Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

Đọc "Giọt nắng tràn ly" - Nghĩ về tư duy sáng tạo và tiếp nhận thơ ca

Đọc "Giọt nắng tràn ly" - Nghĩ về tư
duy sáng tạo và tiếp nhận thơ ca

Trần Lê Khánh là một cái tên “lạ” trong giới văn học nghệ thuật ngoài miền Bắc bởi còn ít người biết và đọc thơ anh. Cho đến thời điểm nhà thơ “Hà Nội tiến” với buổi tọa đàm về “Xứ” – tập thơ sẽ xuất bản vào năm 2020, tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội vào ngày 25.9.2019, thì thơ anh mới bắt đầu thực sự tạo ra sự chú ý ở độc giả yêu thích thơ ca và giới truyền thông tại “cái nôi” văn học-nghệ thuật của cả nước, dù trước đó anh đã cho ra mắt năm tập thơ: “Lục bát múa” (2016), “Dòng sông không vội” (2017), “Ngày như chiếc lá” (2018), “Lục bát múa trọn bộ” (2018), “Giọt nắng tràn ly” (2019). Cái tên Trần Lê Khánh trở nên bớt lạ nhưng tập thơ “Giọt nắng tràn ly” lại tạo ra một dư vị “lạ” đối với tác giả bài viết này. Edgar Allan Poe cho rằng: Viết văn giống như giải một bài toán trí tuệ [6]. Điều đó đúng đối với thơ Trần Lê Khánh và “Giọt nắng tràn ly”.
Thơ Trần Lê Khánh như hành trình đi tìm bản thể bằng một hình thức ngôn ngữ thơ ca đặc trưng. Các bài thơ trong tập thơ “Giọt nắng tràn ly” rất ngắn, mỗi bài chỉ bốn hoặc sáu câu, như những câu châm ngôn đúc kết chiêm nghiệm về cuộc sống hoặc trạng thái cảm xúc bất chợt của tác giả. Thay vì lối viết thông thường, tác giả dùng thơ (ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu…) để ghi lại suy nghĩ. Đây là cách để tác giả giải tỏa những ẩn ức bên trong, đi tìm bản thể của chính mình hơn là nhằm chia sẻ với người khác: “linh hồn là dòng lưu/ đứng im không chảy/ tôi về tắm hai lần/ tôi thành một dòng sông” (Tôi là ai). Hơn nữa, với một lối viết ngắn, kiệm lời đến mức tối giản, thơ Trần Lê Khánh thiên về “gợi” hơn là tả thực, giãi bày, bởi vậy cũng dễ hiểu khi có người cho rằng thơ Trần Lê Khánh như “đánh đố” độc giả. Sự “đánh đố” đó được tạo bởi tính chất đa nghĩa, “bất ổn” đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca, tính chất trừu tượng, “để ngỏ” của văn bản nghệ thuật, cũng như thế giới nội tâm thăng hoa đầy bí ẩn của tác giả. Làm thơ như một cách thức hữu hiệu đem lại sự cân bằng cho chính nhà thơ, như Trần Lê Khánh chia sẻ: “từ khi làm thơ tôi cảm thấy mọi thứ nhẹ nhàng hơn”. Hiệu ứng của sự “đánh đố” đó là buộc độc giả phải tư duy, “động não” để hiểu văn bản bài thơ.
 Một cách vô thức, thơ Trần Lê Khánh viết theo nguyên lý “tảng băng trôi” của Hemingway. Phần nổi là câu chữ, từ ngữ, những ký hiệu ngôn ngữ, phần chìm là ý tưởng của tác giả. Ý tưởng ấy được tạo bởi một nền tảng kiến thức về xã hội, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học, những trải nghiệm trong cuộc sống. “Phần chìm của tảng băng” tạo ra “độ sâu” cho thơ Trần Lê Khánh, khiến người đọc phải suy ngẫm, giải mã, một kiểu “trò chơi trí tuệ” (mind game). Độc giả đọc thơ Trần Lê Khánh phải suy ngẫm để nắm bắt ý nghĩa của từng hình ảnh trong một câu thơ, sự liên kết giữa các câu trong một bài, mối liên hệ giữa ý tưởng của cả bài thơ với nhan đề của bài. Chẳng hạn: Bài Cả đời người là mùa xuân: hỡi ngọn lửa/ đừng xài hoang phí bóng tối/ đừng dốc lòng/ đốt cạn đêm vơi; Bài Trâm: em búi mái tóc bên cửa sổ/ như búi tuổi thanh xuân của mình/ trời còn chưa xõa sáng/ chỉ cài hờ vệt nắng lang thang.
Đáng chú ý, nhiều bài thơ của Trần Lê Khánh có một “khoảng trống” giữa nội dung và nhan đề – một khoảng trống có chủ ý của tác giả. Tên nhiều bài thơ có sức “gợi”, bộc lộ lối tư duy khái quát và có tính đương đại: Là nguyên nhân không cần kết quả, Một ngày địa đàng bằng một năm hạ giới, Cả đời người là mùa xuân, Sa mạc trong hạt cát, Mái tóc dài hơn dòng sông, Tôi là ai, Đừng hỏi tại sao, Tình yêu là không sở hữu, Authentic autumn, Fool around… Hầu hết các bài thơ trong Giọt nắng tràn ly được cấu trúc thành hai phần tương phản: những câu chữ tối giản, đôi khi “đứt gẫy” ở phần nội dung bài thơ được cân bằng lại bởi những nhan đề có tính khái quát, đúc kết. Đây là một sự đầu tư có dụng ý của tác giả, với quan niệm: “một bài thơ thì tựa chiếm 50% quyết định cái hay hay dở của bài thơ”. Tôi cho đây là một sáng tạo, điểm nhấn “lạ” và rất ấn tượng của thơ Trần Lê Khánh. Trò chơi trí tuệ này quả thực thú vị bởi sẽ có nhiều cách giải khác nhau hoặc thậm chí không có lời giải. Đây chính là bản chất khái niệm “tác phẩm mở” của Umberto Eco, bởi văn bản nghệ thuật có đặc tính trong việc tạo ra sự hiểu không đồng nhất ở độc giả, có sự “đọc-hiểu”, “hiểu sai”, thậm chí “không hiểu gì”. Thơ Trần Lê Khánh vì vậy “kén” độc giả. Chính tác giả cũng ý thức rõ điều này “tôi không làm thơ để tìm độc giả, tôi làm thơ để tìm tri kỷ”: giữa tôi và ngày/ có một khoảng cách mênh mông/ chúng tôi là những kẻ xa lạ/ sống cô đơn giữa thế giới này (Tri kỷ). Những độc giả thích thú thơ Trần Lê Khánh chắc chắn không phải “người đọc đại trà” mà là những người đọc có sự tương đồng ít nhiều với nhà thơ, có sự  tích lũy kiến thức, cảm xúc, trải nghiệm trong cuộc sống. Jean Paul Satre đã đề cập hiện tượng này trong tác phẩm Văn học là gì?: “mọi văn bản văn học đều được chuẩn bị trong ý thức của một công chúng tiềm năng: cái ngôn ngữ mà tác giả sử dụng sẽ lôi cuốn một loại công chúng này mà không phải công chúng kia”.
Hiểu biết về tôn giáo, Phật học, Thiền học, khoa học tự nhiên, Trần Lê Khánh chuyển tải sự hiểu đó vào thơ, qua những hình ảnh ẩn dụ, có tính biểu tượng (ngọn lửa, cái bóng, dòng sông, con thuyền, trăng, đêm, nước, đá, núi…) hay cảm thức về bước đi của thời gian bốn mùa (xuân-hạ-thu-đông), ba chiều thời gian (quá khứ – hiện tại – tương lai), về vẻ đẹp của con người, tạo vật:
hoa phượng/ rực nở trên cành/ mùa xuân/ chẳng còn lành lặn. (Em lúc đẹp nhất của mùa hạ)
mùa đông/ đón gió đông về/cành cây khô/ mọc ra một nhánh cây khô… (Lãng mạn)
ngọn gió/ tập bay/ với một/ mùa hạ lung lay. (Thu)
em/ châm thêm đêm/ vào ngọn lửa/ đang cạn dầu. (Bừng sáng)
tảng đá nặng đến nỗi/ đè luôn vào quá khứ của ngày mai/ bầy rêu nằm
trên đó/ chưa sinh ra đã già. (Hoài niệm)
em trồng ngày/ lên bốn mùa/ chân lấm bùn/ gót hồng trắng phau. (Cánh đồng sen)
Để làm thơ, Trần Lê Khánh đặt mình trong những khoảnh khắc tĩnh lặng để nắm bắt được những biến chuyển dù nhỏ nhất ở thế giới xung quanh, quy luật của tự nhiên, bản chất của đời sống và con người, và hơn hết để đi tìm bản thể – cái tôi của chính mình: “với tôi, hành trình làm thơ là hành trình đi tìm sự yên lặng” [5] Cặp phạm trù “tĩnh” và “động”, trạng thái bên trong và biểu hiện bên ngoài, tính tối giản của ngôn từ, tính gợi của hình ảnh ẩn dụ và triết lý ẩn sâu bên dưới các ký hiệu ngôn từ của văn bản nghệ thuật, có lẽ là lý do thơ Trần Lê Khánh khiến độc giả liên tưởng tới dòng thơ thiền phương Đông và thơ thiền Việt Nam – một hiện tượng lạ trong dòng thơ ca đương đại. Tiêu biểu là các bài: Du mục, Thu, Tụng kinh, Thông, Hành trình hư vô, Quá khứ của cá, Quá khứ của nước, Lý dụng viên dung, Nhập thế… Bài Thông đã truyền tải tinh thần Phật giáo và vẻ đẹp thuần khiết của nhân vật “em”: “viên gạch sân chùa/ tu lâu nên có linh hồn/ em gót chân hồng/ đỏ thêm”.
Có thể nói “Giọt nắng tràn ly” và thơ Trần Lê Khánh đã khơi gợi nhiều suy ngẫm ở người đọc về bản chất của quá trình sáng tạo thơ ca, đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ, về mối liên hệ giữa văn bản thơ và sự tiếp nhận cắt nghĩa văn bản. Hơn bất cứ một lĩnh vực nào, nghệ thuật trong đó có thơ ca để có được sức sống riêng cần phải “lạ”. Sự “lạ” đó có thể hay hoặc dở, có thể được yêu thích hoặc không, có thể được hiểu và không được hiểu, nhưng nhất thiết không thể thiếu trong nghệ thuật. Sự “lạ” trong thơ ca có thể được tạo ra bởi một lối tư duy khác lối tư duy thông thường hay một cách diễn đạt được “làm mới” về câu chữ, hay ở việc tạo ra sự “giãn cách” đầy thú vị giữa nội dung bài thơ, tập thơ và nhan đề; tuy nhiên tất cả điều đó phải được biểu hiện trong một cách thức tự nhiên, xuất phát từ bên trong chứ không chỉ ở bề ngoài theo kiểu “làm xiếc ngôn từ”. Về phương diện này, thơ Trần Lê Khánh thực sự là “một ca rất lạ trong nền thơ Việt Nam hiện thời”. [Nhà phê bình văn học Văn Giá]
Không chỉ vậy, thơ Trần Lê Khánh còn khiến tôi suy nghĩ về mối quan hệ tương tác giữa tác giả và độc giả thông qua tác phẩm. Nhà thơ là người tạo ra tác phẩm và những sáng tạo tinh thần ấy lại có một đời sống độc lập với người tạo ra nó. Người đọc tiếp nhận, giải mã tác phẩm theo sự hiểu riêng của mình – điều khiến họ trở thành những “đồng tác giả” và sau đó có những phản hồi đối với tác giả. Trần Lê Khánh ý thức rất rõ về hiệu quả của sự tương tác này khi mong muốn sản phẩm của những khoảnh khắc suy tư yên lặng của riêng mình đến được với số đông bạn đọc, để nhận được những phản hồi dù tích cực hay tiêu cực, từ đó có những điều chỉnh nhất định hoặc kiên tâm với con đường thơ ca đã lựa chọn. Thơ ngắn của Trần Lê Khánh một mặt có tính súc tích, cô đọng, mặt khác có thể tạo cảm giác hụt hẫng do mạch cảm xúc ở một số bài chưa được phát triển trọn vẹn; vừa tạo ra “chiều sâu” đồng thời lại dễ rơi vào trạng thái “thơ hũ nút” khó hiểu bởi tính chất không ổn định, trừu tượng, khó nắm bắt của ngôn ngữ và ý tưởng. Ranh giới giữa hai đặc tính thật sự mỏng manh và tương đối.
Quả thực, thơ ca không đơn thuần chỉ là câu chuyện của cảm xúc mà còn là câu chuyện của lý trí. Quan niệm này đã có từ lâu, ít nhất từ thời Hy Lạp cổ đại. “Aristote đã đề cập đến vai trò của lý trí trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, nhằm đem lại cho tác phẩm một hiệu quả thẩm mỹ nhất định”[6].Với tư duy duy lý của một người từng làm trong lĩnh vực phân tích đầu tư tài chính, luôn bóc tách hiện tượng để tìm ra cốt lõi của vấn đề như Trần Lê Khánh, có lẽ tác giả sẽ vạch ra được một chiến lược dài hơi và phù hợp nhất cho những dự án thơ ca tiếp sau. Và đó là điều mà độc giả quan tâm thơ Trần Lê Khánh đón đợi.
Tài liệu tham khảo:
1. Aristote: Nghệ thuật thơ ca, trong Aristote-Lưu Hiệp: Nghệ thuật thơ ca và Văn tâm điêu long. Phan Ngọc dịch. Nxb. Văn học. H., 1998, tr.58.
2. Trương Đăng Dung. Tác phẩm văn học như là quá trình. Khoa học Xã hội. H., 2004, tr.157.
3. Lê Thiếu Nhơn. Thi sĩ Trần Lê Khánh: Một hôm đánh rơi thảnh thơi. An ninh Thế giới. 2019. http://antgct.cand.com.vn/.
4. Trần Lê Khánh. Giọt nắng tràn ly. Nxb. Hội Nhà văn. Tp. Hồ Chí Minh. 2019.
5. Tình Lê. Trần Lê Khánh làm thơ để tìm tri kỷ. 2019. http://vietbao.vn/.
6. Ngô Bích Thu. Phẩm tính lý trí trong truyện trinh thám và truyện kỳ ảo của Edgar Allan Poe-từ lý luận đến thực tiễn sáng tác. Tạp chí Nghiên cứu Lý luận Phê bình và Lịch sử Văn học. Viện Văn học-Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. H., 2013, tr.48.
1/1/2021
Ngô Bích Thu
Theo https://vanhocsaigon.com/

Bức tranh thế giới bằng ngôn từ trong thơ Nguyễn Duy

Bức tranh thế giới bằng ngôn
từ trong thơ Nguyễn Duy

Trong văn học có một loại hình ngôn ngữ mà khi phân tích tác phẩm, giới nghiên cứu, phê bình thường bỏ qua. Từ đầu thế kỷ XX, người ta đã chỉ ra đó là “ngôn ngữ thế giới quan”, một loại “hình thức bên trong” của tư duy. Nó là bức tranh thế giới bằng ngôn từ được kiến tạo từ ngôn ngữ của một cộng đồng xã hội nào đó và được sử dụng trong giao tiếp như một cấu trúc biểu nghĩa. Ví như dùng ngôn ngữ của cộng đồng kì thủ để suy ngẫm, nhà thơ sẽ thấy vận nước như một “bàn cờ”: Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây/ Một bàn cờ thế phút sa tay. Vận nước có thể xem là “bàn cờ thế”, thì phong trào cách mạng cũng có thể xem là “cuộc cờ”, nhà cách mạng là “kì thủ” và quần chúng cách mạng là những “quân cờ”: Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài/ Tấn công, thoái thủ nên thần tốc/ Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.
Trước mắt ta là bức tranh thế giới bằng ngôn từ được kiến tạo theo ngôn ngữ của cộng đồng kì thủ và nó được sử dụng như một ngôn ngữ giao tiếp trong bài Chạy Tây của Nguyễn Đình Chiểu và Học đánh cờ của Hồ Chí Minh. Có bao nhiêu lĩnh vực giao tiếp lời nói, có bấy nhiêu ngôn ngữ thế giới quan. Có bao nhiêu ngôn ngữ thế giới quan, có bấy nhiêu bức tranh thế giới bằng ngôn từ. Nó là “mã”, là cấu trúc ngôn ngữ điều hành tư duy của chủ thể nghệ thuật. Đó là ngôn ngữ phái sinh, thuộc loại siêu ngữ tồn tại liên không gian thành hiện tượng quốc tế, xuyên thời gian thành các “cổ mẫu”. Nó tồn tại trong vô thức, tiềm thức của các chủ thể lời nói trong giao tiếp. Đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh, càng phá vỡ, đập vụn các cấu trúc bề mặt thành những mảnh nhỏ, ngôn ngữ hiện đại và hậu hiện đại càng có xu hướng tái cấu trúc, tái tổ hợp các loại hình cấu trúc cổ xưa đã trở thành “mẫu gốc”, lặp đi lặp lại qua nhiều thời đại văn hóa.
Những ai đã đọc thơ Nguyễn Duy đều có thể nhận ra, ngay từ khi viết những câu thơ đầu tiên lặng lẽ gửi loài người, ông đã chọn cho nhân vật trữ tình trong thơ mình ngôn ngữ làng quê, ngôn ngữ sinh hoạt để kiến tạo các bức tranh thế giới bằng ngôn từ.
Trên bức tranh thế giới được kiến tạo bằng ngôn ngữ làng quê ấy, “nhà” là từ khóa quan trọng nhất được sử dụng để hình tượng hóa không gian sinh hoạt thường nhật của con người. Ở đây, nhà chỉ là nhà tôi đó, không cổng và không cửa, là nhà ta xơ xác (…) gian ngoài thông thống gian trong. Nhà có nơi thờ cúng để có lúc ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa. Trong nhà có xó bếp là nơi đời ta khởi đầu, lại có cả bếp rượu giữa nhà, bè bạn vây quanh trong ngày họp mặt, cha già như trẻ lại. Trong nhà chỉ có “người nhà”: cha tôi, chú tôi, bà tôi, mẹ tôi, vợ và các em tôi. Người nhà với người nhà chỉ có quan hệ máu mủ ruột rà, không có đồng chí chung câu quân hành. Người nhà chỉ làm “việc nhà”: cha cuốc đất một đời chưa xong, để rồi cha và ông cùng man mác kiếp trâu cày; bà thì xúc tép đồng Quan, đi gánh chè xanh Ba Trại/ Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn, rồi thì ru mẹ; mẹ thì ru con, ru cái lẽ ở đời; các em thì vác cuốc vác cào/ rủ nhau bước thấp bước cao ra đồng.
Nhà cũng là “quê”, nên mới có quê nhà ở phía ngôi sao. Nhà cũng là “làng”, để thành làng tôi; về làng là về nhà. Làng chỉ có “cảnh làng”: đình nhà Lê rêu phủ đã bao đời, cống Na, chùa Trần, chợ Bình Lâm, đền Sòng, cánh hoa tím bờ giậu, sáo sậu vắt vẻo cành tre, tiếng xe thồ lọc xọc, và trên sân trường thì đứa chơi đáo, đứa nhảy vòng… khiến tung tăng tôi ngắm tôi nhìn/ con sông có bóng con thuyền thả câu. “Cảnh đồng” là phần quan trọng nhất của cảnh làng. Ngoài đồng có bãi tha ma vắng, có gò đống tổ tiên, có rơm rạ, có mùi bùn nằng nặng ngấu, có vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải/ bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua. Làng chỉ có “dân làng tôi”. Dân làng là “bà con”, giống như người nhà. Cũng như người nhà, dân làng chỉ làm “việc làng”, việc gì cũng là việc nhà quê, việc nhà nông muôn thuở: hàng xóm xay lúa ù ù, chày cối thậm thịch. Tất cả hòa vào nhau thành vong linh làng mạc. Cái “vong linh” ấy hiện hình trong kiếp người của cha, của ông, của bà, của mẹ: bà và mẹ hóa cánh cò cánh vạc/ cha và ông man mác kiếp trâu cày.
Không có bất kì từ ngữ nào của ngôn ngữ khác, ví như ngôn ngữ thương trường hay ngôn ngữ nhà binh, lọt được vào bức tranh quê cổ truyền được thơ Nguyễn Duy chạm khắc bằng ngôn từ sinh hoạt, ngôn từ làng quê. Ở đây, tính liên tục, liền mạch như là thuộc tính quan trọng bậc nhất của ý niệm về không gian nhờ sự đầy ắp những sự vật và đối tượng đồng loại, đồng chất nên không bị phá vỡ. Nhân vật trữ tình của Nguyễn Duy cũng nói chuyện chiến tranh, chuyện nước gặp tai ương, cũng nói việc nước, đường nước và tôi đi lính lâu không về quê ngoại. Nhưng trong thơ ông, “nhà” và “làng” vẫn là từ khóa để định nghĩa về “chiến tranh” và “việc nước”: chiến tranh như trận cháy làng/ bà con ta trắng khăn tang trên đầu. Ở đây, làng và nhà không phải là điểm nối dài của “mặt trận”, mà ngược lại, mặt trận mới là điểm nối dài của nhà và làng. Nếu nhân vật trữ tình trong thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa nhìn nhà ra “pháo đài”, nhìn làng thành “chiến lũy” thì nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Duy thấy căn hầm chữ A là ngôi nhà (lòng) dân: đường Thanh Hoá… đường Nghệ An…/ tới đâu cũng gặp những gian hầm kèo/ hứng bom đỡ đạn đã nhiều/ vẫn lặng thinh với cỏ rêu bên đường/ (…) thương ai dỡ những mái nghèo/ dựng căn hầm vẫn dựng theo dáng nhà/ nhà dân che nắng mưa sa/ chắn che cái chết cũng là nhà dân/ (…) ngả lưng trong hầm chữ A/ nhìn lên lại thấy mái nhà lợp tranh…
Không gian nghệ thuật là không gian hư cấu, giả tưởng, không gian của các giá trị. Thước đo giá trị của bức tranh thế giới bằng ngôn từ trước hết thể hiện ở ý niệm về quảng tính chia không gian thành to – nhỏ, rộng – hẹp. Trên bức tranh thế giới bằng ngôn từ của Nguyễn Duy, bầu trời tròn rộng bao la không thể sánh với mái tăng – bầu trời vuông, vì bầu trời vuông là “mái nhà”: nghiêng nghiêng hai mái hai miền quê xa và khoái nào bằng phút ngả lưng/ mở trang thư dưới bóng rừng đung đưa/ trời tròn còn có lúc mưa/ trời vuông vuông suốt bốn mùa nắng xanh.
Thước đo giá trị của bức tranh thế giới bằng ngôn từ còn thể hiện ở ý niệm về chiều và trục chia không gian thành trên – dưới, thấp – cao. Bức tranh không gian của Nguyễn Duy có một thước đo giá trị riêng. Ở đây, trời tròn ở trên không thể sánh với trời vuông ở dưới, Hằng Nga trên trời có được chút thi vị là nhờ võng trăng của người lính trẻ. Ở đây, cái thế giới có giá trị là đất cát, là cỏ dại, là dòng sông Mẹ, là những bát ngát cánh đồng, chứ không phải là trời rộng trên đầu; là Mẹ trường tồn, là dân, là những gì chìm nổi với chúng sinh, chứ không phải là Cha anh minh vòi vọi bên trên. Cho nên, một ông vua muốn tồn tại trên bức tranh bằng ngôn từ của Nguyễn Duy như một giá trị thì phải là ông vua lỉnh kỉnh đồ nghề trong căn phòng gỗ sồi không sơn phết, không chạm trổ, hay ông vua yêu nước chỉ còn là nắm xương tàn: mặt trời vẫn mọc đằng đông/ lăng minh quân vẫn dựng trong lòng người/ bao triều vua phế đi rồi/ người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ.
Cuối cùng, thước đo giá trị của bức tranh thế giới bằng ngôn từ thể hiện ở ý niệm về phương và hướng chia không gian thành sau – trước, gần – xa. Đọc thơ Nguyễn Duy, tôi thường bị thôi miên bởi những nhan đề: nhan đề các bài thơ, nhan đề các tập thơ, tuyển tập thơ và nhan đề dành cho các phần được chia nhỏ trong các tuyển tập thơ và các tập thơ ấy. Tính theo nhan đề, Nguyễn Duy là tác giả của các tập và các tuyển tập thơ: Cát trắng, Ánh trăng, Mẹ và em, Đãi cát tìm vàng, Đường xa, Quà tặng, Về, Vợ ơi, Quê nhà ở phía ngôi sao, Tuyển thơ lục bát, Thơ (tuyển tập).
Thơ (tuyển tập) của Nguyễn Duy chia thành bốn phần với bốn tiêu đề Đường làng – Đường nước – Đường xa – Đường về. Tập Bụi được chia thành hai phần với hai tiêu đề: Giữa đám đông và Một mình. Tập Quê nhà ở phía ngôi sao cũng được chia thành hai phần với hai tiêu đề: Làng ta ở tận làng ta và Cõi về. Có phải những nhan đề kia đã lấy ngôn từ mà vẽ ra cả một bức tranh thế giới với ý niệm rõ ràng về phương và hướng mang ý nghĩa giá trị với con người tồn tại trong không gian rồi không? Nhưng nhan đề chỉ là tác phẩm “gói lại”. Phải đọc vào tác phẩm mới thấy cái nhan đề “mở ra”.
Tác phẩm của Nguyễn Duy mở ra một bức tranh ngôn từ lấy làng, nhà, cõi về làm trung tâm giá trị. Nhà, làng là điểm khởi đầu của một con đường. Từ đường làng ra đường nước đã là đường xa: xa hun hút một con đường/ bạn bè lận đận tận phương trời nào. Từ đường làng đến đêm Bắc bán cầu vần vụ trắng thì đường xa càng xa mờ mịt, nên nhìn từ xa… Tổ quốc. Nhưng con đường chỉ là không gian ngoại thân. Thơ Nguyễn Duy vẽ ra một không gian khác tồn tại trong lòng người. Không gian ấy lấy cõi về làm trung tâm. Từ cõi về, nhìn thấy cõi trời và cõi mình. “Một mình” cũng làm thành một cõi. Một mình với cõi mình thì cõi trời, cõi người là những cõi xa. Ngay trong cõi mình, ta với mình cũng đã xa xôi lắm.
Với nhân vật tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy, cái hướng đáng sợ nhất là phía trước. Nó biết rõ đời mình khởi đầu từ xó bếp. Phía trước, với nó, là hướng mờ mịt, vô thường: mặt trận dời vào sâu/ ngày mai ta dừng chân nơi nào/ khoảng trống phía trước vẫn bỏ ngỏ/ đâu biết những gì chờ ta đằng kia. Nó xem đi một bước là một bước đặt bàn chân vào lửa: mười tám tuổi ra đi/ bước thứ nhất đặt bàn chân vào lửa/ đường chiến tranh biết chỗ nào dừng. Với nó, đi mà không về là bước đi đầy bi kịch: người bạn tôi không về tới nơi này/ anh gục ngã bên kia cầu xa lộ/ anh nằm lại trước cửa vào thành phố; tuổi hai mươi trắng răng cười/ trắng con đường Chín, bạn tôi không về.
Cảm nhận của nó về đường xa, phương xa, từ cõi trời, cõi người cho tới cõi mình, luôn gắn với cảm giác về phương xa xứ lạ, về sự lưu lạc. Hãy nghe nó nói về cảm giác lần đầu nhìn thấy tuyết ở xứ người: lần đầu gặp tuyết trắng/ bạc tóc người xa nhà/(…) ối giời ơi… nõn nà ghê/ màu trong sạch đến khả nghi là thường/ cô đơn tiếng quạ nhểu buồn/ đàn chim di trú tha hương phương nào. Nghĩa là với nó, đường xa cũng đầy bất an và đáng sợ như phía trước: trông người xưa ngẫm người nay/ đường xa nghĩ nỗi sau này… cũng kinh. Cho nên, bức tranh không gian trong thơ Nguyễn Duy lúc nào cũng âm vang tiếng lòng thôi thúc buông bỏ phương xa, tha thiết với cõi về. Khái niệm cõi về ở đây cũng đa nghĩa như các khái niệm đường nước, đường xa.
Ở những bài như Nghe tắc kè kêu trong thành phố, Khúc hát hòa bình hay Gặp một người lính trẻ, cõi về là nơi không còn khói lửa bom đạn để được sống lặng yên như cây cỏ trong vườn. Trong Đường xa, Về làng, Cầu Bố, Đò Lèn, Tuổi thơ và rất nhiều bài khác, cõi về là quê nhà ở phía ngôi sao, nơi có bếp rượu giữa nhà bè bạn vây quanh với dòng sông Mẹ và những ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà. Cõi về dịu và nhẹ nhất là cõi em. Vì chỉ ở đó mới không nhàm tai nghe rối tiếng ồn để dọn tai ta lắng tiếng thầm thế gian, để mỗi năm Tết có một lần/ mời em li rượu tay nâng ngang mày. Nhưng có gì lạ quá đi thôi/ khi gần thì mất xa xôi lại còn. Hình như chính ở lòng mình, về với cõi mình mới thực sự là cõi về. Trong hàng loạt bài thơ, như Kính gửi tuổi học trò, Gửi về Lam Sơn, Tuổi thơ, nhất là Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ…, cõi về là trở lại, tìm về bản nguyên hồn nhiên thơ trẻ để được ngạo nghễ khúc đồng dao nhăng cuội/ lời trẻ con phấp phới ngũ hành kì.
Trên bức tranh thế giới bằng ngôn từ của Nguyễn Duy, không gian không tồn tại ngoài thời gian. Ở đó, hình tượng không – thời gian được kiến tạo bằng cùng một loại ngôn ngữ thống nhất để tạo nên cấu trúc biểu nghĩa như một chỉnh thể. Thơ Nguyễn Duy đặt hình tượng thời gian vào dòng lưu chuyển tuần hoàn vĩnh hằng của cái bất diệt và sự phôi pha. Đó là dòng chảy tự nhiên của thời gian được tri nhận bằng cảm quan của con người nông nghiệp. Năm là đơn vị được sử dụng để tính đếm dòng thời gian này. Việc nhà được ghi nhớ theo năm: cha con xa cách bấy lâu/ mấy năm mới uống với nhau một lần. Nó còn là dấu mốc của việc nhà trong dòng chảy của việc nước: những năm bom đạn như gieo mạ/ lại chiếc xe thồ đi về Nam/ cha tôi qua cầu Bùng cầu Ghép/ tôi nhìn theo chớp lửa nhập nhoằng.
Vòng đời của cây cỏ cũng được tính bằng năm: năm qua đi, tháng qua đi, tre già măng mọc có gì lạ đâu. Năm dùng để tính tuổi và tuổi là dấu mốc của đời người: bảy tuổi tôi…/ mười tuổi tôi…/ mười bảy tuổi…/ mười tám tuổi ra đi/ bước thứ nhất bước chân vào lửa. Rồi tuổi được dùng như loại từ để tạo ra danh từ làm thành cột mốc chia đời người theo các đơn vị vĩ mô: tuổi thơ – tuổi trẻ – tuổi già. Tuổi thơ là con dấu chìm chạm trổ tận trong xương. Tuổi trẻ là tuổi học trò đồng nghĩa với trang thơ; nhưng tuổi trẻ cũng là thời trai anh đi qua/ những ngả đường đạn bom thăm thẳm lắm. Đến đây, chữ thời trở thành cột mốc đánh dấu bước ngoặt lớn nhất của đời người. Biết thời trai anh đi qua tức là ngộ ra trời cho sống ta cũng già em ạ và ta già ta hóa trẻ con.
Có cả một vòng quay thời gian đời người trên bức tranh thế giới bằng ngôn từ trong thơ Nguyễn Duy. Ở đó, chữ thời còn là cột mốc đánh dấu bước ngoặt thời gian thế sự. Nó chia thời gian thành thời ta mê hát đồng ca/ chân thành và say đắm với thời dù dối nữa cũng không lừa được nữa. Và thời gian thế sự cũng chảy trôi như dòng nước lưu chuyển dưới chân cầu của chữ thời: này em buồn mà làm gì/ thời trong leo lẻo lỡ đi qua rồi/ cái thời loang lổ đang trôi/ thôi thì thong thả tới thời trắng tinh.
Bức tranh nào cũng phải có khung. Khung giúp người xem tranh hình dung nó như một cấu trúc biểu nghĩa toàn vẹn. Đó là lí do có thể gọi bức tranh thế giới bằng ngôn từ trong thơ là ngôn ngữ thế giới quan. Bức tranh thế giới bằng ngôn từ trong thơ Nguyễn Duy – với không gian thu hẹp lấy nhà làm trung tâm, với thời gian của cái bất diệt và phôi pha trong vòng luân chuyển tuần hoàn như dòng sông Mẹ – được đặt vào khung huyền thoại. Chỉ huyền thoại mới lấy thời gian luân chuyển tuần hoàn để đóng khung cho lời nói.
Bức tranh thế giới bằng ngôn từ trong thơ Nguyễn Duy có cái khởi nguyên của truyền thuyết. Đó là cái có nguồn cội từ xa xưa trong đời sống tâm linh của dân tộc, đã hóa thân vào cánh cò, vào sắc mây, vào câu ca dao để bà ru mẹ, mẹ ru con, nên ngàn năm trên dải đất này/ cũ sao được cánh cò bay la đà/ cũ sao được sắc mây xa/ cũ sao được khúc dân ca quê mình. Bức tranh ấy có cả cái mạt thế của thời thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ/ ợ lên nhồn nhột cả tim gan.
Nhưng hễ ở đâu, thế giới chuyển qua thời mạt pháp, thơ Nguyễn Duy liền tạo ra cái chết tái sinh để đưa nó vào khung lưu chuyển luân hồi của huyền thoại, tỉ như ta già ta hóa trẻ con, hoặc sông Mã ơi/ hạt cát dạt bến nào/ điệp khúc sông trong lòng nguyên vẹn/ giọt nước có biệt tăm ngoài biển/ ngày ngày/ làm mây bay về nguồn, hay dù có sao/ đừng thở dài/ còn da lông mọc còn chồi nẩy cây. Thơ Nguyễn Duy khi quằn quại bi hùng, khi giễu nhại hài hước, bài nào cũng man mác một nỗi buồn tuy nhẹ nhàng mà xót xa tê tái nhưng không hề có âm hưởng bi thương là vì thế.
3/1/2021
Lã Nguyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Lê Xuân với "Cảm nhận về vẻ đẹp văn hóa văn nghệ dân gian"

Lê Xuân với "Cảm nhận về vẻ
đẹp văn hóa văn nghệ dân gian"

Nhà văn Lê Xuân sinh năm 1945 tại Thanh Hóa, hiện sống và làm việc tại thành phố Cần Thơ. Có thể gọi ông là nhà giáo, nhà báo, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đều đúng cả. Ở lĩnh vực nào ông cũng có nhiều đóng góp và thành công đáng ghi nhận. Nói về lao động nghệ thuật sáng tác và biên khảo tính đến nay ông đã góp mặt trên 30 tác phẩm và có nhiều tác phẩm in riêng thuộc nhiều thể loại như thơ, tiểu luận, khảo cứu và nhận định văn học.
Những cống hiến cho hoạt động văn học, báo chí của ông đã đem lại nhiểu giải thưởng xứng đáng. Chứng tỏ những nổ lực không mệt mỏi của nhà báo, nhà văn… Lê Xuân đã được công chúng yêu văn học và giới chuyên môn ghi nhận. Cuộc đời và những đóng góp cho hoạt động nghệ thuật của Lê Xuân có lẽ dành riêng cho ông một tác phẩm có qui mô với vài trăm trang mới có thể trình bày đủ ý. Trong khuôn khổ bài viết, tôi chỉ ghi lại những nhận định của mình khi đọc tác phẩm ông vừa gửi tặng cách đây không lâu có tựa đề: Cảm nhận về Vẻ đẹp Văn hóa văn nghệ dân gian (Tiểu luận – khảo cứu), Nhà Xuất bản Văn hóa – Văn nghệ tháng 2 năm 2020.
Cuốn sách là một ấn phẩm trình bày bắt mắt, dày 200 trang. Đây là những trang viết đầy tâm huyết, với tình yêu dành cho những di sản văn hóa của dân tộc ta từ bao đời nay. Tôi gọi cốt lõi của dòng chảy văn hóa đó là “Hồn Việt”. Cuốn sách được trình bày mạch lạc qua ba phần:
– Phần 1: Bàn luận về ca dao dân ca tục ngữ.
– Phần 2: Đình chùa, lễ hội ẩm thực, đờn ca tài tử
– Phần 3: Hình ảnh 12 con giáp trong tục ngữ, ca dao dân ca.
Nhìn chung những bài viết của Lê Xuân ở lĩnh vực nào cũng rất hấp dẫn và đầy sức thuyết phục bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng dể hiểu. Ông đã đưa ra những dẫn chứng, cứ liệu, minh chứng mang tính khoa học. Chứng tỏ ông đã dày công nghiên cứu, bỏ ra nhiều công sức để sưu tầm, biên khảo với tất cả lòng nhiệt thành, yêu quý và trân trọng những tài sản tinh thần vô giá mà tổ tiên ta đã lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong quá trình dựng nước, giữ nước và mở cõi… ở nhiều vùng miền trên dải đất hình chữ S thân thương, đặc biệt là những nơi Lê Xuân đã có dịp đặt chân tới đều để lại dấu ấn trong những bài viết của ông về con người, di sản và lễ hội nơi đây. Qua tác phẩm của ông người đọc như được cùng ông trở về với cội nguồn dân tộc. Những câu ca dao, những làn điệu dân ca, điệu lý, những câu hát ru… là những nét đặc trưng bản sắc văn hóa vùng miền. Ở đó chúng ta cũng được ôn lại những kinh nghiệm quý báu trong đời sống của tiền nhân về lao động sản xuất, đối nhân xử thế, nhận biết thời tiết… mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca và những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là nguồn mạch âm ỷ chảy trong huyết quản của mỗi người dân Việt Nam từ bao đời nay. Khi tượng hình đến khi chào đời và cả tuổi ấu thơ với những câu hát bên nôi là lời ru của bà của mẹ cho chúng ta đắm mình trong bầu sữa ca dao dân ca. Rồi những năm tháng trên ghế nhà trường hay đến lúc trưởng thành, trong cuộc sống, chúng ta cũng vận dụng những kinh nghiệm quý báu từ tục ngữ ca dao. Không ít nhà văn, nhà thơ trong sáng tác cũng mang đậm hồn dân tộc ít nhiều có ảnh hưởng từ nguồn mạch dòng chảy văn hóa cội nguồn. Như vậy con người việt Nam ta từ lúc tượng hình trong bào thai của mẹ, được chào đời đến lúc đi vào cõi vĩnh hằng đều được vỗ về ca dao dân ca. Và có một điều chắc chắn là người Việt không ai là không thuộc ít nhiều câu tục ngữ, ca dao để vận dụng trong cuộc sống hằng ngày. Bởi đó là những kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn của cha ông ta và được lưu truyền từ dời này sang đời khác và tin rằng còn mãi đến mai sau.
Mở đầu tác giả Lê Xuân có lời giới thiệu nhẹ nhàng và rất đỗi chân thành đến với bạn đọc bằng giọng văn giàu xúc cảm, lôi cuốn người đọc từ những câu chữ đầu tiên trong tác phẩm của ông: “Từ ấu thơ tôi đã được tắm mình trong lời ru của bà, của mẹ qua mỗi vần ca dao và những chuyện kể xen lẫn tiếng võng đưa kẽo kẹt của những buổi trưa hè hay khi hoàng hôn buông xuống. Tôi chìm vào giấc ngủ nhẹ êm mơ tới những cô Tiên, ông Bụt và được bay đến nhiều bến bờ xa lạ của những miền sông nước mênh mông hay miền núi cao xanh thẳm của Tổ quốc”. Và rồi khi ông lớn lên được đặt chân đến nhiều nơi, được tiếp cận với nhiều nét văn hóa của các vùng miền ông rút ra một điều: “Cha ông ta dù cực khổ đến mấy vẫn lạc quan yêu đời, vẫn truyền dạy lại cho con cháu những bài học về lẽ sống”. Cũng như tác giả, ai trong chúng ta cũng được thừa hưởng những nét đẹp, kinh nghiệm sống của tổ tiên từ tục ngữ ca dao dân ca… đó là vốn quý từ cha ông ta qua văn hóa dân gian để mỗi ngày bồi đắp, làm giàu thêm cho tâm hồn và trí tuệ. Ông viết: “Vì thế, mỗi lần đọc một câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ hay nghe một làn điệu dân ca, thưởng thức một món ăn, hoặc xem một mái đình, một ngôi chùa, nhà cổ nào đó tôi đều ghi lại những cảm nhận của mình. Và như tìm được sự tiếp nối, đồng cảm giữa quá khứ với hiện tại trong dòng chảy văn hóa hôm nay”. Những làn điệu dân ca mang đặc trưng văn hóa của mỗi vùng đều làm ông xao xuyến. Đọng lại trong tâm hồn ông nhiều cảm xúc khó quên và những nơi tác giả đi qua đều để lại dấu ấn , thể hiện trên từng trang viết của Lê Xuân. Và cũng theo ông thì những âm điệu tha thiết của dân ca đưa trẻ vào giấc ngủ, hay để trai gái tỏ tình,… người ta hát để bày tỏ tình cảm, để tăng niềm phấn khích trong lao động và cả khi tiễn đưa người thân về nơi an nghỉ cuối cùng. Lê Xuân tỏ ra am hiểu về đặc điểm, âm điệu của dân ca, tiết tấu của từng vùng miền. Ví dụ:“Bài ca dao “Trống cơm” khi chuyển sang dân ca quan họ Bắc Ninh ta thấy có tiếng đệm, tiếng lót để tạo nên giai điệu riêng: (Tình bằng) có cái trống cơm/ Khen ai khéo vỗ( ấy mấy) vông nên vông. Hát dăm Nghệ Tĩnh thì thường theo nhịp 3/2 để diễn tả động tác lao động chắc khỏe. Hát ru em có giai điệu khoan thai nhẹ nhàng.”
Lê Xuân viết về hình tượng trầu cau trong ca dao bằng câu từ dung dị mà lôi cuốn người đọc bởi cách lập luận chặt chẽ và hành văn thuần Việt, trong sáng dễ hiểu. Ông dẫn chứng nhiều ca dao quen thuộc nhưng mỗi lần đọc lại cũng đưa đến nhiều cảm xúc cho chúng ta. “ Sự tích trầu cau không biết từ bao giờ nhưng nó mãi mãi tượng trưng cho khát vọng hạnh phúc và hôn nhân”…” Bởi vì :“Miếng trầu là đầu câu chuyện”, “ Miếng trầu nên dâu nhà người”… Trầu cau có mặt trong mọi sinh hoạt vui buồn hàng ngày của người bình dân: lễ tết, ma chay, cưới hỏi, tân gia: Người ta đã nhắn nhủ nhau:
“Ai về tôi gửi buồng cau
Buồng trước kính mẹ buồng sau kính thầy”
Bàn về ca dao Lê Xuân tiếp tục với nguồn mạch cảm xúc trong các bài viết: Thách cưới trong ca dao, vẻ đẹp của tình yêu trong bài ca dao “Con mình con ta”, Nỗi nhớ và lời trách đáng yêu trong bài ca dao ”Thiếp nhớ chàng”…
Cũng với lời dẫn gợi mở nhẹ nhàng: “Ca dao là cây đàn muôn điệu của tâm hồn người bình dân. Mọi cung bậc tình cảm, mọi trăn trở, ước mơ kỳ vọng, ta đều có thể tìm thấy ở đó. Nhưng dưới chế độ phong kiến bao luật lệ khắt khe đã trói buộc đời sống tình cảm của con người”. Nên có lẽ vì thế mà để thể hiện tình yêu đời yêu người đôi khi phải thể hiện dưới hình thức dí dỏm hài hước pha lẫn chút xót xa của một câu chuyện về một đôi trai gái nghèo. Chúng ta hãy lắng nghe cô gái thách cưới:
“Cưới em có cánh con gà
Có dăm sợi bún có vài hạt xôi
Cưới em còn nửa anh ơi
Có một đũa đậu, hai môi rau cần”
Nói về nỗi nhớ và lời trách đáng yêu trong bài ca dao “Thiếp nhớ chàng” (Đây là bài viết đạt giải khuyến khích cuộc thi bình ca dao của tạp chí Thế Giới Trong Ta năm 2002-2003) Lê Xuân trich dẫn những câu ca dao đầy ý nghĩa:
“- Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than”
-“Mình nhớ ta như cà nhớ muối
Ta nhớ mình như cuội nhớ trăng”
Lê Xuân tiếp tục đưa người đọc trở về với ca dao dân ca. Mỗi chúng ai cũng từng lớn lên bằng lời ru của bà, của mẹ… dẫu cuộc sống còn đó những lo toan nhưng chúng ta cũng được vỗ về bằng lời ru tưởng đã ngủ yên trong tiềm thức. Khi có dịp trở về chúng ta chợt nhận ra những nét nghĩa mới theo thời gian và vốn hiểu biết của chúng ta. Bởi vì ca dao và tục ngữ có thể hiểu bằng nghĩa đen hoặc nghĩa bóng vì vốn có tính đa nghĩa nên chúng ta có thể khám phá nhiều tầng nghĩa của nó tùy theo ngữ cảnh…” Và có lẽ vì thế nó mới tạo nên sự thú vị cho người tiếp nhận, tạo nên sự đa nghĩa cho hình tượng văn học” như những câu ca dao sau đây:
“Gái thương chồng đương đông buổi chợ
Trai thương vợ nắng quái chiều hôm”
(Bàn thêm về câu ca dao: Gái thương chồng- trang 36)
Tác giả Lê Xuân đưa ra những dẫn chứng, cứ liệu đưa người đọc đi vào dòng cảm xúc trước vẻ đẹp của ca dao qua các bài phân tích, gợi mở lý thú như bài : Tình nặng lí sâu trong câu tục ngữ “Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình” (trang 40), rồi bài Bàn thêm về câu tục ngữ “ Ăn vóc học hay” (trang 44). Ông viết về hình ảnh mười hai con giáp trong ca dao tục ngữ, hình ảnh cây cầu trong ca dao Nam Bộ… Ngoài ca dao, dân ca Lê Xuân cũng dành nhiều tâm huyết cho việc khảo cứu về các đình chùa, lễ hội, ẩm thực, đờn ca tài tử. Đó là đời sống văn hóa tinh thần, là yếu tố không thể thiếu trong văn hóa dân tộc suốt chiều dai thời gian dựng nước, mở cõi, di dân. Những giá trị tinh thần đó chứa đựng hồn cốt dân tộc. Nó trở thành bản sắc riêng không mai một mà ngược lại nó phát triển phong phú phù hợp với vùng miền và thời gian, chứng tỏ sức sáng tạo không ngừng của của dân tộc ta từ xưa đến nay.
Nói đến ca dao tục ngữ hay truyện ngụ ngôn, cúng ta thấy hình ảnh các con vật mà quen thuộc, nhất là mười hai con giáp không thể thiếu trong văn học dân gian. Được xem là hình ảnh hoán dụ dễ thương để chủ thể trữ tình ký thác tâm tình, gửi gắm nỗi niềm hay thông điệp đến với khách thể trữ tình. Hình ảnh mười hai con giáp được Lê Xuân trình bày ở phần 3 của cuốn sách với các bài viết lí thú, hấp dẫn . Như bài viết về hình ảnh con chuột trong ca dao tục ngữ với cách lí giải, dẫn chứng và lời khuyên được xem là bài học từ những kinh nghiệm rút ra từ vốn sống của tiền nhân đúc kết nhiều đời qua ca dao tục ngữ:
“Chớ ham mèo chuột anh ơi
Cửa nhà tan nát, miệng đời mỉa mai”
… Và đây là một kinh nghiệm: khi con chuột bỗng dưng xuất hiện báo hiệu tin vui, sắp có khách đến thăm nhà:
“Thứ nhất đom đóm vào nhà
Thứ nhì chuột rúc, thứ ba hoa đèn”
Dân tộc ta trưởng thành từ nền văn minh lúa nước với hơn 70% dân số là nông dân, gắn bó với ruộng đồng nên hình ảnh con trâu rất gần gũi với đời sống của người dân. Nên con trâu được xem như vốn quý của kinh tế gia đình. Lê Xuân đã trích dẫn:
“Tậu trâu, lấy vợ làm nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay”
Với quan niệm này, khi nào hoàn thành ba việc ấy mới được xem là người trưởng thành chín chắn và ổn định kinh tế với mái ấm gia đình.
Tiếp tục với những bài viết, Lê Xuân đã trình bày lần lượt đầy đủ hình ảnh mười hai con giáp trong ca dao tục ngữ. Bài nào ông cũng tỏ ra am hiểu, trình bày mạch lạc, bằng ngôn ngữ khúc chiết ,mạch lạc, dể hiểu và đôi khi còn dí dỏm dễ thương làm cho người đọc tiếp cận các hình tượng văn học một cách nhẹ nhàng, thú vị. Phần cuối sách là phần phụ lục ông giới thiệu với bạn đọc hình ảnh những đình chùa, cầu, chợ, lễ hội …và hoạt động văn hóa diễn ta ở một số vùng miền mà tác giả Lê Xuân đã ghi lại được bằng hình ảnh qua các chuyến điền dã của mình.
Như chúng ta đã biết văn hóa dân gian mà ca dao, dân ca, tục ngữ là văn học truyền miệng qua nhiều thế hệ và có sự biến tấu của từng vùng miền khác nhau tạo nên tính phong phú cũng như sự đa nghĩa thâm thúy sâu xa cũng như nhiều chiều kích tâm trạng nên ngoài nghĩa đen vốn có của nó đọc lên ai cũng hiểu thì còn có những nghĩa bóng, chứa đựng ý tứ và thông điệp gửi gắm trong đó để người đời không ngừng tìm tòi khám phá .Vì thế những phân tích lí giải của tác giả dù rất cố gắng bằng cả tâm huyết và tài hoa của mình cũng chưa thể làm hài lòng hoàn toàn cho tất cả bạn đọc. Điều đáng quý là ông đã đóng góp cho bạn đọc vẻ đẹp, ý nghĩa, những nét nghĩa nổi trội và nhất là vốn sống hướng về cái đẹp mà văn hóa dân gian mang lại . Những ý kiến của ông đưa ra có mục đích gợi mở để người đọc có thêm một hướng tiếp cận với những di sản văn hóa mà ông cha ta để lại để yêu quý văn hóa dân gian và tiếp tục có những khám phá mới. Ngay từ lời mở đầu lê Xuân đã gửi đến bạn đọc những lời chân thành: “Những trang viết về văn hóa, văn nghệ dân gian ở tập sách này là một món quà tôi gửi tặng quê hương, tặng những con người và vùng đất tôi đã đi qua. Đây là những cảm nhận cá nhân ở một góc độ nhất định về văn hóa, văn nghệ dân gian. Vì trình độ còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong các nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian và bạn đọc góp ý”. Đây là những lời bộc bạch khiêm tốn của ông .Nhưng theo thiển ý của tôi, Lê Xuân nghiên cứu khảo luận rất tâm huyết, am hiểu sâu sắc về đặc trưng thể loại văn hóa và vững vàng trong quan điểm nhận định. Là cây bút có trách nhiệm với vốn quí, tài sản vô giá của dân tộc ta.
Có thể chưa phải câu ca dao nào cũng được ông bình một cách thấu đáo nhưng thành công hơn hết là ông đã truyền cảm hứng tình yêu “Hồn Việt” từ cảm xúc của ông lan tỏa đến người đọc chúng tôi. Vâng tác giả ơi! Đây quả là một món quà quý cho những ai yêu mến Hồn Viêt cũng có thể gọi là “hồn dân tộc” qua những di sản văn hóa tinh thần mà cha ông ta đã tích lũy bao đời để lại cho chúng ta. Cuốn sách là một góc nhìn của một người dành nhiều thời gian cho các hoạt động khảo cứu. Chúng ta trân trọng những đóng góp quý báu của ông. Văn hóa, văn nghệ dân gian là một món ăn tinh thần với đầy đủ các chức năng giải trí, giáo dục thẫm mỹ, kinh nghiệm sống và dự báo… thông qua hình tượng nghệ thuật đưa cái đẹp vào cuộc sống, góp phần hướng con người đến chân-thiện- mỹ để cuộc sống tinh thần thêm phong phú để cảm thấy cuộc đời có ý nghĩa hơn!
Cuốn sách của tác giả lê Xuân là kết quả của nhiều chuyến điền dã, thể hiện sự lao động nghệ thuật nghiêm túc của ông trong thời gian dài. Đây là một công trình nghiên cứu xứng đáng với giải thưởng mà hội văn nghệ dân gian Việt Nam trao tặng. Chứng tỏ công sức nghiên cứu và trí tuệ lao động nghệ thuật của anh đã được ghi nhận .Mong tác giả lê Xuân nhiều sức khỏe, phát huy năng lực sáng tạo để tiếp tục có những đóng góp mới cho hoạt động văn hóa nghê thuật như một người cần mẫn vén lớp bụi thời gian hé lộ những mảng màu đẹp từ những viên ngọc quý của tiền nhân trong kho tàng văn hóa dân tộc.
Sài Gòn, 31/12/2020
Hoàng Thị Bích Hà
Theo https://vanhocsaigon.com/

Có mái tóc hoa râm lặn lội tìm giống người

Có mái tóc hoa râm
lặn lội tìm giống người

Có người nói: ông Lê Chí sống lặng lẽ, vẻ hơi buồn buồn nỗi buồn thế sự. Tôi muốn nói: Đất nước mình vẫn luôn có nỗi buồn thương trăm năm ngàn năm đấy thôi. Tôi biết là nhà thơ Lê Chí đang ờ ờ chan chứa… rồi ngâm ngợi, thì thầm…
Xong việc ở Thành phố Hồ Chí Minh hay thành phố Vũng Tàu, có khi là thành phố Phan Thiết, tôi thường đi luôn vào miền Tây Nam Bộ, để tiết kiệm thời gian, thì đi tiếp đến  Rạch Gía hay Hà Tiên, Cà Mau hoặc Bạc Liêu, có lần còn ra mấy hòn gần đảo Phú Quốc. Làm một thôi một hồi, mươi ngày hoặc vài tuần thế rồi theo xe đò quay lại từng chặng bất chợt… Bay về đến Hà Nội thốt nhiên tự hỏi mình mà như hỏi ai: Đi thế thì được gì nhỉ? Chịu, không thể trả lời cho rành rẽ được..
Đi là đi thế thôi. Có một sự vẫy gọi từ đâu đó, rất rõ mà cũng thật xa mờ, mông lung.
Lại cũng như một thói quen, như một phản xạ tự nhiên, đã vào đến đấy, không đi tiếp Tây Nam Bộ thì vào đây làm gì? Thế là đi thôi. Lại nhớ thơ Phạm Tiến Duật: Cứ đi cứ đi, đường nhiều cái lạ…
Lần ấy tôi được ngồi với nhà thơ Lê Chí. Sự ít lời của ông hóa ra lại rất hợp. Nước sông đang dâng từ từ, phía bên kia bờ cũng hưng hửng sáng lên dần theo ánh mặt trời, đỏ sông, vàng nhà và xanh trong trời tít tắp, rạng rỡ, cao cao. Xung quanh chúng tôi người ngồi uống cà phê sáng như tự nhiên cũng trầm lắng lại cả. Ở đây có nghi lễ đón bình minh vậy sao? Tôi định hỏi nhà thơ, thấy ông lặng lẽ đăm chiêu, nên cũng lắng mình lại. Lát sau, như đã dứt được khỏi cảnh này, giọng ông trầm chậm vừa đủ nghe: Nguyên An uống đi, ở đây vậy đó.
Cái chữ “vậy đó” của nhà thơ đã như một thứ chìa khóa giúp tôi mở cửa ngôi nhà thơ của ông rồi.
Tôi nhìn xung quanh, rồi dõi mắt ra xa xa, thấy chập chờn nhiều người, nhiều gương mặt, mà không thật rõ một ai, đâu như là Lê Văn Thảo, như Nguyễn Khoa Đăng, như Lê Sơn, lại như có cả Trần Hoài Giao, loáng thoáng lụm cụm Sơn Nam, thoáng cái lại thấy ai như Trương Nam Hương đang cười cười nữa…và cả mấy ông bạn trẻ trung tân kỳ mơi mới quen quen ở hội nghị hội thảo nào…Trong đầu chợt hiện lên mấy câu: rối rắm sắc màu siêu thực/ nhốn nháo thời trang nhếch nhác tình ca/ lạm phát đại ngôn/ dư thừa hứa hẹn/ lòng ơi, xa cách đôi bờ… định hỏi: Anh Lê Chí, anh viết vậy là sao? Nhưng thấy anh cũng như đang nhìn mình nhìn ai mà như chả nhìn ai, thì im lặng lại, lẩm nhẩm tiếp:
dấu hiệu  mùa xuân
phải đâu đến sớm
tấm lòng ta như đất giục xanh trời,
rồi nhớ:
những mái tóc hoa râm
ngày ngày lặn lội
tìm hạt giống người
Người đi tìm hạt giống người, hay thơ đi tìm hạt giống người đây? Thơ Lê Chí đấy, là độc thoại, cũng là đối thoại giãi bày.
Hạt giống nào trên sông mùa nước nổi?
Không thể phân biệt được người và thơ Lê Chí, chẳng thể nào trả lời được câu hỏi đã nhiều lần chợt đến ở trên, tôi thả cho chân và mắt, tay và mũi… được tự nhiên tự do ngập vào cảnh quan của nhà thơ Lê Chí:
xuồng ba lá chông chênh giăng câu thả lưới
chợ sớm miệt đồng cá sặc cá linh
rau ngổ, rau dừa, cù nèo, rau nhút
thời khẩn hoang thấp thoáng đâu đây
lủ khủ rùa vàng,rùa sen, rùa nắp
ri cá, ri voi, hổ đất, hổ hành   
lù khù diệc, cò, ốc cao, cúm núm
Khi viết ra mấy dòng này, chắc gì nhà thơ Lê Chí đã tự xác định viết ra thế, là để tả cho được phần nào cái đặc sắc trong kho sản vật miền Tây Nam Bộ nước ta? Không xác định rõ từ đầu, mà viết ra vậy, như là từ ấn tượng. Mà đã là ấn tượng, thì rõ ràng, rờ rỡ,… mà nhiều khi cũng xô bồ trùng điệp như một đoạn phóng sự ký sự cảnh quan, một cảnh phim thời sự nghệ thuật đặc tả như vậy, hóa ra lại thành đặc sắc của thơ ông rồi.
Chuyện này xin nói lại: Đã chắc gì nhà thơ biết trước?
Một lần khác ông viết thả bút, hồn nhiên mà vui bất ngờ:
rưng rưng hoa đỏ chiều phơ phất
mờ khói nhang bay bạc mái đầu
thổn thức gieo xanh lòng đất
chiều vội vàng như giấu niềm đau!
Thế là ông đi tìm hạt giống, đã thấy, nên gieo xanh lòng đất rồi đấy ư?
Có phải hạt giống người ấy là đây:
phiêu bồng thảo theo dòng  vô định
lắt lay điên điển hoa vàng
thiên nhiên dạy ta bài học
mùa xuân đang còn ở xa
(mùa xuân ở xa)
Và đây nữa:
thương quá những mùa rơm Tết
hạt gạo trắng tinh thơm tận đáy lòng
lãng đãng khói giữ hồn năm tháng
nghe tiếng cười rung buổi hoàng hôn
(nhớ đồng)
Dường như nhà thơ từng trải qua mấy chặng học đường rồi chiến tranh, sang ngày hòa bình rồi mà chưa hết giặc, đã không còn đói mà vẫn còn quặn thương đau này… muốn nhắc với ta: có hạt giống kiên trì vững chí, có hạt giống yêu thương vô vàn, dường như đã dễ bị lẫn bị quên?
Nhà thơ thì làm được gì giữa buổi chen lấn bán mua này ngoài việc nhắc nhở và gieo mầm xanh kia, có phải Lê Chí đã có lúc nghĩ nên viết ra thế không nhỉ?
Nhưng nếu có vậy, thì cũng là sự thường. Tôi nhận ra có âm điệu buồn buồn tiêng tiếc trong thơ ông và nhiều người khác nữa. Cái thời này nó thế, ai như Hoàng Ngọc Hiến nói vậy, từ cách đây vài chục năm. Tôi nghi ngờ: Hình như anh hơi mặc cảm? Ông nhún vai: Có thể, nhưng cảm giác này là thật, là tự nhiên… Và vì thế, nó là “thực tế khách quan”? Hoàng Ngọc Hiến cười nhẹ, ý nhị: Thơ hay là thơ tự nhiên. Lê Chí nhắc: Thì có bấy nhiêu bài trong dăm tập đó, Nguyên An đọc đi,
Đọc Lê Chí, thấy ông với đương đại, thì có gì ngác ngơ, rồi bình tâm quan sát mà giãi bày, lại cũng có gì thắc thỏm, lo âu. Đó là một phiên bản của vóc dáng, tâm trạng con người và cả nghệ thuật của thơ ông. Sự định vị này của tôi về ông, rất mong bạn đọc cùng đọc thơ của Lê Chí mà trao đổi thêm. Đọc đi, trong những ngày Tết tấp nập hối hả này, tôi nghĩ tâm trí bạn sẽ thêm va động, một cái Tết có sự trầm tư cũng hay chứ sao!
Kia, nhà thơ Lê Chí đang đi và tìm hạt giống. Ông có vẻ hồ hởi hơn khi rời xa thị thành. Vẫn là cảnh nối cảnh của náo nức sự sống trên đồng trên bãi trên sông của Tây Nam Bộ, đấy là:
quê tôi vẫn như ngày ấy
chiếc xuồng bơi theo dấu câu hò
bông sậy xám bông bồn bồn cũng xám
Ông buông tiếp một dòng nữa:
người đi xa nghe đất dặn dò
(kí ức quê nhà)
Hay ở một khổ thơ khác đang viết:
vượt thác băng rừng ầm ào sóng bạc
ước mơ xanh chớp đỏ chiến trường
năm thắng buồn vui khúc hát
Ông lại “chốt chặn” luôn theo:
đất nước mình đâu cũng quê hương
Cái ý tứ của mấy câu này dễ làm ta nhớ đến Nguyễn Mỹ: Giấc mơ xanh còn mãi của tôi/ Là Ô Loan đầm nước sáng ngời/ Tôi như con sóng nhoài trên biển/ Mẹ gọi về đây nghỉ chút thôi… còn câu đất nước mình đâu cũng quê hương của Lê Chí, nếu tách ra, ta biết ngay rằng ý này không mới, nhưng đặt nó vào đúng vị trí, là câu thứ tư của khổ thơ này, ta lại thấy: nhà thơ Lê Chí trên con đường đi tìm hạt giống của mình, ông đã tìm được, hạt giống xanh ấy vốn ở quê hương, đang là quê hương.
Trở lại mấy trích dẫn ở trên, và tìm đọc thêm thơ Lê Chí ở các sách báo khác nữa, ta hiểu ra: Đó là một vùng quê lam làm vui sống, với sản vật trù phú, và cả bao nhiêu chuyện, bao nhiêu điều đáng nghĩ với bấy nhiêu vấn đề đang được lo toan, định liệu, mà làm dần…
Mùa nước nổi này trong đó có sao không?
Thật ra thì tôi từng hỏi Lê Chí  nhiều chuyện về cỏ cây vườn tược mùa này mùa kia. Nhưng không hiểu sao, mùa nước nổi trong đó có sao không? vẫn là câu tôi hay hỏi ông và một số bạn trong đó hơn. Háo hức muốn gặp thì hỏi, hơi lo nước to quá thì hỏi…Hỏi riết, nghe mãi, thấy mãi mới hiểu dần ra, đại thể: Lũ nhiều, nước sông rạch lên to, ấy là lũ giàu xin chớ lo quá. Lũ giàu, là lũ to, nước mang theo nhiều tôm cá, ba ba…và phù sa nữa, hên lắm; còn lũ nghèo, là ngược lại, dân sông nước kiếm cá tìm tôm hay rùa… đều coi như gặp khó, dân trồng bắp, làm vườn lại càng thấp thỏm về hoa ít trái nhỏ bán rớt giá, ai mua?
Đọc thơ Lê Chí càng băn khoăn. Ông kể: dân không giàu lên được, thì nhà thơ cũng phải làm nước đá mà bán cho có tiền xài mỗi ngày thôi.
ôi nhà thơ bán từng lon nước đá
giá bao nhiêu sự tinh khiết vô cùng
câu thơ sống tận đời vất vả
nước đá và  nhà thơ năm tháng bão bùng
(bài thơ nước đá)
Trên con đường sáng tạo thi ca, là con đường hun hút xa mà với Lê Chí, thì có nhiều u buồn và thắc thỏm mà bâng khuâng nhớ nhung với ngỡ ngàng, hơn là reo ca thì phải. Lê Chí độc đáo mà không cô độc cô đơn dẫu tuổi già đến dần dần, ông đã ít đi lại, ông bớt quảng giao. Ông viết: lời nào mang hết nỗi đau/ tập tễnh ra đồng với khoai với lúa/ nắng mưa dẫu dài/ chênh vênh dò bước qua cầu… mấy dòng thơ như bức tự họa này dễ làm ta thấy nhà thơ nhòe lẫn với những ông già muôn năm thủa nào. Có lẽ ấy là sự ngẫu nhiên thả bút của ông chăng? Tôi thấy mấy câu này thì lại là sự giãi bày phần hồn bên trong của Lê Chí hơn, dù ông cũng như kể lể:
học cách của sen
mày mò tìm thơ từ rơm rạ sinh bùn
chuyện trò cùng bông hoa hoang dã
chẳng có gì sang trọng lắm đâu
cũng như cá, như rau, củ hành, tép sả
chiếc võng mẹ đưa, chiếc chiếu em nằm
  không biết quanh co dối trá
  thơ sạch như đôi tay người thầy thuốc
  sáng tinh mơ
  đã gặp em cười
Không ồn ào mà lặng lẽ. Sự lặng lẽ của người chăm chỉ sau nhiều trải nghiệm, chiêm nghiệm, ấy là Lê Chí. Vậy nên thơ ông tự nhiên đã tạo ra âm hưởng và vang ngân. Tôi bỗng lại tiếc là Lê Chí và nhiều nhà thơ ta ở xa mấy trung tâm… À, mà Cần Thơ cũng là một trung tâm kinh tế, văn hóa của cả một vùng  mênh mông và đặc sắc đấy chứ. Chả biết trách ai, thì tự trách mình, là sao cứ ai hỏi ông Lê Chí chuyện nọ xọ chuyện kia , mà gần đây mới tìm đọc thơ ông được có vậy.
Đọc các tập thơ của Lê Chí, những là: cô gái đánh xe bò,  mùa xuân đến sớm, những con đường lặng im, khuya xa, hoa quỳnh, thời gian, hạc, nhớ, đời, 9 tập, thấy ngút ngàn quá! Ông Lê Chí tự ngẫm về mình mà như mời gọi:
sinh ra trên đất khô cằn
như cây lúa ít mưa nhiều nắng
con đường thơ lầy lội bão giông
mải miết đi về phía biển
(Dấn thân)
Thơ Lê Chí có ngữ điệu vầy vậy, dễ thấy hiền hiền, mà xem ra, có nhiều bài sắc ngọt. Phần thơ sắc ngọt này của ông, xin hẹn một dịp khác, ta làm món nhắm nữa. Tôi thấy thơ Lê Chí có bài này hơi lạ về giọng điệu, tiết tấu… so với chính ông. Đây cũng là thơ Tết đấy, xin chép ra đôi đoạn để anh em cùng thưởng thức.
mùa lại mùa trĩu quả
xanh màu xanh ngút ngàn
chim chuyền rung bóng lá
hoa đón mùa xuân sang…
thương hàng cây mới lớn        
biết che mát con đường
đàn chim dang cánh rộng
ngong ngóng nhìn đại dương
giữa đường hoa trăm sắc
hương ngậm ngùi xa bay
ngọn gió ru lời hát
nhắc ai người qua đây…
Bây giờ đã sang đầu tháng 11 lịch ta, mùa nước nổi miền Tây Nam Bộ đã sắp qua hết rồi, cái Tết nữa lại đến kia, mùa lại mùa trĩu quả/ xanh màu xanh ngút ngàn/ chim chuyền trong bóng lá/ hoa đón mùa xuân sang…Lê Chí viết thế, thơ như một khúc ca.
Khúc ca này gợi ta nhớ đến bài Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao…và cũng nhớ đến bài tùy bút xuân của Lê Chí nữa:
về Cây Dương
mà chẳng gặp cây dương
chỉ thấy những hàng xoài rất trẻ
sao anh nói cùng em như thế
để bây giờ em tìm ngẩn ngơ
để bất ngờ
em gặp rất…Cần Thơ
mùa xuân tới những khu vườn vui quá
từng chum trái căng đầy buông thong thả
quà mười năm mặt đất tặng cho đời
(dấn thân)
Vốn là người trầm tư, mà khi Tết đến xuân về, thơ Lê Chí, như người Lê Chí bỗng vui đến lạ.
Vào mấy ngày cuối cùng của năm 2019, nhà thơ Lê Chí gọi điện báo tin với tôi, là ông sắp in xong tập thơ mới nữa, thơ song ngữ Việt – Anh, do nhà thơ – dịch giả Nguyễn Bá Chung và nhà thơ Fred Marchant chọn dịch. Mười hôm sau, tập thơ mới có tên là Nếu…/ If… của ông đã đến tay tôi.
“Đọc, coi có được không…”, tôi lướt qua lời dặn này mà đọc ngay. Rồi mừng cho ông, là có được một tập thơ dịch (chứ không chỉ là một vài bài thơ hay một hai chùm bài được dịch như số đông nhà thơ đương đại ở ta). Nỗi mừng này cũng hàm nghĩa cảm ơn hai dịch giả, bởi các ông đã chọn được những bài “gan ruột” của Lê Chí, rồi qua lao động chuyển ngữ thơ, không, chuyển cả tâm trí, cả con người Lê Chí đến bạn đọc Anh ngữ một bức chân dung tâm hồn của một nhà thơ đặc sắc Việt Nam ở miền Tây Tổ quốc ta.
Lê Chí đi tìm hạt giống người để gieo thơ, để tâm sự. Ông đã tìm và được hòa nhập ở quê hương Nam Bộ, quê hương Việt Nam, nay lại được giao hòa với bạn yêu thơ nước ngoài nữa. Mong và tin rằng qua thơ anh, mọi người hiểu và yêu quý Việt Nam hơn.
Thơ Lê Chí toàn nói chuyện riêng của ông và của những người ra trận, và vì rất riêng như thế, nên giá trị khái quát thời thế của thơ ấy lại thật rõ ràng, và có sức gợi dẫn sâu xa:
năm tháng chiến tranh bom đạn đầy trời
mặt đất âm thầm ra trận
có nghĩa gì một câu hờn giận
ai biết mai rồi chia xa
cho dẫu bây giờ
cho dẫu hôm qua
xin đừng có trong lòng ta khoảng tối
bởi em biết
như tình yêu không nói
nói làm chi
lồng ngực gan lì
(Tình yêu)
Và đây nữa:
mấy mươi năm buồn vui thao thức
đêm đêm giấc ngủ chưa thành
mặt nạ mặt người nhốn nháo
hàng quảng cáo đáng ngờ
rập rình phiên tòa không người đối thoại
lương tâm trú ẩn nơi nào
bầu trời bao dung lơ đãng
máu thịt đâu rồi
khí hậu khôn lường
lòng người có như khí hậu?
Thơ và người Lê Chí đấy, khắc khoải lo toan. Và ông hình dung, hy vọng:
thời gian quằn mình
thời gian hốt hoảng
hòa bình
xin đừng hoang phí
con Rồng cháu Tiên
ôm nhau mà khóc
ôm nhau mà cười….
(hòa bình, xin đừng hoang phí)
Có người nói: ông Lê Chí sống lặng lẽ, vẻ hơi buồn buồn nỗi buồn thế sự. Tôi muốn nói: Đất nước mình vẫn luôn có nỗi buồn thương trăm năm ngàn năm đấy thôi. Tôi biết là nhà thơ Lê Chí đang ờ ờ chan chứa… rồi ngâm ngợi, thì thầm:
ngày từng ngày lặng lẽ
hạt giống nẩy mầm
không thể nào khác được
bài thuốc dưỡng sinh từ cỏ cây tình đất tình người
dẫu nắng dẫu mưa
mùa đang kết trái
dẫu muốn dẫu không đời đang bước tới
từng viên gạch ta xây thành phố trong lòng
(thành phố tròng lòng)
Thêm một tập thơ này mà đọc, ta biết là Lê Chí mải miết tìm hạt giống người, thì ông đang gặp. Những người này đã ở quanh nhà thơ lâu nay và ở cả những miền xa ngái nữa. Thơ và người như ông, dẫu bề ngoài có vẻ lặng lẽ, nhưng vẫn có phẩm tính liên kết tự nhiên mà.
Nhà thơ Lê Chí, tên thật là Lê Chí Trường, sinh năm 1940, quê ở Phú Hưng, Cái Nước, Cà Mau, hiện sống ở thành phố Cần Thơ. Ông tham gia kháng chiến chống Mỹ từ năm 1970, làm việc ở Tiểu ban Văn nghệ thuộc khu ủy Tây Nam Bộ. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1977. Nhà thơ Lê Chí nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III và IV, Ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV, Phó Chủ tịch Hội đồng thơ khóa V, Giám đốc Nhà xuất bản Mũi Cà Mau (1983 – 1988), Trưởng Ban Công tác Nhà văn Việt Nam khu vực Đồng bằng sông Cửu Long…
Các tác phẩm chính đã xuất bản của nhà thơ Lê Chí: Cô gái đánh xe bò (1976), Mùa xuân đến sớm (1976), Những con đường lặng im (1986), Hoa quỳnh (1989), Ngẫm nghĩ cà phê (1990), Khuya xa (1990), Ngày ấy (1996), Thời gian (2012), Hạc (2013), Nhớ (2017), Đời (2017), Nếu… (thơ song ngữ Việt – Anh, 2019).
7/1/2021
Nguyên An
Theo https://vanhocsaigon.com/

Các nhà văn đang bỏ trống văn học sinh thái

Các nhà văn đang
bỏ trống văn học sinh thái

Vài ba năm gần đây, trong đời sống nghiên cứu, phê bình ở ta đã nhắc đến khái niệm “phê bình sinh thái”, “văn học sinh thái”. Một số Hội thảo khoa học cũng đã diễn ra ở các Viện, các trường đại học. Câu chuyện này cũng đã ít nhiều được đưa tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng…
Tuy nhiên, nhìn vào thực tiễn hoạt động nghiên cứu, phê bình và sáng tác văn học, hầu như chỉ có phía nghiên cứu phê bình ít nhiều hưởng ứng, còn giới sáng tác hầu như ít có cộng hưởng. Đây là điều đang có vẻ khó lý giải…
Trước nhất, xin nói vắn tắt về lai lịch và khái niệm của chúng. Như chúng ta biết, vấn nạn tàn phá, hủy hoại môi trường đã diễn ra trên quy mô toàn thế giới từ lâu, đặc biệt từ khi thế giới bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần hai, ngay sau thế chiến thứ nhất. Lúc này, tư duy kinh tế đi theo con đường duy lợi, bất chấp tất cả, lấy năng suất lao động làm thước đo giá trị lao động; lấy kinh tế, sự giầu có về của cải vật chất làm thước đo giá trị sống; lấy sự giầu sang của cải làm hạnh phúc. Điều này làm thay đổi tư duy, biến con người rơi vào chủ nghĩa kinh tế thuần túy, duy lợi, kỹ trị.
Đi cùng với nó là những cuộc khai thác đất, nước, biển, núi, bầu trời một cách điên cuồng của con người. Kéo theo hệ lụy: Bà Mẹ Trái đất bị hủy diệt từng ngày, gây ra ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái, hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên, khí thải CO2, lũ lụt, động đất, cháy rừng, nước biển dâng, bụi mịn…Con người đang giết chết chính con người. Con người đang giết chết bà mẹ Trái Đất.
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, các trí thức, văn nghệ sĩ tiến bộ phương Tây, đứng trước nguy cơ môi trường bị tàn phá và hủy diệt hàng ngày hàng giờ đó, đã cùng nhau gióng lên tiếng chuông cảnh báo về thảm họa môi trường, thức tỉnh nhân loại và các chỉnh phủ của các quốc gia trên toàn hành tinh hay nhận thức lại về môi trường, thay đổi tư duy, điều chỉnh chính sách quản lý và phát triển xã hội. Xét trong bối cảnh đó, lý thuyết “Phê bình sinh thái” ra đời, cùng với nó “Văn học sinh thái” cũng ra đời như một cặp song sinh, đặt vấn đề không chỉ trong nhận thức, trong hoạt động nghiên cứu, phê bình mà còn đối với cả hoạt động sáng tác.
Về phê bình sinh thái (Ecocriticism), nữ GS người Mỹ Cheryll Glotfelty là người đầu tiên nêu lên định nghĩa: “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” (1970). Từ bấy trở đi, ý thức phê bình sinh thái dần phát triển, đến những năm 90 của thế kỷ 20, phê bình sinh thái trở thành một trào lưu phê bình văn học, rộng ra là văn hóa, có mặt cùng với các trường phái phê bình khác.
Theo đó, khái niệm”văn học sinh thái” (Ecoliterature)  cũng được đặt ra nhằm để chỉ các sáng tác văn chương lấy ý thức phê bình sinh thái làm điểm tựa lý thuyết và nguồn cảm hứng cho mình.
Nhìn chung, tuy nhiệm vụ khác nhau, nhưng cả phê bình sinh thái và văn học sinh thái đề cập mấy khía cạnh dưới đây:
Điểm đầu tiên, cả hai đều tiến hành phê phán tinh thần lấy nhân loại làm trung tâm (chủ nghĩa nhân loại trung tâm – Anthropocentrism). Đây là một cái nhìn tồn tại đã có từ rất lâu trong lịch sử tinh thần nhân loại, đặc biệt khi chủ nghĩa Phục hưng Phương Tây (đề cao con nguwoif là tối thượng) và tiếp theo là chủ nghĩa ánh sáng thế kỷ 18 ra đời (đề cao chủ nghĩa duy lý); ngoài ý nghĩa tích cực, mặt trái của nó là đẩy con người đến đỉnh cao của sự kiêu ngạo đối với thiên nhiên, biến thiên nhiên nhiên là đối tượng khai thác, cho phép ứng xử đối với thiên nhiên một cách bất chấp, bằng mọi giá để thỏa mãn khoái lạc vật chất. Cần có một nhận thức lại rằng con người và thiên nhiên, vũ trụ phải cùng chung sống hài hòa, trở thành bầu bạn của nhau, tùy thuộc lẫn nhau, chứ không cho phép cái nào cao/thấp hơn cái nào.
Theo đó, phê bình sinh thái và văn học sinh thái cùng đề cao tinh thần sinh thái nhân văn, ở mọi nơi mọi lúc, đối với bất kỳ ai, bất kỳ quốc gia dân tộc nào. Con người cần có ý thức thường trực đối với không gian mà mình đang sống. Nếu anh tàn hủy tự nhiên, đó là cách con người tự ăn thịt chính mình. Ai đó đã từng lên tiếng như vậy. Theo đó, văn học cần phê phán những mặt trái của nền văn minh hiện đại: chống rác thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt không có khả năng phân hủy, hạn chế dùng túi nilon, kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật/thực phẩm, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, vấn đề rác/nước thải công nghiệp. khí thải CO2; chính sách phát triển công nghiệp sạch, chính sách năng lượng…
Đề cao tinh thần trách nhiệm đối với sinh thái, phê bình và văn học sinh thái nhấn mạnh “nơi chốn” và “ý thức nơi chốn”mà con người sinh ra, lớn lên, gắn bó; thể hiện khát vọng về lý tưởng sinh thái và cảnh báo nguy cơ sinh thái… Tất cả những điều này, có thể gọi bằng khái niệm “Đạo đức sinh thái”. Một người có đạo đức sinh thái, phải biết đau xót và nổi giận trước những sự hủy hoại sinh thái của con người, phải biết tìm cách lên tiếng để phản đối, ngăn chặn những sự hủy diệt sinh thái bằng mọi giá.
Nhìn vào văn học Việt Nam,  nếu lấy mốc năm 2000, có thể nói chúng ta chưa hề có phê bình sinh thái, và càng chưa có văn học sinh thái. Đương nhiên, bằng một cách tự phát, chúng ta cũng có ít nhiều tiếng nói đề cập đến vấn đề sinh thái. Thí dụ, căn cứ vào lòng yêu thiên nhiên, sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, giữa cảnh và tình…thì chúng ta đã có một truyền thống lâu dài từ văn học dân gian đến văn học trung đại. Đến thời văn học chiến tranh sau 1954, bên cạnh truyền thống đó, văn học của ta còn lên tiếng tố cáo tội ác hủy diệt của kẻ thù về phương diện sinh thái: sử dụng chất độc da cam, hủy diệt các cánh rừng, nguồn nước, nguồn đất, nguồn không khí, gây ra biết bao thảm cảnh và hậu quả lâu dài cho người dân nước Việt. Sau này, khi đi vào văn học đổi mới, một số rất ít các nhà văn trong nước được xem như những người đầu tiên có ý thức về vấn đề sinh thái, suy tư về nó và đặt ra một cach hết sức nghiêm túc, có chiều sâu, đó là nhà văn Nguyễn Minh Châu với “Sống mãi với cây xanh” (1983), “Phiên chợ Giát” (1987), Nguyễn Huy Thiệp với “Muối của rừng” (1987), Trần Duy Phiên với “Trăm năm còn lại” (1996)…
Từ bấy đến nay, hầu như chúng ta chưa thấy có tiếp tục một gương mặt văn học sinh thái nào đáng kể. Đây là điều rất tiếc. Những ngày vừa qua liên tục các cơn đại hồng thủy ở miền Trung, thiệt hại về người và của là vô cùng thảm khốc, hậu quả của nó còn lâu dài. Lúc này, tôi thấy một tiếng nói tuy đơn lẻ thôi, nhưng rất quý, đó là bài viết của nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Tâm với nhan đề: “Khi môi trường sống rơi vào khủng hoảng: văn chương đã ở đâu”. Ở bài viết này, sau khi lập luận về tính cần thiết phải có trách nhiệm nhập cuộc của các nhà văn về vấn đề môi trường, anh đề nghị cần phải có một nỗ lực “nghiên cứu xanh”, “viết xanh” trong nền văn chương của chúng ta.
Việt Nam chúng ta đang phải đối mặt với nạn ô nhiễm, hủy hoại môi trường chưa từng thấy. Nguyên nhân do sức ép kinh tế, dân số, do ý thức người dân thấp, do quản trị xã hội yếu, và nguyên nhân do biến đổi khí hậu toàn cầu… Tất cả đang nhằm vào hoàng hành dữ dội môi trường sinh thái của chúng ta. Nếu tình hình không được cải thiện, cả môi trường đất, nước, không khí, cả bầu trời, rừng và biển, bao nhiêu gắng gỏi tạo dựng cơ đồ Tổ quốc sẽ suy sụp từng mảng, không thể cứu vãn nổi.
Bà Mẹ Trái Đất vốn rất nhân từ, đời đời che chở con người. Ấy thế mà đã nhiều lúc phải nổi giận vì sự vô ơn của chính những đứa con của mình. Đã đến lúc tất cả chúng ta cần thức tỉnh, trong đó những văn nghệ sĩ, trí thức cần phải dẫn đầu.
Hà Nội, 28/12/2020
Văn Giá
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đọc "Giọt nắng tràn ly" - Nghĩ về tư duy sáng tạo và tiếp nhận thơ ca

Đọc "Giọt nắng tràn ly" - Nghĩ về tư duy sáng tạo và tiếp nhận thơ ca Trần Lê Khánh là một cái tên “lạ” trong giới văn học nghệ ...