Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

Bảo Ngọc: Thắp lên một ngọn lửa đam mê thuần khiết

Bảo Ngọc: Thắp lên một
ngọn lửa đam mê thuần khiết

“Trong cơn mê của lửa” của nhà thơ Bảo Ngọc là một tập thơ mới và lạ, xét cả về nội dung và chất thẩm mỹ của tác phẩm. Tập thơ đã mang đến nhiều cách đọc trong những lần tiếp cận khác nhau, và tôi có cảm nhận riêng rằng, mỗi lần đọc lại thấy tập thơ trong veo như một khối cầu pha lê soi rọi rõ hơn thế giới của nhân sinh, của tình yêu và đam mê.
Đứa trẻ và nhà hiền triết
Tập thơ được chia làm ba phần: Yêu và mộng (19 bài), Bản thể (18 bài), Lặng (17 bài). Nhà thơ Bảo Ngọc chọn thể thơ 1-2-3, một thể thơ mới do nhà thơ Phan Hoàng đề xướng, để diễn ngôn thế giới tâm hồn mình. Tác giả viết: “Từng mảnh hồn, từng khoảnh khắc trong thơ, tôi đã sống trọn vẹn”. Bên cạnh những câu thơ mang ngôn từ đẹp và sâu lắng, tập thơ còn được minh họa bằng những bức tranh mang phong cách tối giản của họa sĩ Nguyễn Doãn Sơn. Có thể nói, tập thơ là một sự kết hợp khá tự nhiên, hài hòa của các yếu tố nghệ thuật, và là một chỉnh thể hướng tới cái đẹp mang tính bản thể.
Tựa đề của tập thơ: Trong cơn mê của lửa – là một sự dẫn dụ mang tính mê hoặc, vì chỉ lửa thôi đã khơi gợi bao điều  về sự khởi lên của nó. Ngọn lửa được thắp lên trong những hoàn cảnh, nơi chốn nào? Được bắt đầu từ đâu và có kết thúc không? Cơn mê của lửa có phải là sự vượt thoát dữ dội, mang tính dục vọng, hay một nghi lễ, hay một khát vọng tái sinh? Hay tập thơ là hình thức giải phẫu giấc mơ vốn cháy bỏng trong tâm hồn nhà thơ?… Tôi đã tìm cách trả lời những câu hỏi mình tự đặt ra, và nhiều lần gặp được hình ảnh đứa trẻ trong tập thơ:
Trong giấc mơ của đứa trẻ – lâu rồi – tôi hỏi:
Ai đã rắc những ngôi sao lên trời
Để đêm đêm cả bầy sao lại rơi xuống biển?
Trong cơn nhớ – mê cuồng vừa đây thôi – tôi hỏi:
Ai đã cuốn hồn tôi lên trời
Để đêm đêm tôi tự vớt mình lên mặt sóng?
Đó là đứa trẻ của R. Tagore thấp thoáng trở lại, trong sự hoài niệm của thời gian, của sự đổi thay. Đứa trẻ cũng chính là bản thể con người đã trải qua những bến đời mê, thực; và sau cùng nhận ra rằng chỉ có chính mình mới tìm thấy bản thân mình. Qua 6 câu thơ ngắn ngủi ấy, tác giả còn kể lại một câu chuyện thần tiên mà dường như mỗi chúng ta đều cảm nhận được, sau khi đọc truyện Hoàng tử bé  của Antoine de Saint-Exupéry. Cũng từ đó, ngay từ đầu tập thơ, nhà thơ đã khẳng định:
Cứu rỗi và thi ca – con đường nằm trong trái tim của trẻ
Thế giới đảo điên này
Hãy nghe trẻ cất lời chỉ lối ta đi!
Bản thể ấy từ khi nào vẫn luôn thao thức, kiếm tìm trong cuộc đời những mảnh hồn của riêng mình? Có lẽ chỉ có trăng sao biết được, khi tâm hồn đã rời nơi nương náu làm một cuộc thiên di (dù có muốn hay không): “cuốn hồn tôi lên trời”. Trong tập thơ “Trong cơn mê của lửa”, trăng là một biểu tượng đa nghĩa, vừa là sự bất tử, lại vừa thoáng hiện, trở thành một bước khúc xạ nhiệm màu của tình yêu:
Ta vớt trăng mắt người và hát:
Trăng hay mắt của trời – Bao giờ trăng có tuổi?
Mắt người hay giếng trăng – bao linh hồn chết đuối?
Ta bơi qua giếng trăng – ánh vàng thiền đáy suối
Sao bơi qua mắt người
Một chớp mi – Ngàn năm rồi chưa tới?
Biên độ của cảm xúc, và chiều kích của vũ trụ được mở rộng, còn đôi mắt là “thước đo” vừa cụ thể, vừa ảo diệu vô cùng. Nhà thơ đã hóa thân thành người tình, nhìn về vũ trụ bao la bằng đôi mắt yêu thương, tôn thờ, ngưỡng vọng, song cũng rất gần gũi, bình dị. Người tình ấy thấu cảm trọn vẹn giây phút khát khao, dâng hiến, và cũng hiểu rõ khoảng cách không tưởng của thực tại (triết lý nhà Phật gọi là vô thường).
Trong ngực biển
Cơn nhớ chồm lên xiết chặt vai thon
Từng chiếc cúc cài khuy trăng bật mở
Những lọn sóng bạc đầu tan cuốn vào nhau
Cơn mê dịu dàng nóng bỏng
Ta kéo sao trời xuống đáy biển sâu!
Sau tất cả những hình tướng đầy biến hóa của thiên nhiên, cây cỏ, con người; và cũng sau tất cả những cung bậc cảm xúc, kể cả sự gợi tình đến cháy bỏng… có một nhà hiền triết bước ra.
Ngồi xuống bên mép sóng!
Ngón tay kết lại.
Tôi thấy Mặt Trời, Mặt Trăng, núi Tu Di qua Bốn Biển.
Khi môi tôi cất lên lời nguyện.
Những ngọn sóng dâng mặt trời nhô lên từ biển.
Tôi tan vào chính Tôi!
Thiền trong cõi yêu thương
Có lẽ đây chính là tâm thế của nhà thơ Bảo Ngọc, khi chị đặt bút viết lên những câu thơ rất đời thực, nhưng cũng rất phiêu bồng để làm nên “Trong cơn mê của lửa”. Đôi mắt của một con người hiểu rõ lẽ Chân Như, hiểu được chính mình là ai trong thiên sai vạn biệt. Tuy nhiên, tập thơ mới của chị mang một chất Thiền rất mới lạ, khi đưa người đọc qua rất nhiều ngưỡng cửa của mê say, đắm đuối, bi hoan, được mất… Nhưng khi trở về, vũ trụ ta bà ấy vẫn là một thế giới tuyệt đẹp, thuần khiết, đáng yêu, đáng sống. Ở một bài thơ cuối phần Lặng, chị viết: “Mười ngón chân hóa làm ngọn sóng/ Vẽ vòng tròn vời vợi một ráng – Không!” Ngôn ngữ thơ đã tạc được hư không, song cũng gợi tả được cuộc sống xiết bao tươi đẹp: “Ta – một cánh hoa đào ôm cả nhân gian”.
Bàn thêm về tính thi – họa của tập thơ, có thể thấy sự phác họa rất tinh tế từ trong từng hình ảnh, từng câu thơ, nhịp thơ… Khảo sát về thơ 1-2-3, có thể nói đây là thể loại thơ tư duy, hiện đại, kiệm lời, ít chú trọng vần điệu. Thơ 1-2-3 của Bảo Ngọc, cụ thể là ở tập thơ “Trong cơn mê của lửa” cũng thể hiện rất rõ đặc trưng của thể loại thơ này, đồng thời có sự biến hóa nhẹ nhàng, với cách viết ẩn dụ và chọn lọc. Tác giả dùng chính những chủ thể của bài thơ, câu thơ để truyền vào đó nguồn cảm hứng, sự suy tưởng hoặc chiêm nghiệm: “Nắng nhặt tim ta – lặng lẽ – nắng cười; “Cầm duyên trong dải yếm… Ta một mình – Bến Yêu”; Giọt sương giữa lòng tay – ngược bóng đêm để tới được ngày”; “Dưới tầng bụi phủ cây dương cầm đã trút hết âm thanh”... Không cần mô tả rõ ràng màu sắc, đường nét, âm thanh, song vẫn gợi tả và ám ảnh. Những bức tranh minh họa của họa sĩ Nguyễn Doãn Sơn – bạn đời của nhà thơ Bảo Ngọc – cũng mang nét đồng điệu trên từng trang thơ của chị; càng làm cho câu chữ, thi liệu thêm đẹp và sinh động.
Một tác phẩm văn học nghệ thuật được coi là thành công khi mang đến sự tròn đầy trong cảm xúc, sự “mãn nhãn” về mặt thẩm mỹ, cùng sự mới mẻ đầy cảm hứng. Có thể nói tập thơ “Trong cơn mê của lửa” là một thử nghiệm thành công của nhà thơ Bảo Ngọc, với một thi pháp mới giữ lại sức sống xanh non nơi cội rễ cuộc sống: “Thinh không vừa vang lên nhịp cuối/ Cái chết của kim giây – chiếc đồng hồ già cỗi”. Đối với tôi, trong rất nhiều tín hiệu mới ấy, bài thơ sau đây có thể “giải mã” được bí mật của ngọn lửa mà kiếp nhân sinh này đã thắp lên, và nhà thơ tự nguyện mang theo nó đến tận cùng cơn mê sáng tạo:
Ngỡ như Trăng mộng du qua cơn mơ của Lửa
Ta nặn bùa yêu thả giữa ngực trời
Ta rót lời yêu bỏng rát trên môi
Người nhìn ta – không nói
Lửa đốt ta – không lời
Ta câu mình – Trăng rơi!
Tập thơ có 2 bài dùng từ “câu” (trong đó có bài so sánh: Thời gian buông chiếc cần mang lưỡi câu tia chớp). Bài thơ dẫn dắt người đọc qua những cảnh giới khác nhau: từ sự hỗn mang vũ trụ đến cơn mê cuồng “lời yêu bỏng rát”. Để cuối cùng, con người đi đến sự vô ngôn (không nói, không lời) đối diện với bản thể của chính mình, cái nhìn thấu suốt giữa một vũ trụ bao la tình yêu. Tác giả muốn khẳng định bản chất của cuộc sống chính là tình yêu, bản chất của vũ trụ rộng lớn này cũng là tình yêu; và dẫu con người có yêu như “mộng du”, như si dại, như tự mắc lưỡi câu tự hủy hoại mình, thì đó cũng là lẽ sống, là bản năng và sứ mệnh của con người. Và con người được giải thoát trong tình yêu. Không thể khác được.
Vậy có gì mâu thuẫn giữa chất Thiền và chất tình trong tập thơ “Trong cơn mê của lửa” hay không? Nên coi đây là tập thơ tình hay thơ Thiền? Tác giả giãi bày trong Lời nói đầu: “Đi lên, chạm tới cái tận cùng của biết, cũng là tận cùng của khát vọng”. Cái “biết” chính là sự quyết định cho hình hài và hồn cốt của tập thơ, thể hiện kinh nghiệm sống và nhận thức của tác giả qua từng bước chân, từng hơi thở, từng khoảnh khắc – Phật giáo gọi là satna. Những “satna tình yêu” đã được trọn vẹn và sắp xếp một cách cẩn trọng trong hành trang của một con người “chạm tới cái tận cùng của biết”, để người ấy mang theo một cách trân quý những giá trị chân thực của cuộc sống này. Chính vì vậy, ngòi bút của nhà thơ đã khai phá được những vỉa tầng cảm xúc mang tính tư tưởng, và khéo léo làm cho chúng tươi mới, thăng hoa.
18/8/2025
Mai Sơn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Lịch sử có mách bảo gì không

Lịch sử có mách bảo gì không?

Nhà thơ Quách Tấn (1910 – 1992), quê ở Bình Định, sinh trước nhà thơ Bích Khê (1916 – 1946), quê ở Quảng Ngãi 6 năm, mất sau Bích Khê 46 năm. Bình Định và Quảng Ngãi đều là những nơi sinh ra nhiều nhà thơ nổi tiếng cùng thời với hai ông. Tập thơ đầu tay “Một tấm lòng” của Quách Tấn in năm 1939. Bích Khê, “Tinh huyết” cùng in năm 1939.
Cả hai ông đều xuất phát từ thơ đường luật. Bích Khê mất 5 năm viết loại thơ này 1931 – 1936. Quách Tấn có viết thơ lục bát nhưng mạch chính của cả đời thơ vẫn là đường luật. Ông viết: “Đối với tôi, tôi không tách biệt mới và cũ. Tôi lựa thể đường luật vì thấy thích hợp với tâm hồn mình. Vì đã lựa được con đường đi nên từ 1932 đến 1941, mặc dù phong trào thơ mới sôi nổi, tôi vẫn giữ thể đường luật”. Bích Khê thì khác, năm 1937, khi Hàn Mặc Tử tác động, ông chuyển sang ngay với thơ mới và từ bỏ thơ Đường.
Những nhà thơ đương thời và cả sau này có đánh giá về thơ hai ông. Với Quách Tấn, cụ Tản Đà trong lời bình bài thơ Đến thăm vườn cũ cảm tác, viết: “Nói về tình thì rất lâm li mà nói về bên tài cũng đến thế là hay”. Đặng Thị Hảo cho biết: “Tập thơ “Một tấm lòng” vừa ra đời đã gây nên ai luồng dư luận trái ngược. Các nhà thơ cổ hoan nghênh; những người hâm mộ “Thơ mới” lại làm ngơ, như ở báo Phong Hóa của bút nhóm Tự Lực văn đoàn chỉ giới thiệu văn tắt mà không bình luận gì”.
Với Bích Khê thì khác, trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh và Hoài Chân đã viết: “Tôi đã gặp trong ‘Tinh huyết’ những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam: “Ô hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông”. Hai ông cũng dẫn mấy câu thơ trong bài “Tranh lõa thể” rồi dẫn lời bình của nhà thơ Hàn Mặc Tử: “Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu…”. Chế Lan Viên sau này đánh giá: “Khê không chỉ có một câu, không chỉ có hai câu. Anh có nhiều câu và nhiều bài… mà các thầy có khi không có. Hàn Mặc Tử không có, thơ Việt Nam trước đây không có.” Chú ý những ý kiến khen thơ Bích Khê đều là khen thơ mới, thơ đường luật không có vị trí nào trong sự nghiệp của Bích Khê.
Nếu ai hỏi, qua sự nghiệp của hai ông, lịch sử có mách bảo gì không? Tôi nghĩ là có. Có thể mách rằng, khi cuộc sống đã thay đổi thì các nhà thơ và thơ phải thay đổi theo. Muốn có sự thay đổi cần nắm vững lý luận để nhận biết chính xác. Thay đổi cao nhất là thay đổi thi pháp. Ai không nghe được để thay đổi hoặc cố tình không thay đổi cứ khư khư ôm lấy cái cũ thì bị bỏ rơi phía sau.
Ta đã thấy nhà thơ Quách Tấn khi nào cũng mang theo bên mình hai cái lồng, đường luật và lục bát. Hễ có cảm xúc, ông cần có thời gian lựa chon nên bỏ thơ vào lồng nào. Thơ ông là thơ gián tiếp (vì phải qua công thức). Cả đời ông nổi bật nhất chỉ có hai loại thơ ấy. Ông không quan tâm đến những thay đổi của cuộc sống bên ngoài. Sự trung thành của ông giống như những ông quan xưa chỉ thờ một vua. Ông dành tất cả thời gian cho thơ công thức, nhất là thơ đường – một loại thơ do con người một thời cài đặt, khắt khe, dùng để tự kỷ ngâm vịnh đã lỗi thời.
Nhà thơ Bích Khê thì khác. Hàn Mặc Tử khuyên ông nên viết theo thơ mới. Ông nghe ngay. Sở dĩ ông nghe được là do trong tim ông đã có nên khi gặp gió ngoài thì căng buồm lên. Ông không mất thời gian lưu luyến đến thơ công thức. Ông bắt nhịp được với cuộc đời đã thay đổi. Một nước phong kiến toàn tòng giờ đã tiến đến nửa phong kiến, nửa thực dân. Thơ ông là loại thơ trực tiếp (Vì không theo công thức nào). Nghĩa là có cảm xúc đến thấy ngôn ngữ là cứ thế mà chép. Ông không mất thời gian loay hoay tìm lồng để nhốt thơ. Thế mới có những câu thơ xuất thần như: “Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm/ Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?… “
Nếu bạn nghiên cứu sự phát triển của thơ Việt Nam hiện đại hoặc chỉ là người thích đọc thơ của thời vượt thoát 1930 – 1945, bạn có thể không đọc thơ Quách Tấn nhưng không thể không đọc thơ Bích Khê…
19/8/2025
Vương Cường
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Khát cháy" của Nguyễn Đức Hạnh: Phân mảnh để phát sáng

"Khát cháy" của Nguyễn Đức
Hạnh: Phân mảnh để phát sáng

Nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh vừa ra mắt tập thơ song ngữ Việt – Anh “Khát cháy” (“The Ardour of Thirst”, NXB Văn Học, 2025), do nhà thơ – dịch giả Võ Thị Như Mai chuyển ngữ. Tập thơ gồm 95 bài, được Nguyễn Đức Hạnh viết trong thời gian gần đây. Tôi xem đây là một bước rẽ thi pháp đầy ngoạn mục, đánh dấu sự dứt bỏ có chủ ý khỏi phong cách thơ vốn ổn định của ông trong 4 tập thơ trước đây[1]. “Khát cháy” mở ra một cấu trúc thi ca mới lạ, dẫn dắt người đọc bước vào thế giới bất định, đầy ám gợi.
Ẩn sau bước chuyển ấy là một kiến trúc thi ca được tổ chức đầy dụng ý, tập thơ chia thành bốn phần – tựa bốn cung bậc tâm hồn đi qua những miền ký ức, khát vọng và chiêm nghiệm: “Khúc hiếu thuận” – tập trung vào mạch thơ nội cảm, viết về mẹ cha, quê hương và ký ức tuổi thơ; “Khúc sơn hà” – mở rộng cái tôi công dân với ý thức lịch sử và văn hóa sâu đậm; “Khúc tri âm” – là tiếng lòng tri ân bạn văn, tiền nhân; và “Khúc huê tình” – những thi phẩm về tình yêu và hiện sinh, nơi lửa và nước hòa quyện, kết tinh thành khát vọng sống mãnh liệt. Tập thơ vận dụng nhiều thủ pháp hiện đại, trong đó nổi bật là lối phân mảnh – một đặc điểm nghệ thuật chủ đạo, định hình cấu trúc và thi pháp thơ Nguyễn Đức Hạnh. Mỗi phần thơ như một địa tầng cảm xúc, nơi năng lượng tích tụ bùng cháy thành ngôn ngữ, rực rỡ và dữ dội.
Thế giới thi ca hiện đại hầu như không còn là một cấu trúc toàn thể, thống nhất, mà đứt gãy, chồng lấn và xáo trộn – phản ánh trạng thái tinh thần của con người hôm nay: rối loạn, giãn cách và hoài nghi. Tính phân mảnh đã trở thành một cú trượt mỹ học tất yếu của thơ đương đại – từ T.S. Eliot với “Đất hoang” (The Waste Land), Paul Celan với “Tẩu khúc của tử thần” (Todesfuge), đến một số nhà thơ Việt Nam như Nguyễn Quang Thiều, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Bình Phương, Trần Hùng, Nguyễn Đức Tùng, Lê Vĩnh Tài… với những cách tân táo bạo về cấu trúc và ngôn ngữ thi ca. Trong mạch vận động ấy, Nguyễn Đức Hạnh bước đi với nhịp điệu riêng. Thơ ông dồn nén rồi vỡ ra thành những hạt nhân, lát cắt – như tiếng nói bị ngắt quãng, như nhịp thở gấp gáp của một tâm hồn luôn trong trạng thái bất an. Người đọc buộc phải bước vào mê cung của những đơn lẻ, mảnh vỡ, để tự kiến tạo mạch kết nối. Chính trong sự không toàn vẹn ấy, thơ ông phát sáng.
“Căn nhà bé dựng cuối xa xăm/ Mưa cứ ghé rồi ôm trong vắt/ Lấy gió đan tấm lưới xanh ngát/ Bẫy hương thơm của hoa dại lạc đường” (nói với em khi tóc bạc); hay “Đường mòn sợi dây níu rừng/ Còn ít lắm như bánh đa sắp vỡ/ Suối – sợi dây xanh tôi níu chính tôi/ Thuở trong vắt đón bao lá thơm/ Rụng khẽ trong chiều đỏ mặt” (Nghẹn rừng). Đó là những mạch cảm xúc tự do theo dòng ý thức. Ở đó, nhà thơ không kể chuyện mà gợi mở, không lý giải mà phóng chiếu. Các hình ảnh đặt cạnh nhau theo liên tưởng tức thời, mỗi thi ảnh vừa là đốm sáng, vừa là vết thương. Tiết tấu thơ ngắt quãng, chập chờn, khiến người đọc không thể lướt nhanh mà buộc phải dừng lại, lắng nghe dư ba lan tỏa qua từng câu chữ. Ở đó, thiên nhiên và con người hòa quyện – như suối trong níu giữ tâm hồn, như gió đan vào ký ức, như bông hoa rơi vào khoảng trống…
Thơ Nguyễn Đức Hạnh là cách níu giữ bản thân giữa một thế giới đổ vỡ, đầy rủi ro. Những mảnh rời ấy mở ra nhiều lớp liên tưởng, tạo nên không gian thi ca đa tầng, giàu cá tính và cộng hưởng. Chính sự phân mảnh giúp thơ Nguyễn Đức Hạnh tạo những tiết tấu dị nhịp mà ám ảnh, một cấu trúc xô lệch mà giàu biểu cảm. “Vỏ ống tre quê hương/ Xanh lặng lẽ bụi cây ai biết/ Tình yêu tụ thành gạo nếp/ Mắt mẩy thơm thức ngó đêm dài” (Tôi là ống cơm lam nướng vụng).
Nếu cần một hình ảnh để gợi lên thủ pháp phân mảnh trong “Khát cháy”, tôi sẽ nhắc đến cánh rừng bùng cháy. Sau mỗi bài thơ của Nguyễn Đức Hạnh, trong tâm trí người đọc còn vương lại những tàn lửa sáng mãi. Không cốt truyện, không trật tự thông thường, thậm chí không có cả thông điệp rõ ràng – nhưng thơ ông vẫn cuốn hút người đọc bằng sức nóng bức bối, âm ỉ, đôi khi chói lòa đến nghẹt thở. “Nỗi nhớ gõ cửa cánh đồng tìm sợi rơm vàng/ Rơm thành khói còn cong nưng nức/ Dòng sông gọi cánh diều/ Tiếng sáo rơi mọc cây ngọc lan/ Hương hoa thiền trong gió/ Nỗi buồn liền sẹo như cây” (Cán giấc mơ vỡ).
Tính phân mảnh trong “Khát cháy” hiện diện trên nhiều tầng nghĩa, tạo nên một cấu trúc độc đáo. Một số bài mở đầu bằng đoạn văn xuôi phóng dật, dày đặc liên tưởng – như tán cây lớn – rồi nhanh chóng tách thành những câu thơ ngắn, rẽ nhánh như rễ cây vươn sâu vào lòng đất. Chẳng hạn bài “Nhớ Vinh” mở đầu bằng đoạn thơ: “Lửa đỏ trong nước lạnh. Tuyết trắng gói đa tình/ Giấu thép trong lụa bạch. Lấy bão làm dây buộc tóc xinh/ Cửa Hội nghiêng chiều đổ sóng vào anh/ Mai xa rồi cắn sông lâu chút nữa…” Sau đó, chúng tách thành những câu thơ lẻ, khô khốc và gân guốc: “Tri kỷ toàn là gió/ Chân trời nghe bỏng nhau/ Tâm giao lăn đá tảng/ Đau hoài có kêu đâu…”
Thủ pháp ấy được vận dụng tương tự trong bài thơ “Ngược”, bắt đầu là những cành nhánh sum suê: “Ai đổ mưa Vào cây? Hoa ngậm nắng chờ ngày mai tới/ Người người bay thành mây. Cười sáng bao phương trời mới”. Và, tiếp đến chùm rễ sâu bên dưới: “Củ sắn còi vêu vao ngày đói. Tay cha chai sần vỡ đất./ Lưỡi cuốc mòn chậm hơn đời người/ Lửa gộc sù sì không ngủ/ Cháy rực hồng gương mặt ban mai”. Lối kết cấu bài thơ theo kiểu “tán cây và chùm rễ” như vừa đề cập xuất hiện khá nhiều trong tập thơ “Khát cháy”, tạo nên một hệ thẩm mỹ riêng biệt – nơi tính phân mảnh không gây đứt gãy mà ngược lại kích hoạt các lớp ý niệm sinh trưởng theo cách riêng: tự do và bất định. Những bài thơ tiêu biểu sử dụng thủ pháp này có thể kể đến như “Mất ngủ”, “Những loài nói thầm thường đau sâu”, “Khúc hạ hồng”, “Ướp nắng sớm thành trà”… đã minh chứng rõ nét cho cách vận dụng độc đáo của tác giả.
Tính phân mảnh trong thơ Nguyễn Đức Hạnh thường hiện rõ qua những câu thơ đứng độc lập, không cần văn cảnh vẫn gây ấn tượng mạnh mẽ nơi người đọc. Đó có thể là hình ảnh dị biệt, một cú nhảy ngôn ngữ không theo quy luật, hay một câu tưởng chừng giản dị nhưng găm sâu vào tâm não. Chính sự tách biệt này làm nổi bật sức vang động nội tại, nơi mỗi câu thơ là khoảnh khắc nén chặt, kết tinh cảm xúc đến mức không thể rút gọn hơn. Với Nguyễn Đức Hạnh, những câu thơ như vậy trở thành đơn vị biểu cảm hoàn chỉnh, buộc người đọc tự đối thoại với khoảng trống giữa các dòng thơ khác: “Cá lỡ hẹn hò nên lặn rất sâu” (Mẹ ơi con nhóm lửa rồi); “Trong đáy chén phong ba ròng ròng” (Nghĩ về Văn Cao); “Con chó buồn cắn tiếng rõ, tiếng câm” (Sinh ra ở bến Tượng); “Thơ là loài cây uống nước mắt mà xanh” (Tháng Ba về Khau Vai); “Bảy cơn bão qua phà. Hát những gì làm sông màu đỏ?” (Vụt hiện sau mưa); “Từ cọng sen gầy sang màu áo nhớ” (Hà Nội lúc nào chẳng mưa)… Đó là những “hạt nhân” cảm xúc được tạo dựng bằng trực giác và sự nhạy cảm tinh tế trước từng chi tiết của đời sống và những biến động của tâm hồn. Tính phân mảnh không chỉ tạo nên trải nghiệm đọc đòi hỏi sự chú ý, kiên nhẫn mà còn khơi gợi tầng nghĩa mới lạ, đa chiều qua khoảng trống ngôn từ. Ở đó, mỗi câu thơ như đốm lửa bập bùng, chập chờn sáng tối, vừa hiện hữu vừa mờ ảo, mở ra thế giới nội tâm đa dạng và phức hợp.
Thơ phân mảnh dĩ nhiên luôn đứng trước nguy cơ rơi vào mơ hồ hoặc vụn vỡ. Nhưng điểm khác biệt ở thơ Nguyễn Đức Hạnh là: mỗi phân mảnh đều mang một trọng lượng nội tại, như những tinh thể tự phát sáng. Bởi vậy, nhiều câu trong “Khát cháy” tựa những viên than hồng – âm ỉ tỏa nhiệt, không cần liên kết vẫn đủ sức lan truyền năng lượng thẩm mỹ: “Tóc con gái thành cầu vồng đen cong về hồi ức” (Sông Cà Lồ còn giữ hộ ngày xưa); “Cộng tuổi cho sông bằng bao đời người đi xa ngoái lại” (Sông và tôi)… Một trong những thi phẩm tiêu biểu cho cấu trúc ấy là “Mẹ ơi, con vẫn chỉ là con nghé” – nơi mỗi phân mảnh thấm đẫm bản năng và trực giác, được dẫn dắt bởi dòng cảm xúc thuần khiết. Bài thơ như một dòng tồn sinh run rẩy, nơi ý thức và vô thức giằng co rồi buông trôi theo bản năng; vận hành bằng dòng ý thức cuộn chảy, với từng hình ảnh hiện lên bất ngờ, dữ dội. Trung tâm cảm xúc là hình tượng người mẹ, được soi chiếu từ cái tôi nguyên sơ. Những mảnh ký ức, nỗi đau, day dứt hiện ra vụn vỡ mà găm sâu. Câu thơ “Lời mẹ dặn dệt thành bao tải/ Con là con nghé hiền mặc suốt mấy mùa đông”, cho thấy, việc buông lơi lớp vỏ cứng cỏi và chấp nhận yếu mềm cũng có thể là cách gìn giữ cốt lõi bản thể – một lựa chọn sống theo cảm xúc trung thực và nhân bản nhất.
Thơ Nguyễn Đức Hạnh thường chạm tới những khoảnh khắc khó gọi tên. Dù chủ động buông bỏ suy lý và sự khôn ngoan, nhưng trạng thái tỉnh thức trong thơ ông không hề mất đi – mà lắng sâu, trở thành nền móng âm thầm nâng đỡ và nuôi dưỡng những hình ảnh biến hóa sinh động, đầy bất ngờ. Chính sự cân bằng giữa buông lơi và tỉnh táo này tạo nên sức mạnh đặc biệt, khiến thơ ông vừa có tính trực giác mạnh, vừa giữ được chiều sâu suy tưởng. “Mũi tên đồng kể hoài Cổ Loa và Tinh gà trắng/ Đàn Đá mơ thác nước tan tành” (Bảo tàng); “Đáy sông ấm nói cười trăm năm trước” (Hội An); “Thôi hát thật trầm làm cửa kính vỡ” (Mùa đông Hà Nội)…
Mỗi câu thơ trong “Khát cháy” không khép lại trong một nghĩa cố định, mà mở ra không gian cộng hưởng, đan xen lịch sử, mộng tưởng và huyễn hoặc tâm linh. Từ đó, từng hình ảnh, từng biểu tượng như những cánh cửa dẫn lối vào nhiều chiều kích khác nhau của nhận thức và cảm xúc, kích thích người đọc không ngừng suy tưởng và tái tạo ý nghĩa trong hành trình khám phá thi ca. “Người đổ đèo vẫn phẻn dao lấp loáng/ Mỗi bước chân rung nghịch một mặt trời” (Đường rừng về). Đây là thứ thơ không hiển lộ từ lý trí, mà từ máu thịt, từ những giá trị thiêng liêng.
Điều cốt lõi trong “Khát cháy” là từ bỏ cấu trúc mạch lạc truyền thống, nhường chỗ cho hình thức thơ phân mảnh – nơi mỗi câu thơ trở thành một giá trị thẩm mỹ độc lập. Một câu thơ bật sáng đúng lúc có thể đánh thức toàn bộ trường cảm xúc nơi người đọc. Chính ở đó, bản lĩnh thi pháp của Nguyễn Đức Hạnh hiện rõ. “Trà nát thương người nát/ Bã trà phảng phất thơm/ Nước sôi dìm thân phận” (Bã trà); “Mưa suốt đêm không ướt nổi tiếng chim” (Đêm Hạ Long)… Những câu thơ ấy như những hòn đảo nhỏ, khi ráp lại tạo nên một vùng khí hậu riêng – biệt lập mà cộng hưởng, làm bật lên nhịp điệu nội tâm luôn biến động. Tính phân mảnh, trong trường hợp này là phương cách tồn tại trong một đời sống đã nhiều hoài nghi và đổ vỡ. Nguyễn Đức Hạnh làm thơ như thắp lửa – cháy đến đâu, phát sáng đến đó; khiến cái độc sáng bật lên: như tia chớp trong đêm, như tiếng nổ trong sự tĩnh lặng. Ông không tổ chức bài thơ bằng lý trí, mà để cảm xúc tự vỡ òa, phun lên như dòng nham thạch: “Khi núi lửa ngả đầu vào mây trắng” (Giấc mơ mùa thu). Thơ ông thường chuyển giọng đột ngột – từ đau buồn sang diễu nhại “Thơ tôi lá tre đậu vào vại nước” (Nghĩ vụn trong đêm), từ trầm lắng sang cao trào, từ chiêm nghiệm triết lý sang hồn nhiên bản năng: “Sông Đà ôm em và anh kệ vầng trăng khuyết/ Đập uống say nằm khóc một mình” (Nhớ Hòa Bình); “Em toàn lạc vào sen/ Lo một ngày không về nhân gian nữa” (Bỗng yêu sau khi đọc truyện kinh dị). Chính sự bất ngờ ấy khiến người đọc không thể đoán trước, không thể đọc vội – mà buộc phải dừng lại, lắng nghe và chấp nhận.
Tính phân mảnh, khi trở thành một cấu trúc có chủ đích và được nâng đỡ bởi cảm xúc mạnh mẽ, có thể mở rộng không gian tiếp nhận, khai phóng chiều sâu thẩm mỹ. Đây là thủ pháp đòi hỏi sự nhất quán trong quan niệm nghệ thuật, để các mảnh rời không trở nên lỏng lẻo. Nếu người viết “lỏng tay”, bài thơ rất dễ rơi vào trạng thái vụn rời – nơi từng câu thơ tuy có thể gợi sáng riêng lẻ, nhưng không đủ sức nâng đỡ nhau, như những mảnh vỡ phát quang yếu ớt, khiến người đọc không thể nhận ra bài thơ là một sinh thể nghệ thuật hoàn chỉnh. Do vậy, dù viết bằng bất kỳ thủ pháp nào, thì thơ, rốt cuộc, vẫn là câu chuyện của tâm hồn. Khi câu chuyện ấy thiếu đi một mạch chảy ngầm xuyên suốt, người đọc có thể bị lôi cuốn bởi ngôn từ lạ lẫm, choáng ngợp bởi hình ảnh, nhưng vẫn không thể chạm tới tầng sâu thực sự của xúc cảm. Và ở đó, cái đẹp chỉ còn là bề mặt ánh kim, chứ không phải là sự sống.
Nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh là Phó Giáo sư, Tiến sĩ ngành Ngữ văn, Nhà giáo ưu tú. Ông hoạt động song song ở hai lĩnh vực: nghiên cứu – phê bình văn học và sáng tác văn chương. Với tư cách nhà nghiên cứu, ông đã hoàn thành 4 công trình chuyên sâu[2]. Bên cạnh hoạt động học thuật, Nguyễn Đức Hạnh còn là cây bút sáng tác giàu nội lực. Ngoài thơ, ông còn viết văn xuôi và đã xuất bản 1 tập truyện ngắn[3], thể hiện sự đa dạng và sâu sắc trong tư duy nghệ thuật, đồng thời khẳng định mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa nghiên cứu và trải nghiệm sáng tạo.
Trong bối cảnh thi ca hiện đại không ngừng vận động và canh tân, tính phân mảnh trong “Khát cháy” biểu thị một trong những quan niệm nghệ thuật tiên phong (avant-garde): thơ cần được cảm nhận như một dòng mạch sống – tự do, phức hợp và giàu tính tương tác. Nguyễn Đức Hạnh đã thiết lập không gian thi ca biến động nhưng tràn đầy sức gợi, nơi mỗi câu thơ là một chấn động nội tâm, mỗi bài thơ là một mặt gương phản chiếu tồn sinh nhiều chiều. Tập thơ không chỉ đưa người đọc vào mê lộ ngôn từ, mà còn khơi gợi những vùng sáng – tối của tâm thức, ký ức và khát vọng. “Khát cháy” là minh chứng rõ nét cho khả năng dung hợp giữa trực giác nghệ sĩ và chiều sâu tư duy học thuật – sự kết tinh của kinh nghiệm sống, khả năng chiêm nghiệm và tinh thần sáng tạo không thỏa hiệp.
Chú thích:
[1] “Núi khát” (NXB Hội Nhà Văn, 2000), “Vết thời gian” (Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thái Nguyên, 2004), “Khoảng lặng” (NXB Đại học Thái Nguyên, 2012), “Thầm” (NXB Hội Nhà Văn, 2021).
[2] “Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ 1965–1975 từ góc nhìn thể loại” (NXB Giáo dục, 2008), “Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai” (NXB Đại học Thái Nguyên, 2011), “Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam – Truyền thống và hiện đại” (đồng chủ biên, NXB Đại học Thái Nguyên, 2014), và “Văn học địa phương miền núi phía Bắc” (NXB Đại học Thái Nguyên, 2015).
[3] Tập truyện ngắn “Tiếng chuông chùa Tử Đằng” (NXB Hội Nhà Văn, 2022).
Hải Phòng, 14/7/2025
Mai Văn Phấn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Biết trổ bông trên những nhánh buồn

Biết trổ bông trên những nhánh buồn

Cuộc sống làm dày hơn nỗi đau mà con người phải chịu đựng nhưng cũng mang đến cho con người những trải nghiệm mà từ đó ta nhận thức rõ hơn về bản thân và con đường mình chọn. Anh Thư chọn cách đối diện với những nỗi buồn và khẳng định giá trị bản thân khi vượt qua đau khổ, chông gai của cuộc sống, như chùm hoa sử quân tử tươi tắn dịu ngọt sau cơn mưa, như bông hoa rạng ngời trên những nhánh buồn.
Tôi cầm trên tay tập thơ thứ hai của Vũ Trần Anh Thư: Ban mai thơm mắt nắng, lặng người đọc. Không chỉ một lần từ đầu đến cuối, mà tập thơ này, tôi đã đọc lại rất nhiều lần. Đôi khi, đọc ngược từ bài thơ cuối tập số 123 trở về bài thơ đầu tiên. Đôi khi, vô tình lật trang bất kỳ, để tìm thấy tâm hồn mình đang đồng điệu với câu thơ nào, như bói Kiều ấy.
Tập thơ thứ hai của Thư, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Người-Đàn-Bà-Trong-Veo mà tôi đã biết hai năm về trước ở tập Tiếng mưa. Nếu Tiếng mưa đánh dấu bước đầu thành công của một người đam mê thơ cháy bỏng, thì Ban mai thơm mắt nắng là sự khẳng định bút pháp nghệ thuật và nhân sinh quan của nhà thơ – Người-Đàn-Bà-Trong-Veo từng trải, hiểu đời.
Thư chọn một lối viết thơ mới, mới với người đọc và mới với cả những người viết chuyên nghiệp. Thể thơ 1-2-3 (do nhà thơ Phan Hoàng sáng lập vài năm gần đây) đòi hỏi sự chắt lọc hình ảnh, câu chữ, cấu tứ tinh tế với số lượng ngôn từ giới hạn, vừa đặc tả hình ảnh, vừa truyền tải thông điệp cá nhân và triết lý về cuộc sống. Với ngôn ngữ thơ mới này, không thể chỉ thành công bằng đam mê, mà phải bằng bản lĩnh của người vững chãi trên con đường thơ ca và đường đời.
Thư đã thành công với hình thức thơ mới này. 123 bài thơ là 123 lời chiêm nghiệm về cuộc sống, về những người thân yêu, về thế giới hạn hẹp xung quanh Thư và cả thế giới bao la rộng lớn đầy bất ổn ngoài kia. Tôi vẫn gặp những nét đáng yêu của Người-Đàn-Bà-Trong-Veo trong tập thơ Tiếng mưa hai năm về trước. Mềm mại, dịu dàng, tinh tế, bao dung khi ngắm hoa, thưởng trà, khi bất chợt mùa về ngang phố. Tình yêu đằm thắm nồng nàn với con, với người đàn ông của đời mình. Lòng kính hiếu với cha mẹ. Bất cứ nơi nào đặt chân đến, Thư đều thả tâm hồn mình vào đó để tiếp nhận và tích lũy nét văn hóa và bề dày lịch sử.
Vẫn là Người-Đàn-Bà-Trong-Veo nhạy cảm với mọi thay đổi xung quanh mình, nhưng đến tập thơ này, Thư bày tỏ niềm đau xót, sự băn khoăn trăn trở, những khắc khoải, lo âu mà người đàn bà bước vào tuổi trung niên ít nhiều đều mang nặng trong lòng. Câu thơ thảng thốt về sự vô thường:“Cuộc đời ngắn lắm người ơi/ Sát na chưa ngỏ khắc thời vụt bay”. Càng đi đoạn đường dài hơn trên cuộc đời, càng chứng kiến nhiều hạn định trong cuộc sống, càng thấy tiếc rằng mình chưa yêu nhiều hơn thế, chưa cho đi nhiều điều hơn thế.
Cuộc sống bộn bề bao điều nhắc nhớ
Yêu thương không báo thức theo giờ
Trái tim tự lên dây cót. C…u…c…c…u…
Người đàn bà bước vào tuổi trái tim đã chai sạn, hoài niệm về thanh xuân đã qua, ép kiệt mình trang thơ vẹn nguyên tháng năm rực rỡ nên Thư thỉnh cầu điều mong ước với người đàn ông của mình: “Nếu già đi bên nhau hãy thật chậm nhé anh”. Cho dù thời gian và sóng gió cuộc đời hằn nếp, Thư vẫn giữ tâm hồn trong trẻo, bình an.
Đã bao mùa lộc vừng thay lá
Tình em tơ nõn buổi ban đầu
Trao tay lặng yên ngỡ một thời chồi biếc
Tôi nể phục nhất về tuyên ngôn của Thư trước cuộc đời, Người-Đàn-Bà-Trong-Veo khẳng định bản lĩnh kiên cường của mình trước mọi thử thách hay đau khổ.
Nào ai biết mới đây vừa đẫm đìa nước mắt
Thì em ạ, hãy như đời cây cỏ
Biết trổ bông trên những nhánh buồn
Cuộc sống làm dày hơn nỗi đau mà con người phải chịu đựng nhưng cũng mang đến cho con người những trải nghiệm mà từ đó ta nhận thức rõ hơn về bản thân và con đường mình chọn. Thư chọn cách đối diện với những nỗi buồn và khẳng định giá trị bản thân khi vượt qua đau khổ, chông gai của cuộc sống, như chùm hoa sử quân tử tươi tắn dịu ngọt sau cơn mưa, như bông hoa rạng ngời trên những nhánh buồn.
Người đàn bà tinh tế giấu sự thông minh, sắc sảo của mình bên trong sự dịu dàng. Hình ảnh trong thơ Thư lúc nào cũng nhẹ nhàng, dịu êm nhưng ẩn chứa nội lực bứt phá tiềm tàng, biến hóa ngôn từ như được tạo hóa ban phép xoay vần con chữ. Tôi thích những hình ảnh ẩn dụ đắt giá, thông minh, chứa rất nhiều chiều của thời gian, không gian và nội tâm sâu sắc.
Hiến dâng đâu chỉ vì hy vọng tái sinh
(Chiếc bình pha lê và hoa hồng)
Có lúc soi đêm thẳm sâu thấy bóng mình đi vắng
(Gương)
Đêm chắt chiu tinh khiết
Vun tròn đầy giọt sương
Ban mai chiu chắt nắng
Gọi búp hồng lên hương
Ngày chắt chiu yêu thương
(Đợi hoàng hôn thắp lửa)
Em bỏ quên tháng Mười hai
Trái tim tháng Giêng lỗi nhịp
Gỡ đúp tờ lịch. Nhân đôi ban mai xanh
Order chiếc vé mùa xuân đêm khuya nghẽn mạng
Em thả icon “thương thương” làm giấy thông hành
(Xoay kim đồng hồ về chuyến tàu anh)
Vẫn là người đàn bà yêu thương con vô hạn, lo lắng thương nhớ khi con đi xa: Bay ngược kim đồng hồ cùng con đón bình minh/ Bên này hết ngày dài, nối bên kia ngày mới/ Khoảng cách khứ hồi nhờ nỗi nhớ truyền tin (Ngược chiều kim đồng hồ) nhưng trong thơ Thư có nỗi đau của cá nhân trong nỗi đau của nhân loại, trước những thảm họa mà cả thế giới phải đối mặt. Đến giờ, không ai dám nhắc lại những ngày tất cả gồng mình trước Covid. Tôi có những chiếc áo dài mới may cất trong tủ, thỉnh thoảng mở tủ ngắm nhìn, thở dài. Hay nhiều đàn bà khác ăn mặc trang điểm lồng lộn chỉ để đi chợ theo tuần và đi đổ rác. Tôi đồng cảm với những câu thơ thật là đàn bà:
Ước một ngày thế giới không còn Covid
Chúng mình miên du hoàng hôn
Rực rỡ váy không dây căng phồng gió biển
Sóng tóc tự do bỏ quên bờ vai trắng
(Này chiếc váy bị bỏ quên trong tủ) 
Covid đảo lộn cuộc sống, thay đổi cả những điều thế giới đang tưởng là chân lý. Hình ảnh người mẹ đau đáu nỗi lòng khi chứng kiến buổi lễ đánh dấu trưởng thành của con mình, sự tương phản giữa cái ảo và cái thực:
Mẹ dự lễ tốt nghiệp online của con
Yêu thương chỉ được chạm bằng nỗi nhớ
Những cái nắm tay, những nụ cười tươi, ánh nhìn trìu mến
Phút giây đón tấm bằng thầy trao… chỉ là ảnh hình trực tuyến
Nhưng giọt mắt mẹ dâng soi khuôn mặt con rất thật. Lúc này…
(Có thể nào cách ly cảm xúc)
Có nỗi sợ hãi ẩn chứa trong nội tâm khi đối diện với khủng hoảng: Chiếc khẩu trang hay bản tin mỗi ngày rào kín mọi giác quanCó phải Covid khiến ta không còn cảm thấu cái đẹp giữa những ngày nhân loại sống phấp phỏng trong bất ổn, khi mà:
Cơn giông lốc đêm cuối tháng Bảy
Bật tung bản lề âu lo
Gió thốc vào những số đếm tăng dần mỗi ngày. Cuộn xoáy
Thêm mười bốn ngày thành phố giãn cách
(Em đang dỗ giấc ngủ đây anh)
Người với người – không vạch sơn nào mà thăm thẳm cách chia
(Giới hạn đường biên chao đảo cuộc người)
Rớm lệ ảnh hình dòng người đùm túm hồi hương
Những bánh xe lăn dặm trường nóng lòng neo bến Mẹ
(Hà Nội ngày thứ tám giãn cách)
Tâm hồn trong veo nhạy cảm trước cái đẹp, sự yêu thương nhân hậu đã dẫn đường vượt qua mọi thử thách của cuộc đời. Những ngày tháng đằng đẵng cái chết rập rình nhân loại ấy, Thư vẫn nhận ra:
May mà quỳnh da diết đơm hương. Đêm nay. Em vừa kịp…
(Đừng bỏ lỡ nhé anh)
Kháng thể yêu thương không ai đo đếm lặng lẽ nhân lên
(Những con số tịnh tiến vào đêm)
Chân lý giản đơn của cuộc đời sau những câu thơ Thư viết về thời Covid, chỉ có lòng bao dung mới đủ xoa dịu những đau thương mà con người gánh chịu. Cái đẹp luôn ở bên cạnh ta ngay cả những thời khắc nghiệt ngã nhất, chỉ là ta có đủ nhân từ để nhìn thấy nó không thôi.
Viết về những câu thơ của Thư còn nhiều điều lắm. Người-Đàn-Bà-Trong-Veo còn rất nhiều góc khuất của tâm hồn, mà ưu tư đâu đã được bày tỏ hết. Người đàn bà yêu cuồng nhiệt như “Hoa sữa tháng Mười rưng rưng phím dương cầm”. Những nồng nàn chẳng biết giấu vào đâu/ Lỡ một ngày vì yêu ngộp thở.
Tôi biết chặng đường thơ của Thư vẫn còn đang ở phía trước, dù tình yêu dành cho thơ đủ lớn, đâu đó vẫn canh cánh nỗi truân chuyên.
Những vần thơ chống mắt xuyên đêm gọi nhau vượt sóng
Miết mải tay chèo bến chữ vẫn mờ xa
(Những câu thơ mất ngủ)
Nhưng tôi mong Thư kiên định với tình yêu thơ của mình như “Chữ nghĩa ân tình mắc nợ tháng năm”. Và cuối con đường Thơ đầy chông chênh, sẽ là “Khoảnh khắc thăng hoa đền đáp luống cày ngữ ngôn nhọc nhằn”.
Tôi tin Vũ Trần Anh Thư sẽ thành công.
23/8/2025
Phạm Thị Xuân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Trần Thị Thùy Vy - Những trao gửi yêu thương qua tiếng thơ 1-2-3

Trần Thị Thùy Vy - Những trao gửi
yêu thương qua tiếng thơ 1-2-3

Thơ 1-2-3, có thể nói là thể thơ mới mẻ, độc đáo của nghệ thuật thi pháp. Không hề bị gò ép trong thể thức thơ, Thùy Vy một nhà thơ nữ xứ Quảng đã rất thành công trong thể hiện. Phải chăng, những trao gửi yêu thương qua tiếng thơ của chị đã lắng lại trong lòng bạn yêu thơ sự đồng điệu, những cung bậc cảm xúc bởi sự màu nhiệm của nghệ thuật ngôn từ.
1- Trong gần một thập niên trở lại đây, một thể loại thơ thuần Việt được sáng tác theo một hình thức mới do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng – thơ 1-2-3. Một thể loại thơ không tiêu đề mà lấy dòng thơ đầu tiên làm tiêu đề thì đúng là chưa từng thấy ở Việt Nam và thế giới.  Có một nhìn nhận, mọi sự sáng tạo, thể nghiệm cái mới đều chông gai, nhất là trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, nhưng với hàng trăm tác giả đang viết thơ dưới hình thức thơ này ở khắp mọi miền đất nước (và cả những người Việt Nam ở xã tổ quốc) như hiện nay nên có thể khẳng định thơ 1-2-3 đã bén rễ khá bền vững vào khu vườn văn chương nước nhà. Thơ 1-2-3 cốt là ở sự “tinh” không quan trọng là viết về đề tài gì.
Ở Quảng Nam nay là thành phố Đà Nẵng trong số những cây bút hưởng ứng theo trào lưu thơ mới không thể không nhắc đến tác giả Trần Thị Thùy Vy – Chị là một giáo viên và là hội viên Hội Văn học nghệ thuật của thành phố đã có “gia tài” thơ định hình được một “phong cách” hay nói cách khác là tiếng thơ, giọng thơ nữ riêng có của vùng đất này. Với thơ 1-2-3 chị đã không mấy “khó khăn” thả hồn mình trôi vào những ô ly, dòng kẻ thơ mới vốn có quy định riêng của nó. Qua các chùm thơ của chị đăng tải trên Vanvn.vn – Cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam hay trang Văn học Sài Gòn đã cho thấy nét hồn hậu, thùy mị, lặng lẽ nhưng ẩn sau con chữ là cả những trăn trở, sự tỉnh thức với nhưng gì vốn dĩ bình thường ở chung quanh ta, tồn tại ở đâu đấy là các mối quan hệ, cảm xúc qua thời gian đã chất chứa vào hồn. Nhắc nhở ký ức trong một bài thơ 1-2-3 chị viết:
Xưa
Tôi đọc anh rất xưa
Hơn những gì xưa cũ
Vẫn đọc
Vẫn xưa
Vẫn cũ như xưa.”
Hay trong một bài thơ khác chị viết: “Mắt buồn// Anh đánh rơi buổi chiều trong đôi mắt em/ Những chiếc lá mùa rụng rơi/Hoàng hôn lặng tắt/ Anh tìm về đi qua chiều không nắng/ Đôi mắt thẳm buồn xa lắc một miền xanh.”
Đôi mắt là nơi biểu hiện nhiều nhất cảm xúc, một biểu tượng của thơ từ cổ chí kim nhưng dưới góc nhìn của Thùy Vy nó lại chuyển tải tâm trạng cả dòng thời gian, không quan và khoảnh khắc cụ thể ở đây là một chiếc lá rơi để lòng ai bật lên cảm xúc, xao động trái tim vốn nhạy cảm trước những nỗi buồn man mát, dịu êm. Và cũng với đôi mắt ấy, đặt vào bối cảnh khác, chị đã đưa người đọc chạm đến những gì sâu thẳm nhất của tổ ấm gia đình, hạnh phúc, ly tan.
“Cơn mưa thổn thức
 Người đàn bà với đôi mắt quầng thâm
Gương mặt thất thần nhìn di ảnh chồng
Mưa, mưa, lại mưa
Những đôi mắt ngấn lệ nhìn nhau rồi nhìn lên di ảnh
Mưa, lại mưa, trời không thể cầm lòng.”
Đồng điệu với tiếng thơ của Thùy Vy, nhà thơ, dịch giả Võ Thị Như Mai, từ nước Úc xa xôi, người có nhiều đóng góp về chuyển ngữ thơ Việt để giới thiệu với bạn bè năm châu có nhìn nhận riêng tư: Chúng tôi đều là giáo viên tiểu học, đều nhìn cuộc sống với một lăng kính nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Chúng tôi thấu hiểu giá trị của những điều giản dị, từ một buổi hoàng hôn rực rỡ cho đến từng nhịp thở của thiên nhiên xung quanh… Mỗi khi đọc thơ của Vy, tôi như thấy mình trong đó, nhận ra những tương đồng trong cách chúng tôi yêu thương, nhớ nhung, và đối mặt với cuộc sống…”
Đến với thơ 1-2-3 của Thùy Vy, bạn đọc cảm nhận đến được với chiều sâu tâm hồn một người thơ đa cảm,  đa đoan giữa cuộc đời muôn nẻo sơn khê, bao vui buồn va vấp, bao ngang trái ơ hờ nhiều khi đến ê chề, bất lực. Song điều quan trọng là chị biết dừng lại lắng nghe và cảm nhận để chọn cho mình một lối đi trong yêu thương và biết yêu thương chính bản thân mình hơn trong mỗi ngày qua.
Dừng lại lắng nghe để chị cảm nhận nỗi buồn của chính mình trong cái hữu hạn thanh xuân đời người, trong những tiếc nuối những gì đã qua, đó là ký ức, là kỷ niệm, thậm chí đó là những ghềnh thác, va vấp… nhưng đó cũng là những thôi thúc để mỗi người biết sống nhiều hơn cho thực tại. Và nhà thơ ý thức với thơ ca, mỗi sự dấn thân của chính mình cũng chỉ là con suối nhỏ giữa ghềnh đá rong rêu,“những đôi chân tí hon trên cánh đồng con chữ”
Trong một chiều liên tưởng với không gian, rất dễ nhìn thấy một con mắt thơ nữa của Thùy Vy đó là: “Ô cửa mùa đông/Em cầm trên tay mùa đông đi dọc triền nỗi nhớ/ Va vào dư âm ký ức một thuở chòng chành/Con phố nghiêng về đêm cung đường quay mãi/Hàng cây xao xác/Rưng rức chiều rưng rức em.”
Thơ là niềm tâm sự nhưng đâu phải lúc nào cũng có thể bày biện, dẫu chẳng thế dối lòng, cái tôi bản ngã nhiều khi cô đơn đến tận đỉnh sầu, giữa “bao nguồn cơn ngập tràn”. Trong một lần tự sự Thùy Vy đã thổ lộ: Nhiều khi em muốn khóc/ giữa guồng xoay và xoay/ nhiều khi em muốn viết/ những yêu ghét trong ngày”.
2- Thể thơ 1-2-3 quy định câu 1, tên bài, gọi là đoạn một, tối đa 11 chữ; câu 2 và 3, tức đoạn hai, mỗi câu tối đa 12 chữ; câu 4 và 5, tức đoạn ba, mỗi câu tối đa 13 chữ. Theo nhà thơ Phan Hoàng, 1-2 -3 là một câu, hai câu, ba câu; đồng thời tương ứng với số chữ trong câu thơ ở mỗi vị trí: 11-12-13. Đặt tên 1- 2- 3, nhà thơ ngầm đưa ra thông điệp, mỗi lần làm thơ là mỗi lần chúng ta gần với một sự khởi đầu. Cuộc đời này, bất cứ thứ gì cũng cần có sự khởi đầu, để đi đến cái đích ta mong muốn. Thể thơ 1- 2-3 không phải hoàn toàn tự do, muốn tung tẩy thế nào mặc lòng, nhưng với Thùy Vy, bạn yêu thơ dễ dàng cảm nhận tác giả không bị làm khó bởi thể thức thơ, mà chính thể thức ấy như đã chắp thêm đôi cánh cho những ý thơ dào dạt tuôn chảy, kiệm lời nhưng vẫn có sức băng vươn về đích cuối như dụng ý nhà thơ.
Trong tiếng thơ 1-2-3 của Thùy Vy, người viết bài này có cảm nhận thơ chị là sứ giả của những gửi trao, yêu đương, quê xứ làng mạc, thân phận, những nỗi sầu cảm của một tâm hồn vốn dĩ mỏng manh dễ bị tổn thương bởi những va vấp, hững hờ và cả sự vô thường của nhân thế. Những câu thơ dễ chừng như hờn trách, mang mát nỗi buồn tự ứa ra như giọt sương mai, như gọt nước mắt long lanh rơi và tan trong ngại ngần ý thức. Và cũng chính bởi điều này dù mỗi bài thơ 1-2-3 đẫm chất tự sự, một câu chuyện thơ nhưng giọng thơ vẫn đằm thắm, rì rào như khúc sông quê xuôi qua đồng bãi, nương nà…trước khi ra biển lớn
“Tại sao nước mắt rơi vị mặn
Sớm nay đọc thơ anh cuộn vào em nỗi nhớ
Đường cong nơi biển, cánh buồm chở nắng, cả vệt sóng xa
Khi yêu nhau vũ trụ là nhà, ngọt ngào dẫu đắng
Tại sao nước mắt rơi vị mặn
Bỏng rát mỗi ngày biển mãi sáng xanh.”
Từ câu thơ đầu tiên như một dấu hỏi “tại sao nước mắt có vị mặn” thì đến câu thơ cuối, câu hỏi không chỉ được trả lời mà nó còn khẳng định thêm ý nghĩa chính vị mặn ấy đã làm cho “biển mãi sáng xanh”. Không hề có sự so sánh nào nhưng bạn đọc vô hình dung đã có sự liên tưởng thú vị giữa vị mặn của nước biển kia và vị mặn của nước mắt con người. Bài thơ chỉ sáu câu thì một câu thơ được dùng lặp lại (nhưng không hề dư thừa mà vẫn đầy đặn, ý tứ), những gửi gắm yêu thương, hy vọng mà tác giả đã đúc kết: “Khi yêu nhau vũ trụ là nhà, ngọt ngào dẫu đắng”.
Có những bài thơ mượn cảnh gửi tình, rất tự nhiên, tự tại như vốn dĩ không thể nào khác được thế nhưng dễ chừng mấy ai viết được. Đó là các bài như “Nhớ biển”, “Biển và em”, “Nhớ”, “Hình tượng con chữ”. Điển hình hơn cả mà người viết bài này khá thích dạng thể này là “Mưa Sài Gòn/ khóc chi từng cơn nặng trĩu/Ướt hết vạt áo em tôi/ Khóc chi từng cơn như thế/ Dạt trôi quá những cuộc người/ Những cơn mưa nặng hạt đến và đi rất nhanh”…
Thơ 1-2-3, có thể nói là thể thơ mới mẻ, độc đáo của nghệ thuật thi pháp. Không hề bị gò ép trong thể thức thơ, Thùy Vy một nhà thơ nữ xứ Quảng đã rất thành công trong thể hiện. Phải chăng, những trao gửi yêu thương qua tiếng thơ của chị đã lắng lại trong lòng bạn yêu thơ sự đồng điệu, những cung bậc cảm xúc bởi sự màu nhiệm của nghệ thuật ngôn từ.
Tam Kỳ, 19/8/2025
Võ Văn Trường
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thi pháp của thơ ngắn: Trường hợp Mai Quỳnh Nam

Thi pháp của thơ ngắn:
Trường hợp Mai Quỳnh Nam

Mai Quỳnh Nam dường như đã đẩy sự kết hợp giữa thi ca và những suy ngẫm đậm đặc tính minh triết lên đến đỉnh cao, thông qua việc khám phá các hình thức ngắn gọn đa dạng, bằng một thẩm mỹ nghệ thuật hướng tới sự đậm đặc, lối sắp xếp ngang hàng và sự va chạm của các hình ảnh.
Trước tiên, hãy lưu ý rằng trong tất cả các thể loại văn học, thơ ca là nơi ưu tiên hàng đầu cho các hình thức ngắn gọn, và điều này không chỉ được phản ánh bởi độ dài thường gặp( tương đối ngắn) của các tập thơ mà còn bởi đặc trưng nội tại của thơ, vốn được định hướng để cô đọng hơn so với các thể loại văn học khác (chẳng hạn như tiểu thuyết). Bài viết này có mục đích tái nắm bắt khái niệm thi pháp của thơ ngắn không chỉ qua lăng kính thẩm mỹ của nhà thơ Mai Quỳnh Nam, mà còn đi xa hơn khi xem xét nó như khái niệm trung tâm của một khuynh hướng thơ ca đương đại, khuynh hướng thi ca tìm cách liên hệ với thế giới và đặt câu hỏi về thế giới theo những phương thức ngắn gọn và phân mảnh.
Sợi dây thừng bị đứt
văng thành hai khúc
rời chặt một đời Bertol Brecht
nửa kia tít tắp đâu rồi
chắc đã có người
nhặt về
và nối lại
(Luẩn quẩn khi yêu. Tr 91)
Mai Quỳnh Nam dường như đã đẩy sự kết hợp giữa thi ca và những suy ngẫm đậm đặc tính minh triết lên đến đỉnh cao, thông qua việc khám phá các hình thức ngắn gọn đa dạng, bằng một thẩm mỹ nghệ thuật hướng tới sự đậm đặc, lối sắp xếp ngang hàng và sự va chạm của các hình ảnh. Thơ ngắn của Mai Quỳnh Nam vì thế không chỉ liên quan đến một cách “thực hành thơ” mà còn đến một sự hiện diện của chủ thể (nhà thơ) trong một thế giới đặc thù, được xây dựng dựa trên trải nghiệm về thời gian, vốn dĩ ngắn ngủi do tính hữu tử của chúng ta. Hình thức ngắn gọn trong thơ của Mai Quỳnh Nam cũng cho phép chúng ta hình thức hóa mối liên hệ giữa thẩm mỹ của nhà thơ và tầm nhìn của ông về thế giới, khôi phục lại cái ý nghĩa nguyên thủy của sự ngắn gọn: sự ngắn gọn trước hết và trên hết là một khái niệm thời gian. Nói một cách khác, nếu thơ ca của Mai Quỳnh Nam tuân theo nguyên tắc của sự ngắn gọn, đó là nhờ một tầm nhìn và một trải nghiệm đặc thù về thời gian.
Em về để sợi tóc rơi
trăm năm một kiếp, một thời tóc mây
(“Luẩn quẩn khi yêu”- bài 11)
Một thao tác phân loại nhanh các hình thức ngắn gọn trong tác phẩm của Mai Quỳnh Nam cho phép chúng ta khẳng định rằng những bài thơ được tinh kết và trở thành ngắn gọn nhất đã được xác lập như một nguyên tắc hình thức chủ đạo chi phối mạch thơ của Mai Quỳnh Nam. Các diễn ngôn thơ ca này dường như triển khai qua những tưởng tượng và hình ảnh của sự ngắn gọn, theo ba góc độ khác nhau: sự chiếu sáng, sự phân rã, và cuối cùng là tia chớp sáng lóe lên như một sự khải huyền. Hình thức ngắn gọn, cuối cùng, thể hiện điều mà chúng ta có thể gọi là thử thách của khoảnh khắc, viên đá thử vàng của mọi bài thơ.
Tạm ứng
anh xin ứng trước
anh mãi là người mắc nợ
thỉnh thoảng em nhắc thầm
anh biết
đó là tình cảnh đôi ta
từ dằng dặc sống đến dằng dặc chết
(“Luẩn quẩn khi yêu”- bài 53)
Trong bài thơ này, sự ngắn gọn dường như phục vụ cho việc nắm bắt tức thì về bản chất sâu xa nhất của trải nghiệm yêu. Câu thơ đầu tiên hướng chúng ta tới cái “bản thể học” của tình yêu , hướng tới việc định nghĩa tình yêu như một trải nghiệm khởi nguyên thông qua một thuật ngữ thông dụng trong hoạt động tài chính: “vay mượn”. Thuật ngữ này được đặt ở trung tâm của câu thơ thứ hai “anh xin ứng trước”. Sự khó khăn trong việc diễn giải, ở đây, một phần lớn bắt nguồn từ hình thức ngắn gọn của nó, bởi hai câu thơ ấy đã dẫn về một công thức bí ẩn và cô đọng “anh mãi là người mắc nợ”, cái hiện thực trĩu nặng và không thể trốn tránh bởi “thỉnh thoảng” đối phương vẫn kín đáo nhắc lại.
Hai câu cuối bày tỏ nỗi hoài nghi trĩu nặng, một nỗi cay đắng ngập tràn của nhà thơ, linh cảm về một “cái chết được báo trước của tình yêu” , một cái chết đến dần dần trên một hành trình “dài dằng dặc”. Trò chơi ngôn từ (với các thuật ngữ: vay mượn, tạm ứng) tuy mang lại một nét hài hước nào đó , nhưng không hề che khuất tính nghiêm túc của mối liên hệ bản thể học mà văn bản này đã thiết lập giữa nền tảng tình yêu và hoạt động yêu. Khía cạnh “bản thể học” này cho phép chúng ta trở lại với đặc tính suy đoán truyền thống của hình thức ngắn gọn, vốn có thể gợi đến sự tương đồng với những câu châm ngôn triết học hoặc các câu cách ngôn.
Sự ngắn gọn thực sự đặc trưng cho lối viết của Mai Quỳnh Nam, được vận dụng trong tác phẩm của ông, mà còn nhờ vào sự đậm đặc và tính tiết kiệm của lối viết, hướng tới một hiệu quả thơ ca.
trong suốt cũng nhiều khi bối rối
(Luẩn quẩn khi yêu , trang 9)
Trong câu thơ này ranh giới giữa tư duy và hình ảnh tan biến, thi ca không còn là ngoại vi của lý tính, mà là trung tâm của một hình thức tư duy khác.
Mai Quỳnh Nam cũng đã đẩy ngôn ngữ đến tận ranh giới của tính khả diễn (communicability), nơi mà từng từ trở nên dày đặc với nhiều tầng ý nghĩa, thường mang tính nghịch lý hoặc phản biện.
Vừa thân thiết
vừa xa lạ
em
khoảng rộng vô cùng
băng qua mọi điều anh hình dung
Nếu đọc kỹ, đọc đi đọc lại nhiều lần tập thơ “Luẩn quẩn khi yêu” mỏng manh này , chúng ta nhận thấy những bài thơ ngắn của Mai Quỳnh Nam dưới một vẻ bề ngoài có vẻ gián đoạn, hỗn độn, bất định thực ra lại không ngừng quy chiếu tới một sự liên tục sâu xa, một trật tự cao hơn, một siêu định hướng- những thứ mà, sau cùng, được thúc đẩy bởi chính thực thể (người sắp xếp, tổ chức, phân loại) là tác giả. Hình thức ngắn dường như là nơi mà mọi vấn đề truyền thống bị chìm đắm và tan biến, khởi đầu từ những vấn đề về ý nghĩa và về tác giả; nó tỏ ra đặc biệt thích hợp cho mọi kiểu trá hình, cho trò chơi của ẩn đố và của giả thư (apocryphe); nhưng sâu xa hơn, thường là một động lực ngược lại (tập hợp, tái cấu trúc, làm sáng tỏ) đang hoạt động, khiến cho ta luôn thấp thoáng thấy khả năng giải quyết tất yếu của tất cả những bí ẩn đó.
Tình yêu phong em thành thánh, thành thần,
thành đức tin, anh ngưỡng vọng
tình yêu cần thực chứng
chứng thực của kẻ si chẳng mấy tường minh
nó đẩy anh về phía siêu hình
(Luẩn quẩn khi yêu. Tr 67)
Những mảnh rời mang tính sấm ngôn, những châm ngôn, những câu cách ngôn, những ý nghĩ — tất cả đều là những hình thức có mật độ cao, cấu trúc chặt chẽ, dựa trên một dạng hoàn thiện hình thức và một tính trọn vẹn ý nghĩa.
Tất yếu của sóng
là tan vỡ
tất yếu của thơ
là lơ mơ
tất yếu của yêu
là ghen
tất yếu của chuyên quyền là cô độc
(Luẩn quẩn khi yêu. Tr 93)
Toàn bộ những bài thơ ngắn của Mai Quỳnh Nam dường như luôn hướng về cái kết; tính ngắn gọn là lời hứa về sự xuất hiện nhanh chóng của một kết thúc đầy khoái cảm và bất ngờ, nó là động cơ lý tưởng của một cỗ máy tạo ra những “cú viết” (coups d’écriture). Nhà thơ Đặng Huy Giang cũng đã nhận ra điều này khi anh viết “ […] thơ Mai Quỳnh Nam luôn rơi theo chiều thẳng đứng mà điểm rơi tập trung tại một điểm rất nhỏ ( tạm gọi là “ tiết diện”) Nhờ thế mà lực và sức công phá rất mạnh” (Đặng Huy Giang – “Mai Quỳnh Nam và Một phía” – chuyên đề Viết và Đọc xuân 2025).
Có thể nói thơ ngắn là một thách thức và một biểu tượng của sự hoàn tất văn bản, của tính văn chương (littérarité). Và thơ ngắn sẽ không ngừng tự hào về cái nghịch lý của chính mình: sự sáng tạo đến từ việc kết hợp giữa sự ngắn gọn mang ý nghĩa và sự phong phú mang tính biểu đạt được hàm chứa trong nó. Điều đó có nghĩa là tính ngắn gọn cũng tạo ra những thuận lợi cho sự bất ổn định, cho sự chưa hoàn tất, hay đúng hơn là các bài thơ ngắn sẽ trở thành đối tượng ưu tiên của một nỗ lực hoàn tất vô tận, cái khao khát cải thiện – nghĩa là chỉnh sửa ở nơi độc giả. Thơ ngắn vì thế được trao cho những khả năng thực hành siêu văn bản (hypertextuelles) – bên trong và bên ngoài, tức là của tác giả và của những độc giả khác- và thường bù đắp cho tính ngắn gọn của chuỗi tuyến tính của nó bằng sức sống dồi dào ở cấp độ hệ hình (paradigmatique). Tính ngắn gọn cũng có thể là yếu tố gây nhiễu, tạo ra sự mơ hồ; nó cho phép một văn bản chơi đùa với nhiều thể loại văn học cùng lúc giống như bài thơ dưới đây.
“Trên đời, có lẽ không một trường hợp nào mà “cái này” gắn kết với “cái kia”, phụ thuộc vào “cái kia” triệt để, bền bỉ, chung thủy, khăng khít , như quan hệ giữa ổ khóa và chìa khóa. Điều đó, cũng có nghĩa là chúng cùng chấp nhận sự “nghèo đi” trong các tương tác hàng ngày. Ổ khóa treo trên cửa, chìa khóa trong ngăn tủ, hay vất vưởng đâu đó, hay phiêu du chỗ này, chỗ nó. Chỉ đến khi chìa khóa cắm vào ổ khóa, bằng một chuyển động nhỏ, ổ khóa bật mở, chứng tỏ cho mọi người thấy rõ lý do tồn tại tất yếu phải có. Ngoài chúng – không còn ai, không thể ai – ngoài chúng”. (Luẩn quẩn khi yêu. Tr 111)
Thơ ngắn của Mai Quỳnh Nam khiến người đọc bắt buộc phải tiếp cận với một cách đọc mới mẻ: cách đọc liên văn bản. Mỗi một bài thơ chính là một “mảnh rời”, một hình mẫu nguyên thủy của tính không trọn vẹn, một hình thức phơi bày sự gãy vỡ của mình , nói đúng hơn cách viết những bài thơ ngắn của Mai Quỳnh Nam là cách viết phản hình thức , là một hình thức thơ để nhắm tới “sự phá vỡ hình thức”. Về mặt “cấu trúc cứng” là như vậy, thế nhưng sự mơ hồ của từng bài thơ ngắn- từng mảnh rời rạc ở đây sẽ giúp chúng ta bớt bị ám ảnh bởi sự tiêu cực đó.
Mỗi bài thơ ngắn của Mai Quỳnh Nam trong tập “Luẩn quẩn khi yêu này” nếu không xuất hiện như phần còn lại của một bài thơ ngắn khác đã khuất dạng thì lại giống như điềm báo cho sự xuất hiện của một bài thơ mới sẽ đến, những cảm hứng như thế này không chỉ đến với tác giả  mà còn đến với những độc giả của nó. Vì thế mỗi bài thơ ngắn trong tập “Luẩn quẩn khi yêu” này của Mai Quỳnh Nam không ngừng gợi ra một dòng suy ngẫm liên tục, chúng nói nhiều hơn những gì chúng đã thực sự nói và đồng thời chúng cũng để lộ ra những khoảng trắng bao quanh như miền đất hứa dành cho  những cuộc tìm kiếm tất yếu và luôn hứa hẹn mầu mỡ.
25/8/2025
Dương Thắng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đò dọc - Một "Chuyến đò'' chở nặng tâm hồn Bình Nguyên Lộc

Đò dọc - Một "Chuyến đò''
chở nặng tâm hồn Bình Nguyên Lộc

Bình Nguyên Lộc (1914 – 1987) tên thật là Tô Văn Tuấn, xuất thân trong một gia đình có mười đời sống tại Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (tỉnh Bình Dương cũ, nay sáp nhập vào TP. Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ chuyên nghiên cứu về dân tộc học, ngôn ngữ và cổ văn (giai đoạn 1945-1975). Trong sự nghiệp cầm bút, ông có khoảng 50 tiểu thuyết, 1.000 truyện ngắn và 4 cuốn sách nghiên cứu.
Trong số khoảng 50 tiểu thuyết của nhà văn Bình Nguyên Lộc, “Đò dọc” là một trong những tiểu thuyết được đánh giá cao nhất, từng giành được giải nhất “Giải thưởng Văn chương toàn quốc năm 1959 – 1960”. Đây là một tác phẩm xưa có giá trị hiện thực, giá trị nhân văn và giá trị văn hóa sâu sắc, được viết bằng một bút pháp tinh tế và duyên dáng.
“Đò dọc” – chuyến đò tình yêu trong bi kịch dạt trôi
“Đò dọc” kể câu chuyện về gia đình ông bà Nam Thành với 4 cô con gái sống giữa buổi giao thời ở Sài Gòn, là một “gia đình lưng chừng, không dám Tây quá mà không chịu cổ quá”. Trong cơn biến động của thời cuộc, hai vợ chồng gốc Bạc Liêu, vốn mới “bám rễ” đất Sài Gòn đâu chừng chục năm, lại phải đùm túm nhau lên miệt Thủ Đức. Họ chọn làng thuốc Linh Chiểu, cất một gia trang tàm tạm, đặt tên Thái Huyên Trang để làm nông nghiệp, chăn nuôi.
Rồi từ Thái Huyên Trang dựa lưng con đường Thiên Lý ấy, biết bao chuyện dở khóc dở cười xảy ra cho gia đình. Nhưng bi kịch nhất, có lẽ là chuyện tình yêu của 4 cô con gái Hương, Hồng, Hoa, Quá. Người quá lứa, kẻ lỡ làng, chị thì thờ ơ, em thì hăm hở háo hức yêu… Nhưng rồi chuyến đò tình của 4 cô đều trắc trở, tròng trành, lật lên, úp xuống khiến cha mẹ bao phen nức nở lo.
Thời đoạn cả nhà rời mảnh đất Sài Gòn, họ “dọn nhà đi giữa sự thờ ơ của hàng xóm”. Nhưng kiểu gì thì, đô thành vẫn có sự sống sôi nổi hơn cái làng thuốc mà các nhà lân cận cách xa “cỡ hú một tiếng dài mới nghe thấy”. Sự tao loạn của thời cuộc buộc họ phải từ giã cái nơi có ánh đèn điện sáng trưng, dạt trôi về thôn quê tù mù, chỉ có đèn măng sông và tiếng côn trùng, đám cỏ bù xít, mớ gia súc gia cầm, mớ cây trái còn trơ trọi giữa mảnh vườn, nghe mưa cũng buồn, hóng gió cũng kém vui… Cái nỗi vui của 4 cô con gái đang tuổi lấy chồng phút chốc bị bứt rời, bỏ lại giữa Sài Gòn, ngơ ngác “mới hôm qua nầy!”. Cô Hồng bỏ lại mối tình đầu ngậm ngùi, cô Quá còn chưa kịp xóa khỏi trí cô hình ảnh các rạp chiếu bóng hực hỡ đèn màu. Cô Hoa luyến tiếc những tiệm kem mát lạnh ngon lành…
Trong cuộc chuyển dời trên chiếc xe cam-nhông đó, chỉ mình ông Nam Thành là háo hức với những “mưu kế” cho một cuộc đời – đời nông dân đúng nghĩa. Riêng bà Nam Thành, lòng rộn những âu lo khi sớm nhận ra cảnh tình đáng thương của 4 đứa con: “Ở đây không phải chỗ của chúng nó. Chỗ của chúng phải vui tươi trẻ trung, sinh động hơn cái không khí ủ rũ nầy”. Khi ta còn lờ mờ chưa rõ nỗi lo của bà Nam Thành, thì đoạn “quay xe” cực dị của Long: chàng có ý định hoãn cưới cô Hồng, con gái ông bà, dù trước đó đã yêu thương đậm sâu – đã phơi bày ra tất cả bi kịch của gia đình: bi kịch của giai cấp kẻ chợ – dân quê. Sự lạc lõng, cô đơn của gia đình ông Nam Thành là sự cô đơn chung của phận người trôi dạt, chưa kịp neo đậu lâu ở bến nào.
Long – chàng họa sĩ ở Sài Gòn, người vô tình bị tai nạn lật xe hơi trong sân gia trang ông bà, được cả gia đình cứu giúp. Anh chàng có chất nghệ sĩ như một chuyến “Đò dọc” ghé đến cái bến hiu quạnh này, mang đến bao nhiêu hy vọng và nguồn năng lượng, sinh khí mới cho những người trong cái gia trang luôn ngơ ngác buồn.
Nhưng chuyến đò này cũng mang đến những rắc rối to lớn nhân danh tình yêu. Cuộc chiến của những cô gái vốn rất yêu thương nhau lại nảy nòi khi họ va vào tình yêu với Long. Anh chàng vì cám cảnh chị em hiền lành, lại vướng mắc cái ơn cứu giúp, không nỡ trắng đen rõ ràng ngay từ đầu, sợ mình “phũ” quá đâm ra bạc nghĩa. Nhưng rồi thật may, dưới sự giáo dục tốt của ông bà Nam Thành, và với tấm lòng của Long, của người anh họ tên Bằng, tất cả các cô lại đầm ấm bên nhau, sau cơn mê lạc đến mức dại dột đi tìm cái chết của cô Hồng, cô Quá.
Dưới ngòi bút tả thực đầy sinh động và cái nhìn cảm thông, Bình Nguyên Lộc cho chúng ta thấy một hiện thực đau xót của xã hội miền Nam buổi giao thời. Nhưng rồi cũng chính ngòi bút nhân văn ấy, cùng với những tư tưởng rất tiến bộ, đã giúp những nhân vật của ông tự cởi trói cuộc đời.
Sự thương cảm của ông đối với thân phận người phụ nữ được chuyển giao qua cái nhìn rất nhân hậu của chàng họa sĩ Long; của người anh họ tên Bằng, của ông bà Nam Thành với 4 cô con gái. Dẫu không thể làm gì thay đổi thời cuộc, nhưng cái tư tưởng tiến bộ về hôn nhân của phụ nữ sẽ giúp người ta dễ dàng xoay chuyển hơn. Như Long, khi anh ngộ ra rằng cô Hồng – vợ sắp cưới không được sành điệu như một cô gái ở đô thành chính hiệu, bởi cô đã bị cuộc sống thôn quê tước mất cái mác thị dân lâu nay, thành một cô gái quê thô kệch. Nhưng chỉ cần anh cưới và đưa cô về lại Sài Gòn, thì cô sẽ trở lại là một người “kẻ chợ” đầy giá trị như trước đây.
“Đò dọc” không chỉ hấp dẫn bởi câu chuyện biến động thời cuộc và chuyện tình đầy kịch tính, nó còn là nơi để tác giả dụng công đưa lời ăn tiếng nói Nam Bộ xưa vào những trang viết thật lôi cuốn. Ngôn ngữ chính là thứ độc đáo nhất trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc. “Đò dọc” chính là một kho tàng lời ăn tiếng nói của người Nam Bộ mà ông đã cất công sưu tầm và đưa vào.
Những nhân vật của “Đò dọc” có cách nói chuyện vừa bình dân vừa tao nhã, vừa khách khí giữ kẽ vừa gần gũi ân cần, đoán ý tứ nhau một cách tinh tế, sâu sắc. Nhân vật Long và Bằng lại là tuyến nhân vật gây thú vị nhờ lời ăn tiếng nói đầy học thức đúng danh người “kẻ chợ”. Cái cách Long tỏ tình, thật khiến các cô gái phải xiêu lòng nhanh chóng.
Là nhà văn hóa, Bình Nguyên Lộc mô tả khung cảnh đời sống của người dân Nam Bộ với sự tỉ mỉ, hứng thú và tái hiện chúng rất sinh động, rất đời. Căn nhà của gia đình ông bà Nam Thành toát lên vẻ truyền thống với những “lọ sành Lái Thiêu”, “vách trỉ long mốt”, “mâm gỗ mít tròn”, phên tre…
Thế giới văn chương và tâm hồn Bình Nguyên Lộc
Bình Nguyên Lộc là một nhà văn lớn của Việt Nam, thuộc tốp 3 nhà văn có sáng tác nhiều nhất của cả nước, còn được gọi là “tam kiệt” của văn học Việt Nam, bên cạnh nhà văn Hồ Biểu Chánh và Lê Văn Trương. Nhìn lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ của nhà văn Bình Nguyên Lộc, người đọc sẽ không khỏi ngỡ ngàng và phải ngả mũ bởi sức viết, nghiên cứu và cái tâm của ông trong việc bảo tồn văn hóa, lời ăn tiếng nói của người Việt, nhất là ngôn ngữ bình dân nhưng sâu sắc của người miền Nam.
Bình Nguyên Lộc bắt đầu viết văn vào năm 1936, khi thuyên chuyển công việc từ Kho bạc tỉnh Thủ Dầu Một về làm nhân viên kế toán Kho bạc Sài Gòn. Năm 1946, ông lò dò viết báo. Năm 1949, ông xuống Sài Gòn và ở hẳn đó cho tới năm 1985.
Sài Gòn chính là nơi mà sự nghiệp viết lách Bình Nguyên Lộc phát triển rực rỡ nhất (tính từ năm 1949 đến năm 1975). Ông vừa viết văn, viết báo, nghiên cứu, đồng thời cũng là chủ bút của nhiều tờ báo lớn tại đây. Giai đoạn này, ông cũng có mối giao hảo mật thiết với rất nhiều cây bút tên tuổi trong làng văn, làng báo: Đông Hồ, Lê Sĩ Quý, Sơn Nam… Tâm hồn của một nhà văn, nhà văn hóa lớn của Nam Bộ cũng bắt đầu dạt dào từ đây.
Nguồn gốc, ngôn ngữ, di dân, cõi âm – 4 yếu tố đặc sánh tâm hồn Bình Nguyên Lộc luôn hiện diện trong di sản văn chương đồ sộ mà ông để lại cho đời, trong đó có “Đò dọc”.
Thế giới văn chương của Bình Nguyên Lộc là một tấm gương lớn phản chiếu nỗi niềm đau đáu nhìn từ những vấn đề cốt tử của truyền thống văn hóa, con người Việt Nam. Nhưng phong cách văn chương của ông lại mở ra một sự giao lưu văn hóa giữa 2 miền Nam – Bắc, không quá rạch ròi hay một chiều mà luôn ở cái ngưỡng dung hòa. Điều này thể hiện rõ ở sự truy nguyên nguồn gốc ngôn ngữ 2 miền trong tiểu thuyết “Đò dọc”.
30/8/2025
Trần Huyền Trang
Theo https://vanhocsaigon.com/

Bảo Ngọc: Thắp lên một ngọn lửa đam mê thuần khiết

Bảo Ngọc: Thắp lên một ngọn lửa đam mê thuần khiết “Trong cơn mê của lửa”  của nhà thơ Bảo Ngọc là một tập thơ mới và lạ, xét cả về nội du...