VĂN THƠ NHẠC
Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026
Ngày xuân ngao du với Bùi Chuồn Chuồn thi sĩ
Ngày xuân ngao du
Bùi chuồn chuồn là tên gọi
mới thi sĩ Bùi Giáng tự đặt cho mình trong “Ngày tháng ngao du” chứ
chả phải tôi đặt điều cho thêm giai thoại về ông. Những đôi cánh mỏng chuồn chuồn
của Bùi thi sĩ từ đây bay theo một thể điệu siêu lý khác thường. Nó không thuần
nhiên nhiếp dẫn cái đẹp của vạn hữu, mà hòa quyện vào máu huyết thi sĩ, con chuồn
chuồn mang hồn sứ điệp truyền nhân thi sĩ họ Bùi…
Một mùa xuân bị che khuất của Quang Dũng
Một mùa xuân bị
che khuất
của Quang Dũng
Đọc “Nhớ những
mùa xuân” của Quang Dũng sau gần bảy mươi năm thi phẩm ra đời, ta có dịp sống
lại cùng thi sỹ cái cảm giác khác lạ của mùa xuân hòa bình đầu tiên, sau nhiều
mùa chinh chiến đã trải. Theo một nghĩa nào đó, bài hát “Mùa xuân đầu tiên” mà
nhạc sỹ Văn Cao viết khoảng hai mươi năm sau đấy cũng có sự lặp lại vài trải
nghiệm nghệ thuật mà Quang Dũng từng có khi ông viết bài thơ “Nhớ những mùa
xuân”. Số phận của hai tác phẩm khác nhau rất xa, dù tác giả của chúng đều là
những tài năng sáng tạo nghệ thuật lớn. Nhưng đành vậy, Thượng đế vẫn thường
không công bằng với tất cả.
Nhà thơ Quang Dũng
(1921-1988) thuộc vào số tác giả viết không nhiều, nhưng lại có nhiều thi phẩm
đã và sẽ còn sống lâu dài với lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại, như các
bài “Tây Tiến”, “Mắt người Sơn Tây”, “Đôi bờ”, “Mây đầu ô”, “Quán bên
đường” v.v… Tuy nhiên trong di sản thơ Quang Dũng lại cũng có những
bài phải chịu số phận khá bất hạnh. Vì nhiều lý do, chúng bị che khuất trong một
thời gian dài, và sau này, dù có được đưa vào trong vài tuyển tác phẩm Quang
Dũng thì chúng cũng vẫn ít được biết đến. Bài thơ có tên “Nhớ những mùa
xuân” là một ví dụ.
“Nhớ một xóm rừng/ Hoa
mai nở trắng/ Xuân về…/ Áo người mới nhuộm chàm xanh/ Bên bếp lửa sàn/ Than đầu
năm hồng rực/ Khẩu hiệu trên bàn thờ Tổ quốc:/ “Kháng chiến nhất định thành
công, trường kỳ thắng lợi”/ Tiệc vào xuân/ Thịt rừng bày trên lá chuối/ Rượu uống
sừng trâu/ Tiếng hú tung “còn”/ Chiêng vang vách núi.// Nhớ một ven đồi/ Hành
quân tạm nghỉ/ Bóc bánh chưng hậu phương/ Lá dong thả trôi theo dòng suối/ Hát
bài ca chiến thắng đông xuân/ Mắt đen em nhỏ đến gần/ Vỗ tay hòa nhịp/ Làng bản
xa xôi vẳng tiếng khèn/ Mùa xuân… Mùa xuân…/ Rừng thay áo đẹp.// Nhớ một con đường
biên giới/ Nằm chờ giặc qua/ Mũi súng kề bên nhành cúc dại/ Sương rung rinh/ Nặng
ý mùa thơm xanh/ Tươi tốt đang về/ Tiếng chim trong bụi/ Lao xao đời muông thú
thanh bình/ Ca ngợi bình minh vừa đến.// Nằm xa heo hút mà nhớ trung du/ Nhớ
sông Hồng chảy/ Làng quê đôi bờ/ Bóng những cây đào/ Trên dòng phù sa/ Nhớ những
vườn hoa/ Chèm Vẽ – Tây Hồ/ Những vườn rau/ Luống cày mời đất// Mùa xuân mong đợi
mười năm/ Đã về phấp phới cờ xanh/ Thêu cánh hòa bình/ Cờ dựng trên cổng chào/
Lá dừa tươi mát/ Cổng cuốn bằng rơm/ Còn thơm mùa gặt/ Cổng chào dựng bằng tôn
sắt/ Những mảnh cầu phao/ Lấy trong đồn giặc ngổn ngang/ Mùa xuân thức dậy đồng
bằng/ Mười năm ác mộng/ Quê của ta:/ Xuân đầu giải phóng/ Sân đình đứng chật
mít tinh/ Chúc Cụ Hồ trường thọ/ Xúng xính áo quần em nhỏ/ Bắt chước văn công
xòe quạt/ Cây du trên bãi lại trồng…/ Thôn nữ thở hơi trầu ấm áp/ Hẹn tìm nhau
chiều hội đốt bông// Mùa xuân mong đợi mười năm/ Đã về cờ xanh phấp phới/ Mùa
xuân đồng bằng/ Lại nhớ rừng xanh/ Những mùa xuân thắng lợi”.
Chúng ta biết Quang Dũng
đã hoàn thành bài “Nhớ những mùa xuân” vào khoảng đầu năm 1954, là nhờ một tiểu
dẫn ông đặt dưới chính văn: “Những ngày đồng bằng giải phóng, 1954”,
nghĩa là chỉ vài tháng trước khi diễn ra chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc
chín năm trường kỳ chống Pháp. Thế nhưng phải đợi đến hơn ba năm sau nữa, bài
“Nhớ những mùa xuân” mới được xuất bản lần đầu tiên trên tờ “Giai phẩm” của NXB
Văn nghệ, Hà Nội, xuân 1957. Số phận bất hạnh của bài thơ và đời lận đận của
người thơ Quang Dũng kể từ ấy, có lẽ chính bởi cái sự ra mắt chưa đúng chỗ này.
Nhưng nói sao mặc lòng, đọc lại “Nhớ những mùa xuân”, ta vẫn
thấy nó hoàn toàn hợp thức để được xem là một bài thuộc dòng thơ cách mạng Việt
Nam giai đoạn chống Pháp, và mặt khác, là một thi phẩm xuân có dư vị vừa quen vừa
lạ.
Bởi vì, không giống những
thi phẩm xuất sắc như “Tây Tiến” hay “Mắt người Sơn Tây” mà
Quang Dũng viết hồi đầu kháng chiến – những thi phẩm được đặc trưng bởi giọng
điệu thơ trữ tình lãng mạn thấm đẫm chất bi tráng hoặc bi thương – “Nhớ những
mùa xuân”, trước hết, là bài thơ của niềm vui sống, niềm vui đời, vui chiến
thắng, tràn đầy lạc quan và tin tưởng. Dường như thực tế chiến đấu dài lâu và
những thắng lợi dồn dập của cuộc kháng Pháp cho đến lúc ấy rốt cuộc cũng đã gột
sạch ở anh Vệ quốc quân trẻ ngày nào những tình cảm mộng mơ, những suy nghĩ vẩn
vơ, nặng căn trí thức tiểu tư sản. Thay vào đấy là sự cảm nhận hiện thực bình dị,
mộc mạc, chắc khỏe của con người công nông, con người lý tưởng của cách mạng,
con người mà cách mạng rất cần. Vẫn là Quang Dũng nhớ, nhưng không còn bồng bềnh
phiêu lãng như: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi/ Nhớ về rừng núi nhớ chơi
vơi” (Tây Tiến), không còn thăm thẳm da diết như: “Tôi nhớ xứ Đoài
mây trắng lắm/ Em có bao giờ em nhớ thương?” (Mắt người Sơn Tây). Mà
là cái nhớ sự sinh động, rực rỡ sắc màu của cuộc sống kháng chiến, và rất thực,
như: “Nhớ một xóm rừng/ Hoa mai nở trắng/ Xuân về/ Áo người mới nhuộm
chàm xanh/ Bên bếp lửa sàn/ Than đầu năm hồng rực”, hay như: “Nhớ một
ven đồi/ Hành quân tạm nghỉ/ Bóc bánh chưng hậu phương/ Lá dong thả trôi theo
dòng suối/ Hát bài ca chiến thắng đông xuân”.
Cuộc lột xác thơ và cải tạo
người thơ Quang Dũng, nếu có thể nói như vậy, còn tạo được ấn tượng mạnh hơn đối
với người đọc từng mê “Tây Tiến” và “Mắt người Sơn Tây”, ở
việc ông đã mạnh dạn đưa nội dung tuyên truyền chính trị vào thơ, kiểu như: “Khẩu
hiệu trên bàn thờ Tổ quốc: Kháng chiến nhất định thành công, trường kỳ thắng lợi”, hoặc
là: “Quê của ta/ Xuân đầu giải phóng/ Sân đình đứng chật mít tinh/ Chúc
Cụ Hồ trường thọ”. Quang Dũng cũng đưa luôn vào bài thơ cả cái chất sống
đời thường của văn xuôi tả chân thật thà, như: “Cờ dựng trên cổng chào/ Lá rừng
tươi mát/ Cổng cuốn bằng rơm/ Còn thơm mùa gặt/ Cổng chào dựng bằng tôn sắt/ Những
mảnh cầu phao/ Lấy trong đồn giặc ngổn ngang”. Nhìn khái quát về cả một
giai đoạn của thơ Việt Nam, đây có lẽ là một hiện tượng mang tính phổ biến, một
lựa chọn mỹ học chung cho các nhà thơ vốn xuất thân học sinh, sinh viên, trí thức
tiểu tư sản lên đường đi theo kháng chiến, chứ không phải là trường hợp cá biệt,
mang cái đặc sắc chỉ của riêng Quang Dũng. (Ta hãy nhớ tới các trường hợp: “Đèo
Cả” của Hữu Loan, “Viếng bạn” của Hoàng Lộc, “Nhớ” của
Hồng Nguyên, “Nhớ máu” của Trần Mai Ninh, “Nhà tôi” của Yên Thao…
và rất nhiều trường hợp khác nữa).
Tuy nhiên, Quang Dũng vẫn
là Quang Dũng, là hiện thân cho tài năng thơ, cho sự tài hoa mà có giấu đi hoặc
cố tình làm khác đi, thì rồi cuối cùng nó cũng vẫn xuất lộ. Hãy đọc những câu:
“Nhớ một con đường biên giới/ Nằm chờ giặc qua/ Mũi súng kề bên nhành cúc dại/
Sương rung rinh/ Nặng ý mùa thơm xanh/ Tươi tốt đang về/ Tiếng chim trong bụi/
Lao xao đời muông thú thanh bình/ Ca ngợi bình minh vừa đến”, và những
câu: “Nằm xa heo hút mà nhớ trung du/Nhớ sông Hồng chảy/ Làng quê đôi bờ/
Bóng những cây đào/ Trên dòng phù sa/ Nhớ những vườn hoa/ Chèm Vẽ – Tây Hồ/ Những
vườn rau/ Luống cày mời đất”. Vẫn là nỗi nhớ, vẫn là mùa xuân, nhưng từ
cái sinh quyển trong tâm tưởng đến cái sinh quyển trong trời đất ấy đều chỉ là
sự biểu đạt cho cái sống, cho sức sinh sôi đang lan tỏa giao hòa giữa con người
với vạn vật, giữa vạn vật với nhau, khi xuân về. Ở đoạn trích đầu, ta hoàn toàn
có thể nghĩ rằng mũi súng thép đang chờ nhả đạn vào quân địch kia cũng cảm nhận
được hương thơm tinh khiết của nhành cúc dại; nó thở, làm sương rung rinh, đánh
thức chim muông, làm dậy lên những thơm xanh tươi tốt từ mặt đất lúc bình minh.
Còn ở đoạn trích sau, chỉ mấy chữ thôi nhưng cũng đủ thấy: không có con người –
con người bị làm cho vắng mặt – mà chính dòng sông và phù sa, những cây đào, những
vườn rau và luống cày vừa lật để chờ vào vụ, mới đích thực là những nhân vật
chính trong không gian sinh thái này.
Đọc “Nhớ những mùa
xuân” của Quang Dũng sau gần bảy mươi năm thi phẩm ra đời, ta có dịp sống lại
cùng thi sỹ cái cảm giác khác lạ của mùa xuân hòa bình đầu tiên, sau nhiều mùa
chinh chiến đã trải. Theo một nghĩa nào đó, bài hát “Mùa xuân đầu tiên”
mà nhạc sỹ Văn Cao viết khoảng hai mươi năm sau đấy cũng có sự lặp lại vài trải
nghiệm nghệ thuật mà Quang Dũng từng có khi ông viết bài thơ “Nhớ những mùa
xuân”. Số phận của hai tác phẩm khác nhau rất xa, dù tác giả của chúng đều
là những tài năng sáng tạo nghệ thuật lớn. Nhưng đành vậy, Thượng đế vẫn thường
không công bằng với tất cả.
11/3/2023
Hoài Nam
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Chuyển động Phạm Duy Nghĩa
Chuyển động Phạm Duy Nghĩa
Tôi đọc Phạm Duy Nghĩa từ
ngày anh đoạt Giải Nhất Cuộc thi Truyện ngắn do báo Văn Nghệ tổ chức năm
2003-2004 với truyện ngắn Cơn mưa hoa mận trắng, rồi đến tập truyện
ngắn của anh lấy tên truyện được giải này làm tên của tập(1). Sau đấy
một năm, anh cho in một tập khác mang tên Đường về xa lắm(2).
Từ bấy đến nay, thi thoảng truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa xuất hiện trên một số báo
và tạp chí, nhưng chưa thấy in thêm tập nào(3).
Trước cái khoan nhặt thưa
vắng ấy, có người thầm nghĩ chắc cây bút này đã cạn. Lại thấy nhà văn chuyển từ
Lào Cai về Hà Nội, nên nỗi nghi ngờ càng có lí do để củng cố. Bởi như thói thường,
không ít người sinh sống ở vùng đất nào đó viết đang hay, rồi cũng vì lí do nào
đó chuyển về định cư Hà Nội, thế là viết kém hay đi trông thấy.
Ắng đi một quãng dễ có đến
gần chục năm, người ta lại thấy Phạm Duy Nghĩa xuất hiện trên báo Văn Nghệ với
truyện Sài thục. Có thế chứ, dân văn nghệ lại được phen kháo nhau,
đừng vội nghĩ nhầm về nhà văn họ Phạm này, khéo gã lại có những bất ngờ lớn
chưa biết chừng…
Tôi, người viết bài này
may mắn được đọc tập bản thảo mới nhất của nhà văn Phạm Duy Nghĩa bao gồm chục
truyện, trong đó có Sài thục. Bản thảo này cho thấy vẫn là một Phạm
Duy Nghĩa nhất quán nhưng đầy chuyển động, quen mà lạ, căn cốt mà biến hóa.
1. Từ tư duy hiện thực đến
tư duy huyền thoại hóa
Trở lại với Phạm Duy
Nghĩa già chục năm trở về trước, văn anh cắm sâu vào vùng hiện thực đất và người
miền núi, nơi ấy hiện lên một anh con trai (với những biến thể khác nhau) muộn
vợ, viết văn, gặp những người đàn bà đã có chồng mà phải xa chồng, bị những cơn
mê dục vọng làm cho chống chếnh hoặc khốn khổ; cũng đã sa vào đắm say tình ái,
rồi vì lí do nào đó vọt từ vô thức, anh ta thoát ra được; rồi anh nghĩ về những
nỗi buồn, nỗi cô đơn, về cái khao khát thường tình của một con người, cái ý niệm
đạo đức tẻ nhạt, cái niềm vui hiếm hoi khi thấy mình ở lại bến bờ của cõi
thiêng cõi thiện… Hoặc có khi trong những chân trời phiêu bạt của mình, anh thấy
những mảnh đời, những số phận khát sống, sống mãnh liệt, chính trực mà rồi toàn
gặp tai ương, bất hạnh, thậm chí có khi quy hàng hoàn cảnh, sống buông xuôi, chấp
nhận, tùy thời. Đấy, thế giới nhân vật của Phạm Duy Nghĩa là như vậy đấy. Chúng
được đặc tả trên một nền cảnh núi rừng vừa hiểm trở vừa cô độc, nhưng thỉnh thoảng
cũng hắt lên những vẻ đẹp rực rỡ, quyến rũ, mơ màng.
Đó là một thứ văn phát tiết
từ một cảm quan hiện thực bao trùm, nghĩa là nhìn trực diện vào đời sống, lấy đời
sống trần thế làm đối tượng quan tâm và miêu tả, xen vào đó là chất thơ của
thiên nhiên, của lòng muốn hướng về cõi thiêng. Cái chất thơ mênh mang này như
một chất xúc tác làm cho mỗi truyện ngắn của Phạm Duy Nghĩa bớt cái dữ dội khốc
liệt của những phận người, của khung cảnh miền rừng, khiến chúng trở nên ám gợi,
vấn vít tâm hồn người đọc.
Truyện ngắn Sài
thục (viết năm 2010, in báo Văn Nghệ năm 2015) được xem như một chuyển
động, làm cái gạch nối giữa một Phạm Duy Nghĩa trước đó và một Phạm Duy Nghĩa
sau này.
Câu chuyện được triển
khai trên một tình huống hư cấu về một loại củ có tên là “sài thục” (dùng để
làm lương thực cho người, có thể ăn quanh năm) như một linh vật, một bảo chứng
về lòng hiếu thảo và mối hận thù cần phải khắc cốt ghi xương trong một gia đình
nọ với ba nhân vật: người chồng, người vợ và cô con gái; riêng người vợ đã cố ý
chống lại một cách quyết liệt và can đảm cái “khế ước tinh thần” đó.
Truyện Sài thục về
căn bản vẫn dựa vào cảm quan hiện thực, với một lối viết trực tả, xoáy vào tình
trạng sống khốc liệt của nhân vật, trên nền cảnh của một miền đồi núi, thảo
nguyên đẹp và u buồn. Tuy nhiên, có hai dấu hiệu cho thấy những đổi khác của
ngòi bút họ Phạm này: 1, hình ảnh củ sài thục không có thật, được bịa
ra, được cố ý làm trương nở nghĩa, đẩy cao lên như là một vật thiêng theo hướng
huyền thoại hóa, vượt ra khỏi kinh nghiệm đời thực, làm hình ảnh trung tâm có ý
nghĩa kết nối và sinh sự; 2, đà đi của câu chuyện là sự giải thiêng
và thức tỉnh, một ý niệm mang hơi hướng luận đề. Thao tác này đã được Phạm Duy
Nghĩa sử dụng trở đi trở lại trong hầu hết các truyện sau đó với những biến thể
đa dạng và nhiều cung bậc khác nhau như: Người bay, Gió
xanh, Chiếc áo second-hand, Con dê xanh trên núi tuyết, Thành
phố biến mất.
Với ngần ấy truyện, Phạm
Duy Nghĩa đã tự mình làm nên một đường biên: từ tư duy hiện thực trần thế chuyển
sang tư duy huyền thoại hóa. Cách tư duy sau đã khước từ những tình thế khả thể
của đời sống thực tại để chuyển sang những tình thế bất khả thể bằng những thủ
pháp huyền thoại. Nó khác với huyền thoại có tính khởi nguyên, nơi huyền thoại
như là kết quả của tư duy nguyên hợp, chứa đầy những vùng mờ của niềm tin/tín
ngưỡng cổ sơ, đồng nhất mình với thế giới tự nhiên, sùng bái/sợ hãi tự nhiên…
Huyền thoại hóa sau này được các nhà văn sử dụng chỉ còn là một thủ pháp nghệ
thuật, mang tính thi pháp, được sử dụng như một cố ý, một phương tiện nghệ thuật
mang tính chủ động. Giờ đây, Phạm Duy Nghĩa đã “chơi” tình huống huyền thoại.
Anh cố ý dựng lên những tình huống phi hiện thực, lạ hoắc, đi ra từ một năng lực
tưởng tượng dồi dào.
Này nhé, có một cậu bé học
sinh biết bay và rất đỗi ngạc nhiên về khả năng bay của mình, lại được cô giáo
tin và khích lệ; tuy nhiên trước những cái nhìn thế tục, bị quy kết là chuyện bịa
đặt, hoang tưởng, cả cô trò bị kiểm điểm, bị xúc phạm; kết cục khả năng bay của
cậu bé cũng chấm dứt do những định kiến ác độc của người đời (Người bay).
Một ví dụ nữa: trong truyện Con dê xanh trên núi tuyết, nhà văn dựng
lên một tình huống về bầy dê bị chết vì ăn lá đỏ của một cây cổ thụ, chỉ duy nhất
một con dê lông xanh không chịu ăn, bỏ lên núi, và cũng chết vì băng giá… Thì
ra, trong lời người kể chuyện cho thấy cái cây cổ thụ kia là một biểu tượng ý hệ
ngoại lai. Câu chuyện được khai triển trên một tình huống có tính huyền thoại
hóa đầy chủ ý. Tình huống truyện, các hình ảnh và bối cảnh tham gia vào câu
chuyện không có thật trong thực tại, nhưng lại rất thật trong suy tưởng về thực
tại. Điểm này đã làm nên phẩm chất tham dự của văn chương Phạm Duy Nghĩa, có thể
gọi là xã hội tính của nghệ thuật.
Như vậy, ở cấp độ tư duy
nghệ thuật, Phạm Duy Nghĩa đã có bước chuyển rõ rệt: từ địa hạt của tư duy hiện
thực chuyển sang địa hạt của tư duy huyền thoại hóa. Đây là điểm khởi đầu, có ý
nghĩa tiên quyết. Cái còn lại là cách triển khai lối viết để biến cái tư duy
huyền thoại hóa kia kết tinh trở thành máu thịt của hình tượng nghệ thuật.
2. Từ lối viết biểu thực
đến lối viết phúng dụ luận đề
Trước nhất nói về lối viết
phúng dụ. Đó là một thứ ẩn dụ trên quy mô toàn tác phẩm nhằm biểu đạt một tư tưởng,
quan niệm có trước của nhà văn, được nhân cách hóa qua/bằng các sinh thể nghệ
thuật sống động. Nó khác với ẩn dụ bộ phận, nằm trong những hình ảnh/chi tiết
riêng lẻ. Lối viết phúng dụ đã có từ lâu trong lịch sử nghệ thuật phương Tây với
những mức độ khác nhau, và về sau vẫn được bảo lưu như một biện pháp nghệ thuật
và nguyên tắc tổ chức chất liệu nghệ thuật, ví dụ: Dịch hạch của
A.Camus, Trăm năm cô đơn của G.G.Marquez, Nghệ nhân và
Margarita của M.Bulgakov…
Tiếp nữa là lối viết luận
đề. Truyện ngắn, tiểu thuyết luận đề không phải đến bây giờ mới có. Nhìn rộng
ra thế giới, đó là các tên tuổi bậc thầy như Lev Tolstoy, Dostoevsky, Chekhov,
Franz Kafka, A.Camus, Lỗ Tấn… Nhìn gần, ở Việt Nam đã có các ông Nam Cao, Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp và rải rác một số người
khác. Tác phẩm luận đề có mấy đặc điểm cơ bản sau: 1, một ý tưởng/quan
niệm có trước đòi hỏi một câu chuyện, một hình tượng biểu đạt sống động
nó; 2, trong suốt tác phẩm, tác giả công khai để cho người kể chuyện
hoặc nhân vật bộc lộ ý tưởng/quan niệm tiên nghiệm đó một cách trực tiếp; 3,
mối quan hệ hài hòa và tự nhiên giữa hình tượng nghệ thuật với luận đề; và
4, cuối cùng, có khi nghĩa của tác phẩm lớn hơn nghĩa của luận đề (hay nói
cách khác, luận đề là một tấm áo chật so với tính đa nghĩa của tác phẩm do hình
tượng nghệ thuật mang lại).
Thực ra, phúng dụ và luận
đề vốn là hai vấn đề tương đối độc lập, khác nhau. Tuy nhiên, nếu nhìn từ lối
viết phúng dụ, thì những tác phẩm phúng dụ lại rất hay có tính luận đề, hoặc
tìm đến luận đề (dĩ nhiên không có chuyện tất yếu và ngược lại). Lí do là bởi
phúng dụ cũng mang ý hướng biểu đạt các định đề có sẵn.
Trở lại với truyện ngắn
Phạm Duy Nghĩa. Có một điểm đáng lưu ý là các truyện của anh sau này phần lớn sử
dụng lối viết phúng dụ luận đề. Nhà văn đã sáng tạo ra các tình huống nghệ thuật
có tính huyền thoại, biến chúng thành những phúng dụ cố ý.
Trước Sài thục,
anh viết truyện theo lối biểu thực, lựa chọn tình huống nghệ thuật như những
quan hệ xã hội thực tiễn, tập trung dụng công vào hệ thống nhân vật và không
gian thiên nhiên/không gian sinh hoạt thế sự. Anh triển khai truyện theo lối dựa
trên một cốt truyện lỏng, tập trung khám phá vào đời sống nội tâm, bản
năng sinh tồn, trong đó đậm nhất là dục tính của nhân vật; và khung cảnh thiên
nhiên núi rừng mơ mộng đậm mùi hoang dã, thậm chí có chút kì bí. Hầu như truyện
nào cũng vậy. Cơn mưa hoa mận trắng, Chuyện ở Ô Cán Hồ, Lá
Vàng Chải tiêu biểu cho lối viết này. Ở đây, người đọc bắt gặp những
con người khát sống mà không đạt được ý nguyện (thiếu thốn vật chất, tẻ nhạt
tinh thần, sống mất phương hướng…). Hình tượng sự sống tự nói lên, gợi lên các
lớp nghĩa đa diện trong một chất thơ buồn tựa như lớp sương mờ bảng lảng. Một số
truyện của Phạm Duy Nghĩa giai đoạn này mang vẻ đẹp cổ điển của loại hình truyện
nửa sau thế kỉ XIX phương Tây, bao gồm cả truyện ngắn 1930-1945 của Việt Nam.
Từ Sài thục trở
đi, Phạm Duy Nghĩa trở nên “đáo để” hơn, trực diện hơn, và cũng rốt ráo hơn.
Như một thức tỉnh về mặt xã hội, anh muốn trình hiện một thứ văn chương biểu tỏ
thái độ rõ rệt và mạnh bạo hơn đối với thực tại đời sống. Để đạt được điều này,
anh không chọn lối viết hiện thực nghiêng về phơi bày như các bậc tiền bối (kể
cả một số cây bút cùng thời) đã làm. Đi theo lối này, nếu không cao tay, rất dễ
biến thành truyện chống tiêu cực, hoặc phản biện xã hội trực tiếp. Với mong muốn
đạt được một kiểu diễn ngôn nghệ thuật mới hơn, tầm khái quát cao hơn, Phạm Duy
Nghĩa đã chọn lối viết phúng dụ luận đề. Không chỉ dừng lại ở phúng dụ, nhà văn
đã cài đặt luận đề, phát biểu công khai và phóng chiếu những cái nhìn, suy tưởng
của mình về đời sống. Ở đây, tác giả đã tiến hành phối thuộc phúng dụ và luận đề
với các cách trộn khác nhau, theo những mức độ khác nhau.
Cái tình tiết hai người
đàn bà thủ dâm và lũ khỉ bắt chước máy móc hành vi của họ đặt trên một toàn cục
truyện ngắn nói về việc con người giải thiêng chính cái mà con người đã từng
thiêng hóa và lệ thuộc vào nó, khốn khổ vì nó (Sài thục). Người kể chuyện
đã để cho nhân vật người mẹ nói với con, qua đó lên tiếng công khai một mệnh đề
về cách thế tồn tại của con người: “Con hãy khuyên bố mở lòng đón nhận nguồn sống
ấy, đừng chết vì tự trói mình. Mọi thứ do con người đặt ra, cũng tự con người
phế bỏ”.
Ở Thành phố biến
mất, câu chuyện được hoạch định trên một phản đề: xây dựng một xã hội cộng
đồng như những tín điều nào đó là ngây thơ và ảo tưởng. Có một chi tiết đắt giá
ở phần kết truyện nhằm biểu đạt định kiến, giải thiêng định kiến, mở ra những ý
niệm có tính suy tưởng, thậm chí kết án: “Dưới thung lũng chợt có tiếng gì xôn
xao. Qua tán ngô xanh anh nhìn thấy rất đông những người dân, mang dao cuốc nhằm
thẳng phía mặt trời, đi tới”.
Một truyện ngắn đi theo lối
viết phúng dụ luận đề thành công, theo tôi trước nhất phải có một phúng dụ hay,
độc đáo, gợi nghĩa; sau đó bộc lộ một/hơn một luận đề tương hợp với toàn bộ
phúng dụ theo cách tự nhiên, mang tính khơi gợi hơn là xác quyết. Đây chính là
chỗ khó nhất của lối viết này, và cũng là thử thách tay nghề của nhà văn. Nếu
phúng dụ gói khép quá kín, nhất là với phúng dụ kiểu huyền thoại, câu chuyện dễ
rơi vào sự mông lung mơ hồ, không hé lộ được ý đồ tư tưởng của người viết.
Nhưng nếu phô diễn luận đề vội quá theo kiểu “ăn non” trong khi biểu đạt phúng
dụ chưa đủ mạnh để làm bệ phóng, truyện lại rơi vào tình trạng tư tưởng lộ liễu,
tự tước bỏ hoặc suy giảm khả năng gợi nghĩa/năng sản nghĩa mà quyền năng nghệ
thuật tự sự có thể mang lại. Theo nghĩa này, có thể nói Sài thục là
một truyện ngắn hay và vạm vỡ nhất của Phạm Duy Nghĩa tính từ sau cái mốc 2007
cho đến thời điểm này.
3. Một bước chuyển đẹp
và… để đi tiếp?
Với một tinh thần như vừa
nói ở trên, tôi cho rằng Phạm Duy Nghĩa về cơ bản đã có năm truyện ngắn thành
công với lối viết phúng dụ luận đề: Sài thục, Gió xanh, Người
bay, Thành phố biến mất và Con dê xanh trên núi
tuyết. Ở mỗi truyện ngắn này đều có một tình huống huyền thoại làm phúng dụ,
như những phát hiện mới lạ, độc đáo, có khả năng mở ra những miền nghĩa thú vị,
lại được hòa phối với những mệnh đề được tiết chế, có kiểm soát.
Trong số này, nếu còn
chút tiếc nào, có lẽ là truyện sau cùng. Phúng dụ bằng hình ảnh một cây cổ thụ
trong mối liên tưởng về một trại hè thiếu nhi quốc tế nổi tiếng có từ những năm
thế giới chiến tranh lạnh, Liên Xô đang là thành trì của phe xã hội chủ nghĩa.
Hình ảnh trại hè rực rỡ đó hiện lên trong sự hồi nhớ của nhân vật về những bộ
phim được xem từ ngày thơ bé, và được tái hiện khi nhân vật tận mắt chứng kiến
một khung cảnh đổ nát, hoang tàn. Thêm nữa, cái cây màu đỏ ấy ban đầu đẹp đẽ,
lung linh, về sau trở nên bệnh tật, trụi lá, trốc gốc, gây ngộ độc… Do sự phối
thuộc thiếu nhuần nhuyễn nên ý tưởng câu chuyện bị phô, như thể bày sẵn cho người
đọc, không thúc đẩy người đọc đồng sáng tạo, làm suy giảm sức cuốn hút của tác
phẩm.
Lối viết phúng dụ cũng có
khi chứa chấp những nguy cơ. Nếu nhà văn không mạnh vể khả năng tưởng tượng,
liên tưởng, không phát hiện được những tình huống phúng dụ mới mẻ (hoặc làm mới
những hình ảnh phúng dụ thuộc về truyền thống văn hóa/văn học trước kia) thì sẽ
không có cơ hội thành công với lối viết này.
Sử dụng luận đề cũng là
con dao hai lưỡi trong trò chơi nghệ thuật tự sự. Nếu luận đề không được hóa
thân (và điều này mới là chính yếu) vào mọi tầng bậc của tác phẩm như cấu trúc,
nhân vật, không gian, thời gian, chi tiết, ngôn ngữ…; hoặc cài cắm luận đề vội,
non, quá giới hạn cần thiết thì tác phẩm sẽ dễ trở nên ép gượng, lộ liễu, mất
đi cái tươi xanh của sự sống nghệ thuật.
Thêm một bước nữa, sự phối
thuộc, đan xen hai thủ pháp này cũng là cả một nghệ thuật không hề đơn giản,
đòi hỏi một sự tinh tế, thông minh.
Với những thành công bước
đầu như đã thấy, Phạm Duy Nghĩa đang có một sự thay đổi thực sự cả về ý thức dấn
thân, cả về thi pháp truyện ngắn.
Cũng xin nói thêm, Phạm
Duy Nghĩa còn có một thăm dò nữa, khác chút so với loại truyện phúng dụ luận đề,
đó là loại truyện mang tính chất kinh dị, cụ thể hơn là truyện ma, linh hồn,
truyện về/liên quan thế giới cõi âm. Đó là các truyện Con ma trong hội
xô xe, Chiếc áo second-hand, và một phần của Trong nắng
huy hoàng. Một thứ truyện kinh dị đương đại. Nghĩa là nhà văn vẫn áp sát
vào đời sống đương đại, xoáy vào vấn đề nhức nhối của thì hiện tại, hôm nay.
Cũng chưa thể khái quát được gì nhiều về/từ ba trường hợp này. Chỉ có điều, hợp
lại với vệt truyện phúng dụ luận đề dựa trên tư duy huyền thoại hóa, chúng cho
thấy có một Phạm Duy Nghĩa đang đổi mới, đang làm khác đi những gì đã có, và
trên con đường đó, anh đã đạt được những thành công nhất định. Anh đang bước
trên lối đi hiện đang còn thưa thớt bóng người.
Không tự bằng lòng với vị
thế truyện ngắn đã được xác lập, nhà văn Phạm Duy Nghĩa đang làm mới chính
mình. Tôi gọi đó là chuyển động Phạm Duy Nghĩa(4).
Chú thích:
(1) Cơn
mưa hoa mận trắng, Nxb Thanh niên, 2006.
(2) Đường
về xa lắm, Nxb Công an nhân dân, 2007.
(3) Những
năm gần đây Phạm Duy Nghĩa đã cho in một số truyện rải rác trên Văn nghệ, Văn
nghệ quân đội, Nhà văn và Tác phẩm… Đó là các truyện: Sài
thục, Người bay, Gió xanh, Con ma trong hội
xô xe, Người hùng biết sợ, Bệnh tỉnh, Chiếc
áo second-hand, Con dê xanh trên núi tuyết, Thành phố
biến mất, Trong nắng huy hoàng.
(4) Cũng
xin nói thêm, khi tập bản thảo cuốn sách Viết khi tâm đắc của
tôi (trong đó có bài viết này) đang được san định chờ xuất bản, nhà văn Phạm
Duy Nghĩa gửi thêm cho tôi hai truyện ngắn: Đi về vùng thảo nguyên và Khí
lạ, trong đó truyện đầu được viết năm 2019, và đã đăng trên tạp chí Văn
nghệ quân đội (số xuân Canh Tý) mới đây. Xét thấy, lối viết truyện ngắn
thứ nhất khá nhất quán với lối viết Sài thục kể trên. Ở đó,
tác giả sử dụng hình ảnh vật thiêng (hi đán, khuây đán –
sinh thực khí bằng đá) trong tín ngưỡng dân gian của người Thái như một biểu
trưng: sức mạnh trì níu của tâm linh truyền thống và sức kháng cự của con người
hiện đại. Đây là một truyện ngắn lấy bối cảnh miền núi Tây Bắc. Hễ cứ trở về với
không gian đất và người miền núi, là ngòi bút của Phạm Duy Nghĩa trở nên sống động,
thăng hoa. Còn truyện ngắn thứ hai (Khí lạ) cũng lại nằm trong cụm truyện
kinh dị – một thăm dò mới của tác giả – như đã nói ở phần cuối bài.
13/3/2023
Văn Giá
Nguồn: Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, số 893, 5-2018
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Đọc tiểu thuyết của nhà văn làng Chèm
Đọc tiểu thuyết
của nhà
văn làng Chèm
Nhà văn Nguyễn Hiếu sinh
năm 1948 tại làng Chèm, bên dòng sông Cái đoạn qua huyện Từ Liêm, nên ông còn
có biệt danh là “Hiếu Chèm”. Tốt nghiệp khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội năm
1970, ông về công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam từ đó đến lúc nghỉ hưu năm 2009.
Nguyễn Hiếu là nhà văn đã công bố 25 tiểu thuyết, 130 truyện ngắn, 300 bài thơ
và hàng chục vở kịch sân khấu, truyền hình…
Ai từng đọc Nguyễn Hiếu ắt
sẽ khâm phục khi thấy một nhà văn bền bỉ trong địa hạt tiểu thuyết: Năm 1988
ông in tiểu thuyết đầu tay Quá cảnh, đến năm 2015 in cuốn thứ 25
là Con tàu ma, tính ra trung bình một năm ông cho “ra lò” một tiểu
thuyết. Có thể coi đấy là một kỷ lục văn chương thời đương đại. Bạn bè văn
chương cứ thấy ông vui vẻ sống và vui vẻ viết như một nhu cầu thường trực, như
một “nghề” hơn là một “nghiệp”.
Nguyễn Hiếu là nhà văn gắn
bó với làng quê bởi chính ông có cái căn rễ ven sông Hồng, còn được gọi là sông
Cái, sông Mẹ. Vì thế, không có gì lạ khi tiểu thuyết của ông có những nhan đề gợi
tả cái không gian sinh tồn của con người ven sông, như: Làng êm ả bên sông; Vết
xoáy trước “ngực” làng; Dòng sông màu máu vẫn chảy; Chân trời vỡ đôi… Người ta
nói mỗi nhà văn đều có “thung thổ văn hóa” của riêng mình. Trong tiểu thuyết của
Nguyễn Hiếu có một không gian sinh tồn đặc biệt mang tên làng Chiện (chắc có
nguồn gốc từ chữ Chèm?).
Có thể nói Chân
trời vỡ đôi (1988) là một cuốn tiểu thuyết được viết một cách khá kỹ
lưỡng về đời sống nông thôn trải biến qua chiến tranh và hòa bình trong muôn
vàn sắc màu của nó. Nhan đề tiểu thuyết mang một ý nghĩa biểu tượng. Cặp nhân vật
Lẫm-Hai Nghĩa như một cặp bài trùng đi xuyên suốt tác phẩm, như một bi kịch đời
sống. Cái chết của Lẫm, mà thủ phạm là Hai Nghĩa, đã khiến cho các giá trị truyền
thống bị vỡ vụn như suy nghĩ của Bí thư Cương: “Bao nhiêu năm làng Chiện qua
bao nhiêu thời kỳ giặc giã, can qua, có bao giờ xảy ra sự kiện ghê gớm này đâu”
(tr.486). Nông thôn Việt Nam vốn yên ả sau lũy tre làng hàng nghìn năm nay bỗng
vỡ vụn ra. Con người cũng vậy, từ một sinh thể thống nhất, thậm chí đơn nhất giờ
đây bị xé nát ra trăm mảnh, bị phân thân dữ dội. Nếu biết tiểu thuyết này được
xuất bản năm 1988 thì chúng ta sẽ thấy nhà văn Nguyễn Hiếu thực sự nhạy bén, có
tinh thần đổi mới văn chương khá sớm và cũng khá quyết liệt. Cùng mạch ý tưởng ấy,
làng Chiện trong tiểu thuyết Làng êm ả bên sông (1994) đang vỡ
ra, dị dạng trước cơn lốc của kinh tế thị trường. Nông dân dần mất đất. Những bờ
xôi ruộng mật biến mất. Thanh thiếu niên bị lối sống hưởng thụ, tiêu dùng kéo
xa dần truyền thống yêu lao động, ham cấy cày…
Trong chiến tranh, Nguyễn
Hiếu không trực tiếp cầm súng như một số nhà văn khác cùng thế hệ được gọi là
“nhà văn áo lính”. Nhưng không có nghĩa là vì thế mà chiến tranh không gây những
dư chấn trong tâm hồn nhà văn. Chiến tranh đã lùi xa, những thiệt hại về vật chất
rồi đến lúc cũng được hàn gắn. Nhưng những vết thương tinh thần thì không phải
một sớm một chiều chữa trị được. Vẫn còn nhiều người là nạn nhân của chất độc
da cam. Vẫn còn nhiều số phận hẩm hiu. Vẫn còn có người chết vì bom mìn của chiến
tranh để lại… Và vết thương lớn nhất mà cả xã hội còn phải tiếp tục chữa trị,
đó là những định kiến vô lý vẫn còn len lỏi, ăn sâu vào tiềm thức của không ít
người trực tiếp hoặc gián tiếp liên đới đến cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt
đã qua. Vàng dưới đáy sâu (2000), theo tôi, là một cuốn tiểu thuyết thành công
của Nguyễn Hiếu viết về đề tài hậu chiến.
Trong tiểu thuyết Dòng
sông màu máu vẫn chảy (1995) của Nguyễn Hiếu có hẳn phần
thứ tư với tựa đề “Chiến tranh có một thời là thế””(khoảng 70 trang).
Trong phần này, bộ mặt, không khí chiến tranh được vẽ lên khá cụ thể, sinh động
gợi lại ký ức một thời hoa lửa. Bây giờ việc một người chích máu ở tay viết đơn
tình nguyện nhập ngũ được cho là hoang đường, thì thời bấy giờ là sự thật.
Không gian câu chuyện vẫn lại là làng Chiện. Nhưng phải khách quan nhận xét rằng:
Những trang viết trực diện về chiến tranh trong tiểu thuyết Nguyễn Hiếu không
sâu đậm bằng những trang viết về thời hậu chiến. Ở đây có thể giải thích bằng
cái gọi là “sở trường, sở đoản” của mỗi nhà văn.
Tiểu thuyết Nguyễn Hiếu
thường có độ “rậm rạp” của các chi tiết đời sống, người đọc có cái cảm giác về
sự ôm đồm của tác giả, thiếu chắt lọc. Chất sống của tác phẩm vì thế chưa có độ
kết tinh cao. Những tình huống truyện được tác giả quan tâm và thường đó là những
tình huống mang tính kịch, có lẽ do tác giả cũng là một cây bút viết kịch khá
có nghề. Văn Nguyễn Hiếu viết có tốc độ nhưng còn xô bồ, đôi khi hồn nhiên đến
mức tự nhiên. Nguyễn Hiếu là nhà văn “2 trong 1” (nhà báo-nhà văn) nên sở trường
và sở đoản dễ bị xâm thực lẫn nhau. Cái “nhanh, nhạy” của nghề báo đôi khi lấn
sân làm cho chất văn của tác phẩm có tính “thời luận” hơn là “triết luận” về đời
sống thông qua nghệ thuật ngôn từ…
17/3/2023
Bùi Việt Thắng
Theo
https://vanhocsaigon.com/
"Một ngày" của Chu Thị Thơm: Sống trọn từng khoảnh khắc
"Một ngày" của Chu Thị
Thơm:
Sống trọn từng khoảnh khắc
“Một ngày’ là một bài thơ
tình, nhưng không chỉ gói gọn trong một chữ tình mà nó còn chở nặng triết lý cuộc
sống. Chu Thị Thơm chèo lái con thuyền thơ đưa người đọc đi qua mất mát, cay đắng
để trân trọng yêu thương tròn đầy, ngọt ngào…
Một ngày
Có thể ví tình yêu như lửa
Có thể ví đời như mây
Có thể ví anh như sóng
Ngàn đời
rỡn gió mê say…
Tình yêu cháy từng khoảnh
khắc
Đời người – rồi trắng tựa
mây
Chập chờn, dạt trôi con
sóng
Đêm về, chợt vắng cơn
say…
Mây – sóng – đời người
khép kín
Một ngày đời bỗng vụt bay
Một ngày tình thành tro bụi
Một ngày
sóng rỡn ngoài tay…
CHU THỊ THƠM
Lời bình:
Là một nhà thơ đồng thời
là một nhà lý luận phê bình văn học, một nhà báo nên thơ Chu Thị Thơm mang một
chiều sâu suy tưởng và triết lý. Và Một ngày là một bài thơ như thế. Tôi ấn tượng
với bài thơ ngay từ nhan đề: “Một ngày”. Không cầu kì về ngôn ngữ, dụng công
nghệ thuật, lớp lang ẩn ý mà nó ấn tượng từ chính sự đơn giản, mộc mạc. “Một
ngày” không phải là số từ để phân biệt với hai ngày, ba ngày hay mười ngày mà
là một mốc thời gian, một thời điểm. Nó vừa thực vừa hư, vừa xác định vừa vô định.
Nhan đề bài thơ đã gieo vào lòng người đọc những dấu hỏi để rồi họ mang những
trăn trở đó cùng nhà thơ bước vào cuộc hành trình suy tưởng để đi tìm câu trả lời.
“Có thể ví tình yêu như lửa
Có thể ví đời như mây
Có thể ví anh như sóng”
Nhà thơ như muốn giải mã
tình yêu, đời và anh nên đã đặt lên bàn cân so sánh với lửa, mây và sóng. Chu
Thị Thơm đã hữu hình hóa những thứ vô hình. Đặt ra những giả định để rồi tác giả
đã làm một cuộc hành trình tìm đến ngọn nguồn để chứng minh. Dường như những sự
vật hiện tượng đó chẳng hề có điểm tương đồng nhưng soi chiếu dưới lăng kính
nghệ thuật, nữ sĩ đã lần tìm ra sợi dây liên hệ ràng rịt giữa chúng. Với đôi lứa
yêu nhau thì mỗi khoảnh khắc tình yêu đều nồng cháy đến tận cùng. Đời người
trôi nổi như những áng mây chẳng bến nào neo đậu giữa mênh mông trời. Còn anh?
Như con sóng ngoài biển khơi, anh cứ mãi rong chơi, đùa vui với gió. Có khi anh
dào dạt, cuồng nhiệt, đắm say nhưng cũng có khi anh lại “vắng cơn say”, thờ ơ,
dửng dưng, lạnh nhạt. Kết thúc bài thơ là điệp khúc một ngày:
“Một ngày đời bỗng vụt
bay
Một ngày tình thành tro bụi
Một ngày
sóng rỡn ngoài tay…”
Nhà thơ đã khái quát quy
luật tất yếu: con người một lần sinh ra trong đời và cũng chỉ một lần về với
cát bụi, đó là vòng tuần hoàn của tạo hóa. Ngọn lửa dẫu cháy hừng hực thì rồi
cũng có lúc lụi tắt, vùi mình trong đống tro tàn và tình yêu cũng không phải là
ngoại lệ. Chu Thị Thơm bẻ đôi câu thơ cuối và vắt một nửa xuống dòng như một tiếng
nấc nghẹn, ngậm ngùi khi nhận ra anh cũng không thoát khỏi dự cảm “một ngày”.
Con sóng anh vượt xa khỏi tầm tay em với, anh vui đùa với ai không phải em. Cảm
giác hẫng hụt, tan vỡ khi hạnh phúc mà những tưởng rằng mãi thuộc về em chợt tuột
khỏi tay. Nữ sĩ Chu Thị Thơm tinh tế trong từng câu chữ khi sử dụng từ “rỡn” chứ
không phải “giỡn”. Từ “rỡn” mang sắc thái biểu cảm mạnh hơn đồng thời tạo độ
rung cảm cảm xúc khi người đọc đọc lên.
Một ngày là một bài thơ
tình, nhưng không chỉ gói gọn trong một chữ tình mà nó còn chở nặng triết lý cuộc
sống. Chu Thị Thơm chèo lái con thuyền thơ đưa người đọc đi qua mất mát, cay đắng
để trân trọng yêu thương tròn đầy, ngọt ngào. Cuộc đời và tình yêu đều rất mong
manh nên hãy biết trân trọng những phút giây hạnh phúc mà ta đang có, sống trọn
vẹn từng khoảnh khắc.
19/3/2023
Đào Mạnh Long
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Nhà thơ Nguyễn Văn Song và sự kiến tạo thi giới trong "Mẹ và sen"
Nhà thơ Nguyễn Văn Song
và
sự kiến tạo thi giới trong "Mẹ và sen"
Thầy giáo, nhà thơ Nguyễn
Văn Song đến với thơ có thể nói là khá muộn so với tuổi. Nhưng đã trở
thành một tác gia có tiếng trên văn đàn với những giải thưởng cao quý của các
cuộc thi lớn. Và rất quen với bạn yêu thơ khi thường xuyên xuất hiện trên các
trang báo và tạp chí từ trung ương đến địa phương.
Anh là người điềm đạm,
nghiêm cẩn và không thích phô trương. Nên khi tôi có ý định xin phép anh liệt
kê giải thưởng “khoe” với bạn đọc niềm tự hào của người cầm bút, anh đã từ chối.
Dù đoán trước được điều này nhưng tôi vẫn cảm thấy hụt hẫng. Anh bảo với tôi
anh muốn để người đọc thẩm định chất lượng tập thơ một cách tự
nhiên nhất. Vì anh không theo đuổi thi nghiệp, mà chỉ viết để giải tỏa cảm xúc
của mình, đơn giản vậy thôi. Có lẽ đó là lý do đầu năm 2022 anh quyết định in
cùng lúc hai tập thơ là ” Đi từ phía cổng làng” và ”Mẹ và Sen” như một lời tri
ân gửi đến người mẹ yêu dấu (cũng là độc giả đầu tiên của thơ anh) đã qua đời
vào tháng 7 năm 2020, đồng thời cũng là một món quà nhỏ gửi đến những người bạn
văn chương cùng độc giả của mình.
Khi biết ý định này của
anh tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì ba năm anh cầm bút thì hai năm tôi đã được
chiêm cảm những thi phẩm rất hay của anh nên tôi vẫn luôn mong anh ra tập thơ đầu
tay. nên khi nghe tên tập ”Đi từ phía cổng làng” thì tôi đã rất hài lòng. Nhưng
khi biết tập sau anh chỉ chọn những bài về mẹ và sen để in thì tôi thật sự lo.
Bởi không nói thì có lẽ ai cũng biết là thời nay lục bát không còn được ưa chuộng
như xưa nữa, thậm chí một số bạn thơ của tôi còn không muốn viết lục bát. Họ
chê là cũ và mòn, nhạc điệu du dương dễ gây buồn ngủ… Nên việc in một tập thơ lục
bát cũng khiến rất nhiều tác giả đau đầu và không muốn mạo hiểm. Đa phần họ chỉ
xuất bản nhiều thể thơ với nhau để tránh nhàm chán cho người đọc. Những tập lục
bát đã xuất bản mà tôi được biết đều ngồn ngộn thi ảnh, đa tứ, đa sắc lắm biểu
trưng, mà đôi khi đọc lại còn thấy thiếu một điều gì đó, nữa là một tập thơ hơn
chín mươi phần trăm là lục bát, lại chỉ có mẹ và sen, chỉ viết về sen và
mẹ? Nghĩ vậy nhưng tôi không dám nói ra, bởi so với anh tôi chỉ là một kẻ non nớt,
mới cầm bút tập làm thơ nên sợ mang tiếng dạy tiều phu cầm rìu.
Tuy băn khoăn nhưng tôi vẫn
tin vào sự lựa chọn của anh và hy vọng mình sai. Sau một thời gian chờ đợi thì
tôi cũng nhận được hai thi phẩm anh gửi tặng. Tôi không băn khoăn gì về tập ”Đi
từ phía cổng làng’’ bởi tập này thi ảnh khá nhiều, mà thi ngữ của anh thì luôn
tròn sáng như trăng rằm, nên tập này sẽ ổn. Vì vậy tôi đọc ”Mẹ và Sen ”
trước. Thật may, tôi đã đoán sai. Tuy địa hạt trong thi giới này chỉ có mẹ
và sen, nhưng bằng tài năng và bản lĩnh của mình, nhà thơ Nguyễn Văn Song đã biến
hóa ra rất nhiều thi tứ . Rồi thăng hoa và tỏa rộng hai thi ảnh ấy thành
những cảnh trí và biểu trưng khác nhau, khiến cho thế giới trong thơ anh cũng
đa tầng rộn ảnh chẳng kém những tác phẩm khác. Anh sử dụng thủ pháp đồng hiện ẩn
ngữ |(trong sen là mẹ, trong mẹ là sen, trong cả hai là làng, là mọi người, là
cuộc sống) nên đã tránh được sự đơn điệu cho tập thơ. Mặt khác, khi cầm bút,
anh luôn là người tận hiến và tu dưỡng ý thức nghiêm cẩn , rèn luyện cho thi cốt
thi cách được viên mãn. Nên mỗi con chữ là một sự cân nhắc, mỗi bài thơ đều là
kết quả của sự miệt mài lao động trong đam mê nên đạt được giá trị thẩm mỹ cao.
Mở đầu tập thơ , thật ngạc
nhiên là không phải bài về mẹ, cũng chẳng phải bài về sen mà lại là bài viết về
làng. Cứ tưởng như phi logic nhưng lại rất hợp lý. Bởi cả mẹ và sen đều ở trong
làng, từ làng mà có. Và ngược lại, trong mẹ và sen là ẩn tàng một phần vía hồn
làng. Đây là bài thơ duy nhất viết về làng mà tôi nghĩ là sự sắp đặt tế
vi của tác giả. Bởi vì sau đó làng đã tỏa bóng mình sang bóng của mẹ và sen, vô
hình mà hiện hữu trong toàn tập rồi, nên không cần nhắc đến nữa, mà người đọc vẫn
thụ cảm được những mạch chảy của làng. Đó là một ngôi làng như bao ngôi làng
khác, có hồ sen, có triền đê và tiếng ếch cốm đêm mưa . Cũng rơm rạ ngập
đường, nhưng vẫn mang nét riêng vì nó là nơi nhà thơ ” giấc trưa trốn mẹ ra đồng/
bao năm rồi vẫn phải lòng mùi hương”, ”đêm đông giá buốt ngập trời / ổ rơm thơm
thảo quyện hơi mẹ nằm” . Điều này không thể có ở nơi nào khác ngoài cố hương của
thi sỹ. Để rồi; “đời tôi bao chuyến đò ngang/ Vẫn đau đáu một cõi làng nơi xa/
chiều nay trở lại quê nhà/ bao nhiêu sợi tóc chợt òa mây bay” (Làng). Chẳng cần
tinh ý lắm, chúng ta đã thấy hiện sinh trong làng rõ nét hình ảnh của mẹ và
sen. Nếu không có hai hình ảnh này níu giữ, đồng hóa với làng, thì dễ gì khi đi
xa lòng anh ” vẫn đau đáu một cõi làng nơi xa”?
Nhớ làng để hữu hình ảnh
mẹ:
”Mẹ xé mình, vặn vỡ thoát
thai con
Cả trời đất cuồng quay ,
cả thiên hà tao tác
Bỏ quên mạng mình giữa
đôi bờ sống thác
Rạng rỡ ngắm con, mặt trời
nhỏ tươi hồng”
Người mẹ lúc này đâu chỉ
là của một mình thi nhân, đâu chỉ ở riêng một mảnh làng bé nhỏ nữa, mà đã thoát
bay khỏi cái tư hữu, trở thành biểu tượng chung của người mẹ nông thôn Việt
Nam. VÌ khi có con người đàn bà nào cũng trở nên vĩ đại:
‘’Đôi tay mẹ đủ mười đốm
chai tròn
Mười khối đá trước bão
giông nắng lửa
Bàn chân trần ngược xuôi
sấp ngửa
Chạy cơn mưa rào vấp tóe
máu đồng xa”
(Mẹ)
Nhưng con còn bé sao hiểu
được nỗi cô đơn và sự kiệt lực, đức hy sinh của mẹ;
‘’Mùa đông lội xuống đồng
làng
Mẹ gầy sương đổ bóng càng
thêm xiêu
Cá rô rét cóng kho niêu
Con đâu biết mẹ mấy chiều
tái tê”
(Mùa đông của mẹ)
”Mẹ ngồi sàng nhũng đêm
dài
Sẩy từng câu hát thức
ngoài thềm sương
Đàn cò gánh gạo canh trường
Mẹ ta đổ bóng trên tường
mòn đêm”’
(Đàn cò của Mẹ)
Đọc xong những dòng thơ
này mấy ai không xoắn lòng luyến nhớ đến mẹ mình? Dường như tác giả đang kéo
giãn niềm thương trong từng máu tim, cốt tuỷ bản thân vào thơ để người đọc quán
chiếu lại tâm thức mình, mà cùng anh ngậm ngùi hoài nhớ về mẹ. Từ đó đã thụ cảm
và đồng hòa được với những nỗi đau của người mẹ khác. Ví như nỗi đau của người
mẹ mù:
”À ơi! Đời mẹ là đêm
Dò đi một bước tủi thêm
kiếp tàn
Khát tìm trong cõi nhân
gian
Một tia nắng ấm hong tan
mưa dầm”
(Lời ru của người mẹ mù)
Và sự cô đơn của người
đàn bà đơn thân:
’’Đi trong đêm
Tay tự nắm tay mình thủ
thỉ
- Chẳng còn xa
Trò chuyện với bóng đổ
dài
Đường hun hút gió”
(Đơn thân)
Hay sự ẩn ức tuyệt vọng của
người mẹ già trong cơn sốt đất của những đứa con
“Nhà cao tầng mọc ngút trời
Mẹ ngồi bốn phía tường
vôi thẫn thờ
Năm phần đổi chủ lặng tờ
Khoảng sân mẹ đứng phạc
phờ bão giông
Trông con cả một đời ròng
Mẹ chờ rời khỏi đất không
phần mình”
Cứ tưởng người mẹ mù này
đã khổ lắm rồi, nhưng vẫn còn một người đàn bà sáng mắt khổ hơn . Vì con bà ấy
‘’Nghiệt oan một chyến đi đường/ Con thành đứa trẻ bất thường , ngây thơ… Không
đi đứng, chẳng ngồi bò/ Thể như cây cỏ dần khô lá cành’’
Nên:
‘’Bây giờ con tuổi bốn
mươi
Mẹ gần tám chục nghẹn lời
ru xưa
Lời ru ít nắng nhiều mưa
Thiếu mây thiếu gió mà thừa
bão giông’’
Tôi có cảm giác khi viết
những dòng này trái tim tác giả cũng bi thiết, tê điếng cùng nhân vật. Những
con chữ như run lên làm người đọc cũng rưng rức theo.
Rõ ràng hình người mẹ
ngay từ đầu và đến bây giờ không phải là một thi ảnh hẹp nông nghĩa nữa . Mà
càng ngày càng được mở rộng hơn. Mẹ là mẹ của anh, mẹ là mẹ của người
khác. Và bây giờ thì mẹ đã vượt thoát thế giới thơ sang thế giới thực với
những câu chuyện trái ngang trầm thống thường nhật. Thi giới đang được mở rộng,
dẫu vẫn không xuất hiện thêm một biểu trưng hay một khách thể mới nào.
nhưng dù thế nào đi nữa
thì mẹ cũng trở về với bản nguyên của mình, là bùn nuôi sen;
lặng thầm gạn lọc tanh
hôi
chắt chiu nồng đượm dâng
lời ngát hương
sen hồng phả gió muôn
phương
hết mùa thân xác lại
nương về bùn”
(Bùn)
Tài hoa thay, khi nhà thơ
còn khai mở thêm cho thi ảnh mẹ của mình một tầng nghia mới nữa:
”Có một đẵn lưng cong
Mỗi sống đốt đo cả nghìn
năm tuổi
Mà gánh bắc gánh nam đi
suốt dọc dài …
Tấm lưng gầy vết cứa loét
quanh năm
Chiều nay thêm một lần vặn
đốt
Để sau siêu bão lại dịu
hiền dáng mẹ ngàn năm’
(Tấm lưng mẹ)
Bài này anh viết khi miền
trung đang phải chịu những cơn siêu lụt, đi đâu cũng găp cảnh’’những ai ở nhà
khăn tang trắng chít chồng thêm trắng”. Và thi ảnh mẹ ở đây đã được linh hóa,
trở thành đất nước. Tấm lưng xước trầy chịt chằng vết thương chính là miền
trung thân yêu, gánh hai đầu nam bắc.
Chúng ta đã thấy, bằng sự
điêu luyện trong việc thi triển ngôn từ kết hợp với các biện pháp tu từ nghệ
thuật , nhà thơ Nguyễn Văn Song đã xây dựng và triển đạt được hình tượng người
mẹ diện đa tầng đa nghĩa, mang đầy tính triết mỹ. Đồng thời đã gợi mở
được mạch nguồn yêu
thương và khơi dẫn cho thi giới của mình đa âm đa sắc đa sự . chiếu hiện vào
lòng người đọc những âm ba thi cảm khó quên. Và nối tiếp lưu lộ cảm dưỡng này ,
thi ảnh sen cũng được thi nhân khai thác triển đạt không kém phần ấn tượng.
Đầu tiên , sen là chính
sen với :
‘’Cánh thơm xòe ngón ngọc
ngà
Nhụy vàng gom nắng đậm đà
hương trinh
Lá buông phiến lụa dệt
xanh
Sắc hương cho vẹn ân tình
sợi tơ’’
(Tơ sen)
Ngay từ những câu tưởng
như chỉ đơn thuần miêu tả vẻ đẹp khiết tinh của sen, chúng ta đã thấy hiển hiện
chút gì đó của mẹ. Khi sen gom nắng dệt ‘’sắc hương cho vẹn ân tình sợi tơ’’,
chu đáo và công tâm như cách người mẹ lo cho bầy con bé dại của mình. Đến bài ”Một lá sen qua đời‘’ thì mẹ và sen đã là một bản thể đồng hiện:
‘’Vắt cạn thân thảo mộc
Dâng đến tàn xương khô
Sáng nay trong mưa buốt
Chiếc lá gục bên hồ
Tôi ngồi bên hồ vắng
Giữa mây chiều mồ côi’’
Ngoài ra, sen còn là tình
yêu đơn phương trầm lặng thanh quý của người thơ muốn tận hiến tất cả cho người
mình yêu. Nhưng vì một nguyên nhân nào đó mà anh chưa ngỏ , để rồi ‘’ càng đượm
càng nhanh chạm kiếp tàn’’:
‘’Ta khóc sen tàn hay
khóc em
Tình thơ một nụ khép lòng
im
Hay ta ngồi khóc ta ngây
dại“
Nỡ để sen khô lặng lẽ
chìm’’
(Uống rượu cùng sen)
Đồng thời cũng là hóa
thân của người yêu thi nhân:
“Gót sen em một ngẩn ngơ
Ngó sen em một dại khờ
tinh khôi
Tơ sen em bỏ ngang trời
Níu tôi suốt cả một đời
vương mang
Niềm sen gieo cõi nhân
gian
Tinh khôi giữa những đa
đoan nổi chìm
Tôi ngồi đây với lặng im
Lắng nghe sen rỏ vào tim
giọt trầm “
(Giọt sen|)
Mỗi một bộ phận của sen
là một sắc thái biểu cảm khác nhau, nhưng đều là hình ảnh của người yêu nhân vật
“tôi”. Cả hai khổ thơ đều là sen, tràn đầy sen, chật kín sen. Nhưng không
vì vậy mà gây cảm giác nhàm chán. Đây chính là tài dụng ngôn của tác giả.
Mặt khác, sen còn là hiện
thân của một số phận mệnh bạc, hưởng dương ngắn ngủi, trượt chân gửi xác bên hồ
nước :
‘’Đêm qua một bông sen trắng
Say trăng lịm thiếp trong
hồ
Hồn thoát bay đi với gió
Bỏ từng xác cánh bơ vơ
Hồ thu bập bềnh cánh sáng
Trắng loang cay khói
sương mờ
Trăng lên rùng mình
inbóng
Một người tóc đợi phơ
phơ’’
(Sen trắng)
Không chỉ vậy, sen còn là
sức mạnh nội tại tâm linh của mỗi cá nhân, là nơi con người tìm về khi nhiễu
tâm loạn tưởng, mệt đau mà thiền định , bình ổn hồn trí, để vượt thoát ‘’rũ buồn
trôi về xa lắc’’ và ‘’chỉ còn hương ngát mênh mang:
‘’Còn bao nhiêu niềm phiền
muộn
Sen phong kín giữa gương
vàng
Để khi em choàng tỉnh giấc
Chỉ còn hương ngát mênh
mang’’
(Giấc sen)
Thật bất ngờ và thú vị
khi đọc những dòng như:
‘’Có gì nhắn nhủ sen ơi
Màu hoa hay sắc máu người
chưa khô
Hay hồn oan khuất ngày
xưa
Thành sen nhị sắc bây giờ
ngát hương?
Ngắm sen lòng dạ bồi hồi
Thấy trong nhị sắc nụ cười
Ức Trai’’
(Sen nhị sắc)
Đúng là sự lo lắng ban đầu
cho ”Mẹ và Sen’’ của tôi đã là quá dư thừa rồi. Tôi quên mất anh là người rất kỹ
tính và viết chậm. Mỗi bài thơ từ khi ý tưởng thành hình đến khi được hoàn tất
anh phải mất cả tuần, có khi cả tháng, thậm chí có bài cả năm hun đúc, hàm dưỡng
tứ tư từ trong lòng bởi anh ghét sự cẩu thả chín ép. Nên khi hứng đến
thì thơ thăng hoa rất tự nhiên, mạnh mẽ, lời tinh ý sáng. Thành ra trên con đường
lục bát dễ viết khó hay, không chắc tay sẽ thành vè, xưa nay đã in dấu chân của
bao vị tiền nhân nổi tiếng, đã vang khá nhiều tên tuổi cùng thời đại, mà nhà
thơ Nguyễn Văn Song vẫn tạo được nét riêng của mình, là vì thế. Tôi lại nhớ đến
những tranh cãi cũ mới trên diễn đàn văn chương mà mình được xem, vô tình nghe
và tình cờ biết qua bạn bè. Rất nhiều tác giả trẻ không hiểu được khái niệm thế
nào là thơ cũ. Họ cho rằng thơ cũ là lục bát và quay đi, lao đầu vào trường
phái mà họ tin rằng mới nhất thời đại. Đó là viết thơ tân hình thức. Nhưng họ lại
không biết tìm mới thi ảnh, lạ hóa nội dung. Thế là họ chứng tỏ mình mới bằng
cách bẻ què chữ , chặt gãy câu, cưỡng ép ngữ… nhiều khi chính họ cũng chẳng
biết mình đang hướng đến cái gì, càng khó diễn nghĩa chữ mình viết ra.
Bàn về trường phái này,
nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm từng viết: “Về nội dung, thơ theo khuynh hướng tân
hình thức không có gì mới, không có gì đặc biệt, nếu không nói là cũ, dễ dãi,
nhàm chán.. Họ tạo ra cái mới, tạo ra cái lạ, thu hút người đọc bằng cách bẻ
què câu thơ, bẻ gãy câu thơ để không giống ai. Đáng lẽ bảy chữ, tám chữ câu thơ
trọn vẹn ý, họ viết năm chữ, sáu chữ một dòng trên còn bẻ hai chữ, ba chữ xuống
dòng dưới. Nó vừa vô nghĩa, vừa ngây ngô, vừa cẩu thả. Cách làm này không hề
làm tăng giá trị thẩm mỹ, giá trị nội dung của thơ. Trái lại, nó hoàn toàn lộ
diện một kiểu thơ nhạt nhẽo, mang tính giải trí là chính. Nó chứng minh sự bất
lực của tư duy sáng tạo. Các cây bút theo xu hướng này đang trốn mình khỏi sự
truy lùng gắt gao của sự đòi hỏi tài năng đích thực, tìm tòi đích thực, mang lại
giá trị mỹ học đich thực đối với thi pháp học đương đại. Và thực tế, dù được một
số người cổ súy, đến nay, khuynh hướng thơ Tân hình thức biểu hiện hụt hơi, thiếu
sức sống, đang tự chết…’’
Vậy thì thể thơ mới hay
cũ đâu phải là vấn đề to lớn của thi ca. Và tôi nhận ra, sở dĩ lục bát thời nay
ít được đón nhận hơn không phải vì nó cũ, mà vì nhiều cây bút cứ đi theo lối
mòn, không có sự tế vi tinh nhạy, hàm dưỡng ngôn từ, sáng tạo thi ảnh và vượt
qua cái bóng của mình. Nên tác phẩm chưa làm hài lòng độc giả. Hãy đọc ’’ Mẹ
và Sen” để thấy được sự dụng công, tài hoa và bản lĩnh của tác giả. Tuy rằng chỉ
có hai hình tượng, nhưng đã xối trộn ôm trùm lạ hóa và linh hóa, mở rộng thi giới.
Điều đó khiến không gian ấy của anh không kém địa hạt chữ rộng thi tứ nhiều thi
ảnh của các tác giả khác. Mỗi bài thơ là mẹ và sen lại hóa thân vào những vai
trò và vị trí khác nhau, bổ khuyết và làm đầy thi giới mới nghe cứ tưởng rất
đơn điệu này. Từ người mẹ ‘’vặn vỡ thoát thai con‘’ trong gia đình, mà dẫn gợi
ra bao nhiêu nỗi niềm đàn bà, cũng là những câu chuyện cuộc đời, đã neo được
vào lòng độc giả sự đồng cảm, luyến nhớ. Mỗi bộ phận, mỗi màu sắc của sen
là một ý nghĩa khác nhau, làm người đọc đi từ bất ngờ này sang ngạc nhiên khác.
Biết đâu sau khi đọc xong ’’Mẹ và Sen’’ của nhà thơ Nguyễn Văn Song, độc giả mỗi
khi đi qua đầm sen, nhìn lá sen họ liền nghĩ đến mẹ:
“Cánh buồm căng ngực bão
Nâng từng búp non tơ
Chở che muôn cánh trắng
Như lòng mẹ vô bờ”
(Một lá sen qua đời)
Và trông thấy sen trắng,
lại nhớ về những linh hồn thân hữu đã ra đi? Khi sen khô lại hồi tưởng đến mối
tình dang dở, còn sen vàng mang khuôn mặt người xưa. Hoặc thoảng gặp bông sen
nhị sắc ‘’nửa bông trắng muốt như ngà/ nửa bông ứa đỏ như là máu loang’’ lại nhớ
đến nỗi oan thấu trời của ngài Ức Trai thì sao? Điều đó thật thú vị, và dễ xảy
ra lắm chứ!.
19/3/2023
Vũ Tuyết Nhung
Theo
https://vanhocsaigon.com/
"Nhớ sông" và những tứ thơ xuân của Huỳnh Văn Quốc
"Nhớ sông" và những tứ
thơ xuân của Huỳnh Văn Quốc
Tình cờ cầm trên tay tập
thơ “Nhớ sông” của nhà thơ Huỳnh Văn Quốc, tôi chợt nhớ tới tập sách
Đất Phú trời Yên được đọc gần đây. Tự hỏi dòng sông trong tâm tưởng của tác giả
có mang dáng dấp của bến sông Trong (bài ký của Phan Thanh Bình), của “Nơi đã từng
là khúc sông” (trong truyện của Đào Minh Hiệp), hay “bến lở” (truyện ngắn Huỳnh
Thạch Thảo)?
Dòng sông trong thơ Huỳnh
Văn Quốc tuy quen mà lạ. Cũng là hình tượng dòng sông trong lịch sử, ghi dấu
truyền thống đất và người Phú Yên, hay là dòng sông mang những được – mất, vui
– buồn và kỷ niệm…, song dòng sông ấy rất cô đọng và tượng trưng:
Chẳng lẽ dòng sông ấy
Chảy về trong giấc mơ
Một sớm mai thức dậy
Dòng khô đến không ngờ
Nhìn dòng sông đang chảy
Lo một ngày cạn khô
Hai bên bồi bên lở
Cùng chảy vào hư vô…
(Nhớ sông)
Và sông đã “lặn” vào nỗi
nhớ, vào những mạch sống mang đầy trăn trở của cuộc đời. Một trong những mạch
thơ luân chuyển từ tâm hồn nhà thơ đi vào cuộc sống hiện tại, có những tứ thơ
viết về mùa xuân vừa mới lạ, vừa ấm áp của nhà thơ.
Đó là vì, đọc qua non nửa
tập thơ “Nhớ sông”, tôi bắt gặp bài Tết mẹ ngày xa…:
– Mỗi năm tuổi mẹ mỗi già
Lòng không theo tuổi, vẫn
là tuổi xuân;
– Mỗi năm là một xuân qua
Mà sao lòng mẹ vẫn là
xuân xưa;
– Con bên mẹ, cháu bên bà
Mùa xuân bên mẹ lại là…
mùa xuân!
Tôi chợt nhận ra tính tuần
hoàn chính là “thủ pháp” tạo nên sự cuốn hút trong thơ của Huỳnh Văn Quốc. Sự
tuần hoàn của vũ trụ, của đời người, hay chỉ là của một nét xuân cũng đều mang
trong nó sự sống và vẻ đẹp trọn vẹn, khó tách bạch. Và hơn nửa sau của tập thơ
“Nhớ sông” đã nói lên ý niệm của sự vận động tuần hoàn vừa lớn lao, lại vừa rất
cụ thể, tinh tế. Và đa phần đều được diễn đạt thông qua hình ảnh, cấu tứ của
mùa xuân: Ly rượu tất niên, Thao thức chờ xuân, Ngày xuân đọc thơ xưa,
Gieo hạt mùa đông, Mây trắng mùa đông, Khu vườn mùa xuân, Về đông, ta còn…, Điện
Biên tháng ba, Gác chuyện phân vân, mừng xuân mới…
Bài thơ “Ngày xuân đọc
thơ xưa” chỉ có năm cặp thơ lục bát, trong đó hai câu mở đầu bằng “Một đời”,
hai câu mở đầu bằng “Nghìn năm”; song sự đăng đối lại kết hợp thành một lẽ chân
như vẹn nguyên, gợi đến một loại “kết cấu” bền vững và vi diệu của tạo
hóa:
Nghìn năm sông cạn núi
mòn
Nghìn năm xuân đến mai
còn nở hoa
Nghìn năm cơn gió thoảng
qua
Cành mai sân trước vỡ òa
mùa xuân
Bên cạnh tính tuần hoàn
trong thơ, Huỳnh Văn Quốc cũng dùng đến phép liên tưởng rất hiệu quả. Bài thơ
Gieo hạt mùa đông lấy thực tiễn là mùa đông giá lạnh để hy vọng đến “khơi nguồn
mùa sau”. Hay trong bài “Điện Biên tháng ba” lấy màu hoa trắng như áo cô dâu,
như khăn đội đầu làm phản đề cho quá khứ “đen ngòm từng họng súng/ ám
khói vào đất sâu”. Huỳnh Văn Quốc viết nhiều về mùa xuân, song ông
không quá chú tâm khai thác về cảm xúc, mà đi vào suy tư. Chính từ sự quan sát
và trải nghiệm rất sâu hiện thực, nhà thơ mới lắng nghe thấy biết bao điều
ẩn hiện trong những đám “Mây trắng mùa đông” bồng bềnh vắt ngang nắng xế,
từ những ám thị của cuộc sống cho đến khát vọng giải thoát nỗi đau đời:
Bão ở xa và tôi ở đây
Có gì không phải khi tôi
hồn nhiên
ngồi ngắm mây bay
Có gì nặng trĩu khi tôi
ngồi nghe
bác bà các cô than phiền
giá cả
Đắt và rẻ cũng bồng bềnh
bồng bềnh theo từng con
sóng biển…
Có hạt muối mùa đông mặn
mòi
từng phiên chợ
Muối tan vào lòng, mây
tan giữa tầng không…
Nhà thơ Huỳnh Văn Quốc chọn
cách diễn đạt vừa đủ, song sự cô đọng và tính liên tưởng của ngôn từ đã giúp
thơ anh gợi ra nhiều điều, lan tỏa ý niệm nhiều chiều của đời sống, và thấm sâu
vào lòng người đọc theo kiểu mây tan mà không mất đi, tan mà lắng
đọng lại.
Đó là thành công nói
chung của tập thơ, song đặc biệt gây ám ảnh và rung động ở bài thơ cuối tập:
“Mùa xuân online”. Đã là online thì chỉ có thể nghe và thấy, “ở khoảng cách
xa”, “trên màn hình phẳng”, đối lập với những ý niệm mùa xuân thường thấy của
cuộc đời, kích thích sự nhớ thương… thay vì được hưởng thụ một mùa xuân dù ngắn
ngủi đến mấy vẫn chan hòa niềm vui và hương sắc. Bởi vì “Cơn dịch giã nổi chìm
xuân với tết” – quá khứ chưa xa ấy cho mọi người một kinh nghiệm sống mới: “Nhớ
về nhau, lại nhớ đến… online”.
Song thật đáng quý, một
phát minh kỳ diệu đến bất ngờ:
Giá ta được online ngày
tháng cũ
Để mắt nhìn, tai lắng tiếng
Mẹ, Cha
Để không quạnh bóng hình
người thuở trước
Để không nhòa những vạt nắng
xuân qua…
Những tứ thơ xuân, và những
bài thơ khác của tập Nhớ sông đã lắng đọng trong lòng người đọc bằng cách thật
tự nhiên và chân thành như thế. Nhà thơ đã không tô vẽ hay định nghĩa cho cuộc
sống, cũng không cường điệu cái tôi và những nỗi niềm của riêng mình; song người
đọc cảm và đón nhận được hết những lớp tâm tư, tình cảm của anh, cùng lẽ sống
anh gửi gấm vào thơ. Trong bài “Bởi chính mình và cho chính mình” nhà thơ Nguyễn
Quang Thiều viết đề từ cho tập Nhớ sông, ông cũng đã khẳng định: “Đúng không
gian ấy và đúng thời gian ấy, lòng tôi nhận ra tất cả”… Thiết nghĩ rằng, sứ mệnh
một nhà thơ trên dải đất đầy nắng gió và bão biển Nam Trung bộ đã đặt lên vai
Huỳnh Văn Quốc không hề ngẫu nhiên. Bởi sống và cầm bút cũng là một sự kết hợp
hoàn chỉnh của thơ ca, là gánh cang thường mang nặng trên vai trước khi tìm được
những thăng hoa mà các nhà thơ khát khao tìm kiếm. Trước thềm mùa xuân, đọc tập
thơ Nhớ sông của Huỳnh Văn Quốc có lẽ không thể quên được bài thơ mang triết lý
sống của anh:
Ai lớn lên cũng có thể chọn
lại
cho mình nhiều thứ
… Nhưng chọn làm sao ánh
trăng
ánh mặt trời hay vì sao
chiếu mệnh
Chọn làm sao tiếng mẹ ru
nôi?
(Chọn)
21/3/2023
Trần Thu Hằng
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Ngày xuân ngao du với Bùi Chuồn Chuồn thi sĩ
Ngày xuân ngao du với Bùi Chuồn Chuồn thi sĩ Bùi chuồn chuồn là tên gọi mới thi sĩ Bùi Giáng tự đặt cho mình trong “Ngày tháng ngao du ” ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...





