VĂN THƠ NHẠC
Thứ Ba, 10 tháng 3, 2026
Về một cách viết chân dung văn học
Nếu ai muốn biết một cách viết chân dung văn học xin hãy đọc Những gương mặt, những trang đời* của nhà thơ Vân Long. Ở đấy, những con người, câu chuyện, sự việc tưởng chừng xưa ngái nhưng vẫn còn mới nguyên, tươi rói, như những người cùng thời với chúng ta. Những câu chuyện về cuộc sống cá nhân, về thời đại lịch sử và các tác phẩm văn chương, mà các bậc cao niên tiên chỉ trong làng văn để lại tuy đã xa cách chúng ta vài ba thập niên có khi cả thế kỷ, nhưng nó luôn sống động trong tâm trí bao thế hệ người Việt Nam hôm qua, hôm nay và cả mai sau nữa. Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: Với nghệ thuật thời gian là ngắn ngủi.
Vân Long - Cuộc hành trình thơ lặng lẽ
Vân Long - Cuộc
hành trình thơ lặng lẽ
Gần nhau non buổi chiều – ngẩn ngơ tròn buổi tối
– đường về quên mất lối – rẽ lầm tới nhà em. Rẽ lầm tới nhà em hay rẽ lầm
vào lối thơ, để rồi như một định mệnh không thể nào dừng bước được. Thi sĩ lặng
lẽ đi, lặng lẽ ưu tư, lặng lẽ rung hết cung bậc buồn vui của một kiếp người…
Thi sĩ đã sống một thời gian như sóng, đã thành một chiều
hải cảng khi mùa thu đến như con tàu quen bến – những tán lá dập dềnh như sóng
dội ngoài song… Thi sĩ đã hóa thân thành cây ngô đồng bên bờ sông Lấp
– đã quá quen tiếng sóng ấp iu bờ… Thi sĩ men theo sông Cấm nghe
nặng nề, bí mật cánh buồm trôi; thi sĩ vượt Bến Bính lòng bâng khuâng sau
chuyến đi, ai toàn vẹn trở về? Khi thanh bình trở lại, thành phố đẹp bất ngờ
tôi choáng váng – chẳng bao giờ tôi hiểu biển đến nơi. Vậy mà, mùa thu nầy tôi
tiễn tôi ư ? – Tôi một nửa sẽ ở đây vĩnh viễn…
Thi sĩ tạt qua giây lát xứ Đoài để phiêu bồng cùng mây
trắng Ba Vì như cổ tích – xứ Đoài vàng biếc nắng trung du. Thi sĩ ghé thăm
Hương Tích để ngẩn ngơ trước một quả sấu rơi vào giữa lặng im – tôi lượm lên cả
tiếng cười tinh nghịch… Thi sĩ hành hương về đất cội nguồn để nghe tiếng chày
ba đuổi nhịp thậm thình…
Thi sĩ trở về với thế giới tuổi thơ bên bờ sông Tô Lịch,
xao xuyến trước ngõ Tràng An để nhớ năm mươi năm – cô bạn nhỏ chưa khô giọt lệ
– giận nhau vì một quả bàng… Thi sĩ tần ngần trước Ô Quan Chưởng để
hóa thân thành cây si lùa xuống rễ rêu phong , để đắm mình trong hương hoa sữa,
để bâng khuâng năm cửa ô như năm ngón tay xòe… Giữa không gian một
màu xanh bất tuyệt thi sĩ nhận ra Em tinh tế đến từng giọt nhỏ – Em
tràn đầy những giấc mơ xanh… Thi sĩ thấm tận hồn giọt em khao khát – Em ở
trong anh. Anh vẫn đi tìm…
Thi sĩ là loài cá ăn chìm – thơ và đời lặng lẽ…Suốt đời
tận hiến cho thơ nhưng thi sĩ không hề hoang tưởng : chẳng sáng láng gì
khi mình làm thơ – tôi như cái bóng đi trong sương mờ …và hơn thế nghiền ngẫm cả
mùa thu – một câu thơ hư ảo – mười lăm năm sau mới đưa được câu thơ lên
trang báo – anh bắt gặp người vê bài thơ anh châm điếu thuốc lào… Thi sĩ hóa
thân vào thơ nên đọc câu thơ thấy một đời người… Còn gì đau khổ hơn khi
thi sĩ bửa cuộc đời ra bán lẻ trong hoàn cảnh đêm vô tội bị dằn vặt – nắng vô
tư bị bóp nhàu… Còn gì buồn hơn con tàu mang nỗi cô đơn trên biển – anh cô đơn
trên thép lạnh sàn tàu… Thi sĩ như những ngọn cây – những ngọn cây
cao – cứ sục tìm chi khoảng biếc – nõn lá tủa ra quyết liệt… Rồi cũng đến tầm ấy
thôi – làm sao có thể thành mây – bay tới những miền chưa biết… Lên đó để
mà ngơ ngác – lên đó để mà cô đơn – để mà run rẩy – từng cơn lạnh thấu linh hồn…
Thi sĩ làm cuộc hành trình lặng lẽ về phía chân trời thơ với
một xác tín: chân trời là điều có thật – chân trời trên cánh bay…
10/5/2022
Trần Ngọc Tuấn
Theo https://vanvn.vn/
Quan niệm về con người trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Quan niệm về con người
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Cho đến tận hôm nay, cuộc tranh luận về Nguyễn Huy Thiệp vẫn
chưa kết thúc. Có người ca ngợi ông như một nhà văn đại tài, đề nghị tặng giải
Nobel cho ông. Nhưng cũng có người đòi bỏ tù ông vì đã bôi nhọa cuộc sống, “ hạ
bệ thần tượng”. Thái độ phê phán đối với Nguyễn Huy Thiệp không có gì khó hiểu.
Đó là do “lối viết đa âm đụng phải lối đọc thánh thư”. Mặc cho người đời khen
hay chê, ca ngợi hay nguyền rủa, Nguyễn Huy Thiệp vẫn tỏa sáng trên văn đàn Việt
Nam như một tên tuổi lớn, như một nhà văn có chân tài…
“Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm
là con người”. Nhận xét trên của nhà văn Nguyễn Minh Châu nói lên được sứ mệnh
cao cả của văn chương là phản ánh một cách sinh động và trung thực về con người.
Ngay từ những năm kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu đã
ghi vào nhật kí: “Hôm nay chúng ta chiến đấu vì quyền sống của cả dân tộc,
nhưng sẽ đến một ngày chúng ta phải chiến đấu cho quyền sống của từng con người…
Chính cuộc đấu tranh ấy mới là lâu dài”. Dự cảm sáng suốt của ông đã được minh
chứng khi văn học có một sự chuyển mình mạnh mẽ từ quỹ đạo chiến tranh sang quỹ
đạo hòa bình sau năm 1975. Các nhà văn dành tất cả tâm lực của mình cho một cuộc
đổi mới toàn diện văn chương. Đổi mới quan niệm về nhà văn, đổi mới cách viết,
đổi mới đề tài… và đặc biệt nhất là đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người với
nội dung dân chủ và nhân bản sâu sắc. Từ năm 1945 đến năm 1975, phát triển
trong điều kiện chiến tranh, văn học nhìn con người bằng cái nhìn lý tưởng, “ lấy
lịch sử làm điểm quy chiếu con người”[1]. Cho nên con người xuất hiện trong
giai đoạn văn học này chủ yếu là con người cộng đồng, con người giai cấp, con
người dân tộc. Những con người đơn giản, dễ hiểu được xây dựng theo những công
thức nhất định. Nhưng từ sau năm 1975, yêu cầu đổi mới văn học đòi hỏi nhà văn
phải nhìn con người trong những mối quan hệ đời thường đa đoan và phức tạp,
khám phá con người ở khía cạnh đời tư bằng cặp mắt nhiều chiều và bằng cách viết
đa thanh.
Trên hành trình cách tân mạnh mẽ của văn học dân tộc, nửa sau
thập kỉ 80 của thế kỉ XX, văn đàn Việt Nam chứng kiến sự xuất hiện của một hiện
tượng văn học lạ, độc đáo và gây nhiều tranh cãi: Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp.
Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp, có thể nhìn thấy một “ cõi người ta” xù xì, gân guốc,
góc cạnh lẫn lộn giữa tốt và xấu, thật và giả, đen và trắng, cao thượng và thấp
hèn với những con người có suy nghĩ, hành động và đời sống nội tâm vô cùng bí ẩn.
Cái thế giới ấy thể hiện một cách nhìn rất thật và sâu sắc của nhà văn về con
người.
Bài viết này khảo sát một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn
Huy Thiệp, khai thác hình ảnh con người trong tác phẩm của ông với mục đích “
đi tìm Nguyễn Huy Thiệp”[2], hiểu quan niệm và suy tư của ông về con người.
1. Con người đê tiện, thực dụng trong thế giới “ không có
vua” và “ biển không có thủy thần”
Có người gọi Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của “ những cái trớ
trêu”. Với sự mẫn cảm đặc biệt của một nhà văn có thực tài, ông đã thoát ra
ngoài những chuẩn mực đạo đức, luân lý thông thường để xác định diện mạo thật của
cuộc sống. Cuộc sống đâu chỉ có cái đẹp, cái cao cả như một thời văn học ta ngợi
ca. Cuộc sống còn là một cõi tục hoang sơ, trì đọng, một thế giới hỗn tạp xô bồ
“đất không có vua và biển không có thủy thần”[3]. Ở đó có những con người bạc
ác, đểu cáng. Ở đó có những con người vụ lợi, dối trá. Nguyễn Huy Thiệp dùng phần
lớn dung lượng tác phẩm của mình để viết về kiểu người đê tiện, thực dụng. Đây
là kiểu nhân vật bị thoái hóa về nhân cách, bị vấy bẩn về tâm hồn, sống độc ác
và tàn nhẫn. Họ lấy đồng tiền, lấy quan hệ vật chất làm thước đo cho mọi giá trị.
Họ tham lam, ích kỉ, thực dụng một cách tỉnh táo và vụ lợi một cách bỉ ổi. Gia
đình lão Kiền trong “ Không có vua” là một thế giới thu nhỏ, một cõi
nhân gian không còn trật tự tôn ti. Mọi chuẩn mực truyền thống của một gia đình
Việt dường như bị triệt tiêu hoàn toàn khi lão Kiền – bố chồng bắt ghế lén xem
con dâu tắm, lại hoàn toàn thản nhiên trước mâu thuẫn của các con “ Chúng mày
giết nhau đi, ông càng mừng”, khi Đoài – em chồng chòng ghẹo, đòi ngủ với chị
dâu, ghen cả với bố. Người đọc cứ rờn rợn trước cái lối biểu quyết bố chết của
Đoài: “ Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé”. Sự sa đọa về phẩm chất
đã đẩy con người đến chỗ đốn mạt. “ Không có vua” như một tiếng
chuông cảnh tỉnh cho sự xuống cấp trầm trọng của đạo đức con người.
Nhìn thẳng vào sự thật, Nguyễn Huy Thiệp vạch trần tâm lý thực
dụng, vụ lợi một cách trắng trợn của con người. Nhân vật Hạnh trong “ Huyền
thoại phố phường” để tạo được sự tin cậy của gia đình bà Thiều đã không ngần
ngại “ xắn tay áo rồi đưa tay mò dọc theo cái rãnh đầy bùn, lõng bõng nước bẩn,
thậm chí còn có cả cục phân người”. Ông Bổng trong “ Tướng về hưu” ở đám
tang chị dâu tỏ vẻ tiếc rẻ “ Mất mẹ bộ xa lông. Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ
dổi bao giờ. Bao giờ bốc mộ cho chú bộ ván”. Đặc biệt hơn cả, sự trục lợi tỉnh
táo đến mức kinh tởm ở nhân vật Thủy trong “ Tướng về hưu”: “ Vợ tôi
làm việc ở bệnh viện sản, công việc là nạo phá thai. Hằng ngày các rau thai nhi
bỏ đi, Thủy cho vào phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên cho chó, cho lợn… Cha tôi dắt
tôi xuống bếp, chỉ vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai nhi bé xíu. Tôi lặng
đi. Cha tôi khóc…Vợ tôi đi vào nói với ông Cơ: Sao không cho vào máy xát? Sao để
ông biết?”. Banzắc từng nói “ Khi túi tiền phình ra thì trái tim bị teo lại”.
Chính tâm lý vụ lợi, thực dụng đã khiến con người đánh mất lương tri. Viết về
kiểu người này, Nguyễn Huy Thiệp đã “ lột truồng con người ra và phơi bày toàn
bộ sự đớn hèn của nó”[4].
Tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện hàng loạt những nghịch lý
: Ở hiền thì gặp chuyện bất trắc. Đi tìm cái đẹp thì gặp cái xấu xa, bỉ ổi. Đi
tìm điều thiện thì gặp điều độc ác. Những kẻ trí thức có học thì dâm ô, dối
trá, bịp bợm…Những nghịch lý ấy là sự thật về cái phi lý của cuộc sống và con
người. Cuộc sống không đơn giản mà vô cùng phức tạp. Con người không dễ hiểu mà
vô cùng rắc rối. Khám phá con người bằng cặp mắt nhiều chiều, xoáy sâu vào đời
sống nội tâm chằng chịt của con người, nhà văn đã góp được một tiếng nói thành
thật về con người mà suốt mấy mươi năm chiến tranh, vì nhiều lý do, văn học buộc
phải giấu kín trong vỏ bọc chính trị, đạo đức, văn hóa. Cất lên tiếng nói thành
thật ấy, Nguyễn Huy Thiệp từng bị chỉ trích một cách gay gắt. Biết làm sao được.
Sự thật đôi lúc rất tàn nhẫn. Nhưng tàn nhẫn đến mấy cũng phải phơi bày nó ra để
cảnh tính con người, hướng con người về chân – thiện – mĩ. Nguyễn Huy Thiệp với
tác phẩm của mình đã “ lôi tuột chúng ta từ khoảng trống lơ lửng giữa trời và đất,
buộc ta phải đối mặt với mình, với một thế giới không có vua, dạy chúng ta những
bài học nông thôn, bắt chúng ta hiểu rằng trước khi muốn nhìn lên bầu trời thì
phải nhìn mặt đất đã.”[5]
2. Con người cô độc, lạc lõng giữa mênh mông cõi người
Kiểu người cô độc, lạc lõng xuất hiện trong văn học nhân loại
trước Nguyễn Huy Thiệp rất lâu. Những thập niên 50, 60 của thế kỉ XX, kiểu người
này trở nên phổ biến trong văn học phi lý Tây Âu với những kiệt tác như :
“ Người xa lạ”, “ Huyền thoại Sisyphe” của A. Camus; “ Hóa thân”, “ Vụ
án” của F.Kapka; “ Buồn nôn” của J.P. Sartre… Đó là những con người thuộc “ thế
hệ bỏ đi”[6], bị ném vào lò lửa của hai cuộc thế chiến trở ra là những con người
lầm lầm, lì lì, sống không hy vọng, không niềm tin và trở nên xa lạ với tất cả.
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khai thác nhiều về kiểu người này để phản ánh một
sự thật rằng khi kinh tế thị trường, văn minh công nghiệp mở ra, lối sống thực
dụng như một cơn gió lốc tràn vào từng ngóc ngách của cuộc sống. Con người trở
nên bơ vơ, lạc loài vì không thể thích ứng được với nó.
“Sao tôi cứ mãi lạc loài”. Đó là sự trăn trở, day dứt trong
tâm hồn ông Thuần – vị tướng về hưu trong kiệt tác cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp.
Ông từng là một người lính, một vị chỉ huy mẫu mực, một tấm gương sáng trong mắt
mọi người: “ Ở trong gia đình, cha tôi bao giờ cũng là hình ảnh của niềm vinh dự,
tự hào. Cả ở trong họ, trong làng, tên tuổi của cha tôi cũng được mọi người ngưỡng
vọng”. Rèn luyện trong quân đội, ông có một lối sống trong sạch, ngay thẳng,
không vụ lợi. Thế nhưng khi giã từ con đường binh nghiệp để trở về cuộc sống đời
thường, ông phải đối mặt với bao nhiêu bộn bề, ngang trái. Ông không hòa hợp được
với cái lạnh lùng của lối sống thực dụng. Cuộc sống không còn chỗ cho ông, ông
trở thành người thừa, xa lạ với chính những người thân trong gia đình. Một khối
cô đơn khổng lồ đè nặng lên tâm hồn vị tướng của một thời lửa đạn. Ông khóc khi
chứng kiến các rau thai nhi trong nồi cám “ Khốn nạn, tao không cần sự giàu có
này”. Ông luống cuống khổ sở trong một đám cưới ngoại ô lố lăng và dung tục. Ông
ngán ngẩm trước việc đứa con dâu ngoại tình. Ông nhận ra một sự thật cay đắng rằng
“ Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục… tâm càng lớn càng nhục”. Sự cô đơn, lạc
lõng của ông Thuần xuất phát từ sự mâu thuẫn của lý tưởng cao đẹp một thời và sự
thật trần trụi của một thời khác. Một người như ông, từng được đặt trong “bầu
không khí vô trùng” của thời trước chắc chắn không đủ sức đề kháng để đối chọi
với sự thật của thời này.
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có cái cô đơn của những con người
mải mê đi tìm điều thiện, đi tìm cái cao đẹp của cuộc đời. Điều thiện ở đâu?
Cái đẹp ở phương nào? Sao mong manh xa vời vậy? Thế giới “không có vua” và “biển
không có thủy thần”. Con người lại chìm vào bi kịch cô đơn. Chương trong “
Con gái thủy thần” suốt đời bị ám ảnh bởi huyền thoại về mẹ Cả – kiểu nhân vật
thường cứu nhân độ thế như Đức Mẹ trong Thiên Chúa giáo hay Phật Bà Quan Âm
trong Phật giáo. Nhưng trên hành trình đi ra biển, anh chỉ thấy “ những ngộ nhận
giới tính và thói đạo đức giả giết chết vẻ diễm lệ trên các khuôn mặt thiếu nữ”
để rồi nhận ra rằng thiên thần chỉ là trò phịa, thượng đế đã chết ở trần gian.
Nhân vật chính trong “ Chảy đi sông ơi” ngây thơ đi tìm huyền thoại về con
trâu đen nhưng chỉ chứng kiến được sự lạnh lùng và tàn nhẫn. “ Hành trình tìm
điều thiện lặng lẽ và cô đơn như con dã tràng xe cát”[7]. Con đường đến với cái
đẹp quá gian nan. Con người mãi đi để rồi mãi mãi bơ vơ, lạc lõng: “ Trước mắt
tôi dòng sông đang thao thiết chảy. Sông chảy ra biển. Biển rộng vô cùng. Tôi
chưa biết biển mà tôi đã sống nửa cuộc đời rồi đấy… Tôi đứng lên đi về nhà.
Ngày mai tôi đi ra biển. Ngoài biển không có thủy thần”( Con gái thủy thần)
3.Vẻ đẹp tâm hồn người – nhân vật nữ và nhân vật thiểu năng
Nhìn thẳng vào sự thật, viết về “ cái hôm nay ngổn ngang bề bộn,
màu đỏ với màu đen đầy rẫy những biến động bất ngờ”[8], truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp phát hiện ra rất nhiều những con người bẩn thỉu, ti tiện trong một mảnh đất
cằn ngột ngạt, tù đọng. Thế giới mà ông dựng lên là một thế giới “ lắm người
nhiều ma”[9], “ ma quỷ nằm ngay trong lòng người”[10]. Nói như môt nhân vật
trong “ Chảy đi sông ơi”: “ Con người ta tăm tối lắm. Con người vô tâm nhiều
như bụi bặm trên đường”.
Tuy nhiên cần thấy rằng, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp không
phải chỉ có cái ác, cái xấu, cái ti tiện. Bức tranh nhân thế trong tác phẩm của
ông không chỉ toàn màu đen. Nhà văn còn phát hiện ra những nhân cách rất đẹp,
những tâm hồn thánh thiện và sáng trong như suối tự nguồn. “ Trong bức màn tối,
ông nhìn thấy và chăm chút cho những mầm thiện nhỏ bé, những đốm lửa kì diệu của
thiên lương, những thứ ông tin rằng sẽ có đủ sức mạnh cần thiết để đương đầu với
bóng tối đang ngự trị trên thế giới, cải tạo và làm trong sáng cuộc sống con
người”[11]
Vẻ đẹp của thiên lương con người trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp hầu như tập trung ở hai kiểu người: nhân vật thiểu năng và nhân vật nữ.
Người thiểu năng là người không bình thường, khuyết tật về thể chất hay hạn chế
về trí tuệ. Thói đời xưa nay vẫn nhìn kiểu người này bằng cặp mắt hoặc thương hại
hoặc khinh khi. Nguyễn Huy Thiệp thì khác, đối với bọn “ dốt nát có học” hay “
bọn Nho giả tập tọng văn chương” ông tỏ ra coi thường nhưng lại dành cho những
người không may này một sự cảm thông vô hạn. Quan trọng hơn, ông nhìn thấy ở họ
vẻ đẹp sáng ngời của nhân cách con người. Cô Lài trong “ Tướng về hưu” dù
gàn dở, ngờ nghệch nhưng tình cảm đối với mọi người, hành động trong cuộc sống
lại hết sức trong sáng và chân thực. Trong thế giới “ Không có vua” của
gia đình lão Kiền, giữa lúc mọi giá trị bị lật nhào, mọi tôn ti sụp đổ, người
ta nhìn thấy ở bé Tốn – đứa trẻ thiểu năng một tâm hồn thánh thiện. Chỉ có Tốn
là đối xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến và cũng chỉ có nó là không chịu được
bẩn, lúc nào cũng lau sàn hay là lau đi cái bạc ác của thế gian.
Dường như trong tác phẩm của mình, Nhuyễn Huy Thiệp dành tình
cảm đặc biệt cho những nhân vật nữ. Trừ nhân vật Thủy trong “ Tướng về
hưu” còn lại phần lớn những nhân vật nữ khác đều nhân hậu và cao thượng.
Nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến gọi đó “ nguyên tắc tính nữ hoặc thiên tính nữ”.
Chị Thắm trong “ Chảy đi sông ơi” cứu không biết bao nhiêu người chết đuối,
khi nghe chú bé trách bọn đánh cá đêm độc ác, chị nói với em: “ Đừng trách họ
thế… Có ai thương họ đâu”. Đó là tấm lòng bao dung sẵn sàng mở ra thông cảm với
mọi người, kể cả kẻ ác. Đọc “ Không có vua” ai không ngán ngẩm cho cái bệ
rạc, đen tối của gia đình lão Kiền. Nhưng một phút nào đó , hãy lắng lòng lại để
nghe Sinh nói: “ Khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn vừa chua xót nhưng thương lắm”.
Ba chữ “ nhưng thương lắm” thổi vào mảnh đất cằn cỗi nhà lão Kiền làn gió mát
rượi của sự yêu thương.
Có thể nói, những tấm lòng cao thượng, những nhân cách cao đẹp
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mở ra niềm tin mãnh liệt rằng cuộc đời dẫu
còn nhiều đắng cay ngang trái nhưng có thể cải tạo được. Con đường mà chúng ta
đi trong tương lai chắc chắn sẽ là con đường sáng. Không phải ngẫu nhiên mà nhà
văn để cho một nhân vật của mình nói rằng: “ Nghĩa tình lại chuộc nghĩa tình.
Vô sự với tạo hóa, trung thực đến đáy, dù có sống giữa bùn, chẳng sợ không xứng
là người” ( Những người thợ xẻ).
4. Nhân vật lưỡng diện – sự phức tạp bên trong con người
Trên kia đã nói, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp dựng lên một
cõi người đa dạng, có người tốt kẻ xấu, có người cao thượng kẻ đê hèn. Lại có kẻ
suốt đời mang trong mình nỗi cô độc khủng khiếp. Tuy nhiên bản thân mỗi con người
không hề đơn giản một chiều mà sâu kín, rối rắm, nhiều chiều kích. MiLan Kundra
nói: “ Con người là hiển minh của lưỡng lự”. Bên trong mỗi bản thể nhỏ nhoi ấy
bao giờ cũng tồn tại hai mặt đối lập: đẹp – xấu, thiện – ác, cao cả – thấp hèn,
trong sáng – tăm tối, hạnh phúc – khổ đau… Con người có lúc là thần thánh song
cũng có lúc là quỷ dữ. Ai dám bảo một người lương thiện không có lúc suy nghĩ
đê tiện? Ai dám bảo một người độc ác lại không có lúc lấp lánh trong tâm hồn
ánh sáng của thiên lương. Cho nên “ không nên chỉ đơn giản phân loại con người
theo hai khu vực rạch ròi: tốt và xấu”[12]. Kiểu nhân vật đan xen giữa trắng và
đen, thật và giả ấy văn học gọi là nhân vật lưỡng diện.
Nguyễn Huy Thiệp tỏ ra là người rất thành công trong việc xây
dựng con người lưỡng diện. Ông len lỏi vào những nẻo sâu kín nhất trong nội tâm
nhân vật, nhìn thấy những biểu hiện dù nhỏ nhất lóe lên trong tâm hồn họ. Ông Bổng
trong “ Tướng về hưu” lỗ mãng, táo tợn là vậy mà bật khóc vì được gọi là
người: “ Thế là chị thương em nhất. Cả làng cả họ gọi em là đồ chó. Vợ em
gọi em là đồ đểu. Thằng Tuân gọi em là đồ khốn nạn. Chỉ có chị gọi em là người”.
Lão Kiền trong “ Không có vua” đốn mạt đến chứng nào khi rình xem con dâu
tắm, nhưng khi lão đánh bài ngửa “ Tao chẳng cần. Đàn ông chẳng nên xấu hổ vì
con buồi” thì ta hoàn toàn có thể thông cảm và thấy lão đáng thương hơn đáng
ghét. Nhân vật Bường trong “ Những người thợ xẻ” điêu trá, thủ đoạn đúng
như lời mai mỉa dân gian “ kéo cưa lừa xẻ”. hắn hiếp dâm con gái lão Thuyết, bị
Ngọc phát hiện lại trơ trẽn mở mồm triết luận: “ Mày chẳng hiểu gì. Ai lại đi
tính tuổi bướm bao giờ”. Vậy mà có lúc chính hắn lại nói những câu đầy nhân
tính: “ Bà chị không coi chúng em là súc vật! Chúng em phận hèn của cải chẳng
có. Chúng em mắc nợ nghĩa tình thì khốn nạn lắm”.
Ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp không dừng lại ở đó. Ông nhìn các
danh nhân lịch sử mà xưa nay văn học đưa lên bệ để thờ, để xưng tụng ở khía cạnh
đời tư phàm tục. Trong chùm truyện “ lịch sử giả”[13] gồm: Kiếm sắc, Vàng
lửa, Phẩm tiết, người ta nhìn thấy vua Quang Trung, người anh hùng áo vải cờ
đào cũng có lúc có những cảm xúc rất người trước sắc đẹp của cô Vinh Hoa: “ Nhà
vua thấy Vinh Hoa, thốt nhiên rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm
tay” ( Phẩm tiết). Nhà văn đã để cho vua Gia Long bộc lộ một cảm xúc rất
thật: “ Sứ mệnh đế vương thật là sứ mệnh khốn nạn, chỉ được quyền cao cả, không
được quyền đê tiện” (Phẩm tiết). Cách viết, cách nhìn của Nguyễn Huy Thiệp
có lúc chịu sự phê phán gay gắt từ dư luận. Nhưng phải nhận thấy rằng, xây dựng
thành công kiểu người lưỡng diện, Nguyễn Huy Thiệp đã chạm được đến chỗ trung
thực nhất trong bản chất con người. Đã khám phá được con người ở chiều sâu nhân
bản nhất.
Cho đến tận hôm nay, cuộc tranh luận về Nguyễn Huy Thiệp vẫn
chưa kết thúc. Có người ca ngợi ông như một nhà văn đại tài, đề nghị tặng giải
Nobel cho ông. Nhưng cũng có người đòi bỏ tù ông vì đã bôi nhọa cuộc sống, “ hạ
bệ thần tượng”. Thái độ phê phán đối với Nguyễn Huy Thiệp không có gì khó hiểu.
Đó là do “lối viết đa âm đụng phải lối đọc thánh thư”[14]. Mặc cho người đời
khen hay chê, ca ngợi hay nguyền rủa, Nguyễn Huy Thiệp vẫn tỏa sáng trên văn
đàn Việt Nam như một tên tuổi lớn, như một nhà văn có chân tài. Điều đáng quý ở
Nguyễn Huy Thiệp là lòng dũng cảm. Dũng cảm nhìn vào sự thật để trình bày hiện
thực đúng theo những gì mình thấy, những gì mình nghĩ. Tác phẩm của ông đã dạy
chúng ta rằng “Cuộc sống như một dòng sông, có cả sự trong veo tinh khiết đến
ngỡ ngàng của nước, có cả rác rưởi đang trôi”. Từ đó “ ông giúp chúng ta hiểu
hơn về nước, về rác bằng một cái nhìn tỉnh táo và sâu sắc. Từ đó ông thức tỉnh
một khao khát, bỏ rác đi ta sẽ gặp sự trong trẻo của dòng sông”[15]. Những trăn
trở của nhà văn về con người, những suy tư của ông về thiện và ác, sáng và tối,
cao thượng và thấp hèn, người và quỷ… bên trong con người khiến chúng ta có thể
kết luận rằng Nguyễn Huy Thiệp đã viết được những áng văn “ giản dị và trung thực
về con người” [16].
Tài liệu tham khảo:
1. Đặng Anh Đào. Tài năng và người thưởng thức. NXB Hội
nhà văn, Hà Nội, 1994
2. Đặng Anh Đào. Biển không có thủy thần. Báo Văn
Nghệ, số 35 – 36,20.8.1988.
3. Nguyễn Đăng Điệp. Cuốn theo chiều văn Nguyễn
Huy Thiệp. Tạp chí văn học ngày 18.5.2009.
4. T.N. Filiminova. Thơ trong văn Nguyễn Huy Thiệp.
Ngân Xuyên dịch.
5. Nguyễn Văn Long. Văn học Việt Nam trong thời đại mới.
NXBGD, Hà Nội, 2001
6. Phạm Xuân Nguyên ( sưu tầm và biện soạn). Đi tìm
Nguyễn Huy Thiệp. NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2001.
7. Văn Tâm. Đọc Nguyễn Huy Thiệp. Báo Văn Nghệ, số 48,
26.11.1988
8. Nguyễn Huy Thiệp. Tập truyện ngắn. NXB Hội Nhà
văn, Hà Nội, 2005.
9. Nguyễn Thị Hải Vân. Những đổi mới của văn học Việt
Nam sau năm 1975. ĐH Quy Nhơn, 2006.
10. Nhiều tác giả. Nguyễn Huy Thiệp tác phẩm và dư
luận. NXB Trẻ,1989.
Chú thích:
1. Nguyễn Thị Hải Vân. Những đổi mới của văn học Việt Nam sau
năm 1975. ĐH Quy Nhơn, 2006.
2. Tựa bài viết của GS Đỗ Đức Hiểu.
3. Chữ dùng của Nguyễn Huy Thiệp.
4. Hoàng Ngọc Hiến. Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi
gió. Hà Nội, tháng 9 năm 1987.
5. Nguyễn Thanh Sơn. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Hà Nội,
27.6.1995.
6. Chữ dùng của E. Hemingway.
7. Nguyễn Thanh Sơn. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Hà Nội,
27.6.1995.
8. Phát biểu của nhà văn Nguyễn Khải.
9. Chữ dùng của nhà văn Nguyễn Khắc Trường
10. Chữ dùng của J.P.Satre.
11. Nguyễn Thanh Sơn. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Hà Nội,
27.6.1995.
12. Nguyễn Thị Hải Vân. Những đổi mới của văn học Việt
Nam sau năm 1975. ĐH Quy Nhơn, 2006.
13. Chữ dùng của GS Đặng Anh Đào.
14. Nhận xét của GS Đặng Anh Đào.
15. Nguyễn Đăng Điệp. Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp.
Tạp chí văn học ngày 18.5.2009.
16. Chữ dùng của E. Hemingway.
29/10/2021
Hồ Tấn Nguyên Minh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Nỗi lòng Đồ Chiểu hay Phan Văn Hùm
Nỗi lòng Đồ Chiểu
hay Phan Văn Hùm?
"Nỗi lòng Đồ Chiểu" tức là nỗi lòng Phan Văn Hùm. Sự thật có
phải như thế chăng? Tôi xin nhường quyền cho tri-kỷ bốn phương của anh Hùm tôi
phán-đoán”[1]. (Kim Ba Mai Huỳnh Hoa)
Phan Văn Hùm, người con đất Búng, Lái Thiêu tuy chưa đạt
thành tâm nguyện cứu đồng bào Nam Kỳ thoát kiếp đời dân thuộc địa Pháp song,
ông đã làm cho xứ sở rạng danh và lưu lại hậu thế tấm gương trí thức Nam Kỳ vững
ý chí, chắc tiết tháo; thệ nguyện vì chính nghĩa quyết đấu tranh dù phải bị sát
hại, mất xác. Đời ông, sống cũng như sau khi chết, lắm điều tiếng thị phi, tên
tuổi bị xóa. Dẫu vậy, Đời ông, thuộc về đời của đất nước mà ông, đã tận hiến.
Trong lòng dân Việt yêu nước đều coi trọng ông và gọi ông, là chí sĩ yêu nước!
Lúc sinh thời, năm 1937, điều gì đã thúc bách người chí sĩ
yêu nước ấy viết “Nỗi lòng Đồ Chiểu” và năm 1938, Đỗ Phương Quế xuất bản (Lần
nhất), năm 1957 Tân Việt xuấ bản (Lần hai). Trong tác phẩm này, Phan Văn Hùm thực
hiện hai phần: Tiểu truyện, Sưu tầm và trích lục tác phẩm. Trong
phần Tiểu truyện, Phan Văn Hùm sử dụng Duy vật lịch sử làm góc nhìn
soi rọi tác phẩm Đồ Chiểu (cũng là cố ngoại vợ), như Nguyễn Huệ Chi và Nguyễn
Thành đánh giá: “Có thể nói Phan Văn Hùm là người đầu tiên lý giải Nguyễn Đình
Chiểu một cách khoa học, xác đáng”(“Tự điển văn học, Bộ mới”, tr. 1101, Nxb Thế
giới, 2004). Riêng phần Sưu tầm và trích lục tác phẩm, Nguyễn Đình Chiêm
(1869 – 1935) con trai thứ bảy của Nguyễn Đình Chiểu (Theo gia phả “Nguyễn
Đình Tộc Phổ, bản 1811″), lúc sống đã tạo điều kiện tiếp cận và trao một số tư
liệu đáng tin cậy về Nguyễn Đình Chiểu cho cháu rể Phan Văn Hùm gọi Nguyễn Đình
Chiêm là ông Bảy (Nguyễn Đình Chiêm em trai của Sương Nguyệt Anh và Kim Ba Mai
Huỳnh Hoa, thứ thất Phan Văn Hùm gọi Sương Nguyệt Anh là bà ngoại).
Vậy thì, phải chăng Phan Văn Hùm mượn cớ “Nỗi lòng Đồ Chiểu”
để tỏ biểu kiến cũng như trải lòng trước thời cuộc nhiễu nhương, tao loạn của
Nam Kỳ thuộc Pháp. Nhà văn Thiếu Sơn, cùng thời cùng là bạn Phan Văn Hùm
đã nhận định: “Nỗi lòng Đồ Chiểu nói lên một phần nào của Phan Văn Hùm”(“Những
văn nhân chính khách một thời”, Thiếu Sơn, tr.180, Nxb Công An nhân dân, 2006).
Và, để tìm hiểu, soi rọi “một phần nào của Phan Văn Hùm”, bài viết này nhằm mục
đích thực hiện:
1. Cuộc đời Phan Văn Hùm: Những chặng đường tranh đấu
2. Tâm thế kẻ sĩ giữa hồi quốc biến
3. Nỗi giằng xé mong mỏi của người thầy thuốc quốc dân
4. Người trí thức Nam Kỳ tiểu biểu cho thời đại cách mạng tư
tưởng
5. Ưu tư về nhân tâm – nhân tính hay nhân bản của Phan Văn
Hùm
Đường cách mạng của chí sĩ yêu nước Phan Văn Hùm cũng chính
là đường tư tưởng của trí thức Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng vào nửa đầu
thế kỷ XX. Ở đó, hẳn có và còn những bài học thời đại quý giá. Nguyễn Đăng
Thục, viết:“Bởi thế mà trong hàng thanh-niên trí-thức chúng ta ai là người
thành thực chẳng phải hoang-mang bất-định trong tâm-thần, chẳng phải đi tìm
lý-tưởng để sống cuộc đời có ý-thức, nếu không làm lợi được cho ai cũng không tổn
hại cho lương-tâm. Trong bọn trí-thức này, người đã cảm sâu với sự khủng-hoảng
của tinh-thần thời-đại, có lẽ là Phan-Văn-Hùm, cho nên chúng tôi thấy cần phải
bàn rộng và thiết-thực đến con đường tiến-hóa trong tư-tưởng của ông, vì sự tiến-hóa
chung của thanh-niên Việt-Nam cận-đại”[2].
1. Cuộc đời Phan Văn Hùm: Những chặng đường tranh đấu
1902-1925, thơ ấu và theo học. “Bút danh Phù Dao, là nhà báo,
nhà văn hóa và nhà cách mạng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, sinh năm 1902 tại ấp
Búng, làng An Thạnh, quận Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một (nay thuộc chợ Búng, phường
An Thạnh, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương). Thuở nhỏ, học tiểu học tại quận
Lái Thiêu, sau khi đỗ bằng tiểu học, ông lên Sài Gòn học trung học tại trường
Chasseloup Laubat. Năm 1922, Phan Văn Hùm thi đỗ Thành chung (tốt nghiệp trung
học), làm giáo viên dạy ở trường tư thục một năm, rồi ra Hà Nội học trường Cao
đẳng Công Chánh từ năm 1923 đến 1925”[3].
1926-1929, bước đầu dấn thân đấu tranh; đỉnh điểm sự kiện Cai
Nên ở Bến Lức, ông với Nguyễn An Ninh bị vu tội hành hung người thi hành công vụ;
trong lao ngục ông viết Ngồi tù khám lớn (1929); bất công xã hội qua
vụ Cai Nên và hoàn cảnh nhà tù thuộc địa, khiến Phan Văn Hùm nhận thức cần thứ
vũ khí tư tưởng đủ thiết thực để thay đổi hiện trạng đất nước; sự việc này ảnh
hưởng khiến ông thay đổi chí hướng đấu tranh chính trị;
1929-1933, học tập và hoạt động ở hải ngoại; đây là giai đoạn
Phù Dao tiên sinh nhận thức cần phải mở rộng về tư tưởng; ông theo học triết
trong vòng ba năm đỗ luôn Thạc sĩ Triết của Đại học Sorbonne; nhưng danh vị
không phải là niềm mong mỏi của Phan Văn Hùm, điều ông tìm kiếm là đường hướng
tư tưởng khả dĩ giải quyết hiện tình thuộc địa của quê hương. Ông nghiên cứu
các vấn đề văn hóa, tư tưởng, chính trị. Nhưng không dừng lại ở cương vị học giả,
ông hăng hái tham gia hoạt động chính trị cùng cộng đồng người Việt tại Pháp.
Cũng chính vậy, chính quyền Pháp truy lùng, ông trốn sang Bỉ và trở về Saigon
năm 1933;
1933-1936, về nước làm báo và dạy học. Trở về Saigon, ông
cùng với những bạn bè cho ra đời tờ La Lutte. Riêng ông làm chủ bút báo Đồng
Nai, cộng tác cùng nhiều tờ báo khác khắp cả nước. Trở lại với nghiệp dạy học,
Phan Văn Hùm ý thức vai trò giáo dục trong thức tỉnh tư tưởng quốc dân; qua
giáo dục có thể góp phần hình thành thế hệ mới đủ sức đấu tranh chính trị. Ông
tổ chức giáo viên bãi khóa, chống thực dân. Cũng vì vậy, ông lại bị cho thôi việc;
1936-1939, tham gia nghị trường. Để có tiếng nói mạnh mẽ hơn,
lên án chế độ thực dân và bênh vực quyền lợi dân tộc, ông cùng với Tạ Thu Thâu
và Nguyễn Văn Tạo tham gia ứng cử và trúng cử Hội đồng thành phố Saigon. Đến
1939 ông ứng cử Hội đồng quản hạt Nam kỳ nhưng thực dân Pháp ra sức phá hoại,
chuyện không thành;
1939-1942, tù đày Côn Đảo. Do tham gia nhiều hoạt động trên
nghị trường lẫn báo chí, chính quyền thực dân kết án ông tù đày Côn Đảo ba năm.
Nhiều gian khổ bệnh tật nhưng ông đã vượt qua, giữ vững ý chí và tinh thần đấu
tranh;
1942- cuối 1945 đầu 1946, mãn tù, bị quản thúc tại Tân Uyên
và bị sát hại mất xác. Trong thời gian quản thúc, ông soạn tác, sưu tầm, hiệu
chú để lại nhiều công trình giá trị. Đây là giai đoạn ông gửi tâm tư hoài vọng
đấu tranh vào địa hạt chữ nghĩa. Từ trong di sản tinh thần còn lại, ta có thể
nhìn thấy chí hướng cao viễn của ‘mãnh hổ đất miền Đông’. Người thanh niên và
trí thức trẻ hôm nay có thể nhìn theo đó rút cho mình bài học thời thế.
2. Tâm thế kẻ sĩ giữa hồi quốc biến
Viết về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu, Phù Dao tiên sinh chú ý
nhiều đến tâm thế cụ đồ giữa hồi gia biến và quốc biến. Tiên sinh có ý khắc họa
sự thay đổi nhận thức của Nguyễn Đình Chiểu trước sự thay đổi của thời cuộc. Nhận
thức mới ấy, trước hết ở cuộc biến loạn của Lê Văn Khôi (1833), từ đó Nguyễn
Đình Chiểu ra Huế theo học người bạn của cha mình (Nguyễn Đình Huy) là ông thái
phó. Học ròng rã tám năm (1833-1841), mới quay về Gia Định. Tu chí học hành, thế
nhưng tiếng súng Lang Sa nổ ran ở cửa Hàn những năm 1843, 1845; cụ đồ bấy giờ
nhận thức mối hiểm họa rình rập ngai vàng Nguyễn triều và chực chờ giày xéo quê
hương. Việc Thiệu Trị nhúng nhường, thả các linh mục trước sức ép đại bác của
chiến hạm Pháp, càng cho thấy cảm giác hiểm họa của cụ càng chân thực rõ ràng
hơn. Từ nỗi lòng của Đồ Chiều hồi thanh niên trước mối họa ngoại bang đến nỗi
lòng Phù Dao cuối thập niên 1920, là quá trình vận động tư tưởng của trí sĩ Nam
Kỳ trước tình thế thuộc địa. Nếu như, Tú Chiểu nghe tiếng súng Lang Sa càng
hăng chí học tập những mong ở đường khoa hoạn có thể thực thành ý nguyện góp sức
cho giang sơn thì Phù Dao, nếm mùi khám lớn càng hăng chí xuất ngoại đến Tây
phương hòng tìm kiếm lợi khí tư tưởng giải phóng quê hương. Đường hướng có khác
nhau những nỗi lòng chỉ một.
Tâm thế kẻ sĩ giữa hồi quốc biến, mỗi người mỗi khác. Chuyện
cũng dễ hiểu. Bởi vậy, ta cũng hiểu vì sao Phù Dao tiên sinh có ý chê Cụ Đồ “cục
bộ” trong việc nhìn nhận Tây phương. “Ta phải nhận rằng văn chương trong tập
thơ này có lắm nơi thanh thoát, lắm nơi hùng hồn, nhưng hiềm vì luận điệu thì rất
tây lệch và lắm chỗ vụng về lẩn thẩn”[4]. Nhưng, ngẫm lại, Phan Văn Hùm thừa biết
thời đại đã khác (gần một thế kỷ), tâm thế càng khác. Nếu như, kẻ sĩ hồi giữa đến
nửa sau thế kỷ XIX có ý bài xích triệt để văn hóa Tây phương, coi đó là mối họa
tiềm tàng làm mục ruỗng tâm hồn quốc dân.
“Dân mà mê đạo tây rồi,
Nước người muốn lấy mấy hồi phòng lo.
Dầu ai tranh khỏi mê đồ,
Lại thêm nha phiến trao cho hút liền.
Tối ngày ôm những ống đèn,
Nào rồi toan việc đánh phiên dẹp loàn” [5].
(Dương Từ – Hà Mậu).
… thì nửa đầu thế kỷ XX, kẻ sĩ Nam Kỳ có cách nhìn nhận khác
về văn hóa Tây phương. Ở đó, kẻ sĩ như Phù Sao tiên sinh nhìn thấy hiểm họa mà
cũng nhìn ra con đường giải thoát. Năm 1929, tiên sinh trở gót trời Tây.
Đối với Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Hùm có ý đánh giá thơ văn
và con người. Phù Dao đề cao nhân cách đức độ của Hối Trai tiên sinh cao hơn lối
tu từ mỹ pháp trong thơ văn. Cũng phải, bởi giữa hồi quốc biến, lẽ nào còn tâm
trí trau dồi khoa sức con chữ. Thơ văn cốt để chuyển tải trọn vẹn nỗi niềm đau
đớn tím ruột bầm gan mà thôi. Ví như, Hối Trai tiên sinh có ý mỹ hóa ngôn từ,
thì không phải là không thể. Nhưng, dụng ý nói cho tỏ tường đức độ của cụ đồ là
bởi Phù Dao muốn xác lập một hình tượng kẻ sĩ Nam Kỳ, một cá tính phương Nam
nhơn nhơn vững chãi giữa cõi trời đất. Tiên sinh thuật lại viên chủ tỉnh Bến
Tre có vài lần đến thăm hỏi cụ đồ (khoảng 1884). “Trừ lần đến xin nhuận chính bổn
Lục Vân Tiên ra, Michel Ponchon sau còn ba lần nữa đến viếng, có ý khuyên dụ
Nguyễn tiên sinh, hỏi thăm đất cát của tiên sinh ở Sài Gòn ranh rấp như thế nào
để tìm giao trả lại cho. Tiên sinh cám ơn và cười mà khước lời rằng: ‘Đất vua
còn phải bỏ, thì đất của tôi có sá gì?’ Ông Ponchon lại nói đến việc nhà nước
Pháp định cấp cho tiên sinh tiền dưỡng lão, tiên sinh cũng một mực chối từ … Tưởng
con nhà văn mà được chính phủ và toàn thể nhân dân ưu đãi như thế, thời thật là
sự thiên tải nhất thời. Người không có tiết tháo, ở cái địa vị của tiên sinh, ắt
đã không cầm được vững dạ. Tiên sinh thời chỉ muốn cho được sạch mình, cho nên
rất cẩn thận trong sự chọn đường xuất xử. ”[6]. Gói ghém trong đó, Phù Dao tiên
sinh ấp ủ nỗi niềm chắp nối lưu truyền tiết tháo của kẻ sĩ Nam Kỳ, lấy đó làm
bài học cho hậu bối, nhất là hồi nửa đầu thế kỷ XX. Cũng như Tạ Thu Thâu, Phan
Văn Hùm chú trọng nhiều ở lớp trẻ. Làm sách về cụ đồ, đặt nặng ở chỗ làm rõ đức
độ của cụ đồ, ấy là muốn trao truyền khí tiết phương Nam cho lớp tuổi thanh
xuân – lớp tuổi thuộc về rường cột nước nhà – may ra trong lớp người ấy,
có được vài kẻ chắp nối xiển dương thì coi như quê hương cũng có người kê vai
gánh lấy đỡ đần. Kỳ vọng Phù Dao tiên sinh trong việc làm sách, có lẽ nằm ở chỗ
đó.
Mối kỳ vọng của Phù Dao hẳn có lý. Bởi, xem qua tâm ý cụ đồ
biểu bộc ở thơ văn, xem qua hậu duệ của cụ thì, rõ ràng cụ đồ vẫn ắp ôm tâm thế
“hoài cựu chúa”. Cụ đồ cấm con cháu học chữ quốc ngữ. Cho tới nhà thơ Nguyễn
Đình Chiêm hay nữ sĩ Sương Nguyệt Anh thảy đều có ý trông mong ở Nguyễn triều.
Rõ thấy, cụ đồ giáo dục con cái rất nghiêm khắc và giữ vững tiết tháo Khổng-Mạnh,
trước sau tôn phò hai chữ “trung quân”, chẳng dám làm phường “nghịch đảng”. Trọng
những kẻ sĩ dám đứng lên bảo vệ quê hương dân tộc, nhưng bản thân vướng phải
“ơn vua” không thể bước chân sa vào chỗ bia danh “nghịch đảng” làm bợn nhơ mãi
về nhau. “Tấc đất ngọn rau ơn chúa, / Vun trồng cho nước nhà ta”. Do đó, Phù
Dao tiên sinh có ý đánh giá, “nghĩa quân thần” buộc cụ giữ tiết tháo trong sạch
đồng thời khiến cho cụ tách mình khỏi cuộc đấu tranh của nhân dân trước giặc
ngoại bang. “Thôi thời sự chẳng như nguyền, hãy lo bề minh triết bảo thân làm
trọng. Cái tư tưởng thoát trần của tiên sinh cũng từ đó mà nảy ra. Thân tiên
sinh đương ở trong vòng lịch sử xung đột, mà chí tiên sinh lẩn quất nơi lưu thủy
cao sơn”[7]. Gián tiếp, Phan Văn Hùm xác lập tâm thế của chính ông trước thời
cuộc. Mà kỳ thực, chuyện đã quá rõ ràng, giữa hoạt động báo chí, tham gia nghị
trường và làm sách, Phan Văn Hùm thống nhất quan điểm cách nhìn thời cuộc. Tuyệt
nhiên, ông không đứng về phe “bảo hoàng”. Ảo mộng “cựu chúa” không thể mang lại
lối thoát nào cho quê hương.
Nhưng, cái tình ý thực sự của Phù Dao tiên sinh có phải ưu tư
về chuyện xưa người cũ. Có lẽ, chẳng phải dừng lại ở đó. Ta đọc thấy nhận định
của Phù Dao về cụ đồ như sau: “Danh đã không màng, lợi đã không màng, cho nên
vãn cảnh của tiên sinh thật là cảnh tịch liêu trong tâm hồn. Người vì nước đã rủ
nhau chết ngặt hầu hết rồi. Tiên sinh sống thừa, tiếng đồng vọng của cuộc đời đến
tiên sinh không còn phản xạ”[8]. Phải chăng, Phan Văn Hùm có ý trách cụ đồ dửng
dưng trước thời biến. Nếu, có ý trách cụ đồ, chắc ông đã chẳng đặt mình trong vị
thế cụ đồ để phân tích. Phan Văn Hùm nhận thấy “thế giới quan” của nhà nho, chịu
sự chi phối của ý hệ cũ, của chính thể cũ, của nền tư tưởng Khổng Mạnh. Huống hồ,
bối cảnh lịch sử thế kỷ XIX khó lòng vượt qua được, cho thấy chẳng phải đánh
giá như vậy là có ý trách cụ đồ. Ngòi bút Phan Văn Hùm hướng đến những kẻ ắp ôm
sự học để cầu có danh lợi bản thân. Phù Dao tiên sinh có ý trách những kẻ đặt
mình ngoài vòng nguy biến của sơn hà xã tắc. Những kẻ “sống thừa”, chỉ quẩn
quanh ở vài ba chuyện thường ngày, lui cui trong xó bếp tính chuyện sinh nhai.
Lấy chữ nghĩa, học hành, bằng cấp làm mồi “câu cơm”, lấy chuyện tranh giật “địa
vị” làm nghĩa lý sống, chỉ cầu được an thân ổn mệnh, ngó lơ trước cảnh lầm than
cay cực thuộc địa của nhân dân. Xét ra, ý hướng này của Phan Văn Hùm có lẽ ảnh
hưởng từ Nguyễn An Ninh (bởi ông Ninh cũng không ít lần lên tiếng phê phán những
kẻ lấy việc học cầu danh lợi).
3. Nỗi giằng xé mong mỏi người thầy thuốc quốc dân
Niềm mong mỏi “người thầy thuốc” chữa bệnh tư tưởng quốc dân,
Phù Dao tiên sinh cơ hồ ký thác ở đôi dòng đề từ, vốn bài thơ “Y sư tự thuật” của
cụ Đồ Chiểu:
“Trời đông sùi sụt gió mưa tây,
Đau ốm lòng dân cậy có thầy,
Phương cũ: vua, tôi, gìn trước mắt;
Mạng nay: già, trẻ, gởi trong tay.
Trần đồ tám quẻ còn non nước;
Binh pháp năm mùi sẵn cỏ cây.
Hỡi bạn y lâm! Ai muốn hỏi,
Đò xưa, bến cũ, có ta đây”[9].
Đằng sau chuyện y thuật, vận khí, bồn thảo, y tông, mạch trạng,
kỳ thực là chuyện “nước loạn người lìa”. Phù Dao tiên sinh dường như có ý ngẫm
nghĩ về mạch trạng và phong khí nước nhà tron cơn bỉ cực, hầu như tâm tư mong mỏi
người thầy thuốc và một bài thuốc khả dĩ chữa bệnh ương hèn, yếu nhược, dần kiện
tráng tinh thần quốc dân, mới thực là ưu tư của tiên sinh. Nếu, được vậy, may
thay mới làm cuộc đấu tranh chính trị đưa nước nhà thoát cảnh thực dân. “Làm thầy
đồ, làm thầy thuốc, cứu xác thịt, cứu tinh thần, hai phương diện cùng nhau như
lang bối. Làm lương tướng, làm lương y, địa vị tương đương, được một này sánh
tày một nọ. Nhưng mà nơi Nguyễn Đình Chiểu, thời sự lựa chọn đâu được có tự do,
vì chưng mắt đã mù lòa, không thể cầm thương lên ngựa. Phải chọn lấy nghề y,
thay vì làm viên tướng là sự tiên sinh phải làm, bởi chẳng đặng đừng làm. Lòng
tiên sinh thời chẳng những nguyện cứu dân, mà vẫn còn nguyện tá quốc, mà vẫn
còn nguyện phò vương”[10]. Như đã nói ở trên, Phan Văn Hùm ưu tư hai nỗi cứu
dân, tá quốc. Mong mỏi người thầy thuốc, đúng ra là mong mỏi bài thuốc. Tật bệnh
tư tưởng thời phải dùng thuốc tư tưởng để chữa. Ông tìm đến trời Tây phương,
ngó một lượt Đông phương (Phật học, Nho học), chẳng phải để tìm bài thuốc tư tưởng
cho quốc dân sao!
Hồi mới ấn hành, đã có người chê trách Phù Dao vì quyển Nỗi
lòng Đồ Chiểu, cho rằng nặng về quốc gia, trong khi cả thiên hạ chỉ quẩn quanh
chuyện giai cấp, quy cho ông xa rời hiện thực tranh đấu. Việc này, chính Phan
Văn Hùm có thuật lại. “Năm 1938, giữa buổi phong trào xã hội mãnh liệt, hiệu giả
cho ra quyển Nỗi lòng Đồ Chiểu. Khi ấy có người công kích hiệu giả, cho là mang
nặng óc quốc gia. Ngoài ra, ở xã hội, không ai buồn nhắc đến Đồ Chiểu trong lúc
đài khiêu vũ hiện ra ngày một nhiều”[11]. Nhưng, soạn tác hiệu chú Nỗi
lòng Đồ Chiểu hay hiệu đính và chú thích Ngư Tiều vấn đáp y thuật chẳng
phải chuyện tồn cổ luận bàn đông y, Phan Văn Hùm cho rằng chuyện ấy cứ để công
luận lên tiếng[12]. Làm sách nói chuyện y thuật, vậy mà tiên sinh thẳng thắn
nói rõ từ đầu chuyện y thuật không dám lạm bàn. Phần ấy để cho thiên hạ. Vậy, đủ
thấy, tâm tư tiên sinh đặt ở đường hướng khác. Mong mỏi ấy đặt ở người thầy thuốc
quốc dân chữa bệnh tinh thần mà chắc hẳn, tiên sinh phải khởi đi từ việc nhìn
thấy những tật bệnh trong chính tinh thần và thể xác của quốc dân. Thăng trầm,
sóng gió đấu tranh chính trị đủ cho tiên sinh phát hiện thể trạng quốc dân què
và quặt ở chỗ nào, tật và bệnh ở chỗ nào… Tâm ý đó còn quẩn quanh trong chuyện
“mạch trạng”, trong lời “vận khí” của cụ đồ, và rồi bỏ ngõ cho tới hôm nay.
4. Người trí thức Nam Kỳ tiêu biểu cho thời đại cách mạng tư
tưởng
Theo Nguyễn Đăng Thục, sau 1930 khi cuộc cách mạng của quần
chúng bấy giờ có những bước lùi nhất định thì tinh thần của giới trí thức có
chao đảo ít nhiều. Và chao đảo thì ngã nghiêng, có người ngã bên này, có người
ngã bên kia, có người quay về cái cũ, có người hướng tới cái mới, có người vọng
bên Tây có người ngóng bên Tàu[13]. Nhưng, “Những khuynh-hướng ấy bởi không có
một quan-niệm văn-hóa cai-quát và thâm-trầm có thể đem lại cho tâm-hồn người ta
một triển-vọng cao xa, mới chỉ là những khuynh hướng lờ-mờ phản-ứng nhất-thời với
thời-đại, cho nên nửa đường đành bỏ bê. Trong thế-hệ ấy, một cá-nhân
trung-thành với văn-hóa và nhiệt-thành với chân-lý, đáng làm tiêu-biểu trong
làng học-giả thanh-niên có lẽ là ông “Phan-Văn-Hùm” vậy”[14]. Nguyễn Đăng Thục
đánh giá cao Phù Dao tiên sinh ở chỗ lập trường văn hóa và chân lý. Niềm tin
son sắc của tiên sinh đối với văn hóa dân tộc và sự đúng đắn của Tự do và Độc lập.
Nói khác, tiên sinh đã chẳng hề nghiêng ngã lung lay trước sóng gió thời cuộc
như phần đông thiên hạ đã ngã nghiêng. Bấy nhiêu, đủ thấy tư cách tiết tháo của
tiên sinh và chí hướng của tiên sinh chẳng phải là hoa bèo trôi theo dòng nước.
Từ Nỗi lòng Đồ Chiểu (1938) Biện chứng pháp phổ
thông (1939) tới Vương Dương Minh – thân thế và học thuyết (1944),
dường như người trí sĩ Tây học năm nào đã khởi hành từ quê hương đến với biển lớn
tư tưởng thế giới. Năm đó, từ Pháp sang Bỉ rồi về Sà Gòn (1933), ông không những
mang theo vốn liếng tư tưởng tiếp nhận ở trời Tây mà còn trở về gắn chặt lòng
mình hơn nữa với quê hương xứ sở. Đấy cũng là lí do khiến Nguyễn Đăng Thục nể
phục. Con đường tư tưởng Phù Dao tiên sinh theo Nguyễn Đăng Thục tựu trung có thể
đúc kết: “Quan-niệm ấy ông Phan-Văn-Hùm đại-biểu cho phái Tây du-học này, tưởng
đã tìm thấy ở Biện-chứng-pháp Duy-vật của Mã-KhắcTư mà ông đem cống-hiến quốc-dân
trong tập sách mỏng đề là “Biện chứng-pháp Phổ-thông” xuất-bản năm 1936 [15].
Thế rồi, bẵng đi một hồi khá lâu khoảng năm, bảy năm, ông mới lại cho xuất-bản,
một cách đột-ngột không ai ngờ, một quyển sách nghiên-cứu về Triết-học Phật-giáo tiếp
luôn một quyển về Vương-Dương-Minh. Lấy bề ngoài mà xét, thực là ông đã từ
cực-đoan “Duy-vật ” đi sang cực-đoan ” Duy-tâm” về phương-diện tư-tưởng – theo
ý-nghĩa căn-bản triết-lý của tiếng “Duy-vật” thì cho vật-chất là thực-tại, có
thực trước, và “Duy-tâm” thì cho tinh-thần là thực-tại. Ông đã từ góc trời Tây
Triết-học “Khoa-Học” đi sang góc trời Đông Triết học “Đạo-Học”. Như thế đủ tỏ
trong tâm-hồn ông chắc đã kinh-nghiệm qua những trận bão-táp hãi-hùng, mặt biển
đã bao phen phong-ba cồn sóng, chưa tới ngày được êm lặng. Phải chăng, ông cũng
như chúng tôi, cùng một bọn thanh-niên trí-thức đồng cảnh, sinh-trưởng vào thời-đại
điêu-linh, chưa tìm được đầu-mối quân-bình cho tâm-trí? Chưa tìm được quan-niệm
nhận-thức với nhân-sinh đích-đáng, chưa nhận thấy con đường “Cách-vật trí-tri”
mới, thích-trung làm tiêu-chuẩn cho sự tu, tề, trị, bình trong xã-hội Việt-Nam
hiện-đại”[16]. Đương thời, Nguyễn Đăng Thục tỏ ra xót xa cho chí hướng của Phù
Dao tiên sinh mà xót nhứt, là sự cùng quẫn chưa tìm ra lối đi đường tới. Cùng
quẫn, ta e rằng Nguyễn Đăng Thục chưa mấy chú ý đến quyển Nỗi lòng Đồ Chiểu, Phù
Dao tiên sinh đã tìm và đã thấy trong cõi hoàn vũ từ Tây sang Đông, những đường
hướng khả dĩ tiêu trừ nạn tai cho quê hương. Con đường tư tưởng của tiên sinh
là con đường bão táp, cọ xát, giằng co giữa lý luận và thực tiễn. Do đó, con đường
tư tưởng vận động không ngừng từ Tây sang Đông. Nhưng, không phải vì vận động,
chuyển hướng mau chóng mà cho rằng tiên sinh “chưa tìm thấy đầu mối”. Dẫu đại
diện cho giới trí thức Tây học (hậu Đông Du), nhưng tâm hồn tiên sinh vẫn gắn
chặt với quê hương. Và, như vậy, thì không thể cùng quẫn được. Dù Đông hay Tây,
tiên sinh vẫn lấy quê hương làm gốc, gạn lọc trong đó những vấn đề khả dĩ phù hợp
của xứ sở. Bởi vậy, quyển Biện chứng pháp phổ thông, tiên sinh chọn lối viết
dân dã gần gũi cho giới bình dân Việt tìm đọc; ở quyển Phật giáo triết học,
tiên sinh lại bám sát vào đặc trưng tư tưởng Phật giáo của người dân Nam Kỳ
(Hòa thượng Thích Mật Thể phải có đôi dòng chia sẻ cho tròn chánh pháp – việc
này sẽ nói rõ hơn ở đoạn sau). Vậy thì, bám chặt lấy quê hương để tiếp nhận tư
tưởng Đông Tây, không thể gọi là cùng quẫn tư tưởng. Có chăng, đó là sự vận động
tư tưởng mau lẹ nhằm “cặp cái bến” mà tiên sinh muốn tới. (Lấy việc này so lại
mấy dòng chia sẻ của Tạ Thu Thâu với Hồ Hữu Tường hồi mới quen nhau ở Hội tiếp
rước du học sinh mới qua Pháp, ta càng thấy có lý).
Điều đáng lưu tâm trong nhận định của Nguyễn Đăng Thục. Ông
đã nhận thấy vì sao những trí thức Tây học ở Nam Kỳ, dẫu tiếp thu bài bản kiến
thức trường quy của Tây phương song sự ảnh hưởng của Tây phương thật sự không mấy
chi phối đến tư tưởng và nền học vấn cũ – nho học Khổng Mạnh -, cũng chẳng mấy
thấm ngấm sâu trong tâm hồn con người ở vùng đất “phù sa mới” Nam Kỳ. Lý giải
cho sự việc này, ông nhận thấy một nền tảng văn hóa Việt Nam bền vững lâu đời kết
tinh trong đời sống con người ở đây, dẫu lịch sử vùng đất so với Bắc Việt và
Trung Việt thì không thể có bề dày cho bằng. “Sự thực từ ngày Đông Tây gặp nhau
trên giải đất này, thế quân-bình trong xã-hội và trong con người Việt-Nam đều bị
khủng-hoảng rất mạnh, và mỗi ngày rời xa với nguồn-gốc cũ lại càng khủng-hoảng
thêm hơn. Tuy-nhiên, trước sự tràn-ngập của văn-hóa Tây-phương cận-đại, theo
sau với súng đạn, thì quan-niệm văn-hóa Đông-phương nề-nếp cũ nhất quyết không
còn thích-trung nữa. Muốn cách-mệnh quan-niệm ấy, thì chưa ai ý thức rõ-ràng;
mượn văn-hóa Tây-phương hoàn-toàn thì trong tâm-hồn Việt-Nam không có đất cho rễ
nó đâm sâu vì dưới lượt đất phù-sa mới này vẫn nằm trơ kiên-cố nền-tảng văn-hóa
đã kết-tinh đời đời kế-tiếp. Hai mạch đất vẫn phân đôi chưa duy-nhất thành một
giòng thuận chảy, lớp trước miên-tục với lớp sau. Bởi thế trong tâm-hồn và
ngoài thực-tế xã-hội đều chưa có thế quân-bình bền-vững, con người đang
chơi-vơi vì không có tin-tưởng bờ-bến” [17]. Đọc kèm với đoạn trước, ta mặc
nhiên hiểu rằng Nguyễn Đăng Thục có ý cho rằng Bắc Việt và Trung Việt chịu ảnh
hưởng nặng nề bởi lối thủ cựu của nền nho học Khổng Mạnh khiến văn hóa thuần Việt
đôi khi mờ nhạt. Ở Nam Việt, đất mới, bề dày khoa cử không thể sánh, nhưng bù lại
dân tộc tính có được môi trường sinh trưởng và cũng nhờ vậy, khi văn hóa Tây
phường theo súng đạn vào Nam Kỳ thì dân tộc tính ấy phát huy sức đề kháng mạnh
mẽ đối với “văn hóa ngoại lai”. Rõ là, dù xuất thân từ nền giáo dục phương Tây
phương nhưng kỳ thực, nền giáo dục ấy chưa đủ sức xâm nhập nội tạng dân tộc
tính ở người trí thức Việt và nó, chỉ dừng lại ngoài da. Nòi Việt, vẫn phát huy
bản sắc giống Việt đậm đà trong lòng người trí thức Nam Kỳ nói riêng và dân Nam
Kỳ nói chung trước sự xâm lược của thực dân Pháp.
Hành trình tư tưởng Phan Văn Hùm, nói vậy cũng tức là kèm
theo quá trình hoạt động của tiên sinh. Bởi, với tiên sinh, tư tưởng và hoạt động
chẳng tách rời nhau. Vậy, tiên sinh đã tư tưởng gì, đã làm gì? Về tư tưởng, nền
tảng căn bản là văn hóa Việt của đất phương Nam, tiên sinh gắn chặt trái tim
lòng, khối óc vào nền đất nước phù sa xứ sở. Rồi, tiên sinh vọng phương hoàn cầu,
ngóng hướng Tây phương mong muốn tận mắt ngó thấy cách người Tây phương làm
cách mạng. Nhưng, có lẽ, tiên sinh phát hiện ra sự trống rỗng của căn bản tư tưởng
Tây phương hàng ngàn năm mà đương thời, Heidegger ca thán trong nhiều trước tác
(Hữu thể và thời gian, Về thể tính chân lý, Thư về nhân bản). Cho nên, tiên
sinh tìm kiếm u huyền man mác (numen)[18] của Đông phương (cùng với sự
phát hiện và căn nguyên thúc đẩy này, Kim Định tiến hành đối chiếu hai nền
triết lý Đông Tây) nhằm bổ khuyết cho những gì còn khiếm khuyết của tư tưởng
Tây phương. Nhưng, tựu trung, tiên sinh không thấy rằng cả hai nền triết lý ấy
có thể tạo nên thế quân bình cần thiết cho tâm thế linh hồn của người Việt bấy
giờ. Lấy sự dung hòa hai nền triết lý Đông Tây tạo thành thế quân bình cho tư
tưởng Việt, e rằng bất khả. Song, cũng không có nghĩa hành trình tư tưởng của
tiên sinh họ Phan lâm vào khủng hoảng, cùng quẫn. Người ta chẳng cùng quẫn nếu
còn có quê hương. “Nhưng dù sao ông cũng nhớ mình là người Việt-Nam, có một bầu
tâm-lý Việt-Nam do bao nhiêu thế-hệ nung-đúc di-truyền. Cho nên khi trở về nước,
sống cuộc đời Việt-Nam thì hồn lịch-sử như một thế-lực tự-nhiên trầm-tiềm
bàng-bạc ở giang-sơn, trong xã-hội, đêm ngày gọi tỉnh trong ý thức tiềm-tại,
cái tiềm-tại ý-thức của bao nhiêu thế-hệ đã qua”[19]. Và, rõ ràng, quê hương là
kim chỉ nam cho tư tưởng tiên sinh giữa tạo loạn cách mạng của thời cuộc.
Là Duy vật hay Duy tâm, trong tư tưởng Phan Văn Hùm vẫn là dòng
chảy xuyên suốt của tinh thần Duy Nhân. Khoa học và Đạo học là
tử số, mẫu số là Nhân học. Nhân học hay Nhân bản luận, căn nguyên tư tưởng
vốn có bàng bạc trong toàn bộ hành vi tác ý tác hành của tộc Việt phương Nam,
thấm nhuần trong mọi sinh hoạt gia đình, xã hội, văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng,
… của người bình dân. Nói rộng là vậy, nói hẹp thì ở ngay trong nền nếp sẵn có
tiền nhân. Cho nên, nói gần nói xa chẳng qua nói ngay “cụ cố ngoại” trong nhà.
Nguyễn Đình Chiểu nằm trong dòng chủ lưu của văn chương tư tưởng phương Nam.
Khác với lối văn chương ưa phản ánh phê phán, văn chương phương Nam nhắm đến
chuyển tải tư tưởng, gửi gắm kỳ vọng vượt qua thời gian. Trong việc làm tiếp nối
như vậy, chúng ta thấy Phan Văn Hùm ưa hành động kèm theo tư tưởng. Chớ không
phải chỉ tư tưởng không hành động. Tiên sinh nghĩ là làm và làm luôn có nghĩ.
“Cho nên thế quân-bình của tinh-thần chúng ta ngày nay không thể hoàn-toàn tìm ở
tư tưởng Tây-phương, vì ý-thức chúng ta không thể đoạn-tuyệt với tiềm-ý thức,
chúng ta không thể xóa hết lịch-trình quá-khứ Tổ-tiên ở sinh-lý hay tâm-lý, để
mượn những tài-liệu mới mẻ mà hợp thành. Những tài-liệu ấy dù có mỹ-miều mấy
mươi, nhưng không có rễ ăn sâu vào tâm-hồn và cơ thể thì cũng không làm động-cơ
linh-động ở ta được. Cho hay chúng ta không thể mượn căn-bản cho tinh-thần, mà
chỉ phải cải-tạo, nghĩa là lột bỏ cái vỏ chết khô do những hình-thức lâu
ngày ngừng-trệ kết lại, để cho mạch suối trung-tâm bắt đầu tuôn ra giòng nước mới
đầy tiềm-lực cần thiết cho hoàn-cảnh hiện-thời”[20]. Bám chặt lấy tình quê
nghĩa đất, tiếp nối tiền nhân, giữ gìn dân tộc tính, phát huy tái thiết đổi mới
tư tưởng dân tộc sao cho phù hợp với thời đại. Muốn vậy, phải là người có văn
tâm lẫn văn tài. Tâm cao vọng và thiết tha với vận mệnh đất nước, con người ấy
cố nhiên phải có đức độ và tài năng để thực thành. Ta thấy tâm của tiên sinh ở
chỗ nhận thức sâu sắc, tin chắc ở sự tiếp nối dân tộc tính của tiền nhân truyền
đời; ta thấy cái tài của tiên sinh ở chỗ trước tác và vận động đồng bào làm cuộc
cải cách xã hội. (Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên, bước chướng ngại trên đường
tư tưởng và hành động của tiên sinh, có lẽ cũng là chướng ngại của việc giữ gìn
và phát huy giá trị tư tưởng truyền đời của tộc Việt, chướng ngại cho sự hồi
sinh của minh triết Việt ngay trên chính quê hương Việt, thậm chí cho đến tận
hôm nay). “Ấy ông Phan-Văn-Hùm đang kiến-cố tự-cường, đào-sới, soi-mói lớp
phù-sa trùm lấp để tìm mạch suối tự-nhiên mà ông không còn xa bao đường đất nữa.
Chúng ta hãy nhìn lại kỹ-càng thành-thực một chút con đường của ông, đặng tìm lấy
cho chúng ta bài học kinh-nghiệm tưởng không phải là thừa lời đang lúc quốc-gia
đứng trước con đường rẽ của lịch-sử”[21]. Từ nỗi lòng của Sùng Đức tiên sinh đến
Lương Khê tiến sĩ, đến cụ Đồ Chiểu và tiếp tục lại là nỗi lòng của đứa cháu cố
rể Phù Dao, … rồi ai đây sẽ tiếp tục nhận lấy ngọn đuốc truyền đời của tư tưởng
nhân bản phương Nam. Giữ lấy nỗi lòng và chí hướng đó, gieo vào hậu thế; may
sao khởi thông con nước lớn tẩy trừ uế nhơ quê nhà, tái dựng chân trời mới cho
thế hệ tiếp nối. Và, có lẽ, ta nên nhớ một cách thấu đáo rằng, sẽ chẳng làm được
cuộc cách mạng nào nếu ta chưa thực sự làm cuộc cách mạng về mặt tư tưởng cho
quốc dân. Nếu, chưa làm cách mạng tư tưởng, thì dù có xảy ra hằng hà sa số cuộc
cách mạng cũng chỉ là đổi chủ thay ngôi, biến từ hình thức này đổi sang hình thức
khác chẳng lợi ích gì và đôi khi, hình thức sau bạo tàn và đau khổ hơn hình thức
trước. Gầy dựng một căn bản tư tưởng cho quê hương trên mỗi địa tầng văn hóa, nối
kết dòng chảy còn tắc nghẽn đâu đó, từ thượng nguồn đến hạ lưu hôm nay có đến
hàng ngàn năm lưu vực. Phần công nghiệp mà Phù Dao tiên sinh đương làm dang dở,
hậu thế – ai sẽ nối tiếp?
Phù Dao tiên sinh chẳng những xác lập cách thế đối diện với
thời cuộc cho tiên sinh mà còn nghĩ đến xác lập thế đứng cho con người Việt
Nam. Nhứt là, những lứa thanh niên ham học hỏi, ẩn chứa nhu cầu mở mang tầm
nhìn, thay đổi tư tưởng, để tiếp cận với thế giới. Nhưng, rõ ràng, tình thế lúc
bấy giờ của thanh niên và số đông quần chúng nhân dân rất khó tiếp cận với nền
học vấn bốn phương. Tiếp cận với học vấn Tây phương lại càng khó. Dẫu hệ thống
trường Pháp Việt có dần mở rộng, nhưng quả thực còn quá xa vời với số đông người
dân. Nghĩ vậy, Phan Văn Hùm những mong phổ biến tân tiến tư tưởng Á Âu cho người
bình dân. Cũng vì hướng đến lớp người ấy, tiên sinh lựa chọn cách làm sách của
mình, sao cho thuận tiện dễ dàng đối với người bình dân. Tiên sinh dùng lối nghị
luận kết hợp kể chuyện chớ không thuần túy bàn luận những học thuyết sâu xa, lại
còn đặt ra những thuật từ mới sao cho gần gũi với người bình dân. “Lại nữa cách
dàn ý của tôi cũng không đúng với phép nghị luận. Có nhiều đoạn nên để lên đầu,
đã đem xuống cuối. Là tôi muốn đi từ cái dễ đến cái khó, từ cõi có hình lên cõi
không hình”[22]. Ở đây, ta thấy thêm tấm lòng của tiên sinh đối với người dân
quê nước Việt. Dẫu biết mình có chỗ có thể lầm lạc, thẹn mình học chưa rộng khắp
bao quát được thuyết của Marx và Engels, nhưng đánh liều soạn sách để giải tỏ
những nguyên lý căn cơ của chủ nghĩa xã hội khoa học, góp phần mở mang dân trí,
đưa người cần lao đến gần hơn với lợi ích mà trên trường quốc tế, đã có dân tộc
dụng đến và làm cuộc cách mạng xây dựng đời mới.
Do đó, tiên sinh không ngại làm… cốt chỉ vì tấm lòng phụng
sự đất nước, đồng bào.
5. Ưu tư về nhân tâm – nhân tính hay tư tưởng nhân bản của
Phan Văn Hùm
Trải qua cảnh “bát nháo” của thời cuộc trên dải đất An Nam thập
niên 1920, xông pha trời Tây để tìm kiếm một phương tiện tư tưởng khả dĩ cho xứ
sở thập niên 1930, và sau khi đã phủ bóng trên chốn nghị trường, báo giới, văn
giới, học thuật giới; Phù Dao tiên sinh buộc phải gióng lên hồi chuông cứu
nguy, báo khẩn cho tình trạng nhân tâm chẳng riêng gì nước Việt mà còn trên
toàn cõi Đông phương trong tình thế đối diện với văn minh Tây phương.
“Nhân tâm duy nguy!
S.O.S. của Nghiêu Thuấn phóng ra
Xa lắm trong thời gian
Bốn ngàn ba trăm năm về trước
Ngàn muôn đời sau nữa phấn phát cấp cứu biết mà được chưa.
Ông Khổng đã ra tay
Công vẫn luống
Xuống hai ngàn năm sau, Vương Dương Minh tiếp báo nguy.
Nguy đến lớp ta đây rất khẩn cấp
Ai đó tổ chức cứu nhân tâm?”[23]
Tỷ như, chẳng cứu nguy nhân tâm, làm một cuộc cách mạng gột rửa
rồi tái thiết nhân tâm thì những cuộc cách mạng khác sẽ cũng chỉ là ảo tưởng. Bởi,
con người là vấn đề căn bản, là hạt nhân cốt lõi của vận động xã hội. Cho nên,
tư tưởng chẳng vận động tiến tới thì làm cuộc tiến tới cách mạng e rằng “dịch
chủ tái nô”, cởi bỏ sự dã man này chuyển qua sự dã man khác, đổi từ hình thức
nô lệ này sang hình thức nô lệ khác. Nhân tâm, nhân tính và nhân bản, … việc
Phù Dao tiên sinh đến với biện chứng pháp rồi Phật giáo triết học, Vương Dương
Minh cùng những vấn đề tâm tư Đồ Chiểu và trong nhiều trước tác khác, cho thấy
sự đòi hỏi và thúc bách cần kíp nhân tâm và nhân tính mới. Phan văn Hùm trên đường
tìm kiếm Nhân bản luận. Rồi, ai sẽ tiếp đuốc, giữ gìn…!
Tầm nhìn Phan tiên sinh qua phong ba cách mạng, bão tố chính
trị ngày càng mở rộng. Tiên sinh đi từ dân tộc đến con người, từ cuộc tiến hóa
của cách mạng nước nhà đến cuộc tiến hóa tư tưởng của nhân loại. Ấy vậy, tiên
sinh chẳng coi việc đó là của mình. Bởi, Phan tiên sinh thừa biết sức mình thật
không thể vẫy cùng cái thế xoay chuyển thời cuộc. Huống hồ, lúc soạn tác những
sách này, tiên sinh còn đương bị thực dân Pháp buộc an trí ở Tân Uyên như cá
trong chậu chim trong lồng. Tự trọng, tiên sinh chẳng dám nhận cái trách nhiệm
trọng đại cứu nguy nhân tâm cho nước Việt lẫn toàn cõi Đông phương. “Đó không
là sứ mạng của tôi”. Tiên sinh chỉ nhận rằng vì thương nỗi “cùng một lứa bên trời
lận đận”. Như Vương Dương Minh mang dấu ấn phương Nam tính, mang nỗi niềm ưu tư
về nhân tâm trong dòng chảy dằng dặc của văn minh Đông phương cho tới nỗi cảm
hoài của Phù Dao, thiết nghĩ cùng một bản chất. Vấn đề con người trên dải đất
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đương khủng hoảng và mục ruỗng. Một trong số đó,
tiên sinh có nhắc đến lối văn chương tượng trưng lãng mạn của tâm tư què quặt bấy
giờ đang rất phổ biến trong xã hội. Nói thêm, về lối văn chương diễm tình lãng
mạn… tiên sinh thấy thiên hạ ráp nhau ngấu nghiến đọc, sách tư tưởng chẳng quan
tâm. Điều này, không có nghĩa tiên sinh đánh giá thấp sách văn chương so với
sách tư tưởng, triết học nói chung. Với Phan tiên sinh, đáng lo ngại ở chỗ văn
chương cạn cợt, thiếu tư tưởng. Chẳng hạn cuộc tranh luận thơ cũ và thơ mới hồi
thập niên 1930 nổ ra râm ran từ Nam chí Bắc với những đại diện và lực lượng cổ
súy hùng hậu[24]. Với Phù Dao tiên sinh, thơ mới hay cũ trong cuộc tranh biện ấy
hồ như sa vào bàn luận vẻ bề ngoài mới hay cũ, mà quên mất cái nghĩa lý căn cốt
của thơ là hồn thơ[25]. Lại chưa bàn đến thấu đáo tính cách mạng của thơ, cách
mạng ở đây chẳng phải làm cuộc vận động thay đổi chính trị xã hội, cách mạng tức
là vận động thay đổi hệ hình văn học. Trong số những bài thơ cũ, chưa hẳn đã cản
trở sự vận động của hệ hình văn học mới, trong số những bài thơ mới, chưa hẳn
đã thúc đẩy sự tiến phát của hệ hình văn học mới. Lẽ ra, nên xét trên đường tư
tưởng, để thấy rằng chỉ có thơ dở và thơ hay, nào đâu là mới với cũ. Sa vào cũ
mới tức là sa vào tính tương đối của thời tính. Chẳng phải thơ mới đặc quánh
hình thức uốn éo khoa trương, tư tưởng rỗng tuếch đang trở thành đá tảng ngán
đường đang ngày càng xuất hiện đầy rẫy trên thi đàn. Chẳng phải là kiểu lao
mình chạy theo sự cách tân hình thức thuần túy mà chẳng làm cuộc cách mạng thúc
đẩy tư duy văn chương phát triển. Chiêu “điểm huyệt” của Phù Dao tiên sinh thuở
trước giữa hai làn sóng cũ mới hồi thập niên 1930, thiết nghĩ hôm nay cũng đáng
bận tâm! Thơ thiếu nền tảng tư tưởng, ấy là mớ chữ cái, ký tự do “thợ thơ” lắp
ghép chắp nối bằng lối lý luận “cá tính” và “cách tân” vừa nông vừa cạn. Chuyện
này, chẳng phải mới đây, hồi thập niên 1960-1970, Kim Định cũng nhìn ra và thao
thiết đòi hỏi một chuyên khoa Văn-Triết thực sự để văn chương nước nhà vươn đến
tầm dân tộc và nhân loại. Dẫn chứng thơ Trung Hoa – cuộc vận động của Hồ Thích
từ văn hóa tư tưởng xã hội đến văn học thơ ca -, thơ Pháp (phái siêu thực/
Surréalisme và phái xu cộng/ Communisant) và thơ Việt xưa nay, Phù Dao tiên
sinh có ý nhắc cả hai phái cũ mới, thay vì sa đà vào cũ hay mới như là sự tiếp
nối thời tính, cũ rồi mới vốn là quy luật tất yếu của vũ trụ, sao có thể cưỡng
lại chuyện tre già măng mọc. Vấn đề cốt ở cuộc cách mạng về tư tưởng, thơ ca có
thể mang lại. Hẹp là cách mạng tư tưởng trong phạm vi văn chương chữ nghĩa, rộng
là cách mạng tư tưởng trong phạm vi xã hội con người. “Thơ, cũng như mọi sự mọi
vật khác trong vũ trụ, cũng có sanh mạng, cũng có lịch sử dinh hư tiêu trưởng của
nó, cũng phải ‘biện chứng’ hóa chuyển luôn luôn. Nhận rõ cái lịch trình biện chứng
(processus dialectique) thì có lạ gì sự mới cũ phân tranh. Trái trở lại, lại
còn phải nhận rằng đến một cái quá trình kia, thì thơ mới bây giờ, sẽ già cỗi
mà bị mời vào trong viện cổ vật học” [26]. Lúc thiên hạ tranh nhau cũ mới,
Phan Văn Hùm đã nhìn thấy “thơ mới” rồi cũng đến lúc xếp xó bó lọn. Quy luật cũ
mới trong vũ trụ, sao có thể tránh được, nhưng biết đường hóa chuyển biện chứng
của vạn vật trong vũ trụ, vậy thì không nên sa lầy vào chỗ tạm bợ bỏ mất căn cơ
của vạn vật. Cuộc tranh luận cũ mới chẳng phải như thiên hạ xô xát tranh nhau
cái bóng trăng dưới mặt hồ, chẳng ai thèm ngó tới “vầng trăng vằng vặc giữa trời”,
cứ “đinh ninh hai miệng” chẳng thể “một lời song song”. Quả thực bãi thị phi
hàm hồ giữa đời! Hôm nay, thơ ca đã hẳn có căn bản tư tưởng đủ sức làm cách mạng
hệ hình văn học chưa, văn chương đã hẳn có cốt lõi minh triết đủ sức làm cuộc đổi
dời hệ hình văn học chưa; hay chữ nghĩa vẫn còn quẩn quanh trong bảo tàng viện,
còn nằm im với mớ cổ vật rỉ sét dưới ba tấc đất tiệp thời gian. Việc này, chẳng
phải riêng ai có thể luận bàn, hãy dành phần thiên hạ và lớp hậu sinh may ra có
thể nhìn nhận với độ lùi lịch sử cần thiết.
Trở lại với Phù Dao tiên sinh, nỗi lòng của tiên sinh thuở
còn bó gối giữa bốn vách nhà, chính là thông qua sách vở trước tác để vùng vẫy
cái tư tưởng cao đại của mình. Rõ ràng, trong tình thế rối ren và bất tiện ấy,
có chăng chỉ có chữ nghĩa là địa hạt có thể giúp cho tiên sinh kín đáo gửi gắm
tấm lòng ưu hoài cho thời cuộc, dân tộc và quê hương. Cho nên, dầu nói về Phật,
dầu đối thoại với ông cụ sống trong hang, dầu kể chuyện Đồ Chiểu thì ý hướng
tiên sinh, cốt ở chỗ khơi gợi vấn đề nhân tâm, khai mở vấn đề nhân tính, khởi dậy
nhận thức nhân tình… rốt lại ở nền nhân bản luận làm gốc việc gieo trồng vun tưới
hình tượng con người cho thời đại mới. Đúng hơn, hình tượng con người trên nền
tảng tư tưởng phương Nam (thể hiện ở chỗ nhắc nhớ, cân chỉnh, gạn lọc những giá
trị lưu truyền quý giá từ cụ Đồ Chiểu đến trí thức Nam Kỳ đầu thế kỷ XX). Mối
hoài vọng của Phù Dao tiên sinh vượt ra ngoài phạm vi thời gian tồn tại của đời
người, vượt ra ngoài không gian hiện hữu của cá thể.
Do nhìn vậy, tiên sinh thấy rõ khả năng cách mạng của đồng
bào lúc bấy giờ thiếu hạt nhân tư tưởng làm nòng cốt, làm nguyên động lực trên
bình diện tinh thần. Để tỏ rõ nhận thức của tiên sinh, ta có thể nhận biết qua
chuyện ấn hành sách Biện chứng pháp phổ thông hay lời đề tựa của tiên
sinh trong sách Duy vật biện chứng pháp của Trần Hữu Độ. Giữa bối cảnh
nhân tâm và dân trí Việt hồi nửa đầu thế kỷ XX coi triết học là cái gì rất ư xa
xôi, viễn vông, chỉ dành cho hàng thức giả hàn lâm; tức là thuộc về tầng lớp tiểu
tư sản trí thức (giai cấp hóa), chung quy thuộc về giới có học chẳng thể nào lớp
người bình dân tiếp cận nổi. Ấy thế, giới bình dân thợ thuyền, bần nông và bần
cố nông… là nguồn sức mạnh cho cuộc cách mạng thay đổi toàn diện xã hội. Hướng
đến lớp người đó, như Tạ Thu Thâu đã từng dịch sách Triết học phổ thông,
Phan Văn Hùm soạn sách Biện chứng pháp phổ thông, hay trước đó một chút có
Trần Hữu Độ soạn sác Duy vật biện chứng pháp thì quả thực, loại sách
triết học này khó có thể phổ biến cho xã hội bấy giờ. Nhưng, không phải vì vậy
mà không làm. “Sách của ông ra đời biết liệu nó bán chạy hay không. Tôi mà biết
thuốc như ông, thà tôi kê đơn, trừ ba cái bệnh cảm thương hàn, trúng thử, trúng
thực, mà lấy tiền chi độ qua ngày còn hơn. Nhưng ông Trần Hữu Độ không phải mưu
sinh với nghề viết sách. Xưa vậy nay vậy. Thế chắc ông không yên lòng với cái học
biết của mình, không rồi với cái tư tưởng của mình. Đem cái học biết ấy ra, đem
cái tư tưởng ấy ra, ông còn ngập ngừng chưa dám quả quyết, cho nên ông chỉ muốn
“Giúp cho anh em sơ học hiểu được tánh chất biện chứng pháp” mà thôi. Bấy nhiêu
đó cũng là nhiều”[27]. Phan tiên sinh gửi gắm mấy dòng này ở Gia Định
(17.4.1936). Qua đó, ta biết được loại sách tư tưởng, sách triết học hồi đó thật
lắm ít ỏi, lại càng khó tiếp cận độc giả. Nói trắng ra, chưa có lớp độc giả sẵn
sàng và đủ sức tiếp cận những loại sách tư tưởng. Cốt lõi tinh thần tư tưởng của
dân Việt thời bấy giờ nông cạn và còn yếu nhược lắm. Tiên sinh đã nhìn thấy việc
cần có một đường hướng tư tưởng làm kiện tráng tâm hồn dân tộc. Cho nên, tiên
sinh rất lấy làm vui mừng khi có một quyển sách tư tưởng được ấn hành. Ngẫm lại,
cho tới nay sách triết học và tư tưởng nói chung đã phổ truyền khắp nẻo đường
nước Việt, cùng sự phát triển kỹ nghệ in ấn phát hành, sách vở dễ dàng đến tay
mọi tầng lớp người dân, sách vở đa dạng chủng loại, kiểu dáng; đa dạng danh tác
danh gia đủ mọi đường hướng trên thế giới nhưng có lẽ, nỗi băn khoăn lo lắng của
Phan tiên sinh vẫn còn đó. Hình như tâm hồn Việt trên đất Việt vẫn chẳng mấy tiến
triển phát dương là bao so với hồi nửa đầu thế kỷ XX. Phải chăng, vẫn thiếu nền minh
triết đủ sức mạnh kiện toàn tâm hồn và tư tưởng dân tộc, vẫn thiếu gốc rễ dân
tộc tính đủ bao quát lẫn phổ biến, gần gũi với tâm hồn Việt Nam cho dân Việt
Nam lấy đó kiện tráng tinh thần và thể chất. Nhìn nhận cuộc diện hôm nay, càng
thấy băn khoăn của tiền nhân thuở trước thật là hữu lý. Sự hữu lý ấy, thế hệ tiếp
nối có nối tiếp suy nghĩ và hành động?
Tạm kết
Đời người, xét cho cùng, còn lưu dấu đôi điều hoặc mấy trang
sách rời vạch đường chỉ lối có lợi ích cho dân cho nước thì cũng đã là quý giá
biết bao. Và, điều quý giá biết bao đó, nếu được các thế hệ kế tiếp nghiên cứu,
luận bàn, thực hiện… cốt góp thêm cuộc minh tân đất nước từ hồi đầu
thế kỷ XX đến bây giờ thì quả là hồng phúc của dân tộc. Nhắc nhớ tư tưởng của
người trí thức Nam Kỳ xưa để nhận ra hiểm họa tiền nhân lưu tâm. Mối hiểm họa
này đến nay vẫn còn, thậm chí phổ cập hung hiểm hơn, chẳng khác gì đại dịch lây
lan trong tâm hồn dân Việt. Đó là, tệ ru mình trong những cảm xúc ái tình tỉ
tê, trong những bài học luân lý rởm đời, những tháp ngà thoát tục làm dáng hào
hoa, mấy thú vui thường ngày tủn mủn từng được đám Tây thực dân mang tới. “Tập
sách Biện chứng pháp nầy dầu sao đi nữa, cũng sẽ là tập thứ nhất ở cỏi
đất An nam, bàn về vấn đề ấy mà có đầu đuôi thứ lớp. Hoặc có chỗ còn sơ lược,
hoặc có chỗ nên nghi ngờ, hoặc có chỗ hơi đường đột, mà tập sách nầy cũng cứ
riêng có cái giá trị của nó. Trong khi toàn cả nước, từ Nam chí Bắc, đắm say tiểu
thuyết nào những trẻ già trai gái, nào những lao động thầy bà, cho đến văn nhân
học sỉ, cũng một nhịp như nhau, ráp lại đọc, đọc, đọc, … những chuyện ngắn chuyện
dài, trong khi ấy, bên phía tư tưởng, lưa thưa một vài người xuất bản sách, là
thứ sách người ta làm biếng đọc. Ông Trần Hữu Độ khiến chết đói!”[28]. Rõ
ràng chết đói. Bởi, cá không có nước thì cá chẳng thể sống. Tư tưởng chưa
thông, tư tưởng lấy chi vẫy vùng. Và, tư tưởng nằm im trên trang sách là tư tưởng
chết. Tư tưởng chỉ phô nở triển nẩy lộc lá đâm chồi, đơm bông và kết trái một
khi lưu chuyển xoay trở trong tâm trí con người, trong đời sống thường ngày. Do
vậy, tư tưởng phải nhập thân vào lòng người, hiển hiện trong tâm trí người mới
trở thành triết đã minh. Trải qua bể dâu thời cuộc, Phan tiên
sinh dần nhận ra tư tưởng trên đất An Nam thuở ấy có khác gì cây thiếu đất, cá
thiếu nước, chim thiếu trời… muốn gieo hạt tư tưởng phải cố sức cày bừa vỡ đất,
phải khai thông dòng chảy, phải mở củi xổ lồng và có vậy, tư tưởng – tư tưởng
Việt – mới có cơ may nẩy nở phát triển. Nhược bằng không, thì tâm hồn Việt dẫu
có “tam bách dư niên hậu” cũng khó bề lành mạnh kiện tráng, nói gì tới chuyện
“sánh với cường quốc năm châu”!
Sanh tiền, Phù Dao tiên sinh là bậc trí thức được xã hội trọng
vọng, được giới văn sĩ đương thời nể phục. Không những vì văn tài và hiểu biết
của tiên sinh mà còn bởi, tánh khiêm nhường ôn nhu của tiên sinh trong cách đối
đãi với mọi người. Chẳng hạn, mối giao tình giữa Nhượng Tống và Phan tiên sinh
thuở chưa biết mặt thế nhưng vì ái mộ, Nhượng Tống đã đề tặng tập thơ dịch Đỗ
Phủ cho tiên sinh (Trân trọng tặng anh Phan Văn Hùm một người bạn không quen biết)[29].
Đáp lại tấm chân tình của Nhượng Tống, Phan tiên sinh cũng đề thư gửi mấy lời cảm
tạ[30], tỏ ý thẹn thùng vì không đủ lời lẽ chuyển tải lòng biết ơn tri ngộ. Đó
là, nhân cách tối thiểu cần có của người trí thức. Chẳng những biết những cái
biết, mà còn biết những cái mình chưa hiểu. Dẫu soạn tác, Phan tiên sinh cũng
nhận rằng sẽ có chỗ thiếu sót, nhưng chẳng phải e sợ ngại làm nếu như việc ấy
mang lại ích lợi cho dân. Nghĩ vậy, Phan tiên sinh mới gửi gắm đôi điều ngẫm ngợi
qua sách vở. Như soạn sách Phật giáo triết học, tiên sinh tự biết sở học
còn cạn cợt với nền tư tưởng Phật đà, thế nhưng chẳng đặng đừng in sách vì trọng
nể ông chủ nhà in Tân Việt và cảm thấy nền triết lý ấy có thể ích dụng cho nhân
tâm bấy giờ (Việc này Phan Văn Hùm đã nói rõ trong phần mở đầu quyển sách ấy).
Ngoài ra, khi Hòa thượng Thích Mật Thể góp ý ít nhiều về quyển Phật giáo
triết học ấn hành lần đầu, Phan tiên sinh rất hoan hỉ trân trọng thụ lãnh,
và cho đăng bức thơ cảm tạ Hòa thượng Thích Mật Thể trên tờ Viên Âm[31]. Đó là,
vì lòng hướng đến cái ích dụng chung cho đại chúng, người trí thức không vướng
mắc lối sĩ diện cá nhân. Dầu ở vai trò nhà văn hóa tư tưởng, nhà cách mạng hay
một con người đơn thuần trong xã hội, Phan tiên sinh cũng giữ khí chất người
trí thức có tư cách đáng tôn trọng.
Về địa hạt chữ nghĩa, Thiếu Sơn nhận định: “Nỗi lòng Đồ Chiểu
nói lên một phần nào của nỗi lòng Phan Văn Hùm và Ngồi tù Khám Lớn nói lên những
gì tha thiết nhứt, thâm trầm nhứt, khả ái nhứt ở tâm hồn người quá cố (ý nói đến
Phan Văn Hùm). Ngồi tù Khám Lớn là một cuốn sách có giá trị về nhiều phương diện:
nội dung, hình thức, giáo dục, luân lý, nhân bản, xã hội. Tác giả chẳng những
có văn tài mà lại có văn tâm” [32]. Để xác quyết những gì Thiếu Sơn nhận
đinh, ta xem lại mấy lời bộc bạch của Phan sinh thuở còn sanh tiền. Phan iên
sinh quan niệm: “Văn tâm, văn học, văn tài, ba đều, khuyết đi một, thì không
nên văn, lại càng không nên thơ. Hồn thơ man mác trong vũ trụ, gồm thâu vũ trụ,
vào trong tâm hồn, là tìm được thi tứ thi thần. Mà diễn ra thơ, bất kỳ trong
khuôn khổ nào, cũng phải theo những luật thuộc tâm lý và sanh lý”[33]. Văn tâm
của Phan tiên sinh cũng là nhân tâm. Bởi, tư tưởng cốt lõi của họ Phan nằm ở
nhân bản luận và ông, đã góp công vực dậy đồng thời bồi đắp tư tưởng phương Nam
trên mảnh đất Nam Kỳ thuộc địa, hoài vọng của tiên sinh lớn lao thay! Mong sao,
thời nay, có những người trí thức vì nghĩa lớn tiếp tục thực hiện phần dở dang
công nghiệp Phan tiên sinh đã gầy dựng.
“Xưa, bốn mươi, thầy Khổng hết ngờ
Giờ ta tuổi ấy rõ đời vờ
Gia đình ngoảnh lại lần lưng túc
Xã hội chường ra thẹn mặt bơ
Lấm tấm sương dầm đôi mái tóc
Lạnh lùng tuyết quyến một lòng tơ
Mong nào sự nghiệp công danh muộn
Tràn đến, già như nước vỡ bờ”[34]
Từ “Nỗi lòng Đồ Chiểu”, người cùng thời họ Phan cũng như các
thế hệ sau đều bùi ngùi nhận ra đó là nỗi lòng của Phan Văn Hùm – đứa con
xứ Búng trên dải đất cuối cùng của miền Đông Nam Bộ. Lần giở từng trang sách
cũ, mùi mực vẫn còn hương tươi rói như mới hôm qua và hậu thế, cảm nhận Phan
tiên sinh xứng danh học giả, nhà tư tưởng đồng nhất với hình tượng người chí sĩ
yêu nước thương dân.
Mong rằng, ngày không xa lắm, nơi quê nhà Phan chí sĩ sẽ có một
ngôi trường hoặc một giảng đường đại học và đoạn đường quê ghi khắc tên ông!
Biết trân trọng quá khứ – quá khứ của người vì dân tộc mình
đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi, đó chính là đúc tượng đài tình yêu đất nước
vào lòng người!.
Chú thích:
[1] Phan Văn Hùm (1957). Nỗi lòng Đồ Chiểu (in lần thứ
hai) (Bạt của Kim Ba Mai Huỳnh Hoa). Tân Việt ấn hành. Saigon, tr.109.
[2] Nguyễn Đăng Thục (1945). Ông Phan Văn Hùm đi tìm biện
chứng pháp. Tạp chí Duy Nhất số 8 (15/7/1945), tr.?
[3] Cao Văn Thức (2017). Phan Văn Hùm (1902-1946). Tạp
chí Xưa & Nay số 483 (5/2017), tr.19 (19-21).
[4] Phan Văn Hùm (1957). Nỗi lòng Đồ Chiểu (in
lần thứ hai) (Bạt của Kim Ba Mai Huỳnh Hoa). Tân Việt ấn hành. Saigon, tr.22.
[5] Phan Văn Hùm (1957). Nỗi lòng Đồ Chiểu (in lần thứ
hai) (Bạt của Kim Ba Mai Huỳnh Hoa). Tân Việt ấn hành. Saigon, tr.22.
[6] Phan Văn Hùm (1957). Nỗi lòng Đồ Chiểu (in lần thứ
hai) (Bạt của Kim Ba Mai Huỳnh Hoa). Tân Việt ấn hành. Saigon, tr.34.
[7] Phan Văn Hùm (1957). Nỗi lòng Đồ Chiểu (in lần thứ
hai) (Bạt của Kim Ba Mai Huỳnh Hoa). Tân Việt ấn hành. Saigon, tr.38.
[8] Phan Văn Hùm (1957). Nỗi lòng Đồ Chiểu (in lần thứ
hai) (Bạt của Kim Ba Mai Huỳnh Hoa). Tân Việt ấn hành. Saigon, tr.40.
[9] Bài thơ đề từ sách của Đồ Chiểu (1944?). Ngư tiều
vấn đáp y thuật (Phan Văn Hùm hiệu đính và chú thích, Nhượng Tống tăng
bình bổ chú). Tân Việt ấn hành. Saigon.
[10] Phan Văn Hùm (1957). Nỗi lòng Đồ Chiểu (in
lần thứ hai) (Bạt của Kim Ba Mai Huỳnh Hoa). Tân Việt ấn hành. Saigon,
tr.36-37.
[11] Đồ Chiểu (1944?). Ngư tiều vấn đáp y thuật (Phan
Văn Hùm hiệu đính và chú thích, Nhượng Tống tăng bình bổ chú). Tân Việt ấn
hành. Saigon, tr.xi.
[12] Đồ Chiểu (1944?). Ngư tiều vấn đáp y thuật (Phan
Văn Hùm hiệu đính và chú thích, Nhượng Tống tăng bình bổ chú). Tân Việt ấn
hành. Saigon, tr.xii.
[13] Vì cái bát nháo đó, vì cái ngã nghiêng nhiều chiều
nhiều phía như vậy mà người ta thường dễ sa vào chỗ bày trò triệt hạ lẫn nhau
(đâu riêng gì xứ ta, khắp hoàn vũ Đông Tây kim cổ cũng đầy rẫy chuyện như vậy),
xem ra chẳng khác cuộc đấu tranh sanh tồn trong chốn rừng sâu nước độc. Nhưng
ngặt nỗi, chính ở chỗ vu khống bôi nhọ, hậu thế lại có dịp tìm lại những kẻ bị
bôi nhọ. Càng nực cười, kẻ bôi nhọ và người bị bôi nhọ, đến cuối cùng lại đổi vị
trí cho nhau. Xem thêm Võ Khắc Thiệu (1935). Gở mặt nạ bọn giả danh cách
mạng lợi dụng quần chúng (Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm,
Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn An Ninh, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Chánh, Dương Bạch
Mai, Lê Văn Thử). Imprimerie Moderne J.Testelin. Saigon. Cho tới khi ở tù Côn Đảo,
tưởng ở tù mà yên thân! Những người như Nguyễn An Ninh vẫn bị vu khống bởi
chính những người từng một thời được ông nâng đỡ, những người mà trước đó vốn
xem Nguyễn An Ninh là thần tượng truyền cảm hứng (một người ở Chợ Đêm, một người
ở gần thị trấn Tầm Vu). “Môn đệ” vu cho thầy chứng loạn trí. Cho tới khi ông
thác trong tù Côn Đảo, những kẻ ấy còn mang cái sự vu khống kia về đất liền, để
loa cho thiên hạ hay tin Nguyễn An Ninh loạn trí, muốn phá hủy hình tượng người
trí thức cách mạng Nguyễn An Ninh trong lòng nhân dân. Nhưng tiếc thay, đến nay
hình tượng chí sĩ Nguyễn An Ninh vẫn còn sáng tỏ trong lòng nhân dân, mà những
kẻ vu khống sớm đã bị quả báo mất hết lòng tín nhiệm của bề trên.
[14] Nguyễn Đăng Thục (1945). Phan Văn Hùm đi tìm biện
chứng pháp. Tạp chí Duy Nhất số 8 (15/7/1945), tr.?
[15] Có lẽ Nguyễn Đăng Thục nhầm chăng! Bởi trong năm
1936, Phan Văn Hùm đề tựa cho sách của Trần Hữu Độ, có nói rằng Trần Hữu Độ đã
đi trước ông một bước. Ông còn đang ắp ủ một quyển sách về biện chứng pháp thì
ông Trần Hữu Độ đã có sách ấn hành.
[16] Nguyễn Đăng Thục (1945). Phan Văn Hùm đi tìm biện
chứng pháp. Tạp chí Duy Nhất số 8 (15/7/1945), tr.?
[17] Nguyễn Đăng Thục (1945). Phan Văn Hùm đi tìm biện
chứng pháp. Tạp chí Duy Nhất số 8 (15/7/1945), tr.?
[18] Kim Định (1970). Việt lý tố nguyên. An Tiêm xuất bản.
Saigon. tr.274.
[19] Nguyễn Đăng Thục (1945). Phan Văn Hùm đi tìm biện
chứng pháp. Tạp chí Duy Nhất số 8 (15/7/1945), tr.?
[20] Nguyễn Đăng Thục (1945). Phan Văn Hùm đi tìm biện
chứng pháp. Tạp chí Duy Nhất số 8 (15/7/1945), tr.?
[21] Nguyễn Đăng Thục (1945). Phan Văn Hùm đi tìm biện
chứng pháp. Tạp chí Duy Nhất số 8 (15/7/1945), tr.?
[22] Phan Văn Hùm (1939!). Biện chứng pháp phổ
thông (Khảo cứu tùng thơ). Editions Do Phuong Que. Cholon. tr.III.
[23] Phan Văn Hùm (1944). Vương Dương Minh – thân
thế và học thuyết (Tủ sách Triết học, in lần thứ nhất). Tân Việt ấn hành,
Hanoi, tr.9.
[24] Thanh Lãng (1972). Phê bình văn học thế hệ 1932
(I). Phong trào Văn hóa xuất bản. Saigon, tr.168-384.
[25] Nguyễn Văn Hạnh (1935). Nói chuyện về thi (thi
cũ và thi mới) – Mấy lời đã nói tại Hội khuyến học Nam kỳ ngày 9 Janvier
1935 hồi 9 giờ tối (bài tựa của ông Phan Văn Hùm viết tại Chợ Quán ngày
23/1/1935). Imprimerie de L’Union (57 rue Lucien Mossard), Saigon, tr.iv-v.
[26] Nguyễn Văn Hạnh (1935). Nói chuyện về thi (thi
cũ và thi mới) – Mấy lời đã nói tại Hội khuyến học Nam kỳ ngày 9 Janvier
1935 hồi 9 giờ tối (bài tựa của ông Phan Văn Hùm viết tại Chợ Quán ngày
23/1/1935). Imprimerie de L’Union (57 rue Lucien Mossard), Saigon, tr.vi.
[27] Trần Hữu Độ (1946). Duy vật biện chứng pháp (Phan
Văn Hùm đề tựa, in lần thứ hai). Tủ sách Triết học. Tân Việt ấn hành. Hanoi,
tr.10.
[28] Trần Hữu Độ (1946). Duy vật biện chứng pháp (Phan
Văn Hùm đề tựa, in lần thứ hai). Tủ sách Triết học. Tân Việt ấn hành. Hanoi,
tr.9.
[29] Trong dịch phẩm Đỗ Phủ (1944). Thơ Đỗ Phủ (Nhượng
Tống dịch). Tân Việt ấn hành. Hanoi.
[30] Bức thư Phan Văn Hùm viết gửi Nhượng Tống vào ngày
28 août 1944 tại Tân Uyên. Cuối thư có đoạn “Không biết bao giờ tôi có cơ hội để
báo đáp cho xứng đáng ơn tri ngộ. Thẹn lắm thay!”.
[31] Bức thư này Phan Văn Hùm viết ở Tân Uyên (le 17
Octobre 1943). Nhã ý gửi ông chủ nhiệm Viên Âm đăng trên bổn báo nếu tiện, nhằm
ngỏ ý cảm tạ Hòa thượng Thích Mật Thể. Phan Văn Hùm (2507/1943). Bức thư của
Phan Văn Hùm tiên sanh gửi cho Ông Chủ nhiệm báo Viên Âm ở Huế. Viên Âm nguyệt
san, năm thứ 6, số 66-67. Annam Phật học hội phát hành. Nhà in Đuốc Tuệ (73 rue
Richaud). Hanoi. trang bìa 2.
[32] Thiếu Sơn (2006). Những văn nhân, chính khách một
thời. Nxb. Công an nhân dân, tr. 80.
[33] Nguyễn Văn Hạnh (1935). Nói chuyện về thi (thi
cũ và thi mới) – Mấy lời đã nói tại Hội khuyến học Nam kỳ ngày 9 Janvier
1935 hồi 9 giờ tối (bài tựa của ông Phan Văn Hùm viết tại Chợ Quán ngày
23/1/1935). Imprimerie de L’Union (57 rue Lucien Mossard), Saigon, tr.vii.
[34] Dẫn theo Cao Văn Thức (2017). Phan Văn Hùm
(1902-1946). Tạp chí Xưa & Nay số 483 (5/2017), tr.21 (19-21). Trong bài
này Cao Văn Thức có lẽ nhầm. Vì Nỗi lòng Đồ Chiểu theo tự thuật của Phan Văn
Hùm ra đời năm 1938 chứ không phải 1943 (đây là bản in lại).
30/10/2021
Trần Bảo Định
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
Về một cách viết chân dung văn học
Về một cách viết chân dung văn học Nếu ai muốn biết một cách viết chân dung văn học xin hãy đọc Những gương mặt, những trang đời* của nhà ...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...


