Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

 

Tây Tiến – Miền cảm xúc xanh xưa

Không phải người làm nghiên cứu phê bình văn học, chỉ bằng với tâm thức người làm thơ, lại đang được sống trong không gian Tây Tiến và nhiều lần được chạm tới vùng cảm xúc Tây Tiến, xin chia sẻ đôi điều qua bài viết mang tiêu đề “Tây Tiến – Miền cảm xúc xanh xưa”.

1. Thơ Quang Dũng

Thưởng thức, nghiền ngẫm thơ Quang Dũng mà đỉnh cao là tác phẩm “Tây Tiến” là việc thường xuyên của những nhà nghiên cứu văn học, người làm thơ, người yêu thơ và bạn đọc cả nước chúng ta. Việc tổ chức gặp mặt tọa đàm để tưởng nhớ Quang Dũng – một nhà thơ tài hoa đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng cho đời nhân kỷ niệm 65 năm bài thơ Tây tiến ra đời, 25 năm ngày mất của Nhà thơ, theo chúng tôi, trước hết là một hoạt động tri ân. Song song với nó, tôi coi đây là một sinh hoạt nghiệp vụ quan trọng, quý báu của người cầm bút. Đặc biệt, chúng tôi – những người đang sống tại Hòa Bình, tại không gian Tây Tiến lại thêm một lần hạnh phúc vì may mắn được có mặt trong cuộc gặp ân tình và ý nghĩa này. Và chính thế, cảm xúc của chúng tôi một lần nữa lại trào dâng.

Ra đời trong kháng chiến 9 năm chống Pháp, Tây Tiến lúc đầu mang tên một đoàn quân tức “Trung đoàn Tây Tiến”. Trung đoàn ấy tiến về Miền Tây Bắc tiêu diệt quân địch. Rồi Tây Tiến mang tên địa danh với một không gian rộng lớn. Đó là vùng bộ đội Tây Tiến hành quân, đồn trú và chiến đấu oai hùng. Trong không gian Tây Tiến ấy lại có các địa danh cụ thể: Sông Mã, Sài Khao, Mường Lát, Mường Hịch, Mai Châu, Châu Mộc…và không gian Tây Tiến vượt cả ra ngoài lãnh thổ Việt Nam đó là Pha Luông, là Sầm Nứa…mà trong bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng đã đề cập.

Hôm nay, khi chúng ta tụ hội bên con đường mang tên Tây Tiến để cùng nhau nhớ Quang Dũng, nhớ về Tây Tiến. Nói đến Tây Tiến là nói đến Quang Dũng và nhớ đến Quang Dũng là nhớ đến Tây Tiến. Đặc biệt thi phẩm Tây Tiến ra đời cách đây tròn 65 năm. Và sau 65 năm, những địa danh mang tên Tây Tiến đã được nhân lên rất nhiều kể từ ngày Quang Dũng đưa vào bài thơ Tây Tiến của ông. Đó là con đường Tây Tiến, những tượng đài Tây Tiến, Bảo tàng Tây Tiến, cánh đồng Tây Tiến… Nhưng cao hơn cả, gần hơn cả, đi xa hơn cả, lâu bền hơn cả là Miền Cảm xúc Tây Tiến trong tâm hồn các thế hệ người Việt Nam, mà trước hết là đối với các văn nghệ sỹ. Miền Cảm xúc đặc diệu ấy vượt không gian, thời gian, vượt địa danh, vượt tên gọi một trung đoàn để mang tên một bài thơ – bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng. Quang Dũng đã góp phần quan trọng làm cho nội hàm Tây Tiến mở rộng hơn, thăm thẳm hơn, xanh xưa hơn bằng cả những giá trị vật thể và giá trị phi vật thể. Một cách rõ ràng nhất, Tây Tiến giữ tên tuổi Quang Dũng sống mãi với thời gian. Đến đây, chúng ta hẳn không khỏi không liên hệ tới câu nói của hiền triết: “Các vương triều thì bể dâu, còn thi cảo mãi mãi trường tồn”.

2. Bài thơ và người yêu thơ

Thực tế cho chúng ta thấy mỗi ngày có cả hàng trăm tập thơ được in ấn bắt mắt. Thế nhưng liệu có mấy bài thơ được người đọc nhớ hết một ngày. Nhưng, bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng đã vượt qua “bão tố” và xanh tươi đến nay là 65 năm với 23.725 ngày. Trong một chốc, chúng ta khó có thể thống kê cho rành rọt những bài viết về thi phẩm này. Nhưng mỗi người, trong tâm cảm của mình lại có cách tiếp nhận riêng. Với tôi, mỗi lần nghe, mỗi lần đọc lại thấy thêm những phát hiện về Tây Tiến về thơ Quang Dũng. Lưu bám, đọng lại trong tôi bền lâu nhất là rung cảm về một “Mùa em” được gọi ra. Mùa Em ở đây là mùa xuân, Mùa Em là mùa gặt. Mùa Em là mùa lễ hội. Mùa Em là mùa tình yêu. Mùa Em là mùa cảm xúc.

Đọc Tây Tiến đến thuộc làu vẫn không hết sửng sốt khi nhận ra Quang Dũng phát hiện và gọi ra tên “Mùa Em” ngay trong những ngày gian khổ đến ác liệt của chiến tranh. Một chiến binh trong “Đoàn binh không mọc tóc” do sốt rừng chứ chưa nói đến cái chết rình rập của đạn bom quân thù mà yêu cuộc sống, yêu con người đến vậy. Bao hiểm nguy đến rợn người không ám ảnh bộ đội Tây Tiến. Nỗi nhớ Tây Tiến đến nao lòng, đến phải thốt ra lời là sự thanh bình là cuộc sống bình dị thường ngày của người miền núi: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói/ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Hỏi có lạc quan nào bằng, tình yêu nào bằng. Đó chính là sức mạnh làm nên chiến thắng của quân đội ta, nhân dân ta. Một sức mạnh siêu việt. Và đó, chính là cái hay, cái đẹp trường tồn của thi ca.

Trong bài “Tiếng vọng của tâm thế thời đại” in trên Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam số 38 ra ngày 21-9-2013, Văn Chinh có viết “Thêm một minh chứng cho luận điểm của Nhà thơ Hữu Thỉnh: “Câu thơ hay luôn có xu hướng tự bật khỏi bài. Khi đó, câu thơ có số phận riêng trong đời sống ngôn ngữ, tự sinh nở rồi tạo lập một không gian thẩm mỹ cho riêng mình.”. Mang điều này soi vào bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng thì thấy nhiều câu thơ hay tới mức tự “bật ra” khỏi bài thơ như thế. Đó là: Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa; Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc; Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm; Sông Mã gầm lên khúc độc hành; Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói… và theo tôi, tuyệt vời nhất cho cái sự hay đến tự bật ra ấy chính là câu thơ: “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

Có người đánh giá câu thơ hay nhất trong bài Tây tiến là “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Theo tôi, người Hà Nội, người hiểu văn hóa thanh lịch tràng an cảm nhận câu thơ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” hay bao nhiêu thì người miền núi, người hiểu sâu sắc văn hóa miền núi cảm nhận “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” hay bấy nhiêu. Tại sao lại như vậy?

Câu thơ này không chỉ tự nó có khả năng bật ra khỏi bài mà những cụm từ trong câu thơ này cũng tự bật ra khỏi câu thơ, bài thơ “để tự sinh nở và tạo lập không gian thẩm mỹ thẩm mỹ cho riêng mình”. Đó chính là “Mùa Em” là “Mùa em thơm nếp xôi”. Chắc chắn đã bao người nhắc tới “Mùa em’, tới “thơm nếp xôi”, tới “Mùa em thơm nếp xôi” khi đặt chân lên Mai Châu, lên Tây Bắc và mỗi khi nhớ về Tây Tiến hay ai đó nhắc đến Mai Châu, nhắc đến Tây Tiến. Bởi Mai Châu có “mùa em”, một mùa hư ảo. Và Quang Dũng nhận ra Mùa Em hư ảo ấy lại rất cụ thể bằng hương vị “thơm nếp xôi” thật gần gũi, thật bản sắc, thật hấp dẫn. Phải là người tinh tế và được sống, được thưởng thức nếp xôi của đồng bào miền núi Tây Bắc thì mới càng thấm thía bằng cả trực giác câu thơ này.

Trước hết, nếp mà Quang Dũng nhắc đến là nếp trồng trên nương. Sau khi dọn, đốt nương xong, bà con người miền núi, một người đàn ông đi giật lùi ngược lên đồi, dùng cây gậy dài, đầu đẽo nhọn chọc từng lỗ. Người phụ nữ đeo ớp đựng thóc giống trèo theo, tay thoăn thoắt tra hạt vào từng lỗ, chân nhịp nhàng trong tư thế hết sức chênh vênh, gạt đất lấp hạt giống vừa giữ độ ẩm cho hạt nảy mầm, vừa giữ chim, chuột khỏi ăn hạt giống. Đến mùa thu hoạch, bà con lại dùng lưỡi hái nhỏ kẹp vào lòng bàn tay để hái từng bông lúa. Vài lần lúa đã chặt tay thì buộc lại từng cum vàng mẩy. Những cum lúa được mang về chất ngất thành cây trên sàn nhà hay trên gác. Mỗi khi dùng, những cum lúa ấy được vò bằng tay rồi cho vào cối gỗ giã tay bằng chày gỗ. Một người, hai người, có khi ba, bốn người chủ yếu đàn bà, con gái cùng giã mà không chày nào nhỡ với chày nào. Tất cả theo nhịp tạo nên bản giao hưởng cụp cum hòa với tiếng vòng bạc trên tay, xà tích bên hông rung reng rộn rã núi rừng. Gạo nếp óng như bầy trứng ong được đồ bằng linh đồng, cốp gỗ trên bếp củi rực hồng. Đồ như thế mới thành xôi nếp. Còn cho vào nồi đun như nhiều nơi miền xuôi thì chỉ là cơm nếp chứ không phải xôi nếp. Khi đã chín lục bằng hơi, xôi được đổ ra mẹt đan bằng cật nứa già. Các mẹ, các em lại một tay thoăn thoắt đảo xôi cho tơi, một tay ra sức quạt cho xôi se lại. Nếp xôi vừa dẻo vừa thơm đến ngất ngây. Khi ăn, xôi nếp  người ta từ tốn dùng tay nắm từng nắm nhỏ mà tận hưởng vị ngọt ngào trong âm ỉ dẻo thơm. “Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói” là Quang Dũng nhớ thứ nếp xôi vừa đổ ở cốp ra và đang được quạt bốc hơi nghi ngút lừng thơm khắp bản, khắp mường ấy.

Địa danh Mai Châu hẳn có trước khi Quang Dũng viết bài thơ Tây Tiến rất nhiều. Nhưng rõ ràng từ khi bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng ra đời cho đến nay, cái tên Mai Châu sang hơn, đẹp hơn, thơ mộng hơn rất nhiều. Nếu nói tên địa danh là một tử ngữ đối với thơ ca thì dòng thơ trên khẳng định điều ngược lại.

3. Cảm xúc từ lời thơ tới đời thực

Là người làm thơ, tôi đã không ít lần được chạm vùng cảm xúc Tây Tiến. Lần đầu tiên được đến xã Mai Hạ của Mai Châu. Được bà con giới thiệu nơi đây bộ đội Tây Tiến đã đóng quân. Kia là cánh đồng bộ đội Tây Tiến giúp dân gặt lúa…rồi trong ngất ngây chén rượu men rừng, cảm xúc trào dâng, tôi viết bài “Thăm miền Tây Tiến”: Rượu Mai Hạ kéo tôi ngược dốc/ Toát mồ hôi Mường Lát nở hoa/ Người Mai Châu dắt tôi đi nghiêng suối Xia/ Sang gặt nếp bên đồng Tây Tiến/ Hồn Quang Dũng thơm hương/ Đêm Mai Châu/ Dưới đệm nắng/ Trên chăn mây/ Và hơi ấm tỏa ra/Từ những trận sốt rừng của “Đoàn bình không mọc tóc”. Một lần khác, trong một đêm trăng thanh như lọc, cùng gái bản, trai mường mở vòng xòe giữa núi rừng Mai Châu, cảm xúc Tây Tiến lại tràn về.

Đêm trăng ấy, tôi lại viết được một bài thơ. “Núi nâng núi/Bão lòng phiêu bạt gió thung/Nhịp thở dập dồn dỏng tai trời đất/Anh nhẹ tay nặng một cõi trăng/ Mắt em xắt núi rừng ra từng khúc/Dưới chân/Hoa cỏ may ký họa/Ta hóa trầm/Trong trăng quánh/ Mùa em”. Và bài này tôi xin từ “Mùa Em” của nhà thơ Quang Dũng làm tiêu đề. Hay nói cách khác từ “mùa em” đã bật ra khỏi câu thơ “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” của nhà thơ Quang Dũng đến giúp tôi tạo lập một không gian thẩm mỹ mới.

Thưa bạn đọc! Và còn nhiều thu hái khác mà tôi có được được từ miền cảm xúc Tây Tiến đặc diệu, xanh xưa. Đó, theo tôi chính là sự tri ân của  kẻ hậu sinh đối với Nhà thơ nổi tiếng Quang Dũng.

3/6/2021

Lê Va

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Thạch thảo ngắt rồi, em nhớ chăng?

Khi dịch Thư gửi một nhà thơ trẻ[1] của Rainer Maria Rilke đầu những năm 90, tôi không biết đã có một bản dịch tiếng Việt khác, Thư gửi người thi sĩ trẻ tuổi của Hoàng Thu Uyên, do An Tiêm xuất bản ở Sài Gòn năm 1969. Cách đây vài năm, bắt gặp những dòng chữ mở đầu của mình xuất hiện dưới một cái tên khác, tôi mới biết đến bản dịch đó và có dịp thưởng thức tình trạng lộn xộn thú vị ngự trị trên cõi tự tung tự tác mà chúng ta gọi là internet: có trang đăng bản dịch của Hoàng Thu Uyên với bìa sách An Tiêm nhưng chêm phần lời dẫn từ bản dịch của tôi; có trang cũng đăng như vậy nhưng với bìa sách do NXB Văn hóa Sài Gòn tái bản năm 2008; có trang để tôi làm dịch giả cho bản dịch của Hoàng Thu Uyên; có trang cho Hoàng Thu Uyên đứng tên bản dịch của tôi. Sở dĩ cho đến nay tôi không nhầm mình là Hoàng Thu Uyên, vì đó là bút danh của một trong những gương mặt trí thức lừng lẫy nhất ở miền Nam Việt Nam trước 1975: Phạm Công Thiện.

Thông thạo cả chục ngoại ngữ cổ kim Đông Tây song lại “khinh bỉ những kẻ nào biết nhiều thứ tiếng” và cho rằng tiếng Việt là khó nhất vì “không có văn phạm và ngữ pháp”, Phạm Công Thiện đã dịch những tác giả thượng thặng như Heidegger, Nietzsche, Krishnamurti, Henry Miller, Nikos Kazantzakis, Rainer Maria Rilke nhưng ông không phải là một dịch giả theo nghĩa thông thường để có thể đem đặt vào một trường phái dịch thuật nhất định hay đánh giá bằng những nguyên lý và tiêu chí ngày càng phức tạp của nghề này; nhất là ở thời mà trí tuệ nhân tạo đã đủ sức chuyển phần xác của hầu hết mọi ngôn ngữ sang các ngôn ngữ khác trong chớp mắt song vẫn bó tay trước phần hồn và chúng ta, thua xa quy mô và tốc độ của AI, vẫn liều lĩnh và vô vọng đâm đầu vào những ngõ cụt của bất khả dịch. Không là dịch giả xuất sắc nhất cũng như không là thi sĩ sáng giá nhất, không là nhà văn đặc biệt nhất, không là học giả uyên bác nhất, không hẳn là một nhà tư tưởng dù thường được gọi là triết gia và lại càng không thực sự là một tu sĩ, song Phạm Công Thiện là tổng thể kỳ lạ nhất của ngôn ngữ, tư tưởng, nghệ thuật, tôn giáo và tinh thần thời đại mà miền Nam Việt Nam sinh ra trong một khoảnh khắc ngắn ngủi và đặc quánh của lịch sử, từ giữa thập niên sáu mươi đến biến cố tháng Tư 1975, trong vòng xoáy của một cuộc chiến leo thang từng ngày, giữa vỏ đạn, xác người và những chiến tuyến khốc liệt.

Trong lời giới thiệu Về thể tính của chân lý, dịch từ nguyên bản tiếng Đức Vom Wesen der Wahrheit của Martin Heidegger, ông tuyên bố bản dịch của mình “đánh dấu một biến cố quan trọng trong tư tưởng Việt Nam, vì dịch, theo Heidegger, có nghĩa nhảy, dịch chỉ có thể thành tựu được là nhờ một cái nhảy. Người dịch Heidegger phải bắt buộc làm hai cái nhảy: nhảy vào thể tính Đông phương qua ngôn ngữ Việt Nam và nhảy vào thể tính Tây phương qua ngôn ngữ Đức: điều kiện sơ đẳng của người dịch là phải nắm lấy tính thể Đông phương trong mười ngón tay mình và nắm lấy tính thể Tây phương trong mười ngón chân mình.” Chuyện mười ngón tay mười ngón chân chỉ là một cách nói điển hình Phạm Công Thiện, có thể cường điệu đại ngôn, có thể tu từ mê hoặc, có thể cực đoan lập dị và cả tào lao nonsense, nhưng bay bổng, nên thơ, độc đáo bất ngờ, quảng bác mà nóng rực như một dòng dung nham trẻ trung cường tráng, phun xối xả dăm năm rồi tắt vụt. Ông dịch cũng như viết, lang thang, ngẫu hứng, phóng túng, thậm chí bất cần, nhất là không cần “đau đáu đi tìm một tương đương” vì tiếng Việt đơn âm, trong sự tôn thờ đắm đuối của ông, mang một “khả tính siêu việt” và một trật tự hoàn toàn khác với trật tự tổng hợp của ngôn ngữ đa âm phương Tây, khiến dịch là “sờ mó tiếng Việt và bị tiếng Việt sờ mó, nâng từng chữ, bóp từng chỗ kín”, là “phục hồi lại ngôn ngữ Việt Nam, lắng nghe lại tất cả dư âm phong phú của từng chữ Việt, mỗi từ Việt là kết quả lâu dài gian nan của sự đấu tranh khủng khiếp, kết tinh tất cả hồn thiêng đất nước, là một bước chân của tổ tiên bước đi hoang vu vào đêm tối của dân tộc, té lên, té xuống, mở rộng ra chân trời rực sáng của non sông”, và rốt cuộc, dịch để hiểu “vì sao một chữ Đức, một chữ Hy Lạp lại quyết định chiến tranh Việt Nam”. Tiếng Việt là ngôi nhà đầy an ủi để hồn của một dân tộc đang thí xác cho bom Mỹ và súng trường Kalashnikov lui về nương náu.

Phạm Công Thiện không làm nghề dịch để phải bận tâm đến những chuẩn mực chao ôi là nghiêm cẩn mà chúng ta thường nép vào, dính chặt và nhiều khi chết gí ở đó. Ông chỉ dịch những tác giả ruột thịt với mình để nhờ tiếng Việt, quy chiếu từ một ngôn ngữ khác, phát ngôn tinh thần hư vô, thái độ khước từ và sự cô đơn của chính mình. Nên ông trung thành với bản thân hơn với bản gốc và nếu cần thì hy sinh bản gốc để bảo toàn hay thậm chí khuếch đại bản thân. Rilke của ông chệch với Rilke của Rilke khá nhiều, song đó là chủ định, đầy ý thức và thách thức, chứ không đơn giản là dịch ẩu hay dịch nhầm. Cách dịch của ông khiến tôi phải nhớ đến nhân vật Faust của văn hào Goethe, cũng là dịch giả nhiệt thành và một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết dịch thuật văn học ở Đức.

Faust muốn dịch nguyên bản Kinh thánh Tân ước sang tiếng Đức cho thỏa khát khao khải thị, và vấp ngay vào câu mở đầu lời dẫn Phúc âm theo Thánh Gioan: “Sách có ghi: Khởi thủy là Lời“. Chàng băn khoăn, không, không thể đề cao Lời quá mức như vậy, phải dịch khác. “Khởi thủy là Tư tưởng” chăng? Nhưng liệu tư tưởng có tác động và tạo ra tất cả không? Hay nên dịch thành “Khởi thủy là Sức mạnh“? Lựa chọn này vừa tính đến đã thấy không ổn. Và cuối cùng, như được thần linh dẫn dắt, chàng vững lòng đặt bút viết: “Khởi thủy là Hành động“[2]. Khái niệm logos trong bản gốc tiếng Hy Lạp của câu này cho phép nhiều cách diễn giải. Bản tiếng Việt trùng với phần lớn các bản dịch ở những ngôn ngữ khác: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời“, trong khi ở bản tiếng Nhật và tiếng Hàn thì logos là chính Ki-tô, khi chưa có gì trong vũ trụ thì đã có Ki-tô; còn ở bản tiếng Trung thì “Thái sơ hữu đạo“, khởi thủy là Đạo chứ không phải Lời. Một cách dịch tuyệt vời, “mở ra một chân trời cho chiêm niệm”, theo tiêu chí dịch thuật của một dịch giả đặc biệt khác, thi sĩ Bùi Giáng, cũng một hiện tượng kỳ lạ và kỳ diệu của miền Nam trước 1975 và tương đồng về tinh thần hơn là tương phản trong hành động với Phạm Công Thiện. Cũng chuyện nhảy, từ Heidegger qua Phạm Công Thiện, cú nhảy trong dịch thuật ở Bùi Giáng là nhảy lùi, lùi xa khỏi bản gốc để trân trọng nó từ khoảng cách thích đáng và “nếu buộc phải dịch thì đành cưỡng bức”. Ông đã cưỡng 8 câu thơ tự do của Emily Dickinson vào 14 câu lục bát, trong đó một câu là trích nguyên văn từ Truyện Kiều của Nguyễn Du. Ông không dịch, vì “kẻ biết dịch tối cao không bao giờ chịu dịch”.

Mỗi thời đại hay thực ra mỗi thế hệ đều cần bản dịch của thời đại mình, thế hệ mình. Mọi bản dịch đều sẽ đến lúc lỗi thời và thường lỗi thời nhanh hơn bản gốc. Nhiều trang dịch của Phạm Công Thiện, như chính con người quá đỗi khác thường và cuộc đời đầy đứt gãy của ông, tách khỏi ngữ cảnh của thời đại hố thẳm và thế hệ bơ vơ, khủng hoảng, quằn quại mà kiêu hãnh của ông, khó có thể khiến độc giả bây giờ hình dung sức lan tỏa và chấn động của chúng ở miền Nam nửa thế kỷ trước. Tôi không thuộc nhóm đệ tử vô điều kiện của ông để say sưa niệm những câu dịch bùa chú, như “Tính thể mà khi lập thể thì không có căn thể” (Sein als Gründendes hat keinen Grund), song mỗi lần lướt qua biết bao bản dịch rón rén sợ sệt, biết bao bản dịch rúm ró nhu nhược, biết bao bản dịch gò bó tủn mủn, biết bao bản dịch bẹp gí dưới bóng đè của bản gốc, biết bao bản dịch vô vị và nô lệ đang nghiễm nhiên sống khỏe thì nhành thạch thảo của Phạm Công Thiện lại hiện về.

Trong Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, chương bảy, cuốn sách huyền thoại mà ông khởi viết lúc 19 tuổi để xuất hiện như một cơn địa chấn giữa một Sài Gòn đang chao đảo trong những biến cố kinh hoàng, Phạm Công Thiện đã trích dẫn bài thơ “L’Adieu” của Guillaume Apollinaire trước khi Phạm Duy mở đầu ca khúc nổi tiếng của mình với “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo. Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi”, phổ lời Việt của bài thơ ấy. Hoàng Nguyên Chương và Bùi Giáng đều dịch bruyère là thạch thảo. Một phần tư thế kỷ sau, Phạm Công Thiện vẫn trở đi trở lại với thạch thảo trong Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất. Ông biết bruyère là loài thảo mộc đặc trưng của các vùng đồng hoang châu Âu mà ông dịch là “truông thạch thảo”, tiếng Đức là Heide trong một đoạn thơ của Georg Trakl được Heidegger – vẫn Heidegger! – trích trong Was heißt Denken?. Bây giờ, với trụ sở của Google trong não bộ, chúng ta thông thái ghê gớm. Chúng ta thừa biết thạch thảo là một loài hoa cúc chẳng liên quan gì đến Apollinaire, Georg Trakl và Heidegger. Nhưng chết rồi sẽ là một mùa thu khác chứ không phải mùa thu ấy, mùa thu của Phạm Công Thiện, Phạm Duy, Bùi Giáng, Hoàng Nguyên Chương, của miền Nam trước 1975, khi ta ngắt đi một cụm hoa cúc mối.

Phạm Công Thiện qua đời mười năm trước ở chốn lưu vong. Nếu không, hôm nay ông tròn tám mươi, tuổi bây giờ không còn quá hiếm.

Chú thich:

[1] Bản mới hiệu đính đã đăng trên Tuần báo Trẻ tháng 4 & 5, 2021

[2] J. W. Goethe, Faust, phần I, câu 1217-1237, tr. 62-63, bản dịch của Quang Chiến, NXB Văn học, Hà Nội 2001

1/6/2021

Phạm Thị Hoài

Nguồn: Vietstudies/ Tuần báo Trẻ

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Văn học miền Nam trước 1975 – quen và lạ

Nhiều hiện tượng văn học miền Nam trước 1975 thực ra đã đến với độc giả miền Bắc từ rất sớm, bằng những cách thức và con đường khác nhau…

Cùng với lĩnh vực nghiên cứu – phê bình, sự trở lại của văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 ở lĩnh vực xuất bản trong những năm gần đây là một tất yếu sau gần nửa thế kỷ đất nước thống nhất. Những cái tên như: Bùi Giáng, Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Trang Thế Hy, Sơn Nam, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, Võ Phiến, Nguyễn Thị NgH, Nguyễn Thị Thụy Vũ… và gần đây nhất là trường hợp Nguyễn Thị Hoàng đã/đang dần trở nên quen thuộc hơn với độc giả ở những không gian tiếp nhận khác, nhờ sự tái xuất bản và xuất hiện của các tác phẩm, cũng như sự đề cập hoặc gợi nhắc ở nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về bộ phận văn học này, trong đó có cả những công trình văn học sử. Đây là một tín hiệu tích cực và đáng mừng, bởi nó dự báo một tương lai không xa, bức tranh văn học Việt Nam thế kỷ XX, nhờ thế, sẽ trở nên đa dạng, đủ đầy hơn trong một tinh thần học thuật, sáng tạo thuần khiết và mong muốn hướng tới một nền văn chương đa dạng, giàu giá trị nhân văn, nhân bản và dân chủ của dân tộc.

Theo TS Mai Anh Tuấn, việc đọc, thẩm định tác phẩm của nhiều gương mặt quan trọng làm nên diện mạo văn học đô thị miền Nam trong vòng 20 năm qua như: Bùi Giáng, Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Sơn Nam, Trang Thế Hy, Tràng Thiên, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Thụy Vũ… đang dần đi vào bài bản, trong đó các công bố chính thức dưới dạng chuyên khảo hay tiểu luận của Trần Hoài Anh, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Mạnh Tiến, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Thị Việt Nga, Nguyễn Bá Thành… đóng vai trò như là chỉ dẫn bước đầu. Bên cạnh đó, sự xuất hiện một khối lượng phong phú báo chí văn chương miền Nam và các tác phẩm khảo cứu, dịch thuật của Nguyễn Hiến Lê, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Vũ Đình Lưu, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Duy Cần, Phan  Khoang, Kim Định, Nguyễn Thế Anh, Tạ Chí Đại Trường… cũng là tín hiệu khả quan về một tương lai đủ đầy của bức tranh văn học Việt Nam thế kỷ XX đặt trong tổng thể văn hóa và giá trị dân tộc hài hòa. Tuy nhiên, thực tế và những động thái tái dựng văn học đô thị miền Nam như trên chưa thể coi là đầy đủ và có tính hệ thống, đòi hỏi tiếp tục cần có nhiều tiếng nói cộng hưởng cùng nghiên cứu dài hơi, quy mô, bài bản hơn…

Là một trong những người quan tâm và sớm có nghiên cứu về văn học miền Nam 1954 – 1975 từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên cho rằng: việc tái phục dựng, trở lại của văn học miền Nam 1954 – 1975 là một tất yếu khách quan, đáp ứng đòi hỏi của khoa học và cả câu chuyện của lương tâm, đạo đức, bất chấp rào cản và ngăn trở của định kiến xã hội. Trên thực tế, cách nhìn nhận, đánh giá về một số hiện tượng văn học này gần đây đã trở nên rộng mở, khách quan hơn.

Đánh giá về một số hiện tượng văn học xuất hiện trong không gian đô thị miền Nam nhìn từ tương quan xã hội, trong đó có nhà văn Nguyễn Thị Hoàng và tiểu thuyết “Vòng tay học trò”, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân gợi dẫn khái niệm về “nền văn học tồn tại trong một xã hội dân sự” dựa trên tiêu chí: sự gắn bó, tương tác công khai, tự nguyện giữa tác giả và độc giả, giữa hoạt động sáng tạo và hoạt động tiếp nhận mà không chịu bất kỳ sự áp đặt hay mệnh lệnh hành chính nào. Đối với các hiện tượng văn học miền Nam 1954 – 1975, ông cho rằng cần có cái nhìn, cách đánh giá cởi mở hơn để bộ phận văn học này có thể trở lại một cách bình thường trong tiếp nhận của công chúng.

PGS.TS La Khắc Hòa khẳng định: nhiệm vụ của các nhà xuất bản là làm thế nào để đưa những tác phẩm/hiện tượng văn học từng bị lãng quên trở lại với độc giả; còn nhiệm vụ của giới nghiên cứu, phê bình là phải đánh giá đúng vị trí của các hiện tượng văn học đó trong dòng chảy của lịch sử văn học. Ông cũng cảnh báo về nguy cơ “ngôn ngữ thao túng ý thức”, dẫn tới những khuyết thiếu, thậm chí cách hiểu sai lệch về các hiện tượng văn học từ chính cách gọi tên/định danh theo vùng miền hoặc theo ý thức hệ. Vì vậy, muốn viết đúng, viết đủ về văn học sử, cần/nên tìm cách phân chia văn học theo loại hình.

Trong quan sát rộng dài từ góc nhìn tiếp nhận, TS Trần Ngọc Hiếu cho rằng: nhiều hiện tượng văn học miền Nam trước 1975 thực ra đã đến với độc giả miền Bắc từ rất sớm, bằng những cách thức và con đường khác nhau.

Từ trường hợp Nguyễn Thị Hoàng, nhà phê bình Ngô Thảo khái quát hành trình “trở về” của văn học miền Nam từ 1975 tới nay theo “quy luật của lòng nhân ái”, ở đó thời gian đã đủ dài và chúng ta đã đủ bình tâm để hàn gắn vết thương, những chia rẽ hay hiểu nhầm của quá khứ. Đối với văn chương hay nhìn rộng hơn là với đời sống tinh thần xã hội, đó đều là việc đáng mừng.

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng chia sẻ, khi viết, bà luôn trong tâm thế/tư thế “đứng riêng lẻ”, “không thuộc về ai hay về một phe phái nào” mà là ở giữa “mênh mông trời đất”, với tất cả sự đơn độc cùng ước vọng xóa nhòa ranh giới của những rào cản, sự bất thông, chia rẽ, hiểu lầm giữa con người với con người. Chỉ có như vậy mới có thể tồn tại, vượt qua tất cả mọi ngăn chia, cách biệt, để cùng nhau làm được một điều gì đó thật ý nghĩa cho cuộc đời, cho các thế hệ mai sau. Việc chọn cách im lặng hay tiếp tục xuất hiện trong đời sống cũng như trong sáng tác với bà, vì thế, hoàn toàn là lựa chọn cá nhân, là những trải nghiệm cần thiết và quý giá với một người viết…

Trong một chia sẻ của mình về “Sự trở lại của những nhà văn nữ vang bóng”, nhà thơ Từ Kế Tường từng khẳng định: “Dòng chảy văn học cũng như con sông lớn có bản sắc vùng miền, mặn, ngọt của vị phù sa châu thổ nơi ấy. Chúng đều có ngóc ngách và hứng chịu nắng mưa giông bão… để rồi đổ ra biển cả. Một nền văn hóa giống như đại dương phải biết dung nạp, tổng hòa những đặc trưng làm thành nguồn nước. Văn chương mang sắc thái riêng thì mới có màu sắc lấp lánh. Vì vậy không lý gì chúng ta không hội nhập với chính chúng ta…”.

Khách quan mà nói, có thể thấy độ lùi thời gian đã khiến những rào cản tâm thế và những cách ngăn của quá khứ với hiện tại dần được dỡ bỏ…

4/6/2021

Đỗ Thu Thủy

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Dung dị hồn quê thương đến bao giờ

Thơ Nguyễn Thanh Hải gần gũi với những gì mộc mạc, gợi nhớ, nói lên cái dung dị mà sâu lắng, ăm ắp, chảy mãi, miên miết trôi qua mỗi chúng ta nỗi nhớ, thoáng chút giật mình, thoáng chút cay cay mắt, thoáng chút vô tư tuổi nhỏ, thoáng chút cười bình yên và thoáng chút nuối tiêc cái đã và đang đi qua mất hút…

Từ cái nick bên trang Yumi là Biển Vắng

Nhớ hồi sân chơi yume rồi chat yahoo, lúc đó xuất hiện thơ với cái nickname là Biển Vắng, là một gương mặt nghiêm nghị, miền Tây. Thế rồi đọc và chat với nhau, bình luận thơ rồi cảm mến nhau qua cái chân chất, thiệt thà, hiền lành và mô phạm của nhà giáo nhà thơ Nguyễn Thanh Hải.

Nhà thơ sinh ngày 01/7/1970, quê tại Vĩnh Hựu, Gò Công Tây, Tiền Giang. Thương mến cái chữ, đam mê nghiệp giáo dục, gửi hết tình thương lên trang giáo án khai sáng tri thức cho học sinh vùng sâu vùng xa từ thuở ban đầu trai trẻ cho đến tận bây giờ. Nhà giáo Hải hiện là chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, là Cử nhân Sư phạm Tiểu học, với bề dày kinh nghiệm và tình thương, đoàn kết, đồng nghiệp thương quý, bạn bè dang rộng vòng tay, là người cha mẫu mực, người chồng đáng quý của sự hạnh phúc thật sự! Chúng tôi thật ngưỡng mộ!

Có phải vậy chăng mà thơ đã trổ đầy trong tâm hồn người trung niên ấy.

Thi sĩ là hội viên tích cực của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tiền Giang, là người rất có duyên với giải thưởng từ khu vực tới các tỉnh và địa phương tổ chức. Tuy vậy, sự khiêm tốn và sức sáng tạo của nhà giáo, nhà thơ hiện cư trú tại Cái Bè này luôn làm cho độc giả bất ngờ, reo vui, chúc mừng, nhớ cùng nhịp ký ức với tác giả qua những dòng thơ đậm chất Nam bộ.

Chợt nhớ, từ dạo anh lấy cái nick bên trang Yumi là Biển Vắng, rong chơi miền lục bát thì thơ Nguyễn Thanh Hải hiền đến thơm tho của một tấm chân tình rụt rè, sợ mình bị lấm lem, sợ mình phá vỡ mô phạm. Thế rồi, một ngày nọ lục bát đã không thể dung chứa nổi cái nỗi niềm bay bổng và rạo rực kia. Nó phải được bay nhảy, bức phá tất cả bằng trắc, chạy thẳng vào nhau bằng những va chạm của dài vắn ký tự a, b, c…. chao ôi! Nó như những con sóng mạnh mẽ mà đầy phù sa trù phú trĩu cành của một miền quê thơm thảo – Cái Bè! Thương thiệt là thương vậy đó!

Yume khép lại, chat yahoo cũng trở thành quá khứ. Hiện tại, sự hot đang túc trực trên làng facebook – nơi trải nghiệm, thách thức, chia sẻ những tâm tư tình cảm của nhiều người, trong giới văn nghệ sĩ cũng rất nhiều người hưởng ứng tham gia trang mạng xã hội này. Ảo và thật tùy vào quan niệm và cách ứng xử của mỗi người. Và thơ của thi sĩ Nguyễn Thanh Hải không ảo, nó thật và dồi dào sinh lực trên trang báo in, báo mạng và trang cá nhân facebook của anh.

Bất chợt trong lúc chat facebook, tôi đã hỏi ‘Tại sao huynh mần thơ?’. ‘Cũng không nghĩ là mình mần thơ, viết cũng là cách để cân bằng cảm xúc thôi à’. ‘Tại sao phải cân bằng cảm xúc qua thơ mà không qua cái gì khác hơn?’. ‘Hihi, cái khác là gì cơ: rượu, chè, cờ, bạc? Không nên và cũng không hợp lắm. Thơ giấu được giùm mình cảm xúc, mà không dễ ai nhận biết được. Hihi’. ‘Giấu nhưng rồi lộ hàng hết trơn hết trọi. Vậy thơ có phải là “bờ vai” cần nương nhờ chăng?’. ‘Cũng có thể lắm lắm. Ha ha, ví như có nhiều người hỏi “t” trong thơ Hải là ai vậy, thì mình cứ bảo “ấy” là “nàng thơ”. Đố ai biết được! Khà khà’. ‘Ủa, thơ là cái gì mà hấp mình đến vậy?’. ‘Thật ra, thơ là thật hết đấy! Chỉ là mình giấu lòng thôi! Cho nên mội khi có chuyện vui buồn trắc trở, thương nhớ, giận hờn đều mượn thơ để vu vơ. Hi’. “Trở lại t, đơn giản, chúng ta chớ cố tìm cho ra t là gì, là ai, là cái chi chi, có khi tác giả cũng chẳng biết, chẳng nghĩ, chẳng suy tư nhiều. Thử nghĩ coi, t có thể là thơ, là tâm, là tiền, là tình, là một con chữ cái tiếng việt, là thập giá cứu rỗi nhân gian qua khổ, t là tình thương yêu bất tận. Vậy hãy để t ngân lên cùng chúng ta chuỗi âm thanh bí mật, da diết, thương yêu!’.

Tác phẩm của Nguyễn Thanh Hải

Nhà thơ Nguyễn Thanh Hải có lẽ làm thơ từ lâu, lâu lắm kìa! Còn tác phẩm chính thức được xuất bản trình làng thì mới chỉ có ba tập thơ, đó là: Cúi chiều nhặt sóng (thơ, NXB Hội Nhà Văn – 2013), có 32 bài thơ cùng với một số bài viết cảm nhận về thơ Nguyễn Thanh Hải; Mùa dang tay tha thứ những quay về (thơ, NXB Hội Nhà Văn – 2020), có 53 bài thơ cùng với một số bài viết cảm nhận về thơ Nguyễn Thanh Hải; Nước mắt không làm sáng hơn bầu trời chạng vạng (thơ, NXB Hội Nhà Văn – 2020), có 50 bài thơ được chia làm ba tiểu mục, cùng với một số bài viết cảm nhận về thơ Nguyễn Thanh Hải.

Thơ anh gần gũi với những gì mộc mạc, gợi nhớ, nói lên cái dung dị mà sâu lắng, ăm ắp, chảy mãi, miên miết trôi qua mỗi chúng ta nỗi nhớ, thoáng chút giật mình, thoáng chút cay cay mắt, thoáng chút vô tư tuổi nhỏ, thoáng chút cười bình yên và thoáng chút nuối tiêc cái đã và đang đi qua mất hút…

Từ Biển Vắng mang trong tâm tư dòng thơ lục bát tuôn ra bất tận. Nhưng có lẽ lục bát chưa thể, không thể dung chứa hết sông ngòi kênh rạch chằng chịt câu chữ trong tâm hồn thi nhân, nên tác giả đã mày mò, tìm kiếm, chiêm nghiệm, trải nghiệm, tung tăng, chảy chữ trên cánh đồng chữ nghĩa bất tận mùa màng này bằng thơ văn xuôi. Những dòng dài ngắn đan xen, nối kết, xiết chặt, đan chéo, nâng niu nhau làm nên một giọng điệu riêng trong thơ Nguyễn Thanh Hải.

Chất trữ tình kể chuyện, chi tiết được nhà thơ lẩy ra cho người đọc, người nghe hòa mình vào trong đó, thấy mình đâu đó trong dòng thơ. Điều này đã là một sự khó khăn và thành công ở tác giả.

Tôi xin mạn phép cảm nhận qua lăng kính hạn hẹp về một vài bài thơ trong ba tập thơ đã in của thi sĩ đất Tiền Giang.

Cúi chiều nhặt sóng

Cách đặt tiêu đề thơ dễ gây chú ý, tạo hấp lực, ví như: Phía mùa cam bạc lá, Nắng đã về từ chiều, Về vuốt mặt cánh đồng, Cỏ vô thường ngó xuống những ngón tay, Cúi hôn tóc mẹ chiều xuân, Cánh đồng quả phụ, Khúc khích ô rô, Cúi chiều nhặt sóng…

Những con vật, cỏ cây hoa lá, sự vật cứ nhẹ nhàng hiển lộ để chúng ta chợt ngồi im nghe khúc ru tuổi thơ buồn vui ùa về, xào xạc cùng lá hoa trời đất của tuổi thơ, của những ước mơ và dang dở…

“con dế lửa úp đầu vào hoàng hôn thổi điệu sáo

gió cuốc những đường thở nhọc nhằn trên nền đất đen nâu”

hoặc như:

“ai bắn vào trời cọng u du tuổi thơ còn đau vết sẹo

để sau mùa riêng tiếng mẹ thở dài

để khói trắng đêm cha dằn cơn ho mất ngủ

để trang sách niềm tin anh lén giấu

để lỡ mùa chị mượn chữ nghèo tiếc rẻ thời gian

để trái tim ước ao ngày cũ”

Một loạt điệp từ “để”, một chuỗi hình ảnh, sự việc gợi lên dằng dặc trong nỗi nhớ của nhân vật trữ tình. Sự dằng co, níu kéo kia, để rồi tác giả hạ bút kết cho bài thơ “Phía mùa cam bạc lá” rằng: “nhổ bụi u du chiều sẽ đứt bớt tâm tư…”. Nói vậy thôi chứ làm sao bớt được dòng tâm tư u hoài ấy…

Sự sáng tạo, đột phá, đẫm chất quê và trăn trở nhân sinh:

“cầm vé gió chuyến trở về hương cỏ

nửa đời người chưa qua khỏi vân tay

máu ký ức trong gam màu nắng đỏ

mưa bóng mây cũng đủ ướt chuyến mai này”

(Đồng ta)

Rồi trò chơi tuổi thơ rôm rả cho nỗi chơi vơi cũng dâng tràn:

“tuổi thơ rịt ràng ống thụt vỡ trái mây trời

sậy lau vẹt hai bờ giáp trận

chiều rã ngày

nhịp trống ếch chơi vơi”

(Hương gió cù lao)

Có đôi mắt quan sát và găm vào nỗi niềm nghe mà thương mà nhớ quê nhà quá đỗi:

“Ta đã nợ nần cây mắc cỡ

cả đời rách rưới lá khoai lang

tuyệt nhiên bờ kênh quê hương cất giữ giùm năm tháng

ký ức đời người chấp chới xa xăm”

(Về vuốt mặt cánh đồng)

Thảng thốt gọi “em” hay gọi vào mặt hồ của năm tháng thuở nhỏ, của bạn bè trang lứa, của tình quê xứ sở, của cọng cỏ lọn rau, của bờ lau rẫy mía, của đồng thơm khói chín vụ mùa, của nhớ nhung theo từng nét thơ lay chuyển trong hồn người. Tác giả đã “Dự cảm” cho mình, cho lứa tuổi ấy, cho ngày ấy và mong buổi trở về hay thuở đã từng ra đi… mong manh trong nếp nhớ, nâng niu trong vạt nghĩ, cời lên, cho nó bay mãi, thơm mãi theo thời gian.

“những chiếc lá xoay chiều vũ điệu bầy gió đi hoang

treo lên đỉnh mùa thu bằng nỗi nhớ không đầu không cuối

từng bầy nắng kéo nhau về tổ

em có về gối mặt hoàng hôn nghe mùa ăn năn lời tình dở mưa dở nắng”

Sự khẳng định của tác giả về tình yêu thiêng liêng, tha thiết, gần gũi, giản dị, chân tình, hiện hữu khắp mọi lúc mọi nơi: Quê hương.

“quê hương ơi! rưng rức bãi bờ

cánh mai nhỏ nâng niềm vui cốt nhục

chim chóc đoàn viên bên chiều trỗi khúc

thấp thoáng đồng bằng nắng dõi bóng người thân…”

(Cúi chiều nhặt sóng)

Hình ảnh người phụ nữ hiện lên xuyên suốt dòng thơ Nguyễn Thanh Hải là người mẹ, là những người phụ nữ bình dị nhưng đó là cả bầu trời sữa ngọt, hồn thiêng nuôi nấng bao người con lớn lên, làm cho đất mẹ đẹp giàu, tình nghĩa, vui lao động… Bởi, “mẹ cho con bình yên tiếng lá thổi đồng” (Khế trổ một bông), riêng mẹ nuốt từng cọng buồn vào trong theo năm tháng mọc dài trên tóc trắng “mẹ gục đầu bên mâm cơm rước ông bà chiều ba mươi khóc con không về nữa / bếp nghèo tàn tro lạnh lửa / tổ tiên về buồn cong rớt ngọn tàn nhang” (Nắng đã về từ chiều).

Thành công của tác giả là biết lẩy từ, cụm từ ngữ rất duyên dáng, quen, rất quen mà lạ, sáng tạo, riêng biệt, sống động, gợi mở. Thi sĩ biết lấy những hình ảnh quen thuộc để đánh thức những tiềm ẩn những ký ức của mọi người. Nếp quê miền tây Nam bộ hồn hậu cứ theo về trùng điệp qua dòng dòng chữ chữ thơ hào sảng của chàng trai xứ miệt vườn này!

Mùa dang tay tha thứ những quay về

Vẫn độc đáo cách đặt tiêu đề, cụm từ ngữ làm cho người đọc ‘tò mò’ với thơ với tình với chuyện với cái đọng lại thương yêu mà thi sĩ đã dâng lên đầy đặn gửi cho chúng ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp của đồng bằng phì nhiêu: Về nghe sen nở lại mình, Chiều bỗng dưng đổ dột trong lòng, Em có về đếm gió cùng tôi, Mùa dang tay tha thứ những quay về, Vẹt đỉnh trời hứng Tết, …

Trong năm 2020, nhà thơ Nguyễn Thanh Hải đã “chơi mạnh”, “đẻ mắn” song sanh hai đứa con tinh thần thơ. Một bứt phá, bùng vỡ cho thanh âm trong trẻo ùa về, cho mùa quê mùa gió mùa người cũng ùa về trong hơi thở thơm tho thương nhớ, vị tha, chia sẻ, đồng hành.

Ở tập thơ này, buổi chiều nhập cuộc cảm xúc đong đầy trong thơ. Không gian vẫn là cảnh quê, tình quê, người quê, những hỷ nộ ái ố rất đời nhưng được nhà thơ chẻ ra tâm tư thơ nhẹ nhàng, đủ cứa để đau, vừa vặn nỗi nhớ và cho cái cười xòa bao dung ngọt lịm, dẫu cho cuộc đời đầy thương đau, sự thật luôn phũ phàng không như trong lúc mơ màng mộng mị tưởng tượng. Chao ơi! Sợi khói chiều vương trên chái bếp, cọng rau, dáng mẹ, con cò, nắng, gió, mưa, em, tôi… làm nên một hình hài thi vị ngân ngấn sóng nước Cửu Long.

Tên tập thơ là “Mùa dang tay tha thứ những quay về” nghe rất nhân văn, rất đẹp, rất NGƯỜI. Nó không còn gói ghém của bốn mùa mặc nhiên xuân hạ thu đông, mà nó là mùa giành cho con người, giành cho sự chiêm nghiệm, bao dung, vì nhau, sống chậm lại, thở nhẹ nhàng an vui cho nhau. Dù rất đầy cung bậc buồn, nhớ, nhói, rát, suy tư, vỡ mộng, chia lìa… nhưng suy cho cùng, tình thương yêu thật sự, soi lại chính mình, khó khăn với chính mình và dễ với người thì đó mới là sự cất cánh bay lên của mùa người tươi roi rói này. Cả tập thơ có rất nhiều bài hay, bài nào cũng có nét chấm phá riêng. Tuy vậy, tôi thích nhất một bài thơ “Niệm Phật đi anh”. Đó là hành trình trở về của trí tuệ và từ bi, của ánh sáng đẹp mà chúng ta cùng đang vươn tới, trưởng dưỡng để được thật sự trưởng thành.

Xin cùng tôi lắng nghe và đọc chậm lại dòng âm thanh này trong tập thơ nhé!

“Băng qua rừng khuya một mình lành lạnh gió

thanh âm quái đêm đập rớt tim người

hồi hộp lá hình thù ma quái

chắp tay

giữ lòng rằm

niệm Phật đi anh… ”

Suy cho cùng, tất cả cái đẹp, nỗi nhớ, tình thương là vun bồi cho tâm hồn ta thêm cao thượng, là làm sao cho người thương yêu, bà con quyến thuộc, cha mẹ – đấng sanh thành luôn bình yên, hạnh phúc, thấy được cái ánh sáng của thiện lành mà noi theo, cùng vui vẻ làm điều tốt đẹp. Mỗi người đều như vậy thì cuộc sống này là Thiên Đàng, là Cực Lạc, là Hạnh Phúc nhân gian có thực!

Bài thơ Đời mà Đạo, hương Đạo mà lại thấm vị Đời, là khoảnh khắc thăng hoa sáng tạo trong sát-na tỏa sáng của thi sĩ thiện lành!

Nước mắt không làm sáng hơn bầu trời chạng vạng

“Sao không bồ câu thật lòng

gù nhau thôi làm gì mà giấu

tôi và em bây giờ không thể lấy đường xa làm trang điểm

bởi mùa thu đã từ chối nhau rồi…”

Tôi đọc chậm và thong thả giọt trà nghe trăng lên.

Thơ Nguyễn Thanh Hải đậm tính tự sự và duyên dáng mộc mạc tự nhiên như chất miền Tây Nam bộ. Đó là bờ tre, cọng rau, nhánh hoa, ruộng vườn, con chuồn kim. Nơi đó có tâm tư của mẹ, của chị, của anh, của tất cả nỗi niềm ẩn giấu bằng giọng thơ hào sảng phương Nam. Những con chữ dàn trải ra bất tận rồi cô quánh lại đến không cùng, tựa như những con kênh rạch chảy ra sông, đổ về biển lớn. Những con chữ như chàng lực điền đi cùng bưng biền với cuốc xẻng, chài lưới và cũng rất nho nhã của chàng thư sinh đi bên cô em gái chân quê tay vân vê tà áo bà ba, tay vén tóc mai trong gió chiều. Những con chữ hát lên từ đọc, ngâm, ca để rồi đọng lại trong ta là nỗi nhớ như dấu trong nhau ngày gần.

Những sóng sánh của con nước Cổ Cò – Cái Bè thơm trĩu cây trái đã nuôi dòng thơ Nguyễn Thanh Hải ngọt thơm nhưng đầy váng phèn, đọng chất trữ tình trong câu thơ văn xuôi. Nét đẹp rắn rỏi chứ không phải đẹp kiểu ủy mị, bi lụy.

Lời tâm sự của người quê với vàm sông, bông súng, lục bình, cỏ hoa quanh nhà, hàng bần, bụi hoa mười giờ, với cánh chim nào đó, với con cá quẫy, với người dưng để rồi tất cả trôi vào thinh không mà xa xót, mà quay quắt nhớ vô bờ.

Anh như luôn sẵn lòng chào đón những nỗi buồn, những bình minh đi ngang, như chợt tắt của ai đó va vào. Thây kệ, anh đón nhận và xoa cho những vết xước ấy mau lành như những giọt sữa trên môi bé thơ, như những ngụm nước cho ai đó khát khô giữa nắng ngọ bên vệ đường.

Thơ ư?!

Nói không dễ chút nào!

Như một li rượu đế ngon, uống xong phải vỗ đùi cái đéc, khà một tiếng với tri âm trong đêm trăng rồi cười sặc sụa so dây guitar phím lõm xuống xề liu cống, nghe con nước óc ách bụng xuồng, rồi ta cùng lắc lư dìu nhau theo rạ rơm thơm nhói lòng. Như đóa hoa quê mà không thô, thị mà không sặc sỡ, nó cứ đượm lòng người bởi làn hương vừa đi ngang lại níu nhau đến vô cùng. Thơ Nguyễn Thanh Hải là như vậy đó, đó là giọt rượu được chưng cất từ tay nấu rượu điệu nghệ và cũng cần có đúng người thưởng thức rượu nữa chứ!

“Dòng sông nào đã trôi đến buồn vui thăm thẳm cõi bờ

lại ở đây không biết buồn hay vui chiều cứ rượu

không lẽ cầm nỗi buồn của mình mà đem đo ra bao nhiêu sào mẫu

lòng thương sao bông bí cứ vàng”

Đoạn thơ trên trong bài “Chiều như lá mênh mông”, cả bài mênh mông xoắn lòng tôi day dứt.

Rồi như ca dao đi ngang lòng tôi, rồi như buồn thương gần xa hiện về mà đằm thắm quá đỗi.

“Đuổi con kiến vàng sao bò ngang nỗi buồn của mẹ

bờ bãi hoài hoang cỏ cú mọc tơi bời

thò tay vớt vũng bèo xanh vời vợi

dừa ai trưa rụng một tiếng khô thương”

(Chiều nhớ mẹ tôi bông sứ trổ nhau buồn)

Mà thôi đi, thương còn chưa đủ nữa mà lấy chi nỗi buồn. Những thương yêu quê hương hồn hậu neo về trên thơ, trên mắt nhau bằng chữ chữ chữ tròng trành cho ta neo nhau, vương vít nhau đến trăm năm bất tận!

“cây cau vua trước nhà thương người đã nụ

đừng để bằng lăng lối đó

đâu phải cứ đom đóm là tối bay ra ngõ

đêm còn lý lẽ của cây bần”

(Chúng mình vừa vặn hơn sông)

Nở ra những khát vọng:

“muốn về gom hết những mênh mông đốt cho chiều gió trở

gửi con én chấm lên trời những chấm tàn tro”

(Cỏ lông bông)

Những hoài niệm mang bóng dáng của nhiều người. Cầm trên tay xấp nhớ không thể giận hờn, chẳng hề vu vơ mà nó đằm sâu, nén lại cho mỗi ai rồi cũng có nơi quay về, bóng mát quê nhà. Vì,

“đi đâu về đâu vẫn là mình Vĩnh Hựu

chỉ cần mắt nhắm lại thôi là về tới cội nguồn”

(Là trở về thăm một chuyền sắp đi xa)

Thơ Nguyễn Thanh Hải không cố sắp xếp, chẳng phải cầu kỳ, không làm dáng mà nó chảy ra tự nhiên như hơi thở. Sần sùi, bóng mẩy, sàng sảy ra sẽ có những mầm thơ lóng lánh, đẹp trong ngần!

T cứ trùng điệp trong thơ anh. T là Nàng Thơ. T là một ẩn dụ. T là một chiếc đũa thần cho anh gõ vào nhịp lòng mình…. thổn thức những đêm gọi trăng sao. Rồi có một lần xuất hiện cũng không kém phần dấu hỏi là Q. Q đi ngang qua anh, qua thơ, qua cả bờ đê roi rói…

Những câu thơ đưa mình về kỷ niệm đẹp, xa xăm trong trẻo, lưu dấu trong “Không thể thanh xuân những bạc dấu con đường”:

“Tôi xốc ba lô một nỗi buồn phía cũ

không thể thanh xuân những bạc dấu con đường

bìm xõa nhớ thương xuống bờ quê như tóc ngọn cứ dài dòng

chiếc nơ thời gian có còn kẹp dùm xưa lọn tím?”

Thơ của Hải không thể trộn lẫn vào người khác được. Vậy mà có đôi lần ai đó mang chút màu sắc, ý tứ y hệt thơ Hải, anh chỉ cười và nói ‘vui thôi mà!’. Bao dung quá! Thơ còn bay lên những cung bậc, của những nỗi niềm dang rộng, của những miền thương yêu xua đi giọt nước mắt để buổi chạng vạng là những niềm tin yêu, là nụ cười của trở về, của sum vầy, của an hạnh!

Phải là người yêu quê lắm mới am hiểu từng loài thảo mộc, mới dễ tâm tình cùng với hoa cỏ quê nhà, con sông ngọn nước cứ bì lõm như ca dao, như nhắc hẹn, như gọi mời, như ì đùng cả trời thơ ấu bay về. Đọc nhanh và rồi lật lại đọc chậm để thấy thơ ấy là một Nguyễn Thanh Hải trăn trở, yêu thương, khát khao và trữ tình.

Rồi khi đọc nhiều bài thơ về mẹ của Nguyễn Thanh Hải, giọt nước mắt nào cay xè, giọt bụi nào đi qua, nỗi niềm thiêng liêng ủ kín và bay lên xòa vào trong nhau cả quãng đời, cả bầu trời mặt đất không thể ví hơn mẹ, không gì ví như mẹ được! Những bài thơ về mẹ, có thể kể như: Chuyến mẹ lên thăm con mẹ về, Chiều nhớ mẹ tôi bông sứ trổ nhau buồn, Là trở về thăm một chuyến sắp đi xa. Và nhiều nữa! Để rồi tôi đọc chậm lại “Mùa tỷ muội” để gặp anh trong câu thơ da diết:

“Con sông trước nhà nước mắt chảy thăng trầm

và tóc mẹ chưa bao giờ biết ngủ?”

Hiểu được mình, nhận ra mình đang ở đâu và làm gì là điều vô cùng khó, không phải dễ làm. Nhưng nhà thơ đã một lần nào đó tự cảm và nhận ra, rồi chợt ồ:

“Rốt cuộc rồi mình chỉ là hạt bụi

hạt bụi loanh quanh quằn quặt giữa cuộc đường

có lần T đã nói khi nhìn vào bụi bặm

mình là bụi/ hạt bụi cũng là mình”

(Phải dè mình thây được sóng trong lòng)

Đọc thơ Hải không phải để lẩy ra câu, chữ nào đó là câu hay, ý đã mà là thấy cả tâm tư, tư tưởng, tinh thần của bài thơ anh gửi gắm. Nó ào ạt và dồn nén, bung ra và cô đặc như một miền riêng Hải với cỏ quê, mặc đời khen chê, anh vẫn bình dị sống chơn tình!

Nhắc nhớ trong tôi mãi ở bài thơ “Chuyến mẹ lên thăm con mẹ về” cứ không thôi ám ảnh một nỗi niềm của tình mẫu tử, của đạo và đời vốn dĩ không hai.

“Cho đến khi mùa thu chở mẹ về rồi

con mới ngơ ngác hỏi tháng mười gửi gì chưa gió bấc 

nhiều khi nghĩ vô tình thành cái tật

mẹ thích áo màu gì và cũng chẳng biết ai may

không gì vui bằng khi nghe con đọc vài câu Phật

Mẹ nói đọc kinh để biết trả nỗi buồn cho đất

nhưng không phải dễ dàng như bứng cây ngâu từ ngoài vườn lên chậu

con còn đời nên chưa thuộc nổi một câu kinh”

Tôi xin khép lại những lan man cảm hoài lòng mình qua làn sóng thơ Nguyễn Thanh Hải. Hi vọng một lúc nào đó, chàng thi sĩ biết tiết chế cảm xúc, dồn ứ câu thơ, vo tròn hòn thơ ấy thành một chất sánh đặc sẽ độc đáo hơn nữa. Đôi khi câu chữ thơ kia cũng cần chải chuốt lại, có lúc lại nên để cho nó sạm màu da, thuần khiết, tự nhiên, xộc xệch rồi lớn lên trên tay đời. Đồng bằng sàng sẩy và rồi thơ ấy còn cất cánh cao giọng hót nhiều nơi trên đất nước này và biết đâu, mai này, thơ sẽ gặp tâm hồn đồng điệu nào đó trên cuộc đời bất kể màu da, châu lục. Đọc và cùng ngấm vị của thơ, của tình người bổn xứ để thấy Thơ là vùng bí hiểm mà không dễ chạm vào mà một khi chạm vào thì khó mà bước ra khỏi nó được.

Phú Lộc, 23/2/2021

Trần Huy Minh Phương

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Chử Anh Đào & Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương

Đọc hết Bức tranh vân cẩu, ta thấy phần lớn các truyện ngắn của Chử Anh Đào là nhằm phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội, nhất là với con người đang có nhiều chiều hướng sống phức tạp của cái thời buổi cơ chế thị trường bị bóp méo theo một cái định hướng mù mờ dở dơi dở chuột không giống ai kiểu như một cô gái vừa muốn đẻ được đứa con cho tròn chức phận phụ nữ nhưng lại vừa muốn giữ được trinh tiết…

Đã vài chục năm nay, Chử Anh Đào ngày càng là một cây bút được khẳng định ở Tây Nguyên và cả nước. Hình như càng dấn thân với vùng đất cao nguyên anh càng sống khỏe và viết cũng khỏe hơn. Năm 2011, tập truyện ngắn Bức tranh vân cẩu của Chử Anh Đào được NXB Hội Nhà văn ấn hành, đây là cuốn sách thứ 6 của anh.

Là giảng viên văn học lâu năm lại thông thuộc chữ Hán thâm nho, Chử Anh Đào có cách viết kiệm lời mà đậm chất châm biếm u mua. Và đây rõ ràng là một sở trường của cây bút này. Đọc Bức tranh vân cẩu, bạn đọc sẽ thấy các nhân vật trong mỗi câu chuyện anh kể thường chỉ thông qua vài lời mô tả ngắn gọn, vài lời thoại tưng tửng là đã hiện lên đầy đủ chân dung cần nói. Và vì thế thường thì đọc văn Chử Anh Đào, thỉnh thoảng ta lại được thưởng thức những nụ cười thâm trầm của một lối phê phán sắc sảo mà ý nhị. Điện thoại di động, Nhà thơ, Lý sự rượu và đặc biệt là Đồng nghiệp cũ là những câu chuyện như vậy. Nhân vật Hùng trong Đồng nghiệp cũ chắc chắn sẽ khiến bạn đọc chết cười với một loại trí thức nửa mùa na ná nhân vật Khổng Ất Kỉ trong truyện ngắn Lỗ Tấn. Cái cách mà Chử Anh Đào mô tả Hùng mới “độc” làm sao: “Trông xa một mớ bùng nhùng, Lại gần thì hóa thầy Hùng dạy văn”. Theo Chử Anh Đào, Hùng là nhân vật mà anh đã xây dựng từ một nguyên mẫu vốn là đồng nghiệp cũ của anh ở ngoài đời. Có được một loại chân dung trí thức nửa mùa đáng thương hơn là đáng giận như thế, Đồng nghiệp cũ là một thành công đáng kể của Chử Anh Đào.

Riêng ở Lý sự rượu, đằng sau những trang đối thoại chỉ giữa hai nhân vật trong quán nhậu, bạn đọc sẽ dễ dàng nhận ra một cây bút chắc hẳn là rất sành điệu, sành rượu và sành nhậu đã kinh qua một lịch sử có bề dày thâm niên ở các tửu quán mới có thể viết được với một ngôn ngữ độc đáo như vậy.

Đọc hết Bức tranh vân cẩu, ta thấy phần lớn các truyện ngắn của Chử Anh Đào là nhằm phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội, nhất là với con người đang có nhiều chiều hướng sống phức tạp của cái thời buổi cơ chế thị trường bị bóp méo theo một cái định hướng mù mờ dở dơi dở chuột không giống ai kiểu như một cô gái vừa muốn đẻ được đứa con cho tròn chức phận phụ nữ nhưng lại vừa muốn giữ được trinh tiết. Thời buổi mà đồng tiền đang là chuẩn mực của lương tâm đạo đức và phẩm hạnh nhân cách chỉ là một khái niệm vừa hâm hấp vừa xa xỉ. Thị Mầu, Tinh thần thể dục, Tử tội là những chuyện như thế. Có điều đáng nói là qua sự phê phán nhân vật và xã hội trong những câu chuyện kể trên, ta không thấy sự vùi dập tàn ác theo kiểu hạnh tai lạc họa mà ngược lại, hiện lên rờ rỡ một sự thương cảm và có cả sự đồng cảm của tác giả. Đó chính là cái chất nhân văn rất đáng trân trọng của Chử Anh Đào khi cầm bút. Chẳng thế mà tôi thấy vẫn lẩn khuất những nét đáng yêu, có khi là yêu đến vô cùng các nhân vật như lão Bạch trong truyện ngắn cùng tên, Vui trong Điện thoại di động, ông anh nhà thơ của tổ hưu trí phường trong Nhà thơ… dù các “ông anh” này đã bị “thằng em” Chử Anh Đào quật bút cho tơi tả nhưng dù sao họ vẫn là những người sống lương thiện, thật thà chất phác, không lừa thầy phản bạn; chí ít cũng không giống như bao kẻ mũ cao áo dài com lê cà vạt sáng choang miệng nói những lời có gang có thép nhưng tâm địa thì đen tối và dã man như phát xít.

Tuy nhiên, trong Bức tranh vân cẩu vẫn xuất hiện đó đây những nhân vật tích cực như là những điểm sáng le lói trong một xã hội mà lòng tốt như lá mùa thu hay như người ta thường nói là Thạch Sanh thì ít mà Lý Thông thì nhiều. Dù là hiếm hoi nhưng ngòi bút nhân bản của nhà giáo Chử Anh Đào vẫn cố công khai thác để tạo nên độ sáng cần thiết cho tập truyện. A Phai mở đầu tập truyện, Mẫu tử, Răng, Ngựa hoang, Rượu thuốc… là những câu chuyện thuộc loại này. Dù mới chỉ là những điểm sáng yếu ớt nhưng dẫu sao nó cũng đã ít nhiều mang lại niềm lạc quan vào cuộc sống, như là môt sự an ủi của tác giả với bạn đọc. Có thể xem đó là trách nhiệm của người cầm bút Chử Anh Đào trước một thực tại đang có quá nhiều điều tang thương dâu bể.

Và điều này cũng là sự lí giải cho một cái tên khá khó hiểu với không ít người của truyện ngắn được tác giả lấy làm tên chung cho cả tập truyện: Bức tranh vân cẩu.

Bức tranh vân cẩu được Chử Anh Đào lấy từ câu thứ 76 rất đượm màu triết lý vô thường của đạo Phật và học thuyết vô vi của Lão Trang trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều: “Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”. Nhưng tìm cho hết ngọn nguồn của từ nguyên trong câu trên thì hình ảnh vân, cẩu (là mây và chó) lại được Nguyễn Gia Thiều lấy từ thơ của Đỗ Phủ trong câu:

“Thiên thượng phù vân như bạch y,

Tu tư hốt biến vi thương cẩu.”

(Trên trời đám mây nổi như cái áo trắng,

Bỗng chốc hóa hình con chó xanh)

Câu này đã được Chử Anh Đào kín đáo lấy làm đề từ cho tập sách như một tuyên ngôn, một chủ đề tư tưởng của tập truyện. Ý nói sự biến chuyển nhanh chóng của mây trời và cõi đời. Tang thương: tang là cây dâu, thương là màu xanh của cây dâu – ruộng dâu xanh. Sách Liệt Tiên truyện chép: Bà Ma Cô tiên nữ đã nói bà từng thấy một nơi kia đám ruộng trồng dâu đã ba lần hóa thành bãi bể. Sự thay đổi nơi trần thế cũng vậy. Sự biến thiên của một con người giống như nhìn một đám mây trôi nổi như cái áo trắng bỗng chốc lại hóa thành hình con chó xanh. Biển xanh kia còn có lúc biến thành nương dâu thì thân người có sá gì và đã là cái gì giữa một xã hội đầy biến động và nghịch lí. Đọc Bức tranh vân cẩu sẽ thấy cái tinh thần ấy khá rõ nét.

Đó cũng là một thâm ý của tác giả Bức tranh vân cẩu.

10/6/2021

Hà Tùng Sơn

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Vì sao thơ ca bị ghét?

Trong 113 mùa Nobel đã qua, chỉ có 20 lần các nhà thơ được vinh danh. Và cũng đã 9 năm mới lại có một thi sĩ nhận giải thưởng này.

Ở đây chúng ta không tính đến trường hợp Bob Dylan, chiến thắng mà giới văn đàn nhìn chung mỗi khi nhắc đến cũng chỉ biết cười trừ hoặc cười khẩy. Thậm chí thi sĩ gần nhất được trao giải thưởng này là Tomas Transtromer cũng bị trêu đùa là giờ giải lao của Viện Hàn lâm, vì sau bao năm tháng phải liên tục đọc các tác giả tác phẩm nước ngoài (một tính toán cho biết mỗi người phải đọc 200 đầu sách một năm, một số lượng không tưởng), năm 2011 có lẽ các giám khảo đã quá mệt rồi, cho nên họ đã chọn một tác giả đồng hương Thụy Điển để nghiền ngẫm cho… đỡ mệt.

Nhưng khi cái tên Louise Glück được xướng lên cho giải Nobel 2020, tất cả đều thở phào. Một cây bút trên tờ New Yorker tóm gọn lại xúc cảm của giới văn nghệ: “Lý do cho niềm vui rộng khắp ấy vừa giản dị vừa sâu sắc. Giản dị, vì Louise Glück là một cây bút vĩ đại xứng đáng với giải thưởng. Tác phẩm của bà rung động và bất ngờ; chúng vừa gần gũi vừa huy hoàng; bà cuốn hút những người chỉ đọc thơ và cả những người hầu như không đọc thơ”.

Chúng ta nên nhắc lại điều này, Louise Glück cuốn hút cả những-người-hầu-như-không-đọc-thơ – mà sự thực là có rất nhiều người như vậy, và không chỉ những người mà văn chương nghệ thuật không đem lại cho họ chút hưng phấn nào.

Nếu như điện ảnh là bộ môn nghệ thuật có tuổi đời ngắn ngủi nhất, thì thi ca tuy đã có từ rất lâu, nhưng lại luôn là bộ môn nghệ thuật bị ruồng bỏ. Nhà hiền triết vĩ đại Plato có một sự khinh miệt sâu sắc đối với thi ca. Trong cuốn “Cộng hòa” của ông, nhân vật triết gia Socrates (cũng chính là vị thầy lớn của ông) đã nói rằng, “có một vụ xung đột cổ xưa giữa triết học và thi ca”. Socrates (hay có lẽ chính Plato) tất nhiên đứng về phía triết học, thứ mà ông cho là chân lý, đại diện cho lý trí, trong khi thi ca là doxa – tạm hiểu là một niềm tin của đa số, thứ không dựa trên logic, và là đối thủ của tri thức.

Mặc dù tương truyền Socrates đã suy luận được ngày mình về trời từ một giấc mộng của một phụ nữ trích dẫn thi sĩ Homer, nhưng ngay cả một bậc thầy thơ ca như Homer cũng không khiến Socrates vừa lòng. “Những thứ mà Hesiod và Homer kể cho chúng ta nghe, cả những nhà thơ khác nữa. Họ hẳn đã xuyên tạc những câu chuyện cho con người”, nhân vật Socrates nói trong “Cộng hòa”. Còn Plato thì quan niệm rằng nhà nước lý tưởng của ông không có chỗ cho các nhà thơ.

Tại sao Socrates và Plato căm ghét thi ca đến vậy? Plato sau khi trở thành môn đồ của Socrates thậm chí còn tự đốt hết thơ mình từng viết hồi trẻ dại. Bởi theo họ, thi ca là một thứ nguy hại cho xã hội, làm hỏng những tâm hồn tốt đẹp nhất, thơ ca lừa lọc chúng ta, khiến ta cảm thông với những kẻ than vãn, những ham muốn bất chính và cười nhạo trước những nền móng của thế giới. Chẳng hạn, hai tập trường ca “Iliad và Odyssey” thường xuyên nhắc tới địa ngục như một chốn kinh hoàng nhấn chìm cả những bậc anh hùng tài ba nhất, khiến cho những người lính nhụt ý chí khi bước vào sa trường; hay trong mắt các thi sĩ, thần Zeus chẳng có gì tử tế mà toàn gieo rắc tai họa và làm ra những việc vô đạo. Trong thơ Homer, những phân đoạn như Achilles sỉ vả Agamemnon hay những phân đoạn mô tả niềm vui ăn uống túy lúy dù khiến người đọc sung sướng đấy, nhưng sự sung sướng ấy không khiến con người trở nên cao quý hơn. Hay chuyện thần Cronus thiến cha trong thơ Hesiod thì có ích gì cho luân thường đạo lý?

Nói tóm lại, thi ca bị căm ghét vì nó chẳng theo một logic nào, luân lý nào, nó chỉ là xúc cảm, là bản năng, là tiếng gọi của những phần vô tổ chức bên trong con người. Và dường như sau mấy ngàn năm, những suy tư của Plato về thi ca vốn đã bị các triết gia sau ông phản bác, vài chục năm trở lại đây, chúng lại đang trở lại, trong một thế giới dù chưa lý tưởng nhưng cũng không còn nhiều chỗ cho thơ.

Năm 1991, tạp chí Atlantic Monthly đăng tải một bài tiểu luận mang tên “Thơ ca có thể nào quan trọng không?”. Bài tiểu luận bất ngờ trở thành bài báo được phản hồi nhiều nhất trong lịch sử tờ tạp chí này. Trong bài viết ấy, tác giả Dana Gioia khẳng định rằng thơ ca đã không còn ở trung tâm đời sống tri thức nữa mà đã trở thành một nhóm “tiểu văn hóa”. Nhiều cuốn thơ được giải thậm chí còn không được đếm xỉa trên các trang báo lớn (Dana Gioia không hề nói quá, nói đâu xa, cuốn “The Wild Iris” từng được giải Pulitzer của Louise Glück chẳng có nổi một bài review (đánh giá) trên New York Times hay New Yorker, những trang báo theo rất sát đời sống văn hóa).

“Tôi cũng không ưa nó: có những thứ quan trọng hơn nhiều so với ngón lừa bịp này”, Marianne Moore, nữ thi sĩ nổi danh từng thắng giải Pulitzer và giải Sách Quốc gia viết trong bài thơ nổi tiếng nhất của bà mang tên “Thơ ca”. Có lẽ không có một môn nghệ thuật nào khác mà người nghệ sĩ dám công khai hạ thấp nó. Còn giả như họ ưa nó, thì họ chắc cũng là những nghệ sĩ duy nhất phải đi bao biện cho nghề nghiệp của mình, như Percy Shelley – thi gia tiêu biểu thời kỳ Lãng mạn – đã dày công viết bài tiểu luận ‘Biện hộ cho thơ’. Không ai hỏi rằng kịch nghệ, hội họa hay tiểu thuyết có nghiêm túc không, nhưng tính nghiêm túc của thơ ca luôn bị đặt câu hỏi.

Chúng ta cứ nghĩ rằng với một nền văn chương nặng về thơ phú như Việt Nam thì thơ hẳn phải được coi trọng. Song đó là trong quá khứ, còn ngày nay, tôi từng nghe một vài người bạn làm xuất bản ở Việt Nam nói rằng, các nhà phát hành rất ngại in thơ vì khó bán. Một chuyện cũng khá buồn cười là khi có tin Louise Glück được trao giải, một biên tập viên nổi danh trong giới đã đăng tải lên facebook, nói vui rằng, các nhà sách ở Việt Nam đang thở phào vì may quá, là thơ, khỏi phải dịch và in!

Với thơ Việt hiện đại, trong giới văn nghệ bé tí luôn phải nhìn mặt nhau, không nhiều người nói thẳng được như Nguyễn Huy Thiệp. Tiểu luận “Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn” của ông có một đoạn rằng:  “[…] trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa”.

Vấn đề nữa của thơ là rất dễ để tâng bốc nó vượt ra khỏi giá trị thực của nó. Nhiều bài thơ chỉ là sự lai ghép những từ ngữ bóng bẩy lại với nhau, những cụm từ vốn bình thường không ai đem ghép cặp, thế là thành một bài thơ. Người ta nhiều khi lợi dụng bản chất khước từ tính logic của thơ để gán cho nó những ý nghĩa cao vời, chẳng ai chứng minh được là đúng hay không. Thi sĩ đương đại Robert Bly đã cho rằng chúng ta đang ở một tình thế kỳ lạ, dù rất nhiều những tập thơ dở tệ ra đời, nhưng phần lớn nhận xét về chúng đều tốt. Những lời ve vuốt dành cho các tác phẩm xoàng xĩnh khiến những nhà thơ dù có năng lực cảm thụ tốt cũng phải tự nghi ngờ mình. Cá nhân tôi nghĩ dù Bly đang nhận định nền thơ ca Mỹ nhưng nó cũng phù hợp với thơ ca Việt Nam ngày nay. Nhiều trang đăng thơ nhưng phần bình luận bên dưới còn hay và đáng suy ngẫm hơn chính bài thơ ấy. Cuối cùng thơ hay trộn lẫn với thơ dở, chịu cùng một ánh mắt ái ngại như nhau, càng làm người ta nghi vấn về sự nghiêm túc của nó.

Trong một bối cảnh thi ca như vậy, Louise Glück được trao giải Nobel, điều lạ là không ai không phục kết quả đó. Bà được vinh danh vì “giọng thơ riêng biệt mà với vẻ đẹp mộc mạc đã khiến sự tồn tại cá thể trở thành phổ quát”. Trong câu ấy, hãy chú ý nhất đến từ “vẻ đẹp mộc mạc”. Thơ của Glück không ba hoa, không bóng bẩy, không tham vọng, không làm dáng bằng những từ ngữ loảng xoảng “nguy hiểm”. Chúng kiệm lời, gọn gàng, không đánh đố sự hiểu biết của người đọc, song vẫn chan chứa sự mơ hồ và những khoảng trống câm lặng khó minh định. Khác với những bài thơ dở, phần lớn những bài thơ hay không cần người ta phải phân tích dài dằng dặc để chứng minh rằng nó có giá trị gì đó (dù tất nhiên ta cũng vẫn có thể phân tích nếu thích). Một bài thơ hay ngay khi đọc lên nó đã hay. Trên instagram và twitter trong ngày Glück giành giải Nobel, hàng ngàn người đăng lên những áng thơ của Glück, dù họ không phải giới phê bình và bình thường cũng chẳng quan tâm mấy tới thi ca.

Chúng ta sống trong một thế giới bùng nổ công nghệ và khoa học kỹ thuật, mọi khẳng định đều cần con số, mọi kết luận phải có chứng cứ, tất cả đều duy lý. Đặc điểm của văn minh là trật tự, là những công thức, là sự tính toán tỉ mỉ và chính xác tất cả mọi thứ, là những dữ kiện khoa học xác thực. Đó không phải những điều kiện ưu ái để nảy nở thi ca – thứ đại diện cho xúc cảm, cho bản năng (vâng, điều này Plato vẫn đúng), nhưng thơ Glück, bằng một cách nào đó, cho thấy con người vẫn là con người, dù nền văn minh có biến họ thành những kẻ sống có trật tự đến đâu thì sâu trong họ vẫn có những cảm thức mơ hồ không thể cắt nghĩa và cũng không cần cắt nghĩa, những cảm thức ấy đôi khi không hữu ích cho ai, nhưng chúng đẹp đẽ và chân thành.

Thực tế, toàn bộ lời “miệt thị” mà nữ thi sĩ Marianne Moore dành cho thi ca là như thế này:

“Tôi cũng, không ưa nó: có những thứ quan trọng hơn nhiều so với ngón lừa bịp này.

Tuy nhiên, khi đọc nó với sự khinh miệt hoàn hảo, ta phát hiện ra trong nó

sau tất cả, một nơi chốn cho sự chân thành”

Sự tôn vinh Glück chưa chắc đã thúc đẩy được gì cho sự phát triển của thi ca, nhưng chí ít, nó đã trả lời được cho câu hỏi “Thơ ca có thể nào quan trọng không?”. Có, nó có thể.

11/6/2021

Hiền Trang

Nguồn: ANTGCT

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Hoài Thanh và phương pháp phê bình ấn tượng

Phê bình văn học Việt Nam, sau sự khởi nguồn của Thiếu Sơn với Phê bình và Cảo luận (1933) chia thành hai ngả. Một xuất phát từ Phê bình để trở thành lối phê bình chủ quan ấn tượng với Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam (1942). Lối kia bắt nguồn từ Cảo luận tạo nên phê bình khách quan khoa học với Vũ Ngọc Phan của Nhà văn hiện đại (1942), Trần Thanh Mại của Hàn Mặc Tử (1941), Trương Tửu của Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1945). Sự phân chia này, dĩ nhiên, không phải là hành chính, mà là khoa học, tức sự phân giới dựa trên những yếu tố chủ đạo, nên không phải là không thể vượt biên. Bởi, mọi biên giới đều mơ hồ hơn ta tưởng, nhất là ở khoa học văn chương.

Hoài Thanh, xét về mặt kích thước, có thể dài rộng hơn Thi nhân Việt Nam, nhưng ở bình diện phẩm tính, Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam là một. Thậm chí, chỉ ở Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh mới thực sự là Hoài Thanh. Chả thế, trước khi nhắm mắt, ông cho gọi Từ Sơn vào và nói: “Cha biết văn chương của cha cũng vầy vậy thôi. Nếu không có cuốn Thi nhân Việt Nam thì chắc gì người ta đã công nhận cha thực sự là một nhà văn” (Từ Sơn: Di bút và di cảo, Văn học, H., 1993). Thế là đứa con hoang (Sau năm 1945 nhiều nhà văn, nhà phê bình công khai chối bỏ những tác phẩm viết trước đó của mình như trường hợp Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam, Vũ Ngọc Phan với Nhà văn hiện đại (và về sau Nguyễn Đình Thi với Thơ không vần), coi đó là đứa con hoang. Nhưng trớ trêu thay, lũ con hoang – kết quả của thứ tình yêu nồng nàn, bồng bột – ấy lại cứ thông minh, cứ kháu khỉnh và đặc biệt (quả không biết điều tí nào) cứ giống cha hơn hẳn những đứa con hợp pháp được sinh ra trên giường êm nệm ấm theo một thứ nghĩa vụ nào đó) mà già nửa đời sau Hoài Thanh một mực không nhận, rốt cuộc đã được người con trưởng chính thức ghi danh vào gia phả. Con chim trước khi chết quả đã kêu thiêng.

Ở Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã hiển lộ một trực giác nghệ thuật tuyệt vời. Nhờ linh khiếu này, nên dù không phân tích, mổ xẻ, mà chỉ “uốn lượn quanh tác phẩm” (J.Lemaitre), Hoài Thanh đã chỉ đúng phoóc những nét riêng của từng thi sĩ: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần, một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên… và thiết tha rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”. Những ấn tượng trên được Hoài Thanh phô diễn bằng một ngôn ngữ tinh tế, giàu cảm xúc, hình ảnh, nhịp điệu – thứ ngôn ngữ mà các nhà dân tộc chí thường dùng để nắm bắt cái tâm hồn bàng bạc của thổ dân mỗi khi ngôn ngữ khoa học bất lực. Có thể nói, Thi nhân Việt Nam là thế giới nghệ thuật riêng của Hoài Thanh, một thế giới đầy âm thanh, màu sắc, ấn tượng hồn nhiên, tươi mới: Thơ Mới đã được cảm nhận bằng chính tâm hồn nhà phê bình theo sự tương thông của những vũ trụ đồng đẳng. Hoài Thanh làm phê bình mà cứ như làm thơ, đúng hơn, phát biểu những ấn tượng thơ. Có điều, nếu thi nhân lấy vật liệu từ đời sống thì ông lấy vật liệu từ thi phẩm.

Lối phê bình “chỉ dựa vào ấn tượng, cảm xúc, rung động của mình khi đọc tác phẩm” này của Hoài Thanh được/bị Trương Chính gọi là phê bình ấn tượng. Và “gắn liền với phương pháp phê bình ấn tượng là phê bình chủ quan, tách tác giả với tác phẩm, không cần biết tác giả, chỉ biết tác phẩm” (Lời giới thiệu Tuyển tập Hoài Thanh). Nhiều nhà “Hoài Thanh học” không tán thành cái định danh này của Trương Chính. Người này cho biết không thấy Hoài Thanh trực tiếp nói gì về phương pháp này. Các nhà phê bình trước 1945, tôi nghĩ, ít ai giới thiệu họ hàng ngoại (có lẽ Trương Tửu là một ngoại lệ), bởi Việt Nam bấy giờ tương thông với Pháp, các phê bình gia phương Tây được giảng dạy ngay trong nhà trường, nên ích gì cái việc biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Vì thế, việc truy nguyên ngày nay chỉ nên xét ở việc làm, tức đường lối tác phẩm. Người khác e gọi phê bình Hoài Thanh là ấn tượng sẽ làm giảm giá Thi nhân Việt Nam, bởi họ nghĩ phê bình ấn tượng là “không có lý thuyết”, là đồng nghĩa với “hời hợt”, “ít đọc sách” (Nguyễn Văn Hạnh tâm sự: “Qua những lời bộc bạch của tác giả Thi nhân Việt Nam về cung cách và ứng xử của ông với thơ, ta dễ có cảm tưởng ông là một nhà phê bình “ấn tượng chủ nghĩa”, “tài tử”. Chính người viết bài này cùng bạn bè của mình khi còn học ở chuyên khoa và có lẽ cả trong năm đầu đại học cũng đã nghĩ như vậy về ông. Nhưng càng có hiểu biết và kinh nghiệm trong nghiên cứu văn chương, tôi và các bạn bè tôi thời ấy đều biết rằng mình đã rất sai lầm” (tr.228). Hoàng Ngọc Hiến thì thống thiết: “Tôi bàng hoàng nhận thấy trình độ phê bình của ta hiện nay kém hơn Hoài Thanh thời bấy giờ. Mặc dù hiện nay chúng ta đông hơn, đọc nhiều hơn, đủ các thứ lý luận nhưng trình độ vẫn kém hơn. Viết phê bình, Hoài Thanh “nhả” ra những phán đoán riêng của ông, có bao nhiêu, “nhả” ra bấy nhiêu, có tác giả ông chỉ viết dăm bảy dòng và rất trúng. Ta thường gọi phê bình của Hoài Thanh là “ấn tượng” này, ai cũng nói như vậy, mà đúng là như vậy, nhưng để có những “ấn tượng” này, nhà phê bình đã đọc rất nhiều sách, nghiên cứu sâu rộng không ít lý thuyết đâu”(tr.124). Thực ra, Hoài Thanh không phải là người hời hợt và ít đọc sách, còn phê bình ấn tượng thì lại càng không phải là không có lý thuyết, dù là thứ lý thuyết về sự không có lý thuyết. Có điều chúng ta phải thừa nhận là, trong tư duy Việt Nam, truyền thống lý thuyết không phải là một nhịp mạnh. Bởi thế, mọi thứ isme, ít nhất là trong văn học, vào nước ta đều bị quy giản và lệch lạc.

Phê bình ấn tượng chủ nghĩa, có lẽ bắt nguồn từ W.Dilthey (1833-1911), nhà triết học Đức theo trường phái tinh thần luận, người đầu tiên đặt vấn đề tính tự trị (autonomie) của khoa học nhân văn. Theo ông, sự khác nhau giữa khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn là ở phương pháp nhận thức. Thiên nhiên thì vô hồn, không có mục đích, không có cấu trúc tư tưởng, còn con người thì có tình cảm và ý chí. Đó là hai hiện thực khác nhau về chất. Thiên nhiên – đối tượng của khoa học tự nhiên – chỉ là vật liệu của kinh nghiệm “bề ngoài” của con người. Ngược lại, khoa học nhân văn nghiên cứu con người ở chính cái nơi mà chủ thể và khách thể trùng nhau: đó là tinh thần của con người. Bởi vậy, muốn hiểu được con người phải xuyên thấu vào động cơ, lý tưởng, quan niệm của nó, vào thế giới tinh thần trọn vẹn của nó. Khoa học văn chương (mà phê bình là bộ phận nhạy cảm nhất của nó) với tư cách là khoa học nhân văn cần phải nghiên cứu thế giới bên trong, mà phương pháp nghiên cứu, đúng hơn phương pháp nhận thức đối tượng, là đồng nhất mình với đối tượng để tự xem xét. Tức xoá nhoà đường biên giữa chủ thể và khách thể, biến việc đứng ngoài quan sát thành sự tự quan sát, chiêm nghiệm từ bên trong.

Phương pháp của Dilthey cũng gần như cách của thiền gia. Muốn vẽ một cây trúc thì hãy chiêm nghiệm nó đến lúc biến mình thành cây trúc thì mới cầm bút vẽ. Lúc ấy cây trúc qua ngọn bút hoạ sĩ làm trung gian sẽ tự hiện lên trên mặt giấy. Cũng vậy, muốn hiểu một tác phẩm thì hãy nhập thân vào nó, trở thành chính nó thì mới có thể trình ra những ấn tượng về nó. Bấy giờ, vọt từ suối ra chỉ có thể là nước. Lối phê bình này rất hợp với mỹ cảm lãng mạn và hiện sinh, nên đã được Xuân Diệu, một con chim đến từ núi lạ, ngứa cổ “tuyên ngôn”:
Ai đem phân chất một mùi hương,
Một bản cầm ca, tôi chỉ thương,
Chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc,
Như thuyền ngư phủ lạc trong sương.

Có thể chưa đọc Dilthey, nhưng cũng như tác giả này, ở Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh chú ý trước hết đến tính tự trị của tác phẩm văn học. Bởi vậy, ông thấy chỉ cần nghiên cứu bài thơ là đủ, khỏi cần phải quan tâm đến người thơ với tư cách là tác giả. Sau đó, Hoài Thanh chú trọng tìm hiểu khái niệm tinh thần, đặc biệt là tinh thần thời đại. Bởi vậy, mở đầu Thi nhân Việt Nam ông viết hẳn một thiên đại luận để chứng minh Thơ Mới là Một thời đại trong thi ca Việt Nam. Ông định danh tinh thần của thời đại này là cái tôi, khác với thời đại cái ta của toàn bộ nền văn học trung đại. Đây cũng là thời đại của tinh thần lãng mạn mà hầu hết các nhà Thơ Mới đều hấp thụ. Hoài Thanh đã gọi cái tinh thần ấy là hồn, hồn thơ, hồn thời đại. Cái hồn chung này là cơ sở để nhà phê bình tìm hiểu thơ của các Thi nhân Việt Nam bằng con đường giao cảm, cảm thông, thông hiểu. “Tôi đã sống trong lòng thời đại (ĐLT nhấn), kể lại lịch sử thời đại, làm sao có thể không nhớ lại những năm vừa qua trong đời tôi”. Từ đó, “gặp thơ hay, tôi triền miên trong đó. Tôi ngâm đi ngâm lại hoài, cố lấy hồn tôi để hiểu hồn người” (ĐLT nhấn). Có thể nói, đây là “lý thuyết phê bình không lý thuyết” của Hoài Thanh, rất gần với lý thuyết của phê bình ấn tượng chủ nghĩa ở châu Âu.

Lối phê bình ấn tượng của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam mau chóng đạt tới một đỉnh cao như vậy, hẳn nó hội được vào mình cả hai thế mạnh. Trước hết, phê bình ấn tượng Hoài Thanh kế thừa được nhưng ưu thế của lối phê điểm trong văn học trung đại. Lối phê điểm trung đại của Việt Nam, tuy không nâng lên được thành phê bình trung đại với những Chung Vinh, Lưu Hiệp, Thánh Thán, Viên Mai… như ở Trung Hoa, nhưng cũng đã để lại nhiều nhận xét, bình luận sắc sảo, nhiều áng văn thâm trầm qua các bài Bình, Tổng bình, Tựa, Tự, Bạt… Bằng một học vấn uyên thâm, bằng sự trải nghiệm sâu sắc mọi nước đời, bằng một niềm tin chắc vào sự bất biến của các quan niệm Nho giáo, các cụ nhà ta có thể đưa ra những nhận xét làm kinh động quỷ thần. Chúng ta hãy thử nghe Mộng Liên Đường chủ nhân bàn về bút lực của Nguyễn Du: “Tố Như Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy”. Phê bình ấn tượng của Hoài Thanh, nếu chỉ hoàn toàn đến từ phương Tây mà không có sự kế thừa nội địa nào, một nội lực nào từ văn học trung đại Việt Nam (điều mà phê bình khách quan khoa học không có) thì khó mà có thể đạt tới thiên đỉnh mau đến như vậy.

Tuy nhiên, thành tựu ấy còn một lý do khác nữa: phê bình ấn tượng tự trong bản chất là không thể tách rời đối tượng được/bị phê bình và chủ thể phê bình, tức Thơ Mới và Hoài Thanh. Thơ Mới, như tôi đã chứng minh ở Mắt Thơ, là tiếng nói của ý thức cá nhân, của con người cá nhân, của văn hóa đô thị hiện đại. Các nhà Thơ Mới, bởi vậy, đều nhìn thế giới qua cái tôi riêng biệt và duy nhất của mình. Thơ của mỗi người trong họ đều có một phong cách riêng tượng trưng cho cái nhìn thế giới của họ. Hoài Thanh, tôi nghĩ, cũng là một nhà Thơ Mới như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu… Có điều, số phận đã đóng đinh ông lên cây thánh giá phê bình. Nhưng ở ông, cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ hệt như ở các nhà Thơ Mới. Ông là người đồng điệu với họ, là kẻ song sinh, hoặc nói theo Dostoievski kẻ song trùng, của họ. Vì thế, Hoài Thanh nói về họ mà cứ như tự họ nói ra. Và chỉ nói ấn tượng thôi mà cứ như từ trong gan ruột. “Nghe thế nào, thấy thế nào, ta cảm xúc, ta suy nghĩ thế nào, ta cứ thế mà viết lên mặt giấy. Nếu ta có tài thì tác phẩm ta sẽ sống, bằng không chẳng có sự bày đặt gì, chẳng có phép tắc gì thay được sự bất tài của ta. Hai chữ thành thực ta sẽ cho nó một địa vị danh dự trong văn chương”. Ở đây, chỉ xin một lưu ý nhỏ là hai chữ thành thực không nên hiểu như một thái độ sống, một khát vọng đạo đức xã hội, mà phải hiểu, theo lý thuyết ấn tượng, là sự truyền đạt trung thành ra ngôn ngữ những cảm xúc, ấn tượng của nhà phê bình.

Như vậy, sự kế thừa truyền thống phê điểm trung đại và con người cá nhân hiện đại là hai chiếc cánh đưa Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam bay lên đỉnh cao của phê bình ấn tượng. Có thể nói, ở Việt Nam, trên ngọn cô sơn của dòng phê bình này, ông là một thiên tài đơn độc. Đến đây, tôi xin mở một ngoặc đơn để nêu ra một ngoại lệ nhằm làm sáng rõ quy luật: Sau 1945, Hoài Thanh không còn phát ngôn theo cái tôi cá nhân nữa, mà trên cái ta, hoặc cái tôi đoàn thể (Hoài Thanh viết: “Đoàn thể đã tái tạo chúng tôi và trong bầu không khí mới của giang sơn, chúng tôi, những nạn nhân của thời đại chữ “tôi”, hay gọi tội nhân cũng được – chúng tôi thấy rằng đời sống riêng của cá nhân không có nghĩa gì trong đời sống bao la của đoàn thể” Tiền Phong, N03, 16-12-1945), nên ngòi bút của ông mất đi trực giác nghệ thuật, mất đi những ấn tượng chủ quan tươi mới. Phê bình ấn tượng của ông, vì thế, trở thành bình giảng, còn sự tinh tế thì trở thành tinh vi. Phê bình Hoài Thanh với chính Hoài Thanh còn như vậy, huống hồ với những cây bút muốn nối dõi ông.

Lệ thường, một nhà phê bình, khi viết phải thoát khỏi cái tôi của mình để nhìn đối tượng, dù là một đối tượng thẩm mỹ, một cách khách quan. Nhưng nhà phê bình ấn tượng lại không chủ trương vượt thoát khỏi cái tôi chủ quan của mình, mà dùng nó làm thước đo vạn vật, đúng hơn dùng ấn tượng của tôi ở đây và bây giờ làm thước đo vạn vật: “Có những bài thơ mà tôi say mê, mà người sau sẽ thấy không có gì. Thì mặc họ chứ. Nói gì người sau. Chính tôi mai đây biết có còn rung động vì tất cả những bài thơ hôm nay tôi thích?”. Đem cái tôi của mình ra đánh cược như vậy, một mặt Hoài Thanh phát huy đến tận cùng sức mạnh của nó, mặt khác ông bị “cầm tù” bởi những nhược điểm của nó. Mà cái tôi nào, với tư cách là “sản phẩm” của những thời – không gian cụ thể, mà chả bị hạn chế. Hoài Thanh hẳn không đứng ngoài thông lệ đó.

Hạn chế chủ yếu của cái tôi Hoài Thanh, tôi nghĩ, là ở quan niệm thẩm mỹ. Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu cứ ngộ nhận rằng Thơ Mới là thơ lãng mạn. Thực ra, văn học 1932-45 của Việt Nam là sự rút ngắn của hơn một thế kỷ văn chương Pháp. Nhất Linh khởi đầu thành công với Đoạn tuyệt, loại tiểu thuyết luận đề lãng mạn đầu thế kỷ XIX và kết thúc sự nghiệp (không kể đoạn nối dài sau 1954 ở miền Nam) với Bướm trắng rất gần với tiểu thuyết hiện đại của André Gide gần giữa thế kỷ XX. Thơ Mới cũng phải làm một tốc hành như vậy. Nếu ga đầu là Thế Lữ, Phạm Huy Thông, Lưu Trọng Lư lãng mạn, thì ga sau là Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương đã chớm sang tượng trưng, tiếp đến Đinh Hùng, Bích Khê thì đã tượng trưng, còn ga chót thì với một Hàn Mặc Tử đặt nửa chân vào siêu thực và một Nguyễn Xuân Sanh đứng trước cửa ngõ Tiền Phong. Hoài Thanh tuy phóng mắt bao quát cả Một thời đại trong thi ca, nhưng cái lòng riêng, riêng những mến yêu ấy thì vẫn dành cho các nhà lãng mạn. Điều này đã để lại nhiều dấu vết ở Thi nhân Việt Nam.

Cuốn sách tuyển bình thơ của 45 nhà, theo Hoài Thanh, là tiêu biểu cho cả cái thời đại thi ca ấy. Nhưng đến nay neo được trên dòng nước bạc thời gian, hỏi được mấy người? Các khuôn mặt khác, phần lớn, đã nhạt nhoà. Vì thời gian một phần, phần khác quan trọng hơn, bởi đương thì họ cũng chỉ là nhà thơ “bàn nhì, bàn ba”, nhưng là lãng mạn, nên vẫn được Hoài Thanh thích tự chiều mình mà tuyển vào (“Biết làm sao chiều được tất cả mọi người? Âu là tôi chỉ chiều tôi vậy”). Lại cũng do thị hiếu thẩm mỹ, chỉ dừng lại ở lãng mạn, nên Hoài Thanh đã bỏ qua Đinh Hùng, một thi tài lớn. Đinh Hùng lúc ấy, tuy chỉ mới trích in vài bài, nhưng tập thơ tượng trưng Mê hồn ca của ông đã được nhiều người truyền chép. Hơn nữa, chỉ một Bài ca man rợ, Đinh Hùng đã làm nhiều nhà thơ đàn anh như Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương phải bái phục. Còn Bích Khê, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử tuy có được tuyển, nhưng không hợp tạng, nên thái độ của Hoài Thanh vẫn rất nhiều xa cách và e ngại. Có khi ông dẫn lời chì chiết của một Xuân Diệu lãng mạn để đánh giá một Hàn Mặc Tử siêu thực (“Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ của những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: tôi điên đây! tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là hãy cứ tỉnh táo như thường và yên lặng sống”), có khi thì trực tiếp nói cảm tượng của mình về một Chế Lan Viên (“Riêng tôi, mỗi lần nấn ná trên ấy (tức tháp Chàm = tập thơ Điêu tàn – ĐLT) quá lâu, đầu tôi choáng váng: không còn biết mình là người hay là ma. Và tôi sung sướng biết bao lúc thoát giấc mơ dữ dội, tôi trở xuống, thấy chim vẫn kêu, người ta vẫn hát, cuộc đời vẫn bình dị, trời xa vẫn trong xanh”).

Một nhược điểm khác của Thi nhân Việt Nam (và cũng là của phê bình ấn tượng) là, khi nghiên cứu tác phẩm, không chấp nhận các lý thuyết và phương pháp khoa học, mặc dù cũng có cả một luận thuyết để khước từ nó. Đấy cũng không phải là lối phê bình nghệ sĩ hoặc phê bình bậc thầy (thuật ngữ chỉ loại hình phê bình của các nhà văn, nhà thơ viết “tay trái” như Baudelaire, Proust, Valéry…), bởi không đâu xa, chính phê bình của Chế Lan Viên ngoài trực giác ra cũng đầy các lý thuyết khoa học. Còn Hoài Thanh chỉ dựa vào mỗi trực giác. Và trực giác nghệ thuật của ông thuở Thi nhân Việt Nam mới dồi dào làm sao! Và sự mách bảo của nó mới chính xác và tinh tế làm sao! Có lẽ vì vậy mà Hoài Thanh chỉ chuyên đi bình cái hay, cái đẹp, tránh phê cái dở, cái xấu. ở đây, thiết nghĩ, không cần nêu ra một thứ biện chứng dung tục đã trở nên nhàm để “lên lớp” Hoài Thanh là chống (cái dở) cũng là xây (cái hay), thậm chí còn là xây một cách có hiệu quả nhất! Chỉ chuyên nói cái hay là quyền của nhà bình luận, nhưng điều đáng nói là ở chỗ phê bình Hoài Thanh thường chỉ dừng lại ở việc đi tìm những nhãn tự, thần cú, những cảm giác. Vì thế, mặc dù nhà phê bình rất chú ý đến chữ, đến câu, đến vần điệu mà vẫn không phải là chú ý đến văn bản (texte) như có người lầm tưởng. Bởi, văn bản, một khái niệm của phê bình văn học hiện đại, là một hệ thống các ký hiệu được tập hợp theo một ý đồ nghệ thuật nào đó có nhiều lớp nghĩa khác nhau và mỗi một ký hiệu lại có khả năng phát ra những nghĩa khác nhau tuỳ theo nó nằm trong những mối quan hệ nào. Và có lẽ vì thế, phê bình Hoài Thanh, xét cho cùng, chỉ là một cuộc thăm quan thẩm mỹ đi từ tâm hồn nhà thơ này đến tâm hồn nhà thơ khác qua những tác phẩm của họ trên cái xa lộ chung là tinh thần thời đại.

Chuyến du hành của Hoài Thanh, tuy vậy không phải bao giờ cũng thuận buồm xuôi gió. Phương thức coi “mỗi bài thơ là một cánh cửa mở cho tôi đi vào một tâm hồn” không phải là không gặp sự cố gì. Bởi lẽ, nhiều khi, như đứng trước thơ Hàn Mặc Tử, Nguyễn Xuân Sanh, ông thấy đó là “những tâm hồn không có lối vào, những tâm hồn bưng bít, mà chủ nhân không mở cửa thì tôi đành chịu đứng ngoài, thì tôi còn biết gì mà nói”. Như vậy, Hoài Thanh, có thể là một cách vô thức, đã thừa nhận những giới hạn của lối phê bình ấn tượng của mình. Và, ở nơi mà phê bình Hoài Thanh dừng lại, bắt đầu một phương pháp phê bình mới, khách quan và khoa học. Tuy không phải là chiếc chìa khoá vạn năng, nhưng nó có cách mở giúp Hoài Thanh những cánh cửa thơ thực ra không bao giờ đóng kín.

Thi nhân Việt Nam không được người đương thời đánh giá cao. Nguyễn Vỹ, một nhà thơ thuộc nhóm Bạch Nga, chê năng lực phê bình của Hoài Thanh. Còn Vũ Ngọc Phan, tác giả Nhà văn hiện đại (1942), thì cho rằng Thi nhân Việt Nam không mang cái tên phê bình cũng phải (…). Vậy thì Thi nhân Việt Nam cũng chỉ là một “quyển hợp tuyển” mà điều cốt yếu trong một quyển hợp tuyển là sự lựa chọn (…). Nhưng đọc Thi nhân Việt Nam, người ta thấy Hoài Thanh lựa chọn dễ dàng, rộng rãi quá, người ta thấy ông thiên về lượng hơn phẩm (…). Nếu đứng vào phương diện biên khảo mà xét (thì) Thi nhân Việt Nam chỉ là một quyển hợp tuyển có tiến tới (tìm) nguồn gốc phong trào thơ mới theo lối “nhân quả thuyết” như lối chép sử (…). Theo tôi (Thi nhân Việt Nam) là một quyển hợp tuyển có tính chất gần như một quyển phê bình”.

Sở dĩ có sự coi nhẹ như vậy, phải chăng do tâm lý người đương thời bao giờ cũng trọng cổ hơn kim, nhất là “cái kim” ấy không phải được cất kín trong bọc gấm, mà được bày bán ở khắp nơi. Hoặc có thể, so với mặt bằng phê bình thơ bấy giờ, Thi nhân Việt Nam chưa phải đã cao hơn hẳn? Và muốn biết rõ được nghi vấn sau, phải có một nhà nghiên cứu nào đó sưu tầm các ý kiến đánh giá thơ đương thời trên báo chí để, một mặt, khôi phục lại cái mặt bằng ấy và, mặt khác, trên cơ sở ấy, xem xét trong Thi nhân Việt Nam ý kiến nào là của cải chung, ý kiến nào là riêng của Hoài Thanh.

Từ Đổi Mới (1986) đến nay, Thi nhân Việt Nam được đưa lên ngôi vị độc tôn. Và Hoài Thanh được coi như một nhà phê bình của mọi thời đại. (Thi nhân Việt Nam là “một kiệt tác phê bình thơ, tính đến nay, có thể nói là vô tiền khoáng hậu ở Việt Nam, mà xem ra trên thế giới cũng không dễ có nhiều” – Nguyễn Đình Chú). Phải chăng đứa con bị chối bỏ và bị vùi dập ngày nào (“Những câu thơ buồn nản hay vẩn vơ cũng đều là bạn đồng minh của giặc”, “Những vần thơ có tội, nó xui người ta buông tay cúi đầu, do đó làm yếu sức chúng ta, làm lợi cho giặc… Giặc chỉ có thể xây cơ đồ của chúng trên phần bạc nhược của con người. Chúng ta có không dám làm người thì chúng nó mới có khả năng làm giặc”, Nói chuyện thơ kháng chiến, 1951), nay đã được nhận lại và cần phải được bù trừ? Hoặc có thể chúng ta ngày nay, sau một nửa thế kỷ, đã có một độ lùi cần thiết để thu được vào tầm mắt toàn bộ vóc dáng hùng vĩ của ngọn núi? Hoặc người cùng thời với Hoài Thanh do đứng cùng một mặt bằng với Thi nhân Việt Nam nên chỉ nhìn thấy chân núi, còn người ngày nay thì lại chỉ nhìn thấy đỉnh vì chân thân của nó đã bị những đám mây thời gian che phủ? Hoặc nữa, chúng ta ngày nay cũng bị mắc lại căn bệnh di truyền từ cái xã hội kinh nghiệm là trọng cổ khinh kim, bởi lẽ Thi nhân Việt Nam nay đã trở thành (đồ) cổ (điển)?

Phê bình văn học trên thế giới sau chủ nghĩa ấn tượng đã xum xuê nhiều trường phái khác nhau: phê bình xã hội học, phê bình phân tâm học, phê bình phong cách học, phê bình thi pháp học, phê bình chú giải học và mỹ học tiếp nhận… Các phương pháp có thể khác nhau, thậm chí rất khác nhau, nhưng thiên hướng chủ đạo của phê bình văn học nửa sau thế kỷ XX là sử dụng thành tựu của các khoa học nhân văn làm cơ sở cho cách tiếp cận văn chương của mình. Từ đó, nỗ lực xây dựng một khoa học văn chương.

Thực ra, ý đồ đưa khoa học vào nghiên cứu văn chương là một khát vọng chính đáng của các nhà phê bình văn học. Bằng việc hữu hình hoá cái vô hình, hữu thức hoá cái vô thức, họ muốn nắm bắt (và để cho cả người đọc cũng có thể nắm bắt) những cái dường như không thể nắm bắt được. Sự nghi ngại cái chính xác của khoa học có thể giết chết cái mờ ảo của văn chương đã dần dần bị xua tan. Và người ta thức nhận rằng khoa học, ít nhất là trong phê bình văn học, không ám sát văn chương, mà ngược lại, còn là ngọn gió và sợi dây vừa nâng cánh diều bay cao lên mãi, vừa đảm bảo cho trực giác nghệ thuật và ấn tượng chủ quan không dứt giây bay mất vào khoảng hư vô tuỳ tiện.

Ở Việt Nam, vào những năm cuối 1980 đầu 90, những công trình nghiên cứu về Truyện Kiều, về thơ Tố Hữu, Thơ Mới theo phong cách học và thi pháp học đã chứng tỏ sự thành công của xu thế trên. Và xu thế đó càng được khẳng định, càng kéo theo nhiều cây bút vào luồng chuyển động của nó, thì người ta càng thấy sự độc đáo thậm chí độc tôn của Thi nhân Việt Nam và lối phê bình ấn tượng. Và, Lệ thường, bất cứ một cái gì lên đến đỉnh cao thì đã là sự tự giới hạn, dù là giới hạn bằng chính độ cao của nó, cho nên: sau Hoài Thanh không phải là đại hồng thuỷ, mà vẫn có những lối đi khác đến với văn chương. Khác không phải là hơn, bởi trong văn hóa không có khái niệm hơn, nhưng đã là một giá trị.

Chùa Thầy, 12/10/2002

Đỗ Lai Thúy

Nguồn: Tạp chí Sông Hương

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Tây Tiến – Miền cảm xúc xanh xưa Không phải người làm nghiên cứu phê bình văn học, chỉ bằng với tâm thức người làm thơ, lại đang được số...