Vũ Bằng - Một cái tôi
phức
cảm trong ký
Khi nhắc đến
nhà văn Vũ Bằng, người ta hình dung đến một nhà văn đã dành tâm huyết
cả đời thầm lặng sáng tác văn học nhưng cuộc đời lại chịu nhiều uẩn khúc, éo
le. Các tác phẩm của ông dễ đi vào lòng người và tạo được những
ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Với nhiều trăn trở, say
mê, tìm tòi và sáng tạo, coi sáng tác văn chương là cách để nối dài, mở rộng tầm
kých đa chiều của cuộc sống ngắn ngủi và khép kín; Vũ Bằng đã tiếp cận, khai
thác hiện thực muôn màu của đời sống bằng nhiều cách tân nghệ thuật khá ấn tượng
khiến tác phẩm luôn cuốn hút người đọc, thật sự tạo ra những dấu ấn quan trọng
và ý nghĩa đối với văn học Việt Nam.
Đến với địa hạt ký của Vũ
Bằng là đến với không gian buồn xa vắng với nỗi nhớ quê hương trong trẻo mà thấm
thía của người xa xứ. Trong các tác phẩm của Vũ Bằng, dấu ấn Hà Nội, Bắc Việt được
in đậm từ hệ thống nhân vật, không gian đến ngônngữ, giọng điệu giúp đạt hiệu
quả cao về nội dung và hiệu quả nghệ thuật. Cái tôi Vũ Bằng đã cho độc giả hình
dung về một vùng đất thơ mộng, bình dị mà đong đầy ký ức tuổi thơ. Trong sự
nghiệp văn học của Vũ Bằng, ký là mảng quan trọng và gặt hái được nhiều thành
công. Những tác phẩm ký đã thể hiện tình yêu của Vũ Bằng với miền đất quê hương
bằng những quan sát tỉ mỉ, tinh tế. Tất cả được dẫn dắt bởi nghệ thuật kể chuyện
hấp dẫn rất có duyên của nhà văn về thiên nhiên và con người. Việc nghiên cứu
những sáng tác ký nói riêng và toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vũ Bằng
nói chung góp phần giúp người đọc hiểu thêm về vị trí, vai trò và cái tôi Vũ Bằng
trong sáng tác và tiến trình văn học Việt Nam.
1. Cái tôi chân thật đầy
dũng cảm và tinh thần trách nhiệm trong hồi ký “Bốn mươi năm nói láo”
Trong tác phẩm hồi ký “Bốn
mươi năm nói láo”, Vũ Bằng đã tự bạch về cuộc sống làm nghề nhà báo suốt
mấy chục năm trời – cái nghề mang câu châm biếm của người đời “Nhà báo nói
láo ăn tiền”. Vũ Bằng cũng từng nhận định: “Người ta
nói làm báo là nói láo ăn tiền, mặc họ; nhưng người làm báo chân chính
không thế và không bao giờ quan niệm nghề nghiệp của mình như vậy. (…) báo
chí là một bộ môn văn hoá phản ánh sinh động nhất, đầy đủ nhất tính chất của
một chế độ, cho một chế độ xã hội”; “(…) báo chí luôn luôn có tính năng
tranh đấu và xây dựng” [2, tr.362].
Với quan điểm đúng đắn
đó, Vũ Bằng đã nhập cuộc một cách say mê và dành tất cả cuộc đời, tâm huyết cho
nghề báo: “Mẹ ơi, con đành chịu tội bất hiếu với mẹ. Nếu trở lại làm
người, con cứ lại xin làm báo”[2, tr.389]. Tuy là thuật lại một nghề nói
láo nhưng Vũ Bằng lại sử dụng cái tôi chân thật của mình để thuật lại chuyện
làm nghề báo của mình, của anh em bạn bè đồng nghiệp với mối quan hệ với các
nhà đầu tư tư sản.
Trong tập hồi ký này, Vũ
Bằng viết tất cả sự thật của cuộc đời mắt thấy tai nghe, ông không hề giấu cả
thời gian bản thân là kẻ nghiện ngập, chơi bời, rượu chè đến tan nát nhà cửa,
gây phiền lòng đến người vợ thân yêu. Vũ Bằng lại rút ruột gan ra kể lại kinh nghiệm
làm báo đủ thể loại của mình và kể rất cụ thể và sinh động về mỗi ngành chuyên
môn của báo chí, từ Báo tếu sang Báo đấu tranh, đến Báo xây dựng rồi “Báo hại”.
Cuộc đời bốn mươi năm làm báo của chính Vũ Bằng từ khi bén duyên với văn nghệ
vào những năm thập niên 30, 40 đến khi nhận những chức vụ cao cấp tại các toà
báo như vị trí chủ bút tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy, thư ký tòa soạn tờ Trung Bắc Chủ
Nhật và cộng tác với nhiều tờ báo ở Hà Nội, Sài Gòn, rồi quãng đời ông làm báo
lưu động ở khu Ba.
Ông cũng chân thật khi lột
trần những góc khuất tiêu cực trong nghề báo như chuyện “bôi trơn”, đút lót,
làm tiền, tham nhũng, bóc tách từng thế lực “chống lưng” cho cơ quan ngôn luận
phát ngôn, mục đích của từng bài báo chính trị,…Để chấp nhận cho cái tôi chân
thật của mình lên tiếng trong một tác phẩm công khai, Vũ Bằng phải dũng cảm và
trách nhiệm với nghề báo vô cùng. Vì nhiệt huyết, đam mê và trách nhiệm với nghề
con chữ này, mà ông dùng mọi bút lực để vạch trần những thiển cận, tiêu cực của
nghề, không phải để hả hê hay tự thấy bản thân ngạo nghễ, mà vì tương lai trong
sạch, đanh thép của báo chí nước nhà. Vũ Bằng tự nhận thức được mình đang nắm
trong tay “quyền lực thứ tư” của xã hội. Vì thế, ông ý thức được, dưới cương vị
là một nhà báo phải chịu trách nhiệm cho từng lời viết ra, hiểu được những hệ
luỵ và tiêu cực trong nghề để điều chỉnh.
Bằng cái tôi đầy dũng cảm
của mình, tác giả hiểu rằng báo chí phải đại diện cho người dân thấp cổ bé họng,
thay họ nói lên tiếng nói đấu tranh, đòi lại công bằng từ oan ức, bế tắc. Với hồi
ký “Bốn mươi năm nói láo”, Vũ Bằng đã truyền cho những nhà báo
tương lai tình yêu nghề báo và tinh thần trách nhiệm với ngòi bút của mình,
truyền cho độc giả bốn phương tình cảm quý trọng nghề báo và coi nhà báo là người
“cùng phe” – giúp họ giải toả oan khiên trong đời. Trong từng trang hồi ký, Vũ
Bằng đã viết rất chân thật bằng tấm lòng đam mê con chữ, trách nhiệm với nghề
và thẳng thắn bày tỏ những điều mình nghĩ, góp phần làm nên giá trị cho cuốn hồi
ký mang hơi thở riêng Vũ Bằng.
2. Cái tôi đong đầy hoài
niệm và nỗi nhớ trong bút ký “Thương nhớ mười hai”
Với bút ký “Thương
nhớ mười hai”, tác giả Vũ Bằng gieo những con chữ đầu tiên khởi nguồn cho
tác phẩm vào những ngày đầu tháng Giêng năm 1960. Trải qua gần mười hai năm dồn
nén, ấp ủ nâng niu, năm 1971, Vũ Bằng hoàn thành “đứa con tinh thần” mà như nhà
văn Triệu Xuân đã từng ca ngợi “là một trong những áng văn bất hủ viết
về đất nước quê hương”.
Tác phẩm “Thương
nhớ mười hai” gồm phần Tự ngôn và mười ba chương sách, trong đó, mười
hai chương viết về những hoài niệm, nỗi nhớ sản vật, thiên nhiên, lễ tết, phong
tục tập quán,…của từng tháng trong năm ở quê hương Bắc Việt, riêng chương cuối,
tác giả Vũ Bằng viết về phong tục ngày Tết quen thuộc của quê hương.
Đi từ nỗi nhớ được dàn trải
đậm đà và sự xót xa hoài niệm vùng đất Bắc Việt, tác giả Vũ Bằng giới thiệu về
Hà Nội – tình yêu đối với Hà Nội bằng sự cảm nhận tinh tế trong mười hai tháng
với mười hai cuộc đổi thay của tiết trời, mười hai sự rung động uyển chuyển của
năm tháng, của chim muông, của sắc đẹp, của hoa lá, của thương yêu, tình tứ. Đối
với Vũ Bằng “mỗi tháng lại có những cái đẹp não nùng riêng, những nỗi nhớ
riêng” và tác giả ghi lại không nhằm mục đích gì cao rộng, chẳng qua
chỉ là đánh dấu những ấn tượng hiện ra trong trí óc. Đối tượng được nhà văn gợi
nhớ nhiều nhất trong “Thương nhớ mười hai” là thiên nhiên, cảnh vật Bắc Việt. Hầu
như chương nào của tác phẩm, Vũ Bằng cũng đều đi từ sự chuyển sắc của thiên
nhiên, dựa vào mùi vị đất trời mà khởi phát cho nét vẽ Bắc Việt được rõ nét. Nhờ
vào ngòi bút tài hoa của Vũ Bằng mà khi đọc tác phẩm “Thương nhớ mười hai”, những
người Bắc Việt xa quê cũng nhớ lại rõ mồn một chi tiết từng khoảnh khắc giao
mùa ở quê hương, như đã khắc chạm vào trong huyết mạch, chỉ cần lay động nhẹ bằng
hình tượng và đánh thức dậy bởi văn phong đẹp như tranh của tác giả mà hoài niệm
ùa về như thác lũ. Nó cũng khiến những người con mảnh đất khác, chỉ một lần đọc
qua cũng rùng mình bởi cái rét nàng Bân hay cảm nhận được những cơn mưa rào thơ
mộng.
Nỗi nhớ, hoài niệm trong
hồi ức của tác giả không chỉ dành cho thiên nhiên, cảnh sắc Hà Nội mà còn dành
cho người vợ đầu ấp tay gối. Ngay từ lời đề từ cho tác phẩm “Thương nhớ mười
hai”, tác giả đã thể hiện cái tôi ấp ủ nỗi nhớ thương dành cho quê hương và người
vợ thân thuộc: “Bắt đầu viết cuốn sách này là nhớ. Viết đến câu cuối
bài tháng Chín thì là thương. Thương không biết bao nhiêu, nhớ không biết ngần nào
người bạn chiếu chăn: NGUYỄN THỊ QUỲ.” [3;tr.5].
Tác phẩm ký này Vũ Bằng
viết tặng cho người vợ tảo tần hôm sớm, lo toan, hi sinh cả đời vì tác giả, chịu
bao lời khinh khi của miệng đời trong thời gian Vũ Bằng tham gia hoạt động mật.
Bà là người phụ nữ đại diện cho con người xứ Bắc kiên cường, nhẫn nại và mang
nét đẹp chịu thương, chịu khó của người phụ nữ Việt Nam bao đời. Bà Quỳ là người
vợ mà Vũ Bằng tri ân, thương nhớ suốt đời, trở thành nguồn cảm hứng dạt dào
trong nhiều sáng tác của ông. Đối với Vũ Bằng, bà Quỳ không chỉ là người vợ mà
còn là người mà ông biết ơn cả đời, người đã vực ông dậy trong những ngày mê đắm
thuốc phiện, nhẫn nhịn chịu bao lời oán trách của xã hội vì ông mang tiếng là kẻ
“dinh tê, di cư, phản bội”, bà vẫn luôn chờ đợi ông trở về cố hương để gia đình
sum họp, êm ấm.
Vì vậy, trong tác phẩm
“Thương nhớ mười hai”, hầu như chương nào, tác giả cũng dành không gian riêng để
tái hiện hoài niệm, hồi ức gắn liền với người vợ tận tụy của mình bằng những lời
tâm tình tràn đầy yêu thương như đang thủ thỉ. Cái tôi hồi tưởng, nhung nhớ,
hoài niệm của Vũ Bằng thể hiện đầu tiên qua việc miêu tả người vợ bằng những
nét tả vô cùng chi tiết, sống động: Bà Quỳ là một người phụ nữ đẹp với “bóng
lưng thon nhỏ”, “đôi má đỏ hây hây mùi cốm giót”, “thơm ngát mùi hoa cau”, mang
vẻ tươi sắc của xứ Bắc kiêu kì mà giản dị. Thông qua cách miêu tả của Vũ Bằng,
người vợ ấy hiện ra lung linh, huyền ảo như được thiên nhiên tô màu “trong mắt
vợ cũng như có trăng, có trăng ở cả toàn thân, mặc quần áo mà như là khỏa
thân, chạm mạnh vào thì vỡ”, “đôi má vợ phơn phớt hồng như hoa đào, tấm áo
nhung đen rưng rức làm nổi bật sắc da ở cổ tròn trịa hẳn lên, cặp môi có vẻ
thắm thêm một chút,…, làn da ấm áp thơm thơm mùi hoa chanh” [3;tr.45].
Những hành động, lời nói
chăm sóc thường nhật của người vợ cũng đều được Vũ Bằng tái hiện lại sinh động
như một thước phim đen trắng cũ kĩ nhưng đủ khiến xung động thần kinh của người
đọc rung lên vì cảm động, hòa chung cùng nỗi thương nhớ thiêng liêng của tác giả:
“Và càng thương hơn nữa là khi thấy người đàn bà chậm rãi vuốt ve từng
cái tà áo, lồng nhỏ nhẹ từng cái khuyết vào cái khuy rồi xếp vuông vức áo
nọ lên quần kia, như thể động mạnh thì quần áo sẽ không còn vẹn tuyết trinh,
vì nhàu nếp lụa” [3;tr.44].
Vũ Bằng phải thương người
vợ tần tảo, chăm chút cẩn thận cho chồng con đến tột cùng nên trong trang hồi ký
của ông, nỗi hoài niệm, mong nhớ vẫn luôn tràn đầy. Trong ký ức hoài niệm đó,
ông yêu mến, trân trọng bà Quỳ còn vì sự tinh tế, ý nhị, hiểu chồng của bà Quỳ
“người vợ biết ý chồng, mua cá anh vũ nấu cháo ám thì người chồng thấy
hợp giọng hơn nhiều lắm” [3;tr.45]. Có lẽ nhờ tài tháo vát, đảm đang của vợ
mà những món ăn vợ làm, người chồng đều nhớ như in, cả mấy năm sau, hương vị vẫn
còn như tê tê nơi đầu lưỡi. Từ đó, mà không tiếc chi những lời khen ngợi yêu
thương không hề che giấu, ngượng nghịu “Nhớ quá chừng là nhớ, thương
không biết ngần nào là thương. Thương nhất là người vợ bé nhỏ yêu chồng, mùa nào
thức ấy, không bao giờ đợi cho chồng phải nói lên sự ước mơ” [3;tr.52], hay
nhớ thương hoài niệm đến nỗi không cản được phải giãi bày chân thật “Em ơi,
em ơi, nhắc lại như thế thì nhớ quá. Nhớ cũng đúng vào cữ tháng Ba như thế
này, và một năm đã xa xôi, chúng ta cùng nhịn đói đi xem tung còn mà bụng
thấy no, phải không Quỳ?” [3;tr.53].
Nỗi nhớ ùa về từ những kỉ
niệm hai vợ chồng cùng đi trẩy hội chùa, xem hội tung còn hay về Vụ Bản thuê
căn nhà rơm nghỉ mát… Câu hỏi tu từ “Quỳ ơi, bây giờ em ở đâu?” như
đang xé tâm hồn con người nhung nhớ và cái tôi hoài niệm của tác giả thành từng
mảnh lụa nhỏ, rơi rớt khắp các ngày tháng kỉ niệm, mỗi mùa, từng tháng lại một
kỉ niệm vợ chồng đầm ấm, ái ân khác nhau, nhưng lại đau xót xiết bao.
3. Cái tôi nồng nàn tình
yêu quê hương trong bút ký “Miếng ngon Hà Nội” và “Miếng lạ miền Nam”
Hai tập bút ký “Miếng
ngon Hà Nội” và “Miếng lạ miền Nam” của Vũ Bằng được
xem là hai cuốn cẩm nang ẩm thực hai miền Nam, Bắc sống động và đồng thời thể
hiện tính trào lộng, hóm hỉnh quen thuộc trong cách viết của Vũ Bằng. Trong bút
ký “Miếng ngon Hà Nội”, Vũ Bằng kể về 15 món ngon nổi tiếng
trong kho tàng ẩm thực độc đáo của xứ Bắc Việt. Đó là phở, là rươi là các thứ
bánh và không thể thiếu được món “mộc tồn”. Mỗi món ăn đều được tác giả đặc tả
chi tiết, sinh động từ việc liệt kê nguyên liệu, cách bài trí, cách ăn, cách
thưởng thức của người dân ở vùng đất này.
Tính trào lộng được thể
hiện ngay trong chính từng cách ăn có phần “khó tính” của người miền Bắc: “Nếu
ta đã từng thấy có những người giàu có, nghiện thuốc phiện, chui vào những
cầu gác bẩn thỉu, hôi hám để ăn thuốc mới thấy “đã thèm”. Thì ta lại cũng
thấy biết bao nhiêu người sang trọng lần mò tới chỗ rất tồi tàn để ăn cho được một
hai bát phở. Đó là do người ăn phở sành, hầu hết, chỉ chủ tâm đến cái điểm
chính là phở mà thôi, chứ không quan tâm đến ngoại cảnh làm gì. Điều cần
thiết là bánh phải mỏng và dẻo, thịt mềm, và nhất là nước dùng phải ngọt,
ngọt kiểu chân thật, nghĩa là ngọt vì nhiều xương, tẩy vừa vặn không nồng,
mà lại tra vừa mắm muối, không mặn quá mà không nhạt quá..” [4;tr.33].
Vũ Bằng lấy những hình tượng
đối nghịch nhau giữa người giàu/kẻ nghiện thuốc cùng vào nơi “cầu gác bẩn
thỉu, hôi hám” để ăn “phở” tạo nên sự so sánh thú vị. Nhiều người Hà Nội
“nghiện” món phở cũng như kẻ nghiện thuốc. Tác giả hóm hỉnh đề cập đến cách
sành ăn của người Bắc Việt, đề cao sự cầu kỳ, tỉ mỉ, tròn vị đến từ công cuộc
thu hoạch, lựa chọn nguyên liệu, gia vị phải nêm đúng liều lượng đủ dùng, vừa
ăn, lại phải gia giảm phụ gia sao cho mọi vị chua cay mặn ngọt đều phải hài
hoà. Chính cách ăn cầu kỳ, đề cao cách làm truyền thống của người miền Bắc đã tạo
nên sự trào lộng trong ngòi bút của Vũ Bằng. Tác giả nhận định “người xứ Bắc
sành ăn và kén ăn ghê gớm, họ dễ nổi giận nếu như món ăn không hợp miệng” [4;tr.34].
Bởi vậy mà xoay quanh miếng ăn thôi cũng đủ thứ chuyện dở khóc dở cười, như
chuyện “hàng phở đợi” nức danh Hà thành: “Anh ta cứ thản nhiên, thái thịt,
dốc nước mắm, rưới nước dùng – ai đợi lâu, mặc; ai phát bẳn lên; mặc; mà ai
chửi, anh ta cũng mặc. Đi ôtô đến ăn cũng thế, mặc áo vải đến ăn cũng thế;
các bà các cô đẹp đáo để, đến ăn cũng thế. Anh ta không đặc biệt riêng với
ai – kể cũng dân chủ đấy! – nhưng có nhiều bà tức vì anh ta không nịnh đầm.
Ghét quá. Thế thì thuê một cái nhà rộng, mượn thêm người làm có phải lợi
không? Hay là điều đình với xưởng củi người ta để cho một gian, bày mấy
cái bàn, cái ghế, có người trông nom, tính tiền cẩn thận có phải không mất
mát không? Mặc cho ông cứ nói, anh phở Tráng không trả lời – nhất là không
bao giờ cười. Trông mà lộn ruột, muốn tát cho một cái. Chết một nỗi ghét
người thì thế, nhưng đến cái phở của anh ta muốn ghét, không tài nào ghét
được.Có ai chen chúc vất vả, hò hét đứt hơi được một bát phở của anh, mà lại chưa
ăn ngay, còn dừng lại một phút để ngắm nghía, phân tách bát phở đó ra thế
nào không?”[4;tr.53].
Bút ký “Miếng
ngon Hà Nội” thông qua cái tôi hóm hỉnh của Vũ Bằng là món ăn dù
bán trong góc tối, xó xỉnh nhưng không phải ai cũng ăn được. Những kẻ sành ăn
muốn món ăn tròn vị thì dù tức tối vì chờ đợi, vì không được coi là thượng
khách vẫn phải chấp nhận. Mười lăm thức ăn, đặc sản, thức quà của Bắc Việt được
tác giả gợi lên thông qua đầy đủ các giác quan để cảm nhận trọn vẹn hương sắc,
mùi vị của chúng. Là món bánh cuốn phải có nước mắm ngon “Ăn vào đến đâu, ấm ngay
lòng đến đấy. Thú hơn một bực là mình được ngồi ngay đầu quán mà ăn, được chiếc
nào, ăn chiếc đó, thiếu nước chấm thì gọi lấy thêm ngay. Ở nhà, mỗi lúc đâu
đã có cái thú tự nhiên như vậy? Mình lại thấy bắt thương cho những ông khệnh
khạng, ăn một miếng giữ gìn một miếng, chỉ sợ ngồi ở “đầu đường xó chợ”
thì “nhĩ mục quan chiêm”; món bánh Xuân Cầu “ngấy ơi là ngấy”
nhưng cứ mùng một Tết ăn vào lại ngon đáo để “Cầm lấy một miếng bánh mà thưởng
thức! Lấy lưỡi đẩy một miếng lên khẩu cái, bạn sẽ thấy bánh reo lên nhè nhẹ,
tan ra nhè nhẹ; dư vị của mật quyện lấy đầu lưỡi ta; cái béo, cái ngậy
cùng với cái ngọt, cái bùi vuốt be hầu đầu ta và đem lại cho ta cảm giác
đương nghe thấy trong lòng dạo lên một bản nhạc có tiếng đồng chen tiếng sắt.” [4;tr.24].
Đối với các món ăn đặc sản
quê hương, nhà văn chú tâm miêu tả chi tiết hơn, như muốn tất cả tình yêu quê
hương được ướp đậm vào những món ăn tinh tế. Văn chương của Vũ Bằng khi đặc tả
những món ăn trở nên trôi chảy lạ thường, khiến độc giả cảm tưởng như đang được
thưởng thức món ăn được bày ra trên trang giấy, nhận thấy vị tan trên đầu lưỡi,
hương thơm dậy nơi sống mũi. Chính những món ăn đã đi vào tâm hồn, vương vấn bước
chân của người con xa quê luôn muốn chạy ào về với quê mẹ đã khiến Vũ Bằng càng
thương nhớ lại càng yêu thương. Từ đó, ta mới nhận thấy, thật sự, Vũ Bằng đã
mang tâm hồn Bắc Việt vào đất Sài thành và bên trong con người với tình yêu
thương đáng quý kia vẫn ngào ngạt màu sắc, hương vị Hà Nội, không phai tàn hay
nhạt màu theo năm tháng.
Trải qua mấy mươi năm sống
nơi Sài Gòn phồn hoa, tác giả vẫn không nguôi thương nhớ Hà Nội. Vì lẽ đó, mà
những dấu ấn hoài niệm của tác giả vẫn in đậm trong tâm trí về con người và thức
quà đặc trưng của vùng Bắc Việt thân thương. Thế nhưng, “nhập gia tuỳ tục”, tác
giả vẫn trân trọng và yêu mến mảnh đất miền Nam hồn hậu, ân tình. Tác giả cũng
yêu Sài Gòn và miền Nam mến thương như yêu Bắc Việt. Bởi mấy mươi năm xa đất
kinh kì, tác giả mang theo nỗi thương nhớ dành cho cố hương vào lập nghiệp tại
miền Nam, dù trong lòng vẫn đau đáu vì nỗi xa cách quê hương, gia đình, vợ con,
nhưng thời gian cũng xoa dịu phần nào và chính mảnh đất miền Nam khoan dung đã
che chở, bao bọc và khiến Vũ Bằng học cách hòa mình vào cuộc sống bận rộn ở Sài
thành.
Cái tôi hóm hỉnh của tác
giả thể hiện trong bút ký “Miếng lạ miền Nam” ở chỗ món nào tác giả cũng “khen”
từ nguyên liệu dân dã độc lạ rùa, chuột đồng, rắn, ốc,…mà miền Nam mới có, gia
vị nêm nếm lạ kì đến “khen” người nấu là người vợ, người mẹ, người cô, người em
cũng như “hóa thành” thức ăn hảo hạng. Tác giả “giễu” người đô thành không biết
ăn thịt chuột: “Ở Bắc Kỳ, tại các miền quê, có khối người ăn thịt chuột,
nhưng anh chỉ nghe thôi mà thực mắt thì chưa thấy ai ăn bao giờ. Anh ta
quan niệm rằng những người ăn uống như thế là ăn uống lem nhem, bần cùng bất
đắc dĩ mới phải ăn thịt chuột; phải chi có tiền để ăn thịt lợn, thịt gà,
thịt bò, thịt vịt thì chắc chắn không có ai nghĩ tới chuyện ăn thịt chuột bao
giờ.” [5;tr.21], để rồi tác giả lật ngược lại ý nghĩ về thịt chuột vừa sợ,
vừa ghê đó bằng việc ca ngợi thịt chuột còn được ưa chuộng và ca tụng hơn cả thịt
gà, thịt vịt, thịt rừng, thịt chó.
Cái tôi hóm hỉnh của tác
giả không chỉ đề cao thịt chuột mà còn đề cao “người chế biến” món ăn này: “Cô
Năm đi chợ, anh thấy chính cô cũng ca ngợi thịt chuột và mua về mấy chục
ăn chơi. Người cô đẹp, giọng cô hữu tình, mắt cô lại lẳng: thế là chết
anh đàn ông, tự nhiên nhìn thấy cái gì của cô cũng đẹp, lời nói nào của cô
cũng hữu lý có duyên và anh ta muốn ăn thử xem thịt chuột ra thế nào mà
người đẹp ca ngợi hết lời như vậy. Cái máu mê của anh đàn ông đa tình đánh
cho chết cũng không bao giờ thay đổi. Nhưng vốn đã biết tính đa nghi của vợ,
anh vẫn làm bộ giẫy lên đây đẩy để cho chính vợ phải khuyên nhủ đừng làm
buồn cô Năm, anh ta mới không chê ỏng chê eo. Ừ thì ăn, đã làm sao chưa?
Anh ta nghé bên này, ngó bên kia, làm ra cái bộ ngạc nhiên hết sức, nhưng
rút lại cũng cứ bám cô Năm đi hết các dẫy hàng ở chợ để xem cô lựa chuột”
[5;tr.35]. Nhìn món ăn miền Nam không chỉ thấy ngon phần hình thức mà còn bổ âm
dương, cường tráng sinh lực và quý tình người nấu. Tác giả “khen” món đuông
cũng vậy: “miếng đầu kinh kinh, nhưng liều nhai thử xem sao; đến miếng thứ
hai – ờ này, nó ngầy ngậy, beo béo nghe hay đáo để. Miếng thứ ba vừa nhai
vừa nghĩ, thì thấy nó đặc biệt không thể ví được với bất cứ một thứ gì
mình đã được ăn từ trước tới nay… Thế rồi thì đến miếng thứ năm, thứ sáu –
phải nói thực là mình đã bị đuông cám dỗ. Rồi từ đó mình thành ra mê đuông
– có khổ không?!” [5;tr.47].
Từ đó, nhà văn dùng cái
tôi hóm hỉnh của mình để “khen” món lạ miền Nam mà ông từng được thưởng thức.
Thông qua tác phẩm “Miếng lạ miền Nam”, ta nhận thấy ở cái tôi Vũ Bằng nồng nàn
tình yêu quê hương đất nước. Ẩn chìm trong câu chữ đậm đà tình người và hóm hỉnh,
tươi vui trong tâm tưởng, nhà văn đã tái hiện sống động, đầy màu sắc, âm thanh
và hương vị những thức quà miền Nam hấp dẫn, đậm đà ân tình bằng lời văn mộc mạc,
phong cách bình dân có khi bỗ bã của mình. Từng món ăn nơi quê hương thứ hai miền
Nam nồng hậu mang những
nét đặc trưng riêng khiến cho cả những người con ở miền đất khác cũng như được
trực tiếp nếm những món ăn dân dã, đầy hoài niệm và yêu thương theo cách đặc tả
khéo léo của Vũ Bằng. Ký là một trong những thể loại văn học thành công bậc nhất
của địa hạt văn chương Vũ Bằng, thể hiện lượng kiến thức, vốn sống đồ sộ, sự trải
đời dạn dày kinh nghiệm của nhà văn. Trong các sáng tác ký của Vũ Bằng, tinh
túy nhất, chắt lọc nhất là tình yêu quê hương đất nước, con người Việt Nam được
thể hiện bằng tất cả lòng thành kýnh, trân quý thông qua cái tôi đầy cá tính của
tác giả.
Vũ Bằng đã dùng cái tôi
chân thành, dũng cảm, đầy trách nhiệm trong “Bốn mươi năm nói láo” để phác họa
lại diện mạo của nền báo chí Việt Nam, cũng như vạch trần những góc khuất tiêu
cực của nghề báo nói riêng. Cái tôi hoài niệm, thương nhớ lại trải dài trong
“Thương nhớ mười hai” với tâm tình về Bắc Việt và người vợ yêu dấu – được giãi
bày trong sự tha thiết đến chới với, muốn nói thật nhanh, muốn nói ra bằng được
những cảm xúc yêu thương, mong nhớ bấy lâu dồn ép. Và trong hai bút ký “Miếng
ngon Hà Nội” và “Miếng lạ miền Nam”, tác giả lại phần nào thể hiện cái tôi hóm
hỉnh, hài hước của mình trong việc thể hiện “nết ăn, nết ở” của con người hai
miền Nam Bắc. Chính những nét riêng ấy đã góp phần làm nên chất văn độc đáo của
Vũ Bằng. Cái tôi của tác giả dù ở màu sắc nào cũng đều đậm đà bản sắc dân tộc.
Vũ Bằng – thực sự là con người của tình yêu và lẽ sống, là người con Việt Nam
không bao giờ nguôi niềm khắc khoải cống hiến cho nền văn học dân tộc.
Tài liệu tham khảo:
[1]. Vũ Tuấn Anh, Bích
Thu (chủ biên) (2006), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam,
Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.
[2]. Vũ Bằng
(2001), Bốn mươi năm nói láo, NXB Văn hóa thông tin.
[3]. Vũ Bằng
(2021), Thương nhớ mừơi hai, NXB Văn hóa thông tin.
[4]. Vũ Bằng
(2021), Miếng ngon Hà Nội, https://www.dtv-ebook.com/doconline.
[5]. Vũ Bằng
(2017), Món lạ miền Nam,
https://sachtruyen.net/.
[6]. Vũ Xuân Triệu
(2009), “Nét đặc sắc trong hồi ký Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng“,
Tạp chí Non Nước, số 148, 7/2009, tr. 63 – 69.
1/3/2022
Lê Y Pha
Theo
https://vanhocsaigon.com/