Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

Thơ xuân Vũ Hoàng Chương

Thơ xuân Vũ Hoàng Chương

Xuân đã đem mong nhớ trở về

Câu thơ Nguyễn Bính, ý thường thôi. Lời e cũng thường thôi. Nhưng dư vang vô tận, xoáy sâu vào tâm tư khách xa quê, nhất là những kẻ không có ngày về. Xuân đã... đau lòng một chữ đã. Xuân đã. Người chưa. Những lỡ làng và những bẽ bàng.

Lần này, ở đây, Xuân đã đem mong nhớ trở về Vũ Hoàng Chương, người bạn thơ, bạn kịch cũ càng với Nguyễn Bính Lỡ Bước Sang Ngang.

Mùa xuân thương nhớ mùa Xuân.

Nói đến thơ xuân Vũ Hoàng Chương, cái bồi hồi lẫn chút bùi ngùi. Có hay không có, mùa xuân trong thơ đấng trích tiên, đã tự giam thơ giam đời trong mươi chữ:

Xuân đời chưa kịp hưởng

Mây mùa thu đã sang?

Nhà thơ đã tự tình như thế, ở tuổi chưa đến ba mươi, trong tập thơ Mây. Người còn giăng tơ tâm sự

Xuân có sang mà hoa không tươi

Ý ngát hoài chăng hề tuổi chớm ba mươi

Nằm say ngõ lạnh

Buồn nghe mưa rơi

Tuôn châu oà bật lên cười

Ta có là ta chăng hề Ai chứ là Ngươi

Chậu sành tiếng đập ngàn năm cũ

Hoạ điệu chiều nay xác rã rời

 

Và từ đó, hay trước đó, với Vũ Hoàng Chương, tất cả những mùa Xuân đều là :

 

Hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay

 

Đã có nhiều người nói, và nói có cơ sở là men rượu và khói thuốc đưa thơ Vũ Hoàng Chương ra khỏi không gian ; và thơ Đường, thơ Tống, người đẹp Liêu Trai đưa thơ ông ra khỏi thời gian. Điều đó có thật, nhưng con người dù là người thơ, vẫn còn xương còn thịt chuyển động theo bốn mùa mưa nắng. Và cả bốn mùa đều in nét trong thơ Vũ Hoàng Chương.
 

Tác phẩm đầu lòng Thơ Say in năm 1940 gồm những sáng tác buổi hoa niên, nhưng hoạ hoằn lắm mới ánh lên một nét tươi xuân.

 

Thuyền nhỏ sông lam yểu điệu về

Cỏ chen màu liễu biếc chân đê

Tình Xuân ai chở đầy khoang ấy

Hương sắc thanh bình ngập lối quê.
 

Nắng nhẹ mây hờ sương hơi hơi

Sương thưa nắng mỏng nhạc khoan lời

Dây đàn chầm chậm hôn lên phím

Muôn vạn cung Hồ lả lướt rơi
 

Thơ Say gồm có nhiều phần : Say, Mùa, Yêu, Lỡ Làng ... Phần Mùa chỉ có hai bài thơ ngắn, bài Dịu Nhẹ tả cảnh mùa xuân trên đây, bài sau là Mùa Thu Đã Về. Thơ Mùa đề tặng ‘em Vân’, người yêu trong mộng. Chủ đề Mùa chứng tỏ nhà thơ coi trọng thời gian, nhưng loại thơ tứ thời bát tiết không nhiều, vì không nằm trong thi hứng Vũ Hoàng Chương. Bài thơ xuân Dịu Nhẹ hiếm hoi, nhưng vẫn mang phong cách đặc biệt Vũ Hoàng Chương. Dường như mãi đến 1952 ông mới có trọn vẹn một bài thơ Xuân khác, nhưng cỏ cây đã nhuốm màu Thiền. Bài Thoát Hình gồm 7 đoạn, một vần:

 

Rào rạt trong cây nhựa trắng ngần

Đã nghe dồn cả tới đài xuân

Đã nghe rào rạt từng cơn gió

Về mách tin hương với cõi trần

Muôn vạn tế bào đang huỷ thể

Vâng theo ý lớn nhịp xoay vần ...
 

... Ta mở trang lòng nguyên vẹn mãi,

Chưa từng hoen ố vết trầm luân

Đêm nay xuống một bài thơ trắng

Cầu nguyện cho đời nở Ái Ân

Sau này, nhất là từ 1963, Vũ Hoàng Chương sẽ sáng tác nhiều thơ về Đạo Pháp, tuy nhiên nguồn thơ Đạo đã róc rách từ trước đó. Ngoài ra, bài Thoát Hình còn mang thêm dấu ấn của khoa học và triết học, hai nguồn thi hứng sẽ phát triển sâu rộng hơn trong thơ Vũ Hoàng Chương về sau.

* * *

Hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay ...là một câu tiên tri. Di cư vào Nam, nhà thơ xem như thất lạc mùa xuân.

Bài Nửa đêm Trừ Tịch làm 1955 ; mùa xuân đầu tiên xa xứ :


Mười năm qua, đến bây giờ
Nhìn nhau thấy cả giấc mơ thuở nào....
(...)

Xuân về nhớ thuở ngát chiêm bao
Giòng nước trôi xuôi chợt nghẹn ngào
Lạc lõng vàng son màu lữ thứ
Cành mai gượng ánh mặt hoa đào
Mười phần xuân có gầy hao
Tấm lòng xuân vẫn dạt dào như xưa
Mấy phen biếc đón hồng đưa
Dẫu rằng xong, vẫn là chưa thoả nguyền


Đây là một bài thơ hay, giàu cảm xúc, chĩu nặng ưu hoài. Không mang nội dung, dụng tâm chính trị nào, nhưng đã bị Chế Lan Viên chiếu cố và mạt sát thậm tệ (1960) cho rằng cái điều Vũ Hoàng Chương đáng hổ thẹn nhất và chúng ta đau xót căm giận nhất là bốn câu này:

Có nghĩa gì đâu một chữ " về "
Nếu không ngàn dặm ngược sơn khê
Nếu không ngược cả mười năm ấy
Về tận kinh đô của ước thề


Theo Chế Lan Viên, chữ " Về" là " cái việc về thành, cái việc dinh tê về Hà Nội (mà) chẳng có nghĩa gì cả, thì trong tâm hồn nhà thơ này không còn ranh giới giữa cái tốt, cái xấu, cái đúng, cái sai, cái có nghĩa và cái không có nghĩa "[1]

Đây là lối viết vu oan giáng hoạ, vì chữ " về ", trong bài thơ, không có ngụ ý chính trị, chỉ là một ước vọng tình cảm, hay xa hơn nữa là một xu hướng tâm linh. Từ xưa thơ Vũ Hoàng Chương đã là một lối tìm về :

Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước, xa xôi dặm về

Nguyện Cầu, 1950

Còn mấy chữ " có nghĩa gì đâu ", là phỏng theo Xuân Diệu :

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều


Nếu nhất định gán cho câu thơ một dụng ý thời sự thì nên hiểu : việc hồi cư năm 1950, với Vũ Hoàng Chương không mang ý nghĩa một chọn lựa chính trị, mà chỉ do một nhu đầu một tình cảm riêng tư - phần nào đó hoang tưởng - " có nghĩa gì đâu " . Còn về thời gian mười năm, từ thời Mây (1943) thi nhân đã nhiều lần nói đến : " Mười năm thôi nhé mộng tan tành " ...," Tình mười năm còn lại mấy tờ thư "…. Thận trọng, chúng tôi đã hỏi lại bà Vũ Hoàng Chương và được chị trả lời là đúng như thế, và còn cho biết thêm : ‘ước thề’ ở đây không phải là chị ấy .

Ngoài ra, giai đoạn này, Vũ Hoàng Chương còn có Bài Ca Bình Bắc, kể chuyện xuân chiến thắng của Quang Trung :

Nhớ trận Đống Đa hề thương mùa xuân tới
Sầu xuân vời vợi
Xuân tứ nao nao
Nghe đêm trừ tịch hề máu nở hoa đào
Ngập giấc xuân tiêu hề lửa trùm quan tái
Trời đất vô cùng hề một khúc hát ngao


Bài thơ là một thiên sử thi, ngợi ca hào quang dân tộc, nhưng hay ở những âm vang vời vợi nao nao, vô cùng quan tái. Nó là một khúc " hát ngao " hơn là một anh hùng ca.
Cùng trong nỗi u hoài mùa-xuân-mất, tết năm 1963, nhà thơ mơ tưởng một Cành Mai Trắng Mộng

Chín giao thừa, tám năm dư
Cành Mai trắng mộng đêm trừ tịch suông
(...)
Khói đâu mờ tím căn buồng
Thời gian ai đốt trên luồng thần giao
Cố đô lửa cháy gan nào
Sài đô son sắt như bào, như nung


Mậu Thân, 1968, Vũ Hoàng Chương làm nhiều thơ Xuân giọng hãi hùng cay đắng. Bài Đục Trong, làm theo lối cổ phong, toàn vần đục, khổ độc, gân guốc, gay gắt :

Chợ Tết mai lan cúc
Đắm mình trong bụi đục
Từng phiên nép mặt hoa
Thẹn không bằng khóm trúc
(...)
Liên miên khói lửa này,
Dám đâu mơ hạnh phúc
Lần lượt tre rồi măng
Đã tơi bời cốt nhục


Đoạn cuối, ê chề, xót xa thân phận :

Thân càng xót cho thân
Uổng gây hình ngọc đúc


Bài thơ có lẽ làm vào những ngày áp Tết Mậu Thân, sức khoẻ không tốt, cũng như bài Bặt Khoá Buồng Xuân, cùng một âm hao não nuột :

Miệng héo dần theo lòng khắc khoải
Năm nay rồi sắp thành năm ngoái
E khi chiều xế, tuyết thay tơ
Không cả chút tình thương nắng quái
 

Kẻ vô-hạn-hận không là gió
Xuân đến trà mi đời tự bỏ
Ngồi chín từng cao, thẳm đáy hang
Cùng ai gửi chút hương vò võ ?


Toàn bài vần bằng, xen hai đoạn vần trắc nói trên, là u uất nhất. Và kết thúc với hình ảnh của Tết Mậu Thân : thiều quang ngập máu đổ quyên hồng...

Bài Vỡ Mộng Liêu Trai làm giữa ngày Tết tang thương :

Ma sợ cung vôi chạy vọt lên
Người thơ giữa lúc mở bầu men,
Khai xuân chưa kịp vui cùng khách
Đạn rót trời cao đã nổ rền


Nhưng Tết Mậu Thân 1968, tang tóc nhất là Cố đô Huế. Vũ Hoàng Chương làm một loạt tám bài đường luật theo thể liên hoàn liên vận dưới đề tài : " loạn trung Huế cảm bệnh trung nhân " (trên giường bệnh, cảm thương Huế loạn lạc) :

Đạn réo vang vang lửa bốn bề
Như thiêu giường bệnh cháy cơ mê
Sốt dâng mạch loạn càng u uất
Máu chảy ruồi bâu thật não nề


Trước cảnh trúc chẻ ngói tan ấy, nhà thơ đau yếu, bất lực chỉ gởi lời cầu nguyện :

Mong người một nước soi gương cũ
Nguyện đấng ngàn tay độ nhiễu điều ...

(Huế Cảm)

Tết năm sau, Kỷ Dậu – 1969, sức khoẻ khá hơn, tình hình chiến trận, bên ngoài, có vẻ yên ắng, hoà hội Paris đang tiến triển và hứa hẹn, Vũ Hoàng Chương chợt nghe hồn thơ phấn khởi :

Tin Xuân gà gáy rách trời đêm
Tuổi nửa trăm vừa nửa chục thêm
Đủ thấy điềm lành hai nửa nước
Một nhà trong ấm với ngoài êm

(Mở Bút ghi Điềm)

Thi nhân ngất ngưởng, lạc quan như chưa bao giờ lạc quan ở tuổi hoa niên :

Chữ lựa vần gieo đắc ý rồi
Đèn khêu vừa tỏ nước vừa sôi
Nhựa say trà ngát thơ cao giọng
Hỏi chúa xuân rằng : ai có ngôi ?

(Hạnh phúc nào hơn)

Vũ Hoàng Chương thi sĩ còn là một Vũ Hoàng Chương kẻ sĩ, tâm hồn luôn luồn gắn bó với vận hưng suy của đất nước – cho dù ông có là nạn nhân của nhiều ngộ nhận và xuyên tạc. Mùa xuân Kỷ Dậu 1969 đưa hồn thơ về một năm Kỷ Dậu khác, 180 năm trước, mùa xuân Quang Trung, 1789, qua bài thơ chữ Hán :

Kỷ Dậu hồi thanh

Kê minh nhật thướng cựu sơn xuyên
Hồi ức Quang Trung vũ hịch truyền
Sơn vĩ sơn đầu hoa giải ngữ
Hoà âm xuân thảo nhiễu bình nguyên


Ông tự dịch :

Tiếng vang lịch sử

Đất xưa gà gáy mặt trời lên
Giục nhớ Quang Trung hịch sấm rền
Hoa mở cánh chào ngang dọc núi
Hoà âm cỏ ngát xuống bình nguyên


Đặng Tiến dịch ké :

Gà thúc bình minh sông núi xưa
Quang Trung thuở nọ, hịch truyền đưa
Sườn non lưng núi lời hoa mở
Nội cỏ hoà xuân, nhạc tấu mùa


Vũ Hoàng Chương sinh năm ất Mão-1915 – giấy tờ thường ghi 1916 – tính đến năm 1969 là 55 tuổi ta. Ông tự hào thọ hơn... Khổng Minh một tuổi, có bài thơ thu gọn đời mình, giữa những dư luận thị phi, và trầm luân thế cuộc :

Chữ thọ vừa ăn đứt Ngoạ Long
Bến nằm dư biết đục hay trong
(...)
Chỉ thương kiếp đá ai bày trận
Để ngấn vàng gieo chợt rối vòng


Nhưng phấn khởi, dường như chỉ được một mùa xuân ấy. Tết năm sau, 1970, bài "Xúc Động Cuối Năm " thật buồn :

Chơi xuân đất này không cỏ non
Thơ không vàng nữa, ấn không son
Hỡi ơi lòng chợt đau như cắt
Một nụ cười xuân cũng chẳng còn


Bài thơ tưởng niệm bạn tâm giao là thi sĩ Đông Hồ (1906-1969) vừa mới quy tiên trong năm. Người sành thơ nhận ra bóng dáng Đông Hồ : câu đầu lấy từ một câu tập cổ của tác giả Bội Lan Hành : " xuân du thử địa vô phương thảo ", câu sau lấy ý từ bài Vàng Son hoa nở hai mùa :

Mùa vàng hoa mai hoa cúc
Mùa son hoa phượng hoa vông
(...)
Mùa vàng giàu thật giàu
Mùa son sang rất sang

(Đông Hồ)

" Một nụ cười xuân cũng chẳng còn ", là nhắc tên tập thơ " Cô Gái Xuân " (1935) của Đông Hồ.

Xuân Tân Hợi – 1971, lại thêm một mùa tang tóc :
 

Theo nắng trôi vàng, bạc nổi mây
Thương xuân lìa cội, Tết sa lầy
Sông Rồng bến Nghé đêm Trừ tịch
Phá vỡ vòng sao tự giải vây
Mách cho Lã Vọng về đây
Tha hồ câu, bến sông đầy tử thi


Tuý Ông ngồi rũ cánh Lan buồn
Nơi ấy đầy xương chất máu tuôn
Thà đợi một mùa Xuân Đích Thực
Âm thanh Cuồng sát tự dìm luôn

(Xuân Đối Diện)

Năm sau, 1972, khói lửa vẫn ngập trời :

Giấc mộng trường chinh lửa ngút mây
Tỉnh ra ngựa đấy với thuyền đây
Nhìn nhau chuột nhỏ tung tăng dạo
Vừa uống sông xuân một bụng đầy

(Nhâm Tý khai bút)

Tác giả tự dịch ra Hán Văn :

Trường chinh mộng hậu tức phong yên
Thiên lý long câu vạn lý thuyền
Hốt ngộ tiền thân nhất yến thử
ẩm hà mãn phúc tuý xuân thiên


Lời thơ thanh thoát, dí dỏm. Nhưng tâm sự tác giả, thời điểm ấy còn u ám lắm qua bài " Xuân Quạnh " :

Hỡi ơi trầm ngát mùa cung điện
Ngõ hẹp ... Thôi rồi vẫn tịch liêu

Lầu Vọng-giai-nhân mãi quạnh nằm
Ngày xưa Kim ốc chỉ mười năm
Đắng cay thế vị lòng vương giả
Ôi nguyệt tiền thân ngọt đoá rằm


Cuối năm 1972, hoà hội Paris bế tắc, chiến trường miền Nam ác liệt và Mỹ dùng pháo đài bay B 52 oanh tạc Hà Nội suốt 12 ngày đêm cuối năm. Phải nhớ rõ bối cảnh đó, mới hiểu tâm trạng Vũ Hoàng Chương qua bài " Đón Xuân Mười Chín " làm trước Tết Quý Sửu (nhằm ngày 3.2.1973) :

Bấm đốt từ di cư đến nay
Đón xuân vừa vặn hết bàn tay,
Sang sông Ngựa đã hai lần hí
Vạch đất Trâu thêm một luống cày
Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc
Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây
Bút toan chạy ngược đau lòng chữ
Núi vẫn nằm ngang bạc tóc mây
Dăm kẻ tri giao toàn kiết xác
Nửa đêm trừ tịch cũng vờ say
Hằng nga bỏ địa cầu đi mãi
Tết đến buồn không chịu vẽ mày
Xưa rồi lửa phóng tên bay
Giờ chơi nhạc sống nào đây hỡi giàn
Bóng ai trên đá ngồi gan
Có nghe rung một giây đàn lẻ loi
Trời xuân chẳng én đưa thoi
Mà như gấm đẩy bức Hồi Văn qua
Nghé kêu đầy bến vàng hoa

 

(dẫn trọn bài)

Bài này đăng trên Giai Phẩm Văn Xuân Quý Sửu, phát hành ngày 15.1.1973, trước khi ký hoà ước Paris. Vậy Vũ Hoàng Chương phải làm trước đó, vào thời điểm :

Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc
Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây


Câu thơ ngụ ý : lửa thử vàng, Vàng Mười không sợ lửa, chế độ miền Bắc không khuất phục trước vũ lực thô bạo. Đây là một câu thơ nặng tình dân tộc, nhưng không mấy người để ý, như một thứ cung đàn lẻ loi.

Người đọc vẫn tưởng nhà thơ sống trong mây khói, quên rằng Vũ Hoàng Chương gốc gác là một bộ óc khoa học, toán học, nên đã có những tính toán chi ly, chính xác : bàn tay, tổng cộng có 19 đốt, ứng vào con số 19 năm di cư sang sông (1954-1973). Ngựa đã hai lần hý là hai năm Giáp Ngọ (1954) và Bính Ngọ (1966). Trâu thêm một luống cày là hai năm Tân Sửu (1961) và Quý Sửu (1973). Hai vần mây và say nhắc tên hai tập thơ đầu tay ; Nửa đêm trừ tịch là tên một bài thơ. Nghé kêu đầy Bến ngụ ý bài thơ làm tại Sài Gòn, tên cũ là Bến Nghé.

Sau đó, hiệp định Paris ký ngày 27.1.1973, chấm dứt chiến tranh Việt Nam trên giấy tờ. Ngay ngày Tết Quý Sửu, Vũ Hoàng Chương có thơ kịp thời ghi dấu :

Ma là Người ... kiếp khác
Người là Trời ... đêm nay
Nghe chừng lửa đã tắt
Hai bờ Con-Sông này
ờ nhỉ ! đâu còn Vết Cắt
Sao lòng ai vẫn chưa hay ?
Nằm kia, người nín bặt
Vòng luân hồi đã ngược chiều quay
Ma thôi vất vưởng, trời thôi lưu đày
(Tin Xuân)

Vũ Hoàng Chương là người thiết tha với vận mệnh dân tộc và đất nước, gắn bó với kỷ niệm Hàng Khay Hàng Trống hoa nào rụng, nhất định phải kỳ vọng vào hiệp định 27.1.1973 sẽ mang lại thanh bình cho đất nước, và ngày thống nhất sẽ không xa. Dù rằng kỳ vọng ấy chỉ rung một giây đàn lẻ loi, và sau này sẽ không đúng với thực tế : đất nước sẽ thanh bình và thống nhất, nhưng trong những điều kiện khác – mà Vũ Hoàng Chương sẽ là nạn nhân.

Năm 1974, Tết Giáp Dần, thi nhân có bài Thuý Vũ Đoản Từ, trích toàn văn, vì ít người còn lưu giữ :

Cỏ Bồ ôm đá ngủ
Trong tranh từ bao giờ
Cho đến bây giờ
Còn say trong thơ
Vườn bỗng hót vang chim Thuý Vũ
Đèn xanh nến biếc đêm giao thừa
Nét bút gầy theo mực úa
Bao năm rồi tiêu sơ
Có phải xuân đang từ đáy lụa
Một chiều sâu không ai ngờ
Truyền tin về giấc mơ
ánh nguyệt mung lung cành lãng đãng
Nghe lòng trời đất ươm tơ
Nguyệt vẽ mày cong dĩ vãng
Cành đơn hoa trắng tương tư
Ôi thôi áo vải đã màu nâu thuyền đã hư
Mối manh gì nữa còn ai nữa
Đành kết vào hương Thuý vũ Từ


Tác giả giải thích : Thuý Vũ nguyên là tên một loài chim, sau thành tên một loài hoa : hoa mai trắng, nhiều cánh và nhỏ hơn Bạch Mai[2]. Nói là thơ xuân, kỳ thực bài này nằm giữa mộng và thực. Nó quý ở chỗ phản ánh tâm trạng của tác giả thời đó, ông sẽ viết " ta đành mất hết để còn nhau " (Huyền Lan Trường Từ, cuối xuân Giáp Dần 1974).

 

* * *
 

Thơ xuân thơ Tết cuối cùng của Vũ Hoàng Chương là bài Vịnh Tranh Gà Lợn, làm vào ngày Tết Bính Thìn, 1976. Bài thơ được truyền tụng nhờ được truyền khẩu. Nhưng cũng vì truyền khẩu, nên nhiều dị bản khác nhau, nhiều bản sai lạc, vô nghĩa. Bà Vũ Hoàng Chương đã than phiền và ghi lại cho chúng tôi chính văn :

Vịnh tranh Gà Lợn

Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn, om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có hoạ
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh


Bà Vũ ghi chú : Thơ có hoạ có ba nghĩa : thơ có xướng thì phải có hoạ, gọi là thơ xướng hoạ : thơ phản nghịch là tai hoạ ; và thơ hoạ (vẽ) ra tranh. Vũ Hoàng Chương nổi tiếng là uyên bác : thơ ông thường sử dụng nhiều điển cố. Đặc biệt bài này ông sử dụng tục ngữ, theo truyền thống Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Bà Vũ Hoàng Chương lưu ý đến những tục ngữ : " dừng có mạch, vách có tai " ; " xanh vỏ đỏ lòng ". Nhưng còn nhiều thành ngữ, tục ngữ khác như : " tranh tối tranh sáng ", " mắt xanh ", " mắt quáng gà ", " gà cùng một mẹ ", " lợn âm dương ", " con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi ". " Khúc tân thanh ằ ngụ ý ô đoạn trường " . Còn ý nghĩa, ngụ ý dí dỏm nhưng thâm trầm của từng câu, từng chữ thì chúng tôi xin miễn giải thích, sợ làm mất cái duyên ngầm của bài thơ. Chỉ mong văn giới ghi nhận : đây là văn bản chính thức của bài Vịnh tranh Gà Lợn của Vũ Hoàng Chương làm vào dịp Tết Bính Thìn 1976. Bà Vũ Hoàng Chương và chúng tôi chịu trách nhiệm về 56 chữ trong văn bản. Những dị bản khác nên xem như là truyền khẩu, " tam sao ", được phổ biến trong nghịch cảnh. Sau đó nhà thơ Vũ Hoàng Chương bị bắt, ngày 14-3, giam ở Chí Hoà, bị bệnh nặng, đưa về nhà mấy hôm thì mất, ngày 6.9.1976, nhằm ngày 13 tháng 8 năm Bình Thìn, lúc 23 giờ.
 

* * *
 

Tóm lại, ở thời trai trẻ Vũ Hoàng Chương ít có thơ Xuân trong các tập Thơ Say, Mây, Rừng Phong. Sau ngày di cư vào Nam, thơ xuân của ông thường là hoài niệm hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay. Khoảng mươi năm về sau, ông có nhiều thơ xuân mỗi năm vì yêu cầu của báo giới ; vả lại, ông thường dùng thể thơ ngắn, gọi là nhị thập bát tú, dễ sử dụng để ký hoạ một tâm trạng, một biến cố lịch sử. Do đó, những bài thơ hoàn cảnh lại là những bài thơ thời thế và thân thế giàu sử liệu và tư liệu.

Chúng tôi sưu tầm và giới thiệu thơ xuân của Vũ Hoàng Chương qua nhiều giai đoạn, để bạn đọc và văn giới có một chuỗi tư liệu. Nhưng nhất định là thiếu sót, nhất là những bài thơ đăng rải rác trên báo, hay rất nhiều thơ xuân thù tạc gửi bằng hữu. Quý vị nào biết xin vui lòng mách, hoặc công bố, để đóng góp vào việc hoàn thành Toàn Tập Thơ Văn Vũ Hoàng Chương sau này.
Dùng từ cho chính xác, có thể nói là Vũ Hoàng Chương làm nhiều thơ Tết và ít thơ xuân. Và nói chung, thơ xuân Vũ Hoàng Chương, ở cái phần đọng lại trong lòng người đọc thường là :
Hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay.
Người đời vẫn mơ ước những thành đạt làm nên sự nghiệp. Nhưng có những sự nghiệp lớn lao hình thành trên mất mát.

Cao quý và thiêng liêng thay, một sự nghiệp làm bằng mất mát.

Chú thích:

[1] Chế Lan Viên, Phê Bình Văn Học, nxb Văn Học, tr. 89, 1962, Hà Nội
[2] Bà Vũ Hoàng Chương (1919-2005) – nhà thơ Đinh Thục Oanh – Xuân Kỷ Mão 1999 đã có bài Mai Thúy Vũ để truy niệm phu quân:

Cao sâu từng nhập bóng cây già,
Cây vẫn thân xưa bóng chẳng nhoà.
Vườn trải băng sương trăm thức cỏ,
Xuân còn Thúy Vũ một cành hoa.
Lòng nghe nắng ấm say đôi chút
Cánh để men hồng nhuốm phớt qua
Vang tiếng chim xanh về hót đấy,
Bồng lai hẳn nhớ kẻ đi xa.
Tôi đã hoạ lại, nay nhắc lại để ghi kỷ niệm và tư liệu:
Mộng Trắng Cành Mai, trên cội già,
Nắng thưa mưa nhạt, trắng không nhoà
Sang Tần lỗi bước lầm Tâm Sự,
Bút Nở Hoa Đàm lỡ xác hoa.
Ngồi Quán, Thơ Say, Thuyền Ghé Tạm
Rừng Phong, Đậm Nhạt – Hạc về qua.
Mây xa, xa mãi, xa xa lắm,
Một chị một em tình xót xa

Những chữ in nghiêng là tên tác phẩm Vũ Hoàng Chương.

15/1/2007

Đặng Tiến

Theo https://www.art2all.net/

Hoài niệm Vũ Hoàng Chương, 1915 - 1976

Hoài niệm Vũ Hoàng Chương
1915 - 1976

Ngày 6/9 dương lịch là ngày giỗ Vũ Hoàng Chương, mất tại Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 1976; sau mấy tháng bị chính quyền bắt giam vào khám Chí Hoà anh bị trọng bệnh, đưa về nhà một thời gian ngắn thì qua đời, vì ho suyển, thọ 62 tuổi.

Vũ Hoàng Chương sinh tại thành phố Nam Định năm 1915 (giấy tờ ghi 1916) trong một gia đình khoa bảng giàu có; tác giả của khoảng hai mươi tác phẩm, chủ yếu là thơ, rồi đến kịch thơ, hồi ký, bài nói chuyện. Vũ Hoàng Chương là nhà thơ lớn của đất nước, bắt đầu từ phong trào Thơ Mới, với các tập Thơ Say (1940), Mây (1943), qua những truân chuyên của dân tộc với Thơ Lửa (1948), Hoa Đăng  (1959), Lửa Từ Bi (1963), và những biến chuyển trong thi ca hiện đại. Vũ Hoàng Chương là một tác gia lớn lao và quan trọng trong lịch sử văn học nước nhà, chiếm một địa vị riêng biệt trong  các trào lưu thi ca.  Giữa những trầm luân của đất nước, tác phẩm của anh chưa được tìm hiểu toàn bộ và đánh giá đúng mức, ở miền Bắc cũng như miền Nam, trước 1975, và trong nước cũng như ngoài nước những năm gần đây.

Trong nước, từ chính sách đổi mới, 1986, đã có lối nhìn thoáng rộng hơn đối với phong trào Thơ Mới 1932-1945 và Vũ Hoàng Chương, ở một chừng mực giới hạn, cũng được đọc lại một cách công bình hơn. Mới đây (1996) một sinh viên đại học TPHCM đã trình tiểu luận tốt nghiệp về Vũ Hoàng Chương và giáo sư phản biện Hoàng Như Mai, nhà phê bình văn học (sinh năm 1917) đã phê  “ viết về nhà thơ Vũ Hoàng Chương không phải dễ, người viết vừa phải có trình độ uyên bác nào đó, vừa phải có năng khiếu nghệ thuật. Trên thực tế, khen thơ Vũ Hoàng Chương thì có đông đảo độc giả và các nhà nghiên cứu phê bình, nhưng trực tiếp viết ra những lời đánh giá thì lại rất ít ai dám viết. Trên văn đàn, những bài, sách nghiên cứu, phê bình thơ Vũ Hoàng Chương có bao nhiêu đâu. Sinh viên viết được bài tiểu luận tốt nghiệp như thế này là đáng biểu dương. Tôi đánh giá như vậy là với tư cách một người yêu quý thơ Vũ Hoàng Chương, và là người bạn thân của nhà thơ “ (25/6/1996) .

Chúng tôi ghi nhận lời phê, viết tay trên luận án, vì nhiều lý do :

-          Dù bị vùi dập, Vũ Hoàng Chương vẫn có người yêu quí và ngay thẳng nói lên niềm yêu quý ấy.

-          Ngưòi ấy có thể là một trí thức cao tuổi, là Hoàng Như Mai, nhưng còn là những sinh viên trẻ tuổi.

-          Đoạn văn phản ánh đúng tình hình nghiên cứu về Vũ Hoàng Chương, với những khó khăn khách quan về nhiều mặt.

Nhưng cũng có người tâm huyết vượt qua những định kiến như Hoàng Thiệu Khang đã viết : “ cuộc nội sinh hoá văn học phương Tây, để có thể sản xuất ra một chất phương đông đậm đà, phải qua tay Vũ Hoàng Chương, Huy Cận, Đoàn phú Tứ, Thâm Tâm .. . và cả Xuân Thu Nhã Tập “ [1]. Và Đỗ Đức Hiểu (tú tài 1944 tại Hà Nội) trong sách Đổi Mới Phê Bình Văn Học đã phân tích ảnh hưởng Baudelaire trong thơ Vũ Hoàng Chương ; hoặc Đỗ Lai Thuý (sinh 1948) đã có những trang về Vũ Hoàng Chương đào nguyên lạc lối [2] thật hay, chủ yếu giải thích chất say như một chìa khoá giải mã đi vào thi giới Vũ Hoàng Chương, như một yếu tố của mỹ học và thi pháp ; và tính cách suy đồi trong nghĩa văn học có mầm mống cách mạng và hiện đại. Dĩ nhiên cái nhìn theo phương pháp luận luôn luôn mang tính cách cục bộ, và tiếc rằng Đỗ lai Thuý chưa đọc nhiều thơ Vũ Hoàng Chương. Tuy vậy,  những bài viết mới mẻ như thế còn hiếm và đáng biểu dương.

Đồng thời, một số tác phẩm của Vũ Hoàng Chương trước 1945 đã được in laị [3]. Những tác phẩm về sau, dường như chỉ in lại hồi ký Ta đã làm chi đời Ta ( nxb Hội nhà Văn 1993 TPHCM).

Nhưng nói chung những thành kiến còn đè nặng trên sự nghiệp văn học của Vũ Hoàng Chương, có thể từ bài viết của Chế Lan Viên (tháng 4/1960) phê phán tập thơ Hoa Đăng, bất công và độc ác [4]. Có thể nói, bài này, ở chừng mực nào đó – tôi cân nhắc – ở chừng mực nào đó, đã đưa đến thảm kịch Vũ Hoàng Chương năm 1976. Bài của Xuân Diệu ân cần với Vũ Hoàng Chương, trong mục Tiếng Thơ trên báo Văn Nghệ số 6/1948 không thấy in lại trong sách ( NXB Văn Nghệ, 1954). Thỉnh thoảng lắm mới có người nhắc đến tình cũ nghĩa xưa như Tô Hoài trong Tự Truyện, hay mới đây trong Chiều Chiều [5]. Còn lại là những phê phán gay gắt kể cả Lê đình Kỵ, là người tương đối cởi mở với thơ tiền chiến, cũng đánh giá Vũ Hoàng Chương là “ bi quan, bế tắc, buông thả, tự huỷ, truỵ lạc “.... [6]. ở đây chúng tôi không nhắc tới Phan Cự Đệ vì sách Phong trào Thơ Mới viết đã lâu (1966), và từ ấy đến nay ông ta cũng có tiến bộ.  Chỉ ghi nhận những lời mới đây (2/1989) của Hà Minh Đức, đương kim viện trưởng viện Văn Học, xem Vũ Hoàng Chương là " cây bút có tài năng nhưng nằm trong dòng nước đục ( .. .) chẳng có gì để nói thêm về những câu thơ như một con thuyền bập bềnh trôi trên dòng nước đục " [7]. Hà Minh Đức chỉ muốn so sánh thơ Vũ Hoàng Chương những năm 1940, 1943 với những nguồn thơ khác, nhưng câu chữ vẫn không hợp với một đất nước đang hô hào đổi mới, mở cửa, giao lưu. Dù sao, " đục trong thân cũng là thân" , cụ Nguyễn Du bảo vậy, và Tết Mậu Thân, 1968, Vũ Hoàng Chương cũng có bài thơ nhan đề như vậy.

Và dù sao, thời gian cũng sẽ gạn đục khơi trong.

Biết ai là đục biết ai trong . . .

Năm 1969, Vũ Hoàng Chương lên 55 tuổi, tự hào mình thọ hơn Khổng Minh . . . 1 tuổi, có bài thơ :

Chữ thọ vừa ăn đứt Ngoạ Long

Bến nằm dư biết đục hay trong . . .

(. . . )   Chỉ thương kiếp đá ai bày trận

Để ngấn vàng gieo chợt rối vòng . . .

 

Một ánh trăng giữa bát Trận Đồ. Trong cảnh đá chạy cát bay, đôi tiếng thị phi, hoặc lời ca tụng, có nghĩa lý gì ?

Trước đây, nhà xuất bản An Tiêm, Paris, trong dự án dài hạn, muốn ấn hành một Tuyển Tập Vũ Hoàng Chương, có thể nhích lên Toàn Tập, yêu cầu tôi sưu tầm, biên tập và giới thiệu, với sự thoả thuận của chị Vũ Hoàng Chương. Nay anh Thanh Tuệ chủ trương An Tiêm đã qua đời. Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, thời giám đốc Nguyễn văn Lưu có lúc cũng đánh tiếng, Nhưng việc không đến đâu, lý do, khách quan và chủ quan, thì nhiều.

Chút nghĩa cũ càng, nhân ngày giỗ anh Chương, mới có bài này để cập nhật hoá hoàn cảnh văn học của Vũ Hoàng Chương trong hiện tình đất nước.

Nén hương lòng. Xa xôi và cách trở. Không phải để nghị luận hay tranh luận với ai.

Chú thích: 

[1] Hoàng Thiệu Khang, Cảm nhận và suy tưởng, nxb Văn Học, Hà Nội, 1994, trang 20.

[2] Đỗ Lai Thúy, Con mắt thơ, nxb Lao Động, Hà Nội, 1992, tái bản nhiều lần

[3] Lại Nguyên Ân, trên Tạp Chí Văn Học, số 2.1998, cho biết nxb Văn Học Hà Nội, 1991, có ra  bộ sách 12 tập Thơ Mới đầu tiên trong đó có Mây của VHC. 1995 ra bộ sách Thơ Mới Tác Gia và Tác Phẩm gồm có 15 tập với 15 tác giả, có VHC.

Nxb Hội Nhà Văn, TPHCM 1992, có tái bản Mây của VHC trong 1 bộ gồm nhiều thi tập.

[4] Chế Lan Viên, Phê Bình Văn Học, nxb Văn Học Hà Nội, 1962, trang 86-98.

[5] Tô Hoài, Tự Truyện, 1985, trang 263. Cát Bụi Chân Ai, 1992, trang 153. Chiều Chiều, 1999, trang 21 và 25

[6] Lê Đình Kỵ, Thơ Mới những bước thăng trầm, nxb TPHCM, 1989, trang 83 và 122.

[7] Hà Minh Đức, Khảo Luận Văn Chương, nxb KHXH, Hà Nội, 1997, trang 14 và 40.

6/9/2012

Đặng Tiến

Theo https://www.art2all.net/

 

Vũ Hoàng Chương, 1915 - 1976

Vũ Hoàng Chương, 1915 - 1976

Chánh quán: xã Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hưng Yên

Sinh quán: thành phố Nam Định

Năm sinh: Ất Mão (1915), tháng Tư, ngày mồng Một, trên giấy khai sinh đã ghi 5.5.1916.

Gia  đình khoa bảng giàu có. Bố tên Vũ Thiện Thuật, làm tri huyện, nho học uyên thâm, sành văn học, mất 1941; mẹ họ Hoàng, hay chữ và chơi đàn nguyệt, buôn gạo tại Bến Thóc, Nam Định, mất tại Sài Gòn, 1961,(?).

Học chữ Hán từ năm 5 tuổi, 12 tuổi bắt đầu học tiếng Pháp, trường tiểu học Nam định.

1931: Vào trường trung học Albert Sarraut, Hà Nội.

1937-1938: Tú tài Pháp, phần I Cổ ngữ, La-tinh Hy-lạp, phần II Toán.

1938: Học Luật tại Hà nội. 

1939: Thôi học, ra làm việc Hỏa Xa, ngạch phó thanh tra, phụ trách đọan đường Vinh - Na Sầm. 

1940: Tự xuất bản THƠ SAY, nhà Cộng Lực ấn loát và phát hành. Nxb Nguyễn đình Vượng tái bản 1971, Saigon.

1941: Thôi việc ở Hỏa Xa, học ban Toán Đại Cương tại đại học Khoa học vừa mới  thành lập  tại Hà Nội.

1942: Thôi học, xuống Hải Phòng dạy cho một tư thục. Trở về Hà Nội lập ban kịch  Hà Nội cùng với Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Diễn vở kịch thơ VÂN MUỘI tại Nhà Hát Lớn Hà Nội (12.12.1942).

Gặp gỡ Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng, thành hôn 1944.

1943: Xuất bản tập MÂY, nxb Đời Nay, Hà nội (Nxb Văn Học, Hà Nội, tái bản 1991, 1995. Nxb Hội Nhà Văn, TPHCM 1992).

1944: Xuất bản tập kịch thơ, gồm 3 vở: VÂN MUỘI, TRƯƠNG CHI, HỒNG DIỆP; nxb Anh Hoa, Hà nội. 

1945: Về Nam  Định, diễn vở kịch thơ LÊN ĐƯỜNG của Hoàng Cầm (sau Cách mạng tháng 8).

1946: Tản cư về vùng duyên hải Nam Định (Khu Ba).

1948: Xuất bản tập THƠ LỬA cùng với Đoàn văn Cừ, tại Thái Nguyên; do cơ quan  Kháng chiến Liên khu 3.

            Sang tỉnh Thái Bình dạy học.

1950: Hồi cư về Hà nội.

1951: Cho diễn vở kịch thơ TÂM SỰ KẺ SANG TẦN; dạy học cho một tư thục, dạy Toán Lý Hoá, rồi dạy Việt văn và tiếp tục mãi công việc này cho đến 1975. 

1952: Diễn  kịch thơ THẰNG CUỘI. 

1953: Đăng báo kịch thơ CÔ GÁI MA.

1954:  RỪNG PHONG, nxb Phạm văn Tươi, Sài Gòn, trước hiệp định Genève. Di cư vào Nam, khoảng tháng 8 năm đó, và định cư tại Sài gòn cho đến 1976. 

1959: HOA ĐĂNG, nxb Văn Hữu Á Châu (tháng 7). Tập thơ này được giải thưởng Toàn Quốc về thơ. Tham dự hội  nghị Thi Ca Quốc Tế, cứ 2 năm họp một lần tại tỉnh Knokke-Le Zoute, nước Bỉ (tháng 9).

1960: Tự tái bản 2 tập THƠ SAY và MÂY in chung vào 1 tập mang tên MÂY.

           Xuất bản tập CẢM THÔNG (nhan đề Anh ngữ là COMMUNION ); gồm 6 bài thơ mới sáng tác sau cuộc Âu du và 9 bài cũ lựa chọn lấy tính cách tiêu biểu; do Nguyễn Khang phiên dịch và xuất bản.

           Tái bản VÂN MUỘI, TRƯƠNG CHI, HỒNG DIỆP, do nhà xuất bản Nguyễn đình Vượng.

1961: Kịch thơ TÂM SỰ KẺ SANG TẦN, nxb Lửa Thiêng.

          Tập thơ TÂM TÌNH NGƯỜI ĐẸP (nhan đề Pháp ngữ là LES 28 ETOILES); gồm 42 bài thơ Nhị thập bát tú, kèm theo bản dịch của nữ thi sĩ  Bỉ  Simone Kuhnen de La Coeuillerie; nxb Nguyễn Khang. 

1962: Tự xuất bản tập TRỜI MỘT PHƯƠNG. 

1963: Xuất bản tập THI TUYỂN (nhan đề Pháp ngữ là POEMES CHOISIS) kèm theo bản dịch của Simone Kuhnen de la Coeuillerie: do nhà xuất bản Nguyễn Khang (tháng 3).

            Sáng tác bài thơ LỬA TỪ BI ca ngợi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, tháng 7.  Xuất bản tập Lửa từ bi; do nhóm Thanh Tăng (tháng 12).

1964: Tham dự hội  nghị Văn Bút Á Châu họp tại Bangkok.

1965: Tham dự hội nghị Văn Bút Quốc Tế họp tại tỉnh Bled, Nam Tư cũ. 

1966: Xuất bản tập ÁNH TRĂNG ĐẠO, do  nha Tuyên Uý Phật giáo (tháng 7); Xuất bản tập DIE ACHTUNDZWANZIG STERNE, thơ dịch  ra Đức ngữ, do nhà Hoffmann Und Campe, tỉnh Hamburg, Đức. Dịch giả là thi sĩ Áo Kosmas Ziegler (tháng 10). 

1967: Tham dự hội nghị Văn Bút Quốc Tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d’Ivoire (Phi Châu). Xuất bản tập BÚT NỞ HOA ĐÀM, do nhà xuất bản Vạn Hạnh (tháng 12). 

1968: Xuất bản NHỊ THẬP BÁT TÚ I, nxb Văn Uyển; Tập II, nxb Lửa Thiêng, CÀNH MAI TRẮNG MỘNG, nxb Văn Uyển.

1969-1973: Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. 

1970: TA ĐỢI EM TỪ BA MƯƠI NĂM, nxb An Tiêm, Sài Gòn, in 2 lần. Tái bản lại tại California, Mỹ; TÂN THI, nxb Nam Chi, Saigon; LOẠN TRUNG BÚT, tùy bút, văn diễn thuyết, nxb Khai Trí.

1971: NGỒI QUÁN, nxb Lửa Thiêng; ĐỜI  VẮNG EM RỒI SAY VỚI AI, nxb Lửa Thiêng (Phần I: Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay 1936-1939).

1972: Giải thưởng Văn Chương toàn quốc

1974: CHÚNG TA MẤT HẾT CHỈ CÒN NHAU, nxb Rừng Trúc, Paris; TA ĐÃ LÀM CHI ĐỜI TA, hồi ký, nxb Trương vĩnh Ký, Saigon. Nxb Hội Nhà Văn tái bản, 1993, TPHCM.

           Vũ Hoàng Chương đã dịch nhiều thơ chữ Hán từ nhiều tác gia Việt Nam và Trung quốc, khoảng 100 bài.

            Có dịch thơ từ tiếng Pháp.

1975: Gia đình từ đường Phan đình Phùng dời về Phú Nhuận ở nhà bà Mộng Tuyết, rồi dời về Khánh Hội ở chung với bà Đinh Hùng, em dâu.

1976: bị bắt ngày 13/4, giam tại khám Chí Hòa. Bệnh nặng đưa về nhà một thời gian ngắn thì mất, lúc 23 giờ ngày 6.9.1976, nhằm ngày 13 tháng 8 năm Bính Thìn.

Bà Vũ Hoàng Chương qua đời ngày 7.5.2005 tại TPHCM.

Chú thích:

1) Tập thơ Tâm Tình người đẹp do thi sĩ  Ý, LIONELLE FIUMI đề tựa.

Tập Thi Tuyển do thi sĩ Pháp ANDRE GUIMBRETTIERE, giáo sư trường Quốc gia sinh ngữ  Đông phương (Paris) đề Tựa.

Tập DIE ACHTUNDZWANZIG STERNE do thi sĩ Đức RUDOLF HAGELSTANGE đề tựa.

Các tập thơ Lửa Từ Bi, Ánh Tăng Đạo và Bút Nở Hoa Đàm đã lần lượt được Thượng tọa Trí Quang, Tâm Giác, và Đức Nhuận đề tựa.

2) Các tập Rừng Phong, Hoa Đăng, Mây (lần tái bản) Vân Muội (cả lần in thứ 1 và lần in thứ 2), Tâm Tình người Đẹp đều do thi sĩ Đinh Hùng vẽ bìa, nền hoặc phụ bản. 

Tập Mây (lần in thứ nhất, 1943) do họa sĩ Tô Ngọc Vân trình bày ; bản 1992: Nguyễn Trung vẽ bìa.

Tập Trời Một Phương do họa sĩ Hoàng Lập Ngôn vẽ bìa, (từ 1952).

Tập Bút Nở  Hoa đàm do họa sĩ Nguyễn gia Trí vẽ bìa.

Ta đợi Em từ Ba Mươi Năm, do họa sĩ Duy Thanh, rồi họa sĩ Hồ Thành Đức vẽ bìa.

Đời vắng Em rồi say với ai, họa sĩ Văn Thanh vẽ bìa.

Tài liệu tham khảo:

- Tạp chí Văn Học, Sài Gòn, số 97, 1969, có bài của Vũ Bằng, Bàng bá Lân, Dương Thiệu Mục.

- Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 150, 3/1970, đặc biệt Vũ Hoàng Chương. Có tiểu sử khá đầy đủ, bài của Nguyễn Mạnh Côn quan trọng và nhiều bài khác.

- Lê Huy Oanh, Giai Phẩm Văn, Sài Gòn, 20/8/1974, bài VHC qua Thơ Say.

- Phan Xuân Sanh. Tạp chí Đại Học, số 9, 1959, Huế, bài Ảnh hưởng Phật giáo qua thi ca.

- Đoàn Thêm, Báo Văn Hóa Nguyệt san, Sài Gòn, 1964, bài Đọc lại thơ VHC.

- Bách Khoa, Sài Gòn, tạp chí, bài Nguyễn Ngu Ý phỏng vấn, Nguyễn văn Xuân điểm sách, không nhớ số (khoảng 1960).

- Tạ Tỵ, Mười gương mặt văn nghệ, nxb Kim Lai, 1970 Sài Gòn.

- Bàng Bá Lân : Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại, 1962, Sài Gòn.

- Mai Thảo, Chân dung 15 nhà văn nhà thơ, nxb Văn Khoa, 1985 California, Mấy tháng cuối cùng với VHC.

- Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Thơ, nxb Văn nghệ, 1999 California.

- Đỗ lai Thúy, Con Mắt thơ, nxb Lao Động, 1992, Hà Nội, VHC Đào nguyên lạc lối, 25 trang.

- Chế lan Viên, Phê bình văn học, nxb Văn Học, trang 86-98, 1962, Hà Nội. Bài viết, 4-1860, nhắm  vào  cá nhân Vũ Hoàng Chương , bất công và tai ác sẽ làm tiền đề cho bản án VHC về sau.

- Đặng Tiến, Từ điển văn học, tạp chí Thế Kỷ 21, 6/2005, California.

6/9/2011

Đặng Tiến

Theo https://www.art2all.net/

Anh Bình Định, con chim én và những đám khói

Anh Bình Định, con chim
én và những đám khói

Miệt Khánh Hòa có câu hát hay:
Anh về Bình Định thăm cha
Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

hay ở chỗ đơn giản, tình tứ, dịu dàng. Ngoài chữ thăm láy lại, hai câu thơ gồm mười hai chữ, đóng khung trong tình cảm gia đình: cha, mẹ, anh, em. Sáu chữ là tên tỉnh, những tỉnh giáp ranh dọc theo đất nước, với những âm vang “hòa bình", bình yên, những khát vọng muôn đời của người dân Việt. Còn lại hai động từ về thăm, mỗi lúc một thắm thiết. Thăm cha thành kính, thăm mẹ, hai phụ âm môi “ m ” âu yếm quyện vào nhau, rồi thăm em, những nguyên âm “ăm ” “em ” lân cận quấn quít với nhau, như không rứt ra được. Người con trai – hay con gái – tôn trọng lễ nghi : thăm cha, thăm mẹ trước, rồi còn ngày giờ mới thăm em ; nhưng cả tình cắm dồn vào việc thăm em ở cuối câu, như là đối tượng chính của chuyến về thăm, thăm cha mẹ chỉ là bổn phận : phần hiếu nghĩa nhiều hơn, nhưng tình yêu như nặng hơn.

Còn một lối giải thích thứ hai, bằng lịch số và địa lý của đất nuớc, qua những giai đoạn Nam tiến khác nhau, lấy năm 1558 làm gốc, nghĩa là năm Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, rạch đôi sơn hà. Trước đó, lớp di dân vào lập nghiệp ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định là người Bắc hay Thanh Nghệ : ra đi như thế là đi luôn, không hẹn ngày về. Sau đó, mãi đến năm 1611, Nguyễn Hoàng mới đánh Chiêm Thành mở ra tỉnh Phú Yên, người di dân chủ yếu là người Bình Định, vào làm ăn rồi cưới vợ Phú Yên, nhưng vẫn đi đi về về quê cũ giáp ranh để thăm cha mẹ, bà con. Đến đời sau, khi Nguyễn Phúc Tần mở ra tỉnh Khánh Hòa, thì người dân Bình Định, Phú Yên lại tiếp tục Nam tiến, lấy vợ Khánh Hòa nhưng vẫn đi đi về về:

Anh về Bình Định thăm cha
Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em
.

Lối giải thích thứ hai này là của ông Võ Phiến, người Bình Định, hiện sống ở Mỹ, trong tác phẩm “ Tùy bút ” mới xuất bản tại Mỹ [1]. Giải thích như vậy rất thú, vì người đọc vừa yêu câu ca dao, vừa yêu đất nước, quê hương ; khác với lối bình thơ đầu tiên, chỉ dừng lại ở kỹ thuật. (Nhưng nó có đúng không thì không chắc, hai chữ Khánh Hòa chỉ có từ năm Minh Mạng thứ 13 (1833), câu ca dao nọ chỉ thành hình vào giữa hay cuối thế kỷ XIX, lúc đó người Bình Định, Phú Yên có di dân thì đã đi xa hơn Khánh Hòa. Nhưng điều này không quan trọng lắm.).

"Tùy bút ” của Võ Phiến gồm hai phần : " Quê hương " gồm những bài viết về đất nước, đã được xuẩt bản tại Sài Gòn 1973, tái bản tại Hoa Kỳ 1976 [2], và một số bài đã đăng báo (phần này chiếm hết chín phần mười tác phẩm) ; “Ly hương" là những bài viết về đời sống nước ngoài, đã xuất bản 1977 [3].

Những bài tùy bút đã in hoặc đăng báo rời rạc vào những thời điểm khác nhau, nay in lại thành một tác phẩm dày dặn, mang một ý nghĩa và tầm quan trọng đảng lưu ý.

Võ Phiến là một nhà văn nổi tiếng – nay bị giới phê bình trong nước xếp vào loại phản động, nhưng đây lại là chuyện khác. “ Tùy bút ” là sở trường của ông . Bằng một giọng văn đặc biệt, thân mật và linh hoạt, ông đã vẽ lại nếp sống của miền Nam trước1975. Ông mô tả nền văn hóa đa dạng của miền Nam, từ cách ăn cách mặc đến lời ăn tiếng nói, từ nhà cửa đến văn chương, từ con chim đến các loại cây, từ tỉnh này qua tỉnh nọ. Ông không làm việc này với cải nhìn khách quan của nhà xã hội học hay dân tộc học, ông sống nền văn hóa đó với tất cả rung động của từng mạch tim, từng thớ thịt, bằng những kỷ niệm sâu kín nhất lẫn với những suy tư thâm trầm nhất. Những tùy bút viết năm, bảy năm trước 1975 diễn tả những hoang mang, chua xót trước một xã hội đang đổi thay vì làn sóng văn minh Âu Mỹ ồ ạt xô vào. Nếu vào những năm 1930, có những nhà văn, những văn đoàn hô hào canh tân, bỏ nề nếp cũ, thì vào những năm 1960 tại miền Nam, không cần ai hô hào, đợt sóng Tây phương cũng phá vỡ những con đê bảo vệ văn hóa miền Nam. Võ Phiến thấy điều đó nên chủ tâm để tấm lòng ghi lại những phôi pha mà ông gọi là « chuyện bọt bèo ».

Tuỳ bút chỉ là một thể văn, như hàng chục thể văn thông dụng khác, ai muốn dùng vào việc gì thì dùng. Nhưng trong văn chương Việt nam, kể từ " Vũ trung tuỳ bút " của Phạm Đình Hổ, các tác giả vẫn dùng tuỳ bút để diễn tả nỗi u hoài trước một xã hội đang đổi thay. Phạm Đình Hổ viết " Vũ trung tuỳ bút " là để tiếc nuối " thời Long Đức, Vĩnh Hưu [đầu thế kỷ XVIII], phong tục còn hồn hậu hơn nhiều, còn từ chúa Trịnh Sâm về sau, [...] tất cả lễ độ về giao tiếp, thù tạc, cư xử, đều bị bóp méo mỗi ngày một khác, đua nhau chuộng lạ [...] ; tập tục càng ngày càng kiêu bạc "[4]

Và nhân Võ Phiến, đọc lại Phạm Đình Hổ, ta thấy hai ông không xa nhau bao nhiêu, từ niềm băn khoăn, đến cách chọn đề tài. Trong dòng tùy bút “ Vang bóng một thời ” của Nguyễn Tuân, tự cái tên của nó, cũng đã nói lên tâm tư của tác giả – tuy lúc đó ông gọi tác phẩm này là tập truyện chứ không dùng chữ tùy bút. “ Hà Nội ba mươi sáu phố phường ” của Thạch Lam, “ Miếng ngon Hà Nội ” “ Thương nhớ mười hai ” của Vũ Bằng là niềm lưu luyến không nguôi trước cảnh vật đổi sao dời. Trong chừng mực nào đó, trong Võ Phiến, nỗi ray rứt còn sâu xa hơn. Tôi liều đưa ra một nhận xét riêng : vào những năm cuối thập niên 1960 và đầu 1970, ngoài sự tấn công ồ ạt của văn minh Âu Mỹ đang lay quật gốc rễ của văn hóa miền Nam, Võ Phiến đã manh nha cảm thấy một cuộc đổi đời khác lớn lao hơn đang ló dạng, những thay đổi triệt để mà ông sẽ không được trực diện chứng kiến.

Võ Phiến mang tâm trạng cô gái trước khi về nhà chồng, còn ngoái lại nhìn những hình ảnh thân yêu, một lần cuối :

Ra đi ngó trước ngó sau
Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng.


Nhà mấy cột thì thiếu nữ đã biết rồi, cần gì phải ngó. Nhưng cô muốn thu lại trong tâm tư cả không gian thân thiết, rồi đây sẽ nhoè đi với thời gian. Giọng văn dí dỏm của Võ Phiến che giấu một tâm trạng xót xa, buồn bã và ngớ ngẩn.

Trong “ Tùy bút ”, cũng như trong tác phẩm khác của ông, Võ Phiến gợi lên đời sống tầm thường, của những con người tầm thường. A.Q. của Lỗ Tấn, Chí Phèo của Nam Cao còn có nhiều nét đặc biệt ; anh Pha của Nguyễn Công Hoan, chị Dậu của Ngô Tất Tố đã sống trong cảnh éo le đặc biệt. Bản thân các nhân vật này, hay nghịch cảnh họ, là một thông điệp cho độc giả. Nhân vật Võ Phiến, những Bốn Thôi trong “ Thư nhà ”, Ba Thê Đồng Thời trong “ Giã từ ”, Bốn Tản trong “ Đêm xuân trăng sáng ” là những con người không có gì đặc sắc đáng ta chú ý, đáng nhà văn mô tả. Trong cuộc sống hằng ngày, ta gặp hàng ngàn, vạn con người như thế, mà không thắc mắc rồi đây thân phận họ sẽ ra sao, khác với chị Dậu hay Chí Phèo, là những vấn đề đòi hỏi được giải quyết.

Trong “ Tùy bút ”, ta gặp lại cuộc đời bằng phẳng ấy, chỉ thiếu nhân vật. Hay nhân vật là Võ Phiến đang trương đôi mắt ngơ ngáo ghi nhận những đổi thay của xã hội, ở mức sống tầm thường nhất.

Ví dụ về chuyện uống trà, không biết từ Phạm Đình Hổ, Nguyễn Tuân đến nay đã bao nhiêu người viết. Võ Phiến cũng lấy lại đề tài ấy, ông tả cách uống trà bình dân ở míền Trung (và miền Nam nữa) và ông tỉ mỉ hơn Thạch Lam trong " Hàng nước cô Dần ” giữa “ Hà Nội ba mươi sáu phố phường ” :

Trong chỗ dân dã thôn quê miền Trung, người ta gọi nó là lá chè, mà không gọi là trà. Uống trà Tàu là cái thú của hạng giàu sang ; người bình dân thì uống chè Huế.

Trà Tàu, pha theo lối Tàu. Trả Huế nấu lối Huể. Lối Huế không giống lối nấu chè tươi hay chè khô ngoài Bắc. Từ Huế lần vào các tỉnh nam phần Trung Việt, lối nấu chắc cũng có thay đổi ít nhiều.

Và đây là cách rót nước (tr. 162-163) :

A ! Cái công việc rót nước ấy là cả một nghệ thuật đấy. Hạ om thấp quá thì bát chè ít bọt ; đưa lên cao quá thì sẽ làm nổi lên nhũng quả bong bóng to tướng Bát nước kém bọt là hỏng, đã đành. Mà bọt nổi bong bóng lớn cũng là chuyện vụng về mà người nội trợ tự trọng phải cố tránh. Kể pha nước thông thạo biết chọn đúng cao độ cho om nưóc, biết rót xuống một dòng nước vừa phảỉ, không nghiêng trút mạnh quá khiến bọt không tụ được, lại còn biết di động miệng om để phân phối bọt cho đều khắp, biết ngắt dòng nước để rồi rót thêm chỗ này một chút chỗ kia một tí, bổ di kịp thời vào những khoảng trống không đẹp mắt, v.v. Đến khi mọi sự đã viên thành, kẻ ấy gặc miệng om một cái trước khi ngừng tay, biểu diễn sự hài lòng trong cử chỉ chấm dứt. Bát nước ngon lành phải thật nhiều bọt, đầy bọt, bọt hầu như phủ kín mặt nước, thứ bọt dẻo quánh lại, và nhỏ hạt.

Ông khách đón nhận bát nước, bưng trên tay, nhìn vào đám bọt tràn trề sung mãn mà không cầm lòng được. Bọt nước long lanh rạng rỡ phản chiếu khuôn mặt khách, lặp lại một vạn lần cái rạng rỡ ánh lên trong mắt khách. Nghịch ngợm, khiêu khích nhau đến thể thì không chịu được. Khách cúi đầu, chọn lựa một điểm thích nghi, chúm miệng thổi nhẹ để xua đuổi lũ bọt nước tránh giạt ra, dọn một khoảng trống vừa đủ chỗ đặt môi. (Dĩ nhiên, không một ai tính chuyện đớp mở bọt nọ vào bụng !).

Bị đuổi, lũ bọt vội vàng vẹt tránh ngay. Nhưng hễ khách vừa nhúng môi xuống thì tất cả bọn chúng liền ập tới, bám riết quanh mép. Mực nước càng xuống thấp chúng càng rủ nhau kéo đến dồn dập, chen nhau lấn nhau, vỡ nổ lèo xèo trên môi trên mép của khách.

Có thể khách không hay biết về những gì xẩy đến cho lũ bọt : khách đang ngon trớn mà. Và tất cả sự khoái thích của việc uống chè Huế là ở trong cái trớn ấy.

Rồi cái lối uống chè Huế, giản dị, khoẻ mạnh đó dần dà cũng mai một trước sự tiến bộ của khoa học : muốn pha chè Huế thì phẳi có cái om đất.

Om đất bây giờ biến mất trên thị trường. Om đất đã chết không kèn không trống, không một lời báo trước, vì vậy không ai được biết để mà phòng bị, tích trữ. Và một người đã uống chè Huế trong hơn nửa thế kỷ chẳng lẽ nay lại đi nấu chè trong cái niêu đồng ?

Tại sao không thể pha trà (hay chè) bằng cái niêu đồng, Võ Phiến không nói. Vì Phạm Đình Hổ, trong " Vũ trung tuỳ bút ", đã có giải thích cặn kẽ : « Gần đây lại có chế ra thứ siêu đồng cũng khéo, nhưng kim khí bị hỏa khí hấp hơi, thường có mùi tanh đồng, không bằng dùng siêu đất nung tốt hơn? Song các nhà quyền môn phú hộ lười không muốn pha lấy. Thường thường họ giao cho tiểu đồng pha phách tất cả, dùng siêu đồng cho tiện và lâu vỡ, như thế không phải bàn làm chi nữa. »[5]

Võ Phiến chua cay hơn Phạm Đình Hổ (tr. 161-168, bài viết tháng 12-72) :

Thời của trà vua chúa đã qua, đến thời chè om của dân dã cũng được chứ sao ? Bây giờ om cặp lại mất tích, rồi lại sắp hóa sinh ra thứ chè gì nữa đây ? cứ sự thể này thì chè om tính đi luôn vào lịch sử, không để lại thừa kế, không lưu vết tích. Thay thế cho nước chè, rồi có những thứ khác thiếu gi. Các người làm văn hóa dân tộc ngậm ống nhựa hút tùn tụt những ly pepsi, cola, v.v. không thấy đó sao ? Thật tốt thật, hợp vệ sinh.

[...] Bởi thế, trước khi bọt chè tan vỡ, tiêu tùng hểt, nên có đôi lời ghi chép về chút chuyện bọt bèo.


Đây là một đoạn văn tiêu biểu cho phong cách và dụng ý Võ Phiến. Viết “ Tùy bút ”, Võ Phiến đã khai triển những sở trường : óc nhận xét tình tường, khẳ nàng lý luận và tổng hợp bén nhạy, tinh vi, vốn kiến thức dồi dào về sách vở cũng như về cuộc sống. “ Tùy bút ” còn linh động ở chỗ tác giả sống bằng kỷ niệm hay rung động của mình, qua một giọng văn lúc nào cũng duyên dáng.

Phải có một nhãn quan tinh tường lắm mới thu được hình ảnh một quán hủ tiếu ở Cần Thơ (tr. 222-223) :

Hai tay ông ta thoăn thoắt chặt khúc xương, xắt lát thịt, gắp mớ ớt, múc nước từ trong thùng đổ ra tô, xóc xóc mớ hủ tiếu, rắc một tí tiêu bột, v.v. Tất cả bấy nhiêu cử chỉ đều rập ràng, hơi có vẻ nhún nhẩy. Mỗi cái quơ tay, cái nhấc lên hạ xuống đều như có gì quá mức một chút. Một cử chỉ bao hàm bẩy tám phần cần thiết, lại thêm vài ba phần thừa thãi, chỉ để cho đẹp mắt, để biểu diễn sự thích thú trong công việc. Một điệu vũ ca ngợi lao động. [...] Khi đã đủ một vợ một con bên mình, chủ quán điều động càng hào hứng :
- Bàn trong. Một nhỏ một lớn. Rồi ! Bưng.
- Bàn ngoài số một ; tô lớn, khô. Rồi ! Bưng bàn số một.
– Bàn số ba, tính tiền. Tám chục với ba lăm là trăm mười lăm. Trăm mười lăm với tám đồng là trăm hăm ba. Trăm rưỡi trù trăm hăm ba, còn lại...
Bà vợ nhắc :
- Hăm bảy.
- Hăm bảy. Nẻ.
- Tô nước, tô khô. Bàn số hai. Rồi !

[...] Những người ấy họ có cung cách làm việc giống nhau. Cung cách ấy gọi nó ra sao ? Tôi tìm một chữ để diễn tả ; tôi loay hoay tìm kiếm. A ! Đây rồi. “ Rụp rụp ”. Họ làm việc “ rụp rụp ”. Chữ nghĩa sao mà thần tình.


Với cái nhìn ấy, hành văn và lý luận ấy, Võ Phiến đã khai phá được những giá trị mới cho thể loại tùy bút. Nó không còn là thứ tiêu khiển kiểu cách của một từng lớp trưởng giả hoài cổ. Phải yêu cuộc sống hằng ngày và yêu những người lao động bình thường mới gạn lọc ra được những hình ảnh chắt chiu như thế.
 

*

Nói đến tình yêu cuộc sống dân dã, chúng ta không thể không nhắc đến địa vị của mắm muối trong “ Tùy bút ” Võ Phiến – từ những hũ mắm cua chua trong “ Thư nhà ” (1962), thuộc những trang đặc sắc của tác phẩm. Từ những con mắm mòi ám ảnh Võ Phiến từ thuở thiếu thời đến mắm tôm xay ở Gò Công : « Mắm cá Nghệ An, mắm sò Lăng Cô, mắm cá rãnh ở Phan Thiết, mắm ruốc Vũng Tàu, mắm trèn ở Châu Đốc, mắm thơm mắm mít ở miền núi, mắm cá đồng ở Hậu Giang mắm cua ở Bình Phú, đến cái thứ mắm cá linh bất đắc đĩ của Việt kiều trên đất Miên năm xưa " (tr. 249). Võ Phiến mong ước có một cuốn « toàn thư về mắm Việt Nam : đó là một công trình lập ngôn có mùi vị dân tộc không thể chối cãi ».

Ấy thế mà mắm dường như không có địa vị gì lớn lao trong văn chương. Nguyễn Tuân, trong một tùy bút nào đó, có kể : ông cùng một người bạn ở ngoại quốc về, ghé thăm một bạn khác làm tri huyện miền Trung. Ông huyện đãi khách bằng một bữa ăn toàn mắm, bảy tám thứ mắm. Nguời bạn mới “ hồi hương ” dùng không được, tên lính lệ phải đi làm một cái omelette. Thạch Lam chỉ mô tả nước mắm như một thứ nước chấm. Vũ Bằng có tả mắm rươi, như một món ngon đặc biệt miền Bắc. Chỉ ở Võ Phiến, mắm mới có địa vị bình thường của nó.

Những trang ông viết về cách thử nước mắm quê ông, mà ông còn nhớ, thật tuyệt vời (tr. 36) :

Ngày ấy, mỗi lẩn có gánh nước mắm bán dạo ghé vào nhà là cả một sự xôn xao. Bởi vì thường thường không một ai trong gia đình mà đủ tự tín vào tài nội trợ của mình để có thể một mình kiêu hãnh quyết định về giá trị một thứ nước mắm.

Người bán nước mắm dùng chiếc gáo nhỏ xíu làm bằng sọ quả dừa xiêm đẹt, chỉ lớn hơn thứ gáo của bạn hàng dầu vốn làm bằng sọ quả mù u, lớn hơn một chút thôi. Người hàng mắm vục gáo vào " thõng ”, múc lên lưng gáo, rót một tí vào cái chén con sạch sẽ, đưa mời. Cô tôi đón lấy chén, đưa lên mũi, ngửi qua, mắt nhìn ngưng lại giữa khoảng không, ngẫm nghĩ, thẩm định... Xong, một cách thận trọng, cô mới le lưỡi nhấm tí nước mắm. Rồi lặng lẽ trầm tư, cô trao cái chén về phía thím tôi...

Nhưng bà tôi sốt sắng, nóng nảy, đã vội vàng đưa tay vẫy gọi. Và thím chuyển ngay chén mắm sang bà. Lại ngửi, lại nếm. Sau đó, đến lượt thím tôi : lại ngửi, lại nếm...

Thím phát hiểu :

- Khá hơn thứ năm cắc kỳ trước.

Cô tôi tán đồng dè dặt :

- Nhấm qua thì nó dịu hơn, nhưng chị chiếp cho lâu lâu thử coi...

Bà tôi nhận định :

- Nè, mấy đứa thấy sao ? Cái màu kỳ này tao không vừa ý, mà mùi vị của nó cũng chưa đằm đâu.

Người bán hàng vội vã cười hề hề :

- Bà nói vậy, con chịu. Bà tài thật, không cãi vào đâu được. Thưa, lứa nước này thiếu nắng. Nó còn hơi “ sống ” đó mà. Thưa, bà mua xong, đem ra “ giang ” ít 1âu, nó bắt nắng, dậy mùi, thơm không thể tả. Màu nó cũng sẽ vàng óng lên chứ không như vầy đâu. Hề hề... Với bà thi cần gì phải bay vẽ, nhưng cái đó bà biết nét mằ. Hề hề...

Trong khi người bán hàng xoắn xuýt quanh bà, thì cô tôi thong thả trao đổi một nhận xét với thím :

- Nước kỳ trước, mới nhấp không thấy ngon lắm, nhưng thâm thẩm nó ngọt hoài trên lưỡi : càng chiếp càng ngọt. Nước kỳ này không có hậu. Chị nhớ không : năm ngoái mình cũng gặp phải...

Thím tôi vừa gục gặc nhè nhẹ, vừa bưng chén mắm lên nhắp lại một tí nữa để chiêm nghiệm. Người bán hàng tai nghe tiếng được tiếng mất những lời bàn tán thấp giọng giữa hai người đàn bà, liền quay lại, ngờ vục, can thiệp liền : « Thưa... thưa... v.v. ».

Nhưng nước mắm, một món ăn cơ bản và tầm thường như thế, cũng không chịu đựng nổi sự công phá của văn minh tiến bộ. «Bây giờ không còn thứ nước thơm hơn thơm kém, thứ nước có hậu và không có hậu, v.v. chỉ có thứ nước bảy chất, tám chất... Mỗi chất là một phần trăm chất đạm. » (tr. 38).

Rồi Võ Phiến « con người quê kệch, sững sờ, nghệch người ra » trước một thay đổi giá trị như thế. Và dĩ nhiên là ông còn phải sững sờ nhiều lần nữa, trước những đổi đời khác, nhất là trong kiếp sống « phơ phất cỏ bồng » trên bước đường lưu lạc.

Võ Phiến là con người nhà quê. Chính ông nhiều lần xác định điều đó, không phải vì từ tốn, mà để giải thích tác phẩm mình. Nổi tiếng tại Sài Gòn trước 1975, ông vẫn lạc lõng trong xã hội “ hiện đại ” ấy. Trước làn sóng văn minh đô thị, hai chữ " nhà quê", ở ngôn ngữ nào, cũng đều mang một dư vang rẻ rúng. Nhất là ở Việt Nam, khi kẻ làm văn ồn ào chế giễu những Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh. Mãi đến sau 1954, dù người nhà quẻ đã tỏ ra khả năng làm nên lịch sử của họ, thì họ vẫn tiếp tục bị miệt thị. Trong giới văn nghệ Sài Gòn thời đó, Vũ Khắc Khoan không chịu được « những nhân vật lù tù mù » của Võ Phiến. Doãn Quốc Sỹ xếp văn chương ông vào hạng « tiểu thuyết nhà quê ».

Viết về đồng quê không khó. Nhưng nhìn cuộc sống bằng đôi mắt nhà quê mới là việc khó. Võ Phiến còn giữ được đôi mắt đó. Ông sống chung tình với vài ba kỷ niệm con con, nhưng đủ sức mạnh để làm động cơ sáng tác – trong khi ở các tác giả khác, kỷ niệm chỉ làm trang sức cho tác phẩm.

Võ Phiến suốt đời trung thành với hình ảnh con chim én thuở thiếu thời « trên ruộng lúa tháng ba vừa cắt xong » (tr. 75), rồi đi đến đâu ông cũng thiết tha với con chim én : Hà Tiên, Phan Thiết, Gia Nghĩa.

Ông nhớ đến những tàn cây trên những nẻo đường đã đi qua : « Mỗi thành phố có một thứ cây tiêu biểu. [...] Con đường từ Đà Nẵng đi Hội An phủ rợp bóng tre. [...] Sài Gòn với cây dầu. » (tr. 200) «Đà Lạt có cây anh đào. [...] ở Huế cây nhãn đứng dọc lề đường để chứng minh lòng tin cậy ở nết tốt của người dân một thành phố quý phái. [...] Đi Vũng Tàu về người ta nhớ những cây bàng [...] Phượng Đà Nẵng màu đỏ hân hoan làm cho trời xanh, sông xanh như mở rộng thêm ra, như rạng rỡ thêm lên. » (tr. 202-203). Và « Thành phố Bảo Lộc phảng phất mùi hoa ngâu, hoa sói, hoa lài, với những khu vườn nhiều cây. » (tr. 289).

Ông vào tận Vĩnh Bình để tìm những cây lạ, những trái hiếm. «trái dừa sáp, trái giếc, trái quách, trái sa kê » (tr. 235) ; rồi còn theo dõi từ những quận Cầu Kè, Trà Cú số phận của cây sa kê ra tới Huế, do Gia Long đưa về trồng. Người đọc sẽ còn gặp trái măng cụt, sầu riêng ở miền Nam, trái vải miền Bắc, trái bòn bon, cau tươi của Quảng Nam, trái xoài tượng của Bình Định, Phú Yên, trái dưa hấu của Quảng Bình.

Đến đây chúng ta không thể không nhớ đến Nguyễn Tuân, người yêu thảo mộc và rất sành về cây, người thuộc cây Hà Nội đến con số lẻ. Hà Nội đẹp nhất về cây, tiếc rằng Võ Phiến không có cơ hội nhắc đến. Chúng ta lại nhớ đến “Nhà đồi ” của Quang Dũng, tập truyện ký mang dáng dấp tùy bút, một không gian mát rượi bóng cây tình người. Trong " Vũ trung tùy bút " Phạm Đình Hổ có nói đến hoa lan, trong những trang hàm súc.

Khi mô tả đời sống hay phong cảnh, Võ Phiến thường đưa ra nhiều nhận xét lý thú : đó cũng là một đặc điểm của thể văn tùy bút. Ông đã so sánh lối sống giữa thôn quê và đô thị, giữa phương Đông và phương Tây, giữa người Việt và người Tàu, người Nhật ; ông có những nhận xét nhạy bén về ngôn ngữ, về văn học. Ví dụ, tiếng Việt có ít chữ về tật bệnh. phải mượn chữ Hán, nhưng rất giàu từ vựng về bệnh... ghẻ : « ghẻ nước, ghẻ ngứa, ghẻ tàu, ghẻ bọc, ghẻ phỏng, ghẻ hờm, ghẻ ruồi, ghẻ cóc, ghẻ cái, ghẻ đen, ghẻ khoét, v.v. » (tr. 66). Về nội tạng, chúng ta nhiều chữ chỉ phần dưới, « lá mía, lá lách, ruột non, ruột già », còn phần trên cơ thể lại dùng chữ Hán. «phổi, tim, gan ».

So sánh lối sống giữa người Kinh và người Thượng, ông có nhận xét lý thú : người đàn bà Thượng địu con trên lưng còn người Việt bồng hay bế con trên tay, nghĩa không còn tay nào để làm việc khác : «Ngay từ thời cổ ( từ thời chưa tách biệt với người Mường), chúng ta đã miễn công tác cho người chăm sóc trẻ con. Người ấy là bà mẹ, cũng có thể là ông nội, bà nội, là ông bác, bà cô già, v.v. Chúng ta sắp xếp lối sống trong gia đình thế nào mà luôn luôn có hạng được nghỉ ngơi, ở nhà trông coi vườn tược, con cái. » (tr. 280).

Ông đưa ra nhiều giả thuyết như vậy, điều ta ít thấy ở các tác giả tùy bút khác.

Quê hương qua tùy bút của Võ Phiến không phải lúc nào cũng êm đềm như một buổi chiều quê, vui vẻ như một phiên chợ. Nó cũng mang những vết thương của thời cuộc, như trong mọi thể văn khác.

Võ Phiến đã nhắc đến nhiều món ăn miền Nam, không nhất thiết là những miếng ngon, vật lạ. Khi viết về những món ăn. Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Thạch Lam đều cho ta cái cảm giác họ là những người sành ăn. Võ Phiến thì khác. Ông có thể say sưa viết hàng chục trang dài về cái bánh tráng chay của quê ông. « Cái đặc biệt Bình Định là lối ăn bánh tráng cuốn mà không cuốn gì cả, không có nội dung ! Tức là bánh tráng thuần túy... Thật vậy, cái đặc biệt ở đây chính là chỗ dở nhất ấy. » (tr.154-155). Lối viết như vậy cho người đọc cảm giác được sống thật với tác giả. Thích một món ăn không nhất thiết phải vì nó ngon ; cũng như yêu một người đàn bà không nhất thiết vì họ đẹp. Vũ Bằng viết “ Thương nhớ mười hai ” hay đến độ người đọc hoài nghi không biết những món ngon miền Bắc có đúng như vậy không. Võ Phiến thì nói ngược lại : «Đi tìm một lối ăn bánh tráng cho thật dở thì chỉ cần đến Bình Định » (tr. 154). Người đọc mỉm cười trước lối đùa nghịch âu yếm của Võ Phiến đối với quê hương ông.

Phở có những quy luật tối thiểu của nó. Nhưng quy luật mà thành văn là nhờ có Nguyễn Tuân và Vũ Bằng. Còn không có món ăn nào có thể trông cậy vào Võ Phiến để đi vào văn học, tuy là ông đã nhắc đến không biết bao nhiêu món : từ những món đã mất hẳn như cao lầu Hội An, đến bún bò Huế, mỳ Quảng, hủ tiếu Mỹ Tho, bún nước lèo Sóc Trăng, Bạc Liêu, bún tằm bì Chương Thiện, cháo tẩm giò heo trên bến Ninh Kiều, hủ tiếu bò sa tế ở Cà Mau.

Có lẽ ông dừng lại lâu nhất ở món bún bò Huế. Vào những năm 1960, chỉ có một hiệu bán bún bò Huế ở Sài Gòn, trong một hẻm Lê Văn Duyệt, mãi về sau này mới phổ biến. Võ Phiến tự hỏi : «Phải chăng có một làn sóng người Huế, người Quảng Trị dồn dập tràn vào Nam sau các biến cố Mậu Thân và mùa hè 1972, bún bò Huế mới gặp thời cơ thuận lợi ? Có thể lắm, phở Bắc tràn vào Nam theo làn sóng di cư sau cuộc chia cắt đất đai năm 1954 ; bún bò Huế lan rộng ở Sài Gòn sau một mùa xuân và một mùa hè máu lửa. Mỗi món ăn là một cái tội.» (tr. 87). Rồi một hôm, bên hông chợ Cheo Reo, tác giả ngạc nhiên thấy đĩa giá sống đi kèm tô phở, tại thị trấn Cao nguyên người Kinh ít hơn người sắc tộc, và đa số người Kinh là gốc Bắc, gốc Trung. Tác giả « hỏi ra thì đó là cái điềm chiến tranh. Lính [...] lên xứ Thượng, tạo ra cơ hội làm ăn cho nhiều đàn bà con gái lên theo. Rồi cọng giá cũng được tháp tùng. » (tr. 88).

Một cọng giá, một sự sống chưa thành hình đã mang trong định mệnh bao nhiêu là đau thương của lịch sử. Chung quanh tôi, vẫn còn những người, trong lời nói và cả trong văn chương, đùa cợt với cọng giá sống.

Rồi Võ Phiến lại có lời tiên tri độc điạ này : «Rồi mai kia, trong các thế hệ con cháu được sống thời an lành, nếu có kể tằn mằn lần dò theo dõi bước phiêu lưu của từng món ăn từ địa phương nọ sang địa phương kia, kẻ ấy sẽ tha hồ nhận thức về những cái tang thương của đất nước dính tiền với những phiêu lưu ấy. » (tr. 88).

Rồi mai kia... thế hệ con cháu... sống thời an lành... không biết Võ Phiến, đọc lại văn mình, có bao giờ... thổn thức ?

" Tuỳ bút ” của Võ Phiến là một tác phẩm quan trọng được in – dù là in lại, trong phần lớn – ở nước ngoài. Về lâu về dài nó sẽ có giá trị như "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ hay "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân, vì ngoài giá trị văn chương, nó ghi lại những hình ảnh phôi pha của một đất nước, quê hương đang thay đổi.
Điều đáng quý là ông làm việc ấy không có chủ tâm. Nhờ đó mà ta có những trang sách hồn nhiên, những tư lự vô tư, những chữ nghĩa không mang một “thông điệp” nào cả của tác giả. Một thứ văn chương không có ý đồ, không có tham vọng, đã vẽ lên không trung khuôn mặt ngây thơ của một quê hương vô tội. Đối với dăm ba bạn bè thân, tôi có đề nghị nên mua cho được một tập “Tùy bút” của Võ Phiến, để trong nhà; bao giờ mình tự thấy nhớ mình thì đem ra nhẩm nha vài trang, để tìm lại trên chân trời tưởng nhớ vài đám khói, như ở Kiến Tường, Gia Nghĩa, một tiền kiếp mơ hồ nào đó:
«Chao ôi, những đám khói đốt cỏ ở chân trời, trong nắng trưa, sao mà xúc động, cảm hoài. Những đám khói kể lể nỗi niềm bao la cuối một chân trời mênh mông. Đứng him mắt mà trông: khói lặng lờ, không vội vã, khói bát ngát, nhẫn nại, xa vời: hàng giờ hàng giờ khói toả, vừa hiền từ vừa mơ mộng... Và trong giấc mơ, không gian mênh mông càng vắng lặng, khói tỏa càng chậm, càng bát ngát...» (tr. 256).
«Cũng trong khi thần trí lơ mơ, loáng thoáng qua đầu hình ảnh một lằn khỏi đốt rẫy uể oẳi, như đang mẳi miết trầm ngâm hồi tưởng về trăm nghìn câu chuyện huyễn hoặc của một cuộc sống núi rừng từ muôn vạn năm xưa... Hồi tưởng vu vơ trên những từng sợ khói mỏng rã dần, rã dần, tự xóa trong không. Khói xanh âm thầm tỉ tê với trời xanh về một quá khứ xa vời» (tr. 292).
Chú thích:
(1) Tùy bút; nxb Văn nghệ, California. 1986.
(2) Đất nước quê hương; nxb Người Việt, Iowa, 1976.
(3) Ly hương; nxb Người Việt, Iowa, 1977, viết chung với Lê Tất Điều.
(4) Vũ trung tùy bút; nxb Văn học, Hà Nội, 1972, tr. 74.
(5) Vũ trung tùy bút, như trên, tr. 45.

20/8/1986

Đặng Tiến

Theo https://www.art2all.net/

Thơ xuân Vũ Hoàng Chương

Thơ xuân Vũ Hoàng Chương Xuân đã đem mong nhớ trở về Câu thơ Nguyễn Bính, ý thường thôi. Lời e cũng thường thôi. Nhưng dư vang vô tận, x...