VĂN THƠ NHẠC
Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2026
"Thời gian trắng" của Nguyễn Phan Quế Mai
"Thời gian trắng"
Với lối kể chuyện mộc mạc, tự nhiên, tác giả đã dẫn dắt người đọc ngược về từng chặng thời gian, mở ra từng nút thắt để đến cuối bài thơ, trái tim người đọc như thắt lại, Thời gian trắng cứ nhòa đi.. nhòa đi trong nước mắt…
Ngọc Tình chạm khắc sông Vàm
Ngọc Tình chạm khắc sông Vàm
Chạm khắc
sông Vàm là tập thơ thứ 5 của nhà thơ Ngọc Tình. Tập thơ có sự chín chắn
và chắt lọc hơn so với 4 tập thơ trước: Hoa cau (2015), Nắng
trao mùa (2017), Nghiêng bậc của đêm (2017), Đợi
mùa (2018)). Đó là kết quả của sự lao động miệt mài, nghiêm túc, cẩn
trọng của một người đàn làm thơ và yêu thơ “thuần khiết” ở vào tuổi xế chiều của
cuộc đời. Chị lặng lẽ viết như để thỏa nỗi đam mê và xem nó như là nơi đáng
“tin cậy” nhất để mình giãi bày những nỗi niềm sâu kín của lòng mình quanh những
buồn vui thế sự. Chỉ trong vòng 5 năm, Ngọc Tình đã in được 5 tập thơ thì đó là
điều rất đáng được ghi nhận. Đọc thơ chị, càng về sau càng thấy rõ những bứt
phá và già dặn trong cách thể hiện; sức viết ngày càng sung mãn và tạo được dấu
ấn riêng đối với người đọc.
Chạm khắc sông Vàm gồm
63 bài thơ, là 63 điệu khúc về tình yêu và sự sống. Ở đó thể hiện một hồn thơ
chân thật mà mới mẻ; gần gũi, giản gị nhưng sâu lắng; rất mực chân thành mà
giàu sức gợi nên dễ đi vào lòng người đọc. Mỗi câu, chữ trong thơ Ngọc Tình là
cả những tình cảm được nhà thơ “ký gửi” vào đó. Vốn là một người nhạy cảm, tinh
tế và giàu lòng trắc ẩn nên những gì xảy ra đều để lại trong lòng nhà thơ những
dấu ấn khó phai mờ. Một cơn gió, một giọt nắng, một ngọn cỏ, một chiếc lá, một
cánh chim, một ánh trăng… cũng làm cho chị xao động tâm hồn.
Với chị, mọi thứ trong cuộc
sống này đều rất quan trọng cần phải quan tâm và có trách nhiệm với nó. Đặc biệt
là tình yêu – thứ tình cảm thiêng liêng mà mỗi chúng ta cần phải nâng niu, gìn
giữ, đắp bồi. Gió bay đi nhưng tình yêu ở lại/ Bến sông quê sương tím
đã để dành (Tình yêu ở lại).
Sự trân trọng, biết sẻ
chia, hiểu người hiểu mình, biết người biết ta là những phẩm chất nổi trội ở
con người chị. Do vậy, không khó để người đọc nhận ra trong thơ Ngọc Tình bao
giờ và lúc nào nhà thơ cũng luôn hướng đến điều nhân văn ấy. Lời thơ nhẹ nhàng
nhưng khơi gợi biết bao suy ngẫm đối với độc giả. Tình yêu trong thơ Ngọc Tình
không phải chỉ là tình yêu đôi lứa mà ở đó có cả tình yêu với cỏ cây, hoa lá,
dòng sông…; tình yêu với mảnh đất quê hương, yêu mẹ cha, tiên tổ. Đặc biệt, chị
cũng dành nhiều tình cảm với mảnh đất và con người (Tây Ninh) đã che chở, nuôi
dưỡng chị trong suốt những năm tháng công tác cho đến lúc nghỉ hưu. Do vậy chị
viết nhiều, nhắc nhiều về vùng đất này cũng là điều dễ hiểu. Những địa danh như
Lò Gò, Tà Lọt, Cẩm Giang, Gò Chai… được nhà thơ đề cập đến với tình cảm thân
thương đến lạ. Đó là những vùng đất gắn với những chiến tích oai hùng, nơi đó
có những bà mẹ, người cha, người con sống tình nghĩa thủy chung. Họ sẵn sàng
dâng hiến cả tuổi thanh xuân, hy sinh vì nghĩa lớn. Vì thế, những người còn sống
hôm nay mãi không bao giờ quên sự cống hiến của các thế hệ cha ông. Họ đã đổ cả
mồ hôi, nước mắt và máu xương để chúng ta có được cuộc sống hòa bình.
Tổ quốc ơi hạnh phúc đong
đầy/ Chúng ta không quên – đồng đội tuổi hai mươi chưa một lần gắn huân chương/
nằm lại/ Tiếng cỏ thở – tiếng các anh rầm rì hát mãi/ Thiêng liêng đất mẹ Việt
Nam (Tình
yêu người lính).
Chiến tranh là gắn liền với
đau thương và chết chóc, là nỗi đau đến khôn cùng của những người mẹ, người vợ
có chồng tham gia kháng chiến. Và rồi, có những số phận không may họ đã mãi mãi
nằm lại nơi chiến trường.
Ngày hòa bình cờ đỏ thắm
vàng sao/ Vợ đợi chồng cùng con xa biền biệt/ Giấy báo tử về một bóng hình tê
buốt/ Một triền sông hoa rụng trắng nghẹn trôi
Bao bà mẹ cạn khô nước mắt,
bao người vợ chờ chồng trong vô vọng. Nỗi đau chồng chất nỗi đau. Các anh đã
hóa vào hồn thiêng sông núi! “Thế kỷ hai mốt rồi mẹ vẫn đợi chồng, con”.
Một tên con rắc tro bụi
núi ngàn/ Một nghĩa trang một mộ chồng nhang khói/ Con ở đâu? Tấm hình như muốn
nói/ Tiếng mẹ ru – ru vọng chiếc nôi xưa (Nỗi niềm người mẹ).
Đứng trước rừng Lò Gò,
nhà thơ dâng lên cảm xúc:
Lò Gò ơi! Ta để tay trước
ngực/ Mãi yêu em tất cả trước sau/ Mãi yêu em dù tóc đã phai màu/ Rừng chở che
hôm nay và mãi mãi (Rừng Lò Gò và em).
Đặc biệt là dòng sông Vàm
Cỏ như một nhân vật trữ tình vắt ngang qua, đi vào thơ chị làm người đọc nao
lòng:
Nơi tôi ở ong gom từng giọt
nắng/ Tây Ninh ơi! Vàm Cỏ tím câu thơ/ Ai xốn xang/ tóc bồng bên bến lặng/ Với
riêng em sóng vỗ nhẹ đôi bờ (Nơi tôi ở).
Là người đã trải qua những
năm tháng khó khăn nên chị thấm thía nỗi nhọc nhằn, vất vả và cả sự khổ đau.
Hoàn cảnh lịch sử ấy đã tạo cho chị sức bền, sự chịu đựng để vượt qua mọi gian
nan. Hoàn cảnh gia đình, thời cuộc có những tác động nhất định đến cuộc đời mỗi
một con người. Ảnh hưởng thế nào và xử lý làm sao để cuộc sống ổn định là cách
mà mỗi cá nhân phải tự linh hoạt ứng phó. Với chị, trong hành trình cuộc đời mà
chị đi qua, dù có những ngã rẽ nhưng chị đã biết tự điều chỉnh và khéo vun vén
nên mọi thứ đều êm đẹp. Vốn là người nặng nợ nghĩa tình nên chị vẫn không thể
nào nguôi quên những năm tháng của quá khứ.
Ngày ra đi mảnh trăng vỡ
thẫn thờ/ Hạt sương nghiêng rụng ướt vai thiếu nữ/ Mấy mươi năm rớt ngang giấc
ngủ/ Định hình nhân nghĩa ru xa (Quê hương).
Điều đó không có nghĩa là
chị không có nhưng nỗi khổ đau riêng. Những nỗi đau chị như chôn chặt, giấu kín
cho riêng mình nhưng đôi lúc cũng trỗi dậy làm cho trái tim người đàn bà vẻ
ngoài tưởng “kiên cường” ấy cũng phải rỉ máu.
Có thể cuộc chia ly về
tình yêu vắt kiệt bài thơ/ Mùa ở lại người còn – người mất/ Trái tim nhỏ cớ gì
chứa chất/ Nỗi đau – vắt kiệt bài thơ (Vòng nguyệt quế mờ
xa).
Thơ Ngọc Tình thể hiện
tính chất trữ tình ở cách cấu tứ bài thơ dựa trên những cảm xúc tâm trạng. Chị
làm thơ một cách tự nhiên, đó như là sự trải lòng. Tất cả những khía cạnh tâm hồn
được phơi bày, thổ lộ ra hết theo dòng suy nghĩ của nhà thơ. Đọc bài thơ Phải
không em làm người đọc rưng rưng nước mắt, bởi chị đã khơi gợi quá nhiều điều.
Đặc biệt là những người con xa xứ. Rời mảnh đất quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn
để vào Nam, nhà thơ muốn mang theo những gì gần gũi, thân thương nhất của quê
nhà. Mùi của bùn đất, rạ rơm; mùi của hương tóc, của hoa bưởi, hương cau…
Ta muốn mang đi mùi của
bùn/ Hương của lúa – hương rơm rạ/ Và hương tóc em/ Ta muốn mang theo/ Chùm hoa
bưởi thoang thoảng trong đêm
Nhưng có lẽ “bóng mẹ bên
thềm” là hình ảnh độc đáo và tạo sự ám ảnh. Người con xa quê nhưng trong tâm khảm
không bao giờ nguôi quên nỗi nhớ mẹ.
Đau đáu tình quê – bóng mẹ
bên thềm/ Có bao lần ta khóc trong lòng/ Hoa cau rụng – rụng niềm khao khát/ Quả
khế chua – mà ngọt trong tâm thức/ Vấp chiều – sợi tóc vấp nghiêng
Nỗi niềm day dứt với quê
cha đất tổ luôn canh cánh bên mình:
Ta muốn mang theo mà mang
chẳng được/ Nên sợi thương phía nào cũng đứt/ Ai gánh nổi tình mơ/ Ai mang được
đến giờ?
Để rồi chị sâu sắc nhận
ra rằng:
Ta kẻ dật dờ/ Nỗi niềm
đáy biển/ Em có đo – uống mặn cả đời?/ Người đã bay lên – mà hồn lơ lửng khói/
lam chiều bảng lảng cố hương/ Thấp cao chân bước con đường xa ngái/ Khóc đi –
chẳng gì mà ngại -/ phải không em?/ hay hỏi chính mình.
Đi qua những thăng trầm của
cuộc đời, nhà thơ ý thức về những được – mất, về nỗi đau và cả sự “ích kỉ”
trong tình yêu. Do vậy, chị không ngần ngại đề xuất phải “mở lòng”. Bởi trong
tình yêu cần lắm sự bao dung!
Mở lòng đi dù chỉ là ký
vãng/ Khi cô đơn quấn em vào buổi hoàng hôn/ Nhấm nháp rượu vô hình/ Chẳng say
– mà thơ đổ sóng chập chờn
Bên cạnh cái tôi đời tư,
Ngọc Tình còn khéo léo đề cập nhẹ nhàng, kín đáo về cái tôi thế sự. Phải chăng
đây cũng là cái hay và thế mạnh của chị. Bởi nhà thơ, không đề cập một cách trực
diện mà thông qua tình yêu và câu chuyện tình yêu để đưa ra những triết lý,
chiêm cảm về đời sống. Do vậy, trong thơ chị thường dùng nhiều những biện pháp
tu từ. Đó là cách để chị giãi bày, gửi gắm đến người đọc một cách tinh tế nhất.
Chẳng phải trời mà tại đời
là vậy/ Trăng là em và trăng hóa là người/ Đâu cần đến trăng tròn mới tỏ/ Nửa
khúc cong đủ run rẩy đầy vơi (Nửa khúc trăng
cong).
Nếu không có tình yêu/
Không có nàng thơ từ đó/ Không thổn thức trái tim nho nhỏ/ Thì gió chiều không
thổi muộn đến giờ…? (Mở lòng).
Sắc sảo và nhạy bén trong
cách nhìn nhận về nhân tình thế thái, Ngọc Tình càng cay đắng, xót xa:
Ta nghiêng ngả trong cánh
đồng thơ/ thơ tạt vào ta phần thật/ Ôi! Tóc bạc rồi thơ cũng trắng phau (Thơ
nghiêng ngả gió).
Nhà thơ nghiệm ra rằng: Hãy
là đời hãy cứ để gió bay/ Xưa là xưa bởi vì đầy ký vãng/ Ta đôi lần từng chia
cô đơn chạng vạng/ Thì ra lối cũ len vào (Một mình trăng).
Là người yêu thơ và thành
tâm với thơ, Ngọc Tình đến với thơ bằng tình yêu thuần hậu, xem nó là người bạn
tri kỉ để chị gửi gắm nỗi niềm. Dù chị viết chắc tay trên nhiều thể loại thơ
nhưng chưa bao giờ chị dám nhận mình là thi nhân. Sự khiêm tốn ấy thật đáng
quý!
Không dám cho mình là thi
nhân/ Chỉ trốn vào nỗi nhớ/ Với quê hương ta thả thơ – những khi trăn trở/ Vía
hồn vần điệu chưa tròn
Cả tập thơ là tiếng lòng
thành thật của một con người đã đi từng đi qua, đã từng nếm trải những đắng
cay, buồn vui, hạnh phúc của cuộc đời. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhà thơ
cũng sống và yêu bằng trái tim chân thành của người đàn bà hồn hậu. Chạm
khắc sông Vàm, nhà thơ Ngọc Tình đã gửi trọn vào đó những điều muốn nói, những
điều mà con tim mách bảo và thôi thúc phải chuyển tải bằng lời.
Trong dòng chảy của thơ nữ
Việt đương đại nói chung, thơ nữ ở Tây Ninh nói riêng, Ngọc Tình từng bước khẳng
định vị thế của mình và cũng đã góp thêm vào đó một tiếng thơ trữ tình da diết,
giàu nữ tính. Tiếng thơ ấy làm nên sự đa sắc hương trong dàn đồng ca của thơ nữ
Việt hôm nay.
12/4/2020
Nguyễn Văn Hòa
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Giáo dục tính nhân văn qua chương trình, sách giáo khoa Quốc văn Trung học Đệ nhị cấp ở miền Nam trước 1975
Giáo dục tính nhân văn
qua chương trình,
sách giáo khoa Quốc văn Trung học
Đệ nhị cấp ở miền Nam trước
1975
Nền giáo dục ở
miền Nam Việt Nam trước 1975, không phải là một nền giáo dục đã hoàn mỹ nên vẫn
còn có những khiếm khuyết. Nhưng với nền tảng triết lý giáo dục “nhân bản”,
“dân tộc” và “khai phóng” thì đây là một nền giáo dục “luôn luôn lấy con người
làm cứu cánh, thể hiện tư tưởng nhân bản, luôn luôn chú trọng vào việc xây dựng
đạo làm người, phát triển mầm mống tốt ở con người, phục vụ nhân sinh để tiến đến
một xã hội hoàn thiện.”
1. Dẫn nhập:
Chủ nghĩa nhân văn, một hệ
giá trị trong lịch sử tư tưởng nhân loại xuất hiện ở thời kỳ Phục hưng, sau khi
loài người đã trải qua những khổ đau và tăm tối của đêm trường trung cổ. Ý thức
đề cao con người, giải phóng cá nhân khỏi sự đè nén tinh thần của chế độ phong
kiến, chống chủ nghĩa kinh viện và giáo hội, hướng con người vào xây dựng cuộc
sống thực tại là những cảm hứng mà chủ nghĩa nhân văn mang đến. Và,
trên nền tảng của tình yêu thương, khơi dậy những khát vọng tốt đẹp, tôn vinh
phẩm giá con người…, chủ nghĩa nhân văn, trong căn tính, luôn chống lại các thế
lực áp bức, hướng con người xây dựng một xã hội, ở đó những giá trị chân thiện
mỹ được lên ngôi. Vì thế, không phải ngẫu nhiên, trong những năm đất nước bị
chia cắt, khi miền Nam còn chịu sự xâm lăng của ngoại bang, nền giáo dục ở miền
Nam trước 1975 đã đề ra một triết lý giáo dục với ba nguyên tắc: “nhân bản”,
“dân tộc” và “khai phóng”. Theo đó: Nền giáo dục Việt Nam “1/ Phải là nền giáo
dục nhân bản, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người, lấy chính con người
làm cứu cánh, và như vậy nhằm mục đích phát triển toàn diện con người. 2/ Phải
là một nền giáo dục dân tộc, tôn trọng giá trị truyền thống, mật thiết liên
quan với những cảnh huống sinh hoạt như gia đình nghề nghiệp, đất nước và đảm bảo
hữu hiệu cho sự sinh tồn, phát triển của quốc gia dân tộc. 3/ Phải có tính cách
khai phóng, tôn trọng tinh thần khoa học, phát huy tinh thần dân chủ và xã hội,
thâu thái tinh hoa các nền văn hóa thế giới.”[1] Như vậy, có thể nói, với triết lý
giáo dục này, nền giáo dục ở miền Nam 1954-1975 là nền giáo dục mang tính nhân
văn sâu sắc. Bởi, đây là nền giáo dục lấy sự “khai phóng” con người làm cảm hứng
cho mọi sáng tạo và xây dựng nhân cách người học trong nhà trường. Đây cũng là
nguyên tắc bất biến, chi phối việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa, giáo
trình ở tất cả các bộ môn, trong đó có bộ môn Quốc văn. Giáo dục tính nhân văn,
vì thế, đã trở thành một phẩm tính trong chương trình Quốc văn Trung học Đệ nhị
cấp ở miền Nam trước 1975.
2. Nội dung:
Với nền giáo dục đề cao
tính “nhân bản”, biểu hiện của việc giáo dục tính nhân văn luôn hiện hữu ở
chương trình các môn học, trong đó có môn Quốc văn bậc Trung học Đệ nhị cấp, được
thể hiện ở các bình diện: đề cao lòng yêu thương, trân quí phẩm giá con người,
gắn với nhu cầu giải phóng cá nhân, khát vọng tự do, dân chủ và lòng yêu quê
hương, đất nước. Đây là những căn tính mà chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng hay
bất cứ thời đại tiến bộ nào cũng hướng đến như một hệ giá trị cần được đắp bồi.
Chương trình Quốc văn bậc Trung học Đệ nhị cấp ở miền Nam trước 1975, vốn được
xây dựng trên tinh thần “nhân bản”, “dân tộc” và “khai phóng”, kết tinh từ nền
tảng văn hóa dân tộc nên việc giáo dục tính nhân văn được thể hiện ở nhiều bình
diện. Song, ở bài viết này, chúng tôi chỉ tìm hiểu một số bình diện cơ bản mà
biểu hiện trước tiên, đó là việc giáo dục lòng yêu thương và trân quí con người.
2.1.Giáo dục tình yêu thương và trân quí con người
Với truyền thống đạo đức
thấm nhuần triết lý văn hóa “thương người như thể thương thân”, việc giáo dục
tính nhân văn trong nền giáo dục ở miền Nam trước 1975 mà biểu hiện là lòng yêu
thương và quí trọng con người luôn là một giá trị được thức nhận nơi học sinh.
Điều nầy đã thể hiện khá phong phú ở chương trình Quốc văn lớp Đệ tam qua phần Văn
chương bình dân, với những câu tục ngữ, ca dao nói về lòng yêu thương và
trân quí con người được phân tích một cách thấu đáo như: Người ta là
hoa đất; Lá lành đùm lá rách; Nhiễu điều phủ lấy giá gương / người trong một nước
phải thương nhau cùng; Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng
chung một giàn… Không nhưng thế, ở bình diện này, tinh thần nhân văn còn được
thể hiện qua việc giảng dạy những tác phẩm văn học liên quan đến thân phận con
người. Đó là niềm thương cảm sâu xa đối với phận số bi kịch của người phụ nữ
qua cái chết bi thảm đầy oan nghiệt của vợ chàng Trương trong bài Đề miếu
vợ Chàng Trương của Vua Lê Thánh Tôn. Đó là niềm cảm thông và sẻ chia
trước nỗi đau thân phận của người Chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của
Đặng Trần Côn qua bản dịch của Đoàn Thị Điểm mà theo sách giảng văn của Nguyễn
Quảng Tuân thì: “Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm đã thông cảm với nỗi khổ của
người dân mình, đặc biệt đối với những người thiếu phụ có chồng phải đi ra trận
mạc, nên đã xây dựng được một tác phẩm có giá trị”.[2] Hay niềm cảm thương trước số phận hẩm
hiu khi phải chôn vùi tuổi xuân trong chốn lãnh cung tăm tối của người Cung Nữ
trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều mà ở đó, nỗi đau
phận số của người phụ nữ được tái hiện qua những diễn ngôn đẩm đầy nước mắt xót
xa: “Hoa này bướm nỡ thờ ơ/ Để ngày bông thắm, để xơ nhị vàng”[3]. Đó còn là hình tượng Thúy Kiều
trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du mà ở đó, lòng yêu
thương và trân quí con người đã trở thành một hệ giá trị làm nên sự bất tử của
tác phẩm, đến nỗi Nguyễn Du đã thốt lên một cách thê thiết: “Đau đớn thay phận
đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung!”. Nỗi đau thân phận của người đàn
bà qua các nhân vật như vợ Chàng Trương, người Chinh phụ, người Cung nữ
và Thúy Kiều trong các tác phẩm mà sách giáo khoa Quốc văn miền Nam
trích giảng đã cho thấy lòng yêu thương và quí trọng con người là một căn phần
của tính nhân văn được quan tâm giáo dục cho học sinh. Đây cũng là phương diện
thể hiện tính nhân bản trong triết lý giáo dục ở miền Nam mà chương trình và
sách giáo khoa hướng đến. Bởi, theo Châu Trọng Ngô, cựu giáo sư trường Quốc Học
Huế trước 1975 thì: “Ở các cấp học cao hơn, các sách giáo khoa, đặc biệt là
sách về khoa học xã hội hoàn toàn được biên soạn theo những chủ đề nhân ái,
trong tổng thể không hề đượm mùi vị hiềm khích hờn dỗi.”[4]
2.2. Nhu cầu giải phóng
cá nhân, hướng đến tư tưởng tự do dân chủ
Phẩm tính của chủ nghĩa
nhân văn không chỉ dừng lại ở vấn đề yêu thương con người, chia sẻ với những nỗi
khổ đau và bất hạnh trong thân phận mà còn hướng con người vươn đến khát vọng tự
do, dân chủ và nhu cầu giải phóng cá nhân khỏi những thế lực “hắc ám”, có thể
làm cho con người ngập chìm trong bi kịch của sự tối tăm. Con người trong cái
nhìn của chủ nghĩa nhân văn phải là con người thật sự tự do và được sống trong
một môi trường xã hội dân chủ, công bằng, bác ái. Đó là môi trường xã hội mà ở
đó, nhân vị của con người được tôn trọng, tiềm năng sáng tạo của con người được khai
phóng để bay cao, bay xa trong chân trời lao động sáng tạo. Bởi, trong
quan niệm của triết lý giáo dục ở miền Nam trước 1975 thì: “Mục đích của giáo dục
quốc gia là giúp mỗi cá nhân phát triển toàn diện để trở thành những người có
khả năng thực tiễn, có khả năng tư duy, để làm việc, sinh sống, có đạo đức có
tình người, để gây dựng hạnh phúc gia đình và hội nhập vào xã hội góp phần vào
việc bảo vệ và phát triển quốc gia.”[5] Tinh thần này đã được thể hiện sâu sắc
trong chương trình các môn học, được cụ thể hóa trong sách giáo khoa, trong đó
có sách giáo qua môn Quốc văn bậc Trung học Đệ nhị cấp như cuốn Việt
văn toàn thư Tú tài I Ban A.B.C.D. của Vũ Ký, giáo sư trường Trương Vĩnh Ký
SG, nguyên giáo sư trường Quốc Học Huế và Hồ Ngọc Cẩn, do Á Châu xuất bản;
Cuốn Việt văn đệ nhị A.B.C.D. (tập 1, 2) của Võ Thu Tịnh, giáo
sư Việt văn, do Hải Vân xuất bản và cuốn Quốc văn lớp 12 ABCD của
nhóm giáo sư Quốc văn gồm Nguyễn Văn Cẩm – Giám học trường Võ Trường Toản SG;
Lê Văn Chương giáo sư Pétrus Ký SG; Khưu Huỳnh Hương, giáo sư Gia Long SG; Tạ
Quang Khôi, Hiệu trưởng Nguyễn Trãi SG; Vũ Thọ Ngọc Mai, giáo sư Lê Văn Duyệt
Gia Định SG; Phạm Thị Nhung, giáo sư Gia Long SG; Cao Đình Quát, giáo sư
Chu Văn An SG; Lê Văn Quới, Giám học Phan Thanh Giản Cần Thơ; Cung Nhật Tân
giáo sư Chu Văn An SG; Trần Đắc Thanh giáo sư Trưng Vương – Taberd, SG; Nguyễn
Quảng Tuân, Thanh Tra chuyên môn Trung ương, Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh
niên, do Trường Thi xuất bản, SG, 1974.
Trong cuốn Quốc
Văn 12 ABCD, nhóm tác giả đã rất quan tâm đến giáo dục tính nhân văn, điều
này đã được xác định rõ trong lời tựa: “Việc soạn một cuốn sách Quốc văn cho lớp
12 phải đi theo hướng làm sao cho học sinh hiểu rõ được các tư tưởng lớn trong
văn chương Việt Nam từ tinh thần dân tộc, đến các ảnh hưởng của Nho Phật và Lão
giáo ở Đông phương và các ảnh hưởng của tư tưởng lãng mạn, tự do dân chủ cùng
Thiên chúa giáo ở Tây phương.”[6] Vì thế, khi luận giải ảnh hưởng của
tư tưởng lãng mạn trong văn chương Việt Nam qua ba tác phẩm Tố Tâm của
Hoàng Ngọc Phách; Hồn Bướm mơ tiên của Khái Hưng và Thơ
say của Vũ Hoàng Chương, các soạn giả chỉ rõ: “Phong trào lãng mạn
không chỉ là một cuộc cách mạng về văn học mà còn là một cuộc cách mạng về đường
tư tưởng của các dân tộc Âu Châu nữa.”[7] Và, căn cứ vào tư tưởng của chủ
nghĩa lãng mạn được thể hiện trong các tác phẩm văn học của các văn gia thi sĩ
Lammartine, Victor Hugo, Alfred de Musset, Alfred de Vigny… Các nhà biên
soạn cho rằng: “Văn chương lãng mạn có 4 đặc tính:1/ đề cao cá nhân chủ nghĩa
và trữ tình 2/ đề cao tình cảm và trí tưởng tượng; 3/ Đề cao tình yêu thiên
nhiên 4/ giải phóng về mặt hình thức. Trong 4 điểm trên thì đặc tính chủ nghĩa
cá nhân và trữ tình trong văn học lãng mạn là quan trọng hơn cả.”[8] Đây cũng là cơ sở để giáo dục học
sinh hướng đến khát vọng tự do dân chủ, một phẩm tính mà chủ nghĩa nhân văn hết
sức coi trọng.
Hay trong bộ sách Việt
Văn Đệ nhị ABCD tập II thế kỷ XX, Võ Thu Tịnh, khi giới thiệu về tác phẩm Nửa
chừng xuân của Khái Hưng trong Tự lực Văn đoàn, cũng chú trọng đến vấn
đề thức nhận nhu cầu giải phóng cá nhân khỏi những ràng buộc khắc nghiệt đến
phi lý của xã hội phong kiến và điều này, có thể xem là một giá trị nhân văn được
soạn giả hướng đến người học khi luận giải: “Khái Hưng muốn dùng câu chuyện
thương tâm giữa Mai và Lộc mà đả phá các lễ nghi khắt khe của nền luân lý cũ
còn tôn sùng cổ tục, để tuyên truyền cho một nếp sống mới (theo nho giáo phóng
khoáng): tự do kết hôn, tình yêu lý tưởng, lòng nhân ái hy sinh hạnh phúc của
mình cho kẻ khác, nhất là cho dân nghèo.”[9] Đặc biệt, trong bộ sách giáo khoa
này, Võ Thu Tịnh rất quan tâm giới thiệu và phân tích khá sâu sắc tính nhân văn
trong Mười Điều tâm niệm của Hoàng Đạo khi được đưa vào giảng
dạy trong nhà trường vì theo ông đây là tác phẩm “thuộc loại sách học làm người,
cố khuyên thanh niên tân học dùng làm phương châm hành động để đạt tới sự tân cải
tâm hồn và thể xác”, với các điều tâm niệm như: “1/Theo mới, hoàn toàn theo mới
không chút do dự; 2/Tin ở sự tiến bộ một ngày có thể một hơn; 3/ Sống theo một
lý tưởng; 4/ Làm việc xã hội; 5/ Luyện tinh khí; 6/ Phụ nữ và xã hội; 7/ Luyện
lấy bộ óc khoa học; 8/ Cần sự nghiệp không cần công danh; 9/ Luyện thân thể cường
tráng; 10/ Cần có trí xếp đặt.”[10] Ngày nay, nếu tiếp nhận “Mười điều
tâm niệm” của Hoàng Đạo một cách công bằng, khách quan, khoa học thì những “điều
tâm niệm” mà Hoàng Đạo nêu ra, không phải là không có ý nghĩa giáo dục tính
nhân văn đối với thế hệ trẻ hôm nay, nhất là, khi xã hội đang bị vòng quay của
những điều phản văn hóa, phản nhân văn bủa vây mà nếu không có sức đề kháng vững
chắc, con người rất dễ bị cảm dỗ và sa ngã. Vì vậy, xét về một phương diện nào
đó, chúng ta cũng có thể chia sẻ với người viết sách giáo khoa khi tác giả cho
rằng: “Chúng ta cũng phải khách quan mà công nhận rằng chủ trương của Hoàng Đạo
trong “Mười điều tâm niệm” có nhiều điều hữu lý. Phương thuốc của ông tuy hơi mạnh
song vẫn là phương thuốc thích hợp của xã hội ta trong buổi giao thời giữa Mới
và Cũ, lập trường của ông còn phải là lập trường của những người tha thiết với
sự tiến bộ. Tư tưởng mà ông đề ra trong cuốn này, chẳng những có giá trị trong
hiện tại mà cả trong tương lai, trong bất cứ thời đại nào mà chúng ta còn muốn
sống một cuộc đời có ý nghĩa, một cuộc đời có tiến bộ.”[11] Vì vậy, việc đưa tác phẩm “Mười điều
tâm niệm” của Hoàng Đạo vào giảng dạy trong nhà trường ở miền Nam lúc bấy giờ,
không phải là không có chủ đích trong việc giáo dục tính nhân văn cho học sinh.
Và hôm nay, tác phẩm này nếu được giảng dạy trong chương trình văn học, thiết
nghĩ vẫn có giá trị nhất định trong việc hình thành nhân cách văn hóa cho học
sinh, sinh viên, nhất là khi văn hóa học đường đang có những biểu hiện suy
thoái nghiêm trọng mà rõ nhất là việc nhạt phai lý tưởng sống tích cực, chạy
theo những thị hiếu tầm thường, thực dụng, vô cảm và bạo lực…!?
Ngoài những tác giả, tác
phẩm ở phần văn học lãng mạn thể hiện tinh thần giáo dục tính nhân văn với việc
đề cao ý thức giải phóng cá nhân mà việc khẳng định cái tôi được xem như một hệ
giá trị, thì vấn đề giáo dục tính nhân văn còn biểu hiện qua việc giảng dạy tác
phẩm của các nhà thơ / văn thời trung đại như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tú
Xương… mà sách giáo khoa Quốc văn đề cập đến. Chẳng hạn khi bàn về Chí
làm trai qua thơ văn Nguyễn Công Trứ, tác giả sách giáo khoa đã xem
quan niệm về Chí làm trai của Nguyễn Công Trứ là một hệ giá trị
để khẳng định việc lập thân lập nghiệp nhằm xác lập sự tồn
sinh của cái tôi giữa cuộc đời, chứ không phải là việc đề cao chủ nghĩa “anh
hùng cá nhân” như có một thời “người ta” đã ngộ nhận và gán ghép một cách oan
khuất cho ông.
Có thể nói, Nguyễn Công
Trứ là người luôn có ý thức về sự hiện hữu của mình giữa cõi nhân gian với tư
cách một nhân vị như triết học hiện sinh đã xác quyết.
Vì vậy, ông luôn là chính mình trước những thành bại của cuộc đời mà không hề
bi quan, chán nản. Trong quan niệm của ông: “Làm trai thì phải hoạt động lập
công danh cho thỏa thích, chớ không phải chỉ để hưởng thụ một cách tầm thường
như ai. Lý tưởng này đã giúp cho Nguyễn Công Trứ thành công rực rỡ trên đường đời,
nhất là giữ được tư cách thanh cao trong khi say sưa hoạt động: làm đại tướng
không cho là vinh, đi lính thú không lấy làm nhục, tha thiết với công danh mà vẫn
ngạo mạn coi thường lợi danh.”[12] Vì thế, trong suy nghĩ của Võ Thu Tịnh:
“Đối với thanh niên học sinh ngày nay, quan niệm về công danh của Nguyễn Công
Trứ quả đáng được chúng ta nghiên cứu học tập thấu đáo.” Bởi, “Công danh quyết
không phải là một tàn tích còn sót lại của cái mộng khoa cử “võng anh đi trước
võng nàng theo sau” của bọn hủ nho thời trước. Công danh quyết cũng không phải
là một cứu cánh vị kỷ của bọn tân học theo văn minh vật chất gần đây, chỉ mong
cướp được mảnh bằng để mưu cầu địa vị ăn trên ngồi trước, vợ đẹp con khôn!…” mà:
“Phải chăng cũng như Nguyễn Công Trứ, đối với chúng ta công danh phải là một
món nợ thiêng liêng để thỏa mãn chí vẫy vùng, là một bổn phận cao quí để làm
tròn nghĩa vụ công dân, là một vinh dự của con người trí thức khát khao lập sự
nghiệp lưu danh hậu thế. Hoàn cảnh hiện tại của nước nhà chính lại là một dịp tốt
để chúng ta thực hiện cái quan niệm hào hùng và cao thượng về công danh ấy.”[13] Và, khi luận giải về Chí
nam chi, trong đó, quan niệm về công danh là hạt nhân trung tâm của Chí
nam nhi, Võ Thu Tịnh đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa nhân văn để phân
tích và lý giải vấn đề và xem đây như một giá trị nhân văn trong thơ văn Nguyễn
Công Trứ, để giáo dục về lẽ sống cao đẹp mang lý tưởng nhân văn cho học sinh.
Chính vì vậy, khi lý giải về tính nhân bản trong quan niệm về cái nhàn của
Nguyễn Công Trứ, tác giả Việt văn Đệ nhị ABCD cũng cho rằng:
“Cuối cùng cái nhàn của cụ đã thích hợp với bản tính và địa vị con người: ưa hưởng
lạc vì vốn không phải là Tiên Phật mà vẫn giữ được thanh cao vì con người phải
vượt lên khỏi vật chất sa đọa đê hèn thì mới xứng đáng với địa vị cao quí
thiêng liêng của mình giữa vũ trụ (…) Nhàn của cụ không mâu thuẩn với chí nam
nhi. Trái lại, nhàn đã giúp cho hoạt động: lúc nghèo cực nhàn đã giúp cho cụ
vui vẻ chờ thời, lúc ra làm quan nhàn giúp cụ giải trí để làm việc hữu hiệu
hơn, khi về hưu nhàn là một phần thưởng sau khi đã hoạt động mệt nhọc.”[14] Như vậy, trong suy niệm của các nhà
viết sách giáo khoa bậc Trung học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, tư tưởng Nguyễn
Công Trứ, trong đó có quan niệm về chí nam nhi và chữ nhàn là một giá trị nhân
văn cần thức nhận để giáo dục cho học sinh trong nhận thức về cái tôi cũng như
ý thức về nhân vị của mình giữa cuộc đời, điều mà không
có nó, con người không còn là con người. Bởi, sự tồn sinh của mỗi người trong
cõi nhân gian, trước hết và trên hết là sự tồn sinh của chính mình với tư cách
là một nhân vị chứ không phải là một cái tôi bị
tan chảy, tha hóa, vong thân trong một cái ta siêu hình, mơ hồ, huyễn hoặc,
để rồi không còn nhận ra chính mình. Đây là một phẩm tính,
chủ nghĩa nhân văn luôn hướng đến và đấu tranh cho sự tồn tại của nó như một hệ
giá trị bất biến.
Song, để mỗi người có thể
được sống là chính mình, một vấn đề có giá trị nhân văn mà sách giáo khoa trong
chương trình Quốc văn ở miền Nam trước 1975 cũng quan tâm bàn đến bên cạnh sự
giải phóng cá nhân đó là ý thức về tự do, dân chủ mà theo các nhà viết
sách Quốc Văn lớp 12 thì: “Danh từ tự do mang nhiều ý nghĩa. Đối
với cá nhân thì tự do là quyền của một người được tự làm chủ lấy mình, không lệ
thuộc vào kẻ khác. Nhưng tự do của cá nhân đã bị giới hạn trong quyền lợi chung
của xã hội nên danh từ tự do trong phạm vi chính trị đã được Montesquieu định
nghĩa: “Tự do là quyền làm tất cả những gì mà luật pháp cho phép và nếu một
công dân có thể làm cái gì mà luật pháp cấm, người ấy sẽ không có tự do, bởi vì
những người khác cũng sẽ có quyền đó”. Danh từ tự do thường đi đôi với dân chủ
để bảo đảm cho dân chủ. Dân chủ được dùng để chỉ những chính thể, trong đó người
dân được làm chủ: tự mình làm chủ lấy mình và tự mình tham dự việc điều khiển
guồng máy chính quyền.”[15] Và trên cơ sở luận giải tư tưởng tự
do, dân chủ qua phân tích bài diễn thuyết công khai của Phan Chu Trinh ở Đông
kinh nghĩa thục tại Hà Nội năm 1907, bài diễn văn về “Cao vọng của bọn
thanh niên An Nam” tại Hội khuyến học đêm 15/10/1913 của Nguyễn An Ninh và cuốn
“Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh, các tác giả đã có cho thấy ảnh hưởng của tư tưởng tự
do, dân chủ phương Tây, cụ thể là của Pháp đối với xã hội và văn chương Việt
Nam, xem đây như một biểu hiện của tư tưởng nhân văn cần giáo dục cho học sinh
qua dạy và học Quốc văn mà hôm nay, vẫn còn nguyên giá trị. Vì, những vấn đề dân
chủ, tự do, bình đẳng, công bằng, văn minh là một chuẩn giá trị mà
chúng ta đang hướng đến để xây dựng đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển
của xu hướng toàn cầu hóa. Bởi, theo Montesquieu: “Một chính thể lý tưởng phải
bảo đảm được tự do cho mọi công dân và một chính phủ lý tưởng bất kể dân chủ
hay quân chủ, phải là một chính phủ có thể bảo đảm được tự do và hạnh phúc cho
tất cả mọi người công dân.”[16] Việc giáo dục các giá trị nhân văn
này là điều cần thiết đối với thế hệ trẻ hôm nay. Vì đây, là những hằng số văn
hóa nuôi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước trong mỗi con người, một giá trị mà
chương trình Quốc văn bậc Trung học Đệ nhị cấp ở miền Nam luôn quan tâm khi
giáo dục tính nhân văn cho học sinh.
2.3. Lòng yêu quê hương đất
nước, một phẩm tính nhân văn cần được thức nhận
Khi luận bàn về triết lý
giáo dục ở miền Nam trước 1975, trong bài viết “giáo dục miền Nam Việt Nam
(1954-1975) trên con đường xây dựng và phát triển, Trần Văn Chánh đã xác quyết:
“Với triết lý giáo dục Nhân bản, được chính thức ghi vào Hiến Pháp 1967, nền
giáo dục miền Nam rõ ràng muốn đào tạo nên những con người có trách nhiệm với cộng
đồng, trong xã hội dân chủ, luôn biết tôn trọng khế ước xã hội, yêu nước,
thương dân, có lòng bác ái vị tha với đồng loại.”[17] Trên cơ sở triết lý giáo dục này, vấn
đề giáo dục lòng yêu quê hương đất nước đã trở thành một bình diện giáo dục
tính nhân bản của chương trình Quốc văn. Vì vậy, khảo sát sách giáo khoa Quốc
văn bậc Trung học Đệ nhị cấp ở miền Nam trước 1975, ta thấy lòng yêu quê hương
đất nước là chủ đề chi phối khá sâu sắc nội dung chương trình sách giáo khoa mà
biểu hiện rõ nhất đó là “ý thức Quốc gia”. Bởi, theo các nhà biên soạn thì từ
trong văn học dân gian, “Ý thức quốc gia thể hiện được tinh thần tự tôn, tương
thân, tương trợ của dân tộc. Từ khi sống thành đoàn thể dân ta đã biết yêu mến
và hy sinh cho đoàn thể: Từ đoàn thể lớn nhất là quốc gia dân tộc đến đoàn thể
nhỏ hơn là quê hương làng xóm và cuối cùng là gia đình.”[18] Xuất phát từ quan niệm này, Khi nói
đến “ý thức quốc gia”, họ chú trọng dạy các vấn đề mang tính nhân văn như:
“1/Yêu tổ quốc, được thể hiện bằng sự hãnh diện về nguồn gốc dân tộc qua câu
chuyện cổ Con rồng cháu Tiên. Lòng ái quốc cũng được thể hiện bằng
cách sùng bái những đấng tiền nhân đã có công lập quốc hay cứu quốc như Vua
Hùng Vương, Trưng Vương, Hưng Đạo Đại Vương…; 2/ yêu quê hương làng xóm chỉ
là sự biến thái của tình yêu tổ quốc. Vì yêu nước thiết tha nên tình yêu quê
hương của người dân Việt Nam càng thêm đậm đà. Hình ảnh quê hương đã in sâu vào
tâm hồn dân quê: làng ta phong cảnh hữu tình/ dân cư giang khúc như
hình con long… 3/ Yêu gia đình bởi gia đình là yếu tố căn bản của quốc gia.
Có yêu thương gia đình mới yêu thương tổ quốc. Gia đình Việt Nam là nơi kết
tinh nhiều tình thương. Trước nhất, con cháu nhớ ơn tổ tiên và kính trọng ông
bà: Con người có tổ có tông/ như cây có cội như sông có nguồn; Yêu
thương cha mẹ: Đêm ra thắp đèn trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con;
Tình yêu thương thắm thiết giữa vợ chồng: Có chồng thì phải theo chồng/
Đắng cay cũng chịu mặn nồng cũng vui. Tình anh em ruột thịt: Yêu nhau
như thể tay chân/ Anh em hòa thuận hai thân vui vầy.”[19]
Tình yêu quê hương đất nước,
một bình diện của việc giáo dục tính nhân văn đối với học sinh không chỉ được
thể hiện trong văn học dân gian mà còn được thể hiện trong văn học viết qua việc
trích giảng các tác phẩm cuả Nguyễn Bĩnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn
Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Du, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Đình Chiểu…
Khi luận bàn về tâm trạng
ái quốc trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Võ Thu Tịnh trong Việt văn Đệ
nhị ABCD tập I thế kỷ XX, đã cho rằng: “Tâm trạng Nguyễn Đình Chiểu là tâm
trạng một người tuy không tạo nổi thời thế song không bao giờ chịu để thời thế
khuất nổi mình. Sống trong nghịch cảnh lại mang thêm mục tật nhưng Nguyễn Đình
Chiểu luôn luôn giữ vẹn khí tiết thanh tao, trọn lòng thương yêu dân nước và ôm
ấp một ước vọng cứu vớt sơn hà.”[20] Không chỉ dừng lại ở đó, Võ Thu Tịnh
còn khẳng định tính chiến đấu mãnh liệt trong thơ Nguyễn Đình Chiểu, để từ đó
thắp sáng lòng yêu tổ quốc và tinh thần chiến đấu hy sinh quên mình cho đất nước
trước nạn ngoại xâm trong thế hệ trẻ khi tác giả xác quyết thơ Nguyễn Đình Chiểu:
“Không những không khiến chúng ta chua xót thành đốn hèn vì hận sử của một thời
chiến bại, trái lại đã đề cao tinh thần dân tộc tự chủ, nêu cao tinh thần đấu
tranh bất khuất và lưu lại hậu thế những gương hy sinh cao đẹp của một miền Nam
kháng chiến oai hùng.”[21] Hay khi đánh giá về lòng ái quốc
qua thơ văn Nguyễn Khuyến cũng trong Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ
XX, Võ Thu Tịnh cho rằng: “Nhìn chung, Nguyễn Khuyến đã yêu nước một
cách tiêu cực. Nhưng trong phạm vi nào đó, chúng ta tưởng có thể tìm thấy được
một vài khía cạnh tích cực trong lòng ái quốc của cụ.”[22] Khác với Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn
Khuyến, khi luận bàn về thi ca Trần Tế Xương, Võ Thu Tịnh lại đi tìm những giá
trị nhân văn của thơ ca Trần Tế Xương từ nổi đau của ông trước thế thái nhân
tình vì theo tác giả: “Thi ca của Trần Tế Xương đã cho chúng ta thấy lòng ưu thời
mẫn thế của ông: hoang mang đau khổ trước cảnh nước mất nhà tan, phẩn uất vì đẳng
cấp Nho sĩ phải nhường chỗ cho một bọn người vô học, tay sai cho thực dân, và
than khóc cho giá trị con người bị chà đạp.” Vì thế, “Nếu Nguyễn Khuyến đã than
khóc một trí thức đại thần bất lực trước nạn ngoại xâm, nếu Tản Đà đã than khóc
cho một người dân bất lực trước cảnh lạc hậu của đất nước trong phong trào văn
minh tiến bộ chung của thế giới, thì ở đây Trần Tế Xương đã than khóc cho con
người bị chà đạp và bất lực trước cuộc đời.”[23] Như vậy, lòng yêu quê hương đất nước
trong cái nhìn của các nhà biên soạn sách giáo khoa Quốc văn cũng có nhiều cung
bậc khác nhau và tùy theo hoàn cảnh sống của mỗi người mà các nhà thơ / văn có
cách biểu hiện khác nhau. Nhưng tựu trung lại, đây vẫn là một bình diện của
tính nhân văn thể hiện nhân cách văn hóa của mỗi người trước vận mệnh đất nước,
dân tộc mà chúng ta cần trân quí và nêu gương cho các thế hệ mai sau.
3. Thay lời kết:
Nền giáo dục ở miền Nam
Việt Nam trước 1975, không phải là một nền giáo dục đã hoàn mỹ nên vẫn còn có
những khiếm khuyết. Nhưng với nền tảng triết lý giáo dục “nhân bản”, “dân tộc”
và “khai phóng” thì đây là một nền giáo dục “luôn luôn lấy con người làm cứu
cánh, thể hiện tư tưởng nhân bản, luôn luôn chú trọng vào việc xây dựng đạo làm
người, phát triển mầm mống tốt ở con người, phục vụ nhân sinh để tiến đến một
xã hội hoàn thiện.”[24] Vì thế, việc giáo dục tính nhân văn
cho học sinh, sinh viên là một vấn đề rất được quan tâm trong việc xây dựng
chương trình và biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, trong đó có chương trình
và sách giáo khoa Quốc văn mà những vấn đề được luận bàn ở trên là một minh chứng.
Tìm hiểu việc giáo dục
tính nhân văn qua chương trình, sách giáo khoa Quốc văn bậc Trung học Đệ nhị cấp
nói riêng cũng như chương trình Quốc văn trong nhà trường ở miền Nam trước 1975
nói chung sẽ làm cho chúng ta thấy rõ hơn ý nghĩa của vấn đề giáo dục tính nhân
văn cho học sinh, để từ đó, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc
xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa văn học hiện hành, nhất là khi
nền giáo dục nước nhà đang thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện chương trình
và sách giáo khoa trong trường phổ thông. Giáo dục tính nhân văn cho thế hệ trẻ,
mà cụ thể là học sinh và sinh viên trong trường phổ thông và đại học là một vấn
đề không mới nhưng cũng không bao giờ cũ, nhất là trong bối cảnh mà sự suy
thoái đạo đức xã hội, trong đó có đạo đức ở nhà trường đang là vấn đề làm nhức
nhối lương tri những người tử tế. Vì thế, đặt vấn đề giáo dục tính nhân văn cho
thế hệ trẻ nói chung và học sinh, sinh viên trong nhà trường nói riêng là một vấn
đề không những có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giúp
chúng ta có cơ sở lý luận và thực tiễn để giải quyết một vấn đề bức xúc, đang đặt
ra cho nền giáo dục nước nhà hầu lấy lại vị thế nhà trường trong niềm tin của
nhân dân. Bởi, “dù bất cứ học đến bậc học nào, mục đích của giáo dục vẫn phải
là giúp tất cả mọi người trở thành người tốt, người đã được phát triển về khả
năng cũng như đạo đức, dù khả năng đó ở mức độ nào…”[25] Và mục đích cao cả ấy, chỉ có thể
thực hiện được khi nhà trường luôn quan tâm đến việc giáo dục tính nhân văn cho
học sinh, sinh viên qua nội dung chương trình, sách giáo khoa, giáo trình, một
nhân tố luôn gắn với việc nghiên cứu, học tập và hình thành nhân cách văn hóa của
người học, không chỉ trong quá khứ, hiện tại mà cả tương lai của quá trình giáo
dục…
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Duy Cần
(1970), Văn hóa giáo dục miền Nam Việt Nam đi về đâu?, Nam Hà
Xb., Sài Gòn
2. Vũ Ký, và Hồ Ngọc Cẩn, Việt
Văn toàn thư Tú tài I Ban A.B.C.D., Á Châu , Sài Gòn
3. Phạm Văn Diêu
(1970), Việt Nam văn học giảng bình, Nxb. Hoành Sơn, Sài Gòn.
4. Nhất Hạnh, (1968), Nói
với tuổi hai mươi, Lá Bối xuất bản, Sài Gòn
5. Heidegger (1974), Thư về
nhân bản chủ nghĩa (bản Việt ngữ, Trần Xuân Kiêm), Tân An Xb., Sài Gòn
6. Phạm Thế Ngũ (1961),
(1962), (1965), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Tập I, Tập
II, Tập III, Quốc học Tùng thư xuất bản, Sài Gòn
7. Nhiều tác giả, Tạp
chí Nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề giáo dục miền Nam Việt
Nam (1954-1975) số 7-8 (114-115) /2014
8. Nhóm tác giả,
(1974), Quốc Văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn
9. Võ Thu Tịnh, Việt
văn Đệ nhị ABCD tập I, thế kỷ XIX, , tập II, thế kỷ XX, Hải
Vân Xb., Sài Gòn
10. Đàm Xuân Thiều, Trần Trọng
San, (1971) Việt văn độc bản, lớp 11, Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu
xuất bản, Sài Gòn
11. Nguyễn Quảng Tuân,
(1972) Giảng văn lớp 10, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn
12. Đỗ Văn Tú, (1970) Giảng
văn lớp 11 ABCD, Văn Hào Xb., Sài Gòn
Chú thích:
[1] Trần
Văn Chánh, “Giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) trên con đường xây dựng và
phát triển”, Tạp chí nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề Giáo
dục miền Nam Việt Nam (1954-1975), tr.13, 14
[2] Nguyễn
Quảng Tuân, Giảng văn lớp 10AB, Trường Thi Xb., Sài Gòn, 1972,
tr.100
[3] Nguyễn
Quảng Tuân, Giảng văn lớp 10AB, Trường Thi Xb., Sài Gòn, 1972,
tr.135
[4] Châu
Trọng Ngô “Nhìn lại nền giáo dục miền Nam Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu
và phát triển, Chuyên đề giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) số 7-8
(114-115) /2014, tr.256
[5] Trần
Văn Chánh “Giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) trên con đường xây dựng và
phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề giáo dục
miền Nam Việt Nam (1954-1975) số 7-8 (114-115) /2014, tr.50
[6] Nhóm
tác giả, Quốc văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1974,
tr.5
[7] Nhóm
tác giả, Quốc văn lớp 12 ABCD Trường Thi xuất bản, SG, 1974,
tr.118
[8] Nhóm
tác giả, Quốc Văn lớp 12 ABCD Trường Thi xuất bản, Sài Gòn,
1974, tr.121
[9] Võ
Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập II thế kỷ XX, Hải Vân Xb.,
Sài Gòn, tr. 639
[10] Võ
Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập II thế kỷ XX, Hải Vân Xb.,
Sài Gòn, tr. 683
[11] Võ
Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập II thế kỷ XX, Hải Vân Xb, SG,
tr. 694-695
[12] Võ
Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb., SG,
tr.30
[13] Võ
Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb., SG,
tr.36, 37
[14] Võ
Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb,
SG, tr.51
[15] Nhóm
tác giả, Quốc Văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, SG, 1974,
tr.146
[16] Nhóm
tác giả, Quốc Văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, SG, 1974,
tr.147
[17] Trần
Văn Chánh “Giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) trên con đường xây dựng và
phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề giáo dục
miền Nam Việt Nam (1954-1975) số 7-8 (114-115)/ 2014, tr.50
[18] Nhóm
tác giả, Quốc Văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1974,
tr.20
[19] Nhóm
tác giả, Quốc Văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn,
1974, tr.23, 24
[20] Võ
Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb.,
Sài Gòn, tr. 189
[21] Võ
Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb., Sài
Gòn, tr.195
[22] Võ
Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb., Sài
Gòn, tr.235
[23] Võ
Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb.,
Sài Gòn, tr.354, 355
[24] Nguyễn
Văn Nhật “Nền giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam trước 1975”, Tạp chí
Nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề giáo dục miền Nam Việt Nam
(1954-1975) số 7-8 (114-115) /2014, tr.79
[25] Trần
Văn Chánh “Giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) trên con đường xây dựng và
phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề giáo
dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) số 7-8 (114-115) /2014, tr.51.
13/4/2020
Trần Hoài Anh
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Triết lý nhân sinh qua bài thơ Đò chiều
Triết lý nhân sinh
qua
bài thơ Đò chiều
Thơ lục bát vốn dĩ
là mảnh đất màu mỡ của văn học dân gian. Thế nhưng, văn học viết đã từng có những
gương mặt phu chữ cày ải miệt mài trên thửa ruộng thi ca, được thể lục bát vinh
danh như Nguyễn Du, Bùi Giáng, Đồng Đức Bốn … Ai có thể là truyền nhân tiếp nối?
Không ít lần người viết tự
vấn, rồi tự trả lời: Không nhiều nhà thơ để lại dấu ấn ở thể thơ tưởng dễ mà
khó tiếp cận này. Viết không khéo không hay, cảm xúc cạn hoặc đi đến chỗ vay mượn,
thơ lục bát sẽ rơi vào chỗ non tay của một bài vè. Mà vè thì hầu như ai cũng
làm được. Thơ hay đã quý. Lục bát thần tình lại càng hiếm. Vì lẽ đó, người viết
trân trọng gọi những bài thơ lục bát viên thành cả về nội dung lẫn nghệ thuật
là thiên lục bát. “Đò chiều” của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ là một trong những bài
thơ như thế.
ĐÒ CHIỀU
Chiều gần. Chiều chậm.
Chiều rơi
Tiếng chuông chùa ngắn
như hơi thở chiều
Trên đò ngọn gió tịch
liêu
Lạnh lùng thổi lại hồn
chiều bơ vơ
Ta qua chưa hết chuyến đò
Thấy trăng đứng đợi bên bờ
tử sinh
Thấy sông trôi lại bóng
mình
Biết ta là bóng hay hình
rong chơi
Tình xưa đã chết bên trời
Chiều nay sông nước đọc lời
điếu tang
Hỏi quê nào biết đâu làng
Lòng không, còn lại mấy
hàng mây trôi.
(Bến đò Giao Thủy,
2004)
TẦN HOÀI DẠ VŨ
Dòng lục mở đầu bài thơ gồm
ba câu đặc biệt: ngắn và khó định chủ – vị. Khoảnh khắc thời gian trong một
ngày được nhà thơ níu lại gần, thật chậm rãi khoan thai như nhịp chẵn/ nhịp đôi
thong dong vẫn thường gặp ở thể thơ này:
Chiều gần. Chiều chậm.
Chiều rơi
Hai câu đầu được dấu chấm
câu giữ lại. Chỉ câu thứ ba là không dấu câu nào có thể bắt lấy, nên buổi chiều
rơi tự do vào khoảng không vô định. Ý thơ tưởng là nhàn dật và khoái hoạt,
nhưng đặt trong cấu trúc câu lạ, hòa phối với điệp từ “chiều” khiến người đọc hồ
dễ tỏ tường được tâm tư xa vắng mà khắc khoải ưu phiền của thi nhân. Quả thật,
câu thứ hai – câu bát như một tiếng thở dài rụng xuống hoàng hôn:
Tiếng chuông chùa ngắn
như hơi thở chiều
Tiếng chuông chùa từ lâu
vừa mang nét văn hóa tâm linh vừa hàm chứa tư tưởng phương đông. Nội hàm của tiếng
chuông là Phật pháp, là triết lý sắc – không, ngỡ có hình tướng mà thật ra vô
tướng, vô ảnh. Nói cách khác, chung thanh như một ánh chớp soi rọi vào những
ngõ ngách thẳm sâu của thân phận người. Cách so sánh “tiếng chuông” ngắn như
“hơi thở chiều” mang màu sắc cổ điển. Tác giả dùng động (âm thanh tiếng chuông)
để làm bật lên sự tĩnh lặng (vô thanh) xung quanh. Đây là nguyên tắc dùng động
nói tĩnh hay gặp trong Đường thi. Trong bài thơ tứ tuyệt “Điểu minh giản” của
Vương Duy (được xưng tụng là Thi Phật) thủ pháp mượn động nói tĩnh cũng thể hiện
ở câu khai “Nhân nhàn, hoa quế lạc” (Người nhàn, hoa quế rụng). Tâm hồn phải thật
yên bình mới lắng nghe được trong thiên nhiên thanh tĩnh tiếng rơi khẽ, nhẹ của
hoa quế – một loài hoa thường được trồng ở các thiền viện. Câu thơ hay ở sự hòa
điệu vi tế giữa người thơ và thiên nhiên trong trục giao cảm thiên – nhân hợp
nhất. Câu bát của “Đò chiều” cũng có làn hương thoảng nhẹ bình đạm của hoa quế
lại vừa có chất suy tư nội tâm của chủ thể trữ tình. Cấu trúc cặp lục – bát ở
đây vừa phá cách về hình thức lại vừa cổ điển về thi liệu, thi pháp.
Câu thứ ba khoác vẻ đẹp
trang nhã mà se sắt u buồn:
Trên đò ngọn gió tịch
liêu
Lạnh lùng thổi lại hồn
chiều bơ vơ
Vừa thoáng bóng dáng của
ngọn gió vô hình vô tướng, thi nhân đã chùng lòng vì nỗi “tịch liêu” vây phủ tứ
bề. Nếu hai câu đầu khơi gợi cái nhìn ngộ giác thì câu thứ ba khai mở huệ giác
trong trạng thái hòa cảm trọn vẹn giữa tâm hồn và ngoại giới “hồn chiều bơ vơ”.
Cảnh giao tình. Tình hòa cảnh. Tiểu ngã (atman) nhập vào đại ngã (brahman). Động
từ “thổi” chạm đến được sự dịch chuyển của cái vô thường và bắt lấy khoảnh khắc
trời đất – vũ trụ – lòng người giao thoa. Và đấy là chất thiền tịnh xuyên suốt
ý thơ.
Ta qua chưa hết chuyến đò
Thấy trăng đứng đợi bên bờ
tử sinh
Đã giác ngộ thì chuyến đò
chiều cũng là chuyến đò định mệnh, chuyến đò tử sinh của kiếp người hữu hạn. Dẫu
rằng chủ thể trữ tình vẫn còn phân vân giữa hai bờ sinh tử, chưa qua hết chuyến
– đò – hoàng – hôn đời mình. Như quy luật khó cưỡng: Là tro bụi, sẽ trở về bụi
tro “Chiều nay gió thổi ngang đầu/ Thân là hạt bụi đã sầu ngàn
năm” (Thân là hạt bụi – Tần Hoài Dạ Vũ). Triết lý nhân sinh trên cũng láy lại
trong hai câu lục bát khác của thi nhân: “Lạy cùng đất thấp trời cao/ Có ta hạt
bụi xin chào mai sau!”.
Trăng sáng có bao giờ rời
bỏ thi ca trong những giờ phút trọng đại của đời người!?. Trong buổi hẹn đầu mà
nên duyên “Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng/ Tre non đủ lá đan sàn nên chăng ?”
(Ca dao) hoặc trăng tỏ rạng trong đêm Kim – Kiều thề nguyện “Vầng trăng vằng
vặc giữa trời/ Đinh ninh hai mặt một lời song song”. Cho đến trạng huống thị
ngộ “Nguyệt xuất kinh sơn điểu” (Trăng lên làm chim núi giật mình) rồi
đại ngộ “Tăng xao nguyệt hạ môn” (Sư gõ cửa trăng chiều). Hình ảnh
“trăng đứng đợi” soi sáng hai bờ tử sinh là thi ảnh mới lạ, ám gợi về cõi sinh
diệt u tịch. Thi nhân đề cập đến chuyến đi vào cõi vô cùng của đời người bằng
giọng nhã đạm, khiến cái chết được nhắc đến nhẹ tựa bóng hình hư ảnh, như nước
chảy mây bay:
Thấy sông trôi lại bóng
mình
Biết ta là bóng hay hình
rong chơi
Tiết tấu thơ chầm chậm u
hoài nghiêng về tự vấn, tự soi rọi. Nói cách khác, nhà thơ quay cái nhìn vào
bên trong, chiêm nghiệm về kiếp nhân sinh và lẽ biến dịch vô thường. Đời người
ngắn ngủi, vô thường như chiếc bóng, nào ai cắt nghĩa được “Biết ta là bóng hay
hình rong chơi” ?!. Là Trang sinh hóa bướm hay bướm là Trang sinh ?!
Lấy sông nước, bóng chiều,
con đò làm bối cảnh cho tư tưởng, quan niệm về lẽ vô vi vạn biến, ý thơ dần dịch
chuyển về cuộc tử sinh của tha nhân. Hình ảnh thơ mở ra rợn ngợp và ám ảnh.
Điêu linh của vô cùng thiên địa “Niệm thiên địa chi du du” (Trần Tử Ngang). Ám
gợi bởi thi ảnh sáng tạo khi nghĩ về chuyến xe sinh tử không có vé khứ hồi:
Tình xưa đã chết bên trời
Chiều nay sông nước đọc lời
điếu tang
Câu thơ ngân nga ở vần
“ang” (tang) lan xa và loang dài trong buổi tà dương của ngoại cảnh, hắt bóng
chiều lên đời người đã nếm trải quá nửa phù trầm như lời ai điếu của sông nước.
Ý thơ hẫng một nhịp mất mát ở từ “đã chết”, khiến những đau thương lùi hẳn về
quá khứ. Trước lời “điếu tang”, mọi giấc mơ đời bỗng nhiên hư huyễn. Kể cả tình
xưa, lối xưa hay đò chiều đang ngậm bóng tà huy. Chỉ còn lại thấp thoáng một
câu hỏi nhân sinh đau đáu. Câu hỏi vọng từ quá khứ, neo ở hiện tại và tiếp diễn
ở vị lai:
Hỏi quê nào biết đâu làng
Lòng không, còn lại mấy
hàng mây trôi.
Có thể nói đó là suy niệm
của cả đời thơ, đời người. Từ Thôi Hiệu với “Nhật mộ hương quan hà xứ thị?/
Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Quê hương khuất bóng hoàng hôn/Trên
sông khói sóng cho buồn lòng ai – bản dịch của Tản Đà) cho đến những trăn trở của
hoàng đế xuất gia Thuận Trị “Tôi từ đâu đến không người biết/ Tôi đến nơi
nào có ai hay ?”. Để rồi gặp Bùi thi sĩ, câu hỏi “sinh kí tử quy” trở nên
sáng tỏ, đốn ngộ và thoát tục:
Hỏi tên: Rằng biển xanh
dâu.
Hỏi quê: Rằng mộng
ban đầu đã xa.
Thế nhưng với người thơ Tần
Hoài Dạ Vũ, quê nhà theo đám mây biến dịch hằng viễn, hoài trôi vô định. Đấy chẳng
phải là áng mây Tần “Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa” (Truyện Kiều)
đấy sao !? Hay cảm thức về vũ trụ vĩnh hằng trong thơ Thôi Hiệu “Bạch vân thiên
tải không du du” (Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay) cùng với áng mây Tần kia
đã ảnh hưởng đến hai chữ đầu “Tần Hoài” trong bút danh và phủ bóng lên đời thơ
của ông ?. Có lẽ, chính thi ảnh và thi ý sáng tạo mới làm thành nét riêng biệt
giữa “Đò chiều” với các bài thơ khác có hình ảnh ẩn dụ “mây trắng”. Sinh mệnh của
câu thơ kết lại ở chi tiết “Lòng không” và sự hiện hữu, hiện hành của từ “còn lại”.
Không có sự đối sánh giữa đời người nhỏ bé, hữu hạn (đò chiều) và thiên nhiên
mênh mang, vô hạn (áng mây, dòng sông) ta hay gặp trong thi pháp thơ Đường. Bản
thân chủ thể đã chạm cửa không (lòng không) nên hồn thơ và trời đất đã đến ngưỡng
hợp nhất giữa thiên – địa – nhân ngay trong khoảnh khắc hiện tồn.
Trong hai câu thơ: “Dặm
xa quán trọ cơ cầu/ Mùa xuân mây trắng ngang đầu nhớ quê” thì quán trọ phải
chăng là cõi đời này? Người khách trọ kia có mong một quê nhà nào chăng?. Đó có
phải là cõi quê chung mà Trần Thái Tông đã từng hỏi: “Vĩnh vi lãng đãng phong
trần khách/ Nhật mộ hương quan vạn lý trình”. Cái quê chung ấy biết có còn lại
trong lòng kẻ cơ cầu “Lòng không còn lại mấy hàng mây trôi”. Câu thơ cuối
tụ lại ở cảm nhận chung rằng chủ thể trữ tình đã đạt đến trạng huống giao hòa với
vũ trụ miên viễn, nên thi nhân hóa thành một phần của đám mây, dòng sông, bầu
trời.
Tinh hoa của cả bài kết lại
ở ý thơ tình thơ, làm nên vẻ đẹp vi tế và chắp cánh cho tư duy thơ thoát trần,
dù hồn thơ không hề thảnh thơi vô sự. Xuyên suốt chỉnh thể văn bản, thi nhân vẫn
đau đáu dai dẳng về triết lý nhân sinh, về bể dâu đời người, về quy luật biến dịch.
Đồng thời, đó là điểm nhất quán trong thơ Tần Hoài Dạ Vũ. Và biết đâu, như thi
nhân Lý Bạch, tác giả của bài thơ cũng muốn “quy cố hương” cùng áng mây trắng
nao nao “Bạch vân xứ xứ trường tùy quân” (Đi đâu mây trắng cũng theo
anh).
14/4/2020
Nguyễn Huyền Thoại Vy
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Văn nghệ giải phóng - Những ký ức không thể phai
Văn nghệ giải phóng - Những
ký ức không thể phai
Văn Nghệ Giải phóng
thực sự đã thâm nhập được vào những điều bí ẩn lớn lao của cuộc sống và nâng
lên thành những khái quát nghệ thuật đầy sức sống. Hoàn cảnh và sự tự ý thức của
nhà văn đã kích thích những sáng tạo độc đáo, nhất là khi nhà văn đã có một
trình độ hiểu biết nghệ thuật, một tâm thế đang sục sôi trước những nhu cầu đời
sống…
Sau thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống Pháp1954, Hiệp định Genève được ký kết, tạm thời phân chia
hai miền Nam Bắc, hai năm sau sẽ Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Ở miền Nam,
chính quyền Ngô Đình Diệm đã bộc lộ ngay bản chất phản động, chống lại Tổng tuyển
cử, dùng các thủ đoạn, đặc biệt là luật 10/59 (5-1959) khủng bố, tàn sát rất dã
man những người dân yêu nước và cách mạng. Những năm từ 1957 đến 1960, nhiều lần
Chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị thực hiện Tổng tuyển cử nhưng chính
quyền ở miền Nam hoặc là phủnhận hoặc không trả lời. Nhiều phong trào đấu tranh
của nhân dân đã nổ ra, tiêu biểu là phong trào Đồng khởi ở Bến Tre 1960, sau
lan ra khắp miền Nam. Và đây là cơ sở quan trọng cho sự ra đời của Mặt trận Dân
tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Giải phóng) vào ngày
20-12-1960, nhằm đoàn kết toàn dân chống lại sự can thiệp của đế quốc Mỹ và tay
sai. Trong xu thế cách mạng ấy, ngày 20-7-1961, Hội Văn nghệ Giải phóng miền
Nam, một tổ chức thành viên của Mặt trận được thành lập, do soạn giả nổi tiếng
Trần Hữu Trang làm Chủ tịch, nhằm đoàn kết lực lượng văn nghệ sĩ toàn miền Nam
trong cuộc đấu tranh chung. Hội ra tuyên ngôn, nhấn mạnh nhiệm vụ “Đánh đổ ách
thống trị của đế quốc và tay sai”, “Cống hiến nhiều nhứt cho sự tự do của Tổ quốc”.
Năm sau đó, 1962, từ vùng căn cứ nằm sâu trong cánh rừng đại ngàn thuộc tỉnh
Tây Ninh, báo Văn nghệ Giải phóng-Diễn đàn của Hội, do nhà thơ Giang Nam làm Tổng
biên tập, được ra mắt. Lúc đầu báo còn hình thức tập san, sau ra khổ rộng và
thành tuần báo khi xuất bản ở Sài Gòn sau chiến thắng mùa Xuân năm 1975.
Ngay từ lúc đầu, Hội Văn
nghệ Giải phóng đã quy tụ được nhiều anh em văn nghệ sĩ, từ nhiều nguồn, và có ảnh
hưởng rộng khắp miền Nam. Có những nghệ sĩ danh tiếng từng hoạt động ở thành ra
chiến khu như Trần Hữu Trang, Thanh Loan, Tám Vân, Chín Châu, Lý Văn Sâm, Trang
Thế Hy, Viễn Phương, Lê Vĩnh Hòa, Mai Quân, Vũ Quách. Những anh em ở chiến khu
như Huỳnh Minh Siêng (Lưu Hữu Phước), Giang Nam, Trần Hiếu Minh (Nguyễn Văn Bổng),
Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn, lúc này đang làm báo Văn nghệ Quân Giải phóng),
Anh Đức (Bùi Đức Ái), Hoài Vũ, Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), Ngô Y Linh (Nguyễn
Vũ), Hoàng Việt, Thái Ly, Nguyễn Sáng (Nguyễn Quang Sáng), Trần Đình Vân, Đinh
Quang Nhã, Lê Văn Thảo, Chim Trắng, Nguyễn Chí Hiếu,Thạch Cương, Diệp Minh Tuyền,
Thanh Thảo,… Đội ngũ này còn kéo dài nữa với những anh em văn nghệ sĩ chiến đấu
ở chiến trường Khu Năm và chiến trường Trị Thiên như Phan Tứ (Lê Khâm), Nguyễn
Trung Thành (Nguyên Ngọc), Thanh Hải, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Dương Hương Ly
(Bùi Minh Quốc), Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm Phong và còn nhiều nữa. Năm 1971,
Hội được bổ sung một lực lượng vốn là sinh viên khoa Văn và khoa Sử trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội, và một số nơi khác, chuyển sang học khóa IV -Khóa đặc biệt
bồi dưỡng lực lượng viết trẻ cho chiến trường, của Hội Nhà văn Việt Nam, như Vũ
Ân Thy, Lê Quang Trang, Dương Trọng Dật, Hà Phương, Trần Thị Thắng, Khuynh Diệp,
Lê Điệp, Đỗ Nam Cao,Trần Đức Cường, Phan An, Hà Công Tài, Phùng Đức Thắng, Phạm
Quang Nghị, Nguyễn Khắc Thuần, Phan Xuân Biên; một số chiến đấu ở chiến trường
khu Năm như Vũ Thị Hồng, Nguyễn Hồng, Nguyễn Bảo, Nguyễn Bá Thâm, Nguyễn Khắc
Phục, Ngô Thế Oanh …Vào chiến trường các anh chị đã tỏa đi các mặt trận như, Hà
Phương, Trần Thị Thắng, Khuynh Diệp, Hà Công Tài, Nguyễn Khắc Thuần, Phan Xuân
Biên, Phan An về Khu Sài Gòn -Gia Định. Dương Trọng Dật về một xã ở tỉnh Bình
Phước. Vũ Thị Hồng, Nguyễn Bảo, Nguyễn Hồng đi với bộ đội chủ lực. Rồi Trần Đức
Cường đi Đồng Xoài, Hà Công Tài cùng họa sĩ Thanh Châu đi mặt trận núi Bà
Đen,Trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, Trẩn Thị Thắng, Phùng Đức Thắng, Hà
Phương cùng đi với bộ đội chủ lực tiến vào giải phóng Mỹ Tho; Phan Xuân Biên,
Hà Công Tài theo một cánh quân của sư đoàn 7 vào giải phóng Biên Hòa…Trong ác
liệt của chiến tranh, Nguyễn Hồng đã anh dũng hy sinh trong trận quyết giữ cao
điểm, không cho kẻ thù chiếm đất ở chiến trường Khu Năm; Nguyễn Văn Long, Nguyễn
Văn Kim đã không qua khỏi vì sốt rét ởTrường Sơn, để lại những trang viết nhiều
hứa hẹn.
Đội ngũ này tiếp tục làm
báo Văn Nghệ Giải phóng – Do nhà thơ Hoài Vũ làm Tổng Biên tập (từ 1973) với một
Tòa soạn khá hoàn chỉnh như Tổ Văn do Thạch Cương Tổ trưởng, tổ viên có Lê Văn
Thảo, Trần Thị Thắng; Tổ Thơ do Diệp Minh Tuyền Tổ trưởng, tổ viên có Chim Trắng,
Hà Phương, Bùi Quốc Việt; Tổ Lý luận phê bình do Lê Quang Trang Tổ trưởng, tổ
viên có Dương Trọng Dật, Hà Công Tài; và các tổ khác cùng sự bổ sung nhiều nhân
sự mới sau khi về Sài Gòn như Nguyễn Duy, Mai Quốc Liên, Hữu Trí, Lê Thanh Trừ,Trang
Nghị, Hiền Mai, Văn Lê, Trần Manh Hảo, Trần Văn Tuấn, Trần Ninh Hồ, Trần Nhật
Thu. Tòa soạn hoạt động cho đến năm 1977 khi Văn nghệ Giải phóng hợp nhất với tờ
Văn nghệ trung ương.
Những năm chiến tranh,
lưc lượng văn nghệ giải phóng đã có mặt ở hầu khắp các mặt trận, các địa
phương, sống, chiến đấu cùng với nhân dân, với du kích và bộ đội chủ lực như những
người chiến sĩ thực thụ. Trần Hiếu Minh hoạt động ở Sài Gòn với “vỏ bọc” công
khai, lấy bút danh là Lý Nguyên Trung, Phượng Nguyễn, Vương Quế Lâm viết
những bài báo sắc sảo trên báo chí công khai, rồi đến Bến Tre, U Minh, Cà Mau,
viết Cửu Long cuộn sóng (ký, 1965), Rừng U Minh (tiểu
thuyết, 1966), Sài Gòn ta đó (ký, 1969), Áo trắng (tiểu
thuyết, 1973)… Anh Đức về Rạch Giá, Cần Thơ, Cà Mau, bám dân bám đất, viết tiểu
thuyết Hòn đất và nhiều truyện ngắn và ký khác như Khói,
Đất, Đứa con, Con chị Lộc, Giấc mơ ông lão vườn chim… Lê Văn Thảo đi với bộ
đội chủ lực ở Đồng Tháp Mười, viết Ngoài mặt trận. Hoài Vũ tham gia
các chiến dịch như Đồng Xoài, viết Dọc đường số 2, Bông sứ trắng,
Tổng công kích Mậu thân vào Sài Gòn, viết Đường ra tiền tuyến, Nữ pháo
binh thành phố, Thư Tân Sơn Nhất, ở Củ Chi, viết Lên vành đai, Gái
thời chiến, ở Long An, viết Vàm Cỏ Đông, Đi trong hương tràm, Gửi miền
hạ.
Tại Đại hội Anh hùng chiến
sĩ thi đua toàn miền Nam, 1965, các nhà văn đã tham dự, lấy tài liệu viết về những
tấm gương anh hùng. Cùng với vốn sống và sự trải nghiệm thực tiễn chiến đấu, Lê
Anh Xuân viết bài thơ xúc động Gặp những Anh hùng, truyện Giữ
đất viết về Anh hùng Nguyễn Văn Tư. Anh Đức có tác phẩm Chim đầu
đàn viết về Anh hùng Bi Năng Tắc. Nguyễn Thi có tác phẩm Người
mẹ cầm súng viết về Anh hùng Nguyễn Thị Út cô gái đất Ba Dừa Trà Vinh
và các tùy bút Đại hội Anh hùng, Những câu nói trong Đại hội, Dòng kênh
quê hương. Truyện ngắn Mẹ vắng nhà cũng là từ tấm gương
người phụ nữ Trà Vinh ấy. Nguyễn Thi đã có mặt ở hầu khắp các mặt trận, các “điểm
nóng” như Ấp Bắc, Củ Chi, Đồng Xoài, Bến Tre, viết các tác phẩm Ở xã
Trung Nghĩa, Những sự tích ở đất thép, Cô gái đất Ba Dừa, Ước mơ của đất…
Lê Anh Xuân vốn là một giảng viên trẻ tài hoa của khoa Lịch sử trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội đã từ chối đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài để trở về quê hương chiến
đấu, đã viết nhiều tác phẩm như Trường ca Nguyễn Văn Trỗi, tập
thơ Hoa dừa trong đó có bài thơ nổi tiếng Dáng đứng Việt
Nam.
Anh ngã xuống đường băng
Tân Sơn Nhứt
Nhưng Anh gượng đứng lên
tì súng trên xác trực thăng
Và Anh chết trong khi
đang đứng bắn
Máu Anh phun theo lửa đạn
cầu vồng (…)
Không một tấm hình không
một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho
riêng Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng – đứng
– Việt – Nam tạc vào thế kỷ
Anh là chiến sĩ Giải
phóng quân
(Dáng đứng Việt Nam,
1968)
Trong đợt Tổng công kích
Mậu thân tháng 5-1968, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân đã anh dũng hy sinh, cống hiến
trọn vẹn cả cuộc đời mình cho cách mạng và cho nền văn học cách mạng của dân tộc.Nhà
văn Nguyễn Thi, Nhà thơ Lê Anh Xuân, được Nhà nước và Nhân dân tôn vinh là Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cho nên, có thể nói văn
nghệ Giải phóng là dòng văn nghệ sinh ra từ trong máu lửa của cuộc chiến đấu và
luôn cuộn chảy trong nó tất cả máu và lửa của tình yêu quê hương đất nước và ý
chí cách mạng. Nó có tính khuynh hướng rõ ràng là phục vụ cuộc kháng chiến, là
động viên cổ vũ tinh thần chiến đấu, là chép sử và ghi lại hiện thực đấu tranh
cách mạng, ghi lại cuộc sống chiến đấu và những tấm gương anh hùng. Và hơn thế
nữa, nó cũng bộc lộ mặt bản chất nhất của sáng tạo văn học khi được sáng tác trực
tiếp trong cuộc đấu tranh sinh tử của con người để giành lại cuộc sống. Nó khác
văn học thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở chỗ không phải nhận đường,
không bị ảnh hưởng bởi những buồn rớt, nhắm rớt, không có sự day dứt
giữa nhà văn và chiến sĩ, không phải mất thời gian để xây dựng tính chất quần
chúng, không có cảnh, tình của áo rách vai, quần vài mảnh vá và
con người, người chiến sĩ không phải gặp nhau từ thời chưa
biết chữ. Thời đại của văn nghệ giải phóng. ngược lại, là thời đại kết tinh
cao nhất các giá trị tinh thần dân tộc, thời đại liên tục sáng tạo các giá trị
mới. Và mỗi nhà văn đạt tới cái nhìn (vision) riêng, độc đáo,
là cơ sở hình thành những phong cách nghệ thuật vô cùng phong phú, sinh động.
Thời đại viết văn là viết về chính mình, là bộc lộ cao độ nhất phẩm chất tâm hồn
và những khát khao cháy bỏng. Chính thơ văn đó, nói như nhà văn Mỹ đạt giải
Nobel, Faulkner, là di tích của con người, là điểm tựa, là cột trụ giúp con người
chịu đựng và chiến thắng.
Chiến tranh hơn bất cứ một
lịch sử nào đã tác động đến những phần sâu xa nhất trong cuộc sống và tâm hồn,
tư tưởng và tình cảm của nhà văn…Chiến tranh “Nơi cao nhất thử lòng ta yêu đất
nước/thử lòng ta chung thủy vô tư” (Thanh Thảo) vì thế cũng bộc lộ tất cả những
kinh nghiệm cuộc đời, tâm lý, đạo đức, nhân cách, đem lại cho con người những
suy tư và nỗi thấu hiểu mối quan hệ giữa quá khứ với hiện tại và ảnh hưởng của
nó tới tương lai. Có thể nói nhà văn Nguyễn Thi là tiêu biểu cho thế hệ nhà văn
của văn nghệ Giải phóng, là một tâm hồn nghệ sĩ theo nghĩa đẹp nhất của từ này.
Nhưng có lẽ trước hết ở trong anh là một người chiến sĩ. Và phải chăng đó cũng
là đặc điểm của một lớp người cầm bút thế hệ Nguyễn Thi. Tâm sự của Nguyễn Thi
sẽ là minh chứng để chúng ta suy ngẫm xác đáng hơn về đặc điểm của thế hệ cầm
bút đó. Nhà văn đã có ý thức hơn bao giờ hết về sứ mệnh rất thiêng liêng và
cũng rất thực của mình khi trở lại miền Nam. “Ở trong ấy lúc này chúng ta chưa
có dân, chưa có đất, toàn bộ chính quyền còn trong tay kẻ thù. Gần như phải bắt
đầu từ tay không mà đi tới giành lại tất cả. Tình hình như vậy mà mình về để
làm văn chương thì vô nghĩa, vô duyên quá chừng! Về trong ấy có lẽ mình sẽ làm
tất cả việc gì cần làm cùng với đồng chí đồng bào, làm gì cũng được, bất cứ việc
gì có ích dù nhỏ nhất. Mình sẽ chỉ trở lại cầm bút khi nào cầm bút thực sự cần
thiết và có ích cho cầm bút, hoặc hơn thế”. Sau này về chiến trường Nam bộ,
Nguyễn Thi đã sống như thế, đã trực tiếp cầm súng và đã viết những tác phẩm Ở
xã Trung Nghĩa (1963), Người mẹ cầm súng (1965), Ước mơ của đất (1968)… Người
mẹ cầm súng là một thành công của Nguyễn Thi về sự cảm nhận phẩm chất
cao đẹp và triết lý giản dị của người anh hùng dân gian như chị Út Tịch. Ước
mơ của đất, truyện về anh hùng Nguyễn Thị Hạnh được viết sau Đại hội
Anh hùng toàn miền Nam lần thứ hai, là sự rung động sâu sắc của nhà văn về chiến
tranh nhân dân, về Đồng khởi. Giữa chiến trường khắc nghiệt, Nguyễn Thi từng
tâm sự “tình hình này ngồi viết tiểu thuyết, nó chướng lắm”. Điều này càng cho
ta hiểu về nhà văn và tác phẩm,- những tác phẩm phản ánh thật độc đáo sự biến
chuyển của cách mạng miền Nam. Dường như Nguyễn Thi, bằng tất cả sự tự ý thức của
mình, đã nói lên, rất thầm thì, những điều dự báo lớn lao, đẹp và thiêng liêng
về số phận những con người đang cầm súng giữa chiến trường máu lửa, về sự thắng
lợi tất yếu và thiêng liêng kỳ lạ của Cách mạng miền Nam ngay từ những năm
tháng ác liệt nhất của lịch sử, và hơn hết là về những con người dù ở bất cứ
nơi đâu trên trái đất này khi cần quyết đứng lên bảo vệ cuộc sống của mình, bảo
vệ Tổ quốc của mình.
Trong hoạt động nghệ thuật,
sự độc đáo là yêu cầu không thể thiếu, sự nhìn nhận, cái nhìn, ở mỗi
nghệ sĩ là khác nhau. Không chỉ ở văn xuôi Nguyễn Thi, những trang thơ từ chiến
trường cũng là những kết hợp hết sức khác nhau giữa cảm xúc và tư tưởng. Cùng
viết về quê hương nhưng trong sáng tác của Giang Nam, Hoài Vũ, Lê Anh Xuân là
những kết hợp rất khác nhau.Ở Giang Nam dường như cấu trúc thơ ca dựa trên sự đối
lập thống nhất giữa một bên là cái đẹp, là kỷ niệm tuổi thơ và bên kia là sự
đau thương, mất mát, cái bi kịch của cuộc đời.
Xưa yêu quê hương vì có
chim có bướm
Có những ngày trốn học bị
đòn roi
Nay yêu quê hương vì
trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của
em tôi
(Quê hương, 1960)
Ở Lê Anh Xuân là sự kết hợp
những kỷ niệm và khát vọng cháy bỏng của người con đi xa trở về.
Đêm đầu tiên ta ngủ giữa
quê hương
Sao thấy lòng ấm lạ
Dù ngoài trời trầm tã mưa
tuôn
Tiếng đại bác gầm rung
vách lá (…)
Ta về đây chẳng mang gì
cho em cả
Chỉ có trái tim chung thủy
sắt son
Và khẩu súng trong tay
cháy bỏng căm hờn
(Trở về quê nội, 1965)
Vàm Cỏ Đôngcủa
Hoài Vũ, bài thơ tràn đầy tình cảm ấm áp, thiết tha, thân thuộc có lẽ là bài
thơ tình đầu tiên của văn nghệ giải phóng sau Quê hương của
Giang Nam. Vàm Cỏ Đông chính là sự kết hợp giữa cảm hứng về sự
thật lịch sử với ước mơ lãng mạn, bay bổng, một hòa điệu thực mơ mơ thực say đắm,
tài tình, giầu cảm xúc.
Đây con sông như dòng sữa
mẹ
Nước về xanh ruộng lúa vườn
cây
Và ăm ắp như lòng người mẹ
Chở tình thương trang trải
đêm ngày (…)
Ơi Vàm Cỏ Đông! Ơi con
sông
Nước xanh biêng biếc chẳng
thay dòng
(Vàm Cỏ Đông, 1964)
Bài thơ Thử nói về
hạnh phúc của Thanh Thảo ra đời cuối năm 1972,được đọc rồi chép tay
truyền nhau giữa những người lính trẻ, những thanh niên học sinh sinh viên
tranh đấu trong các phong trào yêu nước ở đô thị miền Nam, trong cả nhà tù của
địch. Bài thơ chia sẻ được với bao nhiêu con người, giúp họ đứng vững trước những
thử thách khốc liệt của cuộc chiến, sống xứng đáng với một thời đại bi tráng và
hào hùng đã sinh ra họ, Một cái nhìn sâu thẳm, không né tránh hiện thực phức tạp
của đời sống và tâm hồn người chiến sĩ. Sự hóa thân kỳ diệu của nhà thơ vào số
phận của đất nước, khắc họa cao độ nhất, trác tuyệt, về người chiến sĩ trong
kháng chiến chống Mỹ.
chúng tôi không muốn chết
vì hư danh
không thể chết vì tiền bạc
chúng ta lạ xa với những
tin tưởng điên cuồng
những liều thân vô ích
đất nước đẹp mênh
mang
đất nước thấm tự nhiên đến
tận cùng máu thịt
chỉ riêng cho Người chúng
tôi dám chết
(Thử nói về hạnh phúc,
1972)
Văn nghệ Giải phóng thực
sự đã thâm nhập được vào những điều bí ẩn lớn lao của cuộc sống và nâng lên
thành những khái quát nghệ thuật đầy sức sống. Hoàn cảnh và sự tự ý thức của
nhà văn đã kích thích những sáng tạo độc đáo, nhất là khi nhà văn đã có một
trình độ hiểu biết nghệ thuật, một tâm thế đang sục sôi trước những nhu cầu đời
sống. Nó như một chất đốt để tư chất và hiểu biết có thể cháy bùng lên và trở
thành những ký ức không thể phai. Chính từ đây nó góp phần soi thấu phẩm giá
con người, khẳng định những giá trị của con người Việt Nam yêu nước và cách mạng.
15/4/2020
Hà Công Tài
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
"Thời gian trắng" của Nguyễn Phan Quế Mai
"Thời gian trắng" của Nguyễn Phan Quế Mai Với lối kể chuyện mộc mạc, tự nhiên, tác giả đã dẫn dắt người đọc ngược về từng chặng ...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...
-
Thẩn thơ Võ Phiến Nhà văn Võ Phiến, sinh năm1925 tại Bình Định - qua đời chiều 28-9-2015 tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Dư luận chợt nhớ đến một sự n...
-
Nỗi khắc khoải kiếm tìm bản thể trong truyện của Nguyên Minh Nguyên Minh như một chứng nhân sinh động cho một thế hệ cầm bút từ trước 1975...
.gif)

.gif)
