Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

Trịnh Công Sơn một thời đã qua 0000000

Trịnh Công Sơn một thời đã qua

NGỎ: Mười năm trước sau cái chết của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết với tựa đề: ‘Trịnh Công Sơn Mười Năm Quá Vãng’. Sau hai mươi năn cũng bài viết này với tựa đề: ‘TRỊNH CÔNG SƠN MỘT THỜI ĐÃ QUA’ được chỉnh sửa đúng thời gian và không gian của một nhạc sĩ tài hoa; đã để lại những gì hào phóng của một thời đã sống với bao kỷ niệm thăng trầm.. (võcôngliêm.).

 

    Sau cái chết của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn* người ta viết nhiều về ông dưới mọi lý lẽ.Viết từ mười năm nay và mãi về sau này; trong đó có những nhạc sĩ nổi tiếng như Văn Cao, Phạm Duy cũng như những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ…các tạp chí diễn đàn đều có những nhận định về ông. Họ viết, họ nói như tiếc nuối cho chính mình, cho tiếc thương một thời danh, cho một thần tượng đã nằm xuống. Viết như góp mặt, dự phần, nhân chứng cho một trào lưu “trend” mà giờ đây đi vào cõi không.Tuy nhiên sự xuất hiện kỳ diệu nầy từ bước khởi đầu cho tới ngày nằm xuống của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là một hiện tượng, một hiện tượng lạ cho nền tân nhạc cận đại của Việt Nam vào cuối tk. XX và đầu tk. XXI.

Gần đây có một số người quá ngưỡng mộ tài danh đó, dẫu chưa một lần biết đến nhạc sĩ (chỉ nghe thôi) hay chưa được quen biết với nhạc sĩ, nhưng họ muốn viết, muốn nói để dựa lưng hay đạp đuôi, a-dzua vào cái sáng giá thời thượng đó, họ rút tiả những kinh nghiệm vụn vặt về đời ông cũng như những ca khúc tuyệt tác để lại, vẽ lên cái hình ảnh đó như một hiện diện cùng thời, kiểu thức nầy đã làm sai lệch ít nhiều điều hay, điều dở của một nhạc sĩ tài danh. Ca ngợi được, tỏ bày được, nhưng; những thứ đó chưa nói cạn cùng cái chiều sâu tâm hồn của nhạc sĩ mà ngược lại họ viết, đọc riết như chuyện kể, tự sự, như thiết tha, như  ‘triết lý’ nhân sinh, họ muốn đứng cùng với đám đông cổ vũ cho một huyền thoại ‘legend’ mà thực chất đánh mất huyền thoại có thực của nhạc sĩ tiếng tăm nầy.

 

Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đi theo vận nước, tất cả những dữ kiện xẩy ra giữa bản thân, gia đình, bè bạn và xã hội được gắn liền trong âm nhạc của ông, mỗi bài ca là một nỗi lòng chan chứa và thầm kín; từ những năm đầu dấn thân vào đời cho tới những ngày ‘cúi xuống’ để rồi nhạc đi theo đời, đời đi theo nhạc, âu đó là nét đặc thù trong âm nhạc Trịnh Công Sơn mà ít ai làm nên lịch sử như vậy. Chúng ta cần phải khám phá cái đặc trưng đó! Thực như thế; bởi ông đã vận dụng tài tình một thứ ngôn ngữ trong âm nhạc, vừa thơ vừa nhạc đưa tiếng nhạc đó vào cõi mộng của con người, mộng ở đây là động lực cho ý-thức-tỉnh mạnh để sáng tạo nghệ thuật tức nghệ thuật âm nhạc, trong đó ý thức thức tỉnh để mơ-về (rêver/dreaming-day) quê nhà, nơi ấp ủ bao mộng lành giữa gia đình và xã hội; nhưng rồi cõi mơ-về của nhạc sĩ Trinh Công Sơn trở thành hư vô, cuối cùng an nghĩ một nơi xa quê mình. Nhưng ông để lại tình người trong mọi lứa tuổi, trong mọi hoàn cảnh mà nhạc sĩ đã một lần dấn thân.Từ đó trở nên bất hủ qua mọi thế hệ cũng như sẽ vượt-thời-gian qua mọi thời đại nối tiếp; rất hiếm có một nhạc sĩ nào được đề cập qua mấy thập niên và lưu danh như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nhạc ông luôn luôn có mặt trong những buổi trình diễn và bây giờ ông đã nằm xuống nhưng vẫn còn dàn dựng ‘live show’ cho một Trịnh Công Sơn ở một vài nơi trong và ngoài nước để tưởng nhớ sự hối tiếc nhạc Trịnh đã vang-bóng-một-thời trong tâm tưởng.

Âm nhạc và tên tuổi Trịnh Công Sơn đã đi vào văn học sử Việt Nam; có những con đường được mang tên như đại diện bộ môn âm nhạc nước nhà. Một thần-thánh-âm-nhạc; khó mà làm nên, cái đó là thời được mệnh danh ‘icon’. Rất xứng đáng được lên ngôi vị nầy.Thật kiêu hảnh thay! Cho dù viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dưới dạng thức nào: phê bình, ngợi ca hay chụp mủ, khai trừ…nhưng giờ đây thì lại khác, có lẽ; trong cái im lặng hố thẳm đó đã làm cho người ta thức tỉnh, những kẻ chống hay khen nay qui về một mối để cảm thông , hợp giao qua tiếng nhạc mà tiếng nhạc đó tợ như có mình trong đó chứ không còn riêng cho nhạc sĩ. Tại sao thế? Vì ca từ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn đã trả lời hết những gì xốc xới, hung hản những gì trước đây thắc mắc, ngờ vực, nhờ vào lý do tâm lý nội tại, khai mở mà vượt qua mọi lằn biên của ý thức hệ; giữa cũ và mới, giữa bảo thủ và cấp tiến.Từ đó âm nhạc Trịnh Công Sơn trong suốt hẳn ra, không còn nghi ngại như một độc dược tố làm mê ngủ hay biệt kích văn nghệ như đã một thời tung hô, sát phạt. Nhưng trong quá khứ cũng như những ngày cuối đời Trịnh Công Sơn, ông chỉ biết im lặng và nhìn xuống cái tàn cơn đó. Ngày nay thế sự đã đổi thay, giới văn nghệ cũng như giới hâm mộ ông đã rầm rộ tổ chức truy điệu, hò hát nhạc họ Trịnh và dựng nên một trường-phái-đặc-tên cho nhạc của ông cũng như cho chính ông. Điều đó có thật sự suy tôn thần tượng  mình yêu hay là suy tôn “cơ-hội-chủ-nghĩa” để trục lợi mưu sinh. Vô hình chung làm lạc đề một huyền thoại có thực.

Ngôn ngữ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội; mặc dù ca từ của Trịnh Công Sơn mang nặng tính chất trừu tượng, hiện sinh, hoặc đôi khi đầy tính xúc cảm , tất cả được tác giả diễn tả qua ca từ.Với giới văn chương họ tìm thấy trong nhạc của Trịnh Công Sơn đượm nét thi ca, nếu được dàn trải một ca khúc nào đó ta vẫn tìm thấy toàn thể bài thơ; bởi ông cũng là một nhà thơ, một hoạ sĩ cho nên khi soạn một ca khúc thì mạch thơ trong người ông tuôn trào. Đại để ca khúc “Cát Bụi” và “Diễm Xưa” ta bắt gặp những từ ông dùng: ‘Ôi cát bụi mệt nhoài’ và ‘mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ’ đó là thể thơ siêu thực đầy ấn tượng. Chính nhờ những nhạc từ đó làm cho người nghe cũng như người hát không còn xa lạ với chữ nghĩa, mà biến thành dịu êm, quen thuộc, nghe riết cho ta cảm giác của ca dao và rồi mọi giới ngâm nga như chớp được một bài ca vừa ý. Trịnh Công Sơn rất ít nhạc phổ thơ, ông vốn giàu ngôn ngữ cho nên không thiếu chất liệu đó; ngoại trừ một tình cảm nào đó hoặc phải lòng ray rứt mới phổ thành nhạc. Nhạc từ ông thường dùng ngôn từ thi tứ: quạnh hiu, lênh đênh, hoang phế, sỏi đá, ngậm ngùi, tiền kiếp, kiếp nào… Trở lại một vài ca khúc Trịnh Công Sơn.Trải ra thành một bài thơ hay. Tuyệt hay! cho thể loại thơ mới, thơ không vần hay tân hình thức. Thử xem; Diễm Xưa:

“Mưa vẫn mưa bay

Trên tầng tháp cổ

Dài tay

Em

Mấy thuở

Mắt

Xanh xao”…

Chỉ lấy một câu nào đó trong nhạc Trịnh Công Sơn, thả ra thành thơ thất ngôn một cách tuyệt đối:

“Em đi biền biệt muôn trùng quá”

Trịnh Công Sơn sắp xếp lời nhạc thành câu thơ lục bát dể dàng, nghe không có chi là chật hẹp cả mà tợ như lời đối thoại, nhưng trình diễn thì nó biến thể thành một ca từ rất kiêu sa và lãng mạn. Cái đó mới tài tình cách dùng ngôn ngữ trong nhạc Trịnh Công Sơn. Đọc thử 2 câu thơ nầy, để rồi cảm nhận sự sâu sắc đó:

“Tôi nay ở trọ trần gian

Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời”

Một số nhà thơ chuyên nghề sử dụng thể thơ lục bát, thiết tưởng cũng khó mà nặn cho ra một câu thơ bình dị, giản đơn và trung thực như thế. Rồi trải ca khúc “Nguyệt ca” ra để thấy trọn vẹn một bài thơ tân-hình-thức hay bài thơ không-vần với 30 câu dài đằng đẳng được chia ra làm ba khổ.Thử lấy một vài câu tượng trưng để thấy được cái vũ trụ nhạc thơ của Trịnh Công Sơn:

“Từ khi trăng là nguyệt đèn thắp sáng trong tôi

Từ khi trăng là nguyệt em mang tim bối rối

Từ khi trăng là nguyệt tôi như từng cánh diều vui

Từ khi em là nguyệt trong tôi có những mặt trời”...

“Đàn chim non lần hạt cho câu kinh bước tới

Buồn vui kia là một như quên trong nỗi nhớ

Rằng em thôi là nguyệt tôi như đứa bé dại khờ

Vườn năm xưa em đã đến nay trăng quá vô vi”...

Không biết những nhà thơ tân-hình-thức có thừa nhận đó là thể thơ tân-hình-thức đúng cách hay không?

Thì việc làm thơ, soạn nhạc đối với Trịnh Công Sơn đâu phải là điều khó khăn. Ông vốn là thiên tài về nhạc, thi, họa. Quả không ngoa!

Ở trên; ta chỉ nói nhạc và thơ quyện vào nhau, chớ chưa lý giải, vì ý nhạc là ý tình nó muôn màu và bao la diệu vợi cho một tâm hồn của người nghệ sĩ. Trịnh Công Sơn nằm trong mọi lãnh vực nghệ thuật nếu được phân tích…

Nói chung nhạc Trịnh Công Sơn tưởng là siêu hình, trừu tượng nhưng hoà vào nhau thì nhạc từ nghe giản đơn, không rườm rà, hay ‘yểu điệu thục nữ’ như hầu hết các nhạc sĩ khác đã dùng.Vì vậy trở nên định kiến giữa nhạc thành thị và nhạc nông thôn -cũng có nhiều loại nhạc “sến vườn” làm đảo lộn tính nhạc-.Nhạc Trịnh Công Sơn được mọi giới yêu chuộng và phổ thông hoá mà đến khi nghe trình diễn nó trở nên ‘qúi phái’ và thời trang hơn những thời trang khác. Đó là cái siêu lý trong nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn. Sở dĩ như vậy vì ông xử dụng hầu hết nhạc điệu buồn, chậm rãi và trầm ngâm của cung bậc 2/4 hoặc 3/4; tất cả được thiết kế trong những “gam” của La thứ và La trưởng cho nên làm cho người nghe cũng như người chơi nhạc (nhạc công) đều cảm thấy dể dàng cuốn hút. Đó là những thể “gam” dể không làm cho bài ca trở nên khó.

Trịnh Công Sơn lớn lên giữa giao tranh xã hội, từ cuộc nội chiến phân ly, từ những đảo lộn của bè phái, từ những quặn đau ruột thịt đồng bào. Điều ấy không thể vô tư trước thời cuộc, ngoảnh cổ làm ngơ hay a tòng trục lợi.Trịnh Công Sơn không thể xa lánh trần tục để trốn trách nhiệm của kẻ sĩ, có hai hình thức để góp phần; nghĩa là không cầm súng thì cầm bút. Cái việc cầm bút hay cầm cọ còn nguy hiểm bội phần. Nhưng đời có hay chăng? Cứ một mặt lên án vì không làm thỏa mãn nhu cầu.Trịnh Công Sơn hứng chịu và đối đầu giữa tình huống hỗn mang đầy chất vị kỷ, đứng trước những biến động đổi thay, biến những giới văn nghệ sĩ cũng như Trịnh Công Sơn thành những con dê tế thần chờ đợi, những con dê vô tội hiền lành chỉ một lòng dâng hiến nghệ thuật, dâng hiến cho đời. Mà đời đâu có hay!Thấy mà đau thương cho họ; không những Trịnh Công Sơn mà cho tất cả bằng hữu của ông, ở cùng một hoàn cảnh và cùng một kỷ nguyên (era). Đó là lý do Trịnh Công Sơn làm thành nhạc, như che phận mình dưới ánh mặt trời, che để ươm mật cho những nhạc khúc đầy tình người -đâu cần phải có Thiền ca,Tục ca, Đạo ca…- Trịnh Công Sơn đã gom hết vào nhạc qua từng thời kỳ, từng thời đại. Tất cả là bài ca chung (tổng thể) ‘general song/general de chanson’. Vì vậy nhạc Trịnh Công Sơn đi vào lòng người dể dàng hơn bao giờ; mười năm, hai muơi năm hoặc xa hơn nữa tiếng nhạc đó “sound of music” vẫn còn vang vọng bên tai hay bên đời quạnh hiu…

Hầu hết những người phê bình hay nhận định về nhạc Trịnh Công Sơn đều cho rằng nhạc của ông đượm tình yêu nhiều hơn cả và hình như tình yêu ám ảnh  đời ông(?)cho nên tình yêu vây quanh trong nhạc của ông. Không tìm thấy trong nhạc Trịnh Công Sơn có âm hưởng của bung phá, bức tức của hờn ghen hay than thở của oán hận, dưới bất cứ hình thức nào, tất cả được tập trung trong chủ đề của tình yêu. Chữ tình trong nhạc ông là sự cảm thông, trìu mến và đầy tình người mà đôi khi ông nhìn ông như thân phận, thân phận chung mà mỗi chúng ta phải gánh chịu với bao thử thách. Ta thường nghe những tình khúc ông viết với từ ngữ Em nhiều hơn từ ngữ Anh. Gọi Anh; ông dùng ngôi thứ nhất Ta đề thay thế cái tôi của mình, không phải Trịnh Công Sơn tránh né, ông không tỏ cái tôi (le moi/self) một cách trực diện, dù rằng cái tôi là chủ thể; bởi chữ Tôi như sự có mặt, như một nhu cầu đòi hỏi giữa lúc đường tình của Trịnh Công Sơn chưa tới nơi, do đó chữ TA như hình dung từ cuả TÔI, mặc dù giữa ta và tôi là một nhưng nó nằm trong dạng ‘ẩn sĩ’ nhu mì. Cái tình đó Trịnh Công Sơn soạn thành lời ca từ thuở bắt đầu 1950 cho tới thập niên 90, ông hát lên cho người tình nghe, ông ru cho người tình ngủ, ông trải lá cho người tình nằm, ông vỗ về cho người tình tựa vai, những cuộc tình hò hẹn trăng sao, sóng nước…tình yêu trở thành hiện hữu của con tim, trở thành bi đát cho thân phận, một thân phận ruồng rẫy bỏ đi để Trịnh Công Sơn cô độc và mơ-về cái tiền kiếp của mình, Trịnh là một người đa tình, ông đến đâu hay giao lưu với ai chữ tình hiện ra trong tâm não ông; đó là nỗi chết không rời. Cuối cùng ông chôn kín để về với tư duy.Trịnh Công Sơn nặng gánh gia đình cũng như nặng với đời, song le; những điều đó không làm cho Trịnh Công Sơn buông xuôi, quên lãng.Trịnh  nhìn đời là cả một sự phản đề giữa triết thuyết nhân sinh. Những tháng năm sau nầy Trịnh Công Sơn không ẩn mình trong nhạc của mình, ông kêu gào sự thống khổ, ông kêu ông “đừng tuyệt vọng tôi ơi xin đừng tuyệt vọng…” đó là tiếng nói ta thán cho tự tại.Trịnh Công Sơn biết phận mình. Những ngày trên giường bịnh chính là những ngày ông tha thiết sống, là những ngày ông cần có EM, cần có ‘tình yêu’ để ông được phục sinh trước cõi đi về.Trịnh Công Sơn ngất trong hơi thở như “ngàn năm, ngàn năm ru em muộn phiền” bởi vì EM trong cái tình của Trịnh Công Sơn là thương mong hơn là thương nhớ ”vai em gầy guộc nhỏ, trên vai gầy” hay còn phải giao du với đời “tóc em trôi dài trôi mãi…ngàn năm” đó là điều cho ta thấy tình yêu trong ông, luôn luôn là cần thiết:

“Từng nỗi nhớ, trùng trùng nỗi nhớ”

“Mong em qua bao nhiêu chiều, vòng tay đã xanh xao nhiều”

Trịnh Công Sơn đã công khai bộc bạch cái chân tình đó bằng sự cảm thông giữa hai người: ”Em là tôi và tôi cũng là em” Tha thiết vô cùng! Nghe lại nhiều lần như thấy nỗi đoạn trường.

Không phải nhất thiết nhạc của Trịnh Công Sơn xoáy quanh với tình yêu mà quên về thân phận làm người, ông nhìn thấu suốt cõi nhân sinh;Trịnh Công Sơn tin vào “thiên điạ nhân” đó là yếu tố chính đưa đến một tư tưởng duy tâm của ba giáo phái có mặt từ lâu trên đất nước Việt Nam (Phật, Khổng, Lão và Ky Tô) Trịnh Công Sơn tìm thấy họ nhưng rồi rơi vào tuyệt vọng dưới sự vô biên, vô tư của Thượng đế đã quên loài người: ”Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người” cái lòng tin đó đã làm cho Trịnh Công Sơn ‘mỏi dần’ để rồi quay về với ‘hư vô’ của vô vi huyền nhiệm!

Nói tóm lại; nhạc Trịnh Công Sơn là thơ để biến thành ‘nhạc-thơ’. Rõ ràng như thế; bởi mỗi giòng nhạc là mỗi giòng thơ đan kết vào nhau dù dưới chủ đề nào, nhạc thơ của ông luôn luôn hiện diện trực tiếp để biến thành ca-dao-ca cho mọi tầng lớp trong quần chúng và trở nên thân quen, nhạc ông nó nằm trong nhiều góc độ khác nhau giữa một thính đường hay những nơi công cọng đều hoà vào nhau giữa nhạc và người, giữa người và nhạc. Đó là lý giải cho một triết lý âm nhạc có mặt hôm nay, xuyên thủng những tị hiềm mà giờ đây nó tự hủy để cất lên lời ca của tình yêu ‘người nằm xuống’ nhưng dư âm đó vẫn còn đây.Một hoài niệm muôn đời đến với thiên tài nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Vô vàn xót xa!

Mười năm, hai mươi năm không còn thấy nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giữa cõi đời này. Thế nhưng; linh hồn âm nhạc của Trịnh Công Sơn tưởng như ông ở đó cùng với chúng ta để giao thoa trong một trạng thái miên viễn mà vẫn còn đó. Ông vẫn sống như đã sống bằng khí tiết của một người nghệ sĩ; cho dù dưới một tình cảnh ngổn ngang nào đi nữa. Trịnh Công Sơn an nhiên tự tại cho tới cái ngày của một ‘cõi đi về’ không chiêng trống nhưng được cái là để lại tiếng đời cho một sự tòn lưu, tồn lại giữa trần gian này với lời ca, tiếng hát bất tử.

* Trịnh Công Sơn sinh 1939. Mất  2001 tại Tp HCM.

30/4/2021

Võ Công Liêm

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Siddhartha Tất Đạt Đa

Siddhartha Tất Đạt Đa

Là âm vang, là tiếng gọi, là mật ngữ cho một sự gì tha thiết, ân cần để đi về nơi mặt trời mọc của ánh hào quang tỏa sáng muôn phương, của hằng hà sa số: ‘Hành trình đi về Đông phương/ Journey to the East’ một nhập thế của Siddhartha/ Tất-Đạt-Đa* là Người đã thực hiện và trả lời những gì cho nhân thế. Tiếng nói đó là chứng nhân cho một sự thật ‘vi diệu’ của hằng thế kỷ qua; một đương đầu để chạm mặt với thế gian; chu kỳ của thời gian là vô tận số, diễn tiến của thời gian đầy hứa hẹn hay coi đây là định ước của con người và vũ trụ. – Undated: -period of time of an event ‘Ksanikam’; epoch duration: appointment or engagement. Luôn luôn gần gũi bên ta của thời đang sống là hiện thể tồn lưu (in a more recent time) trong một nhận thức thuộc tri giác giản đơn; đấy là những gì đã được rao giảng để trở nên mầm mống, gốc rễ của đạo lý, phản lại thứ trào lưu văn hóa của những gì ngoài đạo lý mà con người đã bị lôi cuốn vào vực thẳm (groundswell).Tất-Đạt-Đa đã nói lên những gì của con người nhập thế trong một thời thượng lớn lao đến với nhận loại, một minh định và ‘thánh hóa’ những gì mà Người đã tu tập, bỏ đi là một diệt dục từ bản chất tinh thần đến thể xác, một hình thức gần như ‘cứu chuộc’chúng sanh ra khỏi bể khổ. Dưới mắt Tất-Đạt-Đa: Người là một nhãn quan vi diệu tính; đó là con đường giải thoát (enlightenmet).Tất-Đạt-Đa khởi hành từ đó, ruồng bỏ tất cả để đi vào tánh không chân lý cuộc đời.

 

Ở đây chúng ta mở ra chân trời Đông phương là một hàm ý bao quát toàn cầu, một thức tĩnh tuyệt diệu xuyên vào chân lý của các tôn giáo khác nhất là ở Tây phương mà trước đây hay sau này nhìn giáo lý của Tất-Đạt-Đa đưa ra như một luận thuyết; chỉ một phần nào nhưng yếu tính của truyền pháp là cốt tủy đi tới giác ngộ; cấy vào đó một sự chiêm nghiệm (nhập định) như tập truyền để đạt tới. Đó là con đường trong sáng của nhân loại; sự cớ đó là một hành trình thuộc tinh thần của Tất-Đạt-Đa –brilliant offering to the human spirit; the spiritual journey of Siddhartha. Nhớ cho điểm này: Tất-Đạt-Đa là con cái, dòng dỏi thượng lưu thuộc giáo phái Bà La Môn (Brahman / Brahmin) tôn giáo lớn ở Ấn Độ, Người là con người của trí tuệ; thời tất không thể vượt qua kiểu cách, ước lệ của giáo phái. Đúng! Nhưng phải thừa nhận Tất-Đạt-Đa phi thường, một trí tuệ trong sáng và toàn thiện, nghĩa là không vượt qua một giới hạn của hữu thần mà tìm hiểu nguyên lý của bản chất để thiết lập con đường chân thiện mỹ. Một học thuyết trở nên giáo điều (doctrinally). Giáo lý của Người không sắc bén mà minh bạch (sharp) lời nói đi từ tâm cho một giác tri, ‘đạo’ không cưỡng ép, cung cầu với tính chất đơn sơ mà thuần nhất cho một giáo lý.

 

Việc trước tiên đến với Tất-Đạt-Đa là tấm lòng chân cho một chính thống giáo (orthdox religion). Đấy là bổ sung, trợ lực bởi sự từ khước cuộc đời để đi vào con đường khổ hạnh và chế dục (asceticism) là trở về với thực nghiệm trong cái chứng thực và chính sự khó đó đã phải qui phục. Nó đến trong mọi sự chối bỏ: diệt ngã, diệt dục; là chứng nghiệm cho những gì vô căn cứ và thử thách. Con đường đó không cầm giữ mà là một khẳng định tự tại, kềm hảm của những gì gợi dục và xa lià thế giới vật chất. Cuối cùng là nhận biết tất cả, bất luận ở hoàn cảnh nào đều được suy xét, phân tích giữa thể và vô thể, bởi; những hiện hình của vô hình mà hữu hình hoặc bắt chụp qua một trí tuệ tinh anh; bày tỏ ở tự nó như một sự buông thả phi lý, một con người nắm bắt được lợi thế hoặc giành lấy một cái gì tối thượng; đó là con người chủ hữu trước mọi tình huống (one-upmanship) trong cuộc đời hiện thực chỉ có một khả năng vi diệu tính nơi Tất-Đạt-Đa mà Người đã tu tập như một trải nghiệm dấn thân để đi vào đời. Đó là tổng thể qui nạp tối thượng thừa và giải phóng toàn diện hồn lẫn xác, một chứng thực của hệ quả và một hợp thể âm dương vũ trụ, nó không còn hệ lụy cho một dự cuộc nào hơn; nơi đây phật tánh bắt đầu –This is where ‘buddha’ begin. Hướng đi của Tất-Đạt-Đa là giải thoát chúng sinh để đi tới chân như phật; một cả quyết và minh bạch mà về sau trở thành chân lý tối thượng. Tất-Đạt-Đa là hiện hữu của sự thật cho một phát sinh có một không hai giữa vụ trụ loài người từ xưa đến nay là bằng chứng hùng hồn qua những thế kỷ đầu. Người là ánh sáng chiếu thẳng vào hồn người, đưa nhân loại đến bờ giác; sự đó của Người là một hiến thân thiêng liêng, thần thánh (sacred-sacrifices). Tất-Đạt-Đa được trọng vọng để thần thánh hóa là chịu phép thần thông (sacred ablutions) những hiện tượng đó đã gắn vào hồn Người như một tự-tánh, hun đúc trong một vương cung đạo đức luân lý. Người đã tu luyện và thấm thấu phép tiêm nghiệm (meditative) để nhận thức được lẽ sống đúng nghĩa của con người. Tất-Đạt-Đa là Trí tuệ: con người tối thượng và một bản chất trong suốt vô biên, một tinh thần của vũ trụ và từ đó về sau tiếng nói của Người là giáo lý, kinh điển được truyền thừa –The Brahmin’s Son: the supreme and eternal essence or spirit of the universe. Người đã nhận biết thế nào là OM của Đạo: là tiếng nói không lời, không âm vang của đoan chắc, nắm vững như một khẳng định mà vẫn nhận ra tiếng nói (assent intoned); là ký hiệu mật thể, là tiếng nói trong tĩnh lự, là âm vọng nguyện cầu của người nhập định (mantra). Vậy thì ‘OM’ là lời nói không lời, lời truyền lời / the word of words (tức tâm truyền tâm), tiếng nói đó đi vào hư không là nhập thể trong hơi thở là tiếng vọng lại từ trong hơi thở cho một tập trung trong tư duy vượt thoát. Tất-Đạt-Đa biết được thế nào là nhận thấy ở cá tính linh hồn và coi đó là cái ngã tự tại, bởi; nó là hiện hữu của atman: là linh hồn của vũ trụ, gốc ngọn của tất cả đặc chất linh hồn, bao gồm hơi thở, khí (atm) trong hồn và xác –Sans àtmá: breath, atm, soul,Supreme Spirit (Tối thượng thừa) một cái gì trong sáng không thể đập vỡ (indestructible / một thứ kim cương tạng thể). Đó là sự tồn lưu hiện thể của vũ trụ. Người đã nhận ra vai trò của hiền nhân: là trí tuệ khôn ngoan mà bản thân Người muốn hóa thân là tu sĩ; điều đó lớn dần trong tâm trí. Hoàng tử của một triều thần vương giả để trở thành một ‘brahmins’ thông tuệ giữa cõi đời: để nhận diện những bước đi của ‘phép lạ’ khi mới chào đời. Bước đi đó như dấu hiệu một hào quang vận chuyển cả vũ trụ: hiến dâng cho đạo lý, hoà mình với chúng sanh và đem lại hạnh phúc cho tất cả. Nhưng; Tất-Đạt-Đa không lấy gì sung sướng, hạnh phúc ở chính mình, không mang lại cái gì riêng mình. Bước đi khởi đầu trên con đường lạc quan yêu đời trong vườn thượng uyển tràn ngập cành vàng lá ngọc; tất thảy vạn sự đều để lại trong lòng Người một nỗi khổ tự tại. Giấc mơ của Tất-Đạt-Đa là trầm tư về thế gian: khổ lụy và bi thương. Suy tư giữa cổ Brahmins và những gì hiện thực cuộc đời qua bốn cửa thành. Bên ngoài bốn cửa thành đã bắt đầu sinh mầm sự bất đồng trong người Tất-Đạt-Đa. Mọi hệ lụy xung quanh sẽ không còn cam lòng để hưỏng thụ riêng mình. Dữ kiện đó không còn mang lại một hài hòa thỏa mái, cũng chẳng phải là nhu cầu cần thiết; mà cảm nhận cho một tự tại của con người khôn ngoan đối với ‘tinh thần vũ trụ / Brahmins’; mà đem tinh thần đó rót vào tất cả cho chúng sanh là dòng chảy đợi chờ, dòng chảy đó không trọn vẹn, tâm trí chưa thỏa mãn, linh hồn không được yên và tâm-như chưa đạt ý –all into his waiting vessel and the vessel was not full, his mind was not satified, his soul was not at peace, his heart was not content. Nghi lễ rửa mình là điều tốt đẹp nhưng đó chỉ là nước / water; nước đó không rửa sạch tôi lỗi, cũng không hàn gắn vết thương cho một cái tâm khao khát, ước ao và nó cũng chẳng phải giải quyết được cái tâm sợ hãi hay bạc nhược. Tất-Đạt-Đa đứng trước một hiện thể sống thực giữa bản thể và tha thể. Đấy là dấn thân của con người trí tuệ, một dằn co trước cái tâm bi trí dũng là đối đầu với thử thách.Tất-Đạt-Đa có nhận sự khổ hạnh này hay khước từ vì chúng sanh?-Không!Người là trí tuệ hiểu được việc trước và biết được việc sau như một nhận lãnh. Khổ hạnh (the Passion) hay dấn thân hy sinh (the Sacrifices) hay khởi động gián tiếp để là đấng thờ phượng (the gods) đó có phải là hoài vọng?-Tất-Đạt-Đa không bao giờ nghĩ đến việc tôn thờ. Người là hướng đạo, kẻ dẫn đưa nhân loại tới bờ giác. Hiến tế để mang lại hạnh phúc? Và; cái gì để được thánh hóa cho thờ phượng? -Người đi từ Không đến Chân-không. Có phải đây là ‘Prajapati’ thực sự là kẻ sáng lập vũ trụ? -Đứng trước vũ trụ quan Tất-Đạt-Đa chỉ thực hiện như sứ mệnh nhân loại, gạt bỏ tất cả là lẽ đạo như-nhiên để con người tự thánh hóa mình, tức tự giác, giác tha là hành trình của rao giảng. Nếu Người không tập trung ý chí thời tất cái sự đó không ai gọi là atman : linh hồn của vũ trụ. Hay đây chỉ có một cho tất cả? -Tất-Đạt-Đa không cho mình là nhất thể mà tất cả chúng sanh là nhất thể như Người đã tu tập và khổ hạnh. Ở tinh thần của Tất-Đạt-Đa không có thánh chúa (gods) mà chỉ là hiện hữu của hữu thể (being) Người như mọi con người, nhưng được xem là tốt, cái tốt là trọn nghĩa của phép tắc tối-thượng. Ở đâu có ‘atman’ là nơi chúng ta tìm thấy định vị của hiện hữu sống thực. Cho nên chi trong vai trò chủ quan Người trở nên khách quan trước vũ trụ và con người. Hai bề mặt của một phạm trù phiến diện đã tách ra khỏi dòng thủy vô ưu để đi tới chân như phật. Là; giải thoát toàn bộ. Tất-Đạt-Đa phải thực hiện rốt ráo cái tính-không tức trải nghiệm những gì chân lý của ‘atman’. Người thực hiện được tức đến được đất hứa của chân-như-phật là cõi Niết bàn một nơi chốn vĩnh cửu của con người. Cho nên chi Tất-Đạt-Đa xuất gia là quán chiếu như một sự kiện của định niệm. Xuất gia của Người là bản chất nhận thức, một tự tại hiện thân ‘Bồ tát’ của bước đi ban đầu. Còn chúng sanh xuất gia là định hệ, là duyên nghiệp của ‘cội phúc’. Tất-Đạt-Đa không nằm trong chu kỳ tiến trình của định hệ (fate) mà đến trong ‘brahmins’ nghĩa là trong giác thức, của giác ngộ, của vô vị ngã; đó là siêu lý tối thượng khác với thế gian là ‘cầu’ hơn là định niệm để quán chiếu. Những ngày Phật sắp viên tịch, Người nói với hàng đệ tử: -‘rồi đây có kẻ ăn mặc như ta, đi đứng như ta nhưng không phải là ta’.Vậy nghĩa cử tu chứng của Tất-Đạt-Đa là một siêu lý. Đây là những gì nằm trong tư duy của Tất-Đạt-Đa. Mà đây là khát vọng của Người và nỗi đau của Người –These were Siddhatha’s thoughts. This was his thirst and his pain. Quả vậy!

 

Người thường niệm ở chính mình qua những lời lẽ mật thể Chandogya Upanishad: có nghĩa rằng; ‘Chính xác; danh xưng của Brahman là samskãra =karma là nghiệp, duyên quả tác động vào hiện hữu của tương lai; sự thật mà Người nhận biết từng giây phút hằng ngày trong lãnh vực thuộc về trời. Cõi thiên thực thụ gần kề đối với con người, nhưng Tất-Đạt-Đa không bao giờ đạt tới cho một khả đắc một cách trọn vẹn, không bao giờ khát vọng thoả mãn một cách quan trọng. OM  trở về trong ý thức; là tiếng nói không lời mà chỉ là âm vang trong hơi thở là một khẳng định tuyệt đối, Brahman trở thành đối tượng hiện hữu, nghĩa là đẫn độ Người đến chánh pháp. Con đường đối diện trực tiếp với Tất-Đạt-Đa là cõi thiên, một trực diện của ba ngôi: thiên điạ nhân; tư duy về om  là lúc mà tinh thần và hồn phách Người tợ như mũi tên bay về phiá Brahman (là tôn giáo kinh điển, giáo điều là hệ thống của tôn giáo cũ Bà La Môn (Brahmanism). Brahman là tọa độ của mũi tên –Brahman is the arrow’s target. Đây là giai đoạn cam go giữa đạo và đời mà phải để tự mình Tất-Đạt-Đa quyết định sứ mạng. Người ra đi là một gián tiếp từ bỏ, nhưng; Brahman là tôn giáo như sợi giây thừng không rời xa trong khí thiêng đất nước và đạo giáo. Tất-Đạt-Đa trầm lắng trước vấn đề -không phụ lòng ai và cũng phải hề nà ai- Đó là quyết định minh bạch là khước từ cái bản ngã tự tại để về với tánh-không; là chân lý, là đạo mà người hướng tới.

 

Đêm trăng tròn người rủ áo ra đi đến một chân trời vô cực, lặng nhìn vũ trụ chuyển hóa từ có ra không, từ không ra có là biến động của nhân loại để rồi Người phải khổ hạnh, ép xác cực hình bằng mọi thử thách khác nhau trong tiêm nghiệm thấm nhuần đạo lý con người. Khổ hạnh là cứu chuộc để đi tới ánh sáng chân như phật là hoài bão của Tất-Đạt-Đa. Và; đời sẽ thừa nhận Người là ‘phép lạ’ với bảy bước thần thông như dấu hiệu cho một tinh thần vũ trụ, đem lại một hào quang soi rọi để phân định: ánh sáng và bóng tối, âm thanh và cuồng nộ, đau khổ và hạnh phúc, sống và chết là nghiệp báo hay niết-bàn...

 

Tất-Đạt-Đa để lại những câu hỏi đó cho chúng sanh qua Phật-pháp (Buddha-dhamma)là đấng chân-như-phật về sau này.Yếu tính của Tất-Đạt-Đa là trạng huống qua giai đoạn tiến trình về phiá giải thoát –The Stages of Progresss toward Enlightenment. Đấy là vấn đề chủ thể để nói đến Siddhatha / Tất-Đạt-Đa!

 

Hổ tương giữa quan điểm và hành động là cần một kiên tâm, một thái độ ân cần chu đáo là trọng tâm đi tới toàn mỹ. Ở đây có sáu tuyệt đối [sat-pãramità] để tăng cường, củng cố cho việc tu tập, một thái độ đi tới giải thoát mà trong mọi ngoặt cảnh là một giới hạn để vượt qua mới đạt chánh quả (perfections) nhiều hơn cả toàn hảo (perfect). Trong số đó có năm (5) tuyệt hảo khác: phá chấp [dãna-pãramitã] ‘liberality’. Đạo đức và cử chỉ [‘sĩla-pãramitã] ‘ethics and manner’.Kiên tâm [ksãnti-pãramitã]‘patience’

Tích cực [vĩya-pãramitã] ‘strenuousness’và tịnh niệm [dhỳãna-pãramitã] ‘meditative concentration’. Tập trung một chân như là vượt ra bởi những gì che khuất và đưa dẫn tới bờ giác của sáu tuyệt hảo: được coi đây là sự mô tả cho một nhận thức để sinh ra trí tuệ [prajnã-pãramitã] –descriminating awareness born from wisdom. Sự đó là một giải trừ đầy ấn tượng mạnh cho một vị trí siêu đẳng, tối thượng trong hiện hữu tồn lưu và không tồn lưu (non-existence); giải phóng toàn diện nơi chúng ta từ một hệ thống thuộc triết học tâm lý nhân văn, chủ nghĩa hiện thực và một chủ nghĩa trí tuệ tâm hồn (mentalism) những sắc tố đó đưa chúng ta ra cõi khác của một thứ chủ nghĩa giáo điều mà những gì thuộc luận cứ và tìm cách giải bày mọi hiện tượng khác nhau (monism) và chủ nghĩa đa nguyên (pluralism). Là; những gì đã thảo luận cho con đường đi tới chánh quả, nghĩa là không vướng bụi trần hay cặn bã nào trong mọi chủ thuyết hay đường lối đưa ra để ngăn chận con đường giải thoát mà phải nắm vững trong sáu điều luật để tu học. Hành trình đi tới chân-như-phật, là ý niệm siêu việt đẳng cấp của nhận thức và nhận biết (Panama/Prajnã) cho môt giải thoát Bồ đề tâm (Enlightenment-Bodhi).

Tất-Đạt-Đa sẽ nhìn đây là chủ thể vấn đề hiểu được việc trước và biết được việc sau là chủ thể của kinh nghiệm, là trạng huống qua giai đoạn tiến trình về phiá giải thoát. Hành trình đi về Phương đông Tất-Đạt-Đa đã ‘khăn gói’ trong một định niệm tuyệt đối, một khẳng định rõ ràng, minh bạch của Đại tứ Diệu đế (Four Brahma-vihãra) là giai đọan vi diệu (Sublime States). Như đã nói ở trên Tất-Đạt-Đa không chối từ mà dựa vào cơ bản của Brahman làm đối tượng hiện hữu: đức hạnh, tịnh niệm như thể là một trí tuệ hiện hữu bất động trước mọi hoàn cảnh. Bao gồm lòng xót thương, hài hòa và trầm tĩnh.

Tổng quát cho những gì nói đến là mục đích của bốn điều thiêng liêng được tồn tại vĩnh viễn của kinh điển cổ xưa [Brahmana-vihãra] để lại là những gì Tất-Đạt-Đa cho đó là hạnh phúc lớn lao của nhận thức thấu đáo và những gì tuyệt diệu cho một hiện hữu tồn lưu nhân thế. Không còn một suy tư nào hơn.

* Thái tử Cổ Đàm Tất-Đạt-Đa/ Siddhartha Gotama (563-483 BC) Người là con vua Tịnh Phạn. Gốc xứ Thiên Trúc (Ấn Độ) Sinh ra đời và lớn lên cuối tk.thứ tư và đầu tk.thứ năm. Về sau nhập thể (inner-transformation) và vang danh là Phật: Giác ngộ và Giải thoát.

18/6/2017

Võ Công Liêm

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Freud và hình ảnh của con người

Freud và hình ảnh của con người

Bình minh dậy của tk. thứ sáu (6) trước Giê-su; những nhà tâm sinh lý Hy Lạp đã có thể thức cho một ý niệm rõ ràng về những gì thuộc thế giới sinh lý như một hiện tượng vật chất cố định. – By the dawn of the sixth century before Christ; the Greek physicist-philosophers had formulated a bold conception of the physical world as a unitary material phenomenon, là đặc vào đó một khái niệm của vấn đề cơ bản vật chất, chuyển hóa những gì đã khai mở cho hình thức vô số lượng và vật thể thuộc thế giới sinh lý. Nhiều nhà phân tích, nghiên cứu gia đã thấm thấu một cách tinh tường đủ để thừa nhận rằng vấn đề phải nhận thấy như là một thứ vật chất bao quát. Lấy thiên nhiên hay vật thể để có một soạn thảo duy nhất nơi con người. Nhu cầu đòi hỏi ở con người là vật chất (fundamental substances), ngọn nguồn có từ mọi thứ vật chất được dùng tới. Nó phục vụ như một định vị cơ bản của sinh lý nhiều hơn gấp hai lần thiên niên kỷ thuộc vũ trụ vòng quay; không một vật gì mà con người không cần đến để đi tới khám phá dưới con mắt nhìn thấy của con người, hiển nhiên; nhìn thấy là minh định vật thể, là những gì thuộc vũ trụ vật chất.

Đấy là vấn đề luôn luôn liên đới với con người, vì; đó là lý thuyết chỉ dành cho yếu tố vật chất hoặc những gì chính yếu nói đến vật chất (monism/ materialism) đều thuộc về sinh lý; có thể cho đó là một trở ngại lớn lao trong những gì mà con người hướng tới, nhất là vào đầu tk. thứ mười chín (19) đã làm chậm lại những lý thuyết sinh lý hiện đại. Dữ kiện này đưa tới những nhận thức khác: -giữa ngay thẳng (sanity)) và cuồng si (madness), giữa ý thức (consciousness) và vô thức (unconsciousness), giữa tâm trí bé bỏng và tâm trí già nua, giữa ban sơ và hiện đại. Mỗi một thứ ở đây đã ấp ủ không còn tiếp tục, có nghĩa là gián tiếp chối bỏ cái sự bảo vệ qui tắc giáo điều. Sự đó không những chỉ là vấn đề mà là bày tỏ mang lại cho chúng ta đi tới bờ vực của ước ao, mà ở đây là thẩm định không còn tự do lâu dài –It is only that the question, when pressed, brings us to the sdge of anxiety where inquiry is no longer free. Nhưng nhớ cho: Con người không phải là độc nhất vô nhị, nhưng; lại là người thừa kế của một tài sản để lại –Man was not unique, but; the inheritor of an organic legacy. Để lại chính là tạo cho sự bảo vệ vật chất, giữa phi lý và hợp lý là ý niệm của con người. Ngay cả Darwin và Freud dám nói, dám làm những gì có tính chất cách mạng tư tưởng; một cảm thức sâu đậm và nhiều tình tự trong nhận biết. Nhưng Freud không thể nghĩ ra nếu không có Darwin. Cả hai cùng một quan điểm về những gì hình ảnh hiện đại nơi con ngưởi. Darwin đối xử như một điều kiện cần thiết còn Freud làm sao đạt tới thành quả của việc trị liệu, dĩ nhiên; là thừa nhận nó như một sự cớ của hữu cơ (con người), việc đó chính là yếu tố của thể thức thuộc khoa phân tâm học. Không coi khoa này là con đẻ của Freud mà sự cớ dựa trên nguyên lý (bệnh lý) chung; dù Freud khai thác ở não thức về hoài niệm hay tưởng nhớ, mà dữ kiện của Freud đã chạm vào thời điểm của chúng ta –impact on our times. Cái còn lại ở Freud là giới thiệu sự hiện diện hình ảnh của con người như phát sinh ra một vọng tưởng chưa hoàn tất hay một tâm lý rối bời để chống lại cái không có lý do. Những gì mà Freud đưa ra là nói đến con người với những gì hay nhất, giá trị nhất là lý giải cho một chủ thể chung: của tốt và xấu; nó sống dậy trong một cảm thức nhận biết có từ tâm sinh lý nơi con người. Đấy là đòi hỏi, là nhu cầu của những gì về hình ảnh mới của con người.

Freud cũng hiện thân dưới hai điều kiện mà hầu hết được coi là sự phá đề về Do Thái; nó không còn là cảm thức lý thuyết nhưng nó là cảm thức thuộc đạo đức luân lý. Không những đưa tới một sự thương nghị cho những gì có quyền lợi. Tự do ở chính con người là ảo ảnh cho một thứ thần kinh khờ khạo, một trạng huống bất bình thường, một thói tính trẻ con trong người lớn đôi khi ‘trở mình’ở tuổi chưa trưởng thành,và; tiếng nói tỏ vẻ của kẻ hay chữ. Sự khôn ngoan, khéo léo của Freud không những cho lý thuyết, giáo điều mà còn là thể thức cho phương pháp vật lý trị liệu làm giảm đi sự căng thẳng tinh thần và thể xác. Đấy là những gì mà Freud giành được mục tiêu cho một sự hợp thức hóa của căn bệnh và ước ao. Sự thật của Freud là nới rộng chủ thuyết sinh lý tự nhiên, là giải bày những sự vụ liên đới đến nỗi niềm của con người. Trong ‘Bệnh lý tâm thần học của Hằng ngày Cuộc đời / Psychopathology of Everyday Life’ không phải là một trong những luận thuyết được nêu ra. Freud đã trượt ra khỏi những hoài vọng đó mà đã đóng góp nhiều cho một chấp thuận chung dưới qui luật của thói tính con người, có lẽ; Freud  đặc vào đó quá nhiều phân tích chi tiết và thể thức kinh điển từ những gì đã xẩy ra về trước, lấy từ kinh nghiệm sinh lý để dung thông trong cách điều trị theo cách phân tâm lý (Psychoanalysis) mà ngày nay được thừa nhận dành cho phép chửa trị bệnh tâm thần (mental illness). Chính vì vậy mà người ta nghiêng hẳn vào chửa trị hơn là đào sâu vào tâm sinh lý hoặc miễn cưỡng để cáo thị về giấc mơ với những lý do vô cớ được gắn vào đó một sự bình giải hơn là lý luận, bởi; Freud mang lại trong đó một vấn đề chung, gián đoạn giữa hữu lý và phi lý (rational / irrational) là mục đích trọn vẹn của cuộc đời nửa thức, nửa ngủ trong trạng huống mập mờ, lơ lửng và tuồng như phi lý cho một mục đích vô nghĩa dị thường và mộng mơ –between the rational purposefulness of waking life and the seemingly irrational purposelessness. Trong khi những biểu tượng thô thiểm là cả một nỗ lực quá sớm của Freud về những gì của giấc mơ đã trở nên gia tăng đưa tới hành vi buông thả. Ý niệm về giấc mơ được coi như  biến thể của ước ao hay sợ hãi là cái nặng lòng chung. Và; từ chỗ được thừa nhận tiến trình vô thức của Freud là một khám phá mới của ngành y; nhờ vào đó mà hướng tới sự mở mang tinh thần và trí tuệ của những gì huyết thống truyền lưu giữa những gì văn học nghệ thuật, nhân bản và một nền văn minh khoa học của nhân loại. Thành ra không thể đơn phương phủ nhận hay lý giải sự khác biệt giữa tinh thần và thể xác hay võ đoán để phê nhận một nỗ lực tìm kiếm cho nền khoa học và trách nhiệm của thầy thuốc.

Trong tập ‘Lý giải về Giấc mơ / The Interpretation of Dreams (1900) của Freud là mở rộng cánh của cho một nền khoa học y khoa nói đến mộng mơ với nhiều tranh cải qua lý thuyết cũng như hành động là những gì mơ tưởng ảo hóa, sự đó đưa tới nguồn cơn thúc đẩy ngây ngô ngay cả những gì đặc biệt trong vấn đề dục vọng (ở tuổi dậy thì của gái thập tam, nam thập lục) là tuổi khao khát tìm thấy từ vận chuyển thể xác để tạo sự ước ao, đòi hỏi một khám phá mới nơi con người. Freud  tin tưởng rằng; trí tuệ con người là bổ sung vào một bức xúc bản năng (id) từ chổ ban sơ hay từ vô thức; cái đó gọi là bản ngã tự tại -ego itself- thông thường ‘bức xúc / id’ có từ chỗ chống lại xã hội (antisocial) là bản năng tự vệ máy móc, và; siêu-ngã-vị (superego) là ý thức quay về trong bản thể chủ quan nhìn thấy cho một sự trông chừng và noi theo của bản ngã. Theo Freud bức xúc / id  là kiểm soát bởi sự hài lòng (thúc đẩy thỏa mãn dục vọng). Do đó; ‘id / bức xúc, bản năng’ đến từ cái nhô ra trong giấc mơ, lộ rõ trong một biểu trưng ngôn ngữ, một hối thúc áp đặt trong ý thức xẩy đến. Ngã thức đó có thể choáng váng mặt mày trong khi thức tỉnh. Lối đó Freud gợi ý  trong cái việc gọi là ‘tự do liên tưởng tới / free association’ hoặc nôm na gọi là đột hứng (spontaneously) bất thình lình ở tuổi thập tam và thập lục là thời kỳ xung đột của đòi hỏi sinh lý của má hồng, trứng cá trên mặt, những hình thái này đi từ trong mộng mơ để hướng tới cho việc chuẩn bị vào đời (trưởng thành) . Mục đích của mơ là một can thiệp hạn hữu có từ bản chất tự nhiên, do đó; phương thức của Freud là ngăn ngừa của những gì giấc mơ lấn chiếm trong bản năng vô thức / id.

Nói rút lại; những gì Freud khám phá là những gì để lại như một di sản khoa học y khoa, là những gì cho tất cả hay không / all-or-none là bản năng giữa tâm thần bệnh lý và tâm thần sức khoẻ (mental health) để được thay vào đó bởi ý niệm của con người, của những gì không tiếp nối, của những gì thuộc trạng huống tâm linh. Viễn cảnh của não thức là những gì tác động vào con người, là sự cớ đưa tới phong trào cách mạng khoa học trong một mô thức tàn ẩn cho việc thực hiện xã hội và coi như thử thách trong tạng thức của khoa học hiện đại. Lý thuyềt cho đó là ‘mầm xấu / bad seed’ đã được phân loại căn nguyên bệnh trạng (nosologies) ở vào tk. muời chín (19); đấy là cơ bản cho nỗi bi thảm hướng tới nỗi đau của con người; so ra có phần nào trong thời đại chúng ta đang sống, một trạng huống bức xúc từ xã hội, gia đình và quần chúng đã tác động vào tâm thức để có những ước ao tốt đẹp hơn, nghĩa là không còn mộng mị của ảo hóa phát sinh từ trí tuệ. Có thể là điều bất khả tư nghị ở cảm thức chìm đắm, những gì thơ ấu là hoài niệm để được sống lại. Nó đã là một trong những tình huống cản lại, một hình phạt của tinh thần đã đưa tới những gì như đã một lần ‘qủi ám’, và; những gì mà chúng ta tìm thấy như con bệnh. Nó hóa trị được là thực hiện được cho một thách đố lớn lao về luân lý đạo đức của mỗi hoàn cảnh xẩy đến.

Ngoài ra biểu tượng của lý thuyết, lập tức có tiếng dội với những gì là biện chứng của kinh nghiệm mà ra. Đúng vậy! nó là một chất liệu của bề mặt ý thức kinh nghiệm.Nhưng nó thích nghi vào hoàn cảnh của con người, cho một đối kháng của nó, một đau khổ riêng tư của nó, một bức xúc lôi kéo của nó, một đòi hỏi là nỗi sợ hãi thúc đẩy của nó, vật chất là nỗi bi thảm của nó; đấy là hình ảnh của con người.

8/4/2026

Võ Công Liêm

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Thi nhân văn nhân họa nhân là con người sáng tạo

Thi nhân văn nhân họa
nhân là con người sáng tạo

“… Khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có”

(Đời Thừa của Nam Cao)

Đó là lớp người mang một tinh thần sáng tạo tợ như khát vọng của tự do, chứa đựng một cái gì thâm cung bí sử. –Creativeness; like the freedom of the will, contains a secrect. Một dạng thức thuộc về tâm lý; có thể miêu tả ở đây như một biểu lộ thích nghi giữa trí và thức. Nhưng người ta không tìm thấy lý sự của những gì thuộc về vấn đề tâm lý mà họ đã hiến dâng để làm nên tác phẩm. Trong con người sáng tạo có một cái gì tiềm ẩn, chính cái đó mà chúng ta cần phải đào sâu để có một câu trả lời cụ thể trong nhiều cách khác nhau của con đường sáng tạo (mang tính chất sinh lý và tâm lý) nhưng nhìn chung cái sự cớ đó luôn luôn chất chứa sự phô diễn, nói lên tài hay của mình (vain). Sự thật điều đó không phải ngăn ngừa cho một tâm lý hiện đại mà quay về và bắt đầu tìm kiếm vấn đề nhân sự; có tính chất của người nghệ sĩ và chất nghệ thuật của họ trong sáng tạo để thành hình tác phẩm, dù rộng lớn hay thu nhỏ khác nhau nhưng có đặc tính duy nhất là sáng tạo như một tác phẩm nghệ thuật; không riêng gì hội họa mới có nghệ thuật, thi ca và văn chương mang nặng tính nghệ thuật cao, hàm chứa trong tư duy biểu lộ: màu sắc của ngôn từ, thiên nhiên là hình ảnh. Cái đó gọi là con-người-sáng-tạo (creative-man) nghệ thuật. Một số tư tưởng gia nghĩ rằng nguồn phát sinh ra sáng tạo có từ một ngữ ngôn khác hoặc từ những kinh nghiệm cá nhân vốn mang chất nghệ thuật trong đó. Cho nên chi không nhất thiết con người sáng tạo trong những lãnh vực nghệ thuật là ngẫu nhiên hay đã có, ngoại trừ là thiên tài. Đấy là sự thật có thể đặc trong những gì hướng tới. Răng rứa? vì nó có thể tưởng tượng ra được để có một tác phẩm nghệ thuật; không ít thì nhiều là tác động thuộc hệ thần kinh, cũng có thể là nguyên tố trở về của những gì rắc rối do từ đời sống tâm lý.Sự lý đó chúng ta gọi là hỗn hợp của hệ thức tạo nên. Những nhà phân tâm học thì lại nhìn khác; nó thuộc về nguyên nhân thần kinh não bộ (neuroses) trong dạng thức tâm lý. Điều không thể phủ nhận ở chỗ tâm lý của nhà thơ là cả một vận dụng trí tuệ, dàn dựng để mạch thơ được phô diễn trong tác phẩm, hiện hình từ gốc tới ngọn. Không những làm nên cái mới trong thi tứ mà đó là nhân tố phổ quát ảnh hưởng vào sự chọn lựa và thường dùng như chất liệu để thành thơ,văn,họa. Tuy nhiên; sự cớ đó ảnh hưởng vào trong những gì gọi là con đường ham muốn khác đời (curious ways) nó khơi từ phát tiết như một biểu lộ qua tâm tư, hành động hay dữ kiện trong cuộc đời đang sống. Tất cả những gì cho là con người sáng tạo khởi thủy từ não thức trong hệ thần kinh; tất cả xẩy ra tự nhiên mà tất cả được dấy lên từ não bộ, bởi; nó không thông qua của cảm thức (sense) hoặc ý nghĩa (meaning). Hệ não phát tiết trong ý thức của tiềm thức; bùng dậy như một khả năng trí tuệ. Trí tuệ nằm trong vùng của não thức. Cho nên chi tác phẩm nghệ thuật là mang vào đó một diễn trình tư tưởng của não thức; điều này có thể phân tích tâm lý (psycho-analyse) trong ngữ điệu diễn đạt của nhà thơ, nhà văn và nhà họa. Thế nhưng; theo nhà phân tâm học Freud thì đưa não thức vào hoàn cảnh như hoán đổi tâm tư đi thẳng vào ý nghĩa của sự bày tỏ ham muốn –Freud takes the neurosis as a substitute for a direct means of gratification. Nói ra nghe không mấy thỏa đáng, vì rằng; nhận định như rứa là có gì nhầm lẫn, vòng vo tam quốc (dodge), bỏ qua phớt lờ, kiểu thức tự nguyện. Tác phẩm nghệ thuật là mang lại vấn đề tiến trình với não thức, sự kiện như thế có thể phân định được giòng tư tưởng phát tiết của nghệ nhân, đối với thi nhân là tác động mãnh liệt, phát huy sáng tạo ngôn từ trong một hoàn cảnh hoán chuyển của não thức và ngay cả văn nhân, họa nhận đều lâm vào hoàn cảnh tương tự mỗi khi não thức bị phong tỏa gây ra xáo trộn tâm tư; có đôi khi mất luôn kiểm soát trí tuệ để về sau tác phẩm không đạt yêu cầu như mình mong muốn. Trong cùng một cảm thức đã tìm thấy ở chính mình một đồng hành tốt cho việc hoán đổi hoàn cảnh để bày tỏ; thì may ra cái lý của Freud mới hoà nhịp vào não thức như ông đã nói. Sáng tạo khơi dậy từ não thức chớ không phải do tự ý vớ vẩn (voluntary blindness) mù mờ gây nên sáng tạo. Một số họa nhân đã phóng tác ngoài trí năng đưa tới hỗn độn làm cho tác phẩm không đi sát với chủ đề muốn xây dựng. Nhưng; điều này sẽ là một xác nhận những gì làm ra đúng như là đánh giá được tác phẩm nghệ thuật ở chính nó để rồi dứt khoát từ chối nói đến –But should the claim be made that such an analysis accounts for the work of art itself then a categorical denial is called for. Và; từ đó tạo ra phong cách riêng, trườn vào trong tác phẩm nghệ thuật là điều không còn cần thiết cho một tác phẩm dựng nên. Tự coi đó là sáng tạo nghệ thuật, sự cớ đó gần như cá nhân chủ nghĩa, một thói quen ngu xuẩn tạo ra trường phái riêng mình (personal idiosyncrasies). Ở thi văn họa; những gì cần thiết trong tác phẩm nghệ thuật là những gì phát tiết bề mặt hiện thực của đời người, lời lẽ, văn phong, bút pháp của con người nghệ nhân đến từ tinh thần và tấm lòng (là thực ở chính mình thì sáng tạo mới có thực); ở khâu này thi sĩ không thể hoán chuyển ngôn từ mà đòi hỏi ngôn từ phải sống động thực tế; vận dụng sâu sắc của thi sĩ là hoà nhịp để tư duy đi vào đời cùng với tác phẩm; không riêng một bộ môn mà tất cả mọi bộ môn đều là chức năng phát tiết do từ não thức. Rứa mà đôi khi chúng ta phải đương đầu với những gì cá biệt, đặc trưng thời ít ra tạo được một sự thật độc đáo của nghệ thuật. Nghệ thuật tiền cổ cũng đáng kể trong một đối xữ do từ não thức chớ không ngẫu nhiên mà thành hình, cho nên chi đứng trước tác phẩm nghệ thuật nói chung là cả một vận dụng trí tuệ để lãnh hội mới nhìn thấy cách riêng của tự nó. Tuy nhiên; trong khả năng của con người nghệ sĩ không những chỉ là thuần chất mà còn chứa đựng một dục tính khác không chừng còn nhiễm sắc dị hình (hetero-erotic) hay là có dục sắc trong cảm thức là đằng khác. Nói như rứa thì trong não thức đã tiềm ẩn những thứ đó? Rứa cha chi nữa! mới là thành văn, thành hình dẫu có tiềm ẩn đi chăng, tất cả là dạng thức phát sinh từ tế bào não. Cái sự lý đó người ta gọi là thực thể bên ngoài không dính dáng đến tư duy hoặc não thức (objective) và cũng không có cá tính riêng biệt (impersonal) –cho dẫu có man di mọi rợ đi chăng nữa; đối với người nghệ sĩ (thơ, văn, họa) là sống với tác phẩm và không còn hiện hữu của con người trước tác phẩm. Phát tiết của não thức là ở chỗ đó. Mỗi khi gọi con người sáng tạo là có hai bề mặt khác nhau hoặc là tổng hợp của một kỹ xảo khác biệt. Mặt khác; hiện hữu của con người nghệ sĩ với cá tính cuộc đời. Phiá khác; hiện hữu của con người nghệ sĩ là không có cá tính cuộc đời; mà là tạo dựng bằng tiến trình. Nhưng chúng ta chỉ hiểu được trong khả năng của người nghệ sĩ do tìm thấy ở sự thành quả của sáng tạo. Nghệ thuật là một thể cách của bẩm sinh, thế nhưng; người nghệ sĩ không phải là con người thiên tính muốn có cái tự do tìm thấy từ sáng tạo của riêng mình, nhưng; cái được phép của nghệ thuật là thực hiện được mục đích của mình xuyên qua đó. Thí dụ: Nguyễn Du (Đoạn Trường Tân Thanh) và Thanh Tâm Tài Nhân (Kim Vân Kiều Truyện) là một biến đổi phong cách và hoàn cảnh, một toa rập sự kiện do từ não thức khơi dậy ở sự trùng phùng, tương ngộ, giao duyên để tạo ra phong cách riêng của người nghệ sĩ đang đứng trước hoàn cảnh. Một hoàn cảnh thích nghi và hoà hợp để thành hình tác phẩm trong sáng tạo. Ngược lại não thức báo động trước hoàn cảnh, xâm nhập vào tâm thức để phát tiết tư tưởng qua thi ca như trường hợp Hàn Mặc Tử và Tố Hữu. Một đằng nghiêng về thần thánh hóa cho một tri ân, một đằng nghiêng về chủ nghĩa độc tôn cho sự ngợi ca. Ở phương Tây chúng ta bắt gặp hoàn cảnh tương tợ ở Nietzsche và Wagner và về sau kể cả Schopenhauer là một giao tình để đưa vào tác phẩm như một thứ nghệ thuật được phép thực hiện qua từng trạng huống tâm lý và sinh lý khác nhau. Picasso cũng đã nhiều lần thao thức với Edouard Manet hay trong nguyên sơ nghệ thuật Phi châu để thành hình trong ‘Les Demoiselles d’Avignon’. Do đâu mà ra? Tất cả dữ kiện dấy động từ não thức, chìm trong tiềm thức để có cơ hội phát tiết tùy sự thích ứng của thi nhân, văn nhân và họa nhân. Từ chỗ đó suy ra; tất cả đây là hiện hữu, điều này không còn xa lạ cho con người nghệ sĩ; là một cái gì đặc biệt gây thêm chú ý cho trường hợp tâm lý, sinh lý cấu tạo trong tiến trình của não thức và người ta coi đó như một phương pháp phân tích cho dữ kiện tác phẩm. Nói chung dù chịu ảnh hưởng, một thứ ảnh hưởng để sáng tạo hay để sáng tỏ vấn đề do từ động lực nhận thức hoặc do từ phân tích tâm lý là những yếu tố khơi dậy từ não thức để biến đổi hoàn cảnh; trạng huống đó không thể coi đó là sự lập lại mà ở đây dựng lên được nguồn sáng tạo mới hơn. Ngay cả văn chương triết học cũng phải tìm thấy ở nguồn sáng tạo tư tưởng và từ đó phát tiết ra nhiều trường phái khác nhau trong thi văn họa đều đổi mới tư duy từ văn phong đến ngữ điệu mới tạo nên những gì là cách riêng ở chính mình. Ba vai trò khác nhau, ba lãnh vực khác nhau nhưng tựu chung là một đồng hành trên con đường sáng tạo cho mỗi cá tính. Tuy nhiên; bên cạnh những hoạt động dẫu bình thường hay không bình thường đời người nghệ sĩ thường có thói tính bất mãn tột độ –The lives of artists are as a rule so highly unsatisfactory –không phải nói là đổ vỡ, tan nát. Rứa thì răng? Có chi mô, bởi; cái mặc cảm tự ti (inferiority complex) là bản chất con người mà đôi khi là khiá cạnh riêng tư của họ, xét ra cũng không phải vi phạm điều gì là tội ác cả mà phải quá sức. Thế nhưng; cái sự khước từ ở chính mình là do từ tâm thức não bộ báo động trước hoàn cảnh đang sống; ngờ vực và mất niềm tin. Cho nên chi con người nghệ sĩ (thi văn họa) thường khi có những trạng huống bất bình thường, có thể do từ khủng khoảng nội tại, có thể do từ khủng khoảng vật lý gây nên để rồi mất luôn bản năng kiểm soát đưa tới trạng huống tâm thần, ở trạng huống đó đã để lại trong não thức những hình ảnh, sự kiện xa rời thực tế nhưng lại thực tế đối với người nghệ sĩ mỗi khi họ muốn thành hình tác phẩm. Yếu tố sinh lý cũng ảnh hưởng và tác động vào nguồn sáng tạo; vượt khỏi tầm nhìn của những gì là bình thường. Thí dụ: người nhạc sĩ nhủ lòng trước hoàn cảnh cô độc nên nảy sinh ra ngôn từ hòa vào âm điệu để thành lời ca (vô nghĩa); thế rồi vô nghĩa đó trở nên quen thuộc và cho là sáng tạo âm nhạc (hay là hiện tượng?); rứa cho nên ý thức nhận biết trở nên vô thức ở những khoảnh khắc xẩy đến. Giao động đó phát sinh một phần sinh lý không có lối thoát. Vậy thì làm thế nào để chúng ta nghĩ đó là chất nghệ sĩ mà chỉ có người nghệ sĩ giải thích và cũng không phải thiếu điều xử thế mà trở nên đối kháng với cuộc đời mà họ va phải? Thực ra chẳng có gì để đặc vấn đề; nhưng đem lại một kết quả thê thảm buồn, đó là dữ kiện mà người nghệ sĩ phải đương đầu và sống cùng với nó. Một lý do khác; có thể hành động như thế là hiệu quả để thông thoát (consequent drain) từ những gì xẩy đến bên cạnh cuộc đời. Họ phải đấu tranh tư tưởng để vượt thoát qua hành động, dựng lên cơ sở cho sáng tạo nghệ thuật là việc tất yếu của thi nhân văn nhân và họa nhân đó là nhân tố quyết định qua việc phát triển tâm lý. Dẫn thí dụ này may ra đả thông được phần nào chức năng của người nghệ sĩ thi nhân, văn nhân và họa nhân: Ấy là điều không do Goethe tạo ra Thiện chí, nhưng; Thiện chí là cơ may tạo ra Goethe / It is not Goethe who creates Faust, but; Faust which creates Goethe (huyền thoại Đức quốc). Hoặc nói cách khác; không do Nhất linh tạo nên Tự Lực Văn Đoàn, nhưng Tự Lực Văn Đoàn là cơ hội tạo ra Nhất Linh thành danh. Rứa thì những gì gọi Thiện Chí hay Sáng tạo là biểu tượng? Mô có; đây không phải là chuyện dẫn chứng cổ tích mà đưa ra đây như một giải hóa vấn đề của người nghệ sĩ với tác phẩm, tất cả liên đới với nhau. Trong mọi tư duy; não thức đi trước thành phẩm thời có khác chi ánh sáng đi trước tiếng động là vậy đó. Nhưng sự bày tỏ chính là đứng trên lập trường cố định, tuy không mấy sáng tỏ để nhận biết và cũng chưa hẳn là sâu sắc cho một hoạt động sống động. Ở đây là một tương quan hòa hợp. Cho nên chi nói tới Faust tức nói tới Thiện chí hoặc ‘Cũng là tiếng nói Zarathustra? / Also sprach Zerathustra?’ nằm trong điển cố này. Cả hai dẫn dụ trên là hình ảnh khởi thủy / primordial image. Hình ảnh sáng tạo của những người khôn ngoan mẫn cán (wise-man); nó đánh thức trong khi mọi thứ đang chìm đắm trong cõi vô thức; đấy là vai trò người nghệ sĩ. Nhưng; ý thức cuộc đời là mô tả đặc điểm bởi những con số liên hợp bên nhau (one-sidedness) và bởi những thói tính giả dối là một một kích động vào những gì người nghệ sĩ muốn thực hiện; có thể đến trong trí tưởng dịu êm hoặc đến trong ý tưởng phản kháng, cái đó chính là nhãn quang của người nghệ sĩ và những gì mà họ dự đoán được. Đấy là phục hồi trạng thái tâm lý và cân bằng những gì của thời đại đang sống. Trong cách khác; những tác phẩm hoàn thành của người nghệ sĩ đến từ sự gặp gỡ qua nhu cầu tinh thần và hoàn cảnh xã hội mà họ đang sống, thời đây là lý do chính đáng để xây dựng tác phẩm; ấy là điều tất yếu của con người, không những là ý thức nhận biết hoặc không nhận biết. Hiện hữu trước hoàn cảnh là phương tiện cần thiết cho tác phẩm, người nghệ sĩ biết vận dụng khả năng để không thấy mình mà thấy người, tất không còn lý do gì để giải thích khác hơn mà để lại trong tác phẩm vai trò khách quan hơn vai trò chủ quan đứng ra hướng dẫn hay giải thích. Tác phẩm lớn của nghệ thuật giống như giấc mơ; bởi vì tất cả quá rõ ràng những gì trong đó, không cần phải giải thích những gì chính nó và đừng bao giờ mập mờ, thờ ơ –A great work of art is like a dream; for all its apparent obviousness it does not explain itself and is never unequivocal. Một khát vọng mơ về là đừng bao giờ nói: ‘Phải/Ought’ thế này, thế nọ hoặc ‘Đây là sự thật/This is the truth’. Nói làm chi rứa người nghệ sĩ? Mỗi khi nói như thế; thứ nhất là bắt buộc sự xác định vấn đề, thứ đến là tỏ tài hay của cái gọi là khoe khoang, là đứng ngoài vòng cương tỏa của trí tuệ, nghĩ thế giữa lúc này là não thức hỗn loạn trong một ý thức suy tàn. Hoài niệm là ý thức khơi dậy sự trở về, hoài niệm để nhắc nhở về việc làm của mình như một đánh giá sự hiện hữu thì trạng huống tâm sinh lý trở nên suy đồi vì biến mình trở thành vô thức chớ không nói đó là ý thức. Thi sĩ, văn sĩ thường gặp phải hoàn cảnh này nguyên nhân cũng do từ bản chất tự tại; nghĩa là thấy mình hơn thấy người. Trạng huống đó thuộc tâm sinh lý khống chế làm cho trí năng không có lối thoát. Rứa cho nên những người nghệ sĩ cứ một lập trường bảo thủ mà không tạo dựng cho mình một con đường mới hơn. Tác phẩm chưa làm nên giá trị mà sáng tạo làm nên giá trị. Chẳng qua chỉ là giới thiệu cái hình ảnh lập lại như phép tự nhiên của việc trồng cây mà phải nói lên cái quyết định đạt được. Thành ra ‘mơ’ hoài niệm là khát vọng chớ không bao giờ hiện thực; không chừng lập ngôn trong một vấn đề, mà xét ra không cần phải nhắc nhở. Hoài niệm là đứng lại không còn sáng tạo. Chính sự kiện đó làm bế tắt về mặt tư duy; trí năng sáng tạo không phát tiết mà chỉ phát tiết trong phạm vi hạn hẹp. Thí dụ: Có một nhà văn nọ chuyên ôn tập chuyện cũ, đam mê quá độ; quên mình đang hiện hữu trước cuộc đời, quên mình đang sống giữa tiến trình (khoa học, xã hội) mà thủ cựu trong một tri nhận lạc hướng. Bởi ý thức hệ nằm trong một dạng thức đông cứng, cục bộ (concreted) không vượt thoát ra khỏi trí năng. Cho nên chi cùi mài để tìm cái mới trong cái xưa cũ; mà thực ra cái xưa cũ đó không làm mới cuộc đời. Hạng người như thế mắc chứng tâm thần. Card Jung cho đó là trạng thái sinh lý bị lung lạc trước hoàn cảnh hiện hữu. Có bốn chức năng gây nên: tư duy (thinking) trực giác (intuition) cảm tính (sensation) và cảm xúc (feeling). Nói chung người nghệ sĩ (thi văn họa) rơi vào một trạng huống như nhau. Ngoại trừ nhà văn mắc chứng tâm thần thời lại khác. Cái khổ khác của người nghệ sĩ ngày nay trở nên xu hướng, xu thời cứ thấy người ta ca ngợi, tán dương thì hùa nhau làm như người ta làm; đứng trước hoàn cảnh người nghệ sĩ (thi sĩ) phát tiết theo trào lưu tiến trình xã hội, cảm tính đó không phải do từ cảm xúc để thành thơ; chính vì vậy mà mất nguồn cảm hứng. Họ nói lên những gì như một tha nhân không dính dáng đến sự kiện. Sự hiện diện đó mất chất người nghệ sĩ mà trở nên a tòng, đạp đuôi, một tâm thức bị bào mòn do từ sự khơi dậy của vô thức.Vô hình chung nói lên cái hời hợt vô duyên, dẫn những điều không đáng dẫn. Thành ra xây dựng trên cái vô bổ mất tính hiện thực! Còn người nghệ sĩ (hoạ sĩ) thì lại khác; bởi trực giác điều động cảm thức. Não thức và tâm lý đưa nghệ sĩ tới phác thảo hơn là sáng tạo. Sáng tạo ở đây là dựa trên chất liệu hơn là trí năng để xây dựng cho một đề tài có sẳn trong tiềm thức. Não thức đưa màu sắc hòa nhịp vào ý thức để tạo nên hình thể cho tác phẩm. Đứng trước tri nhận của người nghệ sĩ (thi văn họa) là hội nhập vào hoàn cảnh để thích nghi, làm sống lại sự kiện khơi từ tri thức nhận biết mà ra. Người họa sĩ đứng trước khung bố là do điều động của trí năng khơi dậy từ não thức để thành hình tác phẩm. Còn thi sĩ và văn sĩ thì đứng trong dữ kiện hòa nhập vào cảnh trí thiên nhiên và con người là chủ đề để tạo ra tác phẩm. Cho nên chi người nghệ sĩ cần có sáng tạo là yếu tố thành phẩm chớ không phải tác phẩm nói lên giá trị của người làm ra nó. Jung có nói câu này: ‘human being with a personal life and the impersonal; creative process!’ Hiên hữu con người với cá thể riêng tư và cái không riêng tư cuộc đời; đó là tiến trình sáng tạo!Thế nhưng; chúng ta phải hiểu một cách tự nhiên về những kinh nghiệm của người nghệ sĩ. Chúng ta thấy được những gì họ đã vẽ lên như đã một lần chưa hàn gắn được hoặc khôi phục trở lại do từ tâm lý chưa hợp nhất. Sự cố như thế nằm dưới dạng thức nhận biết của sự việc, ý thức sự cách ly của hoàn cảnh trong đó nhận ra sai lầm và nỗi đau chất chứa; chính sự cố đó đâm thủng vào khuôn phép của cuộc đời mà trong đó con người đã gán ép, buộc phải hay góp phần cho một nhịp điệu hiện hữu để đi vào đời; lắm lúc cuộc đời không phải đẹp như ý mình cho nên chi có một vài tác phẩm nói lên cái bi thảm cuộc đời. Đọc lại những gì Dostoevsky và Kafka thời cho chúng ta một tri nhận cảm thông; ít nhiều cảm thức chất chứa trong tâm hồn của người viết…đã làm sáng tỏ vấn đề.

Nói rút lại; thâm cung sáng tạo của người nghệ sĩ và những gì có hiệu năng là sự thật thể hiện của nghệ thuật; cái đó là khám phá trong sự trở về có từ trạng huống bí truyền; là định mức của kinh nghiệm (nhiều, ít) ở cái thời điểm mà con người dự cuộc trong đời, sự cớ này không có tính chất riêng biệt, cũng không hạnh phúc hay đau khổ cho một đối tượng đơn độc như đã tìm thấy; duy chỉ có sự hiện hữu của con người là tồn lưu, tồn lại không còn cái thứ tồn loạt của một số nghệ sĩ đã đi ngược với trào lưu mà trong đó có cả đạo đức, luân lý đi theo trong tinh thần sáng tạo mới.Tồn loạt có nghĩa là toa rập, a tòng, học đòi thói đời thời đâu còn gọi là sáng tạo. Vì đây là điều tại sao tác phẩm lớn của nghệ thuật là đi từ tư duy não thức (objective) và không cá nhân tính (impersonal). Và; đây cũng là điều tại sao cuộc đời riêng tư của nghệ sĩ không thể cầm giữ một cách cần thiết trong những gì của họ. Nhưng; hầu như đây là một động lực thúc đẩy giúp cho người nghệ sĩ nhận ra mình trong công việc sáng tác với một chất lượng sáng tạo cao là đáng kể. Chính sự lý đó là cơ bản phát xuất từ tri nhận ở não thức để làm mới cuộc đời nhất là trong lãnh vực nghệ thuật mà con người phải đương đầu và thu tập.

18/11/2015

Võ Công Liêm

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Hư vô qua tư duy triết học

Hư vô qua tư duy triết học

Theo Turgeniev* nhà tư tưởng ngữ văn Nga; thì từ ngữ ’Hư Vô’ đến như một kiểu thức trang phục thời thượng (vogue) một tên gọi cho một ý tưởng phát ra từ những gì thuộc tri giác mà chúng ta cảm nhận được, sự lý đó chỉ hiện hữu mỗi khi ta nhận thức triệt để với một kinh nghiệm tự chính nó mà ra, không còn cách nào lý giải hơn nữa. Ấy là sự thật và hiện hữu. Tuy nhiên, dù dựa trên bất cứ nền tảng nào của tập quán, khả năng hoặc bất luận là gì để xác định cụ thể giá trị của nó và không thể có tính tiêu cực để phủ nhận. Thông thường được coi là ’thực nghiệm chủ nghĩa’, một chỉ định từ về quan điểm cho một từ ngữ mang nặng chất liệu trừu tựng và siêu hình.

Đối với Nietzsche, hư vô như danh xưng dành cho một chuyển động có tính lịch sử, ấy là điều Nietzsche thừa nhận và sẳn sàng thực hiện như những thế kỷ trước đây,  đồng thời làm sáng tỏ cho một tương lai sắp tới; tất cả những chuyển hướng nầy là cần thiết, lợi ích; đó là một tổng hợp đầy đủ trong một câu văn ngắn gọn: ”Thượng đế đã chết”. Có nghĩa rằng ’Thiên Chúa / Christian God’ đã mất hết toàn năng, toàn trí, toàn lực của hiện hữu và không còn chức năng phán quyết của một đấng tối cao. Thiên Chúa chỉ được coi như ’ đấng siêu nhiên’ trong một ý nghĩa tổng quát khác nhưng trọn nghĩa hơn – cho ’tư duy’ và ’mẫu mực’; ’chính yếu’ và  ’giá trị vô cùng’, những thứ liệt kê trên đều là hiện hữu...’

”God is dead”. That is to say, the ’Christian God’ also stands for the ’transcendend’ in general in its various meanings – for ’ideals’ and ’norms’, ’principals’ and ’ends’ and ’values’ which are set above the being…”

Hư vô chủ nghĩa / Nihilism là một tiến trình thuộc về lịch sử bằng bất cứ khi nào, một ưu thế lợi hại dành cho ‘đấng siêu-nhiên’ để rồi trở nên vô hiệu hóa và tránh xa tầm nhìn về một ‘Thượng đế’; như vậy những gì hiện hữu đều mất hết, sự sùng bái, thờ phượng, giáo điều đều không còn nữa. Hư Vô  tự nó đã trở nên hiện hữu; xuyên qua những gì về cái chết của Thiên Chúa. Điều đó như chống lại nhưng không thể cản trở con đường sáng. Thượng đế ở đây sẽ được tiếp nối, lưu truyền với niềm tin và điều đó đưa tới một thiên đường có thực, hiệu năng và một xác thực cụ thể. Đối với Nietzsche hư vô chủ nghĩa không phải là đường lối cho một vài quan điểm ‘để hướng tới’ cho mọi người, cũng không những xem đây là một lối xử thế có tính cách lịch sử tôn giáo mà ‘ban phép’ với nhiều ý nghĩa khác nhau. Hư vô, nói đúng ra là một diễn trình lâu dài nói lên hiện hữu của sự thật, tất cả là cần thiết đã một thời coi hư vô là ‘siêu hình’. Nhưng rồi siêu hình không có nghĩa là giai đoạn ngưng nghỉ của lịch sử. Dữ kiện nầy là bước bắt đầu với một cái nhìn quan tâm đúng đắng; với dữ kiện đó như là ‘biến cố’: Thượng-Đế-Đã-Chết là bằng chứng cụ thể, bởi Thượng đế với con người không còn một liên lạc gần gũi. Thượng đế rút vào hư vô. Bỏ lại trần gian! Nhận thức của Nietzsche hiểu như một triết thuyết, như lời bắt đầu giới thiệu đến những thế hệ về sau với một tuổi đời mới hơn.

Hư vô là một sự thật chính yếu được gia tăng và nẩy nở, tất cả thứ đó là thời kỳ đưa tới cứu cánh của hiện sinh để trở thành một cái gì vượt lên trên mọi điều. Hư vô tự thân nó là một cái gì hoàn toàn tự do và một chức năng xác thực cho một giá trị mới.

Nihilism is the increasingly dominant truth that all prior aims of being have become superflours…nihilism has also perfected itself for the free and genuine task of a ‘new valuation’. Nietzsche thường nhấn mạnh: ‘hãy nâng cao giá trị để mọi thứ có giá trị cho tới ngày nay’ (revaluation of all values hitherto). Nhưng ở đây Nietzsche muốn ‘nâng cao giá trị’ khắp mọi nơi có nghĩa là giá trị trước đây sẽ không còn nữa, nó biến vào hư không, chứ không nằm trong cái ‘hư vô’ vô cùng. Ngụ ý rằng cõi như nhiên là một giá rị trực diện với con người và cũng làm sáng tỏ cần thiết cho một giá trị hóa thể như thế. Cái đó được coi là nâng cao giá trị hiện hữu, cho nên với siêu hình nó trở thành giá trị cho một tư duy và bôi xóa những tàn tích trước đây.

Giữa lúc nầy; trở đi trở lại cái bất tận của sự khẩn cầu, một diễn giải sắc bén của cái thứ ‘hư vô cổ điển’ tạo ra, mà tất thảy những thứ đó tuyệt đối xóa bỏ từ đầu tới cuối, từ trên xuống dưới kể cả sự hiện hữu ở cõi ngoài kia. Hư vô là thế đó; cụm từ  ‘Thượng đế đã chết’ chỉ gợi ý một sự bất khả tư nghị không những cho những người Thiên Chúa giáo nhưng vì chứa đựng một yếu tố cao siêu vô tưởng, mà những thứ đó làm cho con người muốn tìm nơi an trú vào những gì tự có của nó. Bởi vì; cao siêu diệu vợi, cõi ngoài kia, thiên đường như cảnh trí tiêu tan, xoá bỏ, chỉ còn lại một duy nhất của tồn lưu vũ trụ.

Với hư vô; như đã nói là hết mình là nâng cao giá trị của tất cả thời kỳ, giá trị nầy ở cùng một thực tại hiện hữu như thể một năng lực trong một ánh sáng được tái xuất nhiều lần. Điều ấy trở nên một vị trí cần thiết, một giá trị tuyệt đối cho nhân loại.

Trong 5 đề mục chính của hư vô chúng ta cần quan tâm: -những gì thuộc về hư vô,   -nâng cao giá trị của tất cả giá trị để mọi thứ có giá trị cho tới ngày nay.-sẽ là năng lực.-tái xuất nhiều lần trong cùng một thể thức.-và vượt qua mọi giới hạn con người.

Mỗi một thứ kể trên là một diễn tả hình ảnh siêu hình của Nietzsche, đi từ một viễn cảnh dù cho dưới dạng thức nào thì viễn cảnh đó là một xác định cụ thể cho tất cả. Vì thế siêu hình của Nietzsche là một chiếm cứ chỉ khi nào cái gì đã được danh xưng trong năm cái tiêu đề đưa ra thì có thể là một đắn đo suy diễn – cái đó là kinh nghiệm cần thiết – trong bước khởi đầu và những gì trước đây đã liên kết bằng một gợi ý đơn thuần. Thus Nietzsche’s metaphysics is grasped only when what is named in these five headings can be thought- that is, essentially experienced-in its primordial and heretofore merely intimated conjunction.

Nhu cầu cần thiết là phải có cái nhìn vào tư duy về thể chất của hư vô một cách mạch lạc; về cái sự ‘nâng cao giá trị của tất cả giá trị’ ‘sẽ là năng lực’ ‘tái xuất nhiều lần trong cùng một thể thức’ và ‘vượt qua mọi giới hạn của con người’ và từ đó hãy cho chúng ta một dự đoán bén nhạy, cái đó chính là thể chất của hư vô là những gì tự nó có lợi ích, nhiều sự khác biệt và nhiều đẳng cấp khác nhau. Tuy nhiên hư vô chủ nghĩa cho phép chúng ta áp dụng vào mọi trường hợp, vào mọi tình huống. Nhưng chúng ta cũng có thể có đầy đủ kinh nghiệm của những gì đã trở thành danh tính như lời thốt trong cảm thức của Nietzsche. ‘Thượng đế đã chết’ điều nầy không còn xa lạ, bởi tự nó đã trở thành một cái gì thuộc hư vô cổ điển (classical nihilism), để rồi; tự nó phô bày như một sự việc hoàn tất của chủ nghĩa hư vô. Bằng những suy luận chính nó, miễn trừ từ những suy luận cần thiết, điều đó cấu tạo ra thể chất của nó: trống rỗng/nihil là cái đi tới Không/Nothing – như là tấm khăn mỏng che đậy một cái gì của vải thưa che mắt thánh, cái đó chính là bưng bít sự thật của tồn lưu hiện hữu. Cho nên chi phải hiểu hư vô chủ nghĩa là nền tảng (ground) cho một hư vô; những sự cớ như thế Nietzsche đã nói hết trong tác phẩm ‘Ao ước Năng lực’(The Will to Power). Một đối kháng giữa hiện hữu (being) và trống không (nothing) để đi tới sự sinh sôi nẩy nở, ấy là bước hướng tới qua mọi thể thức thuộc về hư vô. Sau khi đối diện với 5 đề mục nêu trên, thời tất cả là ‘trống rỗng/nihil/nothing’, thời tất cả là thể chất của VÔ tức là KHÔNG? -The Ought-is it nothing?-. Bởi tự nó là vô nghĩa -by no means-.Hư vô giờ đây là một đơn vị độc lập, tách rời mọi thế giới bên ngoài để hòa nhập vào vũ trụ giới, đó là hoài bão của Nietzsch giữa hư vô và hiện hữu như tiếng nói trung thực giữa người và thượng đế mà giờ đây thượng đế trở thành hư vô có nghĩa là không hiện hữu mà chỉ có như nhiên là hiện hữu. Một hiện hữu hư vô khác với hiện hữu ‘hư vô cổ điển’.

Hư vô được nhìn như một tiên đoán. Đối với Nietzsche  không bao giờ nghĩ để loại trừ trong nhiệm kỳ của một điều gì có tánh che đậy, bưng bít để trở nên, cũng không hùa hay theo lệnh để tán tụng, ngợi ca; vì đối với Nietzsche cho đó là hành động hèn hạ, bẩn thỉu và một diện mạo toan tính; cái đó chính là sự lừa dối che đậy, một tư duy tôi lỗi (apocalypse) có thể đây là giả thuyết cuối cùng, nhưng trong qui trình đó là tránh xa và chuyển thể trong một ý thức phục hồi. Nietzsche ý thức hư vô là gì cho một thực nghiệm như là một sự kiện thuộc chẩn y viện mà ra.

‘Nietzsche never thought except in terms of an apocalypse to come, not inorder to extol it, for he guessed the sordid and calculating aspect that this apocalypse would finally assume, but in order to avoid it and to transform it into a renaissance. He recognized nihilism for what it was and examined it like a clinical fact’. (A. Camus).

Nietzsche tự chẩn bệnh lấy mình., nói cách khác, ông ta bất tín và mất hút vào nền tảng ban sơ của tất cả niềm tin -cụ thể là niềm tin cuộc đời. “Người ta có thể sống như một phản kháng?” ‘Can one live as a rebel?’ (A. Camus) Hay là : “Người ta có thể sống, niềm tin là cõi không?” ‘ Can one live, believing in nothing?’ (F. Nietzsche) Lời nhận định trên như quả quyết, như thách đố tin hay không tin một thượng đế như ta nghĩ. Vâng; nếu con người tạo ra không nằm trong vị trí của niềm tin, nếu con người chấp nhận một hậu qủa bi thương của hư vô, và nếu; như hiện hữu giữa sa mạc và đặc người ta vào một giải bày tâm trạng trong một điều kiện nào đó thì con người sẽ cảm nhận được thuở ban sơ, sự đau đớn và hân hoan như một bản năng tự nhiên…

Điều chắc chắn rằng không còn gì để nghi ngờ triết thuyết của Nietzsche, ông xoáy quanh vào  vấn đề phản kháng. Với nhiều lý lẽ chính xác ; bắt đầu bởi hiện hữu của phản kháng. Nhưng chúng ta sẽ có những cảm thức khác nhau qua từng vị trí vai trò mà Nietzsche dựng nên. Với Nietzsche, phản kháng bắt nguồn bởi tiếng thốt: ‘Thượng đế đã chết’ tợ như tiếng thốt của Zarathustra vào cõi vô biên. ‘Tiếng ‘thốt/spake’ đó chính là tiếng nói của khước từ, vừa là tiếng nói của phản kháng’ (Camus). Lý lẽ đó như một giả thuyết, một dữ kiện cấu thành; rồi từ đó đưa tới phản kháng, đó là mấu chốt cho mọi thứ, mấu chốt tạo nên cứu cánh; ở một vị trí sai lầm khác đã làm mất đi thánh hóa (deity), làm hư hại cái thế giới hư vô, mà những gì Nietzsche đã nói tới với lòng ngay, cốt chỉ để lại những gì còn lại như cung cấp một nền tảng (proving-ground) cơ bản dành cho thượng đế mà thôi. Nietzsche thốt vì ông không còn tin tưởng ở mọi thứ vì tất thảy mọi thứ là vô nghĩa, đều là phi lý, nhưng không thể hoài nghi cả tiếng thốt như lời thét của mình.

Je crie que je ne crois à rien et que tout est absurde, mais je ne puis douter de mon cri. (Metaphysical rebellion/ The rebel/ L’Homme Révolté. A. Camus))

Ý niệm nầy chắc chắn đưa tới sự ‘phản đề’ đối với tín hữu Thiên Chúa giáo. Ở đây Nietzsche không đưa ra một thể thức hay đề án ‘giết Thượng đế’. Ông cho cái sự ‘đã chết’ là đúng với linh hồn của đồng sinh, đồng tử, một cái gì đúng lúc, đúng thời, chớ không phải thượng đế là không chết. Thượng đế trở nên vô tư, tức đã chết; đâu còn linh ứng để mà cầu xin, lúc xưa cũng như lúc nầy thượng đế đi vào hư vô, vào cõi như nhiên mà chỉ còn lại trong ta một ‘nihi/nothingness/trống không’ tức thừa nhận hiện hữu của thượng đế bằng ý niệm hư vô. Chất chứa một nội tại phản kháng không thể xóa trong ý thức : nó nằm lịm trong trạng thái khẩn trương và không dứt để rồi đi tới tiếng thốt như đi vào với hư vô, đồng loã với hư vô hai trạng thái phản kháng trùng phùng giữa Nietzsche và Camus; họ gặp nhau trong hư vô thuyết. Giữa chối bỏ và phản kháng là một. Như vậy Nietzsche không nói gì trong triết học một cách rõ ràng về phản kháng nhưng đã thiết kế một triết thuyết về phản kháng. ngược lại Camus đem phản kháng vào trong tác phẩm của mình là phản kháng trực diện, một ý thức phản kháng triết học; bao hàm trong một chủ nghĩa hư vô. Với Heidegger, Nitzsche, Camus đưa chủ nghĩa hư vô vào một phản kháng nội tại, thứ phản kháng của con người, một lối phản kháng siêu hình: bởi đau khổ mà con người gánh chịu chính là đau khổ có thật và chẳng ai tôi lỗi cả, nhưng vô tội chưa hẳn là hiện hữu sống.Tinh thần phản kháng siêu hình hay phản kháng hư vô hai yếu tính nầy nằm trong chối từ, không có cứu rỗi hay tế độ, ban ơn, do đó mong muốn một tuyệt đối của tồn lưu. La révolte veut tout, ou ne veut rien. Phản kháng muốn tất thảy muốn hoặc chối từ không muốn dù là hư vô vẫn là ‘hư vô phản kháng’. Christ vẫn có một đòi hỏi của hư vô phản kháng…

Tóm lại, cuộc đời đang sống như đã nói là một phản kháng, một chối bỏ, phủ nhận mà trong mỗi thứ đều hoài nghi sợ hãi, run rẩy, ‘run như run thần tử thấy long nhan’ (HMT)* một tai họa giáng xuống, một thể loại gần như thuộc về sinh vật học thường xẩy ra bên trong của con người. để rồi vượt qua đấng tôn thờ như chạy vào một cái gì tầm thường với một năng lực mong muốn mà thực ra đó là một nhầm lẫn, một thu nạp trong danh nghĩa ‘phản lại cái méo mó nửa vời’(anti-semitic deformity) những thứ đó Nietzsche không thể chấm hết để trút vào đó như một miệt thị hay chối bỏ thượng đế, mà xem đây là cảnh giác giữa thượng đế với con người. Chắc chắn rằng phản kháng, phản kháng siêu hình hay phản kháng hư vô có thể là một chối từ và rồi Nietzsche ‘thốt’ lên lời tuyệt vọng cùng thời của ông  «Lương tri tôi và cả chính bạn không còn lâu dài như một ý thức lương tri» (My conscience and yours are no longer the same conscience). Lời nói: ’Thượng đế đã chết’ đã đi vào hư vô hay hiện hữu? đó là một triết lý của Nietzsche và con người đang đối diện với thượng đế!.

12/3/2017

Võ Công Liêm

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Cái tình trong ca dao Việt Nam

Cái tình trong ca dao Việt Nam

Ca dao là tiếng nói trung thực,phản ảnh rõ nét nhất trong văn chương bình dân, được miêu tả sự việc xẩy ra hằng ngày giữa cuộc đời và trở thành những câu hò, điệu hát của nhân gian như những bản tình ca bất diệt, đượm màu thế tục;tình yêu,tình đời với một ẩn dụ tự nhiên làm cho người ca ngâm cũng như người nghe có một cảm nhận gần gủi,tuyệt vời.Ca dao còn hóa giải mọi tình huống uẩn khúc,lời ca ấy làm cho con người không còn cảm thấy đau khổ nữa “L’homme souffre,mais en chantan sa souffrace,il la dépasse”.

 

Vì vậy; nói đến văn chương bình dân chúng ta không thể quên thi ca bình dân mà ca dao nắm một vai trò chủ lực và những thể loại quen thuộc, không ước lệ,không qui cách,tuy nhiên lời thơ của ca dao vẫn giữ đúng vần điệu có khi rất chuẩn về luật bằng trắc nhờ đó mà dể đả thông tư tưởng, trực chỉ vào lòng người một cách sâu lắng.

 

Ca dao là ca hát,tự nó trở thành khúc đi thẳng vào lòng và bày tỏ được nội giới dù dưới một không gian hay thời gian nào ngoài ra ca dao còn là gia-huấn-ca,một tâm lý đạo đức,dạy làm người…đôi khi văn thơ phải mượn ngôn từ của ca dao để nói lên cái tình người,tình đời một cách chính xác hơn.

 

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

giáo dục con trẻ khi mới lớn:

Trai thời trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh làm câu giao tình

hoặc một ý nghĩa thâm sâu khác:

Cá không ăn muối cá ương

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư

 

Những câu ca dao lục bát như thế ắt phải nằm sẳn trên môi của mọi người một cách dể dàng và thông đạt lắm!

 

Đó là cái nhìn nội giới trong ca dao mà  mỗi khi chúng ta phóng vào hiện tượng; đó là bản thể của “cái tình” trong ca dao.Tuy mỗi câu hò điệu hát có khác nhau nhưng cái nhìn của tình yêu vẫn là một và cái gặp gỡ đó,nói chung; là cái đồng tình bất biến của con người.Sự gặp gỡ chính nơi lòng ý thức,nơi thức tỉnh của ý thức trước những hiện hữu đời và gia đình hay chính là nơi những gì mà con người kêu lên thiết tha hay để bộc lộ sự thống khổ.Hình ảnh của thi ca nói chung và của ca dao Việt Nam nói riêng là tiếng kêu thức tỉnh của con người tạo nên, dùng để ví von của người dân quê trước cuộc đời.Mà cuộc đời này; con người đã gắng bó chặt chẽ trong mọi hoàn cảnh trong mọi tình huống của đời người,từ những tình cảm của cái tình đó đã nói lên được một cái gì âu yếm và thầm kín.

 

Anh đi ba bửa nhớ về

Rừng sâu nước độc chớ hề ở lâu

 

Hình ảnh “anh đi ba bửa”rồi”chớ hề ở lâu” nó biến ca dao thành thi ca,từ những hiện tượng thực thể biến thành tha thể xuất phát từ ngoại giới đi vào nội giới giữa mối liên hệ tha nhân và chủ thể nó cặp kè,sánh vai trong hoàn cảnh đối đáp để nên vợ nên chồng,ca dao không còn hiện diện với ca với hát  mà biến dạng thành hò,câu hò trực diện với thực tại như một sự hiến dâng!

 

Trai nào nỗi tiếng anh hào

Anh mà đối đặng má đào em xin trao ơ…ơ

 

Cái vũ trụ mộng mơ ấy hoàn toàn ở trong đôi mắt chiêm ngưỡng của con người khi phóng cái nhìn vào tương lai giữa sự viên mãn của tình yêu.Vũ trụ này chưa hiện thực rốt ráo nhưng đã xuất phát một ước vọng thực hữu.Hình ảnh cuộc đời không bị tha hóa mà bắt nguồn từ vũ trụ thực hữu;vì vũ trụ ấy có thực trong cuộc đời này.

 

Trai nước Việt nỗi tiếng anh hào

Anh đà đối đặng vậy má đào xin trao dâng ơ…ơ

 

Hẳn nhiên; ý thức giữa trai gái rất đặc thù trong phạm vi lứa đôi,nói trắng ra là tình yêu qua mọi lứa tuổi, đặc biệt tình yêu nông thôn, ý thức ấy bừng lên từ cuộc sống và chiếu sáng cuộc sống đó là lối tả chân mà cảnh đời không có hoặc chưa có nên chi vũ trụ dự ước của con người cũng là những cảnh đời có thực mà được phóng nhiệm  lên cảnh đời có thực trong ca dao.Cho nên ca dao phát ra giữa chốn đồng quê,giữa nơi xa phố thị tự nó dâng tràn trong nhân gian,vì thế tìm đến một tác giả trong ca dao đều trở nên không cần thiết và có muốn biết chăng nữa cũng không được vì mọi người đã đi vào cảnh đời một cách tự nhiên và tự nhiên như mình là tác giả vậy! Nó vượt thoát cả không gian và thời gian kể cả hiện tại,quá khứ và tương lai,vượt thoát từ những người sáng tạo ra ca dao,ca dao bỗng nhiên độc lập để tạo cái đắm đuối,rụt rè,e lệ nhưng đầy tính lãng mạng cho dù mối tình chân lấm tay bùn.

 

Ngó em chẳng dám ngó lâu

Ngó qua một chút đở sầu mà thôi!

 

Cái ngó ấy là cái ngó thức tỉnh,một cái ngó của kẻ tình si và cũng là cái nhìn mơ mộng của người đồng quê đứng trước cuộc đời có thực.Chính đó là sự sáng tạo của ca dao.Nói đến mơ mộng hình như chúng ta đụng phải một phản ứng tâm lý.Theo tâm lý học giài thích: khi mơ mộng thì đó không phải là một trạng thái thức tỉnh.Tâm lý học quan niệm như thế nầy”En suivant la pente de la reverie”Tiếp đó là cái mơ về của ý thức thức tỉnh “đở sầu” nằm trong ý thức mơ về (rêver à/daydreaming)mà ở đây mơ không có nghĩa là buông xả theo giòng đời và chìm dần trong mộng để rồi mất luôn tính sáng tạo nghệ thuật vì ý thức thức tỉnh thường đối lập với ý thức thức tỉnh nghệ thuật và làm lu mờ ý thức mơ về cho dù trong chiêm bao chăng nữa đã cho thấy một ý thức thức tỉnh.

 

Một duyên, hai nợ, ba tình

Chiêm bao lẫn quất bên mình năm canh

 

Thành ra mơ chiêm bao ở đây là cái nhìn sáng tỏ của cái mơ về giữa duyên,nợ và tình đã bừng lên trong ý thức về thân phận của người phụ nữ.

 

Mơ về hay chiêm bao không còn là mối sầu buông xuôi của tâm lý học mà trái lại mơ và chiêm để phóng thể ngôn từ”bên mình năm canh”trong giấc mơ nữa đêm trở nên ý thức chớ không phải chiêm bao vô thức.

Trong cái nhìn vũ trụ quan như thế đã cho ta thấy được ca dao là một lối sáng tạo hết sức đặc biệt mà chất liệu là cảnh đời,cô đọng trong từng câu hò điệu hát mượn từ ca dao để mơ về…

 

Ca dao không đòi hỏi tác giả là ai,nó đã trở thành của chung,tác giả chung giữa cuộc đời này mà trong thi ca vốn có sự bừng tĩnh đầy sáng tạo,ca dao đại diện cho những cuộc tình trọn vẹn hay tan hợp,nói lên nỗi nghẹn ngào,uất nghẹn tất cả qui về sự mơ về cõi thực để tìm thấy được chân lý của cuộc đời.Giờ đây ngôn từ sáng tạo của ca dao đã thành thơ,những thể thơ mới như ngày nay.

 

Cá lý ngư sầu tư biếng lội

Chim phượng hoàng nhớ cội biếng bay

Anh thương em đừng vội nắm tay

Miệng thế gian ngôn dực

Phụ mẫu hay sẽ rầy

 

Ca dao như thế đấy! mỗi khi đọc lên đã cho chúng ta cái cảm giác tợ như ức chế,như phụ rẫy như khoa phân tâm học quan niệm.Lối thoát bằng ức chế chỉ xẩy ra với cảnh đời,những người bị tập quán kiềm chế mới lâm vào khát vọng của bản năng cho nên mới tìm lối thoát bằng lối này hay hình thái khác để tránh né.Quan điểm đó đôi khi cũng có tính võ đoán và không hoàn toàn đúng hẳn,cho nên đừng để cái nhìn ức chế vào đây.Vì sao? Vì “anh thương em” có nghĩa là đừng vội đánh mất cái đẹp mà đây là tiếng nói mặn mà,bất luận ở đâu nơi chốn nào người phụ nữ Việt Nam đoan trang trong tiếng nói ấy tức tiếng nói của ca dao,tiếng nói soi sáng,tiếng nói của ái tình.

 

Em có thương anh

Em nói cho thiệt tình

Để anh lên xuống

Ơ…ơ chớ một ơ…ơ mình ơ bơ vơ

 

Đó là một thứ gì vô biên chân thật của tình đồng quê một bày tỏ cao nhất trong đời nhưng biết nói làm sao khi ý thức vô biên chưa có thì nói làm sao  khi cái nhìn tuyệt đối chỉ ngưng trong hiện tượng của đất trời cho nên họ không ngần ngại bộc bạch một cách chân tình cho dù ngập ngừng bày tỏ “ơ.. ơ chớ một ơ.. ơ mình ơ..bơ vơ” Ca dao nông thôn nó diễn tả tích cực như thế đó!diễn tả cái mùi vị chất phát mặn mà, đượm bạc,cái ngập ngừng dể yêu ấy.

 

Đó là hướng đi lên của ngôn từ ca  dao Việt Nam thoát ra  từ tiếng nói văn chương bình dân để đạt tới hiệu năng của sự bày tỏ.Cho nên hình ảnh của ca dao;dù sao đi nữa nó vẫn có cái mới của riêng mình,mở ra một ngôn từ sáng lạn và nó cũng đánh dấu những bước thăng trầm của sức diễn đạt giữa người với người,những hình ảnh của ca dao vô hình chung trở nên tư liệu của cảnh đời:người,cảnh vật,nhân sinh và tình yêu.Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng nhờ ý thức chuyển vị đẹp đẻ đó của con người cuộc đời trở nên tươi đẹp hơn “the beautiful-life”nhờ đó tình cảm con người được tỏa rạng.Cho nên khi bắt gặp một hình tượng trong ca dao,dù có mộc mạc bao nhiêu cũng mở rộng cho chúng ta một chân trời mới đầy ý nghĩa hơn nhất là tình yêu có một sắc màu luôn luôn lung linh của người con gái xuân thì dưới một cái gì lả lướt của ca dao.Ngôn ngữ ca dao rất cô đọng và tràn đầy.

 

Tóc em dài em cài bông hoa lý

Miệng em cười anh để ý anh thương

 

Ý nghĩa của ca dao là ở cái chỗ mộc mạc đơn sơ nhưng lại là một sự thức tỉnh nội tại,một sự khám phá của con người vừa hào hứng vừa can đảm mà chúng ta phải đón nhận như chính chúng ta đón nhận cuộc đời này. Đó là cái nhìn khám phá:

- Khám phá nội tâm bằng cái nhìn ngoại giới.

- Khám phá ngoại giới bằng cái nhìn nội tâm.

 

Chính hai cái nhìn tuy nghịch đảo nhưng bổ sung cho nhau để nhìn thấy giấc mơ của người nghệ sĩ ca dao. Đó là một vũ trụ hiện thực để góp phần hạnh phúc cho đời.

 

Cho nên cái mộc mạc của nông thôn đã làm cho họ cảm thấy hạnh phúc,sung sướng và mỗi câu ca dao nói lên cảnh đời;dù trong mơ vẫn trung thực với đời.Vì vậy cái nhìn của họ như bao trùm từ ngoại giới đến nội giới đều đúc kết thành lời thơ,lời thơ đó chúng ta gọi là ca dao.

 

Nàng về nàng nhớ ta chăng

Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười

 

Mỗi lúc cái nhìn hay cái nhớ càng phóng ra rộng rãi, càng thấy cuộc đời đẹp và bao la diệu vợi,kể cả nụ cười nhe răng”cần cẩu” vẫn là niềm nhớ không quên,bởi vì; chán gì những cái nhớ mà lại đi nhớ hàm răng em cười,biết đâu trong cái nhớ đó có một chút gì lãng mãn của ca dao(?),tầm thường thật nhưng bao la và mênh mông vô cùng đối với ngôn từ của ca dao.

 

Thật ra đi vào cuộc đời, đi vào vũ trụ không dể dàng như thế mà chính là một sự khám phá không ngừng.Trong sự khám phá ấy,con người bắt gặp vừa mình vừa vũ trụ một lối khám phá tìm ra được hai hiện tượng. Đối tượng của sự tìm gặp chính là khám phá cái nội giới mà ca dao lãnh một phần trách nhiệm trong ngôn từ(kể cả đối thoại) và ý nghĩa.Nhưng trong hai tượng ấy người ta có thể phân biệt được;

-    Bản ngã tự tại

-    Vô ngã vũ trụ

 

Những cái vô ngã vũ trụ được hữu ngã hoá cho nên cái bản ngã tự tại ngay phút đầu đã trở thành cái vô ngã của bản ngã. Đó là sự cố đã khua động bản ngã của con người để sáng tạo và giúp cho con người thực hiện câu thơ để chia xẻ với tha nhân;con người đã nhìn cái đẹp một cách siêu thoát đó là cái vô ngã được hữu ngã hoá nhờ cái nhìn của bản ngã từ “một thương cho tới mười thương” là đề cao cái đẹp phong phú vừa cao đẹp vừa thẩm mỹ học và chính cái tôi bày tỏ lại đứng sau và được hữu ngã hoá vũ trụ để làm tan biến ngoại giới mà trở về với bản ngã mà không có cái tôi trong đó .

 

Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lúm đồng tiền

Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua

Năm thương cổ yếm đeo bùa

Sáu thương nón thượng quai thao dịu dàng

Bảy thương nét ở khôn ngoan

Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh

Chín thương em ở một mình

Mười thương con mắt đưa tình với anh

 

Do đấy con người của ca dao là con người của cuộc đời,của vũ trụ chớ không phải con người chỉ là con người như một ý thức bi đát về người.Lối về của vũ trụ đã chiếm cứ hiện tượng bằng bản ngã của mình,chính là lối đi về của tình thương,cái tình mà con người tìm thấy;tất cả ca dao là ở chỗ ấy và có thể nói ca dao có hai bề mặt là bản ngã và vô ngã cả hai mảng nầy dùng để xoa dịu những xót thương hay thương mong về tình cảnh khi con người mới dấn thân vào đời và vũ trụ.Bởi vì tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức được.

 

Từ những vị trí đó giấc mơ về vũ trụ giúp cho con người thoát được thời gian,không còn thấy sự lôi cuốn của thời gian.Từ bản thể nhìn ra đó là trạng thái của tâm thức và ca dao mở rộng trước mắt ta bằng hiện tượng của trạng thái tâm hồn.

 

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chít chìu

 

Tất cả là biểu tượng để biểu dương trạng thái mơ về(Rêve a/daydreaming) đó là trạng thái thắc mắc về nhớ thương. Đấy là tâm hồn hiến dâng cho vũ trụ “chiều chiều” là  thời gian thuộc khách thể,trong cái đau đớn “ruột đau”là thế giới của nội tại.Với ca dao những ngôn từ thường chứa đựng một nội dung mới của từ ngữ đều qui định một tâm thức trước cuộc đời và vũ trụ.

 

Mọi sự vật đều hướng tới với con người và đó là cơ hội để người nghệ sĩ đưa vào ca dao những khát vọng yêu đương một khát vọng đầy hứa hẹn,như cuộc tình hay cuộc đời mong muốn.

 

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

Đèn Mỹ Tho ngọn đỏ ngọn lu

Anh về học lấy chữ nhu

Chín trăng em đợi mười thu em chờ

 

Đó là hiện thực của sự bày tỏ về cảnh giới giữa thành thị với nông thôn và ngôn từ của cuộc sống đã lý giải cái tâm sự tha thiết và chân thật của người yêu,chân thật ở cái chỗ ẩn dụ đó.Người nghệ sĩ bình dân sắp xếp ngôn từ trong thơ để có cái nhìn sự vật và chính cái nhìn đó thoát ra một số tâm lý của con người và chính cái tầm thường đó chẳng hạn như “râu tôm”hay”ruột bầu” ở những nơi thôn dã đìu hiu được người nghệ sĩ cho sống lại cái tình chân đó như một đòi hỏi cần thiết mà nghe rất bình dị của lớp người muôn đời trong ao tù nước đọng.Ca dao bình dân nói lên được cái khát vọng đó mà nhà thơ bình dân của chúng ta hoà nhập một cách tài tình giữa vũ trụ đầy khát vọng tình người.

 

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

 

Đọc lên ta cảm nhận được phần nào lẽ sống,một lẽ sống nồng đượm của tình yêu khát khao đi từ chủ thể con người đến cuộc đời.Ca dao diễn đạt được cái mối giây liên lạc ấy.Mối giây đó không phải hai chiều giữa người và sự vật.Vũ trụ khát vọng của ca dao là hình ảnh cuộc đời mà con người mơ về một cái gì tầm thường nhưng ước sống.Ca dao tạo được cảnh giới mơ về cho những người thành thị và những người xa tầm vóc bình thường.Ngay cả việc mơ về của tình yêu trong cái dung dị đó nó đã hàm chứa một tương lai,một lối đi về của cuộc đời.Mơ về ở đây là cuộc đời có thực chính đấy là phần ý nghĩa hiện hữu của con người.Ca dao tạo nên những giấc mơ hiện thực như vậy đó; cho nên cuộc đời mà ca dao vốn có ý nghĩa và sống có ý nghĩa để đưa tới cảnh đời hiện thực.

 

Trầu vàng ăn với cau xanh

Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời

 

Cho nên văn chương bình dân thường nói lên tâm trạng khát vọng đôi khi nó pha lẫn màu sắc triết lý tiềm ẩn trong ca dao,nó có cái gì mầu nhiệm trong cuộc đời tình ái, đầy bí ẩn trong cái nhìn ẩn dụ(metaphorical) của con người đó là biện-chứng-tức-thì trong mỗi tâm trạng,một tình cảm đơn thuần.Nhưng với triết học có một sự tương quan tối thiểu giữa ta và cuộc đời như một tương quan giữa chủ thể và tha thể; đó là tương quan giữa con người với cuộc đời.Nên chi vượt qua cái nhìn đối tượng và cũng nhờ cái nhìn đó  mà vượt qua được giới hạn để đi tới một giá trị trực tiếp.

 

Duyên,nợ,tình là khát vọng của tình cảm song hành với công việc và sự vật đó là cái nhìn mơ về của hạnh phúc,một gắng bó thực hữu giữa tình yêu vợ chồng một lối mơ về của ca dao,một khát vọng trung thành phát xuất từ cảnh đời hiện thực cho nên lối mơ về đó tạo nên một hiện hữu đồng nhất giữa người và vũ trụ.Con người trôi chảy vào đời nhờ những hình ảnh thuần đơn mà khát vọng đó đã tạo nên thơ;một nguồn thơ nhất thể.Thành thử vũ trụ khát vọng của ca dao là vũ trụ bắt nguồn từ cuộc đời thực hữu để tiến tới khát vọng.Vì thế ca dao là tiếng kêu chân thành của con người ham sống,yêu đời,yêu người.Ca dao không yêu cầu cái ủy mị đài các,mơ mộng viễn vông,ca dao đi gần với quần chúng,nhất là đồng bào miền quê và hoá giải mọi uẩn khúc,vui buồn đưa con người về với hạnh phúc.Tác giả của ca dao muốn vậy! Đó chính là cuộc đời mà người nghệ sĩ miền quê yêu cầu.

 

Sớm mai gánh nước mờ mờ

Đi qua ngõ giữa tình cờ gặp anh

Vào vườn hái quả cau xanh

Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu

Trầu nầy ăn thật là cay

Dù mặn dù lạt dù cay dù nồng

Dù chẳng nên vợ nên chồng

Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương

Cầm lược thì nhớ tới gương

Cầm trầu nhớ túi,nằm giường nhớ nhau.

 

Ca dao còn là hình ảnh, ở đây là những hiện tượng của bản thể.Do đó hình ảnh không còn là hiện tượng đơn thuần mà hiện tượng có nội dung cho nên mới được gọi là hình ảnh.Chính những chất liệu trong ca dao đã tạo nên hình ảnh,hình ảnh của vật thể,hình ảnh của vũ trụ,hình ảnh của tình yêu. Đó là những cái nhìn khai phóng của chúng ta để tìm ra cái nội dung đó;với cái nhìn của ca dao luôn luôn có sự ẩn dấu,tiềm ẩn, đẩy cái hình ảnh đó như thúc dục người nghệ sĩ ca dao phải ẩn mình, đấy là cái nhìn thuở ban đầu.Cái nhìn hai chiều song phương từ bản thể đến hiện tượng để rồi từ hiện tượng qui về bản thể tạo nên một nội dung hình thể như thế là cái nhìn trực tiếp của ca dao nói riêng và thi ca nói chung do đó những sự vật cùng từ ngữ tham dự vào cuộc đời và tạo nên hình ảnh và từ hình ảnh tạo nên ý nghĩa của mình.Cái nhìn đồng hoá mình với sự vật như vậy là cái nhìn trực tiếp đi vào bản thể không cần tìm đến bản thể mà thấy hiện tượng từ bản thể và từ đó tình yêu được bừng sáng lên và hiện hữu “Tôi đặt trái táo trên bàn,rồi tôi hoà mình vào trong trái táo. Ôi!tuyệt vời biết là bao…”(Henri Michaux) Tuy không trực tiếp bằng cái nhìn phối hợp của ca dao nhưng cũng tương đồng ý nghĩa.Tâm trạng đó người ta gọi là ý thức biểu tượng.

 

Qua đình ghé nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói,thương mình bấy nhiêu

 

Cho nên cái nhìn trong ca dao dù chỉ là cái nhìn ban đầu là truyền thừa vào biến trình diễn đạt của dân tộc,nội dung ý nghĩa vẫn còn vang vọng nhờ những hình ảnh đó.Cái ngôn từ trong ca dao Việt Nam trước sau vẫn vướng vít hình ảnh của tình yêu mà ca dao là môi giới trong lãnh vực của tình yêu.

 

Kết.

 

Ca dao là mạch thở của thơ,là nguồn sáng tạo vô tận,là ngôn từ của văn chương bình dân chứa đựng hết thảy tình người trong đó.Ca dao càng mộc mạc bao nhiêu thì càng chan chứa bấy nhiêu,ca dao không đỏm dáng,chải chuốt bóng bẩy mà thường xử dụng những ngôn từ thực tế của cuộc đời,mà chúng ta thường gắn liền với nhau:con người và cuộc đời,nó trở thành như định lệ.Nhưng nghĩ cho cùng đó chính là sức sống,chính bản thể thôi thúc,con người với hiện tượng tình yêu và từ hiện tượng nầy thoát ra hiện tượng khác bằng ý thức bản thể có ý hướng của mình.Valery có lần nói:”Le vrai poète est celui qui inspire”Giòng thơ thực chỉ đến với người có tâm hồn bộc phát;người nghệ sĩ ca dao thực thi đúng tinh thần ấy, đó là ca dao khua động bản thể của con người,gợi lên sức sống để đi vào cuộc đời và hoà mình với hiện tượng rồi từ hiện tượng ấy hoà mình với sự vật để đột biến thành hình ảnh cho ca dao,lúc đó sự hiện diện của ca dao sáng tỏ không còn gì gọi là ẩn tàng hay ẩn dụ nó biến thành thi ảnh mang nội dung ý nghĩa biến động của bản thể con người.Do đó ca dao trở nên hiện hữu như ta đã thấy trong ca dao.

 

Cho nên những nhà nghệ sĩ nông thôn,không phải là nhà nghệ sĩ của văn chương bác học mà họ từ những người thợ cày,thợ gặt,trẻ chăn trâu đều có con mắt nhìn vào thực tế, họ nhìn thấu suốt giữa người và vật,ca dao nông thôn đầy cảm hứng thi vị.Nghệ sĩ ca dao bình dân thể hiện được ý thức đó nghĩa là muốn xây dựng một hình ảnh phải phóng bản thể của mình vào hiện tượng cho bản thể sống trong hiện tượng và trở thành hiện tượng của bản thể và cho sự vật là ta như ta trong sự vật.Vì đó; là khi bản thể giao tiếp với cuộc đời.

 

Tóm lại ca dao đã du nhập những giòng thơ của văn chương bình dân,biến hình từ câu hò điệu hát,trao đổi,hò đối đáp,cắt xén,rút gọn,dể dàng truyền khẩu từ đó được gọi là ca dao,nó thường mô tả tình người dưới muôn hình vạn trạng, từ nội giới tới ngoại giới. Đấy cũng là một phần bản thể dân tộc,một văn hoá văn minh truyền thống. Điều đặc biệt của ca dao ,ngôn từ không ước lệ,ca dao nói những gì thực hữu giữa cuộc đời,nương theo chiều sáng tạo của thi ca qua bao thế kỷ và chế ngự cả thơ Việt lẫn thơ Đường bằng những câu rất đơn sơ mà đầy ý nghĩa và đi sâu vào mọi tầng lớp trong xã hội một cách dể dàng và nhanh chóng.Một ngôn từ thiết tha,một đường giây giữa nội tâm và ngoại giới. Đó là nhân tố trong văn chương bình dân Việt Nam.Một thứ triết lý của văn chương bình dân cần phải tô điểm và nghiên cứu chiều sâu của nó 

30/11/2009

Võ Công Liêm

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Trịnh Công Sơn một thời đã qua 0000000

Trịnh Công Sơn một thời đã qua NGỎ: Mười năm trước sau cái chết của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết với tựa đề: ‘Trịnh Công Sơn Mười Năm Quá ...