Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

 

Nhà thơ Tế Hanh: Lạt mềm buộc chặt

Có một thời, nếu chọn 5 gương mặt tiêu biểu của nền thơ đương đại Việt Nam, các nhà phê bình thường nhắc tới: Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và Tế Hanh. 5 nhà thơ ứng với 5 ngón tay trên một bàn tay – một bàn tay được coi là “nắm đấm thép” của nền thi ca cách mạng. Trong 5 ngón tay ấy, vị trí có thể được sắp xếp lại giữa các ngón từ thứ 2 tới thứ tư, nhưng vị trí ngón cái (thuộc về Tố Hữu) và ngón út (ứng với Tế Hanh) thì dường như không thay đổi.

Vẫn biết, mọi sự so sánh đều khập khiễng, và những ai đã yêu thơ Tế Hanh thì tình yêu ấy hẳn sẽ rất bền bỉ, thủy chung, song quả là xét trên một số bình diện (như sự phong phú về đề tài, sự đa dạng trong bút pháp, hay sức khái quát hiện thực), tầm vóc của Tế Hanh có phần khiêm nhường hơn so với các nhà thơ nói trên. Là tác giả của 15 tập thơ, song Tế Hanh chưa có tập nào thật nổi trội và gây tác động mạnh tới cả nền thơ kiểu như “Việt Bắc” của Tố Hữu, “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên, “Trời mỗi ngày lại sáng” của Huy Cận, “Riêng chung” của Xuân Diệu. Không thật nổi trội song hầu như ở tập thơ nào của Tế Hanh, bạn đọc cũng bắt gặp một đôi bài thơ hay. Có vẻ như trong cuộc chạy đua đường trường, Tế Hanh đã biết cách dưỡng sức để bảo toàn năng lượng cho mình? Bởi vậy mà cùng với độ lùi của thời gian, bỏ qua hàng loạt những bài thơ xốp xoáp, hời hợt của Tế Hanh, ta sẽ thấy những gì ông để lại cho đời không hề ít ỏi.

Năng khiếu thi ca của Tế Hanh phát lộ sớm (Tế Hanh từng kể: Khi đọc hai câu thơ của Lưu Trọng Lư: “Đêm ấy, xuân vừa sang/ Em vừa hai mươi tuổi”, ông bĩu môi: “Những hai mươi tuổi”, ý chê như vậy là… già). Ở tuổi 17, 18, Tế Hanh đã viết nên những thi phẩm từng được nhiều người nắc nỏm: Đó là các bài “Lời con đường quê”, “Những ngày nghỉ học”, “Quê hương” – 3 trong số 4 bài mang nhãn mác Tế Hanh được Hoài Thanh, Hoài Chân chọn đưa vào cuốn hợp tuyển “Thi nhân Việt Nam”. Năm 1939, nhà văn Nhất Linh đã viết trên Báo Ngày nay: “Có thể gọi hai bài thơ “Quê hương” và “Những ngày nghỉ học” là hai bài thơ hay của thi ca Việt Nam và hai bài đó xác định giá trị về nhà thơ Tế Hanh”.

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

Nước bao vây cách biển nửa ngày sông

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng

Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

Bạn đọc ngày nay chắc không mấy ai còn thấy được sự mặn mòi, hấp dẫn của những câu thơ mang đậm yếu tố tả thực được tác giả viết ra cách đây trên bảy chục năm. Sóng gió thời gian đã bào mòn, đã làm hư hại rất nhiều con – thuyền – thơ được cấu tạo bởi những chất liệu không bền vững, không đủ sức đương đầu với những chuyến “đi xa” như vậy. Vả chăng, cũng vẫn chủ đề ấy, lối viết ấy sau này đã bị chính Tế Hanh vượt qua bởi những bài thơ có giai điệu quặn siết hơn, hình ảnh lấp lánh hơn, khơi gợi hơn (đơn cử như bài “Nhớ con sông quê hương”). Riêng hai bài “Lời con đường quê” và “Những ngày nghỉ học” là còn giữ nguyên được sức hút ban đầu. Đó là những bài có ý tưởng, cấu tứ lạ, thuộc loại hiếm gặp trong thơ ca cổ kim.

Hãy xem, trước Tế Hanh, đã có ai chứng kiến nỗi đau tê tái chia ly trên một sân ga mà “nghe ra” được từ cái khối sắt thép đồ sộ của một đoàn tàu nỗi u ẩn của con người: “Bánh nghiến lăn lăn quá nặng nề/ Khói phì như nghẹn nỗi đau tê/ Lâu lâu còi rúc nghe rền rĩ/ Lòng của người đi réo kẻ về” (bài “Những ngày nghỉ học”)? Thơ ca Việt Nam không hiếm những câu viết về cảnh chia ly hay đến mức ám ảnh lòng người, song nghe tiếng còi tàu rúc lên thống thiết mà liên tưởng tới “Lòng của người đi réo kẻ về” thì cảm xúc thật là mãnh liệt. Khó có thể tưởng tượng nó được cất lên từ tâm hồn một cậu bé mới 17 tuổi.

Trước Tế Hanh, chưa ai “nghe ra” như vậy và sau Tế Hanh cũng không ai dám trùng lắp, vì đó là những câu mang dấu ấn riêng độc đáo. Cũng vậy, đến nay, thơ Việt đã đi vào nhiều chủ đề ngóc ngách, các thi sĩ sẵn sàng bóc tách mình ra để sắm nhiều vai, song hóa thân làm “Lời con đường quê” để ca ngợi cảnh đẹp bình dị, dân dã của quê hương gần như vẫn là “độc quyền” của Tế Hanh. Đọc những câu: “Tôi, con đường nhỏ chạy lang thang/ Kéo nỗi buồn không dạo khắp làng/ Đến cuối thôn kia hơi cỏ vướng/ Hương đồng quyến rũ hát lên vang”, ta thấy thiên nhiên dù chỉ hiện lên với đôi nét đơn sơ song vẫn có sức mê hoặc… Hơi thơ tạo cảm giác rất thân gần, dù rằng cái việc để hương đồng cất lên tiếng hát ít nhiều mang dấu ấn của thơ tượng trưng Pháp (thuyết tương giao của Baudelaire: “Hương thơm, màu sắc và âm thanh tương giao cùng nhau”).

Với sự góp mặt của “Những ngày nghỉ học”, của “Lời con đường quê”, của “Quê hương”, năm 1940, tập “Nghẹn ngào” – tập thơ đầu tay của Tế Hanh (sau được tác giả bổ sung thêm một số bài và đổi tên thành “Hoa niên”, xuất bản lần đầu năm 1945) đã được nhận giải khuyến khích của nhóm Tự Lực văn đoàn. Việc một tập thơ có những bài từng được vị chủ soái của Tự Lực văn đoàn viết bài ngợi khen, nay lại chỉ được trao một giải ở thứ hạng thấp như vậy ắt có lý do? Thật ra, mọi sự cũng đơn giản thôi: Ngoài những bài hay như đã nói, ở phần còn lại của “Hoa niên”, tác giả trẻ đã để “lộ thiên” tất cả những gì mà người đời vẫn coi là… dở: Đề tài vụn vặt, tình cảm tầm thường, chữ nghĩa gượng ép, ý tưởng rối rắm, giai điệu rời rạc…(nhiều chỗ có cách bắt vần, ngắt câu, độn chữ rất dễ dãi, kiểu như: “Em trông đám đậu/ Cao hơn đám lúa/ Như anh cao hơn/ Em nửa cái đầu” – bài “Cánh đồng bao la”; “Bạn ơi, đây của, đây lòng/ Xin đem tặng bạn tặng không đủ rồi” – bài “Trao đổi”). Cũng “may”, tập thơ ra đời vào lúc phong trào Thơ Mới đang tuột dốc, người đọc quay lưng với thơ, tiếp đó ít tháng là sự kiện Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất. Vậy nên gần như không còn mấy ai để tâm đến sự xuất hiện của “Hoa niên”, kể cả cái được lẫn cái rất… chưa được của nó. Bản thân Tế Hanh, là tác giả song cũng phải 9 năm sau, từ cuộc kháng chiến chống Pháp trở về, lần đầu tiên ông mới nhìn thấy đứa con tinh thần của mình. Sau này, Tế Hanh cũng chỉ chọn mươi bài (trong số 40 bài) ở “Hoa niên” để đưa vào tập thơ tuyển của mình (NXB Văn học ấn hành năm 1987). Tỉ lệ ít vậy mà vẫn còn… “sạn”.

Nếu như đến với Cách mạng, Chế Lan Viên nhận thấy mình “Đi xa về hóa chậm/ Biết bao là nhiêu khê” thì với Tế Hanh, ông có vẻ thảnh thơi hơn. Dễ hiểu là sau thời “Hoa niên”, hành trang của Tế Hanh khá gọn nhẹ. Tế Hanh cũng thuộc típ nhà thơ có lối sống, lối nghĩ thuần hậu, dễ thích ứng với môi trường cuộc sống mới. Trước đây, cảm hứng thơ của ông chủ yếu thoát thai từ đời thực (hơn là từ sách vở). Sau này, mọi sự vẫn vậy. Tế Hanh là một trong những nhà thơ tiền chiến hiếm hoi khi đến với Cách mạng đã không phải thay đổi nhiều về lối viết. Hãy cứ hình dung: Nếu các bài “Quê hương”, “Lời con đường quê”, “Chiếc rổ may” của Tế Hanh không được in ra vào các năm 1938, 1939 (là năm ông sáng tác chúng) thì những bài ấy vẫn hoàn toàn có thể in được trên các ấn phẩm báo chí cách mạng sau Tháng Tám 1945 mà không hề sợ mang tiếng là “trà trộn tiêu tiền cũ trong chế độ mới”. Sự thực thì về nội dung, bài “Quê hương” có gì là không khỏe khoắn, lành mạnh so với “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận? Và “Lời con đường quê” có gì thiếu trách nhiệm với làng xã, thôn dân so với “Anh chủ nhiệm” của Hoàng Trung Thông? Phải thấy rõ điều này thì mới cắt nghĩa được tại sao Tế Hanh có thể dễ dàng hòa nhập với Cách mạng và có được những gặt hái như vậy, trong khi có bậc kiện tướng của phong trào Thơ Mới, sau Cách mạng năng lực sáng tác trồi sụt nghiêm trọng. Tất cả là do sự thích ứng nội tại của từng nhà thơ. Vậy nên đừng gán ghép “công ơn của Cách mạng” trong trường hợp Tế Hanh, cũng như đừng qui kết các tác giả không làm được những điều như ông là “thiếu mặn mà” với chế độ mới.

Trong “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình Hoài Thanh đã mở đầu bài viết về Tế Hanh bằng một câu: “Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm”. Chắc không phải nói về cái “tinh” của đôi mắt, của sự quan sát cảnh trí, sự vật thông thường, bởi nói thế thì sau này biết giải thích thế nào về việc nhà thơ của chúng ta lâm vào tình trạng mù dở, rồi mù hẳn, trong khi thơ ông vẫn tiếp tục ra đời và chinh phục bạn đọc. Cái “tinh” ở đây là sự tinh tế, nhạy cảm của một hồn thơ trước vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của con người, của tình đời; cái “tinh” của “Nơi mắt nhìn không tới/ Thì lòng ta đến thay” (thơ Chế Lan Viên viết tặng Tế Hanh). Chính cái nhìn của tấm lòng đã giúp Tế Hanh “thấy” được: “Mùa thu đã đi qua còn gửi lại/ Một ít vàng trong nắng trong cây/ Một ít buồn trong gió trong mây/ Một ít vui trên môi người thiếu nữ”, “thấy” được: “Lá phong đỏ như mối tình đượm lửa/ Hoa cúc vàng như nỗi nhớ day dưa/ Làn nước qua ánh mắt ai đưa/ Cơn gió đến bàn tay em vẫy” (bài “Bài thơ tình ở Hàng Châu”). Cũng chính cái nhìn của tấm lòng khắc khoải không yên trước nỗi đau đất nước bị cắt chia đã giúp nhà thơ viết nên những câu thơ âm điệu nhẹ nhàng mà giàu sức lay động: “Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị/ Tận chân trời mây núi có chia đâu” (bài “Nói chuyện với sông Hiền Lương”), giúp ông “nhìn” ra được từ bước chân của những người phụ nữ bán rau tươi: “Xuân từ ngoại thành vào nội thành/ Từng bước, từng bước, từng bước xanh…” (bài “Gặp xuân ngoại thành”).

Đối với những người làm thơ, không gì cũ bằng viết về mây bay, gió thổi, nước chảy, hoa trôi, trăng lên, trăng lặn, cây xanh, lá vàng… Thơ Tế Hanh đầy rẫy những hình ảnh trên. Điều lạ là ông đã “phù phép” thế nào mà có lúc chúng hiện lên quyến rũ và ám ảnh lạ thường. Đó là:

Trời màu xanh nước cũng xanh màu

Sợi gió đến se cùng sợi liễu

Sao ta vẫn một mình lẻ thiếu

Em ở đâu rồi em ở đâu?

 (bài “Em ở đâu?”)

là:

Nông trường ta rộng mênh mông:

Trăng lên trăng lặn vẫn không ra ngoài

 (bài “Nông trường cà phê”)

là:

Cuối thu trăn g vẫn sáng trưng

Hoàng lan hoa sữa thơm lừng không gian

Hồ Tây, Hoàn Kiếm, Thuyền Quang

Nước thu sóng sánh soi hàng mây bay

Nhớ về Hà Nội hôm nay

Cây me cây sấu có thay lá vàng?

Con chim én đã về Nam

Giục anh trở lại cầm bàn tay em

 (bài “Nhớ về Hà Nội hôm nay”)

Nguyễn Du đã viết rồi “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Thì ra, sức hấp dẫn của thơ Tế Hanh còn là ở sự quấn quyện giữa thiên nhiên và tình người. Thiên nhiên trong thơ ông không bao giờ trơ trọi một mình!

Tế Hanh được xem là người có nhiều câu thơ thoạt nghe tưởng như vu vơ, nhưng ngẫm kỹ lại sâu sắc, thấm thía, đụng tới chốn sâu xa của hồn người:

Không em anh chẳng biết mình

Không ngày hôm ấy đời thành ra sao?

 (bài “Không ngày hôm ấy”)

Phố này anh đến tìm em

Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây

 (bài “Hà Nội vắng em”).

Ông cũng được tiếng là người giỏi tạo dựng tứ thơ. Ngoài bài “Vườn xưa” tương đối dài một chút, đa phần những bài có tứ đặc sắc đều rất ngắn:

Cơn bão nghiêng đêm

Cây gãy cành bay lá

Ta nắm tay em

Qua đường cho khỏi ngã

Cơn bão tạnh lâu rồi

Hàng cây xanh thắm lại

Nhưng em đã xa xôi

Và cơn bão lòng ta thổi mãi

(bài “Bão”).

Nhiều bài trong đó là thơ tứ tuyệt. Có bài nêu nỗi tủi phận trong sinh hoạt tuổi già:

Nhớ bạn ngày xuân tìm đến bạn

Về hưu nhà chật, cảm thêm tình

Thuở xưa đá bóng hai hai đứa

Cờ tướng nay anh đánh một mình

(bài “Đánh cờ một mình”)

Quyển sách đầu giường lạc đã lâu

Đến khi tìm lại mất trang đầu

Bụi nhòa dán gặm thương cho sách

Quên cả thương mình đọc được đâu.

 (bài “Thương sách”)

Có bài nêu cảm giác ngất ngây, hoặc chống chếnh từ một cuộc tình:

Biển một bên em một bên

Ta đi trên bãi cát êm đềm

Thân buông theo gió, hồn theo mộng

Sóng biển vào anh với sóng em

(bài “Sóng”)

Em gần gũi, em xa xôi

Sao em như thể chân trời trước anh?

Đưa tay tưởng với được tình

Bước đi tới mãi mà mình vẫn xa

(bài “Em gần gũi, em xa xôi”).

Tứ thơ là gì? Đã có nhiều định nghĩa thế nào là tứ thơ. Theo tôi, một bài có tứ thường gây bất ngờ ở câu kết. Câu kết có sức nâng dậy toàn bài; từ câu kết, người đọc hiểu ra ý nghĩa toàn bài. Những bài không hay ở tứ mà chỉ hay ở chữ, chỉ cần thay chữ ấy bằng chữ khác là… hỏng. Với những bài hay ở tứ, người ta có thể diễn đạt lại cái tứ ấy bằng những chữ khác dài hơn, nôm na hơn, song vẫn khiến độc giả có thể lĩnh hội được cái hay của nó (nói những bài thơ có tứ dễ dịch sang ngôn ngữ khác là vì thế). Những bài thơ có tứ hay của Tế Hanh đều thể hiện được điều này.

Viết lời bạt cho “Tuyển tập Tế Hanh” (NXB Văn học, 1987), Chế Lan Viên đã khéo léo nhắc tới hạn chế của người bạn thơ: “Tế Hanh không chỉ là nhà thơ, anh là công dân, chiến sĩ như nhân dân mình. Cố nhiên các việc ấy không ngăn chúng tôi trong đó có Tế Hanh viết bao nhiêu bài thơ dở”. Đúng là, có một thời gian dài, như các bậc cây đa cây đề khác, Tế Hanh cũng đã xem thơ ca như một thứ công cụ để ông thể hiện trách nhiệm công dân của mình. Ông làm thơ chống giặc càn; tuyên truyền về cải cách ruộng đất; kêu gọi tổng tuyển cử; phản đối Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc vv và vv…Tế Hanh viết kịp thời nhưng có phần dễ dãi. Ông kém Chế Lan Viên ở khả năng phân tích, bình luận sự việc và thua xa Tố Hữu ở tầm khái quát hiện thực. Vũ Quần Phương đã rất hóm khi nhận xét về mảng thơ chính luận và đả kích của Tế Hanh: “Anh đánh địch nhiều khi cũng tới tấp nhưng không có đòn hiểm”. Kể ra, nói vui thì vậy chứ gọi loại thơ này là thơ “đánh địch” e chưa phải. Thơ “đánh địch” đúng nghĩa là phải đưa ra được những sự việc cụ thể, với những chi tiết “đắt giá”, để rồi từ sự việc mà tố cáo bản chất. Thơ Tế Hanh phần lớn là những lời lẽ mang tính miệt thị đối tượng, kiểu như: “Lũ giặc ác kia ơi”; “Vài thằng ngu đi theo lũ giặc”, “Bọn chó mặt người chúng giết em”, “Bọn tay sai giặc Mỹ/ Lũ cú vọ ăn đêm”, “Thằng Thiệu tên tay sai tồi tệ nhất/ Tên Việt gian dòi bọ rúc chuồng xia”. Với cách viết này, nên gọi đó là thơ… chửi địch thì đúng hơn?

Tạng thơ của Tế Hanh khiến ông trở nên rất “núng thế” khi rời xa biên giới tâm hồn mình. Ông khó viết được hay những đề tài không liên quan tới những vui buồn riêng tư của cá nhân ông. Những bài hay nhất viết về chủ đề đấu tranh thống nhất của Tế Hanh như “Nhớ con sông quê hương”, “Chiêm bao”, “Em ở đâu?” đều ít nhiều được chưng cất từ những kỷ niệm riêng và mất mát riêng của chính bản thân tác giả.

Các cụ ta thường nói “sểnh nhà ra thất nghiệp”. Đọc thơ Tế Hanh, tôi có cảm tưởng “sểnh thơ hay ra… thơ dở”, nghĩa là ở ông ít có loại thơ nằm giữa hai loại này. Thì tôi chẳng đã đặt vấn đề ở phần đầu bài viết này rồi: “Có vẻ như trong cuộc chạy đua đường trường, Tế Hanh đã biết cách dưỡng sức để bảo toàn năng lượng cho mình?”. Thơ Tế Hanh một khi đã hay thì gần như cả bài đạt tới độ hoàn mỹ, mà đã không hay thì hiếm khi ông chịu để sót trong đó những câu đặc sắc (không như trường hợp Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…, ngay trong những bài trung bình của họ, bạn đọc cũng có thể bắt gặp những câu hay). Có vẻ như Tế Hanh là người sẻn so. Ông không dám phung phí tài năng. Thơ Nguyễn Trác có câu: “Chúng ta trẻ như những người trẻ nhất/ Chúng ta già hơn các bậc tiền nhân”. Nếu như ở những bài thơ hay của Tế Hanh (kể cả những bài ông viết từ lúc còn rất ít tuổi), ta luôn thấy một tay nghề vững vàng, già dặn thì ở những bài thơ dở của ông, ta lại thấy một sự chuệch choạc như thể của người mới võ vẽ bước vào nghề thơ.

Nhà phê bình văn học Hồng Diệu, trong một bài viết về thơ Xuân Diệu từng phải thốt lên là anh rất ngạc nhiên khi thấy một nhà thơ lớn mà lại có lúc sơ ý như thế …Với cách đặt vấn đề như của Hồng Diệu, hẳn anh sẽ còn nhiều lần ngạc nhiên hơn khi đọc thơ Tế Hanh (đọc những bài thơ dở của Tế Hanh, có thể sẽ có người nghi ngờ vị trí nhà thơ lớn của ông, song ở đời, suy cho cùng, tầm vóc một nhà thơ được tính trên cơ sở những bài hay chứ đâu phải ở những bài dở). Những bài thơ hay của Tế Hanh có đặc điểm chung là không cao giọng. Nó thủ thỉ đi vào lòng người; nhẹ nhàng mà lắng đọng, một thứ “lạt mềm buộc chặt”.

Dẫu không mạnh về khả năng thuyết lý song Tế Hanh cũng đã nhiều lần giãi bày quan niệm của mình về nghệ thuật nói chung và về thơ ca nói riêng. Ông viết trong bài “Trả lời thay Tề Bạch Thạch” (danh họa Trung Quốc): “Vẽ cá thật hơn cá/ Vẽ hoa thật hơn hoa/ Cụ học trường nào thế?/ – Ta học trường lòng ta”. Vẫn biết, làm thơ và vẽ tranh là hai nghề khác nhau, và cách trả lời kiểu trên nghe cũng hơi… mông lung, trừu tượng, nhưng quả là với những bài thơ hay của Tế Hanh, không thể có chuyện “học” mà làm được. Nó là sự chưng cất của tâm hồn, như dòng suối trong tự thanh lọc mình qua mấy tầng sỏi cát; như con trai dưới đáy biển ngậm nỗi đau để hóa ngọc. Nó không nương tựa vào bất cứ thứ gì ngoài một tâm hồn đa cảm, dễ xúc động của một thi sĩ. Hãy nghe Tế Hanh tâm tình cùng Xuân Diệu (bài “Nhớ Xuân Diệu”):

Mọi khi đến nhà anh

Tôi gọi to:

– Diệu ơi!

Nghe anh trả lời:

– Hanh đó hả?

Hôm nay đến nhà anh

Tôi gọi thầm:

– Diệu ơi!

Và chỉ nghe tiếng tôi:

– Diệu ơi!

Thơ là gì, ở đâu, nếu không phải là tiếng vọng từ chốn thẳm sâu nhất của trái tim con người?.

16/12/2019

Phạm Khải
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Phan Khôi, nhà văn, nhà báo, nhà lý luận xuất sắc

Kể từ ngày Phan Khôi nằm xuống (16.01.1959), vào tuổi 72, lặng lẽ với cỗ xe song mã màu đen, đưa ông đến yên nghỉ tại nghĩa trang Hợp Thiện, phía đông ngoại thành Hà Nội, người ta ít nói, ít viết về ông. Điều đó có lý do của nó. Tuy nhiên, dần dần, lịch sử đã thấy: “Ông đã góp công nhiều vào làng báo, làng văn và trở nên nhân vật nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam” ( Xem Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam, tập I, NXB Văn học, Hà Nội, 1997, trang 477). 

Phan Khôi là một hiện tượng văn học độc đáo, có đầy đủ bản lĩnh, cốt cách của một nhân cách độc lập. Ông cũng đại diện cho cái hay và lẫn cả cái dở của người Quảng Nam. Song, nhất quán ở ông, vẫn là một con người trung thực, thẳng thắn, …với chính mình và cuộc đời. Ở ông, sống và viết đều rõ ràng, bộc lộ cái bản ngã, yêu cũng như ghét, thích cũng như không thích, cứ bày ra cả đấy! Phải vậy chăng mà ông đã gánh nhiều oan khiên cả một đời người cũng như với con cháu sau này của ông ! Trước khi chết hơn một tháng, ông có viết một bài có tiêu đề là Chết, như một tổng kết về cuộc đời của mình:

“Người Châu Âu khi gần chết có làm một thứ nghi thức, xin người khác khoan thứ mình, mình cũng khoan thứ cho người khác…Tôi thì thù oán đông lắm. Tôi không khoan thứ cho một ai hết, để mặc họ cứ oán hận”.

Nhất quán quan niệm sống này, vì thế, trong “Bài nói chuyện ở cuộc lễ kỉ niệm Lỗ Tấn ngày 30-10-1955 tại thủ đô“, Phan Khôi viết:

“Lỗ Tấn phản đối trung dung, phản đối cải lương, phản đối thỏa hiệp, tư tưởng bao giờ cũng triệt để, mà nổi bật nên nhất là không khoan thứ kẻ thù địch và không khoan thứ cho đến cùng”.

Âu đây cũng là một biểu hiện của tính cách người Quảng Nam chăng!

Phan Khôi sinh ngày 20 tháng 08 năm Đinh Hợi (6-10-1887) tại làng Bảo An, nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, Nho học, cha ông là Phó bảng Phan Trân, từng làm tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa), mẹ là Hoàng Thị Lệ, con gái của Tổng đốc Hoàng Diệu, người tuẫn tiết khi Hà thành thất thủ năm 1882.

Em gái Phan Khôi là Phan Thị Diệm, lấy chồng là Lê Dư-người từng xuất dương sang Nhật và nổi tiếng trên văn đàn với bút danh Sở Cuồng. Con gái đầu lòng của ông bà Lê Dư-Phan Thị Diệm là nữ sĩ Hằng Phương, vợ nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan, mẹ của giáo sư-viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng.

Thuở nhỏ, ông học chữ Hán và nổi tiếng thông minh, có trí nhớ tốt. Năm 1905, lúc 18 tuổi, Phan Khôi đỗ tú tài Hán học. Nhưng, những năm đầu thế kỷ XX, ngọn gió Âu Tây tràn sang, cái học cũ lỗi thời, ông liền chuyển sang học chữ quốc ngữ và Pháp văn. Năm 1907, ra Hà Nội học thêm tiếng Pháp và tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục, viết giúpcho tờ Đăng cổ tùng báo. Kịp đến năm 1908, vụ kháng thuế Trung Kỳ diễn ra, Phan Khôi nhiệt tình ủng hộ, cho nên, sau khi phong trào bị khủng bố, những người chủ xướng như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Tiểu La, … bị bắt và đày ra Côn Đảo, thì ông cũng bị chính quyền thực dân-phong kiến bắt, giải về giam tại lao xá Hội An, mãi đến năm 1911 mới được tha.

Những ngày trong ngục thất, Phan Khôi vẫn rèn luyện ý chí, tự học thêm tiếng Pháp. Chuyện kể lại rằng, ông siêng học đến nỗi án sát Quảng Nam Trần Văn Thông, vào tận nhà lao, tịch thu sách vở và bảo: ” Anh học để làm gi ? Ai cho anh thi cử nữa mà học ?”. Thế nhưng, ông không nản chí. Riêng về mặt tự học, ông là một tấm gương sáng, Không kể hoàn cảnh, tuổi tác, ở đâu và lúc nào, nhu cầu hiếu tri đã thôi thúc Phan Khôi không ngừng dung nạp những tri thức mới mẻ của phương Tây, nhất là những kiến thức về luận lý học, kinh tế học, triết học, đạo đức học,…Cái tài của ông là, những gì đọc được từ sách vở, ông vận dụng vào thực tiễn và trên cơ sở đó, có những kiến giải riêng.

Hãy nhìn vào công trình như Chương Dân thi thoại, NXB Đà Nẵng, 1996; Việt ngữ nghiên cứu, NXB Đà Nẵng, 1997; Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn, NXB Văn nghệ, Hà Nội, 1955; Tuyển tập tạp văn Lỗ Tấn, NXB Văn nghệ, Hà Nội 1956 hoặc những chương đầy chất thơ như Thi thiên, Châm ngôn, Nhã ca trong Kinh thánh Tin Lành do Phan Khôi dịch,… thì rõ.

Ra tù, ông mở trường dạy học, truyền đạt những kiến thức mới, những canh tân mới của Đông Kinh nghĩa thục, của phong trào Duy Tân. Song, cái chí không dừng lại ở đó. Ông lại ra Hải Phòng, làm thư ký cho Công ty đường biển, đường sông của Bạch Thái Bưởi, giữ việc soạn thảo các văn bản chữ Hán, chữ Pháp để giao dịch với các hãng buôn lớn của Hồng-Công, Vân Nam, Pháp. Những trải nghiệm này giúp ông có những vốn liếng để sống và viết.

Năm 1918, được sự giới thiệu của Nguyễn Bá Trác, người cùng làng, Phan Khôi viết cho Nam Phong tạp chí, một tờ báo nổi tiếng lúc bấy giờ. Thời gian cộng tác không lâu, thế nhưng, thời kỳ này để lại trong ông những ấn tượng khó quên, những chuyển đổi cơ bản về luận lý học, về văn lý phương tây, về những tư trào triết học tiến bộ của phong trào Tân dân chủ từ Trung Quốc truyền sang. Sự chuyển hướng về tư tưởng, cách viết, cách tư duy của Phan Khôi bắt đầu từ đây. Sau đó, ông lại vào Sài Gòn, viết cho tờ Lục tỉnh tân văn.

Những năm 1920, 1921, ông ra Hà Nội, lúc này, vừa viết cho tờ Thực nghiệp dân báo và Hữu thanh tạp chí, vừa đồng thời nhận lời dịch kinh thánh cho Hội Tin Lành, dùng bản chữ Hán đối chiếu với bản chữ Pháp rồi dịch ra tiếng Việt theo cấu trúc ngữ pháp mới. Ở Hà Nội được thời gian, ông quay vào Sài Gòn, tiếp tục viết báo để kiếm sống. Tại đây, Phan Khôi bị tình nghi nên phải lẩn tránh xuống Cà Mau, xa hẳn thế giới chữ nghĩa. Mãi đến 1925, ông mới trở lại Sài Gòn, viết cho các báo Thần Chung, Đông Pháp thời báo, Văn học tạp chí và gửi bài cho Đông Tây tuần báo ở Hà Nội .

Thời kỳ đắc ý của Phan Khôi là từ 1928 đến 1936. Năm 1929 đến 1932, ông làm chủ bút tuần báo Phụ Nữ tân văn . Đây là thời kỳ Phan Khôi viết nhiều và viết sắc sảo nhất. Lại Nguyên Ân trong Phan Khôi-Tác phẩm đăng báo 1928, đã thống kê chưa đầy đủ, cũng đã cho thấy chỉ duy một năm mà có đến gần 170 bài viết, bài dịch (Xem Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1928, NXB Đà Nẵng và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2003). Đặc biệt là, năm 1932, trên Phụ Nữ tân văn số 122, ngày 10-3-1932, Phan Khôi đã  đưa ra “một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”. Nói như Hoài Thanh, “lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ hiện ra một lổ thủng. Ông Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận”. Thế là “cuộc cách mệnh về thơ ca đã nhóm dậy“. Tình già, một bài thơ không bó buộc bởi niêm luật, đã mở ra một chân trời cho thơ ca Việt Nam  giai đoạn 1932-1945(Xem Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh-Hoài Chân, NXB Thiều Quang, SàiGòn, 1967, trang16). Ở Hà Nội, ông làm chủ bút Phụ nữ thời đàm, viết “Văn minh vật chất và văn minh tinh thần”, dẫn tới bút chiến với Hải Triều, Hải Khách, Bùi Công Trừng, Hồ Xanh,…

Những năm 1934, 1935, 1936, ông về Huế, chủ bút báo Tràng An, dạy Việt văn cho trường tư thục Hồ Đắc Hàm; sáng lập tuần báo Sông Hương và cộng tác với Hà Nội báo. Năm 1936, Phan Khôi cho in Chương Dân thi thoại, gồm 43 chương (tác giả gọi là tắc), tức 43 câu chuyện về thơ được ông chọn lại trong gần 20 năm giữ mục Nam Âm thi thoại, do Đắc Lập-Huế in. Đây là tập sách tập hợp những bài đã đăng trên các báo Nam Phong tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần Chung, Phụ nữ tân văn, Trung Lập báo từ năm 1918 đến 1932, đề cập đến nhiều vấn đề về sáng tạo thi ca.

Có thể nói, từ việc nghiên cứu, khảo sát những tư liệu về thơ, nhất là đi sâu vào bản chất thể loại, chức năng xã hội , đặc trưng ngôn ngữ,… cũng như những vấn đề về cái chân, cái giả, cái hay, cái dở đến trí tưởng tượng trong sáng tạo, phẩm chất của người nghệ sĩ,… đều được ông bàn tới trong Chương Dân thi thoại. Có những chỗ, những đoạn, những luận giải, bây giờ đọc lại, vẫn thấy mới mẻ và thích thú vô cùng. Điều đáng ghi nhận là, văn phong của Chương Dân thi thoại khúc chiết vô cùng. Ý tưởng trình bày rõ ràng, mạch lạc, cụ thể, dù vấn đề đang bàn không đơn giản tí nào. Phải chăng cái tinh thần luận lý học (logique học) đã thấm nhuần  trong cách viết, cách trình bày các nội dung, các vấn đề mà ông đưa ra !

Bây giờ đọc lại những bài viết về văn học dân gian, văn học chữ Hán, về vấn đề quốc học, về chống học phiệt, về Truyện Kiều, về luận lý học, về ngôn ngữ học… không ai không ngỡ ngàng cho sức đọc, sức nghĩ và sức viết của Phan Khôi.  Không có ông thì dứt khoát không có những cuộc bút chiến lẫy lừng trong văn chương Việt Nam thập niên 20, 30 của thế kỷ XX. Đó là, tranh luận với Trần Trọng Kim chung quanh về Nho giáo, tranh luận với Phạm Quỳnh về luân lý của Truyện Kiều, tranh luận về quốc học với Tản Đà, Trịnh Đình Rư, tranh luận về duy tâm và duy vật với Hải Triều, Hải Thanh, Bùi Công Trừng ,…Những năm 20, 30, một mình một ngựa, ông tả xung hữu đột, luận chiến, bút chiến trên văn đàn, làm ngự sử văn học, mở ra chương mới về phê bình, lý luận văn học. Đằng sau câu chữ ông viết , dù có chỗ trực diện, khó nghe, song, đó là cả một tấm lòng, một trách nhiệm của ông đối với nền văn chương học thuật nước nhà.

Thời kỳ tiền khởi nghĩa, cả việc dạy học và làm báo đều khó khăn, ông quay về quê nhà, nghỉ ngơi và đoàn tụ gia đình. Những ngày tháng đó, Phan Khôi luôn theo dõi thời cuộc. Tháng 2-1945, đích thân Nguyễn Bá Trác đến tận nhà, mời ông tham gia Chính phủ Trần Trọng Kim nhưng ông từ chối (Xem Phan Khôi niên biểu trong Chương Dân thi thoại, NXB Đà Nẵng, 1996).

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, theo cơ quan Hội Văn nghệ, Phan Khôi lên chiến khu Việt Bắc. Lúc bấy giờ, đã 60 tuổi, một thân một mình, nhưng suốt những năm tháng đó, ông vẫn nghiên cứu và dịch thuật. Tình cảm của ông đối với dân, với nước vẫn nguyên vẹn, trước sau như một. Tại hội nghị Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam mở rộng, họp từ ngày 18 đến ngày 20-3-1951, Chế Lan Viên ghi lại hình ảnh của Phan Khôi : “Tôi tưởng hình ảnh bác Phan hôm nay ở giữa hội trường, râu dài, tóc trắng, nói lên những lời rung động cả tâm can hội nghị,…” . Năm 1948, ông làm một bài thơ, có tên Thơ tặng một Vệ quốc quân, như sau:

Vượt suối trèo non, tôi đến đây,

Gặp anh về nghỉ dưới chân mây,

Chúc nhau mạnh khoẻ rồi ra trận,

Máu sức càng hăng để đánh Tây.

Đánh đến bao giờ độc lập thành,

Tôi dù già rụi ở quê anh,

Cũng nguyền nhắm mắt không ân hận,

Nằm dưới mồ nghe khúc thái bình.

(Văn nghệ, số 7, tháng 12, 1948, trang 68)

Hòa bình lập lại, về Hà Nội, ông công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1956, nhân kỉ niệm 20 ngày mất Lỗ Tấn, nhà văn nổi tiếng Trung Quốc, ông được cử sang Bắc Kinh dự lễ. Sau đó, Phan Khôi đứng tên, xin giấy phép ra báo Nhân văn. Và, cũng từ đấy, tai ương ập đến với ông.

Giờ đây, sau hơn nửa thế kỷ, với thời gian, mọi việc đã rõ. Những người tham gia Nhân văn-Giai phẩm như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm,… đã được chiêu tuyết, được tặng các giải thưởng văn học nhà nước.

Riêng Phan Khôi,  vào những ngày cuối đông Mậu Tuất (1958), tuổi già, sức yếu và buồn bực, ông bệnh, nằm quay mặt vào tường, ngẫm bao điều thế sự, vẫn giữ sự thủy chung với đất nước và văn chương, sắt son với bạn bè, đồng nghiệp, bình yên từ giã cõi đời tại nhà riêng, số 73, phố Thuốc Bắc, Hà Nội.

Thanh Lãng có một nhận định: “Phan Khôi là khuôn mặt đẹp đẽ nhất của thời đại ta, một tổng hợp kỳ diệu được hình thành do những gì tinh túy nhất của nền cổ học vô cùng tế nhị Đông phương và nền học thuật minh bạch khúc triết của Tây phương” (Tạp chí Văn học, Sài Gòn, số 122, ngày 15-2-1971).

Tiếc rằng, đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào bao quát toàn bộ sự nghiệp văn chương và học thuật của Phan Khôi. Trong nỗ lực của mình, với tấm lòng và bụng liên tài, chỉ mới Vu Gia, người con của xứ Quảng, đã có khảo luận “Phan Khôi – Tiếng Việt, báo chí và Thơ mới“, do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh, 2003, là khá toàn diện, công phu.

17/12/2019

Huỳnh Văn Hoa
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê

Từ lâu đã có nhiều người nghiên cứu về thơ Bích Khê, một trong những hiện tượng độc đáo của nền thi ca Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Cứ tưởng “đỉnh núi lạ” Bích Khê không còn gì để nói nữa, nhưng khi đọc luận văn Thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê của Thạc sĩ Phạm Thị Như Thúy, tức nhà thơ Doãn Thuỵ Như, thì tôi thật bất ngờ với những khám phá mới.

Có lẽ cũng là người làm thơ nên Phạm Thị Như Thúy dễ thấu cảm cái hay cái đẹp và phát hiện ra những khác lạ của thơ Bích Khê, từ ngôn ngữ, thi ảnh, cấu trúc đến các thủ pháp nghệ thuật. Tôi đặc biệt thích thú với phần “Những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê” với những nhận biết bằng ngũ quan, trực giác và cách đọc liên văn bản. Không chỉ bằng cảm thụ thẩm mỹ mà Phạm Thị Như Thuý còn cho thấy một tư duy khoa học trong việc khám phá, phân tích, nhận định với những dẫn chứng minh xác, lý luận thuyết phục và thể hiện bằng thứ văn phong giản dị, sinh động và chặt chẽ.

Có thể nói những khám phá trên là một đóng góp đáng quý của Phạm Thị Như Thúy đối với quá trình nghiên cứu thơ Bích Khê nói riêng và nền thi ca Việt Nam hiện đại nói chung. Mà thi ca là một trong những gốc rễ của văn hoá. Người biết cảm nhận, phân tích được cái hay cái đẹp của thi ca cũng chính là người có khả năng thẩm thấu về văn hoá bằng tư duy lý luận khoa học và tinh thần nhân văn. Tôi mong Phạm Thị Như Thúy dành nhiều thời gian nghiên cứu về văn học, nhất là thơ đương đại, đồng thời sớm “nâng cấp” luận văn Thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê trở thành công trình hoàn thiện hơn, giá trị hơn để công bố tác phẩm rộng rãi đến bạn đọc qua con đường xuất bản sách.

Xin giới thiệu một phần của công trình này trên VHSG.

PHAN HOÀNG

Những vật liệu được nhận biết bằng ngũ quan  

Bước vào thế giới tượng trưng của thơ Bích Khê, ta như lạc vào một cõi trời kỳ ảo luôn vang lên bản giao hưởng tuyệt vời của hương thơm, sắc màu và giai điệu. Có điều đó bởi những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê trước hết là những vật liệu có thể nhận biết được bằng ngũ quan.

Sắc màu huyền diệu và hương thơm thanh khiết

Trong tập Tinh huyết, các bài như: Mộng cầm ca, Đôi mắt, Xuân tượng trưng, Duy tân thể hiện khá rõ quan niệm thẩm mỹ thơ của Bích Khê:

Hỡi lời ca man dại

Điệu nhạc thở hơi rừng

Đêm nay xuân đã lại

Thuần túy và Tượng trưng”

(Xuân Tượng trưng)

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp – Hạt châu trong

Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng

Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng…

… Ta nhịp nhàng ý nhị nhịp theoTa

Lời nối lời bố thí lộc tinh hoa

Của âm điệu, mơ màng run lẩy bẩy,

Một hỗn hợp đẹp xô bồ say dậy

Bằng cảm tình, bằng hình ảnh yêu thương

Và mới mẻ – trên viễn cổ Đông phương!

(Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật?)

Thơ lõa thể! Giai nhân tuần trăng mật,

Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người!…

(Duy tân)

Quách Tấn đã nhận định: “Tinh huyết mang nhiều sắc thái của Tây phương, còn Tinh hoa chứa nhiều khí vị của Đông phương”. Cái “sắc thái của Tây phương” đã kết hợp một cách hài hòa với “khí vị của Đông phương” để sinh ra một tiếng thơ đặc biệt “Của âm điệu, mơ màng run lẩy bẩy / Một hỗn hợp đẹp xô bồ say dậy” mà trong đó có sự phối màu tuyệt diệu với đủ các gam màu:

– Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng

– Vàng sao nằm im trên hoa gầy

– Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông                 

– Lam nhung ô! màu lưng chừng trời;

Xanh nhung ô! màu phơi nơi nơi.

– Ô trời hôm nay sao mà xanh?

Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành…

– Khung trắng trời mây trắng lạ thường

Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh

– Buồn lưu cây đào xin hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

(Tỳ bà)

Sẽ không có sự phối màu tuyệt diệu đó nếu không có ánh sáng, hay nói cách khác, ánh sáng đã tạo nên sự phối màu tuyệt diệu đó. Và thế là trong những câu thơ của Bích Khê luôn tràn ngập ánh sáng: ánh sáng phát ra từ bàn tay búp sen của giai nhân đi trong chiêm bao ẻo lả, biến thành cái nhìn ảo giác chỉ có trong tưởng tượng huyền diệu:

Tay búp sen kẻ lên vàng óng ả

Những đường thêu kim tuyến rúng đêm huyền.

(Đồ mi hoa)

Ánh sáng phát ra từ:

Ôi! cặp mắt của người trong tựa ngọc

Sáng như gươm và chấp chóa kim cương!

Hai mắt ấy chói hào quang sáng ngợp

Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng.

(Cặp mắt)

Ánh sáng tràn ra từ bước chân thiếu nữ, đẹp như chuyện thần tiên:

Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc

Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương

(Nàng bước tới…)

Và ngay cả khi “chàng Lãng Tử” u buồn thì ánh sáng vẫn bừng lên:

Đây chàng Lãng Tử buồn rơi lệ

Miệng cứng hào quang chảy tợ vàng…

(Sầu lãng tử)

Có thể nói, ánh sáng là một phần đặc biệt quan trọng trong tư duy nghệ thuật của Bích Khê và không gian thơ của Bích khê luôn ngập tràn ánh sáng “Cả không gian là bể sáng trà lan”. Ánh sáng như là có phép nhiệm màu đã khiến những câu thơ của Bích Khê luôn lấp lánh, lung linh, ngời sắc, kể cả khi màn đêm bao phủ, ánh sáng cũng không hề bị triệt tiêu mà thật ám ảnh:

Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.

Một chút trăng say đọng ở làn môi.

(Tranh lõa thể)

Thậm chí, ngay cả khi tâm tư Bích Khê ở trong trạng thái tĩnh lặng nhất, lòng lắm nỗi bất an, nhiều băn khoăn bởi những nỗi buồn mông lung, xa vắng

Nơi đây: làng cũ buồn thu quạnh

Anh có khi nào trở lại chưa?

Ngày đi chậm lắm. Giòng sông biếc

Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa.

(Làng em)

Song nỗi buồn ấy cũng không giam cầm được tâm hồn nhà thơ mà trong những bước chuyển của mùa thu cô quạnh vẫn hừng sáng ánh biếc của dòng sông bí ẩn, mênh mang, lan tỏa… Hai câu thơ: Ngày đi chậm lắm. Giồng sông biếc – Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa là những câu thơ tả cảnh tả tình tuyệt bút của đóa hoa thần diệu thơ Bích Khê. Đó chính bởi Bích Khê luôn hướng thơ mình về phía ánh sáng – thứ ánh sáng khởi nguồn của sự sống.

Thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê không chỉ đa dạng, phong phú về sắc màu mà điều quan trọng là cái thế giới muôn vàn sắc màu đó ngào ngạt hương thơm.

Đây bát ngát và thơm như sữa lúa;

Nhựa đương lên: sức mạnh của lòng thương;

Mùi tô hợp quyện trong tơ trăng lụa;

Đây dạ lan hương, đây đỉnh trầm hương;

Đây bát ngát và thơm như sữa lúa;

Hồn xạ hương phơ phất ở trong sương.

(Mộng cầm ca)

Những bài thơ như Nàng bước tới, Nhạc, Xuân tượng trưng, Châu… tràn ngập những hình ảnh nhạc thơm, nắng thơm, khí trời thơm, hoa thơm, cỏ thơm, nụ cười:

Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc

Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương

Là nơi đây đoàn tụ nhạc mười phương

Ứ thành xuân cho niên hoa bất tuyệt.

(Nàng bước tới)

Trăng gây vàng, vàng gây nên sắc trắng

Của gương hồ im lặng tợ bài thơ.

Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng nặng

Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ.

Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng

Của hồn thu đi lạc ở trong mơ…

(Mộng cầm ca)

Một mùi hương rất đặc biệt là Hương thơm của da thịt của người con gái Nàng là hương hay nhan sắc lên hương, Hương da thịt còn thơm hơn chất xạ (Lõa thể), một mùi thơm quyến rũ: Tôi uống trọn cặp môi hường thơm phức (Chân):

Có cặp lông mày phớt ráng đêm

Dậy như men rượu gợi mơ thèm

Có gì uyển chuyển trên da thịt

Nức một đường thơm một điệu êm

(Châu)

Hay:

Gió thiệt đa tình hôn mặt hoa

Thơm tho da thịt bắt say ngà

(Hiện hình)

Những cặp môi cười gươm sắc lẹm

Chóa lên không khí dội hương vang.

(Mộng lạ)

Điều đặc biệt là, mùi hương ấy vang xa chứ không bay xa: dội hương vang. Đây lại là một kiểu tư duy lạ của Bích Khê. Không chỉ có vậy, lời nói cũng nức ra hơi hương, mỗi cái liếc yêu cũng phảng phất mùi hương, đến cả hồn tôi cũng như đỉnh hương… Có thể nói, thiên nhiên, vũ trụ mở ra trước mắt Bích Khê, đâu đâu cũng ngây ngất mùi hương.

Song, cái chết cũng có mùi thơm thì quả là chỉ có ở thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê: thế giới của Sọ người, Nấm mộ

Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!

Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!

Ôi bình vàng! ôi chén ngọc đầy hương!

Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng!

Ôi thần tình! Người chứa một trời thương.

(Sọ người) 

Một đêm vàng – một đêm vàng âm điệu

Đầy nhựa thơm, xanh mịt ngàn phi lau

Mộng ngời lên bay đến một bến tàu –

Biển ngọc bích, thuyền buồm say sóng dịu;

Hương ngọt ngào, ánh sáng chớp mau mau.

(Nấm mộ)

Nhạc điệu du dương

Đặc điểm nổi bật của thơ tượng trưng là đề cao tính nhạc. Thơ phải gắn chặt với âm nhạc, phải gợi chứ không vẽ các đường nét, hình thể. Nghĩa là thơ không cần có hình tượng rõ nét, và được quan niệm như một bản hòa âm huyền ảo. Mỗi từ trong thơ phải gắn liền với một nốt nhạc. Mỗi bài thơ phải là một bản nhạc. Với Bích Khê, điệu nhạc của những vần thơ, những lời ca man dại được thi sĩ rút tỉa ra từ chính thiên nhiên:

Hỡi lời ca man dại

Điệu nhạc thở hơi rừng

(Xuân tượng trưng)

Bích Khê đặc biệt đam mê âm nhạc và âm nhạc đã trở thành nét chủ đạo trong bản giao hưởng thơ tuyệt vời của ông. Âm nhạc với những biến tấu kỳ ảo của nó đã tạo nên một giọng điệu riêng trong thơ Bích Khê. Âm nhạc, với Bích Khê, không chỉ nghe bằng thính giác mà còn có thể cảm nhận bằng mọi giác quan. Sự tương giao cảm giác này là một sáng tạo độc đáo của thơ Bích Khê. Bằng thơ, Bích Khê đã đưa người đọc đến với một không gian âm nhạc giàu có với những giai điệu lung linh, với những biến hóa kỳ ảo. Giai điệu ấy có thể là hương thơm, là màu sắc:

Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc,

Những cánh hồng đơm, – những cánh hồng đơm

Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây

Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,

Ô nàng tiên nương! – hớp nhạc đầy hương.

(Nhạc)

Là đường nét với những điệu ca thần diệu vẳng đưa lên qua hình ảnh cung thiềm vắt vẻo cài lên mây (Nghê thường) bay bổng, lãng mạn và tình tứ với cái hé môi quyến rũ của người con gái có đôi môi mọng ngọt:

Nường hé môi ra. Bay điệu nhạc

Mát như xuân và ngọt tợ hương.

(Hiện hình)

Đó là giai điệu của tình yêu với những cung bậc khác nhau của cảm giác được diễn tả thật tinh tế:

Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Dây đàn yêu đương run trong mơ

(Tỳ bà)

Tại sao hầu như bài thơ nào của Bích Khê cũng có tiếng nhạc? Bởi cả thiên nhiên đầy ắp nhạc: Nhạc thiên nhiên nhạc đầy pha lê (Lên Kim Tinh). Giai điệu của âm nhạc là hơi thở, là nhịp đập của con tim nhà thơ Bích Khê và với sự nhạy cảm tuyệt vời, nhà thơ đã sáng tạo nên những giai điệu đẹp cho thơ, làm nên những hình ảnh mới lạ độc đáo, làm nên âm nhạc – thơ mang tên Bích Khê:

Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái

Người họa điệu với thiên nhiên ân ái

(Duy tân)

Cái độc đáo trong tư duy nghệ thuật của Bích Khê là khi ông lấy một hình ảnh vừa cụ thể vừa trừu tượng lòng trai ấp mái nói về một hình ảnh cũng vừa cụ thể vừa trừu tượng là âm nhạc, để rồi từ đó đọc ra bản hòa ca tuyệt diệu của cuộc sống: Người họa điệu với thiên nhiên ân ái:

Thơ bay; thơ bay vô bàn tay ngà,

Thơ ngà ngà say! thơ ngà ngà say!

Nàng ơi đừng động… có nhạc trong giây

Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây,

Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,

Ô nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy hương

(Nhạc)

Những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê được thể hiện ở những vật liệu được nhận biết bằng ngũ quan thể hiện rõ ở những câu thơ tương hợp. Câu thơ tương hợp là loại hình câu thơ hàm chứa nhiều phạm trù khác nhau của cuộc sống. Loại hình câu thơ này là kết quả của quá trình ảnh hưởng thuyết tương hợp của chủ nghĩa tượng trưng. Trước hết là câu thơ thể hiện sự tương hợp giữa các giác quan, chẳng hạn như trong câu thơ: Cây du dương lâu đài song sóng. Để viết được câu thơ này, Bích Khê đã sử dụng cả thị giác và thính giác: vừa thấy lại vừa nghe, thấy cây giống lâu đài song sóng, nghe cây phát nhạc du dương. Vì vậy mà cái được biểu đạt của khái niệm “cây” có khả năng đánh thức cùng một lúc thị giác và thính giác người đọc.

Trong bài thơ Tranh lõa thể, Bích Khê viết:

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ,

Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi nầy?

Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?

Đến triển lãm cả tấm thân

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?

(Tranh lõa thể)

Đó là sự tương hợp giữa các giác quan – cả thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác, khứu giác – cũng chính là sự tương hợp giữa các đối tượng của chúng. Do đó mà âm thanh, màu sắc, hương thơm, cơ thể… có thể hòa hợp trong một thực thể. Đối tượng phản ảnh của thơ ca được hiện lên nhiều chiều, nhiều sắc thái, câu thơ lúc đó trở nên sống động và quá trình tri giác nghệ thuật cũng trở nên phong phú và hấp dẫn.

Trong phần tìm hiểu những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê được nhận biết bằng ngũ quan, luận văn có chia ra làm hai mục sắc màu – âm thanh và nhạc điệu, song sự phân chia đó chỉ là tương đối bởi cả ba vật liệu kiến tạo nên thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê được nhận biết bằng ngũ quan đó luôn quấn quýt, đan xen, kết hợp với nhau, thậm chí hòa tan vào nhau mà thành hình tượng thơ tượng trưng của Bích Khê:

Tiếng ngọc, màu trăng quấn quýt nường

Phút giây người lộ mỏng như sương.

– Nường tan ra nhạc? – tan ra nhạc!

Khung trắng trời mây trắng lạ thường!

(Hiện hình)

Hầu như các nhà nghiên cứu đều nhận xét, tính nhạc là điểm nổi bật trong thơ Bích Khê, ở khắp các trang thơ Bích Khê đều vang lên những giai điệu phong phú đến không ngờ. Về tính nhạc trong thơ Bích Khê, luận văn sẽ trở lại ở mục 1 của chương 3 với sự tìm hiểu kỹ hơn về một quan niệm mới của Bích Khê về nhạc của thơ, trong thơ.

Bằng cái nhìn của mỹ cảm tượng trưng và có cả siêu thực, Bích Khê nhìn cuộc đời, con người và thi ca ở phía không hiện hữu và ở đó Bích Khê đã gặp Nàng Thơ của mình. Hình tượng cuộc đời thơm như sữa lúa với muôn sắc màu khoái lạc và những hương thơm thanh khiết, con người chứa một trời thương với tình yêu cuộc sống và tình yêu nghệ thuật, thi ca những rung động truyền thần với đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới và những lời thơ lóng đẹp hạt châu trong hiện lên lung linh, kỳ ảo qua tư duy nghệ thuật tinh tế và giàu sức tưởng tượng của nhà thơ. Có được như vậy là bởi Bích Khê đã tích hợp được những tinh túy của tư duy nghệ thuật phương Tây hiện đại và nền tảng tư duy nghệ thuật phương Đông truyền thống Và mới mẻ – trên cổ viện phương Đông!.

Bích Khê chủ động mở rộng biên độ của thơ, đưa cả âm nhạc, hội họa, kiến trúc, vũ điệu… vào trong thơ, khiến thơ ông không chỉ là thơ mà còn là nhạc điệu, bức tranh, lâu đài…; ngôn ngữ không chỉ là ngôn ngữ, mà còn là âm thanh, màu sắc đường nét của hội họa.

Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái

Hỡi hội họa đến muôn đời nức nở

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong…

Ngôn ngữ lúc này không chỉ là một phương tiện mà trở thành cứu cánh của thơ nhờ vẻ đẹp của sự giao thoa của các loại hình nghệ thuật. Như vậy, có thể nói, tiềm năng tượng trưng của những vật liệu được nhận biết bằng ngũ quan để kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê là vô cùng rộng mở, có thể tới vô hạn.

Điều cần lưu ý về cái “sự học” ở Bích Khê là: sách vở và kiến thức đông tây cổ kim tất nhiên là có, và rất nhiều, nhưng đến một lúc nào đó, cái khối tri thức khổng lồ đó, đã ẩn mình nhường chỗ cho một linh giác lạ thường, làm bừng nở ra những bông ánh sáng – đó là những đóa hoa thần dị – thơ Bích Khê.

Những vật liệu được nhận biết bằng trực giác

Xác – thịt – linh – hồn

Vai trò chủ đạo trong nhận thức và sáng tác nghệ thuật của chủ nghĩa tượng trưng là trực giác – đó là sự bừng ngộ thần bí, với sự khải thị, với trạng thái kích động cao. Và lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca, chủ nghĩa tượng trưng đã “thơ hóa” cả cái xấu và cái ác – đó là tập thơ Những bông hoa ác của nhà thơ tượng trưng Pháp Baudelaire.

Chủ nghĩa tượng trưng xem thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh, là cái bóng, là tượng trưng cho một thế giới mà ta không nhìn thấy được. Cái thế giới không nhìn thấy được đó mới chính là bản thể của thế giới. Cho nên, nhà thơ phải đến với cuộc sống bằng trực giác vì chỉ có trực giác mới tìm ra cái bí ẩn nằm sau thế giới hữu hình, mới nhìn thấy thế giới đích thực là cái thế giới bí ẩn nằm sau thế giới hữu hình không nhìn thấy ấy.

Nói về khả năng trực giác của Bích Khê, Hàn Mặc Tử trong Lời tựa Tinh huyết đã viết: “Trực giác của thi sĩ mạnh quá đến nỗi thấy nhan sắc lên hương, thấy cả sóng nghê thường đương nao nao gợn, và so sánh hai hàng nước mắt trong trắng của nàng là hai chiếc đũa ngọc. Và thấy mái tóc u huyền xinh như một mùa thu mươn mướt, thi nhân bảo đấy là đêm đang ngủ mơ…”. Nói về khả năng trực giác của một nhà thơ cũng có nghĩa là nhà thơ ấy đã thể hiện mình trong sự tương giao với thiên nhiên, vũ trụ như thế nào? Bài thơ Hiện hình  trong Tinh huyết của Bích Khê thể hiện rõ sự tương giao giữa “con người tượng trưng” của Bích Khê và thế giới.

Thơ Bích Khê rất hay nói đến xác thịt của con người, đến nỗi người ta có thể nói tới một thứ “ngôn ngữ thân xác” trong thơ ông. Xác thịt ở đây không phải là xác thịt trần tục mà là xác thịt có dáng dấp của một cái biểu đạt. Và chính bởi vậy, nó đã trở thành một trong những nguồn vật liệu thiết yếu kiến trúc nên thế giới tượng trưng của Bích Khê. Dĩ nhiên, để không nhìn xác thịt chỉ là xác thịt, người ta phải có con mắt riêng, như Bích Khê. Xác thịt, theo con mắt đó, là xác – thịt – linh – hồn. Nhờ vật liệu này, Bích Khê dễ dàng thể hiện được những tương giao.

Trong Hiện hình, trước tiên là sự tương giao giữa vũ trụ và con người  Gió đa tình hôn, Gió đi chới với, mặt hoa thơm tho mùi thịt, người thiếu nữ hiện trong trăng, da thịt ý tuyết băng, mát như xuân, người lộ mỏng như sương, khung trắng trời mây trắng.

Tiếp đó là sự tương giao giữa các giác quan: thơm tho mùi thịt, da thịt phô bày, ngọt tợ hương, rào rạt nỗi cảm thương.

Rồi đến sự tương giao về màu sắc: khung trắng, khăn hồng, màu trăng, mây trắng…

Nhưng tới đây, ta cũng chỉ mới thấy sự tương hợp này bằng trực cảm. Nếu bằng trực giác thì ta sẽ tìm ra sự tương ứng khó lòng mà phân biệt rạch ròi. Đó là một sự tương giao tổng thể. Tương giao giữa thiên nhiên, con người, thơ, họa và nhạc, hương, vị… và cả mọi giác quan:

– Gió đi chới với trong khung trắng

Lộ nửa vần thơ nửa điệu ca

– Nàng hé môi ra. Bay điệu nhạc

Mát như xuân mà ngọt tợ hương,

– Rào rạt như nỗi cảm thương

Tiếng nhạc màu trăng quấn quýt nường

-Nàng tan ra nhạc? Tan ra nhạc!

Khung trắng trời mây trắng lạ thường…

Đó là sự tương giao chồng chéo, quấn quýt với nhau không dễ tách bạch.

Sự hòa điệu

Theo con mắt trần tục, khó có thể quan niệm được rằng sự hòa điệu là một vật liệu kiến tạo nên thế giới tượng trưng của Bích Khê. Nhưng nếu hiểu rằng thơ ca nói riêng, nghệ thuật nói chung chỉ là một thế giới giả tưởng và mối liên hệ giữa các sự vật trong thế giới đó không hề mang tính tất yếu, một khi các sự vật đó bị đánh đồng với “nguyên mẫu” vốn tồn tại trong thế giới khách quan, thì ta dễ dàng chấp nhận: hòa điệu cũng là một vật liệu – một vật liệu chỉ có thể được nhận biết bằng trực giác.

Các nhà nghiên cứu thơ Bích Khê dường như đều gặp nhau ở nhận định: thơ tượng trưng của Bích Khê gợi lên sự tương ứng giữa hương thơm, màu sắc, âm thanh. Ở những bài thơ như Mộng cầm ca, Tỳ bà, Nhạc, Thi vị, Hiện hình… khó có thể tách bạch đâu là hương thơm, màu sắc, âm thanh bởi tất cả đã tạo nên một sự hòa hợp, tương ứng dệt nên những hình ảnh, điệp ngữ, liên tưởng trùng phức đầy ám gợi và mê hoặc:

Cả không gian là bể sáng tràn lan…

(Đồ mi hoa)

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong.

(Duy tân)

Nguyên lý chi phối bút pháp cách tân trong thơ Bích Khê là đi tìm “cái thống nhất của hỗn độn”. Bích Khê đã điều khiển những con chữ một cách tài tình, đưa ngôn ngữ thơ đến cuộc hôn phối thần kỳ, cuộc hòa điệu ngoạn mục với những bộ môn nghệ thuật khác.

Quan niệm về thơ, Bích Khê cho rằng, thơ phải là nhạc, là họa, là điêu khắc, là nhiếp ảnh, là vũ đạo, là tổ hợp của nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Thơ phải là một hỗn độn đẹp xô bồ say dậy. Duy tân là bài thơ Bích Khê nói lên đầy đủ nhất ý tưởng ấy của ông. Bích Khê không muốn thơ chỉ là tiếng nói một chiều của cảm xúc, ông muốn thơ phải mang đến cho người đọc những rung động thẩm mỹ đa chiều.

Nếu như ở bài Hiện hình, sự tương giao tổng thể kia dựa trên cái phông nền là màu trắng thì ở bài Tỳ bà là màu vàng, và hiệu quả nghệ thuật của màu vàng xem ra còn mạnh hơn. Bích Khê, bằng trực giác của mình như là đã quên đi mọi hình ảnh cụ thể sinh động của thiên nhiên mùa thu mà đi vào phía tiềm ẩn của mùa thu tượng trưng để tiến đến sự hiển hiện một biểu tượng “vàng” trực giác bằng ý niệm:

Ô! hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông

Ta không hề thấy ở đây một hình ảnh cụ thể nào của mùa thu trong thiên nhiên nhưng tâm trí thì như đang bay lượn trong mùa thu tượng trưng ngợp vàng, mênh mang… bởi chỉ có hình ảnh “cây ngô đồng”, nhưng cái cây ấy đã bị bao trùm bởi nỗi buồn vương như là đã xóa nhòa mất chính nó, chỉ còn có ý niệm “buồn”. Và Vàng rơi! Vàng rơi! chính là trực giác tượng trưng chỉ biết có “Vàng”. Vàng rơi và rơi liên tục, cấp tập từ hư không những vàng là vàng, và vì thế nên thu mênh mông trở thành thu mơ hồ trong ý niệm – mùa thu trong thiên nhiên đã trở thành mùa thu tượng trưng:

Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi ! nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê

Tôi qua tim nàng vay du dương

Tôi mang lên lầu lên cung Thương

Tôi không bao giờ thôi yêu nàng

Tình tang tôi nghe như tình lang

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi

Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi

Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi

Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi

Buồn lưu cây đào xin hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông

(Tỳ bà)

Không chỉ ở hai bài thơ Hiện hình và Tỳ bà vừa dẫn trên ta mới thấy tiềm năng tượng trưng của những vật liệu chỉ được nhận biết bằng trực giác. Ở nhiều bài khác, loại vật liệu này cũng được Bích Khê sử dụng rất có hiệu quả. Nói đến chúng thực chất cũng là nói đến sức mạnh của trực giác trong thơ, cụ thể ở đây là sức mạnh của trực giác trong hoạt động làm thơ của Bích Khê. Nếu không có một khả năng trực giác mạnh mẽ không thể sáng tạo được những câu thơ giàu nhạc tính và cũng lung linh sắc màu, vô cùng sống động như trong bài Nghê thường:

Ô trời hôm nay sao mà xanh!

Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành,

Nhung mây tê ngời sao kim cương,

Dạ lan tê ngời say men hương;

Lầu ai ánh gì như lưu ly?

Nụ cười ai trắng như hoa lê?

Thủy tinh ai để lòng gương hồ?

Không gian xà cừ hay san hô?

Và khi năng lực trực giác mạnh mẽ đó của Bích Khê gặp được chân lý ngời ra như lưỡi kiếm, khi tình yêu của Bích Khê xô dồn sang cực điểm thì thơ của chàng sẽ tỏa hào quang trong cái cảnh tượng thần tiên Và hào quang khiêu vũ với hào quang:

Nàng! nàng! nàng! không có nữa châu thân

Xác là mộng mà tình là tuyệt đích

Hỡi không gian! hãy tan ra tiếng địch

Của lòng yêu ca ngợi tuyệt vời cao

Hỡi trần gian! hãy chết ngột trong sao

Cho chân lý ngời ra như lưỡi kiếm

Cho tình ta xô dồn sang cực điểm

Và hào quang khiêu vũ với hào quang…

(Nàng bước tới)

Những vật liệu được nhận ra nhờ cách đọc liên văn bản

Đọc Bích Khê, ai cũng dễ dàng nhận thấy rằng ông là người có sức đọc rất ghê và có vốn văn hóa thơ thâm hậu. Ông am hiểu thơ Đường, thơ trữ tình cổ điển Việt Nam và dĩ nhiên là rất “thạo” thơ Pháp thuộc các trường phái lãng mạn, tượng trưng và siêu thực… Vì lẽ đó, theo cách đọc liên văn bản, ta nhận ra trong thơ ông rất nhiều vật liệu được “chuyển về” từ thơ Đường, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Baudelaire, Verlaine, Mallarmé… Ở phần viết dưới đây, chúng tôi chỉ xin nói về các vật liệu lấy từ thơ tượng trưng và thơ siêu thực Pháp.

Vật liệu lấy từ thơ tượng trưng Pháp

Khi các nhà thơ của Phong trào Thơ mới Việt Nam (1932 – 1945) còn chưa hết say đắm với chủ nghĩa lãng mạn thì chủ nghĩa tượng trưng phương Tây đã gần đi hết con đường của nó. Tuy nhiên, do nhận thức nhạy bén với những trào lưu hiện đại của nghệ thuật phương Tây, Bích Khê đã nhanh chóng tiếp cận và học hỏi được rất nhiều ở chủ nghĩa tượng trưng, trong khi vẫn còn một chân đứng trên chủ nghĩa lãng mạn.

Bích Khê gọi Baudelaire là “vua thi sĩ”, vì ông đã học được bao nhiêu mùi thi vị ở tác giả Những bông hoa ác:

Có những mùi hương mát như da thịt trẻ con

Êm nhẹ như tiếng sáo, xanh mướt như cỏ non

Và những mùi hương oanh liệt, phong phú và trụy lạc

– Tỏa khắp không gian như những cái vô hạn, vô cùng

Như nhựa thơm,như xạ, như hương trầm

Hát ca những khoái lạc của tinh thần và thể xác

(Bản dịch của Vũ Đình Liên)

Và Bích Khê muốn phà hơi lên cho mùi thi vị đó từ Baudelaire truyền nhiễm thấu trần ai (Ăn mày). Sự ảnh hưởng từ Baudelaire đến Bích Khê là rất rõ.

Hàn Mặc Tử gọi Bích Khê là “thi sĩ thần linh”. Ông cho rằng thơ Bích Khê ở tập Tinh huyết có ba tính cách: 1) Thơ tượng trưng, 2) Thơ huyền diệu, và 3) Thơ trụy lạc. Nhận xét về thơ trụy lạc của bạn mình. Hàn Mặc Tử viết: “Ở địa hạt dâm cuồng này, ta thấy thi sĩ Bích Khê hoàn toàn là Baudelaire. Vì trong tác phẩm chàng, gợi dục tình thì ít, mà làm cho người ta ghê rợn đến gớm guốc cái cảnh trần truồng khả ố thì nhiều”.

Mai Bá Ẩn nhận xét khá chính xác về thơ tượng trưng của Bích Khê: “Tính chất uẩn khúc, huyền ảo, siêu thực trong thơ tượng trưng đã được Bích Khê thể hiện qua hàng loạt các bài thơ trong tập thơ Tinh huyết (Duy Tân, Tranh loã thể, Giờ trút linh hồn). Có thể nói “hình ảnh Rimbaud, cú pháp Mallarmé, kiến trúc và triết lý của Valéry” đã tạo dựng cho Bích khê một thứ “thơ vàng ròng” đậm tính tượng trưng… Ba yếu tố tượng trưng, huyền diệu, trụy lạc của tập thơ Tinh huyết đã làm cho Bích Khê trở thành một cây bút khác hẳn với khuynh hướng lãng mạn”.

Vật liệu lấy từ thơ siêu thực Pháp

Bích Khê không chỉ học được ở thơ tượng trưng mà còn tiếp thu được nhiều cái mới trong thơ siêu thực, lối thơ chỉ tin cậy ở trực giác. Chủ nghĩa siêu thực là một trào lưu văn học và nghệ thuật ở thế kỷ XX, bắt đầu ở Paris và được nhà thơ người Pháp Breton viết tuyên ngôn vào năm 1924. Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng các trình bày các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ. Siêu thực là một khuynh hướng nghệ thuật lớn bao trùm nhiều loại hình của nghệ thuật. Bắt đầu từ thơ, siêu thực lan tới hội họa rồi tiếp đến điện ảnh, tiểu thuyết. Thuật ngữ chủ nghĩa siêu thực được nhà thơ Apollinaire dùng trong tác phẩm của mình vào năm 1917. Sau tuyên ngôn năm 1924, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong văn học và nghệ thuật. Những nguyên tắc mỹ học của chủ nghĩa siêu thực là: hướng về thế giới vô thức của con người – đó là một lĩnh vực vô hạn đối với sự sáng tạo nghệ thuật. Đề cao cái ngẫu hứng, những cái xuất hiện lướt qua trong đầu, không qua sự kiểm soát của lý trí. Vứt bỏ sự phân tích logic, chỉ tin cậy ở trực giác, giấc mơ, ảo giác, ở những linh cảm bản năng và sự tiên tri. Hướng tới sự hồn nhiên trong suy nghĩ như trẻ thơ, tới trạng thái mê sảng, tới những ảo giác mộc mạc của người nguyên thủy và nền nghệ thuật cổ sơ của họ. Chủ nghĩa siêu thực chủ trương thơ ca phải được tuôn trào tự do, không cần tuân thủ các quy định về câu cú, đề cao sự liên tưởng tự do. Về cơ bản, chủ nghĩa siêu thực chống sự tầm thường của chủ nghĩa hiện thực.

Giữa các nhà thơ tượng trưng và các nhà thơ siêu thực tương đồng với nhau ở điểm chính là thơ không tả cảnh, tả tình, thơ phải khám phá nội tâm, diễn đạt những tác động vô hình vào tâm trạng. Thơ siêu thực đi sâu phản ảnh tiếng nói của thâm tâm (vô thức, tiềm thức và ý thức). Vì thế, việc Bích Khê đi nhanh từ tượng trưng sang siêu thực không những không gặp trở ngại gì mà rất thuận đường!

Nhà phê bình văn học Thụy Khuê đã nhận xét: Thơ Bích Khê là sự giao lưu giữa thơ cổ và thơ hiện đại, trong một kiến trúc nghệ thuật âm nhạc và hội họa. Đặc biệt trong lối tạo hình, ông đã sử dụng một phương pháp mới, lúc ấy chưa thịnh hành ở Việt Nam: phương pháp cắt dán (collage). Hình ảnh trong thơ Bích Khê là sự cát dán lắp ghép, hình ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử là tưởng tượng, vì vậy khi nhìn bề ngoài có vẻ giống nhau nhưng thật ra rất khác: thơ Bích Khê “mới” hơn Hàn Mặc Tử, vì Bích Khê tiếp nhận thêm được những kiến thức siêu thực, mà Hàn Mặc Tử chưa kịp tiếp thu, đã mất (23).

Phong cách siêu thực trong thơ Bích Khê xảy ra ở cả mức độ chữ, lẫn câu: Bích Khê không chỉ để hai hình ảnh khác nhau cạnh nhau, mà còn để hai câu thơ hoàn toàn khác nhau cạnh nhau, như: Vàng sao nằm im trên hoa gầy / Tương tư người xưa thôi qua đây. Câu trên là một câu mô tả sự khăng khít xác thịt: Vàng sao nằm im trên hoa gầy. Câu dưới: Tương tư người xưa thôi qua đây, mô tả sự tan vỡ, nói đúng ra là, vừa đang yêu: tương tư vừa tan vỡ: người xưa thôi qua đây. Bích Khê đã đảo lộn trật tự thời gian sống, để tạo một nghịch cảnh, nghịch.

(23) C.Đơ-li-nhi, M.Rut-xơ-lô (1998), Văn học Pháp (Trịnh Thu Hồng, Đỗ Phương Mai dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

lý mới: thường thì người ta tương tư, rồi khăng khít và sau cùng mới lìa nhau, đằng này, người ta khăng khít trước, rồi mới tương tư, rồi xa nhau.

Cũng theo Thụy Khê, Tỳ bà là một trong những bài thơ đầu tiên của Việt Nam có cấu trúc gián đoạn: Bích Khê dán những chữ không liên lạc gì với nhau cạnh nhau, dán những câu không liên lạc với nhau lại gần nhau, để tạo ra những hình ảnh hoàn toàn siêu thực: tay – đêm, giăng – mền, trăng – đan, mây – nhung, thuyền – hồn…

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mền

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung phơi màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Dây đàn yêu đương run trong mơ

Hồn về trên môi kêu: em ơi

Thuyền hồn không đi lên chơi vơi

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu

Sao tôi không màng kêu: em yêu

Trăng nay không nàng như trăng thiu

Đêm nay không nàng như đêm hiu.

(Tỳ bà)

Mỗi câu thơ của Bích Khê là một sự đứt đoạn: Bích Khê là nhà thơ tiên phong, đã đi trước thời đại, thể hiện sự đứt đoạn trong không gian và trong tâm hồn. Sự đứt đoạn của đời sống là một trong những khám phá của nghệ thuật hiện đại trong toàn bộ thơ, văn, nhạc, họa, từ đầu thế kỷ XX. Bởi mỗi ý nghĩ của chúng ta là một đứt đoạn, mỗi hình ảnh chúng ta nhìn thấy trong đời sống là một đứt đoạn.

Sự tiếp nhận, học hỏi ở chủ nghĩa tượng trưng rồi tiếp theo là chủ nghĩa siêu thực của Bích Khê đã là yếu tố quan trọng hàng đầu để thơ Bích Khê có những đột phá hoàn toàn mới trong khát vọng “Duy tân” thơ của mình và đã trở thành “một đỉnh núi lạ” của thời kỳ Thơ mới 1930 – 1945, và điều quan trọng hơn: Bích Khê là nhà thơ đi trước thời đại. Đó chính là điều mà nhà phê bình Hoài Thanh còn nhiều băn khoăn khi phê bình thơ Bích Khê và ông đã phải thừa nhận rằng đọc thơ Bích Khê một lần coi như chưa đọc. Tuy nhiên, Hoài Thanh cũng đã trích được một đoạn trong bài Tranh lõa thể để gọi đó là “những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”:

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ

Ồ tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?

Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?

Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?

Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường;

Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc

Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc

Vài chút trăng say đọng ở làn môi.

Điều cần lưu ý về cái “sự học” ở Bích Khê là: sách vở và kiến thức đông tây cổ kim tất nhiên là có, và rất nhiều, nhưng đến một lúc nào đó, cái khối tri thức khổng lồ đó, đã ẩn mình nhường chỗ cho một linh giác lạ thường, làm bừng nở ra những bông ánh sáng – đó là những đóa hoa thần dị – thơ Bích Khê.

15/12/2019

Phạm Thị Như Thúy
Theo https://vanhocsaigon.com/

  Nhà thơ Tế Hanh: Lạt mềm buộc chặt Có một thời, nếu chọn 5 gương mặt tiêu biểu của nền thơ đương đại Việt Nam, các nhà phê bình thường n...