Về nội dung và cấu trúc của
khái niệm “Văn học nghệ thuật”
Lời người dịch: Vấn
đề đặc trưng văn học, nghệ thuật, hay nói cách khác là khái niệm văn học, một
thời trong các sách lí luận văn học cả phương Đông lẫn phương Tây đều coi như
là định luận. Sự phân biệt văn học và phi văn học coi như là hiển nhiên. Nhưng
bắt đầu từ những năm 80 vấn đề “văn học là gì” được đặt lại. Từ Todorov đến T.
Eagleton, từ R. Wellek đến J. Culler, các học giả đã phủ nhận khả năng xá định
được đặc trưng văn học theo một định nghĩa giản đơn nào đó. Trên vấn đề này Ju.
Lotman có một cách hiểu khác, có tính chất lịch sử, đáng để chúng ta tham khảo.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. (TĐS)
GS Trần Đình Sử
Đối tượng nghiên cứu của
nhà nghiên cứu văn học là văn học nghệ thuật. Thực trạng đó hiển nhiên đến mức
mà bản thân khái niệm văn học nghệ thuật được người ta quan niệm như là một cài
gì có tính thứ nhất, được đem đến một cách trực tiếp, cho nên nhà nghiên cứu
văn học rất ít quan tâm định nghĩa về nó. Nhưng hễ chúng ta đi xa ra ngoài phạm
vi các định nghĩa quen thuộc và nền văn hóa mà chúng ta đã được đào tạo trong
đó thì số lượng các trường hợp tranh cãi sẽ bắt đầu gia tăng đến mức áp đảo.
Không chỉ khi nghiên cứu văn học trung đại (ví như văn học Nga cổ), mà cả nền
văn học thuộc các thời đại gần gủi với chúng ta, việc vạch ra đặc điểm có khả
năng chỉ cái giới hạn thẩm quyền của nhà nghiên cứu văn học và bắt đầu phạm vi
toàn quyền của nhà sử học, văn hóa học, luật học… xem ra là một việc không dễ
dàng chút nào. Chẳng hạn chúng ta không cần suy nghĩ gạt ngay cuốn Lịch
sử nhà nước Nga ra khỏi phạm vi văn học nghệ thuật. Sách Thử nghiệm
lý thuyết đánh du kích của D. Davydov không thể xem như một thể hiện của
văn xuôi Nga, mặc dù Pushkin đã đánh giá nó trước hết từ phong cách (Tôi đã nhận
ra các đường nét của phong cách không thể bắt chước được). Các sự thực về sự xê
dịch ranh giới giữa văn bản nghệ thuật và phi nghệ thuật có vô vàn. Nhiều nhà
nghiên cứu, bắt đầu từ M. M. Bakhtin, Ju. N. Tynianov, Ja. Mucarjovski…đã chú ý
đến tính chất biến động của sự đối lập đó.
Nếu xem văn học nghệ thuật
như là một tổng số các văn bản[1], thì trước hết phải nhận thấy rằng
các văn bản ấy sẽ chỉ là một bộ phận trong hệ thống chung của văn hóa. Sự tồn tại
của các văn bản nghệ thuật phải hiểu đồng thời với sự hiện diện của các văn bản
phi nghệ thuật và cái tập thể người sử dụng các văn bản đó và biết cách phân biệt
chúng. Sự dao động tất yếu trong các trường hợp đường biên chỉ củng cố thêm cho
nguyên tắc: Khi ta lưỡng lự không biết xếp loài tiên cá vào loài cá hay vào loại
phụ nữ, hay xếp thơ tự do vào loại thơ hay vào loại văn xuôi, thì trước đó
chúng ta đã xuất phát từ cách phân loại như là cái có sẵn. Với ý nghĩa này,
quan niệm về văn học có trước (về mặt logic, chứ không phải về mặt lịch sử) văn
học.
Sự phân biệt văn học nghệ
thuật với cái khối các văn bản còn lại hành chức trong thành phần của nền văn
hóa có thể được thực hiện theo hai quan điểm.
1. Về mặt chức năng.Theo
quan điểm này, bất cứ văn bản ngôn từ nào trong phạm vi văn hóa đó đều có khả
năng thực hiện chức năng thẩm mĩ, thì đều là văn học nghệ thuật. Bởi vì về
nguyên tắc có thể có tình trạng (mà về mặt lịch sử thì rất hiếm), là thực hiện
chức năng thẩm mĩ vào thời đại khi văn bản được sáng tạo ra, và vào thời đại
khi nó được nghiên cứu, các điều kiện tất yếu khác nhau, đối với tác giả, văn bản
vốn không thuộc phạm vi nghệ thuật, lại có thể thuộc vào nghệ thuật và ngược lại.
Một nguyên lí cơ bản
của trường phái hình thức là chức năng thẩm mĩ được thực hiện khi văn bản khép
kín trong bản thân nó. Chức năng thẩm mĩ được thực hiện bằng tâm thế biểu hiện,
và từ đó suy ra, nếu trong văn bản phi nghệ thuật đặt ra câu hỏi “cái gì”, thì
chức năng thẩm mĩ được thực hiện bằng câu hỏi “như thế nào”. Vì thế bình diện
biểu hiện trở thành một phạm vi nội tại nào đó, có được một giá trị văn hóa độc
lập. Các nghiên cứu kí hiệu học mới nhất lại đưa đến những kết luận ngược lại.
Văn bản có chức năng thẩm mĩ là văn bản có dung lượng ngữ nghĩa cao hơn, chứ
không phải thấp hơn so với các văn bản phi nghệ thuật. Nó có nhiều nghĩa
hơn, chứ không phải ít hơn so với lời nói thông thường. Khi được giải mã theo
các cơ chế thông thường của ngôn ngữ tự nhiên, văn bản mở ra một cáp độ ý nghĩa
nhất định, nhưng vẫn không được mở ra đến cùng. Khi người nhận thông tin biết
được rằng trước mặt anh ta là một thông báo nghệ thuật, anh ta lập tức sẽ tiếp
cận nó theo một phương thức hoàn toàn khác. Văn bản trước mặt anh ta là văn bản
được mã hóa hai lần (tối thiểu); mã hóa thứ nhất là hệ thống mã hóa của ngôn ngữ
tự nhiên (ví dụ như, tiếng Nga). Bởi vì hệ thông mã này đã cho trước và cả người
gửi lẫn người nhận đã nắm vững nó thành thạo, việc giải mã trên cấp độ này tiến
hành một cách tự động, cơ chế của mã này trở nên trong suốt, những người sử dụng
chúng không cảm thấy được nữa. Nhưng cũng văn bản đó, người nhận thông tin biết
điều này, còn phải được giải mã theo một cách khác nữa. Điều kiện để văn bản được
hoạt động thẩm mĩ của nó, phải bao gồm một sự hiểu biết sơ bộ về cái mã kép này
và sự không biết (đúng hơn là biết không đầy đủ) về cái mã thứ hai được vận dụng
ở đây. Bởi vì người nhận thông tin không biết rằng, trong văn bản mà anh
ta tiếp nhận trên cấp độ thứ hai này cái gì có ý nghĩa, cái gì không, anh ta
“hoài nghi” rằng tất cả mọi yếu tố biểu hiện đều có tính nội dung. Chúng ta cần
tiếp cận văn bản như là văn bản nghệ thuật, cho nên về căn bản mọi yếu tố cho đến
cả chữ viết sai trong văn bản, như nhà văn E. T. A. Hoffman nhận xét nêu trong
lời Tựa viết cho truyện Quan điểm thông thường về con mèo Murra –
đều có thể có nghĩa. Khi đặt vào tác phẩm nghệ thuật cả một trật tự các mã bổ
sung: mã thời đại, mã thể loại, mã phong cách, hoạt động trong tập thể toàn dân
tộc hay một nhóm người hẹp hơn (cho đến các cá nhân), chúng ta thu được trong
văn bản những tập hợp có nghĩa khác nhau nhất, và tất nhiên một trật tự phức tạp
nhất các lớp nghĩa bổ sung so với văn bản phi nghệ thuật.
Như vậy trường phái hình
thức rõ ràng đã có những quan sát đúng đắn khi cho rằng trong các văn bản
hành chức nghệ thuật, sự chú ý thường bị trói vào các yếu tố, mà trong trường hợp
khác được tiếp nhận một cách tự động, và ý thức không nắm bắt chúng. Nhưng sự
giải thích của họ thì lại sai lầm. Hoạt động nghệ thuật không phải do văn bản đẻ
ra, một văn bản đã bị “gột rửa” hết nghĩa, mà ngược lại, văn bản được chất chứa
tối đa vô vàn nghĩa.
Chúng ta vừa nắm bắt một
trật tự sắp xếp của các biểu hiện, chúng ta liền quy cho nó một nội dung nhất
đinh hoặc là giả thiết có một nội dung nào đó mà chúng ta chưa biết. Nghiên cứu
những diễn giải nội dung của âm nhạc sẽ cung cấp cho ta ngững khẳng định hết sức
thú vị.
2. Theo
quan điểm tổ chức văn bản. Để văn bản có thể tự thể hiện mình theo cách nói
trên thì bản thân nó phải được tổ chức theo một cách nào đó.: người gửi thông
tin của văn bản đã mã hóa nó nhiều lần và với các mã khác nhau (mặc dù trong
các trường hợp nào đó, có thể người gửi xây dựng một văn bản phi nghệ thuật, tức
là văn bản mã hóa một lần, còn người nhận thì quy cho nó một chức năng nghệ thuật,
tưởng tượng cho nó các mã về sau và một ý nghĩa bổ sung). Ngoài điều đó ra người
nhận cần phải biết rằng, văn bản mà anh ta đọc, cần phải được xem như là văn bản
nghệ thuật. Tất nhiên văn bản cần được tổ chuevd thế nào đó về mặt ý nghĩa, và
chứa đựng các tín hiệu hướng chú ý về phía tổ chức đó. Điều đó cho phép miêu tả
văn bản nghệ thuật không chỉ như một văn bản hoạt động chức năng theo một cách
nhất định trong hệ thống văn bản chung của nền văn hóa đó, mà còn như là văn bản
được xây dựng theo một số cách nào đó. Nếu trong trường hợp thứ nhất ta nói đến
cấu trúc văn hóa, thì trong trường hợp sau là nói đến cấu trúc của văn bản.
Giữa chức năng của văn bản
và tổ chức nội tại của nó không có sự phụ thuộc tự động đơn nghĩa: công thức về
mối quan hệ giữa hai nguyên tắc cấu trúc này được hình thành đối với mỗi loại
hình văn hóa theo cách riêng, phụ thuộc vào các mô hình ý thức hệ chung nhất.
Dưới dạng lược đồ tất yếu chung nhất, tương quan này có thể xác định như sau:
trong thời kì xuất hiện một hệ thống văn hóa nào đó hình thành một cấu trúc chức
năng nhất định, vốn có của văn hóa đó, và xác lập một hệ thống quanheej các chức
năng và các văn bản. Chẳng hạn trong văn học Ng những năm 1740 -1750, diễn ra một
sự điều chỉnh trên các cấp độ khác nhau nhất: âm luật, phong cách và thể loại.
Đồng thời hình thành một hệ thống các quan hệ giữa các tổ chức này và trật
tự giá trị chung của chúng. Sau đó thời kì tổ chức kết thúc. Một tính không xác
định nào đó trong tương quan giữa các khâu nhường chỗ cho một trật tự đơn
nghĩa, đánh dấu sự suy giảm dung lượng thông tin của hệ thống và sự xơ cứng của
nó. Vào thời điểm đó, theo thông lệ, diễn ra sự thay thế các lí thuyết thẩm mĩ,
còn nếu như, điều này cũng thường xảy ra, sự xơ cứng nghệ thuật chỉ là biểu hiện
riêng lẻ của các quá trình đình trệ rộng lớn hơn, của toàn xã hội, thì có cả sự
thay thế các quan niệm ý thức hệ trong chiều sâu. Ở giai đoạn này hệ thống chức
năng và hệ thống tổ chức nội tại của các văn bản có thể giải thoát khỏi các mối
liên hệ hiện hành và tham gia vào các tổ hợp mới: thay đổi các đặc điểm giá trị,
bộ phận “dưới” và bộ phận “trên” của nền văn hóa đổi chỗ cho nhau về mặt chức năng.
Vào thời kì này các văn bản thực hành chức năng thẩm mĩ hướng đến mục tiêu sao
cho ít giống với văn học nhất xét về cấu trúc nội tại. Bản thân các từ nguywx
“nghệ thuật”, “văn học” có sắc thái bị hạ thấp. Nhưng sẽ là ngây thơ, nếu nghĩ
rằng các đấu sĩ hình tượng trong lĩnh vực nghệ thuật lại hạ thấp chức năng thẩm
mĩ như nó vốn thế. Đơn giản là, như thông lệ, các văn bản nghệ thuật trong các
điều kiện mới hình như đã không còn khả năng thực hiện cái chức năng nghệ thuật
như các văn bản đã làm, mà bằng kiểu tổ chức của mình chúng báo hiệu về một
định hướng phi nghệ thuật “có từ cổ xưa”. Chẳng hạn, như văn nghệ dân gian, vốn
bị lí thuyết chủ nghĩa cổ điển loại trừ khỏi phạm vị nghệ thuật, lại trở thành
mẫu mực thẩm mĩ lí tưởng của các nhà khai sáng, các nhà tiền lãng mạn. Tương tự
như vậy là số phận thể loại bút kí, chính là do tính chất “phi nghệ thuật của
nó mà trong những năm 1840-1860 và sau nữa trong những thời điểm bước ngoạt
của sự phát triển văn học đã trở thành thể loại nghệ thuật chủ đạo.
Tiếp theo là giai đoạn
hình thành hệ thống mã hóa tư tưởng nghệ thuật mới mà kết quả là giữa cấu trúc
của văn bản và chức năng của chúng xây dựng nên một hệ thống quan hệ mới thoạt
đầu khá mềm mại. Như vậy không chỉ có các văn bản nghệ thuật tham gia váo qúa
trình phát triển của nghệ thuật. Nghệ thuật, trong khi là một bộ phận của
văn hóa, để được phát triển nó cần đến cái không phải nghệ thuật, cũng giống
như văn hóa, trong khi chỉ là bộ phận của tồn tại con người, nó cần đến một
tương quan năng động với phạm vi tồn tại của con người không văn hóa nằm
bên ngoài nó, một bộ phận chưa quen biết, phi văn bản, phi kí hiệu. Giữa
các phạm vi bên ngoài và bên trong diễn ra một sự trao đổi thường xuyên, một hệ
thống phức tạp của những cái đưa vào và đưa ra khỏi văn hóa. Ở đây bản thân sự
kiện đưa văn bản vào phạm vi nghệ thuật có nghĩa là chuyển mã của nó thành ngôn
ngữ của tiếp nhận nghệ thuật, tức là tư duy lại nó một cách căn bản.
Ngoài quan hệ văn bản và
chức năng hệ thống đánh giá cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
văn học. Toàn bộ hệ thống văn bản tham gia vào văn hóa, về phương diện giá trị
được tổ chức thành một kênh có ba bậc. “Cái bên trên” được đồng nhất với các đặc
trưng giá trị tối cao, “cái bên dưới” được quan niệm là cái đối lập của nó[2],
và cái ở giữa trung lập về mặt giá trị.
Ngay bản thân việc sắp xếp
các nhóm văn bản khác nhau về bản chất và chức năng theo các thang bậc giá trị
trên dưới cũng có khả năng trở thành một đặc trưng loại hình quan trọng của một
kiểu văn hóa cụ thể. Chẳng hạn nếu chúng ta đề cập đến một nền văn hóa mà trong
đó kiểu văn bản đạo đức chiếm vị trí “trên cao”, còn văn bản nghệ thuật ở vị
trí “bên dưới”, và một nền văn hóa khác có sự sắp xếp ngược lại đối với các lớp
văn bản đó. Chỉ điều đó trhooi đã đủ để nhìn ra trong văn học thứ nhất có sự
tương đồng loại hình với văn hóa nhà thờ trung đại, còn ở nền văn học thứ hai,
có tính tương đồng loại hình với La mã thời kì suy đồi hay bất cứ hệ thống mĩ học
nào khác. Rất dễ hiểu là cái vị trí mà văn học được đặt vào trong trật tự giá
trị chung của các văn bản có ý nghĩa quan trọng như thế nào để hiểu văn học
trong hệ thống đó.
Nhưng trong trường hợp
này hình như các văn bản nghệ thuật sẽ ứng xử khác so với các văn bản còn lại.
Thông thương vị trí của văn bản hay cơ quan đại diện của nó (bởi vì mỗi dạng
văn bản có một hoiatj động phù hợp với nó), trong trật tự chung của văn hóa có
một nghĩa nhất định: văn bản tín ngưỡng hay quân chủ có thể là thiêng liêng hay
đáng khing bỉ, nhưng không thể vừa thiêng liêng vừa đáng khinh. Văn bane pháp
luật và tính chất có thể hợp pháp trong mỗi kiểu văn hóa cũng được đánh giá một
nghĩa, (văn bản sáng tạo ra các luật pháp được Ciceron đánh đánh giá cao nhất,
đối với Cristo lại được đánh giá thấp nhất, trong trật tự thời trung đại chỉ
chiếm vị trí trung bình). Duy chỉ cói văn bản nghệ thuật có thể trở thành đối
tượng của những đánh giá loại trừ nhau về mặt giá trị. Mặc dù các văn bản nghệ
thuật trong trật tự chung của văn hóa được đặt vào một vị trí nhất định chúng vẫn
thường xuyên thể hiện khuynh hướng xếp đặt các đầu mút đối lập của bậc thang, tức
là trong lập trường xuất phát chúng đặt ra một số mối xung đột, tạo ra khả
năng trung lập hóa tiềm tàng tiếp theo sau trong các văn bản đẳng trị. Các văn
bản phục vụ cho các chức năng văn hóa khác ứng xử theo những cách khác.
Muốn giải thích hiện tượng này cần phải chú ý đến tổ chức nội tại của cả tập hợp
văn bản mà chúng ta gọi là văn học nghệ thuật.
Tổ chức nội tại của văn học
nghệ thuật – và đây là chỗ khác biệt của nó so với các lớp văn bản khác, những
văn bản tương đối cùng loại trong hệ thống văn hóa chung, – là đồng hình với
văn hóa như nó vốn thế, nó lặp lại các nguyên tắc cấu trúc chung. Văn học nghệ
thuật không bao giờ là một tổng cộng các văn bản vô định hình-đồng chất: nó
không chỉ là sự tổ chức, mà còn là một cơ chế tự tổ chức.
Trên trình độ cao hơn về
tổ chức văn học, nó phân xuất ra một nhóm văn bản trừu tượng hơn so với cái khối
văn bản còn lại, cái cấp độ, tức là các siêu văn bản. Đó là các mẫu mực, các
quy tắc, các trước tác lia luận và các bài phê bình, những văn bản trả văn học
về với chính nó, nhưng đã ở dưới dạng đã được rổ chức, được xây dụng và đánh
giá. Tổ chức này được hình thành từ hai loại hành động: hành động loại trừ một
chuỗi nhất định các văn bản khỏi phạm vi văn học và tổ chức theo trật tự trên
dưới, và hành độngđánh giá phân loại các văn bản còn lại. Sự tự tư duy của văn
học bắt đầu từ việc loại trừ một kiểu văn bản nhất định. Thế là bắt đầu phân biệt
ra các loại văn bản “man rợ”, văn bản “tạm được”, văn bản “đúng đắn”, văn bản
“hợp lí” trong thời đại chủ nghĩa cổ điển, phân biệt thành “văn chương” và “văn
học” ở G. Bielinski từ những năm 1830 trở đi (vào những năm sau sự đối lập trên
có ý nghĩa khác và sau văn chuwoiwng sẽ là văn học. Chẳng hạn, trong văn học
Nga từ 1810 đến những năm đầu 1820, quyền được thừa nhận là văn học là mĩ văn
(bellestristika). Một ví dụ hiển nhiên – sự pha trộn khái niệm “văn học” với một
trong hai cực đối lập của nó là thơ – văn xuôi, trong đó cái được coi là
đối lập không phải là khái niệm văn chương nghệ thuật mà thực tế cái được pha
trộn với thơ; trong ý thức của “những người thuộc năm 60” chúng ta nhìn thấy một
hiện tượng đối lập.
Sự loại trừ một số văn bản
ra khói phạm vi văn học được thực hiện không chỉ bằng đồng đại mà còn bằng lịch
đại. Các văn bản được viết trước khi các quy phạm được công bố được coi là
không phù hợp hay là phi-văn học. Chẳng hạn Boileau đã bỏ ra ngoài giới hạn của
văn học những mảng lớn của nghệ thuật ngôn từ chấu Âu. Karamzin trong bài
thơ Thơ có tính tuyên ngôn khẳng định rằng thơ ca sắp xuất hiện
ở nước Nga, có nghĩa rằng, nó vẫn chưa tồn tại, mặc dù thơ đã được viết ra sau
sự cáo chung của trường thơ của Lomonosov, Sumarokov, Trediakovski, và sự bùng
phát của thơ của Derjavin. Một ý nghĩa tượng tự cũng có trong luận đề “chúng ta
chưa có văn học”, được nêu ra bởi Andrei Turgenev vào năm 1801, Kiuchenberker
vào năm 1825, và muộn hơn là Venevitinov, Naderjdin, Pushkin (xem phác thảo
bài Về tính chất vô nghĩa của văn học Nga), Bielinski trong các
bài Ảo tưởng về văn học. Ý nghĩa tương tự cũng có trong khẳng
định về sau rằng, văn học Nga trước thời điểm (tất nhiên là trước thời điểm cái
siêu văn bản này được tạo ra), không có được cái tính chất cơ bản và duy nhất
cho phép được gọi là văn học, chẳng hạn là “tính nhân dân”. (Về sự tham gia
của tính nhân dân vào văn học của Dobroliubov), hay “sự phản ánh đời sống
nhân dân” (Nghệ thuật là gì của Tolstoi) v. v…Toàn bộ các tên tuổi
và văn bản được đưa vào văn học phù hợp với các quan niệm lí thuyết nhất định về
sau này càng được quy phạm hóa do các sách từ điển, sách bách khoa thư, sách
tuyển tập thâm nhập vào ý thức của người đọc. Sắc thái tranh luận của toàn bộ
văn học ấy bịmất đi, người ta quên đi tên tuổi của những người cụ thể đã tạo ra
huyền thoại, và tất cả những gì được xem chỉ là ẩn dụ, phép khoa trương đày
tính tranh cãi bắt đầu được tiếp nhận trong ý nghĩa trực tiếp.
Chúng tôi xin lấy ví dụ về
cách đánh giá văn học vốn nảy sinh từ nhu cầu đấu tranh văn học đã biến thành một
số kiểu mã ước lệ mà nhờ nó thế hệ sau đã dùng làm cơ sở để nêu ra các văn bản
có ý nghĩa và giải mã chúng. Bielinski, người đấu tranh nhằm khẳng định văn học
hiện thực, trong khi tranh luận đã khẳng định rằng, văn học Nga bắt đầu từ
Pushkin (sự khẳng định này nhằm hướng tới trước hết chống lại truyền thông chủ
nghĩa Karamzin đã mở đầu văn học Nga quý tộc với Karamzin; phê bình văn học
Tháng Chạp và N. Polevoi còn gạch bỏ thế kỉ XVIII va chủ nghĩa cổ điển khỏi văn
học.). Nhưng Bielinski, người có thái độ lạnh lùng và bất công đối với truyền
thống văn học trước thời Piotr đại đế, lại là người am hiểu một cách tuyệt với
văn học thế kỉ XVIII, và, mặc dầu đã nhiều lần phê bình nó rất gay gắt, tất
nhiên, không cho rằng ai đó có thể hiểu lời lẽ của ông như là sự phủ nhận sự tồn
tại của dòng văn học đó. Chúng ta nhớ rằng, trong thời đại của ông, Lomonosov
và Derjavin vẫn còn là chuẩn mực của thị hiếu thẩm mĩ và cơ sở để đưa ra những
phán đoán dung tục, còn tên tuổi của Karamzin vẫn được bao bọc trong vòng sùng
bái của thế hệ. Tình hình đó buộc Bielinski phải cường điệu sự phủ định một
cách đáng tranh cãi. Nhưng không phải ngẫu nhiên mà Bielinski bắt đầu lịch sử
văn học Nga khi thì từ Lomonosov, khi thì từ Kantemir, phụ thuộc vào sự tiến
hóa trong quan niệm của ông. Về sau ý nghĩ cho rằng văn học Nga bắt đầu từ
Pushkin, tách rời các ngữ cảnh do lịch sử quy định, được huyền thoại hóa một
cách đặc biệt, không chỉ biến thành các bài báo đăng tạp chí phê bình văn học,
qua đo biến thành ý thức của người đọc giữa và cuối thế kỉ XIX, mà còn trở
thành cở cho bộ lịch sử văn học hàn lâm, viết vào thời gian đó. Và thế là đến
thế kỉ XX người ta lại phải “phát hiện” lại văn học Nga thế kỉ XVIII.
Như vậy là các hậu duệ nhận
được từ mỗi thời kì văn học không chỉ là một tổng thể các văn bản, mà con cả
cái huyền thoại mà nó tự tạo ra cho mình, một số lượng đáng kể các tác phẩm ngụy
kinh, đã bị bác bỏ và trở thành chuyện vui. Nhưng bức tranh thực tế của đời sống
văn học thường phức tạp hơn nhiều do tình trạng văn học một thời nào đó được
dánh giá theo nhiều quan điểm khác nhau, trong đó giới hạn của khái niệm “văn học”
có thể khác biệt nhau rất xa. Sự dao động của ranh giới đó bảo đảm cho hệ thống
nói chung một lượng thông tin cần thiết.
Đồng thời với việc đưa một
số văn bản nào đó vào (hoặc đưa ra khỏi) lĩnh vực văn học còn có tác động của một
cơ chế khác, đó là sắp xếp trật tự các tác phẩm và xác định giá trị của chúng.
Tùy thuộc vào lập trường chung của nên văn hóa nào đó được dùng làm cơ sở dể
phân bố mà người ta chọn các chuẩn mực phong cách, chủ đề, mối liên hệ với các
quan niệm triết học, thực hành hay hủy bỏ các quy tắc của cái hệ thống được lựa
chọn, nhưng bản thân nguyên tắc xác lập trật tự giá trị trên dưới thì
không thay đổi: các văn bản bên trong văn học đều thuộc vào lớp trên, lớp dưới
hay phạm vi trung gian nào đó về mặt giá trị.
Sự phân bố cái bên trên,
bên dưới bên trong văn học, sự căng thẳng giữa các lĩnh vực này làm cho văn học
trở thành không chỉ là tổng số các văn bản, mà còn là một văn bản, cơ chế thống
nhất, thành tác phẩm nghệ thuật chỉnh thể. Sự thường hằng và sự thống nhất của
các nguyên tắc cấu trúc này đối với văn học các dân tộc và thời đại khác nhau rất
đáng được chú ý. Xem ra khi miêu tả văn học một thời đại như một văn bản thống
nhất, chúng ta đã đi gần nhất đến nhiệm vụ vạch ra các phổ quát của văn học như
là một hiện tượng đặc trưng.
Sự phân loại nội tại của
văn học được hình thành từ sự tác động qua lại của các khuynh hướng đối lập: ý
hướng nói trên muốn phân bố các tác phẩm và thể loại, giống như bất cứ yếu tố
có nghĩa nào khác của văn học nghệ thuật, các yếu tố trên cao và dưới thấp là một
mặt, và mặt khác, khuynh hướng trung gian của cặp đối lập trên, khuynh hướng tước
bỏ sự đối lập giá trị.
Phụ thuộc vào điều kiện lịch
sử, vào thời điểm khi một văn học nào đó đang trải qua, một khuynh hướng nào đó
vượt lên trước. Nhưng nó không đủ sức xóa bỏ các đối lập, lúc đó chỉ còn có sự
phát triển của văn học, bởi vì cơ chế của nó có phần được tạo thành từ sự căng
thẳng giữa các khuynh hướng.
Một ví dụ khác về tổ chức
nội tại của văn học như một cơ thể chỉnh thể, có thể là sự đối lập văn học “cao
cấp” và văn học “đại chúng”. Trong phạm vi văn học thống nhất bao giờ cũng thấy
được sự phân biệt văn học được tạo thành từ các tác phẩm độc đáo, chỉ hơi khó đồng
nhất về mặt xếp loại, và đông đảo văn bản làng nhàng cùng loại[3]. Việc vạch ra
một dấu hiệu nào đó, chỉ để quy nó vào một loại nói trên là rất khó. Bởi vì lịch
sử văn học cho ta biết rằng, chúng dễ dàng và thường xuyên thay đổi các dấu hiệu
ấy cho nhau. Chẳng hạn, thoạt nhìn có thể tưởng rằng, trong xã hội có giai cấp,
văn học cao cấp nhất định có liên hệ với giai cấp thống trị, còn văn học “đại
chúng” gắn bó với tầng lớp dân chủ. Chính các nhà xã hội học những năm 1920, cả
V. B. Shklovski chiụ ảnh hưởng của họ trong chuyên luận nổi tiếng đã đuổi
Matveia Komarov ra khỏi nhà văn nhân dân.
Trong khi đó trong lịch sử
văn học đã có nhiều ví dụ cho thấy khi văn học thực sự đạt được đỉnh cao, thì về
mặt ý thức hệ nó gắn với các tầng lớp xã hội thượng lưu, nhưng cũng có không ít
trường hợp ngược lại. Và sở thích cá nhân của Nicholas I, được đào tạo bởi
sự quá độ từ đạo đức tiểu thị dân của sự thân tình kiểu cảm thương chủ nghĩa
Maria Feodorovna sang chủ nghĩa lãng mạn hạ lưu và lợi ích xã hội của các lực
lượng xã hội được họ quan niệm nằm ở phía văn học “đại chúng” của Bulgarin,
Zagoskin và Kukolnich, chứ không phải ở phía văn học “đỉnh cao” như Pushkin hay
Lermontov.
Cả văn học đỉnh cao lẫn
văn học đại chúng tách riêng ra trong những điều kiện lịch sử cụ thể đều có những
ý nghĩa rất khác nhau về mặt xã hội, thẩm mĩ hay triết học. Cái thường xuyên là
sự đối lập của chúng về mặt chức năng[4]. Để hiểu các khái niệm này
một cách cụ thể, chúng ta sẽ xem xét vấn đề “văn học đại chúng” một cách
cụ thể.
Niềm hứng thú đối với văn
học đại chúng nảy sinh trong nghiên cứu văn học cổ điển Nga như là một phản động
lực đối với truyền thống lãng mạn nghiên cứu các nhà văn “vĩ đại”, những người
tách rời với thời đại và quay lưng lại với nó. Viện sĩ A. N. Veselovski so sánh
các nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở của lí thuyết về “các anh hùng, các
lãnh tụ, những người lẩm nhân loại” – trong tinh thần của tư tưởng Carlyle và
Emerson – với một công viên theo phong cách của thế kỷ XVIII, trong đó “tất cả
các con đường đều xây theo rẽ quạt hoặc theo hình bán kính đối với cung điện hoặc
đối với một số tượng đài giả cổ điển nào đó, sao cho đứng ở đâu cũng không thấy
được hoặc không được chiếu sáng tượng đài hoặc giống như là nó không nằm ở
vị trí trung tâm.”[5].
“Khoa học hiện đại, ông
viết tiếp, cho phép mình nhìn vào những tầng lớp đaỊ chúng mà cho đến khi đó vẫn
còn ở phía sau lưng họ, bị tước mất tiếng nói, nó nhìn thấy ở họ cuộc sống,
phong trào, những điều mà mắt thường không nhận thấy, giống như tất cả những gì
đang diễn ra trong quy mô không gian và thời gian cực lớn; các động cơ bí mật của
quá trình lịch sử cần được tìm ở đây, và cùng với sự giảm bớt các tìm tòi lịch
sử về mặt vất chất, trọng tâm nghiên cứu sẽ phải chuyển vào đời sống của nhân
dân”[6].
Cách tiếp cận đó đã được
thể hiện trong các tác phẩm của A. N. Pypin, V.V. Sipovsky, bản thân
Veselovsky, và sau đó là V. N. Peretz, M. N. Speranskii và nhiều nhà nghiên cứu
khác, đã dẫn đến mối quan tâm đối với văn học đại chúng và của tầng lớp dưới.
Mang trong mình tính chất dân chủ nổi bất như một hiện tươịng ý thức hệ, phương
pháp này với ý nghĩa khoa học đích thực, đã gắn liền với việc mở rộng phạm vi của
các đối tượng nghiên cứu, và đưa vào lịch sử văn học những phương pháp đã nảy
sinh từ mảnh đất nghiên cứu văn học dân gian trồng trên đất, và phần nào là các
thủ pháp của nghiên cứu ngôn ngữ học.
Sự chỉ trích mà nhiều trường
hợp vận dụng cách tiếp cận này vào lịch sử văn học là do người ta đã đánh dầu bằng
giữa tính đại chúng và ý nghĩa lịch sử của hiện tượng văn học.
Tiêu chí của giá trị tư
tưởng và thẩm mỹ của các văn bản đã bị vứt bỏ như là cài gì “phi khoa học”. Bản
thân thuật ngữ “tác phẩm nghệ thuật” đã được thay thế bằng một khái niệm “tích
cực” hơn là “đài kỉ niệm văn chương.” Việc vận dụng các phương pháp nghiên cứu
văn hóa dân gian và văn học trung đại vào văn học không hề ngẫu nhiên, bởi vì,
bởi vì tronng các văn bản mà họ nghiên cứu, trái với truyền thống của Buslaev
(mà những người kế tục truyền thống đó sau này là các viện sĩ A. X. Orlov, I.
P. Eremin, D. X. Likhachev), họ nhìn thấy không phải là tác phẩm nghệ thuật mà
chỉ là “đài kỉ niệm ngôn từ”.
Việc nhà khoa học đánh mất
sự thể nghiệm thẩm mỹ trực tiếp của văn bản đã được hìểu như là một tình huống
thuận lợi. Nhà khoa học không cần kiến tạo lại một kinh nghiệm thẩm mỹ của văn
bản người khác, và lại còn cắt đứt thể nghiệm này ngay cả khi xem xét những văn
bản gần gủi. Khi đó tác phẩm sẽ biến thành một đài kỉ niệm, còn nhà nghiên cứu
được nâng lên tận đỉnh cao của lối nghiên cứu tích cực của ông ta. Điều này đã
cho thấy qua cuốn “Lịch sử tiểu thuyết Nga” của V. V. Sipovsky.
Một bước tiến xa hơn
trong việc nghiên cứu văn học đại chúng đã được thực hiện trong những năm 1920.
Những nỗ lực không thành công của các nhà xã hội học trong đồng nhất văn học đại
chúng với các dòng văn học dân chủ trong văn học Nga, đồng thời làm mất uy tín
các giá trị văn hóa cao cấp như là những giá trị xa lạ với nhân dân về mặt giai
cấp, rất ít có khă năng đẩy vấn đề đi tới. Có hiệu quả hơn nhiều là ý định của
các nhà nghiên cứu muốn xem xét sự tương tác của các bình diện đại chúng
và đỉnh cao trong lịch sử văn học.
Đó chính là vấn đề mà
Zhirmunsky đặt ra trong công trình của ông Byron và Pushkin, nơi mà sự
đòi hỏi “nghiên cứu rộng rãi về văn học đại chúng của thời đại” đã gắn liền với
sự tương tác của nó với các quá trình của văn học “đỉnh cao”. Một số quan sát
thú vị đã được thực hiện bởi B. M. Eykhenbaum và V. B. Shklovsky. Đồng thời Ju.
N. Tynyanov tạo ra một lý thuyết vững chắc, trong đó cơ chế của sự tiến hóa văn
học được xác định bởi sự ảnh hưởng lẫn nhau và thay đổi chức năng lẫn nhau của
các lớp văn học “bên trên” và “bên dưới”. Trong văn chương phi quy phạm nằm
ngoài giới hạn của các quy phạm văn nhọc nói trên văn học hấp thu các phương tiện
dự trữ cho các giải pháp sáng tạo của các thời đại tương lai.
Mặc dù sơ đồ mà Tynianov
đề xuất phần nào bị đơn giản hóa, nhưng ông có một vinh dự không thể phủ nhận
là người đầu tiên mô tả cơ chế vận động lịch đại của văn học. Đỉnh cao
xem xét văn học như là một cuộc đấu tranh, căng thẳng giữa văn hóa “lớp trên”
và “lớp dưới”, trung lập hóa cái sự căn thẳng kia trong các văn bản lưỡng tính
và tương quan của quá trình này với sự tiến hóa chung của văn hóa, không bàn
cãi gì nữa, cho đến nay vẫn là cuốn sách Sáng tác của Francois Rabelais
và văn hóa dân gian thời Trung đại và Phục hưng.
Khái niệm văn học đại
chúng – là một khái niệm xã hội học (về mặt ký hiệu học – là khaúi niệm “dụng học”).
Nó đề cập không chỉ là cấu trúc của một văn bản nào đó, mà còn là chức năng xã
hội của nó trong toàn bộ hệ thống các văn bản tạo nên nền văn hóa này. Như vậy,
khái niệm này trước hết được xác định mối quan hệ của một nhóm người này đối với
một nhóm các văn bản nào đó. Cùng một tác phẩm mà theo quan điểm này thì nó được
bao hàm vào văn học đại chúng, còn theo quan điểm khác lại bị loại trừ ra. Chẳng
hạn, thơ Tyutchev, theo quan điểm của Pushkin, là một sự kiện của văn học đại
chúng; Belinsky liệt Baratynsky vào đó. Nhưng đối với chúng tôi, Tiuchev không
liệt vào đó, và đối với Pushkin cũng không liệt Batatynski vào đó.
Các tác phẩm của Petrov mặc
dù bị Novikov nhận xét có phần mỉa mai trong cuốn Kinh nghiệm
về ngôn từ lịch sử của các nhà văn Nga chúng đã được các nhà văn đương
thời xem đỉnh cao của văn học. Pushkin trong bài thơ của ông đọc trong bài thi
dịch ở trường trung học năm 1815, khi đánh giá văn học Nga thế kỷ XVIII, trong
số các nhà thơ Nga đương thời, ông chỉ gọi có hai người là
Derzhavin và Petrov, đặt họ cạnh nhau. Và Derzhavin không hề cảm thấy bị
xúc phạm hay phản đối, mặc dù ở ông đã có một cảm giác về đẳng cấp thơ ca được
phát triển rất mạnh mẽ.
Đối với chúng ta – Petrov
một ví dụ sinh động của văn học đại chúng của thế kỷ XVIII. Một sự xáo trộn
tương tự cũng đã xảy ra với Kheraskov.
Khái niệm văn học đại
chúng bắt buộc phải hiểu một số hiện tượng văn hóa đỉnh cao như một phản đề.
Đem khái niệm văn học đại chúng vận dụng vào các văn bản mà không phân biệt
chúng về các mặt tính phổ biến, tính giá trị, tính dễ hiểu, phương thức định
hình hoặc lưu trữ, hoặc một phương thức nào khác (ví dụ, liên quan đến văn hóa
dân gian) rõ ràng là không có ý nghĩa. Xem ra chúng ta có thể giả định một lược
đồ phức tạp sau đây của hệ hình các văn bản nghệ thuật. (Lược một đoạn ví
dụ về lịch sử văn học Nga. ND)
Như vậy, ở giai đoạn thứ
ba văn học đại chúng là một nền văn học dân gian bằng văn viết và Folklore viết.
Nó thường xuyên đóng vai trò của một kho chứa, trong đó có hai nhóm văn bản
trao đổi giá trị văn hóa cho nhau (mặc dù tất nhiên cũng có cả sự trao đổi trực
tiếp). Trong thế kỷ XX sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng
và sự tính phức tạp trong số phận của ý thức nhân dân, đã tạo ra giữa các nhóm
này những quan hệ đặc biệt và đưa vào những nhân tố mới, mà xem xét chúng
không phải là chủ đề của bài viết này.
Văn học đại chúng cần có
hai đặc trưng mâu thuẫn với nhau. Thứ nhất, nó cần phải hiện ra như một
văn học có số lượng phổ biến. Khi xem xét các dấu hiệu về “phổ biến hơn hay ít
phổ biến”, “được đọc nhiều hơn hay ít được đọc hơn”, “được biết đến nhiều hơn
hay ít được biết đến hơn” văn học đại chúng sẽ có đặc trưng nổi bật. Do
đó, trong một số lượng nhất định, nó sẽ được ý thức như là một hiện tượng văn học
có đầy đủ giá trị văn hóa, và có đủ tất cả mọi phẩm chất cần thiết cho chức
năng thẩm mỹ. Tuy nhiên, thứ hai, cùng trong một xã hội đó cần phải hành động
và tác động tích cực các quy phạm và quan niệm, mà theo đó thì văn học này
không chỉ được đánh giá là cực kì thấp, như là cài tồi, cái thô thiển, cái cũ
rích, hay là theo một tiêu chí khác nó bị loại trừ, chối bỏ, cái ngụy tạo
hoặc như là cái không tồn tại nói chung.
Đôi khi sự loại trừ này sẽ
nâng cao hứng thú đối với văn bản. Ví dụ, trong thời đại của Pushkin, người đọc
dường như có hai bậc thang thứ tự giá trị thơ ca tồn tại song song nhau. Một
giá trị quan phương – sẽ được phổ biến trong các bản in, và một giá trị khác –
“bị bỏ rơi” như các sổ tay viết nháp:
Tôi giấu cuốn sổ tay
Da dê bí mật.
Cuộn giấy quý giá này,
Được giữ gìn bao thế kỷ
Không chothành viên của sức
mạnh Nga
Người anh em họ,
người lính long kị binh
được biết
Tôi đã viết không công
Mà bạn hình như còn ngờ vực…
Chẳngkhó để đoán ra;
Vì các tác phẩm này,
Khinh thường sựin ấn…[7]
Mối quan hệ giữa các nhóm
này có thể được hình thành bởi những con đường khác nhau nhất. Chẳng hạn, văn học
đại chúng có thể sao chép văn bản “cao cấp”, tạo ra một biến thể sơ lược, dịch
sang một thứ ngôn ngữ thô thiển hơn nhiều. Trên chất liệu của tranh dân gian
Lithuania thể hiện tuyệt vời khát vọng mô phỏng các loại hội họa baroque
“cao cấp.” Trường ca đại chúng của chủ nghĩa lãng mạn Nga bắt đầu từ những năm
1820. quy phạm hóa các chuẩn mực của “trường ca miền Nam” của Pushkin, biến
chúng thành những khuôn mẫu.
Có thể có một quan hệ
khác, mà dựa trên cơ sở đó không có tham vọng so sánh với văn học cao cấp,
mà đấu tranh với văn học ấy, nhưng chỉ trong phạm vi của các quy phạm cấu trúc
chung mà văn học cao cấp nhấn mạnh. Trong trường hợp này xxuất hiện lối giễu nhại
kiểu “Dịch vụ quán rượu” thế kỷ XVII. hoặc những bài thơ mô phỏng anh hùng của
thế kỷ XVIII. Văn học đại chúng tự cho mình là một văn học phản chiếu gương lộn
ngựôc văn học cao cấp với một hệ thống đánh giá giá trị luận ngược lại[8].
Xuất hiện những quy tắc của
văn học “bị bỏ rơi”, các tác phẩm kinh điển của nó và khuôn mẫu của nó. Chẳng hạn,
nếu trong văn học Nga XVIII – đầu thế kỷ XIX. Các quy phạm của thơ ca cao cấp
đòi hỏi địa vị cho “người ca sĩ cao cả”, của người hát rong ca ngợi chiến
công, người lên án cac s thói xấu, mà tại các thời điểm khác nhau
Derzhavin hoặc Kapnist, Gnedich hoặc Ryleyev đều muốn đóng vai, thì lập trường
đó nay lại có một kẻ đồng dạng độc đáo trong phạm vi mà giờ đây chúng tôi muốn
xem xét (giống như một vị thánh thời trung cổ trong kinh điển đều cccó một kẻ đồng
dạng bên ngoài thứ bậc trên dưới quan phương dưới dạng một kẻ ngốc nghếch).
Đó là hình tượng vừa cao cả vừa buồn cười. Nhà thơ và một kẻ say rượu, một tác
giả tụng ca cao cả và một nhà châm biếm, một mặt, là thơ quán rượu – mặt
khác, là tiểu sử của một người mà khi con sống cuộc đời của anh ta đã trở thành
một truyện cười, mà hành vi của anh ta vừa khẳng định lại vừa chế nhạo các
chuân mực của thơ ca cao cả.
Như vậy, ở đây chúng ta
đang phải đối diện không phải với một tổng số cố định các văn bản, được sẵp xếp
trên giá sách của các thư viện, mà với các cuộc xung đột, căng thẳng, các “trò
chơi” của các lực lượng tổ chức khác nhau.
Người ta có thể dừng lại ở
sự căng thẳng nội tại được tạo ra trong văn học hiện đại với sự cùng tồn tại đồng
thời của thơ ca và văn xuôi, các loại khác nhau của chúng vừa đẩy nhau và vừa
mô phỏng nhau. Tuy nhiên, điều này vẫn thường được thực hiện. Tạo một danh sách
đầy đủ của tất cả các đối lập vốn có của văn học như là một cơ chế thống nhất
là một vấn đề của tương lai.
Nhưng nhiệm vụ này là khả
thi và, hơn nữa, cực kỳ quan trọng bức thiết: nếu không, thì không thể có so
sánh loại hình của văn học và không xây dựng được lịch sử văn học toàn thế giới.
Tuy nhiên, nhiệm vụ này không phải là một mục tiêu của công trình này, nguyện vọng
của nó khiêm tốn hơn nhiều. Chúng tôi đã cố gắng để chứng minh rằng văn học như
một toàn thể năng động, nó không thể được mô tả trong giới hạn của một trật tự
duy nhất.
Văn học tồn tại như một
đa bội nhất định của nhiều trật tự, từ đó mối nền văn học chỉ tổ chức một phạm
vi nhất định của mình. nhưng đồng thời tìm cách mở rộng phạm vi ảnh hưởng của
nó càng nhiều càng tốt. Trong “cuộc sống” của mỗi giai đoạn lịch sử văn học cuộc
đấu tranh của các xu hướng này là cơ sở để làm cho văn học có khả năng biểu hiện
các lợi ích của các lực lượng xã hội khác nhau, đấu tranh của các quan niệm
đạo đức, chính trị, triết học của thời đại.
Khi bước vào một thời điểm
lịch sử mới, tính tích cực mô hình hoa của văn học được thê hiện, nói riêng về
khi nó tích cực sáng tạo ra quá khứ của mình, lựa chọn từ trong vô vàn cái tổ
chức của ngày hôm qua một mô hình và quy phạm hóa nó (chẳng hạn, thời Phục hưng
đã chọn thời cổ đại đã giản lược hóa). Quá trình này được giảm nhẹ bởi một thực
tế là mỗi khuynh hướng mâu thuẩn nhau về ý định gây tranh cãi tự khẳng định
tính phổ quát của nó. Trong quá trình quy phạm hóa lịch sử và khoa học như thế,
bản thân các các văn bản được biến đổi, bởi vì trong văn học ngày hôm qua chúng
đã tồn tại như một phần của quần thể, một yếu tố của cơ chế, và giờ đây trở
thành đại diện duy nhất của thời đại.
Tuy nhiên, khi một giai
đoạn lịch sử mới của nền văn hóa đến, và các nhà khoa học của thế hệ tiếp theo
phát hiện ra một khuôn mặt mới, hình như là của các văn bản đã được nghiên cứu
từ lâu, họ kinh ngạc trước sự mù quáng của những người đi trước của mình và chẳng
suy nghĩ về những điều các nhà phê bình văn học tương lai sẽ nói về chính họ.
Trong khi đó, cái khả năng đáng kinh ngạc này của của các văn bản nghệ thuật
cung cấp tài liệu cho tất cả các khám phá mới cần phải được chú ý, bởi vì nó thể
hiện một số đặc tính bản chất của tổ chức văn học như là một cơ chế đồng đại.
Chú thích:
[1] Khái
niệm về văn bản được tiếp nhận ở đây phù hợp với các định nghĩa đưa ra ở trên
(xem bài báo Lời nói trong viễn cảnh văn hóa lịch sử). Văn bản có
thể được thể hiện bằng các ký hiệu bằng lời nói (văn hóa dân gian), được định
hình bằng các phương tiện của chữ viết, được diễn (thể hiện trong hệ thống các
kí hiệu sân khấu).
[2] Chức
năng văn hóa của văn bản, có tính lưỡng tính trong mối quan hệ với cặp đối lập
Trên/ Dưới” và cơ chế của chức năng trao đổi giữa “đầu” và “đít” mà M.
M. Bakhtin xem xét trong chuyên khảo “Sáng tác Francois Rabelais và Văn
hóa dân gian của thời Trung cổ và Phục hưng” (M., 1965).
[3] Chúng
tôi không xem xét vấn đề “Văn học và văn học dân gian” là một vấn đề riêng biệt
và phức tạp, để dừng lại ở việc xem xét các chức năng bên trong của văn học viết.
[4] Cơ
chế trung hòa, tất nhiên, tác động cả ở đây, ví dụ như trong trường hợp nghệ
thuật cao cấp có ý thức định hướng vào “đại chúng” – ví dụ như niềm đam mê đối
với thủ pháp thô sơ, các hình thức cổ xưa của văn học hay thơ ca của trẻ em.
[5] Veselovski
A. N. Thi pháp học lịch sử. L. 1940. C. 43.
[6] Veselovski
A. N. Tác phẩm đã dẫn,. C. 44.
[7] Pushkin
A.S. Toàn tập. Bộ 16 tập, M.,1937. T. 1. C. 99.
[8] Xem
Lotman. Ju. M.., B. A. Uspenski.- Về cơ chế ký hiệu học của văn
hóa// Tác phẩm về các hệ thống ký hiệu. Tartu, 1971. T. 5. (Tạp chí
khoa học của Đại học tổng hợp Tartu, số 284).
6/6/2020
Iu. M.Lotman
Trần Đình Sử dịch
Nguồn: Ю.М. Лотман.- Избранные статьи. Т. 1. - Таллинн, 1992. - С. 203-216
Theo
https://vanhocsaigon.com/