Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2026

Một tấm ảnh, một đời người

Một tấm ảnh, một đời người

Lần mẹ tôi xuống bệnh viện thăm bố tôi, lần duy nhất. Hôm ấy, tiếng còi báo động hú vang, báo có máy bay Mỹ lượn trên bầu trời. Cả khu bệnh viện náo loạn, ai cũng cuống cuồng sơ tán thương binh xuống hầm trú ẩn. Cô Lủi, em gái bố tôi, khi ấy đang bụng chửa vượt mặt, vẫn gắng sức cõng anh xuống hầm. Chị Vân chạy theo sau, hốt hoảng đỡ giúp, tay này vịn bố, tay kia giữ cô khỏi ngã. Bố tôi liếc quanh, không thấy mẹ tôi đâu, gắng gượng hỏi, giục mọi người tìm giúp.
1 Giữa tháng sáu, bầu trời như một lò nung khổng lồ úp xuống mặt đất. Gió khô khốc rít qua tán cây, mang theo mùi ngai ngái của bụi đỏ hòa lẫn hương lá úa. Nắng như lưỡi dao nung quét ngang vạn vật, trút xuống trần gian hơi nóng hầm hập. Cây cối bơ phờ, mệt mỏi chờ một cơn mưa giải cứu. Chỉ những chùm phượng vĩ đỏ rực vẫn kiêu hãnh trong nắng hạ, càng cháy rực hơn, như bừng lên sắc đỏ của ký ức mùa thi.
Tôi rủ mấy người bạn ra quán đầu phố, gọi mấy vại bia hơi giải khát, vừa uống vừa tán chuyện giết thời gian. Đang nhâm nhi thì nhận được điện thoại của chị Vân, giọng gấp gáp hỏi tôi đang ở đâu. Chị giục tôi uống nhanh, rồi về ngay hỏi xem mẹ tôi còn giữ bất kỳ loại giấy tờ nào liên quan đến bố thì gửi ngay cho chị. Tôi bảo chị yên tâm, một lát nữa em sẽ về. Nhưng chỉ hai, ba phút sau, chị Vân lại gọi, giọng căng thẳng hơn: “Về chưa?”. Rồi chị trách tôi rằng, sắp đến ngày giỗ bố rồi, chị đang sốt ruột chờ tin, còn tôi vẫn ngồi thong dong uống bia. “Chẳng lẽ em không muốn biết mặt bố?” – chị hỏi, giọng vừa trách móc vừa đau đáu, xót xa.
Tôi cầm cốc bia uống dở, ngửa cổ tu một hơi hết sạch rồi xin phép mấy người bạn, vội vàng về nhà. Thấy mẹ tôi đang lúi húi trong bếp, tôi giục bà tìm ngay các loại giấy tờ có liên quan đến bố tôi. Bà hỏi để làm gì. Tôi bảo để con đưa cho chị Vân, nhờ người ta tìm ảnh bố con.
Mẹ tôi chì chiết:
“Tao cũng lạ con chị mày, đã mấy chục năm rồi mà vẫn cứ lèo nhèo mãi về tấm ảnh bố. Chỉ là tấm ảnh thôi mà làm như vàng bạc, kim cương không bằng! Mày gọi lại bảo với nó là tao chẳng còn cái gì liên quan đến bố của chúng bay cả!”
Tôi bảo:
“Chí ít thì mẹ cũng còn giữ một thứ gì chứ?”
Mẹ tôi  bực tức:
“Cái con Vân này, mãi mà nó vẫn không thôi cái vụ này. Nó đã đến tất cả những gia đình họ hàng hỏi xem có ai chụp ảnh chung với bố nó không, nó đến cả Huyện đội, Tỉnh đội, rồi Sở Lao động Thương binh Xã hội, hỏi loạn cả lên nhưng cũng có tìm được đâu. Lần trước nó hỏi, tao đã bảo không có, nó lại bắt bẻ tao. Rằng sao biết bố nó nằm chờ chết mà tao không chụp ảnh để sau này làm ảnh thờ. Rồi nó ì èo, bảo tao đã không cho bố con mày gặp nhau thì cũng phải chụp ảnh để lại cho mày biết mặt bố chứ…”
Mẹ tôi được thể, cứ chì chiết mãi không dứt. Hễ nhắc đến chị Vân là giọng bà cao lên một quãng, khuôn mặt nhăn lại như bị kéo căng bởi những mối hằn học chưa từng nguôi ngoai. Tôi im lặng lắng nghe, lòng chùng xuống. Dù bà là mẹ tôi, nhưng tôi không sao đồng tình nổi với những suy nghĩ có phần khắt khe và cố chấp ấy. Đã nhiều lần tôi tự hỏi, phải chăng người xưa thấu hiểu lòng người đến vậy mới đúc kết nên câu: “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ có thương con chồng.”
Mẹ tôi chưa bao giờ dành cho chị Vân dù chỉ một ánh nhìn cảm thông. Mỗi lần thấy chị, ánh mắt bà lại sa sầm, gương mặt đanh lại như thể có một cái gai vô hình đang cắm sâu vào ký ức. Có lẽ, trong chị Vân, bà luôn nhìn thấy hình bóng mẹ chị, vợ đầu của bố tôi, một cái bóng mà bà chưa bao giờ vượt qua được. Tôi biết, để yêu thương vợ cũ của chồng mình là điều chẳng dễ dàng gì, nhưng cứ mỗi lần tôi góp ý, bà lại gắt gỏng, xua tay như muốn đẩy lùi cả những lời tôi chưa kịp nói hết.
Không muốn mọi chuyện đi xa thêm, tôi vội cắt lời mẹ:
“Thôi thôi, mẹ đừng nói nữa. Con biết hết rồi. Mẹ không tìm thì để con tìm…”
Tôi quay lưng bước nhanh vào gian trong, nơi chất đống những thùng giấy cũ nát, mùi ẩm mốc ngai ngái như đang kể lể về những tháng năm bị lãng quên. Tôi cúi xuống, lật giở từng chồng sổ sách, giấy tờ đã sờn mép, nhàu nát. Những trang giấy vàng ố như những chiếc lá cuối mùa, giòn và mong manh đến mức chỉ cần một cái chạm nhẹ là có thể vụn ra từng mảnh.
Và rồi, như thể vận may cuối cùng cũng mỉm cười, tay tôi chạm vào một tập giấy nằm lẫn lộn trong đống phế liệu mẹ tôi đang chuẩn bị bán cho đồng nát. Đó là tấm bằng “Tổ quốc ghi công”, cùng hai tấm Huân chương: Huân chương Kháng chiến hạng ba và Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, đều ghi tên bố tôi.
Chúng đã bạc màu theo thời gian, góc cạnh rách nát, vài chỗ chữ in mờ đến mức phải căng mắt mới lờ mờ đoán ra được. Tôi bần thần trong giây lát, rồi như sực tỉnh, vội vồ lấy ba tấm giấy đó, nhẹ tay vuốt phẳng, như thể sợ chỉ một động tác mạnh cũng có thể làm chúng tan biến.
Tôi chụp vội từng tấm ảnh, gửi qua Zalo cho chị Vân. Nhưng khi nhìn những tấm huân chương và tờ bằng khen trong tình trạng tả tơi ấy, tôi biết, chị sẽ không khỏi đau lòng, thậm chí sẽ giận mẹ tôi lắm.
Vì vậy, trước khi gửi, tôi gọi cho anh rể, chồng chị, nói hết mọi điều. Tôi nhờ anh nói giúp với chị rằng tôi từng sống ở nước ngoài, chẳng có điều kiện để quan tâm hay gìn giữ những kỷ vật quý báu này. Tôi cũng nói đỡ cho mẹ, rằng vì chuyển nhà nhiều lần, giấy tờ bị thất lạc, nên mới ra nông nỗi như thế.
2. Tôi là em cùng cha khác mẹ với chị Vân, kém chị bảy tuổi. Chị Vân còn có bốn người em ruột, cùng mẹ khác cha với chị. Trong số đó có thằng Tú, bằng tuổi tôi, lại là bạn thân từ thuở nhỏ. Hai đứa học chung lớp, cùng chung một ngõ nhỏ quanh co dẫn ra đầu làng, nhà chỉ cách nhau mấy bước chân, nên gần như ngày nào cũng dính lấy nhau, khi thì đá cầu, lúc thì búng bi, có khi lăn lê cả buổi dưới bóng cây bàng đầu xóm.
Tôi còn nhớ như in một lần, buổi chiều hè oi ả, mặt mũi hai đứa nhễ nhại mồ hôi, đang mải mê búng bi trên sân đất thì chị Vân tìm đến. Chị gọi Tú về ăn cơm. Giọng chị dịu dàng như gió thoảng qua rặng tre:
” Người gì mà mồ hôi nhễ nhại thế kia. Thôi lau mặt đi em, về ăn cơm không muộn rồi đấy!”
Chị nhìn Tú với ánh mắt dịu dàng, trìu mến. Rồi bất ngờ, chị liếc sang tôi. Ánh mắt bực dọc thoáng vụt qua, chạm phải cái nhìn lặng lẽ, ngập ngừng của tôi. Cả hai chị em cùng vội quay đi. Tôi cúi gằm mặt, lầm lũi bước về, trong lòng buốt nhói như có cơn gió lạ lùa vào một chỗ rỗng sâu hoắm.
Mỗi lần nghĩ đến ánh mắt chị âu yếm dành cho Tú, cho các em cùng mẹ khác cha, rồi nhìn lại cách chị tránh né, xa cách với tôi, cái lườm nguýt, cái quay đi rất khẽ nhưng đầy lạnh lùng, lòng tôi lại chùng xuống, tủi thân lắm. Nhưng lạ thay, tôi chưa bao giờ ghét chị Vân. Tôi cố tìm đủ mọi lý do để tự an ủi, để vơi bớt nỗi buồn: chắc tại chị ở cùng nhà với mấy em, sống gần gũi nên tình cảm hơn; còn với tôi, có lẽ chị lạnh nhạt bởi vì… mẹ tôi.
Tôi tự biện hộ cho chị để lòng mình nhẹ đi. Tôi chẳng dám oán trách ai. Chuyện người lớn giữa hai nhà ra sao, tôi không rõ. Chỉ biết rằng mẹ chị là em gái, con bà cô họ hàng với mẹ tôi. Mẹ tôi ghê gớm, đanh đá và rất khéo miệng. Mẹ chị thì trái ngược hoàn toàn: hiền lành, xởi lởi, luôn cười nhẹ và bao dung với mọi người. Tôi quý bà như chính mẹ của mình.
Lớn lên một chút, khi hiểu thêm về những gì từng xảy ra, tôi bắt đầu trăn trở. Mẹ tôi là chị họ của mẹ chị Vân, thế mà lại lấy chồng cũ của em gái, chỉ ít lâu sau khi họ vừa ly hôn. Hai nhà lại đối diện, ngày qua ngày trông mặt nhau, dòm ngó nhau, điều tiếng cũng là phải. Người làng đồn thổi, nói nọ nói kia, rồi bảo chính mẹ tôi là lý do khiến bố mẹ chị tan vỡ. Tôi hiểu dần, hiểu tại sao chị Vân lại nhìn tôi như vậy.
Những lần bị chị lườm nguýt, tôi chỉ muốn chạy đến ôm lấy chị mà nói:
” Chị ơi, lỗi đâu phải tại em. Em chẳng có tội tình gì. Đừng ghét bỏ em, em tội lắm…”
Nhưng tôi không dám. Ý nghĩ ấy tôi chỉ dám giữ trong lòng, chôn sâu như một chiếc gai không ai nhổ giúp được. Tôi hiểu, nếu là chị, tôi cũng chẳng cư xử khác đi. Người ta vẫn nói: “Giận cá chém thớt” mà.
Có một bà cụ hàng xóm, tóc bạc như mây, hay ngồi dưới giàn mướp trổ hoa vàng rực mỗi chiều, từng xoa đầu tôi mà bảo:
”Cháu yên tâm nhé. Người cùng máu mủ, có giận đến mấy thì rồi cũng nhận lại nhau thôi…”
Tôi chỉ còn biết bám víu vào lời cụ, hy vọng và trông chờ cái ngày ấy, ngày chị Vân thôi lườm nguýt tôi, mà mỉm cười gọi tôi là em, sẽ thực sự đến…
3. Khi tôi vào cấp ba thì chị Vân vừa tốt nghiệp trung cấp Y. Hôm ấy, trên đường đi học về, tôi tình cờ gặp chị đi ngược chiều. Từ xa, tôi đã thấy dáng chị hiện lên trong nắng chiều nghiêng nghiêng, gót giày điểm nhẹ trên con đường làng râm bóng hàng nhãn xanh um. Tôi dõi theo như bị hút vào một khung tranh êm đềm. Gương mặt chị Vân thật xinh xắn, hiền hậu, ánh mắt chan chứa dịu dàng. Người trong xóm vẫn thường khen tôi giống chị, mỗi lần nghe vậy, lòng tôi lại rộn ràng, như được ai đó ban cho một niềm an ủi lặng thầm.
Tôi đang thẫn thờ ngắm chị, chưa kịp ngoảnh mặt đi thì bất chợt nghe tiếng chị gọi:
“Đức!”
Tôi giật mình, tưởng mình nghe nhầm. Chị lại tiếp lời, giọng nhẹ như gió thoảng:
“Em đi học về đấy à? Dừng xe lại, chị nói chút!”
Tôi luống cuống, vừa mừng vừa ngượng, chỉ kịp lí nhí một tiếng     “vâng” nhỏ xíu. Chị Vân bước nhanh về phía tôi, tay nhẹ nhàng nắm lấy ghi đông xe đạp của tôi, giọng đầy thân tình:
“Chị vừa nhận công tác ở Bệnh viện Khoái Châu, giờ chị ở khu tập thể bệnh viện. Lúc nào rảnh, em vào chơi với anh chị và các cháu nhé!”
Lần đầu tiên tôi thấy chị nhìn mình bằng ánh mắt dịu dàng ấy, ánh mắt như chảy ra từ trái tim một người mẹ. Ánh mắt mà bao năm qua tôi chỉ thấy chị dành cho Tú, ánh mắt tôi từng thèm khát, từng ghen tỵ, từng mơ được chạm tới một lần. Lòng tôi ấm lên như có ngọn lửa nhỏ vừa được thắp sáng giữa mùa đông lặng lẽ. Tôi đứng đó, ngây người vì hạnh phúc. Và từ khoảnh khắc ấy, chị em tôi bắt đầu đi lại thân tình với nhau, như thể sợi dây máu mủ bị đứt nay đã nối lại được bằng những mảnh yêu thương tưởng đã lạc mất.
4. Một hôm, chị Vân lên Hà Nội chơi với con gái, chị gọi điện cho tôi, rủ tôi đi chơi. Tôi nghe giọng chị trầm lại, linh cảm có điều gì đó sâu kín. Tôi vội phóng xe tới đón chị. Chị chọn hồ Tây. Hai chị em vào quán bánh tôm ven hồ, món đặc sản mà bất cứ người Hà Nội nào cũng tự hào.
“Hôm nay chị mời em. Em muốn ăn gì cứ gọi!”
Tôi cười, đùa nhẹ:
“Vậy chị gọi một đĩa bánh tôm và cho em thêm chai bia Trúc Bạch nhé!”
Chúng tôi chọn chiếc bàn kê sát mép hồ. Chiều muộn, mặt trời lùi dần về cuối chân trời, để lại những vệt nắng cuối ngày ánh lên mặt nước như dát vàng. Mặt hồ êm như tấm lụa xanh mềm mại, sóng lăn tăn vỗ vào bờ nghe như tiếng thở dài của thời gian. Không gian thanh bình đến lạ.
Tôi mở nắp chai bia, ngửa cổ uống một ngụm, cảm giác mát lạnh chạy dọc cổ họng xuống tận đáy bụng. Đang định nói đùa vài câu thì chị Vân đột ngột trầm tư. Chị nhìn xa xăm về phía ánh hoàng hôn, rồi quay lại nhìn tôi, ánh mắt đăm chiêu mà ấm áp:
“Đức à, chị có nhiều điều muốn tâm sự với em. Trước kia chị không nói, vì sợ em buồn, chị thương em nhiều lắm. Nhưng giờ em đã lớn, đã mạnh mẽ, chị nghĩ em cần phải được biết…”
Tôi sững người, đặt ly bia xuống bàn, chăm chú:
“Có chuyện gì quan trọng, chị cứ nói. Em nghe đây.”
Chị Vân hít một hơi thật sâu, giọng chùng xuống như kéo theo cả ký ức:
“Đó là một chuyện buồn… Mỗi lần nhớ lại, chị lại thấy thương bố mình đến thắt ruột…”
Chị Vân thở dài, mắt nhìn xa xăm, rồi chậm rãi kể. Khi ấy, bố tôi bị thương nặng từ chiến trường đưa về điều trị tại Quân y viện Bảy, nghe mọi người kể bố tôi mới biết, mình có một đứa con trai, là tôi. Vì khi ông lên đường vào chiến trường miền Nam, mẹ tôi mới biết mình mang thai hơn một tháng. Tin ấy như ngọn lửa thắp sáng những ngày cuối cùng trong đời bố tôi. Dù đang mang trong mình những vết thương nặng, ông vẫn xúc động tột cùng, ánh mắt bừng lên một tia sáng. Ông mong mỏi được nhìn thấy mặt con trai hơn bất cứ điều gì. Trong những ngày hấp hối, ông tha thiết nhờ bác Thắng, anh ruột mình, về nhà nói với mẹ tôi, đưa tôi xuống bệnh viện để hai bố con tôi được gặp nhau một lần, dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi cuối đời.
Sáng sớm hôm ấy, bác Thắng dặn chị Vân ở lại trông bố, còn mình vội vã lên đường, không chậm trễ một phút nào. Ông băng qua những đoạn đường mịt mù bụi đỏ, gió gào, lòng chỉ mong kịp thời gian. Vừa tới nhà tôi, chưa kịp ngồi xuống, bác Thắng đã cất tiếng gấp gáp:
“Thím à, tôi có việc muốn nói gấp với thím.”
Mẹ tôi ngạc nhiên:
“Việc gì mà trông anh có vẻ căng thẳng thế?”
Bác Thắng nén xúc động, giọng nghẹn lại:
“Chú Chiến yếu lắm rồi. Không biết có còn trụ được bao lâu nữa. Chú ấy chỉ mong được gặp mặt thằng Đức một lần. Thím thu xếp đưa cháu xuống Quân y viện gặp bố nó đi chị!”
Mẹ tôi khẽ lắc đầu, chối khéo:
“Dạo này giặc Mỹ đánh phá dữ lắm. Đường sá không yên, cháu còn bé, em không dám đưa nó đi đâu cả…”
Bác Thắng nhíu mày:
“Cháu Đức cũng năm, sáu tuổi rồi, còn bé bỏng gì nữa? Từ đây xuống viện Bảy chưa đến năm chục cây số. Người ta vẫn đi lại ngoài đường đấy thôi, có ai trúng bom trúng đạn đâu mà thím lo quá vậy? Tôi thấy… thím nên nghĩ lại, cho bố con chú ấy gặp nhau một lần.”
Mẹ tôi khựng lại, rồi đáp gắt, giọng dứt khoát:
“Em đã nói không là không! Anh có nói gì thì em cũng không cho cháu đi đâu hết!”
Bác Thắng cố nén giận, nói như van lơn:
“Thím nghĩ kỹ lại đi. Chú ấy gửi gắm tôi mang lời về, như là ước nguyện cuối cùng trước lúc nhắm mắt. Ai mà nỡ để người sắp rời xa thế giới này phải mang theo cả niềm mong mỏi chưa thành? Vì cái tình cái nghĩa, thím giúp bố con chú ấy gặp nhau một lần thôi. Nghĩa tử là nghĩa tận mà thím!”
Nhưng mẹ tôi vẫn cứng rắn, ánh mắt lạnh tanh:
“Em không thể chiều lòng người sắp chết mà để đánh đổi mạng người đang sống. Biết mặt hay không thì cũng có sao đâu? Người sắp chết cũng phải biết nghĩ cho người còn sống chứ? Chả lẽ ông ấy lại muốn con mình liều mạng trên đường bom đạn? Anh về nói với nhà em như thế. Em tin rằng ông ấy sẽ hiểu ra và sẽ không đòi hỏi nữa đâu…”
Bác Thắng trở lại Quân y viện Bảy trong tâm trạng nặng trĩu, buồn bã như có tảng đá ghì xuống lòng. Bước vào phòng, bác lặng lẽ ngồi xuống bên giường bệnh, nơi bố tôi vẫn nằm bất động, đôi mắt thất thần hướng mãi ra phía cửa như đang níu lấy một tia hy vọng cuối cùng. Trong ánh mắt ấy, lấp lánh những giọt nước long lanh, mỏng như sương nhưng mặn đắng cả cõi lòng.
Bố tôi nhìn thấy bác trở về một mình thì đã hiểu. Ông không hỏi. Ông chỉ nhìn, ánh mắt cụp xuống như một cánh cửa khép lại. Bác Thắng thở dài, giọng chùng xuống như tiếng gió thổi qua giường bệnh:
“Anh đã phân tích, giảng giải hết lời rồi… nhưng thím ấy vẫn cương quyết không cho cháu Đức xuống thăm chú.”
Bố tôi nhắm mắt lại, lặng một hồi, rồi thì thào, giọng ông như hơi thở cuối cùng của một ngọn lửa sắp lụi:
“Em hiểu… Cô ấy vốn chỉ biết nghĩ cho mình. Nhưng em không ngờ, ngay cả với một người sắp chết, cô ấy cũng có thể cạn tình đến thế. Cô ấy tưởng thế là thương con, nhưng không… Cô ấy đang làm một điều tàn nhẫn với chính chồng con mình. Anh thử nghĩ mà xem, có người vợ nào lại để chồng mình, từ chiến trường thoát chết trở về, nằm liệt giường một chỗ mà bao lần năn nỉ mới xuống thăm được một lần… rồi biệt tăm biệt tích sau hôm ấy…”
Nói đến đây, giọng chị Vân nghẹn lại. Gương mặt chị tái đi, tay chị run nhẹ khi nhớ về cảnh tượng năm xưa. Chị kể tiếp, giọng trầm lắng, mắt hoe đỏ.
Lần mẹ tôi xuống bệnh viện thăm bố tôi, lần duy nhất. Hôm ấy, tiếng còi báo động hú vang, báo có máy bay Mỹ lượn trên bầu trời. Cả khu bệnh viện náo loạn, ai cũng cuống cuồng sơ tán thương binh xuống hầm trú ẩn. Cô Lủi, em gái bố tôi, khi ấy đang bụng chửa vượt mặt, vẫn gắng sức cõng anh xuống hầm. Chị Vân chạy theo sau, hốt hoảng đỡ giúp, tay này vịn bố, tay kia giữ cô khỏi ngã. Bố tôi liếc quanh, không thấy mẹ tôi đâu, gắng gượng hỏi, giục mọi người tìm giúp.
Khi mọi người đã xuống hầm gần hết, thì thấy mẹ tôi… đã ngồi sẵn dưới đó từ lúc nào, co ro trong một góc. Bố tôi lúc đó giận run người, mặt trắng bệch, răng nghiến lại:
“Về ngay! Đồ ích kỷ!”
Chị Vân kể, mẹ tôi sầm mặt lại, vịn cớ từ hôm ấy, cắt đứt mọi liên lạc, không quay lại Quân y viện nữa.
Hai tháng sau, bố tôi trút hơi thở cuối cùng. Các chú trong đơn vị và bà con thân thích xuống Quân y viện Bảy đón thi hài bố tôi về quê an táng. Mẹ tôi cũng không đi. Chỉ vì sợ… sợ trên đường về, nếu không may gặp bom rơi, đạn lạc thì lại thiệt thân.
Tôi lặng người khi nghe đến đây. Trong lòng dâng lên cảm xúc hỗn độn, vừa thương bố đến thắt ruột, vừa giận mẹ đến khó tả. Giận không chỉ vì bà cắt đứt cơ hội cuối cùng để bố tôi nhìn thấy mặt con trai, mà còn vì bà đã tước đi cơ hội duy nhất của chính tôi… được biết mặt bố mình.
Chị Vân ngồi đó, lặng im một lúc lâu. Ánh mắt chị đọng lại những vệt mờ như thể bên trong đang quay một thước phim đã nhuốm màu thời gian. Chị thì thầm:
“Chuyện gia đình mình… trong đầu chị lúc nào cũng như một đoạn phim cũ kỹ, lâu lâu lại lặng lẽ quay, từng khung hình, từng tiếng thở dài…”
Chị Vân nghẹn ngào kể, tất cả những hình ảnh như đoạn phim quay chậm trong tâm trí chị, điều ám ảnh chị, nhất là quãng thời gian bố tôi nằm trên giường bệnh, thân thể chỉ còn là một dáng hình gầy guộc như chiếc bóng đang dần bị xóa nhòa khỏi cõi đời. Chị bảo, mỗi lần nhớ đến, hình ảnh bố hiện lên rõ mồn một: thân hình teo tóp, còn mang nhiều mảnh đạn, làn da vàng úa do bị nhiễm chất độc da cam, giống như chiếc lá cuối thu, gương mặt hốc hác, méo mó vì đau đớn. Đôi mắt ông cứ khép hờ, mỏi mòn hướng ra phía cửa, như đang chờ một phép màu sẽ đưa đứa con trai chưa từng gặp mặt bước vào, gọi ông một tiếng “bố”.
Chị Vân đưa tay lau dòng nước mắt vẫn trào ra không ngăn nổi, giọng chị như vỡ ra từng khúc:
“Bao năm nay chị cứ đau đáu một điều… phải tìm cho bằng được tấm ảnh của bố. Một tấm ảnh để đặt lên ban thờ cho bố có chốn đi về, có khuôn mặt để con cháu cúi đầu tưởng nhớ. Nhưng hơn hết là để em được biết mặt người đã sinh ra mình. Chị không cam lòng để bố đi trong vô vọng, không hình bóng trong ký ức của chính đứa con ruột của mình…”
Chị im lặng một lúc, rồi bất chợt nấc lên, như bao kìm nén dồn nén suốt mấy chục năm nay giờ bật tung ra:
“Nhiều lúc, chị uất lắm, hận mẹ em đến mức chỉ muốn chạy về, trút hết tất cả những gì chị chịu đựng, nói cho ra nhẽ, cho nhẹ lòng. Nhưng rồi chị lại không thể. Không phải vì sợ, mà vì… vì thương em. Người ta vẫn bảo: ‘Vuốt mặt phải nể mũi’. Chị không muốn em bị kẹt giữa một người là mẹ, một người là chị. Và thế là, suốt bao năm, chị nuốt đắng vào trong, sống cùng với những day dứt không tên…”
Chị vừa sụt sùi vừa đưa khăn chấm nước mắt. Nhìn chị khóc nức nở trước mặt tôi như một đứa trẻ, lòng tôi như thắt lại từng khúc. Tôi chưa từng thấy chị yếu mềm đến mức như vậy. Cũng chưa từng thấy chính mình nghẹn ngào đến thế. Mỗi lời chị kể như từng mũi kim xuyên vào ngực, nhói buốt.
Tôi cầm lấy tay chị, tay chị gầy guộc, lạnh như nước hồ ban sớm, mắt tôi nhòe đi:
“Chị… Em hứa. Chị em mình sẽ cùng nhau đi tìm bằng được hình ảnh của bố. Dù có phải lật tung tất cả các đơn vị, các kho tư liệu, các nơi bố từng đi qua, em cũng sẽ không dừng lại. Nhất định… vào ngày giỗ, mình sẽ có tấm ảnh bố đặt trên ban thờ. Bố sẽ không còn vô hình nữa…”
Chị Vân nhìn tôi xúc động gật đầu. Tôi ngồi bên chị, lặng im, không ai nói gì thêm. Chúng tôi chỉ ngồi đó, cùng nhìn về một phía không rõ hình thù, nơi có thể là ký ức, cũng có thể là tương lai. Nhưng trong khoảnh khắc ấy, tôi biết một điều chắc chắn: từ nay, tôi sẽ cùng chị, đi tìm lại khuôn mặt của bố mình. Tôi quay mặt ra phía hồ để giấu đi những giọt nước mắt đang chực rơi. Mặt hồ Tây lúc này đã nhuộm một màu tím biếc, những tia nắng cuối cùng đã lặn khuất sau rặng cây phía chân trời. Hàng liễu ven hồ buông lơi những mái tóc dài mềm mại, đong đưa trong gió như những lời tiễn biệt lặng lẽ. Xa xa, tiếng lanh canh của chiếc thuyền chài vọng lại giữa không gian mênh mang, ngân lên một nốt lặng buốt lòng. Những con sóng nhẹ nối nhau vỗ bờ, như những lời thì thầm an ủi từ quá khứ vọng về. Hồ Tây giống như một trái tim yêu thương xoa dịu dần đi nỗi niềm khắc khoải của chị em tôi…
25/9/2025
Nguyễn Thị Bích Vượng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Rặng đồi tựa đàn voi trắng

Rặng đồi tựa đàn voi trắng

Rặng đồi vắt qua thung lũng Ebro dài và trắng. Sườn bên này không có bóng mát, không cây cối, trong ánh nắng, nhà ga nằm giữa hai tuyến đường xe lửa.
Ngay sát cạnh ga, một ngôi nhà đang toả bóng mát và bức rèm tre, được kết bằng nhiều chuỗi hạt, treo ngang cửa để giữ ruồi. Một người Mỹ cùng với một cô gái đang ngồi ở chiếc bàn đặt trong bóng mát, bên ngoài toà nhà. Trời nóng. Chuyến tàu tốc hành từ Barcelona sẽ đến trong vòng bốn mươi phút nữa. Đoàn tàu dừng ở ga hai phút rồi sẽ đi đến Madrid.
“Ta uống gì nhỉ?” cô gái hỏi. Nàng tháo mũ và đặt nó lên bàn.
“Trời hơi bức”, người đàn ông nói. “Chúng mình uống bia đi”.
“Dos cervezas”(*) người đàn ông gọi với vào trong bức rèm.
“Cốc lớn chứ?” từ ngưỡng cửa, một người đàn bà hỏi.
“Vâng. Cho hai cốc.”
Người đàn bà mang ra hai cốc bia và hai miếng đệm nỉ. Bà đặt đệm lót với bia lên bàn rồi nhìn người đàn ông và cô gái. Cô gái đang ngắm rặng đồi. Chúng trắng lên dưới ánh nắng còn miền quê thì chuyển sang màu nâu và khô ráo.
“Trông chúng tựa đàn voi trắng”, nàng nói.
“Anh chưa từng thấy con nào cả”, người đàn ông uống bia đáp.
“Đúng, anh chẳng thể thấy.”
“Anh có thể thấy”, người đàn ông nói. “Nhưng nếu em bảo là anh không thấy thì cũng chẳng sao.”
Cô gái nhìn bức rèm tre: “Người ta vẽ hình gì nhỉ?”, nàng nói. “Có nghĩa gì vậy?”
“Anis del Toro. Một loại nước giải khát”.
“Chúng mình uống thử nhé?”
Người đàn ông gọi qua bức rèm, “Bà chủ à?” Người đàn bà bước ra.
“Bốn xu”.
“Chúng tôi muốn hai cốc Anis del Toro”.
“Có dùng nước không?”
“Em muốn uống với nước chứ?”
“Em không biết”, cô gái đáp. “Pha thêm nước có ngon không?”
“Ngon”.
“Ông bà muốn dùng với nước chứ?” người đàn bà hỏi.
“Vâng, với nước”.
“Vị của nó giống như mùi cam thảo”, cô gái nói và đặt cốc xuống.
“Mọi thứ đều có vị ấy”.
“Vâng”, cô gái nói. “Mọi thứ đều có vị cam thảo. Đặc biệt là tất cả những thứ khiến người ta chờ đợi quá lâu, chẳng hạn như absinthe”.
“Thôi, đừng nói nữa”,
“Anh gợi ra mà”. Cô gái nói. “Em chỉ đùa chơi. Em đang có những phút giây thoải mái”.
“ừ, chúng mình hãy cố rồi có thời gian thoải mái”.
“Được rồi. Em đang cố. Em bảo những ngọn đồi trông giống những con voi trắng. Điều ấy chẳng vui sao?”
“Ý tưởng vui đấy”.
“Em muốn nếm thử thức uống mới này. Đấy là tất cả những gì chúng mình làm, nó chẳng – ngắm quang cảnh và nếm những loại nước giải khát mới hay sao?”
“Anh nghĩ thế”.
Cô gái nhìn xuyên về phía rặng đồi. “Chúng là những quả đồi đáng yêu”, nàng nói, “Thực ra trông chúng chẳng giống những con voi trắng. Em chỉ muốn nói đến màu da của chúng toát lên qua rừng cây”.
“Chúng mình uống thêm chứ?
“Được thôi”.
Làn gió ấm đưa bức rèm tre lại gần bàn.
“Bia ngon và mát”, người đàn ông nói.
“Đáng yêu thật”, cô gái nói.
“Thực ra, đó chỉ là một ca phẫu thuật cực kỳ đơn giản thôi mà, Jig”, người đàn ông nói. “Thậm chí cũng chẳng phải là một ca phẫu thuật nữa”.
Cô gái nhìn xuống đất dưới chân bàn.
“Anh biết, em đừng nên bận tâm. Nó chẳng hề gì đâu. Người ta chỉ rút không khí ra thôi”.
Cô gái không nói lời nào.
“Anh sẽ đi với em và lúc nào cũng ở bên em. Họ chỉ rút không khí ra và rồi tất cả sẽ trở lại bình thường”.
“Sau đó ta sẽ làm gì?”
“Ta sẽ thoải mái, như trước đây”.
“Cái gì khiến anh nghĩ như vậy?”
“Đấy là điều duy nhất làm phiền chúng ta. Điều duy nhất khiến chúng ta bất hạnh”. Cô gái nhìn bức rèm tre, rồi đưa tay nắm hai sợi rèm.
“Rồi anh nghĩ sau đó chúng ta hài lòng và hạnh phúc?”
“Anh biết chúng ta sẽ. Em không phải sợ. Anh biết rất nhiều người đã làm điều đó”.
“Em cũng thế”, cô gái nói “Rồi sau đó tất thảy họ đều hạnh phúc?”
“Ừ”, người đàn ông nói, “Nếu em không muốn thì em không cần phải. Anh không ép nếu em không muốn. Nhưng em biết nó cực kỳ đơn giản”.
“Và anh thực sự muốn?”
“Anh nghĩ đấy là giải pháp tốt nhất. Nhung anh không muốn em thực hiện nếu em thực sự không muốn”.
“Nhưng nếu em làm điều đó thì anh sẽ hạnh phúc, mọi thứ sẽ như trước. Và anh sẽ yêu em chứ?”
“Bây giờ anh yêu em. Em biết anh yêu em mà”.
“Em biết . Nhưng nếu em làm điều đó, rồi mọi chuyện tốt đẹp trở lại, rồi em nói những chuyện giống chuyện voi trắng, thì anh có thích không?”
“Anh sẽ thích. Bây giờ anh thích nó song anh chỉ không thể nào nghĩ về nó. Em biết, khi lo lắng thì anh như thế nào rồi”.
“Nếu em làm điều ấy thì anh sẽ chẳng bao giờ lo lắng nữa chứ?”.
“Vậy thì em sẽ làm. Bởi vì em không quan tâm đến bản thân mình”.
“Anh không lo về điều ấy, bởi nó cực kỳ đơn giản”.
“Em nói gì vậy?”
“Em không quan tâm đến bản thân mình”.
“Chẳng sao, anh sẽ chăm sóc em”.
“Ồ, vâng. Nhưng em không nghĩ về bản thân mình. Em sẽ làm điều đó rồi sau đấy mọi chuyện sẽ tốt đẹp”.
“Anh không muốn em làm điều ấy nếu em nghĩ như thế”.
Cô gái đứng dậy, đi đến cuối nhà ga. Đằng kia, cánh đồng ngũ cốc và rừng cây trải dọc theo bờ của dòng Ebro. Cách dòng sông một khoảng khá xa là những ngọn núi. Bóng của đám mây bồng bềnh trên cánh đồng ngũ cốc; nhìn xuyên qua rừng cây, nàng thấy dòng sông.
“Lẽ ra chúng ta có thể có tất cả cái kia”, Nàng nói. “Chúng ta có thể có tất cả nhưng mỗi ngày chúng ta lại khiến nó càng không thể”.
Rặng đồi tựa đàn voi trắng. Truyện ngắn của E. Hemingway
Hình ảnh minh họa. Nguồn pinterest
“Em nói gì vậy?”
“Em nói chúng ta có thể có mọi thứ”.
“Chúng ta có thể có mọi thứ”.
“Không, chúng ta không thể”.
“Chúng ta có thể có cả thế giới”.
“Không, chúng ta không thể”.
“Chúng ta có thể đi mọi nơi”.
“Không, chúng ta không thể. Nó chẳng còn là của chúng ta nữa rồi” “Trong tầm tay chúng ta”.
“Không, nó không còn. Một khi người ta phá bỏ nó thì anh sẽ chẳng bao giờ có nó nữa”.
“Nhưng họ không bỏ nó”.
“Chúng ta hãy chờ xem”.
Quay vào trong bóng râm hắn nói. “Em chớ nghĩ như thế”.
“Em chẳng nghĩ gì cả,” Cô gái đáp. “Em chỉ biết thế”.
“Anh không muốn em làm bất kỳ việc gì mà em không muốn”
“Chẳng phải điều ấy không tốt cho em”, nàng nói. “Em biết. Ta gọi thêm bia chứ?”
“Ù. Nhưng em phải biết”
“Em biết”. Cô gái nói. “Nhưng chẳng nhẽ chúng ta không thể ngừng nói được nữa sao?”
Họ ngồi xuống bàn rồi cô gái nhìn ra phía những ngọn đồi bên cạnh thung lũng khô ráo, còn người đàn ông thì hết nhìn nàng rồi lại nhìn cái bàn.
“Em phải hiểu”, hắn nói, “rằng anh không muốn em làm điều ấy nếu em không muốn. Anh sẽ hoàn toàn vui lòng với chuyện đó nếu nó có ý nghĩa gì đấy đối với em”.
“Vậy nó không có chút ý nghĩa nào với anh sao? Chúng ta có thể thoả thuận”,
“Dĩ nhiên là có. Nhưng anh không muốn bất kỳ ai ngoài em. Anh không muốn bất kỳ một ai khác. Vả lại anh biết nó cực kỳ đơn giản”.
“Vâng, anh biết nó cực kỳ đơn giản”.
“Nói thế chỉ có tốt cho em. Bởi anh quá hiểu nó”.
“Bây giờ anh có thể làm gì cho em được không?”
“Anh sẽ làm bất cứ việc gì vì em”.
“Em xin anh xin anh xin anh xin anh xin anh xin anh xin anh im đi có được không?”
Hắn chẳng nói lời nào nữa mà chỉ nhìn mấy chiếc túi đặt tựa vào tường nhà ga. Nhiều chiếc nhãn đính lên chúng từ tất cả các khách sạn họ đã ngủ lại.
“Nhưng anh không muốn em,” hắn nói, “anh chẳng quan tâm chút nào về chuyện đó”.
“Tôi sắp hét lên đây,” cô gái nói.
Người đàn bà bước ra khỏi tấm rèm. Bà mang hai cốc bia rồi đặt chúng lên những miếng đệm nỉ đã ướt. “Năm phút nữa tàu sẽ đến,” bà nói.
“Bà ta nói gì vậy?” cô gái hỏi. “Rằng tàu sẽ đến trong vòng năm phút nữa”.
Cô gái mỉm cười rạng rỡ với người đàn bà rồi cảm ơn bà ta.
“Tốt hơn là anh mang mấy cái túi đến đằng kia nhà ga”, người đàn ông nói. Nàng mỉm cười với hắn.
“Anh làm đi, rồi quay lại và chúng ta sẽ cạn cốc”.
Hắn nhấc hai chiếc túi nặng, đi đến mang chúng vòng qua nhà ga, tuyến đường kia. Hắn nhìn theo đường ray nhưng không thấy tàu. Hắn đi tắt qua quán bar, nơi những người đợi tàu đang ngồi uống, để quay trở lại. Hắn uống một cốc Anis ở quầy và nhìn mọi người. Tất cả bọn họ đang bình thản đợi tàu. Hắn bước qua bức rèm, ra ngoài. Nàng đang ngồi bên bàn và mỉm cười với hắn.
“Em cảm thấy khá hơn chứ?”, hắn hỏi.
“Em thấy dễ chịu”, nàng đáp. “Ốn rồi. Em cảm thấy dễ chịu”.
1/10/2025
Ernest Hemingway
Lê Huy Bắc dịch
Nguồn: Báo Văn Nghệ
Theo https://vanhocsaigon.com/

Rừng Mã Sa hoa đỏ

Rừng Mã Sa hoa đỏ

Chỗ này nhìn lên là Tả Van, nhìn xuống là Bản Hồ. Nhà Sìn ở đây. Sau này có trẻ con, chúng nó cũng ở đây. Rồi sau này nữa, trẻ con nhà Sìn sẽ lại lấy vợ lấy chồng, con trai có thể lên Tả Van tìm vợ vì mẹ nó là người Mông, con gái có thể xuống lấy chồng Bản Hồ vì bố nó là người Tày…
Sìn bước những bước xiêu vẹo, hai chân đi như vẽ lên mặt đất, đầu chúi về ngược dốc. Cả cái Bản Hồ này ai mà chả chúi đầu về phía trước. Ông bà tổ tiên, người già cho đến trẻ con đều thế. Không chúi thì đố mà bước được nhé, đố mà leo được nhé…
Sìn đang vào Tả Van rồi. Cái chân vẽ hoa lên mặt đường đưa Sìn rời xa Bản Hồ. Đang xa dần, xa dần… Xa dần Bản Hồ cũng có nghĩa là gần lại với Tả Van. Tả Van ở trên khoanh thứ chín kia, nơi khoảng sương u u mê mê kia. Bước chân vào cõi sương ấy là thôi không thấy gì nữa, tất cả chỉ là một thứ ảo mờ… Nhưng Sìn sẽ không lên đến Tả Van, Sìn chỉ đi qua đó thôi. Sìn đến thị trấn. Sìn đi tìm Seo Ly.
Sìn mở nút nậm hớp một ngụm rượu. Nậm rượu trên tay Sìn là thứ rượu cất từ hạt mã sa. Hạt mã sa ấy chỉ riêng Sìn có thôi. Rượu mã sa làm cái mắt Sìn nhảy nhót. Nhưng Sìn vẫn thấy rõ Bản Hồ với những nếp nhà sàn bé bé. Chỗ có cây sa mộc kia là nhà lão Chảnh. Cái nhà có cái chuồng lợn bên trái kia là nhà A Mộc. Và đằng sau nhà A Mộc chính là nhà Sìn, to và cao hơn gấp mấy lần nhà khác.
Bản Hồ của Sìn nằm dưới lòng thung, không khí trong suốt, mát lành như con suối. Con suối A Qua có thể nhìn thấy từng nét vân viên đá cuội, từng cái quẫy đuôi của con cá trầm hương. Con suối ấy cho điện thắp sáng. Sìn đã làm cho cả Bản Hồ có cái ánh sáng thay cho cái đèn dầu bằng chính con suối ấy. Cũng nhờ con suối ấy, Sìn quen được Seo Ly.
Seo Ly dẫn khách Tây thăm suối A Qua rồi lại bì bạch ngược lên thác Lao Chải. Mặt chạm mặt mấy lần, nhưng không hỏi. Sìn ngơ ngẩn nhìn theo cái dáng đi của Seo Ly uốn lượn theo nếp váy thổ cẩm xúng xính mà thấy chóng mặt, thấy chân tay bủn nhủn. Thế rồi tuần nào mà Seo Ly không xuống thì Sìn thấy cồn cào trong dạ. Cồn cào vậy thôi, chứ Sìn biết người Tày chẳng thể lấy người Mông, và người Mông cũng chẳng lấy người Tày. Bao đời nay không hề có chuyện đó.
Một lần Seo Ly dẫn thằng Nick lên thăm thác Lao Chải. Thằng Nick không biết nông sâu, cứ đòi mò vào tận chân thác nước. Nó không biết rằng con nước từ đỉnh Cao Liên đổ xuống ầm ầm đã tạo nên một cuộn xoáy tút hút. Nick hăm hở bơi vào liền bị hút tõm xuống đấy. Seo Ly hét rất to nhưng thác Bản Hồ hét còn to hơn. Khi Seo Ly hốt hoảng chạy ra, hai tay giơ lên khoảng không chơi vơi cầu cứu, Sìn đã hiểu ngay. Sìn lao ào xuống suối, luồn mình lặn sang bên kia động đá kéo được thằng Nick như một con trâu cày ra. Từ đó Seo Ly hay dẫn khách về nhà Sìn ở.
Tuần nào Seo Ly cũng xuống Bản Hồ, và tuần nào cũng đưa khách về nhà Sìn. Khách ở nhà to, sàn gỗ nâu bóng, chăn bông con công đỏ chói, gối hoa chuối rừng đỏ chói. Seo Ly nằm trong cái buồng con con ở sườn sau, Sìn nằm ở tầng dưới, ban đêm, giường Sìn kêu khọt khẹt, dầm tre trên đầu Sìn, nơi Seo Ly nằm cũng kêu khọt khẹt. Buổi sáng, đã mấy lần Sìn chạm mặt Seo Ly ở cầu thang, khi Sìn dậy sớm đi ra thủy điện, Seo Ly không hiểu sao cũng đã dậy, ngồi ngẩn ngơ bên bậc gỗ. Một sáng Sìn đã định đi, bắt gặp ánh mắt Seo Ly nên dừng lại hỏi nhỏ:
– Ra suối với tôi không?
Seo Ly vội cụp ánh mắt xuống, không nói. Sìn đứng một lúc rồi cũng lững đững bước. Đi được chừng chục tấc thì Seo Ly chạy với theo bảo:
– Cho tao theo với!
Hai người ra suối A Qua. Thăm thủy điện xong rồi thì ngồi xuống phiến đá chắn dòng nước. Seo Ly tháo xà cạp rửa chân, cái chân Seo Ly trắng, trắng quá. Bởi vì chân con gái Mông cuốn xà cạp từ nhỏ có để ánh nắng rọi vào bao giờ đâu. Tay Sìn mơn man dòng nước, rồi thì mơn man hai bàn chân Seo Ly kì nhè nhẹ. Seo Ly thấy run chân, run mãi lên trên. Từ bữa ấy, hễ có Seo Ly đi khách về Bản Hồ thì thế nào buổi sớm hai người cũng ra suối. Qua dăm bảy bận thì Seo Ly nhìn Sìn lạ lắm, ánh nhìn thăm thẳm, sâu như vực nước dưới thác Lao Chải và trong như nước suối A Qua. Ánh nhìn làm cho cái lồng ngực Sìn đã nhiều lần nhộn lên. Nhưng Sìn biết, nếu bảo cưới Seo Ly thì bố Sìn cũng chẳng cho đâu.
Tối hôm ấy ánh trăng sáng quá, sáng đến lay lắt, Sìn ngồi nhìn đàn cá trầm hương bơi lượn, nhìn những viên đá cuội trắng dưới đáy suối A Qua. Sìn vục tay nhặt một viên cuội trắng, cứ ngồi mân mê mãi bên phiến đá ngăn nước thủy điện, khi trở về thì ánh lửa trong bếp đã tắt, mọi người đã đi ngủ. Sìn về phòng nghe tiếng khọt khẹt của sàn tre phòng Seo Ly, Sìn rón rén thò tay chọc chọc lên những dầm tre trên đầu, Seo Ly giả đò ngủ mơ ú ớ nhưng cũng thò tay ra, thế rồi hai ngón tay gặp nhau, ngoắc vào nhau. Sìn kéo ngón tay cong như câu liêm giật giật. Một lát sau thì Seo Ly tụt xuống cầu thang. Ngực Sìn rộn lên, chân tay rổn rảng. Hai người dắt tay nhau nhẹ như con sóc luồn ra bờ suối. Sìn đỡ Seo Ly ngồi xuống phiến đá, phiến đá như chiếc gối bông dành cho khách trọ, khiến hai cơ thể như là nhún nhảy. Sìn nắm tay Seo Ly, Seo Ly cứ để như thế. Sìn ngồi sát vào Seo Ly, ánh trăng khiến bóng Sìn phủ lên người Seo Ly, hai cái bóng dồn thành một đổ trên mặt nước, nước chảy làm chiếc bóng chuyển động, rung rinh rung rinh. Rồi thì nước không chảy cái bóng cũng chuyển động rung rinh, bóng hai cái đầu cứ tách ra rồi nhập lại, xoắn xuýt trên mặt suối… Sìn lần nút áo Seo Ly, Seo Ly vẫn để yên như thế. Sìn lần xuống váy Seo Ly, Seo Ly đưa tay giữ tay Sìn. Sìn gỡ nhẹ tay Seo Ly, tay Seo Ly lơi dần… Đúng lúc đó thì một tiếng “bùm” rõ to khiến cả hai giật thót. Vật gì đó bị ném xuống suối như một nỗi tức giận tột độ, bọt nước bắn tung tóe ướt cả mảng đùi trắng nõn của Seo Ly. Bóng bố Sìn sừng sững trên bờ cao, một tay lăm lăm con dao quắm, tay kia là khúc cây rừng. Cả hai thảng thốt ngước nhìn, người đàn ông lừng lững trước ánh trăng không nói không rằng, tay trái giơ cao đoạn cây rừng, tay phải vung dao chém phăng làm hai đoạn.
Đoạn cây bị chém rời lao vù qua tai Sìn cắm phập xuống mặt nước. Sìn đứng dậy ngẩn ngơ như người mơ ngủ, rồi chợt rùng mình nhảy tùm xuống suối lặn một hơi dài. Người đàn ông lừng lững đảo bước về phía nhà sàn. Còn lại bóng Seo Ly chết lặng, đông cứng trên mặt suối. Đêm ấy Seo Ly không về nhà Sìn, Sìn quay lại suối tìm cũng không thấy, đi khắp Bản Hồ tìm cũng không thấy, sáng ra thì thấy Seo Ly đứng đợi khách ở đầu dốc, lúc ấy bố Sìn đã dậy ngồi lừ lừ bên bếp lửa, Sìn nhìn thấy Seo Ly mà không dám gọi. Những lần sau Seo Ly vẫn về Bản Hồ nhưng không ở nhà Sìn nữa. Sìn đón đầu để gặp thì Seo Ly tránh mặt, quay ngoắt đi, coi Sìn như con hươu con nai. Vài bữa thì thấy Seo Ly dập dìu với thằng Nick. Thằng Nick mới trở lại Việt Nam, trở lại thị trấn phố núi.
Nhìn thằng Nick kéo Seo Ly dập dìu khắp Bản Hồ, lòng Sìn như dao cứa… Seo Ly thì thản nhiên như không.
Núi Cao Liên như cái lòng chảo. Người Mông ở trên vành chảo, người Tày thì ở mãi đáy chảo. Con gái Tả Van lớn lên cũng chỉ hướng về thị trấn. Thị trấn đông vui, có nhiều người lạ, có bán cái ô che đầu, cái gương soi mặt, có bán hộp sáp nẻ bôi môi, có nhiều thứ mà ở Tả Van không có. Những thứ đó trước đây Seo Ly thích lắm, nhưng từ ngày đi khách thì không thích nữa, bởi Seo Ly đã có ba thỏi son môi, hai hộp phấn một trắng một hồng. Lúc đầu Seo Ly không biết đi khách. Nhưng rồi Sa Mỷ rủ… Nhà Sa Mỷ không có mẹ. Mẹ Sa Mỷ đã ăn lá ngón chết từ khi Sa Mỷ còn bé tí. Bố Sa Mỷ lại thích uống rượu nên Sa Mỷ đi thì đi, về thì về. Lúc đầu thì Sa Mỷ mặc váy thổ cẩm. Sau trời rét quá, Sa Mỷ khoác thêm cái áo gió ra bên ngoài, cái chân thay vì cuốn xà cạp là xỏ vào đôi ủng. Nhưng mà váy Mông xoè rộng vẫn có chỗ cho rét chui vào, thế là Sa Mỷ bỏ váy thổ cẩm mặc quần bò. Mặc quần bò ống bé tí, rét hết đường chui ngược lên, tha hồ mà ấm. Mặc quần bò thì bên trên không thể mặc áo thổ cẩm, thế là có lần Sa Mỷ mặc áo len bên trong, áo gió bên ngoài. Con gái Mông nhìn Sa Mỷ thì vừa thích được giống như Sa Mỷ nhưng cũng lại sợ giống như Sa Mỷ. Sau này Seo Ly thấy ban đêm Sa Mỷ còn thay ủng bằng bốt đi chơi với Thomas. Bốt cũng cao như ủng nhưng bó sát chân giống xà cạp hơn, cái đế của nó cũng không thấp và dẹt như ủng, nó làm cho Sa Mỷ cao hơn, gần với Thomas hơn. Thomas thích đi với Sa Mỷ vì Sa Mỷ biết uống nhiều rượu, lại biết hút cả thuốc. Con trai Mông không ai nghĩ đến chuyện bắt Sa Mỷ về làm vợ. Con trai Mông thích những cô gái cuốn xà cạp, mặc thổ cẩm và ít đi chợ thôi, giống như Seo Ly vậy. Vì thế Sa Mỷ chẳng lo gì bị bắt chồng. Còn Seo Ly và bọn con gái thì sợ lắm. Sợ là sợ bị bắt giống như mẹ Sa Mỷ ấy. Ngày trước mẹ Sa Mỷ thương bố Seo Ly, nhưng bố Seo Ly còn chưa dám bắt thì bố Sa Mỷ đã bắt trước rồi. Người Mông là thế, con trai Mông thích đứa con gái nào thì bắt đưa về nhà. Mình không thương mà cái bụng nó muốn thì nó vẫn cứ bắt, cái tay mình có bám vào cây rừng đến chảy máu, cái chân mình có bấm vào đá núi đến bật móng thì nó vẫn cứ khoẻ hơn, nó vẫn cứ lôi về nhà nó. Thế nên Seo Ly sợ. Bố Seo Ly cũng sợ. Sợ nên trông con gái kĩ lắm. Lẽ ra bố chả cho Seo Ly đi khách đâu, nhưng dạo ấy nhà không còn cái ăn, và người rủ lại là Sa Mỷ. Mà Sa Mỷ thì giống mẹ quá…
Buổi sáng, Sìn thấy Seo Ly khoác tay thằng Nick bước dập dìu qua đầu hồi nhà. Lòng Sìn đắng chát. Sìn lên nhà ngồi uống rượu… Nhưng rượu cũng đắng chát, Sìn vứt bát bỏ đi… Cái chân đưa Sìn ra suối, chỗ thuỷ điện, Sìn nhìn thấy Seo Ly cùng với Nick ở mạch nước nóng. Nick ngoắc tay ý chừng rủ Seo Ly cùng tắm, Seo Ly lắc đầu nhưng khi nhìn thấy Sìn thì ào theo Nick. Bên suối có hoa chuối đỏ, hơi nước nóng bay mịt mù. Seo Ly nắm tay Nick mắt nhìn về phía Sìn cười khanh khách, Sìn nghe muốn nổ cái bụng. Mạch nước nóng chảy từ phiến đá cao bằng hai đầu người thành hình vòng cung đổ xuống. Seo Ly lại rủ Nick chui qua làn nước ấm vào bên trong. Bên trong là một khoảng trống được che bởi bức rèm nước bắt nắng như thuỷ tinh óng ả biến cái động thành hoa nước. Nick hét thi với tiếng nước chảy man dại. Seo Ly cũng hét. Hét… Hét… Sìn không thể chịu nổi nữa. Sìn chạy lên đỉnh dốc đấm tay vào đá núi, những ngón tay Sìn tóe máu. Sìn ngồi bên phiến đá có bụi mã sa đỏ đưa tay liếm những vệt máu, máu đắng chát, bầm đỏ như màu hoa mã sa. Sìn vươn tay vặt bông mã sa nhấm nháp, hoa mã sa tê tê, ngòn ngọt… Sìn cứ giơ nắm bông mã sa trước mặt nhìn mãi, nhìn mãi… Loài cây dại của rừng già Cao Liên có gì đó rất lạ. Và Sìn cứ nhìn mãi bông mã sa tím đen màu máu.
Rất lâu sau mới thấy Seo Ly cùng thằng Nick ngược dốc. Seo Ly đứng lại nhìn Sìn rồi lại đi tiếp. Sìn đứng phắt dậy chạy tới kéo tay Seo Ly: “Seo Ly! Đứng lại tôi nhờ một tí đi!” “Gì vậy Sìn?”, Seo Ly hỏi, miệng nhếch cười. Sìn ngần ngại nhìn Nick. Nick quay gót bỏ đi. Sìn nhìn cái mặt thằng Nick, cái dáng đi của thằng Nick thì thấy rõ nó không yêu thương gì Seo Ly rồi. Seo Ly bảo phải đi, sợ thằng Nick đợi. Nói rồi Seo Ly bước vội lên dốc, hai bóng người cứ mãi xa nhau ra. Sìn bực lắm nhưng lại nghĩ, chắc Seo Ly không thích thằng Nick đâu. Seo Ly chỉ trêu tức Sìn thôi. Sìn không được buồn. Sìn phải làm một cái gì đó cho Seo Ly biết cái lòng mình chứ!
Hôm sau Sìn xách dao lên khoanh dốc thứ năm phát cây rừng. Cây rừng khô, Sìn khoanh vùng, mồi lửa. Lửa cháy xong thì Sìn vác mai lên vạt rừng đào gốc chốc rễ cây dại. Bàn tay Sìn phồng rộp, cây mai sáng quắc lên. Sìn vào rừng đốn cây tre cây luồng về san nền dựng lên một cái chòi con bên vạt rừng vừa vỡ. Sìn đi tìm những hạt mã sa về gieo.
Seo Ly đi, một tháng không thấy, hai tháng không thấy… Những cây mã sa lớn dần. Mùa hoa nở, vạt rừng bỗng trở nên khác lạ, tất cả bao trùm một màu đỏ tía đến ma mị. Dân Bản Hồ đi chợ đồn đại về một loài cây lạ không biết người ta trồng nó để dùng vào việc gì. Khách Tây qua lại dừng chân xin chụp ảnh, đội quân đi khách đòi ngủ lại căn chòi qua đêm nhưng Sìn không cho. Khu vườn này Sìn chỉ dành cho Seo Ly mà thôi. Thế mà Seo Ly thì vẫn bặt tăm, không một lần về qua vạt rừng mã sa. Chả mấy chốc đã đến mùa hoa tàn hoa, mã sa tụ quả, quả già tụ hạt. Sìn gom những quả mã sa giũ ra hàng đống hạt, đựng kín trong ba bồ nhỏ trong chòi. Sìn đã có cả một vạt rừng với những cụm hoa mã sa màu đỏ tía, mạnh mẽ, bung súc. Sìn nhìn những bông hoa mã sa nghệt mặt cười. Phải rồi, Sìn phải lấy Seo Ly thôi. Lấy Seo Ly, người Mông không cho ở
Tả Van, người Tày cũng không cho ở Bản Hồ thì Sìn sẽ làm nhà chỗ này, bên rừng mã sa này. Chỗ này nhìn lên là Tả Van, nhìn xuống là Bản Hồ. Nhà Sìn ở đây. Sau này có trẻ con, chúng nó cũng ở đây. Rồi sau này nữa trẻ con nhà Sìn sẽ lại lấy vợ lấy chồng, con trai có thể lên Tả Van tìm vợ vì mẹ nó là người Mông, con gái có thể xuống lấy chồng Bản Hồ, vì bố nó là người Tày. Và chúng nó lại có trẻ con nữa. Trẻ con nữa lớn lên cũng sẽ ở quanh đấy. Thế rồi cái chỗ đất mà Sìn và Seo Ly dựng nhà ấy sẽ dần dần lớn lên thành bản. Cái bản ấy sẽ to dần lên. Bản người Mông và bản người Tày cũng to dần lên, và con đường nối giữa bản người Mông và người Tày sẽ ngắn lại. Đến một lúc nào đó đầu của bản này nối với đuôi của bản kia, thế là tất cả sẽ thành một bản lớn. Sìn nghĩ thế và nhìn những bông mã sa nghệt mặt ra cười. Sìn thấy vui lắm.
Sìn đong dăm đấu hạt mã sa đem ủ men cất rượu. Rượu mã sa có cái hăng của con nước rừng già Cao Liên, có vị thơm của cỏ non mùa xuân dưới lòng thung, có vị ngọt dịu dàng nơi cổ họng, có vị tê gài gại nơi đầu lưỡi. Sìn mang hạt mã sa tách vỏ đem hầm. Cháo mã sa thơm như cá trầm hương dưới suối A Qua và ngọt như lõi ngô tươi trên hốc đá. Đêm đêm, Sìn ngồi bên bếp lửa trong chòi hoang uống rượu mã sa, lòng thầm gọi, Seo Ly, Seo Ly ơi… Có đêm, trong men rượu, Sìn thấy mình và Seo Ly lướt trên những bụi mã sa. Seo Ly mặc bộ váy áo của con gái Mông sặc sỡ thơm mùi thổ cẩm, đầu đội khăn, cổ đeo vòng bạc kêu leng keng theo mỗi bước chân. Sìn mặc bộ đồ của con trai Tày màu chàm, đầu đội mũ nồi, chân đeo giày mới. Hai người cũng lướt trên triền núi, bay là là trên khu vườn mã sa đỏ tía. Rồi hai người dắt nhau đi trong rừng mã sa bạt ngàn khắp những triền núi. Đi chán trong rừng mã sa, mỏi cái chân thì hai người ngồi nghỉ bên phiến đá. Sìn ngắt bông mã sa gài lên ngực áo Seo Ly, Seo Ly đưa tay giữ nguyên tay Sìn trên ngực mình… Sìn lâng lâng, lâng lâng trong men lá…
Nhưng rồi Sìn đã phải rất buồn. Đám đi khách người Mông đi qua bảo, Nick đã đem Seo Ly về xuôi rồi, còn lâu mới về. Sìn hộc lên, chạy như con trâu điên trên vạt rừng mã sa. Rồi Sìn dừng lại tìm lửa. Sìn châm lửa đốt, rừng mã sa cháy rần rần, những thân cây mã sa tươi bén lửa nổ bem bép… Sìn ngồi bên vạt rừng chỉ còn lại những thân cây đen nhẻm, trơ trụi.
Sìn buồn nhưng vẫn chưa tin Seo Ly đã theo Nick về xuôi. Chúng nó cứ nói vậy để làm khổ Sìn thôi, và Sìn cứ hết say rồi tỉnh, hết tin lại ngờ. Đùng một cái, thằng Thomas bảo sẽ cưới Sa Mỷ. Thomas bảo nếu Sa Mỷ lấy Thomas thì bố Sa Mỷ sẽ có rượu uống đến lúc chết. Cả thị trấn đồn ầm lên như thể đỉnh Phanxipang không còn nữa. Cả Bản Hồ cũng đồn ầm lên cái tin Sa Mỷ sắp lấy chồng Tây. Cả tuần ấy Sa Mỷ không đi khách nữa mà ở nhà dệt cho Thomas bộ thổ cẩm dài gấp đôi bộ của con trai Mông để mặc trong lễ cưới. Trong khi đó thì Thomas bay về đón bố mẹ sang lo cưới hỏi. Tin ấy làm chấn động cái đầu của Sìn. Đám cưới của Sa Mỷ và Thomas, Sìn đã đến dự. Đến để uống rượu thì ít, mà để nghe tin về Seo Ly thì nhiều. Bố Sa Mỷ say mèm. Sa Mỷ cũng líu lưỡi mềm môi. Thomas cũng lập bập hàm răng, chân xoắn quẩy khóc cười man dại. Thomas đưa tay quệt nước mắt, rồi quệt rượu ngô vương trên mũi, màu chàm từ quần áo loang lổ khắp mặt nhìn ngồ ngộ, giống như trẻ con Mông ham chơi ngày tết quệt tay vào quần áo bôi bẩn má hồng. Đám cưới xong, Thomas đưa Sa Mỷ về khách sạn trên thị trấn. Trước khi đi, Sa Mỷ kéo Sìn lại một góc nói thầm… Rừng Cao Liên như sập xuống. Sìn chạy về khoanh núi thứ năm đá tung bồ hạt mã sa, xoè diêm châm bùi nhùi đốt nốt căn chòi. Căn chòi bén lửa cháy đùng đùng, tre luồng nổ đôm đốp oằn oại một góc rừng…
Đã hai ngày Sìn lang thang trong thị trấn. Rượu cất bằng hạt mã sa giúp Sìn đi tìm Seo Ly không biết mệt. Ngày thứ ba thì Sìn thấy Seo Ly run bần bật phía sau nhà thờ đá với một chiếc áo mưa mỏng tang trên người. Seo Ly choàng dậy toan chạy, nhưng Sìn đã kịp giữ lại:
– Seo Ly! Seo Ly!
– Mày về đi Sìn à.
– Seo Ly! Về đi…
– Tao không về đâu, tao cũng không lấy được mày nữa đâu.
– Sao thế Seo Ly! Vẫn lấy được mà…
– Cái bụng tao có trẻ con rồi. Tao không về Tả Van được… Tao cũng không về Bản Hồ đâu.
– Không. Về nhà của Sìn mà…
Tay Seo Ly dần mềm lại trong tay Sìn, thân thể lạnh cóng qua làn áo mưa run lên. Hai dáng người liêu xiêu trong sương núi xuôi dốc hướng về phía Tả Van. Seo Ly khệ nệ từng bước bên Sìn cố ghìm chân cho chậm lại.
Sìn dẫn Seo Ly về đến khoanh núi thứ năm vào lúc nửa khuya. Ánh điện dưới Bản Hồ đã chìm vào màn đêm. Sìn gạt tro tàn trên nền chòi cũ dọn chỗ. Lạ thay, hai bồ hạt mã sa còn lại vẫn nguyên xi, không hề bị cháy. Hai người ôm nhau ngủ, hơi than vẫn còn ấm nóng. Cây mai còn, dao rựa còn. Hôm sau Sìn vào rừng chặt cây dựng lên một căn chòi mới. Ban đêm, dưới ánh đèn, Seo Ly ngồi đập hạt mã sa và thổi vỏ. Sìn bắc nồi. Hương cháo thơm nồng lan toả, căn chòi trở nên ấm áp. Sìn ôm Seo Ly, vướng cái bụng to nên hai người không gần lại nhau được. Sìn đổi cách, vòng tay từ phía sau. Seo Ly thu mình ôm lấy cái bụng to. Sìn cũng co mình ôm Seo Ly. Sìn luồn tay vào trong váy Seo Ly. Cái bụng đã to quá rồi. Chắc chỉ nay mai thôi là Seo Ly sẽ trở dạ. Kéo váy xuống cho Seo Ly, Sìn lại ngồi uống rượu mã sa bên bếp lửa. Trong góc, Seo Ly ngồi gục mặt giữa hai gối, hai gối không thể khép kín nên thành ra gục mặt xuống khoảng không tăm tối, sâu hoăm hoắm. Sìn uống một bát, rồi một bát… Ánh lửa nhảy nhót trong mắt. Mùi cháo mã sa ngầy ngậy. Một bát… Một bát… Ánh lửa nhảy nhót trong đầu. Phải rồi, Sìn sẽ đi tìm thằng Nick, Sìn sẽ hỏi nó xem mày có dám cưới Seo Ly không? Tại sao mày lại bỏ Seo Ly?… Sìn sẽ đi… Sẽ đi… Nếu nó bảo cưới thì sẽ lôi cổ nó về căn chòi này để Seo Ly lựa chọn. Không, chắc chắn là không, vì nếu muốn cưới nó đã không để Seo Ly thế này. Thế thì phải hỏi tội, hỏi tội thằng Nick trước khi Sìn cưới Seo Ly. Thằng Nick chắc hẳn ở trên thị trấn, phải rồi, Sìn sẽ lên thị trấn, sau đó Sìn sẽ đi mua một số thứ cho việc sinh nở của Seo Ly, một ít vải, một ít khăn, một chiếc chậu và một chiếc can đựng nước. Phải rồi… Sìn đứng lên, tay ôm nậm rượu lách xuống căn chòi, nghĩ thế nào lại quay lên xách theo cây mai. Ngoài trời bảng lảng, những thân mã sa bị đốt tươi khoác bộ mã đen thui nay đã tuột vỏ nhe bộ xương trắng ởn, se sắt trong sương mù…
Sìn đi như chạy trên những khoanh núi. Mây mù từ trên cao lao sầm sập xuống táp thẳng vào mặt Sìn. Mặc. Sìn muốn đi thật nhanh, thật nhanh để gặp thằng Nick. Đến thị trấn, có người bảo nhìn thấy thằng Nick đi vào rừng rồi. Sìn theo hướng tay chỉ đi tiếp. Sìn đã tìm ở tất cả những chỗ những người khách Tây thường tới, nhưng không thấy Nick. Khi chân đã mỏi, Sìn định quay về. Thôi, thằng Nick đã đi thì kệ nó. Sìn không cần tìm nữa. Sìn mua vội mấy thứ rồi vội vã quay xuôi. Sìn phải về thôi. Về với Seo Ly. Nghĩ thế Sìn thấy lòng vui lắm.
Nhưng rồi cái chân Sìn đã phải dừng lại ngang đường. Có tiếng động gì lạ quá! Như tiếng vật nhau. Không phải tiếng vật nhau. Ô kìa! Có phải thằng Nick không?! Mắt Sìn hoa lên… Thằng Nick đang vật lộn với một đứa con gái thổ cẩm trong căn chòi hoang của người Mông bên đường, tấm thân lông lá oằn oại. Sìn sấn tới. Thằng Nick giật mình bỏ dở việc đang làm, ngoái xuống từ bụi dã quỳ. Mất một lúc, Sìn đứng chôn chân như cây rừng. Đứa con gái Mông luống cuống thu váy áo chạy mất hút. Đến khi thằng Nick lồm cồm bò dậy vớ cái quần tròng vào chân thì Sìn mới bừng tỉnh xông tới giật cái quần thằng Nick đang mặc. Thằng Nick đang chân co chân duỗi nên ngã nhào xuống cỏ. Sìn chạy lại giật phăng cây mai lao đánh phực một nhát. Thằng Nick co rúm người lại, run như cầy sấy. Cây mai của Sìn lao tọt qua háng nó, ăn ngọt xuống đất ở khoảng không giữa hai đùi có cái quần án ngữ ngang kheo làm thằng Nick không chảy máu nhưng cũng không mặc được quần, không đứng lên được. Sìn bỗng bật cười sằng sặc. Sìn cúi xuống túm bộ râu hoe vàng trên cằm Nick kéo mặt nó ngửa lên. Sìn cầm nậm rượu mã sa đổ vào miệng thằng Nick làm nó ho sặc sụa. Thế là Sìn móc ngay cái diêm xoè lửa. Chòm râu ngô hoe vàng bị tẩm rượu bắt lửa cháy bùng lên. Cái miệng lửa hoảng hốt, ú ớ. Sìn đứng lên và bỗng phát hiện ra chỗ cái háng thằng Nick đang cố khép lại cũng là một chùm râu ngô hoe vàng. Sìn cầm nậm rượu còn chút ít đứng tưới từ trên cao. Thằng Nick chợt hiểu, nó lồng lên túm lấy chân Sìn mà cắn. Sìn co chân còn lại đạp vào giữa mặt nó, trong khi tay thì xoè diêm. Bụi râu ngô bắt rượu mã sa bùng cháy, lép bép. Thằng Nick lăn lộn, cây mai bị lung lay rồi đổ oạch xuống. Thằng Nick điên cuồng vơ những lá, những bông dã quỳ nhai nhổ nháo rồi áp vội vào chỗ có cái đi tè. Rồi nó co cẳng chạy. Sìn đứng ngẩn nhìn theo, rồi như chợt tỉnh chộp lấy cây mai giơ lên nhằm cái lưng to bè của thằng Nick. Nhưng rồi tay Sìn từ từ hạ xuống…
Chạy. Sìn chạy như thể chỉ muốn lướt xuống từng khoanh núi. Giá không vướng mấy thứ trên tay thì Sìn lăn thẳng từ trên cao xuống như một hòn đá chắc sẽ nhanh về tới nhà hơn. Hôm nay trời thật lạ. Mây mù từ phía Tả Van tràn xuống dễ đến tận khoanh thứ năm. Trời lạnh tê tái. Cá trầm hương dưới suối A Qua đang bơi bị cóng cứng đơ giữa dòng nước. Những bọt nước thác Lao Chải tung lên đọng thành băng giá. Tai Sìn nghe tiếng thở ù ù.
Khoanh thứ năm… Rừng mã sa… Căn chòi nhỏ… Seo Ly… Sắp tới rồi… Sìn chạy. Không, Sìn bơi trong mây, mù mịt và lạnh cóng, bồng bềnh, bồng bềnh… Sắp tới rồi… Mù dày đặc quá, Sìn không thể nhận ra đâu là khu rừng có những xương cây mã sa, đâu là đoạn đường có căn chòi nhỏ. Chạy… chạy… Đoạn này đã ít mù hơn, nhìn được đôi chút. À, sắp tới rồi, Sìn đi chậm lại. Đây rồi, rừng mã sa với những xương cây trắng. Thật kì lạ, khu vườn nằm ở khoảng giữa mây mù và trời trong, dưới kia là Bản Hồ của Sìn, những nếp nhà sàn, cây sa mộc, đôi làn khói bếp… Thoáng chút tần ngần khi ánh mắt nhìn xuống thung lũng, Sìn xoay lưng táp vào sườn núi rẽ vào lối lên nhà mình. Mấy thứ đồ mang theo làm cho bước chân vướng víu, Sìn xốc lại chúng trên tay chuẩn bị trèo. Người Sìn run lên, tay túm những thứ lủng củng đi từng bước nặng nhọc. Chưa tới chòi miệng Sìn đã gọi, Seo Ly, Seo Ly ơi… Nhưng lạ quá, không nghe tiếng trả lời. Seo Ly! Seo Ly! Sìn gọi to hơn. Vẫn không có tiếng trả lời. Sìn ào vào giật phăng cánh cửa liếp ra. Và Sìn chết lặng. Trong chòi, Seo Ly nằm cứng đơ. Dưới váy Seo Ly là sợi dây rốn lòng thòng nối với một đứa bé tóc vàng tơ, bết máu đỏ bầm. Sìn nhào lại ôm lấy Seo Ly lay lắc: Seo Ly! Seo Ly! Tôi đã về đây rồi! Tôi đã về đây rồi! Nhưng Seo Ly đã lạnh cóng. Bỗng Sìn giật bắn mình bởi đứa bé bất ngờ e lên, nhỏ như tiếng con chuột kêu. Sìn căng mắt nhìn. Đứa bé đang hi hóp thở. Hơi thở mỏng như sương…
Trên đường từ Bản Hồ đi lên Tả Van bây giờ, ở khoanh núi thứ năm, nơi sương núi bảng lảng vây quanh, người ta vẫn thấy một người đàn ông Tày và một thằng bé tóc vàng hoe sống trong căn nhà nhỏ giữa rừng hoa mã sa đỏ tía. Khách du lịch vẫn thường ghé đây uống rượu cất từ hạt mã sa. Bên bếp lửa mùa đông, nồi cháo mã sa sôi lúc búc mơ hồ. Người đàn ông chủ nhà ôm nậm rượu, mắt nhắm nghiền, cất giọng xa xăm. Câu chuyện về rừng mã sa được ông kể đi kể lại đến trăm lần…
2/10/2025
Nguyễn Xuân Thủy
Theo https://vanhocsaigon.com/

Mùa hoa sơn tra

Mùa hoa sơn tra

Núi xanh thẳm. Trời biêng biếc nắng. Cây sơn tra đã rụng gần hết những bông hoa cuối cùng. Sinh nằm vật ra đất mà khóc. Trời đất quanh chân Sinh đã sụp lún theo từng tiếng rưng rức ai oán. Sinh đau khổ, thất vọng nhưng Sinh không nỡ lòng trút bỏ mọi căm phẫn trong lòng vào người mẹ đang ốm đau trong tù.
Hồ sơ thi vào Học viện cảnh sát của Sinh đã bị loại. Khi nghe thầy cô giải thích, Sinh quá bất ngờ đến nỗi mãi một lúc sau mới đứng dậy được. Vậy là mười hai năm đèn sách, mười hai năm vượt qua mọi khó khăn để học lực luôn đứng tốp đầu của trường nội trú của Sinh đã không thể biến ước mơ duy nhất của Sinh thành hiện thực.
Trời tối nhọ mặt người, Hảng mới thấy Sinh trở về nhà với đôi mắt căng mọng như hai quả nhót chín. Hảng không nói lên lời, càng không dám hỏi xem Sinh đã xảy ra chuyện gì. Hảng không muốn giày vò thêm vào nỗi đau đớn của Sinh. Sinh là thằng em trai lì lợm nhất trong nhà, từ khi niên thiếu tới bây giờ, Hảng chưa bao giờ thấy Sinh khóc. Kể cả ngày cha mẹ bị bắt, Sinh không khóc mà chỉ nhìn mọi người với đôi mắt lạnh lùng, buồn thảm.
Hảng lọ mọ nhóm bếp, mấy hôm nay trời ẩm ướt khó chịu, Hảng khó khăn lắm mới gài được lửa vào mấy đầu củi. Từng đụn khói trắng bốc lên làm Hảng ho sằng sặc, nước mắt chảy ra đắng cả môi. Cầm tờ giấy nhàu nát xé ra từ quyển vở cũ của Sinh, có cái gì đó đang trào lên làm nghẹn cả cổ họng của Hảng. Hảng nhớ ngày ấy, Hảng đang học dở lớp chín, vào một ngày sương muối giăng đầy quanh các đỉnh núi nằm ở ngay đằng sau trường cấp hai bán trú của xã, Hảng nhận tin của chú Sùng phải về nhà gấp. Hảng đã xin thầy chủ nhiệm để về nhà vào buổi chiều.
Hảng đeo ba lô ra cổng trường chờ bố đi xe máy đến đón. Hơn nửa tiếng đồng hồ chờ đợi, Hảng vẫn không nghe thấy tiếng động cơ quen thuộc. Hảng quyết định đi bộ về, trong lòng thoảng qua một nỗi bất an mơ hồ. Hảng cố dìm nỗi lo sợ xuống đôi dép tổ ong loạt xoạt dưới con đường nham nhở ổ gà ổ voi. Hảng đi qua một con đường đất dốc vắt qua quả đồi đầy sỏi đá lẫn trong lớp đất đỏ vàng để đi vào bản. Hảng vừa đi vừa cúi mặt để ý tránh những bãi phân trâu la liệt trên đường vừa để lảng tránh khỏi những ánh mắt dò xét của những người trong bản, không hiểu nhà Hảng đã xảy ra chuyện gì mà người ta túm xụm vào bàn tán như thế. Những ánh mắt nửa thương hại, nửa tò mò giục bước chân Hảng trở nên vội vã hơn.
Hảng vừa chạy vừa thở hồng hộc để nhanh chóng về đến cửa nhà. Trong nhà trống trơn chả có ai. Mọi người đã đi đâu hết. Bố, mẹ, em Sinh, em Pàng, chả thấy ai cả. Sự trống vắng trong căn nhà quen thuộc càng khiến cho Hảng thêm lo sợ. Hảng lấy cốc nước uống một ngụm to để trấn tĩnh. Hảng đi sang nhà thím Mủa, cả em Sinh, em Pàng đều ở đây. Thím Mủa đã nói cho Hảng rõ tất cả, bố Hảng đi buôn ma túy bị công an bắt đi, mẹ Hảng cùng chú Sùng đã đi theo xuống huyện để xem xét tình hình. Hóa ra, dạo gần đây tiền sửa lại căn nhà gỗ thành căn nhà xây to nhất bản, tiền mua xe máy đều là tiền bố Hảng đi buôn chất cấm mang về cả. Đồng tiền kiếm được dễ dàng đã làm bố Hảng say, giờ thì khổ rồi…
Hảng đứng như trời trồng trước hung tin, lời của thím Mủa, Hảng nghe tiếng được, tiếng mất. Hảng không nhớ rõ ngày hôm ấy, Hảng đã làm thế nào để vượt qua được những biến cố bất ngờ ập đến cuộc đời Hảng lúc ấy. Hảng chỉ nhớ rằng, Hảng đã phải nghỉ học để ở nhà phụ giúp mẹ làm việc. Trước khi bố Hảng bị bắt, bố đã vay nợ lãi của người ta để đi lấy ma túy, tiền lãi mẹ đẻ lãi con mỗi ngày, mẹ con Hảng làm quần quật từ sáng tới tối để trả nợ. Một số tiền nợ quá lớn, vượt quá khả năng chi trả của mẹ con Hảng khiến cho mẹ Hảng chán nản, lại lao vào vết xe đổ của bố.
Số năm bố mẹ đi tù tới nay cộng lại đã bằng tuổi của Sinh. Từ ngày mẹ bị bắt, Hảng đã thề dù cho có khó khăn vất vả tới đâu cũng phải để cho em Sinh và em Pàng đi học tới nơi tới chốn. Hảng căm thù ma túy lắm, Hảng đã chứng kiến nhiều người sống khổ sở vì nó, gia đình ly tán cũng vì nó. Có một lần đi theo thím Mủa vào trại thăm bố, bố bảo Hảng phải lấy bố làm gương, đừng làm theo bố, để con cái phải bơ vơ côi cút, giờ đây bố đã hối hận lắm rồi!!! Hảng không hiểu lý do tại sao một người có uy tín lớn trong bản như bố của Hảng lại làm việc mà không suy tính đến hậu quả khiến cho cửa nhà tan hoang, mọi gánh nặng gia đình đổ sập vào đôi vai non yếu của Hảng.
Mải nghĩ, Hảng đã vuốt tờ giấy phẳng phiu lại tự bao giờ. Những ngày đầu bỏ học, Hảng nhớ lớp, nhớ bạn bè thầy cô lắm. Hảng vẫn lấy vở ra làm bài tập toán, từng con số cứ nhòe đi,… Hảng đã từ bỏ mọi mơ ước, mọi niềm vui riêng để cắm mặt vào ruộng nương, vừa làm trả nợ vừa nuôi các em ăn học. Thương anh, cả Pàng, cả Sinh đều chịu khó học hành. Bữa cơm đã nấu xong xuôi, cũng vừa đúng lúc Pàng gùi củi về tới nơi, ba anh em lặng lẽ ăn cơm bên bếp lửa ở giữa nhà. Nỗi buồn của Sinh tuy chẳng nói ra mà hình như cả Hảng và Pàng cũng đang cảm nhận thấy.
Sinh tỉnh giấc, ngoài trời đang đổ cơn mưa như bồi thêm vào nỗi buồn trong lòng của Sinh. Hảng, Pàng đã ra khỏi nhà từ sáng sớm để đi cấy. Trời mưa là có nước rồi. Sinh nhìn quanh, căn nhà trống huơ trống hoác, hai cái phản thay cho giường nằm đặt ở hai góc nhà đối đầu vào nhau, quần áo nhàu nhĩ vắt vội lên cái sào tre, mấy cái nồi nằm chỏng chơ trên nền đất lạnh. Sinh cảm thấy nỗi buồn lại lan ra, cắn mạnh vào lòng Sinh đau đớn. Sao mà nhà Sinh khổ thế, sao anh Hảng làm việc quần quật mà vẫn mãi không thoát ra khỏi cảnh nghèo nàn này.
Có tiếng dép loạt xoạt ngoài sân, có tiếng ho húng hoắng như đánh động. Sinh ngó đầu ra ngoài. Hóa ra là lão Đế, nhà ngay đầu bản chuyên thu mua nông sản, nhà lão Đế giàu nhất cái xã này, ai cũng biết. Sinh đang không hiểu lý do gì khiến lão Đế đội mưa tới nhà mình khi mùa này, trong nhà chẳng còn lúa, còn ngô để bán cho lão nữa. Sinh chào hỏi hết sức lịch sự, mời lão Đế vào nhà chơi.
Lão Đế to béo, làn da rám sạm, đôi mắt trắng dã hung hiểm. Lão Đế đặt mình lên chiếc ghế mây, đưa mắt nhìn quanh nhà một lượt, gã dò xét hỏi anh Hảng đi đâu. Sinh giật mình khỏi cái suy nghĩ thương chiếc ghế mây kẽo cọt chịu đựng sức nặng của lão Đế.
– Anh Hảng đã đi cấy từ sáng sớm. Ông có việc gì quan trọng thì cứ bảo, cháu về sẽ bảo lại cho anh ấy.
Lão Đế cầm cốc uống nước cũ kỹ vân vê trên tay rồi đặt xuống bên hòn đá cạnh bếp mà không uống một ngụm nào. Lão Đế nhếch mép, cười nhạt một cái. Sinh thấy mặt mình nóng lên, trong lòng cậu một nỗi tự ái cứ trào lên vật vã, Sinh thấy mắt mình cứ mờ đi theo từng câu nói của lão Đế.
– Mày biết đấy, trước khi bố mày đi tù đã vay của tao hơn ba trăm triệu. Rồi mẹ mày đi tù nốt, giờ không biết lấy ai trả tiền cho tao. Trước thì thằng anh mày nhận trả, thế mà đến mấy tháng nay tao không thấy nó mang tiền đến. Nó về, mày bảo với nó, thấy nhà mày chả còn cái gì đáng giá để bắt nợ, tao không lấy lãi mấy tháng vừa rồi, nhưng từ tháng này trở đi tao sẽ tính lãi cộng cả gốc, tới mùa tao thu thóc non. Anh em mày bảo nhau làm ăn để mà trả nợ cho tao…
Sinh nhìn theo bóng dáng lão Đế khuất sau màn mưa trắng xóa. Lúc này, cảm xúc dồn nén trong lòng Sinh bật cả ra, thi nhau rơi xuống đất. Thì ra anh Hảng đã giấu Sinh chuyện bố vay nợ để Sinh yên tâm học hành. Một mình anh Hảng đã phải nai lưng ra gánh vác tất cả. Sao anh ấy phải chịu đựng nhiều đến như thế. Trong lúc Sinh buồn bã chuyện này chuyện nọ thì anh Hảng ôm vào mình một mối lo lắng không biết san sẻ cùng với ai, chỉ biết lao mình vào làm lụng. Trời ơi, sao Sinh thấy mình vô dụng đến như thế này.
Khóc lóc ủ ê chán chê, Sinh ngồi dậy lôi sách vở ra xem rồi Sinh đem tất cả sắp xếp lại trên giá sách. Số sách này sẽ cần cho em Pàng. Sinh dọn dẹp lại căn nhà, lấy chổi quét tước cho sạch sẽ. Sinh ra đầu hè rút củi để nhóm bếp. Sinh sẽ nấu cơm mang ra ruộng, sẽ cùng cấy lúa với anh Hảng, với Pàng, cái gánh nặng trên vai anh Hảng, Sinh sẽ san sẻ cùng với anh. Ánh lửa bập bùng chiếu sáng một góc nhà đen kịt bồ hóng. Lửa ấm làm cho Sinh bình tĩnh trở lại.
Hảng không hiểu vì sao Sinh lại không chịu đi học đại học dù đã có tới mấy trường có giấy gửi về nhà. Hảng biết Sinh học rất giỏi lại là học sinh xuất sắc của trường, Hảng không muốn Sinh chôn vùi cuộc đời mình vào nương ngô nương lúa như Hảng, Hảng đã khổ rồi có vất vả hơn nữa Hảng cũng chịu để Sinh theo đuổi ước mơ của cuộc đời mình.
Thế nhưng, dù Hảng có động viên như thế nào Sinh cũng không chịu nghe lời Hảng tiếp tục đi học. Hảng không biết rằng Sinh cũng đấu tranh tư tưởng nhiều lắm trước khi quyết định ở nhà cùng anh làm việc để thoát khỏi cái nghèo đeo đẳng. Sinh không nỡ lòng để Hảng vì mình mà phải khổ sở hơn nữa. Nghĩ là làm, Sinh bắt tay vào làm ngay. Muốn làm cái gì cũng cần có vốn liếng để đầu tư. Đây là điều khó nhất với Sinh khi trong người cậu không có một xu dính túi.
Nghĩ mãi, cuối cùng Sinh đã đánh liều xuống trường vay tiền của cô Hoàng. Cô Hoàng từng là giáo viên chủ nhiệm năm lớp chín của Sinh, cũng từng là giáo viên chủ nhiệm của anh Hảng nên cô biết rất rõ hoàn cảnh gia đình Sinh. Sinh đi đôi dép rách đi học cô mua cho đôi mới, cái áo trắng đầu năm học của Sinh cũng là cô mua cho, thi thoảng cuối tuần về nhà trong cặp của Sinh thể nào cũng có bánh kẹo, khi thì cân đậu phụ, hạt rau, hoặc quần áo cũ cô Hoàng xin được từ người quen để mang về cho em Pàng.
Cô Hoàng rót nước cho Sinh uống. Sinh ngồi ở căn phòng tập thể của cô Hoàng đã nhiều lần, cô Hoàng thương Sinh, coi Sinh như con cái trong nhà, có gì ăn cô cũng gọi Sinh tới ăn cùng, ơn nghĩa của cô, Sinh không biết tới bao giờ mới trả nổi. Bây giờ ngồi trước mặt cô Hoàng, Sinh lại thấy hoang mang, ngại ngùng không biết nên nói thế nào với cô Hoàng. Cô hỏi han Sinh, động viên Sinh tiếp tục đi học lên cao nữa. Căn phòng trước mặt Sinh như đang rộng hẳn ra. Những lời Sinh muốn nói tắc lại ở cổ họng.
Sinh vặn vặn hai tay vào với nhau, lòng bàn tay toát hết cả mồ hôi, trong đầu Sinh cố sắp xếp lại từng câu từ để chuẩn bị nói ra với cô Hoàng. Cô Hoàng cũng thôi không nói gì nữa, chờ đợi câu trả lời của Sinh. Khi biết Sinh sẽ không đi học nữa mà quyết định ở nhà làm kinh tế, cùng với mục đích Sinh tới thăm cô ngày hôm nay thì cô Hoàng đã lặng người đi mất một lúc. Sinh đưa đôi mắt đau khổ nhìn cô Hoàng, Sinh biết những lời nói vừa rồi của Sinh đã khiến cô Hoàng buồn lắm, vì cô đã kỳ vọng rất nhiều vào sự học hành của Sinh, tin rằng Sinh sẽ có một tương lai xán lạn.
Không gian ngột ngạt, Sinh cảm tưởng như nhìn thấy cả những hạt bụi chao nghiêng rơi xuống nền nhà. Không biết trong lòng cô Hoàng đang nghĩ gì. Một nỗi thất vọng đang chuyển từ người cô Hoàng sang người Sinh. Sinh kìm nén không để nước mắt bật ra khỏi đôi mắt cay xè. Cuối cùng, cô Hoàng đứng dậy mở tủ lấy ra năm triệu đồng đưa cho Sinh trong sự ngỡ ngàng và xúc động tột cùng của Sinh.
– Cô tin trước khi tới đây gặp cô em đã suy nghĩ kỹ rồi. Cô biết hoàn cảnh nhà em khó khăn, chỉ hơi tiếc cho học lực của em. Mà thôi, em cầm tiền về, thực hiện mong muốn của mình đi. Em hãy nhớ làm gì cũng phải tính toán trước sau, cuộc sống không đơn giản như trong sách vở đâu em à. Cô chúc em sẽ thành công!!!
Đôi mắt Sinh rưng rưng xúc động. Sinh cảm ơn cô Hoàng rồi đi về. Từ trên đỉnh dốc nhìn xuống khu nhà tập thể, Sinh thấy cô Hoàng vẫn đứng ở cửa phòng dõi theo mình. Sinh lấy tay gạt ngang nước mắt trên mặt rồi phăm phăm bước về phía trước.
Vay được tiền của cô Hoàng cộng thêm số tiền bán thảo quả của anh Hảng để dành, Sinh đem tất cả sang huyện bên cạnh mua cá giống và năm con dê non về nuôi, bắt đầu công cuộc khởi nghiệp của mình. Sinh cùng với anh Hảng đào ao, dẫn nước về để thả cá nuôi. Đất đồi núi vừa khô vừa cứng lại nhiều đá, hì hục gần hai tuần đào đá xếp lên gần bằng cái nhà, Sinh mới đào xong cái ao rộng, bắt dẫn nước từ trên núi về. Xung quanh bờ ao, Sinh cắm một hàng sắn để sau này nhỡ bữa không đi cắt được cỏ thì bẻ lá cho cá ăn.
Nhìn những chấm đen tí hon tung tăng bơi lội trong nước, Sinh thấy lòng mình như đang sống dậy, những mong ước về một tương lai tốt đẹp sưởi ấm tâm hồn Sinh, giúp Sinh làm việc không biết mệt mỏi. Ngày hai buổi, Sinh lùa dê lên núi rồi tranh thủ lấy củi, cắt cỏ về cho cá, cuộc sống cứ bình yên trôi đi như thế.
Tiếng con ve rừng kêu inh inh hòa cùng với tiếng dế tạo ra một bản nhạc vui tai chào đón mùa hè tới. Những cơn mưa rào đầu mùa đã thay cho rừng núi một màu xanh non tươi mới.
Mùa hè năm nay thời tiết thay đổi đột ngột, lúc nắng lúc mưa đến nỗi đám chuồn chuồn chẳng kịp dự báo thời tiết, cứ bay loạn xạ trong không trung. Sinh bị cơn mưa hối hả làm cho nhiễm lạnh, bị ốm gần một tuần, lúc nóng lúc lạnh nằm li bì trên giường. Anh Hảng bê bát cháo đến bên giường giục Sinh dậy ăn. Sinh run rẩy ngồi dậy đỡ lấy bát cháo từ tay anh Hảng miệng vẫn không ngớt hỏi han anh Hảng về tình hình đàn dê đàn cá. Anh Hảng nói xong, Sinh mới yên tâm đưa bát cháo lên miệng. Uống tí thuốc cảm, Sinh lại nằm đắp chăn, miệng rên hừ hừ.
Ngoài trời mưa ào ào không ngớt, cơn mưa dai dẳng từ ngày này sang ngày khác, đoạn đường từ bản ra trung tâm xã, đất sạt mấy lần,  trưởng bản phải hô hào thanh niên đi sửa đường. Anh Hảng cũng đội mưa đi giúp. Sinh đang nằm một mình trong nhà bỗng nghe có tiếng ầm ầm, mặt đất rung chuyển như có vụ nổ. Sinh sợ hãi bật dậy, cố hết sức bò ra khỏi giường. Cả người Sinh ê ẩm, đầu đau như có ai đó gõ vào. Sinh hướng mắt nhìn về phía âm thanh phát ra rồi quỵ hẳn xuống bậc cửa.
Trước mắt Sinh là khoảng đất màu đỏ vàng lô nhô, nước không ngừng phun ra đỏ ngầu như một quả bóng nước vừa bị chọc thủng. Ao cá mà Sinh đang chăm chút, cái tương lai với viễn cảnh tuyệt đẹp của Sinh bị chôn vùi dưới lớp đất đó. Anh Hảng nghe tin chạy về nhà, mặc lời can ngăn của Sinh vẫn chạy ra vớt được mấy con cá chết ngợp mang về nấu canh. Sinh nằm trên giường ngửi thấy mùi cá tanh nồng không chịu nổi mà chạy ra đầu nhà nôn ra sạch sẽ.
Từ hôm đất sạt xuống ao cá, đàn dê của Sinh cứ ba ngày lại chết một con mà không rõ lý do. Anh Hảng tiếc của, con nào vừa chết hãy còn âm ấm là anh đem đi thui, cắt lấy bốn cái đùi đem đi ướp muối rồi treo lên gác bếp để ăn dần. Sinh càng ốm nặng hơn, trong cơn mơ sảng Sinh chỉ thấy một màu đen kịt, Sinh những tưởng Sinh sẽ không thể nào gượng dậy được nữa.
Hảng mặc trời mưa gió, chạy đi nhờ lão Đế lấy ô tô chở Sinh xuống bệnh viện huyện. Được cấp cứu kịp thời, cuối cùng Sinh vượt qua được cơn nguy hiểm. Cô Hoàng nghe tin Sinh ốm mặc dù đang trong thời gian nghỉ hè cô cũng đi xe từ dưới quê lên thăm Sinh. Những ngày ở trong bệnh viện nồng nặc mùi thuốc, với những lời động viên của người thân, đặc biệt là cô Hoàng đã khiến cho Sinh có thêm động lực để vượt qua bệnh tật. Có sức khỏe là có tất cả, ngã ở đâu thì đứng lên ở đó. Cô Hoàng đã bảo với Sinh như thế.
Sinh trở về nhà khi lúa chuẩn bị đơm bông. Công việc đồng áng tất bật đã giúp cho Sinh nguôi ngoai sự nuối tiếc về những mất mát trong quá khứ. Bố Sinh có hai người em trai, một người vừa mất, vợ bỏ đi, bỏ mặc hai đứa con bơ vơ. Hảng thương tình đưa hai em về cưu mang, khó khăn lại chồng thêm khó khăn. Cả ngày vất vả trên đồng ruộng đến bữa cơm ăn cả nhà năm đứa trẻ quây quần vui vẻ làm cho mọi mệt nhọc tan biến đi đâu hết.
Chú Páo là chú thứ hai, chú Páo từ nhỏ đã được ông bà nội nuông chiều. Khi ông bà nội già cả quyết định chia đều gia sản cho các con, riêng phần chú Páo được nhiều hơn. Chú Páo nổi tiếng chơi bời, chú không nghiện ma túy, không nghiện rượu nhưng lại thích chơi cờ bạc. Khi nhà Sinh lâm vào cảnh túng thiếu chẳng thấy chú Páo đến chơi nhà như trước kia nữa. Trời vừa sập tối, nồi cơm vừa bắc từ trên bếp xuống, đám trẻ con sắp bát đũa, cười nói chí chóe, Sinh vừa làm xong bát muối ớt chấm rau cải cay thì chú Páo đi vào. Hảng xởi lởi mời chú vào ăn cơm. Mọi người chưa hết bất ngờ về sự có mặt của chú Páo, thì chú đã ngồi xuống cạnh bếp dội ngay một gáo nước lạnh vào sự vui vẻ của đám trẻ.
– Hảng này, bố mày đi tù, mày thì chưa có vợ, cái khoảnh rừng được chia cho nhà mày làm thảo quả để chú giữ hộ cho.
– Nhưng mà cháu – Hảng sửng sốt…
– Không nhưng nhị gì cả, mày đã có vợ con gì đâu mà cần chỗ rừng đó làm gì. Tao lên thông báo với mày thế thôi.
Chú Páo đứng phắt dậy, ánh mắt lạnh lùng nhìn đám trẻ rồi cứ thế quay lưng đi ra cửa, bất ngờ như khi chú tới. Đám trẻ im lặng nhìn Hảng rồi nhìn nhau, ánh mắt buồn bã chạm vào bát cơm rau. Nỗi tức giận bừng cả lên mặt Sinh. Thấy Hảng im lặng, gương mặt buồn bã cúi nhìn xuống đất làm cho lòng Sinh càng đau đớn, tức tối.
– Chú Páo không có quyền gì cả. Anh Hảng không được đồng ý điều vô lý như thế chứ?
– Đấy là quy định từ xưa của bản mình rồi. Sinh bảo anh chống lại thế nào được…
Giọng Hảng đầy sự bất lực. Sinh cũng không biết nói gì thêm. Bữa cơm trôi qua trong không khí nặng nề, tối ấy đám trẻ con chỉ thầm thì vào tai nhau chứ không còn dám nô đùa lích rích như mọi ngày. Đêm dài lê thê trôi qua trong thinh lặng, bóng tối đã quen mắt với Sinh. Trong lòng Sinh những ấm ức cứ cuộn trào lên không để cho Sinh an ổn. Tiếng bọn trẻ thở đều đều, thi thoảng tiếng thạch sùng lại chậc chậc thả vào nỗi buồn mênh mang của căn nhà. Sinh biết, ở cái phản bên kia, anh Hảng cũng không ngủ được.
Sinh tỉnh dậy khi trời đã sáng rõ. Căn nhà vắng tanh, bọn trẻ con đã rủ nhau đi học cả, anh Hảng cũng đã đi đâu từ sớm. Sinh nghĩ mãi rồi, chỉ có tìm cách đi học, chỉ có kiến thức mới giúp được Sinh theo đuổi mơ ước của mình. Làm cái gì cũng cần phải am hiểu bản chất của nó mới có thể thành công được. Sinh cất công đi tìm cô Hoàng lần nữa. Cô Hoàng bảo Sinh xin đi học trường Trung cấp Nông nghiệp, vừa học vừa đi làm thêm ngoài để có tiền theo đuổi việc học tập, như thế là hợp lý nhất với hoàn cảnh của Sinh.
Anh Hảng tuyên bố sẽ lấy vợ vào cuối tuần tới mặc mọi lời can ngăn của Sinh. Tại sao anh Hảng cứ phải chọn lấy cho mình một cái kết cục đột ngột như thế. Sinh không cam lòng nhìn thấy anh Hảng hết lần này tới lần khác hi sinh bản thân vì các em. Đứng nhìn sự vất vả, khổ sở mà anh Hảng phải chịu đựng một mình, Sinh không cam tâm. Đời anh Hảng như thế còn đời Sinh, đời Pàng và các em? Không. Không thể cứ mãi như vòng lặp luẩn quẩn với đói nghèo như thế này được.
Ngày cưới của anh Hảng, Sinh tất bật lo toan cắt đặt mọi thứ thật chu toàn. Cả đời anh Hảng phải khổ sở rồi, Sinh chỉ làm được điều này cho anh thôi. Nhìn nụ cười ấm áp, hạnh phúc của anh Hảng trong buổi lễ hợp hôn, Sinh rưng rưng nước mắt, trong lòng Sinh vui mừng ít hơn là thương cảm và bất lực cho số phận của anh trai mình.
Đám cưới xong xuôi. Sinh ở lại nhà đúng một ngày. Sinh chuẩn bị đồ đạc, dặn dò Pàng mọi thứ để sinh sống hòa thuận, giúp đỡ cho chị dâu mới hòa hợp với cuộc sống của gia đình mình. Xong xuôi đâu đấy, Sinh khoác ba lô, nhằm hướng trung tâm xã để bắt xe xuống Hà Nội tìm kiếm con đường đi đến một tương lai tốt đẹp hơn.
Trong lúc đi ngang qua cây sơn tra đầu bản, bất chợt Sinh nhìn thấy một chùm hoa mọc trái mùa rung rinh khoe sắc trắng dưới ánh nắng vàng rực rỡ của ngày cuối thu. Sinh xốc lại ba lô trên vai, mỉm cười bước đi, trong lòng cậu đang tràn đầy một hi vọng tươi mới.
4/10/2025
Đặng Thùy Tiên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Một tấm ảnh, một đời người

Một tấm ảnh, một đời người Lần mẹ tôi xuống bệnh viện thăm bố tôi, lần duy nhất. Hôm ấy, tiếng còi báo động hú vang, báo có máy bay Mỹ lượ...