Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nhân bản, tích cực trong sáng tác của Tô Hoài mà hạt nhân tạo nên sự thay đổi đó là nhận thức mới về giá trị cá nhân – cộng đồng, về sự nghiêm túc trong trò chơi nghệ thuật của nhà văn…
1. Tự truyện là một thể loại văn học trong đó “tác giả tự kể và miêu tả cuộc đời của mình”[1]. Bản thân thuật ngữ “autobiography” (tự truyện) đã hàm chứa sự kết hợp ba yếu tố trong một thể loại: auto: tự, bio: cuộc đời, graphy: viết. Nhân vật chính của tự truyện là tác giả. Người kể chuyện thường trùng với tác giả và với nhân vật chính. Nhà văn viết tự truyện để phục sinh quá khứ, để được sống lại một lần nữa đoạn đời đã qua của mình. Các sự kiện tiểu sử, đời tư là chất liệu được tác giả sử dụng với nỗ lực tiếp cận trạng thái tinh thần thời đại cũng như hiện thực vi tế của tâm hồn. Đây là một thể loại văn học rộng mở, có thể bao quát hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự, sử thi đồng thời có sự “cảm ứng” khá rõ với hiện thực xã hội.
Tô Hoài là một trong số ít nhà văn Việt Nam thành công ở mảng tự truyện. Tính từ Cỏ dại (1944) đến Ba người khác (2006), ông đã có hơn sáu mươi năm gắn bó với thể loại này. Ở những sáng tác không được tác giả lẫn giới nghiên cứu văn học xem là tự truyện, bóng dáng cuộc đời của người viết vẫn khá đậm. Với những tự truyện giàu chất tiểu thuyết xuất hiện sau 1986 (Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Ba người khác), do độ lùi thời gian cùng sự can thiệp trực tiếp, có dụng ý của cái “tôi” người viết, chân dung tác giả trong truyện có độ lệch khá rõ so với cuộc đời thật của nhà văn. Các sáng tác trước 1975, do chưa có sự cách biệt lớn giữa thời gian viết và thời gian được nói tới, người viết đã nhìn lại chính mình và người khác, những sự việc đã qua gần với sự thật hơn. Những câu chuyện trong tập sách này[2] cho thấy tính chỉnh thể duy nhất của hình tượng tác giả – người ngược miền kí ức, hiểu và yêu mỗi nơi in dấu chân mình, luôn bị thôi thúc bởi nhu cầu được sống lại với quá khứ xót xa nhưng cũng đầy sôi động của bản thân, dân tộc. Những kỉ niệm tươi ròng được nhà văn chắt chiu gom nhặt từ dấu đất, những phác thảo chân dung tài tình, sinh động của một người viết thành thực, thấu trải lẽ đời đem lại cho độc giả nhiều thú vị trong cuộc hạnh ngộ một đại thụ văn chương quen mà lạ. Phục dựng những kí ức “hỗn độn như một giấc mơ” trong độ lùi thời gian chưa thật xa, ngoài thúc bách của nhu cầu ngoái nhìn dĩ vãng, còn đòi hỏi bản lĩnh của sự trung thực, dám chịu búa rìu dư luận, nhất là những người liên quan trực tiếp đến câu chuyện mình kể.
2. Sự chân thành của tự bạch, tự thú, tự vấn
Mở đầu với những câu: “Tên tôi là thằng cu”; “Ông bà ngoại tôi có một cái nhà được ăn hương hỏa” (Cỏ dại) và hai câu kết thúc: “Tên tôi tên anh là Việt Nam. Bởi vì trái tim chúng ta ở Việt Nam” (Ông già ở Agra), toàn bộ tập sách đã thông báo đến người đọc: đây là những lời bộc bạch gan ruột của chính tác giả – nhân vật người kể chuyện. “Tôi” sinh ra trong gia đình “u ám” với người ông nghiện rượu, nghiện con trai nối dõi, người bà thì lầm lũi, cam chịu, người bố vừa bướng vừa lười, người u như cái bóng mơ hồ trong lớp lớp ngậm ngùi, thắc thỏm đợi chờ dài dặc… Tuổi thơ của cậu bé Sen lê thê những ngày tháng buồn tẻ, chua xót trong trùng vây tập tục, thói quen của dân làng, phải thôi học để sớm vào đời, mặc cho dòng đời xô đẩy; tuổi vị thành niên thích hiểu biết, hăng hái, sôi nổi, mưu sinh bằng cái nghề dạy học “a  b c giắt dê đi ỉa”, khao khát lí tưởng như người đi nắng khát nước; tuổi thanh niên chập chững vào nghề văn trong tâm thế “lau nhau”, “điếc không sợ súng”, rồi trở thành người viết văn có lí tưởng cộng sản. Cuộc sống từ cùng quẫn, còm cõi đến hăng say, đầy ý nghĩa hiện lên càng lúc càng sinh động theo sự trải lòng của người viết. Qua lời kể của người trong cuộc, lịch sử đất nước hiện hình cùng với số phận một làng quê, một gia đình, một cá nhân.
Nếu tự bạch chỉ là chủ động bày tỏ chuyện mình thì tự thú là công khai những mặt khuất tối của bản thân. Tự thú thể hiện nhu cầu thành thật với chính mình và với độc giả, ý thức trách nhiệm với con chữ của người viết. Mục đích của lối viết này là trình hiện những mặc cảm tội lỗi, những cái lom lem, nhếch nhác của mình trước người đời, để thiên hạ phán xét, thậm chí giải ảo tưởng về người kể. Đọc Tô Hoài, những thói tật từ thuở chân đất mắt toét đến thời thanh niên sôi nổi bồng bột, tuổi trung niên chín chắn, nhiều hoài niệm… đều được viết lại tự nhiên, thành thực. Đó là cái bệnh nhát gan, thấy gì cũng sợ hãi, thói lêu lổng, lười học, đái dầm, tật nói ngọng, nghiến răng, việc hỏng thi,… (Cỏ dại), chuyện học hành đối phó, ham chơi hơn ham học, thích tìm tổ chim, bắt dế, nhổ trộm rau củ, chọc ghẹo láng giềng (Ông già ở Agra), ngày ngày đi học chẳng nhớ chữ nào, chỉ giỏi trèo tường trốn nợ hàng kẹo, hàng bánh tôm, bẻ trộm nhãn và chơi nhởn dông dài (Mùa hạ đến, mùa xuân đi). Rồi những chiêu trò đi làm muộn, thói sĩ diện hão vì có một tí chữ nên không muốn làm thợ dệt với cái thoi giắt đít (Đi làm), chuyện lang thang ăn mày nhà chùa, những học đòi của thuở chập chững vào đời, cả thói hư lẫn nết tốt của thiên hạ, thói anh hùng rơm, ngông nghênh, dở hơi, việc viết khỏe, viết tràn lan do thúc bách của áo cơm, thú “xê dịch”, “giang hồ vặt”, “phiêu lưu kiểu kiến bò cho qua cơn trống trải”, những phận đời như chẫu chàng trong ao tù nước đọng, cuộc sống lảng vảng bên hố truỵ lạc, bi hài lẫn lộn của người mang ảo tưởng chữ nghĩa – khi ngất nghểu như thằng rồ, lúc vật vờ, vào đâu nên đấy như kiếp phù du (Một quãng đường), cái hào hùng bi tráng rất tuồng của “Kinh Kha” túi rỗng phiêu dạt kiếm miếng ăn độ nhật, những tháng ngày thất nghiệp, đói rạc đói rày suýt phải “làm tiền” một gái làng chơi (Hải Phòng),… Không ít người cảm thấy thú vị khi nhà văn hóm hỉnh thú nhận: “Trong nghề viết văn cũng có chợ đen và làm xiếc”; khi nghe ông chia sẻ bản thân là “nửa lãng mạn, nửa thời thế”, “học đến đâu viết đến đấy, – bắt chước viết đến đấy”. Chắc cũng không ít độc giả có cảm giác sụp đổ thần tượng khi biết nguyên nhân khiến ông có được kiệt tác để đời Dế mèn phiêu lưu kí chỉ là do tác giả “giỏi đúc dế”, hoặc ngộ ra cái lẽ rất thường trong cảm hứng tư tưởng của nhà văn: “Cái nhìn còn bế tắc hoặc có phần nhẹ nhàng, hay xót xa, hay độc ác và đá chút khinh bạc, ấy là phần nào con người và tư tưởng chán chường của tôi” (Một quãng đường).
Tô Hoài đã đẩy quá trình tự soi rọi bản thân lên một mức cao hơn: tự vấn. Việc tự hỏi để xem xét lại mình là một phẩm tính thường thấy của con người trong tự truyện đương đại. Nhìn lại những trang viết đầu đời, tác giả tự thấy đó là “những sáng tác non dại”, kết quả của trình độ tư tưởng, hiểu biết chưa mấy đúng đắn, xa rộng của bản thân. Cái ao ước “thế giới đại đồng” của Dế Mèn, Dế Trũi, Châu Chấu Voi, Xiến Tóc trong Dế mèn phiêu lưu kí, theo Tô Hoài, là cái hiểu chủ nghĩa cộng sản “với vẻ đẹp và cả những trống rỗng thiếu sót trong suy nghĩ tôi”; “Sáng tác của tôi còn nhiều thiếu sót trong yếu tố tự nhiên chủ nghĩa […] nhưng tôi không ngã vào đồi truỵ, tắc tị và theo thời” (Một quãng đường). Tự vấn cho thấy sự chín chắn, nghiêm khắc, cầu toàn và trưởng thành theo thời gian của tác giả trong lối sống, nghề nghiệp, lí tưởng. Hành trình từ sống đến viết, rồi trở thành nhà văn – chiến sĩ cách mạng cũng hiện lên chân xác hơn. Những tự vấn về ý nghĩa của tuổi trẻ, về chân giá trị của nghề viết, về ước mơ, hoài bão, lẽ sống mà nhà văn chiêm nghiệm từ chính cuộc đời mình, từ gần 50 năm trước trong Một quãng đường vẫn còn có tính thời sự, vẫn là bài học quý cho hôm nay và mai sau:
“Ai không thích nhởn nhơ đi đây đi đó. Xưa nay, bài hát đáng hát nhất là bài hát giục lên đường. Nhưng lên đường đi đâu? Tuổi trẻ chúng ta bây giờ đi đâu? Đi đâu? Cất bước trong một buổi mai, nhắm cái phía chân trời mới đỏ thắm màu hi vọng, những người thanh niên bốn phương của đất nước! Chớ không phải giang hồ mà mắm miệng lôi cái va li cà khổ lếch thếch…
Miêu tả xã hội đau khổ là đúng; chỉ có đem văn học ra phụng sự quốc dân mới đúng là giúp nước.
Không thể vừa hút thuốc phiện và đi chơi gái, vay tiền rồi quỵt mà lại vừa văn hoá cách mạng.”
3. Lối vẽ chân dung độc sáng
3.1. Tự họa chính mình qua nét bút u mua
Muốn tự vẽ chân dung mình, ngoài năng khiếu hội họa, cần có sự trung thực. Nhìn người thì dễ, ngắm mình như bản thân vốn dĩ quả thực khó. “Ta là ta mà lại cứ mê ta!” (Chế Lan Viên). Tự mê nên tự huyễn hoặc mình là chuyện thường của người đời. Tô Hoài không thế. Ông họa chân dung mình, từ ngoại hình đến nội tâm đều rất thật. Thậm chí, để cho giống thật hơn nữa, thi thoảng tác giả còn dùng cả lối phóng đại, bút pháp tự nhiên chủ nghĩa.
Qua từng nét vẽ, trong từng mốc thời gian, từng hoàn cảnh sống, chân dung nhà văn hiện lên, càng lúc càng đậm rõ, càng khó lẫn với kẻ khác: từ cái tên lúc chung chung (thằng cu), lúc kì quặc (thằng Bòi Cẩu, thằng đầu mốc), đến thân hình kheo như cái nứa tép, cổ gầy ngẳng, chân tay bé, lưng dài, đặc biệt là cái đầu có một không hai: trọc và to thô lố, lồi dài ra phía sau, lại méo mó, gồ ghề, lồi lõm như quả mít cọc, thâm xỉn như củ nâu, sùi mặt quỷ lồi lõm, như cái chõ (Cỏ dại). Chỉ bằng hình ảnh có phần cường điệu về cái đầu trẻ con ngoại cỡ này, Tô Hoài đã tạc được dáng nét mình vào tâm trí độc giả. Ở tuổi thanh niên, nhà văn cũng khiến chúng ta ngậm ngùi thương cảm khi thấy nhân diện thảm hại, “hãm tài” của ông: “Hai bên mạng sườn vêu vao như cái tượng ông Phật “nhịn ăn” trên chùa”; “Cái thắt lưng lỏng, lúc lúc lại tụt, lại phải xoay người, núc lại. Gấu quần sau đã xổ hết, lại lấm và lướt mướt – thật bẩn, thật không lịch sự” (Đi làm).
Về tính cách, từ thuở ấu thơ, con người ấy đã giàu lòng yêu thương những  người đồng cảnh ngộ: thương hai đứa em họ cùng hắc lào lang ben như mình, xót xa cho những người thầy cơ hàn, cô thế (Cỏ dại, Mùa hạ đến, mùa xuân đi, Đi làm); đồng cảm, biết ơn những người cùng chung hoạn nạn, đói khổ, ái ngại, cảm thương cho những bạn văn chương bị cơm áo ghì sát đất (Một quãng đường, Hải Phòng). Đó cũng là thanh niên ham học hỏi, hiểu biết, có nghị lực vượt qua nghịch cảnh, giàu lòng tự trọng, sống có khát vọng, lí tưởng. Không chỉ tài tình ở nét vẽ ngoại diện, những đặc tả nội tâm cũng sống động hóa hình tượng tác giả trong cuộc đấu tranh giữa ánh sáng và bóng tối: buông bỏ, tha hóa và gìn giữ thiên lương, căm ghét, hằn học và tin cậy, thương quý con người, cuộc đời, lữ khách tôn thờ cái đẹp ảo mờ và nghệ sĩ phục vụ sự nghiệp cách mạng, nhân dân,… Vượt qua sự phơi trải những câu chuyện riêng tư rời rạc, cảm tính, yếu tố tự truyện được Tô Hoài đưa vào tác phẩm đều có ý nghĩa trong quá trình hình thành nhân cách của nhà văn đặt trong mối tương quan mật thiết với “hoàn cảnh rộng” là bối cảnh chính trị, lịch sử, văn hóa của thời đại.
Tô Hoài từng nghĩ: “Người ta hình như không mấy khi tỉ mỉ nhìn ngắm những người thân” (Cỏ dại). Với tự truyện, tác giả đã không chuồi theo cái lẽ thường ấy. Có cảm giác cái đầu quá cỡ của ông chứa hằng hà sa số những vách ngăn kỉ niệm. Việc nhớ vanh vách từng tên, tưởng ra từng khuôn mặt là lợi thế của của nhà văn khi viết về cái đã qua của bản thân, bạn hữu. Nhờ tài năng trời phú này, dù các câu chuyện viết về những thời đoạn khác nhau, nhân vật xuất hiện khá nhiều, đủ mọi thành phần, không theo một đường dẫn sự kiện thống nhất, nhưng mỗi người đều có một nét riêng để không trượt qua bộ nhớ của người đọc.
Lối vẽ chân dung của Tô Hoài cũng rất linh hoạt. Có người tác giả chú trọng ngoại hình: ông ngoại đầu cạo nhẵn, lơ thơ tóc bạc, ngó được cả da đầu bóng đỏ, những bắp thịt nhẽo, da teo lại, tưởng có thể kéo chun ra được như những miếng yếm cổ bò; bà ngoại với cái gót chân to bè, nẻ khía từng múi như múi cà bát; người u với khuôn mặt trăng trắng, đôi mắt nhỏ, lòng đen nhuốm màu nâu đồng, cái áo nâu bạc, chân đi đất, đôi quang gánh loi thoi; người bán kẹo xóc mặc quần áo nâu bạc hai vai, mặt rám nắng, đen thủi; bác trạm tráng với hàm răng trắng tểnh, mặt đen như tây bồ hóng;… (Cỏ dại). Những thầy giáo biến chất, bạc nhược thì nổi bật bởi “bộ ria vểnh, hai con mắt nhau nháu nhìn người nói chuyện” (Mùa hạ đến, mùa xuân đi), dáng người “còm nhỏm, mặt choắt chéo như hai ngón tay kẹp” (Đi làm); các cô gái làng chơi mạt hạng thì “nhày nhụa”, lưng “cong cong như cái đóm mỏng” (Hải Phòng). Ở đây, ngoại hình thường gắn với tính cách, số phận nhân vật theo kiểu “trông mặt mà bắt hình dong”.
Cũng có người được nhà văn tạo hình bằng tên gọi, hành động, tính cách, bằng những sự vật đi kèm… Thầy giáo Tỏi dữ đòn, tay không rời cái roi da (Mùa hạ đến, mùa xuân đi); đôi vợ chồng Cần – Thúy ám ảnh không dứt tâm trí người đọc bởi một thứ lòng tốt kì lạ, không hề so đo, toan tính thiệt hơn (Hải Phòng); ông già Ấn Độ dạt trôi sang nước Việt thì đặc biệt ở cái lối ngủ ngồi chẳng giống ai (Người đàn ông ở Agra),… Chiếm số lượng nhiều nhất là những bạn văn, cả thân lẫn sơ của tác giả. Như Phong đáng nhớ ở dáng người bệ vệ rất nghệ sĩ, cách nói thẳng như ruột ngựa, ở chi tiết không chịu lễ sống các bề trên nhà gái trong ngày cưới, vì vậy nhà gái không cho đón dâu. Kim Hà thì mù chữ, mặt rỗ chằng chịt, ốm hen nặng, người lử khử như con cò ruồi. Thôi Hữu với nỗi buồn nhiều khi thật vẩn vơ;  Nguyễn Đình Thi có giọng hát tuyệt vời, khiến kẻ thù cũng phải ngưỡng mộ; Đinh Hùng mặc quần thủng đít; Nguyễn Bính làm thơ tán gái đầy chua chát: “Chùa Hương xa lắm em ơi/Đò giang cách trở, chịu thôi cô mình/Câu này anh nói thật tình/Muốn đi thì phải cho anh mượn tiền”. Lê Văn Trương có trò ảo thuật dao găm, đầu lâu, chậu nước và câu thần chú để bẫy các ông xuất bản; hoạ sĩ Trần Đình Thọ gầy quắt queo thường ngồi trầm ngâm với cái tẩu gộc, to bằng nắm tay; Nguyễn Huy Tưởng có chiếc xe đạp không có chắn bùn với cái ghi đông vểnh. “Tưởng đem đút cả vào ruột ghi đông rồi đậy lại cái tay nắm bằng nhựa đen” (Một quãng đường)… Có chân dung, ông phối hợp nhiều họa pháp, lại còn thêm vào một “chất liệu” đặc biệt: tình cảm thương quý, trân trọng của người vẽ. Một trong những trường hợp như thế là Nam Cao – người bạn thân của Tô Hoài từ thuở long đong lận đận ở Kẻ Chợ đến những lúc kề vai sát cánh, vào sinh ra tử ở chiến khu cách mạng. Mỗi hoàn cảnh, tác giả lại phát hiện một nét riêng trong tổng thể chân dung kẻ tri âm tri kỉ của mình. Nam Cao – đó là người hay nghĩ, cả lo, ngồi với anh em quen thì nói như trạng, nhưng gặp ai lạ thì im thin thít, mặt đỏ lên tận tai. Con người ấy bao giờ cũng cẩn thận và dè dặt, hay ngượng khi nghe ai khen mình; vốn trầm tĩnh, nhưng đã bốc thì hay tuyệt đối và coi trời bằng vung; thường có lí luận và nhận xét khẳng định thiết thực, lại vui vui, gàn gàn một chút. Với gia cảnh nheo nhóc một vợ ba con, tác giả Chí Phèo phải đi dạy kèm để được đỡ thêm ít đồng tiền ăn. Chi tiết Nam Cao đưa truyện ngắn Lò gạch cũ cho nhà xuất bản Đời Mới –  một hiệu thuốc chữa bệnh lậu ở phố Hàng Cót – với suy tính: “Cái thằng xuất bản hạng bét này có thể quý bản thảo”, nỗi đau không thể nói thành lời của nhà văn khi đứa con gái út chết vì đói, nỗi xúc động quá lớn của Nam Cao trong buổi lễ kết nạp Đảng được kể chân thành, cảm động, gợi nhiều đồng cảm cho độc giả.
Mỗi người một vẻ, ai cũng có điểm riêng để nhắc nhớ người đọc. Đây là biệt tài của Tô Hoài, đã sớm hiển lộ ngay trong Dế Mèn phiêu lưu kí với hàng loạt nhân vật đồng thoại: Mèn, Trũi, Choắt, Nhà trò, Nhện, Chim trả,… Đến tự truyện, cùng với độ chín của tài năng, sự từng trải trong tri nhận sự việc, con người, “phòng trưng bày” chân dung bằng chất liệu ngôn từ cả một xã hội, một thời đại của nhà văn càng mới mẻ, đa dạng, đặc sắc thêm. Văn trung hữu họa (trong văn có họa) là nhận định không quá võ đoán về những chuyện đời tự kể này.
4. Nỗ lực đánh thức quá khứ, lịch sử
Tự truyện Tô Hoài là minh chứng cho sự song hành giữa lịch sử – tâm hồn một cá nhân với lịch sử – văn hóa của một cộng đồng, đất nước. Những sinh hoạt tinh thần, những biến cố mang tầm thời đại của làng quê, những sự kiện chấn động trong nước và thế giới đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hình thành, phát triển nhân cách của chính tác giả. Ta gặp lại ở đây các phong trào, hoạt động cách mạng, văn hóa văn nghệ  từ trứng nước đến trưởng thành, ta có thêm cơ hội hiểu hôm qua để thấu cảm hôm nay.
Viết về lịch sử, đòi hỏi nhà văn phải trung thực với sự kiện, nhân vật. Tô Hoài, qua tự truyện, đã đáp ứng được yêu cầu tiên quyết này. Người viết đã phục dựng sống động cái đói khủng khiếp, tang thương ở vùng Nghĩa Đô quê mình và những làng quê miền Bắc trước 1945, việc làm đường cái quan xuyên Đông Dương khiến hàng vạn người bỏ xác nơi rừng thiêng nước độc, các hoạt động ái hữu bồng bột, cuộc mít tinh ngày Quốc tế Lao động năm 1938 ở nhà Đấu Xảo, thủ đoạn đàn áp và dao kéo kiểm duyệt của địch đối với sách báo xuất bản công khai, tâm thế của thanh niên, văn nghệ sĩ trong “thời vứt sách”, sự kiện máy bay Mĩ quần thảo, ném bom Hà Nội, phong trào cách mạng từ thành thị đến chiến khu, báo Cứu quốc Việt Bắc buổi đầu chỉ có “toà soạn” Nam Cao và “nhà in” Trần Đình Thọ;… Những nhân vật lịch sử (Nguyễn Ái Quốc, Lê Quang Đạo, Văn Tiến Dũng, Trần Độ, Trần Quốc Hương, Khuất Duy Tiến,…), các văn kiện lịch sử (Đề cương về văn hóa của Đảng, Chỉ thị về sửa soạn khởi nghĩa) cũng được đưa vào, gia tăng chất sử cho trang viết, bảo chứng cho tính chân thật của tự truyện.
Ngày hôm qua khổ đau, tuyệt vọng vừa chứa chan hào khí, niềm tin và hi vọng sống dậy trong kí ức tươi ròng của người đã sống trải, đã nếm đủ bao nghịch cảnh, bao trạng huống cảm xúc. Cái nhìn, tiếng nói tinh tường của người trong cuộc làm cho quá khứ đánh động tâm trạng, cảm xúc của con người ở hiện tại và tương lai. Đọc những sáng tác này, ta dễ hiểu vì sao những văn nghệ sĩ từng phải sống “một đời tù đày” như Tô Hoài đến với cách mạng, lấy văn chương phụng sự dân tộc là điều tự nhiên, hợp lẽ. “Sống tức là thay đổi”, đổi thay để tìm được chỗ đứng, chân giá trị của bản thân và của dân tộc mình.
5. Mê thuật ngôn từ
Cỏ dại viết năm 1944, khi Tô Hoài mới 24 tuổi, đã cho thấy một chất giọng riêng. Giọng văn có một không hai này được kế thừa, phát triển qua nhiều tự truyện thuộc nhiều giai đoạn sáng tác của tác giả. Người Pháp có câu: “Chính cái giọng chi phối bài nhạc” (C’est le ton qui commande la musique). Giọng điệu trong tự truyện của Tô Hoài pha trộn nhiều sắc độ: khi buồn buồn khi hóm hỉnh, lúc hồn nhiên, thơ trẻ khi triết lí thâm trầm, chân chất bổ bã, ăn cục nói hòn nhưng cũng không ít lúc rưng rưng cảm xúc, miên man hoài niệm,… Thường vào truyện, giọng kể đã tạo ấn tượng mạnh, gây cảm giác như mới hôm qua, như đang ở thì hiện tại tiếp diễn: “Ông bà ngoại tôi có một cái nhà được ăn hương hỏa” (Cỏ dại); “Một hôm, Như Phong đến nhà tôi” (Một quãng đường),… Nhà văn đã làm sống lại hôm qua bằng cách kể hôm nay.
Tô Hoài nổi tiếng với thuật “luyện đan” ngôn từ. Dẫu thừa nhận viết gấp viết vội do sự thúc bách của hoàn cảnh, nhưng ông không vì thế mà qua loa, cẩu thả với câu chữ. Điều này một phần nhờ vốn sống, năng khiếu thiên bẩm, nhưng mặt khác, và là mặt quan trọng, đó là sự đắm đuối với nghề, ý thức trách nhiệm với bạn đọc. Cách dùng từ đắc địa, nêu bật đươc ngoại hình, tâm tính, hành động,… của sự vật đã mang lại nét duyên khó lẫn cho sáng tác của nhà văn. Tự nhận mình là người thích tả cảnh, trường từ vựng miêu thuật cảnh vật được tác giả phát huy thường xuyên, và thành công là điều dễ nhận thấy: trẻ con thả lã, đi tha thẩn như gà; cây cối bùm tumái sân bé hoẻn mà lủng củng những cây; hai vợ chồng chim cùng gầy phờ người; chiếc ô tô hàng như con lợn xề lấm đất vàng khè (Cỏ dại); thân cây đào xù xì, quanh năm thòi ra từng cục nhựa (Mùa hạ đến, mùa xuân đi); ô tô Pháp đậu thành cụm, chốc lại rời ra, bò lên bò xuống như những con bọ hung (1947);… Nhiều chỗ như có hình khối, âm thanh, sống động vô cùng: treo bông bênh mấy cái quang gánh; một chiếc mo vèo rớt, ngã thình xuống đất; tôi nhếch nhải theo sau; mặt giường rập rềnh lún xuống; lô xô những mái đỏ và mảng tường sang sáng; mặt nước Hồ Gươm xanh như nước canh rau muống, rập rờn ngay cạnh đường (Cỏ dại); những ngọn đèn Phố Khâm Thiên thì đỏ bẻm;… Dễ hiểu vì sao nhiều đoạn văn được ông viết cách đây hơn hai phần ba thế kỉ vẫn là những mẫu văn đặc sắc dùng trong nhà trường hôm nay[3] .
6. Trải tâm lên chữ
Chín câu chuyện cùng chung một nỗ lực, một mong muốn làm sống lại “những kỉ niệm mà thời gian dù mài tròn đi thế nào, vẫn còn nhớ” của Tô Hoài. Khác với những tự truyện viết trong thời Đổi mới, khoảng cách giữa hai cực “Tác giả tiểu sử” với “Tác giả – người sáng tác” ở đây không nhiều. Yếu tố  “có thật” vẫn là chủ đạo; kĩ thuật “hư cấu” (autofiction techniques) là thứ yếu. Bản nguyên sáng tạo của nhà văn về cơ bản vẫn là một cá nhân có thật, trải nghiệm, thấu cảm trong chính trang viết của mình.
Những nét xoáy cắt vào kỉ niệm long lanh như những nhát khía đã tạo được dấu ấn, vị thế riêng cho tự truyện của Tô Hoài nhờ những thăng trầm, va đập, đắn đót với cõi mình, cõi người của một cây bút nặng tình với đất quê, người quê trong suốt tuổi hoa niên. Nhu cầu giãi bày, cảm thông và chia sẻ những bí ẩn của đời sống cá nhân đã tạo được sự đồng cảm sâu xa nơi người đọc bởi ở đó dường như không chỉ là số phận, cuộc đời của riêng nhà văn mà còn là số phận của cả dân tộc. Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nhân bản, tích cực trong sáng tác của Tô Hoài mà hạt nhân tạo nên sự thay đổi đó là nhận thức mới về giá trị cá nhân – cộng đồng, về sự nghiêm túc trong trò chơi nghệ thuật của nhà văn. Từ rất sớm, tác giả đã đi trước trong cách nhìn nhận, tiếp cận quá khứ – một đề tài giàu tiềm năng của văn học. Hòa kết trọn vẹn tài năng và nhân cách của một cây bút văn chương bậc thầy, những tự truyện này sẽ còn đi dài với văn chương nước nhà.
Chú thích:
[1] Lại Nguyên Ân (biên soạn), 150 thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, trang 375.
[2] Tô Hoài, Tự truyện, Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 2020. Các dẫn chứng trong bài viết lấy từ cuốn sách này.
[3] Mưa rào, Tiếng Việt 5, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006, trang 31.
23/11/2020
Bùi Thanh Truyền
Theo https://vanhocsaigon.com/

Giác quan thứ sáu, là điều có thật

Giác quan thứ sáu, là điều có thật

Xin được nói ngay, đây không phải là một thứ linh tính, kiểu như lòng bồn chồn, nóng ruột, mắt luôn co giựt, những dấu hiệu báo trước một điều gì hệ trọng có tính chất tâm linh sắp xảy ra như cách hình dung của dân gian. Đây cũng không phải là một thứ trực giác hay sự mẫn cảm thường có ở con người.
Theo phật giáo, đó là một loại tâm giác, chi phối mọi giác quan khác. Còn  theo tri nhận luận, là cách áp đặt lên thông tin nhận thức lên đầu vào của các giác quan.
Giác quan thứ sáu, là điều có thật
Theo phật giáo, con người tiếp xúc với ngoại cảnh không chỉ bằng mắt và tai, mà còn bằng bốn căn hay giác quan khác là mũi, lưỡi, thân và ý. Một nhận xét thoạt có vẻ bình thường, nhưng kỳ thực biện giải cho có ngọn nguồn, có sức thuyết phục cũng không hề đơn giản. Năm giác quan là thị giác (thấy), thính giác (nghe), khứu giác (ngửi), vị giác (nếm), xúc giác (sờ) thì quá rõ ràng, còn ý giác hay tâm giác là gì? Vai trò và chức năng của nó như thế nào trong hệ giác, đặc biệt trong quá trình, nói như ngôn ngữ nhà phật, từ vô minh đến giác ngộ, hiểu là một quá trình nhận thức thông qua những trải nghiệm có tính hướng nội? Mọi hiện tượng bao gồm vật tượng và tâm tượng đều do nhiều yếu tố tụ thành, trong đó năm giác quan được nhìn nhận thuộc phạm trù vật tượng, có hình có sắc. Đó là năm yếu tố căn bản mà cũng là năm căn nguyên, nguồn cội của mọi nhận thức sơ khởi, từ đây sẽ phát sinh nhiều ngọn ngành khác.
Cần lưu ý, dựa vào tiêu chí vật chất, hữu hình, năm giác quan được xem xét như một hệ thống hoàn toàn độc lập, trong đó mỗi giác quan cũng là những yếu tố độc lập tương đối và chúng đảm nhiệm những chức năng khác nhau. Cũng theo phật pháp, ngoài ngũ căn như đã đề cập ở trên, con người còn có một căn nữa, quan trọng hơn rất nhiều, đó là tâm căn hay ý căn, hoàn toàn đồng nghĩa với tâm giác hay ý giác. Nó không được định vị một cách rõ ràng như các giác quan khác, chỉ có thể hiểu là bên trong con người, tùy theo nền văn hóa có thể là ở trong đầu mà cũng có thể trong tim hay trong lòng, trong bụng, trong dạ. Tâm giác vô hình, phi vật chất, nhưng nó lại có ý nghĩa quyết định trong hết thảy mọi việc. Nó là nhân vật chỉ huy, không có nó, mắt sáng cũng như mù, tai nghe cũng như điếc và khi tu luyện đến một trình độ nào đó, tâm giác sẽ giúp con người nhìn thấu về quá khứ, thấy được sự vận động của tương lai, cũng như cảm nhận được cái lẽ huyền diệu của đất trời.
Với tư cách là một ngành nghiên cứu khoa học, quan điểm của ngôn ngữ học hiện đại, cụ thể là ngôn ngữ học tri nhận lại có những điểm rất gần gũi với cách hình dung của nhà phật.
Trước hết với lý thuyết nghiệm thân, các nhà ngôn ngữ học hình dung con người thường dùng những trải nghiệm ngay với chính cơ thể của mình để tương tác với ngoại cảnh. Từ việc phân lập một không gian vốn liên tục thành những thực thể rời rạc với những ranh giới nhân tạo như chính con người cá thể tồn tại trên mặt đất, từ việc tư thế thẳng đứng của con người trong việc định vị không gian và thời gian, đến cả những cảm nhận đơn giản từ giác quan, dùng nó như một cơ sở để phóng chiếu lên những thực thể trừu tượng đều có ý nghĩa nghiệm thân. Và chính những điều ấy chi phối cách nghĩ, cách cảm mà nhiều khi chính con người cũng không nhận ra.
Chẳng hạn, không phải ngẫu nhiên mà trong rất nhiều ngôn ngữ đều tồn tại ý niệm tốt là bên phải, xấu là bên trái, phải là đúng, trái là sai, hay khi nói ai đó là cánh tay phải, là nói đến tính chất thân thiết quan trọng của họ đối với một người khác. Bởi như chúng ta đều biết, phần lớn con người đều thuận tay phải, làm việc với tay phải thì dễ dàng hơn rất nhiều so với tay trái, đó là chưa kể sự phiền toái trong hoạt động của người thuận tay trái. Hay, hãy quan sát khuôn mặt, dáng đi, trạng thái tâm lý của một người hạnh phúc vui vẻ và các biểu hiện của một người buồn rầu, thất bại, chán nản, chúng ta mới thấy hết được ý nghĩa của nguyên lý vui vẻ thì hướng lên, buồn phiền thì hướng xuống và hàng loạt cách biểu thị cho các ý niệm vừa nêu như: bay trên chín tầng mây, phấn chấn tinh thần, lên tinh thần, lòng lâng lâng, nâng tinh thần lên, ngẩng cao đầu, vênh mặt, hất mặt lên trời (vui vẻ)… và xuống tinh thần, suy sụp tinh thần, tinh thần đi xuống, rơi vào tuyệt vọng, ngã lòng, ủ rũ, cúi gầm mặt, đôi mắt cụp xuống (buồn phiền)…
Trong năm giác quan như những thông tin đầu vào của một modul, nếu chịu khó quan sát chúng ta sẽ thấy sự cảm nhận trực tiếp và cả sự xử lý thông tin một cách trực tiếp của con người không nhiều mà thường thông qua một sự chuyển đổi  được gọi là sự chuyển đổi cảm giác được ghi lại trong ngôn ngữ. Trong đó, thông qua cái cụ thể, vật chất, hữu hình để nói đến cái trừu tượng, cái phi vật chất vô hình. Chẳng hạn, vị giác: Bài thơ nhạt thếch, nó đùa nhạt như nước ốc…, xúc giác: Cách định danh tên riêng ở Nam Bộ thô ráp, vấn đề đang hot, khuôn mặt lạnh như tiền…,thị giác: đầu óc nó tối tăm, lập luận sáng trưng…, thính giác: Thời ồn ào  ngựa non háu đã qua lâu rồi, câu văn thánh thót…, khứu giác: Để tiếng thơm muôn đời, lập luận thối không chịu được…. Trong đó, cũng giống như một số ngôn ngữ khác, nhất là trong tiếng Anh, động từ thấy (see) có biên độ biểu đạt khá rộng : Thấy lạnh (nóng, mát, ấm), thấy nhạt (mặn, đắng, ngọt), thấy  thơm (thối, tanh, hôi), thấy tối (sáng, âm u, quang đãng), thấy ồn (im ắng, xì xào, rì rào), đặc biệt với mẫu cấu tạo X+ thấy kiểu như: nhìn thấy, sờ thấy, ngửi thấy, nghe thấy, nếm thấy… hay mẫu  thấy + X  kiểu như: thấy lo, thấy sợ, thấy ghét, thấy thương… thấy xấu, thấy đẹp, thấy sạch, thấy dơ…, đó là lý do vì sao ngôn ngữ học gọi tầm mắt của con người là trường thị giác và là một vật chứa đựng. Tương tự, động từ nghe (listen) cũng có tầm hoạt động, khả năng kết hợp và sự chuyển nghĩa của nó không kém gì thấy. Điều này, hiển nhiên có liên quan đến thần thoại về các hộ pháp Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ trong phật giáo.
Nhìn chung, nền văn minh nào của nhân loại cũng đều ít nhiều đề cập đến vai trò của  năm giác quan, nhất là thị giác và thính giác trong nhận thức thế giới, cũng như giá trị biểu trưng của chúng.
Dễ thấy, phật giáo luận và tri nhận luận đều coi trọng vai trò của năm giác quan trong nhận thức.Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, mặc dù con người dùng năm giác quan như một bệ phóng, nhất là với sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật, đã sử dụng chúng một cách hữu hiệu trong việc nối dài tầm hoạt động các giác quan, nhưng chúng không phải là nhân tố quyết định.
Theo ngôn ngữ học, con người hay khai thác các tương đồng trải nghiệm để lập thức. Nói cụ thể hơn, chúng ta xuất phát từ sự trải nghiệm nhiều hơn, hiểu biết nhiều hơn ở miền nguồn, trong đó sự cảm nhận của các giác quan, để hiểu lĩnh vực trải nghiệm ít hơn, hiểu biết ít hơn ở miền đích, như những chủ đề tâm linh chẳng hạn. Ví dụ ẩn dụ: Đời người là đời cỏ cây, ở đây toàn bộ tri thức về thực vật, từ hạt lúc nẩy mầm đến lúc phát triển, già cỗi… từ gốc cây, thân cây, ngọn cây, hoa lá, quả… đều dùng làm cơ sở để phóng chiếu lên cuộc đời của con người. Điều bao trùm lên tất cả là một sự tương tác. Nói theo nhà phật,tương tác giữa  tâm tượng và vật tượng, hay khoa học tri nhận,tương tác giữa con người và môi trường, tương tác giữa miền nguồn và miền đích. Ngôn ngữ học tri nhận phê phán quan điểm nhị nguyên của phương Tây, cho rằng tâm  hồn tách khỏi thể xác, nó cũng không chia sẻ cái nhìn khách quan chủ nghĩa, tách con người ra khỏi môi trường, với huyền thoại quyền lực của con người, có thể chinh phục được thiên nhiên, lại cũng không thể tán đồng quan điểm chủ quan chủ nghĩa với cái nhìn lãng mạn. Ngược lại, ngôn ngữ học tri nhận chủ trương, thân xác có liên quan đến tư duy, con người là một bộ phận của môi trường, vai trò trải nghiệm của chủ thể tri nhận trong một cộng đồng diễn ngôn là hết sức to lớn, thậm chí có ý nghĩa quyết định trong việc ý niệm hóa và phạm trù hóa thế giới.
Tri nhận luận không quá thiên về tâm giác có tính chất hướng nội như lý thuyết phật giáo, trái lại rất đề cao vai trò trí tuệ của con người. Trong đó, nhận thức không hoàn toàn trùng khớp với hiện thực, ngôn ngữ  không quy chiếu trực tiếp hiện thực mà phải thông qua sự nhào nặn, sự tái cấu trúc, diễn giải rất tinh tế,  rất sáng tạo của chủ thể tri nhận. Nói khác, con người tiếp nhận thế giới một cách chủ động, ngoại cảnh chỉ có giá trị kích hoạt, nhận thức của con người lệ thuộc vào kinh nghiệm, vào sự lựa chọn độ nổi trội và  sự chú ý gắn với những tình huống cụ thể. Chúng ta  trực tiếp trải nghiệm không phải từ thế giới thực mà là thế giới đã được  tái cấu trúc. Liên quan đến vấn đề đang bàn, thông tin đầu vào từ năm giác quan thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác bao giờ  cũng được cơ cấu trí não tổ chức lại, nhiều khi có tính chất vô thức và chính cái cơ cấu ấy quyết định việc hình thành thông tin quan yếu. Nói như ngôn ngữ học tri nhận, dựa vào các thông tin đầu vào, cơ cấu trí não hình thành nên thế giới tri nhận. Đó là  cách ý niệm hóa, bao gồm ý niệm hóa ngôn ngữ và ý niệm hóa văn hóa. Nói một cách hình tượng, ý niệm hóa – một thao tác của trí tuệ, là giác quan thứ sáu trong quá trình nhận thức của con người.
2/12/2020
Trịnh Sâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Về truyện dài kỳ - Một chuyên mục nhật báo trước 1975

Về truyện dài kỳ - Một chuyên
mục nhật báo trước 1975

Lâu lắm rồi, chữ phơi-dơ-tông (feuilleton – truyện dài kỳ) không còn xuất hiện trên các trang báo Việt Nam. Nếu như các chuyên mục với những thể loại  điều tra, phóng sự, bình luận, viết tin… được dạy, nghiên cứu, đề tài luận văn thạc sĩ, tiến sĩ thì phơi-dơ-tông-truyện dài kỳ (TDK) không được nhắc đến và nhìn nhận như một chuyên mục đã từng tồn tại trên báo chí VN từ xa xưa và khoảng  năm 1987 – sau ‘Ván bài lật ngửa’ trên báo Tuổi Trẻ, chuyên mục này đã biến mất. Báo chí hiện nay không còn chuyên mục TDK nữa!
Tạm thời định nghĩa phơi-dơ-tông là truyện dài kỳ, chưa in thành sách, được đăng hàng ngày, hoặc hàng tuần trên báo, hay tạp chí, là một ‘phát minh’ của làng báo Pháp từ thế kỷ 19. Tờ báo ‘Sìèle’ (Thế kỷ) vào năm 1835 đã đăng một truyện dài kỳ về phong tục ở Tây Ban Nha. Thật đáng tiếc, truyện dài kỳ nầy chỉ đăng được 4 kỳ thì ‘ngủm củ tỏi’ vì bạn đọc chê không hấp dẫn. Năm sau, đại văn hào Balzac cũng thất bại khi đăng truyện ‘Vielle fille’ (Cô gái già). Nhưng vẫn hơn đồng nghiệp đi trước đến 11 kỳ. Cũng cùng lý do: Độc giả đòi hỏi truyện phải có tính chất giải trí, hấp dẫn. Phải chi, Balzac đặt tên truyện là ‘Cô gái trẻ’ thì có thể ngon lành rồi.  Có lẽ, thể loại nầy còn hơi thở là nhờ công của tờ báo ‘Journal des Debals’ đăng bộ truyện của Eugène Sue ‘ Les Mystères de Paris’ (Những bí mật của Paris-truyện này đã được xuất bản ở VN). Trong thời gian đăng truyện nầy thì số lượng báo tăng lên vùn vụt. Cạnh tranh, tờ ‘Constitutinnel’ cũng mua bộ truyện ‘Le Juif errant’ (tạm dịch Người Do Thái Lang Thang) cũng của tác giả nầy. Báo đang in ra có 3000 đã vọt lên 40.000 số mỗi ngày.
Sau nầy Alexandre Dumas, tác giả những bộ tiểu thuyết phơi-ơ-tông điển hình Les Trois Mousquetaires, Le Comte de Monte-Cristo. Được xem là một trong những người viết truyện dài kỳ nổi tiếng nhất của Pháp.
TRUYỆN DÀI KỲ THỜI TRƯỚC 1975
Người Việt Nam học cách làm báo từ người Pháp vì vậy những tờ báo VN thời kỳ đầu cũng đã có chuyên mục truyện dài kỳ để… bán báo. Theo nhà văn Vũ Bằng trong bài ‘Báo chí Bắc Việt 34-54 – Văn học(Sài gòn): ‘Phong hóa được hoan nghênh vì báo nầy đã đưa ra một cái mới là tiểu thuyết dài và tiểu thuyết ngắn có tính chất tư sản (phù hợp với người dân lúc đó)’.
Theo ông Lại Nguyên Ân thì thời kỳ rực rỡ nhất của báo chí tiếng Việt thời kỳ từ năm 1913 – 1914 đến 1945 là báo văn hóa, văn nghệ, văn chương. Nền văn chương hiện đại của tiếng Việt ra đời và tựa một phần trên báo chí. Phong trào thơ mới cũng được phát động, cổ động trên báo chí. Các tác phẩm được công bố trên báo chí trước khi xuất bản thành các tập sách.
Ở một góc nhìn khác, dịch giả Thúy Toàn cho rằng không chỉ có thơ, văn mà cả văn học dịch cũng đã xuất hiện nhờ báo chí. Dịch giả Thúy Toàn dẫn chứng: “Tờ Tiếng dân ra đời năm 1927 ở Huế, thì ngay số đầu tiên đã đăng tải bản dịch Phục sinh của Hoa Trung. Bản dịch Phục Sinh được đăng tải liên tiếp từ số đầu tiên kéo dài tới số thứ 86”.
Trong khoảng thời gian từ 1950 đến 54, trên các báo Liên Hiệp đã xuất hiện cây bút Hoàng Ly với ‘Tiếng Địch Trên Sông’, ‘Hận Loa Thành’, ‘Kỹ Nữ Sông Kỳ Cùng’ Nguyễn Quỳnh viết một loạt truyện dã sử trên báo Tia Sáng, còn Bạch Diện là tác giả nhiều bộ dã sử kéo dài mấy năm liền trên các báo Liên Hiệp, Giang Sơn…
Ở Nam Kỳ, làng báo Sài Gòn cũng đã đọc TDK khoảng cuối những năm 1920. Từ năm 1924, Phú Đức đã xuất hiện ‘Câu Chuyện Canh Trường’ trên báo ‘Trung Lập’ và sau đó là ‘Căn Nhà Bí Mật’. Bên báo ‘Công Luận’ thì có Nam Đình. Năm 1929, Hồ Biểu Chánh đã xuất hiện ‘Vì Nghĩa Hay Vì Tình’ hàng tuần trên Phụ Nữ Tân Văn của ông Nguyễn Đức Nhuận. Từ sau năm 1945 trong làng báo Sài Gòn , TDK giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành một tờ báo. Khi xuất bản một tờ báo là, các chủ báo, nhà quản lý phải nghĩ ngay đến các tác giả viết TDK ăn khách. Theo nhà văn Vũ Hạnh ‘…đặc biệt là tiểu thuyết trang trong (nhật báo)  đủ các thể loại’-(Báo chí hôm nay 1954-65-Bách Khoa số 217 ngày 15.1.66). Cũng trong tạp chí Bách Khoa số nầy nhà văn Võ Phiến nhận định ‘… chiếm nhiều chỗ nhất là những truyện để giải trí…’.
Tại sao các nhật báo Sài gòn đều ‘sống chết’ với chuyên mục nầy. Lý do đơn giàn là TDK là một chuyên mục hấp dẫn với những người bỏ tiền ra mua báo. Một tờ báo có thể có đến bốn TDK đủ các thể loại như tâm lý xã hội, truyện trinh thám, truyện ma, võ hiệp kỳ tình, truyện Tàu…để đáp ứng nhu cầu của đủ thể loại độc giả. Một tờ báo nào đó chỉ cần có một TDK  hay, ăn khách, sẽ làm cho tờ báo đó sống vững, sống mạnh khỏe-chủ báo chắc chắn có xe hơi nhà lầu. Đó là trường hợp của các tờ nhật báo Sài gòn mới của bà Bút Trà với TDK của Bà Tùng Long, Thần Chung với tiểu thuyết Cô Bạch Mai do chính Chủ nhiệm Nam Đình viết, những năm 1951, 1952. Ngay cả những tờ báo có tiếng về ‘lập trường chính trị’ như ‘ Sống’, Chu Tử cũng phải mời bà Tùng Long viết TDK. Hoặc tờ ‘Xây Dựng’ của linh mục Nguyễn Quang Lãm thì phải nuôi Duyên Anh với ‘Điệu Ru Nước Mắt’-một truyện du đãng thời thượng lúc đó được cho là viết dựa theo cuộc đời trùm du đãng Đại Ca Thay.
Trong ‘Hồi Ký Bà Tùng Long’ có ghi lại bài viết của ký giả Trần Quân của tờ Times Sài gòn ‘… cái gì trong tờ báo đã khiến cho bà (độc giả) quan tâm chiếu cố đến vậy, bà sẽ nói với bạn không một chút ngần ngại là không phải những chuyện tranh đấu không ngừng của Lumumba, hay cuộc tranh chấp không bao giờ chấm dứt của Phoumi và Phouma, và cũng không phải sự ra đời của một hoàng nam kế vị ngai vàng của xứ Iran, mà chỉ là tiểu thuyết ra hằng ngày trên báo của một cây bút nữ được cả nước nghe tên, được cả nước đọc với bút hiệu Bà Tùng Long… ‘
Người đọc TDK lúc đó là ai? Vẫn theo nhận định của Trần Quân ‘Độc giả của bà (Tùng long)  thuộc nhiều thành phần khác nhau, phần đông ở giới lao động, ít học, những người nội trợ muốn tìm cái chìa khóa hạnh phúc, những kẻ không có phương tiện để đến trường nghe lời giảng dạy của các thầy giáo, cả những quân nhân ở những vùng xa xôi hay những thủy thủ thiếu mái ấm gia đình’. Đồng tình theo nhận định nầy,  tác giả viết TDK chuyên nghiệp Gã Thâm viết ‘Độc giả tiểu thuyết phơi-ơ-tông những năm xưa ở Sài Gòn đa phần là phụ nữ. Ngoài việc mỗi ngày đi chợ, thường là ra khỏi nhà vài bước là có chợ đầu xóm bán đủ thức ăn, ngoài việc nấu ăn, trông con, những phụ nữ ấy có nhiều thì giờ nhàn rỗi, họ đọc tiểu thuyết đăng từng ngày trong các nhật báo. Họ là lớp độc giả chính, trung thành của tiểu thuyết phơi-ơ-tông, và họ rất chịu bỏ tiền mua báo. Báo nào có tiểu thuyết được họ đọc là báo bán chạy’.
Theo tôi, có lẽ hai tác giả nói trên vẫn còn phiến diện khi không nhắc đến những độc giả là đàn ông ở nhiều lứa tuổi và thành phần khi họ thích đọc những truyện trinh thám như ‘Bàn Tay Máu’ của Phi Long (Ngọc Sơn), truyện Võ hiệp kỳ tình ‘Kỹ nữ Gò Ôn Khâu’ (Hoài Điệp Thứ Lang-nhà thơ Đinh Hùng), ‘Lệnh Xé Xác’ (Lã Phi Khanh-Vũ Bình Thư) và kể cả nhiều tầng lớp trí thức mê say truyện chưởng của Kim Dung. Họ đã hàng ngày chờ đợi ‘ Cô Gái Đồ Long’, ‘Anh Hùng Xạ Điêu’, ‘Tiếu Ngạo Giang Hồ’…của ‘Cấm Dùng’ Tiên Sinh (Kim Dung) qua cách chuyển ngữ rất giang hồ hành hiệp của Hàn Giang Nhạn. Nói không quá là  nhật trình lúc đó sống nhờ truyện chưởng. Họ mua báo hàng ngày chỉ vì muốn đọc truyện chưởng dài kỳ của Kim Dung mà thôi. Trong một buổi hội luận dành cho SV báo chí, nhà báo Từ Chung nêu câu hỏi rất giản dị ‘ Tại sao báo VN nào chũng phải đăng truyện kiếm hiệp’  và tự trả lời‘ quan trọng hơn cả, không có kiếm hiệp  thì báo bán không chạy. Báo bán không chạy thì báo chết. Nó giản dị vậy thôi.’ Báo có thể rất nghiêm chỉnh, tin tức bình luận đều hay nhưng không thể không có tiểu thuyết ăn khách. ‘Phi kiếm hiệp bất thành báo’
SỐNG BẰNG TRUYỆN DÀI KỲ
Một tờ báo được độc giả đón nhận nhờ TDK hấp dẫn thì không những đời chủ báo lên hương mà các tác giả viết TDK vẫn có thể ung dung sống thoải mái, thậm chí có người còn đi xe hơi và nuôi cả gia đình như  Bà Tùng Long xác định viết TDK để nuôi con. Và năm 72 bà đã ngừng viết vì các con đã lớn (theo Hồi Ký Bà TL)  Họ-nếu gọi là nhà văn- thì đây chính là những nhà văn đã sống bằng chính nhận bút chứ không cần lương cố định của một tòa soạn nào. Theo tác giả Hoàng Hải Thủy tự nhận xét ‘Tôi trở thành thợ viết tiểu thuyết phơi-ơ-tông chuyên nghiệp, tôi sống bằng việc viết truyện phơi-ơ-tông.’ Lúc ấy, trong làng báo Sài gòn đã xuất hiện những người viết TDK chuyên nghiệp.  Họ chỉ viết TDK để sống và chỉ sống bằng việc viết TDK. Viết xong, nếu  ăn khách, sẽ được nhà xuất bản mua để in thành sách, nhiều tác giả TDK tự xuất bản tác phẩm của mình như Ngọc Linh, Duyên Anh. Thí dụ như trường hợp của Dương Hà, sau khi thành công với TDK đầu tay ‘Bên dòng Sông Trẹm’, từ năm 1952 Dương Hà chuyên viết tiểu thuyết cho nhật báo Sàigòn mới đề sống cho đến khi báo nầy bị đóng cửa vào năm 1964.
Có lẽ thấy viết TDK đăng nhật trình hàng ngày vừa có tiền sống lại vừa phổ biến được tác phẩm nhanh và rộng nên những nhà văn được cho là ‘chính thống’ như Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thụy Long …đều lao vào viết truyện dài kỳ cho các nhật và tuần báo. Nhờ TDK mà cuộc sống của họ dư dã và ổn định. Họ sống được là vì mỗi ngày họ phải cung cấp TDK cho ít nhất là hai tờ nhật báo như bà Tùng Long viết trong hồi ký ‘Anh thử nghĩ xem tôi còn thì giờ đâu để mà viết cho Sống nữa chớ? Tiếng Vang rồi Sàigòn Mới, rồi hai tờ báo tuần Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Diễn Đàn (làm thư ký tòa soạn), Phụ Nữ Ngày Mai với một truyện dài và một truyện ngắn hằng tuần’.Nhà văn Phú Đức, tác giả ‘Châu Về Hợp phố được cho là người viết TDK với kỷ lục viết cho năm tờ báo hàng ngày. Do đó, đích thân ông phải đi giao bài cho từng tòa soạn vì sợ cảnh ‘râu ông nọ cắm cằm bà kia’. Đã từng có nhà văn do đãng trí đưa nhầm truyện viết cho báo B sang  báo A nên hôm đó độc giả không hiểu tại sao anh Hùng đang đưa em Loan đi chơi tửu lầu Đồng Khánh thì lại xảy ra cuộc đánh ghen của hai bà ở tận xứ chó ăn đá gà ăn muối Chắc cà đao và ngược lại. Để tránh tình trạn này, nhà văn Sơn Nam đến từng tòa báo, ngồi vào bàn viết yêu cầu nhân viên tòa soạn cho đọc truyện xem lại ngày hôm trước đã viết đến đoạn nào để ráp viết tiếp cho chắc ăn. Vì có lần sau khi truyện đã đăng báo thì ông chủ bút cho biết là nhân vật X. lần trước đã bị ông khai tử rồi sao bây giớ còn xuất hiện. Thế là ông tìm cách cho nhân vật ‘hồi dương’ một cách hợp lý. Ngay cả Kim Dung cũng lâm vào tình trạng cho nhân vật võ hiệp bị chết vì đao kiếm đoạn trước sau đó xuất hiện và đánh tiếp ngon ơ!
Bạn đọc sẽ không thắc mắc tại sao có sự nhầm lẫn nầy nếu như bạn đã biết các cây bút TDK thường viết đủ số chữ cho phần ‘đất’ trên trang báo chứ ít khi họ viết thành một quyển tiểu thuyết trước rồi lấy ra đăng lại như bây giờ. Chính vì lý do nầy mà nhà văn không được chểnh mảng vì bị ‘thúc vào đít’ hàng ngày bởi trang báo đang để trắng, các ấn công, thầy ‘Cò’ đang chờ bài. Theo họ khi bị ‘rượt đuổi ‘ vào giờ chót như vậy thì họ mới có ‘yên sĩ phi lý thuần’ (aspiration)  mà viết thật hay. Và nhờ viết hàng ngày mà họ có thể đo lường sự quan tâm của bạn đọc về câu chuyện để có ý và hứng thú viết tiếp cho ngày hôm sau. Ông Nam Đình, đang làm chủ báo nhưng lại là cây bút viết TDK, hàng ngày, thường la cà ở các sạp báo để hỏi người bán hoặc độc giả về câu chuyện và các nhân vật của ông xuất hiện trên báo ngày hôm nay. Có độc giả tức tối vì nhân vật nữ bị ám sát thì hôm sau ông liền cho nhân vật nữ sống lại một cách rất thuyết phục –cũng như trong phim, nhân vật chính chết thì lấy gì mà xem!
Giao bài đủ số trang, số chữ là sự thuận lợi chỉ dành riêng cho người viết chứ các chủ báo, chủ bút thì lên ruột từng đoạn. Khi gần hết hạn đưa bài xuống nhà in, ấn công hối thúc thì chủ bút chỉ lạy trời cho ông ‘Phơi’ xuất hiện. Và khi có bản thảo viết tay chi chít những con chữ thế là một guồng máy bắt đầu  náo loạn từ thợ sắp chữ, sửa lỗi đến thợ bản vổ. Thỉnh thoảng khi không nhận được bài thì chỗ trống đó sẽ được trám vào bằng bài thơ thẩn, sưu tầm nào đó với giòng chữ cáo lỗi bạn đọc ‘Vì tác giả bệnh bất  ngờ nên truyện phải tạm ngưng hôm nay. Mong bạn đọc thông cảm và chờ đọc vào số báo ngày mai’. Đến chế độ Nguyễn Văn Thiệu, các bài viết trái ý kiểm duyệt sẽ bị đục bỏ, nên tranh thủ và cũng để châm biếm sự kiểm duyệt báo chí các tòa soạn thường dùng bốn chữ ‘Tự Ý Đục Bỏ’ làm cho bạn đọc tưởng truyện đang có ‘vấn đề’ hay thiên cộng. Còn nếu như nhà văn bị bệnh dài ngày thì những người trong tòa soạn sẽ cùng nhau viết tiếp truyện đang dang dở. Các nhân vật ra sao thì ra để tác giả hết bệnh tự xử trí. Đây là trường hợp của truyện dài “Một Triệu Đồng” của nhà báo Như Phong đăng trên nhật báo Tự Do, khi Như Phong bị lao phổi, do truyện đang ăn khách, toà soạn quyết định tiếp tục. Trong hồi ký ‘Tôi Làm Báo’ nhà văn nhà giáo Tạ Quang Khôi kể lại: ” Ông Nguyễn Hoạt yêu cầu mỗi người viết một đoạn để chờ ông Như Phong đi làm lại”. Và truyện dài của nhà báo Như Phong đã được nhà thơ Đinh Hùng, nhà báo Nguyễn Hoạt và sau đó là Tạ Quang Khôi viết thay cho tới khi nhà báo Như Phong trở lại toà báo.
Vì phải viết cho nhiều tờ báo trong một ngày nên một số ít nhà văn viết TDK đã nhờ người viết thuê ẩn danh để họ ký tên. (Bây giờ gọi là Ghost writer). Việc nầy ít khi được tiết lộ công khai vì thỏa thuận ngầm giữa hai bên nhưng không phải là không có. Theo nhà văn Vũ Bằng, Lê Văn Trương và chính ông cũng nhờ người viết thuê rồi đứng tên là tác giả: ‘Có nhiều truyện của Lê Văn Trương viết mà không phải chữ của Trương. Tôi bảo anh chính là ‘mọi’ viết chớ không phải là anh viết thì lập tức anh thề liền ‘tôi mà nói dối chết một đời cha ba đời con’.  Những nhà văn , nhà báo Âu Mỹ nuôi ‘mọi’ để viết rồi ký tên mình vào đó là chuyện thường thấy ,có gì lạ đâu. Tôi đã từng có lúc viết không kịp cũng phải nhờ ‘mọi’ giúp. Đó là thời kỳ 1940-42 tôi đưa ra loạt bài nói về các thứ ma quỷ, siêu hình học ( một ông giáo bây giờ đã qua đời giúp việc cho tôi hàng tháng) lúc tôi viết về loại báo Tabloid của Mỹ đăng trên ‘Trung bắc chủ nhật’. Và lúc tôi nhận viết mỗi tuần một ‘Truyện có thực’ và mỗi tháng một truyện dài hoặc để đăng ‘Phổ thông bán nguyệt san’ hoặc đăng báo ‘Truyền Bá’ (Văn Học- số 74 –sài gòn 1967)
 NHỮNG CÂY BÚT TRUYỆN DÀI KỲ CỦA LÀNG BÁO SÀI GÒN
Tôi chưa có đủ tài liệu để xác định xem người viết TDK đầu tiên trong làng báo Sài gòn là ai  nhưng, tạm thời, theo dòng thời gian thì một trong những tác giả viết TDK xưa của Sài Gòn là Hồ Biểu Chánh, tác giả những bộ truyện nổi tiếng Tỉnh Mộng, Cay Đắng Mùi Đời, viết năm 1923, Ngọn Cỏ Gió Đùa, viết năm 1926.Tác giả thứ hai là Phú Đức với những bộ truyện đúng kiểu tiểu thuyết phơi-ơ-tông như Châu Về Hiệp Phố, viết năm 1926, Căn Nhà Bí Mật, viết năm 1929, Tình trường huyết lệ, viết năm 1930..vv.
Riêng nhà văn Phú Đức được cho là người chiếm kỷ lục viết TDK cho năm tờ báo một ngày. Xuất thân từ nghề ‘gỏ đầu trẻ’, đang yêu đương phơi phới, chàng trai tỉnh Gia Định bèn dàn trải mối tình thơ mộng của mình bằng TDK đầu tiên mang tên ‘Câu Chuyện Canh Trường’ trên báo ‘Trung Lập’của ông De Lachevrotière do ông Trương Duy Toản làm chủ bút vào năm 1924. Ai mà dè, từ TDK đầu tiên đó, Phú Đức được ông Trương Duy Toản tiếp tục viết TDK ‘Căn Nhà Bí Mật’, ‘Châu Về Hiệp Phố’.  Cả hai bộ TDK nầy đã mang lại cho báo Trung Lập số độc giả kỷ lục trong làng báo thời ấy. Sau đó, ông được nhà báo Nam Đình mời về báo Công Luận làm chủ bút. Ở tờ báo nầy , mang danh là chủ bút, ăn lương ngang với Đốc Phủ Sứ nhưng chỉ có việc duy nhất là viết TDK ‘ Tiểu Anh Hùng Võ Kiết’ rồi ngồi lên xe hơi xì-gà mà rong chơi với các người đẹp ái mộ khắp Sài Gòn.
Sau thời kỳ ‘nhung lụa’ ngót nghét cũng gần 20 năm, Phú Đức phải còng lưng viết TDK cho 5 tờ báo mỗi ngày. Ông làm việc như công chức, đúng giờ, đúng khắc. Mỗi buổi sáng, ông đến nhà một bạn làng văn, đóng đô ở đó viết cho đến xế trưa là đã xong số lượng trang viết cho các tờ báo đang chờ bản thảo của cây bút được quảng cáo là ‘…Đứa con tinh thần mà tác giả đắc ý nhất, sau bao nhiêu năm dầy công thai nghén một cốt truyện ly kỳ, rung rợn, quyết làm cho độc giả càng đọc càng mê say, cảm động…’. Nhưng thật ra những đưa con tinh thần nầy chính là những TDK đã đăng trên Trung lập và Công Luận rồi được ông xào nấu lại từng kỳ cho các tờ báo đang đói TDK. Hậu quả là vào năm 1952, một tuần báo đã viết bài với cái tít giật gân là Phú Đức: Tiểu Thuyết Gia Bổn Cũ Soạn Lại’. Một nhà văn thiếu nhi cũng là một nhà báo kênh kiệu đã nhận xét ‘Trong lịch sử làm báo  duy nhất một nhà văn Phú Đức quyến rũ độc giả ròng rã mấy năm bằng Quách si ma , nhân vật kỳ bí của triền miên phơi ơ tông Châu về Hiệp phố. Nhật báo của ông là … Châu về hiệp phố. Độc giả tranh nhau mua báo của ông chỉ để theo bước chân đi của Quách si ma ! Sức quyến rũ của ngòi bút Phú Đức thật đáng nể. Thời đó, chỉ có một người viết TDK đứng sau Phú Đức là Nam Đình. Dù là chủ tờ báo Thần Chung (1950) cũng thuộc loại có ‘số má’ nhưng ông đích thân viết TDK hàng ngày. Nếu Phú Đức được làng báo lúc ấy phong là người viết TDK ‘Bổn cũ soạn lại’ thì Nam Đình được tặng danh hiệu là ‘đại hải trường giang’. Từ TDK ‘Bà Lớn’ qua ‘Cháu Bà Lớn’ rồi ‘Cô Bạch Mai’ tới ‘Cô Bạch Mai’ tới ‘Cháu Ngọc’ Nam Đình đã cứu tờ Thần Chung đang từ chỗ sắp đình bản vươn lên thứ hạng nhất nhì lúc đó. Trước đó thì có ‘Kòn Trô’(1941), ‘Sương Giò Biên thùy’(1948) của nhà văn Lý Văn Sâm.
Nếu bên Thần Chung có ‘ Cô Bạch Mai’ thì năm 1952 bên Sài Gòn mới của bà Bút Trà xuất hiện ‘Bên Dòng Sông Trẹm’ của cây bút mới toanh Dương Hà. Do nổi tiếng nên truyện được xuất bản thành sách ngay sau khi đăng hết trên báo. Không thua kém, bên báo Tiếng Chuông xuất hiện Ngọc Sơn với những TDK ‘Ngày Về’,  ‘Hồng và Cúc’, ‘Sau Dẫy Nhà Lầu’. Sau 1954 Ngọc Sơn chuyển qua viết TDK trinh thám kỳ tình ‘Bàn Tay Máu’ (có tranh minh họa kèm theo)  với bút hiệu Phi Long trên báo Sài Gòn Mới.
Nói đến TDK tâm lý xã hội ăn khách nhất lúc đó không thể kể đến hai cây bút nổi tiếng của những năm 1950 là bà Tùng Long, bà Lan Phương. TDK của các nữ sĩ nầy đều có nhân vật chính là phụ nữ , thường gặp hoàn cảnh éo le nhưng đều vượt qua nghịch cảnh và kết truyện đều có hậu. Tất cả TDK của hai bà đều đề cao tình nghĩa gia đình, đề cao người phụ nữ nên đa số độc giả là nữ đều mê mẩn. Sau năm 1965 nhật báo Sài Gòn có mấy cây viết phơi-ơ-tông nữ nổi tiếng: Túy Hồng, Lệ Hằng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng. Tôi đọc được trong một cuộc phòng vấn trên báo bà Nguyễn Thị Hoàng cho biết trên bàn viết lúc nào củng có hai …máy đánh chữ dành để viết hai truyện khác nhau cùng lúc. Khi viết bị bí truyện nầy thì nhảy sang viết truyện kia.
Không thua bà Tùng Long, Lan Phương các cây bút nam giới cũng có Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc với những truyện dài về sông nước và con nguời nam bộ. Bình Nguyên Lộc đăng đoạn đầu truyện dài kỳ’ Phù sa’,  đăng trên báo Thanh Niên năm 1943, với tên Di dân lập ấp. Ông đã mê hoặc được độc giả nhờ truyện nầy. Sau đó, ông viết lại được độ 1/6 tác phẩm, cho in trên tuần báo Nhân Loại. Theo lời Bình Nguyên Lộc, Phù sa là “tác phẩm quan trọng nhất” của ông, làm sống lại cuộc “tiến vào Nam” của đồng bào Nam-Ngãi để dựng nên miền Lục Tỉnh’. Ngọc Linh với ‘Như Hạt Mưa Sa’, Lê Xuyên với ‘Chú Tư Cầu’ (Sài Gòn Mai năm 1961), Dân Việt với TDK của Chu Tử: Sống, Yêu, Tình, Loạn xuất hiện năm 1961, 1962.An Khê với ‘ Hai Chuyến Xe Hoa.Lã Phi Khanh, với TDK Lệnh Xé Xác trên báo Tin Sáng. Văn Quang với ‘Đời Chưa Trang điểm’, Nguyễn Đình Toàn với ‘Áo Mơ Phai’,Trọng Nguyên. Dương Trữ La, Lê Minh Hoàng Thái Sơn…đa dạng sắc màu thể loại TDK trên các nhật báo. Ngay cả nhà thơ như Bùi Giáng cũng viết TDK. Khi tìm tài liệu viết bài nầy, tôi bất ngờ nhất là nhà thơ Bùi Giáng cũng viết TDK…võ hiệp. Theo hồi ký của tác giả Kiều Giang thì ‘Bùi Giáng cũng có thời kỳ viết bộ truyện phơi-ơ-tông đăng trên nhật báo sống năm 1970. Anh thường cho hai nhân vật nam nữ khơi khơi dùng thật nhiều hai chữ ‘liên tồn, tồn liên trong truyện, đại khái:
“Nàng có sắc đẹp tồn liên..
“Nàng nở nụ cười liên tồn…’
‘Đa tạ đại hiệp đã có dạ tồn liên…’
Được biết nhà thơ và vì là nhà thơ nên Bùi tiên sinh đã thất bại trong việc viết TDK. Do ‘liên’ (tưởng ) hoài nên TDK của ông không ‘tồn’ (tại) được. Không dễ dàng gì để trở thành một người viết TDK ăn khách nếu không biết kỹ thuật ‘câu rê’ sao cho hấp dẫn mà thời đại ta gọi là câu ‘Viu’ (View). Một bí quyết gọi là ‘nhà nghề’ của Phú Đức là ông viết đến chỗ gay cấn thì cắt ngang, bắt độc giả chờ ngày mai đọc tiếp. Nam Đình thì ra sạp báo, lén nghe ý kiến người đọc để sửa chữa và bổ khuyết cho nhân vật.  Viết dài hay ngắn đoạn nào đó là tùy theo sự thích thú của bạn đọc. Câu rê thuộc loại cao thủ là Lê Xuyên. Trong TDK ‘Chú Tư Cầu’, tác giả nầy cho nhân vật nam từ lúc tay run run chuẩn bị mở nút ‘bóp’ (một loại nút áo bà ba miền nam) cho đến lúc mở được đã kéo dài 15 kỳ nhở vào kỹ thuật viết đối thoại  bằng những từ bình dân nam bộ, linh động và hấp dẫn. Theo kết luận của một nhà văn lão thành thì ‘… Tuy đăng từng ngày, mỗi ngày một tiểu đoạn, nhưng cách viết và lối dựng truyện phải là những bí quyết sắc bén giam nhốt không rời thần trí và ham thích người đọc, đã bước chân qua cửa truyện, là không thể trở lui, phải từng số từng ngày đợi chờ đọc tiếp.Mở đầu đã đầy đặc những tình tiết bốc cháy từ những dòng mê đắm thứ nhất. Chuyển đoạn vừa đố vừa giảng. Chuyện đang vòm trời hiện tại thoắt đã chân trời tương lai. Bằng những diễn biến bây giờ, bằng hồi tưởng, đột ngột kéo ngược hết về thì quá khứ. Bất ngờ cắt đứt một sáo trộn đóng khung trong một cảnh trí này, ném bỗng sáo trộn ấy vào một cảnh trí hoàn toàn khác biệt. Đang thuật đang tả chuyển thành viết thư, nghiêng sang nhật ký. Và thuật tả cũng luôn luôn phải đối thoại len vào. Trăm nghìn xảo thuật hâm nóng cảm giác, làm ngỡ ngàng mọi tưởng trước, sai lạc mọi phán đoản ấy, đã được chuyên chở bộn bề vào tiểu thuyết đăng báo chúng ta hiện nay, bằng con đường điện ảnh, bằng vay mượn và phối hợp cách thức viết với cách thức thực hiện phim ảnh. Nói chung, đó là kỹ thuật của loại phim truyện trinh thám, nghẹt thở, giật gân, bao giờ cũng tạo được tác dụng làm căng thẳng giác quan ta.’
Đó là về mặt kỹ thuật. theo tôi, một yếu tố quan trọng để một TDK thành công là tính chất giáo dục, nhân văn. Tất nhiên, khi viết nhà văn TDK luôn đặt yếu tố hấp dẫn, giải trí lên hàng đầu nhưng nội dung truyện vẫn là cái thiện thắng cái ác, ở hiền gặp lành, đầy đủ ‘nhân, lễ , nghĩa, trí, tín’. Họ thích nhân vật chính là thiếu nữ xinh đẹp, hiền hậu, con nhà nghèo – nghèo mà vẫn giữ được trong sạch – bị rơi vào những cảnh ngộ oan trái nhưng sau cùng vượt thắng được nghịch cảnh, gặp tình yêu. Hoặc nhân vật chính là một thiếu nữ con nhà giàu sang yêu một chàng trai nghèo nhưng lương thiện. Sau cùng tình yêu phải thắng, đôi tình nhân sau trăm cay, nghìn đắng, sẽ thành vợ, thành chồng, sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi.  Nếu truyện có tướng cướp thì tướng cướp sẽ hoàn lương, nếu có kẻ giết người thì kẻ đó sẽ chết, đi tù hoặc đi tu để trả giá cho hành động của mình. Đọc TDK, người đọc sẽ luôn thấy được sự hướng thiện của tác phẩm, những bài học đạo đức đến từ những niểm hạnh phúc, nỗi đau, cách xử thế của từng nhân vật. Tóm lại khi chữ Hết được đặt dưới TDK, người đọc đã tìm ra Chân, Thiện, Mỹ. Bà Tùng Long đã kể trong hồi ký ‘ Có lần tôi đang viết một câu chuyện dài, có chiều hướng không cho hai nhân vật yêu nhau đi đến hôn nhân, thì một buổi sáng vừa để cái cặp lên bàn, toan ngồi lại làm việc thì bà Bút Trà– chị dâu của tôi mà cũng là chủ nhiệm của báo Sàigòn Mới lúc bấy giờ – cho người mời tôi vào và nói:
– Thím không định cho Yến và Thanh kết hôn sao?
Thấy tôi cười mà không trả lời thì chị tôi nói:
– Thím nên cho tụi nó kết hôn với nhau, như thế mới hợp tình hợp lý và mới đúng với cái tên tiểu thuyết mà thím đặt Gương Vỡ Lại Lành.’
 LÀ NHÀ VĂN HAY NHÀ BÁO?
 Dù những TDK trên các nhật báo đã làm say sưa bạn đọc nhưng người viết vẫn không được xem là nhà văn, thậm chí còn có khuynh hướng xem đây là ‘tiểu thuyết ba xu’. Khuynh hướng nầy đã có từ những nhà văn Pháp vào cuối thập niên thế kỷ 19. Nhà văn Pháp Eugène Sue với những tác phẩm nổi tiếng lúc ấy vẫn chỉ được xem là Feuilletonniste chứ không gọi là nhà văn.  Còn ở Sài gòn thời ấy, theo Trần Quân (Hồi Ký Bà Tùng Long) ‘…Mặc dù không có một quyển sách nào của bà được các nhà phê bình đem ra phê bình như một tác phẩm văn học của những nhà văn được coi là trí thức lúc bấy giờ, chính bà Tùng Long cũng tự nhận mình không phải là một nhà văn…’
Có lẽ nhà văn Võ Phiến là người không xem trọng TDK như N.H.Qviết: ‘Trước 1975, dù biết phơi-dơ-tông rất được ưa chuộng, dù hiểu nguyên nhân của sự ưa chuộng ấy nằm ở phần đàm thoại, song tự thâm tâm, tôi đoán, Võ Phiến có chút khinh rẻ loại văn chương nhật trình mà ông, cũng như nhiều người khác nữa, không coi là văn chương thực sự.’
Trong một bài viết của mình, nhà văn Võ Phiến đã cho rằng các nhà văn viết TDK đã đi vào xu hướng bình dân:
‘…Mặt khác, viết tân văn tiểu thuyết đăng nhật báo, một việc như vậy không phải chỉ ảnh hưởng đến túi tiền của nhà văn mà thôi, nó còn ảnh hưởng đến bút pháp, văn phong, rồi có thể dần dần đến quan niệm sáng tạo của nhà văn nữa không chừng. Mai Thảo có lần nhận rằng: “Hiện tượng của truyện dài viết từng đoạn, đăng từng kỳ nơi trang trong các nhật báo (…), đẩy hầu hết những cây bút sáng tác chuyên nghiệp hiện nay tới kiếm tìm một văn thể mới, áp dụng một bút pháp mới.” Quả thật phải có văn thể bút pháp khác: truyện nhật trình không thể là thứ truyện cô đọng, văn nhật trình không thể là thứ văn chương cầu kỳ, bí hiểm. Đã chấp nhận viết nhật trình, chấp nhận “xuống đường”, thì phải hòa mình vào quần chúng. Mà một khi hòa mình đôi ba năm liền vào quần chúng, các vị cao sĩ kiểu cách làm sao còn giữ nguyên được kiểu cách xưa! Cho nên xuề xòa như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam… thì thêm một tí xuề xòa nữa sau thời kỳ trăm hoa đua nở của nhật trình; còn các nữ sĩ thoạt tiên ngại ngùng e lệ như Thụy Vũ, Túy Hồng, Nhã Ca v.v…, viết nhật trình riết một lúc rồi ai nấy lưu loát mạnh dạn, ai nấy ào ào như gió táp mưa sa, nữ cũng bạo mồm bạo miệng không kém nam; đến như Mai Thảo, như Thanh Tâm Tuyền v.v…, thuở suy tư trên Sáng Tạo và lúc dạn dày trên các trang nhật trình phong cách thật khác xa!’
Ngay cả nữ nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ – một cây bút TDK cũng chua chát nhìn nhận trên Nguyệt san Minh Đức xuân 74 như sau:
‘Chị Túy Hồng vốn là bạn thân nhất của tôi thì gặp nhiều thăng trầm rõ rệt trong nghiệp viết văn. Từ Huế vào Saigon, chị được giới độc giả trí thức hoan nghinh nồng nhiệt. Cuộc giao dư giữa chị và các nhà văn thuộc nhóm Sáng Tạo đã đưa đến cuộc hôn nhân giữa nhà văn Thanh Nam và chị. Hạnh phúc lứa đôi làm chị ngưng sáng tác một thời gian dài. Sau khi viết cho tạp chí Vấn Đề loạt truyện dài nhan đề “Những Sợi Sắc Không”, chị được tờ nhật báo Tia Sáng mời viết tiểu thuyết đăng theo thể thức feuilleton.
Kể từ đó, chị nắm lấy cơ hội để viết báo. Vì viết nhiều feuilleton, nên chị phải nghỉ dạy học. Kế đó, đứa con gái thứ hai của chị bị chứng sung màng óc và chết tại Bịnh Viện Nhi Đồng, chị liền ngưng viết feuilleton suốt một năm ròng. Đến khi bắt tay vài việc trở lại, chị như mất hết đà mất hết trớn, mất luôn cả hứng thú. Và rồi, chị bỗng nhiên nhận thấy nghề viết feuilleton không phải là nghề bảo đảm lâu bền cho việc sinh nhai nên chị xin đi dạy trở lại. Kể ra lối viết feuilleton của chị Túy Hồng đối với độc giả miền Nam, nhất là lớp độc giả miệt Hậu Giang Lục Tỉnh thì hơi cao. Đa số độc giả không theo đuổi kịp tư tưởng của chị và cũng không thể thấm nhập được lối chơi chữ trác tuyệt của chị. Bởi lẽ đó, khi viết feuilleton cho các nhật báo, chị đã bỏ rơi độc giả mỗi ngày ở đằng sau khá xa và họ hào hến bắt hụt liên tiếp những tình ý của chị. Nhưng viết trên các tuần san lẫn nguyệt san, Túy Hồng đủ thời giờ để cho tình ý của mình thấm vào đầu óc độc giả hòa tan vào cảm xúc của họ nên chị được họ ái một nồng nhiệt. Hiện nay Túy Hồng vẫn tiếp tục thai nghén và sinh nở. Ngoài ra, chị cũng làm bếp, săn sóc nhà cửa nên cũng không rỗi rảnh để đi lại với bạn bè đồng nghiệp. Tôi thường đến than với chị là càng viết feuilleton, càng đau đầu nhức óc. Chị liền bày cho một diệu kế là khi nào mõi mệt tinh thần, khi nào lao tâm hồn trí thì nên dở quyển kinh hoặc mở tập nhạc ra, ngắt từng đoạn rồi cho vào tác phẩm. Bởi lẻ đó mà nhân vật trong một vài tác phẩm của tôi đều theo đạo Phật và cũng biết ca hát rất là thời trang. Mỗi khi họ có tâm sự là họ niệm Phật đọc kinh. Mỗi khi họ cao hứng là hát véo von bất kể Trời đất. Chị Túy Hồng là mẫu người Huế không mất gốc. Chị không bao giờ dám vào quán để dung điểm tâm hay để giải khát. Luôn luôn, chị giữ thái độ trang nghiêm, e ấp dù tác phẩm của chị sôi bỏng, táo bạo. Nhưng việc viết lách của những nhà văn nữ trang lứa với tôi thì quả thật ồn ào dù không cố tình khoa trương đi nữa.
Viết feuilleton cho các nhật báo chỉ là một công việc cẩu thả của kẻ liều mạng hơn là cuộc xuất thần trong nghệ thuật phóng bút. Đã lỡ theo đuổi vào nghề viết feuilleton rồi, nhà văn không còn thời giờ để đọc sách, không còn thời giờ để suy nghĩ nữa. Chất liệu sống cùng kiến thức càng lúc càng khô kiệt, hao hớt vì sự vung vãi quá trớn của nhà văn. Nguy hiểm ở chỗ không có thời giờ để suy nghiệm lại những chặng đường sáng tác của mình và làm những dự định trong tương lai cho đường lối sáng tác của mình. Người đàn bà làm văn nghệ mà chưa thoát khỏi những nhu cầu thúc bách của sinh kế, đã thấy rõ ngày xế bóng của tài năng mình quá gần kề. Công việc viết lách đối với họ giống như cây tre trổ hết bông trong một kỳ để mà chết. Không có gì chua xót cho bằng người đàn bà cầm bút đang độ chán ngán, muốn gát bút để nghỉ xả hơi trong một thời gian, nhưng không tìm đâu cơ hội quý báu ấy. Và rồi họ phải viết như mang ách để kéo cày.’
Dù TDK có được xem là văn học hay không nhưng vào thập niên 1960, nhiều nhà văn Miền Nam, có số lượng sách khá đồ sộ nhờ viết TDK cho các nhật báo. Bà Tùng Long cho biết là ‘tôi đã xuất bản độ 70 bộ truyện dài và truyện vừa. Truyện đã đăng báo nhưng chưa in thành sách vẫn còn khoảng chục bộ. Truyện nhi đồng viết vì yêu cầu của nhà xuất bản Nhi đồng khoảng vài chục truyện. Còn truyện ngắn cũng vài trăm cái.’
Các tờ báo nhờ TDK mà sống thì chính TDK cũng làm các tác giả trở nên nổi tiếng, gần gũi với công chúng. Ngay ở Mỹ, từng phần của truyện Love story  ban đầu được đăng trên tạp chí The Ladies’ Home Journey[ đã trở thành tác phẩm bán chạy nhất trong năm 1970 tại Mỹ và được dịch ra hơn 20 thứ tiếng.  Giống như Kim Dung với những bộ truyện võ hiệp, nếu hàng ngày không viết từng trang cho Minh Báo thì ông sẽ không thể có Trương Vô Kỵ, Vi Tiểu Bảo, Lệnh Hồ Xung. Nhà văn Sài Gòn cũng vậy. Mỗi tác giả đều có một gia tài tác phẩm đáng thèm muốn như nhà văn Võ Phiến nhận định ‘Nhận viết truyện cho báo hàng ngày tức là ép mình vào một thế kẹt: đã “dính” vào là bị lôi đi tuồn tuột, không thể dừng được. Thành thử trong thời kỳ này sức sáng tác của tiểu thuyết gia bỗng tăng vọt lên. Cùng lượt viết cho năm ba tờ báo một lúc, viết liền trong đôi ba năm, mỗi tác giả đã có vài chục tác phẩm xuất bản’.
Công bằng mà nói, những TDK sau nầy được in thành sách do sự hấp dẫn của nó, không phải không có những quyển tiểu thuyết có giá trị. “Đò Dọc” của Bình Nguyên Lộc, “Áo Mơ Phai” của Nguyễn Đình Toàn là TDK nhưng vẫn đoạt giải văn học danh giá của miền nam trước kia đấy thôi. Đóng góp vào sự ‘giàu có’ của văn học miền nam (tập trung là ở Sài gòn), bên cạnh những tác phẩm văn học in thành sách hoặc trong các báo, tạp chí của các nhà văn nổi tiếng lúc đó như Vũ Hạnh với ‘Bút Máu’, ‘Lửa Rừng’, ‘Ngôi Trường Đi Xuống’, nhà văn Lý Văn Sâm, nhà văn Trang Thế Hy, nhà văn Sơn Nam, nhà văn  Lê Vĩnh Hòa (em ruột nhà văn Võ Phiến), nhà văn Vũ Bằng, nhà văn Nguyên Hùng, nhà văn Ngọc Linh, Cô Hợp Phố… thì các tác giả viết TDK cũng có mặt một số tác phẩm. Những tác giả, những quyển tiểu thuyết còn ‘sống’ đến hôm nay, được độc giả và các nhà phê bình văn học nhắc đến  chứng tỏ nó đã vượt qua cái ngưỡng oan nghiệt của cụm từ ‘phơi-dơ-tông’. Ở Sài gòn thì không thiếu những tác giả và tác phẩm vẫn còn được nhắc và nghiên cứu đến tận ngày nay. Thời gian và văn học sử sẽ đem lại sự công bằng cho họ, cho một chuyên mục báo chí đã từng một thời gây mưa gió trong nền báo chí Việt Nam.
2/12/2020
Lê Văn Nghĩa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Những bài thơ về hoa của Chế Lan Viên

Những bài thơ về
hoa của Chế Lan Viên

Chế Lan Viên (1920-1989) là nhà thơ lớn của dân tộc, một gương mặt tiêu biểu, độc đáo của thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông để lại một di sản văn chương đồ sộ, nhiều thể loại, tiếp tục gây ngạc nhiên cho nhiều thế hệ đi sau. Năm 2020, kỷ niệm 100 năm sinh nhà thơ Chế Lan Viên (1920-2020). Xin giới thiệu bài viết về các loại hoa, sinh thời nhà thơ yêu mến và trân quý.
Osawa (Nhật Bản) trong Minh triết của hoa rất có lý khi cho rằng: Hoa có tiếng nói của hoa (Văn Nghệ, Xuân Nhâm Thân, số 5 và 6, ngày 8/2/1992). Điều này đúng với mảng thơ viết về hoa của Chế Lan Viên. Trong toàn bộ sáng tác của mình, Chế Lan Viên đã dành cho hoa một tiếng nói riêng(1). Nhà thơ nói đến những loài hoa quen thuộc chung quanh mình với một tình yêu nồng thắm, sâu lắng. Chỉ riêng điểm này, ông đã khác nhiều so với những nhà thơ đồng thời. Năm 1985, tại Cộng hoà Liên bang Đức, trả lời Giiter Giesenfeld, ông đã nói rõ quan niệm sáng tác: “Thơ tình, thơ về hoa, về cuộc đời bình thường rất cần thiết. Cần núi cao của chủ nghĩa anh hùng nhưng cũng cần các đồng bằng của đời sống hàng ngày“. Chế Lan Viên cho đó là khía cạnh hằng ngày của cuộc sống con người (côté quotidien de la vie). Có điều là, lâu nay, ta quen nhìn Chế Lan Viên dưới góc độ chính luận, triết học mà bỏ qua hoặc ít nói đến những tiếng nói thầm, dễ yêu của tác giả. Và, ở khía cạnh này, Chế Lan Viên cũng tạo được một thành tựu đáng trân trọng và tự hào.
Thơ về hoa của Chế Lan Viên thường là những bài thơ ngắn, chỉ vỏn vẹn 4 câu. Nó nằm giữa những bài thơ dài viết về những chủ đề lớn. Theo cách nghĩ của Chế Lan Viên, thơ về hoa là một loại sujet quotidien (đề tài ngày thường). Dầu là thế, qua mấy chục bài thơ viết riêng về hoa, người ta dễ nhận ra thế giới tâm hồn của nhà thơ. Ở đây, câu chữ bình dị, sáng trong, không có chút gì kiêu sa nhưng lấp lánh sau đó là những rung động tế vi, trùng trùng diệu vợi. Mong manh một màu sắc, xao xuyến một mùi hương, nhưng sao bâng khuâng lòng người kỳ lạ. Dường như là, với những bài thơ về hoa, Chế Lan Viên muốn trở về với nguồn cội của phương Đông. Đó là Nguyễn Trãi trong Môn hoa mộc với những mai, cúc, tùng, hoa đào, mẫu đơn, hoa nhài, hoa sen, hoa mộc. Đó là Tản Đà:
Tin xuân đến ngọn cây đào
Bảo cho hoa biết ra chào chúa Xuân …
(Vui Xuân – Báo Ngày nay, Xuân 1939)
Đối với người phương Đông, hoa là nhịp cầu tri âm giữa con người với vũ trụ, là thông điệp giữa thế giới trần gian này với đất trời mênh mông, bao la. Hoa là biểu tượng của cái Đẹp, của tinh anh, là tiếng nói của tình đời. Huy Cận, trong Vũ trụ ca, có một bài thơ nói rõ quan niệm này:
Hoa về
Mỗi năm hoa về đây
Hoa nói gì với người
Lòng đời chắc nặng lắm
Hoa nói hoài không thôi.
Với Chế Lan Viên, ở những bài thơ về hoa, như tác giả thường nói, vẫn thẩm thấu hai yếu tố: yếu tố trữ tình (élément lyrique) và yếu tố triết học (élément philosophique). Hoa gạo son là một bài thơ triết luận về thời gian. Seneca, nhà triết học cổ đại La Mã, đã nói: “Mọi của cải trên đời đều là của người khác, chỉ có thời gian là của tôi”. Ý nghĩa thời gian gắn liền với ý nghĩa đời người. Biết vậy, nhưng mấy ai chủ động chiếm lĩnh được quy luật này. Năm tháng vô tình đi qua. Tháng ngày biền biệt trôi. Mùa xuân đến, không hay. Một bông hoa gạo đỏ thắm, thình lình nở, khiến con người quay nhìn lại đời mình. Chế Lan Viên diễn tả rất hay cái thảng thốt của con người trước khắc nghiệt của thời gian. Mùa xuân sắp qua mau, đừng mong ngóng những chân trời xa, những bến bờ mơ mộng.
Chế Lan Viên nói nhiều đến các loài hoa, nào là hoa đào, hoa sứ, hoa hồng, hoa dại, hoa súng, hoa sữa, cả đến các loài hoa ít người đề cập như: hoa chạc chiu, hoa lau, hoa táo, hoa xoan… Ở mỗi tên hoa, với màu sắc và hương thơm riêng, nhà thơ thổi vào đấy những cung bậc tâm hồn.
Tháng ba ta, khi mùa đông đã rũ áo ra đi, gặp tiết xuân, những cành xoan mơn mởn với bao chùm hoa trắng phủ đầy các cành. Một sáng nào, trong khu vườn quen thuộc, mùi hương lạ lan toả. Mùi hương ấy không người sẻ chia, nên:
Không em anh ngại qua vườn
Sợ mùi hương, sợ mùi hương… nhắc mình
(Hoa tháng ba)
Một lần nhìn thấy những hoa súng hồng nở thắm trên mặt hồ, nhà thơ đặt câu hỏi như ngỡ ngàng, rồi cũng trả lời:
Sáng nay ra đường gặp ai? Gặp đoá súng hồng
Hồng như chưa có môi nào hồng được vậy
Có gì đó ở đoá súng hồng để nhà thơ qua rồi, quay ngoắt lại, hỏi tiếp :
Hỏi “Hoa súng hồng, hoa súng hồng, mày có phải hoa không? ”
(Hoa súng hồng)
Chút thẫn thờ đáng yêu ấy là hương vị riêng của bài thơ. Hỏi rồi đáp, đáp rồi hỏi, cái xao xuyến đó mấy ai trong đời được gặp. Bài thơ xinh xắn, tinh tế, nói lên lòng yêu hoa tha thiết của tác giả. Cũng lại có khi, với hoa súng tím, Chế Lan Viên đi vào một ngõ ngách khác của đời thường. Không hiểu sao, mỗi lần nhắc đến hoa súng. Chế Lan Viên thường bộc lộ những tâm sự riêng tư.
– Mỗi lần đau, anh lại đến Tây hồ
Chữa lành anh là hoa súng tím
(Hoa súng tím)
– Người ta chỉ biết màu sen anh đỏ rực
Còn nỗi buồn hoa súng tím biết cho đâu !
(Hoa súng – Di cảo thơ II)
Phải chăng, với những câu thơ như thế, ẩn bên trong một tâm trạng kín đáo. Tuổi sáu tư, tôi mới biết màu hoa dân dã – Biết hoa rồi, tôi đã sáu mươi tư (Hoa súng An Giang). Không phải đến tuổi ngoài sáu mươi, nhà thơ mới tìm đến và yêu hoa súng. Chẳng qua, đó chỉ là một cách nói. Song, hình như là, mỗi chặng đường đời, dẫu vinh quang hay cay đắng, nhà thơ đều tìm thấy ở hoa một người bạn tri âm. Hoa súng An Giang viết trước ngày mất hơn một năm. Bài thơ phảng phất dư âm của những dòng tự sự. Cái đỏ rực của màu sen, ai cũng thấy, nói khác đi đấy là một Chế Lan Viên chính luận, còn nỗi niềm riêng tây – cái mặt dấu đi của tháp Bayon bốn mặt – ai hiểu và thông cảm. Cuộc đời với nghìn trò cười khóc, nhưng rồi những chuyến xe không có khứ hồi – Nguyễn Trãi, Nguyễn Du từng đi chuyến trước không phải là những điều đáng nói lắm sao ? Mùa bệnh 1988, Chế Lan Viên viết hai bài thơ về hoa. Hoa sữa, nói đến cái cô đơn, lạnh lẽo của một người nằm bệnh. Trăng sáng với mùi hương ngạt ngào, nhà thơ bỗng rùng mình nhớ đến sự hữu hạn của đời người :
Nằm một mình anh sợ
Hương và trăng đến soi
Nhưng, cũng ở những phút giây ấy, Chế Lan Viên nhớ về một loài hoa của thời đánh giặc – hoa chạc chìu. Sắc hương nghèo, cành khô quắt, nằm trong đáy xắc, được cất mang theo như một hình ảnh quê hương với nhiều kỷ niệm. Thì ra, vẫn một Chế Lan Viên yêu quí cái đẹp của một thời – một thời kiêu hùng không thể nào quên.
Vâng, cái thời ấy làm sao quên được. Những người lính trên đảo Long Châu, mười năm rời đảo, vẫn nhớ mãi những cánh hoa hoài. Tên hoa và nỗi nhớ như đan vào nhau. Cũng như một cành mai trên chốt trong thời chống Mỹ. Chốt chỉ có 3 người. Mùa xuân lại đến. Để thưởng xuân, phải đổi bằng một giá :
Chặt nó về phải vượt qua bãi bom dày đặc
Và công khiêng hết một ngày trời
(Cành mai ở chốt)
Cành mai đem lại cái ấm áp cho mùa xuân, cho lòng người. Nhân vật thứ tư ấy, sự có mặt của nó, nói rõ lý do tồn tại của dân tộc. Mùa xuân lớn lao của đất nước bắt nguồn từ những mùa xuân của ba người lính trên chốt. Bài thơ ngắn nhưng hàm ý sâu. Cũng như những ngàn hoa lau trắng nơi biên giới. Nơi ấy, suốt một đời cùng với gió giao tranh, chỉ trắng có một mình, bạt ngàn trắng ở tận cùng bờ cõi là hồn thiêng sông núi. Chính vì lẽ đó, tác giả :
Ai đi biên giới cho lòng ta theo với
Thăm ngàn lau chỉ trắng có một mình..
(Lau biên giới)
Cái ngàn lau xao xác trắng (Lau mùa thu) thường được liên hệ với thiên tài văn học Nguyễn Du. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du nhiều lần nói về hoa lau. Đó là :” Một loài thảo, mọc ở chỗ đất hoang, hoa sắc trắng, cũng gọi là lau lách “(Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1974, trang 214). Một lần về  Hà Tĩnh, nhà thơ viết:
Man mác hoa lau trắng
Đường về thăm Nguyễn Du 
Ngàn lau từ Nguyễn thấy 
Bạc xóa đến bây giờ.
(Hoa lau trắng)
Một cành hồng còn sót lại trên trận địa, trên một thị trấn hoang tàn sau trận bom dội. Cành hồng phân chia hai cực: cái đẹp và sức sống với cái huỷ diệt và man rợ. Đóa hồng đã chịu ba nghìn trận lửa để giữ lại chút bình yên cho con người, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới.
Có thể nói, trong chùm thơ về hoa. Chế Lan Viên đưa người đọc đến những miền cảm xúc mới lạ. Văn chương ít ai nhắc đến hoa táo. Mùi hương táo không thơm, vị hắc. Vậy mà nhà thơ đợi mùa hoa suốt tuần, đợi đến lúc :
Quả non dần đậu thay hoa trắng
Đợi lúc em về chĩu trước sân
(Hoa táo)
Ở Huế, về hè, những hồ trong khu thành nội, sen thường nở. Những cánh sen trắng muốt, bọc ven cổ thành, làm nên nét riêng của Huế. Chế Lan Viên gọi đấy là sen Huế. Huế với nhà thơ như người bạn cũ. Sen nở như chờ tác giả. Tình cố tri đó khiến cho người nghệ sĩ muốn mượn một tà áo lụa bọc lấy mùi hương ấy để dành. Suy nghĩ thật độc đáo. Người ta chỉ có thể bọc bàn, bọc ghế, bọc sách, bọc vở, vậy mà có người tính đến việc bọc lấy mùi hương (Sen Huế). Lòng yêu hoa, yêu người, yêu Huế đến thế là cùng. Những mùa xuân phương Nam, chỉ với mai vàng, tác giả lại đau đáu nhớ cành đào đất Bắc. Bài thơ ngắn, thể 5 chữ, ghi giữ tâm trạng:
Đứt ruột nhớ hoa đào
(Đào và Mai)
Đây cũng là cảm nghĩ chung của nhiều người : Khi ta ở chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi, đất bỗng hoá tâm hồn (Tiếng hát con tàu).
Cả Đông lẫn Tây, con người đều gắn hoa với đời sống. Song, ở Chế Lan Viên, độc đáo hơn cả là nhà thơ đã lấy sắc màu của hoa để so sánh với các cung bậc tình cảm :
Hạnh phúc màu hoa huệ
Nhớ nhung màu hoa lau
Biệt ly màu rách xé
Lãng quên đâu có màu
(Màu)
Không lãng quên với đời, cho nên, hoa gạo son ở ngã ba đường như một người tình đỏ chót môi son, để đến nỗi xe qua rồi, qua mãi … cái màu đỏ ấy vẫn chói đỏ trong hồn.
Với chùm thơ về hoa, Chế Lan Viên đã gửi vào văn học một tiếng nói mới. Tiếng nói ấy vừa thực vừa mơ, lẫn giữa mộng và đời, thật là thú vị. Sắc hương của mỗi loài hoa được nhà thơ tạo dựng bằng một cái nhìn riêng, đầy cá tính, đầy cảm xúc.
Chú thích:
(1) Các bài thơ về hoa trích từ Chế Lan Viên, Di cảo thơ, Tập I, NXB Thuận Hóa, 1992 – Tập II, NXB Thuận Hóa, 1993 – Tập III, NXB Thuận Hóa, 1996.
6/12/2020
Huỳnh Văn Hoa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thơ của người "Lườm nguýt" Đỗ Ngọc Yên

Thơ của người
"Lườm nguýt" Đỗ Ngọc Yên

Năm 2020 có lẽ là năm “được mùa” của nhà văn chuyên ngành lý luận phê bình văn học Đỗ Ngọc Yên. Quý 3 ông tung ra gần như là “gối nhau” 3 tác phẩm. Đặc biệt thú vị là cặp “song sinh” thơ “Điều muốn nói” và “Dậy thì Giêng”. Nếu như “Điều muốn nói” gồm 36 bài thơ thế sự thì “Dậy thì Giêng” là 45 bài thơ tình.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa, đề từ cho cả hai tập thơ cũng không dấu được bất ngờ: “Bấy lâu nay, khi nhắc đến Đỗ Ngọc Yên, ta cứ hình dung một nhà phê bình tinh nhạy và sắc lẹm. Nói một cách suồng sã thì anh là một nhà “lườm nguýt” chuyên nghiệp. Vậy mà gần đây anh lại xuất hiện với dáng vẻ yểu điệu, nhưng rất vững chãi của một nhà sáng tác, để chúng ta có điều kiện “lườm nguýt” lại anh”. Nhà thơ Trần Quang Quý, trong Tựa cho “Dậy thì Giêng” của nhà văn Đỗ Ngọc Yên cũng có cảm trạng tương tự.
Tác giả của cặp “song sinh”, nhà văn Đỗ Ngọc Yên thì trải lòng: “Ở tuổi thất thập lần đầu tiên tôi quyết định “sinh đôi”. Một trai, một gái. Trai là tập thơ thế sự có tên “Điều muốn nói”. Gái là tập thơ tình có tên “Dậy thì Giêng”. Có người bảo tôi “liều”. Vâng. Có người bảo tôi “dại”. Vâng. Với tôi, liều hay dại, thắng hay thua, thành hay bại… âu cũng chỉ là một cuộc chơi, hay đúng hơn là một hành trình dấn thân đầy nghiệt ngã nhưng thực sự thú vị”.
Gia tài “lườm nguýt” của nhà văn Đỗ Ngọc Yên đến nay đã có 10 tác phẩm. “Dự cảm thu” tiểu luận và phê bình do NXB Quân đội nhân dân in và phát hành là tác phẩm mới nhất, ra mắt độc giả vào tháng 7/2020.
Trong “Điều muốn nói”, Đỗ Ngọc Yên cũng viết về nhiều đề tài. Trước hết, ông viết về bố mẹ, về người chị; đặc biệt có 4 bài thơ về mẹ “Lời ru của mẹ”, “Mẹ tôi”, “Nhớ mẹ chiều nay”, “Ta về bên mẹ mình thôi”. Tình mẫu tử luôn thiêng liêng nhất, ông viết về mẹ nhiều là điều dễ hiểu. Ông viết về bản thân, bạn bè, con người và nhân sinh. Gần như đó là quá trình tìm kiếm để trả lời câu hỏi về bản ngã. Đỗ Ngọc Yên viết về làng quê, đất nước và thế giới. Gần như đó là quá trình để minh định tình yêu với cuộc sống. Yêu đất nước phải bắt đầu từ ngôi làng nơi mình sinh ra và lớn lên, nơi chôn chặt nhúm nhau của bản thân ông khi từ hạt cát đến với “quán trọ” trần gian.
Lưng còng phơi giữa nắng hè
Áo nâu tơi tả, nón mê gẫy vành
Bấm tay từ thuở tóc xanh
Vẹt mòn móng cái chẳng thành ấm no
(Ta về bên mẹ mình thôi).
Đỗ Ngọc Yên có những câu thơ lục bát về mẹ rưng rức, xúc động, xa xót. Nhà văn Đỗ Ngọc Yên sinh ra ở một vùng quê lam lũ, nghèo đói. Chắc ông đông anh chị em. Quê lam lũ thì bố mẹ sao thoát được phận đời sấp ngửa.
“Nhà ta vùng đồng chiêm
bàn tay cha bong da theo từng mùa vụ”,
“bàn tay lợp nhà lo giữ cái nóc
kẻo mai ngày cột mục kèo hư”,
(Bàn tay cha).
“Bàn tay ấy
giờ xạm đi
sau mỗi mùa gieo cấy
và dày thêm sạn chai
bào mòn bay cán cuốc xeo cày”,
(Bàn tay chị).
Đọc những bài thơ của Đỗ Ngọc Yên về làng quê, người thân, không ai không thương cánh đồng một thời đói khát, thương những giọt mồ hôi chan trên cánh đồng chưa ải. Dẫu vất vả là vậy, nhưng với những người sinh ra từ quê, không có nơi nào đẹp bằng nơi mình sinh ra, không có câu hát nào ngọt hơn lời ru của mẹ. Quê hương nuôi người lớn lên, dẫu bằng gian khó, mẹ mang nặng đẻ đau, vất vả sớm tối mong con mình lớn lên, mang nặng nghĩa nhân.
Mẹ như thân cò lặn lội bờ sông
Bắt tép nuôi con lời ru cũng ướt
Tháng ngày mẹ sống cùng sông nước
Chẳng khi nào làm vẩn đục lời ru
(Lời ru của mẹ)
Chắc Đỗ Ngọc Yên cũng như nhà thơ Xadax Gamzat, bố của nhà văn Raxun Gamzatop “Ông yêu làng Xada của mình và không bao giờ đổi nó lấy bất cứ một thủ đô nào trên trái đất này”, (Dadghexxtan của tôi). Đến lượt Raxun Gamzatop ‘Trên mỗi bước đi tôi gặp lại mình, gặp lại thời thơ ấu của tôi, gặp lại những mùa xuân, những cơn mưa, những bông hoa và những chiếc lá rụng mùa thu của tôi”, (Sách đã dẫn). Không gì đổi được làng.
Không chỉ đằm thắm da diết nỗi lòng, Đỗ Ngọc Yên còn hết sức “thế sự” trong những bài thơ về thế cuộc “Thất Thủ Thiêm”, “Thế giới này”… Những sự kiện nóng hổi ập vào trái tim ông làm trái tim thổn thức, bật lên thành thơ. Dù viết về thời cuộc trong nước hay thế giới thì Đỗ Ngọc Yên luôn tìm lời giải cho thân phận.
“Cụ già
còng lưng
chậm bước
thúng đội đầu
khách qua đường
ngó nghiêng”

“Sáng mai
chân cột đèn
cạnh thúng ngô
có người đắp mặt
manh chiếu vắt ngang…”,
(Tiếng rao đêm).
Xã hội đã có những chuyển động tích cực nhưng bên cạnh người có cuộc sống khá giả, giàu sang còn không ít người nghèo, những người lang thang cơ nhỡ, bất hạnh vì nhiều lý do. Đọc bài thơ “Tiếng rao đêm” của ông, không thể không nhớ đến bài thơ “Người đàn bà Pê ru của tôi” của nhà thơ Nga vĩ đại Yevgeny Aleksandrovich Yevtushenko.
Em cười mãi với cuộc đời, còn tôi khóc với riêng em
Điều mới nghe tưởng chừng như vô lý
Một nụ cười đi qua hàng thế kỷ
Để lại mỗi cuộc đời một tiếng khóc riêng
(Về bức tranh Nàng Monaliza)
Nhà thơ Trần Quang Quý trong bài TỰA với tiêu đề “Những mùa yêu Đỗ Ngọc Yên” cho “Dậy thì Giêng” đã đọc ra nhân vị Đỗ Ngọc Yên. Đang “dậy thì” nên trái tim nhà văn Đỗ Ngọc Yên lao xao cả 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Ông dành cho mùa xuân 11 bài, mùa thu 18 bài… và nhân vật trữ tình “em” 5 bài. Nhà thơ Trần Quang Quý gọi là “yêu không mùa”, nói cách khác là cảm thức xuyên mùa của nhà văn Đỗ Ngọc Yên. Tuy nhiên, thơ tình Đỗ Ngọc Yên chỉ là ước lệ, sự phân định thơ tình trong “Dậy thì Giêng” và thơ thế sự “Điều muốn nói” chỉ là ước lệ. Nhiều bài ở cả 2 tập có “2 trong 1”. Tôi đọc bài “Dậy thì Giêng”- được lấy làm tên chung cho tập thơ thì hoá ra ông nấp sau “dậy thì” để nói về thế cuộc:
Trẻ con bây giờ nó thế
Người kêu tăng trọng lắm vào
Đất trời đảo điên nào biết
Giống nòi suy kiệt ai đau?
“Giêng, Hai đã dậy thì” thì quá bất bình thường. Cuộc sống đang “nháp” vào mỗi người nhiều dị bản, dễ thấy trong bài thơ “Nháp”:
“Hàng sấu Phan Đình Phùng giờ bặt tiếng ve đêm
ngày nghiến nát mùa hè tuổi thơ tinh nghịch
em ngang qua một bóng hình tịch mịch
thăm thẳm sâu chốn ấy nháp tôi vào?”.
Ông nêu ra một giả định nếu như tất cả ai cũng là “bản nháp”, bản ảo, không thực, cái bản ngã bị tước đoạt.
Phải nói rằng, với “Dậy thì Giêng”, không gian, thời gian 4 mùa gắn với tâm trạng tạo xung lực sáng tạo cho nhà thơ. Môt năm bắt đầu từ mùa xuân nên dễ hiểu chính mùa xuân là thời khắc bắt đầu tích tụ phồn thực và bung tỏa rực rỡ bốn mùa.
“Gió đè
vật vã
hôn thảm thiết
cây ngả long
đợi mưa, đón nước
trăng ngu ngơ chẳng hề hay biết
dưới trần gian
đâu cũng phồn thực xuân”,
(Phồn thực xuân).
Là nhà lý luận phê bình, chuyên gia “lườm nguýt” thiên hạ như cách nói của nhà thơ Trần Đăng Khoa nên Đỗ Ngọc Yên ý thức rõ về thơ mình. Thơ ông đa thi pháp, đa thể tài, thậm chí “thi pháp dân gian” là lục bát cũng được ông sử dụng, bày tỏ cảm xúc trong trường cụ thể. Tuy nhiên, với những bài thơ tự do, đa phần ở cả 2 thi tập, Đỗ Ngọc Yên rất chú ý về ngắt câu, nhịp điệu, thi ảnh, liên tưởng. Thơ Đỗ Ngọc Yên vì thế nhịp điệu bật, nẩy.
“Em đến với tôi
cánh đồng hạn khô
tuếch toác vết thương
tím bầm gan ruột”,
(Em đến).
“Em đi
để lại tôi

bầu trời vần vũ bão going
tối sầm mặt đất
ánh chớp lập lòe
tìm đâu gương mặt thật
TÌNH YÊU”,
(Em đi).
Cả khi “Em đến” và cả khi “Em đi” tạo cho người đọc một sự tò mò ngay trong nhịp điệu. Mặt khác, Đỗ Ngọc Yên hay dùng điệp từ/ điệp ngữ nhấn nhá tạo ra hiệu ứng uyển chuyển của cảm xúc, làm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong câu thơ. Ông cũng là người chuyển “trạng thái” trong thơ mình từ tính từ sang động từ tạo ra hiệu ứng khác của thơ hậu hiện đại, nhất là gợi tính về phồn thực.
Những mùa yêu của nhà thơ Đỗ Ngọc Yên không chỉ xuyên thời gian mà còn xuyên không gian. Ông viết từ “Chợ tình Khau Vai” cho đến các vùng miền khác của đất nước. Đọc “Dậy thì Giêng” hẳn người đọc sẽ thắc mắc, ông dậy thì từ miền núi đến miền xuôi, đồng bằng đến ven biển. Đặc biệt, ông dành cho Nha Trang đến 4/45 bài trong tập. Đỗ Ngọc Yên viết về mùa thu 18/45 bài trong tập, hóa ra ông dù “Dậy thì Giêng” tức là đầy sức sống, chồi, nõn nhưng tâm hồn chỉ là “Hồ thu”. Vì thế, mà ông nhìn Nha Trang cũng có mùa thu, dẫu nam Trung bộ chỉ hai mùa mưa, nắng.
“chiều như ngắn hơn dưới gót chân thiếu nữ
đêm khớp hờ
bờ môi hoang vỡ
Nha Trang mùa này như thể chỉ để yêu”,
(Thu này Nha Trang).
Ở tuổi thất thập, con người không mấy can đảm bước vào tình yêu, nhưng cảm xúc luôn mơn trớn như trái tim Đỗ Ngọc Yên cũng là phần quà tặng của riêng ông.
Nhà văn Đỗ Ngọc Yên đã “dậy thì thành công” bước vào “mùa yêu” với nhiều nỗi niềm, trăn trở. Đọc thơ Đỗ Ngọc Yên người ta không thể hoài nghi về độ “thanh tân” của chàng trai ngoài bảy mươi. Ông yêu đến cháy đỏ câu thơ, không muốn chỉ “mơ hồ”:
Anh là dòng sông nham nhở
Phù sa có đâu bồi bờ
Còn đây trái tim cháy dở
Sao khuya rụng vỡ mặt buồn
(Mơ hồ).
Hà Nội, 19/9/2020
Ngô Đức Hành
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...