VĂN THƠ NHẠC
Thứ Năm, 22 tháng 10, 2026
Một con đường của quan niệm sáng tạo - Nhìn từ trường hợp Thanh Tâm Tuyền
Một con đường của quan niệm sáng tạo
Mỗi thời đại
thông qua các nhà văn tài năng thuộc về thời ấy luôn đi tìm lấy nghệ thuật cho
mình. Phản biện quá khứ, tìm cách đốt phá, chôn vùi quá khứ là để hướng tới việc
đản sinh con phượng hoàng mới từ đống tro tàn, con đường này là phổ biến cho mỗi
sinh thành nghệ thuật.
Ninh Giang Thu Cúc - Một nữ lưu xứ Huế với Truyện Kiều
Ninh Giang Thu Cúc - Một
nữ ưu xứ Huế với Truyện Kiều
Bút danh Ninh Giang
Thu Cúc có lẽ đã quen thuộc với bạn đọc miền Nam từ năm đầu thập kỷ sáu mươi thế
kỷ XX. Miền đất sông Hương núi Ngự đã góp phần hun đúc, nuôi dưỡng hồn thơ, mạch
văn của tác giả và mảnh đất Quy Nhơn, Bình Định chị xuất giá theo chồng là nơi
để chị cống hiến hết mình với lao động nghệ thuật, nghiên cứu, biên khảo và
sáng tác. Những trang viết của chị đầy lòng nhân ái, khiêm cung của người phụ nữ
Huế cùng với tinh thần từ bi của người thấm nhuần triết lý Phật giáo. Chúng tôi
gọi chị là “Con nhà Phật”.
Với số lượng tác phẩm đã
xuất bản rất phong phú về nhiều thể loại là những con số biết nói, minh chứng
cho sự nghiệp cầm bút bằng tất cả lòng nhiệt tình, sự đam mê cháy bỏng với văn
chương trong sáu mươi năm cầm bút. Ngay cả khi có vấn đề về sức khỏe như thời
điểm hiện tại chị vẫn lao động sáng tạo không ngừng nghỉ. Những bài viết của chị
sâu sắc và ý nghĩa, thấm đẫm tình người giàu giá trị nhân văn . Viết –
suy cho cùng là một hình thức trao đi sốt sắng chân tình, không vụ lợi. Đằng
sau những con chữ “rút ruột như tằm nhả tơ” ấy là cả một tấm lòng bao
dung, sẻ chia dành cho đời, cho người với tất cả chân tình, thiết tha ẩn
trong sự giản dị, khiêm nhường. Các sáng tác của chị giàu chất trữ tình
trong thơ, phong phú súc tích dày dặn trong truyện, tiểu luận phê bình. Ngọt
ngào tinh tế khi viết tản văn. Những bài thơ viết về các danh nhân lịch sử đã
làm cho người đọc bồi hồi xúc động vì tình cảm, sự ngưỡng mộ, biết ơn của
hậu thế dành cho các bậc tiền bối. Đặc biệt những nhận định văn học của chị về Truyện
Kiều rất đáng suy ngẫm.
Truyện Kiều ra
đời đã hơn hai thế kỷ của đại thi hào Nguyễn Du đã làm say mê bao trái tim người
đọc nhiều thế hệ kể cả trong và ngoài nước và đã có rất nhiều cây bút phê bình,
thưởng lãm hướng đến áng thơ tuyệt tác này. Hãy cùng khám phá tác phẩm vừa mới
xuất bản của một nữ lưu xứ Huế viết về Truyện Kiều có tựa
đề: Đọc Kiều thương khách viễn phương, NXB Văn hóa Văn nghệ quý II
năm 2019.
Tác phẩm với giọng văn giản
dị, dề hiểu rất lôi cuốn. Trình bày khúc chiết, mạch lạc, những nhận định rất
đáng suy ngẫm với tình thần cầu thị. Đặc biệt đối với truyện Kiều: “đã từng học
và đọc Truyện Kiều đến thuộc lòng bằng tất cả niềm yêu quý với tác phẩm
và sự trân quý dành cho đại thi hào Nguyễn Du”.
Theo chị “Truyện Kiều là
một sáng tác vĩ đại của Nguyễn Tiên Điền chứ không phải là tác phẩm chuyển thể
từ tiểu thuyết văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân có tên gọi là Kim Vân Kiều Truyện.
Nguyễn Du chỉ mượn nhân vật, bối cảnh, tình tiết của đất nước Trung Hoa ,
triều đại nhà Minh để chuyển tải nỗi niềm chìm đắm đau thương tranh dành đoạt lợi
tương tàn tương sát của xã hội Việt Nam thời Lê mạt. Cuốn sách là một ấn phẩm
nhỏ xinh dày 280 trang với hai phần trình bày: Phần 1- Lời ngỏ và những
bài viết về truyện Kiều và sáu bài thơ vịnh các nhân vật trong truyện Kiều cùng
lời kết cho tác phẩm.
Phần 2: Phần phụ lục “Mấy
dòng sử thi” với những bài thơ vịnh về một số danh nhân lịch sử đã có công
trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước của dân tộc.
Qua tác phẩm chúng ta thấy
tác giả Ninh Giang Thu Cúc tỏ ra rất am tường văn học sử, bối cảnh thời cuộc
tác phẩm ra đời, am hiểu lịch sử và văn học qua các thời kỳ. Vì vậy chị có cái
nhìn thấu đáo khi viết về tác giả tác phẩm nói chung và truyện Kiều nói
riêng.
Chị đã lao động tận tụy
và nghiêm túc để “ rút sợi tơ lòng “cống hiến cho độc giả những nhận định văn học
chửng chạc và tâm huyết của một người cầm bút đầy trách nhiệm.
“Tôi đã đến với Đoạn
trường tân thanh của cụ Nguyễn Tiên Điền bằng tất cả niềm quý kính”.
Chị đã đọc Kiều suốt bao năm tháng với tấm lòng ngưỡng mộ thi tài. Chị “Muốn
làm một cái gì đó để bày tỏ lòng ngưỡng mộ như một nén hương lòng dâng
lên người thiên cổ đã để lại cho đời thiên tuyệt bút”.
Bằng những dòng tóm tắt
hàm súc, đủ ý chị viết về tác gia: “Nguyễn Du là con trai thứ bảy của
xuân quận công Nguyễn Nghiễm và phu nhân Trần Thị Tần – Người phụ nữ mỹ
miều xứ Kinh Bắc. Cậu ấm Du sống trong nhung lụa nhưng hạnh phúc không mỉm cười
lâu hơn với cậu, vừa lên mười tuổi, nỗi bất hạnh lớn ập đến là thân sinh Nguyễn
Nghiễm qua đời và hai năm sau phu nhân Trần Thị Tần cũng theo chồng về thiên cổ,
bỏ lại bốn anh em Nguyễn Du côi cút , đành nương tựa vào người anh cả khác mẹ
là tả Thị Lang bộ hình kiêm hợp trấn xứ Sơn Tây. Hoạn lộ của người anh Nguyễn
Khản gập ghềnh biến động. Tuy vậy Nguyễn Du vẫn được anh cho ăn học tử tế,
thi đậu tam trường (tú tài). Nguyễn Du có mối tình đầu với cô thôn nữ đẹp như
trăng mười sáu và có giọng hát trong veo như sương mai.. Họ yêu nhau nồng nàn.
Những dòng thơ viết khi Kim Kiều hò hẹn:
“Tiên thề cùng thảo một
chương
Tóc mây một món dao vàng
chia đôi
Vầng trăng vằng vặc giữa
trời
Đinh ninh hai miệng một lời
song song”
Cũng chính là nói về mối
tình đầu của Nguyễn Du và cô thôn nữ.
Chị cho rằng 3254 câu lục
bát mượt như nhung và thơm hương ngọc lan dịu nhẹ toàn tập là từng
khúc ruột mang thương tích trầm kha, nhức nhối của thời đại, của mỗi cá nhân tất
nhiên có cả tác gia Truyện Kiều.
Nguyễn Du sinh ra cuối thế
kỷ XVIII – thời cuộc đầy biến động. Ông sớm nổi trôi chiêm nghiệm những thăng
trầm giông bão của xã hội và cuộc đời riêng. Trải qua những mất mát tang
thương của tan vỡ, đổi thay và ly loạn .
Khi ông theo gương cha
đem trí lực phụng sự nhà Lê với một chức quan nhỏ thời Lê mạt. Lê triều sụp
đổ. Ông làm thân bèo dạt mây trôi vì biến thiên của lịch sử khi thì ở quê vợ
Thái Bình khi “lẳng lặng phiêu bồng sương khói khắp miền non lĩnh Sông Lam đằng
đẳng mười năm ngỏ hầu tìm quên thế sự. Vì vậy có nhiều ức đoán của các
nhà nghiên cứu là Đoạn trường tân thanh ra đời trong giai đoạn
này. Những ức đoán, khẳng định, phủ quyết về sự ra đời của tác phẩm vẫn còn là
một bí ẩn…”.
Ninh Giang Thu Cúc đưa ra
những nhận định phủ quyết tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh không thể ra đời trong
giai đoạn này: “Những tháng năm bất đắc dĩ phải chơi trò tiêu dao vui thú yên
hà ở độ tuổi ngoài ba mươi (36), liệu có hội đủ chất liệu, sự trải nghiệm
qua những trò đời đen bạc để viết nên “ những điều trông thấy” Dẫu có ít nhiều
trải nghiệm nhưng chưa đủ độ chín muồi của dâu bể cuộc đời để viết nên Đoạn
trường tân thanh! Chỉ có thể sau khi được nhà Nguyễn mời ra làm quan
khi tuổi đã xế chiều với tâm trạng“ hàng thần lơ láo” khủng hoảng tâm lý,
ốm đau bệnh tật”. “Ba xuân mang bệnh nghèo không thuốc”, rồi chứng kiến những bất
cập, mặt trái, hệ lụy của đời sống quan trường “ không bệnh mà vẫn
phải lom khom” những thương ghét, đố kị dèm pha của người đời ở đâu cũng có, thời
nào cũng không tránh khỏi. Khi đi sứ Trung Hoa, ông đã tìm thăm những di tích lịch
sử để khóc thương, quý trọng những nhân vật lịch sử của đất nước Trung
Hoa. Cảm thương số phận nhi nữ tài hoa bạc mệnh (Độc Tiểu Thanh ký –
Nguyễn Du). Tất cả những trải nghiệm thăng trầm của chính cuộc đời
mình cùng với những biến cố của thế sự trong và ngoài nước, ông đã
tích lũy vốn sống, cảm xúc qua bao nỗi đoạn trường đầy chiêm nghiệm suy tư dồn
nén để chắt lọc, lắng đọng, bật ra những trang thơ còn mãi với thời gian. Đi
qua hai thế kỷ Truyện Kiều của Nguyễn Du là tiếng nói nhân văn của một tâm hồn
nghệ sỹ lớn với tài năng sáng tạo phi thường từ “những điều trông thấy ” Nguyễn
Du mới có kiệt tác truyện Kiều để lại một gia tài văn học đồ sộ cho hậu
thế. Vì vậy Truyện Kiều ra đời trong khoảng 1814 là ý kiến đầy thuyết phục.
Ninh Giang Thu Cúc đã tìm đọc nhiều tư liệu để mong hé lộ phần nào về thời
điểm ra đời của tác phẩm Truyện Kiều: Hoàng Xuân Hãn cho rằng “Đoạn Trường Tân
Thanh được viết khoảng năm 1814- 1820 (Theo nguồn gốc văn Kiều – Hoàng Xuân
Hãn trang 30 – Hai trăm năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều – Lê Xuân
Lít). Tác giả Lê Quế cũng cho rằng Truyện Kiều được viết vào năm 1814 ( So sánh
dị bản Truyện Kiều , NXB Văn Học 2006).
Nguyễn Du đã ký thác nỗi
niềm của mình hay nói cách khác là chân dung của Nguyễn Du được thể hiện qua bốn
nhân vật trong truyện: “Bốn gương mặt, bốn tính cách và những bi kịch của
mỗi người cộng lại thành chân dung của Nguyễn Du”: số phận tài hoa mà bị nhiều
khổ ải, lên thác xuống ghềnh qua nhân vật Thúy Kiều, hình ảnh một công tử lịch
lãm, phong vận thông minh hơn người qua nhân vật Kim Trọng, Tứ Vô
Lượng Tâm của nhà Phật qua nhân vật khách viễn phương, thể hiện chí làm
trai qua nhân vậtTừ Hải. Và Mối tình thuở xuân xanh với cô thôn nữ được
tái hiện qua mối tình Kim Kiều.
Tác phẩm Đọc Kiều
thương khách viễn phương là những dòng cảm xúc rất chân thành của
tác giả Ninh Giang Thu Cúc với Truyện Kiều mà hơn hết là đại
thi hào Nguyễn Du người đã “tái sinh lại các nhân vật bất tử, điển hình
là Thúy Kiều – người phụ nữ tài sắc vẹn toàn…” phải chịu nhiều đày ải trầm luân
của kiếp người. Ninh Giang Thu Cúc thương cho nàng Kiều tài hoa bạc mệnh bao
nhiêu thì có cái nhìn nghiêm khắc với các nhân vật phản diện bấy
nhiêu.
Nói về Hoạn Thư và mối
nhân duyên của Hoạn Thư – Thúc Sinh. Tác giả đưa ra những luận điểm, dẫn chứng
để phân tích và kết luận là Hoạn thư không phải ghen vì yêu. Bởi vì cuộc hôn
nhân này không “Duyên đằng thuận nẻo gió đưa” khi mà không môn đăng hộ đối theo
quan điểm thời bấy giờ.Lấy chồng rồi Hoạn Thư không về nhà chồng làm vợ hiền
dâu thảo mà vẫn ở trong phủ đệ của nhà mình. Vợ chồng gì mà cả năm mới gặp nhau
một lần. Đối với Hoạn Thư, Thúc sinh sợ nhiều hơn yêu. Hoạn Thư luôn tỏ ra thế
bề trên đối với Thúc Sinh mặc dù xã hội phong kiến luôn trọng nam khinh nữ. Tác
giả Ninh Giang Thu Cúc đặt vấn đề “Không yêu sao lại ghen? Và lý giải
ghen để chứng tỏ uy quyền, ghen để thỏa mãn sự chiếm hữu. Mẹ của Hoạn Thư và Hoạn
Thư thay nhau hành hạ Thúy Kiều:
“Trúc côn ra sức đập
vào
Thịt nào chẳng nát, gan
nào chẳng kinh”
Và:
“Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho đau đớn ê chề cho
coi”
Nguyễn Du viết: “Người
ngoài cười nụ, người trong khóc thầm” nhưng theo Ninh Giang Thu Cúc giọt
khóc thầm ấy không chân tình. Gã vẫn chẳng việc gì, tan tiệc vào chung phòng với
vợ để Kiều “tựa bóng đèn chong canh dài. Theo cái nhìn nhân ái của trái tim nữ
giới chị cho rằng cả hai người phụ nữ đó đều đáng thương, đều là nạn nhân của kẻ
chơi bời, nói ngông, ba hoa: “Trăm điều hãy cứ trông vào một ta” nhưng khi tai
họa đến Thúc sinh phủi tay: “Liệu mà cao chạy xa bay/ Ái ân ta có ngần
này mà thôi”. Tinh chất phi trượng phu càng bộc lộ khi được Kiều gọi
đến để báo ân, báo oán“ Mặt như chàm đổ mình dường dẻ run”.
Hoạn Thư là nhân vật phản
diện, kẻ đã góp phần làm “cánh hoa Kiều” tan tác hơn, mà Ninh Giang Thu Cúc vẫn
có cái nhìn độ lượng: “sau khi lòng tự tôn đã thỏa, cơn tam bành lục tặc đã được
vỗ về yên giấc thì lòng nhân hậu, thiên lương của người đàn bà đã trở về …”. Hoạn
Thư cho Kiều ra chép kinh ở quan âm các, giúp đỡ tư trang cho Kiều hộ thân ngầm
mở cửa cho Kiều thoát khỏi vòng kiểm soát của nhà họ Hoạn. Đó cũng là “mầm thiện”
mà Nguyễn Du đem đến cho Hoạn Thư. Thúc Sinh hèn nhát, bất tài, ăn chơi giá áo
túi cơm, động đến việc gì là co vòi thất thủ. Thúc Sinh luôn là người có lợi.
Thay vì trách phạt kẻ bạc tình thì được Kiều tặng” Gấm trăm cuốn, bạc nghìn
cân? Tạ lòng để xứng báo ân gọi là “ vừa được chiêm ngưỡng “dày dày sẵn đúc một
tòa thiên nhiên” hơn một năm trời, khi bị lộ, vợ cũng chỉ hành hạ người làm bé.
Thúc Sinh chẳng bị gì. Theo Ninh Giang Thu Cúc “Bản chất nhân hậu bao dung luôn
là tố chất của đàn bà”.
"MỘT VÀI THẰNG CON CON
SAU CHÂN NGỰA CỦA KIM TRỌNG"
Theo Ninh Giang Thu Cúc
trẻ em phải chăm sóc nuôi dạy ăn học, vậy mà chỉ để sai vặt; hầu hạ
cho người lớn như pha trà, đấm bóp, ôm tráp, mang vác những vật dụng phục vụ,
chạy theo chân ngựa cậu chủ. Ninh Giang Thu Cúc còn nghĩ là chúng đói bụng và
khát nước nữa đấy! Thật là một tấm lòng nhân hậu của một nữ giới cầm bút giàu
lòng trắc ẩn.
Nói đến tình chị duyên em
hay sự hi sinh thầm lặng của Thúy Vân theo đề nghị của chị mình để chắp mối tơ
duyên với chàng Kim. Trong khi một số người trước đây cho rằng Thúy Vân hời hợt
vô cảm trước biến cố của gia đình. Ninh Giang Thu Cúc tỏ ra không đồng
tình với nhà thơ Vương Trọng: “Nhà có chuyện coi như người ngoại cuộc/ Vẫn ăn
no ngủ kỹ như không”. Mặc dù “Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai” nhưng Kim Trọng
và Thúy Kiều đã chọn nhau ngay cuộc gặp gỡ đầu tiên, rồi hai người đã thề non hẹn
biển.
“Sánh vai về chốn thư
hiên
Góp lời phong nguyêt nặng
nguyền non song”
Nhận người yêu của chị
giao cho: “Tôi chắc Thúy vân cũng chẳng sung sướng gì khi phải chấp nhận một biện
pháp tình thế do Thúy Kiều áp đặt”. Kiều bán mình chuộc cha thì Thúy Vân cũng
là vật thế thân cho Kim Trọng. Thúy Vân và Kim Trọng không yêu nhau. Hôn nhân
mà không dựa trên nền tảng của tình yêu mới thấy khổ tâm biết chừng
nào!
Ninh Giang Thu Cúc yêu mến
và cảm tạ đức hi sinh của Kiều đã đành, tác giả vẫn dành sự quý mến vì đức hi
sinh thầm lặng cho đạo nghĩa của Thúy Vân.
QUAN CHỨC VÀ VƯƠNG ĐẠO
Ninh Giang Thu Cúc chỉ ra
rằng trong xã hội quân chủ thời thịnh trị; mọi người thượng tôn pháp luật.
Với quan niệm “Sĩ nông công thương” thì trí thức vẫn được đặt lên hàng đầu. Bởi
vì họ chăm lo học hành đỗ đạt làm quan phụng sự đất nước, chăm lo hạnh phúc của
muôn dân, góp phần làm cho xã hội yên bình. Khi rũ áo từ quan hay hưu quan thì
mở trường dạy học truyền con chữ cho thế hệ mai sau.
Các bậc sỹ phu thanh liêm
quả là đáng kính, nhưng ở nước ta thời loạn thì sao? Có thể “ thượng bất chính
hạ tác loạn” vì vậy từ vua quan quân, đâu đâu cũng có tham nhũng bất công. Công
lý ở đâu khi chỉ vì lời vu oan giá họa của thằng bán tơ mà đẩy một gia đình thiện
lương tan nát. Đồng tiền lên ngôi đổi trắng thay đen “ Làm cho khốc hại chẳng
qua vì tiền”. Mọi việc đều có thể giải quyết được nếu có tiền “Tiền lưng đã có
việc gì chẳng xong”. Một xã hội từ những kẻ quyền cao chức trọng như quan tổng
đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến không chiêu hàng được Từ Hải một cách đường đường
chính chính mà phải dùng mưu ma chước quỹ. Những cửa hàng buôn phấn bán người mọc
lên như nấm thì làm gì có “ Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Theo
Ninh Giang Thu Cúc đây là cụm từ giao đãi, ngụy trang cho sự an toàn của
tác phẩm “ viết là phải lách” là nỗi khổ tâm của người cầm bút chân chính từ
xưa cho đến nay.
Cuối bài chị có câu cảm
thán: “Ôi vương đạo biết tìm đâu?” Đó là điều rất đáng suy ngẫm. Bằng vốn sống
trên sáu mươi năm cầm bút và chứng kiến bao biến thiên của lịch sử và thực tế xảy
ra trong cuộc sống thường ngày thì tác giả vẫn khẳng định “Mã Giám Sinh, Tú Bà,
Sở Khanh… tồn tại trong mọi thời đại”. Chúng tôi là kẻ sinh sau đẻ muộn so với
tuổi đời của chị, vốn sống chúng tôi chưa nhiều nhưng tôi vẫn khẳng định
đó là một đúc kết hoàn toàn có cơ sở.
"VÀI VẾT XƯỚC NHỎ TRONG
KHỐI NGỌC LỚN: TRUYỆN KIỀU"
Tác giả nêu ra việc Kiều
đã được sư bà Giác Duyên đưa về thảo am:
“Một nhà chung chạ sớm
trưa
Gió trăng mát mặt muối
dưa chay lòng”
Bối cảnh sống chung của
sư bà Giác Duyên và Kiều rất yên vui thanh tịnh sao Nguyễn Tiên Điền lại
hạ bút bằng từ “chung chạ” e không hợp với văn cảnh chăng? Bởi người ta thường
hiểu nghĩa chung chạ dành cho trường hợp xấu, bất minh, thiếu rạch ròi… Theo
ngôn ngữ hiện đại thì chị thắc mắc như vậy là hoàn toàn có lý (Xem từ điển Tiếng
Việt hiện nay). Nhưng chúng tôi đồng ý với Doãn lê là “Ngôn ngữ là một thực thể
linh động, ý nghĩa có thể thay đổi theo thời gian và không gian”. Từ trong những
áng văn thơ cổ có một số từ nay đã biến nghĩa. Ví dụ trong cuốn Nhà
văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan viết năm 1941 (Hội Nhà văn xuất bản quý
IV năm 2000) bài viết về Phạm Quỳnh trang 135, 136 “Ông thường dùng bốn chữ nho
đi liền một hơi trong một câu: Ví dụ “Vũ hám phong trần” thì nói nôm ngay là
“Mưa dập gió lay” có phải vừa thông thường vừa dễ nghe hơn không . Đó là những
điều khuyết điểm mà đối với một văn gia nào, người ta cũng có thể tìm ra được.
Nó là cái tật của người có duyên nợ với văn chương không lấy gì làm quan hệ”.
Vũ Ngọc Phan dùng từ “quan hệ” thì lẽ ra phải dùng từ quan trọng mới đúng theo
ngôn ngữ hiện nay. Không chỉ Vũ Ngọc Phan mà tôi còn thấy các nhà nhà văn, thơ
đầu thế kỷ hai mươi vẫn dùng với nghĩa như là từ “ quan trọng” hiện nay vậy.
Như vậy chưa đầy một thế kỷ kể từ khi chữ quốc ngữ ra đời, nay có nhiều từ đã
biến nghĩa , được thay thế bằng từ khác có sức biểu đạt chính xác hơn. Vì vậy
Truyện Kiều viết cách thời đại chúng ta hơn hai trăm năm thì từ “Chung chạ” có
thể vẫn được xem là nghĩa tốt hoặc nghĩa trung tính, tốt xấu tùy ngữ cảnh. Với
tài trí như cụ Nguyễn thì không thể có sự thiếu cân nhắc trong việc dùng từ được.
Vì vậy tôi cũng đồng ý với ý kiến Doãn Lê là trong lúc chờ đợi các nhà nghiên cứu
chúng ta “tạm hiểu “chung chạ” theo nghĩa trung tính.
2/ Sự “bề trên” của Hoạn
Thư đối với Thúc Sinh cũng không đúng trong xã hội thời ấy. Theo tinh thần nho
giáo thì bối cảnh xã hội lúc bấy giờ chị đưa ra thắc mắc ấy là đúng. Nhưng có lẽ
“Nguyễn Du đã muốn người Phụ nữ thoát khỏi chế độ gia trưởng phong kiến” ( GS
Hà Huy Giáp) trọng nam khinh nữ chăng? Thời đó “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”
chứ làm gì có chuyện “ Cọc đi tìm trâu” Thúy Kiều: “Xăm xăm băng lối vườn khuya
một mình” Quả thật đây là quan niệm mới đầy tính hiện đại. Trai gái yêu nhau,
ai tỏ tình trước đều được cả. Câu “ tam tòng tứ đức đã đến lúc không còn phù hợp
nữa. Phải chăng Nguyễn Du muồn đòi quyền bình đẳng cho nữ giới. Cuộc hôn phối của
Hoạn Thư và Thúc Sinh không môn đăng hộ đối. Hoạn Thư là con của một vị quan
quyền. Còn Thúc Sinh xuất thân tầng lớp buôn bán. Tầng lớp này theo quan
niệm “sỹ nông công thương” thì được đặt cuối cùng. Lái buôn muốn quan hệ móc nối
với các vị có chức có quyền để dễ dàng trong các phi vụ làm ăn… Đó là mục đích
và sự lợi dụng lẫn nhau thời nào cũng có. Hoạn Thư lấy chồng không theo chồng
như mọi cô dâu khác. Khi gia đình chồng có tang cũng không về chịu tang: “Tiểu
thư trông mặt hỏi tra? Mới về có việc chi mà động dong”, “Sinh rằng hiếu phục vừa
xong/ Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên” Rồi Hoạn Thư ban cho thúc sinh lời
khen: “ Khen rằng hiếu tử đã nên”. Thúc sinh buôn bán làm ăn xa, lại chời bời vụng
trộm bên ngoài. Vậy đối với Hoạn Thư Thúc Sinh xuất thân tầng lớp dưới lại
không đáng mặt đàn ông cho lắm. Gã còn có lỗi lớn với vợ nữa nên trước uy
thế của gia đình vợ, Thúc Sinh không khỏi sợ hãi …
Ở trang 95 Ninh Giang Thu
Cúc nêu: “Một cuộc ân oán mang tính thù hận cá nhân, có gì mà Từ Hải phải quan
trọng hóa sự việc và phung phí nhân lực đến vậy “Ba quân chỉ ngọn cờ đào?
Đạo ra Vô Tích đạo vào Lâm Truy” Chúng tôi xin đồng ý với chị.
Còn nhiều điều hấp dẫn
trong cuốn sách với những bài phân tích lý thú ,sáu bài thơ vịnh về các
nhân vật trong truyện Kiều… và những thắc mắc khác. Kính mời bạn đọc hãy đến với Đọc
Kiều thương khách viễn phương của tác giả Ninh Giang Thu Cúc.
Trở lại với chủ đề chính
về tác giả Truyện Kiều “Nguyễn Du đã đưa ngôn ngữ Việt nam đến chỗ tuyệt đỉnh
siêu việt và tiếng nói việt Nam chính là trường sở linh nghiệm nhất của dân tộc
tính, Việt tính . Nguyễn Du không chỉ là một bậc đại thi hào mà còn là một
bậc đại hiền triết”. Nguyễn Du xứng đáng là “một trong ba nhà thơ vĩ đại nhất của
nhân loại cùng với Hoelderlin và Walt Whitman là ba thiên tài lớn
nhất của nền thi ca nhân loại trong hai ngàn năm hoang vu trên mặt đất”
(Phạm Công Thiện – Nguyễn Du đại thi hào dân tộc).
Nguyễn Du và Truyện
Kiều vẫn mãi là ma lực huyền diệu và bí ẩn, hấp dẫn người đọc và
nghiên cứu. Càng đi sâu khám phá càng phát hiện ra những điều mới lạ và thú vị.
Theo Phạm Công Thiện thì chúng ta “chỉ thấy được sự vĩ đại phi thường của Nguyễn
Du khi nào chúng ta đã có khả năng đi vào nơi sâu thẳm của của
văn chương và văn hóa thế giới”. Đó là điều mà người đọc và nghiên cứu
không ngừng khát khao vươn tới. Chúng ta trân trọng những đóng góp tâm huyết của
tác giả Ninh Giang Thu Cúc, gợi mở thêm một hướng tiếp cận tác phẩm giữa người
đọc với Truyện Kiều.
Xin cảm ơn chị với “giọt
nước mắt muộn màng” của hậu thế dành cho thiên tài Nguyễn Du, góp phần kích
thích niềm say mê khai thác thưởng lãm Truyện Kiều (Đoạn trường
tân thanh) của độc giả nhiều thế hệ.
Huế, 13/9/2019
Hoàng Thị Bích Hà
Theo https://vanhocsaigon.com/
Mưa bình nguyên của Trần Bảo Định - Một thứ văn được chưng cất
Mưa bình nguyên của Trần
Bảo Định
Một thứ văn được chưng cất
”… Khó nói hết, văn
anh nó lạ lắm, tưởng dễ mà khó đọc; bởi vì văn ấy chất lắm tầng nhiều lớp, vừa
gân guốc vừa hư và vừa thực – một thứ văn được chưng cất ấp ủ lâu ngày… cứ
thế… và cứ thế, ào ạt tuôn trào tự nhiên – một cách, rất tự nhiên… Tôi có
cảm tưởng như Trần Bảo Định không làm văn, song chất văn đặc sắc của anh chính
là ở đấy!”.
Mưa bình Nguyên (Nxb
Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh ấn hành 2019) là tập truyện thứ 12 trong chủ đề “Đất
và Người Nam Bộ mến yêu” của Trần Bảo Định, tính từ 2012, năm anh đến
với nghiệp văn, ở tuổi sắp chạm ngõ thất thập; đó là, chưa kể 6 tập thơ đã xuất
bản và không ít những tác phẩm văn – thơ còn ở dạng bản thảo, chưa in.
Viết văn, như anh nói,
“là một liệu pháp chữa bệnh và cứ hễ mỗi lần ngồi trước bàn phím đùa con chữ
thì y như rằng, mọi đau đớn tật bệnh tủm tỉm cười… rút lui!”. Nhìn vào khối lượng
tác phẩm ra mắt độc giả liên tục (năm từ 2 đến 3 và có khi, tới 4 cuốn) trong
điều kiện sáng tác như vậy, tôi thực sự ngộp và phục anh
vô số kể.
Song, điều đáng nói và
đáng nể hơn, là chất lượng văn Trần Bảo Định. Đó là, một thứ văn giàu cá tính
và bản sắc, đặc quánh chất Nam Bộ, rất Đời và cũng rất Người; với sinh hoạt, lời
ăn tiếng nói và khung cảnh dân dã của miền sông nước đồng bằng Sông Cửu Long;
khẩu ngữ, tục ngữ, phương ngữ, ca dao, dân ca… được anh sử dụng nhuần nhuyễn
đưa vào tác phẩm một cách tự nhiên, đầy hương vị.
Mưa bình nguyên,
theo tôi, là tác phẩm bộc lộ khá tập trung những nét đặc sắc của phong cách văn
Trần Bảo Định. Tôi đã khá quen văn Trần Bảo Định – chí những từ 11 tập
truyện trước, với lối văn khó trộn lẫn; vậy mà, khi tôi đọc 16 truyện trong tập
truyện Mưa bình nguyên thì truyện nào, tôi cũng cảm nhận sự độc
đáo, hấp dẫn và lôi cuốn từ tên truyện – dù, hình như – có vẽ tên truyện hơi
quê mùa, ít chất văn vẽ: Lão Năm Cối Đá, Hai Siêu Đất, Tư Giải Quyết,
Hai Lá Tre, Dì Ba Chẻ Chữ, Cô Bảy Sòng Phẳng… Song, sự hấp dẫn văn Trần
Bảo Định không là ở chỗ “ít chất văn vẽ” mà nó, trước hết, ở chỗ bình dị và sống
động, chân tình và nghĩa nhân trong đáy lòng của những con người rất đỗi bình
thường “bầu ơi thương lấy bí cùng” giữa cuộc đời dù ngang trái
nhưng đầy ắp yêu thương.
Thấm và ngấm vậy, nhưng
thật ra, cũng không chắc dễ gì đi đến tận cùng chiều sâu của văn Trần Bảo Định;
bởi lẽ, văn anh chất chứa nội hàm nhiều tầng ý nghĩa thực và hư, lịch sử và sử
điền dã, bình dân và bác học… đan xen và cài cắm vào điển tích, triết lý và cả
minh triết Việt… Theo tôi, đó là nền tảng của sự học hòa quyện sự từng trải đầy
vốn sống mà anh, là người đã thụ đắc. Và, sự thụ đắc đó, chẳng những đã làm nên
cái phông, cái bề dày tác phẩm mà còn, tạo cảm giác như thật trong tiếp nhận của
người đọc.
Dựng chuyện như thật, một
đặc thù cơ bản của nghệ thuật tiểu thuyết đã được Trần Bảo Định sử dụng một
cách thật thành thục, thuận lẽ tự nhiên nên người đọc, đôi lúc đọc xong trang
văn của Trần Bảo Định, truyện vẫn còn ở lại trong lòng người đọc. Thật vậy,
trong Mưa bình nguyên, người đọc bắt gặp rất nhiều kiểu nhân vật và
phần lớn, là câu chuyện của những mảnh đời khốn khó, cô quạnh, lang bạt… Đồng
mênh mông, ruộng cò bay thẳng cánh… nhiều nhân vật trong truyện không có mảnh đất
cắm dùi, không có cục đất để chọi chim… Ít chữ nhưng không thiếu nghĩa mà trái
lại, tràn nghĩa ngập tình được thể hiện qua tấm lòng hào hiệp, khí chất “trượng
nghĩa khinh tài”, lấy việc cứu người giúp đời làm mục đích tối thượng và họ,
sẵn sàng xả thân hy sinh cả những gì quý nhất mà họ có. Hai Siêu Đất (tr.107),
là câu chuyện thật hay – một câu chuyện rất cảm động và đặc sắc về phương diện
này.
Chuyện và Người
trong Mưa bình nguyên khá phong phú, đa dạng. Ta bắt gặp trên
trang văn của Trần Bảo Định những nhân vật lịch sử có thật từ vua chúa đến công
hầu khanh tướng; những sĩ phu, đạo sĩ; những nghĩa sĩ anh hùng hào kiệt và những
nhân vật hư cấu, như thật… Viết về ai, về chuyện gì, tác giả đều thấu hiểu tỏ
tường chi tiết chẳng khác gì từ trong cảnh ngộ và nội tâm của từng nhân vật bước
ra trên trang giấy…
Hình như, Trần Bảo Định
bén duyên với nhiều nhân vật nữ: những má Tư, cô Năm, thím Hai, dì Ba, mợ Bảy,
… những người phụ nữ không có tên riêng, chỉ có tấm chân tình hồn hậu, thủy
chung… hiện lên thật đẹp, thật sáng ngời về nhân cách; vừa quyết liệt mà bao
dung, vừa bình dị hiền lành mà thông minh nhạy bén trong hành vi ứng xử khi gặp
phải việc khó xử. Những triết lý trong đạo lý muôn đời giản dị và sâu sắc hiện
lên qua lời ăn tiếng nói hàng ngày của họ. Đây là, lời của Ngoại nói với
con gái: “- Muốn không phụ ai thì đừng hứa bậy, muốn không ai phụ mình thì đừng
tin bây, nha con!”, hoặc “- Một đêm đồng tịch đồng sàng đủ đạo tào khang trọn
kiếp!” (Dì Ba chẻ chữ, tr.259). Và, người đàn bà ấy đã rất mưu lược,
bình tĩnh cứu Hai Tịch thoát chết trong cuộc chiến đấu sống mái với kẻ thù.
Những con người ít chữ
nhưng đặc đầy nghĩa của chữ, biết chẻ chữ để bật ra các mối liên kết thâm hậu ẩn
chứa bên trong và đôi khi, chúng ta bất ngờ khâm phục. “- Chẻ chữ, trói mà
không nhứt thiết phải buộc và dù có buộc, thì rồi cũng buông…” (Dì Ba chẻ chữ,
tr.260). Đó là, lời dì Ba giải thích những gì cháu Bảy Chờ, thắc mắc. Đọc
truyện, chúng ta sẽ ngộ ra cái thật sâu và cũng thật xa của sự thông tuệ từ
cách chiết tự nghĩa đặc sắc này.
Sức mạnh của lòng dân – một
khi, hợp lòng dân. Và, lòng dân từ cái nôi tình đất nước, yêu con người mà nảy
sinh tinh thần hòa giải đoàn kết, chuộng chính nghĩa… như những nguồn mạch tinh
thần bất diệt chẳng gì có thể làm lung lay. Tất cả hiện lên một cách tự nhiên,
sắc nét qua từng câu chuyện trong tập truyện Mưa bình nguyên và
thật đúng, như lời nhận xét của GS-TS. Huỳnh Như Phương: “Đọc Trần Bảo Định,
cái nhìn của ta về đất nước, quê hương mở rộng hơn mà cái nghĩ của ta về tiền
nhân và lịch sử cũng sâu hơn” (Gửi theo bông trái quê nhà).
Cũng như nhiều tác phẩm
khác, Trần Bảo Định rất thạo và thành thục khi đề cập đến những vấn đề lịch sử
thuộc vế quá khứ; anh viết, tất nhiên là dành cho độc giả hôm nay – nhất là những
người bạn trẻ; và cho cả mai sau, những bài học về nhân thế không thể quên.
18/2/2020
Nguyễn Thị Dư Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Một con đường của quan niệm sáng tạo - Nhìn từ trường hợp Thanh Tâm Tuyền
Một con đường của quan niệm sáng tạo Nhìn từ trường hợp Thanh Tâm Tuyền Mỗi thời đại thông qua các nhà văn tài năng thuộc về thời ấy luôn ...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...
-
Thẩn thơ Võ Phiến Nhà văn Võ Phiến, sinh năm1925 tại Bình Định - qua đời chiều 28-9-2015 tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Dư luận chợt nhớ đến một sự n...
-
Nỗi khắc khoải kiếm tìm bản thể trong truyện của Nguyên Minh Nguyên Minh như một chứng nhân sinh động cho một thế hệ cầm bút từ trước 1975...

