Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

"Bên bờ sông gió hát" giọng điệu chan chứa yêu thương của Nguyễn Hồng

"Bên bờ sông gió hát" giọng điệu chan
chứa yêu thương của Nguyễn Hồng

Tình cờ tôi gặp tập truyện ngắn Bên bờ sông gió hát của Nguyễn Hồng do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2020 ở cái quán sách nhỏ nép sau góc phố, mua về xếp trên giá sách của mình. Như là cái duyên của người từng làm nghề giữ sách, một buổi sớm thức dậy tôi lên bàn viết ngồi, đầu trống rỗng thế là lại lần thần bên giá sách, thấy Bên bờ sông gió hát hiện trong mắt bèn lấy đọc.

Mở trang đầu, những con chữ rộn ràng bắt mắt. Thế là tôi ngồi đọc, đọc liền mạch, đọc xong gấp lại thấy khắp lòng như áng mây sương mỏng tang cứ lửng lơ trôi, trong áng mây sương mỏng ấy thình lình ẩn hiện những dáng người vừa quen, vừa lậ. Ấy là những phận đàn bà éo le, cơ nhỡ hoặc uẩn trong những mớ đời đen trẵng mà bao đời nay vẫn luân hồi… Lạ là trong nỗi tuyệt vọng của những thân phận ấy họ vẫn khao khát sống, khao khát yêu và họ đã dám bút qua mọi hoàn cảnh để có mình. Cái mạnh mẽ của các nhân vật trong mỗi câu chuyện đều toát lên ý đó. Điều này để cho người đọc tự nhận thấy có một giọng điệu văn chương vừa yếu mềm, nữ tính lại dữ dội yêu thương đến đau đớn mà vãn lắng đọng, ngọt ngào, dịu ấm tựa hồ như những bàn tay có lửa làm cho người ta ấm áp. Nhân vật trong mỗi câu chuyện cứ hiển hiện như là việc có thật ở ngoài đời mà tác giả là người làm chứng và dắt nó vào những trang văn của mình rồi đồng hành với nó cho đến tận cùng kết cục.

Nhìn chung các truyện ngắn trong tập đêù liên mạch ngập lên những khúc buồn, có chuyện buồn cô đơn thăm thẳm, Có lẽ biết điều này nên đôi khi tác giả cũng đan cài những kỷ niệm, những nụ cười hóm hỉnh, vui nhộn như chuyện Bên bờ sông gió hát, Facebook.com…

Đọc Bên bờ sông gió hát vẫn chỉ là những cũ kỹ xưa kia ấy là sự tồ tệch, ngốc nghếch của đôi lứa ở tuổi dậy thì mà người con gái bao giờ cũng khôn khéo, tế nhị, còn cậu con trai thì ngốc nghếch, người ta yêu mình đấy mà còn hỏi có yêu không, giống như ý thơ.

Em bảo anh cút đi.

Sao anh cứ đứng lại

Em bảo anh đừng đơi

Sao anh lại cứ chờ…  

Và như là người ta vẫn có câu: Con gái nói có là không, nói không là có… vậy mà khi giải thích tâm lý này tác gia lại dựng được một cốt chuyện rất thú vị, hóm hỉnh. Ấy là mỗi bận Kha gọi An ra bờ sông, An cứ tưởng là Kha sẽ rành rọt chuyện An đặt vấn đề vơi Kha. Ai dầy Kha toàn kể chuyện bác Khoai với cô Mến, nhiều lần như thế làm An càng tức buồn, càng nôn nóng chờ câu trả lời của Kha nhưng dường như Kha biết mà không biết, mãi đến đận cuối khi Kha gọi An ra bờ sông, cô cứ đứng lặng vê nhàu mớ tóc mặc kệ An nèo nỉ, Kha vẫn đứng lặng kệ gió sông dào dạt, mớ tóc nhàu trong tay Kha… Khi ấy An mới vỡ lẽ. Chuyện chỉ thế thôi nhưng tình tiết, câu văn hay, hóm hỉnh làm cho người đọc vẫn thích dù chuyện đã biết rồi. Hoặc facboock. Com cũng vậy. Xin không kể lại nội dung truyên, chỉ nói cái ý. Ấy là yêu, yêu nhưng toàn chữ, ảo, ảo nhưng mà thật… Đọc song chuyện này cũng gợi ta thấy thời của không gian mạng. Cái ảo, cái thật cứ như mây mưa ấy nhưng trong mây mưa ấy đôi khi cũng giúp con người thấy tia sáng thật để lòng mình tự long lanh, tự sướng… ấy lại là cái thật của câu chuyện. Tôi thấy tác giả hóm lại rất khéo đan lát trong típ chuyện này…

Những nụ vui rộn ràng ấy chỉ thấp thoảng hiện giông như bông hoa mười giờ vừa rực rỡ đấy rồi lại nhòe đi ngay để lại ràng rặc những khúc buồn thăm thẳm suốt chiều dài tập truyện. Ấy là Sen, là Tóc dài, là Thuốc duyên, Thôi thì mây trôi, Nhớ hoa gạo, Một đoạn ký ức… đặc biệt là Một khúc sông sâu…

Ở truyện ngắn Sen thấy một cốt truyện vừa thật vừa ảo. Thật là con người Sen hiển hiện bằng sương bằng thịt được bàn tay người vớt về từ cái đầm sen khi cô bị bỏ rơi, ảo là Sen như thiên nữ được đầm sen sinh ra theo lời của người kể chuyện. Rồi tháng năm đời Sen gắn với người ấy (chàng họa sĩ), Sen ngỡ mình được hạnh phúc được cưu mang nhưng tràng trai ấy lại lạc vào chốn hoan lạc bỏ kệ Sen như vật thừa vừa là của tràng vừa là không phải của tràng. Sen cứ lặng lẽ sống như thế đến một ngày thấy trong lòng mình nảy cái mầm sống, cái mầm sống ấy lại của chính người vừa cưu mang mình vừa bỏ rơi mình. Nghĩ tủi, Sen tìm đến cái chết nhưng không chết đuơc, Sen lại được chính bàn tay người ấy kứu dỗi trở lại ngôi nhà mà Sen từng bị bỏ rơi…lẽ ra đến đận này thì phải tìm những chi tiết đắt để phủ lên cốt truyện và tạo cái chốc lát của câu chuyện để người đọc tự ngẫm, tự thấy những ăn năn của tràng Họa Sĩ nhưng tác giả lại thông thái quá thành thử đem đan vào những đoạn: “Là người kể chuyện muốn thé… Người kể chuyện muốn thế…” tất nhiên mọi chuyện cuối cùng cũng được thanh lọc bởi những ăn năn, xám hối nhưng dù sao cũng làm cho câu chuyện bị nhạt đi bởi những lý giải khá sắc bén lộ rỗ bàn tay của tác giả.

Đến, Thuốc duyên. Cốt truyện này giản đơn nhưng có giá đắt ở chỗ tác giả để cho nhân vật tự sự rất chuẩn. Áy là đôi vợ chồng như là rổ rá cạp lại họ đã vượt qua cái gọi là số mệnh, bỏ qua những dèm pha của miệng thế mà gắn bó với nhau, tìm ra hạnh phúc đích thực từ tình yêu. Chuyện kể: Thi và Lành, hai người cùng cảnh cơ nhỡ, đứt gánh giữa đường, Thi bị vợ bỏ đi vì lý do Thi không thể sinh con, còn Lành người đàn bà chửa hoang đã có Cu Thóc. Họ về cùng mái nhà chuyện cũng lặp lại, hai người không sinh thêm con, Thi lấy cu Thóc làm nguồn sống, còn Lành thì muốn sinh con để cu Thóc có anh có em. Khát vọng rồi tuyệt vọng Lành đành tính chuyện lấy thuốc, Lành tìm được ông lang có uy tín và động viên Thi cùng thực hiện ước nguyện, giằng co mãi cuối cùng Thi chiều Lành. Đến gặp ông lang chuyện lại như hư, như thật, ông lang bắt mạch rồi nói nước đôi: “Con cái là trời cho,Trời cho một đứa rồi cho thêm đứa nữa. Chắc gì phải uống hết bẩy thang thuốc…” hai vợ chồng vừa hy vọng vừa tuyệt vọng nhưng vẫn làm theo ý ông, Lấy thuốc về uống, uống mãi chả có chuyển biến gì Thi càn dàn rồi định bỏ cuộc. Họ bắt đầu mâu thuẫn rồi tức dận nhau, ai có việc người ấy làm, đêm thì quay lưng lại nhau chả ai chịu làm lành ai, chuyện cứ dâì dài, Lành thì vẫn một mực lặn lội đi lấy cho đủ bẩy thang thuốc, Thi thì lầm lỳ từ chối đêm nằm cứ bo cu Thóc ngủ khì… Đêm dài mãi thế, chả ai chịu ai, Lành đành làm dịu. ” Thôi thì trời chả chịu đất, đất phải chịu trời, Lành vòng tay ôm lấy Thi nỉ non… Chỉ chờ thế thôi, Thi ôm ghì lấy Lành, Lành chạm phải giọt nước mắt Thi rớt vội trong đêm tối…” và thế là đêm bung biêng trôi trong đất trời ngày hạn… rồi một buổi sáng dậy mọi điều mới mẻ hiện ra như là giời đất bảo; “Chả cần phải uống hết bẩy thang thuốc đâu…” cái chốc lát ấy tự cởi nút cho câu chuyện để người ta thấy một điều giản dị là đôi lứa sống với nhau phải có tình yêu, tin vào tình yêu tự con tim mình thì sẽ vượt qua mọi nhẽ và sẽ có tất cả. Câu chuyện kết thúc nhẹ nhàng và cũng làm vợi nỗi buồn để ta thêm yêu cuộc sống. Quả bài học “Thuốc Duyên” đơn giản mà rất thánh.

Tóc dài. Mạch buồn nặng chĩu hơn ấy là nỗi buồn đan chen giữa quan niệm và lãng quên. Quan niệm là người làng của Thi coi những người có mái tóc dài là sát phu, không sát phu thì đa đoan nên sinh chuyện cấm đoán nên để xẩy ra câu chuyện bất hạnh giữa mối tình Hương và Hoàng…  Còn lãng quên chính là Thi, người luôn nâng niu mái tóc dài từ mẹ. Thi nâng niu mái tóc mình và cùng muốn được người thân chia sẻ nhưng anh chàng mải công việc dường như chả quan tâm gì đến những suy nghĩ của người thân, từ đó Thi buồn, nõi buồn chỉ ủ trong lòng và hiện trong những giấc mơ, những giấc mơ về quá khứ và những kỷ niệm về Hoàng ở quê lại cháy lên như kêu gọi, như thúc giục… Chủ tâm của câu chuyện muốn nhắc nhở về một vẻ đẹp truyền thống cần được giữ gìn nhưng khi dựng nên cốt chuyện tác giả lại không để nó tự sự bằng những chi tiết có từ mỗi nhân vật mà lại kể, kể đan cài bằng nhiều câu văn tả, phản ánh liền cùng phân tích… nên gây mất hấp dẫn cho người đọc mặc dù tác giả cũng cố gắng tạo những câu văn hình ảnh hay nhưng đọc vẫn thấy trượt ra ngoài làm  mất vẻ hồn nhiên của nhân vật. Không dám chê, đây chỉ là ý nghĩ chủ quan của người đọc vì dù sao Thuóc Duyên vẫn là một truyện ngắn làm cho người đọc nao lòng. Hầu như nỗi buồn luôn vương trong mỗi truyện ngắn của tác giả. Con kiến bị giết, Thôi thì mây trôi, Một đoạn ký ức, Nhớ hoa gạo, Một khúc sông sâu... đều cùng một hợp xướng buồn, buồn rồi chua xót cho mỗi thân phận… đọc mà cứ bâng khuâng nhưng rất may những nỗi buồn ấy, chua xót ấy, trái ngang ấy đều đến kết cục và được thanh lọc rõ ràng làm cho người đọc tự giải thoát được những nỗi niềm từ mỗi câu chuyện lan sang. Có lẽ đây là thế mạnh của tác giả. Tôi rất thích truyện Một khúc sông sâu. Cốt truyện không có gì mới. Vẫn là những chuyện ta thường gặp trên đơi. Ấy là chuyện người chồng ra trận, người vợ ở nhà không giữ chọn thủy chung. Một khúc sông sâu cũng phản ánh hiện thực này nhưng nó được đặt vào hoàn cảnh một gia đình – gia đình ấy chỉ có hai vợ chồng già và hai người con giai, một người lại tàng tật bị mù một bên mắt (mà trong truyện chú tự nhận mình là (Con Cò Mồi) lại là một gia đình thành phần lớp trên (Thời ấy là không tốt). Chiến tranh xẩy ra người anh đi bộ đội, ông đi từ tấm lòng yêu tổ quốc nhưng vẫn chịu tiếng là đi để làm đẹp cái hồ sơ của gia đình.Trước khi đi cũng do hoàn cảnh nhà, ông cưới vợ, cưới một người ông yêu thật sự. Đám cưới gọn nhẹ, chóng vánh để ông lên đường ra trận với niềm tin phía sau có hậu phương yên ổn, có người vợ cùng với đứa em thu quén gia đình và chăm lo bố mẹ già. Tâm nguyện cũng là niềm tin của ông. Vậy mà khi ông đi thì người vợ lại xin bố mẹ chồng về ở với mẹ đẻ để có điều kiện học hành, ông cũng đồn ý việc đó. Khi người chị dâu về nhà mẹ đẻ thì mọi việc đều đổ lên đầu chú em tàng tật. Chú em vì vất vả, vì thương bố mẹ sinh càn dàn và bực tưc rồi coi thường người anh nhu nhược, ông sinh tính để ý, nhờ cái tật mù lòa ông đã chứng kiến đầy đủ những dâm tục của người chị dâu với ông giáo làng từ cái sân đình những đêm trăng và khi chị ta ra hà Nội học, sự thật ấy được cả o Lý người một lòng yêu ông chứng kiến. Đôi dâm tình ấy ăn ở với nhau cho mai đến khi tay nhân tình đi lấy người khác và lúc ấy người anh cũng trở về. họ vẫn êm ấm với nhau, sự êm ấm ấy làm chú Tư Mù càng căm tức, o Lý càng tủi hờn thay nhưng không ai dám nói ra. Ông cũng im lặng sống, sống cho đến ngày các con ông trưởng thành thì mọi chuyện mới vỡ lở, mọi người mới hiểu ông, ông biết cả. Và như vậy mọi sự cung đồng lúc được tự phán sử, tự thanh lọc. Đọc đến đoạn các con ông hỏi sự thật về mẹ (người con tên Nam chỉ mong mẹ lắc đầu không phải thế nhưng người mẹ lại thừa nhận) rồi đến đận Nam tự hỏi không biết cả bốn anh em Nam có phải là con ông không! mà anh không dám hỏi vì sợ ba đau. Nhưng chính người con ấy cũng không thể hiểu được: “ba đau đủ rồi… Dạo này ba cười nhiều, tán chuyện với đồng đội cả ngày, bạn thơ phú rộn ràng trền faeeboock…”

Đọc, đọc mà tóc gáy cứ rợn lên tê dọc xuôi sống lưng nhưng rồi mọi lẽ cũng vỡ tỏ rõ ràng để hiện lên những dòng chữ đẹp tặng cho người cha thật vĩ đai ấy là: “Ông đã mang cả máu thịt mình chiến đấu cho độc lập của dân tộc, cho hạnh phúc của con ngươi dẫu có phải hy sinh ông cũng sẵn sàng, hà cớ chi cái việc cỏn con ấy ông không bỏ qua, cái lớn ông muốn là sự an bình hạnh phúc của con cháu, của con người. Cả đời ông cùng bao nhiêu đồng đội đã hy sinh vì điều đó, giờ con cháu và mọi người đang có điều đó nên ông bằng lòng và cái khúc sông sâu kia chả hề gì cả -Một mình ông đau là đủ…”

Câu chuyện tự để ta nghĩ thế và người đọc cũng rất nể vì tác giả là người cầm bút ở thế hệ 8x mà lại sâu sắc về thế hệ cha anh đến vậy.Các nhân vật trong truyện đều rõ ràng, Tác giả đã tìm được những chi tiết độc ví như việc chú Tư nhìn thấy người chị dâu lén lút vứt cái khăn thêu hình hai con bồ câu mà anh Hai tặng chị ra góc đống rơm… chỉ thế thôi là thấy rõ mồn một tính gian phụ của chị ta rồi. Điều này muốn nói. Một tuyện ngắn hay rất cần những chi tiết độc. Chi tiết độc nó góp phần làm cho tính cách nhân vật đậm nét, đọc là người ta nhớ…. Hơi tiếc số lượng truyện như thế này không có nhiều trong tập. Nói vậy không phải chê những truyện khác. Bên Bờ Sông Gió hát nhìn tổng thể vẫn là tập truyện khá, dễ đọc, mạch văn, mạch kể hoạt, mạch buồn cứ chảy dài qua mỗi thân phận con người suốt quá trình họ lặn lội vượt lên để tự hoàn thiện mình. Đó chính là mặt tích cực của mỗi truyện ngắn trong tập. Rất tiếc ở một số truyện tác giả hay bỏ quên việc tự sự. Lẽ ra phải để cho nhân vật tự nói, tự hình thành tính cách, tự cử động như con người ở ngoài đời thì tác giả lại sợ người đọc không tỏ hay vì quá thông minh nên vội vàng nói hộ hoặc mưu tả, tìm những câu văn hay đặt vào hoàn cảnh, đặt vào nhân vật nên làm cho câu chuyện bị nhạt đi, tính cách của nhân vật cũng nhòa dần theo.Tình trạng này thi thoảng được lặp lại trong các truyện, đọc rồi cứ ngỡ một mâm cơm chỉ có thịt mà thiếu rau hoắc giống như ngôi nhà tất cả từ hướng nhà, hướng bàn thờ, hướng bếp… đều nhìn cùng một hướng… đẹp như mà tự nó không hợp với phong thủy. Hạn hẹp này đã nói trong truyện. Sen. Ấy là theo chủ quan của người đọc tập truyện này, người khác thì lại bảo: “Tác giả đang xác lập một lối viết Nữ- rất Nguyễn Hồng.” Điều này cũng chẳng sai mà cũng không hề đúng. văn chương đi lối nào, đường nào thì cũng không thoát được cổ hoặc kim, cố lắm thì có cái gọi là Hậu hiện đại nhưng hậu hiện đại thì cũng chả đến bờ đến vở nào. Còn cổ truyền thống thì vẫn thênh thênh đấy, kim thì Tự Lực Văn Đoàn đã vạch ra đấy rồi. Tìm tòi là việc của nỗi người viết nhưng dù theo cổ, theo kim, theo hậu hiện đại… cũng chả quan trọng gì. Điều đáng cần là tác giả phải tìm được giọng điệu của mình trong giàn văn chương chung, bất chấp nó là cổ hay kim… Khi đã tìm được giọng điệu thì dù đi đường cổ, lối kim thì nó vẫn lồ lộ là mình, không lẫn vào ai được, tự nó sẽ có chỗ đứng trong giàn văn chương chung ấy. Cũng như cùng một ca khúc Xa khơi. Khi nghe Tân Dân hát rất hay nhưng đến Thu Hiền hát lại thấy rất lạ và Anh Thơ hát lại thấy rất mới… ai ai cũng thích nghe dù cùng một ca khúc ấy. Điều này chứng tỏ nghệ sĩ có giọng điệu riêng mà giọng điệu ấy đã đạt thành phong cách. Phong cách là đánh dấu tài năng của nghệ sĩ ở từng cấp độ.

Văn chương cũng vậy, quan trọng là giọng điệu của mình. Nói ý này tôi lại nhớ câu thơ: “Hát về rừng đừng bắt chước tiếng chim”. Đọc Bên bờ sông gió hát tôi thấy thực sự tác giả đang hình thành một giọng điệu, giọng điệu chan chứa yêu thương, yêu thương đến đau đớn mà lắng đọng, ngọt ngào luôn khao khát sống, khao khát yêu… Mong rằng những tập truyện sau giọng điệu ấy càng đằm thắm hơn, ngọt ngào hơn.

30/9/2021

Trịnh Thanh Phong

Theo https://vanhocsaigon.com/

Đối diện những "Gương mặt"

Đối diện những "Gương mặt"

Giữa các nhà phê bình đang theo sát đời sống văn chương hiện nay, Hoài Nam thuộc số ít người viết phê bình có văn. Không cao giọng lớn tiếng, không đanh sắc, nhưng giọng văn ôn tồn điềm tĩnh, có lý có tình. Cứ thế mà gây được thiện cảm và cuốn được người đọc đi cùng những trang viết của anh…

Thực trạng của những thể loại văn chương

Ở tập phê bình văn học của Nguyễn Hoài Nam, Từ trang sách đến gương mặt văn chương*, người đọc chứng thực sự thành thật của một cây bút không bằng lòng với quan niệm viết phê bình là phải “khách quan”, điều mà theo anh, không phù hợp với “một công việc mang đậm tính chất cá nhân, cá tính”. Anh cho rằng người làm nghề phê bình “hãy trung thực, thậm chí trung thực với chính sự thiên vị của mình và đừng viết ra những gì mình không/chưa tin tưởng. Như thế, cần thiết hơn là khách quan, “công tâm” một cách giả tạo…”

Khi bàn đến văn xuôi viết về đô thị, Hoài Nam nhận thấy hầu hết các nhà văn trong cuộc di cư vào đô thị và đang tự mình đô thị hóa, họ “còn đang phải vất vả vật lộn với đô thị – vật lộn để được bằng nó và để trở thành một phần hữu cơ của nó – thì thật khó để mà có những trang viết “đích đáng” về nó” (trang 11). Anh quan sát nền thơ đương đại và thẳng thắn chỉ ra rằng “đại đa số thơ Việt Nam hiện đại, thực chất, vẫn là thơ Việt Nam “tiền hiện đại” mà thôi. Chỉ có thể “hiện đại” khi mô hình từ nghĩa đến chữ bị đảo ngược thành từ chữ đến nghĩa. Tức “chữ” là yếu tố đầu tiên, chữ tự quy chiếu vào bản thân, chữ thỏa mãn cho chính mình. Nhà thơ hiện đại phải là người chơi với chữ, để mặc chữ quan hệ với chữ mà phát sinh nghĩa” (trang 85).

Trong khi có người vẫn ám ảnh với những “nhà thơ một bài” theo kiểu thà ít mà tốt, Hoài Nam cũng thành thật chỉ ra: “Hiện tượng những “nhà thơ một bài”, trái với cách nghĩ đầy những sương khói huyền thoại của nhiều người, chính là biểu hiện cho thấy sức sáng tạo của những người làm thơ ấy mỏng và ngắn đến thế nào” (trang 55). Hoài Nam đã chọn ra năm tập thơ như cột mốc trong lịch sử thơ Việt Nam hiện đại, nhưng anh chưa đẩy vấn đề đi xa hơn: khi được chọn để “làm nên lịch sử”, thì chính những tập thơ ấy đã đóng vai trò những viên đá lát đường, để người khác bước lên xây dựng thành tựu và tiến xa về phía trước.

Bàn đến thể loại tản văn, Hoài Nam cho rằng “tản văn không khó viết” (trang 101), nói cách khác nó “dễ viết nhưng khó hay” (trang 104). Bài viết của anh khá bao dung khi lật qua lật lại một thể loại đang tràn lan. Trong một cái nhìn nghiêm ngặt hơn, người ta có thể nghĩ ngợi thêm: đấy là một thể loại có nhiều khả năng sa vào dễ dãi. Người viết dễ viết, người duyệt dễ duyệt, người đọc dễ đọc. Dù có gọi thể loại ấy là tản văn, tạp văn, tạp bút, tản bút, tùy bút, ngẫu bút… thì không khó gì không nhận thấy cái sự “tạp, ngẫu, tản, tùy” trong ấy.

Hoài Nam cũng bàn luận về điều cốt yếu của thể loại tự truyện: “Đạo đức của nó là nói ra sự thật, chỉ sự thật mà thôi” (trang 111). Anh nhận ra tự trong bản thân thể loại này đã ngầm ẩn hai khả năng là “tự thỏa mãn” và “tự thú nhận” (trang 108). Tôi muốn nói thêm: tự truyện còn là nơi để người ta sử dụng hai chữ thanh – thanh minh và thanh toán. Đấy là khi người kể/viết tự buông lỏng, và tự truyện sa vào thảm họa.

Thẳng thắn đối diện những “gương mặt”

Nói về các gương mặt văn chương thuộc nhiều thế hệ, Hoài Nam cũng có những phát hiện tinh tế và thấu hiểu. Độc giả có thể kiểm chứng điều này bằng cách tự đọc, nhưng cũng xin dẫn ra đây một số phát hiện và nhận định của Hoài Nam về các tác giả cùng thời:

Đây là Trần Hùng: “Thơ với anh, không phải là một danh từ, tức nó không chỉ/trỏ một loại vật thể mà người ta có thể có được bằng lao tâm sáng chế hoặc gia công tạo tác. Thơ, chính là một động từ chỉ/trỏ một trạng thái sống, một hoạt động sống thường trực và tự nhiên của Trần Hùng, tự nhiên như hơi thở, như nghĩ, như cảm giác” (trang 80).

Về nhà văn đồng thời là họa sĩ Đỗ Phấn: “Hay dở chưa vội bàn, nhưng [tiểu thuyết của Đỗ Phấn] thống nhất từ cuốn đầu tới cuốn cuối, và nó, có thể nói, “biệt ra một phái”. Cả về cái viết, cả về cái được viết, cả về kiểu nhân vật với kiểu tâm thế của một giới xã hội đặc thù” (trang 15).

Về một tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Tiến Thụy: “Để cho con chim joong và khẩu đại liên trở thành nhân vật người kể chuyện là một sáng tạo khá độc đáo của anh” (trang 33).

Về một giọng hoạt kê đặc biệt của văn chương Việt Nam: “Tiếng cười hài hước của Vũ Bão là tiếng cười rất đặc biệt, thậm chí không giống ai. Nó là tiếng cười “xả láng”. Nó là tiếng cười phanh phui, quất roi vào cái giả cái xấu cái đáng ghét trong đời sống. Nó là tiếng cười có ý nghĩa điều chỉnh xã hội v.v… Có cả, nhưng còn hơn thế: ở một số trường hợp, tiếng cười hài hước của Vũ Bão đã chạm tới những vấn đề triết luận, và mang tầm của triết luận” (trang 179).

Đứng trước một hiện tượng gây nhiều bàn luận là Nguyễn Huy Thiệp, Hoài Nam khẳng định: “Dù sao chăng nữa, nhìn lại, văn nghiệp của Nguyễn Huy Thiệp vẫn là một văn nghiệp thành công, thậm chí đại thành công” (trang 220). Nhưng nhà phê bình vẫn bình tĩnh nhìn nhận để thấy rằng: “Nguyễn Huy Thiệp chỉ thực sự viết và thực sự viết được những tác phẩm có giá trị đóng đinh vào văn học sử Việt Nam trong khoảng mười năm đầu của nghiệp viết. Nghĩa là bắt đầu vào quãng 1987, 1988, khép lại vào quãng 1997, 1998, và tất cả đều là truyện ngắn” (trang 218).

Giữa các nhà phê bình đang theo sát đời sống văn chương hiện nay, Hoài Nam thuộc số ít người viết phê bình có văn. Không cao giọng lớn tiếng, không đanh sắc, nhưng giọng văn ôn tồn điềm tĩnh, có lý có tình. Cứ thế mà gây được thiện cảm và cuốn được người đọc đi cùng những trang viết của anh.

Chú thích:

* Từ trang sách đến gương mặt văn chương, tập phê bình văn học của của Nguyễn Hoài Nam, Tao Đàn và nxb Hội Nhà Văn 2021.

30/9/2021

Hồ Anh Thái

Theo https://vanhocsaigon.com/

Vua Lear, quỷ Satan và nghệ thuật chủ trì hội họp

Vua Lear, quỷ Satan và
nghệ thuật chủ trì hội họp

Các tác phẩm văn chương từ cổ xưa nhất như trường ca Iliad đến kịch Shakespeare hóa ra lại là “tài liệu tham khảo” về khả năng điều hành các cuộc họp cho các nhà lãnh đạo thời hiện đại – những người luôn khiến cấp dưới kêu trời và vật vã trong những buổi họp diễn ra thường xuyên, luôn kéo dài mà chẳng bao giờ hiệu quả.

Phát hiện độc đáo này do James Surowiecki, tác giả quyển Trí tuệ đám đông (đã xuất bản ở VN), đưa ra trong một bài viết cho tạp chí 1843 với tiêu đề gây sốc “Vì sao quỷ Satan nên chủ trì cuộc họp của quý vị”.

Theo Surowiecki, ít người trong chúng ta có thể nói lời tốt đẹp về các cuộc họp. Đa phần chúng không hiệu quả; người có điều hữu ích để nói thì không nói, và không quyết được chuyện gì quan trọng. Trong nhiều nền văn hóa công sở, từ “họp” hàm nghĩa một chuyện tẻ nhạt, lãng phí thời gian. Mặc dù có hẳn một dòng sách về kỹ năng quản lý họp, song theo Surowiecki, tài liệu đáng tham khảo nhất lại là các nhân vật văn học tự cổ chí kim.

Chẳng hạn, trong trường ca Iliad (khoảng thế kỷ 8 TCN, Homer), không lâu sau phần mở đầu là cảnh những người Hy Lạp tập hợp lại để thảo luận giải pháp cho sự bế tắc của họ: bị trừng phạt bằng dịch bệnh khi vừa bước sang năm thứ 10 của cuộc chiến thành Troy.

Một thường dân tên Thersites lên tiếng rằng tàu của họ đang mục nát trong khi đã thu nhiều chiến lợi phẩm, vậy chẳng phải đây là lúc về nhà sao? Odysseus, một chỉ huy cấp cao, lập tức đánh Thersites vì tội ngu ngốc và dám tranh luận với các bậc quyền quý. Một lập luận hợp lý lại bị bác bỏ bằng bạo lực. Cuộc họp quần tụ nhiều thành phần, nhưng những thường dân có mặt chỉ để hợp thức hóa các quyết định đã được bề trên đưa ra. Chuyện này rõ là không chỉ có ở thời Homer.

Bài học rút ra từ Iliad, theo Surowiecki, là các nhà quản lý hãy lắng nghe ý kiến từ cấp thấp nhất; điều này không chỉ tốt cho tinh thần của nhân viên mà còn là cách để tránh bỏ qua thông tin hữu ích và có giá trị (vì bỏ qua nhận định chính xác của Thersites về tình trạng các con tàu, Odysseus đã bị đắm tàu trên đường về nhà).

Vở kịch Vua Lear (thế kỷ 17, Shakespeare) cũng mở đầu bằng cuộc họp: nhà vua muốn chia vương quốc cho 3 con gái, cô nào yêu ông nhất thì được phần to nhất. Hai cô con đầu thay nhau tâng bốc cha, chỉ riêng cô út Cordelia, người thực sự yêu vua cha, không nói lời phỉnh nịnh. Kết quả là nhà vua nổi giận và từ luôn Cordelia. Kent, cận thần trung thành nhất của vua, đứng ra can giáng; vua bảo im nhưng Kent vẫn nói thẳng và xin vua nghĩ lại. Kết quả là bị cho đi đày.

Nhiều nhà quản lý ngày nay vẫn hành xử như vua Lear: tự tin vào đánh giá của mình và không thích khi người khác nói trái ý; họ khiến nhân viên sợ hãi không dám nói khác đi. Và những người lãnh đạo như thế thường đưa ra các quyết định tệ hại. Theo Surowiecki, các nhà quản lý ngày nay giỏi giả vờ lắng nghe cấp dưới hơn vua Lear, nhưng nỗi sợ làm phật ý sếp đã khiến đa số các cuộc họp diễn ra một chiều.

Cuối cùng, trong phần đầu của thiên sử thi về lịch sử loài người Thiên đường đã mất (1667, John Milton), “hội đồng ma quỷ” gồm Satan và những thiên thần sa ngã của hắn nhóm họp ở Địa ngục để bàn cách chống lại Chúa trời. Bốn ý kiến khác nhau được đưa ra: gây chiến; không làm gì và mong Chúa trời tha thứ; từ bỏ ý tưởng trở lại thiên đàng, thay vào đó là gầy dựng đế chế ở địa ngục; và gửi ác quỷ đến Trái đất tiêu diệt con người. Satan tổ chức biểu quyết để chọn lấy quyết định tập thể, chứ không phải cá nhân người đứng đầu. Đây là khác biệt giữa Satan và Agamemnon trong Iliad, cũng là khác nhau giữa 2 phong cách chủ trì hội họp.

Cuối cùng, “hội đồng ma quỷ” chọn phương án gây ra sự sụp đổ của con người, hóa ra lại là lựa chọn đúng ý Satan nhất. Nhiều học giả cho rằng Satan đã thao túng việc biểu quyết, song theo ý Surowiecki, có lẽ họ không muốn thừa nhận rằng “bằng cách để mọi người biểu quyết chọn kết quả đúng ý mình, Satan đơn giản là rất giỏi chuyện họp hành”.

Lời khuyên cho các nhà quản lý thời hiện đại: có thể để những người tham gia cùng đưa ra ý kiến vào cuối phiên họp. Việc này giúp mọi người thấy tiếng nói của họ có ý nghĩa quan trọng, đồng thời “việc tham khảo ý kiến của một nhóm rộng hơn giúp các nhà lãnh đạo tiếp cận với một đánh giá mang tính tập thể và, như nhiều tài liệu về trí tuệ của đám đông cho thấy, đó có thể là một đánh giá tốt” – Surowiecki kết luận.

30/9/2021

Trúc Anh

Nguồn: TTCT

Theo https://vanhocsaigon.com/

Không khí trí thức ở nhà Nguyễn Thành Long một thuở

Không khí trí thức ở nhà
Nguyễn Thành Long một thuở

Không khí bạn bè ở chỗ Nguyễn Thành Long là một không khí trí thức. Các anh vừa sống, vừa viết, vừa quan tâm tới một đời sống văn hóa khác, mà các anh yêu mến và sống hết lòng.

V. Theo như chính Nguyễn Thành Long từng kể, thì trước 1945 tức hồi còn học tú tài ở Hà Nội, anh đã có bài viết, in trên Thanh nghị là một tờ báo tập hợp được nhiều trí thức có uy tín thời ấy. Con đường đi của người trí thức trong lòng xã hội thuộc địa, từng là vấn đề day dứt lòng anh, và trở thành chủ đề của một vài cuốn sách – chắc chắn là còn non nớt và còn chưa kịp xuất bản – của anh bấy giờ.

Vấn đề trí thức cũng sẽ ám ảnh Nguyễn Thành Long trong suốt cuộc kháng chiến: Một mặt lăn lộn với công nông không bỏ qua một chuyến đi thực tế nào đó Chi hội văn nghệ Khu Năm bấy giờ tổ chức; mặt khác, luôn luôn anh sục sạo săn tìm sách vở để xem người khác đã làm văn nghệ như thế nào, và bản thân mình nên làm theo cách nào.

Trong hoàn cảnh của Khu Năm xa xôi, các anh vẫn tìm đọc từ Người mẹ, Suối thép, Người Xô viết chúng tôi cho tới cả Sự hồi sinh của nền văn hoá Pháp của Garaudy. Đúng theo cách làm của kháng chiến, sau khi đọc xong một số tác phẩm anh đã tóm tắt lại để người khác cùng đọc. Bởi vậy, trong danh mục sách của Nguyễn Thành Long đã in ở Khu Năm, mới có cuốn Kể lại một số tiểu thuyết Xô viết.

Và về sau, khi làm báo Văn học, Nguyễn Thành Long còn viết nhiều bài về văn học nước ngoài, ký tên Phan Minh Thảo, cũng như nhặt ra kinh nghiệm viết văn của nhiều người in rải rác, rồi sau tập hợp thành cuốn sách nhỏ, mang tên Sổ tay viết văn ký tên Lưu Quỳnh.

Có lẽ những chi tiết này càng cắt nghĩa rõ thêm về sự hấp dẫn của Nguyễn Thành Long đối với một số anh em viết trẻ những năm đầu chống Mỹ mà trên kia tôi vừa nhắc tới. Trong căn phòng chật hẹp của Nguyễn Thành Long lúc ấy, thỉnh thoảng đến chơi, tôi thường gặp Chính Yên, Huy Phương, Trần Đĩnh, về sau là Ngô Quân Miện và một vài người khác.

Ngoài những mảnh vụn thời sự trong nước quốc tế, cùng những “chuyện làng chuyện xóm” lặt vặt vơ vẩn xảy ra hàng ngày trong giới cầm bút, tôi thấy đặc biệt ở nhóm bạn của Nguyễn Thành Long có một loại chuyện khác.

Những cuốn sách tiếng Pháp (thường là loại sách bỏ túi) mà Hội Nhà văn được biếu, các số Lettre Francaise, Europe, Lettres Sovietique, Revue Roumanie… về đều đều được các anh truyền tay, kèm theo những nhận xét như của người trong cuộc:

– Thế mới biết đảng Pháp họ quý một nhà văn ngoài đảng như thế nào. Elsa Triolet chết mà L’humanité viền đen cả mấy số liền.

– Bản dịch Con người năm tháng cuộc đời của Ehrenburg vừa được nhà Gallimard cho in. Khối chuyện được xới ra, bây giờ mọi người mới thấy có lý. Về già mà Ehrenburg còn bợm thật. Người ta bảo đọc xong cuốn hồi ký này, tự nhiên không ai muốn giở lại tiểu thuyết của ông ta nữa.

– Cái tay Kataev cũng lạ. Hồi ký gì mà như đánh đố, vừa thật vừa giả. Nhưng mà một cuộc đời như thế thì phong phú thật. Hình như Elsa Triolet có nói ở đâu đó rằng vì Kataev mà Maiakovski tự tử đấy.

– Chỉ là giọt nước cuối cùng thôi.

– Nói xuôi nói ngược gì cũng cần sự thật. Chính tôi thích hơn cả, lại là cách viết trần trụi của Malaparte. La Peau mới thật là khinh bạc cay đắng mà lại quý phái chứ.

… Giờ đây, hơn hai chục năm đã qua đi, tôi cũng nhớ không thật rõ tất cả những chuyện lặt vặt nói trên, tôi nghe từ miệng ai nói ra và nội dung có đúng là thế không. Nhưng cái này, thì xin bảo đảm chắc chắn: Không khí bạn bè ở chỗ Nguyễn Thành Long, là một không khí trí thức. Các anh vừa sống, vừa viết, vừa quan tâm tới một đời sống văn hoá khác, mà các anh yêu mến và sống hết lòng.

Lúc đang say chuyện thỉnh thoảng các anh chêm vào một vài câu tiếng Pháp. Tôi không hiểu được những câu nói ấy, nhưng nhìn nét mặt của các anh, biết rằng phải làm thế, người nói mới diễn tả được hết ý nghĩ của mình, và nỗi sung sướng đang đến trong lòng mình.

Từ câu chuyện nghe lỏm được qua miệng những Chính Yên, Trần Đĩnh, Huy Phương, Nguyễn Thành Long, tôi bỗng cảm thấy cái đời sống văn học mình đang có phần can dự, như được kéo dài ra, nối mãi vào cả cái khu vực bao la huyền diệu, là toàn bộ đời sống văn học thế giới hiện đại.

Đôi lúc, có cảm tưởng rằng những quyển sách mà tôi chỉ ngắm nhìn, những tác giả mà tôi chỉ nghe tên cũng như đang sống đâu đây, họ cùng gợi nên những vui buồn yêu ghét trong lòng tôi, như những Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Khải, Tô Hoài… mà tôi hằng gặp.

Cũng phải nói thêm rằng, bên cạnh Nguyễn Thành Long viết truyện ngắn, Nguyễn Thành Long làm báo và làm xuất bản, trong tôi còn một Nguyễn Thành Long dịch giả, đúng hơn là một Nguyễn Thành Long tiếp cận những tìm tòi mới trong văn xuôi hiện đại. Ý tôi muốn nói tới cuốn Roméo Juliet và bóng tối của nhà văn Tiệp Khắc Jan Otchenasek do anh dịch ra tiếng Việt.

Đấy là một thể nghiệm nhằm sử dụng những tìm tòi của các bậc thầy văn xuôi hiện đại như M. Proust, James Joyce vào việc biểu hiện những nội dung hiện thực và cách mạng. Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là điều băn khoăn thường xuyên của Nguyễn Thành Long.

Nhiều anh em trong nghề biết rằng một vài thủ pháp kỹ thuật mới của văn xuôi đã được áp dụng dè dặt trong các truyện ngắn […]. Trong đời sống văn học ở Hà Nội từ 1975 về trước, những tìm tòi loại đó âm thầm bé nhỏ, không đáng kể gì hết. Song, với típ người cầm bút như Nguyễn Thành Long thì nó là cả một nhu cầu nội tại, kể cả nhiều khi biết rằng đeo đẳng chỉ thêm phiền, người ta vẫn không từ bỏ nổi!

VI. “Tai họa như trẻ con trên mặt đất

Người ta rồi ai cũng có thôi

Anh nói điều ấy thật thản nhiên

Mắt đăm đắm nhìn chiều xuống”.

Mấy câu thơ ấy là do Bằng Việt dịch của Eluard. Không hiểu sao chúng cứ trở đi trở lại trong đầu óc tôi, mỗi khi nghĩ đến những người căn bản là lành, căn bản là tốt, mà thỉnh thoảng lại cứ gặp phải những tai nạn nghề nghiệp nho nhỏ, như Nguyễn Thành Long. Hình như nghề này quá khó và những người vụng về thì quá nhiều, cho nên đành tự an ủi là “rồi ai cũng có thôi”, vật vã thắc mắc phân tích rạch ròi làm chi cho mệt!

Khoảng 1956, 1957, sau khi cho in những bút ký có được tiếng vang nào đó hồi ấy, như Hướng Điền, như Gió bấc gió nồm, tự nhiên Nguyễn Thành Long lại mắc vào vụ Một trò chơi nguy hiểm.

Những năm đầu chống Mỹ, bên cạnh Tờ hoa, Tình rừng của Nguyễn Tuân, Cái gốc của anh cũng trở thành một đối tượng để phê phán. Khi những vụ việc này xảy ra, tôi còn quá nhỏ (vụ trước) hoặc quá non nớt trong nghề (vụ sau), nên không thật rõ mọi chuyện ra sao.

Tuy nhiên những năm có dịp gần Nguyễn Thành Long về sau tôi cứ có cảm tưởng những chuyện tưởng như đã qua ấy vẫn còn vướng vất trong anh. Anh trở nên thận trọng giữ gìn hơn trong suy nghĩ, khép nép hơn trong quan hệ với mọi người. Lại có lúc anh sinh ra hay ngờ vực và dễ hùa theo chung quanh trong cách đánh giá, dù là một cách hùa theo kín đáo. Thậm chí tôi cảm thấy ở Nguyễn Thành Long còn nảy sinh nỗi nghi ngờ chính mình.

Đã có một con người khác xuất hiện để theo dõi và kiểm tra con người hàng ngày của anh, khiến anh trở nên có chút gì như là nghiệt ngã nữa. Có điều, dù phức tạp đến đâu, thì tất cả những chuyện ấy chỉ là chuyện nổi lên trên bề mặt.

Ở phần sâu sắc của tâm hồn, có thể nhận ra một Nguyễn Thành Long giản dị hơn. Anh hơi ngơ ngác, không hiểu sao mọi việc lại diễn ra như thế! Nhất là anh cảm thấy đơn độc vô hạn. Mang tâm thế “kinh cung chi điểu”, có những vụ việc do người khác gây ra tội vạ đổ lên đầu ai ai kia, song chính anh cứ vận vào mình, cứ ngấm ngầm đau đớn xót xa hộ.

Và cứ mang máng cảm thấy rồi lại “cháy thành vạ lây” không biết chừng! Mặc cảm chăng? Nhạy cảm quá chăng? Nói thế nào cũng được, chỉ biết là những lúc ấy, không nên hỏi Nguyễn Thành Long mà nên để anh một mình với mình.

Từ nhà riêng bên phố Dã Tượng, sang cơ quan của Hội bên đường Nguyễn Du, Nguyễn Thành Long thường đi bộ qua một quãng vắng đường Trần Bình Trọng, phía cạnh cung Văn hoá Việt – Xô. Mùa hè một áo sơ mi cộc tay, mùa đông một cái áo bông tầu cũ kỹ – sau là một cái áo vỏ ngoài bằng ni lông màu tím than – Nguyễn Thành Long gần như một mình trên đường, đầu cúi xuống, bước thật chậm như chìm đắm vào những suy tưởng riêng tư.

Thường nhìn thấy anh trên đoạn đường ấy, đang đi xe đạp, tôi vội phóng qua thật nhanh, không phải chỉ vì không muốn phá đi dòng suy tưởng của anh, mà là một tình cảm lẫn lộn, vừa sợ hãi vừa kính phục chợt đến với tôi – sợ vì thấy cái nghề của mình nặng nề quá, và kính phục vì trong nghề đã có những ngòi bút như Nguyễn Thành Long những người đang căng đôi vai ra để chịu đựng, và vẫn hăm hở đi tiếp.

Hoá ra, trước mắt tôi, vẫn là một nhà văn do tâm huyết mà thành đau khổ. Lại nhớ một câu của Ehrenburg khi nói về mình (đại ý): “Bề ngoài, tôi trông u ám, nhưng bên trong, thật ra là một người nông nổi, nhẹ dạ”. Trong số những người rất khớp với mẫu hình kiểu ấy, ắt hẳn có Nguyễn Thành Long!

VII. Thông thường, tôi không thuộc diện được Nguyễn Thành Long tặng sách khi có sách mới in. Nhưng đến cuối 1985, cùng lúc anh cho tôi hai cuốn Giữa trong xanh và Sớm mai nào xế chiều nào. Cuốn thứ hai tôi không để ý lắm vì là sách mới viết. Nhưng cuốn thứ nhất thì khác: Đây là một tập hợp những thành quả tự Nguyễn Thành Long coi là đắc ý nhất trong đời viết của mình, một thứ tuyển tập “bốn mươi năm”, như anh lưu ý trong lời đề tặng tôi.

Qua trao đổi chuyện trò, tuy tác giả không nói ra trực tiếp, nhưng dễ dàng đọc được cái ý anh muốn tôi viết về nó. Tôi chấp nhận sự thách thức này, mặc dù biết đó là một việc khó.

Ít lâu sau, tôi mang tới Nguyễn Thành Long một bài viết, ở đó bên cạnh những lời ca ngợi tài năng nghị lực của anh trong việc thực hiện những yêu cầu cách mạng đặt ra đối với văn học, không quên lưu ý nhiều khi ngòi bút Nguyễn Thành Long gò gẫm thiếu tự nhiên.

Thậm chí ở một đoạn tôi còn viết: “Mặc dù mở rộng lòng đón lấy mọi diễn biến của đời sống, song rút cuộc tác giả vẫn không tránh khỏi trở đi trở lại với những ý tưởng đã thành khuôn khổ, và sự chăm chú đều đều tới công việc lại dẫn tới một tình trạng đơn điệu”.

Tháng 8/1986, khi bài báo được in ra trên một số báo Văn nghệ, đọc lại cả bài, tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi không biết với một cuốn sách mang tính cách tuyển tập, mình viết vậy, có làm anh Long buồn không. Nhưng tôi vẫn nhớ là lúc cầm bản viết tay của tôi, tác giả Giữa trong xanh có một thái độ khá bình thản.

Anh chỉ bảo sau cái ý “trở đi trở lại với những ý tưởng đã thành khuôn khổ”, nên thêm vào một ý nhỏ, “dù là khuôn khổ của anh”. Chỉ có thế! Chúng tôi chia tay nhau lặng lẽ, mỗi người không khỏi có chút tiếc xót rằng đáng lẽ có thể làm cho người kia vui hơn, mà không làm được.

Vốn đã âm thầm buồn bã, cuộc đời riêng của Nguyễn Thành Long từ sau 1986, nghĩa là từ sau khi anh về hưu, lại càng quạnh hiu, trống trải. Về sau cháu Hồng, con gái thứ hai của anh có kể lại, mấy năm ấy anh buồn lắm vì Sớm mai nào xế chiều nào là quyển anh viết kỹ và rất hy vọng là có dư luận, song, vẫn rơi vào im lặng, nên anh không muốn viết truyện nữa. Nghe nói Nguyễn Thành Long loay hoay làm ít trang hồi ký hoặc xoay vào việc gì nữa, nhưng đều dang dở.

Một cuộc đời vất vả như thế, hậm hụi như thế, nhận thức lại được, viết lại được cho thanh thoát đâu có phải dễ! Nhà văn Italy Moravia từng đặt cho một tập truyện ngắn của mình cái tựa Một cuộc đời khác, ý muốn nói là thường mỗi chúng ta đều luôn luôn bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ lẽ ra, chúng ta phải sống khác mà sao không thể sống nổi.

Tôi nhớ là khi nghe tôi nói điều ấy, Nguyễn Thành Long có một thoáng như hơi sững ra! Đang cầm chén nước, cánh tay gày guộc với lớp da rất nhiều vết mồi của anh chợt run run thêm, cặp mắt sáng lên phút chốc, nhưng rồi lại cụp xuống tăm tối.

Một niềm thất vọng nào đó đang dâng lên trong anh? Hay một sự nuối tiếc? Hay một nỗi xót xa, xót cho mình là không làm được hết những điều muốn làm, nói chung là bây giờ đã muộn rồi, không thể có một cuộc đời khác? Tôi không rõ cảm giác nào là chính. Nhưng tôi nghĩ rằng trong những ngày cuối đời Nguyễn Thành Long đã sống với tất cả những cảm giác đó.

Bởi vậy, ít lâu sau trên báo Lao động tôi mạnh dạn nói rõ thêm:

“Trong cuộc đời này thiếu chi người mong thành nhà văn mà không thành. May mắn hơn họ – hay là rủi ro hơn họ, nói thế cho công bằng – có một số người suốt đời ăn chịu với nghề, sống là nhà văn và chết với tư cách nhà văn. Nhưng có bao giờ một ngòi bút chân chính thực sự yên lòng với mình?

Ngoài những trang đã viết ra, cái di chúc lớn khác mà một nhà văn chân chính để lại thường là nỗi khắc khoải vì biết rằng còn bao công việc đáng lẽ phải làm, nhất là đáng lẽ mình phải viết khác kia mà tự khác đi làm sao nổi. Nguyễn Thành Long là một nhà văn chân chính với nghĩa ấy”.

Ấy là những dòng tôi viết, để vĩnh biệt anh.

Không biết có chủ quan không, nhưng tôi nghĩ lần này, tôi đã nói hộ được một phần ý nghĩ của chính Nguyễn Thành Long.

1/10/2021

Vương Trí Nhàn

Nguồn: Trích từ sách Cây bút đời người

Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà thơ Trần Trương - Người nhặt tháng ngày rơi

Nhà thơ Trần Trương
Người nhặt tháng ngày rơi

Nhà thơ Trần Trương sinh năm 1941 quê quán ở Tiên Lữ, Hưng Yên vừa từ trần ngày 29.9.2021 tại nhà riêng ở Hà Nội hưởng thọ 81 tuổi. Tưởng nhớ nhà thơ Trần Trương, xin trân trọng giới thiệu lại bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về thơ ông…

Em thế nào thì cứ thế mà đến

Chớ loay hoay sửa soạn áo quần.

Đây là hai câu thơ của nhà thơ người Ấn Độ Tagore ca ngợi vẻ đẹp tự nhiên trong tình yêu. Hẳn phải gần gũi với nhau lắm, gắn bó với nhau lắm, hiểu nhau lắm, tôn trọng nhau lắm… người con trai mới thoát ra khỏi những cái thuộc về bên ngoài, những cái thuộc về hình thức mà thốt ra những lời chân thành như vậy.

Đó cũng là hai câu thơ giản dị khó làm, tuy có thể buột ra một cách ngẫu nhiên,  nhưng lại bao hàm, chất chứa.

Không là gì hết cả

Đời là sự thoáng qua

Một đời đâu đủ sức

Hiểu hết một bông hoa

Đây là bốn câu thơ của nhà thơ người Áo Lubomirski, cho thấy: Để nắm bắt hết một cái gì, dù là đơn giản như một bông hoa thôi, cũng không dễ dàng gì, có khi ta phải bỏ cả “một đời” mà vẫn “đâu đủ sức”.

Không hiểu tại sao khi đọc “Nhặt lại tháng ngày rơi” của Trần Trương, tôi lại nhớ đến 6 câu thơ trên. Hai câu đầu, liên quan đến thơ Trần Trương. Bốn câu thơ sau, liên quan đến con người Trần Trương.

Không gian thơ của Trần Trương có lúc thật đẹp, có lúc thật trong trẻo, có lúc đầy đam mê say đắm, có lúc đầy phập phồng lo toan mang màu sắc tâm trạng. Và nếu để gọi sự vật với đúng tên gọi của nó, thì đấy là những nỗi niềm của những khoảnh khắc bừng rộ của tâm trạng. Ta có thể minh chứng bằng Bản Mông với “Sắc đỏ cháy lan ra chân trời/ Hoa đào nhấp nháy tựa sao rơi/ Những có gái Mông cười như rắc hạt”; Cà phê em với “Chưa bao giờ, chưa bao giờ như vậy/ Cà phê thơm câu chuyện chúng mình”; Một mùa thu khác với “Trong quán cà phê bên hồ Gươm/ Tôi nhâm nhi buổi sáng/ Nhìn qua ô cửa Tháp Rùa/ Thấy từng mảng mùa thu rơi xuống”; Chợt về Tuyên” với “Núi buồn từ thuở em đi/ Chông chênh thành Mạc xanh rì bóng câu”… Trong số này, câu “Núi buồn từ thuở em đi” là một câu thơ hay, cho thấy chiều kích của một tình yêu. Người yêu đi rồi mà đến núi cũng bị hụt hẫng, bị phiền muộn, bị ảnh hưởng đến thế, thì thử hỏi còn có gì lớn hơn em của anh?

Trong “Nhặt lại tháng ngày rơi”, Trần Trương có khá nhiều bài thơ viết ở xứ người. Đó là Phác thảo Angko, Làng nổi Biển Hồ, Paris, Ở Tô-ki-ô… Qua những bài thơ đó, Trần Trương tỏ ra là người ưa lật xoay, khám phá… Câu “Người Nhật đi ngay trong lúc họ ngồi” được coi là phát hiện đáng giá, cho thấy ở xã hội hiện đại ở thế giới nói chung và ở Nhật Bản nói riêng, con người rất ít được nghỉ ngơi đúng nghĩa. Trước mắt người Nhật, hình như cuộc sống và thời gian, bao giờ và khi nào cũng là thách thức và eo hẹp. Với họ, không chỉ “đi” là “đi” mà “ngồi” cũng là “đi”.

Và Trần Trương từng yêu, yêu hết mình ngỡ đến đánh mất mình như thế này đây:

Hồn thơ từ bấy đến giờ

Cũng thất lạc thật bất ngờ giống tôi.

Nhưng tôi thực sự bất ngờ khi đọc những câu thơ triết lý sâu sắc được sinh thành bởi những trải nghiệm ở tuổi “xưa nay hiếm” của Trần Trương. Đó là những câu thơ giản dị mà sâu sắc, chỉ cần đọc lên thôi, không nói thêm một câu nào nữa, độc giả đã thấy thấm thía: “Búa nghị án gõ lên bàn nghị án/ Mà vẫn nguyên bóng tối dưới chân đèn” (Điều còn lại), “Cái nắng hôm qua không hong khô được cái áo hôm nay” (Lý giải), “Người nhạt rồi muối không chữa được đâu” (So sánh”… Trong số này, “Cái nắng hôm nay không hong khô được cái áo hôm qua” là một câu thơ ấn tượng. Một hiện tượng ai cũng biết, tựa như chân lý vậy, mà không phải ai cũng nói ra được. Và khi có người nói ra thì mọi người chỉ còn biết ồ lên tán thưởng. Nghĩa bề mặt của câu thơ là thế, nhưng còn nghĩa bề sâu của câu thơ thì sao? Không thể sửa chữa quá khứ (cái nắng hôm qua) bằng hiện tại (cái áo hôm nay) được theo trình tự thời gian một đi không trở lại. Giống như trong Truyện Kiều), Nguyễn Du từng viết: Sen tàn cúc lại nở hoa…

Chưa hết. Sẽ hình dung ra đầy đủ hơn con người Trần Trương, nếu như ta đọc kỹ “Tự họa”:

Bởi quá đam mê những điều phù phiếm

Nên tôi thường pha loãng tôi ra

Khi chợt tỉnh, quanh mình toàn bụi bám

Trước gương soi, cái bóng cũng nhạt nhòa.

Đây nữa, một “Giao mùa” mang hơi hướm thơ cổ mà vẫn tân thời, ấn tượng, đáng nhớ đến từng chi tiết:

Sen nở hết mình tuổi mãn khai

Nắng vội vơi dần, nắng chợt phai

Em cầm sen trắng như mây ấy

Thu chở heo may hết ngõ gầy.

Bên cạnh đó, Trần Trương còn một xứ Đoài của riêng ông. Một xứ Đoài ở đây và ngay bây giờ. Qua “Hỏi xứ Đoài”, tôi dám chắc ít có người nào yêu xứ Đoài đến mức thất thần như ông:

Tôi mất xứ Đoài mất cả mây

Mất người con gái mắt Sơn Tây

Cả làng chân đất lên Hà Nội

Mà tương mẹ ngả vẫn còn đây.

Ngay trong Hỏi xứ Đoài, ông cũng nhìn ra bi kịch của hiện đại bằng một lời than chứa chất tâm sự khác người:

Dồn sức ta đi lên hiện đại

Những mà hiện đại có gì vui!

Và sau khi gấp “Nhặt lại tháng ngày rơi lại”, tôi như phát hiện ra một Trần Trương khác, thậm chí rất khác, cả trong thơ và trong đời.

1/10/2021

Đặng Huy Giang

Theo https://vanhocsaigon.com/

Vì sao gọi "Thiên Bút phê vân"

Vì sao gọi "Thiên Bút phê vân"?

Vừa qua, báo chí có thông tin về việc đưa cây đa cổ thụ bị bật gốc ở phường Trương Quang Trọng (TP Quảng Ngãi) về trồng lại trên triền núi Thiên Bút – ngọn núi thiêng ở Quảng Ngãi. Nhân chuyện này, nói thêm đôi điều về núi Thiên Bút và vì sao gọi là “Thiên Bút phê vân”?

Từ nhiều thế kỷ, núi Thiên Bút vốn được xem là một ngọn núi thiêng, một ngọn núi tiêu biểu, nên ngay trong mục “Núi sông” phần viết về tỉnh Quảng Ngãi, sách Đại Nam nhất thống chí (quyển 8), được viết dưới thời Tự Đức, các tác giả của Quốc sử quán Triều Nguyễn có ghi ngay đầu mục này: “Núi Thiên Bút ở cách huyện Chương Nghĩa chừng 4 dặm về phía bắc. Hình núi 4 mặt thấp, mà ở giữa cao vọt lên, trông như cây bút dựng, nên tên gọi thế. Xưa Tân Minh hầu Nguyễn Cư Trinh làm Tuần vũ Quảng Ngãi đề vịnh Mười cảnh ở Quảng Ngãi có một đề là “Thiên Bút phê vân” [núi Bút phê mây]”.

Sau cuốn Đại Nam nhất thống chí, bộ sách Đồng Khánh địa dư chí trong phần tỉnh Quảng Ngãi có ghi 6 ngọn núi tiêu biểu trong tỉnh, trong đó có núi Thiên Bút. Núi này được ghi đầu tiên: “Núi Thiên Bút ở phía nam tỉnh vài dặm, thuộc địa phận xã Chánh Mông. Hình núi giống ngọn bút nên gọi vậy. Vùng này phong tục văn nhã nhất huyện. Dưới núi về phía tây nam có đàn Sơn Xuyên. ‘Ngọn bút trời phê điểm đến tầng mây’, là môt trong 10 cảnh đẹp của tỉnh Quảng Ngãi”.

Sau này, các cuốn sách như Quảng Ngãi nhất thống chí của Lê Ngải (bản viết tay, không rõ năm viết, có lẽ là dịch phần tỉnh Quảng Ngãi trong Đại Nam nhất thống chí, có bổ sung), Quảng Ngãi tỉnh chí của Nguyễn Bá Trác (và các tác giả, 1933), Địa dư Quảng Ngãi của Nguyễn Đóa – Nguyễn Đạt Nhơn (1939), Non nước xứ Quảng của Phạm Trung Việt (in năm 1962, tái bản nhiều lần), Địa chí Quảng Ngãi (nhiều tác giả, 2008)… đều có ghi chép tương tự về núi Thiên Bút.

Nhìn lại những tài liệu ở trên, hầu như các tác giả chỉ nhìn Thiên Bút dưới góc nhìn như một thắng cảnh tiêu biểu ở tỉnh Quảng Ngãi, và có tài liệu còn nâng lên thành biểu tượng: núi Thiên Bút tượng trưng cho “văn phong sĩ khí” (của người Quảng Ngãi). Rồi cũng từ góc nhìn này, có người lại lấy hình ảnh núi Thiên Bút dùng để đối lập với núi Thiên Ấn, vốn xem là biểu tượng của vương quyền. Ở một khía cạnh khác, không chỉ nhiều người ca ngợi vẻ đẹp của núi Thiên Bút, mà còn coi trọng núi Thiên Bút. Xem lại tập Hương ước làng Chánh Lộ (ban hành năm 1938, hiện còn lưu trữ tại Pháp, trên trang Gallica), những người soạn bản hương ước này đặc biệt coi trọng đến núi Thiên Bút. Hương ước dành hẳn mục thứ 3 nói về núi Thiên Bút và mộ địa người châu Âu, trong đó nói về việc đặt 2 thủ khoán để canh giữ núi, việc quản lý chôn cất mồ mả, cấm hái củi, đốn cây, cấm người trong làng và người ngoài làng đêm hôm vào trong núi…

Về bài thơ vịnh Núi Bút

Năm Canh Ngọ (1750), Đại Am Nguyễn Cư Trinh được cử làm Tuần vũ phủ Quảng Ngãi. Tại đây ông đã có nhiều chính sách vỗ yên vùng đất này, đặc biệt là với người Thượng vùng Đá Vách (Thạch Bích). Theo các tác giả Đại Nam nhất thống chí và một số nhà nghiên cứu, trong những ngày trấn nhậm, ngoài viết truyện thơ Sãi Vãi bằng chữ Nôm để động viên quân sĩ, đồng thời, Nguyễn Cư Trinh còn viết 10 bài thơ vịnh cảnh đẹp Quảng Ngãi theo thể thất ngôn bát cú, cũng bằng chữ Nôm. Riêng trong Đại Nam nhất thống chí, khi ghi chép về 10 thắng cảnh Quảng Ngãi, các tác giả đều xác nhận Nguyễn Cư Trinh là người từng đề vịnh các cảnh đẹp đó.

Nhưng không chỉ các tác giả Đại Nam nhất thống chí, trong Phương Đình địa dư chí, được viết vào nửa đầu thế kỷ 19, và được khắc in vào năm Canh Tý,  Thành Thái thứ 2 (1900), Nguyễn Văn Siêu và Bùi Quỹ cũng nói rằng: “Ngày xưa, Tân Minh hầu Nguyễn Cư Trinh làm Tuần vũ ở đây đề vịnh 10 cảnh, như là “Cổ Lũy cô thôn”…. Trong mục “Thắng cảnh”, sách Non nước xứ Quảng (in năm 1971), ông Phạm Trung Việt còn nói rõ hơn, chính Nguyễn Cư Trinh đã đề vịnh 10 cảnh đẹp Quảng Ngãi, gồm: Thiên Ấn niêm hà, Thiên Bút phê vân, Long Đầu hý thủy, La Hà thạch trận, Cổ Lũy cô thôn, Thạch Bích tà dương, Hà Nhai vãn độ, An Hải sa bàn, Liên Trì dục nguyệt, Thạch cơ điếu tẩu, và nói thêm rằng người đời sau đã bổ sung vào 2 bài nữa, là Vu Sơn lộc trường và Vân Phong túc vũ (nên thành “Cẩm thành thập nhị cảnh”).

Nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền, khi viết sách Văn học miền Nam vào năm 1961 (xuất bản năm 1965), lại nói rằng, theo tài liệu do ông Bùi Văn Lăng (chưa rõ tiểu sử – NV) cung cấp, Nguyễn Cư Trinh đã viết 12 bài thơ vịnh cảnh đẹp Quảng Ngãi, liệt kê cả hai bài Vu Sơn lộc trường và Vân Phong túc vũ vào nữa. Kế tiếp Phạm Việt Tuyền, sách Thơ văn Nguyễn Cư Trinh của Phan Hứa Thụy (xuất bản 1989), cũng đã viết: Nguyễn Cư Trinh đã đề vịnh 12 bài thơ về cảnh đẹp Quảng Ngãi, gọi là “Quảng Ngãi thập nhị cảnh”.

Theo các sách của Phạm Việt Tuyền và Phan Hứa Thụy, bài Thiên Bút phê vân, được cho là của Nguyễn Cư Trinh, như sau:

Trước thành đồng trống lổng lồng lông

Núi Bút phê vân khéo lạ lùng

Cây điểm ra hoa, hoa điểm nhụy

Mây thành có sắc, sắc thành không

Giang sơn đúc lại còn danh giá

Cốt cách xinh vầy tự hóa công

Thêu dệt văn chương trên đế tọa

Hơn mười hai cảnh giữa non sông.

Vì sao lại gọi “Thiên Bút phê vân”?

Nhà nghiên cứu văn học Phạm Việt Tuyền, viết: “Bài này vịnh núi Thiên Bút ở làng Chánh Lộ, phủ Tư Nghĩa. Hòn núi này nổi lên giữa cách đồng bằng như hình một cây bút phê lên giữa trời mây vậy”. Nhà biên khảo Phạm Trung Việt còn giải thích thêm là: “(núi Bút) buổi sáng, sương mù bốc lên chập chờn lưng chừng đồi, tỏa lần lên đỉnh núi chan hòa với mây cao. Ngọn núi nhọn bị sương che lấp, xa xa như ngọn bút viết trên mây. Đây là lúc Thiên Bút phê vân. Không phải là lúc nào cũng thấy hiện tượng này. Mà mỗi lần có bút phê vân thì dân địa phương tin có việc lớn sẽ xảy ra trong tỉnh”. Nhà nghiên cứu Phan Hứa Thụy chú giải: “Bút trời phê chữ lên mây. Ngọn Thiên Bút thuộc địa phận làng Chánh Lộ dựng đứng giữa đồng ruộng, trông giống như cây bút khổng lồ viết chữ lên mây”. Sau này, còn nhiều tài liệu cũng đã giải thích tương tự, trong đó có cả ý kiến của chúng tôi, in trong sách Địa chí Quảng Ngãi (xuất bản năm 2008).

Tóm lại, khi đọc bài thơ Thiên Bút phê vân và những kiến giải trước đây, kể cả sách của các sử gia thời nhà Nguyễn, có thể tạm hiểu: Nói “Thiên Bút phê vân”, là nói về hình ảnh ngọn núi Thiên Bút có hình chóp nhọn, tựa như ngọn bút (lông) nhô cao giữa cánh đồng; khi có mây trời vây quanh đỉnh núi, thì đấy là lúc bút trời đang vẽ, viết (phê) lên trời mây vậy.

Mà thực tế có đúng như thế không, khi ngọn núi Thiên Bút chỉ thấp lè tè, cao hơn 60m?

Cuộc khai quật khảo cổ trên đỉnh núi Thiên Bút vào tháng 2.2017 đã phát lộ một nền tháp chính hơn 400m2 (khá bằng phẳng, chứ không nhọn như một số người mô tả) với khoảng hơn 100 hiện vật thuộc nền văn hóa Chăm pa, đặc biệt là bộ sinh thực khí (linga – yoni) có kích cỡ vào loại những bộ sinh thực khí được tìm thấy lớn nhất nước. Theo nhận xét của các nhà khảo cổ, như TS.Vũ Quốc Hiền – người chủ trì khai quật, PGS.TS Ngô Văn Doanh – chuyên gia nghiên cứu văn hóa Chăm, trong buổi báo cáo kết quả khai quật mà báo chí đã phản ánh, thì tại núi Thiên Bút từng tồn tại một tháp cổ Chăm pa, có nhiều điểm tương đồng với tháp chính của tháp Bà (TP.Nha Trang), tháp chính của tháp Bánh Ít (Bình Định) và tháp chính nhóm G ở thánh địa Mỹ Sơn (Mỹ Sơn G1 – Quảng Nam) và niên đại của tháp núi Thiên Bút có thể xác định là được xây dựng ở khoảng cuối thế kỷ 11; có độ cao nhô lên đỉnh núi khoảng 25m.

Trong những năm qua, các nhà nghiên cứu văn hóa trong tỉnh, lẫn chúng tôi, sau khi khảo sát thực địa, cũng như tham khảo công trình khảo tả di tích Chánh Lộ ở Nghĩa Điền, Tư Nghĩa của học giả người Pháp H.Parmentier, khi ông này có nhắc tới dấu vết phế tích Chăm trên núi Thiên Bút, đều có đề cập đến phế tích đền tháp Chăm này. Nhưng để đặt ra vấn đề: Thời Nguyễn Cư Trinh làm Tuần vũ Quảng Ngãi năm Canh Ngọ (1750) thì trên đỉnh núi Thiên Bút, tháp Chăm có thể còn hiện diện vẫn chưa được đặt ra, bởi những bài viết, những công trình khảo cứu này đều đã viết trước khi tháp Chăm trên núi Thiên Bút được khai quật.

Và cũng từ cách đặt vấn đề: Trên núi Bút lúc bấy giờ vẫn còn hiện hữu tháp Chăm, nên ở đây, chúng tôi suy luận rằng: Có thể khi viết bài vịnh núi Bút cách đây hơn 200 năm, tác giả đã nhìn thấy tháp Chăm vươn trên đỉnh núi như ngọn bút (của trời) vờn mây giữa đồng trống, còn lắm cỏ hoa, mà vịnh thơ rằng: “Thiên Bút (đang) phê vân” chăng?

Đọc lại 2 câu kết của bài thơ: “Thêu dệt văn chương trên đế tọa/ Hơn mười hai cảnh giữa non sông”, lại thấy có lẽ điều vừa suy luận trên có khi là đúng. Đâu phải chỉ có tháp cổ như ngọn bút phê giữa trời mây, mà ngọn bút đó còn tựa trên đế tọa (là núi Bút) như để thêu dệt cả văn chương, ít nhất là về 12 thắng cảnh của vùng đất Quảng Ngãi xưa kia.

Bởi vậy có người hỏi, việc di dời cây đa cổ thụ đưa lên núi Thiên Bút để trồng lại, là phù hợp không, thì theo những gì trình bày ở trên, cứ tự suy ra vậy.

3/10/2021

Nguyễn Đăng Vũ

Theo https://vanhocsaigon.com/

Thể thơ mới cho một đề tài mới

Thể thơ mới cho một đề tài mới

Sự vận động không ngừng của cuộc sống đã giúp thơ ca, nghệ thuật tìm ra những hướng đi mới. Khi đại dịch Covid-19 lan rộng, nhiều nhà thơ đã dùng một thể thơ mới, thơ 1-2-3, để góp tiếng nói của mình.

Thể thơ 1-2-3

Thơ 1-2-3 được nhà thơ Phan Hoàng (Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam) khởi xướng từ năm 2018. Chùm thơ 1-2-3 đầu tiên được anh công bố lấy cảm hứng từ một chuyến du lịch đến nước Nga xinh đẹp. Trong đó có bài:

Từ những trang thơ cái đẹp gọi tên

Đàn ngựa phi nước đại trong tuyết rơi rừng vắng

đột ngột dừng dựng bờm hí vang bến sông sâu

Trăng mờ ảo sau cơn mơ kỳ lạ

Moskva về khuya như thiếu phụ khát yêu thương

tôi rót ly vodka nhớ Yesenin và những thi sĩ tha phương.

Theo đó, về mỗi bài thơ 1-2-3 là chỉnh thể nghệ thuật gồm 6 câu thơ, chia làm 3 đoạn: Đoạn 1 chỉ có 1 câu gồm tối đa 11 chữ hoặc ít hơn, đồng thời cũng là tựa đề bài thơ. Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 chữ hoặc ít hơn. Đoạn 3 có 3 câu, với mỗi câu tối đa 13 chữ hoặc ít hơn.

Kinh nghiệm về thể thơ 1-2-3 được đúc kết như sau: Chữ càng tinh lọc càng đa nghĩa càng giá trị. Đề tài thơ 1-2-3 hoàn toàn tự do, chủ yếu chuyển từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội tâm tác giả. Đồng thời, tính độc lập của từng câu thơ trong mối tương quan toàn bài được khuyến khích, tạo thành những câu chứa ý vừa cô đọng khi đứng một mình, lại vừa kết nối chặt chẽ với không gian thẩm mỹ của tác phẩm.

Với niềm say mê cái mới, cộng với sự nhiệt tình hưởng ứng của những nhà thơ, đặc biệt là các nhà thơ trẻ, thể thơ 1-2-3 đã được lan tỏa rộng rãi. Ngày càng nhiều tác giả làm thơ 1-2-3 với sự hứng thú đặc biệt.

Tháng 6.2020, nhà thơ Võ Văn Trường (Quảng Nam) có bài viết trên Báo Đất Việt: “Tôi đã học làm thơ 1-2-3 và tham gia trang Văn học Sài Gòn. Ở đó, tôi đã bắt gặp nhiều tâm hồn đồng cảm, trân quý nhiều cảm xúc của các bạn thơ được chuyển tải qua một hình thức thơ rất mới mẻ này”.

Và một đề tài mới

Ở Đồng Nai, nhà thơ Trần Thị Bảo Thư hiện là một người tích cực thể nghiệm thể thơ này. Chùm thơ của chị có bài đề cập đến đại dịch Covid-19:

Cuộc chiến không tiếng súng

Chiếc khẩu trang thành áo giáp

Loài người chung một ngôn ngữ ánh mắt khích lệ.

Vũ khí vaccine đặc hiệu từ phòng thí nghiệm

Những chiến binh áo trắng anh hùng

Lá cờ trên cao là trái tim nhường cơm sẻ áo.

Thật tình cờ là cũng có rất nhiều người chọn thơ 1-2-3 để nói về dịch Covid-19 với rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Nhà văn Nguyễn Bình Phương (Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) đã nói: “Chiến tranh là thứ “của hồi môn” bất đắc dĩ, nhưng hết sức quý, để hiện tại và tương lai khai thác nó”. Đối với đại dịch Covid-19 hiện nay, bao nhiêu vấn đề bắt buộc phải đặt ra để giải quyết hậu quả dịch bệnh gây ra, cho nên thơ ca, nghệ thuật cũng phải nói về nó như một sự tất yếu. Và đây là một đề tài “mới”, bất đắc dĩ mà những mất mát, đau khổ, những hệ lụy của nó gây ra không chỉ đối với một nơi chốn, một dân tộc mà đối với cả nhân loại, nhà thơ không dễ khai thác được.

Thơ 1-2-3 từ khi xuất hiện đã viết về nhiều đề tài khác nhau, nhưng không hẹn mà gặp, những bài thơ về phòng, chống Covid -19 tập trung như một “mùa thơ” nở rộ trên trang Văn học Sài Gòn. Có thể nói, các tác giả theo sát thời sự, cập nhật nhanh chóng những thông tin về dịch bệnh và đưa ra những thông điệp lạc quan, đầy yêu thương và trách nhiệm.

Mỗi bài thơ là một câu chuyện xúc động được kể ngắn gọn trong 6 câu thơ cho thấy tác giả thấu hiểu đời sống xung quanh như thế nào, mà mong muốn được sẻ chia với mọi người tất cả những gì tốt đẹp nhất. Nhà thơ Nguyễn Đinh Văn Hiếu (Trà Vinh) có những bài thơ: Tìm mùa giữa cơn dịch bệnh, Con hẻm tôi ở vừa có ca F0 tử vong, Mọi ngả đường đều dẫn đến Sài Gòn, Em học trực tuyến bằng gì?…

Đơn cử một bài thơ của Hiếu:

Mỗi đơn vị xã phường là một pháo đài chống dịch

Không để corona xuyên thủng

Không để cô vi đánh chiếm

Bản thân đấu tranh bản thân để ai ở yên đó

Bắt nắng trên đầu tinh mới ngập hoan ca

Đón em về đầu ngõ lúc chia xa.

Trong bài Khác thường tấm giấy khai sinh thời Covid, nhà báo – nhà thơ Đăng Ngọc (Hà Nội) viết về Những bà mẹ vượt cạn trong khu điều trị Covid-19: “Bỗng choàng tỉnh nước mắt lăn dài trước “thiên thần nhỏ bé”/ được nâng trên mười ngón tay – mố cầu của “thiên thần áo trắng”/ Xin hãy ghi vào giấy khai sinh của con hai chữ: tái sinh”.

Nguyễn Trọng Lĩnh (Nghệ An): Chiếc khẩu trang che khuất ánh hồn nhiên/ Virus corona là gì hả mẹ?/ Con lạc bạn, lạc cô ở trường ở lớp…

Trần Nhã My (Tây Ninh) lại có phát hiện thú vị: Quê tôi lạ lắm những ngày bất thường/ hiên nhà trồi lên trứng gà trứng vịt/ Cây mận góc đường nở những bị gạo, túi khoai…

Đỗ Thu Hằng (Hà Nội) gọi đó là Sự hy sinh giữa thời bình, Sau tất cả con người sẽ lắng nghe…

Nhà thơ Nguyễn Đức Bá viết về những nhà sư Hà Nội tình nguyện vào Nam chống dịch: Tạm gác câu kinh tiếng mõ/ Thay tràng hạt bởi kim tiêm, ống nghe y tế/ Cởi áo cà sa thay bộ blouse trắng…

Và không ít những bài thơ thể hiện nỗi đau, niềm thương cảm hôm nay. Với Nguyễn Đức Bá: Mỗi ngày qua trái tim tôi nghẹt thở, Những ký tự vỡ mật thời 4.0, Câu thơ bị sốt; thơ Trần Thị Hồng Anh: Tháng bảy về sao lắm âu lo; thơ Thanh Yến: Cánh cửa Corona virus đóng sầm bao mơ ước…

Cũng từ đó, nhà thơ đưa ra thông điệp tích cực, kêu gọi sự bình tĩnh, vững vàng và chia sẻ cách “sống chậm” để đi qua đại dịch: Đinh Minh Thành (Quảng Bình) thể hiện thái độ của mình: Tĩnh lặng nghe thông báo từ chiếc loa công cộng/ Những bản tin về dịch bệnh/ Đừng hoang mang, hãy suy xét kỹ càng.

Lê Thanh Hùng (Bình Thuận) trong bài Không thể có một ai, không một ai sống khác…: Có hàng vạn tấm lòng, công của, ít nhiều, rộng hẹp cưu mang/ Vẫn tin tưởng cuộc đời này không hề tẻ nhạt/ Dìu dắt nhau qua cơn hoạn nạn khốn cùng.

Và những lời yêu thương, những cảm xúc lãng mạn dành cho ngày mai vẫn còn nguyên trên môi và trong trái tim thi sĩ như Đỗ Mạnh Hùng: Cứu trợ mưa… Gỡ bỏ tháng ngày ngăn cách hai phương, Tan dịch ta về mây nước đính hôn…

Nhà thơ Phan Hoàng cho biết cả nước đã có gần 500 người làm thơ 1-2-3, và nhiều người dùng thể thơ này để sáng tác chung tay phòng, chống dịch Covid-19 cũng là một “hiện tượng” bản thân anh khó lý giải được. Tuy nhiên, đây có lẽ là một thể thơ mới phù hợp với tư duy của nhiều nhà thơ (nhà thơ Trần Thị Bảo Thư chia sẻ chị viết thơ 1-2-3 khá thuận lợi vì chị thích lối thơ cô đọng, nên viết ra rất nhanh khi câu chữ nằm sẵn trong đầu!). Cấu tạo bài thơ cho phép tựa đề cũng là câu thứ nhất của bài thơ đã tránh được sự trùng lặp, nên khi viết về một đề tài nhưng có hàng trăm ý tưởng và hàng trăm cách diễn đạt khác nhau, không gây nhàm chán cho cả người viết lẫn người đọc.

Thơ ca cũng là một nghệ thuật “nghiền ngẫm hiện thực”, không nhanh như báo chí nhưng lại mang đến những nhận thức và rung cảm đặc biệt về cuộc sống, về con người. Tác phẩm về đề tài phòng, chống dịch Covid-19 đã góp phần tích cực vào đời sống tinh thần của cộng đồng với niềm tin tưởng toàn dân Việt Nam sẽ chiến thắng, và thể thơ 1-2-3 trở thành một mũi nhọn xung kích, đồng thời hứa hẹn nhiều điều mới lạ, hấp dẫn đối với thơ ca.

7/10/2021

Mai Sơn

Nguồn: Báo Đồng Nai 24.9.2021

Theo https://vanhocsaigon.com/

"Bên bờ sông gió hát" giọng điệu chan chứa yêu thương của Nguyễn Hồng

"Bên bờ sông gió hát" giọng điệu chan chứa yêu thương của Nguyễn Hồng Tình cờ tôi gặp tập truyện ngắn Bên bờ sông gió hát của Ng...