VĂN THƠ NHẠC
Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026
Một cõi đi về
Một cõi đi về
Năm 1966, Nhà Xuất Bản
An Tiêm ấn hành ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn: “Thần Thoại Quê Hương -
Tình Yêu Và Thân Phận“, những ca khúc trong tác phẩm nầy được anh ôm đàn hát ở
Viện Đại Học - Huế.
Thủa ấy Trịnh Công Sơn thích lặng lẽ một mình tìm đến quán cà phê Tuyết - Nhung, Phi Điệp ngồi bến ly cà phê đen với khói thuốc, ông thường vào quán không chào ai, hỏi ai, chỉ tìm một bàn vắng nhìn trời, nhìn đất, cảm xúc với cuộc đời. Về lâu, về lâu, Thành Đầu Bò thấy ông nầy cứ một mình xuất hiện mãi đâm gai mắt. Bữa nọ Đại Ca Thay của đất Bình Định sai đàn em đến lột cặp kính ông đang đeo, không biết ông Sơn khi ấy phản ứng thế nào, có lẽ ông lặng lẽ bỏ ly cà phê còn bốc khói bước ra khỏi quán.
Trong hồi ký của anh Lê Đức Liêm, anh nhớ lại:
Tản mạn về con đường đẹp nhất, sang nhất Sài Gòn xưa
Tản mạn về con đường
đẹp nhất, sang nhất Sài Gòn xưa
1. Xưa nay, đường Tự Do (tên
hiện nay là Đồng Khởi) ở khu trung tâm Quận 1 Sài Gòn dù chỉ là một con đường
ngắn và hẹp nhưng vẫn được tiếng là con đường đẹp nhất, sang nhất, đông người
nước ngoài nhất thành phố Sài Gòn xa xưa và cũng có thể nói như thế về quãng thời
gian sau tháng 4-75 cho đến nay.
Vừa qua, trên trang
trithucvn.net., trong bút ký tựa là “Văn hóa không tên tạo nên linh hồn của Sài
Gòn xưa”, nhà văn Văn Quang đã ghi nhận trên con đường Tự Do đẹp, sang ấy
lại có một chuỗi 3 nhà hàng/quán cà phê là La Pagode, Givral, Brodard đã tỏ lộ
cái hồn văn hóa đầy sức sống tự tại của Sài Gòn xưa.
Văn Quang kể:
“Nói đến La Pagode,
Givral, Brodard… chắc chắn những người đã từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa
ai quên.Nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi
trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân,
công tư chức làm việc tại “thủ đô miền Nam” và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên
60-75 cũng hay lui tới nơi này.”
Và:
“Ba nhà hàng ấy là 3 sắc
thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn,
khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.”
Khi nói về 3 “đệ nhất”
nhà hàng/quán cà phê trên đường Tự Do xưa, nhà văn Văn Quang đã nêu những nhận
xét thật sâu sắc, thấu đáo vào phần hồn văn hóa cố cựu của Sài Gòn, chứ không
bám vào phần vỏ kinh tế bên ngoài của Sài Gòn, mặc dù trải qua các chế độ khác
nhau, thành phố này luôn ở đỉnh cao phồn vinh nhất Việt Nam. Cũng cách nhận xét
ấy đã cho thấy trong giới văn nghệ sĩ đất Sài Gòn cũ, tác giả cuốn tiểu thuyết
‘Đời chưa trang điểm’ quả là một đàn anh, một ‘chuyên gia’ về khoản lê la cà
phê bia bọt, tán dóc quán xá vỉa hè, trước là giải trí /sau là lấy thông tin…
2. Theo chọn lựa của Văn
Quang, được nhắc trước tiên là nhà hàng La Pagode, nằm ở ngã tư Tự Do – Lê
Thánh Tôn. Tên gọi tếu ‘Cái chùa’ (nghĩa tiếng Việt của từ ‘la
pagode’ tiếng Pháp) cũng khá thông dụng.
Nhà văn Văn Quang kể:
“Trước hết phải kể đến
nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất.Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới
biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết
La Pagode. Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo
lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng
đãng.Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt.”
Đúng là một nhà hàng “cổ
kính” khi từ bàn ghế, màu da bọc ghế cho đến quầy, kệ nội thất đều có màu chủ đạo
là nâu hay đen, rõ hơn là các gam màu tối, cũ kỹ, lâu đời. Riêng về các mặt
vách bằng kính thật dày cho phép khách nhìn ngắm đường phố, điều hay ho nữa là
loại vách này ngăn được phần lớn tiếng động, tiếng xe cộ ồn ào bên ngoài. Như
khi trời mưa lớn, bên ngoài ướt át, lạnh lẽo, sấm chớp rền vang…, nhưng bên
trong quán, nhờ các vách kính dày, khách ngồi nhâm nhi tách cà phê hay tách trà
lipton chanh nóng (món uống rất thường được khách gọi) thì vô cùng ấm áp, khô
ráo, và có ồn ào gì đó là do tiếng tranh cãi, cười nói từ các bàn bên cạnh.
Văn Quang viết tiếp:
“Khách hàng của La Pagode
hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ.Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là
tụ tập lại đây.Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi
cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa,
Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang
Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ,
Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết.”
Ngoài giới văn nghệ sĩ
‘khách quen’ như trên, tất nhiên trong La Pagode còn thường có một số khách
khác, như khách du lịch quốc tế, quân nhân, công tư chức và các bạn trẻ. Có điều
là, như một nhà văn đã ghi nhận, cũng lai rai có hiện tượng ‘làm dáng trí thức’,
như trên tay một số khách vào quán thường lấp ló những đầu sách – cả nguyên bản
lẫn sách dịch – đang hot, đang gây nhiều tranh cải thời ấy, như ‘Hố
thẳm của tư tưởng’ của Phạm Công Thiện, ‘Tropic of cancer’ của Henri Miller,
‘Zen Buddhism’ của D.T.Suzuki, ‘Dịch hạch’ (tiếng Pháp: La Peste) của Albert
Camus… Hay ít ra cũng là những tạp chí, tuần báo, nguyệt san Anh ngữ, Pháp ngữ
thời danh như Times, Newsweek, L’Express, Salut Les Copains… mà có lẽ người ta
vừa mua ở Book Shop, tiệm chuyên bán sách báo ngoại quốc gần ngã tư Tự Do – Nguyễn Văn Thinh, tức cách La Pagode chừng 400m.
Kế tiếp là nhà hàng
Givral, cũng 2 mặt tiền toàn vách kính, nằm ở ngã tư Tự Do – Lê Lợi, thuộc hành
lang Eden (tiếng Pháp: passage Eden). Từ ‘hành lang’ nghe không qui mô,
không bề thế bằng từ ‘thương xá’ – như thương xá Tax gần đó – nhưng khi
phục hiện cái không khí văn hóa phong phú, đặc sắc của Sài Gòn, Văn Quang đi
sâu vào một chi tiết đặc biệt, rằng trong khu Eden có một hiệu sách nổi tiếng
hàng đầu Sài Gòn cũ, không kém cạnh nhà sách Khai Trí bên đường Lê Lợi chút
nào, đó là nhà sách Xuân Thu. Xuân Thu nổi tiếng về các đầu sách ngoại văn (nhất
là sách nghiên cứu văn hóa – văn minh Pháp và sách giáo khoa chương trình phổ
thông trường Pháp) mà giới trí thức, nhà giáo, sinh viên Sài Gòn thời ấy khi cần
là có thể đến lục tìm, hay đặt cho nhà sách mua dùm từ châu Âu, châu Mỹ.
Hơn thế, giới ‘chữ nghĩa’
ở Sài Gòn đã không khỏi ngưỡng mộ khi nhìn lên lầu 2 nhà sách Xuân Thu,
nơi khoa chính trị kinh doanh (Science politique) của đại học Đà Lạt tổ chức lớp
cao học ‘Science-po.’, ngành học nâng cao à la mode nhất của giới SV
đã xong cử nhân một số ngành về khoa học nhân văn tại Việt Nam vào thời từ 1970
trở đi.
Văn Quang viết:
“Givral là một địa điểm
trung tâm thành phố, rất thuận tiện cho mọi việc, từ hẹn hò, mua sắm vài thứ, đợi
giờ vào rạp chiếu phim, hoặc chỉ đi “bát phố”(… ). Hơn thế, thương hiệu bánh ngọt
Gival rất nổi tiếng, thu hút nhiều khách sành ăn. Mấy bà đi ngang qua Lê Lợi –
Tự Do ghé vào mua vài cái bánh mang về cho chồng con là chuyện bình thường.”
Cũng phải, dân Sài Gòn ưa
ăn bánh Givral bởi nét tao nhã, tinh tế của nền văn hóa ẩm thực Pháp đã tồn tại
gần 60 năm tại VN.Givral nổi tiếng với dòng bánh tươi, không dùng chất bảo quản
và chất phụ gia độc hại hay không có lợi cho sức khỏe. Và “cái hậu” tốt đẹp của
dòng bánh lành, sạch này là là ‘phiên bản’ sau tháng 4-75 mang tên ‘Công ty Cổ
phần Bánh Givral’, khá có tiếng là bánh ngon, tuy giá cả khá cao chứ không bình
dân, với lò sản xuất bánh hiện ở khu công nghiệp Tân Bình, phường Tây Thạnh, Q.
Tân Phú, Tp HCM.
Cuối cùng là về nhà hàng
Brodard, Văn Quang ghi nhận:
“Còn nhà hàng Brodard nằm
ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường
(…). Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”.
Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như
Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine
cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không
nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để
chở các em đi ăn đêm.”
Như thế, thành phần khách
đến Brodard có tính chất một đại chúng rất đời thường, nặng về bề ngoài vật chất.Dân
đến đây không khỏi ít nhiều có thái độ khoe mẽ về sự giàu có, khả năng mua
vui, hưởng thụ cuộc đời của mình. So với Givral và La Pagode – nhất là so
với La Pagode, nơi ‘đóng đô’ thường xuyên của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo,
nghệ sĩ trình diễn… – Brodard có vẻ ít chất văn nghệ, chữ nghĩa hơn.
Theo một ông công chức
làm việc ở Phòng Thương mại Sài Gòn (nằm ở phía cuối đường Tự Do, cách Brodard
chừng 300m), từng nhiều năm thường cùng các đồng nghiệp và gia đình vào
Brodard ăn uống, ngắm phố phường thì với cách trang trí dùng nhiều màu sáng,
nhà hàng này giống một tiệm kem, một tiệm bánh ngọt, một quán giải khát hơn là
một quán cà phê đúng nghĩa dành cho dân ghiền cà phê “chuyên nghiệp”. Tính chất
hiền lành, ngọt ngào – thay vì đắng chát như vị cà phê – càng tỏa lan trong bầu
không khí yên tĩnh của Brodard qua một kiểu phục vụ bánh ngọt rất đặc biệt.
Khách cứ ngồi tại bàn mà lên tiếng hay ra dấu, nhân viên nhà hàng sẽ mang đến tận
bàn một khay lớn bày rất nhiều bánh ngọt, bánh kem kiểu Pháp, như
bánh choux, Polonais, mille feuilles… để khách chọn. Như các cô khách, cậu
khách nhí, sau khi được ba mẹ gật đầu, sẽ sướng rơn khi cứ thoải mái chỉ
vào khay, ngay cái bánh mình thích là bánh sẽ được lấy bỏ vào đĩa nhỏ, dọn ra
trước mặt mình…
3. Ngày xưa, từ danh từ
riêng ‘Catinat’ nguyên thủy do người Pháp dùng đặt tên cho đường Tự Do, học
sinh các trường Tây ở Sài Gòn thời 1960-70 thường kháo nhau động từ chế‘catinater’,
có nghĩa là ‘dạo chơi đường Catinat” và tương tự là ‘bonarder’, nghĩa ‘dạo
chơi đường Nguyễn Huệ’ bởi tên Tây của đại lộ này là Bonard. Càng tếu hơn
là nếu ‘catinater’và ‘bonarder’ nhiều quá, coi chừng bị…
‘déxiquachté’ (hết xí quách!).
Thêm một từ chế rất
thú vị nữa là ‘radio Catinat’, chỉ những thông tin đủ loại phát ra từ những ‘cư
dân’ thường xuyên tụ tập tại La Pagode, Givral và Brodard, gồm giới văn nghệ
sĩ, báo chí và một số chính trị gia. Văn Quang đã phân tích:
“Thật sự cái nhu cầu
chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời
sự chính trị cho vui thôi. Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa
không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio
Catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy
nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những
nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio
Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó.”
Nhìn chung, ngoài 3 nhà
hàng/cà phê La Pagode, Givral và Brodard, đường Tự Do càng hào nhoáng, đẹp đẽ
hơn khi còn có quán Cafetaria Disco với nhạc pop rock mới nhất, phát bằng
discothèque hiện đại nhất thời đó, rồi các phòng trà Tự Do, Maxim’s hoành tráng
và Đêm Màu Hồng diễm ảo, chưa kể nằm 2 bên trụ sở Quốc hội/Hạ nghị viên là
khách sạn Continental Palace với phong cách rất Tây và khách sạn Caravelle cao
nhất nhì Sài Gòn thời 60, cùng khách sạn Majestic (ở cuối đường, nhìn ra bến Bạch
Đằng, sông Sài Gòn), cả ba đều có đại sảnh cực kỳ tráng lệ, sang trọng. Ở nhiều
vị trí dù lộ thiên hay sát bên quầy rượu, khách ngồi ghế mây, ghế bành nhâm nhi
cà phê hay bia lạnh đều có view nhìn ra các góc phố thật đẹp mắt. Riêng ban
đêm, phố Tự Do trở nên lung linh, đẹp rực rỡ với ánh sáng đèn đóm đủ màu.
Còn vào buổi chiều nào
đó, khi có cơn mưa nhỏ, đường Tự Do/Catinat của Sài Gòn chợt lãng đãng một vẻ đẹp
cổ điển, đầy sức quyến rũ, khiến những ai vốn thích loại phim chiến tranh –
tình cảm – tâm lý không khỏi liên tưởng đến hình ảnh thủ đô Sài Gòn xưa,
cũ trong cuốn phim Mỹ tựa ‘Người Mỹ trầm lặng’(The quiet American), sản xuất
năm 2002, chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của Graham Greene, nhà văn
Anh, viết năm 1951 với bối cảnh cuộc chiến tranh Việt Nam/ Đông Dương…
12/2/2019
Phạm Nga
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Vài kỷ niệm với văn nghệ sĩ tôi quen biết
... Vài kỷ niệm với
văn nghệ sĩ tôi quen biết
Sau năm 1975 đời sống bị
xáo trộn, gia đình tôi lâm vào hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn, tôi đem tủ sách
nhà ra trải tấm bạt ở vỉa hè đường Lê Lợi để bán, tại đây tình cờ tôi gặp các
thầy học cũ cũng ra đây bán sách như tôi: thầy N. thầy VC, thầy L.L.Y. Thầy
trò gặp nhau trong hoàn cảnh như vậy, tôi mừng mừng, tủi tủi, nghe lòng
rưng rức một nỗi xót xa …
Chợ sách tự phát dọc
đường Lê Lợi tồn tại không được bao lâu thì nhà nước dồn vào con đường Đặng
thị Nhu sau hãng máy may Sinco, một con đường vắng vẻ của Saigon. Tôi
chán nản về đóng một chiếc xe giống như xe hủtiếu để bán trước cổng
nhà và cũng để tiện bề chạy trốn khi bị đuổi.
Một
buổi sáng, Đoàn thạch Biền đến thăm tôi, cùng đi với anh có một người đàn ông đứng
tuổi, tầm thước, đểhàng ria mép rậm trongt6 rất ngầu. Đoàn thạch Biền giới thiệu
là Mường Mán, anh chững chạc, ít nói, chỉ nói khi cần thiết và khi có người nào
hỏi.
Trông anh không giống một
chút nào với Mường Mán mà tôi đã mường tượng lúc chưa gặp mặt. Đọc
anh, tôi gặp một Mường Mán nho nhã, thư sinh, qua những bài viết thơ mộng, mượt
mà, hợp với tâm trạng tuổi trẻ lúc bấy giờ chứ không phải “rừng rú” như bút hiệu
“ngồ ngộ” của anh, âu cũng là điều thú vị giữa văn thơ và người viết.
Khi tờ Áo
Trắng ra đời, Đoàn thạch Biền đến kêu tôi về phụ anh một tay trong khâu
thực hiện. Ban biên tập gồm : Đoàn thạch Biền, Đinh tiến Luyện, Đỗ trung Quân,
sau này có Mường Mán. ‘Tòa soạn” được anh Lê Hoàng cho “tạm trú” tại NXB(Nhà xuấtbản)
Trẻ. Biên tập Áo Trắng là một nữ biên tập viên trẻ trung, xinh đẹp của Nhà xuất
bản, cô Trần Hữu Khánh. Hầu như tất cà sách của Nguyễn nhật Ánh xuất bản tại
đây đều do cô biên tập. Ngoài công việc biên tập cô còn là dịch giả nhiều tác
phẩm nổi tiếng do Nhà Xuất bản Trẻ phát hành.
Một buổi
trưa Nhà Xuất bản tổ chức sinh nhật cho cô, ngồi làm việc tôi để ý thấy
chút chút lại có người mang quà đến gởi, tôi lặng lẽ ra chợ Bến Thành lựa một
giỏ hoa thật đẹp mang về tặng như món quà Áo Trắng gởi cô rồi chuẩn bị ra về. Bỗng
Khánh nói như ra lệnh :
- Anh đứng đó, chưa được
về đâu.
Rồi cô quay lại nói với
các biên tập viên đang ngồi gần :
- Ông này nhát gan lắm,
phải làm cho ổng sợ.
Tôi chẳng biết chuyện gì
sẽ xảy ra thì Khánh đến gần ôm hôn tôi một cái làm chân tay tôi run lập cập.
Bây giò nhớ lại thấy thật
tiếc, tự hỏi tại sao lúc đó mình không biết ôm hôn lại?
Tại đây có một “ căn tin”
lợp tôn thấp lè tè do con gái anh Phạm chu Sa đứng bán. Nhờ khoảng sân khá rộng,
sát vách báo Tuổi trẻ và báo Phụ nữ nên là nơi tập trung nhiều phóng
viên, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ tới đây trao đổi, lấy tin, tán dóc
rất ồn ào.
Bảo vệ NXB Trẻ là
một phụ nữ, chị Định. Chị vui tính và đặc biệt là hầu như chị quen mặt, biết
tên tất cả các phóng viên cũng như những người hay ra vào căn tin trong khuôn
viên Nhà xuất bản
Một buổi
sáng, khi tôi vừa đến thì thấy chị đứng khóc trước cổng, cùng lúc đó có Bùi
Giáng mang bị, đeo đồ lỉnh kỉnh trên người vung gậy đi tới. Ông ngạc nhiên dừng
lại hỏi thăm, khi biết chị Định vừa bị mất chiếc xe đạp, ông lặng lẽ ngồi xuống,
mở bị lấy gói Basto, lột vỏ bao thuốc làm giấy, mượn tôi cây bút viết gì đó rồi
trao cho chị Định, chị mếu máo cầm tờ giấy đưa lại cho tôi, trước cảnh tượng
như vậy tôi không biết làm gì hơn là đọc cho chị nghe hai câu thơ của Bùi Giáng
vừa làm tặng chị :
“Bài thơ gởi tặng chị
hai
Người còn thì của
lai rai vẫn còn”
Khi tôi quay lại tìm Bùi
Giáng thì ông đã đi xa rồi, đang vung gậy múa may phía trước.
Sài gòn là một
thành phố sôi động, người tứ xứ dổ về đây mưu sinh đủ mọi thành phần, đường phố
lúc nào cũng kẹt xe, người ta chen lấn lưu thông tất bật, hối hả trên mọi nẻo
đường, nhưng với Bùi Giáng thì ông không hề bị ảnh hưởng chút nào, ông
xem thế giới ta bà này như một cõi để ông đến giải khuây và thưởng ngoạn :
Sài gòn, Chợ lớn rong
chơi.
Đi lên đi xuống
đã đời du côn
Những gì bắt gặp, trông
thấy bên ngoài của một Bùi Giáng như say như tĩnh, như điên đảo ấy còn có một
con người khác, trong một cảnh giới khác, đầy ắp tình người, bao dung và lãng mạn
:
Tuổi thơ em có buồn
nhiều
Hãy xin cứ để
bóng chiều bay qua”
Đọc hai câu
thơ Bùi Giáng tôi rùng mình, khắp người nổi da gà, bỗng dưng tôi nhớ mấy
câu thơ Tố Hữu viết về Nguyễn Du :
Tiếng thơ ai động đất
trời
Nghe như non nước
vọng lời nghìn thu
Thơ ông đã làm lay động
lòng người, rúng động đất trời như một cơn giông bão
Bên chiếc bàn nhỏ sát góc
căn tin có một người đàn ông đứng tuổi ngồi uống bia một mình với bịch đậu phộng
rang, ông đạp xe đến đây đúng giờ và đều đặng mỗi ngày, người đàn ông đó là nhà
văn, dịch giả Trần Phong Giao nhưng anh lại nổi tiếng với vai trò một Thư ký
tòa soạn. Thập niên trước năm 1975 người viết trẻ nào được anh chọn bài đăng
trên Bán nguyệt san VĂN coi như đã bước một chân vào ngưỡng cửa văn học, đó là
điều bất thành văn nhưng người viết nào cũng đều ngầm hiểu như vậy.
Anh ngồi đó nhâm nhi ly
bia trông cô độc như một thiền sư, tôi hay lân la bên anh hỏi chuyện xưa, anh
nói năng từ tốn, nhỏ nhẹ, tôi thích thú
như ngày nào cứ trông chờ
VĂN ra để tìm đọc mục Tin Văn… Vắn Những người xuất hiện trên Văn đa số đều
thành danh và nổi tiếng như ; Y Uyên, Nguyễn Mộng Giác, Kinh Dương Vương, Trần
Hoài Thư, Mường Mán, Ngụy Ngữ, Mang Viên Long, Nguyễn Lệ Uyên, Hạc
Thành Hoa, Vũ Hữu Định, Nguyễn Bạch Dương, Đynh Trầm Ca, Phạm Chu Sa, Nguyễn
Nho Sa Mạc, Nguyễn Đức Sơn, Cao Thoại Châu, Tần Hoài Dạ Vũ, Hoàng Đình Huy
Quan, Phạm Cao Hoàng, Võ Chân Cửu, Đặng Tấn Tới, Yên My, Phạm Ngọc Lư…(dĩ nhiên
trong một bài viết như thế này sự thiếu sót các tên tuổi không làm sao tránh khỏi)
Một buổi trưa giữa tháng
năm, trời nóng như đổ lửa, tôi thấy Đoàn thạch Biền ngồi đọc bản thảo trong căn
tin, mồ hôi nhễ nhại, thỉnh thoảng anh lấy tay quẹt mồ hôi trên trán, dường như
anh để tâm hết vào trong xấp bản thảo, tôi có cảm tưởng anh chẳng hề biết
nóng là gì. Bàn bên cạnh, Nguyễn văn Hiên và Vũ Hoàng đang ngồi uống bia. Nguyễn
văn Hiên lấy giấy viết gì đó đưa cho con gái anh Phạm chu Sa, dường như trên
môi cô bé có thoáng nụ cười, cô bé mang bia và ly đá để trước mặt Đoàn thạch Biền
cùng tờ giấy của Nguyễn văn Hiên vừa trao cho cô lúc nãy, tôi dòm vô đọc ké :
“Một chai cho chú Thạch
Biền
Nói rằng chú Nguyễn văn Hiên tính rồi”
Vừa lúc đó Mường
Mán từtrong NXB.Trẻ bước ra, vẻ mệt mỏi, anh hấp tấp lấy xe, giơ tay chào rồi
chạy thẳng. Tôi nói với Vũ Hoàng và Nguyễn văn Hiên:
- Nghe nói Mường Mán đang chuyển nhà từ Cần thơ về Saigon, chắc vì
vậy nên vội vã.
Nguyễn văn
Hiên khều tôi:
- Hôm nào gặp Mường Mán
nhờ cậu nói là tớ khuyên ông ấy đổi cái bút hiệu, may ra cuộc đời sẽ sáng sủa
hơn.
- Nghĩa là thế nào?
- Làm chủ bao giờ cũng khá hơn… làm mướn
Rồi Nguyễn văn Hiên cười
hề hề :
- Mường Mán là Màn Mướn,
mà màn mướn thì làm sao khá được…hôm nào Mường Mán ở Cần thơ lên cậu nói giúp tớ
như vậy.
Tôi xua tay:
- Nói giúp kiểu này dễ bị ăn đòn, tôi ớn lắm!
- Cậu phải giải
thích và đưa ví dụ cho Mường Mán hiểu..như Vũ Hoàng là Vãng Hù, mà Vãng Hù tức
hủ vàng, nhờ vậy nên Vũ Hoàng mới tậu chiếc Dream mới cáu...đây nè.
Nguyễn văn Hiên vừa
nói vừa cầm chùm chìa khóa bấm một cái, bỗng còi báo động của chiếc xe Vũ Hoàng
kêu lên inh ỏi. Đoàn thạch Biền làm rớt xấp bản thảo xuống đất, quay lại nhìn
chằm chặp vào Nguyễn văn Hiên
- Làm hết hồn…
Vũ Hoàng, Nguyễn văn Hiên
là nhạc sĩ trong nhóm “ Những người bạn”, Nguyễn văn Hiên tính tình phóng
khoáng, hào sảng, tôi gọi anh là “chuyên gia nói lái”. Nói lái như Nguyễn
văn Hiên là kiểu nói lái mà Vũ Đức Sao Biển gọi là nói lái “trời sầu đất thảm”.Khi
Trịnh Công Sơn và Từ Huy mất, nhómNhững người bạn” cũng tan rã.
Góp ý vui của Nguyễn văn
Hiên cho Mường Mán không ngờ như một lời tiên tri.Hiện giờ Mường Mán làm chủ một
nhà hàng nổi tiếng ở Phú Nhuận.Đó là nhà hàng Ruốc. Nhà hàng của anh chuyên về ẩm
thực truyền thống Huế
Buổi chiều cuối năm, bộ mặt
Sài gòn bỗng dưng thay đổi, đường phố thênh thang, xe cộ thưa thớt. Sài gòn như
một người quanh năm tất bật giờ được nghỉ ngơi.Tôi và em tôi đến nhà hàng Ruốc
vào buổi chiều ngày cuối năm lúc trời còn những vạt nắng sót lại trên những tòa
cao ốc. Anh em tôi mỗi năm găp nhau có một lần, anh Mường Mán đưa chúng tôi đi
xem tranh, anh giải thích và nói chủ đề từng bức, khoảng hơn 40 bức tranh được
anh vẽ trong vòng 10 năm, đến nhà hàng Ruốc, đúng hơn là vào một ngôi biệt thự,
yên tĩnh, thanh lịch đẹp nhất nhì thành phố, vào đây như lạc đến một thế
giới khác, yên ả khác hẳn cảnh xô bồ náo nhiệt ở bên ngoài. Tôi cảm tưởng đây
là nơi trưng bày tranh sơn dầu của Mường Mán hơn là một nhà hàng.
Lâu quá mới gặp, anh lan
man nói về ngày xưa. những lận đận giờ cũng đã qua rồi. Trong câu chuyện Mường
Mán có nhắc đến Trần từ Duy (Đông Ki Rét), đã mất năm 2015, người có công quyên
góp anh em trong giới văn nghệ để in thơ và xây mộ cho nhà thơ tài hoa mệnh yểu
Vũ hữu Định.
Trần
từ Duy là người có những lời phát ngôn gây chấn động, trên chẳng sợ trời,
dưới không sợ đất, giữa chẳng nể thần linh, tính anh bộc trực, trong đầu nghĩ
gì, miệng phán ra câu đó.
Một lần Trần từ Duy đang
nhậu, có nhóm bạn đồng hương từ Quảng nam bước vào, người quen dắt Trần từ Duy
qua giới thiệu, vừa bắt tay nhóm bạn mới anh vừa nói:
“Khổ vì bạn
Khốn nạn
vì đồng hương“
Một người trong nhóm nổi
giận, đập bàn, xách ghế muốn ăn thua đủ với Trần từ Duy, nhờ bạn bè ra tay can
ngăn, nếu không chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra.
Hồi mới mở nhà
hàng Quán xay gió, bạn bè đồng nghiệp đến ủng hộ rất đông, anh nói với tôi
- Tao có nguy cơ bị giàu
rồi.
Sau
này, lúc đến thăm Mường Mán tại nhà hàng Ruốc, Trần từ Duy có thêm
nhà hàng Đất sét, anh lại nói với Mường Mán;
- Không biết làm sao cho
nghèo bớt
Trần từ Duy “tính
khí ầm ào như gió bão miền Trung, nói năng rổn rảng như sóng vỗ vào ghềnh đá”
đúng như Trần Hoàng Nhân đã nhận xét.
Nhưng ở
trong một “cảnh giới” khác anh lại rất nghiêm túc :
«Lên non làm sãi quét
chùa
Tiện tay quét những được thua đời mình
Sân chùa ta quét sạch tinh
Tâm ta quét mãi vô minh vẫn còn vô minh»
Hoặc
lãng mạn, đầy ắp chất thơ của một người nghệ sĩ:
«Anh biến mất những cũ mèm tháng chạp
Nghe đời mình hớn hở những giêng hai
Anh
thấy anh ngồi với ban mai
Rất nhiều nắng và rất nhiều chim chóc
nữa»
Trần từ Duy thường đọc hai câu thơ của Bùi Giáng làm tặng anh để tự
giới thiệu về mình.
«Gã tên là Trần Từ Duy
Lão Bùi Giáng gọi là Duy Từ Trần»
Hai câu thơ
của Bùi Giáng không ngờ lại ứng nghiệm với Trần từ Duy, anh lìa bỏ trần gian đầy
những đau thương và sầu muộn nầy lúc tuổi đời còn rất trẻ.
KIM TUẤN
… những bước chân âm thầm
Khoảng 9,10 giờ sáng một ngày vào năm 1972, khi đi ngang qua khán
đài phía ngoài sân vận động thành phố Vũng Tàu. Thượng Thuật đưa tay chỉ lên nói:
- Ông bận áo chemie ngắn
tay ngồi phía trái trên khán đài là
Kim Tuấn, ông ngồi bên cạnh
bận đồ lính là Du Tử Lê.
Tôi nhìn theo ngón tay Thượng Thuật thấy một người đàn ông đứng tuổi, mập
mạp, nước da hơi đen, mang kiếng, giờ tôi mới biết đó là nhà thơ Kim Tuấn. Người
mà tôichỉ biết tên chứ chưa bao giờ gặp mặt và người ngồi bên cạnh ông
cũng là người nổi tiếng trong giới văn học lúc bấy giờ, nhà thơ Du Tử Lê.
Hôm đó là ngày “NGƯỜI
CÀY CÓ RUỘNG” được tổ chức tại Vũng Tàu, quan chức và giới Văn nghệ sĩ Saigon
xuống dự rất đông.Thượng Thuật rủ tôi đi coi.
Hồi còn ở Vũng tàu tôi rất “nể” Thượng Thuật, cái gì anh cũng biết nhất
là giới Văn nghệ sĩ, anh rành rẽ và nói vanh vách tên tuổi từng người. Tôi nể
nhất là anh quen biết Mường Mán, có lần Mường Mán xuống Vũng tàu thăm anh. Mãi
sau này khi làm việc chung với Mường Mán tôi mới biết người mà Thượng Thuật
quen là Mường Mán giả.
Mười
chín năm sau, tôi gặp lại người đàn ông ngồi trên khán đài ngày nào ở
Vũng Tàu tại “tòa soạn” tập san Áo Trắng, nhà thơ Kim Tuấn. Tôi vui mừng
được gặp lại anh. Anh hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ, lúc nào cũng cười và có cái
tật là… hút thuốc liên tục. Anh sốnghòa đồng, dễ gần gũi và không hề có khoảng
cách giữa một người đã thành danh, nổi tiếng với những người thuộc thế hệ lớp
sau mình.
Kim Tuấn có một
người con trai theo học trường chuyên văn Nguyễn Du, hàng ngày anh phải đưa đón.
Trong lúc chờ đợi cậu “quí tử” anh thường ghé chỗ xe bán báo của tôi ở đầu đường
Nguyễn Trãi ngồi chơi, anh đem theo những bài thơ vừa viết xong còn đầy dấu bôi
xóa đọc cho tôi nghe, đó là những năm 1994-1995. Thơ anh óng ả, mượt mà, thấp
thoáng một nỗi buồn man mác, không giống khuôn mặt rắn rỏi pha chút gì hơi “bụi”
của anh.
Chuyện Kim Tuấn đọc thơ gợi
tôi nhớ lại một giai thoại.
Sau năm
1975, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cùng với một số văn nghệ sĩ đi “thực tế”. Đó là
khoảng thời gian anh viết nhạc phẩm” Em ở Nông trường, em ra biên giới”, trong
số văn nghệ sĩ đi thực tế với Trịnh Công Sơn có nhà thơ Hải Bằng, hằng đêm ông
làm thơ và cứ vừa thức dậy, việc làm đầu tiên là Hải Bằng tìm Trịnh Công Sơn để
đọc thơ cho anh nghe, đến nỗi Trịnh Công Sơn phải làm 2 câu thơ gởi cho Hải
Bằng để nói lên tâm trạng của mình:
“Ở đời sợ nhất đau răng.
Nhì là mỗi sáng Hải Bằng đọc thơ”
Thơ Kim Tuấn đầy
tình người và tình yêu quê hương nên đã được những nhạc sĩ nổi tiếng như: Phạm
Duy, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng… phổ nhạc nhưng chỉ có hai tác phẩm được
nhiều người biết đến, đó là:“Anh Cho Em Mùa Xuân” của Nguyễn Hiền và “Những Bước
Chân Âm Thầm” của Y Vân.
Năm 2003 Áo Trắng dời về
đường 3 tháng 2, quận 11.
Vì hơi xa, nên những người
cộng tác thỉnh thoảng mới đến chứ không thường xuyên như lúc còn ở đường Lý
Chính Thắng.
Một hôm Kim Tuấn bất ngờ xuất hiện, anh nói:
- Lâu quá, lên thăm chơi
chứ chẳng có bài vở gì.
Nhìn thấy anh có vẻ mệt mỏi,
tôi hết sức cảm động.Gần trưa, tôi tiễn anh ra về, không bao giờ tôi nghĩ đó là
lần gặp gỡ cuối cùng.
Anh mất vào một đêm tháng
9 năm 2003 sau khi tham dự buổi văn nghệ và phát quà cho trẻ em nghèo tại trường
Thăng Long ở quận 4. Đó là ngôi trường Anh văn và dạy nghề dành cho trẻ em lang
thang, cơ nhỡ do người Anh tài trợ mà anh là Hiệu trưởng.
Bây
giờ, mỗi lần đi ngang qua đường Sương Nguyệt Ánh ở quận 1, tôi lại nhớ đến anh,
vì lúc sanh tiền, anh thường nói với tôi: “đây là con đường đẹp nhất Saigon,
hai bên có hai hàng cây cổ thụ cao vút, cành lá tỏa ra như một vòm cung che mát
suốt ngày”.
Kim
Tuấn không còn nữa nhưng mỗi lần Tết đến cùng với Xuân Và Tuổi Trẻ của La Hối,
Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương, Xuân Miền Nam của Văn Phụng, Hoa Xuân của Phạm
Duy, Anh Cho Em Mùa Xuân, thơ Kim Tuấn được Nguyễn Hiền phổ nhạc vẫn là những
nhạc phẩm không thể thiếu vì những giai điệu, những ca từ đã thấm đẫm trong
lòng người yêu nhạc. Saigon, những ngày lập đông
Nhà văn SƠN NAM
Ông KHAI TRÍ
(hai chuyên gia đi bộ)
Viết
về nhà văn Sơn Nam thoạt nhìn như chuyện dễ nhưng thật sự là việc làm cực kỳ
khó vì suốt một thời gian dài ông sống “bàng bạc” với tất cả mọi người. Theo
Đào Tăng, (anh của nhà văn Đào Hiếu) người đã cưu mang nhà văn Sơn Nam trong
hơn 10 năm trên căn gác trong ngôi nhà cấp 4 của mình tại Gò Vấp thì suốt ngày
ông la cà từ quán cà phê này qua quán xép nọ, hết đám giỗ nhà này qua đám giỗ
nhà khác với những người lao động nghèo trong xóm và hầu như ông không bao giờ
tham dự tiệc tùng, sinh nhật, đám giỗ của những nhà giàu. Nên khi được tin tại
Bình Quới có dựng tượng của Sơn Nam, mấy bà bán quán, bán hàng xén, những chị
bán cà phê xáo xào bàn tán, hỏi nhau :
- Ông Sơn Nam còn sống mà
sao người ta lại dựng tượng vậy cà?
Năm 2004 nhà điêu
khắc Trần Thanh Nam tạc tượng nhà văn Sơn Nam tại làng du lịch Bình Quới thuộc
bán đảo Thanh Đa trong lúc Sơn Nam còn mạnh khỏe, năm đó ông vừa tròn 78 tuổi.
Đây là một việc hi
hữu, vì thường tình người ta chỉ ca tụng, viết sách, dựng tượng cho một người nổi
danh khi đã qua đời nhưng với nhà văn Sơn Nam là một điều ngoại lệ, chưa từng
có.
Đào Tăng nói khi
chở Sơn Nam ra Bình Quới xem tượng, lần đầu tiên ông thấy Sơn Nam cười rạng rỡ
và liền gọi điện thoại về cho con gái ở Mỹ tho ;
- Trời ơi !trên này ba
còn sống mà họ tạc tượng cho ba rồi, đẹp lắm, gia đình và hết thảy con cháu sắp
xếp lên đây ba dẫn đi xem.
Một
buổi sáng cuối tháng 11.2004, khi đến làm việc tôi thấy một nhóm người vây
quanh đang nghe Sơn Nam nói chuyện gì trong sân Nhà xuất bản Trẻ, tôi dựng xe
và chen vào đám đông nghe ké. Khi biết ông bức xúc nói với các biên tập
viên về việc hai ngôi mộ cổ ở đường Nguyễn tri Phương trong quận 10 bị đập bỏ.(Theo ban quản lý di tích thì đây là 2 ngôi mộ có từ đầu thế kỷ 19 nhưng
vì nằm trên lề đường làm mất vẻ mỹ quan đô thị nên quận xin di dời).
Thấy vậy, tôi nói với ông :
- Chuyện nhà
nước họ làm, chú bận tâm làm chi cho mệt.
Ông
huơ huơ điếu thuốc đang hút dở, nói như luyến tiếc một điều gì từ trong sâu thẳm
lắm:
- Đúng như người xưa đã
nói, chẳng sai chút nào. Rồi ông đọc :
“Vị qui tam xích thổ
Nan bảo bá niên thân
Ký qui tam xích thổ
Nan bảo bá niên phần”
Dịch Nghĩa: (Khi chưa về
với ba thước đất
Mạng sống chắc gì được trăm năm
Khi đã về với ba thước đất
Chắc gì giữ được phần mộ
một trăm năm)
Phỏng
dịch: “Khi chưa về với đất nhà
Chắc gì sống đến tuổi già trăm năm
Nhưng khi về với đất nằm
Chắc gì giữ được trăm năm mộ phần”
Một lần đi làm về
tình cờ tôi thấy ông từ trong chiếc xe 7 chỗ đang xách đồ bước xuống, tôi dừng
lại hỏi thăm mới biết ông ở miền Tây vừa về đến đây thì chiếc xe bị thủng
lớp, tôi phụ ông đưa túi đồ lỉnh kỉnh vào vệ đường để ông đón xe về Gò Vấp. Tôi
nói :
- Trời sắp mưa, để tôi chở
chú về kẻo ướt hết.
Ông lục tìm gói thuốc :
- Nó nói đưa tao về tận nhà, ai dè đến đây xe nổ bánh.
- Chú về Mỹ Tho thăm cháu à?
- Không, họ mời tao về dự khánh thành nhà truyền thống Nam Bộ, có
diễn văn, tiệc tùng, xe đưa đón, nhưng nghĩ lại thấy tức cười…
- Là sao vậy chú?
-Tao Sơn Nam mà họ cứ gọi là Nam Sơn, không lẽ họ tưởng tao
là chủ hãng xe đò…! Rồi ông cười ha hả.
Nhà xuất bản Trẻ là nơi gắn
bó mật thiết với ông. Trong một thời gian dài Áo Trắng “đóng đô” tại đây nên
tôi may mắn có nhiều cơ hội được tiếp xúc với ông, tôi chưa bao giờ thấy ông chạy
xe, dù bất cứ loại xe gì, lúc thì ông Đào Tăng chở, lúc thì ông đi bộ hay xe
ôm, có một thời gian tôi thấy nhà thơ Bùi Chí Vinh hay chở ông trên chiếc Honda
cup. Ra đường ông ăn bận đàng hoàng, áo bỏ trong quần, đội mũ phốt trắng và lúc
nào trong túi áo cũng có gói thuốc lá mang theo. Tôi có một điều thắc mắc mà hồi
đó không biết hỏi ai: là lúc nào tôi cũng thấy ông cũng thiếu tiền, mặc dù với
ngòi bút sung mãn cùng với tên tuổi của ông, nhuận bút sách cũng như những bài
viết trên các tờ báo lớn họ trả cho ông không hề nhỏ.
Sau này,
khi nghe ông Đào Tăng kể lại thì mỗi lần Nhà xuất bản ứng tiền hay ông nhận nhuận
bút một bài báo, ra đường gặp ai nghèo khó là ông cho, có khi về đến nhà
chẳng còn đồng nào. Đào Tăng là người viết báo tự do, ông cũng là người gần gũi
Sơn Nam trong trong một quãng thời gian dài,ông cho biết Sơn Nam chỉ viết vào
buổi sáng. Ông chuẩn bị giấy, máy chữ để sẵn trên bàn khoảng 9 giờ tối thì ông
đi ngủ, 3 giờ sáng ông thức dậy pha một ly cà phê uống rồi đánh máy liên tục
cho đến 6,7 giờ thì ông ngưng, nếu không có việc phải đi đâu thì ông ra đường
la cà các quán cóc vỉa hè, thăm chỗ này, viếng chỗ nọ cho đến tối.
Theo nhà thơ Phạm Sỹ
Sáu, một biên tập viên nhiều năm gắn bó với ông thì Sơn Nam có thói quen rất lạ:
là không bao giờ tặng sách cho ai dù người đó thân quen đến cỡ nào, ông cho rằng
nếu người đọc quí trọng người viết thì phải bỏ tiền ra mua và ông sẵnsàng ký
tên trong sách để lưu niệm.
Trong một bài viết về Sơn Nam, nhà thơ Phan Hoàng nhắc lại một giai thoại, khi
Nguyễn Quang Sáng chưa viết văn thì Sơn Nam đã là một nhà văn có tiếng. Nguyễn
Quang Sáng đem những câu chuyện li kỳ ở quê mình kể cho Sơn Nam nghe để ông làm
cốt truyện. Sơn Nam nói;
- Vùng
đó tao không biết, tao thấy rặng cây từ xa thôi, mày cũng có chữ nghĩa, viết
đi!
Từ đó, Nguyễn Quang Sáng
cầm bút viết và trở thành một nhà văn tên tuổi sau này.
Ở Sài Gòn có hai
người tiếng tăm lừng lẫy mà người ta thường thấy hay đi bộ ngoài đường là nhà
văn Sơn Nam và ông Khai Trí.
(Ông Khai Trí tên thật
là Nguyễn Hùng Trương chủ nhà sách Khai Trí tại Saigon từ năm 1952 đến
1975).
Người ta ít biết tên thật
của ông mà chỉ gọi ông là “ông Khai Trí”. Năm 1991 ông sang định cư tại Hoa Kỳ
đến năm 1996thì về lại Sài gòn. Ông bỏ công sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn đủ
loại bộ môn và in thành sách như một cách gìn giữ những truyền thống và
tinh hoa của dân tộc mà ông sợ rồi sẽ bị mai một.
Năm 1998 ông xuất bản
một tập sách “hoành tráng” có tựa đề là: THƠ TÌNH VIỆT NAM VÀ THỀ GIỚI
CHỌN LỌC trên một ngàn trang do ông đứng tên tuyển chọn.
Khi
ra đường ông Khai Trí thường xách chiếc giỏ lác, áo quần tề chỉnh, ông đi khắp
hang cùng ngõ hẻm, bất cứ chỗ nào có bán sách cũ là ông đến để tìm mua những cuốn
sách cỗ, thuộc loại quí hiếm, người ta nói ông có một đam mê sách kỳ lạ mà
không một người nào có.
Nhà sách Khai Trí nay là
nhà sách Sài Gòn trực thuộc hệ thống Fahasa từ năm 1976
Một buổi chiều tôi đến
căn phòng hơi tối ở đường Phan Thanh Giãn cũ theo thư hẹn để nhận sách biếu,
ông ký tên vào sách và nói lời xin lỗi vì trích bài đăng vào tuyển tập mà chưa
có” sự đồng ý” của tác giả.Khi tiếp xúc tôi mới cảm nhận được sự “dễ mến” và
cách làm việc cẩn trọng của ông.
Ông Khai Trí mất năm 2005
với cả tấm lòng vì sách và trọn một đời cũng dành cho sách mặc dù chỉ là để
"gió cuốn đi”
Ba
năm sau khi ông Khai Trí, người thường đi bộ khắp các nẻo đường, hẻm hóc ở Sài
Gòn qua đời, tháng 8.2008 Sài Gòn mất thêm một người cũng thường đi bộ nữa,
nhà văn Sơn Nam.
Hai người nổi danh trong
hai lĩnh vực khác nhau nhưng hai ông cùng sống chết, gắn bó một đời với sách.
Tôi chưa bao
giờ thấy Sơn Nam khen ai hay chê ai, duy có một lần ông nói:
- Có tay này ở An Giang,
không biết đọc ở đâu, tao chỉ nhớ được hai câu:
“Giang hồ ta chỉ
giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng
nhớ nhà”
- Thằng này… được đó mậy!
- Hai câu ấy của Phạm Hữu Quang, ảnh mất rồi chúạ!
Ông hút thuốc, im lặng
không nói gì, dường như mọi việc được thua, còn mất đối với ông là chuyện bình
thường, hẳn nhiên trong cuộc sống phù du tạm bợ của kiếp làm người.
Sài Gòn, 10/2/2017
Phạm Thanh Chương
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Một cõi đi về
Một cõi đi về Năm 1966, Nhà Xuất Bản An Tiêm ấn hành ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn: “Thần Thoại Quê Hương - Tình Yêu Và Thân Phận“, nh...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...

