Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu

Trong tập Giọt trời trên lá sen của Quang Hoài, phần thơ thể hiện những suy tư trăn trở về nhân tình, về thế thái khá đậm đặc. Ngoài ra, Quang Hoài còn viết khá hay về tình bạn, với niềm đau tiếc nuối một tài năng vừa độ chín đã vội vã ra đi…
Sinh thời, Nguyễn Trãi (1380-1442), đại thi hào số Một của Việt Nam từng viết: “Đọc sách phải thông đòi nghĩa sách” (Thơ Nôm). Nghĩa sách là một phạm trù văn hoá có nội hàm rất rộng, ở đây, chúng tôi chỉ thu hẹp trong phạm vi nghĩa chữ. Với thơ, phải vỡ vạc ra cái nghĩa chữ thì mới có thể bàn về cái hay cái đẹp của thơ. Chữ trong thơ có bóng có hình, hơn thế, lại còn có mắt chữ (nhãn tự). Từ mắt chữ, sẽ tìm thấy mắt thơ, qua đó mà hiểu được vẻ thơ, vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân.
Thơ có nhiều vẻ. Nhiều vẻ thơ làm nên cái phong phú sắc màu của một nền thơ. Do vậy, cũng không nên phủ định cái nào. Ví như rừng hoa khoe hương khoe sắc, mỗi loài hoa có vẻ đẹp riêng, có giá trị riêng. Cho nên, phải mở rộng tấm lòng để vui vẻ chấp nhận những cái khác mình, cùng với một tư tưởng khoan hoà, nhân ái. Đó chính là minh triết nhân văn của mọi thời đại văn minh và đang tiến tới văn minh. Nhiều người đọc thơ của người khác, hợp ý mình thì khen, không hợp thì chê, đấy cũng là lẽ thường, xưa nay vẫn thế! Viên Mai, một nhà phê bình nổi tiếng đời Thanh bên Tàu từng nói đại ý: Thơ thích nhạt chứ không thích nồng, nhưng đó phải là cái nhạt sau khi đã nồng. Đạt tới sự giản dị mà sâu sắc, đọc mãi không chán, nghĩ mãi chưa hết, đó mới là thơ hay đích thực.
Có vẻ thơ nghe bằng tai thì thấy hay, nhưng đọc kỹ bằng mắt, bằng tư duy thì lại thấy nhạt, với nghĩa là chả có gì phải nghĩ ngợi nhiều, chưa dám nói là nhạt nhẽo. Có loại thơ đọc một lần chưa thấy ấn tượng gì nhiều, nhưng đọc vài ba lần, lại thấy có vấn đề phải nghĩ. Nhiều khi nghĩ rồi mới cảm, chứ hoàn toàn không theo một quy luật tâm lý thông thường nào cả. Đó là sự không bình thường trong cái bình thường. Lan man đôi điều như thế để nói rằng, ít nhất là với tôi, tập thơ Giọt trời trên lá sen của Quang Hoài là như vậy!
Cũng chỉ có 36 bài thơ cả ngắn cả dài được đưa vào tập thơ có cái tên rất gợi: Giọt trời trên lá sen. Còn lại là những nhạc phẩm phổ thơ Quang Hoài, cùng đôi ba bài thơ đồng cảm của bạn bè. Tuy nhiên, không gian thơ trong tập lại được mở rộng ở nhiều mảnh ghép trữ tình của cuộc sống muôn màu. Có thể đó là thơ viết về tình yêu, viết cho tình yêu ở những thời khắc khác nhau, đối tượng cũng khác nhau. Có thể đó lại là tình yêu rộng lớn ở góc nhìn và cảm thức công dân thuần tuý. Có thể đó là những mảnh tâm trạng, những suy tư trăn trở về nhân tình thế thái, về cái sự được sự mất của một cái nhìn nhạy cảm về văn hoá truyền thống dân tộc, v.v… Nhưng ở góc nhìn nào, góc cảm nào thì vẫn là một Quang Hoài thi sĩ, đa tình, đa cảm… Ví như bài thơ mở đầu trong tập thơ này, Hồ Văn đêm Nguyên tiêu chẳng hạn:
Trăng Hồ Văn ngàn năm
Bùn Hồ Văn ngàn năm
ngàn năm hương sóng…
Đấy mới chỉ là những câu thơ được định vị ở tầng khái quát. Còn đây lại là những suy tư trăn trở của thi nhân, với bộn bề đầy vơi những nỗi niềm thế sự được ký thác qua những hình ảnh mang tính biểu trưng:
“Sau ồn ã ba sân thơ ủ giấu trăm mối tơ vò / sau náo nhiệt năm mươi quả bóng dìu năm mươi câu thơ lưng lửng từng trời chấp chới / đêm Nguyên tiêu Hồ Văn huyền khởi / lặng lẽ những Cụ Rùa cõng bia Tiến sĩ oằn lưng”… Và tiếp đó là bao nhiêu những cái ngày xưa, của ngày xưa “náo nức” cuồn cuộn đổ về, với ngổn ngang buồn vui ở thời Mở cửa:
“mộng du mặt hồ lãng đãng sương giăng / bờ bắc hồ lấp ló một thím Lươn óng nhẫy / âu sầu ngóng đợi một chú Trạch cộc mê mải ăn đêm chưa về để dài ngắn chê bai / bờ nam hồ bập bềnh hé miệng một mợ Trai / Buồn bã chờ hoài cậu Cò bị bọn tép mê hoặc quên đường về để Ngư Ông mất một dịp may đắc lợi / bờ đông hồ ngác ngơ một chàng Ốc / ngán ngẩm chờ mong Thị Hến trở về trong xoáy ốc thị trường để kết bạn Nghêu, Sò…”.
Thế là cả một thế giới những loài vật nhỏ bé, tầm thường như thể đang hơn hớn hiện lên một cách sống động, tươi rói. Nhưng đó lại là những loài vật biết nói tiếng người, ham muốn dục vọng như người, muốn thể hiện thiên chức cao cả của mình trước đồng loại vĩ đại của mình… Chao ôi là nhiêu khê đáo để, mà thật ra cũng buồn cười đáo để. Quang Hoài phải viết những dòng thơ kéo dài mê mải như thế, hình như tác giả buộc lòng phải thể hiện như thế mới đủ chữ để chuyển tải một thông điệp lịch sử đã cũ mèm, nhưng mà cũng là thật thú vị! Thế rồi:
“tất cả chỉ thấy phía Tây sừng sững non Tản mặt hồ / và lung linh đấy hồ vầng trăng vành vạnh/ Lươn cùng Trai, Ốc lại rủ nhau lặn xuống / mở yến tiệc nhắm Bùn với Trăng”… Sao nữa:
“khi vầng trăng vừa ngậm non Đoài/ các Cụ Rùa mới ra khỏi mộng du cựa mình khe khẽ / và rung rinh những tấm bia Tiến sĩ:… Và “chỉ còn bọn trẻ lảnh lót những vần thơ đón đợi bình minh”…
Một bài thơ giàu ý tưởng, mở ra cảm thức nhiều chiều về văn hoá, truyền thống và đương đại. Giá như tác giả tiết chế hơn, bớt đi sự kể lể, cấu tứ gọn gàng chặt chẽ hơn một chút nữa, thì sức truyền cảm của bài thơ chắc sẽ càng lớn hơn. Điều này, có thể thấy ở khá nhiều bài thơ dài của Quang Hoài trong tập thơ này…
Từng có nhiều năm trong quân ngũ, lại ưa sự dịch chuyển, nên nhà thơ Quang Hoài hình như thích đi nhiều, thăm thú khắp đó đây, nên thơ anh thấy khá nhiều chất liệu cuộc sống muôn màu. Anh viết về miền núi khá nhiều, lại khá hay, chủ yếu là những nhìn ngắm và nghĩ ngợi ở vùng biên giới phía Bắc, như Hà Giang trập trùng núi đá và chợ tình Khau Vai… chẳng hạn. Cũng đúng thôi. Người xưa chả bảo rồi ư? “Trong mắt không có ba vạn quyển sách (hung trung vô tam vạn quyển thư), nhãn trung vô thiên hạ kỳ sơn xuyên (trong mắt không có hình ảnh kỳ tuyệt của núi sông), chưa chắc đã viết được văn hay (Vị tất năng văn)… Nhà văn chẳng những phải đọc nhiều, mà còn phải đi nhiều là vậy. Thơ viết về biển đảo của Quang Hoài ở tập này không phải là nhiều, nhưng cũng có. Tuy nhiên, một trong những mảng thơ thành công ở tập Giọt trời trên lá sen của Quang Hoài chính là thơ tình. Có khi là một sự trống vắng đến nao lòng. Những cơn gió, những làn gió được thi nhân nâng cấp lên thành biểu tượng nhân vật trữ tình, rất tinh tế:
Có những lúc rỗng không
Sao vắng nhiều gió thế?
Gió không thổi từ sông
Gió không thổi từ bể
Mà gió thổi từ Em..
Em thành nông nỗi
Sự vắng gió đời tôi…
(Gió)
Trong thơ Quang Hoài, Em hiện lên ở nhiều phía, nhiều chiều tâm cảm. Có khi là một Emmang ý nghĩa một nét văn hoá truyền thống, như thể là một nét văn hoá truyền thống sâu đằm của dân tộc:
Ngày xưa chiếc áo xẻ tà
Chẽn eo trễ vạt mà ra hút hồn
Yếm sồi nhú nụ trăng non
Lưng trần tắm vớt mà mòn mắt ai…
Hoặc như:
Ơi người, ngày thoắt “nương dâu”
Thoắt đêm ‘bãi bể” thoắt màu sương phơi…
(Chớp đâu vụt loé cuối trời)
Mùa đến… mùa đi… mùa không mùa
Trong vô tận giọt giọt
Anh tìm những giọt em
Giọt trời trên lá sen…
(Giọt trời trên lá sen)
Nhưng cũng có khi lại là một Em cụ thể nào đó, được hoá thân trong những “vai diễn” khép mở sống động và tinh tế những đam mê nhiều chiều…
Không gian cảm xúc trong thơ Quang Hoài được mở rộng biên độ, đôi khi là một tỉnh thức, hay là một sự “ngộ” ra cái điều gì đó:
Tôi đâu biết vai diễn đời tôi quá đỗi mong manh
Cánh lá cuối thu vàng úa
Sân khấu hề thì xanh như cỏ…
(Vai diễn đời tôi)
Trong tập Giọt trời trên lá sen của Quang Hoài, phần thơ thể hiện những suy tư trăn trở về nhân tình, về thế thái khá đậm đặc. Ngoài ra, Quang Hoài còn viết khá hay về tình bạn, với niềm đau tiếc nuối một tài năng vừa độ chín đã vội vã ra đi… Mấy bài thơ viết về Dương Kiều Minh man mác một giọng trầm, đầy ưu tư chiêm nghiệm.
Nhìn chung, thơ Quang Hoài có sự hoà quyện giữa thực và ảo. Lại cũng nhiều suy tư triết lý. Tuổi đời càng chất cao thêm, thơ càng tinh hơn, chín hơn ở tầm nhìn và sức nghĩ. Giọt trời trên lá sen là một tập thơ rất đáng đọc!…
Nhà thơ Quang Hoài họ tên đầy đủ là Nguyễn Quang Hoài, còn có bút danh Hoài Phương, Đào Hoài Phương, sinh ngày 8 tháng 4 năm Ất Dậu tức 19.5.1945. Quê quán: thôn Đôn Lương, xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Hiện thường trú tại: số nhà 20, ngõ 93, phố Vương Thừa Vũ, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Từ năm 1965-1968, ông là quân nhân, làm trợ lý phiên dịch tiếng Trung Quốc. Năm 1969-1973: trợ lý biên dịch và thông tin tư liệu tại Phòng Nghiên cứu khoa học và Phòng Tư liệu – Thư viện Học viện Chính trị. 1974-1976: Chính trị viên phó đại đội, Trợ lý tuyên huấn, Trợ lý văn hoá địch vận Sư đoàn 308 Quân đoàn 1. Từ 1977-1978: Tham gia Đoàn xây dựng đơn vị cơ sở của Tổng cục Chính trị ở biên giới Tây Nam. 1979-2007: Thư ký Toà soạn Tập san Nghiên cứu, Tạp chí Nghiên cứu; Trưởng ban Biên tập – xuất bản Học viện Chính trị quân sự; Phó tổng biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự. Từ năm 2007, ông nghỉ hưu; cộng tác viên của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Nhà xuất bản Văn học; Uỷ viên Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Thủ đô Tản Viên Sơn và tham gia biên tập một số báo, tạp chí, bản tin khác…
Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Hội viên: Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội.
Tác phẩm đã xuất bản:
– Nguyện cầu – tập thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 2002.
– Mưa đền tình – tập thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 2003.
– Văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh trong “Bộ đội Cụ Hồ” – bút ký chính luận, Nxb. Thanh niên, 2004.
– Lời yêu rượu đắng – tập thơ, Nxb. Văn học, 2005.
– Gió sông Hồng vẫn thổi – tập thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 2006.
– Kiếp này ta chửa thương ta – tập thơ lục bát, Nxb. Hội Nhà văn, 2007.
– Chớp lửa đường cong – tập thơ, Nxb. Văn học, 2009.
– Giữa hai bờ trăng khuất – tập thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 2010.
– Giọt trời trên lá sen – tập thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 2012.
– Trong veo nước suối nguồn – tập thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2015.
Giải thưởng văn học:
– Giải A cuộc thi thơ về Bác Hồ (1969) do Học viện Chính trị – Bộ Quốc phòng tổ chức.
– Giải thưởng bình bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương, Báo Giáo dục và thời đại, 2001.
– Giải thưởng thơ hay Tạp chí Nhà văn năm 2012 với hai bài Vai diễn đời tôi và Trưa Lũng Cú.
Quan niệm văn học:
Tôi yêu thơ. Bốn hai năm trong quân đội có làm thơ nhưng “lạc ra ngoài đội hình” như nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét. Có lẽ tôi chỉ viết được những gì lắng thành ký ức, đọng lại trong tâm hồn nên đến muộn chăng?“Tưởng câu thơ đầy mái chèo/ Nào ngờ gió thổi bay vèo xuống sông”… “Biết trời thương mà chưa cho/ Thì tôi chả vớt câu thơ ướt đầm”…, tôi nghĩ về thơ như vậy. Viết thơ trước hết là cho mình, sau mới cho người, được người chia sẻ, dù chỉ một cũng hạnh phúc.
Càng ngày tôi càng nhận ra rằng, bản chất của thi ca là sáng tạo và cách tân. Song sáng tạo và cách tân gì thì cũng phải dựa trên cơ sở gắn kết hoà quyện chặt chẽ giữa tâm hồn dân tộc như một nguồn sữa tạo nên sức sống và sự trường tồn của thi ca với hơi thở thời đại trong sự phát triển và tiến hoá của nền văn minh nhân loại. Cái cốt lõi của thi ca là nhân văn, nhân bản. Sự thăng hoa của cảm xúc tiến tới siêu việt là cứu cánh đưa thi ca đến thánh thiện, làm cho con người thoát khỏi mọi sự ràng buộc giới tính và dục vọng để hoà vào vũ trụ càn khôn. Đó mới chính là sứ mệnh cao cả của thi ca. Tôi tự hào và cảm thấy vinh dự được đứng trong hàng ngũ những nhà thơ Việt Nam.
7/12/2019
Vũ Bình Lục
Theo https://vanhocsaigon.com/

Di Li người đẹp viết đẹp

Di Li người đẹp viết đẹp

Nhà văn Mỹ Charles Waugh sau khi đọc cuốn sách đã nói rằng “Di Li đã bắt mạch được xã hội Việt Nam. Với một nhận thức sắc bén về những truyền thống xưa cũ, các câu chuyện của cô đã phản ánh một cách tỉ mỉ những gì đang diễn ra ở một thế giới hiện tại bằng phong cách viết điềm tĩnh, lạnh lùng, châm biếm và không kém phần hồi hộp. Nếu bạn muốn biết những gì đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay, nếu bạn muốn được cười, được khóc, được rùng mình vì sợ hãi, hoặc suy ngẫm sâu hơn về thế giới đương đại, hãy đọc Di Li.”
Cách đây hơn chục năm có một cô gái rất trẻ, cao ráo, ăn mặc sang trọng, hiện đại, rất Hà Nội, mắt sáng và đẹp, trên má phơ phất chút phấn mỏng thôi mà tôn vẻ mĩ miều, tới trụ sở báo Người Hà Nội gặp thi sĩ Bế Kiến Quốc, bấy giờ là Tổng biên tập báo…
Chuyện là, Tổng biên tập Bế Kiến Quốc có đọc một truyện ngắn của tác giả Nguyễn Diệu Linh. Truyện ngắn ấy không phải xuất sắc lắm, đi được, song ông vẫn nhận ra sau cái còn mong manh ấy, một cây bút có nhiều hứa hẹn. Cũng như sự gặp gỡ ban đầu của Quốc, với nhiều cây bút khác, đang chập chững vào nghề, để tận tình giúp nhau, sau này thành danh, đôi mắt xanh Quốc đã tìm thấy gì ở cái cô Diệu Linh này? Bế Kiến Quốc nói chuyện với tác giả xong, đã khuyên cô gái xinh tươi ấy nên bỏ cái tên cúng cơm đi và lấy bút hiệu là Di Li.( Di Li là đầu của hai từ Diệu Linh).
Di Li, cái tên ấy cũng hay nhỉ! Từ đó Di Li là bút hiệu chính thức của cô gái xinh đẹp kia. Và kì lạ thay Diệu Linh thì không kì diệu, chưa linh, còn Di Li thì bắt đầu diệu kì lên hương.
Sự lên hương diệu kì được tính từ năm 2006. Khi ấy Tạp chí Văn nghệ Quân đội có tổ chức cuộc thi truyện ngắn và cô góp vào vài truyện. Thực ra, trước đó, Di Li đã viết từ rất sớm. Những truyện ngắn của cô in ở Hoa Học Trò hay ở Người Hà Nội chả cơm cháo gì, nhưng việc cô tham dự cuộc thi truyện ngắn hai năm 2005-2006, của Tạp chí Văn nghệ quân đội với tác phẩm“Cocktail” và “Ma học trò” đã làm nên một dấu ấn của một đời văn và góp thêm trên văn đàn một giọng văn lạ, hiện đại với chất ma mị của các chi tiết truyện ngắn, nhất là trong tác phẩm “Cocktail”.
Như một sự bứt rào ngoạn mục, sau đó một thời gian ngắn, Di Li trình làng cuốn “Trại Hoa Đỏ”. “Trại Hoa Đỏ” thuộc thể loại trinh thám kinh dị. Thể loại có ở văn chương Việt Nam ta từ trước cách mạng, với những: Thám tử Đoan Hùng, Lệ Hằng với chí phục thù, Người nhạn trắng, Long hình quái khách, Tráng sĩ một chân v.v…bao nhiêu năm qua đi, biến mất trong dòng chảy văn học, bấy nay dạt trôi như vô tăm tích, thậm chí có thời bị coi là thứ văn học rẻ tiền, kèm theo cụm từ “tiểu thuyết ba xu” xuất phát từ những cuốn tiểu thuyết được bán đồng giá ba xu. Ngày nay văn học thế giới đã thay đổi. Quan niệm này cũng đã lỗi thời. Ý thức được điều ấy, Di Li, người đầu tiên thuộc thế hệ hiện đại, đã làm sống dậy thể loại tiểu thuyết này với hương khí mới, tốc độ và văn phong hiện đại gắn với đời sống hiện tại. Nó khác hẳn với lối viết cũ chậm chạp, đôi khi sên sến của những cuốn tiểu thuyết trinh thám trước và sau năm 45, từng in dài kỳ trên các tờ báo ăn khách.
“Trại Hoa Đỏ” chắc về cách dựng truyện, những chi tiết li kì và số phận bi thương khiến cho cuốn sách lôi cuốn và hấp dẫn. Nó từng làm nôn nao thế giới mạng và sau đó “Trại Hoa Đỏ” được vinh danh ngay Giải Ba, trong cuộc thi tiểu thuyết 2007- 2010 do Bộ Công An phối hợp cùng Hội Nhà văn tổ chức. Thế là lại có một Di Li của tiểu thuyết, ngoài cái thương hiệu truyện ngắn cô vừa tạo nên ở Tạp chí VNQĐ.
Di Li là nhà văn chuyên nghiệp. Trong gần chục năm, cô ra hơn 20 đầu sách: truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký, hồi ký, sách chuyên ngành, truyện dịch xuôi, dịch ngược… rồi gần đây nhất là đầu năm 2012 với cuốn ký sự chân dung nhà văn: “Chuyện làng văn”.
 “Chuyện làng văn” bao gồm nhiều khuôn mặt văn chương nổi tiếng và chưa nổi tiếng mà Di Li dựng tạo. Là người có mặt ở cuốn sách đó nên tôi không võ đoán nói nó hay. Song cũng như tiểu thuyết, tản văn, hồi kí hay sách dịch có tên Di Li, “Chuyện làng văn” cũng là món ăn có thể nói đắt hàng như tôm tươi. Riêng đối với văn học dịch, Di Li đã đóng góp cho văn đàn 6 cuốn tiểu thuyết. Di Li sử dụng được bốn ngoại ngữ là Anh, Pháp, Đức, Italia, từng mở cả lớp dạy tiếng Anh cho nhiều văn nghệ sĩ thành danh tới làm học trò.
Khả năng viết của Di Li rất nhanh nhậy. Có năm tôi đặt cho cô viết một truyện ngắn 2000 từ cho báo Tết, nơi mà tôi giúp đỡ việc biên tập. Lập tức cô gửi nó chỉ sau vài ngày. Và cái truyện ngắn viết về nhân vật chính là một cô bé ảo thuật ấy hết sức nhân ái, cảm động, đã đứng trên báo Tết một cách nghiêm túc. Những truyện ngắn được viết theo “đơn đặt hàng” như thế, Di Li có không ít, nó tức thời không chỉ cung cấp cho văn đàn những nhu cầu truyện hay hiện tại, mà còn chứng tỏ cô phịa rất nhanh và tài. Nói tài vì có người viết chuyện thật mà như phịa, còn chuyện cô phịa, dựng lên, cả những câu chuyện về chiến tranh mà cô chưa từng tham dự, cho dù không quá xuất sắc, có kích cỡ sức vóc lớn, song nó được bạn đọc tin cậy và tin rằng câu chuyện có thật.
Trong tất cả các mảng văn học đã từng sáng tác, tạp bút, tản văn của Di Li cũng linh hoạt và thú vị. Những bài báo cô viết trong những chuyến du ngoạn vòng quanh thế giới, các chuyến khám phá phượt hàng năm khi xuân về, bao giờ cũng không chỉ giúp độc giả nhận ra một vùng đất lạ, mà còn làm người ta hiểu thêm về văn hóa, phong tục tập quán vùng miền, sự sinh động của thế giới phẳng và nhất là đôi khi liên hệ một cách tế nhị tới chuyện trong nước, những tồn đọng có tính phê phán về văn hóa và lối sống, để người yêu mảnh đất sinh ra mình phải suy ngẫm, vui buồn.
Cuốn “Nhật kí mùa hạ” xuất bản năm 2011 cũng thể hiện cái tài viết chuyện thiểu nhi cho cả người lớn và trẻ con đọc. Những câu chuyện tuổi thơ không hề giấu diếm đã vẽ ra không chỉ một khuôn mặt nghịch ngợm, cá tính từ thuở nhỏ, mà ở đó còn đầy đủ dư vị của những năm tháng không xa, với những hạnh phúc, đau khổ trong con mắt trẻ thơ. Những câu chuyện mùa hạ trẻ trung, văn phong trong sáng, khác hoàn toàn với giọng văn lạnh lùng của Di Li ở tiểu thuyết, khác với giọng văn thông minh, sắc sảo ở những truyện ngắn.
Trên văn đàn Việt hiện đại, nếu nói về văn chương với văn hóa vùng miền, có ba người đẹp rất sắc nét rõ ràng. Phía Bắc có nàng Đỗ Bích Thúy, như Cô gái miền sơn cước Tây Bắc, mang tới cho bạn đọc nhiều điều thú vị tỉ như âm thanh chưa nghe thấy bao giờ sau những hàng rào đá. Phía Nam có nàng Nguyễn Ngọc Tư, cho thiên hạ biết cõi trời bao la trên những cánh đồng vàng bất tận và những khuất ẩn rất vụn vặt, rất đời thường của con người. Còn ở eo miền Trung – Huế với dải lụa buồn, có nàng Trần Thùy Mai, và người ta có thể tìm ở đó, trong nhiều áng văn của nàng, những cung bậc khác nhau của người miền Trung, có khi thăm thẳm buồn, kiểu kiều nữ mang sắc màu tím Huế. Người đẹp Di Li sinh ra ở Hà Nội, song cô không thuộc vào miền đất nào cả. Ngay cả trong những câu chuyện cô viết tuổi thơ ở phố Đại Cồ Việt, hay những cuốn sách li kỳ mạo hiểm, cũng ít mang dấu tích phong rêu của một Hà Nội thực là Hà Nội. Di Li là một điển hình của sự pha trộn văn chương ngôn ngữ Việt ở thời hội nhập, thời mà con gái đi năm châu bốn biển với nhiều ngoại ngữ, để thêm một vế nào đó, hay đổi vế trai ra gái, cho câu ca dao xưa: Làm trai cho đáng nên trai/ Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng… Ở đây, Di Li là một người của thế giới, chứ không phải hạn hẹp trong biên cương Việt Nam.
Năm nay Di Li chả còn xuân xanh như khi cô tới gặp thi sĩ Bế Kiến Quốc nữa. Cô đã là mẹ của một cháu gái. Gái có chồng. Hàng ngày cô tíu tít tràn ngập với hàng núi việc, nào là dạy học, nào là họp báo ra mắt sách, nào là một chương trình sự kiện do cô tổ chức. Cô thoắt ẩn, thoắt hiện khắp các nẻo miền và mất hút ở một đất nước xa xăm nào đó. Song gặp cô ở Hà Nội, dù mùa hè tới 40 độ, vẫn thấy một nàng Di Li, không bao giờ mang khẩu trang và áo chống nóng, cô phơi tay trần rám nắng, khuôn mặt tươi tắn mà nghiêm nghị, luôn nhìn thẳng mà vẫn như có ma lực cho khối chàng trai ngoái theo tưởng lầm cô với một người mẫu thời trang hay một diễn viên nào đó.
Kết thúc bài viết này, tôi muốn nhắc lại kỉ niệm gặp nữ văn sĩ đẹp lần đầu tiên tại Nhà xuất bản Hội nhà văn. Năm đó, 2006, tôi in chung trong tập truyện ngắn chọn lọc hai chương trong tiểu thuyết Quyên, trong đó có “Cocktail” của Di Li. Biết tôi là tác giả của “Quyên” qua lời giới thiệu của nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư. Cô gái xinh đẹp có khuôn mặt bấy giờ còn mộc kia reo lên: Em rất thích truyện ngắn của anh. Tôi không nói gì, bởi nhiều khi người ta chả đọc gì, cứ lấy lòng nhau mà nói vậy. Di Li thông minh, nhìn cái nheo mắt của tôi, mới nhận xét về các chi tiết của truyện. Việc ấy là viên gạch đầu tiên tôi tin Di Li. Rồi năm nào, cô với tôi đi ra phố sách Nguyễn Xí. Vài độc giả nhận ra tôi, xin chữ kí. Di Li cười rất tự nhiên bảo, em ghen tị với anh đấy, em đã in và bán tới 6, 7 đầu sách ở đây, cũng bán chạy, mà chả ai nhận ra em cả. Tôi nhìn vào đôi mắt Di Li khi ấy. Ánh mắt vui thật, chứ không phải sự bực bội hay lấy lòng. Với tôi, Di Li luôn là người bạn văn chân thành không khách sáo. Cuốn nào cô đọc, cô nói là đọc và cuốn nào đọc cũng thường rất kĩ, để đưa ra những nhận xét tinh tế và sâu sắc với những phát hiện về chi tiết và tác giả, không thua kém gì các nhà phê bình kinh viện. Tôi rất cảm ơn bạn văn Di Li khi cô là người đầu tiên trong cuộc hội thảo về tiểu thuyết Quyên đã phát hiện ra tư tưởng ở hình tượng chủ định Vô Tăm Tích của tôi và phát biểu nó dưới ánh sáng triết thuyết của nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow.
Tôi sống nhiều ở xứ người nên cũng chỉ thi thoảng mới có dịp gặp Di Li, nhưng mỗi lần gặp lại, lại nhận thêm một điều gì đó lấp lánh ở văn và đời của người bạn văn thật đẹp và chân thành này. Theo tôi Di Li là Người đẹp viết đẹp trong lứa các nhà văn đang hết sức sung sức hôm nay. Công ty sách Phương Đông cũng chuẩn bị ra mắt tập 18 truyện ngắn của Di Li được dịch sang tiếng Anh với nhan đề “The Black Diamond” (Viên kim cương đen), là cuốn sách văn học đầu tiên ở Việt Nam được phát hành bởi một công ty sách tư nhân. Nhà văn Mỹ Charles Waugh sau khi đọc cuốn sách đã nói rằng “Di Li đã bắt mạch được xã hội Việt Nam. Với một nhận thức sắc bén về những truyền thống xưa cũ, các câu chuyện của cô đã phản ánh một cách tỉ mỉ những gì đang diễn ra ở một thế giới hiện tại bằng phong cách viết điềm tĩnh, lạnh lùng, châm biếm và không kém phần hồi hộp. Nếu bạn muốn biết những gì đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay, nếu bạn muốn được cười, được khóc, được rùng mình vì sợ hãi, hoặc suy ngẫm sâu hơn về thế giới đương đại, hãy đọc Di Li.”
Chú thích: Nhà văn Di Li sinh năm 1978 tại Hà Nội. Cô có hai bằng cử nhân ngôn ngữ Anh và ngôn ngữ Đức, thạc sĩ Quản lý giáo dục. Hiện là giảng viên bộ môn văn hóa Anh-Mỹ, trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội, chuyên viên tư vấn quảng cáo & PR, giảng dạy bộ môn PR cho trường ĐH Hòa Bình, viết văn, viết báo và dịch thuật. Cô đã có nhiều tâp truyện ngắn bán chạy như “Tầng thứ nhất” (2007), Điệu Valse địa ngục (2007), 7 ngày trên sa mạc (2009), Tháp Babel trên đỉnh thác Ánh trăng (2010), Đôi khi tình yêu vẫn hay đi lạc đường (2010), Chiếc gương đồng (2010), tiểu thuyết “Trại Hoa Đỏ” (2009) đã được tái bản 3 lần với số lượng hơn 1 vạn bản in; tập bút ký về 29 thành phố trên thế giới “Đảo thiên đường” (2009); hồi ký “Nhật ký mùa hạ” (2011); Tản văn “Cocktail thị thành” (2011) và mới đây nhất là tập ký sự chân dung “Chuyện làng văn”(2012).
8/12/2019
Nguyễn Văn Thọ
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ánh sáng và bóng tối trong Đêm trinh của Nguyễn Vỹ

Ánh sáng và bóng tối trong
Đêm trinh của Nguyễn Vỹ

Nhắc đến Nguyễn Vỹ, người ta biết ông như là nhà thơ của những thể thức lạ qua các bài khá quen thuộc: Sương rơi, Hoàng hôn, Tiếng chuông chùa, Mưa,… Nhưng nổi tiếng hơn lại là bài thất ngôn dài Gửi Trương Tửu chắc chắn ở lại trong tàng thức thơ ca Việt Nam.
Tuy vậy ở đây tôi muốn nói đến một bài thơ khác, ít người biết: Đêm trinh. Đó là điều ngạc nhiên. Đáng lẽ nó đã chiếu sáng. Nó tư tưởng về một bóng tối uyên nguyên có thể mở ra ánh sáng. Bài thơ còn chìm khuất trong nỗi thờ ơ hiện đại. Trong khi nó xuất hiện từ năm 1962 ở Sài Gòn trong tập thơ Hoang vu của Nguyễn Vỹ. Dù khi đó, Hoang vu đã được nhà văn Thiết Mai, trong Sáng dội miền Nam, nhìn thấy đó là thơ của ý tưởng:
 “Về ý thơ, Nguyễn Vỹ đã có nhiều ý tưởng, nhiều câu văn táo bạo (Hai người điên, Hai con chó, Trăng, Chó, Tù, Đêm trinh,…). Điều này khiến thơ của ông thoát ra khỏi lối thường tình, cổ điển và cũng chứng tỏ ông là con người có nội tâm cứng rắn, thành thật, dám biểu lộ tâm tư mình bằng những hình ảnh thiết thực do lòng mình suy tưởng…”(1).
Vậy thì, những ý tưởng đã được nhà thơ “suy tưởng” như thế nào? Suy tư và tưởng tượng ra sao? Suy cái ý tứ và tưởng tượng cái hình ảnh, ở đây chỉ lấy bài Đêm trinh mà suy mà tưởng.
Nhưng như thế thì ai suy tưởng? Nhà thơ hay người đọc? Là người đọc suy tưởng trên thơ? Hay chính là thơ suy tưởng trên người đọc. Cái đó thường khi không phân biệt.
Và hiệu năng của thơ là đưa thơ và người đọc vào cõi vô sai biệt, ở đó thơ như phát tiết từ cả hai phía: sáng tạo và tiếp nhận.
Ta như trôi thẳng vào điều đó ngay từ ba chữ mở đầu của Đêm trinh:
“Đêm nay tôi…”
Đêm nay là đêm nào? Một thời gian phiếm chỉ vì thế có thể là bất kỳ đêm nào của thời thế bóng tối.
Và tôi nào? Cái tôi của nhà thơ phải được hiểu là một cái tôi phiếm chỉ. Vì nhà thơ không hát từ một cái tôi mà vô số cái tôi. Nhà thơ không phải là tiếng nói của đám đông ở phía ánh sáng mà là tiếng nói của vô số cái tôi ở phía bóng tối.
Nhưng để dễ đi vào bóng tối của Đêm trinh, ta hãy chia bài thơ thành từng chặng đường. Không có mê lộ của hoang vu. Chỉ có chân trời của hoang vu. Đêm trinh cũng thế, không có mê lộ mà chỉ có chân trời.
Đêm trinh:
Đêm nay tôi không muốn ngồi gục bên đỉnh trầm
Nghe rượu cười trong ly,
Nhạc quay cuồng trong khói,
Thời gian đọng trên mi.
Tôi muốn về bên giếng tối,
Khu vườn âm u,
Quê hương hoang vu.
Không một dấu vết.
Chặng đầu của một cuộc hành trình là ý muốn trở về. Muốn về vì không muốn những điều bê tha ở trước mặt, ở tiền-hành trình: rượu trong ly, nhạc trong khói, những thứ đang cười cợt, quay cuồng. Cả thời gian cũng đảo theo những mi mắt người say, cái thế giới mà Vũ Hoàng Chương từng tả (“Khúc nhạc hồng êm ái, Điệu kèn biếc quay cuồng”).
Thế thì về đâu? Tại sao là giếng tối?
Quẻ Tỉnh trong Kinh Dịch tượng hình một cái giếng. Đó là nguồn nước của quê hương, ở ngoài ta và trong ta. Giếng là cái không thể di dời nơi nó là. “Bất cải tỉnh”: Không thể đổi dời giếng đi (Thoán từ của quẻ Tỉnh).
Vậy thì về bên giếng tối là về với nguồn nước không thể đổi dời dù nó đang ở trong bóng tối. Cũng có thể vì ở trong bóng tối, nó mới là nguồn. Bởi bóng tối còn là huyền bí, cái huyền bí ở sâu bên trong ta hơn là vây bọc bên ngoài ta.
Các hình ảnh “khu vườn âm u” hay “quê hương hoang vu” cũng nương theo đó mà xuất hiện ở đây, âm u và hoang vu thuộc về cái nguyên sơ, trinh thuần và huyền bí, chưa bị những đám đông xô bồ và xa lạ gây tổn hại. Vì thế mà “không một dấu vết” trong bản chất của Đêm trinh.
Cuộc hành trình khởi từ “ngồi gục bên đỉnh trầm” đến “về bên giếng tối”. Khởi đi từ thứ ánh sáng giả tạo của tiệc rượu và nhạc cuồng. Từ bỏ ánh sáng giả tạo đó để về với bóng tối của đêm trinh.
Cũng trong khoảng thập niên 1960 nhà thơ Đức Enzensberger cũng viết bài thơ về Cõi bóng tối (Schattenreich) có những suy tưởng gần như gặp gỡ với Đêm trinh:
“ngay bây giờ đây tôi thấy một nơi,
một nơi tự do,
ở đây trong bóng tối.
bóng tối này
không thuận bán trinh.” (2)
Tự do chính là hoang vu. Quê hương hoang vu là nơi chốn của tự do mà nhà thơ muốn tìm về. Nơi chốn đó không dành để đem bán (verkaufen) như là bán trinh.
Như vậy, từ “Đêm nay” đến “dấu vết” là chặng đầu của cuộc hành trình trở về bản nguyên, trở về tôi và đi vào trong tôi trong một hiện tại vô tận, một cái tôi không phải là sự vật mà là một triển nở vô hạn.
Từ đó bắt đầu chặng hai của hành trình.
Đêm trinh
Tôi không muốn giẫm lên những mặt trời đã chết,
Không vương những nắng tơ đã kết
Vòng hoa trên cỗ áo quan tài.
Đã lạnh rồi, những mùa xuân chết yểu trong Thiên Thai!
Nhặt làm chi những phím hương đổ gãy,
Màu xám hoàng hôn,
Màu xanh rợn hoang hồn,
Hình bóng thời Homère quay cuồng trong nhạc lửa!
Thôi, vươn lên chi hình hài ẻo lả nữa!
Giai đoạn tiền-hành trình được quy kết với những thứ đã chết, đối với nhà thơ. Để có thể dẫm lên chúng mà bước đi. Những thứ đó có thể một thời được thôn thờ (mặt trời) được trân quý (nắng tơ) được quàng quanh cổ (hóa ra là cỗ áo quan tài!). Tất cả đã chết, đã kết, đã đóng áo quan. Bây giờ đã có thể quên đi những chiếc “áo” đó, những thứ chỉ gợi lên “cỗ áo quan tài” phô trương trong ánh sáng bên ngoài (mặt trời, nắng tơ). Tất cả chỉ là “những phím hương đổ gãy”. Có đốt hương mà thờ thì cũng đổ gãy thôi, nhặt gì?
Bởi vì những thần tượng đều chết yểu, những mùa xuân đều chết yểu. Trong “Thiên Thai” của những ảo tưởng thế thôi, trong những hoàng hôn không thể tránh. Chỉ còn lại màu xám của tro tàn.
Hoàng hôn hay hoang hồn?
Hoang hồn hay hoàng hôn?
Những âm sắc có thể đảo hoán, đẩy ngôn từ vào trận địa hoang vu.
Màu xanh vừa là màu của sự sống, vừa là màu của cái chết.
“Những quỷ thần bất tử trong huyền thoại thường được biểu hiện qua đầu và mình màu xanh, đặc biệt ở Ấn Độ”, theo Từ điển của biểu tượng, huyền thoại và truyền kỳ của Didier Colin(3).
Đó là màu của những oan hồn.
Chính vì oan hồn, thần linh và ma quỷ rợn màu xanh ấy mà câu thơ kế tiếp nhắc đến Homère, nhạc lửa và thời cổ sơ.
Để thấy những “hình hài” hiện đại chỉ là những thứ gì “ẻo lả”, nhợt nhạt, chán chường!
Và quyết tâm vượt qua. Bước vào chặng ba.
Đêm trinh:
Tôi không muốn đêm nay cười nghiêng ngửa,
Tôi đạp tung cánh cửa
Ngạo ngễ của Thành Sầu.
Tên lính gác nhe răng cười, rùng rợn đôi mắt sâu.
Để tôi đi!
Để tôi đi!
Đến chặng thứ ba này, tiếng cười cũng thành giả tạo, nhại lại tiếng cười của rượu trong ly ở khúc dạo đầu, trong “đêm nay”. Muốn “phá thành sầu” trong Đường thi mà chẳng cần đến rượu. Chỉ đơn giản là “đạp tung cánh cửa” của nó.
Hẳn là Nguyễn Vỹ nhại lại khúc Thơ say của Vũ Hoàng Chương bằng giọng điệu giễu cợt và khinh bạc (Thơ say của họ Vũ ra đời từ năm 1940), nhất là nhắm vào khúc cuối của bài Say đi em:
“Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa.
Say không còn biết chi đời.
Nhưng em ơi,
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ.
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!”
Cũng cái “Thành Sầu” viết hoa đó mà thái độ của hai nhà thơ thật khác nhau: thái độ buông trôi (Say đi em) và thái độ đạp phá (Đêm trinh). Hai giọng thơ khác nhau vì hai tính cách khác nhau, hai suy tưởng khác nhau.
Hình ảnh tên lính gác cửa của Thành Sầu được phác họa (khắc họa thì đúng hơn) rất tinh: “nhe răng cười”, “rùng rợn đôi mắt sâu” gợi nhớ tên lính gác cửa Pháp luật của Kafka. Hay Pháp luật là Thành Sầu?
Và nhà thơ phải tiếp tục chuyến đi của mình, vượt qua mọi lính gác dù phải van vỉ hay hối lộ hay tìm được cách lừa phỉnh nó.
Đến chặng thứ tư.
Đêm trinh:
Trời không mây, không gió,
Tôi không áo, không chăn.
Tôi về quê hương không cửa, không ngõ,
Tôi về cô phương không lửa, không trăng.
Mịt mù thăm thẳm,
Mênh mông biên giới của Đêm trinh!
Tối đen một giếng thẳm,
Rực rỡ ánh quang minh.
Trạng thái trời trong và lặng gió là mở đầu cho sự từ bỏ vô minh và dục vọng (không mây và không gió) vì mây che mờ và gió nổi si mê. Bắt đầu “vạn lý vô vân”.
Trạng thái trần trụi (không áo, không chăn) là trở vè với nguyên tính, với thuở ban đầu, với nguyên trinh.
Về quê hương trong trạng thái như vậy chứ không phải là một cuộc vinh quy nào. Cho nên không có cảnh “Cửa trời rộng mở đường mây, Hoa chào Ngõ Hạnh, hương bay dặm phần” (Kiều). Thế nên mới “không cửa, không ngõ”.
Đó cũng là cuộc trở về với cái cô đơn, quê hương thực sự của nhà thơ, một phương trời gọi là “cô phương”, cái cô phương ấy mới là nguồn của thơ, chứ không phải lửa và trăng.
Cái cô phương ấy chính là Đêm trinh của thơ ca. Nó “mênh mông” và “mịt mù thăm thẳm”. Hơn nữa, nó còn tối đen như một hang động. Vì nhà thơ sẵn sàng “làm hang động cho thiên hạ” (Vi thiên hạ cốc, Đạo Đức kinh, Thiên 28).
Làm hang động, nhà thơ có trong mình một huyền bí, một bóng tối vô biên: “Tối đen một giếng thẳm”.
Nhưng sao lại “Rực rỡ ánh quang minh”?
Để thấy được điều này thì hãy để nó tương chiếu thêm với bài thơ Cõi bóng tối của nhà thơ Đức Enzensberger mà ta đã nhắc tới từ đầu, đến đây ta sẽ đọc tiếp bài thơ ấy:
“những ai muốn nhìn thấy ánh sáng
như là như
phải biết lui mình
vào trong bóng tối.
bóng tối
quang minh hơn mặt trời:
bóng tối mát tươi của tự do”. (4)
Về với Đêm trinh rồi, tôi thấy mình được giải thoát. Chặng cuối cùng là Hoang Vu, một cõi Đại Hoang mà tôi tung tăng dạo bước, càn khôn độc bộ.
Nơi đó dường như tôi không còn gì.
Bởi vì tôi có cả Càn Khôn.
Đêm trinh
Tôi với tôi,
Không hình, không bóng.
Tôi với tôi,
Không thơ, không mộng.
Tôi với tôi,
Lồng lộng giữa Hoang Vu!…
Dù hình ảnh cái tôi dường như choán đầy cõi Hoang Vu nhưng nên hiểu ngược lại. Chính là cái Hoang Vu đang choán đầy tôi, Đêm trinh đang choán đầy tôi.
Vậy mà cái Hoang Vu ấy, Đêm trinh ấy vẫn còn rộng chỗ cho bất kỳ ai, cho bất kỳ cái tôi nào muốn trở về.
Cuối bài Cõi bóng tối, nhà thơ Đức Enzensberger gợi ý:
“trong bóng tối ấy
đến bây giờ vẫn còn chỗ trống đấy thôi.”
(im schatten
ist immer noch platz)
Đêm trinh của Nguyễn Vỹ là một bài thơ lớn. Đọc để rung động và suy tưởng. Bởi hình tượng độc đáo đậm tính kinh điển cổ xưa lẫn tính tân hình thức mới lạ. Nó xứng đáng có mặt trong mọi thi tuyển cao cấp. Được chiếu sáng, nó sẽ chiếu sáng bội phần.
Chú thích:
(1) Dẫn theo Nuiansongtra.net. Nguyễn Vỹ, 21 tháng 2 năm 2009.
(2) Dẫn theo tập sách song ngữ Đức Anh German Poetry 1910-1975, Urizen Books, trang 430. Nguyên văn tiếng Đức như sau:
“hier sehe ich noch einen platz,
einen freien platz,
hier im schatten.
dieser schatten
ist nicht zu verkaufen.”
(3) Dictionary of Symbols, Myths and Legends, Didier Colin, Hachette, London, 2000, trang 63: “immortal mythical gods and demons are frequently represented with a blue head and body, especially in India.”
9/12/2019
Nhật Chiêu
Theo https://vanhocsaigon.com/

Cơn mưa xanh của Phạm Quang Tiễn

Cơn mưa xanh của Phạm Quang Tiễn

Các cụ ngày xưa dạy rằng: Trên đời này không có gì là tình cờ cả. Mọi thứ đều đều được sắp đặt và đều từ nhân duyên mà ra. Không có duyên thì không gặp được. Tôi biết Phạm Quang Tiễn từ cái duyên ấy, nếu có thể ví được như thế. Số là cách đây hơn một năm, Hội đồng Thơ – Hội Nhà văn TP.HCM có chuyển cho tôi hơn 30 tập thơ của các tác giả trẻ nhờ đọc. Phạm Quang Tiễn là một trong các tác giả đó. Tôi biết Phạm Quang Tiễn từ cơ duyên như vậy.
Gần một năm sau tôi mới được gặp Phạm Quang Tiễn tại “Sân thơ trẻ” trong Ngày Thơ Việt Nam Xuân Tân Mão tổ chức ở Bến Nhà Rồng. Qua chuyện trò tôi mới biết Phạm Quang Tiễn là người làm xây dựng nhưng tính ông lại nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ, chỉn chu như một nhà giáo. Ông đến với thơ đơn giản chỉ là yêu nó. Âu cũng là duyên trời vậy.
Phạm Quang Tiễn trao cho tôi tập thơ “Cơn mưa xanh” và nhờ tôi đọc “Xem có in được không?”– ông nói. Phạm Quang Tiễn là vậy. Sẽ sàng, khiêm nhường hơn cả mức cần thiết. Là người đã từng cho ra đời hai tập thơ: “Trở lại dòng xưa” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2006 và “Tơ xanh Tơ vàng” in năm 2010 nên tập thơ thứ ba này hẳn phải rất thú vị. Và tôi đã không lầm:
Ngày tôi trở lại dòng xưa
Ngày em lỡ chuyến đò trưa một mình
Sông quê mải miết vô tình
Phù sa lắng đọng dần thành nỗi đau
Nửa đời trôi chảy với nhau
Mượn câu thơ chở bể dâu kiếp người…
(Trở lại dòng xưa 2)
Thơ của Phạm Quang Tiễn hồn hậu, chân thành như chính con người ông. Điểm nhấn trong thơ ông cũng giống như điểm nhấn trong công trình xây dựng, tạo ra ấn tượng làm cho người ta phải nhớ:
Nhưng em vẫn trong anh
Hệt như ngày xưa ấy
Cái đuôi tóc vùng vẫy
Bơi trên vai ngày nào
Cái dáng đi thanh mảnh
Làm bao người nôn nao.
(Gửi bạn Hà Nội)
Sinh ra và lớn lớn ở vùng Duyên Hải Bắc Bộ nên chính dòng sông quê tươi mát đã tưới xanh tâm hồn Phạm Quang Tiễn. Thơ ông không ào ạt, mạnh mẽ như những lớp sóng mà sẽ sàng, rỉ rả giống như mưa xuân. Nó thấm vào lòng người một cách tự nhiên bởi sự sâu lắng đến giản dị:
Trời xanh không có thực
Biển cũng có xanh đâu
Tạo hóa làm phông ảo
Cho người diễn với nhau!
(Dự cảm)
Tác giả “Cơn mưa xanh” đã phản ảnh một cách chân thực sự xúc cảm đa chiều trong tâm hồn mình. Đọc thơ ông, người ta dễ dàng nhận ra trong cái đẹp có cái đau và trong cái đau có cái đẹp. Chính sự tương phản này làm cho thơ ông rất “riêng” khó có thể bị quên lãng:
Mỗi tháng đủ ba mươi ngày
Vẫn viết nhật ký vẫn bày trò vui
Thơ tình vẫn cứ “Em ơi!”
Viết xong lòng mới bồi hồi: Gửi ai?
(Trường Sa một thoáng)
Hoặc:
Tan ca em ghé chợ
Tất tưởi mua mớ rau
Con cá chiều mắt đục
Con tôm chiều long đầu
Cuối tháng ví xẹp lép
Toàn những đồng tiền nhàu
Lượn qua rồi vòng lại
Trăng cài xanh mái đầu!
(Chợ chiều)
Nghề xây dựng đã đưa ông đến nhiều vùng đất. Những xúc cảm cũng trải dài trên con đường của ông. Người đọc có thể chia sẻ với ông những xúc cảm đó – Những xúc cảm tưởng là rời rạc nhưng lại phản ánh một cách thống nhất cái nhìn thời cuộc và không mất đi chất thơ trong tâm hồn ông:
Đêm nghe tiếng máy ủi
Gạt trăng vàng xuống thung
Có một người không ngủ
Nhìn lên trời…rưng rưng.
(Xưa rồi)
Đọc thơ Phạm Quang Tiễn người ta có thể nhận thấy tình yêu chân thành nhất quán mà ông dành cho người ông yêu. “Em” là một người cụ thể nào đó mà ông yêu thương, gửi gắm. Nhưng “Em” cũng có thể chỉ là một ước vọng, một khát khao, một vẻ đẹp thuần khiết mang tính biểu tượng mà ông suốt đời ngưỡng vọng, tìm kiếm:
Em mãi là tứ thơ thứ nhất
Bài thơ tôi chưa viết bao giờ
Em mãi là bông hoa thứ nhất
Mà tôi chưa hái được trong mơ
Tôi sinh ra đã là người hành khất
Suốt đời gõ cửa trái tim em
Cả khi ngủ lòng còn thổn thức
Trong giấc mơ vẫn rạo rực đi tìm.
(Em và tôi)
Tôi không muốn huyên thuyên, dài dòng về thơ Phạm Quang Tiễn bởi không thể nói hết được những điều mà ông muốn gửi gắm, muốn chia sẻ với người đọc. Người xưa từng nói: “Ý hết, lời dứt đã là hay. Nhưng lời dứt mà ý chưa hết mới hay hơn.” Xin nhường lại cho bạn đọc thẩm định lời dạy ấy trong thơ của Phạm Quang Tiễn.
Nhà thơ Phạm Quang Tiễn sinh năm 1958 ở xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Hiện đang công tác tại Công ty TNHH Xây dựng Phạm Quang ở 89 – 91 Nguyễn Du, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.
Tác phẩm đã xuất bản:
– Trở lại dòng xưa – thơ, NXB Hội Nhà văn 2006
– Tơ xanh tơ vàng – thơ, NXB Thanh Niên 2010
– Cơn mưa xanh – thơ, NXB Hội Nhà văn 2011
– Đất Tổ – thơ, NXB Hội Nhà văn 2016
Quan niệm văn học:
“Sinh ra và lớn lên trong cái nôi đồng bằng Bắc Bộ. Thơ Phạm Quang Tiễn không ào ạt, mạnh mẽ như những lớp sóng mà sẽ sàng, rỉ rả giống như mưa xuân. Nó thấm vào lòng người một cách tự nhiên bởi sự sâu lắng đến giản dị…”.
9/12/2019
Văn Lê
Nguồn: Lời tựa tập thơ Cơn mưa xanh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nguyễn Minh Châu với việc góp phần khai mở hệ hình tư duy lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới

Nguyễn Minh Châu với việc góp phần
khai mở hệ hình tư duy lý luận phê bình
văn học thời kỳ đổi mới

1. Không phải ngẫu nhiên trong Sổ tay viết văn của mình, Nguyễn Minh Châu đã xác quyết: “Không có một thứ nghề nào mà kết quả công việc lại có thể cắt nghĩa rõ rệt chân giá trị của người làm ra nó như nghề viết văn” [1]. Bởi, chính quá trình nghiệm sinh trong hành trành trình sống và viết, với tư cách người cầm bút luôn ý thức về trách nhiệm trước cuộc đời, Nguyễn Minh Châu đã nhận ra rằng: “Người đọc khi lần giở những trang sách chẳng khác nào đang giở từng trang lý lịch tư tưởng của người viết. Và khi xếp những cuốn sách lại người ta có thể hiểu kỹ lưỡng như từng ăn ở với chúng ta, nhìn thấu vào tận trí não và lương tâm chúng ta. Lúc đó là người đọc có thể đánh giá chúng ta, liệt từng người trong chúng ta vào hạng người như thế nào trong xã hội, và cũng căn cứ vào đó người đọc định đoạt một thái độ đối với tên một nhà văn”[2]\.
Như vậy, trong tư duy sáng tạo và quan niệm của mình về nghề văn, Nguyễn Minh Châu đã ý thức sâu sắc không chỉ về sứ mệnh của nhà văn mà còn ý thức về “lịch sử tư tưởng của nhà văn”, chứ không phải “lý lịch chính trị” như người ta vốn quan niệm. Với Nguyễn Minh Châu sự tồn sinh của một nhà văn chính là sự vận động và phát triển trong tư tưởng nhà văn về phương diện mỹ học, triết học, và văn hóa được thể hiện trong tác phẩm chứ không phải là những trang văn “minh họa” một cách tầm thường, dễ dãi, vô cảm. Bởi, ông đã tự ý thức rằng: “Bao giờ cũng thế, bao giờ người đọc cũng khao khát muốn tìm thấy trên trang sách nhà văn một sự rung động sâu sắc, một sự quan tâm thực sự đối với cuộc đời của họ, một niềm tin yêu, một tiếng nói chung”.[3] Và “xét cho cùng cái phần chủ yếu của một người viết văn vẫn là tiếng nói của anh trước những vấn đề mà đông đảo mọi người đang quan tâm tới”.[4] Với những trăn trở và dằn vặt đầy tính tự thức như thế, có thể nói, Nguyễn Minh Châu là một trong không nhiều nhà văn cách mạng có sự phản tỉnh mạnh mẽ về vai trò của nhà văn và của nền văn học, trước yêu cầu bức thiết của cuộc sống. Và đây là những tiên đề lý luận và thực tiễn để Nguyễn Minh Châu thay đổi hệ hình tư duy lý luận, phê bình của mình, từ đó, trở thành một trong những nhà văn góp phần quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định trong việc khai mở cho hệ hình tư duy lý luận phê bình trong tiến trình văn học thời kỳ đổi mới.
2. Nguyễn Minh Châu với sự chuyển đổi hệ hình tư duy lý luận phê bình
2.1. Sự đổi mới tư duy trong cái nhìn về chiến tranh và thân phận con người
Là một nhà văn đã dự phần vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc trong tư cách là một người lính chiến đấu ở chiến trường, hơn ai hết, Nguyễn Minh Châu không chỉ cảm nhận được những hành động anh hùng của người lính trong cuộc chiến đấu giành độc lập tự do cho tổ quốc mà ông thể hiện vô cùng sống động trong hai tác phẩm giàu chất sử thi Dấu Chân người lính (1972) và Mảnh trăng cuối rừng (1975) mà ông còn thấy được sự khốc liệt khủng khiếp của chiến tranh đã đem đến khổ đau cho bao phận số con người mà cuộc đời của họ là những mảng màu bi kịch với những bất hạnh không giống nhau được ông minh chứng qua những tác phẩm viết sau chiến tranh như: Miền cháy (1977); Bức Tranh (1982); Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983)… Và, hiện thực trong những tác phẩm viết sau chiến tranh của Nguyễn Minh Châu là một xác chứng cho sự đổi mới cách nhìn, cách nghĩ của ông đối với cuộc kháng chiến mà khi luận bàn về đề tài chiến tranh ông đã chia sẻ: “Cần tránh một điều: đừng bao giờ biến cuộc sống kháng chiến thành một cảnh “non bộ” xinh xẻo, tĩnh mịch”[5]. Bởi, với sự trải nghiệm của người trong cuộc, Nguyễn Minh Châu đã nhận ra tính chất “thi vị hóa” khi phản ánh về cuộc chiến trong các tác phẩm viết về chiến tranh mà theo ông: “Hình như cuộc chiến đấu anh hùng sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca đôi khi tráng lên một lớp men “trữ tình” hơi dày, cho nên ngắm nó thấy mỏng mảnh, bé bỏng và óng chuốt quá khiến người ta phải ngờ vực”.[6] Và muốn tránh được sự ngờ vực nơi người đọc, khi viết về chiến tranh, nhà văn cần viết trung thực về những được, mất trong cuộc chiến, không nên viết theo một công thức định sẵn “ta thắng, địch thua”, “ta tốt, địch xấu” của lối tư duy tuyên truyền hết sức ấu trĩ, không thấy được sự phức tạp của qui luật chiến tranh mà ở đó, không có cái gì là không thể xảy ra. Đây cũng là điều Nguyễn Minh Châu đã nhận thấy khi nhìn lại những tác phẩm văn học viết về chiến tranh: “Các nhân vật thường khi có khuynh hướng được mô tả một chiều, thường là quá tốt, chưa thực. Hình như tất cả những mặt tính cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực thì lại có thể tạm thời giấu mình trên trang sách. Vì ý thức cổ động kháng chiến một phần, một phần khác có phải do quan niệm sơ lược về nhân vật anh hùng?”.[7] Và, để thức nhận mọi người thấy được bệnh công thức không chỉ ở người viết mà cả trong cảm quan của người đọc khi tiếp nhận những tác phẩm văn học viết về chiến tranh cách mạng, Nguyễn Minh Châu đã lý giải thấu lý đạt tình khi ông cho rằng: “Không có gì đáng lên án cái khuynh hướng văn chương ấy trong hoàn cảnh một đất nước phải huy động toàn dân, toàn diện kháng chiến. Nhưng trước nhiệm vụ xây dựng một nền văn học làm sao có những tác phẩm xứng đáng với dân tộc và đất nước, chúng ta phải dám nhìn thẳng vào những quan niệm, những khuynh hướng văn học đẻ ra từ một đất nước hàng chục năm phải nỗ lực lấy thắng lợi chính trị và quân sự làm gốc, Những quan niệm, những khuynh hướng ấy có khi nằm trong các sáng tác đã ra đời, có khi vẫn còn nằm trong thị hiếu muôn màu muôn vẻ của các giới người đọc đông đảo”.[8]
Có thể nói, những luận giải trên của Nguyễn Minh Châu khi bàn đến thực trạng văn học viết về chiến tranh là hết sức tỉnh táo, khách quan, công bằng, vừa gắn với thực tiễn cuộc sống, chiến đấu của dân tộc trong một thời kỳ mà mọi vấn đề đều được nhìn nhận theo hướng “lý tưởng hóa”, lại vừa gắn với những yêu cầu của  hiện tại, cần có một phương thức phản ánh mới về cuộc sống trong chiến tranh, làm thế nào tiệm cận với sự thực diễn ra trong kháng chiến, để người đọc không quay lưng lại với văn học cách mạng. Bởi, trong suy ngẫm của Nguyễn Minh Châu: “Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước. Có lẽ nhân loại ít có dân tộc nào lúc nào cũng canh cánh ước mơ như chúng ta”.[9] Và từ những suy niệm đầy sự chiêm nghiệm của một nhà văn đã đi qua cuộc chiến, Nguyễn Minh Châu đã khai mở một cách nhìn mới, một cách nghĩ mới khi viết về chiến tranh và thân phận con người mà theo ông: “Những người cầm bút của chúng ta vô cùng cảm thông với dân tộc mình nhưng chẳng lẽ chúng ta có thể làm yên tâm mọi người bằng cách mô tả cái hiện thực ước mơ? Những điều trên chỉ cho thấy: trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực đôi khi chúng ta phải khai chiến cả với những quan niệm tốt đẹp và lâu dài của chính mình”.[10] Và chúng ta phải làm thế nào để “tạo điều kiện ra đời những cuốn sách về chiến tranh có giá trị lột tả được những vấn đề bản chất nhất của đời sống dân tộc ta, rọi cho con đường đi của dân tộc và từng con người trong tương lai”.[11] Vì vậy, khi viết về chiến tranh, theo Nguyễn Minh Châu, nhà văn không chỉ quan tâm đến: “Những xu hướng chính trị” mà còn phải quan tâm đến: “những biểu hiện tâm lý và diễn biến tính cách của các tầng lớp người trong xã hội, lúc hòa bình yên ổn và khi cơn bão lốc của cách mạng và chiến tranh ào ào đổ xuống như thế nào? Có những qui luật nào và những yếu tố nào đã chi phối con người ta lúc khởi phát chiến tranh, lúc chiến tranh xen kẻ hòa bình, và khi chiến tranh kết thúc? Trong chiến thắng khải hoàn, những điều gì đã xảy đến trong tâm lý, tính cách của người chiến thắng”.[12] Để thực hiện yêu cầu bức thiết này trong việc đổi mới cách viết về đề tài chiến tranh, Nguyễn Minh Châu không chỉ lập ngôn đơn thuần mà bằng chính sáng tác của mình như: Bến quê (1985); Mảnh đất tình yêu (1987); Khách ở quê ra, Phiên cợ Giát (1988); Cỏ Lau (1989)… ông đã minh chứng và hiện thực hóa quan niệm ấy hết sức thuyết phục. Rõ ràng, qua những sáng tác và những diễn ngôn thể hiện quan điểm của mình trong đề tài viết về chiến tranh, Nguyễn Minh Châu đã khai mở cho nền văn học nước nhà một cách nhìn mới, một cách viết mới về cuộc kháng chiến của dân tộc. Đó là một cách nhìn chiến tranh qua thân phận con người, không phải qua những trận đánh với những số liệu khô khan, những cảm hứng sử thi mang âm hưởng chiến thắng một cách lạc quan đến ngờ nghệch. Trong suy niệm của ông: “Viết về chiến tranh…Mấy tiếng ấy không chỉ đơn thuần là chuyện một đề tài văn chương, mà còn có gì đây? Có máu thịt của mình. Kẻ còn sống và người đã chết. Có kỷ niệm: đồng đội, đồng chí của mình. Có cuộc đời mình và cuộc đời dân tộc”.[13] Bởi, với ý thức của một nhà văn chiến sĩ, Nguyễn Minh Châu hiểu rằng: “Trong bão tố của cách mạng và chiến tranh, con người phải phơi bày cái bản chất của mình ra nhanh chóng hơn lúc bình thường. Trong cách mạng và chiến tranh không có sự ve vuốt để yên tâm, thói lịch sự để che đậy, mọi con người đều là chính mình nhất”.[14]
Quả thật, cái nhìn của Nguyễn Minh Châu về đề tài chiến tranh qua phận số con người là một cái nhìn nhân bản, mang tính phổ quát của nhân loại. Bởi, trên cõi nhân gian này, không có dân tộc nào lại muốn sống trong cảnh tang thương của chiến tranh, ngược lại, khát vọng về cuộc sống hòa bình luôn là điều mà nhân loại hướng đến. Vì vậy, có thể nói, cách nhìn, cách nghĩ của Nguyễn Minh Châu khi ông luận giải về chiến tranh qua phận số con người thể hiện ở các diễn ngôn trong sáng tác và lý luận phê bình là có tính dự báo và khai mở rất lớn đối với bầu khí quyển văn học lúc bấy giờ. Bởi, những vấn đề ông đặt ra đều ở thập niên bảy mươi, của thế kỷ trước, khi đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh và phần lớn mọi người còn đang ngủ yên trong men say chiến thắng. Thế mà ông đã “giật mình”, thức tỉnh để nhận ra những gì sẽ đến với phận số con người thời hậu chiến nên có thể xem những quan điểm này là tiên đề quan trọng khai mở cho chính ông và cho nền lý luận phê bình văn học của nước nhà trong thời kỳ đổi mới.
2.2.Sự trung thực của nhà văn và việc “đoạn tuyệt” với nền văn học minh họa
Không phải nhà văn nào khi cầm bút cũng trăn trở về vai trò, trách nhiệm của mình trước vận mệnh đất nước và nhân dân, cũng như phận số con người. Nguyễn Minh Châu thì khác, với ý thức dấn thân của một nhà văn luôn tâm nguyện hướng đến một xã hội tốt đẹp, nên ông luôn trăn trở về trách nhiệm nhà văn trước cuộc đời. Theo ông: “Người viết văn là người rất nặng nợ với đời. Cuộc đời của anh ta là cuộc đời không bao giờ được phép ngừng lăn lộn trong cuộc sống thực tế, không bao giờ ngừng quan sát và nghiên cứu xã hội và trong khi chăm chú đọc cái “cuốn sách khổng lồ” đó, anh ta phải đặt hết tất cả tâm hồn và trí tuệ của mình vào, phải tỏ rõ chính kiến và lập trường của mình trước mỗi một sự việc, mỗi một hoàn cảnh, mỗi một con người”.[15] Ý thức được sứ mệnh của nhà văn trước cuộc sống, nên khi nhìn lại những tháng năm cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã tự thú một cách thành thực  mà không phải ai cũng đủ dũng khí và đủ sự trung thực để nói lên sự “thành thực” ấy, khi ông cho rằng: “là một người sáng tác, chắc tôi cũng giống như nhiều anh em sáng tác khác, có thói quen vừa viết vừa quan sát nhìn theo cái ngòi bút của mình có lúc đầy hào sảng có lúc lại đầy đắn đo, hồi hộp lẫn e ngại chạy trên mặt tờ giấy định mệnh. Chao ôi để bụng không nói ra thì thôi chứ nói ra cái chuyện này nó vui lắm, mà nó cũng buồn lắm, có đôi khi buồn đến thối ruột! Thú thật chừng ba bốn năm trở lại đây tôi cứ hay nổi lên những cơn ngán giấy bút, hay so sánh mình với những anh em bạn bè cầm bút một cách suôn sẻ bình thản, được trời đất ban cho một cái tạng nhà văn luôn luôn sẵn sàng thích nghi với mọi thứ lý luận và luật lệ văn học, họ thật sướng, viết ra trang giấy mà trong bụng chẳng có điều gì phải sợ sệt, lo lắng như một người bao giờ cũng sống đỉnh đạc, cứ thẳng đường chính rộng lớn mà đi, còn mình thì y như một kẻ gian phi lúc nào cũng như đang lén lút thu dấu cái gì quốc cấm trong cạp quần hay dưới áo. Nghĩ mà buồn quá, nghề giấy bút nó chẳng nuôi gì được mình mà chỉ thấy nó hành mình”.[16] Rồi ông lại so sánh những nhà văn thế hệ mình với thế hệ các nhà văn trước cách mạng Tháng tám mà cụ thể là nhà văn Nam Cao, người đã từng “than thở” là mình bị o ép “tưởng như không viết được gì thế mà cả một đời cầm bút của Nam Cao trước cách mạng số năm có là bao nhiêu đâu vậy mà đủ để lại khá nhiều, nhất là có thể có cái quyền viết rất thực, bao nhiêu lẽ đời, sự đời, bao nhiêu khuôn mặt người đời thực tiễn đến thế. Chí phèo thực đến thế. Thực là vừa được viết vừa được nói. (…) Chứ như đám chúng tôi từ nhà văn trẻ đến lớp nhà văn già (…) hễ cầm bút là phải nghĩ đến né tránh, che chắn, rào đón, đối phó.  Có vẻ tuồng như mỗi nhà văn mỗi khi ngồi trước trang giấy là cùng một lúc phải cầm hai cây bút: Một cây để viết cho người đọc bình thường, cho đời, một cây bút khác viết cho đạo, lo việc che chắn, viết cho lãnh đạo văn nghệ đọc. Mà cái ngọn bút thứ hai này buồn thay các nhà văn cầm lâu ngày để tự bảo vệ mình cho nên cũng lắm kinh nghiệm, mà cũng tài hoa lắm”.[17] Ý thức được điều bi kịch này, khi nhà văn luôn phải đeo mặt nạ trong hành trình sáng tạo mà theo Nguyễn Minh Châu điều ấy không chỉ có ở nhà văn tầm tầm mà còn có ở những nhà văn tài năng, vốn là “tinh hoa” của nền văn học dân tộc. Vậy mà khi cầm bút cũng hạ thấp phẩm chất nhà văn, cũng “xoay trở, vặn vẹo cây bút, phải làm động tác giả” để được “yên ổn” mà “tồn tại” nên lâu dần phải viết theo kiểu “văn chương minh họa”, “ca ngợi một chiều” tạo nên một thứ văn chương công thức, sơ lược, nhạt, giả, “Không thể nào bào chữa nổi, đắp đậy nỗi, so với cuộc đời thật bên ngoài”.[18] Xuất phát từ thực trạng đáng buồn này nên, Nguyễn Minh Châu đã yêu cầu “hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”.[19]
Chúng ta cần bình tỉnh để thấy vấn đề Nguyễn Minh Châu đặt ra ở đây, chỉ là “đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” chứ ông không bao giờ cho rằng toàn bộ nền văn học cách mạng và kháng chiến là văn học minh họa, và không bao giờ phủ nhận giá trị của văn học cách mạng trong việc góp phần vào cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc mà chính ông đã dự phần với tư cách là một nhà văn chiến sĩ như ông đã xác quyết: “Tôi không hề nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng – nền văn học ngày nay có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn – không có những cái hay, không để lại những tác phẩm chân thực”.[20] Song điều ông muốn, là cần có một cái nhìn trung thực, khách quan về giá trị đích thực của nền văn học mà theo Nguyễn Minh Châu: “Cũng phải nói thật với nhau rằng, mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, với những cây bút chỉ quen với cài hoa kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn, cho những chữ nghĩa những văn bản vốn đã có sẵn mà chúng ta qui cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn (…) Từ đấy rồi trở thành thói quen. Thói quen của một người vốn quen đi trong một hành lang hẹp, vừa hẹp, vừa thấp (…)  với một khả năng thích nghi hết sức ghê ghớm, các nhà văn đã thích nghi với văn học minh họa như thích nghi với lối sống gian khổ, thiếu thốn trong chiến tranh”.[21] Để thấy được sự tác hại của “văn học minh họa” đối với sự phát triển của nền văn học nước nhà, Nguyễn Minh Châu đã chỉ rõ những giới hạn của nó mà theo ông: “Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ minh họa của ta là từ đấy những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng – nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn”.[22] Vì thế, muốn tránh được giới hạn của kiểu văn chương minh họa, theo Nguyễn Minh Châu “Chúng ta phải nhìn lại kỹ càng cái hình trình văn học đã đi qua bằng con mắt thông minh, không phiến diện và thực sự cầu thị, để một mặt không phủ định tất cả, một mặt khác, với một tinh thần tự phê phán, thấy cho được rằng có thể đôi khi với động cơ tốt chúng ta đã trói buộc lẫn nhau trong một thời gian hơi quá dài của mấy lớp người cầm bút, trong khi đó lại đòi hỏi phải có những tác phẩm lớn. Thật là mâu thuẩn. Chả khác nào trói lại rồi bảo đố mầy bay lên.”[23] Rồi cùng với những suy nghĩ hết sức thành thực và khát vọng hướng đến một nền văn học tiệm cận với chân lý nghệ thuật và chân lý đời sống, ông đã chia sẻ, mặc dù vẫn còn đầy lo ngại: “Muốn có tác phẩm lớn, nhưng liệu chúng ta có chấp nhận nỗi những tính cách ngòi bút của một nghệ sĩ lớn với tầm tư tưởng lớn mà tôi nghĩ bao giờ nó cũng quá chói sáng, với những điều nói thật không phải bao giờ cũng dễ nghe, thậm chí có thể làm đảo lộn mọi quan niệm, với những nỗi dằn vặt, băn khoăn lớn chung quanh cái bề mặt nhãn tiền và tận chín tầng đất sâu của cuộc sống con người trên dải đất này”.[24] Và nghệ sĩ lớn trong cái nhìn của Nguyễn Minh Châu là những tài năng mà “tài năng, nhất là thiên tài bao giờ cũng như là của bắt được, của trời cho, ai mà biết được bao giờ thì họ đến” Vì vậy, “Nhiệm vụ của chúng ta là chuẩn bị bầu không khí cho họ thở, cho họ sống, đừng giết chết họ, đừng ghen tị với họ, đừng làm cho họ sống dở chết dở mà vẫn phải nở nụ cười, đừng làm cho họ thui chột trí tuệ lẫn tình cảm, đừng khiến họ cuối cùng trở thành chúng ta”.[25] Theo Nguyễn Minh Châu, đây là giải pháp khả dĩ để tạo ra những nhà văn tài năng, sống và viết trung thực đóng góp cho văn học nước nhà cũng như văn học nhân loại bằng chính sự độc đáo trong cá tính sáng tạo của mình. Và để làm được điều này, theo Nguyễn Minh Châu, nhiệm vụ của Hội Nhà văn đối với thế hệ những người viết văn trẻ “không phải là chuẩn bị cho lò ấp hàng trăm, hàng ngàn quả trứng vịt mà là chuẩn bị cho những tư cách nghệ sĩ và tài năng lớn ra đời”.[26] để làm thế nào cho nền văn học Việt Nam có những nhà văn đóng góp xứng đáng vào nền văn học thế giới với tư cách là những nghệ sĩ tài năng vì “chẳng lẽ các nhà văn Việt Nam đi ra ngoài mãi mãi chỉ có một cái tên riêng là nhà văn Việt Nam. Để rồi quay trở về con hát mẹ khen hay? Và đàn con cứ mãi mãi suốt đời tự hào vì được người mẹ ở trong nhà khen ngợi!”[27]
Thật vậy, một nền văn học hiện hữu trong tâm thức người đọc của một dân tộc và của nhân loại bao giờ cũng hiện hữu bằng tác phẩm của từng nhà văn. Người đọc nhớ đến một nền văn học là nhớ đến những văn nhân cụ thể cùng với tác phẩm nỗi tiếng của họ chứ không bao giờ nhớ đến một nền văn học, trong đó không có nhà văn và tác phẩm đỉnh cao nào chạm đến những vấn đề nhân loại quan tâm. Sự lưu ý của Nguyễn Minh Châu cũng là thông điệp mang tính khai phóng trong việc kiến tạo giá trị của nền văn học nước nhà trong xu hướng hội nhập và phát triển mà sự nghiệp đổi mới đã soi sáng nên cần được chia sẻ và trân quí. Bởi, đây chính là suy tư đầy tâm huyết từ hành trình sáng tạo của một nhà văn luôn có những trăn trở về sự tồn sinh của văn học dân tộc mà khát khao tìm đến với cái mới, bảo vệ cái mới trong tiến trình vận động và phát triển của văn học luôn là điều thôi thúc ông dấn thân, bởi ông tin rằng: “chắc chắn chúng ta sẽ không bao giờ giơ tay ngăn cản cái mới, cái tiến bộ, mà sẽ xuất hiện một quyết tâm làm mới lại mình với thái độ chân thành, xởi lởi, cởi mở, để cùng nhau xây dựng một giai đoạn văn học và văn nghệ mới”[28]
Xuất phát từ khát vọng đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã chỉ cái căn tố giới hạn  của nền “văn nghệ minh họa” mà theo ông, đó là nền văn nghệ xa rời cuộc sống, chỉ cốt phản ánh cái phải có với một khuôn mẫu định sẵn chứ không phản ánh cái đang có như chính cuộc sống đang diễn ra. Vì thế, đó cũng là một nền văn nghệ thiếu trung thực và đầy ngụy tín mà điều này không phải chỉ xuất phát từ ý muốn của một số lãnh đạo văn nghệ mà bi kịch thay lại là sản phẩm từ chính nhận thức của các văn nghệ sĩ khi họ “cố gắng làm cho lãnh đạo tin, bằng cách biến mình thành một đứa trẻ ngoan ngoãn, bao điều suy nghĩ chiêm nghiệm ngỗn ngang, bao kiến thức thâu lượm cả một đời, bao lo âu trăn trở về con người, việc đời đem giấu đi (….) Để cầu yên ổn, người sáng tác cầm ngọn bút chỉ “phe phẩy” giả dối một chút trong một thời điểm, đến một lúc cầm lại những trang sách thấy nó cứ bạc phếch trước sự thật đầy tàn nhẫn, như mặt vai nịnh trên sân khấu tuồng”[29] Vì vậy, theo Nguyễn Minh Châu, sự trung thực không chỉ là một phẩm tính cốt tử mà còn là một biểu hiện của tài năng và nhân cách người nghệ sĩ trước cuộc đời. Thiếu sự trung thực trong hành trình sáng tạo, người nghệ sĩ dù có tài năng cũng không thể là một nghệ sĩ chân chính mà chỉ là một “nhà ảo thuật” trên “sân khấu” văn chương. Bởi, đối với Nguyễn Minh Châu: “Trong tư chất của người nghệ sĩ có cái chất thật chả khác nào trong quả sấu có chất chua chát, như có điều thiên phú. Có người viết hàng mấy chục quyển sách, người ta đọc thấy nó giả, cuốn nào cũng vậy, mặc dầu có thể ngoài đời họ sống tốt hơn các nhà nghệ sĩ, thậm chí thiệt thà hơn các nhà nghệ sĩ. Cái chất thật của những điều người nghệ sĩ viết ra, nó chính là cái thiết yếu, cái cổt lõi của lòng người cùng sự đời hoặc nếu được phép nói nôm na: nó là cái củ tỳ của đời sống, mà chỉ những nhà nghệ sĩ đích thực mới nắm bắt được”[30] Và để minh chứng cho những nghĩ suy của mình về phẩm tính trung thực của nhà văn trước cuộc sống, Nguyễn Minh Châu đã không ngần ngại nêu lên một cách thẳng thắng chủ kiến của mình, khi cho rằng: “Nhìn riêng trong lĩnh vực văn học, theo tôi nghĩ khoảng mười năm qua mới là thời kỳ thực sự thử thách từng người cầm bút về mặt tư cách nghệ sĩ, về tính trung thực và bản lĩnh nghệ sĩ, thật sự thử thách từng người cầm bút về trách nhiệm xã hội trách nhiệm đối với con người, cho đến các nhà văn bộ đội đã từng lăn lộn suốt ba mươi năm kháng chiến đến lúc này, cũng có cảm tưởng như mới thấy thật sự đứng giữa trận tiền trong cuộc vật lộn giữa cái thật và cái giả, giữa cái thật chân xác và cái thật ngụy tạo, giữa bảo thủ và cái mới, giữa lề thói tư tưởng phong kiến và khao khát dân chủ đổi mới xã hội, giữa cái riêng tư ích kỷ và vận mệnh đất nước”[31]
Có thể nói, qua những suy nghĩ của Nguyễn Minh Châu xung quanh vấn đề tính trung thực của nhà văn, ta thấy ở ông một tinh thần tự kiểm chân thành. Sự khai mở của ông về cách nhìn mới, cách nghĩ mới để kiến tạo một nền văn học luôn đồng hành với sự trung thực,“đoạn tuyệt” lối viết minh họa là “mệnh lệnh” thiêng liêng để phục hưng nền văn học dân tộc trên con đường hội nhập với nhân loại. Bởi theo ông: “Đứng trước trách nhiệm xây dựng con người mới và một nền đạo đức mới trong tình hình xã hội hiện tại, mỗi nhà văn chúng ta đang mang trọng trách như một nhà văn hóa. Chúng ta có nhiệm vụ chăm chút giữ gìn cho đất nước những cái gì thật lâu đời, bền chặt mà cũng thật là mỏng manh: tính thật thà, hồn hậu, niềm tin, nền phong hóa nhân bản, (…) lòng trung thực và tính giản dị…”[32] Để hòa nhập với nền văn học nhân loại trong thời kỳ toàn cầu hóa, văn học nghệ thuật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc kết nối giữa dân tộc và thời đại. Và điều làm nên sự kết nối đó là tài năng và sự trung thực của nhà văn khi phản ánh những vấn đề của dân tộc mình phải nhìn trong mối tương quan với nhân loại.
2.3.Về quan hệ văn học – đời sống và lương tri nhà văn
Trả lời phỏng vấn đầu xuân năm 1986 của báo Văn Nghệ về mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống, Nguyễn Minh Châu đã xác quyết: “Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm – mà tâm điểm là con người. Người viết nào cũng có thể có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nỗi một nhà văn mà không mạng nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là niềm hân hoan say mê, vừa là nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình. Cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững trước cuộc sống”.[33] Như vậy, trong nhận thức của Nguyễn Minh Châu, văn học và đời sống là một thực thể hiện hữu không thể tách rời. Và, dòng huyết quản nuôi sống thực thể này chính là tấm lòng, là thái độ, là cái nhìn của nhà văn đối với con người. Trong suy nghĩ của Nguyễn Mnh Châu, đây cũng là phương diện thể hiện nhân vị của người cầm bút, vì theo ông: “Có một điều tưởng như chẳng thuộc phạm vi văn học nhưng lại là cái gốc của văn học. Đó là tấm lòng, cái nhìn và thái độ của người cầm bút trước cuộc sống hiện tại đang chuyển mình, trước một giai đoạn cách mạng đang biến đổi”.[34] Và tinh thần trách nhiệm đối với cuộc sống của nhà văn là sự thể hiện lương tri của nhà văn mà theo Nguyễn Minh Châu, trước hết đó là lòng trân quí con người: “Văn học là như vậy: làm hiện hình lên những huyền diệu bí mật của cõi lòng người, (…) Chỗ nào có con người thì có văn học”.[35]
Khi bàn đến mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống cũng như lương tri của nhà văn trước cuộc đời, điều Nguyễn Minh Châu luôn trăn trở là tinh thần dũng cảm chiến đấu chống cái ác, cái xấu của nhà văn. Bởi, trong suy nghĩ của ông, nhà văn vốn hiền lành “không làm hại ai, không làm điều ác với ai. Nhưng cái lỗi lớn nhất của mỗi người chúng ta là đã khiếp hãi trước cái xấu cái ác. Và lâu dần dường như không làm gì được thì chúng ta coi như không có nó – cuộc đời không có cái xấu và cái ác đang hoành hành, đang chi phối số phận con người, coi như cuộc đời không còn oan khiên, oan khuất…”.[36] Và điều này đã tạo nên những trăn trở đầy ưu lo trong tâm cảm Nguyễn Minh Châu mà theo ông hình như: “Mối quan hệ giữa văn học và đời sống thực tại đang ngày một xa nhau”.[37] Vì thế, Nguyễn Minh Châu đã rất quyết liệt đấu tranh với sự vô cảm của nhà văn trước cái ác, cái phi nhân tính, khi đặt ra yêu cầu đối với nhà văn, đó là: “Trước những bất công, trước cái ác, anh không có quyền dửng dưng, thây kệ khi con người bị đày đọa, và công việc đó phải là phản ứng tự nhiên của nhà văn”.[38] Bởi vì, giữa những oan khiên của cuộc đời, nhiều khi con người không còn biết bám vào đâu thì, văn học và nhà văn đôi khi trở thành phao cứu sinh, thành diệu pháp tinh thần cứu vãn niềm tin của họ vào cuộc đời, mà theo Nguyễn Minh Châu: “trên trái đất này thời nào và ở đâu cũng đầy rẫy oan khiên, oan khuất, cái ác bao giờ cũng mạnh mẽ và lẫm liệt, đầy mưu ma chước quỷ, còn cái thiện thì ngu ngơ và ngây thơ, lại thường cả tin. Nhà văn tồn tại trên đời này trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời. Nhà văn tồn tại trên đời để bênh vực cho những con người không còn có ai để bênh vực. Cho nên sợ nhất ở một nhà văn là cái chất máu và cái thái độ lãnh đạm, dửng dưng trước mọi việc”.[39] Bởi, trong suy nghĩ của Nguyễn Minh Châu: “Nhà văn không phải là diễn viên trên sàn diễn. Nhà văn không phải là loài có cánh. Nhà văn phải đứng bằng hai chân giữa mặt đất đầy hiểm họa, giữa thập loại chúng sinh”.[40]
Bàn về trách nhiệm và lương tri của nhà văn trước cuộc đời, Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn có nhưng suy tư sâu sắc có thể khái quát thành những diễn ngôn mang tính lý luận về phương diện: nhà văn, tác phẩm và cuộc sống. Trong quan niệm của Nguyễn Minh Châu: “Nghệ thuật nhìn trở lại cuộc sống, nghệ thuật không bao giờ chết. Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một cái nhìn: sự trường tồn ấy mãi mãi đang nhìn vào khoảnh khắc thực tại. Cái vĩnh cửu đang nhìn cái khoảnh khắc”.[41] Vì thế, “Văn học bao giờ cũng phải trả lời những câu hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối thoại với những người đương thời về những câu hỏi cấp bách của đời sống”.[42] Và nhà văn “cố nắm bắt không những cái thực tại mà cả cái hư ảo của đời sống. Không những nắm bắt hiện thực mà còn muốn nắm bắt cái bóng của hiện thực mà cái đó mới là cái hiện thực đích thực”.[43] Những suy niệm của Nguyễn Minh Châu về mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống cũng như tiếng nói lương tri của văn học và nhà văn không chỉ là những vấn đề lý thuyết bổ sung cho nền lý luận phê bình văn học của chúng ta vốn còn nhiều giới hạn mà còn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn góp phần khai mở và thức nhận cho sự đổi mới hệ hình tư duy lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới cũng như cho cả tiến trình của nền lý luận phê bình văn học dân tộc trong hiện tại và tương lai.
3.Thay lời kết:
Trong quan niệm của Nguyễn Minh Châu: “Nhà văn rất cần thiết có mặt ở trên đời, để làm công việc cảnh tỉnh nhân loại và báo hiệu trước những tai họa”.[44] Có lẽ vì ý thức được vai trò quan trọng của văn học và của nhà văn nên Nguyễn Minh Châu đã tự đổi mới tư duy sáng tạo của mình khi đặt ra trách nhiệm phải “đối thoại với người đương thời” về những vấn đề “cấp bách đặt ra trong cuộc sống”. Và đây chính là tiền đề mở ra sự thay đổi hệ hình tư duy lý luận phê bình của ông trong thời kỳ đổi mới mà những diễn ngôn về lý luận phê bình và những sáng tác của ông thời kỳ hậu chiến, nhất là những sáng tác công bố trong thời kỳ đổi mới là một căn cước xác chứng cho những “phát ngôn” của ông không chỉ về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn. Sự gắn kết và bổ sung giữa quan điểm của ông qua những diễn ngôn lý luận phê bình về sự đổi mới cách viết về chiến tranh và nhìn chiến tranh qua số phận con người, về sự trung thực và sự đoạn tuyệt với nển văn nghệ minh họa, về mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống cũng như tiếng nói lương tri của nhà văn và văn học đã cho thấy sự thống nhất giữa nói và làm, giữa lý luận và thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động ở Nguyễn Minh Châu. Vì vậy, những vấn đề lý luận ông đặt ra có ý nghĩa khai phóng, thiết thực góp phần thức nhận không chỉ đối với người sáng tác mà cả đối với người tiếp nhận trong việc hướng đến một nền văn học luôn đồng hành với con người, vì con người, cho con người, “trên con đường dài dằng dặc đi đến cõi hoàn thiện”.[45] Và với những gì ông đã sống, đã viết còn để lại cho đời, Nguyễn Minh Châu không chỉ là một nhà văn góp phần rất lớn trong việc khai mở sự chuyển đổi hệ hình tư duy lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới mà còn là một nhà văn có vị trí đặc biệt, độc đáo, không thể thay thế trên văn đàn. Sự ra đi của ông là một khoảng trống quá lớn không thể bù đắp. Tôi tiếc cho sự “đoản mệnh” của cuộc đời ông. Nhưng bù lại vẫn còn đó, những giá trị trong sự nghiệp văn học ngời sáng của ông, một nhà văn đầy tài năng và nhiệt huyết không dễ tìm thấy trong nền văn học nước nhà như chính Nguyễn Minh Châu đã từng suy niệm: “Đời mỗi nhà văn được làm nên không phải bằng cái mình không làm ra được mà bằng cái nhà văn đã làm ra được”.[46]
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Hoài Anh (2017) Đi tìm ẩn ngữ văn chương, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội
2. Nguyễn Minh Châu (2002) Trang giấy trước đèn (Tôn Phương Lan, sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội
3. Nguyễn Minh Châu (2006) Tuyển tập truyện ngắn , Nxb. Văn học, Hà Nội
4. Đỗ Chu (2004) Tản mạn trước đèn, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội
5. Hoàng Ngọc Hiến (2012) Viết, Nxb. Lao Động, Hà Nội
6. Tôn Phương Lan (2002) Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội
7. Nhiều tác giả (2001) Nguyễn Minh Châu, tài năng và sáng tạo nghệ thuật, (Mai Hương, tuyển chọn và biên soạn) Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội
8. Nhiều tác giả (1997) Văn học 1975-1985: Tác phẩm và dư luận (Vân Trang – Ngô Hoàng – Bảo Hưng, sưu tầm và biên soạn), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội
Chú thích:
[1] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.25
[2] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.25
[3] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.26  
[4] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 27
[5] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.32
[6] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.33
[7] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.57
[8] Nguyễn Minh Châu Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.58
[9] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb.. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.62
[10] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.62
[11] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.63
[12] Nguyễn Minh Châu,Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.72
[13] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.50
[14] Nguyễn Minh Châu Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.57
[15] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.40
[16] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.127, 128
[17] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 128, 129  
[18] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.130
[19] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.127  
[20]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 130  
[21] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 131
[22] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 133
[23] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 135
[24] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.135
[25] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 136
[26] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 136
[27] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 137
[28] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 137 
[29] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.141
[30] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.163
[31] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.142   
[32] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.112
[33] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.111
[34] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.87
[35] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.179
[36] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.157
[37] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.155
[38] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.156
[39] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.165
[40] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.174
[41] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.176
[42] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.78
[43] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.177
[44] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.164
[45] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.112
[46] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.173.
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 15/8/2019
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu Trong tập Giọt trời trên lá sen của Quang Hoài, phần thơ thể hiện những suy tư trăn trở về nhân tình,...