Thứ Ba, 21 tháng 7, 2026

Lục bát thiền trong miền đồng điệu và đồng cảm thi ca

Lục bát thiền trong miền
đồng điệu và đồng cảm thi ca

Lục bát thiền là nét đặc trưng cơ bản được tác giả Trần Lê Khánh chắt chiu thể hiện qua tập thơ ‘Đồng’ do Nhà xuất bản Văn Học ấn hành.
Lục bát thiền dẫn dắt cả người viết lẫn người đọc vào những chiêm nghiệm nhẹ nhàng và sâu lắng. Vì vậy, lục bát thiền với hai thành tố “lục bát” và “thiền” cần sự suy tư và kết nối chặt chẽ. Nói cách khác, đó là phép cộng giữa đồng điệu và đồng cảm
Tập thơ “Đồng” của tác giả Trần Lê Khánh là một đường biên dài vo tròn lại của hành trình khai phá một hướng thơ ngắn gọn, gãy gập, xúc tích mà ông đã dày công thực hiện lần lượt qua các thi tập trước, bao gồm “Lục bát Múa”, “Dòng sông không vội”, “Ngày như chiếc lá”, “Giọt nắng tràn ly”, “Xứ - rung một ngọn mây” và “Ngàn bài thơ khác” (được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2022).
Nếu đặt tập thơ “Đồng” trong sự tương quan của các tập thơ trước đó, tôi mường tượng ra hướng đi của nhà thơ, hẳn là đã rất dày công để khai mở và bảo vệ nó khỏi sự tác động của các thể, loại, bài thơ cùng hơi hướng khai thác của các thi nhân khác. Tôi dùng từ dày công vì tính đến nay thì “Đồng” là thi tập thứ 8 của Trần Lê Khánh, cả 8 tập thơ đều theo một con đường độc đạo duy nhất là: Ngắn. Dù là ngắn nhưng đủ, đủ trải cho tâm tư mình, đủ gợi cho người đọc và đủ chiêm nghiệm cho con chữ ông viết.
Xưa nay, điều đầu tiên thơ mang là tâm tư của nhà thơ, Trần Lê Khánh không ngoại lệ. Ở tập thơ “Đồng” cũng nhiều âu lo, nhiều tâm thức của ông phả vào câu chữ “nghe quen tiếng dế bao đời/ như cành củi mục tự rơi một phần” (Xứ 100). Có lẽ, đâu đó trong hành trình thơ, hành trình sống của mình, có lúc ông bế tắc, loay hoay tự hỏi lòng trên con đường vời vợi của thi ca. Và trong những đêm tối thừa mứa buồn bã ấy, ông giãi bày “ta đùn con chữ ra xa/ trên trang giấy trắng tay ta nằm buồn/ hoàng hôn trở dạ ven đường/ sinh ra gã ngốc trần truồng tâm can” (Xứ 16).
Lục bát là thể thơ rất dễ làm nhưng khó hay, dễ làm vì vần điệu của nó nhưng nếu sa vào vần điệu sẽ gò ép câu chữ, làm câu thơ đọc lên rất suông nhưng ít hoặc gượng nghĩa sẽ gần với ca dao, hò, vè hơn. Có người từng ví làm thơ lục bát như đi trên lưỡi dao lam, không khéo sẽ đứt ngay, nghĩ cũng có lý.
Ngoài sự dụng chữ đáp ứng yêu cầu vần điệu của quy định thể loại, người làm thơ lục bát còn phải có sự kiên định và sáng tạo riêng biệt  trong mỗi ý, mỗi câu. Bởi lẽ, tiền nhân người Việt đã mòn chân trong khu vườn lục bát. Viết lục bát, mà lại theo đuổi lục bát thiền, đôi khi cũng là một sự liều lĩnh của người làm thơ.
Tập thơ “Đồng” của Trần Lê Khánh có tất cả 10 chương, gồm 100 bài lục bát vừa vặn nhưng không khó để khẳng định lục bát của Trần Lê Khánh là lục bát mới. Thơ ông mới trong cách nghĩ, cách triển khai, như việc ông tìm thấy ánh sáng của cuộc sống mình “trong ngôi đền của loài người/ một đốm lửa nhỏ bằng mười đêm trăng” (Xứ 13) hoặc “con cá đục thủng mặt hồ/ giấc mơ người mỏng như tờ giấy lanh” (Xứ 99).
Cái mới của tập thơ “Đồng” không chỉ ở ý tứ, mà dường như nó còn được tiếp sức qua kinh kệ, qua sự thong thả mang hơi hướng thiền. Đọc qua 100 bài thơ,  không khó bắt gặp những quang cảnh nhuốm màu thiền “nhà sư sửa lại hình hài/ ánh đèn sờ rớ lên vài chỗ quen” (Xứ 98) “bức tượng đã lớn trong chùa/ người loay hoay đặt cho vừa bóng trăng” (Xứ 20) hoặc “ngôi chùa leo đến lưng đồi/ thì nằm đó thở cùng tôi kiếp nào” (Xứ 74)
Tác giả Trần Lê Khánh đã làm thơ như dụng đạo. Tất cả bài thơ đọc xong, dù nặng nề hay trăn trở đến cuối cùng đều trôi qua nhẹ nhàng, như áng mây lửng lờ, nắng chiều về núi. Trong miên man lục bát thiền của ông, có bài thơ “Xứ 71” đã đọng lại tôi sau khi đọc. Thiền đó, đạo đó và cũng yêu thương đó, đời thường đó và trăn trở để tha thứ: “người về khoác chiếc áo tu/ mảnh vải quệt đất như mù đường xa/ chiều đã nhập vào cánh hoa/ và em chỉ ngắt đời ta một lần/ người khất sĩ bỗng dừng chân/ có kẻ quỳ xuống xin dâng tiếng cười/ kiếp này rồi kiếp nữa thôi/ là hết quá khứ của mười ngón tay”
Chủ đích viết lục bát thiền, nên thơ Trần Lê Khánh không quá xù xì. Dù có đặt vào một vấn đề nhân sinh hay triết lý, chữ nghĩa cũng đưa ra rất tự nhiên kết hợp ngôn ngữ đời thường. Chính vì sự kết hợp này, người đọc chiêm nghiệm về thi ca như một cơ hữu của hơi thở hàng ngày “sông còn giữ sóng nổi không/ bàn tay ta vỗ lên dòng nước xanh” (Xứ 08).
19/1/2025
Trần Đức Tín
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Tổ quốc mình đất biển mãi hòa nhau khơi dậy lòng yêu nước, khát vọng hoà bình

Tổ quốc mình đất biển mãi hòa nhau
khơi dậy lòng yêu nước, khát vọng hoà bình

"Tổ quốc mình đất biển mãi hòa nhau" của NGƯT Ngô Minh Oanh đã vượt khỏi khuôn khổ và giá trị của một tác phẩm văn học thông thường để mang ý nghĩa của thông điệp về tinh thần yêu nước, khát vọng hòa bình và toàn vẹn chủ quyền dân tộc.
Sinh ra tại Quảng Bình - vùng đất “địa linh, nhân kiệt” và “văn vật”, là một trong những cái nôi thu hút và môi trường đào luyện nhiều nhân vật lịch sử, hiền tài của đất nước, nhà thơ Ngô Minh Oanh luôn ý thức về tình yêu và trách nhiệm công dân của một người cầm bút trước những vấn đề mang tính sống còn của dân tộc. 
Theo nhà văn Kao Sơn, tập thơ Tổ quốc mình đất biển mãi hòa nhau (NXB Hội Nhà văn - 2024) đã vượt khỏi khuôn khổ và giá trị của một tác phẩm văn học thông thường để mang ý nghĩa của thông điệp về tinh thần yêu nước, khát vọng hòa bình và toàn vẹn chủ quyền dân tộc. 
Trước đó, tác giả Ngô Minh Oanh - từng ra mắt sách thơ Đêm nằm nghe ký ức (2022), Đất hóa miền thương (2023). Cũng trong năm 2024, ông còn có tập thơ Dấu cát trong nhau.
Nhà giáo Ưu tú, Phó giáo sư, Tiến sĩ Sử học Ngô Minh Oanh sinh ra và lớn lên tại xã Cam Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Bên cạnh vai trò là một Nhà giáo Ưu tú, Phó giáo sư, Tiến sĩ Sử học của trường Đại học Sư phạm TPHCM, Ngô Minh Oanh còn là hội viên Hội Nhà văn TPHCM. Trong mắt bạn văn, ông là một tâm hồn tha thiết yêu quê hương. Thưởng thức những tác phẩm đã in mới thấy Ngô Minh Oanh không mấy khi đề cập tới tình cảm riêng tư mà phần lớn là giãi bày trăn trở về hiện thực cuộc sống. 
“Người ta gọi nhà trẻ của con bằng tên một loài hoa đẹp/ Mẹ thêu hoa lên ngực tựa mặt trời/ Con tung tăng giữa ánh hồng buổi sớm/ Ba nhìn con chấp chới cánh chim non..." - (Viết ở nhà trẻ của con).
“Biên cương chiều hoa rưng rức/ Trắng, tím, vàng lấp lánh lay/ Dường như hoa đã cầm tay/ Trái tim người lính ắp đầy tình yêu!” - (Ghi ở nghĩa trang biên giới).
Những câu thơ dung dị, nhẹ nhàng tựa dòng nước mát lành chảy vào tâm hồn người đọc lại chứa đựng thứ năng lượng mạnh mẽ, nhắc nhở rằng tình yêu quê hương, đất nước không cần chờ đợi bất kỳ cơ hội đặc biệt nào để thể hiện mà nó như hơi thở trong cuộc sống mỗi ngày.
“Con gái lâm trường quen dầu dãi sớm trưa/ Mặc áo xanh cho đồi nắng cháy/Những giọt mồ hôi và giọt mưa tuôn chảy/ Hẹn cao nguyên xanh mới những cánh rừng...” - (Cơn mưa và những cô gái trồng rừng).
Thơ Ngô Minh Oanh khiến người đọc lý giải được câu hỏi “Tại sao chúng ta phải yêu quê hương?”. Điều này không chỉ vì lịch sử lâu đời, tài nguyên phong phú mà còn vì nhiều năm qua, nhân dân Việt Nam anh hùng đã xây dựng được Tổ quốc tươi đẹp, bình yên dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Yêu quê hương không phải là ca ngợi một cách vô ích mà là biến tình yêu của chúng ta thành những hành động thiết thực. 
“Đá vững vàng trước những cuồng phong/ Trước giá lạnh của mùa Đông Tây Bắc/ Thành cánh cung đá giữ biên cương...” - (Cao nguyên đá Đồng Văn).
Mỗi áng thơ trong tác phẩm đều đề cao tính cộng đồng, khơi dậy ý thức công dân trước vận mệnh của đất nước. 
Tập thơ Tổ quốc mình đất biển mãi hòa nhau đưa độc giả lên rừng, xuống biển. Mỗi bước chân trên hành trình của tác giả có sự cảm nhận sâu sắc về đất và người. Cảnh quan cùng tấm lòng người dân trên dọc ngang đất nước đã đem lại cho ông nguồn cảm hứng bất tận, để rồi từ đó, những tứ thơ bật lên. Câu thơ nào cũng xúc động, thân thương và đầy ắp niềm tự hào.
“Biển muôn đời dài rộng của ta/ Sóng quẫy lên muôn điệp trùng đất nước/ Một triệu cây số vuông giặc không thể cướp/ Tổ quốc mình đất, biển mãi hòa nhau” - (Đừng gọi Tổ quốc mình hình chữ S).
Lòng yêu nước là tình cảm sâu sắc nhất và lâu dài nhất trên thế giới, là cội nguồn của đạo đức con người. Lòng yêu nước cũng là cốt lõi của tinh thần dân tộc Việt Nam, duy trì sự đoàn kết và truyền cảm hứng cho các thế hệ người dân Việt làm việc không mệt mỏi vì sự thịnh vượng của quê hương.
19/1/2025
Sao Khuê
Nguồn: VietNamNet
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Trịnh Bích Ngân, người đi tìm ngôi đền thiêng tâm thức

Trịnh Bích Ngân, người đi
tìm ngôi đền thiêng tâm thức

Không biết từ lúc nào, nhưng bắt đầu từ khi tôi được nhìn thấy những bức ảnh nhà văn Trịnh Bích Ngân chụp đăng trên face book, tôi đã nghĩ cô ấy ngoài nhà văn còn là một nhà thơ bởi từ những góc nhìn sự vật, sự việc có chiều sâu và mang tính nghệ thuật cao đã cho tôi cái cảm giác ấy.
Không nằm ngoài suy nghĩ của tôi, không lâu sau đó, tôi đã đọc được những dòng thơ đầu tiên của Trịnh Bích Ngân trên trang cá nhân của cô ấy. Những dòng thơ đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh mẽ bởi tính triết luận sâu sắc, và khi tập thơ đầu tiên của nhà văn Trịnh Bích Ngân “Nghiêng về phía nỗi đau” được ra mắt bạn bè và độc giả yêu thơ tôi không hề ngạc nhiên, vì đó là một điều tất yếu.
Dấn thân vào thế giới thơ, một thế giới vừa lung linh, rực rỡ vừa khắc khoải suy tư, Trịnh Bích Ngân đã chọn cho mình một lối đi riêng biệt của dòng thơ hiện thực. Vẫn biết, thơ hiện thực là một trong những dòng chảy của nền thi ca hiện đại. Song. điều khác biệt ở Trịnh Bích Ngân chính là tác giả đã không khai thác cái bên ngoài quen thuộc và luôn phô bày như một thực thể của cuộc sống. Điều nhà thơ hướng tới và luôn khao khát kiếm tìm chính là những điều ẩn khuất, sâu thẳm đầy những ưu tư, trăn trở của thế giới nội tâm. Cái hiện thực được nhà thơ Trịnh Bích Ngân phô bày trên trang giấy, rõ ràng và cụ thể, tưởng chừng như một với một bằng hai, chẳng qua chỉ là phương tiện để giúp nhà thơ gởi đi những mật hàm đầy ý nghĩa nhân văn.
Cuộc sống vốn luôn không hoàn hảo, bên cạnh những điều “sạch sẽ” vẫn luôn có những vết ố, lem luốc hiện diện như một thách thức, và người đàn bà thơ Trịnh Bích Ngân đã thức giấc lúc hai giờ sáng để “chiến đấu” với những vết bẩn làm xấu đi không gian sống, đó là “Những vết bẩn/ tướt đi giấc ngủ/ tướt đi bình yên…”. “Những vết bẩn không thể tẩy rửa bằng hóa chất/ Những vết bẩn ô uế cả những thứ/ Tưởng không thể nào ô uế”, những vết bẩn “Cứ lừng lững nghênh ngang/ Như nhà không chủ, như phố không người” (Người đàn bà tẩy rửa bếp lúc 2g sáng). Đọc thơ Trịnh Bích Ngân và nhận ra nhà thơ luôn dụng lối “Tá hoa trước y”, mượn thực tại để diễn ngôn cho tư tưởng sâu sắc ẩn chứa. Đó là hành trình của người đi tìm “ngôi đền thiêng tâm thức” và chỉ ngộ ra khi đã vượt qua những rào chắn của một dãy sự kiện. Người đọc như khách lữ hành cứ lần lượt vượt qua những hữu hạn của ngôn ngữ và cuối cùng chạm đến cái vô hạn của tư tưởng ngời sáng.
Thơ Trịnh Bích Ngân vì vậy vừa hiện thực giản đơn, vừa sâu sắc ý niệm, vừa gần gũi cuộc sống, vừa cao vời cảm xúc. Đó là những đúc kết từ những trải nghiệm của cuộc sống thường hằng, nó tự nhiên như hơi thở, nó gần gũi như chính mỗi chúng ta đều là người trong cuộc. Nó vừa thực, vừa ảo, tùy vào góc nhìn và cự ly xa gần của mỗi người khi đối diện với thực thể và cho đi một tầng suất cảm xúc như thế nào “Tôi chờ từng giọt cà phê/ nhỏ xuống lòng chiếc ly sứ/ trong tiếng nhạc của trăm năm trước/ trong nỗi đau của ngàn năm trước/ đặc sánh như giọt đắng tôi uống/ mỗi ngày/ Mỗi ngày/ trong tầm nhìn của tôi/ dường như tất cả vẹn nguyên/ mỗi sáng của những ngày đã qua/ mất còn của năm tháng đã lùi xa/ tất cả vẫn vẹn nguyên…” (Ở cự ly gần)
Có một điều tôi dường như đã bắt gặp chính mình trong thơ của Trịnh Bích Ngân, đó là nỗi cô đơn khi đối diện với đêm. Bóng tối soi rọi ý thức, níu gần khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, những suy tưởng miên man khi đắm chìm trong khoảng tối của đêm thật dịu dàng như một dòng sông êm đềm tĩnh lặng cứ mãi miết trôi đi, âm thầm và lặng lẽ: “Đêm/ dòng sông quá đỗi dịu dàng…”, nhưng, cũng có lúc “Đêm dềnh dàng như bóng ma thiên cổ”, chiếm ngự và ghì siết cả cõi tâm linh của tầng ý thức, Một “Đêm Cửu Long” khác với một “Đêm Thủ Đức” càng không giống với một “Đêm Sài Gòn”.
“Nghiêng về phía nỗi đau” Trịnh Bích Ngân đã đến gần hơn với nỗi đau của tha nhân, trái tim người thơ run lên theo từng cung bậc cảm xúc “Biết người khác đau/ và mình cũng cảm thấy đau/ bên kia bến, bên này bờ/ những nhịp cầu chênh vênh/ trên dòng sông/ chảy xiết…” (Khoảng cách đôi bờ). Hình ảnh nhịp cầu chênh vênh, dòng sông, con nước chảy xiết… cho người đọc một liên tưởng đến nỗi đau của sự chia cắt, của phận người nhỏ bé mong manh trước những bạo liệt của cuộc sống. Ở đó có cả “Nỗi đau của lẽ tử sinh”. Trịnh Bích Ngân đã quán chiếu bằng những ý niệm sâu sắc để làm nhẹ bớt, hoặc giả để xoa dịu bớt những nỗi đau, có thể làm người ta gục ngã “Sự sống không khởi đầu/ cũng không kết thúc/ chỉ là một hành trình/ mỗi bước chân cũng là đến đích/ những bước chân trên lối đi chưa ai đi…/ Cái chết không kết thúc/ cũng không khởi đầu…” (Ánh sáng của sự lịm tắt).  
Xuyên suốt cả tập thơ, Trịnh Bích Ngân chỉ sử dụng một lối thơ duy nhất. Không hề có bóng dáng niêm luật vần điệu của các thể thơ truyền thống. Tác giả chọn thể thơ tự do và sáng tạo với lối ngắt câu không theo “nghĩa” mà theo “cảm” để làm rõ hơn, mạnh hơn thông điệp muốn truyền đạt. ví dụ “Những nỗi đau/ cuồn cuộn/ khói đen/ Tôi ngồi đây/ Hít thở ban mai/ Mà thấy mình/ Có tội” (Lối thoát nào cho nỗi đau). Một lối viết không cho phép người đọc dừng lại nửa chừng, cứ cuốn miết, cuốn miết, nó thôi thúc người đọc cứ phải rảo bước, đi cho hết con đường khi chưa tìm ra được thứ ánh sáng của ý niệm, và cứ như thế, thơ Trịnh Bích Ngân như một dòng chảy khi nhẹ nhàng, khi thúc bách, khi cuồn cuộn chảy siết, khi thư thả thong dong và cuối cùng ánh sáng chân lý bừng lên cho người đọc một cảm giác thỏa mãn sự tò mò và tìm kiếm, và luôn để lại một nỗi băn khoăn, một niềm trăn trở hay một sự cảm thông, ray rứt nơi người đọc, và tôi nghĩ Trịnh Bích Ngân đã thành công. 
Là nhà văn nên Trịnh Bích Ngân biết cách chọn lựa, sử dụng ngôn ngữ sao cho đơn giản, dễ hiểu nhất, nhưng phải truyền tải được những triết luận sâu sắc. Chính những điều đó đã tạo nên những giá trị cho tập thơ “Nghiêng về phía nỗi đau”.
Là Ủy viên Thường vụ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, nhà văn Trịnh Bích Ngân đã rất thành công qua nhiều tác phẩm về truyện ngắn, Ttiểu thuyết, kịch bản sân khấu, truyện hài hước… đặc biệt tiểu thuyết “Thế giới xô lệch” đã được tái bản đến sáu lần, và tôi nghĩ hiện tại, cũng như ở một tương lai rất gần ngoài chức danh nhà văn, chúng ta sẽ có thêm một nhà thơ Trịnh Bích Ngân với nhiều tác phẩm thơ được người đọc yêu thích.
THƠ BÍCH NGÂN
Trích từ tập thơ “Nghiêng về phía nỗi đau”
Nghiêng về phía nỗi đau
Vũ trụ bao la
chỉ có trái đất cưu mang sự sống
chỉ có trái đất trĩu nặng
hạnh phúc và nỗi đau.
Hạnh phúc
một thoáng nhẹ tênh
vùn vụt thời gian
ngắn ngủi
đời người.
Nỗi đau
luồn sâu huyết quản
đôi khi chẳng khác dòng nham thạch
phun trào
Nước mắt
không thể cân đo đong đếm
trái đất bồng bềnh
nghiêng về phía nỗi đau
Trái đất cưu mang
trái đất khước từ
trái đất kéo căng
trái đất xô lệch
và mong manh
như quả trứng
trong sấp ngửa bàn tay
Anh và em
có kịp yêu thương
có kịp tha thứ
có kịp nắm tay nhau
cho đến khi
tóc không còn bạc hơn được nữa.
Ở cự ly gần
Tôi chờ từng giọt cà phê
Nhỏ xuống lòng chiếc ly sứ
Trong tiếng nhạc của trăm năm trước
Trong nỗi đau của ngàn năm trước
Đặc sánh như giọt đắng tôi uống mỗi ngày
Mỗi ngày trong tầm nhìn của tôi
Dường như tất cả vẹn nguyên
Mỗi sáng của những ngày đã qua
Mất còn của năm tháng đã lùi xa
Tất cả vẫn vẹn nguyên
Tượng Phật bạn tôi thỉnh từ một ngôi chùa
Nằm bên bờ sông Hằng văng vẳng tiếng kinh cầu
Vẫn trước mặt tôi
Mỗi sáng nhìn dáng tọa thiền
Thấy lòng chùng xuống, chùng xuống
Tận đáy sâu
Tượng nữ thần tự do nhỏ bé
Bạn tôi mang về từ đảo Liberty
Nơi nữ thần mãi giơ cao ngọn đuốc
Dù trăm năm qua hay ngàn năm tới
Vẫn đứng chôn chân một chỗ
Trước bão tố bủa vây
Ở cự ly gần
Tôi ngắm dáng lưng Đức Phật
Hơi ngã về sau
Nơi chúng sinh khát giọt cam lồ
Ở cự ly gần
Tôi nhận ra bàn tay nữ thần thiếu ngón
Ngọn lửa như ngọn giáo
Những phiên bản tự do có mặt khắp nơi
Những phiên bản khác xa bản gốc
Dù cánh tay vẫn vươn về
Phía trời xanh
Phía trời xanh
Mây đang trôi
Thời gian đang trôi
Phật tọa thiền
Phiên bản nữ thần tự do giơ cao ngọn giáo
Tách cà phê không còn bốc khói
Ngụm cà phê nguội và đắng
Thấm dần
Trong một ban mai.
22/1/2025
Hương Thu
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Kẻ cày mây thu và gieo trồng muôn dặm sao

Kẻ cày mây thu và
gieo trồng muôn dặm sao

(Cảm nhận tập thơ “Những đám mây mùa thu” của Trần Quang Khánh)
Khi trời trở lạnh, trải nghiệm thế giới thơ Trần Quang Khánh, tuy có những trang làm ta buồn “nẫu rục”: “Mùa xuân mặc định còn neo bến/ Nhưng mái tóc xưa đã rũ màu/ Sóng đã dạc dài trên nét mặt/ Tiễn mùa xa lắm đã quên nhau!”. Nhưng sau tất cả là nắng vàng mây trắng, những ấp iu, nồng đượm trở về neo đậu vào “hồn xanh biếc”. Lòng ta bỗng như được thắp lên một ngọn đuốc, không chỉ đủ ấm áp mà còn biết bao thúc giục: công tác, chiến đấu, yêu và khi cần được hi sinh cho tình yêu. Tất nhiên không ngoài tình yêu/ niềm tin ái quốc vô biên: Ta vẫn cứ vun mầm xanh sắc lá/ Để ngày mai xanh biếc mãi quê hương”.
Tiếng thơ đó được kết bện trên những “mô thức”: Trước hết và trên hết là tính “kỉ luật”. Văn chương cũng có “kỉ luật” ư? Có chứ! Đó là “ánh thép” trong “kết cấu trữ tình” để tạo ra nhịp điệu thời/ không nghệ thuật uyển chuyển/ nhu mềm trong giá trị cốt lõi (cốt chất)/ trong “khuôn đổ” ý/ tứ, tất cả thể hiện khúc chiết, rõ ràng. Đúng vậy! Tứ thơ trong thơ Trần Quang Khánh không “tàng hình” nó “sáng như ban ngày” run ngân và cử động tinh tế trong sự chặt chẻ nơi “khung khổ” cảm tình/ tính “logic” của “mỹ cảm”. Trên tinh thần đó, thơ Trần Quang Khánh không “chệch ray” khỏi bản chất của “chữ nghĩa”: Đôn hậu, trung chính… Viết là để “văn dĩ tải đạo – thi dĩ ngôn chí”. Mặc dầu, nghe nói thế giới văn chương nghệ thuật đã đi đến “rìa vực đương đại” nhưng ai dám không nói rằng bức tranh đậm mùi hoài cổ trong “Những đám mây mùa thu” đó không “sóng sánh” tinh thần đời sống hôm nay. Quyện trong “mong chờ”, “nhớ thương” gu vị tình người, tình đời. Một con người, luôn sống và khát vọng sống sao cho nghiêm chỉnh, chính đáng. Đó là cốt cách của người “quân tử”/ của một “hiền nhân”.
Với thể thất ngôn được dùng để họa “tiếng thu”, tác giả đã chạm khảm trong thơ cấu hình cảm quan hiện đại. Sự thanh nhã trên nền điển tích mà dạt dào, dư ba, phóng túng và ý vị của niềm vui riêng – chung nơi chính mình. Nghĩa là cái “cá tính”/ sự đề cao cái tôi tân thanh trong cấu tứ cổ điển: “Vội nghĩa mùa xuân đã nhạt rồi/ Bên hè lan kiếm cứ sắc tươi/ Vẫn là duyên phận mùa xuân cũ/ Gọi được niềm vui ở cuộc đời”
Sự huyền hòa kiến tạo nên thi ngôn đó là nhờ những “cơ duyên”/ “duyên cớ” nào? Bàn về xuất thân: Trần Quang Khánh sinh ra ở vùng đất nhân sử hiền triết, trong gia đình một giáo chức trung lưu. Song thân có cái sở học chuyên tinh và thành tựu được những điều lớn lao trong sự nghiệp giáo dục cùng cái chất phác hồn hậu, dũng cảm kiên cường của những người con/ con người sinh ra trên mảnh đất “nắng cháy đồng nung đá, mưa thối đất thối cát”. Lớn lên anh tồn tại với hai tư cách: Nhà giáo, người chiến sĩ cộng sản kiên trinh và cả hai tư cách đó đồng hòa nên “tư thái” âm thanh tiếng thơ như hôm nay:
“Hai mươi mười một (20/11) đắp chăn ngủ/ Nghe tiếng quân reo ở cuối trời/ Bụi phấn hòa trong làn khói phủ/ Nhịp đời phai nhạt. Giọt mưa rơi”. Bức tranh hồn thơ phơi trải theo chuyển biến của nhịp/ tiếng thời/ không. Đó là không gian tĩnh lặng trong giấc mơ, bất chợt có tiếng “quân reo”: như lan thấm, thức động, như dâng lên nỗi nghẹn ngào trong tâm trí về một thời hoa lửa không thể nào quên. Như cách “Ta mang màu áo lính/ Đã thấm vào thịt da/ Xanh như là cây đước/ In sắc bàng Trường Sa”. “Bụi phấn hòa trong làn khói phủ” tạo nên một tổng hòa ngân ngấn, dạt dào…vào cái run ngân sâu thẳm đang lan chảy trong nỗi bâng khâng của thời khắc lần hồi, thổn thức nhịp đập quá khứ. Kí/ ẩn ức đời lính những nỗi đau khắc khoải lẫn tâm sự lòng riêng “phấn là vôi mà vôi thì bạc” như đã trở về thấm thía bao thớ vỉa trực cảm đến độ kết tạo thành “giọt mưa rơi”, rụng vào trong tâm thức những chập chờn, mờ phai trong khoảnh khắc đang “yên ngủ”. Cách bẻ nhịp bằng dấu chấm ngang ngạnh giữa dòng đã cá tính hóa ngữ điệu thơ, làm nứt tách cú pháp để đong chứa cái bất định, ương ngạnh, lay chuyển, biến đổi, khó nắm bắt trong quá trình cảm xúc ùa ắp, lật dựng về “đay đả” hiện tại. Khoảnh khắc thảng thốt, giật mình, như thực, khi như mơ đôi bờ phân tách - hữu tri với quá khứ - rồi bay biến vào hư rỗng. Nhịp đời bước qua quá đỗi choáng ngợp, có một lực ép lên trái tim của thi nhân để kịp níu lại dư ảnh “Giọt mưa rơi”. Điều ngôn ngữ thơ kiến tạo ra ở đây là giới hạn bao chứa, thâu tóm của chính nó để “tình đời thắm chặt”.
Nhan đền tập thơ “Những đám mây mùa thu”, thoạt nghe, ta hiểu ngay về “hình tượng” trong nó. Vậy ngoài những điệu buồn man mác, ngoài những chiếc lá vàng đơn độc rụng, ngoài gió, mưa, chiều cuối năm và những cung đường tự tình thì còn có chi? Những “mật ngôn” những “tín hiệu” đã trở thành những “tín điều” nơi tiếng thơ để lại trong lòng người thụ cảm. Hơn tất cả, đó là mùa thu của “huy hoàng” của ánh mặt trời “chót gắt đớn đau”, “khoan hồng bao dung”, khi sôi thúc sức mạnh tiến quân quần hội mãnh liệt: Tổ quốc ở trong tim người chiến sĩ/ Người ra đi cùng người sống ôm ghì/ Dẫu có hóa thành muôn vàn sương khói/ Vẫn quyện vào sông núi chẳng chia ly”. Sống dậy bao “nông sâu dâu bể” cũng như quá khứ bất tử trường tồn của dân tộc Việt Nam: “Ngoái cổ nhìn lưng trời/ những hàng bia sáng chói”.
Mùa thu, mùa của độc lập sum vầy, ở đâu ta cũng nghe tiếng gọi người thân sau bao đêm dài ly tán. Mùa thu trong thơ của Trần Quang Khánh là sợi dây cố kết “hữu tình”: “Bước chân người không về mọi ngã/ Nhưng ý nghĩ đời theo gió xôn xao”. Nếu bước chân người trên mặt đất hiện thực dẫu không thể về như ngày đã bịn rịn cuộc chia hẹn ra đi. Thì còn đó, “chân lý” những “ý nghĩa đời” bất tử trong tiếng gọi thiên thu “quyện vào sông núi chẳng chia ly”. Trong cả tập thơ “nghiêng nghiêng” tiếng gọi giục lòng, tiếng núi sông ngàn năm cuộc hành nhân/ quân thiêng liêng. Tiếng người từ miền cổ lão như những “tiếng sét hóa màn đêm lay động/ Tháng tư ơi rọi sáng cả ngàn đời”.
Cảm xúc đời lính lóe rạng trong thơ những dòng máu loang nước mắt. Những niềm cảm dũng bi hùng lẫn những giọt nước mắt hoa niên tuổi trẻ: “Anh gục nằm ôm khẩu súng trong tay/ Ôm mảnh đất máu đỏ loang đầy” nhưng “Ta giọt nước hòa bao giọt nước” xin ngưng khóc “Để mùa xuân xanh biếc mãi quê hương”. Khi ta “phá ra” cấu trúc dòng thơ “vô tình” phát hiện sự sáng tạo tuyệt vời của bố cục. Thơ rất tình nhưng như là những dòng tâm sự dễ dàng diễn xuôi một cách nhẹ nhàng theo chuyển động trào dâng thao thiết. Việc ý thức chữ nghĩa trong quá trình tạo tác đã giúp từng dòng thơ, khi đứng độc lập vẫn đã hoàn chỉnh về cả ngữ lẫn nghĩa cùng sự “lấp lánh” của tầng lớp ảnh tượng. Các thủ pháp tượng/ tạc hình và thi đề quy phạm trong “cổ thu” được sử dụng tài tình, chừng mực và hiệu quả. “Thơ thu” thường là “thư” của “những người muôn năm cũ” không tránh khỏi những điều “sến súa”, nếu không chừng sẽ trở nên “cắp tứ tráo chữ”. Với Trần Quang Khánh điệu cử mùa thu trong thơ cũng lắm hiu hắt, ngậm ngùi nhưng kết níu và ăn bắt chặt chẻ với hơi thở đương đại và gắn liền với đời sống từng trải qua của chủ thể cảm xúc nên sự “đoái thương” trong thơ đều hướng tới “vị lai” những ánh nhìn tỉnh thức, không còn tinh thần mang móc quá ưu sầu nỗi bồn chồn quá khứ “Để cái xanh xưa lại có chồi” hay “Giai điệu mùa xưa còn vọng lại/ Mang theo sắc mới những mùa xanh”.
“Những đám mây mùa thu” là chiếu thơ trải rộng với nhiều thể - nghiệm hình thức: Lục bát, tứ, ngũ ngôn, bảy, tám, mười hai chữ, cách tân hình thức… Về thi cảm, thi hứng có cổ, bán cổ điển, tân hiện thực nhưng rất “chủ nghĩa”. Cái bang giao tình - người đẹp nhã, nghiêm ngắn và chính đáng. Về thi liệu mang móc, quá khứ, hiện đại: Có điển tích đông tây, những chuyện huyền sử Mỵ Châu, hiện thực số đỏ hay Vũ đại thôn. Tất cả được cài găm vào chữ nghĩa một cách đầy “tinh hoa”.
Về mảng tình thi là sự giản dị, động lay, tinh thần ăn bắt tế vi giữa con người và tự nhiên: “Đời được mấy mùa trong đắm say/ Xuân đi chưa trọn được vòng tay/ Heo may đã giục làn mây bạc/ Bỡn ánh vàng phai giữa tháng ngày”. “Bỡn” mô tả sự thể động lay, chuyển biến hơn là trạng thái tĩnh tại của màu sắc. “Bỡn ánh vàng phai” như ẩn dụ về năm tháng tĩnh lặng, thời gian phai mờ…
Thơ mở cửa vào tâm hồn thanh thoát, nhẹ nhàng: Gieo chi sợi nắng, sợi mưa/ Để ai ngơ ngẩn giữa mùa thu sang”. Những ánh nhìn trìu mến đón lấy cảnh tượng giao hòa: “Ta trong nhau với mùa thu thương nhớ/ Của mùa xuân dù buốt lạnh trong lòng”. Trước những vẻ đẹp như nhiên quá đỗi hữu tình ấy, một tấm lòng dịu dàng, biết nâng niu, giàu che chở giăng bày những rung rinh, mơn mỡn ban mai. Vươn mọc lên những tình đời, tình người: “Ngập chìm trong ánh vàng thu chín/ Ai bảo men xưa đã cuối mùa/ Khuấy động đáy hồ soi đỉnh núi/ Để nghìn thu vẫn cứ lên ngôi!”.
Quả đúng là “Thi trung hữu họa/ thi trung hữu nhạc”. Quả đúng là “Văn lo vận nước văn hóa võ/ Võ thấu lòng dân võ hóa văn”. Tính trữ tình trong cốt lõi “cứng cáp”, “bền bỉ”, “kiên trinh” thể hiện sắc thái “rừng gần đậm nét/ non xa nhạt màu” trong từng con chữ. Đó là mùa thu hòa bình trong thơ Trần Quang Khánh, mùa thu hòa bình được dệt bện bởi những dư âm “đớn đau” thao thiết: “Chiều!/ Nắng vàng đầu thu gay gắt/ Lá vàng nhẹ rơi/  Chiều nay/ Tiếng hạc gõ thinh không/ Đẩy trời cao không tưởng/ Đưa hồn ai phiêu diêu”.
23/1/2025
Tuấn Trần
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

“Khúc phiêu ca" "Trong căn nhà cửa hẹp" và "Cõi lạ" trong thơ Nguyễn Thánh Ngã

“Khúc phiêu ca" "Trong căn nhà cửa hẹp"
và "Cõi lạ" trong thơ Nguyễn Thánh Ngã

Nguyễn Thánh Ngã đã tạo ra một “cõi lạ” trong thơ. Khi trải nghiệm văn bản, thực sự tôi bị “thách thức”. Cái thực - ảo mộng mỵ, cái suy nghiệm chập chờn… tất cả như kích động một cuộc tuần du của trí tưởng đầy tính phiêu lưu. Muốn đọc Nguyễn Thánh Ngã, ắt hẳn phải đi sâu vào lòng tiếng, cơi nới mọi trường liên tưởng để có thể dập dờn cùng nhịp thở thời/ không.
Trên mô thức ngôn ngữ và hồn cốt của miền đất đỏ, tác giả đã đặt tên cho những bài thơ thật độc đáo, lạ hóa. Và sự sáng tạo đó đã làm nên những lớp “nghĩa cảm giác” bên cạnh “nghĩa hình tượng”. Người đọc được trải nghiệm bằng “cảm thức ngôn ngữ” trước hết rồi mới bước vào “giải mã”, bóc tách âm hình, ý vị. Trong cách diễn ngôn cách tân sáng tạo và trìu tượng hóa cao độ đã thể hiện rõ sự tinh anh trong chiến lược tư duy, sắp xếp câu chữ, hình tượng để tạo ra âm ngữ tưởng tượng rất nghệ thuật của tác giả.
“Trong căn nhà cửa hẹp” có hai đối tượng được tạo hình bên cạnh/ cùng căn nhà là thơ (nghệ thuật) và em (biểu tượng của đời/ số phận). Nhà thơ đã tế vi xây dựng nên “hoàn cảnh” của mình/ người nghệ sĩ: cơ hồ là “bạc bẽo”. Căn nhà vừa ẩn dụ cho hiện thực tréo ngoe của kẻ đi rao thơ giữa chợ đời. Vừa là ẩn dụ cho cái chật chội của thể xác không thể nào dung chứa được nội tâm ào ạt. Mà ở thời buổi văn chương phải “lom khom”, “luồn bò” dưới gót giày […]. Ở phương diện nào, nghệ sĩ cũng bị “bạc đãi”. Lấy thơ che chắn bão táp nhân sinh, người nghệ sĩ như lấy giấy bọc lửa. Thật vô nghĩa. Và cuối cùng “rách toạc”. Nhưng vẫn bền bỉ khâu vá, bền bỉ trong “chênh vênh” bằng niềm tin như “chân lý ngồi chờ rạng đông bên ngọn đèn hiu hắt”.
Trong không gian “Căn nhà cửa hẹp” ấy đã tạo ra một thực tại “bùng nhùng”. Tất cả như được thống ngự bởi một sức mạnh của nội cảm, cái khát khao muốn “đào thoát”, muốn “xé rào” khỏi vòng cương tỏa. Trong cái nghịch thường của cuộc sống, trong cái “phản trắc” của nhân sinh, người nghệ sĩ đã “nỗ lực” khép/ mở cánh cửa lòng để đón chút gió bụi phong nhiêu. Trong căn nhà tâm tưởng/ căn nhà của hồn thơ, như một kẻ hành nhân cô độc, nghệ nhân ngồi chờ đợi đứa con sinh nở. Căn nhà trong tưởng tượng “cửa hẹp” nhưng không đóng. Đủ hé mở cho “gió” nghé nghe, cho đôi câu thơ đơm nở sau cơn “đau đẻ”, rồi những mũi kim, vết khâu xuyên thấu: Nhà hẹp/ gác hẹp/ khe cửa gió lùa câu thơ/ nhà ta/ gió khép cửa hẹp/ khum tay che bếp lửa hồng/ khom lưng đời mưa gió/ lạnh từng con chữ gầy đông/ thơ rướm nỗi đau/ khe lòng gió thổi/ ta che thơ rách toạc trang đời/ em như tằm nhả tơ/ vá lại trang đời hạnh phúc/ từng mũi kim âm thầm xuyên qua tứ thơ/ tứ thơ cửa hẹp/ chênh vênh bên cửa sổ/ tư tưởng bất ngờ/ đơm hoa…(Trong căn nhà cửa hẹp)
Nguyễn Thánh Ngã đã đi sâu hơn vào cõi tinh thần, để lắng nghe, đối thoại với “im lặng”. “Khúc phiêu ca” như cuộc trải nghiệm/ trừng phạt lên linh giác và quá trình tự thân chữa lành. Những tẩu khúc âm thanh trẹo trọ va đập vào mảnh hồn vô lực, là khi diễn ra cuộc đấu tranh giằng co giữa mưu cầu dục vọng.
Mở đầu bài thơ là sự đối thoại với sâu kín. Hồn thiêng “xóa trắng” mình hòng tách/ khước từ ngoại tại để lắng nghe “khúc phiêu ca của những dòng nhựa/ rì rầm”. Sự mơ hồ, bí ẩn, cuộc phiêu lưu trong địa hạt tâm linh đã tạo ra một không gian chảy tràn, lan thấm những “mưng mủ” của đời sống. Chỉ trong cái hoang mịch, mới là nơi hồn người mới có thể thực hiện quá trình chữa thương.
Ảnh tượng nghệ thuật trong thơ có sự “si ám”, tàng ẩn vào vô thức để tạo ra tiếng thơ lắm lúc “dị thường”, với nhiều “dị ngôn”: Khúc phiêu ca, dịch lặng, hoang nhiên… sự “nỗ lực” làm mới trong diễn ngôn đó đã làm nên sự “khác lạ” trong cách Nguyễn Thánh Ngã làm thơ: không có hình bóng/ không có sự rủi ro của tiếng động/ khúc phiêu ca của những dòng nhựa/ rì rầm.../sự dịch lặng đó/ không bởi âm thanh/ không bởi ánh sáng, bóng tối/ tiếng côn trùng đang bắt nhịp/ cả tổ chim non cũng góp tiếng nói đầu tiên/ và đâu đó, cơn bão bẻ gãy giai điệu/ sự hỗn tạp, đứt quảng, và gào thét của sóng âm/ lấn át những linh hồn bé bỏng/ chúng ta chìm vào thính giác câm/ sự đè nén của những âm giai/ khiến chúng ta quên đi/ trong tận cùng im lặng/ tấu khúc sinh tử luôn bắt đầu/ lộng lẫy/ âm thầm và mãnh liệt/ thổi qua chúng ta/ đánh bạt chúng ta/ những ca từ trôi dạt/ những dòng kẻ hoang nhiên…(Khúc phiêu ca).
24/1/2025
Tuấn Trần
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Mảnh trăng tinh tấn hàng cau trổ buồng

Mảnh trăng tinh
tấn hàng cau trổ buồng

(Cảm nhận về tập thơ SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA, tác giả Nguyễn Quang Thiều, NXB Lao Động ấn hành 1992, NXB HNV tái bản lần thứ nhất 2015)
Lời thưa:
Trong chuyến về Đà Lạt, tôi tình cờ tìm thấy cuốn sách Sự Mất Ngủ Của Lửa của Nguyễn Quang Thiều (NXB HNV). Khi ngồi trên máy bay, tôi đã lướt qua vài trang, nhưng chỉ là đọc mà chưa thực sự cảm nhận. Cuốn sách nhỏ nhắn, xinh xắn với 88 trang, trong đó có hơn 20 trang được gọi là “văn bản của hội họa”. Tập thơ gồm 24 bài và 11 khúc cảm, với giấy xốp ngà, không quá mỏng manh nhưng lại mang đến cảm giác thanh thoát, dễ chịu. Tôi để cuốn sách ở kệ đầu giường, không chỉ vì sự bắt mắt và trình bày đẹp đẽ, mà còn vì ý định sẽ đọc lại khi có dịp. Sự Mất Ngủ Của Lửa ra mắt lần đầu vào năm 1993, tái bản vào năm 2015, và giờ đã là 2024. Sau ngần ấy năm, cuốn sách vẫn giữ được vẻ đẹp đằm thắm, duyên dáng và không hề cũ đi, chứa đựng biết bao điều để chúng ta khám phá và ngưỡng mộ.
Tôi tự nhận mình là một người yêu thơ, say đắm và mê mệt với từng câu chữ. Tôi không ngừng tìm đọc thơ bạn bè, thơ trên Facebook, đủ các thể loại, đến mức bạn bè tôi cũng phải lắc đầu ngao ngán. Chính vì thế, khi hôm nay tôi chọn một cuốn thơ của một tác giả “được nhiều người trong giới văn nghệ biết đến,” mong các bạn hiểu rằng đây chỉ là một dịp để tôi đắm chìm vào thế giới thơ ca mà thôi. Điều tôi yêu thích nhất trong tập thơ này chính là lối văn phong giản dị, sáng rõ nhưng lại chứa đựng những tầng ý ẩn dụ sâu sắc và chủ đề phong phú. Toàn bộ tập thơ được viết với phong cách nhất quán, vững chãi, thể hiện sự chắt lọc tinh tế và sự gắn bó xuyên suốt về tư tưởng.
Theo Matthew Arnold, nhà phê bình văn học người Anh thế kỷ 19, sứ mệnh cao cả của thơ ca là giải nghĩa cuộc sống, an ủi và duy trì bản thân mình trong đó cảm xúc chân thật là điều tối quan trọng, cũng như sự nghiêm túc của  chủ đề, nội dung và chất liệu của thơ ca kết hợp với phong cách và nhịp điệu. Ngày càng nhiều người sẽ nhận ra rằng, thơ ca là nơi chúng ta tìm đến để giải mã cuộc sống, an ủi và nâng đỡ chúng ta. Thơ ca có sức mạnh làm phong phú và nuôi dưỡng tâm hồn ta. Thơ ca là một hình thức giao tiếp nghệ thuật. Những bài thơ có thể sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu để truyền tải những ý tưởng rõ ràng, hoặc cũng có thể dùng ngôn ngữ phức tạp, mơ hồ để diễn đạt những khái niệm mơ hồ, thậm chí không chắc chắn. Giống như âm nhạc, thơ ca có khả năng độc đáo để làm đầy tâm trí người đọc bằng hình ảnh và lấp đầy trái tim bằng cảm xúc. “Bóng tối đêm dần sáng như một con mèo nhung khổng lồ bước đi uyển chuyển/ Cái đuôi mềm của nó chạm vào tôi làm tôi tỉnh giấc/ Tôi cựa mình như búp non mở lá/ Ý nghĩ mỉm cười trong vắt trước ban mai”; “Những con sóng hoàng hôn xõa tóc trắng chạy về/ Phút cuối cùng kêu lên đập ngực mình vào đá/ Những con sóng triệu năm điên cuồng, mệt mỏi/ Ta không sao cứu nổi/ Cái chết những con sóng buồn ngay ở trước chân ta”
Với tư cách là một công cụ giao tiếp, thơ ca mở rộng ngôn ngữ, cho phép nhà thơ giao tiếp theo cách mà các hình thức viết khác, như cuộc trò chuyện thông thường hay thậm chí là những câu chuyện, không thể mang lại. Chúng ta có thể sử dụng hình ảnh và cảm giác để đạt được một cấp độ giao tiếp sâu sắc hơn, ngay cả khi bài thơ của chúng ta không chứa đựng ý nghĩa bí ẩn hay thông điệp ẩn giấu. Chúng ta không thể luôn biết được bài thơ của mình sẽ gây tiếng vang như thế nào với độc giả. Một câu thơ ngắn về cây cối có thể hiện lên trong tâm trí một độc giả như là một khu rừng hoang vắng, trong khi với người khác lại là một công viên ngoại ô. Trong một số trường hợp, chúng ta muốn làm nổi bật hình ảnh cụ thể, nhưng thường thì, chúng ta muốn để lại khoảng trống để độc giả tự mình lấp đầy những khoảng trống đó bằng trí tưởng tượng của họ. Đó là phép màu của thơ ca, và của tất cả các hình thức nghệ thuật. Sở dĩ tôi nhắc đến điều này là do trong “Lời mở sách” tác giả nhắc đến nhiều phản ứng tích cực và tiêu cực trong thời điểm cuốn sách ra đời.
Lang thang dạo qua các diễn đàn và trang mạng, tôi nhận thấy SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà phê bình, được nhắc đến qua không ít bài viết, thậm chí còn xuất hiện trong một số luận văn nghiên cứu. Những điểm nhấn mà tôi nhớ nhất là: “dấu mốc đổi mới thơ ca Việt Nam hiện đại,” “góc nhìn sinh thái với khát vọng trốn lo âu về lại cánh đồng,” hay “trên hành trình tha hương và những va đập ồn ào phố thị, cố hương bỗng trở thành nơi nương náu tinh thần,” bên cạnh các chủ đề về “thân phận tha hương và sự tách biệt với tự nhiên,” “trầm tích của quê hương,” và “tâm thức hoài hương.” Theo tôi, một tập thơ chứa đựng tư tưởng lớn và đan xen nhiều vấn đề của cuộc sống như vậy chắc chắn sẽ mở ra vô vàn góc độ để chiêm nghiệm. Với tư cách một người đọc yêu thơ và làm thơ, tôi xin phép chia sẻ đôi điều giản dị về những gì mà bản thân tâm đắc từ tác phẩm này.
1. Nỗi nhớ là một cảm xúc mạnh mẽ thường dẫn dắt ta trở về những kỷ niệm xưa, cho phép ta sống lại những khoảnh khắc từ quá khứ. Các nhà thơ từ lâu đã say mê với vẻ đẹp và nỗi u buồn của sự hoài niệm, và họ đã đặt bút để tạo nên những câu thơ gợi lên cảm giác mong nhớ và suy tư. Nguyễn Quang Thiều đã viết về nỗi nhớ, hoài niệm và sự day dứt về quê hương trong nhiều bài thơ của mình, đặc biệt là trong tập thơ SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA. Tập thơ này đi sâu vào những cảm xúc về thời gian, ký ức tuổi thơ, và thân phận người xa xứ, gắn liền với cảnh sắc làng quê, thiên nhiên và những hình ảnh đầy tính ẩn dụ về cuộc đời. “Những chiều xa quê tôi mong dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được nhìn thấy
Cho đôi mắt nhớ thương của tôi như hai hốc đất ven bờ, nơi những chú bống đến làm tổ được giàn dụa nước mưa sông.” Đó là nỗi nhớ hướng về dòng sông quê hương nơi lưu giữ tuổi thơ và tình cảm gia đình. Mẹ trong mắt người con xa xứ như dòng sông đượm buồn chảy mãi không ngừng. Dòng sông  không chỉ là nơi chốn cụ thể, mà còn là nơi lưu giữ những ký ức, những tình cảm giản dị nhưng bền bỉ. Hình ảnh này khơi gợi cho người đọc sự hoài niệm về một thời gian đã qua, nơi tình yêu của mẹ như dòng sông bất tận, không phô trương nhưng sâu nặng. “Chiếc bánh xe trâu một nửa đã qua đêm/ Một nửa thùng cỏ tươi còn trong bóng tối/ Và sau tiếng huầy ơ như tiếng người chợt thức/ Những ngọn ban mai mơn mởn rướn mình.” Đó là nỗi nhớ về một buổi sáng bình yên trên cánh đồng làng quê, quen thuộc và dịu dàng trong tiếng thời gian trôi. Không có sự kiện cụ thể nào xảy ra, chỉ là cảnh vật tĩnh lặng nhẹ nhàng tươi mới như ta thức dậy sau một giấc ngủ dài, một sự khởi đầu mới mẻ an vui từ những ngày tháng xưa cũ hoài niệm dịu dàng. “Đêm hoang sơ chỉ có đôi ta/ Không cơm áo cửa nhà ngồi ôm nhau run rẩy/ Ta sẽ bắt đầu điều gì khi bình minh thức dậy/ Đi về phía biển khơi hay trở lại rừng”. Có phải thời gian là hư vô, cô đơn và vô tận? Người yêu ngồi ngắm sao trời nhưng không thể với tay chạm vào cũng như ký ức quý giá nhưng xa tầm tay với. Hư vô và bất lực trước dòng thời gian khiến nỗi nhớ trở nên da diết, đau đáu. Quá khứ có bao giờ quay lại nhưng kỷ niệm u buồn cứ khắc sâu vào tâm khảm, như những ngôi sao nhấp nháy xa xăm ta chỉ có thể ngắm từ xa. “Quê hương/ Khuất khuất sau mây/ Quê hương âm âm trong gió/ Ta không thể dâng tay gạt hết mưa chiều/ Để nhìn cho tỏ mặt/ Chỉ mùi khói phân trâu khô bên đường bén lửa/ Ngăn ngắt đắng vào giấc ngủ kẻ tha phương.” Nỗi đau của kẻ tha hương và lạc lối trong thế giới mới đầy lạ lẫm, ký ức quê nhà dần trở thành một phần của nỗi buồn, nỗi nhớ khó có thể lấp đầy, nhớ về mái nhà, mùi khói quê và những gì thuộc về nơi chốn thân thương.
Những nhà thơ có tầm nhìn, chiều sâu cảm xúc và nhiều trải nghiệm, dù họ là ai, thuộc phương Đông hay phương Tây, thì họ phần nào đó cũng có những điểm tương đồng. Robert Hayden  trong NHỮNG CHỦ NHẬT MÙA ĐÔNG ẤY viết về kỷ niệm cha con và những hi sinh của người cha trong thời thơ ấu của thi sĩ. Bằng hình ảnh giàu sức gợi và ký ức đau đáu, Hayden đưa chúng ta về những buổi sáng mùa đông lạnh giá cùng những hành động yêu thương âm thầm thường bị bỏ qua. Qua lời thơ của Hayden, chúng ta được nhắc nhở về những cử chỉ chăm sóc nhỏ nhặt nhưng sâu sắc trong cuộc sống, những điều âm thầm tạo nên những kỷ niệm bền lâu. Cũng như thế, CON GÁI ƠI (cho con gái Tuyết Ngân) của Nguyễn Quang Thiều có những câu thơ yêu thương thấm đãm như vầy: “Con mặc chiếc váy mỏng như khâu bằng những cánh hoa tầm xuân/ Con đi đôi giày nhỏ như làm bằng hai chiếc kén tằm vàng/ Trên con đường trước nhà ta đầy đá/ Con chạy ra đón cha/ Hai bên đường những cánh bướm còn non/ Bay như dính vào không gian/ Đó là chim bồ câu tí hon/ Trong miền riêng của con trong trắng; Niềm xúc động trong cha dâng lên đến tận cùng/ Làm buốt chân tóc trên đỉnh đầu cha/ Những sợi tóc tơ con ròng ròng từng sợi nước/ Mát rượi chảy chàn từng ống xương cha”. John Keats là bậc thầy của thơ lãng mạn cũng đã khắc hoạ một cách đẹp đẽ tinh thần ngọt ngào và tiếc nuối của nỗi nhớ trong bài thơ ODE TO AUTUMN. Qua những miêu tả sống động và hình ảnh giàu sức gợi, Keats tôn vinh vẻ đẹp của mùa thu, đồng thời ngầm nhắc đến sự ngắn ngủi của thời gian. Nhịp điệu nhẹ nhàng và sự miêu tả dịu dàng của mùa thu khiến ta nhớ đến sự tuần hoàn của cuộc sống, thôi thúc chúng ta trân trọng hiện tại và đồng thời mong nhớ quá khứ.
2. Trân quý từng khoảnh khắc: Trong nhịp sống nhanh chóng ngày nay, thật dễ để bị cuốn vào những bộn bề hàng ngày, bỏ qua những khoảnh khắc quý giá mà ta không nhận ra. Tuy nhiên, có những nhà thơ đã khéo léo gói ghém vẻ đẹp của việc trân trọng từng khoảnh khắc vào trong từng câu thơ của họ, nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc tận hưởng mọi trải nghiệm, trân quý những giây phút ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa. Mary Oliver (bài thơ NGÀY HÈ) tinh tế trong từng quan sát về thiên nhiên, thúc giục chúng ta biết dừng lại và cảm nhận sự kỳ điệu quanh mình, mở lòng ra tận hưởng từng giây phút ngắn ngủi của cuộc sống và tìm thấy được mục đích trong sự tồn tại của mình. Margaret Atwood (bài thơ MỘT KHOẢNH KHẮC) nhắc ta hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng vì cuộc sống dù gì cũng rất chóng vánh. Bài thơ như một lời thức tỉnh, thúc giục chúng ta đừng bao giờ coi nhẹ bất cứ điều gì và hãy giữ chặt những khoảnh khắc thoáng qua nhưng đầy ý nghĩa của cuộc sống, ta hãy dành thời gian để nhìn lại những thành tựu của mình, trân trọng sự cố gắng và cống hiến đã đưa ta đến vị trí hiện tại. Bằng việc trân trọng những khoảnh khắc này, Atwood mời gọi ta hãy biết ơn hành trình mà ta đã trải qua cùng với niềm tự hào và sự sở hữu đó. Một số dòng thơ của Nguyễn Quang Thiều vang lên như lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của từng khoảnh khắc trong cuộc sống. “Đêm nay là đêm thứ bao nhiêu rồi ta chẳng còn biết nữa/ Ta như hai đứa trẻ non mềm vừa mới sinh ra / Với hơi thở của người vừa ốm dậy/ Ta ôm nhau ngước mắt gọi sao trời,” Thiều khắc họa hình ảnh về sự hiện hữu trong khoảnh khắc - giây phút mà ta và người thương như trở lại thuở ban sơ, yếu đuối nhưng ngập tràn yêu thương, cùng ngước nhìn trời sao bao la. Bằng cách sống trọn vẹn trong hiện tại, từng hơi thở, từng ánh sao, từng phút giây đều trở nên quý giá, thiêng liêng. “Ta thức giấc khi mặt trời chạm vào mặt biển/ Và ngoi lên mặt nước/ Vây tóc ta bạc trắng / Ta cất tiếng gọi bến bờ của ta bằng tiếng cá” tiếp tục khơi gợi cảm giác về dòng chảy thời gian và sự thức tỉnh khi ta đối diện với hoàng hôn màu huyết dụ. Thiều vẽ nên khung cảnh hùng vĩ của biển trời và ánh mặt trời lặn, để gợi nhắc rằng từng khoảnh khắc là một phần quý báu, là khúc nhạc của đời người. Những hình ảnh ấy khiến ta nhận ra rằng thời gian không đợi chờ, và chỉ khi ta biết trân trọng từng giây phút hiện tại, ta mới thực sự sống trọn vẹn. Qua những câu thơ ấy, Nguyễn Quang Thiều mời gọi chúng ta đón nhận từng khoảnh khắc như là một điều đáng quý. Hành trình cuộc đời chỉ trở nên ý nghĩa khi ta sống hết mình cho từng phút giây giản dị, bình yên – đó là khi ý nghĩa thực sự của cuộc sống và của chính ta được sáng tỏ. Cũng như Robert Herrick (bài thơ GỬI CÁC NÀNG TRINH NỮ HÃY BIẾT QUÝ THỜI GIAN) cũng nổi bậc một lời nhắc nhở vượt thời gian về sự ngắn ngủi của cuộc sống. Herrick khuyến khích chúng ta sống hết mình và trân quý hiện tại, vì thời gian không chờ đợi ai. Qua hình ảnh sống động và phép ẩn dụ nổi bật, Herrick nhấn mạnh rằng những giây phút quý giá của cuộc sống là hữu hạn và cần được trân trọng.
3. Khám phá vẻ đẹp trong những vật dụng hàng ngày mang giá trị tinh thần hoặc kỷ niệm đặc biệt. Thông qua ngôn ngữ thơ ca, những vật dụng hằng ngày, dù đơn giản, có thể trở nên quý giá và ý nghĩa, phản ánh vẻ đẹp tiềm ẩn trong cuộc sống đời thường và trở thành nguồn cảm hứng suy tư. Các nhà thơ có khả năng phi thường khi nắm bắt được tinh túy của những món đồ tưởng như tầm thường, thổi vào đó những ý nghĩa sâu sắc. Những bài thơ này mời gọi chúng ta dừng lại, suy ngẫm về ý nghĩa của những vật dụng dường như giản đơn nhưng lại có vị trí đặc biệt trong trái tim ta. Pablo Neruda (bài thơ ODE TO A TEACUP), một tách trà khiêm nhường chứa đựng nhiều nỗi niềm, được nhà thơ nâng lên thành biểu tượng của sự an ui, như một người bạn đồng hành và những phút trân quý trong cô tịch. William Carlos Williams (bài thơ CHIẾC XE RÙA ĐỎ) nắm bắt những đồ vật quen thuộc và ý nghĩa của từng chi tiết nhỏ bé chỉ qua mười sáu từ. Sara Teasdale (bài thơ CHIẾC CHÌA KHÓA) khắc họa sâu sắc những ký ức và nỗi khát khao, chiếc chìa khóa được sử dụng như một phép ẩn dụ cho những cánh của nối ta với quá khứ, có tầm quan trọng và sức nặng cảm xúc vượt lên trên hình thức vật chất của chúng. Đọc thơ Nguyễn Quang Thiều tôi rất chú ý đến những điểm này,  những vật dụng quen thuộc trong đời sống thường ngày của ông cũng trở thành biểu tượng, mang theo chiều sâu của nỗi nhớ, của hoài niệm và cuộc đời. Bằng tài năng quan sát và ngòi bút tinh tế, Thiều biến những hình ảnh giản dị thành phương tiện truyền tải những suy tư, những ký ức mà không phải ai viết cũng thành công, nếu không khéo sẽ trở thành liệt kê, kể lể. “Những bánh xe no nê lăn vào giấc ngủ/ Mang theo tiếng cười, tiếng khóc và cái chết của rượu/ Mang theo những bàn tay đàn ông/ Bò ngược đùi đàn bà như từng chùm chân dán/ Chỉ còn trên bàn tiệc/ Bát đĩa, cốc chén/ Và những cái chai cạn khô/ Cùng cơn gió lốc quạt trần/ Rền rĩ nỗi buồn đồ vật/ Bầy kiến đen đi qua bàn tiệc/ Như lang thang qua bãi chiến trường/ Đầy mảnh thịt của gia súc/ Đầy xác chết của rau thơm/ Quả ớt đỏ như lá cờ rách nát/ Bầy kiến ôm lên đắng cay nhòa mắt”. Một đàn kiến đen len lỏi qua những chiếc bát đĩa, cốc chén còn sót lại trên bàn tiệc. Sự hiện diện nhỏ bé nhưng bền bỉ của bầy kiến không chỉ là biểu tượng cho sự sống mà còn là những điều nhỏ nhặt, thầm lặng nhưng bền vững, tồn tại sau cơn say của con người. Tác giả  gợi lên sự đối lập giữa phù hoa chóng vánh và sự bền bỉ của những giá trị giản đơn, nhắc nhở người đọc trân trọng những thứ tưởng chừng nhỏ bé nhưng chứa đựng sức sống mãnh liệt. Trong CON GÁI ƠI, chiếc váy tầm xuân của người con gái trở thành biểu tượng của sự tinh khiết và mong manh. Khi người cha đưa tay ôm lấy con, chiếc váy ấy không chỉ là tấm áo đơn sơ mà còn là lớp bảo bọc của yêu thương, là sự gắn kết thiêng liêng giữa cha và con. Nguyễn Quang Thiều đưa người đọc về với tình cảm gia đình giản dị nhưng sâu sắc, nơi mà từng món đồ nhỏ đều chứa đựng bao kỷ niệm và ý nghĩa. Hay CHIẾC NHẪN VÀNG HÀNG XÉN bị bỏ quên như một sự bội phản đâu đó vẫn diễn ra trong xã hội. Đó là vật bé nhỏ nhưng lại mang theo biết bao ký ức cay đắng và ngọt ngào, nhắc nhở người đọc về những khoảnh khắc lãng quên, những điều đã đánh mất trong cuộc đời. Qua thơ Nguyễn Quang Thiều, ta nhận ra rằng mỗi vật dụng dù nhỏ bé cũng chứa đựng những câu chuyện, những lớp nghĩa sâu sắc và gợi lên cảm xúc dạt dào. Những hình ảnh giản dị nhưng mạnh mẽ ấy nhắc nhở chúng ta biết trân trọng từng chi tiết nhỏ của cuộc sống, bởi chúng chính là tấm gương phản chiếu hành trình của mỗi người.
4. Gia đình là sợi dây gắn kết chúng ta. Gia đình là nền tảng của cuộc sống, nơi ta tìm thấy sự hỗ trợ, yêu thương và cảm giác thuộc về. Chính trong gia đình, ta học được những bài học quý giá của cuộc đời, cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn và tìm đến sự an ủi khi cần. Các nhà thơ từ lâu đã nhận ra ý nghĩa sâu sắc của gia đình và qua ngôn từ của họ, những mối quan hệ đáng trân trọng này được khắc họa một cách đẹp đẽ. “Ta khóc vụng một ngày thưa bóng mẹ/ Tiếng gà buồn mổ rỗ mặt hoàng hôn”; “Ta gặp mẹ ta năm người mười bảy/ Những răng lược gỗ mòn cắn ngập mái tóc người/ Ta gặp cha ta năm người hai mươi tuổi/ Dưới những nhát búa cùn/ Từng khúc xoan tươi toác ra tiếng cười của lửa”; “Sông Đáy chảy vào đời tôi/ Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả”; “Âm thầm vỡ trong tôi, âm thầm vỡ cuối nguồn/ Tỏa mát xuống cơn đau tôi là tóc mẹ bến mòn đứng đợi”; “Sông Đáy ơi, sông Đáy ơi…chiều nay tôi trở lại/ Mẹ tôi đã già như cát bên bờ/ Ôi mùi cát khô, mùi tóc mẹ tôi/ Tôi quì xuống vốc cát ấp vào mặt/ Tôi khóc./ Cát từ mặt tôi chảy xuống dòng dòng.”; “Mẹ con đứng vùi chân trong cát/ Nước mắt buồn bay ướt một triền sông”; “Ta đi qua tháng mười, ta đi qua tiếng gọi buổi chiều của mẹ/ Mây trời vun lên những đống rơm khô”; “Như tấm võng của bà mẹ đỡ đứa con/ Ru êm ái trong ban mai màu ngọc. Tất cả dâng lên thẳm xa, mê đắm/ Mẹ ơi, con nhìn thấy bà nội con sau khói mỉm cười”; “Điếu thuốc cháy từ năm ta mười bốn/ Chiếc roi cha ta quất nát sợi khói mềm/ Trong ký ức ta có một ngày oán hận/ Hốc mắt ta khô dù chỉ khóc một lần”; “- Cha!/ Con có tội một lần một chiều xưa nói dối/ Con mang tội suốt đời lời nói thật sáng nay.”; “Tiếng chó lại rộ lên từ đầu làng về ngõ nhà ta/ Tóc cha trắng một tiếng cười ngửa mặt”; “Con gái của cha ơi/ Cha nghe thấy có tiếng cười lạ/ Cha nghe thấy có tiếng người lạ/ Dẫu không gọi tên con cũng không gọi tên cha/ Mà sao cha sợ run lên/ Cha mở đời cha như mở một tấm lót/ Bọc lấy con và bế con lên”. Những câu thơ cảm động quá sức, đằm thắm quá thể, thấm đượm tình cảm gia đình, khắc họa sâu sắc hình ảnh cha mẹ qua những ký ức thân thương, bình dị nhưng đầy cảm xúc. Tình mẹ hiện lên trong những hình ảnh quen thuộc như dòng Sông Đáy chảy dịu dàng, như bóng dáng người mẹ vất vả, âm thầm gánh nặng cuộc sống nhưng luôn hiện hữu để che chở và nâng đỡ cho con. Với người cha, ông thể hiện sự kính trọng và day dứt, khắc sâu những dấu ấn của cha trong cuộc đời: từ hình ảnh chiếc roi, điếu thuốc cháy dở đến nỗi buồn lặng thầm và những tiếng cười u hoài. Gia đình có sự gắn kết bền chặt, trao đổi yêu thương, gia đình trong thơ ông là nơi các thành viên tìm về để chia sẻ, chữa lành và nhận lại sức mạnh từ ký ức. Sự hiện diện của cha mẹ trong thơ Nguyễn Quang Thiều không chỉ là nguồn an ủi mà còn là điểm tựa tinh thần, khắc ghi bài học về giá trị của sự hi sing và tình yêu vô điều kiện mà các thành viên dành cho nhau. Con gái trong thơ được ông gửi gắm tình thương dịu dàng và nỗi lo thầm kín. Người cha ôm ấp bảo vệ con mình như một báu vật quý giá, là kết tinh của tình cha con thiêng lie7ng và nâng niu chở che. Người cha mở rộng vòng tay, bọc lấy con, bảo vệ con tránh khỏi những tổn thương va chạm dẫu không biết rõ con đường tương lai ra sao, dẫu biết rằng có một nỗi lo sợ chất chứa, rằng cha sẽ không thể mãi mãi bên cạnh con như ước muốn. Thậm chí thỉnh thoảng theo dõi Facebook của ông, rất nhiều năm sau khi tập thơ ra đời, ông đã bắt đầu có cháu, và cách ông cháu trò chuyện làm việc với nhau cũng rất gắn kết, đặc biệt và tràn ngập lòng tôn trọng, quý mến yêu thương. Cháu ông vẽ một bức tranh chi tiết, thông minh, kỹ càng, cần mẫn, hay hai ông cháu cùng làm đèn trung thu, cùng thực hiện một cánh diều, cảm động vô cùng.
Nhớ lại một số bài thơ và nhà thơ phương Tây tôi từng đọc qua, Langston Hughes (bài thơ CỘI RỄ) tài hoa khéo léo mô tả vai trò của gia đình trong việc hình thành nên bản sắc của chúng ta. Hughes so sánh mối liên hệ gia đình như những rễ cây ăn sâu, biểu trưng cho sức mạnh và sự kết nối bền vững. Qua hình ảnh sống động và ngôn từ chân thành, ông nhắc nhở rằng di sản và cội nguồn là nguồn sức mạnh và niềm tự hào của mỗi người. Một lần khác, (bài thơ MẸ NÓI VỚI CON) ông khắc họa một cách tuyệt đẹp tình yêu vô điều kiện, sự hướng dẫn và lòng kiên cường trong gia đình. Qua giọng nói của người mẹ, Hughes dùng những ẩn dụ sống động để khích lệ con mình kiên cường vượt qua khó khăn, nhắc nhở rằng dù cuộc sống có khắc nghiệt đến đâu, gia đình luôn là điểm tựa, luôn ủng hộ và nâng đỡ. Với nhà thơ Li-Young Lee (bài thơ MÓN QUÀ), anh viết về tình yêu thương của người cha, hồi tưởng về sự hiện diện của ông và kỷ niệm quý báu giữa hai cha con. Lee thể hiện một cách tinh tế rằng những khoảnh khắc kết nối đó đã giúp anh hiểu về tình yêu, gia đình và giá trị của những sợi dây gắn kết thiêng liêng này. Bài thơ CUỘC ĐOÀN TỤ GIA ĐÌNH của Nikki Giovanni ca ngợi sự vui vẻ và đôi khi hỗn loạn trong những dịp sum họp gia đình. Bài thơ khắc họa sinh động năng lượng tràn đầy, tình yêu thương và cảm giác gần gũi mà mỗi cuộc đoàn tụ mang lại. Bằng ngôn ngữ sống động và hình ảnh giàu cảm xúc, Giovanni vẽ nên bức tranh ấm áp và gợi nhớ về giá trị quan trọng của những kết nối gia đình. Không thể phủ nhận tầm quan trọng của gia đình, vì gia đình đóng vai trò không thể thiếu trong việc hình thành cuộc sống và mang lại cho chúng ta cảm giác thuộc về. Qua sức mạnh của thơ ca, những tác phẩm tuyệt mỹ này đã nắm bắt được bản chất của các mối dây gắn kết trong gia đình, nhắc nhở ta về sự bền vững và tình yêu vô điều kiện từ gia đình. Dù là ca ngợi nguồn cội hay tái hiện những khoảnh khắc quý giá bên người thân, những bài thơ này là lời nhắc nhở sâu sắc về tầm quan trọng của gia đình trong cuộc sống chúng ta.
Thay lời kết:
SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA  là một tựa đề đầy cuốn hút cho một tập thơ, gợi lên hình ảnh của ngọn lửa như một sức mạnh bồn chồn, không ngừng nghỉ và không thể dập tắt. Mất ngủ là trạng thái luôn tỉnh thức, một ngọn lửa cháy mãi với cảm xúc mãnh liệt và dai dẳng, khát khao hay những trăn trở không nguôi. Bản thân lửa thường gắn với đam mê, sự hủy diệt, sự chuyển hóa, hay thậm chí là sự khai sáng, vì vậy khi được mô tả là mất ngủ, nó có thể mang ý nghĩa của một nỗi khao khát không ngừng hay một động lực mãnh liệt, không thể dập tắt trong dòng suy tư của thi sĩ. Tựa đề này cũng làm cho chúng ta liên tưởng đến những đêm thao thức với suy tư, xúc cảm dâng trào, hay sự biểu đạt sáng tạo, nơi tâm trí và trái tim đều bùng cháy, không thể yên nghỉ. Đọc tựa đề giúp chúng ta có thể khai thác các chủ đề về xung đột nội tâm, đam mê, sự kiên cường và cuộc tìm kiếm ý nghĩa không ngừng, như thể tâm hồn của người thi sĩ đang rực cháy trong dòng suy tư và cảm xúc không thể dập tắt. Ngoài những điểm thú vị mà tôi phát hiện ra trên đây, tập thơ còn mang rất nhiều thông điệp làng quê, nghịch cảnh, tình yêu, trở trăn, đất nước, kẻ tha hương, hội họa, tôi xin phép được nhường lại cho bạn đọc và mong đợi những khám phá mới và những cuộc đàm đạo mới về SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA. Xin dành mấy câu thơ của mình tặng cho thi phẩm này và tác giả Nguyễn Quang Thiều: “Ngày xưa ngoại thắp vườn trầu/ Mảnh trăng tinh tấn hàng cau trổ buồng/ Ngày nay vườn đành yêu suông/ Dặn nhau tri kỷ khởi nguồn. Như nhiên!”. Với mảnh trăng tinh tấn chiếu rọi, tập thơ như một ngọn lửa bất tận, soi sáng từng ngõ ngách tâm hồn, gieo hạt cho những khát khao thao thức bung nhụy và tỏa hương trong lòng người đọc.
27/1/2025
Võ Thị Như Mai
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Tình yêu biển đảo trong thơ Lê Tiến Lợi

Tình yêu biển đảo
trong thơ Lê Tiến Lợi

Nhà thơ Lê Tiến Mợi là một trong những người gắn bó lâu năm với nghiệp văn chương. Anh đã có số lượng tác phẩm khá lớn, trong đó một số sáng tác của anh đã chiếm được cảm tình của người đọc. Sau đây xin trân trọng gửi tới Ban Biên tập Văn chương thành phố Hồ Chí Minh bài viết về tình yêu biển đảo trong thơ anh. Xin chân thành cảm ơn Ban Biên tập khi được cộng tác với Văn chương thành phố Hồ Chí Minh.
Một ngày cuối thu, tôi ghé thăm nhà thơ Lê Tiến Mợi tại ngôi nhà riêng của anh trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Quê gốc là Thạch Hà, Hà Tĩnh nhưng sớm chọn vùng đất phương Nam làm nơi lập nghiệp, Lê Tiến Mợi đã có gần 35 năm là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Bình Dương. Sau vài câu chuyện hàn huyên, anh dẫn tôi lên thư phòng ở tầng hai. Vừa bước vào phòng, tôi bị thu hút bởi bên cạnh bàn viết là tủ sách bày các tác phẩm của anh, với 9 tập in chung và 13 tập in riêng, trong đó có 9 tập thơ.
Lê Tiến Mợi sinh ra trong một gia đình có nguồn gốc nhà nho yêu nước, nhiều đời tham gia cách mạng. Bà nội anh từng tham gia phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh, bị địch bắt, giam cầm và mất trong tù, được Bác Hồ truy tặng Kỷ niệm chương. Ông nội anh là cơ sở nuôi dấu cán bộ của Đảng, được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng bằng Có công với nước. Bố anh có hơn 50 năm cống hiến tài sức cho cách mạng, được Đảng, Nhà nước tặng nhiều huân, huy chương. Anh ruột anh chiến đấu, hy sinh ở Thành Cổ Quảng Trị. Truyền thống cao đẹp của gia đình đã sớm hun đúc trong anh những phẩm chất đáng quý. Từ nhỏ, Lê Tiến Mợi đã thể hiện ý chí phấn đấu và tinh thần ham học. Năm cuối trung học phổ thông, anh đã có thơ đăng trên báo Hà Tĩnh. Sau một thời gian tham gia quân ngũ, anh học qua đại học công an, đại học tổng hợp, Trung tâm bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du và có nhiều năm phục vụ trong ngành công an. Tuy vậy, anh yêu thích văn chương, báo chí và gắn bó với nghiệp cầm bút như một duyên nợ.
Lê Tiến Mợi từng tham gia viết báo và có những tác phẩm đạt chất lượng cao, được in trên báo Đảng và các tờ báo lớn ở trung ương, nhưng anh chủ yếu làm thơ, viết văn.  Đề tài trong thơ Lê Tiến Mợi khá phong phú, trong đó các tác phẩm anh viết về biển đảo tạo được sức hút đối với người đọc. Vốn là người con của vùng biển Cửa Sót, Hà Tĩnh và từng tham gia lực lượng vũ trang, Lê Tiến Mợi mang tình yêu tha thiết đổi với biển đảo và luôn hướng lòng mình về vùng biển thân yêu của Tổ quốc. Cho đến nay, anh đã có 63 bài thơ viết về đề tài này, được tập hợp trong cuốn Trường Sa trong trái tim ta, do nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2013, trong đó có 17 bài được dịch sang tiếng Anh, sáu bài đã được phổ nhạc. Hình ảnh biển cả quê hương hiện lên trong thơ anh thật đẹp. Đứng trước biển, lòng anh ngân lên niềm rung cảm, tự hào với những câu thơ có âm điệu ngọt ngào, tươi tắn:
“Thạch Kim quê em đẹp tuyệt vời
Buồm căng gió lộng giữa biển khơi
Mực tôm đầy khoang thuyền cặp bến
Quê hương giàu đẹp sáng biển trời”
(Chiều khơi)
Về thăm “Đảo Nam Giới cát màu lấp lánh”, nhà thơ đắm say trước vẻ đẹp của thiên nhiện và các sản vật trong cảnh đất nước thanh bình:
“San hô trên đảo màu trắng ngọc ngà
Mọc từ đáy biển nở hoa trên cạn
Trong không gian tĩnh nhuốm màu lãng mạn
Tựa hoa ti gôn – hoài vọng đợi chờ”
(Hoa tigôn trên đảo Nam Giới)
Lê Tiến Mợi yêu biển đảo quê hương với tình yêu tha thiết và sâu lắng. Những năm tháng xa cách, lòng anh không nguôi nỗi nhớ. Anh thầm hẹn ước một ngày sẽ cùng người thương trở về thăm vùng biển quê nhà:
“Đón em về quê mẹ - Biển Thạch Khê
Ngắm quặng sắt trào lên từ đáy biển
Cảng Vũng Áng sáng bừng trong ánh điện
Đoàn tàu về cặp cảng dưới đêm trăng”
(Biển mặn tình em)
Với âm điệu sống động và những từ “trào lên”, “sáng bừng” cùng hình ảnh đêm trăng, khổ thơ vừa như một đoạn clip ngắn đặc tả cảnh sắc kỳ vĩ của biển cả, vừa nói lên tình yêu tha thiết và niềm tự hào của tác giả trước sự đẹp giàu của quê hương, đất nước.
Đứng trước biển, bằng ngòi bút tinh tế của mình, Lê Tiến Mợi đã khắc họa nên bức tranh thiên nhiên lãng mạn và đầy chất thơ, với những đợt sóng nhẹ nhàng, êm đềm như cánh tay dịu dàng đang vuốt ve bờ cát, giữa không gian vừa yên bình, vừa hư ảo, lung linh:
“Sóng vỗ về trên từng triền cát trắng
Chiều hoàng hôn gom nắng giữa biển mơ
Biển thì thầm điều gì trong sóng biếc?
Chia góc nhân tình cho trăng và thơ”               
Trong tâm thức tác giả, biển quê hương thật gần gũi, thân thương nhưng luôn  mang trong mình một vẻ huyền bí sâu xa. Sự huyền bí ấy gắn liền với những biểu tượng về cái đẹp vĩnh cửu của vũ trụ và con người là trăng, thơ và tình yêu, tạo nên một không gian đầy mơ mộng. Nhà thơ cảm thấy lòng rạo rực, băn khoăn:
“Cứ nôn nao như có gì lỗi hẹn…
Sợi tơ trời giăng giữa biển đêm trăng
Dùng dằng mãi…
có gì chưa trọn vẹn…?
Anh và em duyên nợ biển Thiên Cầm”
(Biển Thiên Cầm)
Càng yêu tha thiết vùng biển quê hương, Lê Tiến Mợi càng trải lòng mình với mọi miền đất nước. Anh đã đến với nhiều vùng biển từ Bắc chí Nam, đã đi tàu thủy gần 2000 cây số tới các đảo tiền tiêu của Tổ quốc. Anh hòa mình vào sóng biển Thuận An; bén duyên với vùng cửa biển Phan Rang; tự tình cùng biển Cam Ranh trong đêm trăng thơ mộng; dang vòng tay ôm Nha Trang “biển nắng”; thả hồn về Mũi Né, Ninh Chữ, Vũng Tàu; dõi mắt về ngọn “sóng hồng” Hoàng Sa; xôn xao nỗi nhớ Trường Sa yêu dấu… Một lần đến với vùng biển Đà Nẵng của “khúc ruột miền Trung”, nhà thơ hòa  lòng mình với những người đang bơi lội, vẫy vùng giữa sự vỗ về của sóng biển, và anh ngỡ hàng ngàn mái đầu vừa nhô lên khỏi mặt nước đều đang hướng mắt về một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc với lời thề son sắt thủy chung:
“Cát vẫn trắng trên biển Mỹ Khê
Em bơi trên sóng – sóng vỗ về
Nghìn cái đầu nhô lên mặt nước
Hướng mắt Trường Sa – trọn câu thề”
(Biển Mỹ Khê)
Đó là một một hình ảnh rất đẹp, rất sống động và có ý nghĩa, thể hiện sự tinh tế của tác giả. Phải có một tình yêu sâu nặng đối với biển đảo của Tổ quốc mới viết được câu thơ như vậy.      
Hình như hình ảnh của biển luôn hiện hữu trong tâm tưởng nhà thơ. Với anh, biển đảo của Tổ quốc không chỉ đẹp mà còn giàu có, với nguồn tài nguyên to lớn. Một lần, ngồi trước đại dương mênh mông, Lê Tiến Mợi mãi suy nghĩ về tình yêu, về cuộc sống, nhưng rồi trái tim anh lại hướng nhịp đập về với biển cả. Anh liên tưởng sự đẹp giàu của biển với ánh bình minh rạng ngời của quê hương, đất nước:
“Hai mươi năm một nhịp cầu
Phố xưa xao động một câu thơ tình
Đêm khuya ngắm biển một mình
Lửa hồng dầu khí hay bình minh lên?”
(Tìm trong lãng vắng)
Đến với biển Nha Trang, trong lòng nhà thơ dội lên những câu thơ hào sảng:
“Hỡi biển Nha Trang gió mát
Hãy chở chị Hằng lên
Chiếu ánh sáng trên sóng bạc
Cho tàu thuyền ta như những mũi tên
Đuổi cá kình
Vây cá thu
Làm chủ ngư trường”        
Lê Tiến Mợi không nói “chờ” mà anh gọi biển “chở chị Hằng lên”. Chữ “chở” thể hiện một tinh thần hoàn toàn chủ động. Trước mắt người đọc, hình ảnh vầng trăng vàng đang hiện dần trên đại dương mênh mông, tỏa ánh sáng xuống muôn ngàn ngọn sóng bạc thật đẹp và kỳ vĩ. Giữa không gian thơ mộng ấy, cảnh những đoàn thuyền như những mũi tên vây đuổi các đàn cá, làm chủ ngư trường tạo nên một thước phim thật sống động.
Trước mắt nhà thơ, mùa xuân về trên biển rất chậm nhưng để lại những ấn tượng không thể phai mờ, với những sắc màu lung linh, những âm thanh trong trẻo, hòa nhịp với cuộc sống con người, tạo nên một khung cảnh thật hùng tráng và rực rỡ:
“Ôi! Lạ thật!Mùa xuân về rất chậm
tiếng xuân rơi trên biển ngọc giàn khoan
biển xanh thẳm
những cánh buồm vươn ngang tầm hoài niệm
tôi với biển
biển Vũng Tàu xanh quắc màu ngọc bích
biển với người – người và biển nên thơ”
(Mùa xuân về trước biển)
Cụm từ “tiếng xuân rơi” được tác giả sử dụng thật đắc địa!
Nhân dịp kỷ niệm ngày lễ lớn của đất nước, vinh dự được tham gia phái đoàn từ đất liền ra thăm Trường Sa, nhà thơ Lê Tiến Mợi cảm thấy lòng tràn ngập niềm vui sướng, tự hào. Trên hành trình cùng con tàu rẽ sóng ra khơi, biển đảo của Tổ quốc hiện lên trước mắt anh thật lộng lẫy:
“Quốc khánh thu này rực sắc hoa                                     
Tàu anh rẽ sóng ra Trường Sa
Trên đảo Sinh Tồn hoàng hôn đẹp
Em buông cặp mắt giữa biển hoa”
Hình ảnh con tàu sẽ sóng ra khơi vừa nói lên sự mạnh mẽ, hùng dũng, vừa gợi tả  cảnh đất nước thanh bình và tư thế của những người làm chủ đại dương. Qua ngòi bút tác giả, hoàng hôn trên đảo diễn ra giữa “biển hoa” thật rực rỡ và huyền ảo, làm say đắm lòng người. Có lẽ, bên cạnh sự phản chiếu từ mặt biển bởi ánh đèn pha của con tàu và ánh đèn điện của những người “lính đảo”, sự rực rỡ, huyền diệu ấy còn là thần thái của một đêm “trời sao trên biển, biển nhân sao” như nhà thơ Huy Cận đã diễn tả trong một bài thơ nổi tiếng.
Nhưng, bên cạnh vẻ đẹp hùng vĩ, nên thơ, đảo tiền tiêu luôn phải đối mặt với bão tố, phong ba cùng sự cách chia với đất liền một khoảng không gian xa vời vợi. Đến với biển đảo mới thấy hết sự vất vả, thiếu thốn của những người chiến sỹ đang ngày đêm canh giữ phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc giữa trùng khơi. Vì sự trường tồn và hưng thịnh của đất nước, họ đã hy sinh cả tuổi thanh xuân tươi đẹp của mình. Là người từng ở trong quân ngũ, nhà thơ thấu hiểu sâu sắc sự vất vả, thiếu thốn ấy. Tự đáy lòng, anh dành cho họ niềm yêu thương, cảm phục sâu sắc thông qua sự so sánh tinh tế:
“Tôi ra biển xa đất liền nhớ mẹ
Lính trẻ Trường Sa nhớ cả quê nhà
Nhưng vì chủ quyền thiêng liêng trên biển đảo
Lý tưởng các anh trong sáng ngọc ngà”
(Trường Sa trong trái tim ta)
Đối với mỗi chúng ta, nỗi nhớ mẹ khi xa là nỗi nhớ ray rứt khôn nguôi. Nhưng, trong sự cảm nhận đầy tinh thần nhân văn của nhà thơ, những người lính đảo không chỉ nhớ mẹ mà“nhớ cả quê nhà”. Đó là tình cảm to lớn, đồng thời là sự hy sinh vô giá chỉ có ở những con người sẵn sàng dấn thân cho lý tưởng cao đẹp. Nói lên điều đó, tác giả đã thể hiện sự chia sẻ sâu sắc với nỗi niềm của người chiến sỹ và tôn vinh họ một cách trân quý nhất.
Với tình yêu và nỗi nhớ Trường Sa, mỗi khi ngắm nhìn những hạm đội hải quân của Quân đội Nhân dân Viêt Nam vượt sóng ra khơi, nhà thơ – chiến sỹ Lê Tiến Mợi lại hướng tầm mắt ra đại dương và lòng anh ngân lên những câu thơ  đầy xúc cảm:   
“Đẹp làm sao hình ảnh anh người lính biển
Những chuyến hải trình giữ gìn giới tuyến
Trăng soi đường biển tình tự đêm đêm…”
(Biển đêm đêm tình tự với mình)
Trong tâm tưởng nhà thơ, hình ảnh người lính biển thật gần gũi và cao đẹp, và  chính vì lẽ đó, thiên nhiên cũng thể hiện sự cảm phục và hết lòng hỗ trợ họ, xem họ như người bạn tâm tình. Qua những câu thơ chắt lọc từ đáy lòng, tác giả muốn gửi tới những người con thân yêu của Tổ quốc đang xem “đảo là nhà, biển cả là quê hương” những tình cảm sâu đậm nhất.
Đọc những bài thơ viết về biển của Lê Tiến Mợi, ta cảm nhận rõ những rung động chân thực và sâu sắc của anh. Những rung động đó bắt nguồn từ tình yêu, niềm tự hào về chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên biển đảo và những người chiến sỹ đang ngày đêm canh giữ quyền chủ quyền ấy.
Để chuyển tải nội dung trên đây, tác giả đã sử dụng các biệp pháp so sánh, suy tưởng, nhân cách hóa… khá chủ động, linh hoạt. Ngôn ngữ, hình ảnh trong thơ anh thường sinh động, súc tích và có khả năng biểu đạt cao. Nhiều tác phẩm của anh như là sự kết hợp đẹp đẽ giữa thơ, nhạc, họa và điện ảnh, làm cho câu thơ có sức lay động và lan tỏa. Tuy nhiên, bên cạnh những vần thơ vừa uyển chuyển, bay bổng, vừa có sức mạnh nội sinh, một số câu thơ của anh còn tạo cảm giác chông chênh. Có lẽ, nguồn xúc cảm sôi nổi và dồi dào của tác giả đã tạo nên sự xô đẩy ý thơ cùng ngôn từ chăng?
Thơ Lê Tiến Mợi là sự bộc bạch tư tưởng, tình cảm một cách tự nhiên, mạnh mẽ và có chiều sâu. Đọc những bài thơ viết về biển đảo của Lê Tiến Mợi, ta cảm thấy lòng ấm áp hơn. Gấp tập thơ Trường Sa trong trái tim ta của anh lại, hình ảnh tươi đẹp, hùng vĩ và giàu có của biển Việt Nam cùng những con người đang ngày đêm gìn giữ chủ quyền, khai thác tiềm năng của biển đảo như vẫn đang hiện về trong tâm thức và trước mắt ta.
27/1/2025
Lê Tiến Mợi
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Lục bát thiền trong miền đồng điệu và đồng cảm thi ca

Lục bát thiền trong miền đồng điệu và đồng cảm thi ca Lục bát thiền là nét đặc trưng cơ bản được tác giả Trần Lê Khánh chắt chiu thể hiện ...