Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

Gợi mở một triết học Phồn Sinh

Gợi mở một triết học Phồn Sinh

Trường ca Phồn Sinh của nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu được nhà xuất bản Hội nhà văn in năm 2018, đến nay đã có hàng chục bài viết về trường ca này đã được công bố. Các tác giả chủ yếu bàn về các khía cạnh văn chương của Phồn Sinh. Trong các bài viết cũng đã có tác giả đề cập đến những khía cạnh nội dung tư tưởng của tác phẩm. Trong bài này, tôi tiếp cận trường ca Phồn Sinh dưới góc độ triết học. Và, tôi muốn minh chứng rằng ở trường ca đồ sộ này tác giả đã đề xuất một Triết học Phồn sinh.
Với trường ca Phồn Sinh của tác giả Nguyễn Linh Khiếu, đã có một số người yêu mến đọc kỹ, bình luận về mặt nội dung tư tưởng và nghệ thuật thi ca. Trong đó không ít bài cũng đã cảm nhận và bình luận khái quát về mặt triết lý của Phồn sinh. Nhưng với tôi khi đọc thưởng thức và cảm nhận trường ca Phồn Sinh, tôi thiên về mặt nhận thức bước đầu về triết học Phồn sinh: tác phẩm đã gợi mở một triết học Phồn sinh (một dạng triết học về sự sống, sự sinh tồn, cũng là một dạng của triết học nhân văn mới(2)! Triết học này vừa kế thừa, vừa tích hợp vừa khai sáng vừa phát triển các triết thuyết triết học đã có và tạo nên dấu ấn đặc sắc riêng!
Tôi thấy đối với trường ca Phồn Sinh rất cần nghiên cứu, thảo luận về mặt triết học! Xin có vài nhận xét bước đầu sau đây:
1 – Tiếp nối và phát triển không chỉ truyền thống văn hóa phồn thực, triết lý sinh tồn
Đã có những nghiên cứu triết học về sinh học, triết học đời sống hay nói chung là triết học về sự sinh tồn (triết học sinh tồn). Triết học sinh tồn hay khiêm tốn hơn là triết lý sinh tồn cũng có nhiều dạng thức. Có thể tồn tại phát triển dưới dạng văn hóa dân gian (triết lý phồn thực mà hình ảnh tập trung nhất là triết lý về cái bộ phận sinh dục đực cái có tính cội nguồn sinh sản của muôn loài, nhất là loài người); hoặc có thể tồn tại dưới dạng trường ca hay tiểu thuyết, hoặc dưới dạng lý luận, khoa học, hay tín ngưỡng, tôn giáo!
Nhưng việc tiếp cận, xây dựng và thể hiện một triết lý, một triết học về sự sống, sự sinh tồn của giới hữu sinh từ chiều sâu sự sống bao gồm cả con người, loài người, tự nhiên và xã hội gắn với sự tổng kết khoa học, tổng kết có tầm văn hóa của nhân loại và của dân tộc ta thì còn là một việc mới chưa được nêu ra có hệ thống. Phải chăng là như vậy?
Có thể biện luận, nghiên cứu dưới dạng khoa học, học thuật, lý thuyết hay ứng dụng thực hành văn hóa, nhưng cũng có thể thể hiện dưới một dạng thức văn học, tiểu thuyết hay trường ca điều mà trong văn hóa truyền thống đông tây cũng đã có tiền lệ (như các tiểu thuyết hiện sinh(3), hay phân tâm học…).
Tiếp nối và phát triển truyền thống văn hóa phồn thực và với tâm thức, văn hóa triết học, tôn giáo xưa nay, nhà thơ, nhà nghiên cứu triết học Nguyễn Linh Khiếu đã cho ra mắt Trường ca Phồn Sinh hơn 700 trang sách khổ 16×24 nhằm qua đó thể hiện và gửi gắm một hình thức triết lý hay triết học Phồn sinh có tính đạo học rất phong phú nhiều tầng nhiều chiều cạnh.
Ta thấy Nguyễn Linh Khiếu đã chắt lọc kế thừa, minh định lại nhiều tư tưởng triết học, triết lý tôn giáo đông tây, tổng tích hợp chúng vào một hệ thống trên nền tảng triết lý phồn sinh để hình thành nên một triết học Phồn sinh và một “Phồn sinh giáo”, dù là có tính gợi mở bước đầu, dưới dạng trường ca!
Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu là một phó giáo sư, tiến sĩ triết học một người có một nền tảng hiểu biết triết học đông tây cổ kim khá vững chắc, lại có năng khiếu và năng lực thi ca dồi dào. Ông đã viết một số trường ca đặc biệt là trường ca Phồn Sinh với thể thơ văn xuôi. Trường ca đã tự do tung hứng không chỉ mang tính trữ tình ca ngợi tình yêu tình dục đực cái trống mái trai gái trong sự sống muôn loài, trong đó trọng tâm và cao nhất là loài người, tộc người mà còn là những dòng thơ, dòng chính văn thẫm đẫm tư duy triết học.
Những dòng thơ dòng văn chính luận và trữ tình đan xen nhau làm một, thể hiện tư tưởng, triết lý, phép biện chứng của Phồn sinh, của sự sống muôn loài và của dân tộc Việt Nam từ cái nôi dòng sông Hồng – dòng sông Hồng dòng sông Hồng định danh đất nước dòng sông Hồng định danh quốc gia, dòng sông Hồng định danh Tổ quốc định hình bản sắc! (tr. 145-146).
Qua trường ca Phồn Sinh dưới hình thức diễn ngôn của thơ văn xuôi vô cùng sinh động đầy nhịp diệu, nhiều chiều, nhiều cấp độ, vừa hết sức cụ thể đời thường, vừa hết sức thăng hoa, cao quý, thần thánh; vừa tục vừa thanh bằng sự hiểu biết, trải nghiệm của ông. Ông đã khám phá và thể hiện một phép biện chứng phồn thực, phồn sinh, hay có thể nói ông đã gợi mở một triết học Phồn sinh, làm sâu sắc quan niệm triết học về sự sống, về sự sinh tồn, sự sinh trưởng từ cá thể, cá nhân, tình yêu, hôn nhân, gia đình, dân tộc, giai tầng, đất nước, quốc gia, nhân loại, vũ trụ.
Sự sống sự sinh tồn trong trường ca Phồn Sinh không dừng lại ở sinh tồn sinh học dù nó là khởi nguồn mà đã mở rộng ra các biên độ xã hội, văn hóa, chính trị như là những vòng khâu những cấp độ những nhân tố của sự phồn sinh, sự sinh tồn cộng đồng, dân tộc, quốc gia, nhân loại…
Trường ca Phồn Sinh đã làm mới nhiều khái niệm và bản chất của đời sống, nâng lên một vị thế mới và được đẩy tới giới hạn từ góc độ sinh tồn, sinh trưởng đến tự do… Chẳng hạn, tự nhiên không chỉ truyền giống mà còn hơn thế nữa mà còn là tất cả các chiều cạnh sinh sống của muôn loài – trên thế giới này không có hành vi nào vĩ đại bằng hành vi truyền giống, (tr. 45- 46) mà còn tự do – không có tự do nghĩa là không có con người (tr. 54-56), dân chủ là hồn vía của muôn loài (tr. 69), giải phóng là bản năng giải phóng là lẽ sống, giải phóng là bản chất của sự sống (tr. 96) v.v..
Ông đã hóa thân, nhân cách hóa cái tôi trở thành nhân vật trung tâm của trường ca (Ta và Nàng). Ông là nhà thơ của thời đại mình (tr. 9), là triết gia của thời kỳ biến đổi (tr. 13), một giáo chủ của xứ sở phồn sinh, giáo chủ của mọi giáo chủ. Thơ thì bay bỗng và triết lý thì thẳm sâu…. Và, giáo chủ thì hùng biện, thu hút, cuốn hút người nghe, đồng cảm đồng điệu với người nghe mà người nghe là giáo chủ của chính mình. Muôn loài là giáo chủ của chính mình. Giáo chủ đang giảng đạo, truyền đạo, thuyết giảng, thu phục, thu hút lòng người với cái giọng nghệ sĩ, nắm chắc tâm lý và biết sử dụng nhuần nhuyễn ngôn từ, nhạc điệu câu văn câu thơ với hình ảnh, sự kiện vừa quen thuộc dân dã, dân gian vừa cao sang cao siêu khoa học vừa như thần thoại dân ca vừa như triết thuyết, vừa đời thường vừa chính trị xã hội, vừa tục vừa thanh. Với nhịp điệu lên bổng xuống trầm, khi ngắn, rất ngắn khi dài, rất dài, du dương, vần điệu lặp lại nhấn nhá, điệp khúc thu hút say mê lòng người của một nghệ sỹ (lên đồng) như múa như hát, một thi sĩ thăng hoa tự giãi bày, một nhà văn, một nhà tâm lý thủ thỉ, một giáo chủ “truyền đạo” đầy nhiệt huyết, một triết gia thông thái luận giải, biểu đạt một cách hệ thống, đa chiều, đa nhịp điệu và sống động…
2 – Cái nhìn so sánh và thực chất Phồn sinh
Chúng ta biết rằng cũng chủ đề trống mái tình dục tình yêu nhân bản, nhân sinh nhân tình thế thái nhưng ở Hồ Xuân Hương hay cả trong thơ ca dân gian chủ yếu là mô tả hài hước độc đáo đầy ẩn dụ và nhằm chế diễu thói hư tật xấu ở đời trong cái xã hội phong kiến quan lại nhiễu nhương tù túng giam hãm con người.
Còn triết học hiện sinh thì nghiêng về đời sống tâm lý cá nhân và nghiêng về đời sống phi lý tính, mâu thuẫn nan giải… để tìm tự do cá nhân và ý nghĩa cuộc sống… nên họ “quan tâm đến các vấn đề hiện sinh như sự lo âu, phi lý, tính đích thực, sự tuyệt vọng, ý nghĩa sống và con người cá nhân”(4). Những người mặc dù khác nhau về học thuyết hiện sinh nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể cá nhân con người – không chỉ đơn thuần là chủ thể tư duy, mà còn là chủ thể hành động, cảm nhận, và sống. Trong khi giá trị được nhìn nhận phổ biến của tư tưởng hiện sinh là sự tự do, tiêu chuẩn đạo đức hàng đầu của nó là sự đích thực (authenticity). Trong góc nhìn của các nhà hiện sinh, xuất phát điểm của con người cá nhân được đặc tả bởi “thái độ hiện sinh” (the existential attitude), hay một tình trạng mất định hướng, bối rối hoặc kinh sợ khi đối diện với một thế giới có vẻ như vô nghĩa hay phi lý (absurd). Nhiều nhà hiện sinh cho rằng triết học hàn lâm hay triết học mang tính hệ thống truyền thống, về hình thức cũng như về nội dung, đã lỗi thời không trả lời được những nan đề mà cuộc sống hiện đại đang đặt ra(5).
Sở dĩ được gọi là chủ nghĩa hiện sinh là vì chủ nghĩa này nhấn mạnh rằng đời sống nhân loại chỉ có thể hiểu được thông qua sự hiện sinh của cá nhân, tức là thông qua kinh nghiệm riêng biệt của anh ta về cuộc đời. Người ta sống, chứ không phải tồn tại, trong mỗi phút giây, và kinh nghiệm về cuộc sống của mỗi người luôn có tính chất độc đáo, khác biệt hoàn toàn với kinh nghiệm của mọi người, và chỉ có thể được hiểu đúng thông qua sự dấn thân của anh ta vào cuộc sống. Chủ nghĩa hiện sinh chối bỏ quan điểm về khuôn mẫu lý tưởng của Con Người viết hoa, hoặc của nhân loại, trong đó mỗi người chỉ là một hình ảnh của con người phổ quát(6).
Còn triết học đời sống dù có biến thể khác nhau nhưng luận điểm tiêu biểu của “triết học đời sống” cho rằng, con người bị xui khiến không phải bởi những động cơ duy lý mà bởi sức mạnh có nguồn gốc sinh học. Vì vậy, không phải ý thức, tinh thần và lý trí quyết định bản chất con người, mà là đời sống vô thức trước hết là bạo hành, là bản năng của một con thú có sức mạnh tràn trề, tối tăm, hỗn loạn muốn cấu xé tung hoành, gây chết chóc. Do áp lực của bạo hành mà con người tìm được chân lý và trở thành con người sáng tạo. Con người là con vật chưa được xác định, suy thoái về mặt sinh học, không thích ứng với sự tồn tại động vật, do đó nó mở cho bất kỳ khả năng nào khác(7).
Còn triết học phồn sinh là gì? Trước hết cần nhận thấy trọng tâm và thông điệp chính của Phồn sinh nói lên điều gì?
Trần Thị Quỳnh Trang, Đại học Huế nhận xét rất đúng rằng: Có một điều bất ngờ là, cái đích cao cả của văn hóa, văn minh từ xưa đến nay vẫn được quan niệm là phải tiết chế những bản năng nhục dục, mù lòa tăm tối tự nhiên của con người. Do đó, các tôn giáo, các triết thuyết xã hội đều tự cho mình cái sứ mệnh cao cả là cứu giúp cho loài người tiết dục, diệt dục bằng các thiết chế xã hội, bằng các hệ thống chuẩn mực đạo đức (Kitô giáo, Hồi giáo, Nho giáo, Phật giáo…). Thế nhưng, với trường ca Phồn Sinh, nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu lại muốn dùng sự tự do phồn sinh của muôn loài để chuyển đến cho loài người thông điệp về sự tự do phóng dục mà theo ông đó là bản chất của mọi bản chất sinh tồn tự nhiên của muôn loài. Ông quan niệm để muôn loài tồn tại được thì trước hết cái cơ thể tự nhiên với đời sống bản năng của nó phải tồn tại, phải sinh sôi nảy nở, còn văn hóa, đạo đức, tôn giáo chỉ là cái phái sinh trên cơ tầng căn bản là cơ thể tự nhiên(8).
Từ đó ta thấy khái niệm hay quan niệm Phồn sinh trong trường ca Phồn Sinh mà Sinh là sinh dục, sinh hoạt, sinh sản, sinh sôi, sinh nở, sinh sống, sinh tồn, sinh trưởng, sinh thành, sinh tử... và Phồn là nhiều, là phức hợp, là đa, đa nhịp đa cảnh, đa tầng, da cấp, đa phương diện, đã nghĩa, đa ý… tất cả trong quan hệ biện chứng thống nhất – đấu tranh – chuyển hóa các mặt đối lập… âm dương… chứ không chỉ hạn chế vài nghĩa như văn hóa truyền thống mà một vài từ điển nêu lên(9). Phồn sinh nói khái quát nhất là cả sự sống hũu hình lẫn sự sống vô hình, sự sống cụ thể, sự sống phong phú, sự sống vô cùng, sự sống bất diệt…(10).  Và, Nguyễn Linh Khiếu cũng cảm thức và mở rộng nội hàm những khái niệm ấy thiên về góc nhìn, hơi thở triết học hay minh triết hoặc nâng lên nội dung, ý nghĩa triết học hay minh triết của khái niệm, phạm trù Phồn sinh! Phồn sinh còn có tính đạo học và mỹ học!
Ở trang 687-688 theo tác giả Nguyễn Linh Khiếu quan niệm, cảm thức về khởi nguồn sự sống, phồn sinh một quá trình, tiến trình, có tính chu kỳ, tiến hóa, sinh thành hoại diệt lại sinh thành. Rằng, phồn sinh là sáng tạo phồn sinh là khởi thủy phồn sinh là liên tục/ phồn sinh là hành trình phồn sinh là 0 và l phồn sinh là đực và cái phồn sinh là trồng và mái phồn sinh là sáng và tối phồn sinh là đêm và ngày phồn sinh trời và đất…
Và ở trang 699, tác giả lại hát: phồn sinh là bài ca của thế giới đang hoàn mỹ giai điệu sinh nở/ phồn sinh là ngôn ngữ dịu dàng hiếu sinh/ phồn sinh là âm vang tĩnh lặng vĩnh hằng/ phồn sinh là giai điệu du dương bất tử/ phồn sinh sắc màu lá non tinh khiết…
Phồn Sinh nói về dòng chính của vũ trụ hữu sinh, có bản năng và tự ý thức nhưng không bị bản năng hóa, phi lý hóa hoặc duy lý hóa mà hài hòa theo hướng trội tự ý thức… Phồn sinh dù có sinh có diệt, có tiến có thoái có đen có trắng, có mất có còn có thiện có ác… nhưng luôn là cái nhìn lạc quan về phía trước như một xu hướng tất yếu, không bi quan yếm thế…
Triết học phồn sinh như thế dù có phảng phát của triết học hiện sinh hay triết học đời sống hay triết lý dân gian phồn thực, hay tinh thần duy vật biện chứng – lịch sử – nhân văn nhưng nó rất khác biệt, có tính tổng tích hợp cao nếu có thể nói như vậy, sẽ có chỗ đứng riêng trong kho tàng triết học và minh triết.
3 – Con người trước hết là một thực thể sinh sản, thực thể sinh thái, đó là trung tâm của Phồn sinh
Bên cạnh loài người, con người, tác giả mô tả nhiều về giới sinh vật như hai mặt của đời sống tự nhiên – xã hội, sinh học – văn hóa, tiểu vũ trụ và đại vũ trụ, tìm ra nhiều cái chung, tính qui luật chung.
Ông kể, ông triết lý, ông đối thoại, tự luận, phản biện, luận bàn, ca hát về sự sống, sự sinh tồn từ đực cái, tình dục – tình yêu, sinh – thành – hoại – diệt, diệt – sinh – thành…, từ thiện ác chính tà, từ trắng đen, từ cao thượng thấp hèn… Rồi từ một thành nhiều và nhiều hợp một, thống nhất và khác biệt, đấu tranh sinh sản sinh sôi… Và vạn vật tự sống, tự sinh, nảy nở…
Tác giả tự kể, tự làm thơ, tự hát ca, tự triết lý, tự vấn chính mình: Sự sống, đực cái, gái trai, giao phối, tình dục – tình yêu, sinh tồn, sinh nở, chuyển hóa, hội nhập, phân chia, thăng hoa hợp một… sinh diệt diệt sinh, phá hoại và sáng tạo, có hạn và vô cùng vô tận… Đó là phồn sinh…
Áp bức và đấu tranh, chiến tranh và hòa bình, đàn áp, giam cầm, kìm nén và giải phóng, nô lệ và tự do, độc tài và dân chủ, thiện và ác, hèn nhát và bất khuất, ỉ lại và tư chủ, bất hạnh và hạnh phúc… Đó cũng là phồn sinh…
Phồn sinh với Nguyễn Linh Khiếu đã mở rộng biên độ về nội hàm, nội dung của khái niệm và xác lập vị trí gốc gác nền tảng và như một giá trị cao của mọi giá trị, mọi sự nghiệp, mọi sinh mệnh khi tôn vinh khái niệm Sinh sản.
Xuyên suốt trường ca Phồn Sinh cũng là của triết học Phồn sinh này là phép biện chứng của sự sinh tồn mà hạt nhân là sinh sản – truyền sinh… Tác giả đặc biệt đề cao vai trò, ý nghĩa của sinh sản – truyền sinh. Nếu chỉ là sinh sản có thể người cho chỉ hiểu về mặt sinh học, nhưng sinh sản – truyền sinh thì không còn là sinh học nữa mà là sự sống, sức sống, đời sống, sinh sống.
sinh sản là giá trị của mọi giá trị/ sinh sản là sự nghiệp của mọi sự nghiệp/ sinh sản đó là thiên mệnh duy nhất/ sinh sản là hành vi cuối cùng (tr. 679).
con người chỉ là con người khi con người là một thực thể sinh sản (tr. 679).
Rõ ràng, sinh sản ở đây vừa theo nghĩa hẹp sinh học vừa theo nghĩa rộng xã hội, văn hóa và nghĩa triết học chung nhất là tạo ra, tăng trưởng, phát triển… trong hàm nghĩa truyền sinh.
Ta biết rằng con người là một thực thể tự nhiên – xã hội mà cốt lõi là thực thể sáng tạo, thực thể lao động sản xuất, thực thể văn hóa… (theo quan niệm của chủ nghĩa Mác). Nhưng ở đây Nguyễn Linh Khiếu đã đưa ra một định nghĩa con người thực thể sinh sản mà theo nghĩa hẹp là mang tính tự nhiên sinh học còn nghĩa rộng là mang tính xã hội văn hóa trong ý nghĩa truyền sinh.
Ta biết rằng C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng điểm xuất phát của hai ông về mặt triết học của mình là con người hoạt động thực tiễn mà trọng tâm là lao động sản xuất. Con người sản xuất và tái sản xuất có hai loại, một là sản xuất ra sản phẩm tiêu dùng, hai là sản xuất ra con người, sản sinh nòi giống. Xuất phát từ loại sản xuất ra sản phẩm tiêu dùng… với con người xã hội tạo dựng nên xã hội – hình thái kinh tế – xã hội trong tiến trình lịch sử (triết học duy vật lịch sử/ triết học xã hội). Còn loại sản xuất ra con người duy trì nòi giống (sinh sản) thì về mặt triết học chưa được phát triển như một triết học sinh vật học xã hội, dù đã có những quan niệm dân gian phổ biến về phồn thực…
Nguyễn Linh Khiếu đã dũng cảm đi khai phá hướng này và xem xét khái niệm sinh sản – truyền sinh, một khái niệm cơ bản của Phồn sinh như bản chất chung cho sự sống, cho thế giới hữu sinh… trong đó có con người, loài người. Và cho rằng, con người – thực thể sinh sản là khái niệm nền tảng của triết học phồn sinh. Con người sinh học có trước con người xã hội. Mà sống hay sự sống, phồn sinh thì gồm cả mặt sinh học và xã hội… Qua luận giải của mình khi xây dựng triết học Phồn sinh với hạt nhân là sinh sản ông muốn đi sâu khám phá cái cơ tầng gốc rễ của chất sống, sự sống, của đời sống, của tự nhiên, xã hội, của thế giới và mối quan hệ biện chứng tương tác lẫn nhau không thể tách rời giữa cái sinh học và cái xã hội, cái bản năng và cái tinh thần, cái tự nhiên và cái văn hóa, cái vô thức và ý thức trong sự tồn tại và sinh sống của muôn loài. Qua đây ông cho thấy chính sự thiên lệch của các quan niệm triết học xưa nay khi đề cao cái sinh học, khi đề cao cái xã hội, khi đề cao con người khi đề cao tự nhiên đã tỏ ra bất lực khi lý giải mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội, giữa tự nhiên và con người, giữa đời sống bản năng và thế giới tinh thần, giữa cá nhân và cộng đồng trong bối cảnh hiện nay.
Và, “không có gi bằng được sống một cuộc sống bình thường”.
Ta biết Tuyên ngôn Độc lâp của Hoa Kỳ trước hết nói về quyền được sống rồi tiếp theo là quyền bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhưng chúng ta đã bao giờ nghiên cứu có hệ thống vấn đề SỐNG, sự sống, sinh sống, quyền được sống một cách tường minh có ý thức chứ không chỉ là thực hành một cách bản năng, vô thức, nhưng không nên coi nhẹ coi khinh bản năng sinh tồn vô thức. Trong trường ca Phồn Sinh, Nguyễn Linh Khiếu đã dám nghĩ hơn trong việc phát triển vấn đề bản năng, nhất là bản năng gốc, bản năng sống, duy trì nói giống, sinh tồn, phồn sinh và nâng lên gắn với bản năng có ý thức, bản năng xã hội.
Với Phồn Sinh thì Sống và sinh trưởng, sống là sinh trưởng là khái niệm/ phạm trù bao trùm chăng? Sống là trao đổi chất, sống là hấp thụ và thải ra, sống là một quá trình năng lượng và thông tin, sống là sáng tạo, cống hiến và hưởng thụ, nhưng gốc của sự sống là tình dục và tình yêu, sống là yêu ghét, là đố kị và bao dung… sống là sinh sôi nảy lộc và kết trái, sống là sinh thành hoại diệt, diệt hoại lại sinh thành… Sống là trái ngược với chết, sinh trưởng trái ngược với tàn lụi. Sống là sáng tạo và sinh thành và tuần hoàn sinh thành hoại diệt lại sinh thành… một cách biện chứng có quy luật…
Nhưng khái niệm xuất phát của triết học phồn sinh là đực và cái là trống và mái, trai và gái, là sáng và tối là đêm và ngày trời và đất… trong sự đồng nhất (hôn nhau) giữa các mặt đối lập… Tác giả bàn về sự khác biệt và thống nhất, tạo nên sự gặp gỡ, tồn tại và phồn sinh, “không có sự khác biệt là nghèo nàn và bất hạnh” (tr. 514, 515). Càng khác biệt càng đa dạng. Đa mà Một!
Tác giả luận về nhiều sự khác biệt và thống nhất cả trong tự nhiên và xã hội. Trong đó có nhiều mâu thuẫn – thống nhất. Mà áp chế, dồn nèn và giải phóng là một cặp (tr. 96). Ông coi giải phóng là bản chất sự sinh tồn là bản chất sự sống và giảỉ phóng vĩ đại nhất là giải phóng năng lượng tình yêu, tình dục từ ta sang nàng từ nàng sang ta (tr. 98)… Đó cũng là bản chất của sự sống! Nhưng giải phóng còn nhiều cấp độ nội dung nữa!
Tác giả biểu cảm về chiến tranh và hòa bình, về độc tài và dân chủ, về nô lệ và tự do, về thiện và ác… thật sinh động!
Nhưng phương thức, phương pháp của tự nhiên, của sự sống là gì? Nguyễn Linh Khiếu luận rằng: ‘Đó là tiết kiệm mà tiết kiệm là quy luật tồn tại muôn đời, tiết kiệm là một sự tồn tại, một sự tối ưu hóa và sống thông minh’… (tr. 336-337). Tiết kiệm là đối lập với lãng phí mà lãng phí rồi tàn suy, chết. Sống là tiết kiệm. Sống là sáng tạo mà sáng tạo là tiết kiệm nhất.
Vậy triết học Phồn sinh trước hết là triết học sinh sản, triết học sống, triết học làm nên cội nguồn của tồn tại… và phát triển muôn loài mà loài người là trung tâm, cao nhất từ góc nhìn sinh học – sinh vật – xã hội – văn hóa.
Sinh sản là qui luật cơ bản của muôn loài. Không sinh sản là hủy diệt, không sống là số 0… Sống là tất cả. Nhiều là một và một là nhiều trong thế giới sinh tồn đa màu đa thanh đa diện đa cấp đa tình! “Sự sống chẳng bao giờ chán nản” (Xuân Diệu). Sự sống là bất diệt. Nếu bị hủy diệt sự sống lại tái sinh. Dù sao vẫn luôn luôn tin vào sự sống!
Nhưng sự sống cũng là tự do, tự do là bản chất sự sống. Sự sống của con người là quá trình sinh sản, trao đổi chất, quá trình chuyển hóa năng lượng và thông tin, quá trình xã hội hóa và văn hóa hóa, quá trình tâm linh, thống nhất và đấu tranh, đồng nhất và khác biệt… sinh thành hoại diệt, giới hạn và vô hạn, tạm thời và vĩnh hằng từ cá thể cho đến loài… cá nhân đến nhân loại… và vũ trụ vô cùng…
Phồn sinh vừa khái quát ở tầm sinh thái trái đất và nhân loại nhưng Phồn sinh cũng là một vùng đất, vùng sinh thái, vùng văn hóa sống cụ thể là châu thổ Sông Hồng! Cho nên tác giả đã tâm sự thông điệp cụ thể của Phồn sinh như sau: Thông điệp của “Phồn sinh” rất đơn giản. Đó là sự sống bất diệt. Châu thổ sông Hồng là thế giới phồn sinh muôn đời sinh sôi nảy nở. Sức sống của châu thổ sông Hồng cuồn cuộn như sông Hồng mùa lũ dạt dào năng lượng phì nhiêu và màu mỡ. Không ai, không thế lực nào có thể hủy diệt được sự sống của châu thổ sông Hồng. Đã trải qua dù ngàn năm Bắc thuộc, dù trăm năm thực dân đô hộ, dù thù trong giặc ngoài, dù chiến tranh loạn lạc, ngoại xâm, nội chiến, dù chuyên chế, độc tài, phát xít, toàn trị… nhưng không một thế lực nào có thể hủy diệt được sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Không thế lực nào có thể hủy diệt được sức sống của con người Việt Nam(11). Đó là sức sống, khát vọng sống của một dân tộc vĩ đại. Đó là một niềm tin. Một sự truyền cảm hứng sống cho con người Việt Nam dù rơi vào hoàn cảnh nào.
Đó là một thông điệp, một tư tưởng cụ thể từ cái riêng từ châu thổ sông Hồng! Nhưng sâu xa hơn, phổ quát hơn thì thông điệp, tư tưởng cơ bản, nền tảng của Phồn sinh theo tôi lại là gợi mở một triết học hay một đạo học Phồn sinh!
4 – Trước hết là khát vọng phồn sinh, triết lý phồn sinh
Không ít người đọc đã cảm nhận và bình luận ít nhiều về điều này!
Không chỉ là tồn tại mà còn là phồn sinh. Đúng như nhận xét của Đỗ Ngọc Yên trong một bài viết: Tư tưởng xuyên suốt trường ca của Nguyễn Linh Khiếu là khát vọng phồn sinh vừa róng riết, vừa thâm hậu. Đến mức, nhu cầu phồn sinh thường trực trong ông còn sục sôi hơn cả nhu cầu tồn tại về khía cạnh bản thể. Trong tư cách là một nhà thơ cách tân và trong tư cách một người nghiên cứu triết học và chính trị học, Nguyễn Linh Khiếu coi tồn tại bản thể chỉ mang ý nghĩa của cái tồn tại ở nấc thang thứ nhất trong tư duy và nhận thức của con người về thế giới vạn vật và vũ trụ bao la. Còn phồn sinh mới chính là nấc thang cao nhất của tồn tại ấy. Ở đấy, cái tồn tại bản thể luôn vận động và phát triển không ngừng nghỉ và luôn tuôn trào sức sống mãnh liệt của lịch sử dân tộc. Nó thực sự là một dòng chảy bất tận cuốn trôi, vượt qua và phủ định một cách biện chứng tất cả những gì cản ngăn để chỉ còn lại sự phồn sinh vĩnh hằng như con người, quê hương, đất nước, giống nòi, nhân loại và vũ trụ. Chính vì lẽ ấy, mà phồn sinh là một quá trình vô thủy, vô chung và luôn biến ảo không ngừng, đầy rẫy sự phức tạp, nhiễu loạn, rắc rối, đa chiều và đa kích, quá khứ, hiện tại, tương lai đan xen, xâm lấn, đồng hiện. Sẽ chẳng bao giờ có tồn tại bản thể nếu như bản thể ấy không đích thực phồn sinh, tức là tồn tại trong tư cách vận động và phát triển biện chứng, chứ không phải tồn tại trong tư thế đứng im, chết cứng, siêu hình máy móc…(12).
Nhận xét của Tiến sĩ Hoàng Thụy Anh: Nếu xem “Phồn sinh” là một tấm gương soi, tôi tin rằng, người đọc sẽ học hỏi được nhiều thứ, ngộ ra ý thức về bản thể, cuộc sống và tình yêu sinh thái. Tôi lấy dẫn chứng về triết luận sống và chết, hữu hạn và vô hạn trong “Phồn sinh”: “cái gì sinh ra rồi sẽ chết đi/ cái gì chết đi rồi sẽ sinh ra/ sinh ra rồi chết đi chết đi rồi sinh ra/ đó là nhịp điệu đó là giai điệu đó là âm thanh đó là cung bậc đó là sắc màu đó là hình hài đó là ngôn ngữ mãi mãi ngân nga mãi mãi du dương mãi mãi rực rỡ mãi mãi hân hoan vô cùng da diết” (tr.327).
“Phồn sinh” được kiến tạo như một khối vuông rubic, mỗi chiều xoay là một dữ kiện sống động, tự nhiên nhất. Hay nói cách khác, “Phồn sinh” là trung tâm hiện hữu của những gì bản năng, nguyên sơ, hài hòa, nhân bản. Những mặt đối lập, nhị nguyên của con người và thế giới đều tìm được điểm giao thoa, sẵn sàng đi đến tận cùng bản thể trong cái nhìn phồn thực, sinh sôi tươi tốt (13).
Còn Paul Nguyễn Hoàng Đức thì nhận xét: Phồn sinh”, tập trường ca của Nguyễn Linh Khiếu trải ra một chiều rộng mênh mông bề thế, nó bao gồm quê hương thổn thức, thẫn thờ, yêu dấu và cay đắng, mở ra vẻ đẹp của vũ trụ lộng lẫy, huy hoàng, thiên nhiên tươi thắm sinh sôi nảy nở và u hoài đắm đuối, nối sang những vấn đề bức thiết của con người, giá trị con người như tự do, dân chủ, nhân quyền, bình đẳng, yêu dấu, thiện ác, tốt xấu, tàn bạo, độc tài, quần chúng và vĩ nhân, chiến tranh và hòa bình, vinh quang và điếm nhục, hạnh phúc và cay đắng… Trong trường ca này, Nguyễn Linh Khiếu đã mở tay hết sở trường tiến sĩ triết học của mình, anh khai mở, diễn dịch, lật xới, luận bàn, minh định, phán quyết trôi chảy từng chi tiết những vấn đề triết lý.
“Phồn sinh” chính là một sự tích hợp nhuần nhuyễn, hài hòa giữa thơ – văn xuôi – triết học(14).
Theo Mai Liên Giang, với Trường ca Phồn sinh, cuối cùng, đọng lại với người đọc vẫn là màu sắc triết luận đa chiều trong thơ, nỗi niềm khắc khoải của thi sỹ về phận người cô đơn trước vũ trụ vần vũ…(15).
Với TS Nguyễn Văn Vịnh thì thấy: Có lẽ một nền tảng triết học khá vững vàng đã ảnh hưởng sâu sắc tới sáng tác văn chương thơ ca của anh, vì vậy bàng bạc ở hầu hết các câu chữ trong các tác phẩm văn chương của anh là những triết lý nhân sinh, những cảm thức sinh tồn được truyền tải. Tác phẩm “Phồn Sinh” có thể được coi là “tập đại thành” trong sự nghiệp văn chương của nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu. Nó chắc chắn sẽ làm nên “Thi hiệu” tác giả. Về mặt học thuật, có thể nói “Phồn Sinh” là khái niệm độc đáo được tác giả trình bày và diễn giải với một nội hàm đồ sộ, một ngoại diên bao trùm. Cũng cần nói rõ, các khái niệm “phồn thực”, “phồn tạp”, “sinh sản”, “sinh sôi” và “phồn sinh”… hẳn là đã có từ rất lâu trong ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, tôn giáo… Nhưng khi sử dụng hai chữ “phồn sinh” trong một văn cảnh mới, một thế giới mới và một sinh quyển văn chương mới với nội hàm và ngoại diên mới thì chắc là một cách làm hoàn toàn chỉ có ở nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu. Vì vậy “phồn sinh” với một hình hài đương đại nó sẽ mang dấu ấn sâu đậm Nguyễn  Linh Khiếu và rất có thể nó sẽ như một cái chốt làm nên tên tuổi của nhà thơ(16), nhà nghiên cứu triết học.
Nhưng theo tôi triết lý phồn sinh thì rõ rồi nhưng không dừng lại ở đó và không chỉ thế.
5 – Mở ra đạo học phồn sinh, triết học phồn sinh
Vấn đề là qua tập trường ca này đã gợi mở một triết học Phồn sinh. Tức nó vượt khỏi tầm một triết lý. Nó sâu hơn, rộng hơn, hệ thống hơn, đa chiều đa nhịp đa tầng hơn và mới hơn.
Tác giả Nguyễn Linh Khiếu tích hợp nhiều khái niệm, nguyên lý, hình ảnh, chất liệu của nhiều trường phái triết học, minh triết, đạo học, đạo đức, khoa học khác nhau (vô thần hữu thần, đông tây, vật chất, tâm linh, hiện sinh, duy lý, phi lý…), và đã khai mở nhiều khía cạnh và định hướng nội dung theo ý tưởng nhất quán của mình từ điểm xuất phát của quan hệ giới tính đực cái, trai gái, trống mái, tình dục, tình yêu, sinh sản truyền giống – truyền sinh – gieo trồng đến các quan hệ dân chủ, tự do, công bình, giải phóng, phát triển, phồn thịnh, hạnh phúc… nên vừa là nhân bản, nhân đạo và nhân văn!
Đúng là Nguyễn Linh Khiếu đã phát huy cả sở trường thi ca và sở trường triết học để “khai mở, diễn dịch, lật xới, luận bàn, minh định, phán quyết trôi chảy từng chi tiết những vấn đề triết lý” nhưng không bị lạc đề hay sống sượng mà tiêu hóa, thăng hoa, nhất thể trong cái vũ trụ phồn sinh!
Do vậy nó không phải hỗn tạp (hỗ lốn) mà có tính hệ thống đa chiều cạnh, đa nhịp điệu, đa không thời gian, đa động lực, đa mục tiêu mà vẫn nhất quán với tinh thần Phồn sinh…
Sự phát triển mới nào mà không từ cái cũ, không kế thừa, đổi mới và sáng tạo! Phồn sinh vì vậy là một sáng tạo độc đáo, tầm cỡ của Nguyễn Linh Khiếu cả về mặt nội dung và hình thức thi ca, trường ca mà cả về mặt triết lý hay triết học với chủ đề phồn sinh được mở rộng và minh định lại vừa đủ rõ ràng vừa mung lung theo trí tưởng tượng của thi sĩ và bạn đọc đồng sáng tạo!
Đam mê sáng tạo Phồn sinh về mặt thi ca chắc Nguyễn Linh Khiếu cũng đã khai mở, gợi ý một triết học Phồn sinh, đạo học Phồn sinh theo tinh thần chủ nghĩa nhân văn mới. Ông không dừng lại tín ngưỡng phồn thực hay triết học hiện sinh, triết học đời sống mà có cách nhìn khác hơn và đã đi xa hơn, rộng hơn trong bối cảnh của thời đại mới. Đó là thời đại đang nhiều thay đổi, nhiều cái cao thượng nhưng còn lắm thấp hèn, có định hướng từ lịch sử cho tương lai tươi sáng nhưng cũng còn nhiễu nhương, nhiều niềm vui nhưng cũng còn lắm đau khổ, nhiều cái thật những cũng còn cái giả, nhiều cái tự do những cũng còn nhiều đàn áp, nhiều cái thiện cái đẹp nhưng cũng còn cái ác, cái xấu, nhiều ánh sáng nhưng vẫn còn lắm tối tăm, thời đại đáng sống nhưng sự sống đang bị thách thức, đang bị đe dọa hủy diệt…
Và hơn nữa, thế giới ngày nay đã làm cho Trái đất thân yêu của chúng ta đứng trước nguy cơ hiện hữu của đại hủy diệt toàn cầu lần thứ sáu mà không có ngoại lệ cho quốc gia nào, mà trường ca Phồn Sinh cũng đã cảnh báo từ bài học lịch sử trái đất và nhân loại thì thông điệp về sự sống, sự phồn sinh, như những nguyên lý sinh tồn lại càng có ý rất cơ bản rất thời sự!
Từ mảnh đất văn hóa lịch sử văn minh sông Hồng mở mang văn minh Đại Việt nhiều thách thức sống còn vẫn bất diệt, tác giả Nguyễn Linh Khiếu đã tạo dựng một thế giới, vũ trụ thơ ca và một “Phồn sinh giáo” (tôn giáo cổ xưa nhất trong các tôn giáo, tr. 321-323, 706-707), một triết học Phồn sinh. Từ đó mong muốn vượt lên tất cả qua đó gửi gấm những ước mơ, khát vọng mạnh mẽ và cao đẹp ẩn chứa một tư tưởng, một triết học, một đạo học về con người theo bản tính tự nhiên – xã hội từ cội nguồn thúc đẩy chúng ta, những con người hiện tại đi tới tương lai phồn vinh, trường tồn, phồn sinh, hạnh phúc, xứng đáng là Con Người!
Nguyễn Linh khiếu không chỉ cách tân sáng tạo về hình thức thi ca mà còn dũng cảm dám cách tân, sáng tạo cả tư tưởng triết học.
Nói vậy viết vậy với trường ca Phồn Sinh có đề cao quá chăng? Tôi nghĩ là không! Hay bụt chùa nhà không thiêng?
Theo tôi cần triển khai nghiên cứu cả gốc độ lý luận cả góc độ văn học, các vấn đề của triết học, đạo học Phồn sinh qua tác phẩm trường ca Nguyễn Linh Khiếu và cả những tác phẩm khác của tác giả này đã được ấn hành thời gian qua đặng nhận diện đầy đủ hơn triết học Phồn sinh mà nhà thơ đề xuất.
Chú thích:
(1) TS Hồ Bá Tâm là Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Triết học Phát triển, Hội viên Hội Nhà văn TPHCM.
(2) Hồ Bá Thâm (2005), Chủ nghĩa duy vật nhân văn và định hướng nhân văn của sự phát triển xã hội, Nxb. Văn hóa thông tin; Phương pháp luận duy vật nhân văn, nhận biết và ứng dụng, Nxb. Văn hóa thông tin
(3) Triết hiện sinh chia tay với triết học “trừu tượng”. Nó quan tâm đến tính chủ thể cụ thể của con người, chứ không phải khái niệm trừu tượng về “chủ thể”. Đó là lý do nhiều triết gia hiện sinh (như Sartre, Camus…) chọn hình thức văn nghệ (tiểu thuyết, kịch…) để đến gần hơn với đời sống thực, nói lên những băn khoăn, thao thức, đau khổ và lựa chọn trong “thân phận” làm người/ https://www.chungta.com/.
(4) https://www.sachkhaiminh.com/.
(5) https://vi.wikipedia.org/.
(6) http://triethoc.edu.vn/.
(7) https://loigiaihay.com/.
(8) https://vanhocsaigon.com/.
(9) “Hán ngữ đại từ điển” 漢語大詞典 (La Trúc Phong chủ biên-Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã-1993) giải thích từ “phồn sinh” như sau: “PHỒN SINH: phồn thực; sinh trưởng, sinh sản; phát triển nhiều thêm” (https://nld.com.vn/).  Phồn sinh là một từ ghép không cố định gồm hai từ có ý nghĩa độc lập nhưng khá tương đồng là phồn và sinh. Tra Từ điển phổ thông, phồn gồm 2 nghĩa: 1 là nhiều, đông và 2 là sinh, đẻ. Riêng từ điển Trần Văn Chánh, phồn còn có các nghĩa là nhiều, phức tạp, rắc rối (https://www.google.com/search?ei=). Phồn thực hay còn còn là tín ngưỡng phồn thực , văn hóa phồn thực thật ra là 1 văn hóa tôn thờ hành vi giao phối và bộ phận sinh dục. .. Nó tôn thờ hành vi giao phối nhưng hoàn toàn không mang ý nghĩa xấu. Mà ngược lại phồn thực là 1 sự giao thoa , hướng đến sự tốt đẹp và phát triển bền vững (https://phuquocxanh.com/).
(10) Nhà phê bình Hoàng Thụy Anh đã thống kê 136 lần dùng Nguyễn Linh Khiếu từ phồn sinh với nhiều ý nghĩa khác nhau trong Trường ca Phồn sinh, https://vanchuongphuongnam.vn/.
(11) http://daidoanket.vn/.
(12) http://baovannghe.com.vn/.
(13) https://vanchuongphuongnam.vn/.
(14) http://kinhtedoisong.com.vn/.
(15) https://vanchuongphuongnam.vn/.
(16) https://vanhocsaigon.com/.
TP. Hồ Chí Minh, 3/1/2021
Hồ Bá Thâm
Theo https://vanvn.vn/

Ý thức phái tính trong tập thơ "Huyễn hoặc ngày em" của Trần Nhã My

Ý thức phái tính trong tập thơ
"Huyễn hoặc ngày em" của Trần Nhã My

Gấp tập thơ Huyễn hoặc ngày em, ý thức phái tính cứ ám ảnh mãi, nên tôi phải viết lại những dòng xúc cảm dành tặng cho một hồn thơ với “nhịp thơ như nhịp thở/ Ý tứ cứ tròn căng” (2, tr.23) của Trần Nhã My.
Nói đến ý thức phái tính là nói đến hệ thống vấn đề từ những biểu hiện, nghệ thuật biểu hiện, cũng như sự hình thành, phát triển của nó trong thơ ca Việt Nam qua các thời kỳ. Có thể hình dung, phái tính chính là giới tính nhằm phân biệt giữa tính nam – nữ. Phái tính nữ có thể định nghĩa là nữ tính kết hợp với sự tự thức sâu sắc về tính nữ trong sự đối xứng với tính nam, một cách tự giác, bình đẳng và mạnh mẽ. Ở bài viết này, tôi xin chia sẻ một số biểu hiện nổi bật về ý thức phái tính, nhằm lý giải sự hấp dẫn trong Huyễn hoặc ngày em – thơ Trần Nhã My.
Với 45 bài thơ – Huyễn hoặc ngày em (Nxb Hội Nhà văn – 2017) của Trần Nhã My, hiển hiện lên tấm lòng bao dung, thương cảm của người phụ nữ; sự hào sảng của tâm hồn, suy nghĩ đến những hành động đẹp đẽ đầy tính nhân văn; kể cả những giọt nước mắt đẫm đầy khổ đau của nhân vật trữ tình khi ngã rẽ cuộc đời phủ trùm lên thân phận.
Mở đầu Huyễn hoặc ngày em với Ác mộng anh, người đọc đã bắt gặp trong đó sự quan sát tinh tế vốn có của người phụ nữ bởi nhân vật trữ tình ở ngôi kể thứ ba. “Người đàn ông lầm lụi/ bước nặng/…./ Có bà mẹ trẻ…” “gào thét vào thinh lặng” khi hoàng hôn rơi xuống ở nghĩa trang. Đối diện với hai người đã “vứt bỏ giọt máu của mình”, nhưng nhân vật trữ tình vẫn với lòng bao dung, không tìm nguyên cớ vì sao mà họ lại hủy hoại hình hài một đứa bé; cũng không “mắng mỏ” hay lên án sự tàn độc này mà cùng hoài vọng đớn đau, thốt lên những lời ăn năn sám hối, dẫu muộn màng.“Con đâu rồi?” như tiếng lòng vọng vang, lời cảnh tỉnh cho thiên chức làm mẹ cha.
Như một bản năng, dù mạnh mẽ, lắm lúc lại ương bướng, nhưng sự nhẹ nhàng mềm mại, uyển chuyển vẫn tồn tại trong mỗi người phụ nữ. Vốn là trời phú, nhưng đôi khi nhân vật trữ tình trong Huyễn hoặc ngày em, nàng nhận ra cái nữ tính ấy, rồi tự chế ngự nó bằng một cảm xúc rất đỗi đàn bà. “Không biết đâu, em bao lần nũng nịu/ không nhớ hết, em bao nhiêu lần hờn dỗi/ em chỉ là em bất đồng nông nổi/ em bão giông phút chốc rồi tan” (2, tr.72); “Em học cách quên đi thói nũng nịu/… Em học cách bớt đi dỗi hờn ương bướng/… Em học cách không làm bão giông/… Em đang học cách chối từ ân sủng…” (2, tr.45). Nhân vật nữ trữ tình, sẵn sàng từ bỏ mọi đặc ân để mình được trưởng thành hơn trong tình yêu, nhưng càng cố khẳng định mình thì càng toát lên dáng vẻ hồn nhiên, đáng yêu – “bởi cuối cùng/… em không làm sóng nữa đâu”, dù biết “anh” cho nàng cả cuộc đời, biết mình không còn trẻ, mê mê với cơm áo gạo tiền “nhưng em cũng cần quà nhỏ/ mười bốn tháng hai” (2, tr.74). Vậy nên, ta thấy “em” lại trở về đúng nghĩa của “em” – đời thường như một bản năng thuần khiết.
Nhân vật trữ tình trong Huyễn hoặc ngày em, nhìn thiên nhiên tạo vật, cuộc sống, thời gian trôi ở sự thay đổi tinh tường nên tâm hồn của nàng dễ rung động, dễ tổn thương với nhiều âu lo, cần sự chở che trong vòng tay trìu mến của người mình yêu thương.“Tự khi nào/ anh là cặp kính của em/ không phải kính cận, viễn, loạn/ loại kính lạ/…/ Em ngồi tưởng tượng/ một ngày kính Anh mang cho người khác/ mù lòa em…” (2, tr.69); “Em là kẻ đến sau/ vui sướng/ khổ đau/ bằng cách nào em cũng là phiên bản/ bóng người đây, bóng của em đâu?” (2, tr.20); “Tháng ngày trôi có phải không nhà anh giậu đổ?/ hôm nay em về qua lối cũ/ Ti gôn đâu rồi/ hồng tím của em đâu?” (2, tr 38). Vậy nên, mỗi vần thơ trong Huyễn hoặc ngày em, do cái tôi nữ tính mà thành, nhưng quan trọng nó bắt nguồn từ những xúc cảm thật nhất của tâm hồn giàu chất nồng ấm. Người đọc dễ dàng thấu cảm, đồng cảm, họ tìm thấy bóng dáng của mình ẩn sâu trong những vần thơ mang hơi thở của Trần Nhã My.
Phụ nữ, họ luôn mủi lòng trước hoàn cảnh kém may mắn xảy ra với mình hay với những người xung quanh. Đằng sau những giọt nước mắt của họ là những lời động viên, an ủi chân thành, ấm áp. Với họ, đã là đàn bà thì việc thương yêu giúp đỡ nhau là việc thường tình, vừa là phẩm hạnh của người phụ nữ, vừa là đạo đức xã hội trong mối quan hệ giữa con người với nhau, nhất là quan hệ ruột thịt cùng nhau.“Chị ơi/ sao không bắt đầu lại thưở ban sơ/ thời trong veo áo trắng/ nụ cười trên môi chị giòn như nắng/…./ Suốt cuộc hành trình/ có ai dõi theo bóng chị/ chị ơi/ phía trước còn những điều rất mới…” (2, tr.81).
Trong Huyễn hoặc ngày em với những câu chuyện tình yêu mang những sắc màu của nỗi buồn phai phôi, nhưng cách viết/ thể hiện lại dịu dàng, đầy nữ tính. Dù là người phụ nữ hiện đại nhưng khi nghĩ về tình yêu, nhân vật trữ tình vẫn mang trong mình tâm thức truyền thống. Khi ấy, cái tôi trữ tình được yêu, giận hờn, lo lắng, đắm say cùng những cung bậc của tình yêu được trỗi nhịp: “Em hỏi vào chua chát xót xa/ hỏi vào rong rêu những điều được mất/ hỏi gió, hỏi mấy, hỏi trời, hỏi đất/ em như thế nào để được anh yêu???” (2, tr.57), “…, Anh có biết không/ ti – gôn “loài hoa vỡ”/ em muốn xóa tên nhưng không nỡ/ vẫn sợ xót đau bởi người cũ anh trồng/ cứ mặc cho cơn gió thoảng/ cho những cánh hoa phập phồng/ như thấu hiểu nỗi lòng…” (2, tr.85).
Tiếp xúc với Trần Nhã My, được biết chị là cô giáo dạy ngoại ngữ, tôi rất quý. Trông chị hiền lành, nhiệt tình nhưng ẩn sâu trong đôi mắt đẹp đẽ ấy, lại là một nỗi buồn, trông rất đỗi tự nhiên. Điều đó chẳng quan trọng để quy kết sự ảnh hưởng vào thơ của chị. Cái mà trong thơ của chị với nỗi buồn mang điểm nhìn của chiều kích không gian, của cuộc sống, cái buồn mang đến những khoảng lặng thuần khiết trong tầm hồn mới quan trọng. Qua nhân vật trữ tình, Trần Nhã My đã “Chất buồn lên mây”, để nỗi “buồn trèo lên cao chất ngất…” mà đi tìm lại bóng mình, “ôm lấy bóng mình tự dối bóng anh…” (2, tr.91). Nên nói Huyễn hoặc ngày em, nỗi buồn không trần trụi, giản đơn có thể nhìn thấy mà ta phải vận dụng mọi giác quan để cảm nhận, đồng điệu và cùng nhà thơ đi đến tận cùng xúc cảm là không ngoa.
Nhân vật trữ tình trong Huyễn hoặc ngày em không giấu diếm sự hạnh phúc, kể cả những giọt nước mắt lăn tràn trên đôi gò má khi người thứ ba xuất hiện. Nàng là người phụ nữ chân thật, thật với chính lòng mình, thật với tình yêu, thật với bản năng con người. Cái tôi ấy hết mình với những xúc cảm của bản thân, nàng chấp nhận nỗi đau vấp ngã để khẳng định tình yêu của mình dành cho chồng; dành người tình một cách trọn vẹn, không hề toan tính nghĩ suy – “cược hết vào anh”. Yêu, yêu hết mình, còn khi chia ly, nàng tự giải quyết mọi vấn đề, biến buồn thương thành chuyện giản đơn: “Một mình em/ đơn giản thôi/ ai bảo cuộc chia tay/ phải có hai” (2, tr.51]; “Bài cuộc chơi anh chơi cùng người mới/ vô địch rồi anh lên đỉnh vinh quang/ em một mình ôm quan tướng lang thang…” (2, tr.89); “Em chỉ biết/ người đàn bà đó cũng như em/ cũng ngang qua đời anh/ nhưng tất nhiên em không thích đồng hành…” (2, tr.77); “Thì anh ơi/ cho em một lần hờn giận/ một lần nữa thôi/ cho em hờn dỗi/ như ngày mình yêu nhau” (tr.73)
Mãnh liệt, nông nổi, nhưng lại mang chút gì vụng về, e ấp, ngây thơ, mơ mộng và duyên dáng đáng yêu: “Trên cầu Bến Đình nhìn về phía núi/ e ngỡ mình cô dâu mới/ anh cưới em về/ có dòng Vàm Cỏ se duyên” (2, tr.63) “Ngồi trên xe mơ màng chiến mã xích thố/ đường xa hóa gần ăn xén thời gian nói chuyện văn chương/ ngắn lại giấc mộng em hóa thành mỹ nữ/ thay đổi vận mệnh danh tướng là anh” (2, tr. 58). Với những điều này đã làm nên một cái tôi đầy nữ tính, đắm say cùng các cung bậc xúc cảm, đẫm đầy thương yêu, dẫn đến cái tôi mang nỗi buồn dịu nhẹ trong Huyễn hoặc ngày em là vậy!
Như nói trên, là phụ nữ, ai cũng muốn được chở che, nhỏ bé trong vòng tay một người đàn ông “chín chắn vững vàng; phong trần từng trải”. Nhưng ước mơ và hiện thực đôi khi như hai đường thẳng song song. Vậy nên, người phụ nữ trong Huyễn hoặc ngày em trở nên mạnh mẽ, quyết đoán bởi nàng đã tôi luyện qua cay đắng cuộc đời, từ đó tạo nên một cá tính riêng cho mình. “Rồi cũng phải tự mình đứng dậy/ em biết/ rồi cũng phải tự mình/ đứng dậy/ đón/ mùa xuân về doa dịu cơn đau em đông cứng/ Em ôm mình nghe tiếng thở trên lưng…”(2, tr.55). Từ những vấp ngã, từng nếm trải đã mài giũa cho người phụ nữ trong Huyễn hoặc ngày em có một tâm hồn góc cạnh, nhằm đáp trả sự phũ phàng và nghiệt ngã của cuộc sống để chứng tỏ rằng mình không hề yếu đuối, gục ngã dù bất cứ trong hoàn cảnh nào.
Cá tính của người phụ nữ trong Huyễn hoặc ngày em là biểu hiện của sự tự thể hiện. Người phụ nữ ấy tự thoát ra khỏi những chuẩn mực thông thường để thể hiện cái tôi riêng biệt và mạnh mẽ của cá nhân mình. Cũng chính ở cá tính, người phụ nữ trong Huyễn hoặc ngày em đã thể hiện rõ phái tính của mình, ý thức về mình và phái mình, từ đó người đọc thấu cảm những góc khuất tâm hồn của người phụ nữ; rồi trân quí hơn, khẳng định vị thế, vai trò của người phụ nữ trong cuộc sống hiện đại. Đây cũng một giá trị nhân văn, một thông điệp nhân sinh quan ẩn chứa trong Huyễn hoặc ngày em của Trần Nhã My, như một ý thức về những vẻ đẹp phái tính.
Bên cạnh đó, ý thức về tình yêu đôi lứa giống như sợi chỉ xanh cứ óng ánh trong Huyễn hoặc ngày em. Tình yêu là thứ tình cảm hấp dẫn số một của con người, nên “Làm sao sống được mà không yêu” (Xuân Diệu). Giống như phái nam, trong tình yêu đôi lứa, phái nữ cũng yêu, cũng trải qua những xúc cảm yêu đương cuồng nhiệt. Và khi đi vào thơ ca, những nhà thơ nữ, họ đã thổ lộ sự rung động tâm tư, xúc cảm sâu sắc của phái tính nữ; họ bộc lộ khát vọng yêu thương, cháy bỏng của mình. Bên nét nhẹ nhàng, dịu dàng đầy nữ tính, các nhà thơ nữ hiện đại nói chung, Trần Nhã My nói riêng, đã dám khẳng định sự yêu của mình một cách trực tiếp, không hề né tránh, kiểu “Em yêu anh cuồng điên/… Em chờ anh mãi” (Vi Thùy Linh), với một phong vị riêng tư. “…Bữa nào không anh/ em lù mù lờ mờ/ với đôi mắt mỏi/ mọi thứ xung quanh ảo ảnh, nhạt nhòa…” (2, tr.68) “Anh nợ/ đã nợ em hè phố chiều sánh đôi/  bao bài thơ cũng chưa dỗ được em hờn dỗi/ nợ cái nắm tay anh nói “chết em rồi”” (2, tr.35); “Những con chữ em viết/ chỉ một người thôi/ người ấy đâu đố ai mà biết được/ như một lời thách cuộc “Đi tìm lá diêu bông”” (2, tr.23). Với cách yêuriêng, nhưng Trần Nhã My vẫn thắp lên được niềm tin về sự viên mãn, tròn đầy trong tình yêu cho nhân vật trữ tình của mình: “bởi không chịu có ngày anh dần xa”; “Còn ai ngoài anh nữa/ người tìm thấy diu bông”.
Tình yêu không chỉ mang đến sự hạnh phúc mà còn gieo cho con người ta nhiều khổ đau, không kém phần. Bởi thế, hạnh phúc và khổ đau như hai đường thẳng song song trong tình yêu đôi lứa. Dù có trăm ngàn lý do để con người ta cảm thấy hạnh phúc, gắn kết với nhau nhưng cũng có trăm ngàn lý do khác nhau dẫn đến tình yêu tan vỡ, chia lìa đôi người hai ngã. Với Huyễn hoặc ngày em, khi tình yêu tan vỡ, người thứ ba là nguyên nhân nhân vật trữ tình nữ nghĩ đến đầu tiên, “dù có những cái vỡ khác/ rất khác”; “Mỗi khi nhớ đến anh là em thấy ngay người đàn bà đó/người đàn bà lấp ló/ bởi người nào thì em không rõ” (2, tr.77); “Đêm qua anh ngủ trong giấc mơ em/ tất cả đều quen/ chỉ thêm/ người đàn bà lạ” (2, tr.49).
Khi yêu, người phụ nữ trong Huyễn hoặc ngày em hoàn toàn đặt niềm tin và tình cảm của mình vào đối phương. Nàng tin yêu hết lòng, luôn cố gắng quan tâm, sẵn lòng chăm sóc đối phương, không toan tính nghĩ suy. “Em hỏi anh về tương lai dự tính/… em chỉ hờn “không biết bao giờ anh giác ngộ”” (9, tr.79); “Cơm canh đây em nấu một mình/ ăn một mình khi đã nguội ngắt ngơ” (2, tr.17); “Em không nghĩ tình yêu là trận chiến/ vô tư lắm không hề toan tính”(2, tr.88). Yêu, yêu mãnh liệt, chân thành, đầm thắm nhưng khi bị một vết thương phản bội cứa cắt, thì nàng lìa, lìa xa, chẳng u hoài dù chỉ là cái ngoái nhìn: “Đã đi/ xin anh hãy thật thà với người ta/ đã chọn rồi cứ thẳng lối mà bước/ đừng ngoái nhìn chi nữa”(2, tr.44); “Không còn gì để nói với nhau/ một chữ cũng không/ dẫu dối” (2, tr.66). Dù không làm gì sai, nhưng “anh” đã tước đi cái quyền yêu thương, đẩy nàng vào vai một người tuyên án cho tội lỗi mà “anh” đã gây, bắt buộc nàng phải lựa chọn sự mạnh mẽ của bản thân; “block” bỏ tình yêu mà nàng tưởng chừng như không thể sống thiếu.
Tuy nhiên, nhân vật trữ tình trong Huyễn hoặc ngày em dù đau, dù hận, nhưng tấm lòng vị tha của nàng vẫn ngân vang như một bản hợp xướng tuyệt vời, dẫn dụ người thưởng thức. Với nàng, người thứ ba không hề có lỗi, lỗi là người trong cuộc không đủ tinh tường trước những cám dỗ của tình yêu. Nên khi ngọn lửa tình tàn lụi, người đàn ông không còn hướng về mình nữa, nhưng nàng vẫn “xin anh hãy thật thà với người ta”. Điều đó cho thấy sự trưởng thành trong tình yêu, trong suy nghĩ, một cách hành xử nhân văn, cao thượng. Với nàng, hạnh phúc là yêu chứ không phải hận thù; đời rất dài, chẳng có ai là người chiến thắng mãi mãi, bởi khi ta cố vun vén một tình yêu vào một người dễ dàng thay đổi thì sớm muôn gì cũng phải chuốt lấy sự đổi thay. Và, có thể nói, đây cũng là một đặc điểm thể hiện rõ cá tính của những người phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ và quyết đoán, ngang tàng dù phải đối diện với những nỗi buồn tê tái, sầu tím ruột gan.
Ngay trong cuộc sống, phái nữ cũng có nhiều điểm nhìn riêng biệt mang đậm màu sắc giới. Với họ, cái tôi công dân giữa phái nam – phái nữ cần bình đẳng với nhau. Người phụ nữ hiện đại phải vượt ra khỏi những tình cảm cá nhân, vươn ra ngoài xã hội, có một điểm nhìn độc lập, việc nước việc nhà với họ phải song hành cùng nhau. Và đó, cũng là tâm tình của nhân vật trữ tình trong Huyễn hoặc ngày em. Nàng đã thể hiện góc nhìn của mình về cuộc sống độc lập –  tự do – hạnh phúc của hôm nay với lòng tri ân cha ông, những người đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bằng cách tôi công dân đầy trách nhiệm, nhân vật trữ tình nghe cả “Gió đồng bưng rì rào kể chuyện” (2, tr.60) về những chiến sỹ mượn tán rừng trú ẩn ở gò Trao Trảo, năm 1973, đã hy sinh oan ức bởi kẻ săn chim. Tri ân không chỉ là lời nói, mà phải hành động, phần việc rõ ràng cho thế hệ trẻ: “Thế hệ trẻ ngày nay tiếp bước/ ngày không xa/ chim trao trảo bay về”. Nàng cũng thấy lòng mình phơi phới trước sự thay da đổi thịt của quê hương: “Cầu Bến Đình đẩy những chuyến phà trôi vào quá khứ/… nắng Tây Ninh chói rạng từng trang / những áng mây trên bưng trêu từng khóm lúa/… “Quê anh ấy!” Anh tự hào dang rộng đôi tay/ muốn ôm cả ruộng lúa chín vàng Muốn choàng hết Cẩm Giang”(2, tr.63); “cả xứ rộn ràng mùa trẩy hội/  đá trắng sóng đôi thức dậy vạn linh hồn” (2, tr.64).
Sự giải phóng trong ý thức về bản thân, tình yêu cũng như sự ý thức về cuộc sống là những biểu hiện góp phần thể hiện ý thức phái tính trong Huyễn hoặc ngày em của Trần Nhã My. Vô tình hoặc hữu ý, trong Huyễn hoặc ngày em, Trần Nhã My xây dựng nên thế giới nghệ thuật của mình bằng những biểu tượng mang đặc trưng riêng của phái nữ. Người đọc nhiều lần bắt gặp sự xuất hiện, lặp đi lặp lại của các biểu tượng nước, đất và màn đêm trong Huyễn hoặc ngày em.
Trong thơ ca, biểu tượng đất có rất nhiều biến thể: Cánh đồng, khu vườn với cây trái, hay hình ảnh những con đường… Với Huyễn hoặc ngày em cũng thế, đất với những biến thể riêng qua cách nhìn của Trần Nhã My: “một thiên đường cò bay cánh mỏi/ ghé xuồng đồng chiều thủ thỉ với đàn trâu” (2, tr.25), “Đưa em lên biên giới nữa nhé anh/ qua cửa khẩu cho em nìn quanh/ ngơ ngác anh/ ngơ ngác em miền đất lạ” (2, tr.42); “Anh kể/ cô gái và chàng trai/ dắt tay nhau qua cánh đồng ngập gió/ ở đó/ họ đánh rơi câu chuyện cổ tích trên đám cỏ may” (2, tr.30); “Ngày em đến ti – gôn đã leo tràn bờ dậu/ xõa xuống cỏ xanh rực rỡ khoe màu…” (2, tr.84). Bên cạnh đó, biểu tượng nước trong Huyễn hoặc ngày em cũng có những biến thể: Dòng sông, cơn mưa, biển cả… “Dắt em về với sông Lô/ đêm tỉnh lặng/ nghe rõ từng nhịp thở…” (2, tr.39), “… em không làm sóng nữa đâu!”(2, tr.45); “ngắm hoa trôi giữ dòng Vàm Cỏ lung linh in hình hai đứa” (2, tr.62).
Nổi bật nhất, màn đêm vẫn là biểu tượng xuất hiện với tần số dày đặc trong tập thơ cũng như ở mỗi bài thơ: Anh không về trong giấc mơ em; Anh không về nữa bao giờ; Chất buồn lên mây; Cung đàn hoang; Đêm sông Lô; Em về với biển; Giấc mơ lạ; Phía ấy cũn không anh… Màn đêm chứa đựng tất cả những khả năng tiềm tàng của cuộc đời. Với đặc trưng bí ẩn của màn đêm – đêm thường xuất hiện trong Huyễn hoặc ngày em tượng trưng cho bản tính của nhân vật nữ trữ tình và làm không gian, thời gian cho những khát khao bản năng ở người phụ nữ ấy được bộc lộ một cách vẹn nguyên, kiểu dù đi xa đến mấy, thì bản năng nữ tính vẫn không quên mục đích xuất phát ban đầu như thiên phú! Qua đó, cái tôi trữ tình của nhà thơ có dịp giãi bày, bộc lộ, cật vấn, chất vấn chính mình với muôn vàn câu hỏi trước “Cuộc đời như một sát na” (Người đi tìm huyệt một).
Với nhu cầu giải phóng bản thân, không cho phép bó mình trong những nề nếp của thể thức thơ. Vậy nên, Trần Nhã My đã tìm đến với thể thơ tự do với nhiều biến thể khác nhau để khẳng định cái tôi bản thể không trùng lặp của mình, nhằm “hướng nó về lí tưởng, là cái cầu nối giữa vô thức và hữu thức” (4, tr.136). TrongHuyễn hoặc ngày em của Trần Nhã My, cái tự do ở chất lượng biểu đạt chứ không phải tự do ở hình thức với lượng câu chữ ngắn dài khác nhau, tức là lượng đổi nhưng chất không đổi. Tuy nhiên, cái chất trong từng câu, từng bài thơ giống như sự chuyển động của electron trong nguyên tử vậy. Mỗi electron có một mứcnăng lượng xác định, cũng như từng câu, từng bài thơ trong Huyễn hoặc ngày em mang sự tái sinh cho tâm hồn bởi ngôn từ. Nhưng trước hết, chúng ta thấy cái hình thức tự do quyết định nội dung, đó là việc Trần Nhã My sử dụng thủ pháp ngắt dòng để tạo nên những câu thơ dài ngắn khác nhau: “Đêm sông Lô/ vắng lặng/ chập chờn ánh đèn hiu hắt/ không rõ em/ không rõ anh/ người quen hay khách lạ/ sông ru lòng bản giao hưởng của đêm” (2, tr.39); “Như tên trộm không mỏi/ quyết liệt/ từng đêm/ tim lôi đầu…/ Từng đêm/ tim/ như tên trộm/ lôi ngược đầu về phía biển/ Cứ ngỡ rằng phía ấy/ … có anh” (2, tr.87).
Trần Nhã My đã bỏ giới từ, liên từ, và cả chủ ngữ nhằm làm nên hiệu quả cho những câu thơ được ngắt dòng mang một âm hưởng vang vội. Những dòng thơ đứt đoạn, giống như một nhát cắt của ánh nhìn sắc nhọn, như những mảnh vỡ ngổn ngang của không gian ùa ập vào tâm hồn nhân vật trữ tình. Bài thơ Đừng ngoái nhìn chi nữa đã sử dụng hiệu quả thủ pháp ngắt dòng. “Đã đi/ xin anh hãy thật thà với người ta/ đã chọn rồi/ cứ thẳng lối mà bước/ đừng ngoái nhìn chi nữa”, từng câu thơ cất lên ngắn gọn, dứt khoát, mang trong nó sức nặng của những ý nghĩ gãy đoạn ngổn ngang trôi về ào ạt bởi những mảnh vỡ bị đè nặng trong ý nghĩ của cái tôi trữ tình. Đôi khi, người đọc có cảm giác trong mỗi câu thơ của Trần Nhã My là một chuỗi dài suy nghĩ của cái tôi đầy nhạy cảm: “Em cược tháng Chín ngọn lúa vàng nặng trĩu/ Vàm Cỏ mát xanh trong điệu Lý chiều chiều/ bên mái chèo có áo bà ba màu bông súng tím/ đám vịt chạy đồng qua vạt nắng liêu xiêu…” (2, tr.34). Bằng sự dài ngắn khác nhau trong thơ, khiến ý thức cá tính của Trần Nhã My có “đất sống”, chị được thỏa sức tung bút xúc cảm, tâm tình của mình trong từng vần thơ tròn căng. Vậy nên, đây là yếu tố thuận lợi cho phép chị mang những bộn bề của cuộc sống, kể cả những ngổn ngang trong suy tư, trăn trở với lời cật vấn, chất vấn vào thơ, mà cụ thể là những câu thơ có chứa dấu (…), (?), (!), cả câu cầu khiến, được minh xác và đậm đà hơn.
Để trở thành “gương mặt đong đầy mưa nắng” cho phái tính trong thơ của mình, Trần Nhã My đã sử giọng điệu nhẹ nhàng thủ thỉ, tha thiết tâm tình. Lời thơ như lời tâm sự của người phụ nữ về cuộc đời, về thân phận, là lời nhắn nhủ nhẹ nhàng mà thấm thía, sâu cay. Chính với giọng điệu này, đã góp phần thể hiện cái tôi trữ tình nữ tính và phẩm hạnh của nhân vật trữ tình trong thơ của Trần Nhã My. Huyễn hoặc ngày em, còn mang tới một vẻ đẹp rất dịu hiền, thấp thoáng có cái gì đó như một lời ru, một bài ca dao, như một tứ thơ lục bát: “Lâu lắm rồi em không về với biển/ nghe cồn cào sống dội nhớ vào đêm/ nghe thì thầm biển muốn nói gì thêm…” (2, tr.84). Đôi khi, khi viết về tình yêu tan vỡ, Trần Nhã My dùng giọng điệu tâm tình và xót xa bởi nhân vật trữ tình “em” của mình. “Sợi se buồn luồn từng kí tự/ phơi vào đêm/ lồng lộng vết đau/ chồng chất lên nhau…” (2, tr.21). Cũng có khi, Huyễn hoặc ngày em có những bài thơ mang một chút bâng khuâng buồn, một chút gì nũng nịu, trách móc rất đáng yêu và đầy nữ tính bởi nhân vật trữ tình. Để rồi có những dòng thơ thấm đẫm vào lòng người đọc một cách huyễn hoặc, “nâng con người lên cao hơn tồn tại trực tiếp” (Trần Đình Sử).
Song song đó, người đọc còn bắt gặp trong Huyện hoặc ngày em với giọng điệu sôi nổi, mạnh mẽ. Đứng trước cuộc sống dập dềnh, thông qua nhân vật trữ tình, Trần Nhã My tạo cho mình một điểm nhìn riêng, một thái độ riêng. Qua đó, khẳng định một cái tôi riêng tư, bản lĩnh nhằm chống đỡ, vượt lên những trái ngang nghịch cảnh của cuộc đời. Ví như, đứng trước khu Di tích gò Trao Trảo, nhân vật trữ tình sử dụng giọng rắn rỏi, mạnh mẽ để ca ngợi sự hy sinh của các anh hùng: “Những người lính trẻ/ cùng một ngày giỗ, không biết ngày sinh/ tay anh ở gốc cây tràm/ chân ruộng lúa/ tâm hồn anh vút mãi trời cao…” (2, tr.61). Qua sự rắn rỏi, mạnh mẽ, chân thật, đã toát lên “lý tưởng thẩm mỹ của chủ nghĩa nhân đạo cao cả” (Bùi Công Hùng). Trần Nhã My còn dùng giọng điệu mạnh mẽ, quyết liệt để nói về sự thay lòng đổi dạ của đối phương, cũng những sự cứng cỏi tiềm tàng trong cách hành xử ở mỗi người phụ nữ khi tình yêu gãy đổ: “Khi không còn gì để nói với nhau/ một chữ cũng không/ dẫu dối/ Đành thôi/ người ạ/ mình như kẻ lạ” (2, tr.67).
Tuy nhiên, ý thức phái tính nữ, và những đặc trưng nghệ thuật của nó góp phần tạo nên, ta cũng cần nói đến yếu tố ngôn ngữ, xem như một chất xúc tác, có khả năng xảy ra phản ứng hóa học cao. Trong Huyễn hoặc ngày em, Trần Nhã My đã sử dụng ngôn ngữ dịu dàng đầy thiên tính nữ làm phương tiện bộc cái tôi trữ tình. Tuy nhiên, với những “ung thư tại chỗ những biểu mô yêu thương quá khứ chùng như di căn sắp sửa/ oằn lưng quang gánh lủ khủ những khóc cười xưa cũ” (2, tr.15); “nuốt không trôi hệt như đang dùng cao ngựa”; “lồng lộng vết dau/ chồng chất lên nhau” (2, tr.21)… tạo ra nhiều góc cạnh cho thơ. Từ đó, Huyễn hoặc ngày em, cho thấy nhà thơ cũng đã sử dụng những ngôn ngữ phá cách và táo bạo, tạo nên sức nặng, nghĩa mờ cũng như tính hàm ngôn cho thơ. Với việc dùng ngôn ngữ táo bạo, mạnh mẽ, đây cũng là một cách để Trần Nhã My giải thoát cho cái tôi cá nhân hướng đến cái ta phổ quát, nhằm “nâng tâm sự một con người” (Hữu Thỉnh) với ý thức phái tính của mình.
Từ những đặc trưng nghệ thuật thơ trong Huyễn hoặc ngày em trên một số phương diện: Hệ thống biểu tượng, thể thơ, giọng điệu; cũng như những biểu hiện về ý thức phái tính, ta có thể thấy Trần Nhã My đã “đào sâu hơn về cõi người, cõi đời” (Phong Lê) để hướng đến hệ quy chiếu đẫm đầy giá trị nhân văn, “góp phần cải tạo thế giới bằng thơ” (Huy Cận). Huyễn hoặc ngày em đã góp phần tạo ra một diện mạo mới cho thơ ca nữ đương đại Nam bộ giàu sắc điệu và đa thanh hơn. Và Huyễn hoặc ngày em, với tôi giống như một trái thơm, đầu đội vương miên, với dáng đứng hiên ngang. Dù nó có dáng vẻ bên ngoài gai góc, nhưng ẩn chứa bên trong những dư vị ngọt ngào và đầy huyễn hoặc, ru ca.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Lâm Điền – Trần Văn Minh, Chuyên đề Đổi mới văn học Việt Nam sau 1975, ĐH Cần Thơ.
2. Trần Nhã My, Huyễn hoặc ngày em, Nxb Hội Nhà văn, 2017.
3. Bùi Công Hùng, Sự cách tân của thơ văn Việt Nam hiện đại, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội, 2008.
4. Trần Đình Sử, Lý luận và phê bình văn hoc, Nxb Giáo dục, 2008.
5. https://vanhien.vn/.
4/5/2021
Cao Minh Tèo
Theo https://vanvn.vn/

Thơ La Quốc Tiến - Một cú sốc liệu pháp cần thiết!

Thơ La Quốc Tiến - Một
cú sốc liệu pháp cần thiết!

La Quốc Tiến quê ở Hậu Nghĩa tỉnh Long An, từng là sinh viên Đại học Vạn Hạnh. Năm 1972 mùa hè đỏ lửa, anh bị động viên khóa 4/42 tại Đồng Đế, sau về Mỹ Tho lấy vợ và từ mảnh đất nầy anh chí thú làm ăn, viết văn, làm thơ.
Thử hình dung một ngày của La Quốc Tiến: “Sáng, Tiến chở vợ ra bến xe cổng thị xã bằng chiếc Honda dame cũ mèm. Vợ Tiến là cô giáo, nghỉ dạy học, bỏ bánh kẹo từ Mỹ Tho lên miệt Cai Lậy. Xong, trở về, ghé quán Ba Thượng, chơi với tôi. Ba giờ chiều, chạy ù về nhà nấu cơm, rồi ra bến xe rước vợ. Hai vợ chồng cơm chung hủ hỉ”  (Nhớ La Quốc Tiến – Đoàn Xuân Thu).
Em Út Sáu Phượng nói với con gái: “Bác Hai Tiến xem như là cha của ba đó. Ông mang đôi boots, áo đóng thùng oai phong lắm, nón đội lệch và trong cái túi hộp ngay đùi lúc nào  cũng có một tập thơ!”
La Quốc Tiến từng đoạt Giải nhì Cuộc thi Thơ của Báo Văn Nghệ năm 1991 và Giải nhất Cuộc thi Thơ Đồng bằng sông Cửu Long năm 2000 với chùm thơ (Mùa nước nổi, Trên một góc phố cổ Gò Công, Nợ bút nghiên). Anh viết văn, làm thơ đăng rải rác các báo, tạp chí, nhưng không lưu trữ. Cô em gái của La Quốc Tiến, là La Thị Hương Xuân cho biết: “Từ những bản thảo viết tay và nhiều nguồn sưu tầm khác nhau, tuy gặp khó khăn nhưng chúng tôi biên soạn lại. Một vài câu chữ không chính xác hoàn toàn (vì bút tích bị mờ theo thời gian). Và sau nhiều năm, chúng tôi vui mừng vì có thể tập hợp lại một cách trọn vẹn nhất những gì mà anh trong “cuộc thăng trầm”, tung hoành ngang dọc 55 năm để lại cho người yêu thơ. Dưới ngòi bút bình dị, đời thường, rất miền Tây có đôi phần ngông nghênh. Hãy lắng lòng và cảm nhận chiều sâu về tâm hồn cùng với sự “đời” đã làm nên hồn thơ anh luôn sống mãi trong lòng chúng tôi. Đã 17 năm anh La Quốc Tiến rời cõi tạm (2004 – 2021), chúng tôi sưu tầm và cho ra đời tập thơ nầy – cũng là ước nguyện sinh thời của anh và những hoài niệm của gia đình về anh”.
Trước năm 1975 anh có làm thơ, những dòng thơ tuổi ngọc, thơ mộng: Bây giờ đã cuối năm / Viết dài dòng gửi nhỏ / Xin em làm cơn gió / Thổi đời ta… lạnh tanh . (Bài cuối năm gửi nhỏ).
Anh làm nhiều thể loại thơ 5 chữ, lục bát, thơ văn xuôi nhưng để lại ấn tượng mạnh, sâu sắc nhất là các bài thơ tự do. Ở đây anh bộc lộ được giọng thơ hào sãng, đầy chất nhân sinh, phóng khoáng của dân sông nước miền Tây Nam bộ. Tiêu biểu là bài thơ Lục Vân Tiên thọ nạn giữa rừng, đăng trên Báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) gây dư luận văn chương sôi nổi một thời, nhà văn Nguyễn Đức Thọ từng gọi La Quốc Tiến là Lục Vân Tiên… phà Rạch Miễu.
Có một lão già mù ăn xin ngân nga các đoạn Lục Vân Tiên
trên những chuyến phà ngang Rạch Miễu
Có một gã thanh niên say rượu ghếch chân lên thành lan can đứng tiểu
Có cô con gái móc bóp lấy chiếc gương soi và tô lại mặt mình
Cùng lúc lão già mù bắt đầu ngân nga
“Trước đèn xem truyện Tây Minh…”
Có đứa bé gái mải mê với chiếc chong chóng giấy màu sặc sỡ
Có một bà già thọt chân gánh bó củi dừa ngồi than thở chuyện củi nặng… đường lầy… gạo đắt
Có gã trung niên vận jean ngồi nhóp nhép kẹo cao su
Có những chị bạn hàng thản nhiên bóc vỏ những trái chuối
nhét vào cổ chú gà tơ đến nỗi trợn trừng
Không có ai
cam đoan là không ai hay tin
“Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng”
để tỏ chút âu lo cho con người trung nghĩa
Tôi móc gói thuốc ra
tôi hút
điếu thuốc đen tắt ngóm nửa chừng
mẹ nó! Thuốc dỏm
Phà vẫn chạy
máy vẫn nổ
sóng vẫn vỗ
tôi dựa vào ghế ngủ gà ngủ gật
khi giật mình mở mắt
lại nghe:
“Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng”
Đây là đoạn phim chiếu chậm, lập lại nhiều lần, gây ấn tượng thảng thốt về sự vô cảm của mọi người trước cuộc sống.
Rừng ở đâu mà dày thế nhỉ?
trên chuyến phà tôi đi
dường như cũng có một khóm rừng
mà những cái cây sao mà trơ trọi
những cái cây đã phai mất hơi rừng
Phà vẫn chạy khàn giọng
lão già mù vẫn ngân nga
gã thanh niên say rượu vẫn càm ràm điều gì như là oan ức
cô gái vẫn tiếp tục soi gương
như cố khám phá một điều gì đang lẩn trốn trên khuôn mặt
đứa bé gái đã ngủ
chiếc chong chóng vẫn xoay
bà già thọt chân vẫn ngồi than thở
gã trung niên vẫn làu bàu với kẹo cao su
những con gà tơ vẫn ngủ gà ngủ gật
sau khi nuốt xong bữa tiệc chiêu đãi cuối cùng…
Và lời cảnh tỉnh thật đau đớn:
Không có ai
cam đoan là không ai hay tin
“Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng”
Thơ La Quốc Tiến có tứ lạ, dồn nén vào các câu cuối bài làm người đọc bàng hoàng:
Hú ba hồn
bảy vía Nguyễn Chi ơi!
Hú khan khan như nhấp rượu không mồi!
(Hú khan khan…!)
Người đều bảo: “Hãy để ta tự tay mài mực
Các con múc cho thầy gáo nước
Ta cần rửa và lau mặt
Trước khi soi vào nghiên gương mặt của mình”
Cụ Đồ gọi đó là chút nợ bút nghiên
(Nợ bút nghiên)
Có nhiều câu chuyện văn nghệ lan man về La Quốc Tiến được anh em kể vui bên các cuộc nhậu, bàn cà phê. Anh thường qua Bến Tre lấy kẹo dừa ở các lò về cho vợ bỏ mối, ghé nhà Trang Thế Hy, mải mê bàn chuyện thơ, anh huyên thuyên độc chiếm “diễn đàn”, nhà văn đàn anh bèn đưa tẩu thuốc vố cho anh hút. Một cách cắt ngang thật gọn, nhẹ nhàng. “Hai nhà thơ lính tăng hai bên gặp nhau sau cuộc chiến”  Hữu Thỉnh –  La Quốc Tiến trong một tiệc nhậu ở Bến Tre mới nhìn ra nhau, lúc trước từng đối đầu trên một chiến trường khốc liệt. Có lần điểm sách tập thơ “Truông gió” của tôi trên báo Ấp Bắc, anh chê lục bát của tập thơ quá xoàng. Bẵng đi thời gian 6 tháng, anh nghe bài nhạc Trương Quang Tuyến phổ hai câu lục bát “Tôi về mỏi cánh chuồn chuồn / Vô tình chạm phải mùi hương năm nào”. Anh vội vàng đi xe đò lên Sài Gòn tìm tôi “nhậu một trận đã đời” và xin lỗi vì nhận xét vội vàng. La Quốc Tiến thế đấy, thẳng thắn, trung thực, ngang tàng, hết lòng sống chết với thơ!
Nhà thơ Octavio Paz viết: “Giữa điều tôi nhìn thấy và điều tôi nói ra / Giữa điều tôi nói ra và điều tôi lặng thinh / Giữa điều tôi lặng thinh và điều tôi mơ mộng / Giữa điều tôi mơ mộng và điều tôi quên lãng: / Là thơ”. Điều nầy rơi đúng vào trường hợp thơ La Quốc Tiến, anh có nhiều bài chạm đúng mạch đời sống làm cho người đọc rúng động:
Tôi về Gò Công
Ngày vừa xiêu xiêu khu phố cổ
Chiều đã mốc meo mái ngói âm dương
Dây leo nở hoa ngó xuống
sân đình
Tôi soi bóng thấy mặt mình oan khuất
Chợt nghi ngờ cả hồ nước trong xanh
Có phải tôi mang niềm lưu tán
ngậm mồm con hổ đá
vẫn phục trước đền chờ ngoạm phiến trăng non.
(Gò Công và tôi)
Và bài thơ tặng riêng cho con gái La Thảo Nguyên thật cảm động:
Khi con ra đời,
Dù nhà chật chội
Ba vẫn căng thêm một sợi dây,
Phơi riêng cho con những áo, khăn, tã lót
Ba gọi đó là: Dây phơi hạnh phúc
Vì hạnh phúc thường mau cũ lắm con ơi!
Ba căng sợi dây
Như thảo thông điệp đến mọi người
Rằng có thêm một sự sống đang căng ra mà sống
Ba không hiểu lúc ba mẹ ra đời
Ông bà có căng cho sợi dây hạnh phúc
Và sợi dây mong manh kia
Vẫn còn hay đã đứt
Nhưng sự sống luôn tiếp nối
Nên bây giờ…
Ba một đầu – mẹ một đầu
Căng lại sợi dây hạnh phúc cho con.
(Sợi dây hạnh phúc)
Thật bất ngờ khi anh khái quát: “Làm thơ chân chính giống như biết đặt cái lu sâu trong lòng đất / Biết âm cái lòng mình sâu trong nỗi đau khổ của nhân dân” (Làm thơ và hứng nước).
Bạn sống như thế này, được bảo bọc, trong một thế giới mong manh, và bạn tưởng rằng bạn đang sống… Và rồi bạn phát hiện ra rằng bạn không thật sự đang sống, bạn chỉ đang ngủ đông…Đơn điệu, buồn chán, chết chóc. Hàng triệu triệu người sống như thế (hoặc chết như thế) mà không hề hay biết. Họ làm việc trong các văn phòng. Họ lái xe hơi. Họ đi dã ngoại với gia đình. Họ nuôi dạy con cái. Rồi một liệu pháp sốc xảy ra, một con người, một quyển sách, một bài hát, và nó thức tỉnh họ và cứu họ khỏi sự chết. (Anaïs Nin, The Diary of Anaïs Nin).
La Quốc Tiến, mất ở tuổi 55, vì bệnh ung thư gan, lúc sức sáng tạo đang độ sung sức. Đọc lại tập di cảo thơ của La Quốc Tiến, đúng là một cú sốc liệu pháp cần thiết, giúp mọi người nhận ra mình và yêu thương cuộc sống hơn bất cứ lúc nào khác.
4/5/2021
Trần Hữu Dũng
Theo https://vanvn.vn/

Đi tìm miền xanh thẳm

Đi tìm miền xanh thẳm

Tọa đàm tưởng nhớ nhà văn Trần Hoài Dương (1943-2011) sẽ diễn ra sáng 6.5.2021 tại trụ sở Hội Nhà văn TPHCM ở tầng 4 số 81 Trần Quốc Thảo, Q.3, TPHCM. Từ Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã gửi vào tham luận Đi tìm miền xanh thẳm viết về nhà văn đàn anh quá cố Trần Hoài Dương. Chúc tọa đàm thành công và xin trân trọng giới thiệu bài viết cùng bạn đọc…
“Tuổi ấu thơ đã xa rồi, không bao giờ tôi còn được hưởng lại những ngày thần tiên ấy nữa. Những ngày ấy cứ xa vời, xanh thẳm, hun hút bay về phương trời phía sau, tôi cố ngoái lại, cố nằm bắt mà không sao níu giữ được’’.
Đấy là những lời tự sự của nhà văn Trần Hoài Dương. Đó là sự tiếc nuối. Trong sự tiếc nuối đó lại tràn ngập vẻ đẹp diệu kỳ của ấu thơ. Nhưng ngay lúc đó, trước mắt tôi hiện lên một con đường, một con đường kỳ lạ. Và trên con đường ấy, tôi thấy nhà văn Trần Hoài Dương trở về với tuổi ấu thơ của mình. Sau mỗi bước chân trên con đường đó, ông già Trần Hoài Dương mỗi lúc một trẻ lại và biến thành cậu bé Trần Hoài Dương. Cậu trở về ‘’Miền xanh thẳm’’ của cậu. Cậu đã run lên vì hạnh phúc. Tôi tin là như vậy. Bởi lúc này, lòng tôi cũng đang ngân vang về một miền của tôi mà Miền Xanh Thẳm của nhà văn Trần Hoài Dương chính là đã nguồn cảm hứng dẫn tôi trở về nơi chốn của chính mình.
Sau khi đọc xong “Miền xanh thẳm” lần thứ hai (lần thứ nhất tôi đọc cách đây gần 20 năm), tôi càng nhìn rõ hơn cái MIỀN ấy của nhà văn Trần Hoài Dương. Nó nằm ở đâu? Nó nằm trong tấm bản đồ tâm hồn ông. Tác phẩm “Miền xanh thẳm” ra đời hơn 20 năm trước. Và trong hơn 20 năm qua, biết bao thay đổi mà tôi cũng không tưởng tượng được đã diễn ra trong đời sống con người trên xứ sở này. Có rất nhiều điều của 20 năm trước đã biến mất khỏi đời sống con người. Và bây giờ, cho dù nó xuất hiện trở lại nó cũng đầy nguy cơ trở thành một thứ xa lạ và vô cảm với con người đương thời. Nhưng một điều kỳ lạ xuất hiện, đó là khi cái MIỀN của nhà văn Trần Hoài Dương hiện ra, ngay lập tức nó trở thành giấc mơ da diết và ngập tràn xúc động đối với tôi và tôi tin đối với rất nhiều người đang sống. Bởi trong cái MIỀN ấy chứa đựng nhân tính, tình yêu thương, lòng biết ơn, những vẻ đẹp thiên nhiên kỳ lạ và giấc mơ làm người. Mà những vẻ đẹp ấy quả thực đang từng ngày rời bỏ đời sống mà quá nhiều người không nhận ra. Họ chỉ nhận ra sự trống rỗng đang chiếm đoạt từng phần tâm hồn họ. Và họ sống trong một câu hỏi : sao đời sống vật chất mỗi ngày một đầy đủ mà họ vẫn không có khả năng chạm vào hạnh phúc. Câu trả lời thật đơn giản: là họ không tìm được cái MIỀN của họ.
Toàn bộ “Miền xanh thẳm” là những năm tháng ấu thơ mà nhà văn Trần Hoài Dương đã sống. Nhân vật Thiện chính là cậu bé Trần Hoài Dương thuở ấu thơ. Cho dù không hoàn toàn chính xác như vậy thì cậu bé mang tên Thiện là nơi chứa đựng toàn bộ ký ức của Trần Hoài Dương. Ông kể lại những năm tháng ấu thơ của mình. Mà hơn cả sự kể là ông thực sự sống lại một lần nữa phần đời sống quan trọng nhất cuộc đời mà ông đã sống và đã đi qua. Tất cả những gì ông viết không có một chút gì được cường điệu hóa. Tất cả hiện lên nguyên khối đời sống tươi ròng của những năm tháng ông đã sống. Văn chương của ông chân thực, da diết mà bình thản giống một người ngồi xuống và kể lại những gì đã và đang chảy trong huyết quản của ông. Sự chân thực ấy được dâng lên từ một tâm hồn thánh thiện và đầy rung vang. Bởi thế, mọi điều bình thường nhà văn Trần Hoài Dương đặt bút viết đều được thiêng liêng hóa. Bởi thế mà “Miền xanh thẳm” của ông được dựng lên và không có một cái tên nào khác đúng với bản chất của câu chuyện này hơn nó. Tôi là kẻ sinh sau ông nhưng cũng may mắn được sống một phần những năm tháng mà nhà văn Trần Hoài Dương sống. Bởi thế, khi đọc tác phẩm này, tôi đã được chính nhà văn dẫn tôi trở về ấu thơ của mình bằng một con đường kỳ lạ. Tôi đã tìm thấy cậu bé mang tên Thiều ở đó với toàn bộ những năm tháng cậu bé ấy sống.
Khi một trái tim của tình yêu thương và đầy giấc mơ đẹp đẽ rung lên, nó sẽ làm cho tất cả mọi cảnh vật, mọi con người, mọi câu chuyện quanh đó cũng ngân lên kỳ diệu. Trái tim của nhà văn Trần Hoài Dương là vậy. Ông đã làm cho đời sống những năm tháng ấy của đất nước đầy khó khăn, gian khổ ngân vang. Những năm tháng ấu thơ của nhà văn Trần Hoài Dương là những năm tháng vô cùng khó khăn của đất nước. Những đứa trẻ sống trong một điều kiện sống vô cùng thiếu thốn, chúng phải xa nhà, phải lao động vất vả, phải sống trong đói rét. Nhưng giấc mơ của chúng thật lộng lẫy. Và đấy là con đường mà mỗi con người phải tìm thấy để đời sống của kiếp người  có ý nghĩa. Những giấc mơ của cậu bé Thiện và những cô cậu bé thuở ấy làm cho không ít những cô cậu ngày nay và cả những người lớn đương thời cảm thấy xấu hổ. Họ đã sống trong những điều kiện sống mà cậu bé Thiện thuở trước có trí tưởng tượng đến đâu cũng không hình dung được. Nhưng họ chẳng làm sao tìm được một giấc mơ đẹp đẽ, họ chẳng tìm thấy được một ‘’miền xanh thẳm’’ của họ.
Một điều vô cùng đặc biệt là, nhà văn Trần Hoài Dương thường xử dụng những đoạn văn của những nhà văn lớn để nói về khát vọng và lý tưởng sống của những đứa trẻ.
– Vào đời, vào đời để hiến cho đời tất cả những gì tốt đẹp và nhân đạo của tâm hồn, trí óc ta
– Dòng suối đổ vào sông. Con sông đổ ra dải trường giang Vonga. Con sông Vonga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc…
– Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh. Lúc đó thép trở nên cứng rắn và không hề biết sợ
Những năm tháng đó, sách thực sự là niềm cảm hứng vô tận cho hành động sống của con người. Những cuốn sách ông nhắc tới trong câu chuyện là những cuốn sách mà thế hệ ông hay thế hệ tôi sau này đều đọc và đều đắm mê. Những cuốn sách thực sự thay đổi con người. Những nhân vật từ trong các cuốn sách bước ra và hòa vào đời sống tinh thần của cậu bé Trần Hoài Dương, cậu bé Nguyễn Quang Thiều và bao cậu bé khác trên xứ sở này. Điều này, cho dù nhà văn Trần Hoài Dương viết cách đây hơn 20 năm nhưng lại đang là một nhu cầu lớn để tạo dựng con người hôm nay. Chúng ta đang bắt đầu phục dựng văn hóa đọc cho cộng đồng. Quá nhiều những đứa trẻ thời nay đã rời xa những cuốn sách như thế. Chúng đang rời xa những vẻ đẹp trong sáng và lớn lao. Chúng sẽ tìm ra con đường của cuộc đời chúng như thế nào. Nhà văn Trần Hoài Dương không có ý định dự báo. Nhưng khi ông đã nhìn thấu bản chất của đời sống và văn hóa thì những gì ông viết ra sẽ trở thành chân lý.
Trong “Miền xanh thẳm”, có bốn yếu tố quan trọng nhất làm nên nhân tính được theo đuổi trong toàn bộ tác phẩm. Đó là gia đình với người sống, người mất, là xã hội, là thiên nhiên và là văn hóa (thông qua những cuốn sách và những câu chuyện hành xử của con người). Những yếu tố quan trọng nhất ấy đã làm cho những đứa trẻ lớn lên trở thành người tử tế. Những đoạn văn ông viết về những người thân yêu đặc biệt là người mẹ đã mất đẹp và xúc động đến nhường nào. Người mẹ luôn hiện lên trong mọi vui buồn của ông. Người mẹ hiện lên nhân hậu, yêu thương và lặng lẽ chỉ qua những câu văn giản dị đến nhói lòng. Ông nói về người mẹ đã khuất của mình nhưng lại làm cho tôi và chắc chắn nhiều người khác nhớ về mẹ mình da diết.
Nhà văn Trần Hoài Dương rất giỏi khi tạo dựng nhân vật. Khi viết về ông Thơ, một nạn nhân của cải cách ruộng đất, ông chỉ dùng một chi tiết nhỏ nhưng lại dựng lên một bi kích lớn của lịch sử :  ‘’ Tôi cứ quanh quẩn hết đứng lại ngồi bên cạnh mộ mẹ tôi suốt từ trưa tới gần tối mới dám lẻn đến thăm ông vì sợ người làng trông thấy. Có người ở xa đến, làng xóm biết sẽ phiền cho ông bà. Vừa trông thấy tôi, ông ôm chầm ngay lấy rồi cứ thế lặng lẽ khóc không ra tiếng. Ông thì thảo hỏi tôi: ‘’Cháu đến đây có ai thấy không ?’’, tôi nói không, ông vẫn chưa yên tâm, lom khom bước ra ngoài sợ hãi nhìn bao quát khắp lượt’’. Cả một quá khứ kinh hoàng đè nặng lên một thân phận như ông Thơ. Một nỗi sợ hãi bủa vây cuộc đời một con người như không còn lối thoát nào cho con người ấy. Nỗi kinh hoàng càng ghê gớm thì sự ám ảnh của nó càng kéo dài có khi hết cả đời một con người.
Hơn 20 năm kể từ ngày “Miền xanh thẳm” ra đời. Đời sống đã hoàn toàn thay đổi. Chẳng còn mấy những đứa trẻ phải sống trong đói rét như cậu bé Thiện. Nhưng vẻ đẹp của đời sống thì không bao giờ thay đổi. Ước mơ làm một người tử tế để dâng hiến cho con người, cho dân tộc không bao giờ thanh đổi. Con đường đi tới hạnh phúc thực sự cũng không không thay đổi. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn trong Miền Xanh Thẳm. Và đấy chính là điều tôi xin được nói lời biết ơn nhà văn Trần Hoài Dương, người đã dựng lên một MIỀN cho rất nhiều người đang sống. “Miền xanh thẳm” của Trần Hoài Dương chính là biển chỉ dẫn cho con người đi tìm Miền Xanh Thẳm của chính mình.
Hà Đông, 3/5/2021
Nguyễn Quang Thiều
Theo https://vanvn.vn/

Gợi mở một triết học Phồn Sinh

Gợi mở một triết học Phồn Sinh Trường ca Phồn Sinh của nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu được nhà xuất bản Hội nhà văn in năm 2018, đến nay đã có ...