Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

 

Các bút hiệu của Hàn Mạc Tử

Gọi Tên Người

Báo Tin Tức Chúa Nhựt, 3.11.1940 mở đầu bằng mấy hàng như sau: “Hai mươi chín tháng Chín Annam (20 October 1940). Thêm một ngày đáng ghi nhớ. Một người đã mất: cụ Sào Nam Phan Bội Châu” .

Báo Người Mới: số 4 (16.11.1940) kết thúc tin buồn “Hàn Mạc Tử đã qua đời” bằng một lời tương tự: “Chúng ta đã mất một người”

Đơn giản mà thấm thía. Một ý nghĩa nảy từ hai cuộc đời, hai sự nghiệp. Tưởng chừng “cách nhau ngàn vạn dặm”. Mà lại gặp nhau trong chí hướng trong thân phận hẩm hiu nhưng đã phát huy mọi khả năng tâm não. “Đã sống mãnh liệt và đầy đủ... Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn… Đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu”.

 

Mối thần giao giữa Phan Bội Châu và Hàn Mạc Tử

 

Trong cùng số báo Tin Tức nói trên lại có bài “Trút linh hồn” của Hàn Mạc Tử với câu còn ngân dài, ngân dài mãi “như hình nhớ thương”:

Ta còn trìu mến biết bao người…

Và trong Tin Tức trước đó một kỳ (27.10.1940), Phan Sào Nam đã cảm tạ không kém thiết tha những người điếu sống cụ:

Những ước anh em đầy bốn biển
Ai ngờ trăng gió nhốt ba gian.

Trùng hợp trước hơi thở cuối cùng. Như đã trùng hợp ở bước đầu trên “Mộng Du thi xã”. Trong thần giao cách cảm. Tờ Phụ nữ tân văn (số 97 ngày 28.8.1931, tr.5) không ngờ đã xe mối duyên văn nghệ cho một nhà chí sĩ với một nhà thi sĩ. Bài “Phan Bội Châu tiên sanh mở hàng dạy thi” in ở trang trước, kèm bài thơ mẫu mượn hình ảnh chùa Phật để nói lên niềm non nước:

Ba chén xong rồi ai ấy bạn
Một pho kinh Phật một cây đèn
.

Thì ở ngay trang sau đã có bài “Chùa hoang” của P.T (Qui Nhơn) tức Phong Trần (Hàn Mạc Tử sau này) vọng lại:

Tiếng chuông tế độ rày đâu tá
Để khách trầm luân luống đợi chờ 
!

Mối thần giao kia chính cụ Phan đã nhìn nhận trong “một bức thơ” viết cho “P.T tiên sanh”, sau khi nhận được ba bài của thi sĩ gởi qua Thực Nghiệp Dân Báo (11.10.1931):

“Kính thưa tác giả P.T tiên sinh,

Tác giả cho tôi đọc ba bài thơ, tôi lấy làm hân hạnh cho “Mộng Du Thi Xã” lắm; xem trong u oán cao tình, thanh tân nhã điệu, tôi chỉ phàn nàn rằng người xướng quá cao tất nhiên người họa phải ít, cho nên tôi chỉ tục điệu ba bài thơ mà thôi, còn như nói rằng tôi nối thơ được với tác giả thì tôi không dám. Ôi! Hồn giao nghìn dặm biết làm sao bắt tay nhau mà cười lớn một tiếng mới là thỏa hồn thơ đó”.

(theo Tin Tức Chúa Nhựt đăng lại trong mục tin Hàn Mạc Tử qua đời, ở số 9, 24.11.1940, tr.3)

Trong lúc chưa được biết văn bản đầu tiên về lời cụ Phan khen Hàn, đây là lời trích sớm nhất hiện tìm được, sớm hơn và có phần khác với lời trích của Quách Tấn trong bài “Hàn Mạc Tử với thơ đường luật”, trong Người Mới số 6 (30.11.1940, tr.4): “Từ về nước đến nay, tôi được xem thơ quốc âm cũng khá nhiều song chưa gặp được bài nào hay đến thế… Ôi hồng nam nhạn bắc, ước ao có ngày gặp gỡ, để bắt tay nhau, cười lên một tiếng lớn ấy là thỏa hồn thơ đó.”

 

Các Bút Hiệu

 

Một điều đáng chú ý trong toàn văn bài này là Quách Tấn viết “Hàn Mạc Tử” và tuy nói về các bút hiệu của Hàn nhưng chưa có giai thoại “vạch vành trăng non lên đầu chữ ‘a’ như trong Đôi nét về Hàn Mặc Tử, sau này.

Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh, Hàn Mặc Tử, Hàn Mạc Tử: chừng ấy vẫn chưa hết các bút hiệu của Phanxicô-Nguyễn Trọng Trí! Còn Lệ Thanh nữ sĩ, Lệ Giang, Sông Lệ và cả… “Mlle Mộng Cầm” nữa, như Hàn đã ký cuối bài “Vô tình” trong báo Sài Gòn (7.12.35) rồi được đưa vào tập Gái Quê của Hàn Mạc Tử! Ấy là chưa kể những “tên đẹp” khác hay “tên tếu” như Trật Sên, Cụt Hứng, Foong-Tchan v.v…

Gọi làm sao hết tên người? Và dù không biết gọi thi sĩ Hàn Mạc Tử, nhưng chỉ biết sống với người sống bên mình, như anh Nguyễn Văn Xê hồi ở Qui Hòa thì cũng đã sao?

Nhưng chứng tích của nhà thơ và nhà báo mệnh yểu danh thọ còn đó để giúp xác định lại những điểm mà trí nhớ trung thực của những người thân nghĩa nhất vẫn có thể vô hình không đúng với thực tế khách quan. Sự kiện tiêu biểu nhất là chính Hàn Mạc Tử, khi đăng lại hai bài Chùa hoang và Gái ở chùa cùng những bài họa của cụ Sào Nam và các bạn thơ trong phụ trương văn chương tờ Công Luận (9.3.1935 tr.5) cũng đã ghi chú lầm: “Hai bài này chúng tôi đã đăng ở Thực nghiệp dân báo năm 1930…”. Kỳ thực là năm 1931, số ra ngày 11 tháng 10. Đấy là mới chỉ cách non 4 năm. Huống hồ những hồi ký viết hàng chục năm sau. Nói thế không có nghĩa là phủ nhận giá trị của những tang chứng quý báu đã giúp gần gũi thực tế.

Vậy đối chiếu các tư liệu với những lời Quách Tấn viết theo trí nhớ về các bút hiệu của Nguyễn Trọng Trí , sẽ thấy những sự kiện sau đây:

1. Minh Duệ Thị: còn thấy xuất hiện năm 1935-1936, cuối những bài đường luật:

- Cảm tác (Thường thường trâu cột ghét trâu ăn), báo Sài Gòn, 12.10.35, tr.3

- Ban mai uống nước trà và Cây đàn nguyệt, báo Sài Gòn, 30.12.35 tr.3

- Xuân về (Ba vạn giang sơn khác hẳn rồi), báo Sài Gòn 3.2.36 tr.7

2. Phong Trần: ngoài thơ ra, còn ký 22 bài văn xuôi trong báoTân tiến (1936-1938) và 16 bài văn xuôi trong báo Tiến bộ (1938-1939) thuộc đủ loại: phóng sự, thời đàm, xã thuyết, bình luận văn chương, truyện dài nghệ thuật…

3. Lệ Thanh: vẫn ký song song với Hàn Mặc Tử trong các báo Công Luận (1934-1935), Tân thời (1935), Sài Gòn (1935-1936). Và còn ký ở Trong khuê phòng (1939) đồng thời với Hàn Mạc Tử.

4. Hàn Mặc Tử: xuất hiện từ ngày 29.3.1934 trên phụ trương phụ nữ của tờ Công Luận, dưới hai bài đường luật Gái chửa hoang và Vô đề. Và thường xuyên trên các báo vừa kể trừ Trong khuê phòng.

5. Hàn Mạc Tử: ký thường xuyên các bài đăng Trong khuê phòng (1939), Người Mới (1940), Tin Tức Chúa Nhựt (1940). Chính Quách Tấn, tác giả Hàn Mặc Tử với thơ đường luật trong số Người Mới đã kể ở trên, đã viết không dấu “ă” trên chữ “Mạc” trong toàn bài. Bài tựa cho Tinh Huyết của Bích Khê, do Trọng Miên xuất bản năm 1939, cũng ký Hàn Mạc Tử. Và các bạn của Hàn như Bùi Tuân, Trần Thanh Địch, Trần Tái Phùng, Hoàng Trọng Quỵ, Hoàng Trọng Miên, Bích Khê, Hoàng Diệp lúc đó trong các báo vừa kể, cũng như Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, và Hoài Chân sau này trong tác phẩm của mình, đều viết không có dấu “ă” trên chữ “Mạc”.


Những dữ kiện trên cho phép xác định lại đôi điểm có liên hệ đến niên biểu và việc sáng tác của Hàn:

1. Không có sự tuần tự bỏ bút hiệu cũ, khi lấy bút hiệu mới, như Quách Tấn viết: “Khi mới bước vào làng thơ, Tử lấy hiệu là Minh Duệ Thi. Sau đổi là Phong Trần. Lại đổi là Hàn Mạc Tử. Sau cùng mới lấy hiệu Hàn Mặc Tử” (Đôi nét về Hàn Mặc Tử: Văn số 73-74 (7.1.67) tr.48; Quê mẹ, Paris, 1988 tr.12). 
Điển hình là trên cùng một trang Sài Gòn văn chương (phụ trương văn chương của báo Sài Gòn) có bài của Minh Duệ Thị như đã dẫn trong mục 1, thì đồng thời cũng có những bài ký Lệ Thanh và Hàn Mặc Tử. Như vậy là ba bút hiệu một trật!

2. Không thấy có bài nào ký Hàn Mạc Tử trước Hàn Mặc Tử về thời gian, mà chỉ thấy ngược lại.

3. Không phải “mãi đến năm 1935 (hay 1936) vào chủ bút tờ phụ trương văn chương báo Sài Gòn thi sĩ mới lấy hiệu Hàn Mặc Tử,và cũng từ báo đó thi sĩ mới bước qua làng “thơ mới”, như Quách Tấn trong bài “Hàn Mạc Tử với thơ đường luật”, làm những người dựa vào đó như Hoài Thanh, Hoài Chân cho đến Từ điển văn học (KHXH, Hà Nội, 1983) cũng rập theo.Thực sự thì ngay từ 29.3.1934 và trên Công Luận đã có bút hiệu Hàn Mặc Tử (có dấu ‘ă’) như đã dẫn ở số 4 đoạn trên. Và cũng trên Công Luận đã có những vần thơ mới đầu tiên, mở đầu và kết thúc của bài văn “Giấc mộng đêm thu” ký “Lệ Thanh nữ sĩ”:

Ôi trăng thu
Ôi trăng thu
Bóng nhạn tím sương đã mịt mù
Mối sầu tư
Bồng con nhọt lụy năm canh nhỏ
Cơn mưa gió
Tê tái lòng em mấy điệu từ
Mảnh trăng thu.

(Công luận 22.3.1934, tr.3: Phụ trương phụ nữ)


Còn nếu kể bài thơ mới riêng biệt hẳn, thì cũng trên Công luận (6.4.1935, tr.5: Phụ trương văn chương) có bài Sống khổ và phấn đấu ký Hàn Mặc Tử, trước các bài thơ mới trên tờ Sài Gòn:

Sao tôi thấy cuộc đời máu me lênh láng,
Như bãi sa trường trong lúc hỗn loạn.
Sao tôi thấy dân chúng bị lầm than
Dưới bóng mặt trời đầy dẫy hào quang
…

4. Sở dĩ bút hiệu “Hàn Mặc Tử”: được biết nhiều hơn là nhờ các tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử đã phổ biến rộng hơn. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào các văn kiện cuối đời và liền sau cái chết của nhà thơ, từ khoảng 1939 đến 1941 thì “Hàn Mạc Tử” là tên hiệu sau cùng theo người vào cõi thiên thu.

Đối với bút hiệu cũng như đối với bản thân và cuộc đời – qua các sáng tác của Hàn, những phần đã xuất bản và những phần chưa thành tập, một số thơ và khoảng 90 bài văn xuôi, trên gần 20 tờ báo ở cả Trung Nam Bắc hình như nhà thơ không khai trừ đường lối gì, nhưng đón nhận muôn hình, muôn vẻ của cuộc sống và lòng người để khai phóng “hết những anh hoa huyền bí” và “quy tụ, thâu về một mối”.

Cái “mối” mà cụ Phan Sào Nam, chủ nhân “Mộng Du thi xã” đã gợi lại trong hai câu đối tặng khách hưởng ứng bốn phương, trong Thực Nghiệp Dân Báo, 23.8.1931:

“Duyên văn tự lai láng nước biếc non xanh,
Mối tinh thần có có không không trời cao bể rộng
”

12/4/2016

Phạm Đán Bình

Nguồn: Trích từ báo Tin Nhà, số 3, 1992, 

Theo https://www.diendan.org/

 

Thăm mộ Hàn Mạc Tử *

Trong khi chờ làm việc chính thức với lãnh đạo hội bạn, đoàn tranh thủ đi thăm mộ Hàn Mặc Tử vì đã đến Quy Nhơn thì không thể không viếng Hàn Mặc Tử được. Trước đó, đọc tin trên báo thấy nói mộ Hàn Mặc Tử mới được sửa sang lại, ai cũng mừng. Vừa qua có người đã làm ầm ĩ về chuyện khôi phục, đánh giá lại Hàn Mặc Tử nhưng thực ra ở miền Nam, mấy chục năm qua Hàn Mặc Tử không hề bị hiểu lầm,"hạ giá", mà Hàn vẫn là một trong những nhà thơ được yêu mến nhất, thơ Hàn nhiều lần được tái bản, trong sổ tay người yêu thơ nào cũng có thơ Hàn. Những dòng thơ viết bằng máu, bằng hồn, bằng não của nhà thơ đau thương bạc mệnh đã làm rung chuyển mọi tâm hồn đa cảm:

Ôi điên cuồng, ôi rồ dại, rồ dại
Ta cắm thuyền chính giữa mảnh hồn ta

 

Không ngờ chuyến đi thăm mộ Hàn lần này đã để lại nhiều dư vị cay đắng. Cùng đi với đoàn có Trần Hinh, làm thơ, viết nhạc, phó giám đốc Sở giao thông vận tải, nguyên đại biểu quốc hội, một người có tâm hồn văn nghệ và rất phóng khoáng.
 

Mộ Hàn chỉ cách trung tâm thị xã khoảng bốn cây số, nằm ven bờ biển. Đầu đường lên dốc đến mộ có tấm bảng lớn ghi: Ghềnh Ráng, danh lam thắng cảnh được nhà nước xếp hạng. Nghiêm cấm chặt cây, đào đá...

Con đường lổn nhổn đá sỏi, nước xói thành hào sâu ngay giữa đường, có một chiếc tải và mấy công nhân đang lấy đất bên lề đường, cạnh đó hai người đang san lấp đá mặt bằng, có vẻ như để làm nền dựng quán.

Trên đầu dốc là một cổng lớn có bảng đề "Doanh trại quân đội nhân dân", tấm bảng méo mó, gẫy gập nhiều khúc. Anh em đi vào bằng cách lách mình qua một cánh cổng lớn khép hờ làm bằng khung sắt và lưới B40. Bên trong, mấy căn nhà làm bằng tôn Mỹ, cả vách lẫn mái, có rào lưới sắt chống B40 và kẽm gai, cao chớn chở.

Qua cổng mới đi mấy bước, một sĩ quan mang quân hàm đại úy đi ra xua tay không cho vào, yêu cầu đi đường vòng phía ngoài vì đây là khu vực cấm. Trần Hinh nói từ trước vẫn đi lối này và có ông cụ ở Hà Nội mới vào muốn đi thăm mộ Hàn Mặc Tử nhưng viên sĩ quan vẫn kiên quyết từ chối. Vì bị xua đuổi rất gắt nên anh em không ai muốn nói gi thêm và đành ra cổng đi vòng ngõ khác. Ngõ mới này là một đường dốc gập ghềnh, hai bên rào kẽm gai công-xéc-ti-na của Mỹ ba bốn lớp dầy đặc. Bảo Cự nói đùa: "Ai muốn đến với nhà thơ chân chính phải đi qua con đường sạn đạo". Thế nhưng đi đến nửa dốc thì đường tắc, kẽm gai vây hãm tất cả. Thấy có một chỗ kẽm gai thưa anh em đang bàn đạp rào sang nhưng một ông già, đang đứng cuốc cỏ lúa bên kia rào lên tiếng ngăn cản. Trần Hinh nói: "Có ông cụ bạn của Hàn Mặc Tử ở xa vào thăm mộ". Ông già trả lời ngay: "Mộ bạn chứ mộ cha cũng phải đi đường kia, đạp hư lúa ai chịu? "

Anh em ai cũng điếng người không sao đối đáp được. Mặc dù mộ Hàn chỉ cách đó vài chục mét nhưng không cách nào vào được, anh em đã phải trở xuống và quyết định bằng mọi cách phải đi vào bằng cổng doanh trại vì nhà nước đã có bảng đề đây là danh lam thắng cảnh được xếp hạng. Bùi Minh Quốc rất tức giận, lấy thẻ nhà báo ra đi tìm chỉ huy đơn vị. Người chỉ huy lại chính là viên sĩ quan đã ngăn cản không cho đoàn đi lúc đầu. Sau này kể lại, Bùi Minh Quốc nói rằng đã tự giới thiệu mình là nhà thơ, giới thiệu anh em trong đoàn, nói về Hàn Mặc Tử nhưng thuyết phục mãi viên sĩ quan vẫn khăng khăng không nghe bảo vì lý do bảo vệ an ninh doanh trại. Quốc nói nếu vì lý do an ninh thì có thể cử chiến sĩ cùng đi để bảo vệ. Cuối cùng viên sĩ quan đồng ý cho một chiến sĩ dẫn đi nhưng phải đi vòng đường dưới. Trong khi Quốc vào làm việc thì anh em trong đoàn đã đi đến mộ Hàn, chỉ cách đó 20 mét và không có một chướng ngại nào cả. Chiến sĩ dẫn Quốc đi tắt cũng theo lối chúng tôi vừa đi vì anh biết đường dưới đã bị rào không đi được.

Chúng tôi đã đến với mộ Hàn như thế. Việc này xảy ra lúc 9 giờ ngày 17-11-1988.

Mộ Hàn Mặc Tử chưa hề được sửa sang như tin báo đăng. Tượng mẹ Maria đứng giơ hai tay trên đầu ngôi mộ xây xi-măng đơn giản, vài chỗ đã nứt nẻ.
 

Mộ bia ghi:

Đây an nghỉ trong tay mẹ Maria
Hàn Mặc Tử tức Phêrô Phanxicô Nguyễn Trọng Trí
Thứ nam cố Nguyễn Văn Toàn và Nguyễn Thị Dung
Sanh 22-9-1912 Lệ Mỹ (Quảng Bình)
Tử 11-11-1940 Qui Hòa (Bình Định)
Cải táng và lập mộ 13-2-1959 do
Chị Nguyễn Thị Như Ngãi, Nguyễn Thị Như Lễ
Em Nguyễn Bá Tín, Nguyễn Bá Hiếu
Bạn Quách Tấn
 

Hôm trước ở Nha Trang, chúng tôi gặp Quách Tấn có nghe ông nói chuyện về việc cải táng và lập mộ cho Hàn, chi phí phần lớn do tiền nhuận bút của Hàn được các nhà xuất bản trả cho người thừa kế. Có lẽ từ ấy đến nay mộ chưa được tu sửa lần nào.

Chúng tôi đang đứng nói chuyện bên mộ Hàn thì có một ông già cuốc đất gần đó đến chào, tự nhận được một ông chủ giao nhiệm vụ trông coi, làm cỏ chung quanh mộ Hàn và xin ít tiền uống rượu. Một bà già có vẻ khùng không hiểu ở đâu đến đứng nhìn khách và ré lên cười như điên dại.

Từ giã mộ Hàn chúng tôi cám ơn chiến sĩ rất trẻ của doanh trại đã đưa chúng tôi đến và hỏi anh đã đọc thơ Hàn chưa. Anh cười và thật thà trả lời chưa đọc.

Trên đường về, bình luận những việc mới xảy ra và những điều nghe thấy chung quanh mộ Hàn, ai cũng có ý nghĩ cay đắng. Riêng Hữu Loan hoan nghênh ông già trồng lúa vì ông đã biết bảo vệ thành quả lao động, chống lại bất cứ ai làm hại đến công sức của mình. Đó là một khía cạnh tích cực của người nông dân. Hôm sau chúng tôi thuật lại đầy đủ câu chuyện này trong buổi gặp gỡ ban biên tập và phóng viên báo Nghĩa Bình, không sợ người địa phương tự ái vì chúng tôi nghĩ sự thật cần phải được nói ra và nói với tất cả tấm lòng của mình. Các bạn ở báo Nghĩa Bình hứa sẽ lên tiếng và có bài viết về mộ Hàn Mặc Tử, một niềm tự hào của Quy Nhơn.

(Sau này khi đi qua Quảng Bình, nơi sinh của Hàn, chúng tôi nghe nói ở thị xã Đồng Hới có một con đường mang tên Hàn Mặc Tử. Điều ấy không an ủi được Hàn nhưng làm ấm lòng những người yêu mến Hàn và những người làm văn nghệ nói chung).

Bài này a2a trích trong "Hành trình cuối đông", Phần II, của Tiêu Dao Bảo Cự. Chữ "đoàn" trong bài là nhóm văn nghệ Langbian gồm Tiêu Dao Bảo Cự, Bùi Minh Quốc, và đặc biệt nhà thơ Hữu Loan, đã làm một cuộc hành trình dài 6000 cây số từ nam ra Bắc để đòi hỏi tự do cho ngòi bút  vào cuối năm 1988.

Những hình mộ Hàn Mạc Tử dưới đây, a2a góp nhặt trên internet:

Mộ Hàn xưa ở Làng Phong Qui Hòa

 

Mộ Hàn ở Ghềnh Ráng 1982

Tiêu Dao Bảo Cự

Theo https://www.art2all.net/


Nỗi niềm thôn Vỹ

Đón người bạn gái rất thân về thăm đất nước sau nhiều năm xa cách, tôi muốn bạn ở chơi với tôi lâu lâu cho thỏa lòng mong nhớ. Tôi đưa bạn đi thăm núi Ngũ Hành, chùa Non Nước, thánh địa Mỹ Sơn, chùa Cầu Hội An, bảo tàng Chăm-Pa, sông Hàn tươi đẹp…Khỏi cần hướng dẫn viên du lịch, tôi thao thao về văn hóa Chăm, kể cho bạn nghe sự tích vũ điệu Tiên Sa…Bạn tôi khen ngợi lắm:

- Nè, định dành nghề người khác hả, sao thuyết minh rành dữ vậy! Tôi cười thanh minh:

- Không phải đâu. Chồng mình chính gốc Quảng mà!

Danh lam thắng cảnh nơi tôi đang ở cùng gia đình riêng tuy không nổi đình đám bằng Huế nhưng cũng thu hút rất nhiều khách du lịch đến tham quan. Còn hai nơi chưa kịp đến: Suối Hoa và Bà Nà thì Hạnh nôn nao bảo:

 - Mình nhớ Huế quá, mai về thăm thôn Vỹ để ngắm nắng hàng cau cho thỏa… Tôi đành phải chìu ý cô nàng.

Tôi không dám nói với Hạnh: Thôn Vỹ ngày xưa thuở hai đứa và lũ bạn gái học Văn Khoa đèo nhau trên mấy chiếc xe đạp cà tàng về Vỹ Dạ ăn chè Cồn, bắp luộc, thả hồn theo câu thơ Hàn Mặc Tử, giờ chỉ còn trong… mơ! Sợ bạn tôi bỡ ngỡ nên tôi cũng có vài câu rào giậu, che chắn:

- Chừ, Huế vẫn giữ nét cổ kính nhưng cũng có phần hiện đại hơn một chút,  quang cảnh có nơi hơi đổi khác đôi nét.

Hình như bạn đang thả hồn về quá khứ nên không trả lời.

Xe qua Đập Đá rồi xuôi về Vỹ Dạ… Hạnh tâm sự :

- Xa quê, mình nhớ nhất là hàng cau trong nắng ban mai, đẹp dễ sợ! Những giọt sương lung linh đọng trên những tàu cau như muôn ngàn ngọn nến ai đó thắp lên trong bầu trời trong vắt ánh bình minh!...

Tôi cắt lời Hạnh:

- Vỹ Dạ đây rồi! Mình xuống xe rồi đi ăn chè bắp.

Nhưng Hạnh không chịu :

- Còn xa mới tới thôn Vỹ. Vỹ Dạ nhiều cau và cây xanh lắm mà. Nhà rất rộng thường có cổng và những khu vườn thì bát ngát…

Hạnh đưa mắt có ý tìm những hàng giậu xanh ngày trước, những hàng cau thẳng tắp bao quanh khu vườn và những ngôi nhà cổ kính có bức bình phong chữ điền ẩn sau cành trúc mảnh mai… Tôi nghe Hạnh lẩm bẩm giọng Huế “mô rồi hè?”… Hình như Hạnh đang cố tìm lại vẻ mộc mạc nhưng đài các của Vỹ Dạ xưa thì phải…

Trước mắt Hạnh bây giờ là con đường bê – tông thẳng tắp, nhà cửa san sát, quán xá dày đặc, người qua lại đông đúc, xe cộ nghìn nghịt xông bụi vào mặt… Hai bên đường là những ngôi nhà cao tầng rất mới che khuất những ngôi nhà cổ còn sót lại bên trong những con đường nhỏ. Thỉnh thoảng cũng có  vài khu vườn và những cây cau đẹp dáng lấp lánh ánh nắng ban mai nhưng hình như cau cảm thấy lạc lõng chơ vơ trước một rừng nhà hiện đại nên không còn nét thơ mộng của ngày trước! Tôi nghe được một tiếng thở dài ngao ngán…

Tôi cười an ủi Hạnh:

- Thôi mà, theo thời gian, vật đổi sao dời có chi mà lạ chứ. Ngày trước, ngôi nhà xưa xây theo mỹ quan phong kiến, bây chừ kiểu dáng tân thời cho văn minh mà. Bạn nên gọi chính tên Vỹ Dạ chứ đừng nói là thôn Vỹ mà sinh ra buồn bã, bâng khuâng vì ám ảnh một vùng thôn quê xanh mướt cây lá…

Tôi cũng định trêu Hạnh: “ Thì cũng như bạn - trước đây mặc áo dài trắng tinh đi guốc mộc, hàng ngày qua con đò Thừa Phủ đến trường Đồng Khánh. Trong sương mù dày đặc của xứ Huế mộng mơ ai đó “ nhìn không ra” mà! . Chừ thì bạn mặc váy đầm mang giày bốt, đeo kiếng mát màu đen kiểu dáng rất hợp thời trang.”

May mà tôi kịp thấy giọt nước mắt rơi trên má Hạnh nên nín thinh. Hạnh rên rỉ :

- Mình định chụp nhiều kiểu ảnh đẹp của thôn Vỹ để sang khoe với bạn bè bên Pháp.  Họ ngưỡng mộ thơ Hàn Mặc Tử lắm!

Tôi bật cười:

- Thì bạn cứ tha hồ chụp ảnh Vỹ Dạ, ai cấm chứ! Tôi lấy máy ảnh bảo Hạnh đứng tựa vào cây cau ở quán cà - phê Vỹ Dạ Xưa làm nền:

-  Nè, chuẩn bị, mình bấm máy!

Hạnh xua tay nói:

- Thôi mình hơi mệt!

 Tôi khẩn khoản:

- Thì chụp một kiểu cũng được mà, để làm kỉ niệm!

Tôi dắt bạn len lỏi vào một con đường nhỏ, tìm đến  một ngôi nhà còn giữ lại khu vườn trồng cau và cả hàng giậu có cây đang ra hoa tim tím rất đẹp để bạn tôi chiêm ngưỡng cho nguôi ngoai bớt nỗi niềm nhớ thôn Vỹ ngày trước. Hạnh nhìn lên một cây cau, ngắm rất lâu, cảm động mắt ngân ngấn nước… Tôi thầm cảm ơn chủ nhân khu vườn vẫn duy trì sự hiện diện của hàng cau quí hiếm để bạn tôi ngắm nghía và để cho tôi còn gọi được tên : Vỹ Dạ mến yêu ơi! Tôi nói nhỏ với Hạnh:

- Vẫn còn cau và vài  mảnh vườn xanh tốt… Ít còn hơn không có!

Hạnh trầm ngâm không nói chi hết.

Tối hôm đó Hạnh trằn trọc khó ngủ, sáng ra Hạnh đưa tôi đọc bài thơ:

 

                           NỖI NIỀM THÔN VỸ

                 Thôi đừng mơ hàng cau thôn Vỹ

                 Nắng ngủ quên cây cũng buồn lây

                 Vườn xanh  mướt  xa rồi một thuở

                 Nhớ nhung chi ai đó thầm thì !

 

                  Đường Vỹ  Dạ còn đâu trầm  mặc

                  Gió vẫn thổi, mây trôi xa lắc

                  Tìm nơi mô một chút hương xưa

                  Có chăng là ở trong đôi mắt!

 

                  Về quê hương chợt dạ ngẩn ngơ

                  Khách đường xa  khao khát vần thơ

                  Dòng sông trăng chìm trong dĩ vãng

                  Để  cho ai mãi mãi đợi chờ!

 

Tôi biết Hạnh muốn tìm lại Huế xưa với những kỉ niệm thời con gái khi hai đứa còn cắp sách đến giảng đường đại học Văn Khoa nghe Thầy bình thơ Hàn Mặc Tử. Nhưng làm sao bắt thời gian quay trở lại được… Mái tóc mượt mà của Hạnh và tôi cũng nhuộm màu sương muối, dòng đời thì mãi trôi…Tôi ngậm ngùi nhìn dòng Hương chảy lặng lờ phía trước mặt, lòng bâng khuâng nhớ đến câu thơ xưa “Thế gian biến cải vũng nên đồi…” mà nghe một nỗi buồn man mác len nhẹ vào hồn!

Chú thích:

* Những từ in nghiêng trong bài Nỗi Niềm Thôn Vỹ  là của nhà thơ Hàn Mặc Tử (Đây Thôn Vỹ Dạ)

Huế, 2/10/2009

Huyền Tôn Nữ Huệ Tâm

Theo https://www.art2all.net/

 

Thinh lặng và siêu thoát trong Thơ Hàn Mạc Tử

Trước khi vào đề, xin nhường lời cho Hàn Mặc Tử với bài thơ quen thuộc: 

Đà Lạt Trăng Mờ

Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu

Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ

Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt

Như đón từ xa một ý thơ

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để xem trời giải nghĩa yêu

Hàng thông lấp loáng đứng trong im

Cành lá in như đã lặng chìm

Hư thực làm sao phân biệt được

Sông Ngân hà nổi giữa màn đêm

Cả trời say nhuộm một màu trăng

Và cả lòng tôi chẳng nói rằng

Không một tiếng gì nghe đụng chạm

Dẫu là tiếng vỡ của sao băng

Hàn Mặc Tử chào đời năm 1912, lìa đời lúc 28 tuổi năm 1940, sau khoảng 4 năm bị bệnh phung hành hạ. Thi nhân đã để lại cho đời một sự nghiệp văn thơ kỳ diệu.

Thú thật, đối với nàng thơ, tôi là một người ngoại đạo, nhưng dù chỉ lân la trước ngõ vườn thơ giầu có một cách kinh dị của Hàn, cũng bị choáng ngợp. Đúng như thi nhân viết trong Tựa tập Đau Thương: "đã vào là (cô) sẽ lạc, vì vườn thơ tôi rộng rinh, không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh…". Bài Đà Lạt Trăng Mờ mở đầu tập thơ này. Vậy cũng xin vào đề với Đà Lạt Trăng Mờ[i].

Thiêng Liêng

Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu (Có bản viết: Giây phút thiêng liêng…)

Theo tôi, thiêng liêng là cái mác của con người và thơ HMT. Từ này không thông dụng trong ngôn ngữ Việt. Tiếng Việt, có thiêng hoặc linh thiêng theo nghĩa linh nghiệm, nói đến là thấy hiển hiện ngay. Tính từ thiêng liêng có được dùng cũng chỉ có nghĩa là cao quý, đáng trân trọng. Chẳng hạn yêu nước là một tình cảm thiêng liêng. Người công giáo việt nam dùng từ này trong bối cảnh đạo Công giáo. Và để hiểu ý nghĩa của từ này nơi người công giáo, có lẽ không gì bằng đọc thơ của Hàn.

Đọc Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu, ta tự hỏi: khi nào phút thiêng liêng khởi đầu? Có phải khi ngắm trăng lên? Không hẳn thế. Quang cảnh trời đất trong 4 câu đầu là mơ trong mơ. Trời mơ trong cảnh huyền mơ. Trăng sao cũng đắm đuối trong sương nhạt. Trăng mờ Đà Lạt thành trăng mơ của hồn. Trăng ngoài và trăng trong gặp nhau. Cảnh quyện với người. Và phút thiêng liêng khởi đầu khi thi nhân vượt qua cõi hư thực, sang bên kia bờ ảo mộng để 'đón từ  xa một ý thơ'. Chính ý thơ làm nên quang cảnh trời đất trong 4 câu thơ đầu. Trời đất bao la như quỳ gối, nín thở, chờ đón. Không phải chờ đón gì trong trời đất, mà từ cao xa. Từ bên kia trời đất. Từ bên ngoài vũ trụ.

Dù không có hồn thơ như HMT, ta cũng dễ nhận ra rằng, mỗi khi ta thực sự nguyện cầu, thì phút thiêng liêng khởi đầu. Khi cầu nguyện, lòng ta vượt qua thế giới quanh ta để hướng về Đấng ta nguyện cầu. Khi cả một cộng đoàn cầu nguyện cũng thế, mọi thành phần của cộng đoàn cùng nhau hướng tới Đấng hiện diện ngay trong lòng thực tại nhưng không thuộc về thực tại, dù là thực tại trong mơ.

Như vậy phút thiêng liêng hàm chứa thinh lặng và siêu thoát. Cuối đoạn 2, câu Và để xem trời giải nghĩa yêu. Có bản viết hoa chữ trời. Có người hiểu trời là Thiên Chúa. Thiết nghĩ, trời ở đây vẫn là quang cảnh trời đất. Ý thơ mà trời đất chờ đợi có một nghĩa: nghĩa yêu. Nghĩa ấy không ở trong trời đất, nhưng đất trời, từ tinh tú trên kia cho đến cỏ cây hoa lá và mọi loài dưới này đều nói với ta về nghĩa yêu nếu ta biết thinh lặng và chiêm ngưỡng.

Thinh Lặng

Nhưng thế nào là thinh lặng? Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều. Bình thường, đã làm thinh thì không nói. Đã nói thì không làm thinh. Nhưng trong câu thơ này, làm thinh không có nghĩa là không nói. Nếu Hàn Mặc Tử không nói thì làm gì có Đà Lạt Trăng Mờ, làm gì có thơ Hàn Mặc Tử? Nói, nhưng không nói nhiều. Nói, nhưng dành phần cho thinh lặng. 

Thinh lặng đi đôi với lời. Thinh lặng là một cách nói và nói không xa rời thinh lặng.  Nói kiểu súc miệng bằng lời (coi những cuộc cãi vã chính trị) khiến ta quên mình, quên người, có thể giải trí, tiêu khiển, nhưng không dẫn tới trao đổi, gặp gỡ. Thế quân bình giữa thinh lặng và tiếng nói cần thiết cho mọi cuộc trao đổi. Thinh lặng để nghe, kể cả nghe sự im lặng của người khác. Đồng thời nói. Nói để biểu lộ hay diễn tả nội dung của im lặng. Không nói là một cách đẩy người khác ra lề. Làm thinh và nói. Nhưng chớ nói nhiều. Thơ, Nhạc và mọi hình thức nghệ thuật đều nói một cách nào đó để dẫn ta vào im lặng.

Cũng như khi cầu nguyện có kinh, có lời ca tiếng hát giúp ta yên lặng. Dự thánh lễ, ta thấy có những người dẫn lễ, dẫn hát mộc mạc, nhưng lễ diễn ra sốt sắng. Họ nói một cách im lặng. Nói để đưa vào thinh lặng. Cũng có lúc người hát, ban hát khá tài năng, nhưng không mấy giúp ta cầu nguyện, vì thiếu thinh lặng.

Hàn Mặc Tử rất mê tiếng nói, với thanh âm, khí vị, mầu sắc của từng tiếng, từng lời, ngoài cả cái ý nghĩa của mỗi tiếng. Chẳng hạn, hai tiếng Phượng Trì cuối bài Ave Maria. Anh mê hai tiếng đó vì nhạc tính của chúng, anh nói: "nghe như bay lên cao, bay lên cao"[ii]. Và trong đoạn kết bản Ave Maria, Phượng Trì lặp lại 4 lần, trước hết là một điệu nhạc.  

Hẳn vì mê chữ, mê lời, mà anh rất tiết kiệm lời. Tiếng nói trong thơ Hàn như được gói bằng thinh lặng. Ngay từ lúc 14, 15 tuổi khi còn làm thơ theo thể Đường luật đã có những câu như:

Nép mặt trong hoa nói thì thầm (Đàn Nguyệt)

Ấp úng không ra được nửa lời (Buồn Thu)

Viết chẳng nên câu nói nghẹn lời (Nhớ Trường Xuyên)

Thinh lặng chẳng những cho phép ta nghe thấy nhau, nhận ra nhau, mà còn cho phép ta nghe được trời đất cỏ cây. Về điểm này thì HMT tuyệt siêu, thính giác và mọi giác quan của anh tinh nhậy đến độ khó tưởng tượng. Anh sờ được ánh trăng: Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối (Thức Khuya); anh Say mơ vướng phải mùi hương ướp (Âm Thầm) như hương là một loại tơ trăng. Và thường khi người đời không thấy hương, Hàn Mặc Tử lại thấy thơm: Thơm như tình ái của ni cô (Huyền Ảo); Mùi vị thơm tho một ái tình (Thời Gian). Trăng đối với anh cũng thơm và ấm áp: Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ (Ngủ với Trăng). Đặc biệt, anh hớp, anh nhả, ngậm: Trí tôi hớp bao nhiêu là khí vị/ Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí (Ave Maria); Cả miệng ta trăng là trăng/ Cả lòng ta vô số gái hồng nhan/ Ta nhả ra đây một nàng (Một Miệng Trăng). Trở lại với thính giác, Hàn Mặc Tử nghe được tiếng run của tơ liễu, tiếng nước reo tận đáy hồ, tiếng vỡ của sao băng. Không một tiếng gì nghe đụng chạm/ Dẫu là tiếng vỡ của sao băng. Từ Tiếng buồn trong sương đục/ Tiếng hờn trong lũy tre của Tình Quê, (Gái Quê), Hàn lên tới lời câm của muôn vì sao áy náy (Trường Tương Tư) hay tiếng dội từ bên kia bờ ảo mộng:

Đang khi mầu nhiệm phủ ban đêm

Có thứ gì rơi giữa khoảng im

Rơi từ thượng tầng không khí xuống

Tiếng vang nhè nhẹ dội vào tim (Huyền Ảo).

Siêu thoát

Thinh lặng để đón từ xa một ý thơ, thì tự nó đã siêu thoát rồi. Siêu thoát theo nghĩa vươn tới cõi thiêng liêng, sáng láng, tinh khôi. Nhưng Hàn đi sâu hơn với câu: Và cả lòng tôi chẳng nói rằng. Thinh lặng là ắng tiếng lòng. Xét cho cùng, thinh lặng thâm sâu nhất, là thinh lặng của hồn, khi mình trở về với lòng mình. Không phải trở về như tự thu mình vào cõi u tịch riêng tư, mà là trở về như quay lưng lại những vẩn đục, xáo động để hướng hồn lên tới cõi siêu hình cao tột bức / Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao (Siêu Thoát). Hồi xưa lễ tiếng latinh (lúc nhỏ, Nguyễn Trọng Trí đi lễ mỗi ngày) hát 'sursum corda' (hãy nâng tâm hồn lên). Hai từ thôi, nhưng đã được HMT thi vị hóa dưới nhiều dạng. Trong Nguồn Thơm chẳng hạn, có những câu: 

Tiếng pháo đi: bao nhiêu kinh cầu nguyện

Đều dâng lên cho đến chín tầng mây

Tứ thời xuân! Tứ thời xuân non nước!

Phút thiêng liêng nhuần gội ánh thiều quang

Ta há miệng cho nguồn thơm trào vọt

Đường thơ bay sáng láng như sao sa

Trên lụa trắng mười hai hàng chữ ngọc

Thêu như thêu rồng phượng kết tinh hoa.

Thinh lặng cô liêu và đơn độc.

Thiêng liêng, thinh lặng, siêu thoát… Toàn là Xuân Như Ý cả hay sao ? Thưa, không phải vậy. Mà cũng không phải không vậy. Vẫn tinh khôi, sáng láng, vẫn tứ thời xuân nhưng đồng thời cũng là Đau Thương, nghĩa là Mật đắng, Máu cuồng và Hồn Điên. Bài Đà Lạt Trăng Mờ mở đầu tập Đau Thương mặc dầu không có gì là đau thương. Hay bài Huyền Ảo, Đây Thôn Vĩ Giạ, Sáng láng cũng vậy. Ngược lại, trong  tập Xuân Như Ý có những bài đau thương, thảm thiết như  Say Chết Đêm nay, Phan Thiết! Phan Thiết!

Lời Tựa tập Xuân Như Ý viết:  Lạy Chúa Trời tôi! Hãy ban cho tôi hằng hà sa số là ơn lành, ơn cả… Thơ tôi sẽ rất no, rất ớn, rất nư, trọng vọng như tài hoa, cao sang như nhân đức, chói chan vô vàn phước lộc… (…)

Loài người hãy tận hưởng một hơi cho đã ngán và cao rao Danh Cha cả sáng.

Và Loài người hãy cám ơn Thi nhân đã đổ hết bao nhiêu nguồn máu lệ, đã từng uống mật đắng cay trong khi miệng vẫn tươi cười sốt sắng…

"Đã từng uống mật đắng cay trong khi miệng vẫn tươi cười sốt sắng". Nước mắt  dọng cười theo nhau (Này đây lời ngọc song song). Nước mắt trộn với dọng cười. Hàn Mặc Tử sống trong siêu thoát, đồng thời phiêu dạt trong điên dại, khổ đau của một tâm hồn đơn côi, lạc lõng:

Đơn độc trong yêu đương:

Nghe hơi gió ôm ngang lấy gió

Tưởng chừng như trong đó có hương

Của người mình nhớ mình thương

Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì (Muôn năm sầu thảm)

Hay đoạn này:

"Một khối tình nức nở giữa âm u

"Một hồn đau rã lần theo hương khói

"Một bài thơ cháy tan trong nắng rọi

"Một lời run hoi hóp giữa không trung

"Cả niềm yêu ý nhớ cả một vùng

"Hóa thành vũng máu đào trong ác lặn."  (Trường tương tư)

Cô đơn của người thơ.

Trong một bức thư gửi Hoàng Trọng Miên, HMT viết: Thi sĩ rớt xuống cõi đời, bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng. Không có lấy một người hiểu mình. […] Vì thế, thi sĩ cứ kêu rên thảm thiết là để tìm một người tri kỷ. Mà than ôi, không bao giờ thi sĩ tìm đặng. Người tri kỷ của thi sĩ phải là một bậc cao quý, toàn tài toàn năng, một đấng mà thi sĩ nhận lấy như là hết cả mọi sự.". Như thánh Augustinô! (Thánh nhân than thở: "Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng con cho Chúa, và lòng con chỉ an nghỉ trong Chúa"). Ở một đoạn khác trong cùng là thư: "Bởi muốn cho loài thi sĩ ( 2 loài kia là thiên thần và loài người ta) làm tròn nhiệm vụ ở thế gian này, -nghĩa là tạo ra những tác phẩm tuyệt diệu, lưu danh lại muôn đời. Người (Đức Chúa Trời) bắt chúng phải mua bằng giá máu, luôn luôn có một định mạnh tàn khốc theo riết bên mình." (Chơi giữa mùa trăng, tr. 36, 35)[iii]. Hai trích dẫn trên chứng tỏ HMT biết rõ giá trị siêu việt của những tác phẩm mình sáng tác, và ý thức một cách bi đát về cái giá phải trả.  Mà cái giá tàn khốc nhất là sự cô đơn.

Ở bài Siêu thoát, trong khi khoái lạc đến ngất ngư, điên rồ trên cõi siêu hình cao tột bực, thi nhân than thở:

Ta hiểu chi trong áng gió nhiệm màu

Những hạt lệ của trích tiên đày đọa?

Và trong Những Giọt Lệ thi nhân cảm thấy mình bị bỏ rơi, bơ vơ lạc lõng:

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

Sao bông phượng nở trong màu huyết,

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?

Cô đơn trước cái chết:

Nhưng cô đơn trước hết là cô đơn trước cái chết. Thứ cô đơn này khiến HMT cũng giống như loài người chúng ta. Có khác nhau là khác ở mãnh lực cảm thụ của thi nhân.

Nghĩ tới cái chết của mình, Hàn tiếc nuối:

Trời hỡi bao giờ tôi chết đi?

Bao giờ tôi hết được yêu vì,

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tợ si?

Nghĩ tới cái chết của người, Hàn đau đớn:

Họ đã đi rồi khôn níu lại

Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa

Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ. (Những giọt lệ)

Rồi chết thật, chết cô đơn:

Máu đã khô rồi thơ cũng khô

Tình ta chết yểu tự bao giờ!

Ta trút linh hồn giữa lúc đây

Gió sầu vô hạn nuối trong cây

Còn em sao chẳng hay gì cả? (Trút linh hồn)

Tôi là ai?

Chính vì cái chết mà Hàn đặt nghi vấn về mình, nói tới mình như một người xa lạ:

 

Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện

Trong lòng và đang tắm máu sông ta

Ta muốn vớt ai ra ngoài sóng điện

Để nhìn xem sắc mặt với làn da

 

Rõ là mình, nhưng không phải mình. Mình đang hiển hiện ngoài kia nhưng lại ở ngay trong lòng mình. Ở ngay trong lòng mình, nhưng mình cũng chẳng biết mặt mũi ra sao!

 

Ôi ngông cuồng, ôi rồ dại, rồ dại

Ta đi thuyền trên mặt nước lòng ta.(Biển hồn ta)

 

Vậy có bao nhiêu mình ?

 

Ai đi lẳng lặng trên làn nước

Với lại ai ngồi khít cạnh tôi

 

Một người ngoài kia đi trên làn nước, một người ngồi khít cạnh. Thi nhân hoảng sợ:

Không nói không rằng nín cả hơi

Chao ôi ghê quá trong tư tưởng

Một vũng cô liêu cũ vạn đời (Cô liêu)

 

Thế thì hồn là ai? Tôi là ai?

 

Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến

Thịt da tôi sượng sần và tê điếng

Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên

Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm

Cho trăng ngập, trăng dồn lên tới ngực.

…

Hồn là ai, là ai tôi không hay

Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay

Hồn mệt lả mà tôi thì chết giấc. (Hồn là ai)

 

Hồn là hồn của xác, cào cấu nhai nghiến xác. Cũng là hồn giúp xác thắng vượt khổ đau, bệnh tật và biến đau khổ thành thơ. Nhưng biến thành thơ còn là đau khổ. Hồn mệt mà xác thì chết lên chết xuống.

 

Để bớt nỗi thê lương, thi nhân cho một hồn siêu thoát, mà thi nhân gọi là hồn ngoài:

 

Há miệng cho hồn văng lên muôn trượng

Chơi vơi trong khí hậu chín tầng mây

 

Rồi khuyên dụ hồn quên hết nỗi đau thương

Hồn hãy thoát ly ra ngoài tâm tưởng

Là hồn đừng nghĩ ngợi đến hồn trong

 

Để thi nhân hết phải bận tâm đến cái thân tàn ma dại. Và nhờ hồn ngoài tiếp sức, biết đâu cái xác tử thi này chẳng hóa thân trong hoa hương, sáng láng ?

 

Xác ta sẽ hút bao nguồn trăng loạn

Ngấm vào trong cơ thể những hoa hương

Và sẽ thở ra toàn hơi thở sáng

Để trên cao hồn khỏi lộn màu sương

Rồi hồn ngắm tử thi hồn tan rã

 

Nhưng thê lương vẫn hoàn thê lương:

 

Nhưng khốn nỗi xác ta thành câm tiếng

Hồn đi rồi không nhập xác thê lương (Hồn lìa khỏi xác)

 

Hồn trong, hồn ngoài, một hồn, nhiều hồn ? Chẳng biết. Tôi và tôi ngồi khít cạnh tôi, tôi và tôi đang đi trên làn nước ngoài kia.. bao nhiêu tôi tất cả? Nói như Hamlet: To be or not to be hay như Hàn Mặc Tử: Ta là ta hay không phải là ta ? (Siêu thoát). Chẳng sao. Ta cũng biết đâu là trả lời của Hàn. Có điều sau khi ôn lại những câu hỏi đầy bi thương của Hàn, ta càng thấy siêu thoát thuộc cõi thiêng liêng, cõi của lòng tin. HMT còn gọi là cõi siêu hình.

 

Trước khi chấm hết, xin trân trọng đọc lại bài

 

Siêu Thoát

Mới hay cõi siêu hình cao tột bực,

Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao.

Xa lắm rồi, xa lắm hãi dường bao

Ai tới đó chẳng mê man thần trí,

Tòa châu báu kết bằng hương kỳ dị

Của tình yêu rung động lớp hào quang

Những cù lao trôi nổ xứ mênh mang

Sẽ qui tụ, thâu về trong một mối

Và tư tưởng không bao giờ chắp nối

Là vì sao? Vì sợ kém thiêng liêng.

 

Tư tưởng chắp nối là tư tưởng của lý luận. Lý luận chỉ làm cho kém thiêng liêng. Nếu cứ lý luận thì khẳng định rằng đời có nghĩa cũng có lý, hay đời vô nghĩa cũng có lý; rằng ta là ta hay không phải là ta đều có thể. Nhưng khi hết phô triết lý, khi chấp nhận cõi thiêng liêng mà ta không hiểu nổi, trí ta sẽ mở rộng tới vô cùng:

 

Trí vô cùng lan nghĩ rộng vô biên

Cắt nghĩa hết những anh hoa huyền bí.

Trời bát ngát không cần phô triết lý.

Thơ láng lai chấp chóa những hàng châu.

Ta hiểu chi trong áng gió nhiệm mầu

Những hạt lệ của trích tiên đày đọa.

 

Cái trí lý luận của ta hạn chế, chẳng hiểu chi trong áng gió nhiệm màu, nếu chấp nhận cõi thiêng liêng, nói khác đi, nếu tin, thì sẽ lan nghĩ rộng vô biên, sẽ hiểu hết những anh hoa huyền bí, sẽ  rưng rưng hạt lệ nhận ra rằng ta là trích tiên đày đọa, lưu lạc chốn khách đày, nhưng cứu cánh của đường trần ta đang đi là cõi siêu hình cao tột bực. Vậy:

 

A ha hả! say sưa chê chán đã.

Ta là ta hay không phải là ta?

Có gì đâu, cả thể với cao xa,

Như cội rễ của trăm ngàn đạo hạnh.

Hớp rượu mạnh, máu càng hăng sức mạnh.

Ôi điên rồ! khoái lạc đến ngất ngư.

Thương là thương lòng mình giận chưa nư.

Hồn vội thoát ra khỏi bờ trí tuệ.

 

Ta là ta hay không phải là ta? Ta hiểu rồi: cả thể với cao xa mới là cội rễ của trăm nguồn đạo hạnh.  Vô biên mới thật là nơi ta hướng tới, nơi ta chờ đợi và nơi đợi chờ ta. Vô biên, nơi ta hò hẹn, nơi làm cho mê man thần trí, nơi của tình yêu rung động lớp hào quang. Ý nghĩ ấy khiến HMT thốt lên: Ôi điên rồ! khoái lạc đến ngất ngư.

 

*

 

Kết

Thiêng Liêng, Thinh Lặng, Siêu Thoát, Đau thương, Khổ lụy, Đơn côi. Trầm luân trong cuộc sống chết, con người khổ đau vô vọng, tuyệt vọng hay hy vọng ? Hàn Mặc Tử hy vọng. Tôi muốn nói, HMT của Đức Tin. Hy vọng của Đúc Tin không như hy vọng những ngày mai tươi sáng. Tin ở đây là tin yêu và trông cậy. Đức Tin mở lòng trí con người ra tới cõi vô cùng của Tình yêu Thiên Chúa. Tuy nhiên, tưởng cũng nên nhặc lại: Hàn-Mặc-Tử- trong-Thơ-Hàn-Mặc-Tử là thi sĩ và trước hết là thi sĩ. Như anh thú nhận:

Ta không nhấp rượu,

Mà lòng ta say…

Vì lòng nao nức muốn

Ghì lấy đám mây bay…

Té ra ta vốn làm thi sĩ,

Khát khao trăng gió mà không hay! (Ngủ với Trăng).

Thơ là hơi thở và nhịp sống của Hàn. Vì thấm nhuần Đức Tin, hồn thơ của Hàn rộng rinh, vô bờ bến. Nhưng Đạo khác, Thơ khác. Đạo có thể thành thơ nhưng Thơ không phải là Đạo. Và Đạo cũng không phải là Thơ. Với Hàn, Đạo đã thành thơ. Là người công giáo, Hàn không làm thơ công giáo. Hàn làm thơ, thế thôi. Và để cảm thơ Hàn, cũng không cần là người công giáo. Chỉ cần yêu thơ.

Giữa vũng cô liêu cũ vạn đời, Hàn Mặc Tử sống như đã siêu thoát. Đối với Hàn, Ý Thơ từ cao xanh có một nghĩa, Nghĩa Yêu. Nên Hương mến yêu là lộc của lời thơ (Nguồn Thơm). Nhưng Yêu gắn với Khổ đau. Đau như Đau Thương. Có thương mới đau. Cõi đời là cõi thương đau. Siêu thoát rồi nhưng vẫn còn trong cõi đau thương, chờ ngày siêu thoát. Vậy bao lâu còn sống, hãy yêu, hãy mến và ca tụng với Hàn Mặc Tử:

Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu

Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu? (Ave Maria).

Cám ơn!

Chú thích:

[i] Các câu thơ trích dẫn: chữ nghiêng và trong ngoặc là bài thơ được trích. Chữ đậm nghiêng là tên sách.

[ii] Thí dụ: Phượng Trì. Theo Nguyễn Bá Tín kể: "Hai anh em chúng tôi đi xem một cuốn phim Tàu "Hỏa thiêu Hồng Liên tự". Nội dung là một câu chuyện kiếm hiệp (…). Vua Càn Long lợi dụng các môn phái võ hiệp để đánh phá ngôi chùa Hồng Liên, một cứ điểm quan trọng nhằm chống lại triều đình Mãn Thanh thời bấy giờ.

Xong trận chiến, Cam Phượng Trì, người anh hùng lỗi lạc phái Nga Mi lên đỉnh núi cao, nhìn xuống chiêm ngưỡng chiến công đã đạt. Anh rùng mình khi thấy bao nhiêu bạn bè anh đã bị tàn sát. Buồn rầu, anh quay gót phi thân lên ngọn núi, lấy đà, dùng thuật phi hành bay mãi lên cao cho đến khi mất dạng.

Một nữ hiệp là Diệp Tiểu Thanh, vốn yêu mến anh, chạy theo tìm. Tiếng nàng gọi: Phượng Trì, Phượng Trì… Phượng Trì, Phượng Trì… vang dội khắp nơi (…). Hai chữ Phượng Trì ám ảnh anh Trí một cách kỳ lạ say đắm đến đỗi đêm sau anh đi một mình xem chiếu lại. Anh xuýt xoa khen ngợi liền mấy hôm. Anh nói: "Phượng Trì, cái tên thật là tuyệt, nghe như bay lên cao, bay lên cao! Hay quá!" (Hàn Mặc Tử Anh tôi. Tin 1990. Tr. 78-79).

[iii] Hàn Mặc Tử Chơi Giữa Mùa Trăng. Xuân Thu xuất bản (bên Hoa kỳ, không thấy đề năm nào).

Đỗ Mạnh Tri

Nguồn: http://www.giaoxuvnparis.org/

Theo https://www.art2all.net/

  Các bút hiệu của Hàn Mạc Tử Gọi Tên Người Báo Tin Tức Chúa Nhựt, 3.11.1940 mở đầu bằng mấy hàng như sau: “ Hai mươi chín tháng   Chín ...