Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2026

"Thời gian trắng" của Nguyễn Phan Quế Mai

"Thời gian trắng"
của Nguyễn Phan Quế Mai

Với lối kể chuyện mộc mạc, tự nhiên, tác giả đã dẫn dắt người đọc ngược về từng chặng thời gian, mở ra từng nút thắt để đến cuối bài thơ, trái tim người đọc như thắt lại, Thời gian trắng cứ nhòa đi.. nhòa đi trong nước mắt…
Tôi vốn là một nhà thơ ngôn tình, viết thơ tình và cũng rất thích bình thơ tình. Ấy vậy mà trong một buổi ra mắt sách, nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai đã ký tặng tôi tập thơ “Tổ quốc gọi tên mình”. Tôi tò mò lắm. Tò mò trước hết bởi chị quá nổi tiếng, lại là một Việt kiều. Thế nhưng trông chị gầy guộc, mảnh mai và vô cùng bình dị, chẳng giống người nổi tiếng, cũng chẳng giống những gì mọi người hay hình dung về một Việt kiều (phốp pháp, sành điệu..). Cách chị tiếp đón mọi người cũng mộc mạc, gần gũi làm sao. Tôi bắt đầu tò mò về những bài thơ chị viết, có bài đã nổi như cồn sau khi được phổ nhạc. Và cứ thế, tôi đọc, tôi nghiền ngẫm từng bài thơ, từng tứ thơ, từng câu thơ của chị. Tôi nhận ra thơ chị cũng chân chất, đời thường nhưng đầy nội lực và lôi cuốn như con người của chị vậy. Bài thơ “Thời gian trắng” cũng không nằm ngoài mạch viết ấy.
Trong mưa phùn mùa đông, tiếng xe xé lòng mùa hạ
Tôi nhìn thấy ông
Kiên nhẫn đứng như một dấu chấm than giữa phố phường lũ lượt còi xe
Người người mắc cạn trong sự vội vã của chính mình
Ông một mình
Lặng lẽ
Nhỏ bé
Thời gian chảy qua hai bàn tay
Ngay khổ đầu bài thơ, ta bắt gặp câu thơ mang hơi hướm của lời kể chuyện. Chị đang kể cho chúng ta nghe về một câu chuyện đời thường, về một ông già lặng lẽ giữa sự quay cuồng tấp nập, vội vã của phố phường. Một cụ già lặng lẽ, nhỏ bé “như một dấu chấm than”. Cái cách ví von của chị cũng thật lạ lẫm, đầy tính tượng hình. Cách ví ấy dẫn người đọc liên tưởng đến một nốt lặng, lặng đến không cùng. Cách ví tài tình ấy đã biến ông – một nốt lặng bỗng thành điểm nhấn nổi bật giữa bức tranh xô bồ phố thị. “… một dấu chấm than giữa phố phường lũ lượt còi xe”.
Tôi mua một cuốc xe ôm
Ông chở tôi đi không kỳ kèo giá cả
Hình như, ông chỉ muốn ai đó nghe thấy giọng mình trồi lên trên những tòa nhà cao ốc
Trên những điệu nhạc ộc từ quán bar
Vượt lên tiếng còi xe người người bắn vào nhau như đang ở trong cuộc chiến
Câu chuyện tiếp tục bằng sự kết nối giữa tác giả và nhan vật chính của câu chuyện thơ. Một tình huống rất đỗi chân thực, bình dị dến mức binh dân. Câu chuyện gữa hai người bắt đầu mở ra cho người đọc về thế giới nội tâm chất chứa trong cõi lòng ông già chạy xe ôm. Vì sao ông già chạy xe ôm lặng lẽ, lạc lỏng giữa ồn ào phố xá ấy vẫn “muốn ai đó nghe thấy giọng mình..”? Phải chăng ông cũng như bao người khác, nhu cầu chứng tỏ mình còn sống, còn tồn tại, cần có tiếng nói giữa xã hội loài người? Và tiếng nói ấy phải vượt lên trên cả tầm cao của những tòa cao ốc lạnh lẽo,vô hồn, át cả tiếng nhạc xập xình ộc ra từ những quán bar hiện thân cho lối sống giới trẻ thời hiện đại, tiếng còi xe chat chúa, inh ỏi của rặt những bon chen hối hả. Hình như không phải thế. Điều gì thôi thúc ông muốn nói đến như vậy?
Tôi ngồi sau xe
Lắng nghe ông kể chuyện
Nghe gió Trường Sơn thổi về từ mái tóc bồng điểm bạc nghe nắng miền Trung hát trên đôi vai gầy guộc
Nghe tiếng súng xuyên về từ ngày tôi chưa sinh
Và linh cảm của tôi đã đúng. Ông muốn mọi người nghe ông nói về những tháng ngày nơi Trường Sơn lịch sử. Đến đây, thân phận ông già chạy xe ôm đã hiện ra rõ mồn một. Chúng ta không phải đoán già đoán non về những suy tư trong ẩn chứa bên trong con người trầm mặc ấy nữa. Thời trai trẻ của ông gắn liền với cuộc chiến đấu chống Mỹ thần thánh của dân tộc. Ông đã từng băng rừng xuyên dãy Trường Sơn. Ông nhớ về đồng đội, nhờ về những ngày gian khổ khốc liệt nhưng con người đầy lý tưởng. Những chàng trai, cô gái năm xưa sẵn sàng hi sinh tuổi thanh xuân, hi sinh xương máu và cả tính mạng mình cho đất nước hòa bình, non sông thấng nhất. Cho hôm nay chúng được sống trong sự phồn vinh, thịnh vượng.
Khi được kể câu chuyện của mình, ông như sống lại thời trai trẻ. Đó là khi ông được là chính mình. Hình ảnh ông bỗng đẹp đẽ, nên thơ đến lạ như “gió Trường Sơn thổi về từ mái tóc bồng điểm bạc nghe nắng miền Trung hát trên đôi vai gầy guộc”. Những ồn ả của nhịp sống đô hội có át được tiếng lòng ông, có át được những năm tháng hào hùng của dân tộc? Ông muốn nói, muốn kể cho thế hệ con cháu chúng ta nghe về thời máu lửa năm xưa,  “Nghe tiếng súng xuyên về…” từ quá khứ. Tác giả đã thật tài tình khi kết nối quá khứ với hiện tại bằng câu chuyện với người lính già trên chuyến xe ôm.
Người lính già
Đem giọt mưa xa về mắt tôi
Giọt mưa mang vị ngọt chiến thắng, vị đắng cuộc chiến đã xa ông vĩnh vễn ghi tên mình vào nó
Vị mặn trăn trở – “rồi có ai còn nhớ tới Trường Sơn”
Và, vị cay của cuộc sống đời thường tấp nập chảy quanh tôi như chỉ biết vươn mình về phía trước
Về phía trước…
Mà quên di
Quên đi
Những người lính và những câu chuyện cần được kể
Quên đi người lính già nhỏ bé
Cạnh ngã tư đường
Thời gian trắng qua đôi bàn tay.
Chúng ta – thế hệ sinh ra sau chiến tranh có cảm nhận được hết những điều ông kể? Những “vị ngọt chiến thắng, vị đắng cuộc chiến”. Vị cay đã lăn trên khóe mắt, vị mặn đã thấm trên môi của chị. Bằng sự thấu hiểu, cảm nhận của bản thân, tác giả đã cho người đọc thấu hiểu phần nào giá trị của hòa bình độc lập, hiểu được những năm tháng chống Mỹ cứu nước hào hùng của thế hệ cha anh. Chị đã nói hộ sự lo lắng của người lính già khi mai kia “rồi có ai còn nhớ tới Trường Sơn”, còn ai nhớ về những tháng ngày đạn bon khốc liệt. Quá khứ thì hãy ngủ yên. Con người sống cho hiện tại và vì tương lai. Nhưng lịch sử thì không thể nào quên. Lịch sử không chỉ tồn tại trên những trang giấy. Nó phải được thấm đẫm trong trái tim của từng thế hệ cháu con. Người lính già ấy không thể lặng im khi xã hội đang xô bồ, hối hả. Cần lắm những nốt lặng, cần lắm những câu chuyện kể cho nhau nghe về lịch sử hào hùng của dân tộc, của đất nước Việt Nam.
Chị đã khóc. Giọt nước mắt không chỉ vì câu chuyện Trường Sơn và những ngày mưa bom bão đạn. Chị khóc còn vì xã hội, ai ai cũng vì cuộc sống mưu sinh mà quên đi “Những người lính và những câu chuyện cần được kể”. Để người lính già ấy bây giờ cứ lặng lẽ đứng ở ngã tư đường mưu sinh bằng nghề chạy xe ôm, mà “Thời gian trắng qua đôi bàn tay”.
Nếu để ý, ta dễ dàng nhận thấy ngay ở câu thơ cuối khổ đầu, tác giả đã dùng hình ảnh “Thời gian chảy qua hai bàn tay”, thì đến cuối bài thơ, tác giả đã nhắc lại nó bằng hình ảnh “Thời gian trắng qua đôi bàn tay”. Câu thơ như vết cứa xuyên tận trái tim tôi. Bụi thời gian đã phủ mờ những cống hiến hi sinh của người lính năm xưa hay lòng người bạc bẽo, xã hội bàng quang trước họ. Họ đã cống hiến, hi sinh suốt tuổi thanh xuân cho tổ quốc, mà đến cuối đời vẫn tay trắng bàn tay. Đọc đến đây, tôi không thể cầm lòng, và chính tôi đang nếm vị mặm trên môi từ những giọt cay trên khóe mắt của mình.
Với lối kể chuyện mộc mạc, tự nhiên, tác giả đã dẫn dắt người đọc ngược về từng chặng thời gian, mở ra từng nút thắt để đến cuối bài thơ, trái tim người đọc như thắt lại, Thời gian trắng cứ nhòa đi.. nhòa đi trong nước mắt. Phải chăng đó là thành công ngoài mong đợi của một nhà thơ trước tác phẩm của mình?.
11/4/2020
Phạm Phương Lan
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ngọc Tình chạm khắc sông Vàm

Ngọc Tình chạm khắc sông Vàm

Chạm khắc sông Vàm là tập thơ thứ 5 của nhà thơ Ngọc Tình. Tập thơ có sự chín chắn và chắt lọc hơn so với 4 tập thơ trước: Hoa cau (2015), Nắng trao mùa (2017), Nghiêng bậc của đêm (2017), Đợi mùa (2018)). Đó là kết quả của sự lao động miệt mài, nghiêm túc, cẩn trọng của một người đàn làm thơ và yêu thơ “thuần khiết” ở vào tuổi xế chiều của cuộc đời. Chị lặng lẽ viết như để thỏa nỗi đam mê và xem nó như là nơi đáng “tin cậy” nhất để mình giãi bày những nỗi niềm sâu kín của lòng mình quanh những buồn vui thế sự. Chỉ trong vòng 5 năm, Ngọc Tình đã in được 5 tập thơ thì đó là điều rất đáng được ghi nhận. Đọc thơ chị, càng về sau càng thấy rõ những bứt phá và già dặn trong cách thể hiện; sức viết ngày càng sung mãn và tạo được dấu ấn riêng đối với người đọc.
Chạm khắc sông Vàm gồm 63 bài thơ, là 63 điệu khúc về tình yêu và sự sống. Ở đó thể hiện một hồn thơ chân thật mà mới mẻ; gần gũi, giản gị nhưng sâu lắng; rất mực chân thành mà giàu sức gợi nên dễ đi vào lòng người đọc. Mỗi câu, chữ trong thơ Ngọc Tình là cả những tình cảm được nhà thơ “ký gửi” vào đó. Vốn là một người nhạy cảm, tinh tế và giàu lòng trắc ẩn nên những gì xảy ra đều để lại trong lòng nhà thơ những dấu ấn khó phai mờ. Một cơn gió, một giọt nắng, một ngọn cỏ, một chiếc lá, một cánh chim, một ánh trăng… cũng làm cho chị xao động tâm hồn.
Với chị, mọi thứ trong cuộc sống này đều rất quan trọng cần phải quan tâm và có trách nhiệm với nó. Đặc biệt là tình yêu – thứ tình cảm thiêng liêng mà mỗi chúng ta cần phải nâng niu, gìn giữ, đắp bồi. Gió bay đi nhưng tình yêu ở lại/ Bến sông quê sương tím đã để dành (Tình yêu ở lại).
Sự trân trọng, biết sẻ chia, hiểu người hiểu mình, biết người biết ta là những phẩm chất nổi trội ở con người chị. Do vậy, không khó để người đọc nhận ra trong thơ Ngọc Tình bao giờ và lúc nào nhà thơ cũng luôn hướng đến điều nhân văn ấy. Lời thơ nhẹ nhàng nhưng khơi gợi biết bao suy ngẫm đối với độc giả. Tình yêu trong thơ Ngọc Tình không phải chỉ là tình yêu đôi lứa mà ở đó có cả tình yêu với cỏ cây, hoa lá, dòng sông…; tình yêu với mảnh đất quê hương, yêu mẹ cha, tiên tổ. Đặc biệt, chị cũng dành nhiều tình cảm với mảnh đất và con người (Tây Ninh) đã che chở, nuôi dưỡng chị trong suốt những năm tháng công tác cho đến lúc nghỉ hưu. Do vậy chị viết nhiều, nhắc nhiều về vùng đất này cũng là điều dễ hiểu. Những địa danh như Lò Gò, Tà Lọt, Cẩm Giang, Gò Chai… được nhà thơ đề cập đến với tình cảm thân thương đến lạ. Đó là những vùng đất gắn với những chiến tích oai hùng, nơi đó có những bà mẹ, người cha, người con sống tình nghĩa thủy chung. Họ sẵn sàng dâng hiến cả tuổi thanh xuân, hy sinh vì nghĩa lớn. Vì thế, những người còn sống hôm nay mãi không bao giờ quên sự cống hiến của các thế hệ cha ông. Họ đã đổ cả mồ hôi, nước mắt và máu xương để chúng ta có được cuộc sống hòa bình.
Tổ quốc ơi hạnh phúc đong đầy/ Chúng ta không quên – đồng đội tuổi hai mươi chưa một lần gắn huân chương/ nằm lại/ Tiếng cỏ thở – tiếng các anh rầm rì hát mãi/ Thiêng liêng đất mẹ Việt Nam (Tình yêu người lính).
Chiến tranh là gắn liền với đau thương và chết chóc, là nỗi đau đến khôn cùng của những người mẹ, người vợ có chồng tham gia kháng chiến. Và rồi, có những số phận không may họ đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.
Ngày hòa bình cờ đỏ thắm vàng sao/ Vợ đợi chồng cùng con xa biền biệt/ Giấy báo tử về một bóng hình tê buốt/ Một triền sông hoa rụng trắng nghẹn trôi
Bao bà mẹ cạn khô nước mắt, bao người vợ chờ chồng trong vô vọng. Nỗi đau chồng chất nỗi đau. Các anh đã hóa vào hồn thiêng sông núi! “Thế kỷ hai mốt rồi mẹ vẫn đợi chồng, con”.
Một tên con rắc tro bụi núi ngàn/ Một nghĩa trang một mộ chồng nhang khói/ Con ở đâu? Tấm hình như muốn nói/ Tiếng mẹ ru – ru vọng chiếc nôi xưa (Nỗi niềm người mẹ).
Đứng trước rừng Lò Gò, nhà thơ dâng lên cảm xúc:
Lò Gò ơi! Ta để tay trước ngực/ Mãi yêu em tất cả trước sau/ Mãi yêu em dù tóc đã phai màu/ Rừng chở che hôm nay và mãi mãi (Rừng Lò Gò và em).
Đặc biệt là dòng sông Vàm Cỏ như một nhân vật trữ tình vắt ngang qua, đi vào thơ chị làm người đọc nao lòng:
Nơi tôi ở ong gom từng giọt nắng/ Tây Ninh ơi! Vàm Cỏ tím câu thơ/ Ai xốn xang/ tóc bồng bên bến lặng/ Với riêng em sóng vỗ nhẹ đôi bờ (Nơi tôi ở).
Là người đã trải qua những năm tháng khó khăn nên chị thấm thía nỗi nhọc nhằn, vất vả và cả sự khổ đau. Hoàn cảnh lịch sử ấy đã tạo cho chị sức bền, sự chịu đựng để vượt qua mọi gian nan. Hoàn cảnh gia đình, thời cuộc có những tác động nhất định đến cuộc đời mỗi một con người. Ảnh hưởng thế nào và xử lý làm sao để cuộc sống ổn định là cách mà mỗi cá nhân phải tự linh hoạt ứng phó. Với chị, trong hành trình cuộc đời mà chị đi qua, dù có những ngã rẽ nhưng chị đã biết tự điều chỉnh và khéo vun vén nên mọi thứ đều êm đẹp. Vốn là người nặng nợ nghĩa tình nên chị vẫn không thể nào nguôi quên những năm tháng của quá khứ.
Ngày ra đi mảnh trăng vỡ thẫn thờ/ Hạt sương nghiêng rụng ướt vai thiếu nữ/ Mấy mươi năm rớt ngang giấc ngủ/ Định hình nhân nghĩa ru xa (Quê hương).
Điều đó không có nghĩa là chị không có nhưng nỗi khổ đau riêng. Những nỗi đau chị như chôn chặt, giấu kín cho riêng mình nhưng đôi lúc cũng trỗi dậy làm cho trái tim người đàn bà vẻ ngoài tưởng “kiên cường” ấy cũng phải rỉ máu.
Có thể cuộc chia ly về tình yêu vắt kiệt bài thơ/ Mùa ở lại người còn – người mất/ Trái tim nhỏ cớ gì chứa chất/ Nỗi đau – vắt kiệt bài thơ (Vòng nguyệt quế mờ xa).
Thơ Ngọc Tình thể hiện tính chất trữ tình ở cách cấu tứ bài thơ dựa trên những cảm xúc tâm trạng. Chị làm thơ một cách tự nhiên, đó như là sự trải lòng. Tất cả những khía cạnh tâm hồn được phơi bày, thổ lộ ra hết theo dòng suy nghĩ của nhà thơ. Đọc bài thơ Phải không em làm người đọc rưng rưng nước mắt, bởi chị đã khơi gợi quá nhiều điều. Đặc biệt là những người con xa xứ. Rời mảnh đất quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn để vào Nam, nhà thơ muốn mang theo những gì gần gũi, thân thương nhất của quê nhà. Mùi của bùn đất, rạ rơm; mùi của hương tóc, của hoa bưởi, hương cau…
Ta muốn mang đi mùi của bùn/ Hương của lúa – hương rơm rạ/ Và hương tóc em/ Ta muốn mang theo/ Chùm hoa bưởi thoang thoảng trong đêm
Nhưng có lẽ “bóng mẹ bên thềm” là hình ảnh độc đáo và tạo sự ám ảnh. Người con xa quê nhưng trong tâm khảm không bao giờ nguôi quên nỗi nhớ mẹ.
Đau đáu tình quê – bóng mẹ bên thềm/ Có bao lần ta khóc trong lòng/ Hoa cau rụng – rụng niềm khao khát/ Quả khế chua – mà ngọt trong tâm thức/ Vấp chiều – sợi tóc vấp nghiêng
Nỗi niềm day dứt với quê cha đất tổ luôn canh cánh bên mình:
Ta muốn mang theo mà mang chẳng được/ Nên sợi thương phía nào cũng đứt/ Ai gánh nổi tình mơ/ Ai mang được đến giờ?
Để rồi chị sâu sắc nhận ra rằng:
Ta kẻ dật dờ/ Nỗi niềm đáy biển/ Em có đo – uống mặn cả đời?/ Người đã bay lên – mà hồn lơ lửng khói/ lam chiều bảng lảng cố hương/ Thấp cao chân bước con đường xa ngái/ Khóc đi – chẳng gì mà ngại -/ phải không em?/ hay hỏi chính mình.
Đi qua những thăng trầm của cuộc đời, nhà thơ ý thức về những được – mất, về nỗi đau và cả sự “ích kỉ” trong tình yêu. Do vậy, chị không ngần ngại đề xuất phải “mở lòng”. Bởi trong tình yêu cần lắm sự bao dung!
Mở lòng đi dù chỉ là ký vãng/ Khi cô đơn quấn em vào buổi hoàng hôn/ Nhấm nháp rượu vô hình/ Chẳng say – mà thơ đổ sóng chập chờn
Bên cạnh cái tôi đời tư, Ngọc Tình còn khéo léo đề cập nhẹ nhàng, kín đáo về cái tôi thế sự. Phải chăng đây cũng là cái hay và thế mạnh của chị. Bởi nhà thơ, không đề cập một cách trực diện mà thông qua tình yêu và câu chuyện tình yêu để đưa ra những triết lý, chiêm cảm về đời sống. Do vậy, trong thơ chị thường dùng nhiều những biện pháp tu từ. Đó là cách để chị giãi bày, gửi gắm đến người đọc một cách tinh tế nhất.
Chẳng phải trời mà tại đời là vậy/ Trăng là em và trăng hóa là người/ Đâu cần đến trăng tròn mới tỏ/ Nửa khúc cong đủ run rẩy đầy vơi (Nửa khúc trăng cong).
Nếu không có tình yêu/ Không có nàng thơ từ đó/ Không thổn thức trái tim nho nhỏ/ Thì gió chiều không thổi muộn đến giờ…? (Mở lòng).
Sắc sảo và nhạy bén trong cách nhìn nhận về nhân tình thế thái, Ngọc Tình càng cay đắng, xót xa:
Ta nghiêng ngả trong cánh đồng thơ/ thơ tạt vào ta phần thật/ Ôi! Tóc bạc rồi thơ cũng trắng phau (Thơ nghiêng ngả gió).
Nhà thơ nghiệm ra rằng: Hãy là đời hãy cứ để gió bay/ Xưa là xưa bởi vì đầy ký vãng/ Ta đôi lần từng chia cô đơn chạng vạng/ Thì ra lối cũ len vào (Một mình trăng).
Là người yêu thơ và thành tâm với thơ, Ngọc Tình đến với thơ bằng tình yêu thuần hậu, xem nó là người bạn tri kỉ để chị gửi gắm nỗi niềm. Dù chị viết chắc tay trên nhiều thể loại thơ nhưng chưa bao giờ chị dám nhận mình là thi nhân. Sự khiêm tốn ấy thật đáng quý!
Không dám cho mình là thi nhân/ Chỉ trốn vào nỗi nhớ/ Với quê hương ta thả thơ – những khi trăn trở/ Vía hồn vần điệu chưa tròn
Cả tập thơ là tiếng lòng thành thật của một con người đã đi từng đi qua, đã từng nếm trải những đắng cay, buồn vui, hạnh phúc của cuộc đời. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhà thơ cũng sống và yêu bằng trái tim chân thành của người đàn bà hồn hậu. Chạm khắc sông Vàm, nhà thơ Ngọc Tình đã gửi trọn vào đó những điều muốn nói, những điều mà con tim mách bảo và thôi thúc phải chuyển tải bằng lời.
Trong dòng chảy của thơ nữ Việt đương đại nói chung, thơ nữ ở Tây Ninh nói riêng, Ngọc Tình từng bước khẳng định vị thế của mình và cũng đã góp thêm vào đó một tiếng thơ trữ tình da diết, giàu nữ tính. Tiếng thơ ấy làm nên sự đa sắc hương trong dàn đồng ca của thơ nữ Việt hôm nay.
12/4/2020
Nguyễn Văn Hòa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Giáo dục tính nhân văn qua chương trình, sách giáo khoa Quốc văn Trung học Đệ nhị cấp ở miền Nam trước 1975

Giáo dục tính nhân văn qua chương trình,
sách giáo khoa Quốc văn Trung học
Đệ nhị cấp ở miền Nam trước 1975

Nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam trước 1975, không phải là một nền giáo dục đã hoàn mỹ nên vẫn còn có những khiếm khuyết. Nhưng với nền tảng triết lý giáo dục “nhân bản”, “dân tộc” và “khai phóng” thì đây là một nền giáo dục “luôn luôn lấy con người làm cứu cánh, thể hiện tư tưởng nhân bản, luôn luôn chú trọng vào việc xây dựng đạo làm người, phát triển mầm mống tốt ở con người, phục vụ nhân sinh để tiến đến một xã hội hoàn thiện.”
1. Dẫn nhập:
Chủ nghĩa nhân văn, một hệ giá trị trong lịch sử tư tưởng nhân loại xuất hiện ở thời kỳ Phục hưng, sau khi loài người đã trải qua những khổ đau và tăm tối của đêm trường trung cổ. Ý thức đề cao con người, giải phóng cá nhân khỏi sự đè nén tinh thần của chế độ phong kiến, chống chủ nghĩa kinh viện và giáo hội, hướng con người vào xây dựng cuộc sống thực tại là những cảm hứng mà chủ nghĩa nhân văn mang đến. Và, trên nền tảng của tình yêu thương, khơi dậy những khát vọng tốt đẹp, tôn vinh phẩm giá con người…, chủ nghĩa nhân văn, trong căn tính, luôn chống lại các thế lực áp bức, hướng con người xây dựng một xã hội, ở đó những giá trị chân thiện mỹ được lên ngôi. Vì thế, không phải ngẫu nhiên, trong những năm đất nước bị chia cắt, khi miền Nam còn chịu sự xâm lăng của ngoại bang, nền giáo dục ở miền Nam trước 1975 đã đề ra một triết lý giáo dục với ba nguyên tắc: “nhân bản”, “dân tộc” và “khai phóng”. Theo đó: Nền giáo dục Việt Nam “1/ Phải là nền giáo dục nhân bản, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người, lấy chính con người làm cứu cánh, và như vậy nhằm mục đích phát triển toàn diện con người. 2/ Phải là một nền giáo dục dân tộc, tôn trọng giá trị truyền thống, mật thiết liên quan với những cảnh huống sinh hoạt như gia đình nghề nghiệp, đất nước và đảm bảo hữu hiệu cho sự sinh tồn, phát triển của quốc gia dân tộc. 3/ Phải có tính cách khai phóng, tôn trọng tinh thần khoa học, phát huy tinh thần dân chủ và xã hội, thâu thái tinh hoa các nền văn hóa thế giới.”[1] Như vậy, có thể nói, với triết lý giáo dục này, nền giáo dục ở miền Nam 1954-1975 là nền giáo dục mang tính nhân văn sâu sắc. Bởi, đây là nền giáo dục lấy sự “khai phóng” con người làm cảm hứng cho mọi sáng tạo và xây dựng nhân cách người học trong nhà trường. Đây cũng là nguyên tắc bất biến, chi phối việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa, giáo trình ở tất cả các bộ môn, trong đó có bộ môn Quốc văn. Giáo dục tính nhân văn, vì thế, đã trở thành một phẩm tính trong chương trình Quốc văn Trung học Đệ nhị cấp ở miền Nam trước 1975.
2. Nội dung:
Với nền giáo dục đề cao tính “nhân bản”, biểu hiện của việc giáo dục tính nhân văn luôn hiện hữu ở chương trình các môn học, trong đó có môn Quốc văn bậc Trung học Đệ nhị cấp, được thể hiện ở các bình diện: đề cao lòng yêu thương, trân quí phẩm giá con người, gắn với nhu cầu giải phóng cá nhân, khát vọng tự do, dân chủ và lòng yêu quê hương, đất nước. Đây là những căn tính mà chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng hay bất cứ thời đại tiến bộ nào cũng hướng đến như một hệ giá trị cần được đắp bồi. Chương trình Quốc văn bậc Trung học Đệ nhị cấp ở miền Nam trước 1975, vốn được xây dựng trên tinh thần “nhân bản”, “dân tộc” và “khai phóng”, kết tinh từ nền tảng văn hóa dân tộc nên việc giáo dục tính nhân văn được thể hiện ở nhiều bình diện. Song, ở bài viết này, chúng tôi chỉ tìm hiểu một số bình diện cơ bản mà biểu hiện trước tiên, đó là việc giáo dục lòng yêu thương và trân quí con người.
2.1.Giáo dục tình yêu thương và trân quí con người
Với truyền thống đạo đức thấm nhuần triết lý văn hóa “thương người như thể thương thân”, việc giáo dục tính nhân văn trong nền giáo dục ở miền Nam trước 1975 mà biểu hiện là lòng yêu thương và quí trọng con người luôn là một giá trị được thức nhận nơi học sinh. Điều nầy đã thể hiện khá phong phú ở chương trình Quốc văn lớp Đệ tam qua phần Văn chương bình dân, với những câu tục ngữ, ca dao nói về lòng yêu thương và trân quí con người được phân tích một cách thấu đáo như: Người ta là hoa đất; Lá lành đùm lá rách; Nhiễu điều phủ lấy giá gương / người trong một nước phải thương nhau cùng; Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn… Không nhưng thế, ở bình diện này, tinh thần nhân văn còn được thể hiện qua việc giảng dạy những tác phẩm văn học liên quan đến thân phận con người. Đó là niềm thương cảm sâu xa đối với phận số bi kịch của người phụ nữ qua cái chết bi thảm đầy oan nghiệt của vợ chàng Trương trong bài Đề miếu vợ Chàng Trương của Vua Lê Thánh Tôn. Đó là niềm cảm thông và sẻ chia trước nỗi đau thân phận của người Chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn qua bản dịch của Đoàn Thị Điểm mà theo sách giảng văn của Nguyễn Quảng Tuân thì: “Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm đã thông cảm với nỗi khổ của người dân mình, đặc biệt đối với những người thiếu phụ có chồng phải đi ra trận mạc, nên đã xây dựng được một tác phẩm có giá trị”.[2] Hay niềm cảm thương trước số phận hẩm hiu khi phải chôn vùi tuổi xuân trong chốn lãnh cung tăm tối của người Cung Nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều mà ở đó, nỗi đau phận số của người phụ nữ được tái hiện qua những diễn ngôn đẩm đầy nước mắt xót xa: “Hoa này bướm nỡ thờ ơ/ Để ngày bông thắm, để xơ nhị vàng”[3]. Đó còn là hình tượng Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du mà ở đó, lòng yêu thương và trân quí con người đã trở thành một hệ giá trị làm nên sự bất tử của tác phẩm, đến nỗi Nguyễn Du đã thốt lên một cách thê thiết: “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung!”. Nỗi đau thân phận của người đàn bà qua các nhân vật như vợ Chàng Trương, người Chinh phụ, người Cung nữ và Thúy Kiều trong các tác phẩm mà sách giáo khoa Quốc văn miền Nam trích giảng đã cho thấy lòng yêu thương và quí trọng con người là một căn phần của tính nhân văn được quan tâm giáo dục cho học sinh. Đây cũng là phương diện thể hiện tính nhân bản trong triết lý giáo dục ở miền Nam mà chương trình và sách giáo khoa hướng đến. Bởi, theo Châu Trọng Ngô, cựu giáo sư trường Quốc Học Huế trước 1975 thì: “Ở các cấp học cao hơn, các sách giáo khoa, đặc biệt là sách về khoa học xã hội hoàn toàn được biên soạn theo những chủ đề nhân ái, trong tổng thể không hề đượm mùi vị hiềm khích hờn dỗi.”[4]
2.2. Nhu cầu giải phóng cá nhân, hướng đến tư tưởng tự do dân chủ
Phẩm tính của chủ nghĩa nhân văn không chỉ dừng lại ở vấn đề yêu thương con người, chia sẻ với những nỗi khổ đau và bất hạnh trong thân phận mà còn hướng con người vươn đến khát vọng tự do, dân chủ và nhu cầu giải phóng cá nhân khỏi những thế lực “hắc ám”, có thể làm cho con người ngập chìm trong bi kịch của sự tối tăm. Con người trong cái nhìn của chủ nghĩa nhân văn phải là con người thật sự tự do và được sống trong một môi trường xã hội dân chủ, công bằng, bác ái. Đó là môi trường xã hội mà ở đó, nhân vị của con người được tôn trọng, tiềm năng sáng tạo của con người được khai phóng để bay cao, bay xa trong chân trời lao động sáng tạo. Bởi, trong quan niệm của triết lý giáo dục ở miền Nam trước 1975 thì: “Mục đích của giáo dục quốc gia là giúp mỗi cá nhân phát triển toàn diện để trở thành những người có khả năng thực tiễn, có khả năng tư duy, để làm việc, sinh sống, có đạo đức có tình người, để gây dựng hạnh phúc gia đình và hội nhập vào xã hội góp phần vào việc bảo vệ và phát triển quốc gia.”[5] Tinh thần này đã được thể hiện sâu sắc trong chương trình các môn học, được cụ thể hóa trong sách giáo khoa, trong đó có sách giáo qua môn Quốc văn bậc Trung học Đệ nhị cấp như cuốn Việt văn toàn thư Tú tài I Ban A.B.C.D. của Vũ Ký, giáo sư trường Trương Vĩnh Ký SG, nguyên giáo sư trường Quốc Học Huế và Hồ Ngọc Cẩn, do Á  Châu xuất bản; Cuốn Việt văn đệ nhị A.B.C.D. (tập 1, 2) của Võ Thu Tịnh, giáo sư Việt văn, do Hải Vân xuất bản và cuốn Quốc văn lớp 12 ABCD của nhóm giáo sư Quốc văn gồm Nguyễn Văn Cẩm – Giám học trường Võ Trường Toản SG; Lê Văn Chương giáo sư Pétrus Ký SG; Khưu Huỳnh Hương, giáo sư Gia Long SG; Tạ Quang Khôi, Hiệu trưởng Nguyễn Trãi SG; Vũ Thọ Ngọc Mai, giáo sư Lê Văn Duyệt Gia Định SG; Phạm Thị Nhung, giáo sư  Gia Long SG; Cao Đình Quát, giáo sư Chu Văn An SG; Lê Văn Quới, Giám học Phan Thanh Giản Cần Thơ; Cung Nhật Tân giáo sư Chu Văn An SG; Trần Đắc Thanh giáo sư Trưng Vương – Taberd, SG; Nguyễn Quảng Tuân, Thanh Tra chuyên môn Trung ương, Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên, do Trường Thi xuất bản, SG, 1974.
Trong cuốn Quốc Văn 12 ABCD, nhóm tác giả đã rất quan tâm đến giáo dục tính nhân văn, điều này đã được xác định rõ trong lời tựa: “Việc soạn một cuốn sách Quốc văn cho lớp 12 phải đi theo hướng làm sao cho học sinh hiểu rõ được các tư tưởng lớn trong văn chương Việt Nam từ tinh thần dân tộc, đến các ảnh hưởng của Nho Phật và Lão giáo ở Đông phương và các ảnh hưởng của tư tưởng lãng mạn, tự do dân chủ cùng Thiên chúa giáo ở Tây phương.”[6] Vì thế, khi luận giải ảnh hưởng của tư tưởng lãng mạn trong văn chương Việt Nam qua ba tác phẩm Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách; Hồn Bướm mơ tiên của Khái Hưng và Thơ say của Vũ Hoàng Chương, các soạn giả chỉ rõ: “Phong trào lãng mạn không chỉ là một cuộc cách mạng về văn học mà còn là một cuộc cách mạng về đường tư tưởng của các dân tộc Âu Châu nữa.”[7] Và, căn cứ vào tư tưởng của chủ nghĩa lãng mạn được thể hiện trong các tác phẩm văn học của các văn gia thi sĩ Lammartine, Victor Hugo, Alfred de Musset, Alfred de Vigny… Các nhà biên soạn cho rằng: “Văn chương lãng mạn có 4 đặc tính:1/ đề cao cá nhân chủ nghĩa và trữ tình 2/ đề cao tình cảm và trí tưởng tượng; 3/ Đề cao tình yêu thiên nhiên 4/ giải phóng về mặt hình thức. Trong 4 điểm trên thì đặc tính chủ nghĩa cá nhân và trữ tình trong văn học lãng mạn là quan trọng hơn cả.”[8] Đây cũng là cơ sở để giáo dục học sinh hướng đến khát vọng tự do dân chủ, một phẩm tính mà chủ nghĩa nhân văn hết sức coi trọng.
Hay trong bộ sách Việt Văn Đệ nhị ABCD tập II thế kỷ XX, Võ Thu Tịnh, khi giới thiệu về tác phẩm Nửa chừng xuân của Khái Hưng trong Tự lực Văn đoàn, cũng chú trọng đến vấn đề thức nhận nhu cầu giải phóng cá nhân khỏi những ràng buộc khắc nghiệt đến phi lý của xã hội phong kiến và điều này, có thể xem là một giá trị nhân văn được soạn giả hướng đến người học khi luận giải: “Khái Hưng muốn dùng câu chuyện thương tâm giữa Mai và Lộc mà đả phá các lễ nghi khắt khe của nền luân lý cũ còn tôn sùng cổ tục, để tuyên truyền cho một nếp sống mới (theo nho giáo phóng khoáng): tự do kết hôn, tình yêu lý tưởng, lòng nhân ái hy sinh hạnh phúc của mình cho kẻ khác, nhất là cho dân nghèo.”[9] Đặc biệt, trong bộ sách giáo khoa này, Võ Thu Tịnh rất quan tâm giới thiệu và phân tích khá sâu sắc tính nhân văn trong Mười Điều tâm niệm của Hoàng Đạo khi được đưa vào giảng dạy trong nhà trường vì theo ông đây là tác phẩm “thuộc loại sách học làm người, cố khuyên thanh niên tân học dùng làm phương châm hành động để đạt tới sự tân cải tâm hồn và thể xác”, với các điều tâm niệm như: “1/Theo mới, hoàn toàn theo mới không chút do dự; 2/Tin ở sự tiến bộ một ngày có thể một hơn; 3/ Sống theo một lý tưởng; 4/ Làm việc xã hội; 5/ Luyện tinh khí; 6/ Phụ nữ và xã hội; 7/ Luyện lấy bộ óc khoa học; 8/ Cần sự nghiệp không cần công danh; 9/ Luyện thân thể cường tráng; 10/ Cần có trí xếp đặt.”[10] Ngày nay, nếu tiếp nhận “Mười điều tâm niệm” của Hoàng Đạo một cách công bằng, khách quan, khoa học thì những “điều tâm niệm” mà Hoàng Đạo nêu ra, không phải là không có ý nghĩa giáo dục tính nhân văn đối với thế hệ trẻ hôm nay, nhất là, khi xã hội đang bị vòng quay của những điều phản văn hóa, phản nhân văn bủa vây mà nếu không có sức đề kháng vững chắc, con người rất dễ bị cảm dỗ và sa ngã. Vì vậy, xét về một phương diện nào đó, chúng ta cũng có thể chia sẻ với người viết sách giáo khoa khi tác giả cho rằng: “Chúng ta cũng phải khách quan mà công nhận rằng chủ trương của Hoàng Đạo trong “Mười điều tâm niệm” có nhiều điều hữu lý. Phương thuốc của ông tuy hơi mạnh song vẫn là phương thuốc thích hợp của xã hội ta trong buổi giao thời giữa Mới và Cũ, lập trường của ông còn phải là lập trường của những người tha thiết với sự tiến bộ. Tư tưởng mà ông đề ra trong cuốn này, chẳng những có giá trị trong hiện tại mà cả trong tương lai, trong bất cứ thời đại nào mà chúng ta còn muốn sống một cuộc đời có ý nghĩa, một cuộc đời có tiến bộ.”[11] Vì vậy, việc đưa tác phẩm “Mười điều tâm niệm” của Hoàng Đạo vào giảng dạy trong nhà trường ở miền Nam lúc bấy giờ, không phải là không có chủ đích trong việc giáo dục tính nhân văn cho học sinh. Và hôm nay, tác phẩm này nếu được giảng dạy trong chương trình văn học, thiết nghĩ vẫn có giá trị nhất định trong việc hình thành nhân cách văn hóa cho học sinh, sinh viên, nhất là khi văn hóa học đường đang có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng mà rõ nhất là việc nhạt phai lý tưởng sống tích cực, chạy theo những thị hiếu tầm thường, thực dụng, vô cảm và bạo lực…!?
Ngoài những tác giả, tác phẩm ở phần văn học lãng mạn thể hiện tinh thần giáo dục tính nhân văn với việc đề cao ý thức giải phóng cá nhân mà việc khẳng định cái tôi được xem như một hệ giá trị, thì vấn đề giáo dục tính nhân văn còn biểu hiện qua việc giảng dạy tác phẩm của các nhà thơ / văn thời trung đại như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tú Xương… mà sách giáo khoa Quốc văn đề cập đến. Chẳng hạn khi bàn về Chí làm trai qua thơ văn Nguyễn Công Trứ, tác giả sách giáo khoa đã xem quan niệm về Chí làm trai của Nguyễn Công Trứ là một hệ giá trị để khẳng định việc lập thân lập nghiệp nhằm xác lập sự tồn sinh của cái tôi giữa cuộc đời, chứ không phải là việc đề cao chủ nghĩa “anh hùng cá nhân” như có một thời “người ta” đã ngộ nhận và gán ghép một cách oan khuất cho ông.
Có thể nói, Nguyễn Công Trứ là người luôn có ý thức về sự hiện hữu của mình giữa cõi nhân gian với tư cách một nhân vị như triết học hiện sinh đã xác quyết. Vì vậy, ông luôn là chính mình trước những thành bại của cuộc đời mà không hề bi quan, chán nản. Trong quan niệm của ông: “Làm trai thì phải hoạt động lập công danh cho thỏa thích, chớ không phải chỉ để hưởng thụ một cách tầm thường như ai. Lý tưởng này đã giúp cho Nguyễn Công Trứ thành công rực rỡ trên đường đời, nhất là giữ được tư cách thanh cao trong khi say sưa hoạt động: làm đại tướng không cho là vinh, đi lính thú không lấy làm nhục, tha thiết với công danh mà vẫn ngạo mạn coi thường lợi danh.”[12] Vì thế, trong suy nghĩ của Võ Thu Tịnh: “Đối với thanh niên học sinh ngày nay, quan niệm về công danh của Nguyễn Công Trứ quả đáng được chúng ta nghiên cứu học tập thấu đáo.” Bởi, “Công danh quyết không phải là một tàn tích còn sót lại của cái mộng khoa cử “võng anh đi trước võng nàng theo sau” của bọn hủ nho thời trước. Công danh quyết cũng không phải là một cứu cánh vị kỷ của bọn tân học theo văn minh vật chất gần đây, chỉ mong cướp được mảnh bằng để mưu cầu địa vị ăn trên ngồi trước, vợ đẹp con khôn!…” mà: “Phải chăng cũng như Nguyễn Công Trứ, đối với chúng ta công danh phải là một món nợ thiêng liêng để thỏa mãn chí vẫy vùng, là một bổn phận cao quí để làm tròn nghĩa vụ công dân, là một vinh dự của con người trí thức khát khao lập sự nghiệp lưu danh hậu thế. Hoàn cảnh hiện tại của nước nhà chính lại là một dịp tốt để chúng ta thực hiện cái quan niệm hào hùng và cao thượng về công danh ấy.”[13] Và, khi luận giải về Chí nam chi, trong đó, quan niệm về công danh là hạt nhân trung tâm của Chí nam nhi, Võ Thu Tịnh đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa nhân văn để phân tích và lý giải vấn đề và xem đây như một giá trị nhân văn trong thơ văn Nguyễn Công Trứ, để giáo dục về lẽ sống cao đẹp mang lý tưởng nhân văn cho học sinh. Chính vì vậy, khi lý giải về tính nhân bản trong quan niệm về cái nhàn của Nguyễn Công Trứ, tác giả Việt văn Đệ nhị ABCD cũng cho rằng: “Cuối cùng cái nhàn của cụ đã thích hợp với bản tính và địa vị con người: ưa hưởng lạc vì vốn không phải là Tiên Phật mà vẫn giữ được thanh cao vì con người phải vượt lên khỏi vật chất sa đọa đê hèn thì mới xứng đáng với địa vị cao quí thiêng liêng của mình giữa vũ trụ (…) Nhàn của cụ không mâu thuẩn với chí nam nhi. Trái lại, nhàn đã giúp cho hoạt động: lúc nghèo cực nhàn đã giúp cho cụ vui vẻ chờ thời, lúc ra làm quan nhàn giúp cụ giải trí để làm việc hữu hiệu hơn, khi về hưu nhàn là một phần thưởng sau khi đã hoạt động mệt nhọc.”[14] Như vậy, trong suy niệm của các nhà viết sách giáo khoa bậc Trung học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, tư tưởng Nguyễn Công Trứ, trong đó có quan niệm về chí nam nhi và chữ nhàn là một giá trị nhân văn cần thức nhận để giáo dục cho học sinh trong nhận thức về cái tôi cũng như ý thức về nhân vị của mình giữa cuộc đời, điều mà không có nó, con người không còn là con người. Bởi, sự tồn sinh của mỗi người trong cõi nhân gian, trước hết và trên hết là sự tồn sinh của chính mình với tư cách là một nhân vị chứ không phải là một cái tôi bị tan chảy, tha hóa, vong thân trong một cái ta siêu hình, mơ hồ, huyễn hoặc, để rồi không còn nhận ra chính mình. Đây là một phẩm tính, chủ nghĩa nhân văn luôn hướng đến và đấu tranh cho sự tồn tại của nó như một hệ giá trị bất biến.
Song, để mỗi người có thể được sống là chính mình, một vấn đề có giá trị nhân văn mà sách giáo khoa trong chương trình Quốc văn ở miền Nam trước 1975 cũng quan tâm bàn đến bên cạnh sự giải phóng cá nhân đó là ý thức về tự do, dân chủ mà theo các nhà viết sách Quốc Văn lớp 12 thì: “Danh từ tự do mang nhiều ý nghĩa. Đối với cá nhân thì tự do là quyền của một người được tự làm chủ lấy mình, không lệ thuộc vào kẻ khác. Nhưng tự do của cá nhân đã bị giới hạn trong quyền lợi chung của xã hội nên danh từ tự do trong phạm vi chính trị đã được Montesquieu định nghĩa: “Tự do là quyền làm tất cả những gì mà luật pháp cho phép và nếu một công dân có thể làm cái gì mà luật pháp cấm, người ấy sẽ không có tự do, bởi vì những người khác cũng sẽ có quyền đó”. Danh từ tự do thường đi đôi với dân chủ để bảo đảm cho dân chủ. Dân chủ được dùng để chỉ những chính thể, trong đó người dân được làm chủ: tự mình làm chủ lấy mình và tự mình tham dự việc điều khiển guồng máy chính quyền.”[15] Và trên cơ sở luận giải tư tưởng tự do, dân chủ qua phân tích bài diễn thuyết công khai của Phan Chu Trinh ở Đông kinh nghĩa thục tại Hà Nội năm 1907, bài  diễn văn về “Cao vọng của bọn thanh niên An Nam” tại Hội khuyến học đêm 15/10/1913 của Nguyễn An Ninh và cuốn “Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh, các tác giả đã có cho thấy ảnh hưởng của tư tưởng tự do, dân chủ phương Tây, cụ thể là của Pháp đối với xã hội và văn chương Việt Nam, xem đây như một biểu hiện của tư tưởng nhân văn cần giáo dục cho học sinh qua dạy và học Quốc văn mà hôm nay, vẫn còn nguyên giá trị. Vì, những vấn đề dân chủ, tự do, bình đẳng, công bằng, văn minh là một chuẩn giá trị mà chúng ta đang hướng đến để xây dựng đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển của xu hướng toàn cầu hóa. Bởi, theo Montesquieu: “Một chính thể lý tưởng phải bảo đảm được tự do cho mọi công dân và một chính phủ lý tưởng bất kể dân chủ hay quân chủ, phải là một chính phủ có thể bảo đảm được tự do và hạnh phúc cho tất cả mọi người công dân.”[16] Việc giáo dục các giá trị nhân văn này là điều cần thiết đối với thế hệ trẻ hôm nay. Vì đây, là những hằng số văn hóa nuôi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước trong mỗi con người, một giá trị mà chương trình Quốc văn bậc Trung học Đệ nhị cấp ở miền Nam luôn quan tâm khi giáo dục tính nhân văn cho học sinh.
2.3. Lòng yêu quê hương đất nước, một phẩm tính nhân văn cần được thức nhận
Khi luận bàn về triết lý giáo dục ở miền Nam trước 1975, trong bài viết “giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) trên con đường xây dựng và phát triển, Trần Văn Chánh đã xác quyết: “Với triết lý giáo dục Nhân bản, được chính thức ghi vào Hiến Pháp 1967, nền giáo dục miền Nam rõ ràng muốn đào tạo nên những con người có trách nhiệm với cộng đồng, trong xã hội dân chủ, luôn biết tôn trọng khế ước xã hội, yêu nước, thương dân, có lòng bác ái vị tha với đồng loại.”[17] Trên cơ sở triết lý giáo dục này, vấn đề giáo dục lòng yêu quê hương đất nước đã trở thành một bình diện giáo dục tính nhân bản của chương trình Quốc văn. Vì vậy, khảo sát sách giáo khoa Quốc văn bậc Trung học Đệ nhị cấp ở miền Nam trước 1975, ta thấy lòng yêu quê hương đất nước là chủ đề chi phối khá sâu sắc nội dung chương trình sách giáo khoa mà biểu hiện rõ nhất đó là “ý thức Quốc gia”. Bởi, theo các nhà biên soạn thì từ trong văn học dân gian, “Ý thức quốc gia thể hiện được tinh thần tự tôn, tương thân, tương trợ của dân tộc. Từ khi sống thành đoàn thể dân ta đã biết yêu mến và hy sinh cho đoàn thể: Từ đoàn thể lớn nhất là quốc gia dân tộc đến đoàn thể nhỏ hơn là quê hương làng xóm và cuối cùng là gia đình.”[18] Xuất phát từ quan niệm này, Khi nói đến “ý thức quốc gia”, họ chú trọng dạy các vấn đề mang tính nhân văn như: “1/Yêu tổ quốc, được thể hiện bằng sự hãnh diện về nguồn gốc dân tộc qua câu chuyện cổ Con rồng cháu Tiên. Lòng ái quốc cũng được thể hiện bằng cách sùng bái những đấng tiền nhân đã có công lập quốc hay cứu quốc như Vua Hùng Vương, Trưng Vương, Hưng Đạo Đại Vương…; 2/ yêu quê hương làng xóm chỉ là sự biến thái của tình yêu tổ quốc. Vì yêu nước thiết tha nên tình yêu quê hương của người dân Việt Nam càng thêm đậm đà. Hình ảnh quê hương đã in sâu vào tâm hồn dân quê: làng ta phong cảnh hữu tình/ dân cư giang khúc như hình con long… 3/ Yêu gia đình bởi gia đình là yếu tố căn bản của quốc gia. Có yêu thương gia đình mới yêu thương tổ quốc. Gia đình Việt Nam là nơi kết tinh nhiều tình thương. Trước nhất, con cháu nhớ ơn tổ tiên và kính trọng ông bà: Con người có tổ có tông/ như cây có cội như sông có nguồn; Yêu thương cha mẹ: Đêm ra thắp đèn trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con; Tình yêu thương thắm thiết giữa vợ chồng: Có chồng thì phải theo chồng/ Đắng cay cũng chịu mặn nồng cũng vui. Tình anh em ruột thịt: Yêu nhau như thể tay chân/ Anh em hòa thuận hai thân vui vầy.”[19]
Tình yêu quê hương đất nước, một bình diện của việc giáo dục tính nhân văn đối với học sinh không chỉ được thể hiện trong văn học dân gian mà còn được thể hiện trong văn học viết qua việc trích giảng các tác phẩm cuả Nguyễn Bĩnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Du, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Đình Chiểu…
Khi luận bàn về tâm trạng ái quốc trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Võ Thu Tịnh trong Việt văn Đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, đã cho rằng: “Tâm trạng Nguyễn Đình Chiểu là tâm trạng một người tuy không tạo nổi thời thế song không bao giờ chịu để thời thế khuất nổi mình. Sống trong nghịch cảnh lại mang thêm mục tật nhưng Nguyễn Đình Chiểu luôn luôn giữ vẹn khí tiết thanh tao, trọn lòng thương yêu dân nước và ôm ấp một ước vọng cứu vớt sơn hà.”[20] Không chỉ dừng lại ở đó, Võ Thu Tịnh còn khẳng định tính chiến đấu mãnh liệt trong thơ Nguyễn Đình Chiểu, để từ đó thắp sáng lòng yêu tổ quốc và tinh thần chiến đấu hy sinh quên mình cho đất nước trước nạn ngoại xâm trong thế hệ trẻ khi tác giả xác quyết thơ Nguyễn Đình Chiểu: “Không những không khiến chúng ta chua xót thành đốn hèn vì hận sử của một thời chiến bại, trái lại đã đề cao tinh thần dân tộc tự chủ, nêu cao tinh thần đấu tranh bất khuất và lưu lại hậu thế những gương hy sinh cao đẹp của một miền Nam kháng chiến oai hùng.”[21] Hay khi đánh giá về lòng ái quốc qua thơ văn Nguyễn Khuyến cũng trong Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Võ Thu Tịnh cho rằng: “Nhìn chung, Nguyễn Khuyến đã yêu nước một cách tiêu cực. Nhưng trong phạm vi nào đó, chúng ta tưởng có thể tìm thấy được một vài khía cạnh tích cực trong lòng ái quốc của cụ.”[22] Khác với Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Khuyến, khi luận bàn về thi ca Trần Tế Xương, Võ Thu Tịnh lại đi tìm những giá trị nhân văn của thơ ca Trần Tế Xương từ nổi đau của ông trước thế thái nhân tình vì theo tác giả: “Thi ca của Trần Tế Xương đã cho chúng ta thấy lòng ưu thời mẫn thế của ông: hoang mang đau khổ trước cảnh nước mất nhà tan, phẩn uất vì đẳng cấp Nho sĩ phải nhường chỗ cho một bọn người vô học, tay sai cho thực dân, và than khóc cho giá trị con người bị chà đạp.” Vì thế, “Nếu Nguyễn Khuyến đã than khóc một trí thức đại thần bất lực trước nạn ngoại xâm, nếu Tản Đà đã than khóc cho một người dân bất lực trước cảnh lạc hậu của đất nước trong phong trào văn minh tiến bộ chung của thế giới, thì ở đây Trần Tế Xương đã than khóc cho con người bị chà đạp và bất lực trước cuộc đời.”[23] Như vậy, lòng yêu quê hương đất nước trong cái nhìn của các nhà biên soạn sách giáo khoa Quốc văn cũng có nhiều cung bậc khác nhau và tùy theo hoàn cảnh sống của mỗi người mà các nhà thơ / văn có cách biểu hiện khác nhau. Nhưng tựu trung lại, đây vẫn là một bình diện của tính nhân văn thể hiện nhân cách văn hóa của mỗi người trước vận mệnh đất nước, dân tộc mà chúng ta cần trân quí và nêu gương cho các thế hệ mai sau.
3. Thay lời kết:
Nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam trước 1975, không phải là một nền giáo dục đã hoàn mỹ nên vẫn còn có những khiếm khuyết. Nhưng với nền tảng triết lý giáo dục “nhân bản”, “dân tộc” và “khai phóng” thì đây là một nền giáo dục “luôn luôn lấy con người làm cứu cánh, thể hiện tư tưởng nhân bản, luôn luôn chú trọng vào việc xây dựng đạo làm người, phát triển mầm mống tốt ở con người, phục vụ nhân sinh để tiến đến một xã hội hoàn thiện.”[24] Vì thế, việc giáo dục tính nhân văn cho học sinh, sinh viên là một vấn đề rất được quan tâm trong việc xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, trong đó có chương trình và sách giáo khoa Quốc văn mà những vấn đề được luận bàn ở trên là một minh chứng.
Tìm hiểu việc giáo dục tính nhân văn qua chương trình, sách giáo khoa Quốc văn bậc Trung học Đệ nhị cấp nói riêng cũng như chương trình Quốc văn trong nhà trường ở miền Nam trước 1975 nói chung sẽ làm cho chúng ta thấy rõ hơn ý nghĩa của vấn đề giáo dục tính nhân văn cho học sinh, để từ đó, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa văn học hiện hành, nhất là khi nền giáo dục nước nhà đang thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện chương trình và sách giáo khoa trong trường phổ thông. Giáo dục tính nhân văn cho thế hệ trẻ, mà cụ thể là học sinh và sinh viên trong trường phổ thông và đại học là một vấn đề không mới nhưng cũng không bao giờ cũ, nhất là trong bối cảnh mà sự suy thoái đạo đức xã hội, trong đó có đạo đức ở nhà trường đang là vấn đề làm nhức nhối lương tri những người tử tế. Vì thế, đặt vấn đề giáo dục tính nhân văn cho thế hệ trẻ nói chung và học sinh, sinh viên trong nhà trường nói riêng là một vấn đề không những có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giúp chúng ta có cơ sở lý luận và thực tiễn để giải quyết một vấn đề bức xúc, đang đặt ra cho nền giáo dục nước nhà hầu lấy lại vị thế nhà trường trong niềm tin của nhân dân. Bởi, “dù bất cứ học đến bậc học nào, mục đích của giáo dục vẫn phải là giúp tất cả mọi người trở thành người tốt, người đã được phát triển về khả năng cũng như đạo đức, dù khả năng đó ở mức độ nào…”[25] Và mục đích cao cả ấy, chỉ có thể thực hiện được khi nhà trường luôn quan tâm đến việc giáo dục tính nhân văn cho học sinh, sinh viên qua nội dung chương trình, sách giáo khoa, giáo trình, một nhân tố luôn gắn với việc nghiên cứu, học tập và hình thành nhân cách văn hóa của người học, không chỉ trong quá khứ, hiện tại mà cả tương lai của quá trình giáo dục…
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Duy Cần (1970), Văn hóa giáo dục miền Nam Việt Nam đi về đâu?, Nam Hà Xb., Sài Gòn
2. Vũ Ký, và Hồ Ngọc Cẩn, Việt Văn toàn thư Tú tài I Ban A.B.C.D., Á Châu , Sài Gòn
3. Phạm Văn Diêu (1970), Việt Nam văn học giảng bình, Nxb. Hoành Sơn, Sài Gòn.
4. Nhất Hạnh, (1968), Nói với tuổi hai mươi, Lá Bối xuất bản, Sài Gòn
5. Heidegger (1974), Thư về nhân bản chủ nghĩa (bản Việt ngữ, Trần Xuân Kiêm), Tân An Xb., Sài Gòn
6. Phạm Thế Ngũ (1961), (1962), (1965), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Tập I, Tập II, Tập III, Quốc học Tùng thư xuất bản, Sài Gòn
7. Nhiều tác giả, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) số 7-8 (114-115) /2014
8. Nhóm tác giả, (1974), Quốc Văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn
9. Võ Thu Tịnh, Việt văn Đệ nhị ABCD tập I, thế kỷ XIX, , tập II, thế kỷ XX, Hải Vân Xb., Sài Gòn
10. Đàm Xuân Thiều, Trần Trọng San, (1971) Việt văn độc bản, lớp 11, Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn
11. Nguyễn Quảng Tuân, (1972) Giảng văn lớp 10, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn
12. Đỗ Văn Tú, (1970) Giảng văn lớp 11 ABCD, Văn Hào Xb., Sài Gòn
Chú thích:
[1] Trần Văn Chánh, “Giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) trên con đường xây dựng và phát triển”, Tạp chí nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề Giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975), tr.13, 14
[2] Nguyễn Quảng Tuân, Giảng văn lớp 10AB, Trường Thi Xb., Sài Gòn, 1972, tr.100
[3] Nguyễn Quảng Tuân, Giảng văn lớp 10AB, Trường Thi Xb., Sài Gòn, 1972, tr.135
[4] Châu Trọng Ngô “Nhìn lại nền giáo dục miền Nam Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) số 7-8 (114-115) /2014, tr.256
[5] Trần Văn Chánh “Giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) trên con đường xây dựng và phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) số 7-8 (114-115) /2014, tr.50
[6] Nhóm tác giả, Quốc văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1974, tr.5
[7] Nhóm tác giả, Quốc văn lớp 12 ABCD Trường Thi xuất bản, SG, 1974, tr.118
[8] Nhóm tác giả, Quốc Văn lớp 12 ABCD Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1974, tr.121
[9] Võ Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập II thế kỷ XX, Hải Vân Xb., Sài Gòn, tr. 639
[10] Võ Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập II thế kỷ XX, Hải Vân Xb., Sài Gòn, tr. 683
[11] Võ Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập II thế kỷ XX, Hải Vân Xb, SG, tr. 694-695
[12] Võ Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb., SG, tr.30
[13] Võ Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb., SG, tr.36, 37
[14] Võ Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb, SG, tr.51
[15] Nhóm tác giả, Quốc Văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, SG, 1974, tr.146
[16] Nhóm tác giả, Quốc Văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, SG, 1974, tr.147
[17] Trần Văn Chánh “Giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) trên con đường xây dựng và phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) số 7-8 (114-115)/ 2014, tr.50
[18] Nhóm tác giả, Quốc Văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1974, tr.20
[19] Nhóm tác giả, Quốc Văn lớp 12 ABCD, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1974, tr.23, 24
[20] Võ Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX,  Hải Vân Xb., Sài Gòn, tr. 189
[21] Võ Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb., Sài Gòn, tr.195
[22]  Võ Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb., Sài Gòn, tr.235
[23] Võ Thu Tịnh, Việt văn đệ nhị ABCD tập I thế kỷ XX, Hải Vân Xb., Sài Gòn, tr.354, 355
[24] Nguyễn Văn Nhật “Nền giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam trước 1975”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) số 7-8 (114-115) /2014, tr.79
[25] Trần Văn Chánh “Giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) trên con đường xây dựng và phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Chuyên đề giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) số 7-8 (114-115) /2014, tr.51.
13/4/2020
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Triết lý nhân sinh qua bài thơ Đò chiều

Triết lý nhân sinh
qua bài thơ Đò chiều

Thơ lục bát vốn dĩ là mảnh đất màu mỡ của văn học dân gian. Thế nhưng, văn học viết đã từng có những gương mặt phu chữ cày ải miệt mài trên thửa ruộng thi ca, được thể lục bát vinh danh như Nguyễn Du, Bùi Giáng, Đồng Đức Bốn … Ai có thể là truyền nhân tiếp nối?
Không ít lần người viết tự vấn, rồi tự trả lời: Không nhiều nhà thơ để lại dấu ấn ở thể thơ tưởng dễ mà khó tiếp cận này. Viết không khéo không hay, cảm xúc cạn hoặc đi đến chỗ vay mượn, thơ lục bát sẽ rơi vào chỗ non tay của một bài vè. Mà vè thì hầu như ai cũng làm được. Thơ hay đã quý. Lục bát thần tình lại càng hiếm. Vì lẽ đó, người viết trân trọng gọi những bài thơ lục bát viên thành cả về nội dung lẫn nghệ thuật là thiên lục bát. “Đò chiều” của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ là một trong những bài thơ như thế.
ĐÒ CHIỀU
Chiều gần. Chiều chậm. Chiều rơi
Tiếng chuông chùa ngắn như hơi thở chiều
Trên đò ngọn gió tịch liêu
Lạnh lùng thổi lại hồn chiều bơ vơ
Ta qua chưa hết chuyến đò
Thấy trăng đứng đợi bên bờ tử sinh
Thấy sông trôi lại bóng mình
Biết ta là bóng hay hình rong chơi
Tình xưa đã chết bên trời
Chiều nay sông nước đọc lời điếu tang
Hỏi quê nào biết đâu làng
Lòng không, còn lại mấy hàng mây trôi.
(Bến đò Giao Thủy, 2004)
TẦN HOÀI DẠ VŨ
Dòng lục mở đầu bài thơ gồm ba câu đặc biệt: ngắn và khó định chủ – vị. Khoảnh khắc thời gian trong một ngày được nhà thơ níu lại gần, thật chậm rãi khoan thai như nhịp chẵn/ nhịp đôi thong dong vẫn thường gặp ở thể thơ này:
Chiều gần. Chiều chậm. Chiều rơi
Hai câu đầu được dấu chấm câu giữ lại. Chỉ câu thứ ba là không dấu câu nào có thể bắt lấy, nên buổi chiều rơi tự do vào khoảng không vô định. Ý thơ tưởng là nhàn dật và khoái hoạt, nhưng đặt trong cấu trúc câu lạ, hòa phối với điệp từ “chiều” khiến người đọc hồ dễ tỏ tường được tâm tư xa vắng mà khắc khoải ưu phiền của thi nhân. Quả thật, câu thứ hai – câu bát như một tiếng thở dài rụng xuống hoàng hôn:
Tiếng chuông chùa ngắn như hơi thở chiều
Tiếng chuông chùa từ lâu vừa mang nét văn hóa tâm linh vừa hàm chứa tư tưởng phương đông. Nội hàm của tiếng chuông là Phật pháp, là triết lý sắc – không, ngỡ có hình tướng mà thật ra vô tướng, vô ảnh. Nói cách khác, chung thanh như một ánh chớp soi rọi vào những ngõ ngách thẳm sâu của thân phận người. Cách so sánh “tiếng chuông” ngắn như “hơi thở chiều” mang màu sắc cổ điển. Tác giả dùng động (âm thanh tiếng chuông) để làm bật lên sự tĩnh lặng (vô thanh) xung quanh. Đây là nguyên tắc dùng động nói tĩnh hay gặp trong Đường thi. Trong bài thơ tứ tuyệt “Điểu minh giản” của Vương Duy (được xưng tụng là Thi Phật) thủ pháp mượn động nói tĩnh cũng thể hiện ở câu khai “Nhân nhàn, hoa quế lạc” (Người nhàn, hoa quế rụng). Tâm hồn phải thật yên bình mới lắng nghe được trong thiên nhiên thanh tĩnh tiếng rơi khẽ, nhẹ của hoa quế – một loài hoa thường được trồng ở các thiền viện. Câu thơ hay ở sự hòa điệu vi tế giữa người thơ và thiên nhiên trong trục giao cảm thiên – nhân hợp nhất. Câu bát của “Đò chiều” cũng có làn hương thoảng nhẹ bình đạm của hoa quế lại vừa có chất suy tư nội tâm của chủ thể trữ tình. Cấu trúc cặp lục – bát ở đây vừa phá cách về hình thức lại vừa cổ điển về thi liệu, thi pháp.
Câu thứ ba khoác vẻ đẹp trang nhã mà se sắt u buồn:
Trên đò ngọn gió tịch liêu
Lạnh lùng thổi lại hồn chiều bơ vơ
Vừa thoáng bóng dáng của ngọn gió vô hình vô tướng, thi nhân đã chùng lòng vì nỗi “tịch liêu” vây phủ tứ bề. Nếu hai câu đầu khơi gợi cái nhìn ngộ giác thì câu thứ ba khai mở huệ giác trong trạng thái hòa cảm trọn vẹn giữa tâm hồn và ngoại giới “hồn chiều bơ vơ”. Cảnh giao tình. Tình hòa cảnh. Tiểu ngã (atman) nhập vào đại ngã (brahman). Động từ “thổi” chạm đến được sự dịch chuyển của cái vô thường và bắt lấy khoảnh khắc trời đất – vũ trụ – lòng người giao thoa. Và đấy là chất thiền tịnh xuyên suốt ý thơ.
Ta qua chưa hết chuyến đò
Thấy trăng đứng đợi bên bờ tử sinh
Đã giác ngộ thì chuyến đò chiều cũng là chuyến đò định mệnh, chuyến đò tử sinh của kiếp người hữu hạn. Dẫu rằng chủ thể trữ tình vẫn còn phân vân giữa hai bờ sinh tử, chưa qua hết chuyến – đò – hoàng – hôn đời mình. Như quy luật khó cưỡng: Là tro bụi, sẽ trở về bụi tro “Chiều nay gió thổi ngang đầu/ Thân là hạt bụi đã sầu ngàn năm” (Thân là hạt bụi – Tần Hoài Dạ Vũ). Triết lý nhân sinh trên cũng láy lại trong hai câu lục bát khác của thi nhân: “Lạy cùng đất thấp trời cao/ Có ta hạt bụi xin chào mai sau!”.
Trăng sáng có bao giờ rời bỏ thi ca trong những giờ phút trọng đại của đời người!?. Trong buổi hẹn đầu mà nên duyên “Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng/ Tre non đủ lá đan sàn nên chăng ?” (Ca dao) hoặc trăng tỏ rạng trong đêm Kim – Kiều thề nguyện “Vầng trăng vằng vặc giữa trời/ Đinh ninh hai mặt một lời song song”. Cho đến trạng huống thị ngộ “Nguyệt xuất kinh sơn điểu” (Trăng lên làm chim núi giật mình) rồi đại ngộ “Tăng xao nguyệt hạ môn” (Sư gõ cửa trăng chiều). Hình ảnh “trăng đứng đợi” soi sáng hai bờ tử sinh là thi ảnh mới lạ, ám gợi về cõi sinh diệt u tịch. Thi nhân đề cập đến chuyến đi vào cõi vô cùng của đời người bằng giọng nhã đạm, khiến cái chết được nhắc đến nhẹ tựa bóng hình hư ảnh, như nước chảy mây bay:
Thấy sông trôi lại bóng mình
Biết ta là bóng hay hình rong chơi
Tiết tấu thơ chầm chậm u hoài nghiêng về tự vấn, tự soi rọi. Nói cách khác, nhà thơ quay cái nhìn vào bên trong, chiêm nghiệm về kiếp nhân sinh và lẽ biến dịch vô thường. Đời người ngắn ngủi, vô thường như chiếc bóng, nào ai cắt nghĩa được “Biết ta là bóng hay hình rong chơi” ?!. Là Trang sinh hóa bướm hay bướm là Trang sinh ?!
Lấy sông nước, bóng chiều, con đò làm bối cảnh cho tư tưởng, quan niệm về lẽ vô vi vạn biến, ý thơ dần dịch chuyển về cuộc tử sinh của tha nhân. Hình ảnh thơ mở ra rợn ngợp và ám ảnh. Điêu linh của vô cùng thiên địa “Niệm thiên địa chi du du” (Trần Tử Ngang). Ám gợi bởi thi ảnh sáng tạo khi  nghĩ về chuyến xe sinh tử không có vé khứ hồi:
Tình xưa đã chết bên trời
Chiều nay sông nước đọc lời điếu tang
Câu thơ ngân nga ở vần “ang” (tang) lan xa và loang dài trong buổi tà dương của ngoại cảnh, hắt bóng chiều lên đời người đã nếm trải quá nửa phù trầm như lời ai điếu của sông nước. Ý thơ hẫng một nhịp mất mát ở từ “đã chết”, khiến những đau thương lùi hẳn về quá khứ. Trước lời “điếu tang”, mọi giấc mơ đời bỗng nhiên hư huyễn. Kể cả tình xưa, lối xưa hay đò chiều đang ngậm bóng tà huy. Chỉ còn lại thấp thoáng một câu hỏi nhân sinh đau đáu. Câu hỏi vọng từ quá khứ, neo ở hiện tại và tiếp diễn ở vị lai:
Hỏi quê nào biết đâu làng
Lòng không, còn lại mấy hàng mây trôi.
Có thể nói đó là suy niệm của cả đời thơ, đời người. Từ Thôi Hiệu với “Nhật mộ hương quan hà xứ thị?/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Quê hương khuất bóng hoàng hôn/Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai – bản dịch của Tản Đà) cho đến những trăn trở của hoàng đế xuất gia Thuận Trị “Tôi từ đâu đến không người biết/ Tôi đến nơi nào có ai hay ?”. Để rồi gặp Bùi thi sĩ, câu hỏi “sinh kí tử quy” trở nên sáng tỏ, đốn ngộ và thoát tục:
Hỏi tên: Rằng biển xanh dâu.
Hỏi quê: Rằng mộng ban đầu đã xa.
Thế nhưng với người thơ Tần Hoài Dạ Vũ, quê nhà theo đám mây biến dịch hằng viễn, hoài trôi vô định. Đấy chẳng phải là áng mây Tần “Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa” (Truyện Kiều) đấy sao !? Hay cảm thức về vũ trụ vĩnh hằng trong thơ Thôi Hiệu “Bạch vân thiên tải không du du” (Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay) cùng với áng mây Tần kia đã ảnh hưởng đến hai chữ đầu “Tần Hoài” trong bút danh và phủ bóng lên đời thơ của ông ?. Có lẽ, chính thi ảnh và thi ý sáng tạo mới làm thành nét riêng biệt giữa “Đò chiều” với các bài thơ khác có hình ảnh ẩn dụ “mây trắng”. Sinh mệnh của câu thơ kết lại ở chi tiết “Lòng không” và sự hiện hữu, hiện hành của từ “còn lại”. Không có sự đối sánh giữa đời người nhỏ bé, hữu hạn (đò chiều) và thiên nhiên mênh mang, vô hạn (áng mây, dòng sông) ta hay gặp trong thi pháp thơ Đường. Bản thân chủ thể đã chạm cửa không (lòng không) nên hồn thơ và trời đất đã đến ngưỡng hợp nhất giữa thiên – địa – nhân ngay trong khoảnh khắc hiện tồn.
Trong hai câu thơ: “Dặm xa quán trọ cơ cầu/ Mùa xuân mây trắng ngang đầu nhớ quê” thì quán trọ phải chăng là cõi đời này? Người khách trọ kia có mong một quê nhà nào chăng?. Đó có phải là cõi quê chung mà Trần Thái Tông đã từng hỏi: “Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách/ Nhật mộ hương quan vạn lý trình”. Cái quê chung ấy biết có còn lại trong lòng kẻ cơ cầu “Lòng không còn lại mấy hàng mây trôi”. Câu thơ cuối tụ lại ở cảm nhận chung rằng chủ thể trữ tình đã đạt đến trạng huống giao hòa với vũ trụ miên viễn, nên thi nhân hóa thành một phần của đám mây, dòng sông, bầu trời.
Tinh hoa của cả bài kết lại ở ý thơ tình thơ, làm nên vẻ đẹp vi tế và chắp cánh cho tư duy thơ thoát trần, dù hồn thơ không hề thảnh thơi vô sự. Xuyên suốt chỉnh thể văn bản, thi nhân vẫn đau đáu dai dẳng về triết lý nhân sinh, về bể dâu đời người, về quy luật biến dịch. Đồng thời, đó là điểm nhất quán trong thơ Tần Hoài Dạ Vũ. Và biết đâu, như thi nhân Lý Bạch, tác giả của bài thơ cũng muốn “quy cố hương” cùng áng mây trắng nao nao “Bạch vân xứ xứ trường tùy quân” (Đi đâu mây trắng cũng theo anh).
14/4/2020
Nguyễn Huyền Thoại Vy
Theo https://vanhocsaigon.com/

Văn nghệ giải phóng - Những ký ức không thể phai

Văn nghệ giải phóng - Những
ký ức không thể phai

Văn Nghệ Giải phóng thực sự đã thâm nhập được vào những điều bí ẩn lớn lao của cuộc sống và nâng lên thành những khái quát nghệ thuật đầy sức sống. Hoàn cảnh và sự tự ý thức của nhà văn đã kích thích những sáng tạo độc đáo, nhất là khi nhà văn đã có một trình độ hiểu biết nghệ thuật, một tâm thế đang sục sôi trước những nhu cầu đời sống…
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp1954, Hiệp định Genève được ký kết, tạm thời phân chia hai miền Nam Bắc, hai năm sau sẽ Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bộc lộ ngay bản chất phản động, chống lại Tổng tuyển cử, dùng các thủ đoạn, đặc biệt là luật 10/59 (5-1959) khủng bố, tàn sát rất dã man những người dân yêu nước và cách mạng. Những năm từ 1957 đến 1960, nhiều lần Chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị thực hiện Tổng tuyển cử nhưng chính quyền ở miền Nam hoặc là phủnhận hoặc không trả lời. Nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân đã nổ ra, tiêu biểu là phong trào Đồng khởi ở Bến Tre 1960, sau lan ra khắp miền Nam. Và đây là cơ sở quan trọng cho sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Giải phóng) vào ngày 20-12-1960, nhằm đoàn kết toàn dân chống lại sự can thiệp của đế quốc Mỹ và tay sai. Trong xu thế cách mạng ấy, ngày 20-7-1961, Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam, một tổ chức thành viên của Mặt trận được thành lập, do soạn giả nổi tiếng Trần Hữu Trang làm Chủ tịch, nhằm đoàn kết lực lượng văn nghệ sĩ toàn miền Nam trong cuộc đấu tranh chung. Hội ra tuyên ngôn, nhấn mạnh nhiệm vụ “Đánh đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai”, “Cống hiến nhiều nhứt cho sự tự do của Tổ quốc”. Năm sau đó, 1962, từ vùng căn cứ nằm sâu trong cánh rừng đại ngàn thuộc tỉnh Tây Ninh, báo Văn nghệ Giải phóng-Diễn đàn của Hội, do nhà thơ Giang Nam làm Tổng biên tập, được ra mắt. Lúc đầu báo còn hình thức tập san, sau ra khổ rộng và thành tuần báo khi xuất bản ở Sài Gòn sau chiến thắng mùa Xuân năm 1975.
Ngay từ lúc đầu, Hội Văn nghệ Giải phóng đã quy tụ được nhiều anh em văn nghệ sĩ, từ nhiều nguồn, và có ảnh hưởng rộng khắp miền Nam. Có những nghệ sĩ danh tiếng từng hoạt động ở thành ra chiến khu như Trần Hữu Trang, Thanh Loan, Tám Vân, Chín Châu, Lý Văn Sâm, Trang Thế Hy, Viễn Phương, Lê Vĩnh Hòa, Mai Quân, Vũ Quách. Những anh em ở chiến khu như Huỳnh Minh Siêng (Lưu Hữu Phước), Giang Nam, Trần Hiếu Minh (Nguyễn Văn Bổng), Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn, lúc này đang làm báo Văn nghệ Quân Giải phóng), Anh Đức (Bùi Đức Ái), Hoài Vũ, Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), Ngô Y Linh (Nguyễn Vũ), Hoàng Việt, Thái Ly, Nguyễn Sáng (Nguyễn Quang Sáng), Trần Đình Vân, Đinh Quang Nhã, Lê Văn Thảo, Chim Trắng, Nguyễn Chí Hiếu,Thạch Cương, Diệp Minh Tuyền, Thanh Thảo,… Đội ngũ này còn kéo dài nữa với những anh em văn nghệ sĩ chiến đấu ở chiến trường Khu Năm và chiến trường Trị Thiên như Phan Tứ (Lê Khâm), Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc), Thanh Hải, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Dương Hương Ly (Bùi Minh Quốc), Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm Phong và còn nhiều nữa. Năm 1971, Hội được bổ sung một lực lượng vốn là sinh viên khoa Văn và khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, và một số nơi khác, chuyển sang học khóa IV -Khóa đặc biệt bồi dưỡng lực lượng viết trẻ cho chiến trường, của Hội Nhà văn Việt Nam, như Vũ Ân Thy, Lê Quang Trang, Dương Trọng Dật, Hà Phương, Trần Thị Thắng, Khuynh Diệp, Lê Điệp, Đỗ Nam Cao,Trần Đức Cường, Phan An, Hà Công Tài, Phùng Đức Thắng, Phạm Quang Nghị, Nguyễn Khắc Thuần, Phan Xuân Biên; một số chiến đấu ở chiến trường khu Năm như Vũ Thị Hồng, Nguyễn Hồng, Nguyễn Bảo, Nguyễn Bá Thâm, Nguyễn Khắc Phục, Ngô Thế Oanh …Vào chiến trường các anh chị đã tỏa đi các mặt trận như, Hà Phương, Trần Thị Thắng, Khuynh Diệp, Hà Công Tài, Nguyễn Khắc Thuần, Phan Xuân Biên, Phan An về Khu Sài Gòn -Gia Định. Dương Trọng Dật về một xã ở tỉnh Bình Phước. Vũ Thị Hồng, Nguyễn Bảo, Nguyễn Hồng đi với bộ đội chủ lực. Rồi Trần Đức Cường đi Đồng Xoài, Hà Công Tài cùng họa sĩ Thanh Châu đi mặt trận núi Bà Đen,Trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, Trẩn Thị Thắng, Phùng Đức Thắng, Hà Phương cùng đi với bộ đội chủ lực tiến vào giải phóng Mỹ Tho; Phan Xuân Biên, Hà Công Tài theo một cánh quân của sư đoàn 7 vào giải phóng Biên Hòa…Trong ác liệt của chiến tranh, Nguyễn Hồng đã anh dũng hy sinh trong trận quyết giữ cao điểm, không cho kẻ thù chiếm đất ở chiến trường Khu Năm; Nguyễn Văn Long, Nguyễn Văn Kim đã không qua khỏi vì sốt rét ởTrường Sơn, để lại những trang viết nhiều hứa hẹn.
Đội ngũ này tiếp tục làm báo Văn Nghệ Giải phóng – Do nhà thơ Hoài Vũ làm Tổng Biên tập (từ 1973) với một Tòa soạn khá hoàn chỉnh như Tổ Văn do Thạch Cương Tổ trưởng, tổ viên có Lê Văn Thảo, Trần Thị Thắng; Tổ Thơ do Diệp Minh Tuyền Tổ trưởng, tổ viên có Chim Trắng, Hà Phương, Bùi Quốc Việt; Tổ Lý luận phê bình do Lê Quang Trang Tổ trưởng, tổ viên có Dương Trọng Dật, Hà Công Tài; và các tổ khác cùng sự bổ sung nhiều nhân sự mới sau khi về Sài Gòn như Nguyễn Duy, Mai Quốc Liên, Hữu Trí, Lê Thanh Trừ,Trang Nghị, Hiền Mai, Văn Lê, Trần Manh Hảo, Trần Văn Tuấn, Trần Ninh Hồ, Trần Nhật Thu. Tòa soạn hoạt động cho đến năm 1977 khi Văn nghệ Giải phóng hợp nhất với tờ Văn nghệ trung ương.
Những năm chiến tranh, lưc lượng văn nghệ giải phóng đã có mặt ở hầu khắp các mặt trận, các địa phương, sống, chiến đấu cùng với nhân dân, với du kích và bộ đội chủ lực như những người chiến sĩ thực thụ. Trần Hiếu Minh hoạt động ở Sài Gòn với “vỏ bọc” công khai, lấy bút danh là Lý Nguyên Trung, Phượng  Nguyễn, Vương Quế Lâm viết những bài báo sắc sảo trên báo chí công khai, rồi đến Bến Tre, U Minh, Cà Mau, viết Cửu Long cuộn sóng (ký, 1965), Rừng U Minh (tiểu thuyết, 1966), Sài Gòn ta đó (ký, 1969), Áo trắng (tiểu thuyết, 1973)… Anh Đức về Rạch Giá, Cần Thơ, Cà Mau, bám dân bám đất, viết tiểu thuyết Hòn đất và nhiều truyện ngắn và ký khác như Khói, Đất, Đứa con, Con chị Lộc, Giấc mơ ông lão vườn chim… Lê Văn Thảo đi với bộ đội chủ lực ở Đồng Tháp Mười, viết Ngoài mặt trận. Hoài Vũ tham gia các chiến dịch như Đồng Xoài, viết Dọc đường số 2, Bông sứ  trắng, Tổng công kích Mậu thân vào Sài Gòn, viết Đường ra tiền tuyến, Nữ pháo binh thành phố, Thư Tân Sơn Nhất, ở Củ Chi, viết Lên vành đai, Gái thời chiến, ở Long An, viết Vàm Cỏ Đông, Đi trong hương tràm, Gửi miền hạ.
Tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam, 1965, các nhà văn đã tham dự, lấy tài liệu viết về những tấm gương anh hùng. Cùng với vốn sống và sự trải nghiệm thực tiễn chiến đấu, Lê Anh Xuân viết bài thơ xúc động Gặp những Anh hùng, truyện Giữ đất viết về Anh hùng Nguyễn Văn Tư. Anh Đức có tác phẩm Chim đầu đàn viết về Anh hùng Bi Năng Tắc. Nguyễn Thi có tác phẩm Người mẹ cầm súng viết về Anh hùng Nguyễn Thị Út cô gái đất Ba Dừa Trà Vinh và các tùy bút Đại hội Anh hùng, Những câu nói trong Đại hội, Dòng kênh quê hương. Truyện ngắn Mẹ vắng nhà cũng là từ tấm gương người phụ nữ Trà Vinh ấy. Nguyễn Thi đã có mặt ở hầu khắp các mặt trận, các “điểm nóng” như Ấp Bắc, Củ Chi, Đồng Xoài, Bến Tre, viết các tác phẩm Ở xã Trung Nghĩa, Những sự tích ở đất thép, Cô gái đất Ba Dừa, Ước mơ của đất… Lê Anh Xuân vốn là một giảng viên trẻ tài hoa của khoa Lịch sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã từ chối đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài để trở về quê hương chiến đấu, đã viết nhiều tác phẩm như Trường ca Nguyễn Văn Trỗi, tập thơ Hoa dừa trong đó có bài thơ nổi tiếng Dáng đứng Việt Nam.
Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt
Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn  
Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng (…)
Không một tấm hình không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng – đứng – Việt – Nam tạc vào thế kỷ
Anh là chiến sĩ Giải phóng quân
(Dáng đứng Việt Nam, 1968)                      
Trong đợt Tổng công kích Mậu thân tháng 5-1968, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân đã anh dũng hy sinh, cống hiến trọn vẹn cả cuộc đời mình cho cách mạng và cho nền văn học cách mạng của dân tộc.Nhà văn Nguyễn Thi, Nhà thơ Lê Anh Xuân, được Nhà nước và Nhân dân tôn vinh là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cho nên, có thể nói văn nghệ Giải phóng là dòng văn nghệ sinh ra từ trong máu lửa của cuộc chiến đấu và luôn cuộn chảy trong nó tất cả máu và lửa của tình yêu quê hương đất nước và ý chí cách mạng. Nó có tính khuynh hướng rõ ràng là phục vụ cuộc kháng chiến, là động viên cổ vũ tinh thần chiến đấu, là chép sử và ghi lại hiện thực đấu tranh cách mạng, ghi lại cuộc sống chiến đấu và những tấm gương anh hùng. Và hơn thế nữa, nó cũng bộc lộ mặt bản chất nhất của sáng tạo văn học khi được sáng tác trực tiếp trong cuộc đấu tranh sinh tử của con người để giành lại cuộc sống. Nó khác văn học thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở chỗ không phải nhận đường, không bị ảnh hưởng bởi những buồn rớt, nhắm rớt, không có sự day dứt giữa nhà văn và chiến sĩ, không phải mất thời gian để xây dựng tính chất quần chúng, không có cảnh, tình của áo rách vai, quần vài mảnh vá và con người, người chiến sĩ không phải gặp nhau từ thời chưa biết chữ. Thời đại của văn nghệ giải phóng. ngược lại, là thời đại kết tinh cao nhất các giá trị tinh thần dân tộc, thời đại liên tục sáng tạo các giá trị mới. Và mỗi nhà văn đạt tới cái nhìn (vision) riêng, độc đáo, là cơ sở hình thành những phong cách nghệ thuật vô cùng phong phú, sinh động. Thời đại viết văn là viết về chính mình, là bộc lộ cao độ nhất phẩm chất tâm hồn và những khát khao cháy bỏng. Chính thơ văn đó, nói như nhà văn Mỹ đạt giải Nobel, Faulkner, là di tích của con người, là điểm tựa, là cột trụ giúp con người chịu đựng và chiến thắng.
Chiến tranh hơn bất cứ một lịch sử nào đã tác động đến những phần sâu xa nhất trong cuộc sống và tâm hồn, tư tưởng và tình cảm của nhà văn…Chiến tranh “Nơi cao nhất thử lòng ta yêu đất nước/thử lòng ta chung thủy vô tư” (Thanh Thảo) vì thế cũng bộc lộ tất cả những kinh nghiệm cuộc đời, tâm lý, đạo đức, nhân cách, đem lại cho con người những suy tư và nỗi thấu hiểu mối quan hệ giữa quá khứ với hiện tại và ảnh hưởng của nó tới tương lai. Có thể nói nhà văn Nguyễn Thi là tiêu biểu cho thế hệ nhà văn của văn nghệ Giải phóng, là một tâm hồn nghệ sĩ theo nghĩa đẹp nhất của từ này. Nhưng có lẽ trước hết ở trong anh là một người chiến sĩ. Và phải chăng đó cũng là đặc điểm của một lớp người cầm bút thế hệ Nguyễn Thi. Tâm sự của Nguyễn Thi sẽ là minh chứng để chúng ta suy ngẫm xác đáng hơn về đặc điểm của thế hệ cầm bút đó. Nhà văn đã có ý thức hơn bao giờ hết về sứ mệnh rất thiêng liêng và cũng rất thực của mình khi trở lại miền Nam. “Ở trong ấy lúc này chúng ta chưa có dân, chưa có đất, toàn bộ chính quyền còn trong tay kẻ thù. Gần như phải bắt đầu từ tay không mà đi tới giành lại tất cả. Tình hình như vậy mà mình về để làm văn chương thì vô nghĩa, vô duyên quá chừng! Về trong ấy có lẽ mình sẽ làm tất cả việc gì cần làm cùng với đồng chí đồng bào, làm gì cũng được, bất cứ việc gì có ích dù nhỏ nhất. Mình sẽ chỉ trở lại cầm bút khi nào cầm bút thực sự cần thiết và có ích cho cầm bút, hoặc hơn thế”. Sau này về chiến trường Nam bộ, Nguyễn Thi đã sống như thế, đã trực tiếp cầm súng và đã viết những tác phẩm Ở xã Trung Nghĩa (1963), Người mẹ cầm súng (1965), Ước mơ của đất (1968)… Người mẹ cầm súng là một thành công của Nguyễn Thi về sự cảm nhận phẩm chất cao đẹp và triết lý giản dị của người anh hùng dân gian như chị Út Tịch. Ước mơ của đất, truyện về anh hùng Nguyễn Thị Hạnh được viết sau Đại hội Anh hùng toàn miền Nam lần thứ hai, là sự rung động sâu sắc của nhà văn về chiến tranh nhân dân, về Đồng khởi. Giữa chiến trường khắc nghiệt, Nguyễn Thi từng tâm sự “tình hình này ngồi viết tiểu thuyết, nó chướng lắm”. Điều này càng cho ta hiểu về nhà văn và tác phẩm,- những tác phẩm phản ánh thật độc đáo sự biến chuyển của cách mạng miền Nam. Dường như Nguyễn Thi, bằng tất cả sự tự ý thức của mình, đã nói lên, rất thầm thì, những điều dự báo lớn lao, đẹp và thiêng liêng về số phận những con người đang cầm súng giữa chiến trường máu lửa, về sự thắng lợi tất yếu và thiêng liêng kỳ lạ của Cách mạng miền Nam ngay từ những năm tháng ác liệt nhất của lịch sử, và hơn hết là về những con người dù ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này khi cần quyết đứng lên bảo vệ cuộc sống của mình, bảo vệ Tổ quốc của mình.
Trong hoạt động nghệ thuật, sự độc đáo là yêu cầu không thể thiếu, sự nhìn nhận, cái nhìn, ở mỗi nghệ sĩ là khác nhau. Không chỉ ở văn xuôi Nguyễn Thi, những trang thơ từ chiến trường cũng là những kết hợp hết sức khác nhau giữa cảm xúc và tư tưởng. Cùng viết về quê hương nhưng trong sáng tác của Giang Nam, Hoài Vũ, Lê Anh Xuân là những kết hợp rất khác nhau.Ở Giang Nam dường như cấu trúc thơ ca dựa trên sự đối lập thống nhất giữa một bên là cái đẹp, là kỷ niệm tuổi thơ và bên kia là sự đau thương, mất mát, cái bi kịch của cuộc đời.
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi
(Quê hương, 1960)
Ở Lê Anh Xuân là sự kết hợp những kỷ niệm và khát vọng cháy bỏng của người con đi xa trở về.
Đêm đầu tiên ta ngủ giữa quê hương
Sao thấy lòng ấm lạ
Dù ngoài trời trầm tã mưa tuôn
Tiếng đại bác gầm rung vách lá (…)
Ta về đây chẳng mang gì cho em cả
Chỉ có trái tim chung thủy sắt son
Và khẩu súng trong tay cháy bỏng căm hờn
(Trở về quê nội, 1965)
Vàm Cỏ Đôngcủa Hoài Vũ, bài thơ tràn đầy tình cảm ấm áp, thiết tha, thân thuộc có lẽ là bài thơ tình đầu tiên của văn nghệ giải phóng sau Quê hương của Giang Nam. Vàm Cỏ Đông chính là sự kết hợp giữa cảm hứng về sự thật lịch sử với ước mơ lãng mạn, bay bổng, một hòa điệu thực mơ mơ thực say đắm, tài tình, giầu cảm xúc.
Đây con sông như dòng sữa mẹ
Nước về xanh ruộng lúa vườn cây
Và ăm ắp như lòng người mẹ
Chở tình thương trang trải đêm ngày (…)
Ơi Vàm Cỏ Đông! Ơi con sông
Nước xanh biêng biếc chẳng thay dòng
(Vàm Cỏ Đông, 1964)
Bài thơ Thử nói về hạnh phúc của Thanh Thảo ra đời cuối năm 1972,được đọc rồi chép tay truyền nhau giữa những người lính trẻ, những thanh niên học sinh sinh viên tranh đấu trong các phong trào yêu nước ở đô thị miền Nam, trong cả nhà tù của địch. Bài thơ chia sẻ được với bao nhiêu con người, giúp họ đứng vững trước những thử thách khốc liệt của cuộc chiến, sống xứng đáng với một thời đại bi tráng và hào hùng đã sinh ra họ, Một cái nhìn sâu thẳm, không né tránh hiện thực phức tạp của đời sống và tâm hồn người chiến sĩ. Sự hóa thân kỳ diệu của nhà thơ vào số phận của đất nước, khắc họa cao độ nhất, trác tuyệt, về người chiến sĩ trong kháng chiến chống Mỹ.
chúng tôi không muốn chết vì hư danh
không thể chết vì tiền bạc
chúng ta lạ xa với những tin tưởng điên cuồng
những liều thân vô ích
đất nước đẹp mênh mang
đất nước thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt
chỉ riêng cho Người chúng tôi dám chết
(Thử nói về hạnh phúc, 1972)
Văn nghệ Giải phóng thực sự đã thâm nhập được vào những điều bí ẩn lớn lao của cuộc sống và nâng lên thành những khái quát nghệ thuật đầy sức sống. Hoàn cảnh và sự tự ý thức của nhà văn đã kích thích những sáng tạo độc đáo, nhất là khi nhà văn đã có một trình độ hiểu biết nghệ thuật, một tâm thế đang sục sôi trước những nhu cầu đời sống. Nó như một chất đốt để tư chất và hiểu biết có thể cháy bùng lên và trở thành những ký ức không thể phai. Chính từ đây nó góp phần soi thấu phẩm giá con người, khẳng định những giá trị của con người Việt Nam yêu nước và cách mạng.
15/4/2020
Hà Công Tài
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Thời gian trắng" của Nguyễn Phan Quế Mai

"Thời gian trắng" của Nguyễn Phan Quế Mai Với lối kể chuyện mộc mạc, tự nhiên, tác giả đã dẫn dắt người đọc ngược về từng chặng ...