Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

Trên sông hoàng hôn

Trên sông hoàng hôn

Chương 1
Gởi anh chị NGỌC SƠN
với lòng biết ơn của
một người em
NGỌC LINH
Từ trong eo bến Cái Bè, Năm Súng đẩy mạnh mái chèo, con đò lướt ra sông Cửu Long, hướng mũi về phía vàm Cái Muối.
Trời không gió, nắng nhạt màu phơn phớt trên giòng nước phẳng lặng mênh mông, làm tăng thêm vẻ buồn nhè nhẹ của buổi chiều. Giòng sông rộng, hàng cây bên kia bờ chỉ còn là một vệt xanh ngã màu xám, kéo dài đến tận vùng xa chỗ chân trời chụp xuống.
Ngồi bên chân ông lái, nhin mái chèo khuấy nước, Thọ cảm thấy yên tâm, không còn sợ trễ chuyến đò chiều. Năm Súng nhìn chàng mỉm cười, đôi mắt bộc lộ vẻ thương yêu.
Khi nãy vừa xuống xe, chàng còn bỡ ngỡ, thì ông Năm hiện ra, khiến Thọ có cảm giác nhẹ nhàng của người vừa thoát khỏi sự phức tạp giữa đám đông. Chàng theo Năm Súng xuống đò không coi ông là người chèo đò mướn, mà chỉ vui thích được đi chung với người thân trên một khoảng sông để về nhà.
Thọ chợt hỏi:
— Độ nầy làng mình, sao chú?
Năm Súng đẩy mạnh tay chèo, đôi mắt nhìn xa xôi. Ông đáp:
— Buồn lắm!
Giọng ông nhỏ lại rồi dứt hẳn khi ý nghĩ triền miên. Thọ nhìn ông, nhìn khách đồng hành trên chuyến đò mà không nhớ mặt một ai. Mọi người yên lặng như giòng sông yên lặng dưới chiều tà.
Chàng lại hỏi:
— Chú không đi câu nữa sao?
— Câu lưới gì bây giờ cũng không sống nổi! Ban ngày câu không đủ ăn, còn ban đêm thì nguy lắm. Thằng Mạnh ở Ngả Tư Kinh, tháng rồi đi câu tôm ngoài vàm, bị tàu Tây bắn chết. Mấy ngày sau xác nó tấp vào bến chợ Đồng Phú.
Thọ ngồi im, đôi mắt sụp xuống, trên trán mấy làn nhăn nổi vòng, đôi môi chàng cong lại.
Năm Súng tiếp:
— Tàu ‘‘đầu bằng’’ hễ thấy đèn là bắn càn. Có ai đám câu lưới gì nữa đâu!
Hoàng hôn buông xuống, vạn vật mờ dần. Những rặng cây xa trở nên mờ mịt thành những vệt đen mờ như sắp chìm đi trong ngấn nước. Vàm Cái Muối bắt đầu hiện ra trước mũi con đò.
Ngôi đình làng ngày xưa là chốn tôn nghiêm thờ phụng, bây giờ sụp đổ vì những quả đại bác tàn phá. Những chiếc cột còn trơ lại, đeo trên đầu kèo, xụ xuống trông thật điêu tàn hoang phế.
Thọ ngồi nhìn ngôi đình xơ xác với đôi mắt u hoài. Chàng cảm thấy tang thương gieo rắc đâu đây, trong khi ông Năm Súng và khách đi đò nhìn nó với vẻ thản nhiên. Họ đã quen cảnh tàn phá chua xót, nên ngôi đình làng không còn đủ gây cho họ sự xức động như đối với kẻ ít thấy cảnh sụp đổ, chia lìa.
Thọ lại hỏi:
— Sao không sửa đình làng, chú Năm?
— Làm gì đủ gạch ngói. Tây ngoài bót cho lính cạy hết gạch trong đình về xây lô cốt. Mấy ổng còn lấy thêm mớ cột, kèo về chụm lửa.
Mọi người đều im lặng, khi con đò lướt trên giòng nước, xuôi về bến chợ. Hai bên bờ sông, những ngôi nhà ẩn hiện sau những tàn cây, lấp lánh ánh đèn. Thỉnh thoảng một vài mái ngói lù lù vượt lên giữa cây lá xám đen, dưói ánh sáng lờ mờ còn sót lại, khiến Thọ nghĩ đến sự sung túc của quê hương mình thời xa xưa, một sự sung túc được nuôi nấng trong cảnh u tối vô tư của người thụ hưởng.
Đâu đó có tiếng hát ru con, gieo âm điệu buồn man mác. Ngoài chiếc đò về muộn lần lần tiến về bến chợ, trên sông không còn xuồng ghe nào lai vãng. Thời ly loạn bóng đêm gây sự không lành cho mọi người, nên cứ chập tối là chẳng ai buồn đi đâu nữa!
Tiếng súng lẻ loi từ phía đồn Tây vọng lại, âm thanh khô khan ghê rợn như nhắc mọi người nhớ: mình đang sống giữa thời binh biến, phải mau trở về nhà vì nơi đó yên ổn hơn ngoài trời.
Đò cặp bến, hành khách lần lượt bước lên cầu, Thọ cũng xách cặp từ giã ông Năm Súng. Ông ta hỏi chàng một câu mà Thọ chưa biết trả lời ra sao:
— Cậu về chơi chừng nào đi?
Câu hỏi hết sức chân thành vì trong thời ly loạn ít có thanh niên nào dám sống lẩn quẩn ở những làng mạc hẻo lánh. Có lộn xộn gì, chính họ là những nạn nhân đầu tiên. Thọ đáp:
— Chưa biết chú Năm? Không chừng tôi ở nhà luôn.
Ông Năm trố mắt nhìn chàng, không tin gia đình Thọ tính như vậy. Nhà có tiền sao không ở Sài gòn học, về đây làm gì?
Thọ chậm rãi leo lên cầu thang. Chàng đặt va li xuống, đứng lặng nhìn bến chợ đìu hiu, giữa lúc ngày đi đêm đến. Những hàng quán quanh xóm chợ e dè mở cửa, bán vớt vát trong buổi đầu hôm và sẵn sàng đóng ập cửa lại, nếu có động tịnh gì. Những ngọn đèn dầu trong quán lờ mờ không đủ ánh sáng soi rõ con đường đất khô trắng chạy dài dưới hai hàng cây trứng cá.
Thọ còn nhớ được tiệm thuốc bắc của chú Sanh và quán nước của ‘‘anh Hai hủ tiếu’’. Nhà nhóm chợ bị đốt năm nào, chỉ còn trơ lại cái nền không, cỏ mọc um tùm. Vài gian nhà mới cất nối dài theo xóm chợ lần dần khoảng đất trống trước sân trường học cũ, bây giờ chỉ còn trơ lại cây cồng tàn rộng xum xuê.
Thọ cất bước đi, lòng chàng bỗng dưng buồn rười rượi, nhớ đến những kỷ niệm vui buồn của thời thơ ấu. Chân chàng bước nhẹ nhàng trên đường đất, không tạo thành tiếng động, không gây sự chú ý của mọi người trong các hàng quán. Thọ chỉ mong thế. Chàng muốn trở về trong sự im lặng để tránh bớt những cặp mắt tò mò và những câu thăm hỏi khó trả lời của người quen thuộc, dù đó là những câu chân thành mộc mạc.
Trong cảnh đêm gần như yên lặng, bỗng nổi lên một điệu đàn, khiến Thọ nhớ đến tiếng đàn đặc biệt của người Tàu, từ trên cửa sổ một ngôi nhà nào đó, trong Chợ-Lớn, nằm giữa hai dãy lầu cao, khi chàng là khách bộ hành độc nhứt nện gót giày trên hè phố, trong đêm khuya.
Tiếng đàn rất hòa hợp với cảnh đìu hiu của bến vắng, từ trong ngôi nhà ở cuối xóm chợ phát ra. Ánh sáng ngọn đèn giữa nhà lùa bóng tối ra khỏi hàng ba và ở chỗ tranh sáng đó, một ông già Tàu ngồi dựa trên chiếc ghế mây, ôm cây đàn nguyệt, tay khảy vào dây, tay nắn phím mà mắt nhìn vào chốn xa xôi nào.
Thọ không có cảm tưởng ông ta đánh đàn mà đang làm một cử động cho qua thì giờ. Chàng không chắc ông có ý niệm gì về thời gian đang xoay chuyển! Trong nhà, năm ba đứa trẻ nằm dài trên bộ ván tập đọc, xí xô, xí xào lấn át tiếng nhau. Gần đó, một cô gái mặc áo ngắn tay, bó sát vào thân, đang cắm cúi dọn ly tách và những chai rượu, chai nước giải khát trên bàn. Mái tóc cắt ngắn vừa phủ khuất cổ nàng, đong đưa qua lại, theo nhịp cử động của đôi tay.
Chắc là gia đình một người Tàu mới đến lập nghiệp! Thọ nghĩ như vậy nhưng không chú ý đến sự đó nữa, khi chàng vừa nghe tiếng chim bồ câu gụ trên mái ngói nhà mình.
Thọ nhìn ánh đèn trong sân nhà, lòng nao nao cảm xúc. Chàng đã hình dung thấy sự êm ấm dịu dàng bên bà mẹ hiền từ, bên cô em gái ngây thơ, trong bầu không khí tươi vui dưới mái gia đình đoàn tụ.
Thọ nằm yên trên giường, ánh trăng lùa qua cửa sổ, ngã xuống đất, chiếm một khoảng vuông nhỏ trong phòng. Khó mà ngủ yên được đối với một kẻ đi xa vừa mới trở về quê. Chàng ra ngoài, bắc ghế trước sân, ngồi cho mát. Trăng sáng phủ xuống vạn vật màu tươi dịu. Hoa cỏ cây lá ướt đẵm sương đêm. Trước sân, những đóa cúc vàng nở sớm, phô hương sắc giữa đám lá xanh đen ươn ướt sương; những đóa vành vành trắng tinh, đượm đầy thân cây, thoang thoảng hương thơm.
Dưới thềm nhà có tiếng dế thanh tao nổi lên gây cho Thọ sự xúc động bồi hồi. Tiếng dế gợi cho chàng nhớ lại ngày xưa, thuở còn thơ ấu. Chàng rất thích con dế lửa có cánh vàng hực hỡ mà một đêm nào chàng bắt được ở một kẽ nứt dưới thềm gạch trước nhà. Kẽ nứt ấy được lấy hồ trét lại, nhưng Thọ đã lén cạy ra, và hy vọng con dế cánh vàng khác lại đến, để chàng bắt nhốt vào hộp.
Ngày nay, chắc không còn ai buồn săn sóc đến thềm gạch, mà chàng cũng không còn nỡ bắt con dế đang ung dung gáy dưới kẽ thềm.
Thọ rời khỏi chiếc ghế, nhón gót đến gần bực thềm khòm sát xuống tìm xem kẽ hở ngày xưa có còn chăng?
Có tiếng động phía sau lưng, Thọ giựt mình quay lại. Dung vừa hiện ra ở bực cửa tươi cười. Tóc nàng lòa xòa xuống vừng trán càng làm nổi bật đôi mắt trong sáng dịu hiền.
Dung khẽ hỏi anh:
— Anh chưa ngủ sao? Ở Sài gòn chắc hay thức khuya lắm nên dạo nầy anh ốm hơn trước.
Thọ nhìn em cảm động. Giọng nói của Dung êm dịu lạ thường, bộc lộ hết tình thương sâu kín trong lòng cô em gái, lúc nào cũng nghĩ đến sức khỏe của anh.
Chàng bước đến bên Dung nói:
— Anh thường ngủ sớm chớ. Đêm nay máới trở về, tâm hồn anh như trải qua một cơn thay đổi: giữa sự ồn ào phức tạp của thị thành và sự yên lặng gần như cái chết chóc ở thôn quê. Anh hơi bỡ ngỡ trước sự sống mới mẻ.
Thọ ngừng lại nhìn em rồi tiếp:
— Thêm vào đó những kỷ niệm của thời thơ dại đã qua và niềm vui đoàn tụ dưới mái gia đình bắt buộc anh suy nghĩ vẩn vơ, không thể nào ngủ được. Chưa bao giờ anh sung sướng như đêm nay.
Dung bật cười:
— Vậy mà mẹ cứ sợ anh không thể sống nổi ở nhà.
Bầu trời bỗng dưng tối sầm lại vì ánh trăng bị
mây che khuất. Cảnh vật chìm trong bóng tối lờ mờ.
Dung bỗng nghiêm giọng hỏi:
— Độ rày ở Sài gòn, anh làm gì đến nỗi anh Hai phải lo sợ, thơ nào gởi về cũng than phiền với mẹ. Mẹ buồn lắm và định bắt anh ở nhà luôn.
Thọ không đáp, ngước nhìn mảnh trăng đang từ từ ra khỏi đám mây. Dung cảm thấy câu nói của mình hơi dư vì nàng thừa hiểu hành động của anh ra sao rồi.
Nàng đã đọc những bức thơ từ Sài gòn gởi về cho mẹ, nên biết Thọ thường cùng bạn bè làm những việc có thể bị bắt lúc nào không biết. Vì vậy mà Thọ mới bị anh Hai đưa về quê để trốn tránh.
Thình lình, Thọ nói:
— Hơi đâu mẹ nghe anh Hai? Lúc nào, ảnh lại chẳng muốn sống an thân.
Biết anh buồn nhiều về chuyện đó, Dung mỉm cười, đưa câu chuyện sang hướng khác:
— Anh còn nhớ chị Mai hông?
Thọ nhìn em như tìm hiểu. Đương không, Dung nhắc đến một cô gái trong làng khiến Thọ ngạc nhiên và không khỏi nghi ngờ có chuyện gì đó?
Chàng hỏi:
— Cô Mai, con ông Hội Đồng Thành ở Phước Định hả?
— Em tưởng anh đã quên! Mẹ định hỏi cưới chị ấy cho anh đó.
— Bậy nà! Đừng nói chơi, đến tay ông bà Hội lại mích lòng.
Dung thản nhiên tiếp:
— Không! Em nói thật. Chính anh Hai cũng muốn hỏi chị Mai cho anh.
Thọ ngồi im. Bỗng dưng chàng nhớ đến hình ảnh cô gái nhỏ mặc áo bà ba trắng, thường ngồi câu dưới mé sông trước nhà, trong những buổi hoàng hôn. Mỗi lần, thấy bóng chàng ở xa xa, nàng đã cúi gầm mặt xuống không dám ngẩng lên. Bây giờ thì Mai hẳn lớn rồi và chàng chắc không còn thái độ như xưa nữa.
Dung nói:
— Trong thơ gởi về cho mẹ, anh Hai bảo nên cưới vợ để cầm chân anh. Có phải khi người ta có vợ rồi thì không còn muốn làm gì nữa hả anh?
— Em ngớ ngẩn thật. Anh cưới vợ lần nào đâu mà biết.
Hai anh em nhìn nhau cười. Giọng cười trong trẻo của Dung làm xao động bầu không khí trong đêm khuya.
Nàng chợt im bặt, nhìn con đường đất trống trơn thẳng về phía chợ rồi bảo Thọ:
— Đi ngủ anh. Dưới nầy, đêm khuya, không nên ở ngoài trời.
Thọ theo em vào nhà. Khi lên giường nằm, chàng bỗng nghe văng vẳng tiếng đàn nguyệt bên kia nhà ai rời rạc, buông lơi mà từ nãy giờ, chàng không chú ý.
Thọ định bụng hỏi Dung về cái gia đình người Tàu xa lạ kia, nhưng rồi lại quên khuấy đi mất.
Bảy giờ hơn, ánh nắng mới hiện ra khi trận mưa từ khuya kéo dài đến sáng mới dứt!
Từ trên mái ngói, nước mưa còn rỉ lại, thỉnh thoảng nhểu xuống từng giọt, gây thành tiếng động nhỏ trên vũng nước ngoài hiên.
Trời mưa buổi sáng ở thôn quê không làm cho người vui được, nhứt là kẻ mới đi xa về. Thọ nhìn trời nặng trĩu màu ướt át mà lòng bâng khuâng buồn. Chàng với tay lấy cây đàn và tìm khuây khỏa trong tiếng nhạc. Tiếng đàn của chàng cũng nặng trĩu nỗi niềm như những làn mây xám xậm, chầm chậm kéo lê thê ngoài trời và đến khi nắng bừng lên ấm áp, tràn vào cửa sổ thì Thọ buông đàn đứng dậy, chống tay lên thành cửa nhìn ra. Lòng chàng rạng rỡ lên như màu nắng sáng.
Thọ nhìn về phía chợ, chỗ những gian nhà mới cất, đột nhiên đôi mắt chàng bắt gặp đôi mắt một kẻ khác đang nhìn trộm.
Đôi mắt long lanh sáng ngó Thọ nửa như tò mò, nửa như cảm mến. Đôi mắt sáng đẹp dịu dàng trên gương mặt thùy mị sâu kín, của cô gái Trung-Hoa mà đêm hôm trở về làng, chàng thoáng thấy trong gian nhà có tiếng đàn nguyệt.
Người thiếu nữ Trung-Hoa đứng bên trong khung cửa không chấn song, nhìn qua cửa phòng Thọ lúc nào không biết, bỗng dưng bị chàng bắt gặp. Thiếu nữ hơi e thẹn, ngước nhìn trời như tránh đôi mắt của chàng, nhưng cái nhìn ngắn ngủi vừa qua đủ gây xúc cảm tự nhiên trong lòng Thọ... Chàng chưa bao giờ thấy một đôi mắt sáng, linh động ẩn chứa nhiều nỗi niềm như vậy, trong những đôi mắt đẹp mà chàng đã gặp trên đường đời.
Thọ có cảm tưởng nếu không có phút bắt chợt tình cờ kia, có lẽ cả đời chàng không làm sao tìm thấy đôi mắt linh động, phát lộ nỗi niềm, trên gương mặt người thiếu nữ Trung-Hoa, vốn sâu kín gần như lãnh đạm.
Thọ có cảm giác như mình là người bị truyền cảm bởi người thiếu nữ xa lạ. Chàng phân vân không hiểu vì đâu nàng trao cho mình cái nhìn ấy, nhưng chàng cũng cảm nhận lờ mờ là nàng có chút cảm tình với mình.
Nắng tươi đẹp tràn ngập xuống làm cho toàn thân thiếu nữ sáng hẳn lên, trong khung cửa. Gương mặt nàng trắng hơi dài, má hồng thắm tự nhiên, miệng cười tươi, mắt sáng long lanh dưới đôi mi nhỏ cong vòng nguyệt. Mái tóc đen huyền cắt ngắn vừa chấm đến vai lòa xòa xuống má, phơ phất trên vừng trán hơi cao như che giấu sự hiểu biết của nàng.
Một con chim tự đâu đáp xuống cành cây lá rậm bên cửa sổ nhà nàng, cất cao giọng hót gieo âm thanh lảnh lót thanh tao trong bầu không khí êm dịu của vườn quê.
Thọ và người thiếu nữ Trung-Hoa như hòa hợp tâm hồn trong cảnh êm đềm tươi sáng. Có một sự gì là lạ gây cho họ nhiều cảm giác kỳ thú nhẹ nhàng.
Dung từ trước sân, vừa bước đến hông nhà, chỗ phòng ngủ của anh, trên tay cầm mấy cành hoa huệ trắng tinh, mới cắt. Nàng mang hoa vào phòng ngủ cho Thọ.
Nhưng đến đây, Dung bắt chợt Thọ và Hà Anh, cô bạn gái Trung-Hoa bên cạnh nhà, đang bỡ ngỡ nhìn nhau trong sự cảm thông vừa thoáng hiện. Nàng cúi đầu bước qua mau, như muốn để yên cho hai người trong giờ phút giao cảm ấy.
Thọ và Hà Anh đều thấy Dung mỉm cười, đôi má núng đồng tiền rất duyên dáng, nọ cười đó như có ẩn ý trước sự bỡ ngỡ của hai người.
Hà Anh e thẹn, cúi đầu nhìn xuống rồi quay vào trong. Bóng nàng lẩn trong gian buồng mờ mờ tối.
Thọ cũng hơi ngượng đối với em vì vô tình Dung bắt gặp mình tò mò nhìn một thiếu nữ lạ; nhưng đôi mắt linh động của cô gái láng giềng kia gây cho chàng nhiều sự chú ý. Chàng phải hỏi Dung về thân thế của cô ta. Nàng sống với ai và đã đến đây từ bao giờ?
Dung đã đi thẳng ra nhà sau, cắt hoa huệ cắm vào bình. Thọ bước theo em định gợi chuyện. Nhưng khi thấy Dung quay lại, nét mặt hí hởn như sắp cười mà vừa làm bộ nghiêm khiến Thọ khó chịu. Chàng có cảm tưởng như Dung định phá mình về chuyện lúc nãy.
Thọ đển gần em, Dung vẫn chậm rãi cắt những cành hoa huệ trắng, không tỏ vẻ gì chú ý đến sự có mặt của anh, Thọ thấy khó khăn khi mở lời hỏi Dung. Câu nào định nói ra chàng cũng đều cho là không được tự nhiên và ngại Dung sẽ cho mình quá tò mò.
Dung thình lình nhìn vào mặt anh, rồi đem bình hoa lên thẳng nhà trên.
Thọ mỉm cười và nghĩ là mình không nên tò mò như vậy. Dung trở xuống nhà dưới thì anh mình không còn ở đó nữa. Nàng bước ra vườn sau. Bây giờ ánh nắng đã lên cao, rực rỡ trên cây cỏ, lá, hoa. Những vũng nước đọng như biến thành hơi khói mỏng bốc lên tan hòa trong không khí. Bên cạnh vườn nhà nàng, có tiếng hát nho nhỏ lẫn với tiếng động của hai mảnh vải ướt chạm vào nhau. Dung nhìn sang và mỉm cười khi thấy Hà Anh ngồi giặt áo dưới cầu ao, Nàng cọ những mảnh vải vào mặt ván làm bọt xà bông tung lên thành những quả bong bóng xanh đỏ dưới ánh sáng mặt ười.
Hà-Anh hôm nay có gì sung sướng hơn mọi ngày và đây là lần đầu tiên, Dung thấy bạn vui vẻ, hồn nhiên. Nàng vừa làm việc vừa hát bài ca, ca ngợi ái tình...
Tiếng chim se sẻ chiu chích gọi nhau trên hàng cây sua đũa bên hông nhà, gợi thêm sự cô tịch trong buổi chiều vắng lặng. Thọ ngồi trong phòng thẫn thờ nhìn lên nền trời xanh thẳm thỉnh thoảng vài con cò trắng bay ngang, hướng về phía đình làng. Một nỗi buồn vô căn cứ như xâm chiếm tâm hồn. Chàng thấy trong lòng như thiếu thốn một sự gì. Bỗng dưng Thọ liếc nhìn sang bên kia song cửa sổ sơn màu xanh tối mà buổi sớm mai chàng đã bắt gặp một đôi mắt đẹp. Bên trong khung cửa lờ mờ không phân biệt được vật gì nhưng chắc chắn là không có bóng người thiếu nữ Trung-Hoa. Tiếng chân ai nhè nhẹ bước vào phòng khiến Thọ quay đầu nhìn lại. Dung hiện ra, dịu dàng trong ánh mắt, trong nụ cười tươi trẻ hồn nhiên.
Nàng hỏi Thọ:
— Anh đang nghĩ gì đó? Nhớ cô ta hả?
Thọ nghiêm trang đáp:
— Em trẻ con quá! Ai đi nhớ một người chỉ thoáng thấy một lần.
Dung đưa ngón tay lên môi cắn chặt, cho khỏi bật tiếng cười. Đôi mắt nàng sáng hẳn lên. Nhưng chỉ một phút nàng lại cười thành tiếng.
Thọ ngạc nhiên hỏi:
— Em cười gì vậy?
— Em cười anh! Không ai hạch hỏi mà đã khai. Người anh thoáng thấy là ai vậy?
Thọ lúng túng và biết mình hở hênh bị Dung trêu chọc, chàng đáp:
— Em hay xoi bói anh quá. Có lẽ em sắp nói những gì mà buổi sáng chưa kịp nói phải không?
Dung tinh nghịch hỏi lại:
— Có chuyện gì đâu?
Thọ ngó em, không đáp. Dung cứ tưởng anh mình sẽ hỏi những điều muốn biết, nhưng Thọ vẫn im lặng. Sự đó khiến Dung náo nức. Nàng không thể trầm tĩnh như anh được.
Lòng nàng hồn nhiên sáng sủa, không bận chút gì u ẩn. Nàng cần trút hết những ý nghĩ vui buồn với người thân thích:
— Anh nghĩ sao về sự thay đổi ở làng mình?
— Anh chưa ra khỏi nhà làm sao biết được?
Rồi Thọ mỉm cười, tiếp:
— Có điều anh thấy trước mặt nhà mình có gia đình người hàng xóm mới, mà anh đoán là người Tàu.
Dung cũng cười, nụ cười tinh nghịch. Nàng hỏi thình lình:
— Chỉ có vậy thôi?
— Chớ còn gì nữa?
— Vậy mà em tưởng anh muốn biết nhiều điều khác về họ?
Thọ nhìn lảng đi và nói:
— Đêm hôm về, anh nghe tiếng đàn nguyệt bên nhà đó. Tiếng đàn quen thuộc của người Trung-Hoa.
— Người đánh đàn là cha chị Hà Anh.
Thọ hỏi liền:
— Hà Anh nào?
Dung dịu giọng đáp:
— Một cô gái khôn ngoan, có học và rất hiền lành.
Tự nhiên lòng Thọ trở nên nhẹ nhàng. Chàng gật đầu:
— Anh cũng nghĩ vậy.
Nắng chiều đã tắt hẳn trên các ngọn cây, hoàng hôn buồn tím ngắt. Những hàng quán đằng phía chợ đã lên đèn. Bóng tối lan dần, lan dần phủ kín bờ sông.
Trong khung cửa gian nhà kế cận, ánh đèn vụt cháy, Hà Anh hiện ra bên cạnh chiếc bàn con, đôi mắt sáng long lanh. Thọ thầm nghĩ đôi mắt của nàng dễ gây cảm tình với bất cứ ai chỉ thoáng gặp một lần. Vừa chợt thấy nàng, Thọ đã quay đi nơi khác. Chàng không muốn Dung nghĩ ngợi nhiều về chàng và cô gái Trung-Hoa kia. Nhưng đôi mắt của Hà Anh vẫn làm cho chàng phải lưu ý...
Chàng quay sang em:
— Họ về đây bao lâu rồi?
Dung đáp:
— Gần một năm. Họ có đất bên Cái Sơn nên về đây để được thâu huê lợi. Nếu ở xa họ hết còn quyền lợi.
Thọ lại hỏi:
— Nhưng sao không cất nhà bên Cái Sơn cho gần?
Dung mở to đôi mắt nhìn anh:
— Bên ấy không đóng bót, Tây đi bố hà rầm làm sao dám ở!
— Trước kia họ ở đâu?
— Cha Hà Anh có phố ở Chợ-lớn, nhưng bây giờ không còn nữa. Ông ấy ghiền thuốc phiện mà hết sạch đó?
— Sao em rõ chuyện của họ nhiều vậy?
Dung liền đáp:
— Hà Anh là bạn thân của em. Chúng em vẫn thường tâm sự với nhau.
Thọ hỏi khéo em:
— Em thân với người Trung-Hoa dễ dàng như vậy à? Họ khó tánh và lãnh đạm với mọi người.
— Anh lầm, họ vốn kín đáo nhưng cũng giàu tình cảm như ai vậy. Nhìn bề ngoài khó hiểu được họ. Hà Anh dễ thương và tốt lắm. Chị ấy mến em.
— Anh thật không ngờ.
Dung giải thích:
— Anh nghĩ, chúng em gần trạc tuổi, lại cô độc như nhau, làm sao không tha thiết với nhau được.
Thọ gật đầu rồi nhìn qua nhà Hà Anh, bảo em:
— Nhà cô ấy đông trẻ con quá.
— Em của chị ấy đó. Hà Anh phải lo lắng cho chúng từng chút vì bà mẹ đã qua đời.
Thọ buộc miệng nói:
— Tội nghiệp!
Dung thấy Thọ thốt ra hai tiếng tội nghiệp bằng tất cả sự thành thật đối với bạn mình, chớ không phải nói lấy lệ. Nàng nhìn anh và gương mặt buồn buồn của Thọ làm nàng không vui.
Dung nói:
— Thôi đi ăn cơm anh. Ở đời mỗi người mỗi cảnh mà.
Thọ đứng lên. Chàng vói tay khép cửa sổ và Dung nghe anh lẩm bẩm một mình:
— Tội nghiệp!
Dung cảm thấy anh mình thay đổi hơn những năm về trước và nàng không làm sao hiểu ngay được sự thay đổi ấy.
Chương 2
Thọ qua khỏi con lộ đá, nối liền Chợ Lách - Vĩnh Long là vào ấp Phước Định, một ấp nhỏ sung túc nhứt của làng Bình Hòa Phước.
Đường làng nhỏ hẹp xuyên qua những vườn dừa đơm trái và bị đứt khoảng bởi những mương nhỏ có cầu khỉ nối liền.
Mỗi khi trời mưa xuống, những cây cầu khỉ nầy đều trơn nhớt. Có lần Thọ bị trợt chân nhào xuống mương, nên chàng nhớ mãi.
Ở xóm Phước Định có rất nhiều nhà khá giả. Dọc bên đường những nóc ngói đỏ, mọc rải rác trong những khu vườn rợp bóng cây.
Nhà ông Hội Đồng ở tận cuối xóm gần bờ sông Cái, đất ở cù lao bồi nầy đều thuộc về ông. Hàng rào me keo trước sân nhà kéo dài gần bảy tám trăm thước, thường được cắt xén cẩn thận, nhưng bây giờ đã bỏ phế, nhiều chỗ cành lớn mọc chồm ra đường hay từng khoảng bị chặt bỏ trống.
Chiếc cầu ván trước cổng nhà, chỗ Thọ đã bắt gặp Mai ngồi câu cá dưới chiều tà, bây giờ chỉ còn sót lại vài cột trụ xiêu vẹo. Điêu tàn như thấp thoáng đâu đây, gợi lòng người nhìn cảnh cũ chút niềm chua xót.
Thọ đứng trước cổng nhìn con đường lót gạch tàu thẳng vào cửa chính của tòa nhà nền đúc, cất theo lối cổ mà qua những năm xa cách, chàng vẫn thấy như xưa. Thọ nhớ nhà này có hai con chó hung tợn, nên chàng chần chờ chưa dám vào. Cảnh yên lặng khiến Thọ có cảm tưởng mọi người yên lành trong giấc nghỉ trưa. Chàng e ngại mình đi thăm ông bà Hội Đồng không nhằm lúc. Không một bóng người và hai con chó kia cũng vắng dạng.
Thọ còn đang bỡ ngỡ không biết có nên vào hay không thì ở cửa cái tòa nhà, một thiếu nữ chợt hiện ra. Nàng nhìn phía cổng hơi ngập ngừng rồi bước về phía Thọ. Dáng nàng uyển chuyển dịu dàng, mái tóc đen huyền buông xõa thòng quá tầm lưng, đong đưa qua lại theo nhịp bước.
Thọ kêu lên nho nhỏ:
— Mai!
Thật không ngờ! Mai đổi khác hơn mấy năm về trước rất nhiều. Nàng không còn là cô gái bé bỏng ngồi câu cá dưới bờ sông mà mỗi lần gặp Thọ lại e thẹn cúi đầu, dù đã quen biết.
Bây giờ, Mai là một thiếu nữ đang tuổi dậy thì, đẹp dịu dàng như một đóa hoa tươi thắm vừa chớm nở giữa ruộng đồng.
Mai đến trước mặt Thọ cúi chào. Nàng cố giữ vẻ bình tĩnh, nhưng Thọ cũng nhận thấy sự ngạc nhiên hiện lên trong đôi mắt nàng.
Thọ chào nàng và hỏi:
— Hai bác có nhà không cô Mai?
Đôi mắt thiếu nữ sáng lên niềm vui. Nàng không giấu được vẻ luống cuống khi đáp lời Thọ:
— Dạ, ba má em đi Đồng Phú hồi sáng.
Thọ thất vọng nói:
— Tiếc quá! Lâu ngày đến thăm lại gặp lúc hai bác đi vắng.
Mai nhìn xuống để giấu nụ cười tự nhiên rồi hỏi:
— Anh mới về hả anh Thọ?
— Tôi về mấy hôm nay. Bận nhiều việc chưa kịp đến thăm hai bác. Thật lỗi quá!
Mai nghiêm trang mời Thọ:
— Anh vào nhà chơi, lát nữa chắc ba má em về.
Thọ đã định cáo từ để hôm khác trở qua, nhưng rồi chàng lại muốn nấn ná trò chuyện với Mai, người mà mẹ chàng định hỏi cưới cho chàng. Thọ muốn hiểu nàng thêm, dù trong lòng chưa có ý-niệm gì về cuộc hôn nhân đó. Chàng gật đầu rồi theo Mai.
Sự nhận xét đầu tiên của Tnọ đối vái Mai là nàng lởn lên, đẹp hơn trưác. vẻ hồn nhiên tươi trẻ của Mai chắc chắn sẽ an ủi được những tâm hồn buồn nàn vì Sự phức tạp của ẹuộc đời. Ờ nàng, Thọ tlm thấy được sự tinh khiết, trắng trong cửa một đóa hoa vừa hé nụ khoe sắc hương. Thọ không thấy lòng mình rung động sâu xa trước vẻ đẹp hồn nhiên ấy xong chàng phải nhận là mình có cảm tình khi đổi diện với nàng.
Vào tới trong nhà, Mai mời Thọ ngồi. Nàng gọi chị ở pha trà đãi khách nhưng khi nhìn tách nước bốc lên hơi nóng giữa trời trưa, nàng thấy mình không khéo, nên nói:
— Anh uống nước dừa nghen? Hồi trước anh thích uống dừa lắm mà.
— Cô nhớ rõ quá.
Rồi Thọ vui vẻ tiếp:
— Tôi nhớ những buổi trưa mình đi hái dừa ngoài vườn, có Dung nữa đó?
— Em nhớ...
Đôi má Mai ửng hồng,Thọ nhìn nàng mỉm cười:
— Tôi tưởng ra vườn uống dừa có lẽ mát hơn.
Mai hơi e ngại một chút rồi đáp:
— Dạ!
Thọ đứng lên theo Mai. Chàng còn nhớ rõ lối đi bên hông nhà. Vườn sau vắng lặng. Buổi trưa, nóng bức, chim chóc uể oải không buồn ca hót. Những hàng quít thẳng băng chạy múc ngoài ruộng xa, gốc nào cũng sai trái ửng vàng. Thọ buộc miệng nói:
— Đẹp quá!
Mai ngẩng lên nhìn chàng rồi ngó theo tầm mắt của Thọ. Nàng chợt hiểu và cảm thấy vui vui trước thái độ bỡ ngỡ của người bạn trai.
Thọ hỏi:
— Quít sai trái quá, chắc hai bác thâu huê lợi nhiều lắm.
Mai mỉm cười đáp:
— Em không biết rõ!
Thọ mỉm cười nhìn Mai:
— Cô vô tư quá!
Lòng Mai tràn ngập sự tươi vui. Nàng vui sướng vì có dịp được nói về mình với người nàng yêu mến:
— Không hiểu sao em không thích nghĩ ngợi nhiều về những việc xảy ra quanh mình? Đó có phải là tật xấu không anh?
Thọ nhìn nàng như tìm hiểu. Chàng còn đang nghĩ một câu để trả lời cho Mai vừa lòng thì nàng đã lảng sang chuyện khác:
— Anh đi lâu quá mới về dưới nầy.
Rồi nàng lại chỉ tay về phía bờ ao nói mau:
— Con chim thằng chài đẹp quá! Nó sắp sửa nhào xuống nước đó...
Nàng lại reo lên:
— Chậm quá! Nó bắt hụt con cá rồi.
Con chim đập đôi cánh bay lên, làm bắn tung những giọt nước còn đọng lại trên mớ lông vàng, xanh, tím, đỏ, khiến Thọ và Mai phải ngước nhìn theo nó.
— Đẹp quá!
Thọ vừa nói vừa nhìn Mai và bắt gặp đôi mắt nàng đang âu yếm nhìn mình. Chàng quay đi nơi khác. Mai thấy lòng rào rạt. Nàng tưởng chừng như Thọ có ý khen mình.
Thình lình nàng hỏi Thọ:
— Bao giờ anh đi?
Thọ như sực tỉnh giấc mơ. Chàng đáp, giọng nói không buồn không vui:
— Tôi cũng chưa biết chừng nào! Có lẽ tôi ở luôn dưới nầy.
Mai trách móc:
— Anh không biết được anh nữa sao?
Câu nói đó khiến Thọ cúi mặt. Tự dưng chàng mỉm cười, nụ cười không hợp với cảnh êm đềm hiện tại vì nó có vẻ buồn buồn, pha lẫn sự bực bội:
— Có lúc tôi không biết mình sẽ làm gì nữa?
Giọng nói của Thọ làm cho Mai không rõ được chàng đang vui hay buồn. Nàng ngơ ngác nhìn chàng và có cảm tưởng như Thọ đang khổ sở hoang mang hay bất mãn sự gì?
Giữa nàng và Thọ vụt chốc trở nên xa lạ. Trong cảnh êm dịu nầy, lẽ ra hai người phải vui vì những kỷ niệm êm đềm cũ, song có gì như ngăn cản sự đó với hiện tại mà Mai cũng không rõ nữa!
Nàng lặng im suy nghĩ. Lần đầu tiên trong đời. nàng phải bận óc về một chuyện rắc rối không đâu.
Mai hỏi:
— Anh có vẻ lạ hơn ngày trước. Em không hiểu anh ra sao nữa!
Thọ cười đáp:
— Tôi thành ra bí mật đối với cô? Nhưng thôi, cô chú ý làm gì những chuyện đó.
Một con cá quậy dưới nước và lội mau về phía đầu mương làm thành hai làn nước rẽ cuộn lên, y như hai đợt sóng sau chiếc tàu đã tắt máy. Thọ kêu lên:
— Con cá lớn quá!
— Ở mương nhà có nhiều cá lớn lắm.
Khi hai người ngồi dưới bóng râm mát cạnh bờ ao với mấy trái dừa xiêm thì Thọ gợi chuyện cũ:
— Hồi xưa, mình cũng ngồi chỗ này.
— Anh nhớ dai lắm.
— Có gì mà nhớ với không? Tự nhiên cảnh đó đã in trong óc mình.
— Anh nói phải. Tự nhiên mình nhớ mà không cần chú ý đến.
Bỗng dưng hai người im lặng. Một lúc Thọ hỏi tiếp:
— Cô thôi học từ hồi nào?
— Hồi Tây chiếm Vĩnh Long.
— Cũng gần 4 năm rồi.
— Ở nhà đọc sách tự học cũng thích anh à! Ba má không cho em đi xa, mà em nghĩ cũng hữu lý. Em cần có chút ít học thức là đủ, không nên học nhiều quá vì con gái học nhiều cũng lẩn quẩn ở nhà, có làm ông gì, bà gì đâu?
Thọ cười nói:
— Hai bác sợ cô đi xa không yên lòng được trong thời nầy, chớ tôi tin hai người không nghĩ vậy đâu. Ai lại không muốn cho con học giỏi hơn người?
— Nhưng em tự học cũng đủ rồi!
Thọ nhìn nàng, không tin lời nói đó vì chắc chắn Mai không ưa tìm tòi những gì ối óc hay đòi hỏi sự trì chí.
Thọ nín lặng. Mai vụt hỏi:
— Anh chê em dốt hả?
Thọ phản đối ngay:
— Không. Cô đừng hiểu lầm. Nào tôi có ý đó!
Mai mỉm cười hỏi:
— Còn anh? Độ nầy học hành ra sao?
— Anh Hai vừa cho tôi nghỉ học để lo việc nhà. Thật ra, tôi cũng không thích ngồi mãi trong lớp hay theo một ngành chuyên môn nào!
— Vậy anh định làm gì?
— Tôi cũng chưa biết...Tôi...
Câu chuyện lại xoay về hướng cũ nên cả hai đều bí lối như lần trước. Lần nầy, Mai đã ý thức việc đó. Nàng nghĩ không nên làm phiền Thọ mà mình cũng lại bực bội lây. Mai nói lảng:
— Cây dừa nầy ngọt lắm!
— Thấy trái là tôi chắc ngọt rồi.
Thọ đã vạt xong trái dừa và bưng đưa cho Mai. Nàng đỡ lấy nhưng không uống.
Chàng lại vạt một trái khác, đưa lên uống rồi hỏi:
— Kìa sao Mai không uống? Hay cô nhường cho khách?
Mai cười đáp:
— Không phải vậy đâu anh? Em đau mới mạnh không dám uống dừa.
Thọ gật đầu tỏ ý hiểu. Giữa lúc ấy, chị ở ra đến nơi và nói:
— Cô Hai! Ông bà gọi cô.
Thọ đứng lên, trong lúc Mai hỏi chị ở:
— Ba má tôi vừa về hả?
- Dạ.
Vừa chú ý nghe, Thọ ngước mắt nhìn lên. Qua những cành lá xanh tươi, rung rinh theo gió thoảng, mặt trời đã chếch bóng.
Chàng nói:
— Thời giờ mau quá, chiều rồi.
Mai gật đầu tỏ ý nghe chàng nói và bảo chị giúp việc:
— Được rồi, tôi vô liền.
Thiếu phụ nhìn hai người mỉm cười, nụ cười vui vẻ như ẩn chứa sự tình gì, khiến Mai và Thọ ngượng nghịu bên nhau.
Mai nhìn lảng đi, đôi má đỏ ửng. Nàng xao xuyến bâng khuâng nỗi tình khó tả. Trong sự e thẹn còn pha lẫn chút gì êm ái, dịu dàng mà nàng cảm thấy thoáng hiện trong tim...
Thọ nhìn vào nhà nói bâng quơ:
— Bồ câu trắng trên nóc nhà cô đẹp quá.
Mai hình như không nghe tiếng Thọ vì nàng không đáp mà lẳng lặng bước đi.
Mai bước chậm trên con đường đá sỏi, dọc theo ven sông, trong buổi chiều êm ả. Lòng nàng cũng êm dịu, nhẹ nhàng như buổi chiều đang đi đến hoàng hôn. Cây bông chúa trước nhà nở hoa thoảng hương thơm ngào ngạt trong gió, thắm dịu lòng nàng, khiến Mai thấy hồn mình lâng lâng như đang đi trên đường đầy hoa đẹp. Sự có mặt của Thọ từ trưa đến giờ trong nhà nàng khiến Mai nghĩ ngợi nhiều. Những lời nói vui vui của Thọ như nhắc nhở Mai tất cả những kỷ niệm của thời thơ ấu.
Mấy năm về trước, nàng và Thọ là đôi bạn trẻ tuy bề ngoài không thân nhau nhưng bên trong rất mến nhau. Nàng hiểu Thọ qua em gái chàng là Dung, qua những mẫu chuyện ở học đường và nàng rất cảm phục chàng. Cảm tình ấy Mai giữ mãi đến ngày nay. Gặp lại Thọ, qua bao năm xa cách, nàng bỡ ngỡ đôi chút nhưng rồi những kỷ niệm thời xưa được khơi dậy trong lòng. Mai nhận thấy mình đối với chàng cũng như tự thuở nào. Nàng chưa có ý niệm rõ rệt về tình yêu, nhưng trong sự đối xử giữa cha mẹ nàng với Thọ. Mai có cảm tưởng như ông bà dự định một sự gì có liên quan đến tương lai của nàng và người bạn trai dễ mến.
Mai ngồi xuống bãi cỏ bên bờ sông nhìn dòng nước trong xanh, êm đềm chảy, cuốn nhẹ những tấm lá vàng héo về một hướng. Có con chim chìa vôi đang hót gió lẻ loi đâu đó, làm tăng thêm sự vắng lặng buổi hoàng hôn. Bóng nắng đã tan mờ trên các ngọn cây, không gian cũng nhạt màu. Văng vẳng nơi nào tiếng chuông nhà thờ đổ ngân nga.
Bỗng Mai quay nhìn lại. Hình như có tiếng chân ai nhè nhẹ sau lưng nàng. Mai bắt gặp đôi mắt Thọ đang chăm chú nhìn mình.
Nàng cất tiếng ngập ngừng:
— Anh không ở trong nhà nói chuyện với ba... em à!
Tiếng ‘‘em’’ Mai nói nhanh quá nên lấp mất, làm cho Thọ nghĩ rằng Mai có ý nói riêng tiếng ‘‘ba’’ trơn để cho cảm tình giữa hai người thêm sầu sắc.
Chàng đáp nhỏ:
— Bác đang nói chuyện với mấy người cắt lúa.
Hai người cùng yên lặng như để lòng hòa hợp với buổi hoàng hôn đang nhạt dần, rồi tím ngắt.
Thọ bỗng nói:
— Tôi định về, nhưng bác không cho.
— Ba em mến anh, anh ở lại ổng vui lắm.
Thọ im lặng, chàng cảm động trước sự tiếp đãi niềm nỡ của gia đình Mai nhứt là ông Hội Đồng. Ông hỏi thăm chàng từng chút, từ sức khỏe đến bước đường học vấn của chàng. Ông say mê bàn chuyện tương lai của Thọ như với người thân yêu nhứt.
Thái độ của ông Hội khiến Thọ nhớ lại những lời Dung trước khi chàng sang đây:
— ‘‘ Anh đi lâu quá nên bây giờ hai bác muốn biết rõ anh hơn’’.
Mai bỗng cất tiếng:
— Bông chúa thơm không anh? Em thích ngồi đây buổi chiều nhìn ra sông …
Thọ nhìn nàng và nói:
— Mùi bông thơm quá, nhưng có người gọi cây bông nầy là bông dầu thơm phải không cô?
Mai đáp mơ màng:
— Em chỉ thích gọi nó là bông chúa vì ngày nhỏ bà vú bảo em như vậy.
Như chợt nhớ đến bà vú thường săn sóc Mai, Thọ hỏi:
— Vú Năm đâu rồi cô?
Mai nhìn xuống giòng sông, mặt nàng trở nên buồn bã lạ thường:
— Vú chết rồi!
— Sao vậy?
— Hồi Tây đóng bót ở làng mình, vú bị lạc đạn mà chết.
Thọ im lặng cảm thấy một vật gì chận ngang cuống họng. Chỉ mới mấy hôm trở về làng, chàng đã nghe rất nhiều người thân yêu trong thôn xóm chết vì lửa đạn. Chàng không hỏi nữa vì trong cảnh hoàng hôn yên lặng như thế nầy ai đi nhắc đến chuyện đau thương binh biến cho buồn thêm.
Thọ ngó Mai trong bóng hoàng hôn. Mai thẫn thờ như nghĩ ngợi xa xôi, đôi mắt ẩn chứa nhiều tâm sự. Vẻ buồn thoáng hiện trên gương mặt nàng, mong manh như sương chiều tan nhẹ trên sông. Thọ vẫn im lặng, chàng không muốn lời mình có thể làm mờ tan những hình ảnh thân yêu mà Mai đang nghĩ tới.
Bỗng nàng quay về phía Thọ nói:
— Sao em sợ giặc giã quá! May là làng mình có đóng bót chớ không thì bị ruồng bố hoài chắc khổ lắm.
Thọ mỉm cười bâng quơ.
Mai tiếp lời:
— Em chạy giặc có một lần. Hồi Tây vô đóng bót, súng bắn rầm rầm, em với ba má cũng nằm ngoài ruộng cả ngày, nắng gần chết.
Thọ ngạc nhiên hỏi nàng:
— Lúc đó, mẹ tôi và Dung phải chạy qua Cái Sơn hơn một tháng mới về nhà được. Sao cô chỉ chạy có một ngày?
Mai đáp một cách hồn nhiên:
— Dạ, hồi đó trong làng ai cũng bỏ nhà đi hết. Nhiều người đi luôn không dám về. Nhưng ba em có quen lớn với ông Chủ tỉnh Vĩnh Long, nên xếp đồn tới đây là qua thăm ổng liền.
Thọ quay mặt nhìn giòng sông cau mày không nói. Hoàng hôn đã xuống màu đen, chàng không còn phân biệt được rõ ràng những gian nhà lá ẩn hiện bên kia sông nữa. Trên nền trời xám đen, sao thưa bắt đầu le lói.
Thọ bỗng nhớ đến mẹ và Dung. Có lẽ giờ này hai người đang lo lắng, trông chàng. Giữa thời loạn lạc, tai họa bất ngờ nên đi chơi không về là gia đình lo sợ lắm. Thọ biết vậy nhưng ông Hội Đồng ân cần lưu lại, chàng không thể chối từ. Hơn nữa ông đã cho người sang Cái Muối báo tin cho mẹ chàng, nên Thọ cũng yên lòng.
Mai ngạc nhiên nhìn về phía Thọ. Nàng không hiểu sao tự nhiên Thọ yên lặng, làm như có điều gì phật ý chàng.
Nàng dịu dàng hỏi:
— Anh có vẻ buồn?
Thọ đáp:
— Không! Tôi có buồn gì đâu?
Rồi chàng nói tiếp bằng một giọng rất xa xôi:
— Cô Mai, hoàng hôn thường làm cho con người nghĩ đến sự chia cách giữa cuộc đời. Cô thấy không, chúng ta như vừa phiêu lưu từ nơi sáng sủa đến chỗ tối tăm.
Mai nhìn xuống không vui.
Nàng có cảm tưởng Thọ nói ra câu ấy để ám chỉ một sự gì mà chính nàng chưa hiểu thấu. Giữa nàng và Thọ bắt đầu có sự cách biệt. Thọ vô tình nào hiểu đâu câu nói vừa rồi đã khiến Mai nghĩ ngợi rất nhiều. Mai bỗng nói:
— Thôi mình đi vô anh. Tối quá, ba má cho người đi tìm thì bị rầy chết!
Thọ không đáp, lẳng lặng bước theo Mai. Đột nhiên chàng nghĩ đến một ngày nào đó, nếu có, Mai sẽ là vợ chàng. Chiều chiều hai người lại thơ thẩn xem hoa hồng nở trong vườn hay đi dọc theo bờ sông nói chuyện mùa màng ruộng nương và cuộc đời cứ êm đềm trôi như dòng sông lặng lẽ vô tư.
Ý nghĩ ngộ nghĩnh đó đến với Thọ một cách bất ngờ khiến chàng mỉm cười một mình trong bóng đêm.
Bình thường, Thọ không ưa những người thích an thân sống bình lặng bên cạnh sự xáo trộn của cuộc đời. Nhưng bây giờ thì chàng hiểu rõ họ yên phận được như vậy, bởi hoàn cảnh chi phối sự sống mà họ bị trói buộc.
Ánh nắng tràn qua cửa sổ, Thọ mới bừng mắt dậy. Chàng nằm im nhìn tấm màn xanh nhạt lay động trong gió nhẹ, cảm thấy mình đang nằm trong sự êm ấm dịu dàng. Trên nệm bông êm ái, mùi nước hoa dưới mặt gối tai bèo thoang thoảng...
Thọ ngồi lên vén bức màn nhìn ra ngoài vườn.
Nắng tràn ngập lên cỏ, cây, hoa, lá. Đâu đó có tiếng chim hót hòa lẫn trong gió sớm rung cành. Chàng thoáng thấy Mai tươi đẹp trong bộ y phục trắng tinh, đang bước đi trong nắng sớm, trên tay cầm những cánh hoa trắng còn búp nọ.
Mai đi vòng qua hông nhà ra phía trước thềm. Khi đi ngang cửa phòng Thọ, nàng nhìn lên mỉm cười. Vẻ đẹp tự nhiên của một thiếu nữ trong tuổi dậy thì, gây cho chàng sự mơ ước bâng khuâng.
Thọ ra nhà sau rửa mặt. Chàng thấy có đủ xà bông, khăn mặt của ai để sẵn đó như dành cho mình. Chàng thầm hiểu là Mai để ý săn sóc mình dù trước mặt người trong gia đình. Nước mát lạnh làm chàng tỉnh táo, óc chàng như sáng suốt thêm lên.
Khi Thọ ra ngoài thì Mai đã đứng gần đó, nàng chăm chú nhìn bếp lửa và nói với chàng:
— Ba em đợi anh ở trên nhà.
Thọ mỉm cười nói:
— Tôi dậy trễ quá. Ở đây mát mẻ thành tôi ngủ thiệt trưa.
Mai mỉm cười trong khi Thọ ngó nàng. Lần đầu tiên trong cái nhìn của Thọ, nàng thấy bộc lộ hết những cảm tình tha thiểt. Nàng quay nhìn vào bếp lửa, đôi má đỏ hồng lên, không biết vì hơi nóng trong bếp hay vì sự e thẹn trong lòng.
Thọ cũng thấy ngượng. Trong phút giây, chàng quên e dè để bộc lộ nhiều cảm tình trong sóng mắt và lo ngại Mai có thể hiểu lầm ý mình. Chàng bước vội vào phòng để chải tóc, nhưng đôi má hồng tươi đẹp của Mai vẫn ám ảnh chàng. Một điều khiến Thọ nghĩ ngợi nhiều là càng lâu chàng càng nhận thấy Mai đẹp hơn lên, vẻ đẹp hồn nhiên tươi tắn của một đóa hoa vừa hé nhụy đang đợi chờ sự mơn trớn vuốt ve.
Khi Thọ bước ra khỏi phòng để lên nhà trên thì Mai không còn đứng đó nữa chàng nghe tiếng nàng gọi chị ở lảnh lót, phía vườn sau.
Vừa bước vô phòng ăn, Thọ đã thấy ông bà Hội Đồng ngồi vào bàn. Ông Hội cười to lên nói:
— Con trai mà ngủ trưa dữ hông? Làm sao trông coi ruộng nương cho được cậu.
Thọ chưa kịp đáp thì bà Hội Đồng đã đỡ lời:
— Ông khéo hỏi. Từ bển qua đây, cháu nó mệt, phần lạ nhà chắc thức khuya.
Rồi nhìn chàng, bà Hội nói:
— Lại đây cháu! Ăn đi, hai bác mới ngồi xuống thì cháu ra đó.
Thọ ngồi vào bàn, cố tìm một câu chuyện để nói, nhưng xét thấy không có chuyện nào hợp với hoàn cảnh hiện tại. Chàng muốn nói vài lời để tỏ rõ mối cảm tình đối với ông bà Hội song câu nào cũng thấy trơ trẽn. Ông bà đều nhìn chàng bằng đôi mắt biểu lộ tình thương sâu đậm khiến Thọ có cảm tưởng như đã là con rể trong nhà vậy,
Ông Hội Đồng gợi chuyện:
— Cháu thôi học rồi hả?
Thọ đáp:
— Dạ! Anh Hai cháu muốn thế.
Ông Hội tỏ vẻ bằng lòng:
— Cậu Hai nghĩ đúng lắm. Thời buổi nầy lộn xộn học trò hay rủ ren làm bậy hoài mà học hành gì được. Không chừng bị vạ lây nữa là khác.
Rồi ông tiếp lời, nét mặt sung sướng của người được dịp kể lại chuyện ngày xưa:
— Hồi bác còn đi học, đâu có kỳ cục như bây giờ. Học trường Chasseloup cũng oai vệ lắm chớ. Gặp cò lính trâm tiếng Tây ‘‘ rốp rốp’’, nhưng có biết biểu tình, phản đối như bây giờ đâu.
Thọ lại mỉm cười vâng dạ. Chàng không muốn bàn một chuyện mà những người ngồi đây không cùng một ý với chàng. Tuy nhiên Thọ cảm thấy khó chịu trước những lời nói của ông Hội Đồng. Ông có ý chê trách sự thức tỉnh của những chàng thư sinh ngày nay trước cơn xáo trộn lớn lao của xã hội.
Thọ không muốn cãi. Chàng thích giữ sự yên lặng trước ý nghĩ của những người mà chàng liệt vào thời cũ. Nhờ sự im lặng đó chàng vẫn giữ được lễ độ với người trên trước và tránh được nhiều phiền phức.
Bà Hội Đồng bỗng hỏi:
— Cháu về đây định sẽ làm gì?
Thọ đáp:
— Thưa bác, cháu cũng chưa biết.
Ông Hội đồng nói chen vào:
— Bà hỏi lạ, thì cháu nó trông coi điền đất cho chị chủ chớ làm gì?
Ông căn dặn Thọ:
— Ráng mà chăm sóc ruộng nương nghen cháu. Mấy năm nay giặc giã liên miên đất cháu bỏ hoang nhiều lắm! Chị chủ đơn chiếc làm sao coi hết, tụi tá điền nó ăn tước trên đầu.

Thọ ngồi im lặng có vẻ như chăm chú nghe, nhưng thật ra chàng không có chút ý niệm gì về sự đó. Tự nhiên, chàng nhìn ra vườn hoa hy vọng sẽ nhìn thấy Mai. Chàng phân vân không hiểu sao từ nãy giờ, Mai chẳng ra đây? Chớ như hôm qua, lúc nào nàng cũng kề cận bên Thọ cùng nhắc lại những kỷ niệm vui buồn của một thời nhỏ dại đã qua. Chàng bắt đầu thấy thiếu những lời nói hồn nhiên tươi trẻ của Mai.
Ông Hội Đồng vẫn say mê với câu chuyện:
— Dân bây giờ khó lòng lắm! Phải cứng cỏi mới trị được. Bác mà không quen lớn nhiều thì đừng hòng thâu lúa ruộng. Cháu về nhà ít lâu rồi biết.
Như chợt nhớ đến điều gì, ông Hội Đồng xoay qua câu chuyện khác:
— Cháu về mấy hôm nay, có vô bót trình diện chưa?
Thọ đáp:
— Dạ chưa!
Ông Hội cau mày:
— Sao vậy cháu? Phải qua trình với xếp bót chớ? Mông xừ Jean cũng dễ chịu lắm. Hắn qua nhà bác chơi luôn.
Bà Hội ngước lên nhìn chồng nói:
— Hôm nào rảnh ông đem cháu qua bót có phải tiện hơn không? Để nó thấy lạ, lính tráng làm ẩu thi phiền cho chị Chủ.
Thọ nín lặng không đáp. Chàng nhớ đến giọng nói hồn nhiên của Mai chiều hôm qua, khi thuật lại sự quen biết của gia đình nàng với ‘‘xếp đồn’’ rồi chàng chợt nghĩ đến sự hãi hùng của hành khách cùng về chung một chuyến đò trong buổi hoàng hôn khi ghé bến chợ.
Có tiếng chim trao trào vang dậy bên hông nhà khiến bà Hội chú ý.
Bà nói:
— Ổi Sá Lị đã tới kỳ hái rồi đó, ông biểu thằng Nấm đem ghe đến chở đi. Trao trảo dậy lên như vậy, để lâu còn có nước tuốt lá mà bán chớ trái đâu nữa.
— Bà thiệt ham lo. Nó hái hay không kệ nó, tiền chồng đủ được rồi, hơi đâu mà ngó chừng cho mệt.
Thọ liếc nhìn bà Hội Đồng. Trên gương mặt đều đặn của bà, chàng thấy phản phất nhiều nét hiền từ đáng mến. Chàng nghĩ rằng Mai có lẽ giống mẹ nhiều hơn cha.
Ông Hội Đồng đứng lên hỏi chàng:
- Cháu ra ruộng coi cắt lúa không? Hay ở nhà nói chuyện với em.
Thọ cũng đứng lên xin phép:
— Thưa hai bác cho phép cháu về, sợ má cháu trông.
Ông Hội Đồng cau mày:
— Sao về sớm vậy? Ở đây ăn cơm rồi hãy về.
Thọ tìm cớ thoái thoát:
— Thưa bác, cháu còn phải đi thăm mợ cháu nữa.
Bà Hội cũng nói:
— Thôi để cháu nó về ông à, không chị Chủ trông.
Ông Hội nói buông xuôi:
— Ừ, thì tùy ý cháu, nó muốn về thì về.
Thọ chấp tay xá ông bà rồi ra cửa.
Chàng định đi vòng ra phía nhà sau để từ giã Mai nhưng khi đến hông nhà, chàng thoáng thấy Mai đang đứng trong vườn. Nàng đang cắt bạc hà nên không nhìn thấy Thọ, mặc dù chàng đã đến sau lưng nàng. Gió sớm lồng lộng trong vườn cây làm rối tung mái tóc của Mai khiến nàng phải dừng tay vuốt lại mấy lần. Những ngón tay nhỏ ngắn xinh xinh, lùa qua làn tóc đen huyền làm nổi bật lên màu da trắng nõn nà.
Thọ khẽ gọi:
— Cô Mai.
Mai quay đầu lại và khi thấy Thọ nàng ngạc nhiên hỏi:
— Sao anh không điểm tâm với ba má?
— Xong rồi cô!
Mai mỉm cười, đôi môi hồng lên dịu ngọt. Nàng đưa mấy cọng bạc hà lên rồi nói:
— Em định nấu canh chua cho anh đây. Không biết anh còn thích hông?
Thọ nhìn Mai với đôi mắt chan chứa cảm tình. Chàng nói:
— Cô nhớ dai quá, món đó tôi vẫn thích lắm, nhưng tôi phải về!
Mai ngó Thọ không nói. Đôi mắt nàng thoáng vẻ buồn, nỗi buồn nhẹ nhàng, giản dị. Cả hai nhìn nhau im lặng, sự im lặng dịu dàng ấy khiến Thọ bối rối. Chàng tìm mãi không thốt ra được một câu cho vừa lòng Mai.
Sau cùng, chàng đành nói:
— Không được ăn nồi canh của Mai, tôi tiếc quá!
Giọng nói của Thọ không đem lại cho Mai sự vui tươi. Nàng khẽ hỏi:
— Chừng nào anh qua nữa?
Câu hỏi rất thông thường nhưng giọng nàng buồn buồn, khiến Thọ bâng khuâng.
Chàng đáp:
— Bao giờ rảnh tôi sang thăm hai bác và cô.
Mai mỉm cười, gượng gạo. Nàng nhìn xuống mấy cọng bạc hà bảo Thọ:
— Nồi ‘‘canh chua’’ của em hết ngon rồi.
Thọ nhìn nàng ái ngại. Lần lần chàng đâm ra lo sợ bâng quơ. Chàng thấy mình đi quá sâu vào cuộc đời một người con gái mà tâm hồn nàng và những người thân mến của nàng đều cách biệt với mình. Nhưng Thọ không chối cãi được lòng mình là chàng cũng bắt đầu mến Mai, qua vẻ đẹp duyên dáng hồn nhiên của người con gái đang tuổi dậy thì. Giữa khung cảnh đồng quê êm dịu, lòng người dễ rung động và cảm thông nhau, nhất là khi họ có những kỷ niệm vui buồn với nhau trong thời thơ ấu.
Hai người lẳng lặng đi bên nhau, mỗi người một nỗi niềm riêng.
Gần đến bờ sông Thọ nói:
— Thôi cô vào nhà. Hôm nào rảnh tôi lại sang.
Mai mỉm cười, nàng cố giữ sự vui vẻ trước phút chia tay với người yêu mến, nhưng Thọ vẫn nhìn thấy vẻ lưu luyến trong đôi mắt của nàng. Lòng chàng trở nên êm dịu, nhẹ nhàng.
Trên bộ ván trong nhà. Bà Hội dõi mắt trông theo đôi trẻ, nụ cười dễ dãi nở trên môi.
Chương 3
Con chim khách từ đâu bay đến đậu trên hàng rào kêu lên mấy tiếng rồi bay đi, khiến Dung chú ý.
Nàng nhìn anh mình đang ngồi đọc sách nơi bệ trường kỷ, đặt bên trái gian nhà và nói:
— Chim khách đó!
Thọ không ngó lên khẽ đáp:
— Chim kêu thì có gì lạ?
— Chim khách kêu chắc có khách! Người ta thường bảo vậy.
Thọ mỉm cười:
— Có lẽ đúng. Bữa nay không ai đến thì chắc mai, ngày mai không ai đến thì không chừng mốt, ngày kia... nhứt định thế nào cũng có khách đến nhà mình.
Dung biết anh chế nhạo mình, nên cự nự:
— Anh ngạo em à?
— Thà anh em ngạo nhau còn hơn để người ngoài!
Giữa lúc đó, Dung thấy ngoài cổng có người đi vào, nên cười đắc thắng:
— Anh coi kìa! Không phải khách thì ai đó?
Thọ nhìn ra và tự nhiên chàng bối rối. Từ ngoài cô gái Trung Hoa ở cạnh nhà đang bước qua con đường lót gạch.
Dung đứng lên đón Hà Anh với vẻ săn đón tự nhiên của đôi bạn thân thích láng giềng, trong khi Thọ đứng lên chào cô bạn gái của em.
Dung nhìn về phía Thọ và nói:
— Anh Thọ tôi đó. Còn đây là bạn em.
Thọ mỉm cười nói:
— Mời cô ngồi.
Hà Anh có vẻ ngại ngùng vì thấy Thọ toan bỏ đi. Chàng không muốn làm phiền bè bạn của em, nhưng vừa lúc đó Dung nói:
— Anh cứ ở đây. Chúng em không có chuyện riêng tư gì đâu!
Hà Anh lễ phép nói:
-Xin anh tự nhiên. Em và chị Dung cũng như người nhà.
Thọ ngồi lại chỗ cũ khi Dung và Hà Anh ngồi trên bộ ván gõ gần đó. Dung đong đưa đôi chân, dựa vai mình vào vai Hà Anh và nói:
— Chim khách vừa kêu là chị đến.
— Vậy à? Sáng ngày nó cũng kêu bên nhà tôi. Giống chim đó ở làng mình nhiều lắm.
Dung nói khẽ:
— Anh tôi nói chim đó kêu không linh ứng gì hết, nhưng chị đến làm anh ấy thua tôi.
Hà Anh mỉm cười, nàng nói khẽ đủ cho Dung nghe:
— Chị cho chim khách kêu là có khách thì cả làng nầy có lẽ nhà nào cũng có khách. Vườn nhà ai cũng có giống chim ấy mà.
Dung cười, nụ cười của một cô gái lòng trong trắng chưa vẫn bụi đời. Nàng vui thích tự nhiên khi ngồi bên bạn dù cả hai vẫn thường gặp nhau luôn.
Riêng Thọ từ lúc Hà Anh có mặt nơi nhà, chàng không còn để tâm trí vào sách nữa. Lòng chàng không được bình tĩnh trước cô gái láng giềng. Thọ nhớ ngay đến đôi mắt long lanh sáng đã nhìn trộm mình, bên trong khung cửa sơn màu xanh tối, buổi sáng nào đó khi chàng mới trở về. Đôi mắt đẹp ẩn chứa nỗi niềm sâu kín đã tạo nên phút giao cảm bất ngờ giữa chàng và nàng mà có lẽ suốt đời chàng không quên được...
Thọ nghĩ mình nên gợi chuyện với Hà Anh để tìm hiểu những điều nghĩ ngợi của nàng. Chàng để sách xuống rồi bảo Dung:
— Sao em không rót nước mời cô uống?
Dung ngồi thẳng lên nhìn anh mỉm cười, nọ cười hồn nhiên không chút ẩn ý, nhưng Thọ bỗng thấy ngượng ngập lạ lùng.
Hà Anh quay lại bảo chàng:
— Anh đừng bận tâm. Chúng em qua lại với nhau luôn, có phải khách khứa gì đâu?
Thọ mỉm cười, chàng không tìm được một câu nói tiếp theo. Thường thường ít khi chàng rụt rè như vậy, nhưng không hiểu sao đối với Hà Anh, chàng tìm mãi không ra lời?
Có phải chăng vì sự có mặt của Dung làm chàng khó gợi chuyện, vì Dung hiểu anh để ý đến cô bạn gái của mình. Riêng Thọ, chàng muốn nói chuyện với Hà Anh nhưng lại không thích em nghĩ xấu về mình.
Dung ngã đầu vào vai Hà Anh và hỏi:
— Hôm nay chị không lên chợ sao?
— Cha tôi đi rồi!
— Bác cũng mua hàng được nữa à?
Hà Anh nhìn về phía nhà mình khẽ đáp:
— Cha tôi quen rồi chị! Lúc trước ông thấy tôi phải thức khuya giặt đồ cho mấy em để kịp đi đò lên chợ mua hàng, nhiều khi về đến nhà mệt ngất nên ông đi thay cho tôi đó.
Dung nhìn Hà Anh. Chỉ có nàng mới hiểu rõ hoàn cảnh của người thiếu nữ Trung Hoa kia và nàng vẫn thầm cảm phục bạn. Đôi khi Dung tự hỏi: Nếu chẳng may gia đình gặp phải cảnh sa sút không biết nàng có đủ sức chống đỡ như Hà Anh chăng?
Đột nhiên, nàng nhìn về phía Thọ và cảm thấy mình sung sướng hơn bạn nhiều. Nàng không có em để phải lo lắng cho chúng mà trái lại còn được nương tựa vào các anh là khác! Càng nghĩ, Dung càng thương mến Hà Anh, sự thương mến của một thiếu nữ sống đầy đủ và giàu tình thương.
Hà Anh bỗng hỏi nàng:
— Dung có nhiều anh không?
Dung liếc nhìn Thọ rồi đưa hai ngón tay ra dấu cho Hà Anh biết là mình có tất cả hai người.
Hà Anh lại hỏi:
— Sao tôi không được gặp?
— Anh Hai làm việc ở Sài gòn, còn anh Thọ cũng đi học trên ấy.
— Thế à!
Cả hai lại yên lặng.
Thọ thấy mến ngay sự hồn nhiên của Hà Anh. Nàng tò mò là thành thật hỏi ngay, chớ không biết tìm cách hỏi quanh quẩn. Tâm tính đó quả tình khó kiếm ở một nàng thiếu nữ khác. Riêng Hà Anh, nàng hơi thắc mắc về sự có mặt của Thọ dưới mái gia đinh này. Lễ Phục sinh đã qua, mà cũng không phải là tháng bãi trường tại sao Thọ về nhà? Nhưng nàng thấy mình không nên quá tò mò.
Dung nhìn nàng khẽ hỏi:
— Chị sang chơi hay có việc gì?
Hà Anh ngập ngừng hỏi lại:
— Nhà chị có đàn phải không?
Dung gật đầu:
— Của anh Thọ em đó.
— Chắc anh ấy có nhiều bản nhạc lắm! Chị cho tôi mượn được không?
Thọ ngồi yên trên ghế chăm chú nhìn vào sách.
Dung toan gọi chàng thì Hà Anh ngăn lại:
— Thôi chị ạ.
Dung cười nói:
— Em bảo ảnh cho chị mượn chứ gì!
Thọ buông sách nhìn về phía hai người. Hà Anh lúng túng ngó xuống đất. Sự ngượng nghịu đó làm tăng thêm vẻ đẹp hồn nhiên của nàng.
Dung cất tiếng:
— Chị Hà Anh hỏi anh đó.
Hà Anh thẹn quá, đôi má đỏ ửng lên. Nhưng chỉ thoáng qua, gương mặt của nàng tự nhiên trở lại.
Thọ hỏi:
— Cô Hà hỏi chi?
— Em muốn mượn anh vài bản nhạc.
Thọ đứng lên, bước về phòng riêng lấy tập nhạc trao cho Hà Anh và nói:
— Cô cũng thích âm nhạc nữa hả?
Hà Anh đáp:
— Hồi còn đi học, em mê nhạc lắm. Nhưng từ lúc về đây bận bịu nhiều, nên không có thời giờ đàn hát như xưa.
Thọ nhìn Hà Anh, cảm thông được phần nào hoàn cảnh của nàng qua câu chuyện mà Dung đã kể.
Chàng khẽ nói:
— Ở đời ai cũng có nỗi khổ riêng, nhưng mình phải tự tạo lấy sự sống từng lúc cho phù hợp với hoàn cảnh.
Hà Anh nhìn chàng có vẻ cảm động trước lời khuyên thành thật ấy. Dung liếc nhìn Thọ và nàng hiểu ngay những lời nói kia, anh đã nghiền ngẫm từ lúc trở về nhà.
Nàng nhìn ra vườn, bảo Hà Anh:
— Chị ở chơi! Em ra ngoài nầy một chút.
Hà Anh toan ngăn lại thì Dung đã chạy đi. Trong phòng khách còn có hai người, khiến họ cùng ngượng ngập. Một lúc sau, Thọ cất tiếng phá tan bầu không khí nặng nề đó!
— Lúc trước cô học ở trường nào?
— Dạ, em học ở Trung học Pháp-Hoa.
Thọ nhớ những buổi sáng, qua đường Cây Mai, ngang trường Trung học ấy chàng thường gặp những nữ sinh mặc đồng phục trắng xanh. Mỗi buổi tan học, họ cười đùa vui vẻ tung tăng trên đường phố như đàn chim xanh, tung cánh ngoài nắng sớm. Bây giờ đây, trước mặt chàng một con chim đang lẻ bầy, lạc lõng bơ vơ... Hoàn cảnh của Hà Anh nào khác chi chàng, khiến Thọ ngậm ngùi.
Hà Anh nhìn vào bản nhạc, đọc nho nhỏ những âm phù trong khuôn nhạc, giọng nàng lên cao xuống thấp, tạo nên âm điệu buồn, khiến Thọ nhận thấy giọng nàng chứa chan tình cảm, đủ diễn tả bản hát đầy đủ màu sắc u buồn đó. Và con người thoạt cầm bản nhạc mà hát được ngay thì phải là người có học, hiểu khá nhiều nhạc lý.
Hà Anh lại mở bài hát khác và nhìn vào. Đôi mắt nàng tươi sáng lên, nàng hát bằng tiếng Trung Hoa, giọng nàng vui tươi sáng sủa làm không khí buồn thảm vừa rồi như bay tan mất.
Thọ nhìn nàng, thấy ngay sự hồn nhiên tươi trẻ của tuổi xanh, của cô học trò vui vẻ vừa hiện lên trong đôi mắt và mùa xuân sáng đẹp như đậu trên vừng trán thông minh của nàng. Thọ có cảm tưởng không ai diễn tả bài hát đó bằng nàng lúc bấy giờ. Nhưng Hà Anh chợt ngừng tiếng hát và tươi cười hỏi Thọ:
— Đây là bản nhạc Trung Hoa mà anh? Người Việt cũng hát nữa sao?
Thọ đáp:
— Bản ‘‘Xuân và tuổi trẻ’’ của La Hối, lời ca do một thi sĩ Việt soạn!
Hà Anh nhìn chàng rồi lại hát nho nhỏ. Một lúc sau nàng ngừng lại nói:
— Bản nầy rất được học sinh Trung Hoa ưa thích.
— Riêng tôi, tôi lại mến tác giả của nó nhiều hơn! Người là một liệt sĩ.
Hà Anh mở to mắt nhìn chàng:
— Anh biết rõ cái chết của nhạc sĩ?
— Bạn tôi là một người trong gia đình La Hối.
Hà Anh nhìn Thọ như chờ đợi chàng kể lại cuộc đời của người nhạc sĩ quá cố! Chàng từ từ thuật lại:
— La Hối là người Trung Hoa, sinh trưởng ở Hội An. Chàng đã gia nhập một tổ chức kháng Nhật vào năm 1944 nhưng lại bị chúng bắt được và giết đi cùng với mười thanh niên Trung Hoa khác. Tất cả đều bị vùi dập chung một huyệt không áo liệm, không quan tài.
Hà Anh lặng người nhìn ra ngoài trời. Nàng khẽ thở dài, không nói, nhưng trong ánh mắt nàng ngời lên niềm uất hận! Thọ cảm thấy Hà Anh gần gũi với mình nhiều hơn qua câu chuyện thương tâm đó. Ngày trước, khi nghe thuật lại cái chết của người liệt sĩ Trung Hoa, chàng thấy lòng mình sôi lên niềm uất hận và bắt đầu hiểu một cách sâu xa hơn ý nghĩa của sự căm thù. Bây giừ thì chàng được thấy hình ảnh của mình ngày xưa, trong đôi mắt Hà Anh. Chàng thấy mến nàng, mến cái hình ảnh trong đôi mắt, mến sự căm thù tự nhiên của một tâm hồn vừa chớm hiểu rằng trên đời nầy còn có nhiều sự bất công. Thọ xúc động nhiều vì Hà Anh vừa gây lại trong lòng chàng niềm tin tưởng. Dung không thể hiểu được chàng và Mai lại càng xa cách hơn.
Thọ tin tưởng Hà Anh sẽ hòa hợp trong sự cảm nghĩ với mình, dù nàng không cùng một quê hương, nòi giống. Tự nhiên Thọ thấy lòng mình vui thích hơn lên, chàng hát nho nhỏ theo âm điệu bản hát:
‘‘Nầy lớp thanh niên đầy máu nóng
‘‘Tâm chí sôi hăng lòng tranh đấu
‘‘Tiễn đưa chuỗi ngày xưa u ám
Thọ bỗng nín lặng! Hà Anh không ngó chàng, nhưng Thọ biết nàng đang lắng nghe và tìm hiểu lời ca Việt. Nàng ngước nhìn Thọ, mỉm cười và nói rất tự nhiên:
— Lời ca hay quá anh!
Hai người cùng cười. Hà Anh nhìn ra phía vườn sau tìm kiếm Dung nhưng nàng vẫn biệt dạng. Thọ ngầm hiểu Dung muốn mình và Hà Anh tự do nói chuyện với nhau nên mới lẩn đi chỗ khác. Hà Anh cũng chợt cảm thấy điều đó, nàng cúi mặt bẽn lẽn, đôi má đỏ hồng.
Từ xa, có tiếng tù và rúc lên từng hồi lan trong không gian yên lặng. Hà Anh ngẩng lên nhìn Thọ nói:
— Đò đi Vĩnh Long về rồi đó anh. Em phải ra lấy hàng, nhờ anh nói lại với chị Dung giùm em...
Thọ đáp:
— Cô cứ tự nhiên.
Hà Anh ôm xấp nhạc vào lòng nói tiếp:
— Em mượn mấy bản này vài hôm, được không anh?
Thọ gật đầu, nhìn thẳng vào đôi mắt nàng khiến Hà Anh bẽn lẽn. Nàng cúi chào chàng lần nữa mới bước ra cửa. Thọ lặng yên nhìn theo, đến khi bóng Hà Anh khuất sau cánh cửa nhà nàng... Chàng quay vào nhà, cất tiếng gọi:
— Dung à!
Một chuỗi cười tươi trẻ hồn nhiên chợt nổi lên. Dung đứng sau lưng chàng tự bao giờ. Nàng nhìn Thọ tủm tỉm cười:
— Anh gọi em chi?
Thọ cố giữ vẻ nghiêm trang cho Dung mất dịp chọc phá mình. Chàng đáp:
— Bạn em vừa về đó. Cổ gởi lời chào em.
Rồi làm ra vẻ không bằng lòng, Thọ nói:
— Tại sao bạn đến nhà, em lại bỏ đi? Anh thấy em cư xử không đẹp chút nào hết.
Dung nhìn anh đáp:
— Em tưởng anh tiếp chị ấy giùm em.
Thọ suýt bật cười trước vẻ mặt ngơ ngác của Dung, nhưng đã lỡ làm nghiêm, chàng nín lặng bước ra vườn, trong lúc Dung nhìn theo anh hết sức ngạc nhiên. Thái độ của Thọ càng làm cho nàng khó hiểu hơn.
Mặt trời vừa khuất sau hàng dừa bên kia sông, những tia nắng cuối cùng còn óng ánh trên cỏ, cây, hoa, lá. Buổi chiều êm mát nhẹ nhàng. Giòng sông rộng mênh mong, gặp con nước rông lớn, tràn lên mé bờ, ngập luôn chiếc cầu ván, chỗ khách đi đò thường hay lên xuống. Bến chợ rộn rịp lên một lúc, trước khi trời tắt nắng, rồi vắng ngay đi, càng làm tăng thêm vẻ cô tịch, đìu hiu. Những người đi chợ đã vội vã trở về nhà, trong những xóm xa, trước giờ thiết quẫn luật.
Hà Anh đã quá quen thuộc với cảnh sống trên bến sông nên không buồn chú ý đến nữa. Nàng yên lặng ngồi câu bên bờ vẻ mặt đăm chiêu nghĩ ngợi. Những chiều êm ả như thế nầy, nàng chỉ thích ngồi một mình, hay làm những việc lặt vặt đòi hỏi thói quen của tay chân để cho trí óc nàng được thảnh thơi.
Ngày nhỏ, Hà Anh thường hay ngồi một mình trong vườn khi chiều xuống mà mơ đến tương lai. Nàng sống êm ấm dưới mái gia đình, trong sự giàu sang sung túc, chưa biết lo nghĩ là gì và nàng hay mơ đến những chân trời xa lạ. Nàng thường nhìn theo những cánh chim bay ngang trời mà ao ước mình có đôi cánh nhỏ để suốt ngày nhởn nhơ nơi rừng thẳm bể khơi, để được thấy tất cả những sự đẹp trên đời. Đôi khi nàng ngồi nhớ lại hình ảnh một cô bé tóc ngắn ngồi mơ trong vườn vắng mà cười một mình.
Sợi dây nhỏ bỗng căng thẳng, cần câu động đậy, Hà Anh giựt mạnh tay. Một con cá nhỏ mắc vào lưỡi câu giẫy giụa, bụng cá trắng bạc, óng ánh dưới ánh nắng buổi chiều đang tan dần trên mặt sông. Hà Anh gỡ cá bỏ vào rổ, móc mồi thả xuống nước.
Bỗng nàng chú ý đến tiếng cười nói văng vẳng từ xa. Hà Anh ngoảnh nhìn lại và thấy cha nàng từ ngoài vàm trở về với một người đàn ông ốm nhỏ, mặt tái, môi thâm. Hai người đi qua chỗ nàng ngồi mà không chú ý đến. Hà Anh thấy cha cười nói luôn miệng: sự vui vẻ đó nàng ít khi thấy trên khuôn mặt của cha, từ khi gia đình gặp cảnh sa sút. Luôn mấy ngày qua, chiều nào cha nàng cũng đi ra xóm ngoài với người lạ mặt đó. Hà Anh rất lo ngại! Nàng không dám nghĩ quấy cho cha nhưng đời sống của các em, bắt buộc nàng phải lưu ý đến hành động của ông.
Tự nhiên, Hà Anh lại nghĩ đến mẹ, nhớ đến những lời trối trăn của bà trước khi lìa bỏ cõi trần:
— ‘‘ Mẹ chết rồi, con hãy ráng lo cho các em thay mẹ. Đừng vì một lẽ gì mà bỏ rơi chúng nó nghe con! Cha của con... ‘‘
Hà Anh nhớ suốt đời tiếng nấc nghẹn ngào trong cổ họng mẹ nàng. Bà đã tiếp:
— ‘‘ Cha con rất nhiều tham vọng và nhiều tật xấu. Cuộc sống sang giàu đã biến đổi ông rồi. Đừng quá trông cậy vào ông’’.
Hà Anh không hề dám suy xét hành động của cha. Từ khi mẹ nhắm mắt, nàng chỉ biết làm tròn bổn phận của một người chị đối với đàn em côi cút. Nàng chưa đầy hai mươi tuổi mà phải bỏ học để lo lắng việc gia đình. Nàng còn nhỏ quá, chưa hiểu được việc làm ăn của cha: thua lỗ như thế nào mà nhiều nhà phố ở Chợ lớn, các lò gạch, các chành lúa rải rác ở lục tỉnh đều bán sạch. Cha nàng càng thua lỗ càng ăn chơi lớn hơn: bài bạc, ăn hút ngày đêm... Nhà nàng lúc nào cũng đông đầy những khách, họ vui chơi suốt đêm, tiếng bài chim như pháo nổ không bao giờ dứt. Nhưng khi mà gia đình nàng đã kiệt quệ thì bè bạn của cha nàng cũng lần lần vắng bóng. Nhà nàng từ đấy như một ngôi nhà mồ, không một ai lui tới. Vòng vàng của mẹ nàng để lại Hà Anh cứ cầm bán lần hồi để lấy tiền chi dụng trong nhà và mua thuốc phiện cho cha. Ông Ban Phánh nằm lịm trong phòng suốt ngày bên cạnh khai đèn không nói một lời mà cũng chẳng muốn đi đâu hết... Nợ nần chồng chất lên, sau cùng cái biệt thự hương hỏa của mẹ nàng cũng đành bán nốt. Đến lúc ấy, Hà Anh mới phải nghĩ đến sự sống của gia đình, tìm cái ăn cái mặc cho các em.
Nàng vẫn nhớ lời trăn trối của mẹ:
— ‘‘ Đừng trông cậy vào cha con nữa’’.
Nhưng biết sao khi nàng chưa đến tuổi trưởng thành và cha nàng lại không hề nghe lời khuyên can của ai cả, ngoài mẹ nàng. Đến lúc trong nhà không còn gì hết, sự đói rách hăm dọa, cha nàng mới nghĩ đến các con. Ông đưa gia đình xuống Vĩnh Long định sống nhờ số lúa ruộng hằng trăm mẫu, rải rác nhiều làng. Nhưng về đến chợ tỉnh, ông gặp nhiều trở ngại. Vào thời này không sống hẳn ở thôn quê, đừng hòng thâu lúa ruộng. Và từ đấy, gia đình nàng phải sống một cách chật vật ở thôn quê hẻo lánh nầy...
Hà Anh bắt đầu đụng chạm với đời để giành lấy miếng cơm cho các em. Những điều mơ ước ngày xưa đối với nàng xa xôi quá. Nàng chỉ biết nghĩ đến cái ăn, cái mặc cho các em qua hai mùa mưa nắng. Cha nàng giờ đây chỉ biết sống trong hối hận triền miên của những năm cuồng dại. Ông bỏ hút nên bị hành hà dở sống dở chết... song ông đã thoát khỏi tật bệnh ghê gớm đó. Nhưng biết đâu mai kia ông có thể trở lại bệnh ghiền cũ? Hà Anh rùng mình, nghĩ đến cảnh ghê gớm đó, tái diễn trong gia đình nàng. Nhưng ai hiểu được ngày mai khi chính bản thân mình bị chi phối bởi người khác và hoàn cảnh trái ngang.
Ánh nắng cuối cùng luyến tiếc rời bỏ ngàn lá xanh bên kia bờ. Vạn vật trở nên buồn buồn trong bóng hoàng hôn... Trên không, vài con cò về tổ trễ, đập nhanh đôi cánh trắng phau rồi khuất trong lùm cây rậm lá. Những đám mây trắng đã ngã màu ngà, bầu trời xanh đã biến sang màu sậm đưa dẫn đến màu đen. Đâu đó có tiếng chim lẻ bạn, tiếng dơi muỗi lào xào lẫn trong tiếng gió nhẹ lay cành. Dưới bến sông, cơn nước rông lên đầy mé đã đứng lại không lùa được những đợt lục bình lơ lửng giữa giòng ra sông cái. Giòng nước xanh chìm đi trong màu xám sậm và những bóng cây bên kia bờ ngã xuống giòng, càng lúc càng hiện ra lù lù thành hàng trong bóng nước. Thỉnh thoảng những bóng cây tan mờ xao động vì những chiếc xuồng con lướt qua làm vỡ tan gương nước phẳng lì. Người đi xuồng khuấy nhanh chiếc giầm để mau về đến nhà. Xa xa tiếng ai hát ru con, gieo giọng buồn tản mác trên giòng sông lặng lẽ.
Hà Anh ngồi yên trong bóng hoàng hôn, lòng nàng như hòa hợp với vạn vật buồn man mác. Có lẽ cá cũng buồn trong lúc hoàng hôn nên hờ hững với mồi câu.
Hà Anh cũng không tha thiết gì câu cá nữa. Nàng cầm chiếc cần mà mắt nhìn sang bên kia sông, trong óc thoáng hiện cảnh chiều buồn trong những bức tranh Tàu đã được bàn tay tài ba của họa công tô điểm lên trên lụa.
Và hình ảnh đó cũng hiện lên trong trí Thọ. Chàng đứng nhìn Hà Anh ngồi câu dưới bến sông tự nãy giờ. Sương chiều lan nhẹ trong không gian làm mờ mịt cây cỏ nước mây, như những nét mờ mờ trong bức tranh Trung Hoa cổ. Nhưng rồi, Thọ chú mắt nhìn Hà Anh vì nàng là nét linh động nhứt trong buổi hoàng hôn. Nàng ngồi lặng lẽ, làn tóc đen chảy xuống đôi má mịn hồng, xuống đôi vai nhỏ thó và lưng áo lụa trắng tinh, trán nàng cao sáng sủa, sóng mũi thanh thanh làm gương mặt nàng thanh tú thêm lên. Đôi mắt đen thoáng nét u buồn nhưng linh động và đôi môi hồng tươi thắm khiến nàng có duyên vì lúc nào cũng như có sẵn nụ cười tươi ẩn hiện. Nụ cười đó sẽ khiến người chung quanh không đoán được tâm trạng của nàng dù nàng đang trải qua những phút bực dọc hay buồn khổ nhứt đời. Nàng giữ được vẻ cao quí của người phụ nữ Á Đông, lúc nào cũng sâu kín và trầm lặng.
Thọ nghĩ nhiều về Hà Anh và về cuộc sống hiện tại của nàng. Nét mặt dịu hiền, tánh tình khả ái và nhứt là sự cảm nhận về cuộc đời của Hà Anh rất hòa hợp với Thọ, khiến chàng có cảm tình với nàng rất nhiều. Chàng bước lần về phía Hà Anh và dừng lại bên hàng cây trứng cá.
Gió mát từ ngoài vàm sông Cửu Long thổi lộng vào làm đong đưa mái tóc xinh xinh của Hà Anh. Nàng đưa tay vuốt mấy sợi tóc lòa xòa xuống má và đột nhiên cảm thấy như có ai đang nhìn trộm mình.
Hà Anh quay đầu lại và bắt gặp Thọ đang chăm chú nhìn mình. Bốn mắt gặp nhau, cả hai cùng e thẹn.
Thọ gợi chuyện trước:
— Nhiều cá không cô?
Hà Anh đáp:
— Dạ! Không được bao nhiêu!
Hai người lại im lặng. Thọ không hiểu sao mỗi lần gặp Hà Anh chàng không tìm ra lời nói! Chàng đâm ra lúng túng trước mặt cô gái láng giềng. Hà Anh cũng thế! Đối với Thọ, nàng không giữ được vẻ tự nhiên như đối với những chàng trai trẻ khác. Có lẽ vì Thọ đứng đắn và đáng kính hơn tất cả. Thọ ngước nhìn ra phía vàm sông, đôi mắt mơ màng. Chàng nói:
— Trước kia tôi thường ngồi đây nhìn ra sông Cái và mơ những chuyến viễn du...
Hà Anh nhìn Thọ, lòng rộn lên niềm vui. Nàng không ngờ Thọ cũng từng có mộng ước như mình. Nhưng nàng lại thở dài, niềm vui vừa thoáng hiện đã tan biến ngay. Những ước mơ của Thọ còn có ngày thực hiện được, chớ như nàng còn mong gì nữa! Hiện tại cuộc sống của nàng vô cùng chật vật, tương lai mù mịt như trời đêm...
Thọ bỗng nói:
— Giòng sông nầy buồn quá phải không cô? Nhứt là trong những buổi hoàng hôn như chiều nay.
Hà Anh nhìn mặt nước đen mờ khẽ đáp:
— Em thì em cho rằng cảnh có buồn là do tâm trạng của mình.
Thọ nhìn nàng hỏi:
— Cô nói thế thì hiện tại tôi đang buồn lắm sao?
Hà Anh bẽn lẽn cúi đầu:
— Em làm sao biết được! Em chỉ nói những điều em nghĩ ra thôi...
— Tôi chưa biết điều nghĩ ngợi của cô có đúng chăng? Nhưng mỗi lần ngồi đây trong hoàng hôn, tôi lại nghĩ đến những ngày vui rồi hết, những cuộc gặp gỡ rồi ly tan, những người yêu nhau rồi chia cách...
Hà Anh không hiểu kịp ý nghĩa câu nói của Thọ nhưng nàng thấy bùi ngùi. Có tiếng giầm khuấy nước sông, làm hai người chăm chú nhìn.
Một chiếc xuồng vượt qua sông, đang từ từ cập bến chợ. Người bơi xuồng vừa thấy Thọ đã kêu lên:
— Kìa cậu Ba! Làm gì đứng đó?
Thọ nhìn ra anh Hai Thắng ở rạch Bà Chồi, chàng chưa kịp đáp thì anh ta đã nhìn thấy Hà Anh ngồi cạnh đó. Hai Thắng vụt cười to lên bảo Thọ:
— Cậu muốn về Tàu hả? Con xẩm này coi được đó cậu!
Thọ giận run lên, cổ họng chàng như nghẹn lại. Chàng toan nói vài lời để bênh vực Hà Anh nhưng Hai Thắng đã đi vào chợ, giọng cười hô hố của hắn vẫn vang lên. Thật là bất ngờ. Thọ e ngại nhìn Hà Anh, nàng thiếu nữ Trung Hoa vẫn điềm nhiên, lạnh lùng nhìn ra ngoài sông, làm như không nghe thấy những lời hồ đồ đó. Thọ muốn giải bày cho Hà Anh đừng hiểu lầm mình, nhưng tìm mãi không ra lời. Riêng Hà Anh, đây không phải là lần đầu tiên nàng được nghe những lời kém nhã nhặn đó. Hơn một năm rồi, được dịp sống chung đụng với người Việt, nàng mới thấy rõ giữa hai giống dân còn nhiều thành kiến bất công, còn nhiều sự khinh miệt lẫn nhau đáng trách. Nàng là người Trung Hoa nhưng sống ở đất nước nầy từ khi mới lọt lòng. Nàng học chữ Việt, hiểu rành tiếng Việt và xem nước Việt như quê hương mình. Ngày còn nhỏ, sống biệt lập trong khu vực người Trung Hoa giàu có, nàng không ngờ có những người Việt xem người Trung Hoa như những kẻ vong quốc, những kẻ ăn nhờ ở đậu, mà sự khinh khi biểu lộ một cách trắng trợn trong lời nói giữa khi giao tiếp với nhau. Nàng đã gặp nhiều người Việt vào quán của nàng dùng những câu thô bỉ xúc phạm đến cha nàng, đến danh dự của nàng.
Hà Anh chua xót vô cùng, nhưng bẩm sinh nàng vốn hay chịu đựng, nên sự gì rồi cũng qua đi. Đôi khi, có những chàng thanh niên chọc ghẹo nàng bằng những lời tục tằn... Hà Anh làm như mình không hiểu được tiếng Việt và dùng tiếng Trung Hoa đáp lời họ để họ cảm nhận rằng nàng không hề hiểu được những lời bất nhã kia. Hà Anh cũng hiểu là sự khinh miệt kia phát sanh do thành kiến phân chia chủng tộc còn sót lại trong một số người nào đó! Lúc đầu nàng còn khổ sở nhưng dần dần cũng quen đi và không để ý đến nữa...
Trong lúc mọi người nhìn gia đình Hà Anh bằng đôi mắt rẻ khinh thì Dung đã đối xử thành thật với nàng! Do đó, khi gặp Thọ, Hà Anh đã mến ngay và tin tưởng chàng không như những thanh niên khác. Thọ không hiểu được trong lòng Hà Anh đang nghĩ gì? Thấy nàng yên lặng, vẻ mặt lạnh lùng, chàng lo ngại và tự thẹn cho người đồng chủng. Chàng muốn Hà Anh biết rằng mình không thích lời nói của Hai Thắng và lúc nào mình cũng trọng nàng như mọi người trong trời đất.
Một lúc, Thọ khẽ gọi:
— Cô Hà!
— Hà Anh quay nhìn Thọ, nàng hiểu ngay những điều nghĩ ngợi của chàng nên cười nói:
— Anh ngại vì câu chuyện lúc nãy ư? Không đâu anh, em đã chịu đựng quen rồi!
Thọ ngạc nhiên nhìn nàng, Hà Anh nói tiếp:
— Có người còn thô bỉ hơn nhiều? Họ cứ tưởng rằng em không nghe được tiếng Việt Nam! Nhưng mình giận làm gì những người còn mang nặng thành kiến cũ phải không anh?
Thọ mỉm cười sung sướng. Chàng đáp:
— Lòng đại lượng của cô làm tôi hổ thẹn.
Hà Anh nhìn Thọ với đôi mắt chứa chan tình cảm. Ở người con trai đó, nàng thấy có gì hòa hợp và gần gũi với mình mà nàng không thể phân tách được.
Chương 4
Tiếng tù và của ông Năm Súng túc lên từng hồi, dưới bến đò, kêu gọi hành khách từ các xóm xa lên chợ tỉnh, đã đánh thức Hà Anh. Trời đã hừng đông, bóng đêm tan dần, ánh sáng bắt đầu hiện lên qua các chấn song.
Hà Anh ngồi dậy, bước xuống giường. Nàng sửa các em nằm cho ngay ngắn, kéo mền đắp cho chứng rồi ra nhà ngoài, chóng liếp cửa. Xóm chợ nhộn nhịp vì dân ở các xóm đã tụ tập mua bán. Những con đò dọc đưa họ từ những ấp hẻo lánh về đây. Những hình ảnh ấy rất quen thuộc với Hà Anh, từ hơn một năm rồi, nhưng sáng nay, nàng lại thấy vui thích lạ.
Bầu trời sáng hẳn lên, không khí mát rượi. Tiếng chim khách gọi nhau trên hàng cây trứng cá, ngoài bờ sông, làm cho Hà Anh chú ý và nhớ lại buổi chiều hôm qua, mình đã ngồi bên Thọ. Tự dưng, Hà Anh quay nhìn sang nhà người con trai dễ mến đó. Cửa sổ phòng chàng vẫn còn đóng kín. Hà Anh mỉm cười một mình rồi ngước nhìn bầu trời xanh quang đãng. Nàng muốn hát lên, những bài ca quen thuộc như ngày xưa, mỗi sáng đến học đường.
Từ lâu, Hà Anh ít sống cho riêng mình. Bừng mắt dậy là nàng phải lo buôn bán, chăm sóc việc nhà cho đến tối. Tâm hồn nàng chất chứa nhiều buồn thương về gia đình, về cuộc sống. Tuổi thanh xuân của nàng qua mau và Hà Anh cảm thấy quanh mình toàn là u tối. Nhưng buổi sáng hôm nay, trời xanh tươi đẹp, tiếng chim ca rộn rã như thúc giục, khuyến khích nàng vui ca hát, xua tan những nỗi buồn thường chất chứa trong lòng. Cảnh vật như mời gọi nàng hãy trở lại yêu đời.
Hà Anh thấy như mùa xuân về trên nền trời xanh, trên cỏ cây hoa lá. Tự dưng nàng muốn được đứng giữa cảnh trời rộng bao la, cho tâm hồn khoáng đạt. Nàng nhớ đến những ao rau muống ngoài cánh đồng với những đọt non tươi tốt.
Hà Anh ra nhà sau lấy cái rá nhỏ rồi đi về phía ruộng.
Bờ đất nhỏ dẫn ra cánh đồng xa, sương mù hãy còn vương trên lớp cỏ. Chân Hà Anh xóa tan những hạt sương lóng lánh, lõm xuống thành hình. Nàng bước đi trong không khí mát lạnh buổi bình mình, lòng rạng rỡ như ánh sáng chân trời đông. Hai bên bờ, nhiều đóa hoa dại mọc vươn lên cao, khoe màu sắc lạ và rung rinh trong gió sớm nhẹ nhàng. Những đám mạ còn non, màu xanh vàng rực rỡ, trong ánh nắng, làm tươi sáng một vùng rộng. Đâu đó dưới khe đất nứt, tiếng dế gáy muộn vang lên thanh tao và nó im đi khi có tiếng chân của Hà Anh. Chim hót chào ngày trên những cành cây cao, gieo sự vui vẻ linh động buổi sáng.
Hà Anh bước nhanh hơn, lòng nàng phơi phới như cảnh tươi sáng ngoài đồng rộng. Trong hồn nàng khúc nhạc êm dịu như trổi lên và nàng tưởng chừng mình đang nhảy múa tưng bừng trong điệu nhạc đó. Sự vui sướng lạ lùng tràn ngập trong tim nàng, gây cho nàng niềm hân hoan khó tả. Nàng yêu mọi vật quanh mình và muốn được như chim bay lượn trong bầu không khí đó. Nàng mang tâm trạng khác thường vì thoáng nhận được ở mình sự sống mới mẻ đang bừng dậy. Nàng không còn cô độc trong tình cảm và không còn muốn sống trong u tối.
Từ chiều hôm qua, nàng đã thấy sự khác lạ đó đến với mình và đêm rồi nàng lại náo nức lạ lùng. Trong mọi sự êm dịu tự nhiên hiện đến với nàng đều có hình ảnh Thọ, chàng thanh niên có gương mặt dễ mến và tư cách đáng yêu.
Hà Anh chợt đứng dừng lại. Từ xa ba bốn người đang đi tới, vai mang súng. Đúng là mấy người lính trong đồn Tây! Họ cũng vừa nhìn thấy Hà Anh nên bước mau hơn. Hà Anh lo sợ vô cùng. Thường ngày, nàng vẫn gặp họ lui tới trong xóm chợ, nhiều khi cũng có ghé quán của nàng uống nước nhưng chưa lần nào nàng gặp họ giữa đồng không như vầy...
Nàng muốn trở lui, nhưng nhìn lại xóm nhà đã xa quá rồi. Trống ngực đánh thình thình, nàng nghĩ đến chuyện không may sẽ xảy tới cho mình. Mấy người lính thân binh đã đến gần Hà Anh và người đi đầu vọt cất tiếng:
— Cô Hà Anh! Đi đâu sớm vậy?
Hà Anh ngó thấy thầy Năm thông ngôn thì vững lòng hơn. Người nầy đã tới nhà nàng mấy lần và xem chừng rất lễ phép đối với cha nàng.
Thiếu nữ nghiêm nghị đáp:
— Dạ... Tôi đi hái rau muống.
Thầy Năm thông ngôn cười với nàng rồi nói:
— Trời lạnh lắm! Cô dám lội xuống nước sao?
Mấy người lính đi theo viên thông ngôn cười hềnh hệch. Hà Anh lúng túng đáp:
— Dạ… dám chớ. Tôi quen rồi.
Viên thông ngôn đến sát bên nàng nói:
— Thôi cô khỏi mắc công! Để tôi biểu họ hái giùm cho.
Rồi Năm Quýnh quay sang mấy người lính thân binh nói:
— Hái đọt rau muống giùm cô đây lát về tôi cho thuốc.
Mấy người thân binh liền theo lệnh viên thông ngôn, nhảy xuống mương hái đọt rau. Hà Anh muốn chận họ lại, nhưng không biết làm sao? Nàng bẽn lẽn cúi mặt khi thấy mấy người thân binh cứ nhìn mình mỉm cười, như có ẩn ý gì?
Năm Quýnh chợt bảo Hà Anh:
— Hái một hồi, cô ôm về không hết đâu!
Hà Anh ấp úng:
— Làm mất công ‘‘mấy ông’’ đó quá! Thầy Năm...
Năm Quýnh chận lời nàng:
— Cô thiệt kỳ. Mấy tháng nay, tôi tới chơi nhà, mà cô cứ kêu bằng thầy hoài. Thiệt tôi buồn hết sức! ‘‘ Thầy bà’’ gì? Chỗ anh em...
Hà Anh nhận thấy Năm Quýnh cố tình làm thân với mình, nên mỉm cười nói:
— Dạ hổng dám rồi! Thầy Năm là người chức phận. Dưới xếp đồn là tới thầy, tôi phải giữ lễ phép chớ. Gia đình tôi về Cái Muối nầy ở được là nhờ ơn thầy.
Năm Quýnh rất sung sướng trước những lời tâng bốc của Hà Anh, nhưng vẫn làm bộ như không màng:
— Có gì đâu! Được giúp đỡ cô là tôi mừng rồi.
Năm Quýnh ghé sát tai Hà Anh để nói những lời đó. Thiếu nữ giữ ý, lùi lại một bước, nhưng bờ đê đất sụp, nàng chới với muốn lọt xuống mương. Viên thông ngôn gặp dịp, chụp lấy tay nàng kéo lại. Hà Anh ngã nhào vào mình anh ta, cái rá rớt xuống vũng bùn. Mấy tên thân binh cười rộ lên. Hà Anh xấu hổ gượng dậy, nhưng Năm Quýnh vẫn ôm chặt lấy nàng, nói liên miên:
— Có sao không, Hà Anh?
Thiếu nữ vùng mạnh thoát khỏi hai cánh tay cứng rắn của hắn. Nàng vừa mắc cở vừa giận. Bây giờ thì Hà Anh đã đoán hiểu phần nào hậu ý không tốt của viên thông ngôn.
Năm Quýnh lại bước tới gần nàng, toan nắm tay, nhưng Hà Anh phản đối ngay:
— Thầy Năm... Đừng...
Năm Quýnh nhìn thấy đôi mắt long lên có vẻ dữ tợn hơn bao giờ hết thì không còn dám suồng sã nữa. Mấy tên thân binh đã lên hết trên bờ đê và cứ nhìn nhau cười. Năm Quýnh hơi ngượng, quay sang mắng chúng:
— Mấy anh cười cái gì? Đừng giỡn với tôi nghen?
Bọn thân binh lặng trang, không dám hó hé nữa. Họ sợ Năm Quýnh vì anh ta rành tiếng Pháp và hãm hại họ rất dễ dàng. Hắn ghim ai thì sớm muộn gì cũng thót mét với Tây xếp đồn để tìm những cớ rất nhỏ trừng phạt họ.
Sáng nay, Năm Quýnh dẫn họ đi tuần ở trong ruộng bất ngờ gặp Hà Anh. Đã lâu, bọn thân binh đều biết viên thông ngôn si mê ‘‘con xẩm’’ ở ngoài bến chợ, nhưng chưa có dịp tỏ tình, nên khi Năm Quýnh biểu họ hái rau muống giúp Hà Anh, không một ai dám từ chối. Họ làm thế là để lấy lòng Năm Quýnh. Ấy vậy mà vẫn bị anh ta mắng. Bọn thân binh ức lòng lắm nhưng vẫn lặng thinh. Hà Anh đã lượm cái rá lên và chỉ còn muốn bỏ chạy vào nhà.
Năm Quýnh vụt bảo mấy người lính:
— Sao đứng như trời trồng vậy? Rau muống của cô ấy đâu?
Mấy người kia chợt nhớ ra, đem đọt rau muống hái được, bỏ vào rá cho Hà Anh. Thiếu nữ không biết nên từ chối hay nhận lấy?
Năm Quýnh ngó nàng rồi bảo mấy tên thân binh:
— Mấy anh vác súng về đồn! Tôi về sau...

Bọn kia hình như hiểu ý Năm Quýnh vội vã đi ngay. Hà Anh càng rung sợ hơn, nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh.
Nàng bảo Năm Quýnh:
— Cám ơn thầy Năm! Thôi tôi cũng về đây.
Năm Quýnh cười mơn:
— Coi... Còn sớm mà! Mặt trời mới lên.
— Dạ, tôi còn phải dọn hàng, để bán nữa thầy.
Nói xong Hà Anh rảo bước. Năm Quýnh lẻo đẻo theo sau và bắt chuyện:
— Hà Anh giỏi quá! Một mình làm việc nuôi hết cả nhà.
Hà Anh lắc đầu gượng cười:
— Tại nghèo biết làm sao thầy! Chẳng lẽ để em út nó đói?
Năm Quýnh đi sát bên nàng, cất giọng thân mật:
— Nhiều đêm đi tuần thiệt khuya, thấy Hà Anh còn thức may vá quần áo cho các em rồi tính sổ sách, tôi cảm động quá hà! Cái cảnh của cô không khác gì tôi hồi cha mới chết. Phải lo cho một bầy em.
Hà Anh nhìn anh ta, bớt sợ hãi hơn. Nàng dễ xúc động trước người đồng cảnh ngộ. Năm Quýnh cũng hiểu là mình không nên hấp tấp trước cô gái Trung Hoa kia. Anh ta dò biết từ lâu Hà Anh thuộc vào gia đình khá giả, có học thức, nên không dám dở cái trò sàm sỡ như đối với các cô gái khác trong làng. Đi bên cạnh Hà Anh, mùi thơm da thịt của nàng như toát ra thoang thoảng, lòng Năm Quýnh rạo rực khác thường, nhưng anh ta vẫn cố dằn xuống. Mọi khi thì phải biết: Năm Quýnh sẽ dụ dỗ cô gái nào hắn thích đến chỗ vắng vẻ ôm đại người ta. Nhiều cô non dạ yếu lòng phải thất thân với hắn rồi ngậm miệng luôn cho đỡ xấu hổ. Đối với Hà Anh, Năm Quýnh chưa dám dở cái trò tồi bại đó! Mấy tháng nay, hắn lân la tới làm quen với ông Ban Phánh, khi thì hầu một ván cờ, lúc lại ngồi vấn thuốc rê hút, nói chuyện năm châu, bốn biển.
Tiếng Việt Nam của ông Ban không được là bao, nên cuộc đàm thoại giữa hai người hết sức khó khăn. Năm Quýnh nghe tiếng được tiếng mất nhưng cũng cố lắng tai nghe. Miễn sao được ở kề cận bên Hà Anh là hắn mãn nguyện rồi!
Và lần hồi, tuy không bao giờ nghe được trọn câu nói của Ban Phánh, nhưng Năm Quýnh cũng đoán hiểu được sự đam mê của ông ta trong lúc thiếu thời: thuốc phiện!
Đi gần tới mương vườn, Hà Anh vụt đứng lại bảo Năm Quýnh:
— Thầy Năm...đi trước đi.
Năm Quýnh ngạc nhiên ngó nàng:
— Sao vậy?
— Dạ...thầy Năm đi trước đi mà.
Năm Quýnh chợt hiểu là Hà Anh sợ dân làng nhìn thấy rồi đàm tiếu, nên cười nói:
— Tôi hiểu ý cô rồi! Không sao đâu? Chẳng ai dám nói gì đâu? Hà Anh cũng biết tôi nói với Xếp đồn một tiếng là nhà của họ tan hoang ngay.
Thiếu nữ nghiêm sắc mặt không đáp. Lời nói của Năm Quýnh đã tạo một khoản cách thật xa giữa nàng và hắn, Năm Quýnh không hiểu được những ý nghĩ trong đầu nàng, vụt nắm lấy tay Hà Anh kéo đi. Hà Anh vung tay ra, nói lớn:
— Thầy Năm... Làm gì vậy?
Năm Quýnh sững sờ không dè ‘‘con xẩm’’ nầy lại giữ ý tứ ghê đến thế. Mặt anh ta tái xanh rồi gượng cười:
— Cô... không ưa tôi thiệt sao? Cũng không hề gì? Trong làng nầy chưa có ai ghét tôi đâu.
Hắn nói xong bỏ đi một nước. Hà Anh đứng trông theo, trống ngực còn đập thình thình. Những lời sau cùng của Năm Quýnh, như có ý đe dọa. Nàng đứng trên bờ đê một lúc, chờ cho Năm Quýnh khuất mình trong xóm, mới cất bước theo sau.
Mặt trời đã lên cao, ánh nắng gay gắt. Một ngày oi bức bắt đầu. Mồ hôi rịnh dài trên vừng trán của Hà Anh. Tâm hồn nàng đang thảnh thơi bỗng xáo trộn vì những âu lo thường xuyên trong thời nhiễu loạn. Sáng nay, nàng đã thấy rõ tình ý của Năm Quýnh đối với mình. Xem chừng hắn muốn đi tới chớ không phải chỉ chọc ghẹo suông thôi đâu. Nàng nhớ lại sự có mặt gần như thường xuyên của Năm Quýnh trong nhà mình mà thêm lo... Cha nàng xem chừng ưa thích hắn ta lắm! Đêm qua, lúc ở ngoài Xóm Chùa trở về, ông còn bảo nàng với giọng vui vẻ:
— Thầy Năm thông ngôn tốt lắm! Tốt lắm...
Rồi ông lại lấy đàn ra sân khảy lăn tăn, một khúc cổ ca miền núi. Nghe tiếng đàn reo vui, nàng biết cha đang thỏa mãn một sự gì đó? Hà Anh càng thêm lo lắng, nhưng vẫn chưa hiểu Năm Quýnh đã làm gì mà cha cho là người tốt?.
Hà Anh đã vào đến xóm chợ. Nàng qua ngang nhà Thọ, gặp lúc chàng đang xách nước tưới trầu. Chàng xoay trần, mồ hôi nhễ nhại, thân thể rắn chắc cân đối. Hà Anh quay mặt nhìn đi nơi khác, tự nhiên đôi má đỏ bừng lên. Thọ không để ý thấy nàng nên cử tiếp tục làm việc. Dung từ nhà trong đi ra vọt kêu to lên:
— Chị Hà Anh! Đi đâu đó?
Thọ nghe tiếng em cũng quay lại. Hà Anh bẽn lẽn cúi đầu chào Thọ rồi bước lại bên rào, bảo Dung:
— Mình vừa ra ngoài đồng hái rau muống.
— Thích quá vậy! Sao không gọi người ta đi với. Chị xấu quá hà!
Hà Anh và Thọ cùng cười trước vẻ hồn nhiên của Dung. Hà Anh đáp.
— Mình đi sớm lắm! Lúc ấy hình như Dung còn ngủ. Cửa còn đóng kín...
Dung chận lời nàng:
— Cửa đóng thì gọi! Tại chị không muốn rủ người ta mà. Dung giận chị rồi đó.
Nàng làm ra vẻ phụng phịu khiến Hà Anh càng lúng túng, không biết nói sao? Thọ đâm ra tội nghiệp cô ta, nên đỡ lời bảo em:
— Dung lạ thật! Ngủ cho trưa rồi còn trách người ta.
Dung lườm anh nói:
— Ai ngủ trưa? Anh hay em? Người ta thức nấu nước cho má uống hồi trời chưa sáng. Thấy anh còn ngủ nên tội nghiệp không mở cửa đó.
Thọ lắc đầu ngó Hà Anh như ngầm bảo nàng: Con bé nầy ngụy biện ghê lắm! Đến tôi cũng chịu thua nó!
Hà Anh cười, liếc mắt nhìn Dung nói:
— Thôi mình xin lỗi Dung! Hôm khác đi tôi sẽ gọi...
Nàng vụt im bặt, khi thấy Năm Quýnh đứng ở chỗ tiệm hớt tóc nhìn qua như dò xét. Thọ chú ý thấy gã đàn ông đó từ lúc Hà Anh mới dừng lại trước cổng nhà mình, nhưng chưa tiện hỏi Dung.
Cái nhìn xách mé của anh ta làm chàng khó chịu. Hà Anh chợt bảo Dung:
— Mình về nấu cơm! Xin phép anh...
Nàng cúi chào Thọ. Thọ và Dung cùng cười gật đầu. Hà Anh vừa đi khuất vào nhà, Dung ngó sang tiệm hớt tóc, rồi hỏi nhỏ:
— Anh có biết ai đó chăng?
Thọ cúi xuống múc nước, hỏi lại em:
— Ai? Anh thấy hắn nhìn vào nhà mình từ nãy giờ lận. Đang định hỏi em.
Dung quay mặt vào trong nhà cho tên kia không để ý, rồi đáp:
— Năm Quýnh đó! Hắn làm thông ngôn trong đồn. Dữ lắm giết người như chơi.
Thọ liếc mắt nhìn qua bên kia đường, thấy tên nọ vẫn chăm chú ngó mình thì nói nhỏ:
— Thông ngôn thì quyền hành gì mà giết người?
Dung nói nhanh:
— Ở chỗ hẻo lánh, như làng mình dễ lắm anh ơi! Cứ phao đại là Việt Minh thì Tây khỏi cần xét xử. Bắn bao nhiêu cũng không ở tù.
— Ghê thế kia à?
— Năm Quýnh nầy tàn ác mà dê nữa! Bọn Tây trong đồn rất tin cẩn y. Em mà không nói được tiếng Pháp thì cũng chết với nó mấy mươi đời vương!
Thọ lại ngó sang tiệm hớt tóc, Dung gắt anh:
— Thôi! Đừng dòm nó Năm Quýnh ưa gây sự lắm. Nhờ bác Hội Đồng dặn dò Tây xếp đồn, nhà mình bà con với bác không thì cũng có chuyện lôi thôi với nó rồi.
Máu thanh niên trong người Thọ như bừng sôi lên trước câu chuyện em vừa nói. Một tên thông ngôn mà cũng làm hung thần được thì lạ thật? Thọ bảo em:
— Khôn hồn thì hắn đừng chạm tới anh!
Dung lo sợ nói:
— Đừng anh! Có gì cũng phải nhịn nhục hắn. Em dặn trước đó. Năm Quýnh ác lắm, không công khai hại được mình, hắn sẽ thầm lén.
— Mình có tội gì phải sợ!
— Không có tội, nó cũng lén bắn chết được như thường. Nhiều người đã chết về tay hắn đó...
Thọ bực tức nói:
— Chẳng ai đi tố cáo sao?
Dung thở ra lắc đầu:
— Ai dám làm chuyện đó! Đợi ở tỉnh xét tới thì nó sẽ giết cả nhà. Em nói ở dưới nầy ghê lắm. Anh đừng tưởng như ở Sài gòn mà lầm không có luật pháp gì cả!
Thọ lắc đầu nói:
— Anh hoàn toàn không dè có chuyện đó!
Bên chỗ tiệm hớt tóc, tên thông ngôn đã bỏ đi từ lúc nào. Thọ vừa ngó lên thì thấy Năm Súng, Ông lão chèo đò, đang đi qua, vẻ mặt không được tự nhiên.
Thọ gọi to lên:
— Chú Năm! Bữa nay không đi Cái Bè sao?
Năm Súng tự tiện xô cổng nhà chàng, rồi bước vô nói:
— Hôm nay nghĩ một bữa. Nầy cậu Ba...
Nhưng chợt thấy Dung ông ta lặng thinh.
Thọ hỏi ngay:
— Gì vậy chú Năm?
Năm Súng liếc nhìn Dung rồi nói:
— Cậu có mích lòng gì với thầy Năm thông ngôn không?
Thọ ngơ ngác, lắc đầu:
— Không! Tôi có quen biết anh ta đâu mà mích lòng?
Năm Súng nhìn ngược, nhìn xuôi như sợ có ai rình rập rồi nói nhỏ:
— Thầy Năm vừa mới hỏi cậu đó.
Dung lo sợ hỏi tới:
— Hỏi gì chú?
— Thầy hỏi cậu đi đâu lâu nay mới về hả?
Ý thẩy muốn nói cậu đi theo kháng chiến.
Thọ hơi giựt mình, nhưng bình tĩnh được ngay. Dung nói nhanh:
— Nói bậy hoài. Người ta đi học trên Sài gòn mà.
Năm Súng gãi tai nói:
— Thì cô cũng biết Năm Quýnh mà! Hễ thấy lạ mặt là nghi ngờ. Tui nói cậu Ba đi học ở Sài gòn về, thầy cười bĩu môi, tỏ ý không tin. Bị vậy mà tui tưởng cậu đây làm gì mích lòng thẩy chớ.
Thọ nhớ đến những chuyện riêng tư của mình thoáng nét âu lo, nhưng cũng ráng bình tĩnh bảo Năm Súng:
— Không đâu chú Năm. Tôi đâu có làm mích bụng ai?
Dung cũng nói:
— Nhà nầy chú biết mà! Chẳng hề gây sự với ai bao giờ.
Năm Súng chợt hỏi:
— Nầy! Hôm về tới giờ cậu Ba có vô bót trình diện chưa?
Thọ lắc đầu cười:
— Chưa chú Năm! Định hôm nào đã...
— Trời ơi! Đâu có được. Vô trình diện liền đi. Đừng để họ có cớ làm khó cậu mà. Tui nói thiệt cậu Ba đừng giận: thầy Năm thông ngôn hễ ghét ai thì khó lắm đó!
Thọ đã quen với cái không khí tự do ở Sài gòn nên nói:
— Nhưng tội có làm gì mà sợ chú Năm.
Dung sợ anh nói lỡ lời, Năm Súng học đi học lại với người khác có hại nên chận lời:
— Anh... Mình nên giữ đúng luật! Lát nữa anh vào bót trình diện là xong... Xếp bót cũng nhã nhặn lắm.
Năm Súng gật đầu:
— Cô Tư nói phải đó. Cậu nên vô bót trình diện đi. Cũng nên làm quen với thầy Năm cho đỡ.
Thọ hơi ức lòng nhưng cũng mỉm cười cho Năm Súng khỏi nói lải nhải nữa. Chàng thoáng thấy bóng Hà Anh lấp ló bên khung cửa sổ nhà nàng. Dung cũng nhìn sang nhà bạn ra chiều nghĩ ngợi lung lắm.
Năm Súng cười bảo hai anh em:
— Đời giặc khổ lắm! Mình là dân mà cậu. Chịu đủ trăm bề...
Rồi ông ta ra cửa rào, Thọ bước theo nói:
— Cám ơn chú Năm. Tôi mới về nên còn lạ, ít lâu sẽ quen dần.
Hai người cùng cười. Dung chờ Năm Súng đi khuất mới bảo Thọ:
— Em hiểu tại sao Năm Quýnh không ưa anh rồi?
Thọ quay lại hỏi:
— Sao vậy?
Dung hất hàm về phía nhà Hà Anh nói:
— Tại ‘‘người đẹp Trung Hoa’’ đó?
— Hà Anh!
Dung kéo anh vào nhà nói:
— Năm Quýnh đeo đuổi Hà Anh ghê lắm! Nhưng chẳng được chị ấy lưu ý tới. Hôm nay hắn bắt gặp Hà Anh nói chuyện với anh nên sinh lòng ghen tức.
Thọ chưng hửng nói:
— Mà anh với Hà Anh có gì đâu?
Dung cười:
— Không có gì nhưng... ‘‘cảm tình’’ chút thôi.
— Kìa, anh có bày tỏ cảm tình hồi nào mà em nói vậy?
Dung vẫn cười:
— Ai nói anh? Hà Anh chớ! Do đó mà Năm Quýnh đã xem anh như kẻ tình địch đáng ngại nhứt...
Thọ đưa hai tay lên trời:
— Khổ quá! Đương không rồi bị thù ghét một cách lảng nhách.
Dung ngó anh như dò xét, rồi nói:
— Chưa chắc! Không oan cho anh đâu!
Thọ cũng có cảm giác mang máng như thế, nhưng chàng nạt đùa em:
— Dung! Đừng nói bậy nà! Lỡ Hà Anh nghe thấy sẽ giận anh em mình.
Dung vẫn tươi cười phá anh:
— Em chỉ nói cho anh nghe thôi, làm sao Hà Anh biết được? Trừ phi anh...
Thọ quá giận nói lớn:
— Dung! Em không được...
Thiếu nữ cười vang lên chạy thẳng vào nhà sau. Thọ nhìn theo lắc đầu. Dung đã mười chín tuổi rồi, nhưng vẫn không bỏ được tánh trẻ con.
Chàng bước lại bên cây khế, lấy khăn lau mồ hôi, đôi mắt nhìn sang nhà Hà Anh. Lời nói của Dung càng tô đậm thêm tình cảm giữa chàng và người thiếu nữ Trung Hoa đó!
Thọ chợt chú ý thấy có người xuất hiện trong khung cửa sổ nhà Hà Anh, người đó là Năm Quýnh chớ không ai khác.
Anh ta chăm chú nhìn Thọ, vẻ bất mãn rõ rệt. Thọ cúi xuống để tránh đôi mắt thiếu tình cảm đó... Lần đầu tiên trong đời, chàng cảm nhận lờ mờ có người thù oán mình vì một chuyện không đâu.
Thọ đang ngủ say, vụt choàng tỉnh khi nghe tiếng dộng cửa rầm rầm. Chàng ngồi nhổm dậy, đã nghe tiếng Dung gọi nhỏ:
— Anh Thọ... Anh Thọ...
Trong nhà đều tắt hết đèn, nên chàng không biết em đang đứng đâu? Chàng bước xuống giường hỏi mau:
— Gì vậy em?
Dung đã đến sát bên chàng tự lúc nào:
— Họ kêu cửa nãy giờ, nhưng mẹ và em không lên tiếng. Cửa nhà mình có muốn phá cũng không vô được...
Thọ hỏi:
— Mẹ đâu?
— Đang ở trong phòng. Họ bảo là lính trong bót nhưng em nghi ăn cướp quá...
Bỗng ở bên ngoài có tiếng nói:
— Xếp bót tới rồi đó! Mở cửa hông, tại nầy bắn đại vào nhà nghen.
Dung chợt nghe tiếng Tây quát tháo trong đêm khuya. Nàng nắm chặt tay Thọ:
— Đúng là lính bót rồi anh! Chết cha. Phải mở cửa, không nó bắn thiệt đó.
Thọ không quen với cảnh sống ở làng quê, nên việc nào cũng theo ý em. Chàng chưa kịp nói gì thì Dung đã lôi chàng chạy ra ngoài. Bà Chủ Thân từ buồng trong, cầm đèn đi ra, run giọng nói:
— Thọ, Dung... Đúng là lính ở trong bót mà. Có xếp bót đi theo nữa kìa. Mở cửa coi họ hỏi gì?
Thọ vội vàng đến bên cửa. Bên ngoài có tiếng Năm Quýnh nói lớn:
— Bà Chủ ơi! Xếp muốn hỏi thăm vài việc, sao bà không chịu mở cửa...
Bà mẹ vội hối Thọ:
— Mở đi con!
Dung đưa tay như muốn ngăn anh, rồi lại thôi vì nàng biết có chống cự cũng vô ích. Tự nhiên, nàng linh cảm một chuyện không hay sẽ xảy đến cho gia đình... Thọ vừa mở chốt cửa, lính thân binh đã ùa vào vây chặt lấy chàng. Người Pháp Xếp bót lườm lườm nhìn Thọ, hỏi Năm Quýnh:
— Có phải tên nầy không?
Năm Quýnh biết anh em Dung đều rành tiếng Pháp, nên vội đáp:
— Dạ họ mạch như thế! Nhưng đây là gia đình bà Chủ quen thân với ông Hội Đồng bên Phước Định. Chỗ quen lớn cả.
Dung vụt cất tiếng hỏi Xếp bót:
— Có việc gì nửa đêm ông vây nhà tôi...
Xếp bót đã mấy lần nói chuyện với Dung nên rất trọng nàng. Ông ta nói ngay:
— Có người tố cáo trong nhà cô chứa Việt Minh?
Dung sợ toát mồ hôi, nhưng cũng hỏi gằn lại:
— Ai cáo?
Xếp bót liếc nhìn Năm Quýnh rồi đáp:
— Đó là chuyện bí mật không nói ra được!
Rồi ông ta hất hàm về phía Thọ, hỏi Dung:
— Người nầy là ai?
Dung đáp:
— Anh ruột tôi vừa ở Sài gòn về!
Xếp đồn lắc đầu:
— Cô nói dối! Học ở Sài gòn về sao trốn lánh?
Thọ cất tiếng hỏi:
— Tôi trốn lánh bao giờ?
Nghe Thọ nói tiếng Pháp trôi chảy, xếp đồn cũng hơi nể, nhưng cũng nói:
— Không trốn tại sao anh không vô bót trình diện với tôi? Luật ở đây, không thể chứa người lạ mặt quá mười hai tiếng đồng hồ...
Thọ chưa kịp đáp thì Dung đã lên tiếng:
— Ông Jean... gia đình tôi là người kỳ cựu trong làng nầy và ông cũng đã từng biết nhiều rồi. Sao lại có sự làm khó nhau thế nầy?
Năm Quýnh từ nãy giờ vẫn lặng thinh. Hắn nghe Thọ và Dung trả lời cứng rắn với xếp bót thì hơi ngán, nhưng là kẻ nhiều cơ mưu, hắn nói xen vào:
— Cô Dung! Tụi tui còn lạ gì nữa! Nhưng tại họ mạch với Xếp bót như thế, ông ấy phải đích thân ra đây. Đứng trên phương diện luật pháp thì cậu anh của cô đã phạm tội rồi. Để về bót tôi liệu cho.
Thọ ngó thẳng vào mặt Năm Quýnh, hiểu rõ dụng tâm của hắn, nên ức lòng hỏi ngay:
— Sao lại về bót?
Cả hai người đều dùng tiếng Pháp nên xếp đồn bực tức trước thái độ ngang ngạnh của Thọ.
Ông ta nói ngay:
— Tôi mời ông về đồn vì ông không đến trình diện. Mà chỉ có Việt Minh mới trốn lánh chúng tôi.
Thọ cãi lại ngay:
— Không! Tôi là học sinh ở Sài gòn mà! Giấy tờ tôi đủ...
Năm Quýnh sáng mắt lên ngay:
— Cậu là học sinh hả? Tại sao lại về nhà? Phải cậu dự vào cuộc bãi khóa Trần văn Ơn không? Hả?
Đúng là hắn ‘‘ xem mặt mà bắt hình dung’’, nhưng Thọ đã có tịt thì sợ hãi lắm. Chàng cố bình tĩnh đáp:
— Không!
Năm Quýnh cười nham hiểm:
— Không thể nào được! Cậu qua mắt tôi sao nổi! Tháng nầy là tháng học trò đang học, tự nhiên sao cậu bỏ về nhà nghỉ. Bãi khóa vì trò Ơn mà! Thế còn chối không phải Việt Minh.
Rồi viên thông ngôn quay sang Xếp đồn nói:
— Đây chắc cũng là tay quan trọng mới bỏ Sài gòn về đó. Tùy xếp định liệu!
Thực sự tên Jean, Xếp đồn Cái Muối cũng chẳng hiểu ất giáp gì về những vụ biểu tình, bãi khóa ở Sài gòn, nhưng trước thái độ ngang ngạnh của Thọ và những lời đề quyết của Năm Quýnh, hắn liền ra lịnh:
— Đưa về bót!
Thọ thấy mình đã lâm vào ngỏ bí nên quay lại nhìn mẹ, nhìn em. Bà Chủ sợ lắm! Bà đã nghe anh Hai của Thọ nói nhiều về hoạt động của chàng lúc ở Sài gòn, nên nài nỉ Năm Quýnh:
— Cậu Năm! Cậu ở trong làng nầy biết tôi nhiều mà. Đời nào con tôi làm Việt Minh! Cái nhà thờ của ông Ngoại sắp nhỏ còn cho nhà nước đóng bót mà...
Năm Quýnh thuộc vào dân hạ tiện trong làng, gặp thời nhiễu nhương thì lên mặt. Trước lời nài nỉ của bà mẹ Thọ, cũng làm bộ gãi tai:

— Việc nầy khó lắm! Tại người ta mạch tôi biết nói sao? Xếp đích thân ra tới đây, bà biểu tôi cản thế nào được...
Dung tức giận lắm! Nàng biết dư chuyện nầy do Năm Quýnh bày biểu hết, nhưng bây giờ hắn làm bộ.
Nàng bước đến bên anh, bảo xếp đồn:
— Ông Jean! Đây là một vụ phao vu! Ông không xét kỹ, bắt oan anh tôi sao? Ông không nên làm mất hòa khí giữa gia đình tôi với ông. Bác Hội của tôi cũng là bè bạn với ông Chủ tỉnh mà.
Tên Jean đã bị mất giấc ngủ vào lúc nửa đêm, trong lòng đang bực bội, giờ nghe giọng nói có vẻ thách đố của Dung, hắn trừng mắt:
— Cô dọa tôi hả?
Dung vẫn cứng cỏi nói:
— Không! Tôi là dân thường, hai tay không, làm sao dám dọa ông! Tôi nói lẽ phải mà nghe vậy thôi. Anh tôi là học sinh ở Sài gòn làm sao theo Việt Minh được.
Năm Quýnh sợ mưu kế của mình bị Dung phá vỡ, nên cười nhạt bảo Xếp đồn:
— Học sinh bây giờ ghê lắm! Họ làm náo động cả Sài gòn suốt tháng nay đó Xếp. Tôi tin là cậu nầy bị động, chạy về đây. Nếu Xếp không tin đánh điện hỏi xem.
Bà Chủ không hiểu tên Năm nói gì, nhưng Dung và Thọ đều ngó hắn với đôi mắt căm hờn. Thọ nhớ lời Dung nói hồi sáng:
— ‘‘Anh bị Năm Quýnh oán vì Hà Anh đó!’’
Bây giờ, chàng mới thấy rõ nhận xét của em rất đúng. Năm Quýnh cố tình muốn nhốt mình mà.
Xếp đồn bảo Dung:
— Tôi lấy làm tiếc phải giữ đúng luật. Anh cô bị người ta mạch là Việt Minh trốn về, tôi phải mời về bót điều tra! Nếu không phải sẽ thả ra ngay...
Dung toan nói thêm, nhưng Thọ đã chận lại:
— Thôi Dung! Em không cần phải nói nữa. Năm Quýnh cười nham hiểm:
— Có thế chớ! Mình dám làm dám chịu, đừng thèm xin xỏ ai.
Thọ cố dằn lòng ngó xuống. Chàng chỉ còn muốn phóng tới, thoi vào mặt hắn thôi. Nhưng nếu chàng hành động như thế, bọn lính sẽ nổ súng vào đầu ngay, rồi không chừng mẹ và em cũng không yên được.
Chàng bảo mẹ:
— Má đừng lo cho con! Dung... trông chừng, săn sóc má.
Dung nghẹn lời, nhưng cố gắng để khỏi bậc thành tiếng khóc:
— Anh yên tâm.
Xếp đồn ngó Dung, rồi quay gót, bọn lính dẫn Thọ ra cửa. Bà Chủ òa khóc, Dung ôm chặt lấy mẹ gọi nhỏ:
— Mẹ...
Tên Năm Quýnh đi sau cùng, vẻ vun văn, vút vắt thật đáng ghét. Chúng vừa ra khỏi nhà thì bà Chủ đã gục xuống:
— Trời ơi! Làm sao bây giờ Dung? Anh Ba mầy...
Dung cũng ngồi xuống bên mẹ, mặc cho nước mắt tuông trào. Nàng đã cố gắng hết sức mình mới thốt ra được những lời rắn rỏi đó, trước mặt Xếp đồn. Nàng lắc đầu nói:
— Con cũng không biết làm sao bây giờ? Năm Quýnh cố tình hại anh Thọ mà...
Bà mẹ ngạc nhiên hỏi:
— Sao vậy? Xưa nay mình có gây thù kết oán gì với nó đâu?
Dung nhớ đến chuyện Hà Anh, nhưng không muốn cho mẹ biết, chỉ thêm lo buồn. Thực ra, nàng không dè Năm Quýnh hành động tức khắc như vậy. Mới hồi sáng nầy, hắn hỏi thăm Thọ thì tối đến cho vây nhà ngay! Hắn ra tay nhanh quá, anh em nàng đối phó sao kịp?
Bà Chủ thấy con gái không trả lời, liền hỏi tiếp:
— Sao vậy hả Dung?
— Con không rõ nữa, nhưng thấy rõ hắn cố tình buộc tội anh Thọ mà.
— Hay có ai mạch anh Ba mầy biểu tình, bãi khóa ở Sài gòn?
Dung lắc đầu:
— Không! Chẳng ai rành những chuyện đó đâu. Năm Quýnh đoán mò mà...
Bà Chủ lại khóc:
— Mò gì? Nó nói trúng quá, chắc thằng Thọ khó toàn thân! Phải chi cứ để nó ở Sài gòn. Anh Hai mầy sợ cho nó cũng bằng hại nó...
Dung lắc đầu bảo mẹ:
— Má đừng khóc nữa. Để tính lại xem!
Nàng chợt nhớ đến ông Hội Đồng, ba của Mai, nên bảo mẹ?
— Má à! Hay con qua Phước Định cầu cứu với bác Hội.
Bà mẹ sáng mắt lên:
— Ờ phải rồi. Để mẹ đi cho. Phải nhờ bác Hội can thiệp giùm! Trời, tao quên mất.
Bà đứng lên sửa soạn đi thì Dung chận lại:
— Khoan đã má! Còn thiết quân luận mà. Đi họ bắn chết! Cũng gần sáng rồi...
Bà Chủ ngồi xuống:
— Trời ơi! Đây tới sáng chắc thằng Thọ bị muỗi cắn chết.
Dung thở dài không đáp lời mẹ. Bị nhốt tới sáng thì có nhầm gì. Nàng chỉ sợ chúng giam anh nàng lâu hơn nữa thôi.
Có tiếng động ở ngoài rào, hai mẹ con nhìn nhau lo sợ. Chợt có người gọi:
— Chị Dung ơi, chị Dung...
Dung nghe rõ tiếng Hà Anh thì đứng lên ngay.
Bà mẹ lo sợ hỏi:
— Ai vậy con?
Dung liên đáp:
— Chị Hà Anh, để con ra xem...
Nàng bước ra cửa thì Hà Anh đã vào trong vòng rào! Gió đêm thổi lành lạnh.. Dung chạy ra hỏi:
— Chị! Gì đó...
Hà Anh đã đến sát bên nàng, run giọng nói:
— Anh Thọ... bị bắt rồi hả!
Dung gật đầu hỏi lại:
— Sao chị biết?
— Tôi nghe lính gọi cửa! Cả chợ đều thức. Lúc dẫn anh đi. Tôi có thấy nữa...
Dung cảm động, khi thấy rõ tấm lòng của Hà Anh đối với anh mình. Năm Quýnh bắt Thọ như nhổ cây gai trước mắt, để cho Hà Anh chỉ còn nghĩ tới hắn thôi. Hắn có dè đâu, làm thế càng thắc chặt thêm tình cảm giữa hai người mới chớm yêu nhau.
Hà Anh chợt hỏi bạn:
— Bây giờ tính sao hả Dung?
Dung thở dài nói:
— Bối rối quá chị! Má chỉ khóc... Em mới định cho bác Hội Đồng hay, liệu bác có giúp được gì không?
— Ông Hội Đồng bên Phước Đinh hả?
— Dạ! Bác ấy có quen với Chủ tỉnh Vĩnh Long, thế nào Xếp bót cũng nể tình...
— Nhưng liệu ông ta chịu giúp anh Thọ không?
Dung mau mắn nói:
— Giúp chớ! Anh ấy có thể là… là...
Rồi Dung im bặt. Nàng định nói ‘‘ Thọ có thể là con rể của ông Hội’’, nhưng chợt nhớ Hà Anh cũng yêu anh mình nên không thốt được nên lời.
Hà Anh ngạc nhiên hỏi:
— Sao Dung? Anh ấy...
Dung đành nói:
— Bác Hội thương anh Thọ lắm! Nghe chuyện nầy, bác không bỏ qua đâu...
Hà Anh lặng thinh ngó Dung. Nàng biết bạn giấu giếm mình một chuyện gì đó, nhưng không tiện hỏi ngay.
Một lúc nàng hỏi Dung:
— Họ lấy cớ gì bắt anh Thọ hả chị?
— Họ nói có người mạch anh Thọ là Việt Minh. Vì anh Thọ không khai báo nên xếp đồn mới nghi ngờ...
— Việt Minh gì mới ở Sài gòn về!
Dung nói:
— Năm Quýnh cố tình hãm hại anh Thọ nên bày điều đặt chuyện, chớ có ai mạch đâu! Chị không hiểu tại sao hắn muốn bắt anh Thọ ư?
Hà Anh ngơ ngác:
— Không! Tại sao vậy?
Dung thấy cần cho Hà Anh biết rõ điều đó:
— Tại Năm Quýnh yêu thương chị! Hắn hại anh Thọ chỉ vì sợ mất chị thôi...
Hà Anh nhìn sửng Dung, đôi mắt chớp lia, rồi cúi mặt nói:
— Không! Không lẽ! Trời ơi! Tại tôi sao?
Nàng dứt lời quay mặt chạy ra phía rào. Dung chạy theo nắm lấy tay bạn:
— Hà Anh! Làm gì vậy?
Hà Anh ôm mặt khóc, không nói gì cả! Dung ôm sát vai bạn hỏi nhỏ:
— Gì vậy chị?
Hà Anh nghẹn ngào:
— Tôi không dè cớ sự như thế! Vậy là chính tôi đã hại anh Thọ.
Dung che miệng bạn:
— Không! Hà Anh nói thế không phải. Tôi đâu có ý trách Hà Anh. Anh Thọ cũng mến Hà Anh vậy?
Người thiếu nữ Trung Hoa vụt ngẩng lên hỏi:
— Dung nói sao? Anh Thọ...
— Ảnh mến Hà Anh lắm! Tôi có bảo phải dè dặt với Năm Quýnh, ảnh lại không nghe... Lúc sáng, hắn thấy Hà Anh nói chuyện với anh Thọ, thì có vẻ phiền lòng nên mới nghĩ cách hãm hại đó.
Hà Anh không nói gì thêm, vẻ mặt đăm chiêu nghĩ ngợi. Nàng nhớ lại những lời Năm Quýnh đã nói hồi trưa, lúc vào quán uống nước đá.
— ‘‘Tôi thương Hà Anh, quí trọng Hà Anh! Nếu không được thương lại tôi thù dai lắm...’’
Nàng chỉ cười không trả lời vì tưởng đâu lời hắn nói chơi như những lần khác. Hồi xế trưa, lúc đò ở trên chợ về rồi nàng thấy Năm Quýnh lại lảng vảng tới nhà, ngồi uống nước với cha nàng. Lúc hắn ra về, còn trao cho một hộp giấy nhỏ, không biết đựng vật gì bên trong? Nàng thoáng thấy cha mỉm cười sung sướng, rồi lễ phép đưa Năm Quýnh ra cửa. Suốt buổi chiều, nàng không thấy cha ở nhà. Cho đến tối ông mới mò về, vừa đi vừa hát nho nhỏ. Nàng bận rộn dọn dẹp hàng quán trước giờ thiết quân luật, nên quên hỏi xem cha đi đâu?
Bỗng có tiếng em nàng gọi:
— A Chế...
Hà Anh giựt mình bảo Dung:
— Tôi hiểu rồi Dung. Tôi phải về nhà ngay. Sáng tôi qua... Tôi cũng mến anh... ấy lắm.
Rồi Nàng chạy vọt ra khỏi vòng rào. Dung đứng nhìn theo thở dài. Hà Anh dám thố lộ với nàng như thế, cũng là nhiều lắm! Dung lặng lẽ trở vào nhà trong lúc bà mẹ ra cửa đón:
— Gì vậy con?
— Chị Hà Anh hỏi thăm tin anh Thọ.
Bà Chủ lắc đầu:
— Tội nghiệp con bé cũng có lòng quá hả! Thôi má đi qua Phước Định nghen con. Trời cũng gần sáng rồi. Tao biểu con Năm đốt đuốc đi với tao.
Dung lo ngại:
— Hay để con đi với má!
— Khỏi cần! Con đi còn dễ bị hại hơn. Nhớ đóng cửa cho kỹ rồi ở nhà! Ai kêu cũng đừng mở.
Dung cất tiếng dạ thì thấy chị Năm ở phía sau vườn đốt đuốc đi ra. Chị Năm là người lân cận được mẹ nàng giúp đỡ rất nhiều, nên thường vẫn ở hết lòng với gia đình nàng.
Chị Năm ra tới nơi đã bảo Dung:
— Thằng Năm Quýnh khốn nạn lắm! Nó với chồng tôi là chỗ bè bạn năm xưa, bây giờ còn làm mặt lạ. Hôm nọ ảnh đau, bót biểu làm xâu, tôi nài nỉ cho ảnh nghỉ một kỳ, nó nhứt định không chịu.
Dung không nói gì, chỉ lắc đầu. Nàng biết dư tâm địa những đứa ‘‘ tiểu nhân đắc chí ’’ ấy lắm!
Bà Chủ bảo chị Năm:
— Thôi mình đi đi...
Chị Năm vâng dạ. Dung đưa mẹ ra tới ngoài rào. Bà Chủ dặn dò nàng thêm lần nữa:
— Nhớ đóng cửa nẻo cho kỹ càng nghe con.
Dung gật đầu:
— Má yên lòng. Con biết mà...
Hai người đã ra khỏi cổng rào, ánh đuốc bừng sáng trong trời đêm. Dung nhìn theo mẹ, đến khi bà khuất mình theo mấy đám cây. Nàng trở vào nhà, khép cửa cài then cẩn thận. Tòa nhà trống vắng lạ lùng. Chiếc đồng hồ trên vách nhà nổi lên một âm điệu buồn thảm...
Dung gục đầu trên thành ghế, ôm mặt khóc. Nàng thấy rõ điều này: tai ương của chiến tranh không hề tha thứ một ai!
Bọn thân binh dẫn Thọ xuống chiếc cầu ván bấm đèn bin ra hiệu cho bên bót chống ghe qua. Năm Quýnh và tên Xếp bót còn đứng trên bờ đưa mắt nhìn dáo dác, tay ghìm súng, chỉ chực nhả đạn! Gió lạnh từ sông Cái thổi vào khiến Thọ rùng mình. Chàng quay đầu nhìn lại: ngôi trường tiểu học vẫn còn trơ ra đó, thi gan cùng năm tháng và khói lửa chiến tranh. Mấy lần cháy tiêu rồi được dân làng xây cất lại. Nơi đó, chàng cũng đã mài đũng quần trong thời tuổi nhỏ!
Có tiếng Năm Quýnh hỏi:
— Bộ tụi nó ngủ hết rồi sao? Kêu lớn lên...
Tên thân binh đứng gần Thọ hét lớn:
— Thình ơi... Chống ghe qua! xếp về nè... Thình...
Một tên khác cất giọng ‘‘ì’’ nghe vang dội cả đêm khuya. Tên Xếp bót thích ý cười ha hả, cả bọn cũng cười theo. Riêng Thọ vẫn lầm lì nghĩ đến thân phận của mình. Tòa nhà mà bọn lính Tây đóng bót có xa lạ gì với chàng đâu.
Đó là ngôi nhà thờ của ông Ngoại Thọ, một người giàu có nhứt vùng. Từ hồi chiến tranh tới giờ, quân Pháp tự động chiếm đóng ngôi nhà và xây đắp phòng tuyến xung quanh. Ngày còn nhỏ, Thọ vẫn thường theo mẹ về thăm Ngoại và cùng các anh em con cậu, con dì nô đùa trước sân gạch. Chàng nhớ rõ ông Ngoại có nuôi hai con trăn rất lớn ở trong bồn đá có rào dây kẽm.
Có tiếng sào khuấy nước rồi một chiếc ghe lường từ bên kia sông chống sang. Năm Quýnh thét hỏi:
— Bộ mầy ngủ quên hả Thình?
Có người lên tiếng ở giữa sông:
— Dạ đâu có thầy Năm.
— Không ngủ quên sao rọi đèn hiệu không hay? Xếp ổng hâm bỏ tù mầy đó...
Thình chừng như quá sợ, lấp bấp:
— Thầy Năm làm ơn nói giùm. Tại nước rút nhanh quá nên ghe mắc cạn, mình tui đẩy muốn ứ hơi.
— Đừng có nói láo! Sao mầy không lên tiếng? Thình cập sát ghe vào chiếc cầu ván rồi nói:
— Dạ có chớ thầy, nhưng bị gió ngược đàn chỗ khác. Xếp đi tôi đâu đám giỡn thầy Năm!
Thình vụt im bặt, trố mắt nhìn Thọ. Nó là cháu gọi ông Năm Súng chèo đò bằng cậu, nên rất rành gia cảnh của Thọ.
Nó hoàn toàn không dè, Xếp bót đi ra chợ là để bắt Thọ. Nó nhủ thầm:
— ‘‘Trời đất! Bộ hết người sao nhè bắt cậu nầy!’’
Chính Năm Súng đã cho nó biết Thọ ở Sài gòn về mấy hôm nay: nó chưa kịp đi thăm thì chàng đã bị bắt vào đây.
Trước kia Thình có ở chăn trâu nhà Thọ nữa nên nó rất thân với chàng. Thường khi nó với Thọ vò đất bắn giàn thung cả ngày trời. Trong lòng nó rất mến Thọ! Chưa bao giờ nó có ý nghĩ Thọ thân với những người kháng chiến, đừng nói chi đến chuyện làm Việt Minh. Thọ cũng rất ngạc nhiên khi thấy Thình làm bạt-ti-dăn trong bót nầy. Nhưng vốn dè dặt và sợ liên lụy cho nó, Thọ vẫn làm lơ, quay nhìn nơi khác.
Trong khi đó, Năm Quýnh nói Xếp bót mấy câu đỡ đầu cho Thình rồi bảo bọn lính:
— Thôi đưa xuống ghe đi! Còn chờ gì nữa?
Một tên bạc-ti-dăn xô Thọ bước xuống lường ghe. Thình vẫn trố mắt nhìn chàng. Năm Quýnh liếc nó rồi hỏi:
— Làm gì đứng nhìn hoài vậy Thình? Mầy quen nó hả?
Thình hoảng hồn cầm chặt cây sào, chống ghe ra:
— Dạ… đâu có thầy Năm! Thấy anh nầy mặt quen quen.
Năm Quýnh lạnh lùng:
— Việt Minh đó! Mầy nhìn anh em với nó đi rồi vô khám ngồi luôn thể.
Thình cười hề hề:
— Thầy Năm nói chơi kỳ quá!
Bọn thân binh cười rộ lên khiến tên Xếp đồn không hiểu gì hết, ngơ ngác hỏi Năm Quýnh:
— Chuyện gì vậy?

Năm Quýnh thuật lại lời nói của tên Thình, Xếp bót cười lên ha hả, bọn thân binh lại được dịp cười theo.
Thọ thẫn thờ nhìn lên nóc nhà thờ của ông ngoại. Chàng không ngờ mình lại bị giam giữ ở nơi mà trước kia đã từng chứng kiến bao cảnh yên vui của gia đình. Chiếc cầu đúc, ông ngoại chàng làm thật xa ra ngoài sông để cho ca nô của ông dễ đậu vẫn còn trơ ra đó! Ánh đèn pha trong bót rọi thẳng xuống đầu cầu khi ghe vừa cập bến. Cột cầu và lan can gãy bể nhiều nơi vì vết đạn chiến tranh. Thọ thở dài cúi xuống nghĩ đến những tang thương của của cuộc đời. Bọn thân binh lũ lượt lên thang. Năm Quýnh qua ngang mặt chàng nói:
— Bảnh trai quá ha! Chắc con gái mê nhiều lắm!
Thọ nhìn anh ta, cười nhạt:
— Thì ra vậy!
Năm Quýnh kéo chàng lại hỏi:
— Mầy nói sao?
Thọ bĩu môi:
— Chưa có gì chứng chắc tôi có tội, anh đừng xấc láo rồi hối hận!
Năm Quýnh đưa bá súng lên nhưng không hiểu nghĩ sao lại buông xuống.
Thình lo sợ vô cùng trước những lời Thọ nói, nhưng trong lòng không khỏi khâm phục thái độ bình tĩnh của chàng. Năm Quýnh đi sát bên Tây Xếp đồn, nói gì không rõ. Một lúc vào đến trong sân, hắn quay lại bảo bọn thân binh:
— Đưa nó xuống nhà kho luôn đi.
Thình hết hồn nhìn Thọ. Hai tiếng nhà kho nghe thật giản dị, nhưng chất chứa biết bao cực hình. Đó là nơi chúng khảo tra đánh đập những người yêu nước, chống thực dân và cũng là nơi buộc dân lành bao tội trạng tày trời! Thọ mới được mời về đây đã phải xuống nhà Kho thì đủ thấy dã tâm của Năm Quýnh. Hắn biết dư sáng mai đây thế nào ông Hội Đồng cũng qua can thiệp. Nếu Thọ không có tội thì thế nào ổng cũng gỡ ra cái một. Bởi vậy mà Năm Quýnh quyết làm cho Thọ mang tội mới nghe. Hắn chỉ muốn tống Thọ ra khỏi làng nầy càng sớm càng tốt. Để chàng ở lại đây thêm ngày nào là hắn không yên bụng ngày đó. Riêng Thọ, nào biết đâu những sự nguy hiểm đang chờ mình. Chàng cứ ngang nhiên theo bọn lính đi thẳng vào nhà kho. Chừng ngó thấy những dụng cụ để khảo tra đánh đập, Thọ mới nhủ thầm: lần này “lãnh đủ’’ rồi. Chạy ô mồ mắc ô mả!
Bọn thân binh đẩy Thọ té ngồi ở góc phòng rồi đi ra hết. Năm Quýnh chưa khởi sự khảo tra mà muốn làm cho Thọ phải bị căng thẳng thần kinh. Thọ đoán hiểu dụng ý của hắn, nên liên miên nghĩ đến những chuyện khác.
Chàng nhớ tới anh Hai mình trước tiên, một người anh mà từ khi chàng còn nhỏ dại, đã phải thay cha đùm bọc gia đình. Quan niệm sống của anh chàng là làm thế nào cho được an thân, đừng gây khổ cho mẹ trong lúc tuổi già! Vì quá lo xa, nên thấy Thọ dính líu vào các vụ biểu tình, bãi khóa trước cái chết anh dũng của Trần văn Ơn, anh Hai lấy áp lực gia đình buộc Thọ về nhà, nghỉ học ít lâu. Ý anh muốn Thọ dứt liên lạc với các bạn học sinh và tránh sự dòm ngó của Công an Liên bang Pháp. Nhưng rồi thì Thọ có được yên thân đâu? Chàng thấy rõ điều nầy, trong thời buổi chiến tranh, muốn sống yên thân là điều không thể thực hiện được!
Thật sự, anh chàng làm sao dự đoán được những tai họa bất kỳ. Anh chỉ biết thương em và lo phòng xa tất cả những chuyện có hại. Chàng nhớ kỹ vào đệ nhị thế chiến, khi Đức mới chiếm Ba Lê thì anh Hai đã rục rịch lo chuyện rời bỏ Sài gòn để tránh giội bom. Anh lo xa với những lý luận mà ai nghe qua cũng thấy hợp lẽ. Nhứt là mẹ chàng, bà vẫn thường xem đứa con trai lớn như một người không bao giờ sai lầm. Hễ bà dùng đến tiếng: ‘‘Anh Hai mầy đã nói’’, thì nhứt định phải làm theo...
Lúc anh Hai bảo chàng về quê ở với mẹ, Thọ chỉ nói một câu: ‘‘Trong thời binh lửa nầy sự hiểm nguy đến với ta bằng một triệu con đường, mình có tránh một vài chỗ cũng chẳng ăn thua gì đâu anh!’’ Nhưng rồi, chàng cũng theo đúng ý muốn của anh. Và đây là hậu quả của sự phòng xa thái quá đó.
Nếu chàng ở Sài gòn đến ngày giờ nầy, chưa chắc đã lọt vào lưới công an Pháp.
Chàng nhớ tới lời một người bạn thân đã nói: ‘‘Gia đình mầy lạ quá! Chưa đánh với Tây đã nghĩ đến chuyện thua, phải làm gì rồi. Thế thì theo Tây đi, còn có con đường sống hơn!’’ Lúc ấy, Thọ giận bạn lắm và cãi lẫy xuýt đánh nhau; nhưng bây giờ, nằm đây, chàng mới cảm nhận lời anh ta chí lý. Đang chiến đấu gay go, lại nuôi trong lòng cái tinh thần chủ bại thì còn thắng ai được nữa? Chung qui cũng do sự cầu an của gia đình chàng mà ra. Rốt cuộc rồi, chàng cũng không tránh được cái cảnh bị bắt giam, bị tra tấn.
Thọ ân hận vô cùng, ân hận vì đã nghe theo những ý kiến quá bảo thủ của anh. Chàng thiếu tự tin nên mới rơi vào sự sai lầm đáng tiếc đó. Bây giờ thì đã trễ lắm rồi!
Có tiếng chân nhiều người rồi cánh cửa nhà kho vụt mở. Năm Quýnh cùng hai tên thân binh bước vào, trên tay hắn cầm một tờ giấy đánh máy sẵn.
Năm Quýnh đến trước mặt Thọ kéo ghế ngồi nói:
— Tôi làm sẵn tờ khai cho anh! Mình biết rành hết thì cần gì phải điều tra nữa. Vả lại, tôi không muốn để tụi nó đánh đập anh, coi không được. Chỗ tôi với cậu Hai cũng có quen biết mà. Đây anh đọc tờ khai xem có được không? Anh cứ ký tên vào là xong xuôi cả. Tôi hứa chẳng có thằng nào dám đụng tới cái lông chưn của anh.
Thọ ngó tờ giấy đánh máy rồi lại hỏi Năm Quýnh:
— Tờ khai gì?
— Thi đại loại những việc anh đã làm ở Sài gòn! Nào là biểu tình, bãi khóa, dính líu vào tổ chức học sinh chống chánh phủ!
Thọ lắc đầu:
— Tôi có làm gì đâu mà khai? Đương không các anh bắt tôi vào đây rồi ép phải khai như vậy sao được?
Năm Quýnh cười nhạt:
— Đừng cứng đầu nghe tụi! Bao nhiêu thằng đã chết mất xác ở ngay trong nhà kho nầy đó. Ở đây không có luật lệ gì hết. Không có tội cũng phải nói có. Chừng có tội hẳn hòi, tại nầy biểu không thì cũng không luôn. Luật lệ ở phòng tra là như vầy nè...
Hắn dứt lời cầm cây thước bảng lớn khỏ vào đầu Thọ một cái cốp! Máu nóng dồn lên mặt, Thọ chồm dậy, nhưng hai tên bạt-ti-dăn kia đã bước tới chọp lấy vai chàng:
— Đừng giỡn chớ bạn.
— Mầy đọng tới thầy Năm là nát xương.
Thọ nhìn Năm Quýnh với vẻ uất hận:
— Anh sẽ phải ân hận nhiều lắm!
Năm Quýnh chẳng dừng tay, vung thước bảng lên bổ vào đầu, vào vai Thọ:
— Mầy dọa hả? Tao đánh mầy và chẳng chút ân hận nào hết! Được hông?
Thọ tránh đòn, lùi ra phía sau. Hai tên bạt- ti-dăn phải chạy theo đà tay của chàng, cây thước bảng trên tay Năm Quýnh bổ nhầm vào lưng một tên.
Hắn kêu lên:
— Ái ui! Thầy Năm...
Năm Quýnh ngừng tay lại. Tên kia xôm tới thoi vào ngực Thọ:
— Đ. m. Tại mầy hết. Quánh chết mẹ mầy.
Hắn đá bung vào hông Thọ. Chàng chịu không nổi rũ xuống, đau đớn. Thình từ bên ngoài chạy vào gọi:
— Thầy Năm!
Chừng thấy Thọ bị đánh gục, nó không thốt nên lời. Năm Quýnh quay lại hỏi:
— Gì vậy mậy?
— Dạ Xếp gọi thầy!
Năm Quýnh ngó Thọ rồi cất tiếng:
— Mầy không chịu ký vô tờ khai nầy thì tụi nó đánh mềm! Mai ông Hội có qua can thiệp, mầy trở về nhà cũng hết sống...
Thọ ngước mắt nhìn hắn, căm hờn nói:
— Tôi vô tội! Các anh khảo tra như vầy còn chi là luật pháp?
Một tên bạt-ti-dăn nói:
— Thằng nầy lạ! Tao đã nói: ‘‘lọt vô bót nầy thì chả có luật pháp gì hết.’’ Cứ lải nhải hoài. Mầy chịu ký tên hay không?
Hắn cầm cây chày vồ đưa lên, thằng Thình tái mặt. Nó không biết làm thế nào để cứu Thọ, nên nhắc nhở Năm Quýnh:
— Thầy Năm! Xếp đợi ở trển. Coi chừng ổng giận...
Năm Quýnh gật đầu rồi bảo tên bạt-ti-dăn kia:
— Khoan đã mầy! Chờ tao trở lại.
Tên bạt-ti-dăn vừa hạ chày xuống thì Năm Quýnh đã bước ra cửa. Thình chạy theo sau, nói nhỏ:
— Thầy Năm! Biểu tụi nó đừng đánh cậu Thọ đó nữa thầy Năm,
— Sao vậy? Mầy cũng muốn can thiệp hả?
— Không phải! Nhưng đánh như vậy chưa chắc cậu ta đã chịu ký nhận mà mai đây ông Hội qua can thiệp được còn rắc rối to.
— Rắc rối gì mậy?
— Cậu Thọ, con bà Chủ, với gia đình ông Hội Đồng là chỗ thâm giao. Ông Hội thế lực mạnh lắm!
Năm Quýnh gật đầu:
— Tao dư biết chuyện đó. Nhưng thằng ấy nó nhận tội thì chả làm gì tao được?
Thình nói:
— Tui sợ cậu ta chẳng nhận tội mà bị đánh đập như thế, ông Hội không nhịn mình đâu? Ổng dựa hơi Chủ tỉnh thưa ra thì lùm xùm lắm.
Năm Quýnh bĩu môi:
— Mầy đừng giỡn chớ! Tại nó dợt từ đây tới sáng dù cho mình đồng da sắt cũng phải nhận tội. Học trò mà mậy, lầm lầm, lì lì như vậy chớ dợt sơ một hồi thì biểu sao nghe vậy!
Thình ngẫm nghĩ một lúc mới nói:
— Hay thầy Năm giao cậu ấy cho tui!
Đã gần đến phòng Xếp bót rồi, nhưng Năm Quýnh cũng ngừng lại hỏi:
— Chi vậy mậy?
— Tui dùng chỗ thâm tình biểu cậu ấy ký nhận tội, khỏi đánh đập nữa.
Năm Quýnh cười gằn:
— Nghĩa là mầy có quen biết với thằng Thọ đó?
— Dạ có chớ, trước tui có đi ở với bà Chủ. Thế nào tui cũng dụ cẩu được! Thầy đừng lo...
Năm Quýnh ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo Thình:
— Được rồi! Tao giao cho mầy đó. Nó không chịu ký mầy cũng đi luôn xuồng.
Thình mừng rỡ vâng dạ rồi chạy xuống nhà kho. Hai tên bạt-ti-dăn nhìn thấy nó trở lại, liền hỏi:
— Có gì chạy dữ vậy? Bộ lộn xộn hả?
Thình lắc đầu:
— Thầy Năm biểu mấy anh giao nó cho tui.
Hai tên bạt-ti-dăn nhìn nhau rồi hỏi:
— Chi vậy? Bộ không tra nó hả?
Thình không đáp, chụp tờ khai trên tay tên đứng gần nó, rồi nói:
— Đưa đây tui. Mấy anh khỏi lo nữa, tui lãnh trách nhiệm tên nầy.
Hai tên bạt-ti-dăn cũng buồn ngủ lắm rồi, nên gật đầu bảo Thình:
— Ờ... Thì giao cho chú mầy đó! Thầy Năm hại tụi tao thức muốn sáng đêm.
Nói xong, hai tên ấy ra khỏi nhà kho, bỏ mặc Thình ở đó! Thọ đã bớt đau nên ngồi sát vách mở mắt thau láu nhìn Thình. Chàng hình dung lại cậu bé hớt tóc cao, mặc quần đùi, lần đầu tiên được ông Năm Súng dẫn tới nhà chàng. Mấy ngày sau là hai đứa thân thiết với nhau ngay, nhờ Thình với chàng đều giỏi xử dụng giàn thung. Không có bầy chim dòng dọc nào gặp hai đứa mà thoát khỏi bị hạ năm, ba con.
Khói lửa bùng lên Thọ đi Sài gòn học và ở miết trên đó, thỉnh thoảng mới về nhà. Thình thôi ở nhà chàng, rồi tiếp tay chèo đò với ông Năm Súng. Hôm nay về nhà bận rộn nhiều việc, chàng chưa kịp hỏi thăm Thình. Bất ngờ lại gặp anh ta ở đây trong một hoàn cảnh trái ngang: Thình làm thân binh cho Pháp, còn chàng lại dính líu vào phong trào chống Pháp!
Thình chờ bọn thân binh kia đi xa, mới khép cửa nhà kho lại gọi nhỏ:
— Cậu Ba.
— Anh Thình đó hả?
Thình đi về phía chàng, nói:
— Dạ... Tui đây cậu!
Nó ngồi xuống bên Thọ nghẹn lời, không biết nói gì thêm, lúc nãy, thấy bọn thân binh sắp tra tấn Thọ, Thình điếng hồn, nên nảy ra ý kiến ‘‘hoãn binh’’ chớ nó cũng biết hễ Thọ ký tên vào mảnh giấy kia là có trời cứu. Thọ bỗng hỏi nó:
— Anh làm gì trong bót nầy!
— Dạ thì cũng làm lính thân binh như họ. Năm Quýnh làm khó dễ quá, tui phải vô đây mới được yên thân.
Rồi Thình hỏi lại Thọ:
— Còn cậu? Sao lại bị bắt?
Thọ thở dài nói:
— Tôi cũng chẳng biết tại sao nữa? Đang đêm Năm Quýnh dẫn Tây tới vây nhà bắt tôi.
— Mà cậu có làm gì không?
Thọ cũng chưa thật lòng tin Thình, nên nói:
— Đi học mà làm gì anh? Tôi nghi Năm Quýnh hại tôi là tại Hà Anh!
— Hà Anh nào? Con xẩm bán nước đá, ở ngoài chợ cũ đó hả?
Thọ gật đầu. Thình ngơ ngác hỏi thêm:
— Sao lại tại nó cậu? Năm Quýnh theo con nhỏ đó lâu rồi mà... Hay là cậu...
Thình ngập ngừng ngó Thọ không nói hết câu. Nó nghi ngờ chàng cũng yêu Hà Anh nên bị Năm Quýnh để tâm thù oán.
Thọ nói:
— Tôi với Hà Anh chẳng có gì hết!
Thình thở ra:
— Thằng Năm Quýnh nó ghen ác lắm! Cái vụ nầy, nó không hại được cậu thì cũng tìm cách khác để giết cậu. Nó ‘‘chó má’’ lắm. Ở trong làng nầy ai cũng biết...
Thọ nín lặng. Chàng thấy rõ hoàn cảnh của mình còn hơn Thình nữa. Thật vô lý hết sức. Làm những chuyện chống Pháp, đáng bị giam cầm, chàng trốn được về đây, bây giờ lại đi tù vì một lý do rất tầm thường. Chàng ngó mảnh giấy trên tay Thình hỏi:
— Anh lãnh lệnh của Năm Quýnh, buộc tôi ký vào mảnh giấy nhận tội nầy hả.
Thình ngó tờ tự khai lắc đầu:
— Không! Lúc nãy sợ tụi nó khảo tra đánh đập cậu, tôi làm liều. Chớ ký vào đây thì cậu nguy lắm. Năm Quýnh sẽ có lý do giam giữ cậu rồi đưa lên Vĩnh Long. Ông Hội có can thiệp cũng không kịp nữa.
Thọ nhìn Thình ái ngại:
— Nếu tôi không ký thì Năm Quýnh sẽ kiếm chuyện với anh?
— Có nhằm gì đâu. Cậu đừng lo, miễn cậu khỏi bị đánh đập thì thôi.
Có tiếng cười gằn ở trước cửa nhà kho:
— Tao nghi mầy đúng quá hả Thình? Mầy thông đồng với nó mà...
Đèn bấm chớp sáng lên, Thình và Thọ cùng bị chóa mắt, đưa tay lên che mặt. Năm Quýnh dẫn bọn thân binh ập vào. Rồi thì chỉ còn nghe tiếng đấm đá, tiếng rên la trong bóng tối.
Chương 4 (tt)
Bà chủ Thân và chị Năm đến cổng rào nhà ông Hội thì tiếng chó sủa rang. Chị Năm quơ đuốc lên cao, cất tiếng gọi:
— Cô Mai ơi! Cô Mai. Có bà Chủ qua nè...
Mấy con chó giữ nhà lại còn sủa tợn hơn. Một lúc, mới thấy đèn ở trong nhà thấp sáng rồi tiếng ông Hội cất lên sang sảng:
— Ai đó? Ai gọi cổng giờ nầy?
Bà chủ Thân thấy đã đến lúc mình phải lên. tiếng:
— Dạ tôi đây anh Hội!
Có tiếng dép lẹp kẹp trên con đường lót gạch rồi tiếng nạt chó. Ông Hội bước ra gần cổng rào chăm chú nhìn. Chợt thấy bà mẹ của Thọ và Dung thì ông đổi ngay sắc diện:
— Kìa chị Chủ! Vậy mà tưởng ai.
Ông mở cổng rào thật mau:
— Chị vô trong nầy. Có chuyện gì vậy chị?
Bà Chủ mếu máo nói:
— Thằng Thọ... bị bắt rồi!
Ông Hội Đồng sững sờ hỏi lại:
— Thằng Thọ bị bắt? Ai bắt?
Bà Chủ bước vào trong rào, nghẹn ngào nói:
— Nó có làm gì đâu! Bên bót đương không đem lính đến vây nhà bắt nó. Có Xếp Tây đi nữa.
Ông Hội cau mày:
— Lạ chưa? Bắt người ta phải có lý do chớ! Thọ nó có học mà sao để bị bắt êm xuôi vậy...
— Trời ơi! Con Dung, thằng Thọ đều châm tiếng Tây cãi lẫy um xùm, nhưng tụi bạt-ti-dăn cũng bắt như thường. Họ bảo thằng Thọ làm Việt Minh. Có người mạch!
Ông Hội hoang mang hỏi:
— Ai mạch? Nó ở Sài gòn về mà làm Việt Minh cái nỗi gì? Nó qua trình diện sao không bắt?
Bà chủ lắc đầu:
— Thọ có đi trình diện đâu?
— Sao kỳ vậy? Hôm nọ qua chơi, tôi đã bảo trình diện rồi mà.
Bà Chủ khổ sở nói:
— Khổ lắm! Con tôi là con trời con đất mà! Nó có chịu làm như người ta đâu. Để sanh rắc rối...
Ông Hội liền chận lời bà:
— Cũng không ăn thua gì? ‘‘ Mông Xừ ’’ Jean muốn bắt thằng Thọ vì lý do không trình diện cũng phải nể tình tôi chớ. Có đâu nữa đêm đem lính vây nhà chị. Trời, thiệt hết nói. Con người ta học ở Sài gòn mà bảo làm Việt Minh?
Bà Hội Đồng và Mai đã thức giấc từ nãy giờ, nghe nói có bà Chủ qua thình lình, vội vã ra sân. Đứng xa xa, hai mẹ con cũng đều nghe rõ ràng tin Thọ bị bên bót bắt giam. Mai nắm chặt tay mẹ, run giọng hỏi:
— Mẹ ơi! Gì kỳ vậy?
Bà Hội lôi nàng ra đón bà Chủ. Ông Hội ngó thấy vợ và con liền bảo mẹ Thọ:
— Mẹ con nó ra đón chị kìa. Thôi vô nhà đã. Chuyện nầy tôi đâu có để yên họ. Bộ đùa sao mà dám bắt cháu tôi?
Bà Hội và Mai bước tới hỏi bà Chủ. Mấy người đều vào thẳng trong nhà. Chị Năm dụi tắt đuốc rồi ngồi đợi ở hàng ba. Chờ bà Chủ ngồi xuống ghế tràng kỷ, đối diện với vợ, ông Hội mới hỏi:
— Theo chị thì tại sao họ bắt cháu Thọ? Phải có lý do nào chớ?...
Bà Chủ hớp xong miếng nước trà nóng, Mai vừa rót ra tách, khẽ cất tiếng:
— Chung qui cũng tại cái vụ không qua bót trình diện, nên Năm Quýnh nó mới kiếm cớ bắt thằng nhỏ!
Bà Hội hỏi ngay:
— Năm Quýnh nào? Thằng cha thông ngôn đó hả?
— Dạ phải rồi chị. Nó đó! Trước cũng ở trong làng nầy chớ đâu. Bây giờ lên mặt.
Ông Hội cười nhạt:
— Lên mặt, lên mày gì cái đồ đó chị?
Bà Hội cãi lại ngay:
— Ý... ông đừng coi thường tụi đó. Con Mai nhà mình đi chợ Cái Muối nó còn dám chộc nữa là.
Ông Hội nhìn sửng Mai, cất tiếng hỏi:
— Có thiệt vậy hông Mai?
Mai ngó cha gật đầu:
— Dạ thiệt chớ! Con chửi cho một trận hắn mới thôi, nhưng cũng hâm he là coi chừng nầy nọ...
— Trời đất! Sao những chuyện vậy, chẳng ai nói gì cho tôi nghe hết kía! Lạ hông? Đến bây giờ mới chịu hé răng.
Mai cúi đầu ấp úng:
— Dạ... Má biểu đừng cho ba biết? Gây sự với tụi đó chẳng nên.
Ông Hội tức bực, gằn giọng:
— Tao vặn họng nó chớ dám gây sự với tao. Chắc tại vậy rồi nó ăn quen, kiếm cớ bắt thằng Thọ chớ gì?
Ông vụt hỏi bà Chủ:
— Cháu nó có gây sự gì với thằng Quýnh không chị?
Bà Chủ lắc đầu:
— Thọ mới về nhà chưa được một tuần làm gì có chuyện gây sự với ai?
Bà hoàn toàn không biết chuyện giữa Hà Anh và Thọ. Mọi người đều lặng thinh. Ông Hội có vẻ đăm chiêu nghĩ ngợi. Mai nôn nóng vô cũng, nhưng không dám bày tỏ ý kiến của mình. Câu chuyện hôn nhân giữa nàng và Thọ vẫn còn nằm trong sự toan tính của người lớn, chưa có chi là chánh thức. Nàng có yêu Thọ thì chỉ để bụng, chớ nào dám để lộ ra ngoài.
Bà Hội liếc nhìn sắc mặt của con, hiểu rõ tâm trạng của nàng. Bà ngó chồng nói:
— Mình liệu sao? Chẳng lẽ ngồi yên để bên bót họ muốn làm gì thì làm ư? Ai thì không biết chớ Thọ, nó là con cháu của mình mà...
Ông Hội ngẩng lên bảo bà chủ:
— Chị yên tâm! Bọn đó chẳng đời nào hại được cháu Thọ đâu! Hừng sáng tôi qua bót liền...
Bà Chủ nhìn ông Hội vừa tin tưởng, vừa âu lo! Từ đây cho tới sáng không biết bọn bạt-ti-dăn có làm gì Thọ chăng?
Mai cũng lo lắng y như bà nên cất tiếng bảo cha:
— Thưa ba! Con sợ tụi thân binh nó không để yên cho anh Thọ đêm nay!
Ông Hội Đồng vẫn tin tưởng ở sự quen lớn của mình sẽ khiến bọn thân binh không dám làm ẩu với Thọ. Chúng hành hạ chàng, mà không có bằng cớ thì ông sẽ thưa tới nơi tới chốn, chớ bộ giỡn sao?
Ông Hội bảo bà Chủ, nhưng cốt ý trấn an lòng con gái:
— Chẳng hề gì đâu! Tôi bảo đảm đó. Bọn nó dám động tới thằng Thọ thì tôi để xứ này cho mà ở...
Bà Chủ, bà Hội và Mai nghe ông quả quyết như thế cũng tạm yên tâm! Nhưng họ có biết đâu trong giờ phút đó, Thọ chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần, trong nhà kho của ông ngoại mình. Năm Quýnh tra khảo Thọ hết mức để chàng ký vào tờ tự khai, bằng không thì nó có chạy trời cũng không thoát tay ông Hội. Và giữa lúc ông Hội đang hiu hiu tự đắc thì Thọ đã mất bình tĩnh, tay run run cầm viết ký vào tờ khai, để nhận những tội trạng mà mình hoặc ít hoặc nhiều cũng có làm...

Trời đã sáng rõ, ông Hội bảo anh chèo ghe, cập sát tam bản vào cầu bót rồi nói:
— Mầy cứ ở dưới nầy! Đừng lên làng chàng
Tây tà nó bắn bất tử lắm!
Anh kia vâng dạ, gát chèo lên, rút vào trong mui nghe. Ông Hội bỏ đôi giày hàm ếch lên cầu rồi chậm rãi leo lên. Bọn thân binh nhìn thấy ông Hội, liền cho một tên chạy vào phòng gọi Năm Quýnh:
— Thầy Năm... thầy...
Năm Quýnh đang ngủ mê man, nghe tiếng gọi vụt choàng dậy:
— Gì đó bây?
Tên thân binh vội đáp:
— Ông Hội qua kìa thầy Năm!
Năm Quýnh vung vai, bước xuống đất nói:
— Ổng qua sớm quá há! Cứ mời ông ngồi trong văn phòng chờ tao rửa mặt.
Sở dĩ Năm Quýnh bình tĩnh như thế là vì quan một Jean đã theo tàu đầu bằng về chợ Vĩnh Long chơi hồi hừng sáng. Anh ta giao bót nầy hôm nay, trọn quyền xử dụng của Năm Quýnh. Jean còn trẻ mới ra trường, rất mê chơi. Y cũng như phần đông bọn lính mới của Tây chẳng thiết gì đến trận giặc xâm lăng nầy, nên thường khi vẫn làm phận sự cho có lệ thôi! Miễn có dịp là bỏ về Vĩnh Long chơi, giao mọi chuyện cho Năm Quýnh. Dó đó mà một tên thông ngôn nghiễm nhiên có rất nhiều quyền hạn, muốn sanh sát ai cũng được.
Ông Hội đâu dè xếp bót đã ra chợ, nên vào văn phòng ngồi đợi, trong lòng ray rứt không yên. Ở nhà ông nói cứng với vợ con và bà Chủ để trấn an lòng họ thôi, chứ ông dư biết trong thời nhiễu nhương loạn lạc nầy, một tên thân binh cũng đủ quyền hạng sinh sát mà khỏi bị tù. Nếu muốn giết Thọ, chúng cứ đem ra bắn và khai là chàng bỏ chạy, cũng chẳng làm sao bắt tội được.
Nhưng ông tin tưởng ‘‘mông-xừ’’ Jean không đến đỗi dùng thủ đoạn hèn hạ đó với cháu ông! Mọi khi đi Sài gòn về, ông vẫn bảo trẻ mang ‘‘cổ nhác’’ qua bót cho mà. Chẳng lẽ Jean không nghĩ tình ông sao?
Chờ một hồi lâu, không thấy xếp bót đâu cả, ông mới hỏi người thân binh đứng ngoài hàng ba:
— Nầy... Chú Cai.
Ông có tật gọi tâng bốc bọn thân binh như vậy, nên chúng thích ý vô cùng. Tên kia liền bước vào:
— Dạ... Chi ông?
— Xếp đi đâu vắng hả? Tôi đợi nãy giờ!
— Dạ... Ông Một đi lên chợ hồi hừng sáng. Có tàu đầu bằng tới rước.
Ông Hội thất vọng quá:
— Vậy à... Rồi công việc ở bót ai coi? Tôi có chút chuyện.
Tên thân binh liền thưa:
— Dạ, thầy Năm! Tôi có cho thầy Năm hay rồi! Chắc thầy đang rửa mặt!
Ông Hội bực mình lắm vì ông có cảm giác như ‘‘mông-xừ’‘ Jean muốn lánh mặt mình. Nhưng sự thể đã như vầy, thì ông đành phải hạ mình nói chuyện với tên Năm Quýnh vậy! Ngay trong khi đó, Năm Quýnh đi giày ‘‘cộp cộp’‘ bước vào cửa văn phòng, miệng tươi cười:
— Xin lỗi ông Hội! Đêm qua thức gần suốt sáng mệt quá tôi ngủ quên.
Ông Hội đã bực mình vì cái giọng trịch thượng của hắn, nhưng cũng ráng dằn lòng. Bọn như thằng Năm Quýnh nầy thì xách giày cho ông cũng không đáng mà. Nghĩ tới Thọ đang nằm trong tay hắn ông Hội ráng nhẫn nhịn.
Ông cất tiếng:
— À... Em Năm! Bây giờ giúp ‘‘mông-xừ’‘ Jean ở đây hả?
Năm Quýnh thấy ông Hội vẫn coi thường mình nên ức lòng lắm. Tuy nhiên, hắn là đứa nham hiễm, vẫn giữ vẽ mặt bình thường. Hắn đáp:
— Dạ công việc nhiều quá ông! Nhứt là khi Xếp tôi đi vắng như hôm nay.
Ông Hội dịu giọng:
— Rủi cho ‘‘qua’’ hết sức! Lúc có chuyện thì ‘‘mông-xừ’‘ Jean lại đi vắng! Không rõ em Năm có giúp qua được không?
Năm Quýnh biết dư ông Hội sang đây là để can thiệp cho Thọ, nhưng vẫn làm ra vẻ tự nhiên:
— Dạ, ông cần chi? Không có Xếp, tôi liệu cũng được mà. Trong quyền hạn thì xin hết lòng giúp ông Hội.
Ông Hội Đồng ngó Năm Quýnh nói:
— Có phải đêm rồi trong bót bắt một người ở chợ cũ!
Năm Quýnh nói nhanh:
— Dạ có. Cậu Thọ con bà Chủ chớ ai! Xếp tôi dẫn lính đi đó. Cũng còn giam ở đây!
Ông Hội vui mừng nói:
— Thằng Thọ là cháu tôi! Chẳng rõ nó tội tình gì! Dân học trò ở Sài gòn mà.
Năm Quýnh ngó khách rồi gãi tai, làm ra vẻ khó nghĩ lắm. Ông Hội chăm chú nhìn hắn, không khỏi lo âu về tội trạng của Thọ! Ông tiếp lời:
— Em Năm chắc đâu có lạ gì ‘‘qua’’. Cả tỉnh Vĩnh Long nầy,từ Chủ Tỉnh trở xuống ai mà không biết gia đình ‘‘qua’’. Chẳng lẽ con cháu của ‘‘qua’’ nó đi làm Việt Minh sao?
Năm Quýnh khẽ đáp:
— Dạ tôi hiểu chuyện đó lắm! Cũng vì vậy mà suốt đêm qua, tôi không ngủ được. Vụ cậu Thọ rắc rối quá.
Ông Hội sững sờ:
— Nó có làm gì đâu mà rắc rối? Qua nói nó học ở Sài gòn về, em không tin sao?
Năm Quýnh gật đầu:
— Dạ tin chớ! Cậu ấy có đủ giấy tờ hợp lệ mà. Nhưng người ta tố cáo cậu Thọ dính líu vào những vụ biểu tình, bãi khóa, tổ chức đám táng của trò Ơn ở Sài gòn, bị bại lộ cẩu trốn về đây!
— Trời đất ơi! Ai mà tố cáo ác như vậy?
Ông Hội kêu lên như thế, nhưng trong lòng đã bắt đầu run sợ về những chuyện kia. Ông xem báo và nghe kể rành mạch những chuyện náo động ở Sài gòn, mà phần lớn là do những bàn tay bé bỏng của các cậu học sinh gây ra. Họ đã làm cho chánh quyền Pháp phải nể trọng tinh thần bất khuất của học sinh trước cái chết của đồng bạn. Rất có thể Thọ là một người trong số đó. Nhưng ai đã tố cáo chàng để cho lính bót vây nhà bắt đem đi giữa đêm khuya?
Ông ngó Năm Quýnh hỏi tiếp:
— Ai tố cáo cháu ‘‘qua’’ vậy em? Có bằng cớ gì? Thọ nó học hành chăm chỉ lắm, đâu có theo các cậu kia mà phao cho nó...
Năm Quýnh lắc đầu nói:
— Dạ cái đó thì tôi không thể nói cho ông rõ được! Bí mật nghề nghiệp ông cũng biết mà. Nếu tiết lộ ra, sau nầy còn ai cộng tác với chúng tôi nữa. Vả lại, cậu Thọ đã nhận tội hết rồi.
Ông Hội sửng sốt:
— Nhận tội! Thằng Thọ nhận tội? Mà tội gì?
Năm Quýnh điềm đạm lấy tờ khai mà hắn đã đánh máy sẵn đưa cho Thọ ký tên đêm qua, đưa cho ông Hội xem:
— Dạ đây... Tôi khổ vì những lời khai nầy mà không giúp ông Hội được! Chỗ một làng với nhau, tôi còn lạ gì gia đình ở bển.
Ông Hội liếc nhìn chữ ký của Thọ và những điều khoản đã khai ra thì điếng hồn. Ông nhủ thầm:
— ‘‘ Trời đất ơi! Bộ nó có nhúng tay vào những vụ nầy thiệt tình mà?’’
Năm Quýnh lấy tờ khai lại đọc khoản chót cho ông Hội nghe, rồi nói:
— Cậu ấy định về làng để mượn đường theo kháng chiến đó. Thằng cháu của Năm Súng chèo đò cũng có dính líu trong vụ nầy. Nó lẻn vào làm thân binh trong bót thì ông đủ biết tụi nó ghê gớm thế nào?
Ông Hội lặng người đi trước những lời Năm Quýnh nói. Chuyện kia hư thực ra sao ông vẫn không rõ, nhưng nhìn chữ ký của Thọ và những điều khoản đã khai ra, ông chẳng còn mở lời can thiệp vào đâu được nữa!
Ông Hội sững sờ một lúc mới nói:
Em Năm... làm đúng luật lắm, ‘‘ qua’’ cũng không biết nói sao? Liệu em có châm chế gì cho Thọ được không?
Năm Quýnh gãi tai:
— Dạ, vụ nầy có liên quan tới chuyện ở Sài gòn, tôi đâu đủ nguyền hạn giúp ông Hội. Chắc là phải gởi trả cậu Thọ về Công an Liên bang Pháp.
Ông Hội rụng rời cả tay chân. Lúc nãy ông còn hy vọng Thọ bị giải lên tỉnh và ông sẽ nhờ Chủ Tỉnh can thiệp giúp, ai dè Năm Quýnh lại tính đi xa hơn. Hình như y muốn dọa ông, chớ đâu có chuyện làm sai nguyên tắc như thế! Ông Hội đã bình tĩnh trở lại và bắt đầu nhận xét thái độ của tên Năm Quýnh. Đúng là hắn phòng trước sự can thiệp của ông! Bao nhiêu đó đủ chứng tỏ hắn muốn hãm hại Thọ, để ông phải bó tay không làm gì được! Năm Quýnh làm ra vẻ mặt hiền hậu, thân mật, nhưng thật sự hắn đã chuẩn bị hơn thua tới cùng với ông.
Ông Hội bỗng hỏi Năm Quýnh:
— Em có thể cho ‘‘qua’’ gặp thằng Thọ một chút không?
Năm Quýnh chợt thấy ông Hội thay đổi thái độ thì dè dặt đáp:
— Dạ.. Không có ‘‘ Xếp’’ tôi ở nhà, chuyện đó cũng khó quá! Tôi không đủ quyền hạn.
Ông Hội đứng lên cười nhạt:
— Tôi hiểu rồi! Vậy là ‘‘ cậu’’ muốn làm khó nhau đây. Báo trước cho ‘‘cậu’’ biết tôi không chịu thua đâu. Nếu thằng Thọ vô tội mà bị tra tấn tàn nhẫn thì ‘‘cậu’’ không ở yên với tôi được!
Năm Quýnh cũng đứng lên nói:
— Ông Hội nên nghĩ lại! Tôi chỉ làm đúng luật, Thọ có đủ bằng cớ theo Việt Minh, ông Hội muốn tôi phải làm sao bây giờ? Rất tiếc phải làm phật lòng ông Hội. Nhựng không làm sao khác...
Ông Hội biết mình ở nán lại lâu, chỉ nói ra những điều bất lợi thôi. Ông không thèm chào Năm Quýnh, đi thẳng xuống ghe hầu, bảo rời khỏi bót ngay. Năm Quýnh tuy nói cứng, nhưng trong lòng đã hơi lo. Chọc giận ông Hội Đồng là chuyện hắn chưa hề nghĩ tới bao giờ. Nhưng hiện tại, hắn như người đã cỡi trên lưng cọp, chỉ còn có nước sải tới, chớ chẳng dám để cọp dừng chân. Vì không khéo hắn sẽ làm mồi cho cọp!
Trong khi đó, ghe hầu của ông Hội đã ra tới chợ cũ. Ông bảo trạo phu ngừng lại, đậu ở cầu thang, để ông lên báo tin bà Chủ biết, đúng như lời đã hẹn hồi sáng sám. Ghe ông vừa cập vào bến chợ thì từ bên chiếc đò, Năm Súng đã chui ra cất tiếng:
— Thưa ông!
Ông Hội Đồng chưa kịp trả lời, Năm Súng đã hỏi luôn:
— Dạ... chắc ông Hội qua nhà bà Chủ!
Ông Hội gật đầu:
— Ờ... Lúc nầy khá không hả chú Năm?
Năm Súng hình như không quan tâm đến câu hỏi đó, nói luôn một hơi:
— Vụ cậu Thọ chẳng có gì mà rắc rối quá ông! Nghe đâu thằng Thình, cháu tôi đêm qua cũng vì binh cẩu mà bị nhốt luôn rồi! Tôi nói ăn thua với Năm Quýnh không được đâu...
Ông Hội cau mày hỏi:
— Ai ăn thua? Nó bắt thằng Thọ không bằng cớ thì tôi sẽ làm cho ra lẽ chớ!
— Dạ ông thì không nói gì, chớ cậu Thọ còn là học trò, lại chưn ướt, chưn ráo mới về. Khổ quá! Tôi đã báo tin cho cậu ấy hay trước mà cũng không khỏi.
Ông Hội ngó Năm Súng, bắt đầu chú ý tới lời nói của ông ta. Ông hỏi nhỏ:
— Vậy ra thằng Thọ có gây sự với Năm Quýnh nữa à?
Năm Súng thở ra nói:
— Dạ không có chính thức gây gỗ, nhưng tranh nhau con xẩm đó thì còn nguy hiểm hơn!
Ông Hội ngạc nhiên quá hỏi ngay:
— Tranh nhau ‘‘con xẩm’’ nào?
— Dạ con Hà Anh ở Xóm chợ kia. Con xẩm, con Ban Phánh đó...
— Ý trời! Thằng Thọ ở Sài gòn về có mấy bữa mà đã ‘‘mèo chó’’ rồi sao?
Năm Súng đáp:
— Hôm qua, nghe Năm Quýnh hỏi thăm nầy nọ, tôi nghi rồi. Tôi có cho cậu Thọ hay nữa, nhưng cậu ấy xem thường lắm! Để bây giờ... Chỉ khổ cho bà Chủ!
Ông Hội được biết vì chuyện ‘‘trai gái’’ mà Thọ bị bắt, nên trong lòng bực bội lắm. Nếu không nghĩ tình quen biết lâu năm với bà Chủ, ông đã xuống ghe hầu về ngay Phước Định.
— ‘‘Thằng thiệt bậy quá. Mình đã định gả con Mai cho nó mà nó cư xử như vậy sao?’’
Ông Hội nhủ thầm như thế, nhưng cũng leo lên cầu thang ở bến chợ. Năm Súng nhìn theo ông, trong lòng buồn bã khác thường. Thằng Thình chả biết nó nói gì bậy bạ đến nỗi bị bắt, bị hành hạ chung với Thọ, không biết rồi sẽ ra sao? Thọ thì đã có ông Hội lo, người ta giàu có, thân thế, còn hy vọng khỏi tù, chớ cháu ông, ai lo cho bây giờ?
Trong khi đó; ông Hội đã lên khỏi cầu thang, qua ngang xóm chợ. Nhiều người thấy ông, chấp tay xá. Họ biết ngay ông qua nhà bà Chủ vì chuyện của Thọ, nhưng chẳng ai dám mở lời thăm hỏi. Đến trước cửa nhà Ban Phánh, nghe tiếng đập nước đá, ông Hội đưa mắt nhìn vào. Tự nhiên, ông muốn biết mặt ‘‘con xẩm’’ đã hại Thọ bị tù. Ông muốn xem sắc đẹp của nó ‘‘chim sa cá lặn’’ thế nào mà Thọ lại say mê hơn con gái của ông!
Hà Anh đang đập nước đá bán, chợt thấy có người qua ngang nhà thì đưa mắt nhìn ra. Trong sóng mắt đầu tiên, nàng cảm nhận được sự mất thiện cảm của ông Hội, nhưng Hà Anh hoàn toàn không rõ ông là ai. Ông Hội đi thẳng vào nhà bà Chủ, khiến Hà Anh càng thắc mắc hơn. Ông ta là ai mà đến nhà Thọ sớm vậy?
Một người khách đang ngồi uống nước đá, ngó theo ông Hội rồi bảo Hà Anh:
— Chắc ông ta định can thiệp cho cậu Thọ đó?
Hà Anh ngập ngừng hỏi:
— Ai vậy chú?
— Ủa ông Hội Đồng bộ cô không biết sao?
Hà Anh lắc đầu cười, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn sang nhà Dung. Từ sáng tới giờ, tuy vẫn làm công việc hằng ngày, nhưng tâm hồn Hà Anh xáo trộn vô cùng. Nàng đã hiểu rõ Thọ bị bắt về tội gì, nhưng đó chỉ là cái cớ thôi! Còn nguyên nhân chánh, chỉ có một mình nàng là cảm nhận trước hơn ai hết. Hà Anh không dối lòng mình được nữa, nàng biết mình đã yêu thương Thọ rồi, dù hai người chưa nói với nhau một lời nào về chuyện đó. Có lẽ Thọ cũng hiểu được tình ý của nàng trong sóng mắt, trong nụ cười. Cũng vì vậy mà Năm Quýnh sinh ghen tức, tìm cách bắt Thọ câu lưu. Chắc đêm qua, hắn ta đã hành hạ Thọ nhiều lắm. Hà Anh càng nghĩ càng thêm xốn xang đau đớn thay cho người nàng yêu mến. Nhưng nàng không biết làm thế nào để giải cứu cho Thọ. Nàng lo lắng nhưng ngoài mặt vẫn làm ra vẻ thản nhiên!
Vẻ lạnh lùng của Hà Anh, trái lại khiến Dung khó chịu. Từ sáng tới giờ, Dung lo cho anh mà vẫn để ý quan sát thái độ của cô bạn gái Trung Hoa. Cô ta vẫn tiếp tục công việc hằng ngày làm như không có gì va chạm đến đời sống tình cảm của cô. Dung bực bội lắm! Thì ra Hà Anh chẳng có chút cảm tình nào với Thọ. Nàng nhận xét hời hợt nên không thể hiểu được tâm tình sâu kín của Hà Anh. Nàng nghĩ tới Mai và khi nghe mẹ kể lại sự lo lắng hết tình của gia đình ông Hội nàng thêm cảm kích.
Hai mẹ con đang ngồi bàn bạc về chuyện của Thọ, chợt thấy bóng ông Hội vào trong sân. Dung đứng lên bảo mẹ:
— Bác Hội kìa má.
Bà Chủ lật đật bước xuống đất:
— Đâu, đâu? Để má ra rước bác.
Bà vừa chạy ra sân thì ông Hội Đồng đã vào tới nơi.
— Mời anh vào nhà.
Ông Hội cúi chào bà rồi nói:
— Tôi vừa vô bót.
— Dạ... Anh có gặp thằng Thọ?
— Không! Coi bộ thằng Năm Quýnh nó muốn ăn thua với tôi mà.
Bà Chủ lo ngại lắm, nhưng cũng nhớ mời ông Hội ngồi xuống ghế salon. Dung chấp tay xá ông rồi hỏi:
— Thưa bác, có gặp ‘‘ Xếp bót’’.
Ông Hội đáp:
— ‘’Mông-xừ’’ Jean đã lên tỉnh hồi khuya. Mình thằng Năm Quýnh lo công việc.
Rồi ông thở ra, vẻ mặt buồn bã. Bà Chủ chưa kịp hỏi, ông đã tiếp:
— Chuyện nầy đáng ngại lắm chị Chủ! Cháu Thọ không biết có làm gì trong vụ trò Ơn ở Sài gòn không mà nó khai ở trong bót hết vậy! Tôi có đọc tờ khai có chữ ký của nó nữa.
Bà Chủ kêu lên:
— Trời đất ơi! Nó nhận tội gì?
Dung cũng điếng hồn, nhưng không mở lời được. Nhứt định là anh nàng có nhúng tay trong các vụ biểu tình của học sinh ở Sài gòn, nhưng làm sao anh nàng nhận tội dễ dàng như vậy? Nàng chợt nghĩ: ‘‘Hay anh ấy bị Năm Quýnh tra tấn buộc khai’’. Nàng nhìn ông Hội, trong lúc ông tiếp:
-Tôi có đọc tờ khai đó! Thọ nhìn nhận về dưới nầy để mượn đường theo phe kháng chiến.
Bà Chủ nói nhanh:
— Làm gì có chuyện đó! Tôi thấy ở Sài gòn lộn xộn mới biểu nó về dưới nầy... ở cho yên. Phao cho nó như vậy sao phải?
Ông Hội nghĩ đến chuyện Hà Anh liền nói:
— Tôi coi bộ thằng Năm Quýnh nó thù cháu Thọ chuyện gì đó, nên nó quyết làm cho cháu mang tội thật nặng.
Bà Chủ nói:
— Thọ mới về, có làm gì cho nó thù.
Dung nhớ tới chuyện Hà Anh mà không còn muốn giấu mẹ và ông Hội nữa. Nàng thấy rõ Hà Anh không yêu anh mình nên ức lòng, và muốn giải bày để ông Hội liệu mà giải nguy cho Thọ. Nàng nói:
— Dạ... chắc Năm Quýnh hiểu lầm nên thù anh Thọ bác ạ!
Ông Hội ngó Dung:
— Hiểu lầm gì cháu?
— Hình như Năm Quýnh đeo đẳng cô xẩm ở ngoài chợ nầy, rồi thấy cô ta qua nhà trò chuyện với anh Thọ, nên ghen tức.
Bà chủ ngó con gái:
— Ủa! Có chuyện đó nữa sao Dung? Thôi chết rồi! Hèn chi nghe thằng Thọ bị bắt, con Hà Anh qua đây hồi khuya chớ gì?
— Dạ...
Ông Hội gật gật đầu:
— Lúc nãy lên bến chợ tôi cũng có nghe nói chuyện đó. Thì ra bị vụ ‘‘dành mèo’’ mà Năm Quýnh hại cháu Thọ.
Bà Chủ nhớ lại chuyện toan tính hỏi cưới Mai cho Thọ, liền đáp lời ông Hội:
— Không phải vậy đâu anh, Thọ nó mới ở Sài gòn về ‘‘dành mèo, dành chó’’ gì? Con xẩm đó nó quen với con Dung nhà nầy. Bộ Năm Quýnh thấy nó qua lại thường thường nên ghen tức đó.
Ông Hội thở ra coi bộ buồn lắm. Tính tình ông thật lạ: đặt để thương ai thì thương hết lòng mà hễ phật ý chút gì là ghét ngay. Thọ đang gặp phải trường hợp đó. Ông Hội không nói ra, nhưng đã ghi trong lòng: ‘‘Đồ cái thằng không nên nết! Mình định gả con cho nó, nó cũng hiểu như vậy nữa, còn tò vè con xẩm nầy làm cái gì?’’
Bà Chủ vụt hỏi ông Hội:
— Thưa anh! Vụ cháu nó, mới tính sao bây giờ?
Ông Hội nói xụi lơ:
— Để chờ ‘‘mông-xừ’’ Jean về, tôi qua can thiệp xem sao?
Dung nóng lòng thưa:
— Dạ, bác không thể nhờ ông Chủ Tỉnh Vĩnh Long can thiệp được ư?
Ông Hội ngó nàng nói:
— Khoan nhờ tới người lớn đã. Gặp Xếp bót cũng đủ rồi. Ông ta nghĩ tình mình hủy bỏ tờ khai thì yên! Tại Thọ nó cũng khờ quá, sao lại ký tên nhận tội?

Dung nghĩ thầm rất có thể là anh nàng bị chúng khảo tra, đánh đập! Năm Quýnh đang ghen tức, thế nào cũng dở thủ đoạn hèn hạ ra.
Nàng run giọng hỏi ông Hội:
— Thưa bác! Bác có gặp được anh Thọ cháu không?
— Làm sao gặp được? Năm Quýnh nhứt định cản mà. Nó bảo không đủ quyền hạn cho bác gặp Thọ!
Dung rơm rớm nước mắt:
— Con sợ anh ấy bị chúng tra tấn rồi bắt ép ký tên vào tờ khai.
Bà Chủ lo sợ khóc:
— Trời ơi...
Ông Hội Đồng vội vã trấn an lòng bà:
— Không sao đâu mà! Chắc Năm Quýnh không dám. Bác đã dằn mặt nó lúc nãy. Nếu Thọ có bị đánh đập thì nó chết với bác, chớ sống được đâu!
Rồi ông đứng lên nói với bà Chủ:
— Tôi về nhà, lát chiều sẽ qua bót gặp ‘‘ mông- xừ’’ Jean. Bề nào cũng còn chạy được, chị đừng quá buồn.
Bà Chủ đứng lên chấp tay xá ông Hội Đồng:
— Dạ... trăm sự nhờ anh. Tôi mẹ góa con côi! Thằng Hai nó ở Sài gòn, đâu biết được cái cảnh của em nó dưới nầy.
Dung cũng chắp tay xá ông Hội rồi cùng với mẹ đưa ông ra cửa. Tuy không nói ra, nhưng nàng đã thấy rõ không hy vọng gì nhiều ở ông Hội. Phen này chắc anh Ba nàng không thoát cảnh tù đày! Chờ ông Hội đi xa xa, hai mẹ con mới trở vào nhà.
Bà Chủ hỏi nàng:
— Con thấy sao? Liệu anh Hội có lo cho thằng Thọ được không?
Dung không muốn mẹ buồn, nên cố tạo cho bà niềm hy vọng:
— Xếp bót nầy đã từng thọ ‘‘ lễ lộc’’ của bác Hội, thế nào hắn cũng nể mà.
Bà Chủ vừa têm trầu vừa nói:
— Nếu liệu không xong thì má đi vô bót đó con...
— Má đi làm gì?
— Tao đâu có thể ngồi đây, để con bị tù tội như vậy. Tao vô tao nài nỉ thằng Năm Quýnh nếu cần lạy lục Xếp bót tao cũng không từ.
Dung lắc đầu nói:
— Má làm chi vậy? Tụi nó đâu còn biết xúc động gì đâu. Bọn giết người không gớm tay mà.
Bà Hội khóc:
— Chớ má biết làm sao bây giờ? Thằng Thọ là học trò, trói gà không chặc, bị giam giữ đánh đập như thế thì còn chi? Tao vô trỏng khóc lóc nài nỉ, biết đâu chúng nó thương tình...
Dung lắc đầu cương quyết:
— Má đừng hạ mình làm vậy, đã không có kết quả mà anh Thọ còn khổ tâm thêm. Anh Thọ đã dám chống Tây thì ảnh đâu có sợ tù đày! Nói cho cùng mà nghe, ảnh như vậy còn may mắn hơn bao nhiêu người khác. Nhiều người đi câu ngoài sông Cái nầy, gió thổi tắt đèn, tàu Tây bắn chết hà rầm! Đời loạn lạc mà má, không khổ nhiều thì cũng khổ ít cho đồng đều với người ta.
Bà Hội nghe con gái nói, cũng vơi bớt buồn phiền, nhưng lại rầy con:
-Mầy... chỉ cái việc nói vanh vách! Chuyện gì mầy nói cũng trôi hết. Bộ mầy tính cho anh mầy ở tù luôn sao?
Dung lắc đầu cười:
— Con đâu có tính chuyện đó má. Nhưng lo gì thì lo, nhứt định không để bị nhục. Anh Thọ có ra mà biết má phải lạy Xếp bót thì ảnh chẳng vui đâu.
Bà Hội ngó ra sân vụt cau mày:
— Kìa... Con Hà Anh nó lại đi kiếm ai nữa đó!
Dung nhìn ra thấy Hà Anh đưa tay ngoắc mình thì nghiêm ngay sắc mặt. Bà Hội dặn dò con:
— Nầy... Bảo nó đừng lảng vảng bên nhà mình nữa! Để thằng Năm Quýnh nó kiếm chuyện riết thì khổ.
Dung không đáp lời mẹ, bước ra sân. Nàng tới gần ngoài rào hỏi Hà Anh:
— Chi đó chị?
Hà Anh tế nhận rất mau. Trong đôi mắt, trong lời nói của Dung như chất chứa sự buồn phiền gì mà nàng chưa được rõ! Tại sao thế? Mới có mấy tiếng đồng hồ mà Dung đã đổi thái độ với mình sao? Hà Anh gượng hỏi:
— Chị Dung... Anh Thọ thế nào?
Dung lạnh lùng đáp:
— Thì bị tù rồi chớ còn thế nào nữa! Hồi khuya chị cũng có thấy lính bắt anh ấy mà.
Hà Anh sững sờ ngó Dung hỏi nhanh:
— Dung! Tôi có làm gì cho Dung buồn không? Hình như Dung giận tôi?
Tính tình Hà Anh rất thẳng thắn. Hễ sái ý là hỏi ngay không để lâu. Câu hỏi đột ngột đó khiến Dung lúng túng:
— Đâu có gì mà buồn chị! Chị hỏi thăm anh Thọ thì tôi trả lời đó.
Hà Anh rơm rớm nước mắt:
— Không! Tôi biết Dung giận tôi. Chắc một sự hiểu lầm nào đó, chớ trong cảnh nầy, Dung biết là tôi cũng buồn lắm!
Hà Anh nói tới đó thì Dung không dằn lòng được nữa:
— Chị cũng buồn nữa sao? Tôi tưởng là không ăn thua gì tới chị hết chớ. Từ sáng tới giờ, tôi xem chị cũng như thường, cũng cười đùa giỡn hớt với khách hàng?
Hà Anh kêu lên:
— Trời!
Dung nói luôn một hơi:
— Chị biết rõ tại sao anh Thọ tôi bị bắt mà! Năm Quýnh nó mê chị rồi thâm thù, kiếm cớ bắt anh ấy. Đáng lẽ chị phải biết nghĩ mà tội nghiệp cho anh Thọ chớ.
Hà Anh nghẹn ngào, nước mắt rưng rưng:
— Dung hiểu lầm tôi rồi! Hồi sáng tới giờ, tôi muốn chết trong lòng, nhưng cố gượng mà làm việc. Nhà nghèo, tôi phải lo buôn bán để nuôi nấng các em. Tôi cười cợt để chiêu hàng, nhưng trong lòng nát tan từng mảnh. Tôi cũng biết thương anh Thọ, chớ Dung...
Hà Anh nói tiếng được, tiếng mất, nhưng cũng đủ biểu lộ tấm lòng thành thật của nàng. Dung sững sờ ngó bạn, bắt đầu ân hận vì sự nhận xét quá vội vã của mình. Nàng chưa kịp nói gì, Hà Anh đã chạy vội về nhà. Dung gọi theo:
— Chị Hà Anh...
Hà Anh không trở lại. Nàng chạy thẳng về buồng riêng, nằm vật xuống giường khóc nức nở. Nàng không dè Dung hiểu lầm mình như vậy. Sao nàng lại không hiểu Thọ bị bắt vì Năm Quýnh ghen tức oán thù? Hắn tưởng đâu làm thế là nàng sẽ không nghĩ tới Thọ và sẽ yêu hắn. Năm Quýnh đã lầm! Trước đây một hôm, nàng chỉ thấy có cảm tình đối với Thọ, chớ chưa dám xác nhận đó là tình yêu. Còn bây giờ, nàng đã rõ lòng mình hơn ai hết: vắng Thọ nàng thấy thiếu vắng cả sự sống trên đời. Buổi sáng ngồi bán hàng nhìn sang nhà Thọ, chỗ cửa sổ phòng chàng tối om vắng lặng; nơi đó, một hôm nào, sau cơn mưa, Thọ đã nhìn nàng với đôi mắt chan chứa cảm tình. Và cũng từ phút đó, nàng thấy như có gì thay đổi trong tâm tư. Sự xao xuyến trong lòng nàng những lời Thọ nói, thái độ đứng đắn của chàng, đã đưa Hà Anh lần lần vào ngõ tình yêu. Khóc chán chê rồi, Hà Anh lau khô nước mắt! Nàng không muốn những người xung quanh thấu hiểu tấm lòng của nàng đối với Thọ. Nhứt là đối với cha, Hà Anh càng giấu biệt những tình cảm riêng tư. Ông có biết cũng chẳng ích gì mà còn gây khổ cho nàng thêm.
Có tiếng em nàng gọi vang trước nhà:
— A Chế...
Hà Anh hỏi vọng ra cũng bằng tiếng Trung Hoa:
— Cái gì đó?
Thằng bé đáp nhanh:
— Thầy Năm ở trong bót ra kìa.
Hà Anh lặng thinh khó chịu. Năm Quýnh thường cho tiền mấy đứa em nàng nên hễ thấy dạng hắn ở đầu chợ là chúng la ầm lên, để báo tin cho nàng hay. Hà Anh định dặn em: Năm Quýnh tới có hỏi thăm thì bảo nàng đi vắng, nhưng chưa kịp mở lời đã nghe có tiếng giày giẵm lên thềm nhà. Có tiếng Năm Quýnh hỏi thằng bé:
— Chế... đâu?
Thằng nhỏ nói tiếng Việt lờ lợ:
— Ở trong kia...
Rồi nó gọi lớn:
— A Chế...
Hà Anh biết mình không lánh mặt được nên vuốt thẳng mái tóc, bước ra. Nhìn thấy mặt Năm Quýnh, nàng oán hận vô cùng, nhưng vẫn phải tươi cười chào hỏi:
— Thầy Năm ngồi chơi! Thầy Năm uống gì?
Năm Quýnh dò xem cử chỉ của Hà Anh ra sao, để tìm hiểu tình ý của nàng đối với Thọ. ‘‘ Nếu cô ta thích Thọ thì nhứt định phải tỏ thái độ oán ghét mình? Năm Quýnh nhủ thầm như vậy, nên khi Hà Anh chào hỏi, tử tế như thường ngày thì hắn đâm hoang mang. Năm Quýnh ngồi xuống ghế, bảo hai tên bạt-ti-dăn đi theo hắn:
— Mấy anh muốn uống gì cứ gọi. Cô Hà Anh tính cho tôi...
Hai tên kia, thích ý ngồi xuống gọi ‘‘la-ve’’ ngay! Hà Anh vẫn giữ vẻ mặt bình thường để tiếp đãi Năm Quýnh và bọn thân binh. Trong lúc đi chặt nước đá, nàng liếc mắt nhìn sang nhà Thọ và chợt thấy Dung đứng ở chỗ cửa sổ nhìn sang, đôi mắt đăm chiêu dò hỏi. Hà Anh lẳng lặng cúi mặt, rồi tiếp khách như thường ngày. Ai biết được trong giờ phút ấy, tâm hồn nàng xáo trộn vô cùng. Nàng chỉ nghĩ đến những phương cách cứu Thọ khỏi móng vuốt của bọn sát nhân. Nàng phải làm sao đánh tan những sự nghi ngờ trong lòng Năm Quýnh để hắn đừng ghen tức với Thọ và trả chàng về với gia đình. Ý nghĩ đó đúng rồi, nhưng nàng phải làm sao đây? Nàng nói thế nào với Năm Quýnh?
Khi Hà Anh đem nước đá trở vào thì nghe Năm Quýnh nói vu vơ:
— Chóp cổ được thằng anh rồi, còn con em nữa. Tụi nầy ỷ lắm! Không thoi vào mặt chúng, chúng đâu có sợ.
Hà Anh đưa mắt nhìn Năm Quýnh khẽ hỏi:
— Thầy Năm nói gì vậy?
Năm Quýnh tươi cười tiếp lời:
— À... Không có gì? Nói chuyện bọn nhà giàu làm phách trong làng nầy.
Hà Anh làm bộ ngơ ngác:
— Ai... nhà giàu làm phách thầy Năm?
Năm Quýnh hất hàm sang nhà Thọ:
— Đám con... bà Chủ đó! Tụi nó ỷ học hành nhiều, nói chuyện được với Xếp bót là không ai dám động tới sao?
Rồi anh ta tự đắc nói luôn:
— Đừng giỡn chớ! ‘‘ Ông Trời’’ ở trong làng nầy, tôi cũng giam được như thường.
Hai tên thân binh cười lên hì hì để lấy lòng Năm Quýnh, vì rượu hắn bao, chưa uống cạn ly! Hà Anh cúi đầu lặng thinh. Năm Quýnh liếc nhìn nàng ướm hỏi:
—Cô Hà Anh biết... cậu Thọ bên ‘‘nhà bển’’ chớ?
Hà Anh quay lại gật đầu:
— Dạ biết! Hình như đêm qua cểu bị bắt trong bót rồi...
Năm Quýnh cười hề hề:
— Tôi bắt chớ ai? Nó tưởng quen biết với ông Hội Đồng bên Phước Định là mạnh sao? Lầm lắm! Trong quyền hạn của tôi mà. Tôi chả ngán ai hết.
Hà Anh làm ra vẻ ngây thơ:
— Mà sao cậu Thọ bị bắt vậy hả thầy Năm? Năm Quýnh ngó thẳng vào đôi mắt nàng đáp: — Nó ỷ thế thì bắt chơi vậy hà...
Hà Anh cười:
— Trời ơi! Người ta không có tội cũng bắt sao?
Năm Quýnh ngó hai tên thân binh cười thành tiếng:
— Không có tội thì làm sao cho có, mấy hồi. Có tội mà khiến vô tội cũng còn được thay.
Hà Anh lắc đầu, trong lòng xót xa nhiều lắm. Năm Quýnh nói vậy là hắn đã phao vu để làm tội Thọ rồi.
Năm Quýnh ngó Hà Anh hỏi nhanh:
— Sao cô lắc đầu?
Hà Anh cười với hắn:
— Không ngờ thầy Năm có quyền dữ vậy? Trước tới giờ, tôi đâu có biết. Lỡ có nói gì phật lòng, thầy Năm bỏ qua dùm nghen.
Năm Quýnh cười híp mắt:
— Ai chớ Hà Anh thì tôi đâu dám! Tôi mến Hà Anh từ hồi nào tới giờ, bộ không biết sao?
Hà Anh lắc đầu:
— Dạ... đâu có biết! Thôi thầy Năm đừng nói chơi, tội nghiệp tôi! Thầy Năm quyền hành như vậy thiếu gì đàn bà, con gái.
Năm Quýnh kéo ghế ngồi sát bên Hà Anh nói nhỏ:
— Không có ai tôi mến bằng Hà Anh hết! Tôi mến Hà Anh mà tôi ‘‘kính trọng’’ nữa. Hỏi ông già coi. Tôi nói với ổng nhiều lắm! Ổng còn thương tôi mà.
Hà Anh ngó sửng Năm Quýnh hỏi lại:
— Ba tôi?
Năm Quýnh gật đầu nói:
— Bác thương tôi lắm! Hai bác cháu vẫn thường đi chung với nhau...
Hà Anh nghi ngờ hỏi:
— Đi chơi ở đâu thầy Năm?
Năm Quýnh lúng túng thấy rõ:
— Ờ... thì ngoài vàm, trong Xóm chùa!
Hà Anh sững sờ hết mấy giây. Nàng đã hiểu tại vì sao Năm Quýnh dám sàm sỡ với mình, ngay trong nhà nầy mà cha nàng vẫn làm ngơ! Hắn nói đưa cha đi chơi ở Xóm chùa cũng đủ cho nàng hiểu hết âm mưu! Ở xóm đó, có tên Ba Thọt chuyên bán thuốc phiện lậu. Nhà hắn có sẵn mâm đèn, ai có ghiền, lẻn tới. Năm Quýnh đã khơi nhằm nhược điểm của cha nàng và đã đưa ông trở lại con đường hút xách. Trong thâm tâm, Hà Anh oán hận Năm Quýnh vô cùng, nhưng nàng chưa biết phải đối phó với hắn như thế nào nữa. Tên nầy ác độc quá, chỉ vì muốn chiếm đoạt nàng mà hắn không từ một hành động dã man nào cả: làm cho cha nàng hút trở lại, để cho ông mang nợ mang nần của hắn; bắt nhốt Thọ để cho nàng không còn mơ tưởng tới ai nữa hết! Hà Anh nhìn thấy tương lai đen tối như chụp xuống đầu nàng. Không hiểu đến giờ phút nầy cha nàng đã thiếu Năm Quýnh bao nhiêu tiền rồi? Hắn căn ‘‘lưới tiền’’ ra cho gia đình nàng không còn giẫy giụa được nữa. Năm Quýnh thấy Hà Anh không nói gì, khẽ cất tiếng:
— Cô không biết chớ bác thích tôi lắm! Ổng còn hứa với tôi, nếu mà cô bằng lòng thì...
Hà Anh dư biết hắn muốn nói gì rồi, nhưng vẫn làm bộ ngây thơ hỏi:
— Sao thầy Năm?
— Ông gả liền đó!
Hà Anh cúi mặt, uất nghẹn không nói được nên lời. Có thể là nàng không thoát được cái trò gả bán nầy đâu. Năm Quýnh ghé sát tai nàng hỏi nhỏ:
— Hà Anh nghĩ sao?
Thiếu nữ giật mình lùi lại:
— Không!
Đôi mắt nàng như tóe lửa, đôi môi run run. Năm Quýnh đứng phắt đậy, hoàn toàn bất ngờ trước sự thay đổi thái độ của Hà Anh. Thiếu nữ đã bình tĩnh trở lại và thấy mình không nên quyết liệt như vậy. Chỉ có hại thôi. Còn Thọ đang ở trong tay của hắn. Nàng ngồi xuống rồi cười với Năm Quýnh:
— Thầy Năm làm giựt mình hà!
Năm Quýnh cũng cười và ngồi xuống chiếc ghế lúc nãy. Sự buồn vui, giận, ghét của hắn hoàn toàn tùy theo thái độ của Hà Anh. Nàng làm bộ giựt mình, hắn cũng tin là thật. Hà Anh lựa lời hỏi:
— Thầy Năm hỏi chi?
Năm Quýnh ấp úng:
-Không biết... cô Hà Anh có mến tôi không?
Hà Anh cúi mặt, khôn khéo trà lời:
— Thầy Năm có làm hại gì tôi mà tôi ghét thầy Năm.
Năm Quýnh sướng run lên:
— Thiệt hả? Vậy mà tôi tưởng cô Hà Anh không ưa tôi chớ. Hôm nọ ở ngoài đồng...
Hà Anh nghe nhắc tới chuyện đó, đôi má đỏ bừng lên. Nàng tức uất người khi nhớ lại thái độ ‘‘vũ phu’’ của hắn. Nói trắng ra, Năm Quýnh đã có ý định làm ẩu với nàng trước mặt bọn thân binh! Nàng đã không chửi vào mặt hắn thì thôi, bây giờ còn dám nhắc lại.
Năm Quýnh nói tiếp:
— Tôi xin lỗi Hà Anh nghen. Tôi biết tánh cô không như những cô gái khác. Bởi vậy tôi càng quý trọng. Bọn con gái trong làng nầy có nghĩa gì! Tôi búng tay một cái là chúng chạy theo ngay.
Hà Anh ngượng chín cả người trước những lời tán tụng quá đáng của Năm Quýnh. Tâm địa của hắn thật hèn mạt. Hắn mạt sát tất cả những thiếu nữ trong làng nầy để tâng bốc một mình Hà Anh! Nàng vẫn lặng thinh không trả lời. Năm Quýnh có cảm giác như tiếng nói của mình rơi vào khoản không. Mặc dù Hà Anh ngồi đó, nhưng tâm hồn nàng như gửi ở chốn nào?
Năm Quýnh nhủ thầm:‘‘ Con bé nầy khó hiểu thiệt! Vẫn chưa biết nó có thích mình không? Nó bảo là chẳng ghét mình, chớ không chịu xác nhận thương hay chăng?’’ Năm Quýnh nhìn đồng hồ tay, đã trưa lắm rồi, biết chừng đâu Xếp bót trở về? Hắn vội đứng lên bảo hai tên thân binh:
— Mình về mấy anh! Bao nhiêu tiền đó cô?
Hà Anh liếc nhìn hắn gượng cười rồi tính tiền chung tất cả. Năm Quýnh trả tiền xong khẽ nói:
— Tối không chừng tôi ra chơi.
Hà Anh đáp:
— Ban đêm, tôi không có bán mà.
Năm Quýnh cười ý nhị:
— Cần gì! Tôi đến uống nước trà với bác không được sao?
Rồi hắn dẫn hai tên thân binh về bót. Hà Anh đứng nhìn theo Năm Quýnh có cảm giác trong lời nói, hắn muốn ám chỉ chuyện gì? Nàng bỏ mặc quán hàng cho mấy đứa em trai, chạy thẳng vào buồng trong, nằm vật xuống giường. Viễn ảnh đen tối mịt mù: làm sao cứu Thọ, làm sao giải thoát đời nàng?
Chưa bao giờ Hà Anh thấy mình yếu đuối hơn!
Mai đứng yên trước cổng nhà Thọ, không vội vào. Nàng quay mặt nhìn sang quán hàng của cô gái Trung Hoa mà cha nàng đã bảo lúc trưa là ‘‘người yêu của Thọ’’! Bốn tiếng đó khiến Mai ray rứt trong lòng và nàng không thể không thấy mặt cô gái Tàu đó. Cô ta đẹp dường nào mà khiến Thọ phải mê mệt đến độ tranh đua với Năm Quýnh, để mang họa vào thân. Mai đã xin phép mẹ sang thăm Dung và bà Chủ, nhưng kỳ thật chỉ là cái cớ thôi. Mai ngó mong sang nhà Hà Anh thấy mấy cậu bé con, đầu hớt trọc, đang chạy ra chạy vào, buôn bán. Có tiếng Dung, reo lên trong nhà, Mai giựt mình ngó lại. Dung chạy ngay ra cửa đón nàng:
— Chị Mai... Sao không vô, còn đứng đó làm gì?
Mai xô cửa rào, bước vào trong sân, nắm chặt bàn tay Dung:
— Mình không thấy ai hết, định gọi Dung đó...
Dung ngó Mai rơm rớm nước mắt:
— Má nằm khóc mãi trong phòng! Em có ai đâu mà nói chuyện! Nhà như nhà hoang.
Mai cũng mau nước mắt lắm. Nàng nghẹn ngào nói:
— Mình qua thăm bác. Nghe ba nói anh Thọ...
Rồi không nói được nữa. Dung lo lắng hỏi nàng:
— Sao chị? Bác Hội nói thế nào? Hồi xế bác có qua bót không?
Mai lắc đầu không đáp. Nàng biết nói sao bây giờ, trước cảnh không may của gia đình Dung. Cha nàng hồi trưa đã biểu lộ sự giận dỗi đối với Thọ. Ông đã bảo mẹ nàng:
— Tưởng chuyện gì? Nó mê con xẩm bên Cái Muối rồi bắt tôi hạ mình nói chuyện với bọn bồi bếp thông ngôn sao?
Dung lo lắng hỏi Mai:
— Sao vậy chị? Bác Hội đã hứa với má em là sẽ qua bót can thiệp giùm anh Thọ mà! Chẳng lẽ bác đã quên?
Mai nắm lấy tay Dung, nghẹn ngào:
— Khổ quá! Chẳng biết nói sao cho Dung thấu rõ lòng mình. Đối với anh Thọ...
— Em hiểu mà chị! Tại sao bác Hội không lo giùm hả chị? Anh Thọ không có tội gì hết mà.
Mai thấy mình không nên giấu giếm Dung làm gì nữa, chỉ khiến nàng ray rứt thêm thôi. Nàng khẽ cất tiếng:
— Ba giận Thọ! Giận vì một chuyện không đâu. Mình là gái, đâu làm sao dám nói nhiều?
Rồi Mai nhìn sang nhà Hà Anh hỏi Dung:
— Có đúng tại anh Thọ yêu cô gái Tàu bên kia, khiến Năm Quýnh ghen tức hãm hại không?
Dung không ngờ Mai đã rõ chuyện đó, nên ấp úng đáp:
— Người ở đây, họ nói vậy đó, nhưng anh Thọ thì đâu có yêu phất phơ như thế. Nếu có, chỉ là sự hiểu lầm của Năm Quýnh thôi.
Mai vẫn chăm chú ngó vào nhà Hà Anh, rồi nói:
— Cô ấy có đẹp lắm không mà nhiều người chú ý dữ vậy?
— Không hẳn đẹp, nhưng khôn ngoan, dễ gây cảm tình...
Mai quay lại bảo Dung:
— Vậy à! Xem chừng Dung cũng hiểu rành cô ta quá.
Dung thành thật nói:
— Hà Anh với em trước kia là chỗ bạn thân.
— Cô ấy tên là Hà Anh? Sao ‘‘ trước kia’’ là chỗ bạn thân, còn bây giờ?
Mai càng hỏi càng thêm thắc mắc. Phải rồi, Thọ và Hà Anh ở quá gần nhau, làm sao khỏi gây cảm tình? Nhứt là ‘‘cô ấy ’’ làm bạn với Dung. Dung nghe Mai hỏi, với thái độ cật vấn của mình, thì hơi khó chịu, nhưng cũng đáp:
— Có nhiều người bạn mới quen, tưởng đâu hạp với mình, nhưng lần lần không thể thân được. Chị hiểu điều đó mà...
Mai gật đầu không nói thêm. Đáng lẽ ra Dung đã nói cho cô ta biết, chỉ vì Hà Anh thiếu tình cảm đối với Thọ mà nàng không chơi thân nữa, thế thôi! Nhưng nghĩ kỹ lại chẳng ích gì?
Thấy hai người đứng lâu bên ngoài bất tiện nên Dung mời Mai:
— Chị vào trong nhà!
Rồi nàng nắm tay Mai kéo vào trong. Hai người ngồi lên bộ ván gõ, không ai nói lời nào? Dung đang buồn vì ông Hội đã bỏ rơi anh mình, còn Mai vẫn không quên được câu chuyện về Hà Anh. Một lúc lâu, Dung mới hỏi:
— Như vậy là số phận anh Thọ em ở trong tay Năm Quýnh rồi hả chị?
— Mình cùng không biết sao nữa. Lúc xế nầy nghe má nhắc ba đi qua bót, nhưng ông nói vậy đó.
Dung buồn bã nói:
— Chuyện đó mà có thiệt, kể ra cũng không đáng cho bác phải nhọc công! Đằng nầy không có đâu?
Có tiếng dép của bà Chủ từ trong buồng đi ra. Bà ngó thấy Mai mừng rỡ nói:
— Kìa, cháu qua với ai? Có tin tức gì của Thọ không?
Mai nhìn bà Chủ ái ngại đáp:
— Dạ, cháu qua một mình! Cũng chưa có tin gì bác!.
Dung đến bên mẹ, ôm chặt cánh tay bà nói:
— Sao mẹ khóc hoài vậy! Con đã bảo mẹ trong thời loạn lạc làm sao tránh khỏi chuyện ‘‘tai bay
họa gởi’’.
Bà Chủ rơm rớm nước mắt hỏi Mai:
— Vậy là anh Hội không giúp giùm bác hả cháu?
Bà nghẹn ngào khiến Mai mủi lòng cũng khóc theo. Nàng nói:
— Dạ...con đâu dám hỏi ba con chuyện đó. Để con nhờ má con...
Bà Chủ lắc đầu:
— Thôi cháu! Đừng làm nhọc lòng anh Hội nữa. Bác không dám phiền đâu. Trước kia, vì có lời anh ấy nói, bác mới qua nhà nhờ vã chớ. Thế nào bác cũng lo liệu xong mà!
Bà dứt lời trở vào buồng trong, Mai khổ tâm hơn bao giờ hết. Nàng ôm mặt khóc. Dung ái ngại bảo nàng:
— Chị Mai! Có gì phải khóc. Má em vì quá nóng lòng với con mà nói thế thôi chớ chẳng dám phiền bác Hội đâu. Bác giúp được thì chuyện đáng mừng. Bằng không cũng chẳng sao? Em sẽ lo liệu lấy...
Mai ngước lên nhìn Dung:
— Dung tính cách nào?
Dung thở dài:
— Em cũng chưa biết! Việc đầu tiên là em đánh giây thép cho anh Hai về. Em sẽ làm đủ mọi cách, miễn sao anh Thọ em được thoát.
Mai ngập ngừng:
— Tôi có giúp được gì không hả Dung?
Thiếu nữ lắc đầu:
— Thôi chị à! Chuyện nầy có thể xảy ra nhiều nguy hiểm không làm sao biết trước được. Em với anh Thọ là chỗ ruột thịt, có gì cũng chịu lấy. Còn chị, không khéo bác Hội sẽ trách má em.
Mai đau đớn nói:
— Dung! Đừng cay đắng với tôi như vậy Dung. Đâu phải tôi không biết đau đớn trước chuyện nầy. Tôi...
Dung lắc đầu:
— Em không có ý gì khác cả! Sự thật là vậy đó chị Mai. Em đã mong nhờ ở bác giúp đỡ giùm. Bây giờ không được, em phải lo liệu lấy thế thôi.
Mai gục đầu xuống, tức tối vô cùng. Nàng yêu Thọ thật tình đó, nhưng làm thế nào để giúp chàng đây! Cha nàng là người có nhiều định kiến: ông đặt để cho ai việc gì rồi là không thể thay đổi được. Dung nhìn Mai, bắt đầu nhận thấy mình hơi khắt khe với người con gái đã yêu anh mình. Ông Hội không hết lòng giúp gia đình nàng chớ có phải Mai đâu mà làm khổ nàng. Dung ân hận nói:
— Chị Mai... Chị tha lỗi cho em!
Mai ngó Dung:
— Dung đâu có lỗi chi?
Dung nắm lấy bàn tay của nàng:
— Em vô cớ làm khổ chị. Chị tha thứ cho em. Gia đình đang rối quá!
Mai ôm choàng lấy Dung nức nở. Nàng khóc nhưng mừng vì em gái của Thọ đã hiểu thấu lòng nàng. Một lúc Mai ngẩng lên nói:
— Mình về nhà và sẽ tìm hết cách cho ba can thiệp chuyện anh Thọ.
— Thôi chị! Bác Hội đã không muốn thì đừng nài ép!
Mai nói:
— Mình sẽ nhờ má. Dung yên tâm. Thôi mình về...
Nàng đứng lên để ra cửa. Hoàng hôn đã xuống lâu rồi.
Chương 5
Thọ bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài, cảm thấy như có ai đó đang xoa bóp tay chân mình. Chàng ngước mắt nhìn lên; Thình đang lui cui làm việc đó. Thọ ngạc nhiên nói:
— Thình! Làm gì vậy?
Thình cất tiếng suỵt rồi cúi sát tai chàng:
— Cậu đừng nói lớn để tôi bóp nước muối cho. Cố chịu rát chút nhưng đỡ về sau nầy lắm. Tôi vừa bóp cho tôi xong.
Thọ liếc nhìn theo tay Thình thấy một tô nước ngầu đục, để sẵn tự bao giờ. Chàng để yên cho Thình xoa bóp cho mình. Lúc còn ở Sài gòn, Thọ thường nghe các bạn kể chuyện, cha anh bị mật thám bắt vào Catinat khảo tra đánh đập. Nước muối đối với họ như phương thuốc thần hiệu nhứt. Chàng không dè là có lúc mình cũng cần tới nó. Từ khi, Năm Quýnh cho nhốt bọn chàng trên gian phòng nầy, Thọ thấy đỡ khổ hơn. Chúng không còn cùm chân hay còng tay bọn chàng nữa, vì tin tưởng ở trong gian phòng có khóa sắt bên ngoài, bọn chàng có ‘‘tàng hình’’ họa chăng mới ra được! Thọ nhớ kỹ gian phòng nầy trước kia ông ngoại dùng để đồ cổ: chén bát, ly tách hoặc những cái ché xưa, mấy cái hũ đựng hài cốt thời trước. Bên ngoài ông có làm khóa rất kỹ càng và chỉ có ông mới được quyền cho người khác vào xem. Lúc còn nhỏ, có lần ông ngoại cho chàng vào đây, chỉ mấy cái hũ sành, chả có giá trị gì hết mà bảo: ‘‘Cái nầy tuổi nó còn lớn hơn ông cố của tao nữa! Vậy là cỡ tuổi ông sờ, ông sẩm của mầy...’’ Ông nói xong cười ha hả! Thọ không dám nói gì, nhưng trong bụng thầm nghĩ: ‘‘Phải chi ông cho mình một cái ché đựng đạn giàn thung bắn chim thì thích quá’’. Lớn lên, vào viện khảo cổ, đọc sách, hiểu đến sự quí giá của những cổ vật, Thọ mới hối tiếc! Lúc đó, ngoại chàng đã ra người thiên cổ, còn bao nhiêu đồ xưa của ông, Tây cướp giựt, đập nát cả rồi. Bây giờ, chính thằng cháu của ông lại bị giam giữ ở chỗ gian phòng ngày xưa.
Thình bỗng bảo chàng:
— Xong rồi đó cậu! Đỡ lắm...
— Làm sao anh tìm được tô nước muối?
Thình cười, miệng méo xẹo:
— Anh em nó cho đó cậu!
— Anh em nào?
— Thì mấy thằng thân binh ở ngoài. Tụi nó biết tôi quá mà. Tại Năm Quýnh thù cậu rồi kiếm cớ, chớ tui mà âm mưu trốn đi đâu?
Thọ thở dài nói:
— Tôi buồn quá! Đương không rồi liên lụy tới anh. Chắc chú Năm lo sợ lắm...
Thình khoát tay:
— Cậu đừng nhắc tới chuyện đó nữa. Tôi lo cho cậu quá!
— Sao hả anh?
— Tụi nó nói hồi sáng hôm qua có ông Hội Đồng bên Phước Định qua can thiệp cho cậu nữa.
Thọ sáng mắt lên:
— Vậy hả?
— Thì tụi nó nói vậy, nhưng chưa thấy Năm Quýnh tính gì cà. Tui coi bộ, nó không ngán ông Hội đâu cậu.
— Làm sao anh biết?
— Nếu chịu nghe lời ông Hội can thiệp thì nó thả cậu rồi!
Thình nói xong, nằm xuống bên Thọ. Chàng ngước mặt nhìn trần nhà, buồn bã khác thường? Thọ biết mình đã rơi vào tay một bọn người không cần biết luật lệ gì hết, thì làm sao đoán trước ngày mai. Có thể vào giữa đêm hôm khuya khoắc họ dẫn mình ra bờ sông Cái, nổ súng vào đầu, rồi đạp thây xuống sông cho biệt tích...
Thình chợt ngồi dậy ngó ra cửa. Thọ hỏi:
— Gì vậy?
— Ai đi tới kìa. Chắc kiếm bọn mình.
Thọ cũng ngồi lên hồi hộp! Có lẽ nào khảo tra đánh đập mình nữa sao? Có tiếng mở khóa rồi cánh cửa bật ra. Một anh thân binh người Miên lai, đi vào gọi:
— Thọ đâu? Lên Xếp biểu...
Thình vọt miệng hỏi:
— Có tui hông Thạch Bi?
— Hông... Mình Thọ thôi! Không sao đâu mà. Thấy Xếp vui lắm.
— Xếp nào hả Thạch Bi?
Tên thân binh cười nói:
—Xếp nhỏ! Thầy Năm...
Thọ uể oải đứng lên. Tên thân binh nói:
— Thôi đi mau. Để Xếp chửi tui bây giờ.
Thọ hơi mừng vì thấy hắn không còng tay chân mình. Thình bỗng gọi giựt lại:
— Cậu Thọ...
Thọ quay trở vào, tên thân binh đứng ở cửa đợi. Thình nhốm tới bảo vào tai chàng:
— Nếu chúng muốn chở cậu đi đâu, cậu đừng đi nghen...
Thọ ngập ngừng:
— Sợ chúng lôi đi... mới sao?
Thình biết đến lúc đó, thì đã tuyệt vọng lắm rồi, nên nói:
— Cậu cố sức la hét cho lớn đi dân làng biết, chúng đem mình đi. Ở đây tui thấy chúng đem đi như thế nhiều rồi.
Thọ gượng cười:
— Cũng chả làm sao nữa. Đời người ai lại chẳng chết một lần. Chỉ buồn là mình chết có hơi lảng.
Rồi chàng vỗ vai Thình:
— Vậy thì kể như tôi với anh vĩnh biệt nghen.
Thình rơm rớm nước mắt nghẹn lời. Lúc Thọ ra tới cửa phòng hắn mới nói được:
— Cậu... đi trước.
Thình nghĩ chắc thân phận của nó cũng không hơn gì Thọ.
Thạch Bi đợi hơi lâu nên cự nự:
— Làm gì lâu vậy! Thầy Năm giận cho coi...
Rồi hắn đẩy Thọ đi trước, thẳng tới văn phòng của Xếp bót. Thọ bước vào chẳng thấy tên Jean đâu mà chỉ có Năm Quýnh. Hắn mặc đồ ka ki, vừa phì phà thuốc, vừa cắm cúi viết.
Thạch Bi bước vào chào:
— Dạ... Thọ đây.
Năm Quýnh không ngước lên cất tiếng:
— Biếu ngồi xuống đó.
Thạch Bi đưa mắt ra hiệu cho Thọ ngồi xuống nền gạch. Thọ còn chần chờ thì Năm Quýnh vụt ngẩng lên:
— Ngồi xuống ghế đó đi. Còn chờ gì nữa.
Thọ thoáng nét ngạc nhiên. Tại sao tự dưng anh ta thay đổi thái độ? Lại mời chàng ngồi ghế nữa? Thọ không nói gì, liền ngồi xuống. Năm Quýnh khoát tay bảo Thạch Bi:
— Anh ra ngoài! Có cần tôi gọi!
Thọ bỗng nghĩ tới ông Hội Đồng. Có lẽ sự can thiệp của ông đã có hiệu quả rồi chăng?
Thạch Bi vừa bước ra ngoài, Năm Quýnh đã buông viết hỏi Thọ:
— Thế nào? Anh đã biết ai đủ quyền hành ở trong làng nầy chưa?
Thọ không đáp, chỉ nhìn hắn. Không hiểu sao tự dưng chàng không còn biết sự gì nữa hết. Đời người, ai lại chẳng chết một lần. Chàng chú tâm nhận xét tên gian ác đã hành hạ mình, suốt đêm hôm nọ. Năm Quýnh ngó thấy tia mắt lạ lùng của Thọ thì khó chịu hỏi:
— Sao? Đã hiểu cái thân phận của mình chưa hay anh vẫn cứng đầu? Muốn tôi gởi hồ sơ của anh lên Sài gòn để đi tù rục xương không?
Thọ vẫn không đáp. Chàng thấy lợm giọng, trước những lời đe dọa đó. Năm Quýnh bỗng tiếp:
— Nhưng tôi nghĩ tình, hủy bỏ hồ sơ của anh với một điều kiện thôi.
— Điều kiện gì?
— Dễ lắm! Anh ký nhận là từ hôm bị bắt vào đây, anh được đối xử tử tế nghĩa là không hề bị đánh đập gì cả.
Thọ ngó xuống thân thể của mình cười nhạt:
— Hèn chi! Anh sợ tôi thoát ra ngoài sẽ thưa ngược lại anh chớ gì?
— Tôi không sợ ai cả! Anh có muốn hại lại tôi cũng không dễ dàng gì. Mà anh có bằng lòng không? Bộ anh tưởng tôi muốn thả anh lắm hả? Còn lâu! Tại vì lời hứa... Nếu không.
Năm Quýnh đứng lên; hai tay chống trên bàn, lườm lườm nhìn Thọ. Chính chàng cũng không dè là hắn có ý thả mình. Hắn bảo vì ‘‘lời hứa’’, chắc chắn là do ông Hội can thiệp cho mình ra rồi! Thọ liền hỏi:
— Anh thả tôi... Còn anh Thình?
— Anh lo cái thân của anh đi!
Thọ nghĩ đến nước nầy rồi, mình không còn kèo nài cho nó thả Thình ra thì mình sẽ ân hận suốt đời. Chàng mà tham sống một mình cả làng họ sẽ chê cười về sau. Thọ nói:
— Anh Thình không có tội tình gì cả? Chỉ là người giúp việc của tôi xưa kia thôi. Anh kiếm cớ bắt ảnh là để hại tôi phải không? Bây giờ đã thả tôi ra, còn giam giữ ảnh làm gì? Thả Thình ra tôi sẽ ký vào tờ giấy kia...
Năm Quýnh ngó tờ giấy viết sẵn của mình, xem chừng không mấy ổn, nên xé bỏ đi. Anh ta lại hất hàm bảo Thọ:
— Ngồi vào bàn kia, viết tờ khác. Tự anh thảo hay hơn. Cứ nhìn nhận là được đối xử tử tế.
Thọ chần chờ:
— Còn Thình?
— Khỏi phải lo, tôi hứa là sẽ thả nó ngay.
Trong hoàn cảnh nầy, Thọ đành phải tin lời tên thông ngôn kia, chớ không làm sao khác được. Phải tin lời hứa của hắn là việc hết sức bất đắc dĩ. Nhưng hắn đã thả mình ra, thì còn giữ Thình lại làm chi? Chàng cúi xuống viết nhanh trên giấy, cũng phải nhìn nhận những điều trái với sự thật!
Năm Quýnh xem qua tờ giấy lộ vẻ bằng lòng lắm. Hắn nói:
— Được rồi... Anh có thể về nhà ngay đi. Nhớ kỹ điều nầy! Đừng lôi thôi với tôi không xong đâu. Rắc rối, tôi không nể gia đình anh được!
Thọ nhớ tới mẹ, tới em, trong lòng vừa mừng vừa âu lo. Chàng vẫn chưa rõ được trong việc nầy Năm Quýnh có âm mưu gì khác chăng? Đúng là nhờ ông Hội Đồng can thiệp, hay vì một lý do nào? Năm Quýnh chăm chú nhìn vào tờ giấy viết tay của Thọ, gật gật đầu. Chợt hắn gọi lớn:
— Thạch Bi...
Tên Miên lai từ ngoài chạy vào:
— Thầy Năm gọi...
— Thả tên nầy ngay. Coi đồ đạc trả lại cho nó!
Thạch Bi ngó Thọ không hiểu ra sao cả, nhưng cũng không dám hỏi thêm. Thạch Bi bảo Thọ:
— Thôi đi...
Thọ vừa quay mình, Năm Quýnh xoa tay có vẻ thích chí lắm. Hắn giống như người vừa trút bỏ gánh nặng. Thạch Bi đưa Thọ ra tới bên ngoài còn hỏi:
— Sao hay vậy? Anh nói gì mà thầy Năm thả anh?
— Có nói gì đâu?
— Đừng giỡn! Anh giấu hoài. Thôi phải rồi, chắc ông Hội Đồng can thiệp chớ gì?
— Tôi cũng ngờ như vậy!
— Còn thằng Thình?
— Cũng sẽ được thả...
Thạch Bi lộ vẻ mừng:
— Có chắc không! Thằng Thình tôi biết mà... Tại anh mà nó bị tù đó!
— Chắc chớ! Năm Quýnh đã hứa với tôi rồi mà...
— Thầy Năm hứa? Cha coi bộ không xong đâu...
Anh ta vừa vứt lời, đã nghe tiếng Năm Quýnh gọi lớn lên:
— Thạch Bi!
Hắn nắm tay Thọ, quay mặt vào cất tiếng:
- Dạ...
— Gọi Thình lên đây, mau…
Thạch Bi vừa đáp vừa ngó Thọ, như ngầm nhìn nhận lời chàng là thật. Hắn lẩm bẩm:
— Lạ quá! Tự dưng... thầy Năm thay đổi hết! Hồi đó tới giờ, chưa lúc nào thầy dễ hơn.
Thọ cứ đinh ninh là Năm Quýnh sợ oai ông Hội Đồng! Có lẽ là ông Hội đã lên tỉnh và nhờ Chủ Tỉnh dọa Năm Quýnh. Chàng ngó Thạch Bi nói:
— Tôi được thả ra rồi, anh cho tôi nói chuyện với Thình được không?
— Được mà! Anh ngồi đây... Để tôi xuống dẫn thằng ấy lên!
Thọ đứng dựa lan can nhà ông ngoại mình, nhìn ra sông. Bên kia bờ, những vườn dừa xơ xác, ngôi trường tiểu học đứng trơ vơ, không một bóng người. Có tiếng hát ru con của một chị vợ anh bạt-ti-dăn nào đó:
‘‘ Chờ em cho mãn kiếp chờ
Chờ cho rau muống vượt lên bờ trổ bông.
Rau muống trổ bông, lên bờ nó trổ
Ai biểu anh chờ mà anh kể công!’’
Tiếng hát dài trong vắng lặng tạo âm thanh dịu dặt, nhớ nhung. Lòng Thọ tự nhiên êm dịu
xuống, sau những đêm không ngủ.
Có tiếng chân ở phía sau chàng. Thọ quay lại thấy Thình và Thạch Bi đi tới. Thình chạy vào tươi cười, nắm tay chàng:
— Có tin mừng rồi hả cậu. Thật phước đức quá!
Thọ cũng cười bảo Thình:
— Tôi về nhà nghen! Bao giờ rảnh rang, anh ghé tôi chơi...
— Có chắc tôi được tha không cậu?
Thọ ngó vào trong văn phòng đáp nhỏ:
— Chắc chớ! Năm Quýnh vừa hứa với tôi xong là gọi anh lên đó. Tôi nghi bác Hội Đồng đã can thiệp cho bọn mình!
Thình nắm chặt cánh tay của Thọ:
— Thôi cậu về! Ra được tôi ghé nhà thăm bà và cậu ngay.
Thọ cũng nắm vai Thình, trong đời chàng khó quên người bạn đã cùng chung số phận với mình mấy hôm liền. Tiếng Thạch Bi bỗng cất lên:
— Thôi! Vô thầy Năm biểu đi. Mầy làng chàng tao bị quở lây đó.
Hắn đẩy Thình tới trước. Ngay lúc đó, Năm Quýnh vừa bước ra ngoài văn phòng. Hắn nhìn thấy Thọ thì cau mày:
— Tôi thả sao anh chưa đi? Còn chờ gì nữa?
—Tôi cũng sắp đi đây.
Năm Quýnh ngó Thình rồi gật đầu:
— Anh sợ tôi không thả thằng Thình chớ gì? Anh muốn biết tôi có giữ lời hứa không hả?
Thọ vẫn điềm đạm:
— Không phải! Tôi muốn từ giã Thình và báo tin mừng cho ảnh.
Năm Quýnh đã muốn nổi giận lên, nhưng nhớ lại chuyện gì đó, hắn nhỏ nhẹ:
— Tôi có chuyện mừng, nên cũng muốn hỉ xả cho mấy người. Thôi về đi...
Thọ quay mặt bước xuống thang lầu. Năm Quýnh nói là hắn có tin mừng, nhưng chàng hoàn toàn không hiểu gì cả. Tiếng vợ anh bạt-ti-dăn nào đó vẫn hát đều đều những câu quen thuộc:
‘‘Chờ em cho mãn kiếp chờ,
Chờ cho rau muống vượt lên bờ trổ bông.
Rau muống trổ bông lên bờ nó trổ,
Ai biểu anh chờ mà anh kể công?’’
Thọ xuống tới cầu thang thì anh thân binh gát cầu cười, hỏi:
— Được thả rồi hả?
Thọ gật đầu không đáp. Chàng nhìn ngược nhìn xuôi, giòng sông lặng lẽ không một bóng ghe xuồng. Ở dưới bến chiếc ghe lường nằm im đó, nhưng chàng đâu có thể nhờ bọn bạt-ti-dăn đưa qua sông được.
Tên thân binh thấy vẻ lúng túng của chàng hỏi tiếp:
— Bộ anh muốn qua sông hả?
— Phải! Nhà tôi ở ngoài chợ cũ.
— Biết mà! Nhưng đi giờ nầy chỉ có nước lội sông thôi. Thằng Thình còn bị nhốt, đâu có ai chống ghe cho anh đi?
Thọ ngồi xuống bực thang nói:
— Tôi chờ ghe xuống quá giang vậy...
Anh thân binh cười to lên:
— Cha nầy điên rồi! Khúc sông nầy đâu phải ghe xuồng muốn đi lúc nào cũng được. Anh chờ tới sáng mai mới về nhà hả? Lội sông đi ‘‘cha nội’’. Bộ không biết lội sao?
Thọ chợt hiểu ra, liền gật đầu:
— Vậy thì đành lội rồi.
Chàng lột áo cầm tay, nhảy xuống nước. Những chỗ bị đánh bầm dập rêm nhức lạ lùng. Thọ cố gắng thả trôi theo giòng nước và bơi cầm chừng qua bờ sông bên kia. Anh lính ngó theo chàng vẫy vẫy tay. Thọ không hiểu được trong lòng anh ta thương hay ghét mình. Chàng lên tới bờ ướt loi ngoi và đau nhức vô cùng, nên đành ngồi nghỉ ở chỗ gốc cây dừa bị trời đánh chẻ ngọn làm hai. Thọ chỉ mong có người nào đó qua lại bắt gặp mình, để nhờ họ gọi mẹ hay Dung, nhưng ở đây vắng lặng quá. Những ngôi nhà ở gần bót đã dời đi chỗ khác. Thọ nhớ lại những lời Thình dặn dò lúc sáng: ‘‘ Nếu biết chúng dẫn mình đi bắn, cậu cứ hét to lên, kêu cứu vang dậy thế nào dân làng cũng hay biết!’’ Thật ra ở chỗ này, chàng có hét cho bể phổi cũng chẳng ai hay? Ngồi nghỉ một chút cho lại sức, Thọ mới thả lần theo con đường mòn ra xóm cũ. Qua những cây cầu khỉ, chàng run rẩy cả tay chân và mấy lần xuýt rơi xuống vũng bùn. Người đầu tiên gặp. Thọ là Năm Súng. Ông ta đang nhổ sào dời ghe vô bờ theo con nước lớn, chợt ngó thấy Thọ.
Ông sững sờ dụi mắt, kêu lên:
— Cậu Thọ!
Rồi ông thót lên bờ nói to hơn:
— Cậu được thả rồi hả? Trời đất... coi đi hết muốn nổi kìa!
Ở tiệm thuốc bắc chú Sanh nhiều người chạy ra nhìn, nhưng không ai nói gì cả. Họ cũng dè dặt cho thân phận mình. Năm Súng đã đến gần Thọ. Chàng cảm động vô cùng khi thấy những giọt nước mắt ràn rụa trên má của ông.
Chàng nghẹn ngào:
— Chú Năm... Thình cũng sắp được thả đó.
Năm Súng mừng rỡ:
— Vậy hả cậu? Tôi biết thế nào ông Hội cũng can thiệp mà. Năm Quýnh làm sao dám chống với ổng?
Dứt lời Năm Súng im bặt nhìn dáo dác như sợ có ai nghe thấy lời mình. Thọ nói mau:
— Hồi họ thả tôi ra thì Thình được gọi lên đó. Năm Quýnh hứa với tôi sẽ thả Thình ra ngay. Tôi về nhà nghen chú Năm! Chú đi đón Thình đi...
Năm Súng gật đầu, trong lúc Thọ cúi xuống bước vội về nhà. Chàng không dám nhìn ai trong xóm chợ nhưng biết chắc bao nhiêu cặp mắt đang hướng theo mình. Qua ngang nhà Hà Anh, không hiểu một sức mạnh nào đã khiến chàng ngẩng lên nhìn vào trong. Mấy đứa em của Hà Anh đang sắp hàng trước cửa nhìn chàng, nhưng không thấy cô ta đâu cả.
Thọ lại cúi mặt bước thẳng về nhà. Chàng tới cửa rào đã nghe tiếng Dung hét to lên:
— Anh Ba... Anh Ba về kia má ơi!
Nàng tuông ra, mở cửa, rồi ôm chầm lấy Thọ nghẹn ngào:
— Anh...
Thọ cũng ôm em vào lòng. Mới có mấy hôm mà chàng tưởng chừng như đã xa vắng nhiều năm. Bà Chủ từ nhà sau chạy lên:
— Đâu... nó đâu?
Thọ buông em ra, chạy thẳng vào gọi mẹ:
— Mẹ... con đây nè.
Rồi hai mẹ con ôm chặt lấy nhau.
Chị Năm ở sau hè, nghe tiếng lao xao cũng chạy qua mừng chàng:
— Cậu Ba! Trời ơi, coi cậu bèo nhèo hết vậy? Nó có đánh đập gì cậu hông?
Câu nói của người hàng xóm, khiến bà Chủ giựt mình buông con ra. Dung cũng nhìn anh như dò hỏi. Thọ đau đớn cả toàn thân, nhưng gượng cười bảo mẹ:
— Không có gì nhiều đâu má! Cám ơn chị Năm. Họ chỉ dần sơ sơ thôi.
Chàng cố pha trò để mẹ khỏi buồn. Dung hiểu thấu lòng anh. Nàng nghĩ đến chuyện đưa Thọ lên Vĩnh Long khám bác sĩ, trị bệnh cho chàng. Chị Năm bỗng nói:
— Tôi biết thế nào thằng Năm Quýnh cũng ngán ông Hội mà. Nó làm tàng vậy chớ cha nó cũng không dám đương đầu với ổng. Người ta thế lực bằng trời, còn nó thứ ‘‘ tép bạc’’ mà cũng muốn vuốt râu ‘‘tôm hùm’’...
Thấy người qua đường nhìn vào nhà, bà Chủ lo sợ nói:
— Thôi đi vô trong nhà hết đi! Cái miệng mày nhỏ nhỏ vậy Năm. Bộ mầy muốn tao chết sớm sao?
Chị Năm cười:
— Gì mà sợ không biết nữa! Con nói thằng đó ‘‘vun văn, vút vắt’’, ăn ở đoản hậu, trời không để mạng nó đâu. Bà tin con đi...
Dung cười với chị Năm rồi hỏi lại anh:
— Bộ bác Hội Đồng qua can thiệp cho anh đó hả?
— Anh không được gặp bác Hội, nhưng nghe bọn bạt-ti-dăn nói thì bác có qua nói chuyện với Năm Quýnh!
Chị Năm vọt miệng nói:
— Thì ổng đó chớ ai cô! Thằng Quýnh nó bắt oan biết bao nhiêu người, nào có thả ai đâu?
Bà Chủ cũng biểu đồng tình với chị Năm nên bảo Thọ:
— Con khỏe khỏe rồi là phải qua với má thăm bác. Phải cám ơn người ta kẻo họ nói mình không biết điều.
Dung cười anh:
— Hôm nọ chị Mai qua, khóc quá chừng quá đỗi, làm em cũng khóc theo.
Thọ nhìn sửng Dung:
— Thiệt hả em? Mai có qua bên nầy nữa sao? Tội nghiệp... Còn...
Chàng toan hỏi đến Hà Anh nhưng không tiện mở lời trước mặt mẹ và chị Năm. Dung hiểu ý anh ngay. Nàng sa sầm nét mặt, liếc nhìn sang quán bán nước đá của cô gái Trung Hoa. Dung không dè là mình lại lầm cô ta đến đỗi. Đêm qua gần mười giờ đêm, nàng còn nghe tiếng cười đùa ở bên nhà Hà Anh. Nàng hé cửa nhìn sang mới biết bên đó đang có tiệc. Tiếng Năm Quýnh cười nói vang dội. Dung không chịu được, đóng cửa sầm lại và suốt đêm qua nàng trằn trọc mãi không ngủ được. Nàng không hiểu tại sao Hà Anh lại có những hành động lạ lùng đến thế? Chơi thân với nhau cả năm trời, nàng biết cô ta đâu có ưa gì bọn lính Tây hay bọn thân binh trong bót, nhưng từ hôm Thọ bị bắt tới giờ, nàng ta lại đâm ra thân thiện với chúng một cách thái quá.
Nhứt là đối với Năm Quýnh, dân làng đồn đãi nhiều chuyện không hay, thế mà nửa đêm, nửa hôm còn đãi hắn trong nhà. Riêng Dung, nàng không thề tha thứ thái độ của Hà Anh. Cô ta biết rõ Thọ bị Năm Quýnh nghi kỵ, ganh ghét, mới hãm hại, mà còn cười đùa với hắn!
— ‘‘Hèn thật!’’

Dung đã lẩm bẩm hai tiếng đó suốt đêm qua. Nàng định bụng hôm nào sẽ mắng vào mặt Hà Anh một trận. Bà Chủ bỗng bảo Thọ:
— Thôi con đi thay đồ rồi nằm nghỉ. Con Dung sao không đi lấy quần áo cho anh may?
Chị Năm cũng từ giã ra về. Thọ cẩn thận dặn dò chị:
— Chị Năm... đừng nói gì về vụ của em nghen. Để chúng nó ghét thêm chẳng ích lợi gì?
— Cậu khỏi lo mà! Có ông Hội đỡ đầu thì chẳng thằng nào dám đụng tới cậu đâu.
— Tôi không muốn làm phiền người ta chị à! Một lần như vầy cũng là quá lắm!
— Dạ! Nói là nói vậy thôi, chớ mình khiêu khích tụi nó làm gì? Cậu yên tâm đi, tôi không nói bậy bạ đâu?
Bà Chủ cũng đi ra nhà sau. Còn lại hai anh em Thọ và Dung ở trên nhà. Tự nhiên, Thọ nghĩ tới cha. Chàng nhìn lên bàn thờ của ông rồi lẳng lặng lấy nhang đốt, cấm vào lư hương. Khói nhang quen thuộc khiến lòng chàng ấm áp trở lại.
Chàng bỗng hỏi Dung:
— Có gì lạ không em?
Dung cười:
— Dạ đâu có chi? À, chị Mai yêu anh thấy rõ rệt đó. Nhờ vụ anh bị bắt mới thấu được lòng người.
Dung muốn ám chỉ thái độ của Hà Anh đối với anh mình. Thọ lại hỏi:
— Còn... cô bạn gái của em? Không hỏi gì tới anh sao?
Dung biết anh quý mến Hà Anh hơn Mai, nên không muốn cho anh phải lầm lẫn nữa. Nàng lắc đầu bảo Thọ:
— Anh đừng nhắc đến cô ta! Em đã lầm kết giao với một kẻ không ra gì?
Dung tiếp giọng hằn hộc:
— Nó khốn nạn lắm, anh nhắc tới em còn tức hơn.
Thọ cứ ngó em không thốt nên lời. Chàng không hiểu tại sao Dung lại mạt sát Hà Anh như thế. Đối với cô ta, trong lòng chàng vẫn chan chứa cảm tình. Dung biết anh đang bàng hoàng nên từ từ kể lại những hành động, lời nói của Hà Anh mấy hôm nay. Nàng đã có ấn tượng không tốt về cô ta, nên mở miệng ra chỉ nói toàn sự xấu. Dung kể lại những cử chỉ lả lơi của Hà Anh với Năm Quýnh, nhưng chỉ bằng tưởng tượng của nàng. Thọ ôm lấy đầu, ngồi xuống ghế, không nói một lời. Chàng chưa ngỏ lời yêu đương với Hà Anh, nhưng tại sao trong lòng lại xót xa nhiều quá. Thật không ngờ! Chàng hoàn toàn không dè Hà Anh lại tàn tệ đến thế? Cô ta đã yêu Năm Quýnh thật sự rồi ư?
Một lúc lâu, chàng ngước lên gượng cười bảo Dung:
— Thế cũng xong!
Dung ngơ ngác:
— ‘‘ Xong’’ thế nào anh? Anh định nói gì em không hiểu?
— Xong là anh đỡ phải thắc mắc về cô ta...
Có tiếng cười đùa văng vẳng bên nhà Hà Anh vọng sang. Thọ nghe rõ tiếng cười trong trẻo của nàng. Chàng chưa quay mặt lại thì Dung đã nói:
— Kìa Năm Quýnh mới ra đó! Anh cứ nhìn sang một lúc sẽ rõ lời em nói là đúng.
Thọ ngã lưng vào thành ghế, thở dài bảo em:
— Nhìn làm gì? Mình không xem cô ta là bạn nữa thì thôi, cần chi phải bận trí.
Thọ bừng tỉnh dậy, sau một giấc ngủ dài. Bên ngoài trời đã đổ hoàng hôn. Có tiếng chim chìa vôi hót muộn phía sau vườn, nghe buồn hoang vắng. Toàn thân Thọ vẫn còn rêm nhức đớn đau. Hồi trưa, mẹ chàng đã mời thầy Tư ở xóm trong ra xem mạch hốt thuốc. Thầy Tư hỏi qua tự sự, liền cầm viết biên liền một cái toa, bảo Dung ra tiệm chú Sanh hốt thuốc cho Thọ uống.
Thầy Tư còn bảo chàng:
— Cậu đừng lo! Uống vài thang thì tuyệt nhiên không còn sợ bệnh hậu nữa. Đây là toa thuốc gia truyền, đặc biệt của một người Tàu đã tặng cho ông nội tôi.
Rồi thầy tâm sự:
— Trước kia ông tôi cũng là người trong hội ‘‘Kèo Xanh, Kèo Vàng’’ chống Tây dữ lắm. Có lần bị mật thám bắt đánh đi không nổi cũng nhờ toa thuốc nầy đó.
Thọ cám ơn thầy Tư và uống ngay thang thuốc mới sắc. Chàng mệt mỏi nên xin phép thầy về phòng riêng nằm nghỉ để mẹ ngồi tiếp chuyện với khách.
Không ngờ mới đặt lưng xuống, chàng đã ngủ quên, cho tới giờ nầy. Thọ chợt nghe có tiếng chân nhè nhẹ bước vào phòng. Chàng toan lên tiếng thì thấy Dung đứng sát mí mùng nhìn vào, rồi rón rén đi lại bàn viết. Thọ chờ lúc em qua ngang đầu giường, liền cất tiếng:
— Hù!
Dung giựt mình đưa tay ôm ngực:
— Anh làm em hết hồn hà? Tưởng còn ngủ em không dám làm động, lại hù người ta. Hổng giỡn với anh đâu?
Thọ gượng ngồi dậy nhìn em cười:
— Coi vậy mà nhát. Em làm gì đó?
Dung ngồi xuống ghế, thở mạnh, nói:
— Má nấu cháo cá cho anh xong rồi, biểu lên coi anh đã thức chưa? Anh ráng ăn một chén để má lo. Anh nằm đây, em bưng lên cho ăn.
Thọ cảm động bồi hồi trước sự săn sóc chu đáo của mẹ và em. Chàng gật đầu:
— Thì anh ráng ăn vậy!
Dung mừng rỡ bước vội ra nhà sau. Một lúc, nàng bưng mâm cháo lên nói:
— Cháo còn nóng! Anh ăn ngay đi...
Thọ gật đầu đỡ mâm cháo trên tay cô em gái. Dung kéo một chiếc ghế cho Thọ đặt mâm cháo xuống cạnh giường. Nàng lại lấy cái ghế đẩu ở gần cửa sổ đến ngồi bên anh. Thọ hỏi:
— Mẹ với em ăn cơm chưa?
— Ăn mất đất từ hồi nào. Chiều tối rồi, bộ anh tưởng. Để em đốt đèn cho anh nghen?
Thọ bưng chén cháo lên, húp nhè nhẹ rồi bảo em:
— Khỏi cần! Anh sợ chói mắt lắm! Còn sáng mà. Có ai tới thăm anh không em?
— Dạ không! Má có cho chị Năm đi qua Phước Định báo tin cho bác Hội rồi.
Thọ ngơ ngác:
— Báo tin gì em?
— Thì tin anh được thả về. Má dặn chị Năm cám ơn bác Hội, khỏe khỏe và sẽ đưa anh qua chào bác...
Thọ cúi xuống thở dài nhè nhẹ. Dù muốn dù không, chàng cũng đã thọ ơn của ông Hội quá nhiều. Chàng ăn xong chén cháo thì mồ hôi đổ ra ướt áo. Dung vội vã lấy đồ khác cho anh thay. Nàng bỗng nói:
— Lát nữa, anh còn uống một chén thuốc.
Thọ nhăn mặt:
— Uống gì nhiều dữ vậy? Anh mới uống hồi trưa mà...
— Em đâu biết! Thầy Tư dặn vậy đó! Thầy nói: ‘‘ Phải làm cho tan hết máu bầm’’.
Thọ nhớ tới chén thuốc mà phát ngán. Đã chịu cho bọn chúng tra tấn, bây giờ còn cực hình uống thuốc nữa. Dung dọn lại mâm cháo, định bưng ra nhà sau, chợt nghe có tiếng động bên thành cửa sổ. Nàng và Thọ vừa quay ra một lượt thì thấy một chiếc đầu trọc lốc lú lên. Dung hoảng hồn lùi lại:
— Kìa! Ai vậy?
Thọ nhìn kỹ, đúng là A Xây đứa em lớn của Hà Anh. Nó nhe răng ra cười khi thấy Dung lộ vẻ hoảng sợ. Thằng bé nói bập bẹ tiếng Việt:
— Tui đây mà.
Dung đã định thần lại được và khi nhận ra em ruột của Hà Anh thì tức giận nói:
— Đi đâu? Phá hả?
Thằng bé này thường ngày rất được Dung thương, đột nhiên thấy nàng xẳng giọng thì không hiểu gì hết. Nó ngơ ngác nhìn nàng ấp úng:
— Tui đâu có phá. Tui kiếm anh đó mà...
Nó chỉ tay về phía Thọ. Dung vẫn chất vấn với giọng nói không chút cảm tình:
— Kiếm chi? Hả? Đi về đi, đừng lộn xộn nữa...
Thọ rầy em:
— Dung! Sao em vô lý vậy? Nó còn bé nào biết gì đâu?
Rồi chàng hỏi cậu nhỏ:
— Em kiếm anh chi vậy?
Nói xong chàng gượng bước xuống giường đến bên cửa sổ. Thằng bé liếc nhìn Dung mặt quặm xuống, với vẻ bực tức. Nó hoàn toàn không hiểu được thái độ của Dung. Thọ lại hỏi:
— Em muốn nói gì với anh hả?
Thằng bé lòn tay qua cửa sổ, đưa cho Thọ một mảnh giấy nhỏ:
— Nè?.
Thọ đón lấy mảnh giấy, hỏi nhanh:
— Gì vậy em?
Nhưng thằng bé không trả lời mà ù té chạy ra khỏi vòng rào. Thọ ngơ ngác nhìn theo nó rồi ngó Dung. Thiếu nữ đến bên anh bảo nhanh:
— Coi giấy gì vậy?
Thọ nhìn xuống mảnh giấy, nhưng trời tối lờ mờ chàng không còn đọc được chữ. Dung vội lấy hột quẹt đốt cây đèn dầu lên, Ánh sáng tỏa ra khắp gian phòng. Thọ cúi xuống lẫm nhầm đọc:
Anh Thọ,
Dung cũng nhìn vào giấy thấy chữ ký thì kêu lên:
— Hà Anh! Cô ta còn gửi thơ cho anh làm gì?
Thọ cũng đoán chừng như thế, khi nhìn qua nét chữ không được sắc sảo:
— Anh được về nhà... tôi mừng lắm! Tôi không biết nói gì hơn là chúc anh mau mạnh,
Chỉ mong anh đừng hiểu lầm tôi. Bao giờ tôi cũng mến anh!
Hà Anh
Thọ bàng hoàng chưa kịp nói gì thì Dung đã cầu nhầu:
— Hiểu lầm! Con xẩm nầy lộn xộn lắm. Thôi anh đừng trả lời nó. Coi chừng, Năm Quýnh lại kiếm chuyện nữa.
Thọ ngó em với vẻ không bằng lòng:
— Sao em gọi người ta như thế? Bề nào Hà Anh cũng là bạn của em mà.
— Em không làm bạn với hạng đó nữa. Chị ta không thành thật đâu!
Thọ chợt ngó sang nhà Hà Anh. Xuyên qua cửa sổ, chàng thấy nàng đang ngồi dạy các em học ở chỗ bàn tròn. Ánh đèn dầu leo lét không đủ sức sáng cho chàng nhìn rõ mặt Hà Anh trong giờ phút đó.
Dung ngó anh rồi nhìn sang nhà Hà Anh nói:
— Tại Hà Anh mà Năm Quýnh hại anh xuýt chết, anh không nhớ sao? Cô ta còn muốn làm khổ anh nữa?
Thọ ngó em cau mày:
— Anh không bằng lòng thái độ của em. Hà Anh đâu có tội gì? Sao tự dưng em đâm ra hẹp hòi với bạn em dữ vậy?
Dung nói như muốn khóc:
— Em chẳng có bạn nào hết! Em chỉ nhắc nhở anh coi chừng con xẩm đó. Đừng tin bằng lời. Nó không thành thật với mình đâu.
Rồi nàng giận dỗi bỏ ra nhà ngoài. Thọ ái ngại nhìn theo em, nhưng không gọi nàng trở lại. Chàng có muốn cãi vã với Dung vì một chuyện như thế nầy đâu?
Ở nơi nào xa lắm, có tiếng súng lớn nổ vọng về.
Chương 5 (tt)
Thọ vừa trở mình, đã nghe có tiếng thì thầm trước cửa phòng:
— Đừng Dung! Để anh ấy ngủ.
Tiếng của Dung cất lên:
— Được mà chị. Tám giờ rồi. Ảnh đâu có ngủ trễ dữ vậy, chắc tại thuốc của thầy Tư.
Thọ nghe rõ ràng tiếng nói của Mai, chớ không ai khác:
— Cứ để ảnh ngủ mà Dung! Mình còn ở chơi lâu được, không sao? Nghe chị Năm qua báo tin mừng, mình còn muốn đi hồi đêm hôm đó, nhưng bị thiết quân luật má không cho. Coi bộ ảnh bệnh nhiều không Dung?
Thọ xúc động bồi hồi trước tấm chân tình của người con gái đã yêu thương mình. Dung đáp lời Mai:
— Hồi mới về trông ảnh bèo nhèo lắm! Mình mẩy bầm tím hết chị à...
— Trời ơi! Tụi nó khốn nạn quá! Ba em nói tụi thằng Năm Quýnh biết khôn thả anh Thọ ra, nếu không ổng cho tụi nó tù rục xương...
Thọ chợt nghĩ tới những dân lành khác bị Năm Quýnh hãm hại! Phải chi ông Hội dùng quyền thế ‘‘ hạ’’ Năm Quýnh thì dân làng mang ơn ông biết bao nhiêu.
Có tiếng Dung bảo Mai:
— Má em định để anh Thọ khỏe khỏe, dẫn qua bển cám ơn bác trai.
— Ơn nghĩa gì Dung! Ba Mai dặn qua bảo anh Thọ cứ nằm nhà nghỉ cho khỏe đừng lội tới lội lui chẳng ích lợi gì?
Bà Chủ nghe tiếng Mai, từ nhà sau đi lên:
-Kìa cháu! Cháu mới qua hả? Thằng Thọ về hôm qua rồi đó! Thiệt cũng nhờ ơn anh Hội.
Mai đứng dậy chấp tay xá, không dám nói gì nhiều, chỉ vâng dạ theo từng câu hỏi của bà Chủ. Trong khi đó, Dung lẻn vào phòng anh; nàng đã quên câu chuyện đêm qua.
Dung nhìn qua vải mùng thấy anh đã thức thì cự nự:
— Anh! Chị Mai qua thăm anh đó. Nằm hoài sao?
Thọ thấy em đã quên giận nên cười làm lành:
— Chớ anh làm gì bây giờ? Chạy đại ra à? Anh chưa rửa mặt.
Dung lắc đầu:
— Anh kỳ quá! Hừng đông, chị ấy đã tới nhà rồi! Chỉ mến anh như vậy, không thấy sao?
Rồi nàng trở ra gọi Mai:
— Chị... Ảnh thức rồi nè!
Thọ vội vã ngồi lên, không dè cô em gái ‘‘ chơi khâm’’ như vậy? Mai vào đây làm sao chàng đi rửa mặt cho kịp!
Thọ lại nằm xuống chịu trận. Bà Chủ đang nói chuyện với Mai nghe Dung nói Thọ đã thức cũng bước vào thăm con:
— Sao? Đỡ chưa con!
Thọ ngó mẹ đáp:
— Dạ đỡ rồi má...
Thoáng thấy Mai đứng sau lưng mẹ, chàng tươi cười:
— Chào cô Mai!
— Dạ chào anh...
Bà Chủ đưa tay rờ trán con, rồi bảo Mai:
— Nhờ nó uống thuốc gia truyền của thầy Tư đó cháu! Không có thuốc đó, về sau máu đọng lại cũng chết.
Mai nhăn mặt nhìn Thọ với đôi mắt ái ngại âu lo:
— Bây giờ, anh thấy trong mình... sao?
Thọ cười bảo nàng:
— Cũng gần như thường hà cô...
Bà Chủ ngó con rồi ngó Mai nói:
— Thôi cháu ở chợ nghen! Bác còn công việc mê mê ở nhà sau.
Rồi bà bước ra ngoài để Mai ở lại một mình với Thọ. Dung cũng đi mất không thấy trở vào. Mai e lệ cúi mặt nhìn xuống! Nàng thấy rõ mẹ và em Thọ đều có ý định để mình tự do nói chuyện với chàng. Trong lòng Mai cảm kích vô cùng.
Thọ ngó Mai khẽ nói:
— Cô ngồi chơi...
Mai vừa ngồi xuống ghế, chàng đã nói tiếp:
— Thiệt làm phiền bác Hội và cô quá! ‘‘ Tai bay họa gởi’’ gì ở đâu... Tôi định bớt bệnh sẽ qua thăm bác!
Mai lập lại câu nói đã bảo Dung lúc nãy:
— Ba nói anh nên nghỉ cho khỏe, đừng đi nhiều!
Thọ cười rồi không biết nói gì thêm. Mai thấy chàng ít nói quá nên gợi chuyện:
— Hôm anh bị bắt, em có qua đây nữa.
— Tôi có nghe Dung nói lại! Cô tới lui chi cho cực vậy?
Mai ngó chàng cau mày:
— Sao mà cực anh? Em... còn giận mình không giúp anh được nhiều. Nghe anh bị chúng đánh đập, em khổ quá!
Đôi mắt nàng đỏ ửng lên, nàng rơm rớm nước mắt, trông thật dễ thương. Thọ xúc động bồi hồi trước mối tình tha thiết của Mai. Chàng lựa lời nói:
— Thiệt tôi không dè Mai lo cho tôi dữ vậy...
Mai cười bảo Thọ:
— Em còn định qua bót tìm Năm Quýnh nữa anh! Hôm nay mà anh chưa về chắc em đã qua bển rồi.
Thọ kêu lên:
— Cô qua đó sao được! Tụi nó tàn bạo, hung ác lắm...
— Kệ chớ! Bộ nó dám hại em sao? Nói thiệt với anh, em không dè ba vẫn âm thầm lo cho anh. Chớ hôm kia em đã tưởng ổng buông trôi rồi...
Thọ ngơ ngác:
— Cô nói gì tôi chưa hiểu!
— Ờ.. Anh làm sao hiểu được! Ba gặp Năm Quýnh rồi về đây...
Mai im bặt. Nàng thành thật đến độ suýt chút nữa đã nói rõ chuyện cha giận Thọ về vụ Hà Anh. Bây giờ đã lỡ lời biết nói sao đây?
Thọ hỏi tiếp:
— Sao nữa cô?
Mai lúng túng đáp:
— Ba nghe vụ Năm Quýnh thù anh vì... cô xẩm nào đó?
Nàng chỉ tay sang bên nhà Hà Anh và bất ngờ thấy cô gái Tàu đã đang đứng ở cửa sổ nhìn qua. Bốn mắt gặp nhau, hai người cùng quay mặt đi nơi khác.
Thọ hỏi nhanh:
— Ủa! Ai nói cho bác biết chuyện đó?
— Em cũng không rõ! Mà có đúng vậy không anh? Anh với cô xẩm gì đó. Kìa... Cổ đứng ở cửa sổ kìa.
Thọ nhớm mình lên và thấy rõ Hà Anh đang ngó sang phòng mình. Có lẽ nàng cũng đã trông thấy Thọ. Chàng lại buông mình nằm xuống giường, đôi mắt đăm chiêu nghĩ ngợi. Mai đưa mắt nhìn chàng rồi lại hỏi:
— Có đúng vậy không anh? Tại cô xẩm đó mà Năm Quýnh thù oán anh hả?
— Tôi thật không hiểu nữa! Năm Quýnh thù tôi nó đâu có nói ra.
Mai không dè Thọ nói một cách lập lững như vậy! Nàng tưởng đâu Thọ sẽ tỏ rõ thái độ mình bằng cách chống đối quyết liệt với những ai ngờ chàng ‘‘ mê cô xẩm’’ kia! Nhứt là người hỏi đến chuyện đó lại là mình?
Mai ngập ngừng hỏi tiếp:
— Riêng anh, xét lại cử chỉ của mình, chắc anh phải thấy rõ hơn họ chớ! Nghe ba nói hôm nọ, em đã bảo ba: ‘‘ Anh Thọ đời nào lại đi ganh đua với Năm Quýnh vì một con nhỏ bán nước đá!’’
Thọ ngó sửng Mai muốn phản đối câu nói của nàng nhưng xét thấy, sẽ làm buồn lòng Mai nhiều lắm, chàng lại thôi. Dung không hiểu được chàng thì Mai làm sao hiểu nổi. Tự dưng mà mọi người đều ghét Hà Anh, gẫm ra cũng tội cho nàng. Thấy Thọ vẫn lặng thinh, Mai lại hỏi:
— Em nói với ba như vậy có đúng ý anh không?
Thọ không dè Mai lại dồn mình vào cái thế kẹt như thế. Nàng bắt buộc Thọ phải tỏ rõ thái độ trước những lời đồn đãi về chàng và Hà Anh.
Chàng lựa lời đáp:
— Cô hỏi vậy buộc lòng tôi phải bày tỏ quan niệm của mình về tình yêu. Sự thật thì đối với Hà Anh tôi cũng không có lý do gì để khinh thường nàng. Sự giàu nghèo đã thành ra vô nghĩa trước cảnh loạn ly, giặc giã rồi.
Mai như bị tát vào mặt. Nàng choáng váng không còn thấy gì nữa hết. Trời ơi! Nếu vậy thì đúng như lời họ đồn đãi sao?
Thọ lại tiếp:
— Nhưng mà... tôi cũng chưa có ý nghĩ yêu thương Hà Anh, để đến phải bị Năm Quýnh thù hận!
Mai như người chết đuối vớ được cái phao:
— Nghĩa là sao anh?
— Nghĩa là tôi chỉ biết Hà Anh qua Dung thôi. Vì cô ấy là bạn của em nó!
— Chớ anh không yêu?
— Tôi có nói chuyện tình yêu với Hà Anh bao giờ đâu mà bảo rằng yêu! Có cảm tình như đối với những người bạn gái khác thì đúng hơn. Vả lại..
— Sao hả anh?
— Tánh tôi lạ lắm cô à! Tôi không thể yêu một người con gái đang có người khác đeo đuổi! Như hiện tại Năm Quýnh đang mê mệt Hà Anh, dù hắn không có quyền hạn gì, tôi cũng chẳng bao giờ tranh đua với hắn...
Mai thở ra nhè nhẹ, bao nhiêu nỗi uất ức trong lòng đều tiêu tan hết. Vậy là Thọ đã định rõ thái độ của mình. Hai người cùng lặng thinh rất lâu. Thọ bỗng gượng ngồi lên nói:
— Riêng đối với gia đình cô, thật tôi đã làm phiền nhiều quá. Không biết đến bao giờ tôi mới trả hết ơn nầy.
Mai lắc đầu lia lịa:
— Anh đừng nói chuyện ân nghĩa mà! Anh không biết là ba thương anh như thế nào sao? Em thì... em chỉ nghĩ tới cảnh anh bị bắt giữ, bị tra tấn mà khóc hết nước mắt.
Nàng nghẹn ngào không nói hết câu. Thọ sững sờ trước lối tỏ tình đột ngột đó! Chàng xúc động không cầm lòng được, nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của Mai:
— Cô Mai.
Mai nhoài mình tới rồi gục đầu vào ngực Thọ:
— Anh.
Thọ đưa tay ôm lấy vai Mai, nỗi tình khó tả. Sự yêu thương tự dưng tràn ngập tâm hồn chàng. Mai ôm chặt lấy Thọ, lòng yêu thương chất chứa bấy lâu bây giờ mới được toại nguyện. Nàng nghẹn ngào:
— Em... tưởng không bao giờ anh yêu em hết.
Thọ ôm chặt Mai hơn mà thốt ra những câu mà chàng không kịp nghĩ suy:
— Sao Mai lại nghĩ thế? Tấm lòng của Mai đối với tôi đã làm tôi cảm kích vô cùng. Mai chẳng nệ hà gì cả...
Mai ngước lên đưa tay che miệng chàng, nói nhỏ:
— Đừng nhắc chuyện đó nữa anh. Anh chỉ cần biết là em yêu anh từ lâu lắm rồi.
Chưa bao giờ Thọ được hưởng phút giây êm ái như thế! Chàng nâng càm Mai lên hôn nhẹ vào môi nàng rồi hỏi:
— Từ bao giờ hả em?
Mai xấu hổ vì chiếc hôn đầu tiên mà nàng không chờ đợi, nên cúi mặt đáp:
— Lâu lắm rồi…
Nhìn thấy đôi tai nàng đỏ bừng vì e thẹn, Thọ càng yêu thương hơn. Chàng hỏi nhỏ:
— Lâu mà bao giờ?
Mai ngẩng lên đáp:
— Ngay buổi chiều em ngồi câu cá trước nhà, anh đi học trên tỉnh về, đứng dừng lại hỏi em đó...
— Lâu thế kia à?
Mai gật đầu:
— Ờ... Lâu chớ... Sáu bảy năm rồi!
Thọ cười:
— Hồi đó em còn bé tí ti, nào đã biết gì?
Mai gượng ngồi dậy, làm bộ mặt giận:
— Hổng giỡn với anh đâu? Anh không tin thì thôi! Hồi đó người ta 16 tuổi rồi chớ nhỏ gì nữa...
Thọ lại kéo nàng vào lòng:
— Thôi mà em. Anh nói chơi mà.
Mai được thể đứng phắc dậy, xô Thọ ra. Chàng bị trúng nhầm mấy chỗ đau kêu lên:
— Ái cha...
Mai sực nhớ ra người yêu vừa bị tra tấn nên ân hận ngồi xuống ngay:
— Anh... Em xin lỗi! Trời ơi em quên.
Thọ cười nắm lấy tay nàng, lắc đầu:
— Không sao? Nhưng em đừng giận anh nữa nghen.
Mai gật đầu:
— Em đâu dám giận anh!
Có tiếng Dung cười nói:
— Coi vậy phải được hông!
Mai hết hồn đứng phắc dậy, ngó thấy Dung thì bẽn lẽn chạy tới:
— Dung... Hồi nãy giờ đi đâu? Bỏ người ta một mình hà?
Dung ranh mảnh chỉ Thọ:
— Một mình sao được? Hai mình chớ. Còn ảnh nữa chi?
Mai phát mạnh vào vai bạn:
— Hổng giỡn à nghen. Cứ phá hoài!
Dung cười, xoa xoa bên vai:
— Ai giỡn! Chuyện thiệt mà cũng đánh người ta! Bây giờ hai người phải ‘‘kiến’‘ cho em cái gì đi. Nhờ em mà không trả ơn không được đâu!
Thọ chỉ cười không nói gì. Riêng Mai, xấu hổ đến đỏ cả mặt mày. Nàng không biết làm sao liền gọi Thọ:
— Kìa anh! Coi Dung kia...
Dung bĩu môi:
— Cha! Chưa chi đã muốn lên mặt chị rồi hả? Đừng hồng ăn hiếp cô em nầy! Anh Thọ còn sợ tôi nữa là chị?
Mai không biết làm sao nói lại Dung, đến bên Thọ ngồi xuống:
— Anh... Cô Dung ăn hiếp em kìa.
Dung cười phá lên, trong lúc Thọ nắm lấy tay Mai nói:
— Em lo gì? Đến phiên cổ thì mình phá lại.
Nước chảy ở đâu cũng tới mà.
Mai kêu lên:
— Ờ phải rồi.
Dung ngó hai người:
— Chờ để phá hả? Còn lâu...
Tiếng cười của ba người lại vang lên.
Chương 6
Hà Anh gỡ tay Năm Quýnh ra, ngồi lui lại một chút.
Đêm đã khuya lắm rồi, bốn bề im lặng, chỉ nghe về phía cuối xóm, tiếng chó sủa rời rạc lẻ loi. Hai người lính bạt-ti-dăn đang ngồi ở ngoài hè canh chừng cho Năm Quýnh, thỉnh thoảng lại đập muỗi bèm bẹp. Ban Phánh nằm ở phòng trong với mấy đứa con nhỏ. Chúng đã say ngủ, nhưng ông vẫn còn thao thức ngó lên nóc mùng, tai lắng nghe từng tiếng động trong nhà. Năm Quýnh tới hồi nào, gọi Hà Anh mấy tiếng, dặn hai tên bạt-ti-dăn gì đó ông đều nghe rõ mặc dù không hiểu. Tuy nhiên, ông vẫn nằm lặng thinh vì ông đã muốn như vậy! Ông hứa gả Hà Anh cho Năm Quýnh vì hắn đối xử quá tốt với ông.
Tiền bạc, á phiện hắn trao cho ông không bao giờ tính. Vả lại hắn cũng thuộc vào tay quyền thế nhứt nhì ở trong làng; cho Hà Anh về với hắn có lẽ đời con gái của ông sẽ đỡ khổ hơn hiện tại. Thấy con cứ phải đi gánh nước, đi vác nước đá từ dưới đò lên, phải cười cợt với đủ hạng người để bán từng ly nước đá lấy năm cắt, một đồng, ông xót xa lắm. Thôi thì gả chồng cho nó! Thằng kia có tiền của, quyền hạng, kể ra cũng nhẹ tấm thân. Ông thì chắc chắn sẽ có tiền hút mà đám em của nó cũng có người lo. Ban Phánb nằm đêm, gát tay lên trán, nghĩ đến cái tuổi già cận đại của mình mà thêm ngao ngán.
Ối! Đến cái từng tuổi này rồi, cũng chẳng cần danh giá gì nữa. Thật sự thì danh giá là hồi nào kìa, chớ bây giờ còn mong gì? Chính ông đã đốt danh giá gia đình hằng tháng hằng năm bằng ngọn đèn dầu phộng.
Bên kia vách lá Năm Quýnh thủ thỉ:
— Sao vậy hả em? Đêm hôm nọ, em đã hứa gì với anh?
Hà Anh ngồi rút hai chân lên, hai tay bó gối, vẻ mặt lạnh lùng. Nàng còn biết nói gì thêm nữa? Nỗi đau đớn xót xa như tràn ngập trong lòng. Trời ơi! Cuộc đời nàng từ đây về sau mãi mãi, thuộc quyền sở hữu của tên nầy sao? Hắn yêu thương nàng tha thiết lắm, nàng muốn gì hắn cũng chiều theo, nhưng cứ nhìn bộ mặt nhăn nhăn, nhở nhở của hắn nàng đã ghê tởm. Năm Quýnh chợt đứng lên:
— Vậy ra em đã gạt anh! Đêm hôm trước em hứa hẹn đủ điều để ‘‘ thằng chó’’ đó được thả ra, rồi thôi, phải không? Em lầm lắm và đừng chọc giận anh nghen. Thằng đó vẫn còn nằm trong tay anh mà, muốn bắt nó lại lúc nào mà không được.
Hà Anh ngước nhìn lên với vẻ sửng sốt:
— Thầy Năm! Có gì mà thầy thù người ta dữ vậy?
Năm Quýnh cười nhạt:
— Bất cứ ai ở trên đời nầy, trêu vào tay tôi là tôi hạ hết! Năm Quýnh nầy chưa biết sợ thằng nào cả.
Rồi hắn lườm lườm ngó Hà Anh:
— Em yêu nó hả? Được rồi... Tôi sẽ không bắt nó đâu, nhưng vài hôm nữa em sẽ thấy xác nó trôi bập bều trên sông nầy.
Hà Anh sợ thất thần:
— Thầy Năm... Thầy đừng nói vậy, thấy ghê quá hà.
Hà Anh đã nắm lấy tay Năm Quýnh lúc nào cũng không hay. Tên thông ngôn để ý từng cử chỉ của nàng, nên ngồi sát xuống ôm lấy nàng, miệng vẫn tiếp tục nói:
— Nầy... Nói dong dài em đâu có thấy! Ngay bây giờ anh dư sức tung qua nhà nó một trải lựu đạn. Xếp Jean có biết cũng chẳng làm gì anh được nữa. Một ngàn thứ chết dành cho nó, bởi vậy anh đâu có ngại thả nó ra.
Hà Anh co rúm người lại trong vòng tay Năm Quýnh. Chưa bao giờ nàng thấy cuộc đời khốn nạn hơn. Nàng nghĩ tới Thọ, giờ phút nầy chắc đang say ngủ trên giường có biết đâu nàng đang trải qua một khúc quanh đau đớn nhứt trong đời. Đêm hôm trước, vì sinh mạng của Thọ nàng đánh liều ngồi yên cho Năm Quýnh vuốt ve, nỉ non lời ong bướm. Nàng để yên cho hắn ôm lấy nàng và nói lên những lời không thật:
— ‘‘ Đâu phải em không yêu thầy Năm, nhưng mà em chỉ yêu thương trong lòng. Thầy Năm phải biết chớ... Người Tàu sâu kín lắm thầy Năm...’’
Năm Quýnh sướng muốn điên lên trước những lời tỏ tình đó. Hà Anh thừa dịp đã bảo anh ta:
— ‘‘Họ nói... tại thầy Năm nghi ngờ em thương cậu Thọ, nên mới bắt cậu ấy hả?’’
Năm Quýnh gật đầu bảo nàng:
— ‘‘Đúng vậy! Bao nhiêu đó Hà Anh cũng biết tôi yêu thương đến độ nào? Tôi sẽ diệt hết những đứa gắm ghé Hà Anh’’.
Hà Anh lắc đầu, gượng cười với hắn:
— ‘‘Thầy Năm lầm rồi! Bắt người đó là bậy!’’
— ‘‘Sao mà bậy?’’
— ‘‘Vì tôi có thương yêu anh ta đâu?’’
— ‘‘Hả? Tôi thấy rõ hai người cười cợt với nhau mà’’.
Hà Anh đã làm bộ mặt giận:
— ‘‘Tại thầy Năm không biết chớ. Cậu Thọ sắp làm rể nhà ông Hội Đồng! Hồi sáng cô ấy có qua nhà thăm nữa đó’’.
Năm Quýnh chợt nhớ tới Mai thì thích ý vỗ tay đánh bép một cái:
— ‘‘Trời đất ơi! Tôi nhớ rồi. Hèn gì lão Hội Đồng đi lo cho thằng đó dữ!’’
Hà Anh được thế nói luôn:
— ‘‘Bây giờ thăy Năm đã hiểu lòng dạ của em rồi! Thôi thầy Năm cũng đừng bắt oan người ta. Thả họ ra em mới yên tâm được...’’
Do đó mà Thọ được thả ra sau khi đã làm tờ cam kết mình không bị đánh đập, tra tấn gì ráo. Riêng ông Hội Đồng lại tưởng nhờ cái oai của mình mà Thọ được về nhà, bình yên vô sự! Cả nhà bà Chủ và luôn Thọ nữa đều thấy mình mang ơn ông Hội, chớ đâu ai nghe được những lời trao đổi giữa Năm Quýnh và Hà Anh trong đêm khuya.
Nhưng bây giờ, trước vẻ mặt thiếu niềm nỡ, cử chỉ kém khả ái của Hà Anh, Năm Quýnh đã ngờ là mình bị gạt. Hắn nêu ra một loạt hành động đe dọa, khiến cô gái kia hoang mang và không còn nghĩ đến phương cách chống cự lại hắn nữa.
Năm Quýnh hôn lên má nàng, nói nhỏ:
— Em phải biết chưa có cô gái nào ở trong làng nầy mà anh chịu cực khổ như em vậy? Giờ nầy anh dám lẻn ra đây, bộ em tưởng dễ dún gì sao?
Hai tay hắn siết chặt, khiến Hà Anh giựt mình trấn tỉnh lại được. Nàng nắm lấy tay Năm Quýnh nói:
— Thầy Năm! Chẳng lẽ mình lén lút như vầy sao? Bề nào thầy cũng nghĩ đến tiếng tăm của em trong làng chớ! Thầy làm vậy, dân làng họ khinh em chết.
Năm Quýnh biết con nhỏ nầy muốn nắm phần chắc nên gãi đầu đáp:
— Ờ... thì anh cũng định bàn với ba em cưới hỏi gì chớ.
Hắn nói thế chớ làm sao mà cưới hỏi. Vợ hắn đã năm con rồi, nhưng hắn còn để ở nơi khác đó thôi! Đám cưới rình rang, vợ hắn hay được thì hỏng hết.
Hà Anh thừa dịp đó hỏi luôn:
— Bao giờ hả thầy Năm? Mình chính thức cưới hỏi người trong làng sẽ không cười chê em.
Năm Quýnh là tay nhiều thủ đoạn, đã từng quen với chuyện ‘‘ hái mận bẻ đào’’, nên dễ gì hắn lầm kế hoãn binh của Hà Anh. Cô ta đang nằm trong tay hắn với sự đồng ý của Ban Phánh thì đời nào hắn ngồi yên nói chuyện cho tới sáng? Năm Quýnh vụt ôm choàng lấy Hà Anh, hôn lên môi nàng. Thiếu nữ xô hắn ra, cố chống trả mãnh liệt, nhưng sức nàng yếu hơn, một lúc đã lịm dần trong tay hắn. Nàng biết mình có kêu cứu cũng vô ích vì cha nàng đã một lòng với kẻ phá hoại đời nàng! Xóm giềng hay biết chuyện nầy lại càng nhục nhã hơn, Hà Anh cắn răng tuông dầm nước mắt. Tự nhiên nàng nghĩ tới Thọ, đến hôm nào mới biết nhau, chàng đàn cho nàng hát bản ‘‘ Mùa Xuân và Tuổi Trẻ’’.
Bên ngoài hai tên lính bạt-ti-dăn vẫn ngồi gát! Thỉnh thoảng chúng lại đập muỗi bem bép. Ban Phánh trở mình quay mặt vào trong. Ông đâu có điếc mà không nghe những chuyện đã xẩy ra ở bên kia phòng của con gái. Nhưng ông vẫn làm ngơ. Ông nhủ thầm:
— ‘‘Cái đời con gái sớm muộn rồi cũng đi đến chỗ đó thôi!’’
Ở một nơi nào đó tiếng súng vọng lại đì đùng...
Ông Hội Đồng cười ha hả, khi nghe Thọ kể lại vụ Năm Quýnh thả chàng ra, còn bắt làm tờ cam kết không bị đánh đập gì hết. Ông nói:
— Vậy là nó khôn đó cháu! Nếu không bác cho tù rục xương, luôn cả thằng Xếp bót. Nó bắt cháu không có giấy tờ gì hết mà. Tại mình hiền, bỏ qua cho nó đó. Nếu không bác báo cho Chủ tỉnh...
Nhưng ông không nói hết câu được vì tự thấy ngượng ở trong lòng. Sáng hôm nọ, qua bên bót gặp Năm Quýnh rồi, ông cũng tự biết hắn chẳng sợ gì ông hết, bởi lẻ ở trong vùng hẻo lánh xa xôi nầy, có cây súng trong tay thì muốn làm vua, làm chúa gì cũng được. ‘‘ Nhà nước’’ còn bận bao nhiêu chuyện khác, muốn xét xử tới vụ hống hách của một tên thông ngôn cũng còn lâu! Riêng bà Hội và Mai thì rất hãnh diện về quyền lực của ông Hội ở trong làng nầy. Bà Chủ và cả Thọ cũng đều tưởng lầm mình mang ơn ông Hội. Cuộc ‘‘hàn huyên ơn nghĩa’’ cứ kéo dài rồi bà Hội mời bà Chủ và Thọ ở lại dùng cơm trưa luôn thể.
Thọ chờ lúc ông Hội hơi mệt, mới xin phép ra sau vườn chơi. Chàng có ý muốn tìm Mai để nói chuyện. Sau lần tỏ tình hôm nọ, hai người không gặp lại nhau lần nào nữa. Chàng thơ thẩn qua mấy liếp dừa, đi sâu vào vườn quít, nhớ lại hôm nào hai người đã dắt nhau ra đây: Những cảm giác đầu tiên lúc mới trở về gặp lại Mai ở trong khu vườn nầy. Chàng thấy Mai lớn hẳn lên và cảm tình đối với mình vẫn tha thiết. Có tiếng ‘‘hù’’ trong bụi cây khiến Thọ giựt mình, kêu lên:
— Kìa em...
Mai nhí nhảnh hiện ra, mỉm cười hỏi:
— Anh đi đâu vậy?
Thọ liếc mắt nhìn quanh rồi đáp nhỏ:
— Anh đi tìm em!
Mai cúi mặt má ừng hồng, vừa sung sướng vừa e thẹn. Chưa bao giờ nàng cảm thấy hạnh phúc hơn. Nàng yêu Thọ và chỉ mỗi một mình Thọ, từ bao nhiêu năm nay. Bây giờ, mới hiểu chàng cũng yêu thương mình. Xem chừng đôi bên gia đình cũng đồng ý cho hai người kết hôn với nhau! Thế thì còn gì đáng lo nữa. Bỗng dáng cô gái Trung Hoa đã làm cho nàng khổ sở mấy đêm dài cũng đã tan nhòe đi sau chiếc hôn đầu tiên của Thọ.
Thấy Mai có vẻ thẫn thờ, Thọ hỏi ngay:
— Có chuyện gì không em? Sao em không được vui vậy?
Mai ngó chàng mỉm cười:
— Đâu có gì?
— Hay là em không muốn anh đi tìm? Vậy anh trở vô nhà đó.
Chàng dứt lời quay mặt đi. Mai nắm chặt tay chàng kêu lên:
— Kìa anh... Sao em lại không muốn? Anh kỳ quá hà...
Rồi nàng bỏ chạy về phía cuối vườn. Thọ đuổi theo sau. Đến gần bờ tre thì Mai ngồi thụp xuống trên đám cỏ. Thọ lỡ trớn té ngồi bên cạnh nàng, thở hào hễn.
Mai cười vang lên:
— Chạy một chút cũng mệt! Thanh niên thành thị có khác.
Thọ nhìn thấy đôi môi đỏ mọng, hàm răng trắng như ngà thì chỉ nghĩ đến chiếc hôn. Tuy nhiên, chàng không dám hôn Mai ở giữa vườn, sợ có ai nhìn thấy thì nguy hiểm vô cùng. Thọ nắm lấy tay Mai và đắm đuối nhìn nàng. Thiếu nữ chừng như hiểu được ý nghĩ của chàng nên cúi mặt nhìn xuống, đôi má ửng hồng. Hai người im lặng rất lâu. Đột nhiên Mai ngó chàng bậm môi rồi hỏi:
— Làm gì ngó ‘‘người ta’’ dữ vậy? Ghét lắm hả?
Thọ không cầm lòng được xích tới, ôm choàng lấy vai nàng:
— Ờ... Ghét lắm! Muốn cắn môi em thôi.
Mai mắc cở đứng phắc dậy:
— Không giỡn với anh đâu! Anh xấu quá hà. Em đi vô...
Thọ nhoài mình tới chụp lấy chân nàng kéo lại. Mai ngã nhào lên mình Thọ, cười sung sướng...
Trong khi đó ở nhà trong, bà mẹ Thọ đã bắt đầu đề cập tới chuyện hôn nhân của đôi trẻ, việc nầy bà đã có nói qua với bà Hội một lần khi Thọ còn học ở Sài gòn. Bà có ý đó vì muốn cưới vợ cho Thọ để cầm chân chàng ở nhà luôn. Hôm qua, nghe Dung kể lại việc Thọ và Mai đã tỏ tình với nhau rồi, bà lại càng muốn tính gấp chuyện hôn nhân.
Hồi đi qua đây, bà cũng có hỏi Thọ:
— ‘‘Con có định cưới Mai khôhg?’’
Thọ biết là Dung đã thóc mách với mẹ nên đáp nhỏ:
— ‘‘Dạ tùy mẹ định!’’
Bà Chủ cười:
— ‘‘Tôi còn định gì nữa! Cô cậu đã tỏ tình với nhau rồi, tôi không hỏi chính thức để anh chị Hội chê nhà mình không biết dạy con. Hôm nay qua đó má ‘‘đánh tiếng’’ luôn cho con. Chỗ gần gũi không cần mai dong làm chi...’’
Thọ chỉ cúi đầu vâng dạ!
Bà Hội vừa têm trầu đưa qua bà Chủ, ngó thấy dáng điệu trịnh trọng của bà kia thì biết ngay có chuyện quan hệ. Bà Chủ bắt đầu:
— Thưa chị! Chỗ cùng làng, cùng xóm với nhau, tôi xin chị cho miễn cái chỗ mai dong, để được thưa một chuyện...
Bà Hội tươi cười nói:
— Chỗ chị em mình, hai nhà càng ngày càng gần nhau tôi mừng lắm! Chị đừng ngại gì cả.
Được lời như mở tấc lòng, bà Chủ tiếp:
— Dạ... Cũng không có chuyện gì ngoài vụ hai cháu nó. Tôi định thưa với anh chị cho đánh tiếng hỏi cháu Mai cho Thọ. Nếu anh chị có lòng thương cháu nó ở nhà.
Bà Hội Đồng ngồi yên, chờ bà Chủ dứt lời, mới nói:
— Chị cũng rõ là vợ chồng tôi đều thương cháu Thọ! Nếu không, đời nào ổng chịu cực, chịu khổ vì cháu nó như vậy!
Bà Chủ vâng dạ rồi đáp:
— Thiệt chớ! Lần nầy, không có anh Hội, chẳng biết Năm Quýnh nó còn đày đọa con tôi làm sao nữa.
Rồi bà nhìn qua cửa sổ, ngó thấy ông Hội đang chỉ chỏ, bày biểu cho mấy người làm công mốc mương, đắp liếp vườn.
Bà vụt hỏi:
— Chị nghĩ xem tôi có nên thưa qua câu chuyện đó với anh Hội ngay bây giờ không?
Bà Hội cười nói:
— Khỏi mà chị! Nói thiệt với chị, chuyện đó chị em mình đã nói với nhau một lần rồi. Chầu xưa tôi có về bàn với ông. Bây giờ, cứ để coi ngày, coi tuổi rồi xem giờ lành tháng tốt làm lễ hỏi cho tụi nó đã. Xem bộ hai đứa cũng thương nhau mà...
Bà Chủ gật đầu cười:
— Dạ! Cũng bị vậy mà mình nên tính sớm cho phải.
Bà Hội cũng mỉm cười thân mật.
Lễ hỏi của Thọ và Mai cử hành trong sự vui mừng của hai họ. Trong làng, ai ai cũng nhìn nhận ông bà Hội làm suôi với bà Chủ thật là hợp. Đúng là chỗ ‘‘ môn đăng hộ đối’’ với nhau. Người vui mừng hơn hết có lẽ là Dung! Nàng quá hồn nhiên, nên không thể hiểu được những bí ẩn của lòng người. Chính vì thế nàng đâu thấu được nỗi khổ tâm của Hà Anh trong những ngày anh nàng bị bắt. Dung cứ đinh ninh cô ta là người bạc nghĩa, không chút lòng thương đối với anh nàng, trong khi Thọ đã bày tỏ cảm tình tha thiết với cô ta. Mấy lúc gần đây, Dung để ý thấy Năm Quýnh lui tới nhà Hà Anh hằng đêm nên càng khinh rẻ cô gái Tàu đó... Nàng mong đôi bên gia đình làm đám hỏi cho Thọ và Mai càng sớm càng tốt. Dung muốn bẻ mặt Hà Anh, để cho cô ta biết rằng Thọ đủ sức cưới một người hơn cô ta thập bội. Ngay trong ngày đám hỏi của Thọ, mấy lần Dung bắt gặp Hà Anh lén nhìn qua cửa sổ. Bao nhiêu đó cũng đủ cho nàng thỏa dạ lắm rồi.
Sáng sớm hôm nay, Thọ còn đang ngủ mơ màng thì Dung đã vào phòng đánh thức chàng dậy:
— Anh... Anh Ba!
Thọ trở mình mở mắt hỏi:
— Gì vậy Dung?
— Anh thức dậy đi. Em nói chuyện nầy cho anh nghe...
Giọng nói của Dung rất hí hởn, như có gì vui lắm. Thọ ngạc nhiên hỏi tiếp:
— Mà chuyện gi vậy?
Dung mở cửa sổ phòng anh rồi bảo Thọ:
— Anh ngồi dậy đi. Kìa, ngó xem.
Thọ chưa biết chuyện gì, nhưng cũng ngồi thẳng lên nhìn. Chàng thấy Hà Anh đang lui cui chất mấy thùng la-ve, nước cam lên, trông có vẻ mệt nhọc lắm.
Mấy tháng nay, chàng không có dịp nói chuyện với Hà Anh. Hễ ngó thấy chàng là nàng lẩn trốn ngay. Bởi vậy mà Thọ không bao giờ nhìn nàng được lâu.
Dung khẽ hỏi anh:
— Anh thấy gì lạ không?
Thọ lắc đầu:
— Hà Anh chớ ai mà lạ? Em thiệt! Muốn phá giấc ngủ của anh hả?
Dung chắc lưỡi ngồi xuống bên anh:
— Thì Hà Anh đó! Anh nhìn kỹ chưa?
— Em kỳ quá hà! Hà Anh thì anh còn lạ gì nữa mà phải nhìn kỹ. Muốn gạt anh hả? Để Mai qua đặng mét à?
Dung nói nhanh:
— Không phải vậy? Em muốn nói cho anh nghe chuyện nầy. Cả tháng nay họ đồn đãi dữ lắm.
— Chuyện gì?
Dung cất giọng nhỏ hơn:
— Hà Anh... có chửa hoang.
— Trời đất!
— Kìa thì anh ngó bộ điệu Hà Anh coi, có đúng như người ta nói không?
Thọ bất nhẫn lắm, nhưng cũng chăm chú nhìn Hà Anh. Nàng mập hơn trước và có vẻ mệt nhọc trong khi làm việc. Thế thôi! Nhìn thoáng qua làm sao hiểu được gì hơn. Thọ bảo em:
— Anh thấy cô ta cũng như thường! Miệng đời độc ác lắm em đừng nên tin.
Dung bĩu môi nói:
— Em chắc có thiệt quá anh! Ai chớ cô nầy dám lắm? Em gặp Năm Quýnh ở bên đó, ban đêm hoài hà!
Thọ cau mày bảo em:
— Dù gì Hà Anh cũng từng là bạn thân của em. Em chớ nên nói vậy.
— Con nhỏ đó không có tình nghĩa gì đâu anh. Em ân hận đã xử sự rất tốt với cô ta. Tàu mà anh không biết sao? Máu buôn bán của họ dữ lắm.
Thọ lắc đầu bảo em:
— Thôi Dung! Mình không chơi thân với Hà Anh nữa thì thôi, đừng nên xăm xoi chuyện riêng tư, cứ nhớ là mình đã từng thân thiết với cô ta!
Dung vẫn chăm chú nhìn Hà Anh. Đột nhiên cô gái Tàu quay vụt lại ngó nàng. Dung giựt mình cúi mặt, nhưng nàng cũng thoáng thấy Hà Anh nhếch miệng cười. Dung nhủ thầm:
— ‘‘Bộ mặt đó muốn làm quen lại mà. Khỏi đi…’’
Nhưng thật sự trong lòng Dung không hiểu vì sao mình ghét Hà Anh và tuyệt giao với cô ta? Chính Hà Ahh đã bảo nàng trong đêm hôm Thọ bị bắt: ‘‘ Nghe anh Thọ bị nạn tôi cũng buồn lắm đó Dung’’. Không căn cứ vào đâu cả, nhưng nàng lại cho là cô ta nói láo. Và người mà đã không thật rồi thì Dung ghét lắm!
Thọ đột nhiên thấy em nhìn xuống, liền hỏi:
— Gì vậy em?
Dung đáp nhỏ:
— Hà Anh... Cô ta ngó thấy mình rồi.
Thọ cười:
— Lảng chưa? Ai biểu dòm lén người ta chi, rồi mắc cở...
Dung đấm vào vai anh, bậm môi nói:
— Anh kỳ quá hà!
Rồi nàng lại ngẩng đầu lên, ngó qua cửa sổ. Bên kia, Hà Anh đã vào buồng thay áo ra khỏi nhà, đôi mắt ngó thẳng vô cửa sổ phòng Thọ.
Dung lại phải nhìn đi nơi khác. Nhưng nàng bỗng kêu lên:
— Anh Ba! Bộ Hà Anh muốn vô nhà kia! Đúng rồi...
Dung đứng lên, có vẻ lúng túng, khi nghe tiếng Hà Anh gọi:
— Dung ơi! Dung...
Đã mấy tháng qua rồi, hai người gần như không nói chuyện với nhau nữa. Đột nhiên, Hà Anh qua tìm, Dung không mất bỉnh tĩnh sao được? Nàng hỏi Thọ:
— Làm sao anh?
Thọ cũng đang ngạc nhiên trước thái độ của Hà Anh, nhưng cười đáp:
— Cô ta qua thăm, thì em phải tiếp chớ sao?
Dung ngập ngừng đáp:
— Em... không muốn tiếp.
Thọ lắc đầu nói:
— Xét cho cùng, Hà Anh chẳng lầm lỗi gì với mình. Tại em khe khắt thái quá!
— Em ‘‘ khe khắt’’ làm sao?
— Đúng ra cũng không phải khe khắt, nhưng em đã xem Hà Anh như em, ngược lại cô ta không đối xử được như thế, nên em phiền giận...
— Có lẽ vậy!
— Đó là tại tính người Dung à! Việc chi em phải để tâm cho buồn lòng nhau. Vả lại Hà Anh cũng có đến thăm lúc anh bị bắt mà. Ở trên đời đâu phải ai cũng giống ai? Mỗi người biểu lộ tình cảm một cách khác.
Dung vẫn không thôi giận hờn:
— Tại sao cô ta yêu thằng Năm Quýnh mà giấu mình?
Thọ vã nhẹ vào má em cười:
— Cô nầy lạ thật! Yêu đương là quyền của người ta, đâu cấm cản được.
— Dĩ nhiên như vậy rồi, nhưng sao lại làm bộ nói ‘‘ không yêu’’.
Dung trề môi thật dài khi nói ra hai tiếng đó. Thọ đáp:
— Mai kia.. em có yêu ai, mới hiểu tại sao phải giấu giếm chuyện riêng tư của mình.
Dung đứng lên, hất mặt về phía anh:
— Còn lâu!
Tiếng Hà Anh lại cất lên bên ngoài:
— Dung ơi! Dung...
Thọ rầy em:
— Sao không ra tiếp cổ đi?
Dung cúi mặt lắc đầu:
— Em không tiếp. Em đã nói với anh rồi mà.
Thọ đứng lên nói:
— Được rồi! Cô không tiếp thì tôi thay mặt cô.
Dung ngước lên toan cản anh thì Thọ đã ra khỏi phòng. Dung ngồi phịch xuống giường với vẻ bực tức. Trong khi đó, Thọ đã ra tới ngoài sân. Hà Anh ngó thấy chàng thì lúng túng cúi chào. Thọ làm ra vẻ tự nhiên hỏi:
— Hà Anh! Lâu quá mới được gặp cô. Mời cô vào.
Chàng mở cổng rào, Hà Anh có vẻ lưỡng lự rồi mạnh dạn bước vào trong sân. Nàng nhìn quanh, hỏi Thọ:
— Chị Dung đâu hả anh?
Thọ đành đáp:
— Chắc nó chạy đâu phía sau vườn.
Rồi chàng đưa Hà Anh vào phòng khách, mời ngồi ở ghế salon, nhưng nàng bẽn lẽn ngồi ở đi văn. Hà Anh hỏi Thọ:
— Chắc chị Dung... không muốn gặp mặt em nữa phải không anh?
Thọ lúng túng đáp:
— Đâu có. Em nó bận việc gì đằng sau đó mà.
— Không! Em biết... Bây giờ chị Dung khinh khi em lắm, thấy mặt cũng không muốn nhìn. Lúc nãy, em thấy chị ấy đứng ở cửa sổ phòng anh, em mới qua đó. Em muốn được nói chuyện với chị ấy, sợ rồi không còn gặp nhau được nữa.
Thọ hỏi nhanh:
— Sao vậy? Bộ Hà Anh tính đi xa hả?
Hà Anh cười đáp:
— Dạ... cũng không xa gì? Chắc em về chợ Vĩnh Long ở. Chừng đó cũng khó mà gặp nhau!
Thọ cũng nghe xốn xang trong dạ, mặc dù mấy tháng qua, chàng không còn nghĩ ngợi gì đến Hà Anh nữa. Chàng hỏi:
— Vậy là bên nhà dọn về chợ hết sao?
Hà Anh ấp úng:
— Dạ cũng còn đang tính! Riêng em thì đã chắc chắn rồi. Bởi vậy mà em muốn từ giã chị Dung lần chót. Chị ấy có ghét bỏ gì em, lúc xa rồi chắc cũng xí xóa cho nhau.
Dung ngồi ở trong phòng Thọ, nghe rõ từng lời nói của Hà Anh. Sự phiền giận trong lòng nàng tự dưng tiêu tán hết! Mấy năm trời sống bên nhau, nàng và Hà Anh đã tâm sự với nhau rất nhiều chỉ vì phiền giận một chút mà tuyệt giao. Bây giờ, Hà Anh sắp dọn về tỉnh rồi, có giận nhau cũng chẳng ích gì? Dung đứng lên toan bước ra ngoài thì chợt nghe Thọ nói:
— Để tôi gọi Dung nghen?
Tiếng Hà Anh cất lên:
— Thôi anh à! Em đành là không gặp Dung vậy. Chị ấy ‘‘hẹp hòi’’ quá, em còn gặp gỡ làm chi nữa. Có gặp chị ấy cũng chẳng nói được gì? Dung làm sao cảm thông được hoàn cảnh của em.
Thọ ngó Hà Anh chưa hiểu nàng muốn nói gì? Thiếu nữ liền tiếp:
— Vả lại... Em đến đây hôm nay, cốt ý nhờ Dung một chuyện, nhưng đã gặp anh rồi thì thôi.
Thọ hỏi:
— Vậy ra Hà Anh muốn gặp tôi? Có chuyện gì không?
Người thiếu nữ Trung Hoa ngó xuống đất, ngón chân cái dí dí xuống nền nhà không đáp. Thọ vẫn quan sát thái độ của cô ta, chưa hiểu được ý Hà Anh. Thiếu nữ khẽ thở dài, mỉm cười buồn bã:
— Bây giờ... Chuyện gì cũng trễ hết rồi phải không anh?
Thọ càng ngơ ngác hơn:
— Hà Anh muốn nói chi?
— Em nói... Em muốn nói việc gì cũng vậy... như tình bạn giữa em và Dung, có muốn nối lại cũng đã trễ lắm rồi! Dung đã nghĩ không phải về em quá nhiều. Em có nói sự thật, chưa chắc Dung đã tin.
Thọ nhìn Hà Anh thấy nàng rơm rớm nước mắt thì xúc động bồi hồi. Tại sao nàng lại khóc?
Luyền tiếc mối tình bè bạn với Dung ư? Chưa hẳn là như vậy! Chàng có cảm giác Hà Anh đã nói trớ đi, chớ không phải trong lòng đang nghĩ về Dung.
Thiếu nữ chợt lấy trong túi ra một chiếc hộp nhỏ để lên bàn. Thọ ngơ ngác nhìn nàng. Hà Anh ngập ngừng cất tiếng:
— Đây là... món quà mọn của em gởi mừng anh. Chắc đến đám cưới của anh, em sẽ không còn ở đây nữa! Lúc nẫy em định gởi cho chị Dung, nhờ chị trao lại cho anh, nhưng chị ấy đã không còn muốn gặp em nữa biết làm sao?
Thọ ái ngại bảo Hà Anh:
— Cô... thiệt! Cô bận lòng làm gì chuyện đó? Tôi vẫn chưa hiểu sao cô không muốn ở đây nữa?
Chưa bao giờ Thọ thấy mình lúng túng hơn. Chàng có cảm tưởng việc Hà Anh lên chợ, phần lớn có liên quan đến mình. Chàng muốn hiểu rõ tâm trạng của nàng nhưng chẳng biết phải làm sao?
Hà Anh nhìn chàng chớp lia đôi mắt rồi nói:
— Dạ... ý ba em muốn về chợ ở... cho mấy em nó đi học. Riêng em... Sao ở làng nầy bây giờ buồn quá anh à?
Thọ gượng cười:
— Sao mà buồn hả cô?
Hà Anh nhìn ra trước sân nhà Thọ. Mấy con chim bồ câu đang đủng đỉnh bước đi trong nắng. Một con chó sủa gâu gâu, đuổi bóng mình dưới sân làm bầy bồ câu hoảng sợ đập cánh bay lên.
Nàng thở dài bảo Thọ:
— Em cũng không hiểu tại sao mình buồn nữa? Ngày còn nhỏ ở giữa phố phường đông đúc, em lại thích cảnh yên lặng của đồng quê. Nhưng bây giờ...
Thọ cười tiếp lời nàng:
— Bây giờ cô lại muốn về thành.
Hà Anh lắc đầu đáp:
— Không! Về thành thị là ý của ba em. Còn em lại... muốn tới nơi nào yên tỉnh hơn nữa.
‘‘Tới nơi nào yên tỉnh hơn! Tới nơi nào yên tỉnh hơn!’’
Hà Anh thốt ra những tiếng sau cùng đó một cách chua xót lạ lùng. Thọ bàng hoàng, không thể đoán hiểu được lòng nàng. Chẳng phải vô cớ nàng tới đây, tìm thăm chàng rồi tặng quà cưới đâu? Chắc còn một lý do nào khác. Tuy nhiên, Thọ không biết mở lời ra sao để hỏi Hà Anh. Cô gái Trung Hoa bỗng thở dài nói:
— Ở làng nầy mới vài năm nhưng em đã xem như quê hương thứ hai của mình. Từ ngọn cây, đám cỏ, từ nhà chợ, mái đình, nơi nào cũng gợi cho em nhiều quyến luyến. Đến như Dung...
Hà Anh nghẹn ngào tiếp:
— Dù bây giờ, chắc Dung khinh khi em lắm...
Thọ lắc đầu chận lời nàng:
— Không đâu Hà Anh. Tại sao Dung lại khinh khi Hà Anh? Nó đâu có quyền đó...
Hà Anh mỉm cười đau đớn:
— Tự trong thâm tâm của Dung có sự khinh khi mà anh, cần gì phải có quyền hạn! Cả làng nầy, thiên hạ cũng đang khinh em lắm đó. Nhưng việc ấy cũng chẳng quan hệ gì! Em trở lại câu nói lúc nãy: đến như Dung, dù có khinh em đi nữa, em vẫn thương yêu. Đi xa là sẽ nhớ...
Dung nằm ở phòng bên, ràn rụa nước mắt. Nàng nghe rõ những lời chân thành của Hà Anh thì bao nhiêu sự phiền giận tiêu tan. Nàng chỉ muốn chạy sang để vả lả với Hà Anh rồi hai chị em sẽ chơi thân với nhau như trước. Dung đã dợm ngồi lên rồi lại nằm xuống thở dài. Những gì người ta đã nói về Hà Anh và Năm Quýnh như văng vẳng bên tai nàng! Chơi với Hà Anh trong tình bạn thân thiết như ngày xưa sợ không được nữa? Trước đây, một năm, nàng với Hà Anh như hai đóa hoa đồng nội vừa chớm nở khoe hương sắc. Sự trong trắng từ tâm hồn đến thể xác khiến hai người dễ cảm thông nhau, chớ như bây giờ cuộc đời của Hà Anh đã vẩn đục rồi, cảm nghĩ của hai người cũng sẽ khác xa... Hà Anh đã có nhiều mặc cảm trước mọi người, nụ cười, tiếng nói sẽ không còn hồn nhiên nữa. Chừng ấy những khác biệt cũng đủ hai người khó thể thân mật như xưa.
Riêng Thọ, chàng rất áy náy vì sự hiện diện của Hà Anh hôm nay nên vẫn để tâm đến từng cử chỉ lời nói của nàng. Thọ cất tiếng:
— Hà Anh về chợ nhớ cho địa chỉ tôi tới thăm nghen.
Hà Anh ngó chàng, đôi mắt thoáng nét vui mừng:
— Anh thăm em thiệt sao?
— Ủa! Tôi nói dối Hà Anh bao giờ?
Hà Anh cúi mặt, nước mắt muốn ứa ra, nhưng nàng vẫn cố dằn lòng! Còn gì nữa... ‘‘ Chuyện gì cũng đã trễ hết rồi!’’ Chính nàng đã thốt ra câu nói đó lúc nãy mà. Thọ đã làm lễ hỏi với Mai, hai người sắp thành vợ thành chồng! Còn nàng... Tự nhiên Hà Anh muốn khóc thét lên, muốn cào cấu một vật gì đó. Nước mắt tuông rơi lã chã trên má nàng tự lúc nào không hay. Thọ ngó thấy nàng khóc thì bàng hoàng hỏi:
— Hà Anh... Sao cô lại khóc?
Hà Anh quẹt nhanh nước mắt mỉm cười:
— Dạ... tự nhiên rồi khóc... Kỳ quá hả anh?
Thọ hỏi tiếp:
— Hà Anh có chuyện gì buồn lắm phải không? Có thể nói cho tôi nghe được chăng?
Hà Anh ngẫm nghĩ rồi đáp:
— Ở đời ai cũng có chuyện buồn, làm sao em khỏi được. Nhưng mà chuyện của em...
Nàng ngập ngừng rồi lắc đầu bảo Thọ:
— Ối thôi! Anh biết làm gì? Rồi đây thế nào anh cũng sẽ rõ.
— Hà Anh! Có quan trọng lắm không? Tôi có giúp đỡ gì được không?
Thọ vừa thốt ra những lời đó vừa nghĩ tới câu chuyện Dung đã nói lúc sáng: ‘‘ Người ta đồn Hà Anh có thai với Năm Quýnh’’. Hà Anh lắc đầu:
— Em đã nói với anh lúc nãy: ‘‘ Cái gì cũng trễ hết rồi!’’. Có nói ra anh cũng không thể giúp được gì hơn.
Rồi nàng đột ngột bảo Thọ:
— Em chỉ muốn hỏi anh một chuyện thôi. Anh trả lời em là đủ rồi.
Thọ nói mau:
— Cô cứ hỏi...
Hà Anh ngập ngừng hết mấy giây rồi cất tiếng:
— Anh sắp sửa thành hôn, mà hỏi anh câu nầy cũng hơi... quá đáng. Nhưng không hỏi thì em cứ thắc mắc mãi trong lòng. Có đến chết cũng không yên tâm được.
Thọ biết có điều quan trọng nên nghiêm chỉnh nói:
— Câu hỏi gì hệ trọng thế cô?
Hà Anh ngó thẳng vào đôi mắt chàng cất tiếng:
— Anh có khinh em không?
Thọ bàng hoàng, lắc đầu lia lịa:
— Không! Tại sao lại ‘‘khinh’’? Mà chuyện gì đáng khinh mới được chớ. Hết Dung rồi lại tới tôi, tại sao Hà Anh cứ bị ám ảnh bởi tiếng đó. Tôi quí mến Hà Anh lắm, từ hồi mới trở về tôi đã có cảm tình đặc biệt với Hà Anh. Sao lại sợ tôi khinh?... Khinh Hà Anh rồi ai lại khinh tôi?
Hà Anh mỉm cười sung sướng trước những câu nói chơn thành của Thọ. Nàng đứng lên nói:
— Bao nhiêu đó đủ rồi! Em biết là em không đến nỗi vô phúc. Thôi em về...
Thọ đứng lên chận nàng lại:
— Khoan đã Hà Anh! Cô làm tôi hoang mang quá. Tại sao hỏi tôi câu đó?
Hà Anh lại cười, nhưng nụ cười buồn thảm quá:
— Bởi vì em... chỉ lo sợ anh khinh thôi. Bây giờ rõ lại anh có cảm tình đặc biệt với em. Sao em lại không mừng rỡ được? Em cám ơn anh lắm!
Dứt lời nàng chạy tuông ra cửa. Thọ gọi vói theo:
— Hà Anh... Hà Anh.
Nhưng thiếu nữ làm như không nghe thấy tiếng gọi của chàng, lầm lủi bước. Thọ lắc đầu hoang mang.
Có tiếng Dung thốt lên sau lưng chàng:
— Thôi để người ta về anh.
Thọ quay vụt lại bảo Dung:
— Em có nghe hết những lời Hà Anh nói chớ?
Dung gật đầu:
— Dạ... Cũng tội nghiệp. Em ân hận đã phiền giận chị ấy quá lâu!
Thọ hỏi:
— Tại sao lúc nãy em không gặp Hà Anh, nếu đã tự thấy mình quá khắt khe?
Dung mân mê chiếc hộp Hà Anh mới tặng cho anh mình, khẽ cất tiếng:
— Rồi thì em sẽ gặp chị ấy! Lúc nãy nếu em bước ra thì hai đứa sẽ khóc mất. Em không muốn vậy? Và lại cũng khó mà tìm thấy những ngày vui đẹp như xưa.
Thọ lẩm bẩm:
— ‘‘Những ngày vui đẹp như xưa’’. Tại sao lại không tìm được?
Dung bảo anh ngay:
— Em chỉ nghĩ thế thôi! Cả em và chị Hà Anh cũng đều có mặc cảm trong lòng. Khó thể tìm thấy lại những nụ cười hồn nhiên nữa.
Thọ nhìn ra sân, cất giọng buồn buồn:
— Anh không hiểu gì, nhưng xem chừng Hà Anh vẫn quí mến em! Mà tại sao cô ấy cứ lo sợ người ta khinh mình
Dung chận lời anh:
— Về vụ Năm Quýnh đó! Em đã nói rồi, anh không nhớ sao? Chắc bây giờ không còn che giấu được nữa nên mới phải nói ra.
Thọ thở dài, trong lúc Dung mở chiếc hộp nhỏ ra xem: một con bướm bằng vàng có nhận kim cương ở hai mắt. Dung sửng sốt kêu lên:
— Trời ơi! Đây là vật lưu niệm của má chị ấy. Tại sao Hà Anh lại gửi tặng anh?
Thọ cầm lấy con bướm lên xem, trong lòng bồi hồi khó tả. Hai hạt kim cương lóng lánh chiếu sáng ngời. Thọ xúc động không vì Hà Anh dám tặng cho chàng một vật đắt tiền, mà đó là kỷ vật của mẹ nàng, người mà Hà Anh yêu quí nhứt trên đời.
Dung ngó anh nói:
— Anh Ba... Chị Hà Anh không bao giờ xa rời kỷ vật nầy. Có năm, túng thiếu quá sức, các em chị phải ăn cháo trừ cơm, nhưng Hà Anh vẫn nhứt định không cầm bán con bướm vàng nầy! Tại sao lại đem tặng anh mừng lễ cưới?
Thọ lặng thinh, buồn thương và chua xót. Thái độ của Hà Anh đã cho chàng thấy rõ nàng vẫn âm thầm yêu thương mình. Điều đó, chàng đã thấu hiểu, trong lần đầu tiên, lúc mới trở về nhà buổi sáng sau cơn mưa. Hai người chỉ nhìn nhau qua cửa sổ cũng đủ cảm thông biết bao nỗi niềm. Thọ lại tự trách mình: tại sao chàng không nói gì với Hà Anh hết, để đến đỗi có sự ngăn cách như ngày nay. Chàng sắp sửa là chồng của Mai rồi đó, còn Hà Anh đang mang nhiều tai tiếng trong làng. Bây giờ, cho dù có thương nàng, Thọ cũng không biết phải giúp đỡ ra làm sao?
Dung chợt bảo anh:
— Tại sao Hà Anh lại tặng anh con bướm nầy, em ngạc nhiên quá? Đã có lần đem khoe với em, Hà Anh còn bảo mẹ chị ấy chết đi chỉ còn kỷ vật nầy là quí giá thôi. Trong giờ hấp hối, bà ta đã trăn trối với Hà Anh: ‘‘ Mẹ không thể sống được đến ngày gả chồng cho con, thôi mẹ lưu lại vật nầy, để ngày sau khi có gia đình, con trao cho chồng con như là dấu tích của mẹ!’’
Thọ bàng hoàng ngó em:
— Dung! Hà Anh đã nói thế ư?
Dung gật đầu:
— Em còn nhớ rõ chị ấy đã khóc với em, khi thốt ra những lời đó.
Thọ lại mân mê con bướm vàng, nghĩ tới lời trăn trối của mẹ Hà Anh và thái độ của nàng. Bà ta chỉ muốn nàng trao kỷ vật cho chồng nàng, tại sao Hà Anh lại đưa cho mình, dù biết rõ mình sắp sửa thành hôn với Mai. Hà Anh rất sâu kín và tế nhị nên cử chỉ của nàng nhứt định đã có sự đắn đo suy nghĩ.
Dung vụt hỏi:
— Hà Anh bảo sẽ đi đâu hả anh?
— Về tỉnh... Ba nàng muốn trở lên chợ ở.
— Thế còn vụ Năm Quýnh?
— Đó là chuyện riêng tư của nàng, thôi đừng nói tới em. Anh vẫn chưa hiểu được lòng Hà Anh...
Dung ngó anh rồi đột ngột hỏi:
— Bây giờ, anh sắp sửa có vợ, chắc anh cũng không giấu em làm gì? Vậy em hỏi thật anh điều nầy: ‘‘trước kia anh có yêu chị Hà Anh chăng?’’
Thọ đáp:
— Em hỏi anh rồi mà Dung! Anh đã nói rõ lòng mình: ‘‘ Anh rất mến Hà Anh và nếu không có những sự không hay xảy ra, chắc là anh và nàng đã yêu nhau!’’ Em em là người không đồng ý cho anh yêu Hà Anh, sau lần anh bị bắt đó.
Dung lặng thinh cúi mặt. Chính nàng cũng phải hoang mang trước thái độ của Hà Anh. Xem như tuồng cô gái Trung Hoa vẫn yêu thương anh nàng và... đã xem Thọ như người yêu duy nhứt mới tặng kỷ vật của mẹ nàng. Tại sao vậy? Chẳng lẽ mình cũng hiểu lầm tình yêu của Hà Anh nữa sao? Nàng yêu Năm Quýnh hay yêu anh Thọ? Dung hoang mang quá! Nếu thật Hà Anh thương yêu anh nàng, tại sao lại thân mật với Năm Quýnh trong những ngày anh nàng bị bắt trong tay hắn? Mà đã yêu Năm Quýnh thì vì lẽ gì lại tặng con bướm vàng, vật lưu niệm hôn nhân, cho anh nàng?
Dung ngó Thọ nói:
— Hà Anh tặng anh vật nầy, không phải không có dụng ý đâu?
— Dụng ý gì?
— Nhứt định là Hà Anh muốn bày tỏ cho anh biết chị ấy vẫn yêu anh, dù hai người không hề thố lộ tâm tình và dù cho cuộc đời có chia cách thế nào đi nữa...
Thọ ngập ngừng nói:
— Anh cũng nghĩ vậy. Nhưng biết làm thế nào đây? Chính Hà Anh đã bảo anh lúc nãy: ‘‘ Bây giờ cái gì cũng đã trễ hết rồi!’’
Dung lo ngại hỏi:
— Hà Anh đã nói thế ư?
— Phải... Nàng lập đi lập lại rất nhiều lần, chính anh cũng không rõ dụng ý gì? Giờ đây nghe em nói chuyện con bướm vàng, anh mới hiểu rõ ra. Có lẽ nàng muốn nói là dù cho có tỏ tình với nhau cũng đã trễ hết.
Dung lo lắng nhìn anh rồi nói:
— Sao em sợ quá anh Ba à?
— Em sợ gì?
— Thái độ của Hà Anh làm cho em rất âu lo. Không biết chị ấy có dụng ý nào khác nữa chăng? Có thể... Hà Anh đến đây để giã biệt lần cuối cùng.
Thọ đáp:
— Đúng thế! Anh cũng nghĩ vậy. Nàng bảo về chợ lần nầy, chắc không bao giờ trở lại nữa.
Dung không nghĩ như anh. Tự nhiên nàng có điều linh cảm ghê gớm hơn. Nàng vừa đứng lên nói:
— Em phải gặp chị Hà Anh mới được.
Rồi nàng bước vội ra sân. Thọ theo em ra ngoài rồi hỏi:
— Em muốn gặp Hà Anh làm gì?
— Em cũng chưa hiểu nữa! Việc đầu tiên chắc là em phải xin lỗi chị ấy. Có lẽ em đã hiểu lầm tấm lòng của chị đối với anh...
Thọ chận lời em:
— Anh nghĩ em không nên nhắc lại chuyện đó! Hà Anh cũng biết ‘‘đã trễ hết rồi!’’
Dung quay đi, lẩm bẩm như nói với mình:
— Nhưng em... bắt buộc phải nói ra chớ không thì chẳng bao giờ em yên tâm được!
Dứt lời, Dung bước mau ra đường, thẳng đến nhà Hà Anh. Không phải lần đầu tiên, nàng qua nhà người thiếu nữ Trung Hoa đó, song tự nhiên Dung cảm thấy hồi hộp khác thường. Những lời Hà Anh đã nói với Thọ, khiến nàng lo sợ bâng quơ. Không biết Hà Anh sẽ lên chợ thật tình hay là đang toan tính gì khác?
Mấy đứa em của Hà Anh thấy Dung bước qua nhà thì kêu ầm lên:
— A Chế...
Có đứa chạy ùa vào buồng trong lôi Hà Anh ra. Hình như Hà Anh cũng không biết chuyện gì nên gây ầm lên bằng tiếng Tàu. Chừng bước ra ngoài ngó thấy Dung, Hà Anh tươi ngay nét mặt, kêu lên:
— Chị Dung...
Rồi nàng đến bên bạn nắm lấy hai tay, nói liền miệng:
— Trời ơi... Ai dè Dung qua đây! Hồi nãy mình kiếm Dung không gặp. Anh Thọ nói lại hả?
Dung lặng lẽ gật đâu, đôi mắt vẫn không rời khuôn mặt của Hà Anh. Chị em không chơi thân với nhau mới mấy tháng trời mà Hà Anh đổi khác rất nhiều: mắt quần thâm, da xanh tái. Chừng như Hà Anh đã nhiều lần khóc suốt đêm! Nghĩ tới đó Dung cảm thấy thương mến bạn vô cùng. Nàng nắm chặt lấy hai tay Hà Anh nói:
— Dung xin lỗi chị nghen. Dung... không...
Hà Anh mỉm cười lắc đầu:
— Bậy nà! Lỗi phải gì đâu? Nói có lỗi thì mình cũng có lỗi với Dung nhiều lắm. Mấy tháng nay, thiệt mình khổ quá Dung à? Nhiều lúc thấy Dung đứng trước sân, mình muốn qua thăm hay trò chuyện với Dung như xưa mà không dám. Mình sợ Dung mắng mình rồi mình tủi thân.
Dung khổ tâm nói:
— Em cũng không hiểu tại sao mình đi giận chị vô lý quá chị há. Lúc nãy chị qua bên nhà, em ở trong buồng chớ đâu? Em muốn chạy ra đón chị, nhưng chắc là chị em mình sẽ khóc ngất luôn.
Hà Anh gật đầu:
— Đúng rồi... Mình cũng nghĩ thế.
Rồi sực nhớ mình chưa mời Dung vào nhà, Hà Anh cười tiếp:
— Mình vô trong nầy đi chị.
Hai nàng đi thẳng vào buồng riêng của Hà Anh! Ban Phánh đang nằm ở võng vụt quay lại, ngó thấy Dung thì nhìn đi nơi khác. Đã gần hai năm trời quen biết với Hà Anh, chưa bao giờ Dung trò chuyện với Ban Phánh! Một vài lần chạm mặt ngoài đường, ông ta mới cười cười cất tiếng: ‘‘Chào cô!’’. Chỉ có thế thôi rồi đi luôn. Vì vậy mà Dung cũng quen tính ông ta, không khi nào nàng gọi chuyện gì khác. Có lần Hà Anh bảo nàng: ‘‘ Tính ba em vậy đó! Chị đừng chú ý gì cả. Ông sống ở đây, nhưng tâm hồn lại gởi về chốn xa xôi nào?
Lắm lúc, đối với em mà cả ba bốn ngày, ổng cũng không nói chuyện’’.
Dung liếc nhìn ông rồi nhủ thầm: ‘‘Có lẽ Ban Phánh cũng không hiểu tại sao mình và Hà Anh giận hờn nhau rồi lại quen thân với nhau? Ông ta không cần tìm hiểu tâm tình con gái!’’
Vào đến phòng trong. Hà Anh kéo tay Dung ngồi xuống bên giường rồi chăm chú ngó bạn, như để tìm xem có gì thay đổi trên gương mặt của Dung không? Thiếu nữ hơi ngượng, nhìn quanh rồi nói:
— Gian phòng nầy vẫn y nguyên như trước, chị không thay đổi gì cả?
Hà Anh gật đầu:
— Vẫn y như cũ, chỉ có chủ nó là thay đổi nhiều rồi.
Dung ngó Hà Anh, vừa muốn biết rõ tâm sự của bạn mà cũng vừa mong mỏi Hà Anh đừng nói ra lời. Hà Anh vả nhẹ vào má nàng:
— Chỉ có Dung là không hề thay đổi! Dung vẫn đẹp như trước.
Dung cười đáp:
— Em thì đẹp gì? Vô duyên thấy mồ.
— Ý! Ai nói kỳ vậy?
— Má em chớ ai? Bà rầy hoài hà chị ơi!
Hà Anh mỉm cười:
— Tại bác thương Dung rồi nói vậy chớ. Dung mà ‘‘ vô duyên’’ thì còn ai có duyên nữa.
Dung cười lớn lên. Nàng muốn tạo không khí tươi vui giữa hai người như ngày xưa, nhưng cả hai đều thấy gượng gạo làm sao! Có lẽ, tại họ còn quá nhiều chuyện trái ngang, chưa nói hết cho nhau nghe được.
Hà Anh thở dài nói:
— Năm bảy tháng trước, tụi mình sống vui quá hả Dung. Hà Anh chỉ ao ước trở lại như hồi ấy.
Dung ngập ngừng đáp:
— Có gì mà trở lại không được. Em vẫn mến thương chị. Bè bạn chơi với nhau làm gì không có lúc hiểu lầm nhau.
Hà Anh lắc đầu rơm rớm nước mắt:
— Nhưng... đời mình, Hà Anh kinh nghiệm thấy rằng chẳng bao giờ tìm lại được những ngày vui đã qua. Có lẽ ai ai cũng vậy hết Dung à.
Dung ngó bạn hỏi:
— Mà tại sao chị lại buồn? Có gì thay đổi đâu?
Hà Anh cười đau đớn:
— Nhiều lắm chớ Dung! Mới mấy tháng qua mà đời mình là cả một sự thay đổi lớn lao. Mình hết thiết gì nữa. Mọi chuyện đã trễ hết rồi.
Dung nhớ lại lúc nãy Hà Anh cũng đã bảo Thọ như thế. Có lẽ nàng muốn ám chỉ việc Thọ sắp sửa thành hôn với Mai. Vì vậy mà nàng có nói gì ra cũng trễ hết.
Dung ngập ngừng hỏi:
— Nghe anh Thọ nói Hà Anh sắp rời bỏ làng nầy để về chợ?
Hà Anh mơ màng cất tiếng:
— Đó là ý của ba em. Ổng muốn đưa mấy đứa nhỏ về chợ đi học cho tiện.
— Chớ chị dạy cho tụi nó như từ trước tới giờ không được sao?
Hà Anh cười:
— Tụi nó cũng lớn hết rồi. Phải vào trường học mới được. Mình thì chữ nghĩa có bao nhiêu đâu. Tụi nó phải có tương lai hơn mình chớ.
Dung ôm vai Hà Anh:
— Nhưng Hà Anh đi thì mình buồn lắm! Ở làng nầy...
Hà Anh nhìn bạn với đôi mắt trìu mến:
— Dung tưởng mình vui lắm sao? Mình khóc hoài đó. Dung còn có anh Thọ an ủi, dạy dỗ, còn mình trơ trọi, có ai đâu? Làm phải, làm quấy gì cũng một mình mình biết, một mình mình hay.
Dung lại gợi chuyện:
— Hồi nãy Hà Anh qua nhà để tặng quà cưới cho anh Thọ hả?
Hà Anh chậm rãi đáp:
— Mình sợ ra đi trước ngày thành hôn của anh ấy.
Rồi Hà Anh nói tiếp luôn:
— Cô Mai đẹp quá Dung hả? Hôm nọ cổ có qua nhà Dung, tôi mới thấy rõ đó. Chắc cũng hiền lắm.

Dung càng thấy tội nghiệp Hà Anh hơn. Nàng không thể nào lầm được mối tình của Hà Anh đối với anh mình.
Dung khẽ đáp:
— Dạ... Chỉ hiền lắm! Ở đời, ít ai biết trước được duyên nợ của mình.
Hà Anh ngó bạn hỏi nhanh:
— Dung muốn nói gì?
— Em định nói về chuyện chị Mai. Từ nhỏ tới lớn chị ấy chỉ yêu thương mỗi một mình anh Thọ, bây giờ mới được toại nguyện.
Hà Anh ngơ ngác hỏi:
— Vậy à! Hai người yêu thương nhau, lâu lắm rồi sao?
Giọng nói của Hà Anh lạc hẳn đi như người sắp chết đuối, đã kêu cứu hết hơi rồi. Dung cảm thông được ngay thái độ đó. Hà Anh đinh ninh có một thời gian Thọ cũng yêu mình, nhưng vì hoàn cảnh bắt buộc phải cưới Mai. Chớ thật sự trong thâm tâm Thọ vẫn yêu mình. Bây giờ, nếu rõ lại Mai và Thọ đã yêu nhau từ lâu lắm thì thật là một sự hy sinh vô nghĩa. Dung hiểu thế nên đáp lời bạn:
— Không! Anh Thọ có hay biết gì đâu mà yêu với thương. Anh ấy ở Sài gòn, thỉnh thoảng mới về đây! Chỉ có chị Mai âm thầm thương mến thôi.
Hà Anh mỉm cười, nụ cười rất buồn:
— Không gì sung sướng bằng ‘‘ âm thầm yêu người ta rồi có lúc được người yêu hiểu thấu lòng mình’’. Chị Mai có lẽ là người hạnh phúc nhứt trên đời.
Dung xúc động bồi hồi, chỉ muốn ôm chầm lấy Hà Anh và nói: ‘‘ Anh Thọ cũng yêu thương chị thật tình đó!’’ Nhưng nghĩ tới Năm Quýnh, tới thái độ của Hà Anh trong lúc anh mình bị bắt, nàng lại thôi. Chẳng lẽ trong cảnh ngang trái của Hà Anh, nàng còn trách cứ, đổ lỗi cho cô ta sao? Hà Anh bỗng nắm lấy bàn tay của Dung hỏi:
— Dung à... Bao giờ Dung lấy chồng?
Dung cười lắc đầu:
— Chắc còn lâu! Bao giờ chị...
— Mình ư? Sẽ không bao giờ!
— Tại sao?
Hà Anh cười thành tiếng:
— Mình thì... Còn ai thương nữa Dung?
Dung bóp mạnh bàn tay bạn, bùi ngùi trước những lời nói đó. Tại sao Hà Anh không chịu cởi mở nỗi đau khổ đang chất chứa trong lòng?
Hà Anh lại nói:
— Vả lại, mình cũng chẳng còn biết thương ai!
Dung đột ngột hỏi:
— Chị tặng đám cưới anh Thọ vật gì?
Hà Anh cúi xuống đáp:
— ‘‘ Con bướm vàng’’ ngày xưa!
— Tại sao vậy? Vật đó là lưu niệm của bác gái? Dung nhớ có lần chị bảo ‘‘ con bướm’’ quí lắm vì nó có liên quan đến lời trối trăn của bác! Chị quên sao?
Nước mắt tự nhiên tuông tràn xuống má Hà Anh. Nàng đáp:
— Quên thế nào được hả Dung? Lời nói của mẹ vẫn còn văng vẳng bên tai. Nhưng...
Hà Anh như nghẹn lời. Dung hỏi:
— Sao chị?
Người thiếu nữ Trung Hoa gục đầu xuống đáp:
— Hà Anh... sẽ không bao giờ có chồng thì còn biết trao cho ai nữa! Giữ làm gì ở bên mình chỉ thêm buồn.
Dung lại hỏi nàng:
— Hà Anh tặng cho anh Thọ vật lưu niệm có ý nghĩa gì không?
Hà Anh ngó bạn lắc đầu:
— Không... Không có ý nghĩa gì đâu? Mình không còn vật gì quí giá hơn ở trong đời. Chắc anh Thọ không chê mà. Hả Dung?
Dung ôm lấy vai bạn, xúc động không thốt được nên lời. Một lúc, nàng mới hỏi:
— Sao chị nói thế?
Hà Anh đau đớn nói:
— Mình khổ tâm quá Dung! Chỉ sợ không còn xứng đáng để tặng cho ai vật gì nữa hết.
— Sao chị bi quan như vậy?
— Mình xấu hổ quá, lắm lúc chẳng còn muốn nhìn mặt ai nữa hết.
Trong lúc vô tình Hà Anh đã thốt ra lời nói đó, nhưng Dung lại không thể mở miệng hỏi thêm. Đáng lý ra nàng hỏi Hà Anh: ‘‘ Chị đã làm gì mà phải xấu hổ?’’ vỏn vẹn chỉ có bấy nhiêu lời, nhưng sao mà khó khăn quá? Nàng nghe người ta đồn đãi nhiều về chuyện Hà Anh mang thai với Năm Quýnh, nhưng Dung lại không dám hỏi thẳng ra. Nàng sợ sự thật đáng buồn đó sẽ làm cho mình bớt yêu thương Hà Anh. Dung cũng không hiểu tại sao mình lại tự mâu thuẫn như vậy? Nàng muốn giúp Hà Anh trở lại cuộc sống bình thường mà vẫn sợ sự thật, không muốn biết tới những gì đã xảy ra cho Hà Anh.
Hà Anh khẽ hỏi:
— Dung à...
— Chi hả chị?
— Anh Thọ có nói gì mình không?
Dung thở dài nói:
— Anh Thọ đang thắc mắc vì thái độ của chị!
— Thắc mắc? Tại sao lại thắc mắc?
— Vì mình đã nói cho anh ấy biết ‘‘con bướm vàng’’ kia là vật lưu niệm của má chị để lại và dành riêng cho người nào sẽ cưới chị...
Hà Anh cúi mặt, sung sướng vô cùng. Thế là ý muốn của nàng đã được thực hiện. Nàng chỉ mong Thọ hiểu rõ lòng mình thôi, và đừng nghĩ lầm là nàng yêu thương Năm Quýnh... Bây giờ, nhờ Dung nói lại tức nhiên Thọ đã hiểu, nàng còn gì đáng buồn nữa đâu? Hà Anh tươi ngay nét mặt khiến Dung cũng phải hoang mang. Tự dưng, Hà Anh thay đổi lạ lùng: khi chợt buồn, lúc chợt vui...
Hà Anh nói:
— Dung uống gì nghen?
— Không chị à... Em mới uống bên nhà.
Hà Anh lắc đầu rồi chạy ra ngoài lấy nước ngọt, bỏ đá vào ly mời Dung uống. Nàng làm những cử chỉ đó, như để che giấu những sự lúng túng ngượng ngập trong lòng. Dung càng thấy ở Hà Anh, những điểm lạ lùng mà mình chưa hề nghĩ tới. Có tiếng cười hô hố ở ngoài sân, Hà Anh thay đổi sắc mặt. Dung khẽ hỏi:
— Gì vậy chị?
Hà Anh run tay, nhưng trấn tỉnh được ngay:
— Không có gì? Chị ngồi chơi nghen.
Rồi nàng bước ra cửa buồng. Dung lắng nghe chuyện gì bên ngoài. Có tiếng Năm Quýnh:
— Sao vậy? Không vô được à?
Tiếng Hà Anh cụt ngủng:
— Không!
Một lúc, Dung lại nghe tiếng Năm Quýnh hỏi:
— Ai ở trỏng?
— Khách.
— Khách nào?
Dung chợt thấy tấm màn lay động rồi Năm Quýnh ló đầu vào. Nàng cau mày đứng lên thì hắn đã cười nhăn nhở:
— Tưởng ai té ra cô Dung? Sao cô? Mạnh giỏi chớ.
Dung đã thù cái bản mặt của tên Năm Quýnh nầy từ hôm cho lính bao vây nhà nàng để bắt Thọ. Mấy lần đi chợ gặp hắn, nàng không thèm nhìn tới. Bây giờ, ở ngay phòng Hà Anh, hắn hỏi mình chẳng lẽ làm ngơ thì bỉ mặt bạn. Nàng nhìn thẳng vào đôi mắt hắn, cất giọng lạnh lùng:
— Tôi cũng thường.
Năm Quýnh đã bước vào phòng trong. Hà Anh theo sau, gương mặt lộ vẻ bực tức đến cực độ. Năm Quýnh làm ngơ, bắt chuyện khác hỏi Dung:
— Cậu Thọ thế nào? Nghe nói sắp sửa cưới con ông Hội hả cô? Chừng nào?
Dung không dè là hắn dám nhắc nhở tới Thọ, nhưng cũng buộc lòng phải đáp:
— Cũng gần rồi.
Năm Quýnh cười hềnh hệch:
— Nhớ biểu cậu Thọ mời tôi đó. Không nhờ tôi đời nào cậu ấy cưới được cô Mai?
Hà Anh chừng như không còn chịu đựng nổi cự nự Năm Quýnh:
— Kỳ quá. Biểu ở ngoài kia. Khách của người ta... Vô phép quá hà!
Dung sợ có chuyện không lành toan cản Hà Anh, nhưng nàng hết sức ngạc nhiên khi thấy Năm Quýnh vẫn cười, chớ không có vẻ gì bất mãn. Nàng không hiểu tại sao Năm Quýnh bảo nhờ hắn Thọ mới cưới được Mai, nên hỏi:
— Tại sao lại nhờ anh?
Năm Quýnh đáp:
— Thì...nhờ tôi...
Hà Anh la lớn lên:
— Thôi đi! Ra ngoài kia. Tôi không chịu được đâu.
Nàng ôm lấy mặt ào khóc. Dung sững sờ, còn Năm Quýnh nhăn mặt nói:
— Được rồi. Để tôi ra. Đụng mỗi chút mỗi khóc. Người gì mà mau nước mắt quá hà!
Rồi hắn đưa tay chào theo lối nhà binh:
— Chào cô Dung nghen. Nhớ biểu cậu Thọ mời tôi đó. Không thì tôi phá đám cho coi.
Hắn cười vang lên xô vẹt tấm màn bước ra ngoài. Hà Anh vẫn ôm mặt khóc. Dung xúc động bồi hồi trước tình cảnh của bạn.
Nàng ngồi xuống bên Hà Anh bảo nhỏ:
— Có gì đâu? Sao chị lại khóc?
Hà Anh càng khóc to hơn:
— Dung thứ lỗi cho tôi! Cảnh tôi bây giờ khốn nạn lắm...Tôi như con thú vật không bằng. Chẳng còn nhân phẩm, giá trị gì nữa hết.
Dung nắm chặt tay Hà Anh nói:
— Chị đừng buồn. Chẳng ai dám coi thường chị đâu.
Hà Anh ngước lên ngó Dung, nước mắt ràn rụa:
— Dung nói thật ư? Không! Dung đừng dối lòng. Chính hiện tại Dung cũng đang khinh khi mình lắm! Mấy tháng trước đây. Dung yêu thương mình, quí trọng mình chỉ vì mình giữ được tư cách, tuy mình nghèo nhưng chẳng có tiếng bỡn nhơ. Chớ bây giờ...
Hà Anh lại nghẹn ngào không thốt được nên lời. Dung ôm bạn trong vòng tay, nói miên man:
— Dung vẫn xem chị như lúc nào. Dung vẫn quí trọng chị như từ trước...
Hà Anh lắc đầu, bảo bạn:
— Đừng thương hại Hà Anh mà thốt ra những lời đó Dung? Hà Anh bây giờ không còn xứng đáng với tình thương của Dung nữa! Hà Anh hèn hạ, khốn nạn lắm...
Dung kêu lên:
— Kìa chị! Sao chị cứ tự làm khổ mình? Em bảo lúc nào cũng kính trọng chị mà.
Hà Anh gỡ tay Dung ra, đứng lên cười đau đớn:
— Kính trọng một đứa con gái hèn mạt như Hà Anh nầy ư? Cả làng họ đang phỉ nhổ vào mặt... Không mà... Hà Anh không muốn Dung phải dối lòng.
Dung cũng đứng lên quyết liệt nói:
— Em giận chị rồi đó! Sao cứ không tin lời mình. Chuyện đời tư của chị việc gì đến em, mà em lại có quyền khinh khi rẻ rung! Chị xử tốt với em, thương mến em bao nhiêu đó đủ rồi. Em không cần biết đến những chuyện khác, chị nghe ra chưa?
Hà Anh bàng hoàng ngó bạn. Nàng không dè Dung lại có thể thốt ra những lời đó. Nàng cầm lấy tay Dung ngập ngừng hỏi:
— Dung... Có thật như thế không? Dung vẫn thương mình như tự thuở nào? Trời ơi! Thật mình sung sướng quá. Mình biết nói lời gì để cám ơn Dung bây giờ.
Rồi Hà Anh gục đầu vào ngực Dung khóc nức nở. Dung cũng rơm rớm nước mắt, ôm lấy Hà Anh nói:
— Chị đừng buồn nữa! Chị nên tin ở em. Bao giờ em cũng thương yêu, quí trọng chị.
Hà Anh nín khóc, im lặng rất lâu. Nàng đột ngột buông Dung ra nói:
— Dung vẫn một lòng mến thương mình, nhưng mình tự xét thấy không còn có quyền nhận lấy tình thương đó.
Dung hoang mang ngó bạn:
— Chị nói gl lạ vậy?
Hà Anh nhìn vào vách lá, gương mặt đau khổ của nàng hiện lên trong tấm kiếng nhỏ. Nàng đáp lời Dung:
—Chính mình nhiều khi không còn nhận ra mình nữa đó Dung. Tâm hồn nhơ nhớp, thể xác bẩn thỉu, có đáng làm người nữa hay không?
Dung ôm lấy bạn nói:
— Đừng tự làm khổ mình nữa. Em hiểu cái cảnh của chị mà.
Hà Anh bước lùi trở lại:
— Dung nói sao? Dung hiểu hoàn cảnh của tôi?
— Phải.
Hà Anh lắc đầu đau đớn:
— Không! Làm sao Dung hiểu được? Tôi còn không biết tôi là ai nữa mà. Tôi đã làm gì? Trời ơi! Làm sao Dung biết được...
Dung chậm rãi nói:
— Dung biết! Dung biết hết... Chị đừng tưởng như thế là tuyệt vọng. Hãy nhìn thẳng tới tương lai mà đi.
Hà Anh ngó sửng vào đôi mắt Dung cười thành tiếng, những tiếng cười đau đớn xót xa:
— Dung ơi! Lời khuyên của Dung thành thật lắm, nhưng đã trở thành vô nghĩa đối với mình. Tương lai đâu nữa mà nhìn Dung?
Dung nghe bạn nói càng thêm thương. Nỗi tuyệt vọng của Hà Anh làm sao Dung không biết, nhưng nàng ngại ngùng không muốn hỏi tới. Chính Hà Anh cũng rất sợ bạn hỏi dò mình. Làm sao giải thích được tâm trạng của nàng trong lúc đó: đã yêu Thọ thật tình, sao còn chịu thất thân với Năm Quýnh. Nàng chịu lấy Năm Quýnh vì số nợ chồng chất của cha nàng đã mượn hắn để hút xách hay vì quá yêu Thọ mà muốn cứu chàng khỏi cảnh giam cầm? Hà Anh chưa bao giờ phân tách cho rõ tâm trạng của mình. Có thể là nàng đã nghĩ đến Thọ nhiều hơn. Nhưng nếu không có sự đồng ý, sự thúc đẩy của ông Ban Phánh cho xong việc nợ nần thì chưa chắc nàng đã lâm vào cảnh nầy!
Hà Anh vụt lau khô nước mắt bảo Dung:
— Kỳ quá I Dung qua chơi mà mình cứ nói chuyện buồn rồi khóc. Bậy thật...
Dung nhìn bạn với đôi mắt thiết tha:
— Có gì đâu mà chị ngại. Em chỉ mong mỏi chị em mình lại sống vui vẻ như ngày xưa.
Hà Anh thẫn thờ nói:
— Sợ khó lắm đó Dung... Vì mình...
Nàng ngập ngừng rồi tiếp:
— Mình đã nói cho Dung biết lúc nãy đó. Chắc cả gia đình về chợ rồi mình buộc lòng phải xa Dung mãi mãi!
Dung nói nhanh:
— Sao lại mãi mãi? Chị về chợ, cứ cho Dung địa chỉ, thế nào cũng có dịp Dung lên thăm mà...
Hà Anh ngó Dung gật đầu:
— Ờ há...Để rồi Hà Anh sẽ ghi địa chỉ lại cho Dung.
Có tiếng ông Ban Phánh gọi Hà Anh ở bên ngoài, Dung đứng lên từ giã bạn ra về. Tự nhiên nàng thấy gương mặt của Hà Anh mét xanh như người bệnh.
Nàng cố hỏi bạn:
— Chị thấy trong mình thế nào. Có bệnh hoạn gì chăng?
Hà Anh lắc đầu cười:
— Không đâu! Mình cũng như thường...
— Sao Hà Anh xanh quá vậy?
Hà Anh cười lớn hơn và đáp nửa chơi nửa thiệt:
— Tại mình rầu đó!
Và lúc đưa Dung ra khỏi cửa, Hà Anh còn nghiêm giọng bảo nàng:
— Dung nói giùm với anh Thọ là mình chúc anh được mãi mãi hạnh phúc. Và mình cám ơn Dung đã thấu hiểu được lòng mình.
Hà Anh dứt lời bước mau vào nhà. Dung đứng dừng lại hết mấy giây, băn khoăn về thái độ trang trọng của bạn. Tại sao lại nhờ mình cầu chúc cho Thọ. Tại sao lại cám ơn mình?
Đúng ra thì chuyện đó cũng hợp lẽ lắm, nhưng thái độ của Hà Anh mới đáng cho nàng thắc mắc. Hình như bạn nàng đang có sự gì bí ẩn chưa chịu nói ra!
ĐOẠN KẾT
Gia đình Ban Phánh rời khỏi làng Bình Hòa Phước được hơn hai tháng thì có tin đưa về làng khiến Dung và Thọ đều bàng hoàng ngơ ngẩn: Hà Anh tự tử chết! Tin đó do Năm Súng đi đò lên Vĩnh Long trở về cho biết và ai ai cũng đều bán tín bán nghi. Dung quá xúc động nên hỏi Năm Súng dồn dập:
— Sao chú Năm? Ai nói cho chú biết? Gia đình Ban Phánh hiện giờ ở đâu?
Năm Súng nhìn Thọ rồi trả lời Dung:
— Ở cầu Thiền Đức chớ đâu cô.
Thọ hỏi nhanh:
— Tại sao Hà Anh tự tử?
Năm Súng kể lể:
— Tôi không rõ rồi cậu. Hồi sáng nầy lên chợ gặp thím Sương, thím cho tôi hay tin đó.
Dung hỏi:
— Chú có qua thăm không?
— Dạ không! Tôi còn phải chèo đò về, đâu bỏ hành khách được...
Dung đứng lên bảo anh:
— Anh Ba! Em đi Vĩnh Long liền bây giờ mới được. Có lẽ nào chị Hà Anh lại tự tử?
Thọ cũng nói:
— Anh đi với em...
Dung nghĩ tới Mai. Còn đúng một tuần nữa là đám cưới của anh nàng. Để Thọ đi như thế cũng chẳng ích lợi gì mà nhiều khi còn làm cho sứt mẻ tình cảm giữa vợ chồng về sau.
Dung bảo anh:
— Thôi để em đi một mình!
— Tại sao vậy? Anh đi với em không được ư?
Dung không muốn nói rõ ý mình trước mặt Năm Súng nên bảo anh:
— Chiều nay, chị Mai qua đây để bàn tính chuyện gì đó, anh nên ở nhà gặp chị, chớ hai anh em mình đi hết rồi làm sao?
Thọ nghe Dung nói, đã hiểu rõ ý em! Chàng thở dài nhè nhẹ. Bây giờ, dù muốn dù không chàng cũng phải có trách nhiệm với cuộc đời của Mai. Chàng không thể tự mình làm điều gì gây nên sự đau khổ cho nàng. Tuy nhiên, đối với Hà Anh, lúc nào chàng cũng giữ tấm lòng quí mến như thuở ban đầu. Sự tế nhị trong cách đối xử của nàng càng khiến Thọ không quên được! Khi Hà Anh sắp rời bỏ làng nầy, có gởi tặng chàng con bướm vàng nhận kim cương, vật lưu niệm của mẹ nàng. Việc đó đủ chứng tỏ tình yêu của nàng đối với mình vẫn trọn vẹn! Thọ đoán lờ mờ như thế thôi, chớ chàng không dám tìm hiểu tại sao Hà Anh đã yêu mình mà lại lấy Năm Quýnh? Vả lại chàng đã bị ràng buộc với Mai vì ơn nghĩa. Dung cũng đã nói: ‘‘ Anh biết rõ thêm chỉ khổ lòng thôi! Nhiều khi lại gây khổ cho chị Mai!’’ Do đó mà chàng đành làm ra kẻ vô tình.
Ngày gia đình Hà Anh dọn xuống đò lên tỉnh, chàng đứng trước sân nhà nhìn đám em của Hà Anh tíu tít cười đùa khi khuân vác đồ đạc. Chàng cố ý muốn gặp Hà Anh lần cuối cùng nhưng không thấy nàng đâu cả. Đến khi đò tách bến, Dung mới bảo chàng:
— ‘‘Chị Hà Anh đã đi chuyến đò hồi khuya, lên trên dọn nhà trước...’’
Chàng những tưởng Hà Anh đi xa rồi là chôn giấu được dĩ vãng buồn thảm của mình, nào ngờ...
Thọ vụt bảo em:
— Hà Anh là bạn của mình. Nghe tin nàng mất, anh không thể ở nhà được đâu Dung. Cái chết của nàng đột ngột quá.
Dung vẫn cương quyết:
— Tin chú Năm về cho mình hay chắc đã trễ mấy hôm. Nếu chị Hà Anh có chết thì cũng đã chôn cất rồi. Anh lên đó chẳng ích gì?
Thọ nghẹn ngào nói:
— Hà Anh xử với anh tốt quá! Chẳng lẽ anh không đến viếng mộ nàng sao? Dù gì anh cũng không thể làm ra kẻ vô tình mãi được.
Dung biết mình khó thể ngăn anh nên lặng thinh. Năm Súng chợt nói:
— Hồi sáng tôi có gặp Năm Quýnh ở trên chợ nữa. Coi bộ khổ lắm. Thằng Thình nói mấy lúc sau nầy Năm Quýnh uống rượu dữ lắm, say li bì tối ngày. Mấy lần xếp bót tức giận la hét om sòm.
Thọ nhớ tới Thình, người bạn thời tuổi nhỏ của mình, đã vì mình mà bị giam giữ mấy hôm. Từ ngày thoát nạn tới giờ, chàng không được gặp mặt Thình. Hôm đám hỏi của chàng và Mai, Thọ có nhờ Năm Súng mời Thình, nhưng gặp lúc Xếp bót không cho lính ra ngoài, Thình không tới được!
Dung bảo Năm Súng:
— Bây giờ chú Năm đi với anh em cháu nghen...
Năm Súng ngó ra ngoài trời rồi bảo Dung:
— Xế bóng rồi cô! Đi lên chợ sợ về không kịp tối. Hay là để sáng mai mình đi, đã tiện cho tôi mà cô khỏi phải ở chợ đêm nay...
Thọ ngó em như dò ý. Dung rất nóng lòng muốn biết rõ tin Hà Anh nên bảo Năm Súng:
— Thôi được chú Năm, không sao đâu? Tụi cháu lên chợ thiếu gì nhà quen. Nếu không có gì thì trưa mai về đò của chú.
Năm Súng ngơ ngác:
— Cô định đi bây giờ sao? Đi bằng gì?
Dung đáp:
— Tụi cháu ra cầu Bắc, mướn xuồng qua sông! Ở bển có xe lôi lên xuống cầu Thiền Đức mà.
Năm Súng gật đầu:
— Cô tính đi vậy cũng được! Thôi nên đi liền, chớ để tối. Tại sáng sớm phải chở hàng cho người ta không thể hẹn lần lữa được, chớ không thì tôi đi với cô và cậu Thọ. Tội nghiệp con nhỏ, chết yểu quá...
Rồi không chào ai ông bước thẳng ra đường cái, chân đi xiêu vẹo, có lẽ ngồi lâu bị vọp bẻ. Dung vào phòng riêng thay áo rồi nói vọng ra:
— Anh thay đồ đi chớ!
Thọ hỏi:
— Không xin phép má hả Dung?
Dung trở ra lắc đầu:
— Má đi ngoài vàm chưa về. Đợi má để tối à? Nói với chị Năm nhờ thưa lại cũng được. Cùng quá là bả chửi một trận.
Thấy Thọ có vẻ lưỡng lự, Dung cầm nón lá lên bảo anh:
— Vậy thì anh ở nhà, em đi một mình!
Thọ kêu lên:
— Dung... Sao không chờ anh? Cô nầy thiệt...
Thọ thay đồ trở ra thì Dung nói:
— Tự dưng em cảm thấy anh em mình có trách nhiệm trong cái chết của Hà Anh. Nếu em cố cầm chị ấy ở lại Binh Hòa Phước nầy, chắc không bao giờ chị ấy tự tử.
Thọ đi luôn ra sân rồi hỏi:
— Sao em dám chắc như thế?
Dung ngó qua bên kia đường. Ngôi nhà của Hà Anh vẫn còn đó, nhưng đã đổi chủ. Người ta ngăn ra làm ba căn mỗi căn một chủ. Họ mở tiệm hớt tóc, tiệm may và chỗ bán nước đá.
Người mua lại ngôi nhà đó vẫn tiếp tục nghề bán nước đá mà Hà Anh đã làm suốt mấy năm, lấy lời để nuôi em... Nhưng xem chừng họ không có khách! Thọ thấy em lặng thinh liền hỏi tiếp:
— Dung! Sao em dám chắc, nếu còn ở làng mình, Hà Anh không tự tử?
Dung không nhìn anh mà đáp:
— Vì ở đây Hà Anh có bạn! Có nghĩ suy gì chị ấy cũng nói cho em biết.
Thọ không chắc được điều đó, nhưng không cãi với em. Chàng lẳng lặng ra sau hè gọi chị Năm ở gần:
— Chị Năm ơi!
Thiếu phụ nách con chạy sang hơ hãi:
— Gì vậy cậu? Bộ cô cậu đi đâu đó hả?
— Tôi với Dung đi Vĩnh Long, sáng mới về. Lát nữa chị nói giùm với má tôi...
— Đi đâu vậy? Bộ có chuyện gì hả?
Dung không muốn chị ta hỏi lôi thôi nên nói:
— Ờ! Tụi tui đi đám ma một người bạn. Nói với má tôi giùm nghen chị Năm.
Dung bước ra khỏi cổng rào, Thọ theo sau. Hai anh em đi trở qua Cầu Mương để thẳng lộ ra bến Bắc, chẳng ai nói với ai một lời nào nữa. Dung đi trước, Thọ theo sau, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng tư.
Ánh nắng xuyên qua kẽ lá lung linh trải trên mặt đường như những hạt kim cương lóng lánh. Bầy sáo sành đậu ở cành cây trước mặt vọt bay cao, một con chìa vôi đang hót gió, nghe cô độc lẻ loi. Tự nhiên Thọ cảm thấy chán nản vô cùng. Mới hồi sáng, đọc thư anh, chàng hay tin mấy người bạn của mình đã dự trong đám táng Trần văn Ơn đều bị bắt. Những bạn đó có lẽ đang bị tra tấn như chàng đã bị Năm Quýnh hành hạ đêm nào? Họ đau đớn về thể xác, nhưng tinh thần được thoải mái vì dù sao cũng nói lên được tiếng nói bất khuất của học sinh trước sự đàn áp của thực dân.
Họ hãnh diện đã làm tròn trách nhiệm chớ không như chàng cũng bị khảo tra đánh đập, nhưng vì một lý do không mấy tốt đẹp!
Thọ thở dài buồn bã.
Ban Phánh thấy Thọ và Dung bước vào nhà thì đứng thẳng dậy, hai tay run run chỉ bàn thờ của Hà Anh khói hương bay nghi ngút. Đám em của Hà Anh, từ nhà sau cũng chạy ra, nắm tay nhau đứng ngó hai người khách quen thuộc.
Dung đến bên Ban Phánh ngập ngừng hỏi:
— Thưa bác... Sao mà chị ra đến nỗi?
Ban Phánh không nói tiếng Việt được nhiều và cũng không chắc đã thấu hết câu hỏi của Dung, nhưng đoán chừng là khách đề cập đến cái chết của con gái mình. Ông ràn rụa nước mắt nói:
— Chết! Nó chết rồi...
Rồi ông khóc ào lên như một đứa trẻ. Đám em của Hà Anh cũng khóc theo. Thọ không nói một lời bước đến bên bàn thờ đốt mấy nén hương. Trong tấm ảnh lưu lại, Hà Anh vẫn giữ nụ cười hồn nhiên như tự thuở nào! Dung biết mình không thể hỏi Ban Phánh được gì hơn, nên quay sang đứa em lớn nhứt của Hà Anh. Nó bậm trợn và gan lì nhứt bọn. Nàng thấy nó không khóc, đôi mắt cứ lườm lườm nhìn cha nó.
Dung ngồi sát xuống bên nó hỏi:
— A Xây... Chị hai làm sao vậy?
A Xây ngó nàng đáp gọn:
— Uống thuốc ngủ!
— Tại sao?
A Xây quay mặt đi vào buồng trong, như có ý bảo nàng theo mình. Dung liếc nhìn anh thấy Thọ đang đứng tưởng niệm người khuất mặt trước bàn thờ thì lẳng lặng theo sau A Xây. Mấy đứa em của nó cũng theo vào. A Xây quay lại nói với chúng một hơi dài, tự nhiên đám trẻ tản mát hết. Dung biết là A Xây muốn nói với mình chuyện gì đó, nên đến sát bên nó chờ đợi. Cậu bé ngồi xuống bộ ván ngựa, nói như người lớn:
— Trước khi chết, chị ấy khóc nhiều lắm! Chị dặn em coi chừng mấy đứa nó...
Dung hỏi nhanh:
— Vậy là em biết Hà Anh sắp tự tử?
A Xây lắc đầu:
— Không biết đâu! Chị ấy bảo là đi làm ăn xa. Ai dè lại đi chết?
A Xây nghẹn ngào ngó xuống. Dung hỏi:
— Em biết tại sao Hà Anh tự tử không?
A Xây ngó vào đôi mắt của Dung nói:
— Chị ấy chửa hoang với thằng Năm Quýnh.
— Sao em biết?
— Nó tới đây khóc chị ấy rồi nói với em như thế. Nó đưa tiền chôn cất chị Hai.
Dung cũng ngầm đoán ra điều đó, nhưng không muốn nó là sự thật. Nàng vẫn mong mỏi Hà Anh chết vì một lý do nào khác thôi!
A Xây nói tiếp:
— Bỏ làng Bình Hòa Phước, chị ấy muốn về đây để lánh mọi người, nhưng không hiểu sao, rồi chị ấy cũng vẫn buồn?
Dung hỏi nhỏ:
— Chôn chị ấy ở đâu?
— Bên kia nghĩa địa! Chị có qua đó không? Em dẫn đi...
Dung gật đầu:
— Đi chớ... Chị muốn hỏi em điều nầy: Hà Anh có nhắc đến chị không?
A Xây gật đầu:
— Nhắc thường lắm! Chị ấy bảo trên đời nầy, chỉ có mình chị là thương chị ấy thôi...
Dung xúc động bồi hồi trước những lời chân thành của người khuất mặt. Một lúc nàng hỏi A Xây:
— Chị Hai mất rồi... Ở nhà làm sao sống?
A Xây đáp:
— Ba vừa bán đất. Chắc ăn được ít lâu. Còn sau nầy, chẳng biết làm sao nữa...
Rồi nó hạ thấp giọng nói:
— Ba hút trở lại rồi. Bàn đèn để trong buồng. Ba nói chị Hà Anh chết ba buồn lắm. Phải cho ba hút, không thì ba cũng chết theo chị ấy!
Dung thở dài nghĩ đến tương lai đen tối của đám em Hà Anh mà phát rùn mình. Hà Anh còn tất cả năm đứa em trai. Đứa nhỏ hết chỉ mới có sáu tuổi. Ban Phánh ôm lấy bàn đèn rồi thì cuộc đời của chúng sẽ đi lần đến chỗ đau thương...
Nàng hỏi A Xây:
— Em có tính cách gì nuôi các em không?
A Xây gật đầu:
— Có chớ... Em đi làm ‘‘phổ ky’’ lấy tiền cho tụi nó ăn bánh.
Dung lắc đầu:
— Em đừng tính vậy không nên. Em còn đi học mà...
— Chị chết rồi tiền đâu mà học. Ba biểu tháng tới ở nhà luôn.
Dung lắc đầu nói:
— Bây giờ em còn nhỏ quá đâu có thể nuôi các em được. Phải ráng học để sau nầy có vốn văn hóa, làm những nghề khá hơn mới có tiền.
A Xây đáp:
— Chị Hà Anh cũng thường bảo em như thế, nhưng mà lấy tiền đâu đi học hả chị?
Dung ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
— Để chị liệu cho em!
Có tiếng Thọ gọi bên ngoài, Dung ngưng ngang câu chuyện, toan bước trở ra. A Xây vụt nắm lấy tay nàng:
— Khoan chị.
Dung quay lại trong lúc A Xây leo lên bộ ván, mở chiếc rương, lục soạn đồ đạc. Một lúc nó cầm một phong thư dán kín đưa cho Dung:
— Trước khi chết chị Hai có nhờ em giữ bức thư nầy đưa lại cho anh gì đó? À... Anh Thọ.
Dung ngơ ngác cầm lấy phong thư. A Xây tiếp:
— Chị ấy nói quan trọng lắm. Chị bảo em chỉ có quyền đưa cho hai người thôi; không đưa anh Thọ được thì đưa cho chị.
Dung gật gật đầu, rồi cầm phong thư trở ra nhà ngoài.
Thọ đang đứng đợi, thấy em trở ra liền hỏi:
— Em không thắp nhang trên bàn Hà Anh à? Có biết rõ vì sao nàng tự tử chưa?
Hà Anh gật đầu rồi đến bên bàn, thắp ba nén hương, lâm râm khấn nguyện. Nàng muốn bạn hiểu thấu lòng thành của mình khi tới đây.
Xong xuôi, Dung mới bảo Thọ:
— Chúng mình đi qua viếng mộ Hà Anh nghen.
Thọ gật đầu, đôi mắt chăm chú nhìn vào tay em. Dung trao cho anh phong thư rồi nói:
— Của Hà Anh để lại đó.
Thọ run tay cầm lấy di vật của người đã khuất.
Dung đến bên Ban Phánh từ giã:
— Thưa bác... cháu về...
Ban Phánh chấp tay xá lại nàng, ngập ngừng một vài tiếng Việt:
— Không dám, không dám. Cám ơn cô!
Thọ vẫn nắm chặt bức thư của Hà Anh trong tay, cúi đầu chào Ban Phánh. Tự nhiên, chàng nhớ lại hình ảnh của ông ta, đêm nào ngồi khảy đàn ở trước sân nhà, lúc chàng từ Sài gòn mới trở về. Bóng tối mờ mờ, con đường đất khô trắng chạy dài qua xóm chợ tiêu điều. Các hàng quán hé cửa bán vớt vát trong buổi hoàng hôn, tranh tối tranh sáng. Tiếng đàn đãn của Ban Phánh càng gây thêm nỗi quạnh hiu của bến chợ thời binh biến. Không đầy một năm mà bao nhiêu chuyện dồn dập xảy ra... Hà Anh đã đi vào thiên cổ một cách vội vàng và gần như vô nghĩa lý. Tại sao nàng lại chết? Dung chưa nói rõ ràng, nhưng cũng như lúc ở nhà hai anh em đã dự đoán về cái chết của Hà Anh: Nàng không muốn sống với cái hoang thai của kẻ tàn bạo... A Xây đội nón lên, nói với Ban Phánh một tràng tiếng Tàu mà Dung độ chừng nó cho biết sẽ đưa hai anh em nàng sang viếng mộ Hà Anh.
Ban Phánh không nhìn nó mà chỉ gật đầu. A Xây ra cửa, Thọ và Dung theo sau. Cả ba mướn một chiếc xe lôi đi đến nghĩa trang. Thọ lên xe ngồi yên bất động, bàn tay vẫn nắm chặt bức thư. Chàng cũng muốn biết Hà Anh viết cho mình những gì, nhưng rồi lại không muốn xem nữa? Đọc làm chi những lời chua xót của nàng. Dù gì đi nữa, Hà Anh cũng đã chết thật rồi! Có yêu nàng, có thương tiếc nàng cũng không thể vượt qua bức ‘‘vạn lý thành, tự ngàn xưa chia hai cõi tử sinh’’!
Dung thấy anh vẫn ngồi yên trên xe không động đậy mà cũng không nói một lời thì khẽ gọi:
— Anh Ba...
Thọ ngước lên nhìn em:
— Gì Dung?
Dung nắm tay anh, ngập ngừng:
— Sao anh không đọc thư chị ấy?
Thọ đưa bức thư cho em rồi cất tiếng:
— Đọc làm gì?
— Sao vậy?
— Hà Anh đã chết rồi!
Mấy tiếng đó cũng đủ làm cho Dung hiểu rõ tâm trạng của anh. Bây giờ, anh em nàng có hối tiếc gì cũng vô ích thôi vì Hà Anh đã về với lòng đất. Bao nỗi đắng cay tủi nhục của nàng cũng đã xóa bỏ từ khi hơi thở ngừng lại ở buồng hơi. Nàng chết đi là dứt khoát tất cả. Tuy nhiên, Dung cũng mở lấy phong thư. Xe lôi chạy đều đều trên lộ đá, gió lất phất thổi vào mặt nàng làm mái tóc tung bay. Dung chăm chú nhìn vào bức thư cố gắng đọc từng hàng chữ một. Nước mắt rưng rưng tự lúc nào làm tan nhòe đi những nét chữ. Thọ im lặng ngó em không động đậy. A Xây ngồi bên cạnh chàng, nhìn hai bên đường, vẻ mặt lạnh lùng buồn thảm.
Dung khẽ bảo ảnh:
— Anh nên đọc bức thư nầy!
Thọ thở ra:
— Phải chăng là những lời vĩnh biệt của Hà Anh?
Dung xếp thư lại bỏ vào bao rồi dúi vào tay anh:
— Những lời chân thành của một người đã hết dạ yêu anh! Yêu cho đến lúc chết …
Xe lôi đã vào cửa nghĩa trang rồi ngừng lại. A Xây nhảy xuống đất đứng chờ. Thọ nhét bức thư vào túi quần thẫn thờ xuống xe. Chưa bao giờ chàng thấy buồn nản hơn. Cuộc sống trở nên vô vị quá chừng. Hình ảnh của Mai cũng xa vắng nốt. Thọ chợt thấy rõ hơn bao giờ hết: Mình chưa hề yêu Mai! Chàng chỉ mến nàng: mến sự trẻ trung và gần gũi, mến hình ảnh của tuổi thơ, của những khung trời dĩ vãng, trong đó có mình và có Mai. Nhưng chàng không yêu Mai! Tại sao, chàng cũng không hiểu nữa? Có lẽ tại vì chàng đã nhìn thấy đôi mắt của Hà Anh e ấp nhìn mình qua khung cửa sổ sơn màu xanh tối, trong một buổi sáng nào đó sau cơn mưa. Đôi mắt đã khiến chàng không thể nào quên được Hà Anh, dù nàng đã thất thân với Năm Quýnh và ngay bây giờ đang nằm sâu dưới lòng đất!
Đến trước mộ Hà Anh, Thọ ngồi thụp xuống, nhìn đống đất vừa mới đắp, hơi nhang như còn luyến lưu hoa cỏ...
Dung cũng ngồi xuống bên anh. Nàng hối tiếc đã không mua nhang và giấy vàng bạc tới đây để đốt cho bạn. Thọ không nói một lời vì đối với chàng chuyện đó càng thêm vô nghĩa. Chàng đến đây với Hà Anh là đủ lắm rồi. Bên kia đời có lẽ nàng cũng đã vừa lòng. A Xây lẩn quẩn bên mộ của Hà Anh lấy đất lấp kín những lỗ thủng mà mấy người cuốc đất đắp mộ đã không chú ý. Thọ biết nó yêu thương chị nhiều lắm! Tự nhiên, chàng thấy mình có bổn phận với những đứa em khờ dại của Hà Anh.
Chàng ngó Dung rồi nói:
— Chắc anh không thể bỏ rơi gia đình Hà Anh.
Dung ngơ ngác:
— Nghĩa là thể nào?
Thọ ngó về phía A Xây hình dung, đến những cậu học sinh Trung Hoa mặc đồng phục, thường qua lại trên các vỉa hè Chợ Lớn. Chàng nói:
— Anh muốn giúp A Xây đi học.
Dung ngó về phía thằng bé, gật đầu:
— Em cũng thoáng có ý nghĩ đó, nhưng còn ngại một điều...
Thọ cau mày hỏi:
— Điều gì hả em?
Dung lặng thinh một lúc mới đáp:
— Chị Mai...
Mặt trời đã xuống thấp, những hàng cây trong nghĩa trang ngã bóng dài lên đám mộ. Gió chiều thổi đìu hiu. Thọ nằm xuống bãi cỏ...
Dung quay lại nhìn anh. Thọ nhắm nghiền đôi mắt, gương mặt hằn lên nét khổ đau. Nàng nghĩ tới cuộc hôn nhơn giữa anh và Mai. Có thể vì cái chết đau đớn của Hà Anh mà chậm trễ đi chăng?
Thọ vụt mở mắt ra hỏi:
— Em sợ Mai sẽ không bằng lòng cho anh nuôi A Xây ăn học ư?
Dung lắc đầu nói:
— Bình thường người con gái vẫn hay ích kỷ trên phương diện đó! Riêng chị Mai không biết sao?
Thọ lặng thinh thở dài. Một lúc, chàng mới nói:
— Tại sao anh nhận lời cưới Mai dễ dàng quá? Anh biết Hà Anh yêu mình cũng như mình rất mến Hà Anh, nhưng không hiểu sao chẳng thốt được nên lời?
Dung trố mắt nhìn anh nói:
— Trong bức thư kia, Hà Anh cũng có viết một đoạn tương tợ như thế!
Thọ ngồi lên, ngó ngôi mộ của Hà Anh, đau lòng quá! Bây giờ nằm dưới đó, còn biết gì là buồn giận, yêu thương. Liệu chàng đang ngồi đây, Hà Anh có cảm thông được nỗi lòng chăng? Thọ nghĩ đến bức thư của nàng, thò tay vào túi cầm lên. Lần nầy là lần thứ hai, Hà Anh viết thư cho chàng mà cũng là lần cuối cùng. Lần trước, lúc chàng vừa bị bắt thả ra, chính A Xây kia đã mang thơ tới. Hà Anh vui mừng vì chàng trở về bình yên và chúc chàng mau bình phục. Còn lần nầy... Những ý nghĩ của nàng đang hiện lên trong đầu Thọ mà nàng đã trở thành người thiên cổ:
Vĩnh Long, ngày.... tháng.... năm....
Anh Thọ,
Ngồi một mình trong đêm khuya, trước bàn viết, chẳng còn sợ bất cứ một sự ràng buộc, một thứ dư luận nào, tôi mới có đủ can đảm viết cho anh mấy chữ này: Tôi yêu anh!
Tôi không còn biết sợ ai cười chê tôi hết, kể cả anh nữa vì mai kia tôi còn đâu nữa để anh cười,
Tôi không phải là đứa con gái ủy mị anh Thọ à, nhưng sao đêm nay tôi lại muốn khóc quá? Ừ, mà tôi khóc đây! Nước mắt thường vẫn làm cho người ta nhẹ bớt đau khổ! Người Tàu cũng hay nói thế... Nhưng, đối với tôi thật chẳng ăn thua gì? Có lẽ tại cái chuyện buồn của mình nó lớn quá chăng? Mà thôi. Không cần thiết phải nhắc lại làm gì phải không anh vì tôi có linh cảm từ lúc mới gặp nhau lần đâu, anh cũng đã yêu tôi. Thế tại làm sao mình không nói với nhau được hả anh? Tại hoàn cảnh chăng? Tôi nghĩ có thể như thế. Trước ngày anh bị bắt, tôi tin tưởng thế nào hai đứa cũng nói chuyện tình yêu với nhau, nhưng không hiểu sao cứ lần lữa mãi...
Anh còn nhớ không? Buổi chiều tà trên bến sông, tôi ngồi câu cá rồi anh đến hỏi chuyện tôi. Có cả thằng cha gì nữa gọi tôi là ‘‘ con xẩm nầy’’ ‘‘ con xẩm nọ”. Thấy anh tức giận trước lời nói đó, tôi càng yêu thương kính trọng anh hơn. Thế rồi anh bị bắt và được thả ra! Tôi mừng nhưng tôi buồn hết sức vì anh ơi, tôi biết mình đã ra khỏi tầm mắt của anh rồi...
Tại sao anh đồng ý cưới chị Mai quá vội vàng? Tại sao anh không còn nhìn tôi với đôi mắt yêu thương buổi trước?
Từ chỗ buồn lòng, tội đi đến chỗ vụng dại... Rồi... rồi...
Thôi không nhắc nữa. Có lẽ tại mình không có số yêu nhau! Bây giờ thì thật hết. Mai kia, tôi sẽ yên nghĩ dưới nấm mồ lạnh lẽo. Tôi bỏ tất cả lại trên đời và không tròn trách nhiệm bất cứ với ai. Nhứt là các em tôi. Tụi nó còn nhỏ dại nào đã hiểu biết gì? Tôi đã cố chịu đựng để mà nuôi dưỡng chúng nên người- Tôi rời bỏ làng Bình Hòa Phước cũng vì lý do đó!
Tưởng về đây, tôi sẽ yên thân được, nhưng mà oan gia cứ đeo đẳng mãi. Rồi thì chắc chắn là tôi không thể sống được! Thôi thà chết đi bây giờ có lẽ yên hơn... Việc đó, không đáng cho anh phải nghe tới vì nó chỉ làm đen tối sự trong sạch trong tâm hồn chúng ta. Tôi yêu anh tôi biết và anh yêu tôi, tôi cũng biết nữa. Tôi không muốn chết đi mà chẳng thốt ra được lời nói đó, mới có bức thư nầy!
Và anh nên biết đến bây giờ tôi vẫn một lòng yêu anh. Tôi hãnh diện mà thốt ra những lời đó.
Vĩnh biệt anh
HÀ ANH
Thọ gục xuống, nỗi đau thương đè nặng trong tâm hồn. Dung đọc thoáng qua bức thư của Hà Anh nên không thấu hiểu lý do nàng phải rời bỏ cõi đời. Nàng đã viết: ‘‘ oan gia cứ đeo đẳng mãi’‘. Thọ biết ngay là Năm Quýnh đã không chịu buông tha cho nàng! Và Hà Anh chết đi chỉ vì nguyên do đó. Dung đã rời khỏi chỗ anh ngồi từ nãy giờ. Nàng đi lần về phía A Xây. Nó ngồi bó gối trên thảm cỏ, nhìn khói nhang từ một ngôi mộ kế cận, bay tỏa lên không!
Dung ngồi xuống bên đứa bé. Nàng hỏi nhỏ:
— A Xây có thích đi học nữa không?
Thằng bé ngước nhìn nàng với nỗi buồn sầu thảm. Nó hỏi lại nàng:
— Làm sao đi học được hả chị? Đâu có tiền?
— Nếu có, em có bằng lòng học không?
A Xây ngẫm nghĩ rồi lắc đầu:
— Không!
Dung hoang mang hỏi:
— Sao vậy?
A Xây bức cọng cỏ trước mặt mình, đưa lên môi, khẽ đáp:
— Đi học mà tụi nó ở nhà đói, làm sao học được? Em thương tụi nó...
Dung rưng rưng nước mắt khóc! Tình thương của thằng bé đối với các em khiến nàng thêm mủi lòng. Tự nhiên, nàng thấy Hà Anh chết vô lý quá! Dù khổ nhục thế mấy cũng không nên bỏ đám em côi cút bơ vơ... Rồi Dung lại thở dài... Trong phút giây, nàng phê phán bạn một cách khắt khe chớ nàng cũng hiểu Hà Anh đã phải khổ tâm nhiều lắm, trước khi chọn lấy cái chết.
A Xây bỗng hỏi:
— Chị à l Tại sao chị hỏi em điều đó?
Dung nói nhanh:
— Vì chị và anh Thọ muốn em đi học nữa... Phải học nhiều nhiều mới có thể làm ra tiền chớ. Chừng đó em đâu còn lo các em phải đói nữa!
A Xây đáp:
— Em cũng biết vậy. Nhưng bây giờ lấy gì cho tụi nó ăn? Ba thì hút tối ngày...
Dung lại hỏi nó:
— Lúc nãy em nói bác bán đất. Với tiền đó, bác không định làm ăn gì sao?
A Xây lắc đầu:
— Không thấy nói gi hết! Mà em cũng ít nói chuyện với ba...
Dung càng thấy tương lai của các em Hà Anh thật là mù mịt.
Thọ đã đứng lên, đến bên Dung cất tiếng:
— Mình về đi em! Tối rồi...
Dung có cảm giác như anh mình vừa mới khóc. Nàng ngước nhìn lên, hoàng hôn đã phủ trùm cảnh vật, nghĩa trang thật đìu hiu. Những chấm nhang cháy đỏ, le lói xa xa, sắp rọi tàn trong bóng tối. Dung nắm tay A Xây đứng dậy. Cậu bé vẫn để yên bàn tay trong tay nàng, nhưng đôi mắt hướng về phía Thọ. Tuy còn trẻ dại, nhưng A Xây cũng hiểu được mối tình vô vọng giữa chị mình và chàng thanh niên kia. Thái độ của Thọ và Dung trước mộ phần của Hà Anh đủ làm cho cậu bé mến thương hai người nhiều hơn.
Thọ khẽ hỏi Dung:
— Em có nói chuyện với A Xây chưa?
Dung gật đầu ngó cậu bé:
— Dạ... có nói rồi, nhưng...
— Sao hả em?
Rồi Thọ hỏi thẳng A Xây:
— Em... có muốn đi học nữa không? Tiền bạc không phải lo, anh sẽ chu toàn hết cho em!
A Xây cúi mặt nhìn xuống không đáp. Có gì như chận ngang cổ họng cậu bé! Dung bóp nhẹ bàn tay của nó, đáp thay lời:
— A Xây sợ mấy em ở nhà phải đói.
Thọ ngồi xuống nắm lấy hai vai cậu bé, nhìn thẳng vào mặt nó:
— Xây à... Anh hiểu những điều lo nghĩ của em, nhưng trong hoàn cảnh nầy em không nên chọn con đường nào khác. Tương lai còn dài. Em không đi học từ bây giờ thì mai sau có muốn nuôi em cho no ấm cũng không nuôi nổi.
A Xây nghẹn ngào nói:
— Nhưng... tụi nó sẽ không có cơm ăn.
Thọ thở dài nói:
— Em ở nhà cũng không giải quyết được gì? Anh sẽ trông chừng tụi nó thay em được không?
A Xây ngó Thọ mà Dung cũng sửng sốt nhìn chàng. Cuộc hôn nhơn giữa Thọ và Mai sắp thành tựu, bao nhiêu là khó khăn sẽ ngăn chận ý định của anh nàng. Thọ cũng hiểu là em chàng đang lo ngại về những chuyện đó, nhưng vẫn bình tĩnh bảo A Xây:
— Em đừng cãi lời anh! Bổn phận của em về sau nầy, sẽ nặng nề nhiều lắm. Em phải chuẩn bị từ bây giờ mới đủ sức bảo bọc cho các em mai sau. Anh hứa là sẽ tận lực giúp đỡ em trong mọi vấn đề...
A Xây thấu hiểu tấm lòng chân thành của Thọ, nên lặng lẽ gật đầu. Ba người lần bước ra cửa nghĩa trang.
A Xây chợt hỏi Thọ:
— Em tính cho tụi nó theo dì em bớt vài đứa, anh nghĩ có được không?
Giọng nói của nó nghe điềm đạm như người lớn. Dung hỏi ngay:
— Dì em ở đâu?
— Dạ... ở Chợ Lớn! Hôm đám táng chị Hà Anh dì có về nữa và nói với ba cho dì nuôi bớt vài đứa.
Dung hỏi ngay:
— Ba em có bằng lòng không?
A Xây gật đầu:
— Ba bằng lòng ngay, nhưng em không chịu. Em khóc quá nên dì cũng không nỡ đem chúng nó đi.
Thọ ngó cậu bé hỏi:
— Tại sao bây giờ, em lại hỏi anh chuyện đó? Em đã quyết định rồi mà!
A Xây lặng thinh. Một lúc nó mới tiếp:
— Hôm trước em định thôi học và không thấy sự cần thiết phải đi học nữa. Còn bây giờ, thì em nghe theo lời anh.
Thọ ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi:
— Tại sao em không để tụi nó ở nhà?
A Xây thở ra:
— Cực chẳng đã em mới để cho tụi nó ở với dì đó anh! Chớ ở nhà mà không có em, tụi nó sẽ khổ lắm.
— Anh đã hứa lo lắng cho tụi nó mà!
A Xây lắc đầu:
— Làm sao anh lo được? Em đâu dám làm bận rộn anh nhiều. Anh cho tiền ăn đã là quá lắm, làm sao ở gần gũi tụi nó. Tụi nó còn cần tình thương.
Thọ im lặng. A Xây nói phải. Đám em của Hà Anh đâu phải chỉ cần tiền bạc để ăn thôi! Chúng nó còn cần được dạy dỗ, săn sóc mà chỉ có bàn tay của đàn bà mới làm được chuyện đó.
Dung cũng thấy A Xây tính như thế là hợp lý vô cùng. Nàng nói:
— A Xây nghĩ phải lắm! Nhưng dì em có khá giả không?
AỊXây đáp nhỏ:
— Dì ấy cũng đủ ăn, vì vậy mà em không muốn cho tụi nó quấy rầy thêm dì. Cũng bất đắc dĩ thôi chị à...
Thọ nói ngay:
— Em khỏi lo. Mình sẽ gởi tiền tiếp với dì ấy.
Dung không nói gì, nhưng không rõ anh nàng sẽ làm thế nào để giúp đỡ gia đình Hà Anh. Chính Thọ cũng đang sống nhờ gia đình, chưa có nghề nghiệp gì nhứt định. Nàng biết anh quá thương tiếc Hà Anh nên việc gì cũng tính, chớ gặp thực tế là cả một vấn đề khác. Tuy nhiên, Dung cũng định bụng sẽ trích số tiền dành dụm bấy lâu cho anh dùng đỡ. Nhưng Dung không chỉ nghĩ có bấy nhiêu đó thôi đâu. Nàng còn lo cho cuộc hôn nhơn giữa anh và Mai! Không khéo lại gãy đổ vì cái chết của Hà Anh. Từ trưa tới giờ, nàng xem chừng anh không nghĩ gì đến Mai cả...
Lúc lên xe lôi để đưa A Xây về nhà, Thọ không nói gì thêm. Chàng lặng lẽ nhìn sang hai bên vệ đường, bóng tối đã phủ trùm lên cảnh vật. Những ngôi nhà ở hai bên bờ ruộng đã lên đèn. Chiếc xe trở vào thành phố. Tiếng xe cộ tiếng người đi nhộn nhịp khác thường. Riêng Thọ lại thấy tâm hồn mình cô độc hơn. Chưa bao giờ chàng thấy buồn nản và trống vắng như vậy. Chàng thấy hình như mình không còn sức lực để làm gì nữa hết! Cái chết của Hà Anh đã khiến chàng mất hết nhuệ khí trong lòng và chàng mới thấy rõ người con trai ở chàng chẳng có gì ‘‘oai hùng’’ hết.
Trước đây một năm chàng đâu có như vậy. Chàng yêu đời và thường vẫn cùng các bạn theo dõi, tham gia vào những phong trào đẩy mạnh lòng yêu nước của dân mình. Những ngày tháng đó, tâm hồn chàng đâu có bệ rạc như vầy?
Đến nhà Ban Phánh, A Xây bước xuống xe, Dung ngó anh rồi bảo cậu bé:
— Sáng mai chị sẽ trở lại và sẽ tính cho em.
A Xây gật đầu rồi bước vội vào nhà. Dung bảo anh lái xe lôi:
— Anh qua chợ đi...
Thọ vẫn lặng yên, nhìn vào nhà Hà Anh. Mấy đứa trẻ đang ngồi ở bực cửa, ngó thấy A Xây về chạy vội ra đón. Tiếng reo mừng của chúng vang lên trong buổi hoàng hôn, Thọ có cảm giác như xem chúng nó đang nắm lấy tay mình...
Bốn ngày liền, Thọ không bước ra khỏi nhà. Từ hôm lên Vĩnh Long viếng mộ Hà Anh và lo liệu giúp đỡ đám em nàng trở về cho tới nay, tâm hồn Thọ đổi khác nhiều lắm. Chàng thẫn thờ, buồn bã vì những nỗi tình không giải được! Dung hiểu được tâm trạng của anh nên càng tội nghiệp hơn. Nàng chỉ sợ có mỗi một điều thôi: sự gãy đổ hôn nhân giữa Mai và anh nàng vì cái chết của Hà Anh. Nếu dạo nọ, anh nàng đừng bị bắt rồi phải mang ơn sâu của ông Hội thì chắc là Thọ chưa nghĩ đến việc cưới Mai. Tuy Mai rất dễ thương, nhưng Dung biết chắc anh nàng không yêu Mai bằng Hà Anh! Tại lý do nào thì Dung hoàn toàn không rõ? Thấy anh cứ mãi ở nhà, Dung đã bắt đầu lo, nhưng nàng không dám nói với mẹ một lời nào cả.
Đến buổi cơm chiều nay, Thọ cũng không ra ăn, bà mẹ lấy làm lạ hỏi Dung:
— Sao thằng Thọ ở miết trong phòng vậy? Nó có bệnh hoạn gì chăng?
Dung đỡ lời cho anh:
— Dạ không có đâu mẹ! Chắc mới ăn gì, hồi xế trưa nên còn no.
Rồi bà mẹ cũng không hỏi nữa. Cơm xong, Dung vào phòng anh và thấy Thọ ngồi im lìm bên cửa sổ nhìn sang gian nhà cũ của Hà Anh. Nơi đó bây giờ không còn nhộn nhịp như xưa nữa vì thiếu vắng khuôn mặt xinh tươi của người thiếu nữ Trung Hoa đã từng làm xao xuyến tâm hồn những chàng trai trong xóm.
Dung đến sát bên anh khiến Thọ giựt mình quay lại:
— Kìa em!
Dung ngó mong qua ngôi nhà cũ của Hà Anh rồi hỏi:
— Sao anh không ăn cơm?
— Anh không thấy đói.
Rồi chàng quay vào, ngồi xuống bên giường lấy thuốc ra hút. Dung đứng dựa lưng vào thành cửa sổ nhìn anh, một lúc mới hỏi:
— Anh nằm nhà mãi sao?
Thọ ngước lên:
— Chớ đi đâu hả em?
Dung nói thật mau:
— Chuyện đó đã qua rồi, anh còn nhớ tới làm gì? Sao em rầu quá hà?
Thọ ngập ngừng hỏi em:
— Em rầu... chuyện chi?
Dung lại nhìn ra ngoài cửa sổ, bóng chiều đã xuống, mặt trời khuất hẳn sau những khu vườn. Nàng nói chầm chậm:
— Anh quên chị Mai rồi sao?
Thọ xích vào trong, dựa lưng vào vách, thở dài:
— Có gì mà quên?
— Sao anh không sang bên chị ấy? Mấy hôm nay không thấy anh chắc chị cũng buồn!
Thọ ngó xuống không nói gì. Mấy hôm nay, chàng vẫn nghĩ đến Mai luôn, nhưng sao không thấy tha thiết đi thăm nàng... Cái chết của Hà Anh và những lời trăn trối của nàng trong bức thư vĩnh biệt vẫn ám ảnh Thọ. Nhiều lúc nhìn sang gian nhà kia, Thọ như còn thấy lảng vảng bóng hình Hà Anh bên khung cửa sổ sơn màu xanh tối. Chàng vẫn tha thiết nhớ tiếng cười trong trẻo của nàng và tiếng gọi ‘‘A chế’’ của đám em nàng trên bến sông, trong chiều nhạt nắng.
Dung lại bảo anh:
— Anh sang Phước Định chơi vài hôm có lẽ hết buồn...
— Khó lắm Dung à!
— Tại sao? Anh thương nhớ Hà Anh cho đến bao giờ?
— Làm sao anh rõ được? Nói đúng ra, anh thương tiếc ở ngần nào đó thôi, nhưng trong lòng anh cứ ray rức, băn khoăn. Tại sao anh và Hà Anh đều yêu nhau, nhưng để đi đến sự gãy đổ như vầy? Tại sao không ai nói được với ai một lời nào cả?
Dung cất tiếng:
— Tại vì trước đây anh chưa rõ tình yêu của Hà Anh mà chị ấy cũng vậy nữa. Nhưng khi anh định cưới chị Mai và Hà Anh lấy Năm Quýnh thì cả hai mới nhận thấy được lòng mình.
Thọ gật gật đầu:
— Có thể như thế lắm! Nhưng anh yêu Mai còn có lý do, chớ Hà Anh... Sao lại ưng Năm Quýnh để rồi chịu sự dằn vật đớn đau?
Dung thở ra:
— Chị ấy tuyệt vọng làm càng như trong thư đã viết.
Thọ chỉ nhờ câu nói đó của em:
— Vậy là lỗi hoàn toàn ở anh phải không Dung? Chính anh đã làm cho Hà Anh tuyệt vọng.
Dung lắc đầu ấp úng:
— Không... không hẳn thế?
— Còn gì nữa! Mấy hôm nay anh nhận định lại tất cả những chuyện đã xảy ra anh mới thấy mình ngu xuẩn, ngờ nghệch. Ngày Hà Anh tặng cho anh con bướm vàng vật lưu niệm của mẹ, đáng lý ra anh phải hiểu lòng nàng. Đó là tiếng gọi cuối cùng của người yêu tuyệt vọng! Thế mà anh không tới gặp nàng. Em đã đi thay anh... Nếu anh gặp Hà Anh vào lúc đó, có thể là nàng không chết đau đớn như vậy?
Dung cúi mặt buồn bã. Nàng không hiểu sự suy đoán của anh có đúng chăng, nhưng không muốn cãi lại anh.
Thọ chợt đứng lên nói:
— Em nói có phần đúng! Nằm mãi ở nhà cũng chẳng ích gì? Nghĩ ngợi riết có thể phát điên lên được!
Dung hỏi:
— Ănh sang bên chị Mai ư? Gần giờ thiết quân luật rồi. Làm sao về?
Thọ ngó về phía Xóm Chợ nói:
— Anh không qua đó đâu! Mai mốt sẽ hay.
— Chớ anh đi đâu?
— Anh ra ngoài mé sông...
— Anh không ăn cơm ư?
— Đừng lo cho anh, nếu đói anh ghé quán chú Hai ăn hủ tiếu cũng được...
Thọ vừa ra cửa, Dung lại nói vói theo:
— Cho em đi với.
Thọ quay lại lắc đầu:
— Trời sắp tối rồi, con gái ra ngoài làm chi?
Rồi không muốn nhìn vẻ bất mãn của Dung, chàng bước mau ra cổng rào... Đường chiều đã vắng người qua lại. Hoàng hôn phủ trùm lên cảnh vật một màu buồn bã, bến chợ đìu hiu, hàng cây trứng cá vẫn đứng im lìm như đợi chờ ngày đi, đêm đến.
Thọ bước qua ngang nhà cũ của Hà Anh, hàng quán đã lên đèn. Có tiếng nhừa nhựa cất lên đâu đó:
— Thầy... Thôi đi ‘‘dìa’’. Ông Xếp biểu gọi thầy..Uống hoài sao?
Thọ ngạc nhiên khi nghe tiếng Năm Quýnh cất lên:
— Mầy về đi… Tao ngủ ở đây luôn. Chả có xếp xiếc gì hết.
— Ý trời... Đâu có được ‘‘ cha nội’’. Ngủ ở đây để nạp mạng à?
Thọ liếc nhìn vào quán ‘‘anh Hai hủ tiếu’’, thấy Năm Quýnh đang ngồi gật gù trên ghế đẫu. Bên cạnh bàn một tên bạt-ti-dăn đang nài nỉ hắn trở về đồn. Bộ mặt thiểu não của Năm Quýnh khiến Thọ chú ý. Có lẽ hắn cũng đang khổ lòng vì cái chết của Hà Anh?
Năm Quýnh chợt ngó lên, vung tay gắt gỏng:
— Cái thằng nầy! Mầy đi về đi. Tao đâu cần mầy ở lại đây. Mạng tao ăn thua gì!
Anh Hai bán hủ tiếu nghe Năm Quýnh nói lên như vậy, cũng sợ anh ta nằm vạ trong quán mình, vội chạy ra:
— Thầy Năm à... Chú Bảy đây nói phải đó! Trời tối lắm rồi.
Năm Quýnh sừng sộ:
— Không được đuổi nghen! Tao đốt quán.
Đột nhiên anh ta im bặt, khi thấy bóng Thọ đứng trước cửa quán nhìn vào. Anh Hai hủ tiếu nhớ vụ Thọ và Năm Quýnh tranh nhau cô gái Tàu đối diện nhà mình độ nọ càng lo sợ hơn. Năm Quýnh đang say, hắn còn kể gì nữa! Anh Hai lui ra cửa bảo Thọ:
— Cậu Ba... Về đi. Trời đất ơi! Đi đâu lang bang giờ nầy. Nó say đó...
Thọ vẫn nhìn vào quán, Năm Quýnh đột ngột xô tên bạt-ti-dăn ra, đứng lên đi về phía Thọ:
— Cậu Thọ đó hả? Vô đây, vô đây...
Anh Hai hủ tiếu xanh mặt, nắm lấy tay hắn:
— Thầy Năm, thôi mà! Tối rồi, để cậu ấy về nhà dùng cơm.
Năm Quýnh hất tay anh ta, loạng choạng bước tới bên Thọ:
— Vô chơi. Tôi mời. Dám vô hông?
Thọ lạnh lùng bước vào quán. Anh Hai lo sợ thất thần đến sát bên tên bạt-ti-dăn nói nhỏ nhỏ:
— Làm sao cậu Bảy! Thầy Năm đang say, ổng dám làm ẩu lắm.
Tên bạt-ti-dăn rùn vai lắc đầu:
— Hổng biết rồi! Tui nói hết sức, thẩy không chịu ‘‘dìa’’. Làm sao?
— Về cho Xếp bót hay đi cậu Bảy?
— Đừng giỡn ‘‘cha nội’’! Xếp bót khiển trách ổng, để ổng giết tôi sao?
Năm Quýnh vụt la lớn:
— Anh Hai... La-ve đâu? Lấy thêm ra đây.
Đôi mắt anh ta đỏ ngầu, trừng trừng ngó Thọ. Chàng cũng ngó anh ta như con ‘‘quái vật’’! Hắn muốn gì nữa đây, thật tình Thọ không biết, nhưng chàng đã đâm liều. Chính thằng khốn nầy đã làm hỏng đời chàng và gây ra cái chết của Hà Anh. Năm Quýnh đón lấy chai rượu trên tay anh Hai hủ tiếu rót vào ly nói:
— Cậu có đi Vĩnh Long nữa phải không? Cậu có viếng mộ... nó nữa...
Thọ ngó thẳng vào đôi mắt Năm Quýnh hỏi:
— Tôi không được quyền đi thăm mộ Hà Anh sao?
Năm Quýnh ngó xuống, nhắm nghiền đôi mắt, nói lầm thầm:
— Được chớ? Ai dám cấm! Có quyền gì cấm? Rồi đột ngột anh ta ôm lấy mặt nói như điên:
— Nó chết rồi... Con tôi cũng chết rồi! Sao lạ vậy? Lần chót, còn hứa với tôi sẽ trở về làng mình cậu biết không?
Thọ nhủ thầm: ‘‘ Thì ra hắn còn lên chợ bắt ép Hà Anh về làng nầy... Nàng sợ hắn làm hại cha và em nàng nên mới tự tử!’’
Nghĩ tới đó, Thọ giận run lên! Dù biết hắn có súng và nếu chàng chạm đến mình hắn thì cả nhà không yên được, nhưng chàng đã dộm đứng lên.
Năm Quýnh nắm chặt lấy tay chàng, lắc đầu:
— Không! Cậu khoan về đã. Tôi cần nói chuyện. Hà Anh chết rồi. Cậu có biết tại sao không?
Thọ nói lớn:
— Tại anh áp bức nàng! Anh ác quá.
Anh Hai hủ tiếu và tên bạt-ti-dăn đều nhìn hai người với vẻ sợ sệt. Chủ quán lo sợ nhìn quanh, nghĩ đến phút giây xô xát sắp xãy ra...
Đối với Năm Quýnh từ trước tới nay, chưa ai dám nói thẳng vào mặt hắn những lời tương tợ như thế! Hơn nữa Thọ vẫn còn ở trong tay hắn mà. Anh Hai hủ tiếu đã định chạy qua nhà gọi bà Chủ sang để hiệp nhau nài nỉ Năm Quýnh gỡ cho Thọ, nhưng sự thế xảy ra quá mau, anh biết mình có chạy đi cũng không kịp.
Năm Quýnh vụt ôm lấy đầu:
— Ờ... Có lẽ đúng. Tôi ác quá! Hà Anh không yêu tôi, chỉ vì tôi ác quá. Tôi áp bức nàng.
Lời nói bất ngờ đó chẳng những làm cho Thọ ngạc nhiên mà anh Hai hủ tiếu và tên bạt-ti-dăn cũng ngơ ngác. Năm Quýnh biết nhận mình là kẻ gian ác sao? Họ vẫn chưa tin được tên mưu mô, xảo quyệt đó! Nhiều khi hắn làm bộ như con cừu non dại rồi đột ngột bắn người ta chết không gớm tay. Nhưng lạ lùng chưa! Năm Quýnh chợt ôm mặt khóc rưng rức như một đứa trẻ:
— Tôi...Khốn nạn quá! Chỉ có cậu tôi mới dám nói. Tôi sẽ bỏ xứ nầy mà đi. Hà Anh đã nói với tôi nhiều lắm: nào là theo Tây giết người là hèn hạ, dân mình nguyền rủa đến suốt đời. Tôi chỉ ừ hử cho qua lúc, để được yêu thương. Nhưng từ hôm nó chết đi rồi. Tôi nghĩ đến những lời nó nói tôi ân hận quá. Tôi có khốn nạn thiệt không cậu?
Tên bạt-ti-dăn chăm chú nhìn Năm Quýnh rồi ngó Thọ, không hiểu hắn nghĩ gì, vụt bỏ ra cửa.
Thọ dù đang thù hận Năm Quýnh đến cực độ, nhưng nghe những lời như ăn năn hối hận của hắn chàng cũng thấy lòng mình dịu xuống.
Năm Quýnh chợt tiếp lời:
— Nhưng... xét kỹ lại. Tôi có đổi tánh tình đi nữa Hà Anh cũng vẫn không yêu tôi. Tôi thành thật nói thế vì nó đã trót yêu cậu mất rồi.
Thọ cúi mặt ngầm nhìn nhận lời Năm Quýnh. Hắn lại hỏi chàng:
— Có phải vậy không hả cậu? Mà cậu cũng yêu Hà Anh... Hừ, trước kia, tôi ngu xuẩn quá. Tưởng đâu chiếm được thể xác của Hà Anh, ôm ấp nó, có con với nó làm chủ nó trọn vẹn. Không! Bây giờ, tôi mới hiểu rõ là tôi thất bại. Chẳng có một phút giây nào Hà Anh yêu tôi cả. Cho đến lúc chết nó cũng chỉ yêu mỗi mình cậu thôi. Nằm với tôi mà tâm hồn của nó vẫn giữ trọn vẹn niềm yêu thương cậu.
Thọ có cảm tưởng là Năm Quýnh không say. Hắn còn đủ sáng suốt để nhận định rõ ràng mọi chuyện.
Hắn vụt hỏi Thọ:
— Còn một điều tôi không hiểu! Cậu có trả lời tôi được không?
Thọ đáp:
— Anh muốn hỏi gì?
— Tại sao cậu yêu Hà Anh mà bằng lòng cưới con ông Hội Đồng?
Thọ không dè anh ta lại thắc mắc điều đó! Chàng đáp:
— Tại vì... Hà Anh đã bằng lòng yêu anh.
Năm Quýnh lắc đầu:
— Chắc không phải vậy! Tôi đoán không lầm đâu. Cậu bằng lòng cưới cô Mai vì muốn trả ơn ông Hội Đồng mà?
— Cái đó... cũng có một phần. Riêng Mai tôi biết từ ngày còn nhỏ.
Năm Quýnh cúi mặt lắc đầu:
— Tôi biết lắm mà! Tôi biết cậu lầm là lão Hội Đồng đã cứu cậu. Cậu tưởng tôi sợ oai ông ấy lắm sao? Đâu phải. Tôi thả cậu ra vì Hà Anh bằng lòng lấy tôi với điều kiện đó...
Thọ không còn tự chủ được nữa. Chàng cất giọng run run:
— Anh... Anh nói thiệt?
Năm Quýnh như tỉnh hẳn cơn say, chậm rãi đáp:
— Tôi nói dối cậu làm gì? Nếu Hà Anh còn sống, có lẽ tôi sẽ giấu cậu luôn. Nhưng bây giờ thì không cần thiết nữa. Cậu tưởng Hà Anh dễ dàng lấy tôi sao? Tôi đã theo đuổi nó từ khi gia đình mới dọn về đây. Tôi xúi ông Ban hút trở lại, tôi chịu tiền... Tôi cho mượn tiền... Những lời ông Ban khuyên nó, chả ăn thua... Chỉ có thả cậu ra, dù cho có mang tội gì cũng mặc là Hà Anh bằng lòng.
Hắn nói xong vụt đứng lên bảo chủ quán:
— Nầy... Để đó, mai tôi trả tiền.
Rồi ngó Thọ, Năm Quýnh tiếp:
— Tôi về... Cậu cũng về đi, tới giờ thiết quân luật. Nói thiệt tôi cũng chẳng có cảm tình gì với cậu, nhưng bắt buộc phải nói ra hết cho nghe một lần. Có lẽ Hà Anh tha thứ bớt tội lỗi của tôi. Còn cậu, có nghĩ sao cũng không cần!
Thọ nhìn sửng vào đôi mắt của hắn. Năm Quýnh loạng choạng ra cửa quán. Bên ngoài trời tối đen như mực, gió từ ngoài lòng sông thổi vào lạnh lạnh.
Anh Hai hủ tiếu đến bên Thọ nói nhỏ:
— Cậu về đi. Hôm rày, nó như thằng khùng đụng ai đánh nấy. Mấy cha bạt-ti-dăn cũng bị nó đánh như thường. Họ oán nó lắm, nhưng chẳng ai dám làm gì? May cho cậu đó...
Thọ ngó anh Hai rồi thất thểu bước ra đường cái. Anh ta làm sao hiểu được tâm trạng của Năm Quýnh hiện giờ. Hắn là một kẻ đau đớn nhứt ở trên đời vì tâm hồn khát máu của hắn bắt đầu biết run động vì một tình thương. Tình thương đó đã làm Năm Quýnh bị dằn co, ray rức giữa những điều thiện, ác! Riêng Thọ lại còn đau đớn gấp trăm lần hơn. Chàng vừa biết được một sự thật hết sức thương tâm: Hà Anh đã hy sinh cả sự trong trắng của đời mình để cứu chàng mà không nói một lời... Bây giờ Thọ mới hiểu được tấm lòng cao quí của Hà Anh: Tại vì sao đang yêu chàng mà bằng lòng thất thân với Năm Quýnh?
Thọ đi ngang qua gian nhà cũ của Hà Anh lúc nào không hay và một sức mạnh vô hình đã buộc chàng phải đứng dừng lại. Nơi đây, lần đầu tiên khi trở về Thọ đã nghe tiếng đàn khô khan của Ban Phánh và đã nhìn thấy bóng người thiếu nữ Trung Hoa dạy em học trước đèn.
Bây giờ, những bóng hình kia đã lui vào dĩ vãng xa xôi.
Thọ gục đầu bước đi trong đêm, nước mắt ứa ra đổ dần xuống má. Chưa bao giờ chàng thấy rõ ràng hơn trách nhiệm của mình đối với cái chết của Hà Anh. Nếu không vì yêu chàng thì chẳng bao giờ Hà Anh thất thân với Năm Quýnh để rồi dẫn đến cái chết thảm thương!
Chàng chợt nghĩ đến Mai, đến những ngày sẽ tới. Mai không có tội tình gì cả, nhưng Thọ chắc chắn mình sẽ không bao giờ đem lại hạnh phúc cho nàng. Chàng không thể sống ở bên Mai mà tâm hồn vẫn luôn luôn nghĩ đến Hà Anh? Thọ không muốn làm khổ Mai, người con gái đáng thương đã đặt tất cả tin yêu nơi chàng...
Cả làng Bình Hòa Phước đều xôn xao về cái tin Năm Quýnh tử thương vì một quả lựu đạn nổ ở đầu xóm chợ! Người thì bảo dân quân kháng chiến đã hạ sát Năm Quýnh để trừ bớt một kẻ theo Tây nguy hiểm, nhưng có kẻ lại cho rằng chính mấy tên bạt-ti-dăn đã giết Năm Quýnh vì oán thù.
Sự thật như thế nào, mãi đến ngày nay vẫn chưa ai biết rõ! Gặp thời loạn lạc chết như Năm Quýnh cũng là sự thường, chẳng ai muốn tìm hiểu cho sâu xa thêm. Họ chỉ bàn bạc thầm lén với nhau là: — ‘‘ Thằng đó chết đáng đời!’’, ‘‘Trời cao có mắt!’’, ‘‘ Nó hại biết bao gia đình tán gia bại sản, bây giờ mới trả nợ oan khiên!’’, ‘‘ Thiệt là ác lai ác báo!’’. Nhưng rồi, họ cũng quên đi vì trong làng lại nổi thêm vài tên gian ác khác, cũng nịnh bợ Tây tà và hiếp đáp dân lành.
Duy có đám cưới giữa Thọ và Mai bị đình chỉ bất ngờ, khiến dân làng xôn xao và bàn tán lâu hơn cả. Gia đình bà Chủ và ông Hội Đồng gần như là hai ‘‘ vọng tộc thế gia’’ trong làng nầy! Họ làm suôi với nhau thì không có gì hợp lý hơn vì rằng tiền bạc ngang nhau, danh giá cũng chẳng kém sút chi nhau! Ấy thế mà gần đến ngày đám cưới, Thọ bỏ nhà ra đi biệt tích. Hôn lễ bãi bỏ bất ngờ khiến ông Hội Đồng mất mặt với xóm làng nên tuyệt giao luôn với bà Chủ. Bà mẹ của Thọ khổ tâm vô cùng, đã mấy lượt qua nhà xin lỗi nhưng ông bà Hội Đồng vẫn lánh mặt không tiếp.
Mai đau một trận, gầy ốm xanh xao, phải lên Sài gòn trị bịnh mới bình phục được. Nàng trở về nhà được ba hôm thì một buổi chiều Dung sang thăm. Ông Hội định không cho nàng tiếp, nhưng bà Hội đã ngăn chồng:
— Kệ nó mà... Giận là giận thằng Thọ chớ chị Chủ và cháu Dung có lỗi gì. Chắc bên gia đình bển cũng khổ tâm lắm!
Ông Hội không nói thêm mà bước ra vườn sau. Ông là người rất khe khắt nên hành động của Thọ đối với ông, không thể dễ dàng tha thứ. Dung vào nhà, chào bà Hội và xin phép thăm Mai. Bà mỉm cười với nàng rồi chỉ tay vào phòng:
— Em nó nằm nghỉ bên trong. Lâu quá sao cháu không qua chơi, tệ thiệt.
Dung chỉ cúi đầu, dạ dạ, chớ chẳng dám nói một lời. Nàng biết bà Hội cũng ngượng với mình, nên bước nhanh vào buồng trong. Mai đang ngồi trên giường, thêu một chiếc khăn tay, chợt nghe tiếng guốc, vụt ngẩng lên gọi:
— Dung!
Dung nhìn Mai thấy còn xanh xao, gầy ốm thì xúc động bồi hồi:
— Chị...
Rồi nàng nghẹn ngào không nói được nên lời. Mai đã đứng lên, bước xuống giường, ôm chầm lấy Dung ngập ngừng nói:
— Dung mạnh... Bác mạnh hả?
— Cám ơn chị. Má vẫn thường. Má và em qua mấy lần, nhưng nhà đều đi vắng. Có lẽ bác Hội không muốn tiếp.
Mai lắc đầu, gượng cười:
— Bỏ qua những chuyện đó đi Dung! Nhắc lại làm gì? Anh Thọ và mình đã không có duyên với nhau thì thôi. Vả lại, mới đây mình có được thơ của anh ấy.
Dung mừng rỡ kêu lên:
— Anh Ba em có gởi thư về cho chị?
— Vâng! Cả nhà không ai biết, mà mình cũng chẳng muốn nói với ai. Thọ đã giải bày tất cả mọi chuyện, từ cái chết của Hà Anh đến sự quyết định đi theo kháng chiến chống Tây. Bức thư đã an ủi mình nhiều lắm Dung à! Mình đã nghĩ kỹ nếu ở vào cảnh của anh ấy mình cũng làm thế thôi.
Dung thở ra nhẹ nhàng:
— Vậy thì em không còn gì phải nói với chị nữa. Thú thiệt em khổ tâm lắm chị à. Từ mấy tháng nay chẳng biết anh ấy đi đâu? Mới nhận được thư, chắc là một lượt với chị, em mới định sang đây giải bày. Nào ngờ, anh ấy cũng có gửi thư về cho chị.
Mai nắm lấy tay Dung, trong lòng tràn ngập yêu thương. Nàng chợt hỏi:
— Các em của Hà Anh bây giờ ra sao?
Dung đáp nhỏ:
— Em vẫn giúp đỡ A Xây học hành thay cho anh Thọ. Thỉnh thoảng em cũng có lên Vĩnh Long thăm tụi nó.
Mai cười thoải mái:
— Hôm nào Dung có đi cho mình theo thăm mộ Hà Anh với nghen?
Dung gật đâu ngó bạn. Mai lại tiếp:
— Mình nghĩ kỹ. Hà Anh rất xứng đáng với tấm lòng yêu thương của anh Thọ. Mình không còn ghen tức vu vơ. Có dịp nào mình sẽ gởi thơ cho anh ấy rõ...
Nghe giọng nói và nhìn vào đôi mắt của Mai, Dung chắc chắn không bao giờ nàng quên được Thọ. Dung lặng lẽ thở dài vì làm sao đoán trước được tương lai của hai người?
Có tiếng con chìa vôi hót gió ngoài vườn sau, nghe hoang vắng lạ lùng! Bên ngoài, trời đã hoàng hôn...
4-1964
9/4/2022
Ngọc Linh
Theo https://vnthuquan.org/

Trên sông hoàng hôn

Trên sông hoàng hôn Chương 1 Gởi anh chị NGỌC SƠN với lòng biết ơn của một người em NGỌC LINH Từ trong eo bến Cái Bè, Năm Súng đẩy mạnh má...