Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca

Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca

“Bầu trời không mái che”* là tập thơ mới nhất của Mai Văn Phấn được xuất bản cuối năm 2010. Cũng như “Vách nước”, “Hôm sau”, “Và đột nhiên gió thổi”…, tác giả luôn làm cho bạn đọc bất ngờ bởi cách đặt tên rất khác người cho những thi phẩm của mình.
Xét về thi pháp, cả ba chủ đề “Cửa mẫu”, “Mùa trăng” và “Hình đám cỏ” gần như cùng một phong cách nhưng phương pháp diễn đạt cũng như đối tượng được đề cập đến xem ra không hoàn toàn giống nhau. Nói khác đi, “Bầu trời không mái che” mang nội hàm tổng quát chi phối ba chủ đề kia.
Phải nói thẳng,“Bầu trời không mái che” là tập thơ khó đọc nhất trong những tập khó đọc của Mai Văn Phấn. Hơn thế, ở thi phẩm mới này, dường như anh đã thoát ly hoàn toàn với những vấn đề “nhạy cảm” xã hội, bỏ ngoài tai mọi cám dỗ chính trị, loại khỏi bộ nhớ đủ thứ màu sắc chủ nghĩa cùng những hệ lụy của nó để tìm đến ngọn nguồn của cảm hứng sáng tạo, cho dù đó là cảm hứng cô đơn trên miền đất hoang vu như cánh rừng tiền sử vừa trải qua cơn đại hồng thủy.
Cảm hứng chủ đạo của “Bầu trời không mái che” là vũ trụ, nhân sinh và những dạng thức khác nhau của tình yêu được phát triển trên cái nền cổ điển thông qua ngôn ngữ siêu thực. Ngôn ngữ siêu thực là một đặc trưng của bút pháp Mai Văn Phấn. Nó biểu hiện ở dạng thức thơ không vần, không nhịp điệu, không đăng đối và thường đảo ngược cấu trúc ngữ pháp. Đúng như phát hiện của nhà thơ Lê Đạt, “chữ bầu nên thơ”, hiệu ứng của những dòng thơ cấu trúc ngôn ngữ bị thay đổi hay chuyển dịch vị trí cú pháp dẫn đến thay đổi cả về nội dung ngữ nghĩa lẫn giá trị biểu cảm. Tuy nhiên chất siêu thực của “Bầu trời không mái che” không phủ nhận mà là tiệm cận thế giới khách quan, vì thế, nó luôn song hành với hiện thực cuộc sống nhưng thường đưa ra những cách giải thích của riêng mình.
“Bầu trời không mái che” lấy con số 9 làm tiêu chí dẫn dắt mạch tư duy hình tượng. Số 9 trong tín ngưỡng dân gian được xem như con số thiêng, thường ẩn giấu những bí mật vũ trụ. Chính vì thế, nó luôn hấp dẫn các nhà chiêm tinh, tướng số, thậm chí cả các nhà khoa học đương đại nghiên cứu về khoa ngoại cảm. Từ ý tưởng này, Mai Văn Phấn khai triển các bài thơ của mình dưới hình thức 9 khúc, 9 đoạn hay 9 nhịp tạo thành sự tương hợp với cấu trúc tự nhiên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương và Ngũ Hành. Có thể nói, tập thơ dường như đã thoát khỏi ràng buộc có tính quy phạm của những định chế xã hội. Những đối tượng mà chủ thể “trần thuật” hoặc hồi ức trong đời sống tự nhiên đều vận hành theo tinh thần tự do, an nhiên trong một thế giới không có bạo lực, không chiến tranh, không chủ trương các triết thuyết dựa trên tinh thần độc tài. Chẳng những thế, nó còn thoát ly ngay cả thứ đạo đức giả được núp dưới đủ thứ danh xưng mỹ miều mà xác lập cho mình một thang giá trị mới.
“Bầu trời không mái che” là một vũ trụ mà trong đó, thiên nhiên trong trẻo, thoáng đãng, tinh khiết được nhận thức dưới góc nhìn tân cổ điển. Thiên nhiên ấy, lúc là mùa xuân trăm hoa đua nở, lúc là mùa thu vàng phai màu lá, chim kêu vượn hót . Tình yêu nảy nở trong trong một không gian sinh tồn lý tưởng như thế với đủ mọi cung bậc. Tuy vậy diễn biến của các “nhịp tình yêu” trong “Bầu trời không mái che” chưa bao giờ đi trọn vẹn một vòng theo phương pháp sáng tác cổ điển. Nó luôn chỉ là một lát cắt bất chợt mang tính biểu tượng bởi tinh thần siêu thực được khai triển trong không gian bốn chiều, vừa hiển lộ vừa thần bí dưới dạng thức ngôn ngữ đã được mã hóa.
Một trong những yếu tố quan trọng làm nên nét đặc thù của tập thơ này là, tác giả đã vận dụng tối đa hiệu quả ngôn ngữ diễn đạt. Hệ thống từ vựng tuy không mới nhưng bí quyết thành công của nó nằm ở khả năng liên kết trong trường ngữ nghĩa tạo nên phản ứng dây chuyền:
Hơi nước bến sông
Không gian đặc thời gian nhầm lẫn
Ngọn khói lên cao
Biết mình bơi trong biển sương
(Cửa Mẫu – I)
Thu về e ấp
Cốm non lãng đãng sương giăng
Khăn áo ấy mịn màng da thịt
Dâng heo may lên trời
(Mùa trăng – Cốm hương)
Bên em hành lễ mặt trời
Ngọn thác, bờ sông lớn
Bóng anh trong tiếng nước chảy
Lưỡi gươm sáng
Thèm tiếng nổ lớn, tiếng đổ vỡ
Những dây cáp trì níu đứt phựt
Con đê vỡ toang tràn lũ đồng bằng
(Nhịp VIII – Hình đám cỏ)
Đây trời cỏ
Đại dương cỏ
Phơi phới sông hồ
(Nhịp IX – Hình đám cỏ)
Việc trù hoạch ý tưởng là quan trọng, nhưng với thơ siêu thực hoặc tân cổ điển, ngôn ngữ diễn đạt mới là điều tiên quyết để tác phẩm thành công. Nói cách khác, cái tài của người viết chính là ở nghệ thuật sắp đặt ngôn từ sau khi đã có được phác thảo bố cục. Cũng với một số lượng từ vựng nhất định, những người có tay nghề cao sẽ dễ dàng sử dụng chúng trong nhiều dạng thức kết hợp, như kết hợp song phương, đa phương theo mặt phẳng, rồi kết hợp đa chiều trong không gian, làm các con chữ nhảy múa tác động lẫn nhau như một phản ứng nhiệt hạch, tạo nên sự bùng nổ bất ngờ vượt khỏi sự kiểm soát.
“Cửa Mẫu” là một ví dụ.
“Mẫu” là khởi nguồn của mọi sự sống trên thế gian, là Đấng Sáng Thế đầy quyền năng, là nguyên nhân của quy luật sinh tồn. Hình tượng “Mẫu” là biểu trưng của cảnh khai thiên lập địa. Vũ trụ lúc ấy tối tăm mù mịt, là một khối hỗn độn vô hướng của nước, lửa và những sinh vật bán khai. Giữa buổi hồng hoang ấy, bà mẹ hoài thai sinh ra đứa con mang dáng dấp Con Người. Hình tượng “con” ở đây còn bao hàm cả khái niệm vũ trụ (ánh trăng, mây mù, mưa nguồn chớp bể, bóng đêm, vầng mặt trời, đáy nước, đàn chim, con nòng nọc, lá mầm…). “Cửa Mẫu” không có thời gian, không gian cụ thể mà là những khái niệm giả định, được đo đếm bằng những đại lượng “ảo” do chính “Mẫu”, một thứ totem siêu hình không thể cắt nghĩa rõ ràng được, quy định.
“Cửa Mẫu” có 9 khúc, mỗi khúc đều được gắn với những hiện tượng, những quy luật trong nhận thức vạn vật tương thông. Mỗi khúc vừa hé mở lại vừa khép kín những bí mật của vũ trụ, lúc thì như là sự giải thích, lúc lại như những câu sấm truyền tối nghĩa bằng thủ pháp ẩn dụ. Có thể nói,“Cửa Mẫu” là một cố gắng tự khám phá thế giới tâm hồn, tìm vào tầng vô thức khám phá bí mật của Tạo Hóa. “Cửa Mẫu” không giải thích mà chỉ nêu hiện tượng cùng mối quan hệ rất bình thường của các quan hệ ấy. Có vẻ như, khi viết “Cửa Mẫu”, Mai Văn Phấn đang trong trạng thái “lên đồng”. Tác giả sau khi được Mẫu nhập vào đã biến thành một chủ thể hoàn toàn khác, có khả năng cảm thấy, nhìn thấy những thứ mà người trần mắt thịt bất lực. Ngôn ngữ “Cửa Mẫu” dồn nén, trơn tru, kéo dài thành những trường đoạn với hàng loạt câu ngắn phảng phất loại ca từ chầu văn, diễn tả thế giới mông lung nửa thần thánh nửa trần tục.
Yếu tố triết lý được loại bỏ ngay từ đầu, thay vào đó là những nghiệm sinh được đúc rút qua quá trình sống của các thế hệ được di truyền lại. Như vậy, “Mẫu” được tôn vinh như là thủy tổ của muôn loài, Cửa mẫu chính là khởi nguồn của sự sống trên Hành Tinh Xanh. Hình tượng “Con” ẩn dụ vạn vật trong cuộc đấu tranh sinh tồn trong lịch sử tiến hóa. “Mẫu” là đấng toàn năng, khi sinh thành ra “Con” cũng là lúc Người trao cho nó cẩm nang thoát hiểm. Hình ảnh “Con” vừa có tính cá thể, vừa mang tính quần thể, là hiện thân của sức quật cường trong hành trình tự khám phá mình để đến tương lai. Đây là những vần thơ cảm nhận sự huyền vi của Tạo hóa khi vạn vật đang sinh thành:
Da thịt con yêu trải sâu đêm tối
Dựng tầng mây mưa nguồn
Con lặng lẽ đi qua vầng mặt trời đáy nước
Nhìn hướng bầu trời mở đôi cánh
Và sự sống nguyên thủy qua hình ảnh đảo ngược gây hiệu ứng siêu thực:
Ngọn cây vươn mỏ con chim
Đang cúi xuống mớm vào miệng con từng hớp gió
Vượt lên trên hết là quy luật sinh diệt của vạn vật do “Mẫu” tạo nên cho thế giới tự nhiên, dạy “Con” thích ứng với hoàn cảnh:
Tiếng hạt vỡ trong ngực
Bơi qua sông con nòng nọc đứt đuôi
Tập vỗ cánh, quạt gió vào lòng tổ
Bật lá mầm bay đi thênh thang
“Mẫu” vừa là vũ trụ vĩ mô vừa là vũ trụ vi mô được nhận thức như là một ý niệm vô thủy vô chung. Nơi sinh ra cũng là nơi kết thúc của mỗi cá thể bởi phương thức cộng sinh. Phương pháp siêu thực kết hợp với biện pháp đảo trang, hòa đồng một cách ngẫu hứng côn trùng, thảo mộc, muông thú và con người trong trật tự khá hỗn loạn:
Đặt con lên đất
Lòng sông đau xé thân đêm
Con bật khóc cuốn đi lưới nhện
Tiếng con vạc khàn khàn
Tàn tro lóe sáng
Mặt trăng run
Biện pháp xen kẽ tư duy trực cảm của con người thời hiện tại với hành vi mang tính di truyền đẩy thời gian về trục quá khứ, nén chặt không gian sinh tồn, làm cho người và vật thay đổi vị trí của nhau. Đó chính là không gian hiện sinh, thời gian siêu thực được biểu đạt bằng ngôn ngữ thơ.
Cùng một phong cách diễn đạt, nhưng “Mùa trăng”, đặc điểm siêu thực lại được phát triển trên cái nền cảm hứng khá là lãng mạn. 9 bài thơ từ “Đá trong lòng suối”, “Giai điệu xuân”, “Con chào mào”, “Cốm hương”… đến “Mùa trăng” đều phảng phất một giai điệu dân gian  trữ tình, nồng nàn, tươi trẻ. Lấy “trăng” làm cảm hứng chủ đạo, tác giả mở rộng biên độ, quy chiếu vào quỹ đạo “trăng” một tinh thần liên đới hết sức nhân văn. Câu thơ : “Đá nhắm mắt an nhiên nước cuốn” là ẩn dụ một trạng thái vô cảm trong một không gian sinh động với tiếng chim hót, lũ voọc chuyền cành, mùi ổi chín và đám mây trên trời dừng lại. Đây là sự vô cảm trong không gian hữu cảm. Triết lý của đá bị hiện thực của dòng nước phủ nhận:
Lặng im cho nước chảy
Xối xả lâu lạnh toát mình đá
Cũng như thế, con chào mào là giống “chim siêu thực”. Tiếng hót được nhốt trong cái lồng tưởng tượng. Đây chính là thông điệp của nhà thơ khi anh ta nghĩ đến bầu trời tự do không giới hạn, không gian rộng lớn đủ để muôn loài cùng chung sống hòa bình. Chiếc lồng vẽ là một hình ảnh ẩn dụ về khát vọng của người nghệ sĩ muốn chiếm lĩnh cái đẹp:
Tôi vội vẽ chiếc lồng trong ý nghĩ
Sợ chim bay đi
Vừa vẽ xong nó cất cánh
Tôi ôm khung nắng khung gió
Nhành cây xanh hối hả đuổi theo
Chẳng cần chim bay về
Tiếng hót ấy giờ tôi nghe rất rõ
Cốm hương là biểu tượng mùa thu được diễn đạt bằng một loạt hình ảnh gợi cảm làm rung động nhịp điệu tâm hồn:
Cốm non lãng đãng sương giăng
Khăn áo ấy mịn màng da thịt
Dâng heo may lên trời
Logic hình thức của thi pháp cổ điển bị phá vỡ. Không phải mùa thu làm nên hương cốm mà chính là hương cốm làm nên mùa thu. Đấy là mùa thu của tâm trạng với “hương cốm” bị đảo ngược tạo cảm giác “lãng đãng sương giăng”.
“Mùa trăng” còn bao quát đến cả “Đỉnh gió”. Thực chất “Đỉnh gió” là một ngọn núi cao chót vót, quanh năm bị những luồng gió mạnh từ bốn phương thổi tới. Trên đỉnh cao chênh vênh, cô đơn đó, nhà thơ dường như nhìn thấy những hình thái gió thổi tạo nên cảnh tượng thiên nhiên hùng vĩ tựa như “Độc tọa Kính Đình san” của thi tiên họ Lý nhưng không dừng ở đó mà liên tưởng ngay đến cuộc sống hữu hạn của đời người. Ngọn núi trở thành chủ thể sinh động, còn gió, tuy mang sức mạnh vô tri nhưng bỗng chốc rơi vào thế hạ phong:
Nhoài lên mỏm đá sắc
Thân thể gió gầy xước  
Cấu trúc ngữ pháp của “Đỉnh gió” rất hay bị phá vỡ bởi hiện tượng đảo ngược từ, ngữ nhằm lạ hóa câu thơ:
Tìm miệng anh gieo hạt
Gió níu chân tay đất dịu dàng
Lao xuống vực
Chớp sáng nứt vỏ
Mùa xuân tràn miệng hạt
“Mùa trăng” còn là những phác thảo dưới dạng ký họa, đem đến cho người đọc một cách nhìn khác, của riêng Mai Văn Phấn về các dạng thức siêu thực của trăng, khác hẳn với quan niệm truyền thống của Lý Bạch, Hàn Mặc Tử. Ở đây, Anh đã tìm ra thi pháp của riêng mình khi vị trí của các thực thể bị hoán cải, cấu trúc ngữ pháp đảo lộn:
Bờ đá nằm im nghe mồ hôi lạ
Giọt giọt trăng khuya
Bàn tay em tìm trăng
Từng ngón đêm lóe sáng
Men theo trăng, cười nói trăng
Nghẹn thở một màu trong suốt
Màu óng ả trên lưng chim bói cá
Cho anh thành vạt trăng
Hôn em, ngón tay út
Nâng em lên trăng
Mùa xuân gió hòa gót chân
Trái tim rộn ràng ngực đất
Dòng trăng cuồn cuộn thân cây
Cổ và đỉnh đầu khoang trắng
Cùng móng chân bé xíu bước lên trăng
Có thể thấy, diện mạo trăng, hình hài trăng, tâm hồn trăng đều là những hình ảnh ẩn dụ phi truyền thống tạo nên sự chuyển dịch từ nhận thức lý tính sang  nhận thức cảm tính. Cách miêu tả trăng ở đây không hẳn chỉ là siêu thực mà còn mang dấu ấn của hiện sinh. Nói như thế, không có nghĩa “Mùa trăng” không còn gì đáng bàn. Sự bất cập của “Mùa trăng” trước hết là ở chỗ, tác giả tự làm khó mình bằng việc mở rộng nội hàm của “trăng” đến độ bắt độc giả phải thừa nhận những thứ có vẻ như không phải là trăng:
Thông thốc lên mỏm dốc
Mở mắt nhìn xuống
Đóng chặt cửa gió càng thổi
Điều chợt nhớ tới cũng bạt hơi, tức ngực
(Đỉnh gió)
Cả phố phường, triền dốc, cửa sông
Cùng ngô lúa đang tập cười, tập hát…
(Mùa trăng)
Mọi sự liên tưởng đều có giới hạn. Trí tưởng tượng thái quá sẽ giống như con dao hai lưỡi, hẳn có lúc quay lại “phản chủ”. Đành rằng, “Mùa trăng” ở đây chỉ là một ý niệm làm điểm tựa cho dòng cảm xúc, nhưng nếu đẩy ý tưởng đi quá xa bằng những câu thơ cắt khúc, không nhạc điệu, hình ảnh lộn ngược sẽ làm giảm sức hấp dẫn.
Với “Hình đám cỏ”, thật khó có thể định danh đó là trường ca, sử thi hay liên đoản khúc, cũng như hình thức biểu đạt của nó liệu có phải là siêu thực, tân cổ điển thậm chí hậu hiện đại, hay thi sĩ họ Mai muốn xác lập hẳn cho mình một “trường phái”? Có thể thấy, các hình ảnh, sự vật cùng các quy luật vận động đều thuộc “thế giới cổ điển”. Mặt trời, mặt trăng, đỉnh núi, con sơn dương vẫn như hàng triệu triệu năm trước, nhưng cái cách tác giả miêu tả thì lại hoàn toàn mới. Thi pháp cổ điển bị loại bỏ, nhà thơ đem đến cho người đọc một cảm hứng nghệ thuật mà ở đó, người ta có thể nhìn nhận sự vật trong không gian đa chiều.
“Hình đám cỏ” chính là cách nhìn siêu thực thông qua hình thức tân cổ điển. Cũng như “Mùa trăng”, ngôn ngữ diễn đạt của “Hình đám cỏ” thoát khỏi cấu trúc mô hình truyền thống, triệt để sử dụng loại câu không chủ ngữ, đảo ngược chức năng cú pháp, đưa ngôn ngữ thơ vào đời thường, hạ phóng thơ từ tháp ngà đến với quảng đại công chúng.
Bố cục “Hình đám cỏ” cũng chia làm 9 phần, nhưng ở đây tác giả gọi là “nhịp”. Mỗi một “nhịp” như thế được phát triển trên cái nền cảm hứng bất tận về Thiên, Địa, Nhân. Những sự kiện, hiện tượng xuất hiện với tần suất cao trong mỗi nhịp thơ đều nằm trong một tổng thể là thế giới tự nhiên được quy chiếu vào đó qua lăng kính siêu thực. Nghĩa là, nội dung cổ điển  nhưng được nhìn nhận dưới nhãn quan mới. Bước sơn dương, cỏ cây, núi cao, con cá dưới sông động dục, tổ chim, bức tường… tất cả cùng đồng hiện trong bức tranh siêu thực với những đường nét, mảng khối vô cùng hấp dẫn nhưng khó hiểu:
Góc phố lặng yên nép vào hơi thở
Đất chuyển mùa
Thôi miên làn gió chợt qua
Tiếng chim âm u
Lập lòe sáng từng phần cơ thể
Con chim nào mới bị thương
Cả bìa rừng đập cánh.
Từ những câu thơ trên, có thể thấy, cấu trúc câu văn cổ điển không còn nguyên vẹn, trật tự cú pháp bị đảo lộn, bởi vậy, nội hàm của câu thơ đương nhiên chuyển dịch.
Hình ảnh thơ trong “Hình đám cỏ” là khá đa dạng. Mỗi hiện tượng, sự vật không chỉ biểu thị một khái niệm, mà tùy vào hoàn cảnh cụ thể, chúng biến đổi theo thời gian, không gian trong những mối quan hệ hết sức đa dạng. Mặt trời, mỏm đá, bông hoa ở nhịp I khác hẳn với mặt trời, mỏm đá, bông hoa ở nhịp III, nhịp IV. Cũng như vậy, lá khô rụng và cơn giông cuối chiều ở nhịp II khác với nhịpVII. Tính không đồng nhất về khái niệm là nét phổ quát trong tư duy thơ “Hình đám cỏ”. Mỗi một nhịp thơ, tác giả đều có cách làm mới những khái niệm cũ, hình ảnh cũ, không gian, thời gian và các mối tương tác cũ. Tuy nhiên, có lẽ vì quá say sưa với mạch cảm hứng, nhà thơ vô tình dẫn dắt người đọc vào một mê cung ngôn từ gần như không tìm được lối ra. “Hình đám cỏ” bỗng trở thành một “bát trận đồ” với những  nhịp càng về cuối càng rối rắm. Câu thơ không “nén” lại mà mở bung ra, phát tán như hỏa mù tạo cảm giác trùng lặp, loãng và bí hiểm hơn cả những bức tranh siêu thực lập thể:
Cơ thể anh miền ghềnh thác
Tâm xoáy reo vang
Ngâm trong nước mặt trời không còn nóng
Vỡ òa bọt sóng lân tinh
Nổi nênh trôi theo dòng nước
Nghiêng sang trái
Nhắm mắt xoay phải mấy vòng
Anh là vận động viên kiện tướng
Hạt giống số một
Bắt chước người mẫu, hoa hậu
Chữ Nhất dễ ngã
Còn chữ Bát?
Đi ra chữ xấu lắm, em chê
Muốn tự nhiên không dễ                                   
Ở nhịp II, Nhịp III, nhịp V, những hình ảnh và sự kiện gần như đồng hiện, thậm chí đan xen vào nhau trong một không gian được mở rộng vùng ngoại biên. Thấp thoáng giữa những câu thơ giống như vài nét ký họa nguệch ngoạc, người đọc còn nhận ra cả đặc trưng của lý thuyết tiếp nhận. Không ít câu thơ lửng lơ như bị “treo” chẳng khác gì một dãy ký hiệu thông báo. Các hình ảnh lần lượt xuất hiện với dạng thức khác nhau nhưng thực chất lại có cùng một mục đích phản ánh hiện thực khách quan qua cái nhìn chủ quan của nhà thơ về vũ trụ, nhân sinh.
Một đặc điểm nữa của “Hình đám cỏ” là sự thâm nhập lẫn nhau giữa các khái niệm, hòa đồng các sự kiện tự nhiên thông qua nhận thức cảm tính của người viết, với tham vọng sáng tạo nên những  hình tượng  mới thông qua các biện pháp tu từ như ẩn dụ nhiều tầng, đảo ngữ, so sánh. Không gian, thời gian, trời mây, mưa nắng, lá khô, đôi mắt em và tình yêu của anh đều là những hiện tượng đời sống  được ẩn dụ nhưng lại  quy chiếu vào mặt phẳng ảo trong miền vô thức:
Thời khắc đầu ngày
Vẽ chân trời rẻ quạt
Mỗi vệt sáng ghi nhớ một việc
Em ẩn sau chiếc quạt khổng lồ
Thực ra, thi pháp “Hình đám cỏ” không đơn giản chỉ là siêu thực, tân cổ điển hay hiện sinh, bởi “Hình đám cỏ” không ít chỗ còn tạo ra mảng, khối khá u ám. Hành trình “Hình đám cỏ” là hành trình khúc đoạn. Những khúc, đoạn điển hình thường được “kể” khá tỷ mỷ bằng ngôn ngữ thông tấn ít thấy ở thơ truyền thống. Đoạn nói về việc uống trà ở nhịp I là dẫn chứng khá thú vị:
Mở không gian hương trà thơm
Từ cánh tay ngấn cổ
móng chân sơn đậm màu trà
Búp trà ngon anh thêm minh mẫn
Dù đã uống cả làn mây trắng
Vẫn móng chân màu trà ẩn hiện bay qua
Có thể xem, xuyên suốt 9 nhịp của bài thơ là những khúc đoạn “trần thuật” về đủ thứ trên đời. Không ít đoạn, hoặc câu thơ, ý trùng lặp nhau, nhưng cách diễn đạt thì thiên hình vạn trạng, chứng tỏ khả năng tưởng tượng, mức độ cảm xúc, trình độ vận dụng ngôn ngữ và vốn từ của Mai Văn Phấn vô cùng phong phú. Từ đó, hành trình của mỗi nhịp thơ đều là quá trình biến hóa không ngừng nghỉ:
Giọt nước buồn bay lên đám mây
Nghe quả trứng ấm nóng lăn qua cơ thể
Đôi sẻ nâu vội vàng giao hoan trong chớp mắt
Màu rạng đông chìm vào đất
Tan trong sóng lớn
Hắt vòm lá xanh
Con vành khuyên xóa mọi dấu vết
Tay này, đúng tay trái
Mỏi mệt mở cổng từ sớm
Vung nhẹ lúc phân chim rơi vô tình
Còn tay kia
Giơ lên cách đây một giờ
Lúc mọi người biểu quyết
Có việc phải vào biên bản
Cấu trúc từng nhịp thơ có cái gì đó đồng điệu với nhịp thời gian, nhịp vũ trụ và nhịp tâm hồn. Tuy nhiên loại hình “nhịp” thường xuyên xuất hiện nhất sau mỗi sự kiện lại chính là nhịp tình yêu luôn gắn với “em”. Gương mặt “em” ít khi hiển lộ mà luôn lẩn khuất như một ám ảnh 9 nhịp “Hình đám cỏ”. “Em” ở đây không phải là một hình hài cụ thể, một tình cảm cụ thể mà là một ý niệm trong tư duy siêu thực xuyên suốt hành trình thơ cho dù tác giả đôi khi miêu tả rất chi tiết về móng chân màu trà, làn tóc mây hay giọng nói thánh thót. “Em” lẫn vào hành trình “Hình đám cỏ”, vô hình, vô ảnh nhưng lại là điểm tựa cần thiết cho sáng tạo nghệ thuật.
Tư tưởng “Hình đám cỏ” là thứ tư tưởng “không tư tưởng”. Nói cách khác, “Hình đám cỏ” phát triển trên nền cảm hứng vô thủy vô chung, lấy thiên nhiên và tình yêu làm đối tượng miêu tả. Khung cảnh thiên nhiên cùng vạn vật trong không gian thanh bình là động lực thúc đẩy nhịp thơ vận hành theo những vòng tuần hoàn vũ trụ:
Thân dâng
Hương thơm ngọt
Con chào mào em
khoét rỗng môi anh
Và vỗ cánh
Ngậm anh đi gieo hạt
Chợt tổ chim
Những cọng rơm khô
Tiếng hót treo anh lên
“Bầu trời không mái che” thực chất là một liên hoàn đoản thi trình bày ý tưởng thẩm mỹ của Mai Văn Phấn về tình yêu và thế giới tự nhiên được thể nghiệm bằng chính thi pháp Mai Văn Phấn. Thi pháp này không xa lạ mà chỉ là sự tiếp nối một cách sáng tạo truyền thống thi ca của cha ông ta từ cả ngàn năm trước. Từ cách nhìn của tác giả, người đọc nhận thức thêm được một điều, thiên nhiên thật hào phóng, tình yêu thật diệu kỳ một khi con người hiểu được tiếng nói của nó bằng trái tim mình.
Chú thich;
* Thơ Mai Văn Phấn, NXB Hội Nhà văn, 2010
Chí Linh, 9/3/2011
Đặng Văn Sinh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Nhận diện truyện ngắn "Vàng lửa" qua yếu tố văn hóa

Nhận diện truyện ngắn
"Vàng lửa" qua yếu tố văn hóa

Được công bố lần đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1988 trên tuần báo Văn nghệ, Vàng lửa đặt ra một vấn đề khá nhạy cảm đối với người đọc trong việc đánh giá  lịch sử và văn hóa dân tộc, mà từ lâu, bởi nhiều lý do khác nhau, chúng ta nhận diện chưa đúng bản chất của nó.
Thực ra, Vàng lửa là truyện ngắn mang tính luận đề , khô khan, thậm chí chẳng khác gì một bài biên khảo nhưng đọc lại vô cùng hấp dẫn bởi phần nội hàm phong phú với nhiều nhận định sắc sảo về cách thẩm định lại một số giá trị vẫn được xem là dĩ thành bất biến. Viết truyện ngắn này, tác giả tỏ ra khá kín võ khi anh sáng tạo ra nhân vật Phăng, một gã thực dân phương Tây vượt biển sang Đông Dương  tìm vàng, nhận xét về nền văn hóa Việt. Điều này tương đối dễ hiểu bởi tâm lý vọng ngoại của không ít công dân vong bản. Chả thế mà, vào những năm bảy mươi của thế kỷ trước, có nhà văn thuộc thành phần thứ ba của Mặt trận dân tộc GPMNVN lấy tên là Patzi, viết về một đề tài liên quan đến vấn đề dân tộc, tuy chẳng lấy gì làm xuất sắc nhưng đã gây cho dư luận thế giới, nhất là các phong trào cánh tả, xôn xao một thời. Vàng lửa, qua cái nhìn của Phăng, phác họa rất rõ nét hai gương mặt tiêu biểu của Việt Nam thời cận đại. Có một mẫu số chung là, cả hai nhân vật lớn này đều chịu ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa Trung Hoa. Đó là một nền văn hóa vĩ đại, có  hấp lực cực kỳ lớn nhưng bảo thủ, trì trệ như một nhà nghiên cứu phương Tây từng nhận xét "đến sớm, ở lâu nhưng đi muộn".
Về mặt chính trị, Nguyễn Ánh, một nhân vật lịch sử sáng chói của nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, người đã lập ra vương triều phong kiến kéo dài 143 năm, đã lạnh lùng tuyên bố với cố vấn Phăng khi ông ta hỏi nhà vua về các nhà tư tưởng phương Đông: " Tất cả do cay cú đời sống. Họ là quá khứ. Thời khắc đang sống mới là đáng kể". Chi tiết thú vị này làm người đọc liên tưởng ngay đến câu tục ngữ dân gian "được làm vua thua làm giặc" mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã cụ thể hóa trong truyện ngắn Nguyễn Thị Lộ viết sau đó ít lâu :" Những cột trụ nhà nước như bọn Lê Ngân, Lê Sát, Lê Văn Linh, Lê Hy... đều là những chính khách xuất thân giang hồ, trị nước bằng mưu mẹo chứ không xuất phát từ đạo và luật". Chính vì tổ chức nhà nước không được xây dựng trên một hệ tư tưởng tiến bộ mà lại hình thành từ những thủ đoạn chính trị bảo thủ, lạc hậu, nên "Cung đình giống như nơi tụ họp các anh hùng lục lâm, chỗ nhóm lửa, chỗ thổi cơm, chỗ múa giáo, chế được đặt ra do vui chuyện mà định. Trên các chân dung chính khách chỉ nhìn thấy các cơ mặt bất động hoàn toàn, biểu thị tinh thần chính trị tù đọng tột cùng. Số trẻ trung hơn, dễ thấy trên gương mặt chối bỏ thẳng thừng học vấn, chỉ chờ đón tiếp nhận cảm giác lạc thú".
Khác với phần lớn những thủ lĩnh mở đầu các vương triều phong kiến Việt Nam suốt hơn ngàn năm lịch sử đều xuất thân từ thành phần bình dân, Gia Long có nguồn gốc quý tộc cao cấp của một dòng chúa nổi tiếng từ thế kỷ XVI, nhưng ông cũng không tiến bộ hơn bao nhiêu so với những hoàng đế tiền nhiệm. Đó là thói kiêu ngạo của một kẻ ếch ngồi đáy giếng, độc tài, chuyên chế, tự cho mình độc quyền chân lý và ưa nịnh hót. Điều này giải thích vì sao ông không cần tư tưởng (hoặc sử dụng một thứ ngụy tư tưởng) nhưng lại rất giàu thủ đoạn chính trị ngắn hạn để thao túng cộng đồng dân tộc chịu ảnh hưởng sâu sắc của thứ văn hóa Khổng giáo phương Bắc, kìm hãm nhân tài, làm thui chột mọi khả năng sáng tạo . Thói quen bắt chước một cách lố bịch thật sự đã vượt rất xa giới hạn của sự giao thoa văn hóa thông thường, nhưng ở quy mô khiêm tốn hơn nhiều so với nước láng giềng. Bắc Kinh có điện Thái Hòa  thì Thăng Long, Huế cũng có điện Thái Hòa. Trung Quốc có cửu đỉnh tượng trưng cho cửu châu từ thời nhà Chu thì triều đình Đại Nam cũng có cửu đỉnh những chẳng tượng trưng cho cái gì rõ rệt mà chỉ để vẽ phong cảnh. Nhà Đại Thanh có niên hiệu Càn Long thì nhà Nguyễn có niên hiệu Gia Long v.v...
Gia Long là biểu tượng tập trung nhất của hệ ý thức phong kiến tập quyền có nguồn gốc từ Hoa Hạ. Ông chính là thứ sản phẩm tinh thần bắt chước một cách mù quáng tạo nên  thiết chế xã hội đầy khuyết tật đẩy dân tộc đến những thảm họa xét ra có thể tránh được nếu những người kế tục ngai vàng sau ông có tầm nhìn của hoàng đế Minh Trị Nhật Bản từ những năm ba mươi của thế kỷ XIX. Chân dung chính trị của vị Cao hoàng đế triều Nguyễn được Phăng thuật lại xem ra khá là khách quan :" Nhà vua là một khối cô đơn khổng lồ. Ông đóng trò rất giỏi trong triều đình. Ông đi, đứng, ra, vào, ra các mệnh lệnh, chấp nhận sự tung hô của bọn quần thần. Ông là người cha nghiêm khắc của lũ con ích kỷ, đần độn. Là người chồng đáng kính của các bà vợ tầm thường...Ông biết rõ ông đã già, với bọn cung tần mỹ nữ trẻ đẹp ông bất lực. Ông biết rõ cái triều đình thiển cận do ông dựng lên, biết rõ quốc gia mình nghèo đói. Ông luôn lo sợ bởi quyền lực nằm trong tay, nó lớn ngoài sức chứa của một con người..."
Trên cơ sở một nền chính trị tàn bạo , Gia Long, ngoài việc có công lớn trong quá trình mở mang bờ cõi và thống nhất đất nước sau nhiều thế kỷ dân tộc phân ly dẫn đến  cảnh huynh đệ tương tàn, ông và các hậu duệ của ông cũng để lại cho con cháu những thói quen văn hóa tai hại. Nó lặn sâu vào tâm thức dân tộc làm mỗi chúng ta ngộ nhận, tự thỏa mãn với những  giá trị kém bền vững, thậm chí giá trị ảo, huyễn hoặc bản thân mà không dám nhìn thẳng vào thói hư tật xấu , tự soi  gương để xem mình là ai, thuộc thứ hạng nào trong mối tương quan với cộng đồng nhân loại.
Vua Gia Long là vị hoàng đế tàn nhẫn đem cả dân tộc mình ra đặt cược vào canh bạc chính trị đầy máu và nước mắt. Cái sự vĩ đại ở ông vua được xem là một trong số không nhiều bậc anh hùng nước Nam là hiểu rất rõ thần dân nghèo đói của mình phải "hoạt động cù lần" để sống mòn mỏi, nhưng, hoặc là bất lực, hoặc là cố tình duy trì tình trạng trì trệ như vậy để bảo toàn chiếc ngai vàng quyền lực . Dân càng ngu càng dễ cai trị. Ở đây, lòng yêu nước chỉ là một thứ khái niệm giả tạo được đưa đẩy trên đầu lưỡi lũ lưu manh chính trị. Tính phổ quát của hiện tượng văn hóa phương Đông là nỗi sợ hãi truyền kiếp của tầng lớp thứ dân trước nền chính trị độc tài luôn được duy trì bằng bạo lực trong tình trạng nghèo đói triền miên. Đấy chính là điều kiện tất yếu để con người tự thủ tiêu tinh thần dân chủ vốn chưa bao giờ có trong ý tức cộng đồng, làm cho những giá trị tốt đẹp của văn hóa  dân tộc mỗi ngày một mất dần, chỉ còn lại những thứ gần như cặn bã, như phân chia đẳng cấp, học vẹt để ra làm quan đè đầu cưỡi cổ thiên hạ, đấu đá  tranh giành quyền lực, thói đố kỵ, tầm nhìn thiển cận và bè phái,v.v...  Lời phán của vua Gia Long với Phăng :" Khanh chẳng hiểu gì cả, vinh quang nào chẳng xây trên điếm nhục" phần nào đã chứng minh cho luận điểm trên.
Nhân vật thứ hai được kể đến là Nguyên Du. Theo Phăng, Nguyễn Du cũng là vật quốc bảo nhưng nhẹ đồng cân hơn so với vua Gia Long. Người Tây phương có nhãn quan của một nhà bình luận chính trị này coi tác giả Đoạn trường tân thanh là sản phẩm cưỡng dâm của nền văn minh Trung Hoa nên con người ông chứa đầy điển tích :" Nguyễn Du là đứa con của cô gái đồng trinh kia, dòng máu chứa đầy điển tích của tên đàn ông khốn nạn đã cưỡng hiếp mẹ mình. Nguyễn Du ngập trong mớ bùng nhùng của đời sống, còn vua Gia Long đứng cao hẳn ngoài đời sống ấy. Người mẹ của Nguyễn Du ( tức nền chính trị đương thời) giấu giếm con mình sự ê chề và chịu đựng với tinh thần cao cả, kiềm chế. Phải ba trăm năm sau người ta mới thấy điều này vô nghĩa". Đây là nhận xét khá chối tai, xúc phạm đến lòng tự ái dân tộc, nhưng, trớ trêu thay, lại không phải không có lý. Chúng ta hãy bắt đầu từ Truyện Kiều . Tuy được xem là thi hào lớn của dân tộc, là nhà nghệ sỹ sáng tạo ngôn ngữ tuyệt vời nhưng công bằng mà nói Đoạn trường tân thanh vẫn là tác phẩm vay mượn của nền văn học Trung Quốc ít ra là ở phần cốt truyện. Gần như mỗi câu trong Truyện Kiều đều có vài ba điển cố, đến nỗi học giả Đào Duy Anh phải viết cả một quyển Từ điển Truyện Kiều mấy trăm trang để giải thích những điển tích, những thành ngữ cho phần lớn độc giả nội địa vốn rất mơ hồ về Hán học . Tâm lý sùng bái văn hóa Bắc Quốc đã làm cho nhà nghệ sỹ tài hoa của chúng ta chuyển dịch gần như toàn bộ truyện Vương Thúy Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, kể cả những phần hạn chế về kết cấu cũng như thuyết "Tài mệnh tương đố" sang thể lục bát mà không có sáng tạo gì đáng kể về mặt tư tưởng.
Phăng phân biệt rất rõ về đẳng cấp giữa Gia Long và Nguyễn Du vì Gia Long " khủng khiếp ở khả năng dám bỡn cợt với tạo hóa, dám mang cả dân tộc mình ra lường gạt, phục vụ cho chính bản thân mình. Ông làm cho lịch sử sinh động hẳn lên..." Trong Khi Gia Long  đứng trên cộng đồng thì Nguyễn Du lại hòa mình vào cộng đồng . Gia Long không tin học vấn có thể cải tạo giống nòi thì Nguyễn Du Viết Văn tế thập loại chúng sinh, nhỏ lệ trước nỗi đau của nàng Kiều bằng câu thơ cảm thán : "Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung". Gia Long thích trò chơi quyền lực, dám hy sinh cả một bộ phận dân tộc trong những cuộc chinh phạt đẫm máu để tranh đoạt thiên hạ, trong khi ấy Nguyễn Du lại xót thương cho từng thân phận đơn lẻ như Thúy Kiều, người kỹ nữ gảy đàn ở Thăng Long thành hay mẹ con người hành khất ông gặp trên đường đi sứ... Xét về mối tương quan, theo Phăng, lòng tốt của Nguyễn chỉ là thứ lòng tốt nhỏ, không cứu được ai, vì ngay bản thân ông cũng phải lưu lạc mười năm trời đói khát, bệnh tật nơi đất khách. Nhưng điều ấy không quan trọng lắm nếu so với cách Gia Long, tức nhà cầm quyền đương thời, đối xử với văn nghệ sĩ theo phương thức chăn nuôi gia súc: "Ông không coi Nguyễn Du ra gì, hoặc có thể ông coi Nguyễn Du là một con ngựa giống tốt trong cả đàn ngựa, lợn, bò, gà mà ông chăn dắt". Qua nhận xét của Phăng, ta có thể thấy, những bậc quân chủ như Gia Long, không bao giờ thực sự coi trọng trí thức, nhất là trí thức văn nghệ sỹ, mà chỉ xem họ như một thứ cây cảnh, con cảnh, thỉnh thoảng ban phát cho chút bổng lộc để họ lặp đi lặp lại lời xưng tụng thứ công đức trừu tượng của chính nhà độc tài như một con vẹt. Văn hóa, tự cổ chí kim bao giờ cũng là động lực chính thúc đẩy xã hội phát triển. Nhưng đó phải là một nền văn hóa lành mạnh được tích hợp và kế thừa từ sự nỗ lực không mệt mỏi của những bộ óc thông minh qua nhiều thế hệ, chứ không phải là sự bắt chước một cách máy móc rồi "Việt hóa" nó thành một bản sao nhợt nhạt. Chúng ta đã có quá đủ bài học đau đớn từ sự bắt chước thiển cận, nên suốt cả chiều dài lịch sử mấy nghìn năm vắng bóng một thứ văn tự  ra hồn , nếu không có các nhà truyền đạo Cơ Đốc đem mẫu tự Latin ghi âm tiếng Việt, mà tiêu biểu là đức cha Alexandre de Rhodes, tạo thành chữ Quốc ngữ vô cùng tiện lợi, thì chẳng biết bây giờ tình cảnh đất nước sẽ ra sao.
Sự kiện không bình thường của nền văn hóa Việt được Phăng dùng hình ảnh như là bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp, sau này được nữ nhà văn Đỗ Hoàng Diệu viết rất thành công trong  truyện ngắn Bóng đè. Cái nền văn hóa đầy những khuyết tật ấy sống dai đến mức, sang những năm đầu của thế kỷ XXI, vào những ngày giỗ, bóng ma vẫn hiện về cưỡng dâm đứa cháu dâu. Điều đáng ngạc nhiên nữa là, trong những cuộc làm tình quái dị theo kiểu Liêu Trai trước bàn thờ tổ tiên ấy, cô cháu dâu lại tỏ ra thỏa mãn, thậm chí cứ sắp đến một ngày giỗ nào đó, lại hối thúc chồng về quê. Chi tiết này liệu có gợi cho ta liên tưởng đến đặc tính di truyền?
Đọc Vàng lửa, ta dễ bị đánh lừa bởi những sự kiện giàu kịch tính về chuyện đào đãi vàng của nhóm người ngoại quốc cũng như ba đoạn kết khá độc đáo với những cái chết bí ẩn của họ mà quên đi vấn đề chính tác giả đặt ra là cần phải xem lại cả một nền văn hóa. Vàng lửa chẳng những đã giải thiêng thần tượng, xét lại lịch sử  mà còn chỉ ra nguyên nhân của đời sống trì trệ cùng những bất cập của xã hội phương Đông bị ràng buộc bởi hệ ý thức bảo thủ, lạc hậu kéo dài nhiều thiên niên kỷ. Vấn đề là, liệu chúng ta có thắng được chính mình trên bước đường đi tới tương lai?.
19/7/2009
Đặng Văn Sinh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Lòng tốt nảy mầm từ tình yêu trong trắng

Lòng tốt nảy mầm từ tình yêu trong trắng

(Đọc “Người chậm” tiểu thuyết của J.M.Coetzee, Thanh Vân dịch. NXB Văn học và Công ty Bách Việt, 2008)
Sau khi được tặng giải thưởng Nobel văn học (2003) và tiểu thuyết “Ruồng bỏ” được dịch ra tiếng Việt, tên tuổi nhà văn Nam Phi J.M.Coetzee (sinh năm 1940) không còn xa lạ với bạn đọc yêu văn chương ở Việt Nam. Thú thật, có những tác giả tuy được Nobel, nhưng đọc không dễ hoặc “khó vào” (Cao Hành Kiện là một ví dụ). Với “Người chậm” (NC) thì khác; một lần nữa, chúng ta được thưởng thức một tác phẩm có sức cuốn hút nhờ tài nghệ của một cây bút tiểu thuyết bậc thầy. Cũng như “Ruồng bỏ” bắt đầu bằng chuyện vị giáo sư có “quan hệ” với một sinh viên bị hạ nhục trước Hội đồng kỷ luật, NC khởi đầu từ một “sự cố” có thể gọi là “vặt vãnh”: nhà nhiếp ảnh Rayment bị gãy chân trong một tai nạn giao thông, phải thuê nữ điều dưỡng viên Marijana chăm sóc… Gọi là “vặt vãnh” vì so với các đề-tài-lớn, bối-cảnh-lớn như “Chiến tranh và hòa bình”, “Sông Đông êm đềm”… của Nga hay các tiểu thuyết nhiều tập “Cơn bão đã đến” của Nguyên Hồng, “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi, “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu… mà không ít người, với một quan niệm “nào đó” về văn chương, thường tin rằng chỉ những đề tài lớn như thế mới làm nên tác phẩm lớn, thì đề tài của J.M.Coetzee nghe qua thật là tầm thường, thậm chí là “rẻ tiền”! Chuyện một anh chàng nhiếp ảnh què cụt mê mẩn, mơ ước được ôm ấp cô điều dưỡng viên xinh đẹp thì có khác chi loại chuyện các ông chủ sờ mó “ô-sin” thường được thêu dệt thêm bên vỉa hè sau giờ tan công sở!
Vậy mà J.M.Coetzee lại làm “nên chuyện”, khiến hàng triệu độc giả khắp thế giới tán thưởng. Chính vì J.M.Coetzee đã có biệt tài chọn được tình huống mà con người thời đại nào, dân tộc nào cũng có lúc phải trải qua: đó là bi kịch của con người khi phải sống cô đơn, do cách sống riêng không phù hợp với cộng đồng hay thời đại, do phải “di tản” hay do tuổi tác, bệnh tật… Nói cách khác, đó là bi kịch muôn đời của nhân loại, nên tác phẩm của J.M.Coetzee dễ dàng đến với mọi dân tộc. Trong NC, bi kịch của Rayment không chỉ vì gãy chân - nói cách khác, sự cố gãy chân chỉ là biểu hiện cụ thể của sự xung đột giữa hai lối sống: nhà nhiếp ảnh say mê sưu tầm những bức ảnh cổ ghi dấu những giai đoạn lịch sử bị bỏ quên, chỉ thích đi xe đạp trước những chàng trai khoái phóng xe với tốc độ cao. Tuy vậy, đặt nhân vật trong tình huống gãy chân quá đầu gối, không thể nối khớp mà lại không chịu lắp chân giả, được một nữ điều dưỡng viên - một “người đàn bà, người mẹ tuyệt vời” về mọi phương diện chăm sóc hàng ngày, con người có dịp suy ngẫm về mọi thứ và buộc phải bộc lộ những ham muốn đủ cung bậc về sinh lý và tinh thần. Với khả năng miêu tả tâm lý một cách sâu sắc và tinh tế, mặc dù tác giả không ngại “lột trần” các ý nghĩ thầm kín về bản năng nhục dục (“…có thể cảm thấy mắt ông dõi theo, chị chắc thế, cảm thấy hơi ấm từ ông mơn trớn đùi chị, ngực chị… Nếu nhờ phép mầu nào đó, ông có thể ôm ngay Marijana lúc này…”), nhưng điều đó không làm giảm vẻ đẹp tình yêu chân thật và trong trắng của ông - một tình yêu mà “ông không thể hình dung Chúa đằm thắm hơn ông yêu Marijana vào lúc này”. Cách thể hiện tình yêu trên cả hai mặt rất “người” và rất khéo léo của tác giả đã khiến cho trang sách thêm sức thuyết phục vì sự chân thật và tính nhân bản. Rayment ham muốn được yêu thương đến mức “như một người đàn bà chưa bao giờ sinh hạ một đứa con, đã quá già để làm việc ấy, nay đột nhiên ham muốn mãnh liệt và cấp bách được làm mẹ. Thèm muốn đến mức có thể ăn trộm con người khác, thèm muốn đến điên rồ” nhưng ông cũng tự biết “là không thể được. Như thế là vô liêm sỉ.” Một tình yêu có phần tội nghiệp mà lại đáng tôn trọng.
Sự “cô đơn” và lạc điệu với cộng đồng của gia đình Marijana cũng có tính phổ biến: đó là số phận của những người di tản, phải rời xa quê hương (Ở NC, là từ Croatia chuyển đến Australia). Cả hai vợ chồng đều phải đổi nghề, chịu phận thấp kém, nhưng là một phụ nữ có học, có văn hoá, Marijana đã chịu đựng và vượt qua những thử thách nhiều mặt, là một nhân vật đẹp mà không đơn giản. Chính vì thế mà Rayment, dù biết là không tưởng, vẫn thổ lộ tình yêu của mình, không vì “sắc đẹp” mà là vì sự “hoàn hảo”“không giống sự thèm muốn” mà “là sự ngưỡng mộ” - những từ ngữ diễn tả thật tinh tế cảm xúc phức tạp của nhân vật.
Khác và “Ruồng bỏ” cái kết thúc khá là có hậu với sự kiện thằng con đam mê “tốc độ” của Marijana bí mật và bất ngờ chế tạo một chiếc xe chuyển động bằng tay quay tặng Rayment khiến chúng ta cảm động và tin rằng lòng tốt của con người vẫn  bất chấp những điều phi lý, những nghịch cảnh trong cuộc sống hôm nay. Và có lẽ lòng tốt ấy đã nẩy mầm từ tình yêu chân thật và không vụ lợi của Rayment…
18/8/2009
Nguyễn Khắc Phê
Theo https://www.vanchuongviet.org/

"Thế giới song song" và tính chất đa thanh trong tiểu thuyết "Đất trời vần vũ"

"Thế giới song song" và tính chất đa thanh
trong tiểu thuyết "Đất trời vần vũ"

(Đọc “Đất trời vần vũ”, tiểu thuyết của Nguyễn Một, NXB Hội Nhà văn và Công ty Bách Việt, 2009)
Nhà văn có cái tên thật giản dị - Nguyễn Một - và hình như chưa nhiều người biết bằng bút danh Dạ Thảo Linh, do anh là tác giả của 5 cuốn truyện viết cho thiếu nhi được xuất bản trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 2004 (“Hoa dủ dẻ”, “Năm đứa trẻ xóm đồi”, “Màu hoa trắng”, “Long lanh giọt nắng” và “Mùa trái chín”). Từ năm 1996 đến năm 2008, anh còn xuất bản 3 tập bút ký, 2 tập truyện ngắn dành cho người lớn; năm 2002 anh có 2 truyện ngắn được chọn là “truyện ngắn hay” trong tháng đăng trên báo “Văn nghệ”. Như thế, xem ra Nguyễn Một đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng về nhiều mặt - trong đó có cái thường gọi là “vốn sống” (thực ra là sự từng trải, thấu hiểu nhiều cảnh đời) và “tay nghề” trước khi bắt tay xây dựng cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình. Có lẽ nhờ thế mà sách chưa ra “lò” đã có dư luận, được các cây bút vào loại có tên tuổi trong làng văn như Lê Minh Khuê, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Đức Thiện, Phong Điệp, Trần Thu Hằng tán thưởng ngay trên bìa 4 cuốn sách. Cũng ở bìa 4, nhà báo Trần Đình Thu còn viết: “Một cuốn tiểu thuyết không dành cho người thần kinh không đủ mạnh, để tiếp nhận những nỗi đau khủng khiếp của nhân vật trong nhiều chiều không gian khác nhau. “Đất trời vần vũ”, sự ám ảnh khốc liệt về cái chết, chiến tranh, hận thù và tình yêu.” Được biết ĐTVV đã được vào chung khảo cuộc thi tiểu thuyết do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức (2006-2009).
Nếu để “PR” cho cuốn sách thì chừng ấy là đủ, nhưng bàn về một cuốn tiểu thuyết đa diện, đa thanh, phức tạp, thực hư lẫn lộn đến “rắc rối” như  “Đất trời vần vũ” (ĐTVV) thì không thể bằng một vài dòng - thậm chí một vài trang cũng chưa đủ.  
ĐTVV chỉ hơn ba trăm trang, sự kiện diễn ra chủ yếu quanh một dải đất “hư cấu” gọi là cù lao Dao, nhưng chất chứa bao nhiêu cuộc “bể dâu”, hưng phế trong suốt chiều dài lịch sử ba trăm năm tổ tiên chúng ta mở cõi về phương Nam. Có những họ tên thật, cả những trang sử cũ được tác giả dẫn ra như họ Mạc, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, các chúa Nguyễn, sự xâm lấn của vua Chân Lạp…, nhưng ĐTVV không phải là tiểu thuyết lịch sử, cũng không phải chỉ nói chuyện “ngày xưa” mà ngược lại, đầy ắp và tươi rói những sự kiện vấn đề của ngày hôm nay. Hãy nghe bà Năm Trầu nói với Tư Ngồng, một “ông quan cách mạng” khi người dân cù lao “cứng đầu” chống lại việc “đô thị hóa” hủy hoại môi trường đang bị chủ tịch xã dọa cho công an đến “gô cổ”:
“…Cánh đồng bên kia sông bay biến thành khu công nghiệp, chúng đổ nước thải ra đầy dòng sông…Ngày xưa, mày có nhớ không, nó xanh ngẳt, chỗ nào cũng có con tôm con cá. Hồi đó, đêm đêm tụi bay mò dề, tao dúi vào tay nải của tụi bay nào gạo, nào đường, nào cá tôm…Bây giờ chẳng còn gì, chẳng may có giặc trở lại, bay ăn cái gì để chiến đấu?”(*)
Chỉ là một chi tiết của tiểu thuyết, nhưng nó gợi nghĩ đến những vụ các nhà máy xả nước thải vô tội vạ đang dần giết chết các dòng sông mà báo chí gần đây đã lên án, điển hình là nhà máy bột ngọt Vedan ơ Đồng Nai.
Cho dù vậy, ĐTVV cuốn hút và để lại dư âm khá sâu xa trong lòng người đọc lại là số phận oái oăm và bi kịch của các nhân vật và cả của cái “cù lao Dao” bị dằng xé giữa các thế lực, giữa hai bờ thiện-ác, giữa cái cao cả và dục vọng thấp hèn. Nhân vật chính Tư Ngồng là vậy. Ông là hậu duệ của một dòng họ từng được Chúa (Nguyễn) cử vào cai quản vùng đất phía Nam - từ một người lính anh dũng “hồi còn ở trong địa đạo…ôm cây súng vọt lên bắn vào đám người nhảy từ trên máy bay xuống…” dần biến thành một vị “quan cách mạng” ăn chơi trác táng với một “triết lý” ghê sợ về sự máu mê chiếm đoạt của mình: “Kẻ chiến thắng phải được thụ hưởng những chiến lợi phẩm mà họ đã bỏ xương máu ra đổi lấy, đó là lẽ tự nhiên thôi, từ xưa đến giờ là thế, chế độ nào cũng vậy thôi…” Và Tư Ngồng đã “bể tim” mà chết, một cái chết kỳ bí và kinh khủng, ngay trang đầu tiểu thuyết - cái “cớ” để dân cù lao Dao và tác giả “ôn cố tri tân” về biết bao số phận cay đắng đã làm nên lịch sử 300 năm của rẻo đất này.
Nếu chỉ với Tư Ngồng - nhân vật tiêu biểu cho loại cán bộ có chức quyền tha hoá sau khi cách mạng thành công - thì ĐTVV không tạo được ấn tượng mới; nhiều tiểu thuyết và phim những năm qua đã khắc hoạ, bóc trần kỹ càng hơn những “tên tuổi” có chức vụ cao hơn, mức sa đoạ tệ hại hơn. Nói cách khác, rất may là tác giả đã không sa đà với sự tha hoá của Tư Ngồng, một chủ đề đã nhàm và có thể không “sinh động” và ghê gớm bằng thực tế cuộc sống đã được phản ánh phần nào qua báo chí và các vụ án. Trong ĐTVV, có một số nhân vật hư hư thực thực, như “nhà thơ” - người may mắn được ở chung nhà với cô Lụa “đẹp lộng lẫy như hoa hậu”, chủ quán cà phê bên bến đò Trạm -  lại có vai trò quan trọng vì ông như là nhân chứng của lịch sử, là tiếng nói của dân gian. “…Quán của Lụa đông người đến uống hơn kể từ lúc có nhà thơ. Họ thích thú với vẻ ngây ngô chất phác và dễ gần gũi của anh, họ cũng thích nghe anh đọc thơ, những bài thơ đầy sự ám ảnh khốc liệt của chiến tranh và tình yêu, họ thích nghe anh kể chuyện, những câu chuyện cổ kỳ lạ…Lụa cho anh tá túc, cho anh vay tiền mua chiếc thuyền, hàng ngày anh đi giăng câu và sưu tầm chuyện xưa đọc theo bờ sông Thanh Long hoang dại và hùng vĩ này…”
“Nhà thơ” xuất hiện ngay từ chương đầu của tiểu thuyết như thế, nhưng đến gần nửa cuốn sách mới biết ông có bút hiệu là “Miên Trường” và “sinh ra ở miền Trung Việt Nam, nơi nắng và gió hun đúc con người cô đặc như những gốc cây cổ thụ…”
Nếu như muốn “câu khách” bằng những pha “sex” như không ít tiểu thuyết và cả truyện ngắn gần đây, tác giả thừa sức tả những cảnh “mây mưa” hấp dẫn giữa “nhà thơ” và cô Lụa chủ quán xinh đẹp - thì căn nhà chỉ có hai người, lại có con thuyền rong chơi trên dòng sông “hoang dại và hùng vĩ” kia. Cũng may là Nguyễn Một không sa vào “mẹo tiểu thuyết” (chữ của ông Phan Ngọc) tầm thường đó. Anh cũng miêu tả Lụa “áo rộng hơi trễ tràng, bầu ngực căng cứng gợi cảm…” và “đàn ông trong vùng đều nhìn cô với ánh mắt thèm muốn…”, trong đó, Bảy Tánh - một trung sĩ cảnh sát chế độ cũ, nay “làm nghề buôn bán heo bò, đôi khi kiêm luôn việc thiến heo và thụ tinh cho heo… đã có một vợ chính và ba người vợ lẽ, nhưng hễ thấy gái đẹp là híp cả mắt, đeo đuổi Lụa cả năm trời nhưng không có được chút cảm tình từ cô”; nhưng chỉ thế thôi, tác giả chuyển hướng chú ý sang Bảy Tánh - một nhân vật phụ tưởng như không lý do gì gắn kết với cốt truyện trong tiểu thuyết nhưng vẫn rất đáng nhớ vì có tính cách, là “con người này” - một thuật ngữ cổ điển khi bàn về nghệ thuật xây dựng nhân vật. Ví như diễn đạt thái độ Bảy Tánh khó chịu, ghen ghét với “nhà thơ” vi ông được Lụa ưu ái, tác giả đã viết: “Thoáng qua trong đầu y, một ý nghĩ tàn bạo, là cho gã nhà thơ này một nhát dao vào cuống họng, một nhát dao đâm xéo từ chỗ lõm trên cổ, xuyên tận tim, máu sẽ tuôn ồng ộc…” Đúng là giọng lưỡi của một tay đồ tể! Tuy vậy, tác giả không miêu tả nhân vật theo hai tuyến “tốt-xấu” rạch ròi đơn giản và ấu trĩ. Chỉ một đoạn sau, thì Bảy Tánh đã nghĩ là mình “không bao giờ làm được điều đó. Giết con vật thì dễ chứ giết một con người  là chuyện cực kỳ khó”. Và cho dù không tin vào quỷ thần và linh hồn, “mỗi lần cầm dao chọc vào cổ con heo là y khấn nguyện tất cả các đấng quyền năng xin phép hoá kiếp cho con vật bị loài người khinh bỉ này.” Khi bị người đời chửi, y tự an ủi với một ý nghĩ không hề tầm thường: “Dù sao ta cũng chỉ cầm dao giết heo, khối thằng đồ tể cầm dao giết cả người thì sao?” Chuyện Bảy Tánh trong trại “cải tạo” cũng khá độc đáo: Y thèm đường quá, may gặp anh bộ đội gác tù thương người, kiếm được đường ăn từ…hố xí, sướng quá, “vừa ăn vừa khóc một cách thoả thuê” rồi thét lên: “Đường là Thượng Đế!”; thế là lộ chuyện và anh bộ đội thương người bị kỷ luật vì “mất lập trường quan điểm, có quan hệ mật thiết với trại viên..”
“Truyện” trong tiểu thuyết ĐTVV “nhảy cóc” từ chuyện này sang chuyện kia như thế và tác giả - hình như có nhã ý dành quyền tưởng tượng cho người đọc, nên chỉ lựa chọn những thời khắc, những lát cắt đậm đặc có ý nghĩa nhất. Cũng vì thế, các chương trong ĐTVV thường rất ngắn - cuốn sách dày 340 trang mà có đến 40 chương - tuy cũng có một số chương tạo cảm giác vụn và nhạt. Nói cách khác, ĐTVV không có một cốt truyện thật gắn bó và hoàn chỉnh - mặc dù mở đầu và kết thúc cùng là cảnh quanh cái chết của Tư Ngồng, rồi cảnh “nhà thơ” và Lụa “hợp cẩn” - nhưng tác giả đã khéo gắn kết chúng quanh cái “cù lao Dao” - hiện thân của lịch sử, văn hoá, truyền thống một vùng đất trải qua mấy đời hưng phế, thịnh suy thấm đẫm máu và nước mắt.
Một nét khác biệt so với một số tiểu thuyết ôm trùm một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước vừa được xuất bản trong mấy năm qua, là ĐTVV có cái nhìn xa hơn về quá khứ và nhân vật không chỉ tập trung vào một hai gia đình, dòng họ. Vì cù lao là vùng đất mới khai khẩn, người từ nhiều nơi, nhiều dân tộc nhập cư đến. Nhờ thế mà ĐTVV là một tiểu thuyết đa dạng, đa thanh, phản ánh được nhiều góc cạnh của cuộc đời “lắm nỗi truân chuyên”. Cũng là bi kịch, nhưng khác với gia đình Tư Ngồng có vợ là Diệu Lan bỏ đi tu (sau khi đứa con trai từ nhỏ đã ám ảnh vì cảnh chém giết trong chiến tranh, rồi hóa điên và chết thảm) nhưng bi kịch cuộc đời Trần Đình - một người lính anh hùng, đồng đội của Tư Ngồng nhưng rồi bị chính Tư Ngồng xử bắn oan uổng -  “nhà thơ” Miên Trường và anh em Nguyễn Hữu Trí, Hữu Hà… lại ở một bình diện và cấp độ khác. So với cảnh Hữu Hà khi di tản dạt vào đảo hoang phải ăn thịt đồng loại thì cảnh thằng con Tư Ngồng ăn mọi thứ máu me dơ bẩn chẳng thấm vào đâu!...
Để có thể “nén chặt” cả núi sự kiện và nhân vật trong hơn ba trăm trang sách, cùng với nhân vật “nhà thơ” như là một người-kể-chuyện-dân-gian, tác giả đã sử dụng nhiều câu chuyện huyền thoại và dựng lên một “thế giới song song” - tức là thế giới cõi âm. Thủ pháp này, nhà văn Xuân Đức đã sử dụng trong tiểu thuyết “Bến đò xưa lặng lẽ” (Giải thưởng Hội Nhà văn 2004) với linh hồn người lính anh hùng bị chết oan trở về gặp lại đồng đội; nhưng với Nguyễn Một thì “thế giới song song” đồng hành suốt tiểu thuyết - từ linh hồn những vị khai khẩn cù lao đến vợ con Tư Ngồng, anh lính bị chết oan Trần Đình … Với các huyền  thoại và “thế giới song song”, nhân vật có chiều sâu hơn và “sống” lâu dài hơn so với cuộc đời thực. Và cũng nhờ thủ pháp này, thời gian hiện tại của tiểu thuyết chỉ trong khoảng vài ngày (từ lúc Tư Ngồng chết đến đám tang của lão) nhưng đã tái hiện được số phận của một vùng đất với vô số kiếp người qua mấy thế kỷ.
Khi có nhà báo nhận xét “điều cốt lõi rút ra từ câu chuyện này là tình yêu – “tình yêu đã cứu thế giới này, tình yêu mới thực sự có quyền lực và sức mạnh”, Nguyễn Một đã tâm sự: “Theo tôi, cuốn ĐTVV không chỉ chứa đựng một thông điệp đơn giản như vậy, tôi tin bạn đọc sẽ cảm nhận nhiều hơn thế…”
Quả đúng như vậy. Cuốn tiểu thuyết nếu chỉ có một thông điệp về tình yêu như văn hào Đốt-tôi-ép-xki đã tuyên ngôn từ lâu thì có lẽ chẳng cần phải tồn thì giờ. ĐTVV bìa sách không đẹp, hai chương cuối không hay, nhưng là một cuốn tiểu thuyết có những tìm tòi về nghệ thuật thể hiện và cách nhìn hiện thực tránh được những lối mòn, rất đáng tìm đọc, nhất là với những độc giả đang viết tiếp lịch sử trên vùng đất phía Nam giàu tiềm năng – trong đó có tiềm năng sáng tạo văn học mà ĐTVV, tiếp sau “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, là những đột phá khởi đầu.
22/8/2009
Nguyễn Khắc Phê
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Đã đến lúc cần một cách nhìn toàn diện, tôn trọng sự thật

Đã đến lúc cần một cách
nhìn toàn diện, tôn trọng sự thật

Lâu nay bàn về đề tài chiến tranh, chúng ta thường đòi hỏi dựng cho được hình tượng người anh hùng. Điều đó là đúng vì nhân vật anh hùng hướng người đọc tới cái cao cả, một phẩm chất rất cần thiết cho cuộc sống, nhất là khi con người phải đối đầu với thử thách khắc nghiệt trong chiến tranh. Mấy chục năm qua, văn học nghệ thuật đã tạo ra được nhiều điển hình về người anh hùng nhưng vẫn còn “mắc nợ” với nhân dân vì nếu nhìn thẳng vào sự thật thì hình tượng người anh hùng chưa có sức lay động mãnh liệt, chưa có sức sống lâu bền trong tâm hồn công chúng. Lý giải điều này hẳn là có nhiều nguyên nhân mà trước hết phải nói đến là tài năng, nội lực của người viết còn yếu kém. Điều này có lẽ “muôn thuở” đúng, nhưng thiết nghĩ chẳng phải bàn luận nhiều vì về cơ bản, nó là thứ “Trời cho”, không có thì đành chịu, nếu cố sức đạt đến thường chỉ hoài công. Vậy nên xin bàn đến những nguyên nhân khác mà chúng ta có thể thay đổi, “cải tiến” được.
Theo tôi, một nguyên nhân không kém phần quan trọng khiến các tác phẩm viết về chiến tranh chưa thoả mãn người đọc là quan niệm, cách nhìn về chiến tranh, về người anh hùng, vì lẽ này lẽ khác, còn phiến diện. Do đó, chiến tranh hiện ra trên trang sách không sinh động, thường chỉ một chiều diễn tả, chứng minh “ta thắng-địch thua” và người anh hùng thì thường đơn giản, xơ cứng. Nói cho công bằng thì từ ngày đất nước “Đổi Mới”, cũng đã có một số tác giả, tác phẩm cố gắng vượt lên những hạn chế này. Như tiểu thuyết “Đất trắng” của nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, có lẽ là tác phẩm đầu tiên “dám” miêu tả một chính uỷ hèn nhát đào ngũ; hay như “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh đã thể hiện những mặt bi thảm của chiến tranh. Có điều cả 2 tác phẩm vừa kể đều đã bị phê phán rằng sao lại dám miêu tả cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc ta như thế. Ở Thừa Thiên - Huế, nhà văn Nguyễn Việt, trong tác phẩm “Người lính đào hoa” (NXB Lao Động, 1998) đã không ngại ngần chọn nhân vật chính là một chàng trai có số “đào hoa”, yêu đương hết mình cũng như đánh giặc, bên cạnh một vị chỉ huy hèn nhát, hám gái, hám công; còn nhà văn Nguyễn Quang Hà, trong tiểu thuyết “Sông dài như kiếm” (NXB Quân đội nhân dân, 2001) cũng đã phơi bày thói kèn cựa,  đố kỵ, hưởng lạc của người có chức quyền ngay trong chiến tranh gian khổ. Hình như cũng có người không đồng tình với tác giả về cách nhìn này. Đúng ra, cần phải quan niệm, một cuộc chiến tranh khốc liệt đến mức người chính uỷ từng trải bao thử thách vẫn phải bỏ chạy, một cuộc chiến tranh có những cảnh bi thảm và có kẻ đố kỵ như Bảo Ninh, Nguyễn Quang Hà miêu tả, mà chúng ta vẫn chịu đựng được và đánh thắng thì càng chứng tỏ phẩm chất anh hùng của dân tộc ta. Xin được nói ngay ở đây là những tác phẩm đó chưa phải là toàn bích, chưa dựng được hình tượng người anh hùng thật sống động và tiêu biểu cho cuộc chiến tranh lâu dài khốc liệt của dân tộc ta, càng chưa phải là những tác phẩm tái hiện được toàn diện cuộc chiến tranh vừa qua như nhiều người đòi hỏi. Mà thật ra, mỗi tác phẩm - dù là tác phẩm xuất sắc nhất - cũng chỉ thể hiện được một phần, một khía cạnh, một vùng đất, một khoảng thời gian nhất định của cuộc chiến tranh trường kỳ, ác liệt, phức tạp và rộng khắp từ Nam đến Bắc mà dân tộc ta vừa trải qua. Đòi hỏi có tác phẩm lớn, tái hiện “toàn diện” cuộc chiến tranh đó có lẽ là ảo tưởng. Phải nhiều tác giả, nhiều tác phẩm cộng lại mới mong hoàn thành được nhiệm vụ nặng nề này.
Tuy vậy, trong văn học nghệ thuật có đặc thù “qua giọt nước có thể nhìn thấy biển cả” - một tác phẩm quy mô nhỏ, như một truyện ngắn, vẫn có thể phản ánh được bản chất của cuộc sống. Và mỗi tác phẩm, dù chỉ miêu tả một giai đoạn, một vùng đất trong cuộc chiến tranh cũng phải có cách nhìn toàn diện, tôn trọng sự thật mới có thể đạt đến giá trị cao được đông đảo độc giả thừa nhận. So sánh hơi khập khiễng một chút, nhưng cũng tương tự như ăn một chiếc bánh - dù là chiếc bánh nậm mỏng manh của xứ Huế, dù chọn lấy phần nhân tôm thịt ở giữa có “chất lượng” nhất, cũng không ngon bằng thưởng thức tất cả một lúc. Ai cũng biết cuộc chiến tranh nào, trận đánh nào cũng có hai bên, nhưng thử hỏi các tác phẩm của chúng ta đã diễn tả thân phận con người “bên kia chiến tuyến” được mấy phần trăm sự thật? Họ có là con người không, hay chỉ được nhìn như là một động vật hai chân độc ác, dâm đãng, uống máu người không tanh? Về người anh hùng, thì ai cũng biết là con người thường chỉ có thể lập được sự tích phi thường trong một giai đoạn, thậm chí trong phút chốc - “chỉ một phút làm nên lịch sử” như anh hùng Nguyễn Văn Trỗi; còn nữa thì vẫn là một con người bình thường với mọi nỗi buồn vui, hờn giận, thậm chí là hèn yếu của kiếp nhân sinh. Thử hỏi các hình tượng anh hùng trên trang sách có được mấy phần trăm hình ảnh con người chân thật sinh động như vậy?
Trước đây, khi cuộc chiến tranh đang diễn ra ác liệt, khi ranh giới địch-ta không thể một chút nhoà mờ, lầm lẫn, do yêu cầu của nhiệm vụ tuyên truyền, động viên mọi nguồn lực để giành chiến thắng và cũng do thiếu hiểu biết, những người cầm bút chưa thể miêu tả được cuộc chiến đấu muôn màu muôn vẻ với thân phận con người cả hai bên chiến tuyến đúng như nó đã diễn ra. Nay thì đất nước hoà bình đã hơn 30 năm, nhiều tài liệu - kể cả những tài liệu mật đã được “mở khoá”, và quan trọng hơn, con người ở hai bên chiến tuyến đã sống bên nhau - thậm chí trở nên “thông gia”, cùng chung một mục đích là xây dựng một nước Việt Nam “công bằng-dân chủ-văn minh” thì không lý gì trên trang sách lại chỉ viết “một nửa sự thật”. Cần phải nói rõ đây không phải là sự “mơ hồ” về lập trường “địch-ta” hay mắc mưu”diễn biến hoà bình” mà cuộc sống vốn nó như thế, bạn đọc đòi hỏi như thế. Và chỉ có như thế văn nghệ mới có sức sống lâu bền, mới làm tròn phận sự của nó.
Hiện tượng “Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm” là một bằng chứng hiển nhiên cho những điều vừa trình bày. Cuốn nhật ký không phải là một tác phẩm có nghệ thuật cao cường mà vẫn hấp dẫn đông đảo người đọc - kể cả những người xưa kia là kẻ thù của chúng ta, cả những trí thức Việt kiều từng tỏ ra bất đồng chính kiến với chúng ta. (Xin dẫn ý kiến của …) Vì sao vậy? Đơn giản chỉ vì nó miêu tả chân thực tâm trạng, thân phận con người trong chiến tranh, chứ không phải vì thành tích chiến đấu của anh hùng Đặng Thuỳ Trâm. Đọc “Nhật ký…”, chúng ta được tiếp xúc với một anh hùng có nhiều nước mắt, nhiều nỗi buồn, có tình yêu nồng nhiệt mà thầm kín với người em “kết nghĩa”, với cả người lãnh đạo Đảng của địa phương…Mặc dù thế, chị vẫn sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc và chính vì thế chúng ta càng yêu quý người anh hùng. Cuốn “Nhật ký…” còn hấp dẫn vì “lịch trình” kỳ lạ của nó, vì chúng ta bỗng như ngỡ ngàng khi thấy trong hàng ngũ “kẻ thù độc ác” lại có người biết quý trọng “chất lửa” trong cuốn “Nhật ký…”, rồi gìn giữ nó như một báu vật suốt 30 năm ròng!
Hai tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Mường Mán xuất bản gần đây cũng thể hiện cách nhìn mới về chiến tranh. Với trên hai chục đầu sách - trong đó có trên chục truyện dài dành cho tuổi học trò, nhà văn Mường Mán không phải là một tên tuổi xa lạ với bạn đọc. Nhưng qua tuyển tập truyện ngắn "Cạn chén tình" (NXB Trẻ - 2003), chúng ta còn gặp một cây bút truyện ngắn đặc sắc, một “Mường-Mán-khác”, một cách nhìn chiến tranh từ bên kia chiến tuyến.
Điều đặc biệt dễ thấy hơn cả là trong tuyển tập dày dặn gồm 48 truyện ngắn này có quá nửa là những truyện viết trước năm 1975, khi tác giả là phóng viên báo chí Sài Gòn ở chiến trường miền Trung. Lâu nay, không ít người, khi nói về thế hệ nhà văn ở miền Nam trong giai đoạn này thường chỉ lưu ý đến những cây bút “phản chiến” hoặc những kẻ “bồi bút chống cộng”; Mường Mán có con đường riêng của mình. Trên những truyện in trong tuyển tập này hầu như không có tiếng bom đạn, không miêu tả trận đánh nào, cũng không thấy những “cuộc đấu” quyết liệt về ý thức hệ, về chuyện thắng bại “địch - ta” mà đầy ắp nhân tình - tình yêu quê hương, trai gái, vợ con, bạn bè..., cả những tình yêu thoáng qua, những kẻ bạc tình và bao trùm lên tất cả là tình yêu thương của tác giả đối với những cuộc đời bất hạnh, những số phận trớ trêu.
Có thể có bạn đọc sẽ trách tác giả lảng tránh những “điểm nóng” của thời cuộc và hẳn rằng đó không phải là cách tốt nhất để nhà văn phản ánh cuộc sống sôi động mấy chục năm qua như nhiều người đòi hỏi. Nhưng một nhà văn được bạn đọc nhớ đến trước hết nhờ có cách thể hiện cuộc sống với bút pháp riêng, xây dựng được một thế giới nghệ thuật độc đáo giàu sức truyền cảm và gợi nghĩ đến những vấn đề sâu xa về lẽ sống ở đời, chứ không phải là viết về đề tài “nóng” hay “lạnh”, “lớn” hay “nhỏ”. Nhiều truyện ngắn trong “Cạn chén tình” đã tạo được hiệu quả nghệ thuật như thế. Cần nói thêm là tuy tác giả không trực tiếp viết về chiến tranh, nhưng những đảo lộn và dư âm của cuộc chiến khốc liệt để lại dấu ấn sâu sắc trong nhiều truyện ngắn. Và ngẫm cho cùng, quả bom hay viên đạn nổ bùng trong giây lát, nhưng hậu quả của nó, nỗi đau nó gây ra thì đeo đẳng con người ta suốt cả cuộc đời. Bà mẹ của Phan suốt ngày đêm, từ năm này sang năm khác, mỏi mòn tựa cửa đợi con về; cô em gái mỗi lúc quá buồn lại bịa chuyện mẹ chết để gọi một người bạn của Phan về cho có bóng dáng đàn ông trong nhà, nhưng bà mẹ nhất quyết không cho ai bước vào cửa, nếu không phải là Phan! Và thảm kịch đã xảy ra khi người yêu của cô em gái đặt chân lên thềm, bà mẹ đã túm đầu một bức tượng đập lên đầu chàng trai...(Truyện “Bi kịch”) Nhân vật không tên trong truyện “Người đàn ông hay cười” ba lần li hôn, không sao kiếm được việc làm chỉ vì cái tật hay cười, ngay cả trong đám tang và trước nỗi bất hạnh của người đời! Mãi rồi người ta mới hiểu người cựu chiến binh ấy vì “một miểng bom hay đạn gì đó nhỏ xíu kẹt lại trong hộp sọ không thể gắp ra... thỉnh thoảng gây những xung động trêu ngươi, buộc anh phải nở những nụ cười ngoài ý muốn!” Truyện “Bi kịch” viết từ năm 1972, truyện sau viết năm 1995; tác giả không nói rõ, nhưng độc giả nếu quen phân tích nhân vật theo kiểu “địch-ta” có thể nhận ra “người đàn ông hay cười” là một chiến sĩ cách mạng. Còn Phan? Anh lên “rừng” theo cách mạng, hay đi lính “cộng hoà”, hay chỉ vì thất vọng trước thời thế mà bỏ nhà phiêu bạt? Sự mơ hồ này có lẽ là chủ ý của tác giả và nhờ đó, truyện có ý nghiã khái quát hơn, có sức sống lâu hơn.
Tuy thế, Mường Mán không phải là cây bút “trung lập” hay “mất lập trường”. Chỉ một truyện ngắn “Những mùa trăng ca múa” viết năm 1972 với hình ảnh chiếc mũ cối bộ đội, với “o Dương” cùng những đồng chí du kích đánh Tây ở làng quê anh được miêu tả qua những trang văn thật đẹp và đậm đà tình nghiã đã thể hiện sự trân trọng của tác giả đối với những người đã hy sinh vì Tổ Quốc, thể hiện tình yêu da diết đối với quê hương.  Giọng điệu Huế, hình ảnh Huế và làng Chuồn quê anh thấm đẫm trên rất nhiều trang sách. “... Tôi bỏ những đường phố lớn, lẩn lút trốn vào Đại Nội men theo chân thành cổ. Bóng chiều và niềm im lặng tuyệt vời thả trí tôi tận đáy hồ xanh. Trên mặt hồ xanh, tôi ngồi xuống, lòng thanh thản nhẹ tênh, cái mũ cối úp lên đùi. Cái mũ cối già nua bạc màu kỷ niệm. Tôi nhìn cái mũ và nhớ o Dương...Tôi im nghe tiếng hát o xưa lồng lộng vọng về. Tôi hát, hát say mê những tiếng hát đầu lòng xưa, mơ hồ thấy vầng trán quấn quýt tóc bay của o khẽ chạm tới vầng trăng vô hình nào đó...” (Tạp chí “Văn nghệ Quân đội” từng in lại truyện này với lời giới thiệu trân trọng của nhà văn Nguyễn Khải.) Trong truyện “Về giữa mùa hè” (viết năm 1973) in đầu cuốn sách với rất nhiều chi tiết, nhân vật chân thật như là một đoạn hồi ký thì tác giả đã dành những dòng thật xúc động khi viết về người Cha kính yêu của mình đã hy sinh trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất...
Với "Sáu giang hồ và những mảnh đời phiêu dạt khác” (NXB Trẻ, 2005), Mường Mán lại bất ngờ tung ra những truyện không thiếu tiếng bom đạn, tranh đấu "địch-ta" có sức lay động người đọc với cái nhìn nhân bản từ một góc độ mới - nói chính xác hơn là góc nhìn cận cảnh của người trong cuộc "bên kia chiến tuyến", lâu nay hiếm thấy trên các trang sách xuất bản trong nước. Cuộc "kỳ ngộ" tại mặt trận Khe Sanh giữa một thiếu úy quân đội Sài Gòn và nhóm tù binh "Việt Cộng" trước sự "chứng kiến" của  nữ phóng viên Mỹ có chồng là phi công vừa bị chết tại đây - chính viên thiếu úy đã xông ra cứu một tù binh dính đạn pháo kích khi họ đưa anh lên trực thăng về căn cứ...("Ngày không đáng nhớ") Rồi cuộc đời bi thảm của trung úy Hãn, từ cuộc tháo chạy ra cửa Thuận An mùa Xuân 1975 đến khi rời trại cải tạo Hiệp Đức với thương tật oái oăm khiến anh mất khả năng làm chồng sau một tai nạn lao động...("Chớp mắt trăm năm"); Một sĩ quan Ban 5 (Ban chiến tranh chính trị) lại có cảm tình với cô tù binh "xã đội phó" Út Chuyên khi biết cô vừa được làm mẹ, đến ngày trao trả tù binh tại sông Thạch Hãn thì vị trí "kẻ thắng và người bại" lại hoán vị và gã sĩ quan sau 7 năm cải tạo lại "đụng đầu" cô du kích "năm xưa", chỉ khác là cô vừa ra tù sau mấy năm thất bại trên thương trường; cả hai "không còn người thắng lẫn kẻ thua" và họ đã trao thân cho nhau rồi sang Mỹ theo diện H.O, nhưng vẫn chẳng tìm thấy hạnh phúc...("Xa như cổ tích").
Cần nói thêm là nhờ không khí cởi mở hơn trong hoạt động sáng tác, xuất bản hiện nay - nhất là khi mà vị đứng đầu Chính phủ công khai "cảm ơn và mong muốn có được tin tức về thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu của quân đội đối phương(**) - những truyện như thế đã đến được với bạn đọc một cách thuận lợi. Việc một người như Nguyễn Trung Hiếu vẫn biết quý trọng cuốn "Nhật ký có lửa" cùng với các nhân vật là sĩ quan quân đội Sài Gòn trước đây trong truyện của Mường Mán như thiếu úy Tạo ("Ngày không đáng nhớ") "gã sĩ quan Ban 5" ("Xa như cổ tích")...đã giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc chiến đã qua, thấy rõ hơn sự phi lý nếu cứ duy trì "cách nhìn hẹp hòi, biệt phái, bởi chuyện phân biệt thắng-thua, bởi những kỳ thị ta-ngụy..." như nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã viết trong dịp kỷ niệm 60 Quốc khánh vừa qua. (Xem báo "Nhân dân" và "Tuổi trẻ" 29/8/2005).
Riêng về sáng tác văn nghệ, nhất là trong sáng  tác về đề tài chiến tranh, cách nhìn lịch sử, con người toàn diện, tôn trọng sự thật sẽ giúp mở rộng chân trời sáng tạo để có những tác phẩm sâu sắc hơn, nhân bản hơn; và như thế sẽ có giá trị lâu bền hơn.
(Tham luận tại Toạ đàm viết về chiến tranh cách mạng do Hội Nhà văn Thừa Thiên - Huế tổ chức. Đã đăng trên Tạp chí “Văn nghệ quân đội” số tháng 5/2006)
Chú thích:
(**) Trích thư ngày 4/8/2005 của Thủ tướng Phan Văn Khải gửi Tòa soạn và bạn đọc báo "Tuổi trẻ" sau khi đọc Nhật ký của hai liệt sĩ Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc.
21/8/2006
Nguyễn Khắc Phê
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca

Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca “Bầu trời không mái che” *  là tập thơ mới nhất của Mai Văn Phấn được xuất bản cuối năm 2010. Cũng như...