VĂN THƠ NHẠC
Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Những con chữ đối
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Triết lý nhân sinh trong tập thơ "Nghe mùa thay lá" của Hoàng Thân
Triết lý nhân sinh trong tập thơ
"Nghe mùa thay lá" của Hoàng
Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà
văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân
(Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch,
đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết
quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người
trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Tập thơ để lại ấn tượng trong lòng người đọc bởi triết lý
nhân sinh mang dấu ấn của triết học phương Đông, đặc biệt là Phật giáo và Lão
giáo. Triết lý ấy được thể hiện rõ trong các bài thơ như “Bể dâu”, “Có đủ cho
nhau”, “Chở nặng thời gian”, “Nghe mùa thay lá”, “Nhân sinh”... Đọc những bài
thơ này, ta thấy thời gian trong thơ Hoàng Thân đã trở thành một thời gian ý niệm,
nơi con người đối diện với sự hữu hạn của đời sống. Điều này đã cho thấy sự nhạy
cảm của Hoàng Thân đối với thời gian. “Lá về/ theo gió cuốn đi/ Cành còn ở lại/
nuối gì chuyển xoay/ Thời gian khắc tự an bày/ Dòng đời luôn chảy, chẳng ngoài
riêng ai” (Bể dâu). Hình ảnh ẩn dụ “Lá về” và “Cành còn ở lại” không dừng lại ở
cảm xúc tiếc nuối mà mở ra một chiều sâu triết lý, đó là sự biến dịch là quy luật
tất yếu của thời gian. “Bể dâu” không chỉ là biến động của đời sống, mà còn là
sự vận động nội tại của tâm thức con người khi đối diện với vô thường. “Vai gầy
chải tóc ra hong/ Nghe mùa thay lá bên lòng còn xanh/ Nghe con sóng vỗ đầu
gành/ Chợt thương màu nước quẩn quanh bến chiều” (Nghe mùa thay lá). Ở đó,
con người vừa lắng nghe nhịp chuyển của thiên nhiên, vừa đối diện với chính
mình, nhận ra sự mong manh của kiếp sống và tính hữu hạn của mọi giá trị từng
tưởng là bền vững. Đời người, suy cho cùng, chỉ là một hành trình đi qua những
biến thiên không thể cưỡng lại, nơi mọi đối cực như được - mất, có - không, vui
- buồn đều quy tụ trong quy luật vô thường của “bể dâu”. Chính từ điểm nhìn ấy,
cái tôi trữ tình của Hoàng Thân hướng đến một thái độ tự tại, chấp nhận và
chiêm nghiệm số phận như một tất yếu của nhân sinh. “Nắng mưa mấy độ đã từng/
Không không có có cũng chừng ấy thôi/ Tôi về nhặt lấy đời tôi/ Tự nhiên như đã,
mặc trôi phận người” (Nhân sinh). Hoàng Thân thấu hiểu rằng con người dù khóc
hay cười, thành hay bại rốt cuộc vẫn không thoát khỏi quy luật bể dâu. Tuy
nhiên, điều đáng chú ý là thơ Hoàng Thân không dẫn người đọc đến bi quan hay yếm
thế, mà gợi ra một thái độ sống tỉnh táo, một cách nhìn điềm tĩnh trước những
nghịch lý của đời sống. Bởi thế, khi đọc “Nghe mùa thay lá”, người đọc không chỉ
cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, mà còn thấy mình đang đứng trước một hành
trình nhận thức. Đó là hành trình con người quay về lắng nghe những chuyển động
âm thầm của tâm hồn, đối diện với ký ức, với thời gian và những giá trị đã từng
nâng đỡ đời sống tinh thần mình.
Từ chiều sâu ấy, thơ Hoàng Thân mở ra một không gian cảm xúc
nơi những rung động cá nhân hòa vào những trải nghiệm phổ quát của con người, đặc
biệt là miền ký ức gia đình, nơi neo giữ những yêu thương bền bỉ nhất của đời
người. Những bài thơ như “Con về quê mẹ”, “Con thèm tiếng mẹ ru nôi”, “Nhớ
cha”… không chỉ là ký ức riêng của nhà thơ, mà còn chạm đến miền ký ức chung của
nhiều thế hệ độc giả. Đó là những ký ức về tuổi thơ, về tình mẫu tử, phụ tử và
quê hương, những giá trị tinh thần bền bỉ trước dòng chảy thời gian: “Con về
quê mẹ chiều nay/ Để nghe hơi ấm vòng tay mẹ gầy/ Tuổi thơ ùa chảy về đây/ Nghe
thương, nghe nhớ trải đầy lối xưa” (Con về quê mẹ). Ở những câu thơ này, chất
liệu đời sống được chuyển hóa thành cảm xúc nghệ thuật một cách tự nhiên. Hình ảnh
thơ bình dị, giọng điệu chân mộc nhưng ẩn chứa trong đó là những tầng nghĩa sâu
xa về tình thân, về cội nguồn, nơi con người tìm thấy bản thể của mình giữa thế
giới nhiều biến động.
Đọc tập thơ “Nghe mùa thay lá” ta còn cảm nhận được một
phương diện khác của triết lý nhân sinh. Đó là tình yêu tuổi học trò trong trẻo,
mộng mơ. Ở đó, tình yêu đã trở thành dấu ấn đầu tiên giúp con người ý thức về
thời gian, về sự chia xa và về giá trị của những điều không thể nắm giữ. Trong
bài “Hạ nhớ”, ký ức về sân trường, tiếng ve, hoa phượng hiện lên như một miền
ký ức vừa dịu dàng vừa day dứt: “Niềm mơ nhuộm đỏ bên thềm/ Phượng thêm mấy hạ
càng thêm ngọc ngà/ Sân trường ve vẫn thiết tha/ Dõi người xưa cũ phương xa trở
về” (Hạ nhớ). Trong cảm thức của Hoàng Thân, tình yêu ấy không chỉ là ký ức khó
phai, mà còn là một món nợ ân tình: “Tình còn/ nợ một vòng tay/ Bến khao khát
nhớ/ sóng lay vỗ bờ” (Nợ một vòng tay).
Có thể nói, “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân là một tập thơ
mang đậm dấu ấn tư duy triết lý nhân sinh nhưng không khô cứng. “Thơ Hoàng Thân
luôn có những liên tưởng bất ngờ tạo nên những hình ảnh thơ lạ, găm được vào
tâm hồn người đọc” (PGS.TS Trần Hoài Anh).
16/2/2026
Phạm Văn Hoanh
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không
phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở
đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc "bừng nắng". Nấm mộ của bà lão
vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng
của lòng tốt.
Hoa vàng
(Trần Văn Lợi)
Bà lão ăn mày không rõ tuổi tên, quê quán ở đâu?
Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói
Đôi mắt u buồn và dáng đi mệt mỏi
Hành khất niềm vui
Đến một hôm sức lực không còn nữa
Bà co ro nằm lại bên đường
Trông thấy đầu tiên là những người đàn ông lực điền
Khi đang đào mương trong buổi sáng mùa đông rét mướt
Họ vội cởi tấm áo mưa đang mặc
Khoác cho bà cụ già
Rồi đào vuông ruộng nhỏ
Dâng bà cho cánh đồng
Đặt lên mộ nắm cơm (khẩu phần ăn giữa buổi)
Và khấn
Dù chẳng kịp mua hương và hoa…
Những thợ cấy đi qua
Ngày lại ngày
Nhặt nắm đất đắp dần lên thành nấm
Mồng một ngày rằm
Dâng cho bà nải chuối, thẻ hương…
Những đứa trẻ chăn trâu quen nhặt cỏ gà dọc bờ mương
Chúng rủ nhau dứt dây hoa cúc dại
Đem phủ đầy trên mộ
Rồi dây hoa bén rễ
Thành tấm chăn rực rỡ hoa vàng
Trên cánh đồng lúa bắt đầu xanh…
Và từ đó, mỗi độ đông sang
Hoa cúc lại bừng nắng vàng trên mộ…
(Rút từ tập thơ “Bàn tay châu thổ”, NXB Hội Nhà văn, 2010)
Lời bình: “Hoa vàng” (Trần Văn Lợi) - Nấm mộ nở hoa từ lòng
trắc ẩn
Thơ ca, xét đến cùng, là tiếng vọng của đời sống, là nơi neo
đậu của những phận người. Có những bài thơ đọc lên thấy choáng ngợp bởi ngôn từ
lạ lẫm, nhưng cũng có những bài thơ đi thẳng vào tim ta bằng sự giản dị đến nao
lòng. "Hoa vàng" của Trần Văn Lợi là một bài thơ như thế. Một
câu chuyện buồn nhưng kết thúc lại đẹp như một cổ tích giữa đời thường, một bài
ca ấm áp về tình người.
Bài thơ mở ra bằng hình ảnh một bà lão ăn mày. Cái hay của Trần
Văn Lợi là không tô vẽ sự bi ai bằng những từ ngữ đao to búa lớn, mà bằng sự
"vô danh" đến xót xa:
"Bà lão ăn mày không rõ tuổi tên, quê quán ở đâu?
Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói"
Cả cuộc đời bà gói gọn trong sự không rõ ràng: không tên,
không tuổi, không quê. Bà là hiện thân của những gì mong manh, trôi nổi nhất.
Nhưng câu thơ thứ hai mới thật sự ám ảnh: "Đựng lòng hảo tâm của thế
gian trong bị cói". Cái bị cói ấy không chỉ đựng cơm thừa, canh cặn, mà đựng
cả chút tình thương rơi vãi của người đời. Cách nói ấy vừa hiện thực, vừa nâng
niu, cho thấy cái nhìn đầy trân trọng của nhà thơ.
Và rồi, sự ra đi của bà cũng lặng lẽ như cách bà tồn tại:"Đến
một hôm sức lực không còn nữa/ Bà co ro nằm lại bên đường." Chữ "co
ro" gợi cái lạnh của thể xác và cả cái lạnh của sự cô độc. Nỗi buồn
dường như đã chạm đáy.
Nếu khổ thơ đầu là gam màu xám lạnh của cái chết và sự cô
đơn, thì từ khổ thứ hai, hơi ấm bắt đầu lan tỏa. Không phải hơi ấm của mặt trời,
mà là hơi ấm từ những bàn tay lao động thô ráp. Đầu tiên là những người đàn ông
lực điền:
"Họ vội cởi tấm áo mưa đang mặc
Khoác cho bà cụ già
Rồi đào vuông ruộng nhỏ
Dâng bà cho cánh đồng"
Hãy chú ý đến chữ "vội". Cái vội vàng ấy không
phải là sự cẩu thả, mà là sự thôi thúc của lòng trắc ẩn. Họ sợ bà lạnh. Hành động
nhường áo mưa, nhường nắm cơm, đào huyệt mộ ngay trên cánh đồng họ đang làm việc
là những hành xử đầy tính "người". Câu thơ "Dâng bà cho
cánh đồng" nghe sao mà thiêng liêng. Bà trở về với đất mẹ, được đất
đai và những người nông dân bao bọc. Dù "chẳng kịp mua hương và
hoa", nhưng tấm lòng của họ còn thơm thảo hơn mọi lễ nghi.
Tiếp đến là những người thợ cấy, những người phụ nữ tần tảo: "Nhặt
nắm đất đắp dần lên thành nấm/Mồng một ngày rằm/ Dâng cho bà nải chuối, thẻ
hương…" Nếu những người đàn ông lo việc an táng, thì những người phụ
nữ lo việc hương khói, vun đắp. Nấm mộ vô danh ven đường không bị bỏ hoang, mà
ngày càng cao lên nhờ những "nắm đất" của người qua đường.
Sự quan tâm ấy bền bỉ, "ngày lại ngày", biến người dưng thành
người thân.
Đỉnh điểm của bài thơ, và cũng là nơi nhan đề "Hoa
vàng" tỏa sáng, nằm ở khổ thơ viết về những đứa trẻ:
"Những đứa trẻ chăn trâu quen nhặt cỏ gà dọc bờ mương
Chúng rủ nhau dứt dây hoa cúc dại
Đem phủ đầy trên mộ"
Trẻ thơ với tâm hồn trong trẻo đã làm một việc mà người lớn
có khi không nghĩ tới: làm đẹp cho nấm mộ. Chúng không có hương hoa đắt tiền,
chúng chỉ có hoa cúc dại, loài hoa của đồng nội, bền bỉ và kiên cường. Hình ảnh "tấm
chăn rực rỡ hoa vàng" là một sự chuyển đổi cảm giác tuyệt vời. Từ chiếc
áo mưa của những người đàn ông, đến những nắm đất của người thợ cấy, và giờ đây
là tấm chăn hoa của lũ trẻ. Bà lão ăn mày, người từng "co ro" vì
rét mướt, nay đã được ủ ấm vĩnh viễn trong màu vàng rực rỡ của hoa và tình người.
"Và từ đó, mỗi độ đông sang
Hoa cúc lại bừng nắng vàng trên mộ…"
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh.
Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc "bừng
nắng". Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa
cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Đọc "Hoa vàng" của Trần Văn Lợi, tôi không chỉ thấy
một câu chuyện thương tâm, mà thấy lấp lánh vẻ đẹp của văn hóa làng quê Việt
Nam. Ở đó, người với người sống bằng cái tình, cái nghĩa. Cái chết của bà lão
ăn mày không rơi vào hư không, mà trở thành cái cớ để lòng tốt được đánh thức
và kết nối. Bài thơ, tiếng lòng riêng của Trần Văn Lợi, trở thành lời nhắn nhủ
với bao người: Lòng hảo tâm có thể biến nấm mồ lạnh lẽo thành một vườn hoa rực
rỡ, và tình người chính là ngọn lửa sưởi ấm thế gian.
16/2/2026
Nguyễn Văn Luyện
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử,
đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc
Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm.
Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ
được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất
bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách
tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến
với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Cả hai có mặt trong nhóm “Bàn thành tứ hữu” (bốn người bạn ở
thành Đồ Bàn, Bình Định) gồm: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan và Quách Tấn.
Vì yêu quý tình bạn, tình thơ của nhóm này, có người đã dùng tên của bộ tứ linh
“long, lân, quy, phụng” để đặt cho từng người trong nhóm: Hàn Mặc Tử là rồng
(long), Chế Lan Viên là phụng, Yến Lan là lân và Quách Tấn là rùa (quy). Tên tứ
linh chỉ là “đặt chơi” nhưng đã thể hiện đúng về con người và văn nghiệp của mỗi
người, trong đó, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên là rồng, phụng. Và rồi, cả hai đều
có mặt trong Trường thơ Loạn, một hiện tượng độc đáo của phong trào Thơ Mới. Ở
đây, “Loạn” chính là tìm kiếm cái mới lạ, kỳ dị, siêu thực. Theo nhà thơ Quách
Tấn: “Trường thơ Loạn ra đời năm 1938, lúc bấy giờ Chế Lan Viên đã xuất bản tập
“Điêu tàn”, Hàn Mặc Tử đã hoàn chỉnh tập “Thơ điên”, Yến Lan đã hoàn thành tập
“Giếng loạn”. Nhân đó ba bạn Hàn - Chế - Yến mới cao hứng dựng nên Trường thơ
Loạn. Bài tựa tập “Điêu tàn” và bài tựa tập “Thơ điên” thay thế lời tuyên ngôn
lúc Trường thơ mở cửa” (Quách Tấn, Bóng ngày qua, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí
Minh, 2001, tr. 5). Qua hai bài tựa “tuyên ngôn” về xu hướng, tính chất của Trường
thơ Loạn này, cho thấy cách nghĩ tương đồng của Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử
trong việc làm thơ, trong cùng “trường thơ”. Khi viết lời tựa cho tập thơ “Điêu
tàn”, Chế Lan Viên nghĩ ngay đến Hàn Mặc Tử, người bạn chủ trương “thơ điên”:
“Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: làm thơ là sự phi thường. Thi
sĩ không phải là Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là
Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xối trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm
Tương Lai”. Cùng mối hoà điệu với Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử khi viết tựa tập thơ
“Đau thương (Thơ điên)” đã tỏ nỗi bàng hoàng, “mê sảng” khi được sống tận
cùng nhờ thơ, vì thơ: “Tôi làm thơ? Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng
tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác
của Tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống”, “vườn thơ tôi rộng
rinh, không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh”.
Hàn Mặc Tử là đàn anh của Chế Lan Viên (hơn Chế Lan Viên 8 tuổi),
“vốn Hàn coi Chế như em ruột và quý như bạn thân” (Quách Tấn). Khi tập thơ “Điêu
tàn” xuất hiện, Hàn Mặc Tử đã nhiệt thành chào đón và khen ngợi hết mực. Hàn Mặc
Tử đã làm bài thơ “Thi sĩ Chàm” tặng Chế Bồng Hoan (tên Hàn Mặc Tử đặt cho Chế
Lan Viên), lột tả cái hay lạ lùng của “Điêu tàn”: “Người lắng nghe, lắng nghe
trong đáy giếng/ Tiếng vàng rơi chìm lỉm xuống hư vô/ Tiếng ngọc địch nhớ nhung
còn uyển chuyển/ Bên cầu sương lưu đọng ánh trăng mơ/ Người thổn thức tiếc buồn
bao cảnh sắc”. Hàn Mặc Tử còn viết bài “Chế Lan Viên - một thi sĩ “điên” (Tựa tập
thơ “Điêu tàn” của Chế Lan Viên)” đăng trên báo “Công luận”, số 7800, ra ngày
9/9/1938 với nhiều dòng phấn khích trước tài thơ độc đáo của Chế Lan Viên: “Chế
Lan Viên quả là một tướng giặc đã can đảm xách giáo, mang gươm, xông vào trận mạc
để chém lão tướng “Đường”, quét “thất luật”, đánh “kháng vận”, dẹp “tám câu”,
chặt “năm vần”. Chế Lan Viên quả là một dũng sĩ, dám xông pha giữa cung cấm, gào
thét trong khi các “lá ngọc cành vàng” yên lặng ngủ… ”, “sau khi đọc xong quyển
“Điêu tàn” của anh thì bao nhiêu cái buồn, cái chán, cái rùng rợn, cái hãi hùng
đã làm cho tôi khóc, tôi cười, tôi vui, tôi khổ!”. Hàn Mặc Tử qua bài thơ “Trường
thọ” còn vẽ nên hình ảnh Chế Lan Viên quỳ nguyện Thần Thơ, tức là Khúc Tinh chiếu
mạng cho người thơ có được nguồn thơ sáng láng, chan chứa ly tao và sống mãi,
trường thọ (theo Tử vi Đẩu số, Khúc Tinh là hai sao Văn Khúc, Vũ Khúc chiếu mạng
ai thì người đó văn hay chữ tốt): “Chế Lan Viên quỳ dâng tràng chuỗi hột/ Cầu
Khúc Tinh hằng chiếu mạng người thơ/ Nên đường trăng sáng láng tự bao giờ/ Lạy
chín phẩm thiên thần xin chứng giám!”.
Với tập thơ đầu tay “Điêu tàn”, Chế Lan Viên có được tiếng
tăm và vị trí trang trọng trên chiếu thơ của làng Thơ mới, như Hoài Thanh -
Hoài Chân đã khẳng định: “Quyển “Điêu tàn” đã đột ngột xuất hiện giữa làng thơ
Việt Nam như một niềm kinh dị”, “Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ
hai mươi, nó đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật”
(Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, tr. 221,
225). Khác với Chế Lan Viên, đường thơ Hàn Mặc Tử gặp ít nhiều “sóng gió”. Thơ
Hàn Mặc Tử mới lạ mà cái mới ban đầu đâu dễ vào được với số đông? Hoài Thanh -
Hoài Chân cho biết: “Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm”. Đến
như Xuân Diệu, một chủ tướng của Thơ mới đã không hiểu được Hàn Mặc Tử lại còn
“bóng gió” chê thơ Hàn Mặc Tử: “Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những
nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa
nhảy, miệng vừa kêu: Tôi điên đây! Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người
ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng
sống”. Nhưng thơ hay thì không thiếu tri kỷ, nhất là tri kỷ ở “cấp độ” Bá Nha -
Tử Kỳ. “Đương thời không ai yêu Hàn Mặc Tử hơn Chế Lan Viên” (Ngô Văn Phú).
Trong hồi ức thẳm sâu của mình, Quách Tấn nhớ đến lúc Chế Lan Viên nằm gối đầu
lên vế Quách Tấn mà ngâm thơ Hàn Mặc Tử. Giọng ngâm của Chế Lan Viên rất hay,
trong và cao, khi ngâm thường nhấn vào những chữ tuyệt bút trong bài thơ làm
tăng sức truyền cảm. Chế Lan Viên thích ngâm nhất là bài “Một nửa trăng” của
Hàn Mặc Tử: “Hôm nay có một nửa trăng thôi/ Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi/ Ta nhớ
mình xa thương đứt ruột/ Gió làm nên tội buổi chia phôi”. Quách Tấn cho biết,
thơ Hàn Mặc Tử bấy giờ chưa xuất bản, nhưng được nhiều người nhớ, nhiều người
thuộc, đó là nhờ Chế Lan Viên. Từ hồi còn ngồi trên ghế trường Quy Nhơn, Chế
Lan Viên đã chép thơ Hàn Mặc Tử đem vào trường phổ biến. Học sinh xúm nhau chép
và học thuộc lòng. “Thơ Tử từ trường Quy Nhơn bay ra trường Khải Định, trường Đồng
Khánh Huế. Lần lần thơ Tử lan rộng ra ngoài. Thanh danh Tử được truyền trong giới
trí thức” (Quách Tấn, sđd, tr. 134). Sau khi Hàn Mặc Tử mất trong cô độc
vì bệnh nan y, chỉ hơn mươi hôm sau, Chế Lan Viên đã viết bài “Những kỷ niệm về
Hàn Mặc Tử”, khóc Tử thống thiết và tỏ rõ “chính kiến” đầy bản lĩnh của mình
khi xưng tụng Tử là một thiên tài với tài thơ vượt thời gian: “Tử là một thiên
tài. Tử mới chính thật là thiên tài trên cái nghèo kém của đất nước này”, “Tử
không có tăm tiếng. Tử không được nâng chiều, nhưng đó chỉ là bây giờ mà thôi.
Chứ mai sau, tôi xin hứa hẹn với các người rằng, những cái tầm thường mực thước
kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc
Tử”. Cho dẫu còn có những ý kiến khác nhau về bài viết này, Quách Tấn đã bày tỏ
sự tán đồng cao với Chế Lan Viên trong đánh giá về Hàn Mặc Tử: “Bài của Lan
Viên được chú ý nhiều là vì có nhiều ý kiến trái với phần đông các thi sĩ đương
thời… Thật là táo bạo nhưng cũng thật là chân thành. Nếu lời nói ấy là của một
kẻ tầm thường thì người ta sẽ cho là một lời đại ngôn, vô giá trị. Nhưng đây là
lời một thiên tài đã có tác phẩm đảm bảo chắc chắn, lời một người chưa hề ca tụng
ai. Do đó mà người ta bàn tán nhiều. Kẻ biểu đồng, người phản đối. Lúc ấy tôi
chưa quen thân cùng Chế Lan Viên, nhưng đọc văn tôi rất khoái ý, khoái không phải
vì Tử được khen mà chính vì được nghe một lời nói khác thường” (Quách Tấn, sđd,
tr. 97-98).
“Cảo thơm lần giở trước đèn” (Nguyễn Du). Năm 1987, Chế Lan
Viên lần giở thơ Hàn, tuyển chọn, viết lời giới thiệu để làm “Tuyển tập Hàn Mặc
Tử”. Bài “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” của Chế Lan Viên viết cho tuyển tập này là một
bài viết công phu, tài hoa, đánh giá khá đầy đủ và đúng tầm về thơ Hàn Mặc Tử:
“May thay Tử là một đỉnh cao, loà chói trong văn học của thế kỷ, thậm chí qua
các thế kỷ”. Chế Lan Viên đã nêu bật hành trình thơ Hàn Mặc Tử, từ một nhà thơ
vốn làm thơ Đường luật, được cụ Phan Bội Châu ca ngợi và hoạ thơ cùng, Hàn Mặc
Tử đã tiến đến thơ hiện đại như những nhà thơ hiện đại nhất châu Âu. Cho rằng,
Hàn Mặc Tử trước sau vẫn là nhà thơ lãng mạn nhưng Chế Lan Viên đánh giá thơ
Hàn Mặc Tử dùng nhiều yếu tố siêu thực và “chưa có ai dùng đậm đặc như anh”,
“anh vẫn là của hiếm”. Đặc biệt, Chế Lan Viên nhấn mạnh cái siêu thực của Hàn Mặc
Tử không đến từ lý thuyết sách vở mà từ chính trải nghiệm sống đầy đau thương của
Hàn Mặc Tử: “Hơn nữa, thiên hạ hiện đại bằng óc, bằng lời còn Hàn Mặc Tử thì bằng
máu: Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy/ Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra”,
“siêu thực của anh không phải từ sách vở ra, từ châu Âu đến, mà từ thảm kịch của
anh mà ra”. Qua cảm nghiệm sâu về chất thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên đã thấy rõ
một chân lý nghệ thuật: “Tân là mới. Nhưng sau tân, lại còn tân của tân nữa,
đó là kỳ (lạ)”. Trong bài viết “Thơ Bích Khê”, Chế Lan Viên có một
phát hiện sâu sắc, tinh nhạy: Bích Khê “làm thơ”, còn Hàn Mặc Tử “bị thơ làm”.
Chính Hàn Mặc Tử, qua lời tựa viết cho tập thơ “Đau thương (Thơ điên)” của mình
đã bộc bạch: “Nàng (tức là Nàng Thơ - chú thích của người viết) đánh
tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú… Có ai ngăn cản được tiếng
lòng tôi?”. Tức là thơ đã “ốp đồng” lên hồn Hàn Mặc Tử, cho ra loại thơ dị thường,
khiến người đọc cộng cảm, “lên đồng” theo nhà thơ kỳ tài.
Từ khi Hàn Mặc Tử qua đời, phải chờ đến năm mươi năm sau (tức
là năm 1990, dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất Hàn Mặc Tử), “thiên tài trác tuyệt ấy
mới được công nhận trong cả nước” (Nguyễn Viết Lãm). Nhưng ngay từ năm 1940,
lúc Hàn Mặc Tử mới mất, Chế Lan Viên đã sớm “tiên tri” về sức sống “vượt thời
gian” của thơ Hàn Mặc Tử. Chế Lan Viên đã giữ bền mối tri kỷ với Hàn Mặc Tử lúc
Tử còn sống và cả sau khi Tử về cõi thiên thu. Một mối tri kỷ hiếm có của hai
tài thơ vào loại hiếm của đất nước. Một mối tri kỷ “biệt nhãn liên tài” dành
cho nhau của hai thiên tài có chung ý hướng đem đến cho thơ ca Việt Nam một
dòng thơ mới mẻ, tân kỳ và hiện đại. Ở xã Hiếu Giang, tỉnh Quảng Trị có Nhà lưu
niệm nhà thơ Chế Lan Viên. Nơi đây trưng bày khá nhiều hình ảnh, hiện vật, tác
phẩm của Chế Lan Viên, thể hiện phong phú về cuộc đời và sự nghiệp Chế Lan
Viên. Nhưng nơi đây cần bổ sung trưng bày sâu, có tính chuyên đề về “Chế Lan
Viên với Hàn Mặc Tử và Hàn Mặc Tử với Chế Lan Viên” để làm rõ hơn về mối tri kỷ
thơ đặc biệt của hai nhà thơ lớn này, nhất là khi cả hai đã về với nhau trong tỉnh
Quảng Trị. Việc hiểu sâu về hai nhà thơ độc đáo này giúp bạn đọc có những cơn sảng
khoái “toát mồ hôi” trí tuệ khi đọc thơ Chế Lan Viên và mê sảng “toát mồ hôi”
thần trí khi đọc thơ Hàn Mặc Tử: “Thơ chưa ra khỏi bút/ Giọt mực đã rụng rồi.../ Lòng tôi chưa kịp nói/ Giấy đã toát mồ hôi... ” (Mùa thương - Hàn Mặc
Tử).
21/2/2026
Nguyễn Hoàn
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của
thi ca đương đại, bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa xăm" của
Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ
dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy
xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt
nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể
vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM
Tôi xa làng Đá đã nhiều năm
Từ độ người ta tuổi chớm Rằm
Cái tuổi xúi người say má thắm
Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm
Tôi nhớ, người ta một cuối năm
Giữa chiều mưa ấy rét căm căm
Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm
Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.
Tôi biết người ta với làng Chằm
Ân tình riêng nặng đã nhiều năm
Người ta lại giỏi cam chịu lắm
Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.
Tôi về làng Đá mỗi cuối năm
Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm
Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm
Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...
Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026
Sức hấp dẫn đầu tiên của tác phẩm nằm ở nghệ thuật kiến tạo
hình ảnh và xây dựng tứ thơ độc đáo. Đặng Xuân Xuyến đã khéo léo khai thác tứ
"Vọng phu" nhưng đặt trong bối cảnh đời thường, không mở ra theo chiều
rộng của không gian mà xoáy sâu vào chiều âm của số phận, khiến nó trở nên gần
gũi mà buốt nhói. "Làng Đá" – từ một địa danh hành chính cụ thể – qua
dòng thời gian đã biến chuyển thành một biểu tượng nghệ thuật: sự hóa thạch của
nỗi đau. Hình ảnh "Người hóa đá giữa đêm Rằm" là một nhãn tự đắt giá,
lột tả sự tàn nhẫn của thời gian. Ở đó, người phụ nữ không hóa đá trên đỉnh núi
cao để thiên hạ chiêm bái, mà họ "tự lấp sâu vạn dặm" tuổi xuân của
mình ngay giữa lòng làng quê, trong sự im lặng của lòng thủy chung lầm lạc. Đây
là một bước chuyển mình về tư duy nghệ thuật. Sự "hóa đá" ở đây không
phải là sự thăng hoa thành huyền thoại, mà là một sự "tự lấp sâu vạn dặm"
của tuổi xuân. Tác giả đã nhìn ra một bi kịch hiện đại: con người ta không chết
đi, nhưng họ tự đóng băng đời mình trong sự cam chịu và những giá trị đã lỗi thời.
Để chuyển tải tứ thơ ấy, Đặng Xuân Xuyến đã xây dựng được những
cặp hình ảnh đối lập đầy ám ảnh. Hình ảnh "má thắm" của tuổi trăng
tròn đối diện với cái "ngó xa xăm" vô định ngay từ khổ đầu đã dự báo
về một sự lệch pha giữa sức sống thanh xuân và định mệnh u buồn. Đặc biệt, chi
tiết "thảng thốt tay chặt nắm" trong chiều mưa "rét căm
căm" là một nhãn tự đắt giá. Chữ "thảng thốt" ở đây không chỉ là
trạng thái tâm lý mà là một hành động vật lý mang tính biểu đạt cao; nó cho thấy
sự chới với của một người đang cố níu giữ cái thực tại đang tan rã. Đối lập với
sự "thảng thốt" ấy là cái "nhẹ lắc đầu" – một hình ảnh
tĩnh lặng nhưng có sức công phá mạnh mẽ hơn mọi lời cự tuyệt. Đặng Xuân Xuyến
đã dùng cái "tĩnh" để chế ngự cái "động", dùng sự im lặng để
biểu đạt sự tuyệt vọng cùng cực. Chính sự "giỏi cam chịu" mà nhà thơ
nhắc đến không đơn thuần là lời ngợi ca phẩm hạnh, mà là một tiếng thở dài phê
phán những lề thói, những ân tình cũ kỹ đã vô tình giam cầm biết bao kiếp người.
Cái hay của tứ thơ còn nằm ở sự dịch chuyển điểm nhìn. Từ cái
nhìn khách thể của người đi xa trở về, tác giả chuyển dần sang sự đồng cảm và
cuối cùng là sự đồng điệu trong nỗi đau. Câu kết "Tôi lại thở dài, ngó xa
xăm" là một sự lặp lại có chủ đích, hoàn tất vòng lặp của bi kịch. Nếu cái
"xa xăm" của người phụ nữ là sự chờ mong kẻ biệt tăm, thì cái
"xa xăm" của thi sĩ là sự bất lực trước sự tàn nhẫn của thời gian và
lòng người.
Trong chỉnh thể của bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa
xăm", Đặng Xuân Xuyến không cầu kỳ trong việc dụng chữ bằng những thuật ngữ
tân kỳ, nhưng lại đặc biệt thành công trong việc kiến tạo một hệ thống ngôn ngữ
giàu tính gợi hình và một tứ thơ mang đậm hơi thở của bi kịch nhân sinh. Ngôn
ngữ và hình ảnh trong tác phẩm này không tồn tại độc lập mà đan cài chặt chẽ để
phục vụ cho một ý đồ nghệ thuật nhất quán: sự hóa thạch của nỗi đau.
Khổ thơ cuối là một sự thăng hoa của cảm xúc nhưng lại hạ
cánh trong một hiện thực tàn khốc. Hình ảnh "Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm"
là một ẩn dụ đầy sức nặng. Làng Đá không còn là tên gọi hành chính, nó đã thấm
vào máu thịt, vào số phận của con người. Người phụ nữ ấy, sau bao năm tháng đợi
chờ, đã tự hóa thạch chính tuổi xuân của mình. Cụm từ "Tuổi xuân tự lấp
sâu vạn dặm" gợi lên một sự hy sinh tự nguyện nhưng vô vọng, một sự tự
chôn vùi cái tôi cá nhân vào hố sâu của định kiến và lòng thủy chung lầm lạc.
Điểm đáng chú ý nhất về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ là
hệ thống vần "ăm" (năm, Rằm, thắm, xăm, căm, nắm, Chằm, tăm, dặm) được
gieo xuyên suốt tác phẩm. Trong ngữ âm tiếng Việt, vần "ăm" là một âm
đóng, tạo cảm giác tù túng, quẩn quanh và bế tắc. Việc lặp lại âm hưởng này
không chỉ tạo nên tính nhạc cho bài thơ mà còn tạo ra một không gian tâm lý chật
hẹp, nơi nhân vật trữ tình và cả người phụ nữ kia đều bị giam cầm trong những
ký ức không lối thoát. Bên cạnh đó, cách sử dụng các từ láy như "căm
căm", "thảng thốt", "biệt biệt tăm" đã đẩy cao tính biểu
cảm, làm đậm thêm cái lạnh lẽo của không gian và cái dài dặc của thời gian.
Kết thúc bài thơ, tác giả lặp lại hành động "ngó xa
xăm" nhưng lần này là cái nhìn của chính chủ thể trữ tình. Nếu cái
"xa xăm" của người phụ nữ là sự chờ đợi vô định, thì cái "xa
xăm" của nhà thơ là sự bất lực trước vòng xoáy của nhân duyên và số phận.
Tiếng thở dài của Đặng Xuân Xuyến không chỉ dành cho một mối tình đơn phương,
mà là tiếng thở dài cho những kiếp người tự buộc mình vào những giá trị xưa cũ
để rồi tàn héo trong thầm lặng.
Bằng việc sử dụng ngôn ngữ giàu nhạc tính và xây dựng những
hình ảnh có sức nặng biểu tượng, Đặng Xuân Xuyến đã nâng một câu chuyện tình lỡ
dở lên thành một suy tưởng về thân phận. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một
cá nhân mà là bản cáo trạng nhẹ nhàng nhưng buốt nhói về những lề thói, những
ân tình cũ kỹ đã vô tình chôn vùi biết bao kiếp người trong sự tĩnh lặng đáng sợ.
Có thể nói, với "Tôi lại thở dài ngó xa xăm",
Đặng Xuân Xuyến đã thành công trong việc nâng một câu chuyện riêng tư lên thành
một suy tưởng mang tính nhân văn sâu sắc. Bài thơ không chỉ chạm đến trái tim độc
giả bằng sự chân thành, mà còn khẳng định bản sắc của một cây bút biết cách
dùng những ngôn từ giản dị để chạm tới những vỉa tầng sâu kín nhất của tâm hồn
con người.
22/2/2026
Đỗ Anh Tuyến
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Một mùa hè dưới bóng cây
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn
Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định
hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng
hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút
ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong
quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế được Hội Liên hiệp Văn học
nghệ thuật tỉnh Phú Thọ chúc mừng nhận giải thưởng ASEAN.
Năm 2024, Khi tập truyện ngắn Một mùa hè dưới bóng cây của
anh đạt giải A của hội nhà văn Việt Nam, tôi cũng đã háo hức đặt sách trên Tiki
về đọc.
Và năm nay nghe tin nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế (với Tập
truyện ngắn Một mùa hè dưới bóng cây) cùng với nhà văn Y Ban (Truyện
ngắn Trên đỉnh giời) đoạt giải ASEAN, một giải văn học danh giá mà hầu như
tất cả những ai cầm bút thuộc Khu vực Đông Nam Á đều mong muốn hướng tới.
Nguyễn Tham Thiện Kế có thể được gọi là một hiện tượng văn học;
người khen khen không tiếc lời và người chê cũng không hiếm.
Những người khen và ủng hộ thì đánh giá cao sự sáng tạo của
nhà văn và gọi những trang viết mang dấu ấn phong cách cá nhân của anh là lối
viết sáng tạo, những câu văn tài hoa, có sức hấp dẫn đặc biệt nhưng kén độc giả.
Trường phái không ủng hộ thì nói rằng văn của anh cầu kỳ quá,
từ cách dùng từ, đặt câu tới diễn đạt đoạn văn, bài văn, truyện ngắn hoặc tiểu
thuyết đều có sự cầu kỳ và không phù hợp với người đọc đại chúng. Có ý kiến còn
cho rằng anh hay “làm xiếc ngôn từ”, điệu đà trên mức cần thiết…
Một số ý kiến cho rằng văn Nguyễn Tham Thiện Kế kén người đọc,
điều đó cũng nói lên hai mặt của một vấn đề; nói cách khác cũng phản ánh
thông tin đến từ hai trường phái, trường phái ủng hộ thì đánh giá rằng đây là sự
thông minh, tài hoa, là sự tâm huyết và sáng tạo, không bằng lòng với dấu ấn cá
nhân, không bằng lòng với những gì sẵn có, không bằng lòng với sự diễn đạt câu
cú bình thường theo chuẩn ngữ pháp Việt Nam mà mọi người được học từ chương
trình giáo dục phổ thông! Trường phái không ủng hộ thì có thể lên tiếng rằng với
xã hội hiện đại khi văn hóa đọc có vẻ mai một thì cần viết giản dị, bình dân,
hướng về đại chúng mới thu hút được nhiều độc giả.
Từ góc nhìn cá nhân, công bằng mà nói Nguyễn Tham Thiện Kế là
một tác giả tài năng có lối viết sáng tạo, độc đáo, là người chịu nghĩ, chịu viết
và có khả năng chịu trách nhiệm cao trước sự sáng tạo của mình; đồng thời anh
cũng là một nhà văn đầy bản lĩnh khi ý thức được rằng tác phẩm mình viết ra lượng
công chúng không phải đông đảo. Văn của anh kén người đọc nhưng đã đọc được văn
của anh thì đó phải là những người chịu đọc, là người có tư duy mở, là người có
kiến văn đầy đặn và nhất định phải là người yêu văn học đương đại….
Trong tập Một mùa hè dưới bóng cây, cách đặt nhan đề
cho mỗi một truyện ngắn thể hiện sự dụng công của tác giả; rất nhiều nhan đề
giàu chất thơ (Ngõ thơm từng tiếng guốc em về; Hoa trắng rụng dòng trong, Nằm
dưới hoa mộc miên, Đào phai theo dấu khói, Lời hẹn mùa hoa cũ…). Nhân vật trong
các câu chuyện hầu hết là những người bình dân, giản dị và chân thực, được thể
hiện theo một cách viết riêng, mang rõ phong cách Nguyễn Tham Thiện Kế. Có nhà
phê bình đã liên tưởng thế giới nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn
Tham Thiện Kế chính là hồi ức về quá khứ của anh hoặc người thân. Dẫu hiểu theo
cách nào, vẫn chung nhận định rằng anh đã thành công khi tạo dựng được nhân vật
có dáng hình, có số phận, có sự neo giữ trong tâm thức người đọc.
Làm nên sức sống mỗi truyện ngắn, ngoài yếu tố dung lượng phải
ngắn, còn có các yêu cầu về bố cục, về nhân vật, ngôn ngữ. Đặc biệt là yêu cầu
về tình huống. Không thể không có lý khi ai dó đã nói rằng “Tình huống là vấn đề
cốt tử của truyện ngắn”. Mỗi câu chuyện trong tập Một mùa hè dưới bóng cây đều
có dung lượng vừa phải, bố cục chặt chẽ. Thế giới nhân vật trong cả tập truyện
này là người bình dân, là những người lao động thủ công, lao động chân tay; họ
có thể là lão, là chị, là gã… là những người lao động bình thường.
Mỗi người mỗi hoàn cảnh, vất vả nhưng có phong cách, nét dáng riêng. Bởi thế, tập
truyện Một mùa hè dưới bóng cây được nhiều công chúng yêu thích. Và
cách viết của Nguyễn Tham Thiện Kế cũng rất riêng. Không thể phủ nhận có những
cách cảm nhận sâu, cách so sánh độc đáo, cách sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và
giàu sức gợi. Này nhé, là “Ngõ thơm từng tiếng guốc em về” với những câu
văn Đôi lần cuối xuân, chớm thu, trên gác xép nhà nàng, tôi nghe sông Hồng
âm ỉ chạy dưới lưng. Tôi đợi tiếng guốc, dù đã dán đế cao su giảm chấn rón rén
mà vẫn giòn ron của nàng suốt con ngõ beton hút xa dưới bóng hoàng lan. Nàng bước
ngắn, bước dài tránh giẫm lên những bông hoa rụng. Mỗi guốc bước lại thức hương
đã ngủ rơi trên mặt đất, khe tường… Mỗi tiếng guốc một cung bậc hương thơm lan.
Và đoạn cuối là “Đã nhiều lần cuối xuân, chớm thu. Khoảng giữa
chúng tôi, là không gian mờ ảo, không hẳn là tình nhân nhưng nhớ thương, chẳng
phải anh em, bạn bè nhưng day dứt vấn mình về trách nhiệm. Nàng bước ngắn, bước
dài để tránh dẫm lên những bông hoa đã rụng trên lối. Mỗi một bước lại thức dậy
hương, đã ngủ rơi quên trên mặt đất khe tường”
Và đây nữa, là một câu văn giàu chất thơ trong “Hoa trắng rụng
dòng trong”, Cơn mưa chiều xuân nhuộm tháng hai một trời ghi xám. Hoặc Một
trăm linh tám cây mộc miên uốn lượn theo kênh đào buổi mãn xuân khởi bung hoa,
vẽ thành con rồng hoa ngậm lửa phủ phục trước cổng làng trong truyện ngắn “Nằm
dưới hoa mộc miên”.
Dễ dàng nhận thấy ở tập truyện này có những câu văn điệu đà
làm duyên, có những so sánh đắt giá, để lại ấn tượng đẹp trong lòng độc giả.
Tuy nhiên, tôi vẫn mong muốn ở anh một cách viết sao cho có nhiều độc giả hơn bởi
có những câu văn chưa chắc cần đến sự tỉ mỉ và cầu kỳ đến thế… và tôi thật sự
vui khi được chúc mừng anh; chúc mừng nhà văn tài hoa của Đất Tổ đã vinh dự nhận
giải ASEAN cao quý mà nhiều người mơ ước.
Chúc mừng sự thành công của anh, chia vui cùng anh và Hội
liên hiệp văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ, Hội nhà văn Việt Nam về thành tựu của
năm 2025, trong đó, có công lao, có thành tích của nhà văn Nguyễn Tham
Thiện Kế qua tập truyện ngắn Một mùa hè dưới bóng cây.
22/2/2026
Đỗ Nguyên Thương
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Nối tiếp
Nối tiếp
Bài thơ “Chuyện riêng ở binh đoàn” của thi sĩ, bác sĩ Tố Hoài, có đề từ: Tặng
các chiến sĩ nữ Quân y 19 – Binh đoàn 70. Anh viết sau chiến dịch phá cuộc
“Hành quân Lam Sơn 719” năm 1971 và Chiến dịch đường 9, Nam Lào” năm 1972 lúc
đang phục vụ ở mặt trận Quảng Trị :
CHUYỆN RIÊNG Ở BINH ĐOÀN
Chiến dịch đi, nối tiếp những binh đoàn
Nối tiếp Trường Sơn, nối dài chiến thắng
Có một không gian trong bề dày trận đánh
Trận xong rồi lại chuyện kể tư, riêng.
Chuyện rất gần... áp sát tiền duyên
Về mỗi chiến công lập trong âm thầm lặng lẽ
Bằng mũi chỉ, đường dao an lành nhỏ bé
Mang tình người thấm đậm tự trong tim.
“Tát nước đến cùng” giành tín hiệu hồi sinh
Nụ cười em - Vỡ òa cơn nín thở
Trang bệnh án gấp vào và trang đời bật mở
Trời xanh hơn! Mầu áo cũng xanh hơn!
Ơi em gái quân y giữa rừng Trường Sơn
Những cánh lá tay xòe che biêng biếc
Quả nhân hậu kết mùa thơm thanh khiết
Em chia đều dịu bớt mỗi lần đau!
Lời chân tình – Tròn vạnh quả cau
Lòng yêu thương – Lá trầu tươi nhỏ
Đã quyện lại, rực lên mầu thắm đỏ
Giọt máu đồng đội tôi san sẻ chan hòa.
Hoa nở bông ngan ngát vườn nhà
Cây tình yêu lá xanh, bền rễ!
Chuyện lính trẻ chúng tôi, khoảng trời riêng be bé
Chiến dịch đi, nối tiếp những binh đoàn...!.
Quảng Trị 16/4/1972.
Bài thơ thể tự do, phảng phất biền ngẫu. Ngay khổ đầu bài
thơ, dễ nhận ra thế trận “chiến dịch” ở giai đoạn tác chiến hợp đồng binh chủng:
bộ binh, thiết giáp, pháo binh hạng nặng, pháo phòng không... với những binh
đoàn của nửa đầu thập niên 70 thế kỉ trước; làm nên bài ca hùng tráng, khẩn
trương của đoàn quân vào chiến dịch “Nối tiếp Trường sơn... nối tiếp những binh
đoàn” và để “nối dài chiến thắng”. Âm vang câu thơ, cảm nhận như hành khúc nhịp
đi 2/4 rung động người đọc sau nửa thế kỉ trôi qua.
Đồng thời với đoàn quân là hành trang, những căn hầm nhỏ bé
giáp tiền phương, các chiến sĩ quân y vũ khí là bơm tiêm, dao kéo... mang ý
chí “...tình người thấm đậm tự trong tim”. Chiến tuyến là bờ sinh - tử
ở đó không kém phần khẩn trương, kiên định “Tát nước đến cùng, giành tín hiệu hồi
sinh”. Họ đã chiến đấu với tử thần, cũng giằng co, cũng hồi hộp, nén thở nắm bắt
thời cơ và hi vọng giành sự sống cho đồng đội. Cuối cùng, tín hiệu thắng lợi được
đánh giá bằng “nụ cười”, “vỡ òa” giải tỏa những lắng lo chờ đợi.
Sau tầm bom rơi đạn nổ tử - sinh, khi “Trang bệnh án gấp vào
và trang đời bật mở” một hiệu ứng xanh của sự sống thanh bình: “Trời xanh
hơn! Mầu áo cũng xanh hơn”. Và làm “dịu bớt mỗi lần đau” chính là “Em chia
đều” “Quả nhân hậu kết mùa thơm thanh khiết”! Bởi lòng chân tình, tạo ra
yêu thương mà liệu pháp “lá trầu, quả cau” là sự ghi nhận một tình
yêu thắm đỏ!
Bài thơ, từ “nối tiếp” được lặp lại hai lần rồi gắn tiếp từ “nối
dài” tạo hiệu ứng sức mạnh vô tận, mở ra khí thế hào hùng. Đó là sức mạnh trùng
điệp của đoàn quân, sức mạnh của lòng yêu nước ẩn trong sức mạnh Việt Nam. Từ “nối
tiếp” được lặp lại lần thứ ba ở đoạn kết. Là lời khẳng định mạch nguồn cha ông
đến hiện tại. Hôm nay, hơn nửa thế kỉ trôi qua, mạch nguồn đó vẫn duy trì tiếp
tục...
Thực tế chiến trường:
Bài thơ ra đời vào Ngày truyền thống Quân y 16 tháng Tư. Lúc ấy
chiến dịch xuân hè 1972 đã đến giai đoạn 2; sau 6 ngày Quân giải phóng miền nam
Việt Nam tiến chiếm sân bay Ái Tử và đánh sập cầu Quảng Trị (10/4/1972), nối
tiếp bằng các trận đánh giằng co để nối dài vào giai đoạn 3, giải
phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị (02/5/1972). Đại úy Bác sĩ quân y Nguyễn Tố Hoài
(tên thật của Nhà văn khoa học Tố Hoài), trưởng khoa ngoại kiêm y vụ của Bệnh
viện quân y dã chiến 19 -B70, lại tiếp tục vào cuộc chiến đỏ lửa mùa Hè 81 ngày
đêm Thành Cổ Quảng Trị.
Bệnh viện dã chiến nằm trong các căn hầm nối liền nhau bằng
giao thông hào. Trung tâm là hầm phẫu thuật rộng trung bình chục mét vuông, đủ
bố trí bàn mổ, hòm dụng cụ quân y, dinamo quay tay phát điện chỉ đủ sáng cho vết
mổ, một giá treo dịch chuyền và một máy đo huyết áp loại cơ khí, khi áp huyết đủ
sẽ tiến hành mổ... Không có đủ máu để truyền nên thường lấy máu từ vết mổ truyền
lại cho thương binh đang mổ. Phòng hậu phẫu là căn hầm có 3 chỗ nằm. Thương
binh ổn định chuyển về hầm chữ A, mỗi hầm 2 thương binh. Quân y viện Lấy lá cây
làm chiếu trên nền áo mưa lót chống ẩm, lâu dần lá khô sẽ ấm hơn. Khi thương
binh lên cơn sốt, rét run, các chiến sĩ quân y phải ôm để dùng chính hơi ấm của
mình sưởi cho thương binh.
Cạnh hầm mổ có hầm chụp X-quang nhưng không thể in được phim.
Chỉ là đầu dò phát tia x để bác sỹ thấy vị trí mảnh đạn, bom trong cơ thể
thương binh hiện lên ở màn hình nhỏ, giúp vết mổ chính xác. Hầm xét nghiệm có
chai lọ đựng hóa chất, ống nghiệm và một kính hiển vi thường. Máy nổ phát điện
dùng cho chụp X-quang rất nặng đi kèm với xăng dễ cháy; các ống nghiệm, cốc,
chai lọ thủy tinh dễ vở phải bọc vải khi di chuyển địa điểm… Tất cả vật tư, máy
móc của quân y viện có cơ số tối thiểu, trông cậy vào đội ngũ quân y để phục vụ
tối đa, trong hoàn cảnh chật hẹp tối đa hơn mức đơn giản.
Bếp ăn cũng dưới hầm và chỉ đủ cho 3 người cùng ăn nên phải
ăn nhanh để thay phiên nhau. Mọi sinh hoạt chủ yếu ở dưới hầm tối....
Tuy hoạt động chủ yếu diễn ra trong các hầm, không có nghĩa
là an toàn. Trong tiểu thuyết Hoàng hôn dát đỏ (Tạp chí Văn Nghệ Quân
đội liên kết xuất bản) Tố Hoài đã viết rất sinh động về quân y giai đoạn chiến
trường rực lửa Quảng Trị từ năm 1971, chiến dịch Đường 9, nam Lào mà anh là bác
sĩ quân y. Trạm quân y tiền phương của anh đã gánh chịu sự khốc liệt do bom nhồi,
pháo kích. Thực ra, ở chiến trường không đâu là tiền phương hay hậu phương. Bởi
họ phải luôn bám sát mặt trận và không chỗ nào an toàn ngoài tầm bom đạn. Chi
tiết người lính quân y sau 4 kíp mổ xuyên đêm, sáng ra, đói quá, tìm nước pha
bát sữa uống, bị bom đánh trúng hầm và ruột vướng vào cành cây. Nhiều kiểu hy
sinh của các chiến sỹ quân y diễn ra trước mắt; nhưng họ vẫn phải gồng mình đứng
vững làm điểm tựa cuối cùng cho bộ đội chiến đấu.
Thuốc men, trang thiết bị y tế luôn thiếu thốn... các y bác
sĩ ngoài nhiệm vụ cứu chữa, điều trị thương bệnh binh, kịp thời trả lại sức chiến
đấu cho chiến trường, họ còn nhọc nhằn cho mỗi bữa ăn thiếu thốn hàng ngày, việc
dành khẩu phần ăn ít ỏi cho thương binh lúc cạn lương thực, xảy ra thường xuyên
lúc địch đánh phá ác liệt cắt đường tiếp vận.
Dạo ấy, tham gia chiến trường, các chiến sĩ nữ thường biên chế
ở bộ phận hậu cần mà chủ yếu các nữ y bác sĩ ở bệnh viện, đội điều trị dã chiến.
Song họ góp phần không nhỏ vào công tác phục vụ chữa trị thương bệnh binh. Mỗi
cử chỉ, lời nói hiền dịu của họ như “Quả nhân hậu ... thơm thanh khiết” đem “chia
đều dịu bớt mỗi lần đau! Đó cũng là liều thuốc chữa trị vô cùng hiệu quả.
Đóng góp của bộ phận văn học lãng mạn cách mạng
Tố Hoài là nhà văn quân đội, anh viết văn và viết báo ngay thời
kì anh là chiến sĩ quân y ở chiến trường Quảng Trị. Trong gần chục tiểu thuyết
của anh, hầu như tiểu thuyết nào cũng dính dáng đến hiện thực chiến tranh, tới
quân nhân cách mạng. Cái lãng mạn trong từng tư duy, trong từng hành động của
nhân vật là một tấm gương sáng trong tu dưỡng và rèn luyện vượt khó để hoàn
thành nhiệm vụ. Và ngay cả khi xây dựng các mối tình thì đều tích cực và trong
sáng hướng về chân thiện mỹ.
Cho nên bài thơ “Chuyện riêng ở binh đoàn” cũng có thể xếp
vào loại văn học lãng mạn. Giữa mặt bằng chiến tranh đâu chỉ có chết chóc đạn
bom mà vẫn có chỗ thanh bình nảy nở “Hoa nở bông ngan ngát vườn nhà” của sự
sống “Cây tình yêu lá xanh, bền rễ” hồi sinh. Sâu sắc hơn, hình tượng lá
trầu, quả cau như một lương duyên. Là “Chuyện lính trẻ chúng tôi, khoảng
trời riêng be bé” nhưng tồn tại theo “Chiến dịch đi” và luôn luôn “nối
tiếp những binh đoàn...!”
Không khó để tìm thấy các tác phẩm văn chương thuộc thể loại
văn học lãng mạn cách mạng. Nếu tính cả những tác phẩm ít nhiều có tính chất
lãng mạn cách mạng; bộ phận này làm nên dòng chủ lưu của văn học nghệ thuật
cách mạng sinh ra trong hoàn cảnh chiến tranh.
Lý do
Các tác giả của bộ phận văn học cách mạng trong thời kỳ chiến
tranh đều lăn lộn ở các chiến trường ác liệt nhất và nhiều văn nghệ sĩ đã hi
sinh. Họ có đầy đủ vốn sống, tư liệu chiến tranh với cấp độ ác liệt, phức tạp
không thể hư cấu nổi...
Văn nghệ sĩ nhận thức rõ đối phương có sức mạnh về quân sự,
khoa học kĩ thuật và kinh nghiệm tác chiến cao hơn; do đó những người cách mạng
không có cách nào khác là phải hi sinh xương máu nhiều hơn, và luôn rút kinh
nghiệm từ gian khổ hi sinh để tìm ra cách đánh phù hợp hơn, quyết tâm chiến đấu
cho đến ngày toàn thắng.
Từ đó, các tác giả dồn tình cảm, trí tuệ vào sáng tác để nâng
đỡ tinh thần cho nhân dân và chiến sĩ trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn nếu
không nói là vô vọng trong mắt một số người nước ngoài cùng thời.
Khi đất nước qua cơn binh đao, những văn nghệ sĩ còn sống nối
tiếp tác phẩm; đi vào địa hạt văn học hiện thực cách mạng để vinh danh,
góp phần nối dài hòa bình cho đất nước và nhân loại.
Sài Gòn, 25/2/2026
Lê Thanh Huệ
Nguồn: Văn nghệ Online
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà ...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...
.gif)

.gif)


