VĂN THƠ NHẠC
Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026
Ngô Phan Lưu với triết lý nhân văn đậm chất lão nông trong Xoa tay và cười
Ngô Phan Lưu với triết lý nhân văn
Ngô Phan Lưu là một nhà văn nhưng ông sống giữa làng quê như một lão nông chính hiệu. Năm nay ông đã ở lứa tuổi bát thập nhưng vẫn hàng ngày tay bút tay cuốc cần cù làm ruộng ở Phú Yên quê ông. Và cũng vì thế mà Ngô Phan Lưu có biệt danh là lão nông nhà văn. Ban ngày làm vườn, ban đêm ông miệt mài sáng tác khá sung sức với hai thể loại văn học là truyện ngắn và tản văn. Những truyện ngắn sẫm mùi thơm đồng ruộng của Ngô Phan Lưu được bạn đọc gần xa đón nhận và nhanh chóng nổi tiếng. Năm 2007, ông đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ. Năm 2008, tập truyện Cơm chiều của Ngô Phan Lưu được NXB Phụ nữ ấn hành, và năm 2009 tập truyện ngắn và tản văn Xoa tay và cười của lão nông nhà văn này đã được ấn hành bởi NXB Văn học.
Thơ mới từ Tình già của Phan Khôi
Thơ mới từ Tình già của Phan Khôi
‘Muôn dân trói buộc vòng nô lệ/ Tám vế thơ văn giấc
ngủ nồng’. Câu thơ của cụ Phan Châu Trinh đã khái quát lối văn chương ‘bát cổ’
(tám vế) đè nặng trong tâm trí người Việt từ ngàn đời.
Những quy định nghiêm ngặt của các thể loại Đường thi, cổ
phong, tuyệt cú, phú, văn sách, chiếu, biểu… đã trói buộc cảm hứng sáng tác của
người nghệ sĩ. Từ việc ấn định số câu, số chữ, luật, đối xứng, tiếng trầm tiếng
bổng đến niêm, luật… đã khiến họ chẳng khác gì múa gậy trong rọ, không thể tùy
hứng trình bày cảm xúc đang thăng hoa.
Mạch cảm xúc bị trói buộc ấy đã hình thành từ lúc ê a học
đánh vần, đã thế, nội dung cũng phù phiếm nốt. Ai đời, kinh sử được học là chuyện
bên Tàu; điển tích, điển cố tận đẩu tận đâu. Lối học ấy, làm thơ kiểu ấy, chẳng
khác gì “ngồi cầu Đơ mà nói quán Mọc”, “nói chuyện Hà Tây chết cây Hà Nội”.
Tất nhiên, nói vậy không phải phủ nhận kho tàng thi ca cổ điển
của nước nhà mà để thấy niêm luật nghiêm ngặt, ràng buộc từng câu chữ, bó buộc
từng vần điệu đã hạn chế tinh thần sáng tạo của văn nhân trong nước.
Đầu thế kỷ XX, khi tiếp cận nghệ thuật phương Tây, hào hứng với
các tác phẩm có tư tưởng phóng khoáng, hình thức đa dạng, không ít trí thức trẻ,
nhà nho cấp tiến đã tiếp thu, vận dụng.
Về thơ, người sớm có ý thức phải thay đổi là Phan Khôi
(1887-1959), người Quảng Nam – một cây bút luận chiến, lý sự, gây gổ bậc nhất
trong giới học thuật nước ta thuở ấy.
Giữa lúc các trí thức đang có những bài báo phê phán, tấn
công kiểu làm thơ theo lối cũ, một sự kiện đã đột ngột xảy ra, như ghi nhận của
nhà phê bình Hoài Thanh: “… một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy.
Ngày ấy là ngày 10/3/1932. Lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ đã hiện ra một lỗ
thủng. Ông Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận. Ông
tự giới thiệu: “Trước kia, ít ra trong một năm tôi cũng có được năm bảy bài, hoặc
bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Nôm; mà năm, bảy bài của tôi, không phải nói phách,
đều là năm bảy bài nghe được”. Ấy thế mà ông kết án thơ cũ. Thơ cốt chơn. Thơ
cũ bị câu thúc quá nên mất chơn. Bởi vậy, ông bày ra một lối thơ “đem ý thật có
trong tâm khảm mình, tả ra bằng những câu có vần, mà không bó buộc bởi niêm luật
gì hết” và tạm mệnh danh là Thơ mới” (Thi nhân Việt Nam, 1942). Đó là lúc Phan
Khôi công bố bài thơ Tình già.
Do được công bố lần đầu trên tờ Phụ Nữ tân văn (số
10/3/1932) – đang hồi cực thịnh ở miền Nam; rồi được tờ Phong Hóa có số lượng độc
giả cao nhất miền Bắc in lại vào số xuân (24/1/1933), Tình già đã tạo
tiếng vang lớn trong cả nước.
Khi “khai sinh” đứa con tinh thần này, có lẽ Phan Khôi cũng
cho rằng việc làm này khá mạo hiểm nên mới cẩn thận rào đón đó là “một lối thơ
mới trình chánh giữa làng thơ”. Rồi ông hô hào: “Duy tân đi! Cải lương đi!”.
Bài thơ Tình già như sau:
Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ
Hai mái đầu xanh kề nhau than thở:
– Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng
Mà lấy nhau hẳn là không đặng
Để đến nỗi, tình trước phụ sau
Chi bằng sớm liệu mà buông nhau!
– Hay! Mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ!
Thương được chừng nào hay chừng nấy
Chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng
Mà tính việc thủy chung?
Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau…
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi
Con mắt còn có đuôi.
Theo Hoài Thanh, bài thơ này: “Không rõ được ai thích không.
Nhưng một số đông thanh niên trong nước bỗng thấy mở ra một góc trời mới vì cái
táo bạo giấu giếm của mình đã được một bực đàn anh trong văn giới công nhiên thừa
nhận”. Đây cũng là thời điểm diễn ra cuộc “so găng”, tranh luận dữ dội, quyết
liệt giữa Thơ mới – thơ cũ từ Nam chí Bắc.
Người đầu tiên hưởng ứng lời kêu gọi của Phan Khôi là nhà thơ
Lưu Trọng Lư. Kế đó, Báo Phụ Nữ tân văn đăng Thơ mới của Nguyễn Thị
Manh Manh, Hồ Văn Hảo… Rồi Báo Phong Hóa cũng thường xuyên đăng Thơ mới
của Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Phạm Huy Thông, Xuân Diệu… và công kích thơ cũ.
Tranh luận trên báo chưa hả, họ diễn thuyết để nêu và bênh vực
quan điểm của mình. Tại Sài Gòn, nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh lên diễn đàn Hội
Khuyến học Nam kỳ cổ vũ cho Thơ mới.
Các năm kế tiếp, những người “đồng hội đồng thuyền” xuất hiện
ở nhiều nơi để công khai ủng hộ Thơ mới, như Lưu Trọng Lư ở Quy Nhơn; Đỗ Đình
Vượng, Trương Tửu ở Hà Nội; Vũ Đình Liên ở Nam Định…
Phe ủng hộ thơ cũ cũng đăng đàn phản pháo, như Nguyễn Văn
Hanh ở Sài Gòn… Cuộc bút chiến trên các mặt báo có thêm sự tham gia của Tản Đà,
Tùng Lâm, Thái Phỉ, Hoàng Duy Từ…
Từ đây, nền thi ca Việt Nam hiện đại đã mở ra cả một phong
trào Thơ mới – đỉnh cao từ 1932-1945 với đội ngũ hùng hậu, nhiều tài năng như
Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Bích Khê, Phạm Huy Thông…
Thành công của phong trào Thơ mới trong thời gian này cũng
chính là nền tảng về ca từ cho các nhạc sĩ khi viết nhạc theo lối phương Tây mà
thuở ấy gọi là tân nhạc, “nhạc cải cách”.
Bắt đầu từ bài thơ Tình già của Phan Khôi, Thơ mới
đã toàn thắng, tạo dựng nên “một thời đại trong thi ca” với nhiều dấu ấn rực rỡ.
7/9/2020
Lê Minh Quốc
Theo https://vanhocsaigon.com/
Tiểu thuyết Phượng Hoàng của Văn Lê: Bi thương mà không bi lụy
Tiểu thuyết Phượng Hoàng của
Văn Lê: Bi thương mà không bi lụy
Văn hào Nga Lev Tolstoi viết: “Đọc quyển sách hay như
trò truyện với một người thông minh”. Với tiểu thuyết Phượng Hoàng (Giải
A – Giải thưởng Bộ Quốc Phòng 2009-2014, Giải B – Giải thưởng Văn học Nghệ thuật
TP.HCM 2012-2017), nhà văn Văn Lê (tên thật Lê Chí Thụy) một lần nữa đã khẳng định
sức viết, tài năng và tâm sức để trình bày tác phẩm mình, góp thêm vào số lượng
tác phẩm hay – đáng đọc – về đề tài lịch sử cận đại và chiến tranh cách mạng. Đề
tài này hiện nay ít người viết, có viết cũng khó hay vì cần vốn sống, kinh nghiệm,
nhất là nếm trải thực tế. Bài viết này nhằm giới thiệu sơ lược tác phẩm, trích
đoạn những ý tứ hay (theo cảm nhận của người viết). Giải thưởng lớn nhất là qua
thời gian, tác phẩm sống mãi trong lòng công chúng.
Phượng Hoàng là cuốn tiểu thuyết viết về một chiến dịch
cùng tên do Mỹ và quân đội Sài Gòn phát động thực hiện, bắt đầu từ năm Mậu Thân
1968 và kéo dài những năm sau đó. Có thể nói giai đoạn này chiến tranh tàn khóc
và ác liệt nhất, hàng trăm ngàn chiến sĩ, cán bộ Cộng sản bị bắt giết, tù đày.
Rất nhiều cơ sở cách mạng bị phá bung, tan rã, trở thành những “vùng trắng”.
Các chiến sĩ phải chấp nhận hy sinh, chịu đựng, tích góp lương thực, gây dựng lại
gần như từ đầu. Họ bị kẻ thù bao vây, ép bức, thậm chí chà đạp. Thế mà chỉ sau
thời gian ngắn chúng ta đã hồi phục một cách thần kỳ, lấy lại niềm tin nơi dân,
để tiến đến chiến thắng 1975. Do đâu và nhờ đâu? Anh hùng, dũng cảm, hy sinh –
cố nhiên là những phẩm chất đẹp nhưng chưa đủ,tác giả lý giải chính phẩm hạnh của
người lính mới được dân tin yêu, giúp đỡ, đưa đến thành công. Phẩm hạnh được
truyền lại từ tổ tiên qua các thế hệ.
Đại đội trưởng Mạc Kính Phẩm – nhân vật chính trong tác phẩm
ngay từ những trang đầu đã suy tư về thân phận mình trước cuộc chiến tranh khốc
liệt và dai dẳng: “… Anh đã bò trên lằn ranh vô hình giữa sống và chết tới
cả chục lần – và lần nào anh cũng qua khỏi cho dù thân thể bị nhiều sứt mẻ. Anh
không hiểu vì sao, do đâu anh lại có thể sống sót được một cách thần kỳ như thế?…
Có gì đó giống như định mệnh đã can thiệp rất sâu vào cuộc đời anh, gìn giữ sự
sống cho anh. Chỉ có sự phò trợ của Đấng Tối thượng, cụ thể hơn là hương linh Tổ
tiên, mới có thể bao bọc, che chở cho anh thoát khỏi cái chết rình rập…”
Những đồng đội anh, họ dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc,
nhưng có người đôi lúc cũng bi quan: “Chắc gì sống tới ngày đó hả anh?…”
Với sự quan sát tinh tường, nhận định và phân tích lô-gích,
thông qua câu chuyện Đền Miếu, tác giả đã trình bày một quan niệm nhân sinh tuyệt
đẹp: “…Được Em nói với Đại đội trưởng: Chỗ này là nơi Thủ trưởng Cao Minh
Hoàng và Thủ trưởng Bùi Thạnh bị chết. Em nhìn thấy cái Miếu thờ của người dân
xây ở chỗ mấy cây sao đằng kia để thờ cúng liệt sĩ đại đội ta.” – “Miếu thờ à?
Lạ nhỉ? Do đâu mà cậu nghĩ là dân lập miếu để thờ cúng anh em liệt sĩ của ta?”
– “Thì họ có đề chữ tưởng niệm những người tử nạn đúng ngày 20-6-1970 mà anh.
Dân miền Nam thường hè nhau xây dựng miếu thờ ở những nơi có người lạ tới địa
phương mình chẳng may bị chết. Dọc những đường quốc lộ, hoặc các bến sông, thiếu
gì những ngôi miếu như thế.”
Về việc lập Miếu xây Đền, ngày xưa, ngoài Bắc quê Mạc Kính Phẩm
cũng có truyền thống như vậy. Mẹ anh kể: Đã lâu lắm rồi, có một người đàn bà từ
mạn ngược đến làng anh bán thuốc cao, chẳng may bị bệnh hiểm mà chết. Dân làng
thương tình xây một ngôi đền ở ngay trên cánh đồng – nơi bà ta mất, gọi là Đền
Bà Mường… Làng anh còn có một ngôi đền khác, gọi là Đền Khiến – thờ bà Đào Thị
Hào, tướng coi lương của Tây Sơn tử trận tại làng. Ở làng còn thờ một người đàn
bà sống bằng nghề bắt ốc mò cua, nhặt nhạnh từng đồng xu cắc bạc để kiếm sống.
Bà chẳng là anh hùng như bà Hào, chẳng là gì cả, nhưng khi những nơi khác có
người đói, bà nghèo nhưng vẫn dốc bầu nuôi họ. Cuối cùng cũng không thay đổi được
thực tế. Sau, bà cùng chết với mọi người. Người tốt cũng dược tôn thờ như
những anh hùng, thậm chí còn được tôn vinh nhiều hơn.
… Ở địa phương cùng xã với làng anh còn có ngôi miếu thờ Văn
Thần – Người lập miếu nguyên là ông Nghè sinh ra tại quê. Công đức ông Nghè được
khắc ghi trên bia đá xanh đặt trước cửa Đền. Nhưng về sau ông Nghè này hư hỏng,
bị vua bắt tội. Thế là cha của ông Nghè này đục béng tên con mình đi – ông
không muốn đời sau chiêm bái một thằng hư hỏng, chẳng ra gì (Bởi vậy suốt mấy
trăm năm qua, không ai còn biết tên ông Nghè đó.)
Dân ta là vậy, chính trực, công bằng. Họ luôn biết gởi tình
thương vào đâu, đặt niềm kính trọng đúng chỗ.
Còn dân miền Nam, bất kể người đó là ai, giàu có hay nghèo
hèn, dũng cảm hay hèn nhát, lương thiện hay độc ác, nhưng nếu chẳng may chết tại
làng quê họ, đều được lập miếu thờ. Họ muốn an ủi linh hồn người xấu số.
Trở lại chuyện ngôi Miếu mà dân xây thờ các chiến sĩ Việt Cộng
hy sinh. Thời gian sau, lính Cộng Hòa cho san phẳng khu vực đó, phá bay cả Miếu.
Xe ủi của chúng bị mìn gài nổ banh, du kích và quân của Mạc Kính Phẩm phục kích
bắn chết nhiều lính Cộng Hòa.
Người dân sau đó lại thu gom xác lính, trong đó có người thân
của họ. Một người đàn bà đi đầu, cầm cờ trắng huơ lên không trung, la lớn: “Bớ
người ta, tụi tui là dân… Tụi tui không thù ghét ai hết. Mấy người làm ơn đừng
bắn giết, tội nghiệp. Nghĩa tử là nghĩa tận.” Bà ta đi quanh, nói vòng vo một hồi,
không thấy động tĩnh hay phản ứng gì, liền ra hiệu cho mọi người tản ra tìm kiếm
những tử thi… bỏ vào trong những túi xác, thắt miệng lại.
Nhìn đám dân hốt xác lính Cộng Hòa, Đại đội trưởng thấy bùi
ngùi, day dứt. Đột nhiên anh tự hỏi: “Thằng địch là ai?” Chẳng lẽ sinh ra họ đã
là địch? Câu hỏi ấy cứ rứt rỉa tâm can anh. Anh cho rằng trước tiên, thằng địch
là dân. Bọn chóp bu đàn áp, đe dọa, áp đặt, khống chế, trao cho họ cây súng, bảo
phải bắn vào phía bên kia…
Mạc Kính Phẩm hỏi Được Em: “Theo cậu, liệu những người dân đi
thu gom xác bữa nay, có ai sẽ đứng ra xây lại miếu thờ không?” Được Em thận
trọng trả lời: “Xây ngay thì chưa, nhưng dần dà thì có thể… Ý Thủ trưởng hỏi
em là sao vậy?” – “Nếu có ai xây lại miếu thờ, chắc chắn đó là người tốt”.
Trong chiến tranh, ngay trong hàng ngũ ta cũng có những uẩn
khúc, tế nhị, tác giả đã diễn tả thật khéo câu chuyện cảm động đầy tình người của
một đồng đội bị thương nặng đã thổ lộ với Mạc Kính Bưởi: “… Bữa ấy, anh
Bùi Thạnh hất hàm bảo nhỏ với tôi rằng tống khứ thằng tù binh đi. Thằng đó quá
trẻ, độ mười bảy tuổi là cùng, tôi không nỡ. Tôi đã đưa nó xuống con rạch, rồi
lén tha cho nó. Suốt từ đó tới nay, tôi không có can đảm để thú tội với anh…” Đại
đội trưởng gật gù: “Chuyện quá lâu rồi, nhắc lại làm gì nữa. Ông cũng biết là
tôi có bắt lỗi ai đâu?” – “Nhưng bữa nay tôi cần phải thú tội với anh… Tôi cũng
không kịp thú tội với Chính trị viên. Trong đời mình, tôi chưa từng nói dối ai…
Nói được với anh điều này, tôi nhẹ cả người.” … Trung đội trưởng Thúc Mẫn nói đến
đây, kiệt sức nằm sõng soài, úp mặt xuống đất. Cho tới lúc đó, linh cảm thấy
cái chết sắp đến với mình, Mẫn ngỏ lời xin lỗi để có thể ra đi một cách thanh
thản. Đại đội trưởng không ngờ lời thú tội xin lỗi ấy như một lời trăn trối
dành cho anh. Có thể nói đây là lời trăn trối thật lòng tràn đầy nhân bản, là
thông điệp cao cả mà tác giả muốn gửi gắm.
Để bổ sung cho quan niệm: “Lý lịch tốt chẳng bằng bản thân tốt”. Mạc
Kính Phẩm đã kể thêm về chuyện người lính Văn Liều: “…Liều có một tuổi thơ
không được như người ta. Cha mẹ nó di cư vào Nam năm 1954, bỏ lại hai anh em
nó. Thằng Liều giấu nhẹm chuyện này, vì nếu khai vào lý lịch sẽ rất rầy rà,
không những cho hiện tại, mà còn không tốt cho tương lai. Liều kể là khi cha mẹ
bỏ đi, anh em nó như gà con mất mẹ. Anh trai nó phải đi mua đồng nát mất vài
năm, sau mới xin vào làm công nhân sửa chữa đường sá, lấy tiền nuôi em. Lên mười
tuổi, Liều trốn theo gánh xiếc của thầy Tạ Duy Hiển, lang bạt khắp nơi, để đỡ
gánh nặng cho anh. Được ba năm, thầy Hiển mất, gánh xiếc tan, Liều xoay sở làm
việc này việc nọ nuôi thân, rồi tình nguyện vào lính. Vậy mà Liều không bao giờ
oán trách cha mẹ mình. Nó nói với tôi: Chắc phải có lý do nào đó, nên cha mẹ mới
phải rứt ruột bỏ hai con thơ ở lại. Nó tin là cha mẹ mình ngày đêm luôn đau
lòng ray rứt. Rồi nó bảo, cái số nước ta nó vậy, oán trách làm chi. Văn Liều là
thế đấy! Giờ này, linh hồn nó đang quấn quít với gia đình, cũng có thể nó đang
rong ruổi cùng với thầy Tạ Huy Hiển, tiếp tục lang bạt kỳ hồ.”
Đồng đội hầu như ai cũng mến phục Mạc Kính Phẩm. Chiến sĩ Văn
Bình cảm nhận Đại đội trưởng của mình có ý nghĩ khác người, thậm chí trái với ý
kiến của lãnh đạo. Thủ trưởng Mạc Kính Phẩm không ủng hộ “chủ nghĩa lý lịch”,
vì nó gây chia rẽ, không tận dụng được trí sáng tạo, làm yếu sức mạnh quân đội,
đi ngược lại xu thế đoàn kết toàn dân tộc. Lúc nào anh cũng đối xử công bằng với
mọi anh em, cán bộ. Anh không bao giờ làm đau người khác chỉ vì những lỗi lầm
trong quá khứ của họ, cũng không đối xử bất công với những ai mắc tội “Tổ tông
truyền”. Một số cán bộ trung cấp không ưa thủ trưởng Phẩm của anh về chuyện
này. Có thể vì vậy mà thủ trưởng “chậm tiến bộ”, lâu được đề bạt, cất nhắc.
Nhưng bù lại, từ trên xuống dưới và trong đại đội, ai cũng quý mến anh.
Tác giả vốn là nhà thơ, từng đoạt 2 giải A về Thơ của Hội Nhà
văn Việt Nam . Khi viết văn, tác phẩm của anh phảng
phất chất thơ. Những đoạn văn nhẹ nhàng, đầy cảnh sắc trữ tình: “… Lúc còn
ở ngoài Bắc, có lần, đơn vị em được điều đi chống lụt ở Nho Quan, Gia Viễn, thấy
con gái ở đó xắn quần tới háng, da trắng ơi là trắng, lại biết chèo thuyền bằng
chân. Họ ngồi ở đầu lái, lưng tựa vào giá bằng tre được đóng cố định vào sạp
thuyền, chân chèo, mắt đọc sách, trông thật vui mắt.” … “Vào mùa xuân, hoa kim
ngân nở trắng núi đồi. Loài hoa này vừa thơm vừa là loại thuốc quí. Đến mùa hè,
những con suối chảy từ khe đá ra mát lạnh, trong vắt như mắt con gái”.
Những đoạn văn tả sinh hoạt lính tráng cũng thật vui nhộn và
đầy thực tế. Phải là người trong cuộc mới viết được như thế: “…Cậu đừng có mà hứa
gả chị gái cho tôi đấy! – Đại đội trưởng nói hóm hỉnh – Nghe mọi người kháo
nhau là cậu có một cô chị gái mà đòi gả cho cả trung đội.”
Nhân vật xã đội trưởng Tư Chờ chỉ xuất hiện thoáng chốc mà nổi
bật, sừng sững, kiêu hùng. Ông bị mất một chân trong trong trận càn của địch.
Hình ảnh ống quần phất phơ trong gió chiều lồng lộng thật bi hùng. Tư Chờ trong
lúc lánh địch đã bị các chiến sĩ của Mạc Kính Phẩm bắt lầm, họ nghi ông là dọ
thám của địch. Khi nhận ra cùng là đồng đội, họ đã xin lỗi và mời ông ăn cơm.
Tư Chờ đón lấy nắm cơm, chấm muối ăn một cách thản nhiên, nói với anh lính bắt
mình: “ Mày tạ lỗi tao hả mậy? Tao đã què như thế này mà mày còn nỡ
thu cái nạng của tao. Bộ mày sợ tao chạy hả?” Văn Liều đỏ mặt, ấp úng: “Em sợ…
anh dùng cây nạng đánh em!”
Trong tiểu thuyết Phượng Hoàng, tác giả đã rút ra được
những kinh nghiệm chiến đấu thực tế: “Dân ví như rừng. Du kích như hổ. Hổ lìa rừng
thì đến chó cũng kinh.” … “Trong đánh địch, ta phải tích cực theo dõi, bình
tĩnh xử trí. Chúng đánh vỗ mặt, thì ta đánh tạt sườn. Chúng đánh tạt sườn thì
ta bọc hậu. Nói chung là thiên biến vạn hóa.” … “Thế mạnh của du kích là dân cầm
súng. Bỏ súng là dân. Cầm súng là thành lực lượng” … “Chiến tranh nhân dân rộng
khắp và lợi hại như thế. Khi địch càn vào, ta là chủ, địch là khách. Ta thấy
chúng, chứ chúng không thấy ta. Nếu ta tích cực di chuyển, thì dù ta ít, địch lại
tưởng nhiều.” … “Chưa đụng trận mà địch đã bắn như tháo cống thế kia, chứng tỏ
chúng hoang mang, cũng có thể chúng bắn thăm dò. Bọn Mỹ nhiều đạn cũng có tật
như thế. Chuẩn bị khởi hành là bắn, bắn lấy trớn, để uy hiếp đối phương, và
cũng để tránh thương vong cho chúng. Quân đội Cộng Hòa cũng được học như vậy, sẵn
sáng trút hỏa lực tối đa để ta tránh xa”…
Út Mén – nhân vật nữ phụ theo sát Đại đội trưởng Mạc Kính Phẩm.
Tình yêu thầm lặng của hai người sâu kín mà cũng không kém phần sôi nổi. Út Mén
hiểu người mình yêu, cô kể cho anh nghe những kinh nghiệm đối phó của các mẹ,
các chị miền Nam khi đối đầu với địch: “Các bà má thường có trăm phương nghìn kế
độc đáo. Má em nhận nuôi con nhỏ cho chị Phó văn phòng ở Bộ Tư lệnh (trong Khu)
Anh biết má em làm sao không? Bả làm khai sinh nhận là con đẻ của mình (để qua
mắt địch) Bốn tháng sau, một đồng chí trong Khu nữa là vợ chú Hai sinh con, lại
gởi má em, bà buộc lòng phải nhận, lại lên xã làm giấy khai sanh cho thằng nhỏ.
Ông xã trưởng kiểm tra sổ sanh, ngó má em trân trân, hỏi: “Con của bà hay con
Việt Cộng?” – “Con đẻ tui chớ con ai!” – “Tháng 3 vừa rồi, bà lên đây khai sanh
con gái. Nay tháng 7, bà lại lên khai sanh cho con trai. Bà có bầu kiểu gì vậy?”
– “Tui có bầu kiểu gì thây kệ tui. Ông chấp nhận thì tui làm, ông được
quản lý. Không thì thôi, chớ xét nét làm chi, mệt quá!”
Ông xã trưởng cười, sau đó cũng ký: “Tui biết quá bà nuôi con
cho mấy cha Việt Cộng. Hổng còn cách nào nên bà mới làm vậy. Coi chừng đó nghe
bà.” Út Mén kết luận: Công nhận ông xã trưởng đó là người không đến nỗi nào. Vô
tay người khác, má em vô tù là cái chắc. Rồi bà nhắc em: “Nếu sau này có chuyện
không may xảy ra, tụi bay nên cứu giúp ổng – Làm người, sống cần có tình nghĩa.”
Cuối cuộc chiến: “… Đại đội trưởng bị thương rất nặng, anh
đang trải qua trạng thái mơ mơ màng màng, giống như đang hấp hối. Anh rướn người
lên, tay huơ lên không như thể muốn bấu víu, nắm bắt một cái gì đó…
“Tội nghiệp! Thủ trưởng đang chiến đấu với cái chết.” – Ai đó
nói nhỏ. Út Mén ngẩng lên, cô gắt một cái vô cớ: “Nói bậy! Anh ấy đang chiến đấu
để được sống.”
Cô nắm chặt tay người yêu, giọng đầy nước mắt: “Phẩm ơi! Ta sắp
chiến thắng rồi! Mình không được đi! Mình không được đi! Mình không thể bỏ em
vào lúc này được. Mình biết em yêu mình mà!” Chữ Mình ở đây tác giả
nhắc đi nhắc lại, muốn nói họ như đã là chồng vợ.
Từng là đạo diễn và biên kịch phim nổi tiếng, nhà văn Văn Lê
đã gọn gàng kết truyện bằng những đoạn văn tuyệt đẹp giàu chất điện ảnh: “Vào
ngày đầu tiên khi đất nước hoàn toàn giải phóng, người ta nhìn thấy một cô gái
lưng đeo bồng trở về làng Mỹ Tú. Trông cô nhỏ bé và cô độc. Cô tha thẩn bước đi
trên mảnh đất đầy hố bom mà cây cỏ mới lên xanh. Thỉnh thoảng cô dừng lại như
thể tìm kiếm một cái gì đó, hoặc một dấu vết nào đó. Rồi đột nhiên cô bật khóc.
Cô khóc nấc, đôi bờ vai gầy guộc cứ rung lên bần bật.
Từ Ủy ban Nhân dân, Tư Nhàn thập thễnh trở về nhà,
trông thấy Út Mén, chị sửng sốt kêu lên: “Phải Út không, Út?” Cô gái nâng vạt
áo lau khô nước mắt trên mặt, khẽ trả lời: “Dạ, em đây.” – “Trời đất quỷ thần
ơi! Chiến thắng, người ta về Cai Lậy hết rồi, sao giờ này em còn ở đây?”
Út Mén không trả lời. Chiến thắng là của dân tộc, nhưng với
cô thì không. Chiến tranh đã cướp đi của cô người yêu, cướp của cô cả các Thủ
trưởng, bạn bè đồng đội. Ở Cai Lậy, cô chẳng còn ai là người thân để mà về. Cô
cũng chẳng còn họ hàng thân thích nữa. Cô muốn về đây, sống cho hết những ngày
còn lại của cuộc đời với hương linh của những người mà cô hằng yêu quí.
Tác phẩm hay trước hết phải giầu tính nhân văn, cốt truyện
hay, văn giản dị mà hàm súc, ngầm chứa những thông điệp, ý tứ mà tác giả muốn gửi
gắm.
Ít khi tôi đọc một tiểu thuyết viết về chiến tranh mà cần đọc
lại và ghi chép cẩn thận những gì mình thích. Phượng Hoàng có nhiều
tư liệu sống bởi tác giả đã từng sống và chiến đấu, được cảm nhận, quan sát,
trình bày bởi nhà văn nhiều kinh nghiệm. Viết nhẹ nhàng như không, tố cáo tội
ác chiến tranh cả hai phía đối địch. Truyện giàu tứ, cảm động, bi thương mà
không bi lụy.
Chiến tranh đã lùi xa, đã có cái nhìn cởi mở.
Út Mén nhỏ bé, đơn độc, buồn, lặng lẽ: “Chiến thắng là của
dân tộc, nhưng với cô thì không”. Thật đau xót! Càng bật sáng thêm sự hy sinh
cao cả, đồng thời lên án, căm phẫn chiến tranh.
Hầu như không ai muốn chiến tranh. Cực chẳng đã chiến tranh mới
xảy ra bắt nguồn từ những mâu thuẩn, tham vọng, tranh giành quyền lực. Chiến
tranh tàn phá, gây biết bao đau khổ, tan thương cho dân chúng, trước mắt là những
người lính.
Phần cuối bài phát biểu đáp từ trong buổi lễ nhận giải thưởng,
nhà văn Văn Lê đã xin phép hát ngâm một đoạn ca từ trích trong “Tử thần điệu” của
giá đồng làng Vũ Xá. Theo ông đó là những điệu buồn của những linh hồn đã mất
trong chiến tranh, là ước mong thiết tha của người dân, người lính, cũng là
thông điệp mà ông muốn gửi đến bạn đọc qua tiểu thuyết Phượng Hoàng:
Xin người về cho bớt buồn đau
Xin đừng gieo oán với nhau dài lâu
Tình trải rộng, cầu nhân nghĩa bắc
Xin đừng hờ hững trông nhau…
Xét về bản chất, không có hòa bình xấu xa cũng như không có
chiến tranh tốt đẹp – ngay cả ở những cuộc chiến tranh chính nghĩa và tất yếu.
(Benjamin Franklin).
8/3/2020
Phan Đức Nam
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thơ Vũ Từ Trang trong hành trình "Thăm thẳm và mênh mông" đi tìm cái đẹp
Thơ Vũ Từ Trang trong hành trình
"Thăm thẳm và mênh mông" đi
tìm cái đẹp
Vũ Từ Trang là cây bút đa năng. Anh viết nhiều thể loại:
thơ, tiểu thuyết, khảo cứu, chân dung văn học. Ở thể loại nào anh cũng để lại
những dấu ấn đáng ghi nhận. Chính vì vậy nhà báo Nguyễn Thế Khoa đã cho rằng Vũ
Từ Trang là “một tài hoa toàn diện của quê hương Kinh Bắc”. Cho đến nay, VTT đã
xuất bản 19 đầu sách với gần 5000 trang viết, trong đó có 6 tập thơ: Nắng
lên cao (1977), Thời trai trẻ (1996), Ngược dốc (1999), Lẻ
và không lẻ (2002), Những vòng tròn đồng tâm (2011), Cây
chuyển mùa (2016).
Viết văn nhiều, nhưng thơ là cái nghiệp chính của Vũ Từ
Trang; trong sâu thẳm và trên tất cả anh là một nhà thơ, mang cốt cách và phẩm
chất của một nhà thơ.
Thơ Vũ Từ Trang (VTT) đã xuất hiện từ rất sớm. Ở tuổi 21, anh
đã có chùm thơ in trên báo Văn Nghệ năm 1969. Từ đó đến nay, trên hành trình dằng
dặc trong miền sương khói trầm mặc của thơ, VTT đã để lại ấn tượng trong lòng
người đọc: Một nhà thơ tài hoa với vẻ đẹp tâm hồn, với những “giọt” thơ lặng thầm,
tinh tế. Người đọc gặp trong thơ anh một người khao khát vô bờ về một chân trời
thi ca, mộng tưởng và cái đẹp vĩnh hằng.
Thơ VTT nhiều hoài niệm. Anh hay “đi tìm thời gian đã mất”.
Này đây, hoài niệm về một thời tuổi trẻ “khát vọng cuồng điên” với bao hoài
bão, với cả những nỗi “vui buồn chưa kịp đặt tên”.
“Hai mấy năm trời nhớ nhớ quên quên
rừng dương xưa chưa lần trở lại
chợt nghe ABBA lòng thành ngây dại
nhớ một thời khát vọng cuồng điên
nhớ vui buồn chưa kịp đặt tên
nắng nghẹn con đường cỏ rối”
(Chợt nghe ABBA)
Nhớ. Bởi “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”.Và cũng bởi “có ai
tắm hai lần trên cùng một dòng sông?”
Này đây, một người thơ đa cảm, hay buồn, hay nhớ khi nghĩ về
kỷ niệm xưa. Bài thơ “Thị trấn bỏ quên” chứa đựng những ký ức, hoài niệm về một
thời với bao êm ấm, trong lành, thanh thản, bình yên. Cái “thị trấn bỏ quên” ấy
với hoa ti gôn, mái nhà xưa, cây cầu, vạt đồi ngập nắng. Và em. Và cả một giấc
mơ thời trai trẻ. Thơ VTT ở bài này là tiếng nói nhỏ nhẹ, hiền lành, bình dị,
tha thiết, đi vào lòng người một cách tự nhiên, sâu sắc.
Này đây, bài thơ “Đồng hồ tích tắc” với những kỷ niệm về một
thời đã xa “Ngày ấy mẹ cha tản cư chống Pháp”. Cảnh vật yên lành, nghèo nàn, gợi
bao xa xót, mến thương, “Dăm nếp nhà, ấp nhỏ xác xơ”. Và chiếc đồng hồ nhỏ thân
thương- vật chứng của một thời, gợi trong lòng người thơ bao nỗi nhớ:
“Tôi lên thăm, ngơ ngẩn lắng nghe…
Tiếng kêu nhỏ rã rời, tích tắc
Tích tắc…vọng xa, cha mẹ xa rồi
Tiếng kêu nhỏ, mỏi mòn nghẹn nấc
Sắn cùng khoai che lấp khoảng trời”
Thương lắm “ngày xưa ơi…”. Đọc bài thơ, tôi nao nao nghĩ thế.
Này đây, một VTT thương nhớ người bạn đã đi xa mãi mãi trong
bài “Bạn”:
“Bạn đã xa, nhà đã bán
Đời người còn nhúm xương thôi
Công danh, tiền bạc nhòe sương khói
Cửa đóng
…mình tôi đứng gọi tôi!”
Về bài thơ này, VTT kể: “Bài thơ có mấy dòng mà tôi viết chật
vật lâu mới thành. Đấy là cảm giác buồn, khi Phạm Gia Bình bạn tôi ra đi (…).
Phải đến mấy tháng sau ngày Bình mất, nhớ Bình, thi thoảng tôi vẫn có thói quen
phóng xe lượn qua ngôi nhà ấy. Có khi cửa mở, cửa khép, nhưng cái cảm giác thiếu
vắng hẫng hụt thì không thể có gì thay thế”.
Đằng sau tâm trạng nhớ thương bạn ấy của tác giả, ta còn đọc
một nỗi buồn tê tái, nỗi buồn nhân sinh, buồn cho cái phù du ngắn ngủi của kiếp
người, buồn cho cái rời xa mãi mãi.
Này đây những câu thơ về “em”:
Có khi nồng nàn với bao thương mến, khao khát:
“Muốn cắt trời xanh may áo cho em
Khoác đám mây kia lên mái tóc ngoan lành
Muốn ru em trong vòng tay vụng dại
Lại ngỡ ngàng con đường xa xăm”
(Lời ngỏ)
Có khi vừa dịu dàng xao xuyến nhớ thương, vừa thảng thốt đầy
tiếc nuối:
“Mai em đi, mai em đi ư?
Thơ anh tan nát vạn con đường
Lòng anh rối răm bờ cỏ ướt
Cho gót chân em in nhớ thương”
(Mai em đi)
Những câu thơ đẹp và buồn, để lại cho người đọc bao rưng rưng
trong tâm cảm.
Là người đi nhiều (bạn bè gọi anh là kẻ giang hồ vặt), đi đến
đâu VTT gửi lòng mình ở đó.
Này đây một “Góc nhỏ Quy Nhơn”, yên bình, tĩnh lặng, nao buồn,
với:
“Phố nghèo chập chờn người chìm trong gió mặn
Mái tóc dài ngủ quên bên cửa sổ chờ trăng
Câu thơ tơ trời giăng giăng góc phố”
Này đây một Phan Rí trong những ngày “Hạ khát”:
“Cát đỏ rực dưới bầu trời mùa hạ
Nắng như rang và gió như phang
Mảnh đất cằn tâm hồn phóng túng
(…) Mưa
mưa
giấc
mơ
xa xỉ
quá chừng”
Và đây, một lần “Về Phan Thiết”:
“Rượu rót rồi tôi không nỡ uống
Uống làm sao khi mai phải chia xa
Tôi muốn qua sông mà cầu đã bỏ
Biết bao giờ người bắc lại cầu qua
Biết bao giờ về lại Phan Thiết
Nơi góc vườn bỏ sót một chùm hoa”
Bài thơ đã nói lên một tấm lòng yêu cuộc sống đến đằm sâu, da
diết. Đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta
đi, đất đã hóa tâm hồn”. Chỉ có những người giầu tình cảm mới có những dòng thơ
như thế.
Vũ Từ Trang có nhiều bài thơ để lại ấn tượng trong lòng độc
giả, trong đó phải kể đến bài “Trăng Phồn Xương”. Bài thơ được đăng trên tạp
chí Văn nghệ Quân đội (1978). Sau này, trước khi được in ở nhiều tuyển tập
trong đó có tuyển tập “Thơ Việt Nam thế kỷ 20” (Thơ trữ tình), “Trăng Phồn
Xương” đã nhận giải thưởng của báo Nhân Dân năm 1978.
Bài thơ như một lời kể, làm theo thể “hành” cổ điển.
Cảm xúc về một vùng đất Yên Thế trữ tình và thượng võ, tứ thơ
“Trăng Phồn Xương” vụt đến với người thơ trong một căn gác nhỏ của phố Mã Mây
(Hà Nội).Vẫn là vầng trăng ấy nhưng vào mỗi thời điểm khác nhau của lịch sử,
“trăng” lại hiện lên một khác.
Ở đại bản doanh của nghĩa quân Đề Thám chống Pháp thì vầng
trăng thật dữ dội trong một khung cảnh hùng tráng:
“Ấy là đêm trăng thành Phồn Xương
Đồi tung bụi lốc, cây ngả nghiêng
Giáo mác lập lòe dựng bên suối
Mây trời vần vụ, trăng đỏ ối
Mặt trăng như một bát máu thề.
Giọng thơ ở đây rắn rỏi, gân guốc, có chút ngang tàng hảo hớn.
Còn vào thời điểm chống Mỹ cứu nước thì vầng trăng lại trữ
tình, êm ả, trẻ trung, tràn đầy cảm xúc:
“Ấy là đêm trăng thành Phồn Xương
Trai làng, gái làng đất Nhã Nam
Súng đón máy bay giặc bổ kích
Bao đạn bên sườn va lách cách,
Vàng ươm mấy chiếc mũ rơm tròn
Hoa dẻ rừng thơm mái tóc ướt
Và trăng đêm ấy khi hiện khuất
Trăng như ánh mắt gái dân quân.”
Giọng thơ ở đây lại mềm mại, dịu dàng, thiết tha.
…Ở tuổi 70, nhà thơ VTT vẫn cường tráng, nhanh nhẹn. Tuy
nhiên, không ai ngờ con người tràn đầy sinh lực ấy từ năm 2017 phát hiện mình mắc
căn bệnh hiểm nghèo. Nếu khổ nạn lớn nhất của đời người là cái chết thì VTT
đang phải đối mặt với nó. Cuộc đời anh đã rẽ sang một bước ngoặt. Lúc đầu VTT
không khỏi sốc, bàng hoàng…
Đây là những dòng thơ “thương thân”, rất thật, rất “người” của
VTT khi anh “nói” với hương hồn cha mẹ trong những tháng ngày buồn bã ấy:
… “Có phải mẹ về
Mà giàn trầu rung lá
Mà hoa cau thơm ngần sân nhà ta
Mà nền nhà còn hơi chân ấm
Thương con bệnh trọng
Mẹ ơi, khăn mẹ ướt đầm, xin mẹ đừng khóc
Cha thương con chí còn chưa cạn
Đường đời lận đận
Con nhớ lời cha tu nhân, tu đức
Con ngược dốc
Đời con luôn ngược dốc
Dâng nén hương
Mẹ cha vỗ về”
(Ẩn ức)
Những câu thơ tê tái, buồn đến não lòng như không thể buồn
hơn. Những ai yêu quý nhà thơ đọc lên… chỉ muốn khóc.
Nhưng nghệ thuật là một sự giải phóng. Khi số phận đã giáng
cho anh những đòn chí mạng, thì sau cú sốc ban đầu, ta lại gặp trong thơ anh một
VTT kiên cường, rắn rỏi, vượt lên, đương đầu với số phận:
“Anh không sợ nỗi buồn sập đến
Buồn ơi, tan đi, ta phải cố lên nhiều
Dẫu dông bão, vạn ngàn bất trắc
Cây vẫn chuyển mùa, chồi lá lại tươi non”
Nhà thơ VTT vẫn lạc quan viết những câu thơ:
“Mình có là ghì đâu
Một tia nắng mong manh
Một lá cỏ rưng rưng đằm sương trong suốt
Một ngọn khói chiều bảng lảng vị rạ rơm…”
2. Vũ Từ Trang vẫn tâm niệm; “Làm thơ là cuộc hành trình
đi tìm cái Đẹp.Cuộc hành trình ngày càng thăm thẳm và mênh mông”. Và anh “Mong
câu thơ ngày viết có ích hơn”. Từ những bài thơ trữ tình tâm tư đến những bài
trữ tình công dân, từ những bài vui đến những bài buồn (mà hầu hết là buồn),
thơ anh đã làm đẹp tâm hồn người đọc theo hướng tích cực, nhân bản. Trong những
vẻ đẹp thì cái đẹp của tâm hồn là cái đẹp vĩnh hằng. Người đọc sau khi cảm nhận
cái hay, cái đẹp của thơ anh, sẽ làm giầu thêm tâm hồn của chính họ. Lúc đó thơ
anh đã “có ích”.
Những ngày tháng chống chọi với bệnh tật, nhà thơ VTT như
đang chạy đua với thời gian, với số phận. Anh viết gấp gáp hối hả, như con tằm
rút ruột nhả những sợi tơ. Viết để cống hiến, để không gục ngã trước bệnh tật,
để quên đi bệnh tật. Trong khoảng hơn một năm trở lại đây, anh đã hoàn thành
hai tập chân dung văn học, một tập khảo cứu, một tập tiểu thuyết. Đặc biệt
cuốn tiểu thuyết “Và khép rồi lại mở” là “những trang văn đẹp đến lung
linh, đau đớn da diết đến thắt lòng” về những người dân trong làng, những người
thân trong họ, những người thân yêu trong gia đình; về làng quê Trang Liệt yêu
dấu của anh với bao hồn quê, nét quê. Anh viết về cái làng quê ấy như để
lưu lại ký ức về làng, để ký thác với hậu thế; viết như một lời cảm ơn sâu sắc,
như để trả món nợ ân tình với quê hương, gia đình trước lúc đi xa. Cảm phục anh
biết mấy.
Hải Dương,16/7/2020
Nguyễn Thị Lan
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thơ 1-2-3 khởi nguồn mới cho đam mê sáng tạo
Thơ 1-2-3 khởi nguồn
mới cho đam mê sáng tạo
Những người đọc thơ 1-2-3 thường nói với tôi rằng
thể loại thơ mới này rất ấn tượng bởi sự ngắn gọn, hàm súc, đa nghĩa về câu chữ
và có sự liên tưởng, day dứt cho người đọc khi gấp lại trang thơ. Đây cũng là
nguồn cảm hứng sáng tạo cho nhà thơ đồng thời cũng là thách thức cho nhà thơ bởi
sự đa nghĩa của ngôn từ cần chọn lựa, sự hoàn chỉnh của cấu trúc trong một bài
thơ ngắn…
Tôi đến với thơ 1-2-3 một cách tình cờ qua bạn thơ Võ Văn Trường
ở Quảng Nam chia sẻ những chùm thơ 1-2-3 của anh và các tác giả được chọn đăng
trên trang Văn Học Sài Gòn (VHSG). Thật tình tôi hơi bất ngờ với cách tiếp cận
và khởi nguồn sáng tạo từ nhà thơ Phan Hoàng cho sự ra đời của thể loại thơ mới
– Thơ 1-2-3 trên thi đàn văn học Việt.
Thơ 1-2-3 hiểu một cách cô đọng nhất đó là bài thơ gồm 6 câu,
chia thành 03 đoạn, trong đó đoạn thứ nhất chỉ có 01 câu cũng là tên của bài
thơ, các câu của đoạn 1-2-3 tương ứng với số chữ tối đa cho mỗi câu thơ là
11-12-13. Bài thơ được giải phóng triệt để khỏi các phép tắc tu từ, thanh vận
chặt chẽ của các thể loại thơ truyền thống, tác giả mặc nhiên thỏa sức sáng tạo
trên cánh đồng chữ nghĩa, ngôn ngữ bình thường trong đời sống hàng ngày được
nâng lên thành ngôn từ nghệ thuật trong thơ, nội dung đa diện, hoàn toàn tự do
chủ yếu đi từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội tâm tác giả muốn thể hiện. Đặc
biệt, khuyến khích tính độc lập từng câu trong mối tương quan toàn bài, thống
nhất trong một không gian thẩm mĩ riêng biệt.
Có lẽ nhà thơ Phan Hoàng đã có lý khi sáng tạo ra thể thơ mới
vừa mang tính phóng khoáng, tự do, không bị ràng buộc bởi vần, nhịp điệu nhưng
cũng có những giới hạn nhất định (số câu, số chữ trong mỗi câu). Bởi lẽ, giá trị
của một bài thơ hay không được định bởi sự dài hay ngắn của bài thơ, điều này
người yêu thơ có thể thấu cảm ở thể loại thơ Haiku nổi tiếng của Nhật Bản chỉ
giới hạn trong 03 câu thơ với 17 âm tiết nhưng mỗi bài thơ đều có sức liên tưởng,
sáng tạo độc đáo mà người đọc phải đi cùng nhà thơ mới có thể thấu cảm hết cái
hay, cái đẹp của bài thơ. Ví như bài thơ Con ếch của thi hào Basho:
“Xưa cũ một bờ ao
Con ếch tung mình xuống
Và vang tiếng nước xao”
Theo Hải Thượng Lãn Ông: “Thơ cốt ở ý, ý cốt sâu xa thì thơ mới
hay. Không phải bất cứ điều gì phải nói ra bằng lời thì mới là thơ có giá trị.
Ý hết mà lời dừng là cái hết mực song lời dừng mà ý chưa hết thì càng hay tuyệt”.
Điều này được thể hiện khá rõ trên cánh đồng chữ nghĩa qua các bài thơ 1-2-3 của
các tác giả trên VHSG.
Viết về nỗi đau của bao người mẹ sau cuộc trường chinh cứu nước
vĩ đại có lẽ cần đến nhiều áng văn, tác phẩm nghệ thuật nhưng với bài thơ 1-2-3
cũng đủ để chúng ta day dứt, tri ân đối với những người mẹ khi đọc câu thơ: “Những
người mẹ cuối cùng đợi con/ Lặng ngắm hàng bia vẫn trắng dòng địa chỉ”(Võ
Văn Trường) hay chỉ một câu thơ cũng giúp người đọc thấu cảm được nỗi đau của
người con gái ước một lần được làm mẹ, làm vợ nhưng chỉ là giấc mơ: “Giấc mơ
đôi chân trần nõn nà hằn lên ghềnh đá/ Đôi bàn tay búp măng, suối tóc con
gái, mái chèo… vàng trăng” (Võ Văn Trường), “Thời gian như màu vôi, trầu
không vàng lá/ Cánh cửa đợi chờ khuyết mảng trăng khuya/ Chị ngồi đếm bao
mùa bồi lỡ”(Hoài mong sắc nhạt hương rơi bóng chiều – Lê Văn Ri). Hay sự cảm
nhận về nỗi đau của người mẹ góa chồng: “Bên dòng sâu mẹ soi tóc một mình”, “Mẹ
ngồi vá bao mùa nước nổi/ Khâu tháng năm thiếu vắng nụ cười cha” (Lê Văn
Ri).
Có lẽ không nhất thiết phải đọc nhiều, chỉ qua vài câu thơ
trong bài thơ ngắn, người đọc với sự thấu cảm của riêng mình có thể cảm nhận được
những gì tác giả muốn gửi gắm, lan tỏa đến người đọc. Nếu có dịp đọc những tác
phẩm thơ 1-2-3 trên VHSG, người đọc sẽ cảm nhận được nhiều chùm thơ hay của các
tác giả: Phạm Thị Kim Khánh, Khang Quốc Ngọc, Lê Tuyết Lan, Lưu Minh
Hải, Mai Thìn, Nguyễn Hồng Linh, Võ Văn Trường, Nguyễn Bá Hòa, Trần Nguyệt Ánh,
Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Trọng Văn, Trần Thế Vinh, Lê Văn Hiếu, Đỗ Toàn Diện,
Lê Thanh Hùng, Trần Mai Ngân, Đỗ Quảng Hàn…
Với riêng tôi, khi viết những bài thơ 1-2-3 luôn có cảm xúc
khác lạ so với khi cầm bút sáng tạo những bài thơ thể loại khác. Tôi thường tập
trung tìm kiếm tứ thơ, tinh lọc ngôn từ để diễn ngôn cho tứ thơ mới chợt xuất
hiện vừa cô đọng, vừa có tính lan tỏa cảm xúc trong một chỉnh thể cấu trúc của
bài thơ 1-2-3. Trong sự dồn nén ấy, nhiều lúc cảm xúc ngôn từ bật ra rất tự
nhiên và giúp tôi kết thúc bài thơ trong khoảng thời gian rất ngắn so với những
thể thơ khác mà tôi từng viết.
Những người đọc thơ 1-2-3 thường nói với tôi rằng thể loại
thơ mới này rất ấn tượng bởi sự ngắn gọn, hàm súc, đa nghĩa về câu chữ và có sự
liên tưởng, day dứt cho người đọc khi gấp lại trang thơ. Đây cũng là nguồn cảm
hứng sáng tạo cho nhà thơ đồng thời cũng là thách thức cho nhà thơ bởi sự đa
nghĩa của ngôn từ cần chọn lựa, sự hoàn chỉnh của cấu trúc trong một bài thơ ngắn.
Nhìn nhận ở góc độ này có thể cảm nhận sự cô đọng, mới lạ ở thể thơ 1-2-3 sẽ
khơi nguồn sáng tạo và tạo động lực cho nhà thơ tinh lọc ngôn từ để diễn ngôn
cho tứ thơ của mình được bật lên, chạm đến cảm xúc và tâm hồn người đọc qua quá
trình phát triển cảm xúc từ ngoại cảnh đến nội tâm người đọc mà nhà thơ đã dày
công sắp đặt.
Trong dòng chảy văn học và nền thi ca Việt Nam gần 100 năm
nay là cả quá trình kiếm tìm đổi mới thi ca. Bắt đầu từ mùa xuân năm 1932, bài
thơ Tình già của Phan Khôi ra mắt bạn đọc trên báo Phụ Nữ
Tân Văn cùng với bài giới thiệu mang tên Một lối thơ mới trình
chánh giữa làng thơ đã có tiếng vang mạnh mẽ, được xem là bài thơ mở
đầu cho phong trào Thơ mới. Ngày nay, có nhiều quan niệm và cách sáng tạo
thơ mới khác nhau nhưng trên hết, một tác phẩm thơ hay phải là tác phẩm thơ có
được quyền năng lan tỏa tín hiệu, thông điệp cái đẹp của thi ca, phải dễ nhớ,
đi vào lòng người, được người đọc cảm nhận, thấu hiểu để nhân lên cái đẹp về
tâm hồn và nghệ thuật thi ca. Người đọc thơ không chỉ là người đọc thông thường
mà còn là người đọc thấu cảm, người đọc giàu tư duy và sự liên tưởng, nhà thơ
phải thực hiện được sứ mệnh sáng tạo và sự đồng điệu dẫn dắt người đọc trong bối
cảnh không gian và thời gian đang vật vã, níu kéo nhau trong dòng chảy tất bật
của nhân loại. Trên bình diện này, sự ra đời của thể thơ mới 1-2-3 đã đáp ứng
được nhu cầu sáng tạo nghệ thuật và công chúng yêu thơ đang không có nhiều thời
gian đọc và sự diễn ngôn quá đà của một bộ phận sáng tác đang gào thét và nhân
danh đổi mới thơ ca với bài thơ dài, những câu thơ chặt khúc xuống dòng nghịch
dị.
Với sự đón nhận và cộng hưởng tích cực của những nhà thơ
trong và ngoài nước, những người yêu thơ, chỉ sau bốn tháng phát động Cuộc vận
động sáng tác Thơ 1-2-3, VHSG đã nhận được hơn 380 chùm thơ của gần 150 tác giả.
Điều đó khẳng định sức sống và định hình giá trị nghệ thuật của thể thơ mới
1-2-3 trên diễn đàn văn học Việt Nam. Tin rằng với sự mới lạ, độc đáo và phù hợp
của thơ 1-2-3 trong bối cảnh mới, với cách làm rất riêng, sáng tạo của
nhà thơ Phan Hoàng và cộng sự trong sự khích lệ, lan tỏa, giới thiệu thể loại
thơ mới, thơ 1-2-3 sẽ ngày càng lan tỏa mạnh mẽ trong giới văn nghệ sĩ và công
chúng yêu thơ, đánh dấu bước chuyển mình mới trong quá trình đổi mới nền thi ca
Việt Nam.
10/9/2020
Lê Văn Ri
Theo https://vanhocsaigon.com/
Bấm xuống thời gian chút ngậm ngùi, lắng đọng
Bấm xuống thời gian
chút ngậm ngùi, lắng đọng
Thoạt nhìn cái tên sách “Bấm chân qua tuổi dại khờ” rất
“teen” như vậy, người ta nghĩ ngay đến cái sự dại khờ, nũng nịu, nai nai… sẽ
tràn ngập ê hề. Hóa ra không phải thế. Đọc mà thấy nhà thơ “già chát”, với một
thủ pháp nhất quán bằng cái giọng thơ đủng đỉnh: Nửa khuya, nệm ấm chăn
êm/ thình lình tiếng ếch ngoài đêm lạc loài Như ai gọi ai tìm ai/ biển im thít,
chẳng đoái hoài một câu (Đêm Lăng Cô, nghe tiếng ếch kêu trong resort).
Tập thơ như thể hiện thân của một gã đàn ông đứng tuổi, mà cố
rón rén, thận trọng bằng những đầu ngón chân bấm xuống mặt thời gian, mỗi bước
là mỗi dấu ấn vừa rất dễ thương lại có chút ngậm ngùi, lắng đọng: Xin người
hãy vịn vào nhau/ nỗi vui bớt ngắn, niềm đau bớt dài/ Xin người những giấc mơ
phai/ bữa nay là thực, ngày mai còn chờ (Vịn).
Hay là thế này: Tím phố bằng lăng nắng/ phượng đỏ gay mặt
hồ/ lão niên quên gậy chống/ nói cười như trẻ thơ (Và loa kèn vẫn trắng).
Thì thấy rõ cái góc nhìn, cái tầm nhìn, cái hiếng mắt quan
sát tủm tỉm của một ngòi bút tuổi chân phương, mà còn láu lỉnh hóm hỉnh.
101 bài trong tập là 101 “nhân vật” khác nhau, riêng rẽ hoàn
cảnh số phận. Điều này khiến tôi – người đọc – không bị nhàm chán, bởi ngay
cách lập tứ đã nhiều bất ngờ: Dẫu chẳng hẹn một lời, anh đã đến/ thoảng
hơi thu mách bảo: muộn màng rồi/ chiều thiếu phụ một mình anh với nắng/ cỏ thơm
về từ ký ức xa xôi (Nho Quan)
“Bấm chân qua tuổi dại khờ” đẹp từ ngoài vào trong, hình
thức đẹp mà chữ nghĩa cũng đẹp, dễ gần, sang trọng, dễ đọc. Không cầu kỳ, phô
trương, cố làm sang, làm cho thơ rắc rối “lằng nhằng dây điện” bằng những từ ngữ,
câu cú lạ mắt, tối nghĩa, mà hầu như đọc câu nào, chữ nào cũng hiểu, cũng biết.
Nhưng ý tứ và mỗi bài khi đứng riêng ra lại hàm chứa nhiều nghĩa, nhiều cung bậc
cảm xúc, đôi ba cách hiểu, tùy ở tâm trạng người đọc. Đôi khi để lại tâm trạng
bâng khuâng, dùng dằng, chẳng rõ là điều gì, đâm ra lưỡng lự:
Đưa tay bắt mây trắng/ nháy mắt chào mặt trời/ vung vinh chém
loạn gió/ sụt sùi thương con người(!)
Ú ớ dăm câu hát/ giữa tư bề vắng hoe/ bụng thiên kinh, vạn
quyển/ mình đọc rồi ình nghe/
… Bạn gọi xuống ăn sáng/ sực tỉnh hồn bung biêng/ nghe chuông
điện thoại reng/ suýt nữa thì bật khóc! (Bấm nút tầng 19)
Đọc và trích thì rất nhiều câu thơ thuộc vào hàng rất hay
trong tập này, nhưng như thế chẳng hóa ra đọc hộ mất rồi. Chỉ xin nói cái điều
mà mình thấy thú vị nhất, mủm mỉm cười nhất và cũng thật xúc động làm ra một
“cao-xuân-sơn” riêng biệt rõ nét. Đó là một biệt tài – vâng, tôi cho là biệt
tài ở anh – là cách vận dụng cái kho báu ngôn ngữ dân gian vào trong thơ hiện đại.
Những thành ngữ, tục ngữ, phương ngữ, dân ca của nhiều đời người để lại được
anh tỉa tót, “đính” vào thơ mình một cách đắc dụng. Anh làm tôi nhớ bà mẹ mình,
trong công việc, trong bữa ăn, giấc ngủ, có điều gì muốn truyền cho con cháu,
thảy đều “nảy ra” những câu ca, câu hát, câu ca dao rất chuẩn, rất đắc địa.
Những câu thơ rất “có nghề” như thế này, gieo cho người nghe,
người đọc nỗi ỡm ờ, nửa tình, nửa nghĩa: Không thành một, chẳng đành hai/
người đông ghẹo nắng, kẻ đoài trêu mưa/ Không là thực, chẳng còn mơ/ người hiu
hắt sớm, kẻ ngơ ngác chiều/ Không tơ tóc, chẳng bọt bèo/ người vin cội nghĩa, kẻ
neo bến tình/ Không thay dạng, chẳng đổi hình/ cứ gì duyên nợ ba sinh mới
là…? (Không thành một, chẳng đành hai)
Thì đấy, toàn thấy những chữ rất xưa: đông – đoài, tơ
tóc – bọt bèo, bến tình – cội nghĩa, duyên nợ ba sinh… mà thấm đẫm nhân nghĩa,
tình duyên.
Cối xay quẩn, hại què gà/ tháo thừng lộn chão mà ra bão bùng/
mười năm xuống biển lên rừng/ ngỡ từng bén rễ, ngỡ từng xanh cây (Ngẫu cảm).
Kìa là những gà què ăn quẩn cối xay; tháo thừng lộn
chão; đến đây thì ở lại đây/ bao giờ bén rễ xanh cây thì về…
Khi anh hát ru con gái:
Chợ đời đảo vận thay câu/ thị trường, thị nở, thị mầu, thị
phi/ rối tai tiếng bấc giọng chì/ ba hồi mật ngợt, bốn khi cay đường (Ngủ
đi, con gái).
Với cái sự đỏng đảnh của thời gian thì:
Chẳng xé lịch thì ngày mai vẫn đến/ con sáo sang sông, con
sáo xổ lồng/ tê tái vậy đủ rồi, cơ nhỡ ạ/ muốn hay không rồi sáo cũng lấy chồng (Chẳng
xé lịch thì ngày mai vẫn đến)
Đây là thanh minh cho những trận ghen:
Có cay đắng, có ngọt lành/ cả khi không khói cũng thành lửa
ghen
Còn đây là “gừng cay muối mặn”:
Này mặn muối, cay gừng, này ngọt mật/ ơn các con mà ta thật vợ
chồng/ lúc tắt lửa sôi cơm muôn nghèo ngặt/ khi lặng nhìn đã cạn nước biển
Đông (Chẳng điều gì là không thể, vì em).
Dường như nhà thơ cũng đã có chủ ý như thế, nên bài “Học
mấy đời cho hết chữ nông dân” chật ních thành ngữ:
“Quá mù ra mưa”, “hết khôn dồn đến dại”/ “già néo đứt dây”,
“giun xéo lắm cũng quằn”/ “tức nước vỡ bờ”, “chó cùng rứt dậu”/ học mấy đời cho
hết chữ nông dân?
Ai tí tởn “được voi đòi…” Trưng Nhị/ “tham thì thâm”, “ăn cả
tất lẫn giày”/ “biết người, biết ta”, “một vừa hai phải”/ anh và em nồi ấy úp
vung này
“Một sự nhịn, chín sự lành” thế thế/ “trèo cao ngã đau”, “được
vạ má sưng”/ “xởi lởi trời cho, so đo trời lấy lại”/ hơn thua làm gì, “đời muôn
sự của chung”
Vân vân…
Thật ra làm cái việc liệt kê thì cũng chẳng nói lên điều gì
hay hơn cho thơ, nhưng tôi nghĩ Cao Xuân Sơn đã sử dụng chất liệu dân dã của ca
dao và biết cách “làm điêu” nó đi, và thế là thành thơ. Chẳng phải sao?
Dứt khoát thơ phải là thơ, phải khác ca dao ở cái điểm mà ta
gọi là “cấp độ điêu”. Không nói ai hay hơn ai, thơ hay hơn hay ca dao hay hơn,
nhưng ta thấy ca dao vốn thật thà, “chuẩn men”, vô chủ ngữ, không có bóng dáng
tác giả (nếu có câu nào hay thì nó đã gần với thơ rồi, thành thơ rồi, ví dụ
bài “Tát nước đầu đình”. Thơ khác, phải có bàn tay, có bóng dáng người viết,
và như thế cái tình, cái tâm, cái nỗi chua cay và nhất là cái “điêu điêu”, có cả
bóng dáng Thị Mầu, Súy Vân, Điêu Thuyền… mới tạo ra cái tình, cái tứ, và thành
thơ. Các nhà phê bình chê thơ dở thì thử vạch cái điều này ra xem sao!.
10/9/2020
Hoàng Đình Quang
Theo https://vanhocsaigon.com/
Tần Hoài Dạ Vũ - Hạt bụi chia đôi
Tần Hoài Dạ Vũ - Hạt bụi chia đôi…
Tần Hoài Dạ Vũ (THDV) là tên tuổi không xa lạ với bạn đọc
khắp nơi, nhất là ở các tỉnh phía Nam. Anh sinh ra tại làng quê thanh bình Giao
Thủy, Đại Lộc, Quảng Nam. Quê nhà yêu dấu nằm ven sông Thu Bồn đã trở thành một
sinh thể đầy nhung nhớ mỗi khi quay về hoặc nói đến trong thơ. THDV có thơ đăng
trên các tạp chí nổi tiếng ở miền Nam trước 1975 như Bách khoa, Văn, Văn học, Đối
Diện…, đã xuất bản 7 tập thơ, công bố nhiều bộ sách nghiên cứu về văn hóa, văn
học dân gian, nghĩa là đã khẳng định chỗ đứng của mình trong văn chương Việt.
Anh tạo được con đường nghệ thuật riêng, không lẫn với ai, khắc dấu ấn của mình
vào những bài thơ đã ra đời.
Gần đây, trên Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam,
số 9 và 10 năm 2019, tôi đã viết một bài, khá dài, giới thiệu thơ THDV. Còn với
tập Bài thơ vui tặng cuộc đời tôi, Nxb Hội Nhà văn, vừa phát hành hôm nay
?
Tôi đã đọc 100 bài thơ này, nhiều lần. Mỗi lần, nhận ra một sắc
diện mới, một giọng nói mới, một mùi hương mới,… Tập thơ tình của một người
không còn trẻ nữa. Ừ, tình yêu thì không có tuổi. Đó là thứ nhan sắc không tàn
phai theo tháng năm. Đó là mùi hương khuất ẩn đâu đây của một đời người. Đó là
chiếc cầu của quá khứ nối liền với hiện tại, bắc qua bảy sắc cầu vồng của bao
cung bậc nhớ thương, hờn dỗi, lặng thầm, tiếc rẽ, … Đó cũng là ngọn gió thổi
qua hiên đời hiu quạnh mỗi khi bên trời heo may, một chiếc lá cuối thu rụng
vàng,… Tình yêu chống lại sự cô đơn. Tình yêu chống lại cái chết, chống lại sự
ăn mòn của thời gian. Vấn đề chết – Vấn đề yêu, muôn đời nay, đi liền nhau, gắn
bó nhau. Và, nói như Tần Hoài Dạ Vũ, chỉ có thể đây là: cuộc phiêu lưu diệu
kỳ của một kiếp người khốn cùng trong niềm tin vĩnh cửu (Hãy cho tôi hôn cuộc đời
này!).
Ðã bao nhiêu nãm nay, trái tim THDV vẫn một nhịp đập với
tình yêu. Tình yêu khiến cho con tim luôn bồi hồi, không bình yên. Một thế giới
riêng tây mở ra và đi về, thẳm sâu, có lúc ngậm ngùi, thương cảm, có lúc chạm đến
cõi bờ hạnh phúc, khiến cho ta dễ gửi vào đó một cảm thông, một rung động, một
tin yêu: Cảm ơn đời đã thương đầy nỗi nhớ / Cảm ơn em tiếng chim gọi mùa
vàng / Anh trở về thương lại bước thời gian / Nghe chuông đổ dưới giấc đời ân sủng (Giấc
đời ân sủng)
Bài thơ thứ nhất của tập thơ, mang nhiều ẩn dụ, bài Hãy
cho tôi hôn cuộc đời này! Bài thơ không dài, chỉ 8 câu. Mỗi câu có số chữ
khác nhau, ngắn nhất: 12 từ, dài nhất: 31 từ. Đó là bài thơ, theo tôi, khắc tạc
rõ nhất chân dung thi sĩ, nói rõ nhất những nỗi niềm, những gửi trao, những cầu
mong, những tin yêu của tác giả đối với cuộc đời. Từ đây, thi sĩ “sẽ
thắp lên ngọn lửa ấm áp tình người trong trái tim những ai đã từng gục ngã trên
mọi bước đường đời gai lửa”, “sẽ đọc lời chúc phúc cho mọi nỗi thống khổ nhân
gian” và “cầu mong mọi điều hạnh phúc chan hòa và ơn phước thánh thiện
rót xuống từ cuộc đời chẳng bao giờ hết khổ đau, cho em, em thân yêu”.
Bài thơ là một lời cầu nguyện, là ngọn nến hy vọng, là niềm
tin vô bờ gửi cho Em-Tình Yêu, cho cuộc đời, cho kiếp người, mà nỗi buồn và số
phận cô đơn của người nghệ sĩ tài hoa này mong muốn gửi trao. Vì vậy, xét ở góc
độ nhân sinh, đó là một tuyên ngôn nghệ thuật, có ý nghĩa nhân văn…
Có một vời vợi không cùng trong thơ THDV. Thơ tình THDV chủ yếu
là những bức tranh nhan sắc, một thứ hồng nhan gần gũi với trần gian. Hơn nửa
thế kỷ viết thơ tình, giọng thơ vẫn trẻ, vẫn mới, vẫn hồn nhiên và chân thật với
mình. Đằng sau các câu thơ, thấy lấp lánh những xao xuyến của một tâm hồn đa cảm.
Sự giao hòa giữa con người với ngoại cảnh làm nên những bức
tranh nhiều màu trong thơ THDV. Chẳng thế mà ta thường bắt gặp hình tượng ánh
trăng, bàng bạc chảy qua những dòng thơ, những bến bờ cảm xúc.
Người đọc cũng nhận ra một mùi hương, mùi hương của dòng sống,
của đời người, và cụ thể hơn, mùi hương của phố cổ Hội An… Bao nhiêu năm làm
cánh chim lữ thứ, lang bạt quê người, vậy mà, với Tần Hoài Dạ Vũ, con phố ngày
mới lớn – con phố ký ức, vẫn có “một mùi hương rất đầy – mùi hương ấy chưa tan
trong anh mấy mươi năm xa xứ” (Mùi hương phố cũ).
Và nữa, Giao Thủy, cái làng xưa, quê cũ, nơi bao năm thương
nhớ của đứa con xa quê, một đêm dưới bóng trăng, trên con – đò – đời – người,
đường về diệu vợi, tiếng chuông chùa gióng lên, tịch nhiên: Ta đi biệt dấu
quê nhà / Thấy trăng ngồi dưới gốc đa đợi người…(Đêm, nhớ tiếng
chuông chùa làng)
Ở THDV, còn có một phía khác, phía thân phận, phía bóng ngã của
thời gian. Nơi không ít bài thơ, ta gặp một THDV trầm tư, khắc khoải về nhân
sinh, chạm vào bờ vực của hư không.
Cuộc đời, trong quan niệm của nhà thơ, như cái quán trọ. THDV
gọi đó là Quán đời. Một bài thơ lục bát, chỉ 4 câu, dài ra như đời
người, ở đó có bàn ghế, thiếu bạn bè, chỉ một mình, ngẫm ra như hạt bụi
chia đôi, đêm thì không chạm đáy, cứ rơi, cứ rơi, rã rời. Rồi nỗi buồn: Quán
con/ buồn tạt ghế dài/ Cà phê thiếu bạn/ một mai/ ngại
ngồi/ Ngẫm mình/ hạt bụi chia đôi/ Rơi/ không chạm đáy đêm/ rời/ rã/ đêm.
Trong tập BÀI THƠ VUI TẶNG CUỘC ĐỜI TÔI, ta gặp nhiều câu hỏi
tu từ (Rhetorical question – 46 lần), đó là một dạng câu hỏi không nhằm
mục đích tìm kiếm câu trả lời, chủ yếu nhấn mạnh nội dung mà người viết muốn gửi
gắm. Đây cũng là một nét rất riêng của thơ Tần Hoài Dạ Vũ.
Thơ THDV là sự giãi bày tự nguyện, chân thành của một bản thể.
Chiếc cầu thơ ca đã chuyển tải quan niệm về tình yêu, về cuộc đời vừa mang màu
sắc hiện sinh vừa đậm cảm thức khắc khoải siêu hình…
Và sáng ngày mai thức dậy, ta vẫn nghe đâu đây, quanh ta,
trong những ngõ đời, tiếng lòng thiết tha của người đem “Bài thơ vui tặng cuộc
đời tôi”. Con người đó, nhà thơ đó, muốn đem bài thơ vui tặng cho chính lòng
mình, lại có tiếng thơ buồn, tiếng gọi nhân sinh, tặng cho cuộc đời này. Nên ta
ngỡ như sẽ cứ gặp Tần Hoài Dạ Vũ quanh đây, bên cạnh ngày tháng của ta, trong
lòng ta, những nỗi đời day dứt.
Tập thơ Bài thơ vui tặng cuộc đời tôi gồm 100 bài
thơ của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ.
Sách khổ 12 X 18 cm. Dày 208 trang. 16 trang 4 màu. Bìa cứng
(carton). Tranh bìa: Nụ hôn chim của Họa sĩ Rừng. Ký họa chân dung tác giả: Họa
sĩ CHÓE; Tranh thủy mặc: Th.S. Huỳnh Dõng; Thư pháp: Hồ Công Khanh, Tràm Hoa
Vàng. Tranh phụ bản của các họa sĩ: Đinh Cường, Đỗ Duy Tuấn, Nguyễn Duy Ninh,
Trần Trung Sáng, Nguyên Hạo, Lê Duy Đoàn, Trương Bách Tường, Nguyễn Đình Thuần.
Giá bìa: 150.000 đồng (giá bán thực tế 100.000 đồng).
VÀ CON SỐ KỶ LỤC:
Tính đến ngày 20.8.2020, ngày thứ 6 phát hành tập
thơ Bài thơ vui tặng cuộc đời tôi, tác giả đã nhận được số tiền mua sách
(tiền mặt) là 63.776.300 đồng, quy ra sách là 637 cuốn; cộng với 117 cuốn được
đặt mua theo dịch vụ COD (bưu điện thu tiền hộ), là 11.700.000 đồng, thì số tiền
bán tập thơ Bài thơ vui tặng cuộc đời tôi đã đạt 75.476.300 đồng VN;
quy theo giá bán 100.000 đ/1c thì đã có 754 cuốn sách được bán, sau 6
ngày phát hành.
Đây quả là một kỷ lục về doanh thu trong việc phát hành sách.
Chỉ trong vòng 6 ngày, một tập thơ đã đạt doanh số khó tin là 75.476.300 đồng,
trong thời buổi ít người chịu đọc sách; nhất là thơ.
11/9/2020
Huỳnh Văn Hoa
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Ngô Phan Lưu với triết lý nhân văn đậm chất lão nông trong Xoa tay và cười
Ngô Phan Lưu với triết lý nhân văn đậm chất lão nông trong Xoa tay và cười Ngô Phan Lưu là một nhà văn nhưng ông sống giữa làng quê như mộ...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...





