Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

 

Chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam hiện đại

Bài viết này xin phép được tiếp tục trình bày một xu hướng vận động chủ đạo của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam sau 1975: dân tộc hóa ca khúc Việt Nam.

Xu hướng này hình thành từ những thập niên 50 của thế kỉ trước, giúp âm nhạc dân gian vừa bảo tồn vừa phát triển mạnh mẽ, tạo ra những ca khúc có sức sống bền lâu và có diện phủ sóng lớn như Xa khơi, Tiếng hát giữa rừng Pác Bó (Nguyễn Tài Tuệ); Câu hò bên bến Hiền Lương (Hoàng Hiệp); Chiếc khăn piêu (Doãn Nho); Quảng Bình quê ta ơi (Hoàng Vân); Mẹ yêu con, Bài ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý); Bài ca dâng Bác (Trọng Loan); Em về với người (Thế Nhân); Đợi (Huy Thục); Những cô gái quan họ (Phó Đức Phương); Tiếng đàn bầu (Nguyễn Đình Phúc, thơ Lữ Giang)...

Sau ngày đất nước thống nhất, xu hướng trên càng phát triển mạnh mẽ. Các nhạc sĩ đã đẩy mạnh việc đưa chất liệu dân gian vào những ca khúc tân nhạc và tạo ra nhiều thành tựu. Giờ đây, bên cạnh nhạc thính phòng, nhạc trẻ, dòng nhạc mang âm hưởng dân gian ngày càng khẳng định chắc chắn vị trí trong nền âm nhạc nước nhà, được đông đảo công chúng trong và ngoài nước yêu thích. Có thể kể đến tác ca khúc tiêu biểu như Làng quan họ quê tôi (Nguyễn Trọng Tạo, thơ Nguyễn Phan Hách, 1978); Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm (Trần Hoàn, thơ Đỗ Quý Doãn, 1981); Đất nước lời ru (Văn Thành Nho, thơ Nguyễn Khoa Điềm, 1984); Trở về dòng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp, thơ Trương Nam Hương, 1984); Huyền thoại mẹ (Trịnh Công Sơn, 1985); Gửi về quan họ (Đức Miêng, 1985); Sao em nỡ vội lấy chồng (Trần Tiến, 1990); Ca dao em và tôi (An Thuyên, 1993); Lời ru (Lê Minh, những năm 90 của thế kỷ XX); Bài ca đất phương Nam (Lư Nhất Vũ, thơ Lê Giang, 1997); Chảy đi sông ơi (Phó Đức Phương, 1997); Tình đất (Tuấn Phương, 1998); Người ơi hãy về (Tuấn Phương, 2000); Quê em mùa nước lũ (Tiến Luân, 2000); Khúc hát sông quê (Nguyễn Trọng Tạo, 2002); Khách đến chơi nhà (Lê Minh, 2005); Bà tôi (Nguyễn Vĩnh Tiến, 2005); À í a (Lê Minh Sơn, 2005); Tìm em câu ví sông Lam (A Páo, 2019), Tìm về (Tiến Minh, 2025); Phù Đổng Thiên Vương (Hồ Hoài Anh, 2025)...

Trên thực tế, ca dao, tục ngữ được các nhạc sĩ sử dụng với tần số lớn nhất trong ca khúc dân gian đương đại. Điều này xuất phát từ thành tựu về ngôn ngữ của văn học dân gian chủ yếu tập trung ở mảng thơ ca. Mặt khác, tục ngữ cô đọng hàm súc và giàu triết lí, còn ca dao là tiếng hát trái tim của người lao động, rất giàu chất trữ tình và có nhạc tính cao. Ca dao chính là những bài hát không có nhạc đệm, người xưa ngẫu hứng hát lên khi tức cảnh sinh tình. Sau đó nhờ những người lao động có tâm hồn nghệ sĩ dày công trau chuốt, uốn nắn mà mỗi miền quê lại có những khúc dân ca sâu lắng, ngọt ngào, mang màu sắc riêng. Sự kết hợp chặt chẽ giữa nhạc và thơ đã nâng cánh cho những câu ca dao đẹp bay xa hơn, đi sâu hơn vào những vùng khuất lấp trong trái tim và trở thành những câu thơ trong trí nhớ con người.

Là văn hóa nội sinh, văn hóa bản địa, văn hóa dân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng luôn là nơi lưu giữ nhiều nhất những mã, những cốt văn hóa truyền thống, thể hiện rõ nét bản sắc độc đáo của dân tộc Việt. Do vậy để đổi mới và nâng cao tính dân tộc, các nhạc sĩ đã cố gắng vận dụng linh hoạt, sáng tạo những chất liệu dân gian (đặc biệt những giá trị tinh hoa) vào trong các ca khúc của mình.

Dễ nhận thấy nhất là việc dùng âm nhạc phương Tây để biến những bài đồng dao thành những ca khúc thiếu nhi. Đồng dao chính là thể loại văn học, dân gian dành riêng cho trẻ nhỏ, có ngôn từ mộc mạc, giai điệu đơn sơ, không có những quãng cách xa, không có những âm vực rộng, dễ hát, dễ thuộc, được trẻ thơ yêu thích vì cách cảm, cách nghĩ phù hợp với lối tư duy, phô diễn của các em. Những năm 90 của thế kỷ XX, nhạc sĩ Phạm Tuyên là người vận dụng đồng dao để sáng tác văn học cho thiếu nhi thành công nhất. Vị nhạc sĩ gạo cội của làng âm nhạc Việt Nam đã có hàng loạt bài hát được các em yêu thích như Bà còng đi chợ, Cái cò đi đón cơn mưa, Con chim chích chòe, Gánh gánh gồng gồng, Rềnh rềnh ràng ràng...

Dĩ nhiên, để sáng tác ca khúc cho các lứa tuổi khác, việc tiếp nhận tinh hoa của văn học dân gian đòi hỏi tinh tế hơn, sao cho những mã nghệ thuật dân gian mang hồn cốt Việt phải hóa thân, phải hòa tan một cách nhuần nhụy vào ca từ, giai điệu của từng câu hát.

Trên thực tế, những ca khúc trữ tình của dòng nhạc dân gian có thể được hình thành trên cơ sở một ý tưởng trong thành ngữ dân gian (Gà trống nuôi con - Lê Minh Sơn, Kẻ cắp bà già - Hoàng Thùy Linh); một biểu tượng (Trầu cau - Phan Huỳnh Điểu, Con cò - Lưu Hà An); một gợi ý từ nhân vật trong các câu chuyện cổ (Cô Tấm ngày nay - Ngọc Châu, Giọt đàn Thạch Sanh - Tuấn Khanh); từ một làn điệu dân ca (Câu giã bạn - Trọng Loan, Khách đến chơi nhà - Lê Minh); một câu tục ngữ, hay một điển tích dân gian (Chú Cuội chơi trăng - An Thuyên, Vầng trăng cổ tích - Phạm Đăng Khương; điển tích vọng phu trong Người đàn bà hóa đá - Trần Lập, trong Vọng phu của Lê Minh, thơ Việt Dũng)...

Những nhà soạn nhạc cũng có thể khéo léo cắt dán chất liệu dân gian để đưa vào một vị trí nào đó như tên bài hát, mở đầu, ở giữa hay kết thúc ca khúc. Qua khảo sát chúng tôi thấy, dân ca quan họ và hát ru được sử dụng nhiều nhất và đạt hiệu quả thẩm mĩ lớn nhất trong ca khúc dân gian đương đại. Đặc biệt là hát ru, thể loại đã góp phần sinh thành một dòng chảy sâu lắng mãi mãi lưu dấu thời gian. Trước 1975 có Mẹ yêu con (Nguyễn Văn Tý), Lời ru trên nương (Trần Hoàn, thơ Nguyễn Khoa Điềm), Địu con đi nhà trẻ (Đào Ngọc Dung)... Sau 1975 là Lời mẹ ru (Trịnh Công Sơn), Câu hát mẹ ru (Phạm Tuyên), Đất nước lời ru (Văn Thành Nho), Hát ru người mẹ lính (An Thuyên), Lời ru Âu Lạc (Nguyễn Minh Sơn), Tìm về lời ru (Đào Đăng Hoàn)... Chưa kể còn biết bao mảnh vỡ từ lời ru của mẹ đã lặn sâu vào từng con chữ tạo nên trong lòng người những nỗi niềm giăng mắc khôn nguôi. Bởi đó là khúc hát của tình mẫu tử, là dòng sữa mẹ thứ hai nuôi dưỡng tâm hồn bé thơ khôn lớn nên người, là sợi dây thiêng liêng gắn kết mỗi chúng ta với quê hương xứ sở. Xin hãy lắng nghe lời ca của một bài hát ru thời hiện đại:

Ngậm lời ru mẹ ngày xưa

Bà đưa mẹ đến giấc trưa say nồng

Mà nay mẹ bế mẹ bồng

Mẹ ru con cả tấm lòng thương yêu

Lời ru bay bổng cánh diều

Thân cò lặn lội sớm chiều sang sông

Lời ru ai đó ngóng trông

Muốn về quê mẹ mà không có đò...

(Lời ru, nhạc Lê Minh, lời Hoàng Hạnh)

Trên cái nền hát ru mênh mang, sâu lắng, da diết buồn là tình mẫu tử thiêng liêng, là hình ảnh thân cò lặn lội, là cánh diều tuổi thơ, là nỗi niềm của người con gái lấy chồng xa nhớ mẹ, là nghĩa tình chồng vợ thủy chung, là hình ảnh dòng sông bến nước con đò... Tất cả những trầm tích văn hóa từ một chuỗi bài ca dao đồng loạt phát sáng tạo hiệu ứng lớn bất ngờ đã nối kết trái tim bao thế hệ...

Có cả một hệ thống những ca khúc dân gian đương đại đạt chất lượng cao được hình thành trên cơ sở việc chiết xuất tinh hoa văn hóa quan họ nói chung và dân ca quan họ nói riêng mà một trong những nhạc phẩm xuất sắc nhất là Làng quan họ quê tôi của Nguyễn Trọng Tạo (thơ Nguyễn Phan Hách). Trong phút giây thăng hoa, phiêu bồng, người nghệ sĩ tinh tế và đa tài đã khéo léo đưa được những giá trị tinh hoa mang hồn vía Kinh Bắc vào bài hát, nhờ thế mà có được một giai phẩm tuyệt vời thấm đẫm hồn làng, hồn đất, khiến bao kẻ tha hương nghe xong rưng rưng, nhất tâm những muốn tìm về: Làng quan họ quê tôi/ Tháng Giêng mùa hát bội/ Những đêm trăng hát gọi/ Con sông Cầu làng bao xanh/ Ngang lưng làng quan họ xanh xanh/ Làng quan họ quê tôi, những chiều bao thương nhớ/ Tiếng ca đầu ngọn gió, nón quai thao nói gì người ơi/ Nón quai thao như nói nói gì người ơi!…

Sau 1975, tác giả An Thuyên có một loạt tác phẩm xuất sắc nhờ tựa trên những chất liệu dân gian: Ca dao em và tôi, Em chọn lối này, Cầu thang chín bậc, Neo đậu bến quê… Lê Minh có Khách đến chơi nhà, Về hội Lim, Lời ru (thơ Minh Hạnh). Đức Miêng có Gửi về quan họ, Trầu cau quan họ, Chiếc nón ba tầm; Trần Tiến có Ngẫu hứng giao duyên, Trung Đức với Nhớ về hội Lim; Nguyễn Chung với Tìm em trong chiều hội Lim, Minh Dương với Quan họ anh về (thơ Nguyễn Thiện)… Hóa thân vào những khúc hát đương đại, các chất liệu dân gian đồng loạt phát sáng tạo nên những giá trị mới làm cho người nghe vừa thêm yêu mến quê hương, đất nước vừa được nâng cao nhạc cảm.

Tiêu biểu là Khách đến chơi nhà - nhạc Lê Minh, lời Đỗ Việt Dũng. Nương vào bài quan họ cổ cùng tên, Khách đến chơi nhà cuốn hút công chúng, có diện phủ sóng rất rộng chính là nhờ sự tích hợp khéo léo cả một hệ thống chất liệu dân gian đắt giá: một không gian quan họ, một không khí quan họ, một cảnh sắc quan họ... và một bầu khí quyển nên thơ của canh hát quan họ với lề lối mời nước, mời trầu, với những làn điệu đã trở thành kinh điển: Khách đến chơi nhà, Người ở đừng về, Ra ngõ mà trông, Qua cầu gió bay... Cùng bao nhiêu giá trị văn hóa đặc sắc vùng Kinh Bắc, mà rộng hơn là cả một vùng văn hóa Bắc Bộ: lòng hiếu khách, cách nói phong tình, buông lơi, tình tứ: rỗi hơi ai lại phải lòng, người dưng nhớ người dưng... Rồi lối ăn mặc nền nã của người gái ngoan quan họ: váy chùng cửa võng, áo tứ thân, khăn mỏ quạ và ánh mắt đắm đuối thả thương thả nhớ tưởng vô tình mà rất đỗi hữu tình: Khách đến chơi nhà rằng mấy khi khách đến chơi nhà/ Giót lời hát xuống chén trà mời nhau/ Để anh say một miếng trầu dẫu rằng vẫn biết qua cầu gió bay/ Giá em đừng hát hay, giá em đừng nền nã/ Đừng áo tứ thân, đừng khăn mỏ quạ/ Đừng nói câu người ơi người ở đừng về? Trót buông ánh mắt ngập ngừng để người dưng nhớ người dưng thế này/ Giá miếng trầu đừng cay/ Giá chén trà đừng chát/ Giá người ngoan đừng hát/ Thì dỗi hơi ai lại phải lòng để bây giờ ra ngõ ấy mấy trông ra ngõ mà trông…

Để viết về làng quê Việt thì không gì tối ưu bằng sử dụng chất liệu dân gian. Điều đó cắt nghĩa vì sao nhiều tác giả thời kì Đổi mới như Trần Tiến, An Thuyên, Lê Minh, Lê Minh Sơn, Nguyễn Vĩnh Tiến... đã rất thành công. Theo Trần Tiến, nhiều bài hát của ông như Sao em nỡ vội lấy chồng, Thượng đế buồn được làm theo “đơn đặt hàng” nhưng nhờ biết tựa vào văn hóa truyền thống nên chúng không chỉ chiếm được tình cảm của đông đảo khán giả mà còn có sức sống rất bền lâu.

Nếu Sao em nỡ vội lấy chồng được hoài thai nhờ gợi ý từ câu ca dao Nam Bộ: Bướm vàng đậu trái mù u/ Lấy chồng càng sớm lời ru càng buồn thì Thượng đế buồn lại được ra đời nhờ ánh sáng toát ra từ câu tục ngữ Trời sinh voi, trời sinh cỏ, mà người nghệ sĩ tài hoa thời đại hội nhập đã có được bằng con đường phản tiếp nhận. Chất liệu dân gian như những viên quặng quý đã được những người nghệ sĩ cao tay tôi luyện, biến thành những thỏi vàng ròng. Còn Trở về dòng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp, thơ Trương Nam Hương, 1984) mang âm hưởng dân ca Nam Bộ. Với lối hát nhẹ nhàng, mộc mạc, thủ thỉ như lời kể chuyện gợi nhớ những khúc hò ru, hò đưa em hoặc dân ca ngũ cung... gợi về tình yêu quê hương, gợi về nỗi nhớ tuổi thơ bên dòng sông quê hương êm đềm. Mà không hình thức nghệ thuật nào có sức lan tỏa lớn như âm nhạc. Nhờ thế, những bài hát Việt giàu chất dân gian, giàu chất nhân văn có thể bay cao, bay xa, giúp công chúng hiểu biết thêm về cái hay, cái đẹp và thắp lên trong họ niềm tự hào về nền văn hóa dân tộc Việt ngàn đời.

Tìm em câu ví sông Lam của A Páo là một bài hát trữ tình sâu lắng, ngọt ngào được khán thính giả yêu thích là nhờ dựa trên những làn điệu dân ca xứ Nghệ. Bài hát gợi nhớ câu ví dặm về mối tình truyền kiếp lỡ làng - một mô típ quen thuộc trong ca dao - dân ca Nghệ Tĩnh thuở nào: Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở/ Anh đến tìm đò thì đò đã sang sông. Đôi trai gái trong Tìm em câu ví sông Lam cũng trao nhau thương nhớ, cũng thề thốt hẹn hò: Một câu ví anh trao/ Nửa câu ví em thương/ Củ sắn củ khoai mồ hôi chát mặn/ Thương anh rồi nhớ đợi nghe em… Nhưng khi chàng trai trở về thì người ấy đã sang sông lấy chồng, khiến tình duyên đứt gánh, anh ngẩn ngơ một mình lặng lẽ đi tìm câu ví sông Lam, mong thấy lại chút hương xưa…

Bài hát Tìm về mà tác giả Tiến Minh viết (2025) dành cho bộ phim truyền hình đình đám Cha tôi người ở lại lại hay ở một khía cạnh khác. Qua giọng hát ngọt ngào của nghệ sĩ ưu tú Thái Sơn, ca khúc càng trở nên vô cùng cuốn hút. Những câu dân ca (trong đó có hát ru) chứa chan tình mẹ, tình cha, tình người, tình đất, dường như đã đánh thức cả một vùng ký ức xanh trong bao trái tim tưởng đã ngủ quên, khiến những kẻ tha hương thổn thức và khao khát trở về: Theo câu dân ca tìm về/ Để lại thấy bóng quê cha ngồi/ Se gió rơi tiếng sáo diều thảnh thơi/ Hương lúa non mới lên đồng lả lơi/ Theo câu dân ca tìm về/ Theo yêu thương ta tìm về/ Tuổi thơ theo suốt dọc triền đê/ Ngẩn ngơ em hé nụ tình quê/ Ới a tìm về lời ru/ Năm canh trường mẹ ôm giấc ngủ/ À ơi ơi à/ Gió đưa la đà/ Vẫn đi theo những chặng đường con qua/ Bến sông con đò/ Vẫn đây trông chờ/ Nếu thương nhau tìm về bên nhau/ Nhé người.

Gần đây nhất, ngày 20/9/2025, ca sĩ trẻ Đức Phúc vừa giành giải thưởng lớn tại cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision tổ chức ở Liên bang Nga với bài Phù Đổng Thiên Vương. Bài hát được khơi nguồn từ truyền thuyết Thánh Gióng - một trong 3 truyền thuyết đứng đầu kho tàng truyền thuyết Việt Nam và lấy cảm hứng trực tiếp từ bài thơ Tre Việt Nam của nhà thơ Nguyễn Duy.

Hóa thân vào các ca khúc trữ tình đương đại, chất liệu dân gian được tái sinh tạo thêm những giá trị mới đã góp phần nuôi dưỡng và phát triển nền âm nhạc dân tộc theo đúng định hướng tiên tiến và đậm đà bản sắc, giúp cho các bài hát dân ca đương đại ca từ đã đẹp, giai điệu lại mềm như lụa, có thể chạm vào đáy sâu tâm hồn biết bao người...

Như vậy, chính những bài hát đậm đà chất dân gian đã tích cực góp phần nâng cao tính dân tộc cho nền âm nhạc Việt. Nhờ chất dân gian mà tân nhạc - hình thức văn hóa có nguồn gốc phương Tây xa lạ đã được Việt hóa để thật sự trở thành âm nhạc của Việt Nam.

Hướng vận động này một lần nữa khẳng định, muốn đi xa thì phải trở về. Chúng ta chỉ có thể bằng nhân loại khi đi sâu vào tâm hồn của dân tộc mình. Vì thế có thể nói rằng, trở về cội nguồn dân tộc đó chính bí quyết làm nên thành công của dòng âm nhạc dân gian hiện đại. Để bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc dân gian cổ truyền, bên cạnh việc phổ biến rộng rãi những bài dân ca truyền thống, hay đặt lời mới cho những làn điệu dân ca cổ, việc đưa chất liệu dân gian vào các nhạc phẩm dân gian đương đại để làm mới chúng, chính là một hướng đi thực sự hữu hiệu.

Cũng thuộc xu hướng đưa chất liệu dân gian vào các tác phẩm âm nhạc đương đại, nhưng bài hát À Lôi - bản rap của Doble 2T và Masew (2023) lại là một trường hợp có nhiều khác biệt. Tác phẩm từng gây bão trên mạng xã hội bởi sự độc lạ. Tuy cũng đưa những yếu tố dân gian truyền thống vào âm nhạc đương đại nhưng nếu các tác giả chọn thể loại nhạc quê hương, trữ tình thì À Lôi chọn ráp - một thể loại rất tân kỳ mới du nhập vào Việt Nam chưa lâu. À Lôi là một câu nói đặc trưng của dân tộc Tày nghĩa là Hả, trời ơi, chỉ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng. Quả thật, hầu hết đều thấy ngỡ ngàng, khi chứng kiến ca sĩ đọc rap trên nền nhạc sáo mèo, hòa cùng nhạc điện tử. Còn nữa: trong MV ca dao, tục ngữ, tiếng dân tộc đứng chung với tiếng Anh, lối nói hiện đại đứng cạnh lối nói bình dân, ca sĩ đọc rap trong trang phục dân tộc, giữa phong cảnh miền núi phía Bắc đẹp đến nao lòng… Có thể nói, đây một hướng tìm tòi, một thử nghiệm táo bạo. Bước đầu MV đã tức thời tạo được hiệu ứng lớn (nhất là với giới trẻ). Song độ bền vững của nó còn phải chờ sự kiểm chứng của thời gian…

Sau 50 năm kể từ ngày đất nước thống nhất (1975 - 2025), dòng âm nhạc dân gian đương đại phát triển rực rỡ với hàng loạt bài hát đã trở thành những khúc ca đi cùng năm tháng, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới nền âm nhạc nước nhà theo đúng định hướng: vừa nâng cao tính dân tộc, vừa đưa âm nhạc truyền thống gần hơn với giới trẻ và hội nhập ngày một sâu rộng vào dòng chảy chung của âm nhạc thế giới.

8/11/2025

Trần Thị Trâm

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Thơ có nghĩa là “thương” - Tiếng thơ Đặng Nguyệt Anh

Một bài viết thấm đẫm tình thân của Tuấn Trần – người trẻ viết về nhà thơ Đặng Nguyệt Anh, “ngoại” của thơ và của lòng nhân hậu. Từ câu chữ đến cảm xúc, bài viết là một lời tri ân chân thành dành cho thế hệ cầm bút đã “đem trái tim yêu thương gánh ghì số phận chung”, để hôm nay, thơ của họ vẫn còn làm dịu đi những cơn bão đời người.

(Suy ngẫm về hành trình tồn tại của thơ trong đồ hình thẩm mỹ cũng như của chữ “thương” trong một đời người tình nghĩa)

Cuộc đời ngắn chẳng đầy tấc, cuộc thi ca cũng chỉ là phô bày chớp mắt cho thế là cùng, rồi đi vào ngăn kéo và bị đóng đập dứt khoát. Thế nhưng, nếu đã có “căn nguyên” thì hào quang sẽ một đôi lần nữa được sục sạo và tỏa sáng từ những xếp nếp, gói ghém. Gã thời gian “mặt sắt đen sì” kia! đôi khi cũng phải “ngây ra vì tình” và đồng ý lưu lại nơi ngõ nẻo vào dĩ vãng hồn thơ của người con gái “Sông Ninh” từng như “huyền thoại”...

Thiết lập hẳn một không gian tinh thần trong thuần sâu lắng, điều mà thi ca bây dừ khó tìm được. Bởi Đặng Nguyệt Anh đã sống như “Hoa cỏ thương nhau/ Đến nghẹn ngào”. Đã “hồn nhiên” đi vào cuộc chiến và tình yêu… Đến bây giờ trên gương mặt, trong đáy mắt của “Ngoại” vẫn giữ được vẻ đẹp trong trẻo, thuần hậu mà đã một thời làm cho bao người trai “… cả đời thương nhớ gỡ không ra”

Đêm trăng chiến hào đó mở ra không hoang đường, siêu nhiên, mộng mỵ, ma ảo như những đêm trăng đã từng thấy trong cốt lõi văn chương nước nhà. Giữa cái cam go quyết liệt trong bối cảnh tử chiến, bỗng có một góc nào đó ta lại thấy “say miền bão lửa” dẫu “Phận gái như cánh chuồn kim”…

Vẻ đẹp của sự thiêng liêng trong những thanh âm được “chân thực hóa”, đó là tinh thần thẩm mỹ tự thân nơi những dòng nhật kí tình thương thường hằng - được bắt dẫn bởi lòng ái quốc: “Biết rằng bom đạn gian nan/ Xin cha mẹ, con vào Nam tìm chồng/ Mưa chiều giăng trắng dòng sông/ Trũng sâu mắt mẹ lưng tròng lệ xa”. Nó khác xa lạ kì với cái “thô thiển hóa” trong những tiếng thơ thiếu sinh khí sự thật nội tại, đang diễn ra hôm nay.

Dẫu trong hiện thực khắc nghiệt, hành trình của thiếu phụ là xốc liệt, kiên gan, thì nơi trái tim - thể hiện qua hồn thơ vẫn “tiêu tao yểu điệu” như “Trăng liềm lơ lửng giữa trời/ Cho em đưa võng một thời Trường Sơn”. Đó là thứ thơ được chưng cất từ một trái tim yêu thương chín độ trọn vẹn và luôn bình tĩnh trước tình yêu cùng lý tưởng để “gánh ghì” số phận chung/ riêng - sống đâu chỉ cho khát vọng trong mình, còn vì một nỗi nặng lòng “sẻ chia” với thế gian.

Vì lẽ đó, thơ Đặng Nguyệt Anh, chủ đạo vẫn là những vần mang sắc thái – KHÔNG ĐA ĐOAN và cũng nhiều cái “không” khác: Không đay đả, không khắc nghiệt, không cười cợt, không nhiều triết lý nhưng cứ thế thầm thì sâu sắc vào tai tôi: Rằng cuộc đời thế đó “cháu” tôi ơi, nhiều điều đáng chán nhưng ngay cả lúc đau, trong máu me và bạo lực cũng phải để lại cho đời những điều thiện đẹp - Trường Sơn rùng rùng đất đá/ Vẫn mơ phương trời lạ/ Khát cháy lòng một ban mai”. Bởi “Mai rồi/ Nằm dưới cỏ khâu/ Chỉ mang theo được/ Nỗi đau xuống mồ”.

Trong cơn lửa chiến tranh hay cơn bão đời người đa sự truân chuyên, tình yêu đã lặng lẽ làm dịu đi/ cho bớt đau thương. Có thể ta chẳng còn nhận ra mất mát vì nó luôn mang sắc màu của mùa thu thanh, yên ả, đã rất nhiều lần dáng nét “thu sang” gợi tình trong thơ Chị - “Gửi đi một chút heo may/ Để bên ấy biết bên này thu sang/ Cho/ em đỏ chút lá bàng/ Cho em xanh chút mơ màng trời xanh/ Cho em chia nỗi buồn anh/ Để con nhện cứ buông mành giăng tơ.../ Bờ rào con sáo ngẩn ngơ/ Có bông cúc dại đang chờ thu sang!”

Khi người cầm bút, dùng căn nguyên của sự thật - những trải nghiệm sống từng hết mình, mạnh mẽ để viết, chắc hẳn sẽ không mất quá nhiều năng lượng – những cơn oằn oại sáng tạo thai sinh. Mà đứa con tinh thần lại dễ dàng đi vào đời sống và kéo dài khả thi hơn lời hẹn về cuộc đối thoại với thế hệ tương lai… Thơ của “Ngoại” chí ít đã nhận được sự “khoan hồng” của thời gian. Để hôm nay nó nằm trên bàn tay “cháu” - một người trẻ chưa từng được nghe “tiếng hát át tiếng bom”, chưa từng được sống cho cùng tử tế và có thể chưa từng biết yêu (yêu thương) mà vẫn hiểu - vỡ đôi điều.

12/11/2025

Tuấn Trần

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Nguyễn Duy – Vịn thi ca vượt thác thời gian...

Nhà thơ Nguyễn Duy của chúng ta đang đứng ở thời điểm “ngày đông tháng giá” của đời người, thế mà hồn thơ vẫn không ngừng bay lên như cánh chim không mỏi. Nơi giường bệnh, tỉnh lại sau hôn mê Anh lại “chấp bút” gửi thơ vào đời. Một lần nữa, thi nhân đã chứng minh cho người thấy được: Nghệ thuật và thi ca đã chiến thắng trước sức mài nghiệt ngã của thời gian - Dẫu thân trần đã có phần thấm mệt, nhưng nhuệ khí hồn thơ luôn cùng tráng kiện.  
Ngày còn nhỏ, tôi thường leo vươn lên ngọn đồi gần nhà, đứng nơi cao xanh ngóng trời lộng gió. Tôi nghĩ rằng ngọn đồi kia đã là lớn lao nhất, cao vọng nhất và cứ ngỡ đó là tất cả những gì trọn vẹn đẹp đẽ trong khao khát chinh phục của chính mình. Từ trên non, tôi thưởng ngoạn hừng đông diệu vợi, chiêm ngắm dòng nước mắt đêm nuốt gọn mặt trời. Nhưng lớn lên, khi nhận ra rằng đó chỉ là một gò trọc trồi nhú bởi cơn chấn động địa chất bất thường nào đó, tôi bắt đầu vỡ dần trong mộng tưởng…

Mang trong mình tâm thức của gió, tôi miệt mài đi tìm những “đỉnh cao” - “vì sao sáng tỏa”. Và tôi đã thấy:
“Có gì cháy giữa hai hàng điên điển
lập lòe hoa hay đốm nắng cuối ngày
Có gì cháy dưới lòng kênh đỏ rực
mái chèo bung từng vệt hoàng hôn
Có gì cháy trong âm thanh êm ả
câu ca buồn người thiếu phụ ru con
Tôi vốn sợ những gì nguội lạnh
nào biết em có nghĩ giống tôi không”.
Và tôi đã thấy những ngọn núi thiêng không tên - ngoài tầm mắt - chỉ tấm lòng mới thấu nhận cho cùng. Từ những con đường mòn đất nâu, từ những dòng sông dung bồi lặng lẽ, từ những ngôi làng ủ vùi trong sương khói… Rằng “đỉnh cao, những vì sao văn học” - không ở đâu xa, mà nằm trong chính sự rung động, trong từng cảm nhận tinh tế về đời - người - thời gian:
“Con dấu chìm chạm trổ tận trong xương
thời thơ ấu không thể nào đánh đổi
trọn kiếp người ta chập chờn nguồn cội
có một miền quê trong đi đứng nói cười.” .
Tại sao mặc cảm? “Văn học Việt Nam hiện đại thiếu vắng chiều kích/ cao”? Trong khi, đã có những “Hi Mã Lạp Sơn” đủ cho văn chương nước nhà “kiêu ngạo” khi giao hòa với nền văn học nhân loại. Đỉnh cao ấy, từ hạt gạo trong sáng trắng ngần, đã đi qua biết mấy vòng đời bão táp, chịu bao cay đắng và nếm bao mặn mòi mạch đất, của mồ hôi cùng đổi giá máu hi sinh:
"Hạt giống ở đây chết đi sống lại
hạt gạo kết tinh như hạt muối
cây lúa đứng lên cũng đạp đất đội trời."
Tiếng thơ Nguyễn Duy là kho tàng khôn cạn cho tất cả những rung động tinh thần, những lớp nghĩa chồng chất, những cơn sóng âm thầm thở dập từ lòng đất mẹ. Thơ, chữ nghĩa, văn hóa anh hồn thi ca nơi Anh như ngọn núi cao đủ phủ bóng - “Tiềm lực” không chỉ nằm trong vần điệu, trong hình ảnh, mà còn nằm trong khả năng chuyển tải cái đẹp, cái chân thành thiện mỹ, cái giản dị mà kì vĩ của đời sống qua từng chữ, từng nhịp thở của ngôn từ. Đỉnh cao văn học là nơi chuyển trải những chấn thương đời sống, những róng riết cùng kiệt sinh tồn thành những “mật ngôn” thiêng liêng, như tiếng "Mẹ ru cái lẽ ở đời/ Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn."
Dù bể dâu biến đổi, xã hội thay màu và những khuôn phép ít nhiều rò rỉ thì hồn thơ Nguyễn Duy vẫn là một phần sống còn trong nhịp thở đương đại để “âm thầm vay – trả”. Như một căn nhà thu vén, đóng gói được sự mênh mông của thời/ không, thơ ôm trọn tạo hóa bằng vòng ôm khoáng đại, khái quát một cách cô cặn nhất. Để rồi từ từng hạt gạo, từng giọt nước mắt, từng bàn tay cặm cụi, con người nhìn thấy chính mình vĩ đại trong cái nhỏ nhoi:
“Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
trong hơi ấm nhiều chăn đệm
Của cọng rơm xơ xác gầy gò”
Thơ đậm đà thẩm thấu âm thanh của đời này sóng gió, nơi từng chi tiết nhỏ bé trở thành hình ảnh biểu tượng và thông điệp sâu sắc nguồn cội. Tiềm lực ấy, qua rơm rạ, khói bếp, Đò Lèn,… bằng bờ vai bàn tay người gieo trồng, từ trong ánh trăng hay giọt sữa ta đều thấy được sức mạnh lớn lao giúp con người hiểu điều sống đẹp - “lá rụng về cội”:
“chú tôi nướng nửa đời biệt xứ
nước mã hồi xin tí đất cắm dùi
cáo chết ba năm quay đầu về núi
khệnh khạng hát câu xin lỗi chân trời”.
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy thật giàu sức mạnh biểu hiện chất phản biện đời sống: tiếng nói can thiệp, đòi được can thiệp vào các trạng huống nhân sinh – chính trường. Thậm chí là tiếng nói hô hào - “cảnh báo” để sống đích thực chân thiện. Nhưng trước hết, sau cùng và tất cả thơ phải là cái ôm ấp trìu mến với cuộc đời, đánh thức niềm hi vọng chứ không phải là nỗi chán chường hay oán ghét hận sầu…
Tiềm lực còn ngủ yên và cần được gọi dậy, như trên cánh đồng chữ nghĩa nằm hoang đợi người tơi xới. Như con giun cần mẫn làm đất, như cánh cam đơm bông, Nguyễn Duy vun trồng sự phì nhiêu cho mảnh đất quê hương, để cái đẹp khai hoa trong bản lĩnh ngôn từ, bản lĩnh sống vị nhân trong tính nhạc tình độc đáo đậm đà yêu thương: "kẽo kẹt hai vai một nhịp cầu vồng / đẹp lắm chứ cái tạo hình gồng gánh!". Thơ dẫn lối vào đời bằng bài ca hiện thực, những gam màu lạnh lẽo, ưu sầu, tiếc nuối, đắng cay, nhưng luôn tỏa sáng niềm tin về giá trị con người:
“Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
tuổi thanh xuân trọn vẹn cuộc chiến tranh
sau lưng ta là kỷ niệm bi tráng
trước mặt ta vẫn con đường gập ghềnh
vẫn trang trọng tấm lòng trung thực
dù có thể lỗi lầm – làm thế nào mà biết trước
dù có sao thì cũng phải chân thành”
Nguyễn Duy đã “xé rào”, mở ra khát vọng lớn lao hơn cộng đồng văn chương mà Anh đang sống - thể hiện lòng yêu mến mãnh liệt với muôn dân qua ánh nhòm dọi sâu vào bi kịch, từ tăm tối mà khơi thông dòng sáng nồng nhiệt. Thơ trở thành tượng đài tinh thần, điểm tựa cho dân tộc, cho văn hóa, cho nhân sinh; và trên tất cả, giá trị đích thực mà ta nhận được là một sự thật chất ngất:
“Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
ta biết buồn để biết lạc quan
để nhắn lại sau ta cho lớp lớp trẻ con
(dù sau này dầu mỏ đã phun lên
quặng bôxít cao nguyên đã thành nồi thành soong
thành tàu bay hay tàu vũ trụ
dù sau này có như thế... như thế... đi nữa
chúng ta vẫn cứ nên nhắn lại)
đừng quên đất nước mình nghèo!”
Trong cuộc hành trình đối diện với đời thường, với điêu trá đảo điên, thơ Nguyễn Duy bừng nở như đường máu đỏ rực trên cánh đồng thẩm mỹ, nhưng với tâm thế ung dung, năng động từng tận tế bào - giác quan. Việc không ngừng “chất vấn” bằng nhịp phách thản nhiên liên hoàn giúp tiếng thơ trở thành nhịp điệu bền bỉ, bay bổng trong cùng nhận thức và tư duy - gói trọn, bao quát, tỉ mỉ và tự nhiên, lại rất tâm sự, trữ tình ngọt ngào cả thấm nhuần chịu đựng, khổ đau.
Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, thơ vẫn giữ vai trò là ngọn đuốc sống dẫn lối nhận thức, giữ nhịp cho trung hòa bền vững tương cân. Nó đánh động những câm lặng, nhắc nhở về trách nhiệm, về sự chân thành, và khả năng biến đời sống thành bản trường ca đầy ý nghĩa. Nguyễn Duy vẫn tin tưởng vào tiếng việt, nghệ thuật, và văn học nước nhà. Anh cùng sống, cùng đau, cùng xây đắp, lật dở vỉa tầng đời để “xới đảo” tơi xốp cho sự gieo trồng điều cao thượng. Trên đỉnh dốc chông chênh của thời đại, nơi khoảnh khắc tạo hóa vặn xoáy xoay vần dù dưới chân là vực sâu, Anh vẫn:
“Tôi muốn được làm tiếng hát của em
tiếng trong sáng của nắng và gió
tiếng chát chúa của máy và búa
tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai
tiếng trần trụi của lưỡi cuốc
lang thang
khắp đất nước
hát bài hát
ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC…”
Nguyễn Duy đã làm nên được điều mà bao nhà thơ suốt đời khao khát: biến cái nhỏ nhoi thành điều kì vĩ, biến trải nghiệm lòng riêng thành nỗi niềm bao dung, biến nỗi đau thành điệu nhạc, biến lặng im thành khúc hát rát bỏng. Ở đó, thơ có lúc rền vang như lời sấm, là ngọn đuốc soi rọi hành trình tìm về căn cốt hồn Việt, làm cho văn học nước nhà không chỉ còn là sự tồn tại mà trở thành một đỉnh cao tự thân – rực rỡ, kiêu hãnh, thấm đẫm tinh thần của quá khứ đánh đổi hi sinh và khát vọng sang trang.
Hồn thơ ấy vẫn ngân nga, thổn thức và ngậm ngùi trong từng nhịp sống: nơi tiếng cười giòn tan của trẻ nhỏ, trong luống cày, tấc đất… Và đáy mắt đục mờ vẫn ánh lên nồng ấm của người mẹ quê, trong giọt mồ hôi rơi xuống thành hạt ngọc trên lưng áo người lao động, trong làn gió trưa lặng lẽ nhẹ ùa qua vòm lá, trong mảnh trăng nước hương thôn chan chứa ân tình. Tiềm lực – tiềm lực của đất, của người, của chữ nghĩa vẫn đang thức dậy vươn vai, đang mời gọi thôi giục mọi tâm hồn còn biết tin yêu vào tín điều đẹp đẽ.

14/11/2025

Tuấn Trần

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Vài nhận thức về trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều

Tôi hỏi nhiều nhà thơ và văn, rằng họ thấy trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều như thế nào và đặng họ có thể khai sáng chút gì cho tôi nhưng không ai có câu trả lời khiến tôi thỏa mãn, đa phần đều nói “Ái chà, Lò mổ của Nguyễn Quang Thiều hả, bọn tớ cũng chỉ nghe dư luận ồn ào trên mạng thôi chứ có sách đọc đâu!”.

Rốt cuộc việc dọ hỏi rơi vào ngõ cụt, nhưng tôi không bỏ cuộc. Sở dĩ có tình trạng vậy bởi tôi không biết cách mua sách trên mạng, đi lướt vài nhà sách không thấy bày bán là thôi. May quá, gần đây nhà thơ Phan Hoàng đã cho tôi mượn “Lò mổ” bản bìa cứng, tôi đọc và mạo muội có vài dòng cảm nhận dưới đây.

Trường ca “Lò mổ” là một tác phẩm siêu thường trong đó tính hiện thực, siêu thực và huyền ảo hòa quyện chặt chẽ.

Lò mổ trong mắt đại chúng là nơi giết thịt những con vật to lớn như trâu, bò, heo hoặc dê, đại loại vậy. Tôi đã thấy cách người ta giết trâu, chẳng khác mấy cảnh giết bò trong mô tả của ông Thiều. Đồ tể cột dây vào hai chân trước của con vật giật mạnh từ phía sau khiến nó khuỵu xuống và sau đó hạ sát bằng nhát đập chí mạng vào cái đốm hình sao trắng sáng ở trán. Trong khoảnh khắc đó người chủ thường lánh đi bởi họ không chịu nổi cú sát thương con vật của mình.

Con bò trong “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều đổ xuống, như bản mệnh phải thế, nó “không kêu rống, không vật vã, không bắn vọt phân và nước tiểu, không ợ máu mũi. Đôi mắt mở dịu dàng. Buồn bã. Không bao giờ rơi lệ” (Trang 16), và thế là từ cái chết không cưỡng lại ấy không gian thi ca mở ra, bắt đầu từ “chàng” – người tung nhát búa kết liễu con vật, tới “lão chủ nhà trọ” – người làm nghề đập đầu bò đã ba mươi năm, tới “bầy ruồi” và tới vô vàn triết lý nhân sinh, trải suốt 18 chương sách.

Tôi thích cách tác giả “Lò mổ” cho các nhân vật trong trường ca của mình xuất hiện. Hình ảnh của “chàng” đẹp não nùng, triết lý của “chàng” gần gũi và lạ lẫm, “Một ban mai tĩnh lặng gọi chàng. Trong cơn mê chàng không thể nào đi hết dãy nhà cấp bốn. Chàng thèm khát những đồng cỏ. Đêm qua từ lò mổ trở về, chàng đổ xuống giường như người trúng đạn”(Trang 13). “Lão chủ nhà trọ” thì thế nào? Lão ta được khắc họa rõ nét và có vẻ bê bối “Giờ lão bị tật nguyền. Cánh tay phải bị teo và cong” (Trang 19), không được lung linh như “chàng”.

Tôi tự hỏi tại sao không phải tay trái mà lại là phải, hoặc là cả hai? Cánh tay đồ tể mạnh mẽ từng giáng những nhát búa kinh hoàng giờ bị teo và cong, có chăng yếu tố ngẫu nhiên hay nhân quả gì ở đây? Những đứa con thành đạt của “lão chủ nhà trọ” lớn lên bằng tiết bò và gạo hầm, món ăn đại bổ lắm kẻ ao ước, và “giờ chúng từ chối lão” (Trang 19). Vậy là nhân quả nhỡn tiền. Lão là người thầy đầu tiên dạy “chàng” bài học nhập môn nghề đồ tể: “Quan trọng nhất cái chết phải đến từ từ/Đấy là một nghề/Tàn bạo và trung thực/Những con bò ngã xuống như đi ngủ/Thịt bò tươi phủ ngập thế gian” (Trang 21). Giáo huấn lạnh lùng của lão, viết ra được như thế khó biết chừng nào, bất giác khiến tôi nhớ tới nhân vật Triệu Giáp trong tiểu thuyết “Đàn hương hình” của nhà văn Mạc Ngôn bên Tàu với triết lý “nghề nào cũng có trạng nguyên”.

Theo chủ quan của tôi, tinh thần mang theo trong “Lò mổ” đã vượt ngoài dự liệu của tác giả. Sự can thiệp của vô minh đã đưa những ký tự của “Lò mổ” tiến nhập vào bến mới. Nguồn cội của sự thoát xác này tôi đọc thấy từ hơn ba chục năm trước trong tập thơ “Sự mất ngủ của lửa”, cụ thể hơn là trong bài thơ “Bài hát về cố hương”…

Trong nghề đao phủ thì Triệu Giáp đích thực là “trạng nguyên”, còn “lão chủ nhà trọ” trong “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều đích thực là “trạng nguyên” nghề đồ tể. Bản hợp xướng dài dặc máu bò càng lúc càng siêu thường. Ám ảnh của đôi mắt con bò bị giết khiến “chàng” dằn vặt khôn nguôi và tự cật vấn “có phải chúng ta tội lỗi”. Đỉnh điểm cái tôi gọi là siêu thường vẻ như nằm ở “Bầy ruồi” (Trang 24-39), 16 trang thơ giấy khổ lớn với phông chữ nhỏ chỉ có một mỹ từ duy nhất: “Ruồi”. Không còn là bầy ruồi mà là một thế giới ruồi, phình từ trong trang thơ ra ngoài đời. Tôi hình dung trong khoảnh khắc giông gió, thi nhân vò nhàu mái tóc và thống thiết gọi “Ruồi, ruồi!”, và bầy ruồi liền xông đến. Tôi chưa thấy tác phẩm nào chất “cảm giác mạnh” rõ rệt như trong phần “bầy ruồi” của ông Thiều, nó tràn ngập và hết sức chân thực. Bức tranh “Ruồi” trở nên đặc biệt sinh động khi vở kịch một hồi có tên “Phán xử” (Chương 16) kéo màn lên, để ba nhân vật gồm tay “chủ lò mổ”, “bầy ruồi” và “chàng” đối đáp giữa thanh thiên bạch nhật.

“Chủ lò mổ: Ta có linh hồn. Ta tặng lại linh hồn ta cho các ngươi. Nhận lấy đi, nhận đi.

Bầy ruồi: (Cười rú lên) Ngươi thật ngu dốt. Linh hồn ngươi bẩn thỉu hơn mọi sự bẩn thỉu” (Trang 117).

Trong nhận thức thông thường ruồi là giống dơ bẩn, “Thớt có tanh tao ruồi đỗ bấy/ ang không mật mỡ kiến bò chi” (“Thế tục”, Nguyễn Bỉnh Khiêm). Đọc “Lò mổ”, bất chợt ta ngộ ra, ruồi đâu dơ bẩn nhất, có thứ dơ bẩn hơn. Tôi thích vở kịch một hồi này, nó sáng tạo và triết lý. Thông qua phần “Phán xử”, tác giả không chỉ thanh tẩy cho “bầy ruồi” mà còn thổi hồn cho nhặng, họ hàng nhà ruồi. “Thuở ấu thơ tôi thường ngắm những con nhặng bay như bất động giữa không gian tinh khiết/ Có ai còn nhớ cảnh này không?/ Quá ít người giơ tay” (Trang 79). Tôi quên từ lâu hình ảnh con nhặng xanh bay như bất động giữa không trung cho tới khi được “Lò mổ” đánh thức. Một hình ảnh vu vơ, một lời hỏi gió thoảng, đã gợi lên thời ấu thơ tươi đẹp của bao người, trong đó có tôi.

“Lò mổ” là một tác phẩm kỳ vĩ, khởi lên từ đôi mắt của con bò bị giết và khép lại bằng sự xuất hiện của chú bê con.

“Lặng lẽ và cô đơn/ Khôi nguyên và huyền bí/ Chưa bao giờ một đôi mắt như thế/ Nhìn chàng” (Trang 16).

“Búa đã vung lên/ Tiếng rống dội vang/ Chiếc kèn đồng lớn nhất thế gian/ Dội vào toàn bộ đời sống/ Con bò từ từ quỵ xuống/ Dịu dàng như nằm xuống đồng cỏ/ Đôi mắt nó vẫn mở/ Ngôi sao hôm lấp lánh/ Sau tiếng rống dội vang/ Tiếng kèn hiệu/ Một chú bê được sinh ra/Con bò gục xuống sàn đá lạnh/ Trút hơi thở cuối cùng/ Như cơn gió lớn đi qua/Làm tất cả những cái cây trên mặt đất rung chuyển” (Trang 128).

Sự sống xuất hiện kỳ vĩ và chấn động. Tôi chia sẻ sang chấn ấy, bởi còn có gì lớn lao hơn khi sự sống xuất hiện. Trong thế giới động vật, cụ thể ở “Lò mổ” của ông Thiều là con bò bị đem đi giết trong khi mang thai, nó cam chịu số phận và mong sinh linh mong manh kia sẽ được thấy ánh mặt trời. Tình mẫu tử, người hay bò cũng vậy, là thiêng liêng của thiêng liêng, đã sẵn trong huyết quản của mọi sinh vật trên trái đất, trong đó có con người với tư cách là động vật bậc cao. Hình ảnh “Con bò từ từ quỵ xuống/ Dịu dàng như nằm xuống đồng cỏ” thật xúc động, đẹp và buồn náo nức!

Ông Thiều viết: “Tinh thần mang theo trong Lò mổ là một câu hỏi “đời sống tôi đang sống có thực sự là một đời sống?” (Tôi viết Lò mổ, Nguyễn Quang Thiều, trang 7). Cuộc đời ai chả giông gió, chỉ có thể thoát ra bằng sức mình. Thi nhân thoát giông gió bằng ký tự thơ. Những ký tự mang theo nỗi niềm thao thiết của nhân gian, cũng là của thi nhân, bởi vậy chúng có linh hồn, đủ sức để vuốt ve, an ủi mọi nỗi niềm. Người phàm nhắm tới ăn uống hưởng lạc, tiền bộn thì đánh chén ngày 5-7 bận, sơn hào hải vị, lầu son gái đẹp, đạm bạc thì 2-3 bữa, liu riu thì 1 bữa, ai cũng tồn tại trong giá trị tính bằng túi tiền của mình. Thi nhân cần nhiều hơn. Theo chủ quan của tôi, tinh thần mang theo trong “Lò mổ” đã vượt ngoài dự liệu của tác giả. Sự can thiệp của vô minh đã đưa những ký tự của “Lò mổ” tiến nhập vào bến mới. Nguồn cội của sự thoát xác này tôi đọc thấy từ hơn ba chục năm trước trong tập thơ “Sự mất ngủ của lửa”, cụ thể hơn là trong bài thơ “Bài hát về cố hương” (1991):

“Tôi hát, tôi hát bài ca về cố hương tôi

Trong những chiếc tiểu sành đang xếp bên lò gốm

Một mai đây tôi sẽ nằm trong đó

Kiếp này tôi là người

Kiếp sau phải là vật

Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ

Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi”.

“Lò mổ” của hiện tại và “Sự mất ngủ của lửa” của thập niên 1990, đều xoay quanh trường con người, khác chăng là về biên độ và chiều kích của trường ấy. Nhiều người có thể cảm thán hoặc tệ hại hơn thì chửi đổng “Mẹ, thơ phú gì rối rắm, chả hiểu gì cả!”, còn tôi thì thấy “Lò mổ” đang nâng tầm nhận thức cho người đọc. Muốn hòa nhập, muốn chơi với thế giới, mình phải có thứ ngang hoặc vượt tầm. Hát về những chiếc tiểu sành là hát về thân phận người, nói về con bò con bê con ruồi con nhặng là hát về bản nguyên con người. Khó lắm thay! Phải có một nỗi niềm đủ lớn, nói như cụ Nguyễn Tiên Điền trong “Truyện Kiều”: “Một mình mình biết một mình mình hay” (câu 2674) và một tình yêu đủ lớn cộng tài năng vượt trội mới có thể cất lên tiếng hát vị tha và bao dung như thế về con người. Để tiệm cận “Lò mổ” đầy đủ thiết nghĩ phải có nghiên cứu sâu của các nhà lý luận chuyên nghiệp, tối thiểu cũng tầm luận văn tiến sĩ. Tôi mù lòa về thơ, nhất thời cưỡi ngựa xem hoa, chỉ có thể nhận thức đến đấy.

3. Sự sống không đến từ vô minh mà được khởi lên từ bên trong cái chết, từ tro tàn của sự hủy diệt.

Ý nghĩ sự sống không đến từ vô minh mà khởi lên từ bên trong cái chết, từ tro tàn của sự hủy diệt bám riết lấy tôi suốt lúc trong và sau khi đọc trường ca “Lò mổ”. Thiết nghĩ, sự soi chiếu của khoa học và của tôn giáo về bản nguyên con người chẳng mâu thuẫn với nhận thức này. Lời tâm huyết được cho là của Nguyễn Minh Châu “Hãy đi tới tận cùng của cái ta, ta sẽ gặp nhân loại” rốt cuộc đã ứng với “Lò mổ”, và ông Thiều là người được chọn giữa hàng ngàn thi nhân và đã thực hiện xuất sắc bổn phận. Tôi đặt “Lò mổ” của ông Thiều bên vài tác phẩm xuất sắc của những văn/thi nhân xuất chúng của thế giới đương đại thì thấy chả kém cạnh gì. Lý gì ta không tôn lên. Văn đàn Việt sẽ rạng rỡ mày mặt.

“Khi con biết ngước mắt lên cao bởi nỗi sợ hãi thì chính đó là lời nguyện cầu chân thành nhất”

(Trang 64).

“Một ngọn cỏ tự do làm thành thảo nguyên.

Một cái cây tự do làm thành cánh rừng.

Một con cá tự do làm thành biển cả.

Một con chim tự do làm thành bầu trời.

Một con người tự do làm thành vũ trụ”

(Trang 107).

Có phải vậy không? Đương nhiên là vậy rồi, con người là tiểu vũ trụ mà. Chúc mừng và cảm ơn ông Thiều đã cho chúng sinh trong đó có tôi thưởng thức một món lạ, xuất sắc!.

Tp.HCM, 14/9/2025

Cao Chiến

Nguồn: Vanvn

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI

Nói đến văn học dịch những thập niên đầu thế kỷ 21, có lẽ, trước hết, phải nhắc tới việc rất nhiều tác phẩm thuộc hàng “tinh hoa”, “kinh điển”, hay các tác phẩm đạt được các giải thưởng văn chương danh giá (Nobel, Pulitzer, Man Booker...) đã được chú trọng chuyển ngữ trong giai đoạn này.

1. Văn học dịch và những gợi mở về kĩ thuật viết

Rất nhiều tên tuổi lừng lẫy của dòng văn học tinh hoa trên thế giới (cả kinh điển lẫn đương đại) đã xuất hiện trong không gian văn học dịch Việt Nam giai đoạn này, trong đó có thể kể tới: Marcel Proust, Franz Kafka, Milan Kundera, Gunter Grass, Orhan Pamuk, Cao Hành Kiện… và nhiều tác giả nữ nổi bật như Toni Morrison, Margaret Atwood… Việc dịch thêm các tác phẩm kinh điển trong quá khứ và cập nhật các tác phẩm được giải thưởng lớn trên thế giới theo từng năm vừa tạo ra một áp lực đối trọng, buộc các tác giả Việt Nam phải có những chuyển dịch về tư tưởng và bút pháp, vừa cung cấp những gợi dẫn trong thực hành sáng tác. Chẳng hạn, tính phi lý trong truyện của Kafka, thủ pháp dòng ý thức trong tác phẩm của Marcel Proust, William Faulkner, Cao Hành Kiện… có lẽ là những lối viết đi vào nhiều nhất trong các sáng tác thuộc dòng văn học đặc tuyển ở Việt Nam.

Văn học Nga tiếp tục được dịch. Nếu ở các giai đoạn trước đó, các tác phẩm được dịch chủ yếu thuộc mảng văn học xã hội chủ nghĩa thì đến hiện tại, tác phẩm của một loạt các tác giả Nga hải ngoại nổi tiếng được chọn dịch, trong đó nhiều nhất có lẽ là Vladimir Nabokov với một loạt các ấn bản liên tiếp như Lolita, Tiếng cười trong bóng tối, Mỹ nhân Nga, Phòng thủ Luzhin… Bên cạnh đó, có thể kể tới Mikhail Bulgacov với Những quả trứng định mệnh, Nghệ nhân và Margarita; Ivan Bunin với Quý ông từ San Francisco đến, Những lối đi dưới hàng cây tăm tối… Việc dịch các tác phẩm văn học Nga hải ngoại đem đến cho không khí thưởng thức một cảm giác vừa quen thuộc, vừa mới lạ. Nó “tái định hình” một hình dung khác về văn chương Nga, thoát khỏi những mô thức quen thuộc kiểu “định hướng xã hội chủ nghĩa”, đồng thời đưa lại cho người đọc nhiều trải nghiệm mới và đa dạng về lối viết.

Bên cạnh đó, có lẽ cần nhắc tới một mảng quan trọng trong dịch thuật là các tác phẩm lý luận-phê bình văn học. Giai đoạn đầu thế kỷ 21 có lẽ là một trong những thời kì các ấn bản lý thuyết phê bình văn chương của nhiều trường phái khác nhau được dịch nhiều nhất, phong phú và đa dạng nhất. Động thái dịch thuật này, đương nhiên, có những tác động và ảnh hưởng nhất định đến giới cầm bút ở Việt Nam, đôi khi gắn với những bước chuyển rõ nét trong lối viết và bút pháp của các thế hệ nhà văn. Trước hết, có thể kể tới Nghệ thuật như là thủ pháp: Lý thuyết Chủ nghĩa hình thức Nga của Roman Jakobson, được dịch và xuất bản vào năm 2001. Việc dịch công trình lý thuyết Nghệ thuật như là thủ pháp là một hiện tượng dịch quan trọng của dịch lý luận-phê bình giai đoạn này. Nó không chỉ được đón nhận từ phía giới nghiên cứu-phê bình văn học mà còn gây ấn tượng với giới sáng tác, là một trong những lực thúc đẩy nhà văn Việt Nam kiên quyết chối bỏ, vượt thoát những định kiến cũ mèm về văn chương, về trách nhiệm xã hội mà văn chương thường bị “tròng” lên vai từ xưa đến nay, để có thể dấn thân trọn vẹn hơn vào cuộc chơi ngôn ngữ, chơi thủ pháp, vào những sáng tạo theo nguyên tắc “lạ hóa”, trả nghệ thuật về cõi riêng của nó, vừa độc lập, vừa có khả năng gây hấn với sự nhàm chán buồn tẻ của những “cái thường ngày”.

Mikhail Bakhtin, dù đã bắt đầu được dịch từ những năm 1993 với cuốn Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiepski, đến giai đoạn này, hai công trình quan trọng nhất của ông được dịch thêm là: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Sáng tác của Francais Rabelais và nền văn hóa dân gian trung cổ và phục hưng. Những ấn bản sách dịch các nghiên cứu của Bakhtin, một lần nữa, không chỉ làm thay đổi cách nhìn của các nhà nghiên cứu phê bình trong việc phân tích các tác phẩm văn chương, mà còn mở ra rất nhiều hướng mới cho sáng tác, đặc biệt là tiểu thuyết. Tính đa thanh, đối thoại được nâng lên thành đặc trưng của tiểu thuyết. Điều này cũng thúc đẩy các nhà văn Việt rời xa dần quỹ đạo của tiếng nói sử thi độc thoại trước đó để hướng tới một cái nhìn đa chiều hơn, một sự pha trộn giọng điệu sống động hơn trong các tác phẩm của mình. Những thi pháp tiểu thuyết quan trọng như giễu nhại, tính không hoàn kết, thì hiện tại chưa hoàn thành… cũng xuất hiện ngày một nhiều hơn trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam giai đoạn này. Ngoài ra, có thể kể thêm một số cây bút lý luận tiêu biểu của chủ nghĩa cấu trúc cũng được dịch ở giai đoạn này như Yuri Lotman với Cấu trúc văn bản nghệ thuật; Tzevan Todorov với Thi pháp văn xuôi, Dẫn luận về văn chương kì ảo, Văn chương lâm nguy… Mảng sách dịch này, có thể nói, càng nhấn mạnh việc coi mỗi tác phẩm văn chương như một “công trình kiến trúc” đầy tính nghệ thuật.

Các lý thuyết gia thuộc hướng giải cấu trúc như Roland Barthes và Foucault cũng đã và đang được dịch ở Việt Nam, chẳng hạn có thể kể tới Những huyền thoại của Roland Barthes, Giám sát và trừng phạt – Nguồn gốc nhà tù của Michael Foucault. Công trình của một tác gia giải cấu trúc quan trọng khác là Gilles Deleuze cũng đã được dịch: Kafka – Vì một nền văn học thiểu số. Những văn bản này, cùng với một công trình nền tảng của hậu hiện đại là Hoàn cảnh hậu hiện đại của Jean Francois Lyotard đã đem lại một không khí mới cho bối cảnh văn học đương đại.

Bên cạnh đó, có thể kể thêm những hướng phê bình văn học khác cũng được dịch và giới thiệu trong giai đoạn này, chẳng hạn xã hội học văn học (với Quy tắc của nghệ thuật: sự sinh thành và cấu trúc của trường văn chương của Pierre Bourdieu), phê bình sinh thái với cuốn Phê bình sinh thái là gì? trong đó tuyển dịch những bài luận của các tác giả kinh điển nhất như Peter Bary, Kate Rigby, Richard Kerridge…; và gần đây hơn cả là phê bình nữ quyền với các công trình dịch tiêu biểu như Lịch sử vú của Marilyn Yalom, Rắc rối giới, Các thuật ngữ then chốt của nghiên cứu giới. Những hướng dịch thuật này, không ít thì nhiều, mài sắc thêm nữa ý thức giới và nữ quyền, ý thức sinh thái và góc nhìn xã hội của những cây bút đương thời, hứa hẹn sẽ đem lại những bước chuyển mới cho văn học Việt.

2. Ảnh hưởng của văn học dịch nhìn từ các ấn phẩm đại chúng

Ngoài dòng sách dịch được tạm phân loại là dòng văn học tinh hoa, thế kỷ 21 thực sự là giai đoạn đánh dấu một sự bùng nổ của việc chuyển ngữ tức thời tất cả những ấn phẩm đang gây “sốt” trên thế giới, những cuốn sách được xếp vào hàng “best-seller”, và những tác phẩm thuộc các dòng văn học đại chúng đang càng ngày càng có thêm lượng độc giả đông đảo, đặc biệt là thế hệ trẻ. Văn học ngôn tình Trung Quốc, các thể loại du ký, trinh thám, giả tưởng, fantasy là các thể loại có được thành công ấy. Chính sự ồ ạt của thị trường sách dịch này sẽ đưa lại sự bung nở trong sáng tác của bản thân các tác giả trong nước để vừa như một sự hồi ứng, vừa như một nỗ lực cất lên tiếng nói của riêng mình.

Dù vậy, trước khi đi vào những thể loại đại chúng này, có lẽ nên bắt đầu bằng một trường hợp nằm ở đường biên giao thoa giữa tinh hoa và đại chúng là Murakami Haruki. Tác phẩm đầu tiên của Murakami được dịch sang tiếng Việt là Rừng Na Uy. Ngay sau khi cuốn sách này ra đời và tạo được cơn sốt trong công chúng đón nhận tại Việt Nam, liên tục các tác phẩm khác của ông được dịch và xuất bản: Biên niên ký chim vặn dây cót, Phía nam biên giới, phía tây mặt trời, Kafka bên bờ biển… Với Murakami, độc giả Việt và độc giả thế giới dường như được đem tới một luồng gió mới trong hình dung về đất nước mặt trời mọc, bứt thoát khỏi nỗi bi cảm vốn được mặc định là một phần tất yếu của Nhật Bản. Việc các tác phẩm của Murakami trở thành hiện tượng thống lĩnh thị trường sách dịch Việt không những cho thấy sự xuất hiện của một lớp độc giả mới đã sẵn sàng đón nhận các giá trị mới đậm cảm quan phương Tây, mà chắc chắn đưa lại cả những tác động (dù có ý thức hay không ý thức) tới những cây bút mới đương thời. Cơn sốt Rừng Na Uy có khả năng cao đã khơi mở một cái nhìn phóng khoáng, nhưng cũng đa chiều hơn về tính dục ở các cây bút Việt trẻ. “Sex” không chỉ còn là tiếng nói bản năng của con người, mà còn là một cách để phơi bày nỗi cô đơn bản thể và niềm khát khao kết nối của một thế hệ hoang mang mất niềm tin, mất gắn kết với quá khứ.

Từ góc nhìn đại chúng, truyện tình cảm phương Tây hay truyện ngôn tình Trung Quốc là một trong những mảng được dịch nhiều nhất (cả chính thống và online), cũng có một đời sống sôi động thực sự trong ngành xuất bản phát hành và để lại những dấu ấn đậm nét trong sáng tác của các nhà văn Việt. Về truyện tình cảm phương Tây, không thể không kể tới Marc Levy, một nhà văn Pháp. Tác phẩm của ông được dịch khá nhiều ở Việt Nam, gây dựng được một lượng fan hùng hậu, và là một trong những tác giả nước ngoài thuộc hàng best-seller. Có thể dẫn ra một số tiểu thuyết của Marc Levy được dịch như Và nếu như chuyện này là có thật, Kiếp sau, Em ở đâu… Kể từ 2006, sau khi bản dịch Xin lỗi em chỉ là con đĩ của Tào Đình do Trang Hạ dịch được xuất bản, một cơn lốc đọc và dịch truyện ngôn tình được khởi xướng, và càng ngày càng mạnh mẽ hơn song song với tốc độ phổ cập chóng mặt của mạng internet. Dấu ấn của thể loại truyện tình cảm (hay ngôn tình theo cách gọi của Trung Quốc), không khó để nhận ra, khá rõ nét ở các tác giả trẻ Việt giai đoạn này như Iris Cao, Hamlet Trương, Anh Khang, Tuệ Nhi, Gào, Phan Ý Yên… Không chỉ thế, khi các thể loại như đam Mỹ, bách hợp trở nên quen thuộc với độc giả Việt, các tác phẩm về đề tài đồng tính như Dị bản của Keng, Cây rắn lục của Vũ Đình Giang, Thành phố không lạc loài của Phạm Thành Trung (Lê Anh Hoài chấp bút), Lạc giới của Thủy Anna, Đời Call Boy của Nguyễn Ngọc Thạch… lần lượt xuất hiện và thu hút được sự quan tâm của bạn đọc.

Thêm một điểm đáng chú ý có thể thấy trong văn học đại chúng giai đoạn đầu thế kỷ 21 là sự nở rộ về thể loại du ký của các cây bút nữ. Những tác phẩm du ký nữ thuộc hàng best-seller của cả phương Đông và phương Tây được dịch trong giai đoạn này như Muôn dặm không mây của Tôn Thư Vân, Đảo tường vi của An Ni Bảo Bối, Ăn, Cầu nguyện và Yêu của Alizabeth Gilbert cũng có thể được nhìn nhận như một “cú hích” góp phần khuyến khích và thúc đẩy một thế hệ nữ trẻ trung lên đường, xê dịch và viết về hành trình xê dịch của chính mình. Những chuyến đi và những ghi chép này ít nhiều đã là nguồn cảm hứng cho cây bút Việt. Nguyễn Chí Linh – tác giả cuốn du ký Trên con đường tơ lụa Nam Á chia sẻ, tác phẩm này được viết từ niềm say mê khi đọc Muôn dặm không mây của Tôn Thư Vân.Có thể kể tên rất nhiều tác giả nữ đã làm nên sự nổi dậy của một dòng du ký Việt Nam giai đoạn này như Dương Thụy, Nguyễn Phương Mai, Trang Hạ, Phan Việt, Huyền Chip, Uyên Nguyên, Trang Nguyễn... Hình ảnh Trang Hạ nằm lên chiếc xe máy hầm hố cùng tuyên bố “Đời ta là những chuyến xe” được đăng công khai trên blog cá nhân có thể được xem như lời tuyên ngôn cho các cây bút du ký nữ thời đại mới, khi dịch chuyển và trải nghiệm du hành không còn là độc quyền của nam giới. Xách ba lô lên và đi của Huyền Chip cũng được đánh giá như một bước khởi đầu quan trọng của trào lưu này. Tây Ban Nha, hành trình không ngôn ngữ của Uyên Nguyên ghi lại những trải nghiệm của một cô gái quyết định kiếm tìm một khóa học tự túc ở trời Tây để từ đó, có cơ hội hòa mình vào một ngôn ngữ mới, một nền văn hóa mới. Trở về nơi hoang dã của Trang Nguyễn lại là hành trình năm năm của một cô gái bé nhỏ nhưng gan dạ ở một nơi chốn vốn được cho là khắc nghiệt nhất: châu Phi. Hành trình này, trước hết, là để thỏa mãn niềm khát khao “thám hiểm”, và thứ nữa, là một hành trình theo đuổi đam mê của một nhà bảo tồn động vật hoang dã. Trở về nơi hoang dã, bởi thế, không chỉ là một chuyến đi thỏa mãn những mong muốn cá nhân mà còn là một lời kêu gọi và thức tỉnh trách nhiệm của con người trước lời kêu cứu của môi trường.

Việc dịch các tác phẩm thuộc thể loại fantasy như Harry Potter và cơn sốt mà nó đưa lại đã có thể xem là một gợi ý và truyền cảm hứng cho dòng truyện này ở Việt Nam, với những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Nhật Ánh, Phan Hồn Nhiên, Phạm Bá Diệp. Bộ truyện Chuyện xứ Lang Biang của Nguyễn Nhật Ánh xuất bản lần đầu năm 2004 và được tái bản liên tục trong các năm sau đó là một thành công nổi bật của văn học Việt thuộc thể loại này.

Sự cập nhật những bước tiến mới của thể loại khoa học viễn tưởng cũng là một thành tựu khác mà văn học dịch đem lại trong giai đoạn này. Những năm đầu thế kỷ 21, có thể nói, thực sự là khoảng thời gian rực rỡ về mảng dịch thuật truyện viễn tưởng. Trước đó, trong khoảng từ những năm 1945 cho đến trước 2000, khoa học viễn tưởng đã được dịch, chủ yếu là các tác phẩm của Nga và Liên Xô như Vùng đất Xan-nhi-cốp, Những cuộc phiêu lưu của Xe-muy-en Pinh... Một số các tác phẩm sci-fi kinh điển Âu Mỹ cũng đã được dịch ở Việt Nam trước đó có thể kể thêm như các tác phẩm về chủ đề du hành thời gian như Kẻ vượt thời gian của H.G.Wells hay du hành về không gian như Hai vạn dặm dưới đáy biển của Jules Verne. Nhiều tác phẩm văn chương viễn tưởng về hiểm họa và nguy cơ sinh thái, cũng như những tác phẩm đặt lại vấn đề về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên đã được dịch, chẳng hạn: Mùi Adam của Jean-Christophe Rufin, Bộ ba Kiến – Ngày của kiến – Cách mạng kiến của Bernard Werber. Những tác phẩm như Chuyện người tùy nữ của Margaret Atwood, Chúng tôi của Zevgeny Zamyatin Thế giới mới tươi đẹp của Aldous Huxley, Đấu trường sinh tử của Suzanne Collis… lại đặt vấn đề về sự nguy hiểm của một nhà nước toàn trị dùng công nghệ để kiểm soát người dân một cách phi nhân, bạo lực. Những hình dung viễn tưởng và sự đáng báo động của đạo đức nghề nghiệp, đặc biệt là nghề y được đề cập trong các tác phẩm như Thế giới nghịch của Michael Crichton. Trong câu chuyện này, tác giả tập trung vào những hệ lụy đáng sợ của các tiến bộ về nghiên cứu gen. Thay vì chỉ dừng lại việc ca tụng các đột phá trong nghiên cứu di truyền, Thế giới nghịch đặt ra vấn đề đạo đức khoa học khi con người giành quyền năng sáng tạo của Chúa trời, khi đến cả người chết cũng bị đưa lên bàn đấu giá. Cuối cùng, chủ đề người máy và cuộc khủng hoảng nhân tính khi công nghệ trí tuệ nhân tạo phát triển cực độ cũng được đặt ra trong các tác phẩm viễn tưởng đương thời trên thế giới, mà một trong số đó có thể kể tới là một ấn bản đã được dịch mang tên Người máy có mơ về cừu điện không của Phillip K.Dick. Việc dịch truyện viễn tưởng sang tiếng Việt, như thế, có thể nói, đã có những tác động rõ nét đến các sáng tác thuộc thể loại này ở Việt Nam. Có thể kể đến Máu hiếm, Luật chơi, Hiện thân của nhà văn Phan Hồn Nhiên, Thiên Mã của nhà văn Hà Thủy Nguyên, Nym – Tôi của tương lai của Nguyễn Phi Vân...

Cuối cùng, có lẽ cần nhắc tới sự nở rộ và đa dạng hóa thể loại trinh thám ở Việt Nam – một hiện tượng có lẽ đa phần cũng được đem lại qua con đường dịch thuật. Trước thế kỷ 21, trinh thám cũng là một thể loại đã được dịch khá nhiều ở Việt Nam. Một trong những mảng trinh thám đầu tiên được dịch là tiểu loại trinh thám-phản gián chủ yếu được dịch từ văn học Xô Viết, chẳng hạn: Vụ bắt cóc thế kỷ của Valixi Arđamátxki. Sang đến thế kỷ 21, việc dịch truyện trinh thám trở nên phong phú đa dạng hơn. Các tác giả trinh thám Âu-Mỹ như Dan Brown (với Pháo đài số, Thiên thần và ác quỷ...), Agatha Christie (với Thời khắc định mệnh, Những chiếc đồng hồ kì lạ…) được dịch. Không chỉ thế, các tác giả trinh thám-kinh dị Nhật Bản cũng được dịch như Kiego Higashino, Natsuo Kirino… Theo đó, trinh thám Việt Nam cũng dần bước ra khỏi được mô hình thể loại tình báo-phản gián trước đó (kiểu Ván bài lật ngửa của Trần Bạch Đằng) để hình thành một dòng văn học trinh thám đa dạng trẻ trung hơn với những cái tên như: Di Li, Giản Tư Hải, Bùi Anh Tấn, Kim Tam Long…

Di Li được coi là một hiện tượng mới của truyện trinh thám-kinh dị Việt Nam, trước Trại hoa đỏ, cô đã từng xuất bản hai cuốn sách khá thành công cùng thuộc thể loại này là Tầng thứ nhất và Điệu Valse địa ngục. Với Trại hoa đỏ, Di Li đẩy người đọc vào một cuộc phiêu lưu đầy bất ngờ mới, với vô số những bí ẩn không dễ khám phá, những vướng mắc không thể giải quyết, những âm mưu không dễ gì ngăn chặn. Đây được coi là tác phẩm đặt nền tảng cho kiểu loại trinh thám-thriller của Việt Nam. Ngoài ra có thể kể đến những cây bút trinh thám đương đại tiêu biểu nhất như Giản Tư Hải với Âm mưu thay não, Mật mã Champa, Minh Mạng mật chỉ; Kim Tam Long với Mặt nạ trắng, Ẩn ức trắng, Nguyễn Dương Quỳnh với Thăm thẳm mùa hè... Nếu tác phẩm của Giản Tư Hải xoay quanh những bí mật và tội ác ở tầm vĩ mô, cùng nhịp điệu trần thuật nhanh, kịch tính kiểu Dan Brown thì Kim Tam Long khéo léo kết hợp các yếu tố quỷ ma kinh dị và ý thức đan cài những cuộc chơi cấu trúc. Nếu Nguyễn Dương Quỳnh được mệnh danh là “Di Li thứ hai”, thì Đức Anh dùng những kĩ thuật vô cùng quen thuộc của trinh thám thế giới như kĩ thuật vòng tròn. Mỗi gương mặt, mỗi cây bút lại có một giọng rất riêng, đầy tính hiện đại và mới mẻ của một thế hệ lớn lên trong một thời đại mà mảng văn học dịch trinh thám đang đạt tới thời kì rực rỡ.

Phần viết, như thế, điểm lại một số ảnh hưởng của văn học dịch đến đời sống tiếp nhận, và đặc biệt đến các sáng tác văn chương Việt. Dù ở mảng văn học tinh tuyển hay đại chúng, văn học dịch cũng để lại những dấu ấn đa dạng và nhiều gợi mở. Dịch thuật, bởi vậy, có thể được nhìn như một hướng để mở rộng trường giao tiếp và đối thoại văn chương, từ đó, có những bài học và hướng đi riêng. Những “trải nghiệm đọc khác” mà dịch thuật mang lại đã và sẽ còn nhiều hứa hẹn trong tương lai. Bên cạnh dịch văn học, mảng dịch thuật các công trình lý thuyết-phê bình văn chương cũng được phân tích, trong sự gắn kết với bước chuyển về mô hình và tư duy sáng tác ở bối cảnh Việt Nam. Tác động của dịch thuật, bởi vậy, cần được nhìn từ điểm nhìn tương tác đa chiều, không chỉ với một cộng đồng độc giả đại chúng, với “tầm đón đợi cao” của giới lý luận phê bình, mà cả với chính những người sáng tạo.

15/11/2025

Đặng Thị Thái Hà

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Thế giới kỳ vĩ của thơ

Bài viết “Thế giới kỳ vĩ của thơ” của nhà văn Nguyễn Quế (từ Bình Dương cũ) là một cuộc dạo bước qua nhiều miền thi ca Việt Nam – từ ánh trăng ca dao, vẻ cổ điển của Kiều, tiếng thơ Hồ Xuân Hương, đến những câu thơ đã thành “ký ức tinh thần” của thời kháng chiến. Qua từng trích dẫn và phân tích, tác giả cho thấy thơ không chỉ là nghệ thuật ngôn từ mà còn là nguồn sức mạnh nâng đỡ con người trong mọi thời điểm lịch sử.

Nhân loại có hàng trăm định nghĩa về thơ. Có thể hiểu: Thơ là sự kết tinh tư tưởng, cảm xúc, trải nghiệm của con người về thế giới và cuộc sống, được biểu đạt bằng nghệ thuật ngôn từ.

Thế giới của thơ, với thi sỹ là bến đậu của tâm hồn, là cánh đồng gieo trồng cảm xúc và chữ nghĩa, là bầu trời để cất cánh ước mơ và thả hồn phiêu lãng; với đọc giả là nhịp cầu kết nối con tim, là dòng sông soi rọi, tắm táp tâm hồn để được nâng đỡ và bay cao.

Khó có thể đưa ra con số thống kê cụ thể, nhưng chắc chắn, hàng ngày nhân loại sản xuất ra một lượng thơ ca không hề nhỏ. Chỉ riêng ở Việt Nam, một đất nước được xem “mỗi người dân là một nhà thơ”, con số ấy có lẽ đã khó đong đếm. Trong cái kho tàng ấy, chất lượng mỗi sản phẩm cũng mỗi khác. Việc xem xét giá trị một tác phẩm văn học nghệ thuật nhiều khi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quan điểm thẩm mỹ, khả năng cảm thụ của mỗi người… Tuy nhiên, một bài thơ hay sẽ góp phần bồi đắp nên một thế giới kỳ vĩ, được đông đảo người đọc đón nhận. Đó cũng là cơ hội giúp đọc giả khám phá những miền sâu thẳm trong tư tưởng, cảm xúc và cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ để làm giàu cho tâm hồn mình. Từ nhận thức sẽ đi tới hành động. Đó là con đường tất yếu và là sức mạnh của thơ ca.

Chúng ta đã từng được chứng kiến thế giới kỳ vĩ ấy qua các áng thơ bất hủ. Trước hết nói về thơ dân gian. Một trong những hình ảnh vừa thơ mộng, vừa gần gũi và thân thiết với con người, đã sớm đi vào ca dao là ánh trăng. Trăng tạo mối giao hòa giữa trời, đất và lòng người. Sự kết nối ấy diễn ra ở nhiều khung cảnh khác nhau của cuộc sống, cả trong lời “trách” của chàng trai đối với cô thôn nữ trong một buổi tối lao động:

“Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”

Câu ca dao trên đây cho ta một cảm nhận vừa lãng mạn, vừa tinh tế: trong từng gàu nước của cô gái trẻ có ánh trăng vàng lung linh. Từ một dạng vật chất bình thường, không có hương vị, màu sắc, dưới sự tác động của ánh trăng, nước chợt hóa thân thành một thực thể vừa sống động, vừa huyền ảo. Chính vì vậy, đêm tát nước của cô thôn nữ tưởng chừng như rất mệt nhọc lại mang một sắc thái nhẹ nhàng và rất đáng yêu. Câu ca dao không miêu tả hình ảnh cô gái nhưng người đọc có thể cảm nhận được sự tươi trẻ, dịu dàng và thanh thoát của cô trong một đêm lao động miệt mài dưới ánh trăng huyền diệu. Bối cảnh ấy lại diễn ra “bên đàng”, nơi nhiều người có thể đi ngang qua và thưởng ngoạn. Qua câu ca dao trên đây, hoạt động lao động sản xuất của con người được thi vị hóa và tôn vinh, làm cho ta cảm thấy trân trọng và thêm yêu cuộc đời này.  

Truyện Kiều của Nguyễn Du là thế giới kỳ vỹ của lục bát thơ. Đắm mình trong thế giới ấy, ta được tiếp cận rất nhiều câu thơ tuyệt tác mà sau đây là một ví dụ:

“Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”.

Với hai câu thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, đại thi hào đã vẽ nên một bức tranh tuyệt mỹ về thiên nhiên. Ở đó, ta được tiếp cận mặt nước trong veo, tĩnh lặng như chiếc gương soi để trời in bóng xuống tận đáy. Trời và nước vốn là hai thế giới xa cách, đối lập, bỗng giao hòa với nhau trong một khung cảnh thật hữu tình và nên thơ. Kế cận bức tranh trên là hai tuyệt tác khác, một của con người, một của thiên nhiên, huyền ảo và rực rỡ như thực, như mộng. “Thành xây khói biếc” mang một vẻ đẹp vừa gần gũi, vừa cổ kính, linh thiêng, gợi tả không khí yên ả, thanh bình và một nền nếp, một trật tự xã hội vững chãi, tồn tại từ lâu đời. Còn“non phơi bóng vàng” là một thực thể vừa uy nghi, vừa lộng lẫy. Cái “bóng vàng” được “phơi” trên non ấy là sắc thái kỳ diệu của trời đất, đẹp như một bức tranh sơn dầu khổng lồ, tỏa rạng khắp không gian. Với các tính từ tả sắc thái sự vật, hiện tượng (“long lanh”, “biếc”, “vàng”) và việc sử dụng biện pháp nhân cách hóa (“in”, “xây”, “phơi”), hình ảnh thiên nhiên hiện lên trong câu thơ càng thêm sống động, lung linh.

Trong lịch sử văn học nước nhà, thơ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng rất độc đáo. Dương Quang Hàm cho rằng: “Là một nữ sỹ thiên tài và giàu tình cảm nhưng vì số phận hẩm hiu, thân thế long đong, nên trong thơ bà hoặc có ý lẳng lơ, hoặc có giọng mỉa mai, nhưng bài nào cũng chứa chan tình tự”. Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm và khẳng định, kể về sự độc đáo thì thơ bà đứng vào bậc nhất trong nền văn học Việt Nam. Ông cho rằng, một khi người đàn bà ấy đã cất tiếng lên thì đố ai đã nghe một lần lại có thể quên được: “Thứ thơ ấy không chịu ở trong khuôn khổ thông thường, một thứ thơ muốn lặn sâu vào sự vật, vào những đáy rất kín thắm của tâm tư, nhưng đáy kín thắm ấy không phải lạc lõng, cô đơn, cá nhân chủ nghĩa, mà trái lại, đã được hàng vạn, hàng vạn người đồng tình, thông cảm”. Mỗi bài thơ của nữ sĩ họ Hồ là một thế giới riêng. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của bà là bài Bánh trôi nước:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dù tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Tác giả mượn hình ảnh của bánh trôi nước để ẩn dụ cho số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, ngắn gọn, cấu trúc chặt chẽ, súc tích, kết hợp với việc sử dụng ngôn ngữ của ca dao (“thân em”, “bảy nổi ba chìm”, “tấm lòng son”), tạo nên sự trang nhã mà sâu sắc, bình dị và gần gũi. Hình ảnh chiếc bánh trôi nước “vừa trắng lại vừa tròn” mang nghĩa tả thực, đồng thời tượng trưng cho vẻ đẹp hình thể và phẩm chất trong sáng, duyên dáng, đầy nữ tính của người phụ nữ. Tuy vậy, thân phận của họ cũng rất mong manh, dễ bị ảnh hưởng bởi tác động từ bên ngoài. Thành ngữ “Bảy nổi ba chìm” đã diễn tả cuộc đời lênh đênh, bất định của họ dưới xã hội phong kiến tàn bạo và bất công. Dù vậy, họ thể hiện thái độ cam chịu nhưng không khuất phục. Mặc cho “tay kẻ nặn” có bạo liệt thế nào, họ quyết “vẫn giữ tấm lòng son”, tức tấm lòng trung thực, thủy chung, son sắt của người phụ nữ Việt Nam.

Nói đến nền văn học nước nhà, mỗi chúng ta lại sung sướng và tự hào khi nhắc tới các tác phẩm của Bác Hồ kính yêu. Là nhà văn, nhà thơ lớn đồng thời là lãnh tụ thiên tài và vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Bác đã để lại cho dân tộc ta những tác phẩm văn học đặc sắc, trong đó có thơ chúc tết. Từ cái tết đầu tiên sau khi trở về Tổ quốc đến cái tết cuối cùng trước khi từ giã cõi đời này, vào lúc giao thừa, Bác thường đọc thơ chúc tết đồng bào, chiến sỹ cả nước. Đó là những phút giây vô cùng quý báu, có ý nghĩa to lớn, tạo nên không gian văn hoá trang trọng, thiêng liêng gắn kết lãnh tụ với nhân dân. Nhiều người cho rằng sự kiện ấy cần được củng cố, giữ gìn như một báu vật đặc biệt của quốc gia để đáp ứng tình cảm sâu nặng cùng ước nguyện tha thiết của các tầng lớp nhân dân hôm nay và mãi mãi mai sau. Các bài thơ chúc tết của Bác, mỗi bài đều có ý nghĩa to lớn và sâu sắc, gắn liền với các thời điểm lịch sử của dân tộc. Ở đây, một lần nữa xin nói về bài Mừng Xuân 1969, bài thơ chúc tết cuối cùng của Người:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

Vì độc lập, vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào

Tiến lên! Chiến sỹ, đồng bào

Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn.”

Viết cho đồng bào và chiến sỹ, Bác sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc. Hai câu đầu nói về kết quả kháng chiến trong năm qua và triển vọng của năm tới mà lời thơ bình dị, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân. Nhưng chính điều đó đã tạo nên sức khẳng định to lớn về quy luật tất yếu của cuộc kháng chiến. Hai câu tiếp theo, chỉ với 14 chữ, Người đã xây nên một toà lâu đài ngôn ngữ với các trục kiến trúc thật cân đối, hài hoà và vững chãi. Tòa lâu đài ấy chứa đựng những giá trị tư tưởng, nghệ thuật vĩ đại, khẳng định mục tiêu cao cả của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là vì độc lập, vì tự do, đồng thời chỉ rõ, để thực hiện mục tiêu ấy, các nhiệm vụ chiến lược, các bước đi cụ thể của cách mạng và phương thức kết thúc chiến tranh là “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Câu thơ đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng. Hai câu cuối vừa là mệnh lệnh tiến công, vừa chỉ ra tương lai tươi đẹp của dân tộc khi đất nước hoà bình, thống nhất. Bài thơ chỉ có sáu câu lục bát mà đã tạo nên một tuyệt tác có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt: văn hoá, chính trị, quân sự, ngoại giao; và qua đó thể hiện cách xử thế cao cả của Con Người.

Có người cho rằng, so với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi của Việt Nam hay Gớt của Đức, Pushkin của Nga chẳng hạn, tên tuổi của Xuân Diệu còn rất khiêm tốn. Nhưng nếu chọn từ thơ của Xuân Diệu và thơ của các đại thi hào kia mỗi người hai câu tiêu biểu nhất thì không ai có thể qua được hai câu thơ của “ông hoàng thơ tình Việt Nam”:

“Trái đất ba phần tư nước mắt

Trôi như giọt lệ giữa không trung”.

Ở đây, xin không bàn tới câu chuyện to tát là so sánh thơ của các bậc tiền bối lừng danh nói trên. Tuy nhiên, chúng ta có thể bày tỏ lòng yêu quý và kính phục trước tầm vốc hai câu thơ của Xuân Diệu.

Với câu thơ đầu, từ thực tế bề mặt trái đất có ba phần tư là biển cả, sông suối, ao hồ, nhà thơ ví đó như là “ba phần tư nước mắt”. Có lẽ không còn cách diễn đạt nào tuyệt vời hơn thế. Bởi, bên cạnh những niềm vui sướng và hạnh phúc đã đạt được, còn có biết bao gian truân, mất mát, thương đau loài người trên trái đất này phải gánh chịu. Nỗi niềm ấy do nhiều nguyên nhân gây ra, không phải một vài địa  điểm mà ở nhiều nơi, dai dẳng không dứt. Từ các cuộc thế chiến lôi kéo cả nhân loại vào vòng chết chóc, nghèo đói, đến các cuộc xung đột vũ trang đẫm máu. Từ các đại dịch đến các loại bệnh hiểm nghèo. Từ những  đợt sóng thần, động đất kinh hoàng đến những trận bão lụt, hạn hán tàn khốc. Rồi tai nạn lao động, đụng độ giao thông… Sự so sánh ấy không chỉ đúng ở thì hiện tại mà còn chính xác khi nhìn nhận lại suốt chiều dài lịch sử nhân loại và cả dự báo trong tương lai. Oái oăm thay, những tấn bi kịch ấy, trực tiếp hoặc gián tiếp, phần lớn đều do con người gây ra. Càng oái oăm hơn, khi trái đất đầy nước mắt này đang “Trôi như giọt lệ giữa không trung”. Nghĩa là nhân loại đã và đang thờ ơ, thụ động trước sinh mệnh của chính mình. Chữ “trôi” vừa là động từ, vừa là tính từ chỉ trạng thái, đã diễn tả thực trạng ấy. Hai câu thơ của Xuân Diệu như một lời cảnh tỉnh đối với cả loài người trên trái đất.

Có lần, một nhà thơ nói rằng: Người xưa quan niệm đường chân trời là nơi đất và trời tiếp giáp nhau. Đó là chốn xa xôi đến vô cùng, người ta có thể nhìn thấy trước mặt nhưng đi mãi, đi hoài không bao giờ tới. Vậy mà trong bài thơ Vạn lý tình, Huy Cận lại viết:

“Người ở bên trời, ta ở đây

Chờ mong phương nọ, ngóng phương này”.

Đọc câu thơ trên đây, anh nghĩ:“ở bên trời” nghĩa là xa hơn cả chân trời. Anh cho rằng đây là một khái niệm hoàn toàn mới. Có lẽ vì hai người cách chia bởi một khoảng không gian mênh mông quá, thời gian xa nhau dằng dặc quá nên đã không biết bao nhiêu lần tác giả đứng trông chờ người thân, và mỗi lần nhìn mãi về phương dự kiến người thân sẽ trở về mà không thấy, tác giả lại ước, biết đâu người ấy sẽ xuất hiện từ một phương khác chăng, nên mới có câu “Chờ mong phương nọ, ngóng phương này” ? - Anh suy luận nhưng không giám khẳng định và “bị” câu thơ ám ảnh mãi. Để giải tỏa nỗi niềm, đồng thời với lòng kính yêu, trân trọng nhà thơ lớn, anh mong một ngày ra Hà Nội để tới thăm và xin được hỏi chuyện ông, nhưng anh chưa kịp thực hiện ý định của mình thì tác giả Lửa thiêng đã đi xa.

Thơ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến có nhiều tác phẩm đặc sắc. Một trong số đó là bài thơ Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây của Phạm Tiến Duật. Nhiều người đã thể hiện lòng yêu thích tác phẩm này, nhất là khổ thơ sau:

“Từ nơi anh đưa sang bên nơi em

Những binh đoàn nối nhau ra trận tuyến

Như tình yêu nối lời vô tận

Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn”.

Khi được phổ nhạc, bài thơ trên càng cất cánh bay cao, bay xa. Dù đã nghe nhiều lần, nhưng mỗi khi bài hát được ngân lên, chúng ta lại bị thu hút bởi cái đẹp, cái hay của bài hát, nhất là chữ lời trong câu “Như tình yêu nối lời vô tận”. Nếu xem ngôn từ trong bài thơ là một chuỗi hạt thì chữ lời tựa hạt ngọc lung linh làm sáng bừng lên cả chuỗi hạt ấy. Khi người con trai và người con gái yêu nhau, họ thường trao nhau những “lời” yêu nồng ấm. Dù ban ngày mới gặp gỡ, tối đến họ vẫn ước ao được cùng nhau tâm sự đến thâu đêm. Có thể chỉ là những câu chuyện không đầu không cuối, nhưng giữa họ lời cứ nối lời vô tận. Ngôn ngữ của tình yêu cũng rất phong phú, đa dạng. Có khi là những câu nói ngọt ngào thốt ra từ hai con tim rạo rực. Lại có khi là những cử chỉ vuốt ve âu yếm, hay là “tiếng ngón tay anh thủ thỉ, trong bàn tay em chiếc lá non mềm”… Cứ như vậy, những “binh đoàn” ngôn ngữ tình yêu cứ điệp điệp trùng trùng nối tiếp nhau, tưởng chừng không bao giờ dứt. Vậy mà chàng trai lại ví “Từ nơi anh đưa sang bên nơi em/Những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến/ Như tình yêu nối lời vô tận” thì quá tuyệt vời.

Cũng viết về Trường Sơn những năm đánh Mỹ, tác phẩm Sợi nhớ, sợi thương của Thúy Bắc khắc họa bức tranh tinh tế và sâu sắc về tâm hồn người phụ nữ Việt Nam, được thể hiện qua khúc tình ca tuyệt đẹp, mang màu sắc huyền thoại. Thiên nhiên hiện lên trong bài thơ thật khắc nghiệt:

“Trường Sơn Đông

Trường Sơn Tây

Bên nắng đốt

Bên mưa quây”

Trước hoàn cảnh ấy, nữ tác giả “giang tay”, “xoè tay” muốn ôm ấp, chở che người thương của mình là người chiến sỹ đang làm nhiệm vụ nơi tiền tuyến nhưng đành bất lực. Tuy vậy, với tình yêu rực cháy cùng niềm thủy chung son sắt và sự  hy sinh to lớn, chị muốn “Rút sợi thương/ Chằm mái lợp”, “Rút sợi nhớ/ Đan vòm xanh”, rồi dùng sức mạnh thần kỳ từ tình cảm thiêng liêng ấy, hoá thân vào thiên nhiên, “nghiêng sườn Đông”, “nghiêng sườn Tây” để “che mưa”, “xòa  bóng mát” nhằm che chắn cho người thân. Kết quả - dù chỉ là trong ước vọng - chị đã tạo nên một khung cảnh dịu êm và thơ mộng: “Rợp trời thương/Màu xanh suốt”. Giữa không gian huyền diệu ấy, người phụ nữ vui mừng và hạnh phúc thể hiện ý chí của mình: “Em nghiêng hết/ Về phương anh”. Đó là một hình ảnh tuyệt đẹp của tình yêu, biểu thị sự toàn tâm toàn ý dâng hiến cho người mình yêu thương nơi chiến hào của phụ nữ Việt Nam. Để khắc hoạ bức tranh trên đây, tác giả đã sử dụng thể thơ ba chữ, mỗi khổ hai câu, tạo nên hệ thống ngôn từ ngắn gọn, súc tích và thống nhất; nhịp điệu thơ dịu dàng, nữ tính nhưng nhanh và dứt khoát. Ngôn ngữ thơ được chọn lọc kỹ. Chữ “đốt” và chữ “quây” được sử dụng đắc địa, đặc tả tính chất khắc nghiệt của thiên nhiên. Tác giả cũng đã dùng các hình ảnh đối lập như “nắng đốt” - “mưa quây”, hoặc ẩn dụ như “sợi nhớ” - “sợi thương”, “chằm mái lợp” - “đan vòm xanh” đầy sáng tạo và đọc đáo, tạo nên hồn cốt tác phẩm. Tuy các yếu tố thực, hư đan xen nhau và chủ yếu là sự tưởng tượng của nữ nhà thơ nhưng ta cảm thấy trân trọng tư tưởng, tình cảm của tác giả và tin rằng, trước tấm lòng cao đẹp ấy, người thân của chị và các đồng đội sẽ vượt qua mọi thử thách, gian truân để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

Dù thế giới rộng mở, thơ không bị giới hạn thời gian, không gian và không hề đơn độc. Có khi tác phẩm tạo sức hút mạnh mẽ bởi chất thơ được kết hợp nhuần nhuyễn với âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh, tạo nên âm hưởng dạt dào, say đắm như các câu thơ trong bài thơ viết về đất nước bạn của Tố Hữu:

“Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan

Đường bạch dương sương trắng, nắng tràn”.

Cũng có khi sự lôi cuốn đến từ các màu sắc của sự sống và hạnh phúc hiện lên một cách tươi đẹp, thần kỳ từ những mất mát, hy sinh của biết bao đồng bào, đồng chí trong cuộc chiến chống quân thù như ở tác phẩm Hoan hô chiến sỹ Điện Biên của tác giả:

“Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam

Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng”.

Trong gia tài thơ của các tác giả, nhất là những tác giả lớn, nhiều khi chỉ cần một vài bài, thậm chí một vài câu đã có thể gợi nên cả một chân trời suy tưởng. Với Nguyễn Đình Thi, đó là bài thơ Đất nước nổi tiếng cùng hai câu kết hào sảng: “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Giũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Một trong những lý do để Chế Lan Viên chiếm được tình cảm của người đọc là sức lan toả của hai câu thơ trong tác phẩm Tiếng hát con tàu: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”. Hoàng Trung Thông khẳng định vị thế của mình qua Bài ca vỡ đất với hai câu kết bất hủ: “Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Chính Hữu lưu danh bằng bút pháp tả thực và lãng mạn với hình ảnh độc đáo trong tác phẩm Đồng chí: “Đầu súng trăng treo”…

Thế giới của thơ rất kỳ vĩ, đa dạng và phong phú, trong phạm vi một bài viết không thể nói hết. Một điều chắc chắn là sức mạnh và sự lan tỏa từ thế giới kỳ vĩ ấy đã góp phần tạo nên “nền tảng tinh thần của xã hội”. Từ “nền tảng” cao đẹp và vững bền ấy, bao thế hệ người Việt Nam đã không quản ngại vất vả hy sinh, vững bước lên đường ra tiền tuyến chống giặc hoặc tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ của mình trên các mặt trận lao động sản xuất, công tác và học tập. Thế giới kỳ vĩ của thơ đã góp phần tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, giúp họ lập nên những kỳ tích trong Cách mạng tháng Tám, các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước.

Các nhà thơ không phải tự nhiên sinh ra để làm thơ. Phần lớn họ tự gắn cái “nghiệp” làm thi sỹ lên vai mình, mặc dù, thời nào cũng vậy, hầu như ít ai có thể đủ sống bằng cái “nghiệp” ấy. Như thân tằm rút ruột nhả tơ, các nhà thơ đào xới trong cõi lòng mình để khai quật ra từng con chữ tạo nên những đứa con tinh thần góp làm của cái chung cho nhân quần. Để làm được điều đó, cũng như bao nghệ sỹ khác, các nhà thơ phải đổ mồ hôi và nhiều khi cả máu nữa. Nhờ sự hy sinh thầm lặng ấy, tình yêu thương giữa con người với con người ngày một nảy nở, thế giới càng thêm tươi xanh, cái đẹp đơm hoa kết trái, cuộc sống thêm tươi vui, an bình và hạnh phúc. Cũng chính vì vậy, vai trò, sự đóng góp của họ cho cuộc đời không hề nhỏ.

17/11/2025

Nguyễn Quế

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

  Chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam hiện đại Bài viết này xin phép được tiếp tục trình bày một xu hướng vận động chủ đạo của âm nh...