Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

Mười hai tướng soái Trung Hoa 2 000000

Mười hai tướng soái Trung Hoa 2

7. VỆ THANH - GIỮ VỮNG BIÊN CƯƠNG
Sau khi đánh bại Sở vương Hạng Võ, Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Hán Cao đế, bắt đầu xây dựng một triều đại khá huy hoàng và kéo dài nhiều trăm năm. Thế nhưng ngay lúc Lưu Bang còn sống cũng không được yên ổn bởi sự quấy phá của một dân tộc phương bắc, đó là Hung Nô. Chính Hán Cao đế cũng đã có lần phải thân chinh đi đánh dẹp và trúng kế “Thỉnh quân nhập ủng” (Mời ông vào rọ) của một Thiền Vu Hung Nô là Mạo Đốn, suýt nữa đã bỏ mạng nếu không nhờ Trần Bình siêu việt nghĩ ra kế ly gián. Khi thoát khỏi Bạch Đăng thành rồi, Lưu Bang chắc chắn hết cả hồn vía và chỉ mấy năm sau thì băng, không còn trận nào đọ sức với Hung Nô nữa. Khi Hán Văn đế lên ngôi, nhờ vào chính sách “ôhòahân” của tiên đế, đất nước được thành bình một thời gian khá dài.
Thế nhưng, cuối cùng người Hung Nô vẫn ôm ấp mộng xâm chiếm dải đất Trung nguyên màu mỡ và nhiều lần tiến quân quấy phá dò xét xem thực lực triều Hán mạnh yếu ra sao. Nhờ có danh tướng Lý Quảng, biệt hiệu Phi Tướng quân, nhiều phen làm cho quân Hung Nô phải thất đảm kinh hồn. Ông là lão tướng trải qua ba đời Hán đế, đến khi Hán Vũ đế lên ngôi với chủ trương dùng quân sự tiêu diệt Hung Nô tận gốc thì ông mới qua đời trong một cuộc tiến binh bất lợi.
Lý Quảng gia nhập quân đội Hán triều ngay khi còn nhỏ tuổi, hầu như ít khi về triều mà suốt đời ở nơi biên cương để chống với quân Hung Nô. Lý Quảng là người có sức mạnh nhưng được người ta khen ngợi hơn cả là tài dùng binh thần tốc khiến quân Hung Nô không kịp trở tay. Hán Văn đế hết sức khen ngợi Lý Quảng, đang toan tính thăng chức và cho ông nắm trọng trách chỉ huy nơi biên cương thì qua đời. Do vậy khi Hán Cảnh đế (156 - 140 trước Công nguyên) lên nối ngôi chỉ phong cho ông làm Kỵ Lang tướng, giữ trọng trách bảo vệ Hoàng đế.
Khi Ngô vương và Sở vương liên kết với nhau nổi dậy lật đổ triều Hán, Lý Quảng được giữ chức Đô úy cùng đi theo với Thái úy Á Phu dẫn quân dẹp loạn. Nhờ chiến công hiển hách đánh tan loạn quân, sau khi xong việc Lý Quảng được điều đi giữ chức Thái thú miền tây bắc với nhiệm vụ đề phòng quân Hung Nô quấy nhiễu.
Một lần kia, Cảnh đế muốn tìm hiểu tình hình biên cương, sai một đại quan thân cận cùng với mấy tên võ sĩ tùy tùng đến quân doanh của Lý Quảng. Thấy phong cảnh biên cương rộng rãi bao la, rừng xanh thâm u rất đẹp, viên cận thần hứng thú cùng với đám tùy tùng cưỡi ngựa dạo chơi. Bỗng nhiên có ba tên quân Hung Nô như trên trời rơi xuống, phi ngựa nhanh như gió đến nơi, đồng thời bắn tên ra như mưa. Mấy tên tùy tùy đều trúng tên chết, chỉ riêng viên quan chỉ bị thương nhẹ, cố sức phóng ngựa bỏ chạy. Lý Quảng lập tức dẫn kỵ binh ra cứu ứng.
Với tài thần tiễn, Lý Quảng mau lẹ bắn chết hai tên Hung Nô, bắt sống được một tên. Chẳng ngờ đó chỉ là mấy tên quân tiền tiêu, ngay khi ấy đại quân Hung Nô xuất hiện dày đặc trên các gò đất cao, hò hét xung phong định báo thù cho đồng bọn. Quân sĩ dưới quyền Lý Quảng đều kinh sợ, ai nấy bàn nhau phải bỏ chạy cho thật mau. Thế nhưng Lý Quảng bình tĩnh nói với bọn chúng:
– Chúng ta bỏ chạy tức là làm bia cho bọn chúng bắn, đều chết hết. Cứ hãy đứng im, địch sẽ tưởng chúng ta đang bày thế dẫn dụ, sẽ chùn bước mà không dám tấn công nữa.
Bọn quân sĩ nghe lời, quả nhiên khi thấy đối phương hoàn toàn không sợ hãi thì quân Hung Nô đâm ra nghi ngại, sai một tên kỵ binh đến gần xem sao. Lý Quảng trổ tài thần tiễn bắn chết tên này khiến cả một đạo quân hung hãn đều khiếp sợ, đứng im cho ông ung dung cưỡi ngựa ra về. Thái độ của Lý Quảng quá thản nhiên khiến quân Hung Nô lại càng nghi ngờ, ngay đêm hôm đó rút ra xa để đề phòng. Sự bình tĩnh và quyền biến của Lý Quảng nổi danh từ lúc ấy, vì vậy khi Hán Võ đế lên nối ngôi thì cho ông giữ chức Vệ úy trấn giữ Nhạn Môn quan.
Vào năm 140 trước Công nguyên, Lưu Triệt lên ngôi, xưng hiệu là Hán Võ đế. Ông là người hùng tâm tráng chí, cương quyết đến độ tàn nhẫn, điển hình nhất là việc tướng Lý Lăng dẫn quân đi đánh Hung Nô, vì quá ít quân, lại bị bao vây tứ phía nên đành phải đầu hàng. Thế mà Hán Võ đế bắt tội cả nhà họ Lý đem giết hết. Sử quan là Tư Mã Thiên chỉ nói vài lời tỏ vẻ bênh vực, cho rằng Lý Lăng lâm vào tình trạng bất đắc dĩ mà thôi, liền bị Hán Võ đế khép vào tội bị “cung hình” (tức bị hoạn), suốt đời mang mối ô nhục ấy cho đến nhắm mắt.
Với hùng tâm này, Hán Võ đế quyết định mở một chiến dịch lớn lao, huy động toàn quốc vào cuộc chiến tranh với Hung Nô. Ông chủ trương phải đánh đến tận sào huyệt của Hung Nô ở mãi trong sa mạc hoang vu để diệt tận gốc. Do vậy Hán Võ đế huy động gần hết số trai tráng trong nước, chi phí cho chiến dịch này hết sức tốn kém, làm cho ngân khố suy giảm thậm tệ. Tuy sau cùng chiến dịch thành công nhưng đó là bước đầu làm cho nhà Hán suy sụp dần dần, đến khi Hán Chiêu đế Lưu Phất Lăng lên nối ngôi thì hầu như ngân khố đã trống rỗng, kéo theo tình trạng nhân dân đói khổ.
Hán Võ đế lên ngôi rồi vẫn trọng dụng Lý Quảng cùng với các danh tướng khác như Lý Lăng, Hoắc Khứ Bệnh, Vệ Thanh. Lúc đó quân Hung Nô phát triển rất mạnh, vừa đông đảo vừa giỏi về kỵ binh nên tiến lui như chớp nhoáng, thường hay tập hợp số đông tấn công một điểm nào đó rồi nhanh chóng rút lui ngay, quân triều đình muốn truy kích cũng không được.
Vì vậy có một lần Lý Quảng bị quân Hung Nô bất ngờ bao vây. Vì quân ít hơn nhiều nên Lý Quảng cố sức phá vòng vây mà không xong, tưởng đâu đã mất mạng. May sao trước đó Thiền Vu Hung Nô rất hâm mộ oai danh của ông, đã ra lệnh phải bắt sống nên cuối cùng ông không chết, bị bắt sống dẫn đi. Giữa đường nhân lúc tên quân canh sơ hở, Lý Quảng bứt đứt dây trói, phóng sang cướp ngựa của tên quân bên cạnh cùng với cung tên của hắn. Lý Quảng vừa chạy vừa bắn trả khiến quân Hung Nô chết khá nhiều, rùn bước để ông chạy thoát về quân doanh. Từ đó trở đi Hung Nô gọi ông bằng danh hiệu là “Phi tướng quân” chứ không gọi bằng tên tục.
Thế nhưng việc để quân địch bắt sống đối với Hán Võ đế là trọng tội, đáng lẽ đem xử tử làm gương. Hán Võ đế xét ông có nhiều công trạng, chỉ cách chức giáng xuống làm thường dân. Thiếu vắng Lý Quảng trấn thủ biên cương, người Hung Nô lại càng hung hăng lộng hành, tiến quân giết chết viên Thái thú ở Liêu Tây rồi đánh bại luôn đại quân của Hàn An Quốc. Bất đắc dĩ Hán Võ đế phải trọng dụng Lý Quảng lại, cho ông làm Thái thú Bắc Bình. Quân Hung Nô nghe tin này, luôn mấy năm đánh phá ở đâu thì được chứ Bắc Bình thì hoàn toàn yên tĩnh.
Năm 120 trước Công nguyên, Lý Quảng cùng với tướng Trương Khuyên dẫn 4000 quân đi đánh vào danh trại Hung Nô nhưng giữa đường lọt vào ổ phục kích của Tả Hiền vương Hung Nô. Quân số hai bên chênh lệch gấp 10 lần. Quân Hán dưới sự chỉ huy của Lý Quảng ra sức chiến đấu, thế nhưng chẳng bao lâu đã hết sạch tên. Lý Quảng nhanh trí sai quân sĩ cứ giương cung như sắp bắn, thật sự chẳng còn mũi tên nào làm cho quân Hung Nô vô cùng sợ hãi, tạm thời không dám xông lên nữa. Nhờ được quân tiếp viện đánh thọc vào vòng vây, Lý Quảng mới thoát chết trở về.
Thấy cuộc chiến vẫn giằng dai không sao tiêu diệt hẳn Hung Nô, vào năm 119, Hán Võ đế lại tổ chức một cuộc tấn công đại qui mô với mục tiêu là đánh lên tới tận sa mạc Mạc Bắc. Hán Võ đế phong cho Vệ Thanh làm Nguyên soái, cùng với danh tướng Hoắc Khứ Bệnh dẫn 5 vạn kỵ binh và 10 vạn bộ binh, chia làm hai đường tấn công, lệnh ban ra là phải tiêu diệt hoàn toàn Hung Nô mới được trở về. Lúc đó Lý Quảng đã là lão tướng hơn 60 tuổi nhưng vẫn xin với Hán Võ đế cho mình theo quân. Khi Vệ Thanh điều tra bọn tù binh, biết được nơi ẩn trốn của Thiền Vu Hung Nô thì liền sai Lý Quảng làm Tiên phong đánh về phía đông, còn mình kéo đại quân đánh thẳng vào nơi Thiền Vu Hung Nô đang đóng quân.
Vì chưa lần nào tiến sâu như vậy, Lý Quảng bị mất phương hướng, dẫn quân đi loanh quanh rất lâu chưa tìm được đường ra. Trong khi ấy Vệ Thanh tiến đến nơi Thiền Vu Hung Nô nhưng không kịp bao vây nên đành để ông ta trốn thoát. Khi trở về, Vệ Thanh mới gặp Lý Quảng, cùng nhau hội quân. Thế nhưng lúc về triều, Hán Võ đế tức giận hạch tội hai tướng đã hành quân ra sao mà xổng mất Thiền Vu Hung Nô. Vệ Thanh liền đổ tội cho Lý Quảng không phối hợp tốt. Tuy không bị Hán Võ đế trách phạt nhưng Lý Quảng tức tối dùng kiếm tự sát để minh oan. Đây là cái chết rất oan uổng của người lão tướng dưới triều Hán.
Vệ Thanh nguyên là người họ Trịnh, sinh trưởng ở Bình Dương. Thân phụ của ông là Trịnh Quý, chỉ làm một viên tiểu lại nho nhỏ dưới quyền của Bình Dương hầu Tào Thọ. Trịnh Quý có lần thông dâm với người thiếp của Tào Thọ là Vệ Ôn, vì vậy sau khi đẻ con liền cho đứa bé lấy họ mẹ, đặt tên là Thanh. Vì là con của thiếp nên Tào Thọ không nuôi dưỡng, cho về quê của cha ruột. Gia đình Trịnh Quý nghèo khó nên thuở thiếu thời Vệ Thanh rất cơ cực, có lúc phải đi chăn bò cừu cho kẻ giàu lấy bát cơm ăn.
Khi lớn lên, nhờ có thân hình to lớn, sức vóc mạnh mẽ nên Vệ Thanh được Tào Thọ cho làm kỵ binh, chuyên việc canh phòng cho phủ Bình Dương hầu. Cuộc đời Vệ Thanh tưởng như mãi mãi ở nơi xa xôi ấy với chức vụ quèn. May sao vào năm 139 trước Công nguyên, người chị của Vệ Thanh là Vệ Tử Phu có sắc đẹp hơn người, được tiến vào cung và được Hán Võ đế sủng ái, phong làm Phi tử.
Lúc đó Hoàng hậu không có con nối dõi nên khi Vệ Quý phi hoài thai thì Hán Võ đế lại càng cưng chiều, nghe nói đến Vệ Thanh liền phong cho chức Đại phu. Rốt cuộc Vệ Thanh từ một người tầm thường, dựa vào sự sủng ái của người chị mà leo lên làm đại thần trong triều. Vệ Thanh có thân hình cao lớn, tướng tá oai phong, lại giỏi về võ nghệ nên khi Hán Võ đế tính đến việc chinh phạt Hung Nô liền giao cho trọng trách chỉ huy toàn quân. Lúc đó triều Hán hầu như không còn tướng tài, Hàn An Quốc và Lý Quảng đều đã cao tuổi, khó có thể đảm đương được một chiến dịch lớn lao như vậy.
Trong thời gian mở chiến dịch tiến đánh Hung Nô, Vệ Thanh được sự trợ giúp của một viên tướng trẻ tên là Hoắc Khứ Bệnh. Nhờ họ Hoắc, nhiều lần đại quân Hán đã đánh bại Hung Nô, đưa họ vào tình cảnh không còn hoạt động quấy nhiễu như trước được nữa.
Hoắc Khứ Bệnh là người ở Sơn Tây, ngay từ nhỏ đã tỏ ra là người có tài năng về quân sự, lại có họ hàng xa với Vệ Thanh. Do vậy khi Hán Võ đế quyết định tiến đánh Hung Nô, trong triều không còn danh tướng nào nữa, đành phải giao cho Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh, mặc dù khi đó ông còn rất nhỏ, mới được 17 tuổi. Thế nhưng Hoắc Khứ Bệnh rất được lòng tướng sĩ, phong cách khoáng đạt, thân mật với quân sĩ như là anh em, làm cho họ đồng một lòng chiến đấu. Tương truyền khi Hán Võ đế ban cho Hoắc Khứ Bệnh một vò ngự tửu, ông không muốn uống một mình, bèn đổ cả bình ngự tửu xuống một cái ao nhỏ rồi tất cả cùng uống nước trong ao, biểu lộ tình cảm gắn bó quân tướng.
Tiếc rằng Hoắc Khứ Bệnh mất quá sớm, khi mới vừa tuổi 24, trong lúc đang hành quân tiến đánh Hung Nô, tức đã được 7 năm cầm quân đánh giặc. Người ta cho rằng Hoắc Khứ Bệnh bị bệnh do không thích hợp với thổ nghi nóng và ẩm của đất Hung Nô. Cũng có người tin vào giả thuyết quân Hung Nô quá kinh sợ tài chiến đấu của Hoắc Khứ Bệnh, sau khi giả vờ rút lui liền đổ chất độc vào giếng nước, ông uống phải loại nước này nên chết không thể cứu chữa được.
Chiến công oai hùng nhất của Hoắc Khứ Bệnh là khi mới được Hán Võ đế tin dùng, trao cho một cánh quân độc lập, phối hợp với quân của Vệ Thanh. Nhận thấy đường sá nơi đất Hung Nô khó khăn hiểm trở, nếu đưa đại quân tiến lên rất dễ bị lộ, quân Hung Nô hoặc sẽ tập họp đánh trả, hoặc sẽ lẩn trốn rất khó tìm ra. Hoắc Khứ Bệnh nhân lúc quân Hung Nô dồn hết ra đánh với Vệ Thanh liền can đảm cùng với mấy trăm kỵ binh luồn theo đường núi đánh bọc hậu, kết quả Hoắc Khứ Bệnh giết được hơn 2000 quân Hung Nô, đồng thời bắt sống một lúc mấy viên đại thần Hung Nô, trong đó có nghĩa phụ của Thiền Vu Hung Nô, giết chết hơn phân nửa, còn lại đều đầu hàng.
Hán Võ đế hết sức tán thưởng chiến công này, ban cho ông tước Quán Quân hầu. Sau đó với nhiều chiến công hiển hách khác, Hoắc Khứ Bệnh còn được thăng lên tới chức Đại Tư mã, tức là nắm toàn bộ binh quyền trong tay, kể cả Vệ Thanh. Khi Hoắc Khứ Bệnh chết rồi Vệ Thanh mới có cơ hội thăng quan tiến chức.
Nói về chiến dịch Mạc Mắc do Hán Võ đế tổ chức, khi Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh chia quân làm hai đường thì mỗi người có cách đánh riêng. Vệ Thanh chỉ huy quân đội rất nghiêm nhưng vẫn hài hòa thân thiết nên quân tướng một lòng chiến đấu. Mỗi khi đụng trận, Vệ Thanh thường hay đi đầu, tả xung hữu đột đánh phá khiến quân Hung Nô khó mà chống nổi.
Hoắc Khứ Bệnh thì hay dùng kỳ binh, lấy số quân ít mà đánh vào những điểm trọng yếu hay bất ngờ nhất làm cho quân địch hoang mang bỏ chạy. Sau nhiều cuộc chiến khốc liệt, quân Hung Nô đã phải lùi sâu vào nội địa, thế nhưng Hoắc Khứ Bệnh vẫn truy kích đến cùng. Có lần ông chỉ dùng một đội kỵ binh nhỏ nhưng lựa chọn toàn là người thiện chiến, tiến về phía Lũng Tây. Toán quân của ông đi xuyên qua 5 bộ tộc Hung Nô mà không gặp phải sức kháng cự nào mạnh mẽ, đến đâu đều chiến thắng đến đó. Lối đánh này chẳng khác gì quân Hung Nô thường dùng để kỳ tập các đồn biên giới. Nay bọn chúng bị Hoắc Khứ Bệnh áp dụng đúng như thế, đêm nào cũng nơm nớp lo sợ không biết bị đánh úp lúc nào, dần dần mất hết nhuệ khí. Chẳng bao lâu Hoắc Khứ Bệnh đã dồn tàn quân Hung Nô phải chạy về tới tận miền bắc Mạc Bắc, đến tận địa giới núi Lang Cư Tư.
Riêng Vệ Thanh nắm đại quân, tiến thẳng tới triều đình Hung Nô, chạm trán nhiều hơn và phải trải qua nhiều trận đánh khốc liệt. Vì trị quân rất nghiêm nên hầu như tất cả quân tướng đều lo sợ bị bắt tội, anh dũng chiến đấu, có thể lấy ít chọi nhiều nên rất ít khi thất trận. Có lần một bộ tướng của Vệ Thanh là Tô Kiến, dẫn 1000 đi tiễu trừ, bất ngờ gặp phải đại quân của bộ tộc Hung Nô do thủ lĩnh tên là Đan Vu. Tô Kiến huy động quân binh chống trả ác liệt, nhưng với số đông, quân Hung Nô đã tiêu diệt được 1000 quân Hán, chỉ còn lại mỗi mình Tô Kiến chạy thoát về quân doanh.
Theo quân lệnh, mỗi khi tướng để quân bị tiêu diệt thì phải xử chết theo. Vệ Thanh đã toan đem Tô Kiến ra xử tử thì các tướng dưới quyền kiến nghị, cho rằng đó là chiến thắng chứ không phải thất bại bởi Tô Kiến đã giết hơn 2000 quân địch. Nếu cứ theo quân lệnh cứng nhắc thì còn tướng nào dám chỉ huy ba quân nữa. Chắc chắn nếu thua một trận thôi - dù bất đắc dĩ – thì họ sẽ không dám trở về nữa mà đành đầu hàng như danh tướng Lý Lăng.
Vệ Thanh tiếp nhận ý kiến đó, tâu về với Hán Võ đế và được nhà vua xuống chiếu không bắt tội Tô Kiến. Cách hành xử đúng mực và không cố chấp của Vệ Thanh chính là võ khí chỉ huy ba quân rất hữu hiệu. Vì vậy nhiều lần Vệ Thanh đạt công trạng rất lớn, điển hình nhất là vào năm 128 trước Công nguyên, Vệ Thanh lại được lệnh dẫn đại quân đi tiêu diệt Hung Nô lần nữa, có cánh quân do Lý Tức và Trương Thứ tiếp trợ. Dưới quyền chỉ huy của Vệ Thanh, quân tướng hết lòng chiến đấu, tiến mau như chẻ tre, chẳng bao lâu thì đã vượt qua được bốn vòng trấn giữ của quân Hung Nô.
Lúc đó một đại tướng của Hung Nô, tước lên đến Hữu Hiền vương đóng ở trung quân, tưởng rằng quân Hán còn lâu mới có thể tiến sâu đến như vậy, không phòng bị nên bị đánh bất ngờ. Trận này Vệ Thanh suýt nữa giết được Hữu Hiền vương, hắn phải cùng quần thần bỏ chạy trối chết. Không có người chỉ huy, toàn bộ quân Hung Nô đều đầu hàng. Chiến thắng này cực kỳ vang dội nên Hán đế lập tức phong cho ông làm Đại tướng quân, các con của Vệ Thanh đều hưởng ơn cha, được phong tước Hầu, vô cùng vinh hiển.
Thế nhưng Vệ Thanh không bằng lòng, dâng tấu lên Hán đế, cho rằng chiến công đó là do tập thể các tướng hết lòng vì nước, nếu chỉ có gia đình ông hưởng ân mưa móc thì sau này rất khó khích lệ ba quân. Hán Võ đế tuy rất cố chấp nhưng vẫn nhận ra sự sai lầm của mình, lập tức cũng phong cho các tướng trong trận đánh này tước Hầu.
Khi Vệ Thanh cùng với Hoắc Khứ Bệnh đem 15 vạn quân tiến đánh Hung Nô là lần cuối cùng trong cuộc đời tướng lãnh của ông. Vì vậy Vệ Thanh mặc dù đã lớn tuổi vẫn đem hết sức mình ra chỉ huy ba quân chiến đấu và kết quả cuối cùng cũng đã tương đối làm cho Hung Nô không còn cơ hội phát triển được như trước nữa.
Thế nhưng đổi lại chiến thắng, quân tướng nhà Hán cũng thiệt hại khá nặng nề do vì không hợp thủy thổ đất Hung Nô. Sau khi chiến dịch khép lại, triều đình Hán tính toán đã tiêu diệt được hơn nửa số quân thiện chiến của Hung Nô, ước khoảng gần 10 vạn nhưng quân Hán cũng chỉ còn khoảng 3, 4 vạn về trong số 15 vạn khi xuất phát. Với bản chất hiếu thắng và tàn nhẫn, Hán Võ đế chấp nhận số thương vong cao ngất ấy nhưng không biết rằng đó chính là một phần nguyên nhân làm cho triều đại Hán huy hoàng ngày nào trở thành suy yếu rồi sau cùng diệt vong dưới bàn tay lộng hành của Vương Mãng.
Trong chính sử ghi chép về đại chiến dịch này rất sơ lược, có vài điểm khác biệt, nhất là số thương vong của quân Hung Nô:
“Đây là trận chiến có quy mô rất lớn do Hán Võ đế huy động ba quân đánh lên Mạc Bắc (sa mạc vùng Nội Mông Cổ). Hán Võ đế sai hai Đại tướng là Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh dẫn 10 vạn kỵ binh và một số lớn quân tinh nhuệ, lên đến vài chục vạn. Nghe tin Thiền Vu Hung Nô đóng quân ở phía đông, Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh liền chia quân làm hai cánh tìm kiếm. Lúc đó Hoắc Khứ Bệnh mới là Phiêu kỵ Tướng quân, làm Phó tướng cho Vệ Thanh, đem quân từ Đại quận xuất phát tiến đánh quân Hung Nô. Vệ Thanh xuất phát từ Định Tương vượt biên giới khống chế mặt bên trái của quân Hung Nô. Sau khi dò biết đích xác nơi trú quân của Thiền Vu Hung Nô, Vệ Thanh liền đem đại quân tiến đánh, sai hai tướng là Lý Quảng và Triệu Thực đến địa điểm ngăn chặn đường rút lui của Hung Nô. Thế nhưng Lý Quảng và Triệu Thực đi lạc đường, không tới đúng điểm dự định, vì vậy Vệ Thanh bắt giết được Thiền Vu Hung Nô, làm cho cuộc chiến kéo dài hơn tính toán.
Khi Vệ Thanh đi xuyên qua sa mạc thì bị quân Hung Nô xuất hiện đánh chặn. Nơi sa mạc hoàn toàn không có công sự cố thủ nên Vệ Thanh sai quân dùng chiến xa xếp thành vòng tròn, từ đó các cung thủ bắn tên ra như mưa. Khi thấy quân địch đã loạn, Vệ Thanh liền sai 5000 kỵ binh xông ra đối chiến với hơn 1 vạn kỵ binh Hung Nô. Hai bên giao chiến đẫm máu đến mãi chiều tối, Vệ Thanh liền chia quân ra làm hai cánh cùng lúc đánh kẹp kỵ binh Hung Nô vào giữa, kết quả là đại thắng. Phía quân của Hoắc Khứ Bệnh cũng đụng độ với đại quân Hung Nô. Kết quả Hoắc Khứ Bệnh tiêu diệt hơn 7 vạn quân địch, làm cho triều đình Hung Nô rúng động.
Một ghi chép khác về danh tướng Hoắc Khứ Bệnh cho rằng ông không phải mất trên đất Hung Nô mà về bị bệnh nặng, khi về tới Trường An mới mất. Theo ghi chép này thì Hoắc Khứ Bệnh tổng cộng tiêu diệt đến hơn 10 vạn quân Hung Nô, so với con số của triều đình nhà Hán đưa ra chỉ là khoảng 10 vạn cộng cả chiến công của Vệ Thanh thì có khoảng cách khá xa. Điều này không được nhiều người khảo cứu bởi mục đích cuối cùng là tiêu diệt Hung Nô đã thành công, mà thành công nào không phải trả giá bằng xương máu tướng sĩ, thiệt hại là lẽ dĩ nhiên, thậm chí còn có thể cao hơn nữa do vì thời tiết và thủy thổ Hung Nô hết sức khắc nghiệt. Số quân thật sự chết vì chiến trận có lẽ còn ít hơn số quân bị chết do bệnh tật.
Cơ bản sau trận chiến Mạc Bắc người Hung Nô đã bị chia rẽ và mỗi Thiền Vu có chủ trương khác nhau, do vậy không thể đồng lòng nhất trí để tập hợp các bộ tộc thành một lực lượng đủ mạnh tấn công Trung nguyên nữa.
Sau khi phần lớn số quân Hung Nô bị đại quân của Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh tiêu diệt, số tàn quân còn lại theo chân Thiền Vu Y Trí Da phải chạy mãi lên tới miền bắc sa mạc Gôbi trú ẩn ở đó. Đến đời Hán Tuyên đế, vào năm 73 trước Công nguyên kết hợp cùng với quân của bộ tộc Ô Hoàn một lần nữa đánh đuổi người Hung Nô nhưng không tiêu diệt được hết mà chỉ làm cho họ chia rẽ thành nhiều nhóm bộ tộc khác nhau, thế lực suy yếu thấy rõ.
Đến năm 51 trước Công nguyên, một Thiền Vu của Hung Nô có chủ trương ôn hòa hơn tên là Hô Hàn Da, quyết định đưa con trai của mình đến triều Hán làm con tin đổi lấy hòa hiếu. Đó là vào thời Hán Tuyên đế. Đến khi Hán Nguyên đế lên ngôi, nhân dịp Tết Nguyên Đán, đích thân Hô Hàn Da đến Trường An chúc thọ và xin được cưới Công chúa. Hán Nguyên đế bằng lòng, phong cho một phi tần là Vương Chiêu Quân làm Công chúa rồi gả cho Hô Hàn Da.
Câu chuyện Vương Chiêu Quân cống Hồ (Hung Nô) trở thành một câu chuyện diễm tình bởi sự thao túng của họa sĩ Mao Diên Thọ. Trong chuyện này Hán Nguyên đế hết sức tức giận, giết cả nhà Mao Diên Thọ và rất tiếc rẻ mỹ nhân Vương Chiêu Quân.
Thế nhưng theo một ghi chép khác thì khi Hán Nguyên đế thấy mặt Vương Chiêu Quân thì lập tức say mê, bí mật thương thuyết với Hô Hàn Da đánh đổi bằng 5 phi tần khác. Hô Hàn Da bằng lòng và vẫn giữ tình hữu nghị giữa hai nước như trước.
Những kết quả chính trị của Hô Hàn Da thúc đẩy các Thiền Vu bộ tộc khác theo gương. Một Thiền Vu khác tên là Chí Chi cũng gởi con trai đến triều Hán xin nghị hòa hiếu nhưng sau cùng bị quân Hán phối hợp cùng với quân Tây Vực giết chết, việc hiếu hòa tạm thời bị đứt đoạn và ít nhiều người Hung Nô trở lại quấy nhiễu. Khi Vương Mãng soán ngôi nhà Hán, thành lập triều Tân cũng phải nhiều lần đem quân đi đánh dẹp, chứng tỏ biên cương Trung nguyên giáp giới với các dân tộc du mục phía bắc như Mông Cổ, Khiết Đan, Nữ Chân, Tây Vực, v.v... không khi nào được bình yên lâu dài. Và các tướng soái Trung Hoa vẫn luôn luôn xuất hiện mỗi khi có biến động để bảo vệ biên cương.
8 CHU DU - ANH HÙNG LỠ VẬN
Triều đại Nhà Hán quả thật huy hoàng và kéo dài chỉ kém nhà Tây Chu cổ đại. Triều Hán chỉ tạm dừng lúc Vương Mãng tiến quyền tự xưng Hoàng đế và lập ra triều Tân. Thế nhưng số mệnh của Vương Mãng chỉ làm Hoàng đế được 15 năm rồi các tông thất nhà Hán nổi lên, tiếp tục một giai đoạn mới gọi là Đông Hán. So ra thời Đông Hán không thịnh trị bằng thời Tây Hán vì có khá nhiều vị Hoàng đế u mê bạc nhược. Do đó đến năm 220 triều đại này suy tàn, đưa đất nước Trung Hoa rơi vào cảnh tương tàn hỗn loạn với nhiều tập đoàn quân phiệt thi nhau tranh giành quyền lực. Tuy cuối cùng chỉ còn lại 3 thế lực quân phiệt lớn nhất của Tôn Quyền, Lưu Bị và Tào Tháo - được sử gọi là thời Tam Quốc - nhưng các cuộc chiến vẫn diễn ra liên miên khiến người dân hết sức điêu linh. Thời loạn tất có anh hùng hào kiệt xuất hiện và các thế lực đều tranh nhau mời gọi các nhân tài ấy về phò tá cho mình.
Nhắc đến thời Tam Quốc thì không ai không nghĩ tới một nhân tài kiệt xuất, đó là Khổng Minh Gia Cát Lượng. Thế nhưng xét về mặt Tướng soái thì ông không phải, ông phải được xếp vào hàng các Mưu lược gia, Chiến lược gia, hoặc là Chính trị gia với chức vụ Thừa tướng triều Thục Hán. Sở dĩ Gia Cát Lượng phải kiêm nhiệm chức vụ Tướng soái trong những trận đại chiến kinh tâm động phách, đầy mưu trí khó lường là vì các tướng của Thục Hán chưa ai đủ tài năng làm Tướng Soái.
Quan Vũ có sức mạnh, lòng trung thành tuyệt đối nhưng lại không biết đến quyền biến nên cuối cùng mất mạng oan uổng ở đất Kinh châu; Trương Phi với tính thô bạo nóng nảy; Ngụy Diên võ nghệ cao cường; Triệu Vân oai hùng với trận Đương Dương Trường Bản khiến đối phương nghe tên đã khiếp vía bỏ chạy. Nhưng những tướng ấy hoàn toàn thiếu một bộ óc kết hợp giữa mưu lược với binh pháp, kết hợp giữa hoàn cảnh với sự quyền biến, không thể lãnh đạo được những đoàn quân lớn. Đến ngay như Nhai Đình là điểm rất trọng yếu, thế mà Gia Cát Lượng cũng đành phải sai Mã Tốc nắm giữ để rồi trở thành tội đồ cho cả chiến dịch. Sau này triều Thục Hán có được một Khương Duy văn võ toàn tài nhưng lại thiếu tư duy chiến thuật, vì vậy không thể vực dậy được toàn cảnh đã quá suy sụp khi Gia Cát Lượng mất.
Về thế lực Tôn Quyền ở Giang Đông tuy không nhiều danh tướng nhưng lại có một nhân tài hiếm có, đó là Chu Du. Ông không được các nhà sử học nhắc đến nhiều bởi vì ông chết quá trẻ, chết vì sinh không phùng thời, vì đúng thời điểm ấy đã có Gia Cát Lượng, đành phải ôm hận mà chết. Tuy thời gian hoạt động không lâu nhưng Chu Du cũng đã nắm được chức vụ Đại Đô đốc, tức là tướng soái nhưng thiên về thủy chiến nhiều hơn.
Chu Du tên thật là Chu Công Cẩn, ngay từ khi còn trẻ đã nổi tiếng có dung mạo tuấn tú, rất giỏi về thơ văn và âm luật, được người thời đó tặng cho biệt hiệu là ”Mỹ Chu lang”. Cuộc đời ông không gặp nhiều cuộc đại chiến nên chỉ nổi tiếng khi tham dự trận Xích Bích. Tuy trận này Gia Cát Lượng đưa ra kế hoạch, thật sự phải có sự trợ giúp của khá nhiều mưu sĩ tướng quân như Bàng Thống, Hoàng Cái, Cam Ninh, v.v... mới đạt được kết quả huy hoàng như vậy. Trong cuộc chiến đó, phần đánh thủy chiến đều do Chu Du chỉ huy và lập được công lớn cho triều Đông Ngô.
Chu Du sinh trưởng ở quận Thư quận Lư Giang, theo chính sử thì ông sinh năm 175 mất năm 210 tức mới vừa tuổi 35. Chu Du xuất thân từ gia đình quyền quý, các đời tổ tiên đều giữ chức quan lớn như Thái úy hay Lệnh doãn dưới triều Đông Hán. Thế nhưng triều đại này không ổn định, đến cuối triều đại thì lại càng hỗn loạn do việc các thế lực quân phiệt cát cứ gây ra.
Đến đời Hán Linh đế, nhà vua càng làm cho triều chính suy đồi hơn với việc sủng ái bọn Thập Thường thị (tức bọn 10 tên hoạn quan mà đứng đầu là tên Trương Nhượng). Hán Linh đế dung túng cho bọn này tha hồ tác oai tác quái, mãi đến lúc sắp chết mới tỉnh ngộ, vội triệu Đại tướng quân Hà Tiến vào trăn trối nhờ chấn chỉnh triều đình. Thế nhưng Hà Tiến chỉ là một tên đồ tể mổ thịt bán ngoài chợ, dựa vào quyền người em gái được nạp vào làm Phi tần trong cung mà lên tới chức vụ cao trọng. Hà Tiến liền cùng Viên Thiệu bàn soạn kế hoạch diệt trừ Thập thường thị nhưng kế sách chẳng ra gì, đành phải phát hịch gọi các trấn đem quân về cứu giá. Nhân cơ hội này Đổng Trác đang giữ chức Tiền Tướng quân, tước Ngao Hương hầu kiêm Thứ sử Tây Lương nắm được thời cơ, lũng đoạn triều chính càng làm cho quốc gia thêm nát bét. Khi Đổng Trác chuyên quyền đưa Trần Lưu vương lên làm Hán đế thì hầu hết các triều thần đều tức giận, bắt đầu cho sự hình thành các thế lực quân phiệt.
Viên Thiệu, Tôn Kiên rồi đến Tào Tháo sau khi âm mưu giết Đổng Trác không thành đều chạy khỏi kinh đô và chiêu mộ quân binh, lập nên các thế lực độc lập. Riêng Tôn Kiên có sự tích khác lạ hơn người, đó là khi thế lực Viên Thiệu đang giao tranh cùng với Tào Tháo. Lúc ấy Tôn Kiên ở trong thành lạc Dương, xem thiên văn thấy sao Tử Vi mờ tối thì than thầm trong bụng, không biết rồi đây ai sẽ là chân chúa xứng đáng để mình theo phò tá. Đột nhiên Tôn Kiên thấy có luồng hào quang ngũ sắc từ dưới cái giếng nước bỏ hoang bốc lên sáng chói.
Tôn Kiên liền sai quân đốt đuốc rồi bắt trèo xuống xem có gì dưới đó. Tên quân này đưa lên một thi thể phụ nữ đã chết nhưng hình hài không bị tan rữa, có đeo một cái túi gấm trước ngực. Tôn Kiên liền thò vào túi gấm lấy ra cái hộp gỗ, trong đó đựng chiếc ấn bằng ngọc. Tay cầm chạm khắc năm con rồng uốn lượn, mặt ấn khắc tám chữ: “Thụ mệnh vu thiênký thọ vĩnh xương”. Tôn Kiên là tướng nên hoàn toàn không biết ngọc ấn ấy ra sao, bèn đi hỏi Trình Phổ, được cho biết:
– Đó là viên ngọc tỷ truyền quốc của Văn vương nước Sở, làm bằng viên ngọc họ Hòa. Năm thứ 26, Tần vương chiếm được cho làm ấn quốc bảo, chính tay Lý Tư viết tám chữ ấy. Đến năm thứ 28, Thủy Hoàng đế tuần du Động Đình hồ, thấy có gió dữ bèn ném xuống và yểm trấn. Thế nhưng đến năm 38 bất ngờ có người đem trả lại. Viên ngọc ấn này truyền đời từ Hán Cao đế Lưu Bang đến Vương Mãng, Hiếu Nguyên đế rồi sau vào tay Quang Võ đến Lưu Tú. Đến lúc bọn Thập Thường thị làm loạn triều đình thì tự nhiên ngọc ấn mất tích.
Nay ông được ngọc ấy thì là trời ban cho giang sơn, hãy về Giang Đông mà lập quốc.
Thế nhưng Viên Thiệu biết chuyện này và do vậy xảy ra cuộc đánh nhau giữa ông ta và Tôn Kiên. Sau đó Tôn Kiên trốn về Giang Đông, Viên Thiệu cũng kéo quân đến Quan Đông cát cứ. Từ đấy triều đình Giang Đông được thành lập và truyền lại cho Tôn Quyền. Cha ông của Chu Du đi theo Tôn Kiên, trở thành công thần của triều đình Giang Đông.
Chu Du được thừa hưởng tập ấm của cha ông, rất hâm mộ danh tướng Tôn Sách và Mã Viện đời Hán. Khi Tôn Sách nắm binh quyền thì liền mời Chu Du ra phụ tá, phong làm Kiến Uy Trung lang tướng, chỉ huy một đoàn quân. Có thể nói, ngay từ lúc còn nhỏ tuổi, mới vừa 24, Chu Du đã đặc biệt được đảm nhận chức tướng, do vậy có nhiều kinh nghiệm trong việc điều động ba quân. Mẹ của Tôn Sách là Tái phu nhân lúc ấy nắm quyền triều chính cũng rất mến mộ Chu Du, thường hay nói với con là Tôn Quyền phải trọng dụng Chu Du làm trụ cột cho quốc gia.
Trong số các công thần có Trình Phổ là người già dặn kinh nghiệm, tuổi cao đức trọng nhưng lại rất hay xung khắc với Chu Du, cho ông là non người trẻ dạ chưa thể làm nên việc lớn. Chu Du không vì vậy mà tức giận, vẫn một lòng đối đãi kính cẩn, trải qua một thời gian đến ngay Trình Phổ cũng phải khâm phục và kết giao với ông, coi như bạn vong niên.
Vào năm 200, Tôn Sách bị thích khách giết. Chu Du nhận được tin liền dẫn quân từ Ba Kỳ tới đất Ngô chịu tang, thấy tướng mạo của Tôn Quyền oai hùng, miệng lớn cằm vuông, mắt biếc râu tía, ánh mắt sáng như điện, nên biết người này có thể làm nên đại nghiệp, quyết định ở lại phò tá cho Tôn Quyền. Lúc đó, do Tôn Sách vừa mới chết, địa vị của Tôn Quyền không ổn định nên khi được gặp Chu Du rất mừng, liền hỏi về kế sách giữ gìn cơ nghiệp. Chu Du liền nói:
– Xưa tới nay bất cứ minh chủ nào tài giỏi đến đâu mà không có nhân tài phò tá thì đều thất bại. Vì vậy điều trước tiên là phải biết chiêu dụng hiền tài thì giang sơn mới bền vững. Tôn Quyền cả mừng, xin Chu Du giúp cho mình. Chu Du liền tiến cử một mưu sĩ tên là Lỗ Túc. Nguyên Lỗ Túc tên tự là Tử Kính, người Đông Xuyên, tính tình hết sức thẳng thắn và hiếu lễ với cha mẹ. Sau khi đàm đạo với Lỗ Túc, Tôn Quyền càng mừng thêm vì quả thật ông ta là người có kiến văn cao thâm, lại nhờ Lỗ Túc tiến cử một người khác là Gia Cát Cẩn làm mưu sĩ.
Chính Gia Cát Cẩn là người vạch ra kế hoạch cho Tôn Quyền tuyệt giao với Viên Thiệu, tạm thời hòa hoãn với Tào Tháo để đủ thời gian xây dựng giang sơn. Tôn Quyền nghe theo nên được Tào Tháo xin với Hiến đế phong cho làm Thái thú Cối Kê, tạm thời chưa bị ai nhòm ngó tới. Với chủ trương chiêu mộ nhân tài nên ngoài Chu Du ra, Tôn Quyền còn kết nạp được một số mưu sĩ danh tướng như Trương sử Trương Chiêu, Cố Ưng, Hoàng Cái, Lã Mông, v.v...
Kết hợp với những nhân tài này, Chu Du ra sức chỉnh đốn triều chính, luyện tập quân mã nên chẳng bao lâu đất Giang Đông đã phát triển, nhân dân no ấm.
Lúc ấy là vào năm 202, Viên Thiệu dẫn đại quân hơn 80 vạn nhưng phô trương thanh thế lên đến 100 vạn tiến đánh Tào Tháo. Với quân binh ít hơn nhưng Tào Tháo là người kiêu hùng lắm mưu trí, dùng ít đánh nhiều và cuối cùng nổi tiếng với trận Quan Độ, đánh tan 80 bạn quân của Viên Thiệu. Nhân thắng lợi này, Tào Tháo liền nhân danh Thiên tử nhà Hán, bắt ép các thế lực cát cứ phải thần phục, nhất là đất Giang Đông màu mỡ. Nhận được chiếu thư của Tào Tháo, Tôn Quyền hết sức lo lắng, hội quần thần lại bàn soạn kế sách đối phó. Quần thần Đông Ngô vì sợ hãi sức mạnh của Tào Tháo, lại vẫn mong muốn được “chính danh” là tôi thần nhà Hán nên nhiều người khuyên Tôn Quyền nên phục tùng Tào Tháo. Riêng Chu Du nhất quyết không chịu, đứng ra bài bác:
– Tướng quân được kế thừa cơ nghiệp của huynh trưởng (Tôn Sách), đất có sáu quận, quân đông lương nhiều, tướng lĩnh tài năng cũng không thiếu. Hiện nay đất Gang Đông sản vật đầy đủ, có thể tự túc tự cường được, sao lại chịu cúi đầu với người. Theo tôi thì Tướng quân nên khước từ việc này, chấn chỉnh binh mã sẵn sàng đối đầu. Dù sao đi nữa làm vua một phương vẫn hơn là làm tôi tớ cho họ Tào.
Lời nói của Chu Du rất kiên cường nên cuối cùng Tôn Quyền nghe theo, từ chối việc đưa người về Hứa Đô làm con tin, càng ra sức xây dựng đất Giang Đông vững mạnh hơn. Việc này khiến Tào Tháo hết sức tức giận nhưng khi ấy ông ta còn phải đối đầu với các thế lực quân phiệt khác nên tạm thời để yên. Đến năm 208 Tào Tháo cơ bản đã bình định được khu vực phương bắc, bắt đầu quay qua nhìn tới phương nam.
Lấy cớ Lưu Biểu không phục tùng triều đình, Tào Tháo dẫn 20 vạn quân tiến đánh Kinh châu, toan tính sau khi hoàn tất sẽ thừa thế đánh luôn Đông Ngô. Xuống phía đông tiêu diệt Tôn Quyền. Tin này khiến cả triều đình Đông Ngô đều hoảng loạn, đa số đều sợ hãi muốn đầu hàng Tào Tháo cho yên thân. Riêng Lỗ Túc chủ trương liên kết với Lưu Bị để chống với Tào Tháo, được Chu Du tán thưởng.
Chu Du phân tích tình hình cho Tôn Quyền hiểu được đại thể, đó là thật sự phương bắc chưa hoàn toàn quy phục Tào Tháo, Mã Siêu và Hàn Toại tuy không phải là thế lực mạnh nhưng vẫn còn ung dung đóng quân ở Quan Tây thì là uy hiếp rất lớn đối với Tào Tháo. Nếu như hai thế lực này nhân cuộc chiến giằng dai ở Giang Đông và thừa cơ đánh úp Hứa Xương thì Tào Tháo sẽ hai đầu thọ địch. Đó là điều bất lợi Tào Tháo không muốn nói ra, thật sự chưa chắc đã dám tiến quá sâu vào đất Giang Đông.
Chu Du rất giỏi về thủy chiến, trong khi ấy đất Giang Đông lại nhiều sông rạch chằng chịt, việc tiến quân bằng kỵ binh của Tào Tháo sẽ bất lợi. Ngay cả thủy thổ đất Giang Đông ẩm thấp nhiều chướng khí cũng là điều không lợi cho quân của Tào Tháo. Vì vậy Chu Du cương quyết chống trả bằng sức mạnh quân sự và bằng tài năng của mình để Tào Tháo nể mặt.
Kế hoạch của Chu Du rất thuyết phục nên sau cùng Tôn Quyền nghe theo, phong cho ông và Trình Phổ làm Tả Hữu Đô đốc, Lỗ Túc làm Tham quân hiệu úy, đồng thời cấp cho Chu Du 3 vạn quân để đến Kinh châu hội cùng Lưu Bị sửa soạn chống trả với Tào Tháo. Đó là thời điểm bắt đầu cho trận đánh Xích Bích nổi tiếng đi vào lịch sử quân sự mà Chu Du có công lớn nhất.
Đồng thời lúc đó Lưu Bị cũng muốn chống lại quân Tào nên sai Khổng Minh đến Đông Ngô bàn việc liên minh. Chiều hôm ấy Khổng Minh theo Lỗ Túc đến chỗ Chu Du, nóng ruột hỏi ngay xem Chu Du toan tính ra sao? Chu Du hững hờ đáp là phải đầu hàng thôi khiến Lỗ Túc vô cùng ngạc nhiên, hầm hầm đứng dậy nói:
– Cơ nghiệp Giang Đông đã trải qua 3 đời rồi, chẳng lẽ đến nay không có ai tài cán phó giúp, để giang sơn rơi vào tay kẻ khác hay sao? Ai cũng trông chờ vào tài của Đô đốc, hóa ra Đô đốc cũng là kẻ hèn kém chẳng khác gì đàn bà.
Đây là câu sỉ mạ khá nặng nhưng Chu Du tỏ ra thản nhiên, lấy lý lẽ là quân Tào quá mạnh, không thể chống lại nổi. Hai người tranh cãi kịch liệt thế mà Khổng Minh cứ ngồi mà cười, chẳng nói lời nào. Chu Du thấy vậy hỏi ý kiến thì Khổng Minh cũng cho là hàng tốt hơn. Chu Du liền cười ngất, hùa theo tán thưởng khiến Lỗ Túc nổi giận, đỏ mặt phừng phừng mà mắng Khổng Minh tiếp tay cho giặc. Khổng Minh cũng không hề giận, bình thản nói:
– Tào Tháo quân đông tướng mạnh, dụng binh như thần nên chính chúa công của tôi cũng phải chạy dài. Nay Chu Đô đốc muốn về hàng để vợ con được vinh thân phì gia là phải lắm rồi.
Thấy Lỗ Túc càng thêm giận, lớn tiếng mắng chửi, Khổng Minh dùng kế khích tướng, nói:
– Thôi thế thì không phải đầu hàng, cũng không phải ra quân. Chỉ cần dâng Nhị Kiều ra là Tào Tháo rút lui ngay.
Lần này Chu Du trúng kế, tức giận đến đỏ bừng cả mặt, nghiến răng nói lớn:
– Giặc Tào thật láo xược.
Rồi sau đó Chu Du cùng với Khổng Minh bàn việc hợp binh. Nhân cơ hội ấy Khổng Minh lại dùng kế khích tướng, cho là Chu Du chỉ giỏi đánh thủy chứ đánh bộ không thể bằng Tào Tháo. Chu Du cả giận, nói luôn:
– Được rồi, ngày mai ta sẽ đem quân đi cướp lương thảo của Tào Tháo, xem đánh bộ ai giỏi hơn.
Khổng Minh điềm tĩnh đáp:
– Đánh thủy thì chắc chắn Tào Tháo không bằng Đô đốc. Hắn lại là tay chuyên đi cướp lương thảo của đối phương với nhiều mưu kế tài tình. Vì vậy chắc chắn đã đề phòng đối phương sẽ cướp lương thảo, ra quân lần này chắc chắn ông sẽ thất bại.
Tuy Chu Du nổi tiếng là người nóng nảy nhưng rất có trí tuệ, nghe vậy liền giật mình khen Khổng Minh nói đúng. Vừa lúc ấy Tào Tháo sai sứ giả mang chiếu thư đến, phía ngoài có ghi mấy chữ rất láo xược: “Đại Thừa tướng Hán triều lệnh cho Chu Đô đốc phải xem thư này”. Chu Du nổi nóng lên, chẳng cần biết trong thư nói gì, lập tức xé tan làm trăm mảnh rồi sai quân đem sứ giả ra chém đầu ngay.
Chém sứ giả xong, Chu Du sai Cam Ninh làm tiên phong, Hàn Đương và Tưởng Khâm dẫn hai cánh quân đi hai bên, còn mình ở trung quân tiếp ứng. Dĩ nhiên khi Tào Tháo nghe tin Chu Du chém sứ giả thì nổi giận đùng đùng, lập tức sai hai hàng tướng ở Kinh châu là Sái Mạo và Trương Doãn mang quân đi tiên phong, còn chính mình đốc thúc chiến thuyền kéo thẳng đến cửa Tam Giang dàn trận.
Hai bên giao chiến được mấy hiệp thì Sái Huân bị Cam Ninh chém chết, Hàn Đương và Tưởng Khâm thừa thế xua quân xông lên đánh giết quân Tào một trận tơi bời. Thế nhưng Chu Du cũng tự biết khó có thể truy kích Tào Tháo, đành cho thu quân trở về.
Sau trận thua này, Sái Mạo và Trương Doãn xin Tào Tháo cấp cho một số quân, lập một thủy trại lớn ở luyện tập quân sĩ thủy chiến, quyết đánh báo thù. Thủy trại này chia làm 24 cửa, canh phòng rất nghiêm mật, khi trời tối đèn đuốc sáng rực cả một góc trời.
Chu Du ở bên này sông, nhìn thấy cảnh tượng ấy cũng hơi kinh sợ, cùng với vài viên tướng bơi thuyền nhỏ đến quan sát tình hình, thầm khen tài của Sái Mạo và Trương Doãn, trong lòng đã có dự tính trước khi xuất quân đánh Tào thì cần phải diệt trừ hai tướng này trước. Lúc ấy Tào Tháo đã cho thuyền ra bắt thám thính của địch nhưng Chu Du dùng thuyền nhẹ nên chạy khỏi dễ dàng.
Tào Tháo thấy vậy rất lo về mặt thủy quân, bàn với các tướng việc đối phó. Một viên tướng tên là Tưởng Cán bước ra nói:
– Trước kia tôi và Chu Du giao thiệp rất thân mật, bây giờ nếu Thừa tướng bằng lòng thì tôi xin qua trại địch mà thuyết phục dụ hàng một phen.
Tào Tháo mừng lắm, lập tức ra lệnh cho Tưởng Cán đi ngay. Tưởng Cán mặc áo vải, đầu đội khăn vải, phong trần dầu dãi qua mấy vất vả, cuối cùng mới được quân canh vào báo với Chu Du. Vừa nghe qua, Chu Du đã cười ngất, nói với các tướng:
– Ta đã hiểu việc này ra sao rồi. Vậy ngươi hãy chờ xem sắp có chuyện vui đây!
Khi gặp mặt, Chu Du hỏi ngay đây là việc quân hay là bạn bè đến chơi. Tưởng Cán mau mắm đáp chỉ là đến thăm bạn mà thôi. Chu Du liền cho mở “Quần Anh hội”, tiệc rượu bày ra tươm tất, sai Thái Sử Từ làm giám tửu rồi nói với mọi người:
– Tử Dực (Tưởng Cán) là bạn ngày trước, nay tuy là quân hai bên nhưng vẫn nhớ tới nhau đến thăm, không phải là thuyết khách. Vì vậy xin cứ vui say thật sảng khoái vào, đừng e dè gì hết.
Khi rượu đã mấy tuần, ai nấy đều ngà ngà say, Chu Du làm như quá cao hứng, nói với Tưởng Cán:
– Bằng hữu có muốn đi quanh một vòng quân doanh để xem tôi bố trí ra sao không?
Tưởng Cán cả mừng, chỉ đợi có thế liền nhận lời. Khi đi, Chu Du đã cho quân sĩ bố trí sẵn nên nơi đâu cũng gươm giáo sáng lòa, quân binh chỉnh tề, lương thảo chất cao như núi khiến Tưởng Cán không khỏi kinh hoảng trong lòng nhưng ngoài mặt vẫn giả như vui vẻ khen ngợi quân mã Giang Đông quả là không sai với lời đồn.
Sau khi đi một vòng, mọi người lại trở về bàn tiệc ăn uống tiếp tục, ai nấy đều say mèn, có người gục ngay xuống bàn mà ngủ. Chu Du giả say ân cần mời Tưởng Cán ở lại ngủ trong quân doanh của mình nhưng lại nôn ọe đầy ra khiến Tưởng Cán không sao ngủ được. Nằm trằn trọc đến canh hai, Tưởng Cán nhìn qua thấy Chu Du ngủ như chết thì liền nhè nhẹ bước tới gần án thư, đọc trộm các văn thư còn vất lung tung ở đó. Trong số thư từ, Tưởng Cán liếc thấy có tên Sái Mạo và Trương Doãn thì vội đọc kỹ. Thư viết rất ngắn, đại khái chỉ báo cho biết đã lừa được Tào Tháo, khi nào diệt được thì sẽ cùng nhau sum họp chè chén một bữa no say cho thỏa chí. Tưởng Cán liền giấu bức thư vào trong tay áo rồi trở về chỗ cũ giả vờ ngủ. Được một lúc, chợt có quân canh vào báo:
– Xin Đô đốc tỉnh rượu, có người ở Giang Bắc đến báo tin mật.
Chu Du cựa mình ngái ngủ nhưng vẫn gắt lên:
– Ngươi ra đi, có việc gì thì hãy đợi sau.
Sau đó Chu Du lén nhìn, thấy Tưởng Cán đang ngủ say mới bước ra nói chuyện với tên quân vừa vào báo tin. Tưởng Cán giả vờ ngủ nhưng lắng tai cố nghe xem chuyện bí mật ấy là gì. Thế nhưng hai người xì xào rất nhỏ, Tưởng Cán chỉ nghe được lõm bõm mấy tiếng như Sái Mạo, Trương Doãn mà thôi. Sau đó Chu Du lại trở vào và lần này lăn ra ngủ ngay. Tưởng Cán liền nhân dịp này lẻn ra ngoài, nói dối bọn quân canh:
– Ta đi có việc cần. Các ngươi cứ để Đô đốc ngủ yên, sáng mai báo là ta đã đi rồi là được.
Bọn quân canh không thấy Tưởng Cán mang theo thứ gì nên để cho ông ta đi qua dễ dàng, về đến quân doanh, Tưởng Cán lập tức đem mọi chuyện báo cho Tào Tháo biết. Tào Tháo nghe xong nổi giận, sai quân gọi Sái Mạo và Trương Doãn đến hạch hỏi:
– Các ngươi lập thủy trại huấn luyện quân binh tới đâu rồi? Bao giờ mới tiến binh được?
Hai tướng vô tình đáp:
– Việc huấn luyện còn chưa hoàn tất, xin Thừa tướng đừng nôn nóng. Bao giờ xong chúng tôi sẽ báo lại.
Tào Tháo nghe vậy càng tin chắc Sái Mạo và Trương Doãn cố tình trì hoãn, lớn tiếng mắng một hồi rồi không cho biện giải gì hết, lập tức đem ra ngoài chém đầu. Thế nhưng Tào Tháo là người đa mưu túc trí, khi giết xong Sái Mạo và Trương Doãn thì giật mình nói lớn:
– Thôi rồi! Ta đã mắc kế ly gián của Chu Du mất rồi.
Tuy vậy Tào Tháo không nói ra điều này, phao tin là Sái Mạo và Trương Doãn bê trễ việc quân nên phải bị trừng trị. Các bộ tướng của Tào Tháo nghe vậy hết sức kinh sợ, ai nấy răm rắp lo việc của mình cho nghiêm chỉnh.
Riêng Chu Du nghe tin Sái Mạo và Trương Doãn đã bị chém đầu thì cười lớn:
– Trừ xong hai tên này thì ta chẳng còn lo lắng gì nữa, có thể tiến binh được rồi.
Thế nhưng lúc Lỗ Túc đến thăm Khổng Minh thì ông nói ngay:
– Tôi xin chúc mừng về việc diệt trừ được đối thủ khó chịu. Nhưng cái trò ly gián này Tào Tháo sẽ biết ngay. Đừng nói gì với Chu Du mà tôi nguy mất.
Lỗ Túc hết sức kinh hãi, vội chạy đến kể lại cho Chu Du nghe mọi việc. Chu Du liền nói:
– Kình địch nguy hiểm nhất chính là Khổng Minh chứ không phải là Tào Tháo. Bây giờ phải tìm cách trị tội Khổng Minh, giết đi thì ta mới yên tâm.
Ngày hôm sau Chu Du cho gọi Khổng Minh đến, ban lệnh:
– Ngày xuất quân sắp tới mà tên của chúng ta còn thiếu rất nhiều. Ta giao cho ông việc cung cấp tên, hạn trong 10 ngày là phải có đủ. Nếu sai thì cứ theo quân pháp mà trừng trị.
Trong ý Chu Du dự định thể nào Khổng Minh cũng nài xin thêm ngày, ông ta sẽ cho nhiều lắm là 5 ngày nữa. Chẳng ngờ Khổng Minh cười nói:
– Việc ra quân rất gấp, nếu để 10 ngày thì bê trễ hết còn gì. Tôi xin đảm nhệm việc này, chỉ trong 3 ngày là có đủ!
Chu Du cả mừng, nghĩ thầm trong bụng: “Đó là ngươi tự tìm lấy cái chết chứ không phải ta ép uổng”. Xong rồi Chu Du liền gọi các tướng vào làm chứng, bắt Khổng Minh phải viết giấy cam đoan rõ ràng. Khi ra về, Khổng Minh liền tìm Lỗ Túc trách cứ:
– Tôi đã nói là không nên tiết lộ cho Chu Du biết. Nay ông đã hại tôi rồi thì phải cố giúp mới xong. Lỗ Túc cũng rất ân hận về việc này, xin Khổng Minh cần gì thì mình quyết cung ứng ngay. Khổng Minh liền mượn 20 chiếc thuyền, cho căng màn chung quanh, lấy cỏ khô bó lại thành hình người chất đầy quanh mạn thuyền. Khi xong việc Khổng Minh ung dung uống rượu ngâm thơ chẳng đả động gì tới khiến Lỗ Túc hết sức ngạc nhiên. Đến ngày thứ 3, khi Lỗ Túc đang định đi ngủ thì Khổng Minh sai người đến nói hãy đi lấy tên với mình.
Đêm hôm ấy có sương mù dày đặc mờ mịt cả dòng sông, đứng sát nhau cũng khó thấy mặt. Khổng Minh liền lệnh cho 20 chiếc thuyền buộc chặt với nhau rồi cứ thế mà lầm lũi đi đến thủy trại của Tào Tháo. Khi đến gần bờ, Khổng Minh sai quân nổi trống và reo hò ầm ĩ làm cho quân Tào hầu như thức dậy một lượt. Lỗ Túc hết sức kinh sợ, vội ngăn cản nhưng Khổng Minh đoan quyết:
– Sương mù như thế này, là người cẩn trọng, chắc chắn Tào Tháo không xuất quân đâu, ông đừng lo. Đi chơi với tôi một vòng rồi về là đủ số tên ngay.
Quả nhiên lúc ấy Mao Giới và Vu Cấm đã vào báo cho Tào Tháo biết nhưng đúng với suy đoán của Khổng Minh, Tào Tháo chỉ lệnh cho quân sĩ cứ nhắm vào chỗ có tiếng trống mà bắn tên ra. Tiếng trống càng rầm rộ bao nhiêu thì tên càng bắn ra như mưa. Khổng Minh cho thuyền chạy tới chạy lui mấy vòng rồi mới sai quân sĩ đồng thanh hô to: “Tạ ơn Thừa tướng ban cho tên”, sau đó 20 chiến thuyền vun vút chạy về doanh trại. Khi ấy Tào Tháo mới biết mình lại trúng kế của Khổng Minh lần nữa, rất tức giận mà không làm gì được.
Việc “mượn tên” này diễn tả trong cuốn Tam quốc diễn nghĩa, là một cuốn tiểu thuyết dựa vào lịch sử và có đôi chút phóng đại. Vì vậy việc “mượn tên” của Khổng Minh theo các nhà nghiên cứu chỉ là làm giảm uy danh của Chu Du, đồng thời khen tặng Khổng Minh. Thật sự, khi thủy chiến, dù ban ngày hay ban đêm quân sĩ đôi bên thường dùng tên lửa bắn ra để đốt cháy chiến thuyền địch. Nếu như Khổng Minh dùng thuyền lấy tên thì chỉ cần vài ba mũi tên có tẩm dầu là chiếc thuyền đã thành tro tàn mất rồi. Trong giới nghiên cứu lịch sử, có người còn cho rằng La Quán Trung, người viết cuốn Tam quốc diễn nghĩa chắc chưa bao giờ ra trận nên mới chế ra việc “mượn tên” hoang đường như trên.
Có thể nói, việc liên minh giữa Lưu Bị và Tôn Quyền là thật nhưng không phải nhờ vào Khổng Minh mà quân Đông Ngô mới có tên để dùng. Chắc chắn với một chiến dịch lớn lao như vậy, Chu Du là Đại tướng phải chuẩn bị đâu đó sẵn sàng rồi.
Riêng việc Chu Du dùng kế phản gián giết hai tướng Sái Mạo và Trương Doãn đủ nói lên mưu trí của ông rất sắc sảo. Vả chăng Chu Du là người kiêu ngạo, đâu cần nhờ tới mưu kế của Khổng Minh mới thắng được Tào Tháo trong trận Xích Bích. Tào Tháo giỏi dùng kỵ binh với cách đánh kỳ trận, còn thủy binh rất yếu kém nên mới chấp nhận sự đầu hàng của Sái Mạo và Trương Doãn, nay trúng kế của Chu Du thì đã thất bại tới nửa phần, còn lại là do tài điều binh của Chu Du.
Sự phán đoán này hoàn toàn có cơ sở bởi vì sau đó quân tướng của Tào Tháo khi xuống thuyền đều bị say sóng, nôn mửa mất sức, làm sao huấn luyện thành thạo được, lại là một yếu kém để Chu Du hình thành kế “liên hoàn thuyền”, giúp cho kế hỏa công đại thắng lợi. Ngay trong Tam quốc diễn nghĩa, đoạn viết về Chu Du cùng Khổng Minh bàn cách đánh bại Tào Tháo cũng đủ chứng tỏ tài trí của ông không hề thua kém Khổng Minh.
Khi ấy Chu Du nói với Khổng Minh:
– Tôi đã có kế sách đánh bại Tào Tháo dễ dàng.
Khổng Minh liền nói luôn:
– Tôi cũng có kế đánh bại được Tào Tháo. Bây giờ mỗi người viết kế sách đó vào tay rồi so xem kế của ai hay hơn.
Kết quả Chu Du và Khổng Minh đều viết vào lòng bàn tay một chữ duy nhất “ôhỏa” hai người nhìn nhau mà cười. Rõ ràng về mặt mưu kế Chu Du cũng rất nhạy bén, khi Tào Tháo sai hai em của sái Mạo là Sái Trung và Sái Hòa lẻn sang đầu hàng thì Chu Du cũng biết ngay đó là kế trá hàng, cốt dò xét xem quân Đông Ngô còn mưu kế gì khác nữa không.
Một bộ tướng của Chu Du là Hoàng Cái cũng có mưu trí không kém, thấy chủ tướng không có ý định gì thì nhân đêm khuya bí mật vào quân doanh khuyên Chu Du nên dùng hỏa công để đánh Tào Tháo. Chu Du liền nói thật rồi nhân việc Sái Trung và Sái Hòa trá hàng liền sai Hoàng Cái qua quân Tào trá hàng, giúp cho việc đánh hỏa thành công.
Hoàng Cái nhận lời, dùng “khổ nhục kế” giả vờ chống đối với Chu Du, bị đánh đòn tới mức máu đổ thịt rơi rồi nhân dịp chạy qua đầu hàng Tào Tháo. Lại có một mưu sĩ tên Hám Trạch trợ giúp nên cuối cùng mới lừa được Tào Tháo, là người hết sức đa nghi. Lúc ấy Tào Tháo mang tiếng chuyên quyền nên rất nhiều nhân sĩ không bằng lòng, vì vậy sau này lại có một nhân tài sánh ngang với Khổng Minh là Bàng Thống đến hiến kế cho Tào Tháo huấn luyện quân sĩ thủy chiến. Bàng Thống nói:
– Thừa tướng huấn luyện quân sĩ thủy chiến thật đúng phép nhưng chưa hoàn toàn nên người không quen sóng gió dễ bị bệnh. Nếu như Thừa tướng đem khoảng 30 đến 50 chiếc thuyền kết thành một nhóm, dùng đai sắt ghép cứng lại rồi trải gỗ lên trên làm sàn thì có thể đi lại dễ dàng như trên đất bằng vậy. Chẳng còn lo gì sóng gió nữa.
Tào Tháo cả mừng, lập tức sai quân làm theo như vậy, gọi là “Liên hoàn thuyền”. Chẳng mấy chốc mọi việc đã hoàn tất, Thủy quân Đô đốc Mao Giới và Vu Cấm đến thưa rằng có thể xuất quân được rồi, Tào Tháo liền truyền cho toàn bộ chiến thuyền lần lượt tiến ra thủy trại, đông đến nỗi chật cả một khúc sông dài, khí thế rất hào hùng. Hai mưu sĩ dưới quyền của Tào Tháo là Trình Dục và Tuân Du có suy nghĩ sâu xa hơn, nói với Tào Tháo:
– Thuyền kết thành nhóm thì quả rất lợi. Thế nhưng lỡ đối phương dùng hỏa công thì thật khó xoay trở.
Tào Tháo đang lúc hứng khởi, gạt đi không nghe lời của hai người, ung dung sai quân ra khiêu chiến. Chu Du cũng xuất quân nghinh địch, hai bên đánh mấy trận bất phân thắng bại. Chu Du đứng nhìn qua quân doanh của Tào Tháo, chợt thấy có một lá cờ bị gió to cuốn gẫy thì rất mừng bởi vì đó là điềm xấu, chắc chắn Tào Tháo sẽ thất bại về tay mình. Thế nhưng đột nhiên Chu Du nhớ lại một việc, kêu to một tiếng rồi hộc máu tươi ra, ngã xuống thuyền mê man bất tỉnh.
Thật sự Chu Du chỉ giả vờ vậy để cho quân Tào càng thêm kiêu ngạo, ông ngầm bàn với Khổng Minh lập đàn cầu đảo để có gió đông nam rồi một mặt sai Cam Ninh cùng với Sái Trung đem quân đến Ô Lâm cướp phá lương thảo; Thái Sử Từ chặn đường, Lã Mông tiếp ứng; Lăng Thống đến Di Lăng; Đông Dương đánh trại của Tào Tháo; Phan Chương thì ra Hán Dương tiếp ứng cho Đổng Tập.
Một loạt điều động quân binh rất nghiêm chỉnh, chứng tỏ Chu Du rất tinh thông binh pháp, sắp đặt xong 6 hộ quân, Chu Du thống lãnh thủy quân chia làm 4 đội tiến đánh quân Tào. Trận chiến xảy ra kinh hoàng, Tào Tháo cũng bị trúng tên vào tay, bao nhiêu chiến thuyền không làm sao cởi ra kịp đều bị hỏa công của quân Đông Ngô thiêu rụi. Quân Tào hoảng hốt bỏ chạy lên bờ cũng bị các hộ quân Đông Ngô phục sẵn xông ra đánh giết tơi bời. Tào Tháo nhìn quanh thấy chỗ nào cũng có lửa cháy thì kinh hoảng rụng rời, đành phải theo Trương Liêu lên một chiếc thuyền nhỏ bỏ chạy. Lúc đó Hoàng Cái đuổi theo rất rát, thế mà Tào Tháo vẫn còn oai phong giương cung bắn trúng vào vai Hoàng Cái một mũi tên, ngã lộn xuống sông.
Trận này Tào Tháo đại bại, thu thập quân tướng cùng mình chạy về Nam quận. Khi qua Hoa Dung đạo lại bị Quan Vũ chận đường, tưởng đâu lần này nắm chắc cái chết. May sao Tào Tháo khôn ngoan nhắc lại tình nghĩa lúc trước đã tặng áo cẩm bào, ngựa Xích Thố cho Quan Vũ mới thoát được. Lúc gần đến Nam quận, Tào Tháo được quân của Tào Nhân hộ tống mới vào thành bình yên.
Đại thắng Xích Bích không những biểu lộ tài năng chỉ huy ba quân của Chu Du mà còn mở ra một bước ngoặt mới khiến Tào Tháo mất đất Kinh châu đã nắm chắc trong tay. Cũng nhờ vậy mà hai thế lực của Tôn Quyền và Lưu Bị có thời gian phát triển thế lực, từ đó hình thành cục diện Tam quốc, tức là thành thế chân vạc Ngụy, Thục, Ngô để giằng co với nhau. Thua trận Xích Bích, Tào Tháo phải mất nhiều tâm huyết, nhiều năm sau mới phục hồi lại được sức mạnh quân sự, cũng là một bài học kinh điển về hỏa công mà người sau thường lấy để minh họa cho lý thuyết binh pháp.
Tiếc rằng khi tiến đánh Nam quận, Chu Du bị trúng tên trọng thương. Tào Nhân biết việc này liền đem quân ra khỏi thành truy kích nhưng Chu Du dù đang rất đau đớn vẫn chỉ huy ba quân đánh bại quấn Tào, rút lui yên ổn. Mũi tên mà Chu Du trúng phải là tên có bôi chất độc, vì vậy sau đó chạy chữa tận tình vẫn không sao khỏi được và ông mất khi mới vừa 36 tuổi.
Người đời sau rất ít khi nhắc đến Chu Du bởi vì cuộc sống của ông quá ngắn ngủi, nếu như có may mắn sống đến 90 tuổi như danh tướng Vương Tiễn đời Tần thì chắc chắn ông sẽ còn cống hiến cho đời nhiều trận đánh tài tình chứ không riêng gì trận Xích Bích.
9 QUÁCH TỬ NGHI - MỘT LÒNG VÌ QUỐC GIA
Kể từ thời nhà Hán (cả Tây Hán lẫn Đông Hán) bị diệt vong, đất nước Trung Hoa trải qua một thời kỳ hết sức hỗn loạn. Sau thời kỳ Tam quốc là thời Nam Bắc triều, trải dài từ năm 220 đến năm 618 mới được hưởng thái bình dưới thời nhà Đường, một triều đại khá huy hoàng nhờ ở sự anh minh của gia tộc họ Lý mà khởi đầu là Lý Uyên. Thế nhưng triều đại nhà Đường cũng gặp không ít hỗn loạn bởi sự thao túng của người đàn bà nổi tiếng, đó là Võ Tắc Thiên. Sau khi Võ Tắc Thiên mất, đất nước vẫn chưa phục hồi lại được thịnh trị như trước, qua các đời Đường Trung tông, Huệ tông, đến đời Đường Huyền tông mới xuất hiện một vị tướng soái tài danh, xứng đáng được ghi danh vào sử sách. Vị tướng soái ấy tên là Quách Tử Nghi.
Quách Tử Nghi sinh vào năm 697 tức vẫn còn trong thời gian Võ hậu Võ Tắc Thiên cai trị với quốc hiệu là Chu. Ông cũng là vị tướng soái có số tuổi xếp vào loại thọ nhất, trải qua bốn đời vua từ Huyền tông, Túc tông, Đại tông rồi đến đời Đường Đức tông mới mất, vào năm 781.
Quách Tử Nghi là người huyện Trịnh thuộc Hoa châu, được trời đất ban cho thân hình cao lớn, diện mạo oai phong đầy đặn. Khi lớn lên, người ta lại nhận thấy tính tình của ông cũng can đảm khác người, trung trực dám nói dám làm, không hề cúi đầu trước cường quyền. Thân phụ của ông là Quách Kính Chi, từng giữ chức Thứ sử ở triều Huyền tông nên có hoàn cảnh khá tốt để học hành đầy đủ. Thế nhưng ngay lúc còn nhỏ, ngoài sách vở Thư, Thi, ông lại tỏ ra ham thích các sách viết về binh pháp, hay cùng chúng bạn luyện tập võ nghệ.
Đến lúc trưởng thành, Quách Tử Nghi vừa làu thông binh pháp vừa giỏi về văn chương nên về sau rất ý hợp tâm đầu với nhà thơ nổi tiếng Lý Bạch. Thời gian mà Quách Tử Nghi khôn lớn rơi vào đúng đời Đường Huyền tông, được gọi là “Khai Nguyên chi trị”. Khi ấy đất nước giàu mạnh yên ổn, nhân dân an hưởng thái bình nhưng Quách Tử Nghi vẫn nhìn ra được những hiểm họa từ phương bắc đưa tới đe dọa nền an ninh của đất nước, trong tâm đã hình thành ý tưởng muốn đem hết tài năng của mình ra bảo vệ biên cương.
Vì vậy khi vừa đủ tuổi, Quách Tử Nghi liền xin gia nhập quân ngũ. Với xuất thân quyền quý, ông được đưa vào đội cấm quân của Hoàng đế, giữ chức Tả vệ Trưởng sử. Được thỏa chí, ông dựa vào môi trường này lập nhiều chiến công khiến triều đình phải chú ý và muốn thăng cấp cho ông nhưng không có cơ hội bởi vì đất nước rất yên bình, hầu như không có nội loạn, tức không có công trạng thì làm sao có thể thăng cấp bừa bãi. Vì vậy nhân có tin đồn người dân tộc phương bắc đang có ý định quấy rồi biên cương, Quách Tử Nghi liền được điều động lên phía bắc giữ chức Thái thú Cửu Nguyên.
Nắm được binh quyền rồi, Quách Tử Nghi bắt đầu tổ chức thao luyện quân sĩ, củng cố thành trì suốt dọc theo biên giới, rất chú trọng đến những động thái của các dân tộc Nội Mông Cổ. Trong số các dân tộc thiểu số ấy, một dân tộc có tên gọi là Hồi Hột xuất hiện một thủ lĩnh đầy tài ba là Cốt Lực Bùi La. Ông này sau khi thống nhất được các bộ tộc liền sai sứ thần đến triều Đường xin đặt cơ quan hành chính cai trị. Đường Huyền tông Lý Long Cơ bằng lòng, phong cho Cốt Lực Bùi La làm Hoài Nhân Khả Hãn, chia đất Hồi Hột ra làm 6 phủ.
Cốt Lực Bùi La là người có chí lớn nhưng không tàn ác tham lam, ra sức kết hợp giữa hai quốc gia, thúc đẩy sự giao thương nên chẳng bao lâu đã trở thành một quốc gia khá cường thịnh nơi phương bắc. Đồng thời sự giao thiệp giữa hai nựớc Hồi Hột và Đường cũng rất tốt đẹp, đời Đường Túc tông còn đem Công chúa Văn Thành gả cho vị Khả Hãn để biểu lộ sự hảo hữu. Thế nhưng đồng thời với sự giao thương, vị Hoàng đế anh minh Lý Long Cơ vẫn không quên việc đề phòng ngoại xâm, lập ra các trấn dọc theo biên giới, dùng chính người dân tộc thiểu số cai trị để làm phên dậu.
Khi ấy có một tướng của Thổ Phiên nhưng gốc gác lại là người Đột Quyết tên là An Lộc Sơn được triều đình rất tín nhiệm. An Lộc Sơn vừa có sức mạnh muôn người không địch, lại khéo kết hợp được các bộ tộc về theo mình nên dần dần trở thành một lực lượng đáng kể. Để vỗ về An Lộc Sơn, triều Đường nhiều lần đến phủ dụ và hắn tỏ ra bằng lòng qui thuận nên được phong làm Phiên tướng một trấn. Từ đấy trở đi An Lộc Sơn ra sức mua chuộc quan lại triều đình, bày tỏ lòng trung thành bằng nhiều lễ vật quý hiếm, lại ra sức tiễu trừ bọn thổ phỉ suốt vùng phía bắc nên chẳng bao lâu Đường Huyền tông thăng lên làm Tiết Độ sứ nắm giữ cả 3 phiên trấn, gồm có Bình Lư, Phạm Dương và Hà Đông.
An Lộc Sơn bề ngoài hết sức cung kính với Huyền tông, thường biểu lộ lòng trung thành mỗi khi có mặt ở triều đình nhưng thật sự hắn có dã tâm rất lớn, lợi dụng chức vụ Tiết Độ sứ được toàn quyền nắm binh mã 3 trấn mà ra sức chiêu mộ quân binh, bí mật huấn luyện thật tinh thục. Để che giấu tai mắt triều đình, An Lộc Sơn thường lấy cớ về Trường An dâng tặng Huyền tông những thứ quý hiếm, thực sự là có ý muốn thông đồng với các đại quan làm tay chân và dò xét tình hình triều chính ra sao, nếu có cơ hội sẽ tiến hành tranh đoạt giang sơn. Tiếc rằng lúc ấy Đường Huyền tông Lý Long Cơ quá thỏa mãn về đại nghiệp của mình nên hoàn toàn không để ý đến những dấu hiệu nguy hiểm ấy. Ông lại là vị Hoàng đế rất đa tình, tuy có nhiều Phi tần xinh đẹp tuyệt thế như Mai phi, Quắc phu nhân nhưng vẫn mê luyến một mỹ nhân tên là Dương Ngọc Hoàn. Mỹ nhân họ Dương vốn là con dâu của Huyền tông, tức vợ của Thọ vương Lý Mạo, thế mà chỉ một lần gặp mặt vị Hoàng đế anh minh kiêu hùng ngày nào trở thành u mê, quyết định cướp vợ của con với sự giúp đỡ tận tình của tên gian thần Cao Lực Sĩ.
Khi đã cướp được mỹ nhân rồi, Huyền tông lập tức phong cho nàng là Quý phi, từ đấy thường bê trễ triều chính, suốt ngày đêm thưởng hoa vịnh nguyệt với người đẹp trong cung cấm. Để vừa lòng mỹ nhân, Huyền tông còn không tiếc tiền bạc triệu mời một danh sĩ nổi tiếng là Lý Bạch về cung, chế tác những bài hát cung đình phục vụ thâu đêm suốt sáng.
Có thể nói, vì mê đắm nữ sắc mà bắt đầu Đường Huyền tông, thường được ca tụng sự sáng suốt bằng tên Đường Minh hoàng - bắt đầu trở thành một vị Hoàng đế mê muội nhất thời nhà Đường. Chẳng những Huyền tông bỏ bê triều chính mà còn nghe lời ỏn thót của mỹ nhân, đưa một người anh họ hàng tên là Dương Khâm lên làm Tể tướng. Lúc đó lại có tên gian thần Lý Lâm Phủ hết sức thâm hiểm, đối chọi tranh giành quyền lực với Dương Khâm, làm cho triều chính càng ngày càng hủ bại.
Nhờ vào việc xu nịnh, Dương Khâm được Huyền tông khen ngợi và đổi tên là Dương Quốc Trung. Hắn tuy ít học hành nhưng là người sắc bén, xuyên qua các sự việc liền nhận ra dã tâm của An Lộc Sơn, nhiều lần dâng tấu xin Huyền tông hãy tước bớt binh quyền hoặc triệu hắn về kinh trao cho chức vụ gì đó, gọi là thăng cấp nhưng thật sự giam chân hắn ở kinh thành để dễ bề đề phòng. Tiếc rằng Huyền tông quá tin tưởng An Lộc Sơn, bao nhiêu sớ tấu của Dương Quốc Trung đều vất bỏ, còn nói:
– An Lộc Sơn là danh tướng trụ cột của triều đình, lại nhận ta là nghĩa phụ thì đời nào phản bội. Việc huy động quân mã nơi biên cương chẳng qua chỉ muốn tăng cường để trấn áp bọn người Hồ mà thôi.
Thật sự khi ấy quân đội của triều Đường quá nhàn nhã nên hết sức bạc nhược, chỉ còn một số quân binh ngoài biên trấn do các tướng có tài như Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật nắm giữ là được huấn luyện kỹ càng. Thế nhưng cũng có lần Quách Tử Nghi về triều, dâng tấu thư xin Huyền tông xem lại tư cách của An Lộc Sơn bởi có tin đồn rất khả nghi. Thế nhưng tấu thư này bị Lý Lâm Phủ giấu nhẹm. Sau khi Lý Lâm Phủ chết rồi, Dương Quốc Trung mới biết việc này nên mới tâu xin với Huyền tông như vậy.
Dương Quốc Trung vẫn cố nài xin, bất đắc dĩ Huyền tông phải sai một cận thần đi dò xét nhưng tên này nhận tiền bạc đút lót của An Lộc Sơn, khi về triều tâu những điều tốt cho hắn. Dương Quốc Trung bị trách mắng nên rất tức giận, quyết định một ván bài then chốt. Đó là không hề tâu trước với Huyền tông mà đột ngột đem quân bao vây phủ đệ của An Lộc Sơn ở kinh đô, xông vào tra xét tìm giấy tờ liên quan đến ý đồ phản bội triều đình.
Bọn quân trung thành với An Lộc Sơn quyết chống trả đến cùng, không cho Dương Quốc Trung làm việc phi pháp, vì vậy xảy ra xung đột dữ dội; và tất cả quân của An Lộc Sơn đều bị Dương Quốc Trung giết sạch. Tuy vậy, kết quả Dương Quốc Trung cũng tìm được một số bằng chứng, vui mừng mang về dâng cho Huyền tông để chứng minh rằng mình không sai. Nghe tin này, An Lộc Sơn cả sợ, còn chưa biết toan tính ứng phó ra sao thì một bộ tướng là Sử Tư Minh liền hiến kế sách lấy danh nghĩa “trừ gian thần” tức Dương Quốc Trung, ép quân về triều rồi tùy cơ ứng biến, nếu có thể thì chiếm luôn ngai vàng.
An Lộc Sơn liền nghe theo, điểm 15 vạn quân mã nhưng phô trương lên thành 20 vạn đang đóng ở Phạm Dương kéo rốc xuống phía nam. Vì quân tướng nhà Đường không hề ngờ tới mà cũng chẳng có phòng thủ chút nào nên An Lộc Sơn tiến nhanh như vũ bão, chẳng bao lâu đã vượt sông Hoàng hà.
Thế nhưng sau những thất bại liên tiếp ấy, các tướng trấn giữ ở Hà Bắc bắt đầu hoàn hồn, thu nhặt quân mã chuẩn bị chống đỡ. Ngay lúc ấy lại nghe được tin Huyền tông phong cho Quách Tử Nghi làm Đại tướng, có quyền điều động toàn bộ quân đội thì ai nấy đều vui mừng bởi danh tiếng của ông đã được nhiều người nghe biết. Địa đầu tiến vào Trường An là Đồng Quan do lão tướng Ca Thư Hàn chỉ huy, cũng phấn khởi với tin này nên khi An Lộc Sơn đánh phá thì hết lòng chống đỡ, quả nhiên cầm chân được loạn quân. Trong khi ấy Quách Tử Nghi cũng điều động quân đội của mình lên phía bắc, tức là An Lôc Sơn bị lâm vào thế hai đầu thụ địch, đành phải đóng lại ở Lạc Dương, tự xưng là Hoàng đế, lấy tên nước là Đại Yên.
Trường An lại yên vui như trước và Huyền tông lại cùng Dương Quý phi ngày ngày ca xướng điệu Nghê thường. Thế nhưng Huyền tông lại vấp phải sai lầm chết người, đó là khi Ca Thư Hàn báo tin về cho biết đã chiêu mộ được hơn 20 vạn quân. Huyền tông cả mừng, lập tức xuống lệnh cho viên lão tướng này tiến đánh, chiếm lại Lạc Dương. Đây là sai lầm chết người là vì quả thực dưới tay Ca Thư Hàn có 20 vạn quân nhưng chưa hề được huấn luyện, thêm vào đó Ca Thư Hàn đã quá già yếu bệnh tật, lên tới chức Tướng chỉ nhờ vào ở trong quân ngũ lâu năm, hiền lành không làm mất lòng triều thần mà thôi.
Nhận được chiếu thư, Ca Thư Hàn tự biết mình không phải là đối thủ của An Lộc Sơn, trước khi động binh quay mặt về hướng Trường An, quỳ xuống khóc lạy vĩnh biệt Hoàng đế. Quả nhiên, quân đội của An Lộc Sơn vốn tinh nhuệ, lại hầu hết là người dân tộc Mông Cổ rất thiện chiến nên chỉ sau mấy trận đã đánh bại đại quân của Ca Thư Hàn ở Đồng Quan, bắt sống vị lão tướng này. Đúng ra An Lộc Sơn đã tạm hài lòng với danh vị Hoàng đế Đại Yên, nhân dịp chỉnh đốn binh mã rồi mới tính tiếp đến việc tiêu diệt nhà Đường. Nhưng vì việc Ca Thư Hàn tiến đánh, hắn nổi giận, quyết định kéo hết đại quân tiến về Trường An với khí thế hết sức hung hãn.
Nghe tin Ca Thư Hàn đại bại, chẳng bao lâu loạn quân sẽ tiến về kinh thành, toàn bộ từ Hoàng đế cho tới người dân Trường An rơi vào hỗn loạn, vương tôn quý tộc cùng với kẻ bình dân đua nhau gom góp tài vật, lên xe ngựa tháo chạy. Quân tướng nhà Đường đóng ở Trường An cũng bị tình hình làm tiêu tan ý chí chiến đấu, bỏ hàng ngũ khá nhiều. Dương Quốc Trung không còn cách nào khác, đành phải vào tâu xin Đường Huyền tông tạm thời lui về đất Ba Thục, hội họp quân tướng xong sẽ tái chiếm sau.
Bất đắc dĩ Huyền tông phải nghe theo. Ngày 12 tháng 6 năm Thiên Bảo thứ 15, Huyền tông thiết triều tuyên bố việc bỏ chạy, để kinh thành cho Thái tử Lý Hanh trấn thủ. Gia tộc họ Dương cũng thu xếp chạy theo, họp với đoàn xe hoàng gia thành một dãy dài, lục tục kéo về hướng vùng đất cằn cỗi, lởm chởm núi đá của Ba Thục. Thế nhưng khi đoàn xe đi đến dịch trạm Mã Ngôi thì toàn quân triều đình nổi lên làm loạn, đòi Hoàng đế phải giết Dương Quý phi và Dương Quốc Trung mới đồng lòng ra sức đánh đuổi quân thù. Vị Hoàng đế triều Đường năm ấy đã 60 tuổi, đau khổ sai Cao Lực Sĩ mang tấm lụa ban cho mỹ nhân họ Dương, sau đó rơi nước mắt mà đi đến Ba Thục.
Sau khi An Lộc Sơn chiếm được Trường An, tên này bỏ mặc quân tướng dưới quyền hoành hành, chém giết nhân dân, cướp đoạt tài sản, đốt phá đình miếu nhà cửa khiến chính những người dân không võ khí cũng phải căm tức mà tự đứng lên tổ chức chống lại. Kết hợp với lòng dân, một số quan tướng vùng Hà Bắc tuy đã thất thủ nhưng vẫn rút lui kịp thời, kêu gọi mọi người gia nhập quân ngũ để chờ thời cơ tiêu diệt loạn quân. Đáng kể nhất là viên Thái thú tên Nhan Cảo Khanh đã dùng lực lượng của riêng mình chống trả rất quyết liệt và còn thu hồi được một số thành trì đã bị mất. Thế nhưng vì không có tiếp viện, cuối cùng Nhan Cảo Khanh bị An Lộc Sơn dồn hết lực lượng bao vây và bắt giết được ông.
Lúc đó Thái tử Lý Hanh cũng đã bỏ Trường An chạy về Ninh Vũ. Để có danh chính ngôn thuận, triều đình khuyên Thái tử lên ngôi Hoàng đế, xưng hiệu là Đường Túc tông. Với danh nghĩa này, Túc tông hạ lệnh cho Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật cùng kết hợp với nhau chống giặc.
Nguyên trước kia Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật đều là Phó tướng của An Tử Thuận nhưng tính tình hai người rất xung khắc, nhiều lúc cùng ngồi một xe, ăn uống chung một tiệc mà vẫn như cừu địch, không bao giờ nói chuyện với nhau. Khi Túc tông phong cho Quách Tử Nghi làm Đại tướng thay thế An Tử Thuận thì Lý Quang Bật rất lo lắng ông sẽ dùng chức vụ ấy mà hãm hại mình, thẳng thắn đến gặp Quách Tử Nghi rồi nói:
– Tôi dù sống chết cũng không quan tâm, chỉ xin ông rộng lượng đừng hại đến vợ con tôi, là những người vô tội mà thôi.
Quách Tử Nghi liền bước xuống cầm tay Lý Quang Bật, rơi nước mắt mà nói:
– Tôi đâu có dám vì thù riêng mà hại ông, đừng nói đến vợ con. Hiện giờ đất nước loạn lạc, vua tôi cùng nhau lo lắng để đừng bị mang tiếng nhục nhã với đời sau. Nếu không có ông giúp cho một tay thì sao tôi có thể gánh vác được việc thiên hạ?
Lý Quang Bật thấy vậy cũng khóc theo, từ đó hai người xóa bỏ những hận thù trước kia, chung lưng kết hợp chống với loạn quân khiến An Lộc Sơn không sao chống lại nổi. về sau cũng chính Quách Tử Nghi đề bạt cho Lý Quang Bật giữ chức Tiết Độ sứ.
Khi đã hiểu nhau rồi, Quách Tử Nghi sai Lý Quang Bật dẫn trung quân tiến thẳng đến chiếm lại thành Thường Sơn, riêng mình thì bí mật theo đường nhỏ đánh bọc hậu. Lúc ấy Sử Tư Minh đang trấn giữ Thường Sơn, tuy quân số rất hùng hậu nhưng bị khí thế của hai tướng triều đình làm cho nhụt chí, chỉ sau mấy trận đánh đã hoảng hốt bỏ chạy về Hoàn Dương.
Trận đánh ở Hoàn Dương cũng diễn tiến gần giống như vậy, với cách hành binh thần tốc và bí mật của Quách Tử Nghi, quân phiến loạn không thể nào ngờ được. Một lần nữa Sử Tư Minh đành phải cúi đầu bỏ chạy về Phạm Dương, quân binh tử trận hơn phân nửa. An Lộc Sơn nghe tin này rất tức giận, lập tức gom góp toàn bộ kỵ binh tinh nhuệ, lên tới 20 vạn, tiến đánh chiếm lại Hoàn Dương.
Quách Tử Nghi cùng Lý Quang Bật xem xét tình hình, biết rằng về mặt kỵ binh thì bọn loạn quân đa số là người thiểu số phương bắc thiện nghệ hơn, không nên dùng sở đoản của mình đánh với sở trường của bọn chúng. Đối phương lại phải điều động từ xa đến tất mệt mỏi, do vậy có thể dùng kế sách cố thủ, làm cho tinh thần quân giặc suy yếu, cùng lúc đó sử dụng du kích mà đánh phá, khi đã có thời cơ mới nên đối chiến đạt thắng lợi.
Đó chính là tư tưởng mưu lược của họ Quách, vận dụng một cách linh hoạt, khi thế giặc hùng mạnh thì cố thủ, khi giặc lơi lỏng thì đánh úp, ban ngày nghỉ ngơi, ban đêm thừa cơ tùy chỗ mà đánh phá. Riêng trong hoàn cảnh chống với An Lộc Sơn, kế sách này của Quách Tử Nghi tỏ ra rất hiệu dụng, chẳng bao lâu lòng quân của hắn đã loạn xạ, không còn tinh thần chiến đấu nữa.
Khi ấy Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật mới quyết định dồn sức tiến đánh. Quả nhiên liệu định của hai tướng đều chính xác, qua mấy trận đại thắng đã đẩy lùi quân của An Lộc Sơn đến Bác Lăng, Hà Bắc. Thành Bác Lăng được xây dựng rất kiên cố nên Quách Tử Nghi không tham đánh mà hao tổn quân sĩ, cũng lui về trấn giữ Hoàn Dương, tạo thế kềm hãm không để cho An Lộc Sơn có dịp tung hoành.
Đồng thời ông vẫn cho quân dùng du kích chiến đánh phá khiến quân phản loạn hết sức mệt mỏi. Dưới sự lãnh đạo của Quách Tử Nghi, dân chúng khắp nơi nô nức đến xin tham gia, chẳng mấy chốc đã được thêm mấy vạn quân. Thấy thời cơ đã tới, Quách Tử Nghi bèn hiệu triệu quân tướng rồi mở màn cho trận đánh Bác Lăng nổi tiếng. Trong trận này Sử Tư Minh bị trọng thương, quân sĩ bị tiêu diệt gần hết nên tiếng đồn vang xa, các châu huyện nơi Hà Bắc cũng đồng thanh nổi dậy đánh phá, giết bọn cầm đầu làm cho tình hình của An Lộc Sơn suy yếu hẳn.
Trong khi Quách Tử Nghi đối đầu với Sử Tư Minh thì Túc tông cũng sai một tướng khác là Phòng Quản tái chiếm Trường An. Thế nhưng Phòng Quản là một người bất tài vô tướng, tính tình kiêu ngạo làm cho nhận xét về địch quân sai lầm, dùng “chiến xa” do trâu kéo để đối phó với kỵ binh người Hồ. An Lộc Sơn cũng rất tinh thông binh pháp, lập tức sử dụng hỏa công khiến những con bò hoảng loạn, quay ngược lại đạp giẫm lên quân sĩ nhà Đường, chết vô số.
Trước tình hình như vậy, cuối cùng Túc tông đành phải cấp tốc triệu Quách Tử Nghi đến Linh Vũ giao cho chức Đại tướng, nắm toàn bộ binh quyền để tái chiếm lại hai kinh thành Tây Kinh Trường An và Đông Kinh Lạc Dương. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Quách Tử Nghi khôn ngoan cho quân đánh chiếm Đồng Quan trước, thế là cắt đứt đường liên kết và rút lui của bọn phản loạn. Thừa thế đang thắng, Túc Tông lại giao cho Quách Tử Nghi 15 vạn quân, giữ chức Tổng Binh Nguyên soái, cho Lý Tự Nghiệp làm Phó tướng, đại quân rầm rộ tiến thẳng đến Trường An với mục tiêu là phải lấy lại kinh đô làm bàn đạp tái chiếm Lạc Dương.
Trận đánh dữ dội xảy ra ngoài thành Trường An, đôi bên ngang ngửa nhưng quân nhà Đường có khí thế hơn nên cuối cùng đại thắng mấy trận, buộc bọn chúng phải vào thành cố thủ. Thế nhưng để chiếm được Trường An là vấn đề khá hóc búa và phải có thời gian lâu dài. Quách Tử Nghi và Lý Tự Nghiệp bèn bàn soạn một kế sách, vẫn đưa quân đánh phá nhưng cùng lúc sai một số quân lo về lương thực, tính kế lâu dài. May sao lúc đó trong nội bộ bọn phản loạn xảy ra biến cố, An Lộc Sơn bị chính con trai của mình là An Khánh Tự giết chết, toàn quân tướng của hắn trở nên đại loạn.
Nghe tin này, Quách Tử Nghi nắm lấy thời cơ, lập tức cho quân đánh thật rát khiến quân phản loạn hết sức kinh sợ, cuối cùng tự bỏ khỏi giáp mà chạy trốn. Tái chiếm Trường An thành công là một bước ngoặt lớn trong đời Quách Tử Nghi, ông trở thành người nổi tiếng mà tất cả triều đình đều đăt hy vọng vào ông.
Lúc Túc tông dời về Trường An thì An Khánh Tự cũng đã chạy đến Lạc Dương cố thủ. Túc tông quyết định không để quân giặc có thời gian hồi phục, xuống lệnh cho Quách Tử Nghi tiếp tục kéo đại quân thẳng tới Lạc Dương. Lần này An Khánh Tự đã sợ hãi nên bố trí rất nghiêm mật, sai quân dựa lưng vào núi để cố thủ. Thế nhưng Quách Tử Nghi còn quyền biến hơn nhiều, ông mau chóng nghĩ ra kế sách đánh bại quân địch, đó là nhờ dựa vào số 5000 quân Hồi Hột đã mượn được của Khả Hãn. Quân Hồi Hột rất thiện về việc leo trèo núi cao nên cùng lúc tấn công chính diện, Quách Tử Nghi cho quân Hồi Hột lẻn ra phía sau, đi đường núi đánh úp phía lưng bọn chúng.
Bị bất ngờ, quân của viên tướng Nghiêm Trang đều hoảng hốt, thi nhau bỏ chạy, bị quân triều đình truy đuổi chém chết rất nhiều. Khi chạy về đến Lạc Dương, Nghiêm Trang không còn hột máu hổn hển thúc hối An Khánh Tự mau mau bỏ chạy. Thế là tên gian ác giết cha này cũng hoảng hốt theo, vội vàng ra lệnh rút binh khỏi Lạc Dương, chạy trối chết qua Hoàng hà để về Tương châu.
Hai chiến thắng liên tiếp khiến Túc tông vô cùng xúc động, tự thân đến Bá Thượng khen ngợi và ban thưởng cho Quách Tử Nghi. Sau khi chỉnh đốn hai kinh thành yên ổn, Túc tông mới sai người đến Ba Thục đón Huyền tông trở về, tôn lên làm Thái Thượng hoàng.
Từ đó danh tiếng của Quách Tử Nghi có uy lực chấn động cả phương bắc, những bộ tộc theo phe An Lộc Sơn trước kia đều xin rút lui khiến lực lượng của con trai hắn càng lúc càng lụn bại mặc dù vẫn còn mấy huyện ở Nghiệp quận và Sử Tư Minh bị trọng thương nhưng không chết, vẫn cố thủ ở Phạm Dương. Hai tên này sau khi hồi sức thì vẫn còn tham vọng, một lần nữa hợp binh kéo đến uy hiếp Lạc Dương.
Lần này Túc tông cũng u mê chẳng khác Thái thượng hoàng Huyền tông, rất sủng ái một tên hoạn quan là Ngư Triều Ân, giao cho hắn chức thống lãnh 9 đoàn quân của 9 Tiết Độ sứ, trong đó có cả quân của Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật. Với lo lắng chức vụ Tiết Độ sứ đã quyền hạn lớn rồi, Túc tông không hề phong cho ai làm Nguyên soái, để mặc tình Ngư Triều Ân chỉ huy. Vì vậy quân triều đình tuy đông gấp bội quân địch, lại có những tướng lãnh tài ba nhưng vẫn không sao kết hợp nhau được, mấy trận đều thất bại.
Ngư Triều Ân chỉ huy đại quân thất bại, thế mà vẫn được Túc tông khen ngợi, thành ra hắn càng thêm kiêu ngạo, trong ý muốn trừ diệt Quách Tử Nghi để không còn ai cản trở sự thao túng của hắn nữa. Hắn liền đổ hết tội lên đầu họ Quách, giáng chức không cho nắm binh quyền nữa.
Nội bộ của triều Đường rối loạn nhưng của đối phương cũng không yên ổn. Khi ấy Sử Tư Minh bất mãn An Khánh Tự, lén giết chết ông ta rồi tự lên ngôi Đại Yên Hoàng đế. Hắn chiêu mộ thêm binh mã rồi đến năm 759 kéo quân đến Lạc Dương đánh phá. Khi ấy không còn vị Tiết Độ sứ nào có tài năng trấn giữ, chẳng bao lâu Lạc Dương đã thất thủ. Sử Tư Minh chiếm được lạc Dương không lâu thì nội bộ lại phát sinh cố, đứa con trai của hắn là Sử Triều Nghĩa theo gương An Khánh Tự giết chết cha mình chiếm ngôi.
Trong tình thế ấy bắt buộc Túc tông phải gọi Quách Tử Nghi ra cầm quân nhưng vẫn không hề tin tưởng mà giao cho Ung vương Lý Thích làm Nguyên soái, Quách Tử Nghi chỉ được làm Phó tướng. Thế nhưng Quách Tử Nghi tự biết số quân triều đình không thể nào tiêu diệt được bọn Sử Triều Nghĩa, tự thân ông đi vận động và mượn được 10 vạn quân Hồi Hột. Nhờ vậy Sử Triều Nghĩa đại bại, phải chạy về Mạc châu ẩn trốn.
Hắn cũng không được yên thân bởi qua năm sau mấy tên bộ tướng như Điền Thừa Tự, Lý Hoài Tiên, v.v... liên tiếp nhau về đầu hàng triều đình. Sử Triều Nghĩa không còn bao nhiêu quân tướng trong tay, cùng đường tắc lối nên tự vẫn mà chết. Thế là cuộc chiến loạn An Lộc Sơn - Sử Tư Minh hoàn toàn bị Quách Tử Nghi dẹp tan, phải mất đến hơn 7 năm khiến toàn đất nước lâm vào cảnh đói khổ điêu linh. Từ đó triều nhà Đường bắt đầu tiến trình lụn bại và kéo dài cho đến khi đất nước hình thành các triều đình nho nhỏ gọi là thời Ngũ Đại.
Khi Quách Tử Nghi vừa mới đem quân ra khỏi kinh thành mấy ngày thì Túc tông chết, lên nối ngôi là Thái tử Lý Dự, xưng hiệu là Đường Đại tông. Triều Đường cũng chưa phải là được yên ổn, vì bao nhiêu quân tướng trấn giữ biên cương phía tây bắc đã điều động đi đánh dẹp “An Lộc Sơn chi loạn” nên biên cương hầu như bỏ trống, nhân cơ hội đó thế lực quân phiệt của người Thổ Phiên liền tấn công và chiếm được Phụng Thiên.
Một lần nữa Đại tông phải nhờ đến tài ba của Quách Tử Nghi, sai ông mau chóng điều quân đi đánh dẹp. Thấy số quân của mình quá ít, Quách Tử Nghi nhiều lần tâu xin thêm nhưng tất cả đều bị tên gian thần Trình Nguyên Chấn giấu đi, vì vậy Quách Tử Nghi không sao chống đỡ nổi, phải từng bước rút lui. Cuối cùng quân Thổ Phiên kéo đến Trường An uy hiếp. Bất đắc dĩ Đại tông phải cùng quần thần chạy về Lạc Dương châu lánh nạn. Các lộ quân triều Đường đóng ở Trường An và Thương châu nghe tin này đều tự động bỏ hàng ngũ.
Khi Quách Tử Nghi tới kịp, ông ra sức kêu gọi và tụ tập các quân tướng đào ngũ để lập lại trật tự. Đã nghe danh tiếng Quách Tử Nghi từ lâu, nay nghe ông kêu gọi lập tức các đào binh đều trở về. Nắm được sốquân ấy, Quách Tử Nghi quyết định sử dụng một kế sách thần diệu, gọi là “Thanh đông kích tây”. Ông sai tướng Trưởng tôn Toàn Tự dẫn quân đến Lam Điền khiêu khích, mở cờ đánh trống dữ dội, thật sự quân chủ lực của Quách Tử Nghi đi vòng ra phía tây bất ngờ đánh thẳng vào thành. Quân Thổ Phiên trở tay không kịp, đại bại thi nhau chạy trốn và Lam Điền được giải tỏa mở đường cho toàn quân nhà Đường tái chiếm lại Trường An. Tuy nhiên Đại tông không về kinh thành mà nghe lời xúi bẩy của Trình Nguyên Chấn, đóng đô luôn ở Lạc Dương.
Quách Tử Nghi sáng suốt biết ngay đó là mưu kế của Trình Nguyên Chấn muốn loại bỏ mình nên lập tức dâng tấu thư thẳng thắn vạch ra sai lầm nếu như đóng đô ở Trường An. Dù đang sủng ái Trình Nguyên Chấn nhưng Đại tông vẫn nhận ra những lý lẽ của ông hoàn toàn đúng đắn, vào năm 764 quyết định dời triều đình về Trường An.
Thế nhưng sự bình yên vẫn chưa đến, lúc đó một viên Tiết Độ sứ vùng Lũng Hữu là Phốc Cố Hoài Ân nhân cơ hội triều đình nhà Đường đang rối loạn thì nổi lên tham vọng muốn làm vua một cõi. Hắn khôn khéo mượn quân của Thổ Phiên và Hồi Hột để đánh phá, chẳng bao lâu lại uy hiếp Trường An. Tuy Quách Tử Nghi bị bọn gian thần sợ hãi gièm pha rất nhiều nhưng Đại tông vẫn không còn cách nào khác là phải giao toàn bộ binh quyền cho ông, phong làm Nguyên soái dẫn quân đi đánh dẹp loạn Phốc Cố Hoài Ân.
Nhiều năm trấn thủ biên cương, Quách Tử Nghi có mối giao tình rất hậu với người Hồi Hột nên nhân cơ hội này thuyết phục bọn họ không giúp cho Phốc Cố Hoài Ân nữa. Thế là hắn sức tàn lực kiệt, sợ hãi chạy trốn về Linh châu, quân của Quách Tử Nghi không cần đánh cũng dẹp tan được nội loạn.
Bề ngoài thấy sự việc có thể dễ dàng, thật sự nếu như danh tiếng và đức độ của Quách Tử Nghi không vang dội khắp nơi và được người Hồi Hột kính nể thì không dễ gì vài ba lời nói mà thuyết phục được bọn chúng. Điều này có thể chứng tỏ vào lần thứ hai khi Phốc Cố Hoài Ân đem mấy chục vạn quân Hồi Hột tiến đánh Kinh Dương. Giữa đường hành quân thì tên phản bội này đột nhiên bị bệnh chết, đại quân Hồi Hột không có người chỉ huy cứ gặp đâu đánh phá đến đấy. Lúc ấy quân của Quách Tử Nghi đang bị kẹt ở Kinh Dương, tình thế không thể cùng lúc hai đầu chống trả nên Quách Tử Nghi quyết định dùng một kế sách khá mạo hiểm, đó là một mình một ngựa đến doanh trại quân Hồi Hột, lấy uy danh của mình ra thuyết phục bọn chúng rút lui.
Đầu tiên, ông cho người đến quân doanh Hồi Hột thuyết phục bằng đạo lý, lấy ân đức để phủ dụ. Thủ lãnh Hồi Hột là Thược Cát La nghe lời sứ giả lộ vẻ hoài nghi vì đã lâu lắm rồi không nghe nhắc đến tên tuổi của họ Quách, chỉ bằng lòng rút quân nếu thấy mặt thực sự như vậy.
Sứ giả về báo lại, Quách Tử Nghi lập tức nhảy lên lưng ngựa, dẫn theo chưa đến mười kỵ mã và không hề đem theo khí giới, chạy thẳng đến quân doanh Hồi Hột. Con trai Quách Tử Nghi cùng chư tướng đều lo lắng vì sự mạo hiểm này, hết lời khuyên can nhưng Quách Tử Nghi bình tĩnh nói: “Hiện tại chúng ta không còn cách nào khác hơn, một là mạo hiểm để cứu vãn tình thế, hai là hy sinh tính mạng báo đền cho quốc gia”.
Khi tới quân doanh Hồi Hột, Quách Tử Nghi ngẩng cao đầu hiên ngang bước vào, nét mặt không hề tỏ ra bối rối hay lo sợ khiến bọn quân sĩ Hồi Hột tự nhiên khiếp đảm, bỏ hết võ khí xuống. Lúc ấy, thủ lĩnh Hồi Hột là Thược Cát La đã nhìn thấy rõ ràng đúng là Quách Tử Nghi. Trước kia, một số dân Hồi Hột theo dưới trướng họ Quách đi chiến trận, chiến tích dẹp tan loạn An Lộc Sơn - Sử Tư Minh vẫn còn như mới hôm qua còn ghi trong trí nhớ. Quân tướng Hồi Hột liền đồng loạt quỳ xuống bái chào. Đôi bên nhìn lại nhau, nhớ lại tình cũ, ai nấy đều cảm động vô cùng vì đã bao nhiêu năm mới có dịp tương phùng.
Quách Tử Nghi đỡ mọi người đứng lên rồi kéo tay Thược Cát La, ân cần phủ dụ:
– Triều Đường đối xử tốt đẹp với các vị, giao tình riêng của chúng ta cũng sâu đậm, nay các vị bị người khác khích động xúi giục nên mới xảy ra tình trạng cùng nhau đối mặt trên chiến trường. Nếu các vị nghĩ lại đúng sai thì hãy cùng nhau bàn bạc việc rút quân, bằng không xử trí ta ra sao tùy ý.
Thược Cát La vội đáp :
– Xin Quách công chớ nói vậy, khi trước Phác Cố Hoài Ân nói ngài đã chết, nếu không chúng tôi nào dám chống lại? Hiện tại Hoài Ân đã chết mà chúng ta được tương phùng thì đâu còn là kẻ thù nữa?
Quách Tử Nghi cảm tạ mọi người rồi theo Thược Cát La vào quân trướng tiệc tùng. Nhân cơ hội ấy, Quách Tử Nghi thuyết phục được quân Hồi Hột tự nguyện trở giáo cùng đánh lui Thổ Phồn để chuộc lỗi lầm. Riêng Thổ Phồn vốn đóng trại cách đó không xa, nghe được tin này, lo sợ bị quân Đường và quân Hồi Hột đánh kẹp hai bên nên âm thầm lui quân ngay đêm hôm ấy. Lập tức Quách Tử Nghi hạ lệnh truy kích, Thổ Phồn đại bại, tử thương hơn năm vạn quân, bị bắt sống hơn một vạn. Mối lo biên cương do một mình một ngựa Quách Tử Nghi đã chấm dứt.
Kế sách của Quách Tử Nghi thể hiện trong tình huống một người một ngựa đánh lui quân Thổ Phồn, thu phục quân Hồi Hột là tổng hợp rất nhiều mưu trí, vừa ân vừa uy, vừa đại trí đại dũng, dùng lẽ phải khuất phục đối tượng, vào chỗ chết tìm lẽ sống, dùng uy vũ phục người, dùng hư đãi thực, nhờ vậy mới có kết quả tốt đẹp như vậy. Câu chuyện này điển hình cho mưu trí bỏ công sức ít mà đạt được thành công lớn lao.
Tuy nhiên người Thổ Phiên đã được vào đất Trung nguyên, nhìn thấy sản vật sung túc, đất đai màu mỡ, lắm vàng bạc châu báu thì không sao cầm được lòng tham, sau đó rất nhiều lần kéo binh xâm phạm. Tất cả đều bị Quách Tử Nghi đánh bại, đem lại bình yên suốt một vùng Quan Trung rộng lớn. Công lao của ông người dân nào cũng đều biết đến và hết lời ca tụng, chỉ riêng triều đình thối nát nhà Đường làm như không biết đến, không hề thăng chức hay ban thưởng, vẫn để ông phải vất vả lo toan ở biên cương. Quách Tử Nghi không vì vậy mà tỏ ra bực bội, vẫn một lòng trung thành, đem hết sức mình ra giúp dân giúp nước.
Khi Quách Tử Nghi đã vào khoảng 77 tuổi, tức là vào năm 774 thì triều đình mới phong cho ông tước Mân vương Quận vương, mãi đến khi Đại tông mất, con là Lý Thích lên nối ngôi, xưng hiệu Đức tông mới trao quyền Thái úy cho ông. Danh tiếng của Quách Tử Nghi khi ấy lẫy lừng cả trong và ngoài nước, hễ ông đi tới đâu thì nơi đó được bình yên. Thế nhưng ông cũng tự biết chức càng cao càng nhiều ghen ghét, nhiều lần từ chối đặc ân của triều đình, làm gương sáng thanh bạch cho thuộc hạ.
Vì vậy mà sau này chính sử cũng đã ghi nhận: “Ông (Quách Tử Nghi) là người có công lao trùm thiên hạ thế mà làm quan thanh liêm trung trực tới mức vua không dám nghi ngờ điều gì, địa vị cao trọng tột bậc mà không ai ganh ghét”. Suốt cuộc đời Quách Tử Nghi lấy phương châm trung thành và chính trực, không sợ cường quyền, không thiên vị bất cứ ai, cứ theo vương pháp mà xét xử nên chưa hề phạm một lỗi lầm gì dể cho bọn gian thần có cớ gièm pha. Ngay chính người con trai của ông phạm quân pháp cũng bị xử đúng với luật lệ.
Có thể nói, cả cuộc đời của vị danh tướng này đều là những vất vả nơi chiến trường, chỉ trừ một thời gian ngắn khi đã già yếu làm việc ở triều đình. Từ khi tham gia quân đội, Quách Tử Nghi đã là một vị tướng nhiều tài năng, chỉ đến khi cuộc biến loạn An Lộc Sơn nổ ra, tài năng của ông mới được bộc lộ, lấy thân mình và sự tận tụy suốt 30 năm gánh gồng cho triều đình nhà Đường thoát qua biết bao nhiêu cơn nguy cấp.
Với trí mưu quyền biến kết hợp với đức độ của mình, không ít lần Quách Tử Nghi đã không phải tốn sức vẫn dẹp yên được nội loạn. Đó là lý do tại sao tên tuổi của ông rất ít khi được hậu thế nhắc đến ngoài cuộc binh biến An Lộc Sơn. Thật sự Quách Tử Nghi là nhà quân sự rất thông thạo binh pháp nên trước tiên vận dụng các yếu quyết trong binh pháp để giải quyết vấn đề, cuối cùng không sao được mới phải dùng tới sức mạnh quân sự. Trong các trận chiến, người ta có thể thấy ông tùy hoàn cảnh mà sử dụng kế sách theo binh pháp hết sức linh hoạt, có lúc lấy nhàn nhã đánh mệt mỏi, có khi dùng kế “Dương đông kích tây”, có lúc lại đánh bất ngờ làm cho quân địch trở tay không kịp. Hầu như các chiến thắng của ông đều lấy ít đánh nhiều, đó là chiến lược tài tình nhất của người cầm quân, không nhất thiết quân số phải nổi trội hơn đối phương mới thắng trận.
Vị Hoàng đế hôn ám Đường Đại tông đến khi chết mới nhận ra tài năng và đức độ cùng với tấm lòng trung thành của ông và di chiếu để lại nhờ ông phò tá cho con mình lên ngôi. Quả nhiên di chiếu này đã được Quách Tử Nghi tiến hành rất nghiêm túc, tang lễ Đại tông tiến hành suôn sẻ dưới sự giám sát của Quách Tử Nghi, không hề có sự cố gì xảy ra. Do vậy khi Đức tông lên ngôi rồi cũng phải công nhận ông xứng đáng là nguyên lão bốn triều, tôn xưng ông làm Thượng phu, cho giữ chức Trung Thư lệnh, tức ngang hàng với Thừa tướng, được quyết định những điều quan trọng nhất của triều đình.
Với chức vị này, Quách Tử Nghi vẫn không hề kiêu ngạo, đối xử với triều thần rất khiêm tốn, ai ai cũng kính phục, ông cũng đem hết sức mình ra vực dậy một triều đại đã có dấu hiệu suy tàn nhưng không sao cãi được số mệnh. Đến năm 781, Quách Tử Nghi mất. Thọ 85 tuổi, được Đức tông truy phong làm Thái sư. Đây là vinh dự chưa một tướng soái nào các triều đại được ban hưởng như vậy. Ông mất đi hoàn toàn thanh thản, để lại một gia đình rất nhiều con cháu, đều được làm quan, mang tài năng ra giúp dân giúp nước. Lương tâm ông không hề hối tiếc điều gì bởi đã cống hiến toàn bộ tài sức của mình cho quốc gia, xứng đáng là vị tướng soái mẫu mực để hậu thế noi theo.
10 NHẠC PHI - ANH HÙNG DÂN TỘC
Người dân Trung Hoa biết lịch sử hay không đều căm hận nhất là tên gian thần Tần Cối bán nước cầu vinh. Thế nhưng nhắc tới Tần Cối tất là phải nhắc đến Nhạc Phi, một vị anh hùng dân tộc được người dân Trung Hoa thờ kính muôn đời giống như đối với Quan Công vậy. Tần Cối có tội bao nhiêu thì Nhạc Phi anh hùng bấy nhiêu, là sự đối chọi giữa thiện và ác.
Nhạc Phi sinh năm 1103, tên tự là Bằng Cử, người ở Tương châu, xuất thân trong một gia đình nhà nông, gia đình khá vất vả nên có lúc ông phải đi làm mướn cho người ta, lấy tiền trả nợ cho cha mẹ. Vốn là người có sức vóc mạnh mẽ, lại ham thích võ nghệ nên dù rất cực khổ ông vẫn dành thời gian để luyện tập đầy đủ “Bát môn binh khí” nhưng giỏi nhất vẫn là cách đánh bằng giáo (thương pháp). Thời điểm lúc ấy quân Liêu không ít lần xâm phạm biên cương với ý đồ xâm chiếm toàn bộ đất Tống. Thế nhưng triều đình Bắc Tống dưới sự cai trị u mê của Tống Huy tông Triệu Cát, triều đình đầy rẫy những tên gian thần chỉ biết vơ vét cho vinh thân phì gia, không bao giờ nghĩ đến việc tìm kiếm hiền tài cứu nguy đất nước. Với lòng nhiệt huyết yêu nước, không thể nhìn đất nước nghiêng ngả sắp rơi vào tay ngoại bang, Nhạc Phi liền xin gia nhập quân đội, trước tiên là không phải lo miếng ăn hàng ngày, sau đó hy vọng có cơ hội cống hiến sức lực và tài năng cho quốc gia.
Quyết định này bị rất nhiều người cười chê, cho rằng Nhạc Phi không có chí tiến thân. Lý do là vì vào thời phong kiến ấy, quan điểm trọng văn học, dựa vào những kỳ thi cử để tuyển chọn người ra làm quan vẫn còn rất nặng nề. Bất cứ ai có tài về văn chương thi phú hay vượt qua được kỳ thi là sẽ được ra làm quan, chẳng cần biết đến đạo đức của người ấy ra sao. Dĩ nhiên trong số những người đỗ đạt có kẻ tốt người xấu nhưng hầu hết người có tấm lòng trung thực đều không chịu nổi sự thao túng của quan lại thời Bắc và Nam Tống, dần dần tìm cách bỏ đi, để lại quan trường toàn là những tên gian thần giỏi nịnh bợ, bất tài thiếu đạo đức nhưng giàu sang vinh hiển.
Nói chung muốn tiến thân thì phải qua con đường thi cử, tòng quân nhập ngũ bị người đời rất khinh thị. Thế nhưng Nhạc Phi vẫn khao khát được làm người lính, không thể nào khoanh tay đứng nhìn đất nước nghiêng ngả dưới gót chân xâm lược của ngoại bang. Lúc bấy giờ hai triều đình Liêu và Kim thay nhau quấy phá biên cương, quân sĩ hết sức vất vả khổ cực, lại dễ dàng chuốc lấy cái chết nên tòng quân tức là đã chấp nhận đón lấy cái chết, ai nấy đều tìm cách trốn tránh, vì vậy quân binh rất cần thêm người có tâm huyết tình nguyện như Nhạc Phi.
Ngay từ lúc vào quân ngũ, Nhạc Phi đã tỏ ra là người rất anh dũng, trận nào cũng xung phong đi đầu, không hề sợ chết. Có một lần ở Hợp châu, nơi có nhiều bọn thổ phỉ ẩn trong vùng núi non, rất khó đánh dẹp. Nhiều lần quan quân vất vả truy đuổi nhưng đều thất bại, mỗi khi lơi lỏng là bọn chúng lại xuất hiện cướp bóc của cải dân lành, thậm chí nhiều khi còn táo tợn đánh cả phủ huyện, giết quan lại và vét sạch kho lẫm. Lúc đó Nhạc Phi chưa có chức tước gì nhưng vẫn xin tình nguyện đi đánh dẹp bọn thổ phỉ chỉ với vài chục tinh binh. Ông cho bọn họ giả làm lái buôn vào thẳng sào huyện bọn thổ phỉ.
Bọn này thấy toàn là trai tráng thì rất thích, không tính tới việc buôn bán mà định bắt toàn bộ cưỡng ép theo bọn chúng, bao nhiêu hàng hóa thì tịch thu, thế là “nhất cữ lưỡng tiện” được cả đôi đường. Tiếc rằng Nhạc Phi đã tính sẵn, khi bọn thổ phỉ gọi vào xem hàng hóa, lập tức các quân binh rút võ khí trong hòm ra xông vào đánh giết. Với khí thế hăng hái như vậy, bọn thổ phỉ lại bị bất ngờ, lớp chạy trốn lớp bị giết, sau đó không còn tung hoành như trước được nữa.
Nhờ chiến công nho nhỏ này mà danh tiếng của Nhạc Phi bắt đầu được mọi người biết đến, ai cũng ca tụng ông là người can đảm hiếm có. Những lúc rảnh rỗi, Nhạc Phi thường xin được chỉ dạy về binh pháp nên tuy chưa có cấp bậc gì vẫn được anh em trong quân đội khâm phục.
Một lần nữa khi quân Tống kết hợp với quân nhà Kim tiến đánh quân Liêu, Nhạc Phi liền xin phụ trách đội tiên phong, dũng cảm xông lên mặt thành đánh giết, mở đường cho đại quân tiến vào thành Yên Kinh. Thật sự nhà Kim hoàn toàn không hề có ý tốt đối với nhà Tống, sự liên kết đó chỉ là nhất thời mà thôi. Quả nhiên không lâu sau, vào năm 1123, khi Kim Thái tổ chết, con của ông là Kim Thái tông Hoàn Nhan Thịnh tiêu diệt xong nước Liêu, liền nghĩ tới việc đánh chiếm xuống phương nam mà đầu tiên là Bắc Tống hủ bại.
Đại quân của Hàn Ly Bất nước Kim mau chóng tràn xuống phương nam và uy hiếp kinh thành triều đình Bắc Tống, Tống Huy tông kinh sợ chạy trốn, trao ngai vàng lại cho con cùng với hoạn quan Lương Phương Bình dàn quân bên này sông Hoàng Hà chống đỡ. Thế nhưng, quân Kim dễ dàng vượt qua Hoàng hà, chiếm Hoạt châu, thẳng tới Khai Phong. May mắn là có viên tướng tên Lý Cương can đảm đứng ra tập hợp binh sĩ chống đỡ mới làm cho cục diện tạm thời không thất bại.
Thế nhưng triều Tống không nhân cơ hội ấy mà lật ngược thế cờ, trái lại từ vua tới quan đều sợ chết tới nỗi sẵn sàng ký hòa ước nhục nhã, xin Hàn Ly Bất rút quân với điều kiện sẽ cống nạp cho triều Kim đến 50 triệu lạng bạc, 5 triệu lạng vàng và cắt đất 3 trấn biên giới, đưa một số thân vương đại thần đến triều Kim làm con tin.
Khi đã định xong hòa ước, quân Kim quyết định rút khỏi Khai Phong, dẫn giải luôn Tống Huy tông và Tống Khâm tông cùng một số thân nhân trong hoàng gia về Hội Ninh, phía nam Hắc Long Giang. Thế là triều đình Bắc Tống diệt vong, thay vào đó là triều đình Nam Tống do Khang vương Triệu Cấu liên kết cùng với tên Tri châu Uông Bá Nhan, lấy phủ Đại Danh làm kinh đô. Triều Nam Tống cũng theo vết xe đổ, càng hủ bại hơn trước và mỗi lần nghe tiếng quân Kim sắp tiến đánh là ai nấy đều run rẩy chỉ nghĩ đến đầu hàng hoặc xin thần phục giữ lấy mạng sống.
Nhạc Phi đã tham gia quân đội từ thời Bắc Tống, trải qua mấy năm trong quân ngũ đã nhìn rất rõ sự tác hại của bọn gian thần, trong lòng hết sức căm hận nhưng đành phải nín nhịn, mang hết sức mình ra chiến mỗi khi đụng độ với quân triều Kim. Nay thấy triều đại cũ diệt vong, nghĩ rằng triều đại mới chắc chắn sẽ sáng suốt nhìn ra cái họa xâm lăng từ triều Kim nên hăng hái dâng thư lên Tống Cao tông kiến nghị mở rộng việc chiêu mộ và huấn luyện quân sĩ, đồng thời cách chức mấy tên gian thần trong triều mà nổi trội nhất là tên Uông Bá Nhan. Thế nhưng Nhạc Phi không biết rằng triều Nam Tống cũng hủ bại chẳng khác gì Bắc Tống, khi dâng thư lên liền bị Cao tông quở trách và cách hết chức vụ, cho về quê làm thường dân.
Tuy nhiên mấy năm sau triều Kim lại kéo quân sang uy hiếp biên cương, bất đắc dĩ Cao tông phải gọi Nhạc Phi ra cầm quân trở lại theo Vương Ngạn vượt sông Hoàng Hà chống lại quân Kim. Sau này, ông theo dưới trướng Tông Trạch lưu thú tại Đông Kinh, rất được Tông Trạch yêu thích.
Sau khi Tông Trạch chết, Nhạc Phi theo Đỗ Sung đóng ở Kiến Phong. Khi Ngột Truật vượt sông xâm lược Nam Tống, Đỗ Sung sợ hãi đầu hàng quân địch nhưng Nhạc Phi rất can đảm, chỉ huy bộ tướng quyết định chiến đấu. Khi Ngột Truật rút quân, Nhạc Phi dũng mãnh truy kích theo, thừa cơ thu phục lại đất Kiến Phong. Lúc ấy Nhạc Phi đã trải qua nhiều chiến trận, trở thành một viên tướng thiện chiến, danh tiếng được khắp nơi biết đến.
Do đó vào năm Thiệu Hưng thứ hai (1132), vừa đúng 30 tuổi, Nhạc Phi được Tống Cao tông phong cho làm Nguyên soái trấn giữ vùng trung du Trường Giang. Hai năm sau, Nhạc Phi lại vâng lệnh đem quân đánh lên miền bắc, thu phục được 6 quận Tương Dương và nhờ chiến công ấy được gia phong lên làm Tiết độ sứ, tước Võ Xương Khai quốc hầu. Nhạc Phi còn định đem quân đánh sâu vào đất Kim, giải trừ hoàn toàn mầm mống uy hiếp của triều Kim nhưng hùng tâm tráng chí của ông không được sự đồng ý của Tống Cao tông, đành phải đóng quân ở biên giới đề phòng.
Vì quá sợ triều Kim nổi giận, nhiều lần tưởng như Nhạc Phi đã thành công, tiêu diệt hoàn toàn lực lượng quân Kim, thế mà ông bị Tống Cao tông ngăn cản, thành ra từ thắng trận biến thành thế thủ.
Điển hình nhất là vào năm Thiệu Hưng thứ tư (1134), khi Nhạc Phi đang dẫn quân truy kích theo quân Kim, đã vào rất sâu đất địch, mà quân Kim chỉ biết tháo chạy không còn sức chống đỡ, đột ngột Tống Cao Tông hạ lệnh bắt phải rút quân trở về. Đến năm 1136, một lần nữa Nhạc Phi vâng mệnh đem quân bắc phạt, Cao tông thấy thắng mấy trận thì cho là đã đủ, hạ lệnh phải kéo quân về. Nhạc Phi đã toan liều lĩnh trái mệnh vua để tiếp tục tấn công nhưng khi ấy đang vào sâu đất Kim, nếu không có tiếp viện cả người và lương thực thì không sao đủ sức, đành phải tức tối rút quân. Tất cả những lần cản trở ấy đều do bọn gian thần trong triều đình xúi bẩy. Trong số đó người ghét Nhạc Phi nhất là tên gian thần Tần Cối, hắn vừa sợ Nhạc Phi có danh tiếng thì địa vị của hắn lung lay, vừa sợ triều Kim trách cứ bởi chính hắn đã ngầm bán nước cho địch từ lâu rồi.
Nguyên do là vào thời Bắc Tống, Tần Cối mang tham vọng rất lớn nhưng cố gắng mấy vẫn không được Tống Khâm tông để mắt đến. May sao triều đình Bắc Tống chủ trương dâng đất nghị hòa nên phong cho Tần Cối làm Lễ bộ Thị lang, cùng với Trình Võ làm sứ giả sang nước Kim điều đình. Thế là Tần Cối được làm một vị đại thần nhờ không có ai dám đi sang nước Kim chứ không phải tài cán của hắn được tín nhiệm. Cuộc đời thật éo le, khi mới đi được nửa đường thì Tần Cối nghe tin Hàn Ly Bất đã tự động rút quân vì thủy thổ không hợp, quân tướng lâm bệnh quá nhiều, mừng rỡ trở về kinh đô. Chức tước đã được ban rồi nên từ đó Tần Cối nghiễm nhiên là vị đại thần tham dự vào triều chính.
Thừa cơ hội đó Tần Cối ra sức nịnh bợ, mua chuộc nên thăng chức rất mau. Hắn tưởng như cuộc đời thênh thang rộng mở, chẳng ngờ chưa được bao lâu thì quân Kim lại tổng tiến công lần nữa.
Trong lần xâm lược này, quân Kim đã hiểu rõ đường lối và thủy thổ đất Tống nên tiến rất mau. Hai tướng quân Kim là Hàn Ly Bất và Niêm Hãn với cách đánh chớp nhoáng của mình, tiến mau đến nỗi Tống Khâm tông còn đang hội họp quần thần bàn về việc dâng châu báu nghị hòa thì quân Kim đã ồ ạt kéo đến sát thành Khai Phong, cuối cùng bắt sống được cả Tống Khâm tông lẫn Tống Huy tông đem giam giữ nơi doanh trại ngoài thành.
Tên gian thần Nghiêm Tung khi ấy nắm chức Thừa tướng, chủ trương nghị hòa nên khi quân Kim rút lui đã đem theo cả Huy Tông lẫn Khâm Tông cùng hơn ba ngàn quần thần trong hoàng thất và quan lại triều Tống giải về phương bắc. Trong số quần thần ấy có cả Tần Cối. Người ta tưởng đâu như thế Tần Cối sẽ bỏ xác nơi đất phương bắc, không bao giờ được về cố quốc nữa. Để quốc gia có người cầm đầu, sau khi Huy tông và Khâm tông bị bắt đi rồi, Khang vương Triệu Cấu liền lên ngôi xưng là Tống Cao tông, thành lập triều đình Nam Tống ở Đại Danh, phủ Ứng Thiên. Việc này khiến triều Kim rất tức giận, lại sai Hoàng đệ là Đát Lãn đem quân đánh Sơn Dương. Lần này Đát Lãn có dẫn theo cả vợ chồng Tần Cối cho hắn lo việc văn thư hoặc làm chuyển vận sứ. Nhân cơ hội này, vợ chồng Tần Cối tìm cách trốn chạy về phương nam cùng với hai thủ hạ là Đinh Dị và Vương An Đạo.
Thật sự theo nhiều chứng cứ thì vợ chồng Tần Cối không thể dễ dàng trốn chạy như vậy, nhất là lại đèo bồng cả bọn thuộc hạ. Hắn đã theo lệnh của Đát Lãn, cam tâm làm gian tế nằm phục ở triều đình Nam Tống mà phá hoại, giúp cho triều Kim thuận lợi hơn trong việc tiêu diệt nước Tống. Do vậy nhiều lần Nhạc Phi đã sắp tiến tới chiến thắng thì đều bị Tần Cối xúi giục Cao tông xuống lệnh triệu về, bắt rút lui bỏ hết những công lao từ trước tới nay.
Năm Thiệu Hưng thứ bảy (1137), một lần nữa Nhạc Phi không hiểu triều đình đã bị bọn gian thần bán nước thao túng, về triều bệ kiến Tống Cao tông, dâng bản kế sách thu phục những vùng đất Nam Tống đã bị quân Kim chiếm giữ. Cao tông đọc bản kế sách này rất khen ngợi, lập tức cho Nhạc Phi nắm toàn quyền binh mã, đồng thời quyết định tăng thêm số quân để đủ cho kế hoạch. Nhac Phi rất mừng, nhưng khi đang điểm quân thì chợt Cao tông đổi ý ngược lại hoàn toàn, đó lại là do sự ngăn cản của Tần Cối. Không những thế, Tần Cối còn gièm pha là Nhạc Phi không coi trọng di hài tiên đế, chỉ muốn lấy chiến tranh làm bậc thang trèo lên chức vụ cao. Nhiều lần như vậy, Cao tông đâm ra có ấn tượng không tốt với Nhạc Phi.
Thật sự Tần Cối muốn giết Nhạc Phi từ lâu rồi nhưng ông có quá nhiều chiến công vang dội, triều đình lại đang cần tướng lãnh tài ba để chống đỡ nên không sao hại được Nhạc Phi. Qua nhiều lần như vậy, dần dần Nhạc Phi cũng hiểu ra, vì vậy khi Cao tông mở phong chức thì ông nhất định từ chối, cho rằng nên đề phòng người Kim lật lọng hơn là chắc ý vui mừng. Việc này khiến Cao tông hết sức buồn giận, bởi nếu Nhạc Phi không nhận ban thưởng thì chẳng có ai xứng đáng hơn nữa.
Cuối cùng Cao Tông phải hạ chiếu tới lần thứ ba, bất đắc dĩ Nhạc Phi phải nhận để đừng mang tội khi quân. Vì việc này mà Tống Cao tông rất bất mãn Nhạc Phi nhưng không có cớ nói ra. Tần Cối nhìn biết tâm ý của Cao tông, ngầm tìm cách hãm hại Nhạc Phi để cho Hoàng đế được hài lòng.
Lúc đó là vào năm 1134, Lý Thành được triều Kim yểm trợ, phát triển rất mạnh nên nhân cơ hội ấy tiến đánh dữ dội, chẳng bao lâu đã chiếm được 6 quận ở Tương Dương, uy hiếp cả vùng Lưỡng Triết. Thế mà triều đình vẫn bình chân như vại không hề để ý tới. Nhạc Phi không sao kềm được nôn nóng, tuy biết rằng việc dâng thư có thể làm cho bọn gian thần càng thêm căm ghét nhưng cuối cùng vẫn dâng tấu thư xin nhà vua mau chóng khởi binh tái chiếm lại 6 quận này.
Cao tông nghe theo, sai Nhạc Phi giữ chức Chế Trí sứ, huy động các lộ quân ở vùng Kinh Nam, Ngạc châu và Nhạc châu tiến đánh chiến lại vùng Tương Dương. Nhạc Phi đã sửa soạn trước, nhận được lệnh liền cho quân vượt Trường giang, đầu tiên là tấn công thành Sính châu do tên hàng tướng Kính Siêu chiếm giữ. Kính Siêu có sức mạnh muôn người không địch lại nhưng hoàn toàn không có cơ mưu, chỉ biết dựa vào sức mạnh trời cho để chiến thắng. Vì vậy mấy lần quân của Nhạc Phi tấn công đều thất bại, không sao phá được thành.
Nhạc Phi liền nghĩ đến cách đánh khác, biết rằng Kính Siêu bất trí vô mưu nên chắc chắn không dự phòng quân lương cũng như võ khí lâu dài, đổi cách đánh làm tiêu hao địch, không tấn công ồ ạt nữa. Quả nhiên không bao lâu thì trong thành hết nhẵn gỗ, đá và tên bắn cũng không còn bao nhiêu nện trong đợt tấn công cuối cùng quân của Nhạc Phi đã chiếm được thành. Nhạc phi một mình một ngựa truy đuổi Kính Siêu, dồn hắn vào chỗ chết để trừ tận gốc hậu họa.
Sau khi chiếm được Sính châu, Nhạc Phi chia quân ra làm nhiều cánh đồng thời đánh Tùy châu, Đặng châu, còn mình dẫn quân thẳng đến Tương Dương. Thành này do Lý Thành chỉ huy, hắn học theo cách đánh của người Kim rất thiện nghệ về kỵ binh. Do vậy Lý Thành hoàn toàn tự tin, dàn quân chờ đợi quân của Nhạc Phi tiến đến, trong bụng chắc chắn sẽ đánh tan đối phương bằng kỵ binh. Thế nhưng Nhạc Phi đã sửa soạn sẵn, cho quân sĩ sử dụng thương dài nhắm vào việc giết các con ngựa chiến khiến bọn kỵ binh chưa đánh đã ngã lộn xuống đất. Thế trận của Lý Thành hoàn toàn tan vỡ, đành dẫn mấy trăm tùy tùng thừa đêm tối bỏ chạy, để cho Nhạc Phi chiếm giữ Tương Dương. Chỉ một trận đánh ông đã tiêu diệt được đối phương, danh tiếng từ đấy càng vang dội, mỗi khi quân Kim nghe biết đoàn quân của ông chỉ huy thì đều thối chí kinh hoàng.
Tất cả là do tài trí của Nhạc Phi đã dự kiến một kế hoạch hoàn thiện, vì vậy không mất bao nhiêu thời gian đã tái chiếm được 6 quận Tương Dương. Ngay cả Tống Cao tông cũng khá ngỡ ngàng với chiến thắng này bởi từ trước đến nay toàn là nhận được tin bại trận, lập tức phong cho Nhạc Phi giữ chức Kinh Tương Đàm châu Tiết Độ sứ, tức toàn quyền giữ quân trấn thủ mấy châu này. Nhạc Phi rất mừng bởi đây sẽ là căn cứ địa rất tốt để chấn chỉnh binh mã, tích trữ lương thảo, chiêu mộ thêm quân binh để sau này làm bàn đạp tiến đánh triều Kim.
Về mặt nội bộ triều Nam Tống cũng chưa thể gọi là yên tĩnh bởi các nơi nhận biết rằng từ vua tới quan đều thối nát, nếu có chút tài năng liền nổi lên làm loạn chiếm giữ một vùng đất xưng vương xưng bá. Hùng hậu nhất trong các cuộc nổi loạn là của Dương Thái ở Động Đình hồ. Triều đình Nam Tống đã nhiều phen sai quan quân đi tiễu trừ nhưng đều thất bại. Lần cuối cùng triều đình phái viên tướng Dương Tạ dẫn binh đi thảo phạt nhưng lần này thất bại càng nặng nề hơn khiến triều đình hết sức lúng túng, không biết tìm đâu ra tướng tài để trao cho trọng trách này. Lúc ấy Tần Cối liền tiến cử Nhạc Phi. Mọi người đều tưởng Tần Cối không còn lòng oán ghét nhân tài nữa, biết sử dụng nhân tài vào việc lớn quốc gia.
Thật sự Tần Cối vô cùng thâm hiểm, tiến cử Nhạc Phi nhắm hai kết quả: Nhạc Phi rất giỏi đánh thương và đánh trên bộ, nếu như đánh với Dương Thái ở Động Đình hồ bằng thủy chiến thì chưa biết ai thắng ai bại. Nếu Nhạc Phi thắng thì đó là công tiến cử của mình, bằng ngược lại thì có cớ trừng trị Nhạc Phi, đầu nào cũng có lợi cho hắn. Cao tông không hề biết, nghe Tần Cối tiến cử thì rất mừng rỡ, lập tức phong ông làm Thanh Viễn quân Tiết Độ sứ, dẫn quân thay thế cho Dương Tạ.
Quả nhiên Nhạc Phi khá lúng túng trong việc tìm cách đối đầu với Dương Thái. Thế nhưng ông rất quyền biến, để thử lòng quân địch xem mạnh hay yếu, trước tiên ông cho loan truyền hịch chiêu hàng. Chỉ mấy ngày sau Nhạc Phi đã được một viên tướng dưới quyền Dương Thái tên là Huỳnh Tá bí mật xin đầu hàng triều đình. Nhạc Phi không chờ lệnh vua, chấp nhận việc này nên Huỳnh Tá bất ngờ làm phản đánh chiếm được luôn một lúc mấy thủy trại.
Để Huỳnh Tá yên lòng, Nhạc Phi cấp tốc dâng thư về triều, xin phong cho Huỳnh Tá chức Võ công Đại phu, dựa vào tài đánh thủy chiến của ông ta mà mở cuộc đại tấn công. Tần Cối ra sức ngăn cản nhưng nhờ một vị đại thần là Trương Tuấn đứng lên nói rõ lòng dạ thẳng thắn và trung thành của Nhạc Phi, không hề có ý định mờ ám gì trong việc này, cuối cùng Cao tông mới chấp thuận.
Sau khi đã chỉnh đốn xong binh mã cùng các chiến thuyền do Huỳnh Thái mang về, Nhạc Phi đưa ra kế hoạch tổng tấn công từ ba mặt khiến quân của Dương Thái không sao địch lại, phải bỏ chạy tán loạn, rút sâu vào trong Động Đình hồ cố thủ. Đường thủy ở Động Đình hồ rất ngoắt ngéo nếu không phải là người quen thuộc rất dễ bị lạc lối hoặc sa lầy. Do vậy Nhac Phi không dám tiến binh ngay, nhân cơ hội một tên bộ tướng của Dương Thái ra hàng thì giả vờ nghi ngờ, đánh đòn rồi tha về.
Điều này làm cho quân tướng hết sức ngạc nhiên vì từ trước đến nay Nhạc Phi không bao giờ mê muội đến mức trừng phạt hàng tướng. Thật ra khi tên hàng tướng ấy đi thuyền trở về thủy trại, lòng đầy căm tức thì đã vô tình dẫn đường chỉ lối cho Nhạc Phi. Vị tướng trí mưu này đã bí mật sai hai tướng Ngưu Cao và Vương Quí dẫn theo mấy ngàn tinh binh lặng lẽ bám gót theo sau, mau chóng chiếm thủy trại của hắn. Lấy thủy trại này làm bàn đạo, hai tướng Ngưu Cao và Vương Quí từ trong đánh ra, đại quân của Nhạc Phi từ ngoài đánh vào, khí thế hết sức dữ dội.
Dương Thái không sao ngờ nổi Nhạc Phi lại đa mưu túc kế đến vậy, hoảng hốt bỏ chạy nhưng cuối cùng vẫn bị bắt sống. Nhạc Phi liền hạ lệnh chém đầu để làm gương cho mọi người. Chiến thắng này làm cho Tần Cối có muốn hãm hại cũng không được, đành khoanh tay căm tức ngồi nhìn Cao tông thăng cho Nhạc Phi làm Võ Thắng Định quốc quân Tiết Độ sứ. Đây là chức vụ rất lớn, toàn quyền điều động quân binh cả một vùng chung quanh Tương Dương nên Nhạc Phi lại càng nôn nóng nghĩ đến ngày sẽ tiến binh đánh tan triều đình nhà Kim.
Sự chuẩn bị này không qua được tai mắt của triều Kim, đó cũng là nguyên do dẫn đến biến cố trong nội bộ đối phương. Khi ấy triều Kim chia làm hai phe chủ hòa và chủ chiến, giằng co nhau chưa bên nào ngã ngũ. Khi nghe tin Nhạc Phi đang chỉnh đốn binh mã, lập tức phe chủ chiến do Ngột Truật cầm đầu giận dữ xin Đát Lãn phải cho xuất binh đánh phủ đầu ngay. Đát Lãn vốn chủ trương hòa hoãn nên không nghe theo, rốt cuộc bị Ngột Truật làm phản giết chết, nắm đại quyền trong tay rồi quyết định đem quân tràn xuống phương nam, đó là vào năm 1139. Quân Kim chia làm 4 cánh do các danh tướng triều Kim chỉ huy rầm rộ tiến quân, khí thế hết sức hung hãn.
Triều đình Nam Tống không hề đề phòng nên chỉ trong một thời gian ngắn, quân Kim đã lấy lại toàn bộ đất đai vừa trao trả cho Tống, đồng thời còn uy hiếp cả Hoài Nam. Bất đắc dĩ Tống Cao tông phải hạ lệnh cho quân triều đình tiến ra biên giới chống đỡ. Quân tướng nhà Tống rất hâm mộ Nhạc Phi nên đồng lòng xin được ông chỉ huy, Tống Cao tông phải chấp nhận việc này, phong cho ông làm Nguyên soái. Nhạc Phi liền hội quân ở Tựơng Dương, làm lễ thề ước sẽ quyết chiến đấu đến cùng xong là lập tức tiến quân, ngay trận đầu đã chiếm lại được Thái châu.
Các cánh quân khác nghe tin đại thắng thì đều phấn khởi, sát cát cùng nhau hưởng ứng, Hàn Thế Trung chiếm được Hải châu, Vương Đức chiếm được Túc châu và Hào châu. Những chiến thắng này khiến triều Kim vô cùng lo lắng, đành phải bí mật sai người tới nói với Tần Cối tìm cách cứu nguy. Tần Cối liền tâu với Tống Cao tông lấy những chiến thắng này làm áp lực “để cầu hòa”, hoàn toàn không muốn lợi dụng thời cơ đánh bại luôn quân địch. Cao tông từ trước tới nay vẫn nơm nớp kinh sợ mỗi khi quân triều Kim tấn công nên nghe lời Tần Cối tâu liền vội vàng xuống lệnh cho quân Tống triệt thoái khỏi các vùng đã chiếm.
Lúc đó thắng lợi đã gần như nắm trong tay, sĩ khí quân Kim xuống dốc thê thảm, hễ thấy đoàn quân nào trương cờ vàng có đề ba chữ “Nguyên soái Nhạc” lập tức hò nhau bỏ chạy. Các cánh quân khác cũng lợi dụng sự sợ hãi này, tuy không phải là của Nhạc Phi vẫn trương cờ của ông làm cho quân Kim khiếp sợ mất tinh thần. Vì vậy nhận được lệnh thoái lui, Nhạc Phi không đành lòng chút nào, bàn với các tướng:
– Lần này ta chống lại mệnh triều đình, nếu không toàn thắng thì khó toàn được tính mệnh. Vì vậy các ngươi phải đồng lòng chiến đấu, lấy công chuộc tội. Khi việc đã xong, ta nghĩ chắc triều đình không lẽ bắt tội người chiến thắng sao?
Sau đó Nhạc Phi tập họp toàn bộ đại binh kéo thẳng đến thành Yên kinh, là nơi Ngột Truật đang đóng quân. Ngột Truật rất sợ hãi nhưng vẫn cố đưa quân kỵ, mặc giáp sắt dày ra đối phó với cách đách thương từ xa của Nhạc Phi. Chẳng ngờ lần này Nhạc Phi không dùng thương dài nữa mà cho quân cầm mộc đan bằng mây già che đỡ phía trên, tay cầm đại đao lăn người xuống thấp chuyên chém vào chân ngựa. Quân Kim rất thiện chiến về kỵ binh, nay mất ngựa thì chẳng khác gì như hổ mất móng vuốt, thi nhau bỏ chạy, dẫm đạp lên nhau chết vô số.
Ngột Truật đại bại phải dẫn tàn binh chạy về Dĩnh Xương cố thủ. Tần Cối thấy Nhạc Phi trái lệnh rất căm tức, tâu với Cao tông phái một cận thần đến tận nơi quân doanh bắt buộc ông phải thi hành. Vị cận thần đó tên là mã định Lý Nhược Hư cũng có lòng trung quân ái quốc, khi thấy Nhạc Phi đang sửa soạn binh mã tiến sâu vào phía bắc thì liền bí mật nói:
– Ngài cứ theo ý mà tiến hành. Tôi sẽ lấy cớ đến quá chậm không kịp ngăn cản. Nếu có bị trách phạt cũng cam lòng vì việc này có lợi cho dân cho nước.
Nhờ vậy Nhạc Phi đánh chiếm nhiều châu quận của triều Kim khiến Ngột Truật cũng phải kinh hoảng, nói với bộ tướng:
– Từ khi ta khởi binh đến nay, chưa bao giờ thất bại nặng nề như thế này. Nhạc Phi quả là thần tướng chứ không phải người phàm.
Ngột Truật kinh sợ tới mức còn định rút quân bỏ luôn Bắc Kinh. Biết được tin này, Nhạc Phi lập tức tâu về kinh xin được phép tiến công. Ông tin chắc triều đình sẽ chuẩn y bởi vì đây là cơ hội ngàn năm một thuở, trong khi chờ vẫn tiếp tục tiến quân, chẳng bao lâu chỉ còn cách Bắc Kinh vài chục dặm, đóng lại bên đây bờ sông chờ có lệnh triều đình là lập tức vượt sông
Ngột Truật không còn cách nào khác là sai một tên sứ giả thân tín cấp tốc vượt đường xa đến liên lạc với Tần Cối. Thế chưa kịp động binh, Nhạc Phi đã liên tiếp nhận được chiếu thư của triều đình nhà Tống bắt buộc phải rút quân. Nhạc Phi vô cùng tức giận, hạch hỏi viên quan đem chiếu thư đến, hắn liền trả lời:
– Theo tôi được biết thì Tần Thừa tướng đang nghị hòa với triều Kim. Có lẽ nay mai là thành công. Vì vậy nếu Nguyên soái tiến binh thì bao nhiêu công lao nghị hòa bỏ sông bỏ biển hết.
Nhạc Phi nghe vậy vô cùng tức giận, quát mắng:
– Ta chỉ cần một lần tiến binh này là đã thu hồi toàn bộ đất Trung nguyên, lại còn uy hiếp triều Kim không cho chúng tha hồ làm càn nữa. Như vậy cần gì đến nghị hòa mà phải rút binh?
Mắng xong Nhạc Phi liền viết tấu đưa về triều đình cương quyết sẽ tiến quân. Cao tông và Tần Cối biết khó ngăn cản được quyết tâm của ông, xoay qua kế sách khác, đó là sai người đến bắt Trương Tuấn và Dương Nghi phải rút cánh quân của mình về nước, để mặc cho Nhạc Phi đơn độc giữa chiến trường.
Dù biết như vậy rất khó khăn cho mình, không có quân tiếp trợ nhưng Nhạc Phi vẫn cho rằng chỉ cần một cánh quân của mình thừa sức tiêu diệt quân triều Kim bởi ý chí bọn chúng xuống thấp lắm rồi. Trước tình trạng ấy Tần Cối hết sức lo lắng sẽ đắc tội với người Kim, thúc hối Cao tông, hầu như mỗi ngày đều có các cận thần hỏa tốc cầm Kim bài xuống ra lệnh cho Nhạc Phi rút quân. Kim bài là một miếng gỗ có viết chữ bằng vàng, tức là mệnh lệnh không thể không thi hành, chỉ sử dụng mỗi khi thật nguy cấp. Theo luật thì mỗi khi nhận được Kim bài, vị tướng lãnh ấy bằng mọi cách phải tuân theo.
Thế nhưng Nhạc Phi không ưng chịu sự thua thiệt vô lý này, nói với các tướng:
– Từ trước tới nay vẫn có câu “Tướng đánh giặc ngoài biên thùy có khi không cần phải theo lệnh của Hoàng đế”. Ta có thể áp dụng vào hoàn cảnh bây giờ vậy.
Rồi ông vẫn chuẩn bị quân mã đâu đó sẵn sàng. Ngột Truật cho người dò xét, biết được việc này thì càng hoảng hốt, lập tức báo cho Tần Cối biết. Tên gian thần này lại càng căm hận, xúi Cao tông một ngày giáng xuống đến 12 đạo Kim bài. Đây là sự cố chưa bao giờ xảy ra bởi nguy cấp lắm cũng chỉ đến một đạo Kim bài là sự việc đã được giải quyết. Ngày hôm Nhạc Phi nhận được 12 đạo Kim bài, ông hết sức đau đớn trong lòng vì biết rằng triều đình đã quá bạc nhược và đã bị gian thần lũng đoạn, dù ông cố gắng đến mấy cũng không thể chống với cả tập đoàn bán nước cầu vinh ở triều đình. Nhạc Phi nghĩ lại bao nhiêu công sức của ông và của chư tướng đều trở thành số không thì hết sức uất hận, nhờ có các tướng lão thành khuyên giải mới ngậm ngùi ra lệnh sửa soạn rút về.
Đánh thì khó chứ rút rất dễ, chỉ trong mấy ngày là toàn quân Tống đã từ từ nhắm phía nam chậm bước, ai nấy đều cúi mặt tuôn rơi nước mắt, khóc cho vị tướng quân của mình thì ít mà khóc cho non sông gấm góc thì nhiều. Bá tánh nơi biên cương đồng lòng theo quân đi về nam cũng khá nhiều, kẻ gồng người gánh trông thật thê lương.
Tất cả đều mất hết ý chí chiến đấu, võ khí lơ đãng, hàng ngũ lộn xộn vậy mà quân tướng triều Kim không hề đuổi theo truy kích bởi dã quá ngán ngẩm với hai chữ “Nhạc Phi”. Điều này chứng tỏ ông có uy danh lớn đến mức từ xa cũng đã có thể làm quân địch khiếp sợ. Nên nhớ là trước kia vào thời Tam Quốc, Lưu Bị cũng đã một lần cùng với người gồng gánh chạy nạn, bị quân Tào Tháo truy đuổi thiệt hại không biết là bao nhiêu. Lần này Nhạc Phi rút khỏi biên cương còn thê thảm hơn cả Lưu Bị thế mà vẫn đưa quân tướng và bá tánh từ đất Yên Vân bình yên trở về thì đủ biết oai đức của ông có sức mạnh vô cùng.
Sau khi Nhạc Phi rút quân xong, triều đình Nam Tống trơ trẽn mở yến tiệc ăn mừng, đèn cờ treo lộng lẫy khắp kinh thành. Cao tông cũng xuống ơn mưa móc triệu Nhạc Phi về kinh để ban thưởng và được dịp vui chơi. Ông không những đã chẳng chịu về muối mặt tươi cười trước cái nhục mất nước mà còn dâng một tấu thư vạch rõ sự gian hiểm của những tôi thần bán nước.
Lời lẽ của ông rất thẳng thắn nên ít nhiều đụng chạm đến Cao tông, thế là ngoài Tần Cối nay lại có cả Cao tông ngấm ngầm ôm mối hận đối với vị danh tướng ấy. Dù sao cũng là một vị Hoàng đế bù nhìn, Cao tông dù ghét bỏ Nhạc Phi tới đâu vẫn không thể lấy vương pháp ra trừng trị cho thỏa lòng, ông ta bèn hướng về Tần Cối, nhiều lần úp mở bày tỏ sự tức giận của mình. Dĩ nhiên Tần Cối mừng như mở cờ trong bụng, chắc chắn phen này sẽ tìm ra một tội nào đó của Nhạc Phi để đưa ra sự trừng phạt cao nhất.
Thế nhưng khi ấy quân Kim vẫn còn đóng ở biên cương và lòng dân hầu hết đều hướng về người anh hùng dân tộc họ Nhạc, Tần Cối không dễ gì muốn đánh muốn giết là được. Tên gian thần này cực kỳ thâm hiểm, biết rằng nếu còn binh quyền trong tay thì hắn sẽ không bao giờ làm gì được Nhạc Phi. Vì vậy Tần cối từng bước một cắt bớt vây cánh của Nhạc Phi. Trước tiên Tần Cối lấy cớ nhỏ mà giải tán đoàn quân do Hàn Thế Trung lãnh đạo. Tần Cối lại hứa sẽ giao hết số quân tinh nhuệ ấy cho Trương Tuấn, vì vậy khi Nhạc Phi lên tiếng cực lực phản đối thì tức là đã đụng chạm đến Trương Tuấn. Kế sách này hết sức hiệu lực, một cuộc tranh luận nảy lửa xảy ra giữa Nhạc Phi và Trương Tuấn. Cuối cùng Nhạc Phi không kềm được tức giận, giũ áo từ quan về Lô Sơn ẩn dật. Tần Cối cả mừng bởi chỉ một kế đã tiêu giải được hai đạo quân, còn lại Hàn Thế Trung ngây thơ rất dễ đối phó.
Đồng thời lúc đó triều Kim cũng quyết định nếu Nhạc Phi còn sống thì không bao giờ tham vọng đánh chiếm Trung nguyên thành công, bí mật sai người truyền lệnh cho Tần Cối bằng mọi giá phải giết chết người danh tướng ấy, không chỉ là giam cầm hay trừng trị tầm thường. Nhận được lệnh của “quan thầy” nhà Kim, Tần Cối lại càng mừng rỡ vì đó chính là ý muốn từ lâu của hắn.
Lần này Tần Cối lôi kéo cả Cao tông vào âm mưu thâm độc của mình nhưng Cao tông giả như không hề biết gì, mặc cho hắn muốn thi hành thế nào cũng được. Với sự đồng ý ngấm ngầm của Cao tông, Tần Cối xúi giục Đại phu Vạn Sĩ Oa dâng thư hạch tội Nhạc Phi nhiều lần trái lệnh triều đình. Bọn tay sai của Tần Cối là Ngự sử Hà Trù, Thị ngự sử La Nhữ Tập, Vương Tuấn và Vương Quý muốn nịnh bợ Tần Cối nên cũng dâng tấu vu cáo Nhạc Phi lộng quyền, không chịu theo lệnh triều đình là muốn tự mình làm Hoàng đế. Thế nhưng dù ghép vào tội gì đi nữa cũng phải có bằng chứng, Tần Cối liền thuyết phục một tên bộ tướng của Nhạc Phi là Trương Hiến đứng ra vu cáo. Trương Hiến khai trước Đại Lý tự (cơ quan hình pháp của triều Tống) là đã từng nghe Nhạc Phi nói với con trai Nhạc Vân hãy sửa soạn binh mã để nổi dậy chiếm ngôi Hoàng đế, cai trị thiên hạ thay những tên u mê đang ngồi ở triều đình Đại Tống. Chỉ là lời khai của một người, hoàn toàn không có chứng cớ xác thực, thế mà các đại thần phe cánh của Tần Cối vẫn lập thành hình án khép tội Nhạc Phi.
Những tội danh này đều là tội chết nhưng Tống Cao tông lại ra vẻ khoan hồng, chỉ cách hết chức tước của Nhạc Phi mà thôi. Điều này rất dễ lý giải, đó là Tống Cao tông căm ghét Nhạc Phi không phải vì tội ông quá hăng hái đánh đuổi quân Kim mà lo sợ Nhạc Phi một khi đánh tới Hoàng Long phủ (kinh đô triều Kim) thì hai vị Hoàng đế trước kia là Huy tông và Khâm tông sẽ được về nước. Như vậy còn chỗ đâu cho Cao tông ngồi? Do đó cách chức của Nhạc Phi là đã thỏa mãn lòng căm hận của ông ta rồi, chưa đến nỗi tán tận lương tâm giết người lương tướng.
Tiếc rằng Tần Cối đã nhận lời của Ngột Truật, một mặt hắn giam chặt Trương Hiến và Nhạc Vân ởmột chỗ bí mật, một mặt sai tay chân là Dương Tích đến chỗ ẩn dật của Nhạc Phi ở vùng Lô Sơn, giả mạo chiếu lệnh của Cao tông truyền phải về kinh để nhận lệnh. Nhạc Phi hoàn toàn không biết đó là âm mưu độc ác của Tần Cối, ngỡ ngàng không hiểu đã có chuyện gì xảy ra nhưng vẫn lập tức theo chiếu chỉ về kinh. Nhạc Phi hoàn toàn không nhìn thấy mặt Cao tông, vừa đến kinh thành đã lập tức bị hạ ngục.
Khi đưa ra thẩm vấn, Nhạc Phi thấy chung quanh toàn là tay chân của Tần Cối như là bọn Vạn Sĩ Oa, Hà Trù, La Nhữ Tập, nên biết ngay có tranh cãi đến đâu cũng khó thoát được bàn tay thâm hiểm của hắn, nhất quyết không nói một lời, dù bị đánh dập tra khảo hết sức tàn khốc. Không có chứng cứ thú tội của Nhạc Phi, Tần Cối bèn nảy ra một kế khác, chuyển sự tra khảo sang Trương Hịến và Nhạc Vân, sau đó mới dụ dỗ hễ khai ra Nhạc Phi có âm mưu tạo phản là lập tức tha ngay.
Thế nhưng, cả Nhạc Vân lẫn Trương Hiến đều là anh hùng trượng phu, nhất quyết không khai gian dối dù bị đánh đập rất tàn nhẫn, máu thịt tan nát. Lúc đó Hàn Thế Trung cũng đã bị Tần Cối bãi chức, vẫn cố gắng tìm cách vào gặp mặt hắn chất vấn:
– Nhạc Phi có tội gì mà phải bị bắt?
Tần Cối hơi lúng túng nhưng rồi bình tĩnh trở lại, trơ trẽn đáp:
– Tội của họ Nhạc là “không có tội gì cả” (mạc tu hữu).
Ba chữ “Mạc tu hữu” (tội không có tội) trở thành ngạn ngữ để ám chỉ bất cứ sự việc nào mà bọn gian thần muốn ghép tội cho người hiền lương, được người đời sau sử dụng rất phổ biến. Ba chữ này gắn liền với tên tuổi của Tấn Cối cho đến ngàn năm, hễ nói “Mạc tu hữu”là ai cũng nhớ ngay đến tên gian thần Tần Cối. Hàn Thế Trung tuy là người không có nhiều trí mưu nhưng cũng nhận ra ngay triều đình là cái bẫy chết người, sau đó ông tự động từ bỏ quan chức, đi đâu ẩn cư không rõ.
Sau khi bắt giam Nhạc Phi rồi, Tần Cối báo cho Ngột Truật biết, xin được đẩy nhanh tiến độ giảng hòa với Kim, vì vậy chỉ mấy tháng sau hòa ước được ký kết. Hòa ước này chẳng có gì khác với các hòa ước trước đó dù đôi ba lần quân Kim thất trận nhưng cuối cùng vẫn bắt nhà Tống phải xưng thần và mỗi năm cống nạp cho triều Kim 25 vạn lạng bạc, 25 vạn súc lụa.
Cũng giống như mấy lần trước, mỗi khi có dịp nào đó, dù là ký hòa ước ô nhục, triều đình Nam Tống vẫn vin vào lý do ấy để tha hồ ăn chơi. Bọn nịnh thần thì được dịp tâng bốc ca tụng Hoàng đế lên tới mây xanh. Riêng Nhạc Phi không hề dâng biểu chúc mừng như những tên nịnh thần mà còn dâng tấu hạch tội Tần Cối, đại để là: “... Người Kim rất dối trá, vì vậy không thể hòa hảo lâu dài. Thừa tướng (Tần Cối) làm như vậy là đã đẩy quốc gia đến chỗ ô nhục, thần e rằng sẽ là cái nhục mà mãi đời sau mọi người đem ra chê cười... Thần xin lấy hết sức mình để chống với quân Kim, thu phục đất nước được toàn vẹn nếu như thánh thượng ban cho binh quyền...”
Tần Cối đọc bài tấu ấy căm hận thấu xương, ngay lập tức xúi giục Tống Cao Tông hạ chiếu trách tội Nhạc Phi không dâng biểu chúc mừng. Thế nhưng những lời trung trực anh hùng của Nhạc Phi được nhiều triều thần hết sức ca ngợi, do vậy Tống Cao tông không dám xuống lệnh trách phạt Nhạc Phi, giả vờ lãng quên như chưa có chuyện gì xảy ra.
Đồng thời với sự thần phục ấy, Nam Tống phải cắt rất nhiều vùng đất phía bắc giao cho nhà Kim cai quản. Đây là hòa ước ô nhục nhất trong lịch sử Trung Quốc, được sử sách gọi là “Thiệu Hưng hòa nghị”. Thế nhưng khi ấy Cao tông hoàn toàn không hề biết nhục, khi dâng biểu cho triều Kim, gọi vua Kim là Hoàng đế còn mình xưng tên tục là Cấu, chẳng khác chi tôi tớ của Hoàng đế vậy.
Hoàng đế không biết nhục thì Tần Cối làm gì biết? Hắn còn tận lực truy tìm chứng cứ để ghép Nhạc Phi vào tội chết. Thế nhưng, dù hết sức tra tấn, cha con Nhạc Phi và Trương Hiến vẫn một lòng từ chối không nhận bất cứ tội gì hắn đưa ra. Trong khi đó nhà Kim rất nóng ruột vì Nhạc Phi còn sống nên mấy lượt sai sứ giả đến thúc giục phải thi hành cho mau.
Vợ Tần Cối lòng dạ cũng độc ác giống như chồng, thường hay triết lý:
– Người đời nói “thả hổ thì dễ, bắt hổ mới khó”, đã là đại nam tử sao không ra tay mà còn chần chừ, lỡ khi hổ dữ thoát khỏi gông cùm thì chính mình phải chết.
Nghe vậy Tần Cối chẳng giữ gìn thể diện gì nữa, dùng tới thủ đoạn đê hèn nhất, sai tên Vạn Kỳ Tiết viết giả tờ khai của Trương Hiến, trong đó thú nhận là Nhạc Phi đã có ý muốn làm phản. Khi tờ khai này được dâng lên Cao tông, ông ta mới giả vờ như kinh ngạc nhưng cuối cùng cũng phê vào án văn, lại còn giả nhân giả nghĩa ban cho ông được chết toàn thây.
Có một ghi chép khác thì Tần Cối túng thế phải qua mặt Cao tông, lén sai tên giữ ngục hạ độc giết chết Nhạc Phi trong ngục thất. Còn Trương Hiến và Nhạc Vân xử vào tội phản thần, mang ra pháp trường chém đầu. Dù là cách nào đi nữa thì Nhạc Phi cũng đã bị hãm hại chứ không được chết đường hoàng chính, thật oan uổng cho người danh tướng suốt cuộc đời lăn lộn xông pha vì nước vì dân, chẳng ngại hiểm nguy lửa đạn. Ông mất vào năm mới 39 tuổi, tức là vào năm 1142, cái tuổi còn nhiều khí lực để cầm quân đánh giặc.
Nhạc Phi không những là vị tướng soái thiện chiến can đảm mà còn có tư duy chiến thuật rất sắc sảo, do vậy ông đã thắng nhiều trận để đời, làm kinh điển cho các binh gia sau này nghiên cứu. Vì tuổi trẻ khó khăn ít học nên khi đã có thời gian, Nhạc Phi quyết tâm học tập cho tốt, tuy lời lẽ văn chương không hoa mỹ nhưng đầy khẳng khái, chứa đựng sự mãnh liệt của tâm hồn muốn đem hết sức lực cống hiến cho quốc gia. Vì vậy sau khi Nhạc Phi chết oan bởi bàn tay độc ác của Tần Cối, ông để lại cho đời tác phẩm “Văn tập Nhạc trung Võ vương” gồm 10 quyển.
Về võ nghệ, Nhạc Phi còn để lại tập “Nhạc gia thương”, tức sách dạy cách đánh giáo (thương) riêng của nhà họ Nhạc, mà hiện nay vẫn có nhiều người theo học.
Cái chết oan ức của Nhạc Phi không hề làm mất tên tuổi của ông mà trái lại càng làm cho tên tuổi của ông sáng chói như nhật nguyệt và càng làm cho tội ác của Tần Cối cùng đồng bọn thêm chồng chất. Vì vậy sau này khi Tần Cối chết rồi, người dân Trung Hoa căm giận tới mức cho đúc tượng cả vợ chồng hắn lẫn bọn Vạn Sĩ Oa trần truồng quỳ lạy đặt ở trước mộ Nhạc Phi. Khách đến viếng mộ Nhạc Phi khi đi qua ba tượng ấy đều tức giận đánh đập phỉ nhổ nên chẳng bao lâu đã bị vỡ nát. Mãi đến năm Vạn Lịch thứ 22 (1595), Án sát phó sứ là Phạm Lai mới cho đúc lại, thêm vào tượng Trương Tuấn là bốn tượng.
Có thể nói suốt chiều dài lịch sử phong kiến Trung Hoa chưa có một vị tướng soái nào được người dân coi như anh hùng dân tộc, lập miếu thờ phượng giống như của Nhạc Phi. Quan Công cũng có rất nhiều miếu thờ nhưng đó là do người dân kính trọng tiết tháo trung thành của ông đối với người anh kết nghĩa vườn đào, là một tướng tận tâm tận lực để rồi phải chết nơi sa trường mà thôi. Miếu thờ Quan Công nghiêng về thần thánh hóa, mê tín dị đoan còn miếu thờ của Nhạc Phi chính là biểu tượng của lòng tự hào dân tộc trong việc chống ngoại bang. Nhạc Phi chết đi nhưng đời đời tên ông vẫn được hậu thế nhắc tới.
11 THIẾT MỘC CHÂN - LỪNG LẪY ĐÔNG TÂY
Trong thời gian từ năm 1208 đến khoảng 1300, lịch sử Trung Hoa nổi lên những cái tên mà hầu như ai cũng kinh sợ mỗi khi nhắc đến, đó là tên các danh tướng lẫy lừng từ Đông sang Tây như Thiết Mộc Chân, Oa Khoát Đài, Đà Lôi, Mông Kha, Hốt Tất Liệt, v.v... Những danh tướng này tuy có một vài trận không chiến thắng bởi nhiều lý do khách quan nhưng hầu hết đều đạt thắng lợi lớn lao, giúp cho triều Nguyên mở rộng biên cương từ Đông sang Tây, từ Bắc cho tới tận miền nam Trung Hoa.
Lịch sử huy hoàng của triều Nguyên bắt đầu từ Thiết Mộc Chân, sau khi chết được truy tặng là Nguyên Thái tổ. Dưới sự chỉ huy của Thiết Mộc Chân, vó ngựa người Mông Cổ tung hoành từ Đông sang Tây, từ nước Nga sang đến tận châu Âu; từ bắc xuống tới tận biên giới với Việt Nam.
Năm sinh của Thiết Mộc Chân không được sử sách ghi chép rõ ràng, chỉ theo sự kiện lịch sử mà tính thì ông sinh vào khoảng 1155 ở bên bờ sông Oát Nan, sau nhiều cuộc chiến tranh tiêu diệt các bộ tộc Mông Cổ hoặc sát nhập họ vào quân đội của mình, năm 1206 Thiết Mộc Chân xâm chiếm Trung Hoa và dựng nên triều đại nhà Nguyên. Ông trị vì được 22 năm, đến năm 1228 thì lâm bệnh nặng rồi qua đời ở sông Ngưu Đầu thuộc huyện Thanh Thủy sau khi quốc vương Tây Hạ đã đầu hàng.
Họ của Thiết Mộc Chân là Bột Nhi Chỉ Cân, con vị Hãn của một bộ tộc nhỏ người Mông Cổ tên là Dã Tốc Cai. Hãn tức là người đứng đầu của bộ tộc, khi bộ tộc ấy lớn mạnh hoặc sát nhhập nhiều bộ tộc với nhau mới tôn xưng lên là Khả Hãn hay Đại Hãn, tức tương đương với tước Vương ở Trung Hoa. Lúc đó có rất nhiều bộ tộc sống rải rác khắp miền bắc, hầu hết sinh sống bằng việc săn bắn và nuôi súc vật chứ không biết đến nông nghiệp. Vì là xứ sở mênh mông với những hoang mạc ở Gôbi và những bình nguyên đồng cỏ ở phía nam Seberi thuộc nước Nga. Ở đây có một bộ tộc Mông Cổ nổi tiếng thiện chiến và hung dữ tên là Tác Ta.
Các bộ tộc nhỏ thường dựa vào nhau để sinh tồn và rất thiện nghệ về thuật cưỡi ngựa. Sau này thuật cưỡi ngựa được quân đội Mông Cổ sử dụng như là thứ vũ khí lợi hại nhất, đoàn kỵ binh Mông Cổ đi tới đâu là nơi đó bị tiêu diệt không còn một con chó con gà, nhà cửa thì bị đốt cháy, san thành bình địa. Có thể nói, sự hung hãn của người Mông Cổ cũng được coi là “một loại vũ khí” đánh vào tinh thần. Do vậy hễ nghe tin quân Mông Cổ sắp tiến đến, hầu như các thành phố đều hoảng loạn, sĩ khí xuống thấp, rất lợi cho việc đánh chiếm của họ. Thế nhưng vì quá lợi dụng “võ khí tinh thần” này mà dần dần người Mông Cổ bị toàn bộ các dân tộc khinh ghét, thậm chí căm thù thấu xương, là tiền đề cho sự suy tàn của cả một đế chế trải rộng từ Đông sang Tây do một tay Thành Cát Tư Hãn dựng lên.
Cùng với thuật cưỡi ngựa, người Mông Cổ thiên về săn bắn nên thuật bắn cung cũng có thành tựu rất cao siêu. Dần dần các bộ tộc Mông Cổ kết hợp lại, trở thành một lực lượng rất mạnh nhờ vào tính kỷ luật và sự phối hợp hành quân rất chặt chẽ. Với hoàn cảnh ngày đây mai đó không dừng bước nơi nào lâu dài, người Mông Cổ không chú trọng vào việc học chữ mà ngay từ nhỏ đã chuyên tâm rèn luyện việc cưỡi ngựa, bắn cung. Đa số bộ tộc Mông Cổ theo “Bái vật giáo”, tức là về tâm linh vẫn còn sơ khai.
Bái vật giáo có thể định nghĩa là một loại bùa hộ mệnh nào đó hoặc một phép lạ. Bái vật giáo hình thành từ lúc loài người mới nhận biết Thượng đế và tổ chức thành tín ngưỡng. Bái vật giáo tin vào các thuộc tính siêu nhiên của vật thể tự nhiên như gốc cây cổ thụ, hòn đá có hình dáng kỳ quái, v.v... Bộ tộc Mông Cổ suốt đời sinh sống nơi hoang dã, tất nhiên rất dễ tin tưởng vào các biến chuyển hay hình dáng của vật thể tự nhiên, đó chính là Bái vật giáo.
Lúc đó bộ tộc của Dã Tốc Cai phải sống chung với một bộ tộc người Khiết Đan và một bộ tộc Mông Cổ tên là Thái Xích Ô. Cuộc sống của Thiết Mộc Chân có lẽ sẽ cũng như bao người khác nếu như không xảy ra sự cố lớn lao trong gia tộc, đó là việc thân phụ ông bị người Tác Ta (một bộ tộc Mông Cổ sinh sống mãi về phương Đông, gần với nước Nga hơn Trung Hoa) đầu độc vào năm 1167. Cái chết của Dã Tốc Cai biến bộ tộc của Thiết Mộc Chân trở thành đại loạn, mẹ của ông là Nguyệt Luân phu nhân phải lưu lạc hết sức gian khổ để nuôi dạy đùm bọc cho những đứa con vẫn đang bị bộ tộc Tác Ta truy sát “diệt cỏ tận gốc”. Đồng thời hai bộ tộc thân cận là Khiết Đan và Thái Xích Ô cũng bỏ đi càng khiến bốn mẹ con Thiết Mộc Chân bơ vơ không nơi nương tựa. Khi ấy Thiết Mộc Chân mới là đứa trẻ 13 tuổi, đã phải vất vả kiếm sống để giúp đỡ cho mẹ cùng với hai đứa em trai.
Thế nhưng sự việc không dừng ở đó, từng bước một hai bộ tộc Khiết Đan và Thái Xích ô cũng tìm cách bỏ rơi bốn mẹ con Thiết Mộc Chân với ý định đẩy họ vào cảnh tự nhiên bị tiêu diệt. Quả nhiên chẳng bao lâu sau người đứng đầu bộ tộc Thái Xích Ô triệu tập đại hội các bộ lạc Mông Cổ để bầu lên một vị Hãn mới.
Đương nhiên bộ tộc Thái Xích Ô đã sửa soạn sẵn sàng, lấy số đông áp đảo nên cuối cùng viên thủ lĩnh của bộ tộc ấy là Tháp Nhĩ Hốt Đài được bầu làm Hãn. Đây chẳng khác gì làm loạn bởi dòng dõi của Dã Tốc Cai vẫn còn sống, đáng ra Thiết Mộc Chân mới là người thừa kế ngôi vị của cha. Hai mẹ con Thiết Mộc Chân hết sức phẫn nộ nhưng không còn thủ hạ dưới tay, đành ôm hận chờ cơ hội.
Tháp Nhĩ Hốt Đài lên nắm quyền Hãn rồi lập tức tính đến việc giết luôn cả gia đình Thiết Mộc Chân, bất ngờ cho quân tấn công lều của mẹ con họ. May sao có một thủ hạ trung thành biết tin ấy, chạy đến báo trước nên bốn mẹ con mới kịp chạy thoát. Thế nhưng quân của Tháp Nhĩ Hốt Đài quyết truy đuổi đến cùng, bốn mẹ con Thiết Mộc Chân chui rúc từ cánh rừng này đến núi đá kia vẫn không sao thoát được sự truy đuổi của bọn chúng. Lúc ấy Thiết Mộc Chân mới 13 tuổi nhưng lâm vào tình trạng nguy, ông đã tỏ ra là người có trí tuệ, biết tính toán lợi hai. Thiết Môc Chân liền một mình một ngựa chạy ra đường khác để thu hút sự truy đuổi, giúp cho mẹ và hai em có cơ hội thoát thân.
Cuối cùng sau mấy ngày đói khát, Thiết Mộc Chân bị bọn Thái Xích Ô bắt sống nhưng không giết ngay mà đưa về để cho toàn thể các thủ lĩnh bộ tộc quyết định xét xử. Lâm vào cảnh sống chết trong đường tơ kẽ tóc nhưng Thiết Mộc Chân vẫn không cam chịu đầu hàng số phận, ngay đêm ấy đã nhân cơ hội bọn canh gác lơ lỏng liền lẻn trốn ra ngoài sa mạc. Thiết Mộc Chân may mắn được một người thủ hạ già giúp cho ngựa và lương thực cùng nước uống.
Hình như vận mệnh trời đất đã đặt định sẵn cho Thiết Mộc Chân trở thành một vị tướng lãnh tài ba và sau cùng là ngôi Hoàng đế của một đế quốc rộng lớn nên khi chạy đến dãy núi Cô Sơn thì gặp lại gia đình, tất cả cùng đồng ý kiến phải đến bằng được vùng núi Bất Nhi Hãn thì mới có thể tránh được tai mắt của bọn Thái Xích Ô. Nhờ rặng núi này rộng bao la, lại có suối nước trong nên tạm thời gia đình của Thiết Mộc Chân ẩn trú, lấy việc chăn nuôi gia súc làm sinh kế hàng ngày.
Một ngày kia đàn ngựa quý như vàng của Thiết Mộc Chân bất ngờ bị lấy trộm. Ai nấy đều than thở và lo lắng cho tương lai nếu như không có đàn ngựa ấy. Lúc này mới thể hiện rõ lòng quyết tâm và can trường của Thiết Mộc Chân, chàng thanh niên lập tức dùng con ngựa duy nhất còn lại của gia đình, quyết đuổi theo bọn trộm đến cuối cùng trời đất mới thôi. Ông kiên nhẫn theo đuổi, không hề nghỉ ngơi, ăn trên lưng ngựa uống trên lưng ngựa luôn mấy ngày đêm mới bắt kịp bọn đã trộm ngựa.
Thiết Mộc Chân còn đang băn khoăn chưa biết phải làm sao thu hồi được số ngựa của mình thì tình cờ gặp được một thanh niên có vóc dáng hết sức oai phong. Hỏi thăm danh tánh thì mới biết đó chính là anh em họ xa của Thiết Mộc Chân tên là Bác Nhĩ Thuật. Nhờ sự trợ giúp của Bác Nhĩ Thuật, Thiết Mộc Chân đoạt lại được số ngựa nhưng không đủ sức tiêu diệt hết bọn trộm ngựa, trong lòng vẫn chưa thấy thỏa mãn.
Thời gian trôi qua rất nhanh, chẳng bao lâu cả ba anh em Thiết Mộc Chân đã trở thành những dũng sĩ can trường, các môn cưỡi ngựa bắn cung đều tài ba hơn người. Vào khoảng năm 1174, tuy sử sách không ghi lại chính xác nhưng theo khẩu truyền thì năm ấy Nguyệt Luân phu nhân quyết định cuộc hôn nhân cho Thiết Mộc Chân và Bôi Nhi Thiếp, con của một bộ tộc Ôn Cát Lạp Mông Cổ. Có lẽ đây là quyết định thiên về chính trị chứ không hẳn chỉ quan tâm đến hôn nhân bởi nếu thành công thì gia đình của bà sẽ có lực lượng tiếp trợ mỗi khi cần đến. Thiết Mộc Chân đang ôm mối thù giết cha, không hề vui vẻ với quyết định này nhưng vẫn tuân theo bởi vì ông cũng biết cái lợi khi cùng liên kết với bộ tộc Ôn Cát Lạp.
Trước khi Thiết Mộc Chân sinh ra thì vào năm 1115, bộ tộc người Nữ Chân phát khởi thành một quốc gia hùng mạnh, dưới sự lãnh đạo tài ba của Hoàn Nhan Mân, quân Kim đã chiếm một phần lãnh thổ Trung Hoa và xây dựng nên chính quyền nhà Kim, tự xưng là Thái tổ, đóng đô ở Trung Đô. Đến thời điểm Thiết Mộc Chân đã là thanh niên cường tráng với nhiều ý chí báo thù thì nhà Kim đã sang mấy đời, truyền đến Kim Thế tông Hoàn Nhan Ung. Sự thành công của người Nữ Chân thôi thúc Thiết Mộc Chân cũng muốn đạt thành đại nghiệp như vậy nên bắt đầu bằng việc muốn tìm viên Đại Hãn trước kia là Cáp Bất Cần, nhờ ông ta trợ giúp. Một phần vì Cáp Bất Cần cũng nuôi mối thù với người Kim bởi đã có một lần ông ta bị người Kim xúi bẩy bộ tộc Tác Ta ám sát nhưng bất thành. Cả hai đều có mối hận thù chung là bộ tộc Tác Ta, vì vậy Thiết Mộc Chân hy vọng sẽ thành công.
Thế nhưng Cáp Bất Cần đã quá già yếu, không còn tham vọng gì nữa, bất đắc dĩ Thiết Mộc Chân phải chịu lụy đến xin Thoát Lý, lúc ấy đang là quốc vương của một nước nho nhỏ tên là Khắt Liệt. Người Khắc Liệt là bộ tộc Đột Quyết, rất gan dạ và dũng cảm nhưng không thể liên kết lâu dài với họ được. Tiếc rằng Thoát Lý không đồng ý, quên hẳn tình xưa nghĩa cũ của Dã Tốc Cai nên bao nhiêu hoài bão muốn phục hồi lực lượng của bộ tộc mình đều thất bại.
Đang lúc Thiết Mộc Chân lúng túng thì lại có tai họa xảy đến, bộ tộc Miệt Lý Cát bất ngờ tiến đánh và bắt vợ của Thiết Mộc Chân đi mất. Lần này không còn đường nào khác, Thiết Mộc Chân lại phải đến vương quốc Khắc Liệt cầu cứu Thoát Lý. Chẳng ngờ Thoát Lý cũng đang có mối thù với bộ tộc Miệt Lý Cát, nhận lời ngay nhưng yêu cầu phải có người của bộ tộc đứng ra cầm đầu. Do vậy Thiết Mộc Chân cùng với người bạn Bác Nhĩ Thuật đến đề nghị với Trác Mộc Hợp.
Sau khi dàn xếp xong, đại quân của mấy bộ tộc lập tức tiến đến đại bản doanh của bộ tộc Miệt Lý Cát. Bây giờ Thiết Mộc Chân đã hết sức chín chắn chứ không nôn nóng như ngày trước, vận dụng trí tuệ ra dùng mưu kế đánh úp bất ngờ vào nửa đêm khiến cho bộ tộc Miệt Lý Cát trở tay không kịp, bị đánh tan tành, cứu được người vợ Bôi Nhi Thiếp.
Khi dẫn đoàn quân khải hoàn trở về, Thiết Mộc Chân liền cùng với Trác Mộc Hợp kết nghĩa anh em, từ đó thế lực của chàng mỗi ngày càng phát triển. Với hùng tài đại lược của Thiết Mộc Chân, chẳng bao lâu ông đã có dưới tay rất nhiều dũng sĩ được huấn luyện theo bài bản chứ không ô hợp như quân của Trác Mộc Hợp. Tiếc rằng “một nước không có hai vua, một rừng không có hai cọp”, khi Thiết Mộc Chân đã có trong tay lực lượng hùng hậu thì nảy sinh vấn đề ai sẽ là người được bầu lên chức Hãn đây? Vì đã là anh em không tiện đấu đá, cuối cùng Thiết Mộc Chân và Trác Mộc Hợp quyết định chia ra làm hai lực lượng khác nhau, mỗi người chiếm cứ một vùng. Thiết Mộc Chân cởi bỏ được sự ràng buộc rồi bắt đầu tiến hành việc chiêu mộ nhân tài, chỉ hơn ba năm sau đã có trong tay gần 5 vạn người, còn lớn mạnh hơn cả khi thân phụ của ông là Dã Tốc Cai cầm đầu.
Sau mấy năm nữa lực lượng của Thiết Mộc Chân càng phát triển nhưng ông đối xử với quân tướng giống như là anh em, ai ai cũng vừa kính phục vừa mến mộ. Với thanh thế ấy, chẳng bao lâu Thiết Mộc Chân đã đựợc mọi người tin tưởng, bầu lên làm Khả Hãn.
Khác với mọi Khả Hãn của Mông Cổ, ngay khi chính danh, Thiết Mộc Chân đã nghĩ tới việc xây dựng một chính quyền đầy đủ các chức vụ giống như triều Kim của người Nữ Chân. Ông sắp đặt người có tài về hành chính làm quan giống như chức Thừa tướng của Trung Hoa, còn người có dũng khí và can trường đều được phong làm tướng, có quân đội riêng, tất cả đều dưới sự xem xét của Thiết Mộc Chân, nếu ông đi vắng thì có người bạn thân thiết từ thuở nhỏ là Bác Nhĩ Thuật thay thế.
Thế nhưng Thiết Mộc Chân không ngờ tai họa lại đến từ những người thân của mình. Trong một cuộc tranh chấp đồng cỏ, người của ông lỡ tay giết chết em của Trác Mộc Hợp nên ông ta hết sức tức giận, âm thầm liên kết với hơn 10 bộ tộc, trong đó có cả bộ tộc Tác Ta, tiến đánh Thiết Mộc Chân.
Đến đây mới nhận thấy tài năng chinh chiến của Thiết Mộc Chân hơn người. Tuy bị đánh bất ngờ nhưng ông vẫn mau chóng chia quân ra làm nhiều cánh, mỗi cánh chống với mỗi bộ tộc. Vì lực lượng liên quân quá hùng hậu, Thiết Mộc Chân đành phải rút lui nhiều lần để bảo toàn lực lượng. Thật ra ông đã có ý riêng bởi vì Trác Mộc Hợp quá nôn nóng đuổi theo nên bỏ quên đi việc tiếp vận lương thảo, mấy ngày sau quân binh đều đói khát mệt mỏi.
Nhìn ra được điểm yếu của đối phương, Thiết Mộc Chân bất ngờ tập họp quân sĩ tấn công, đánh tan đoàn quân ô hợp của Trác Mộc Hợp, bắt sống hơn 3000 tù binh.
Đến đây rẽ qua một khúc quanh mới, khi bàn tính với số tù binh bắt được, Bác Nhĩ Thuật nghiêm mặt nói:
– Giữ bọn chúng thì tốn kém mà chiêu hàng thì không thể chắc chắn chúng sẽ phản bội lúc nào. Thêm vào đó, nếu muốn lập được đại nghiệp thì không nên nghĩ tới nhân nghĩa, Đại Hãn nên giết sạch bọn chúng để thị uy. Sau này tất không còn tên nào dám chống đối nữa. Đó là kế sách “Đả thảo kinh xà” của người Trung Hoa làm cho đối phương phải mất hết tinh thần chiến đấu.
Thiết Mộc Chân nghe theo, ngày hôm sau ban bố lệnh: “Bất cứ ai dám chống lại Khả Hãn Thiết Mộc Chân đều bị xử tử không tha”. Sau đó toàn bộ số tù binh bị giết sạch. Quả nhiên sau đó lập tức có hai bộ tộc nhỏ đến xin qui hàng, càng làm cho thanh thế của Thiết Mộc Chân lừng lẫy. Trung thành với chiến lược này, không ít lần đoàn quân Mông Cổ trước khi tiến đánh một thành nào đều tuyên bố nếu đầu hàng thì sẽ tha mạng, bằng chống cự sẽ giết không còn một con gà con chó. Suốt trong thời gian chinh chiến khắp Đông, Tây, quân đội Mông Cổ đều thi hành mệnh lệnh này một cách nghiêm khắc khiến ai nghe thấy cũng phải rùng mình kinh sợ. Tuy việc này quá tàn nhẫn nhưng xét lại đúng là đòn “tâm lý chiến” hết sức lợi hại.
Thời cơ đưa đến rất thuận lợi, khi Chương tông Hoàn Nhan Cảnh của triều Kim lên ngôi thì gặp rất nhiều khó khăn do việc người Tống vẫn kiên trì chống cự. Đang phải lo về mặt phía nam thì bộ tộc Tác Ta lại nhân cơ hội quấy phá nên Chương tông bèn sai Thừa tướng Hoàn Nhan Tương đến liên kết cùng với vương quốc Khắc Liệt và lực lượng của Thiết Mộc Chân. Dĩ nhiên Thiết Mộc Chân mừng rỡ bằng lòng ngay vì đây chính là lần đầu tiên có cơ hội báo thù rửa hận cho cha.
Ba cánh quân của Khắc Liệt, triều Kim và của Thiết Mộc Chân đồng loạt tấn công dữ dội. Bộ tộc Tác Ta hết sức thiện chiến nhưng vẫn không thể đối đầu với lực lượng hùng hậu như vậy, viên thủ lĩnh bị bắt giết tại trận, bao nhiêu tài vật đều chia cho ba cánh quân, chỉ còn lại một số ít chạy thoát. Kể từ đó thế lực của bộ tộc Tác Ta không còn đáng kể nữa.
Nhờ vào chiến thắng này, Thoát Lý chính thức được triều Kim công nhận là vua của vương quốc Khắc Liệt và Thiết Mộc Chân được phong một chức quan võ trong triều đình nhà Kim. Thừa thắng, trên đường trở về Thiết Mộc Chân tiêu diệt thêm hàng chục bộ tộc nữa. Một bộ tộc nhỏ tên là Trát Thích Xích Nhi nghe tin Thiết Mộc Chân đang tiến quân thì liền ra qui thuận, được ông vui vẻ chấp nhận, dùng dũng sĩ Mộc Lê Hoa của bộ tộc ấy làm quan thân cận cho mình. Về sau này Mộc Lê Hoa cũng đạt được nhiều chiến công hiển hách, là một trong những tướng soái trụ cột của Mông Cổ.
Mấy năm sau vương quốc Khắc Liệt có nội loạn, Thoát Lý phải chạy sang cầu cứu Thiết Mộc Chân. Từ đó hai thế lực này liên kết với nhau càng làm cho sức mạnh thêm hùng hậu. Tiếc rằng Thoát Lý không giữ được lòng đố kỵ, khi cùng với Thiết Mộc Chân đi chinh phạt bộ tộc Nãi Man, lúc về đã lặng lẽ chiếm lấy số lớn của cải rồi bỏ đi đường khác. Chẳng ngờ tàn quân Nãi Man tập họp lại được, không dám đánh với Thiết Mộc Chân mà đuổi theo Thoát Lý, rốt cuộc ông ta quá tham thành hại, tơi tả chạy về chẳng còn tài vật nào trong tay.
Nhân đà thắng lợi liên tiếp, Thiết Mộc Chân tính sổ với bộ tộc Thái Xích Ô và giết chết thủ lĩnh của họ, tiêu diệt hơn một nửa bộ tộc Thái Xích Ô. Chưa kịp nghỉ ngơi thì Thiết Mộc Chân lại phải đối phó với âm mưu của Trác Mộc Hợp. Hắn chưa thể nào quên được mối thù ngày trước, tìm đến tàn quân của các bộ tộc, liên kết lại rồi dẫn đại quân tấn công.
Lần này Thiết Mộc Chân phải liên kết với Thoát Lý bởi Trác Mộc Hợp có đến hơn 5 vạn quân mã. Trận chiến nổ ra hết sức hung hãn bởi đôi bên đều dựa vào kỵ binh, lại biết nhau quá rõ, vì vậy giằng dai mãi đến chiều tối quân của Thiết Mộc Chân mới thủ thắng, đáng lẽ trời đã tối thì nên cho quân nghỉ ngơi nhưng Thiết Mộc Chân vẫn trung thành với lối đánh của mình, tức là đã đánh thì phải đánh đến khi tận tuyệt mới thôi. Thế nhưng cũng chính vì đêm tối mà Thiết Mộc Chân không thể thấy rõ đường lối, bị trúng tên suýt mất mạng.
Mũi tên này là do một “thần tiễn” dưới trướng Trác Mộc Hợp bắn ra, dũng sĩ đó tên là Hạt A Tịch. Sau khi trời sáng chính Hạt A Tịch đến đầu hàng quân của Thiết Mộc Chân. Ông rất khen ngợi tài bắn cung của Hạt A Tịch, lấy lời phủ dụ và đổi tên thành Triết Biệt, tiếng Mông Cổ có nghĩa là “Thần tiễn”. Sau này Triết Biệt lại là một viên tướng đắc lực nhất của Thiết Mộc Chân, đã từng chinh chiến cả Trung Hoa, Trung Âu và Trung Á, nhưng lại chết trước khi dẫn quân tiến đánh một vương quốc nhỏ tên là Hoa Thích Tử Mô. Cái chết của Triết Biệt là đòn mạnh đánh vào sự kiêu hãnh của Thành Cát Tư Hãn. Trước đó một danh tướng kiêm mưu sĩ của Thành Cát Tư Hãn là Mộc Lê Hoa cũng tử trận khi tiến đánh quân kháng chiến của con trai Mô Hãn Mặc Đức ở Y Lạp Khắc. Nhưng cũng có giả thuyết cho rằng về sau Mộc Lê Hoa không đồng chính kiến với Thành Cát Tư Hãn và bị ông ta giết chết.
Bất cứ vì nguyên nhân nào, cái chết của Mộc Lê Hoa, Triết Biệt và người con trưởng của Thành Cát Tư Hãn là Thuật Xích cũng đã khiến cho vị tướng bách chiến bách thắng này suy sụp tinh thần, cộng với sức lực suy yếu sau nhiều năm sương gió nơi chiến trường đã kết thúc cuộc đời vị Hoàng đế mà toàn thế giới ai nghe đến tên cũng phải kinh sợ.
Vào năm 1203, một lần nữa người anh em kết nghĩa Trác Mộc Hợp lại xúi giục Thoát Lý cùng mình hợp quân tấn công Thiết Mộc Chân. Tuy lần này ông phải rất vất vả đối phó nhưng sau cùng với tài cầm quân quyền biến và có nhiều danh tướng tài dưới tay, vẫn đánh bại được liên quân của họ, giết chết Thoát Lý rồi thừa thắng tiêu diệt luôn vương quốc Khắc Liệt. Còn Trác Mộc Hợp thì chạy đến bộ tộc Nãi Man nương nhờ.
Khi Thoát Lý chết rồi, người bạn của ông ta là Trác Hốt Nan, một đại tướng của bộ tộc Nãi Man quyết định hưng binh báo thù. Biết rằng quân của Thiết Mộc Chân rất hùng hậu, Trác Hốt Nan liền đến vương quốc Uông Cổ xin hợp quân. Tuy vương quốc này ở sát với biên cương Trung Hoa nhưng nguồn gốc vẫn là người Mông Cổ, nghe đề nghị liền trở mặt bắt trói Trác Hốt Nan giải giao cho Thiết Mộc Chân xét xử.
Nhân cớ ấy Thiết Mộc Chân liền quyết định ra quân tiêu diệt luôn bộ tộc Nãi Man, sai Triết Biệt và Hốt Tất Liệt làm tướng tiên phong. Đóng trại xong, Mộc Hoa Lê dâng kế “hư trương thanh thế” mỗi quân binh phụ trách đốt mấy đống lửa khiến quân tướng Nãi Man nhìn thấy đều tỏ vẻ khiếp sợ. Không những thế, cứ đêm tới là quân của Thiết Mộc Chân nổi lửa sáng rực, người ngựa nhốn nháo giống như sắp tiến đánh, sau đó chợt im lặng không còn động tĩnh gì nữa.
Đêm nào cũng thế khiến quân tướng Nãi Man canh phòng rất mệt mỏi. Đúng lúc quân Nãi Man bất ngờ nhất, quân Mông Cổ đột ngột ào ào tiến đánh, đến chiều tối đã dồn được toàn quân Nãi Man rút lên núi cố thủ. Khả Hãn của Nãi Man là Thái Dương cho rằng thể nào quân Mông Cổ cũng phải nghỉ ngơi đến sáng mới tiếp tục đánh nên chẳng đề phòng chút nào. Đột ngột giữa đêm khuya quân Mông Cổ âm thầm theo từng góc núi tiến lên, cứ vậy mà chém giết chứ không reo hò như mọi khi.
Trận này Thiết Mộc Chân dùng kỳ binh rất thần diệu nên hoàn toàn đại thắng, bắt sống được cả gia quyến Thái Dương đem chém đầu. Thế là hầu hết các bộ tộc ít người vùng phía bắc đã bị sát nhập vào lực lượng của Thiết Mộc Chân, còn lại một ít lui vào rừng núi ẩn trốn, không đáng kể. Đó là vào năm 1206.
Sau đó Trác Mộc Hợp bị các tùy tướng bắt giao nộp cho Thiết Mộc Chân. Ông bèn tha chết cho người anh em đã kết nghĩa ngày nào, chém đầu bằng hết bọn phản tướng. Trác Mộc Hợp vô cùng hối hận không muốn sống nữa nên Thiết Môc Chân ban cho ông ta chết toàn thây. Khi đã không còn đối thủ nữa, vào tháng 4 năm 1206, Thiết Mộc Chân liền theo chê độ quân chủ của Trung Hoa, ban bố chiếu lệnh rồi lên ngôi tự xưng là Nguyên Thái tổ, hiệu danh Thành Cát Tư Hãn, tức là “Vị Hoàng đế lớn nhất thiên hạ”. Thành Cát Tư Hãn cho đóng đô ở dưới chân núi Hòa Lâm và cũng từ đấy cái tên Thiết Mộc Chân không bao giờ được người ta nhắc tới nữa.
Đại nghiệp đã được dựng lên nhưng đối với Thành Cát Tư Hãn thì đời con người chán ngán nhất là phải ngồi chơi, không được ra chiến trận. Vì vậy sau khi bàn bạc cùng quần thần, ông quyết định tiến đánh Tây Hạ, mở đầu cho tham vọng chiếm toàn thế giới.
Khi ấy Tây Hạ đã là một cường quốc với nhiều thành lũy kiên cố, tướng sĩ cũng anh hùng nhưng người đứng đầu là Bất Hãn lại không có tài năng gì, chỉ lo ăn chơi khoái lạc. Khi nghe tin Thành Cát Tư Hãn kéo quân tiến đánh, quốc vương Bất Hãn đã định đầu hàng để giữ địa vị nhưng quần thần nhất quyết tâu xin lấy hơi thở cuối cùng ra bảo vệ non sông, bất đắc dĩ phải bằng lòng mà hết sức lo lắng.
Nhờ vào sự quyết tâm, thành Trung Hưng của kinh đô Tây Hạ lại được xây dựng vô cùng kiên cố nên quân dân Tây Hạ chống chọi với đoàn kỵ binh khủng khiếp của nhà Nguyên được mấy tháng. Sau cùng Thành Cát Tư Hãn phải dùng đến mưu trí, sai quân phá một đoạn đê điều trên sông Hoàng Hà. Thế nhưng chính nước ngập lại làm cho đoàn kỵ binh Mông Cổ không thể tiến được, đành phải rút lui. Tuy không chiếm được kinh đô đối phương nhưng trận này Thành Cát Tư Hãn cũng khiến cho đất nước Tây Hạ lâm vào cảnh suy yếu, nhân dân đói khổ oán thán khôn xiết. Đây là lần chinh phạt Tây Hạ thứ nhất.
Quốc vương Bất Hãn phải nghe những lời oán thán ấy không hề tức giận người Mông Cổ mà lại đổ hết căn thù lên đầu người Kim. Hóa ra Tây Hạ và Kim đã có ký kết hòa ước, bất cứ bên nào lâm nguy thì bên kia phải đưa quân tới giúp. Thế mà quân Mông Cổ bao vây thành Trung Hưng hơn một tháng vẫn không hề thấy bóng dáng của quân đội triều Kim đâu. Từ sự tức giận này, Bất Hãn sai sứ giả sang triều Nguyên thuyết phục Thành Cát Tư Hãn đánh nước Kim, Tây Hạ sẽ thần phục cho quân tiếp trợ.
Quả là cơ hội rất tốt cho Thành Cát Tư Hãn, lại càng tốt hơn ngay khi ấy có sứ giả nước Kim đến báo tin triều đình đã có Hoàng đế mới. Nguyên vào năm 1209, Kim Chương tông Hoàn Nhan Cảnh qua đời, nối ngôi là Hoàn Nhan Vĩnh Tế. Vĩnh Tế không xưng Đế như các đời khác mà xưng hiệu là Vệ Thiệu vương, là một người bất tài vô tướng, không được quân tướng tin tưởng nhưng lại hết sức kiêu ngạo, ngông cuồng vô lối. Thành Cát Tư Hãn chưa kịp động binh thì Vệ Thiệu vương Vĩnh Tế đã biết tin, lập tức sai quân đánh phủ đầu Mông Cổ. Đại quân của triều Kim do hai Đại tướng là Thông Cát Thiên và Gia Nỗ Hoàn chỉ huy, dẫn đến 3 vạn quân vượt qua biên cương Mông, Kim.
Thành Cát Tư Hãn hết sức tức giận, đưa ra chiến thuật tốc chiến tốc thắng, sai ba anh em Thuật Xích dẫn quân đánh ngay khi quân Kim chưa kịp hạ trại. Kết quả là quân Kim đại bại, chết quá nửa, phải rút lui rồi dựng chiến lũy ở Ô Sa cố thủ. Thành Cát Tư Hãn thừa thế thắng trận, đích thân dẫn đại quân tiến đánh thành Tây Kinh của nước Kim. Tuy thành này còn kiên cố hơn thành Trung Hưng của Tây Hạ nhưng không quyết tâm chống giữ nên chỉ mấy ngày sau đã thất thủ.
Quân đội triều Kim phải rút về ải Thúy Bình, Thành Cát Tư Hãn cũng không buông tha, kéo đại quân đến đó bày trận. Nhờ vào sự đầu hàng của một tướng Kim, quân Mông Cổ chiếm được cửa ải này rất dễ dàng. Với chiến thuật đánh tới cùng, Thành Cát Tư Hãn không để quân tướng nghỉ ngơi, quyết định chia quân ra làm hai đạo, một tiến đánh Đông Đô, một do mình chỉ huy kéo rốc đến Trung Đô, là kinh thành của triều Kim uy hiếp. Vệ vương Vĩnh Tế nghe tin địch quân bao vây thành không hề biến sắc mặt, sai Đại tướng Hồ Sa Hổ chỉ huy chống giữ, còn mình thì tiếp tục ăn chơi sa đọa.
Quân triều Kim chống đỡ cũng rất kiên cường nhưng khi nghe tin Đông Đô đã bị Mông Cổ chiếm lập tức biến thành hoảng loạn, ai nấy đều oán giận Vĩnh Tế. Đại tướng Hồ Sa Hổ liền lập mưu giết chết Vĩnh Tế, tôn phò Hoàng Nhan Tuân lên nối ngôi Hoàng đế nước Kim, xưng hiệu là Kim Tuyên tông. Vị Hoàng đế này còn trẻ tuổi non gan nên quyết định hiến dâng một số tài vật cùng với Công chúa yêu thương nhất cho Thành Cát Tư Hãn để cầu hòa.
Khi ấy Thành Cát Tư Hãn vẫn canh cánh điều nhục nhã là không hạ được thành Trung Hưng, lập tức chấp thuận rút quân tính đến việc đánh Tây Hạ cho bõ giận. Khi đại quân Mông Cổ rút lui rồi, Kim Tuyên tông Hoàng Nhan Tuân vẫn chưa hết sợ hãi, vội vàng cho thiên đô về Biện Kinh, lấy cớ Trung Đô quá gần với Mông Cổ khó đề phòng. Chẳng ngờ việc này làm cho Thành Cát Tư Hãn nổi cơn lôi đình, sửa soạn chia quân làm hai đạo cùng lúc tiến đánh Trung Đô lẫn Biện Kinh.
Đoàn quân đánh Trung Đô do danh tướng Mộc Lê Hoa chỉ huy chỉ trong một trận đã chiếm được thành, một phần là do Thái tử nước Kim quá tệ hại trong việc chống giữ. Mộc Lê Hoa còn bắt sống được Gia Luật Sở Tài, một mưu sĩ kiêm chính trị gia nổi tiếng của Tây Hạ. Nguyên Gia Luật Sở Tài là hoàng thân của nước Liêu nhưng khi nhà Liêu không còn nữa thì ông phục vụ dưới triều Kim, rất được Hoàng đế triều Kim tin tưởng. Tuy dòng dõi là người phương bắc nhưng Gia Luật Sở Tài chẳng khác gì người Trung Hoa, rất thông thạo Thư, Thi cùng với thiên văn địa lý, binh pháp chính trị, không môn học thuật nào không biết. Khi bị bắt, Gia Luật Sở Tài liền xin theo Thành Cát Tư Hãn làm mưu sĩ.
Thế nhưng đạo quân của Thành Cát Tư Hãn lại không sao vượt nổi Đồng Quan để đến Biện Kinh bởi thành lũy quá chắc chắn và quân Kim bị dồn vào tử địa chống trả hết sức kiên cường. Thành Cát Tư Hãn rất khâm phục tài năng của Mộc Lê Hoa, phong cho ông tước Vương để chỉ huy ba quân tiến đánh phía nam nước Kim. Mộc Lê Hoa quả là tướng tài, chỉ trong vòng mấy tháng đã hạ được hơn 30 thành trì, làm cho quân Kim nghe đến tên đã kinh hồn bạt vía.
Khi đã giao trách nhiệm cho Mộc Lê Hoa, Thành Cát Tư Hãn tiến quân về phía tây. Khi ấy con trai của Thái Dương xứ Nãi Man là Khuất Xuất Luật chạy thoát đến vương quốc Hoa Thích Tử Mô. Hắn ngon ngọt thuyết phục được quốc vương xứ ấy là Mô Hãn Mặc Đức tấn công Tây Liêu mở rộng biên cương. Khi tiêu diệt xong Tây Liêu rồi, Mô Hãn Mặc Đức phong cho Khuất Xuất Luật làm Quốc vương. Thành Cát Tư Hãn nghe tin này lập tức phái tướng Triết Biệt dẫn một vạn binh mã tiến đánh Tây Liêu, chưa đầy một tháng đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, lại giết chết luôn Khuất Xuất Luật.
Không bao giờ ngồi yên một chỗ, tiếp đến Thành Cát Tư Hãn dẫn quân trừng trị Hoa Thích Tử Mô. Lúc đó là năm 1219 tức ông đã hơn 50 tuổi nhưng vẫn còn mạnh khỏe hơn người. Thế nhưng theo đề nghị trước kia của Tây Hạ, Thành Cát Tư Hãn sai sứ giả đến đề nghị tăng viện thêm quân thì Tây Hạ từ chối, ông càng thêm tức giận nhưng đành phải gác lại vì đang đi đánh Hoa Thích Tử Mô.
Quân binh Hoa Thích Tử Mô cũng dũng cảm kiên cường nên nhiều lần công thành đều thất bại. Thành Cát Tư Hãn liền áp dụng chiến thuật mà mình đã suy nghĩ từ lâu, đó là không đánh thẳng vào mục tiêu khó chịu. Ông sai hai con là Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài ởlại tiếp tục công thành đồng thời chia ra ba đạo quân độc lập, mỗi đạo do một viên tướng chỉ huy tiến đánh một thành chung quanh kinh đô của Hoa Thích Tử Mô. Do vậy kinh thành không còn tiếp tế, cả dân lẫn quân đều đại loạn, cuối cùng đành phải mở cửa đầu hàng. Sau này Thành Cát Tư Hãn rất thường áp dụng chiến thuật này nếu có thành nào quá khó tấn công, tiêu diệt toàn bộ các thành trước sau và chung quanh tất sẽ đưa đối phương vào chỗ cô lập, chẳng bao lâu sẽ tự đầu hàng hay là đánh chiếm cũng dễ dàng hơn.
Tuy đã chiếm hầu hết các thành của vương quốc Hoa Thích Tử Mô nhưng quốc vương Mô Hãn Mặc Đức vẫn chạy thoát, Thành Cát Tư Hãn quyết không bỏ cuộc, cho quân truy sát tận tuyệt. Cuối cùng Mô Hãn Mặc Đức phải xuống thuyền chạy ra một hòn đảo ngoài Lý Hải rồi chết ở đó. Quân Mông Cổ rất thiện nghệ kỵ binh nhưng về chiến thuyền hoàn toàn không dự bị, đành phải nhìn Mô Hãn Mặc Đức trốn thoát.
Thừa thế đang tiến quân không ai địch nổi, Thành Cát Tư Hãn còn tiêu diệt luôn cả Tây Vực rồi toan tính tiến sang biên giới với Ấn Độ vì cho rằng đó là đất nước giàu có bậc nhất, nhiều vàng bạc tơ lụa cùng phụ nữ xinh đẹp. May nhờ có Gia Luật Sở Tài đi theo quân ngỏ lời ngăn cản, Thành Cát Tư Hãn mới chịu kéo quân về nước.
Thấy đất đai đã quá rộng lớn, Thành Cát Tư Hãn liền giao nước Hoa Thích Tử Mô cho Sát Hợp Đài; phần đất phía đông Mông Cổ giao cho Oa Khoát Đài; vùng cao nguyên thì giao cho Đà Lôi. Sau này chính Đà Lôi là người kế vị tạm thời khi Thành Cát Tư Hãn mất. Riêng người con trưởng là Thuật Xích nhiều lần chống đối không theo quân lệnh của phụ hoàng nên Thành Cát giáng xuống làm lính, sau đó chết trong một trận công thành của địch. Thành Cát Tư Hãn hết sức thương xót, cho mai táng theo thể thức hoàng gia Mông Cổ nhưng không vì thế mà để sai quân lệnh bao giờ.
Bấy giờ Thành Cát Tư Hãn đã 71 tuổi, cảm thấy rất mệt mỏi, sức lực suy yếu dần nên tạm thời trở về kinh đô Hắc Lâm triều Nguyên tịnh dưỡng. Thế nhưng chỉ vài năm sau, ông lại xuống lệnh phải tiêu diệt Tây Hạ bằng được. Có lẽ trước khi chết ông muốn hoàn thành tâm nguyện của mình chăng? Lúc ấy là thời điểm Tây Hạ đang xuống dốc nên không thể chống nổi với đoàn quân dũng mãnh của Thành Cát Tư Hãn, chẳng bao lâu vó ngựa Mông Cổ đã đến chân thành Linh châu và dễ dàng dánh chiếm. Tiếp tục cuộc chinh phục, đoàn quân Mông Cổ một lần nữa vượt sông tấn công kinh thành Trung Hưng, đồng thời chia quân ra uy hiếp Nam Kinh.
Quân Mông Cổ tiến như chẻ tre, đến đâu chiến thắng đến đó nhưng riêng Thành Cát Tư Hãn lại cảm thấy như bệnh cũ tái phát, phải để Đà Lôi phụ trách tấn công Trung Hưng. Tuy thành này chưa bị chiếm nhưng vua tôi Tây Hạ đã quá kinh sợ, liền sai sứ giả đến cầu hòa. Đang lúc mỏi mệt, Thành Cát Tư Hãn lập tức chấp thuận, rút quân về tới Lục Bàn sơn ở Linh châu thì mất. Tuy nhiên Thành Cát Tư Hãn vẫn còn kịp trăn chối cho Đà Lôi tạm thời phụ trách ngôi vị Hoàng đế triều Nguyên. Đó là vào năm 1227. Trước khi nhắm mắt, Thánh Cát Tư Hãn còn cố gượng sức nói với Đà Lôi phải tiêu diệt Tây Hạ bằng mọi giá thì chết mới yên lòng đồng thời cũng ước mong tiêu diệt được Nam Tống, hoàn thành giấc mộng “đế vương trên tất cả các đế vương” của mình.
Đà Lôi theo di mệnh nắm quyền giám quốc nhưng không thể giao lại cho ai bởi nội bộ Mông Cổ xảy ra rối loạn. Mãi cho đến năm 1229 thì Đà Lôi mới giao lại cho người con thứ ba là Bột Nhi Chỉ Cân Oa Khoát Đài, xưng hiệu là Nguyên Thái tông.
Đế quốc Mông Cổ tưởng như rất vững chắc, thế mà sau khi Thành Cát Tư Hãn chết lại nổ ra nhiều cuộc tranh giành địa vị. Oa Khoát Đài và Mông Kha tuân theo lời trăn trối, chia đại quân ra làm 3 mặt đánh chiếm Nam Tống. Trong một trận đánh bị trúng tên tử trận. Mông Kha lên nối ngôi xưng hiệu là Nguyên Hiến tông nhưng vẫn trung thành với lời trăn trối của Thành Cát Tư Hãn, tự thân đem quân tấn công Hợp châu, tức là đi đường vòng tấn công mặt sau Nam Tống.
Quân Mông Cổ chia làm 4 lộ: một tấn công Ngạc châu và Kinh sơn; một tấn công Đàm châu; một tiến đánh Hải châu; còn lại do chính Mông Kha chỉ huy tấn công Tứ Xuyên. Cánh quân do Mông Kha chỉ huy tiến như chẻ tre, chưa tới một năm đã chinh phục được một vùng đất rộng lớn là Xuyên Tây, Xuyên Bắc và Xuyên Trung. Thế nhưng khi đến Hợp châu thì phải dừng chân. Do vì thành Hợp châu nằm ở dưới chân núi Điếu Ngư ba mặt đều là sông nước rất bất lợi cho kỵ binh Mông Cổ. Tướng Vương Kiên dựa vào địa thế hiểm trở này mà chống cự khiến Mông Kha nhiều lần tấn công mà không thể hạ nổi.
Thấy kéo dài đã lâu, quân tướng Mông Cổ không hợp thủy thổ bệnh tật chết rất nhiều, các tướng dưới quyền khuyên Mông Kha tạm rút binh. Nhưng Mông Kha quyết hoàn thành tâm nguyện cho Thành Cát Tư Hãn, một đêm vào năm 1259 sai Đại tướng Uông Đức Thần tấn công quyết liệt. Tiếc rằng quân dân Hợp châu cũng anh dũng không kém nên vẫn giữ vững được thành. Uông Đức Thành sợ bị tội với Mông Kha, ngày hôm sau đổi chiến thuật đến chân thành thuyết phục đối phương đầu hàng, bất ngờ bị đá trên thành bắn xuống chết tại chỗ.
Mông Kha hết sức tức giận, tự mình cầm quân tấn công nhưng rốt cuộc cũng bị trúng tên mà chết. Khi ấy Hốt Tất Liệt đang đóng quân ở Ngạc châu, cấp tốc đem binh về Khai Bình chiếm lấy ngôi Hoàng đế, xưng hiệu là Nguyên Thế tổ. Dưới thời Hốt Tất Liệt quân Mông Cổ mới hoàn toàn cai trị Trung nguyên, hoàn thành tham vọng của Thành Cát Tư Hãn.
Thành Cát Tư Hãn được nhắc đến như là một vị tướng soái tài ba chứ ít ai nghĩ ông là Hoàng đế của một triều đại kéo dài từ năm 1206 cho đến 1368 mới diệt vong, rơi vào tay Chu Nguyên Chương. Cả cuộc đời ông toàn là chinh chiến, rày đây mai đó, tưởng như chỉ biết có chiến trận mà thôi. Thật sự khi đã lên ngôi Hoàng đế rồi, Thành Cát Tư Hãn cũng có suy nghĩ về tâm linh nên đã có lần mời một vị Chân sư là Khâu Xứ Cơ đến doanh trại của mình để nghe giảng đạo. Khâu Xứ Cơ là tên thật, đạo hiệu là Trường Xuân Chân nhân hay Trường Xuân tử, theo giáo phái Toàn Chân ở Trung Hoa.
Đó là vào năm 1219, khi đang ở Trung Đô, Thành Cát Tư Hãn đặc biệt sai sứ giả đến mời Khâu Xứ Cơ đến giảng đạo cho mình. Trước đó Kim Thế tông Hoàn Nhan Ung cũng đã mấy lần mời ông đến Trung Đô giảng đạo cho triều thần. Việc Thành Cát Tư Hãn triệu mời Trường Xuân Chân nhân gây nhiều thắc mắc trong giới nghiên cứu bởi vì hoàn toàn không biết vị Hàng đế nổi tiếng tàn ác này có ý định ra sao.
Bí mật ấy cùng với cái chết bất ngờ của Thành Cát Tư Hãn vẫn là nghi vấn chưa ai có thể tìm ra. Sau này người ta nghiên cứu có đến mấy giả thuyết về cái chết của ông mặc dù trong “Nguyên sử” do Thái tổ Chu Nguyên Chương ban lệnh soạn thảo viết rất rõ ràng: “Ngày Nhâm Ngọ, tháng 7 mùa thu (ông) bệnh nặng. Ngày Kỷ Sửu băng tại hành cung Tát Lý châu.”
Theo các thuyết này thì Thành Cát Tư Hãn bị trúng tên tẩm thuốc độc của người Tây Hạ nhưng vẫn gắng gượng cứu chữa, sau đó tái phát mới chết. Cũng với giả thuyết Thành Cát Tư Hãn bị trúng độc nhưng không phải do tên địch thủ mà là bị các Vương phi đầu độc. Điều này tương đối có chứng cứ bởi vì mỗi khi Thành Cát Tư Hãn bắt được thê thiếp của các quốc vương hay thủ lĩnh bộ tộc, bất cứ ai có nhan sắc đều ép buộc làm Phi tần của mình. Họ có thể có cơ hội đầu độc được. Thế nhưng lại có giả thuyết khác ly kỳ hơn, đó là mỗi lần ân ái cùng với các Phi tần tù binh, Thành Cát Tư Hãn chắc chắn đã đề phòng cẩn mật, không thể nào họ giấu được thuốc độc hay võ khí. Vì vậy giả thuyết nêu lên là một Phi tần của người Tây Hạ đã dùng răng làm Thành Cát Tư Hãn bị thương nặng nơi hạ bộ, sau đó không cầm máu được mà chết. Tựu trung các giả thuyết Thành Cát Tư Hãn bị Phi tần tù binh sát hại đều dựa vào con số các phi tần mà ông ta bắt được, buộc phải làm vợ của mình. Theo ghi chép thì khi Thành Cát Tư Hãn chết, số Phi tần bị tuẫn táng theo lên tới số 40, có lẽ đó là cách ông ta trả thù người đã hạ độc mặc dù không chính xác là ai, tất cả Phi tần bị nghi ngờ đều phải chết.
Trong chính sử của người Mông Cổ thì lại ghi rằng Thành Cát Tư Hãn ngã ngựa bị thương, cộng với bệnh tật do sương gió thành bệnh mà chết. Còn một số giả thuyết ly kỳ hơn như bị sét đánh, bị các vương phi đâm chết, v.v... Tất cả đều là giả thuyết bởi ngay hiện tại người ta còn chưa thể tìm ra lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn ở đâu. Nếu như tìm được, khai quật rồi khám nghiệm xương cốt bằng những khí cụ khoa học tối tân ngày nay, chắc chắn sẽ chứng minh được cái chết bất ngờ của “Vị vua của toàn thể thế giới”.
12 TỪ ĐẠT - CÔNG THẦN DANH TƯỚNG
Với sự cai trị hà khắc tàn nhẫn của triều Nguyên, toàn thể người dân Trung Hoa đều phẫn uất. Sở dĩ triều Nguyên tồn tại được khá lâu, từ năm 1206 cho đến 1341 mới diệt vong là vì qua một thời gian hủ bại của các triều đình nhà Tống, hầu như không có nhân tài nào xuất hiện lãnh đạo. Nếu có chăng, thí dụ như Nhạc Phi thì cũng đã bị bọn gian thần diệt trừ bằng hết rồi. Thế nhưng bất cứ hoàn cảnh nào, dồn người vào con đường quá phẫn uất thì trước sau cũng nổ ra các cuộc khởi nghĩa chống đối. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên mang màu sắc tôn giáo, bắt nguồn từ Minh giáo mà cầm đầu là vị Tiểu Minh vương. Thời thế đã đổi thay, lập tức các cuộc khởi nghĩa nông dân khác cũng lớn mạnh, đáng kể nhất là lực lượng của quân quàng khăn đỏ (Hồng cân) và của Hàn Sơn Đồng, Lưu Phúc Thông ở Dĩnh châu; của Từ Huy Thọ ở Ký châu rồi đến Lý Nhi, Bành Đại, Triệu Quân ở Từ châu; Quách Tử Hưng, Tôn Đức Nhai ở Hào châu; sau này lại có lực lượng của Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành vô cùng hùng mạnh.
Với những cuộc nổi dậy liên tiếp ấy, quân đội triều Nguyên không thể nào đánh dẹp được hết, dần dần yếu thế và để mặc cho các anh hùng Trung Hoa tung hoành chiến địa. Lúc ấy nổi lên một danh tướng tên là Chu Nguyên Chương. Đầu tiên Chu Nguyên Chương gia nhập hàng ngũ của Quách Tử Nhưng sau nhiều năm thì xảy ra bất đồng chính kiến. Do vậy Chu Nguyên Chương tách ra thành một lực lượng riêng, đóng quân ở Hào châu.
Nhờ vào thời niên thiếu cực khổ gian nan nhưng Chu Nguyên Chương đối đãi rất nghĩa khí nên khi nắm quân khởi nghĩa rồi, có rất nhiều bạn bè ở Hào châu đến xin gia nhập, sau này đều trở thành những công thần danh tướng của họ Chu. Dưới tay Chu Nguyên Chương có những người như Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, Quách Anh, Ngô Lăng, v.v...
Họ Chu là người có hoài cao xa, nhận thấy không những cần đến quân tướng mà còn rất cần những Nho gia học sĩ, mưu sĩ làm nòng cốt cho mình nên mời hai anh em họ Phùng là Phùng Quốc Dụng và Phùng Quốc Thắng ra phò giúp. Nghe lời hai anh em họ Phùng, Chu Nguyên Chương tiến chiếm Kim Lăng để làm căn cứ địa. Sau này họ Chu còn được một danh sĩ nhiều tài năng là Lý Thiện Trường đến xin cùng giúp sức, thanh thế bắt đầu lớn mạnh.
Trong số những bạn bè đất Bái đi theo Chu Nguyên Chương ngay từ khi khởi nghĩa, đáng kể nhất là Từ Đạt. Ông không những là viên tướng soái bách chiến bách thắng, nhiều mưu lược mà còn là nguyên lão công thần của triều nhà Minh sau này.
Từ Đạt sinh năm 1332, tên tự là Thiên Đức, sinh trưởng ở Hào châu, xuất thân gia đình là nông dân thuộc tầng lớp thấp kém giống như Chu Nguyên Chương vậy. Ông là người có thân hình cao lớn, khỏe mạnh, tính tình rất kiên cường dũng cảm, được các trai tráng trong thôn kính nể. Ngay từ khi chưa gia nhập hàng ngũ của họ Chu, Từ Đạt đã nổi danh là người nghĩa dũng, tự tập họp trai tráng ở thôn Thái Bình thành một đội quân. Lúc Chu Nguyên Chương lấy tình đồng hương chiêu mộ quân sĩ thì Từ Đạt lập tức cùng với một số bạn bè đi theo ngay. Từ Đạt còn giúp Chu Nguyên Chương dễ dàng trong việc tuyển quân, giới thiệu những bạn bè trai tráng có chí khí. Vì rất nể trọng Từ Đạt nên rất nhiều xin theo họ Chu, chẳng bao lâu đã tụ họp được gần một ngàn người.
Khi ấy Chu Nguyên Chương đang nắm chức Trấn Phủ dưới cờ của Quách Tử Hưng, có chút quyền hành nên phong cho các bạn bè thân thiết ở Hào châu làm Đầu mục, trong số đó có Từ Đạt. Đã có trong tay quân tướng hùng hậu, Chu Nguyên Chương liền nghe theo lời của Lý Thiện Trường đánh chiếm Trừ châu rồi sau đó là Hòa châu. Trong những lần đánh chiếm này, Từ Đạt biểu lộ là người có tài năng, chiến đấu hết sức dũng cảm nên khi xong việc, Chu Nguyên Chương xin với Quách Tử Hưng phong cho ông làm Trấn Phủ, tức ngang bằng với mình trước kia.
Khi Quách Tử Hưng chết, em vợ của ông ta là Trương Thiên Hựu lên nối chức Nguyên soái nhưng thực ra Chu Nguyên Chương mới là người quan trọng nhất.
Năm 1355, Từ Đạt theo Chu Nguyên Chương vượt Trường Giang tiến đánh Hòa Châu. Dù tướng nhà Nguyên là Man Tử Hải Nha chống cự hết sức kiên cường nhưng vẫn không sao địch nổi hai danh tướng Thường Ngộ Xuân và Hồ Đại Hải. Thấy tình hình thuận lợi, Từ Đạt liền thúc giục Chu Nguyên Chương thừa cơ đánh chiếm thành Thái Bình. Thấy quân Nguyên rút chạy, Từ Đạt nhanh chóng chớp thời, xin với Chu Nguyên Chương dẫn binh đi mai phục ở vùng núi phía nam Thái Bình, đánh bại quân cứu viện do Trần Dã chỉ huy, bắt buộc chủ lực quân Nguyên phải rút chạy về Tập Khánh.
Sau khi chỉnh đốn lại binh mã, Từ Đạt tiếp tục tiến đánh Lật Dương, hình thành thế bao vây thành Tập Khánh vào giữa. Chu Nguyên Chương rất dễ dàng đánh chiếm Tập Khánh và đổi tên thành Ứng Thiên phủ, tức là ứng theo số mệnh của trời đất, quyết định lấy Ứng Thiên phủ để đóng quân.
Lúc ấy về phía đông Ứng Thiên phủ vẫn còn một tướng nhà Nguyên là Định Định trấn giữ, nếu như để lọt vào tay Trương Sĩ Thành thì rất nguy hiểm. Do vậy họ Chu giao trọng trách này cho Từ Đạt, phong làm Đại tướng quân. Đây là lần đầu tiên Từ Đạt nắm ấn tín Tướng soái. Ông mau chóng chiếm được Trấn Giang rồi đến Kim Đàn, Đơn Dương, công trạng rất lớn. Vì vậy một lần nữa Chu Nguyên Chương ưu ái phong cho Từ Đạt làm Thống quân Nguyên soái. Bắt đầu từ đây với quân tướng trong tay, Từ Đạt trở thành trụ cột không thể thiếu của Chu Nguyên Chương và có những chiến công hết sức lẫy lừng.
Thế nhưng Trương Sĩ Thành không chiếm được Trấn Giang thì liền cho thủy quân tấn công cố lấy lại. Từ Đạt dù ít quân hơn hẳn nhưng vẫn chỉ huy cầm cự kiên cường, đồng thời cấp tốc báo về Chu Nguyên Chương xin quân tiếp viện. Đã có lực lượng tương đồng, Từ Đạt liền bày trận thế, chia quân ra làm ba cánh liên hợp với nhau mà đánh. Riêng ông thì chỉ huy trung quân đánh trực diện. Với tài ba lỗi lạc cùng với tinh thần chiến đấu hừng hực, cuối cùng Từ Đạt lại lập công lớn, đánh bại quân của Trương Sĩ Thành, bắt sống được hai tướng của đối phương. Thừa thế, Từ Đạt cho quân tiến đến Thường châu.
Biết quân địch còn khá mạnh, Từ Đạt không vội tấn công mà cứ bao vây chặt chẽ, đồng thời phái quân đi đánh chặn các đường tiếp tế của đối phương. Chẳng bao lâu trong thành Thường châu hết lương thực, quân dân náo loạn, Từ Đạt liền xua quân tấn công dữ dội và chiếm được thành. Chu Nguyên Chương rất mừng vì chiến thắng này, đổi tên Thường châu lộ thành Thường Châu phủ và thiết lập Khu Mật Viện ở đó, cho Từ Đạt đứng đầu, còn tướng Thang Hòa giữ chức Khu Mật Viên Đồng Thiêm.
Cùng năm ấy, Từ Đạt theo Chu Nguyên Chương tiến đánh Ninh Quốc, bắt sống được em của Trương Sĩ Thành là Trương Sĩ Đức. Tuy nhiên lúc ấy vẫn còn một số quân nổi dậy có liên hệ với họ Chu, vì vậy Từ Đạt liên minh với quân của Thiệu Vinh đánh chiếm Nghi Hưng phủ. Thế là toàn bộ Ứng Thiên phủ đã không còn bị uy hiếp nữa. Tất cả những công trạng ấy đều có mặt của Từ Đạt.
Năm 1360, Từ Huy Thọ bị bộ tướng dưới quyền là Trần Hữu Lượng sai người giết chết. Theo “An Nam chí lược” của Lê Tắc, Trần Hữu Lượng là hậu duệ của Trần Ích Tắc, người Việt Nam, sinh sống ở Cái Dương, Hồ Bắc. Trần Hữu Lượng xuất thân đánh cá nhưng rất chịu khó học hành, thao luyện võ nghệ nên ngay từ thời niên thiếu đã nổi tiếng là đọc sách nhiều, nhớ dai, vì vậy đầu tiên được làm chức văn thư trong huyện. Một lần, vì bất hòa với cấp trên vốn là quan lại nhà Nguyên mà Lượng vẫn thường chê ngu dốt hơn mình, Lượng liền gia nhập vào quân Hồng Cân do Từ Thọ Huy cầm đầu.
Nhờ có võ nghệ cao cường, lại học hành đôi chút nên Trần Hữu Lượng chiến đấu rất mưu trí, nhiều lần lập được công trạng, dần dần thăng tới Lãnh binh nguyên soái, tự xưng là “Bình Chương”. Năm 1360, Trần Hữu Lượng bí mật sai người thân tín dùng trùy sắt đánh chết Từ Thọ Huy rồi lên ngôi hoàng đế ở Thái Thạch đặt quốc hiệu là Hán, đổi niên hiệu là Đại Nghĩa rồi sai người đi ước hẹn với Trương Sĩ Thành cùng đi đánh Chu Nguyên Chương ở Ứng Thiên.
Đây là trận chiến ác liệt và gay go bởi quân số bên địch đông hơn rất nhiều. Thế nhưng Chu Nguyên Chương rất tài tình, một mặt chống đỡ một mặt sai Từ Đạt đánh ngang hông chia cắt quân của Trần Hữu Lượng ra làm hai, không còn tiếp trợ cho nhau được nữa. Thật sự Trần Hữu Lượng dựa vào sức mạnh của thủy quân nên về đánh trên bộ thì rất yếu so với các cách dùng binh của Chu Nguyên Chương và nhất là của Từ Đạt.
Kết quả cuối cùng Trần Hữu Lượng đại bại, dùng thuyền chạy về Giang châu. Trong trận này Chu Nguyên Chương bắt được khá nhiều tù binh cùng với các chiến thuyền của Trần Hữu Lượng, thanh thế càng tăng cao. Lúc ấy Trương Sĩ Thành về đầu hàng triều Nguyên, được lệnh tấn công quân khởi nghĩa Hoàng cân do Lưu Phúc Thông nắm giữ. Vì trước kia có mối liên hệ với Hoàng cân và nếu để Lưu Phúc Thông thất bại thì Ứng Thiên phủ cũng bị hở sườn nên Chu Nguyên Chương quyết định đem 20 vạn quân trở về cứu Hồng Đô, có cả Từ Đạt theo.
Quân hai bên bày trận ở trên hồ Phiên Dương và sau đó xảy ra một cuộc chiến hết sức quyết hệt. Có thể nói đây là cuộc chiến quyết định sự tồn vong của cả hai bên nên mỗi bên có cách hành xử khác nhau. Quân Trần Hữu Lượng thì phao lên là có tới 60 vạn trong khi Chu Nguyên Chương chỉ có 20 vạn. về mặt chiến thuyền cũng có sự khác biệt, chiến thuyền của quân Trần Hữu Lượng to lớn hơn còn Chu Nguyên Chương chỉ có thuyền nhỏ. Như vậy về binh lực và trang bị, Trần Hữu Lượng đều chiếm ưu thế, ai cũng tưởng lần này họ Chu tất phải bại trận.
Thế nhưng, Chu Nguyên Chương cũng không phải tay vừa, một mặt ông sai Từ Đạt trở về Ứng Thiên phủ lo liệu việc đề phòng bị Trương Sĩ Thanh đánh úp, một mặt sử dụng hỏa công để đối phó với các chiến thuyền to lớn của Trần Hữu Lượng. Chu Nguyên Chương lợi dụng nhược điểm thuyền lớn của quân Hán khó xoay xở, sử dụng tính linh hoạt của thuyền nhỏ, chủ động tấn công trước và bắt chước Khổng Minh ngày trước, dùng hỏa công chặn đường sau của quân Trần Hữu Lượng. Trải qua 36 ngày ác chiến, quân họ Trần bị cắt đứt trên dưới, đành bỏ chạy tán loạn, Trần Hữu Lượng cũng bị trúng tên mà chết.
Thế là về mặt đối phó nội tình không còn phải lo lắng gì nữa, Trương Sĩ Thành không xứng tay đối thủ với ông ta. Vì vậy vào năm 1364, Chu Nguyên Chương tự xưng là Ngô vương, thiết lập triều đình đầy đủ ban bệ, phong cho Từ Đạt làm Tả Tướng quốc. Nếu tính từ khi bắt đầu gia nhập quân đội, tức là khi ông được 23 tuổi, chỉ mới 9 năm đã lên tới hàng đại quan nhất phẩm triều đình.
Thiết lập triều đình xong, lực lượng lớn mạnh nhất của Trần Hữu Lượng đã bị tiêu diệt, Chu Nguyên Chương chỉ còn lại cái gai là Trương Sĩ Thành. Lúc ấy Trương Sĩ Thành cố thủ ở phía nam Trường Giang, lúc thì phản lại lúc thì đầu hàng triều Nguyên, không có ý chí nhất định. Vì vậy Chu Nguyên Chương rất coi thường họ Trương, không thân chinh đi đánh mà sai Từ Đạt làm Đại tướng đem quân tiến đánh.
Với lối đánh thần tốc và dũng mãnh, Từ Đạt cho quân công kích dữ dội, nhanh chóng chiếm được Thái châu, bắt sống tướng Nghiêm Tái Hưng. Thừa thế, Từ Đạt chia quân làm hai đạo, một do Lưu Kiệt tiến đánh Hưng Hóa, một do mình chỉ huy tiến đánh Cao Bưu. Thế nhưng Chu Nguyên Chương sợ rằng Từ Đạt quá hăng hái sẽ đi sâu vào đất địch bất lợi, hạ chỉ gọi ông về. Thật sự là do Chu Nguyên Chương lo sợ Từ Đạt lập công lớn khó bề kềm chế mà thôi. Đây là dấu hiệu nghi ngờ công thần của họ Chu mà sau này gây ra nhiều tác hại, giết gần hết các công thần đã theo phò tá mình từ ngày mới khởi nghĩa, trong đó có cả Từ Đạt theo một giả thuyết khác với chính sử.
Lúc đó Trương Sĩ Thành thừa cơ đang tiến đánh Giang Nam nên khi Từ Đạt trở về không hề được nghỉ ngơi, lại phải cầm quân đi chống đỡ, đẩy lui được quân của Trương Sĩ Thành ra khỏi vùng Giang Nam. Đang lúc Từ Đạt định đánh Cao Bưu thì Chu Nguyên Chương triệu hồi về nhưng lại sai một tướng khác là Phùng Quốc Thắng đem quân tiến đánh. Điều này càng chứng tỏ tâm địa nghi ngờ công thần danh tướng của họ Chu đã bắt đầu lộ ra. Tiếc rằng Phùng Quốc Thắng mắc mưu của Du Đồng Thiêm, tổn thất khá nhiều quân sĩ, phải bỏ chạy về Ứng Thiên.
Lúc đó Chu Nguyên Chương mới quyết định sai Từ Đạt đem quân cùng với Phùng Quốc Thắng tiến đánh Cao Bưu. Ông chỉ cần một trận đã chiếm được thành và giết chết Du Đồng Thiêm, quả là không hổ danh Tướng soái trụ cột của triều Ngô.
Thừa thắng, Từ Đạt xin lệnh tiến đánh luôn Hoài An. Tướng giữ thành là Mai Tư Tổ vừa nghe quân của Từ Đạt thì đã hồn vía lên mây, lập tức mở thành đầu hàng. Từ Đạt không phải tốn tên quân nào cũng chiếm toàn bộ Hoài An và mấy châu quận liên thuộc. Sau đó Từ Đạt tiến chiếm luôn thành Hưng Hóa, toàn bộ đất Hoài Đông đã về tay triều Ngô mà tất cả chiến công đều là công sức của Từ Đạt. Hoài Đông bình định xong nhưng đối thủ Trương Sĩ Thành vẫn còn đóng quân ở Hồ châu. Nếu đưa quân đi xa mà không tính toán kỹ lưỡng thì rất dễ thất bại, do vậy một lần nữa Chu Nguyên Chương lại nhờ tới tài năng của Từ Đạt, phong làm Đại tướng rồi cho Thường Ngộ Xuân làm Phó tướng, kéo 20 vạn quân tiến thẳng tới Hồ châu.
Trước đó Từ Đạt đã nghiên cứu tình hình quân đội của đối phương, dùng kế sách chia cắt ra đánh từng phần một nên dù Trương Sĩ Thành đã tăng viện cho Hồ châu 6 vạn binh do hai tướng Châu Xiêm và Lữ Trân chỉ huy vẫn bị Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân đánh cho mấy trận thất điên bát đảo. Bất đắc dĩ Trương Sĩ Thành phải tự thân dẫn quân đi cứu nguy. Thế nhưng Từ Đạt đã đoán trước được việc này, cho quân mai phục ở một địa điểm nơi Chiết Giang, làm cho Trương Sĩ Thành phải bỏ chạy trở về. Sau đó luôn mấy lần Trương Sĩ Thành phái quân đi cứu viện nhưng lần nào cũng bị Từ Đạt đuổi chạy không còn manh giáp.
Quân của Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân đi đến đâu chiến thắng đến đó, nhiều thành bị phá nhưng cũng không ít thành vừa nghe thấy tên ông đã vội đầu hàng. Đó là các tướng Phan Nguyên Minh ởHàng châu, Lý Tư Trung ở Thiệu Hưng... hình thành thế bao vây Trương Sĩ Thành ở Bình Giang không còn đường nào thoát chạy. Nhận thấy thành Bình Giang rất kiên cố, Từ Đạt liền cho quân lấy đất đắp thành tường cao chung quanh thành giống như một bức tường thứ hai vậy. Từ bức tường này quân của Từ Đạt cố thủ bao vây chặt chẽ, ngày đêm bắn tên, gỗ, đá vào thành khiến Trương Sĩ Thành không còn biết cách nào chống đỡ.
Thế nhưng dù đã cạn kiệt lương thực, Trương Sĩ Thành nhất quyết tử chiến, cũng không chịu về đầu hàng. Biết rằng nếu đánh thành tất phải hao tổn quân số lớn, Từ Đạt bèn sai người về xin ý kiến của Chu Nguyên Chương và được nhà vua chấp thuận toàn quyền quyết định. Từ Đạt được toàn quyền liền hiệu triệu quân tướng ra sức đánh phá, tuy chưa thành công nhưng đã giết chết được người em của Trương Sĩ Thành là Trương Sĩ Tín. Nghe tin này Trương Sĩ Thành hết sức chán nản nhưng vẫn không chịu đầu hàng.
Từ Đạt không muốn quân sĩ chết nhiều nên cứ trì hoãn cuộc tấn công tổng lực, nay thấy Trương Sĩ Thành quá ngoan cố thì không dừng được nữa, ra lệnh cho toàn quân dốc sức tấn công. Quân của Từ Đạt rất tinh nhuệ, lại được một danh sĩ là Lưu Bá Ôn mới về phò tá cho họ Chu, chế tạo ra “vân thê” (thang làm bằng mây) nên từ bốn cửa thành trèo vào tấn công hết sức dữ dội. Kết quả là Trương Sĩ Thành nhìn thấy thành bị chiếm, bao nhiêu công lao từ lúc khởi nghĩa đến nay tiêu tan thành mây khói, đau lòng vào nhà riêng tự thắt cổ mà chết.
Thông thường thành nào quyết tử chiến đến khi bị đánh hạ sẽ bị trả thù tàn nhẫn, riêng Từ Đạt có lòng nhân từ, sai quân treo bảng trấn an và hạ lệnh nếu cướp phá tài sản người dân hoặc giết người đều bị xử trảm. Nhờ vậy gần 20 vạn dân quân trong thành Bình Giang đều được yên ổn, người người đều ca tụng.
Nhờ chiến công đánh hạ thành Bình Giang, Chu Nguyên Chương đích thân đến cửa Kích Môn đón chào, thăng Từ Đạt lên làm Tín Quốc công, còn Thường Ngộ Xuân được phong Ngạc Quốc công. Lúc đó chỉ còn lại lực lượng của Dương Quốc Trân ở Chiết Giang. Tuy nhiên đó là lực lượng khá yếu kém, không sao chống nổi với các danh tướng của triều Ngổ, chỉ trong vòng vài tháng đã bị tiêu diệt.
Đến đây mới là bước ngoặt quan trọng, đó là trực diện đối đầu với quân triều Nguyên ở các tỉnh phía bắc như Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, An Huy, Triết Giang. Để đối phó với quân chủ lực triều Nguyên, Chu Nguyên Chương cho phép các Đại tướng được toàn quyền quyết định, ứng xử tùy theo hoàn cảnh chiến trường không phải tâu báo về triều đình.
Sau đó vào năm 1367, Chu Nguyên Chương phong Từ Đạt làm “Chinh Lỗ Đại nguyên soái” cùng với Thường Ngộ Xuân dẫn 25 vạn quân tiến lên phía bắc. Từ Đạt mau chóng chiếm được Sơn Đông rồi từ đó làm bàn đạp tiến đánh Tương Dương, Nam Dương, Nghi châu. Chỉ trong năm ấy, quân của Từ Đạt đã tiến xa hơn kế hoạch, đến chân thành Tế Nam bao vây. Thấy thanh thế của quân Ngô quá hùng hậu, viên tướng trấn giữ thành là Đóa Nhi Chỉ mở cửa ra đầu hàng. Tiếp tục chiến dịch, trong vòng 3 tháng Từ Đạt đã tạm thời bình định toàn bộ vùng Sơn Đông.
Khi đã thấy tương đối đã mở rộng được non sông, Chu Nguyên Chương liền lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Minh vào năm 1368. Đã có triều đình tất phải có đại thần trụ cột và Lý Thiện Trường được phong Hữu Thừa tướng, kiêm Thái tử Thiếu sư; còn Từ Đạt được phong Tả Thừa tướng, kiêm Thái tử Thiếu phó. Danh vọng của ông gần như đã cao nhất không ai sánh kịp. Tất cả đều xuất phát từ tài năng dùng binh của ông quá siêu việt, hầu như chưa trận nào đại bại, giúp nhà Minh xây dựng sớm hơn dự tính rất nhiều.
Triều đình đã dựng xong, Chu Nguyên Chương tiếp tục cho quân tiêu diệt hết các đạo quân Nguyên còn đóng trong lãnh thổ Trung nguyên và cũng chính Từ Đạt được giao trọng trách này. Với khí thế mạnh mẽ và tài cầm quân của Từ Đạt, chẳng bao lâu quân Minh đã chiếm được toàn bộ Hà Nam, bắt đầu tiến sang Thiểm châu. Nơi đây có Đồng Quan ải rất nổi tiếng với sự xây dựng hết sức kiên cố, là cửa ngõ tiến vào Trung nguyên. Thế nhưng khi ấy danh tiếng của Từ Đạt đã trở thành nỗi kinh hoàng của quân Nguyên. Ngay khi ông tiến quân đến Đồng Quan thì hai hàng tướng nhà Nguyên là Lý Tư Tề và Trương Tư Đạo lập tức bỏ thành chạy trốn. Thế là quân Minh đã tạo được một vòng vây chung quanh Đại Đô, kinh thành của triều Nguyên. Chu Nguyên Chương quyết định thân hành đến Biện Kinh cùng các tướng bàn soạn kế sách, quyết một lần phải tiêu diệt được quân Nguyên ở Đại Đô. Do vì đây là chiến dịch hết sức quan trọng nên Chu Nguyên Chương rất phân vân. Riêng Từ Đạt thẳng thắn đưa ra ý kiến riêng. Ông cho rằng đang lúc quân Nguyên khiếp vía kinh hoàng thì nên dồn lực lượng đánh ngay và đánh thật dữ dội. Nếu để thời gian trôi qua, nỗi khiếp sợ ấy tan dần và triều Nguyên chấn chỉnh được quân mã thì sẽ rất khó đánh. Đó là kế sách “sét đánh không kịp bưng tai” nên Chu Nguyên Chương chấp nhận ngay.
Tuy nhiên trước khi xuất quân, Từ Đạt còn hỏi rõ Chu Nguyên Chương nếu quân Nguyên bỏ chạy sâu vào nội địa thì có nên truy kích đánh giết hay không? Đó là sự cẩn trọng của Từ Đạt và cũng là tiên đoán kết quả quân sự mà ông đã nắm chắc trong tay. Chu Nguyên Chương cho rằng quân Nguyên đã thiệt hại quá lớn mà quân mình cũng cần phải có thời gian chỉnh đốn nên không cho Từ Đạt truy kích.
Dù đã chắc thắng mười phần, Từ Đạt vẫn xuất quân rất thận trọng, từng bước đánh chiếm các thành trì xung yếu quanh Đại Đô. Nếu bỏ qua các thành này, có thể bọn chúng sẽ bất ngờ tập hậu sau lưng hay gây khó khăn cho các đoàn quân tiếp tế lương thảo. Từng bước một Từ Đạt cho quân theo Hoàng Hà tiến lên phía bắc, đánh chiếm Đức châu, Trường Lư, Trực Ngô rồi thẳng tiến đến Thông châu.
Những tin bất lợi liên tiếp bay về Đại Đô, cộng với tinh thần đã quá suy sụp, lập tức Nguyên Thuận đế thu xếp cùng với các phi tần lén lút bỏ chạy về Cư Dung quan. Đến đây Nguyên Thuận đế vẫn chưa cảm thấy yên tâm, tiếp tục chạy đến Khai Bình, sâu mãi trong Nội Mông. Khi thành lập triều Nguyên, không biết các Hoàng đế có cảm giác như trước sau gì cũng không thể giữ nổi Trung nguyên hay không mà lập ra hai kinh đô, một ở Đại Đô, một gọi là Thượng đô ở Khai Bình.
Từ Đạt chẳng tốn một mũi tên cũng đường hoàng tiến vào Đại Đô. Ông tiến quân quá nhanh nên cả triều đình bù nhìn do nhà Nguyên dựng lên đều không kịp chạy trốn. Từ Đạt lấy danh nghĩa là Thừa tướng triều Minh, ban bố khuyến dụ nếu ai thành khẩn đầu hàng thì sẽ tha chết, còn lại đều đem chém đầu làm gương, trong đó có cả Hoài vương và hai viên Tể tướng của triều Nguyên.
Nhờ chính sách giải quyết ôn hòa và nghiêm minh của Từ Đạt, hoàn toàn không có cảnh đại loạn xảy ra, người dân Đại Đô dù là Hoa hay Mông đều sinh hoạt bình thường. Nếu xét về mặt chính trị thì ông cũng rất xứng đáng là nhà cai trị tài ba.
Tin tức chiếm được Đại Đô bay về Ứng Thiên phủ làm cho toàn dân Trung nguyên nức lòng hởi dạ bởi đó chính là sự kiện đã chấm dứt hoàn toàn thời kỳ cai trị tàn khốc của quân Nguyên. Chu Nguyên Chương liền cho đổi tên Đại Đô thành Bắc Bình phủ, để người dân quên hẳn đi thời kỳ chiếm đóng của ngoại bang.
Tuy căn bản đã tiêu diệt được triều Nguyên nhưng vẫn còn khá nhiều đạo quân Nguyên đóng rải rác ở miền bắc. Theo cách hành quân của người Mông Cổ thì bất cứ đạo quân nào viễn chinh đều phải tự túc từ lương thực tới nước uống, thậm chí không có tiếp viện. Nếu chiếm được thành trì cũng vậy, do đó có thể giải thích được tại sao đi đến đâu quân Nguyên cũng cướp phá tài sản người dân đến đó.
Chiến dịch triệt phá toàn bộ quân Nguyên trên dải đất Trung nguyên là chiến dịch cuối cùng nên toàn quân Minh đều phấn khởi, tranh nhau đi đầu lập công. Lúc ởThái Nguyên vẫn còn đại binh của một tướng Nguyên là Vương Bảo Bảo trấn giữ. Vương Bảo Bảo là thân thích của hoàng gia, lại có nhiều chiến công nên rất tự kiêu, thấy quân Minh đã rút số lớn khỏi Bắc Bình thì liền lén tấn công Nhạn Môn quan.
Nghe tin này, thay vì mau chóng mang quân tiếp viện, Từ Đạt lại có suy nghĩ khác, nói với các tướng:
– Nhạn Môn quan là cửa ải trọng yếu, xây dựng vững chắc, lại có quân của ta liều chết chống giữ thì Vương Bảo Bảo không dễ gì chiếm nổi trong một thời gian ngắn. Nay hắn đã bỏ trống Thái Nguyên, chúng ta nên tập kích thẳng vào hậu phương của chúng. Đó là kế sách “vây Ngụy cứu Triệu” mà các danh tướng ngày xưa hay dùng. Nay chúng ta không những chiếm Thái Nguyên cứu Nhạn Môn quan mà còn dồn Vương Bảo Bảo vào con đường tiến không xong, lui không được.
Các tướng đều khen ngợi kế sách này thần diệu, quyết tâm đánh chiếm Thái Nguyên trong thời gian mau nhất. Nghe tin Thái Nguyên bị đánh dữ dội, Vương Bảo Bảo rất kinh sợ, vội vàng kéo quân trở về cứu nguy. Thế nhưng Từ Đạt đã cho quân mai phục sẵn, đánh tan đại quân của hắn vào lúc đêm khuya. Vương Bảo Bảo bị đánh bất ngờ đến nỗi không kịp trở tay, đành cùng mấy chục tùy tùng thân tín chạy trối chết về Đại Đồng. Còn lại hơn 4 vạn quân tướng nhà Nguyên đều xin đầu hàng. Chiến thắng này hết sức vang dội nên Vương Bảo Bảo ở Đại Đồng nghe tin càng thêm kinh sợ, lập tức bỏ chạy về Cam Túc.
Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân thừa thế xua quân vượt Hoàng Hà đánh chiếm các thành trì vùng Thiểm Tây. Cũng như bao lần chiến chinh trước, dù lần này Từ Đạt gặp một số khó khăn do sự phản bội của tên Trương Lương Thần nhưng cuối cùng vẫn đại thắng. Chiếm được toàn bộ Thiểm Tây tức là hầu như toàn bộ đất Trung nguyên đã về tay nhà Minh. Vì vậy Chu Nguyên Chương hết sức mừng rỡ, cho Từ Đạt rút quân về nghỉ ngơi và ban thưởng rất nhiều vàng bạc, gấm lụa.
Được một thời gian yên tĩnh, Từ Đạt lại phải lên đường xuất chinh khi tướng Nguyên Vương Bảo Bảo thu vét tàn quân tiến đánh Lan Châu. Trước khi xuất quân, Chu Nguyên Chương hội quần thần lại vạch rõ nguyên nhân tại sao quân Nguyên vẫn chưa tận diệt. Đó là vì Hoàng đế triều Nguyên vẫn còn ở vùng đất phía sau Cư Dung quan. Tiếp thu ý kiến này, Từ Đạt tự thân đem quân chống với Vương Bảo Bảo ở Lan châu, đồng thời sai Phó tướng Lý Văn Trung dẫn quân vượt Cư Dung quan đánh thẳng vào nơi triều Nguyên đang trú ẩn. Đây là chiến thuật rất hay bởi triều Nguyên không thể trở tay kịp mà nếu có thì cũng không thể tiếp viện cho Vương Bảo Bảo nổi.
Thế nhưng Vương Bảo Bảo không hổ là danh tướng trụ cột của triều Nguyên, chống cự với quân của Từ Đạt rất dữ dội. Đôi bên không phân được thắng bại, cứ đối mặt nhau ở Thẩm Nhi cốc. Có lúc quân Minh thắng trận nhưng cũng có lúc Vương Bảo Bảo thừa thế đánh úp, thắng được một trận. Nhân cơ hội này, Từ Đạt xuống lệnh chém đầu mấy bộ tướng đã lơ là sơ hở để cho quân Nguyên có thể đánh úp rồi lại nhân đó ban lệnh quyết chiến, bất cứ ai không theo quân lệnh tự ý rút lui đều bị xử chém.
Do vậy ngày hôm sau, quân Minh mở cuộc tiến công tổng lực, khí thế ngất trời, quân tướng đều hăng hái xung phong lên phía trước. Quân Nguyên không sao chống lại nổi, bỏ chạy tán loạn để mặc cho các đại quan triều Nguyên bị bắt sống. Quân Nguyên đầu hàng và bị bắt sống tổng cộng lên tới mấy vạn. Kết quả cuộc chiến này làm cho Vương Bảo Bảo suốt đời không còn phát triển được quân mã nữa, mối nguy hiểm đã bị triệt tiêu.
Riêng cánh quân do Phó tướng Lý Văn Trung may mắn hơn, vừa tới Ứng Xương thì đúng lúc triều đình nhà Nguyên xảy ra đại loạn. Nguyên Thuận đế băng hà, Thái tử lên nối ngôi vốn là người nhát sợ, nghe tin quân Minh đang tiến tới liền dẫn theo các phi tần, con cháu vương thất chạy sang Hòa Lâm. Vì số người quá đông, di chuyển chậm chạp nên Lý Văn Trung dễ dàng truy kích kịp, bắt sống toàn bộ lên đến mấy trăm người. Cùng với chiến thắng của Từ Đạt, không bao giờ triều Nguyên còn phục hồi được nữa.
Khi đoàn quân chiến thắng trở về, đích thân Chu Nguyên đến Lũng Giang đón chào, phong cho Từ Đạt tước Ngụy Quốc công, đặc ân cho phép không phải vào chầu thường xuyên như các quan lại khác. Đó là sự tín nhiệm tuyệt đối của vị Hoàng đế nổi tiếng hay nghi ngờ này.
Tuy nhiên để đề phòng quân Nguyên có thể vẫn còn quấy nhiễu, Chu Nguyên Chương cho Từ Đạt làm Trấn thủ Bắc Bình, ông liền ra sức chấn chỉnh quân mã, sửa sang thành lũy và rất chú trọng đến nông nghiệp. Đó cũng là đức tính căn bản của người nông dân, luôn luôn lấy đồng ruộng làm lẽ sống của quốc gia.
Chu Nguyên Chương lo xa rất đúng, đến năm Hồng Võ thứ 5, tức năm 1373, một lần nữa tàn quân triều Nguyên do Vương Bảo Bảo chỉ huy lại kéo sang quấy phá vùng biên cương phía bắc. Bọn chúng rút kinh nghiệm chia quân trải rộng ra khiến việc tiêu diệt phải rất vất vả. Từ Đạt thấy vậy cũng chia quân ra làm nhiều cánh nhưng chính vì vậy mà bị Vương Bảo Bảo kết hợp cùng với một tướng Nguyên khác là Gia Tông Triết tập hợp đại quân đánh bại. Vì Từ Đạt ít quân hơn nên tuy thua trận mà không bị Chu Nguyên Chương trách phạt.
Trận thua này một phần là do Chu Nguyên Chương và Từ Đạt quá khinh địch, mặc dù nhiều lần mưu sĩ Lưu Bá Ôn, thường gọi là Lưu Cơ đã khuyến cáo đừng xem thường hắn. Lưu Bá Ôn có thể nói là một “kỳ nhân” tài năng sánh ngang với Gia Cát Lượng thời Tam quốc, rất thông thạo Âm Dương Bát quái, kiêm cả Phong thủy chiêm bốc, đoán việc như thần. Thậm chí người ta còn thêu dệt Lưu Bá Ôn còn có thể “hô phong hoán vũ” như thần tiên, ông được Chu Nguyên Chương đích thân đến cầu hiền và sau đó kính trọng như bậc thầy. Chính Lưu Bá Ôn đã giúp kế sách cho Họ Chu đại thắng Trần Hữu Lượng, một đối thủ khó chịu nhất lúc còn ở Ứng Thiên phủ. Thế nhưng đến khi Chu Nguyên Chương đã lên ngôi Hoàng đế thì không còn chú ý đến hiền tài này nữa. Do vậy mới xảy ra việc xem thường Vương Bảo Bảo, dẫn đến thất bại.
Đúng với lời khen tặng của Lưu Bá Ôn, Vương Bảo Bảo hết sức trung thành với triều Nguyên, không chỉ một lần đó thôi mà sau này không ít lần chiêu mộ thêm quân tướng, kéo đi quấy phá các châu huyện biên giới. Mãi đến khi Vương Bảo Bảo chết vào năm 1375, mối đe dọa ấy mới thực sự hoàn toàn chấm dứt và triều Minh được yên tĩnh để lo về nội trị.
Đó là việc sau này, lúc Từ Đạt chưa tiêu diệt xong tàn quân nhà Nguyên ở Cư Dung quan thì Chu Nguyên Chương đã chính thức kiến lập nhà Minh vào năm 1369. Chu Nguyên Chương đích thân cùng với quần thần luận bàn công trạng của từng người, xong xuôi liền cho lập “Công thần miếu”, ghi rõ công lao xếp theo thứ tự ít hay nhiều và Từ Đạt được nêu đầu bảng với danh xưng “Đệ nhất khai quốc công thần”. Đây là sự ban phong xứng đáng bởi Từ Đạt không những đã phò giúp cho Minh Thái tổ ngay từ khi mới khởi nghĩa mà chắc chắn công lao không ai sánh bằng nổi, kể cả danh tướng Thường Ngộ Xuân. Nếu tính ra ông đã trải qua hàng ngàn trận đánh lớn nhỏ, không thua kém gì các danh tướng thời trước như Bạch Khởi, Vương Tiễn, Hàn Tín, v.v... Thường Ngộ Xuân (khi ấy đã chết vì bệnh) chỉ được Chu Nguyên Chương liệt vào hạng công thần thứ nhì bởi hầu hết các chiến thắng của Thường Ngộ Xuân đều dựa vào sự liều lĩnh, can đảm đến điên cuồng mà thành công, không thận trọng tính toán được như Từ Đạt.
Về mặt nhân văn, Thường Ngộ Xuân cũng rất hay lạm sát, giết địch quân và hàng binh không gớm tay trong khi Từ Đạt lấy nhân nghĩa làm chủ đạo, vì vậy ông không những được tướng sĩ, đồng liêu yêu mến mà cả đến người dân khắp nước cũng rất kính trọng. Mỗi khi quân đội của ông đi tới đâu, người dân vô cùng yên tâm, không hề bị cướp phá hay tổn thất thứ gì.
Ngoài Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân có công lao lớn nhất, các danh tướng đã theo ông từ thuở mới khởi nghĩa, gồm đến 28 người đều được phong Hầu và rất nhiều đất đai thực ấp. Những người này hình thành một tập đoàn thế lực được sử gọi là “Tập đoàn Hoài Tây”. Có lẽ chính Chu Nguyên Chương cũng muốn như thế để dựa vào đó mà không còn lo lắng bị đại thần phản trắc chiếm ngai vàng nữa. Thế nhưng cuộc đời không bao giờ tiên đoán được hết, Chu Nguyên Chương lo sợ người ngoài cướp ngôi Hoàng đế, không hề đề phòng con cháu và chính con trai của ông là Chu Lệ sau này lại là người cướp đoạt ngai vàng, xưng hiệu Minh Thành tổ.
Với công lao ấy, Từ Đạt được giữ chức Tả Thừa tướng, tước Quốc công và đi trấn nhậm một vùng đất trọng yếu Bắc Bình, tức Đại Đô ngày trước. Có thể nói, khi thành công rồi, Từ Đạt coi như đã là một ông vua nhỏ, toàn quyền sinh sát không phải tâu bày với Chu Nguyên Chương. Với quyền hạn rộng lớn ấy, Từ Đạt vẫn không hề kiêu ngạo hay ăn uống xa hoa phí phạm. Ông vốn xuất thân từ nông dân, đến khi lên tới địa vị “dưới một người mà trên vạn người” vẫn giữ cuộc sống giản dị liêm khiết như thuở nào.
Tính thành thât khiêm tốn của Từ Đat khiến người người đều muốn học hỏi nên ngay từ lúc còn làm Thừa tướng không ít người muốn kết giao để nhờ cậy, đến khi về hưu rồi vẫn rất nhiều người xin đến được nghe lời chỉ dạy kể cả những vị Thừa tướng đương thời như Hồ Duy Dung, quyền hành bao trùm cả triều đình. Riêng Chu Nguyên Chương luôn luôn đặt tin tưởng ởnơi ông, do vậy giả thuyết Chu Nguyên Chương bắt ông về kinh đô rồi ban thuốc độc giết chết hoàn toàn mâu thuẫn.
Người ta hay đổ tội cho Chu Nguyên Chương lạm sát, đến cả công thần đệ nhất là Từ Đạt cũng không buông tha nhưng thực tế cho thấy Chu Nguyên Chương quả giết người nhiều thật mà không bao giờ đề cập gì đến Từ Đạt.
Theo chính sử thì Từ Đạt chết ở Ứng Thiên phủ vào năm 1385 vì bệnh nặng. Thế nhưng lúc ấy ông mới được 54 tuổi, chắc chắn sức khỏe còn dồi dào, nên cái chết của ông trở thành nghi án. Khi Từ Đạt chết rồi, chính tay Chu Nguyên Chương viết văn bia cho Từ Đạt, truy phong làm Trung Sơn vương và ban cho con cháu 3 đời đều được kế thừa vương tước ấy. Những ân nghĩa này vẫn không đánh tan được nghi ngờ về cái chết của vị danh tướng công thần triều Minh. Người ta cho rằng Chu Nguyên Chương hiếu sát công thần đến mức thành cố tật, vì vậy khi đã giết hết các công thần thì chỉ còn mỗi mình Từ Đạt, cũng sẵn sàng xuống tay luôn nhưng khéo léo hơn.
Theo giả thuyết này thì khi Từ Đạt bị bệnh nặng ở Bắc Bình, Chu Nguyên Chương liền sai người đến đưa ông về Ứng Thiên phủ, gọi là tiện việc chăm sóc và có lương y giỏi chữa trị. Thế nhưng một lần kia Từ Đạt uống bát thuốc do danh y của Chu Nguyên Chương phái đến thì chỉ một lúc sau là chết. Một thuyết khác thì nói là Từ Đạt bị nhọt độc sau lưng, khi về đến Ứng Thiên phủ, Chu Nguyên Chương sai người đem đến cho ông một bát canh thịt ngỗng. Theo sách thuốc ngày trước, nếu người bị nhọt độc mà ăn canh thịt ngỗng sẽ bị bộc phát mà chết. Từ Đạt cũng biết điều này, rơi nước mắt mà ăn hết bát canh, sau quả nhiên qua đời.
Giả thuyết này có một điểm yếu là: Lúc đó Từ Đạt bệnh nặng sắp chết, Chu Nguyên Chương còn hạ độc thủ làm gì cho mang tiếng?
Nếu sắp xếp một cách khoa học, có lý luận thì Chu Nguyên Chương có thể giết bất cứ ai trừ Từ Đạt bởi những lý do sau:
– Từ Đạt là bạn chí thân của Chu Nguyên Chương, đã kề vai sát cánh trên các chiến địa. Họ đã quá hiểu nhau, không thể vì chút nghi ngờ nào đó mà xuống tay sát hại được.
– Từ Đạt làm quan được mọi người tôn trọng, chưa bao giờ xảy ra đố kỵ hay ghen ghét, vì vậy không có việc bị đại thần gièm pha vu cáo với Chu Nguyên Chương.
– Ông lại là hoàng thích, địa vị cao trọng sánh ngang với Hoàng đế thì còn tham vọng như thế nào nữa mà tới nỗi phải bị Chu Nguyên Chương trừ diệt? Từ Đạt có ba người con gái đều được gả cho con của Chu Nguyên Chương: người lớn nhất lấy Yên vương Chu Lệ và sau này được phong làm Hoàng hậu; một người là Phi tử của Đại vương Chu Quế; người cuối, cùng cũng là Phi tử của An vương Chu Doanh. Với thân phận như vậy, chắc chắn Từ Đạt không bao giờ có tâm ý muốn phản lại triều đình, chẳng lẽ Chu Nguyên Chương giết “cho vui”?
Con trai của Từ Đạt là Từ Huy Tổ kế thừa chức tước của cha, quyền cao chức trọng, nắm đại quyền trong tay. Nếu như Từ Huy Tổ khám phá ra việc phụ thân bị đầu độc thì sẽ nghĩ sao? Một người hiếu sát như Chu Nguyên Chương, sẵn sàng “giết lầm chứ không tha lầm” thì tại sao chỉ giết mỗi mình Từ Đạt? Không giết luôn Từ Huy Tổ để trừ tuyệt hậu họa?
Với những câu hỏi này, giả thuyết Chu Nguyên Chương hạ độc Từ Đạt hoàn toàn sai lầm. Như vậy Từ Đạt còn cao trọng hơn tất cả các Tướng soái trong lịch sử, lập không biết bao nhiêu công trạng tuyệt vời trong chiến trận mà sau cùng cũng được hưởng ơn mưa móc của Hoàng đế và chết trong sự mãn nguyện. Ông không thọ bằng những danh tướng khác là do nguyên nhân dầm sương dãi nắng suốt 35 năm, chắc chắn sức khỏe phải tổn thất nặng nề, khó có thể trường thọ như người ăn sung mặc sướng, đó là lẽ tất nhiên vậy.
Huyền Cơ
Theo https://vietnamthuquan.eu/

Mười hai tướng soái Trung Hoa 2 000000

Mười hai tướng soái Trung Hoa 2 7. VỆ THANH - GIỮ VỮNG BIÊN CƯƠNG Sau khi đánh bại Sở vương Hạng Võ, Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là ...