Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

 

Về nghe gió hát tình ca

Trong sự nghiệp "trồng người" tại Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk, thầy giáo Nguyễn Văn Vinh (bút danh Vĩnh Nguyên) đã ấp ủ và cho ra mắt một đứa con tinh thần đặc biệt: tập thơ nhạc “Về nghe gió hát tình ca”. Tác phẩm là một bức tranh toàn cảnh về tâm hồn tác giả, được vẽ nên bằng hai màu sắc chủ đạo: Thơ và Nhạc. Tác phẩm là sự kết tinh của những rung cảm chân thành nhất từ trái tim người thầy giáo, nghệ sĩ: Vĩnh Nguyên hiện là giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk - mang đến cho người đọc, người nghe một không gian nghệ thuật hòa quyện giữa thơ và nhạc. Ở đó, mỗi câu thơ là một giai điệu, và mỗi nốt nhạc lại cất lên như tiếng thì thầm của hồn thơ.

 

Trong nhịp sống hôm nay, khi con người nhiều khi bị cuốn vào giữa những xô bồ, ồn ào thì “Về nghe gió hát tình ca” của Vĩnh Nguyên như một khoảng lặng dịu dàng – để ta được trở về với chính mình, với tiếng lòng, với quê hương và những ký ức thân thương.

 

Có một miền đất cứ gọi là về, trong tim ta đã thành thi ca. Có một điệu gió cứ thổn thức, trong hồn ta đã hóa âm nhạc. Tập thơ nhạc “Về nghe gió hát tình ca” của tác giả Vĩnh Nguyên chính là hành trình trở về ấy, nơi ký ức, hiện tại và những rung cảm tinh khôi nhất được kết tinh bằng lời thơ và nốt nhạc.
 

Mở ra trước mắt bạn đọc là hai thế giới song hành. Phần thơ như một khu vườn đa sắc, nơi ta bắt gặp "Ban Mê nắng vàng giăng khắp lối/ Thơm hương cà phê sau cơn mưa chiều nay" đầy quyến rũ. Ở đó, có hình bóng thân thương của "dáng gầy của mẹ - Liêu xiêu quanh quẩn sau vườn", có nỗi nhớ mong manh trong "vạt nắng sót rơi chiều cuối thu". Thơ Vĩnh Nguyên giản dị mà day dứt, chạm đến những miền ký ức thiêng liêng và triết lý an nhiên giữa bộn bề: "Hãy tìm vui cho mình/ Đùa chơi cùng nốt nhạc/ Vài con chữ linh tinh".
 

Tập sách gồm hai phần:
 

Phần 1- Thơ:
 

Là những bài thơ được viết bằng nhiều thể loại - từ lục bát truyền thống, bốn chữ, năm chữ, thơ tự do… nhưng dù ở thể thơ nào, vẫn thấm đượm tình yêu tha thiết với cuộc đời, con người và mảnh đất Ban Mê đầy nắng gió.
 

Những câu thơ mộc mạc mà đằm sâu cảm xúc từ lục bát, ngũ ngôn,… đến thơ tự do, Vĩnh Nguyên dẫn người đọc qua những cung bậc cảm xúc khác nhau. Đó là nỗi nhớ da diết về "dáng gầy của mẹ", "dáng cha lưng còng dấu hỏi"; là tình yêu say đắm với Ban Mê trong "nắng vàng" và "hương cà phê"; và cũng là những chiêm nghiệm sâu sắc về sự an nhiên, tìm niềm vui giữa bộn bề cuộc sống.

“Trở về Ban Mê nắng vàng giăng khắp lối
Thơm hương cà phê sau cơn mưa chiều nay”

(Yêu em từ Ban Mê)


Hay khi nhà thơ viết về nỗi nhớ, về bóng hình xưa:


“Em tìm trong vạt nắng
sót rơi chiều cuối thu
Hình hài xưa nhỏ nhắn
Ngây thơ nét yêu kiều”

(Hồng phai)


Từ đó, người đọc nhận ra rằng thơ của Vĩnh Nguyên là những lát cắt chân thật của đời sống, là cảm xúc được chiết ra từ yêu thương, hoài niệm và cả những lặng lẽ suy tư về phận người.


Và trong từng vần thơ, vẫn luôn le lói một niềm tin, một lời nhắn gửi đầy nhân văn:


“Trong bộn bề cuộc sống
Hãy tìm vui cho mình
Đùa chơi cùng nốt nhạc
Vài con chữ linh tinh”

(An nhiên)

Phần 2- Nhạc:

Gồm có 34 nhạc phẩm là 34 cung bậc cảm xúc khác nhau về tình yêu, quê hương. Từ những giai điệu say đắm trong "Bài Tango tình yêu" đến nỗi niềm hoài niệm trong "Thương nhớ quê nhà", và đặc biệt là tình cảm đau đáu với mảnh đất Tây Nguyên qua "Ban Mê trong tôi", "Cùng anh về với Ban Mê", "Tình yêu Ban Mê". Âm nhạc của Vĩnh Nguyên chính là tiếng lòng được phổ thành giai điệu, để mỗi bài hát không chỉ ngân lên mà còn được lắng đọng lại. 34 ca khúc là 34 câu chuyện được kể bằng giai điệu. Chúng ta nhận thấy một tình yêu lớn của thầy giáo, nhạc sĩ Vĩnh Nguyên dành cho vùng đất Tây Nguyên qua hàng loạt ca khúc: "Ban Mê trong tôi", "Cao Nguyên say", "Tình yêu Ban Mê". Bên cạnh đó là những khúc tình ca, những bản dạ khúc và cả tình cảm còn thể hiện sự chào đón, khi tỉnh nhà được mở rộng sau sát nhập thành quê hương thứ hai Đắk Lắk - Phú Yên.

34 ca khúc trong sáng tác đầy tâm huyết, tác giả thể hiện một tâm hồn của một người dành tình yêu sâu đậm cho âm nhạc, yêu quê hương, và yêu cuộc sống.

Những ca khúc như “Ban Mê trong tôi”, “Cùng anh về với Ban Mê”, “Biển chiều”, “Chiều đông”, “Thương nhớ quê nhà”, “Tình yêu Ban Mê”… vang lên như tiếng gọi tha thiết của miền cao nguyên gió lộng, là tiếng lòng của một trái tim của thầy giáo, nghệ sĩ.

Với “Về nghe gió hát tình ca”, Vĩnh Nguyên không chỉ viết thơ để hát, mà còn hát để thơ được bay xa. Tác phẩm là sự giao hòa giữa trí tuệ của người thầy, tâm hồn của người nghệ sĩ, và tình cảm của một người công tác, gắn bó với xứ Ban Mê luôn tha thiết với tình đất, tình người nơi đây. Có thể là quê hương hay là nơi đến để lập nghiệp và gắn bó suốt cuộc đời mình để lại nhiều kỷ niệm và đày ắp yêu thương.
Tác phẩm "Về nghe gió hát tình ca”, là một hành trình kép: Một hành trình đi vào thế giới nội tâm với những vần thơ tự do, phóng khoáng nhưng cũng đầy chiêm nghiệm về quê hương, gia đình và những triết lý sống an nhiên. Và một hành trình lan tỏa qua 34 ca khúc đầy cảm xúc, nơi tình yêu với Ban Mê, với biển, với quê hương được cất lên thành lời.

Từng câu thơ, từng nốt nhạc đều thấm đẫm hơi thở của đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ và tình yêu tha thiết với con người, mảnh đất nơi đây. Mong rằng bạn sẽ tìm thấy trong tập sách nhỏ này một chút đồng điệu, một giai điệu quen thuộc, và một chốn bình yên để trở về. “Về nghe gió hát tình ca” không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật, mà còn là món quà tinh thần đầy ý nghĩa, gửi gắm tình yêu cuộc sống, yêu con người và yêu quê hương sâu sắc của tác giả.

Vĩnh Nguyên đã gửi gắm tất cả tâm hồn mình vào trang sách. Hy vọng rằng, khi cầm tập thơ nhạc này trên tay, bạn sẽ tìm thấy một chút bình yên "về nghe gió hát", để thấy lòng mình nhẹ nhàng và ấm áp.

Bạn đọc hãy đến với tác phẩm “Về nghe gió hát tình ca” bằng tấm lòng rộng mở và trái tim yêu thương để lắng nghe vẻ đẹp của tiếng gió cao nguyên, của tình yêu, của ký ức…và hơn hết là tiếng lòng của một tâm hồn luôn rung cảm trước vẻ đẹp của tình yêu và cuộc sống.

Chúc mừng tác giả Vĩnh Nguyên và hy vọng tập thơ nhạc sẽ đến tay được nhiều độc giả yêu nghệ thuật.

Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm “Về nghe gió hát tình ca” cùng bạn đọc yêu thi ca và âm nhạc.

Sài Gòn, 11/11/2025
Hoàng Thị Bích Hà

Theo https://www.art2all.net/

Những mảnh màu cuộc sống qua ngôn ngữ hội họa của La Thanh Hiền

Những mảnh màu cuộc sống qua
ngôn ngữ hội họa của La Thanh Hiền

Tôi được biết họa sĩ La Thanh Hiền thông qua sự kết nối của một bậc tiền bối trong giới cầm bút. Và may mắn được anh vẽ trang trí và trình bày ấn phẩm là tập thơ Mắc Nợ Mùa Đông của tôi gồm hơn 100 bài thơ trữ tình vào tháng 9 năm 2018. Chúng tôi trao đổi làm việc qua email nhiều lần nhưng chưa hân hạnh gặp anh ở ngoài đời. Phải nói rằng bức vẽ trang trí và cách sắp xếp hình thức của anh cho tập thơ rất nghệ thuật và ý nghĩa, đã bổ trợ cho nội dung chuyển tải cảm xúc qua câu chữ của tôi.

Thời gian gần đây những bức tranh biếm họa lan truyền trên mạng. Tuy những nét vẽ đơn giản nhưng đã làm hiện lên những mảng màu của cuộc sống.

Khác với giới cầm bút dùng ngôn từ để diễn đạt một vấn đề thì anh dùng ngôn ngữ hội họa để nói lên chính kiến của mình. Qua nét vẽ của anh vấn đề được phác họa, thể hiện một cách cô động mà dễ hiểu và ở đó toát lên tinh thần trách nhiệm của công dân mà anh gửi gắm trong tác phẩm. Hôm qua tôi vào fb mới biết các bức tranh lưu hành trên các trang mạng gần đây là của họa sĩ La Thanh Hiền.

Vừa qua một số tỉnh thành của chúng ta trải qua trận dịch co vid, có nơi phong tỏa từ 31/5 đến 10/9/2021. Dich bệnh là một sự việc chấn động chưa có tiền lệ không chỉ ở Việt Nam mà thế giới cũng phải điêu đứng. Đặc biệt đợt dịch thứ 4 này với biến chúng Delta rất nguy hiểm về tốc độ lây lan. Vì vậy khi đối diện với covid còn nhiều bị động và lúng túng. Nói gì thì nói cũng phải thẳng thắn nhìn nhận là thảm họa của đại dịch không hề nhỏ, thật tang thương với số ca tử vong gần 20 nghìn người. Tuy nhiên chính phủ đã nhận ra những bất cập để điều chỉnh phù hợp hơn trong công tác chống dịch và các cấp các ngành nói chung đã có nhiều cố gắng đáng ghi nhận. Đặc biệt là đội ngũ y tế tuyến đầu đã dành lại sự sống cho bệnh nhân mắc covid, thật kiên cường vất vả. Và cũng không sao tránh khỏi những tổn thất, có thiên thần áo trắng cũng đã ... không trở về.

Như chúng ta đã biết, để phản ánh cuộc sống nếu giới cầm bút thể hiện bằng ngôn ngữ, giới nhạc sĩ bằng giai điệu ca từ thì giới cầm cọ thể hiện bằng ngôn ngữ hội họa là nét vẽ hay bằng các mảng màu ... Vậy bằng cách này hay cách khác họ đều là những thư ký của thời đại để đóng góp cách nhìn cách nghĩ về cuộc sống. Với mong muốn làm cho cuộc sống mỗi ngày sẽ tốt đẹp hơn!

Tôi chỉ là kẻ “ngoại đạo”, không am hiểu gì về mỹ thuật hay nói thẳng ra là mù hội họa. Đôi khi bắt gặp những bức tranh trừu tượng ở một triển lãm nào đó có giá không hề rẻ. Vậy mà tôi nhìn vào chẳng hiểu được gì cả.

Trái lại ngôn ngữ hội họa trong tranh của La Thanh Hiền thì rất dễ hiểu, cập nhật tính thời sự. Nếu báo chí cần trung thực chính xác với những sự kiện diễn ra hàng ngày, văn thơ với ngôn ngữ hình tượng bay bổng và phạm vi sáng tác thì không hạn chế cả quá khứ, hiện tại hay tương lai thì họa sĩ La Thanh Hiền bằng những nét vẽ rất cô động, rất súc tích nhìn vào ai cũng hiểu. Tranh của anh vừa hài vừa bi, ngậm ngùi, và cũng thức dậy lòng trắc ẩn trong mỗi con người.

Tôi xem lại những bức tranh của anh hôm qua, những mảng màu sáng tối của cuộc sống qua nét vẽ như thế nào và nó theo tôi vào tận giấc ngủ. Sáng nay vừa thức dậy tôi lại nghĩ tới mấy bức tranh đó và liền viết bài viết đầu tiên trong ngày để gởi tới anh lời cảm ơn sâu sắc với tư cách của một công dân đã từng ở tâm dịch, rất ấn tượng với những bức tranh của anh.

Kính chúc họa sĩ luôn an lành sức khỏe để tiếp tục cống hiến cho đời bằng nghệ thuật hội họa.

Sài Gòn, 6/10/2021
Hoàng Thị Bích Hà

Theo https://www.art2all.net/


Những cuộc tình chớp nhoáng

Thanh Tùng năm nay vừa tròn 18 tuổi, em vừa học xong trung học phổ thông, được ba mẹ cho qua Mỹ du học. Năm đầu còn lạ nước, lạ cái, cậu cũng chuyên tâm học hành. Vì cũng biết ba mẹ cho đi du học là một sự cố gắng của các bậc phụ huynh muốn đầu tư cho con. Ra nước ngoài ăn học là việc cũng không ít tốn kém.

Nhớ nhà, Tùng có qua lại làm quen với một nàng sinh viên cũng qua đây du học như chàng. Lúc đầu để tiết kiệm chi phí, Thanh Tùng cùng với một bạn nữa share phòng. Mới đó cũng được hơn một năm trên đất khách rồi. Khi đã quen với môi trường học tập, đi lại, tìm việc làm thêm,…nay Thanh Tùng có nhu cầu muốn ở một mình một phòng riêng.

Hôm nay đọc báo người Việt thấy có chị người Việt đăng tin cho share phòng. Thanh Tùng theo số điện thoại, hẹn gặp chị chủ xem nhà. Căn nhà có ba phòng ngủ, một phòng khách, một phòng bếp và một khu vườn cây xanh đẹp, yên tĩnh thoáng mát. Chị chủ nhà khoảng 40 tuổi nhưng nhìn trẻ, tươi mươi so với tuổi và cũng vui vẻ, lịch thiệp. Thanh Tùng đồng ý ký hợp đồng theo một căn phòng với giá 500 USD/ tháng.

Chị Thùy Vân, chủ nhà qua Mỹ định cư được 20 năm theo diện đoàn tụ gia đình. Chị cũng đã kết hôn một vài năm nhưng sống không hợp nên vừa mới chia tay li dị năm ngoái. Được chia tài sản chị mua căn nhà này sống một mình, chưa có con cái. Cho Thanh Tùng thuê một phòng, chị ở một phòng. Còn một phòng nữa chị định đăng tin cho share tiếp nhưng vì sau dịch lượng khách thuê đang chững lại. 

Thanh Tùng ở phòng bên, hàng ngày đi học. Chị chủ nhà ở nhà buôn bán hàng online. Thùy Vân bảo Thanh Tùng có muốn chị nấu cơm cho luôn thì share tiền chợ với chị. Thanh Tùng đồng ý vì thấy vậy cũng tiện, đi về có cơm ăn khỏi phải nấu nướng hoặc ra tiệm chi cho mệt. Công việc bán buôn online của chị ngày càng phát triển. Thùy Vân làm việc tất bật, nhiều khi không kham nổi, định bụng sẽ thuê thêm người. Nhưng để hỏi cậu Tùng xem thử:

-Em có muốn làm thêm không? Thay vì ra ngoài kiếm tiền thì làm cho chị. Chị trả lương cho.

Tùng đồng ý. Thế là hai chị em lại có cơ hội gần gũi kề cận nhau hơn. Chị Thùy Vân thì vẫn nghiêm túc, đáng vai người chị. Còn Tùng tính tình xởi lởi hay trêu đùa chị. Có bữa thấy Tùng đưa bạn gái về chơi. Chị bảo:

-Ừ qua đậy học có bồ, có bạn cũng vui.

Thỉnh thoảng Thanh Tùng vẫn dẫn bạn gái về phòng chơi một lúc rồi đi. 

Bẵng đi một thời gian sau, không thấy Tùng dẫn cô bé về nữa. Hôm nay hai chị em ngồi đóng gói hàng cho khách như thường lệ. Chị hỏi: 

-Sao dạo này không thấy em đưa bạn gái về?

-Tụi em chia tay rồi chị!

Tùng nói tiếp: 

-Vì quen cô nàng nhỏ, hay nhõng nhẽo, hay đòi mua thứ này, thứ khác, quá tốn tiền. Em thích quen mấy chị chững chạc hơn!

Không hiểu sao nghe Tùng nói hai chữ “chững chạc” chị lại nghĩ đến mình. Ngày Valentine tới, thấy Thanh Tùng đi học xong là về chứ không đi đưa bạn đi chơi. Còn chị là phụ nữ cũng cảm thấy tủi thân trong những ngày đặc biệt như vậy. Trên fb thiên hạ tràn ngập lời chúc tụng và bánh chocolate. Chị bảo:

- Thanh Tùng không đi chơi đâu hết thì tối hai chị em uống rượu, tâm sự cho vui!

Thế rồi tối đó, Thùy Vân chuẩn bị rượu và ít đồ nhắm, hai chị em ra phòng khách ngồi nhâm nhi uống rượu với nhau, câu chuyện tâm tình đến khuya rồi không biết say tự lúc nào, ngủ thiếp đi. Sáng mai ngủ dậy Thùy Vân thấy mình nằm kê đầu trên tay của Thanh Tùng. Cả hai hơi bối rối, ngượng ngập một chút. Từ đó về sau Thanh Tùng cũng ý tứ hơn, giữ khoảng cách, ít gần gũi chị hơn. Dầu gì thì chị Thùy Vân cũng đã 41 tuổi còn Thanh Tùng mới chỉ là em sinh viên 19 tuổi chứ bao nhiêu.

Nhưng rồi “lửa gần rơm” lâu ngày, chuyện gì đến sẽ đến. Một hôm như thường lệ, hôm nay bữa cơm tối Thùy Vân bảo:

-Tháng này, doanh thu rất tốt, tăng vọt so với tháng trước, chị cũng tăng lương cho em, cảm ơn em đã đồng hành cùng chị chăm lo cho khách. Tối nay chị mua nhiều món thịnh soạn hơn để chúc mừng công việc ngày càng phát triển của chị.

Hai người ăn uống nói chuyện vui vẻ, rượu vào lời ra, ngon miệng rồi cũng ngà ngà say hai người gật gù. Chị Vân đứng dậy lảo đảo, Thanh Tùng sợ chị té, cũng đứng dậy theo và bảo: 

-Để em dìu chị.

Hai cơ thể sát bên nhau, chị Vân ngã người áp sát vai Tùng, mùi hương thiếu phụ làm Thanh Tùng ngất ngây. Người lâng lâng như có nguồn điện trong người. Thanh Tùng định dìu chị Vân vào phòng rồi ra khép cửa đi về phòng mình. Nhưng không hiểu sao lúc này chị Vân và Tùng như “ma đưa lối quỷ đưa đường” sao mà hai người không buông nhau ra được mà cứ quấn lấy nhau như nam châm. Chiếc giường hiện ra trước mắt mời gọi. Thế là hai người đổ ụp vào nhau không kể trời đất gì nữa. Họ lao vào nhau cuồng nhiệt. Sự cuồng nhiệt của tuổi thanh xuân tràn đầy sức sống với một niềm khát khao cháy bỏng của người phụ nữ đã qua một lần dang dở. Sau đó thì “Ăn quen bén mùi” và cũng không ai cấm cản hay ràng buộc gì. Họ say nhau, ở chung nhà kiểu “già nhân ngãi, non vợ chồng”. Hàng ngày công việc, đêm đến họ ở cùng nhau, lao vào nhau ngấu nghiến như sam.

Cuộc tình bản năng của chủ nhà tuổi trên 40 với cậu sinh viên thuê trọ 19 là minh chứng cho hiện tượng “lửa gần rơm”. Không biết sau khi du học xong thì liệu mối tình có đi đến đâu hay không? Hay tình chớp nhoáng cũng sẽ nhanh chóng lụi tàn sau khi học xong và cậu sinh viên cũng đủ lông đủ cánh để bay vào đời. Còn các bậc phụ huynh của Tùng liệu có chấp nhận cô dâu gấp đôi tuổi con trai mình và bằng tuổi mình không?

Câu chuyện chỉ dừng lại ở đây còn cái kết để độc giả định đoán.

Sài Gòn, 15/4/2025
Hoàng Thị Bích Hà

Theo https://www.art2all.net/

 

Những bài học rút ra từ Tam Quốc Diễn Nghĩa ứng dụng vào cuộc sống

Ngay cả đối với bạn nào cả đời không thích đọc sách thì cũng nên đọc qua một lần bộ truyện Tam Quốc Chí hay Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung (chấp bút vào thế kỷ 14). Nếu muốn nghiêng về lịch sử thì đọc Tam Quốc Chí, muốn nghiêng về văn học thì đọc Tam Quốc Diễn Nghĩa. Nội dung đều nói về thời kỳ loạn lạc cuối nhà Đông Hán, khi ba thế lực lớn là Ngụy, Thục, Ngô tranh giành quyền lực.

Thực sự thì có đọc chính sử đi nữa cũng không thể đúng hoàn toàn. Vì lịch sử thường được chép lại bởi triều đại sau viết về thời đại trước, được viết bởi kẻ mạnh, là thế lực chiến thắng. Ngay cả cùng triều đại người ta cũng chỉ viết phần lớn những gì có lợi cho giai cấp đang trị vì mà thôi. Nếu đem văn bản Tam quốc diễn nghĩa ra so sánh với văn bản Tam quốc chí có nhiều đoạn trùng khớp hoàn toàn. La Quán Trung đã tiểu thuyết hóa, dựa những ghi chép gốc trong chính sử vào trong tác phẩm của mình, hư cấu theo tỷ lệ (7-3) bảy phần thực, ba phần hư. Phần hư cấu của La Quán Trung chủ yếu ở những phần chính sử không chép, cũng không có ở các sáng tác dân gian trước đó, và chính những phần này mới hay nhất trong tác phẩm - xét về văn học. Vì vậy đòi hỏi tính xác thực, là điều không thể và cũng không cần thiết khi sự việc đã diễn ra cách chúng ta hàng ngàn năm về thời gian rất xa.

Tam Quốc diễn nghĩa là một tiểu thuyết lịch sử. Tác phẩm được xem là một trong Tứ đại kỳ thư (tứ đại danh tác) của Trung Hoa cổ đại. Nó không chỉ tái hiện những trận chiến hào hùng mà còn khắc họa sâu sắc trí tuệ, mưu lược và số phận của các nhân vật lịch sử như Lưu Bị, Tào Tháo, Tôn Quyền, Gia Cát Lượng,... Điều đáng quan tâm ở kiệt tác này là giá trị văn học, có sức sống vượt thời gian. Hiểu được những mưu lược và kế sách trong Tam Quốc để rút ra ý nghĩa và bài học ứng dụng vào cuộc sống.

 

1. Muốn giữ nghiệp, học Tào Tháo, muốn kế nghiệp học Tôn Quyền, muốn khởi nghiệp học Lưu Bị.

Tào Tháo là người thông minh, đa mưu lại là người có lợi thế xuất thân cũng danh gia vọng tộc, lại nắm được Thiên Tử trong tay để sai khiến chư hầu. Ông biết dùng người, có tài năng là dùng. Vì vậy dưới trướng ông quy về nhiều tài năng lỗi lạc, trung thành hết mình và có thể vì ông mà sống chết. Còn Tôn Quyền đương nhiên con dòng của giống cũng tài năng không kém các thế hệ trước và may mắn sinh ra đã thừa hưởng cơ nghiệp của cha và anh để lại. Còn Lưu Bị thì tạo nghiệp từ con số không. Dù rằng có dòng dõi là con cháu Hán Vương nhưng chỉ là anh bán chiếu để kiếm sống. Nhưng vì sao vừa gặp đã khiến Quan Vũ và Trương Phi theo mình một cách trung thành? Vì ông có chí hướng và mục tiêu rõ ràng. Dù trong tay chưa có gì nhưng người ta sẵn sàng đầu tư và đi theo phục tùng để cùng nhau dựng nghiệp. Trong cách viết của La Quán Trung, ngòi bút của ông có phần thiên vị phe Lưu Bị, vậy cũng hợp lòng dân. Bá tánh cần người lãnh đạo có đạo đức, thương dân, đồng cam cộng khổ, thương yêu anh em dưới trướng và quân sĩ.

 

2. Tính cách của mỗi nhân vật quan trọng đều để lại bài học trong cuộc sống:

2-1. Bất tín thì không thể thành công. Lã Bố là một mãnh tướng, có lúc cân cả ba anh em: Lưu, Quan, Trương, nhưng ông không có chữ tín, giết hại 2 người cha nuôi, tức là phản bội các liên minh, cuối cùng không được trọng dụng và bị giết bởi tay Tào Tháo, dù Tháo cũng tiếc, muốn dùng nhưng nghĩ lại thấy tay này từng giết hai nghĩa phụ nên loại trừ cho khỏi hiểm họa về sau.

2-2 Đổng Trác là điển hình của kẻ lạm quyền và tàn ác. Cuối cùng bị chính nghĩa tử của mình là Lã Bố giết. Đổng Trác và Lã Bố cho thấy thêm một ví dụ là: “Anh hùng không qua ải mỹ nhân”.

2-3. Viên Thuật: Tài không xứng với ngôi, sớm muộn cũng sẽ thất bại. Viên Thuật sống xa hoa và tham vọng xưng đế nhưng không đủ khả năng quản lý. Viên Thiệu thiếu tầm nhìn, thiếu quyết đoán thường do dự, bỏ lỡ nhiều cơ hội, lại không nghe lời khuyên của các thủ túc tâm đắc nên nhiều lúc mất cơ hội, dẫn đến thất bại thảm hại.

2-4. Dương Tu, Hứa Du, Mã Tắc: Có tài năng nhưng cần biết khi làm việc thì cần thể hiện bao nhiêu cho phù hợp với vai vế và công việc được giao, tránh bộc lộ thông minh hơn sếp. Sếp muốn mình hoàn thành tốt công việc nhưng đừng tỏ ra giỏi hơn sếp. Đó là điều đại kỵ. Cần biết che giấu bản thân, biết nhìn thấu nhưng khi nào cần nói, khi nào cần ém đều phải có chiến lược.

2-5. Tư Mã Ý ông chưa phải là người giỏi nhất Tam Quốc nhưng ông là người biết ẩn nhẫn chờ thời, biết khi nào tiến, khi nào lùi, thậm chí giả thua. Có những lúc ông vẫn có thể chiến thắng đối phương. Nhưng ông hiểu quy luật: “điểu tận cung tàn” Thỏ chết, chó săn cũng bị giết, nghĩa là hết giá trị lợi dụng ông cũng sẽ bị loại trừ. Cuối cùng ông đã tạo cơ sở vững chắc cho con cháu ông thống nhất cả ba nước, quy về một mối.

2-6. Chu Du chết vì tức giận, do lòng đố kỵ với Gia Cát Lượng. Ông từng than: “Trời đã sinh ra Du sao còn sinh Lượng”, không chịu chấp nhận tài năng của người khác, không đành lòng mình phải thua. Đố kỵ gây hại cho bản thân và ảnh hưởng đến công việc và các mối quan hệ. Ai giỏi hơn mình, phải công nhận họ và học hỏi. Lòng đố kỵ, tức tối không đem lại lợi ích gì mà còn thiệt thân.

2-7. Quan Vũ là vị tướng vừa trung thành với Lưu Bị vừa tài giỏi trận mạc. Tuy nhiên cái tôi hơi bị lớn (tự phụ) không nghe lời khuyên của cộng sự nên đã bị Tôn Quyền giết hại.

2-8. Trương Phi nóng nảy, thiếu kiềm chế cảm xúc, thường uống rượu say, đánh đập thuộc hạ nên cuối cùng bị thuộc hạ phản bội và giết hại.

 

2. Không có kẻ thù vĩnh viễn cũng rất hiếm tình bạn vĩnh viễn, chỉ có lợi ích mới là vững bền. Hôm nay đối đầu, ngày sau có thể cầu hòa, liên minh cùng chống lại kẻ khác. Ngay cả trong cùng hàng ngũ cũng không có 100% tình đồng đội vĩnh cữu. Có thể xông pha trận mạc để cứu nhau, cũng có thể vì quyền lợi mà bán đứng nhau. Hay nói cách khác loại trừ lẫn nhau khi tranh quyền đoạt vị. Nên tin vừa đủ và đề phòng không thừa.

Ngay cả công thần khai quốc của nhà Thục Hán, như Gia Cát Lượng suốt đời cung cúc tận tụy phục vụ Lưu Bị rồi đến thế hệ sau Lưu Thiện, vậy mà vẫn bị có kẻ gièm pha, nói xấu sau lưng với bệ hạ. Cái tật nịnh bợ gièm pha, đặt điều hãm hại người tài thời nào cũng có. Nếu gặp minh chủ sáng suốt thì không sao, chứ gặp sếp năng lực hạn chế, nghe lời xu nịnh thì cũng gây ra không ít phiền toái.

 

4. Triệu Tử Long- dũng tướng kỳ tài nặng lòng trung hiếu. Có lẽ ai ra trận cũng mơ mình được như Triệu Tử Long, chưa bao giờ bại trận dưới tay đối phương. Quân địch cũng không thiếu tướng tài nhưng không làm gì được ông giữa sa trường. Ông là một vị dũng tướng bậc nhất, trung thành cho đến chết của Lưu Bị. Lưu Bị đánh giá cao Triệu Tử Long. Ông từ chối 3000 binh lính và ngựa để đánh với Tào Tháo chỉ cần một người đó là Triệu Vân-Triệu Tử Long. Khi Tào Tháo tấn công Từ Châu, Lưu Bị cầu cứu Công Tôn Toản. Ông nói rằng: Tại hạ không mượn bất kỳ binh mã nào, chỉ xin tướng quân cho mượn một người: Thượng Sơn Triệu Tử Long. Triệu Vân từng xông vào giữa vòng vây, hàng vạn quân địch, mở đường máu để cứu con trai Lưu Bị là A Đẩu. Suốt một đời xông pha trận mạc, sống thọ và mất vì tuổi già.


5. Luận cổ suy kim

Chúng ta có thể học cách ứng xử từ những thành công và thất bại của các nhân vật trong Tam Quốc Diễn Nghĩa cũng như rút ra những bài học chiến lược từ cuộc đối đầu giữa Gia Cát Lượng và Tư Mã Ý.

Tư Mã Ý ông là bậc thượng nhân. Biết  lùi đúng cách, quan sát nhiều, nói ít. Thận trọng không tùy tiện nói năng hành xử mà không có tính toán. Làm việc gì cũng không nên lộ liễu, âm thầm bố trí kế hoạch khiến đối phương trở tay không kịp. Ông dựa vào đối phương để cũng cố quyền lực. Trong trận “Không thành kế” thực ra Tư Mã ý đã hiểu rõ tình thế. Nếu giết Gia Cát Lượng, dẹp được quân Thục, xem như ông đã hết giá trị lợi dụng, lúc đó không tránh khỏi quy luật: “vắt chanh bỏ vỏ” sẽ bị loại trừ bởi sự ganh ghét tài năng của kẻ nắm quyền lực. Ông là người buồn vui không thể hiện ra mặt, biết nhẫn nhục chịu đựng sống sót đề chờ ngày thành công. Tư Mã Ý là bậc kỳ tài với khả năng ẩn nhẫn, mưu lược và kiểm soát cảm xúc. Ông mới có ngày bước lên đỉnh cao quyền lực tạo nền móng để thống nhất thiên hạ và lập nên nhà Tấn.

Gia Cát lượng là mưu sỹ số một của Lưu Bị, người đời gọi ông là “thần cơ diệu toán, trên tường thiên văn, dưới tường địa lý, kế sách trận mạc tài ba. Một bậc kỳ tài, giữa thời loạn chọn cách sống trung quân, ái quốc, suốt đời tận tụy vì giấc mộng phục Hán. Ngay cả khi Lưu Bị qua đời phó thác Lưu Thiện tại thành Bạch Đế. Gia Cát Lượng không chỉ có trách nhiệm với một đứa trẻ mà còn gánh vác cả tương lai của Thục Hán. Dù Lưu Thiện bất tài, ông vẫn yêu thương tận tụy hết sức mình. Ngay cả khi biết số mình đã tận ông cũng để lại di thư, để lại kế sách để cho thuộc hạ tin cậy như Danh sĩ Khương Duy tiếp tục chăm lo vận mệnh đất nước. Cuộc đời Gia cát Lượng là một truyền kỳ, ông không phải là một vị thần bất khả xâm phạm, nhưng ông là một bậc kỳ tài, vĩ đại mà đầy tính nhân văn, giữa thời đại loạn lạc và cơ hội. Ông sống cả đời nghiêm túc và chân thành, thẳng thắn và nghĩa khí. Ông xứng đáng với sự kính ngưỡng của hậu thế.

 

Tuy nhiên, chiến tranh tàn khốc quá, trong lịch sử mấy ngàn năm của thế giới nói chung và ba nước Ngô, Thục, Ngụy nói riêng, con người chết vì chiến tranh nhiều quá, từ tướng đến lính cho đến dân đen đều thống khổ. Vẫn biết là quy luật “được là vua, thua làm giặc”. Dù phe nào đi nữa tôi cũng thấy họ chém người như chém chuối. Máu chảy thành sông, thây chất thành đống mà kẻ hậu thế không khỏi ngậm ngùi. Tôi vẫn nhớ lời ông nội tôi, lúc tôi còn nhỏ rằng: trong lịch sử định hình của thế giới khi thiên tai, khi địch họa, cuộc đấu tranh sinh tồn của bao thế hệ: “Mười phần chết bảy còn ba/ chết hai còn một mới ra thái bình”. Ở tuổi thiếu niên lúc đó tôi chưa hiểu gì nhiều về chiến tranh nhưng nghe ông tôi nói vậy tôi cũng hiểu về cái giá của hòa bình nó đắt đến ra sao! Đọc lại bộ truyện này, tôi vẫn mong cầu thế giới đừng có chiến tranh, “các ông lớn” hãy hành xử văn minh trên bàn đàm phán để nhân loại bớt khổ đau, để loài người lo phát minh và kiến tạo.

Sài Gòn, 26/6/2025
Hoàng Thị Bích Hà

Theo https://www.art2all.net/


Nguyên Bình với tập thơ "Hoa vàng trên áo xanh"

Tháng 12 năm 2018,tôi nhận được món quà quý từ thành phố Bà Rịa Vũng Tàu là hai tập thơ của tác giả Nguyên Bình. Anh tên thật là Nguyễn Bá Bĩnh: nhà giáo – nhà thơ Nguyên Bình.” Tôi chọn theo lối của một người đọc nhiều lần thơ anh và mỗi lần tôi lại khám phá ra một điều gì đó ngoài bài thơ mình đã đọc. Đó là lý do mãi đến bây giờ tôi mới viết những dòng cảm nhận về tập thơ HOA VÀNG TRÊN ÁO XANH.
 

Đây là những sáng tác của Nguyên Bình gồm 115 bài thơ với cảm hứng chủ đạo trữ tình tâm tình. Tập thơ cho thấy hồn thơ Nguyên Bình rất nồng nàn đa cảm và chiều sâu trí tuệ được thể hiện trong những cảm xúc trữ tình dào dạt đã khiến thơ anh để lại ấn tượng đậm đà khó quên.


“Hoa vàng trên áo xanh” là một tập thơ tình. Những vần thơ rất phong phú về thể loại. Diễn đạt rung cảm thiết tha, lãng mạn và cũng đầy man mác ưu tư. Tình yêu là cảm hứng dạt dào không bao giờ vơi cạn ở hồn thơ Nguyên Bình. Mở đầu tập thơ là bài “ Thôi kệ đồng xanh “ với nhưng câu thơ hé lộ tâm hồn lạc quan yêu đời, yêu thơ và đam mê sáng tác:


“Thôi kệ đồng xanh thơm cỏ lá
Thôi kệ cánh buồm dong tuổi thơ
Cạn chén trà thơ vui sớm sớm
Mỗi ngày ta viết một bài thơ”

(Thôi kệ đồng xanh )


Tình yêu đã đi vào thơ anh thật đẹp, thật say đắm. Ai đã từng đi qua những năm tháng ngày xanh của một thời hoa mộng mà không khỏi thầm yêu, trộm nhớ một hình bóng nào. Cũng có thể một cái nắm tay, một nụ hôn vội vàng trên lối về một buổi chiều tan lớp. Không biết anh viết về tình yêu thuở học trò của chính mình hay nói giùm cho bao tâm tình mới lớn mà khi đọc những vần thơ này ta chợt thấy bóng hình mình trong đó qua những câu thơ rất đáng yêu:


“Anh mang về nụ hôn
Dại khờ thời cắp vở
Áo dài ơi… nhung nhớ
Dịu mát tím đường quen”

( Cho em )


-“ Bàn tay đây đan kết buổi đầu tiên
Phút ngập ngừng hẹn hò nơi quán vắng
Có cặp sách đi về làm nhân chứng
Tình thơ ngây như trang giấy học trò”

( Chuyện đôi bàn tay)


Với những câu thơ đẹp, bài thơ “Hạnh phúc” có bốn khổ thơ. Mỗi khổ là một tầng cảm xúc đã đem đến cho người đọc thật nhiều rung cảm:


“ Hạnh phúc rồi anh không viết nổi thơ đâu
Ngày xuân thắm đêm mơ toàn mộng đẹp
Dòng máu tim hiền hòa sau mỗi nhịp
Chở yêu thương bừng sáng nụ cười tươi”

( Hạnh phúc)


Mặc dù con người ta không phải lúc nào cũng đi trên những con đường bằng phẳng đầy hoa thơm cỏ lạ mà còn có cả chông gai. Thơ Nguyên Bình vẫn toát lên niềm tin yêu cuộc đời.


“Dẫu cuộc đời
là đông gầy tê tái
Bếp lửa này
Tí tách ánh reo vui »


Vâng! Nếu cuộc đời có tình yêu, bếp lửa đoàn viên của mái ấm trọn tình thì chính tình yêu tô điểm cho cuộc sống thêm phần hương sắc như vừng dương ngày mới:


“ Tình yêu chúng mình từ đó
Rộn ràng máu chảy về tim
Mặt trời châm thêm ngọn lửa
Tinh khôi thắp đuốc đi tìm”

( Hương Thầm )


Hạnh phúc giản đơn nhưng lung linh vẻ đẹp, cần trân quý nâng niu:


“Hãy giữ lấy chút nồng nàn lặng lẽ
Có đâu xa mộng mị cũng rất gần
Hạnh phúc ngọt ngào là chỗ dừng chân
Tận hưởng hương đêm
Cỏ mềm gió lạ”


Nỗi lòng thi nhân gửi gắm vào câu chữ dệt nên những vần thơ chan chứa vui buồn.


-“ Nét bút hoa tiên nhòa giấy lụa
Dư lệ sầu tuôn đẫm trang thơ”


Thơ đẹp mà buồn. Nỗi buồn đi vào trang thơ để lại cho người đọc nhiều man mác bâng khuâng. Anh mượn hình ảnh mùa đông để ký thác tâm sự:


“Mùa đông ơi !
Lạnh lùng chi gió bấc
Nắng về đâu
Xua mây tím ngang trời
Bên bếp lửa
Thắm đôi dòng lệ ứa
Bao đông rồi
Sao lệ mãi không nguôi…?”

(Mùa đông)


Đã không yêu thì thôi, yêu thì phải tha thiết như trong thơ Nguyên Bình:


Tháng tám về em có đợi mùa sang
Bao nhung nhớ hẹn thề trong truyền kiếp
Dẫu trăm năm vẫn còn nghe thao thiết
“ Yêu lần đầu và lần cuối người ơi!”


Em -nhân vật trữ tình trong thơ đã gợi bao cảm xúc để anh gửi gắm lòng mình với những câu thơ rất đỗi chân thành:


“ Thì em cứ mãi là mây trắng
Mây của ngàn phương lạc lối này
Thì em cứ mãi là cơn mộng
Mộng về sóng sánh với hồn say”


Anh sinh ra và lớn lên ở thành phố Huế nên tình yêu dành cho Huế đã đi vào thơ anh với những câu thơ có vẻ đẹp trang nhã mà xao xuyến lòng người:


“ Người dưng đây bên dòng Hương Thương Nhớ
Mỗi hôn hoàng nắng úa tắt bên sông
Mưa ai xưa kiều diễm gót sen hồng
Dấu cả Huế vào đôi tà áo tím”

( Người dưng)


Xứ Huế đã đi vào thơ anh bằng những tên gọi thân thương như dòng Hương, “đường Phượng bay”, cửa Hiển Nhơn, dốc Nam Giao. Đồi Thiên An, Lăng Tự Đức, hồ Thủy Tạ, Trường Tiền là những thi liệu giàu hình ảnh, đã đem đến cho độc giả một bài thơ về Huế rất hay có tựa đề: “ Người dưng”. Bài thơ gợi cho người ở lại đất Cố Đô hay xa rời xứ Huế thân yêu những bâng khuâng nhung nhớ ở người ra đi và nao lòng người ở lại.


Nỗi lòng thi nhân gửi vào thơ làm nên giai điệu man mác buồn và đầy nỗi ưu tư. Đôi khi tôi chợt nghĩ nếu không có nghệ thuật thi ca thì thi nhân biết gửi gắm nỗi buồn vào đâu? Và đây là những câu thơ nói về tâm trạng cô đơn.


“ Chiều không ơi
Bóng người xa xôi quá
Ta lăn trầm
Dốc sỏi đá quạnh hưu”


Tác giả không dùng chiều thu. chiều xuân, chiều tà…mà nhất thiết phải “ chiều không”. Phải chăng“Chiều không” là một nhãn tự làm cho người đọc cảm nhận được nỗi cô đơn lẻ loi một mình một bóng. Nếu thay bằng chiều thu hay… chiều gì đó thì chưa lột tả hết tận cùng của sự cô đơn:


“Những ngày dài không nhau
Vần thơ cháy khát
Mây tím về phủ kín hoàng hôn

( Mất và còn)


Khi nhà thơ gửi cảm xúc, nối lòng vào câu chữ là cũng mong tìm được sự đồng cảm, sẻ chia. Hi vọng, khát khao tìm được tiếng nói tri âm đồng điệu từ phía người đọc tác phẩm.


-“ Hỏi ai gieo hạt trong vườn thắm
Hạt đã thành cây đơm trái chưa
Hay mầm đã chết trong tim lạnh
Có khát khao chờ những giọt mưa

-“ Hỏi ai xao xác đốt nến hồng
Ai người tri kỷ có thầm mong
Khuya nay trăng lạnh quỳnh hương nở
Hãy đến cùng em chuốc rượu nồng”

( Xao xác đêm)


Những vần thơ tình của Nguyên Bình thật nồng nàn, cháy bỏng với tất cả vẻ đẹp vốn có của tình yêu và bao giờ cũng trẻ trung tươi mới.


“ Chúng mình suốt đời là hai đứa trẻ
Lá vẫn non tơ mặc mưa gió bão bùng
Môi em ngọt ngào thơm vị táo nhớ mong
Tình anh đắm say ấm nồng đêm hương lửa”


Tình yêu làm cho cuộc sống thăng hoa, cuộc đời sẽ đáng sống hơn, ý nghĩa hơn và tất nhiên cũng sẽ là nguồn cảm xúc dạt dào cho thi sỹ đệt thành thơ.


“Anh sẽ viết ngàn câu thơ mộng mị
Yêu em rồi anh bất tử với tình yêu”


Thơ Nguyên Bình còn là những vần thơ chan chứa tình nhân ái, đầy ắp tình người, tình đời.


Ai gọi thu về xa vắng quá
Để nắng dần phai nhạt bên trời
Diễm mộng chan hòa trong khóe mắt
Lệ thương tất cả một phận người”


Đọc thơ Nguyên Bình ta chúng ta sẽ còn tìm thấy ở người thơ này có một tâm thế an nhiên:


“Nhẹ tênh bên bờ giác
Trăng tịnh gác hiên chùa
Tình yêu em còn lại
Thơm bông sen cuối mùa”

( Bờ giác )


Mỗi sáng tinh sương, bắt dầu một ngày mới bên ấm trà thơ ngắm hạt sương trên cành hoa lan “Tịnh tâm miền an nhiên”:


“Tinh mơ
Ấm trà
Giọt sương mai
Nhành lan mỏng”

( Tâm an)


Dẫu vẫn biết cuộc đời không tránh khỏi những nỗi niềm dâu bể. Thi nhân vẫn biết cách điều tiết để cuộc sống cân bằng với niềm yêu đời phơi phới:


« Tôi hít ban mai vào phổi
Tôi giấu thương yêu vào tim
Tôi ngước nhìn
Khoảng trời xanh hạnh phúc »


Thi nhân yêu đời và khát khao vươn tới hạnh phúc tràn đầy, thật trọn ven của tình yêu.Thi nhân lấy ngoại cảnh để phô diễn tâm cảnh của chủ thể trữ tình.

“Ngày trong anh lại rộn ràng tia nắng
Nắng ban mai thầm lặng nhớ chiều hôm
Đêm trong anh mộng về…đêm thế kỷ
Trăm năm rồi khao khát một nụ hôn”

( Loạn nhịp)


Những hình ảnh đẹp “rộn ràng tia nắng”, “ban mai”, “chiều hôm”..đêm …mộng, nụ hôn đã tạo nên một hệ thống thi liệu và ngôn ngữ văn chương làm bật nổi vẻ đẹp của tình yêu trong tâm hồn người thơ. Tính hàm súc là một trong những tính chất làm nên vẻ đẹp văn chương của thơ ca đích thực. Chỉ bốn câu thơ Nguyên Bình đã gợi ra bao cảm xúc, ý vị về ý nghĩa của tình yêu đối với cuộc sống con người.


Hồn thơ Nguyên Bình yêu thiết tha ,cháy bỏng và khát khao dâng hiến cho tình yêu:


“Đóa hoa tình anh hái
Từ phía trái ngực đây
Cánh hồng nhung đỏ thắm
Chan chứa tình yêu này
Không chỉ là hôm nay
Mà từng ngày như thế
Anh trao em lặng lẽ
Hình trái tim ngát hương”

( Tặng hoa)


Những câu thơ viết về tình yêu với cảm xúc dạt dào, nồng nàn và say đắm, được tác giả diễn đạt bằng ngôn từ giản dị, dể hiểu, dể đi vào lòng người:


“Nụ hôn đầu cuộn trào ngàn con sóng
Sóng biển xanh quyện lấy bãi bờ thơm
Nắng reo vui nắng vỡ đóa môi mềm
Bọt sóng trắng tung hoa lòng diễm lệ”

( Yêu nhau)


Những câu thơ tả cảnh ngụ tình rất đẹp. Tả ít, gợi nhiều thơ anh có đủ những chiêm nghiệm cuộc đời và triết lý nhân sinh. Tác giả Nguyên Bình ngoài công việc chính là giảng dạy, truyền tri thức cho những thế hệ học trò anh còn một niềm đam mê sáng tác. Suốt đời tìm kiếm vẻ đẹp của tình yêu, của cuộc sống xung quanh để chắt lọc cảm xúc dệt nên những vần thơ ngọt ngào và lãng mạn:


“Em dậy hương tình đêm mộng ước
Từng cánh tương tư xếp muộn màng
Suốt đời lặn lội ta khăn gói
Đi tìm nhân ảnh dưới trăng tan…

( Trăng tan)


Nếu không có có một tâm hồn đa cảm và trái tim yêu nồng nàn thì không thể viết những vần thơ ngọt ngào, bay bỏng và lãng mạn như thế!


Anh yêu cả những người tình chưa quen biết bằng những vần thơ nhẹ nhàng thế thôi, dịu ngọt thế thôi nhưng neo lại trong lòng người đọc những vần thơ rất ấn tượng!


“ Em là ai hãy chờ ta thêm chút
Đừng tan đi cùng làn khói tách trà thơm
Mang theo này ấm áp nỗi nhớ thương
Ta gởi cho em người tình chưa quen biết »

( Em là ai)

Cảm hứng thế sự đậm sắc màu hiện thực, xen lẫn cảm hứng trữ tình. Anh có những bài thơ trăn trở, chan chứa nỗi buồn thương. Kết cấu của đoạn thơ thanh bằng và thanh trắc đan xen nhau, giai điệu thật buồn nói lên tấm lòng nhà thơ cảm thông cho những cảnh đời, những phận người lam lũ mưu sinh trong hoàn cảnh thời tiết không mấy thuận hòa, thiên tai mưa bão: Người đọc không khỏi ngậm ngùi, xót xa:


“Bão đã đi xa
Anh ra phố ngóng em
Thăm cái nhìn ngác ngơ
Trên mớ rau hái vội
Góc chợ nghèo
Tồi tội
Chị còng lưng”…

( Bão tan)


Những vần trắc ( tội, chị) của câu thơ hai chữ, ba chữ chữ cuối đoạn làm cho âm điệu câu thơ như thắt lại, bị nén lại như nỗi buồn chất chứa trong lòng, một tiếng thở dài ngao ngán, cảm thông.


Lời hết rồi mà ý vẫn vô cùng…gợi mở cho người đọc liên tưởng tiếp những vất vả gian nan của người dân nghèo khi cơn bão đi qua.


Thi nhân yêu cuộc đời và yêu những vần thơ. Anh đọc thơ và sáng tác với tất cả đam mê của một tâm hồn nghệ sỹ. Anh miệt mài lao động nghệ thuật cần mẫn và sáng tạo, tìm vần gieo chữ để diễn đạt cảm xúc, đóng góp cho đời những vần thơ tâm đắc.


« Bốn mùa tôi cả bốn mùa yêu
Làm bác nông phu mỗi sớm chiều
Chăm chút cây đời sai quả mộng
Tôi gửi ngàn phương những mùa yêu

( Bốn mùa yêu)

 


Vài nét nghệ thuật trong thơ Nguyên Bình:
 

Kế thừa thi pháp truyền thống anh có những bài thơ làm theo thể thơ lục bát rất mượt mà, giàu hình ảnh và nhạc điệu: say đắm và thiết tha nói lên những cảm xúc tự nhiên, của tâm hồn thi nhân. Qua đó ta cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ hình tượng và biểu cảm :


« Trăm năm bóng ngã vào tôi
Ngàn năm tôi ngã vào đôi mắt buồn »
« Hè qua phai nét phượng hồng
Thu còn vương vấn chờ mong gót nàng »


Cuộc sống vốn muôn màu nên có lẽ thi pháp hiện đại mới đủ cho anh giãi bày nỗi niềm với tất cả những cung bậc cảm xúc. Phần lớn các sáng tác của anh theo thi pháp hiện đại . Rất phong phú với nhiều thể loại thơ: Thơ bát ngôn, thơ thất ngôn, thơ lục ngôn, thơ ngũ ngôn, và thơ tự do. Có những bài anh sáng tác theo thể thơ tự do, với những câu thơ dài ngắn khác nhau. Sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó dùng phép tiểu đối trong câu thơ để tăng sức biểu cảm.


« Tình ca mùa đông
Anh viết cho em đây
Trời chưa lạnh mà lòng em đã ấm
Nhớ một làn môi thắm
Nhớ một làn môi thắm
Suốt cả bốn mùa nói tiếng yêu em »

( Mùa đông)


Những hình ảnh như: Mây, mùa thu, lá vàng không phải là mới. Chúng ta có thể bắt gặp những thi liệu này trong thi ca từ những thế kỷ trước, được anh kế thừa, sáng tạo bằng góc nhìn tinh tế và biểu cảm dệt nên những vần vần thơ mang phong cách rất riêng của tác giả Nguyên Bình:


« Em gọi giùm anh màu nhớ
Ơ kìa …mây trắng lang thang
Hình như mùa thu chưa nỡ
Chia tay với chiếc lá vàng”


Quả thật từ “màu nhớ” đến "mùa thu chưa nỡ chia tay với chiếc lá vàng” đầy quyến luyến. Lời thơ, ý thơ và hình ảnh được sắp xếp một cách sáng tạo đem đến cho người đọc nhiều liên tưởng lý thú.


Từ cách lập ý tạo được sự hấp dẫn, lôi cuốn tác giả kết hợp với nghệ thuật dùng điệp từ, điệp ngữ, lựa chọn từ ngữ, hình ảnh tương xứng… để viết những câu thơ đẹp, như những lời tâm tình nhẹ nhàng, sâu lắng, thương nhớ đầy vơi trong tâm hồn chủ thể trữ tình.


“ Thì em cứ tím như màu nhớ
Tím biếc niềm riêng thuở đợi chờ
Tím tà áo mỏng ngày xưa ấy
Tím ngợp lòng anh tận bây giờ”

( Thì em )


Một lần nữa phải nói rằng tác giả sử dụng điệp từ ngữ rất thành công:


“ Thì em cứ mãi là mây trắng
Mây của ngàn phương lạc lối này
Thì em cứ mãi là cơn mộng
Mộng về sóng sánh với hồn say”

( Thì em )


Trong câu thơ anh có cả nghệ thuật sử dụng từ tương phản: “ tà áo mỏng”, “ngợp lòng anh “
Nghệ thuật đảo từ ngữ, tả cảnh ngụ tình:


“Đông chênh chao sắc nắng
Lạnh môi mềm
Se sắt một bờ vai”


Ngôn ngữ thơ bình dị nhưng nội dung hàm chứa khá sâu sắc. Thơ Nguyên Bình giàu hình ảnh và tính nhạc. Anh luôn dụng công chắt lọc cảm xúc, thể hiện chúng trong dùng từ tạo câu, lựa chọn hình ảnh kết hợp với các biện pháp nghệ thuật tăng thêm tính thấm mỹ trong thơ: ví von, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tu từ, điệp từ, điệp ngữ để diễn đạt cảm xúc. Cho thấy ở Nguyên Bình một năng lực biểu đạt lôi cuốn người đọc. Chất thơ, giọng thơ mượt mà , trong sáng.

 
Phải có một tình yêu cuộc sống, sự quan sát tinh tế mới viết được những câu thơ giàu cảm xúc như thế.Thơ anh dù ở thể loại nào đều có tính nhạc và đầy biểu cảm Có lẽ trước hết là tiếng nói chân thành từ trái tim, thi ý ngọt ngào hài hòa với chất nhạc trong thơ dệt nên những vần thơ đem đến cho người đọc nhiều rung cảm. Ngôn ngữ trong thơ anh phần lớn bình dị, dễ đọc, dễ hiểu. Thỉnh thoảng cũng có những từ mang màu sắc cổ điển thanh cao. Sử dụng gieo vần khéo léo, phù hợp với ngữ cảnh, làm nên tính độc đáo trong thơ. Như chúng ta đã biết thơ là sự kết hợp ngôn từ và tính nhạc. Nếu nghiêng về ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất dễ khô khan. Mà nghiêng về nhạc thì dễ đắm say nhưng cũng dễ nông cạn. Nguyên Bình tạo được sự hài hòa giữa ý và nhạc. Cùng với cách kế thừa thi pháp và thi liệu cổ điển qua hồn thơ đầy sáng tạo với những cảm thức mới lạ của anh thì tất cả các sáng tác của anh đều mang hơi thở của cuộc sống và vẻ đẹp của thi ca hiện đại. Chứng tỏ một trình độ lao động nghệ thuật công phu và nghiêm túc để đóng góp cho đời những vần thơ thiết tha với tình yêu và cuộc sống.

«Làm thơ không phải dễ… người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng» (Sóng Hồng). Mỗi nhà thơ mang đến một cách riêng, một giọng thơ riêng. Thơ đối với Nguyên Bình như một niềm đam mê, một phương tiện nghệ thuật để anh gửi gắm nỗi niềm, đem đến cho độc giả yêu thơ những vần thơ đầy rung cảm. Đọc để thưởng thức và yêu mến thơ Nguyên Bình. Có những bài mới đọc lên đã thấy hay, có những bài, những câu đọc lần đầu có thể chưa thấy hay nhưng càng đọc càng quý, càng thấy được ngữ điệu nồng nàn những cảm xúc ý vị của một tiếng lòng yêu thương chan chứa. Nhà thơ Đỗ Phủ đã từng nói (tạm dich) là: rất trọng cái hay trong thơ của người đời nay và cũng rất quý cái hay trong thơ của người của người đời xưa. Câu hay lời đẹp của họ ta đều yêu mến cả. Chúng ta những độc giả hôm nay hãy trân trọng kết quả lao động nghệ thuật của thi nhân. Người làm thơ đòi hỏi có tâm hồn đa cảm,có trái tim yêu thương nồng nàn, có vốn sống phong phú và năng lực biểu đạt. Ở nhà thơ Nguyên Bình có đủ những điều đó. Vì vậy thơ Nguyên Bình đã được không ít độc giả yêu mến đón nhận.

Hãy đến với tập thơ HOA VÀNG TRÊN ÁO XANH của tác giả NGUYÊN BÌNH để cảm nhận, thưởng thức những ngọt ngào sẻ chia của một hồn thơ đa cảm.

Huế, 4/3/2019
Hoàng Thị Bích Hà

Theo https://www.art2all.net/

 

Vài nét về nghệ thuật tả cảnh trong Truyện Kiều

Truyện Kiều là kiệt tác của thi hào dân tộc Nguyễn Du, là một công trình nghệ thuật bằng thơ lục bát được ngòi bút thiên tài Nguyễn Du miêu tả qua hình thái ngôn ngữ nghệ thuật. Tả cảnh ngụ tình đặc sắc với những vần thơ buồn thương mênh mang chứa chan tinh thần nhân đạo cao cả. Thúy Kiều – Kim Trọng “ Người quốc sắc, kẻ thiên tài”. Có thể coi là một thiên diễm tình để lại trong lòng người đọc ấn tượng khó phai cũng như lòng xót xa trước một kiếp hồng nhan bạc mệnh.

Thiên nhiên đi vào truyện Kiều thật là diễm lệ. Cảnh vật đã làm nền để thi nhân gửi gắm nỗi niềm, tâm trạng của nhân vật. Nhiều câu thơ tả cảnh đặc sắc lung linh và diễm tuyệt!

Những vần thơ Kim- Kiều gặp nhau là những vần thơ đẹp mãi xanh tươi và tỏa ngát hương sắc trong lòng người đọc.

Vẻ đẹp của mối tình đầu. Nguyễn Du đã thể hiện một bút pháp nghệ thuật đặc sắc về tả cảnh, tả tình. Mở đầu khúc nhạc lòng của tình yêu, ở đâu đó, tiếng nhạc vàng vọng lại làm rung động và xuyến xao lòng người.

Dùng dằng nửa ở nửa về,

Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.

Cảnh sắc không thể tuyệt vời hơn khi lòng người đang vui!

“ Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”

“Dưới cầu” dòng nước “trong veo” ta hình dung nước trong xanh có thể nhìn thấy đáy. Bên cầu là những cành liễu rủ bóng chiều thướt tha và duyên dáng. Hình ảnh chiếc cầu nhỏ xinh trên dòng nước trong veo lững lờ trôi, và những cây liễu rủ bóng xuống mặt nước không phải là chưa có mặt trong thi ca cổ điển nhưng dưới ngòi bút thần tình của đại thi hào Nguyễn Du thì những hình ảnh quen thuộc gần gũi hàng ngày trở nên gợi cảm và thú vị biết bao! Chẳng khác nào một bức tranh thủy mặc. Những thi liệu như chiếc cầu nhỏ, dòng nước trong veo sẽ là chứng nhân cho một tình yêu Kim Kiều mới chớm nở. “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”. Đó là buổi chiều tà thanh minh mà “ Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa” đã làm cho chàng Kim Trọng “ Chập chờn cơn tỉnh cơn mê” Cuộc chia ta không hẹn ước mà đằm thắm nghĩa tình” ( Thế Lữ)

“Bóng tà như giục cơn buồn

Khách đà lên ngựa người còn ghé theo”

Bởi vì “ Tình trong như đã mặt ngoài còn e” rất tế nhị, thanh tao. Một mối tình mới chớm của đôi “trai tài gái sắc” mà sắc ở đây là “ Sắc đành đòi một tài đành họa hai”. Cuộc chia tay trong lễ hội đạp thanh sẽ là một dấu ấn đặc biệt dự cảm cho một mối tình say đắm thiết tha. Cảm xúc nghệ thuật được nâng cao qua bút pháp tả cảnh ngụ tình điêu luyện bậc thầy của thiên tài Nguyễn Du.
Đôi khi chỉ hai câu thơ thôi mà gói gọn có đủ cả phong hoa tuyết nguyệt:

“ Đôi phen gió tựa hoa kề

Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu”

Nỗi buồn dằng dặc thê lương đi qua cả bốn mùa chỉ trong hai câu thơ:

“Sen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”

Khi tả về mùa xuân:

“Cỏ non xanh rợn chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Tả mùa hè Nguyễn Du chọn lọc hai hình ảnh rất đẹp rất đặc trưng: Hoa lựu và tiếng chim quyên

“Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”

Mùa thu với màu xanh của bầu trời mùa thu xanh trong như màu nước và sắc vàng của lá câu làm nên vẻ đẹp rực rỡ sáng trong của mùa thu.

“Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”

Nguyễn Du cũng kế thừa rất sáng tạo những hình ảnh có trong thi ca Trung Hoa và đã Việt hóa. Để chúng đi vào thơ đậm đà bản sắc dân tộc có phần cổ kính mà không kém phần sang trọng và trang nhã.

“ Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”

Những cảnh vật quen thân gần gũi trong đời sống hàng ngày như:” lối mòn cỏ nhợt màu sương”, “Lơ thơ tơ liễu buông mành” nhưng khi được thi nhân đưa vào thơ chúng đều có hồn là nơi để bày tỏ, để gởi gắm, chuyển tải niềm vui, nỗi buồn tâm trạng của nhân vật. Vầng trăng cũng đã đi vào ca dao dân ca từ cả ngàn năm trước nhưng khi được kế thừa thi liệu truyền thống đó Nguyễn Du đưa vào truyện Kiều đều là những thi liệu đặc biệt để biểu đạt cảm xúc chính xác không thừa, không thiếu, sinh động và gợi cảm.

Ví dụ khi nói về cảnh biệt ly

“Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường”

Một sự nhìn nhận của thi hào về cảnh vật thật tinh tế. Khi cho chúng hóa thân vào tâm trạng của nhân vật để nói thay cho nỗi niềm của nhân vật trước cảnh ngộ thể hiện qua câu thơ:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Vâng đúng vậy! Một câu thơ mang tính tổng kết không thể đầy đủ chính xác hơn!

Góc nhìn của thi nhân rất tinh tế và sâu sắc nên cảnh vật thiên nhiên đi vào truyện Kiều một cách tự nhiên và có hồn vừa là ngoại cảnh vừa là tâm cảnh. Nó vừa làm cái nền cho những vần thơ để chuyển tải cảm xúc, làm lay động con tim bao thế hệ độc giả trong và ngoài nước. Tám câu thơ tả cảnh trước lầu Ngưng Bích là những vần thơ tả cảnh thiên nhiên đó là phép ẩn dụ về tâm trạng và phép hoán dụ số kiếp tài sắc mà bạc mệnh.

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Những câu thơ tả Kiều ở lầu Ngưng Bích là những vần thơ có sức ám ảnh nhất của đoạn trích, diễn tả “nỗi lòng tê tái” của Kiều trong những ngày bắt đầu của kiếp đoạn trường.

Với trái tim đa cảm của một ngòi bút thiên tài Nguyễn Du, thiên nhiên cũng là một nhân vật trữ tình được tác giả đặt cho một tình yêu sâu sắc và nồng hậu. Vì thế nắm ông bắt cái thần, cái cốt lõi tiêu biểu của cảnh vật để chọn lọc đưa vào thơ đúng lúc, chính xác không thừa và không thiếu. Đó là thuộc về biệt tài của thi hào Nguyễn Du.

Thơ tả cảnh ngụ tình trong tryện Kiều là những vần thơ tuyệt bút. Đôi khi chỉ vài nét phác họa, bức tranh thiên nhiên nhiện ra hữu tình, lung linh huyền diệu hấp dẫn vô cùng. Nó phản ảnh một tài năng nghệ thuật điêu luyện bậc thầy trong nền văn học nước nhà.

“Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn”

(Chế Lan Viên)

Nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh từng khẳng định: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”.

Thơ tả cảnh thiên nhiên trong Truyện Kiều đẹp như những viên ngọc quý làm cho người đọc tâm hồn rộng mở. Người đọc thêm yêu cảnh sắc thiên nhiên, thêm yêu vẻ đẹp, sự phong phú của Tiếng Việt.

Nhiều thế kỷ qua, Truyện Kiều đã là món ăn tinh thần không thể thiếu với mỗi người dân Việt Nam. Bởi vì những vần thơ tuyệt tác trong truyện Kiều có sức hấp dẫn lôi cuốn diệu kỳ. Nó đã trở thành sách gồi đầu giường của nhiều hệ bạn đọc và tin rằng sẽ còn mãi với thời gian.

Huế, 15/9/2018
Hoàng Thị Bích Hà

Theo https://www.art2all.net/

  Về nghe gió hát tình ca T rong sự nghiệp "trồng người" tại Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk, thầy giáo Nguyễn Văn Vinh (bút danh Vĩnh ...