Thứ Ba, 2 tháng 6, 2026

Thiếu Sơn nhà văn chính trực

Thiếu Sơn nhà văn chính trực

“Trang viết của Thiếu Sơn đến với chúng ta hôm nay cũng khiêm nhường như con người ông, dù ông là chứng nhân và đã một thời làm nên sự kiện. Là chứng nhân, Thiếu Sơn cho chúng ta hình ảnh một trí thức chính trực; với sự kiện, Thiếu Sơn trở thành nhà phê bình mở đường”.
Đã hơn 100 năm ngày Thiếu Sơn (1908-1978) ra đời và 30 năm ngày nhà văn mất, tôi đọc lại Ông.
Trước mắt tôi là những trang viết, không bề thế.
Năm mươi năm cầm bút, từ viết văn đến phê bình, làm báo; sau 1954, vào tù ra khám, Thiếu Sơn rải ngòi bút của mình nhiều nơi, chắc là việc sưu tầm ông cũng khó khăn. Tôi mừng là được gặp lại di cảo của Thiếu Sơn, trong tập sách này. Cách nay 20 năm, tôi đã được đọc nó trên tập giấy cũ kỹ vừa viết tay vừa đánh máy mà Cô Ngọc, con gái của nhà văn, đã cho xem, trong căn nhà nhỏ bé lặng lẽ sau Lăng Ông Bà Chiểu.
Tuổi đôi mươi, ông đã làm nên sự kiện. Trong buổi bình minh của lịch sử phê bình văn học Việt Nam, Thiếu Sơn xuất hiện như một người mở đường, bằng tác phẩm Phê bình và Cảo luận (Nxb. Nam Ký, H.1933), tập sách phê bình văn học đầu tiên của nước ta viết bằng chữ quốc ngữ. Cũng chính từ cái mốc đáng nhớ ấy mà mãi cho đến sau này, dù phần lớn quãng đời còn lại của Thiếu Sơn là hoạt động báo chí, người ta vẫn nhắc đến ông như một nhà văn, một nhà phê bình văn học có đóng góp cho nước nhà.
Trang viết của Thiếu Sơn đến với chúng ta hôm nay cũng khiêm nhường như con người ông, dù ông là chứng nhân và đã một thời làm nên sự kiện. Là chứng nhân, Thiếu Sơn cho chúng ta hình ảnh một trí thức chính trực; với sự kiện, Thiếu Sơn trở thành nhà phê bình mở đường.
Vì vậy, trước khi đọc những gì Thiếu Sơn để lại, xin hãy mở lại từng trang cuộc đời của Thiếu Sơn, để nhận ra dáng đứng của một trí thức Việt Nam trong cơn bão giông lịch sử.
Thiếu Sơn được sinh ra trong một gia đình hoàn cảnh không mấy ấm êm. Từ bé, ông đã phải theo cha sống nhiều nơi ở các tỉnh thượng du Bắc Bộ. Do bệnh tật và cuộc sống không ổn định, con đường học vấn của Thiếu Sơn lắm khi bị gián đoạn. Vốn mê văn chương từ nhỏ, Thiếu Sơn tự học, bắt đầu tập dịch và tập viết văn. Một vài bài văn nhỏ của ông thuở ấy đã được đăng trên Nam Phong vàKhai Hóa với tên thật là Lê Sỹ Quý. Thi rớt tú tài, gặp kỳ thi tuyển nhân viên bưu điện cho toàn Đông Dương, tổ chức tại Hà Nội, Thiếu Sơn nộp đơn xin dự thi và đỗ đầu (1929). Năm 1930, Thiếu Sơn nhận nhiệm sở tại Gia Định. Từ đấy, cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với vùng đất phương Nam của Tổ quốc.
Những năm đầu thập kỷ 30, báo chí Nam Bộ bùng phát, nhiều nhà văn ở các miền khác vào Sài Gòn hoạt động. Phan Khôi, người phụ trách trang văn học của Phụ nữ tân văn, là người đầu tiên nhận được các bài phê bình văn học đầu tay cứng cáp của một chàng trai Bắc Kỳ 23 tuổi (năm 1931, trong đó có bài phê bình về Phan Khôi).
Trong lời giới thiệu trân trọng trên báo Phụ nữ tân văn, Phan Khôi đã tỏ rõ sự hồi hộp của mình trước sự xuất hiện của một thể văn lạ “cô dâu nếu là mới thì lối văn phê bình nhân vật này đối với xã hội ta lại còn mới hơn nữa” (Phê bình và Cảo luận, sđd, tr.13). Ông cho đó là “những bài văn hay” là “hột gạo no nê nguyên vẹn”. “Mới ngó như khí sơ lược một chút, nhưng xem kỹ thì thấy tác giả cốt trọng về đại thể, chứ không cầu toàn (…) đúng với phương pháp phê bình”(Sđd, tr.15).
Sau đó, năm 1932, giáo sư Ưng Quả, trong một buổi diễn thuyết văn học ở Huế, có nhắc đến sự cần thiết của phê bình văn học và nhận xét về Thiếu Sơn: “Mấy bài ông Thiếu Sơn viết bằng một lối văn chặt chịa, chải chuốt, trong đó ta thấy cái ảnh hưởng của văn Tây dung hợp cái sở hiếu rất chắc chắn”(Sđd. tr.8).
Được dư luận ủng hộ, chỉ hai năm sau, các bài viết này được tập hợp, bổ sung và công bố trong tập Phê bình và Cảo luận (1933).
Năm 1935, Thiếu Sơn tạo nên sự kiện thứ hai: bài phê bình Hai cái quan niệm về văn học của ông đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy, cùng với các bài viết khác của Hoài Thanh đã làm bùng nổ cuộc tranh luận Nghệ thuật 1935-1939, một cuộc bút chiến quan trọng vào bậc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam.
Thiếu Sơn cũng thử bút bằng tiểu thuyết nhưng không thành công (Người bạn gái, Nxb. Cộng lực, 1941). Ngược lại, các bài phê bình và tiểu luận của ông, viết trong 10 năm (1933-1943) sau Phê bình và Cảo luận, được tập hợp trong Câu chuyện văn học (Nxb. Cộng lực, 1943) đã gây được một tiếng vang lớn trong dư luận và được trích đọc nhiều buổi trên sóng đài phát thanh Pháp – Á Sài Gòn lúc bấy giờ.
Thiếu Sơn còn viết tiểu luận xã hội: Cuốn Đời sống tinh thần (Nxb. Đời mới, 1945) của ông là những suy tưởng nhỏ về đời sống, con người, nhìn từ góc độ nghề nghiệp và giới tính. Chọn lời của Gaston Regeot làm đề từ: “Chúng ta đã không còn sống ra người. Cần phải trở lại cái cốt cách nhân loại”, Thiếu Sơn bày tỏ những thao thức của mình về xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Tập sách đã được giải thưởng Alexandre De Rhodes.
Một số trang văn trong hai tập sách trên đây đã được chọn trích đưa vào sách giáo khoa bậc trung học.
Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Thiếu Sơn chứng kiến một cuộc đổi đời đầy xáo trộn mà thoạt đầu ông còn nghi ngại. Nhưng khí thế cách mạng và phong trào chung của tầng lớp trí thức, cùng với sự đối xử vô nhân đạo của giặc Pháp với nhân dân và với chính bản thân ông, đã đưa ông từ những suy nghĩ quen thể hiện trong sách vở đến những hành động thực tế. Khi một nhóm đảng viên đảng Xã hội Pháp ủng hộ kháng chiến sáng lập tờ Justice (Công lý) tại Sài Gòn, Thiếu Sơn tìm đến cộng tác và sau đó xin gia nhập đảng Xã hội (15-12-1945, lúc ấy tên gọi tắt là SFIO: Section Française de I’International Ouvrière). Valère làm Tổng thư ký và Thiếu Sơn là Tổng thư ký các chi bộ đảng viên người Việt.
Justicelà một trong những tờ báo đi đầu trong phong trào “Báo chí thống nhất”, và là tờ báo đầu tiên bằng Pháp ngữ ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Liên tiếp trên các số báo Justice phát hành hàng tuần, những bài báo của Thiếu Sơn là những phát súng nã vào dinh lũy kẻ thù. Ông đấu tranh đòi thi hành Tạm ước 14-9-1946, vận động thành lập Liên đoàn Văn hóa cứu quốc ở Nam Bộ và tích cực tham gia cứu trợ tù nhân chính trị.
Tháng 12-1946, chính phủ Nam kỳ tự trị buộc các công chức phải đi dự lễ tuyên thệ trung thành với chế độ. Thiếu Sơn làm đơn phản kháng, ông tuyên bố rằng việc này đã xâm phạm quyền tự do tư tưởng của con người, vì “công chức chỉ bán công việc chứ không bán lương tâm”, đồng thời ông gửi đơn từ chức lên Giám đốc sở Bưu điện.
Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Thiếu Sơn xin nghỉ việc lần thứ hai. Trong lá đơn gửi Giám đốc sở Bưu điện, ông viết : “Tôi không mặt mũi nào ngồi làm một cộng sự viên cho Pháp, trong khi đồng bàotôi đương liều chết để kháng chiến chống Pháp”.
Từ bỏ một vị trí ổn định mà nhiều người mơ ước, Thiếu Sơn chọn sống cuộc đời đạm bạc, dành hết tâm lực và thì giờ vào sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc bằng ngòi bút. Những bài báo của ông trong thời gian này được tập hợp trong tập tiểu luận chính trị Giữa hai cuộc cách mạng (Nxb. Mạch Sống, 1947).
Năm 1948, Thiếu Sơn đã từ chối lời mời làm Bộ trưởng Bộ thông tin cho chính phủ Nguyễn Văn Xuân.
Nhân lễ thụ phong Trung tướng của mình (1949), Nguyễn Bình đã mời Thiếu Sơn cùng với một số nhân sĩ khác ở Sài Gòn vào thăm chiến khu Đồng Tháp Mười. Ở đây, nhà văn được gặp lại giáo sư Phạm Thiều, giáo sư Ca Văn Thỉnh và nhiều trí thức nổi tiếng khác. Sau đó vài tháng, Thiếu Sơn lại đưa Alain Savary (nghị viên Hội đồng Liên hiệp Pháp) vào khu tiếp xúc với đại diện Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ. Khi trở về Sài Gòn, Thiếu Sơn bị bắt giam ở Khám lớn một thời gian ngắn.
Nhận thấy tờ Justice là một nguy cơ, thực dân Pháp đã tìm cách lần lượt đẩy những đảng viên Xã hội nòng cốt tiến bộ như Valère và Hervochon (Tổng thư kí thứ hai) về Pháp. Số đảng viên Xã hội người Pháp còn lại hầu hết là những kẻ ngả theo phe thực dân, chủ trương ủng hộ chính phủ Bảo Đại. Nhận thấy không thể tiếp tục hoạt động ở Sài Gòn, Thiếu Sơn quyết định thoát ly ra vùng kháng chiến.
Tháng 7 năm 1949, Thiếu Sơn ra vùng tự do thuộc khu 7. Bốn tháng sau, Thiếu Sơn về Đồng Tháp Mười, nhận công tác ở Sở Thông tin Nam bộ do Huỳnh Tấn Phát làm giám đốc.
Năm 1950, khi các cơ quan của xứ ủy Nam Bộ chuyển xuống khu 9, Thiếu Sơn được phân công về Đài Phát thanh tiếng nói Nam Bộ và sau đó chuyển về làm Thư kí tòa soạn báo Cứu quốc Nam Bộ.
Công chúng Nam Bộ lúc bấy giờ được đọc những bài bình luận sắc sảo mà dí dỏm của Thiếu Sơn, do ông tổng hợp và phân tích các tin tức đăng trên các báo chí từ trong thành gửi ra. Giỏi làm dân vận, Thiếu Sơn thường được đồng bào các nơi đưa xuồng rước về nói chuyện thời sự. Những câu chuyện của ông thường hấp dẫn và dễ hiểu, góp phần động viên được tinh thần chiến đấu của quần chúng. Có miếng ngon hoặc ngày giỗ chạp thế nào bà con cũng phải mời được Thiếu Sơn về.
Các bài viết của Thiếu Sơn trong thời gian này được in trong cuốn Những người làm nên lịch sử, do Ban Tuyên giáo Trung ương cục miền Nam xuất bản năm 1951.
Hiệp định Genève (1954) ký kết, Thiếu Sơn được phân công ở lại, tháng 6-1955, ông về Sài Gòn. Chẳng bao lâu, trên các báolại thấy xuất hiện tên tuổi của Thiếu Sơn bên cạnh Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Vũ Tùng, các nhà văn kháng chiến hồi cư.
Đầu năm 1956, bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam, Thiếu Sơn phải trải qua các nhà tù Khám Lớn, Catinat, Gia Định, Thủ Đức, Biên Hòa, mãi đến 4 năm sau (1960) mới được trả tự do. Dù bị bị theo dõi thường xuyên, Thiếu Sơn vẫn tiếp tục viết bài đăng trên các báo Thần chung, Điện tín, Đất tổ, Dân chủ, Dân quyền, Thiện mỹ, Tin sớm, Phổ thông,… với nhiều bút danh như Thiếu Sơn, Chim Ưng, Phỉ Chiến, Quốc Sĩ, Lạc Nhân, Lạc Quan Nhân, Việt Bằng, Lê Quang Việt, Nguyễn Quý Hương, Thiều Nhân…
Tuổi cao, sức yếu, cuộc sống kham khổ, Thiếu Sơn vẫn không ngừng kiên trì đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Giới báo chí ngày ấy vẫn còn nhớ hình ảnh của một nhà báo già yếu, đi đâu cũng xách theo một giỏ đựng đủ các vật dụng sinh hoạt, để đề phòng bị “hốt” vào khám bất ngờ. Ông viết hồi kí Một đời người trên tạp chí Phổ thông, kể lại những bài học của mình cho thế hệ mai sau. Một số bài báo có tính chất văn học của ông ở giai đoạn này như Tôn Thọ Tường có đáng được đề cao không? (Phổ thông, 1962), Thân ái phê bình thi sĩ Đông Hồ (Phổ thông, số 87), Bài học Đồ Chiểu… tất cả đều thể hiện quan điểm yêu nước và lập trường dân tộc của ông.
Năm 1968, Thiếu Sơn và một số trí thức Sài Gòn vào chiến khu dự lễ ra mắt của Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam. Ông tham gia phong trào Bảo vệ văn hóa dân tộc, phong trào Đòi quyền sống, và có chân trong Ủy ban đòi cải thiện chế độ lao tù. Cuộc diễn thuyết của Thiếu Sơn ngày 22-11-1970 tại Đại học Văn khoa Sài Gòn, với đề tài Từ văn học tiền chiến đến văn học hậu chiến là một sự kiện đã gây được tiếng vang trong dư luận và báo chí.
Năm 1972,Thiếu Sơn bị chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bắt giam, mãi đến tháng 3 năm 1974 mới được trao trả cho chính phủ Cách mạng lâm thời ở Lộc Ninh. Ông được đưa ra Hà Nội an dưỡng, sau đó sang Pháp chữa bệnh. Ở Pháp, ông đã đi nói chuyện nhiều nơi, viết báo, vận động trí thức và Việt kiều hướng về đất nước, đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược. Thời gian này, Thiếu Sơn hoàn thành hồi kí Nợ bút nghiên hay nghĩa đồng bào.
Một tháng sau khi đất nước thống nhất, Thiếu Sơn về đoàn tụ với gia đình. Dù căn bệnh đau tim trầm kha không ngớt giày vò, ông vẫn giữ được sự lạc quan, lại tiếp tục viết trên các báo Sài Gòn giải phóng, Giải phóng, Đại đoàn kết, Văn nghệ, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh…và tham gia công tác Mặt trận Tổ quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 5-1-1978 Thiếu Sơn từ trần do chứng tai biến mạch máu não, để lại bao nhiêu thương tiếc trong lòng bạn bè, độc giả. Trong 50 năm cầm bút, “cuộc đời Thiếu Sơn là một tấm gương lao động và đấu tranh dũng cảm khí tiết và trung thực” (1)
Từ những điều mắt thấy tai nghe, bằng chính kinh nghiệm máu thịt của mình, Thiếu Sơn đã viết nhiều bài tiểu luận chính trị dưới nhan đề Bài học và chính bản thân ông cũng là một bài học phong phú mà chúng ta cần tìm hiểu sâu hơn, kỹ hơn.
Thiếu Sơn đến với cách mạng có muộn, nhưng ông đã vững bước cho đến cuối đời. Đó là nhờ những năm tháng đấu tranh quyết liệt trong nanh vuốt kẻ thù, nhờ những ngày thực sự lăn lộn giữa nhân dân, sống với những con người lao động bình thường, can trường trên khắp các bưng biền Nam Bộ, mà trước đây ông chỉ yếu mến họ qua sách vở. Như ông đã khẳng khái tỏ bày trong một buổi nói chuyện tại Đại học Văn khoa Sài Gòn, ngày 22-11-1970: “…nhờ được sống trong lòng dân vào những giờ phút lịch sử, nên tôi đã học được phần nào quan điểm nhân dân và lòng yêu nước thiết tha của đồng bào, nhất là của những tầng lớp bị bóc lột và quyết tâm hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng để thay đổi thân phận của họ”.
Và cũng chính ở những năm tháng đó, Thiếu Sơn cảm nhận được sức hút mạnh mẽ của một nghĩa lớn. Trên các ngả đường kháng chiến của mình, ông đã gặp không ít những trí thức cỡ lớn, những viên chức cấp cao, những chức sắc tôn giáo tên tuổi, đã dứt khoát rời bỏ cuộc sống xa hoa danh vọng để đi với nhân dân, chung sức đánh đuổi ngoại xâm.
Chúng ta đã nói về một Thiếu Sơn làm nên sự kiện. Nhưng các sự kiện ấy có ý nghĩa như thế nào, chúng có đủ sức vượt qua quy luật khắc nghiệt của thời gian không: đây là câu hỏi lớn. Trả lời câu hỏi này, phải đọc Thiếu Sơn và đọc Thiếu Sơn- nhà phê bình văn học.
Có thể nói, trong văn học Việt Nam, Phê bình và Cảo luận là một tác phẩm xứng đáng được đọc kỹ. Hơn bảy mươi năm đã trôi qua, tác phẩm này dường như vẫn lấp lánh một giá trị riêng, mời gọi chúng ta khám phá và ngẫm nghĩ, dù nó có phần nào bị che khuất dưới một văn phong cũ càng, đăng đối đến buồn cười.
Cũng cần lưu ý một chi tiết nhỏ: Khi đăng những bài phê bình đầu tiên lên báo, Thiếu Sơn mới vừa bước qua tuổi hai mươi. Một người cầm bút nghiệp dư trẻ tuổi dám làm một công việc táo bạo mà ngay chính nhà báo kỳ cựu Phan Khôi cũng e dè – khi giới thiệu – là phê bình những nhân vật tiếng tăm đương thời. Điều gì đã tạo nên cho những người viết văn giai đoạn này nói chung và Thiếu Sơn nói riêng, sớm có một bản lĩnh như vậy? Rõ ràng đây không phải là một trò chơi liều lĩnh ngông cuồng của tuổi trẻ, cũng không phải là sự mưu cầu một cái gì khác ngoài văn học, mà là những suy nghĩ thẳng thắn, đầy trách nhiệm, xuất phát từ sự am hiểu và quan tâm sâu sắc đối với văn học và xã hội.
Trong lá thư gửi cho Phan Khôi, Thiếu Sơn đã xác định sự cần thiết của thể văn phê bình trong đời sống văn học Việt Nam lúc bấy giờ. Ông định nghĩa công việc phê bình bằng những một cách nói giản dị: “Nhà phê bình là kẻ đọc giùm cho kẻ khác (…) phải biết chỉ cho người ta thấy cái nghĩa lý của câu chuyện, chỗ dụng ý của tác giả cái nghệ thuật của người làm và cái văn thể cuốn sách” (Sđd, tr.9). Theo ông, ngoài phê bình tác phẩm còn có phê bình nhân vật (có hơi khác với phê bình tác giả, vì còn chú ý nhiều hơn đến nhân sinh quan, nhân cách và các hoạt động khác của người ấy). Thiếu Sơn phân biệt ranh giới giữa phê bình và cảo luận (nay gọi là tiểu luận):”phê bình” là phán đoán nhân vật, phán đoán tác phẩm, trong khi “cảo luận”  thiên về khảo cứu những vấn đề hoặc những thể loại văn học. Những xác định ngắn gọn như thế này cần và đủ cho một công trình phê bình có tính chất khai phá.
Trong mục phê bình nhân vật, Thiếu Sơn viết về chín nhà văn: Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Hồ Biểu Chánh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Tuấn Khải và Tương Phố. Mặc dù ông giải thích đây là sự lựa chọn hoàn toàn theo khả năng am hiểu của mình, nhưng ta cũng thấy các tác giả này rất tiêu biểu cho giai đoạn từ 1930 trở về trước. Với dăm trang ngắn gọn, Thiếu Sơn đã cố gắng phác vẽ những nét cơ bản của từng nhà văn về sự nghiệp, vị trí, phong cách. Có thể nói, Thiếu Sơn là một trong những nhà phê bình đầu thế kỷ đã dung hợp khéo léo, tự nhiên trong mình những ưu thế của truyền thống và hiện đại. Đọc ông, ta nhận ra cái phong vị phê bình của cha ông ta xưa: hàm súc, giản ước, phê phán một cách kín đáo, nhận xét một cách thâm trầm. Dù vẫn còn vắng bóng những trang phân tích tác phẩm, nhưng có thể thấy tất cả những phán đoán của ông không chỉ dựa vào trực giác và ấn tượng cá nhân, mà là xuất phát từ quá trình phân tích, tổng hợp và khái quát ngầm của tác giả, cộng thêm với sự am hiểu chắc chắn, rộng rãi về dư luận xã hội đương thời về những đối tượng mà ông phê bình .
Với Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn chú ý sự đóng góp của tác giả này về mặt báo chí và ngôn ngữ. Về học thuật, ông phủ định một cách khéo léo bằng cách dẫn ý kiến của người khác: “Có người cho cái học của ông có bề mặt mà không có bề sâu (…) Có người trách cái đời ông không được chuyên nhất, nghĩa là ông thường chịu của sự ngó nhưlà tấn hóa ở tư tưởng, mà kỳ thiệt có lẽ là cái sức thao túng của hoàn cảnh”( tr.18). Đây là lời phê bình thâm thúy và đích đáng nhất về con đường văn nghiệp của Phạm Quỳnh mà với một cách diễn đạt mới hiện nay, chưa chắc đã chuyên chở được hết ý tứ và sắc thái đặc biệt như Thiếu Sơn đã viết. Một cách kín đáo, Thiếu Sơn bày tỏ không đồng tình về con đường chính trị của Phạm Quỳnh, ông phân biệt chủ nghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh với những người yêu nước khác.
Tính dân chủ của không khí văn học thời ấy, cũng như sự thẳng thắn trong bút pháp phê bình của Thiếu Sơn thể hiện rõ qua bài viết về Phan Khôi (cũng là người mà Thiếu Sơn gửi nhờ đăng trên Phụ nữ tân văn những bài phê bình đầu tiên: Phan Khôi, Phạm Quỳnh…)
Thiếu Sơn khẳng định, trong văn giới: Phan Khôi là người tai mắt, trong báo giới: Phan Khôi là bậc đàn anh; công lao của Phan Khôi là “công lập ngôn”, qua hoạt động báo chí, đã góp phần thống nhất ngôn ngữ trên cả nước; đó cũng là một trí thức nho học đã sở đắc được cái mới và tạo thành một khuynh hướng riêng. Nhưng đồng thời, Thiếu Sơn cũng nhận ra rằng Nho học là “người vợ tào khang” của Phan Khôi trong khi tây học vẫn còn là “người tình mới “. Và do đó, theo ông, sự say mê thái quá lôgic học của Phan Khôi đã khiến ông trở nên bất cập khi đi vào văn học nước nhà: “Ông không biết rằng cái lý có khi đập chết cái tình mà văn pháp có khi làm tuyệt ngòi cảm hứng (…) Lúc nào ông cũng ” một với một là hai” mà ông đã bỏ biết bao cái chân lý nó đi qua ông, chỉ cần có chút trực giác là ông có thể lĩnh hội được” (Sđd, tr.34). Với những tác phẩm văn chương của Phan Khôi, Thiếu Sơn nhận định: ” Cái lối văn đó khiến người ta hiểu thì được, để người ta cảm thì không, nó có thể làm vui cho khối óc mà không cám dỗ được cõi lòng” (Sđd, tr.24). Đã thế, theo Thiếu Sơn, trong phê bình, Phan Khôi cũng lại dùng cái chuẩn của mình để đánh giá người khác: không chấp nhận lối văn tình cảm. Từ đó, Thiếu Sơn kết luận về Phan Khôi: “Tự tin mình quá, mà có khi chính ông phản đối chân lý mà ông không ngờ” (Sđd, tr.25).
Đặc biệt, chỉ với Tản Đà, Thiếu Sơn dùng chữ tiên sinh làm cách xưng hô, một thái độ hết sức trân trọng (sau này Hoài Thanh đã dùng lại trong Thi nhân Việt Nam, 1941). Ông xác định chất nho thuần túy và cái ngông cao thượng trong thơ và trong con người Tản Đà: “Đời đục, tiên sinh trong. Đời tối, tiên sinh sáng. Đời quay cuồng trong nhân dục tư lợi, tiên sinh sống ở thế giới tinh thần (…). Cái đặc sắc trong người tiên sinh là cái “tình”, cái tình nặng, cái tình sâu, cái tình mộng huyễn, cái tình nên thơ, cái tình cùng với nước non cây cỏ mà dung hòa họa vận, cái tình cùng thế đạo nhân tâm mà nên giọng chua cay” (Sđd, tr.29). Thiếu Sơn cho rằng công lao của Tản Đà là đã làm cho thế giới tinh thần, cõi lòng của nhân sinh ngày càng phong phú đẹp đẽ, nhưng cái bước rẽ làm báo của Tản Đà đã làm hại văn nghiệp của ông, mà Thiếu Sơn gọi là “cái bổn ngã của nhà thi sĩ mất đi để thay một cái bổn ngã khác vào” từ người “ru đời” Tản Đà trở thành người “dạy đời”, nên thất bại một cách đáng tiếc.
Thiếu Sơn nhìn nhận vị trí lịch sử của Việt Nam sử lược và Nho giáo của Trần Trọng Kim như những lối rẽ đầu tiên vào rừng cổ học Việt Nam. Nhưng ông cũng vạch ra những nhược điểm quan trọng của chúng: “Nhiều chỗ như ông (Trần Trọng Kim) có ý ép, có ý thiên, có ý võ đoán cho xong chuyện, có ý ngụy biện để giải quyết” (Sđd, tr.37). Thiếu Sơn có một quan niệm viết sử rất mới, đầy đủ và khoa học: “Phải gián đoạn hẳn với những sự thần kỳ quái đản (…). Phải bỏ bớt chuyện vua mà nói chuyện dân (…). Phải bỏ bớt những sự hưng vong thành bại của từng nhà vua mà nói đến sự tấn hóa về tinh thần, tri thức về mỹ thuật, kinh tế của dân nước (…). Phải bỏ hẳn mình ra ngoài những lời nói cho tài liệu” (Sđd, tr.35).
Có lẽ Thiếu Sơn là người đầu tiên xác định đúng vị trí của Hồ Biểu Chánh trong lịch sử văn học Việt Nam, khi ông gọi tác giả này là “Nhân vật đúng đắn trong cái làng đông người mà lại lộn xộn hơn hết thảy” là làng văn tiểu thuyết. Điều đáng chú ý là, chỉ với Hồ Biểu Chánh, Thiếu Sơn khước từ nói về con người chính trị: “Song ta cũng không cần chi phải biết Văn Trung làai, mà người ta muốn biết đây chỉ là Biểu Chánh” (Sđd, tr.45). Trường hợp ngoại lệ này có thể lý giải rằng đối với Thiếu Sơn sự tồn tại của Hồ Biểu Chánh, với tư cách là nhà văn đã lấn át cái tư cách viên tri huyện mà thực chất là một loại viên chức hành chính chứ không phải là một lý tưởng chính trị.
Ở phần này, cùng với bài cảo luận Bàn về tiểu thuyết, Thiếu Sơn đã đặt ra nhiều vấn đề đáng chú ý của thể loại này: vì sao tiểu thuyết được phổ biến nhất, mối quan hệ giữa xã hội và sự phát triển của tiểu thuyết, vai trò của tiểu thuyết, tiểu thuyết tả thực là một bước tiến của văn học... Những lập luận của ông giản dị mà thuyết phục “Văn học tả thực thì chẳng chịu bỏ sót một cái gì mà không nói đến. Tâm giới cũng tả mà ngoại giới cũng tả, nhưng cái cốt lõi nhất là cho biết cái bản sắc của nhân loại” (Sđd, tr.102).
Phê bình tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết Quả dưa đỏ, Thiếu Sơn thực hiện phương pháp so sánh. Ông so sánh Hồ Biểu Chánh với những nhà tiểu thuyết Pháp để kết luận rằng tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh thuộc về phái chiết trung hầu đáp ứng thị hiếu của đông đảo độc giả. Nhưng cũng chính vì để đạt tới sự dung hòa này, tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh là một sự nửa vời về các tiêu chí. Thiếu Sơn đã vạch ra các nhược điểm của tác phẩm Hồ Biểu Chánh: Tâm lý nhân vật đơn giản, cốt truyện ít ly kỳ, đã là tiểu thuyết tả chân lại còn có những anh hùng lý tưởng, nghệ thuật tả tình còn chất phác, quan điểm sáng tác còn bị trói buộc trong vòng luân lý. Cũng thế, bằng vào sự đối chiếu song song hai tác phẩm Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và Robinson Crusoé của Daniel Defoe, Thiếu Sơn phân tích tiểu thuyết này rất đạt, và kết luận Quả dưa đỏ là tiểu thuyết luận đề chứ không phải là tiểu thuyết phiêu lưu như tác giả lầm lẫn. Theo Thiếu Sơn, cả hai tiểu thuyết trên khác hẳn nhau về dụng ý và nghệ thuật. Robinson là một nhân vật thật sự nói năng hoạt động, tự lực và can đảm trong bước đường phiêu lưu của mình, ngược lại, “An Tiêm không có thật, chẳng qua chỉ là một cái lý tưởng thâm thiết của Đồ Nam Tử” (…). “Tác giả đã bắt cái lý tưởng đó phải hành động, phải phiêu lưu, phải cảm giác sự vật, phải tạo lập cơ đồ để dẫn chứng cho người đời cái tinh thần giáo hóa của đạo học thánh hiền” (…). “Vì thế nếu ở Robinson sự vật nói nhiều hơn là giảng giải thì ở Quả dưa đỏ, lời giảng giải lấn át sự vật. An Tiêm” không là người, không có cái tâm lý của người, không có giọt nước mắt của thế nhân” “(Sđd, tr.80 và 83).
Cuối cùng, Thiếu Sơn đã kết luận về tiểu thuyết luận đề rất xác đáng (điều này mãi đến vài chục năm sau Nhất Linh mới ngộ ra cho chính mình trong Viết và đọc tiểu thuyết- Nxb. Đời nay, S, 1969): “Cái lối tiểu thuyết này nay thịnh hành lắm. Nếu luận đề có ý nghĩa chính đáng, có lý tưởng cao thâm và nếu cách phô diễn tinh thần được linh hoạt thì tác phẩm sẽ được cái giá trị về tư tưởng hơn là về văn chương” (Sđd, tr.85-86).
Nói một cách khái quát, cách phê bình của Thiếu Sơn xuất phát từ quan điểm ” nhìn sự vật theo bản chất mà vật này đòi hỏi”.
Với Huỳnh Thúc Kháng, Thiếu Sơn chú ý đến khía cạnh con người chí sĩ, một nhân cách khác thường của nhà chính trị. Từ đó ông nhận ra sự thiên lệch tất yếu của Huỳnh Thúc Kháng trong quan điểm về văn học:”Ông Huỳnh coi văn chương chỉ là một cái phương tiện dùng được trong nhiều cái phương tiện dùng được để phụng sự quốc gia, mà chẳng bao giờ ông quan tâm đến cái sự nghiệp văn sĩ”. Trên đây là ghi nhận sự việc, tiếp theo, Thiếu Sơn thử đặt mình vào vị trí của Huỳnh Thúc Kháng để mà hiểu nhân vật này:”Đối với ông, thì không có cái mỹ thuật nào hơn được cái cảnh trí của non sông, mà cũng không có cái văn chương nào hơn cái văn chương làm cho dân khôn nước mạnh. Cái mỹ thuật đó, dân ta còn nhiều người chưa biết thưởng thức, cái văn chương đó dân ta còn lắm kẻ chưa chịu học đòi thì Truyện Kiều kia nếu có bị coi là một cuốn dâm thư và những người yêu Kiều về cái gía trị văn chương và mỹ thuật của nó, mà có bị kết án vào tội mê dân hoạc chúng, ta cũng không nên phiền trách nhà chí sĩ không công bằng”. Hiểu mà vẫn không đồng tình, không ngụy biện, Thiếu Sơn đã vạch ra nhược điểm trong quan điểm của Huỳnh Thúc Kháng: “cố chấp và hẹp hòi, không có quan điểm chính đáng về văn chương”(Sđd, tr.53-54).
Thiếu Sơn xác định nguồn thi cảm của Trần Tuấn Khải là “tinh thần quốc gia”,”cảm về thời thế”, “nặng lòng với đất nước”. Theo ông, đó là một đề tài hay, một cảm hứng vô tận đối với người cầm bút, nhưng thường không bền. Và ông dẫn ý của Victor Hugo: “Thơ không phải chỉ để cho thần dân của một nước quân chủ, hay công dân của một nước cộng hòa, mà chính là đểcho con người ta vậy “(Sđd, tr.57).
Đi vào tác phẩm, Thiếu Sơn không bộc lộ được nhiều ưu thế như khi phê bình nhân vật. Một phần vì các tác phẩm ông chọn (Tố Tâm, Quả dưa đỏ, Người vợ hiền) là những tác phẩm không hay lắm. Phần khác, vào thời của ông, phương pháp phân tích tác phẩm văn xuôi – hoàn toàn là thành tựu phê bình phương Tây – chưa thể được vận dụng một cách nhuần nhuyễn. Dù thế, ba tiểu thuyết trên vẫn là những tác phẩm có vấn đề (theo nghĩa văn học!) và Thiếu Sơn đã nêu ra các vấn đề đáng chú ý của nó. Chẳng hạn, tính chất nửa vời trong tiểu thuyết Tố Tâm, tính luận đề trong Quả dưa đỏ, và những ảnh hưởng trực tiếp của tiểu thuyết Pháp vào tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn đó: sự phỏng theo, phóng tác, sao chép, qua tiểu thuyết Người vợ hiền.
Phần cảo luận của Thiếu Sơn là những bài viết hoặc bài diễn thuyết, xuất phát từ ba vấn đề đang được dư luận quan tâm : vấn đề quốc học, vấn đề tiểu thuyết, và mối quan hệ giữa báo giới và văn quốc ngữ.
Đặc biệt, trong Nói chuyện quốc học, Thiếu Sơn đã đưa ra mấy luận điểm quan trọng, đáng cho chúng ta suy nghĩ và tiếp thu trong hoàn cảnh hiện tại. Định nghĩa khái niệm “quốc học”, ông viết: đó là “cái học thuật riêng của một nước, nó đặc biệt cho nước ấy, có ảnh hưởng trực tiếp đến văn học và gián tiếp đến xã hội (…) gồm những cái phong trào tư tưởng triết học của một nước, nó có thể chịu ảnh hưởng của cái triết học nước ngoài mà vẫn phải có phần khác mà biệt hẳn ra vậy”. Để xây dựng được một nền quốc học cho chính mình,cần phải có ý thức và phương pháp học tập. Thiếu Sơn dẫn ý kiến của một học giả Trung Quốc:” Việc học vấn, bước thứ nhất là ” nhân” mà bước thứ hai là “cách”. Nhân là bắt chước của người để làm cái hay cho mình, thì cốt phải ” đồng”, cách là sáng tạo tự mình có phần giỏi hơn thì cốt phải dị (…) Trong nước ta bây giờ, sự học cũng còn ở chỗ nhân mà chưa tới chỗ cách, còn cần ở chỗ đồng mà chưa tới được chỗ dị”.  Vì sao? theo Thiếu Sơn ta còn thiếu cái tinh thần tự do, cái tư tưởng độc lập, cái khối óc phê bình; ta chưa có cái quan niệm ” học thuật vì học thuật ” và ta chưa tận dụng cái”lợi khí” quốc văn.Thiếu Sơn còn cắt nghĩa thêm : “Học thuật vì học thuật là thế nào? Phần nhiều học giả hễ kê cứu học thuật là muốn đem dùng ngay nó vào việc đời, cho học thuật là cái phương tiện (moyen) chứ không phải là cái cứu cánh (fin).  Đã là phương tiện thì hễ đến chỗ dùng được là dùng, dùng rồi là thôi,  không phát đạt được nữa. Còn đã cho nó là cứu cánh thì dan díu với nó hoài, để phátminh cho đến chỗ tinh tuý của nó, theo đuổi cho đến chỗ cùng cực của nó, như vậy, mới khả dĩ có cái học cao thâm đủ gây lấy cái quốc học xứng đáng. Rồi ta sẽ đem nó ra mà thiệt hành, nó sẽ làm trăm ngàn cái phương tiện cho người đời mà nó vẫn giữ được cái cốt cách của nó, cùng cái danh dự của người đã đẻ ra nó vậy ” (Sđd, tr.90,92,93).
Về báo giới và văn quốc ngữ, Thiếu Sơn cho rằng báo chí Việt Nam, được thực hiện bởi những nhà báo tâm huyết, đã xây dựng nên nền văn học. Và vào thời điểm 1925 – 1926, chính nhờ phong trào yêu nước (cái án Phan Bội Châu và đám tang Phan Chu Trinh) mà văn học trên báo chí đã thống nhất trên cả nước. Ông xác định “cái giáo dục của Nam phong, chỉ là cái giáo dục phổ thông, cái giáo dục giản yếu mà thôi “. Và theo Thiếu Sơn, ba nhân vật có ảnh hưởng đến văn phong thời bấy giờ là Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và Tản Đà. Ông cũng kêu lên tình trạng những nhà văn bị sa lầy trong làng báo.
Đối với Thiếu Sơn, phê bình là một cách để ông bày tỏ những suy nghĩ của mình về văn học, ông muốn tìm ở người viết một sự đồng hướng, đồng tình trên con đường thực hiện sự nghiệp chung, hơn là bình giảng, phân tích văn chương thuần túy. Phê bình đặt ra trong tập sách này là một cách đối thoại với tác giả và người đọc về những vấn đề quan điểm tư tưởng.
Sau khi in Phê bình và Cảo luận, Thiếu Sơn có viết thêm một số bài báo nữa trong mục Câu chuyện văn chương trên Tiểu thuyết thứ bảy(1935). Số lượng bài phê bình của ông không nhiều so với các tác giả khác, nhưng rất lạ là bài nào của ông cũng thường như mở đầu cho một vấn đề khá lớn. Đó cũng là sự triển khai tiếp các suy nghĩ của ông trong Phê bình và Cảo luận, rất nhất quán: đề cao tính sáng tạo trong văn chương, nhấn mạnh yếu tính căn bản của nó là cái đẹp, Thiếu Sơn thấy cần xác lập lại một lần nữa cho rõ quan niệm về văn chương. Nêu ra quan điểm văn học của Nguyễn Bá Học và Phạm Quỳnh, như là tiêu biểu cho quan niệm văn chương một thời khá phổ biến ở nước ta: phân biệt làm hai loại văn chương, văn chương có ích (thường là loại biên khảo, hoặc tiểu thuyết luân lý) và văn chương chơi (thường là thơ văn trữ tình) và cổ suý cho loại văn chương trên, bài xích loại văn chương dưới, Thiếu Sơn cho đây là một cách nhìn lệch, bản chất văn chương là sáng tạo, và chỉ có sáng tạo mới có thể đóng góp cho sự phát triển của văn học nước nhà, không nên nhìn văn học như một công cụ thực dụng (Hai cái quan niệm về văn học, Tiểu thuyết thứ bảy s.38- 16-2-1935)).
Tiếp theo, bài Nghệ thuật với đời người của Thiếu Sơn lại đặt vấn đề về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Ông xác định trong lĩnh vực nghệ thuật có những đặc điểm và quy luật riêng, người thưởng thức nghệ thuật phải am hiểu những đặc điểm và quy luật đó, chứ không thể lấy những cái chuẩn khác (chính trị, luân lý, đạo đức, xã hội…) mà xét đoán nó được. “Vâng thì cho là nghệ thuật làm việc cho đời nhưng là làm việc một cách khác. Nó không khuyên ai, nó không dạy ai, nó không bắt ai phải theo chủ nghĩa này, phải bỏ chủ nghĩa khác. Nó chỉ biết phô bày những cảnh sắc thiên nhiên, những hình ảnh xã hội, những bí ẩn của tâm giới, những nỗi éo le của người đời.  Nó phô bày khéo cho người ta cảm như được mắt thấy, tai nghe, cho người ta mê say như tự mình vui chơi ở thế giới văn chương và mỹ thuật ấy nghĩa là nó đã làm việc cho đời rồi đó”.
Trong Văn học bình dân, Thiếu Sơn đã nhận đề tài và xu hướng mới này như là một hướng làm phong phú thêm cho sinh hoạt văn học: “Nếu bình dân có địa vị trong văn học, thì văn học sẽ hoàn toàn đầy đủ hơn vì sẽ diễn tả được hết cái bản sắc của người đời và sẽ là một cái gương phản chiếu hoàn toàn cái chân tướng xã hội”. Nhưng ông cũng dè chừng cái chủ trương cực đoan, chỉ đề cao văn chương bình dân và chỉ xây dựng nó bằng “sự hô hào trên báo chí” , mà không lo việc sáng tác nghệ thuật.
Với Bạn đọc văn, Thiếu Sơn đã sớm chạm đến vấn đề tiếp nhận văn học.
Thiếu Sơn mở đầu: ”Văn chương cũng là một món hàng hóa“. Mệnh đề này dẫn đến ý nghĩa: vì văn chương là hàng hóa nên người làm ra sách cần phải biết rõ người mua, nghiên cứu bạn đọc là vấn đề vô cùng cần thiết. Nhưng theo ông, thị hiếu văn chương không thể đồng nhất với thị hiếu tiêu dùng thường tình. Mượn lời một nhà văn Pháp ông nói: “Mỹ cảm là một cái cảm quan phát triển chậm nhất ở người ta”. Chính vì thế văn chương thường kén độc giả, nó có thể không đáp ứng những nhu cầu thực tế cụ thể: “Một bức ảnh với một bức họa bao giờ cũng có tính cách và giá trị khác nhau. Tiệm chụp ảnh có được khách đông nhưng phòng họa sĩ lại chỉ là nơi hẹn hò của một số ít người biết yêu nghệ thuật. Sách giáo khoa tiêu thụ được nhiều vì là những vật cần cho học sinh. Nhưng tác phẩm văn chương phần đông lại không được chú ý”.
Từ đó Thiếu Sơn chia làm mấy loại công chúng:”Một hạng công chúng rất chăm chỉ sốt sắng, thường đọc hết thảy sách đã xuất bản. Hạng này là hạng văn sĩ chưa ra đời nhưng vẫn đang dự bị. Họ đọc của người chính là sửa soạn chocông trình tương lai của họ. Họ thưởng thức một cách thông minh, bình luận một cách sáng suốt, và thỉnh thoảng lại biên thơ khuyến khích hay làm quen tác giả…” loại thứ hai là “người muốn tìm ở văn chương những câu trả lời cho những vấn đề khó giải ở trong đời của họ (…) phần nhiều thường là ở phụ nữ. Loại thứ ba, “hạng trí thức, phần nhiều đã có nghề nghiệp rồi muốn đọc văn chương để biết cái trình độ văn học và hiểu rõ cái xu hướng của văn chương. Loại cuối cùng là “hạng công chúng bác tạp, đọc văn không có mục đích nào khác hơn là để giết thì giờ (…) hạng người này là hạng người vụ thực, là trí thức thiển cận, chưa có mỹ cảm mỹ tình, nhưng chính lại là hạng đông hơn hết ở bất kỳ xã hội nào. Cái số đông đó cần phải tiến hóa về cả hai phương diện trí thức và tinh thần thì mới trở thành những vị độc giả chuyên cần. Hạng công chúng này mà quyến rũ được thì văn học sẽ bước tới một thời kỳ toàn thịnh vì khách hàng càng đông thì đồ hàng càng phải phổ thông đầy đủ cho thích hợp với thiên hình vạn trạng của sự sống loài người”. Để kết luận, Thiếu Sơn dẫn lời Bergson: “Văn chương là một xã hội mở chứ không phải là một xã hội đóng” và khẳng định:” Ở nước ta, cái xã hội đó đã bắt đầu mở, nhưng còn chưa mở rộng ra tứ phía. Vì không có chìa khóa để dùng. Chìa khóa đó là sự học. Sự học chưa phổ thông thì văn chương phổ thông sao cho được”.
Câu chuyện văn học của Thiếu Sơn công bố khi văn học Việt Nam đã chạy marathon một chặng dài trên đường hiện đại hóa. Vẫn là những quan sát lặng lẽ và cách trò chuyện dung dị, Thiếu Sơn tham gia vào các vấn đề văn học, văn hóa của Việt Nam đương thời. Hai mươi bài viết thoáng và gọn, có những bài dành bàn đến “các nhà”: nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà phê bình, nhà sử học, nhà báo, nhà làm sách; lại có những bài bàn về các trào lưu: Lãng mạn, Tả chân; có bài bàn về những vấn đề văn học trong cái nhìn rộng rãi, so sánh.
Có thể thấy Thiếu Sơn chú ý nhiều về tính đặc thù của nghề văn, hay nói khác đi, ông xem trọng tính chuyên môn của công việc viết lách. Tính hiện đại của quan niệm Thiếu Sơn bộc lộ rõ ở phương diện này. Những trang Thiếu Sơn miêu tả đặc điểm của nhà văn hay trạng thái tinh thần của người nghệ sĩ trong cơn thai nghén, làm ta liên tưởng đến Trên đường nghệ thuậtcủa Vũ Ngọc Phan, Theo giòng của Thạch Lam, và xa hơn là Phấn thông vàngcủa Xuân Diệu. Quả thật những năm tháng ấy, có một mạch cảm hứng chung nơi người cầm bút: tự quan sát và tự khắc họa chân dung của giới mình. Dưới mắt họ, trong đó có Thiếu Sơn, nghề văn nhọc nhằn nhưng cũng sang trọng biết bao: cái sang trọng ấy không phải do ngoại cảnh đem lại “Mà thật sự nghề văn ở nước ta còn rẻ quá. Rẻ cả về tinh thần lẫn vật chất. Về tinh thần, nhà văn chưa được sự đãi ngộ xứng đáng của xã hội. Về vật chất, nhà văn chưa thoát khỏi sự ám ảnh của con ma đói, ma nghèo”, mà chủ yếu là do nội tâm: cái hạnh phúc được tự do cô đơn, tự do cảm xúc, tự do suy ngẫm, tự do viết, tự do trao gửi. Cái hạnh phúc ấy lớn hơn cả địa vị, tiền bạc. Cho nên, Thiếu Sơn khẳng định: “muốn có địa vị, gặp được sang giàu, tốt hơn là (..) không làm văn sĩ nữa” (Lê Quang Hưng, Thiếu Sơn, Nghệ thuật vị nhân sinh, Nghề văn sĩ, Nxb. Văn hóa Thông tin Hà Nội, 2000, tr.97)
Không chỉ bàn suông, Thiếu Sơn còn đưa ra những trường hợp cụ thể, sinh động: Térence, J.J. Rousseau, Voltaire, Goethe, Frédéric Mistral, Victor Hugo, Honoré de Balzac, Tchékhov, Émile Faguet, Jane Harrison, Charles Baudelaire, Tô Đông Pha, Tản Đà… để nói về cái thú vị của văn chương và cuộc đời văn sĩ. Ông cũng phân biệt tinh tế giữa công việc làm thơ, viết văn và viết phê bình. Về thi nhân, ông viết: “chàng như một con thú lạc đàn giữa nhân gian xã hội”, “có cặp cánh muốn bay bổng tuyệt mù”. Với tiểu thuyết gia là: “người đứng giữa trần ai đã cấu tứ mà viết ra “tấn kịch có trăm hồi thay đổi”, “chàng phải sống nhiều đời khác nhau, dẫu không sống thiệt tình thì cũng sống bằng tinh thần, bằng tưởng tượng”(Sđd, tr.100, 106, 107). Và nhà phê bình “phải sáng suốt, để giữ lòng rộng rãi mà thưởng thức trăm hoa” chứ không thể như “Độc giả có thể theo sở thích của mình mà bất công trong tình yêu, ghét” (Sđd, tr.122)
Viết văn, Đời và việc nhà văn, Dòng lãng mạn từ J.J. Rousseau, Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam, Tả chân chủ nghĩa, Văn học Pháp với văn chương ta…là những bài viết ngắn, nhưng ăm ắp những ý tưởng mới mẻ, thâm thúy, có thể mang lại cho người đọc những hiểu biết thú vị, tươi tắn về văn chương. Có lẽ đây là một dạng kiến thức lý luận và văn học sử không hề xơ cứng, bởi lẽ Thiếu Sơn luôn đề cao tinh thần tự do “Cho nên trong sự học cần giữ cho tinh thần mình được tự do, không chịu để cho một cái tư tưởng, một cái lý thuyết, một cái chủ nghĩa nào có thể chi phối mình hẳn”. Không cột mình vào một hệ tư tưởng nào, và giữ được sức phản kháng thường xuyên, Thiếu Sơn cho đó là tố chất cần yếu của những vĩ nhân (Vĩ nhân khác thường nhân là ở chỗ nào). Cái tinh thần đó, theo Thiếu Sơn, người xưa đã ngộ, Đông và Tây đều có cả “Người ta không sống bằng những cái mình ăn, mà sống bằng những cái mình tiêu hóa”, nhưng lắm khi ta không còn nhớ và không thực hiện.
Đọc nhiều, luôn suy nghĩ trên sự nối kết những vấn đề của người với vấn đề của mình, luôn có sự liên tưởng rộng rãi trong cái nền văn hóa Đông-Tây, cổ-kim, Thiếu Sơn đã thoát ra khỏi chỗ đứng của một nhà phê bình thuần túy. Dẫn lại câu nói “Sự học là một cái chìa khóa mở được tất thảy các cửa”, Bài Sự học của Thiếu Sơn thổi vào lòng chúng ta một cảm hứng và hy vọng về giáo dục. Thiếu Sơn viết về giáo dục bằng cảm xúc nhà văn, nên vấn đề trở nên có sức gợi. Cách viết này không làm người đọc có cảm giác bị dạy dỗ, giáo huấn mà như được khích lệ: “Mở cửa nào, ánh sáng theo vô cửa đó, mà ánh sáng này là ánh sáng chân lý nó mới dịu dàng và êm đẹp biết bao nhiêu” (Sđd, Sự học, tr.134). Thiếu Sơn giúp ta hiểu được con đường thụ nhận và hình thành tri thức của nhân loại và của từng cá nhân, nói chung là đi theo mô thức bậc thang, liền lạc, không ngừng nghỉ.
Thật mềm mại và tinh tế, cái ý tưởng này: “Cái công việc đầu tiên của sự học chỉ là một sức chịu đựng (…) Chịu đựng như thế nghĩa là thừa hưởng cái gia tài về tinh thần của tiền nhân, ngõ hầu có đủ trí thức mà sống ở trong cái hoàn cảnh và cái thời đại của mình (…) Tuy nhiên chịu đựng không phải là một sự thụ động yếu hèn, chỉ biết nhắm mắt tin theo mà không có sức phản kháng chính đáng” (Sđd, tr.135). Chống lại sự “cả tin” trong việc học, Thiếu Sơn đề nghị ngoài tri giác và ký ức, người học phải có óc phê bình. Đặc biệt, ông nhận ra vị trí khiêm tốn của  trường ốc “Cái học ở trường chỉ gây nên những người học trò siêng năng giỏi giắn, mà chẳng bao giờ sản xuất ra được những bậc triết học văn hào. Những bậc này, sau khi đã ra trường rồi còn cần phải có một cái học khác nữa, không thầy nào có thể cho được, không sách nào có thể dạy được, nghĩa là cái học lấy một mình, nhờ ở trầm tư mặc tưởng mà kết cấu nên” (tr.136).
Tán đồng cái bức xúc của những trí thức tâm huyết lúc bấy giờ, “rằng nước ta không có quốc học”, thiếu “cái động lực cho bước đường tiến hóa xã hội”, và đi tìm lời giải, Thiếu Sơn khẳng định trí tuệ cá nhân, nhưng phê phán cơ chế: “Không, không phải dân ta không có tinh thần sáng tạo mà có lẽ chỉ tại cái chế độ xã hội, cái không khí hoàn cảnh nó không lợi cho sự học mà thôi”.
Các bài Tản văn và Những văn nhân chính khách một thời của Thiếu SơncáchCâu chuyện văn học một, hai cuộc kháng chiến. Tuy vậy, gần như không có một bờ ranh nào trong trang viết của Thiếu Sơn: vẫn cách nghĩ nhất quán, vẫn cách viết nhiệt huyết đã có ở tuổi đôi mươi. Hầu như những tinh hoa của thời đại, cái tinh túy của một cá nhân, nếu được biết đến, Thiếu Sơn không tiếc lời khẳng định: ông là người có khí chất lạc quan, trung hậu chăng? Cũng có thể. Nhưng có lẽ còn hơn thế, Thiếu Sơn thấu hiểu và yêu quý cái cộng đồng ruột rà của mình. Ông không muốn cái đẹp nơi đây bị rơi vãi, bị xem thường, bị oan khuất. Ông muốn văn hóa Việt Nam liền lạc, công bằng.
Đọc những trang tạp văn Thiếu Sơn hôm nay, có cảm giác như ông đang quan sát và âu lo cùng chúng ta, về con đường phát triển của dân tộc. Trong trạng thái thao thức thường trực của mình, Thiếu Sơn tìm đến những người đi trước.
Với Phan Bội Châu, ông nhấn mạnh đến “vấn đề rèn luyện nhân tài”, “sự tu bổ trí thức và học thuật”, tư tưởng nhân bản khoan dung bắt nguồn từ văn hóa Đông Tây, và thái độ quyết liệt của nhà chí sĩ với ba hạng người: “a. Hạng người chỉ tranh ngôi thứ xôi thịt trong đình làng. b. Hạng người muốn lòe loẹt khoe khoang, lấy om cơm, túi bạc làm hạnh phúc. c. Hạng người xu phụ quyền thế, lấy đồng bào chủng tộc làm mồi vinh thân” (Sđd, tr.219).
Dẫn ra trường hợp cụ Nghè Tân, Thiếu Sơn cho thấy thời Minh Mạng, kẻ sĩ chính trực được tin dùng quý trọng ra sao. Nhắc lại Đông Kinh Nghĩa Thục, Thiếu Sơn đề nghị phải bổ khuyết vào sách giáo khoa sự kiện quan trọng này.
Nhưng Thiếu Sơn không chỉ quay về quá khứ, ông là người giữa giòng. Uy tín cá nhân và ưu thế nghề nghiệp đã cho ông được gặp gỡ, quan sát nhiều cảnh ngộ, nhiều chân dung. Còn ai như Thiếu Sơn kể cho chúng ta nghe về những văn nhân chính khách một thời, giai đoạn 1955-1975, tại một trong hai trung tâm văn hóa, và một trong hai vùng kháng chiến lớn nhất Việt Nam? Vẫn giữ được cái nhìn của nhà văn hóa, thẳng thắn và trung hậu, Thiếu Sơn làm ta tin cậy. Từ trang viết của Thiếu Sơn, những khuôn mặt trí thức Việt Nam hiện lên, đa dạng, đầy cá tính.
Nêu tên những linh mục yêu nước đang lăn mình vào phong trào đấu tranh thống nhất đất nước, ngưỡng mộ cái sĩ khí miền Nam, Thiếu Sơn như muốn góp phần gạn đục khơi trong, như muốn âm thầm nhắc nhủ: đừng quá cực đoan để rồi quên lãng những mối quan hệ đẹp đẽ đã có, những giá trị mà con người Việt Nam đã làm nên bằng máu và nước mắt.
Kể lại mối giao tình trung tín giữa Phan Bội Châu và Lý Tuệ, Thiếu Sơn cảnh báo: “Thiếu gì lãnh tụ nhờ hậu thuẫn quần chúng đưa lên rồi bỏ luôn quần chúng mà mưu đồ sự nghiệp riêng tư không còn biết gì tới dân, tới nước nữa” (Sđd, tr.258).
Trong ký ức Thiếu Sơn, Nguyễn An Ninh là một trí thức yêu nước đặc biệt, đã trở thành thần tượng của nhiều người trẻ đương thời, bởi cái tư tưởng phóng khoáng mới mẻ: “Ông cho rằng sự tôn sùng cá nhân thường đưa đến sự mù quáng, tin liều theo bậy và có khi còn bị bọn lãnh tụ hoạt đầu lợi dụng. Ông cho rằng tư tưởng Nguyễn An Ninh cần được phổ biến hơn là cá nhân Nguyễn An Ninh (…) Ông Ninh dung nạp được tất cả mọi khuynh hướng, hướng dẫn tất cả theo một đường lối thích hợp với dân tộc Việt Nam để phục vụ quê hương và đất nước” (Sđd, tr.264). Câu nói sau đây làm ta suy nghĩ về sức chinh phục của một lãnh tụ chân chính với từng cá nhân: “Ông tới sở (Nguyễn An Ninh tới nơi Thiếu Sơn làm việc, NTTX ct.) như một khách hàng, nhưng cái siết tay của ông đã làm ấm lòng tôi và làm cho tôi phải nghĩ tới những cái gì khác hơn và cao hơn cái ghế và đồng lương công chức của tôi” (tr. 265).
Khẳng định giá trị Nỗi lòng Đồ Chiểu và Ngồi tù khám lớn của Phan Văn Hùm, Thiếu Sơn mong ước các tác phẩm này được giảng dạy ở nhà trường.
Ngưỡng mộ Nguyễn Mạnh Tường, Thiếu Sơn tái hiện sinh động không khí một Sài Gòn đón ông “Nghè kép” 24 tuổi từ Pháp về. Một buổi diễn thuyết hiếm thấy ở Việt Nam: cử tọa là người Pháp và Việt, tất cả phải trả tiền để nghe, mà khán phòng chật nứt, báo chí Pháp ca ngợi đó là “bữa tiệc văn chương”. Đoạn trích sau đây cũng đáng cho ta dẫn lại, để thấy đôi mắt tinh đời và tấm lòng liên tài của Thiếu Sơn và để thưởng thức một đoạn văn đẹp đầy chất lửa của Nguyễn Mạnh Tường: “Phải khóc trên cái hiện thời để cười đón cái ngày mai. Dù sao, người trí thức là người vừa khóc vừa cười. Khóc vì cái sai lầm phải chứng kiến trong hiện tại, cười vui vì cái mới đang lên. Khóc vì đau khổ. Cười vì hy vọng. Khóc hôm nay để cười ngày mai. Trên quá trình biến đổi từ cái khóc đến cái cười diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng của người trí thức…
Tôi sợ người trí thức im lặng. Tôi nghi ngờ người trí thức cười. Tôi thương người trí thức khóc. Tôi yêu người trí thức vừa khóc, vừa cười, khóc hôm nay để cười ngày mai, khóc lên tiếng cười.
TIN vẫn lợi hơn NGHI. Trong mười người ta tin, có thể có một kẻ thù lẻn vào. Nhưng ta vẫn còn chín người bạn. Và chín người bạn này sẽ giúp ta tìm ra kẻ thù ấy. Nếu ta nghi cả mười người, khi ta giơ tay, chẳng ai bắt tay ta. Ta không có người bạn nào cả”. (tr.371-372).
Trong Những văn nhân chính khách một thời, chúng ta sẽ được hiểu thêm những nhân vật tên tuổi như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Thái Văn Lung, Tạ Thu Thâu, Bửu Đình, Nguyễn Đức Nhuận, Diệp Văn Kỳ, Đào Trinh Nhất… và được làm quen những nhân vật mà chỉ mới biết tên: Lê Văn Thử, Trần Quang Quá, Nguyễn Văn Hay… Dưới ngòi bút của Thiếu Sơn, mỗi người đều có một nét gì đó đáng nhớ, đáng trọng.
Trong sự nghiệp trước tác của mình, có năm nhân vật mà Thiếu Sơn dành cho sự ưu ái: Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Phan Khôi, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng. Đã giới thiệu như là các chân dung trong Phê bình và Cảo luận, khoảng vài chục năm sau, Thiếu Sơn lại viết tiếp về họ như là các biểu tượng đáng nhớ với cái tên « Bài học…”. Chọn lựa này cũng đáng cho ta suy nghĩ.
Những ai làm báo hay viết sử hẳn sẽ thú vị khi đọc Hồi ký Nợ bút nghiên hay nghĩa đồng bào của Thiếu Sơn, bởi vì ở đó không chỉ hiện lên chân dung tác giả, mà còn vô số những nhân vật văn học, văn hóa, lịch sử của Việt Nam và cả thời đại trải dài những hơn nửa thế kỷ, từ Bắc vào Nam, từ đô thị đến chiến khu, từ đời sống tự do đến chốn lao tù… Giờ những chân dung ấy cùng tác giả khắc họa chúng đều đã là người quá vãng, nhưng họ không hề chìm khuất. Khi chúng ta mở ra trang viết Thiếu Sơn, bóng dáng của họ hiện lên, mang theo bức tranh xã hội, tất cả đều gợi cho chúng ta hôm nay rất nhiều điều.
Trong 50 năm xuất hiện trên văn đàn, Thiếu Sơn đã làm một công việc hết sức ý nghĩa: mở một lối nhỏ vào thế giới văn chương và xây ở đó một ngôi nhà lạ là thể loại phê bình. “Có mặt trên từng cây số”, Thiếu Sơn đã vừa ghi lại dấu ấn của mình trong tiến trình hiện đại hóa của văn học dân tộc, vừa là chứng nhân của lịch sử. Nếu đất nước không trải qua nhiều biến động kéo dài, hút cạn mọi tâm trí và sinh lực nhân dân vào cuộc chiến đấu thống nhất đất nước, chắc chắn những điều mà Thiếu Sơn suy nghĩ, xác lập và trình bày với chúng ta sẽ không bị lãng quên, thậm chí bị loại bỏ.
Hôm nay chúng ta vẫn còn phải học tập và làm lại những điều Thiếu Sơn đề xuất ở thế kỷ XX, đó là điều dường như nhà văn không muốn, bởi vì ông từng viết: “theo luật tiến hóa những công trình khảo cứu sẽ chết”. Nhưng biết làm sao được, đôi khi lịch sử cũng có những bước lùi. Và Thiếu Sơn, con người ở vào giai đoạn giao thời của nền văn học, lại biết thu thái lấy cho mình cái tinh hoa của hai nền học vấn: cổ học Việt Nam và văn hóa Tây phương. Tác phẩm của Thiếu Sơn là sự kết hợp hài hòa giữa hai nguồn tri thức đó, độ bền của chúng có được từ một tinh thần làm việc đầy trách nhiệm, từ một suy nghĩ độc lập và thấu đáo, muốn vươn tới hiểu được cái cốt lõi của lĩnh vực mà mình theo đuổi.
Đọc lại Thiếu Sơn ngày hôm nay, chúng ta không chỉ nhìn thấy bóng dáng của một nhà văn mà còn tầm vóc của một trí thức. Trong những bủa vây của thời cuộc, ông luôn tìm được thế đứng tự do, để bày tỏ tiếng nói chính trực vì nhân dân và đất nước. Mảnh đất phương Nam này đã đón nhận ông và giúp ông giữ được vị thế ấy. Điều nầy cũng đã được Nguyễn Khải ghi nhận: “Miền Bắc cho tôi độc lập, miền Nam cho tôi dân chủ, tự do. Nó bật ra đa thanh” (Nguyễn Thị Ngọc Hải, Cuộc trò chuyện cuối cùng với nhà văn Nguyễn Khải, Tuổi Trẻ, 18-1-2008, tr.13).
Để kết thúc cho bài viết cũng đã khá dài mà vẫn chưa hết ý này, tôi muốn nói thêm về văn phong của Thiếu Sơn. Có lẽ những ai không biết tiểu sử Thiếu Sơn, khi đọc văn ông sẽ nghĩ ông là người miền Nam. Đây không phải là trường hợp cá biệt: Phan Khôi (Quảng Nam), Bửu Đình (Huế), Võ Phiến (Bình Định), Nguyễn Thi (Nam Định)… khi viết văn trên đất Phương Nam đều chọn cho mình giọng văn Nam Bộ. Có thể những nhà văn này hết lòng vì công chúng, nhưng cũng có thể họ nhận ra tính dân chủ, cởi mở, dung dị của giọng văn này, vốn dễ dàng chuyện trò, bàn luận, chuyên chở những vấn đề lớn lao, gai góc của con người và xã hội. Giọng văn ấy, thoạt nhìn, tưởng là nôm na, luộm thuộm, nhưng càng đọc kỹ càng thấy có duyên, và cái duyên ấy lại rất bền. Khi được người sau chạm vào, các trang văn của người trí thức thành tâm là Thiếu Sơn như lấp lánh, thứ ánh sáng của một trí tuệ độc lập, không thôi thao thức cùng văn chương và đất nước.
Mong sao rồi đây sẽ có nhiều người đến với Thiếu Sơn và đọc kỹ để sẻ chia những điều ông trao gửi…
14/5/2020
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Nguồn: Thiếu Sơn, Nghệ thuật và nhân sinh, Nxb. Giáo dục, 2008
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chu Văn Sơn - Một tiếng văn bi mỹ

Chu Văn Sơn - Một tiếng văn bi mỹ

Anh là tiến sĩ văn học, nhà nghiên cứu phê bình giảng dạy văn chương tại Khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội. Anh có mái tóc xoăn bồng bềnh, gương mặt sáng, nụ cười tươi của phong thái thi sĩ. Anh có giọng giảng bài trầm thanh nhiều sắc điệu cuốn hút các sinh viên học sinh, các độc giả yêu văn thơ. Và anh nổi tiếng nhất ở những bài viết của mình về Thơ, một nghệ thuật ngôn từ tinh tế, diệu vợi, cần có những sự thẩm bình, phân tích, phát hiện, tìm tòi ở những mức độ tế vi của từ ngữ và viết ra bằng một giọng văn bay bổng, sâu lắng, tỉ mỉ, thấu đáo với những con chữ có hồn thơ có nhạc điệu, tài tình và tài hoa. Văn phê bình thơ của Chu Văn Sơn đọc khoái cảm như thơ. Bạn có thể chứng thực lời tôi nói ở các cuốn sách nghiên cứu phê bình của anh: Tinh hoa Thơ Mới (1997), Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử (2003), Thơ, điệu hồn và cấu trúc (2007).
Nhưng cuốn sách của Chu Văn Sơn tôi đang nói đây viết rất thơ nhưng lại không phải là bàn về văn chương. Anh viết về thiên nhiên cảnh vật mà anh được chiêm ngắm và chiêm nghiệm qua những chuyến đi, và qua cả một đời sống. Ở đây tôi không muốn dùng từ “du lịch” cho Chu Văn Sơn và những cái viết của anh. Bởi vì người thời nay đang chạy theo du lịch như một “trend”, một “hobby” đến thành ra xô bồ, bừa bãi. Khi con người hết đói bụng thì họ đói mắt nhìn. Họ đi chỉ để nhìn, và phần nhiều nhìn mà ít/không thấy, càng rất ít/không nghĩ về những cái nhìn/thấy trong những chuyến đi. Sơn không thế. Sơn khác họ. Sơn đúng như một nhà văn nước ngoài đã nói: “Mang tên con người thì dễ, làm một con người thì khó. Đừng hỏi người đã bước đi nhiều, hãy hỏi người đã nhìn thấy nhiều”. Anh cũng đi như mọi người, có trong nước và ngoài nước, đến cả những nơi không phải ai có tiền cũng dám đến và đến được như vào tận hang Sơn Đoòng ở khu di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng. Cái khác của Sơn là anh gặp Cảnh Vật vui với Đất Trời từ đó nghĩ về Cuộc Đời và ngẫm về Con Người. “Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu”, Sơn ứng xử với cảnh sắc thiên nhiên trong mỗi chuyến đi với tâm thế nhân văn đó. Mỗi cảnh mỗi nơi đồng điệu với tâm hồn anh trong những nghĩ suy dằn vặt về cuộc sống và con người thời hiện đại, và mọi thời. Đến đâu anh cũng gắng nhìn cảnh vật trước mắt bên ngoài bằng con mắt tâm thức, con mắt bên trong, con mắt của cái Đẹp vĩnh hằng và mong manh. Và anh thấy ra cái Đẹp ở sự hài hòa của những cặp đối cực trong tự nhiên.
Trước hết là ở những nơi chốn hữu hình, sự vật cụ thể ngay trước mắt. Đối cực ở quần thể đền đài Angkor là Con người và thần linh, Kỳ vĩ và tinh xảo, Giáo gươm và điệu múa, Đá và cây, Khoảnh khắc và vĩnh cửu. Đối cực ở hang Sơn Đoòng là Báu vật và huyền thoại, Đá và nước, Bóng tối và ánh sáng, Sự sống và cái chết, Hữu hạn với vô cùng, Chinh phục và thất bại, Giới hạn và vượt thoát. Đối cực ở những nhà mồ Tây Nguyên, theo tục lệ người sống tạc tượng gỗ tiễn đưa người chết sang thế giới bên kia, nhưng giờ đây có khi người sống đã như tượng tạc, bị biến thành tượng nhà mồ trong ngôi nhà mình đang sống. Cố nhiên không phải con mắt Chu Văn Sơn thì không nhìn ra những đối cực đó, hoặc có nhìn ra cũng không thấy được những đối cực đó, hoặc có thấy được cũng không luận nghĩ được sâu những đối cực đó, hoặc có luận nghĩ được cũng không viết được những trang văn hài hòa đối cực đó. Mà nếu không đối cực thì cũng là trái ngược mà chỉ Sơn mới nhìn ra và thương xót. Như đến Đầm Vạc không có vạc chỉ thấy cò, nhìn cò trước mắt nhớ cò tuổi học trò, đang lãng mạn cánh cò bỗng hiện thực trần trụi cò bị vặt lông làm thịt. Như rặng bằng lăng trước nhà người vào ra nhìn thấy hàng ngày mà có ai chạnh nghĩ cứ hè đến hoa hồn nhiên hào phóng tím nở hết mình mà rồi nhanh bị người quên như là rẻ rúng, bạc bẽo. “Mà bằng lăng nào có đòi hỏi gì. Vẫn nở yêu kiều thế, vẫn khai hội tưng bừng thế, vẫn ríu ran hào phóng thế, hồn nhiên khi trổ cánh, điềm nhiên khi lìa cành, tỏa sáng một đời hoa, cháy tận một sắc tím, rồi băng. Bất chấp sự đơn bạc của nhân gian. Đó là phận hoa. Đó là kiếp hoa. Đó là lẽ hoa rồi.” (tr. 127).
Nhưng đến một thứ cây bình thường, tầm thường thì đúng hơn, mọc giữa trời đất ai cũng thấy, lại thấy nhiều lần nhiều nơi, có khi còn đem cả về nhà làm cảnh, nhưng Chu Văn Sơn nhìn nó thấy ra những đối cực, vận những đối cực đó cho người, thì thật là tuyệt vời, tuyệt thú. Đó là phận hoa bên lề – hoa lau. Nó là hoa nhưng lại là cỏ, mọc nơi heo hút như mang phận lưu đày nhưng lại là công dân toàn cầu vì ở đâu mà chẳng gặp lau. Nó là thứ hoa đạm bạc bậc nhất nhưng lại mang trong mình một chút thiền ý. “Thiền ý về cái lẽ sắc không của tồn sinh. Không màu mè, không hình nét. Có sắc mà vô sắc. Là hoa mà như không phải sắc hoa. Có mà như không có. Hoa lau nhắc ta nhiều nhất về sự chập chờn mong manh của phận người. Cũng là nhắc về cái bạc lý bạc nghĩa của sự tồn sinh” (tr. 139). Nó là lau nhưng cũng là cờ khi Đinh Bộ Lĩnh còn là một đứa trẻ trâu. Chỉ có mắt trẻ thơ mới nhìn ra được thế. Và lau lại thành lau khi chú bé năm xưa đã thành ông vua Đinh Tiên Hoàng. Lau như vậy là giống hoa cỏ chỉ được con trẻ và giống nghệ sĩ đoái hoài, hai loại người có bản tính nhi nhiên. Và cuối cùng người có thể hờ hững với lau, lau đâu hờ hững với người, khi nơi lau mọc nhiều là nghĩa địa, “mỗi bông lau cứ như sự hiển linh của một cô hồn. Trước khi Phật Bà vẩy nước cành dương để hóa giải cho mỗi kiếp người, thì lau đã an ủi cho họ bên từng nấm mộ” (tr. 143). Trên đây tôi đã dùng những từ xoàng xĩnh của mình tóm lại những đối cực mà Chu Văn Sơn đã phát hiện ra và viết rất thấm thía về phận lau cỏ hoa. Nếu lau cất tiếng, chắc hoa sẽ cám ơn người đồng cảm nhiều lắm. “Phận hoa bên lề” là một trong vài ba bài hay nhất tập sách. Đọc nó cứ rưng rưng, thương lau thương mình. Và thương Sơn.
Anh đã đến với thiên nhiên như tìm về một chốn bình yên giữa cuộc sống đang bát nháo xáo động hiện nay. Bình yên như ở Đà Lạt, một vùng ôn đới giữa đất trời nhiệt đới. Và nhất là Sơn tìm kiếm một sự thanh an như anh đã ngộ ra khi đến một địa danh trồng chè có tên gọi bằng hai chữ này. Anh hiểu ra sự say mê, cuốn hút của mỗi vùng đất mình đến có được ấy là do “cái niềm hân hoan của kẻ đói khát sự thanh sạch an nhiên bỗng gặp được những nguồn thanh an của từng xứ ấy” (tr. 151). Mỗi lần như thế anh đều thả mình đắm chìm vào nguồn dinh dưỡng của cõi sống mình may mắn có được và anh coi đấy là một lần hồi sinh. Nhưng càng sung sướng được tận hưởng khí chất thiên nhiên của đất trời bao nhiêu, anh càng lo sợ sự can thiệp tàn phá của con người vào vẻ hoang sơ tự nhiên bấy nhiêu. Đà Lạt đang mất dần sự bình yên. Thanh An trở thành khu du lịch sẽ phải đối mặt với sự khủng hoảng sinh thái không tránh khỏi. Cả tập sách này Chu Văn Sơn dẫn người đọc theo anh đi trong mạch cảm xúc bi mỹ đó. Cái Đẹp Đau Thương! Đọc anh vì thế có thể khóc ở hai tâm trạng: rưng rưng – thiên nhiên đẹp quá, thích quá, muốn được hòa vào nó; căm phẫn – con người ác quá, vô nhân quá, đang tâm hủy diệt thiên nhiên. “Cái đẹp không có khả năng tự vệ. Cái ác đã lợi dụng cái hùng để tàn sát cái đẹp, trong chốc lát, chúng đã biến cái đẹp thành cái bi” (tr. 26), điều này anh viết không chỉ riêng cho đá núi đền tháp Angkor.
Chu Văn Sơn gọi những bài viết trong tập tùy bút này của mình là “lời tự tình”. Quả đúng vậy. Chu Văn Sơn, trong tôi, là người tình của Đẹp. Đẹp như một phẩm chất, một giá trị. Đẹp như một cách sống. Đẹp như một nghệ thuật. Và Đẹp như một lối viết. Viết, với Sơn, là “ăn nằm” cùng Đẹp trong câu chữ, lời văn, ý văn, để sinh hạ những văn bản Đẹp. Tôi đồ rằng Sơn luôn viết trong “thú đau thương” (chữ của Hàn Mặc Tử) lịm cùng con chữ với niềm khao khát tận cùng nhắm tới sự “thích khoái văn bản” (chữ của Roland Barthes – “Le Plaisir du Texte”). Tùy bút của Sơn chính vẫn là cái Đẹp của người tình ấy từ phê bình vào sáng tác. Đọc anh rất sướng về câu chữ và lời văn. Ở câu chữ vì Sơn luôn cố gắng tìm hết chữ và tìm ra chữ để nói cho cạn kiệt và thăng hoa điều anh cảm nhận và suy tư. Ở lời văn vì Sơn luôn tìm cách cấu trúc câu trùng điệp, đăng đối, xoay vòng và gấp khúc ý tứ, khiến người đọc bất ngờ và do đó thích thú, sảng khoái. Ta hãy đọc đoạn văn anh tả về vùng chè Thanh An: “Có tận mắt ngắm nhìn cả miệt chè ấy đang yên ả phơi xanh dưới nắng chiều dìu dịu cùng nước hồ văn vắt thế kia, có thấy mỗi búp chè, nhành chè đang nương nhau, đan nhau, thầm trao xanh cho nhau trong mỗi vạt chè nhu thuần thế kia, người ta mới thấy cái An cái Tĩnh trên toàn xứ Nghệ, chừng như, đã rủ nhau về trú ngụ chốn này” (tr. 157). Chất thơ thấm đẫm trong văn. Có nhiều đoạn văn như thế trong sách này.
Nhưng đoạn văn độc đáo, khác lạ, hay nhất của Chu Văn Sơn, theo tôi, là đoạn anh hình dung sự hình thành Sơn Đoòng như một cuộc giao hoan “dữ dằn” của nước và đá (tr. 109-111). Ngoài sự tưởng tượng kỳ thú của một nhà văn, khi viết đoạn văn này Sơn đã huy động cao độ sự dụng công câu chữ tài tình mình có. Tôi nghĩ có thể đưa đoạn văn đó vào sách giáo khoa môn văn. Nhưng trong khi chờ đến khi đó, tôi không thể kìm lòng trích ra đây một ít cho bạn thưởng văn trước đã: “Nước vận hết tình lực lại thành suối kín, sông ngầm để liên tục ra những đòn yêu với đá. Ve vuốt, liếm láp rồi va xiết, khoan xuyên. Lùa mình vào những thớ, những khe nhạy cảm nhất của đá. Lột từng thớt đá, từng vỉa đá. Khiến mình mẩy đá cương mòng, đau đớn mà hoan lạc. Hàng vạn khối đá vốn liền thịt, liền cơ bên trong thân thể khổng lồ của núi cứ giật nẩy lên vô hồi, rúng động vô biên, đòi được xả, được trút. Cứ thế, qua hàng thiên kỷ tình tự miệt mài và cuồng bạo, sau một cú rùng mình tột đỉnh, tất cả những gì dồn tích bỗng òa vỡ, đá rùng rùng sụp xuống, thành muôn gò đống ngổn ngang trong tiếng nước rên, nước rền, hào hển” (tr. 109). Đọc những trang văn thế này ai chẳng muốn đến ngay nơi có cuộc tình đá nước lay động dữ dội ấy!
“Tự tình cùng Cái Đẹp” là cuốn sách cuối cùng của Chu Văn Sơn. Đây là một cuốn sách nói (Audio-Book), vừa có thể đọc bằng mắt, vừa có thể nghe đọc. Mười một bài viết trong tập có giọng đọc của những người bạn văn thân thiết, khi xem sách dùng công cụ QR code scanner trên điện thoại quét mã code là nghe được. Sách có lời đầu bằng thơ của nhà thơ Nguyễn Duy, lời giới thiệu của nhà phê bình Văn Giá (Đại học Văn hóa Hà Nội), lời bạt của nhà phê bình Phan Huy Dũng (Đại học Vinh). Khi sách ra một tháng thì Chu Văn Sơn qua đời vì bệnh ung thư (18/4/2019). Nhân giỗ đầu của anh (14/3 âm lịch) tôi cùng bạn đọc “Tự tình cùng Cái Đẹp” để tưởng nhớ anh, để thấy anh như vẫn còn đây:
Trang văn phảng phất phong vị thiền
thấp thoáng bóng thiền nhân đương đại
lặng lẽ thiền hành
giữa chợ đời bát nháo những quằn quại.
(Nguyễn Duy)
Hẹn bạn lần tới với một cuốn sách mới khác.
16/5/2020
Phạm Xuân Nguyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chuyện nọ xọ chuyện kia

Chuyện nọ xọ chuyện kia…

Nhìn thấy cái mặt chụ ụ buồn rầu trong ngày oi bức, vợ thương tình nấu cho món cháo ám, tức cá lóc còn để nguyên con, không xắt khúc, nấu không đậy vung. Do không đậy nắp vung nên mới gọi cháo ám chăng? Thì đại khái thế, khi ăn cháo cá lại nhớ ngày xửa ngày xưa thường về chơi Hội An, một nét đặc thù khó quên vẫn là trước nhà ở phố cổ hầu hết có vẽ hình con mắt gọi “thần cửa/ mắt cửa” với nhiều hình tròn được cách điệu. Không rõ có liên quan gì đến… con mắt cá?
Lý giải thế nào đây ta?
Thì đây, trong Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn ở phần Phẩm vật loại, có đoạn: “Sách Loại tụ nói: “Cái khóa cửa, tất phải làm hình con cá, lấy nghĩa con cá không nhắm mắt, để giữ đêm”. Lại nói rằng: “Ở biển Đông, có loài cá, đuôi như đuôi chim cắt, hễ nó phun sóng thì trời mưa; cho nên đời Đường đến nay, hễ làm nhà thì đắp hình con cá  ở nóc nhà để trấn hỏa tai”. Tóm lại, y hiểu nôm na rằng, con cá liên quan rất gần trong đời sống con người. Gần đến độ, tục ngữ có câu Con nạ cá nước.
Nạ là gì thế?
Một điều lý thú là Từ điển Việt – Bồ – La (1651) của Alexandre de Rhodes đã ghi nhận từ áng ná. Áng ná là cha mẹ. Nói cách khác, một khi ta hiểu nạ có nghĩa là mẹ thì thuở xa xưa ấy người Việt gọi là ná, sau chuyển qua nạ và dần dà mất hút. Con nạ cá nước, có thể hiểu con có mẹ như cá có nước. Một sự kết hợp hoàn hảo. Trên cả tuyệt vời. Không lệch mảy may. “Chuẩn cơm mẹ nấu”. Sống trên đời, lúc nào cũng có mẹ cận kề bên cạnh, thử hỏi niềm vui nao có thể sánh nổi? Từ nạ hầu như nay không còn phổ biến nữa, chỉ còn có thể tìm thấy dấu vết trong lời ăn tiếng nói thuở xa xưa, chẳng hạn Chờ được nạ má đã sưng, Đòng đòng theo nạ quạ theo gà con, Quen việc nhà nạ lạ việc nhà chồng, Con có nạ như thiên hạ có vua, Lấy con xem nạ lấy gái góa xem đời chồng xưa…
Từ nạ hiểu theo nghĩa này, vẫn còn trong nạ dòng. Chinh phụ ngâm có câu: “Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa/ Gái tơ mấy chốc đã ra nạ dòng”, từ một người con gái mới lớn chưa chồng chỉ nháy mắt trở thành người đàn bà có con, đứng tuổi, ý nói thời gian trôi cái vèo. Thế thì, từ “nạ” này có liên quan, có dây mơ rễ má trong tổ hợp “nạ dòng”? Tại sao lại không?
Trai tân gái góa thì chơi
Đừng nơi có vợ, chớ nơi có chồng
Câu ca dao này, có nhiều bản lại ghi “hóa/ quả/ quá” cùng nghĩa, tùy phát âm vùng miền. Thông thường, góa dùng chỉ những ai rơi vào trường hợp chồng (hay vợ) đã mất lúc còn trẻ. Góa bụa là góa chồng, sống trong tình cảnh cô đơn, “Mẹ góa con côi” nói chung. Thế thì, câu trên với từ góa là hàm nghĩa như ta đã hiểu?
Y nghĩ là… không.
Đơn giản, trai tân tức trai tơ, chưa một lần “bước lên xe hoa” cơn cớ làm sao phải “mắt liếc tình đưa” với người đàn bà đã chết chồng? Ơ hay, trái tim có lý lẽ riêng của nó, khó có thể can thiệp bằng lý trí. Đúng là thế. Dù cô ấy đã một/ hai đời chồng, chẳng may chồng mất nhưng vẫn còn xuân sắc, còn  “ngọt nước”, có thể “đi bước nữa”, thế mà miệng đời lại mai mỉa: “Trai tơ lấy gái góa chồng/ Như mua nồi đồng đem nấu cám heo”. Nồi đồng mà dùng để nấu cám heo, xét ra tréo ngoe quá, đúng là ngớ ngẩn, dại dột. Cái nồi đồng sáng giá ấy phải là “Nồi đồng thổi gạo tám xoan/ Mở ra cơm trắng thơm vang cả nhà”. Nay, đem nấu cám heo, còn gì để nói nữa? Cái miệng thiên hạ kể ra cũng độc địa thiệt. Bình luận đến cỡ này, ai chịu cho thấu?
Nếu chỉ quan sát bằng lý trí, nhìn những gì diễn ra rất logic khoa học, có lẽ sẽ không thể giải đáp được câu loại “trầm trọng” cỡ như: “Chà, tay tiến sĩ kia có ăn học đàng hoàng, chữ nghĩa một bồ nhưng sao lại se duyên với cô nàng có nhan sắc thuộc hạng “cùi bắp”? Hoặc thiên hạ xì xào: “Cô đó khùng rồi, du học ở nước ngoài đậu thủ khoa nhưng lại “nâng khăn sửa túi” cho tay ất ơ!”. Hoặc nhiều bậc phụ huynh đã dậm chân kêu trời: “Ủa, bộ hết người yêu sao con lại vớ phải cô nạ dòng kia?”. Nghĩa là, có nhiều, rất nhiều trường hợp đã xẩy ra mà người ngoài không thể lý giải nổi. Còn người trong cuộc chẳng việc gì phải giải thích, chỉ trả lời qua loa ra làm sao?
“Nạ dòng” là từ chỉ người đàn bà đã từng có chồng và đứng tuổi – như Đại từ điển tiếng Việt đã giải thích; và dẫn chứng bằng câu minh họa: “Trai tơ mà lấy nạ dòng/ Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu”. Nước mắm thối à? Thế thì làm sao có thể bật lên tiếng cười mỉa mai, chua chát? Phải là nước mắm “nhất”, nước mắm nhỉ, nước mắm hảo hạng mới đúng. Câu lục bát này sử dụng thể tỷ, cho thấy sự trái nghịch không thể chấp nhận. Ai đời loại nước mắm “ngon lành cành đào” lại cặp kè với “lòng lợn thiu”? Chẳng khác khác gì cách so sánh “Bầu dục chấm mắm cáy”, tức là cái ngon nhất gắn liền với cái bét nhất để nói lên sự “sánh duyên” cực kỳ khập khễnh.
Lại còn có câu cũng hàm nghĩa tương tự: “Trai tân lấy gái nạ dòng/ Cơm chan nước lạnh, mặn nồng gì đâu”. Thậm chí, “Cưới gái nạ dòng như mang gông vào cổ”. Nói chung, trong suy nghĩ của rất nhiều người, yêu ai cứ việc, cứ việc há mồm ra song ca “như chim liền cánh, như cây liền cành”, chẳng ai “ngăn sông cấm chợ” nhưng chớ léng phéng với nạ dòng/ gái góa/ góa chồng.
Vậy mà trên đời lại có những chàng trai mới lớn, “Mắt tin cậy và tóc vừa dưỡng rẽ” (Huy Cận) lại si mê, đắm đuối nạ dòng. Nói theo kiểu thời thượng là “phi công trẻ lái máy bay bà già” – điều từ thuở xa xưa, hầu như chẳng ai tán thành. Thế mới có câu dặn dò: “Gái khôn tránh khỏi đò đưa/ Trai khôn tránh khỏi vợ thừa người ta”. Chưa hết, miệng lưỡi thế gian còn chì chiết: “Trai tơ thì lấy gái tơ/ Đi đâu lật đật mà vơ lại dòng/ Lại dòng là lại dòng non/ Trai tơ chết hụt vì con lại dòng”.
Thế nhưng xin hỏi một cách nghiêm túc, nạ dòng có gì mà lại quyến rũ, hấp dẫn trai tơ?
Chị bạn y là một doanh nhân giàu có, thành đạt; do ly hôn nên thỉnh thoảng vào dịp cuối tuần, chị thường tổ chức tiệc tùng tại nhà với quý bà, quý cô cùng cảnh ngộ. Trong những dịp như thế, cậu con trai mới lớn của chị cũng chung vui. Điều đáng chú ý là trong số những người “bạn của mẹ”, có dăm cô chỉ nhỉnh hơn cậu năm, bảy tuổi. Và rồi “cậu ấm” đã mê tít một cô bạn của mẹ. “Cậu chịu khó thăm dò thằng nhỏ rồi tìm cách gỡ giúp chị với”. Nghe chị nói cùng gương mặt mếu máo, dù động lòng, y vẫn thấy khó. Sau một thời gian dài lân la tìm hiểu, y mới biết rằng, nhiều chàng trai mê đắm những người đàn bà từng trải vì tò mò lẫn ngưỡng mộ.
Cậu ấm này kể, có một lần, gặp chuyện không ưng ý, cậu ta tâm sự với bạn gái, nhưng chẳng giải quyết được gì. Trong khi, cũng câu chuyện đó đem với bạn của mẹ lại khác hẳn – cậu được chỉ dẫn cách xử lý, được góp ý cách giải quyết. Những chuyện tưởng như lặt vặt ấy dần dà trở thành dấu ấn khó phai trong tình cảm của chàng trai mới lớn. Chưa kể, từ cách ăn nói, trang điểm, trang phục đến loại nước hoa bạn của mẹ sử dụng cũng hơn hẳn những cô bạn gái cùng trang lứa với chàng. Từ đó, cậu ta đâm ra mê tít thò lò.  Không phải ngẫu nhiên, dù đã từng “một lửa”, “hai lửa”, nhiều cô vẫn đầy kiêu hãnh:  
Cau già dao sắc lại non
Nạ dòng trang điểm lại giòn như xưa
Vì biết rõ lợi thế của mình, họ tuyên bố: “Nạ dòng như gỗ ngâm ao/ Vớt lên sáng chói như sao trên trời”. Thậm chí, khi chàng trai mới lớn còn lơ mơ chăn gối nọ kia thì nạ dòng đã thừa kinh nghiệm. Nếu không, sức mấy họ dám táo tợn tán tỉnh: “Mạ úa cấy lúa chóng xanh/ Gái dòng chóng đẻ sao anh hững hờ?”. Các chàng trai mới lớn trong trường hợp ấy sẽ từ chối hay lao tới? Không chỉ trai mới lớn, những người đã “già đầu”, trong lúc “kén cá chọn canh”, cũng có thể đụng vào nạ dòng. “Mình nói với ta mình hãy còn son/ Ta đi qua ngõ thấy con mình bò/ Con mình những trấu cùng tro/ Ta đi gánh nước tắm cho con mình”. Gọi cô ấy bằng “mình”, nghe ra thân mật lắm. Mà “con mình” cũng có thể ỡm ờ hiểu là “con của mình”, vì đã trót mê nên chàng không ngại quả quyết: “Con mình vừa đẹp vừa xinh/ Một nửa giống mình nửa lại giống ta”. Ơ hay, con của người chồng trước hoặc của ai đấy, tự dưng lại nhận “con mình”? Thiệt oái oăm.
Thế mà câu ca dao trên lại khuyên:
Trai tân gái góa thì chơi
Đừng nơi có vợ, chớ nơi có chồng
Vậy mâu thuẫn quá chứ gì? Mâu thuẫn với những gì thuộc về quan niệm (thời trước) của người Việt còn lưu giữ trong lời ăn tiếng nói. Nay, đã có cái nhìn “thoáng” hơn nhiều. Thật ra, chẳng gì mâu thuẫn cả, chỉ do ta… hiểu không đúng về từ “gái góa” đấy thôi. Đại Nam quấc âm tự vị (1895) cho biết: “Gái góa: Gái còn son, chưa chồng”. Rõ ràng câu ca dao này cũng thuộc thể tỷ, chuẩn xác như cách so sánh trong thành ngữ “Trai son gái góa”. Hiểu theo nghĩa này, Từ điển Việt- Pháp của J.f.M Génibrel (1898) cũng ghi nhận tương tự là fille – từ điển của Đào Duy Anh giải thích: con gái, con gái chưa chồng, thiếu nữ. Thế thì tự bao giờ, “gái góa” không còn hiểu theo nghĩa trên? Tức là chỉ hiểu theo cái nghĩa mà Từ điển tiếng Việt (1977) của Văn Tân chủ biên giải thích: “Gái góa (như gái hóa): người đàn bà chết chồng”. Hiện nay, không chỉ Đại từ điển tiếng Việt mà các tự điển khác cũng giải thích như vậy.
Theo y, cách hiểu này, ít nhất đã xuất hiện từ thập niên 1930, bằng chứng Tự điển Việt – Hoa – Pháp (1937) của Gustave Hue đã giải thích: “gái góa/ gái hóa: veuve, tức góa chồng, quả phụ. Thành ngữ có câu “Gái góa lo việc triều đình”, hiểu nghĩa bóng là nhằm chỉ những ai ôm đồm, cáng đáng, lo lắng đến những việc quá lớn so với khả năng, phận sự của mình. Vậy, gái góa ở đây là nhằm chỉ theo nghĩa nào vừa nêu trên? Xin nhường lời cho sự suy luận cho bạn đọc.
Đọc một bài báo đã cà kê dê ngỗng, chuyện nọ xọ chuyện kia, mệt cả đầu, lại còn buộc người ta suy luận thêm, có phải quá đáng lắm không? Tất nhiên rồi, đã quá đáng thì quá đáng luôn thể, vậy xin hỏi thêm hình ảnh con mắt trước cửa nhà phố cổ ở Hội An có liên quan gì đến con cá theo cách giải thích của nhà bác học Lê Quý Đôn?.
16/5/2020
Lê Minh Quốc
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê

Tâm thức văn hóa
trong thơ Văn Lê

Đọc những câu thơ này của Văn Lê*, tôi nhớ đến Albert Camus, một triết gia hiện sinh, một nhà văn nổi tiếng của nhân loại thế kỷ XX, người được trao giải thưởng Nobel văn chương năm 1957 đã xác quyết: “Khi văn hóa xuống cấp, nó rút ngắn con đường dẫn đến nô lệ”. Viện dẫn điều này, tôi muốn chia sẻ với nhà thơ Văn Lê, tại sao tôi chọn viết về tâm thức văn hóa trong thơ Anh. Vì cũng như Anh, tôi không muốn những tháng năm cầm bút, cầm súng, gần cả đời người của Anh cho độc lập, tự do của dân tộc trở thành vô nghĩa…
1. Có thể nói, căn tính để xác quyết sự tồn sinh của một dân tộc là văn hóa chứ không phải là các loại chủ thuyết, cho dù chủ thuyết đó có hiện đại đến đâu, nếu không phù hợp với văn hóa dân tộc thì không thể nào tồn tại và sự diệt vong là tất yếu. Bảo tồn và phát huy “giòng sinh mệnh văn hóa” dân tộc, vì thế, là một trong những căn tố để bảo vệ sự tồn vong của đất nước. Chính vì vậy, cách đây hơn nửa thế kỷ, trong bối cảnh xã hội miền Nam có nguy cơ mất dần những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, trước họa xâm lăng của văn hóa Tây phương và văn hóa Mỹ, trên tập san Sử địa số 05/1967, do nhóm Giáo sư và Sinh viên, Đại học Sư phạm Sài Gòn chủ trương, trong lá thư tòa soạn, người viết đã chia sẻ: “Trước thực trạng phá sản văn hóa và đời sống tinh thần của xứ sở, chúng ta phải cố bảo tồn lấy những gì có tánh cách Việt Nam, đến văn hóa dân tộc. Nhưng nếu có hỏi những gì có tính cách Việt Nam và văn hóa dân tộc là gì thì ít người không khỏi lúng túng”.[1]
Bảo vệ văn hóa dân tộc là ý thức thiêng liêng của mỗi công dân. Nhưng mỗi người chỉ có thể góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc khi hiểu về “tính cách dân tộc mình và những giá trị phong hóa làm nên tính cách đó”. Sự hiểu biết về văn hóa dân tộc, vì thế là một trong những phẩm tính không thể thiếu ở mỗi tư cách công dân, nếu chúng ta không muốn trở thành kẻ vong nô trên chính đất nước mình. Văn Lê, một nhà thơ mặc áo lính nhưng trong thơ anh, không chỉ có ký ức chiến tranh mà còn có ký ức văn hóa khá đậm nét. Bởi, nếu ký ức chiến tranh trong thơ Văn Lê gắn với những năm tháng chiến trường của người lính, thì ký ức văn hóa lại gắn với hành trình sống của Anh, từ tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành, làm người lính, rồi “giã từ vũ khí”, trở về với cuộc sống đời thường. Không những thế, ký ức văn hóa trong thơ Văn Lê còn là những hoài niệm mà khi xa quê Anh hằng mong nhớ: “Anh nhớ xóm làng nhớ đồng chiêm trũng/ Nhớ cội nguồn mà anh đã chia phôi…”(Đại hạn). Và đây là nền tảng tư tưởng hình thành phẩm tính của tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê.
2. Lớn lên từ vùngchiêm trũngở đồng bằng Bắc Bộ, lại chiến đấu ở đồng bằng Nam Bộ, rồi sống, làm việc ở một đô thị trên 300 năm tuổi như Sài Gòn, tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê vì thế, là sự hợp lưu diệu kỳ giữa phù sa văn hóa sông Hồng và sông Cửu Long. Chính sự hợp lưu của hai vùng văn hóa này cùng sự nghiệm sinh trong những tháng năm chiến đấu ở khắp các chiến trường đã tạo cho tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê đa dạng về chiều kích, bao quát nhiều bình diện của tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc, gắn với tình cảm, ý thức của một công dân – thi sĩ – chiến sĩ mà biểu hiện trước tiên của tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê là niềm tự hào về cội nguồn Lạc Việt như là sự kết tinh sức mạnh của giống nòi: “Dân tộc Anh đi qua chiến tranh, đã từng hành quân từ thời tiền sử/ Cái thời chưa rành rọt núi sông/ Cái thời dân tộc anh còn gọi là Lạc Việt/ Nguồn cội sinh ra bởi giống Tiên Rồng”. (Những người làm chủ biển Đông) Trong tâm thức văn hóa của Văn Lê, lịch sử dân tộc không bao giờ tách rời văn hóa dân tộc. Anh nhìn lịch sử qua lăng kính văn hóa dân tộc và nhìn văn hóa qua lăng kính của lịch sử dân tộc. Sức mạnh của dân tộc trong cái nhìn của Văn Lê là sự cộng hưởng của sức mạnh văn hóa và lịch sử dân tộc. Sự hợp hôn nhiệm mầu giữa lịch sử và văn hóa được minh chứng qua những hình ảnh thơ giàu tính biểu tượng ở truyền thuyết: Lạc Long Quân – Âu Cơ: “Vào một ngày đẹp trời/ Người Lạc Việt liên tưởng tới Đức Âu Cơ qua hình tượng Cóc/ Cóc sinh ra cái bọc trăm con/ Sự lý giải về nguồn gốc tổ tiên dị biệt đến lạ thường!/ Nhưng là khởi đầu của văn chương và là đỉnh cao của nền văn hóa!”. (Gởi một nhà thơ Nam Dương)
Không chỉ thể hiện qua những biểu tượng ở các truyền thuyết, sức mạnh của lịch sử và văn hóa dân tộc trong thơ Văn Lê còn gắn với những bước chân hào hùng của dân tộc, với khát vọng tồn sinh, với lòng quả cảm, sự quyết tâm, vượt lên gian khổ để khẳng định bản lĩnh dân tộc. Đó là bản lĩnh được sống, được chiến đấu để tạo lập đất nước mình: “Theo bầy chim Hồng lạc dẫn đường/ Cả dân tộc cứ đi về phía biển / Cho tới khi tìm được quê hương / Kể từ đây dân Lạc Việt chiếm cả vùng châu thổ / Khai phá bình nguyên thuộc sông Lam, sông Mã, sông Hồng…/ Dân tộc Anh đã đóng thuyền vượt biển/ Và khai sinh ra tổ quốc non sông” (Những người làm chủ biển Đông). Là người lính đã chứng kiến những khổ đau, mất mát, bất hạnh của biết bao phận người trong chiến tranh, hơn ai hết, Văn Lê đã thấu hiểu được sự phi lý của chiến tranh, dù mang khuôn mặt gì, thì chiến tranh cũng là điều mà không dân tộc nào trên thế giới chọn lựa như một cách để tồn tại. Chiến tranh, vì thế là vấn đề mà các dân tộc đều lên án. Việt Nam là dân tộc luôn yêu chuộng hòa bình, một dân tộc như Huy Cận đã minh định “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa” (Đi trên mảnh đất nầy), còn Văn Lê thì xác quyết: “Anh không biết tổ tiên anh thuở xưa, đã đem đi những gì khi xông ra biển?/ Nhưng có một điều anh tin – chắc chắn/ Là người Lạc không đem theo chiến tranh mà đem theo văn hóa của mình!/ Họ đem theo những hủ sáp thơm làm từ hoa quí/ mang theo trống đồng nhà sàn và những con lợn ỉ./ Đưa nhục quế, trầm hương, lụa sông Dâu đến những đảo xa xôi…/ Với những  câu thần chú truyền đời/ Vừa bí hiểm vừa  cao siêu và cũng đầy mấu nhiệm”. (Những người làm chủ biển Đông) Và mầu nhiệm thật! Bởi, có dân tộc nào trên thế giới, đánh giặc bằng tiếng đàn như Thạch Sanh của dân tộc Việt Nam không!? Có dân tộc nào trên thế gian này lại chủ trương một cuộc chiến đấu chống ngoại xâm với những giá trị đạo lý đầy tính nhân văn “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ lấy chí nhân mà thay cường bạo” (Bình Ngô Đại cáo – Nguyễn Trải). Mặc dầu, trong những tháng năm bị kẻ thù xâm lược, dân tộc ta phải chịu bao nhiêu cảnh cơ cực lầm than:“Dưới gót giày ngoại xâm/ Trống lạc Việt bị nghiến làm gươm giáo!/ Lụa sông Dâu không còn may xiêm áo/ Người Lạc quanh năm phải đóng khố cởi trần/ Đất Âu Lạc hàng năm/ Phải đóng thuế hơn trăm vạn hộc/ Gạo đất Lạc nuôi sống dân phương Bắc/ Người Lạc Phương Nam chết đói đầy đường!” (Những người làm chủ biển Đông). Rõ ràng, để thực hiện âm mưu đồng hóa dân Lạc Việt, bọn xâm lược phương Bắc, không chỉ gieo đau thương mà còn tàn phá đến tận cùng những giá trị văn hóa của dân tộc Việt. Điều này cũng được nhà văn – nhà sử học Cao Văn Liên chỉ ra trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam diễn nghĩa: “Bên cạnh chính sách bóc lột, nhà Hán còn tiến hành chính sách đồng hóa văn hóa, tiêu diệt văn hóa Việt, buộc dân Việt phải theo văn hóa Hán (…) Chúng du nhập chữ Hán, du nhập phong tục tập quán Hán vào Âu Lạc và buộc cư dân Việt phải học và phải theo phong tục tập quan Hán. (…) Dã man hơn, chúng giết hại đàn ông Việt, buộc phụ nữ Việt phải lấy đàn ông Hán, con người Việt sinh ra phải khai họ Hán. (…) Chúng đập phá văn bia, đền miếu của người Việt”.[2] Sự tàn diệt văn hóa không từ một thủ đoạn nào của bọn xâm lược phương Bắc là căn nguyên, buộc chúng ta phải đứng lên chiến đấu đòi quyền sống và bảo vệ “giòng sinh mệnh văn hóa” dân tộc, chống nguy cơ đồng hóa của kẻ thù. Sức mạnh văn hóa cùng với sức mạnh lịch sử kết tinh thành sức mạnh Việt Nam, nên dân tộc ta đã chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giữ yên bờ cõi như Văn Lê đã đúc kết: “Con giun xéo lắm cũng quằn”/ Dân Lạc Việt có câu ca ấy/ Người Lạc Việt cùng nhau nổi dậy/ Chống quân nô dịch cứu non sông”. (Những người làm chủ biển Đông). Nghĩ về sức mạnh lịch sử, trong sự gắn kết với văn hóa dân tộc là những ưu tư thường trực trong cảm hứng sáng tạo của thơ Văn Lê mà với dung lượng của một bài viết mang tính cảm nhận, khó có thể nói hết được.
3. Không chỉ nói đến sức mạnh của lịch sử và văn hóa dân tộc, trong hành trình dựng nước và giữ nước, Văn Lê còn nói đến một bình diện khác của văn hóa mà nếu không có nó, không thể hình thành bản sắc dân tộc, đó là phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, trò chơi dân gian… Đây cũng là một biểu hiện của tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê được thể hiện thật tinh tế và giàu mỹ cảm. Đọc thơ Văn Lê, ta không chỉ thấy ở anh tình yêu vô bờ mà còn thấy một sự hiểu biết khá sâu sắc về những vấn đề của văn hóa dân tộc, nhất là những giá trị văn hóa truyền thống, điều mà người nghệ sĩ cần có để tạo nên “phông” văn hóa cho riêng mình. Song, đây cũng là điều không dễ tìm thấy trong phẩm tính của nhà văn Việt Nam hôm nay. Bởi, nếu nhà văn không cắm rễ sâu trong nền văn hóa dân tộc, không tìm hiểu, khám phá về văn hóa dân tộc thì khó trở thành nhà văn lớn. Lâu nay, những nhà văn nhận giải Nobel văn chương trên thế giới là những nhà văn đã đi từ mảnh đất màu mỡ phù sa của văn hóa dân tộc mình để đến với văn hóa nhân loại. Hay nói như Văn Lê: “Họ gọi quê mình là làng Tôi/ Gọi Tổ quốc là nước Tôi/ Mọi cái chung đều gắn với cái Tôi trong đó./ Tôi trong Non sông,/ Tôi trong – xứ sở/ Xứ sở và Tôi hòa quyện muôn đời. (Những người làm chủ biển Đông). Tôi là Làng quê; là Tổ quốc; là Non sông… và ngược lại… Chính sự hóa thân này nên Con Người sẵn sàng hy sinh đời mình cho sự hưng vong của tổ quốc, của dân tộc, của xóm làng. Song, người ta chỉ có thể hóa thân thành tổ quốc, thành dân tộc, khi đã nhận thức được những giá trị văn hóa của dân tộc, để sống cùng, sống với, sống cho quê hương mình. Nghĩa là, trở về sống trong khí quyển văn hóa làng với những giá trị phong hóa đã làm nên hình hài tổ quốc như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã xác quyết: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi/ Đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể/ Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu bà ăn/ Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc/ cái kèo, cái cột thành tên/ Hạt gạo cũng một nắng hai sương, xay, giả, dần sàn/ Đất nước bắt đầu từ đó.” (Đất nước-Nguyễn Khoa Điềm).
Tâm thức văn hóa nhìn từ bình diện văn hóa truyền thống của làng xã Việt Nam trong thơ Văn Lê là một hệ giá trị mà Anh luôn trân quí. Đó không chỉ là tình yêu văn hóa mà còn là ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc. Phong tục tập quán được Văn Lê nói đến trong thơ như: nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình, không chỉ là biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc mà còn là một yếu tính để khu biệt với “giống người phương Bắc”: “Anh hình dung ra những chàng trai ấy/ Có dáng hùm beo ngón chân cái giao nhau/ Họ nhuộm răng đen và thích ăn trầu!/ Cho khác biệt với giống người phương Bắc/ Họ xăm trên mình những hình thù kỳ quặc/ Đó là bức tranh người và thú hoan ca”. (Những người làm chủ biển Đông) Bên cạnh phong tục tập quán, nghĩ về cội nguồn văn hóa truyền thống của dân tộc, trong tâm thức văn hóa của Văn Lê còn là sự hiện hữu của lễ hội, trò chơi dân gian gắn với sinh hoạt văn hóa làng trong những ngày lễ tết như: trò chơi đánh cờ người: “Cứ mỗi bận xuân về ta lại nhớ/ Làng quê xưa trống giục đánh cờ người/ Em lộng lẫy tay cầm con tượng gỗ/ Ta lu mờ vì một nét son môi” (Cờ người), hay trò chơi ô ăn quan “Những đạo quân sỏi đá đã sẵn sàng/  Con trẻ xếp đều nhau trên ô vẽ/ Dân đi trước trò chơi qui định thế/ Đá thành người con trẻ bốc trên tay/ Những hòn đá xếp lại thành đội ngũ/ Trò ăn quan lại tiếp tục luân hồi”. (Chơi ô ăn quan) mà trong suy niệm của Văn Lê, đây không chỉ đơn thuần là trò giải trí để vơi đi nhọc nhằn sau những tháng ngày lao động vất vả mà còn là vòng luân hồi của phận số con người. Sự liên tưởng độc đáo của thi nhân thể hiện qua các hình tượng thơ đầy tính ẩn dụ trong những câu thơ trên mở ra cho người đọc một cách nhìn mới, cách nghĩ mới mang ý nghĩa nhân sinh. Và từ những suy niệm mang tính triết luận về phận số con người qua các trò chơi dân gian, tưởng chừng chỉ có tính giải trí, thi nhân đã dẫn dụ người đọc đến với những giá trị văn hóa tâm linh trong đời sống của người Việt Nam. Đây cũng là biểu hiện của tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê mà khi nghĩ đến, lòng ta không thể không xa xót, trước sự chênh chao của phận người trong cõi phù sinh: “Ta về với chợ Âm Dương / Đêm đông bạc phết gió sương trắng trời/ Ta về từ tít mù khơi/ Như người dương thế tìm người cõi âm” (Chợ Âm Dương). Quả thật, trên cõi nhân gian “u u minh minh” này, có biết bao người phải sống, chết trong oan nghiệt. Song, để nhận ra điều này là không dễ, nếu chúng ta không bước qua cánh cửa “đoạn trường” đầy cay đắng của cuộc đời. Là một thi nhân đã có quá nhiều sự trải nghiệm cuộc sống, hơn ai hết, Văn Lê hiểu rất rõ vấn đề này và Anh đã thể hiện điều đó trong thơ thật cảm động: “Tôi về bên suối Giải Oan / Đêm đông rờn rợn gió hàn cắt da/ Bóng trăng lạc giữa rừng già/ Miếu cô hồn cứ ngó ra trừng trừng/ Bao năm tôi sống ở rừng/ Lội qua bao suối bao sông một thời/ Đến khi tóc trắng sương rơi/ Mới tìm con suối cuối trời – Giải Oan !” (Viết bên suối Giải Oan).
Có thể nói, văn hóa tâm linh là một phần tất yếu làm nên phẩm tính văn hóa dân tộc. Vậy mà, đã có một thời không xa, nó phải chịu biết bao “oan nghiệt”, bởi sự “thiếu hiểu biết” về văn hóa cùng với cái cảm quan “nhiệt tình cách mạng” một cách “ngây thơ” đến “cực đoan” của con người và chỉ được “giải oan” từ  khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới. Thế nên, những bài thơ viết về văn hóa tâm linh của Văn Lê cũng đã góp phần “giải oan” cho lĩnh vực văn hóa khá “nhạy cảm” này. Đọc thơ Văn Lê, ta thấy thi nhân bàn đến nhiều khía cạnh của văn hóa tâm linh như muốn xác quyết một hệ giá trị trong tâm thức văn hóa của thơ Anh. Những diễn ngôn văn hóa tâm linh trong thơ Văn Lê, không chỉ có niềm tin tâm linh mà còn ẩn chứa những thông điệp có tính hiện thực nhân văn sâu sắc. Đó là những oan nghiệt, những bất công đến phi lý không thể hóa giải được mà con người phải gánh chịu trong những chế độ xã hội đầy thế lực hắc ám. Vì vậy, họ phải đặt “niềm tin” vào thế giới siêu hình, dù “niềm tin” ấy cũng chỉ là những ảo vọng xa mờ, nhưng dẫu sao cũng là niềm an ủi, khi họ không tìm được cứu cánh trong cuộc đời. Đó là niềm tin vào lời nguyện cầu ở một con “suối giải oan”, là “nén tâm nhang đêm giao thừa” mà ông cha truyền lại: “Đêm giao thừa cả nhà tôi thức dậy/ Châm đèn lên, vợ tôi thắp nén nhang/ Cái hương liệu của tổ tiên truyền lại/ Cứ âm u tỏa khói ở trên bàn/  Xin về đây đừng lo lạc lối/ Đã có mùi hương làm người đưa đường/ Ta cùng uống với nhau ly rượu chợ/ Cùng xem mùa xuân giữa chốn phố phường” (Mùi nhang đêm giao thừa). Và đạo Mẫu, một tín ngưỡng dân gian trong đời sống tâm linh của dân tộc cũng được Văn Lê tôn vinh như một giá trị văn hóa rất đỗi tự hào: “Từ thuở sơ khai dân tộc của anh luôn sinh ra đàn bà là mạnh mẽ./ Họ mang biểu tượng thiên nhiên mà còn hơn thế/ Họ được tôn vinh như các vị thần/ Đạo thờ mẹ được hình thành như vậy/ Đây là văn hóa tâm linh của riêng Tổ tiên Anh !” (Những người làm chủ biển Đông). Thế mới biết, văn hóa tâm linh có ý nghĩa đặc biệt trong văn hóa Việt Nam cũng như trong tâm thức văn hóa của Văn Lê như thế nào!? Và xét từ một điểm nhìn nào đó, văn hóa tâm linh cũng là một diệu pháp giúp người ta yên lòng, khi phải sống trong một thế giới còn quá nhiều những điều bất an.
4. Trong chuyên luận Cửa vào phong tục Việt Nam, tài liệu học tập về Văn minh Việt Nam dành cho sinh viên Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ấn hành năm 1974 của Phạm Việt Tuyền, khi luận về vai trò của trí thức Việt Nam đối với việc giữ gìn nền văn hóa dân tộc, ông đã viết: “Trí thức Việt Nam cần phải ý thức nhu cầu duy trì phong tục thuần túy và phát triển văn hóa dân tộc (…). Muốn được như vậy cần phải học hỏi các phong tục thuần túy Việt Nam, cần phải xét lại các truyền thống dân tộc, để hãnh diện về những điểm có thể coi là dân tộc tính, là quốc hồn quốc túy…”.[3]Từ điểm nhìn này, ta thấy tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê không chỉ đóng khung trong những giá trị văn hóa phi vật thể khi luận về nguồn gốc giống nòi, phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian… mà Anh còn khám phá nhiều giá trị văn hóa khác, trong đó có văn hóa vật thể của dân tộc. Đó là hình ảnh những Tháp Chămsừng sững ngàn năm cùng tuế nguyệt như một kẻ lữ hành đơn độc để xác chứng và lưu giữ giá trị văn hóa dân tộc, cho dù có trải qua bao tang thương của thời cuộc: “Ngút ngàn ở giữa rừng xanh/ Hiện lên ngọn tháp một mình – cô đơn!/ Người xưa đã chọn mặt tường/ Để lưu giữ lấy tâm hồn thiêng liêng” (Tháp Chăm). Hay hình ảnh những cư dân Lạc Việt vẫn miệt mài lam lũ cả một đời thương khó, chịu bao khổ nạn, bám đất, bám làng, cày sâu, cuốc bẫm làm nên giá trị văn hóa để khẳng định sự tồn sinh của dân tộc : “Người Lạc Việt cày trên đồng ruộng Lạc !/ Dân Lạc trồng dâu khắp bờ bãi sông Dâu…/ Lụa Lạc Việt làm nên trang phục Việt, gái trai búi tóc trên đầu !” Và “Cũng chính Tổ tiên Anh/ Đã dựng lên nhà sàn, đúc trống đồng thờ vật tổ là chim Hồng Lạc !/ Tổ tiên anh đã làm nỏ thần bí hiểm – liên châu !” (Những người làm chủ biển Đông)
Yêu quí, tự hào về văn hóa dân tộc, nên nhà thơ vô cùng xa xót đến đớn đau khi  chứng kiến sự mai một của biết bao giá trị văn hóa truyền thống trước những biến đổi của làng quê thời hiện đại. Đây cũng là một biểu hiện của tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê được Anh thể hiện khá sâu sắc. Sự biến đổi văn hóa đó, trong cái nhìn của Văn Lê là biểu hiện của sự tha hóa, là sự bội phản lại những giá trị văn hóa tốt đẹp có từ ngàn năm của dân tộc mà khi nghĩ đến, lòng ta không khỏi day dứt: “Dân làng anh bây giờ xuôi ngược/ Thoắt ẩn/ thoắt hiện/ thoắt đến/ thoắt đi/ Làng quê u u mê mê/ Người ta như ăn cháo lú/ Họ lao ra bến sông bãi chợ/ Giành gật miếng ăn của nhau/ Chợ quê tràn ngập đồ Tàu/ Chẳng thiếu thứ gì ngoại trừ đồ thật/ …./ Được về lại làng quê yêu dấu/ Anh cảm thấy hoang mang…/ Có cái gì đó đang tan,/ Đang bị xói mòn từ trong cội rễ” (Những người làm chủ biển Đông). Không chỉ xa xót trước những biến động của đời sống văn hóa, nhà thơ còn ngỡ ngàng trước những biến đổi của cảnh quang môi trường ở làng quê, khi trên những cánh đồng đang mất dần những cánh cò, cánh vạc khiến làng quê trở nên vô cảm, vô hồn: “Năm trước cò nhiều lắm/ Trắng phau cả đồng nhà /Năm nay sao hiếm thế/ Muốn nhìn phải tìm xa…/ Cò vắng lòng cũng nhớ/ Biết giờ đồng bao la/ Thêm ngàn vùng ruộng mới/ Nên cò cũng chia ra”. (Khi vắng bóng những cánh cò) Như một qui luật của tình cảm, ký ức, trong đó có ký ức văn hóa bao giờ cũng có sức sống dài lâu, nhất là những ký ức gắn liền với hoài niệm trong tâm thức con người. Văn Lê cũng thế, khi nhận ra những điều tốt đẹp của văn hóa làng không còn nữa, nhà thơ không khỏi chạnh lòng, tiếc nuối, khi nhớ về những ngày xa xưa, có thể cuộc sống còn nghèo nhưng ấm áp tình quê, hồn quê: “Những năm ấy quê em nghèo xơ xác/ Nhà lưa thưa bên kênh rạch xanh phèn/ Thân bì bõm như con cò cái vạc/ Em chống xuống vớt lúa giữa mưa đen”. (Cây tràm mảnh dẻ). Tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê, vì thế là sự kết tinh giá trị của ký ức văn hóa dân tộc mà Anh luôn giữ gìn như giữ gìn chính cuộc sống của mình. Điều này đã được minh chứng trong nhiều bài thơ của Anh như: Tìm đồng hương, Chợ âm dương, Viết bên suối giải oan, Mùi nhang đêm giao thừa, Những cánh cò trong rừng, Khi vắng những cánh cò, Cây tràm mảnh dẻ, Kinh Bắc, Tháp Chăm, Cờ Người, Chơi ô ăn quan, Khúc Việt hành phương Nam…
5. Trong kho tàng thi ca dân gian Việt Nam, một di sản văn hóa phi vật thể quí giá của dân tộc, có những câu ca dao thể hiện nỗi nhớ quê thê thiết, mà khi đọc lên lòng ta không khỏi rưng rưng: “Đêm đêm đốt đỉnh hương trầm,/ Khói lên nghi ngút âm thầm nhớ quê” (ca dao). Như vậy, nỗi nhớ quê, không chỉ là tình cảm bình thường mà đó là tình cảm mang ý nghĩa tâm linh, thể hiện bản sắc văn hóa Việt. Làng quê đối với người Việt có một sức sống thiêng liêng. Thế nên, người Việt Nam có thể “bị mất nước” chứ không bao giờ “để mất làng” và từ sức mạnh của Làng nhân dân ta đã giành lại đất nước. Điều này đã được xác tín trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đây cũng là cảm hứng chủ đạo trong nhiều bài thơ của Văn Lê như:Lời người trong cuộc, Khúc hát đồng quê, Đại hạn, Khúc bi ca, Câu nói không lời,Khúc hát phong tình miền Tây… Đặc biệt là hai trường ca Vé trở về và Câu chuyện của người lính binh nhì, trong đó, có những câu thơ chất chứa tình quê sâu nặng của thi nhân mà khi đọc lên ta không khỏi thấy quặn lòng: “Đồng chiêm nghèo của tôi ơi/ Nhận cho một lạy của người ra đi” (Khúc hát đồng quê); hay “Nỗi cô quạnh một mình trên đồng trống/ Đã làm anh nhớ mẹ đến gai người/ Anh nhớ xóm làng nhớ đồng chiêm trũng/ nhớ cội nguồn mà anh đã chia phôi…” (Đại hạn). Ngoài những biểu hiện đã nói ở trên, có thể nói, kết tinh của tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê chính là cái tình đối với làng quê, nơi Anh sinh ra cũng như những làng Anh đã sống và chiến đấu trên nước Việt dấu yêu. Văn hóa làng chính là bầu sửa nuôi dưỡng hồn thơ Anh, chắp cánh cho Anh trong hành trình sáng tạo nghệ thuật. Tìm hiểu tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê chính là tìm hiểu cội nguồn văn hóa làng làm nên những dự phóng sáng tạo trong thơ mà nếu không có nó, Anh không thể bay cao, bay xa trên bầu trời thi ca dân tộc như Anh đã sẻ chia về bài học làm người qua diễn ngôn thơ chứa đựng những thông điệp đầy tính ẩn dụ: “Các anh học cách thắt lưng cho chặt/ Học lúa đồng đội nước mà lên/ Học loài yến không vấy bùn lên tổ/ Học ốc sên để biết cách im lìm/ Học con cò lặn lội bờ sông/ Học con vịt mò ăn trong nước/ Học cả con chim bị nhốt ở trong lồng…/ Thầy giáo dạy anh : – Làm “quan” không khó./ Được thành người mới danh dự cao sang !/ Dân lạc Việt phải sống hồn lạc Việt/ Không để quê hương cho ma quỉ nhập tràng…/ Anh yêu làng anh – Cái làng nghèo túng,/ Nhưng trót thương ai thì thương đến tận cùng/ Không vì lợi mà bán mình cho quỷ/ Đã là người phải có thủy chung”. (Bài học đầu tiên).
Đọc những câu thơ này của Văn Lê, tôi nhớ đến Albert Camus, một triết gia hiện sinh, một nhà văn nổi tiếng của nhân loại thế kỷ XX, người được trao giải thưởng Nobel văn chương năm 1957 đã xác quyết: “Khi văn hóa xuống cấp, nó rút ngắn con đường dẫn đến nô lệ”. Viện dẫn điều này, tôi muốn chia sẻ với nhà thơ Văn Lê, tại sao tôi chọn viết về tâm thức văn hóa trong thơ Anh. Vì cũng như Anh, tôi không muốn những tháng năm cầm bút, cầm súng, gần cả đời người của Anh cho độc lập, tự do của dân tộc trở thành vô nghĩa. Bởi, nếu hôm nay, chúng ta không nâng cao ý thức bảo tồn “giòng sinh mệnh văn hóa dân tộc”, để nó “xuống cấp” không phanh thì “con đường dẫn đến nô lệ” như Albert Camus đã dự báo sẽ là một tất yếu không xa. Vì vậy, tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê với những gì đã luận giải, thiết nghĩ cũng là một hệ giá trị, góp phần bảo vệ nền văn hóa dân tộc, cần được trân quý và chia sẻ…
Chú thích:
* Thơ trích dẫn trong bài lấy từ Văn Lê, Tuyển thơ, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2015
[1] Tập san Sử địa, tam cá nguyệt san số 5, tháng 1,2,3/1967, tr.2
[2] Cao Văn Liên, Việt Nam diễn nghĩa  tập 1, Nxb. Hồng Đức, 2019, tr.93
[3] Phạm Việt Truyền, Cửa vào phong tục Việt Nam, Sài gòn, Tác giả tự xuất bản, 1974, tr. 240.
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 15/5/2020
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thiếu Sơn nhà văn chính trực

Thiếu Sơn nhà văn chính trực “Trang viết của Thiếu Sơn đến với chúng ta hôm nay cũng khiêm nhường như con người ông, dù ông là chứng nhân ...