Thứ Ba, 5 tháng 5, 2026

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo

Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các văn nghệ sỹ gửi gắm trong nhiều loại hình tác phẩm. Và nhiều tác phẩm đã khẳng định được chất lượng của mình, được độc giả đánh giá cao. “Con của đảo”, tập tiểu thuyết của Trương Thị Thương Huyền (NXB Quân đội Nhân dân, 2020) mang đến sự thú vị rất riêng.

Viết về biển đảo đã có nhiều tác phẩm, nhưng viết về những “công dân tí hon”, những đứa trẻ là “con của đảo”, hoặc được sinh ra trên đảo, hoặc từ nhỏ xíu đã theo bố mẹ ra giữ đảo, thì đây là tác phẩm văn học đầu tiên tôi được đọc. Thông thường, nhắc đến những đảo nổi, đảo chìm của Tổ quốc nơi đầu sóng ngọn gió, chúng ta thường nghĩ đến những chiến sỹ hải quân đang ngày đêm chắc tay súng để bảo vệ lãnh hải thiêng liêng. Nhưng cuộc sống trên một số đảo, không chỉ có những người lính kiên cường mà còn có tiếng cười con trẻ, có tiếng đọc bài ê a loang trong gió, trong sóng biển. Bằng cách đó, đảo tưởng xa nhưng lại rất gần!

Tiểu thuyết “Con của đảo” xinh xắn, gọn gàng, chưa đầy 200 trang in với 14 chương, mỗi chương cũng chỉ hơn chục trang ngắn ngủi. Tuy nhiên, sức lôi cuốn của tác phẩm có biên độ mở rất nhiều. Nhân vật chính của tiểu thuyết này là những đứa trẻ, gồm cả dân tộc Kinh và dân tộc Chăm, sống trên đảo Song Tử Tây. Là “con của đảo” nên cuộc sống của các em cũng nhiều điều khác biệt so với những đứa trẻ trên đất liền. Khác từ biệt hiệu đi kèm tên gọi: Phác nhà đèn, Thắng bò ngu... cho đến lớp học đặc biệt bên bờ sóng “năm học mới bao giờ cũng bắt đầu cùng với mùa có gió” (trang 61). Cả ngôi trường “khang trang ba tầng; khu nhà đẹp nhất trên đảo” nhưng “mới dùng có một phòng” với năm học trò: “Thắng bò ngu học lớp năm. Phác nhà đèn với Minh đen học lớp ba. Mai mèo học lớp hai. Con bé Bống xù mới học mẫu giáo lớn” (trang 64). Thầy giáo là các chú bộ đội trên đảo. Chương trình học linh hoạt không theo bất cứ giáo trình nào: “Thường thì buổi sáng, thầy Quyết dạy toán cho Thắng bò ngu học trò lớp năm, tiếng Việt cho Phác nhà đèn, Minh đen – hai trò lớp ba rồi quay sang dạy tiếng Việt, đạo đức cho Mai mèo đang học lớp hai trước khi dạy bé Bống xù lớp mẫu giáo tập tô màu. Buổi chiều thầy Mạnh đảm trách nhiệm vụ vừa dạy vừa dỗ tất cả các trò những môn học phụ khác như học buổi hai, quản lớp của các trường trong đất liền” (trang 67).

Tuy nhiên, ngoài những điểm vô cùng độc đáo, thì cuộc sống của lũ trẻ trên đảo cũng không khác gì đất liền. Chúng được sống trong tình yêu vô tận của người lớn; chúng gắn bó với nhau bằng thứ tình cảm trong vắt mà keo sơn, thiêng liêng. Có những lúc cùng nhau tâm tình, dạy nhau những điều kỳ thú của cuộc sống, vui đùa trong các trận đấu bóng nảy lửa; nhưng cũng có lúc cãi vã, giận hờn… Những điều ấy vô cùng thân thuộc, cho thấy đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, của đất liền. Vẫn màu xanh bình yên của vườn rau. Vẫn tiếng chuông chùa ngân nga trong gió. Vẫn tiếng chó sủa thân thương. Vẫn đàn gà ríu rít… Đảo đã thành quê hương máu thịt của các em!

Mỗi chương của tiểu thuyết này vừa kết nối với chủ đề chung, là một mắt xích trong mạch truyện, lại vừa là một truyện ngắn độc lập. Ngòi bút của Thương Huyền trong “con của đảo” thực sự chiếm được cảm tình của người đọc. Vừa linh hoạt, vừa ấm áp lại vừa tỉ mỉ, sắc sảo. Có những trang giàu chất thơ, đọc rất thích: “cuộc đời người thợ đèn như những người đi thắp lửa trong đêm. Mỗi khi nhìn ngọn hải đăng chớp sáng trên bầu trời đen kịt, mình như thấy đó là ánh sáng của Tổ quốc giữa biển trời. Từng nhịp đèn chớp nháy là nhịp thở và sự sống của lính thợ đèn. Âm thầm trầm mình trong gió giông, nắng lửa giữa đại dương, hải đăng Song Tử Tây cứ sừng sững trên đảo như người lính kiên gan canh gác, bảo vệ một vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc và báo hiệu cho các tàu cá tại ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa…” (trang 16). Lối kể chuyện linh hoạt, dí dỏm, có duyên đã tạo nên thần thái rất riêng của tác phẩm. Thêm nữa, những am hiểu của Thương Huyền về cuộc sống, con người trên đảo là điểm cộng lớn cho “Con của đảo”. Có cảm giác đây là mảnh đất màu mỡ, còn rất nhiều trầm tích chờ Thương Huyền khai phá. Những chuyến công tác biển đảo năm này qua năm khác của tác giả đã thực sự kết thành trái ngọt, mà “Con của đảo” chỉ là một trong những trái ngọt đầu mùa. Những kiến thức bạn đọc có được sau khi đọc “Con của đảo” thực sự thú vị, từ những ngọn hải đăng đến tấm bia chủ quyền trên đảo. Từ các loại cá phong phú đến những cách bắt cá độc đáo… Những kiến thức chỉ người trong cuộc, chỉ người đam mê biển đảo, yêu biển đảo bằng tình yêu máu thịt mới có được!

Đọc xong “Con của đảo”, điều tôi muốn nói với Thương Huyền là chị hãy tiếp tục mạch đề tài này. Và tôi mong chờ những tác phẩm tiếp theo!.

10/2/2021

Nguyễn Thị Việt Nga

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Bức chân dung người đàn bà lạ

Chu Lai là nhà văn quân đội. Các tiểu thuyết và truyện của  tác giả chủ yếu viết về chiến tranh và người lính. Cuốn tiểu thuyết “ Bức chân dung người đàn bà lạ” cũng  nằm trong mạch viết chính của tác giả. Phải nói rằng đề tài chiến tranh là một đề tài vô tận, nhất là đối với những nhà văn đã từng mặc áo lính. Tôi nhớ đoạn thơ của tác giả Nguyễn Trọng Tạo : “Người lính đi, qua mấy cuộc chiến tranh/ Nói về súng dẫu nhiều – chưa nhàm cũ/Nói mất mát, hi sinh dẫu cạn lời – chưa đủ”.  Đó phải chăng là nguyên nhân, là động  lực thúc đẩy nhà văn  vốn là lính đặc công Chu Lai cầm bút. Ngoài ra, có thể còn lí do khác như nhà văn  bộc bạch  với một quan niệm viết khá giản dị “ Hãy cứ lấy cái sự viết làm vui, viết để neo mình vào cuộc đời, viết để thiền, viết để tự làm sạch mình” (Suy nghĩ về nghề văn).

Cuốn sách 18 chương, không có chương quá dài, cả thảy hơn 200 trang in. Nhân vật thì có thể nói hầu hết là những người trải qua chiến tranh hoặc liên quan  gián tiếp đến ch iến tranh. Từ họa sĩ,  giám đốc  Hoàng Vinh,  Phó Chính ủy Trần Lâm, đội trưởng Thủy, đội phó Lan, bà chủ nhà trọ,  ông xe ôm vốn lính đặc công “Bê hai” ven Sài Gòn. Thu, Hòa hai cô gái trẻ thì một cô là con đẻ của Thủy, một cô là con nuôi của Lan. Truyện đọc khá cuốn hút và có nhiều  bất ngờ xoay quanh nhân vật chính, một họa sĩ quân đội từng nổi tiếng ở Trường Sơn, nhưng đang ở đoạn sa sút vì những đổ vỡ trong đời sống riêng tư trong và sau chiến tranh.  Một nhân vật đã nói về  họa sĩ : “ Ngày trước trong chiến tranh, ông ấy là một tên tuổi sáng giá suốt dọc Trường Sơn, một họa sĩ tài hoa lẫy lừng” ( trang 16). Người họa sĩ kì tài đang sống những ngày kì dị, đang mặc cho cuộc mưu sinh làm tê liệt khả năng sáng tạo và trở nên tàn tạ. Đây là chân dung con người ấy : “Đầu tóc bù xù sợi bạc sợi đen, cái chổng ngược cái chổng xuôi dễ phải cả năm nay không được chủ nhân ngó ngàng gì đến. Gò má hốc lõm, râu ria chắc cũng phải lâu lắm rồi không cắt cạo nên nhìn nó nhôm nhoam tựa một cái bùi nhùi chuyên để đốt lên hun chuột. Thân thể được che đậy bởi chiếc sơ mi trắng đã ngả màu, chiếc quần ka ki lửng loang lổ đủ các loại màu vệt khô vệt ướt làm người ta nhớ đến chiếc quần của vai hài rạp xiếc địa phương. Tóm lại, nhìn gã người ta dễ liên tưởng đến một nhân vật lập dị, hơi ngông mà trong giới văn nghệ sĩ, nhất là dân hội họa thường hay xuất hiện. Lại đôi mắt nữa, mờ đục, ướt nhèm, không có chút thần khí nào, thi thoảng lại hấp háy hấp háy sau đôi mục kỉnh gẫy gọng phải chằng lại bằng dây nịt, chốc chốc lại một giọt  nước như nước đái nhện rịn ra, chảy ngoằn ngoèo xuống má” (trng 6).

Trong con mắt của bà chủ nhà trọ , đó là một “bôi sĩ”, là “ cái lão dở hơi, tâm thần, nửa đời nửa đoạn”.

Vẽ đối với họa sĩ bây giờ  chỉ là  phương tiện kiếm sống “ Vẽ như là cái nghề, cái nghiệp, nghiệp chướng, vẽ để tồn tại, không vẽ thì không biết làm gì, vẽ để neo cái đầu trống rỗng của mình vào dòng đời, không vẽ chỉ còn cách ra sông nhảy ùm xuống hoặc đập đầu vào tường mà chết, xong, chấm hết. Vậy thì vẽ, không còn cái đích thực thì chơi cái sinh nhai, đều là vẽ cả, thần thánh hóa nó làm mẹ  gì cho thối ruột. Thế là bắt đầu buông bỏ, để mặc tâm hồn rơi tự do xuống vực thẳm đen ngòm” ( trang 36).

Trong khi đang trượt dài như thế thì họa sĩ nhận được đơn đặt hàng của một người đàn bà lạ đã cứng tuổi. Việc mặc cả sòng phẳng vẽ bức chân dung đã làm cho lòng tự ái nghề nghiệp và  khát vọng  thể hiện mình của  họa sĩ Hoài Linh bừng thức. Họa sĩ đã tưởng chỉ mấy ngày là có thể xong đơn đặt hàng. Nhưng càng vẽ càng hỏng. Họa sĩ dùng mọi kĩ thuật, vận hết tài năng và kinh nghiệm. Dù họa sĩ đã vẽ như nhập đồng. Nhưng càng vẽ càng không ổn. Đặc biệt là chân dung hỏng vì không thể hiện được đôi mắt của nhân vật. Bức ảnh nhân vật đã ám ảnh họa sĩ, đã hành hạ ông đến mức ăn không ngon, ngủ không yên. Chỉ có vẽ và xé, vẽ và xé.

Cuối cùng thì bức chân dung cũng hoàn thành. Hóa ra người đàn bà lạ đặt vẽ chân dung ấy chính là Thủy, là “Cô đôi thượng ngàn” ngày xưa trong bức vẽ ở Trường Sơn. Chính mối tình của Linh với Thủy đã làm cho Phó Chính ủy Trần Lâm hành xử một cách “hèn mạt” là đẩy Linh vào nơi nguy hiểm lấy cớ để cho Linh có thêm thực tế, nhưng chỉ nhằm cách li anh với Thủy mà ông thầm yêu. Rồi khi không đạt được sự chiếm đoạt Thủy, ông ta lại đẩy Thủy  vào chiến trường khác với lí lịch xấu.

Xoay quanh nhân vật họa sĩ là những người từng gắn bó, là những đồng đội vào sinh ra tử ở Trường Sơn. Họ đã bằng tình bạn, tình đồng đội đưa họa sĩ trở lại với khát vọng nghệ thuật. Họ tìm mọi cách để ông có được một Galery KÝ ỨC LỬA, nói như  Hoàng Vinh nói với Thu, giọt máu của họa sĩ, galery đó “Không phải chỉ vì ba cháu mà còn vì những gì cao đẹp nhất mà thế hệ của chú, của mẹ cháu không dễ dàng để cho nó mất đi, để nó bị quên lãng”. ( tr.195)

Có thể nói, tuy dung lượng không lớn, nhưng tác giả đã thành công ở việc dựng lại một thời gian khổ, oanh liệt, lãng mạn, hào hùng trong chiến tranh chống Mĩ ở Trường Sơn. Có những con người đáng yêu mến, cảm phục như Hoài Linh, Hoàng Vinh, Thủy, Lan,… và những đồng đội thanh niên xung phong;  có những người đáng giận đáng trách và đáng thương hại như Phó Chính ủy Trần Lâm.

Tác giả tỏ ra  là một ngòi bút già dặn về nghệ thuật tiểu thuyết. Từ kết cấu cho đến khắc họa tính cách nhân vật. Ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật sắc sảo, giàu cá tính.  Miêu tả thiên nhiên, miêu tả ngoại hình nhân vật, đặc biệt là diễn biến nội tâm được thể hiện khá  thuyết  phục.  Ngôn ngữ của bà chủ nhà trọ, vốn là chiến sĩ tự vệ bắn máy bay trên cầu Long Biên là một ví dụ. Các  tình tiết  có vẻ ngẫu nhiên, nhưng lại thống nhất  gắn liền với lòng thương người, sự độ lượng, giàu lòng trắc ẩn của người họa sĩ. Dù có vẻ bất cần đời,  nói năng vong mạng như ông tự nhận  “ những câu phát ngôn về cuộc đời vẩn đục, về các giá trị tinh thần, đạo đức xuống cấp, về văn hóa nghệ thuật chợ chiều… mà thỉnh thoảng ở chỗ này chỗ khác, mình vẫn thường phọt ra tung tóe vô tội vạ đây!” ( tr. 85), nhưng trong sâu thẳm trái tim, ông vẫn là  “ một con người dẫu trong hoàn cảnh nào cũng luôn biết nhìn sự vật một cách sâu sắc và đại lượng” ( tr.27) như đánh giá của Hoàng Vinh.

Nếu có thể nói về một nhược điểm của tiểu thuyết này thì chính là sự say sưa với cốt truyện và những pha phân tích tâm lí mà tác giả để lộ ra sự mâu thuẫn, sự thiếu nhất quán trong mạch truyện. Ấy là ở trang 226, khi họa sĩ Linh gặp lại cô Lan, bạn của Thủy. Cô Lan kể cho Linh nghe “ Chồng mất, nó tìm về đây ở với tôi mấy ngày. Điều làm nó khổ tâm, dằn vặt nhất vẫn là chuyện không biết ông (Linh – Vũ Nho chú) hi sinh ở đâu, hy sinh trong trường hợp nào, người ta có lấy được xác không” (trang 226). Thế nhưng, tác giả quên mất rằng ở trang 157, bức thư của Thủy gửi cho Linh lại nói rằng “ Sau này khi đã có gia đình, em mới biết anh còn sống […] không biết bao nhiêu lần em đi qua nhà anh, qua cái Galery của anh mà không dám vào chỉ vì người ta bảo anh đang sống hạnh phúc với một người phụ nữ giỏi giang cùng nghề”. Thủy lấy chồng rồi chồng mất.  Cô đã biết Hoài Linh có người phụ nữ khác. Rồi cô theo dõi đến khi biết Hoài Linh sa sút mới quyết định đến đặt vẽ bức chân dung. Đâu có chuyện cô không biết Linh sống chết thế nào như lời kể của Lan!

Hai người đã có gắn bó , đã có kỉ niệm, đã trao thân cho nhau mà khi gặp lại nhau, không còn một dấu vết nào gợi lại. Bạn tôi nói rằng Thủy thành  “ người đàn bà lạ”, chỉ là quyết định của nhà tiểu thuyết!

Mặt khác, tác giả miêu tả Thu  “Cháu giống mẹ cháu  ngày xưa như hai giọt nước. Nhiều khi nhìn vào bức tranh này chú có cảm giác là chính cháu đang hát múa chứ không phải mẹ” ( trang 195). Ấy vậy mà khi Thu đến lấy bức tranh, ông họa sĩ lại không hề nhận ra. Ông lại chỉ chăm chú đọc thư, để rồi sau làm một cuộc “trường chinh trong vô vọng” tìm con!  Đành rằng mắt ông có lúc kém, kèm nhèm bôi thuốc Mĩ cũng không ăn thua! Nhưng tác giả quên  ông đã từng nhìn một cô bé giống hệt con mình , suýt gọi “con” (trang 147), rồi ông nhận  “Đây không phải là “Cô đôi thượng ngàn” mà là màn cưỡng dâm cô ấy” ( trang 199). Mắt kèm nhèm thì  sao có thể nhìn như thế, sao có thể vẽ  kí họa khi đi tìm con? Hình như thấy khá  rõ cái bàn tay sắp đặt không “khéo” lắm của tác giả.

Dù  như vậy thì tiểu thuyết “Bức chân dung người đàn bà lạ” vẫn là một tiểu thuyết thành công của Chu Lai về đề tài chiến tranh. Ở đó, những con người một thời Trường Sơn máu lửa vẫn tiếp tục sống cao đẹp, nhân hậu sau chiến tranh. Lịch sử dân tộc và lịch sử văn chương không bao giờ quên họ.

Hà Nội, 10/1/2020

Vũ Nho

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Xuân trong thơ Hàn Mặc Tử

Mỗi lần đọc thơ Hàn Mặc Tử, tôi thấy bâng khuâng hoài, không hiểu mơ hay là thực, mộng hay là ảo… Cái cảm giác ấy cứ ám ảnh tôi như sự mê hoặc của hạnh phúc và tin yêu. Thì ra Hàn Mặc Tử đây rồi! Hàn Mặc Tử không đi vào cõi lãng quên… Và trong cuộc đời này, Hàn Mặc Tử không đi vào cõi “cô đơn rợn ngợp” của kiếp người như ông đã từng âu lo, một nỗi âu lo mang tâm thức hiện sinh:

Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa

Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha

Vẻ mặt khác chi người quốc sắc

Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta

(Hoa cúc)

Dường như những “nhà thơ lớn” thường hay băn khoăn cho sự tồn sinh của chính mình trong cuộc sống mai sau. Phải chăng nỗi lắng lo: “trong đời tri kỷ chỉ riêng ta” của Hàn Mặc Tử cũng chính là nỗi ưu lo của đại thi hào Nguyễn Du ngày trước về sự hiện hữu của mình trong tâm thức của con người hậu thế:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

(Không biết sau hơn ba trăm năm / trong thiên hạ có ai là người khóc Tố Như?)

Nhưng không đợi đến ba trăm năm, chỉ đến sau hai trăm năm, Nguyễn Du (1765 – 1965) đã được khẳng định như một đỉnh cao chói lòa trong nền văn học và văn hóa dân tộc, khi cả hai miền Nam – Bắc trong năm 1965 của Thế kỷ XX, tuy khác nhau về thể chế chính trị nhưng đều tổ chức lễ tưởng niệm hai trăm năm ngày sinh Nguyễn Du vô cùng long trọng. Còn với Hàn Mặc Tử, sau một thời gian “bị lãng quên” vì nhiều lý do không đáng có, đã trở lại với cuộc đời và sẽ sống vĩnh hằng trong tâm cảm người đọc. Tôi tin là như thế! Bởi, khi thơ Hàn Mặc Tử được trở lại trong đời sống văn hoc, bao nhiêu bạn đọc, bạn thơ, những người mến mộ thi sĩ tài năng nhưng cũng đầy bất hạnh này đã đón nhận thơ ông như đón nhận một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống hằng thường, vì nói như Đặng Tiến: “trong tác phẩm Hàn Mặc Tử còn nhiều vết tích của một nhân bản Việt Nam”.[1] Bởi vậy, Hàn Mặc Tử sẽ không bao giờ cô đơn, và trong đời thi nhân đã/ đang/ sẽ có biết bao nhiêu người, tri âm, tri kỷ không chỉ yêu thơ ông mà yêu cả cuộc đời không may mắn của một thiên tài thi ca !?…

Không ai trong chúng ta lại không biết đến những nỗi bất hạnh trong cuộc đời nhà thơ Hàn Mặc Tử. Nhưng kỳ lạ thay, trong con người tưởng chừng không thể nào gượng nổi giữa cuộc đời “bệnh tật” đó lại chứa đựng một tâm hồn đầy sức sống mà những bài thơ xuân của Hàn Mặc Tử là biểu hiện sinh động nhất của lòng yêu đời, yêu người, yêu sự sống bất tận ấy. Vì thế, có thể nói, trong thơ Hàn Mặc Tử, ngoài đề tài trăng như một chuổi ngọc lấp lánh thì đề tài mùa xuân là những hạt kim cương ngời sáng trong thơ ông nên ở tập thơ nào ta cũng bắt gặp những bài thơ tràn ngập sắc xuân và chan chứa tình xuân. Đó là các bài thơ “Sầu xuân” ở Lệ Thanh thi tập; “Nắng tươi” “Nhớ nhung”, “Âm thầm” ở Gái quê; “Mùa xuân chín” ở Đau thương…; Và đặc biệt Hàn Mặc Tử còn có riêng một tập thơ ngợi ca và tôn vinh mùa xuân với một cái tên chứa đầy khát vọng ấm êm: Xuân như ý, một tập thơ mà theo Trần Thanh Mại là “ca tụng cái xuân thơm tho tốt đẹp của đất trời, không phải là cái xuân tầm thường chán nản của hầu hết các thi nhân Đông phương xưa nay, mà là cái xuân mầu nhiệm, phương phi, nhưng chưa bao giờ ai từng thưởng thức”[2]

Tứ thời xuân! Tứ thời xuân non nước!

Phút thiêng liêng nhuần gội áng thiều quang

Thiên hạ bình, và trời tuôn ơn phước,

Như triều thiên vờn lượn khắp không gian

(Nguồn thơm)

Và, có lẽ chẳng tranh luận gì nhiều, vì không ai lại không cảm nhận mùa xuân luôn song hành với cái đẹp, cái tươi trẻ, cái non tơ… Chính vì vậy, mỗi độ xuân về, lòng người đều thấy rộn ràng, bâng khuâng, khó tả. Ở Hàn Mặc Tử, cái rộn rộn ràng, bâng khuâng ấy, nhà thơ không chỉ đón nhận bằng thị giác mà bằng cả thính giác, khi thi nhân lắng nghe từng âm thanh diệu vợi của mùa xuân reo lên trong từng chiếc lá giữa nắng xuân:

Lá xuân sột soạt trong làn nắng

Ta ngỡ em ơi, vạt áo hường

 (Nắng tươi)

Và càng tinh tế hơn, thi nhân còn đón nhận hồn xuân bằng tất cả cái thiêng liêng của tình yêu cái đẹp từ một màu áo mới lấp lánh sức sống mùa xuân:

Thứ áo mùa xuân em mới mặc

Lòng ta rộn rã nỗi yêu thương

(Nắng tươi)

Thế là bao nhiêu lo toan của cuộc sống đời thường, bao cái khủng khiếp của “bệnh tật” đã lùi xa, chỉ còn đó một hồn thơ chín mọng tràn trề sức sống mùa xuân, như cảm nhận của Trần Thanh Mại, khi ông xác quyết: “Hàn Mặc Tử là nhà thơ Việt Nam đầu tiên biết nghe ngóng những lời âm thầm của Tạo vật. Như nhà đại văn hào Nga Ivan Tourgueniew, Hàn Mặc Tử có một thính giác đặc biệt để nghe được cả hơi thở của một cành lá, hay tiếng chạm nhau của hai đường tơ ánh sáng”.[3]

Trong thơ Hàn Mặc Tử, ta không chỉ thấy cái hơi thở nồng ấm của đất trời mà còn thấy cả tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết của thi nhân. “Mùa xuân chín”, bài thơ đặc sắc của ông đã thể hiện mối tình xuân, hồn xuân quyện hòa trong tình yêu thương nhân thế. Thi phẩm này đã thể hiện một thi tài độc đáo ở nhiều phương diện mà rõ nhất là việc sử dụng ngôn ngữ để kiến tạo hình ảnh thơ với nhiều thi ảnh sinh động giàu âm thanh, màu sắc và mỹ cảm văn chương:

Sột soạt gió trêu tà áo biếc

Trên giàn thiên lý bóng xuân sang

(Mùa xuân chín)

Bài thơ Mùa xuân chín thể hiện một trường liên tưởng thú vị, bất ngờ: Từ bóng dáng mùa xuân, thi nhân liên tưởng đến dáng xuân xanh của những cô thiếu nữ hồn nhiên yêu đời cất tiếng “hát trên đồi”… Nhưng rồi, không chỉ có “dáng xuân xanh” mà còn có cả thế giới tâm trạng ưu lo của những cô gái “theo chồng bỏ cuộc chơi” để lại sau lưng những khoảng trời đầy nuối tiếc, xót xa cho ai đó!? Câu thơ đẹp nhưng buồn, vốn là những phẩm tính văn chương trong mỹ cảm của thi ca lãng mạn Việt Nam thời tiền chiến…

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời

Bao cô thôn nữ hát trên đồi

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

(Mùa xuân chín)

Và cũng như ai đó, tâm hồn vốn giàu cảm xúc của thi nhân như muốn cắm rễ  “trong đám xuân xanh ấy”. Nhưng rồi, chính lúc ấy tình quê hồn quê lại đánh thức  tâm cảm thi nhân “lòng trí bâng khuâng chợt nhớ làng”, bởi, nơi đó đang có một người con gái khác từng ngày gắn bó với làng quê: “Chị ấy năm nay còn gánh thóc / Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”. Mùa xuân vì thế cũng trôi đi trong nỗi nhớ đang xen theo dòng ý thức kết nối từ hiện tại đến tương lai và chảy về với những hoài niệm, ký ức trong quá khứ của tâm thức thi nhân. Câu thơ vừa đẹp trong hình ảnh lại vừa chất chứa một thế giới nội cảm, gợi nỗi buồn man mác, đầy xa xót tiếc thương trong lòng kẻ tha hương…

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín

Lòng trí bâng khuâng chợt nhớ làng

Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang

(Mùa xuân chín)

Mùa xuân là mùa của tình yêu, của uyên ương xây tổ, Hàn Mặc Tử đã cảm nhận điều này với tất cả sự tinh tế của một hồn thơ đã chín trái yêu thương.

Bao nhiêu mơ ước trong tim ấy

Như chực xuân về thổ lộ ra.

(Cô gái đồng trinh)

Vậy đó, mùa xuân là không của riêng ai, mùa xuân là của chung nhân loại. Nhưng mùa xuân lại cũng là của riêng mỗi người. Cái qui luật ấy mới nghe tưởng như nghịch lý, song đó là một thực tế. Bởi, mỗi người đến với mùa xuân bằng sự cảm nhận của riêng mình và chính sự cảm nhận rất riêng này làm cho tình xuân phong phú hơn, giàu có hơn, ý vị hơn. Xuân đến với mọi nhà, với mọi nơi và xuân ở lại trong lòng mỗi người như một thiên thể làm sáng hơn tâm hồn chúng ta. Thơ Hàn Mặc Tử đã đem đến cho chúng ta đóa xuân lòng tươi sắc đó.

Đừng ai nhắc nhở đến xuân trong

Vô số là xuân chiếm mọi lòng

Mỗi người đều có xuân riêng cả

Thiếp viết xuân trên mảnh lụa hồng

(Nhớ thương)

Ước mơ về một mùa xuân tươi đẹp, hạnh phúc đó là khát vọng chung của mọi người. Hàn Mặc Tử trong thơ mình cũng đã thể hiện khát vọng cháy lòng đó; Cái khát vọng chân thành đến hồn nhiên nhưng không kém phần dữ dội của một ý thức hiện sinh. Bởi lẽ, trong cảm nhận của thi nhân, hạnh phúc của mùa xuân nhân gian sẽ giàu có hơn cả thiên đường của Thượng Đế…

Ta chấp hai tay lạy quỳ hoan hảo

Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không gian

Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân

Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế

(Đêm xuân cầu nguyện)

Chú thích:

[1] Đặng Tiến, Vũ trụ thơ, Giao Điểm xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr.126

[2] Vương Trí Nhàn, (sưu tầm và biên soạn), Hàn Mặc Tử – hôm qua và hôm nay, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1996, tr.119

[3] Vương Trí Nhàn, (sưu tầm và biên soạn), Hàn Mặc Tử – hôm qua và hôm nay, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1996, tr.153

Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 15/11/2020

Trần Hoài Anh

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Tiểu luận Huỳnh Phan Anh: Hàn Mặc Tử

Có lẽ không gì mâu thuẫn bằng chú giải một nhà thơ. Người ta không thể làm công việc đó, dửng dưng với ám ảnh đeo đẳng của sự bất lực. Hơn đâu hết trong các bộ môn, thơ mở ra đồng thời đóng lại trước mọi nỗ lực soi sáng. Mọi lời chú giải trên thơ (cũng như trên mọi công trình nghệ thuật?), mang ý nghĩa một sự diễn đạt, diễn đạt một vũ trụ tự nó hầu như đã đầy đủ, không còn gì để nói thêm. Tác giả mặc nhiên không còn. Tác phẩm tự nó biện minh hay ở đời. Không ai lên tiếng biện minh cho nó. Sáng tạo cũng là một cách chết. Sáng tạo là chết đằng sau tác phẩm mình. Tác phẩm trở thành một thực tại hàm hồ. Nó như một chiếc mặt nạ. Sau chiếc mặt nạ, lẩn trốn một người. Nhưng nhìn vào nó, người ta không thấy một ai được xác định. Tác phẩm là một sự giấu mặt đang lên tiếng gọi mời. Nó đòi hỏi được đón nhận, nhìn vào đồng thời là một cản trở.

Hơn là một độc giả, người chú giải, phê bình có bổn phận biến tác phẩm thành một khả hữu và hơn thế nữa, một khả hữu phổ quát cho mọi người, không những chỉ cho riêng hắn. Hắn là một người hòa giải. Ở hắn thể hiện sự dung hòa giữa niềm vui khoái, đam mê của những người thưởng ngoạn và sự sáng suốt của chính người sáng tạo. Nói theo Blanchot, hắn thực hiện một công tác kỳ lạ đối với tác phẩm, vừa tiến lại gần vừa lảng ra xa, phế bỏ, vừa hoàn thành, giản lược vừa đào sâu. Hắn hư vô hóa tác phẩm ngay khi biến nó thành một khả hữu cho mọi người. Tầm quan trọng của hắn hệ ở chỗ hắn vạch cho tác phẩm một ý nghĩa, điều này có thể làm ngạc nhiên tác giả, và chính hành độnhg này, một hành động có thể là tốt, đã giản lược tác giả về hư không: tác phẩm là cơ hội xuất hiện của một ý nghĩa hoàn toàn xa lạ mà tác giả có thể không nhìn nhận hay chống kháng. Nhà chú giải trở thành một căn bịnh cần thiết. Bởi tác phẩm cần tới hắn, một cách nào đó, cần được sáng tạo không ngừng.

Có thể nói rằng công việc chú giải là một thất bại ngay từ khởi điểm (nó bao hàm một ngụy tín, một thái độ hàm hồ). Cho nên phải chăng sau cùng mọi nỗ lực chú giải, phê bình nhất thiết đưa về im lặng trước chính tác phẩm, tác phẩm tự nó cũng là một thực tại hàm hồ, bí ẩn. Có lẽ càng hàm hồ khi tác phẩm lại là thơ. Có thể thơ hàm chứa nhiều nhất đồng thời thơ lại là nơi ta dễ dàng lạc lối nhất. Nó là một cánh rừng mà mỗi ngõ ngách có thể dẫn ra đồng thời đánh lạc. Một hang động trong đó người ta chỉ có thể tìm ra bí mật bằng sự lạc lõng của chính mình. Bởi thơ là biểu tượng, là hình ảnh. Thơ tạo dựng một vũ trụ qua trung gian biểu tượng, hình ảnh. Một vũ trụ phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa trong tính cách phi thực của nó. Hơn đâu hết, biểu tượng, hình ảnh là điều kiện của thơ, lý do tồn tại của thơ. Biểu tượng chính là thơ. Đâu là đặc tính của biểu tượng, hình ảnh?

Biểu tượng, hình ảnh tự chúng không là gì nếu không có thực tại chống đỡ sự sống của chúng. Biểu tượng đi đôi với một tác động biểu tượng hóa, hình ảnh với một tác động ảnh hóa. Tôi không thể xây dựng hình ảnh cái bàn tách biệt với thực tại bàn, một cái bàn thật, trong một không gian nào đó. Đó là quan niệm thông thường nhất, thực nghiệm nhất. Nhưng cái hiển nhiên thường đến với ta trong sự vô tình hay giấu mặt hầu như không ai hay biết. Hình ảnh thơ không diễn đạt thực tại một cách quá thơ ngây dung dị. Thơ là vũ trụ những hình ảnh có giá trị một sự mê hoặc, một thứ ma thuật. Nó biến thành hình ảnh của chính hình ảnh. Một hình ảnh mê hoặc, ma thuật bắt buộc phải là một hình ảnh lẩn tránh, giấu mặt. Nó không còn là biểu tượng của thực tại đồ vật, nó chính là điều kiện khả hữu của biểu tượng đó. Nó là thực tại đang tiêu hủy hay một ảnh tượng đang hoàn thành. Nói theo M.J. Lefèbvre, hình ảnh là tác động của trí tuệ đang – sau thực tại xuất hiện cho nó, sau và ngoài – tiếp tục hướng về một thực tại hiển nhiên không ngừng thoát chạy. Hình ảnh không là thực tại. Nó là một ý hướng. Nó thể hiện một dự phóng. Nó hoàn thành một ước muốn. Nó không biểu tượng cái hiện hữu. Nó lẩn tránh chính biểu tượng. Nó nhằm đưa tới một vũ trụ hàm hồ, một vũ trụ đồng thời một phủ nhận vũ trụ. Hình ảnh mê hoặc chỉ là một khoảng trống thiết yếu. Thơ không là thực tại, không là tổng số những hình ảnh xác định một thực tại rõ ràng. Nó là một ước muốn hơn thế nữa, là một đam mê, mù quáng cũng nên, có đối tượng là cái chưa có, cái chưa biết được, cái không thể biết, nghĩa là một thực thể vô danh và người đọc thơ hay chú giải thơ thử lên tiếng gọi tên. Thơ thể hiện một ý hướng tính không có ý hướng, nói một cách nào đó, nó hướng về cái không có, nó đòi hư vô, một “đam mê vô ích”. Phải chăng thơ sau cùng chỉ còn là một niềm im lặng tuyệt đối của thi sĩ, vũ trụ thơ chỉ còn là vũ trụ nội giới, chủ quan của thi sĩ. Điều duy nhất người ta có thể thâu tóm ở hắn chính là cách thế phát biểu. Người ta có thể phủ nhận vũ trụ của thi sĩ hay giải thích nó bằng mọi cách (giải thích phải chăng cũng chỉ là một cách phủ nhận?), nhưng người ta không thể chổi bỏ chính cách thế phát biểu của hắn.

Thơ, để làm gì? Thiết tưởng người ta không làm thơ để nói lên một điều gì (có lẽ khi nói ngược lại, người ta đã không làm thơ nữa). Nếu có, phải chăng đó là sự bất lực. Phải chăng bằng chính sự bất lực đến cùng tận đó, thơ phát biểu trung thực nhất thân phận thi sĩ, và nếu cần, thân phận làm người của thi sĩ. Trong ý nghĩa đó, thi sĩ là kẻ tham vọng nhất. Antonin Artaud, một thi sĩ, đã nói: “Tôi luôn viết để nói rằng tôi không làm được gì, không thể làm được gì, và nếu làm được thì thật ra tôi không làm gì hết. Toàn tác phẩm tôi đã xây dựng và chỉ có thể xây dựng trên hư vô”. Thơ tham dự trực tiếp vào hoàn cảnh hữu hạn con người cũng như thơ không thoát ngoài thân phận nó: ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng. Nói theo Bernard Charbonneau, “đòi hỏi mọi thứ ở ngôn ngữ chính là hủy diệt nó”. Breton và trường phái siêu thực đã đem được gì khi đồng hóa thi ca và cách mạng? Sau cùng phải chăng chỉ còn một cách, trả thơ về với tiếng nói, thứ tiếng nói xao xuyến nhất của nội tâm con người.

Những ý nghĩ trên đây có thể phần nào gây xao xuyến công việc chú giải thơ, cả việc đọc thơ và nói rộng ra, cả việc tìm tới nghệ thuật. Đó là tình cảm e thẹn của người đọc khi đứng trước thơ, tìm mọi cách chọc thủng những chiếc mặt nạ phủ lên hình ảnh, phủ lên thơ: một việc làm đầy hoài nghi, lúng túng.

Thơ Hàn Mặc Tử đã được chú giải bằng nhiều cách, nhìn ngắm từ nhiều khía cạnh. Có thể chiêm ngưỡng thơ ông bằng một tâm hồn sẵn cảm xúc âm nhạc hay màu sắc. Có thể mượn tâm phân học tố cáo ở người thơ một nhân vật bệnh hoạn, và thơ ông như một cách giải tỏa ẩn ức. Có thể tìm thấy trong thơ ông những lời ca tụng hay những xúc cảm chân thật trước cái đẹp, tình yêu, kỷ niệm, đấng thiêng liêng… một thi sĩ biết mình là thi sĩ. Nghĩa là sự cám dỗ, mê hoặc của vũ trụ hình ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử có thể đẩy cảm quan theo một chiều hướng hay đến một chân trời nào đó. Làm sao có thể phê phán trên chính những lời chú giải khi thơ tự nó không nói lên gì, nó chỉ nói lên cái người thưởng ngoạn cảm xúc thấy, nghe thấu được: thưởng ngoạn, chú giải là tước đoạt lời nói của người sáng tạo.

Thơ Hàn Mặc Tử? Tại sao không nhìn nó như một kinh nghiệm trước hết của một con người, một thực tại con người ngay trong thân phận, trong sử tính đích thực của nó? Thi sĩ đã nói về công việc làm thơ của mình, là “nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng”, đã nói tới những “âm điệu thiêng liêng tạo ra trong khi máu cuồng rền vang dưới ngòi bút”. Thơ là sự mời gọi tham dự vào chính những cảm xúc, những trạng thái tâm thần, những tình tự, kinh nghiệm của chính người thơ. Thơ trở thành kinh nghiệm tập thể, một kinh nghiệm khởi từ cá nhân để tan vào đám đông được mời tham dự. Kinh nghiệm thơ, kinh nghiệm người làm thơ là một. Kinh nghiệm ẩn sau từng chữ từng tiếng, từng hình ảnh. Đọc thơ, chú giải thơ là tìm tới kinh nghiệm nền tảng của thi sĩ.

Descartes một lần nói rằng, cơn thịnh nộ của thi sĩ nhiều khi hàm chứa nhiều hơn cả túi khôn triết học. Ngày nay, nỗ lực đem thi ca tới gần siêu hình học thiết tưởng chỉ bằng thừa khi ta quan niệm thi ca trước hết là kinh nghiệm sâu thẳm của con người, con người tấn phong bằng tính cách siêu hình của nó. Thực tại kinh nghiệm, thực tại người ẩn sau từng ngôn ngữ, thể hiện ngay trên từng ngôn ngữ. Phải chăng đó là cái gì có thật nhất bên cạnh ngôn ngữ ma thuật, cái gì khẳng định nhất bên cạnh ngôn ngữ hàm hồ. Ta đứng trước một vũ trụ, tự hỏi mộng hay thật, trước mắt hay trong ảo giác, tất cả những sương đục, trăng thề, tơ liễu, những hào quang, châu ngọc, những “vàng sao rơi đầy trên sóng nước”, những “đêm xao xuyến vũng sông Hằng”, những “âm hưởng địa cầu đang vỡ toang ra từng mảnh”… Tất cả tham dự hành trình của một vòng cảm xúc của thơ hay tất cả từng phút từng giây trở về, lảng vảng, xoay quanh, đeo đẳng một cảm xúc, một kinh nghiệm duy nhất, nền tảng. Tất cả, mang vẻ sững sờ. Tất cả: niềm hốt hoảng xao xuyến đang lên tiếng nói. Thi sĩ nói nhiều tới trăng, nhắc nhiều tới trăng. Trăng lấp đầy thi hứng. Trăng biểu hiện niềm cô đơn tuyệt đối. Trăng cưu mang niềm mơ ước. Trăng chính là sự trở về trong cảm xúc thi sĩ, sự trở về trong thảng thốt, kinh hoàng của thi sĩ trong chính hoàn cảnh, thực tại, trong chính kinh nghiệm “qua cầu”.

Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng.

Chỉ còn có trăng, cùng với tình cảm khô chết, hấp hối.

Ánh trăng mỏng quá che không nổi

Những vẻ xanh xao của mặt hồ

Những nét buồn buồn tơ liễu rũ

Những lời năn nỉ của hư vô.

Chỉ còn có trăng và kinh khiếp thay, trăng cũng lùi đi dưới mắt nhìn ngưỡng vọng. Còn có trăng nghĩa là không còn gì hết. Bao lời thơ thống thiết chỉ để nói lên rằng không còn gì nữa, trừ “những lời năn nỉ của hư vô”.

Thơ và đau thương. Thơ là kinh nghiệm đau thương đó.

Có lẽ không phải tình cờ mà tập thơ xuất sắc nhất của thi sĩ nhan đề ĐAU THƯƠNG. Nếu cần người ta chỉ có thể thâu tóm thơ Hàn Mặc Tử về một ý niệm tương tự, một ý niệm nền tảng. Thơ vẽ nên dung nhan hư hoại của kiếp người. Thơ đào sâu kinh nghiệm thiếu sót, tình cảm bại vong trong hành trình bát ngát của thân phận người. Hiện tại, ngay cả hiện tại cũng không còn, ngay cả hiện tại cũng không có. Bởi không một niềm vui, một hạnh phúc nào bình yên, vĩnh cửu. Nó già cỗi từ bao giờ, đã vượt khỏi tầm tay, đã rơi vào quá khứ. Thơ không là lời hồn nhiên ca tụng. Thi sĩ đánh mất thơ ngây. Chỉ có quá khứ ngổn ngang đổ vỡ và tuyệt vọng để khóc than. Chỉ có những ám ảnh thời gian với trăm ngàn sụp đổ đón đợi. Con người thất bại vì nhất thiết nó đã hay sẽ bị tước đoạt tất cả: tuổi trẻ, tình yêu, khoái lạc… Tất cả gãy đổ, băng hoại ngay trong dự phóng con người.

Máu đã khô rồi thơ cũng khô

Tình ta chết yểu tự bao giờ

Ta trút linh hồn giữa lúc đây

Gió sầu vô hạn nuối trong cây.

Trời hỡi bao giờ tôi chết đi?

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tợ si?

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?

Xin dâng này máu đang tươi

Này đây nước mắt giọng cười theo nhau

Mới hay phong vị nhiệm mầu

Môi chưa nhấp cạn mạch sầu đã tuôn.

Cái chết ám ảnh, dọa nạt, cái chết âm ỉ trong tâm hồn. Thi sĩ sống cái chết của mình. Hư vô chính là kinh nghiệm thi sĩ.

Trong ám ảnh của cái chết, trong thôi thúc của thời gian, trong khả hữu của hư vô toàn diện, đâu là cơ hội sau cùng của thi sĩ? Đâu là sự cứu rỗi cho phần số hạn hữu? Phải chăng đó là niềm tin ở một đấng? Phải chăng đó là phút huy hoàng mãnh liệt và đầy ắp? Phải chăng đó là sự kêu đòi hay nguyện cầu vô vọng? Có thể nhà thơ đã không từ chối một cơ hội nào xảy tới. Không cơ hội nào gọi là sau cùng. Không sự cứu rỗi nào gọi là duy nhất. Hàng trăm hàng ngàn vũ trụ hãy còn chưa đủ cho thi sĩ sống kịp đời mình.

Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng

Thơ phép tắc bỗng kêu lên thảm thiết

Cứ nhắm mắt cứ yêu nhau như chết

Cứ sảng sốt tê mê và rũ liệt

Đứng nghe chi âm hưởng địa cầu đang

Vỡ toang ra từng mảnh cả không gian

Cả thời gian từ tạo thiên lập địa

Đều trộn trạo điều hòa và xí xóa

Thành hư không hư tình ái đôi ta.

Cho tôi thắp hai hàng cây bạch lạp

Khói nghiêm trang sẽ dâng lên tràn ngập

Cả hàng giang, cả màu sắc thinh không

Lút trí khôn và ám ảnh hương lòng

Cho sốt sắng cho đê mê nguyện ước.

Thi ca vạch những con đường cứu rỗi cho ý thức khốn khổ bủa giăng bởi hư vô, hư vô chực làm suy sụp mọi dự phóng. Thi ca chính là sự cứu rỗi của người thơ không bao giờ ôm trọn cuộc sống trong tay. Thơ là đặc ân của thi sĩ. Có thể nói rằng chính sự thức tỉnh trước thân phận bàng hoàng, èo uột của kiếp người (có nhất thiết một người mệnh danh Hàn Mặc Tử?) đã đẩy thơ Hàn Mặc Tử tới những chân trời kỳ diệu của ngôn ngữ. Nó là tiếng kêu hốt hoảng của tâm hồn. Nó là cơn gào thét của khoái cảm sắp tiêu ma. Nó là nỗi kích thích, sức dồn đầy của da thịt, của thần kinh, của não bộ. Nó mặc khải một vũ trụ, vũ trụ mà thi sĩ kêu đòi, vũ trụ trong đó thi sĩ chỉ có thể chiến thắng hư vô bằng nhục cảm có thật đang kêu gào, chới với, ngất ngư:

Ồ say sưa trên hết các tục tình

Ồ thú lạ những phút giây thinh thoát

Hương cho thơm ứ đầy hơi khoái lạc

Máu cho cuồng run giận đến miên man

Hồn hỡi hồn, lên nữa quá không gian.

Vũ trụ thơ là tấm gương trong đó thi sĩ nhận ra hình ảnh của chính mình. Tâm tình bất trắc, đó là kinh nghiệm thi sĩ, kinh nghiệm thống trị trong số kiếp một người. Thơ là sự phục thù của thi sĩ, kẻ bị đè bẹp bởi định mệnh. Ngôn ngữ trở thành một khí giới. Nó đi tìm những khích động thần kinh. Nó đặt thơ và sự thưởng ngoạn thơ vào một cảm xúc mãnh liệt. Thơ hay là máu và nước mắt của thi nhân. Thơ không xuất phát từ trí tuệ. Nó bùng nổ từ những trung tâm thần kinh hệ. Thơ thể hiện những dự phóng hiện thực nhất, thơ ngây nhất của con người trong thi sĩ. Thơ vượt khỏi nguy tín của nghệ thuật.

Và để trở lại với những gì đã nói ở phần trên, ta có thể nói Hàn Mặc Tử thuộc những thi sĩ mà tác phẩm tự nó chối từ chú giải: nó đã là lời chú giải cho chính nó.

Vâng, thơ Hàn Mặc Tử đã tự đầy đủ cho chính nó. Thơ đã tự đầy đủ cho chính thơ. Và tôi không ngần ngại phát biểu rằng đó chính là sự thật sau cùng, nền tảng ở cuối những con đường tìm kiếm của người đọc thơ. Đó cũng là sự thật sau cùng, nền tảng của chính thơ, của chính người làm thơ. Người ta không thể đọc thơ như người ta nhìn ngắm một món đồ tử phía ngoài. Đọc cũng là một cách gia nhập. Người đọc thơ không là kẻ mang đến cho thơ một lời chú giải. Phải nói hắn chỉ là kẻ mang lời chú giải ra khỏi thơ, bởi lời chú giải về thơ không ở ngoài mà ở ngay trong thơ, nó là một với thơ. Nghĩa là thơ không chỉ là thơ nữa. Và thi sĩ không chỉ là người làm thơ một cách thơ ngây hay sung sướng. Có lẽ đây là chỗ cách ngăn khốc liệt giữa hai quan niệm thơ, về phía người thưởng ngoạn cũng như về phía người sáng tạo. Có lẽ ta không còn ở vào thời đại của một giòng thơ và từ đó của một giòng nghệ thuật thơ ngây, vô tội – sản phẩm của một cơn rung động thoáng qua hay một phút tình cờ may mắn nào đó. Có lẽ mai đây người làm thơ bắt đầu cuộc hành trình của mình không từ một khởi điểm nào khác ngoài khởi điểm của thơ. Chính từ khởi điểm của thơ, người làm thơ tìm đến yếu tính của thơ. Người ta có thể làm thơ trong cuộc đời. Nhưng thi sĩ là kẻ làm thơ ở ngay trong thơ của mình. Thơ không còn là tiếng nói của một phút giây hoan lạc hay sầu khổ đã từng lướt thoáng qua tâm hồn thi sĩ. Thơ không là tiếng nói. Thơ không là ngôn ngữ. Thơ là tiếng nói, là ngôn ngữ đã tinh lọc để trở thành tiếng nói của chính tiếng nói, ngôn ngữ của chính ngôn ngữ. Và mai đây người đọc thơ không còn là kẻ chỉ biết rung động và rên rỉ với từng dòng từng chữ của một bài thơ. Hắn phải có can đảm vượt qua những bức tường chữ nghĩa đầy phỉnh gạt để đạt tới cái cốt tủy bên trong. Hắn là kẻ mang mặt nạ của anh chàng Orphée, tình nguyện sa chân vào địa ngục theo tiếng gọi thầm lặng của Eurydice yêu dấu. Vâng, có một thứ tiếng gọi thầm lặng thốt lên từ mỗi một bài thơ. Đó chính là linh hồn của mỗi một bài thơ. Đó chính là bài thơ đích thật ẩn giấu trong mỗi một bài thơ. Đọc thơ? Có lẽ người ta không đọc thơ nữa. Và có lẽ thơ cũng không còn nữa. Điều đáng kể chính là thơ ở ngay trong thơ, chính là tiếng nói về thơ chứa đựng ngay trong thơ. Với Holderlin, với Lautréamont, với Rimbaud, v.v…, phải chăng một dòng thơ mới đã bắt đầu, dòng thơ bao gồm trong nó một ý thức mãnh liệt về thơ. Thi sĩ là người đầu tiên đọc thơ mình. Thi sĩ là người đầu tiên thức tỉnh ngay trong vũ trụ thơ của mình. Thơ thể hiện một cái nhìn về vũ trụ. Thơ đồng thời thể hiện một cái nhìn về chính cái nhìn đó. Đọc thơ Hàn Mặc Tử. Điều này có nghĩa là cùng một lúc tham dự vào hai cuộc hành trình say mê và hứa hẹn, một của nguồn cảm hứng sáng ngời của một tâm hồn bén nhạy và một của ý thức thơ nơi thi sĩ. Mường tượng một cái nhìn bàng bạc trên khắp các lời thơ của Hàn Mặc Tử, một cái nhìn thấu suốt căn phần thi sĩ cũng như căn phần chính thơ:

Phượng trì! Phượng trì! Phượng trì! Phượng trì!

Thơ tôi bay suốt một đời chưa thâu

Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu

Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang.

Thi sĩ làm thơ đồng thời không ngớt nói về thơ, trò chuyện với thơ:

Ta cho ra đời một giòng thơ rất mát

Mới tinh khôi và thanh sạch bằng hương

Trời như hớp phải hơi men ngan ngát

Đắm muôn ngôi tinh lạc xuống mười phương.

Ta há miệng cho nguồn thơm trào vọt

Đường thơ bay sáng láng như sao sa…

Trên lụa trăng mười hai giòng chữ ngọc

Thêu như thêu rồng kết tinh hoa

Ta cao ngâm giọng vô cùng thanh thoát

Khiến châu thân rung động thể tơ trăng

Toan ngất đi trong cơn mê khoái lạc

Mẹ dấu yêu liền vội đến tay nâng…

– “Đây thi sĩ của đạo quân Thánh giá

Nửa đêm nay vùng dậy để tung hô

Để sớt cho cả xuân xuân thiên hạ

Hương mến yêu là lộc của lời thơ”.

Với Hàn Mặc Tử, làm thơ cũng là một cách định nghĩa thơ rồi vậy.

20/2/2021

Huỳnh Phan Anh

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Chênh chao và khắc khoải trong “Vết bầm giấc mơ” của Lê Tuyết Lan

Khi lần đầu tiên tiếp xúc với tập thơ, người ta không khỏi bật ra thắc mắc, tại sao “giấc mơ” lại đi liền sau với “vết bầm”? Sao “vết bầm” là điều không muốn, mang hàm nghĩa không hay, đã rồi, dư âm xấu lại đi cặp cổ bạn bè với từ ngữ diễn tả ao ước, mong ngóng, chờ đợi là “giấc mơ”? Phải chăng tựa đề tập thơ đã manh nha những điều trái ngược, nghịch lí? Tác giả muốn gửi gắm điều gì đây hay cố tình gây ấn tượng lạ để tạo sự tò mò cho người đọc? Một cái tên tập thơ vừa là lạ vừa gời gợi điều gì đó còn đang ẩn khuất…

Tôi đọc tập thơ “Vết bầm giấc mơ” của tác giả trẻ Lê Tuyết Lan trong một tâm thế như vậy.

Tập thơ được chia làm hai phần hẳn hoi như là một sự cố ý sắp đặt (Phần I: Quê nhà yêu dấu; phần II:Tiếng tơ lòng). Ở đây, phải chăng là sự sắp xếp cố ý gọi ra cho bằng được tên tiếng lòng mà tác giả muốn trút lên câu chữ?

Điều dễ nhận thấy trước tiên là hình tượng bà nội xuất hiện đậm đặc và trùm phủ phần I tập thơ. Điều ấy cho chúng ta thấy rằng, tác giả đã dành hẳn một vị trí không gian trữ tình đẹp đẽ và trang trọng nhất cho nhân vật bà nội trong thế giới nội tâm nhân vật trữ tình của tập thơ. Chắc hẳn bà nội ở đây có gì rất đặc biệt đối với tác giả? Tác giả đã dành hẳn 6 bài thơ đầu tiên để viết về bà nội: Ngày mai con đi, Về với nội, Ngày mai con đi lấy chồng, Đưa nôi thương nhớ, Thư gửi nội, Nội ngồi vá mây.

Bài thơ mở đầu tập “Vết bầm giấc mơ” là một sự chuẩn bị chia tay cận kề giữa bà và cháu đẫm đầy những lưu luyến. Sao lại có cuộc chia tay bịn rịn và ẩn chứa đau đớn đến vậy?

“Ngày mai con đi

Góc sân nội ngồi

Nước mắt lưng lưng..”

(Ngày mai con đi)

Điệp ngữ “ngày mai con đi” xuất hiện lặp lại tới năm lần như là một dự báo chia lìa quặn thắt. “Nước mắt lưng lưng…” là nước mắt không còn nữa để khóc cho phút giây tiễn biệt. Nỗi đau quặn lại “lưng lưng” diễn tả nỗi niềm ẩn sâu chứa chất trong lòng. Có một chút ánh sáng hy vọng lóe lên ở cuối bài: “Thì đôi bàn tay ngày già trơn vuột/ Để con dìu bà/ Qua hết lênh đênh”, nhưng nhìn toàn thể vẫn là một bài thơ buồn đau và thấm đẫm những kỉ niệm kí ức tuổi thơ trong sáng cùng sự dìu dắt cho cháu lớn khôn ở bà nội. Thì ra, bà nội không chỉ là Nội mà còn là mẹ con, là cha con rồi có lúc bà nội kiêm luôn bạn chơi với tuổi thơ con nữa! Có thể nói tuổi thơ nhân vật trữ tình đứa cháu đã gói gọn trong lòng bà nội. Những câu thơ gợi ra hình ảnh vừa quen vừa lạ:

“Balô con đầy ắp…

Ánh mắt, nụ cười, liếp ruộng, bờ mương…

Có bàn tay gầy guộc

Đưa một kiếp người qua dâu bể biển khơi

Con ốc, cọng rau cũng trở mình nhiều khắc khoải

Bờ ruộng nội cấy, con trườn nhắc nhẵn chuyện ngày xưa…”

(Ngày mai con đi)

Cho nên, khi được về bên bà nội là như được về với yêu thương yên ấm, được hít thở bầu không khí êm đềm của sự chở che đùm bọc. Tình yêu thương và tấm lòng bà nội được Lê Tuyết Lan diễn tả xúc động, giọng thơ tự nhiên, rất gợi:

“Con bỏ lại Sài Gòn những đêm cô đơn trong ánh đèn rực rỡ 

Nơi mà con người nhỏ nhoi như hạt mưa rơi trên dòng nước 

Cựa hoài, chẳng thể trôi.  

Về với Nội

Chẳng còn những ngày chực chờ rơi rớt 

Chạy quanh quanh với những con đường đầy người 

Mà riêng mình khô khốc 

Nhìn đâu cũng biết đớn đau. 

Về với Nội…”

(Về với Nội)

Ở đó, chúng ta còn bắt gặp bao nhiêu những khắc khoải chăm bẵm khi lời thơ đề cập đến hình tượng người mẹ. Đó là những hình ảnh người mẹ hiện ra trong xa xăm mơ hồ, u oa ao ước ôm ấp nhưng lại vời vợi thăm thẳm: “Mẹ đã mệt rồi phải không? Từng tiếng thở héo hon bấu vào đêm ngàn ngạt/ Đôi mắt mờ ảo quơ tìm góc con tong teo bụi bặm dốc đời (Mẹ đã mệt rồi); đó còn là những mong ngóng, những cơn cớ để mong ước chia sẻ bao mất mát hụt hẫng, lời thơ là lời ru cô đơn xa xót: “À ơi con mẹ/ Ngủ đi con những ngày cuối trời buồn bã/ Chấp vá nhọc nhằn mẹ ru con bằng những giấc đời tan vỡ / Đưa tay mẹ nắm hôn con cả triền miên biển cả/ Con bé nhỏ trong lòng/ Con đã biết gánh gồng mong manh (Ru con). Đôi lúc xuất hiện những câu thơ lạ, ám ảnh đến vênh người khó quên:“Sợi tóc thề thả cong ánh chiều quê/ Gom gió, mây làm đê dài lăn lóc cọng rơm khô” (Bên bến sông xưa)

Ở đó còn là tiếng kêu thảng thốt của đứa con côi cút. Nỗi chênh vênh ấy hụp hửi chới với qua những câu thơ thật lạ, hỏi xoáy buốt rát lòng người: “Cha, mẹ ơi trời đã vào tháng mấy/ Vai con cong hoài những vết hoàng hôn” “Vết hoàng hôn”

Thốt nghĩ, một người chưa từng trải thì không thể viết được những câu thơ cắt cứa thấm đẫm phận người đến như vậy!

Đâu đó, còn là tiếng lòng của đứa con xa xứ luôn hướng về quê hương, giọng thơ đằm dịu, lời thơ khao khát hòa hợp gắn bó: “Ta về ta ở bên người/ Đêm đêm đất thở thay lời thủy chung” (Về ôm quê hương), có khi buồn buồn nhưng không lẻ loi: “Con cá bơi tìm hoa/ Nổi trôi cánh tím/ Mồ côi mây trời” (Đi qua sông quê), có khi là tiếng nói lạ nhưng vẫn tràn đầy năng lượng thương yêu: “Về đây để khóc cùng sông/ Gửi dăm câu chuyện long đong lỡ thì/ Trăm ngàn nỗi nhớ muốn ghi/ Trăm ngàn con sóng siết ghì vực sâu” (Ngồi bên sông), có khi là tiếng nói đẫm đầy kí ức quê rất giàu hình ảnh về người bà, về đồng ruộng: “Ngày qua quê có chéo áo bà sần sật đi hái mây về che nếp rách/ Bụm giọt nước đồng mà nghe cả mùa gặt trên tay” (Qua quê)

Có thể nói, tinh hoa câu chữ tác giả đã dành gần như cho hết bà nội và quê hương, phần sau cảm xúc nhẹ dần đi là điều dễ hiểu. Dẫu vậy, chúng ta vẫn có thể chọn ra một số câu thơ đáng đọc. Đó là những câu thơ giàu hình ảnh, mang đậm hồn vía cuộc sống từng trải: “Tay gầy gỡ sợi cơn mê/ Nhiêu khê vắt võng treo lề đục trong” (Lâu rồi); có câu tưởng cũ kĩ nhưng lại rất mới, rất ấn tượng: “Hồng trần lạc bước bơ vơ/ Có người lầm lũi cơn mơ cũng bầm” (Vết bầm giấc mơ); có những câu thơ như là lời thủ thỉ ấm lòng chờ đợi, mong ngóng qua kiểu nói lạ: “Bụi dừa nước cúi mình ngậm đất/ Anh có về qua từng đêm gió bấc/ Hôn qua xuân em trong hơi lạnh thật thà” (Người góa phụ); có những câu thơ bề ngoài là miêu tả thế giới vất vả mưu sinh, nhưng bên trong lại là tiếng nói diễn tả thế giới tâm hồn ăm ắp kí ức hồn nhiên: “Gập mình giữa phố hẩm hiu/ Chân này bước/ Chân kia khều tuổi thơ” (Sông trinh nữ).

Đôi lúc có những đoạn thơ rất lành nghề, vững nhịp: “Đám mây tự vẫn xuống đời/ Đua nhau những hạt rã rời gió mưa/ Trông chừng sau ánh đèn thưa/ Ai người ở lại đón đưa nhọc nhằn… / Dắt ngày đi hết hôm qua/ Đem về đốt sợi ta bà bi ai” (Vệt xanh nhau).

Có khi ta bắt gặp cách tả là lạ: “Có con chim bìm bịp / Khóc thương chiều đã góa màu xanh” (Lỡ làng) đem đến cảm giác ngạc nhiên thú vị, nó như chất xúc tác làm thay đổi mùi vị và tăng cường sự khoan khoái cho giác quan cảm thụ; chỉ tiếc rằng những câu như vậy xuất hiện không nhiều trong tập thơ.

Có những đoạn thơ tác giải pha trộn tình ý rất lạ: “Hẹn mình một buổi chiều đông/ Về nghe gió thổi mênh mông dịu dàng/ Từ ngày chiếc bóng bạt lang/ Thèm nghe tiếng vọng cơ hàn quê xưa” (Hẹn mình) khiến người đọc không khỏi thao thiết cùng con chữ với chị. Cái khát khao đâu đó ẩn trong sự từng trải chấp nhận, rồi chính trong cảm thức từng trải kia lại như mơ hồ hiện hữu vẻ đẹp dịu dàng xa xăm. Giọng thơ thảng thốt cắt cứa mà như lại thong dong tự tại.

Tôi đồ rằng, tác giả viết thơ rất nhanh vì những bài thơ như sự gom chụm kí ức, cất lên từ sự chắt lọc cuộc đời nên giọng điệu tự nhiên, ít thấy dấu vết của sự dụng công thi pháp: “Đã quá chuyến sầu mà vẫn ảo ảnh chuyến thuyền quyên” (Ảo ảnh)

Nếu phải chỉ ra những vết gợn đáng tiếc của tập thơ thì đó là một vài bài lục bát còn nhẹ về cảm xúc và yếu về vần điệu. Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì hình như người mới làm thơ ai cũng thường mắc lỗi này. Rồi đó còn là ở chỗ tác giả sử dụng từ Hán Việt đã cũ, dễ gây cảm giác sáo mòn cho người đọc.

Với tập thơ “Vết bầm giấc mơ” cho dù đây đó còn một vài chỗ non nớt xong nhìn chung tác giả Lê Tuyết Lan đã rất có ý thức chuyển tải những thông điệp tâm tình gọn ghẽ nhất có thể qua nghệ thuật ngôn từ của mình. Những bấp bênh gập ghềnh của cuộc đời đã được tác giả hình ảnh hóa rất rõ nét, bên cạnh đó là tiếng nói lấp lánh ánh sáng của sự khát khao thương mến. Cả tập thơ bàng bạc những hụp hửi phận người, chới với mơ ước xa xăm và cùng cực khát khao chăm bẵm ấp ôm mẫu tử. Chính điều này đã làm nên giá trị nhân văn cho tập thơ. Đọc xong tập thơ “Vết bầm giấc mơ” của tác giả, người ta không thể không xao xác giây phút khi thử nhìn lại phận đời sắc sắc không không của cõi người. Tập thơ là sự kích hoạt con chữ đáng ghi nhận ở một tác giả trẻ. Thiết nghĩ, nó sẽ là bước đà cho sự dậm nhảy về thơ sau này của cây bút Lê Tuyết Lan. Chúng ta có quyền hy vọng và chờ đợi ở tác giả trẻ này!.

Sài Gòn, 28/11/2020

Nguyễn Ngọc Tân

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Khi nhà phê bình “cưu mang” cái mới, cái khác

Sáng tạo gắn liền với đổi mới. Và cái mới ra đời không tránh khỏi những dè chừng, ngờ vực, thậm chí bị đẩy ra ngoài lề. Tại đây, trong cách thế của cái ngoài lề, văn học trở thành “cái khác”, làm đa dạng và phong phú đời sống văn học. Do vậy, nói như Trần Ngọc Hiếu, việc “bảo vệ, nâng đỡ” văn học ngoại biên là trách nhiệm của những người làm nghiên cứu phê bình. Nhìn nhận văn học trung tâm – ngoại biên, chủ lưu – phụ lưu, chính thống – bàng thống từ mối quan hệ “tương thông, liên đới”, những luận giải của Phan Tuấn Anh trong Những khu vực văn học ngoại biên – công trình đầu tiên (khá dày dặn) ở Việt Nam bàn sâu về văn học ngoại biên – ít nhiều lôi cuốn, thuyết phục.

Các tiểu luận trong tập sách được soi chiếu ở hai góc độ lí thuyết và sáng tạo, vừa thể hiện tính chuyên nghiệp trong nghiên cứu phê bình vừa chuyển tải khát vọng nhân văn của tác giả trước những khu vực sáng tạo phi trung tâm. Ngoại biên, như Phan Tuấn Anh nhấn mạnh ở Đề dẫn vào nghiên cứu văn học ngoại biên, đó là không gian “tiến hành tối đa sự giải phóng ngôn ngữ”, luôn tạo sinh những cái khác, “chưa hoàn tất, còn hứa hẹn những khả thể mới trong tương lai”. Xét ở đời sống văn học, “trung tâm là cái ngoại biên đã thành và ngoại biên là cái trung tâm sẽ thành, cả hai đều tạo tiền đề cho nhau và đều có vị trí riêng, đảm nhận những vai trò khác nhau trong đời sống văn học mang tính bổ sung và tương hỗ”.

Vấn đề trung tâm và ngoại biên được tác giả cuốn sách diễn giải ở nhiều khía cạnh: đời sống xã hội, triết học và văn học. Bên cạnh các lập luận, Phan Tuấn Anh còn đưa ra bảng phân loại, mô hình cũng như quan điểm cốt lõi của mình nhằm bổ sung, đánh giá, nhận diện mối quan hệ giữa trung tâm và ngoại biên. Theo đó, sự “gây hấn” của ngoại biên đối với trung tâm nhằm hướng đến giải trung tâm, kiến tạo một cấu trúc đa tâm. Ở thì hiện tại chưa hoàn kết, văn học ngoại biên dung nạp trong nó những cuộc chơi (lắm khi) dị biệt, do vậy, cần có “quan điểm tiến bộ, khoan dung” (chữ của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử) và cái nhìn mang tính toàn cầu khi đánh giá, tiếp nhận văn học ngoại biên.

Trong thế giới phẳng, mọi thứ đều bình đẳng trên cùng một mặt sân giá trị. Sự ra đời của internet đã lập trình nên ngôn ngữ mới – ngôn ngữ nhị phân (ngôn ngữ mạng/ máy tính) mà lĩnh vực nghiên cứu phê bình, văn xuôi, thơ ca, truyện tranh… đều chịu những ảnh hưởng và hệ lụy nhất định. Về sự xâm nhập của văn học mạng/ máy tính ở Việt Nam, Phan Tuấn Anh chỉ rõ quá trình di chuyển từ ngoại biên vào trung tâm qua các biểu hiện như bước chuyển hệ hình ngôn ngữ, một số xu hướng thay thế các dạng thức truyền thống, văn hóa đọc đương đại, thế hệ nhà văn trẻ viết trên nền tảng ngôn ngữ nhị phân… và đi đến khẳng định những đóng góp của văn học ngoại biên. Văn học mạng/ máy tính đẻ ra ngôn ngữ nhị phân, khiêu khích lí thuyết văn học nói riêng và đời sống văn học nói chung, tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa văn học với thị trường. Vận dụng tổng hợp tri thức cần có của người làm nghiên cứu phê bình, Phan Tuấn Anh so sánh, đối chiếu, phân tích, lí giải, tường minh sự tác động sâu sắc của ngôn ngữ nhị phân lên đời sống văn học Việt Nam đương đại. Anh chàng xe điện của Hitori Nakano được dịch và ấn hành tại Việt Nam và 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân là hai trường hợp rõ nét về một “bức tranh đa khảm” của văn học mạng/ máy tính và tính thị trường. Hai tác phẩm này đã từ ngoại biên tiến vào trung tâm. Nhà nghiên cứu phê bình, theo Phan Tuấn Anh, dù chiếm vị trí quan trọng trong “tam giác kim tự tháp” nhưng bản thân anh ta cũng “chịu ảnh hưởng của các thiết chế truyền thông”. Trong guồng quay của văn học mạng/ máy tính, đối diện những tác phẩm như hai tác phẩm vừa kể, nhà nghiên cứu phê bình buộc phải có những phương pháp tiếp cận mới.

Tương tự văn học mạng/ máy tính, đường đi của truyện lịch sử hư cấu cũng từ ngoại biên vào trung tâm. Truyện lịch sử hư cấu nếu trước đây “bị kì thị, phê phán”, “tác giả chịu vô vàn hệ lụy” thì nay đã trở thành đối tượng trung tâm của nghiên cứu phê bình văn học. Tưởng tượng, hư cấu giúp người nghệ sĩ làm mềm lịch sử. Thân phận con người cách chúng ta hàng trăm năm trở nên sinh động và gần gũi hơn. Các sự kiện, chi tiết được thêm thắt nhằm gia tăng tính li kì, hấp dẫn. Tại điểm này, internet thực hiện đúng sứ mệnh của mình: toàn cầu hóa. Theo Phan Tuấn Anh, cần “đánh giá lại, cởi mở hơn, dân chủ hơn, có tính đối thoại hơn” về tác phẩm văn học đề tài lịch sử.

Xuất phát điểm của truyện tranh cũng như truyện lịch sử hư cấu, nhưng truyện tranh nhanh chóng chiếm vị trí trung tâm và không ngừng thể hiện sức mạnh của mình, chứ không bất an giữa hai bờ đại đương như truyện lịch sử hư cấu. Chỉ ra đặc trưng thi pháp cũng như vấn đề tiếp nhận truyện tranh trong hoàn cảnh hậu hiện đại, Phan Tuấn Anh khẳng định “truyện tranh là một thể loại văn học (đặc biệt)”. Đặt truyện tranh Nhật Bản (manga) trong mối tương quan với truyện tranh phương Tây (comics), truyện tranh Đông Á, Phan Tuấn Anh đi đến xác quyết “vị thế trung tâm và đỉnh cao” của truyện tranh Nhật Bản trong đời sống văn học thế giới.

Về thơ tân hình thức, Phan Tuấn Anh đặt ra câu hỏi hóm hỉnh, rằng tại sao tân hình thức dẫu đã động phòng nhưng cứ mãi còn tân, cứ mãi nằm ở ngoại biên trong đời sống văn học Việt Nam. Sau những miêu tả, luận giải thuyết phục, nhà nghiên cứu phê bình cho rằng, thơ tân hình thức thuộc trào lưu hậu hiện đại, là dấu chỉ chứng minh sự tồn tại chính thức của văn học hậu hiện đại ở Việt Nam; khả năng dịch chuyển và chu chuyển trên nền tảng mạng bộc lộ hướng mở ra, hòa hợp với thế giới rất linh động là bước tiến từ ngoại biên vào trung tâm của thơ tân hình thức.

Văn học đòi hỏi ở chủ thể sáng tạo lẫn chủ thể tiếp nhận ý thức ngoại biên, hướng đến một cấu trúc đa tâm. Theo cái nhìn của Phan Tuấn Anh, sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh chẳng hạn, sở dĩ dịch chuyển từ trung tâm ra ngoại biên, rồi từ ngoại biên vào trung tâm, không phải vì tự thân tác phẩm “có vấn đề”, mà là do những cách đọc thiếu cởi mở, thừa định kiến. Chính tâm thế định kiến của những chủ thể đọc là phản lực ngáng trở sự vận động và phát triển lành mạnh, đúng quy luật của văn học.

Đứng về ngoại biên để thám mã sức sống của nó, bênh vực, cổ súy nó, khẳng định tư cách hiện tồn của nó, Phan Tuấn Anh đã chứng tỏ tâm thế thoáng mở và dự phóng của một nhà nghiên cứu phê bình. Bên cạnh đó, tác giả của những tiểu luận đầy chủ kiến trong tập sách sẵn sàng đối thoại, tranh luận với Đỗ Lai Thúy về đối tượng của phê bình văn học, với Trương Đăng Dung về văn bản văn học và bộc lộ rõ quan điểm của mình trước tác phẩm truyện tranh Sát thủ đầu mưng mủ của Thành Phong từng bị phê phán, thu hồi. Tính đối thoại này cho thấy một quá trình làm việc, nghiên cứu hết sức công phu, khoa học của Phan Tuấn Anh. Kiến thức vững, tư duy, lập luận sắc sảo giúp Phan Tuấn Anh khéo léo, thông minh đưa ra câu trả lời bằng những câu hỏi tu từ như: “Và như thế, đến đây, các Pharaoh đã có thể thở phào nhẹ nhõm hay chưa?” “Lúc này, nếu chúng ta quay về với quan điểm của C.Freeland, xem lịch sử nghệ thuật chẳng qua là lịch sử của những khái niệm nghệ thuật, tức là, lịch sử của lí thuyết nghệ thuật, thế thì chẳng phải công lao của những nhà tân hình thức thật đáng ghi nhận lắm sao?”

Trong tập sách, Phan Tuấn Anh còn bộc lộ tố chất của một người nghệ sĩ. Tôi rất thích cách anh lập luận dựa trên những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết. Chính những chi tiết này đã làm mềm hóa lí luận, tạo nên một hấp lực nhất định đối với người đọc. Thế hệ nhà văn trẻ tiên phong viết trên nền tảng ngôn ngữ nhị phân, tuy nhiên cũng chịu không ít hạn chế bởi sự tác động của con quái vật Minotaur. Phan Tuấn Anh đã đưa ra so sánh thú vị và ý nghĩa: “Phải chăng, hệt như Kasim (anh trai của Ali Baba trong Ali Baba và bốn mươi tên cướp) một khi đã lọt vào được kho báu của bốn mươi tên cướp, trước của cải kếch sù nên bởi lòng tham lam và lợi ích nhất thời mà đã quên mất câu thần chú Vừng ơi! Mở ra!” Văn học mạng “mang dáng dấp của một thứ trung tâm mới trong tương lai gần của nền văn chương thế giới” nhưng trong nó luôn dung chứa nguy cơ bất ổn. Phan Tuấn Anh khuyến cáo: “Chúng ta nên tránh ảo tưởng về một nền văn học (mạng/ máy tính) toàn bích mới không hề có những hạn chế, mất mát, nhược điểm, cực đoan. Ngay cả chàng anh hùng Achilles bách chiến bách thắng vẫn có một gót chân chí tử cơ mà.” Không chỉ chỉ ra gót chân Achiller của văn học mạng/ máy tính, trấn an nỗi lo sợ của các Pharaoh, Phan Tuấn Anh còn mượn câu chuyện xây dựng tháp Babel của loài người nhằm ẩn dụ việc tiếp nhận ngôn ngữ mạng/ máy tính…

Mượn chính lời của Phan Tuấn Anh trong Những khu vực văn học ngoại biên để kết thúc bài viết ngắn này: “Mọi cách tân đều có thể được lịch sử cưu mang và không có gì là không phải đạo trong nghệ thuật.” Tất nhiên những cách tân cả phía cái viết lẫn phía cái đọc đều phải được rọi chiếu bởi ánh sáng của quan niệm mĩ học mới, phục vụ cho sự tiến hóa thuận của lịch sử văn học. Ý thức trước thân phận văn chương chữ nghĩa cũng chính là ý thức trước thân phận con người.

5/3/2021

Hoàng Thụy Anh

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Mưa dắt ngang chiều – thơ dắt về ký ức

Gần đây nhiều người “sính làm thơ”, cho rằng “thơ” là câu chữ vần vè ghép lại nên số lượng thì tăng mà tỉ lệ nghịch với nó là sự nghèo nàn, thô cứng. Hay chăng thơ xưa và nay khác gì nhau? Ngô Thì Nhậm nói “thơ khởi phát từ lòng người ta” nghĩa là thơ: cốt cảm hơn cốt nghĩ! – Một vài câu chữ thô sơ thôi mà thay hộ được con tim, làm người đọc run lên hơn là dắc người đọc đi tìm “sâm” hết cánh rừng này đến cánh rừng khác mà chỉ gặp toàn củ ấu.

“Mưa dắt ngang chiều” – tập thơ mới của nhà thơ Lâm Bằng tôi mới được đọc, dù còn nhiều việc phải bàn, nhưng như người theo chân tác giả vào rừng tôi chí ít cũng tìm được những “củ sâm” dẫu “chưa già” những là củ sâm “tự nhiên” hoang dã với bao suy tư, trải nghiệm, những ký ức buồn vui về cuộc sống, về đời người.

Nếu nói thơ là tiếng nói bộc bạch, tâm tình sâu kín nhất, với Lâm Bằng cũng đúng. Cái vẻ bên ngoài thản nhiên, gai góc, trầm lắng, ẩn giấu trong lòng anh những nỗi niềm, những ký ức gian khó, thiệt thòi, chênh chao đã ám vào anh, hãy nghe anh tâm sự: “Những buồn vui sau lũy tre một thuở/Mãi mãi là ký ức của riêng tôi”. Anh làm thơ để giải bày, để chiêm nghiệm và để tri ân cha mẹ, xóm làng, những anh hùng, những con người nhỏ bé giữa đời thường giàu lòng nhân ái, biết trọng nghĩa nhân.

Trước hết anh thuyết phục tôi với những câu thơ viết về cha mẹ. Nhất là nói về hiếu nghĩa, dù thời nào cũng cần, nhưng có lẽ thời này khi mà các giá giá trị có phần bị đảo lộn cần được nhắc nhở nhiều hơn. Xã hội đồng tiền lên ngôi thì chữ hiếu lại chao đảo, bị coi nhẹ. Đọc những câu thơ của Lâm Bằng viết, người đọc tìm lại được một khoảng không gian cân bằng. Đó là các bài: Vu Lan 2010, Mẹ tôi, Ký ức tôi… Những câu thơ tặng mẹ quả thật rất cảm động: “Nắng xiên bóng đuổi liêu xiêu/ Mẹ đi gió thốc cả chiều nón mê/Đường làng hun hút phía đê/ Níu hai đòn gánh mùa quê chùng chiềng/ Sắt se sợi buộc sợi buông/Mẹ tôi gánh cả đoạn đường trên vai/Cau xanh ba bảy bổ dài/ Lá trầu vội úa mẹ tôi trở chiều/ Đời mẹ như nắng liêu xiêu/ Dặm xưa chưa tới bóng chiều đã buông” (Mẹ tôi). Cái rấm rứt, tê tái, chua xót gửi vào những câu lục bát tròn trịa về niêm luật, ngôn ngữ giàu biểu cảm, hình ảnh có sức gợi dường như không còn của riêng tác giả mà nó lan tỏa, làm ta buốt nhói. Cậu bé mất mẹ khi tuổi “chửa rời nôi” để rồi “Ký ức tôi không giữ nổi bóng Người/ Qua lời kể tôi hình dung chật vật” (Ký ức tôi). Nghiệt ngả số phận nhà thơ để câu thơ trĩu nặng. Hiểu mẹ mình trong cái gian lao của người mẹ quê miền chiêm trũng anh đã tái tạo chân dung con người lao động vất vả nhưng đẹp và nhân văn: “Mẹ đi gió thốc cả chiều nón mê”, “Níu hai đòn gánh mùa quê chùng chiềng”. Những câu thơ gợi bởi những hình tượng sống động. Như một bức tranh quê hiển hiện với bát ngát cánh đồng, hun hút gió và mùi rơm rạ đâu đây. Để rồi những cái hiển hiện đó ném vào không gian một tiếng kêu đắng lòng của một người con khát khao có mẹ trên đời, tủi phận vì mồ côi quá sớm:”Lá trầu vội úa/Mẹ tôi trở chiều“. Cách nói của anh tưởng nhẹ nhàng nhưng ta nghe có tiếng gằn lòng trong đó. Cái tái tê, cay xót lại từ đó nhói lên. Nỗi đau mất mẹ hằn lên trong trái tim non dại nhưng khắc nghiệt và hụt hẫng với cha “Cau xanh trầu úa… chiều vàng/Mẹ tôi đứt gánh giữa lang bang đời/Trời chi nghiệt ngã bấy trời… /Thân cha gà trống nghẹn lời võng đưa” Hình ảnh cau xanh, trầu úa lại một lần nữa xuất hiện trong thơ và cả hình ảnh rau răm, cây cải nữa…. Chất liệu dân gian làm cho tứ thơ trở nên đằm thắm. Bởi vậy dẫu tâm trạng rất đau xót nhưng vẫn chia sẻ bằng cách nói sâu đằm: “Gian nhà trống lời cha khàn đục/ À ơi/Gió đưa cây cải… sang mùa/Rau răm đi mãi…”. Cái sự vì con của cha, càng khiến anh cảm phục. Cha đã vì con mà quên nỗi niềm riêng một cách “dửng dưng”, quên đi cái đơn côi “lẻ buồm”, “còm cõi”. Bởi vậy anh càng thương và nể phục cha hơn: ” Chát lòng vả, đỏ lòng sung/Đắm con cá chuối, dửng dưng bến người/Lẻ buồn cha ngược dốc đời/ Cau xanh một bóng bạc vội, chát trầu/ Một đời đi muộn về mau/ Cõi còm cha chắt mỡ màu phần con”. Sự chịu đựng của người đàn bà góa bụi xưa nay đã làm ta không khỏi xót thương, nhưng cái sự chịu đựng, tảo tần của người đàn ông – gà trống nuôi con mới cám cảnh làm sao! Chỉ có người  nhân hậu, vị tha mới “Cau xanh một bóng bạc vôi chát trầu”. Cách nói ý nhị, có dấu ấn cá nhân dù rất dân gian. Có thể nói đây là câu thơ hay nói về một hiện thực không mới nhưng thể hiện một lối viết “biết tiếp lửa” cho những gì đã có. Câu thơ có sức nặng không phải bởi sự bóng bẩy, ngoa ngôn mà có sự sâu đằm, chia sẻ cảm xúc của cái tôi đau thật, thương thật, tủi thật chia sẻ với cha mình, với chính bản thân mình. Trong bài Ký ức tôi, anh thêm một lần nữa bày tỏ tình cảm của anh dành cho cha: “Ký ức tôi hình dung lời khàn đục/Lời cha ru khấp khểnh trưa hè/Tấp tểnh ngõ tre, cha về rười rượi/Bánh đúc bánh đa tôi đâu đáu một thời/… Ký ức dập dềnh thao thức/Lời cha ru lấm láp thân cò/Chưa đi hết câu ầu ơ một thuở/Tôi trở về gom ký ức…” tuổi xa xưa. Ký ức tuổi thơ với mỗi con người là sự sum vầy bên cha mẹ, nhưng với anh thật xót xa, thiệt thòi. Cái sự chênh vênh, hụt hẩng ấy có khi làm anh khép mình với tâm tư không thể giải tỏa. Nhưng có một điều anh khiến người ta phải thừa nhận là sự vươn lên chiến thắng số phận. Sự nghèo khổ của gia đình, mồ côi mẹ, rồi cha mất, sống cùng bà ngoại. Ở tuổi thiếu thời càng hun đúc trong anh ý chí để vươn lên. Tự học, tự kiếm sống, anh tìm đủ cách để học, để bằng bạn, để lập thân. Trường học của anh lớn nhất là trường đời. Cái sự say mê học hỏi anh có được như hôm nay là con đường không hề bằng phẳng. Có người chưa hiểu anh đôi khi ganh tị với anh, nhưng ở hoàn cảnh như anh không có nghị lực làm sao chiến thắng nổi. Hay lại trở nên buông lỏng, chênh vênh…? Nhà văn, nhà thơ trưởng thành trước hết nhờ năng khiếu bẩm sinh nhưng sống với văn chương thì cái quyết định vẫn là đam mê và tự rèn luyện. Anh là người yêu văn chương và sống với nó như một duyên nợ. Đến nay ở cái tuổi được “nửa đời” rồi anh vẫn hăng hái viết với nhiều khát khao, kỳ vọng, dẫu để đến được bên bờ kia không dễ chút nào.

Cùng với bóng dáng cha mẹ là quê hương, làng xóm nơi anh gắn với tuổi thơ lam lũ đã vào thơ anh như lẽ tự nhiên không thể khác. Anh viết về quê anh, nơi đồng chiêm trũng, quanh năm nước ngập trắng đồng, nơi có bà ngoại tần tảo sớm trưa với củ khoai, củ sắn: “Một cọng khoai lang/Hai cọng khoai lang/Chắt chiu bà ngoại dắt sang bếp chiều”… Đơn giản thế mà nuôi dưỡng thơ anh, mà vấn vương người con lập nghiệp nơi thành phố vẫn “nửa đời không nguôi nhớ” và “dẫu đi xa nết ăn ở” vẫn mãi còn, như một bản sắc không thể lẫn. “Ký ức làng” là sự ký thác chân thành mà anh đã trải nghiệm: “Bỗng ùa vào tôi rơm rạ của một thời/ Nồng ngai ngái đất lát cày nắng nỏ/ Chân trần dưới đồng chua/ Ngoáy đất thói nặn trâu, nặn cá/ Tóc vàng hoe bê bết đất vạt cày“. Để rồi anh mang theo đến cuối đất cùng trời một tâm niệm hay một sự tri ân cái nơi đã nuôi anh khôn lớn dù gian lao, khổ cực “Làng tôi đó, người làng nhân hậu lắm”. Những câu thơ thiên về tả, chưa thật mới lạ nhưng lại được cái tình người viết và có hồn quê trong đó. Gìn giữ bản sắc quê hương cũng là nét cần và quý để người làm thơ giữ được hồn mình như cánh diều nhờ vào sợi dây giàng buộc bám vào mặt đất dẫu có mải miết bay ở tận phương nào.

Bài thơ An nhiên là bài viết có tứ, tràn đầy cảm xúc khi tác giả nghe tin đại tướng Võ Nguyên Giáp vị tướng tài ba của dân tộc về cõi vĩnh hằng “Giữa cây ngàn/ Ông/ Một sắc lá xanh/ Dâng hiến hết mình lá an nhiên về cội/ Bình dị vậy thôi/ Giữa muôn ngàn gió nổi/Lá mang theo mình triệu triệu trái tim đau”.  Một chiếc lá rất giản dị, gần gũi – Chiếc lá như một đời người “Lá mang trong mình triệu triệu trái tim đau” thì chiếc lá đã có một sự thoát thai để mang trong mình vẻ đẹp mới: Có nội tâm và vĩnh hằng cùng người “nơi tiên cảnh”. Như một nén tâm hương ngưỡng vọng, nhà thơ cũng gửi lòng mình vào chiếc lá ru giấc ngủ người an nhiên về cội.

Bên cạnh người mẹ sinh ra anh, người mẹ quê cũng được anh tái hiện. Và đặc biệt là người mẹ Vĩnh Linh vá cờ Tổ quốc đã là một sự lựa chọn để anh bày tỏ cái tố chất anh hùng cách mạng của người phụ nữ Việt Nam. Nhân hậu trong đời thường, giản dị trong cách sống, dũng cảm trong đấu tranh và còn vững vàng trong tư tưởng chính trị. Người mẹ Vĩnh Linh vá cờ tổ quốc không chỉ đơn thuần là cái sự giỏi thêu thùa, vá may của người phụ nữ Việt Nam mà cao hơn là tư tưởng là cái sự ghé vai của họ trong sự nghiệp chung của non sông: “Mẹ ngồi đó đường kim mũi chỉ…/ Mẹ ngồi đó với dáng hình đất nước/ Cờ Tổ quốc nguyên lành bên người mẹ Vĩnh Linh”.

Và còn nữa những con người bình thường nhưng thanh sạch một đời cũng là đối tượng thẩm mỹ của thơ anh. Bằng lối thơ tự sự, qua câu chuyện của một người nhưng nói xa hơn về đời người. Anh bàn đến cái sự sang. Cái sự sang không cứ chỉ có ở những người giàu có, nó cũng có con đường riêng cho mọi con người bình dị: “Sòng phẳng đến mức cực đoan là gã/ Gã mua bánh mì chủ quán ưu đãi bán rẻ một xu, gã trả lại bánh bỏ đi/ Vào xem nhà hát lão mua hai vé, một vé gã gồi, một vé đòn gánh gã ngồi/ Nhặt được ví tiền dày cộp/ Gã mang nộp công an/ Rồi lại chạy theo gánh hàng với những đồng bạc lẻ“. Người dân ở xứ Thanh gọi tên gã là “Sơn Tỉ” thành tên chung cho nhiều đứa trẻ con “yêu mến” và “nghịch ngợm đáng yêu”. Hay như trong bài “Những kẻ lang thang” anh viết: “Mọi sự khôn ngoan đều là chạy trốn chính mình”. Cuộc sống hôm nay với bộn bề nỗi lo mưu sinh. Ứng xử với cuộc đời vẫn là bài học ai cũng nghĩ là “biết rồi, nói mãi” mà luôn luôn vẫn tồn tại, không cũ, không nhàm. Sống hết mình cho thơ, có lẽ trước hết cần phải hết lòng với đời.

Mỗi nhà thơ muốn trau dồi về nghệ thuật cần phải không ngừng tích lũy vốn sống, gìn giữ nhân cách. Cái đẹp như nhụy vàng của thơ phát lộ khi cửa sổ tâm hồn rộng mở – Cách mà các nhà thơ bậc thầy họ đã làm, hình như nhà thơ Lâm Bằng đang cố gắng mở rộng hồn mình để đón những va đập của cuộc sống phong phú ngoài kia.

Như một thói thường của cái “duyên thơ” mà nhân vật em “ào ạt” xuất hiện trong thơ anh với nhiều cung bậc khác nhau: Yêu say, mê đắm, buồn sầu… thể hiện rõ nhất chất lãng mạn có khi pha chút ngu ngơ, khờ dại, có khi day dứt, hờn trách, đắm chìm. Từ “say” trở đi, trở lại trong tập thơ hơn chục lần như để giải bày, khỏa lấp ham muốn không thể nào kiềm chế trước cái đẹp. Cái sự “dửng dưng” của anh mà người không gần gũi khó nhận ra thì giờ đây cũng chừng muốn cởi mở, không nề giấu diếm. Một sự náo nức đến vò võ, đợi chờ đến đắm đuối bên dòng Hương, tình tứ từ một ánh mắt “mi ướt” giữa hội xuân, hay chỉ “làn tóc mây” đã làm anh bối rối. Bài thơ “Có một chút tình si” là sự thú nhận thành thực: “Có đôi chút tình si bên mái lá/ Nợ ríu ran cho suốt một mùa yêu“. Yêu đến ngẩn ngơ “Tôi hóa đá trong vô cùng mắt biếc” và mất cả cảm thức thời gian “Ngất ngư say nắng thả sang chiều” để “nợ… cả mùa yêu” và “ngẩn ngơ” lạc cả “hồn vía” là đáng quý trọng. Tôi không ngờ là anh cũng đa mang đến thế.

Thơ nối dài hơn cho cảm xúc thăng hoa và thơ cũng “khôn ngoan” hơn trong cách tỏ tình. Bài “Em về bên ấy”  lại là một cảm xúc khác, với nỗi cô đơn: “Níu gì một chút hoa ngâu/ Ngày dài như dài thêm mãi/ Xa xăm khói cay đồng bái/ Đò sang… Mưa dắt ngang chiều” Em gần đó mà xa đó, huống chi bên này, bên kia đã là sự khác biệt, cách trở lắm rồi. Bài thơ gợi buồn, ly cách, cứ ngầm định người “làng bên”, “ngóng theo” chạnh lòng đến tê tái. Người yêu lấy chồng, cái cách dân gian, các bậc cha ông mình vẫn nói là “Đò sang…” đã được anh kế thừa lạ hóa.

Viết về “em” Lâm Bằng gắn kết với trăng. Trăng gắn với thế thái nhân tình. Trăng phá phách, trăng u sầu, lạnh lẽo. Trăng mang tâm hồn người con gái đa đoan, sầu cảm, trói buộc. Còn một sự táo bạo, dữ dội muốn bung phá để “Tuột nút gia phong” để “bung… neo lễ giáo”. Người đẹp thời “Cung oán ngâm khúc” và “Chinh phụ ngâm”… phá rào cất lời “khát khao”. Rằng “Đêm hoàng cung” tưởng cao sang mà sao “cô quạnh quá”? Bởi thế “trăng kinh thành” mà “giọt trăng rơi lã chã”. Trăng vừa hóa thân, trăng vừa là chứng nhân. Trăng soi, trăng chứng giám nước mắt người thiếu phụ dù sống giữa “Bệ ngọc đêm dài/ thiếp/ lạnh/ giấc/ nữ/ vương” (Trăng kinh thành), bởi đã “chật căng niềm ước”. Ước muốn nhỏ nhoi, trần tục với chỉ một lần “Thế gian ngưng, chao đảo cả trời sao” (Trăng). Cái bản năng hạnh phúc, thế tục xưa nay vẫn luôn là tình yêu và khát khao chiếm đoạt. Nếu công phu hơn cả về cách nghĩ, cách  cảm chắc chắn bài thơ sẽ gợi hơn, nhiều độc giả hơn.

So sánh hai bài thơ Trăng và Trăng kinh thành ở trên với một loạt các bài anh viết về “em” như: Sông Hương đêm, Chút ngẩn ngơ, Kìa trăng, Thì cứ hẹn… ta thấy anh có lý khi đã biết “quy kết’ chuyện yêu muôn thuở: “Em lỗi hẹn mưa bay ngăn ngắt lá “để ” Cho bến hẹn chênh chao mặt sóng”  và “Cho ngày đi chộn rộn đến nao lòng”…

Biết được giới hạn, biết khắt khe với chính mình mà tìm tòi, sáng tạo để thơ được “vun vén, cắt tỉa” âu đó cũng là việc mà ai muốn dấn thân vào công việc đam mê, đầy khổ ải này phải luôn nhớ. Lâm Bằng cũng như bao người khác cũng có ý thức như vậy! Liệu anh muốn bứt phá, hay bằng lòng với những gì đã có còn là vấn đề thời gian, nghị lực, và sức cảm, vốn văn hóa, kiến thức mà anh tích lũy. Trong tập, nhiều bài anh viết theo lối tìm tòi của thơ đương đại như: Khúc luân vũ của những giá trị, Ru khúc, phiếm luận về sáng tối hay sự khinh bỉ của loài dơi, Giảng giả, Tự phu, Những kẻ lang thang… nhưng viết còn rườm rà, ý không rõ. Anh đặc biệt quan tâm đến thực tại xã hội với thật giả lẫn lộn, giá trị đạo đức nhân phẩm xuống cấp, những kẻ giả danh trí thức, trọc phú vô văn hóa, những giá trị ảo… đang tồn tại, lẩn khuất cần được lên án. Nhưng vẫn mới dừng lại ở một cái tôi bản lĩnh dám đề xuất, thể nghiệm những suy nghĩ của mình cùng bạn đọc, chứ chưa thơ, chưa thuyết phục. Nhưng có lẽ sự mạnh dạn đó cũng cần thiết cho sự khởi đầu của thơ để anh có “của ăn” lấy sức mà mải lộ. Trong tập thơ không tránh khỏi nhiều bài mang tính luận giải, triết luận nhưng tính ước lệ, nhuần nhị chưa cao, tứ lỏng lẻo, từ ngữ luận giải chưa gợi, chưa đạt được mục đích của tác giả. Đó là các bài: Sẽ là tội lỗi ở một góc nhìn khác, Ghi ở quán Karaoke, Ngẫu cảm nguyên đán, Ngày, Trọc…

Nhà thơ Chế Lan Viên viết “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở /Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Triết lý giản dị mà thơ, dễ lay động lòng người. Vẫn mong mảnh đất Hà Trung nơi anh sinh ra và lớn lên là chất liệu, ngọn nguồn cho anh tiếp cận, cho cảm xúc anh thăng hoa. Dù nói gì đi chăng nữa “Mưa dắt ngang chiều”[1] là một tập thơ ghi nhận sự cố gắng tiếp cận hiện thực, những ám ảnh của anh về những gì anh đã có, anh nhìn thấy và anh đang tiếp cận. Cầu mong anh gặt hái được nhiều thành công, thêm một lần nào đó lại được theo chân anh vào rừng nhặt được nhiều “củ sâm” thơ anh đã tụ lõi, hóa trầm.

Chú thích:

[1] Mưa dắt ngang chiều, NXB Hội Nhà văn, 2014 của nhà thơ Lâm Bằng

13/3/2021

Thy Lan

Theo https://vanhocsaigon.com/

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...