Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

 

Chính nhân Nguyễn Minh Châu

Nguyễn Minh Châu là một chính nhân. Những ngày cuối 1972, an dưỡng ở Quảng Bình, tôi đã đọc say mê “Dấu chân người lính” của ông. Cuốn hút tôi chính là đoạn ông viết về một cô gái Vân Kiều. Trong nhật ký tôi đã viết: “Ý nghĩ viết về cô gái bản và tình cảm của cô với bộ đội, rồi thượng nguồn con sông giới tuyến bỗng cháy trong lòng khi mình đọc Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu”. Tôi đã chép vào nhật ký những bài ca của người Vân Kiều mà Nguyễn Minh Châu đưa ra trong “Dấu chân người lính”.

Tìm anh khó hơn tìm ông trăng tròn

ông trăng tròn ở xa

mỗi tháng còn thấy một lần

anh ở gần

em tìm mãi không thấy

vắng anh, em ăn không no

hút thuốc không cháy

uống nước mà vẫn khát

trời mưa lâu làm chòi anh dột

chòi dột anh phải đi lợp lại

anh có ưng em, em cất lều lá chuối

giúp anh lợp mái chòi

không ưng nhau chòi lành cũng dột

ưng nhau, chòi dột anh cùng em lợp cái lá

anh là trái núi cao hay ngọn suối nước trong ngoài đầu bản

anh là ông trăng tròn ban đêm

hay là mặt trời ban ngày

anh là con chim Pít ăn lúa trên nương

hay là bắp hoa chuối đỏ trên nắp gùi cô gái đẹp nào?

em tìm anh như con voi phá chuồng

đi khắp núi khắp rừng

lâu ngày thành con voi điên…

Đến khi ra Hà Nội, do tôi hay đến chơi với anh Nguyễn Trung Thu (vốn tốt nghiệp Tổng hợp Văn làm ở Viện Văn học, đi bộ đội cùng tôi và là tác giả bài thơ “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” nổi tiếng) ở khu tập thể số 3 Ông Ích Khiêm nên được gặp ông, vì ông là hàng xóm nhà anh Thu. Tính tình ông điềm đạm, dễ gần, rất chân thật và rất nghệ sĩ. Qua chia sẻ, tôi biết thêm nhiều và thân thiết hơn với Nguyễn Minh Châu.

Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20.10.1930 ở Quỳnh Lưu – Nghệ An. Ở đây, đất này, sinh sau ông 15 năm là Thái Bá Lợi – bạn thân của tôi. Hóa ra Nguyễn Minh Châu cũng bắt đầu bằng nghề thợ khi theo học trường Kỹ nghệ Huế từ năm 1944 – 1945, như tôi bắt đầu là kỹ sư thông tin, Nguyễn Khắc Phục bắt đầu là thủy thủ v.v… 20 tuổi ông tiếp tục học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng rồi sau đó gia nhập quân đội. Ông về Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội từ năm 1962.

Từ khi vào bộ đội, tôi đã được đọc những truyện ngắn của ông. Nhưng ấn tượng nhất là tiểu thuyết “Dấu chân người lính”. Sự lãng mạn say sưa lý tưởng đã giúp ông dựng lên hình tượng người lính thời chống Mỹ lấy “cuộc đời là chiến trận”. Đọc ông, những người lính chúng tôi dám dấn thân hơn trên hành trình khói lửa đầy đạn bom. Đọc ông, chúng tôi thấy mình kiêu hãnh hơn.

Sau thống nhất, ông lại tiếp tục gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc qua “Miền cháy”, “Lửa từ những ngôi nhà”, “Cửa sông” và đặc biệt là “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” – một tập truyện ngắn đầy phong cách riêng Nguyễn Minh Châu.

Nhưng cũng từ sự dấn thân đó, ông nhận ra những sự giả dối của một nền văn học chỉ thấy sự tô hồng, phản lại sự sống thực của dân tộc. Bởi thế, ngay từ đầu thời đổi mới, ông đã viết tiểu luận “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” gây chấn động trong làng văn về sự thẳng thắn và dũng cảm.

Từ sự dấn thân đó, ông đã nhiễm bệnh ung thư. Nhìn ông với chiếc mũ nồi thường trực trên đầu, dáng điệu khoan thai hiền hậu, không nghĩ trong ông là một núi lửa của tư duy mạnh mẽ, là sự bất khuất, không khoan nhượng với giả dối. Nụ cười ông luôn thoáng một nét buồn. Buồn như “Phiên chợ Giát” truyện ngắn của ông hay “Những người ở quê ra” mà nhờ thế, “Phiên chợ Giát” được đánh giá như một kiệt tác.

Không mấy ai nhận ra được cái thần thái trong cái bóng dáng gày guộc cứ lặng lẽ đi men lối ngõ khu tập thể số 3 Ông Ích Khiêm rồi chui vào một căn buồng ẩm thấp. Số phận đã gắn ông với căn buồng mà nghe phong thanh đâu ở dưới nền nhà có một hài cốt của người Tầu. Đến khi được phân nhà mới thì lại nằm ở bệnh viện. Những ngày cuối cùng của Nguyễn Minh Châu ở Viện quân y 108, tôi và Lương Châu Phước đã đến ngồi rất lâu bên ông. Tuy làm tờ “Đất Việt” cho Hội Việt kiều ở Canada, Lương Châu Phước rất thông hiểu tình hình văn học Việt Nam và rất biết những ai đóng góp cho những ngày đầu đổi mới. Tiểu luận của Nguyễn Minh Châu khiến Phước rất cảm phục về sự đúng đắn và dũng cảm. Nhìn Nguyễn Minh Châu nở nụ cười yếu ớt trên giường bệnh, lòng tôi không khỏi xót xa, chùng xuống một cái gì mang mang khó tả. Đấy cũng là lần cuối cùng. Ngày 23.1.1989, Nguyễn Minh Châu đã ra đi khỏi cõi đời ở tuổi 60.

Đám tang Nguyễn Minh Châu được tổ chức nhanh gọn theo nghi thức nhà binh đối với một sĩ quan quân đội cấp bậc Đại tá. Số phận Nguyễn Minh Châu thật lạ lùng, khổ đến chết. Khi ý định quàn ông ở trụ sở Ủy ban toàn quốc các hội văn học nghệ thuật Việt Nam (sau là Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam) 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội được Hội Nhà văn đề xuất thì ông Chủ tịch Ủy ban toàn quốc các hội văn học nghệ thuật Việt Nam từ chối với lý do là nhà đang sửa, Nguyễn Minh Châu chưa đủ tiêu chuẩn. Hội Nhà văn đã định đầu hàng. Nhưng do nhiều ý kiến bênh vực Nguyễn Minh Châu nên cuối cùng đám tang cũng được diễn ra ở 51 Trần Hưng Đạo, chỉ có điều quá nhanh. Nhiều người mang hoa đến thì xe tang đã đi.

Điều còn lại với đời ở Nguyễn Minh Châu chính là tác phẩm và nhân cách của ông. Những năm cuối đời, sáng tác của Nguyễn Minh Châu biểu rõ tư chất nhà văn của ông. Ông đã tìm được cái của chính mình, cái mà mình mong mỏi ký thác với đời. Văn của Nguyễn Minh Châu là một giọng văn thật quý hiếm mà người viết chân chính nào cũng muốn gắng sức đạt đến, một giọng riêng không vay mượn, không bị thúc ép, cám dỗ bởi bất cứ động lực nào.

Nguyễn Minh Châu là một bản lĩnh văn xuôi, là một “chính nhân quân tử”. Ông, với tư cách của người lính, đã chiến đấu đến cùng cho điều mình cảm thấy là đúng. Cái chết của Nguyễn Minh Châu để lại một cảm giác bình yên. Bình yên cho ông và bình yên cho những người đang sống. Nhưng buồn. Dù sao thì cuối cùng, sự nhìn nhận về ông cũng đã đúng mức. Ngay năm 1989, ông đã được Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm 1984-1989 cho toàn bộ tác phẩm viết về chiến tranh và người lính. Tập truyện cuối cùng của ông là tập truyện vừa “Cỏ lau” được tặng giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1988-1989). Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật Đợt II năm 2000.

Trong cuốn “Nhà văn của các em” do Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 1996, nhà phê bình Nguyễn An đã viết về Nguyễn Minh Châu: “Nguyễn Minh Châu là nhà văn viết rất kỹ và khá nhanh. Trong số lượng tác phẩm để lại… đọc truyện nào của ông cũng thấy lóe lên một cái nhìn sắc sảo, một sự đầm ấm trong tâm hồn. Nhân vật của ông cũng không đơn giản, sơ lược. Trong hành trình cuộc đời họ dường như luôn luôn có một cuộc đấu tranh dai dẳng, phức tạp. Lối kết cấu tác phẩm và mô tả của Nguyễn Minh Châu cho thấy một sự vận động đổi mới trong nghệ thuật viết văn của ông, trong hướng đi sâu vào thể hiện và phân tích nội tâm nhân vật… Cùng với các tập truyện “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, “Bến quê”, “Mảnh đất tình yêu”… và đặc biệt là tập truyện vừa “Cỏ lau”, Nguyễn Minh Châu đã trở thành một trong những nhà văn đi đầu trong công cuộc đổi mới văn học ở ta”.

Đi sau xe tang ông trong nỗi buồn xót xa, khi đi về nhà qua phố Phủ Doãn lại gặp một đám tang khác. Tôi chợt nhận ra ngày nào tôi cũng đi từ phố Hàng Bông qua Phủ Doãn, ngày nào cũng đi qua tiếng khóc. Vậy là tôi đã viết “Tự khúc” để tưởng nhớ ông:

Ngày nào ta cũng đi qua tiếng khóc

phố Phủ Doãn gặp gỡ bao đám tang

trước mất mát nỗi đau người khác

sao ta dửng dưng 

và mọi người với ta cũng chẳng khác hơn

có lẽ bạn đường với đớn đau là cô độc

và mỗi lần sau khi làm ngơ trước cảnh đời

trái ngược                                                 

lại chỉ mình ta dằn vặt âm thầm

hôm qua ngừng đập một trái tim nhà văn

lặng lẽ chết khi biết mình sẽ chết

ai bảo bây giờ không còn bi kịch

ta buồn đi như thể mưa bay

bao người lính như anh dần khuất xa rồi

bệnh ung thư gậm nhấm từng số phận

chiến tranh còn di căn đeo đẳng

vết thương hồi nào nhức nhói nơi nao

Pop, rock hộc lên òng ọc ti vi màu

cố cưỡng lại kiếp người yếu đuối

quả tim nhỏ của anh đập trong bóng tối

cũng là sương là khói một đời văn.

12/10/2021

Nguyễn Thụy Kha

Nguồn: Văn Nghệ bộ mới, 41/2021

Theo https://vanvn.vn/

 

Thơ Quang Dũng nhìn từ tâm thức văn hóa Việt

Đọc và tìm hiểu tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, một mặt giúp chúng ta giải mã những vẻ đẹp của “giòng sinh mệnh” văn hóa dân tộc kết tinh trong thơ ông, làm nên hệ giá trị riêng của thơ Quang Dũng. Mặt khác, chúng ta hiểu sâu sắc hơn về những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp phong phú đa dạng của nền văn minh sông nước và các phong tục tập quán làm nên phong hóa dân tộc cùng những giá trị văn nghệ dân gian mà nhà thơ Quang Dũng đã phản ảnh trong thơ của mình…

1. Khi nghĩ về Quang Dũng, một gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp, các nhà nghiên cứu thường luận bàn đến phong cách thơ độc đáo của ông qua các bài thơ nỗi tiếng với giọng sử thi đầy chất bi tráng đã trở thành những tượng đại thi ca trong tâm thức người đọc như: Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Quán nước, Đôi bờ… mà ít quan tâm đến việc giải mã tâm thức văn hóa Việt, một phẩm tính làm nên hồn thơ Quang Dũng. Trong bối cảnh văn hóa nước nhà đang đứng trước thảm trạng bị văn hóa Phương Tây xâm lấn dẫn đến nguy cơ mất dần bản sắc văn hóa dân tộc, việc tìm hiểu tâm thức văn hóa của thơ ca, trong đó, có thơ Quang Dũng là vấn đề không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất sâu sắc. Bởi, nói như Abert Camus, một triết gia, một nhà văn nổi tiếng của nhân loại thế kỷ XX, người được trao giải thưởng Nobel văn chương năm 1957 đã xác quyết: “Khi văn hóa xuống cấp, nó rút ngắn con đường dẫn đến nô lệ”. Vai trò của văn hóa đối với sự tồn vong của đất nước và dân tộc là vô cùng hệ trọng. Đây cũng là lý do vì sao tôi chọn tìm hiểu về tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, nhân 100 năm ngày sinh của ông. Bởi, Quang Dũng không chỉ là thi sĩ, ông còn là một họa sĩ, một nghệ sĩ rất am hiểu văn hóa truyền thống dân tộc và văn hóa Việt đã thấm vào hồn thơ của ông như một ám ảnh của vô thức và tâm linh. Điều nầy tạo nên phẩm tính riêng, là hệ giá trị mỹ cảm độc đáo trong thơ Quang Dũng, một thi sĩ mà lòng luôn mở ra với “bốn cõi” để giao cảm và tình tự với thiên nhiên, với cuộc đời như thi nhân đã chia sẻ:“Gói, khăn, trăng, gió trời mây bạc / Hồn nhẹ quên trong xác nặng nề.” (Giang hồ). Tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, vì thế là một điệu hồn làm nên hệ giá trị về những biểu tượng văn hóa đa dạng của thơ ông.

2. Dòng sông – biểu tượng văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng

Nhà thơ Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh ngày 11-10-1921 tại làng Phượng Trì, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông rời xa cõi tạm ngày 13-10-1988. Nơi, thi sĩ Quang Dũng sinh ra, lớn lên là một vùng đất có bề dày truyền thống với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, không phải nơi nào cũng có được. Đan Phương, trước đây gọi là xứ Đoài, nơi đã để lại trong tâm thức nhà thơ biết bao nỗi nhớ tha thiết, đắm say: “Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm / Em đã bao ngày em nhớ thương?” (Mắt người Sơn Tây). Đây cũng là vùng đất có hệ thống sông ngòi chảy qua nên địa hình tương đối bằng phẳng, với lượng phù sa màu mở tạo nên sức sống xanh tươi của vùng nông nghiệp lúa nước. Và cảnh quang môi trường sinh thái này là một dấu ấn văn hóa trong tâm cảm thi nhân, từ đó hình thành phẩm tính của tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng mà biểu hiện rõ nhất là hình ảnh của các giòng sông quê luôn trôi trong tâm thức văn hóa thi nhân như nỗi ám ảnh của cảm thức hiện sinh. Đó là dòng sông Hồng luôn chất chứa trong đôi bờ những trầm tích văn hóa văn hóa làng, là hệ giá trị hình thành căn tố văn hóa dân tộc, bình dị, lắng sâu, ngọt ngào, ẩn chứa những giá trị nhân văn: “Dòng sông Hồng/ Nước đỏ trường giang đất Bắc/ Có đôi bờ xanh ngô lúa phì nhiêu/ Có những làng quê trăng sáng sáo diều/ Bóng cây đa cổ thụ/ Nước vận phù sa/ Bóng soi lều chợ/ Đò ngang tên bến ca dao/ Nghìn năm miếng nước ngọt ngào/ Nuôi sống quê hương dân tộc/ Ai biết tự bao giờ/ Dòng nước đổ về chở nặng đất nguồn/ Bồi lên xứ sở/ Dựng những làng xanh/ Bãi mía nương dâu/ Tươi tốt mỡ mầu/ Thị trấn mái nhà/ Lên dòng khói biếc. (Sông Hồng)

Dòng sông ấy không chỉ là nơi tạo nên các giá trị văn hóa mà còn là nơi lưu giữ những tri thức văn hóa dân gian làm nên sự phong phú của kho tàng văn hóa dân tộc: trữ tình, lãng mạn, chất chứa tinh thần lạc quan, khát khao vươn lên cuộc sống an bình trong sự hòa hợp giữa con người với tự nhiên: “Sông Hồng Hà xa xưa/ Đời cổ tích/ Vua Thủy Tề dâng nước/ Đánh Sơn Tinh/ Núi và sông/ Tranh nhau một chuyện tình/ Gầm thét phong ba phá phách/ Những mẹ già ta/ Lần xâu tràng hạt/ Lầm rầm khấn vái cầu xin/ Khi nhìn dòng nước dâng lên/ Lấp loáng một màu máu đỏ/ Cuốn băng cây rừng/ Xác người, xác hổ/ Trâu, bò, gà, lợn, xác nhà…/ Nhưng Đời Người/ Từ những thuở ông cha/ Vẫn dọc đôi bờ/ Dựng nên cuộc sống (Sông Hồng). Chính vì vậy, dòng sông trong tâm thức văn hóa của thơ Quang Dũng không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa mà còn thức nhận tinh thần ngưỡng vọng về cội nguồn dân tộc như một sức mạnh của “giòng sinh mệnh” văn hóa luôn chảy trong huyết quản mỗi con người: “Con người chúng ta/ Làm sao quên được/ Gốc nguồn theo khu vực về đây/ vận mệnh ta theo/ Sau những luống cày Dọc suốt dòng sông màu mỡ/ Rừng Phú Thọ non cao mộ Tổ/ Nước thiêng soi bóng Hùng Vương/ Mở lối trung du/ Như cổng lớn mở đường/ Tam Đảo Ba Vì tả hữu/ Đỉnh lấp trong mây/ Cột trời kỳ diệu/ Giang sơn ngàn thuở thân yêu (Sông Hồng)

Tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng còn biểu hiện qua nỗi nhớ con sông quê đến quặn lòng những khi xa cách. Đó là nỗi nhớ vừa cụ thể, lại vừa trừu tượng, vừa hiện thực lại vừa lãng mạng nên đi vào lòng người khá tự nhiên: “Trưa hè bỗng nhớ sông quê/ Nước soi bóng vải thuyền đi nặng lòng/ Thóc nhà em có phơi không/ Chói chang lửa thóc sân trông bóng người/ (…) Xa quê đâu chẳng võ vàng/ Trông mây núi nhớ mây làng về trưa (Mây làng)

Không gian văn hóa qua biểu tượng dòng sông của tâm thức Văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng không chỉ có sông Hồng mà còn có vẻ đẹp của sông Đáy. Đây cũng là dòng sông ôm ấp làng quê Đan Phượng của thi nhân. Vì vậy, hình ảnh sông Đáy đi vào thơ Quang Dũng cũng mang sắc màu văn hóa riêng với một vẻ đẹp riêng của phù sa văn hóa Việt: “Rặng vải ven sông Đáy/ Um tùm bóng cuối xuân/ Sông cạn phơi lòng cát trắng/ Người qua nâng váy ôm quần”. (Đất nước) Và cũng là dòng chảy của tình tự dân tộc vốn là những phẩm tính văn hóa luôn hiện hữu trong tâm thức Việt: “Sông Đáy xuôi dài cồn cát mênh mông/ Làng bên bờ xanh mía/ Thoảng mùi hoa lan hoa nhài nhè nhẹ/ Tiếng nói xa dần/ Chiều tím cuối mùa xuân/ Sông nước trong xanh/ Những bước chân tròn cát mịn” (Những cô hàng xén) Có thể nói dòng sông là một không gian văn hóa luôn hiện hữu trong tâm thức của cư dân gốc nông nghiệp như dân tộc Việt. Vì thế, xuyên suốt chiều dài đất nước đã có biết bao dòng sông làm nên phù sa văn hóa của các vùng miền như sông Hồng, sông Thương, sông Lô, sông Cầu, sông Lam, sông Hương, sông Thu Bồn, sông Trà, sông Hậu, sông Tiền… Và gắn với không gian văn hóa của mỗi dòng sông là những quang cảnh văn hóa mang nét đẹp riêng về sinh thái mỗi vùng miền. Điều nầy cũng hiện rõ trong thơ Quang Dũng qua hình ảnh sông Hồng và sông Đáy.

Vốn sống, gắn bó với văn minh sông Hồng, nên thơ Quang Dũng luôn hiện lên bản sắc của nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Đó là hình ảnh những sân vườn của ngôi nhà Việt luôn hiện hữu trong tâm cảm thi nhân với niềm tiếc nhớ khi xa cách : “Trăng sáng sân vườn đôi bóng cau/ Ngồi đây mà gửi nhớ phương nào/ Gió mát long lanh vầng Bắc đẩu/ Tiết hè ếch nhái rộn bờ ao/ Ngồi đây năm năm niềm ly hương/ Quê người đôi gót mỏi tha phương/ Có những chiều trăng tròn đỉnh núi/ Nhà ai chày gạo giã đêm sương/ Tịch mịch sầu rơi bèo râm ran/ Chuối vườn khuya lọt ánh trăng tàn/ Người ơi quê cũ đèn hoe ngọn/ Tóc bạc trông chừng cổng héo hon” (Cố Quận). Hay là hình ảnh ao bèo, vườn chanh, bóng trúc, hương cau nơi vùng quê Bắc Bộ hiện lên trong thơ Quang Dũng như một hệ giá trị của văn hóa Việt đã tích tụ trong hàng ngàn năm văn hiến nhằm minh chứng cho “giòng sinh mệnh văn hóa” dân tộc trong tâm thức thi nhân: “Ngàn năm bèo đọng ở trên ao/ Cô gái vườn chanh thắm má đào/ Quê Việt Nam nằm trong bóng trúc/ Dòng đời thoang thoảng suối hương cau (Hoa Chanh); “Chốc đã bao năm trời/ Chiêm ngập bờ xanh lại/ Sông quê hương như gợi/ Ngày ấy hoa bèo trôi/ Mây thành giăng ngang trời (Đám cưới qua sông Đáy); “Đêm quê càng tỉnh mịch/ Chỉ bèo đê sương rơi/ Quả xoan rụng mái lá/ Lòng khuya càng rối bời” (Cuối thu)

3. Làng – biểu tượng văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng

Nói đến văn hóa Việt không thể không nói đến văn hóa làng, mà trong đó đình làng là một trong những biểu tượng thiêng liêng, là linh hồn của làng. Kim Định trong công trình nghiên cứu văn hóa Triết lý cái đình đã xác quyết: “Cái đình có thể coi là đỉnh chót vót của nền văn minh Viêm Việt. Nền văn minh này đặt nền tảng trên gia đình, nhiều gia đình hợp thành khu, xóm, ấp và đợt cuối cùng là làng” (1) . Vì vậy, tiếp cận tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, ta thấy hình ảnh Đình Chùa, hiện lên trong thơ như những biểu tượng của văn hóa tâm linh, gắn với những ngày lễ hội của làng, hình thành hệ giá trị tinh thần làm nên sức sống ngàn đời của cư dân Việt, để chia sẻ những buồn vui trong phận số con người. Và đây là một bình diện của văn hóa làng luôn khắc sâu trong tâm khảm con dân nước Việt: “Sột soạt khắp đường làng/ Những nếp áo còn mới/ Màu khăn nhiễu tam giang/ Cụ già ấm ly rượu/ Đình chùa vắng khói hương/ Những mẹ già niệm Phật/ Nam vô trong bóng làng” (Có nhớ về đất Bắc). Và cùng với đình, chùa là hình ảnh giếng làng, một biểu tượng của văn hóa nông thôn Việt Nam cũng đi vào tâm thức văn hóa trong thơ Quang Dũng như một hiện thân của bản sắc văn hóa Việt: “Giếng làng còn ướt trăng trên đá/ Chim ngủ xôn xao động lá cành (Đường trăng); Hay hình ảnh một Quán nước ven đường vẫn ẩn chứa trong đó sự ấm êm của một ngôi nhà Việt với những tấm lòng bao dung nhân ái Việt Nam, dù nghèo về vật chất nhưng không nghèo về tình cảm đã làm ấm lòng người lính để họ vững tin trên bước đường hành quân: “Tôi lính qua đường trưa nắng gắt/ Nghỉ nhờ em quán lệch tường xiêu/ Giàn mướp nghèo không hứa hẹn bao nhiêu/ Mùa gạo đắt, đường xa thưa khách vắng” (Quán nước). Sức mạnh tinh thần của văn hóa Việt phải chăng bắt nguồn từ những biểu tượng văn hóa bình dị của nông thôn làng xã Việt Nam nên các nhà nghiên cứu văn hóa đã xác quyết: người Việt Nam có thể mất nước nhưng không thể mất làng là vì thế!?

Như vậy, từ điểm nhìn địa văn hóa, mỗi dân tộc, mỗi vùng miền luôn có một không gian hội tụ và kết tinh khí thiêng sông núi để hình thành nên bản sắc văn hóa của dân tộc đó, vùng miền đó và mỗi con người trong cộng đồng có quyền tự hào về ý thức bảo vệ bản sắc văn hóa của mình nhằm không bị đồng hóa. Là một nhà thơ lại là một mghệ sĩ rất am hiểu văn hóa dân tộc cả văn hóa bác học lẫn văn hóa dân gian, mà văn hóa dân gian phần lớn hội tụ ở văn hóa làng, Quang Dũng luôn quan tâm đến văn hóa dân gian và đây cũng cơ sở hình thành tâm thức văn hóa Việt trong thi giới Quang Dũng. Vì vậy, bên cạnh dòng sông, cánh bèo, giếng làng, đình chùa vốn là những biểu tượng văn hóa Việt gắn cuộc sống ngàn đời của dân tộc Việt, ta còn thấy hiện lên trong thơ Quang Dũng hình ảnh một không gian văn hóa nông thôn Việt Nam hiền hòa, thơ mộng và chất chứa một chiều sâu tâm cảm của cảnh sắc bình dị chân mộc của làng quê Việt: “Bến cuối thôn xuân hoa gạo rơi/ Sông xanh hiền triết lặng trôi xuôi/ Đò ngang một chuyến qua mưa bụi/ Ấm áp trong mưa tiếng nói cười/ Cái giọng ru con từ ngõ trúc/ Thanh bình như phút sống đang trôi (Đất nước). Và đây chính là căn tố tạo nên niềm tưởng vọng trong ký ức văn hóa làng quê đầy hoài niệm đã kết tinh thành tâm thức văn hóa Việt, khiến thi nhân không khỏi chạnh lòng mỗi khi nghĩ về cảnh cũ, người xưa với bao kỷ niệm dấu yêu, hằn sâu trong cuộc đời: “Ngồi đây vời tưởng đường quê hương/ Lúa đã xanh xanh mấy nẻo làng/ Cốm đã thơm mùi, hồng đã chín/ Ao sau vườn cũ nước xanh trong (…) Diều sáo vang không hồn ấu thơ/ Bèo lạnh cầu ao ai đợi chờ? / Một tiếng sung rơi đo lặng lẽ/ Mùa thu xào xạc lá tre khô”. (Thu). Vẫn là dòng sông đó, giếng nước đó, ao bèo đó, đình làng đó mà sao khi xa cách lòng ta lại thấy nhớ thương đến quặn lòng. Làng quê vì vậy, là tình cảm thiêng liêng sâu kín khó thay thể trong tâm thức mỗi người. Phải chăng, bi kịch lớn nhất trong cuộc đời mỗi người là không có một làng quê để tưởng vọng, để thương nhớ, để trở về mỗi khi đời mình chênh chao giữa sóng biển cuộc đời. Có phải vì thế, trong thơ Quang Dũng những giá trị văn hóa làng, một căn tố của văn hóa Việt cứ xao xác mãi trong điệu hồn thơ ông!? Vì vậy, văn hóa làng, một biểu tượng của tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, không chỉ thể hiện qua đình làng chùa làng, vườn tược với hoa trái xanh tươi mà còn thể hiện qua hệ thống giá trị văn nghệ dân gian với các làn điệu dân ca, tiếng đàn bầu, đàn nhị như những thanh âm đồng vọng của tâm hồn dân tộc mà dù ở đâu khi nó ngân lên vẫn chạm đến những nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn văn hóa Việt vì nó chính là hồn quê, hồn nước: “Đâu tiếng đàn bầu hòa trong tiếng nhị/ Tiền đồng vang tiếng chậu thâu/ Quán nước bên sông / Đời của bến tàu/ Trong điệu hát của những người hát xẩm/ Khăn gói trên vai/ Kẻ giang hồ bước chậm/ Nghe hát bài “Anh Khóa” bâng khuâng/ Hồn nước mang đi theo gót ngàn trùng/ Người đi không mấy người trở lại” (Sông Hồng)

Theo Vũ Bằng, khi trò chuyện với L.K.T để tìm hiểu tư liệu về Quang Dũng, ông cho biết: “Quang Dũng còn có cái tài nữa ít có người biết. Sống chung với vợ chồng chúng tôi, găp lúc mưa sầu gió thảm nằm khằn một chỗ Quang Dũng mà ca “sáu câu vọng cổ” thì “mùi” một cây, nhưng đặc biệt không phải là ở điểm đó, mà chính là ở chỗ Quang Dũng đã từng làm nhiều bài ca cải lương cũng hay như thể là thơ anh vậy (…) Ngoài thơ, cải lương, Quang Dũng còn soạn tân nhạc nữa”. (2)  Như vậy, từ trong máu thịt của Quang Dũng những giá trị văn hóa dân gian Việt đã là một phẩm tính trong tâm hồn của thi nhân. Thế nên, tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, còn biểu hiện trong những bài hát cải lương, những câu vọng cổ, những loại hình sân khấu dân gian ăn sâu trong tiềm thức dân tộc và làm say mê tâm hồn những người con dân đất Việt:  “Cô thiếu nữ xinh xinh/ Vừa tan rạp hát/ Bắt chước cải lương/ Hát giữa cầu thang / Một câu vọng cổ (Đường chiều thứ bảy). Không chỉ cải lương, một đặc sản của văn hóa Nam Bộ hiện hữu trong thơ Quang Dũng mà còn có những bài hát ả đào, đặc sản của văn hóa Bắc Bộ cũng ngập tràn trong tâm thức văn hóa Quang Dũng: “Bến vắng thuyền xuôi giọng hát ả đào/ Trăng lạnh mái chèo ca nữ/ Nước êm trôi/ Giấc ngủ nhà chài”. (Bắt đầu) và dòng máu con Lạc cháu Hồng vẫn sống trong tâm thức thi nhân như một biểu hiện rực rỡ về tình tự dân tộc của tâm thức văn hóa Việt: “Xuân đang về khắp nơi/ Giang sơn thắm nụ cười/ Miệng cười trên máu đỏ/ Dòng máu Lạc Hồng tươi” (Bài hát ra đi). Không chỉ có dòng máu lạc Hồng mà những phong tục tập quán trong nền văn hóa Việt vẫn luôn ám ảnh tâm thức của người thi sĩ – chiến sĩ. Vì thế  trên bước quân hành, những biểu tượng văn hóa truyền thống là một thứ dưỡng chất làm nên sự sống, tạo sức mạnh để họ chiến đấu bảo tồn độc lập tự do cho tổ quốc cũng như các giá trị phong hóa của dân tộc: “Những làng trung đoàn ta đóng lại/ Tiếng nêu đưa khách dưới mưa phùn/ Hương đen ngũ quả, màu tranh Tết/ Câu đối mực Tàu bay xa ngát/ Cột nhà tre trúc dãi gan vàng/ Mang câu đối đỏ niềm son sắt…” (Những làng đi qua). Còn đây là hoài niệm về một đám cưới ngày xưa, một trong những vẻ đẹp của phong tục, thể hiện văn hóa hôn nhân và gia đình trong tâm thức văn hóa Việt vẫn hiện hữu trong tâm cảm thi nhân “Ai biết Hồ Nam giờ ra sao/ Xa cách hồn quê động bóng cau/ Đám cưới qua đò quai nón mới/ Mười năm còn tưởng bóng cô dâu” (Hồ Nam)

4. Người phụ nữ – biểu tượng văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng

Trong chuyên luận Triết lý văn hóa – Khái luận, (Văn hữu – Á Châu  Xuất bản, 1959) của Nguyễn Đăng Thục, khi luận bàn về “Tinh thần Việt hóa”, ông viết: “Tinh thần nghệ thuật Việt Nam nằm ở trong cái vũ trụ quan truyền thống của dân tộc. Cái vũ trụ quan ấy thuộc về cái vũ trụ quan truyền thống Á Châu mà dân tộc Việt Nam đã Việt hóa theo dân tộc tính của nó. Vì trước khi thâu hóa của người, thì tự nó đã ý thức được nó là một đơn vị nhân loại sinh hoạt sống động trong một khung cảnh địa lý, khí hậu riêng biệt” (3). Như vậy, Văn hóa của một vùng miền bao giờ cũng gắn cuộc sống và con người văn hóa của vùng miền đó, tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng cũng không nằm ngoài qui luật nầy. Đọc thơ Quang Dũng, biểu tượng văn hóa Việt hiện hữu trong thơ ông không chỉ thể hiện qua không gian văn hóa của một làng quê mang sắc màu của nền văn minh nông nghiệp với dòng sông, giếng nước, ao bèo, hoa trái, phong tục tập quán, những làn điệu dân ca mà còn hiện hữu qua hình ảnh những con người kết tinh những mỹ cảm văn hóa đã đi vào trong văn chương như những tinh tú trên bầu trời văn hóa Việt. Đó là hình ảnh “Cô hàng xén” hiện lên ở những câu thơ đầy mỹ cảm văn hóa mà Quang Dũng đã khắc họa khá tinh tế như một biểu tượng cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam tự ngàn đời: “Những gánh hàng xén bồ căng/ Má hồng thôn nữ/ Thoảng mùi thơm quê mùa/ Hơi thở ấm trầu răng đen rưng rức/ Mẹ già nón nhẹ bay tua/ Tu hú tu hú/ Mùa vải ven bờ/ Nơi quê hương trời xưa ấu thơ/ Mái tóc em vừa vương hương bưởi/ Chân nhẹ nhàng còn dính phấn hoa/ Thôn nào cô mới đi qua/ Gà vừa gáy sáng/ Thắt lưng đào bên sông im lặng/ Kiũ kịt đôi bờ. (Những cô hàng xén). Đó cũng là hình ảnh Cô hàng xén mà nụ cười “như mùa thu tỏa nắng” trong “Bên kia sông Đuống”, của Hoàng Cầm, hay “Cô hàng xén” trong câu truyện cùng tên của Thạch Lam. Đó là những con người mang trong mình  chiều sâu văn hóa Việt, rất đáng để chúng ta ngưỡng vọng.

Vẻ đẹp văn hóa của người phụ nữ qua biểu tượng hình ảnh cô hàng xén hiện lên trong tâm thức thơ Quang Dũng, không chỉ có vẻ đẹp hình thức trang nhã lịch thiệp, dịu dàng vốn là phẩm tính của người phụ nữ Việt mà còn có vẻ đẹp tâm hồn được nuôi dưỡng bằng những giá trị của văn hóa dân tộc qua những  truyện nôm mang sắc màu liêu trai như: Nhị Độ Mai, Phạm Công Cúc Hoa, Truyện Kiều và những chuyện kể đầy huyền thoại trong vườn cổ tích với: Thạch Sanh, Trê Cóc. Và đây cũng là biểu hiện của dấu ấn tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng: “Các cô hàng xén ngày xưa/ Gương tròn bỏ túi/ Tóc giắt hoa nhài/ Hay ngậm ngùi xem Nhị Độ Mai/ Gấp trang sách lại thương đời Cúc Hoa (…) Đôi cuốn Thạch Sanh / Một chồng Trê Cóc/ Khi gió mùa xuân/ Xanh cành tươi lộc/ Bói trang Kiều xem chuyện nhân duyên”. (Những cô hàng xén) Hay thanh âm một tiếng võng đưa kẻo kẹt giữa trưa hè trong âm hưởng của một câu Kiều sâu lắng, thiết tha cũng mang sắc màu văn hóa Việt: “Đôi quán nằm im trong bóng lá/ Bộ hành thiêm thiếp nhớ trung châu/ Kẽo kẹt võng đưa người xứ Bắc/ Oán than Kiều lẩy một vài câu”. (Trưa hè) Và những cô hàng xén trong cái nhìn của Quang Dũng không chỉ là sự tích tụ những giá trị văn hóa truyền thống mà còn là hiện thân của đời sống văn hóa làng quê chân mộc với những buồn vui của phận số con người, trong đó có phận số của những người phụ nữ Việt Nam, cả một đời thương khó, gắn bó cùng quê hương để làm nên bản sắc văn hóa dân tộc mà nếu không có hình ảnh và cuộc sống của họ bản sắc văn hóa dân tộc chắc cũng sẽ bị nhạt nhòa: “Sông hiu hiu chiều/ Gió mát ven đê/ Các cô hàng xén gánh về/ Tiếng cười khúc khích/ Tu hú im rồi/ Vàng nghiêng nắng chếch/ Các cô về qua sông/ Sông Đáy xuôi dài cồn cát mênh mông/ Làng bên bờ xanh mía/ Thoảng mùi hoa lan hoa nhài nhè nhẹ/ Tiếng nói xa dần/ Chiều tím cuối mùa xuân/ Sông nước trong xanh/ Những bước chân tròn cát mịn/ Hàng cau chiều phất phơ/ Diều sáo vang lên trăng sáng tỏ/ Ngõ làng rộn tiếng cười reo, chó sủa/ Hoa lan vào ngõ tối còn thơm”. (Những cô hàng xén). Vì vậy, nhìn từ hệ hình văn hóa dân tộc, hình ảnh những cô hàng xén trong thơ Quang Dũng là sự kết tinh của các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, bởi chính họ là hiện thân vẻ đẹp của văn hóa Việt, sống mãi trong ca dao cổ tích: “Các cô hàng xén về làng/ Mai lại đi từ tối đất/ Cần cù nuôi mẹ nuôi em/ Những cô hàng xén tên xinh/ Đẹp như ca dao nước Việt” (Những cô hàng xén)

Có thể nói, trong thơ Quang Dũng vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc luôn gắn với tài hoa và nhan sắc của người phụ nữ. Hay nói cách khác, vẻ đẹp của người phụ nữ đã trở thành một phần không thể thiếu của tâm thức văn hóa Việt, là nét độc đáo trong thi giới Quang Dũng. Thế nên, bên cạnh hình ảnh cô hàng xén đã “gồng gánh trên vai” mình những dấu ấn văn hóa Việt thì hình ảnh  người ca nữ ngày xưa cũng hiện lên trong tâm thức của thi nhân với một vẻ đẹp của sự tài hoa độc đáo của văn hóa Việt: “Em là con hát ở bên sông/ Đàn phách là đôi bạn khốn cùng/ Khách ghé phương nào thây kiếp khách/ Hoài đâu nước mắt khóc tình chung”. (Đêm Việt Trì). Người ca nữ ngày xưa trong xã hội cũ vốn được / bị xem là “xướng ca vô loại” nhưng trong thơ Quang Dũng họ được xem là một phần không thể thiếu của văn hóa Việt. Sự chuyển hóa cảm thức nầy cho thấy cái nhìn của Quang Dũng về cô Ca Nữ là cái nhìn cảm thông của những người nghệ sĩ “liên tài”, cho dù họ có hoàn cảnh sống khác nhau. Thế mới biết sự cảm thông và độ lượng, khoan hòa cũng là một phẩm tính của nhân cách văn hóa ở người nghệ sĩ đích thực!? Và đây cũng là bình diện cho thấy tính nhân văn trong thơ Quang Dũng.

Song hình ảnh Người phụ nữ – biểu tượng văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng không chỉ có Cô hàng xén, cô kỹ nữ mà ẩn sâu trong tâm thức văn hóa và thi ca của nhà thơ đó là hình ảnh của Người mẹ Việt Nam, một biểu tượng cao đẹp của văn hóa Việt luôn gắn với hình ảnh quê hương, qua tiếng ru hời lắng sâu trên dòng sông, bến nước, tan hòa trong những khúc ca dao, những câu truyện cổ tích, trôi trong tâm cảm thi nhân như hiện thân của linh hồn văn hóa Việt: “Chiều xuống hồn người/ Bến rộng sông dài/ Nước đỏ mênh mông/ (…) Mẹ là Việt Nam hiền hậu vô cùng/ Đã hát ru con những lời cổ tích”. (Nhớ về mẹ). Vì vậy, trong tâm thức thi nhân nhớ về Mẹ là nhớ về những ký ức văn hóa mà ở đó hình ảnh quê hương luôn hiện lên từ những hoài niệm hằn sâu dấu ấn tâm thức văn hóa Việt: “Mẹ sống những ngày đất khách/ Nhớ mẹ ngày xưa thuộc hết truyện Kiều (…) Đi về một miền quê ngoại ngày xưa/ Có khói thui bò/ Có trống làng tế lễ/ Và có những tiếng cười con trẻ/ Cầm nắm xôi phần/ Có hơi rượu cụ già/ Ấm trong hơi mùa xuân” (Nhớ về mẹ). Và hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, hình ảnh người mẹ trong thơ Quang Dũng đã hóa thân thành hình ảnh đất nước quê hương mãi ám ảnh tâm thức thi nhân như là một biểu tượng cao đẹp của tâm hồn Việt, văn hóa Việt chảy mãi trong thơ, tồn sinh cùng sức sống văn hóa dân tộc…

5. Thay lời kết

Từ điểm nhìn Dân tộc, Nhân bản và Khai phóng, văn hóa không chỉ là chìa khóa mở cánh cửa tri thức để con người biết khám phá và sáng tạo những giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần mà cũng là chìa khỏa mở cánh cửa tâm hồn con người để xua tan bóng tối vốn là nơi ẩn nấu của cái ác, cái xấu, cái đớn hèn, giúp con người vươn đến ánh sáng của những giá trị nhân văn vốn là căn tố để hình thành những nhân cách văn hóa cao đẹp gắn với bản sắc văn hóa dân tộc. Đọc và tìm hiểu tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, một mặt giúp chúng ta giải mã những vẻ đẹp của “giòng sinh mệnh” văn hóa dân tộc kết tinh trong thơ ông, làm nên hệ giá trị riêng của thơ Quang Dũng. Mặt khác, chúng ta hiểu sâu sắc hơn về những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp phong phú đa dạng của nền văn minh sông nước và các phong tục tập quán làm nên phong hóa dân tộc cùng những giá trị văn nghệ dân gian mà nhà thơ Quang Dũng đã phản ảnh trong thơ của mình. Từ góc nhìn này, ta thấy thơ Quang Dũng không chỉ là một tượng đài thi ca mà còn là một tượng đài văn hóa trong tâm thức người đọc mà chúng ta cần có ý thức gìn giữ và phát triển, nhất là  hiện nay, khi nền văn hóa dân tộc đang đứng trước những thách thức của xu hướng toàn cầu hóa, nếu không có ý thức và bản lĩnh giữ gìn văn hóa dân tộc thì việc bị tha hóa và lưu vong về văn hóa ngay trên đất nước mình là một tất yếu khó tránh khỏi. Bởi, nói như F. Konoye: “Văn hóa của một dân tộc là gương soi phản chiếu kiến thức, tín ngưỡng và truyền khẩu của nó. Nói tắt đó là chìa khóa mở của kiến thức và luật pháp của dân tộc” (4). Tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng vì vậy là một hệ giá trị làm nên phẩm tính dân tộc trong thơ ông, góp phần lưu giữ, trao truyền văn hóa truyền thống dân tộc trước những cơn bão của văn hóa phương Tây, trong xu hướng hội nhập và phát triển. Bởi, một dân tộc không giữ được nền văn hóa với bản sắc riêng thì dân tộc đó không thể tồn sinh và con đường dẫn đến nô lệ văn hóa là tất yếu. Văn hóa, vì thế, không chỉ là một hệ giá trị mà còn là một là một yếu tính tồn sinh của dân tộc.

Chú thích:

(1) Kim Định, Triết lý cái đình, Nguồn Sáng xuất bản, Sài Gòn, 1971, tr.31

(2) Vũ Bằng “Tất cả sự thật về nhà thơ Quang Dũng”, Văn học số 140, ngày 15/11/1971, tr.29 – 30

(3) Nguyễn Đăng Thục, Triết lý văn hóa – Khái luận, Văn hữu – Á Châu Xb, Sài Gòn, 1959, tr.180

(4) Hoàng Xuân Việt, Danh ngôn từ điển, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1972, tr.383

* Thơ trích dẫn ở bài viết đều lấy trong Quang Dũng, Mắt người Sơn Tây, (Thơ văn tinh tuyển), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2012.

Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 18/8/2021

Trần Hoài Anh

Theo https://vanvn.vn/

 

Thơ Quang Dũng và những thương nhớ trên đường

Nhìn tổng quát đời thơ Quang Dũng, dễ thấy chủ thể trữ tình trong các sáng tác của ông thường là kẻ đang dấn bước trên những hành trình xê dịch.

Hồn thơ Quang Dũng sớm biết rung cảm trước những cuộc lữ. Bài Chiêu Quân ông viết năm mười sáu tuổi là một thí dụ: Đây Nhạn Môn quan đường ải vắng/ Trường thành xa lắm Hán vương ơi!/ Chiêu Quân che khép mền chiên bạch/ Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi. Năm năm sau, tức năm 1942, khi viết Giang hồ, Quang Dũng càng tỏ rõ nỗi xúc động đặc biệt của mình trước những kiếp gió bụi: Mấy gã thanh xuân, lòng bốn cõi/ Nhẹ nhàng thân gửi kiếp ra đi/ Gói, khăn, trăng, gió trời mây bạc/ Hồn nhẹ quên trong xác nặng nề.

Điều này có vẻ hơi khác thường, song nếu biết đôi chút về đời tư Quang Dũng, hẳn sẽ thấy không có gì khó hiểu cho lắm. Quang Dũng sinh năm 1921, quê ở làng Phượng Trì, xã Đan Phượng, tức phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây xưa – vùng bán sơn địa cổ thường được gọi với cái tên bình dị là xứ Đoài. Nhưng quãng thời gian Quang Dũng gắn bó với nơi này không dài. Mới lên bảy, ông đã được gia đình cho ra Hà Nội học, ở nhà người cậu ruột. Cảnh sống xa nhà và những thân phận u uẩn chiều lưu lạc/ buồn viễn xứ khôn khuây có lẽ vì vậy mà đã ám ảnh tâm hồn Quang Dũng ngay từ thơ ấu.

Từ năm 1946, khi gia nhập Vệ quốc đoàn rồi trở thành một thành viên của Binh đoàn Tây Tiến, ông càng dấn mình vào kiếp phiêu bạt. Cuốn hồi kí Đoàn Võ trang Tuyên truyền Biên khu Lào – Việt(1) được Quang Dũng hoàn thành năm 1952 là bản biên sử sinh động về quãng đời lênh đênh đầy nhọc nhằn nhưng lãng mạn và tươi đẹp ấy. Mà có lẽ cũng chính từ đây, ông bắt đầu nhận ra cái khoái thú của những chuyến đi. Cho nên sau này, dù đã giải ngũ, chuyển sang làm công tác văn hóa, xuất bản rồi về hưu, ông vẫn không quên được đời ngao du bay nhảy, thậm chí xem đó như một niềm mê đắm. Nhà thơ Trần Lê Văn, trong Lời giới thiệu Tuyển tập thơ văn Quang Dũng (Nxb Hội Nhà văn, 2014), khẳng định điều ấy khi nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng, người bạn thân của ông có niềm say mê “được luôn luôn cất bước trên những dặm đường”, lúc nào cũng “hăm hở đi, mải miết đi, như có một ma lực lôi kéo”.

Tâm thức lữ khách ấy len vào đến tận nguồn mạch thơ ca Quang Dũng, làm thành một thứ thơ mà tôi muốn gọi là thơ “ở trên đường”.

Nhìn tổng quát đời thơ Quang Dũng, dễ thấy chủ thể trữ tình trong các sáng tác của ông thường là kẻ đang dấn bước trên những hành trình xê dịch. Đó là chàng lính vệ quốc đang hành quân trong Tây Tiến, Sử một trung đoàn, Quán bên đường, Mắt người Sơn Tây, Nhà bên đường, Lính râu ria, Nhớ… Đó là kẻ sống đời lữ thứ trong Cố quận, Những cô hàng xén, Buồn êm ấm, Thu… Đó là người viễn khách đang trên đường qua Bố Hạ, đến Việt Trì, đi ngang sông Châu, Phủ Lí, trằn trọc đêm Bạch Hạc, nín thở vượt dốc Pha Đin… Chưa kể, thử lướt qua phần cuối các bài thơ, nơi Quang Dũng ghi lại địa điểm sáng tác và nhất là nhìn vào sự hiện diện dày đặc của hàng loạt địa danh khác nhau, những tên đường, tên sông, tên núi trải từ miền ngược đến miền xuôi trong thơ Quang Dũng (đơn cử đoạn trong bài Bắt đầu: Ôi sông Hồng Hà cuộn đỏ/ Đêm thu qua bến Việt Trì/ Sông ơi có biết/ Lòng người ra đi/ Cổ Đô – Thổ – Tạng – những làng/ Sơn Tây – Ba Vì những núi/ Bạch Hạc là đâu/ Phong Châu đất cũ/ Bến vắng thuyền xuôi giọng hát ả đào/ Trăng lạnh mái chèo ca nữ), người ta đã phần nào hiểu được sức đi của vị thi sĩ tài hoa này và cái cảm hứng “trên đường” chảy rào rạt trong thơ ông.

Nói đến đi và viết, có một thực tế thường thấy, rằng khách văn chương, khi bước vào những hành trình, hình như không phải muốn kiếm tìm hay phát kiến ra một thứ gì mới mẻ. Họ không phải là Columbus dong thuyền ra khơi trong niềm khát khao những vùng đất lạ; họ không giống Darwin lênh đênh trên biển suốt nhiều năm để quan sát và ghi nhận tự nhiên, từ đó gây dựng thuyết tiến hóa; và họ cũng khác Lévi-Strauss – người từng bỏ công đi sâu vào vùng rừng rậm Amazon, tìm đến những bầy người da đỏ nguyên thủy để khám phá xem đâu mới là cái cơ cấu tư duy phổ quát của nhân loại đã có từ thượng cổ. Người văn chương, ngược lại, ra đi kì thực là để tâm thức thực hiện những cuộc trở về. Tôi rất thích tựa đề quyển bút kí của nhà văn Lê Vũ Trường Giang, “Đi như là ở lại”. Nghe có vẻ nghịch nhĩ, song thực tế là trên những chặng đường ra đi ấy, hẳn có lúc ta đã để lại một mảnh hồn, một khối tình cho những xứ sở ta qua, cho ngọn cỏ dại ta nhìn thấy bên đường, cho trang sách ta tình cờ lần giở, cho tiếng chuông sơn tự vang vọng vào những buổi sớm sương giáng… Cứ thế, ta đi nhưng thực ra đã mãi ở lại trong những nơi chốn mà ta từng đến, trong những duyên tình ta hạnh ngộ. Đi vì thế cũng là một cách nhung nhớ, mà thậm chí sâu bền và mãnh liệt hơn nhiều so với ở lại: sự quen thân, nghịch lí thay, nhiều khi mới chính là nguồn cội của quên lãng.

Thơ ca Quang Dũng phát khởi từ chính những thương nhớ trên đường như vậy. Điều này lí giải vì sao trong nhiều bài thơ về đời lính, Quang Dũng không nói đến những đoàn quân hào khí ngút trời hay những chiến công hiển hách, oai dũng, mà lại rất hay kể về chặng đường hành quân gắn với những kỉ niệm chỉ một lần gặp gỡ.

Đó là những cái quán nhỏ, những mái tranh vẹo xiêu ở lưng chừng đèo dốc mà ông và đồng đội, trong một đêm ngắn ngủi nào, đã dừng lại nghỉ chân: Khuya khoắt sông bờ vắng/ Lửa hồng quán tản cư/ Lính mấy chàng vất vả/ Tìm sống một đêm thơ (Lính râu ria); Đây căn nhà chật hẹp/ Tạm bợ dựng bên đường/ Tường xếp gạch phá hoại/ Đôi mái liếp che sương/ Năm năm trời kháng chiến/ Đây làm quán giang hồ/ Cửa rộng đón bằng hữu/ Rừng núi về trung du (Nhà bên đường); hay Nhà tranh hốc hác/ Cuối làng chơ vơ/ Đường xa công tác/ Người lính ghé nhờ (Nhớ).

Đó là một đêm vui hiếm có giữa rừng Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa/ Kìa em xiêm áo tự bao giờ/ Khèn lên man điệu nàng e ấp/ Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ (Tây Tiến), là một khoảng yên bình chóng vánh thời chiến mà thi sĩ bắt gặp trên đường hành quân Bên cuối thôn xuân hoa gạo rơi/ Sông xanh hiền triết lặng trôi xuôi/ Đò ngang một chuyến qua mưa bụi/ Ấm áp trong mưa tiếng nói cười/ Cái giọng ru con từ ngõ trúc/ Thanh bình như phút sống đang trôi (Đất nước).

Đó còn là cô em gái tản cư chung cảnh ngộ “thiếu quê hương” Và chợt nhớ chúng ta xa nhà cửa/ Em tản cư tôi làm lính tiền phương/ Quê Hà Nội cùng xa từ một thuở/ Lòng rưng rưng thương nhau qua dọc đường (Quán bên đường), là người gái núi vừa gặp gỡ đã phải chia xa Ngỡ hết thôi rồi muôn giới biên/ Em là gái núi mộng bình yên/ Anh là trai lỗi thời binh lửa/ Môi lạnh không chờ chuyện lứa duyên (Đêm lạnh).

Thơ Quang Dũng viết sau khi ông rời quân ngũ vẫn tiếp nối mạch cảm hứng của các sáng tác giai đoạn trước đó, vẫn là những hành trình đi và viết, nhưng tâm thức lính đã nhạt dần, nhường chỗ cho những xúc cảm mang đậm màu sắc thế sự hơn. Có nhiều bài là nỗi xót xa trước những điêu tàn thời chiến như Đường chiều thứ bảy, Chabbi – Chabbi, Nhớ bạn, Những nghĩa trang… Song cũng có những bài như Bắt đầu, Rừng, Hoa chè, Pha Đin, Bất Bạt đêm giao quân, Những người tóc đã trắng, Mây đầu ô… lại là lời ca hi vọng, là tiếng reo vui, dầu vẫn ở giọng trầm, trước những sinh sắc chớm nở ở miền Bắc hậu chiến.

Tuy nhiên, có một thứ kí ức sâu đậm hơn tất thảy, thứ kí ức đã ở lại và day dứt mãi trong suốt cuộc đời Quang Dũng dù những hành trình thăm thẳm có đưa bước chân ông đi đến tận đâu, và ngược lại, có lẽ cũng chính vì đi nhiều mà cái kí ức ấy trong ông càng nhức nhối. Tôi đang muốn nhắc đến nỗi nhớ cố hương phủ dày trong thơ Quang Dũng.

Hãy thử làm một thống kê: Ngồi đây năm năm miền li hương/ Quê người đôi gót mỏi tha phương (Cố quận); Bộ hành thiêm thiếp nhớ trung châu (Trưa hè); Và chợt nhớ chúng ta xa nhà cửa (Quán bên đường); Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt/ Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì, Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm, Buồn viễn xứ khôn khuây (Mắt người Sơn Tây); Hồn còn buồn vương hình dáng quê xưa (Tình quê); Quê mẹ không còn dấu vết/ Như chẳng có bao giờ (Nhớ về mẹ); Có nhớ về đất Bắc/ Những người xa quê hương (Có nhớ về đất Bắc); Trưa hè bỗng nhớ sông quê (Mây làng); Ai biết Hồ Nam giờ ra sao/ Xa cách hồn quê động bóng cau (Hồ Nam); Áo chàm lên ga/ Hương rừng đã ngái/ Chạnh niềm quê hương (Bắt đầu); Đường về quê hương về quê hương/ Có một ngày sao mà bất tận (Không đề 2); Em chở anh qua đò/ Đi tòng quân một sớm/ Dòng sông của quê ta/ Trong mắt anh chầm chậm (Đám cưới qua sông Đáy); Nhớ Sơn Tây hơn một mối tình (Gửi Sơn Tây); Sấm đầu mùa đã động/ Sao động lòng tha hương? (Chiều núi mưa rào); Nước mắt em buông lã chã/ Long lanh nhớ giếng quê nhà (Bắt tép kho cà); Đất đá ong trong lòng giếng mát/ Ôi Sơn Tây! Sài Sơn yêu thương! (Nhớ một bóng núi)…

Dễ thấy, trong thơ Quang Dũng, nỗi nhớ quê hương của ông đã được bày ra với gần như toàn bộ những cạnh khía, những biến thể phức tạp nhất của nó. Quang Dũng nhớ đất, nhớ sông, nhớ núi, nhớ da diết cảnh mây trắng trùm bọc xứ Đoài, nhớ cái giếng nước mát, những tảng đá ong, thậm chí chỉ cần nghe tiếng sấm một chiều giữa rừng, ông cũng bâng khuâng nhớ thương quê cũ.

Nhưng thao thiết và ám ảnh nhất có lẽ vẫn là nỗi nhớ về những cố nhân nơi quê xưa, nỗi nhớ đã trở thành nguồn cảm hứng cho Đôi bờ, Mắt người Sơn Tây, Những cô hàng xén – những bài thơ tiêu biểu nhất làm nên tên tuổi Quang Dũng. Đôi bờ mở ra một bến sông khuya chìm khuất trong rét mướt và mưa bụi, nhưng nỗi nhớ và khói thuốc đã đưa người em gái bên bờ sông Đáy quê cũ năm nào trở về trong mộng mị: Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa/ Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ/ Thoáng hiện em về trong đáy cốc/ Nói cười như chuyện một đêm mơ. Mắt người Sơn Tây lại diễn tả cái khắc khoải trong một đôi mắt xứ Đoài, đôi mắt mà binh lửa, lưu lạc và điêu tàn đã hằn lên thành những “suối lệ”. Trong khi đó, Những cô hàng xén lại là nỗi nhớ đẹp về một làng quê Bắc Bộ tươi nhuận đang vào độ vải chín, và nhất là về những cô gái hàng xén ven sông Đáy duyên xinh, “đẹp như ca dao nước Việt”…

Mỗi lần đọc thơ Quang Dũng, tôi hay nhớ về chân dung ông, bức chân dung chàng quân nhân Bùi Đình Diệm chụp những ngày Tây Tiến với chút râu ria điệu nghệ, nhân trung hõm rõ, mà nhất là đôi mắt, một đôi mắt sâu, xa vắng, thăm thẳm. Mắt người Sơn Tây có đoạn: Đôi mắt người Sơn Tây/ U uẩn chiều lưu lạc/ Buồn viễn xứ khôn khuây. Nhiều người sẽ nghĩ rằng đôi mắt ấy là đôi mắt của một người con gái. Nhưng có gì để bảo chứng? Trong một thoáng mơ lãng, tôi nghĩ đó cũng rất có thể là bức tranh bằng chữ mà Quang Dũng đã dùng để tự họa đôi mắt mình – đôi mắt mà ông cho là “u uẩn” vì “buồn viễn xứ”. Viễn xứ quả là buồn, và Quang Dũng thực ra thấm thía lắm nỗi buồn ấy. Dầu vậy, ông vẫn đi, tha thiết được đi, đi như một phận sự và đi như một lời réo gọi từ nội tại. Bởi rõ ràng những hành trình trong đời đã khiến nỗi nhớ trong ông thêm cuồn cuộn và sâu thẳm. Những thương nhớ trên đường u uẩn ấy, chính chúng tạo cho thơ Quang Dũng một thứ hồn cốt hiếm có, một thế đứng độc đáo trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam.

Chú thích:

1. Quyển hồi kí vừa được gia đình nhà thơ Quang Dũng công bố vào năm 2019, Nxb Kim Đồng ấn hành, đặt lại tên là Đoàn binh Tây Tiến.

16/10/2021

Nguyễn Đình Minh Khuê

Theo https://vanvn.vn/

 

Thơ Đỗ Trung Lai và những cảm thức về mùa thu…

Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai là những mỹ cảm mang tính khai phóng, nhân bản, dân tộc, nên có ý nghĩa dự báo khá sâu sắc. Bởi, trong tâm cảm thi nhân luôn hiện hữu một tâm hồn Việt Nam mà ở đó: “Có một Thăng Long thương nhớ/ Người đi mở cõi mơ về/ Có một Thăng Long thon thả/ Khép hờ vạt áo ngoài kia”…

1. Tự ngàn xưa, mùa thu đã là đề tài muôn thuở của thi ca nhạc họa. Song, không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa một phạm vi phản ảnh cuộc sống, mùa thu còn là mỹ cảm, là nỗi ám ảnh của vô thức và tâm linh tạo nên dự phóng sáng tạo của người nghệ sĩ. Vì vậy, không lạ gì, trong âm nhạc Việt Nam đã tồn tại những tình khúc tuyệt đỉnh về mùa thu như: Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong; Gửi gió cho mây ngàn bay, Lá đổ muôn chiều, Thu quyến rũ của Đoàn Chuẩn -Từ Linh; Thu cô liêu, Buồn tàn thu của Văn Cao; Mùa thu chết, Nước mắt mùa thu của Phạm Duy; Thu vàng của Cung Tiến; Nhìn những mùa thu đi của Trịnh Công Sơn; Mùa Thu cho em của Ngô Thụy Miên; Thu hát cho người của Vũ Đức Sao Biển… Hay trong thi ca như: Thu ẩm; Thu Vịnh; Thu Điếu của Nguyễn Khuyến; Cảm thu – tiễn thu của Tản Đà; Tiếng thu của Lưu Trọng Lư; Đây mùa thu tới của Xuân Diệu; Nắng thu của Nam Trân; Thu của Chế Lan Viên; Chiều thu của Thái Can; Cây bàng cuối thu của Nguyễn Bính; Cuối thu của Hàn Mặc Tử, … Thế nên, không phải ngẫu nhiên, trong “Khúc ngâm mùa thu”, Đỗ Trung Lai đã viết những câu thơ với xúc cảm khá tinh tế, thể hiện niềm khắc khoải, ưu lo về sự hiện hữu và tồn sinh của mùa thu mà khi đọc lên ta không khỏi thấy nao lòng: “Ngàn năm xưa đã thu rồi/ Ngàn năm sau nữa đất trời còn thu/ Chỉ lo lòng đất không mùa/ Làm sao nghe được tiếng thu dịu dàng!/ Tìm đâu cho đủ hoa vàng/ Để ta kết chuỗi trang hoàng cho thu”?.

Như vậy, đề tài mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, không phải là điều mới lạ. Song, cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai mang những nét suy tưởng riêng, thủ pháp riêng, thể hiện nét độc đáo trong cá tính sáng tạo mang dấu ấn Đỗ Trung Lai, không lặp lại ai và cũng không lặp lại chính mình, điều quan thiết trong hành trình sáng tạo của người nghệ sĩ. Bởi, đối với sáng tạo nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật thi ca, việc lặp lại người khác hay lặp lại chính mình là tự đóng đinh mình trên cây thập giá văn chương. Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai vì vậy, là một sáng tạo riêng có của thi nhân. Đó là một bức tranh đa sắc màu, đa chiều kích, mà ở mỗi bài thơ viết về mùa thu đều thể hiện một cảm thức, một cái nhìn riêng về thiên nhiên, con người trong cõi nhân sinh đầy biến động khôn lường. Mùa thu đã trở thành một không gian văn hóa – hiện sinh, một thế giới nghệ thuật ám ảnh tâm thức thi nhân. Thế nên, chỉ với ba tập thơ xuất hiện những năm gần đây của Đỗ Trung Lai như: Thơ – 30 (2013); Ơ thờ ơ (2013); Bảo dông dài ừ dông dài… (2019) đã có 18 bài thơ viết về mùa thu, chưa kể những câu thơ nói đến mùa thu trong các bài khác. Đó là các bài thơ: Khúc ngâm mùa thu; Thu cảm; Thu sang (Thơ – 30); Môi dịu dàng, ta gọi:“Bắc Giang thu!”; Thu tàn Tam Cốc; Tìm một mùa thu cũ;  Mùa thu uống rượu bên hồ Thiền Quang; Một chiều thu; (Ơ thờ ơ); Thu vào chơi Yên Tử; Thu qua cửa Bắc; Tết trùng cửu, cùng thu qua Chùa Hương; Thu, nhớ Lưu Trọng Lư; Thu, nhớ Quang Dũng; Thu về với sông Thao; Thu sớm; Đêm thu, dắt cháu vào phố cổ; Nhời thu đã cạn (Bảo dông dài ừ dông dài…). Có thể nói, mỗi bài thơ viết về mùa thu là một thi giới thể hiện một nhãn quan, một mỹ cảm riêng của thi sĩ, kết tinh thành cảm thức thu vừa truyền thống, vừa hiện đại mà các bài thơ nói trên là một minh chứng. Bởi, theo Max Jacob: “Cả một thế giới trong một con người, đó là nhà thơ hiện đại”. (1)

2. Điều nhận biết trước tiên, khi giải mã cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai đó là sự hoài niệm về không gian văn hóa thu của Thăng Long hiện hữu  từ ngàn năm, có thể mất đi bất cứ lúc nào trước sự thờ ơ, vô cảm của chính những con người đã/ đang/sẽ sống ở đất kinh kỳ như một lời tự vấn đến tê buốt!?: “Có một Thăng Long xa lắm/ “Lối xưa, xe ngựa, hồn thu…/ Có một Thăng Long đang thở/ Bên ta từng phút từng giờ/ (…) Có một Thăng Long răng trắng/ Cắn vào quả sấu đầu thu”. (Thăng Long) Hoài niệm về những ký ức lịch sử, văn hóa Hà Nội hiện hữu trong thơ viết về mùa thu của Đỗ Trung Lai, còn là sự cảm nhận từ tinh thần mùa thu cách mạng Tháng Tám năm nào khi “Tám mươi năm vong nô/ Giờ thành dân độc lập/ Lòng ai không mở cờ/ Tái sinh cùng giời đất”, để rồi: “Nay cùng thu bình thường/ Dạo bên thành Cửa Bắc/ Nhớ về thu năm xưa/ Lòng tự nhiên hành khúc”. (Thu, qua cửa Bắc) Hay là cảm thức hiện sinh về sự hiện hữu của mùa thu qua biểu tượng: “một chiếc lá bàng vàng mơ… trỏ về cuối thu…” và những suy niệm giàu chất triết luận với diễn ngôn mang tính chất vấn về những vấn đề nhân sinh không dễ trả lời: “Ông ơi! Lá vàng tên gì? / Lá vàng tên là hữu hạn/ Ông ơi hữu hạn là gì? / Nghĩa là rồi xa muôn dặm (…) Là cháu không còn ông dắt!/ Sao cháu lại không còn ông”. (Đêm thu, dắt cháu vào phố cổ) Và, cuộc “đối thoại” giữa “ông – cháu” đó là cuộc “đối thoại” giữa hai thế hệ kết thúc bằng một câu thơ bất ngờ nhưng hợp logic và thú vị: “Kìa! Khéo lá vàng bay mất!”… Thông điệp của bài thơ đã rõ: Hãy biết trân quí những gì hiện hữu dù đó chỉ là “chiếc lá vàng” cuối thu còn lại, không nên đi tìm những gì viễn mơ, chẳng có ích cho cuộc sống. Tâm thức hiện sinh nhân bản cũng bắt nguồn từ những điều bình dị ấy!?

Luận bàn về phẩm tính của nhà thơ, Friedrich Schiller xác quyết: “Tiềm thức hợp với suy tưởng, tạo thành nhà thơ”.(2) Như vậy, tiềm thức có vai trò quan trọng trong sáng tạo thi ca và đây là điều thể hiện khá rõ ở cảm thức mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, khi phần lớn các bài thơ viết về mùa thu của Anh luôn bắt nguồn từ trong “tiềm thức và suy tưởng” mà cảm thức hiện sinh mang màu sắc triết luận là một bình diện thể hiện khá sâu sắc vấn đề nầy. Đó là không khí Phật đài mang sắc màu huyền ảo và thiền định ở bài thơ “Tết trùng cửu, cùng thu qua chùa Hương”: “Gác gió, chuông chùa buông đủng đỉnh/ Sơn Thủy đồng sàn cùng vô thường/ Phật điện đồng môn tam –tứ phủ/ Tục lụy xa dần, gần thiên lương …”; Là những hoài niệm đang xen giữa quá khứ và hiện tại, giữa xưa và nay với những lời tự vấn đầy trăn trở trong “Mùa thu uống rượu bên hồ Thiền Quang”, một danh thắng của Hà Nội ngàn năm: “Thiền Quang xanh dưới thấp/ Da trời xanh trên cao/ Thu phân rồi đấy nhỉ? Người xưa giờ ra sao?“, để rồi, điều còn lại trong tâm cảm thi nhân là những hoài vọng xa mờ về một thời quá vãng: “Ly này ai vừa rót/ Ta rót vào hồ thu/ Người xưa là chiếc bóng/ Ngày xưa là sương mù”. Bởi, nói như Huỳnh Phan Anh: “Thơ ở giữa có và không, thực hữu và hư vô, mời gọi và từ chối”.(3)

3. Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai không chỉ có những hoài niệm, ký ức đong đầy không gian văn hóa về thu Hà Nội, mà còn có thi giới thu ở nhiều vùng văn hóa khác của đất nước. Đó là một thi giới đầy ám ảnh với những dấu ấn khó phai mờ của sự quyện hòa giữa mộng và thực, giữa hiện hữu và hư vô kết tinh thành những suy niệm đầy tính triết luận thấm đẫm không gian thiền học: “Cuối đường hun hút cỏ/ Đền hai Vua chập chờn/ Nợ anh hùng trả hết/ Về đây ngồi tham thiền”. (Thu tàn Tam Cốc) hay: “Lá chạm tay người dường tay Bụt/ Tán oan, phổ độ cả mười phương/ Nâng lão mai trà là thu ẩm/ Thiền đàm, Phật pháp được hoằng dương” (Tết trùng cửu, cùng thu qua chùa Hương). Sự kết tinh tư tưởng triết luận nầy được thi nhân biểu đạt khá uyên áo trong bài “Thu vào chơi Yên Tử” với việc sử dụng câu hỏi tư từ như một thủ pháp độc thoại: “Hỏi ai người lục thức/ lục căn/ hiếu tử/ minh quân/ nghiêm phụ…/ Hỏi ai người thiền nhân/ Hỏi ai người thi sĩ/ Hỏi ai ngang thánh thần” và kết thúc bằng câu trả lời mang chất thiền luận: “Không người, đành hỏi gió/ Gió thổi vào Trúc Lâm”. Còn ở bài thơ “Thu tàn Tam Cốc” là niềm trăn trở về những giá trị văn hóa tốt đẹp từ truyền thống vọng về: “Sen Tam Cốc tàn rồi/ Chờ người người chẳng tới/ Một trời thu vô duyên/ Ta quay về bến đợi/ Đá muôn tuổi làm núi/ Nước muôn năm làm đường/ Thu tàn muôn năm khói/ Đò đi về trong sương”. Bài thơ là một lời tự vấn đầy khắc khoải về quá khứ, không dễ trả lời luôn ám ảnh tâm cảm thi nhân: “Sơn hà đầy trong mắt/ Người của ta đâu rồi?/ Mặc ba ngàn du khách/ Ta cùng thu gọi người”.

Mặt khác, trong cảm thức về mùa thu, cùng với không gian văn hóa, lịch sử ở các danh thắng, Đỗ Trung Lai còn dành tình cảm đặc biệt cho các nhân vật lịch sử của dân tộc. Đó là hình ảnh người anh hùng Đề Thám và những nghĩa quân Yên Thế đã hy sinh đời mình cho tổ quốc trong bài thơ “Môi dịu dàng, ta gọi: “Bắc Giang thu!”, mà mỗi câu thơ đều mang sức nặng của tình yêu nước: “Nắng nhuộm vàng cây, lúa trải đỏ đồng/ Thu thắng trận, thu hòa đàm, thu thất thế/ Thu chết tướng, thu tan quân, thu yên nghỉ/ Thu lộng lẫy, thu hào hùng, thu giản dị/ Chuốc rượu dưới quân kỳ, bao cung bậc thu qua/ Chuông thu không, rừng động dưới trăng già/ Tiếng trống trận, tiếng tù và đã tắt/ Nhưng tiếng hát thì không bao giờ chết/ Tiếng hát giữa lòng người, tiếng hát giữa non sông/ Rằng: “Muôn năm dòng máu anh hùng!”/ Rằng:“Vạn tuế giống dòng hào kiệt!”/Thời gian trôi, thời gian trôi mãi miết/ Dạ ngọc gan vàng chói lọi giữa thiên thu”. Hay hình ảnh ông Kim Ngọc, người đem ấm no cho nhân dân Vĩnh Phú trong cải cách nông nghiệp – nông thôn thời bao cấp ở miền Bắc, mà cuộc đời phải chịu bao oan khuất: “Hoa như bảo: Kim phải tôi trong lửa/ Gió như kêu: Ngọc nát cũng cam lòng/ Nhà muôn nóc giờ thơm cơm Việt/ Nơi suối vàng, hoa cải có vàng không?” (Thu, về với Sông Thao)

Đi tìm cảm thức mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, không thể, không nói đến những ưu tư về đời thơ của Lưu Trọng Lư và Quang Dũng trong “Thu, nhớ Lưu Trọng Lư” và “Thu, nhớ Quang Dũng” mà bài thơ nào cũng thể hiện sự tài hoa, hướng thiện trong hành trình đến với nghệ thuật của người nghệ sĩ. Đó là một Lưu Trọng Lư với những câu thơ đầy mỹ cảm trong Tiếng thu đã chất chứa bao niềm trắc ẩn về thân phận người thi sĩ: “Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng mờ thổn thức” Người làm thơ, từ lâu/ Đã không cần giấy mực/ Em không nghe mùa thu/ lá thu kêu xào xạc/ Người làm thơ, từ lâu/ Lá vàng là thân xác/ Em không nghe mùa thu/ Dù ta còn hay thác/  Gió thu vẫn qua rừng/ Kêu những chiều diệp lạc”. Hay ảnh hình Quang Dũng, một thi sĩ tài hoa mà tài năng và số phận luôn ám ảnh trong mỗi câu thơ, khi đọc lên không thể, không xa xót: “Thơ ứa mỗi vần như máu ứa / Quê hương mờ mịt sau lưng người … Độc mộc trông hoài sao chẳng thấy/ Mỹ nhân, thi sĩ phận như vôi …Thu cũ vàng trong màu lúa mới/ Lúa mới vàng trong thu cũ rơi”. Và ẩn trong niềm tưởng nhớ Lưu Trọng Lư và Quang Dũng qua cảm thức về mùa thu, Đỗ Trung Lai đã “ngộ” ra phận số của người thi sĩ cũng bạc mệnh như mỹ nhân. Vì vậy, Nguyễn Du, khi hiện hữu vẫn lắng lo than thở: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”!?. Bởi, nói như Apollinaire: “Các thi nhân bao giờ cũng tiêu biểu cho một hoàn cảnh, một dân tộc”.(4)  Mùa thu là mùa của vàng úa, của phôi phai. Phải chăng, mùa thu gợi cho Đỗ Trung Lai nhớ đến phận số người thi sĩ!?

4. Một bình diện khác khi luận giải về cảm thức mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, ta thấy thi nhân vẫn sử dụng những thi liệu quen thuộc trong văn học dân tộc đã thành điển phạm khi viết về mùa thu như: lá vàng, gió heo may, con đò, dòng sông, bầu trời… và những tâm cảm vốn có trong các bài thơ thu như: hoài niệm về quá vãng, về tình yêu, về nỗi buồn, niềm cô đơn của cái tôi bản thể. Song, điểm khác biệt ở cảm thức mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, là anh nói đến những ưu tư về nỗi cô đơn phận người, nhất là những con người dấn thân cho sự sống còn của đất nước và sự tồn sinh của các giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc mà các bài thơ: “Thu, vào chơi Yên Tử”; “Thu tàn Tam Cốc”; “Mùa thu uống rượu bên hồ Thiền Quang”; “Tết trùng cửu, cùng thu qua chùa Hương”; “Môi dịu dàng, ta gọi: “Bắc Giang thu!”; “Thu, qua cửa Bắc”; “Thu, về với Sông Thao”; “Thu, nhớ Lưu Trọng Lư” và “Thu, nhớ Quang Dũng” … là một minh chứng.

Mùa thu là mùa của ký ức, hoài niệm, nhớ nhung. Viết về mùa thu mà thiếu những xúc cảm tha thiết nầy, sẽ là khoảng trống về mỹ cảm thi ca khó chấp nhận. Vì vậy, bên cạnh những cảm thức về văn hóa, lịch sử, về phận số con người, trong thi giới  thu, Đỗ Trung Lai cũng dành một không gian tâm tưởng cho làng quê, gia đình, cho “cô láng giềng” xa xưa của thuở thiếu thời mà từ trong vô thức những tình cảm ấy luôn ám ảnh thi nhân. Đó là khung cảnh gia đình trong “Thu sớm” với những câu thơ đầy sức ám gợi: “Heo mây về quanh nhà/ Gia đình là có thực/ Em gương lược trong phòng/ Thu đầy trên mái tóc”. Hay ảnh hình một “Cô láng giềng” nào đó, dẫu không “đứng bên hàng tường vi” như “Cô láng giềng” của Hoàng Quý và dù đã xa xôi, vẫn không làm cho thi sĩ thôi “xao lòng” mỗi độ thu về: “Ở một phương nào đó/ Em còn nghe thu đi?/ Phương nầy trong ngõ nhỏ/ Buông bước sầu, anh về”. (Nhời thu đã cạn) Hay nỗi day dứt trong khúc biệt ly đầy luyến nhớ không dễ mờ phai mà đọc lên lòng ta không khỏi xốn xang trong thi phẩm “Một chiều thu”: “Ngày đi theo cánh chim đi/ Mây chiều hấp hối sau đê/ Đò đưa em sang bờ bắc/ heo mây từ đó bay về!” Mùa thu vì thế, là nơi tâm thức nhà thơ luôn tìm về những ký ức thu xưa trong cuộc đời mình mà hôm nay chỉ còn là những ảo ảnh xa mờ của một thời quá vãng dù thi nhân muốn “đếm ngược thời gian” hay “đi vào trong mơ” để “tìm một mùa thu cũ”, nhưng “Chỉ thấy thu nay về/ Thu xưa còn đâu nữa!” (Tìm một mùa thu cũ). Còn đây là nỗi nhớ đến quặn lòng, sự ân hận về tình cảm nhạt nhòa với quê hương là sự tự thú rất thực, không chỉ của thi nhân mà của nhiều người, khi hàng ngày bị cuốn vào cuộc sống áo cơm chốn thị thành, khiến ta cứ xa dần nguồn cội. Bài “Thu cảm”, vì thế đã gợi bao niềm thao thức, ưu lo về cố hương: “Muống già tiết trời lạnh/ Nhà vắng, ta ngồi nhớ quê/ Quê cũng không xa là mấy/ Mà dăm bảy tháng chưa về … Nhớ quê thơ làm dăm khổ/ Ngồi buồn ta đọc Thu nghe”. Và lúc này, Thu đã hóa thân thành người tri kỷ để thi nhân giải bày tình cảm đối với cha mẹ, với người thân, với gia đình. Giá trị nhân bản của thi ca nhiều khi bắt nguồn từ những câu thơ viết về các điều bình dị như thế!?

5. Không hiểu mùa thu có một ma lực mầu nhiệm như thế nào mà luôn ám ảnh tâm thức của các văn nghệ sĩ, đến nỗi Chế Lan Viên đã tiếc nuối sự tàn phai của mùa thu đến nỗi ông đã mong ước đến phi lý, khi muốn nhặt lá vàng của mùa thu để ngăn lối xuân về: “Ai đâu trở lại mùa thu trước / Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?/ Với của hoa tươi muôn cánh rã/ Về đây đem chắn nẻo xuân sang!” Rồi thi nhân xác quyết sự gắn kết hồn mình với mùa thu trong nỗi nhớ mong ngút ngàn: “Ai biết hồn tôi say mộng ảo/ Ý thu góp lại cản tình xuân?/ Có một người nghèo không biết Tết/ mang lì chiếc áo độ thu tàn ? (…) / Chao ôi! mong nhớ! ôi mong nhớ/ Một cánh chim thu lạc cuối ngàn”. (5) Còn Đoàn Chuẩn – Từ Linh thì “tự thú” một cách đáng yêu đầy chất nghệ sĩ tính trong tình khúc “Thu quyến rũ” với những lời ca chứa chan cảm xúc và giai điệu đẹp đến lạ thường về mùa thu: “Anh mong chờ mùa thu, dìu thế nhân dần về chốn thiên thai. Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay, mùa thu quyến rũ anh rồi”. Có lẽ, Đỗ Trung Lai khi viết về mùa thu cũng không đi ra ngoài từ trường mỹ cảm nầy. Vì vậy, cảm thức bao trùm trong thơ viết về mùa thu của Đỗ Trung Lai vẫn là những hoài niệm, những nuối tiếc về thu xưa với những giá trị văn hóa truyền thống lịch sử của dân tộc quyện hòa trong tình yêu làng quê, gia đình cùng những giá trị nhân văn làm nên phẩm tính văn hóa Việt mà thi nhân lo sợ sẽ mất dần trong xã hội hiện đại như chia sẻ của thi sĩ trong “Khúc ngâm mùa thu”: “Tìm đâu đủ khói lam mờ/ Thả vào đồng đất bãi bờ, rừng cây?/ Tìm đâu vài hạt mây bay/ Để trời bớt nỗi ngày ngày thiên thanh?/ Tìm đâu ra lá sen xanh/ Để còn bọc cốm cho mình gửi ta/ Tìm đâu móc với sương sa/ Để vai mình lạnh, để da mình mềm?/ Tìm đâu lá lạc bên thềm/ Để than van những nỗi niềm biệt ly?”. Điều mà Đỗ Trung Lai khao khát đi tìm là những tín hiệu mỹ cảm làm nên cảm thức về mùa thu trong thơ của thi nhân nhưng đó cũng chính là những hệ giá trị văn hóa truyền thống làm nên vẻ đẹp của tâm hồn Việt, văn hóa Việt. Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, vì thế không chỉ là những khát khao tìm về những mỹ cảm của mùa thu xưa để nuôi dưỡng nguồn cảm hứng của một nghệ sĩ mà đó còn là khát khao tìm về những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc để nuôi sống tâm hồn của một công dân nước Việt để không bị tha hóa, vong thân ngay trên đất nước mình. Bởi, nói như Guillaume Apollinaire: “Nhà thơ là kẻ tìm ra được những hứng thú mới, dẫu hứng thú đó khó chịu đựng. Có thể thành nhà thơ ở mọi lĩnh vực: miễn là thích phiêu lưu và đi khám phá”.(6)

Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai là những mỹ cảm mang tính khai phóng, nhân bản, dân tộc, nên có ý nghĩa dự báo khá sâu sắc. Bởi, trong tâm cảm thi nhân luôn hiện hữu một tâm hồn Việt Nam mà ở đó: “Có một Thăng Long thương nhớ/ Người đi mở cõi mơ về/ Có một Thăng Long thon thả/ Khép hờ vạt áo ngoài kia”. Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai là những cảm thức mang niềm trắc ẩn khôn nguôi về đất nước quê hương mà anh đã tự nguyện dấn thân trong tư cách một người Lính – một Công dân – Thi sĩ. Bởi, “Mọi sự đều qua – chỉ có nghệ thuật mạnh mẻ mới có sức muôn năm trường cửu” (Théophile Gautier).(7)

Chú thích:

(1) (2) (4 ) (6) (7)  Đoàn Thêm, Quan niệm và sáng tác thơ, Viện Đại học Huế,1962, tr.41; tr.189; tr.78; tr.44; tr.95

(3) Huỳnh Phan Anh, Văn chương và kinh nghiệm hư vô, Nxb. Hoàng Phương Đông, Sài Gòn, 1968, tr.104

(5) Chế Lan Viên, Điêu Tàn, Hoa Tiên xuất bản, Sài Gòn, 1967, tr.55

Sài Gòn, 10/8/2021

Trần Hoài Anh

Theo https://vanvn.vn/

 

Phan Thị Thanh Nhàn và những vần thơ đi cùng năm tháng

Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn thuộc thế hệ những nhà thơ được trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngay từ khi bắt đầu cầm bút, thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã tạo được những ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc.

Bài thơ Hương thầm đoạt giải thưởng của Báo Văn Nghệ năm 1969 đã gây tiếng vang lớn và khẳng định chỗ đứng của chị trên thi đàn. Đúng 15 năm sau, Hương thầm được phổ nhạc và đã nhanh chóng lan tỏa trong đời sống văn hóa, văn nghệ nước nhà.

Cho nên khi nhắc đến Phan Thị Thanh Nhàn người ta nhớ ngay đến Hương thầm và ngược lại. Phan Thị Thanh Nhàn trở thành nhà thơ nổi tiếng từ đó.

Cửa sổ hai nhà cuối phố

Không hiểu vì sao không khép bao giờ

Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp

Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa…

Cô gái như chùm hoa lặng lẽ

Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu

Rồi theo từng hơi thở của anh

Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực

Anh lên đường hương sẽ bay theo khắp

Họ chia tay vẫn chẳng nói điều chi

Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.

(Hương thầm)

Bên cạnh bài thơ Hương thầm, chị còn có nhiều bài thơ hay khác như: Con đường, Làm anh, Trời và Đất, Rồi có thể, Ngày tháng không quên… Những vần thơ ấy đã có sức cuốn hút diệu kỳ, làm lay động không biết bao nhiêu con tim của nhiều thế hệ. Một câu hỏi đặt ra là điều gì khiến thơ chị có một sức sống lâu bền và mãnh liệt như vậy? Phải chăng đó là những vần thơ mà chị đã trút cả tâm can mình vào đó; những vần thơ không chỉ viết cho riêng mình mà cho tất cả mọi người; không chỉ viết cho thời mình đang sống mà nó còn có sự ám ảnh ở tương lai. Tôi nghĩ, chính tình cảm chân thành, cảm xúc dào dạt, có tính nhân văn, nhân ái nó đã trở thành sức mạnh lan tỏa trong thơ chị.

Không chỉ làm thơ, Phan Thị Thanh Nhàn còn sáng tác văn xuôi, với lối viết riêng đầy duyên dáng qua các tập truyện thiếu nhi: Xóm đê ngày ấy (1977), Tuổi trăng rằm (1982), Bỏ trốn (1995)… Đặc biệt, năm 2010 chị cho ra mắt cuốn Sự cực đoan đáng yêu (thuộc thể loại chân dung văn học). Tập sách thực sự là tài liệu tham khảo quý báu cho những ai quan tâm đến nghiên cứu văn học đương thời.

Vốn là người tinh tế, nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn vô cùng đau đớn và xót xa khi chứng kiến biết bao nghịch lý xảy ra trong đời sống; khi những thang bậc, giá trị đạo đức, giá trị con người bị đảo lộn. Chị buồn đến nỗi muốn tìm đến cái chết như là sự giải thoát. Phan Thị Thanh Nhàn liệt kê ra hàng loạt những tiêu cực.

Có đôi lúc buồn

Tôi định tự tử

Sống làm chi khi bè bạn bon chen

Cơ quan quanh năm đấu đá

Sống làm chi khi người yêu thành người lạ

Sống làm chi lương ba cọc ba đồng

Viết báo làm thơ kiếm từng xu vẫn loay hoay không đủ

Sống làm chi khi mọi tượng thần sụp đổ

Người ta tin yêu lại hóa tầm thường

(Yêu đời)

Tất cả những điều đó làm cho chị ngao ngán trước cuộc sống thực tại mà chị vừa là nạn nhân vừa là nhân chứng. Những nghịch lý đẫm đầy nước mắt. Đó là sự giằng xé, đấu tranh nội tâm dữ dội trong tâm hồn một người đàn bà đang gặp cảnh trớ trêu như chị.

Phan Thị Thanh Nhàn một thời tin yêu, lãng mạn; giờ đây cảm thấy bi quan, yếm thế. Trước những ấm lạnh của cuộc đời, nhà thơ đã tìm cho mình một góc thanh thản cho tâm hồn.

Thôi thì cứ sống vui ơn đời cho ta sống/ Cứ nói cười bơi lội thể thao/ Cứ du lịch nhảy đầm và tán dóc/ Ai muốn nghĩ ta là gì cũng chẳng làm sao.

Chị nhận ra thói đời đen bạc, lòng người giả dối, lắm kẻ ngồi lê đôi mách, đặt điều dựng chuyện… Chị bỏ qua và xem như không hề hay biết. Với nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn ai cũng có thể là bạn nhưng chị chỉ nhìn họ ở những ưu điểm, học họ ở những điều hay.

Ngôn từ trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn có khả năng biểu cảm lớn, mang ý nghĩa sâu xa, bởi đó là ngôn từ của cảm xúc, của một trái tim nhạy cảm. Nhiều bài thơ của chị được bạn đọc yêu mến ngay từ lần đọc đầu tiên.

Chị rất thành công ở mảng thơ viết về tình yêu. Nhiều bài thơ hay, nhiều hình ảnh đẹp, để lại nhiều dấu ấn khó phai trong lòng bạn đọc. Một Con đường đã lấy được không biết bao nhiêu sự cảm tình của độc giả với những lời thơ đẹp và hay. Day dứt và ám ảnh.

Nếu anh đi với người yêu

Chỉ mong anh nhớ một điều nhỏ thôi

Con đường ta đã dạo chơi

Xin đừng đi với người nào khác em

Hàng cây nay đã lớn lên

Vươn cành để lá êm đềm chạm nhau

Hai ta không biết vì đâu

Hai con đường rẽ ra xa nhau hoài

Nếu cùng người mới dạo chơi

Xin anh tránh nẻo đường vui ban đầu.

Đằng sau những lời thơ ấy, là tâm trạng của nhân vật trữ tình. Lời dặn, sự trách móc, sự mong mỏi từ em gửi đến anh. Em: Xin đừng đi với người nào khác em/ Xin anh tránh nẻo đường vui ban đầu.
Bài thơ Trời và Đất cũng đem đến cho người đọc những liên tưởng và so sánh thú vị. Đem Trời và Đất để so sánh với anh và em. Sau đó đi đến một sự khẳng định Trời và Đất sẽ rất cần nhau!

Vâng, trời đất chẳng hề thân thiết/ Và tính tình có giống nhau đâu/ Trời vui buồn ồn ào lộ liễu/ Đất trầm tư suy nghĩ trước sau 

Anh ơi! Nếu ví được cao xa như thế/ Em cũng chẳng là trời đất gì đâu/ Nhưng anh có biết không? trời đất/ Sẽ chẳng là gì nếu thiếu nhau 

Những cuộc tình trong thơ chị thường kết thúc không có hậu, thế nên thường để lại tổn thương. Mà thua thiệt phần nhiều là ở người phụ nữ.

Rồi có thể ta nhìn nhau ngượng ngập

Anh đi cùng cô gái khác xinh tươi

Tôi cố để không rơi nước mắt

Còn ai đâu thương mến dỗ cho nguôi

(Rồi có thể)

Để rồi nhân vật trữ tình tôi phải thốt lên: Chỉ một phút sống cùng nhau như thế/ Tôi đã mang theo đến trọn đời.

Trong thơ chị còn có nỗi lo âu và ám ảnh về thời gian. Phan Thị Thanh Nhàn ý thức được rằng: Đời người ngắn ngủi mà cứ chìm đắm trong cô đơn, buồn tủi thì không thể được.

Và tôi hiểu ra trong thăm thẳm niềm đau

Tôi vẫn còn yêu đời quá

(Yêu đời)

Nhưng trái tim của một người phụ nữ như chị vẫn không tránh khỏi những lo âu, lo lắng khi thời gian – giới hạn đời người – quỹ thời gian của chính đời mình mỗi ngày một cạn. Phan Thị Thanh Nhàn tìm đến tình yêu để được “hồi sinh” và được sống là chính mình sau những tháng ngày đơn côi, băng giá. Thế nhưng hình như số phận đã an bài như vậy, những người đàn ông đến với chị rồi cũng lại ra đi, để lại cho chị một khoảng trống, sự hụt hẫng đến nao lòng.

Ta sẽ xa nhau nhiều tháng nhiều ngày 

Vẫn đôi bờ chung một dòng hăm hở 

Chung tiếng sóng suốt mùa khô mùa lũ 

Chung cái màu quánh đỏ phù sa

(Với sông Hồng)

Thơ Phan Thị Thanh Nhàn bàng bạc nỗi buồn, nỗi cô đơn, khắc khoải khi phải đối diện với thực tế của cuộc sống hiện tại. Nhiều lúc, nhà thơ cảm thấy hờ hững, lạnh nhạt với đời, với người và với ngay cả chính mình!

Bỗng dưng lạnh nhạt với đời 

Không còn rung động trước lời yêu thương 

Nhiều khi điện thoại rung chuông 

Giả vờ đi vắng không buồn cầm nghe 

Soi gương, mình ngán mình ghê 

Nếp nhăn đuôi mắt tràn về khoé môi. 

Họp hành chỉ lặng im thôi 

Hình như hết cả niềm vui nỗi buồn! 

(Với mùa thu)

Nhà thơ nghiệm ra, thời gian đã lấy đi nhiều thứ, trong đó có tuổi trẻ và tình yêu:

Như chớp mắt như chiêm bao/ Vừa thơ ngây đã chớm vào già nua/ Mắt đeo kính, tóc rụng thưa/ Gặp người yêu cũ muốn vờ rằng quên.

Cùng với bước đi của thời gian, Phan Thị Thanh Nhàn có một nỗi lo canh cánh bên lòng, đó là nỗi sợ mất anh. Chị có một sự so sánh rất độc đáo: Ta như hai đứa trẻ nghèo/ Quả ngon chỉ để nâng niu ngắm nhìn/ Đừng bao giờ nhé, chín thêm/ Sợ tan mất giấc mơ em một thời (Không đề II).

Càng về sau, thơ Phan Thị Thanh Nhàn càng đi sâu vào khám phá thế giới nội tâm. Ngoài sự phản ánh những vấn đề chung của cuộc sống, chị cũng thường hay đề cập đến tình yêu. Nhưng tình yêu trong thơ chị giờ đây không phải là đắm say, dào dạt như thuở ban đầu của tuổi trẻ mà đó là tình yêu của một người phụ nữ đã đi qua hết tuổi thanh xuân.

Cứ ngỡ sẽ lại yêu

Khi gặp người uyên bác

Nhưng khi trò chuyện rồi

Lại e người khinh bạc

Người chồng mà chị cứ nghĩ sẽ cùng chị đi hết cuộc đời này đã vội ra đi quá sớm. Nhưng hình bóng của anh vẫn luôn ở trong tâm hồn và trái tim chị. Những lúc đau buồn nhất, người chồng ấy chính là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất với cuộc đời chị. Hiếm có người phụ nữ nào như Phan Thị Thanh Nhàn, chồng mất khi chị còn trẻ, phải chịu cảnh mẹ góa, con côi. Một thân một mình nuôi con khôn lớn, bỏ lại đằng sau bao tủi hờn, cực nhọc. Chị nhớ như in niềm hạnh phúc khi có chồng bên cạnh:

Sớm sớm anh dậy trước/ Lẹ làng như con ong/ Thổi cơm rồi đun nước/ Cho em nằm ngủ thêm 

Anh đong gạo mua dầu/ Việc nặng dành làm cả/ Mỗi chiều đi làm về/ Thương dáng anh tất tả 

Em pha trà cho anh/ Hai đứa mình cùng uống/ Em có bài thơ nào/ Anh là người đọc trước

Căn phòng có dáng anh/ Tất cả thành thân thiết/ Căn phòng có tiếng anh/ Mỗi ngày là ngày Tết 

(Căn phòng và anh)

Khi cuộc đời không mấy suôn sẻ, khi nỗi buồn đau – vị khách không mời lại cứ bủa vây đến với nhà thơ. Phan Thị Thanh Nhàn lại ngẫm ngợi, trăn trở, suy ngẫm về tình yêu, con người và cuộc đời. Chị muốn tìm về ký ức, tìm về để rồi nhà thơ lại nuối tiếc và xót xa. Phan Thị Thanh Nhàn có một mơ ước cháy bỏng luôn thường trực bên chị: Ước gì gặp lại anh/ Dù chỉ trong phút cuối/ Để nói một lời thôi/ Em đã yêu anh nhất/ Ước gì giọt nước mắt/ Thấm được vào môi anh/ Để trong giờ phút cuối/ Anh biết em ở gần.

Có lẽ, chồng chị đang dưới nấm mộ sâu nghe được những lời da diết như thế cũng cảm thấy ấm lòng. Vì rằng mình có một người vợ quá đỗi thủy chung, tình nghĩa…

Nhiều câu hỏi lại đặt ra với chị. Giá như… Nhưng số phận, định mệnh của con người ta nào ai cưỡng lại nó. Mọi thứ xảy ra bất ngờ, đột ngột lắm sao ta có thể biết trước được điều gì.

Thơ Phan Thị Thanh Nhàn càng về sau càng đầy chiêm nghiệm suy tư. Có lẽ thời gian qua đi, kèm theo đó là bao mất mát, thiệt thòi đè lên tấm thân người đàn bà góa như chị. Nhưng cũng chính những đau thương đó nó lại tiếp thêm động lực để chị vượt qua mọi thử thách của cuộc đời.

Trong trái tim người đàn bà, thiếu vắng đi chỗ dựa là người đàn ông. Sau những khoảng trống tâm hồn, đôi lúc nhà thơ có một ước muốn: Hay là yêu một chút/ Cho đỡ buồn rồi thôi/ Hay cưới xin nghiêm túc/ Đỡ đần nhau cuối đời.

Giờ đây, khi đã đến tuổi xế chiều – nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn sống vui vẻ bên đứa con gái thực sự yêu thương và chăm sóc mẹ. Phan Thị Thanh Nhàn hạnh phúc khi có được những đứa cháu ngoan, hiền. Có được những bạn bè văn nghệ tâm giao, tri kỉ thường hay lui tới để hàn huyên, đàm đạo chuyện đời… Tuy vậy, ẩn đằng sau niềm vui ấy, trên gương mặt và đôi mắt của chị vẫn có nỗi buồn không gọi thành tên. Tôi nghĩ: Đó là nỗi buồn của một người nghệ sĩ có cái nhìn nhạy cảm và cảm thấy bất an trước thời cuộc và trước thế thái nhân tình.

Thơ Phan Thị Thanh Nhàn đằm thắm, dịu dàng và đầy sâu lắng. Trưởng thành từ những năm tháng chống Mỹ đến ngày hôm nay, là một chặng đường lao động nghệ thuật dài với những tìm tòi, sáng tạo của một giọng thơ đầy nữ tính và giàu chất suy tưởng. Với tài năng và lao động nghệ thuật vừa nghiêm túc vừa bền bĩ như chị, tôi tin những vần thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã viết, đang viết sẽ có sức sống lâu bền với thời gian.

20/10/2021

Nguyễn Văn Hòa

Theo https://vanvn.vn/

  Chính nhân Nguyễn Minh Châu Nguyễn Minh Châu là một chính nhân. Những ngày cuối 1972, an dưỡng ở Quảng Bình, tôi đã đọc say mê “Dấu chân...