VĂN THƠ NHẠC
Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026
Bóng người trong Đời vạn dặm
Ngay từ những trang đầu tập thơ “Đời vạn dặm” của Hồng Thị Vinh, tôi bắt gặp câu thơ “Có những tài nhân âm thầm trong bóng tối/ Như kình ngư quẫy đạp giữa biển ngầu/ Dẫu tư chất vẫn không thành danh phận/… / Đi kiệt sức mới gặp chiếc bóng mình/ In trên nền trời quên lãng” (Dưới bóng trời, quên lãng).
Một suy ngẫm, một nhận định
khái quát hay đó là niềm chứng ngộ của chính tác giả về cuộc đời. Phải, cuộc đời
muôn dặm, con người đã trải, đã quẫy đạp, đã vắt kiệt mình để tồn tại và lao đến
những cái đích vô hình rồi rơi vào quên lãng. Có cái gì đó thôi thúc tôi đọc hết
tập thơ. Hình như những dòng ch trên đây đang chỉ dẫn về một cuộc vật lộn nội
tâm âm thầm mà dữ đội. Sự “quẫy đạp” nội tâm là trạng thái con
người khao khát nhận diện chính mình, tìm ý nghĩa nhân sinh.
Trong một bài thơ khác, Hồng Thị Vinh viết:
“Đời vạn dặm theo dòng
trôi chảy mãi
Nghĩa lý gì đâu chiều ngả
bóng, xuân vơi
Ta hạt bụi cuốn đi rồi trở
lại
Vẫn còn ta đâu thể lạc dấu
đời”
(Đời vạn dặm)
Con người dẫu nhỏ nhoi
cát bụi vẫn “cuốn đi rồi trở lại” không mất hút vào hư vô, ở đây bộc lộ mâu thuẫn.
Nhà thơ vừa xót xa cho cái sự quên lãng của kiếp người lại tự nhủ “vẫn còn ta”
và không thể “ lạc dâu đời” . Mâu thuẫn này phản ánh một thực
tế những băn khoăn muôn thuở của kiếp người không bao giờ có lời giải đáp. Cho
dù vậy con người buộc phải có ý thức về bản ngã, về cõi sống. Cõi sống thật
đáng quí, đáng nâng niu, ngay cả khi đời người đã ngả bóng chiều, xuân vơi. Cảm
nhận cuộc đời như vậy, để làm người không thể cứ vô tư mà sống. Nhà thơ luôn ngắm
nhìn, lắng nghe trăn trở cùng cõi sống.
Một màu dã quỳ bất chợt gặp
nơi núi rừng heo hút cũng khiến lòng rưng rưng hạnh phúc, và tận hưởng vẻ đẹp của
hoa, như thể đây là cơ hội duy nhất trong đời: “Sáng lên màu thương nhớ/ Giữa
hoàng hoa/ thơm phớt cánh dã quỳ/ Đi suốt kiếp mới gặp màu vàng ấy/…/ Dẫu rét
mướt cũng một lần thấy được/ Dẫu dã quỳ vàng mãi đến thiên thu (Đến Biển Hồ)
Dừng chân nơi ngọn núi đá
voi phủ phục giữa truông rộng hoang vu, chị xót thương con voi đá to xác thế mà
cũng phải chịu cảnh chơ vơ, sợ hãi, cô đơn: “Thân to xác lớn/ vẫn sợ
ngày dài đêm vắng/ Dẫu vô hồn vẫn sợ ánh trăng ma/ …/ Trần trụi chốn ta nằm/ Cổ
mộ chẳng mái che”. (Núi đá voi phủ phục)
Trước một bức tranh, chị
nhìn ngắm không chỉ để cảm thụ cái nghệ thuật của màu sắc, chị giải mã những ẩn
ngữ phía sau nó để nhận mặt cuộc đời với những vui buồn, khổ đau hạnh phúc. Chị
hiểu ra con người là một thực thể cô đơn luôn đi một mình trong những cuộc kiếm
tìm: “Bức tranh nói lời ẩn ngữ/ Có lời than trong hồn cát/ Có lời vui
trong ngọn sóng chan đầy/ Không hạnh phúc là dối/ Đau thương chưa phải thật/
Không ai đi cùng tôi/ Trên con đường tìm kiếm vô cùng” (Chén đắng).
Và đằng sau tất cả cảm nhận
thiên nhiên, nghệ thuật, đời thường… là bản ngã nhà thơ. Cái bản ngã ấy có khi
mặc cảm, có khi tự tin kiêu hãnh. Thơ Hồng Thị Vinh có rất nhiều câu hỏi, những
câu hỏi xoáy vào ý nghĩa sống làm người. Bắt đầu là việc tìm kiếm chính bản
thân: “Có phải núi gần/ Đường ta xa/ Có phải biển đầy hồn ta cát mọn/ Nằm
thu mình giữa bãi sóng trùng dương” (Loài hoa chợt nở). Rồi chị làm một
cuộc “phẫu thuật” chính mình, nhận ra cái tự thân đầy tính phức tạp, phải tự
mình điều chỉnh để trở về trạng thái đơn giản bình yên như một phương pháp giải
thoát: “Có lúc tự mình vỡ ra… / Có lúc thấy mình nhoè nhoẹt…/ Lại thấy mình
biến mất…/ Thật bình yên/ Như chưa từng quá khứ/ chưa từng hiện tại / Tương lai
“ (Tự thân)
Quá trình nhận thức bản
thân cũng là quá trình nhận thức về con người với đầy mâu thuẫn, trăn trở.
Trong trục quay của thời gian quá khứ hiện tại và tương lai, con người luôn vội
vã và đa sự. Bận rộn với những cái đích vô hình người ta đã lãng quên hiện tại,
để trôi tuột đi những phút giây quý giá. Pháp thiền “Tại và hiện” của luân lý
nhà Phật như một phương châm tỉnh thức đưa ta trở về thực tại: “Nhắc câu
kinh luân hồi quên nhớ/ Chợt quý từng hơi thở bước đi/ Yêu thương nơi đây hạnh
phúc giờ này/ Kẻo rồi tiếc muộn” (Những sắc màu bình yên).
Cuối cùng nhà thơ chứng
nghiệm chân lý cuộc sống thật giản đơn. Đó là sự thấu suốt cái lẽ sắc không,
cái tiết tấu của hư vô để đạt tới an nhiên , cực lạc, một trạng thái hạnh phúc
vô bờ.
“Tôi đã thấy điều
không thể thấy
Và đã nghe tiết tấu của
hư vô
Mênh mông ấy có khi là cực
lạc
Bờ tịch nhiên sóng nước vỗ
mơ hồ”
(Chim hót hồn nhiên)
Không gian trong thơ Hồng
Thị Vinh tịnh lặng, không gian thiền, nghiêng về phía thiêng liêng. Điều đó góp
phần tỏ rõ thái độ trân trọng của nhà thơ trước vũ trụ, thiên nhiên và cuộc sống. Và,
dẫu “Đời muôn dặm” vô biên, ở đâu, lúc nào cũng hiện lên hình bóng
con người nhỏ bé mang vác nỗi cô đơn cùng những câu hỏi không nguôi về kiếp người.
25/6/2009
Lê Khánh Mai
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Hạnh phúc không ở thiên đường - Một truyện ngắn đặc sắc
Đọc “10 truyện ngắn hay năm 2019” Báo Văn nghệ Hội Nhà Văn, phụ bản số tết canh tý năm 2020, thấy có truyện hay, có truyện thường, nhưng theo tôi, xuất sắc nhất là truyện ngắn “Hạnh phúc không ở thiên đường” của Trần Thái Hưng, một tác giả trẻ, sinh năm 1990, quê Hải Phòng, nghề nghiệp Kỹ sư.
Với phong cách nghệ thuật
hậu hiện đại, Trần Thái Hưng kể chuyện một cách tự nhiên, không tự sự chủ quan,
không bày tỏ cảm xúc, thái độ về sự vật, hiện tượng, không xây dựng cốt truyện,
không phân tuyến nhân vật. Truyện bao gồm những lát cắt của đời sống và những mảnh
đời riêng lẻ, rời rạc của 5 nhân vật: bố, mẹ, anh trai, em gái, đặt trong không
gian hẹp của một căn hộ gia đình.
“Thiên đường” là danh từ
chỉ nhà vệ sinh ở tầng một trong góc cuối cùng của căn nhà, nó rất sạch sẽ vì
được bố lau dọn suốt ngày. Nó trở thành nơi thân thiết nhất của các thành viên
trong gia đình, đặc biệt từ khi nhà vệ sinh tầng 2 bị tắc, lềnh phềnh chất thải,
nhưng gọi mãi mà đội hút bể phốt vẫn chưa đến giải quyết nên cả gia đình dùng
chung cái thiên đường ấy, và nó trở thành hình ảnh trung tâm của truyện ngắn
này. Các nhân vật sử dụng cái thiên đường ấy không chỉ để tống khứ các chất cặn
bã trong cơ thể của quy trình dị hóa của bản năng sinh tồn thì họ còn tận dụng
nó như một nơi an toàn nhất để sống những giây phút tự do cá nhân tuyệt đối.
Bố có
bằng tiến sĩ, từng là nhà khoa học hàng đầu. từng nghiên cứu phân tử X có thể tạo
ra những xung năng lượng tương ứng với bộ não của con người. Ông khẳng định đề
tài khoa học của ông là có căn cứ, nhưng lại bị đồng nghiệp cho là viển vông,
tâm thần và bị đình chỉ. Bố trở về nhà đọc sách, viết hồi ký và tưởng tượng ở
trong nhà vệ sinh, thiên đường của riêng ông, chẳng cần quái gì cái Viện nghiên
cứu chậm tiến bộ và bảo thủ ấy nữa. Đáng buồn là Mẹ và cả nhà đều tin là bố bị
tâm thần, chỉ duy nhất một người hiểu bố, tôn trọng bố đó là bà giúp việc. Bố đọc
hết bảy cuốn sách về thiền định, đạt đến cảnh giới ngủ ngồi chứ không ngủ nằm,
có khi ngồi thiền trên bồn cầu và bố vẫn còn nhiều tạp niệm… Bố buồn vì những
giấc mơ không thành. Bố hận thằng Viện phó không chấp nhận công trình
phân tử X. Bố khóc vì cô đơn, khóc ở thiên đường và nhiều khi nghĩ đến cái chết.
Bố từng viết thư tuyệt mệnh, viết hồi ký, từng suy nghĩ về những phương cách tự
tử như nhảy cầu, lao vào ô tô, uống thuốc ngủ…
Mẹ rất
giỏi, biết 3 thứ tiếng, làm trợ lý giám đốc, lương tháng vài nghìn đô, nuôi cả
nhà. Mẹ nói gì cũng coi như là chân lý. Mẹ không quan tâm đến bố làm gì, nghĩ
gì. Mẹ bảo, bố: “Làm gì không quan trọng, quan trọng là bị tâm thần”. Mẹ tóc quấn
lọn, son môi đỏ thắm, áo trễ ngực, sực nức nước hoa và hay đi công tác với sếp.
Mẹ thường về nhà rất khuya, say mèm, rũ rượi nôn mửa ra thiên đường, cào cấu da
thịt bố, mê dại gọi tên người tình. Mẹ là người quyền lực nhất trong nhà. Đến
cái bồn cầu tầng 2 bị tắc cả tuần lễ, mọi người gọi đội hút bể phốt mãi không
được lại phải cậy đến mẹ. Mẹ nói “cái gì tắc thì thông”…
Anh trai tốt
nghiệp đại học loại trung bình, tương lai vẫn rộng mở vì có mẹ soi đường chỉ lối.
Mẹ bảo chờ tay trưởng phòng tài chính nghỉ hưu, tay phó phòng sẽ lên thay, tay
này hứa sẽ giúp con trai mẹ vào chức phó phòng… Anh trai không phải lo nghĩ gì,
giành nhiều thời gian rảnh rỗi chơi game và xem phim đen, say sưa ngắm hình ảnh
đôi thanh niên nam nữ ngoại quốc quằn quại quấn riết nhau để lấy cảm hứng và thủ
dâm nhiều lần tại thiên đường.
Em gái học
lớp 12, thường ngồi trên bồn cầu nhắn tin cho bạn trai cùng trường, tên facbook
là Long Trai Đẹp, với những nội dung yêu đương tuổi học trò, vừa xé giấy vệ
sinh vừa tủm tỉm cười. Tại thiên đường, em gái hàng ngày nhắn tin, gọi video
cho Long Trai đẹp, tự do sống với cảm xúc vui buồn riêng tư, khi thì cười khúc
khích, khi thì khóc lóc…
Có thể nói mỗi nhân vật
trong gia đình là một tiểu hành tinh riêng lẻ, vận hành theo một quỹ đạo riêng,
không có sự liên kết với nhau. Nếu lúc nào đó họ ngồi bên nhau, trong bữa cơm
thường nhật, thì mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng và những câu chuyện rời rạc
không thể kết nối họ với nhau.
Cuối cùng thì mỗi nhân vật
phải chấp nhận sự thật của mình:
- Sự thật về bố: Bố chết
tại thiên đường (bồn cầu). Thiên đường của bố không còn là thiên đường nữa,
nhưng có một sự thật mở ra, là, có những thiên đường khác đã và đang bắt đầu.
- Sự thật về mẹ: Người mẹ
giỏi giang đã bị đuổi việc. Công an kinh tế đến tận nhà để điều tra vì mẹ liên
quan đến vụ biển thủ công ty của tay Phó phòng tài chính.
- Sự thật về anh trai:
Anh trai phải đi cấp cứu trong một lần thủ dâm ở thiên đường… Bác sĩ bảo chưa
chết được, nhưng phải nằm viện một thời gian để điều trị bệnh suy thận cấp. Để
lâu là hỏng, là toi.
- Sự thật về em gái: Em
gái đã chặn facebook của Long Trai đẹp và suốt ngày than thở trên facebook của
mình về những yêu thương vụn vỡ, dối trá của đàn
ông và nỗi cô đơn tuyệt vọng.
- Cuối cùng là sự thật về
cái bồn cầu bị tắc: Đội hút bể phốt chuyên nghiệp đã chứng minh nguyên nhân là
do cái que thử thai của em gái.
Trần Thái Hưng viết truyện
ngắn “Hạnh phúc không ở thiên đường” bằng một giọng văn hết sức tỉnh táo, một
cái nhìn chân thực, không biểu tượng và sắc lạnh đến đau đớn. Khi tư tưởng tự
do cá nhân lên ngôi thống trị đời sống, con người trượt dài trong những
đam mê mù quáng sẽ không tránh khỏi những bi kịch số phận. Đó cũng là lời cảnh
báo đối với sự suy yếu, tan rã những giường mối cấu trúc của hình mẫu gia đình
truyền thống làm lung lay nền tảng xã hội.
Đúng như tự bạch của Trần
Thái Hưng: “Tôi viết không phải để bi lụy hay khiến độc giả cực đoan thêm, tôi
viết với hy vọng sự thay đổi, hy vọng một thế giới sống chậm lại, công bằng và
tốt đẹp hơn”.
2/10/2024
Lê Khánh Mai
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Trái tim tự do luôn rực cháy
Đọc tác phẩm PHIẾN HẠ (NXB Hội Nhà Văn, 2024) của Trần Hạ Vi
Ban đầu, tôi có ý tưởng
tìm kiếm triết lý, khám phá cội nguồn cảm xúc để thăm dò định nghĩa thơ trong
PHIẾN HẠ (PH) của Trần Hạ Vi (THV). Đọc dần, tôi biết mình đã hoài công. Bởi
thơ trong PH chính là cuộc sống, là tình yêu của tác giả. Tình yêu ấy hồn nhiên
thật thà, mỏng manh như “nhánh tường vi”, và mơ hồ như “thì thầm lời yêu quyển
sách”. Cảm thức thơ tưởng chừng vu vơ mà thực ra THV đang băng tới, vượt rào để
cán đích đương đại với thoại ngôn mạnh mẽ, chân thực. Giọng thơ THV “tỉnh như
sáo sậu” lại hàm chứa đậm đặc chất liệu hiện đại của cuộc sống thực ở hải ngoại,
hiếm gặp ở những tác giả trên bầu trời văn chương trong nước.
Thơ đến từ đâu
nếu không phải từ chúng ta
Nhánh tường vi nhạt màu
thì thầm lời yêu quyển sách
“Em có cần thiết cho anh không?”
“Và anh sẽ yêu em bao lâu?”
(Hạ thương)
Trong PH, ta sẽ bắt gặp
tâm cảm thơ xáo động như dựng ngược lên, như nước sôi trong bình siêu tốc, như
pháo hoa bắn lên trời cao, như đom đóm lập lòe và thậm chí như một tia chớp
trong đêm tối. Nếu bạn cố tìm một mối dây liên kết nào đó về bố cục, về thi tứ
và những gì thuộc về trạng thái “bình thường”, trạng thái “đang là” truyền thống
thì bạn sẽ thất vọng và ngạc nhiên vì những câu thơ tự cháy rực lên. THV thiêu
rụi cái trước cái sau, cái trên cái dưới, cái lẽ ra phải song hành, hay nói ngắn
gọn hơn là chuỗi logich đã bị cô đốt cháy.
Ngày mai trời sẽ sáng.
Chúng ta sẽ đi ra rừng. Hái cỏ tranh. Tết vòng hoa. Hai mươi ba bông hoa.
Chiếc máy cắt cỏ già nua hát một bài rầu rĩ.
Em đừng đi. Anh tìm, túi trước, túi sau, trong ba lô. Không còn kẹo bạc hà. Chỉ
còn một trái cam, tròn như mặt trời. Sáng như mặt trời.
(Những bài thơ trong đầu)
Tới PH thì cảm thức thơ
THV vươn tới độ sâu, độ nén và suy tưởng đày dặn, mãnh liệt và già dặn hơn rất
nhiều so với VI ba năm trước. Cô soi rọi lục tìm bóng tối của bóng tối để phát
hiện tia sáng thực tại đa tầng của cảm xúc, đặc biệt là tình yêu hiện sinh. Củ
hành là một liên tưởng độc đáo, bóc lớp này sẽ lòi ra lớp bên trong, càng vào
sâu càng nõn nà mà gần gủi với bản ngã. Theo tác già, đàn ông cũng như đàn bà,
nhân cách và đạo đức luôn ẩn trú trong “căn phòng bí mật có nhiều cánh cửa”:
Anh cởi mở với em một lần
cũng là tự rọi vào lòng
mình thêm lần nữa
Căn phòng bí mật có nhiều
cánh cửa
Mở khóa một lần
lại thêm cửa bên trong
(Củ hành)
Khả năng liên tưởng kỳ diệu
khi THV đặt bút viết khiến tôi kinh ngạc, cho dù thơ chính là hình thái ngôn ngữ
tự do nhất của bản ngã. Tôi không hiểu cái gì, vì sao, động cơ nào đã khiến một
phụ nữ xinh đẹp “Không có quan điểm về xã hội hay bình đẳng giới/Chỉ có
tình yêu tình yêu” đã với đến tận những vật vã của Van Gogh. Một
liên tưởng vượt biên giới địa lí, thời gian và cả lĩnh vực tri thức nghệ thuật,
kích thích sự tiếp nhận, cảm thụ của bạn đọc:
Câu chuyện của nàng bình
thường
Không có quan điểm về xã hội hay bình đẳng giới
Chỉ có tình yêu tình yêu
Và những vật vã
Mà có lẽ ngày xưa Van Gogh cũng đã đi qua
(Câu chuyện của nàng)
Dòng ý thức chuyển động
không ngừng nghỉ, suy tưởng không phụ thuộc vào tiền đề của ý tứ bài thơ. Tôi
có cảm giác khi viết xong bài thơ, THV cũng ngỡ ngàng với chính mình, với những
phơi trải tâm thức bật ra trên bàn phím:
Biển đảo ta chưa bao giờ
ngừng biến động
Quốc hội Mỹ điều tra luận
tội tổng thống Trump
Trái bóng tròn sân cỏ cứ
lăn
Anh nhặt em từ những bài thơ viết vội
(Thơ tình chiều thứ bảy)
Ẩn dụ trong PH thực sự đẹp,
cái đẹp không nề hà ngữ nghĩa, không đi tìm từ thế giới siêu thực. Dung lượng
thơ ẩn trú lặng lẽ đâu đó trong tầng tri thức đằm sâu, nay thoát xác, bứt phá
ra khỏi xác thân, đến một xứ sở đầy ánh sáng của thứ ngôn ngữ không bận lòng đến
quy ước xã hội:
Anh viết con mèo gào
hoang dại
những ẩn số từ vũ trụ
Descartes đi lạc từ một
điểm trong euclip
em là Venus ngàn năm tỏa
sáng
mùa chảy vào tối ngập
tràn
(Tháng bảy yêu ai)
Tâm thức tình yêu trong
PH không còn là những giá trị chung thủy, hạnh phúc hay khổ đau muôn thuở. Ở
đây, nhãn quan về quan hệ nam nữ chừng như đã được tự do hóa, hoặc thực dụng
hóa, chân thành đến độ như ai cũng sẳn sàng chấp nhận sự lừa dối, hay có vẻ như
tự lừa đối. Tôi không nghĩ những câu thơ trích dẫn dưới đây có hàm ý mỉa mai,
chát đắng. Phải chăng đó là một “trạng thái bình thường” của tư duy phương Tây,
nơi THV đang sống, đang lột xác để thoát ra khỏi cái vỏ bọc của con ve sầu:
Hôm nay nghe giọng anh
Vẫn trẻ trung như xưa
Cũng một bài thơ
Mềm đi khi nhắc đến
‘em’
Lạc đi khi nhắc đến
‘tình yêu chúng ta’
Dẫu đó không phải tình yêu chúng ta
(Bài thơ và tình yêu)
Thơ THV trong PH còn bao
hàm nội cảm cháy phừng phừng trong một người đàn bà, ý thức được cơ thể mình là
một phiên bản con người, “khi đầu vú em đứng dậy” trong hoan lạc với người đàn
ông khác, nàng vẫn cảm nhận được tình yêu dành cho anh.
Khi đầu vú em đứng dậy
vẫn yêu anh
trong tâm tưởng của tâm tưởng
một miền thế giới rất riêng
chưa chấp nhận rã duyên
không nhớ
không buồn
vì chưa bao giờ xa cách
chưa bao giờ ngừng yêu
(Beauty and the beast)
Và cảm giác Sex tâm lý thần
thánh – con người được tôn trọng, người phụ nữ không cần che dấu những vết tích
của hoan lạc, của hạnh phúc phút giây:
Hai người đàn ông cuối
cùng
Khi rời đi
đã quên khóa cửa
Chị nhặt màu chiều gói lại
một thanh âm
Đường vân chiếu ngang tuần
hoàn tơ máu
Đám cỏ dại đường parabol
liềm hái
Nhựa ứa ra hăng hắc nồng
nồng
(Hai người đàn ông cuối
cùng)
Nói thì nói cho cùng cho
tận như thế, nhưng THV cũng có lúc trở về với một cô gái hiền ngoan, vẫn đau
đáu một giấc mơ êm đềm, thánh thiện, lãng mạn như “nụ hôn mùa thu”:
Hôn em đi đừng nhớ đến
ngày mai
Đừng bận lòng công việc còn dang dở
Một phút yêu díu dan một phút thở
Nhịp tim chờ nhịp tim níu vần thơ
(Nụ hôn mùa thu)
Dư luận có đôi khi cũng
thúc giục Trần Hạ Vi nhìn lại mình từ cái nhìn của bạn văn về tính cách và
phong cách thơ của mình. Đó là một hình ảnh con người làm thơ hiện đại, phóng
túng, sẳn sàng viết thơ sex, “thơ không mặc gì”. Cô thản nhiên đón nhận với một
nụ cười thẳm sâu, không phải vì phản đối, cũng không phải là chấp nhận mà là một
sự mặc nhiên bỏ mặc và xem thị phi là chuyện đương nhiên ở đời:
Tôi giở trang thơ tôi
Áo quần ngắn dài xộc xệch
Jeans xanh sọt tím áo yếm cánh cam
Tóc tai rũ rượi
Có người bảo tôi làm thơ từ rún trở xuống
Có người bảo thơ tôi không mặc gì
(Đồng phục thơ)
Đẹp đẽ và nhân văn biết
bao khi THV nhìn ra thế giới, dõi mắt đến tận Afganistan, Ukraina. Theo tôi, đó
không phải là những giọt nước mắt sụt sùi, mà là một thế giới quan về sự phi
lí, những đau đớn tột cùng cho thân phận con người, kiếp người:
Anh khóc bằng cặp mắt em
hôm qua
Trên mái đầu những đứa con đã chết
Những đứa con Afghanistan
Nửa triệu nắm xương tàn
Thống khổ
Ly tan
(Chiếc áo đỏ sân bay
Kabul 2021)
Và cô đã chọn cách quên
dĩ vãng thảm sầu của nhân loại và cả bản thân cô bằng cách bay đi, “Bay
đi/ giữa bao lần bụng đói”, bay đến một nơi nào đó chưa xác định. Để rồi,
có một ngày, đó là ngày hôm nay, một Trần Hạ Vi tỏa sáng trên giảng đường đại học
với PH nồng nàn mà các bạn đang cầm trên tay.
Em đã bay đi
giữa vùng ánh sáng phân kỳ
Bay đi
giữa bao lần bụng đói
Em đã chọn quên
quên
quên
quên
lãng quên mãi miền ký ức
để sống cho hôm nay
cho một ngày
như mọi ngày
đón ánh hồng lên
(Sinh sau 1975)
Tôi xin phép được chọn một
số câu thơ mà tôi cho là tuyên ngôn của THV trong PHIẾN HẠ:
Tôi là một trái tim tự do
sống đời vui vẻ
Một sớm mai rất lạ
Tôi yêu người
Một sớm mai rất lạ
Tôi lắc mình rời xa
(Tôi là một trái tim tự
do)
Trái tim tự do đã hiến tặng
những vần thơ tự do để chúng ta có ấn phẩm PHIẾN HẠ xinh xắn trên kệ sách.
Chúc Trần Hạ Vi muôn thuở yêu đẹp và làm thơ với ngôn ngữ bản thể cũng tự do như trái tim cô luôn rực cháy.
Bà Rịa, 30/7/2024
Nguyên Bình
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Thứ Năm, 22 tháng 10, 2026
Đọc tác phẩm Ngón tay mặt trời - Phạm Đức Mạnh
Phạm Đức Mạnh là hội viên
HNV TPHCM. Cho đến nay, gia tài văn chương của anh là 6 tập thơ đầy đặn, in ấn
trang nhã. Đọc hai tập thơ anh gởi tặng: ĐẾM LÃI NỤ CƯỜI và NGÒN TAY MẶT TRỜI
(NTMT) ấn tượng đẹp đầu tiên là ngôn từ trong thơ PĐM chắc lọc, nền nã, viết từ
tâm thế một con người nhân hậu, có trước có sau, không ôm đồm triết luận cao vời
mà đậm nét nhân văn trong cảm xúc, trong ứng xử với nhân vật trữ tình, không
cay cú, cũng không bỡn cợt kiếp phù sinh giả dối điêu ngoa, ít thấy biểu hiện
nhân sinh quan về cõi đời phù du đang rất thời thượng trong thơ ca hiện nay. Phạm
Đức Mạnh làm thơ với cái tâm lành, hiền hậu, anh khai ngôn với ngọn nguồn cảm
xúc trong trái tim, không hề mượn ngòi bút để ngợi ca huyễn mộng, tung hê lí tưởng,
cũng không đã phá tồn tại, hiện hữu quanh mình. Thơ anh lành như dòng suối mát,
mà có đôi khi, suối cũng chảy qua bờ dốc gập ghềnh. Tôi nghĩ thế.
Đại thi hào Gớt nói: “Thế giới rộng lớn, phong phú và cuộc sống đa dạng tới
mức sẽ chẳng thiếu gì nguyên cớ để làm thơ”.
Nhà thơ PĐM cũng thế, anh đã từng lăn lộn với màu áo lính, khi trở về với đời
thường, anh bước vào hoạt động trong lĩnh vực báo chí, kinh doanh. Vậy nên, vốn
liếng thi chất, thi liệu trong anh vô cùng dạn dày, đầy đặn, phong phú, để NTMT
là một tác phẩm khái quát tầm nhìn, với nhiều góc độ suy tưởng, mà chủ đề chủ đạo
là những cung bậc cảm xúc hiến dâng cha mẹ, yêu thương gởi tặng cho tình yêu,
những suy tưởng về thân phận con người thời đại và những hoài niệm tuyệt đẹp mà
nhà thơ ấp ủ trong tâm thức.
Nếu ở tác phẩm ĐẾM LÃI NỤ CƯỜI, PĐM còn sử dụng một số từ ngữ quen thuộc mang
tính nghề nghiệp (tài chánh) của mình : “Một lần khờ khạo đi vay / Trắng hồn cặm
cụi tháng ngày trả em / Nỗi buồn không đặt được tên / Trở thành nợ xấu triền
miên rối bời” ( Đếm lãi nụ cười ) thì đến NTMT, ta thấy một PĐM đã cởi trói cho
ngôn ngữ thơ thăng hoa muôn màu muôn vẻ.
Công ơn sinh thành dưỡng dục kết tụ và tỏa hương trong suốt tập thơ. Đó là những
câu thơ rút ruột, gây hiệu ứng rộng sâu đến người đọc, được nhà thơ viết từ một
tấm lòng hiểu kính vô bờ. Ta hãy lắng nghe tâm tư của thi sĩ, ngay ở bài đầu của
NTMT:
“Trong mơ lưu lạc trở về
Quỳ hôn lòng mẹ tái trê mong chờ”. (Phiêu dạt, tr 5)
Nhà thơ luôn đau đáu trong lòng, nơi quê nhà, mẹ già đắng lòng khô héo mong chờ
đàn con đang lưu lạc chốn xa. Thế mà, trong cuộc sống bộn bề, dễ gì đứa con
thương cha nhớ mẹ ấy có thể gạt bỏ ngổn ngang cơm áo mà về ôm chầm lấy mẹ.
Vâng, tôi hiểu, anh cũng như tôi, chúng ta chỉ về quỳ bên mẹ trong giấc mơ hằng
đêm, giữa cái rần rật đua chen phố thị hoa đèn. Và đây, tuyệt đỉnh của thi ngôn
anh dành cho mẹ, hạt ngọc của bài thơ chủ đề NTMT. Chúng ta hãy lắng nghe, chia
sẻ và chiêm nghiệm cùng nhà thơ:
“Khói bếp rề rà tắm sương
phảng phất hương nắng non thoa son buổi sớm
đánh thức tôi ngón tay mặt trời
Bừng tỉnh
bóng mẹ gầy
nhòa mất
mãi xa
xa mãi
xa.”
Có còn dòng thơ nào viết về mẹ đẹp hơn không? Thi sĩ đắm chìm trong giấc mơ trở
về quê nhà, nơi anh lớn lên từng ngày bên mẹ. Bạn đã từng nhìn khói bếp “rề rà”
trên mái tranh còn đẫm sương mai chưa? Khói bếp của nhà thơ không chịu bay lên
mà bò trườn lan quyện trên mái tranh vừa ”tắm sương” đêm lạnh. Rồi những tia nắng
đầu tiên của ngày mới, mà theo thi ngôn của nhà thơ, đó là “hương nắng non thoa
son buổi sớm” ( thi ngôn đẹp quá) để, những tia nắng ấy, được nhà thơ ẩn dụ là
“ngón tay mặt trời” đánh thức chàng trai đang đắm chìm trong giấc mơ. Một ẩn dụ
vô tiền khoáng hậu, làm cho tác phẩm bừng lên ánh sáng, đầu sách trang trọng lạ
lùng. Và rồi, thủ pháp ngắt dòng của những câu tiếp theo biểu đạt trọn vẹn nỗi
nghẹn ngào khi nhà thơ bừng tỉnh để chơi vơi. Thủ pháp ngắt dòng giữa câu tuy
không mới nhưng được nhà thơ sử dụng đúng chỗ, khiến câu thơ như nhỏ từng giọt
từng giọt, rót nhớ nhung vào lòng tác giả, vào lòng tôi và tất cả bạn đọc, có
phải vậy không? PĐM không ôm đồm dụng ngôn kể lể công lao khó nhọc của đấng
sinh thành, sứ mệnh chuyển tải gần như vô ngôn mà hiệu ứng gợi cảm mạnh mẽ vô
cùng. Tôi xin phép được gọi đó là tài năng.
Tôi lại đang sốt ruột muốn khám phá hương vị tình yêu trong NTMT. Tác phẩm văn
học nào mà không có bóng dáng và hơi thở của tình yêu bạn nhỉ? Hugo nói : con
người không có tình yêu cũng như trái đất không có ánh sáng mặt trời.
Nhà thơ PĐM nói gì về tình yêu? Trong chuyện lứa đôi, ai mà không ít nhất là một
lần hối tiếc:
“Giá xưa
Em – đừng rụt rè như hoa trinh nữ
Anh – như nai ngơ ngác lạc đời
Trái tim – đừng chia ba phần tươi đỏ
Thu lòng đâu nuối tiếc lả tả rơi”. ( Nuối tiếc. tr 19)
Hồi tiếc để rồi ước ao, mà vô vọng, mà bất lực, chàng thi sĩ phải chắp tay cầu
xin đúc Phật. Ôi, phải chăng, khi yêu, lòng ta trở nên thánh thiện:
Cầu xin Đức Phật từ bi
“Người em mong đợi ước gì là …tôi”. (Ước gì. Tr 70)
Ha ha! Thất tình mà duyên dáng quá ! Tôi chào thua. Nhưng các bạn hãy xem tiếp
này:
Cho dù có nuối tiếc bao nhiêu thì dòng đời vẫn cứ trôi, trôi đi như dòng sông
vô tình chảy mãi, để bây giờ, ở ngưỡng hoàng hôn cuộc đời, nhà thơ của chúng ta
chỉ còn biết:
“Giờ ngồi đong đếm tuổi xuân
Vẫn không gỡ nổi trầm luân cõi người
Chiều thơm còn lại tiếng cười
Tôi xin dâng tặng cho người yêu tôi”.. (Hoài niệm. tr33)
Mà, oái oăm thay, dù có dâng tặng cả vũ trụ này, bê cả trái đất này đem quỳ dưới
chân nàng thơ để làm sính lễ cầu hôn, thì nỗi buồn vạn kiếp vẫn bủa vây chàng
thi sĩ dại khờ như hàng tá chàng thi sĩ tương tư mộng mị,(trong đó có tôi) khi
nàng hững hờ, khi giai nhân quay gót, để rồi thơ hờn thơ trách, thơ điêu linh tủi
phận cho mình, thương quá:
“Đêm nay
nửa vui – em hóa thần tình yêu
thả tim dệt mộng
nửa buồn – anh hóa đá thời gian
Đời ngậm ngùi
đắng cay anh gánh”.
Và, cuối cùng. EM chỉ còn là nổi nhớ. Nhớ người yêu như thi sĩ PĐM thì có ai nhớ
hơn nửa không? Còn tôi, tôi bó tay chịu thua đây:
“Cứ 1/1000 giây lại nhớ em
Cồn cào cơn khát cứ đầy thêm
Bốn mùa nhớ nhớ chồng lên nhớ
Mất ngủ vẫn cười mơ thấy em”.
Có thể nói, tình yêu trong NTMT không là chuyện tình đem kể, không là run rẩy nụ
hôn đầu, không hẹn hò nơi quán vắng, không hoa tím đợi chờ. Hình tượng EM trữ
tình trong thơ PĐM chỉ là cảm xúc hư ảnh, phổ quát, hình như là một quá trình
đúc kết những cảm giác yêu thương xuyên suốt cuôc đời nhà thơ.
Thế đấy, thần tình yêu quái ác luôn hành xác các thi sĩ đáng thương, thế mà, họ
vẫn là những con người luôn đau đau cho thân phận tha nhân đâu đó trong vòng
quay nhân thế:
“Thẩn thơ đi bán số đời
Xuân già tủi tủi phận người chát chua”. ( Có em, tr 36)
Mà “sân khấu đời” chân giả giả chân:
“Bỗng
Đất trời biến thể
Sân khấu đời ngột ngạt
Nhung nhúc
Kép người nhảy múa
Thật giả khôn lường”.
Thế nên, nhà thơ có đôi khi lắc đầu tuyệt vọng, ngao ngán, cũng như bao người mắc
cạn, bế tắc giữa vũng lầy thời đại chúng ta, hình như mất phương hướng khi bị
cuốn vào vòng xoáy của cơn bão hiện sinh:
“Tôi còn
Chẳng nhận ra tôi
Da sầu nhem nhém mồ hôi trét sình
Nhiều khi tôi muốn tàng hình
Trốn vào khuôn nhớ một mình ngủ say”…
Tôi tin rằng nhà thơ sẽ không trốn vào đâu cả. Anh vẫn từng ngày sống vui, sống
khỏe, nhìn ảnh chân dung anh, tôi cứ mơ ước được sung sức khỏe mạnh như anh lắm.
Tôi biết chắc PĐM vẫn còn đầy đủ năng lượng để cho ra đời những tác phẩm tuyệt
vời hơn nữa, cống hiến cho thơ ca, cho bạn bè và cho chính niềm vui niềm yêu
thơ của chính tác giả.
Chúc mừng NTMT. Đứa con tinh thần tuyệt vời của nhà thơ hiền hòa tôi yêu mến,
dù chuyện gặp nhau hàn huyên mới chỉ là lởi hẹn hò một sớm cà phê. Chúc anh
vui.
Trân trọng giới thiệu tác phẩm NGÒN TAY MẶT TRỜI với bạn bè gần xa.
Bà Rịa, 20/7/2019
Nguyên Bình
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Đôi dòng cảm nhận cánh cửa hiện sinh - Nguyễn Thụy Sơn
Tôi quả bạo gan khi nhắm
mắt nhảy xuống cái vực sâu thăm thẳm mà Nguyễn Thụy Sơn (NTS) vừa dắt độc giả
đền bên bờ hoang liêu của CÁNH CỬA HIỆN SINH. Đánh liều vì thơ NTS đã được một
số cây bút chuyên nghiệp đánh giá, phê bình với khá nhiều giấy mực. Tôi cũng
chưa có dịp đọc TRẦM TÍCH, tác phẩm của NTS vừa trình làng trong thời gian gần
đây. Nhưng có gì ngăn cấm tôi viết ra cảm xúc của mình trước một bài thơ mà tôi
yêu thích, khiến hồn tôi rung động? Puskin gọi nhà thơ là “ca sỹ kiêu hãnh của
tự do”, Còn tôi, tôi không được tự do thả đôi cánh diều thăng hoa khi lắng nghe
ca sĩ kiêu hãnh của tự do cất tiếng hát từ bên trong cánh cửa thiền
chăng?
Thế đấy, khẳng định để tự tin. Ngòi bút không chuyên của tôi bắt đầu hí hoáy.
Có điều, xin thưa lại một lần nữa, đây chỉ là cảm nhận của riêng mình, tôi
không bao giờ nghĩ mình đủ tư cách khen chê thơ của nhà thơ mà bạn bè đang rất
yêu mến và ngưỡng mộ, đương nhiên, trong đó có Nguyên Bình. ( là tôi )
Không gian thơ của CÁNH CỬA HIỆN SINH (CCHS) là một nguyên khối quyện hòa đậm
chất suy tưởng. NTS không đặc tả đậm nhạt cái thế giới đang tồn tại để làm khúc
dạo đầu, ở đây nhà thơ quán niệm thẳm sâu về quá khứ và hiện tại:
Mượn bóng chiều vàng thỏa hiệp đêm
Mây Tần qua Sở phủ non thiêng
Rêu phong khóa kín hồn bia đá
Bia miệng ngàn năm ngậm tuổi tên
Vâng, tôi cảm nhận được thời khắc pha trộn huyễn hoặc của ngày và đêm, của thực
tại và tâm linh, của quá khứ bị bào mòn và vị lai chưa định hình, của xét nét
nhân gian bia miệng mà tác giả chứng ngộ qua những thăng trầm biến thiên chuyển
dịch. “Mây Tần qua Sở phủ non thiêng”, phải chăng thi nhân bày tỏ nỗi đau trước
những khát khao danh vọng thấp hèn đã ngập tràn bao phủ lấy non cao của lòng tự
trọng, hồn bia đá ngàn năm đã bị khóa kín bởi rêu phong thời gian vô vị, âm thầm
bào mòn, gậm nhấm cho năm tháng tàn phai, và bia miệng ngàn năm không còn lên
tiếng?
Vác nỗi buồn lên gõ cửa trời
Dọc hàng mây trắng nắng ai phơi
Thiền am bóng bụt vừa đi vắng
Sương tuyết hồn ta hóa thạch ngồi
NTS, sau khi ngẫm ngợi chuyện đời xưa nay đắn đót, dè dặt ôm giấc mơ nhân gian
bay vào cõi tịnh. Thi nhân vác cả nỗi buồn ngàn năm ấy đi gõ cửa thiên đình.
Tôi đoan chắc rằng, nỗi buồn này không là đớn đau cá thể, không là hụt hẫng
chơi vơi tình sầu tầm thường, mà chính là bi kịch nhân gian, mãi mê ngụp lặn
hoang đàng với nhân sinh quan hẹp hòi đua chen hơn thiệt. Tác giả muốn cầm cố
căn bệnh di căn của con người hôm nay cho trời đất, cho vũ trụ vĩnh hằng, như một
sứ mệnh cứu rỗi tự thân gánh lấy. Thế mà, hãy xem kìa các bạn, trên đường viễn
phương nhọc nhằn đó, thi nhân vẫn kịp ngắm nhìn “dọc hàng mây trắng nắng ai
phơi” , lững lờ, bềnh bồng phù du, như cánh hạc từ cao tít từng không chiêm ngưỡng
nét đẹp muôn đời của thiên nhiên lộng lẫy dưới đôi cánh lả bay, rồi lần ghé vào
“thiền am bóng bụt vừa đi vắng”. Ngay cả ông Bụt, chủ nhân thiền am mà nhà thơ
cũng cho "đi vắng", để làm gì ư? Tôi chợt khám phá ra rằng, NTS thiết
tha sở hữu một giấc mơ tự do tuyệt đối, bởi, chắc hẳn vào giây phút thăng hoa,
tâm hồn thi nhân tinh khiết, không còn gờn gợn chút gì, trong như suối, lành
như sương, vẹn nguyên như chân như diệu pháp thường hằng. Phải chăng chỉ còn
TÔIi, còn TA, mà hồn ta là tuyết sương ngàn năm hóa thạch, một mình một bóng chễm
chệ ngự cõi hoang nhiên. Phút giây ấy xuất thần vi diệu biết bao. Hình như Hê
gen từng nói: “Thi ca là thứ nghệ thuật chung của tâm hồn đã trở nên tự do và
không bị bó buộc vào nhận thức giác quan về vật chất bên ngoài; thay vì thế, nó
diễn ra riêng tư trong không gian bên trong và thời gian bên trong của tư tưởng
và cảm xúc.” Tôi nghĩ, lúc vén tay phóng bút, NTS đã bay lên vi vút cùng cảm
xúc, quên mình là ai.
Vậy mà, bay chưa qua hết chín từng mây, không biết đã kịp gõ cửa nhà trời hay
chưa, nhà thơ chừng như lại va vấp nỗi đời, âu cũng là thân phận con người, nào
có ai đã vượt qua bên kia sông để đến với bờ giác như câu chú bát nhã ba la mật.
Thật đau lòng, tôi thắt cả ruột gan:
Dúi ngày sau cánh cửa hiện sinh
Ếch trước gương soi thẹn bóng mình
Đục nước ao nhà trăng lõa thể
Bên hồ chết cạn giọt nguyên sương
Đêm hoang vu và ngày mỏi mệt. “Dúi ngày”, ôi thi ngôn hàm chứa trọn vẹn thực tại
đầy mai mỉa làm nhức nhối tim gan. Cánh cửa hiện sinh toang hoác, nuốt chửng
cái còm cỏi thân phận con người đang bị đọa đày, dày vò đến mỏi mòn khát vọng.
Nhìn thấy cái hạn hữu của nhận thức, thẹn với mình như con ếch tự soi gương
trong đáy giếng lạnh, thấy cuộc đời đen trắng lõa lồ, “đục nước ao nhà trăng
lõa thể”. Ngoảnh lại chạm mặt nhân gian, vầng trăng thanh cao rơi xuống ao bùn,
tung hê nhan sắc xiêm áo diêm dúa, và than ôi, “giọt nguyên sương” chết cạn mất
rồi. Cánh cửa hiện sinh đêm ngày mở khép trong tối tăm và ảm đạm cùng thân phận
người, thân phận thi nhân.
Thế thì, biết làm sao đây, thi nhân đành lòng gõ nốt trầm lên khung nhạc của
lòng kiêu hãnh thi ca, mà đớn đau, mà mù lòa, có chăng là khát vọng hé mở cánh
cửa thiền thay cho cánh cửa hiện sinh u trầm:
Gõ xuống hợp âm một nốt trầm
Dội vào vách đá lặng thinh âm
Chúa trên thập giá chùi vệt máu
Phật ngự đài sen bước xuống ... THIỀN.
Nhưng, nốt trầm của nỗi buồn hiện sinh chừng như cũng chỉ dội vào vách đá, hắt
thanh âm trở lại cắt cứa lòng người, đau như nỗi đau tận cùng của Chúa trên thập
giá, và, “Phật ngự đài sen bước xuống… THIỀN” , phải chăng là để cứu độ hành giả
mắc nạn giữa cõi đời ô trọc...
Tác giả không dụng ngôn nhiều trong suốt bài thơ, mà thi ý lồng lộng muôn
phương, mà cảnh giới thiền tâm trong mơ ước tuy mong manh sương khói nhưng có lẽ
đã chạm lòng người đọc. CÁNH CỬA HIỆN SINH đã cho tôi khóc cười cùng tác giả,
khóc cười cùng bao khát khao mà thi nhân thời đại chúng ta ít người vươn tới được.
Chúc Nguyễn Thụy Sơn tiếp tục sáng tác sung mãn, cống hiến cho đời những bài
thơ hay.
CÁNH CỬA HIỆN SINH
Mượn bóng chiều vàng thỏa hiệp đêm
MâyTần qua Sở phủ non thiêng
Rêu phong khóa kín hồn bia đá
Bia miệng ngàn năm ngậm tuổi tên
Vác nỗi buồn lên gõ cửa trời
Dọc hàng mây trắng nắng ai phơi
Thiền am bóng bụt vừa đi vắng
Sương tuyết hồn ta hóa thạch ngồi
Dúi ngày sau cánh cửa hiện sinh
Ếch trước gương soi thẹn bóng mình
Đục nước ao nhà trăng lõa thể
Bên hồ chết cạn giọt nguyên sương
Gõ xuống hợp âm một nốt trầm
Dội vào vách đá lặng thinh âm
Chúa trên thập giá chùi vệt máu
Phật ngự đài sen bước xuống... THIỀN.
Bà Rịa, 21/6/2019
Nguyên Bình
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Giọt dương cầm thánh thót trong đêm sâu
Nhà thơ Khúc Thụy
Du
(Trần Mai Ngân)
Thật là lạ lùng, mỗi khi
lần giở những trang thơ của nhà thơ KHÚC THỤY DU, tâm thức tôi lại có cái gì đó
âm vang như từng giọt dương cầm thánh thót rơi rơi trong đêm nến hồng ấm áp. Dường
như là thanh âm từ tiếng xưa trăm năm vọng về, hay từ giấc mơ nào xa thẳm mới vừa
bị đánh thức? Lãng đãng giữa không gian êm đềm huyền thoại ấy, hồn thơ ai khuấy
động làn ánh sáng lung linh, rồi hòa cùng giọt đàn mộng mị, tan loãng vào đêm
sâu. Nếu tôi có mơ, thì chắc hẳn đây cũng là một giấc mơ đẹp giữa những bộn bề.
Không lặn lội vào cõi thơ
ai đó thì làm sao thấu cảm tâm hồn một thi nhân? Du theo hồn thơ, ta lặng lẽ đạp
bóng thi nhân đi sâu đi mãi vào miền hoang vu nội cảm điệp trùng. Lắng lòng với
ý thơ bất tuyệt, ta bàng hoàng thấu tỏ bao điều dấu kín trong vô vàn ẩn dụ của
mật ngôn thi tứ.
1. GIẤC
THỤY DU. Huyền ảo một tình yêu.
Hãy lắng nghe KTD tâm sự ở
khúc dạo đầu, thay cho lời tựa:
“Trong đêm tĩnh mịch,
trong đêm u hoài tôi luôn thầm gọi yêu dấu. Tôi cũng tự hứa với yêu dấu là tôi
sẽ mãi yêu thương người đến muôn nghìn năm sau dù người không hề hay biết”
“Trong đêm như thế
tôi làm thơ những bài thơ vắt bằng cạn kiệt của con tim hy vọng và cũng đầy thất
vọng”
Chỉ bấy nhiêu dòng với cả
tâm tình hiến dâng, Khúc Thụy Du đã tự mình khẳng định cái chân lí muôn đời YÊU
LÀ CHO ĐI. Và thơ chị là một chuỗi yêu thương âu yếm dệt xâu từng đêm từng đêm
lặng thầm gởi trao cho người yêu dấu. Chàng là ai? người diễm phúc nhất trên
cõi đời này, chẳng biết đến giờ đây đã mở cửa trái tim đón nhận những vần thơ
thi nhân trao gởi, hay dấu yêu cũng chỉ là hình bóng ảo huyền muôn đời không có
thật:
Em biết
Trong khúc quanh đồng
vọng
Dư âm của dấu yêu
Dù rất rõ một điều
Là không hề có thật…
(Khúc Thụy Du)
Đêm của nhà thơ mãi là
đêm mộng du, đêm của chơi vơi từng giọt nhớ thương, đêm của lệ nến vơi đầy, mỗi
khúc thơ cũng là một khúc nhạc du dương, ta nghe như từng giọt đàn thánh thót
rơi trong khuê phòng yên ắng:
Hằng đêm…
Nghiêng rơi chơi
vơi
Cung trầm ảo vọng
một lời
Gọi tên ai trên
đôi môi
Thụy du khúc – buồn
xa xôi ! (Đêm mộng du)
Không biết vô tình hay hữu
ý, nhà thơ sử dụng thể thơ lục ngôn độc vận buồn não nuột, xao xuyến lòng tôi.
Thơ của KTD như làn sương
khói lung linh trong đêm thắp nến, chị ươm trong cõi thơ mình từng vần điệu, từng
thi ngôn thi ảnh mơ hồ, như người yêu dấu trăm năm của chị xa vời tựa “một làn
khói trắng, ru đời vào quên lãng…”:
Ta như hoa – người
như sương đêm
Phủ ngộp trong
nhau – giấc nghê thường
Tan cùng cung bậc
hương đêm nguyện
Hòa trộn nhịp
nhàng với tiếng khuya. (Sương và hoa)
Hình như trong thơ và qua
thơ KTD, tất cả hiện hữu đều huyền ảo, tình yêu chị nồng nàn là thế, dâng hiến
là thế mà rồi cũng chỉ như một thoáng phù du, mê hoặc:
Bến mê ai lạc lối
vào
Lịm trong một giấc
ngọt ngào huyền không
Mênh mông chỉ thấy
mênh mông
Tình tôi xa vắng vọng
vào vách ngân ! (phù du)
Ngay cả cánh chuồn của tuổi
thơ yêu dấu cũng là những vòng bay lượn nhạt nhòa trong tâm thức, đến nỗi đôi
cánh mỏng đã trượt chân tội tình vào ngang trái:
Chuồn chuồn cánh mỏng
ru tình
Ru mây ru gió ru
mình à ơi
Ngày xưa không thốt
nên lời
Ngày nay cánh mỏi
một đời vẫn xa…(chuồn chuồn bay)
Để đêm của thi nhân là những
đêm dài nuối tiếc, linh hồn nàng bay lượn trong bóng đêm, hụt hẫng, bơ vơ, mất
mát, để nỗi buồn lặng lẽ vò xé không gian, nỗi buồn rơi vãi, nỗi buồn lững lơ,
nỗi buồn không định hình vây chụp lấy nỗi cô đơn, nỗi riêng một mình lẽ bóng
khi người yêu dấu của thi nhân đã vẫy tay:
Đêm nguệch ngoạc nỗi
buồn
Vẽ vành khăn sô trắng
Để tang lời chia
tay
Ngại ngùng trên
môi ai. ( Đêm vẽ)
Thế cho nên, nhà thơ dạo
bước bên hiên chùa thanh vắng, hay khi nghe tiếng chuông giáo đường leng keng
trong chiều hoang phế, chị ngoan ngoãn chấp tay “xin chút nhiệm mầu”. Âu là vậy,
trong mất mát, khổ đau con người thường vịn vào bàn tay thượng đế nâng đỡ niềm
tin và linh hồn:
Nhiệm mầu xin đến
một lần
Cho bàn tay chạm
thật gần bàn tay
Cho đêm tiếp nối
đêm dài
Để ta nương tựa những
ngày có nhau…(Xin chut nhiệm mầu)
Có chăng một lần tan vỡ
trong cuộc đời nhà thơ ? Có chăng một lần “tình yêu vỗ cánh bay xa”, hay có
chăng một lần người ấy ra đi vĩnh viễn, bỏ lại bên trời kỉ niệm một nhan sắc mặn
mà với một tình yêu bất tuyệt, cho đi mà không hề mong nhận lại? Thật lòng, tôi
không đủ can đảm đặt câu hỏi vẩn vơ này với KTD, chỉ xin cảm nhận chứ không là
thức nhận, khi viết về những vần thơ nhân chứng cho nét đẹp tình yêu cao thượng
trong tâm hồn thi sĩ.
2. DƯ
ÂM NGHÌN TRÙNG
Trọn vẹn một tình
yêu dâng hiến.
Đi sâu vào tập thơ DƯ ÂM
NGHÌN TRÙNG (DANT), tôi lại càng cảm nhận sâu sắc thế nào là một tình yêu vĩnh
cửu, tình yêu cho đi. Trong khung trời diễm mộng ấy, thi nhân ôm ấp hoài niệm dấu
yêu cho cả cuộc đời mình, trong suốt hành trình thơ, mãi mãi tôn thờ sự rung động
ban đầu mà chính nàng thơ bắt gặp, và thơ, như là một phương tiện giao cảm với
chàng ở tận một nơi xa vời nào đó.
Với dấu yêu!
Đơn giản là em yêu
anh
Đơn giản là em chỉ
muốn khi mình từ biệt cuộc đời thì những bài thơ này, những tứ thơ này đã được
ghi tên tặng anh, tặng cuộc tình của chúng mình, một cuộc tình hyền ảo có thật
mà em đã đặt tên là GIẤC THỤY DU.
Này đây, nồng hương nụ
tình trong phút giây hai người bên nhau, trái tim nhà thơ cháy bỏng lửa yêu
đương mặn nồng, Khúc Thụy Du không hề dấu diếm phút giây tận hiến cho hạnh
phúc lứa đôi:
Nữa đi anh …thật
sâu và thật chắc
Hơi ấm nồng rạo rực
dấu đôi tay
Nụ hôn sâu trượt
xuống thật là dài
Vào ngực tối miên
man vùi chăn gối. (Ơn anh)
Khi yêu đương, bao nhiêu
cho đi cũng là chưa đủ, đêm ngà ngọc đắm say, ngày hơi thở nồng nàn dồn dập, vậy
mà nàng thơ luôn khát khao một tình xuân trọn vẹn, nên mãi miết ngơ ngẫn lòng hỏi
lòng, hỏi mãi với người yêu dấu:
Ngực trầm hương thở
vội
Yêu dấu ơi sao vừa
Xuân non cành lộc
biếc
Ta có mùa xuân
chưa. (Gọi xuân)
Thời gian của yêu đương
là thời gian không trôi. Giấc mơ của yêu đương là giấc thụy du miên viễn. Cho đến
khi bàn tay ta chạm vào cuộc sống ác nghiệt, linh hồn ta chạm vào nỗi trống
vắng não nề, đó là lúc ta nhận ra mình chơi vơi trong đêm say mèm ân ái chỉ còn
là ảo giác, không gian quanh nhà thơ chỉ còn đêm hoang lạnh, đêm hắt hiu :
Đêm nay đêm của lặng
thinh
Cuồng si thuở ấy
bóng hình nơi đâu
Dấu tay vết bấu
còn sâu
Ngát trên da thịt
một mầu hư vô. ( Đêm là hư vô)
Cứ thế, cuộc đời trôi như
dòng sông trôi, chỉ có tình yêu ở lại*. Thấp thỏm từng ngày, bơ vơ từng đêm,
triền miên xa, triền miên nhớ, thanh tân nay đã héo khô, tình non nay đã già,
chỉ có ân tình vẫn trọn vẹn thủy chung, ươm đầy hy vọng:
Dẫu mấy mươi, dẫu
tóc đã phai màu
Ta nhuộm lại xuân
thì muôn năm cũ
Những mộng mơ mà
em anh ấp ủ
Sẽ như hoa, như
trai chín thơm lừng (Tình già)
Với một tình yêu thương
mênh mông như thế, ta không ngạc nhiên khi nàng thơ độc thoại, mà như giao bôi
cùng người tình trăm năm của linh hồn nàng. Tôi hiểu và tôi xót xa. Tôi chia sẻ
và tôi ngưỡng mộ, tôi kính trọng và tôi khóc thầm:
Hư vô đầy một chén
Tôi mời mình đêm
nay
Ta cùng cạn và say
Tôi gọi mình quắt
quay. (Mình à)
Trước mắt tôi, giai nhân
bày cuộc rượu, độc ẩm mà đối ẩm, đối ẩm với hình bóng xa xăm. Trong cơn say,
thơ là thực, thơ là chứng nhân, thơ là phút giây hiện hữu, “Tôi mời
mình đêm nay”. Tôi thấm cái từ TÔI mà không là EM như đã từng ngọt
ngào, và rồi, “mình ơi mình có hay”. Những uẩn khúc của nội
tâm chuyển biến kì ảo, giữa xót xa và dịu dàng, giữa cay đắng và thiết tha, được
nhà thơ thể hiện tinh tế mà chân thực quá. Tôi tin KTD trong phút giây này là
KTD của tình yêu.
Viết mãi, với thơ tình
KTD thì tôi nghĩ không bao giờ cạn. Thơ chị chính là tình yêu. Và tình yêu là lời
của yêu thương trong tâm hồn chị, và tôi tin, người ấy cũng yêu chị như chính
chị yêu người, dù hai người giờ đây không còn là của nhau trên cuộc đời này.
Tôi xin trích dẫn một đoạn
thơ tình bất hủ của Tagore:
“Đôi mắt âu lo của em buồn
Em muốn nhìn vào tâm tưởng
của anh
Như trăng kia nhìn sâu
vào biển cả,
Em đã biết cõi đời anh
Anh không giấu em một điều
gì cả,
Chính vì thế mà em không
bao giờ hiểu biết hết về anh” ( Bài số 28)
Phải chăng, tình yêu là sự
đồng điệu trong cảm thụ, sự giao hòa trong gần gủi, là dâng hiến trong tâm hồn.
Nhưng trái tim con người, thế giới nội tâm con người lại mãi là một cõi bí mật
vô cùng tận. Chỉ có thể lí giải như thế khi nhà thơ KTD phải “Để tang lời
chia tay/ Ngại ngùng trên môi ai.” cho cuộc tình duy nhất, chung thủy,
vẹn nguyên của cuộc đời chị.
Chúc cho con đường thơ
trước mặt của KTD vươn tới bao điều tốt đẹp, như là một đại biểu cho những khúc
thơ tình tinh khôi, diễm mộng. Độc giả vẫn rất cần những viên ngọc lấp lánh đó
giữa những bầm dập tai ương của xã hội thời @.
5/6/2021
Nguyên Bình
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Giai điệu trầm quê hương của Trần Vạn Giã
Giai điệu trầm quê hương của Trần Vạn Giã TRẦM KHÚC Chiều ơi và ngọn gió may Thổi bao đời cát đã bay trên đồi Hình như trong gió có lời Ru t...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...
-
Thẩn thơ Võ Phiến Nhà văn Võ Phiến, sinh năm1925 tại Bình Định - qua đời chiều 28-9-2015 tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Dư luận chợt nhớ đến một sự n...
-
Nỗi khắc khoải kiếm tìm bản thể trong truyện của Nguyên Minh Nguyên Minh như một chứng nhân sinh động cho một thế hệ cầm bút từ trước 1975...