VĂN THƠ NHẠC
Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2026
Mai Liễu và Đêm nay con rửa mặt cho cha
Mai Liễu và Đêm nay con
Cha sống một đời với đồng đất vườn nhà, vườn rừng. Cha về với cõi vĩnh hằng cũng từ những thứ cây lá thân thuộc của quê hương. Rửa mặt cho cha, giây phút này, xin đất trời yên lặng: Lặng im đi kèn trống/ Lặng im đi tiếng khóc/ Vắt khăn mặt nước rơi lã chã/ Nước mắt con tuôn trào… Câu chữ dung dị nhưng tràn ngập cảm xúc. Người con không kìm được nước mắt. Lần đầu tiên trong đời con rửa mặt cho cha…
Ấn tượng và cảm nhận truyện ngắn của Phùng Phương Quý
Ấn tượng và cảm nhận truyện ngắn
của Phùng Phương Quý
Phùng Phương Quý là người biết kể một câu chuyện theo
cách mà người nghệ sĩ thường làm. Anh khao khát tạo ra được một thế giới nghệ
thuật riêng. Do vậy, anh luôn cố gắng vượt mình trong nhiều thể nghiệm táo bạo.
Cái tên Phùng Phương Quý thoạt nghe, tưởng như một người xa lạ
vừa lỡ nhịp lạc vào cõi văn. Thực ra, những truyện ngắn kí tên anh xuất hiện
khá đều trên Văn Nghệ, Văn Nghệ trẻ hay Tiền Phong chủ nhật… Anh đi nhiều,
trải đời nên viết khá sung sức. Phùng Phương Quý đã dâng tặng bạn yêu thơ mọi
miền tập “Huế xa” và “Mưa trên lá cọ” với tấm lòng tri kỉ, bè bạn. Anh đã từng
đặt chân tới địa hạt của kịch với tất cả niềm say mê được cầm bút. Song, có điều
với Phương Quý, hình như diễn biến của vở kịch chỉ thích hợp với cấu trúc giản
đơn về một câu chuyện phiếm, và người đọc, người xem chỉ tìm đến kịch vào những
lúc thật sự rỗi nhàn (không có việc gì làm). Điều thú vị và đáng quý ở chỗ:
Phương Quý ngày càng có đòi hỏi cao về nghề nghiệp, anh dám bỏ lại sau lưng
mình vở kịch “Hoa của ngày xưa” nhạt nhẽo như nước ốc. Vì anh biết đó không phải
là sở trường nặn đắp nên tính cách, gương mặt của anh. Người đọc ghi nhận sự
tìm đường, thử bút không mệt mỏi của tác giả, nhất là thống nhất khẳng định rằng:
Phương Quý thành công hơn cả ở thể loại truyện ngắn và bút ký. Anh đạt nhiều giải
thưởng về Văn học nghệ thuật. Một số tác phẩm của anh hiện diện trang trọng
trong các tuyển truyện ngắn hay.
Cái tên Phùng Phương Quý đã bắt đầu trở nên quen thuộc, gần
gũi với chúng ta. Phương Quý cũng như bất kì một nghệ sĩ đích thực nào, không
bao giờ chấp nhận bấu víu vào những khuôn mẫu nghệ thuật xơ cứng. Nhưng nghiêm
ngặt mà nói thì đó là hành trình bền bỉ lâu dài, đòi hỏi người nghệ sĩ từng
khoác áo lính ấy, phải dấn thân tìm tòi, mới mong tạo ra những giá trị mới, những
chuẩn mực mới.
Thế giới nhân vật trong miền truyện ngắn của Phương Quý đa dạng,
có nhiều nét đặc thù không dễ bị thay thế. Phương Quý thường quan tâm đến “con
người tha hương” phiêu bạt, bơ vơ trên đất khách quê người. Dưới ngòi bút của
tác giả, họ hiện ra không phải với niềm than thân trách phận như ta thường thấy,
mà với một bản lĩnh sống vững vàng, cứng cỏi.
Viết về con người tha hương, tác giả truy tìm câu trả lời: vì
sao con người có thể tồn tại,bám trụ được trên mảnh đất mà khó khăn chất chồng,
nguy hiểm luôn luôn rình rập. Vẫn biết, người trần thuật trong truyện Phương
Quý luôn cảm thông, ngợi ca những con người đã từng vào sinh ra tử, nâng niu
khát vọng hạnh phúc lứa đôi và trân trọng ước mơ giản dị về mái ấm gia đình.
Song, có lẽ ai đã từng đọc Phương Quý thì không thể quên những trăn trở, day dứt
giàu giá trị nhân văn của người kể về thế thái nhân tình. Truyện nào của Phương
Quý, cũng đúc kết những bài học thấm thía, chẳng hạn như: “sự đời nhiều lúc éo
le, làm người ta vô tình phụ bạc lẫn nhau”, “người ta thường khi phú quý rồi,
thì ngại tìm dĩ vãng”… (Đêm cù lao).
Ở truyện ngắn Tôi xin lỗi, Phương Quý khắc hoạ được một
kiểu con người tha hương khá độc đáo. Nhân vật tôi muốn cất lời xin lỗi những
chủ nhân đích thực của vùng đất miền Tây khi anh đặt chân đến đây để kiếm sống,
thấy mình có lỗi khi bỏ quê hương xứ sở, khi không bảo vệ được gia đình thân
yêu, không giúp gì được cho mối tình của người bạn gái thân thiết. “Tôi” thấy
có lỗi khi đứng trước một người con gái trắng trong, trước cái đẹp, anh muốn
xin lỗi cuộc đời vì anh không kịp cứu giúp đồng loại thoát khỏi cái chết. Đó là
lời xin lỗi cao cả, một mặc cảm rất đáng trọng chỉ có ở con con người cá nhân tự
ý thức. Xưa nay trong văn học thường thể hiện “mặc cảm Ơđip”, mặc cảm sống thừa,
mặc cảm bất tài, chứ hiếm có ai mang trong mình nhiều mặc cảm như nhân vật tôi
trong tác phẩm này. Có lẽ, chưa tác giả nào thể hiện con người tha hương với những
dằn vặt, mặc cảm đến như vậy. Con người mặc cảm trong Tôi xin lỗi của
Phương Quý đối lập hẳn với con người vô cảm, đốn mạt, con người lạnh lùng, tàn
nhẫn đang tồn tại như một nỗi đau nhức nhối trong văn xuôi hiện nay.
Truyện ngắn của Phương Quý luôn dành những không gian đặc biệt
để chở che, bênh vực và an ủi vỗ về những người phụ nữ bất hạnh. Họ lạc lõng,
bơ vơ ngay trong gia đình mình. Nỗi ám ảnh lớn nhất đối với nữ nhân vật của
Phương Quý là thiếu thốn tình cảm vợ chồng, thiếu người tri âm. Nhân vật nữ của
Phương Quý hầu hết đều có một tính cách ổn định: vừa đa tình, hiền hậu vừa táo
bạo, mạnh mẽ trong những ham muốn rất đời thường. Họ không bao giờ nguôi quên
trạng thái mình bị bỏ rơi trên một “xa mạc không người”. Họ muốn trốn chạy, muốn
tái tạo lại cuộc đời, nhưng không sao vượt nổi hoàn cảnh gò bó, thân phận lệ
thuộc của mình. Lẽ tồn tại duy nhất trọn vẹn đối với họ là tình yêu đích thực.
Nhưng họ lại luôn phải đối mặt, chung sống với những kẻ trọng tiền bạc, quyền
hành hơn cảm giác yêu thương, và ý thức vun đắp hạnh phúc. Bi kịch của các nhân
vật nữ trong truyện Phương Quý, vì vậy là bi kịch gia đình, bi kịch của sự muộn
màng lỡ dở. Tôi muốn nhắc đến truyện ngắn Góc trời đỏ những dấu son.
Phương Quý vốn là một cây bút tinh tế, thích đưa người đọc nhập
ngay thế giới nội tâm đầy bí ẩn, phức tạp của con người. Truyện của anh nhiều
hình ảnh ẩn dụ, tư tưởng được gói lại kín đáo. Không ít lần, Phương Quý gắn
truyện ngắn với dòng kí ức chập chờn, mờ ảo của con người. Hạnh phúc vẹn nguyên
đáng lẽ ra phải có, phải đến với con người chua chát thay, lại cứ nằm im lặng
khuất sau cuộc đời.
Phương Quý cũng đã quen rồi với kiểu vẽ mây nảy trăng, với
bút pháp tượng trưng hàm súc, anh không men theo lối viết ghi chép tư liệu, ghi
chép tư tưởng một cách ngây thơ, vụng về như ta thường thấy. Anh là một trong số
ít người, luôn tạo ra được những hình ảnh so sánh mới mẻ trải đều trong trang
văn của mình. Chẳng hạn để diễn tả tâm trạng khát khao vừa nồng đượm vừa như chới
với, bất định ở người thiếu phụ, Phương Quý so sánh với màu hoa gạo rực rỡ như
nắm than đỏ ném tung lên trời: “Chị lõm bõm giữa mộng mị đen kịt. Trong mơ
bỗng loé lên màu đỏ lửa của chùm hoa gạo”. Phải là một người hiểu tâm lí nhân vật,
gần gũi với nhân vật mới tả được những uẩn khúc riêng tư đầy bất trắc trong tâm
hồn người thiếu phụ tinh tế như thế. Cũng phải là người giàu trải nghiệm, mới
thấu hiểu tất cả sự mong manh, nhỏ bé của phận người một khi đã lạc vào miền đời
khô cằn, tối sẫm.
Phương Quý tả sự cô đơn, bế tắc và sự giam hãm sức xuân, tuổi
trẻ của con người khá xúc động: “Đêm lạnh, đặc quánh và im ắng. Tiếng kim
đồng hồ trên tường boong boong như tiếng búa trong phòng kín. Bóng ngôi nhà ba
tầng lèn chặt chị xuống mặt salon da dưới phòng khách”. Một kiếp lạnh không lối
thoát được diễn tả bằng những câu văn độc lập, dồn chứa sự căng thẳng ngột ngạt.
Tiếng lòng thổn thức rạo rực ở thiếu phụ bị ghìm giữ lại, rồi chuyển hoá thành
sự cảm nhận về một thời gian lạnh lùng, một không gian chật hẹp, nặng nề bủa
vây, nhấn chìm con người.
Viết về người phụ nữ, Phương Quý hay tạo dựng những tình huống
gặp gỡ bất ngờ. Tưởng như anh đã sắp xếp, xui khiến những con người lẻ bóng gặp
nhau. Có điều, sự gặp gỡ nào trong truyện của anh, cũng thuộc về những người đã
có chồng, có vợ. Nghĩa là sự gặp gỡ ấy được nâng cao ý nghĩa khái quát để trở
thành biểu tượng về ý thức muốn nổi loạn chống lại trật tự an bài của định mệnh
nghiệt ngã, của số phận trớ trêu, ngang trái. Nữ nhân vật của Phương Quý muôn vẻ
đẹp, ít khi đánh mất thiên tính nữ .
Một người phụ nữ đẹp theo Phương Quý không chỉ ở dáng hình,
phong thái, mà còn ở khát khao được làm tròn thiên chức cao cả của một người vợ,
khao khát được sống thực với lòng mình, với người mình yêu. Họ muốn được chở
che trong vòng tay yêu thương đằm thắm, muốn được ngả đầu vào một bờ vai tin cậy,
muốn giúp đỡ sẻ chia với bạn bè. Hằng trong Góc trời đỏ những dấu son cầu
ước có một đứa con nên phóng sinh ba chục con chim sẻ. Đứng nhìn đàn chim bay tự
do trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, chị thấy nỗi phiền muộn trong lòng
mình nguôi dần đi. Hằng thích nếp nhà ba gian lợp lá cọ, xinh xắn gọn gàng, ước
ao được dội lên mái tóc một gàu nước giếng đồi mát ngọt. Tính nữ ở
nhân vật Hằng còn là sự nhạy cảm và giọng nói dịu dàng tình tứ : Khi Thực dội
xuống mái tóc mềm mượt một gàu nước mát, Hằng liền cất tiếng cười dò hỏi : “Anh
Thực nhìn vào gáy Hằng phải không? Sao cô tài thế? Hằng thấy nong nóng như nắng
dọi vào mà”.
Huệ ở Mây rừng gió biển cũng luôn cuồng nhiệt, dữ dội
trong những đam mê bản năng đẹp đẽ. Đây là một truyện ngắn đa âm và giàu sắc
thái trữ tình, lời văn êm nhẹ, tràn đầy cảm giác lãng mạn. Mây rừng gió biển có
dáng vẻ một cuốn nhật kí tâm tình, tâm sự, các phát ngôn đều được diễn đạt bằng
thời hiện tại. Ở đó hầu như vắng bóng người kể ngôi thứ ba, nhân vật tự thể
nghiệm nhân sinh. Họ kể về mình, về những gì mình nếm trải chứng kiến như những
ảo vọng về hạnh phúc đích thực. Tác giả không có quyền năng đứng ra thuyết giải,
cắt nghĩa một cách khuôn sáo rằng: vì sao họ làm thế này hay thế khác. Những
nghịch luật,nghịch lí, trớ trêu ở đời, vì vậy vẫn cứ siêu thăng, bay bổng trong
một lôgíc nghệ thuật giàu sức thuyết phục. Trang văn của Phương Quý miêu tả dục
vọng bản năng, song không hề rơi vào lối viết dễ dãi, thô thiển, coi thường người
đọc.
Thiên tính nữ qua mĩ cảm của Phương Quý trở thành phẩm chất
ưu trội của nhiều nữ nhân vật. Đào và Tuất trong Mồ côi cũng là những
cô gái hồn hậu, thật thà. Đào giúp đỡ bạn chu đáo, nhưng không dấu nổi sự e thẹn
nữ tính khi nhìn Mão. Tuất chăm chỉ, đảm đang và dễ khóc. Một mặt cô “xấu hổ giấu
mặt sau lưng Đào”, nhưng dỗi hờn ngay, khi thấy Mão nhìn Đào trìu mến. Sáu
trong Tôi xin lỗi là một người con gái đáng yêu, “ánh mắt nụ cười
thân thiện đằm thắm”. Nhân vật nữ trong Nhân cách thì lại đi tìm “di
tích tình yêu” thời trẻ. Đó là một người thiếu phụ giàu lòng nhân ái và dễ xúc
động. Chị “chết lặng” khi biết cảnh ngộ lận đận, bi thương của người bạn cũ,
trông thấy đứa trẻ đang lê la đào đất giữa chiếc cổng xộc xệch bằng tre, chị chạnh
lòng nhớ tới câu ca dao tình nghĩa: “Con mình những trấu cùng tro… Ta đi múc nước
rửa cho con mình”. Thì ra, chị là một phụ nữ giàu lòng vị tha và có đức tính hi
sinh cao đẹp.
Phương Quý biểu dương những phẩm chất tốt đẹp của con người,
đồng thời thẳng thắn nêu lên việc làm hèn kém, đê tiện và những mưu tính sinh tồn
đến mức khiến con người “hoá Sói” mà không hay (Tôi xin lỗi, Nhân cách, Đồng
hành cùng Sói…).Truyện của Phương Quý thường có môtíp “ông quan” ăn tiêu xa xỉ,
coi thường luật pháp, tham ô, lỗ mãng. Ngòi bút tả việc, tả người của Phương
Quý đặc biệt sắc sảo trong những thiên truyện đậm tính chiến đấu, tình thời sự
như thế.
Công bằng mà nói, truyện của Phương Quý không hiếm những trí
thức nhiệt tình, tận tuỵ trong công việc (Nhân cách). Nhưng không ít trang
văn, tác giả tập trung bút lực phanh phui bộ mặt thật của một số cán bộ, trí thức
đã thoái hoá biến chất. Trong cảm niệm của người viết, họ chính là một tác nhân
gây nên bao cảnh đời bất hạnh. Nhiều tác phẩm Phương Quý miêu tả đời sống tình
cảm riêng tư. Song, ta vẫn nhận thấy cảm hứng xã hội, cảm hứng công dân thường
trực ở một cây bút đã trải nghề, trải đời khá lịch lãm.
Truyện ngắn của Phương Quý chặt chẽ, bởi vì tác giả thường tập
trung khám phá, đánh giá, miêu tả một tình huống nhân sinh đặc biệt với một cảm
niệm sâu sắc nào đó khá gần gũi với triết lí dân gian, triết lí sinh tồn. Dường
như tác giả muốn tạo một ảo giác thẩm mỹ: Câu chuyện anh kể là cốt lõi. Nhưng với
cách kết thúc mở tự nhiên và hợp lí, tác giả lại gợi ở người đọc cảm nhận: người
kể còn biết nhiều hơn những điều anh ta nói .
Truyện ngắn của Phương Quý thường trùng phức về tư tưởng. Đồng
hành cùng Sói một mặt miêu tả quá trình tìm biết sự thật, khám phá điều ẩn
giấu sau sự thành đạt, mặt khác lại thể hiện quá trình con người bị sói hoá, tha
hoá. Nhân vật Tôi trong Đồng hành cùng Sói vừa là nạn nhân, vừa là tội
nhân, vừa bằng lòng tiếp tay cho những liên minh đen tối, đáp ứng nhu cầu bản
năng của người đàn bà quyền chức vừa muốn thoát khỏi vũng bùn lầy. Sự sinh tồn
không hề êm phẳng, trái lại đầy những “cạm bẫy người” nghiệt ngã. Nhân
cách một mặt thể hiện cách ứng xử đầy bản lĩnh của con người trước đồng tiền,
quyền chức, mặt khác dự báo về những nguy hại tiềm ẩn trong thái độ thoả hiệp của
con người trước danh lợi . Đêm cù Lao mở ra lối ứng xử cao thượng,
nghĩa tình của con người, đồng thời thừa nhận sức mạnh của kẻ có quyền chức. Mây
rừng gió biển miêu tả cuộc tình luyến ái vụng trộm, nhưng cũng công khai
khẳng định có những giới hạn con người không nên vượt qua, không thể vượt qua…
Phương Quý không đuổi theo sự kiện, biến cố, nhiều khi tác giả
dừng lại khá lâu trước diễn biến nội tâm phức tạp của con người. Viết về chiến
tranh, nhà văn không dành nhiều trang miêu tả những tổn thất, hi sinh, mà
nghiêng về tìm kiếm những giá trị người đang được đặt bên lề, bên cạnh cuộc chiến
đấu ác liệt. Có lẽ vì vậy, hình ảnh người lính trong tình huống chiến tranh vừa
đẹp trong hành động dũng cảm, vừa khá đời thường khi bị những tình cảm riêng tư
níu giữ. Dẫu khó khăn gian khổ đến đâu, họ cũng không bao giờ để nguội tắt khát
vọng thành thực (Mưa ở cuối trời).
Đọc Phương Quý, ta có cảm giác: anh không bỏ qua một cơ hội
nào nhìn ngắm, bình phẩm vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ . Phương Quý có một
cái “form” chung khi miêu tả loại nhân vật này. Với anh người phụ nữ nào
cũng cười đẹp, mặt hoa da phấn, mái tóc thơm dịu, hơi thở nồng nàn, thân hình
toát lên sức sống rạo rực… Phải nói rằng, anh tả khá tinh “vẻ đẹp sơ ý” của người
phụ nữ và thể hiện tự nhiên xúc cảm của người được ngắm nhìn. Phương Quý cắt
nghĩa thực tại từ cái nhìn đời tư, hăm hở khám phá, chiếm lĩnh sự yêu đương nồng
nàn, bản năng được biểu hiện đa dạng ở từng nhân vật.
Phương Quý ưa kể, tả những khoảnh khắc ở đó con người bên
trong bộc lộ chân thật nhất, và hoàn cảnh sống của con người hiện ra trọn vẹn,
sâu sắc nhất. Đó là giây phút lão Chù được xem trò diễn dân gian và được nhận
quà trung thu của mấy đứa trẻ trong xóm (Trung thu cho người lớn), khoảnh khắc
nhân vật Tôi gặp gỡ cô dân quân Quảng Bình (Mưa ở cuối trời) hạnh phúc thì mong
manh, ngắn ngủi, hành động gấp gáp, vội vàng, nhưng tình yêu, sự hi sinh thì cứ
ám ảnh mãi. Đó là thời điểm con người bị bỏ đói, bị xa lánh, hắt hủi (Cây mít
già) hay khi con ngựa già nhà họ Lý bị đối xử “tệ bạc” phải đợi ngày chết mà vẫn
có nghĩa (Con ngựa bạch nhà họ Lý)…
Truyện ngắn Phương Quý nhiều chỗ gấp, nhiều góc khuất khó
đoán định. Nhiều tác phẩm trần thuật sự việc tưởng nhỏ vặt, song ý nghĩa tư tưởng
sâu sắc, thấm thía. Hầu hết truyện của Phương Quý đều phản ánh hay động chạm đến
vần đề: mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại; tiền bạc và nhân cách; sự sinh tồn
trong chiến tranh và thời bình; lối ứng xử của kẻ có chức quyền và dân thường;
nhớ ơn và bội nghĩa; giữa cách làm ăn nhỏ lẻ, tập quán cũ kĩ với yêu cầu đổi mới
cách làm ăn; ước muốn dự định đẹp đẽ và khả năng thực tế… Nhưng ở đa số
truyện ngắn Phương Quý, giọng điệu của người kể, nhẹ nhàng chậm rãi, văn mạch
dàn đều, ít có truyện gai góc, sắc nhọn như Đồng hành cùng Sói.
6/7/2020
Trần Thiện Khanh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Hermann Hesse: Hiền thánh Á Đông trong tấm áo Đức
Hermann Hesse: Hiền thánh
Á Đông trong tấm áo Đức
Với lối viết tài hoa, ngôn ngữ sáng tạo và độc đáo – có
khi độc đoán trong lối hành văn và sử dụng ngữ pháp, như nhận xét của vài nhà
phê bình văn học – Hermann Hesse đã thành công trong việc xây dựng các truyện cổ
tích và nâng cao vai trò của thể loại này trong công cuộc sáng tác văn chương
thành những tác phẩm văn học có giá trị.
Hermann Hesse sinh ngày 2.7.1877 tại Calw/Wuerttrmberg. Sau
khi theo học nhiều năm ở trường Cổ Ngữ ở Goeppingen, ông tham gia khóa giảng về
Thần học Tin lành vào năm 1891 ở tu viện Maulbronn và muốn trở thành nhà thần học.
Nhưng đến năm 1892, ông rời bỏ tu viện, làm nhiều nghề khác nhau. Trong lúc làm
nghề bán sách và sưu tầm Cổ thư, ông đã tìm kiếm rất nhiều tài liệu căn bản cho
công cuộc sáng tác văn chương của mình. Từ năm 1912, ông dừng lại tại Thụy Sĩ.
Năm 1919, ông sống cố định ở Montagnola cạnh hồ Lugan và mất năm 1962.
Iris và các truyện ngắn khác trong Huệ tím là
những truyện cổ tích viết theo lối mới của Hesse, xuất bản lần đầu tiên năm
1946 tại Thụy Sĩ trong tập truyện cổ tích mang tên Maerchen.
Lấy tên là truyện cổ tích hay có thể dịch là truyện
thần tiên, nhưng truyện cổ tích của Hesse không chỉ dành cho trẻ thơ mà
còn cho người lớn và cả người già, truyện thì nghe ra như “xưa” mà lại rất
“nay”. Trong cái bình cũ cổ tích, Hesse đổ vào chất rượu mới của thời đại, nồng
nàn men say tìm kiếm ý nghĩa đời sống thực sự cho thế hệ của con người Âu châu
thời bấy giờ, những con người khao khát cuộc sống tâm linh sâu sắc có thể hóa
giải mọi sự xung đột, mọi mâu thuẫn xã hội, để cho con người thật sự “thành nhân”.
Với cách sử dụng tài tình yếu tố cơ bản của truyện cổ tích trong mối tương quan
giữa người tiên và người phàm hay uy lực siêu hình và khả năng phàm tục, giữa mộng
và thực, giữa ước nguyện và cuộc sống thực tại, giữa khổ đau và hạnh phúc… Với
lối viết tài hoa, ngôn ngữ sáng tạo và độc đáo – có khi độc đoán trong lối hành
văn và sử dụng ngữ pháp, như nhận xét của vài nhà phê bình văn học – Hesse đã
thành công trong việc xây dựng các truyện cổ tích và nâng cao vai trò của thể
loại này trong công cuộc sáng tác văn chương thành những tác phẩm văn học có
giá trị.
Chất sáng tạo trong truyện của Hesse ở chỗ ông đã lấy những đề
tài hiện thực trong đời sống, đồng thời cũng là những vấn đề triết học, thi ca,
thời sự như việc chiêm ngưỡng một bông hoa đẹp trong Iris (Huệ tím), nỗi thường
tình trong tình yêu: Yêu người hay được người yêu (Augustus), hóa thân hay cõi
vĩnh hằng (Bích Thảo hóa thân), nghệ thuật thi ca (Thi nhân), thông điệp từ một
hành tinh xa… từ đó, với những yếu tố huyền thoại hay thần thoại (nàng Iris,
hóa thân của hoa huệ tím; ông già Binsswanger với hộp đồ chơi âm nhạc đã biến
điều ước về tình yêu thành sự thật, đã không chết sau khi uống ly rượu có độc,
cũng như ngọn lửa thần thoại với các thiên thần nhảy múa… Cũng thế, ánh sáng
cho trí tưởng tượng và mộng ảo tung hoành trong Bích Thảo hóa thân, tài biến
hóa sáng tạo trong từng phút giây, hoa biến thành bướm, thành chim, thành ngọc
quý; người biến thành cây, thành cá, thành voi, thành sông, thành sao trời… –
đây là điều thích thú nhất cho trẻ thơ và cả người lớn như trong một màn ảo thuật
– Nhà thơ gặp người tiên trong Thi nhân… Hesse xây dựng cốt truyện cho
nhân vật của mình với những tình tiết khi rất nên thơ, lúc rất sâu sắc về tâm
lý nhân vật, lúc hào hứng dí dỏm với những biến chuyển bất ngờ. Nhưng khác với
các truyện cổ tích truyền thống và truyện cổ tích nghệ thuật khác, các nhân vật
của Hesse không đi tìm kho tàng hay được lên ngôi vua, làm hoàng hậu, mà lại đuổi
theo một lí tưởng thoát tục, hay lên dường tìm chân lý. Lí tưởng này cuối cùng
có thể đạt được, nhưng không phải từ một thế lực bên ngoài mà do sự thể nghiệm
từ bên trong của mỗi nhân vật, một thứ hạnh phúc được thực hiện trên con đường
về nội tâm, một thứ giác ngộ về cuộc sống lấy ra từ những dấn thân thật sự vào
chính cuộc sống. Điểm đặc biệt lí thú trong các truyện này là cái đạt được ở
đây đều như những vòng Thiên rỗng không, cái “được nhưng không có gì được” vì
không có gì để mà sở đắc, nhưng lại là tất cả; một chất thơ, một ngôi sao đôi
trên bầu trời, tiếng hát trong hang thẳm, nguồn sống vô tận, cái “tôi” gặp Đại
ngã hay Thiên đường chan hòa của tình yêu, ở đây chân lí hừng sáng trong tim.
Chất mới trong truyện cổ tích của Hesse, như Winko phân tích,
lấy từ yếu tố văn hóa Á Đông mà Hesse tìm lại được như gặp gỡ một tri kỉ từ
ngàn xưa, như Hesse tự nhận: “Và rồi chuyện bất ngờ xảy đến cho tôi, kẻ mãi đến
lúc ấy chỉ biết về văn học Trung Hoa qua các tác phẩm dịch thơ Kinh thi của
Rueckert; qua các dịch phẩm của Richart Wihelm và của một vài người khác, tôi
được tri ngộ một điều mà nếu không điều này thì tôi không biết phải sống ra sao
nữa: đó là lí tưởng Lão Trang của các nhà hiền thánh. Bay qua hai nghìn rưỡi
năm, một niềm may mắn hạnh phúc đã đến với tôi, kẻ không biết một chữ Hán tự và
cũng không bao giờ đặt chân ở trên vùng đất Trung Hoa, đã tìm thấy trong văn
chương cổ Trung Hoa sự xác nhận linh cảm của chính mình, tìm lại được bầu không
khí và quê hương tinh thần, như không có một lần thứ hai trong đời ngoài bầu trời
sinh quán và tiếng mẹ.” (Hesse, Tổng tập, 12, tr.281, Suhrkamp xuất bản).
Thế nên thể chất Á Đông trong các truyện của Hesse không có
gì là gượng ép hay giả tạo, chúng đến từ một sự hòa nhập nội tâm. Khi đọc Thi
nhân, ngạc nhiên, thích thú của chúng ta là dưới ngọn bút của nhà văn người Đức
mà không khí của câu chuyện – chứ không riêng nội dung – có thể “Tàu” đến thế.
Hình như Hesse còn cảm nhận hơn chúng ta – những người Á Đông – đặc trưng của lối
nhìn Đông phương: không phải yếm thế, mặc cảm mà là lạc quan, cứu rỗi, như
nhiên. Sự hóa kiếp là một tiếng reo vui bất tử, một chiến thắng mọi lo âu già cỗi,
mỗi phút ngắm hoa là một lần chứng ngộ chân lí, mỗi phút yêu người quên mình là
mỗi hiện thực niết bàn hạnh phúc, và làm thơ là con đường vượt thời gian hay ngậm
thời gian cả quá khứ, hiện tại, vị lai vào trong chốn bất diệt.
Ấy thế mà Hesse vẫn là người Đức trong từng kẽ tóc chân tơ, một
người Đức nguyên thủy (urdeutsch). Có lẽ Đức hơn tất cả những người đồng thời với
tính nhạy cảm sâu thẳm về thân phận con người, với tâm hồn lãng mạn say mê
thiên nhiên và nghệ thuật, và với năng khiếu phân tích đào sâu cũng như hí lộng
phê bình nhưng rất trầm lặng và ngoan đạo. Trong suốt các tác phẩm của ông,
Hesse vẫn là người ái quốc nhưng không “ồn ào lố bịch”, Hesse vẫn ngoan đạo mà
không bao giờ “đàng điếm tâm hồn” như Walther Rathenau nhận xét. Trong Iris,
hoa được chọn là hoa huệ, một loài hoa được xem là hoa của phương Tây, đóa hoa
mộng tưởng trong vùng quê hương của Hesse, chứ không phải hoa sen; trong Bích
Thảo hóa thân, cái cây kì lạ trên Thiên đường là cây tri thức trong huyền thoại
kinh thánh Ki-tô, ông lão lùn kì dị trong Augustus là bóng dáng quen
thuộc của các truyện cổ tích Đức; trong Thi nhân thì không phải cốt
truyện mà là thi ca, ngôn ngữ Hesse vừa là phương tiện vừa là mục đích của người
đi tìm đường vào nghệ thuật. Ở đây, yếu tố Đông phương được sử dụng để đưa các
yếu tố thần thoại Tây phương khuôn sáo hay nhàm chán trở thành huyền thoại hơn,
tạo một không khí huyền hoặc thu hút say mê người đọc. Không bao giờ xem là một
món lạ rẻ rúng, Hesse trân trọng “cái khác” Đông phương và điều này làm cho tâm
hồn Tây phương của ông trở nên cao quý và mới mẻ, qua ngôn ngữ của ông, chân
tình người Đức riêng tư được bày tỏ thật sự không một chút vẽ vời giả tạo trong
khối tình chung.
Trong rất nhiều tác phẩm của Hesse, chất Á Đông – cái “khác”
đối cực với phương Tây – như đến từ một cõi xa xôi huyền thoại tựa một tiếng
chuông vui tìm thấy được lời giải đáp cho những băn khoăn thao thức của con người,
đến không phải như một giá trị vật chất hay một sự quý giá kiêu hãnh nào đấy,
mà đến như một thoáng gió tươi mát thổi qua nỗi nhàm chán cuộc sống trưởng giả
với những lí tưởng đã trở nên rỗng tuếch của thời đại, đến như một vòng mống trời,
và trong viễn ảnh hào quang của nó, Hesse vận dụng sức tưởng tượng và sự sáng tạo
ngôn ngữ phương Tây để lí hội và diễn tả nó đúng theo với bản chất thật sự của
nếp sống Đông phương.
Đọc Thi nhân, Iris, Bích Thảo hóa thân hay Sidharta,
độc giả Á Đông ngạc nhiên thích thú là mỗi tình tiết câu chuyện cho ta gặp tác
giả người Tây phương này như gặp một người bạn tâm giao, một người thấu rõ ngọn
nguồn ta nhưng vẫn giữ bản sắc riêng biệt của ông trong giọng nói, tiếng cười.
Chính văn phong sáng tạo, phong phú và sâu sắc, ngữ pháp linh động, súc tích vượt
ra mọi khuôn sáo để tạo nên yếu tố thành công trong thi ca của ông. Trong ngôn
ngữ của Hesse, những gì “huyền thoại tưởng tượng” lại là cụ thể, và những gì “nắm
giữ được” lại là “huyền thoại”, vị “ngọt bùi” là “niềm cay đắng”, “vị đắng cay
lại vẫn ngọt ngào” (Rudolf Hagelstange). Bút pháp sáng chói của Hesse có lẽ nằm
ở chỗ ông đã sử dụng tài tình điểm mạnh của ngôn ngữ Đức trong công cuộc sáng
tác của mình, một ngôn ngữ rất thích hợp cho sự phân tích đào sâu ý thức của
phương pháp phân tâm, cho sự diễn đạt những ý niệm trừu tượng, cho sự khám phá
những ngõ ngách riêng tư của tâm hồn, cho thế giới mộng ảo, cho nghệ thuật như
chính Hesse nhận xét:
“Tiếng Đức và ngôn ngữ nghệ thuật Đức có một tư thế riêng biệt.
Về sự súc tích từ ngữ cũng như quy luật văn phạm và các khả năng diễn đạt nghệ
thuật, nó xứng đáng được xem là một trong vài ngôn ngữ cao quý nhất của thế giới,
đã được các thi nhân và tư tưởng gia vĩ đại triển khai, phong phú và tinh vi
hóa. Nhưng nó không có hậu thuẫn của các giới yêu văn, phê bình gia, chuyên môn
gia hay người thưởng thức như tiếng Anh, tiếng Nga và các ngôn ngữ khác nằm
trong lĩnh vực ngôn ngữ Latinh, mà lại chỉ có một tầng lớp trí thức ít ỏi… Người
ta có thể trở thành bộ trưởng, giáo sư hay văn sĩ trong các nước nói tiếng Đức
mà không cần phải là người Đức, có nghĩa là không cần có một tương quan thực sự,
hồn nhiên, vui tươi và tự tin với chính tiếng nói này.” (Hesse, Tổng tập, 11,
tr.287, nhà xuất bản Suhrkamp).
Khuyết điểm này Hesse đã tìm cách vượt qua bằng cách sáng tạo
một lối hành văn riêng tư, lắm lúc vượt qua ngoài quy luật ngữ pháp và ông đã
thành công.
Nhưng thành công của Hesse lại là cái khổ cho người dịch tác
phẩm của ông nói riêng ngoài cái khổ “dịch thuật” nói chung, nhất là từ một tiếng
phương Tây sang tiếng Việt. Hesse cũng đã nhận xét dí dỏm về việc dịch thuật
như sau: “Đặc trưng của một bài thơ vần thường bị đánh mất trong bản dịch, ngay
cả khi được dịch đúng nhất; trường hợp may mắn nhất là từ bản chính nảy sinh ra
một bài mới chỉ còn dính dáng ít nhiều với không khí của bài thơ gốc.” (Hesse,
Tổng tập, 11, tr. 332, nhà xuất bản Suhrkamp).
Ý thức về những khó khăn nói trên trong việc dịch tác phẩm từ
tiếng Đức sang tiếng Việt, người dịch cố gắng trung thực trong việc chuyển đạt
ngôn ngữ, mặc dù lắm lúc câu văn rất “Tây”, với dụng ý để người đọc va chạm với
những uẩn khúc của một thuật ngữ có tính phân tích của ngôn ngữ Đức, điểm khác
biệt rõ rệt so với tiếng Việt Nam. Có thể nói tiếng Đức là tiếng nói của lí trí
phân tích, trong khi tiếng Việt nghiêng về cảm tính trực giác, trong các đoạn
diễn tả đường vào nội tâm của các nhân vật Anselm và Augustus, Hesse đã sử dụng
tinh vi đặc điểm khúc chiết của tiếng Đức, dịch sang tiếng Việt lắm lúc dài
dòng nhưng cần thiết cho độc giả cảm nhận được lối suy nghĩ phương Tây. Khi dịch Thi
nhân, các thuật ngữ Á Đông lại được sử dụng theo đúng tinh thần Đông phương
trong cách xưng hô theo với tuổi tác và cấp bậc trong gia đình, trong xã hội, một
điểm khác nữa không có trông ngôn ngữ Đức.
Khác với những truyện khác, với Bích Thảo hóa thân,
Hesse đã sử dụng ngôn ngữ Đức như một cuộc đùa bỡn chữ nghĩa tùy theo nguồn suối
cảm hứng của con tim. Ngôn từ mọc lên muôn màu muôn vẻ như cỏ cây vạn vật, mặc
cho làn sóng tưởng tượng xô đẩy thành câu văn. Ngôn ngữ thoát xác thành tiên,
thành người, thành cây, thành chim, ngọc pha lê, là ảo thuật, là sự thật, là
“đùa vui”, thật sự “khoái cảm” văn chương, như Thomas Mann đã nhận định.
Trong Bích Thảo hóa thân, lắm chỗ câu văn đang là văn xuôi bỗng biến thành
văn vần (ví dụ: Das Glueck ist uebrall, Im Berg und Tall, in Blumen und
Kristall: Hạnh phúc ở khắp mọi nơi, trên núi dưới đồi, trong hoa đua nở, trong
ngọc sáng ngời) như con chim muôn màu đang chim bỗng thành hoa, đang hoa bỗng
thành bướm, đang bướm thành ngọc… Văn phong với óc tưởng tượng như bóng với
hình, phơi phới vô cùng vô tận. Hesse đã để ngôn ngữ tuôn chảy theo nguồn suối
trực giác và tưởng tượng một cách tự do.
Và chính ở điểm này, truyện thần tiên của Hesse bỗng rất gần
với chúng ta, rất gần với cổ tích thần tiên Việt Nam. Tôi nhớ đến con chim
“vàng ảnh vàng anh” của cô Tấm, lông chim biến thành khóm măng, vỏ măng biến
thành cây thị để “bà hu thị thị, rớt bị bà già, bà về bà giữ chứ bà không ăn”,
hoặc những câu nói vu vơ thành vần của những chuyện ngẫu nhiên “bồng bồng cõng
chồng đi chơi, đi ngang vũng lội đánh rơi mất chồng”, “ăn trái khế trả cục
vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng”…
Tôi đã mạn phép dịch Bích Thảo hóa thân khỏi ràng
buộc quy luật sát chữ, sát nghĩa hầu bắt được nhịp rung cảm của cổ tích Việt
Nam.
Khi đọc và dịch truyện cổ tích Hesse, hơn một lần tôi gặp lại
tuổi thơ, trong căn nhà tranh tối mênh mông với ngọn đèn dầu, trong lòng bà nội,
vườn sau cửa sổ có thể trời đang mưa hay trăng đang sáng, cứ bắt bà kể chuyện
hoài… vào sâu giấc ngủ… phải chăng để mơ thấy “Tướng Mây1” gặp “Hồng Mông2”,
“ở vào chốn không vang, đi vào chỗ không phương”, “để chơi bên miền không mối,
ra vào không bờ cõi”, nghe “ngược” phương Tây hỏi thầy tường đông3, nẻo về gặp
Bụt Việt Nam nhân từ…
Chú thích:
[1] Tượng trưng cho trí thông minh (tìm hiểu trong Trang
Tử: Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Hiếu Lê, NXB Văn Hóa, 1994, chương XI.4,
“Tại hựu”, trang 260).
[2] Có nghĩa là cái màn lớn, ý nói nguyên khí tự nhiên (Trang
Tử: Nam Hoa Kinh, sđd)
[3] Đồng Quách Tử, một người theo Đạo Lão, ở thành ngoài
phía Đông nên gọi như vậy, cũng có tên là Thuận Tử. (Theo Tia Sáng).
7/7/2020
Thái Kim Lan
Theo https://vanhocsaigon.com/
Nhận diện một giọng thơ qua tác phẩm "Biên bản thặng dư" của Phùng Hiệu
Nhận diện một giọng thơ qua
tác phẩm "Biên bản thặng dư"
của
Phùng Hiệu
Đành rằng nghệ thuật dụng ngôn là thứ chẳng thể thiếu vắng
trong thơ, nhưng “Biên bản thặng dư” đã chỉ ra cho mọi người thấy một điều rằng
trái tim và sự sẻ chia của người với người mới là thứ trân quý nhất…
Tập thơ “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu gồm 41 bài, do Nxb
Hội Nhà văn ấn hành năm 2019. Trước và sau khi tác phẩm được Hội Nhà văn TPHCM
trao tặng thưởng, đã có khá nhiều bài viết về tập thơ này, đáng kể nhất là các
bài “Sự thật của nhà thơ”của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, và “Phùng Hiệu – Niềm
riêng rét cong từng ngọn lửa tàn” của nhà thơ – nhà phê bình Lê Thiếu Nhơn, và
những bài khác.
Nguyễn Quang Thiều cho rằng “Mọi sự thật diễn ra trên thế
gian này là sự thật dành cho thơ ca, nuôi dưỡng thi ca và xác lập tư cách nhà
thơ. Nhưng sự thật lớn hơn thế là sự thật trong trái tim nhà thơ trước đồng loại.
Và nhà thơ Phùng Hiệu đã mở ra sự thật ấy”. Lê Thiếu Nhơn thì bày tỏ “Thơ có
nhiều cách để dự phần và để tồn tại. Dắt thơ lặn lội qua tăm tối cõi người, để
thơ được bật sáng, cũng là một cách thú vị. Và Phùng Hiệu đã chọn lựa cách ấy,
để bày tỏ sự thao thức của nhà thơ!” Thiết nghĩ, xác quyết của hai nhà thơ “có
máu mặt” trong làng văn đương đại về tác phẩm “Biên bản thặng dư” như vậy là đã
đủ đầy, trong bài viết này, tôi chỉ thêm một chút, gọi là rau dưa mà thôi.
Thành thật mà nói với nhau rằng hiện tại văn chương nói chung
và thơ nói riêng đang mất giá trong lòng bạn đọc. Vẻ như xã hội vật chất càng
tiện nghi bao nhiêu thì đời sống tinh thần càng hoang vu bấy nhiêu. Có lẽ chẳng
phải ở ta, mà trên thế giới cũng vậy. Lối sống coi cá nhân là trung tâm vũ trụ
đã khiến người ta ích kỷ, nhỏ mọn, văn chương chữ nghĩa trở nên phù phiếm. Sự đồng
cảm, sẻ chia về thân phận con người vắng bóng trong thơ. Hơn nữa lại có quá nhiều
phương tiện cho người ta giải trí. Vẻ như sách in ra chỉ để tặng, chứ chẳng bán
được bởi chẳng ai mua. Thậm chí sách được tặng cũng chẳng đọc. Mạo muội tôi
nghĩ lười đọc nhất là các nhà văn. Hình ảnh người viết bật màn hình điện thoại
đọc thơ do mình sáng tác đã trở nên hết sức gần gũi thân thuộc. Người sinh ra
chúng còn chẳng nhớ, trách sao bạn đọc thờ ơ với thơ của chúng mình. Trong một
bối cảnh như vậy, Phùng Hiệu đã tìm ra cho mình một lối đi riêng. Hiệu không sa
đà vào những tình cảm sướt mướt ủy mị mà hướng ngòi bút vào giới cần lao. Tôi
cho rằng chưa có tập thơ nào mà những mảnh đời bình dị xuất hiện dày đặc như
trong “Biên bản thặng dư”. Trong một khoảng thời gian đủ dài, những cuộc đời ấy
gần như vắng bóng trong thơ. Đó là chị thợ may, người bán vé số, cô gái bán
hoa, người quét rác, người lao động trên công trường, người đàn bà góa ở công
ty cao su, người lượm ve chai, chị công nhân quét rác… Cái chất thơ-phóng sự cứ
bàng bạc trải theo con chữ: Kẽ hở bình minh, Nghịch lý viên gạch, Giấc mơ
hiện thực, Sự giao cảm của tưởng thức, Quy hoạch tự do, Em vẫn lớn lên, Ném đá,
Phía sau bức tường giải tỏa, Biên bản thặng dư, Sự mất tích của người công
nhân, Sa thải một giấc mơ, Phía sau ánh đèn lừa dối… Phùng Hiệu không gào thét,
cũng chẳng điệu đàng, vẻ như thấy sao viết vậy, nghĩ sao viết vậy, nhưng rốt lại
chính cái lối viết chẳng màu mè ấy lại tạo cho “Biên bản thặng dư” cái duyên
riêng, chẳng lẫn vào thơ người khác. Cái duyên ấy, tôi nghĩ chính là ở sự sẻ
chia một cách rất tự nhiên, rất tự thân, giữa người với người. “Trong khu
rừng già cỗi cơn đau/những tán lá cao su ngủ quên trên mái nhà tạm bợ/nơi vách
tường bằng đất/ rét cong từng ngọn lửa tàn” (Tiếng nấc trong khu rừng cao su);
“Đêm giao thừa khói bếp lạnh như đông/nhìn lũ trẻ mơ về nhau chiếc áo/nơi chái
bếp xuân về dăm ký gạo/với dưa cà cơm mắm đợi mùa sang” (Tết của người công
nhân góa phụ); “Đêm giao thừa em hát khúc tha phương/giữa cuộc đời/chông gai/bí
mật!” (Sau lưng tiếng kẻng công trường); “Bỗng một hôm/em nhận ra mình đứng nơi
góc phố/cung đường ngã giá về đêm” (Phía sau ánh đèn lừa dối). Thiết nghĩ
một khi thơ được viết bằng trái tim, lời lẽ có thể thế này thế kia nhưng luôn
khiến ta xúc động.
Tình thương mến và sự sẻ chia của người với người là chủ đạo
trong tác phẩm của Phùng Hiệu, nhưng “Biên bản thặng dư” không chỉ có vậy. Ở một
số bài, tính luận đề về cái hậu ngôn từ, về cái thiện, cái ác, tình yêu quê
hương, được khắc họa khá sinh động trong thơ Phùng Hiệu: “Những con chữ nhảy
múa trên cánh đồng ngôn ngữ/cho cảm xúc tuôn, cho lãng mạn trào/ta mới biết cuộc
đời còn có tình yêu và câu thơ sót lại” (Nhấp phím); “…Đừng hỏi tại sao/có những
vần thơ được rót từ đáy cốc/khi nhìn vào chiếc ly/tôi thấy cả sông ngòi và đại
dương trong đó/chảy miên man hình tượng ngôn từ…chợt một ngày tôi nhận ra tôi/từng
lang thang dưới bầu trời chữ nghĩa/tôi nghe được tiếng hát của mưa/tiếng cười của
nắng/tiếng nói của cỏ cây/tiếng rên của mây/tiếng buồn của đất/tiếng núi đồi
hoa cỏ yêu nhau!/tôi nghĩ thế giới này có thể sẽ mất đi/nhưng còn lại vần thơ
nhân cách” (Ngôn ngữ lên ngôi). Những vần thơ này giống như tuyên ngôn về
thơ của Phùng Hiệu. Khi đọc mấy dòng này, tôi mường tượng ra chàng thi sĩ đang
tự lục vấn mình, rốt cuộc thì trên cánh đồng ngôn ngữ cái gì sẽ còn lại, và
chàng ta “à” lên sung sướng khi phát hiện ra thứ còn lại sau rốt ấy chính là “vần
thơ nhân cách”. Nói thế, tức là tác giả đã có hẳn một triết lý sống, một triết
lý sáng tạo, nó phải vì con người và cho con người. Tôi thích câu thơ kiểu “tiếng
núi đồi hoa cỏ yêu nhau” hơn là “vần thơ nhân cách”, bởi không chỉ mắt mà hầu
như mọi giác quan đều cảm nhận được cái sự hoa cỏ yêu này. Chúng ngả vào nhau,
rối vào với nhau, và tôn nhau lên. Tình yêu quê hương, niềm tin vào cuộc sống
và sự thiện lương của con người được Phùng Hiệu biểu đạt khá đẹp trong Sự
lãng mạn và cái ác, Em vẫn lớn lên, Dấu chân Bình Lộc, Biên bản chủ quyền, Di
nguyện. Đọc mấy bài thơ này thấy trong lòng lạc quan lắm. Tôi xin nói thêm một
chút về Di nguyện. Ngoài đời, được biết Phùng Hiệu đã hiến thân cho khoa học.
Trong thơ, Phùng Hiệu biểu đạt tâm tư tình cảm của hành động này bằng bài thơ
Di nguyện. “Nếu tôi chết xác thân này dâng hiến/đừng chôn tôi hoang phí một
nấm mồ/trong di ảnh khắc hai từ di nguyện/để linh hồn luôn hát khúc hư vô” (Di
nguyện). Trong cõi nhân sinh, hát khúc hư vô là hát “có mà không, không mà
có” (Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb VH-TT, 1988). Lời lẽ bài thơ giản dị, như một
khúc tâm tình, một lời nhắn nhủ. Đọc Di nguyện, thấy rõ Phùng Hiệu ở cuộc
đời thực và Phùng Hiệu trong thơ là một, rất xúc động, thấm thía.
Đành rằng nghệ thuật dụng ngôn là thứ chẳng thể thiếu vắng
trong thơ, nhưng “Biên bản thặng dư” đã chỉ ra cho mọi người thấy một điều rằng
trái tim và sự sẻ chia của người với người mới là thứ trân quý nhất. Khi sự đồng
cảm cất lên, thì chính là lúc người ta cảm thấy mình được an ủi nhất. Tôi nghĩ
Hội Nhà văn TPHCM đã rất công tâm khi tặng cho tác phẩm của Phùng Hiệu giải thưởng
thường niên của Hội, mở ra một lối nhìn, một lối cảm thụ thi ca mà có những khoảng
thời gian dường như bị quên lãng.
6/6/2019
Cao Chiến
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đi tìm thời gian đã mất
Đi tìm thời gian đã mất
GS-NGND Hà Minh Đức năm nay 85 tuổi. Đồng nghiệp dạy học
và văn chương đánh giá ông như một “người làm vườn vĩnh cửu”. Hơn 60 năm tuổi
nghề (dạy học, viết văn) ông đã xuất bản 75 tác phẩm gồm đủ các thể loại
(nghiên cứu, lý luận, phê bình, sáng tác). Lĩnh vực sáng tác đã làm nên một “hiện
tượng Hà Minh Đức” (gần 1/3 số tác phẩm thuộc về các thể loại sáng tác ký và
thơ). Nếu không nói quá thì đã có một “Văn sản Hà Minh Đức”. GS Hà Minh Đức
vinh sự nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, năm 2012.
Đi tìm thời gian đã mất…
Quả thực không quá khi nói đang có “hội chứng hồi ký” trong
văn hóa đọc của người Việt hôm nay. Độc giả nhiều khi hoang mang về sự thật được
viết ra trong những cuốn sách mà đọc xong thấy ngay thói thường “ta thì trong
người thì đục”. Thật may mắn nhiều người đã thoát ra được cái sự mắc mớ, rối
ren đó khi đọc xong Đi tìm cái đẹp trong nghệ thuật (hồi ký của Hà
Minh Đức, Nxb Văn học, 2020). Thiết nghĩ, cái nhan đề này nếu bỏ ghi chú thể loại
thì độc giả khi cầm sách sẽ nghĩ đây là một cuốn sách phê bình văn chương (vì
chúng ta đã quen với một định đề “nghệ thuật đi tìm cái đẹp trong đời sống, phê
bình đi tìm cái đẹp trong nghệ thuật”). “Đi tìm thời gian đã mất” (nương theo
ánh sáng của cái đẹp) chính là “cấu tứ” quan trọng của Đi tìm cái đẹp
trong nghệ thuật. Trên con đường thiên lý dài dằng dặc và khổ ải này, như hồi
ký tái hiện, có mấy “mốc” chính của một đời người: tự tin bước vào đời, hăm hở
vào nghề, bước lên đài vinh quang nghề nghiệp, cuối dặm đường xa đã ngả bóng
chiều. Chín chương của hồi ký (đánh dấu từ I đến IX) đã tái dựng những bước đi
hào hứng say mê nhưng đầy tự tin và thận trọng của một người quyết chí lập nghiệp.
Ai cũng có quá khứ, và không chỉ thế hệ tác giả mà cả thế hệ sinh những năm năm
mươi thế kỷ trước đều đói nghèo, lận đận, trầy trật phấn đấu trong một hoàn cảnh
đầy những thử thách khắc nghiệt. Nên chương I (Quê hương thời niên thiếu) đã
như là chỉ dấu cho chương II (Ra Hà Nội). Năm 1968, chiến tranh ác liệt,
thật nhiều cảnh ngộ và cảm xúc, bây giờ nhớ lại ứa cả nước mắt. Vì thế “Ra Hà Nội”
của Hà Minh Đức, cái thuở ban đầu Thủ đô ấy đã găm vào ký ức người viết, nó gây
liên tưởng cho người đọc có tâm cảm ra Hà Nội đi học đại học. Bây giờ vào đại học
là “chuyện thường ngày ở huyện”. Nhưng những ngày xa xôi ấy, là một sự kiện trọng
đại “Tôi đi Hà Nội vào buổi sáng ngày 20-10-1954” (lúc ấy tác giả 19 tuổi). Thời
bấy giờ đi bộ là chính. Sau mấy ngày vất vả rồi cũng đến Thủ đô. Bây giờ thí
sinh trúng tuyển đại học, đi từ Thanh Hóa ra Hà Nội chỉ mất 3 giờ đồng hồ trên
xe ô tô chất lượng cao. Sung sướng và tiện nghi đôi khi làm người ta quên đi ý
nghĩa của sự chinh phục hoàn cảnh. Anh thanh niên xứ Thanh có nguyện vọng thi
vào Đại học Sư phạm. Nhưng còn những một tháng rưỡi nữa trường mới mở cửa thi
tuyển. Về hay ở? Đang lúng túng thì gặp anh Chương Thâu, từ Nghệ An ra sớm hơn,
cho sáng kiến ở lại và tìm về vùng ngoại thành (Vĩnh Tuy) trú ngụ, vừa kiếm việc
làm thêm (viết báo nhì nhằng), vừa chờ thời cơ,… Rồi cũng đến ngày nhập trường.
Thôi khỏi phải nói nỗi hân hoan vui mừng của chàng tân sinh viên Hà Minh Đức
lúc đó. Đọc chương II xong tôi nghĩ, đây cũng là “nhập môn” để người trẻ bây giờ
biết rằng trước khi học chữ phải học sống. Chương III (Làm thầy), ghi lại cái
hăm hở của tuổi trẻ nhiệt huyết khi chọn nghề “làm thầy” cho cả cuộc đời mình.
Bây giờ trong cơ chế thị trường, đôi khi xã hội nhìn nghề dạy học qua lăng kính
lợi ích/lợi nhuận mà ít quan tâm tới ý nghĩa của nghề “trồng người”. Chàng
thanh niên xứ Thanh tốt nghiệp đại học tháng 7/1957 (chỉ có 2 năm mà vẫn giỏi
giang) và chính thức được giữ lại làm cán bộ giảng dạy của Trường từ tháng
9/1957. Vì sao lại chọn nghề “làm thầy”? Có lẽ nghề dạy học hợp với “tạng người”
của anh thanh niên xứ Thanh Hà Minh Đức – nghề này đòi hỏi sự nền nếp, kiên nhẫn,
phải có lửa để truyền lửa dẫu biết sẽ thanh bần về tiền tài, vật chất. Và quan
trọng hơn cả là phù hợp với niềm đam mê, sở thích cá nhân (được sống và làm những
việc mình yêu thích, khó lắm thay). Có một sự kiện (tình tiết) rất đáng quan
tâm: Khi vào nghề anh thanh niên xứ Thanh được thụ giáo một bậc túc nho, một học
giả, một nhân cách đặc biệt của xứ Nghệ – Giáo sư Đặng Thai Mai. Đó là hạnh
phúc của nhà giáo trẻ Hà Minh Đức. Không phải ai bước vào nghề cũng có may mắn
và thuận lợi như thế. Đó là vạn sử khởi đầu nan, đầu xuôi đuôi lọt. Dĩ nhiên nội
lực là quan trọng. Nhưng thử nghĩ xem nếu không có cú huých ban đầu này liệu ly
nước có tràn nếu thiếu giọt nước mát lành, quý giá đến như thế? Được Giáo sư Đặng
Thai Mai dìu dắt (tiếp sức, tiếp lửa) nên thầy giáo trẻ Hà Minh Đức sớm trưởng
thành. Năm 26 tuổi, Hà Minh Đức công bố tác phẩm nghiên cứu đầu tay Nam
Cao – Nhà văn hiện thực xuất sắc (Nxb Văn học, 1961). Đến nay, nhiều công
trình nghiên cứu về Nam Cao đã xuất bản, nhưng công trình của Hà Minh Đức vẫn
có giá trị, ý nghĩa mở đường.
Mốc thứ ba “vinh quang nghề nghiệp” đánh dấu những công thành
danh toại của Hà Minh Đức là từ những Năm 90 của thế kỷ trước (1990 đến năm
2000 ông làm Chủ nhiệm Khoa Báo chí, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau này là
Trường Đại học Khoa hoc xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội). Năm
1995 đến 2003, khi nhận thêm trách nhiệm Viện trưởng Viện Văn học (bây giờ thuộc
Viện Hàn Lâm Khoa hoc xã hội Việt Nam) thì uy tín chuyên môn của GS. Hà Minh Đức
đã toàn vẹn. Ông là một nhà khoa học, một nhà hoạt động xã hội trên lĩnh
vực văn hóa nghệ thuật. Các giải thưởng cao quý mà ông nhận được (cao nhất là
Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học & Công nghệ, năm 2010) đã xác nhận con
đường đi đến đài vinh quang của một trí thức xã hội chủ nghĩa. Những phần thưởng
cao quý mà ông nhận được hoàn toàn xứng đáng.
Mốc cuối “Đường xa đã ngả bóng về chiều”, thực sự ám gợi độc
giả khi đọc xong hồi ký Đi tìm cái đẹp trong nghệ thuật. Nghỉ làm việc ở
tuổi 70 (với học hàm Giáo sư), nhưng không ngưng nghỉ lao động trí tuệ, nghệ
thuật. Thử tính từ năm 70 tuổi (năm 2005) đến 85 tuổi (năm 2000), Hà Minh
Đức vẫn như con tằm nhả tơ, công bố 37 tác phẩm (gồm các thể loại nghiên cứu/
lý luận/ sáng tác), đúng bằng ½ tổng số tác phẩm của một đời dạy văn và viết
văn.
Văn hóa của văn chương…
Hiển nhiên văn hóa là chân đế, căn cốt, nền tảng của đời sống
xã hội, trong đó có văn chương. Thông thường, văn hóa thể hiện qua ba phạm trù
cơ bản: giá trị, bản sắc và ứng xử. Đọc Đi tìm cái đẹp trong nghệ
thuật người ta quan tâm tới phương diện “ứng xử”, xem đó như là nơi thể hiện
cốt cách, tài năng của tác giả. Trước hết, tôi chú tâm đến cách tác giả giải
quyết mối quan hệ “riêng – chung” của sự viết? Có hẳn chương VIII với tựa “Ngày
tháng của riêng mình”. Có thể nói đây là “góc riêng tư” đáng yêu nhất của bất kỳ
ai. Mỗi người có những nỗi niềm, khao khát, bí mật của riêng mình. Như thế mới
là con người đích thực. Tác giả có những nỗi buồn, đau riêng, có người biết nhiều,
có người biết ít, lại có người không biết. Nhưng điều quan trọng hơn cả là chủ
thể biết cách xoa dịu những nỗi đau đó. Tác giả cậy đến con chữ, đến văn thơ, ở
đó được tự do bộc lộ, gửi gắm, ký thác. Đọc thơ Hà Minh Đức (9 tập) thấy man
mác một nỗi buồn đẹp về tình đời, tình người. Đọc văn xuôi Hà Minh Đức thấy tác
giả là người tinh tế, bặt thiệp, chiêm nghiệm và từng trải. Cả văn cả thơ gợi
liên tưởng về sự thấu cảm, chia sẻ. Câu chữ thơ tuy giăng mắc nỗi buồn nhưng
không yếm thế, bi lụy. Câu chữ văn xuôi tuy sát sạt thực tế nhưng không bỗ bã,
buông tuồng, không ám chỉ. Văn có cái tinh chất đại khí, mã thượng. Tiếng Việt
được tác giả nắn nót lựa chọn, nâng niu cả trong văn nghiên cứu/ lý luận / phê
bình lẫn sáng tác.
Một khó khăn mà tác giả vượt qua được nhờ vào sự mẫn cảm, độ
lượng, hòa khí là khi viết về những con người, nhân vật đặc biệt như Trần Đức
Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường,… Có ai đó thiếu thiện chí cho rằng cách viết
của Hà Minh Đức trong Đi tìm cái đẹp trong nghệ thuật là “né”, nhẹ
hơn là “ôn hòa”, “bảo an”(!?). Nhưng không phải thế. Tâm thế “trăm năm trong
cõi người ta” chính là động hướng ngòi bút Hà Minh Đức khi viết về việc, về người
của quá vãng. Nếu trong nghiên cứu ngòi bút của GS hài hòa trí tuệ và tình cảm
thì trong sáng tác, ngòi bút của ông duy tình.
Nói văn hóa của văn chương còn ở khía cạnh khác khá quan trọng,
ở nỗ lực của tác giả nhằm bảo lưu ký ức của các thế hệ sáng tác văn chương.
Không nhiều người biết và chia sẻ lao động nghệ thuật âm thầm, bền bỉ và kiên
nhẫn của GS. Hà Minh Đức suốt hơn nửa thế kỷ chắt chiu tư liệu từ những tiếp
xúc nghề nghiệp với các nhà văn tài năng như Tố Hữu, Tô Hoài, Huy Cận, Chế Lan
Viên, Xuân Diệu, Anh Thơ, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi,… để tái tạo thành những
trang sách như những bảo tàng văn chương sống đáng quý cho các thế hệ độc giả: Tố
Hữu – Cách mạng và thơ, Huy Cận – Ngọn lửa thiêng không tắt, Tô Hoài
– Đời văn và tác phẩm, Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay về núi, Nữ sĩ Anh Thơ –
Mùa hoa đồng nội, Tế Hanh – Mãi mãi hoa niên, Xuân Diệu – Vây giữa tình yêu, Chế
Lan Viên – Người trồng hoa trên đá, Nguyễn Bính – Thi sĩ của đồng quê.
10/7/2020
Bùi Việt Thắng
Theo https://vanhocsaigon.com/
"Dòng sông cuộn chảy" và điều đọng lại sau chiến tranh
"Dòng sông cuộn chảy" và
điều đọng lại sau chiến tranh
Tôi bắt đầu đọc tập truyện ngắn Dòng sông cuộn
chảy (*) của Trần Thế Tuyển từ truyện ngắn in ở cuối sách được tác giả chọn
làm tên chung cho tập truyện. Vẫn là mô típ, là đề tài quen thuộc của các nhà
văn mặc áo lính thời hậu chiến: Khi người lính trở về.
Điều đọng lại sau câu chuyện của Dòng sông cuộn chảy là
những bi kịch mà cuộc đời người lính phải hứng chịu trong và sau chiến tranh.
Đó là sự hi sinh mất mát khi người đồng đội thân yêu bị thương nặng và chết
ngay trên tay mình; là khung cảnh gia đình vợ con hiu hắt nghèo khổ khi người
lính trở lại hậu phương; là một mối tình tay ba khó chấp nhận nhưng rất logic với
vợ của người động đội và đã để lại một hậu quả nặng nề vì thực hiện lời cặn
dặn trước khi nhắm mắt của bạn mình…
Đó là hoàn cảnh trớ trêu đậm mùi cay đắng của cuộc đời đã dồn
dập trút lên vai nhân vật người cha, người cựu chiến binh tên Kết trong câu
chuyện. Hoàn cảnh ấy của ông Kết nếu đem chia cho ba người bình thường khác thì
vẫn là quá nặng nề. Huống chi đây lại một mình ông gánh chịu. Một cái gánh quá
đỗi nặng nề cho cuộc đời một người lính trở về sau chiến tranh.
Tuy nhiên, với ngòi bút không cầu toàn của mình, tác giả Trần
Thế Tuyển đã như một người lính xông vào giông bão để mang lại cho cuộc đời của
nhân vật ông Kết một cái kết có hậu. Vợ con, gia đình, người thân chòm xóm đã
không chỉ tha thứ mà còn đồng cảm với những bi kịch cuộc tình, bi kịch cuộc đời
mà ông đã gây ra và hứng chịu.
Đó chính là tính nhân văn và lòng nhân ái toát lên từ ngòi
bút của Trần Thế Tuyển. Và đó cũng chính là mạch ngầm xuyên suốt trong mười
chín truyện ngắn của Dòng sông cuộn chảy.
Trần Thế Tuyển là một người lính đã đi qua chiến tranh. Và
cũng như tất cả những người lính khác, chiến tranh đã để lại một hội chứng nặng
nề trong anh với tư cách một nhà báo, nhà văn mặc áo lính, điều mà người ta gọi
chung là hội chứng chiến tranh.
Cái chung trong phong cách xây dựng nhân vật và cốt truyện của
truyện ngắn Trần Thế Tuyển là mỗi nhân vật của anh đều là một số phận bi kịch.
Họ rời cuộc chiến và trở về sau chiến tranh, họ phải vật lộn với mưu sinh để tồn
tại giữa cuộc đời đầy trớ trêu và cạm bẫy. Cứ tưởng như họ, những người cựu chiến
binh ấy sẽ buông bỏ, sẽ bị chìm nghỉm của những số phận cuộc đời bi thảm không
lối thoát nhưng rồi họ vẫn đứng lên được theo cách của mình. Đó là Khang
trong Lô cốt, một người lính trở về sau chiến tranh, tốt nghiệp đại học sư
phạm loại giỏi ra làm giáo viên cấp 3, anh luôn cố gắng vươn lên với tất cả
tính cách tốt đẹp của một người lính. Nhưng rồi áo cơm, đố kị, ghen ghét đã đẩy
anh vào thế trận của sự sụp đổ. Vợ bỏ nhà ra đi, con thơ nheo nhóc, sự thăng tiến
nghề nghiệp trở nên dang dở đến mức anh phải làm thêm nghề đạp xích lô để kiếm
sống. Đúng là cơm áo không đùa với lí tưởng. Cuối cùng thì người cựu chiến binh
Khang vẫn nhẫn nại đạp xích lô sau nhưng giờ lên lớp để nuôi con và nuôi những
giấc mơ đẹp, những trang sách dày vẫn mở trên bàn làm việc của anh.
Những nhân vật như ông Kết, như Khang có mặt trong hầu hết
các truyện ngắn của Trần Thế Tuyển trong Dòng sông cuộn chảy. Từ Cha con
người lính, Kỷ niệm về anh ấy, Hằng, Ngày và đêm, Tiếng vọng, Đêm vùng ven…
tất cả đều mang một âm hưởng hậu chiến như thế. Và chính điều đó đã mang lại sức
hấp dẫn bạn đọc từ tác phẩm của anh.
Dưới ngòi bút của Trần Thế Tuyển, những câu chuyện kể hiện
lên thật dung dị; những nhân vật chính hiện lên trong các truyện ngắn của Dòng
sông cuộn chảy cũng rất đời thường, gần gũi và thân thương. Độc giả, nhất
là những người lính đã đi qua chiến tranh, sẽ ít nhiều thấy được thân phận mình
trong thân phận các nhân vật của Dòng sông cuộn chảy. Và họ đọc Trần
Thế Tuyển để thấy hình bóng mình trong ấy.
Đó là một thành công của Trần Thế Tuyển qua Dòng sông cuộn
chảy.
Trong một cuộc gặp gỡ thân tình, Trần Thế Tuyển đã nói với
người viết bài này: Tôi viết bằng những chiêm nghiệm từ cuộc đời tôi. Và đúng
là như thế. Những câu chuyện trong Dòng sông cuộn chảy và cả trong tập
trường ca Gió thổi miền ký ức mới xuất bản bởi NXB Quân đội Nhân dân
của anh đều toát lên điều đó.
Viết về số phận, về bi kịch của những người lính thời hậu chiến
cũng chính là viết về cuộc đời anh. Ngay trong gia đình Trần Thế Tuyển, anh
cùng người em trai là Trần Văn Thiềng đã nhập ngũ và ra trận. Hết chiến tranh
anh mang ba lô trở lại quê nhà còn người em trai ruột thịt đã thành liệt sĩ và
mãi mãi nằm xuống trong một nghĩa trang ở Cai Lậy, Tiền Giang. Ngày anh trở về,
người mẹ già đau khổ đã túm tay anh mà khóc: Con trở về còn em con đâu. Câu hỏi
của người mẹ Trần Thế Tuyển cũng là câu hỏi của hàng triệu người mẹ Việt Nam
khác sau chiến tranh. Nó như một nỗi đau ngàn đời không thể hóa giải.
Để trả lòi câu hỏi của mẹ, Trần Thế Tuyển không chỉ lặn lội để
tìm ra nghĩa trang liệt sĩ nơi em trai mình nằm lại mà anh còn sống hết mình
trong cuộc đời với trách nhiệm của một nhà báo, nhà văn, nhà quản lí. Với quân
hàm Đại tá, Trần Thế Tuyển có nhiều năm công tác ở báo Quân đội Nhân dân và
sau này là Tổng biên tập tờ Sài Gòn Giải phóng. Ở cương vị nào, anh
cũng cố gắng để làm tròn vai hoàn thành nhiệm vụ và vẫn không quên cầm
bút.
Đến nay dù đã ở vào lứa tuổi U70, dù đã để lại phía sau hàng
chục tác phẩm thơ, văn được xuất bản; dù đã gặt hái hàng chục giải thưởng báo
chí và văn học, Trần Thế Tuyển vẫn miệt mài cầm bút như anh vẫn miệt mài sống.
Khái niệm hưu trí với người cựu chiến binh, nhà báo, nhà văn Trần Thế Tuyển
không có nghĩa là nghỉ ngơi mà chỉ là càng có nhiều cơ hội hơn để sống và viết.
Như Dòng sông cuộc đời anh vẫn cuộn chảy.
Chú thích:
(*) Dòng sông cuộn chảy, tập truyện ngắn Trần Thế
Tuyển, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, tháng 6.2020.
10/7/2020
Hà Tùng Sơn
Theo https://vanhocsaigon.com/
Văn hào Pháp Honoré de Balzac: Cuối cùng còn lại tình yêu
Văn hào Pháp Honoré de Balzac:
Cuối cùng còn lại tình yêu
Honoré de Balzac dự định bộ “Tấn trò đời” của ông sẽ có
143 tập. Tuy nhiên, ông mới chỉ kịp hoàn thành 90 tập. Dẫu vậy, đó vẫn là bộ
sách khổng lồ và vĩ đại, miêu tả sâu sắc và rộng rãi không chỉ bức tranh xã hội
Pháp đương thời mà còn nêu bật được những “tấn trò đời” vĩnh cửu với những tiểu
thuyết xuất sắc qua nhiều thời đại như “Miếng da lừa” (1831), “Eugenie Grandet”
(1833), “Cha Goriot” (1834), “Vỡ mộng” (in năm 1843), “Bước thăng trầm của kỹ nữ”
(1845)…
Honoré de Balzac sinh ngày 20/5/1799 tại thành phố Tours. Cha
ông, Bernard-Franois Balssa, là viên chức thuộc ngành quốc phòng, chuyên cung cấp
quân trang quân dụng cho sư đoàn đóng ở đô thị nhỏ này.
Khi nhà văn tương lai cất tiếng khóc chào đời, người cha đã ở
tuổi 53. Người mẹ, Anne-Charlotte-Laure Sallambier, vốn là cô con gái ngoan
trong một gia đình tư sản ở Paris, kém chồng tới 32 tuổi. Ông Bernard-Franois
Balssa đôi khi nửa đùa nửa thật khoe về dòng dõi quý tộc cổ kính Balzac
d’Entraigues mà dường như ông là một hậu duệ.
Về sau, người con trai đã biến câu chuyện vui này thành một sự
kiện bất khả bác bỏ và lấy đó làm họ cho mình và ghi lên trên các lá thư và các
cuốn sách. Nhà văn cũng sử dụng gia huy Balzac d’Entraigues để vẽ trên xe ngựa
của mình khi đi tới Vienna. Trong khi đó, tất cả những tài liệu còn lại cho tới
hôm nay đều không có gì minh chứng cho dòng dõi quý tộc của nhà văn.
Tuổi thơ của nhà văn đã trôi qua ở ngoài tổ ấm gia đình. Ngay
từ khi còn đỏ hỏn, Honoré đã được vú nuôi, một phụ nữ nông dân bình dị, nuôi dưỡng.
Từ khi lên 4 tuổi tới năm 11 tuổi, cậu đã phải trải qua nhiều học xá khác nhau.
Những ngày tháng u ám nhất trong tuổi thơ của nhà văn tương
lai là bảy năm sống trong Trường Vendôme, một học xá khá kín nằm dưới quyền điều
hành của các tu sĩ theo dòng Oratory ở Saint Philip Neri (những tu sĩ sống với
cộng đồng tôn giáo nhưng không tuyên thệ). Hai trăm học trò đã phải nhất nhất
tuân theo kỷ luật khắc nghiệt của các tu sĩ. Phạm bất cứ lỗi lầm nào dù nhỏ đến
mấy cũng bị phạt nặng bởi roi vọt hay bị giam trong phòng kín lạnh lùng.
Ngay từ nhỏ, Balzac đã nổi tiếng là một học trò cẩu thả, có
tính tình u uẩn. Chính trong hoàn cảnh sống như thế, Honoré đã sớm tìm tới sách
vở. Cậu bé thường ngồi lỳ trong thư viện của trường. Và mày mò tự viết nhưng đã
chỉ khiến đám bạn đồng lứa chế giễu và mỉa mai đặt cho biệt danh “Thi sĩ”.
Khi Balzac 15 tuổi, người cha được chuyển về Paris. Đó là năm
1814, khi đế chế của Napoléon vừa sụp đổ. Nước Pháp lại trở thành vương quốc của
dòng họ Bourbon. Theo đòi hỏi của cha, nhà văn tương lai vào học Trường Luật, đồng
thời làm một chân thư ký ở Văn phòng luật sư Jean – Baptiste Guillonnet –
Merville. Tuy nhiên, Blazac cũng giấu cha mẹ để dự giảng những tiết về văn học ở
Sorbonne và say mê đọc những cuốn sách lịch sử và triết học ở thư viện.
Tới năm 1819, Balzac tốt nghiệp xuất sắc Trường Luật nhưng đã
khiến cha mẹ ngạc nhiên khi quyết định chỉ chuyên về viết văn. Khi đó, cha ông
đã về hưu và cả gia đình chuyển tới ở một thầnh phố nhỏ gần thủ đô. Một mình
Balzac ở lại Paris, trong một khu công nhân và tá túc ở một căn phòng áp mái nhỏ
trong cảnh túng bấn. Viết thư cho em gái, nhà văn lớn tương lai hài hước: “Anh
trai của em, người đang được hứa hẹn một vinh quang như thế, hiện ăn uống hoàn
toàn như một vĩ nhân, nói cách khác tức là đang chết đói”.
Thử nghiệm văn học đầu tiên trong thể loại bi kịch của Balzac
đã bị “hội đồng gia đình” phê phán kịch liệt. Thấy vậy, Honoré đã chuyển sự chú
ý sang các tiểu thuyết “gôtích”, thế giới của những ác nhân không trái tim, nơi
nảy sinh những tội ác dã man tàn bạo nhất, nơi khám phá ra những tội ác rùng rợn
nhất và những mỹ nhân mềm tính luôn ở hiền gặp lành.
Trong giai đoạn đầu kéo dài tới 5 năm, Blazac kết hợp với một
“thợ văn” giàu kinh nghiệm cho xuất bản tới cả chục cuốn tiểu thuyết nhưng vẫn
không sao thoát khỏi cảnh sống “bóc ngắn cắn dài”. Túng thiếu, cho tới tuổi tam
thập, Blazac cố tình duy trì cảnh sống không vướng víu đàn bà. Đó là giai đoạn
mà nhà văn vĩ đại trong tương lai tỏ ra rụt rè, nhút nhát tới… bệnh hoạn, chỉ
đơn giản bởi ông cũng cảm thấy sợ sức mạnh dục tình trong chính lòng mình.
Thêm vào đó, hiểu rõ mình chỉ là một gã đàn ông chân ngắn, vụng
về, ông rất sợ trở thành kệch cỡm nếu hành xử như những trai lơ thời ấy trước mặt
các mỹ nhân sắc nước hương trời. Và họa hóa phúc, chính nỗi sợ giáp mặt mỹ nhân
đã khiến Balzac sống trong cô độc lại giúp ông ngồi lâu hơn cạnh bàn viết và
sáng tạo.
Từ Paris, thi thoảng Balzac trở về thành phố ngoại ô sống
cùng cha mẹ. Và tại đó, năm 1821, ông đã làm quen với Laure de Berny, một phụ nữ
đã ở tuổi 45, có không chỉ một đứa con, rất bất hạnh trong đời sống gia đình.
Chồng của chị, Gabriel de Berny, con trai một thống đốc, thành viên tòa án
Hoàng gia, hậu duệ của một dòng họ quý tộc lâu đời.
Thị lực của Balzac khi đó ngày một trở nên tồi tệ hơn. Thân mẫu
của nhà văn buộc ông phải cùng làm việc với con trai của Laure. Hai người gần
như là đồng niên. Chẳng bao lâu sau, thân mẫu của nhà văn mới phát hiện ra một
số chi tiếp khiến bà phải “cảnh giác”. Bà có cảm giác như cậu con trai tài hoa
của bà đang phải lòng cô bé xinh đẹp kém mình vài ba tuổi Emmanuel, con gái của
Laure de Berny. Thế nhưng, thực ra, trái tim của nhà văn trẻ lại thổn thức vì
“mẫu hậu” Laure, người đàn bà đã sinh cho chồng mình tới 9 đứa con!–PageBreak–
Laure de Berny, mối tình đầu của Balzac, đã đóng một vai trò
trọng đại trong cuộc sống của ông.
“Nàng đối với tôi vừa là mẹ, vừa là bạn gái, vừa là khách đồng
hành, vừa là gia đình, cố vấn, tri âm tri kỷ. – Sau này Balzac nhớ lại. – Nàng
đã biến tôi thành nhà văn, an ủi tôi khi còn non tơ, nàng đánh thức trong tôi
thẩm mỹ, nàng khóc và cười với tôi, nàng luôn tới với tôi như một giấc mơ hạnh
ngộ, làm dịu đi mọi nỗi đau đớn của tôi… Không có nàng hẳn là tôi đã chết…”.
Laure de Berny đã làm mọi việc mà một người phụ nữ có thể làm
được vì Balzac. Mối quan hệ giàu nhục cảm giữa hai người kéo dài qua không chỉ
một thập niên, từ năm 1822 tới năm 1833. Balzac về sau đã viết: “Không gì có thể
so sánh được với tình yêu của người phụ nữ dâng hiến cho người đàn ông hạnh
phúc của mối tình đầu”.
Laure de Berny đã không ngay lập tức đáp lại niềm cảm xúc của
Balzac nhưng đã không thể cứng lòng mãi được trước sự chân thành và nồng nhiệt
của nhà văn trẻ. “Trời ơi nàng đẹp quá trong lễ hội đêm qua! Nàng đã quá nhiều
lần về với tôi trong mơ, rạng rỡ, cuốn hút, nhưng tôi xin thú thực là, đêm qua
nàng đã vượt lên trên đối thủ duy nhất của mình, tiên nữ trong giấc tôi mơ…”.
Và một đêm tháng 5 ấm áp, Laure de Berny đã quy thuận nhà
văn. Balzac hào hứng: “Ôi Laure yêu quý! Anh viết về em và xung quanh anh đang
là bầu im lặng của đêm, cái đêm đang sống động trong anh ký ức về những nụ hôn
nồng cháy của em! Tôi còn có thể nghĩ về điều gì khác nữa? Tôi lúc nào cũng thấy
trước mắt cái ghế đá mà trên đó ta đã ngồi, tôi cảm thấy đôi bày tay thân thiết
của em lúc nào cũng ôm ấp trìu mến lấy tôi và những cánh hoa trước tôi dẫu đã
héo vẫn nguyên mùi hương thanh khiết…”.
Bà Laure de Berny khi ấy còn đầy nhiệt huyết. Nhưng rồi mối
quan hệ giữa hai người bị tiết lộ. Xã hội lên án. Trong khi đó các dự án in ấn
của Balzac đều thất bại. Laure giúp đỡ ý trung nhân không chỉ bằng lời nói, mà
cả bằng những hành động vật chất cụ thể. Họ đã là bạn của nhau tới phút cuối của
cuộc đời bà, năm 1836.
Laure de Berny đã là nguyên mẫu của một trong những nhân vật
nữ trong tiểu thuyết “Những bông huệ đồng bằng”, dẫu rằng chính Balzac đã nói
nhân vật văn học chỉ là sự phản chiếu yếu ớt của người đàn bà trong đời thực.
Cũng chính từ bà Laure de Berny, Balzac chỉ nhìn thấy niềm hứng khởi của mình ở
những người phụ nữ vượt lên trên ông ở kinh nghiệm đời sống và tuổi tác. Những
mỹ nữ trẻ trung đòi hỏi nhiều và chỉ có thể đáp ứng được ít, không còn làm ông
quan tâm nữa. “Nàng tứ thập làm ta hứng khởi, nàng hai mươi có nghĩa gì đâu…”.
Nữ công tước D’ Abrantès, goá phụ của tướng Junot, khi Balzac
làm quen với nàng vào năm 1829, ở Versailles, đang bị chìm trong nợ nần và
không được xã hội thượng lưu kính trọng. Nàng đã buộc phải mang hồi ức của mình
ra mặc cả với đời. Nữ công tước đã không phải khó khăn gì lắm để lôi nhà văn trẻ
Balzac ra khỏi vòng tay của người phụ nữ luống tuổi Laure de Berny.
Không rõ vì một lý do gì đó nhưng cho tới phút cuối cùng của
đời mình, Balzac luôn bị mê hoặc bởi những tước vị quý tộc. Và ông cảm thấy
hãnh diện khi có được mối quan hệ tình cảm với nữ công tước D’ Abrantès. Mặc dầu
giai đoạn “hương nồng lửa đượm” không kéo quá dài nhưng về sau, quan hệ giữa
hai người vẫn là thân hữu. Nữ công tước D’ Abrantès đã giúp Balzac vào với
salon của bà Récamier và một số những nhân vật thượng lưu khác. Còn nhà văn thì
giúp mỹ nhân này hoàn thành những hồi ức của nàng.
Cũng trong thời gian đó, Balzac đã gặp gỡ với một người phụ nữ
nữa, rất không xinh đẹp nhưng đã yêu ông như cơ hội hạnh phúc duy nhất của đời
mình. Và họ đã có với nhau những ký ức khó quên, đầy cảm hứng sáng tạo.
Quả thực là không có phụ nữ xấu, quan trọng là ta biết nhìn
ra giá trị nhan sắc của họ. Nàng đã giúp cho nhà văn thấu hiểu hơn giá trị tâm
hồn của người phụ nữ sống là dâng hiến: “Một phần tư giờ mà tôi có thể ở cạnh
nàng đã cho tôi nhiều hứng khởi hơn cả đêm ở trong vòng tay của một nữ nhân trẻ
tuổi…”.
Tuy nhiên, người đàn bà đứng tuổi đó hiểu rằng, chị không có
sức quyến rũ đàn bà có thể gắn bó nhà văn một lần là mãi mãi. Hơn nữa, chị cũng
không thể tiếp tục lừa dối chồng mình hay bỏ ông ta trong cảnh bất hạnh. Và vì
thế, chị chỉ muốn có một tình bạn dịu dàng với nhà văn thôi.
Trong những lá thư gửi Balzac, chị công khai nói những ý kiến
của chị về các tác phẩm của nhà văn. Balzac cảm ơn chị: “Nàng chính là độc giả
của tôi. Tôi tự hào vì đã làm quen được với nàng, với người đã giúp tôi có được
khát vọng luôn phải trở nên hoàn thiện hơn…”.
Trước khi chết, Balzac, nhìn lại đoạn đời đã qua, đã thú nhận
rằng, người đàn bà không xinh đẹp ấy mới chính là người bạn gái tuyệt vời nhất
của ông. Và ông cầm lấy bút, sau một thời gian dài biệt vô âm tín, viết thêm một
lá thư cuối cùng cho chị…
12/7/2020
Hoàng Phong
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Mai Liễu và Đêm nay con rửa mặt cho cha
Mai Liễu và Đêm nay con rửa mặt cho cha Cha sống một đời với đồng đất vườn nhà, vườn rừng. Cha về với cõi vĩnh hằng cũng từ những thứ cây ...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...




.gif)
