nhiều bài thơ của Lưu Quang Vũ người lính hiện
lên trong hình hài là nạn nhân của chiến tranh. Họ không hề thi vị, lãng mạn,
kiêu hùng, cũng chẳng hề mang mặt nạ yêu đời, lạc quan. Dù “thắng” hay “thua” họ
đều mang gương mặt của kẻ “chiến bại”, cuộc đời chinh chiến của họ phải đánh đổi
bằng rất nhiều mất mát, đau thương, thiệt thòi – đây cũng là cảm thức về thân
phận con người rất khác biệt của Lưu Quang Vũ so với nhiều nhà thơ khác cùng thời: Cuộc
chiến tranh dằng dặc/ rừng đầy muỗi độc/ chiến hào lở loét khói bom/ những đôi
giày thủng đầy bùn/ những tấm vải mưa ướt sung/ những con vắt đói chui vào
lung/ lá thư nhà đọc mãi đến thuộc lòng/ đêm trắng sương lùa củi tắt/ mộ bạn đá
hoang gió lạnh/ chôn bao trìu mến của ta (Những đứa trẻ buồn); Tuổi
trẻ, ước mong, những gì quý nhất/ đều trôi qua trong bụi xám chiến hào/ triệu
con người lên sống rừng sâu/ khoét núi làm đường chặt cây nhóm lửa/ võng bạt,
lán tranh, đất bùn nhầy nhụa/ những đường dây, binh trạm, những sư đoàn / những
mô đất con đổi bằng tính mạng trăm người/ bằng pháo kích, lưỡi lê bằng chân tay
vật lộn (Cơn bão)… Nhớ không em năm 1954/ mùa hè nóng bỏng như
lửa/ lính mũ đỏ rượu say chai vỡ/ lính Bắc Phi nhớ quê ngồi khóc (Năm
1954)… Chúng ta ra đi chiến tranh mùa đông/ Ta kịp biết gì đâu/ Vừa hết
trẻ con đã là người lính/ (…) Tuổi trẻ ta đã qua bạn bè ta đã chết/ Ta đã vượt
bao đèo cao chót vót/ Bao điều nhà trường chẳng dậy cho ta/ Nghĩ lại giễu cười
những giấc mộng tuổi thơ/ Giờ trong ta vui buồn đều nín lặng/ Một thế hệ cứng
đi như thỏi sắt (Những bông hoa không chết).
Thơ Lưu Quang Vũ biểu hiện
nội tâm tan nát của con người thời loạn, con người khủng hoảng niềm tin, không
biết bấu víu vào đâu. Tham gia chiến tranh trong vai trò người lính, phải biền
biệt xa gia đình và những người thân yêu, chấp nhận mất mát, hy sinh, đói khát,
bệnh tật và những thử thách nghiệt ngã nhất của hoàn cảnh. Song đớn đau nhất của
những người lính không phải ở chỗ họ phải chịu gian khổ, cơ cực, mất mát, hy
sinh mà là sự day dứt, là lời sám hối vang lên từ sâu thẳm lương tâm khi phải cầm
súng xả đạn vào con người, cho dẫu họ là “kẻ thù”, là người bên kia chiến tuyến: Bao
phố làng đổ sụp/ cổ nghẹn lòng thù hận/ nhìn bao em bé mồ côi/ mà sao chiều
nay/ giết xong quân giặc/ chẳng thấy lòng thảnh thơi nhẹ nhõm/ chỉ nỗi buồn
trĩu nặng/ dâng lên như đá trên mồ. (Những đứa trẻ buồn); Mai đây
bão táp lùi xa/ những lớp người vĩ đại/ hay chỉ là những thế hệ đáng thương?/ sẽ
xuýt xoa thán phục biết ơn/ hay kinh hãi trước bạo tàn bắn giết?(…) Các
anh ơi, đừng trách chúng tôi/ các bà mẹ, tha thứ cho chúng tôi/ chúng tôi chẳng
thể làm khác được/ quả đồi cháy như một phần quả đất/ bao đời người ta đã giết
nhau/ với các anh tôi oán hận gì đâu/ nhưng còn có cách nào khác được (Cơn
bão)…Đó là những cảm xúc rất Con Người, rất chân thật, nó cho chúng ta thấy nỗi
khổ tâm của người lính tham gia chiến trận khi thức nhận, ngộ ra một bi kịch
trên cả bi kịch: muốn sống làm người nhân đạo, tử tế cũng không phải dễ dàng.
Chiến tranh với quy luật nghiệt ngã và tính chất khốc liệt của nó buộc con người
nhiều khi không còn cách lựa chọn nào khác là phải “nhắm mắt đưa chân” để rồi
cuối cùng phải nói lời “xin lỗi về những lầm lẫn dĩ vãng” (Nguyên Sa). Có lẽ bắt
nguồn từ chủ nghĩa cảm thương sâu sắc đầy tính nhân bản của người Việt
Nam: nghĩa tử là nghĩa tận. Không ai nỡ đối xử tệ bạc với người đã mất
cho dù đó là kẻ thù của mình khi sống, những chia sẻ chân thành của Lưu Quang
Vũ là hiện thân sinh động của tư tưởng nhân văn cao đẹp, bắt nguồn từ trong
truyền thống đối nhân xử thế vô cùng tốt đẹp của dân tộc. Vì lẽ đó, những giá
trị văn hóa này đồng thời cũng thuộc một hệ giá trị tư tưởng, nó cần được khẳng
định trong sự nghiệp thơ của Lưu Quang Vũ.
Xuất phát từ tư tưởng tiến
bộ của thời đại Lưu Quang Vũ đã thể hiện khát vọng thiết tha con người
hãy đón nhận con người làm bạn. Ở đây hồn thơ Lưu Quang Vũ đã đồng điệu
cùng hồn thơ Quang Dũng – một nhà thơ đầy cá tính của thế hệ đi trước. Trong
bài thơ mang tên Chabbi Chabbi đối tượng quan tâm của Quang
Dũng là người lính bên kia chiến tuyến, là “kẻ thù” của cộng đồng dân tộc. Đi
ngược lại với lập trường phân biệt ranh giới địch/ta, cũng như không khí hào
hùng của khá nhiều bài thơ kháng chiến đương thời, trong Chabbi Chabbi là
sự lắng sâu âm hưởng trầm buồn của nỗi niềm khắc khoải phận người.
Qua hình ảnh những người lính Âu Phi – những con người bị bủa
vây bởi muôn vàn bi kịch của đời sống: chiến tranh, chia ly, cái chết, nỗi cô độc
và sự lãng quên …chúng ta có thể thấy vang lên từ đây tiếng nói phản
kháng chiến tranh cùng câu hỏi khẩn thiết: phải làm sao cho nhân loại thoát khỏi
nỗi đau và sự mất mát nhiều khi đến phi lý do chiến tranh gây ra? Đằng sau mỗi
câu thơ là thông điệp hiện sinh, là tiếng thở dài xót xa cho nhân quần, cho mỗi
kiếp người mà đường biên giữa sống/chết, hạnh phúc/bất hạnh thường hiện hữu như
sợi tơ mong manh giữa “cõi nhân gian bé tí” (từ dùng của Nguyễn Khải) và hư ảo…
Phải chăng ở những nhà thơ có trái tim rộng mở tình yêu thương đối với con người
và tư tưởng nhân văn tiến bộ sâu sắc thường gặp nhau ở những điểm chung mà Lưu
Quang Vũ và Quang Dũng là những trường hợp không ngoại lệ!
Hàn Mặc Tử từng viết “Người
thơ phong vận như thơ ấy”, điều này rất đúng khi xem xét mối quan hệ giữa “thơ”
của Lưu Quang Vũ và “phong vận” của thi nhân. Đọc Lưu Quang Vũ có thể nhận
thấy rất rõ thơ đối với ông như một nhu cầu tự thân của thế giới nội tâm. Lưu
Quang Vũ làm thơ là để diễn tả tâm trạng và những cảm xúc cao độ mà ông trải
nghiệm trong cuộc sống, thơ là phương tiện chủ yếu để “người thơ” bộc bạch nỗi
niềm, tình cảm. Dường như có một đại dương tình cảm luôn nồng nàn, sôi sục
trong “con người bên trong con người” của Lưu Quang Vũ, chỉ mong được trào ra dữ
dội, mong được dâng hiến đến tận cùng. Nhưng hiện thực cuộc sống với muôn mặt
tương phản không đơn giản như vậy. Đối diện với nhiều thử thách của cuộc sống,
trải nghiệm những vui buồn, hạnh phúc, thất vọng, khổ đau… Lưu Quang Vũ
thức nhận chính mình: Tôi lại là đứa trẻ lang thang/ đi tới bao miền xa
lạ / ta đi giữa cỏ hoang và gỗ đá/ giữ trong lòng ngọn thác trắng trào sôi/ một
tình yêu không biết nói cùng ai/ đến điên dại đến nghẹn ngào đau đớn/ mặt anh vỡ
trong tấm gương thất vọng/ em ơi ngày ấy em đâu?/ hoa cúc xanh tuổi nhỏ chết từ
lâu (Em – tình yêu những năm đau xót và hy vọng).
Sự thất vọng và đổ vỡ niềm
tin khiến con người dễ rơi vào trạng thái cô đơn. Cảm thức cô đơn, nhiều ưu tư,
trăn trở thậm chí có lúc u uất đến “nghẹn ngào đau đớn” cứ trở đi trở lại trong
thơ Lưu Quang Vũ như một trong những cảm hứng chủ đạo chi phối nhiều bài
thơ của ông: Ngã tư tháng chạp, Móng tay trên đá, Hoa Tigon, Liên tưởng
tháng hai, Mưa dữ dội trên đường phố trên mái nhà, Hoa cẩm chướng trong mưa, Mặt
trời trong nước lạnh, Người con giai đến phòng em chiều thu, Em – Tình yêu những
năm đau xót và hy vọng, Gửi Hiền mùa đông, Không đề I, Anh chỉ sợ rồi trời sẽ
mưa, Lời cuối, Bầy ong trong đêm sâu, Mấy đoạn thơ, Giấc mộng đêm, Nếu đó
là tội lỗi, Gửi một người bạn gái…
Xét trên bình diện phổ
quát, thân phận con người cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ cũng là vấn đề thường gặp
trong văn chương của nhiều thi nhân mà tên tuổi của họ đã trở nên gắn bó với nền
văn hóa dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Xuân Diệu, Hàn Mặc
Tử, Nguyễn Bính… Vấn đề đặt ra ở đây là trong thơ Lưu Quang Vũ chân dung
con người cô đơn được tái hiện như như thế nào?
Viết về Lưu Quang Vũ, Lưu
Khánh Thơ đã nhận xét: “Bản năng thi sĩ của ông giàu có trong những nỗi buồn,
cô đơn, tuyệt vọng” (Lưu Quang Vũ, 2010, Gió và tình yêu thổi trên đất
nước tôi, Nxb.Hội Nhà văn , Hà Nội, tr.7)
Quả đúng là như vậy, dường
như nỗi buồn, sự cô đơn đã đánh thức tiềm năng sáng tạo của Lưu Quang Vũ. Trái
tim nhạy cảm dễ “vỡ” của thi sĩ đã không thể ngủ yên trước “cuộc sống anh
không chấp nhận/ mà thương đến xót xa lòng” (Vẫn thơ tình về người đàn bà
không có tên II). Đọc Lưu Quang Vũ có thể thấy thi giới ông tràn ngập nỗi cô
đơn – cô đơn như “dự phóng sáng tạo” bật lên từ ám ảnh thẳm sâu vô thức. Trạng
thái cô đơn được Lưu Quang Vũ phác họa sinh động, đa dạng, phong phú, nhiều
cung bậc: Tuổi thơ buồn như một mảnh vườn hoang /Nơi ấp ủ con dế mèn cô
độc (Đất nước đàn bầu); Sao tôi lại muốn em tin/ Khi chính tôi
cũng chẳng tin ai cả/ Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ/ Thằng bé lẻ
loi giữa lớp học ồn ào/ Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao (…) Tôi
là người lính cô đơn ở giữa trung đoàn/ Bao lâu rồi vẫn chỉ có thế thôi/ Nỗi cô
đơn hoàn toàn cô đơn khủng khiếp/ Trước và sau trong và ngoài cuộc đời và trang
sách…. (Mấy đoạn thơ); Cả cuộc đời là ở sân ga/ Trước chuyến đi vô
tận/ Cuộc lên đường tối tăm đơn độc/ Người ta chết có một mình/ Đó là điều buồn
nhất (Lời cuối); Chẳng có chi phía trước để mong chờ/ Chỉ còn
lại một màu hoa gay gắt/ Cái màu hoa cô độc/ Nở âm thầm trong giá buốt heo may (Những
đêm hoa vàng); Một nhà ga cô quạnh/ Một người đàn bà ướt lạnh/ Đứng chờ
anh (Không đề I); Anh có hẹn đâu, anh chả nói câu nào/ Anh chỉ
buồn thôi, em chỉ buồn thôi, ai biết? (Bầy ong trong đêm sâu), Em u
buồn em có nhận hay không/ Em gầy như huệ trắng xanh/ Ngọn lửa nhỏ giữa hai vực
thẳm/ Em tê dại em âm thầm kiêu hãnh/ Em cô đơn như biển lạ lùng ơi (…)/ Mai
em đi mùa hạ cũng qua rồi/ Tôi ở lại một mình trên phố vắng (….) Đêm phòng
không tiếng nổ vỡ khắp trời/ Thời đau khổ chung quanh đều đổ nát/ Nỗi cô độc
đen ngòm như miệng vực/ Tôi muốn đi tới vách cùng em(…)Tôi tan nát tôi kinh
hoàng sợ hãi / Em cô đơn rồ dại của tôi ơi! (Lá thu); Phải xa em
anh chẳng còn gì nữa /Chẳng còn gì, kể cả nỗi cô đơn (Em vắng)…
Chiêm nghiệm, suy ngẫm về
văn hóa của nhân loại, chúng ta thấy rất rõ nhiều khi cô đơn không phải là điều
đáng sợ, mà còn là điều rất đáng trọng. Cô đơn chỉ đáng sợ khi ta tuyệt tình với
vạn vật và mọi người xung quanh, khi chỉ biết sống quay quắt với bản thân mình.
Nhưng nếu coi cô đơn là môi trường cần thiết để ta sống thật lòng mình, tìm lại
chính mình trong sự thật và sự thiện, để từ đó hứng khởi sáng tạo, trở thành một
con người vững chãi thì ta hãy dũng cảm đối diện với sự sô đơn. Sự trốn chạy khỏi
nỗi cô đơn là trạng thái tâm lý chỉ làm ta suy yếu, tránh né chính mình, không
dám sống trọn vẹn là mình. Lý thuyết hiện sinh đã khẳng định cô đơn là một yếu
tính của thân phận con người. Nếu chối bỏ, không thừa nhận sự cô đơn chính là
đã vô tình tước bỏ những phẩm tính Người trong mỗi Con Người. Cô đơn như người
bạn đồng hành mang đến một sức mạnh nội tâm để thanh luyện tâm tình, hướng tới
sự thông giao mầu nhiệm với thế giới xung quanh. Do đó, thực chất của cô đơn là
tập trung năng lực để sáng tạo, cô đơn được coi như một giá trị tinh thần.
Những giây phút tĩnh lặng như một điều kiện để an dưỡng tinh thần ; để định tâm
và tu tập ; để khám phá bản thân sâu rộng hơn qua những gì mình đã, đang sống
và cảm nhận. Chiêm nghiệm thơ Lưu Quang Vũ chúng ta thấy vấn đề con người cô
đơn không nằm ngoài những giá trị nhân văn trên. Đề tài về sự cô đơn trống vắng
cũng là một đề tài thường gặp trong thơ của nhiều thi nhân mang tầm vóc nhân loại
như Puskin, Lecsmantop, Exinhin, Onga Becgon… Thơ Lưu Quang Vũ không nằm ngoài quỹ
đạo của tư duy thơ mang tính phổ quát toàn nhân loại. Do vậy, sự hiện hữu cái
Tôi cô đơn bản thể trong thơ Lưu Quang Vũ là giá trị chứng tỏ tư duy thơ của
ông đã bắt kịp với dòng chảy của tư duy thơ nhân loại.
Một trong những ám ảnh
sâu sắc trong thơ Lưu Quang Vũ là bi kịch thân phận nghệ sĩ cô đơn.
Lưu Quang Vũ là nhà thơ luôn nhận thức và khám phá chính bản thể mình. Đọc
thơ ông chúng ta thấy thân phận con người nghệ sĩ của chính ông. Lý do cơ
bản khiến thơ Lưu Quang Vũ xuất hiện bi kịch thân phận nghệ sĩ cô đơn là bởi
nhà thơ với tất cả trách nhiệm và sự trân quý cuộc sống đã không thừa nhận sự tồn
tại của những điều phi lý, phi nhân văn đang diễn ra trong cuộc sống.
Trong quan niệm của Lưu
Quang Vũ, những mất mát mà con người phải chịu trong chiến tranh là phi
lý: Đêm chiến tranh/ Thành phố không đèn/ Má em tựa vào tay anh gầy guộc/
Tóc em trắng trong cơn mơ thảng thốt/ Chúng mình chẳng nhận ra nhau/ Đứng giữa
hai ta là những người đã chết/ Bóng họ che đen sì cả mặt/ Những vết thương rách
nát/ Những nụ cười từ lâu đã tắt/ Như tuổi trẻ sớm tàn trong cơ cực của ta (…)
Những khổ đau dằng dặc/ Những tai ương đang diễn ra khủng khiếp/ Có chút gì
nghĩa lý hay không? (…) Có ai nghe lời nói thật của ta đâu/ Đêm tối quá không
tìm nhau được nữa.” (Mặt trời trong nước lạnh); Sự thật phũ phàng, bạc bẽo,
không gian tối tăm bóp nghẹt cuộc sống là phi lý: Khi người ta mặc cả
máu người/ thay tình nghĩa như thay áo lót/ khi chung quanh ngổn ngang xác chết (…) thù
hận mênh mông mặt đất bùn lầy/ em chập chờn đi trên đổ nát/ thành phố bờ đá dựng/
những bánh xe lăn vỡ/ những hầm hố những nhành hoang huyệt mả (…) bầy ruồi chết
ngạt trong tủ kính/ những mặt nạ khóc ròng trong rạp xiếc (Em III), sự
phi lý có lúc nằm trong Cuộc đời như một mụ già dâm đãng/ Một núi giây
thừng bẩn thỉu rối ren (Có những lúc)…Nhà thơ không dung nạp, không thỏa
thuận sự phi lý, ông viết về sự phi lý để bày tỏ thái độ phản kháng lại sự phi
lý. Nhưng làm sao hết được sự phi lý, bất công khi cuộc sống vẫn cuồn cuộn chảy
theo quy luật. Bản thân Lưu Quang Vũ đã từng bộc bạch: Đã có lần tôi muốn
nguôi yên/ Khép cánh cửa lòng mình cho gió lặng/ Nhưng vô ích làm sao quên được/
Những yêu thương khao khát của đời tôi. (Gió và tình yêu thổi trên
đất nước tôi). Dẫu biết rằng mình “lực bất tòng tâm”, muốn an phận cho
bình yên cuộc sống riêng mình nhưng cuối cùng trái tim nghệ sĩ với tình yêu tha
thiết với con người và cuộc đời vẫn khiến ông tiếp tục vượt lên trên những mệt
mỏi, hoài nghi để suy tư, trăn trở, yêu thương, khát vọng, sống và viết… Nhưng
càng hướng đến lý tưởng sống bao nhiêu, thi nhân lại càng thất vọng bấy nhiêu,
và càng thất vọng thì con thuyền cô đơn càng đẩy ông xa bờ…cứ như thế, một
nghịch lý luẩn quẩn, bế tắc không gì có thể giải tỏa đã khiến nhà thơ rơi vào
trạng thái tuyệt vọng: Anh muốn ác mà không sao ác được/ cứ yêu thương
chờ đợi ích gì không? (Em III), Giờ khắp nơi những tấm gương
trong/ Đã vỡ vụn sau dập vùi bom đạn/ Người con giai yêu em/ Đã chết ngoài mặt
trận (Gửi Hiền mùa đông), Mông lung không đoán được ngày mai/
Máu chảy thành sông thây chất núi/ Bè bạn tan hoang mình rã rời (Đêm
đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời
loạn); Gã đàn ông quầng mắt tối đen/ Trong cuốn sách buồn/ Nói với tôi
lời buồn bã: Con người chỉ là ống sậy cô đơn/ Trái đất giữa không trung/ Như một
giọt nước mắt (….) Nỗi cô đơn tuyệt vọng… (Hoa cẩm chướng trong mưa; Có
những lúc tâm hồn tôi rách nát/ Như một chiếc lá khô như một chồng gạch vụn/ Một
tấm gương chẳng biết soi gì/ Một đáy giếng cạn không một hốc mắt đen sì/ Trời
chật chội như chiếc lồng trống rỗng (Có những lúc); Tôi mua
hai hào thuốc lá/ ngồi hút mà buồn thiu/ cuộc đời chẳng ra làm sao/ có đáng cho
mình đau đớn? (Ngã tư tháng chạp); Thôi chẳng chờ mong nữa/ Chẳng
đua chen với cuộc đời này/ Xin chối từ cái bàn tiệc đắng cay/ Lòng tốt ai cần
dùng đến/ Thơ không đâu dùng/ Anh như thằng Bờm/ Chẳng thiết trâu bò chẳng thiết
lim/ chỉ nhận nắm xôi cười ngặt nghẽo (Ngã tư tháng chạp).
Thông thường, khi nỗi cô
đơn đã chạm đến bến bờ của tuyệt vọng thì mọi hiện hữu cũng trở thành vô nghĩa;
Song,ở Lưu Quang Vũ, ngay trong sự tuyệt vọng nhất của thi nhân người
đọc vẫn thấy thơ ông tha thiết hướng về tình yêu thương con người và cuộc sống,
bởi vì khi tuyệt vọng được chưng cất thành thơ đồng nghĩa với việc nhà
thơ đã bất tử hóa cuộc sống, truyền vào nó một giá trị mỹ cảm, mang lại niềm
tin cho con người. Phải chăng nhà thơ muốn gửi đến chúng ta thông điệp cho dù
dư vị của nó thế nào cuộc sống vẫn rất xứng đáng để con người yêu quý, nâng
niu, trân trọng: Dù tiếng tôi chỉ một người nghe/ Tôi phải đốt lên một
cái gì/ Cho sáng rực giữa chênh vênh vực thẳm/ Dẫu bao lần người làm tôi thất vọng/
Tôi vẫn yêu người lắm lắm người ơi/ Tình yêu tôi như một tiếng chuông dài…(Có
những lúc) . Chính vì vậy, dẫu đơn độc đến tột cùng, thi nhân vẫn kiên cường
theo đuổi giấc mơ: Tôi thức suốt trong nỗi buồn của đất/ Tôi nguyên chất
tôi đi tìm đôi cánh/ Để cuối cùng gặp được biển khơi/ Mặn xé lòng là muối biển
đấy thôi/ Lên ghềnh đá chênh vênh tôi viết/ Những dòng chữ không sóng nào xoá
được/ Những dòng chữ như móng tay day dứt/ Trên vỏ dưa xanh thắm của mùa hè/
Cho kẻ không nhà mái lá chở che( Móng tay trên đá); Dù con người là
cô đơn/ Các ác là dày đặc/ mỗi bài thơ của chúng ta/ phải như một ô cửa/ mở tới
tình yêu (liên tưởng tháng hai). Tinh thần trên cho thấy bản
lĩnh nghệ sĩ cao cường của Lưu Quang Vũ- một bản lĩnh mà nếu không có một sự
nghiệm sinh bền bỉ, một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và một trí tuệ mẫn tiệp thì
không bao giờ đạt được.
Đặc biệt cảm thức về thân
phận cô đơn của người nghệ sĩ được thể hiện sâu sắc trong bài thơ Nếu
đó là tội lỗi: Một con người không phải chỉ là một cái tên trong hộ
khẩu/ Một con tốt trong bàn cờ/ Một viên gạch một cái đinh/ Để treo biển hàng
và đặt ghế/ Con người chưa được làm người/ Bao lệnh cấm đang đè lên thế giới/ Cấm
yêu thương cấm khát vọng cấm tự do/ Bao con chim bị nhốt ở trong tù/ Bao giải
băng đen che kín mắt/ Khi bè bạn gặp nhau có người theo dõi/ Thầm thì không dám
nói to. Ý thức về nhân vị của người cầm bút, tư tưởng muốn phá bỏ những
rào cản phi lý để người nghệ sĩ được cất tiếng nói thành thật với lòng mình, được
tự do bay bổng trong bầu trời sáng tạo nghệ thuật – đó là khát vọng chưa bao giờ
nguôi ngoai của nhà thơ Lưu Quang Vũ.
Bi kịch: Khi những
bài thơ anh viết ra/ Chỉ một mình anh đọc là sự phi lý đến khó hiểu,
là nỗi đau đớn “bị ruồng bỏ” không chỉ của riêng nhà thơ, đó là nỗi nhức nhối
chung của những người cầm bút coi văn chương là lẽ sống của đời mình. Sở dĩ lúc
đương thời thi sĩ đã không thể cho ra mắt bạn đọc được một tập thơ theo tâm
nguyện là bởi sự “dấn thân” lựa chọn con đường đi khác biệt đã khiến thơ ông trở
nên “lạc điệu” trong dàn “đồng ca” thơ của một thời đất nước chìm trong chiến
tranh, tao loạn. Chính sự khác biệt, độc đáo của tư duy thơ đã mang đến “hệ lụy”
cho thơ Lưu Quang Vũ, để rồi cũng như nhiều nghệ sĩ chân chính khác dám
“lội ngược dòng” đã đi vào cõi bất tử, Lưu Quang Vũ cũng đã thực sự cô độc trên
hành trình thơ của mình. Nhưng cuối cùng, đúng như nhà thơ đã khẳng định: Không
sợ ngục tù bạo lực/ Dù khổ sở dù phiền hà/ Thơ không bao giờ câm lặng/ Như nhịp
đập của trái tim trung thực/ Là nhân chứng của anh/ Là ngọn lửa trắng trong/
Trên lịch sử tối tăm trên tro bụi (Nếu đó là tội lỗi).
3. Có
thể nói, trước khi trở thành một nhà viết kịch lừng danh ở những năm 80 của thế
kỷ XX thì Lưu Quang Vũ đã là một nhà thơ hiện hữu trên thi đàn với một phong
cách riêng, độc đáo và giàu cá tính sáng tạo. Thơ Lưu Quang Vũ từ khi mới xuất
hiện đã thể hiện một cách nhìn mới, một cách nghĩ mới, một thi pháp mới khác với
bầu khí quyển của thơ ca đương thời. Vũ trụ thi ca của Lưu Quang Vũ, vì thế là
vũ trụ thi ca của một thi giới riêng thấm đẫm vị nhân sinh với những day dứt,
băn khoăn và khắc khoải về thân phận con người. Trước đây, bởi giới hạn của hệ
hình tư duy ấu trĩ một thời, đọc những bài thơ khác lạ, không mang “âm hưởng
hào hùng” người ta thường nghĩ thơ Lưu Quang Vũ gieo rắc nỗi buồn đau bi lụy.
Nhưng với độ lùi thời gian, hôm nay chiêm nghiệm những vần thơ Lưu Quang Vũ để
lại, chúng ta cảm nhận rất rõ nỗi buồn thương, chia sẻ sâu sắc về thân phận con
người trong thơ Lưu Quang Vũ mãi mãi như một điểm tựa tinh thần quý giá đồng
hành cùng độc giả trên hành trình cuộc sống đầy trắc ẩn. Câu nói của André Maurois:
“Nghệ thuật là thứ chống lại định mệnh” quả thật luôn có ý nghĩa với trường hợp
Lưu Quang Vũ. Dẫu định mệnh nghiệt ngã với số phận của một thiên tài nhưng sự
nghiệp thơ ca đầy ấn tượng của ông đã, đang và sẽ thắp lửa trong lòng bạn đọc
nhiều thế hệ; Tấm lòng bao dung vị tha và tình yêu Con Người tha thiết, nồng
nàn, trong sáng, tinh khôi như pha lê của Lưu Quang Vũ sẽ tiếp tục được nối dài
thêm đến vô cùng; và điều đó như một sự chia sẻ, tri âm sâu sắc cùng thi sĩ với
khát vọng nhân văn ông nhắn gửi mai sau: Bao bài ca xáo trộn trong tôi/ Có
tiếng khóc của con chim gẫy cánh/ Tiếng đau rên của ngôi nhà đổ sập/ Tiếng
con thuyền không về được bờ quen/ Tiếng mưa rơi trên ngọn cỏ yếu mềm/… (Tôi chẳng muốn kỷ niệm về tôi là một điệu hát buồn).
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Thái Đỉnh
(2008), Triết học hiện sinh, Nxb.Văn học, Hà Nội
2. Phạm Xuân Nguyên
(2014), Nhà văn như là Thị Nở, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.
3. Nguyễn Bá Thành
(2015), Toàn cảnh thơ Việt Nam, Nxb.Đại học Quốc gia, Hà Nội.
4. Lưu Quang Vũ(2002), Thơ
tình, Nxb. Văn học, Hà Nội.
5. Lưu Quang Vũ
(2002), Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (tuyển thơ, Nxb
Hội Nhà văn, H.2010), Di cảo Lưu Quang Vũ, (Lưu Khánh Thơ tuyển soạn, Nxb. Trẻ,
H.2018) Lưu Quang Vũ (2018), Di cảo, Nxb. Trẻ, Hà Nội
6. Jean Paul Sartre
(2016), Thuyết hiên sinh là một thuyết nhân bản, Nxb. Tri thức, Hà
Nội.
12/3/2020
Cao Thị Hồng
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Diện mạo thơ Việt đầu thế kỷ XXI
Diện mạo thơ Việt đầu thế kỷ XXI Giờ đây, khi nhìn lại, chúng ta thấy thế kỷ XX là một thế kỷ đầy những biến động to lớn của văn học Việt ...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...
-
Thẩn thơ Võ Phiến Nhà văn Võ Phiến, sinh năm1925 tại Bình Định - qua đời chiều 28-9-2015 tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Dư luận chợt nhớ đến một sự n...
-
Nỗi khắc khoải kiếm tìm bản thể trong truyện của Nguyên Minh Nguyên Minh như một chứng nhân sinh động cho một thế hệ cầm bút từ trước 1975...

