Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tiếng “cây” trong ngôn ngữ Việt Nam khi dùng theo nghĩa bóng là chỉ các bậc tài nghệ trong nghề. Cây làm bàn, cây sáng kiến, cây lý luận, cây truyện ngắn, cây tiểu thuyết… Hiện giờ tiếng “cây” đó đang bị ô nhiễm vì đời sống kinh tế khó khăn – một điều đáng buồn. Viết về Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi muốn gọt sạch lớp bụi ô nhiễm, lấy lại chính xác nghĩa bóng của từ để gọi anh: Cây ký.
Có lẽ trong văn học hiện nay Việt Nam, sau Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn thứ hai nổi bật lên với thể ký. Ký của anh có cái là truyện, có cái là tùy bút, có cái chỉ mới là ghi chép, nhưng chúng đều là ký văn học. Đóng góp của anh chính là tính chất văn học của ký này. Không ít nhà văn cũng viết ký, nhưng đó lại là ký thông tấn, ký tân văn. Thời gian trôi qua, các sự kiện lùi lại sau, đời sống xã hội thay đổi, những bài ký như thế chết đi trong im lặng. Những bài ký còn lưu lại được, còn được ghi nhớ như ký Nguyễn Tuân, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đích thực là những tác phẩm văn học.
Nhìn vào hai tập sách Rất nhiều ánh lửa (1979) và Ai đã đặt tên cho dòng sông (1985), điểm qua mục lục các bài viết, có thể nhận ra một dấu hiệu phổ biến quen thuộc của người viết ký: Đi đến nhiều nơi khác nhau. Từ Huế, sau ngày đất nước thống nhất, Hoàng Phủ Ngọc Tường rộng dài bước chân đến Quảng trị, ra sông Hồng, về đất Mũi, ngược lên Bắc, dọc ngang khắp các miền Tổ quốc, rồi lại trở về vòng quanh non nước xứ cố đô. Mỗi nơi đến một thời điểm để lại những sự kiện của nơi ấy, thời điểm ấy trong mỗi bài ký được biết ra kịp vào lúc ấy. Nhà văn có mặt bên hàng rào điện tử khi trận chiến vừa im tiếng súng mở ra một trận chiến không tiếng súng cũng đầy nguy hiểm, hy sinh. Anh đến giữa một lớp “bình dân học vụ” ban đêm bên Cồn Hến trong những ngày đầu mới giải phóng. Anh lên rừng hồi chứng kiến cảnh “thằng Hác” chết dưới gốc hồi một cái chết nhục nhã, phi lý, làm phân bón cho cây. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đi, đã thấy và đã viết những gì thấy trong khi đi. Chỗ này anh giống tất cả những người viết ký khác. Vậy thì anh khác người ra sao để thành đáng nhớ, đáng quý?
“Vâng, thuở ấy sông đã xanh như bây giờ, như đã xanh từ thuở Việt Thường. Tôi là người thư sinh đất Thăng Long, theo đám cưới Huyền Trân qua đây giữa một ngày dòng sông bồi hồi son phấn kinh thành. Thuở ấy, dòng sông Châu Hóa còn hoang dại, chim nhạn đậu đầy bãi, hoa tầm xuân mọc chen với cỏ lau, chính là hoa tường vi thơm ngát những khu vườn bây giờ. Tôi qua đây, yêu mến dòng sông nên ở lại, dẫy cỏ, lật đá, trồng cây từ buổi ấy. Sau bảy trăm năm trôi qua, mỗi tấc đất khát bỏng này đã uống biết bao nhiêu mồ hôi và máu. Tôi nhận ra ở mỗi con người quanh tôi, trĩu nặng một nỗi lòng thương cây nhớ cội, và nét điềm tĩnh của mảnh đất mà họ đã cày cuốc và gieo trồng”. Đoạn kết in chữ ngả của bài Hoa trái quanh tôi này cung cấp cho người đọc cái nhìn phát giác về đặc điểm nổi bật và xuyên suốt ngọn bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ký không vụ bề ngoài sự kiện, mà đi vào bề sâu sự kiện. Những sự kiện trong ký của anh vừa thực tế, cụ thể lấy thẳng từ cuộc sống, lại vừa lung linh, ảo ảnh dưới ánh sáng lịch sử – văn hóa được chiếu rọi một cách bất ngờ, lý thú. Vâng, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là ký văn học bởi vì cái chất lịch sử – văn hóa đó. Đọc đoạn trích trên câu văn, mạch văn cuốn hút ta như bản nhạc, lời ca, đồng thời ta được khoái cảm thưởng thức dư vị lịch sử thoảng lại từ cõi Việt Thường, Châu Hóa, bồi hồi xúc động nỗi lòng thương cảm nàng Huyền Trân và tổng hợp lại tất cả là ý niệm cảm nhận hình dáng con sông Hương gắn chặt với kinh đô Huế trong tổng thể các đặc điểm lịch sử – văn hóa phong phú và lãng mạn của nó.
Hoàng Phủ Ngọc Tường là người am hiểu cổ sử và cổ văn, lại có một vốn hiểu biết khá rộng về lịch sử và văn hóa phương Tây. Dễ hiểu với thể ký anh có được khoảng sân rộng để phát huy đến mức cao nhất sở trường, thế mạnh này của mình. Bất cứ viết về cái gì và viết về nơi đâu, tôi thầm nghĩ, Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ đặt bút xuống trang viết khi đã tìm được mạch liên tưởng của nơi này với nơi kia, hôm nay và ngàn xưa, nhất thời và muôn thuở và khi đã quyết được với mình là từ trang viết đó khả dĩ có được một chút gì đấy còn lại với người, với đời cho dù sự kiện đã vĩnh viễn bị vùi lấp trong dòng thời gian. Nói về sự gắn bó của sông Hương và thành phố của nó, nhà văn muốn mượn hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng Kim – Kiều để so sánh “tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở”. Trong một mức độ nhất định, cũng có thể nói được như vậy về sự gắn bó của Hoàng Phủ Ngọc Tường và thể ký. Ý muốn vượt ra khỏi những ràng buộc giới hạn của thể loại và tìm ra những khả năng mới của nó. Tác giả – người trình bày, người thuật việc, thành tác giả – người tâm sự, người giãi bày. Ký không chỉ là ký, mà còn là sử, là triết lý, là cổ thi. Tôi không nghĩ mình quá lời khi nhận xét như thế về cây bút Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Cố nhiên, so với bậc thầy Nguyễn Tuân thì Hoàng Phủ Ngọc Tường tài nghệ chưa bằng. Ở họ Nguyễn ký đã trở thành một nghệ thuật nghề văn khó có lại. Ở họ Hoàng ký đang là một xu hướng tự khẳng định có tính sáng tạo. Hãy giở bất kỳ bài ký nào của anh ra và chú ý dù chỉ một biện pháp liên tưởng thôi. Liên tưởng là gợi mở, là gắn mối những sự việc khác nhau trong không gian và thời gian về cùng một bình diện dưới lực hút quy tụ của cảm xúc và suy nghĩ của nhà văn để mở ra khác nhau những chiều so sánh, đối chiếu trong tâm thức tiếp nhận của người đọc. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã huy động toàn bộ vốn tri thức lịch sử và văn hóa đủ cả Đông Tây kim cố vào từng bài viết, tạo nên những liên tưởng vừa rộng, vừa sâu. Anh nói đến điều chảy lặng lờ của sông Hương khi ngang qua thành phố bằng cách so sánh gợi lại một kỷ niệm khi lần đầu thấy sông Nêva cuốn trôi những tảng băng, từ đó ngược dòng lịch sử nhân loại nhắc tới một ý tưởng triết học của Hêracơlít lấy hình ảnh dòng sông chảy, qua bấy nhiêu hồi ức liên tưởng ấy để trở lại với con sông Hương nhẹ nhàng, lặng lẽ. Anh viết: “Đấy là điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hao đăng, bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi, muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng” (Ai đã đặt tên cho dòng sông). Cái lặng lờ của dòng sông, như vậy, không còn cái lặng lờ của nước nữa. Đoạn kết bài Rừng hồi đầy ý nghĩa và sâu sắc cũng chính nhờ có sức liên tưởng chính xác và mạnh mẽ của tác giả. Nhìn cái xác “thằng Hác” (tiếng Tày của người Trung Quốc) bị đạn chết dưới gốc hồi, trong đầu tác giả bật nhớ lại một mẩu tự sự của Kim Thánh Thán có lần đã ngồi tính được mấy niềm vui trong đời. Mượn một cách tính niềm vui đầy tính nhân tạo của Thánh Thán, nhà văn đưa thêm cái ý vị triết lý nhân sinh vào lòng vui đến hả hê của mình trước sự đại bại của kẻ thù.
Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường đan dệt những liên tưởng các chiều lịch sử – văn hóa như vậy đem lại nhiều nguồn thông tin cho người đọc. Thông tin tư liệu xác thực của thực tế. Thông tin trí thức của các ngành khoa học xã hội. Thông tin thẩm mỹ của những rung động cảm xúc. Người phát thông tin ở đây là tác giả không phải trong vai trò người chứng kiến, người kể lại, mà đóng vai trò nhân vật lịch sử, nhân vật văn hóa đã thể nghiệm cuộc sống, bây giờ muốn được giải bày để chiêm nghiệm cùng người đời. Do đó tính thời sự, cấp thiết của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là ẩn chứ không phải lộ, là ngầm chứ không hiện, là tỉnh bề sâu chứ không phải động bề nổi. Đó là tính thời sự của cảm xúc tâm hồn hơn là tính thời sự của thời gian, địa điểm. Phê bình Hoàng Phủ Ngọc Tường không hướng ký vào những vấn đề nóng hổi của thời hiện đại thì vừa oan cho anh, vừa không đúng với anh. Tôi chắc chắn có một điều là ngòi bút ký của anh không thích dụng, không có đất tung hoành nếu như đó chỉ là những bài ký kể về việc khô khan máy móc, thiếu đi những mạch ngầm liên tưởng cần thiết, do đó chỉ gượng ép khái quát lên những suy nghĩ, nhận xét ồn ào nhiều hơn là sâu lắng. Tôi nói điều này theo cách phân chia của tôi là có hai loại ký – ký văn học và ký báo chí. Không phải phủ nhận giá trị, tác dụng của loại thứ hai trong một khoảng thời gian bó buộc nhất định loại này không vượt được cái ranh giới nghiệt ngã thời gian tính cụ thể đó – tôi vẫn nghiêng về loại thứ hai hơn tác động lâu dài vượt qua cái cụ thể – định lượng để thành cái cụ thể – định tính. Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971) một bên, Rất nhiều ánh lửa và Ai đã đặt tên cho dòng sông một bên – đó là hai chặng khác nhau của Hoàng Phủ Ngọc Tường để khẳng định mình với tư cách nhà văn đích thực theo nghĩa nghệ thuật của danh từ. Không vượt được quan mình ở chặng thứ nhất anh đã là không phải nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện nay.
Cây bút này nổi bật một đặc điểm nữa; chất Huế. Trước hết là những bài ký dành riêng cho cảnh vật và con người xứ cố đô. Ai đã đặt tên cho dòng sông, Về chiếc Panh xô và khẩu súng của Trường, Hoa trái quanh tôi… là những bài ký hay, giàu cảm và suy tư. Nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu Huế, hiểu Huế thì đó là một lẽ đương nhiên. Tôi muốn đi xa hơn tìm một căn nguyên thầm kín để cắt nghĩa cho sự thành công đầy mỹ mãn của những trang viết ấy: Phải chăng ở đây đã có một sự hòa hợp, tương giao, linh ứng giữa cảnh sắc Huế, lịch sử Huế, văn hóa Huế với một tâm hồn nhà văn dễ rung động, nhạy cảm, tinh tế. Phải là sự tương giao, correspondance, đến mức hòa quyện chặt chẽ mới sinh ra được những ánh văn tài hoa không để một lần thứ hai viết được như thế. Ngỡ như không thể nào khác được: Viết về sông Hương là như vậy, viết về “văn hóa vườn” ở Huế là như vậy. Đó thực sự là những áng văn, tôi lại nói mình không quá lời đâu, vì câu chữ được chọn lựa cân nhắc kỹ càng, vì hình ảnh được sáng tạo đẹp đẽ, vì cảm xúc phong phú bất ngờ mới mẻ. Nhà văn là người làm văn phải coi sóc đến văn khi viết. Huống đây Huế lại là một đối tượng rất văn và nên văn. Hoàng Phủ Ngọc Tường bằng những bài viết về Huế đã làm đẹp thêm thành phố của anh – đúng, thành phố của anh trên trang viết không giống của ai và không ai có, làm vẻ vang thêm truyền thống lịch sử và văn hóa của thành phố Huế trong tổng thể phức hợp đời sống của nó nhìn qua con mắt của Hoàng Phủ Ngọc Tường dường như là một con người đầy trầm tư mơ mộng không ngừng trăn trở từ quá khứ vươn về hiện tại, thích lặng lẽ, không ồn ào, thích thâm trầm không phô trương. Nói Huế nói sông Hương, nhà văn muốn nói nhiều hơn chuyện xứ sở, một vùng đất, mà nói đến chuyện con người, chuyện lẽ sống ở đời qua bao thăng trầm biến thiên của thời gian và nhân thế. Mượn cách nói chính của nhà văn tôi muốn nói là tôi có một dòng văn học về Huế – “và tôi hy vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ” – anh thuộc trong các nghệ sĩ đó.
Chất Huế của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường vượt ra ngoài phạm vi chỉ cái cụ thể riêng biệt của Huế thành như một tính chất văn phong của nhà văn. Anh thiên về nhìn con người, sự vật, sự kiện được phản ánh dưới góc độ lịch sử – văn hóa như đã nói và qua lăng kính của một sự cảm nhận dịu êm, nhẹ nhàng. Chất thơ bàng bạc trong ký của anh nếu có giúp mở rộng trường liên tưởng của mạch văn thì cũng không phải không có phần làm nhẹ sức tác động của sự kiện. Diễn tả cái ước vọng chế ngự cát của người dân vùng cát Quảng Trị, anh viết “Ước vọng ấy bắt đầu mọc (mầm) trong tâm hồn người nông dân từ khi còn là một cậu bé chăn trâu, lặng lẽ ngồi ngắm đôi mắt trong suốt của con trâu già, trong đó bao giờ cũng hiện bóng cái vệt trắng lạ lùng ấy một khi con trâu no cỏ, nghiêng đầu ra phía đồng cát ngửi gió mặn từ biển thổi về” (Chế ngự cát). Chi tiết quan sát thật tinh, nhưng đưa vào đây không thật thích ứng nó như cảm giác vuốt ve con mắt hơn là cái nhìn thật của cơ quan nhìn. Cũng như trong bài này, đoạn liên tưởng quá khứ về những khách lữ hành muôn đời đã từng đi qua dải cát miền trung, nhắc đến Cao Bá Quát nhà văn nói đúng bầu tâm sự của ông, nhưng cho rằng đọc “Bài ca đi trên cát” của Cao “thấy nỗi sợ cát của người bộ hành ngày xưa vẫn còn in dấu sâu sắc đến như thế” thì hơi khiên cưỡng, vận vào. Tôi muốn gọi tính chất văn phong này của Hoàng Phủ Ngọc Tường là nét mờ – viết về Huế mà trần trụi quá thì thành ra thô thiển, nhưng viết về những vùng khác Huế mà vẫn “mờ” đi thì lại không đúng và không hay.
Cái khác người của Hoàng Phủ Ngọc Tường là gì để cũng cùng đi và viết ký như nhiều người khác mà anh lại viết thành công, trở thành cây ký xuất sắc của văn học ta? Năm tháng mải miết trôi, dòng sự kiện đổi thay nhanh chóng, một phần các trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng rơi rụng, chìm mất như bao nhiêu trang của các tác giả khác. Nhưng anh vẫn có phần của mình còn lại – phần ký tâm hồn. Câu hỏi tôi nêu lên như một dẫn dắt tìm hiểu. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tự cho câu trả lời. Có một năm anh đi nhiều, đi dài đến các vùng thực tế đất nước trở về Huế. “Những sự kiện thật xô bồ trong hai cuốn sổ dày đã ghi đến hết trang cuối nhưng chữ nghĩa thì cứ bò qua dưới mắt tôi như một bầy kiến, không hồi hộp, không vang động, tôi ngồi vào bàn, từng chốc lại đứng dậy. Hình như Gô ganh từng nói rằng ông ta chỉ có thể bắt đầu vẽ khi đã ngoảnh mặt về phía khác, để khỏi bị cái bên ngoài lấn át” (Hoa trái quanh tôi). Thế là rõ: ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là từ thực tế thoát ra khỏi thực tế, sau khi ngoảnh vào lich sử văn hóa hiện trở ra đời. Tôi nghĩ tiếng Việt thần diệu không vẩn đục vẫn giữ nguyên ý nghĩa tiếng “cây” để nói về anh: cây ký. Mong anh tiếp tục viết là anh.
19/12/2019
Phạm Xuân Nguyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Rộng dài và xanh biếc Trường Sa

Rộng dài và xanh biếc Trường Sa

Tôi may mắn được đọc bài thơ Viết cho Trường Sa của Hoàng Thanh Hương trên Tạp chí Văn Nghệ Gia Lai, số 3/2019. Bài thơ không hiện đại, cách tân về thi pháp thể loại và ngôn từ, nhưng đã để lại trong tôi những ấn tượng chân thật về hiện thực và con người mà tác giả là chủ thể vừa thể hiện cái tôi trữ tình ngôi thứ nhất của chính mình, vừa thể hiện cái tôi trữ tình nhập vai vào người lính và hoàn cảnh để tâm tình, chia sẻ. Bài thơ làm hiện lên mối quan hệ tình cảm không chỉ giữa tác giả với những người lính đảo mà cao hơn chính là mối quan hệ giữa người lính đảo và những người thân của họ nơi đất liền đang tiễn biệt, hướng về nhau da diết, thương yêu...
Xuất xứ bài thơ được tác giả trải nghiệm và xúc động sáng tác trong chuyến công tác theo tàu Trường Sa 571 của Lữ đoàn 146 vùng 4 Hải quân đi thay thu quân, chúc Tết cán bộ, chiến sĩ ở Trường Sa.
Cảm giác ngỡ ngàng đầu tiên hiện ra trong tâm tưởng và xôn xao thị giác của tác giả là các hòn đảo Sinh Tồn, Nam Yết, Sơn Ca, Đá Thị, Đá Nam, Song Tử… Những cái tên tạo thành quần đảo quen thuộc trong sách vở mà ngỡ ngàng trong ánh nhìn trực quan lần đầu tiên chiêm cảm của nhà thơ nơi trùng khơi bát ngát của biển trời Tổ quốc muôn đời, tạo thành xúc cảm thiết tha, luyến lưu, nồng ấm:
Em đã đến những Sinh Tồn, Song Tử
Nam Yết, Sơn Ca, Đá Thị, Đá Nam
Ngày tháng hẹp bỗng chừng như dài rộng
Giữa những thương yêu, lưu luyến, ấm nồng.
Có lẽ xúc động nhất là trên chuyến tầu ấy có biết bao người lính biển đang phải bâng khuâng chứng kiến bao nhiêu người vợ, người yêu và con thơ của mình đang dứng trên bờ tiễn mình ra đảo với ánh mắt buồn đẫm lệ và những cánh tay vẫy chào cho đến khi con tầu xa hút giữa trùng khơi, chỉ còn một chấm xanh hy vọng “Giữa những thương yêu, lưu luyến, ấm nồng”. Đến đây, tôi chợt liên tưởng đến bài thơ Không đề của Nguyễn Bính cũng tả cảnh tiễn biệt của kẻ ở người đi, nhưng trong hoàn cảnh khác: “Hôm nay dưới bến xuôi đò/ Yêu nhau qua cửa tò vò nhìn nhau/ Anh đi đó, anh về đâu/ Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…”. Người con gái đứng trên bờ nhìn con thuyền mang người yêu dần xa hút, đến khi chỉ còn nhìn thấy thấp thoáng một chấm nâu giữa biển xanh vô định: “cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…”.
Đến đảo là đến với sự sống và sự sinh tồn khác, đến với kinh nghiệm quan hệ người khác, mang ý nghĩa nghiệm sinh và triết mỹ hơn. Mọi nhỏ nhặt tầm thường tan biến để nhường cho mọi bí ẩn tươi non sinh nở. Chỉ có con người và cảnh vật lồng vào nhau trong cảm quan sinh thái thiên nhiên và nhân văn tương hợp. Tác giả đã liền cảm nhận điều đó một cách cụ thể và chân thật:
Đêm đảo xa nghe dặt dìu câu hát
Rằng người ơi người ở đừng về
Hoa bàng vuông như từng đóm lửa
Thức nở cùng anh lính gác canh khuya.
Đảo và người lính trở thành những biểu tượng của sự sống và sự bất tử mà lá cờ Tổ quốc là hình tượng cụ thể nhất của tinh thần dân tộc và ý thức  bảo vệ toàn vẹn lãnh hải thiêng liêng của người chiến sĩ hải quân nhân dân:
Em đã đến những đảo chìm đảo nổi
Giữa biển khơi muôn sóng trập trùng
Cờ Tổ quốc căng bay trên cột mốc
Anh giữ biển trời cho em những bình minh.
Người lính đảo cách ly với đất liền, cách biển mấy ngày sông, nhưng họ không cô đơn và càng không cô độc. Vì người lính đảo thường trực trong lòng mình bao hình ảnh thân thương, cao hơn, người thân nơi quê nhà là điểm tựa tinh thần cho từng sinh mệnh người lính, mà tiếng còi tàu là âm thanh  nhắc thức ngày đêm để thường trực trong họ tình yêu Tổ quốc kỳ diệu:
Nơi bốn phía mênh mông sóng nước
Đêm mơ về hương tóc người thương
Nhớ màu mắt ngày tiễn anh ra đảo
Tiếng còi tàu nhói thức đã bao đêm.
Trường Sa mãi rộng dài và xanh biếc trong tâm thức mọi người. Đến đây, Hoàng Thanh Hương đã một lần nữa nhập hồn vào những người lính đảo để từ tình yêu con người cụ thể vươn đến tình yêu Tổ quốc rộng dài, không phải chỉ riêng mình mà chính là của cả mọi người khi hướng về Trường Sa yêu dấu. Yêu một người là để yêu mọi người, yêu biển trời dài rộng của mình đây là cách nói khái quát, hội tụ của tác giả để khẳng định những điều lớn lao, cao đẹp khác:
Em đã yêu một người lính biển
Em yêu quê hương Tổ quốc rộng dài
Máu đã đổ giữa trùng khơi muôn sóng
Cho biển trời xanh thắm hôm nay
Trong bút ký Ngọn sóng khơi xa của mình, in trên Tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam, số 11 (16 /3/2019), Hoàng Thanh Hương cũng đã chân thành tâm sự: “Chúng tôi rời đảo về đất liền đem theo nỗi thương nhớ Trường Sa chập chờn trong từng giấc ngủ, với bao khuôn mặt thân thương nhòa trong màu hoa muống biển tím rưng rưng giữa nước trời xanh biếc, những cái xiết tay thật chặt, những choàng ôm thắm thiết rồi vội vàng quay đầu đi giấu giọt nước mắt lưu luyến mỗi khi chia tay nhau nơi cầu cảng… Những bàn tay cứ giơ lên vẫy mãi, những ánh mắt căng lên hướng về nhau như muốn thâu lại trọn vẹn những dáng vóc mới gặp mà đã như hóa thân quen”. Bài thơ Viết cho Trường Sa của Hoàng Thanh Hương đã đọng lại trong lòng người đọc bằng tình cảm và suy nghĩ giản dị, nhưng không giản đơn, trái lại, nó là tiếng nói thi ca phản ánh đúng những gì mà người lính đảo suy nghĩ và mọi người suy nghĩ. Và chính nhà thơ đã cảm xúc và suy nghĩ như thế!
Vỹ Dạ, 4/4/2019
Hồ Thế Hà
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thơ Trần Hoàng Vy viết cho thiếu nhi

Thơ Trần Hoàng Vy viết cho thiếu nhi

Đọc thơ viết cho thiếu nhi của Trần Hoàng Vy, tôi thấy anh đã sử dụng nhiều yếu tố của thi pháp ca dao, đồng dao để viết được những bài đồng dao mới rất hay…
Thơ viết cho thiếu nhi rất khó. Bởi thế, trong số các nhà thơ hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam có được mấy người thành công trong sự nghiệp sáng tác dành cho thiếu nhi (!). Người ta thường nghĩ rằng, một tác phẩm viết cho thiếu nhi, trước hết phải có tính giáo dục. Điều này là một thuộc tính của văn học thiếu nhi, nhà thơ trước hết phải là nhà giáo dục. Tất cả những gì thuộc về “cái tôi” trong thơ trữ tình đều phải nhường chỗ cho “Cái trẻ con” trong thơ thiếu nhi. Nhà thơ trữ tình buông thả hồn thơ trong mọi nẻo đường cảm xúc thì nhà thơ viết cho thiếu nhi phải tự trói buộc với trẻ. Nhà thơ phải nhập thân vào trẻ, cảm nhận hiện thực như trẻ, nói tiếng nói của trẻ, sống trong thế giới thần thoại của trẻ; nhưng đồng thời nhà thơ phải đứng ngoài trẻ, tỉnh táo và có trách nhiệm dẫn dắt trẻ; và trên hết, nhà thơ vẫn phải là nhà thơ, tức là người sáng tạo cái đẹp bằng ngôn từ. Cho nên viết cho thiếu nhi, dù là thơ có mục đích giáo dục, thì thơ vẫn phải là thơ, và là thơ hay, thiếu nhi cũng hấp dẫn với cả người lớn. Ôi, làm thơ cho thiếu nhi khó biết bao nhiêu! Tôi tự hỏi,  Nhà thơ Trần Hoàng Vy đã vượt qua cái khó trở thành nhà thơ của trẻ như thế nào?
1. Nhà thơ – nhà giáo dục
Tất nhiên nhà thơ không phải là nhà giáo. Bởi nhà giáo là người có nhiệm vụ giáo dục trẻ theo mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp sư phạm ở trường. Nhà thơ giáo dục trẻ bằng cái đẹp của thơ ca. Thiếu phẩm chất này thơ viết cho trẻ không có chỗ đứng. Thực ra, tự thân văn chương đã mang chức năng giáo dục. Nhưng nhà thơ đem đến cho tâm hồn trẻ cái đẹp, sự khám phá cái đẹp, từ đó hình thành nên những phảm chất và giá trị nhân văn nơi trẻ.
Tập thơ 98 bài thơ thiếu nhi hướng đến các cháu tiểu học, lứa tuổi mà tâm hồn còn rất trong trắng, lứa tuổi đang sống trong thế giới thần thoại, cổ tích, con người và vạn vật cùng một bản thể. Các cháu vui chơi với vật nuôi, với cỏ hoa, với thiên nhiên như vui chơi với người. Thơ ca thông qua đó để dạy cho trẻ tri thức xung quanh, dạy cho trẻ những phẩm chất nhân bản, hình thành cho trẻ những truyền thống dân tộc, gúp trẻ tiếp cận với thế giới hiện tại. Thơ Trần Hoàng Vy nói những điều như vậy thật tự nhiên, hấp dẫn và mới lạ.
Ở phố chẳng bao giờ thấy khói
Khói cơm chiều như khói ở quê
Ờ phố toàn mái tôn, mái ngói
Đâu mái tranh nghèo khói tỉ tê?
Nhớ khói, căn bếp của bà ấm
Gió mùa đông xao xác phên gầy
Màu khói ám, củ khoai lang nóng
Cứ lan dần trên những ngón tay…
Cháu xa quê, lần về thơ thẩn
Ngắm khói, ngắm tóc bà như mây
Sợ khói bay, sợ bà… đi mất
Nên chụp ảnh bà giữa khói cay…
(Khói bếp)
Tôi đọc bài thơ mà lòng bồi hồi xúc động nhớ lại hình ảnh bà tôi ngày xưa ở quê nghèo, và chắc chắn bạn đọc nào ở quê, đã từng được bà yêu thương chăm sóc, không thể không lặng người đi trước những tứ thơ tuyệt hay. Bài thơ vừa là tâm trạng, vừa là câu chuyện của cháu một lần về thăm bà; quan sát tinh tế, kể tự nhiên và bày tỏ chân thành. Đằng sau những yếu tố của cấu trúc thi ca là cái đẹp của tình bà, là sự khám phá cái đẹp trong khói bếp, là ngôn ngữ trần thuật sắc nét, có sức làm bùng nổ cảm xúc và lay động sâu xa trái tim bạn đọc. Bài thơ chứa đựng một thông điệp tế nhị. Hãy giữ lấy cái đẹp ấy, hãy giữ lấy tình cảm thân thương ấy dù cuộc sống thành thị có là mất đi bao điều tinh tế quý giá của tâm hồn Việt.
Trần Hoàng Vy giúp các cháu khám phá nhiều vẻ đẹp của tình gia đình và thông qua đó là những bài học nhẹ nhàng thấm thía.Tiếng ve nhắc cháu về thăm ông (Cám ơn tiếng ve), Ông thay bà đón cháu ở nhà trẻ, lỉnh kỉnh mọi thứ, nhưng cũng là đầy ắp tình thương (Ông đi nhà trẻ). Ông thay cô giáo giải đáp cho cháu những điều trái ngược mà cháu không hiểu, chẳng hạn tại sao trâu thì biết bơi, còn bò thì “Qua sông không được/ cứ kêu ụm bò…”( Ông ơi). Điều này chắc chắc các cô giáo ở thành phố không thể trả lời cho cháu được. Ông cũng dạy cháu những bài học từ cổ tích, thật giản dị cụ thể :”Gieo gió thì phải gặt bão/ Tham tàn phải gặp tai ương/ Làm người hiền phải thử thách/ Người tài phải lắm gian nan”(Cổ tích).
Hình ảnh người cha, người mẹ cũng được khắc họa ấn tượng trong tâm hồn trẻ qua những sinh hoạt đời thường: Bố làm con ngựa, Quà của ba, Con dế của bố, Sợi tóc bạc của mẹ, Dê con quỳ bú mẹ. Có khi chỉ một chi tiết rất nhỏ cũng đủ giúp trẻ nhận ra bao nhiêu tình yêu thương của mẹ.
Vở mới thơm giấy mới
Nắn nót mẹ đề tên
Bé bắt đầu lớp mới
Chăm ngoan nhé đừng quên
              (Quyển vở mới)
Trần Hoàng Vy cũng dành nhiều bài rất hay nói với các cháu về tình quê hương, tình người, tình yêu tổ quốc: Quê hương, Nhớ Quê, Chợ quê, Chợ tết, Hồ Dầu Tiếng, Sông Vàm Cỏ, Hoàng sa, trường sa (Đảo), “ta phải đòi đảo ta”.Người hành khất, Dì lao công, chú phi công (Đu quay), cô giáo (Cô giáo bệnh, Tóc cô)
Những buổi bình minh nhuộm đỏ
Con thuyền đưa trẻ qua sông
Mái chèo vỡ đôi hạt nắng
Đến trường con chữ bềnh bồng
Buổi trưa vó đăng lộng gió
Lục bình xanh ngắt ven sông
Con cá quẫy mình trong vó
Dòng sông sóng vỗ phập phồng…”
(Sông Vàm cỏ)
Những chi tiết đời thường vào thơ thật tự nhiên, dung dị, nhưng dưới ngòi bút tài hoa của Trần Hoàng Vy, chúng hiện lên là những hình ảnh thơ tuyệt đẹp: lục bình xanh ven sông, con cá quẫy trong vó, những cần vó, bè đăng vươn lên trong nắng gió, con thuyền đưa trẻ qua sông…. Tứ thơ này thì khó có nhà thơ nào khác vượt được Trần Hoàng Vy khi viết về sông nước:”Con thuyền đưa trẻ qua sông/ Mái chèo vỡ đôi hạt nắng”.Tôi cũng đã nhiều lần có mặt trên những con đò chở học trò qua sông buổi sáng có nắng lấp lánh trên sông, nhưng chỉ thấy mũi con đò rẽ sóng, rẽ vầng mặt trời long lanh dưới nước, chưa thể nhận ra điều thú vị này của “Mái chèo vỡ đôi hạt nắng” trên sông. Đó là cái đẹp và là những giá trị chỉ có thơ ca mới có. Vì thế dù cuộc sống có thế nào thì nhà thơ vẫn lừng lững diễm tuyệt trong không gian và thời gian, bởi vì nhà thơ giúp ta nhận ra cái đẹp mật ngay trong cái đời thường.
2. Những bài học từ thiên nhiên
Thơ viết về thiên nhiên, hoa trái, mùa màng là một mảng rất hay của Trần Hoàng Vy. Nếu so sánh với thơ thiên nhiên của thơ cổ điển, cùa thơ Lãng Mạn (1930-1945) và ca dao viết về thiên nhiên, bạn đọc sẽ nhận ra chỗ độc đáo thơ thiên nhiên Trần Hoàng Vy viết cho trẻ.
Trần Hoàng Vy giúp các cháu học biết về sự vật xung quanh, nhưng cũng đồng thời khơi gợi trong các cháu cảm thức về cái đẹp trong thế giới thần thoại. Đó là chỗ sâu xa của giáo dục nhân bản. Nhiều bài thơ có thể làm cả bạn đọc người lớn kinh ngạc về vẻ đẹp của thiên nhiên sự vật mà ta đã có lần bắt gặp đâu đó.
Cánh sen khép cửa
Che nhụy, che hoa
Mưa qua lại nở
Hương se chan hòa
Có con ếch cốm
Che dù lá sen
Làm lăn hạt nước
Tưởng đêm lên đèn
Cao giọng học bài
Ộp à ộp ộp
Sau khi cho trẻ nhận biết về sen, nhà thơ cho trẻ thưởng thức cái cái đẹp hương sen. Bài thơ về sen chưa có gì đặc biệt. Câu chuyện phát triển bằng một tình huống bất ngờ. Đó là sự xuất hiện của con ếch cốm dưới lá sen. Có lẽ con ếch xoay mình làm rung rinh lá sen, và hạt nước trên lá sen lăn qua lăn lại. Và Tứ thơ độc đáo sáng lên:” Có con ếch cốm/ Che dù lá sen/ Làm lăn hạt nước/ Tưởng đêm lên đèn”. Nhân tiếng ếch kêu ồm ộp, nhà thơ nhắc nhở các cháu việc học bài.
Tập thơ còn có nhiều bài về các loài cây, loài hoa trái: Cây dừa, cây chuối, rừng sim, Hoa mai, chùm phượng sớm, bằng lăng, hoa gạo đỏ, Hoa cỏ hôi, Hoa dã quỳ, Thạch thảo, Lộc vừng, Quả thanh trà, quả mít, Hoa mồng gà, Hoa lan hài, đóa sen, Hoa đồng tiền. Thơ về bốn mùa, mưa nắng có nhiều bài hay, để lại những ấn tượng sâu nặng nghĩa tình: Tháng Ba, Nắng thu, Mưa, Mong mưa, Mùa xuân, Ngựa gọi xuân…
Lúa đồng mỏi mắt mong mưa
Sợi dây lang rũ ngọn lưa thưa gầy
Lá nằm thiêm thiếp trên cây
Bụi gai xấu hổ giăng đầy lối qua
Trở mình tiếng sấm thật xa
Ông mây còn mãi tà tà rong chơi
Giữa trưa đang nắng, mưa rơi
Trẻ con réo gọi, mưa rời rạc buông
Mong mưa lũ trẻ … tắm truồng
Ngàn cây thức dậy, đổi buồn làm vui
(Mong mưa)
Bài thơ nói được nỗi lòng người dân quê trong cơn nắng hạn. Hình ảnh thơ cực tả những cơn nắng làm héo rũ lòng người:” Sợi dây lang rũ ngọn lưa thưa gầy/ Lá nằm thiêm thiếp trên cây/ Bụi gai xấu hổ giăng đầy lối qua”. Phải là nhà thơ gắn bó cả đời mình với đồng quê mới có thể viết được những câu thơ hay xót ruột đến thế, và hẳn nhiên, những tứ thơ này cũng có sức gợi trong lòng trẻ tình yêu thương với cuộc sống ở quê.
Trong thế giới tâm hồn trẻ thơ thì loài vật là gần gũi và đông đảo nhất. Trần Hoàng Vy cũng có nhiều bài thơ hay khám phá cái đẹp của thế giới loài vật. Nhạc khúc vườn, Dàn kèn ếch, Ban nhạc đêm và Hòa âm vườn là những bài thơ khá tuyệt (tuy nhiên, chỉ những bạn đọc đã sống ở miền quê mới thưởng thức được cái diệu kỳ của thơ).
Bắt đầu tiếng trống Uềnh Oang
Vĩ cầm của Dế, tiếng đàn của Ve
Nhạc đêm trình diễn… sau hè
MC… cậu Cóc tiếng nghe đều đều
Vạc Sành tiếng hát rất phiêu
Con Xiển Tóc vỗ…cánh điều hoan hô
Fan là chuối với tần ô
Lá trầu, bụi xả, chậu ngò, rau răm…
(Ban nhạc đêm)
Máy lạnh là …lá rì rào
Trưa hòa âm bước lạc vào vườn mơ
Ve kim lảnh lót bất ngờ
Tiếng con dồng dộc lay bờ tổ rơm
Chim sâu lích chích thử đờn
Giọng chiền chiện giống tiếng hờn Nam ai
Em nằm trên võng lắng tai
Dòng sông gió chảy trượt dài vào mơ…
(Hòa âm vườn)
Hai bài thơ này giới thiệu với các cháu nhiều loài vật của vườn quê, ban ngày cũng như ban đêm. Và nếu chỉ đem đến cho các cháu tri thức về thiên nhiên quanh mình như vậy cũng đã đủ cho mục đích giáo dục. Nhưng nhà thơ Trần Hoàng Vy còn đem các cháu vào thế giới âm nhạc với khả năng thẩm âm và thưởng thức âm nhạc rất tinh tế. Trong dàn đồng ca hợp xướng của muôn loài, thanh sắc của từng nhạc công vẫn hiện lên thật mượt mà, độc đáo và ấn tượng. Tiếng con dồng dộc lay bờ tổ rơm/ Chim sâu lích chích thử đờn/ Giọng chiền chiện giống tiếng hờn Nam ai…”,” Fan là chuối với tần ô/ Lá trầu, bụi xả, chậu ngò, rau răm…”. Thế giới thiên nhiên của muôn loài hiện lên thật kỳ thú.
Và không chỉ có Dàn kèn ếch, Ban nhạc đêm và Hòa âm vườn, trong 98 bài thơ thiếu nhicòn nhiều con vật khác, mỗi con vật lại đem đến một điều thú vị riêng. Con vạc sành “Như chiếc lá… dán trên tường”, hải âu giữ biển. Con vịt, con cún, gió, bưởi, bòng vui ơi là vui khi mưa đến (Mưa sớm). Chim bói cá lẫn trong lá xanh, vút một cái mỏ đã xâu được cá. Con vện, mèo khoang, con gà tre ngây ngô biết bao trong những trò tinh nghịch. Hình ảnh con dế đi lạc thật đáng thương. Con gấu ở sở thú lại gợi cho các em nhiều bài học vệ sinh, đom đóm bay đêm lại là hình ảnh đóm đi học, thắp sáng quê hương (Đom đóm đi học), Con diều hâu gợi bài học lòng yêu thương đối mặt với cái ác. “Tiếng cu gáy” là một bài thơ về đồng quê đẹp xôn xao mùa thu, đầy màu sắc, ánh sáng và âm thanh của một vùng quê thanh bình.
Cúc cù cu… cúc cù cu
Tiếng con cu gáy gọi thu trở mình
Chợt vàng đồng ruộng lúa xinh,
Mùa đang mẩy hạt, uốn mình giăng câu
Tiếng con cu gáy hồi lâu
Xôn xao gió, nắng trên đầu vàng hoe
(Tiếng cu gáy)
Tập thơ cũng có những bài thơ hướng trẻ từ thiên nhiên đến đời sống xã hội. Nhà thơ đem đến cho trẻ nhiều bài học thú vị. Cháu sẽ nhặt lá cây mai ngày nào để mai nở hoa đúng dịp tết (Chim chính, bé và lão mai). Một vỏ ốc biển tưởng như vô ích lại trở thành giá trị trong bàn tay con người (Vỏ ốc biển). Ngôi sao trên biển cũng là ngôi sao trên mũ, thức cùng chú hải quân (Ngôi sao). Xóm giã bàng gợi ra nhiều suy nghĩ về những con người lao động. Cái đồng hồ nhắc nhở về giá trị của thời gian đối với đời người. Nuôi heo đất để ủng hộ ngư dân (Em nuôi con heo đất).Chiếc xe đạp con lại dạy các cháu sự cẩn thận và lòng nhân ái. Câu chuyện của ông cháu trên xe buýt tưởng đã rất quen, nhưng nhà thơ cũng khám phá thêm những giá trị nhân văn mới (Trên xe bus). Biển nhắc bài học đừng xây nhà trên cát. Đồ chơi công nghệ (Cái Ipad) cũng thấm thía bao tình cảm gia đình.
3. Thơ viết cho trẻ
Nhà thơ Trần Hoàng Vy đã có nhiều tác phẩm đặc sắc viết cho thiếu nhi, đồng thời anh cũng đạt nhiều giải thưởng từ địa phương tới trung ương. Vì thế, viết về thơ của anh mà nói chuyện khen chê, tôi nghĩ, chắc anh chỉ cười (!). Tôi chọn cách chia sẻ với anh những cảm nghĩ của mình về thơ viết cho trẻ. Biết đâu, tôi có thể hiểu biết thêm về những gì nhà thơ Trần Hoàng Vy đã đóng góp cho văn chương thiếu nhi Việt Nam.
Đọc thơ viết cho thiếu nhi của Trần Hoàng Vy, tôi thấy anh đã sử dụng nhiều yếu tố của thi pháp ca dao, đồng dao để viết được những bài đồng dao mới rất hay. Đồng dao nhiều bài dạy cho trẻ về sự vật xung quang (Cái bống là cái bống bang; Ông trăng xuống chơi cây cau; Con tôi buồn ngủ buồn nghê…), Trần Hoàng Vy cũng có những bài dạy cho trẻ về sự vật mà đồng dao không có (Nghỉ hè, trái rừng về phố, Mưa sớm, Chim chích, bé và lão mai, Tháng Ba…). Đồng dao có bài là một câu chuyện ngộ nghĩnh và đa nghĩa: Con mèo mà trèo cây cau, Con vỏi con voi / cái vòi đi trước…Trần Hoàng Vy cũng có nhiều bài thơ kể chuyện sống động : Đom đóm đi học, Dàn kèn ếch, Khúc nhạc vườn, Người hành khất, Khói bếp, Chợ tết . Nhiều bài trong tập 98 bài thơ thiếu nhi có thể dùng hát ru như hát ru của ca dao (Tiếng cu gáy, Làm chị, Chợ quê, Cây chuối)
Đồng dao còn có những bài hát không có nghĩa nhưng có hình ảnh ngộ nghĩnh được trẻ hát trong các trò chơi như rồng rắn đi đâu, Thiên đàng địa ngục, Chi chi chành chành.
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương
Ma vương thượng đế
Dắt dế đi tìm
Ú tim thằng bé
U… ập
Tôi lại ước ao nhà thơ Trần Hoàng Vy sáng tác những trò chơi và những bài đồng dao đi kèm chơi trò chơi ấy. Và nếu có thêm những bài thơ kể truyện như ca dao (Con mèo mà trèo cây cau hay Thằng cuội ngồi gốc ây đa, Cái cò các vạc, cái nông/ sao mày dẵm lúa…) thì thơ thiếu nhi của anh sẽ có nhiều cơ hội đi sâu vào thế giới tâm hồn trẻ thơ.
Nhưng ngay trong tập 98 bài thơ thiếu nhi này, tôi cũng thấy nhiều bài đáng được đưa vào sách giáo khoa cho các cháu học, vì giá trị giáo dục và giá trị thẩm mỹ rất cao. Xin chúc mừng nhà thơ Trần Hoàng Vy nhân dịp anh phát hành tập thơ.
19/12/2019
Bùi Công Thuấn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà thơ Phan Hoàng: Thay đổi cảm hứng bầu trời

Nhà thơ Phan Hoàng:
Thay đổi cảm hứng bầu trời

Điều để Phan Hoàng có thể Chất vấn được thói quen, tìm được cơn bão mới là nhà thơ quyết tâm dứt bỏ nhiều điều tưởng như rất đỗi thân thiết với cuộc đời mình. Cái thế giới trần gian phàm tục không thể thay đổi dù chúng ta có cố gắng dùng toàn bộ trí lực. Thay đổi chỉ đến từ bên ngoài, nói đúng hơn là đến từ cái siêu tại, đến từ cái bầu trời thần thánh mà chúng ta bỏ quên từ rất lâu, rất lâu trong tâm hồn chúng ta…
Đối với những người dậy sớm, còn điều gì tuyệt diệu hơn khi trên đầu mình một con đường rực sáng đang lộ dần ra, dưới chân mình là những con đường đính đầy sương lóng lánh. Vũ trụ giống được tái sinh trở lại khi cảm hứng trần tục của chúng ta biến đổi, thậm chí không cần biến đổi mà chỉ cần rũ bỏ những thói quen thân thiết với bóng tối.
Điều “chỉ cần” ấy hầu như rất nhiều những ai gọi là nhà thơ đều không làm được. Phía trước Phan Hoàng, phía sau Phan Hoàng, và cả vùng xung quanh nhà thơ này, theo cảm nhận của riêng tôi, không mấy người hiểu được cái lẽ tự nhiên huyền diệu ấy của cảm hứng. Cái cảm hứng trần tục, lơ mơ, khao khát trở về tuổi thơ một cách buồn cười, hay những cung bậc cảm xúc nhẹ bẫng chế ngự họ hoàn toàn. Mà không phải chế ngự, tôi nói sai, nó là hoà làm một, thành hơi thở, thành nhịp sống trong những ngôn từ mà chúng ta quen gọi ấy là thơ!
Trong cái nền hoang vu thơ ca ấy, Phan Hoàng đã im lặng khá lâu. Dường như nhà thơ hiểu rằng, chỉ cần lên tiếng, rất dễ sẽ bị đồng hoá nhanh chóng với miền hoang vu ấy!
Đối với những dục năng đang ngùn ngụt trong đất, không có gì mạnh mẽ hơn, thân thiết hơn, và đôi lúc còn là duy nhất đối với chúng: Đó chính là những thói quen. Cuộc sống lặp đi lặp lại, không cảm hứng, không tươi mới, không ước mơ. Nó lặp đi lặp lại những thời gian sống cũ kỹ, những thời gian sống đã bị hút sạch tuỷ sống, hút sạch cảm giác sống, hút sạch những gì tươi đẹp vì chúng ta đã sống qua nó một lần. Đấy đấy, cuộc đời đã trôi qua một lần. Dòng sông đã trôi qua một lần. Không thể lấy lại, không thể sống lại chính đoạn đời đó, chính khúc sông đó. Điều ấy ai cũng hiểu. Thế nhưng sức mạnh của thói quen – sức mạnh của sự lười nhác, mệt mỏi, lo sợ, thoái lui đã tóm lấy chúng ta và xoay ngược chúng ta lại, bắt chúng ta đối mặt triền miên với những điều đã đi qua đời sống chúng ta từ rất lâu, rất lâu. Thường các nhà thơ đều ôm mặt đứng khóc ở đây. Nước mắt của họ chảy dài trên các tờ báo bằng những bài thơ xinh xinh thổn thức. Giữa thời khắc bi kịch của thơ ca hiện đại, tôi thấy cuộc chiến khắc khoải của Phan Hoàng:
… bỏ đi bỏ đi bỏ đi…
Nhiều khi mắc cười tôi chất vấn tôi
tại sao con người cứ tự đánh lừa mình bằng những thói quen
không học nổi con sông biết thích nghi đổi dòng băng băng về phía trước?
(Chất vấn thói quen)
“Bỏ đi bỏ đi bỏ đi…”- Như một lời thơ nhật tụng khi phải đối mặt với những thói quen u tối của tinh thần. Bỏ đi một thói quen trong đời sống thường nhật đã khó, bỏ đi một thói quen u mê trong tâm hồn còn khó hơn rất nhiều. Và đa số chúng ta đều không làm được điều đó một cách trọn vẹn bởi vì cái thời gian để chúng ta nhận biết được đâu là thói quen u mê, đâu là dòng sống thực sự trong tâm hồn chúng ta mất gần hết cuộc đời. Dường như chỉ khi bắt đầu đổ ngã, chúng ta mới kịp nhận ra một chút gì đó thực sự về cuộc sống vì phần lớn thời gian sống chúng ta ăn uống, vui chơi và than khóc. Vậy làm thế nào để nhận biết được một cách nhanh chóng điều đó? Làm thế nào để từ bỏ những thói u mê trong tâm hồn? Phan Hoàng có một câu trả lời trong thơ ca của mình.
cơn bão nổi mạnh dần lên
thế giới ký tự mới mở ra
mỗi hơi thở nồng nàn bạt ngàn tín hiệu
(Cơn bão ký tự mới)
Đây là câu trả lời. Cần một cơn bão lớn, cơn bão của lòng can đảm, cơn bão của cảm hứng vô độ. Cần bão tố, cần một sức mạnh vô biên để đảo ngược lại số phận đã bị nô dịch vào những thói quen. Chúng ta hình dung tâm hồn mình giống như một rừng cây rậm rạp. Hoa cỏ nở tưng bừng. Cây lá xanh tươi khoe sắc. Nhìn xa giống như một cánh rừng hoa tràn ngập những cảm xúc mới mẻ và yêu kiều. Thế nhưng đến gần lại, sâu bên trong rừng, dưới những lớp lá mục dày, những xác thú chết thối rữa vẫn còn ở đấy. Và bao nhiêu những điều u tối, nhơ nhớp không thể gọi tên dưới đáy sâu tâm hồn. Vậy thì cơn bão cảm hứng đâu? Cơn bão vô độ của lòng quả cảm đâu? Cơn bão sẽ thốc tất cả khu rừng lên, lay giật từng thân cây cành lá, thổi bay sạch những xác thú thối rữa. Và cho dù cành cây có bị bẻ gãy, lá cây xanh có bị bứt tung bay thì chúng ta cần phải hiểu, sau cơn bão cảm hứng ấy, chúng ta được sống, được cảm xúc bằng những vết thương trinh bạch nhất của đời mình.
Điều để Phan Hoàng có thể chất vấn được thói quen, tìm được cơn bão mới là nhà thơ quyết tâm dứt bỏ nhiều điều tưởng như rất đỗi thân thiết với cuộc đời mình. Cái thế giới trần gian phàm tục không thể thay đổi dù chúng ta có cố gắng dùng toàn bộ trí lực. Thay đổi chỉ đến từ bên ngoài, nói đúng hơn là đến từ cái siêu tại, đến từ cái bầu trời thần thánh mà chúng ta bỏ quên từ rất lâu, rất lâu trong tâm hồn chúng ta. Lâu đến nỗi mặc dù nó thuộc về bản chất của chúng ta, nhưng khi quay lại, chúng ta thấy nó lạ lẫm hoàn toàn. Ấy đấy, cảm hứng phải làm lại, không ở đâu hết mà ở chính trong tâm hồn mỗi chúng ta “thay đổi cảm hứng bầu trời/ thay đổi tư duy từng ngọn núi con sông” (Ký ức hoa hồng).
Tác giả Nguyễn Quyến là nhà thơ, nhà báo đang sống và làm việc tại Hà Nội. Bài viết trên là lời tựa trong lần in thứ nhất của tập thơ Chất vấn thói quen do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tháng 01.2012.
Hà Nội, 20/12/2011
Nguyễn Quyến
Theo https://vanhocsaigon.com/

Trần Anh Thái, con đường của trường ca

Trần Anh Thái,
con đường của trường ca

Nhà thơ Trần Anh Thái sinh năm 1953 ở Tiền Hải, Thái Bình. Hiện là nhà thơ, nhà báo quân đội. Năm 2008, tập trường ca Trần Anh Thái tập hợp ba trường ca viết vào ba thời kỳ khác nhau gồm có Đổ bóng xuống mặt trời, Trên đường và Ngày đang mở sáng đã được NXB Hội Nhà văn xuất bản. Nhà thơ Trần Anh Thái là tác giả thơ nổi trội về thể loại trường ca đã được khẳng định tại các giải thưởng văn học, cùng sự thẩm định của các nhà nghiên cứu-phê bình văn học, được một số nhà nghiên cứu đánh giá là tác giả làm hồi sinh thể loại trường ca đầu thế kỷ 21. Trường ca Đổ bóng xuống mặt trời (năm 1999) đã giành giải thưởng Văn học của Bộ Quốc phòng, giải nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ.
Trong bóng tối của những điều chưa biết là ánh sáng. Ánh sáng ở nơi chưa có con đường. Trần Anh Thái từng nghiệm sinh như thế. Nên muốn đến được với ánh sáng, người ta phải tự tìm đường cho mình. Trần Anh Thái là một hành nhân bền bỉ đi tìm ánh sáng thơ ấy. Ngọn đuốc tuệ của tôn giáo thơ đã là một hấp lực vừa nâng đỡ vừa thúc giục Trần Anh Thái tìm ra con đường của riêng mình. Đó là trường ca.
Có thể nói, rất ít “cái kể” trong trường ca Trần Anh Thái. Cốt truyện sự kiện bị phân rã và cốt truyện tâm lý được đẩy lên đến cao trào. Nó làm nên nét khác biệt của trường ca Trần Anh Thái so với trường ca trước đó. Cấu trúc tự sự trong trường ca của anh dựa hoàn toàn vào cảm xúc, lấy cảm xúc làm mạch chủ đạo, mạch sự kiện chỉ nảy sinh nhờ liên tưởng. Trong khi, cấu trúc tự sự trong trường ca trước Trần Anh Thái lấy sự kiện làm mạch chủ đạo, mạch cảm xúc chỉ nảy sinh như trữ tình ngoại đề. Nên ngay từ tên trường ca, đã thấy dấu hiệu của cái đã xảy ra, của quá trình: bài ca, khát vọng, đường tới, đi tới, sư đoàn,…
Sự khác biệt về mặt cấu trúc tự sự của Trần Anh Thái so với thế hệ đi trước không giản dị ở chỗ ngay từ cái tên tác phẩm đã thấy cái đang xảy ra, cái đồng hiện (đổ bóng, trên đường, đang mở) mà là ở cấu trúc bề sâu của văn bản tự sự. Ở một góc độ nào đó, có thể nói, thơ Trần Anh Thái là một độc thoại triền miên. Vọng trắng, Độc thoại trắng là âm điệu chủ đạo, một chủ âm trong thơ Trần Anh Thái. Tất cả thơ anh bị xoáy hút bởi một cắc cớ: Anh tìm lửa đâu soi đâu ngày tháng. Đọc từ đó, có hai cặp đối ứng của lửa: lửa khởi hoang – lửa chiến tranh trong Đổ bóng xuống mặt trời; lửa chiến tranh – lửa hòa bình trong Ngày đang mở sáng. Nếu đặt thêm Trên đường, với tư cách như một tuyên ngôn nghệ thuật, vào tổng thể trường ca Trần Anh Thái, sẽ được một cấu trúc “kép”, hai tầng bậc của khởi nguyên “ba ông đầu Rau” của lửa. Đó là ba trường ca ở bề mặt, là “tam vị nhất thể” lửa khởi hoang – lửa chiến tranh – lửa hòa bình ở bề sâu. Cái căn bản làm nên hồn thơ Trần Anh Thái.
Ở Đổ bóng xuống mặt trời, nhân vật trữ tình sống với làng quê qua huyết thống, qua huyền thoại được nghe kể lại và cũng là người trực tiếp tham gia chiến tranh. Những ngọn lửa đầu tiên của ba ông Đầu rau dựng làng da diết bao nhiêu thì ngọn lửa đầu tiên của chiến tranh hủy diệt đất nước nhức nhối bấy nhiêu trong tâm cảm nhân vật trữ tình. Trong cái vinh quang lập làng lập nước luôn có nỗi đau của sự hy sinh. Trong niềm vui chiến thắng vệ quốc luôn có nỗi buồn của sự mất mát. Vì vậy, song hành với lửa khởi hoang và lửa chiến tranh là lửa nhang trên ban thờ. Đó là biểu thị của lòng biết ơn tiên tổ, sự gắn kết con người với truyền thống: Những nén nhang đền Vọng sáng đêm ngày/ Ban thờ mỗi ngôi nhà cháy đỏ. Làng sinh thành, sinh sôi và làm nên đất nước.
Khi đất nước lâm nguy, những đứa con của làng cảm tử lên đường nhập ngũ gìn giữ mảnh đất cha ông. Gương mặt họ nhòa đi trong lửa đạn chiến tranh: Gió khét lẹt mùi bom dầm mồ hôi thuốc súng. Mồ các anh cỏ xám màu thuốc đạn buồn bã gục vào nhau. Để rồi, “chiến tranh đi qua dọc con đường đầy hoa tươi và vòng tang trắng”, gương mặt thời gian có thể nhòa đi nhưng với những người lính trở về: Nỗi cô đơn nảy mầm khi ánh ngày tỏa sáng. Bủa vây tâm hồn người lính hậu chiến là nỗi ám ảnh của đêm đen quá khứ. Chiến tranh là đêm dài mất ngủ. Chiến tranh không chỉ hiển hiện ở nơi xa xôi, nó đau đáu trong ngôi làng đất Việt. Người lính hy sinh rồi một ngày sẽ hòa mình vào đất sa trường nhưng đất làng mất đi người con nỗi đau luôn đọng lại, dằng dai: Ba mươi lần người đời sắm ngựa hồng, giày nhung vàng mã…/ Chị chẳng có cho mình/ Nắm đất thắp nhang riêng…/ Cây vàng mã mua cất vào góc tủ/ Chị sợ đốt rồi hương khói sẽ bay đâu. Với những câu thơ xé lòng như thế, quầng lửa sa trường ác nghiệt hơn hay đốm lửa lập lòe ban thờ ác nghiệt hơn? Người lính hậu chiến trở thành “tượng đá suy tư” trong nỗi cô đơn tuyệt đỉnh của mình. Họ trở thành “những loài hoa lặng lẽ nở về đêm”.
Đổ bóng xuống mặt trời đã được kết cấu như thế. Từ cái gốc đêm suy tư mọc ra các cành nhánh vươn về huyền thoại lập làng và chiến tranh giữ làng. Ở hai cành giao thành lùm tán ấy, ánh lửa ngời lên. Ngày đang mở sáng tiếp nối từ gốc cội ấy. Sinh sôi từ ngọn lửa ủ sâu trong đất, trường ca bổ khuyết cho nhánh vươn về chiến tranh với việc mở rộng cảm nhận về chiến tranh sang cả chiến tuyến bên kia và tiếp thêm sức sống cho nhánh vươn về huyền thoại với việc mở rộng cảm nhận về đời đang hiện sống. Tất cả làm cho cội cây kia vươn thành cổ thụ với sức sống mạnh bền.
Không còn là ngọn lửa trực hiện, lửa trong Ngày đang mở sáng là lửa của niềm đau, của nước mắt. Đó là thứ lửa cháy bỏng của nước, không bật lên ánh lửa mà sôi chảy thành dòng ở đáy sâu. Cái lạ nhất của trường ca là có một nguồn mạch không có dấu ấn của đề tài “quan phương”, của chất liệu bậc cao làm thành chất sử thi của trường ca: tình yêu trong sự vây bọc của đời thường. Đây là một thể nghiệm táo bạo, gợi mở khả năng chiếm lĩnh những phạm vi ngoài giới hạn của trường ca truyền thống, góp phần mở rộng biên độ thể loại. Đặt trong nguồn thơ Trần Anh Thái, sự có mặt của mạch thơ là một bổ trợ cần thiết trong việc chiêm nghiệm về đời sống, nó là nhựa ấm góp phần cho nhánh vươn về huyền thoại, trong xu thế làm nổi bật cái hiện sống của cuộc đời, sáng lung linh hơn bởi những quả lửa.
Cái nổi bật và làm nên thành công của Ngày đang mở sáng thuộc nhiều hơn ở mạch về niềm đau của chiến tranh: Tôi nghe lạnh giữa hai bờ cuộc chiến/ Cái chết nối hàng/ Cái chết tiễn đưa nhau. Xác quân thù xác bạn gục vào nhau, thơ Ngày đang mở sáng cất lời tang thương của cuộc chiến nồi da xáo thịt. Không ai có ý phủ định chính nghĩa cuộc chiến nhưng không ai được quyền phủ định sự hy sinh để có chính nghĩa. Bởi cái giá của cuộc chiến ấy là: Xác chết chồng xác chết đợi ngày. Trong tư cách người lính, anh nhận ra một thế hệ các anh: Kẻ thắng trận hai tay ông mặt khóc/ Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau. Và với riêng anh: Tôi đã viết như tôi đã chết/ Nước mắt tạc vào gió thổi ngàn sau. Thương tích là lửa mà nước mắt cũng là lửa, cháy bỏng, rát bỏng. Cái vô hình được đưa ra để lột hiện cái hữu hình. Với chiến tranh, nếu Bảo Ninh làm được thế nào ở văn xuôi, thì với thơ, Trần Anh Thái là một lời hô ứng.
Có thể nói, từ Đổ bóng xuống mặt trời đến Ngày đang mở sáng, Trần Anh Thái đã đi xong chặng đường hậu chiến. Tái nhận thức được đặt ra và chỉ ra một cách sâu sắc, riết róng. Trên đường là cuộc thám phá vào quan niệm thơ, khẳng định ý hướng từ Đổ bóng xuống mặt trời và nhen nhúm cho khát vọng khai phá những mảnh đất mới cho trường ca. Kết quả của nỗ lực ấy là Ngày đang mở sáng. Và chính ở chỗ này, ngoài mô hình văn bản được tổ chức trên nền tảng cảm xúc, đã được coi như một đóng góp của Trần Anh Thái cho trường ca, anh tiếp tục ham muốn khơi mở trường ca vào những vấn đề của thế sự, đời tư. Liệu trường ca đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Câu trả lời nằm ở chỗ có hay không việc trường ca viết được và viết hay mà không cần nương vào âm hưởng hùng ca (mà dấu vết vẫn còn rất rõ trong Ngày đang mở sáng). Nghĩa là Trần Anh Thái còn tiếp tục trên đường. Còn đi xa đến đâu, ấy còn do năng lượng lửa thơ anh có đủ cháy lên mơ mộng nghệ thuật.
21/12/2019
Đoàn Ánh Dương
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tính mở trong "Một mai gió chở tôi về" của Hoàng Vũ Thuật

Tính mở trong "Một mai gió
chở tôi về" của Hoàng Vũ Thuật

Bàn về thơ Hoàng Vũ Thuật, có người ví như một khối vuông ru bích, có người lại xem như một cấu trúc đèn led hiện đại muôn màu huyền ảo, đan xen sáng tối, trùng trùng những hình ảnh tưởng tượng… Với riêng tôi, mỗi bài thơ Hoàng Vũ Thuật như một ô cửa nhỏ mà nếu vội vàng lướt qua, ta sẽ bỏ lỡ cả một thế giới…
Trong tập thơ Tháp nghiêng, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật đã từng tâm niệm: “Những con chim sẻ bay về phương bắc/ anh một mình lên phương nam/ nơi có hồ nước mắt em ngăn ngắt xanh”. Đây cũng chính là tuyên ngôn nghệ thuật rất kín đáo của nhà thơ. Hơn nửa thế kỷ một lòng với thơ ca, bay “một mình, một bóng”, ông luôn có ý thức tìm tòi, đổi mới, tạo nên một lâu đài thơ cho riêng mình. Ta bắt gặp ở đó những vần thơ ăm ắp tình đời, tình người, đậm chất suy tưởng, siêu thực, một thứ triết lý sâu xa mà cũng rất gần gũi, dung dị, đời thường. “Một mai gió chở tôi về” là một ví dụ.
1. Lâu nay bạn đọc thường bắt gặp những vần thơ lấy cảm hứng từ chất liệu đời sống cụ thể, mà người ta thường gọi là đề tài “nóng hổi mang tính thời sự”, phản chiếu một vấn đề nào đó đang diễn ra… thì trong Một mai gió chở tôi về lại bàng bạc một giọng điệu trữ tình, một góc khuất thân phận, đời thường trong tình cảm con người. Góc khuất ở đây chính là cảm quan về tình yêu, niềm vui và nỗi buồn rất cá thể giản đơn và gần gũi, phản chiếu con người ông, từ đó nhìn thấy thế giới rộng lớn đang trải trong thơ: “anh là hạt muối được vớt lên từ lòng biển/ mặn trên môi em/ như một phiến hoa hồng trầm cảm/ chiếc gai biết nói/ xuyên thủng cả nụ cười nước mắt/ ngày ra đi/ cuộc sống đã đóng băng trong chiếc quan tài trống rỗng/ …/ chúng ta thường xuyên tranh cãi/ như sóng vẫn thường xuyên tranh cãi với bờ/ những nỗ lực cho cuộc đời vo tròn giống hạt nước trên lá sen/ tới khi rớt xuống/ cái gì rồi cũng phải qua đi…” (Phiến hoa hồng trầm cảm )
2. Ông giúp cho độc giả hiểu thêm rằng, thơ không phải là cái nhìn thấy, cái nghe được bằng lối kể lại, tường thuật lại. Báo chí, nhiếp ảnh thời sự, tranh tuyên truyền đã làm việc đó. Thơ cao hơn mọi hiểu biết, sờ thấy hay trông thấy. Thơ đằng sau sự hiểu, cao hơn sự hiểu. Cho nên Hoàng Vũ Thuật luôn dùng biểu tượng, trò chơi ẩn dụ tạo nên tính đa chiều trong thơ. Ông nói việc này, chuyện này, nhưng để độc giả hiểu chuyện khác, việc khác. Ta có thể thấy trong nhiều bài như Biến tấu, Ẩn ngữ, Mặc định, Hoài nghi, Người hành khất, Viết ở quán coffe Sơn ca…
3. Có một con người thứ hai mơ hồ trong thơ Hoàng Vũ Thuật, không bằng câu chữ mà bằng cảm xúc, không bằng xương bằng thịt mà bằng ấn tượng, ma mị. Người ấy là ai? Nhân vật linh diệu ấy như đang đối thoại với ông, đi bên ông. Có phải là tâm hồn ẩn khuất như người tình, như hình với bóng trong ông? Tôi nghĩ, giải mã được vấn đề này là tìm được chìa khóa vạn năng để mở ra cánh cửa thơ Hoàng Vũ Thuật. Nhân vật ấy, không ai khác chính là ông. Một trái tim lãng đãng đa tình, lại rất lý trí khi cần thiết. Sự phân thân này, không phải là chia ra hai ngăn trong tâm hồn thi sĩ, trái lại rất thống nhất, đồng điệu. Đó là tâm cảm chua xót, niềm đau khi con người đang bị cuộc sống xâm hại: “thượng đế là ai/ chúng ta đón câu trả lời của thế hệ ngoài thế hệ/ ngoài khu vườn nhỏ bé/ ngoài chen lấn giành giật/ ngoài cướp bóc hãm hiếp nụ cười tiếng nói/ ngoài đọa đày hơn cả đọa đày/ ngoài ngoài nữa/ thượng đế chính ta” (Thượng đế).
Đó là niềm khát khao được sẻ chia  đồng cảm giữa cuộc đời đầy biến động và mong manh như làn gió: “em đến không năm mươi năm sau/ nơi anh nằm bình yên trên thảm cỏ/ tóc và mây thi nhau trắng xóa/ mây rồi sẽ bay/ tóc em thì dừng lại/ đừng khóc làm chi/ mà cũng đừng buồn/ chẳng có gì dài lâu chẳng có gì vĩnh viễn/ …/ ai đưa em về lay phay mưa rơi/ ai đưa em về đường dài chơi vơi” (Năm mươi năm sau).
4. Thơ ông trữ tình, nhưng đầy triết lý. Tính triết lý trong thơ Hoàng Vũ Thuật không đao to búa lớn, không hô hào sáo rỗng, không cao giọng mà nhẹ nhàng thủ thỉ như một lời tâm tình. Ông nói về thời cuộc, về nhân tình thế thái bằng ngôn ngữ trừu tượng nhưng không đánh đố, chơi trò ú tim với người đọc. Chỉ cần ta khẽ khàng lật giở từng trang thơ, hòa mình trong từng con chữ, tự khắc “những phần chìm của tảng băng thơ Hoàng Vũ Thuật” sẽ hiện lên rưng rức, sống động, như cây vẫn xanh ngoài lời.
5. Theo dõi ông trên các báo, tạp chí văn nghệ và các phương tiện truyền thông khác, bạn đọc đều thấy các nhà thơ, nhà phê bình trong và ngoài nước đều nhìn nhận Hoàng Vũ Thuật là người luôn ráo riết đổi mới thơ mà nhiều nhà thơ cùng tuổi đã bỏ qua. Ông không viết theo lối cũ, chạy theo thời thượng chung chung, cảm xúc giống nhau hoặc lẫn vào nhau – vốn là di chứng một thời còn sót lại của nền văn học sắp sẵn, khuôn mẫu, định hướng nghệ thuật một chiều. Vì thế thơ ông được độc giả muôn nơi và người phê bình tin cậy tìm đến. Hình ảnh người nghệ sĩ tài hoa của mảnh đất miền Trung gió Lào cát trắng ngày ngày cặm cụi, cần mẫn gieo lên những mầm xanh giữa hoàng hôn cuộc đời luôn là nguồn cảm hứng lớn lao cho độc giả và những người viết trẻ.
Tôi đã đọc đâu đó trong một cuốn giáo trình, rằng đầu những năm 60 của thế kỉ trước, nhân dịp người Nga phóng con tàu vào vũ trụ, người ta đã phát động một cuộc trưng cầu ý kiến lớn rằng, liệu con người có cần đến văn học nghệ thuật nữa không? Ngày hôm nay, giữa thời đại công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, câu hỏi đó lại tiếp tục xuất hiện và câu trả lời vẫn chỉ một: “Dù con người có bay lên vũ trụ đi chăng nữa, thì trong con tàu vũ trụ ấy vẫn cần một nhành hoa lila”. Đó cũng là lí do mà những người nghệ sĩ như nhà thơ Hoàng Vũ Thuật cứ cặm cụi viết, cặm cụi in, cặm cụi gửi tặng độc giả gần xa, mặc đây đó vẫn có người thờ ơ, kẻ lạnh lùng, nhìn nhận đánh giá chưa đúng mức thoả đáng.
TP.HCM, 8/12/2019
Vi Huyền Vi
Theo https://vanhocsaigon.com/

Cảm thức thời gian trong thơ Mai Văn Phấn

Cảm thức thời gian
trong thơ Mai Văn Phấn

“Tiếng thở dài bay đi lớp bụi thời gian, ta sửng sốt thấy hồn vía tổ tiên trong nét hoa văn đình làng, trống đồng, ngọn tháp… Những thân phận khóc cười đêm ngày làm kén ở hồn ta” – Mai Văn Phấn.
Tác phẩm của Mai Văn Phấn: – Giọt nắng (thơ, NXB Hải Phòng, 1992); – Gọi xanh (thơ, NXB Hội Nhà văn, 1995); – Cầu nguyện ban mai (thơ, NXB Hải Phòng, 1997); – Nghi lễ nhận tên (thơ, NXB Hải Phòng, 1999); – Người cùng thời (trường ca, NXB Hải Phòng, 1999); – Vách nước (thơ, NXB Hải Phòng, 2003); – Hôm sau (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2009); – và đột nhiên gió thổi (thơ, NXB Văn học, 2009); – Bầu trời không mái che (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2010); – Thơ tuyển Mai Văn Phấn (thơ cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn, 2011); – hoa giấu mặt (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2012); – thả (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2015); – Tĩnh lặng (NXB Hội Nhà văn, 2018); – Thời tái chế (NXB Hội Nhà văn, 2019).
Mai Văn Phấn thuộc thế hệ những nhà thơ từng thấm đẫm nước mắt của chiến tranh Việt Nam và khá nổi tiếng bên cạnh Nguyễn Quang Thiều, Trương Đăng Dung, Hồ Thế Hà, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Lương Ngọc, Inrasar, Giáng Vân, Đoàn Thị Lam Luyến… Là thế hệ chuyển giao nhiệm vụ của lịch sử, họ phải gánh chịu/chứng kiến sự hủy diệt của hàng tấn bom đạn vô nghĩa ngay từ thời khắc họ được/bị sinh ra; và họ cũng là những người được/bị sống để tiếp tục xác nhận những hậu quả tàn ác, dai dẳng của chiến tranh để lại trên nhiều phương diện cho đến tận hôm nay. Họ ra đời trong những khoảnh khắc kì lạ, gắn liền với những chiến dịch chấn động địa cầu. Sinh mệnh của họ dù không muốn cũng phải cùng chịu đựng những khổ đau của dân tộc ở thời điểm này. Mai Văn Phấn cũng là một trong những trí thức ưu tú đã từng bị khủng hoảng sâu sắc trước những biến động của lịch sử ấy. Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng và được nhận nhiều giải thưởng danh giá của quốc tế (đến nay, tháng 10. 2019, thơ ông đã được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ và đang tiếp tục được dịch ra các ngôn ngữ khác nữa). Thời gian là vấn đề muôn thuở của chân lý vĩnh hằng, có sức ám gợi mãnh liệt từ triết học đến thi ca nhân loại. Hiện thể thời gian trong tác phẩm là một trong những phạm trù thẩm mỹ góp phần khẳng định phong cách riêng và tài năng nghệ thuật của Mai Văn Phấn.
1. Vòng cung thời gian hay là nghệ thuật xóa mờ ranh giới thời gian và con người.
Ở phương Tây, các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Proust, Gide, Virginia Volf, Joyce, Dos Passos, Faulkner, Shakespeare… đều đã có cách biểu đạt, cách huỷ hoại thời gian vật lý theo những cách khác nhau. Nhà thơ có thể cắt bỏ quá khứ và tương lai, rút gọn thời gian vào khoảnh khắc trực giác của tâm cảm. Dos Passos biến thời gian thành một ký ức hạn chế và máy móc. Proust và Faulkner chặt đầu thời gian. Họ tước bỏ tương lai của thời gian, tước bỏ chiều lựa chọn và hành động tự do của con người. Shakespeare lại biểu đạt thời gian hai mặt, nỗ lực chiến đấu, nỗ lực đối thoại, tranh biện với thời gian, không tiếc nuối thời gian… Ở Việt Nam, tạm không nhắc đến các bậc thi tài trong văn học Trung đại, các nhà thơ cùng thời với Mai Văn Phấn cũng đã có những quan niệm, những biểu đạt thời gian khác nhau. Mỗi nhà thơ đều có một phong cách riêng, góp phần làm sinh động/ tự hào thêm cho đời sống thi ca Việt không chỉ đối với bạn đọc trong nước mà còn ở nước ngoài. Chẳng hạn, hầu hết các bài thơ của Trương Đăng Dung cũng là những triết lý về thời gian (Thời gian đi trên những lối mòn không thể thấy. Thời gian ở trong máu, không lời/ ẩn mình trong khoé mắt, làn môi/ trong dáng em đi nghiêng nghiêng như đang viết lên mặt đất thành lời/ về kiếp người ngắn ngủi; Sợ thời gian rình trong từng sợi tóc)…, nhà thơ có sự nuối tiếc thời gian vùn vụt trôi qua, đôi khi đến sợ hãi. Thời gian trong thơ Trương Đăng Dung chính là con người, là thời gian gắn liền với nỗi cô đơn lặng lẽ, là quá trình sống, suy ngẫm về cuộc đời và cái chết, là sự trăn trở, tác động dữ dội của những hệ tư tưởng Châu Âu trong tâm thức con người Á Đông. “Đó là sự lặng lẽ của một tâm hồn, của một con người nặng lòng với ký ức, nặng lòng với những duyên nợ nhân gian. Lặng lẽ để chuẩn bị cho những đợt sóng ngầm dữ dội của dòng sông không biết trôi về đâu. Lặng lẽ và kiếp người” [1]. Còn trong thơ Hồ Thế Hà, ám ảnh thời gian sống khá mãnh liệt. Một bài thơ ra đời như một minh chứng cho phương châm tiết kiệm thời gian sống dành cho lao động nghệ thuật của ông. Thời gian hiện tại trong thơ Hồ Thế Hà gắn bó mật thiết với không gian tâm tưởng… Và rõ hơn cả là thời gian sáng tạo của thi sĩ ẩn trong cấu trúc câu thơ. (Thời gian uống từng giọt giọt nước/ không gian ép từng xác xác lá/ triệu năm phục sinh mùa!). Tác giả ít dùng đến từ thời gian “nhưng ý thức tiết kiệm thời gian để sáng tạo, để dành niềm vui cho bè bạn, cho những cuộc chơi thi sĩ và hơn cả là cho đời sống chung của xã hội con người hiện tồn trong các bài thơ”[2]. Thơ Mai Văn Phấn cũng đã góp thêm một phương cách thể hiện trực diện với thời gian, song hành với thời gian, không tiếc nuối thời gian. Bởi mỗi sát – na trôi qua ông đã tận hiến nghiêm túc, có ý nghĩa trong sáng tạo nghệ thuật, trong hành xử đẹp với những con người sống bên cạnh mình, trong xã hội. Những cống hiến và khát vọng của Mai Văn Phấn xứng đáng được bạn đọc dành cho nhà thơ nhiều sự mến mộ. Nhìn chung, thơ ông  mang “căn tính” dân tộc. Xuyên suốt ý tưởng trong các tập thơ của ông là ước mơ tự do, bình đẳng và dân chủ của dân tộc Việt Nam. Đó là một khối cảm xúc cô đọng được biểu đạt bằng ngôn từ thông qua thế giới nội tâm, đồng thời hiển thị những bức tranh sống động về lịch sử, về xã hội đương thời. Mỗi tập thơ của ông đều chất chứa khát vọng của dân tộc, đồng thời là một cánh cửa mới được mở ra, giúp người đọc thưởng ngoạn thế giới. Nhiều người cho rằng, thơ cũng như con người Mai Văn Phấn góp phần giúp người đọc hiểu cuộc sống và nhiều tầng văn hóa.
Cảm thức thời gian trong thơ Mai Văn Phấn có sự chuyển biến từ thời gian đơn tuyến, không gian hình học phẳng sang thời gian đa tuyến tính, không gian đa chiều qua các giai đoạn sáng tác. Vậy điều gì đã góp phần tạo nên điểm riêng về nghệ thuật biểu đạt thời gian trong thơ Mai Văn Phấn? Thế kỷ 20 với xu hướng phương Tây hóa toàn cầu đã ảnh hưởng đến châu Á, trong đó có Việt Nam. Song song với văn hóa là sự phát triển của khoa học tự nhiên và công nghệ, các mô hình xã hội dân chủ, quyền con người, những hệ hình tư tưởng mới của châu Âu… có tác động mạnh mẽ đến các trí thức Việt Nam. Các vấn đề về tôn giáo như Ki-tô giáo, đạo Phật… góp phần xóa nhòa ranh giới Đông Tây xét về mặt tâm linh. Theo đó, quan niệm về thời gian sống chết của con người, của vũ trụ trong tác phẩm nghệ thuật vì vậy cũng dần mất ranh giới. Đồng thời, quá trình dung hợp các xu hướng nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại đến Việt Nam có ảnh hưởng từ nội dung đến hình thức thơ Mai Văn Phấn. Tất cả những điều đó đã thấm quyện trong thơ dù ông có ý thức tạo ra kiểu thời gian nghệ thuật của riêng mình hay không thì tất cả những yếu tố này cũng hiện hình trong thơ như là một minh chứng sống động của thi sĩ. Ngay từ tiêu đề các tập thơ (đó là chưa kể tiêu đề các bài thơ cụ thể) đều đã cho thấy thơ Mai văn Phấn ngập tràn thời gian. Các từ chỉ thời gian trực tiếp đã cho thấy một khoảng tĩnh lặng lạ lùng, bí ẩn với thời gian của Mai Văn Phấn trong thơ. Có 10/14 tác  phẩm chúng tôi khảo sát đều có từ biểu đạt thời gian ngay từ tiêu đề.
– Giọt nắng (thơ, NXB Hải Phòng, 1992)
– Gọi xanh (thơ, NXB Hội Nhà văn, 1995)
– Cầu nguyện ban mai (thơ, NXB Hải Phòng, 1997)
– Người cùng thời (trường ca, NXB Hải Phòng, 1999)
– Hôm sau (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2009)
– đột nhiên gió thổi (thơ, NXB Văn học, 2009)
– Vừa sinh ra ở đó (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2013)
– thả (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2015)
– Tĩnh lặng (NXB Hội Nhà văn, 2018)
– Thời tái chế (NXB Hội Nhà văn, 2018)
Trong các tập thơ đó, Mai Văn Phấn có nhiều bài thơ có tiêu đề trực tiếp và gián tiếp nói đến thời gian:
– Trực tiếp dùng từ “thời gian” để khái quát quan niệm về thời gian: Vòng cung thời gian, Đối thoại với thời gian…
Thơ Mai Văn Phấn có sự hòa hợp với thời gian, thích nghi với sự vận hành của thời gian, chủ động đón đợi thời gian, bình tĩnh chờ thời gian đến, cảm nghiệm, trải nghiệm thời gian trong từng cung bậc cảm xúc của con người. Nhà thơ không sợ hãi trốn chạy khỏi thời gian, cũng không chạy đua hay đố kỵ với thời gian, không tiếc nuối thời gian. Thi sĩ thấy rõ mình đang hành xử đúng mực với từng sát- na thời gian, chiêm nghiệm, trải nghiệm; chơi với nó một cách thú vị như trò xúc xắc. Thời gian trong thơ ông chính là con người!
Níu thời gian cong. Bốn mùa đổ từng khoảnh khắc. Sóng nước dâng cao nơi vàng rực hoa quỳ. Lãng đãng con thuyền ngõ vắng. Tiếng gọi mơ hồ dâng ngọn tháp vút cao. Vài gương mặt trôi đi làm nhầm lẫn cảm quan, ý nghĩ, nhầm lẫn thứ tự trang sách, rối tung tàn tro và đám cỏ gai. Những điều vô tình bất ngờ hé lộ.
Bất ngờ dưới vòng cung thời gian, em và anh gồng mình chống đỡ, những mũi tên độc bị chặn lại trong vòm trời rách toạc. Tâm bão cách chúng ta chỉ một tầm nhìn. Áp tai vào vách lũ bình yên.
Từ một điểm bất kỳ tới chỗ con mèo chơi với miếng giẻ lau là đường chân trời. Mặt đất đang dần co lại. Vòm thời gian cong quá sẽ vỡ. Hơi thở thác nước dựng em chất ngất, mát khôn nguôi.
Chạm âm thanh em, môi anh vỡ trăm ngàn quả chuông khác nữa. Không gian mở ra những nếp gấp rộng thênh.
Con chim xoải cánh trong mưa, không ảo giác lao đầu xuống nước.
Nơi mũi tên rơi, mặt đất rung lên đẩy ta tới một đích khác.
(Vòng cung thời gian)
Thấu cảm với vẻ đẹp của thời gian cũng như sự vô tình, độc lập của thời gian nên Mai Văn Phấn đã chơi với nó như những người bạn có nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều biến ảo sắc thái thú vị qua mỗi mùa, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm. Thời gian có hình thù cụ thể, có cảm xúc, lúc yêu thương vỗ về, lúc giận hờn vô cớ đột ngột ra đi, lúc trở về nũng nịu êm ái như trẻ thơ, lúc đỏng đảnh, đam mê, ham muốn  như thiếu nữ dậy thì đang yêu, lúc lãng mạn sướt mướt qua những khu vườn, khoảng không, vũ trụ bao la; lúc trở về với màu sắc sặc sỡ, thơm tho, đầy hấp dẫn, đầy thân thương của tuổi thơ qua hình ảnh quả hồng, quả na chín trên bàn thờ tổ tiên…Ấn tượng đầu tiên với người đọc là cảm thức về thời gian tuần hoàn theo Mùa đầy ắp trong thơ Mai Văn Phấn. Ở đây chúng tôi chỉ dẫn ra/tạm thời phân nhóm một số bài thơ tiêu biểu được nhiều bạn đọc quan tâm chú ý.
+ Bạn tâm giao Xuân:
Rượu xuân, Gió xuân, Cuối xuân đầu hè, Nước mùa xuân, Dấu hiệu mùa xuân, Mười bài tập mùa xuân, Đêm lập xuân, Mùa xuân, Giai điệu xuân, Gặp mùa xuân, Đầu năm, Đêm đầu năm, Lập xuân, Đón giao thừa, Sáng mồng một, Ngày đầu năm, Giữa xuân, Vẫn còn tết, Nắng xuân, Khát vọng đầu năm, Cuối tháng giêng, Mưa xuân tới, Mùa, Sáng xuân, Xuân còn trong đất, Mưa đầu mùa, Mưa xuân, Cuối xuân, Đêm giao mùa, Xuân tràn, Xuân đi, Tháng Giêng, Tắm đầu xuân…
+ Bạn tình đỏng đảnh: Thu
Thu chậm, Bầu trời thu, Hạt mưa thu, Trưa mùa thu, Nắng tháng Tám, Thu chín, Cuối thu, Thu, Nắng cuối thu, Trung thu năm nay, Tiễn mùa thu,Thu qua,Chớm đông, Trời trở lạnh, Gió mùa về, Trong sương mù, Khúc cảm mùa thu, Gom nhặt cuối mùa, Thoáng thu, Thu về, Nỗi nhớ mùa thu, Ký sự mùa thu, Đầu thu, Nhịp thu về, Quyền lực mùa thu, Những bông hoa mùa thu, Thu đến, Ngày thu ở nước Nga, Sắp hết thu, Sang thu, Sáng lập thu, Cảm giác mùa thu, Thu đầy…
+ Bạn ấp ủ niềm yêu thầm kín: Đông
Mùa đông đến, Đêm đông, Giữa mùa đông, Sáng mùa đông, Đêm lạnh, Gió đông,…
+ Bạn đam mê và đầy năng lượng : Hạ
Mưa cuối hạ, Sáng mùa hè, Mùa hạ rất gần, Ngày nóng nực, Giữa hạ, Nắng lên cao, Ngày hè, Trời nắng nhìn ra vườn, Thay mùa, Tiếng trưa, Mùa nhãn chín,Quả bàng chín trong đêm,…
+ Kẻ vô tình: Sát na
Ngày tháng: Ngày đẹp trời, Ngày mới, Ngày nắng đẹp, Ngày mưa vào lễ Phật, Ngày nồm, Ngày thanh minh, Thanh minh ngày nắng, Ngày biển động, Ngày ngắn, Ngày mới, Ngày mai trời lạnh, Ngày sắp hết, Một ngày, Ngày cuối, Đầu tháng…
Sáng: Kinh cầu ban mai, Lúc mặt trời mọc, Dấu vết bình minh, Buổi sáng lên Yên Tử, Vô tình trong nắng sớm, Mở trong bình minh khác, Giả thiết cho buổi sáng hôm sau, Có mặt trời, Trong sương sớm, Dậy sớm, Sương sớm, Rạng đông, Gần sáng, sớm, Sáng nay, Sáng sớm, Nắng lên, Rạng sáng, Sớm nay, Mặt trời lên, Nắng mới, Mặt trời lên nhanh, Trời nắng, Mưa ban mai, Hừng đông mép nước, Bình minh, Ngày rạng, Lại khởi đầu, Ban mai thanh sạch, Còn sớm,…
Chiều: Chiều, Chiều Trà Cổ, Con sông về chiều, Nắng chiều, Chiều tà,…
Hoàng hôn: Hoàng hôn, Qua hoàng hôn, Trời tối, Hoàng hôn đến, Mặt trời sắp lặn, Tối dần,…
Đêm: Bầu đêm, Đêm, Đêm hoa nở, Tiếng côn trùng đêm, Bóng đêm, Đêm mưa, Biến tấu đêm mưa, Đêm qua mơ, Đêm bắt đầu, Đêm, Đêm đến vội, Đêm đến rồi, Nửa đêm tỉnh dậy, Đêm xuống nhanh, Đêm tối ra vườn, Đêm qua nghĩa trang, Nửa đêm mưa tạnh, Biển lẫn vào đêm, Đêm trăng, Sông đêm, Chiều xuống, Bão đêm, Trăng lên …
Hôm qua: Tờ lịch hôm qua, Ngoảnh lại góc phố hôm qua,…
Hiện tại: Bây giờ mưa phùn, Người cùng thời, Thời tái chế,…
Khoảnh khắc, giao mùa, giao ngày: Sát na, Mũi tên bóng tối, Triều xuống, Thủy triều lên, Mùa Trăng, Tỉnh dậy trong mưa, Giấc mơ, Chuyển mùa, Hai thời đại, Hạt mưa giao thừa, Ngày và đêm, Gió đầu mùa, Tin nhắn lúc giao thừa, Hai mùa…
 “Mùa màng”: Ngày mùa, Mùa hái quả, Mùa gặt, Sau mùa gặt, Hát giữa hai mùa, Bài hát mùa màng, Đợi mùa, Mùa vải, Đã sang vụ mùa, Mùa hoa mận, Mùa ổi,…
Từ khảo sát số lượng các bài thơ trên có thể có người cho rằng Mai Văn Phấn yêu mùa Xuân. Thực chất không phải như vậy. Đọc các tập thơ mới thấy ông tận hiến với tất cả các mùa, dừng chân hầu hết với các điểm thú vị của tất cả mọi dạng kiểu thời gian. Ông yêu tất cả mọi sắc thái biến chuyển có khi chậm chạp nặng nề, có khi đột ngột dữ dội, có khi âm thầm tha thiết, có khi đỏng đảnh kiêu kì, có khi ngây thơ hồn nhiên ríu rít như đứa trẻ, có khi lạnh lùng kinh hãi như một cảnh sát viên đang đứng sau lưng tội phạm, có khi như một người từng trải, nhiều kinh nghiệm luôn đứng bên cạnh con trẻ để nhắc nhở, khuyên bảo họ hãy sống có ý nghĩa hơn, hãy tận hiến không vô nghĩa trong từng khoảnh khắc, từng sát – na của thời gian. Dẫu vậy, những giây phút tĩnh lặng nhất của ông vẫn đọng lại rõ ở những bài thơ ông viết về mùa Thu. Đây có lẽ cũng là mùa ông dành nhiều sự luyến lưu nhất, phù hợp nhất với phong cách con người Mai Văn Phấn. (Bao lần xanh biếc rong chơi/ Mấy lần úa rụng tiếng người vọng theo/ Thôi em! Ðừng vặn! Ðừng khêu! Ðáy thu thắp sáng trên nhiều ngọn cây/ Anh vừa đọng xuống thu gầy/ Ðã đông thành đá phủ đầy rêu xanh – Khúc cảm mùa thu). (Hoặc: Hôn em/ Toàn thân anh/ Chín rực – Cuống của mùa thu). (Hay: Nỗi nhớ biến thành sương khói/ Lá khô thoát xác bay lên/ Tôi thì nồng nàn như đất/ Để em linh ẩn chùa chiền – Thoáng thu).
Nhìn lại lịch sử thi ca chúng ta thấy rõ các kiểu thời gian phổ biến trong thơ là thời gian lịch sử, thời gian hiện tại với cảm nhận cá nhân, thời gian hoài niệm. Biểu tượng của thời gian trong thơ có thể là buổi chiều: hoàng hôn, chiều tà gợi nỗi buồn, gợi khoảnh khắc cuối ngày; là buổi sáng: bình minh, tương lai huy hoàng, tươi sáng, sự bắt đầu; là mùa xuân: mùa bắt đầu một năm và tượng trưng cho sức trẻ… Thời gian có thể được biểu đạt trực tiếp qua các chân lý ngay chính trong những câu thơ có từ “thời gian”, hoặc cũng có thể được biểu đạt bằng cách dùng từ chỉ thời gian: buổi sáng, trưa, chiều tối,  mùa xuân, hạ, thu đông… nhưng thời gian cũng có thể được thể hiện bằng hình ảnh biểu tượng gián tiếp mang tính ước lệ, là những thời khắc trăn trở với hiện hữu của thân phận con người. Trong thơ Mai Văn Phấn, thời gian được hiện thể bằng cả hai phương pháp này. Ông đã chơi với thời gian, xóa nhòa ranh giới giữa các mùa, xóa nhòa ranh giới thời gian và con người bằng sự nhạy cảm lãng mạn, khắc khoải về sự thay đổi của cuộc sống trong xúc cảm thi sĩ. Có thể đây là thi giới nghệ thuật, còn phần riêng trong đời sống thực của nhà thơ có thể khác, nhưng Mai Văn Phấn đã diễn đạt được vòng quay về thời gian sống của con người bằng nghệ thuật ngôn từ. Ông lặn sâu vào thời gian, lúc thì đứng trong thời gian, khi thì đứng ngoài/ trên thời gian để quan sát, chiêm nghiệm, thưởng thức, chơi đùa theo các thế đi với nó như người chơi cờ, nhưng mặc nhiên không tính toán được thua. Trong trò chơi ấy con người được hiện hữu như một chủ thể chủ động, nỗ lực tác động lên trò chơi để được sống như là mình, như cách ông đã nghĩ về thời gian Ngày và Đêm là:
Nơi mình ngồi đánh cờ
Được thua
Đom đóm đang tụ lại
(Ngày và Đêm – Mai Văn Phấn)
2. Tĩnh lặng với thời gian
Tĩnh lặng có lẽ vẫn là thời gian có ý nghĩa nhất đối với con người. Đó là thời gian để con người lắng đọng, sống chậm hơn, có điều kiện để sống cho mình và chia sẻ cảm xúc sống với người. Con người sống bên nhau trong thực tế bằng xương bằng thịt nhưng nhiều khi chưa hẳn đã thấu hiểu, đã chia sẻ được cùng nhau. Họ cần những khoảng lặng với vô vàn những câu hỏi động, hay nói cách khác họ chỉ gặp và an ủi được nhau trong những phút tĩnh lặng với thời gian. Tĩnh lặng với thời gian trong thơ Mai Văn Phấn gắn liền với những khắc khoải của nhà thơ về tồn tại, về đời người. Những khoảnh khắc tĩnh lặng trong thơ ông không phụ thuộc nhiều vào quy luật tuần hoàn của vũ trụ, không bị chi phối nhiều bởi vòng cung thời gian.
Bên cạnh những bài thơ trực tiếp dùng từ chỉ thời gian ngay ở tiêu đề, Mai Văn Phấn còn có nhiều bài thơ, nhiều câu thơ được vận dụng khéo các kiểu từ loại khác có tính kí hiệu mô tả thời gian như: mặt trời, trăng, tờ lịch, bông cúc trắng, mùa lá rụng, hoa sen, sen tàn, tàn phai, kiếp, phai nhạt, cá… Ví dụ: Đích: Chiếc lá mùa xuân/ Rơi/ Trúng mùa hè; Những con ve: Râm ran/ Như kêu cả/Năm sau; Hoa sen rụng: Trông xa/ Cánh sen/ Phủ kín gốc; Bông cúc trắng: Hoàng hôn/ Chầm chậm/ Nhuộm thẫm; Xác con bướm: Dựng/ Rưng rưng/Gió thu; Trăng sáng gốc cây: Trên bàn thờ/ Quả hồng/ Vừa chín; Sen tàn: Trăng sáng/ Mặt đầm/ Lửa cháy. Lá rụng: Gió thu/ Giữ mãi/ Mới thả xuống đất; Cuống của mùa thu: Hôn em/ Toàn thân anh/ Chín rực; Con nhện: Giăng cố đường tơ, Ngày mai/ Hết thu; Cá: Ngoi lên mặt nước/ Gió mùa/ Về từ chiều qua; Nhớ em: Ánh trăng/ Đổ lên người/ Cũng nặng… Nhưng có thể nói trong nhóm này Con mắt nghiêng là tác phẩm điển hình, độc đáo của Mai Văn Phấn diễn tả quá trình trải nghiệm sự biến chuyển tĩnh lặng của thời gian. Nội dung bài thơ từ khổ 1 đến khổ 99 đều chan chứa những trăn trở lặng thầm của nhà thơ về thời gian, về tác động độc lập của thời gian lên vạn vật, lên vũ trụ. Trong những khoảnh khắc đó chỉ có con người mới ý thức được nó đã lặng thầm phá hủy, cộng tác, vô tình chia rẽ, đồng thời đang tìm cách dấn thân với chính cuộc đời con người như thế nào. Những giây phút tĩnh lặng, suy ngẫm về giá trị của thời gian được chuyển tải trong một kết cấu bài thơ dài 99 khổ, 3 câu theo kiểu này thì ở Việt Nam chỉ có ở thơ Mai Văn Phấn. (1.Góc vườn/ Nước đổ xuống phiến đá/ Hoàng hôn trôi nhanh … (Lược bớt 97 khổ thơ). 99.Được mùa/ Đàn kiến tha thức ăn/ Lên tay Phật – Con mắt nghiêng).
Xét về mặt tư tưởng, thơ Mai Văn Phấn có cội nguồn xuất phát từ nhiều quan niệm khác nhau của ông về thời gian, về thế giới. Ông ý thức rõ sự dung hợp của các nền văn hóa Đông – Tây đang ảnh hưởng đến Việt Nam và ứng xử với nó theo nhiều cách khác nhau tùy vào mỗi khoảnh khắc. Tĩnh lặng với thời gian trong thơ ông trước hết là ở ý thức về kiếp sống, về sự tồn tại ý thức khác biệt của thi sĩ trước mọi dịch chuyển của thời gian. Bước chân thời gian tồn tại cùng cảnh huống theo mỗi nơi ông đi qua, mỗi khoảnh khắc cảm xúc chợt đến. Thời gian trong thơ ông vì vậy không chỉ là thời gian tuyến tính, luân phiên theo quy luật vũ trụ, quay vòng nhanh chóng trôi qua vận mệnh con người mà còn là thời gian đa tuyến tính, thời gian của những mảnh vỡ tâm hồn của con người thời hiện đại. Nó cũng là những khoảnh khắc, từng sát na tĩnh lặng, thiền định trong đời sống nghệ sĩ. Đó cũng có thể là thời gian của những buổi chiều hoàng hôn, của mùa thu chờ đợi, những khoảnh khắc giao mùa, khoảng thời gian cách xa cách, đổ vỡ tê tái lòng của con người được thể hiện trong tâm cảm. Thời gian gắn với chủ thể thi sĩ từng trải với nhiều câu hỏi hỏi khó dành cho văn hóa, lịch sử dân tộc; sự dịch chuyển không ngừng của thế giới. Thời gian tĩnh lặng luôn có mặt trong hành trình ông tìm kiếm những điều không thể thấy trong đời sống thật. Nhiều tác phẩm có sự xuất hiện của tư duy triết học Phật giáo, tạo sinh thêm một thế giới sống độc đáo trong thơ. Ở đó, con người tồn tại trong thời gian hiện thực và chuyển hóa song song thành thời gian vĩnh hằng trong không gian vô tận. Thời gian trong thơ Mai Văn Phấn như một phương thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Nó có vai trò quan trọng trong việc tái tạo thực tại nghệ thuật, tổ chức nên nội dung và hình thức tác phẩm để khám phá thế giới và con người theo cách riêng của thơ. Nó vừa là khách thể vừa là chủ thể, vừa là phương tiện phản ánh. Thời gian trong thơ ông còn chịu sự chi phối bởi tư tưởng triết học, mỹ học của thời đại, dân tộc, của riêng tác giả. Nó không giống với thời gian khách quan, ngay cả khi ông muốn diễn tả một sự kiện trong thời gian một chiều, thì quy trình vận hành của nó cũng không trùng khít với thời gian tự nhiên mà luôn đi theo tâm trạng của tác giả trước sự biến chuyển của sự vật. Cách thể hiện thời gian nghệ thuật của ông vì thế mang tính cảm xúc và ý nghĩa nhân sinh, quan niệm nhân văn, tính chủ động trong sáng tạo của tác giả, góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về  bản chất thực tại đối với con người.
Trang sách
 Mở mặt đất chữ
 Rừng núi
Sông hồ
Những con đường chữ. 
(Lược bớt… 43 khổ thơ. 45.
Tôi thỉnh chuông
Màu vàng
Màu trắng lan đi…
 Nó đi cho tới khi
Chỉ còn một đốm trắng – 
(Tĩnh lặng – Muôn pháp về một, một đi về đâu? – CÔNG ÁN THIỀN)
Theo quan điểm nhà Phật mạng sống của con người được tính bằng hơi thở. Một hơi thở ra mà không hít vào được là kết thúc một sinh mệnh. Trong ý nghĩa đó, không ai có thể điều khiển, kìm hãm thời gian theo ý muốn của mình. Thời gian cứ thế ám ảnh, khiến nhà thơ dường như lúc nào cũng thao thức muốn chuyển sự hữu hạn thành vô hạn. Thơ Mai Văn Phấn thể hiện khao khát làm sao để không có sự tàn phá của thời gian lạnh lùng, không có nỗi phiền muộn của con người bởi khả năng phá hủy sắc đẹp, tuổi trẻ và nhiều thứ quý giá khác do thời gian gây ra. (Bát nước và tôi màu trắng/ Mặt đất ngả vàng/ Cánh đồng phía trước/ Cùng chiếc chuông/ Vàng sậm – Tĩnh lặng, Muôn pháp về một, một đi về đâu? – CÔNG ÁN THIỀN). Con người cần giác tỉnh vô thường trong cái hữu hạn thân như ánh chớp có rồi không -Thiền sư Vạn Hạnh; đời người qua nhanh như ba sinh thấm thoắt như ngọn đuốc trước gió – Tuệ Trung Thượng Sĩ. Sinh mệnh con người như chỉ trong giấc mộng, đừng mơ màng, khát vọng hưởng thọ trăm năm – Ý của Trần Thái Tông. Con người có cảm giác sợ hãi khi thời gian cứ trôi chảy, sinh mệnh con người theo đó mà lụi tàn. Không chỉ thân sắc bị hủy hoại trong hư không, (thân như bóng chớp có rồi không), vỡ tan như bóng nước mà tâm thức cũng trở nên u tối như quỷ ám của kiếp người. Vì thế các thi sĩ thường diễn đạt cảm thức về thời gian bị thu ngắn lại trong thơ qua những hình ảnh sinh động từ các biểu tượng. Nếu xét từ thuyết luân hồi nghiệp báo, thân mệnh con người không dừng lại đó. Thời gian cũng chịu quy luật tuần hoàn theo chu kỳ Âm dương khiên đức bản tiên nhân (Âm dương hoạ phúc vốn xoay vần). Mai Văn Phấn hiểu rõ rằng, chính trong cái thịnh suy mà con người giác ngộ luôn có những rung động trực cảm và có thể có những thăng hoa nghệ thuật sẽ để lại cho đời mãi mãi. Đó là sự hiện thể của tốc độ thời gian vận hành qua các cá thể, qua mỗi sát – na, con người phải trở lại để đối diện, tĩnh lặng trước những thăng trầm được và mất của thế gian. (Ánh sáng trên trang sách/ Thu thế giới/ Và tôi/ Thành một – Tĩnh lặng, Muôn pháp về một, một đi về đâu? – CÔNG ÁN THIỀN). Tại những phút tĩnh lặng nhất của tâm hồn, tâm thức con người được mở rộng, được tiếp cận cái vô hạn bao la của trời đất, trong cái tĩnh lặng của hư không, thời gian có thể nhập vào giác tính con  người. Khi ý thức con người đã được giác ngộ, đối diện với những khoảng tâm thức tĩnh lặng, đời sống tinh thần sẽ được tham gia vào những chuyến du hành tâm tưởng thú vị. Thơ Mai Văn Phấn vì thế đã góp phần giúp người đọc hiểu rõ các giá trị tư tưởng thẩm mỹ của nghệ thuật đích thực luôn có giá trị trường tồn vững bền theo thời gian.
3. Đối thoại với thời gian
Thời gian và sự biến đổi của vũ trụ, của thế giới luôn là vấn đề quan trọng được các thi sĩ quan tâm. Bản chất của đối thoại là hỏi, nghe, trả lời, đồng ý. Con người khi đã ra đi nhưng những cuộc đối thoại có ý nghĩa với đời sẽ luôn ở lại. Mỗi nhà thơ đều trải nghiệm, đối thoại với thời gian theo cách của mình. Trong hành trình đi tìm cái không thể nhìn thấy, các thi sĩ thường bị ngăn cách với thời gian, với thế giới về mặt ý hướng, mục đích và sự hiểu biết. Bức tường ngăn cách bất khả thấu của thời gian vừa thử thách họ, vừa gọi mời họ đối thoại, vừa khuyến khích họ tìm cách vượt qua. Thời gian với nhà thơ Mai Văn Phấn không chỉ là thực tại khách quan mà còn là sự  hiện diện của một thứ quyền uy huyền bí vượt trên mọi danh xưng hiện hữu. Nỗi sợ phải chết, nỗi cô đơn và bất lực của con người trước quy luật thời gian luôn song hành với con người trong khát vọng trở thành bất tử. Kể cả khi chết đi rồi con người vẫn chưa thôi trực tiếp đối mặt với những đau thương ai oán của thời gian kiếp người. Nhà thơ tự do sống trong thời gian sáng tạo nhưng thời gian của vũ trụ vẫn cứ phải luôn tồn sinh bên cạnh họ. Trước các tạo vật dù đều là con chung của Chúa nhưng với những sắc tộc, màu da và chính kiến khác nhau, họ vẫn dành nhiều thời gian Ngày Đêm lãng phí để tìm cách hủy diệt lẫn nhau. Máu xương, tội ác vung vãi khắp địa cầu dù bao nhiêu đại hồng thủy có kéo đến cũng không quét trôi hết được. Tội ác loài người kiên trì hiện hữu trước thời gian. Thời gian còn là kẻ xấu xa dám hủy diệt những thi vật xinh đẹp mà vũ trụ tạo dựng. Thời gian cũng giúp nhà thơ bừng ngộ trước vẻ đẹp vĩnh cửu của thi ca. Trong thơ Mai Văn Phấn có phải thời gian cũng là một thực tại huyền bí thách thức tâm cảm của người đọc?
(Không gọi được ai, lạc vào ai
 Rượu hút cạn
Ngón tay rỗng buốt
Nín thở nghe nước xiết
Phơi khô ươn ái sông dài
Chảy qua thân
Nặng trĩu bờ vai rậm rịch
Bước chân hốc mắt đi tìm
Oan khiên con đò tự vẫn
Dâng ngang ngực
Nước mắt lửa kéo cày
Hoàng hôn chất ngất hạt giống
Sương giăng dài cơn mơ
(Đối thoại với thời gian)..
Ta chỉ có thể cảm nhận được tinh chất của thời gian khi đang sống đẹp và không thể hình dung hết bản tính của thời gian khi con người không còn khả năng để sáng tạo, để nối kết với thế giới quanh mình nữa. Có phải đã đến lúc con người cũng cần đối thoại với thời gian như là một cách để tìm về nơi trú ẩn của tâm hồn? Thế gian đang ngập tràn nước mắt, biển cả dù mênh mông cũng không chứa hết, là lí do níu giữ con người lại phía sau. Đây là những thông điệp Mai Văn Phấn muốn đối thoại với thời gian. Ba vệt thẫm kéo dài con đường/ Đầu gút cột vào mù tít/ Níu chúng tôi lại phía sau…(lược bớt 3 khổ thơ). Sáng đâm chồi từng vệt/ Tối đâm chồi từng vệt/ Non tơ ngọn tóc / Hút cằn khổ đau/ Đèn vụt lóe cắt không gian thành thửa/ Ánh sáng chảy thông bổn phận. (Đối thoại với thời gian). Nhiều lúc dù không cố ý viết về thời gian nhưng cảm thức thời gian vẫn luôn hiện hữu trong thơ ông. Những câu thơ diễn tả cảm nghiệm về thời gian độc đáo trong các tác phẩm cũng là những điểm nhấn của trò chơi này. (Muôn hạt sương/ Từ đêm tối/ Sóng reo ngoài bãi/ Dồn đại dương/ Đi qua tôi/ Nước thấm vào tôi/ Những cánh đồng/ Dấu chân gặp nhau/ Cây trong vườn vươn dậy – Nước đang chảy qua trái đất); Trong thơ Mai Văn Phấn có quá trình dịch chuyển từ thời gian của nhịp sống thuần nông thôn sang lối sống đô thị trong từng khoảnh khắc. Tâm lí tĩnh tại tiếp nhận thời gian kiểu trung cổ chuyển sang tâm lí âu lo của thời hiện đại xuất hiện trong những tập thơ gần đây của Mai Văn Phấn. Thời gian trong thơ ông phản ánh quan niệm thẩm mĩ lấy chính sự vận hành của cuộc sống con người làm thước đo cho tạo hóa, cho mọi biến đổi, dịch chuyển. Từ những kết hợp từ lạ, Mai Văn Phấn đã cho người đọc thấy rõ uy lực của thời gian luôn thường trực trong mỗi khoảnh khắc biến đổi của đời sống. Đó có thể là thời gian tàn phá sinh thái, là sự hủy diệt kinh khủng đến cả những sinh vật đẹp đẽ nhất vốn được tạo hóa mang lại. Thời gian mang đến tuổi già, cái chết, sự vô tình lãng quên khắc nghiệt của con người. Bản thân thời gian cũng chính là chủ thể đối thoại với cuộc sống của hiện tại. Thời gian là sự “có mặt” của tác giả trong mỗi khoảnh khắc biến chuyển của vũ trụ: Bây giờ mưa phùn, Người cùng thời, Thời tái chế,… Tiếng thở dài bay đi lớp bụi thời gian, ta sửng sốt thấy hồn vía tổ tiên trong nét hoa văn đình làng, trống đồng, ngọn tháp… Những thân phận khóc cười đêm ngày làm kén ở hồn ta… (NGƯỜI CÙNG THỜI). Mai Văn Phấn đã sống với thời gian hiện tại, đo đếm từng nhịp thời gian bằng ngôn từ. Mỗi khoảng lặng của mỗi tập thơ đều thể hiện mỗi khoảng khắc ngậm ngùi nhân văn, sự cô đơn khủng khiếp của con người khi hiểu rõ về giới hạn sự tồn tại. Cuộc sống con người luôn phải chịu những áp lực mạnh mẽ và quyết liệt của trật tự xã hội. Trật tự xã hội bị đảo lộn, hiện thực thế giới đầy rẫy bất an kéo theo đó là sự hoang mang, lo lắng của mỗi người. Sống trong đó, con người luôn có những khát khao cháy bỏng. Họ khát khao được thoát ly khỏi cuộc sống hiện tại, khát khao được sống là chính mình, được hòa hợp với tự nhiên… không phải vướng bận bởi những điều vô nghĩa. Ý nghĩa cuộc sống con người như thế không gì khác ngoài sự đam mê hay khao khát mãnh liệt một điều gì đó trong cuộc đời. Một ngày nào đó điều này có khả năng sẽ chế ngự trái tim, linh hồn và thể xác chúng ta. Nó có thể cháy mãi tới khi ta chết. Nếu con người biết trải qua nỗi khao khát, đam mê sâu sắc ấy theo hướng thiện thì họ sẽ không sống vô ích. Nếu hành xử ngược lại, nỗi khao khát, đam mê sâu sắc có thể trở nên độc ác bất nhân ngay cả với chính bản thân mình. Có thể vì điều này mà Mai Văn Phấn đã dành trọn thời gian sống của mình cho tình yêu đời, yêu con người, tận hiến với cái đẹp nghệ thuật. Thơ ông giúp người đọc thức tỉnh sự trân trọng đối với từng giây phút của thời gian sống. Thời gian trong thơ ông không chỉ gắn với một khối thống nhất, tĩnh tại, tuần hoàn, lặp đi lặp lại của thế giới, mà còn được kiến tạo lại với ý thức phải tách mình ra như một cá thể sáng tạo độc lập, có tiếng nói, cảm nhận riêng, có phương pháp biểu đạt riêng. Thời gian có sự tách biệt qua các thời, có sự không đồng nhất giữa con người và vũ trụ. Thời gian vũ trụ chỉ có bốn mùa, thời gian con người biến đổi theo bản năng sống mong muốn luôn được kéo dài thêm. Mai Văn Phấn không cố ý kéo dài thời gian sống sinh học theo ham muốn thực thể sống, ông cố tình lồng ghép vào trong mỗi bài thơ ý thức về thời gian sáng tạo. Ông đối thoại với thời gian, thể hiện sự biết rõ về nó, tìm cách sống nhiều hơn thời gian, nhiều hơn cả không gian theo xúc cảm tâm – linh – hồn của ông. Đọc thơ ông vì thế có thể nhận thấy một sự vật quen thuộc nào đó như chiếc lá, quả hồng, con mèo, con quạ… luôn được ông nối kết với thời gian sống chung của vũ trụ, trong mối tương thông giữa các dân tộc qua bàn tay của người thợ cao tay ngôn ngữ. Ông biết nhìn thời gian hiện hữu như một đứa trẻ ngây thơ luôn có mặt bên cạnh một người lớn khổng lồ, đó là sự tồn vong, hiện hữu của thế giới, của trái đất, của gia đình chung Nhân loại. Chính vì vậy, thời gian trong thơ ông không chỉ là thời gian đặc trưng của lãnh thổ nằm trong vùng nhiệt đới Việt nữa mà còn mang tinh thần của thời đại, có cội nguồn văn hóa cả phương Đông lẫn phương Tây. Thời gian vì vậy mạnh mẽ sinh sôi ban đầu, rồi tàn lụi theo quy luật và lại và hứa hẹn sinh sôi, sống tiếp với các xu hướng đối thoại, tranh luận không cần che giấu trong tâm thức hướng thiện của nhà thơ.
Tôi đau giấc mơ cây cỏ úa vàng, trút xuống từng cơn thiếu máu. Lá khô đưa tôi về một thời mất máu, một thời khinh rẻ máu, một thời gian lận máu, một thời lợi dụng, tụng ca máu. Một vong linh không rõ giới tính đu lên cuống một chiếc lá và xưng danh từng là giọt máu. Ngọn cây và con chim sâu gần đó vội vã lắc đầu, rồi không tranh luận với vong linh ấy nữa – THỜI TÁI CHẾ, Chương II: THẪM ĐỎ.
Thời gian có khả năng góp phần sáng tạo, đồng thời cũng có sức hủy diệt tới không ngờ. Nó góp phần giúp nhà thơ xác nhận đúng đắn hơn giá trị về quyền sống, quyền tự do của con người trong thời đại mới, biểu đạt rõ hơn sức mạnh của tình yêu, của hiện tại và sức cám dỗ của nghệ thuật chân chính. Mai Văn Phấn có cách đối thoại, tranh luận trong vẻ khiêm nhường, hướng về các đối tượng giao tiếp văn bản. Nhà thơ cho người đọc cảm nhận được sự nỗ lực phi thường trong đời sống tâm hồn thi sĩ khi đối diện với những khoảnh khắc thời gian dịch chuyển của vũ trụ. Đây cũng là biểu hiện của một tâm hồn yêu nghệ thuật cháy bỏng đầy suy tư của nhà thơ trong môi trường văn hóa dân tộc Việt Nam hiện đại. Thấu hiểu triết lý vô thường của triết học Phật giáo và sự tồn tại của triết lý Phật giáo bên cạnh Ki tô giáo và các thuyết giáo liên quan đến vận mệnh con người, Mai Văn Phấn thể nghiệm thời gian nghệ thuật khá sinh động. Trong thơ ông, thời gian hiện thực của trần thế vốn vô cùng ngắn ngủi và chớp nhoáng, trôi nhanh, hối hả, luôn được gắn liền với các sự kiện mà con người nỗ lực để hoàn thành. Ông đã tìm cách chiếm lĩnh nó để sáng tạo ra một kiểu thời gian, một thước đo thời gian mới theo cách của nhà thơ, đó là thời gian hy vọng thực hiện được hạnh nguyện làm người trong xã hội. (Giọt máu ấy bây giờ có hình hạt sương mang ánh sao khuya, giọt mưa trong lành buổi sớm, vệt nước cam em bé vừa uống lỡ rớt xuống cằm. Nước mắt đọng trong khóe mắt đợi chờ, hy vọng – THỜI TÁI CHẾ, Chương II: THẪM ĐỎ). Nhà thơ đã cảm nhận, đã hy vọng, đã tìm cách mô tả về con người qua mục đích, hành động thực tiễn để chuyển hóa thân phận khổ đau của loài người. Bằng cách này, dường như Mai Văn Phấn đã đi cùng nhịp đập thời gian của cuộc sống. Thời gian trong thơ ông vì thế có khi được tái hiện thông qua việc quy về thời gian sự kiện, thể hiện ít nhiều tính liên tục của nó; có hệ thời gian đủ cả ngày tháng năm, có lúc còn được tính bằng sát-na. Thời gian được tính bằng sát-na giúp người đọc liên tưởng đến những sự kiện có liên quan trong sinh hoạt bình thường của con người trong thực tại. Nếu con người cứ mải mê vọng trần, thời gian theo đó có thể hủy diệt tất cả (Sát – na). Sự hệ luỵ của con người là do vọng niệm khởi lên trong một sát-na. Trong khoảnh khắc đó, con người dễ trượt ra ngoài tầm kiểm soát của ý thức, dẫn đến các hành động gây khổ đau cho chính mình và xã hội. Mai Văn Phấn muốn người đọc hiểu thêm rằng con người nguyên nó đã luôn bị trói buộc từng giờ, từng phút qua các không gian sinh hoạt chật hẹp, nên nhà thơ đã không đơn giản mô tả hay liệt kê lại những thời khắc của các sự kiện, mà luôn đặt chúng trong một không gian chung với Thế giới con người tương thông. (Thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch/ quay về tắm bằng ngọn đèn/ thử đưa bờ vai về phía ánh sáng – Tắm đầu năm).
Đến đây có thể lý giải được vì sao trong cuộc đối thoại ấy, Mai Văn Phấn có nhiều đối thoại hay với thời gian Đêm. Đêm, khởi điểm của một ngày gắn liền biết bao câu chuyện, bao vụ việc, và cả những hồi tưởng thường có thói tật thức dậy trong đêm. Đêm là khởi điểm của thời gian tâm trạng rõ nét của nhà thơ. Trong những thời khắc ấy, con người như tự đối thoại/ tự thú với những nghiệp nhân, nghiệp quả do bản thân tạo ra trong đời sống. Khi không gian như đi vào tĩnh lặng thì tâm trạng con người càng cố vận động để đối thoại với cô đơn. (Rửa mặt trong bóng tối: Nghe họa mi hót/ Thấy mặt mình/ Sạch hơn). Đêm dài cứ trôi qua mà nhà thơ thì chưa thực hiện xong  tâm nguyện của mình với cuộc đời. (Sông đêm: Chảy qua làng/ Giấc mơ/ Đọng phù sa). Phật giáo quan niệm thời gian như một dòng chảy liên tục, con người sống theo bản năng dễ bị cuốn hút theo dòng chảy đó. Thời gian là một sự vận động vô thủy vô chung của luân hồi và nghiệp báo. Con người ngụp lặn, khổ đau trong những chu lưu đó với vô lượng kiếp. Mỗi kiếp là một chu kỳ sinh, lão, bệnh, tử. Kiếp này tạo nhân, kiếp sau thọ quả, có khi nhân quả cùng thời trong một kiếp. Thời gian của một đời người chỉ là một sát-na trong dòng chảy sinh tử luân hồi. Con người cứ thế ngây thơ bị thời gian cuốn trôi mãi với các nghiệp chướng. Nếu thân mạng người mất đi, muôn kiếp chỉ trở lại tùy theo duyên nghiệp mình tự tạo ra khi còn sống. Thời gian theo quan niệm này vận động theo nghiệp nhân quả. Đọc hết các tập thơ của Mai Văn Phấn, chúng ta sẽ nhận ra quy luật vận động thời gian luân chuyển tuần hoàn này tác động mạnh đến đời sống tâm hồn con người như thế nào. Đọa lạc hay thăng hoa của mỗi người là do chính bản thân ta quyết định. Khi tâm và thân ra khỏi vùng tâm lý không hệ luỵ sáu trần thì sẽ có cơ hội đến với thế giới chân như. Đó chính thời gian để con người sống với thế giới đại quang minh của từ bi và trí tuệ. Sự chuyển hóa này khiến con người thoát ly sinh tử, không sợ hãi trước chân trời của cái chết mà tìm cách sống có nghĩa như là một phương pháp kéo dài thời gian sống; xem cái chết cũng như là một nghệ thuật sống khác. Thời gian của sáng tạo nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn vì thế trở thành thời gian vĩnh hằng của tự do vô giới hạn, do tâm thức đạt đạo vận hành trong ý thức, không ai kiểm soát được. Đó là một phương tiện phản ánh hiện thực của nhà thơ, nơi ông đã sống, đã luôn có ý hướng với nó trong tư thế đối thoại, dự cảm đến tương lai. Đối thoại với thời gian, như một cách đối thoại với tư duy các hệ hình tư tưởng tôn giáo, Mai Văn Phấn đã tạo sinh một thế giới sống mới trong thơ. Nơi ấy, con người tồn tại trong thời gian hiện thực và luôn chuyển hóa song song thành thời gian sáng tạo nghệ thuật.
Có lúc Mai Văn Phấn tự thấy thơ cứ đến, chơi với nhà thơ bất kỳ lúc nào, có khi ông còn mơ thấy nó, tỉnh dậy chép lại. Ông làm thơ có căn, như căn đồng. Xét riêng với cảm thức thời gian, Mai Văn Phấn như đang chơi trò cá cược. Thực chất, cá cược không phải là bản chất của trò chơi. Nhưng những người biết cá cược đều là những kẻ đam mê, tận hiến; một số ít trong đó là những “tay chơi” sành điệu, lịch lãm. Đam mê đến nỗi có khi quên cả bản thân, dám đánh cược tất cả tài sản của mình cho trò chơi mình yêu thích. Chơi như “nghiện”! Thơ Mai Văn Phấn có sự đam mê “khủng khiếp” ấy! Ông trải nghiệm thời gian đúng nghĩa xét về mặt nghệ thuật cũng như trong đời sống thực tiễn, như một người thợ cao tay ngôn ngữ không giống ai. Mỗi bài thơ thời gian của Mai Văn Phấn như một cú gieo súc sắc về mặt hình thức bên ngoài nhưng bên trong nó, xét về mặt bản chất thì đó là quá trình dịch chuyển của thời gian từ đơn tuyến đến đa tuyến. Trong trò chơi của ông, hoàn toàn không phải là để khẳng định ngẫu nhiên, mà để góp phần chia nhỏ trò chơi thành những khả năng, tạo tiền đề cho cuộc sống con người. Vì thế, sẽ là vô ích khi tự hỏi rằng liệu đây có phải là cách biểu đạt ý nghĩa thần học, triết học hay chỉ là sự biện giải cho các hệ tư tưởng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn? Vì thơ xét về khả năng tồn tại và sự tồn tại thực thể của ông không liên quan mấy đến sự tồn tại hay không tồn tại của Chúa hay của Phật! Trò chơi của ông vì vậy mang tính nhân loại. Nó cũng là một trong những phương pháp đề cập tới hai cách thức tồn tại của con người. Các thế chơi phải lựa chọn này của Mai Văn Phấn gắn bó mật thiết với những dấu hiệu của lý tưởng khổ hạnh ở Con người! Và trong thực tiễn xã hội đang cuống cuồng làm tiền, chơi tiền, thì làm thơ, chơi thơ theo cách của thi sĩ tài năng này là đáng nể trọng. Mai Văn Phấn có lí do khi ông tham gia trò chơi này một cách kiên trì, nhẫn nại nhưng đầy đam mê kiêu hãnh, đầy thử thách, như hòn đá thử vàng!
Tài liệu tham khảo:
[1]. Mai Thị Liên Giang, Thi sĩ và những điều có thể, Tạp chí Sông Hương, số 218, 2007;
[2]. Mai Thị Liên Giang, An trú miền đọc, NXB Hội nhà văn, 2018, tr.24;
[3]. Gilles Deleuze, Nietzsche và triết học, NXB Tri thức, 2013.
Quảng Bình, 23/10/2019
Mai Thị Liên Giang
Nguồn: Tạp chí Dạy và Học ngày nay, kỳ 2-11/2019
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường Tiếng “cây” trong ngôn ngữ Việt Nam khi dùng theo nghĩa bóng là chỉ các bậc tài nghệ trong nghề. Cây làm bàn, ...