Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2026

Bấm xuống thời gian chút ngậm ngùi, lắng đọng

Bấm xuống thời gian
chút ngậm ngùi, lắng đọng

Thoạt nhìn cái tên sách “Bấm chân qua tuổi dại khờ” rất “teen” như vậy, người ta nghĩ ngay đến cái sự dại khờ, nũng nịu, nai nai… sẽ tràn ngập ê hề. Hóa ra không phải thế. Đọc mà thấy nhà thơ “già chát”, với một thủ pháp nhất quán bằng cái giọng thơ đủng đỉnh: Nửa khuya, nệm ấm chăn êm/ thình lình tiếng ếch ngoài đêm lạc loài Như ai gọi ai tìm ai/ biển im thít, chẳng đoái hoài một câu (Đêm Lăng Cô, nghe tiếng ếch kêu trong resort).
Tập thơ như thể hiện thân của một gã đàn ông đứng tuổi, mà cố rón rén, thận trọng bằng những đầu ngón chân bấm xuống mặt thời gian, mỗi bước là mỗi dấu ấn vừa rất dễ thương lại có chút ngậm ngùi, lắng đọng: Xin người hãy vịn vào nhau/ nỗi vui bớt ngắn, niềm đau bớt dài/ Xin người những giấc mơ phai/ bữa nay là thực, ngày mai còn chờ (Vịn).
Hay là thế này: Tím phố bằng lăng nắng/ phượng đỏ gay mặt hồ/ lão niên quên gậy chống/ nói cười như trẻ thơ (Và loa kèn vẫn trắng).
Thì thấy rõ cái góc nhìn, cái tầm nhìn, cái hiếng mắt quan sát tủm tỉm của một ngòi bút tuổi chân phương, mà còn láu lỉnh hóm hỉnh.
101 bài trong tập là 101 “nhân vật” khác nhau, riêng rẽ hoàn cảnh số phận. Điều này khiến tôi – người đọc – không bị nhàm chán, bởi ngay cách lập tứ đã nhiều bất ngờ: Dẫu chẳng hẹn một lời, anh đã đến/ thoảng hơi thu mách bảo: muộn màng rồi/ chiều thiếu phụ một mình anh với nắng/ cỏ thơm về từ ký ức xa xôi (Nho Quan)
“Bấm chân qua tuổi dại khờ” đẹp từ ngoài vào trong, hình thức đẹp mà chữ nghĩa cũng đẹp, dễ gần, sang trọng, dễ đọc. Không cầu kỳ, phô trương, cố làm sang, làm cho thơ rắc rối “lằng nhằng dây điện” bằng những từ ngữ, câu cú lạ mắt, tối nghĩa, mà hầu như đọc câu nào, chữ nào cũng hiểu, cũng biết. Nhưng ý tứ và mỗi bài khi đứng riêng ra lại hàm chứa nhiều nghĩa, nhiều cung bậc cảm xúc, đôi ba cách hiểu, tùy ở tâm trạng người đọc. Đôi khi để lại tâm trạng bâng khuâng, dùng dằng, chẳng rõ là điều gì, đâm ra lưỡng lự:
Đưa tay bắt mây trắng/ nháy mắt chào mặt trời/ vung vinh chém loạn gió/ sụt sùi thương con người(!)
Ú ớ dăm câu hát/ giữa tư bề vắng hoe/ bụng thiên kinh, vạn quyển/ mình đọc rồi ình nghe/
… Bạn gọi xuống ăn sáng/ sực tỉnh hồn bung biêng/ nghe chuông điện thoại reng/ suýt nữa thì bật khóc! (Bấm nút tầng 19)
Đọc và trích thì rất nhiều câu thơ thuộc vào hàng rất hay trong tập này, nhưng như thế chẳng hóa ra đọc hộ mất rồi. Chỉ xin nói cái điều mà mình thấy thú vị nhất, mủm mỉm cười nhất và cũng thật xúc động làm ra một “cao-xuân-sơn” riêng biệt rõ nét. Đó là một biệt tài – vâng, tôi cho là biệt tài ở anh – là cách vận dụng cái kho báu ngôn ngữ dân gian vào trong thơ hiện đại. Những thành ngữ, tục ngữ, phương ngữ, dân ca của nhiều đời người để lại được anh tỉa tót, “đính” vào thơ mình một cách đắc dụng. Anh làm tôi nhớ bà mẹ mình, trong công việc, trong bữa ăn, giấc ngủ, có điều gì muốn truyền cho con cháu, thảy đều “nảy ra” những câu ca, câu hát, câu ca dao rất chuẩn, rất đắc địa.
Những câu thơ rất “có nghề” như thế này, gieo cho người nghe, người đọc nỗi ỡm ờ, nửa tình, nửa nghĩa: Không thành một, chẳng đành hai/ người đông ghẹo nắng, kẻ đoài trêu mưa/ Không là thực, chẳng còn mơ/ người hiu hắt sớm, kẻ ngơ ngác chiều/ Không tơ tóc, chẳng bọt bèo/ người vin cội nghĩa, kẻ neo bến tình/ Không thay dạng, chẳng đổi hình/ cứ gì duyên nợ ba sinh mới là…? (Không thành một, chẳng đành hai)
Thì đấy, toàn thấy những chữ rất xưa: đông – đoài, tơ tóc – bọt bèo, bến tình – cội nghĩa, duyên nợ ba sinh… mà thấm đẫm nhân nghĩa, tình duyên.
Cối xay quẩn, hại què gà/ tháo thừng lộn chão mà ra bão bùng/ mười năm xuống biển lên rừng/ ngỡ từng bén rễ, ngỡ từng xanh cây (Ngẫu cảm).
Kìa là những gà què ăn quẩn cối xay; tháo thừng lộn chão; đến đây thì ở lại đây/ bao giờ bén rễ xanh cây thì về…
Khi anh hát ru con gái:
Chợ đời đảo vận thay câu/ thị trường, thị nở, thị mầu, thị phi/ rối tai tiếng bấc giọng chì/ ba hồi mật ngợt, bốn khi cay đường (Ngủ đi, con gái).
Với cái sự đỏng đảnh của thời gian thì:
Chẳng xé lịch thì ngày mai vẫn đến/ con sáo sang sông, con sáo xổ lồng/ tê tái vậy đủ rồi, cơ nhỡ ạ/ muốn hay không rồi sáo cũng lấy chồng (Chẳng xé lịch thì ngày mai vẫn đến)
Đây là thanh minh cho những trận ghen:
Có cay đắng, có ngọt lành/ cả khi không khói cũng thành lửa ghen
Còn đây là “gừng cay muối mặn”:
Này mặn muối, cay gừng, này ngọt mật/ ơn các con mà ta thật vợ chồng/ lúc tắt lửa sôi cơm muôn nghèo ngặt/ khi lặng nhìn đã cạn nước biển Đông (Chẳng điều gì là không thể, vì em).
Dường như nhà thơ cũng đã có chủ ý như thế, nên bài “Học mấy đời cho hết chữ nông dân” chật ních thành ngữ:
“Quá mù ra mưa”, “hết khôn dồn đến dại”/ “già néo đứt dây”, “giun xéo lắm cũng quằn”/ “tức nước vỡ bờ”, “chó cùng rứt dậu”/ học mấy đời cho hết chữ nông dân?
Ai tí tởn “được voi đòi…” Trưng Nhị/ “tham thì thâm”, “ăn cả tất lẫn giày”/ “biết người, biết ta”, “một vừa hai phải”/ anh và em nồi ấy úp vung này
“Một sự nhịn, chín sự lành” thế thế/ “trèo cao ngã đau”, “được vạ má sưng”/ “xởi lởi trời cho, so đo trời lấy lại”/ hơn thua làm gì, “đời muôn sự của chung” v.v...
Thật ra làm cái việc liệt kê thì cũng chẳng nói lên điều gì hay hơn cho thơ, nhưng tôi nghĩ Cao Xuân Sơn đã sử dụng chất liệu dân dã của ca dao và biết cách “làm điêu” nó đi, và thế là thành thơ. Chẳng phải sao?
Dứt khoát thơ phải là thơ, phải khác ca dao ở cái điểm mà ta gọi là “cấp độ điêu”. Không nói ai hay hơn ai, thơ hay hơn hay ca dao hay hơn, nhưng ta thấy ca dao vốn thật thà, “chuẩn men”, vô chủ ngữ, không có bóng dáng tác giả (nếu có câu nào hay thì nó đã gần với thơ rồi, thành thơ rồi, ví dụ bài “Tát nước đầu đình”. Thơ khác, phải có bàn tay, có bóng dáng người viết, và như thế cái tình, cái tâm, cái nỗi chua cay và nhất là cái “điêu điêu”, có cả bóng dáng Thị Mầu, Súy Vân, Điêu Thuyền… mới tạo ra cái tình, cái tứ, và thành thơ. Các nhà phê bình chê thơ dở thì thử vạch cái điều này ra xem sao!.
10/9/2020
 Hoàng Đình Quang
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tần Hoài Dạ Vũ - Hạt bụi chia đôi

Tần Hoài Dạ Vũ
Hạt bụi chia đôi…

Tần Hoài Dạ Vũ (THDV) là tên tuổi không xa lạ với bạn đọc khắp nơi, nhất là ở các tỉnh phía Nam. Anh sinh ra tại làng quê thanh bình Giao Thủy, Đại Lộc, Quảng Nam. Quê nhà yêu dấu nằm ven sông Thu Bồn đã trở thành một sinh thể đầy nhung nhớ mỗi khi quay về hoặc nói đến trong thơ. THDV có thơ đăng trên các tạp chí nổi tiếng ở miền Nam trước 1975 như Bách khoa, Văn, Văn học, Đối Diện…, đã xuất bản 7 tập thơ, công bố nhiều bộ sách nghiên cứu về văn hóa, văn học dân gian, nghĩa là đã khẳng định chỗ đứng của mình trong văn chương Việt. Anh tạo được con đường nghệ thuật riêng, không lẫn với ai, khắc dấu ấn của mình vào những bài thơ đã ra đời.
Gần đây, trên Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam, số 9 và 10 năm 2019, tôi đã viết một bài, khá dài, giới thiệu thơ THDV. Còn với tập Bài thơ vui tặng cuộc đời tôi, Nxb Hội Nhà văn, vừa phát hành hôm nay?
Tôi đã đọc 100 bài thơ này, nhiều lần. Mỗi lần, nhận ra một sắc diện mới, một giọng nói mới, một mùi hương mới,… Tập thơ tình của một người không còn trẻ nữa. Ừ, tình yêu thì không có tuổi. Đó là thứ nhan sắc không tàn phai theo tháng năm. Đó là mùi hương khuất ẩn đâu đây của một đời người. Đó là chiếc cầu của quá khứ nối liền với hiện tại, bắc qua bảy sắc cầu vồng của bao cung bậc nhớ thương, hờn dỗi, lặng thầm, tiếc rẽ,… Đó cũng là ngọn gió thổi qua hiên đời hiu quạnh mỗi khi bên trời heo may, một chiếc lá cuối thu rụng vàng,… Tình yêu chống lại sự cô đơn. Tình yêu chống lại cái chết, chống lại sự ăn mòn của thời gian. Vấn đề chết – Vấn đề yêu, muôn đời nay, đi liền nhau, gắn bó nhau. Và, nói như Tần Hoài Dạ Vũ, chỉ có thể đây là: cuộc phiêu lưu diệu kỳ của một kiếp người khốn cùng trong niềm tin vĩnh cửu (Hãy cho tôi hôn cuộc đời này!).
Ðã bao nhiêu nãm nay, trái tim THDV vẫn một nhịp đập với tình yêu. Tình yêu khiến cho con tim luôn bồi hồi, không bình yên. Một thế giới riêng tây mở ra và đi về, thẳm sâu, có lúc ngậm ngùi, thương cảm, có lúc chạm đến cõi bờ hạnh phúc, khiến cho ta dễ gửi vào đó một cảm thông, một rung động, một tin yêu: Cảm ơn đời đã thương đầy nỗi nhớ/ Cảm ơn em tiếng chim gọi mùa vàng/ Anh trở về thương lại bước thời gian/ Nghe chuông đổ dưới giấc đời ân sủng (Giấc đời ân sủng)
Bài thơ thứ nhất của tập thơ, mang nhiều ẩn dụ, bài Hãy cho tôi hôn cuộc đời này! Bài thơ không dài, chỉ 8 câu. Mỗi câu có số chữ khác nhau, ngắn nhất: 12 từ, dài nhất: 31 từ. Đó là bài thơ, theo tôi, khắc tạc rõ nhất chân dung thi sĩ, nói rõ nhất những nỗi niềm, những gửi trao, những cầu mong, những tin yêu của tác giả đối với cuộc đời.  Từ đây, thi sĩ “sẽ thắp lên ngọn lửa ấm áp tình người trong trái tim những ai đã từng gục ngã trên mọi bước đường đời gai lửa”, “sẽ đọc lời chúc phúc cho mọi nỗi thống khổ nhân gian” và “cầu mong mọi điều hạnh phúc chan hòa và ơn phước thánh thiện rót xuống từ cuộc đời chẳng bao giờ hết khổ đau, cho em, em thân yêu”.
Bài thơ là một lời cầu nguyện, là ngọn nến hy vọng, là niềm tin vô bờ gửi cho Em-Tình Yêu, cho cuộc đời, cho kiếp người, mà nỗi buồn và số phận cô đơn của người nghệ sĩ tài hoa này mong muốn gửi trao. Vì vậy, xét ở góc độ nhân sinh, đó là một tuyên ngôn nghệ thuật, có ý nghĩa nhân văn…
Có một vời vợi không cùng trong thơ THDV. Thơ tình THDV chủ yếu là những bức tranh nhan sắc, một thứ hồng nhan gần gũi với trần gian. Hơn nửa thế kỷ viết thơ tình, giọng thơ vẫn trẻ, vẫn mới, vẫn hồn nhiên và chân thật với mình. Đằng sau các câu thơ, thấy lấp lánh những xao xuyến của một tâm hồn đa cảm.
Sự giao hòa giữa con người với ngoại cảnh làm nên những bức tranh nhiều màu trong thơ THDV. Chẳng thế mà ta thường bắt gặp hình tượng ánh trăng, bàng bạc chảy qua những dòng thơ, những bến bờ cảm xúc.
Người đọc cũng nhận ra một mùi hương, mùi hương của dòng sống, của đời người, và cụ thể hơn, mùi hương của phố cổ Hội An… Bao nhiêu năm làm cánh chim lữ thứ, lang bạt quê người, vậy mà, với Tần Hoài Dạ Vũ, con phố ngày mới lớn – con phố ký ức, vẫn có “một mùi hương rất đầy – mùi hương ấy chưa tan trong anh mấy mươi năm xa xứ” (Mùi hương phố cũ).
Và nữa, Giao Thủy, cái làng xưa, quê cũ, nơi bao năm thương nhớ của đứa con xa quê, một đêm dưới bóng trăng, trên con – đò – đời – người, đường về diệu vợi, tiếng chuông chùa gióng lên, tịch nhiên: Ta đi biệt dấu quê nhà/ Thấy trăng ngồi dưới gốc đa đợi người…(Đêm, nhớ tiếng chuông chùa làng)
Ở THDV, còn có một phía khác, phía thân phận, phía bóng ngã của thời gian. Nơi không ít bài thơ, ta gặp một THDV trầm tư, khắc khoải về nhân sinh, chạm vào bờ vực của hư không.
Cuộc đời, trong quan niệm của nhà thơ, như cái quán trọ. THDV gọi  đó là Quán đời. Một bài thơ lục bát, chỉ 4 câu, dài ra như đời người, ở đó có bàn ghế, thiếu bạn bè, chỉ một mình, ngẫm ra như hạt bụi chia đôi, đêm thì không chạm đáy, cứ rơi, cứ rơi, rã rời. Rồi nỗi buồn:  Quán con/ buồn tạt ghế dài/ Cà phê thiếu bạn/ một mai/ ngại ngồi/  Ngẫm mình/ hạt bụi chia đôi/ Rơi/  không chạm đáy đêm/ rời/ rã/ đêm.
Trong tập BÀI THƠ VUI TẶNG CUỘC ĐỜI TÔI, ta gặp nhiều câu hỏi tu từ (Rhetorical question – 46 lần), đó là một dạng câu hỏi không nhằm mục đích tìm kiếm câu trả lời, chủ yếu nhấn mạnh nội dung mà người viết muốn gửi gắm. Đây cũng là một nét rất riêng của thơ Tần Hoài Dạ Vũ.
Thơ THDV là sự giãi bày tự nguyện, chân thành của một bản thể. Chiếc cầu thơ ca đã chuyển tải quan niệm về tình yêu, về cuộc đời vừa mang màu sắc hiện sinh vừa đậm cảm thức khắc khoải siêu hình…
Và sáng ngày mai thức dậy, ta vẫn nghe đâu đây, quanh ta, trong những ngõ đời, tiếng lòng thiết tha của người đem “Bài thơ vui tặng cuộc đời tôi”. Con người đó, nhà thơ đó, muốn đem bài thơ vui tặng cho chính lòng mình, lại có tiếng thơ buồn, tiếng gọi nhân sinh, tặng cho cuộc đời này. Nên ta ngỡ như sẽ cứ gặp Tần Hoài Dạ Vũ quanh đây, bên cạnh ngày tháng của ta, trong lòng ta, những nỗi đời day dứt.
Sách khổ 12 X 18 cm. Dày 208 trang. 16 trang 4 màu. Bìa cứng (carton). Tranh bìa: Nụ hôn chim của Họa sĩ Rừng. Ký họa chân dung tác giả: Họa sĩ CHÓE; Tranh thủy mặc: Th.S. Huỳnh Dõng; Thư pháp: Hồ Công Khanh, Tràm Hoa Vàng. Tranh phụ bản của các họa sĩ: Đinh Cường, Đỗ Duy Tuấn, Nguyễn Duy Ninh, Trần Trung Sáng, Nguyên Hạo, Lê Duy Đoàn, Trương Bách Tường, Nguyễn Đình Thuần.
Giá bìa: 150.000 đồng (giá bán thực tế 100.000 đồng).
VÀ CON SỐ KỶ LỤC:
Tính đến  ngày 20.8.2020, ngày thứ 6 phát hành tập thơ Bài thơ vui tặng cuộc đời tôi, tác giả đã nhận được số tiền mua sách (tiền mặt) là 63.776.300 đồng, quy ra sách là 637 cuốn; cộng với 117 cuốn được đặt mua theo dịch vụ COD (bưu điện thu tiền hộ), là 11.700.000 đồng, thì số tiền bán tập thơ Bài thơ vui tặng cuộc đời tôi đã đạt 75.476.300 đồng VN; quy theo giá bán 100.000 đ/1c thì đã có 754 cuốn sách được bán,  sau 6 ngày phát hành.
Đây quả là một kỷ lục về doanh thu trong việc phát hành sách. Chỉ trong vòng 6 ngày, một tập thơ đã đạt doanh số khó tin là 75.476.300 đồng, trong thời buổi ít người chịu đọc sách; nhất là  thơ.
11/9/2020
 Huỳnh Văn Hoa
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Gập ghềnh khúc đau" và nỗi ưu tư trần thế trong thơ Trương Tuyết Mai

"Gập ghềnh khúc đau" và nỗi ưu
tư trần thế trong thơ Trương Tuyết Mai

Thơ là thế giới tâm cảm của thi nhân trước cuộc đời, ở đó nhà thơ sẽ giải bày những suy tư, trăn trở của mình về cõi nhân sinh. Thơ Trương Tuyết Mai cũng không nằm ngoài tâm thức này. Đọc Gập ghềnh khúc đau* của Trương Tuyết Mai, đúng như tên gọi tập thơ, người đọc sẽ cảm nhận không chỉ nỗi đau mà còn cả những chông chênh trong tâm hồn và cuộc đời của thi nhân trước những “bão giông” trần thế…
1. Không biết tự bao giờ, bài ca dao “Ví dầu cầu ván đóng đinh / Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi” đã hằn sâu trong tâm thức tôi như một sự ám ảnh của vô thức và tâm linh. Bài ca dao không đơn thuần gợi hình ảnh những chiếc cầu quê đơn sơ, mộc mạc đã tồn tại ở làng xã Việt Nam hàng ngàn năm như một chứng từ văn hóa của một đất nước có nền văn minh nông nghiệp lâu đời mà còn là sự dự cảm về những khó khăn, gian khổ, những chênh vênh của phận số mà mỗi con người đã / đang / sẽ trải qua trong cõi nhân sinh đầy bất an này.
Là một nữ thi nhân, lại là một nhạc sĩ, trái tim nữ sĩ Trương Tuyết Mai, nhạy cảm và mỏng manh như chiếc “lá vỡ” (tên bài thơ TTM), cùng với quá trình nghiệm sinh sâu sắc từ những nỗi đau trong cuộc đời, nên dấu ấn về những ưu tư trần thế đong đầy trong thơ Trương Tuyết Mai là tất yếu, mà tập thơ Gập ghềnh khúc đau là một xác chứng, như chị đã tự nhận: “Đau tình ta khóc trong mơ / Đau đời ta hoá lơ ngơ giữa đời.” (Đau). Phải chăng, chính nỗi “đau đời”, “đau tình” là một phẩm tính làm nên hệ giá trị trong hành trình sáng tạo thơ Trương Tuyết Mai, một nhà thơ mà độ sâu lắng của trí tuệ và cảm xúc giàu chất nữ tính là một điểm “son” trong thơ chị.
2. Nguyễn Du, một thiên tài thi ca của dân tộc và nhân loại, người đã viết truyện Kiều bất tử đã từng xác quyết: “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Rồi, cũng chính ông lại xa xót thốt lên một cách đắng cay: “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”, nghe thật não nề!? Và điều mà đại thi hào Nguyễn Du đã xác quyết từ sự trải nghiệm trong hành trình sống và viết của ông về những được / mất, những hạnh phúc/ khổ đau, vinh quang/ cay đắng… của kiếp “hồng nhan đa truân” được minh chứng qua phận số nàng Kiều như linh ứng vào cuộc đời và nghệ thuật của Trương Tuyết Mai, một nữ nhà thơ vô cùng đa cảm nhưng cũng lắm đa đoan. Có hiểu được điều này, ta mới cảm nhận được những góc khuất của cuộc đời mà thi nhân đã trải nghiệm cũng như giải mã được nỗi đau và niềm ưu tư trần thế trong thơ Trương Tuyết Mai mà ở bình diện nào của cuộc sống cũng cho thấy sự cảm nhận tinh tế và sâu sắc. Bởi, với trái tim bỏng cháy của một nghệ sĩ, chị đã nhận ra: “Cuồng si và mê đắm sóng dữ cũng bạc đầu/ Những rung động nhiệm màu lòng càng thêm cháy khát” (Sóng dữ cũng bạc đầu). Và những suy tư mang tính triết luận này đã phần nào cho thấy một phương diện khác trong thơ Trương tuyết Mai, đó chính là những ưu tư trần thế lắng sâu trong tập thơ. Có nhận ra điều này, ta mới mong chạm đến những cung bậc cảm xúc, những niềm khắc khoải, day dứt trong tâm cảm thi nhân như chị đã chia sẻ: Ly đời uống cạn đã lâu/ Vẫn say nghiêng ngửa vẫn sầu đầy vơi… (Ly đời). Bởi, hơn ai hết, là một nghệ sĩ mang trái tim đa cảm và dễ vỡ, hơn nửa cuộc đời sống trên cõi nhân gian, chứng kiến bao biến thiên của xã hội, với những khóc cười nhân thế, chị luôn ý thức rằng: “Đời cầm bút vắt tim hòa nước mắt/ Vẽ nhân tình thế thái đắm say” (Đời cầm bút). Thơ của Trương Tuyết Mai trong Gập ghềnh khúc đau cùng các tập thơ khác như: Một nửa cho anh (VN Tp. HCM 2006); Lá vỡ (VN Tp. HCM, 2008); Nghe trăng (Văn học, 2009); Gọi thầm (Hội Nhà văn, 2013); Mắc cạn ( Hội Nhà văn, 2018), là sự kết tinh những rung cảm, suy tư, trăn trở từ khối óc, trái tim của chị trước thế thái nhân tình. Chỉ cần đọc tựa đề những tập thơ, ta sẽ cảm nhận được một điều gì đó không trọn vẹn, vỡ tan, trắc trở, trái ngang của thân phận lưu đày từ / và một cái tôi lẽ loi, cô độc. Đây, chính là căn nguyên tạo nên nỗi ưu tư trần thế trong thơ chị.
Chứng kiến những trái ngang không thể lý giải được trước bi kịch của đời sống, khi mọi giá trị đang bị đảo lộn trước sức mạnh của đồng tiền, chị đã xa xót thở than hết sức thành thật: “Xoay vận được không khi đồng tiền lên ngôi/ Xé toạc hết mọi nghĩa nhân – ân – tín!. (Đau lắm). Bài thơ có tên khá chân mộc nhưng đã chạm được tầng sâu tâm thức người đọc. “Đau lắm”!?. Đó là nỗi đau không chỉ của riêng thi nhân mà là nỗi đau của những con người có lương tri trước những “đảo điên” của thế sự, khi đồng tiền đã trở thành một thứ độc dược giết chết mọi nghĩa tình. Xưa, tiền nhân cũng đã cảnh báo “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”, và nay liệu có khác gì xưa!? Nỗi ưu tư trần thế trong thơ Trương Tuyết Mai, vì thế, luôn mặn chát chất “đời” và nằm trong dòng chảy của những giá trị nhân bản ở thơ ca dân tộc và nhân loại. Bởi, với ý thức của một nghệ sĩ cầm bút, chị đã tự nguyện dấn thân, sẻ chia với sự bất hạnh của những người nghèo khổ: “Không ai nhờ cũng ôm cũng gánh / Không ai khiến cũng khóc cũng cười / Cả một đời thương vay khóc mướn / Nỗi đoạn trường bèo bọt phận người. (Nghề của tôi). Bài thơ “Nghề của tôi” cũng như bài “Đời cầm bút” là một lời “tuyên thệ” của chị về sự xác quyết tinh thần “dấn thân” (J.P.Sartre) hay “xuống thuyền” (Albert Camus) đối với người nghệ sĩ trước phận số của nhân quần mà chị luôn trăn trở. Không có ý thức “dấn thân” này sẽ không có những nỗi ưu tư trần thế đắng lòng trong thơ Trương Tuyết Mai.
Phàm là nghệ sĩ chân chính, có lương tri, biết sống và viết vì con người, không ai lại không có những trăn trở trước thế thái nhân tình. Bởi vậy, cách đây hàng trăm năm, nhà thơ Tú Xương đã tự thán: “Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn/ Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn/ Ngao ngán tình chung cơn gió thoảng/ Nhạt phèo quang cảnh bóng trăng suông” (Đêm buồn). Có thể nói, nỗi buồn, niềm đau trước sự thế nhiễu nhương là một hằng số văn hóa trong thơ ca chân chính như Trương Tuyết Mai đã tâm niệm: “Nàng đi gom nhặt chuyện đời/ Để nghe bao nỗi khóc cười nhân gian/ Để thấu đời lắm trái ngang/ Để thương hết dạ gian nan phận người” (Gom nhặt). Và những điều trái ngang này được thi nhân minh chứng với bao khắc khoải, ưu lo, với biết bao câu hỏi mà câu trả lời chỉ là những ảo vọng xa mờ: “Bao đời bao kiếp hạt lúa củ khoai/ Bỗng dưng thất nghiệp – hỏi trời tại ai?.(Bỗng dưng), để rồi, cũng như bao người có lương tri, thi nhân đành bất lực nhìn những cảnh trái ngang cứ diễn ra trước mắt mình mà than thở: “Sao mãi tồn tại nhiều bất công, oan trái/ Sao nhiều nỗi đau và nước mắt ngược dòng/ Sao buồn thế? Nỗi niềm ơi – buồn thế!/ Đâu phải điều người nằm xuống hằng mong!” (Chút tâm tư). Song, đâu phải chỉ có người nằm xuống mới mong cuộc sống không còn những bất công mà cả những người còn sống, hàng ngày đang lăn lộn trong cõi nhân sinh vẫn ước mong, nhưng nào có được đâu!? Và ước mơ, khát vọng cứ mãi vẫn là ước mơ và khát vọng treo lửng lơ trên cây thập giá đời…
Trước những điều phi lý, thi nhân cũng có lúc muốn buông bỏ tất cả để “cho lòng thảnh thơi” như chị đã tự thú: “Oằn vai nàng gánh nàng gồng/ Sao không buông bỏ cho lòng thảnh thơi?/ Gánh đời nặng lắm người ơi/ Sâu – dày – ân – nghĩa – khóc – cười – bể dâu”. (Gánh đời nặng lắm) và chị muốn: “Quẳng hết gánh đời cho nhẹ tênh bao nỗi/ Ôm giữ hoài chi những oan trái thế nhân!.” (Bất lực). Nhưng rồi, trách nhiệm của nhà thơ với cuộc đời khiến thi nhân không thể “từ bỏ” những nỗi lo toan trước phận số con người và điều này làm cho nỗi ưu tư trần thế trong thơ Trương Tuyết Mai càng sâu nặng hơn như chị đã ý thức: “Vẫn biết kiếp tằm phải nhả tơ/ Vần thơ gan ruột tươi màu huyết/ Bện dệt buồn vui thẳm phận người”. (Nhà thơ) Có thể nói, thơ viết về thế sự là những bài thơ thể hiện khá phong phú cảm thức ưu tư trần thế trong thơ Trương Tuyết Mai mà người đọc có thể nhận biết qua cách tác giả đặt tên tập thơ là Gập ghềnh khúc đau. Cuộc sống đời thường nếu gặp những “gập ghềnh” cũng làm cho con người chông chênh, chao đảo, vậy mà ở đây là “khúc đau gập ghềnh”, thì tính bi kịch của đời sống đã được đẩy đến tột cùng, tên gọi tập thơ, vì thế đã chất chứa nỗi ưu tư trần thế đầy ám gợi trong tâm thức người đọc như một dấu ấn mỹ cảm khá tinh tế khi sáng tạo hình tượng thơ của thi nhân.
Nhưng nỗi ưu tư trần thế ấy, không chỉ hiện hữu ở những bài thơ thế sự mà còn được soi chiếu từ một góc nhìn khác trong thi giới Trương Tuyết Mai, đó là những niềm khắc khoải trong thơ tình của chị mà theo tôi, cái “hồn cốt” của thơ Trương Tuyết Mai là ở những bài thơ tình, nhất là những bài thơ nói đến nỗi đau trước những mất mát, tan vỡ, bất hạnh trong tình yêu. Những bài thơ này không chỉ đơn thuần là tình yêu mà còn là những vấn đề của thân phận, của thế thái nhân tình. Và từ những trạng thái cảm xúc này, ta sẽ thấy rõ hơn bản thể và nhân vị của một Trương Tuyết Mai nghệ sĩ mà ở đó có sự kết hợp hài hòa, tinh tế giữa con người nhạc sĩ và con người thi ca. Đọc nhiều tập thơ của chị, tôi nghĩ, phải chăng, chính sự hợp hôn nhiệm mầu giữa thi ca và âm nhạc là căn duyên để một người ở vào “tuổi xưa nay hiếm” như chị viết được những câu thơ tình đắm đuối, nồng nàn và đầy khát khao nhưng thấm đẫm vị nhân sinh như: “Hãy nép vào mong manh cho mau thành cát bụi/ Để không còn khát thèm một điểm tựa trần gian.” (Khát). Hãy tin vào tình yêu, bởi, chỉ tình yêu mới đem đến cho con người ý nghĩa của cuộc sống. Tình yêu trong thơ Trương Tuyết Mai, vì thế là một vấn đề của nhân tính, nhân tình, nhân tâm nơi con người nên cũng là một bình diện của nỗi ưu tư trần thế trong thơ, để lại những nghĩ suy về cuộc đời, về thế sự, nơi người tiếp nhận như suy ngẫm của chị: “Người thường chết vì của/ Chim thường chết vì mồi/ Ta vì tình đắm đuối/ Chết một đời chưa thôi.” (Ngẫm).
Quả thật, khi đã yêu và nếu đó là một tình yêu đúng nghĩa, không phải là một thứ tình yêu gian dối thì người ta phải “Chết một đời chưa thôi” chứ không thể “chết một lần rồi thôi” như người ta vẫn nghĩ. Những câu thơ này không chỉ là thơ tình yêu mà còn là cuộc sống, là thân phận, là thế thái nhân tình, là những giá trị nhân văn mà chúng ta cần trân quí, giữ gìn.
Tình yêu là thế. Nó luôn song hành với sự bất tử, sự tận hiến, sự đam mê. Tình yêu chân chính, đúng nghĩa không chịu sự sắp đặt và áp chế của bất cứ quyền lực nào, cho dù đó là quyền lực của Thượng Đế. (Vậy mà có một thời, người ta buộc tình yêu phải có “tính này”, “tính nọ”, biến con người trở thành một thứ robort không tim khi yêu). Vì thế, cùng với sự hiện hữu của con người trong cõi nhân sinh, tình yêu luôn đặt ra cho con người những trăn trở, những ưu lo, những khắc khoải: “Đã biết giếng không sâu mà vẫn thả dây dài/ Sợi dây tôi mắc cạn giữa muôn vàn rỗng không” (Mắc cạn). Cái cảm giác “mắc cạn giữa muôn vàn rỗng không” đó, nhiều khi cũng đẩy con người vào những nỗi đau trong tình yêu và đây cũng là một phương diện của kiếp nhân sinh mà con người phải đối diện, phải gánh chịu. Thơ tình yêu của Trương Tuyết Mai, bên cạnh những khắc khoải, lắng lo, ưu tư còn là những ước mong được góp nhặt hạnh phúc cho dù đó là những hạnh phúc muộn màng từ những mảnh vỡ cũ xưa: “Ta đi mót lại tình xưa/ Gom từng mảnh vỡ dẫu chưa nguyên lành/ Dù trong dù đục cũng đành/ Chút tình gom nhặt cũng thành tơ duyên”. (Chút tình gom nhặt). Và rồi trong những cố gắng “gom nhặt ấy”, có khi chị đã gặp bi kịch và phải trả giá cho những “đam mê”, “khao khát” của mình, để rồi phải sống trong sự thị phi trước tình đời đen bạc. Nỗi nỗi ưu tư trần thế trong thơ Trương Tuyết Mai vì thế, lại thêm vị đắng: “Nàng là kẻ u mê không lối thoát / Nuôi dưỡng hoài nỗi khát khao lầm lạc/ Chấp chới không thôi cuộc tình đen bạc/ Ngậm ngùi trắng tay lầm lũi một mình” (U mê). Và có khi, thi nhân muốn chạy trốn thực tại, tìm vào giấc mơ mong được phút bình yên nhưng tất cả cũng chỉ là ảo vọng: “Trốn thực tại nàng ẩn mình vào ảo/ Đâu ngờ trong mơ cũng lắm bẽ bàng”. (Đâu ngờ). Bởi, dù chị cố gắng đi tìm, kể cả tìm trong mơ thì “Một bờ vai cũng không thể có/ Biết tựa vào đâu/ Tựa vào bóng – bóng giống ta xiêu đổ/ Tựa vào mơ – mơ đã vỡ từ lâu.” (Tựa vào bóng). Tình yêu trong thơ Trương Tuyết Mai, luôn để lại dư vị khổ đau của kiếp nhân sinh là thế!?…
3. Thơ là thế giới tâm cảm của thi nhân trước cuộc đời, ở đó nhà thơ sẽ giải bày những suy tư, trăn trở của mình về cõi nhân sinh. Thơ Trương Tuyết Mai cũng không nằm ngoài tâm thức này. Đọc Gập ghềnh khúc đau của Trương Tuyết Mai, đúng như tên gọi tập thơ, người đọc sẽ cảm nhận không chỉ nỗi đau mà còn cả những chông chênh trong tâm hồn và cuộc đời của thi nhân trước những “bão giông” trần thế. Gập ghềnh khúc đau vì thế, là kết tinh những khắc khoải trong suốt hành trình sống và sáng tạo nghệ thuật của thi nhân. Đây không chỉ là sự tổng kết những suy nghiệm của nhà thơ về cuộc đời, về thế sự, về nhân sinh mà còn là một sự thay đổi thi pháp trong sáng tạo thơ ca của Trương Tuyết Mai, khi chị chọn viết những bài thơ ngắn, một thể thơ không phải dễ làm, nếu người viết không có một sự trải nghiệm cả trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Rất may, ở tập thơ Gập ghềnh khúc đau, ta thấy Trương Tuyết Mai hội đủ những yếu tố này nên cũng gặt hái được một số thành công trong chọn lựa đề tài, thể hiện cảm xúc. Tuy nhiên, thể thơ ngắn đối với chị, có lẽ chỉ là sự thử nghiệm bước đầu, nên không tránh khỏi những giới hạn trong việc lập ý, lập tứ, sử dụng ngôn ngữ và kiến tạo nhạc điệu trong thơ. Nhiều ý thơ chưa có độ chín của tư duy và chiều sâu tâm hồn, còn dễ dãi trong biểu đạt cảm xúc và tư tưởng nên chưa chạm đến chiều sâu mỹ cảm nơi người đọc như: “Cứ thế mỗi ngày chẳng chút đớn đau/ Ta đã âm thầm trượt qua nhau.” (Trượt); Hay “Ôi tình yêu! Tình yêu huyền diệu/ Ta của nhau một thoáng cũng nhiều/ Cũng đủ ấm lòng những chiều quạnh hiu” (Huyền diệu)…
Song, cho dẫu vẫn còn những điều chưa hoàn thiện nhưng Gập ghềnh khúc đau của Trương Tuyết Mai cũng đánh dấu một sự thay đổi đáng quí trong thi pháp của chị. Điều này cho thấy ở chị một khát vọng sáng tạo để đổi mới hành trình nghệ thuật của mình. Đây là một phẩm tính không thể thiếu đối với người nghệ sĩ. Thế nên, Gập ghềnh khúc đau của Trương Tuyết Mai đã để lại trong lòng người đọc những dấu ấn khó mờ phai mà rõ nhất là những khắc khoải của chị về nỗi ưu tư trần thế. Vì vậy, có thể nói, đây là tập thơ mà khi đọc và ngẫm ngợi, chúng ta sẽ tìm thấy những điều có thể sẻ chia với thi nhân trước những ưu lo trong cõi nhân sinh mà chính ta đang từng ngày, từng giờ đối diện với nó dù muốn hay không!?. Tập thơ là những tình cảm chân thành về những nỗi ưu tư trần thế của một hồn thơ trong trẻo, hiền lành như chính thi nhân đã xác tín một cách đáng yêu: “Nàng như viên cuội trắng/ Mãi lăn theo dòng đời/ Dù dòng trong hay đục/ Vẫn là cuội trắng ngời. (Viên cuội trắng)…
Chú thích:
* Gập ghềnh khúc đau, Thơ Trương Tuyết Mai, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2020.
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 18/6/2020
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ai về nước Nam cho tôi về với

"Ai về nước Nam cho tôi về với"

Tiểu thuyết Cống nhân là tác phẩm mới nhất của nhà văn Văn Lê do NXB Văn hóa văn nghệ ấn hành năm 2020. Toàn bộ câu chuyện được xây dựng xung quanh nhân vật trung tâm là Đại sư Tuệ Quang. Người vợ yêu mất sớm, ông xuất gia, hiến trọn cuộc đời cho y thuật. Ở tuổi 55 (1385), giữa khi công cuộc trị bệnh cứu người đang thành tựu, ông bị bắt làm cống nhân, lưu lạc mất cả chục năm, sau được người phi yêu của Minh Thái tổ là Tống Vương phi xin cho hồi hương.
Trên đường trở về cố quốc, qua thôn Hoàng Mai thuộc đất Giang Nam, gặp lúc dịch sởi hoành hành ông đã cứu chữa cho mọi người và mất ở đấy vì cảm hàn. Ở quê hương, con gái ông là Nguyễn Thị Duyên tiếp tục nghề thuốc của cha. Cô gặp và yêu La Phúc. Mối tình của họ cập bến tới nơi thì Nguyễn Thị Duyên bị bắt đưa đi. Minh triều chẳng buông tha ai. “Bị bắt làm cống nhân có nghĩa là cô sẽ không bao giờ được gặp anh nữa, không bao giờ cô được về lại chùa Cẩm và đất Thượng Hồng, quê hương của cô nữa” (Tr.305). Để có thể nhào nặn, biến một việc (ở đây là sự kiện cống nạp tăng nhân cho nhà Minh) mấy trăm năm trước vào lúc nhà Trần suy vi trở thành tác phẩm văn học thời hiện đại, quả thật chẳng dễ dàng chút nào. Thật may Văn Lê có kiến văn rộng và sâu sắc về lịch sử và xã hội. Đọc Cống nhân, có lúc thậm chí có người nghĩ có khi Văn Lê còn là thầy thuốc bởi sự am tường của ông về nam dược, về các bài thuốc.
Là người đầu tiên của văn đàn khai phá sự kiện cống nhân dưới hình thức văn học, đã nhập hồn vào cuốn sách. Chỉ vài nét chấm phá, Văn Lê đã đặc tả gần như trọn vẹn tính cách nhân vật của mình. Đó là bọn hoạn nô Nguyễn Tông Đạo, bị bắt làm cống nhân trước Hoàng giáp Đại sư chừng 5 năm, ra luồn vào cúi được Minh Thái tổ cất nhắc làm Phó Trưởng ấn Thái giám “là một người tầm thước, béo tốt, đi đứng ục ịch, ngón tay ngắn mũm mĩm, mặt vênh lên nhưng không phải do bệnh tật” (Tr.247); đó là bọn Nhâm Hanh Thái sứ bộ với cặp mắt “sụp xuống, gần như không mở to được. Nó như hai nét gạch ngang nhỏ xíu dưới chân mày” (Tr.268). Lột tả tính cách nhân vật bằng lối ngoạc ra vài nét dị hình, chẳng cần nhiều lời thì người đọc cũng nhận ra nhà văn đang nói về hạng nào. Người xưa có câu “nhìn mặt bắt hình dong”, chính là liệu pháp này.
Nhưng rốt lại thì thông điệp của Cống nhân là gì? Chúng ta đều biết lịch sử ghi nhận sự kiện năm 1385, Danh y Tuệ Tĩnh ở Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là tỉnh Hải Dương) bị đưa đi cống cho nhà Minh. Lúc này ông 55 tuổi. Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư. Ông mất tại Giang Nam. Cho tới ngày nay, trên mộ phần của ông vẫn còn dòng chữ “Ai về nước Nam cho tôi về với”. Năm 1690 tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đi sứ đã sao chép bia mộ và khắc bia đá mang về quê hương. Tác phẩm Cống nhân của Văn Lê căn bản bám theo các sự kiện gắn với cuộc đời Danh y Tuệ Tĩnh. Tôn trọng tính khách quan là một trong những ưu tiên của Văn Lê, nhưng ông không dừng ở đấy. Dưới hình thức tiểu thuyết văn học, nhà văn đã mở rộng biên độ biểu đạt, đưa ra một lối nhìn về con người. Thông qua suy nghĩ, hành vi của các nhân vật: Hoàng giáp Đại sư sứ Tuệ Quang, con gái Nguyễn Thị Duyên, nữ y tá Cốc Hạ, Thiền sư Quảng Nguyên, bản chất người Việt vụt chói lòa: Bất luận trong hoàn cảnh nào, làm việc luôn cháy hết mình cho dù thậm chí phải trả giá bằng sinh mệnh. Trong Cống nhân, Đại sư Tuệ Quang là một cốt cách như vậy. Ông đã đem tài năng kiệt xuất cứu chữa cho người, trong đó có Tống Vương phi của Minh Thái tổ, giành giật họ ra khỏi thần chết. Cảm kích trước tài đức của ông, Tống Vương phi đã xin cho Đại sư được hồi hương. Lẽ ra ông đã có thể về đến cố quốc, nhưng trên đường thiên lý, dịch sởi ở Hoàng Mai thôn thuộc đất Giang Nam đã níu lại. Họ cầu cứu ông. Y đức không cho ông bỏ mặc người bệnh. Dịch sởi bị dẹp tan, nhưng ông đã nằm lại đấy, mãi mãi!
Tình yêu quê hương của người Việt đã có lúc phải trả bằng máu nên thiêng liêng vô cùng. Có khi, như trường hợp nữ y tá Cốc Hạ, thì cái tên của cô thôi đã hàm chứa cả quê hương. Cha Cốc Hạ là cống nhân từ thời Nguyên, đã lấy tên làng quê của ông thuộc đất Trường Yên bên An Nam đặt làm tên cho con gái. “Hóa ra thân phận cống nhân là như thế. Từ đời cha đến đời con, không bao giờ về được cố quốc của mình nữa. Nếu có điều gì còn giữ lại được thì chỉ là cái tên của quê hương mà thôi” (Tr.173). Di nguyện tạc bia “Ai về nước Nam cho tôi về với” của Tuệ Tĩnh Thiền sư trong dòng lịch sử, và di nguyện tương tự của nhân vật Đại sư sứ Tuệ Quang trong tiểu thuyết “Nếu có ai về Đại Việt, cho tôi theo về với” lay động tâm can người đọc. Chết, dù chỉ còn là nắm xương, vẫn muốn về cố hương, không phải gửi thân đất khách. Phần kết của Cống nhân Văn Lê cho nhân vật Nguyễn Thị Duyên sau khi đốt nhang cho cha đã không về lại quán trạm mà lao ra giữa dòng Trường Giang, vẫy vùng như thể đã tìm lại được tuổi thơ trong sáng của mình. Ngư nữ có qua được Trường Giang hay phải bỏ mình trôi ra biển, để sóng và gió bấc đưa về cố hương, chẳng ai nói chắc được. Với Đại sư Tuệ Quang, thiết nghĩ thông điệp của Cống nhân đã rõ ràng. “Cứ để nguyên hài cốt ông nằm đó cho người muôn đời sau nhìn thấy mà chiêm nghiệm. Người Đại Việt hậu thế đi qua đây sẽ tìm thấy trên tấm bia lời nhắn gửi của Đại sư về thân phận của người dân bị mất nước, bị lệ thuộc. Qua tấm bia, người Hoa Hạ cũng hiểu được sức mạnh tiềm ẩn và tình yêu quê hương cháy bỏng đến tận cùng của người Đại Việt” (Tr.334).
Trong văn nghiệp của mình, chỉ riêng hai cuốn tiểu thuyết Cống nhân và trước đó là Thần thuyết của người Chim, Văn Lê đã để lại cho người đọc một cảm nhận đầy đủ hơn về người Việt và về nước Việt yêu dấu…
13/9/2020
Cao Chiến
Nguồn: Văn Nghệ số 37/2020
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thơ 1-2-3 sáng tạo trên những đổi mới nhịp sống hiện đại

Thơ 1-2-3 sáng tạo trên những
đổi mới nhịp sống hiện đại

Khi vào trang thơ 1-2-3 của Văn Học Sài Gòn, tôi tạm rời xa những bộn bề của cuộc sống thường nhật để chia sẻ cùng tất cả các nhà thơ, những tâm hồn đa cảm, đã gửi gắm cảm xúc được suy tư chắt lọc qua từng câu thơ cấu thành những thông điệp quyến rũ cho đời sống tinh thần. Giữa vô vàn lo âu cơm áo gạo tiền, sức khỏe, dịch bệnh thì đó là điều đáng quý xiết bao…
Mỗi con người là mỗi cuộc đời khác nhau, và dĩ nhiên tâm hồn, trạng thái, va vấp, khoảnh khắc chúng ta gặp trong đời đều khác nhau. Có những nỗi khắc khoải, ưu tư mà chúng ta không thể tiện nói ra với người thân hay bạn bè. Những điều thầm kín ấy thật sự khó khăn, khủng khiếp với hệ thần kinh của con người. Cho nên, tất cả chúng ta đều cần giải tỏa tâm lý, vượt qua chính những trúc trắc trên con đường tìm chân lý sống cho chính mình. Một số người tìm đến những bác sỹ lành nghề, cũng như có người tìm đến với văn chương, thơ ca để nhằm xoa dịu những cơn đau, sang chấn tinh thần, tìm ra những phương châm sống, động lực để đi tiếp…
Cuộc sống văn minh hiện đại cho chúng ta nhiều lợi ích tiện nghi, nhưng cũng làm cho con người trở nên cô đơn hơn, lẻ loi hơn. Đời sống tinh thần gần như bị thu hẹp lại với những tin tức tiêu cực hoang mang, bạo lực gia đình, cái xấu như bao trùm những điều tốt đẹp. Mạng xã hội chi phối đời sống. Điều này ít nhiều làm ưu tư những người làm việc trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng. Đặc biệt là các nhà văn, nhà thơ khao khát đổi mới sáng tạo để làm nên những giá trị gần gũi, tạo một sân chơi, giao lưu cho tất cả chúng ta có thể tự viết nên những tác phẩm của riêng mình.
Trong thời gian theo dõi trang Văn Học Sài Gòn, tôi được biết đến thể thơ 1-2-3 do anh Phan Hoàng khai mở. Anh là người có thâm niên hoạt động văn học nghệ thuật, được học tập, nghiên cứu, đào tạo một cách chuyên sâu, hiểu biết về thi pháp, đổi mới liên tục trong sáng tác, mang phong cách riêng, ngôn ngữ riêng được kinh qua học thuật nhiều năm liền. Nhà thơ Phan Hoàng đã đề ra thể thơ 1- 2- 3 rất rõ ràng, khúc chiết, có một niêm luật vừa chặt chẽ vừa tự do, bố cục hài hòa, là mảnh đất màu mỡ cho các cây bút thỏa sức trải nghiệm.
Xin trích dẫn về thể thơ 1- 2-3:
“Thơ 1-2-3 mỗi bài thơ là chỉnh thể độc lập gồm 3 đoạn, 6 câu.
Đoạn 1 chỉ có 1 câu gồm tối đa 11 chữ hoặc ít hơn, đồng thời cũng là tên bài thơ, nhằm tránh trùng lắp tên những bài thơ đã xuất hiện.
Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 chữ hoặc ít hơn. Còn đoạn 3 có 3 câu, với mỗi câu tối đa 13 chữ hoặc ít hơn. Chữ càng tinh lọc càng đa nghĩa càng giá trị.
Đề tài thơ 1-2-3 hoàn toàn tự do, nội dung chủ yếu đi từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội tâm của tác giả muốn biểu hiện.”
Tôi nhớ có một câu văn nổi tiếng của nhà văn Nam Cao, đại ý: Phải khơi những gì chưa ai khơi, phải viết những gì chưa ai viết. Nhà thơ là những nghệ sĩ sáng tạo. Việc tìm kiếm những con đường sáng tạo, đổi mới cách viết, cách tân thể thơ để làm nên những sản phẩm chất lượng phục vụ cộng đồng, phải chăng là điều rất nên làm.
Tôi khoác lên người tôi chiếc áo bà ba mười ba  
Đường kim giun bò dưới ảng nước ngoằn ngèo cộng rau muống
Múi chỉ nổi vồng khoai lang lãng mạn kết tủa đam mê
Băng qua cánh đồng cò trắng chấm lửng bầu trời xanh mười tám
Giọt nước mắt chia ly nhuộm chiếc khăn thêu trái tim đỏ thắm
Tôi lần lượt bóc vỏ củ hành thời gian từng lớp cay xè
(Bình Địa Mộc)
Trên sàn diễn cuộc đời, vai nào rồi cũng hết
xấu tốt, thiện ác, phật ma, đại ngã vô ngã
tùy vào sự chọn lựa của mình
trang phục, phấn son rồi sẽ nhàu nhĩ và tì vết
tham lam, ích kỷ – nghiệp đen đẩy luân hồi biền biệt
sống thật với đời, sống trọn với mình cho nhân cách thăng hoa
(Trần Huy Minh Phương)
Đi qua một thời gian, Văn Học Sài Gòn đã có được những thành quả nhất định, số lượng chùm thơ 1-2-3, gửi về khá nhiều, với những cây bút có triển vọng trên cả nước, và cộng đồng người yêu thơ. Dù giữa thời gian dịch Covid-19 khó khăn, nhưng Văn Học Sài Gòn vẫn đều đặn trao tặng thưởng hàng tháng cho những tác phẩm giá trị. Điều này chứng tỏ sự tâm huyết, cố gắng hết mình của những người làm văn học, mà chủ trương là nhà thơ Phan Hoàng.
Đọc những bài thơ 1-2-3 làm cho tâm hồn trở nên nhẹ nhàng, phải chăng đó là liệu pháp tâm lý mà thơ ca mang lại cho chúng ta rất nhiều giá trị…
Ước đời là một trang cổ tích
Ước phố xanh tươi, không bụi phủ quây mờ
Không ngày nắng chói chang, không ngày mưa bão dội
Con đường mỗi ngày em đi, không mịt mù bụi khói
Người qua người không hững hờ bước vội
Đời đủ nhơn từ và chia sẻ, yêu thương.
(Phạm Tuyết Hạnh)
Vì em là người đàn bà yêu trước
Không có dỗ dành, không có đón đưa
Không nhiều tin nhắn, không lời mật ngọt
Anh dửng dưng như kẻ ban ơn
Khoanh tay đứng như tượng đài im lặng
Người đàn bà yêu đắng lòng trước phép lịch sự tình anh
(Vũ Lam Hiền)
Hiện tượng chỉ là hiện tượng
Nhưng hiện tượng lặp lại nhiều lần trở thành bản chất
bản chất hòa trong máu thịt
Bản chất khó có thể đổi thay
khi lòng ta bao dung độ lượng
cái xấu sẽ lu mờ bên cái tốt nở hoa.
(Phạm Thị Hồng Thu)
Đồng lương eo sèo, mẹ giàu nỗi lo
Mẹ bán thanh xuân, mua từng sợi bạc trên mái tóc
Vết chân chim cười duyên nơi khoé mắt, tiếng lòng vô ngôn
Mẹ cho con trơn trắng lụa là, tiểu thư mầm đá
Mẹ cầm tay ngọn gió thổi lửa sau hè con thơ đủ bữa
Đêm khuya, tiếng bụng mẹ biểu tình sôi ùng ục… con nhỡ giấc!
(Đặng Tường Vy)
Khi vào trang thơ 1-2-3 của Văn Học Sài Gòn, tôi tạm rời xa những bộn bề của cuộc sống thường nhật để chia sẻ cùng tất cả các nhà thơ, những tâm hồn đa cảm, đã gửi gắm cảm xúc được suy tư chắt lọc qua từng câu thơ cấu thành những thông điệp quyến rũ cho đời sống tinh thần. Giữa vô vàn lo âu cơm áo gạo tiền, sức khỏe, dịch bệnh thì đó là điều đáng quý xiết bao. Xin cảm ơn sân thơ 1-2-3, một nơi mà tâm hồn con người thanh thản khi được trải lòng, sống đẹp, mạnh mẽ vươn lên trong rộn ràng nhịp đập con tim, cứu rỗi chính mình.
13/9/2020
Hồ Xuân Đà
Theo https://vanhocsaigon.com/

Văn Lê - Trái tim nóng của "Mùa hè giá buốt"

Văn Lê - Trái tim nóng của
"Mùa hè giá buốt"!

Là một người trực tiếp tham gia Chiến dịch Mậu Thân – 1968, lại từng có cơ hội tiếp xúc với nhiều tư liệu lịch sử thuộc dạng “tuyệt mật” và gần gũi với những nhân vật, những tướng lĩnh trong cuộc nên Văn Lê có nhiều thuận lợi trong việc tái hiện sự kiện hùng tráng và bi thương này. Ông đã dành nhiều trang viết cả văn học và điện ảnh cho sự kiện Mậu Thân – 1968 với một trái tim ấm nóng của một nhà văn, một nghệ sĩ.
Như nhiều người cầm bút khác, Văn Lê khởi đầu làm thơ, và mới ở tuổi 26, ông đã đoạt Giải A cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ (cuộc thi Thơ năm 1974-75), bắt đầu khẳng định tên tuổi mình trên thi đàn. Sau đó, ông được trao Giải B cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1982, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994 về đề tài chiến tranh cách mạng… Nhưng có lẽ nhắc đến Văn Lê phải nhắc đến bộ ba tiểu thuyết một thời gây xôn xao văn giới: Nếu anh còn được sống, Cao hơn bầu trời và Mùa hè giá buốt, trong đó Mùa hè giá buốt (xuất bản năm 2008) đoạt Giải B (không có Giải A) – giải thưởng Văn học Nghệ thuật 5 năm Bộ Quốc phòng (2004-2009) và Giải A Giải thưởng Văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh 5 năm (2006-2011), đó cũng là lần trao giải thưởng 5 năm đầu tiên của Thành phố.
Là một người trực tiếp tham gia Chiến dịch Mậu Thân – 1968, lại từng có cơ hội tiếp xúc với nhiều tư liệu lịch sử thuộc dạng “tuyệt mật” và gần gũi với những nhân vật, những tướng lĩnh trong cuộc nên Văn Lê có nhiều thuận lợi trong việc tái hiện sự kiện Mậu Thân 1968. Nhà văn có lần tâm sự: Chiến dịch này đã ám ảnh hầu hết những người trong cuộc còn sống sót; đồng thời cũng là nỗi bức xúc của nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp về sự thành bại của nó. Tôi viết về Mậu Thân- 1968 để mọi người chiêm nghiệm, suy ngẫm thêm về cuộc chiến. Bấy giờ bộ đội ta từ trên rừng xuống đồng bằng và đánh vào thành phố với tâm trạng vô cùng hưng phấn, giống như sắp vào trận đánh cuối cùng. Cấp trên dường như cũng có ý định chấm dứt chiến tranh bằng chiến dịch này. Sau đợt 1, quân giải phóng thu được một số thắng lợi, Mĩ đề nghị phía Việt Nam ngồi vào bàn đàm phán. Nhưng có lẽ do ý muốn cấp trên đánh cho địch “lấm lưng” nên đã tiến công đợt 2 nhằm vào ngày 4 tháng 5. Chính đợt 2 này, trước sự phòng bị và phản công quyết liệt của địch, quân ta đã bị tổn thất rất lớn. Chỉ riêng mặt trận Sài Gòn mất gần 55.000 chiến sĩ. Cái giá xương máu phải trả quá lớn!”.
Tiểu thuyết Mùa hè giá buốt kể về số phận của Tiểu đoàn bộ binh 505 trong chiến dịch Mậu Thân và xoáy vào đợt hai của cuộc chiến đấu. Hơn chín phần mười quân số của tiểu đoàn đã hi sinh. Toàn thể cán bộ Ban chỉ huy tiểu đoàn không một ai sống sót (tr551). Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sỹ Việt, vốn là một sinh viên Sài Gòn, một cán bộ kiên gan đầy triển vọng cũng hi sinh, mang theo một mối tình lãng mạn, đẹp như một bài thơ! Tiểu thuyết đã dựng lại những trận chiến dữ dội, bằng lối miêu tả trực diện làm toát lên cái khốc liệt của cuộc chiến đấu với những mất mát hi sinh ghê gớm.
Đọc Mùa hè giá buốt, người đọc thường gặp những câu chuyện, những chi tiết, gây cảm giác mạnh và đầy yếu tố bất ngờ cuốn hút, qua đó, người đọc thấy được trái tim rộng lớn bao la và ấm nóng của một người cầm bút. Như chuyện của anh lính Quách Trung Đoan: Sau trận đánh, khi được giao nhiệm vụ đi thu dọn chiến trường Đoan thường đi sờ ngực áo những người lính Sài Gòn chết làm anh em trong đơn vị dị nghị và có người đòi xem xét kỉ luật anh ta. Chỉ đến khi biết mình sắp hi sinh anh đã thú thật với tiểu đoàn trưởng Việt: “Em đã giấu cấp trên về lí lịch của mình. Nhà em có ba anh em trai. Em ở đây, còn hai em nhỏ đang đi học ở nhà thì bị bắt lính. Thế là anh em bắn nhau. Em buồn lắm. Cứ mỗi lần đụng độ với lính Sài Gòn là em có cảm giác như đang giết em mình. Sau mỗi trận đánh, em thường lật xác đối phương, tìm xem nơi ngực áo có tên em mình không. Trong lòng em không lúc nào hết dằn vặt. Em luôn nghĩ rằng thà mình chết bởi tay các em, còn giết chúng thì em không thể. Chuyện là như vậy. Bây giờ… thì em… mãn nguyện rồi!”. Lại có người lính trẻ sau trận thắng đã giãi bày tâm sự một cách thực lòng với cấp trên qua trang nhật kí: “Em sợ phải nhớ lại những gì xảy ra trong những ngày qua. Em muốn quên hết mọi thứ… Em cũng không muốn một ai được biết những điều có thật đã xảy ra trong mùa hè này.” (tr 513). Chỉ vậy thôi mà cái “mùa hè nọ đã trở nên giá buốt”, trở nên khác thường!
Về đề tài Mậu Thân – 1968, Văn Lê không chỉ có Mùa hè giá buốt ông còn có các tập thơ và trường ca; lại có bộ phim tài liệu Sài Gòn xuân 68 đầy ấn tượng, phản ánh sự đau thương mất mát của chiến sĩ, đồng bào thành phố trong sự kiện bi tráng này. Bộ phim đã gây xúc động mạnh, được trao giải thưởng Galaxy của Nhật Bản và cũng là bộ phim tài liệu mà Văn Lê tâm đắc.
Văn Lê là nhà thơ, nhà văn, đồng thời là nhà biên kịch, viết kịch bản và đạo diễn phim. Ông là tác giả kịch bản phim Long thành cầm giả ca – tác phẩm đoạt giải nhất trong cuộc thi viết về 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội. Long thành cầm giả ca được Đào Bá Sơn đạo diễn và đoạt giải Cánh diều vàng năm 2010, riêng Văn Lê nhận giải “Biên kịch xuất sắc” nhất. Ngoài phim này Văn Lê còn biên kịch nhiều bộ phim khác, như: Thiện và ác, Những ngôi chùa cổ Việt Nam, Từ một bức ảnh, Má Mười Tân Trụ… và là đạo diễn các phim tài liệu: Cái bến, Sợ dây thừng bện chặt, Di chúc những oan hồn…
Nhà văn Văn Lê cũng là một người bạn thân và gần với các nhà văn Quân đội, một cộng tác viên thân thiết và thủy chung của Tạp chí Văn nghệ Quân đội suốt nhiều chục năm nay. Được tin ông đột ngột ra đi, anh em Nhà số 4 rất bất ngờ, ai cũng ngậm ngùi tiếc nhớ!!!.
Thập Tam trại, 7/9/2020
Ngô Vĩnh Bình
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chế Lan Viên đã nghĩ gì khi viết "Điêu tàn"

Chế Lan Viên đã nghĩ gì
khi viết "Điêu tàn"?

Cùng các thi hữu, Chế Lan Viên đã dựng nên Trường thơ loạn với những biểu hiện đầy đủ nhất của một trường phái thơ ca. Chế Lan Viên nói riêng và Trường thơ loạn nói chung thực sự là những ngọn tháp, những đền đài tỏa bóng trên đồng bằng Thơ mới và thơ trữ tình hiện đại Việt Nam.
1. Ta nghĩ gì khi đứng trước Điêu tàn và Chế Lan Viên? Khi cảm nhận một dòng sông Linh quằn quại, những tháp Chàm rêu phong, viên gạch cổ im lìm rụng vào lòng tháp lãng quên một buổi chiều cô tịch, những nghĩa địa lạnh lẽo, những ma Hời “sờ soạng dắt nhau đi” cùng bao nhiêu xương trắng, sọ não, máu huyết,… tôi đã run lên vì kinh sợ bởi trí tưởng tượng của Chế Lan Viên.
Đó là một thế giới kinh dị, thoát thai từ nỗi bi hận khởi sinh trong đau thương hủy diệt. Chiêm quốc, sự hiện hữu và cát bụi hư vô, thành Đồ Bàn và những kí ức hưng thịnh, đổ nát,… là nỗi ngậm ngùi uất ức, là hoài nhớ trong tuyệt vọng. Tất cả đã tái sinh trong Điêu tàn – tập thơ kinh dị “tột cùng” của Chế Lan Viên (xuất bản năm 1937).
Cái tên Phan Ngọc Hoan mới mẻ, thanh tân, thoáng đạt và dịu nhẹ quá, không hợp với thế giới Điêu tàn. Chế Lan Viên – “vườn hoa lan của dòng dõi đế vương”, dường như mới là sự lựa chọn đích đáng nhất. Chế Lan Viên tạo dựng nên Điêu tàn từ “tưởng tượng, hư cấu, siêu hình” (Hồ Thế Hà) hay chính thế giới ấy đã hoài thai nên Chế Lan Viên – “một cái tháp Chàm chắc chắn và lẻ loi, bí mật” (Hoài Thanh – Hoài Chân).
Điêu tàn mở ra một thế giới chưa từng có, đã mất đi hay hiện hình ở cõi khác nhưng quả là kinh dị và lạ lẫm với những gì chúng ta từng trải nghiệm. Cũng từ thế giới ấy, Chế Lan Viên xuất hiện. Không mấy ai còn ý định đi tìm xem Chế Lan Viên tên thật là gì, quê quán gốc gác ở đâu. Tất cả dường như là một sự “mê tín” (R.Barthes).
Người ta biết Chế Lan Viên bởi vì có Điêu tàn cũng như người ta thấy hiện hữu những điều kinh dị, quái đản nhất từ tác phẩm ấy. Điêu tàn kiến tạo nên Chiêm quốc tiêu vong, đổ nát, nơi có những u hồn réo gào khóc thương dĩ vãng, vất vưởng, quờ quạng đi trong bóng thành quách hoang vu, đầy xương lạnh và máu huyết. Cũng chính từ Điêu tàn mà chúng ta có Chế Lan Viên.
Quảng Trị, một vùng đất nghèo cằn cỗi, chỉ giàu nắng gió và cát bỏng lại có một huyện mang cái tên thật dịu ngọt: Cam Lộ. Phải chăng con người nơi đây đã gửi gắm tất cả ước mơ về cuộc sống đỡ cơ cực hơn qua tên đất, tên làng của mình? Phan Ngọc Hoan – Chế Lan Viên sinh ra tại mảnh đất ấy, năm 1920.
Suối nguồn của niềm mong ước ngọt lành đã len thấm vào tâm hồn Phan Ngọc Hoan, tưới tẩm cho hạt giống mộng mơ để một mai nảy nở trên điêu tàn. Rời Cam Lộ theo cha (cụ Phan Ngọc Trân) vào Bình Định sinh sống, thể xác và linh hồn Phan Ngọc Hoan tiếp tục được nuôi dưỡng bằng tất cả tiềm năng/ dị năng của xứ sở, hoài sinh nên một cốt cách thi ca “phi thường”, xứng đáng là một trong tứ trụ của Trường thơ loạn, được xếp vào “Bàn Thành tứ hữu” của thi ca Bình Định.
Nổi tiếng thông minh từ bé, trải qua trường Tiểu học Pháp Việt Bình Định, trường Trung học phổ thông Quy Nhơn, Cao đẳng Tiểu học, khi cộng tác cùng các báo Tin văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Trong khuê phòng, Ngày nay, Người mới,… Chế Lan Viên càng tỏ rõ tinh anh của mình. Tất cả dồn tụ lại và biểu hiện trong thi ca ngay từ những năm tháng còn rất trẻ.
Sự kiện đáng chú ý nhất không chỉ đối với Chế Lan Viên mà với cả nền Thơ mới Việt Nam là sự ra đời như “một niềm kinh dị” của tập Điêu tàn năm 1937. Người ta bắt đầu biết đến chàng thi sĩ trẻ tuổi của thành Đồ Bàn, tên tuổi chàng bay thấu trong Nam ngoài Bắc. Cũng từ đấy, khi đã định hình phong cách thơ kinh dị của mình, Chế Lan Viên cùng Hàn Mặc Tử đã lập nên Trường thơ loạn mà khí hậu bao trùm là điên – loạn (sau đó kéo thêm Bích Khê, Hoàng Diệp, Yến Lan, Quỳnh Dao).
Ở đó, Điêu tàn, hủy diệt là cội nguồn của loạn; Đau thương là huyết mạch của Thơ điên (Hàn Mặc Tử); “vẻ đẹp khiêu dâm”, ái tình là căn nguyên của cuồng (Bích Khê – Tinh huyết, Tinh hoa); sắc thái thê lương thoi thóp là hình bóng của lụi tàn (Hoàng Diệp – Xác thu)…
Những nguồn thi cảm nảy sinh nơi đỉnh ngọn thương đau, khắc khoải trên đổ nát tiêu vong định hình những cá tính thơ dị biệt, làm nên sắc thái không nhòa lẫn trong đời sống thi ca Việt Nam thuở ấy. Hoài Thanh – Hoài Chân đã thật tế nhị và kín đáo khi nhận xét về Chế Lan Viên rằng: “Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỉ hai mươi, nó đứng sững như một cái tháp Chàm chắc chắn, lẻ loi và bí mật”.
Hẳn hai tác giả của Thi nhân Việt Nam đã dựa trên một đặc trưng trong kiến trúc của các Kalan Chăm là xây dựng trên các ngọn đồi cao với xu hướng vươn lên chiếm lĩnh không gian,… Một sự so sánh thật có ý nghĩa khi nghĩ về Chế Lan Viên và sự nghiệp thi ca cũng như những đóng góp to lớn mà tác giả đã để lại cho nền văn học dân tộc.
2. Chế Lan Viên đã nghĩ gì khi viết Điêu tàn? Hay nói cách khác, Điêu tàncho thấy tư tưởng thẩm mĩ, nghệ thuật của Chế Lan Viên thuở ấy ra sao? Phải thấy một điều rằng, tầm vóc tư tưởng quyết định tầm vóc nghệ thuật của nhà văn. Tư tưởng nghệ thuật hiểu một cách giản dị là sự biểu hiện tập trung, sâu sắc, thống nhất những kết tinh của tư duy và mĩ cảm, thái độ và cảm xúc thông qua hệ thống kí hiệu thẩm mĩ.
Với Chế Lan Viên, những tuyên ngôn hết sức quyết liệt về thi sĩ, thơ ca và công việc sáng tạo là một cách thể hiện quan niệm của ông về thế giới, con người và hình thức của nghệ thuật. Khi Hàn Mặc Tử nói rằng thi sĩ là loài thứ ba, “Loài này là những bông hoa rất quý và rất hiếm sinh ra ở đời với một sứ mạng rất thiêng liêng: phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi quyền phép của Người và trút vào hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê nhưng rất thơm tho rất tinh sạch”, thì Chế Lan Viên cho rằng không thể so sánh thi nhân với người thường được: “Thi sĩ không phải là người.
Nó là người Mơ, người Say, người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xối trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương lai. Người ta không thể hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lí” (Tựa Điêu tàn).
Thi sĩ không phải là người thường, vì thế “làm thơ là làm sự phi thường”, hướng tới những cái “tột cùng” có thể khác xa với cuộc đời mà người thường thị kiến. Nhưng như chính thi sĩ đã lên tiếng, đó là những cái vô nghĩa hợp lí bởi “cái gì nó nói đều có cả”.
Một điều cần phải nhận thức ở đây, đó là sự khác biệt của tuyên ngôn nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật. Quan niệm nghệ thuật thuộc về ý niệm (cái bên trong, diễn ra trong tư tưởng – “hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật”), tuyên ngôn là cái hiện hình thành lời, thành diễn ngôn về nghệ thuật.
Tuyên ngôn nghệ thuật có thể được biểu đạt bằng nhiều hình thức, nhưng rõ ràng nó chỉ được phát biểu khi đã thực sự chín về mặt quan niệm. Giữa hai khái niệm này có nhiều điểm không thể rạch ròi và trong thực tế quan niệm nghệ thuật là cốt lõi của tuyên ngôn nghệ thuật. Khi xem xét tuyên ngôn nghệ thuật của Chế Lan Viên – như là một chỉ dấu của tư tưởng, chúng ta cần bao quát quan niệm nghệ thuật rất khác thường của tác giả và những tuyên ngôn mang tính chỉ dẫn, không nằm trong tác phẩm nghệ thuật.
Trước hết, tuyên ngôn nghệ thuật của Chế Lan Viên (trước Cách mạng tháng Tám) biểu hiện trong lời tựa tập Điêu tàn như phần đầu đã dẫn. Phần lớn tuyên ngôn mang quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên được biểu hiện thông qua chú ý thẩm mĩ, tình cảm thẩm mĩ, điểm nhìn nghệ thuật, sự tự biểu hiện, hình tượng thế giới, các phương tiện, vật liệu kiến trúc nên thế giới nghệ thuật, sự xử lí các phạm trù hiện thực và chiêm bao – mơ mộng, hiện tồn và siêu hình, trạng thái hưng phế của nhân sinh – thế sự trong tập thơ Điêu tàn.
Ta thấy rằng chú ý thẩm mĩ của thi nhân hướng tới cái kì dị, quái đản, cái ghê sợ khác thường. Đó là mĩ cảm của kẻ trót thác mình làm xác thịt, xương tủy và máu huyết, làm ma Hời trên vùng đổ nát của Chiêm quốc. Như Hàn Mặc Tử nhạy cảm với Đau thương, Bích Khê cuồng loạn vì Đẹp và Dâm, Chế Lan Viên thấy mình bị chinh phục bởi sự kinh rợn của thế giới âm ti, địa ngục.
Những đầu lâu máu chảy, những xương óc rên rỉ, những đáy mồ hoang lạnh, những đền đài lở lói,… đã lay động tinh thần thi nhân, thu hút cái nhìn và tạo thành tình cảm thẩm mĩ, ý thức thẩm mĩ. Sự sáng tạo được phát sinh trên nền tảng của ý thức thẩm mĩ ấy.
Như đã nói, với các nhà thơ thuộc Trường thơ loạn, tâm điểm của địa hạt thẩm mĩ là đau thương, điêu tàn, cái chết, sự hủy diệt. Nhưng, ám ảnh hủy diệt càng lớn, sự khát khao hồi sinh, tái tạo cũng càng lớn. Làm sống dậy một thế giới đã tiêu trầm, hoang phế là một khát khao của thi nhân có thể đã được nhen nhóm từ giọt Cam Lộ thuở nào. Dường như cấu trúc “tam vị nhất thể” của thần Silva đã ánh hiện trong thi giới của Chế Lan Viên, kêu gọi một sự hồi sinh từ trong hủy diệt.
Ta chợt nhận ra lẽ hóa sinh nơi “tột cùng” sự sinh diệt ấy: cùng tắc biến, hợp rồi tan, tồn vong và hưng phế, cái nhất thời và cái vĩnh hằng bất biến,… Nhưng dẫu sao, đằng sau mọi điêu tàn đổ nát, cái đẹp bị tiêu vong vẫn là nỗi ngậm ngùi của kẻ mang niềm hoài cựu.
Chế Lan Viên có lẽ ảnh hưởng nhiều C. Baudelaire và E. Poe ở khía cạnh mĩ học của cái xấu, cái ác, cái ghê rợn. Dẫu không bị nguyền rủa như những tác giả Âu – Mĩ nhưng Chế Lan Viên đã đem đến làng thơ Việt Nam một sự kinh hãi “tột cùng”. “Phi thường”, “tột cùng”, “phi lí đầy ý nghĩa”, và “cái gì nó nói cũng đều có” chính là toàn bộ sự biện luận của thi sĩ về thế giới Điêu tàn. Làm sống dậy thế giới âm ma ấy trong tư tưởng, thần trí của thi nhân khiến mực là máu huyết tuôn chảy, ngọn bút đưa như một ánh gươm và trang thơ là một không gian đầy hoang phế:
“Nền giấy trắng như xương trong
bãi chém
Bỗng run lên kinh hãi dưới tay điên
Tiếng bút đưa rợn mình như
tiếng kiếm
Nạo những thành sọ trắng của
ma thiêng”
(Tiết trinh)
Cái tôi mang tâm trạng loạn mê, cuồng hãi, “trửng giỡn”, tra vấn, réo gào với yêu ma, xương vỡ, máu trào, là một nhân cách có tính đại diện, là hiện thân của một quan niệm dị biệt về chất thơ, về thẩm mĩ mà Chế Lan Viên tìm đến. Như một sự phản ứng với thơ ca lãng mạn có thể đã nhạt dần sức hấp dẫn, thi sĩ lần tìm vào cõi giới của sự hủy diệt, khai thác chiều sâu của u linh và nỗi sợ hãi, hú gào, kêu khóc, rên rỉ cùng cái chết, ôm ấp những bộ xương khô, thủ thỉ cùng ma Hời vất vưởng.
Có lẽ, câu chuyện thi nhân nằm sâu dưới lòng đất để hấp thu linh khí xứ Chàm đặng viết Điêu tàn chỉ là giai thoại, nhưng quả thật, toàn bộ cõi giới ấy dường như được phục dựng từ lòng hoang mộ, từ nghĩa địa lạnh giá, từ những cổ tháp âm u trầm mặc,…
Thi nhân nếu không phải là một người điên, người say, người mơ, không phải là yêu, là tinh, là ma sao có thể cất chung tiếng nói cùng cõi giới ấy. Điều đó ngỡ như giản đơn mà thật quan trọng trong trường hợp này.
3. Điêu tànlà một diễn ngôn về sự hoang loạn. Cái loạn của một cá thể lạc hồn nơi cõi chết, cúi nhìn trong lòng giếng thẳm một ngôi sao rụng, lắng nghe tiếng rên rỉ của yêu ma, chứng kiến cảnh thịt rữa xương tàn nơi đáy mồ,… Trong khả năng đầy hạn chế của chúng ta, Điêu tàn “áp chế” lên sự cảm nhận, kiến tạo nên “tri thức” về sự kì dị, sự quái đản.
Quyền lực của diễn ngôn này rõ ràng mang tính “áp chế” nhưng ngay đầu tác phẩm Chế Lan Viên đã nói “cái gì nó nói cũng có cả”. Vậy thì, biết phải làm sao? Đành mơ tiếp cơn mơ từ đáy huyệt, cho tủy xương thức dậy dưới bóng đền đài hoang loạn.
Thơ trữ tình Việt Nam đến những sáng tác của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử… đã bước sang địa hạt của thơ tượng trưng và siêu thực. Cùng các thi hữu, Chế Lan Viên đã dựng nên Trường thơ loạn với những biểu hiện đầy đủ nhất của một trường phái thơ ca: lời tựa của Điêu tàn là tuyên ngôn thứ nhất; Điêu tàn, Đau thương, Tinh huyết, Tinh hoa, Xác thu là những thực hành nghệ thuật tiêu biểu; Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Yến Lan, Hoàng Diệp là những yếu nhân của trường thơ đó. Chế Lan Viên nói riêng và Trường thơ loạn nói chung thực sự là những ngọn tháp, những đền đài tỏa bóng trên đồng bằng Thơ mới và thơ trữ tình hiện đại Việt Nam.
Tháp Nhạn - Tuy Hòa, Phú Yên, 20/5/2020
Nguyễn Thanh Tâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Bấm xuống thời gian chút ngậm ngùi, lắng đọng

Bấm xuống thời gian chút ngậm ngùi, lắng đọng Thoạt nhìn cái tên sách  “Bấm chân qua tuổi dại khờ”  rất “teen” như vậy, người ta nghĩ ngay...