Chương 16
danh vọng, kẻ thù số một
Nước đầu tiên công nhận tài năng của ông bà Qui-ri là Thụy Sĩ. – Chúng ta nhớ lại lời mời của trường đại học Giơ-ne-vơ – Và mang đến cho hai nhà bác học những vinh dự sớm nhất là nước Anh.
Ở Pháp, Pierre và Marie cũng được tặng một vài giải thưởng khoa học. Năm 1895, Pi-e được giải Plăng-tê (Planté), 1901 giải La-ca-dơ (Lacaze). Ma-ri được tặng giải Ghếch-nơ (Gegner) ba lần. Nhưng chưa có một giải thưởng nào xuất sắc làm rạng rỡ tên ông bà Qui-ri. Cho đến tháng sáu 1903, học viện Hoàng gia Anh chính thức mời Pi-e sang thuyết trình về Ra-đi. Nhà vật lý nhận lời và cùng đi với Ma-ri sang Lơn-đơn[42] (London).
Hai nhà bác học được công tước Ke-vin thân thiết, niềm nở đón tiếp. Cụ già đáng kính ấy coi thành công chuyến đi này của Pi-e và Ma-ri như của bản thân, và cũng tự hào về những công trình của hai đồng nghiệp dường như cũng có phần tham gia của mình. Cụ thân mật quàng tay lên vai Pi-e, dẫn hai vợ chồng thăm phòng thí nghiệm của cụ. Cụ sung sướng và cảm động, khoe với mọi người tặng phẩm của Pi-e mang từ Pa-ri tới. Đúng là tặng phẩm của một nhà vật lý: Một ít tinh thể Ra-đi để trong ống nghiệm bằng thủy tinh.
Trong cuộc thuyết trình chiều hôm đó, công tước Ke-vin ngồi cạnh Ma-ri, người phụ nữ đầu tiên được dự buổi họp của viện Hoàng gia. Tất cả giới khoa học Anh đều có mặt. Pi-e nói tiếng Pháp chậm rãi mô tả những tính chất của Ra-đi. Rồi Pi-e đề nghị tắt hết ánh sáng để làm vài thí nghiệm lý thú: do tác động của Ra-đi, một điện nghiệm bỗng phóng điện từ xa, một tấm chắn bằng sun-phua kẽm phát lân, kính ảnh đã bọc giấy đen cũng bị ảnh hưởng; Ra-đi còn tỏa nhiệt tự phát v.v...
Buổi nói chuyện chiều hôm đó rất hào hứng. Ngay ngày hôm sau đã có tiếng vang. Cả thủ đô nước Anh nô nức muốn xem mặt “Cha mẹ” của chất Ra-đi. Khắp nơi mời giáo sư và bà Qui-ri dự tiệc tại các buổi tiếp long trọng và người ta không ngớt lời ca ngợi chúc tụng.
Pi-e hết sức lịch sự trong bộ lễ phục đen, hơi bóng mà ông thường mặc để dạy lớp lý hóa sinh, nhưng vẫn làm cho người ta cảm thấy tâm trí ông đang ở đâu đâu, dường như những lời chúc tụng dành cho ai chứ không phải cho ông. Ma-ri rất ngượng ngùng, vì bao con mắt đang dồn về mình, như nhìn một con vật kỳ lạ: một nhà vật lý đàn bà.
Ma-ri mặc một chiếc áo màu xẫm, chỉ hơi hở cổ, đôi bàn tay bị a-xít ăn không mang găng, ngay cả đến chiếc nhẫn cưới cũng không có. Xung quanh bà những chuỗi kim cương đẹp nhất của Đế quốc Anh lấp lánh trên các cổ để trần. Ma-ri nhìn ngắm các đồ trang sức ấy một cách thích thú thật sự và ngạc nhiên nhận thấy Pi-e xưa nay vẫn lơ đãng, mắt cũng không rời những chuỗi kim cương.
Chiều về, khi thay áo, Ma-ri nói
– Em không ngờ lại có những trang sức như thế, thật là đẹp!
Nhà vật lý cười và nói:
– Em biết không, trong bữa tiệc, ngồi rỗi anh tìm ra một trò chơi. Thử tính xem số kim cương đeo trên cổ mỗi bà khách có thể xây dựng bao nhiêu phòng thí nghiệm. Đến lúc đọc diễn văn, kết quả đã thành một con số kinh khủng.
Vài ngày sau, ông bà Qui-ri trở lại Pa-ri, về với cái nhà xe ghép ván. Chuyến đi Lơn-đơn đã đem lại cho hai nhà bác học nhiều quan hệ kết giao chặt chẽ và cộng tác thiết thực. Pi-e sắp sửa cho in cùng với một đồng nghiệp người Anh – một công trình về các khí tỏa ra do muối Ra-đi Brô-mua.
Dân tộc Ăng-lô Xác-xông thường trung thành với những ai đã làm cho họ khâm phục! Tháng 11-1903 đến lượt Học viện Hoàng gia Anh công bố tặng Pi-e và Ma-ri Qui-ri huân chương Đê-vi là một trong những phần thưởng cao quí nhất của học viện này.
Ma-ri không khỏe nên Pi-e đi dự lễ một mình. Pi-e mang từ nước Anh về một huân chương nặng bằng vàng, có khắc tên hai vợ chồng. Thoạt tiên, Pi-e còn tìm chỗ để cất trong gian nhà ở đại lộ Kê-léc-man, vụng về nâng lên đặt xuống, để thất lạc rồi lại tìm thấy rồi bỗng nghĩ ra một cách: Pi-e giao chiếc huân chương ấy cho con gái là I-ren giữ, lúc này I-ren mới sáu tuổi, chưa khi nào cô bé vui thích bằng được giữ cái đó.
Mỗi lần bạn bè đến thăm, nhà bác học chỉ đứa bé đang mải mê với cái đồ chơi mới đó.
– I-ren thích “đồng xu to” của nó lắm – ông kết luận.
Hai cuộc hành trình ngắn ngủi rạng rỡ, một cô bé chơi với một đĩa nhỏ bằng vàng... Đây là đoạn nhạc mở đầu của bản giao hưởng mà cao trào đang tới gần.
*
Lần này người nhạc trưởng đã bắt nhịp từ Thụy Điển.
Ngày mồng mười tháng Chạp 1903, Hàn lâm viện Khoa học Xtốc-khôm (Stockholm-NS) họp trịnh trọng toàn thể, công bố giải thưởng Nô-ben (Nobel-NS) về vật lý năm ấy, tặng một nửa cho Hăng-ri Bếch-cơ-ren (Henri Becquerel-NS) và một nửa cho ông bà Qui-ri về việc khám phá ra phóng xạ.
Cả Pi-e và Ma-ri đều không đến dự buổi lễ. Đại sứ Pháp thay mặt họ nhận bằng và huy chương vàng tự tay Vua Thụy Điển trao.
Pi-e và Ma-ri không đi lần này vì đường xa, lại vào giữa mùa đông, hai người đang yếu mệt và bận nhiều việc.
Giáo sư O-ri-vi-li-uýt viết cho ông bà Qui-ri ngày 14 tháng một năm 1903:
“Kính gửi ông bà Qui-ri,
Hân hạnh báo cho ông bà bằng điện tín, Hàn lâm viện Khoa học Thụy Điển họp ngày 12 tháng Một đã quyết định tặng ông bà một nửa giải thưởng Nô-ben về Vật lý năm nay để tỏ lòng tán thưởng công trình đặc biệt của ông bà về tia Bếch-cơ-ren.
Mười tháng Chạp vào buổi họp toàn thể rất long trọng sẽ công bố nghị quyết ấy.
Hàn lâm viện Khoa học kính mời ông bà đến dự buổi họp đó, để tự tay nhận phần thưởng.
Theo khoản 9 điều lệ thành lập giải thưởng Nô-ben, trong vòng 6 tháng sau cuộc họp này, ông bà cần làm một bản thuyết trình về công trình được tặng thưởng ở Xtốc-khôm. Nếu ông bà đến Xtốc-khôm vào dịp đó, tốt hơn hết là ông bà hãy làm ngay thủ tục này vào mấy ngày đầu sau cuộc họp.
Hàn lâm viện sẽ rất hân hạnh được đón tiếp ông bà ở Xtốc-khôm, xin nhận ở đây những lời chúc mừng thành thật nhất của tôi”.
Ngày 19 tháng Một 1903, Pi-e viết thư trả lời sau đây:
“Kính gửi ngài Tổng thư ký vĩnh viễn,
Hàn lâm viện Khoa học Xtốc-khôm đã dành cho chúng tôi vinh dự lớn, được một nửa giải thưởng Nô-ben Vật lý. Chúng tôi nhờ ngài chuyển tới Hàn lâm viện lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn hết sức chân thật của chúng tôi.
Thời gian đó trong năm, chúng tôi không thể nào vắng mặt mà không ảnh hưởng đến khóa học mà nhà trường đã giao phó. Chúng tôi cũng chỉ ở được vài ngày, và sẽ rất ít thời gian để làm quen với các nhà bác học Thụy Điển.
Hơn nữa, bà Qui-ri vừa bị ốm đến nay chưa khỏi hẳn.
Vậy xin ngài cho hoãn lại cuộc hội nghị này, có thể đến lễ Phục sinh, hoặc tiện hơn nữa vào giữa tháng Sáu.
Xin ngài tin tưởng ở sự kính trọng của chúng tôi.”
Sau những câu xã giao ấy, chúng ta hãy kể đến một bức thư khác. Một bức thư trung thực, do Ma-ri viết bằng tiếng Ba Lan cho anh ruột. Ngày tháng cũng đáng chú ý: 11 tháng Chạp 1903. Một ngày sau buổi họp long trọng ở Xtốc-khôm. Ngày danh vọng đầu tiên! Giữa lúc ấy Ma-ri có thể say sưa với thắng lợi của mình: Cuộc đời của bà chả khác thường là gì? Chưa có một người đàn bà nào nổi tiếng đến như thế trong lĩnh vực khắt khe của khoa học. Bà là người đầu tiên và cho đến nay là nữ bác học duy nhất có danh tiếng trên thế giới.
Đây là bức thư đề ngày 11 tháng Chạp 1903:
“Anh Dô-dếp thân mến,
Em âu yếm cảm ơn anh chị về những lời tốt đẹp của anh chị. Anh đừng quên hộ em cảm ơn cháu gái Ma-ni-u-sa về thư của cháu; cháu viết hay lắm, làm cho em vui thích. Hễ có thời giờ, em sẽ trả lời cháu.
Đầu tháng Một em như bị cúm rồi ho. Bác sĩ Lăng-đri-ơ khám phổi cho em không thấy gì đáng lo ngại. Thế nhưng bác sĩ chê em xanh. Em vẫn cảm thấy khỏe và độ này em có thể làm việc hơn mùa thu, không mệt lắm.
Pi-e sang Lơn-đơn nhận huân chương Đê-vi. Em không đi theo vì sợ mệt.
Người ta cho chúng em một nửa giải Nô-ben. Không rõ như thế là bao nhiêu, em chắc là độ bảy mươi nghìn phơ-răng. Đối với chúng em đó là một món tiền lớn. Em cũng không rõ bao giờ thì được lĩnh tiền. Có lẽ chỉ khi nào chúng em đi Xtốc-khôm mà thôi. Theo lệ thì trong vòng sáu tháng sau ngày 10 tháng Chạp, chúng em phải có một buổi thuyết trình.
Chúng em không đến dự buổi họp trọng thể, bởi vì thu xếp khó quá. Em cảm thấy không đủ sức đi một chặng đường dài như thế (48 giờ không nghỉ và lâu hơn nữa nếu nghỉ dọc đường) vào lúc thời tiết không thuận tiện, ở một xứ lạnh, và không thể ở lại quá ba hay bốn ngày. Không thể bỏ dở việc giảng dạy quá lâu. Có lẽ đến Phục sinh chúng em mới đi được và lúc đó mới lãnh được tiền.
Chúng em bị ngập trong thư từ, suốt ngày lại phải tiếp các nhà nhiếp ảnh và nhà báo. Những lúc ấy chỉ muốn trốn xuống đất để được yên. Rồi ở Mỹ cũng mời sang thuyết trình một số buổi. Họ hỏi chúng em muốn bao nhiêu tiền. Dầu điều kiện thế nào đi nữa chúng em cũng định từ chối. Chúng em hết sức tránh những bữa tiệc mà người ta muốn tổ chức mừng chúng em. Đôi khi phải từ chối một cách quyết liệt, họ mới hiểu cho là không thể ép được.
Cháu I-ren khỏe. Cháu học tại một trường nhỏ khá xa nhà. Ở Pa-ri rất khó tìm được một trường tốt cho trẻ em.
Âu yếm ôm hôn cả nhà và xin anh chị đừng quên em”.
Những dòng trên đây của một phụ nữ đã tự nguyện bỏ giàu sang, có một ý nghĩa khác thường. Tiếng tăm lừng lẫy, lòng ngưỡng mộ cảm phục của báo chí và công chúng, những cuộc tiếp đón, chiêu đãi long trọng của chính quyền, nhịp cầu bằng vàng bắc qua nước Mỹ…, tất cả những cái đó, chỉ làm cho Ma-ri thấy phiền phức, bực bội. Đối với bà, giải Nô-ben chỉ là một phần thưởng bảy mươi nghìn phơ-răng vàng, do các nhà bác học Thụy Điển tặng cho công trình của hai đồng nghiệp và như thế thì nhận cái đó “không trái với tinh thần khoa học”. Một dịp may hiếm có để Pi-e đỡ phải dạy thêm, giữ được sức khỏe.
Ngày mồng hai tháng Giêng 1904, cái ngân phiếu may mắn đã chuyển đến chi nhánh ngân hàng, mọi khi vẫn giữ số tiền tiết kiệm mỏng manh của gia đình. Pi-e bây giờ có thể thôi không dạy ở trường Vật lý, để học trò cũ là Pôn Lăng-giơ-vanh dạy thay. Hai nhà vật lý thuê một phụ tá riêng, như thế đơn giản và nhanh hơn là đợi những người cộng tác tưởng tượng mà trường đại học hứa hẹn mãi. Ma-ri gửi cho anh chị Du-xki vay hai mươi nghìn cu-ron (tiền Áo), để mở nhà an dưỡng. Phần còn lại, thêm năm vạn phơ-răng là tiền giải thưởng O-di-rít, tặng một nửa cho Ma-ri Qui-ri và một nửa cho E-đu-a Bran-li, được chia đều mua quốc trái Pháp và trái khoản của thành phố Vác-xô-vi.
Sổ chi tiêu còn ghi vài khoản khác: quà tặng và tiền cho vay gửi anh của Pi-e và các chị của Ma-ri, tiền góp chung vào các hội khoa học…
Giúp cũng nhiều: giúp một số học sinh Ba Lan, một bạn gái lúc thiếu thời của Ma-ri, anh em lao công ở phòng thí nghiệm, một nữ sinh túng thiếu ở Xe-vrơ… Chợt nhớ đến một bà rất nghèo ngày xưa đã tận tụy dạy Ma-ri tiếng Pháp, bây giờ là bà Kô-dơ-lốp-xca, vốn gốc Pháp sinh ở tỉnh Đi-ép, lấy chồng Ba Lan nay chỉ ước mơ về thăm quê hương xứ sở. Ma-ri biên thư mời bà sang Pháp, đón bà về nhà và trả tiền tàu từ Vác-xô-vi đến Pa-ri, rồi từ Pa-ri đến Đi-ép. Bà ta cảm động đến ứa nước mắt.
Tuy rộng rãi, Ma-ri rất kín đáo, đúng mức. Suốt đời bà quyết tâm giúp đỡ những người cần đến mình, và muốn làm việc đó theo khả năng của mình để có thể giúp được lâu dài.
Còn đối với bản thân thì sao? Ngôi nhà ở đại lộ Kê-léc-man, có thêm một buồng tắm “tối tân” và một căn phòng mà giấy chăng trên tường đã phai nhạt cũng được tu sửa lại. Nhưng trong dịp nhận tiền thưởng Nô-ben, Ma-ri chưa hề nghĩ đến sắm một cái mũ mới. Và nếu bà cứ muốn Pi-e thôi dạy học ở trường Vật lý, thì bà vẫn dạy ở Xe-vrơ vì mến học trò và cũng vì cảm thấy còn có sức tiếp tục để kiếm thêm thu nhập cho gia đình.
Giữa lúc vinh quang đang chờ đón hai nhà bác học, mà lại kể tỉ mỉ những chi tiêu vụn vặt trên đây thì thật nực cười.
Pi-e và Ma-ri rất sung sướng thấy phát minh của mình được Hàn lâm Thụy Điển đánh giá đúng mức. Niềm vui của những người thân làm cho hai vợ chồng cảm động, và số tiền bảy mươi nghìn phơ-răng đến đúng lúc, nó đỡ được gánh nặng nhu cầu hằng ngày.
Còn những cái khác – những cái thường là nguyên nhân thúc đẩy thiên hạ cố gắng, và đôi khi có những hành động thấp hèn – chỉ làm ông bà ngượng nghịu và thấp hèn.
Một sự hiểu lầm kéo dài đã tách biệt Pi-e và Ma-ri với công chúng giàu lòng ngưỡng mộ. Năm 1903 là năm mở đầu một giai đoạn hồi hộp nhất trong cuộc đời hai nhà bác học. Họ đã đến tuổi mà thiên tư, được kinh nghiệm bổ sung có thể phát huy đến mức cao nhất. Trong một gian nhà xe lụp xụp, dột nát, họ đã thành công trong việc khám phá ra chất Ra-đi làm cho thế giới kinh ngạc. Nhưng sứ mệnh chưa xong. Trí óc họ còn chứa đựng bao nhiêu cái tiềm tàng: Họ muốn làm việc, họ phải làm việc!
Danh vọng có chú ý gì đến tương lai mà Pi-e và Ma-ri hướng tới đâu. Danh vọng xâm nhập vào cuộc đời những vĩ nhân, bám lấy họ với tất cả sức mạnh của nó, hòng cản đường họ tiến. Giải thưởng Nô-ben làm cho hàng triệu người chăm chú tới cặp vợ chồng bác học ấy: Đàn ông, đàn bà, nhà triết học, người thợ, giáo sư, trưởng giả, thân sĩ v.v…Hàng triệu người ấy dâng lên ông bà Qui-ri lòng ngưỡng mộ của họ. Nhưng họ đòi hỏi lại cũng nhiều! Những lợi ích mà Pi-e và Ma-ri đã tặng họ từ trước – cái vốn tri thức về một phát minh mới, sức cứu chữa của nó đối với một căn bệnh hiểm nghèo – chưa đủ. Hiện tượng phóng xạ tuy còn mới mẻ nhưng thuộc về những thành tựu đã biết rồi, và điều làm họ chú ý lúc này, không phải là giúp sức cho khoa học đó phát triển mà là thưởng thức những giai đoạn hứng thú về sự ra đời của nó. Họ muốn đi vào các ngõ ngách thầm kín của gia đình lạ lùng ấy, của đôi vợ chồng thiên tài mà cuộc đời trong sáng và rất đỗi liêm khiết đang được truyền tụng như một câu chuyện thần thoại. Lòng khâm phục khao khát tìm hiểu đẩy họ đào sâu vào cuộc đời hai nhân vật mà họ tôn sùng. Hay nói cho đúng, hai nạn nhân của họ – và tước đoạt của Pi-e và Ma-ri những vật quý duy nhất mà ông bà muốn giữ – sự tĩnh tâm và yên lặng.
Những tờ báo thời bấy giờ, đăng ảnh của Pi-e và Ma-ri “Một thiếu phụ tóc hung, tao nhã, mảnh dẻ”, “một bà mẹ duyên dáng, nhạy cảm tuyệt vời luôn luôn ham mê tìm hiểu những vấn đề cao siêu” – ảnh “đứa bé gái đáng yêu của họ”, cả ảnh con mèo nằm cuộn tròn bên lò sưởi buồng ăn. Còn có những phóng sự hùng hồn về phòng thí nghiệm ở nhà xe, nơi ẩn dật mà gia đình Qui-ri muốn chỉ có mình mới hiểu biết hết vẻ đẹp duyên dáng, chỉ có mình mới thấy hết cảnh nghèo túng thanh tao; về căn nhà ở đại lộ Kê-léc-man, “nơi ở của người hiền”, một “căn nhà xinh xắn, hẻo lánh giữa Pa-ri xa lạ và hiu quạnh, dưới bóng các thành lũy”, một căn nhà “của hai nhà bác học sống hạnh phúc đầm ấm”.
Mặc cho ông bà Qui-ri hết sức thoái thác các cuộc phỏng vấn, đóng cửa không tiếp ai, và tự giam mình trong gian phòng thí nghiệm sơ sài – giờ đây đã đi vào lịch sử – từ công việc đến đời sống riêng tư không còn là của họ nữa. Ngay cả đức tính khiêm tốn, mà các nhà báo kém tế nhị nhất, đều phải ngạc nhiên và kính trọng, cũng thành nổi tiếng, thành một vấn đề công cộng, một vấn đề hấp dẫn để viết báo.
Ma-ri viết cho Dô-dếp Xkhua-đốp-xki:
“Pi-e và em vừa gặp một tai họa lớn. Một cuộc thí nghiệm tinh tế với Ra-đi làm tiêu hao một phần quan trọng trữ lượng Ra-đi của chúng em, nguyên nhân vì đâu chưa rõ. Do đó, bắt buộc em phải hoãn lại việc nghiên cứu về trọng lượng nguyên tử của Ra-đi mà em tính bắt đầu từ lễ Phục sinh – Cả hai người đều tiếc đứt ruột”.
Trong một thư khác, nói đến chất Ra-đi là mối lo duy nhất của mình, Ma-ri viết:
“Chúng em muốn chế tạo một khối lượng Ra-đi quan trọng hơn. Phải có quặng và tiền. Tiền đã có rồi, nhưng đến nay không làm sao có được quặng. Hiện giờ người ta hứa là thế nào cũng có. Chúng em sẽ có thể mua một trữ lượng cần thiết, mà trước đây họ vẫn từ chối. Công việc chế hóa sẽ phát triển. Nếu anh biết được phải mất bao nhiêu thì giờ, bao nhiêu kiên nhẫn và tiền của mới lọc được một tí chút Ra-đi từ mấy tấn nguyên liệu!”
Mười ba hôm sau khi lĩnh giải thưởng Nô-ben, những băn khoăn của Ma-ri là như thế. Trong mười ba ngày ấy, thế giới đã phát hiện ra gia đình Qui-ri: Một cặp vợ chồng vĩ đại! Nhưng Pi-e và Ma-ri không tài nào nhập được những vai mới đó.
Ma-ri viết thư cho anh ruột Dô-dếp, 14 tháng Hai 1904:
“Suốt ngày ồn ào. Chúng em không còn làm việc được nữa. Không. Bây giờ em đã quyết định phải can đảm và không tiếp một ai cả, thế mà vẫn bị quấy rầy. Danh vọng và vinh quang, chẳng tốt lành cho cuộc sống của chúng em”.
Và trong một bức thư khác ngày 19 tháng Ba 1904:
“Anh Dô-dếp thân mến, về ngày lễ của anh. Chúc anh mạnh khỏe, chúc thắng lợi cho cả nhà và mong anh không bao giờ bị tràn ngập trong thư từ như chúng em lúc này, hoặc gặp những cuộc tấn công mà chúng em đang chịu đựng
Em hơi tiếc là đã hủy tất cả các thư từ gửi đến chúng em: kể cũng khá bổ ích. Có những bài thơ Ra-đi, những lá thư của một số nhà sáng chế, của các thầy gọi hồn rất triết lý. Vừa hôm qua, một người Mỹ biên thư xin phép lấy tên em đặt tên cho con ngựa thi của hắn, hàng trăm lá thư xin thư viết và ảnh. Em chẳng trả lời cái thư nào cả, nhưng chỉ đọc cũng mất thì giờ rồi”.
Viết cho cô em họ Hăng-ri-ét, xuân 1904:
“Cuộc sống yên tĩnh và cần cù của anh chị bị xáo động hoàn toàn, không biết đến bao giờ mới ổn định lại được”.
Nỗi bực bội, buồn chán, – tôi dám nói là sự chua chát toát ra từ những bức thư đó của Ma-ri đã nói rõ một điều: hai nhà vật lý đã mất sự yên tĩnh nội tâm của họ.
Sau này Ma-ri viết:
“Sự mệt nhọc do cố gắng quá sức và do những điều kiện làm việc quá thiếu thốn về vật chất, lại càng tăng thêm do sự xâm nhập của danh tiếng. Cuộc sống ẩn lánh tự nguyện của chúng tôi bị phá vỡ, làm chúng tôi đau khổ thực sự, và xét về hậu quả của nó, có thể coi như một tai họa”.
Đáng ra, vinh quang phải mang đến cho gia đình Qui-ri một vài thắng lợi để đền bù như ghế giáo sư, phòng thí nghiệm, những phụ tá và những tài khoản hằng mong ước. Nhưng bao giờ thì những ân huệ ấy mới đến? Sự mong đợi hồi hộp còn kéo dài.
Thật là mỉa mai khi nước Pháp lại là nước thừa nhận sau cùng chân giá trị của Pi-e và Ma-ri. Và phải đợi có huân chương Đê-vi và giải thưởng Nô-ben, trường đại học Pa-ri cuối cùng mới mời Pi-e Qui-ri vào làm giáo sư Vật lý. Hai nhà bác học rất băn khoăn suy nghĩ về việc đó. Những phần thưởng do nước ngoài mang lại càng làm nổi bật những điều kiện tồi tệ mà họ phải làm việc để đưa cuộc phát minh đến thành công, những điều kiện mà cho đến lúc này vẫn chưa có chiều hướng thay đổi.
Nghĩ đến bao lần bị thoái thác từ bốn năm qua, Pi-e thấy cần phải trung thực cảm ơn cơ sở duy nhất đã cổ vũ và nâng đỡ những cố gắng của ông với phương tiện eo hẹp của nó: đó là Trường Vật lý và Hóa học. Một lần nói chuyện ở Xoóc-bon, nhắc tới sự trơ trọi, sự diệu kỳ của nhà xe, Pi-e nói:
“Trong mọi hoạt động khoa học, ảnh hưởng của môi trường làm việc có một tầm quan trọng rất lớn, và một phần kết quả đạt được cũng do đó. Tôi làm việc ở trường Vật lý hơn hai mươi năm. Hiệu trưởng đầu tiên của trường, một nhà khoa học lỗi lạc đã tạo điều kiện cho tôi làm việc, ngay từ khi tôi còn là phụ tá. Sau này, ông cho phép bà Qui-ri đến làm việc gần tôi, và trong thời kỳ ấy đó là một sáng kiến không bình thường... Ban giám hiệu hiện nay cũng đều có tinh thần giúp đỡ như vậy.
Các giáo sư ở trường, các học sinh tốt nghiệp tạo thành một môi trường tốt và rất có ích cho tôi. Chính trong những hàng ngũ những học trò của trường, chúng tôi đã tìm được nhiều người cộng tác và nhiều bạn đồng nghiệp”.
Không chỉ vì đam mê làm việc hoặc quá sợ mất thì giờ mà ông bà Qui-ri ghét danh vọng. Còn có những duyên cớ khác.
Pi-e vốn tính tình phóng khoáng, không dung hòa được với danh vọng vì những nguyên tắc muôn thuở. Rất ghét ngôi thứ hoặc cấp bậc, Pi-e cho rằng thật vô lý cứ phải loại “nhất lớp” và đối với ông, những huân chương mà người lớn thèm muốn cũng thừa như những huy hiệu vẫn cấp cho học sinh các trường vậy. Thái độ từ chối Bắc đẩu Bội tinh cũng là thái độ của ông trong lĩnh vực khoa học. Pi-e không hề biết ganh đua và trong cuộc “thi khám phá” nếu một đồng nghiệp tiến trước mình, ông không lấy đó làm buồn bực. Pi-e thường nói “Tôi không cho ra được công trình ấy, nào đã can chi, nếu có người khác in rồi”.
Sự dửng dưng hầu như vô tình đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến Ma-ri. Nhưng chẳng phải để bắt chước Pi-e, hay để vâng lời Pi-e, mà suốt đời mình bà luôn luôn tìm cách trốn tránh những sự biểu dương khâm phục. Ma-ri ghét danh vọng không vì nguyên tắc cơ bản. Cứ đứng trước đám đông là bà cảm thấy nhút nhát, ngượng nghịu đến thiểu não, cả người như bị co rúm lại, thậm chí bị hỗn loạn đến choáng váng, đến đau đớn về thể xác, không sao khắc phục được.
Cuộc đời Ma-ri lại quá bận rộn để có thể hao phí sức về mặt này. Phải gánh vác nào là chuyên môn, nào là gia đình. Rồi nhiệm vụ làm mẹ, làm thầy, bước đi của Ma-ri khó khăn như làm xiếc trên dây. Chỉ thêm một vai nữa là mất thăng bằng, là sẽ ngã từ trên dây căng thẳng. Là vợ, là mẹ, là nhà bác học, là giáo sư, Ma-ri không còn một khoảnh khắc nào rỗi để đóng vai các bà lớn.
Thế là Pi-e và Ma-ri cùng đến một thái độ khước từ bằng hai con đường khác nhau. Những con người đã cùng hoàn thành một sự nghiệp lớn có thể đón nhận vinh quang mỗi người một cách. Pi-e có thể thành xa vời, Ma-ri thành kiêu kỳ. Nhưng không! Hai tâm hồn cũng như hai khối óc đều có một phẩm chất tương xứng. Qua cuộc thử thách này, hai vợ chồng lại thắng, và trong khi xa lánh vinh dự, càng gắn bó với nhau hơn lúc nào hết.
Chú thích:
[42] Thủ đô nước Anh.
Chương 17
cuộc sống hằng ngày
Tên tuổi Pierre và Marie nay đã lừng lẫy. Hai vợ chồng giàu
tiền hơn nhưng kém đi những giờ hạnh phúc. Nhất là Marie hầu như mất những lúc
dạt dào nhiệt tình và niềm vui của mình. Ma-ri không hoàn toàn bị thu hút như
Pi-e vào những ý nghĩ khoa học. Cuộc sống hàng ngày luôn luôn kích động đến tâm
hồn nhạy cảm và thần kinh của bà – mà bà không biết cách thích ứng.
Tuy bị căng thẳng về sự huyên náo do khám phá ra chất Ra-đi
và giải Nô-ben (Nobel) mang lại, Ma-ri không một lúc nào quên được nỗi lo âu
đang cào xé lòng mình: đó là bệnh của Pierre.
Thư của Pi-e viết cho bạn là Gioóc Guy nhắc luôn đến việc
này:
31 tháng Giêng 1905:
“Hè vừa qua, một cơn đau thấp khớp dữ dội làm cho tôi phải bỏ
ý định đi Thụy Điển. Thật ra tôi chỉ có thể giữ được không ốm bằng cách tránh mọi
mệt nhọc về cơ thể. Ma-ri cũng đang trong trạng thái này và không thể nghĩ đến
những ngày làm việc miệt mài như trước nữa”.
24 tháng Bảy 1905:
“Chúng tôi vẫn sống cuộc đời của những người rất bận rộn, mà
không được việc gì có ích cả. Hơn một năm nay rồi, tôi chẳng được một công
trình nào và không được yên tĩnh mà nghiên cứu. Tôi chưa biết làm thế nào để
thì giờ khỏi bị xé lẻ, mà điều này lại rất cần trong lĩnh vực trí tuệ.
Những cơn đau của tôi hình như do suy nhược thần kinh hơn là
do thấp khớp và đã đỡ dần từ khi tôi chú ý ăn uống có giờ giấc hơn”
19 tháng Chín 1905:
“Tôi đã lầm tưởng rằng sức khỏe của mình khá hơn. Mới đây lại
bị nhiều cơn đau và cứ hơi mệt một tí là đau lại. Tình trạng này, chả biết sẽ
còn có thể làm việc một cách nghiêm túc trong phòng thí nghiệm hay không”.
Còn đâu những ngày nghỉ hè năm xưa, tuyệt diệu vô tư, vui vẻ,
hai vợ chồng đạp xe khắp các nẻo đường như những học sinh, giờ đây Ma-ri thuê một
căn nhà nhỏ ở thôn quê gần Pa-ri, để chăm sóc chồng và con gái.
Ma-ri viết thư cho bà Giăng Pe-ranh (từ làng Xanh Rê-mi trong
thung lũng Sơ-vrơi).
“Cháu I-ren vẫn chưa khỏi hẳn ho gà, làm tôi không yên tâm.
Thỉnh thoảng lại ho. Tuy cháu ở thôn quê ba tháng nay rồi. Pi-e mệt lắm, không
đi chơi được và chúng tôi dùng thì giờ để đọc những bản báo cáo về Vật lý –
Toán.
I-ren mới có một xe đạp con và đi rất thạo. Nó lên xe, mặc quần
áo con trai, nom thật ngộ nghĩnh”.
Do đau ốm luôn, đồng thời như cảm thấy một mối đe dọa nghiêm
trọng, Pi-e cứ bị ám ảnh vì thời gian trôi quá nhanh. Con người còn rất trẻ ấy
sợ sắp chết ư? Dường như Pi-e muốn chạy thi với một kẻ thù vô hình. Thấy Pi-e
là thấy hăm hở, vội vã. Pi-e thúc giục vợ một cách trìu mến, truyền cho Ma-ri nỗi
lo lắng của mình. Cần phải xúc tiến việc nghiên cứu, bằng mọi cách tăng số giờ
có mặt ở phòng thí nghiệm.
Ma-ri lại cố gắng hơn, nhưng đã quá sức chịu đựng của mình.
Số phận Ma-ri thật là khắc nghiệt. Kể từ ngày một cô gái Ba
Lan mười sáu tuổi, rời nông thôn ra Vác-xô-vi sinh sống, trong đầu còn say sưa
bao kỷ niệm hội làng vui vẻ, cuộc đời của Ma-ri, đã hai mươi năm nay, chỉ biết
có vất vả. Thời con gái, sống cô đơn, miệt mài với sách vật lý trong một gác
xép lạnh lẽo. Đến lúc gặp tình yêu, thì đồng thời tình yêu lại gắn với công việc,
không thể rời được.
Lòng yêu khoa học và tình yêu chồng con hòa lẫn thành một niềm
thiết tha duy nhất là cho Ma-ri chịu khép mình vào một cuộc sống khắc khổ. Tình
yêu của Pi-e và Ma-ri đều nồng thắm, hai người cùng chung một lý tưởng. Nhưng
Pi-e trước kia đã từng qua một thời gian dài chểnh mảng, một tuổi niên thiếu nồng
cháy, sống những phút say mê rạo rực. Còn Ma-ri khi trở thành vợ, thành mẹ,
không một lúc nào ngơi công việc và đôi khi chỉ ao ước được biết cái thú vui
đơn giản của cuộc sống. Là một người vợ, một người mẹ rất dịu dàng, Ma-ri mơ tưởng
đến những giây phút thư thái êm đềm, những ngày thảnh thơi, thoải mái.
Về điều này, Ma-ri làm cho Pi-e ngạc nhiên. Rất sung sướng
tìm được người bạn gái có thiên tài, Pi-e chỉ muốn Ma-ri hoàn toàn tự hy sinh
cũng như mình đã hy sinh cho điều mà ông gọi là “lý tưởng chủ yếu của hai người”.
Ma-ri nghe theo lời Pi-e – từ trước đến nay bà vẫn nghe lời
như vậy, – nhưng về thể xác lẫn tâm hồn bà thấy mệt mỏi. Bà tự trách mình là
kém cỏi về trí tuệ, là “đần”. Sự thực thì đơn giản hơn: ở người đàn bà ba mươi
sáu tuổi ấy, cuộc sống của thể xác bấy lâu bị kìm hãm, thiệt thòi, đang đòi hỏi
chăm sóc. Điều mà Ma-ri cần lúc này, đó là trong một thời gian, không phải là
“bà Qui-ri” nữa, là quên chất Ra-đi, – là ăn, là ngủ, và không nghĩ đến việc gì
khác.
Nhưng nào có được, mỗi ngày cuộc sống mang đến những nhiệm vụ
mới. Năm 1904 sẽ hết sức vất vả – nhất là đối với Ma-ri đang có mang – bà không
yêu cầu một điều gì ngoài việc xin nghỉ phép ở trường nữ học Xe-vrơ. Và chiều
chiều, mệt mỏi nặng nề, Ma-ri khoác tay Pi-e từ phòng thí nghiệm trở về nhà. Mỗi
lần nhớ tới Vác-xô-vi, lại tìm mua một ít trứng cá Ca-vi-a ép, mà bà rất thèm,
như người ăn dở.
Gần đến ngày sinh, Ma-ri mệt như muốn quỵ.
Brô-ni-a từ Ba Lan đến, đỡ đẻ cho em, rất kinh ngạc thấy tính
tình Ma-ri khác hẳn.
Ngày 6 tháng Chạp 1904, bà sinh một em bé gái mập mạp, tóc
đen, đặt tên là E-vơ.
Brô-ni-a cố gắng hết sức để giúp đỡ em. Vẻ mặt bình tĩnh của
Brô-ni-a, trí phán định xác đáng của bà đánh tan phần nào nỗi buồn vơ vẩn của
Ma-ri. Và khi Brô-ni-a trở về nước thì tư tưởng Ma-ri cũng thư thái hơn.
Như trước đây đối với I-ren, lần này Ma-ri cũng ghi vào một
quyển vở màu tro để theo dõi, những cử chỉ đầu tiên, những cái răng nhú của
E-vơ, và khi đứa trẻ lớn dần thì thần kinh của Ma-ri cũng khá hơn. Thời gian
nghỉ đẻ, Ma-ri đỡ căng thẳng, lại thấy yêu đời, đến gần các dụng cụ lại thấy
vui thích. Rồi người ta lại thấy bà đến trường nữ sinh Xe-vrơ. Mấy ngày đầu,
còn chuệnh choạng, nhưng chỉ ít lâu sau, bước đi của bà lại vững vàng như xưa.
Ma-ri lại tiếp tục con đường vất vả.
Một lần nữa, Marie lại yêu thích mọi thứ, từ nhà cửa đến thí
nghiệm. Bà hồi hộp theo dõi các sự kiện đang lay chuyển đất nước quê hương. Bên
Nga, cuộc cách mạng 1905 đang ác liệt, và những người Ba Lan khát khao được giải
phóng, hết sức ủng hộ cuộc bạo động chống Sa hoàng.
Marie viết thư cho anh Dô-dếp, 23 tháng Ba 1905:
“Em biết là anh đang hy vọng cuộc thử thách gian nan này sẽ
đem lại cho nước ta một vài lợi ích. Đó cũng là ý chị Brô-ni-a và anh
Ca-di-mia. Mong sao hy vọng đó không tan vỡ! Em cũng mong mỏi như thế và luôn
luôn nghĩ đến việc đó. Dầu sao, em nghĩ rằng cần ủng hộ cách mạng. Em sẽ gửi tiền
cho anh Ca-di-mia, tiếc rằng em không thể tham gia trực tiếp được
Ở bên này, không có gì mới. Các cháu lớn đều. Bé E-vơ không
chịu ngủ, và nó đã thức giấc mà cứ để nó trong nôi là nó kêu toáng lên. Em thiếu
nghị lực nên cứ phải bế nó cho đến khi nó nín. Nó không giống I-ren. Tóc cháu
đen và mắt xanh lơ, còn I-ren thì tóc sáng và mắt xanh nâu.
Chúng em vẫn ở chỗ cũ, và bây giờ sang xuân, bắt đầu có thể
ra vườn chơi. Hôm nay trời tuyệt đẹp, chúng em thích lắm, nhất là vừa qua, mùa
đông rất ẩm ướt và khó chịu.
Em tiếp tục dạy học từ mồng một tháng Hai. Chiều đến phòng
thí nghiệm, sáng ở nhà, trừ hai sáng mỗi tuần dạy ở Xe-vrơ. Bận lắm, nào nhà cửa,
nào con cái, dạy học và phòng thí nghiệm, em không biết làm thế nào nữa”...
*
Trời đẹp, Pi-e thấy khỏe ra, Ma-ri tươi tỉnh hơn. Đã đến lúc
làm cái nhiệm vụ đã hoãn quá nhiều lần: đi Xtốc-khôm, thuyết trình về phần thưởng
Nô-ben. Hai vợ chồng tiến hành cuộc hành trình vinh quang, mà sau này trong gia
đình chúng tôi sẽ trở thành một truyền thống.
Mồng sáu tháng Sáu năm 1905, nhân danh cả hai người, Pi-e nói
chuyện trước Hàn lâm viện Khoa học Xtốc-khôm. Ông nhắc lại các kết quả của sự
khám phá ra Ra-đi trong vật lý, đã thay đổi sâu sắc nhiều nguyên lý cơ bản. Về
hóa học, nó gợi ra những giả thuyết táo bạo về nguồn năng lượng duy trì tính
phóng xạ. Về địa chất học, khí tượng học, nó giải thích những hiện tượng cho đến
nay chưa hiểu được. Về sinh vật học, tác dụng Ra-đi trên những tế bào ung thư tỏ
ra có hiệu quả.
Chất Ra-đi đã làm giàu cho kiến thức và phục vụ việc thiện.
Nhưng liệu nó có làm tay chân cho việc ác không?
Kết thúc bản báo cáo Pi-e nói: “... Người ta còn có dịp nhận
thức rằng chất Ra-đi vào những bàn tay tội phạm, có thể trở thành nguy hiểm và ở
đây câu hỏi đặt ra là: Nhân loại có lợi gì không trong việc khám phá những bí mật
của thiên nhiên và đã chín muồi chưa để tận dụng những bí mật ấy hay sự hiểu biết
ấy lại chẳng có hại. Khám phá của Nô-ben rất tiêu biểu về mặt này: Các chất nổ
mạnh đã giúp loài người làm được những công trình vĩ đại, nhưng cũng là một
công cụ phá hoại khủng khiếp trong tay bọn tội phạm chiến tranh xô đẩy các dân
tộc vào cuộc chém giết lẫn nhau. Tôi cũng nghĩ như Nô-ben, rằng nhân loại sẽ
rút được ở những phát minh mới nhiều điều tốt hơn là điều xấu”.
*
Gian nhà ở đại lộ Kê-léc-man kín cổng cao tường, như một
thành lũy che chở họ khỏi bị quấy rầy. Ở đây, Pi-e và Ma-ri tiếp tục sống cuộc
đời đơn giản, ẩn dật. Việc nội trợ được giảm đến mức tối thiểu. Một bà giúp việc
làm các việc, một chị làm bếp phục vụ các bữa ăn. Miệng há hốc, chị ngắm các
khuôn mặt đăm chiêu của những người chủ lạ lùng và chờ đợi vài lời khen về món
thịt rán hay món khoai tây hầm của chị.
Một hôm, chờ mãi không chịu được, con người chất phác ấy mạnh
dạn hỏi Pi-e cho nhận xét về món thịt bò rán mà Pi-e vừa ăn một cách ngon lành.
Nhưng câu trả lời làm cho chị phân vân:
– Tôi ăn thịt bò rán à? – Nhà bác học khẽ hỏi.
Rồi nói thêm như nhân nhượng: “Ừ, có thể!”
Ngay những thời gian bận việc nhất, Ma-ri vẫn dành thì giờ
chăm sóc con cái. Nghề nghiệp bắt buộc bà phải giao phó con cho những người
giúp việc, nhưng chừng nào chưa tự mình kiểm tra xem I-ren và E-vơ có ăn tốt,
ngủ tốt không, có được chải đầu và tắm rửa không, có triệu chứng cảm lạnh hoặc
đau ốm gì khác không, thì Ma-ri chưa yên tâm. Vả lại, ví thể bà có lơ là đi nữa
thì I-ren cũng biết cách làm bà phải nhớ đến nó. Nó cũng không vừa. Nó muốn giữ
riêng mẹ của nó và không thích mẹ nó chăm sóc đến em bé. Mùa đông, Ma-ri phải
đi nhiều nơi ở Pa-ri để tìm mua táo và chuối thì I-ren mới chịu ăn, không mua
được, bà chưa dám về nhà.
*
Bà Qui-ri thỉnh thoảng cũng họp các em nhỏ lại để vui chơi với
bé I-ren và tập cho nó tính mạnh dạn hơn. Sau này, thế hệ trẻ đó còn nhớ mãi những
kỷ niệm sâu sắc về cây thông Nô-en, giăng hoa lá rực rỡ, với những hạt dẻ bọc
giấy kim nhũ và những ngọn nến màu do Ma-ri trang trí.
Cũng có lần ngôi nhà còn được dùng làm khung cảnh cho một màu
thần tiên gấp bao nhiêu lần cây thông thắp sáng. Thợ điện đến mắc ở buồng ăn những
chiếc đèn chiếu sân khấu và một dãy đèn điện. Sau bữa tối, trước mặt ông bà
Qui-ri và hai ba người bạn, ánh đèn chiếu ve vuốt những tà áo lụa mỏng bay bướm
của một vũ nữ, lúc thì trông như ngọn lửa, cánh hoa, lúc thì như hóa thành chim
hoặc mụ phù thủy.
Người phụ nữ ấy tên là Lôi Phu-lơ, “Nàng tiên của ánh sáng”,
đã có những tiết mục huyền ảo làm cho cả Pa-ri bị quyến rũ một thời và đã nối một
tình bạn rất đẹp với hai nhà vật lý. Đọc báo thấy nói chất Ra-đi tỏa sáng, ngôi
sao ca vũ ấy có ý định làm một bộ áo có thể phát lân như là ảo thuật. Lôi viết
thư hỏi, ý kiến ngây thơ làm cho Piere và Marie không khỏi nực cười. Hai nhà
bác học đã trả lời rằng không thể làm được “cánh bướm có chất Ra-đi”.
Nữ nghệ sĩ người Mỹ ấy, tối biểu diễn nào cũng được hoan
nghênh. Lôi Phu-lơ không nói với ai là đã trao đổi thư từ với hai nhà bác học,
và cũng không mời đi xem ở rạp hát. Lôi viết cho Ma-ri:
“Để cảm ơn ông bà đã trả lời tôi: Cho phép tôi đến biểu diễn
một tối dành riêng cho gia đình ta”.
Pi-e và Ma-ri nhận lời. Một người đàn bà kỳ lạ, ăn mặc sơ
sài, mặt xương xương, không son phấn, đôi mắt xanh như trẻ sơ sinh, đến bấm
chuông gọi cửa. Theo sau, một toán thợ điện mang nặng đồ lề. Hơi e ngại, hai vợ
chồng để nhà cho tốp người này, và đi đến phòng thí nghiệm. Lôi miệt mài hằng
giờ, điều chỉnh ánh sáng, sắp đặt các rèm cửa và các tấm thảm mà Lôi cho mang đến,
biến phòng ăn chật hẹp thành một sân khấu cho màn biểu diễn quyến rũ mê hồn của
mình.
“Nàng tiên nữ” đó có một tâm hồn cao nhã, rất ngưỡng mộ bà
Qui-ri, không đòi hỏi gì về phần mình mà chỉ muốn giúp ích làm vui lòng người
khác. Lôi trở lại biểu diễn ở đại lộ Kê-léc-man nhiều lần cũng ẩn danh như thế.
Khi đã thân, Ma-ri và Pi-e đến chơi nhà Lôi. Và làm quen với nhà điêu khắc
Rô-đanh[43] (August Rodin-NS). Những năm ấy,
Pi-e, Ma-ri, Lôi Phu-lơ và Rô-đanh thường họp mặt trò chuyện thanh thản trong
xưởng của nhà điêu khắc, giữa những đám đất thô và cẩm thạch.
Bảy tám người bạn thân thường lui tới ngôi nhà thuộc đại lộ
Kê-léc-man: Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ, Giăng Pe-ranh và vợ - là bạn thân của Ma-ri,
Gioóc Uya-banh, Pôn Lăng-giơ-vanh, Ê-đê Cốt-tông, Gioóc-xa-nhắc, Sắc-lơ E-đu-a
Guy-ôm, vài nữ sinh ở trường sư phạm Xe-vrơ... toàn là những nhà bác học!
Buổi trưa Chủ nhật, nếu đẹp trời, họ tụ tập ngoài vườn, Ma-ri
ngồi khâu, dưới bóng mát, bênh cạnh cái xe đẩy đặt bé E-vơ, vẫn theo dõi câu
chuyện chung, mà đối với chị em khác thì nó bí ẩn như một cuộc bàn cãi bằng tiếng
Ả-rập.
Đây là giờ truyền miệng những tin mới nhất, những tiết lộ hồi
hộp về các tia “an-pha”, “bê-ta”, “gam-ma” của Ra-đi, Pe-ranh, Uya-banh, Đờ-biếc-nơ
hăng say bàn cãi về nguyên nhân của năng lượng do Ra-đi tỏa ra. Muốn giải thích
hiện tượng ấy, phải từ bỏ hoặc nguyên lý Các-nô, hoặc nguyên lý bảo toàn nguyên
tố. Pi-e nêu giả thuyết về sự thoát biến phóng xạ, nhưng Uya-banh khăng khăng
phản đối, và ra sức bênh vực luận điểm của mình. Còn công trình của Xa-nhắc đến
đâu rồi? Và có gì mới về các thí nghiệm của Ma-ri về trọng lượng nguyên tử của
Ra-đi?
Ra-đi! Ra-đi! Ra-đi!... Tiếng nói màu nhiệm ấy lặp đi lặp lại
như một điệp khúc, từ miệng người này qua miệng người nọ, đôi khi Ma-ri không
khỏi băn khoăn, luyến tiếc: Sự tình cờ đã sắp đặt sai mọi việc, khi làm cho
Ra-đi trở thành một chất kỳ diệu, còn Pô-lô-ni (có nghĩa là Ba Lan) – mà hai
nhà vật lý khám phá ra đầu tiên – thì chỉ là một chất không “ổn định” và giá trị
thứ yếu. Lòng yêu nước của người phụ nữ Ba Lan này mong mỏi biết bao cái chất
“Pô-lô-ni” đó giành được vinh quang cho tên gọi tượng trưng của nó.
Thỉnh thoảng cũng có những lời thường tình xen lẫn vào các cuộc
trao đổi cao siêu ấy. Cụ bác sĩ Qui-ri nói chuyện chính trị với Đờ-biếc-nơ và
Lăng-giơ-vanh. Uya-banh thân mật bông đùa, chê cái áo dài của Ma-ri là khắc khổ
quá, trách bà ít chịu làm dáng và Ma-ri ngồi nghe, hơi ngỡ ngàng trước lời phê
bình bất ngờ đó. Giăng Pe-ranh đang bàn về nguyên tử và “thế giới vô cùng nhỏ”,
ngẩng mặt hào hứng lên trời, và vốn là một người say mê âm nhạc Vác-ne[44] (Richard Vegner-NS) cất
tiếng hát vang những trích đoạn trong các vở nhạc kịch “Vùng sông Ranh” hoặc
“Những thầy dạy hát”. Ở cuối vườn, hơi xa một tí, ba đứa trẻ quây quần nghe bà
Pe-ranh kể chuyện cổ tích – con gái A-lin, thằng Phrăng-xít, hai đứa con bà, và
I-ren bạn của chúng.
Chẳng ngày nào hai gia đình Pe-ranh và Qui-ri lại không gặp
nhau. Hai nhà chỉ cách một hàng rào trồng tầm xuân, ngăn hai vườn. Khi nào
I-ren cần gặp bạn, nó ra bên rào gọi. Qua những then rào gỉ, chúng trao cho
nhau từ thỏi sô-cô-la cho đến đồ chơi, hoặc thủ thỉ tâm sự - trong khi chờ đợi
sau này cũng sẽ nói chuyện “vật lý”, như những người lớn.
Pi-e và Ma-ri bước vào một quãng đời mới: nước Pháp đã nhận
ra họ và nghĩ đến cách nâng đỡ sự cố gắng của họ.
Giai đoạn đầu tiên không thể thiếu được là bầu Pi-e vào viện
Hàn lâm Khoa học. Một lần nữa, nhà bác học lại phải ghép mình vào cuộc thử
thách đi thăm hỏi. E rằng ông không chịu cư xử như một “ứng cử viên biết điều”,
bạn bè lo lắng tìm hết lời cổ vũ.
Pi-e Qui-ri có viết thư cho Gioóc Guy, 24 tháng Bảy năm 1905:
“Thế là tôi đã vào viện Hàn lâm, tuy không hề mong muốn điều
đó, mà viện Hàn lâm cũng chẳng muốn tôi vào...”
Pi-e Qui-ri viết cho Gioóc Guy tháng Mười 1905:
“Tôi cũng chưa tìm ra mục đích Hàn lâm viện để làm gì”
Thế nhưng Pi-e rất chú ý đến những quyết định mới của trường
đại học vì nó liên quan trực tiếp đến công việc của mình. Năm 1904, hiệu trưởng
Li-a xin mở được một lớp giảng dạy vật lý do Pi-e phụ trách. Đây là chức giáo
sư thực thụ hằng ao ước! Trước khi nhận, Pi-e hỏi ngay phòng thí nghiệm đi kèm
với trách nhiệm đó sẽ đặt ở đâu?
Một phòng thí nghiệm à? Phòng thí nghiệm nào? Làm gì có chuyện
này cơ chứ?
Hai nhà bác học được giải Nô-ben, cha mẹ đẻ của Ra-đi nhận thấy
ngay rằng, nếu Pi-e thôi giảng ở lớp lý-hóa-sinh để vào dạy ở Xoóc-bon thì
không còn làm việc được nữa. Bổ nhiệm mới về Pi-e, không có khoản cấp phòng thí
nghiệm, và hai cái buồng mà ông vẫn sử dụng ở lớp lý-hóa-sinh dĩ nhiên phải
trao lại cho người đến thay. Chẳng lẽ ra ngoài đường mà làm các thí nghiệm.
Pi-e viết cho trên một cái thư lễ phép nhưng cương quyết. Ông
không nhận chức vụ mới vì nó không kèm thêm phòng làm việc và dự chi nghiên cứu,
như thế sẽ vẫn giữ được ở lớp lý-hóa-sinh cái buồng con mà mặc dầu bận rất nhiều
thì giờ dạy, Ma-ri và ông còn làm được việc có ích.
Trường đại học đành đệ giấy lên Nghị viện xin lập một phòng
thí nghiệm với tài khoản một trăm năm mươi nghìn phơ-răng. Đề án này được chấp
thuận. Ở Xoóc-bon đã chật, nhưng một nhà hai gian sẽ được dựng ở phố Qui-vi-ê.
Pi-e Qui-ri được cấp dự trù mười hai nghìn phơ-răng mỗi năm, không kể ba mươi
tư nghìn phơ-răng dành cho trang bị.
Pi-e ngây thơ tưởng rằng với số tiền trên sẽ có thể mua thêm
dụng cụ và bổ sung thiết bị của mình. Được – ông có thể làm như vậy – nhưng sau
khi đã khấu trong khoản nhỏ đó mọi chi phí xây dựng căn nhà mới. Đối với nhà cầm
quyền Pháp, xây dựng và trang bị chỉ là một!
Dự trù chi tiêu của Nhà nước. Khi được sử dụng thường co lại
như vậy đó!
Pi-e Qui-ri viết cho Gioóc Guy, mồng 7 tháng Một 1905:
“Ngày mai tôi bắt đầu dạy, nhưng tôi phải làm thí nghiệm
trong những điều kiện rất không thuận tiện chút nào. Giảng đường ở Xoóc-bon và
phòng thí nghiệm thì ở phố Qui-vi-ê. Hơn nữa, giảng đường còn dùng cho nhiều lớp
khác và tôi chỉ có một buổi sáng để chuẩn bị cho buổi dạy.
Tôi không khỏe lắm và cũng không ốm lắm. Nhưng hay mệt và chỉ
còn một khả năng làm việc rất nhỏ. Trái lại, nhà tôi vẫn đảm đương những việc:
con cái, trường nữ sinh, và phòng thí nghiệm. Ma-ri không để phí một chút nào
và trông nom công việc phòng thí nghiệm đều hơn tôi, phần lớn thì giờ ở phòng
thí nghiệm.”
Cò kè mãi, Nhà nước Pháp bủn xỉn mới dành cho Pi-e Qui-ri một
chỗ trong biên chế. Ông phải giành giật từng mét vuông một mới có được đủ chỗ
làm việc, mới xúc tiến được việc xây dựng ở một địa điểm không thuận tiện, hai
căn phòng mà người ta biết trước là sẽ chật hẹp.
Có một nhà giàu, muốn giúp đỡ ông bà Qui-ri và hứa sẽ xây cho
một học viện, ở một ngoại ô yên tĩnh. Tràn đầy hy vọng, Pi-e Qui-ri thổ lộ hết
lòng mình.
Pi-e Qui-ri viết cho bà Đờ X., ngày 6 tháng Hai 1906:
“Thưa bà,
Xin gửi theo đây phần chú dẫn về đề án phòng thí nghiệm, chú
dẫn này không có gì là tuyệt đối và có thể thay đổi theo tình thế, đất và tiền
chúng tôi có được.
Đề án này sở dĩ nhấn nhiều về địa điểm ở nông thôn là vì đối
với chúng tôi điều quan trọng bậc nhất là có thể sống với con cái ở ngay nơi
làm việc. Trẻ em và phòng thí nghiệm đòi hỏi sự có mặt thường xuyên của những
người được giao công việc đó. Nhất là đối với Ma-ri, sẽ rất khó khăn nếu nơi ở
và nơi làm việc cách xa nhau. Có những lúc nhà tôi thấy hai phận sự đó vượt quá
sức mình.
Ở ngoài Pa-ri yên tĩnh xem ra rất tiện cho nghiên cứu khoa học,
và phòng thí nghiệm dọn đến đây thì chỉ có lợi. Trái lại sống ở trung tâm thành
phố rất có hại cho trẻ em và nhà tôi không đang tâm nuôi chúng trong những điều
kiện đó.
Xin bà nhận ở đây những lời cảm ơn của tôi”.
Kế hoạch hào hiệp ấy không thành – phải tám năm nữa, Ma-ri mới
có thể thu xếp cho khoa Phóng xạ được dọn đến một ngôi nhà xứng đáng với nó – một
ngôi nhà mà Pi-e sẽ không còn được trông thấy. Sau này, lúc nào lòng Ma-ri cũng
đau như cắt với ý nghĩ rằng cho đến phút cuối cùng, người bạn đường của mình vẫn
đợi mãi căn phòng thí nghiệm đó, ước vọng duy nhất trong đời Pi-e.
Sau này, khi nói đến hai gian buồng ở phố Qui-vi-ê mãi đến
phút cuối cùng mới được cấp cho Pi-e, bà viết:
“Thật chua xót khi nghĩ rằng đó là sự nhượng bộ cuối cùng đối
với Pi-e và rốt cuộc, một trong những nhà bác học đầu tiên của nước Pháp mà
thiên tài đã xuất hiện từ năm hai mươi tuổi, chưa hề được sử dụng một phòng thí
nghiệm thích đáng. Cố nhiên, giá có thể sống lâu thêm, sớm muộn Pi-e Qui-ri
cũng sẽ có những điều kiện làm việc thỏa đáng – nhưng đến bốn mươi bảy tuổi,
ông vẫn chưa được những điều kiện đó. Hãy thử tưởng tượng nỗi khổ tâm của một
người thợ, hào hứng vô tư đang làm một công việc lớn, khi bị chậm trễ trong việc
thực hiện ước mơ của mình chỉ vì luôn luôn thiếu phương tiện! Liệu chúng ta có
thể nghĩ mà không buồn rầu sâu sắc đến sự phí phạm không thể nào hàn gắn được về
cái của quí nhất của đất nước, là thiên tài, sức khỏe và lòng quả cảm của những
người con ưu tú?
Đúng là chất Ra-đi đã được khám phá ra trong những điều kiện
bấp bênh: cái nhà xe đã che chở cho nó ngày nay đã khoác cái áo yêu kiều của
truyền thuyết. Những yếu tố lãng mạn đó chẳng hay ho gì, nó đã hủy hoại sức khỏe
của chúng tôi và làm chậm trễ bao thực hiện. Giá được những phương tiện tốt
hơn, biết đâu công việc năm đầu của chúng tôi đã chẳng giảm xuống hai năm và đỡ
căng thẳng hơn!”
*
Một quyết định làm cho Pi-e vui thích thật sự, là được ba người
giúp việc: Một trưởng phòng thí nghiệm, một phụ tá và một lao công; trưởng
phòng thí nghiệm là Ma-ri.
Từ trước đến nay, sự có mặt Ma-ri ở phòng thí nghiệm chỉ là
chiếu cố. Bà đã thực hiện các việc nghiên cứu về Ra-đi, không dưới một danh
nghĩa gì và cũng chẳng có lương. Kể từ tháng 11 năm 1904, Ma-ri có một chức vụ
và được hai nghìn bốn trăm phơ-răng, một năm. Lần đầu tiên, bà vào làm việc
chính thức trong phòng thí nghiệm của chồng.
“Trường đại học Pháp.
Bà Qui-ri, tiến sĩ khoa học, được bổ nhiệm, kể từ ngày mồng 1
tháng 11 năm 1904, làm trưởng phòng thí nghiệm Vật lý (khoa giảng của ông
Qui-ri) ở khoa Đại học Khoa học trong trường Đại học Pa-ri.
Bà Qui-ri được hưởng hai nghìn bốn trăm phơ-răng một năm, kể
từ ngày 1 tháng 11 năm 1904.”
Từ biệt nhà xe! Pi-e và Ma-ri mang nốt đến phố Qui-vi-ê những
dụng cụ hãy còn lại ở cái lán gỗ điêu tàn. Nơi đây đã chứng kiến bao nhiêu ngày
cố gắng và hạnh phúc. Pi-e và Ma-ri còn quay lại nhiều lần, tay khoác tay, quyến
luyến những bức tường ẩm ướt, những mảnh ván nát mục.
Cuộc sống mới đi dần vào nếp. Pi-e chuẩn bị chương trình giảng
dạy của mình. Ma-ri đi dạy ở Xe-vrơ như xưa. Hai vợ chồng lại gặp nhau trong
phòng thí nghiệm chật hẹp ở phố Qui-vi-ê, ở đó Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ, An-be
La-boóc, một người Mỹ là giáo sư Đu-an, và một số phụ tá hoặc học trò tiếp tục
nghiên cứu với những máy móc, dụng cụ mỏng manh.
Pi-e viết ngày 14 tháng Tư 1906:
“Ma-ri Qui-ri và tôi, chúng tôi đang nghiên cứu dựa vào khí tỏa
của Ra-đi để đo chất này thật chính xác. Thoạt trông tưởng như không có gì, thế
mà đã mấy tháng qua, mới chỉ bắt đầu thu được những kết quả đều đặn.”
“Ma-ri Qui-ri và tôi, chúng tôi đang nghiên cứu...”! Dòng chữ
ấy, Pi-e viết năm ngày trước khi chết, đã nói lên cái chủ yếu và vẻ đẹp cao quý
nhất của một sự hòa hợp không bao giờ ngơi giảm. Mỗi bước tiến của sự nghiệp
chung, mỗi thất bại hay thắng lợi, đều làm hai vợ chồng gắn bó với nhau hơn nữa.
Nói sao hết những điều thú vị, lòng tin yêu và niềm vui tươi
thân mật, chan hòa sự hợp tác thiên tài đó? Những ý kiến lớn-nhỏ, những câu hỏi,
những nhận xét, lời khuyên, suốt ngày từng giờ, từng giờ cứ bay từ Pi-e sang
Ma-ri rồi lại từ Ma-ri tới Pi-e. Có những câu khen hóm hỉnh và những lời trách
nhân ái. Giữa hai tâm hồn bình đẳng mến phục nhau, cổ vũ lẫn nhau, tình đồng
nghiệp tuyệt diệu, thanh cao, có lẽ là biểu lộ tế nhị nhất tình yêu nồng thắm của
họ.
An-be La-boóc, phụ tá của hai ông bà gần đây, viết thư cho
Eve:
“Một lần tại phòng thí nghiệm ở phố Qui-vi-ê, tôi đang làm việc
với một loạt dụng cụ có thủy ngân. Pi-e Qui-ri cũng ở đấy. Ma-ri Qui-ri đến,
chú ý đến một chi tiết về máy móc. Lúc đầu, bà không hiểu, mà chi tiết lại rất
đơn giản. Tuy giảng giải rồi, bà vẫn hỏi vặn. Lúc đó Pi-e thốt lên, giọng vui vẻ,
âu yếm nhưng hơi ngạc nhiên: “Ô! Sao thế hở? Ma-ri!”. Câu nói còn văng vẳng
trong tai tôi với một sắc thái khó mà quên được.
Mấy hôm sau, một vài anh bạn đến hỏi giáo sư Qui-ri về một
công thức toán. Ông khuyên họ chờ bà Qui-ri đến. Ông nói bà rất giỏi tính vi
phân và sẽ giải quyết nhanh chóng vấn đề của họ. Và đúng như vậy,chỉ trong vài
phút, bà Qui-ri đã tìm ra giải đáp cho bài toán hóc búa đó “.
Khi Pi-e và Ma-ri ở một mình bên nhau, sự cởi mở âu yếm làm
cho nét mặt và cử chỉ của hai người càng thêm đắm đuối nồng nàn. Những nhân
cách mạnh mẽ ấy, những cá tính khác nhau ấy, – Pi-e thì thư thái, mơ màng;
Ma-ri thì chan hòa, sôi nổi – trong mười một năm trời họ không mấy khi cần đến
“nhân nhượng lẫn nhau” mà người ta thường nói gia đình nào cũng phải trải qua
thì mới êm ấm. Một cách tự nhiên, hai người luôn luôn nghĩ như một, đồng tâm nhất
trí cả về những việc vụn vặt trong đời sống.
Một bà bạn – chẳng hạn như bà Pe-ranh muốn dắt I-ren đi chơi,
giá có hỏi Pi-e thì ông thường trả lời với nụ cười dè dặt, gần như phục tùng
“Tôi cũng không biết, Ma-ri chưa về. Cần đợi Ma-ri xem thế nào”. Hoặc giả trong
cuộc họp về khoa học, Ma-ri vốn ít nói, nếu có lần quá say sưa tranh luận, người
ta bỗng thấy bà đỏ mặt, ấp úng, và quay về phía chồng để nhường lời, như tin tưởng
sâu sắc rằng ý kiến của Pi-e còn nghìn lần quý hơn ý kiến mình...
Chương 18
ngày 19 tháng tư năm 1906
Ngày thứ năm hôm đó thời tiết thật chán. Trời cứ lúc lúc lại
đổ mưa, tối sầm. Pi-e và Ma-ri, có muốn vùi đầu vào công việc để khỏi để ý đến
những cơn mưa rào tháng Tư cũng chẳng được. Pi-e phải đi dự bữa tiệc của Hội
các giáo sư trường Đại học Khoa học, sau đó đến nhà xuất bản Gô-chi-ê chữa bản
thảo, rồi qua Viện hàn lâm. Ma-ri cũng cần đi nhiều nơi.
Buổi sáng bận rộn ấy, hai vợ chồng mới chợt thoáng thấy nhau
thôi. Pi-e ở dưới nhà gọi với lên gác, hỏi Ma-ri có ra phòng thí nghiệm không?
Ma-ri đang bận mặc áo cho I-ren và E-vơ, nói rằng có nhẽ không có thì giờ – câu
trả lời đó lẫn vào tiếng động ồn ào. Cửa ngoài đóng sập, Pi-e vội đi ngay.
Trong khi Ma-ri ăn trưa ở nhà với các con và cụ bác sĩ Qui-ri, thì ở khách sạn
Các Hội khoa học phổ thông phố Đăng-tông, Pi-e chuyện trò vui vẻ với các đồng
nghiệp. Ông thích những buổi họp êm ả như thế này, hết bàn đến Xoóc-bon lại nói
về nghiên cứu về nghề nghiệp. Câu chuyện chung hướng về những tai nạn có thể xảy
ra trong các phòng thí nghiệm, Pi-e lên tiếng ủng hộ ngay dự án nội qui nhằm hạn
chế những nguy cơ đe dọa người nghiên cứu.
Lúc hai giờ rưỡi trưa, Pi-e đứng dậy tươi cười, từ biệt các bạn,
xiết chặt tay Giăng Pe-ranh, hẹn gặp lại ngay chiều hôm ấy. Trên ngưỡng cửa,
ông lơ đãng nhìn lên và hơi bĩu môi trước bầu trời u ám. Mở chiếc ô ra, Pi-e đi
dưới mưa rào, xuôi về phía sông Xen.
Đến nhà in, thấy đóng cửa: Các xưởng đều đình công. Pi-e ngoặt
ra phố Đô-phin, ầm ĩ tiếng quát tháo của anh em đánh xe ngựa, tiếng tàu điện
ken két trên bến.
Trong cái phố eo hẹp của thành phố Pa-ri cổ này sao mà chen
chúc như vậy! Lòng đường chỉ đủ cho xe ngựa tránh nhau; và đối với người qua lại
rất đông trưa hôm ấy, vỉa hè quả là chật hẹp. Pi-e phải lần từng chỗ mà bước.
Lúc thì theo vỉa hè, lúc thì xuống đường, bước thấp bước cao, dáng điệu một người
đang suy nghĩ. Pi-e nghĩ gì mà đôi mắt đăm chiêu, nét mặt nghiêm nghị thế? Một
thí nghiệm đang làm chăng? Hay công trình của anh bạn Uya-banh, mà bản báo cáo
gửi viện Hàn lâm đang để trong túi áo ông? Hay là nghĩ đến Ma-ri?...
Pi-e bước trên đường nhựa đã được một lúc, theo sau một chiếc
xe ngựa chở khách cửa đóng kín, đang từ từ lăn bánh về phía cầu Mới. Đến ngã tư
phố này rẽ ra đường bờ sông, đường phố rất ồn ào. Một toa xe điện vừa chạy qua
dọc bờ sông, tiến về quảng trường La Công-coóc. Một chiếc xe chở hàng chở nặng,
thắng hai ngựa, từ trên cầu đổ xuống, cắt ngang đường xe điện và theo nước kiệu,
tiến thẳng về phố Đô-phin.
Pi-e định đi qua đường sang hè bên kia. Với sự đột ngột của
người lơ đễnh, Pi-e rời khỏi phía sau xe ngựa chở khách, mà cái mui vuông đang
như một tấm bình phong, chắn tầm mắt ông không nhìn thấy gì ở phía trước, và đi
vài bước sang bên trái. Bỗng, Pi-e đụng phải một con vật thở phì phò, bốc khói:
đó là một trong hai con ngựa của xe chở hàng vừa đúng lúc sắp lướt qua chiếc xe
ngựa chở khách. Khoảng cách giữa hai xe xít lại đến chóng cả mặt. Sửng sốt,
Pi-e loạng choạng níu lấy ức con vật, nó chồm lên. Đế giày của nhà bác học trơn
tuột trên mặt đường ướt. Một tiếng kêu thất thanh, từ hai mươi lồng ngực khiếp
đảm. Pi-e sóng sượt dưới vó hai con ngựa lực lưỡng. Người qua đường thét lên:
“Dừng xe lại! Dừng xe lại!”. Người đánh xe cố ghìm dây cương. Nhưng vô hiệu, cả
ngựa lẫn xe cứ lao tới.
Pi-e nằm vật dưới đất, còn sống, không can gì. Ông không kêu,
và cũng gần như không nhúc nhích. Thân hình ông lọt giữa chân ngựa, không hề bị
lướt chạm, rồi lại lọt giữa hai bánh trước xe chở hàng. Một sự kỳ lạ vẫn có thể
xảy ra. Nhưng cái khối to lớn sáu tấn kia, theo đà của nó, còn vượt thêm mấy
thước nữa. Cái bánh sau bên trái đụng phải một chướng ngại vật yếu ớt, nó nghiến
qua. Một cái trán, một cái đầu người. Sọ vỡ tung ra, một chất lầy nhầy đỏ lòm
tung tóe khắp nơi, lẫn trong bùn. Bộ óc của Pi-e Qui-ri.
.
Cảnh sát giao thông đến nhắc cái thân hình còn ấm, mà sự sống
vừa bị cướp mất trong khoảnh khắc. Họ liên tiếp gọi các xe ngựa chở khách đến,
nhưng không xe nào chịu chở một cái xác đầy bùn, máu me lênh láng. Nhiều phút
trôi qua, người qua đường tò mò xúm lại xem, chen chúc. Một đám đông, ngày càng
dày đặc vây quanh cái xe chở hàng đã dừng lại và những tiếng quát thét giận dữ
đổ về phía anh đánh xe Lu-i Ma-nanh, đã vô tình gây ra án mạng. Sau cùng, có
người mang đến một cái cáng. Người ta đặt nạn nhân lên đó, và sau một lúc cứu
chữa vô ích, trong một hiệu thuốc, cáng được khiêng đến đồn cảnh sát để xem giấy
tờ người chết.
Khi tin đồn ra rằng nạn nhân là Pi-e Qui-ri, một giáo sư, một
nhà bác học nổi tiếng, thì sự hỗn độn càng tăng gấp bội, cảnh sát phải can thiệp
để che chở Ma-nanh đang bị công chúng dọa đánh.
Một thầy thuốc, ông Đru-ê, lau bộ mặt vấy bùn của nạn nhân,
xem kỹ vết thương rộng toác ở đầu, đếm được mười sáu mảnh xương, mà chỉ cách
đây hai mươi phút còn là một cái sọ. Người ta gọi điện thoại báo cho trường Đại
học Khoa học biết. Rồi thì, trong trạm cảnh sát ở phố Gơ-răng O-guýt-xtanh,
viên chánh cẩm và người thư ký xúc động nhìn hai bóng dáng cúi gằm và nức nở
khóc: Cơ-léc, phụ tá phòng thí nghiệm và Ma-nanh, anh đánh xe ngựa mắt đỏ húp.
Giữa hai người đó, Pi-e nằm dài, trán quấn băng, để hở khuôn
mặt còn nguyên vẹn – thờ ơ với tất cả.
Cái xe chở hàng, dài năm thước, chất đầy ắp những kiện áo quần
nhà binh, đỗ ở trước cửa.
Mưa rơi xóa dần những vết máu lấm chấm ở một bánh xe. Hai con
ngựa non hơi bồn chồn vì vắng chủ, cứ thở phì phò và gõ móng xuống đất.
Tai ương ập đến nhà ông bà Qui-ri. Ô tô, xe ngựa chở khách chạy
qua chạy lại, do dự, dọc theo những dãy thành lũy cổ và dừng trên đại lộ
Kê-léc-man vắng vẻ. Một nhân viên phủ tổng thống bấm chuông, thấy trả lời rằng
bà Qui-ri chưa về, lại quay đi, không trao thư. Lại một tiếng chuông kêu, khoa
trưởng Pôn A-pen và giáo sư Giăng Pe-ranh bước vào.
Trong nhà chỉ có cụ bác sĩ Qui-ri và chị giúp việc.
Bước ra đón khách, cụ thấy vẻ mặt bối rối của hai người. Pôn
A-pen có nhiệm vụ báo cho Ma-ri biết trước tiên, nên cứ đứng đó, im lặng ngại
ngùng. Những phút do dự bi thảm ấy không kéo dài. Cụ già nhìn nét mặt họ một lần
nữa, và không hỏi một lời, cụ nói:
– Con tôi chết rồi!
Nghe kể tai nạn, trên khuôn mặt khô đét và răn rúm, hai dòng
lệ từ từ chảy. Những dòng lệ đau đớn và phẫn nộ. Với một lòng thương xót mãnh
liệt và một sự tuyệt vọng cùng cực, cụ trách con trai không cẩn thận làm thiệt
đời mình, cụ nhắc lại mãi một câu não ruột:
– Không biết nó còn mơ màng cái gì!
Sáu giờ, tiếng chìa khóa vặn trong ổ. Ma-ri, vui vẻ, lanh lẹ,
hiện ra trên ngưỡng cửa phòng khách. Bà thoáng thấy dấu hiệu khủng khiếp của
lòng đoái thương trong thái độ quá ư trân trọng của các bạn mình. Một lần nữa,
Pôn A-pen kể lại chuyện xảy ra. Ma-ri đứng im, sững sờ, dường như không hiểu gì
cả. Bà không ngã vào những cánh tay âu yếm, không than vãn, khóc lóc. Người ta
cảm thấy bà cũng vô tri, vô giác, trơ trơ như một tượng gỗ. Một hồi lâu, im lặng,
ngơ ngác, môi bà mới lắp bắp và khẽ hỏi, như còn điên cuồng hy vọng một sự cải
chính nào đó:
– Pierre chết rồi?... Chết... Chết thật à?...
Từ khi tiếng “Piere đã chết” thấm vào tâm hồn Marie thì cuộc
sống cô quạnh và thầm lặng như một tấm áo choàng đã vĩnh viễn đặt trên đôi vai
người quả phụ. Ma-ri Qui-ri, trong cái ngày tháng Tư ấy, đã trở thành cô đơn,
buồn thảm khôn nguôi.
Một bức tường vô hình giờ đây như ngăn cách Ma-ri với những
người chứng kiến tấn thảm kịch này. Trước những lời thương tiếc và an ủi của họ
hàng thân thuộc, Ma-ri vẫn trơ trơ: Mắt ráo hoảnh, mặt xanh xám, như không nghe
thấy gì, và khó khăn lắm mới đáp lại những câu hỏi cấp bách nhất. Bằng vài lời
vắn tắt, Ma-ri không cho mổ xác khám nghiệm để kết thúc điều tra của tòa án và
yêu cầu cho đưa thi hài về đại lộ Kê-léc-man.
Bà nói với bà bạn Pe-ranh cho I-ren sang ở nhờ trong những
ngày tới, đánh điện về Vác-xô-vi “Pi-e chết vì tai nạn”. Rồi ra ngoài vườn đất
còn ẩm ướt, ngồi xuống, chống khủy tay lên đầu gối, hai tay ôm lấy đầu, hai mắt
đờ ra.
Không một cử động, như câm, như điếc, Ma-ri ngồi chờ người bạn
đời của mình.
Thoạt tiên, người ta mang đến mấy vật kỷ niệm đau thương tìm
thấy trong các túi của Pi-e: Một bút máy, mấy chiếc chìa khóa, một ví, một cái
đồng hồ – máy không hề suy xuyển,cả đến mặt kính cũng còn nguyên. Sau cùng lúc
tám giờ tối, một xe cấp cứu đến đỗ trước nhà. Ma-ri vội bước lên và trong ánh
sáng mập mờ, nhìn thấy khuôn mặt của Pi-e bình thản, khoan thai.
Chiếc cáng nặng nề, chậm chạp, đi qua cổng nhỏ. Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ
đến tìm người thầy, người bạn của mình ở đồn cảnh sát, lúc đó cũng đỡ chiếc
cáng bi thảm. Thi hài được đặt ở một buồng nhà dưới và Ma-ri ngồi một mình với
chồng.
Bà hôn mặt chồng, trên cơ thể hãy còn mềm, gần như còn ấm,
hôn lên bàn tay, hãy còn gập lại được. Người ta phải dìu Ma-ri sang phòng bên cạnh,
để bà khỏi trông thấy cảnh khâm liệm. Như mất hồn, bà nghe lời rồi chợt nghĩ là
giây phút đó sẽ mất đi không bao giờ lấy lại được, và đáng ra không thể cho ai
thu xếp những quần áo vấy máu ấy, thế là bà trở lại, và bám lấy người chết.
Hôm sau, Giắc Qui-ri là anh ruột Pi-e tới. Đứng trước hai anh
em, một người còn, một người mất, Ma-ri không kiềm chế nổi nữa, òa lên khóc nức
nở. Rồi như trấn tĩnh lại, bà đi thờ thẫn trong nhà, hỏi xem đã tắm và chải đầu
cho E-vơ như mọi ngày chưa. Bà ra vườn, gọi I-ren đang xếp ô chơi ở nhà
Pe-ranh, và nói qua hàng rào với I-ren rằng: “Bố vừa mới bị đau đầu lắm, bố cần
được yên tĩnh”. Ngây thơ, em bé trở lại với đồ chơi của nó. Sau đó mấy tuần lễ,
Ma-ri không thể nhắc nhở nỗi đau thương của mình trước mọi người, như bị chìm đắm
vào im lặng...
*
Cụ bác sĩ Qui-ri, Giắc, Dô-dếp và Brô-ni-a lo lắng theo dõi từng
cử chỉ của Ma-ri, giờ đây trong áo tang đen, đã biến thành một con người lạnh
giá, trầm lặng, không hồn. Ngay những lúc trông thấy hai con, Ma-ri cũng chẳng
có một cảm nghĩ gì. Lúc nào cũng như mất trí, tuy không chết theo được người đã
khuất nhưng bà hầu như đã từ giã cõi đời này.
Những họ hàng, bầu bạn ân cần chăm sóc, lo lắng đến tương lai
mà Ma-ri hầu như chẳng còn đoái hoài gì nữa. Cái chết của Pi-e Qui-ri đặt ra
nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách. Những công trình nghiên cứu mà Pi-e bỏ dở
từ nay sẽ ra sao, và cả đến việc giảng dạy ở Xoóc-bon nữa? Ma-ri sẽ ra sao?
Trong gia đình ai nấy thì thầm bàn bạc, lắng nghe những gợi ý
của đại biểu Bộ giáo dục và của trường Đại học, cứ liên tiếp đến đại lộ
Kê-léc-man. Ngay sau hôm tang lễ, chính phủ Pháp muốn tặng một trợ cấp Quốc gia
cho quả phụ và hai con của Pi-e Qui-ri. Giắc đến cho em dâu biết. Ma-ri đã từ
chối dứt khoát.
– Không cần phải trợ cấp. Tôi còn trẻ, có thể kiếm sống cho
tôi và các con tôi.
Trong giọng rắn nói rỏi, đã hét vang lòng quả cảm vốn có của
bà.
Giữa nhà nước Pháp và gia đình Qui-ri còn phân vân, do dự.
Trường đại học sẵn sàng giữ Ma-ri trong ngạch. Nhưng với cương vị nào? Và phòng
thí nghiệm thì sao? Liệu có thể đặt người đàn bà thiên tài ấy dưới mệnh lệnh của
một ai khác? Tìm đâu ra một giáo đủ thẩm quyền để điều khiển phòng thí nghiệm của
Pi-e Qui-ri?
Khi được hỏi về nguyện vọng, bà Qui-ri trả lời rằng lúc này
chưa suy nghĩ được, không biết nên thế nào...
Giắc, Brô-ni-a và người bạn trung thành nhất của Pi-e là
Gioóc Guy cảm thấy họ cần phải quyết định và đề xuất ra vấn đề thay cho Ma-ri.
Giắc Qui-ri và Gioóc Guy đến trình bày niềm tin quả quyết của
mình với hiệu trưởng trường Đại học: Ma-ri là nhà vật lý duy nhất của nước Pháp
có thể tiếp tục công việc mà Pi-e và bà đã làm. Ma-ri là giáo sư duy nhất xứng
đáng kế tiếp Pi-e. Ma-ri là trưởng phòng thí nghiệm duy nhất có thể thay Pi-e.
Phải gạt bỏ mọi truyền thống và tục lệ để bổ nhiệm Ma-ri làm giáo sư Xoóc-bon.
Do sự khẩn khoản của hai giáo sư Mác-xơ-lanh Béc-tơ-lô, Pôn
A-pen và hiệu trưởng trường Đại học Li-a, chính phủ Pháp đã có một cử chỉ trung
thực và rộng rãi. Ngày 13 tháng 5 năm 1906, Hội đồng các trường Đại học khoa học
nhất trí quyết định duy trì khóa giảng đã được thành lập cho Pi-e Qui-ri, và
trao công việc này cho Ma-ri với cương vị là “giảng viên”.
Đây là quyết nghị của trường Đại học Khoa học:
“Trường Đại học Pháp.
Bà Qui-ri, tiến sĩ khoa học, trưởng phòng thí nghiệm ở trường
Đại học Khoa học ở Đại học đường Pa-ri, được giao trách nhiệm dạy một giáo
trình Vật lý ở trường ấy.
Lương hàng năm của bà Qui-ri là một vạn quan, kể từ mồng một
thángNăm1906”.
Lần đầu tiên, một phụ nữ được bổ nhiệm trong ngành Đại học
Pháp.
Ma-ri lơ đãng nghe cụ bố chồng kể tỉ mỉ về sứ mệnh nặng nề mà
mình phải đảm nhận. Bà chỉ nói:
– Con sẽ thử.
Và chợt nhớ lại lời của Pi-e, nay đã thành một di chúc, một mệnh
lệnh chỉ rõ cho mình con đường phải đi “dù sao đi nữa, dầu chỉ còn cái xác
không hồn, cũng cứ phải làm việc”.
*
Giắc Qui-ri và Dô-dếp Xkhua-đốp-xki đã rời khỏi Pa-ri. Chẳng
bao lâu nữa, Brô-ni-a cũng sẽ về Ba Lan để cùng với chồng trông nom an dưỡng đường
của họ ở Da-cô-pan.
Một buổi tối, một trong những tối cuối cùng mà hai chị em còn
ở gần nhau, Ma-ri kéo Brô-ni-a vào phòng ngủ của mình. Đang mùa hè nóng nực,
nhưng trong lò sưởi củi cháy đỏ rực. Ma-ri khóa cửa lại, Brô-ni-a ái ngại nhìn
em gái, khuôn mặt lúc này còn xanh xao, nhợt nhạt hơn mọi ngày. Ma-ri lẳng lặng
lôi ở tủ ra một gói to bọc bằng giấy không thấm nước, dầy cộm. Rồi ra hiệu cho
chị ngồi xuống bên cạnh mình.
Trên lò sưởi có để sẵn một cái kéo to.
– Chị Brô-ni-a ơi, chị phải giúp em trong việc này – Ma-ri chậm
chạp tháo dây và trải giấy ra, dưới ánh lửa, hai bàn tay run rẩy và đỏ rực lên.
Một bọc hiện ra, gói cẩn thận trong một tấm chăn trải giường. Ma-ri do dự một
lúc rồi mở hẳn miếng vải trắng ra. Brô-ni-a phải cố nén mới không kêu vì khủng
khiếp: đó là một bộ quần áo vấy bẩn đã khô và máu đã đen đọng. Bao nhiêu ngày rồi
Ma-ri vẫn giữ bên cạnh mình những quần áo Pi-e mặc khi bị chiếc xe chở hàng cán
chết ở phố Đô-phin.
Người đàn bà góa, cầm lấy cái kéo, bắt đầu cắt vụn cái áo vét
tông màu sẫm, vất từng mảnh nhỏ vào lửa, nhìn chúng xèo xèo bốc khói, cháy dần
rồi biến đi. Nhưng Ma-ri bỗng dừng lại không kìm nỗi dòng nước mắt làm ướt nhòa
đôi mắt đã mệt mỏi. Một chất nhầy và ướt hiện ra, trong các nếp vải đã dính bết
mấy mảnh cuối cùng của khối óc mới vài tuần lễ trước đây còn sản sinh ra bao ý
nghĩ cao thượng, bao sáng kiến diệu kỳ.
Ma-ri nhìn trân trân những di tích đã rữa nát ấy, mân mê
chúng một cách tuyệt vọng. Brô-ni-a phải giằng lấy kéo và áo quần, tiếp tục cắt,
ném những miếng vải vào lửa.
Cả hai chị em, không ai nói một lời. Cái giấy gói, tấm khăn
trải giường, chiếc khăn dùng để lau tay, cũng làm mồi cho lửa. Lúc này, Ma-ri mới
nói:
– Em không thể đang tâm để những bàn tay hờ hững sờ mó vào những
thứ này. – rồi sán lại gần Brô-ni-a – Chị ơi, em sống làm sao được bây giờ? Em
cảm thấy là cứ phải sống, nhưng làm thế nào? Làm thế nào mới được chứ?
Ma-ri cứ níu lấy chị, nước mắt giàn giụa, khóc nức nở. Còn
Brô-ni-a thì vừa đỡ lấy em vừa tìm lời khuyên giải, cuối cùng phải cởi áo, đặt
lên giường đứa em gái đáng thương, lả đi vì quá xúc động.
Ngày hôm sau, Ma-ri lại như con người máy, vô tri đã thay bà
đi đứng và làm việc kể từ ngày 19 tháng Tư. Và cũng chính là một con người máy
mà Brô-ni-a ôm hôn từ biệt, đứng lặng trên sân ga, trong tấm voan đen tang tóc
còn ám ảnh Brô-ni-a mãi sau này.
Một “cuộc sống bình thường” trở lại còn tràn ngập bao kỷ niệm
thắm thiết của Pi-e. Có những chiều, nghe tiếng cửa mở, Ma-ri thoáng có ý nghĩ
điên cuồng trong khoảnh khắc, rằng Pi-e Qui-ri sắp hiện ra trước mặt mình và
tai nạn vừa qua chỉ là một cơn ác mộng.
Chung quanh Ma-ri, già hay trẻ, đều tỏ ra trông mong. Ai nấy
chờ đợi ở Ma-ri những dự định, một kế hoạch về tương lai. Người quả phụ ba mươi
tám tuổi ấy, mệt mỏi rã rời vì đau khổ, giờ đây phải gánh vác cả một gia đình.
Bà quyết định ở lại Pa-ri trong mùa hè để làm việc ở phòng
thí nghiệm và để chuẩn bị cho việc giảng dạy sẽ khai mạc vào tháng Mười Một.
Làm sao cho xứng đáng với bài giảng của Pi-e Qui-ri! Ma-ri thu thập các sách vở
của mình, sưu tầm những tài liệu do nhà bác học để lại. Một lần nữa, bà lao vào
học tập nghiên cứu.
Những ngày hè buồn thảm ấy, hai con gái về ở thôn quê; E-vơ đến
chỗ ông nội ở Xanh Rê-mi trên sông Xen; I-ren ra bãi biển với bác Hê-la, chị thứ
hai của Ma-ri, sang Pháp để giúp đỡ em.
Thu đến, Ma-ri tìm một chỗ ở mới, vì không thể ở mãi đại lộ
Kê-léc-man. Bà muốn chuyển về Xô, nơi xưa kia Pi-e từng sống khi hai người gặp
nhau – và giờ đây là nơi Pi-e an nghỉ.
Khi bàn đến vấn đề này, cụ bác sĩ Qui-ri, có lẽ lần đầu tiên
trong đời, ngượng ngùng lại gần con dâu:
– Ma-ri con, nay Pi-e đã khuất, con chẳng có lý do gì mà sống
với một lão già. Cha sẵn sàng đi nơi khác ở một mình, hoặc về với Giắc. Ý con
thế nào?
– Cha mà đi thì làm cho con buồn. Nhưng xin tùy cha!
Giọng Ma-ri nghẹn ngào vì lo âu. Chẳng lẽ lại mất nốt người bạn
trung thực này ư? Rất có thể cụ bác sĩ Qui-ri sẽ đến ở với Giắc, chứ không sống
với con dâu nước ngoài người Ba Lan, mà việc đó cũng hợp tình, hợp lý...
Nhưng, có ngay câu trả lời mong mỏi:
– Cha thích sống với con, Ma-ri, mãi mãi...
Cụ còn muốn nói thêm: “Vì con cũng ưng như thế...”, nhưng quá
xúc động, cụ không nói ra lời. Cụ vội quay đi, bước nhanh ra vườn với bé I-ren,
đang mừng rỡ gọi ông nội.
Một bà góa, một cụ bảy mươi chín tuổi, hai đứa trẻ, mà một mới
chập chững đi, đó là gia đình Qui-ri bây giờ.
*
“Bà Qui-ri, quả phụ của nhà bác học nổi danh mà ai cũng biết
cái chết thảm khốc, được bổ nhiệm thay chồng là giáo sư Pi-e Qui-ri ở trường đại
học Xoóc-bon, sẽ giảng bài đầu tiên vào ngày thứ hai mồng năm tháng một 1906, hồi
một giờ rưỡi trưa.
Bà Qui-ri, trong buổi dạy mở đầu này, sẽ nói về thuyết i-ông
trong các khí và sự phóng xạ.
Buổi khai giảng sẽ làm ở một “giảng đường lên lớp”. Những giảng
đường này chỉ có độ một trăm hai mươi chỗ, dành cho sinh viên. Công chúng và
nhà báo cũng được đến nghe, nhưng chỉ còn độ hai mươi chỗ... Trong trường hiện
nay, trường hợp duy nhất của lịch sử trường Xoóc-bon liệu có thể vi phạm nội
quy và để bà Qui-ri được sử dụng giảng đường lớn trong buổi giảng đầu tiên của
bà?”
Mấy đoạn trích ở các tờ báo đương thời phản ánh sự quan tâm
và náo nức của công chúng Pa-ri chờ đón buổi ra mắt đầu tiên của người quả phụ
nổi danh. Phóng viên nhà báo, giới quý phái thượng lưu, phụ nữ đẹp, những nghệ
sĩ đổ xô đến phòng giáo vụ của trường Đại học Khoa học phàn nàn vì không được
“giấy mời”. Phải chăng chỉ có lòng đoái thương hoặc sự khao khát học hỏi? Họ
thiết gì cái thuyết “những i-ông trong không khí”? Và nỗi đau khổ của Ma-ri
trong cái ngày tàn ác này, chỉ như thêm gia vị cho sự tò mò của họ. Ngay sự đau
thương cũng có những kẻ hiếu kỳ!
Lần đầu tiên, một phụ nữ sẽ giảng ở Xoóc-bon, một phụ nữ đồng
thời lại là một thiên tài và một người vợ tuyệt vọng. Đối với lớp công chúng của
những “buổi diễn giảng đầu tiên”, đó chính là điều hấp dẫn nhất.
Trưa hôm ấy, trong khi Ma-ri còn đứng trước mộ, ở nghĩa địa tại
Xô, nói thầm với người mà hôm nay mình kế tiếp công việc, công chúng đã ngồi chật
giảng đường nhỏ, ngồi kín các hành lang của trường Đại học, và tràn ra cả quảng
trường Xoóc-bon. Trong phòng, người ít học ngồi lẫn với nhà thông thái, bạn bè
thân thiết của Ma-ri bên những người xa lạ. Các sinh viên đến để nghe giảng, để
chép cứ phải bám chặt vào ghế để khỏi bị chen bật ra.
Một giờ hai mươi nhăm phút. Tiếng nói chuyện mỗi lúc một ồn
ào. Người ta xì xào, người ta hỏi nhau, người ta nghểnh cổ để được nhìn thấy bà
Qui-ri vào. Ai nấy đều một ý nghĩ. Vị giáo sư mới này, người đàn bà duy nhất mà
trường Xoóc-bon nhận vào hàng ngũ giảng dạy, sẽ mở đầu bằng những lời gì đây?
Phải chăng là sẽ cảm ơn ông Bộ trưởng, cảm ơn trường Đại học? Phải chăng sẽ nói
đến Pi-e Qui-ri? Chắc chắn là như vậy rồi: theo lệ thường, phải biểu dương người
mà mình thay thế, nhưng đây lại là chồng, là người bạn cùng làm việc với mình.
“Tình thế” thật oái oăm đấy! Một giây phút hồi hộp chưa từng có...
Một giờ rưỡi. Cửa trong cùng mở ra, Ma-ri Qui-ri bước lên bục
giữa một tràng pháo tay vang dội. Bà cúi đầu. Một cử chỉ khô khan định để chào
cử tọa. Bà đứng yên, hai tay nắm chặt lấy thành cái bàn dài xếp đầy dụng cụ thí
nghiệm, đợi cho tiếng hoan hô chấm dứt. Giảng đường bỗng im bặt. Trước người
đàn bà tái nhợt ấy, đang cố trấn tĩnh, một niềm xúc động lạ thường làm cho cử tọa,
lúc đầu đến đây cốt để xem, phải lặng thinh. Nhìn thẳng đằng trước mặt, Ma-ri
nói:
– Khi đề cập đến những bước tiến đã đạt được trong lĩnh vực Vật
lý từ mười năm trở về đây, người ta phải ngạc nhiên trước những biến chuyển đã
diễn ra trong nhận thức của chúng ta về điện và vật chất...
Đúng cái câu mà Piere Curie viết dở!
Những lời lạnh lùng “Khi đề cập đến những bước tiến đã đạt được
trong lĩnh vực Vật lý...” chứa đựng một cái gì đau lòng đến như thế mà nhiều
người nghe phải ứa nước mắt?
Cùng một giọng, hầu như đều đều, nhà bác học giảng hết bài học
ngày hôm đó. Bà trình bày những thuyết mới về cấu trúc của điện, về sự phân rã
hạt nhân, về các chất phóng xạ. Xong bài giảng khô khan ấy, Ma-ri lại rút lui
qua cái cửa nhỏ cũng như lúc vào.
PHẦN THỨ BA - Chương 19
một mình
Trước đây Marie đã vừa đảm đương việc nhà, vừa góp phần hoàn
thành một công trình khoa học lớn, tuy có sự giúp sức của một người chồng thiên
tài, vẫn làm chúng ta vô cùng khâm phục. Hồi đó, ta khó mà tưởng tượng được rằng
bà có thể còn biết một cuộc sống khắc khổ hơn thế, còn cố gắng mãnh liệt hơn thế
nữa.
Cảnh ngộ xưa kia êm đềm biết bao so với quãng đời sắp tới. Giờ
đây, những trách nhiệm của “bà quả phụ Curie” có lẽ ngay đến một nam giới khỏe
mạnh, yêu đời, dũng cảm cũng phát sợ!
Phải nuôi hai con nhỏ, kiếm sống cho mình và cho chúng, đảm
nhiệm chức vụ giáo sư một cách vẻ vang. Ngày nay, không còn phần đóng góp bậc
thầy của Pierre Curie, phải tiếp tục công trình nghiên cứu, đã cùng làm với người
bạn đường ấy. Các phụ tá và học trò của bà cần nhận được ở bà những mệnh lệnh,
những lời chỉ dẫn. Lại còn một nhiệm vụ quan trọng bậc nhất: xây dựng một phòng
thí nghiệm xứng đáng với ước mơ chưa toại của Pierre, trong đó lớp người nghiên
cứu trẻ tuổi sau này có thể phát triển được ngành khoa học mới về phóng xạ.
Chăm lo thứ nhất của Ma-ri là tạo cho hai con gái và bố chồng
một cuộc sống lành mạnh. Bà thuê một cái nhà ở phố Đường xe lửa, số nhà 6,
không duyên dáng lắm, nhưng được một cái vườn dễ chịu nên hóa đẹp. Cụ bác sĩ
Qui-ri ở một cái chái riêng biệt. I-ren mừng rỡ nhận một mẩu đất nhỏ muốn trồng
gì tùy ý. E-vơ tung tăng đi tìm con rùa ưa thích của mình giữa những lùm cỏ, và
đuổi theo con mèo đốm, trong những lối đi hẹp, dưới sự chăm sóc của một người
trông.
Thu xếp như thế lại phải mệt thêm một ít: phải đi nửa giờ xe
lửa mới đến phòng thí nghiệm. Mỗi sáng, người ta thấy Ma-ri ra ga, bước đi vội
vã và duyên dáng, như gợi lên một sự chậm trễ nào đó phải làm gấp cho kịp,
trong một cuộc chạy đua không biết mệt mỏi. Hành khách trên tuyến đường này
nhanh chóng quen thuộc bóng dáng người đàn bà mặc đại tang ấy, bao giờ cũng lên
toa hạng hai của cùng một đoàn tàu hôi hám.
Ít có thời giờ quay trở về ăn ở Xô – Ma-ri lại làm quen với
những cửa hàng bánh ngọt ở xóm La-tinh, mà năm xưa vẫn thường vào cũng một mình
như ngày nay – nhưng dạo ấy còn trẻ và tràn đầy hy vọng vô tư. Hoặc bà đi đi lại
trong phòng thí nghiệm, nhấm mấy miếng bánh mì, một ít hoa quả.
Chiều tối thường rất muộn, bà lại đáp xe lửa trở về, đến nhà
thì đã lên đèn. Mùa đông, việc đầu tiên của bà là sưởi to ở phòng ngoài, cho
thêm than củi, đinh ninh rằng, ngoài mình ra, không còn ai trên đời biết nhóm một
ngọn lửa cháy hồng. Thật thế, Ma-ri biết xếp giấy, xếp củi đóm và chất những cục
than hoặc củi thanh, như một nghệ sĩ, như một nhà hóa học. Khi lò đã reo lên vừa
ý mình, bà ngả lưng trên chiếc trường kỷ để thở sau một ngày kiệt sức.
Vốn tính quá thầm kín, không muốn để lộ nỗi buồn riêng, Ma-ri
không hề cho ai biết mình khóc, không cần đến ai đoái hoài hoặc khuyên giải.
Không một ai biết những cơn thất vọng và mê sảng ghê sợ thường đêm đêm giầy vò
Ma-ri. Những họ hàng thân thuộc rất đỗi ái ngại, thấy cặp mắt lờ đờ kia cứ trân
trân trong khoảng không, và đôi bàn tay đã bắt đầu có tật cứ luôn luôn động đậy
mấy ngón bao lần bị chất Ra-đi làm bỏng, thành thói quen không bỏ được.
Những năm buồn thảm ấy, có hai người giúp đỡ Ma-ri. Đó là
Ma-ri-a Ca-miên-xka, em vợ Dô-dếp, nhã nhăn dịu dàng, theo lời khẩn khoản của
Brô-ni-a đã nhận làm cô giáo và quản lý cho gia đình Qui-ri.
Cô gái Ba Lan này đem lại cho Ma-ri một chút tình đồng hương
thắm thiết, mà vì xa quê hương đã lâu bà cảm thấy rất thiếu. Sau này, khi cô
Ca-miên-xka vì ốm yếu phải trở về Vác-xô-vi, bà Qui-ri vẫn tìm nữ quản gia người
Ba Lan để trông nom I-ren và E-vơ, tuy không được tin cẩn, duyên dáng như cô
Ca-miên-xka.
Một người Ma-ri quí đặc biệt là cụ bác sĩ. Đối với cụ, Pi-e mất
đi là một thử thách ghê gớm. Nhưng cụ vốn theo thuyết duy lý cứng rắn và rút ra
được ở đó một phần nào can đảm mà con dâu cụ thiếu hẳn. Cụ cho luyến tiếc là vô
ích, cụ không đi thăm viếng mồ mả. Sau đám tang, không bao giờ quay trở lại
nghĩa trang nữa. Ở cụ, Pi-e đã chết là hết, cụ không để một bóng ma giày vò.
Sự bình thản, can trường đó có tác dụng tốt đến người quả phụ
trẻ. Trước mặt bố chồng, đang cố sống một cách bình thường, thanh thản, Ma-ri
thấy xấu hổ về sự bạc nhược, ủ rũ của mình. Và bà cũng lại cố tỏ ra nguôi dịu.
Có cụ, Ma-ri cảm thấy dễ chịu. Cụ cũng là nguồn vui đối với
các cháu gái. Không có cụ già có đôi mắt xanh, có lẽ tuổi thơ ấu của hai đứa trẻ
sẽ bị vùi dập vì tang tóc. Cụ còn hơn cả mẹ, cụ là bạn chơi, là thầy dạy học.
Còn mẹ chúng lúc nào cũng vắng nhà, lúc nào cũng bận ở cái phòng thí nghiệm mà
chúng cứ luôn nghe thấy nhắc đến bên tai. Bé E-vơ còn dại chưa biết thân mật lắm
với ông nội, nhưng chị nó, đứa cháu gái chậm chạp và ít chan hòa “giống hệt bố
nó” lúc còn sống thì luôn luôn quấn quít.
Cụ đem lại cho I-ren những hiểu biết vỡ lòng về sinh vật, thực
vật. Cụ gây cho nó sự ham thích đọc Vích-to Huy-gô[45] và vào các dịp hè, viết cho nó những
lá thư khuyên nhủ bổ ích và rất ngộ nghĩnh với một giọng châm biếm sắc sảo và một
lời văn tuyệt diệu. Cụ còn hướng trí tuệ của đứa cháu gái một cách quyết định.
I-ren sau này tính tình cân đối, rất ghét sầu não, đầu óc rất thực tế, theo chủ
trương giáo dục ngoại đạo đều do ảnh hưởng trực tiếp từ ông nội.
Ma-ri săn sóc bố chồng ân cần tận tụy. Năm 1909 cụ ốm, nằm liệt
giường suốt một năm trời vì sưng phổi. Bà dành tất cả thì giờ rảnh bên giường
người bệnh khó tính, nôn nóng mà bà cố gắng tìm cách giải khuây.
Cụ mất hôm 25 tháng Hai 1910. Tại nghĩa trang ở Xô, mùa đông
càng thêm lạnh lẽo và trần trụi, Ma-ri đề nghị những người đào huyệt làm một việc
không ngờ. Bà yêu cầu nhấc quan tài Pi-e ra khỏi huyệt, đặt quan tài của cụ
Qui-ri xuống dưới cùng, rồi mới hạ quan tài của Pi-e. Trên quan tài của người
chồng mà bà không muốn bị xa cách khi chết, còn dành một chỗ trống mà Ma-ri
nhìn ngắm rất lâu không chút hãi hùng.
*
Giờ đây, trong việc nuôi dạy hai con nhỏ, Ma-ri Qui-ri chỉ
còn biết trông vào mình. Về cách dạy trẻ ban đầu bà có những quan niệm rất rõ
mà những người lần lượt đến giúp việc ở nhà được đúng như ý bà.
Mỗi ngày thường bắt đầu bằng một giờ học, mà Ma-ri cố làm cho
hấp dẫn: Bà áy náy đón chờ những biểu hiện về năng khiếu của hai con gái và ghi
chép vào quyển vở mà xám mỗi bước tiến về toán của I-ren, khiếu âm nhạc sớm
phát triển của E-vơ.
Sau đó, hai đứa bé được ra chơi ngoài trời. Thời tiết thế nào
cũng vậy, chúng đi chơi bộ rất xa và tập thể dục. Trong vườn nhà ở Xô, Ma-ri
cho dựng một khung đu ở đó có treo đu lộn hình thang, đu vòng và dây leo. Được
tập luyện ở nhà như vậy, hai cô gái trở nên những học trò ham mê của trường
trung học thể thao và đoạt được ở đây nhiều giải thưởng đáng tự hào về thể thao
dụng cụ.
Chúng còn làm vườn, tập nặn, làm bếp, khâu vá. Dù có mệt đến
mấy, Ma-ri cũng cố gắng cùng hai con đi chơi xe đạp. Mùa hè, Ma-ri cùng đi bơi
với các con và theo dõi những tiến bộ về bơi lội của chúng.
Ma-ri không thể rời Pa-ri được lâu, nên trong những tháng nghỉ
hè I-ren và E-vơ được bác Hê-la trông nom. Bà thường dẫn hai cháu cùng với mấy
con gái mình đi nghỉ mát ở những bãi biển ít người lui tới trên bờ biển Măng-sơ
hoặc bờ Đại Tây dương.
Năm 1911, ba mẹ con về thăm Ba Lan lần đầu tiên. Bác Brô-ni-a
mời hai cháu gái đến ở an dưỡng đường của mình. Các cô bé tập cưỡi ngựa, đi
chơi núi, leo núi hàng mấy ngày liền, ở nhà lều của thổ dân. Ba-lô trên lưng,
chân đi giầy đinh, Ma-ri thường đi trước hai con trên những nẻo đường mòn.
Tuy không khuyến khích các con làm những việc mạo hiểm, liều
lĩnh dại dột, nhưng người mẹ dũng cảm đó muốn chúng được mạnh dạn, không có
nhưng biểu hiện yếu đuối như “sợ bóng tối”, rúc đầu vào gối khi có giông bão,
hoặc sợ trộm, sợ định mệnh. Xưa kia, Ma-ri đã từng sợ hãi như vậy, nên muốn giải
thoát các con gái khỏi tâm trạng đó. Ngay cái chết vì tai nạn của Pi-e cũng
không làm bà trở thành quá sợ sệt, gìn giữ hai con gái. Mới mười một, mười hai
tuổi chúng đã được phép ra ngoài một mình. Rồi đây, chúng sẽ đi du lịch mà
không cần ai đi cùng.
Ma-ri cũng chăm lo đến sức khỏe tinh thần của chúng, cố gắng
tránh cho chúng những mơ màng nhớ nhung, đa sầu, đa cảm. Không bao giờ người mẹ
góa nói với hai đứa con về bố chúng. Cho đến ngày cuối cùng của đời mình, họa
hoằn lắm Ma-ri mới nhắc đến mấy tiếng “Pi-e” hoặc “Pi-e Qui-ri” hoặc “cha con”,
hoặc “nhà tôi,” và trong câu chuyện, để tránh những kỷ niệm cũ, Ma-ri thường
dùng những cách nói lảng không thể tưởng tượng được. Ma-ri không lấy thế làm có
lỗi với hai con và nghĩ rằng thà để chúng chịu thiếu, bản thân mình thiếu đi những
cảm xúc cao quý, còn hơn là làm cho chúng chìm đắm vào một bầu không khí u sầu.
Ma-ri không làm lễ rửa tội cho hai con gái. Và không cho
chúng học kinh bổn. Bà thấy không thể dạy cho chúng những giáo điều mà bản thân
mình không tin tưởng nữa. Bà sợ nhất cái quẫn của tâm hồn mà mình đã phải trải
qua khi mất lòng tin. Nhưng lại rất tôn trọng tự do tín ngưỡng, bà đã từng nhiều
lần nói với các con rằng nếu sau này chúng có muốn theo đạo, bà sẽ để chúng
hoàn toàn tùy ý.
Vui lòng thấy các con không biết đến thời thơ ấu vất vả, tuổi
thiếu niên thiếu thốn và thời thanh niên nghèo khó mà mình đã trải qua, nhưng
bà không mong chúng sống cảnh giầu sang. Trong nhiều trường hợp, Ma-ri có thể đảm
bảo cho hai con gái một gia tài lớn. Bà đã không làm như vậy. Khi đã là quả phụ,
bà phải quyết định về quy chiết cái gam Ra-di mà Pi-e và bà tự tay làm ra và giờ
đây thuộc quyền sở hữu của bà. Mặc dầu cụ bác sĩ Qui-ri và nhiều người trong hội
đồng gia tộc có ý kiến khác, bà quyết định tặng phòng thí nghiệm mà bà phụ
trách mảnh kim loại quý báu ấy, trị giá hơn triệu Phơ-răng.
Trên nhận thức tư tưởng của Ma-ri nghèo thì khó chịu, nhưng rất
giầu thì thừa và chướng. Hai con gái mình sau này có phải tự kiếm sống là điều
lành mạnh và tất nhiên.
Chương trình giáo dục xếp đặt công phu chu đáo ấy, chỉ còn
thiếu một điểm phép lịch thiệp xã giao. Từ khi Pi-e không còn nữa Ma-ri không
muốn tiếp khách khứa, trừ một số quen thân như Ang-đrê Đờ-biếc-nơ, gia đình
Pe-ranh, gia đình Sa-van… Ngoài những người bạn thân ái và thông cảm ấy, I-ren
và E-vơ không hề tiếp xúc với ai. Vì vậy, trước người lạ, I-ren rất nhút nhát
và nhất định không chịu nói “Chào bà, chào bác”, mãi sau này, vẫn giữ tính nết ấy.
Tươi cười lịch thiệp, đến thăm hỏi người này, ở nhà tiếp người
kia, nói những câu xã giao, có những cử chỉ đi đứng theo đúng nghi thức, đều là
những kỳ công mà I-ren và E-vơ không hề làm được. Mười năm, hai mươi năm nữa,
các cô sẽ thấy rằng cuộc sống trong xã hội có những đòi hỏi của nó, những cung
cách của nó, câu nói “chào bà” tiếc thay lại là một việc cần thiết.
*
I-ren đã đỗ bằng tiểu học và đến tuổi vào trường trung học.
Ma-ri muốn dạy con gái theo một phương pháp mới: học ít nhưng học tốt. Bà suy
nghĩ rồi bàn với một người bạn, cũng là giáo sư ở Xoóc-bon và cũng có con nhỏ.
Do bà gợi ý và vận động nẩy ra một đề án hợp tác giáo dục, trong đó các nhà tư
tưởng lớn đương thời sẽ áp dụng một lối dạy dỗ mới cho các con em họ, họp lại.
Một cuộc sống rất hấp dẫn và thoải mái mở ra cho độ một chục
trẻ em vừa trai vừa gái. Mỗi ngày chúng học một bài, do một ông thầy ưu tú dạy.
Buổi sáng nọ, chúng ùa vào phòng thí nghiệm Xoóc-bon để nghe bác Giăng Pe-ranh
giảng về hóa. Ngày hôm sau, đội quân tí hon ấy lại chuyển đến Phong-tơ-nay – Đất
Hoa hồng dự buổi toán do bác Pôn Lăng-giơ-vanh dạy. Các môn văn, sử, ngoại ngữ,
khoa học tự nhiên, nặn và vẽ, cũng đều được những thầy giỏi giảng dạy.
Ma-ri Qui-ri dành mỗi chiều thứ năm để giảng vật lý và đó quả
là những bài vật lý sơ đẳng nhất đã từng được trình bày ở nơi này. Những bài rất
hấp dẫn, giảng một cách thân mật dịu dàng mà học trò của bà, một số sau này trở
thành những nhà bác học, sẽ còn say sưa nhớ mãi. Ma-ri có nhiều sáng kiến làm
cho những hiện tượng trừu tượng và khô khan nêu trong các sách giáo khoa được
minh họa sinh động, lý thú. Lấy bi xe đạp nhúng mỡ để lăn trên mặt phẳng dốc vẽ
ra một hình Pa-ra-bôn, thế là xác minh được định luật về “sự rơi của các vật”.
Một quả lắc ghi lại những chuyển động đều đặn của nó trên giấy hun khói. Một
hàn thử biểu do chính tay các em làm và chia độ cũng ghi đúng nhiệt độ như những
hàn thử biểu chính thức, làm cho mấy nhà thiết kế tí hon thấy tự hào vô hạn…
Ma-ri truyền cho các em lòng yêu thích khoa học và tinh thần
cố gắng. Và cũng dạy cho các em phương pháp làm việc. Rất tài tính nhẩm, bà muốn
cho các học trò mình được rèn luyện về môn này. Bà khẳng định:
– Phải đi đến chỗ không bao giờ nhầm, cái bí quyết là không hấp
tấp.
Nếu một trong các cô học trò trong khi làm pin điện, bày bừa
bãi thì Ma-ri đỏ mặt lên:
– Cháu đừng nói là “sẽ” rửa sau. Không được làm bẩn bàn ngay
trong khi lắp máy hoặc làm một thí nghiệm.
Người phụ nữ được giải Nô-ben ấy, thỉnh thoảng lại dạy cho mấy
đứa trẻ cầu kỳ những bài học thông thường về óc phán đoán. Một hôm bà hỏi các
em:
– Ta phải làm thế nào để giữ cho chất lỏng đựng trong cái
bình này được nóng lâu?
Lập tức Phăng-xít Pe-ranh, Giăng Lăng-giơ-vanh, I-da-ben
Sa-van, I-ren Qui-ri – những ngôi sao khoa học ở lớp – đề ra một loạt giải pháp
tài tình: bọc bình bằng vải len, cách ly bằng những phương pháp tinh vi… nhưng
không thực hiện được.
Ma-ri mỉm cười và bảo:
– Tôi thì tôi bắt đầu tìm một cái nắp đậy.
Sau những lời nói rất nội trợ ấy, buổi học hôm thứ năm đó chấm
dứt. Cửa đã mở, một chị giúp việc mang lên một khay đồ sộ bánh sừng bò, thỏi
Sô-cô-la và cam.
Vừa nhai vừa bàn tán, mấy đứa trẻ tản ra sân trường. Các báo
hàng ngày từ trước đến nay vẫn rình đón từng cử chỉ của bà Qui-ri, bắt đầu chế
giễu một cách dí dỏm, nhẹ nhàng sự đột nhập của con em các nhà bác học vào các
phòng thí nghiệm – tuy việc đột nhập ấy rất kín đáo và có sự trông nom chu đáo.
Một mẩu chuyện hàng ngày viết:
“Mấy cô bé, cậu bé tí hon đó đọc chưa thông, viết chưa thạo,
mà đã được tùy tiện làm các thí nghiệm, chế ra dụng cụ và thử các phản ứng hóa
học…
Trường Xoóc-bon và ngôi nhà ở phố Qui-vi-ê chưa nổ tung nhưng
nguy cơ ấy cũng chưa hết đâu!”
Sau hai năm, kiểu giáo dục trên đây chấm dứt. Các cha mẹ bận
quá không còn thì giờ để tiếp tục. Vả lại, các em phải chuẩn bị thi tú tài, cần
học kỹ những chương trình chính thức. Ma-ri cho con gái vào trường tư thục
Xê-vi-nhê, ở đây số giờ học có bớt đi khá nhiều. Chính ở trường này I-ren học
xong cấp trung học và E-vơ về sau cũng học ở đó.
Những cố gắng cảm động của Ma-ri, quyết tâm của bà muốn bảo vệ
cá tính và phẩm cách con gái từ thuở còn thơ như thế có hiệu quả không? Nhờ
cách “giáo dục tập thể” trên, I-ren, tuy không có một vốn văn học đầy đủ, nhưng
đã tiếp thu được một cơ sở khoa học bậc nhất, mà nếu chỉ học ở bất cứ trường
trung học nào, cũng không thể có được. Còn về đức dục? Nếu nó thay đổi được sâu
sắc bản chất con người thì thật là vượt quá ước mơ. Nhưng có nhiều điểm khắc
sâu vào lòng chúng tôi một cách lâu dài là lòng ham thích làm việc, nhất là ở
I-ren, một phần nào dửng dưng đối với tiền bạc là một bản năng tự lập làm cho
hai chúng tôi tin chắc rằng gặp bất cứ tình huống nào, chúng tôi cũng biết xử sự.
Còn việc khắc phục tính ưu tư phiền muộn thì có tác dụng đối với I-ren, nhưng
ít kết quả trong trường hợp E-vơ. Mặc dầu mẹ chúng tôi cố gắng rất nhiều, những
năm thơ ấu của tôi không được sung sướng. Riêng về một điểm, Ma-ri đã thành
công hoàn toàn: hai con gái có thể lực tốt, lanh lẹ và ưa thích thể dục thể
thao, đó là thành tích tốt đẹp nhất của một người đàn bà thông minh tuyệt vời
và giầu độ lượng.
*
Chẳng phải không e dè mà tôi cố nêu lên ở đây những nguyên tắc
chỉ đạo của mẹ tôi trong những bước đầu giáo dục chúng tôi. Nó có thể làm cho
ta nghĩ đến một con người có phương pháp hơi cứng đờ vì định kiến. Sự thật thì
khác. Người mẹ muốn cho chúng tôi cứng cỏi, vững vàng trước những đau thương,
chính lại quá dịu dàng, quá tế nhị, quá nhậy cảm với đau khổ, Ma-ri thường luyện
cho chúng tôi không có những tình cảm vuốt ve mềm yếu, thế nhưng bản thân bà có
lẽ lại muốn hai con gái tỏ ra âu yếm, trìu mến mẹ nhiều hơn. Ma-ri chỉ không thấy
điều đó mà thôi. Sau hết, người mẹ cứ muốn chúng tôi dày dạn hơn về tình cảm
thường lại buồn rầu nét mặt trước mỗi dấu hiệu thờ ơ lạnh nhạt.
Không bao giờ bà muốn thử thách cái tính “dày dạn về tình cảm”
của chúng tôi. Từ cái cốc đầu không tội vạ đến bắt “đứng xó” hoặc cắt món tráng
miệng, những hình phạt thông thường đó chúng tôi đều không biết. Và cả những
câu quát mắng, những lúc dằn vặt. Dù vui hay buồn, mẹ chúng tôi không khi nào
cho phép được sẵng giọng. Một hôm I-ren tỏ vẻ hỗn, mẹ tôi muốn phạt để làm
gương, nên quyết định không nói chuyện với I-ren trong hai ngày. Những ngày giờ
ấy, đối với I-ren và mẹ tôi là những thử thách căng thẳng, nhưng người bị trừng
phạt lại chính là Ma-ri. Tâm tư bối rối, bà đi đi, lại lại thiểu não, thảm hại
trong gian nhà lặng ngắt, bà đau khổ hơn con gái.
Dạo ấy hai chị em tôi như nhiều đứa trẻ khác chỉ biết có mình
và ít để tâm đến những biểu hiện tế nhị của tình cảm. Nhưng chúng tôi đều nhận
thấy sức quyến rũ, lòng âu yếm thầm lặng và cái duyên dáng kín đáo ở con người
mà ngay từ dòng đầu những bức thư vấy mực của chúng tôi, những bức thư ngây ngô
mà mẹ chúng tôi buộc bằng dây lụa của hộp kẹo cũ, và giữ cho đến lúc chết,
chúng tôi thường gọi mẹ là “Mẹ thân mến”, “Mẹ yêu quý” hoặc “Mẹ dịu hiền”.
Không bao giờ Ma-ri Qui-ri tìm cách làm cho chúng tôi tự hào
về nghề nghiệp của bà, về vinh quang của bà. Làm sao bà có thể nghĩ ra điều đó,
trong khi bản thân bà lúc nào cũng rụt rè, nhẫn nhục, khép nép trước sự nghiệp
kỳ diệu của mình?
Ma-ri viết cho cháu gái Ha-na, ngày 6 tháng giêng 1913:
“Cháu viết thư cho dì nói rằng cháu ước sao được sống trước
đây một thế kỷ, I-ren thì nhất nhất nói rằng muốn sống về sau này trong những
thế kỷ sắp tới. Dì nghĩ rằng, thời nào ta cũng có thể sống một cuộc sống có ý
nghĩa và bổ ích. Cái cần là không nên làm hỏng đời mình và có thể tự nói rằng:
“Tôi đã làm việc hết sức mình”. Không ai có thể đòi hỏi hơn ở chúng ta, và đó
cũng là điều duy nhất có thể mang lại cho ta một chút hạnh phúc.
Xuân năm ngoái, các em cháu có nuôi tằm. Dì bây giờ còn rất ốm
yếu, và trong hàng tuần lễ buộc lòng phải nghỉ ngơi, dì xem rất lâu cách tằm
kéo kén. Thật vô cùng hấp dẫn. Những con sâu rất hoạt bát, cần mẫn ấy làm việc
rất chăm chỉ, kiên trì đã làm cho dì cảm kích thật sự. Nhìn ngắm chúng sao mà cảm
thấy mình cùng loại với chúng như vậy. Tuy rằng có lẽ không được tổ chức khéo bằng
chúng để lao động. Dì cũng vậy, lúc nào cũng hướng tới một mục đích duy nhất.
Dì làm như thế mà không hề dám quả quyết rằng đó là chân lý và biết rằng cuộc đời
ngắn ngủi và mỏng manh, trôi qua không để lại cái gì, và sẽ được lớp người đến
sau quan niệm hoàn toàn khác. Dì làm thế nào có lẽ do một cái gì đó thúc đẩy
cũng như con tằm phải làm cái kén. Con sâu đáng thương này phải khởi đầu kết
kén dù cho không thể nào xong, nó vẫn làm việc chăm chú như thế. Và nếu không
xong công việc đến cùng thì nó chết chẳng được biến dạng”.
Chương 20
thành công – thử thách
Cứ mỗi buổi sáng, ở phố Qui-vi-ê, có một phụ nữ trông còn trẻ
bước vào phòng nghiên cứu lấy ở mắc chiếc áo choàng vải thô mặc ra ngoài áo dài
đen của mình và bắt đầu làm việc. Đó là một nhà vật lý nước da xanh lướt, người
rất mảnh dẻ, mặt hơi sạm, mái tóc hung ngả màu tro.
Chính cái thời kỳ buồn tẻ này của đời mình, vẻ đẹp của bà mới
đạt đến mức tuyệt mỹ. Người ta thường nói rằng, càng thêm tuổi đời, con người
càng đạt tới khuôn mặt đúng nhất của mình. Đối với Ma-ri Qui-ri quả không sai
chút nào. Nếu cô bé Ma-ri chỉ mới là “xinh xắn”, nếu cô nữ sinh và người vợ trẻ
rất duyên dáng đậm đà, thì nhà nữ bác học chín chắn, trầm lặng sầu cảm, có một
vẻ đẹp lạ kỳ. Đời sống tinh thần làm khuôn mặt Xla-vơ trông càng rạng rỡ. Ma-ri
không cần tô điểm bề ngoài như vẻ tươi tắn, trẻ trung. Những trang sức cao quý
của con người đã ngoài bốn mươi tuổi đó là vẻ cương nghị, man mác buồn và thân
hình ngày càng mảnh dẻ. Ma-ri Qui-ri sẽ giữ trong nhiều năm trước mắt Irène và
Ève hình dáng lý tưởng đó.
.
Là giáo sư, là nhà nghiên cứu và phụ trách một phòng thí nghiệm,
Ma-ri vẫn làm việc với một cường độ phi thường. Bà vẫn dạy học ở Xe-vrơ. Ở
Xoóc-bon bà được bổ nhiệm “giáo sư thực thụ” từ 1908 – dạy lớp đầu tiên, lúc
này là lớp duy nhất về phóng xạ trên thế giới – phải cố gắng như thế nào. Bà muốn
vượt lên bằng những bậc thầy mà xưa kia hồi còn là sinh viên Ma-ri hết sức khâm
phục.
Năm 1910 Ma-ri cho xuất bản một pho sách về sự phóng xạ gồm
các bài giảng của mình. Chín trăm bảy mươi mốt trang sách chỉ đủ để tóm tắt những
hiểu biết đã đạt trong lĩnh vực này kể từ khi mới ngày nào Pi-e và Ma-ri Qui-ri
báo tin đã khám phá ra chất Ra-đi.
Ảnh của tác giả không để ở đầu sách. Đối diện với đầu đề
Ma-ri để ảnh của chồng. Hai năm trước đây, năm 1908, cũng cái ảnh đó đã in
trong một quyển sáu trăm trang “Những công trình nghiên cứu của Pi-e Qui-ri” do
Ma-ri biên soạn và giới thiệu.
.
Madame Marie Curie với 2 con gái Irene và Eve.
Học trò của bà Qui-ri tăng lên rất đông. Họ nhập vào đội ngũ
những phụ tá của trường Đại học cùng với một vài người tự nguyện đến giúp việc
không lương. Mô-rít Qui-ri, con của Giắc Qui-ri cũng bắt đầu sự nghiệp khoa học
của anh ở đây. Ma-ri tự hào về năng khiếu và thành tích của đứa cháu mà bà yêu
quý như con đẻ.
Lúc này Ma-ri đang tiến hành tốt đẹp một chương trình nghiên
cứu mới, tuy sức khỏe cứ sút kém dần.
Tinh khiết nhiều đề-xi-gam Ra-đi clo-rua và xác định một lần
thứ hai trọng lượng nguyên tử của Ra-đi. Rồi tìm cách tách riêng kim loại này.
Trước đây mỗi lần chế biến ra Ra-đi gọi là “nguyên chất” thì đó mới là những muối
Ra-đi (clo-rua hoặc brô-mua), dạng ổn định duy nhất của nó. Nay Ma-ri Qui-ri và
Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ có thể cô lập ngay thứ kim loại này, không để những yếu tố
khí quyển làm nó biến chất. Đó là một công việc tinh vi bậc nhất trong khoa học.
Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ, một cộng sự lâu năm và cũng là một nhà
bác học ưu tú giúp bà Qui-ri nghiên cứu sự phát quang của Pô-lô-ni. Ma-ri lại
còn tìm ra một phương pháp định lượng Ra-đi bằng cách đo khí tỏa của nó.
Khoa chữa bệnh theo phương pháp Qui-ri phát triển, nhiều nơi
trên thế giới đòi hỏi có thể phân chia chất quý báu này ra những lượng rất nhỏ
và đo lường thật chính xác. Đến một phần nghìn mi-li-gam, cái cân không còn tác
dụng nữa. Ma-ri nghĩ ra cách “cân” những chất phóng xạ bằng những tia do chúng
tỏa ra. Bà đã hoàn chỉnh kỹ thuật khó khăn này và thành lập ngay trong phòng
thí nghiệm “một bộ phận đo lường” để các nhà bác học, thầy thuốc, và cả người
thường, có thể đến kiểm tra các chất có hoạt tính và xác định tỷ lệ Ra-đi của
chúng.
Cùng với “Bảng phân loại các chất phóng xạ” và “Bảng hằng số
phóng xạ”, mẫu chuẩn quốc tế đầu tiên về Ra-đi được quy định. Cái ống nghiệm nhỏ
bằng thủy tinh, mà Ma-ri cảm động tự tay hàn kín, chứa đựng 21 mi-li-gam Ra-đi
clo-rua nguyên chất sẽ dùng để làm mẫu cho các ống chuẩn sau này rải rác khắp
năm châu và được trịnh trọng đặt trong gương trong phòng Đo lường ở Xe-vrơ gần
Pa-ri.
*
Sau vinh quang của chung Pi-e và Ma-ri Qui-ri, bây giờ đến lượt
danh tiếng riêng của bà Qui-ri nổi lên và lan rộng.
Bằng tiến sĩ danh dự, bằng thông tín viên các viện Hàn lâm ở
các nước, để chật các ngăn kéo trong nhà. Ma-ri cũng chẳng nghĩ đến trưng bày
lên, hoặc lập danh sách nữa.
Nước Pháp chỉ có hai cách suy tôn các bậc vĩ nhân của mình hồi
còn sinh thời, là tặng Bắc đẩu bội tinh và đưa vào Viện Hàn lâm. Năm 1910, tặng
Bắc đẩu bội tinh cho bà Qui-ri, nhớ lại thái độ của Pi-e trước kia, Ma-ri không
nhận.
Tiếc rằng sau đó vài tháng, khi các đồng nghiệp quá nhiệt
tình, cứ khuyên bà ứng cử vào Viện Hàn lâm khoa học, bà chẳng biết từ chối như
thế nào. Ma-ri quên rồi hay sao lần bỏ phiếu tủi nhục mà Pi-e trước đây đã phải
chịu? Hay là không biết cái màng lưới ghen tị đang chăng quanh mình?
Đúng thế Ma-ri không biết. Hơn nữa, vốn chất phác, người phụ
nữ Ba Lan đó sợ tỏ ra hiếu kỳ, bạc bẽo, nếu từ chối vinh dự khoa học cao quý mà
theo như bà nghĩ, quê hương thứ hai tặng cho mình.
Ra tranh cử với Ma-ri Qui-ri là Ê-đu-a Brăng-li[46], một nhà vật lý học lỗi lạc và một người
theo đạo Thiên chúa có tên tuổi. Giữa hai phe Qui-ri và Brăng-li, phe tự do tư
tưởng và phe đạo giáo, giữa những người theo và chồng cái ý nghĩ mới mẻ, kỳ quặc
là nhận phụ nữ vào Viện Hàn lâm, cuộc chiến đấu nổ ra trên khắp các mặt.
Kinh hoảng, bất lực, Ma-ri chứng kiến những cuộc bút chiến mà
mình không lường trước. Những nhà bác học nổi tiếng nhất như Hăng-ri
Poang-ca-rô, bác sĩ Ru, E-min Pi-ca, các giáo sư Líp-man, Bu-ri và Đác-bu đứng
ra vận động cho bà nhưng phe bên kia chống trả rất mạnh.
“Đàn bà không được vào Viện Hàn lâm”. A-ma-ga, cách đây tám
năm đã may mắn thắng phiếu Pi-e Qui-ri, nay lại lên giọng đạo mạo. Có những kẻ
rỗi hơi khăng khăng với phe đạo giáo rằng Ma-ri là người Do Thái, hoặc quả quyết
với phe tự do tư tưởng là bà theo đạo Thiên chúa. Đến ngày bỏ phiếu 23 tháng
giêng 1911 khai mạc buổi họp, chủ tịch gọi bảo các thừa phái:
– Cho tất cả mọi người vào, trừ đàn bà!
Một cụ Hàn lâm mắt kém, gần như không nhìn thấy gì, đứng về
phe bà Qui-ri, than phiền suýt nữa bầu trái với ý mình vì người ta nhét vào tay
cụ một phiếu giả.
Bốn giờ chiều, các phóng viên nhà báo tinh thần căng thẳng cực
độ vội chạy đi thảo những tin tức “thắng” hay “bại”.
Ma-ri Qui-ri thiếu một phiếu nên thua cuộc.
Ở phố Qui-vi-ê, anh em phụ tá và anh lao công, còn sốt ruột
ngóng kết quả bỏ phiếu hơn cả người ứng cử. Họ đinh ninh rằng Ma-ri sẽ thắng,
nên từ sáng đã mua một bó hoa to để sẵn dưới gầm chiếc bàn cân đo. Được tin bà
Qui-ri không trúng cử, họ thất vọng thờ thẫn. Anh thợ máy Lu-i Na-gô, hậm hực,
cất biến ngay bó hoa đã thành vô dụng. Ai nấy im lặng, chuẩn bị những lời an ủi.
Nhưng rồi họ nào có dịp nói ra, Ma-ri, từ trong phòng nhỏ vẫn làm việc, bước
ra. Bà không nói một lời nào về cái thất bại không hề làm cho bà ngao ngán.
Trong lịch sử của gia đình Qui-ri, hình như nước ngoài luôn
luôn sửa chữa những đối xử của nước Pháp. Tháng chạp năm 1911 ấy, Hàn lâm viện
khoa học Xtốc-khôm (muốn biểu dương những công trình chói lọi do bà Qui-ri làm
được từ khi chồng chết) lại tặng bà giải thưởng Nô-ben về hóa học. Đây là trường
hợp duy nhất một người hai lần được giải Nô-ben như thế.
Cùng sang Thụy Điển với Ma-ri, có Brô-ni-a và cả I-ren. Cô bé
được dự buổi trao giải thưởng long trọng. Hai mươi bốn năm sau, cũng trong
phòng này sẽ đến lượt I-ren nhận giải Nô-ben về hóa học. (Đó là năm 1935, một
năm sau khi Ma-ri Qui-ri mất – ND)
Ngoài những cuộc đón tiếp thường lệ và bữa tiệc ở Hoàng cung,
nhân dân Thụy Điển còn tổ chức hội mừng nhà nữ bác học vừa được giải. Ma-ri sẽ
giữ mãi kỷ niệm rất đẹp và thú vị về một tối vui ở thôn quê; hàng trăm cô gái
quần áo sặc sỡ, đội trên đầu những vòng nến đang cháy, ánh nến lung linh theo
điệu múa nhịp nhàng.
Nói chuyện trước công chúng Thụy Điển, Ma-ri tặng lại cho
Pi-e sự ngưỡng mộ mà người ta dành cho bà:
“Tôi xin nhắc lại rằng sự khám phá ra Ra-đi và Pô-lô-ni đều
có đóng góp của Pi-e. Trong lĩnh vực phóng xạ, Pi-e Qui-ri còn có những công
trình nghiên cứu căn bản, hoặc làm riêng, hoặc cùng làm với tôi, hoặc làm chung
với học trò của ông.
Việc tách riêng chất Ra-đi dưới dạng muối tinh khiết và khẳng
định được chất ấy là một chất mới đặc biệt do tôi làm, nhưng cũng gắn liền với
sự nghiệp chung. Vinh dự cao quý mà tôi được nhận hôm nay, bắt nguồn từ sự nghiệp
chung đó và có thể coi như một sự tôn kính đối với hương hồn người đã khuất”.
*
Với một khám phá lừng danh khắp năm châu và hai giải Nô-ben,
Ma-ri được rất nhiều người khâm phục nhưng cũng bị lắm kẻ ghen ghét.
Một chiến dịch lăng mạ điên đảo nổ ra giữa Pa-ri như muốn vùi
dập người quả phụ 44 tuổi đã yếu đuối kiệt sức vì một công việc quá nặng nề.
Nghiên cứu khoa học thời đó còn là công việc của đàn ông.
Đương nhiên những người bạn thân nhất của Ma-ri, những người mà bà có thể trao
đổi suy nghĩ, thổ lộ tâm sự phần lớn là nam giới. Và trong quan hệ bạn bè và đồng
nghiệp này, bà thường có một ảnh hưởng sâu sắc, nhất là đối với một nhà bác học
lớn đương thời. Thế là đủ cho thiên hạ gièm pha, dị nghị. Một nữ bác học suốt đời
chỉ biết làm việc, một tấm lòng đoan trang, nghiêm túc, và mấy năm lại đây, còn
rất đáng thương lại bị vu khống là làm tan nát nhiều gia đình và bôi nhọ một
thanh danh quá chói lọi.
Thời gian đã trả lời và phê phán những người đã khởi xướng ra
cuộc công kích này. Nhưng hồi đó bao lần Ma-ri phải chống đỡ tuyệt vọng và vụng
về bi thảm. Về những bài báo đương thời có tính chất lăng mạ, những bức thư nặc
danh, đe dọa hành hung và có nguy cơ đến tính mạng.
Ma-ri bị xô đẩy đến chỗ suýt thì hóa điên, hóa dại, và thế lực
như suy kiệt, cuối cùng, bà đã bị một bệnh hiểm nghèo đánh gục.
Chỉ cần nhắc lại ở đây, một việc ít tai hại nhất nhưng cũng
đê tiện nhất, luôn luôn đả kích vào bà Qui-ri trên suốt con đường bà đi. Cứ mỗi
khi có cơ hội hạ thấp con người duy nhất ấy – như trong những ngày đau khổ 1911
– hoặc khước từ không cho bà một chức vị, một phần thưởng hay một danh vọng,
thí dụ vào Viện Hàn lâm, thì người ta lại lôi cái nguồn gốc của bà ra gièm pha
hèn mạt. Hết vu khống là người Nga, người Đức lại bị chê trách là người Do
Thái, người Ba Lan, và tóm lại là “một mụ nước ngoài” đến Pa-ri để chiếm đoạt,
giành giật địa vị lạm quyền. Nhưng mỗi khi có tài năng của Ma-ri Qui-ri, khoa học
được đưa lên đài danh vọng, mỗi khi các nước khác ca ngợi biểu dương, tặng bà
những danh vị, suy tôn chưa hề thấy từ trước, thì bỗng nhiên mấy tờ báo ấy,
ngòi bút ấy lại không ngớt lời tâng bốc “nữ sứ giả của nước Pháp, đại diện tiêu
biểu nhất cho tinh hoa của chủng tộc ta và vinh quang của đất nước”. Và lúc đó
người ta cố tình quên nguồn gốc Ba Lan mà bà rất tự hào cùng với một sự bất
công như trước đó, nó bị đả kích.
Xưa nay vẫn thế, các vĩ nhân vẫn bị bao kẻ bới lông tìm vết,
chúng hằn học chỉ muốn khám phá được dưới cốt cách của thiên tài những dấu hiệu
không hoàn mỹ. Giá không có danh vọng, không bị cái nam châm đáng sợ đó thu hút
về mình nhiều người yêu những cũng lắm kẻ ghét, thì có lẽ Ma-ri Qui-ri đã chẳng
bao giờ bị đặt điều vu khống. Giờ đây, bà lại thêm một lý do nữa để thù ghét
vinh quang.
*
Trong hoạn nạn ta mới thấy rõ bạn của mình. Hàng trăm lá thư
của những người có danh tiếng hoặc không tên tuổi gửi đến Ma-ri Qui-ri tỏ lòng
xúc động và công phẫn trước những thử thách mà bà phải chịu đựng. Bạn bè như
Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ, và những trợ lý, sinh viên của Ma-ri, đều lên tiếng bênh vực
bà.
Nhiều giáo sư đại học, chỉ hơi quen biết Ma-ri cũng giúp đỡ động
viên bà. Hai vợ chồng nhà toán học E-min Bô-ren rất ân cần, săn sóc, muốn khôi
phục lại sức khỏe cho Ma-ri đã mời bà sang nước Ý để tĩnh dưỡng.
Cùng với anh ruột là Dô-dếp, hai chị là Brô-ni-a và Hê-la từ
Ba Lan sang Pháp, thời gian này Ma-ri còn có một người bênh vực kiên trì là Giắc
Qui-ri, anh của Pi-e.
Tình đùm bọc yêu thương đó là một nguồn an ủi lớn về tinh thần.
Nhưng sự suy nhược về thể lực vẫn ngày càng nghiêm trọng. Thấy mình không còn đủ
sức để hàng ngày từ Xô đến trường, Ma-ri thuê một gian nhà bến Bê-tuyn số 36 định
sang Giêng 1912 sẽ dọn. Nhưng rồi cũng không kịp chờ đến ngày đó, hôm 29 tháng
Chạp 1911, Ma-ri ốm nặng tưởng chết, phải cáng đến một nhà an dưỡng. Sau hai
tháng trời đánh vật với bệnh hoạn, bà đã thắng, nhưng thận bị tổn thương nặng cần
phải mổ. Lúc này Ma-ri chỉ còn là một cái xác xanh nhợt, không còn một hạt máu
và là nơi tập trung tất cả mọi đau đớn. Phải hoãn việc giải phẫu đến tháng ba,
vì cuối tháng hai, bà còn muốn đi dự một hội nghị vật lý.
Một nhà giải phẫu nổi tiếng thời đó đã mổ và săn sóc cho
Ma-ri một cách tuyệt diệu. Tuy nhiên, thể lực của người bệnh cũng bị ảnh hưởng
lâu dài. Ma-ri gầy rạc đi và không đủ sức đứng vững nữa. Những cơn sốt và những
cơn đau thận mà Ma-ri chịu đựng không một tiếng rên la, giá ở bất cứ người đàn
bà nào khác thì chỉ còn sống một đời tàn phế vô dụng.
Giờ đây, Ma-ri bị những đau đớn về thể xác, và sự tồi tệ của
những kẻ độc địa săn đuổi như một con thú dồn vào bước đường cùng. Brô-ni-a phải
thuê cho em gái ốm yếu một căn nhà gần Pa-ri, đứng tên mình để Ma-ri đến tĩnh
dưỡng ít lâu, rồi lại đến ở Tô-nông, tiếp tục điều trị trong nhiều tuần lễ buồn
tẻ. Hè đến, bà bạn Ay-tơn lại mời Ma-ri và hai con gái đến một biệt thự tĩnh mịch
ở bờ biển nước Anh. Ở đây Ma-ri đã được chăm sóc tận tình chu đáo.
Giữa những ngày buồn nản đó một đề nghị làm Ma-ri vô cùng cảm
động.
Sau cuộc cách mạng 1905, chế độ Sa hoàng bị lung lay tận gốc,
đã phải có một vài nhượng bộ đối với tự do tư tưởng ở Nga. Ở Vác-xô-vi, cuộc sống
cũng bớt khắc nghiệt. Từ năm 1911 đã có một hội khoa học hoạt động khá tích cực
và tương đối độc lập, hội này đã bầu Ma-ri là “hội viên danh dự”. Mấy tháng sau
giới trí thức Ba Lan quyết định xây dựng một Viện thí nghiệm phóng xạ ở
Vác-xô-vi, mời Ma-ri về phụ trách đồng thời đón hẳn về quê hương mình nhà nữ
bác học đầu tiên trên thế giới.
Tháng năm 1912, một phái đoàn gồm các giáo sư Ba Lan đến thăm
Ma-ri. Nhà văn Hen-rích Xi-en-ki-e-vích[47] (Henryk Sienkiewicz-NS), người nổi
tiếng và được nhân dân ưa thích nhất ở Ba Lan, đã kêu gọi nhà nữ bác học với những
lời lẽ vừa thống thiết vừa trân trọng:
“Rất mong bà đoái hoài, chuyển hoạt động khoa học rạng rỡ của
bà về Tổ quốc và thủ đô ta. Hẳn bà cũng biết vì đâu trong thời gian vừa qua nền
văn hóa và khoa học của nước Ba Lan chúng ta bị suy đổi. Chúng ta đang mất lòng
tin vào những khả năng trí tuệ của mình. Chúng ta bị kẻ thù coi khinh và không
còn hy vọng gì vào tương lai nữa.
… Cả đất nước khâm phục bà, nhưng cũng mong bà trở về làm việc
ở thành phố quê hương. Đó là lòng tha thiết của cả dân tộc. Nếu có bà ở
Vác-xô-vi, anh em chúng tôi sẽ thấy có thêm sức mạnh, sẽ có thể ngẩng đầu, trước
đây phải cúi đầu dưới gánh nặng của bao gian truân khổ cực”.
Đây quả là một dịp để rời bỏ nước Pháp một cách vẻ vang và khỏi
phải chịu những lời vu khống tàn ác. Nhưng Ma-ri không hề nghe theo sự hằn học.
Bà thẳng thắn suy nghĩ về nhiệm vụ của mình. Ý nghĩ trở về Tổ quốc vừa quyến rũ
vừa làm bà lo ngại. Giờ đây đã có quyết định xây dựng cái phòng thí nghiệm mà
ông bà Qui-ri hằng mong muốn bấy lâu. Rời bỏ Pa-ri lúc này có nghĩa là làm tiêu
tan cái hy vọng, hủy diệt một ước mơ to lớn. Ma-ri bị xâu xé giữa hai sứ mệnh
không thể dung hòa. Bà đã đau khổ biết chừng nào khi phải viết một bức thư chối
từ gửi về Vác-xô-vi! Tuy nhiên, Ma-ri cũng nhận điều khiển từ phương xa, phòng
thí nghiệm mới thành lập mà bà đặt dưới sự trông nom thực tế của hai người giúp
việc khá nhất của mình là hai nhà bác học Ba Lan.
Năm 1913, mặc dầu còn đang ốm yếu, Ma-ri đến Vác-xô-vi dự lễ
khánh thành phòng nghiên cứu phóng xạ. Cả nước Ba Lan sôi nổi đón tiếp người
con ưu tú của mình. Lần đầu tiên trong đời Ma-ri đã làm một cuộc thuyết trình
khoa học bằng tiếng mẹ đẻ trong một gian phòng đông nghịt. Bà viết cho một đồng
nghiệp:
“Tôi muốn trước khi đi cố gắng cống hiến nhiều nhất. Thứ ba vừa
qua, tôi đã có một buổi thuyết trình trước công chúng. Tôi cũng dự và sẽ còn dự
nhiều buổi họp. Đâu đâu tôi cũng gặp rất nhiều tài năng cần phát huy. Đất nước
đau thương này bị tàn phá vì một sự thống trị man rợ và vô lý quá đã cố gắng
nhiều để bảo vệ đời sống tâm hồn và trí tuệ của mình. Sự áp bức rồi đây sẽ bị đẩy
lùi và phải kiên trì đến lúc đó”.
Có một cuộc đón tiếp tổ chức ở Bảo tàng Công-Nông nghiệp ở
chính ngôi nhà mà hai mươi năm trước đây Ma-ri đã làm những thí nghiệm đầu tiên
về vật lý. Ngày hôm sau, phụ nữ Ba Lan chiêu đãi. Trong hàng ngũ khách dự tiệc,
có bà cụ rất già, tóc bạc phơ, cứ chăm chăm nhìn Ma-ri một cách say sưa. Đó là
bà cụ Xi-coóc-xca, giám đốc ký túc xá mà xưa kia cô gái Ma-ri nhỏ bé với bộ tóc
hung vẫn lui tới. Nhìn thấy cụ, Ma-ri lách mình giữa những bàn đầy hoa, đến ôm
hôn cụ thắm thiết, làm cụ cảm động nước mắt cứ ròng ròng.
*
Sức khỏe của Ma-ri đã khá. Hè 1913, có một cuộc đi chơi ngắm
cảnh lý thú. Vai đeo ba lô, Ma-ri đã đi bộ thăm vùng Ang-ga-din cùng với hai
con gái, bà gia sư, và nhà bác học An-be Anh-xtan[48] (Albert Eistein-NS) và con trai
ông.
Một tình bạn đẹp đẽ đã nẩy nở giữa Ma-ri Qui-ri và nhà bác học
Đức. Giữa “hai thiên tài”, từ mấy năm nay, thẳng thắn và chân thành, họ mến phục
nhau, họ thích bàn luận về vật lý lý thuyết, lúc thì nói tiếng Pháp, lúc thì
nói tiếng Đức, kéo dài mãi không dứt.
Mấy đứa trẻ nô đùa, nhảy nhót ở phía trước. Ở đằng sau
Anh-xtan thao thao bất tuyệt, say sưa trình bày những lý thuyết ông hằng ấp ủ,
mà chỉ có Ma-ri với kiến thức đặc biệt về toán mới hiểu nổi.
I-ren và E-vơ thỉnh thoảng nghe lõm bõm vài câu có vẻ lạ lùng
đối với chúng. Nhà vật lý người Đức đang đăm chiêu đi dọc theo những vực đá,
trèo lên những mỏm cao dựng đứng. Bỗng ông dừng lại, nắm cánh tay Ma-ri và nói:
– Bà hiểu không, điều mà tôi muốn biết là cái gì sẽ xảy ra với
những người đi thang máy, khi cái thang này rơi trong khoảng không.
Một sự quan tâm cảm động như vậy làm cho lũ trẻ bật cười.
Chúng nào có ngờ đâu cái thang máy rơi tưởng tượng ấy đặt ra những vấn đề siêu
lý về thuyết “tương đối”!
Sau những ngày hè ngắn ngủi ấy, Ma-ri sang Anh rồi sang Bỉ, dự
những buổi họp trọng thể về khoa học. Ở thành phố Bớc-minh-gam ở Anh, bà lại được
tặng tiến sĩ danh dự. Lần này Ma-ri đã vui vẻ chịu đựng cuộc thử thách và kể lại
cho I-ren nghe với nhiều hình ảnh bay bướm:
– Người ta đã cho mẹ mặc một cái áo đỏ viền xanh rất đẹp, với
những người bạn cùng thuyền, nghĩa là những nhà bác học cũng nhận được học vị
tiến sĩ. Mỗi người nghe một lời giới thiệu ngắn ca ngợi công cán của mình. Sau
đó ông hiệu trưởng trường Đại học khoa học tuyên bố tặng học vị cho từng người.
Rồi tất cả đứng lên bục, sau đó đi diễu với tất cả giáo sư và tiến sĩ ở trường
Đại học này, ăn mặc cũng gần như mẹ. Kể cũng vui. Mẹ phải trịnh trọng hứa tôn
trọng luật lệ và thủ tục của trường Đại học Bớc-minh-gam đấy!...
Cuộc đời của Ma-ri Qui-ri đến đây đã đạt tới đỉnh cao của
danh vọng, cơn bão táp đã qua từ hai năm nay, viện Ra-đi-om ở phố Pi-e Qui-ri
đã khởi công xây dựng.
Không phải ngẫu nhiên mà được như thế. Ngay sau khi Pi-e
Qui-ri mất, chính phủ Pháp có đề nghị với Ma-ri mở một cuộc lạc quyên toàn quốc
để xây dựng phòng thí nghiệm. Bà đã từ chối không muốn cho ai làm tiền trên cái
chết của Pi-e. Các nhà chức trách lại đâm ì ra. Nhưng đến năm 1909, bác sĩ Ru
là giám đốc Viện Pát-xtơ có ý kiến xây dựng một phòng thí nghiệm cho bà Qui-ri.
Như thế bà sẽ rời bỏ trường Xoóc-bon để trở thành một ngôi sao của viện
Pát-xtơ.
Những người đứng đầu trường Đại học khoa học bỗng giật mình.
Để bà Qui-ri đi nơi khác ư? Không thể được! Thể nào cũng phải giữ nhà bác học
xuất chúng này.
Cuộc tranh chấp chỉ chấm dứt sau khi bác sĩ Ru và phó chủ nhiệm
Li-a thay mặt cho Viện Pát-xtơ và trường Đại học khoa học thỏa thuận mỗi bên sẽ
chi 400.000 phơ-răng vàng để cùng xây dựng Viện Ra-đi-om. Viện này gồm có hai
phần: một phòng thí nghiệm phóng xạ, đặt dưới sự điều khiển của Ma-ri Qui-ri, một
phòng thí nghiệm nghiên cứu sinh vật học và chữa bệnh bằng Ra-đi do giáo sư Clốt
Rơ-gô (Claude Regaud-NS), một nhà bác học và thầy thuốc lỗi lạc phụ trách để tổ
chức việc nghiên cứu về ung thư. Hai cơ cấu đó làm việc song song và phối hợp với
nhau để phát triển khoa học về Ra-di.
Thế là, Ma-ri lại tất tả từ phố Qui-vi-ê đến công trường kiến
trúc, hết vẽ bản đồ lại bàn bạc với kiến trúc sư. Người phụ nữ tóc đã hoa râm ấy
có những ý kiến rất mới, rất “hiện đại”. Bà muốn xây dựng một phòng thí nghiệm
có thể vẫn dùng được trong 30 năm, 50 năm, khi bà không còn nữa. Ma-ri khăng
khăng yêu cầu các phòng nghiên cứu phải rộng rãi, sáng sủa, cửa sổ thật to cho
ánh sáng lùa vào. Và dù tốn kém, dù có cho những kỹ sư chịu trách nhiệm xây dựng
công phản đi nữa thì cũng cần phải có cả thang máy…
Vốn tâm hồn nông dân, Ma-ri chú ý hơn cả đến khu vườn mà bà
say sưa thiết kế bất chấp lý lẽ xác đáng của những người muốn “tiết kiệm chỗ”,
bà gay gắt giành giật từng thước đất cách quãng các tòa nhà. Bà sành sỏi chọn từng
cây ươm, chính mắt trông coi việc trồng trọt mà bà cho tiến hành ngay trước khi
xây các móng nhà. Ma-ri tâm sự với những người cộng tác:
“Trồng mấy cây này ngay từ bây giờ là lợi được hai năm. Khi
phòng thí nghiệm dựng xong, cây cũng đã mọc cao, nở hoa tươi tốt. Nhưng phải
kín đấy nhé! Ta chưa nói gì cho lão Nê-nô biết đâu!” (Nê-nô là kiến trúc sư phụ
trách xây dựng- ND).
Và một ánh lửa trẻ trung, hóm hỉnh thoáng nhóm trên khóe mắt
màu tro.
Ma-ri tự tay trồng những khóm tầm xuân, đắp đất vào gốc cây
ngay bên những tường đang làm dở. Mỗi ngày Ma-ri tưới cho cây. Và mỗi khi bà đứng
dậy ngắm nghía, người ta tưởng bà đang rình đón những tường gạch vô tri thi
nhau mọc lên với mấy khóm cây xanh tốt.
Thời gian đó, bà vẫn không ngừng làm việc ở phố Qui-vi-ê. Một
buổi bác Pơ-ti, trước là lao công ở phòng thí nghiệm, đến gặp bà ở đây, không
nén được xúc động: ngay ở trường Vật lý, cũng đang xây dựng thêm phòng làm việc
và cả giảng đường. Và cái lán mục nát tang thương của Pi-e và Ma-ri, giờ đây sắp
sụp đổ dưới cuốc của thợ phá dỡ.
Cùng người giúp việc âm thầm của mình trong những ngày đầu
gian truân, sáng hôm đó, Ma-ri đến phố Lô-mông, thăm lại nơi làm việc xưa kia.
Cái nhà xe vẫn còn đó, cái bảng đen mang bút tích của Pi-e được giữ nguyên.
Hình như cửa sắp mở đây, và bóng dáng một người cao lớn quen thuộc sắp bước
vào.
Phố Lô-mông. Phố Qui-vi-ê. Phố Pi-ê Qui-ri. Ba địa chỉ, ba chặng
đường. Hôm ấy, Ma-ri đã vô tình đi ngược lại đường đời đẹp đẽ và tàn ác của
mình. Trước mặt bà tương lai đang vẽ ra sáng lạn. Ở phòng thí nghiệm sinh vật học
vừa mới xây dựng xong, các trợ lý của bác sĩ Rơ-gô bắt đầu làm việc và buổi chiều
ở các cửa sổ tòa nhà mới đã có ánh đèn. Vài tháng nữa, Ma-ri cũng sẽ rời bỏ lớp
Lý-Hóa-Sinh và chuyển các dụng cụ thí nghiệm của mình sang phố Pi-e Qui-ri.
Thắng lợi đó đến với nhà nữ bác học khi bà không còn trẻ
trung sung sức, và nhất là không còn hạnh phúc nữa. Nhưng điều đó có can chi,
vì một lớp trẻ đang đứng quanh bà, có những người nghiên cứu đầy nhiệt tình, sẵn
sàng chiến đấu bên cạnh Ma-ri cho sự nghiệp khoa học. Không! Chưa phải là đã
quá muộn!
Tiếng hát và huýt sáo của anh em thợ lắp kính vang lên rộn
ràng từ trên các tầng gạch ngôi nhà trắng tinh. Trên cổng vào đã hiện lên, khắc
trên đá mấy chữ:
VIỆN RA-ĐI-OM
Khu Qui-ri
Trước những bức tường dày vững chắc, trước dòng chữ khắc làm
phấn chấn lòng người, Ma-ri gợi lại những lời nói của Pát-xtơ[49]:
“Nếu trái tim bạn rung động trước những sự chinh phục có ích
cho loài người, nếu bạn phải sửng sốt cho những tác dụng kinh ngạc của những
phát minh như vô tuyến điện, chụp ảnh trên màn bạc, gây mê trong phẫu thuật,
cùng bao phát minh khác rất đáng khâm phục; nếu bạn tha thiết nâng niu phần
đóng góp của đất nước mình vào bao kỳ công đó, – thì tôi khẩn khoản xin bạn
quan tâm đến những ngôi nhà thiêng liêng mà người ta gọi bằng cái tên rất ý
nghĩa là phòng thí nghiệm. Phải có thêm nhiều phòng thí nghiệm, và phải trang
hoàng các phòng đó. Đây là những ngôi nhà sung túc. Ở đây, nhân loại sẽ học
cách đọc tác phẩm của tạo hóa, tác phẩm của tiến bộ và của sự hòa hợp vũ trụ
trong khi sản phẩm của mình phần nhiều chỉ có tính tàn bạo, cuồng tín và phá hoại”.
Tháng bảy rạng rỡ ấy, “ngôi đền của tương lai” ở phố Pierre
Curie đã hoàn thành. Chỉ còn đợi những người làm việc và bà giám đốc.
Nhưng đó là tháng bảy năm 1914. Cuộc chiến tranh thế giới sắp
bùng nổ.
Chú thích:
[46] Edouard Branly (1844-1940) nhà vật lý và hóa học Pháp chế
ra máy tiếp sóng (cohereur) làm cho khoa điện báo đi vào thực hành.
[47] Henryk Sienkiewicz(1846 -1916) tác giả tác phẩm nổi tiếng
Quo Vadis (Giải No-ben 1905)
[48] Albert Eistein (1879 -1955) nhà bác học vật lý người Đức,
đề ra thuyết tương đối về thời gian và không gian.
Chương 21
chiến tranh
Hè năm ấy, Ma-ri thuê một nhà nghỉ mát ở xứ Brơ-ta-nhơ
(Brittany-NS) cho hai con gái đến đây trước với một bà giáo và một chị nấu bếp.
Mẹ chúng hứa sẽ đến sau vào ngày mồng ba tháng tám. Vì là cuối năm học, việc bận,
nên Ma-ri phải ở lại Pa-ri. Bà đã quen sống một mình như thế; giữa những ngày
hè nóng nực nhất, không có người giúp việc để đỡ đần đêm hôm. Cả ngày ở phòng
thí nghiệm, tối mịt mới về, toàn khu nhà bà ở chỉ có một bà gác cổng trông coi
có phần sơ sài.
Ma-ri viết thư cho các con gái ngày 1 tháng Tám 1914.
“Irène và Eve yêu dấu, tình hình có vẻ xấu đi, sắp có lệnh động
viên, chả biết mẹ có đi được không. Hai con đừng lo sợ, phải bình tĩnh và can đảm.
Nếu chiến tranh không bùng nổ, mẹ sẽ về thứ hai này. Bằng không mẹ sẽ ở lại đây
và cho người về đón các con ngay khi nào có thể được, I-ren sẽ cùng mẹ tìm cách
giúp ích nhé”.
Mồng 2 tháng Tám:
“Hai con gái yêu dấu của mẹ, lệnh động viên đã ban hành. Quân
Đức đã đột nhập vào nước Pháp không hề tuyên chiến. Trong một thời gian, việc
đi lại sẽ không dễ dàng.
Paris vẫn bình tĩnh và gây ấn tượng tốt, mặc dầu cảnh chia ly
buồn bã”.
Mồng 6 tháng Tám:
“I-ren yêu quý, mẹ cũng rất muốn đón các con về đây, nhưng
lúc này chưa thể được. Các con hãy kiên nhẫn. Bọn Đức tràn qua nước Bỉ có tác
chiến. Nước Bỉ nhỏ nhưng anh dũng không chịu để chúng vào mà không chống lại. Tất
cả những người Pháp đều lạc quan và cho rằng cuộc chiến đấu tuy gay go nhưng sẽ
xoay chiều tốt.
Đất nước Ba Lan bị quân Đức chiếm đóng. Nơi nào chúng đã đi
qua thì còn gì nữa! Mẹ cũng không được tin gì về bên nhà cả”.
Chung quanh Ma-ri người đi gần hết. Từ những giáo sư đồng
nghiệp đến các nhân viên phòng thí nghiệm, ai nấy đều đã nhập ngũ, ở lại chỉ
còn anh thợ máy Lu-i Ra-gô, vì yếu tim nên không trúng tuyển, và một người đàn
bà giúp việc nhỏ bé, thấp lè tè. Lúc này Ma-ri không hề nghĩ rằng nước Pháp chỉ
là quê hương thứ hai của mình. Và tuy là một người mẹ, bà cũng không có tư tưởng
muốn về gần các con. Con người ốm yếu, mảnh khảnh ấy coi thường bệnh hoạn của
mình. Và nhà nữ bác học tự nguyện gác công việc nghiên cứu riêng lại sau này,
khi có điều kiện sẽ tiếp tục. Ma-ri chỉ còn một tha thiết phục vụ Tổ quốc thứ
hai của mình. Trong cuộc thử thách mới, một lần nữa, bà đã tỏ ra sáng suốt nhạy
cảm và luôn luôn chủ động.
Đóng của phòng thí nghiệm để trở thành một nữ cứu thương với
chiếc voan trắng như nhiều phụ nữ Pháp dũng cảm, giải đáp dễ dàng đó, không tồn
tại lâu trong ý nghĩ của Ma-ri. Sau khi tìm hiểu tổ chức của những cơ quan y tế,
Ma-ri phát hiện ra một thiếu sót hình như không được ai quan tâm, nhưng lại rất
đáng lo ngại: các bệnh viện ở hậu phương cũng như ở tiền tuyến hầu như thiếu hẳn
trang bị về điện quang. Chúng ta biết rằng nhờ có quang tuyến X do Rơn-ghen[50] phát minh từ 1895, có thể không cần
đến phẫu thuật vẫn thám thính được nội tạng con người, nhìn và chụp ảnh các
xương cốt.
Năm 1914, ở Pháp chỉ có rất ít máy Rơn-ghen dùng trong y tế.
Sau khi chiến tranh nổ ra, ngành quân y dự định thiết lập khoa này ở một vài
thành phố lớn, được xét là xứng đáng với sự xa xỉ đó. Chỉ có thế. Một thiết bị
mầu nhiệm cho phép phát hiện và xác định vị trí của viên đạn, mảnh bom nấp dưới
vết thương, chẳng lẽ lại là một thứ xa xỉ hay sao?
Trước đó Ma-ri chưa hề đi vào nghiên cứu tia X; nhưng trong
những giáo trình ở Xoóc-bon, mỗi năm Ma-ri cũng dành một số giờ giảng về tia X.
Vận dụng những kiến thức khoa học của mình, Ma-ri nhìn trước vấn đề mà cuộc
chém giết đẫm máu sẽ đặt ra: phải gấp rút lập nhiều, rất nhiều trạm điện quang.
Sau khi nhìn nhận tình thế, Ma-ri lao vào hành động. Chỉ sau
vài giờ, bà đã lập xong danh sách những máy điện quang của các trường đại học kể
cả chiếc máy riêng của mình. Rồi bà đi suốt một lượt đến các xưởng chế tạo loại
máy ấy. Tất cả thiết bị về tia X có thể dùng được, Ma-ri đều thu thập lại rồi
phân phối cho các bệnh viện trong khu vực thành phố Pa-ri.
Một số nhà bác học, kỹ sư, giáo sư biết sử dụng máy điện
quang đều xung phong nhận việc. Nhưng làm thể nào cứu chữa kịp cho những thương
binh được ùn ùn đưa đến? Những trạm y tế lưu động không có máy chiếu và chụp điện.
Nhiều trạm còn thiếu cả điện để chạy máy. Với quỹ của Hội phụ nữ Pháp, chiếc
“xe điện quang” lưu động đầu tiên ra đời. Đó là một cái ô tô thường có lắp một
thiết bị Rơn-ghen và một máy phát điện chạy bằng động cơ xe. Ngay từ tháng Tám
1914, cái trạm lưu động ấy đã đi khắp các bệnh viện khám cho những thương binh
được chuyển về Pa-ri trong chiến dịch quận Mác-nơ.
*
Quân Đức tiến ồ ạt trên đất nước Pháp, Ma-ri phân vân. Về với
hai con gái ở Brơ-ta-nhơ (Bretagne) hay ở lại Paris Và nếu bị chiếm đóng, liệu
bà có theo các cơ quan quân y về hậu phương không?
Ma-ri bình tĩnh cân nhắc và quyết định dù thế nào đi nữa,
cũng cứ ở lại Pa-ri. Không phải chỉ để phục vụ thương binh, bà còn nghĩ đến
phòng thí nghiệm, đến những dụng cụ chính xác đặt ở phố Qui-vi-ê, đến những cơ
sở mới xây dựng ở phố Pi-e Qui-ri.
“Nếu ta ở đây – Ma-ri nghĩ thầm – biết đâu bọn Đức không dám
phá phách máy móc. Nhưng nếu ra đi, mọi thứ đều mất hết!” Tuy nhiên đó vẫn
không phải là động cơ chính. Nó vẫn chỉ nhằm bào chữa cho cái bản năng xưa vẫn
dắt dẫn bà. Con người vốn bướng bỉnh, gan lì đó không ưa gì việc bỏ chạy. Đối với
Ma-ri sợ hãi có nghĩa là phục vụ cho kẻ thù, không thể để cho quân địch nghênh
ngang đắc chí đặt chân vào phòng thí nghiệm Qui-ri vắng ngắt.
Ma-ri gửi hai con gái đến chỗ bác chúng là Giắc Qui-ri và chuẩn
bị tinh thần cho I-ren và E-vơ sẽ phải xa cách mẹ. Ma-ri viết thư cho I-ren và
E-vơ ngày 28 tháng Tám năm 1914:
“Pa-ri có thể bị bao vây, và do đó, mẹ con ta có thể bị cách
biệt. Nếu việc đó xảy ra, các con hãy dũng cảm chịu đựng, vì những mong muốn cá
nhân không nghĩa lý gì đối với vận mệnh của đất nước. Con phải nhận lấy trách
nhiệm về em con, trông nom em, nếu mẹ con bị xa nhau lâu hơn mẹ dự đoán”.
29 tháng Tám:
“I-ren yêu, mẹ thấy cần phải nói với con là phải sẵn sàng đối
phó với tình huống… Pa-ri có xa gì biên giới, bọn Đức có thể tiến đến gần được
lắm. Dù sao, chúng ta cũng phải tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của nước
Pháp. Vì vậy con phải dũng cảm tin tưởng, và nhớ đến vai trò chị cả, đã đến lúc
phải làm cho nghiêm túc dấy”.
31 tháng Tám 1914:
“Mẹ vừa nhận được bức thư âu yếm của con hôm thứ bảy, mẹ nhớ
con quá, đến phát khóc lên.
Tình hình không tốt lắm, ai cũng buồn rầu lo âu. Lúc này cần
phải dũng cảm và mẹ mong rằng không ai thiếu dũng cảm. Phải tin chắc rằng, sau
những ngày âm u, trời sẽ lại đẹp.
Với hy vọng đó, mẹ ôm hôn các con, các con yêu quý của mẹ”.
Nếu Ma-ri điềm nhiên nhìn trước khả năng có thể phải sống
trong thành phố Pa-ri bị bao vây, bị ném bom, thậm chí bị chiếm đóng, thì có một
vật quý mà bà muốn bảo vệ, không để lọt vào tay bọn xâm lăng, đó là gam Ra-đi của
phòng thí nghiệm. Không thể giao cho bất cứ người nào khác mảnh kim loại quý
báu này, Ma-ri quyết định tự tay mình chuyên chở nó xuống Boóc-đô, ở Tây nam nước
Pháp.
Trên một chuyến xe lửa chật ních dành cho những nhân vật
chính giới và viên chức nhà nước, chúng ta thấy một phụ nữ mặc áo du lịch vải
ba-ga đen mang theo mình một tay nải nhỏ… và một chiếc hòm nặng bọc chì. May
sao lại tìm được một chỗ ở đầu mỏm ghế dài, đặt hành lý lên đó, ngay trước mặt
mình. Xung quanh bà, khách đi tàu chen chúc ồn ào, toàn nói những chuyện bi
quan. Để khỏi phải nghe những lời kêu ca, chán nản, Ma-ri chăm chú nhìn quang cảnh
thôn quê đầy ánh nắng. Nhưng ở đây cũng vậy, toàn là những hình ảnh thất bại.
Trên con đường quốc lộ chạy dài theo đường sắt, ô-tô nườm nượp nối đuôi nhau ùn
ùn đổ về phía Tây.
Thành phố Boóc-đô đông đặc người ở Pa-ri và nhiều nơi khác đến,
không tìm được một phu khuân vác hoặc một xe tac-xi. Các phòng trọ đều hết chỗ.
Tối xẩm rồi mà Ma-ri vẫn đứng ở trước ga, bên cạnh một hành lý mà bà không có sức
mang nổi. Bị đẩy ra giữa đám đông, Ma-ri không tỏ chút gì bực bội mà còn nực cười
về cảnh ngộ của mình. Chẳng lẽ cứ đứng mãi cạnh cái hòm, trị giá là một triệu
phơ-răng này hay sao? May sao, một nhân viên ở một bộ nào đó cùng đi chuyến
tàu, nhanh nhảu tìm cho bà một phòng, trong nhà tư nhân để tạm nghỉ. Đến sáng,
bà mang cái của báu cồng kềnh đó ký gửi ở nhà ngân hàng rồi trở về Pa-ri nhẹ
nhõm.
Nếu chuyến đi không ai để ý đến Ma-ri, thì chuyến quay về
Pa-ri đám hành khách trên tàu xôn xao bàn tán. Họ kéo đến quanh Ma-ri như một
hiện tượng lạ kỳ: “Bà ấy lại ngược về Pa-ri đấy!”. Bà khách không nói ra mình
là ai, nhưng không kín tiếng như mọi lần, mà tìm cách trấn tĩnh những tin đồn
hoang mang, và nhẹ nhàng khẳng định rằng Pa-ri sẽ “đứng vững”, tình hình Pa-ri
không có gì đáng lo ngại…
Trên chuyến tàu chở toàn bộ đội, Ma-ri là người “hành khách
thường” duy nhất… Tàu chạy chậm như bò, lúc lúc lại ì ngay giữa cánh đồng hàng
tiếng đồng hồ. Ma-ri nhận một mẩu bánh mì to, do một anh lính rút từ túi dết
đưa cho. Từ hôm trước, vội ra đi từ phòng thí nghiệm, bà chưa kịp ăn một thứ
gì, và lúc này đã đói ngấu.
Trong ánh nắng tuyệt diệu của đầu tháng Chín, đối với Ma-ri,
Pa-ri có một vẻ đẹp tuyệt vời và một giá trị không tài nào so sánh được. Chẳng
lẽ sẽ mất một vật báu vô giá như thế? Những tin vui đã lan khắp các phố, mạnh
như nước thủy triều. Bà Qui-ri, người còn lấm láp đầy bụi cát sau một ngày đi
tàu, vội chạy ra thì được biết cuộc tấn công của bọn Đức bị đẩy lùi, trận
Mác-nơ đã bắt đầu.
Ma-ri đến trường cao đẳng sư phạm gặp hai bạn A-pen, và
Bô-ren. Bà muốn nhận ngay một việc ở tổ chức y tế mà hai ông mới thành lập: đó
là Hội cứu tế quốc gia. Nhìn con người mệt lả đó, Pôn A-pen là Hội trưởng, hết
sức ái ngại khuyên bà hãy ngả lưng trên ghế dài và cần tĩnh dưỡng vài ngày nữa.
Ông khăng khăng nói như vậy, nhưng Ma-ri đâu chịu nghe. Bà muốn hành động, hành
động ngay. Sau này Pôn A-pen viết: “Trên cái ghế dài, tuy vẻ mặt xanh xao,
nhưng đôi mắt mở to, trông Ma-ri Qui-ri như một ngọn lửa”.
Ma-ri viết thư cho I-ren, ngày 6 tháng Chín 1944:
“Tình hình mặt trận đang thay đổi, quân thù có vẻ rút lui xa
Pa-ri. Mọi người ở đây, đều vững lòng tin ở thắng lợi cuối cùng.
Con hãy ra nhiều bài về vật lý cho em Phéc-đi-năng Sa-van.
Các con chưa có thể làm việc cho hiện tại thì phải học tập vì tương lai. Nhiều
người sẽ thiếu mặt vì cuộc chiến tranh này. Cần phải thay thế họ, các con hãy
ra sức học toán và vật lý”.
Pa-ri được bảo toàn, Ma-ri đón hai con gái về nhà. Xa mẹ lâu
nên chúng cứ nằng nặc đòi về. E-vơ trở lại trường trung học, còn I-ren thì thi
lấy bằng y tá.
Bà Qui-ri đã đoán đúng: chiến tranh còn kéo dài, tổn thương
nhiều, càng ngày càng cần mổ thương binh tại chỗ, các bác sĩ mổ và những người
chiếu điện phải túc trực ngay bên cạnh những trạm quân y mặt trận và những xe
chiếu và chụp điện lưu động sẽ có một tác dụng vô cùng quý giá.
Những xe này, ngoài mặt trận thường gọi là những xe “Qui-ri
nhỏ”, Ma-ri trang bị cho từng cái một ở ngay phòng thí nghiệm của mình bất chấp
sự thờ ơ và phản kháng của những kẻ quan liêu. Con người vốn rụt rè bỗng trở
thành nghiêm nghị và kiên quyết. Ma-ri đến thúc những công chức lề mề, đòi từng
cái giấy giới thiệu, bông đặt hàng, giấy thông hành. Họ làm khó dễ, giở ra “điều
lệ này, thể lệ nọ”. Đó là thái độ của rất nhiều nơi. Nhưng Ma-ri cứ dai dẳng thảo
luận nài cho được mới thôi.
Ma-ri ra sức tranh thủ sự đóng góp của tư nhân. Một số phụ nữ
hảo tâm như bà hầu tước Ga-nay, bà hoàng Muypra cho hẳn hoặc cho mượn xe du lịch
của mình, Ma-ri chuyển ngay thành xe chiếu điện rồi cả quyết:
– Sau chiến tranh, sẽ xin gửi xe cho bà. Thật đấy, nếu xe còn
dùng được, thế nào cũng sẽ trả lại bà ngay.
Trong hai mươi cái xe được sử dụng như vậy, Ma-ri giữ lại một
cái kiểu Rơ-nô đã cũ, trông như một cái xe giao hàng để chạy công việc của
mình. Với cái xe trông như một xe thiết giáp, sơn đúng màu tro quy định, có in
dấu hồng thập tự và cờ nước Pháp, bà dấn mình vào một cuộc đời sôi nổi không
khác gì một nhà thám hiểm, một thuyền trưởng xông xáo.
Chỉ cần một điện tín hoặc điện thoại báo cho biết rằng một trạm
thương binh, cần gấp máy chiếu điện, thế là Ma-ri soát lại thiết bị chiếu điện
của mình. Trong khi người lái xe đi lấy xăng, bà chạy về nhà lấy cái áo choàng
sẫm, cái mũ đi đường trông không còn giữ cho ra hình thù và màu sắc gì và một
cái túi da màu vàng đã nứt nẻ. Bà lên ngồi cạnh anh lái, trong buồng xe gió
lùa. Và chiếc xe lao đi hết tốc độ – nghĩa là chỉ trung bình 5 cây số một giờ,
không thể nhanh hơn được, đưa Ma-ri đến A-miên-sơ, Y-phơ-véc-đong.
Sau rất nhiều lần dừng lại để trình giấy phân bua, điều đình
với những anh lính gác đa nghi, cuối cùng, xe đến trạm quân y. Phải bắt tay
ngay vào việc! Ma-ri nhanh chóng chọn lấy một gian phòng chiếu điện và cho
khuân thiết bị vào đây. Bà mở các thùng dụng cụ, lắp các bộ phận máy, đã tháo rời.
Một dây cáp nối liền máy chiếu điện với bộ phận phát điện đặt ở xe. Sau khi ra
hiệu cho anh lái cho chạy đi-na-mô, Ma-ri thử lại cường độ dòng điện. Trước khi
bắt đầu khám thương binh, bà còn chuẩn bị cái “màn ảnh điện quang”, để sẵng
găng tay và kính bảo vệ vừa tầm tay, sửa soạn những bút chì đặc biệt để đánh dấu,
định chỗ những viên đạn; làm buồng tối bằng cách che rèm đen vào cửa hoặc dùng
chăn của bệnh viện. Bên cạnh, còn đặt một cái phòng nhiếp ảnh để rửa những kính
ảnh chụp được. Chỉ nửa giờ sau mọi việc đều chuẩn bị xong.
Người ta lần lượt cáng thương binh đến. Một cảnh khá buồn thảm.
Nhà giải phẫu cùng với Ma-ri ở trong buồng tối; với những chiếc máy chạy giòn,
xung quanh có một vầng hào quang huyền bí. Ma-ri hướng máy vào những vết thương
thị bị nát, và điều chỉnh để nhìn cho rõ. Giữa hình ảnh những xương và các phủ
tạng hiện ra một vết đục hơn: đó là viên đạn, là mảnh đại bác.
Một phụ tá ghi chép những nhận xét của thầy thuốc. Ma-ri tô lại
hoặc chụp ảnh viên đạn hay mảnh đại bác để giúp nhà giải phẫu trong khi mổ. Đôi
khi viên đạn được gắp ra ngay trong lúc chiếu điện và người thầy thuốc có thể
trông thấy trên màn huỳnh quang hình ảnh những kim cặp của mình đang lần theo vết
thương, luồn quanh các xương để tiến tới cặp lấy mảnh đạn.
Mười thương binh, năm mươi rồi một trăm thương binh. Hết giờ
này đến giờ khác. Có khi hết ngày này đến ngày khác. Còn bệnh nhân, thì Ma-ri
còn ở trong buồng tối. Trước khi rời bệnh viện, Ma-ri nghiên cứu cách đặt một
trạm chiếu điện cố định. Thế rồi gói ghém máy móc dụng cụ xong, bà lại lên ngồi
trong chiếc xe mầu nhiệm đó trở về Pa-ri.
Chỉ vài ngày sau Ma-ri đã trở lại trạm. Lùng sục khắp nơi tìm
được một máy điện quang đem đến lắp ở đây, lần này Ma-ri đi cùng với một người
biết điều khiển máy. Tuyển anh ta ở đâu, huấn luyện thế nào, không rõ. Chỉ biết
là từ nay, bệnh viện này đã có phòng điện quang, không cần đến bà nữa.
Ngoài hai mươi cái xe trang bị đầy đủ Ma-ri còn đặt được hai
trăm phòng điện quang. Trên một triệu thương binh được cứu chữa, nhờ có tất cả
hai trăm hai mươi trạm cố định hoặc di động – do Ma-ri Qui-ri tự mình xây lắp.
Nào chỉ có kiến thức khoa học và lòng dũng cảm, Ma-ri còn rất
tài xoay xở, và đạt tới nghệ thuật về tính tháo vát thời chiến. Thiếu người lái
xe ư? Ma-ri ngồi ngay trước tay lái chiếc xe Rơ-nô và cứ thế đi khắp các con đường
gập ghềnh. Có khi tiết trời lạnh quá, Ma-ri phải cố hết sức quay mãi, cái máy
ngoan cố mới chịu chạy. Người ta còn thấy bà tì cả người lên cái kích để thay một
bánh xe hoặc chau mày lau bộ chế hòa khí bị hết dầu với những động tác của một
nhà bác học. Gặp trường hợp phải chở máy bằng xe lửa, Ma-ri tự tay bưng máy lên
toa chở hàng. Khi đến nơi, cũng chính mình khuân xuống, tháo dỡ và kiểm lại kỹ
càng không để mất thứ gì.
Bất chấp thiếu thốn vất vả, Ma-ri không hề đòi hỏi một cách đối
xử riêng biệt nào, một chế độ ưu tiên nào. Không một phụ nữ danh tiếng nào lại
xuề xòa dễ tính hơn, Ma-ri quên cả ăn trưa, quên cả ăn tối, ngủ đâu cũng được –
trong một phòng nhỏ của nữ y tá, hay có khi ngoài trời dưới một cái lều vải cắm
trại. Người nữ sinh viên xưa kia từng chịu đựng rét mướt trong một cái gác xép
sát mái, ngày nay đương nhiên đã trở thành một chiến sĩ của cuộc đại chiến thế
giới thứ nhất.
Ma-ri viết thư cho Pôn Lăng-giơ-vanh ngày 1 tháng Giêng 1915:
“Ngày tôi lên đường chưa được quyết định, nhưng có lẽ cũng
không chậm nữa. Tôi vừa được một bức thư báo tin các xe chiếu điện của anh cho
mượn để hoạt động trong vùng Xanh Pan đã bị hư hỏng, nghĩa là cả vùng bắc nước
Pháp không có khoa chiếu điện! Tôi đang vận động để được lên đường sớm hơn. Tôi
quyết tâm đem hết sức mình phục vụ Tổ quốc thứ hai của tôi, vì hiện nay chưa phục
vụ được quê hương ruột thịt còn chìm trong bể máu sau hơn một thế kỷ đau
thương”
*
I-ren và E-vơ sống như con các chiến sĩ ngoài mặt trận. Mẹ
chúng chỉ tự cho nghỉ phép khi bị cơn đau thận phải nằm một chỗ. Nếu Ma-ri ở
nhà, tức là bị ốm. Rằng không thì bà ở Su-íp, ở Rem, ở Ca-lê, ở Pô-pơ-ranh-gơ –
Ở một trong ba bốn trăm bệnh viện Pháp và Bỉ, những nơi mà bà thường xuyên đến
thăm trong suốt thời chiến. Mỗi lần E-vơ gửi thư báo cho mẹ biết những tiến bộ
của mình về sử, về luận Pháp văn, nó phải viết những địa chỉ nghe rất lạ tai, cảm
động:
“Bà Qui-ri, bệnh viện phụ số 11, Moóc-vi-le Sông Ranh Thượng”
Những bưu phiếu, do bà Qui-ri viết vội qua các chặng, mang đến
Pa-ri những tin ngắn, gọn.
20 tháng Giêng 1915:
“Các con yêu quý, mẹ đã đến A-miêng (Amien), ngủ tại đây. Chỉ
bị nổ hai lốp thôi. Chào tất cả.
Mẹ”
Cùng ngày:
“Đến A-bơ-vin (Abbeville). Xe bác Giăng Pe-ranh lái húc phải
cây. May quá không việc gì. Lại đi tiếp đến Bu-lô-nhơ”.
24 tháng Hai 1915:
“I-ren ơi, con biết đấy, không có gì chứng tỏ là mẹ con ta sẽ
bị cắt đứt ở Pô-pơ-ranh-gơ; nhưng ở đây mẹ chỉ có thể làm việc sau khi đã tu sửa
lại bệnh viện. Người ta làm một hầm trú ẩn cho xe và một vách ngăn cái phòng
chiếu điện trong cái buồng to của bệnh nhân. Thế là mẹ bị chậm lại, nhưng không
thể nào làm khác được.
Ở Đoong-kéc (Dunkerque), máy bay Đức thả bom chết vài người,
nhưng nhân dân không nao núng, ở Pô-pơ-ranh-gơ, những chuyện đó cũng xảy ra,
nhưng ít hơn. Ở đây, đại bác nổ gần như liên tục. Trời không mưa, nhưng rét,
đóng giá. Bệnh viện đón tiếp mẹ niềm nở hết sức. Mẹ được một buồng tốt, có lò
sưởi. Ở đây mẹ thích hơn ở Phuyếc-nơ. Mẹ ăn tại bệnh viện. Hôn con.
Mẹ”
Tháng Năm 1915:
“Con ạ, mẹ phải đợi ở Xa-blông 8 tiếng đồng hồ và mẹ chỉ mới
đến Véc-đoong hồi năm giờ sáng hôm nay. Xe cũng đã đến. Đang thu xếp”.
Một buổi chiều tháng Tư 1915, Ma-ri trở về nhà vẻ mặt tái nhợt
và uể oải hơn thường ngày. Không trả lời những câu hỏi lo âu, ríu rít của mọi
người ra đón, bà khóa trái cửa lại. Ma-ri bực chuyện gì đây?
Chả là khi ở bệnh viện Phoóc-giơ trở về, anh lái quá tay lao
cả xe xuống hồ. Chiếc ô-tô đổ nhào, và Ma-ri ngồi ở giữa các dụng cụ, bị lấp dưới
một đống hòm. Bà rất cáu, chẳng phải vì bản thân bị xây xát mà vì nghĩ rằng
kính ảnh chụp điện chắc hẳn là nát vụn hết. Dưới những hòm cứ đè xuống mình mỗi
lúc một nặng. Ma-ri bỗng phì cười, vì anh lái xe trẻ, cuống lên mất hết cả
nhanh trí và lô-gích, cứ chạy quanh cái xe bẹp nát, luôn miệng gọi khẽ: “Bà ơi!
Bà! Bà đã chết chưa?”
Cũng may mà chỉ xây xát nhẹ. Việc này Ma-ri giấu không cho ai
biết. Sau đó, nhờ có một bài báo tường thuật tai nạn trên, cùng với mấy mảnh quần
áo giây máu còn bỏ lại trong phòng tắm, người nhà mới hay. Nhưng lúc đó Ma-ri
đã lại lên đường rồi, với chiếc va-li màu vàng cái mũ tròn và trong túi áo có
cái ví đàn ông to tướng bằng da màu đen mà bà đã sắm để “đi đánh giặc”.
Từ năm 1918, Ma-ri bỏ quên cái ví da ấy ở đáy một ngăn kéo,
cho mãi đến 1934, sau khi bà mất, nó mới lại được lấy ra. Trong ví đựng một chứng
minh thư tên là “Bà Qui-ri Cục trưởng cục Điện quang”, một giấy chứng chỉ của
Thứ trưởng Bộ pháo binh và đạn dược “Cho phép bà Qui-ri được sử dụng những ô tô
quân sự”, cùng một chục “công lệnh đặc biệt” của Hội phụ nữ Pháp. Bốn cái ảnh:
một ảnh Ma-ri, một ảnh bố, hai ảnh mẹ và hai cái túi giấy không trước có đựng hạt
cây có lẽ được gieo trồng trong mấy luống vườn của phòng thí nghiệm. Trên túi
có ghi chữ “Cây thuốc Rô-ma-ranh gieo trồng từ tháng tư đến tháng sáu, trong vườn
ươm”.
Trong cuộc sống đáng kinh ngạc đó, bà Qui-ri không hề may lấy
một bộ quần áo đặc biệt nào. Vẫn chỉ mấy cái quần áo cũ, thêm một băng tay chữ
thập đỏ, ghim một cách qua quít trên một cánh tay áo. Không khi nào Ma-ri đeo
voan nữ y tá; ở bệnh viện bà vẫn để đầu trần mà làm việc, chỉ mặc áo khoác trắng
lấy ở phòng thí nghiệm.
Nay đây mai đó, Ma-ri không còn đâu thì giờ chăm sóc đến nhà
cửa. I-ren và E-vơ đan áo cho binh lính ngoài mặt trận mà hai cô đã nhận đỡ đầu
và theo dõi tiến triển của tình hình chiến sự bằng cách ghim những lá cờ nhỏ
vào những điểm chiến lược. Ma-ri buộc các con tuy vắng mặt mẹ cũng phải đi nghỉ
hè. Sự săn sóc của bà chỉ có thể đến đó.
Năm 1916, bà đồng ý cho hai con gái được xung vào một đội gặt,
thay cho nam giới đã nhập ngũ. Trong suốt mười lăm ngày, hai cô cũng phải bó
lúa, rồi làm việc với máy đập. Và năm 1918, Ma-ri cũng để hai con gái ở lại
Pa-ri mặc dầu bọn Đức bắn đại bác khủng bố trước khi rút. Bà không muốn cho con
gái quá cẩn thận, sợ chúng sinh ra đòi hỏi.
E-vơ chưa giúp ích được gì, nhưng I-ren, 17 tuổi, đã bắt đầu
học về điện quang trong khi vẫn chuẩn bị thi bằng cử nhân khoa học ở Xoóc-bon.
Lúc đầu, Ma-ri cho con gái đi theo mình để tập sử dụng máy, về sau I-ren được
giao nhiệm vụ riêng, đến các bệnh viện mặt trận. Ma-ri muốn cho I-ren, tuy còn
ít tuổi đã gánh những trách nhiệm nặng nề, và xông pha nơi chiến trường, ở Phuốc-nơ,
Puc-xtát, A-mien-xơ. Hai mẹ con càng thêm gắn bó với nhau. Giờ đây Ma-ri không
còn đơn độc nữa. Giờ đây bà có thể bàn bạc với con gái về công việc và về những
lo lắng, suy nghĩ của mình như với một người cộng tác, một người bạn.
Trong những tháng đầu chiến tranh, Ma-ri có trao đổi với
I-ren về một việc quan trọng:
“Chính phủ Pháp kêu gọi tư nhân có vàng cho nhà nước vay và sẽ
phát hành quốc trái. Mẹ cũng có một ít vàng đem ra giúp. Đồng thời mẹ sẽ góp
thêm vào đó tất cả những huân chương khoa học bằng vàng, có giữ cũng vô ích.
Nhưng còn một khoản nữa. Giải thưởng Nô-ben lần thứ hai, vì chưa đi lĩnh, nên mẹ
cứ để thành tiền Thụy Điển gửi ở Xtốc-khôm. Đó là tài sản tiền mặt rõ rệt nhất
của chúng ta. Nay mẹ muốn mang về nước số tiền đó và chuyển thành quốc trái.
Chính phủ đang cần. Nhưng có một điều mẹ biết rõ ràng là số tiền ấy có lẽ rồi
cũng mất thôi. Cho nên mẹ không muốn làm việc này mà không bàn kỹ với con”.
Đổi ra Phơ-răng, số tiền thưởng về giải Nô-ben của Ma-ri, trở
thành những chứng từ bổng lộc, những “quốc trái”, những “đóng góp tự nguyện”…
và tản mát đi như Ma-ri đoán trước. Ma-ri đem vàng của mình đến một ngân hàng
Pháp. Người thu ngân chỉ nhận những đồng tiền, và khăng khăng phẫn nộ không muốn
nhận đưa những huân chương vẻ vang đó đến lò đúc, Ma-ri chẳng lấy làm vinh dự về
điều đó. Bà cho sự mê tín đó thật là vô lý, và đành mang về phòng thí nghiệm cả
một bộ huân chương của mình.
*
Những lúc được một giờ rỗi rãi, Ma-ri thường ra ngồi trên một
ghế dài, ngoài vườn phố Pi-e Qui-ri, nơi đây các cây chè bà trồng đang lớn.
Nhìn ngắm Viện Ra-đi-om mới xây dựng và vắng ngắt, Ma-ri nghĩ đến những đồng sự,
lúc này đều ngoài mặt trận, nghĩ đến người phụ tá mà bà ưa thích nhất, nhà bác
học Ba-lan Đa-nít-sơ, đã hy sinh. Bà thở dài. Không biết đến bao giờ mới kết
thúc cuộc chém giết khủng khiếp này? Bao giờ mới lại có thể tiếp tục công tác
khoa học của mình?
Nhưng đối với Ma-ri, mơ mộng, uể oải chẳng được ích gì. Ngay
trong hoạt động thời chiến, vẫn chuẩn bị cho hòa bình. Trước hết phải chuyển dần
toàn bộ thiết bị phòng thí nghiệm từ phố Qui-vi-ê đến phố Pi-e Qui-ri. Từ việc
tháo dụng cụ đóng vào thùng chuyển đến chuyên chở, bốc dỡ, với chiếc ô-tô chiếu
điện chạy như con thoi từ nơi cũ đến nơi mới. Ma-ri đã làm việc cần cù như một
con kiến. Kiến tha lâu đầy tổ. Chẳng bao lâu phòng thí nghiệm mới đã sẵn sàng!
Rất nhiều bao cát được xếp thành một công sự kiên cố che chở cho tòa nhà chứa đựng
những chất phóng xạ. Ngay từ 1915, trong khi vẫn còn chiến tranh, Ma-ri đã đi
Boóc-đô chuyển trữ lượng Ra-đi của mình về Pa-ri.
Chất Ra-đi, cũng như quang tuyến X, có nhiều tác dụng trị bệnh,
Ma-ri đem dùng gram Ra-đi của mình vào một “khoa cung cấp khí tỏa”. Cứ cách tám
ngày, bà lại lấy khí tỏa mà chất Ra-đi đã toát ra, đựng vào ống thủy tinh rồi
hàn kín gửi đến bệnh viện lớn của Pa-ri và các trung tâm y tế khác. Những ống
khí tỏa đó được dùng để điều trị các vết sẹo “biến chứng” và vết thương ngoài
da khác.
Xe chiếu điện, trạm chiếu điện, khoa khí tỏa… Thế chưa đủ,
Ma-ri băn khoăn vì thiếu người sử dụng máy có chuyên môn. Bà xin mở và đảm nhiệm
một khoa giảng dạy về điện quang. Ít lâu sau, hơn hai chục học sinh khóa đầu được
tập trung đến viện Ra-đi-om. Chương trình gồm có lý thuyết về điện và tia X, thực
hành và môn giải phẫu. I-ren cũng được tham gia dạy khóa này.
Một trăm năm mươi nữ y tá về điện quang do Ma-ri đào tạo từ
1916 đến 1918 được tuyển từ đủ các thành phố. Có những người khi lấy vào văn
hóa rất kém. Lúc đầu uy tín của Ma-ri Qui-ri làm họ rất rụt rè. Nhưng Ma-ri vốn
có tài làm cho khoa học dễ hiểu đối với những người bình thường nhất. Ma-ri lại
thích làm gì cũng phải chu đáo. Và khi một chị học viên thực tập xưa kia đi ở,
lần đầu tiên rửa được hoàn hảo một cái kính chiếu điện thì nhà nữ bác học mừng
rỡ như là một thành tích của chính mình.
Nhiều nước lần lượt nhờ đến kiến thức về chuyên môn của bà
Qui-ri. Từ năm 1914, Ma-ri nhiều lần đến thăm các bệnh viện Bỉ. Năm 1918, bà đã
đi Bắc Ý để nghiên cứu tài nguyên của nước này về chất phóng xạ. Ít lâu sau, bà
lại tiếp nhận ở phòng thí nghiệm của mình hơn hai chục nhân viên quân sự Mỹ đến
học về điện quang.
*
Môn điện quang làm cho Ma-ri tiếp xúc với nhiều người rất
khác nhau. Nhiều bác sĩ giải phẫu, hiểu rõ ích lợi của tia X, nên coi bà như một
cộng sự rất quý. Một số người khác, ít am hiểu hơn, nhìn ngắm những máy móc dụng
cụ của Ma-ri với cặp mắt nghi ngờ mô phạm. Sau vài lần chiếu điện có kết quả mỹ
mãn họ mới ngạc nhiên và chịu rằng “làm như thế thì được đây” và họ không thể
tin ở mắt mình khi ở đúng chỗ do Ma-ri xác định, lưỡi dao mổ của họ đã khêu được
mảnh đạn trước đã tìm mãi không thấy trong vết thương nhức nhối. Được thuyết phục,
họ không ngớt lời ca ngợi việc này như một phép mầu nhiệm. Thấy Ma-ri ăn mặc xuềnh
xoàng, lại không xưng tên, có những bà sang trọng, nhận đỡ đầu cho các bệnh viện,
thường tỏ ra khinh khỉnh, và đôi khi coi như một kẻ dưới. Những sự hiểu lầm đó,
chỉ làm cho nhà nữ bác học thích thú.
Con người vốn lạnh lùng và đăm chiêu đó, đối với thương binh
lại niềm nở tuyệt vời. Nhiều thương binh trước đây là nông dân, là công nhân
trông thấy máy Rơn-ghen thì sợ mà ngại đau. Bà làm họ yên tâm:
– Rồi các bạn xem, chỉ như là chụp ảnh thôi.
Đối với những người lính đó, Ma-ri đúng là hình ảnh của sự dịu
dàng, một giọng êm ái, đôi bàn tay nhẹ nhàng, hết sức kiên nhẫn và rất đỗi trân
trọng sinh mệnh con người. Thật thế, để cứu một mạng người, để tránh cho một
thương binh đau đớn, khỏi bị cưa cụt, tàn phế, Ma-ri sẵn sàng nhận sự cố gắng nặng
nhọc nhất và chỉ bỏ cuộc khi đã tìm hết cách cứu chữa.
Không bao giờ Ma-ri nói đến những nỗi vất vả không lời nào tả
nổi, những nguy cơ hiểm nghèo, hoặc tác hại tàn nhẫn của tia X và của chất
Ra-đi trên cơ thể của mình. Trái lại vẻ mặt bà lúc nào cũng bình thản vô tư,
đôi khi lại còn vui nữa, chưa bao giờ Ma-ri tươi tỉnh như lúc này. Chiến tranh
đã dạy cho Ma-ri, tính vui vẻ là biểu hiện đẹp nhất của lòng dũng cảm.
Lòng Ma-ri có vui gì cho cam! Bao lo âu thầm kín không lúc
nào buông tha bà, sự nghiệp dở dang, rồi họ hàng ở Ba-lan bấy lâu vắng tin. Lại
thêm vào đó lòng ghê tởm sự cuồng loạn đang xâu xé thế giới. Hình ảnh hàng
nghìn thân hình tả tơi, rên la, quằn quại được chính mắt thấy, tai nghe, sẽ còn
ám ảnh cuộc đời của Ma-ri mãi về sau này.
Tiếng súng đại bác báo hiệu đình chiến đến với Ma-ri khi bà
đang ở phòng thí nghiệm. Bà muốn treo cờ lên viện Ra-đi-om, và cùng với người cộng
tác của mình là cô Mác-ta Clanh đi khắp các cửa hiệu, không đâu còn cờ Pháp.
Sau đành phải mua vải vụn ba màu đưa bà phụ việc khâu vội, và treo lên các cửa
sổ. Ma-ri run lên vì xúc động, bà cùng cô Clanh nhảy lên chiếc xe chiếu điện cũ
kỹ, ọp ẹp, xây xát sau bốn năm lăn lộn. Một anh lao công của phòng Lý-hóa-sinh
ngồi vào cầm lái, đảo qua các phố, giữa những làn sóng người sung sướng và
nghiêm nghị. Đến quảng trường Công Coóc, người đông quá ô-tô không tiến được.
Nhiều người trèo lên hai bên thành xe và leo cả lên mui xe. Và khi chiếc xe của
bà Qui-ri tiếp tục đi, nó đã biến thành một xe khách, có đến hơn chục người ngồi
thêm trên mui như một tầng thượng, suốt buối sáng hôm đó.
*
Đối với Ma-ri, có hai cuộc thắng. Nước Ba-lan, sống lại từ
đám tro tàn, và sau một thế kỷ rưỡi bị đô hộ, khôi phục được độc lập.
Thời thơ ấu tủi nhục, và tuổi trẻ đấu tranh bỗng hiện lại
trong tâm trí Ma-ri. Không phải vô ích mà xưa kia, cô Xkhua-đốp-xka đã phải giấu
giếm mưu mẹo đối với những nhân viên của Sa-hoàng, lén lút tìm đến với các bạn
học ở trường Đại học di động, trong những gian phòng lụp xụp ở Vác-xô-vi, hoặc
dạy cho các em bé ở nông thôn Schuc-ky biết chữ.
Ma-ri viết thư cho anh Dô-dếp tháng Chạp 1920:
“Thế là chúng ta xưa “sinh ra trong cảnh nô lệ, bị gông cùm
ngay khi còn trong nôi”[51], ngày nay chúng ta đã được thấy đất nước
đứng dậy như lòng hằng ước mơ. Chúng ta đều hy vọng được sống những giờ phút
này, những tưởng phải đến đời con, đời cháu có lẽ mới được trông thấy. Thế mà
ngày nay, giờ phút đó đã đến! Đúng là nước ta đã phải trả giá đắt cái hạnh phúc
ấy và sẽ còn phải trả nữa. Song những đám mây còn phủ lên tình trạng hiện tại
làm sao có thể so sánh với nỗi đắng cay và sự thất vọng sẽ vò xé tâm hồn ta nếu
như sau chiến tranh, nước Ba Lan còn bị xiềng xích và chia cắt? Cũng như anh,
em tin tưởng ở tương lai”.
Hy vọng đó, ước mơ đó, không làm khuây khỏa những lo âu riêng
tư của Ma-ri. Chiến tranh đã làm hao mòn sức khỏe của bà. Chiến tranh đã làm bà
phá sản. Tiền gửi chính phủ Pháp đã tan như tuyết dưới nắng. Và khi nhìn lại
tình hình tài chính của mình, Ma-ri không khỏi lo ngại. Hơn năm mươi tuổi rồi,
bà vẫn còn nghèo. Để sống với con cái, chỉ còn trông vào lương giáo sư: Mười
hai nghìn phơ-răng một năm. Liệu sức khỏe có còn cho phép bà tiếp tục dạy học
và đảm đang công việc giám đốc phòng thí nghiệm, cho đến tuổi về hưu không?
Trong khi vẫn duy trì công việc thời chiến của mình (những học
sinh thực tập về điện quang vẫn còn tiếp tục đến nghe giảng ở viện Ra-đi-om
trong hai năm nữa) Ma-ri lại trở lại với sự ham mê của đời mình là ngành vật
lý. Bà viết một quyển sách về “Điện quang và chiến tranh”, ca ngợi lợi ích của
những phát minh khoa học và giá trị nhân đạo của chúng, và rút từ trong kinh
nghiệm đau đớn vừa qua, thêm nhiều lý lẽ mới để thiết tha yêu quý khoa học.
“Lịch sử ngành điện quang thời chiến là một thí dụ rất sắc
bén về phạm vi áp dụng rộng rãi không ai ngờ đến được của các phát minh khoa học
thuần túy trong một vài điều kiện nào đó”. Trước chiến tranh tia X chỉ được sử
dụng hạn chế. Cái thảm họa lớn đã xâu xé nhân loại, với một số nạn nhân tăng
lên khủng khiếp, đồng thời đã làm nẩy sinh như một phản ứng, lòng ham muốn cứu
vãn tất cả cái gì đó có thể cứu được, và tìm mọi cách giành giật và che chở
sinh mạng con người.
Điều mà lúc đầu tưởng là khó đã trở thành dễ và có ngay giải
pháp.
Dụng cụ và người sử dụng được nhân lên, ngày càng nhiều. Người
chưa biết thì học. Kẻ thờ ơ trở nên tích cực. Như có phép lạ, phát minh khoa học
đã chinh phục xong lĩnh vực hoạt động tự nhiên của nó. Khoa học chữa bệnh bằng
Ra-đi, áp dụng những tia phát ra bởi các chất Ra-đi vào y học, cũng sẽ tiến triển
như vậy”
Nên kết luận thế nào đây về sự việc không ngờ đó đã đến với
những quang tuyến mà khoa học mới phát minh ra cuối thế kỷ 19? Rõ ràng là nó
làm ta thêm tin tưởng sâu sắc vào sự tìm tòi vô tư, càng thêm trân trọng và
khâm phục sự tìm tòi đó”.
Khó mà nhận ra đâu là những sáng kiến của Ma-ri Qui-ri và tầm
quan trọng của nó trong quyển sách kỹ thuật khô khan trên. Toàn một cách nói
không xưng tên, một niềm khăng khăng tự xóa mình, giấu mình trong bóng tối! Đối
với Ma-ri, cái “tôi” không chỉ đáng ghét, cái “tôi” không có. Công trình của bà
hình như tạo ra do những thế lực bí ẩn, lúc thì bà gọi là “tổ chức y tế”, lúc
thì là “người ta” hay quá đi nữa là “chúng tôi”. Sự khám phá ra chất Ra-đi cũng
lẩn trong câu “những quang tuyến mà khoa học mới phát minh vào cuối thế kỷ thứ
19”. Và nếu buộc lòng phải nói đến mình, thì người viết cố hòa lẫn trong quần
chúng vô danh:
“Cũng muốn phục vụ như rất nhiều người khác, việc quốc phòng
trong những năm vừa qua, tôi đã hướng ngay về ngày điện quang”.
Chú thích:
[51] Trích trong quyển “Pan Tadeusz” của nhà thơ Ba Lan A-dam
Mich-ki-e-vich (Adam Mickienrica) (1798-1855)
Chương 22
hòa bình
Quan hệ được nối lại giữa những nhà bác học của các nước thắng
trận và các nước bại trận. Bà Qui-ri tỏ ra thành thật muốn quên cuộc xô xát vừa
qua. Tuy nhiên bà cũng dè dặt không có những biểu hiện vồn vã, như một số đồng
nghiệp. Vì nước Đức là nước đã gây hấn, nên trước khi tiếp một nhà bác học người
Đức, Ma-ri không quên hỏi: “Ông ta có ký Tuyên ngôn của 93 nhà trí thức không?”
(tán thành những biện pháp khủng bố đối với nhân dân Pháp- ND). Nếu có, thì bà
Qui-ri chỉ tỏ ra lịch sự. Còn không, thì bà thân ái hơn, và nói chuyện cởi mở
hơn về khoa học.
Điều đó nói lên nhận thức rất cao của Ma-ri về trách nhiệm của
người trí thức trong thời chiến. Bà không nghĩ rằng những nhà tư tưởng lớn có
thể đứng “trên cuộc chiến đấu”: trong bốn năm chiến tranh, Ma-ri đã một lòng phục
vụ nước Pháp. Và đã cứu sống bao nhiêu người. Nhưng có những việc mà bà cho rằng
người trí thức không thể thỏa hiệp. Bà không đồng tình với những nhà văn và nhà
bác học bên kia sông Ranh đã ký vào bản Tuyên ngôn. Đối với Ma-ri, người trí thức
sẽ phản lại sứ mệnh của mình nếu không kiên trì bảo vệ cho văn minh và tự do tư
tưởng.
Sau khi tham gia vào cuộc chiến đấu của nước Pháp, Ma-ri đã
không trở thành hiếu chiến, hoặc bè phái. Năm 1919 chúng ta gặp lại một nhà bác
học chân chính đứng đầu phòng thí nghiệm của mình.
Bà đã từng khao khát cái ngày mà những phòng thí nghiệm mới
xây dựng ở phố Pi-e Qui-ri sẽ sôi nổi hoạt động. Ý nghĩ đầu tiên của Ma-ri là
không để gián đoạn công việc đặc sắc đã làm được trong thời chiến. Việc sử dụng
khí tỏa của Ra-đi và phân phối những ống thủy tinh có “hoạt tính” đến các bệnh
viện được tiếp tục dưới sự điều khiển của bác sĩ Rơ-gô sau khi phục viên, đã trở
về phụ trách khu Sinh vật học. Còn ở khu Vật lý, bà Qui-ri và những người cộng
tác lại tiếp tục chương trình bỏ dở từ 1914, và bắt đầu những thí nghiệm mới.
Cuộc sống đều đặn hơn. Đã đến lúc nghĩ đến tương lai của hai
con gái, giờ đây là hai thiếu nữ khỏe mạnh, lớn bằng mẹ. I-ren một nữ sinh viên
hai mươi mốt tuổi, trầm lặng, thăng bằng, không hề do dự một chút về chí hướng
của mình. I-ren muốn trở thành một nhà vật lý đi sâu nghiên cứu về Ra-đi. Cô
noi theo con đường Pi-e và Ma-ri đã đi một cách giản đơn, tự nhiên, đáng khâm
phục. Cô không hề băn khoăn là mình sẽ có thành tích đạt rực rỡ như mẹ mình hay
không và cũng không hề để tư tưởng mình bị ảnh hưởng bởi một tên tuổi quá lừng
lẫy. I-ren thực sự yêu khoa học, lại rất có khiếu và tham vọng duy nhất của cô
là sẽ được làm việc mãi trong phòng thí nghiệm mà chính mắt cô thấy xây dựng
lên. Từ năm 1918, I-ren chính thức được cử làm nhân viên pha chế.
Trường hợp tốt đẹp của I-ren làm cho Ma-ri quá dễ dàng nghĩ rằng
thế hệ trẻ tìm hướng đi không khó gì trong bàn cờ ngoắt ngoéo của cuộc đời. Những
nỗi băn khoăn và những sự thay đổi chiều hướng của E-vơ làm cho bà thất vọng.
Do quá tôn trọng tự do tư tưởng của các con, đánh giá quá cao sự khôn ngoan của
chúng, Ma-ri không hề lấy quyền làm mẹ buộc E-vơ phải nghe. Ma-ri vẫn muốn E-vơ
sau này trở thành thầy thuốc và đi sâu nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của Ra-đi.
Nhưng bà không hề ép con phải đi theo con đường đó. Với một sự nhẫn nại rất
kiên trì, bà luôn luôn chiều ý và còn hưởng ứng những thay đổi bất thường của
con gái. E-vơ muốn học nhạc, Ma-ri cũng mừng thấy con có ý thích đó, để E-vơ tự
chọn thầy dạy, tự chọn cách học. Đối với một đứa con gái đầy do dự, đáng ra cần
được dìu dắt một cách cương quyết, Ma-ri lại quá thả lỏng. Làm sao Ma-ri có thể
thấy được sai lầm đó của mình trong khi cuộc đời của bản thân luôn luôn được
linh tính và bản năng không thể lầm lẫn của thiên tài dắt dẫn đến hoàn thành sứ
mệnh mặc cho bao trở ngại lớn lao?
Bà theo dõi, cho đến phút cuối cùng của sự phát triển của hai
con gái, tính tình khác hẳn nhau, không hề tỏ ra yêu con nào hơn. I-ren và E-vơ
luôn luôn thấy ở Ma-ri một người bạn nồng nhiệt, một bàn tay che chở trong mọi
trường hợp khó khăn. Sau này, khi I-ren có con, Ma-ri lại trông nom săn sóc hai
thế hệ.
Ma-ri viết cho I-ren và con rể là Phrê-đê-rích Giô-li-ô
Qui-ri(Frédéric Joliot Curie) (2-12-1928):
“Các con yêu dấu,
Mẹ gởi tới các con những lời chúc mừng năm mới với một năm đầy
sức khỏe vui vẻ, làm việc hăng say, một năm mà ngày nào các con cũng cảm thấy
vui sướng, không phải đợi ngày qua đi rồi mới thấy hứng thú, mà không phải chỉ
mong chờ hứng thú ở những ngày sẽ tới. Càng về già, người ta càng thấy rằng biết
hướng cái hiện tại là một đức tính quý báu.
Mẹ đang nghĩ tới bé Hê-len (Hélène), và mẹ chúc cho hạnh phúc
của cháu. Cảm động biết mấy khi nhìn con người nhỏ bé đó nảy nở và đợi chờ tất
cả ở các con với một niềm tin cậy vô bờ bến, tưởng như các con có thể mãi mãi
che chở và chống mọi đau đớn, bệnh hoạn.
Một ngày kia, cháu sẽ hiểu rằng khả năng bố mẹ nó không nhiều
được như thế – tuy nhiên người ta ai cũng ước mơ làm được tất cả cho con cái
mình. Ít ra ta cũng phải cố gắng để cho con trẻ có một sức khỏe tốt, một tuổi
thơ êm đềm và trong sáng trong tình thương yêu làm cho lòng tin của chúng có thể
kéo dài mãi mãi”.
Ma-ri viết thư cho các con gái 3-9-1919:
“Mẹ không lúc nào không nghĩ đến bao công việc mà mẹ cùng các
con sẽ phải làm trong những năm tới, mẹ nghĩ đến mỗi con, đến những phút êm đềm,
và cả những phút lo âu mà các con đã cho mẹ. Đối với mẹ, các con là nguồn của cải
to lớn nhất, và mẹ mong rằng cuộc đời sẽ còn dành cho mẹ nhiều năm chung sống tốt
lành với các con”.
Phải chăng sức khỏe của Ma-ri đã khá hơn sau những năm chiến
tranh căng thẳng? Phải chăng tuổi già đã làm cho tâm hồn Ma-ri thư thái dần?
Tang tóc và tật bệnh giờ đây không còn như một gọng kìm siết chặt vào cuộc đời
bà như xưa nữa, thời gian đã làm nhạt dần mọi phiền muộn.
Thư cho chị Brô-ni-a, 1 tháng 8 năm 1921:
“… Đời em đã từng đau khổ đến nỗi không còn biết đau khổ hơn
được nữa. Bây giờ chỉ một tai họa thực sự mới có thể làm cho em thấm thía. Em
đã học tính chịu đựng và cố tìm ra những niềm vui nhỏ trong bức tranh xám xịt của
cuộc sống hàng ngày.
Chị hãy tự nhủ rằng mình có thể làm nhà, trồng cây, tưới hoa,
nhìn cây, nhìn hoa nở và không nghĩ đến gì nữa. Chúng ta chẳng còn sống được mấy
tí, việc gì cứ phải làm khổ mình mãi?”
I-ren rất hăng say thể thao, thường khuyến khích mẹ theo
mình, đi bộ cùng mẹ rất lâu, rủ mẹ đi trượt băng, cưỡi ngựa và cả trượt tuyết nữa.
Mùa hè đến, Ma-ri đã trở về với các con ở Brơ-ta-nhơ
(Bretagne). Ở Lác-cu-ét, một vùng rất đẹp, không đông đúc, ồn ào. Ba mẹ con như
ba chị em đã sống những ngày hè thần tiên.
Dân xóm này ở ngay bờ biển Măng-sơ, gần tỉnh Panh-pôn, toàn
làm nghề đi biển, làm ruộng … và làm giáo sư ở Xoóc-bon.
Việc nhà sử học Xô-nhê-bôt và nhà sinh vật học Luy-La-pích
tìm ra được thôn Lác-cu-ét này năm 1895, dưới con mắt giới giáo sư đại học cũng
quan trọng như Crit-xtôp Cô-lôm tìm ra châu Mỹ. nó cũng trở thành một cái trại
của những nhà bác học mà một nhà báo hóm hỉnh gọi là “Pháo đài khoa học”. Ma-ri
đến sau, trước còn ở nhà dân, sau thuê và cuối cùng mua hẳn một cái nhà nhỏ ở
đây. Bà đã chọn một nơi khuất nẻo nhất, một nơi hóng gió nhất nhìn ra một khoảng
biển êm lặng có rất nhiều hòn đảo lớn nhỏ ngăn không cho sóng ngoài khơi vỗ tới
bờ.
Ma-ri xưa nay vốn thích loại nhà “đầu sóng ngọn gió”. Những
nơi nghỉ hè mà bà thường thuê hoặc sau này bà cho xây dựng thường đều chung một
điểm: giữa một khoảnh đất rộng, một ngôi nhà nhỏ bé. Buồng ở có thể tiều tụy, với
ít đồ đạc sơ sài, nhưng quang cảnh thì tuyệt đẹp.
Người qua lại thưa thớt mà Ma-ri thường gặp mỗi buổi sáng –
bà lão lưng khom, bác nông dân cục mịch và trẻ con, cười để lộ mấy cái răng
sún, đều niềm nở chào Ma-ri với giọng địa phương kéo dài từng tiếng chậm rãi:
“chào bà Qui-ri”. Ma-ri cũng chào lại theo cách nói của vùng này: “chào cụ,
chào ông”. Không phải ngẫu nhiên, và cũng không vì phát minh ra chất Ra-đi mà
dân ở đây quý mến Ma-ri. Đó là vì họ đã nhận thấy về tính tình, nếp sống, bà
không khác gì một chị em nông dân vậy.
Vùng nghỉ mát của Ma-ri và các bạn đồng nghiệp của bà gồm mười
một nóc nhà.
Nơi tập họp, là một túp lều thấp lè tè; tầm xuân, lạc tiên và
nho dại leo phủ kín cả nóc. Một cái vườn thoai thoải trồng hoa đủ màu sắc. Giáo
sư đại học đến ở đây, là cụ Xê-nhô-bôt một ông già bảy mươi tuổi người bé nhỏ,
rất nhanh nhẹn, hơi gù, lúc nào cũng khoác bộ com-lê trắng có vạch đen, vá nhiều
chỗ và đã ngã màu vàng. Dân vùng này gọi là cụ “Xê-nhô”, còn bạn bè cùng đến
đây nghỉ mát thì gọi đùa là “quan ba”. Suốt đời sống độc thân cụ được tất cả những
người xung quanh quý mến.
Từ nhà Ma-ri đến nơi tập hợp phải xuống một cái dốc quanh co,
ngoằn ngoèo. Mươi mười lăm người đã có mặt ở đây và đang đi lại đợi xuống thuyền
chèo ra các cù lao. Trông họ chẳng khác gì một đoàn người di cư hoặc một đội
nghệ sĩ dân gian sống lang thang, nay đây mai đó. Và Ma-ri như vào một môi trường
hòa hợp, không làm ai ngạc nhiên gì cả.
Ma-ri đội cái mũ vải đã bạc màu, mặc một cái váy cũ, một cái
áo choàng, kiểu rất xưa, đưa thợ may trong làng chữa lại, không ra áo nữ cũng
chẳng thành áo nam, chân không tất chỉ đi đôi dép nhẹ. Bên cạnh một cái túi vải
đựng áo tắm và áo may-ô, như mười lăm cái túi khác vất rải rác trên bãi bể.
Nếu là một nhà báo tình cờ đến đây bạn sẽ thích thú như thế
nào! Cẩn thận đấy, để khỏi xéo lên một Viện sĩ hàn lâm – đúng như vậy, đang nằm
kéo dài trên cỏ – hoặc va phải một giải Nô-ben đấy! Người ta ở đây không thiếu.
Bạn muốn nói vật lý ư? Đã có Giăng Pe-ranh, Ma-ri Qui-ri, Ang-đrê Đờ-biếc-nơ,
Vích-to O-giê. Toán cao cấp, toán vi phân ư? Mời bạn gặp E-min Bô-ren, cái người
khoác áo tắm trông như vua La-mã trong bộ áo trào! Vật lý vũ trụ? Lu-y La-pic,
Sác-lơ Mô-ranh, sẽ tiếp bạn, còn nhà sử học Xê-nhô-bôt trẻ em ở đây vẫn kháo
nhau rằng đó quả là một ông thánh, thuộc sử như cháo.
Nhưng cái lạ là, tất cả các nhà đại học ấy không hề nói đến vật
lý sinh vật, sử hay toán. Ở đây, không có tôn ti, trật tự và ngay đến những thường
thức xã giao cũng không. Ở đây, xã hội không chia thành lão làng và môn đệ, đàn
anh và đàn em, mà chỉ bốn hạng người: kẻ “ngoại đạo” chưa quen biết tập tục của
bộ lạc này nếu lạc rong vào đây cần phải tống đi cho nhanh; những “con voi” gồm
mấy bạn không có khiếu lắm về môn bơi lội: họ được thu nhận, nhưng thành cái
bung xung cho mọi người chế giễu. Sau đến “thủy thủ” xứng đáng là dân
Lác-cu-ét. Cuối cùng là những thủy thủ ưu tú, những chuyên gia về các luồng nước
ở bãi biển này, những nghệ sĩ bơi sải và chèo thuyền, được mọi người tặng danh
hiệu “cá sấu”. Ma-ri không hề bị coi là kẻ “ngoại đạo”, nhưng cũng không thể có
tham vọng làm “cá sấu”, chỉ sau một thời gian ngắn làm “voi” coi như để tập sự
đã trở thành một “thủy thủ”.
Hình ảnh Ma-ri bơi ở Rôc-Vrét, giữa dòng nước mát lạnh, trong
vắt và sâu, là một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất mà tôi còn giữ được ở mẹ
tôi. Được I-ren và tôi hướng dẫn theo đúng phương pháp, mẹ tôi bơi một kiểu “bướm”
rất đẹp. Lúc này, người ta không còn nghĩ đến bộ tóc hoa râm lẩn trong chiếc mũ
bơi, và những nét nhăn trên mặt, mà chỉ ngắm thân hình mảnh dẻ và mềm mại, đôi
tay trắng muốt, cử chỉ thoăn thoắt và duyên dáng như con gái. Ma-ri tự hào về sự
nhanh nhẹn, về tài bơi lội của mình. Giữa mấy vị giáo sư ở Xoóc-bon vẫn có ganh
đua thể thao thầm lặng. Ma-ri đo thật chi ly các khoảng cách mà các đối thủ của
mình bơi được và tuy không thách thức bơi thi công khai, bà vẫn ra sức để phá kỷ
lục bơi nhanh và bơi xa của các giáo sư trường đại học. Hai con gái bà vừa là
huấn luyện viên vừa là người tâm sự:
– Có lẽ mẹ còn bơi giỏi hơn bác Bô-ren, nhỉ?
– Cố nhiên rồi! Mẹ hơn xa, so sánh thế nào được!
– Bác Pe-ranh hôm nay bơi được xa đấy. Nhưng hôm qua, mẹ còn
bơi xa hơn nữa, con còn nhớ không?
– Có, con trông thấy, mẹ bơi rất hay. So với năm ngoái thì mẹ
đã tiến rất nhiều.
Ma-ri rất thích những lời khen đó mà bà biết là chân thật, ở
lớp người cùng tuổi, bà quả là một trong những tay bơi giỏi nhất.
Tắm xong, bà ngồi phơi nắng, ăn một mẩu bánh mì khô đợi xuồng
về, thỉnh thoảng lại thốt lên: “Thích thật!”
Khách du thuyền ai về nhà nấy nghỉ ngơi để ăn trưa. Đến khoảng
hai giờ, họ lại tụ tập trước nhà ông xóm trưởng để đợi đi chiếc thuyền buồm trắng
E-glăng-tin. Bà Qui-ri lần này không đi. Bà ngồi nhà sửa một vài bài viết về
khoa học, hoặc cầm cái mai, cái kéo xén cây, ra vườn. Nhiều khi chân tay trầy
da chảy máu. Thế còn khá. Có khi I-ren và E-vơ đi chơi về, thấy mẹ ngồi ôm chân
vì bị sai khớp, hoặc ngón tay tím bầm do búa lỡ nện phải.
Sáu giờ chiều, Ma-ri lại ra biển tắm lần nữa, rồi quay về nhà
ông xóm trưởng bằng cái cửa lúc nào cũng mở. Trên một ghế bành, sau cái cửa sổ
to trông ra vịnh, có một bà cụ ngồi. Cụ rất già và rất đẹp lão, nói chuyện rất
có duyên. Đó là cụ Ma-ri-li-ê. Chiều nào cụ cũng ngóng chiếc thuyền buồm trắng
E-glăng-tin trở về. Ma-ri ngồi đợi bên cụ. Kìa, những cánh buồm, vàng chói dưới
ánh nắng hoàng hôn, hiện trên mặt biển mờ nhạt. Thuyền cập đất liền, đoàn đi
chơi biển, trên con đường độc đã về. I-ren và E-vơ hiện ra trước tiên, cánh tay
trần xám nâu vì phơi nắng, tóc cài hoa cẩm chướng đỏ do bác Xê-nho-bốt hái ở vườn
tặng, mỗi lần đi chơi như thế.
Cặp mắt sáng ngời của hai cô gái, nói lên sự say sưa của
chúng trong chuyến đi chơi ở cửa sông Tri-ơ, hoặc cặp bến ở đảo Mô-đê. Ở đây cỏ
mọc rất mịn, quyến rũ họ vào những cuộc thi chạy mệt lả, mà mọi người đều tham
gia. Cả cụ già bảy mươi, không hề phân biệt bằng cấp hoặc giải Nô-ben. Ai chạy
giỏi thì giữ được uy thế. Ai chạy chậm thì bị bắt làm tù, và phải chịu để cho
các tướng lĩnh trao đổi như một lũ nô lệ.
Sau bữa cơm chiều, Ma-ri mặc một cái áo choàng cũ đã 20 năm,
khoác tay hai con gái, lại đi bộ đến nhà họp. Đây là buổi họp thứ ba trong
ngày, để chơi đố chữ, đánh cờ hoặc đọc sách. Ma-ri được xếp vào hạng vô địch
trong môn xếp chữ, với những chữ cái xếp bằng bìa, rút từ một cái túi.
Những ngày đại hội, người ta đóng kịch, ca hát, ngâm thơ, ca
ngợi những sự kiện đáng ghi nhớ trong mùa: một cuộc thi thuyền, việc vận chuyển
một tảng đá lớn để mở lối cho thuyền cập bến, một chuyện suýt đắm thuyền nửa
bi, nửa hài, hoặc kể tội một con mèo-già-hóa-cáo vẫn đến phá hoại vườn rau ông
nhà trưởng xóm…
Nói sao hết niềm vui thích tuyệt diệu này, tết bằng ánh sáng,
lời ca, nụ cười trong trẻo, tình bạn thẳng thắn và hồn nhiên giữa lớp trẻ với
các đàn anh của họ. Cuộc sống đó để lại trong Ma-ri và hai con gái những kỷ niệm
phong phú nhất, mà trước hết là sự giản dị.
Không nhà triệu phú nào có thể tìm thấy ở bất cứ bãi biển nào
những niềm vui thích sâu sắc hơn, tế nhị hơn, thanh cao hơn các nhà thể thao
sáng suốt của trường Xoóc-bon trên mảnh đất Brơ-ta-nhơ này. Mà khung cảnh cũng
chỉ là một cái làng nhỏ xinh xắn – như rất nhiều làng khác – Thành công này rõ
ràng có phần đóng góp của những nhà bác học hàng năm đến tụ tập ở đây….
Đến đây, bạn đọc chắc phải khẽ thốt lên: “Trời! Sao lại có những
người thẳng thắn, thuần phục như vậy! Thân ái, tin yêu nhau như vậy!”. Bạn bè của
Ma-ri, từ người đã thấy bà khi ra đời, đến người quen biết lúc bà tuổi già, có
lẽ không ai là nhân vật hấp dẫn, đối với những nhà viết tiểu thuyết sính màu ảm
đạm. Họ sẽ ngạc nhiên, khi thấy có những gia đình như gia đình Xkhua-đốp-xki hoặc
Qui-ri, ở đây cha mẹ con cái không thù ghét nhau, ở đây con người chỉ có tình
thương, không ai nghe trộm ở cửa, không ai nghĩ đến phản trắc, đến gia tài,
không ai giết ai, mà người ta lại còn hoàn toàn trung thực! Và những môi trường
như các nhóm giáo sư đại học người Pháp hoặc người Ba-Lan tuy cũng có những nhược
điểm, chưa hoàn thiện như tất cả mọi người khác, nhưng đều tha thiết với một lý
tưởng không bao giờ bị phai mờ vì đắng cay hoặc xảo trá.
Ở đây, con mắt tinh đời nhất cũng khó mà phân biệt được nhà
bác học và người mới đi vào nghiên cứu, ai nghèo và ai giàu. Trong những ngày nắng
ráo cũng như những hôm mưa rào vùng Brơ-ta-nhơ, tôi chưa hề một lần nào nghe
nói đến tiền. Người cao tuổi nhất trong chúng tôi là cụ Xê-nhô-bôt đã nêu một tấm
gương cao cả và kín đáo. Cụ không nói lý thuyết hoặc đạo đức, nhưng trong cư xử,
cụ tỏ ra rộng rãi. Cái nhà của cụ luôn rộng mở, thuyền du lịch E-glăng-tin và mấy
chiếc ca-nô của riêng cụ, cụ để mọi người dùng chung. Và vào những dịp dạ hội,
trong ánh sáng tưng bừng của đèn lồng mỗi khi đàn ác-coóc cử lên một điệu nhảy
pôn-ca dân vũ Ba Lan, hoặc một điệu múa hai đôi đối đáp theo dân vũ Anh… thì từ
chủ nhà đến người giúp việc, từ viện sĩ Hàn lâm đến cô thôn nữ, từ người thủy
thủ Brơ-ta-nhơ đến cô gái Pa-ri ai nấy đều tham gia hồn nhiên vui vẻ.
Chương 23
châu mỹ
Một buổi sáng tháng năm 1920, một phụ nữ nhỏ nhắn, mảnh khảnh
chân đi tập tễnh do một tai nạn từ bé bước vào Viện Ra-đi-om. Đó là bà
Mê-lô-nây chủ bút một tờ thời báo lớn ở Niu-Yoóc. Nhìn thân hình bên ngoài khó
mà đoán được đó là một phụ nữ hoạt động tháo vát. Tóc hoa râm, khuôn mặt xanh
xao, rất đẹp, đôi mắt đen to, thơ mộng. Giọng run run, người khách hỏi chị thường
trực không biết bà Qui-ri có nhớ buổi hẹn gặp mặt hôm nay không….
Buổi hẹn này, bà Mê-lô-nây mong đợi nó từ lâu. Bà là một
trong những người khâm phục và ngưỡng mộ cuộc đời và sự nghiệp của Ma-ri
Qui-ri. Và vì còn là một phóng viên nổi tiếng, bà đã tìm mọi cách để dến gần
con người mà mình chiêm ngưỡng.
Sau rất nhiều lần xin phỏng vấn không kết quả, nhà báo Mỹ nhờ
một bác sĩ quen thân, gửi Ma-ri bức thư khẩn khoản sau đây:
… “Cha tôi là một thầy thuốc, vẫn từng nói rằng không thể thổi
phồng tầm quan trọng, chẳng có gì đáng kể của con người. Nhưng đối với tôi, từ
hai mươi năm nay, bà là một nhân vật quan trọng. Và chỉ xin bà cho được gặp vài
phút”…
Ngày hôm sau, bà được Ma-ri Qui-ri tiếp ở phòng thí nghiệm của
nhà bác học.
Về sau, bà Mê-lô-nây viết:
“Cửa mở, một người đàn bà bước vào, xanh xao và nhút nhát.
Tôi chưa từng thấy một vẻ mặt buồn đến vậy. Bà mặc một cái áo vải bông đen,
khuôn mặt rất đẹp, dịu dàng và kiên nhẫn, biểu lộ một vẻ lơ đãng, thoát tục của
những người suốt đời cống hiến cho khoa học. Tôi bỗng có cảm giác như mình đến
quấy rầy.
Thế là tôi trở nên nhút nhát hơn cả bà Qui-ri nữa. Từ hơn hai
chục năm, tôi là một nhà báo chuyên nghiệp. Nhưng đứng trước người đàn bà yếu ớt
mặc đồ đen đó, tôi không hỏi được một câu nào. Tôi ấp úng, thanh minh rằng phụ
nữ Mỹ rất chú ý đến sự nghiệp lớn lao của bà, như để xin lỗi vì sự tò mò của
mình.
Muốn làm cho tôi ngạc nhiên, Ma-ri Qui-ri nói về chuyện châu
Mỹ:
– Nước Mỹ có 50 gam Ra-đi – bà nói – Bốn ở Ban-ti-mo, sáu ở
Đăng-ve, bảy ở Niu-Yoóc.
– Thế còn ở Pháp? – Tôi hỏi.
– Phòng thí nghiệm của tôi chỉ có hơn một gam Ra-đi thôi.
– Bà chỉ có một gam Ra-đi thôi à?
– Tôi ấy à? Tôi chẳng có gì cả. Gam Ra-đi ấy là của phòng thí
nghiệm.
Tôi quay sang nói về bằng sáng chế, về những quyền lợi đáng
ra đã làm cho bà trở thành rất giàu. Bà bình thản nói:
– Chất Ra-đi không được làm giàu ai cả. Nó thuộc sở hữu của mọi
người.
– Nếu bà có thể nêu lên một vật gì mà bà muốn có trên thế giới
này, bà sẽ chọn cái gì?
Câu hỏi thật ngớ ngẩn – nhưng có một hậu quả không ngờ… Trong
tuần đó, tôi được biết là trên thị trường một gam Ra-đi có giá mười vạn đô-la.
Tôi cũng biết phòng thí nghiệm của bà Qui-ri mới xây dựng, đang thiếu phương tiện
và số Ra-đi dự trữ ở đó chỉ đủ để làm những ống khói tỏa Ra-đi dùng để chữa bệnh
mà thôi”.
Bà Mê-lô-nây không khỏi ngạc nhiên sửng sốt. Bà đã đi thăm những
phòng thí nghiệm đồ sộ của nước Mỹ, nhất là ở E-đi-sơn, giống như một lâu đài.
Bên cạnh những công trình nguy nga ấy viện Ra-đi-om của nước Pháp, tuy mới làm
nhưng trông thật thiểu não.
Người nữ phóng viên Mỹ cũng đã từng biết những nhà máy ở
Pít-xbớc chế biến quặng Ra-đi, với những cột khói đen tỏa trên bầu trời và những
đoàn xe lửa dài chuyên chở thứ quặng chứa đựng chất Ra-đi quý giá…
Giờ đây, bà đang ở Pa-ri, trong một gian phòng bày biện sơ
sài, cũng giản dị như người đã khám phá ra chất Ra-đi. Bà hỏi Ma-ri:
– Bà có mong muốn gì không?
Bà Qui-ri dịu dàng đáp:
– Tôi cần một gam Ra-đi để tiếp tục nghiên cứu nhưng không
mua được. Đối với tôi, chất Ra-đi đắt quá!
Bà Mê-lô-nây chợt nảy ra một ý định to lớn: làm thế nào cho
nhân dân Mỹ biếu bà Ma-ri Qui-ri một gam Ra-đi.
Trở về Mỹ, thoạt tiên bà đi vận động mười phụ nữ triệu phú Mỹ
mỗi người giúp một vạn đô-la để mua tặng phẩm đó. Không kết quả. Chỉ có ba nhà
hảo tâm sẵn sàng giúp. Lúc này bà Mê-lô-nây tự hỏi: “Sao ta lại không mở ra một
cuộc quyên góp trong tất cả những phụ nữ Mỹ?”.
Bà đứng ra lập một tiểu ban gồm nhiều nhà trí thức Mỹ và phát
động trong các thành phố nước Mỹ một phong trào đóng góp vào Quỹ Ra-đi của
Ma-ri Qui-ri. Và chỉ một năm sau, kể từ cuộc phỏng vấn với Ma-ri, bà đã có thể
biên thư cho nhà nữ bác học: “Tiền đã có. Bà sẽ có Ra-đi!”
Phụ nữ Mỹ rất sốt sắng giúp Ma-ri Qui-ri, nhưng lại muốn mời
bà sang thăm nước Mỹ.
Ma-ri do dự. Từ trước đến nay bà rất ngại ra mắt công chúng.
Chỉ riêng việc nghĩ đến sự phô trương xa hoa của một cuộc đi thăm nước Mỹ, cái
nước thèm khát quảng cáo nhất thế giới, cũng đủ làm cho Ma-ri phát hoảng.
Nhưng bên mời cứ nài mãi.
– Bà ngại xa rời hai cô con gái ư? Chúng tôi xin mời cả hai
chị cùng đi. Ngại đón tiếp phiền phức? Sẽ có một chương trình hạn chế mọi nghi
lễ long trọng đến mức vừa phải. Mời bà sang nước Mỹ? Chúng tôi hứa, bà sẽ có một
chuyến đi thích thú.
Cảm kích, Ma-ri đành gạt lo ngại và lần đầu tiên trong đời
mình, khi đã năm mươi lăm tuổi, bà nhận những ràng buộc của một cuộc đi thăm
chính thức long trọng.
Nói đến du lịch thì I-ren và E-vơ rất hứng thú, tíu tít chuẩn
bị. E-vơ nằng nặc bắt mẹ phải sắm một hoặc hai chiếc áo mới và để lại Pa-ri những
chiếc áo mà Ma-ri ưng mặc nhất, đã cũ và bạc màu. Chung quanh Ma-ri ai nấy bận
rộn, vội vã. Báo chí bắt đầu nói đến những cuộc đón tiếp và nghi lễ đang đợi
Ma-ri ở bên kia Đại Tây Dương. Còn chính phủ Pháp thì lo đến vấn đề phải tặng nữ
bác học những danh hiệu gì cho xứng đáng với tiếng tăm lừng lẫy của bà. Người Mỹ
khó hiểu tại sao Ma-ri Qui-ri lại không có chân trong Hàn lâm học Pa-ri, lại
không được Bắc đẩu Bội tinh… Người ta vội tặng bà danh hiệu này, nhưng một lần
nữa, bà từ chối.
Cuối tháng tư 1921, Ma-ri cùng hai con gái đáp tàu O-lim-pích
sang Mỹ. Ba mẹ con chỉ có một hòm hành lý, nhưng được ở gian phòng sang nhất của
chiếc tàu hàng hải này. Trước những bàn ghế quá lộng lẫy, những bữa ăn quá thịnh
soạn, Ma-ri dè dặt, ngượng ngùng như một nông dân. Để khỏi bị quấy rầy, bà ở miết
trong phòng, khóa cửa để quên cuộc đi thăm chính thức này bằng cách nhớ lại những
kỷ niệm êm đềm phẳng lặng trong cuộc sống bình thường của mình.
Ma-ri viết thư cho bà Giăng Pe-ranh, ngày 10 tháng 5 1921:
“Hăng-ri-ét thân! Xuống tàu thì được thư chị. Nó làm tôi vui
thêm. Có đâu không lo ngại mà tôi từ giã nước Pháp mà đi một chuyến xa như vậy,
nó không hợp tí nào với sở thích và nếp sống của tôi.
Trên tàu chẳng thú vị gì cả. Biển u ám, ồn ào. Không ốm,
nhưng tôi cũng thấy hơi say sóng nên phần lớn thời gian chỉ ở trong buồng tàu.
Hai cháu có vẻ thích lắm. Bà bạn Mỹ đi cùng chúng tôi, tìm mọi cách tranh thủ
tình cảm của chúng. Bà ấy quả là khéo.
Tôi nhớ trại hè Lác-cu-ét (Larcouëst-NS) và những giờ phút đẹp
đẽ mà rồi đây sẽ lại được sống ở đấy, nhớ khu vườn mà chị sẽ đến để được yên
tĩnh, nhớ biển xanh và dịu, và đôi ta cùng thích, nó quả là niềm nở hơn cái đại
dương lầm lì lạnh lẽo này. Tôi lại nghĩ đến đứa con mà cháu gái lớn của chị sẽ
sinh, và sẽ là thành viên trẻ nhất của trại hè chúng ta – đại diện đầu tiên của
thế hệ mới. Hy vọng rằng sau nó, nhiều đứa khác nữa ra đời, những con của con
chúng ta…”.
Niu-Yoóc, cao vút và nguy nga, hiện ra trong sương mù ban mai
của một ngày nắng ráo. Các nhà báo, nhiếp ảnh và điện ảnh, và rất nhiều công
chúng đứng chờ ở bên để đón nhà nữ bác học. Có kẻ sẽ phải đợi năm, sáu tiếng đồng
hồ mới thấy người mà các báo gọi là “Vị ân nhân của loài người”. Hàng đoàn hướng
đạo gái và học sinh gái, và một phái đoàn ba trăm phụ nữ vẫy những bông hoa hồng,
đỏ và trắng: đỏ là đại biểu nhân dân Ba Lan tại Mỹ. Cờ Mỹ, cờ Pháp, cờ Ba Lan,
màu rực rỡ phấp phới trên hàng ngàn đôi vai chen chúc và khuôn mặt hồ hởi.
Trên boong hạng nhất tàu Ô-lim-pích, người ta mời gần như lôi
kéo Ma-ri ngồi vào ghế bành to. Bốn mươi ống kính, máy ảnh và quay phim túm tụm
chĩa vào chen chúc, khép mãi vòng vây quanh thân hình bé nhỏ và nét mặt mệt nhọc,
ngỡ ngàng của nhà nữ bác học. Rồi tiếng phóng viên, tiếng nhà báo cứ rối lên bốn
phía.
“Xin bà nhìn phía này cho”
“Xin bà ngẩng đầu lên một tí”
“Xin quay sang phải”
“Xin sang trái”
“Xin nhìn về đây”
Những cố gắng gay gắt của Ma-ri để đứng trong bóng tối, ở
Pháp, phần nào đã có kết quả: bà đã làm cho người đương thời, và ngay đến họ
hàng thân thuộc tin rằng một nhà bác học lớn chẳng phải một nhân vật quan trọng
gì. Nhưng vừa đặt chân đến Niu-Yoóc, thì tấm màn bị kéo xuống và sự thật hiện
ra. Lúc này I-ren và E-vơ mới thấy rõ người mẹ bấy lâu sống âm thầm, khiêm tốn,
đối với thế giới là thế nào.
Mỗi bài diễn văn, mỗi dấy động trong lòng công chúng, mỗi cột
báo đều nói lên một lòng mến phục sâu sắc. Các báo Mỹ ca ngợi với những đầu đề
chữ to: “Vẻ đẹp đơn sơ của người khách quý mệt mỏi”, “Một phụ nữ nhút nhát”, “Một
nhà nữ bác học ăn mặc quá xoàng xĩnh”…
Tôi không có ý định đánh giá ở đây tâm hồn của cả một dân tộc.
Tôi sẽ không căn cứ vào những cột báo mà phê phán nước Mỹ – dù sao sự hào hứng
của dân Mỹ biểu lộ trong sự đón tiếp Ma-ri Qui-ri chẳng có ý nghĩa sâu sắc ư?
Châu Âu thường cho là người Mỹ có đầu óc thực tế; nhưng trong cuộc đón tiếp
Ma-ri, một làn sóng lý tưởng đã tràn đến tận chân nhà bác học. Một bà Qui-ri
kiêu kỳ, nhờ những phát minh khoa học của mình mà giàu sang phú quý có lẽ chỉ
gây sự tò mò ở Mỹ mà thôi. Bà sẽ không được một sự mến thương rộng rãi như vậy.
Qua nhà nữ bác học quá đỗi nhút nhát, nhân dân Mỹ hoan nghênh một thái độ trước
cuộc sống làm cho họ cảm động: đó là lòng khinh miệt lợi nhuận, lòng tận tụy với
một sự nghiệp trí tuệ, là nhiệt tình phục vụ.
Phòng của bà Mê-lô-nây tràn ngập hoa – có một người trồng hoa
bị ung thư được chất Ra-đi chữa khỏi, đã ra sức vun trồng, từ hai tháng nay, mấy
khóm hồng thật đẹp để tặng Ma-ri – người ta lui tới tấp nập để ấn định chương
trình đi thăm nước Mỹ của Ma-ri. Các thành phố, các trường đại học đều mời nhà
nữ bác học và tặng bà hàng chục huy chương cùng học vị danh dự…
– Bà có mang theo bộ y phục đại học chứ? – Bà Mê-lô-nây nói –
Trong những buổi lễ đó cần ăn mặc đúng nghi thức đấy.
Nụ cười ngây thơ của Ma-ri làm mọi người sửng sốt. Thì ra,
Ma-ri, từ khi vào dạy ở Xoóc-bon, chưa hề nghĩ đến may một bộ y phục đại học mà
đáng ra mỗi giáo sư Xoóc-bon phải có.
Thế là người ta lại phải gọi thợ đến, cắt may ngay chiếc áo
nghi lễ bằng lụa đen viền cổ nhung để rồi đây sẽ khoác thêm những áo choàng rực
rỡ kèm theo học vị tiến sĩ.
Từng đoàn học sinh gái, mặc áo choàng trắng, đứng hai hàng dọc
trên những con đường chói nắng. Hàng nghìn em gái, chạy ùa trên bãi cỏ, đón xe
của Ma-ri, vẫy cờ, hoa, hoan hô và ca hát đồng thanh… Quả là ban tổ chức tiếp
đón có sáng kiến tranh thủ tình cảm của Ma-ri bằng cách để bà tiếp xúc trước
tiên với tầng lớp thanh niên và sinh viên hào hứng!
Cùng những học sinh các trường đó – một tuần lễ sau – lại
tham gia cuộc mít tinh khổng lồ của các tổ chức phụ nữ đại học. Và liền hai hôm
sau là cuộc tiếp đón của năm trăm bảy mươi ba đại biểu các hội khoa học Mỹ.
Ma-ri lúc này đã mệt lử. Giữa đám đông công chúng, chen chúc, ồn ào, một người
đàn bà mảnh khảnh vừa mới từ một cuộc đời ẩn dật đến đây, cuộc đọ sức quả là
không đồng đều. Những lời hoan hô ầm ĩ làm cho Ma-ri bàng hoàng. Những cái nhìn
chăm chú làm bà phát sợ. Nhất là cảnh xô đẩy chen lấn nhau trên đường đi qua,
bà tưởng chừng như đám người chen chúc đó sắp nghiền nát mình. Và đây, một phụ
nữ Mỹ, quá ngưỡng mộ Ma-ri, đã bắt tay chặt đến nỗi nhà bác học phải tiếp tục
cuộc hành trình với một cổ tay bị xái, phải đeo tay lên cổ, một thương binh của
danh vọng.
*
“Nhà phát minh ra Ra-đi được những người Mỹ tặng một kho tàng
vô giá”. Những nhà báo, đăng cái tin rất kêu đó sẽ ngạc nhiên biết bao nếu họ
biết rằng Ma-ri không nhận cho mình cái gam Ra-đi do nước Mỹ tặng. Ngay buổi tối
hôm trước, khi bà Mê-lô-nây đưa cho Ma-ri xem, để thông qua văn bản trao tặng.
Ma-ri đã đọc rất cẩn thận rồi khoan thai nói:
– Cần thêm một chi tiết. Gam Ra-đi mà nước Mỹ biếu tôi sẽ mãi
mãi thuộc về khoa học ngày nào tôi còn sống, đương nhiên tôi sẽ chỉ dùng nó vào
công việc nghiên cứu khoa học. Nhưng nếu để thế này, thì sau khi tôi chết đi,
chất Ra-đi đó sẽ trở thành tài sản tư nhân, nghĩa là của con gái tôi. Như thế
không được. Tôi muốn tặng lại phòng thí nghiệm của tôi. Ta có thể mời trạng sư
đến được không?
Hơi bị đột ngột, bà kia vội đáp;
– Thế nhưng… Được lắm chứ. Nếu ý bà như vậy. Chúng tôi sẽ làm
các thủ tục đó vào tuần sau.
– Không để tuần sau, hoặc để ngày mai. Mà ngay chiều nay. Vì
văn bản trao tặng sẽ có giá trị pháp lý ngay, biết đâu, vài giờ nữa, tôi có thể
chết.
Tìm mãi mới được một trạng sư đến để cùng với Ma-ri thảo ra
chứng từ bổ sung. Và Ma-ri đã ký ngay vào đó.
Trước sức khỏe sút kém của Ma-ri, chương trình đi các nơi phải
rút ngắn, chỉ giữ lại những buổi đón tiếp quan trọng, không thể cắt được… nhưng
riêng những buổi này cũng đủ làm mệt nhoài một lực sĩ vạm vỡ nhất! Ngày 28
tháng 5, ở Niu-Yoóc, Ma-ri được tặng học vị tiến sĩ danh dự trường đại học
Cô-lôm-bi-a. Ở Si-ca-gô, bà được bầu làm ủy viên danh dự trường đại học thành
phố này, được tặng nhiều học vị danh dự và dự mấy cuộc đón tiếp. Cảm động nhất
là cuộc gặp mặt trong khu vực người Ba Lan ở Si-ca-gô, chỉ có dân Ba Lan đi dự.
Họ không chỉ hoan nghênh nhà nữ bác học mà chính là hoan nghênh Tổ quốc xa xăm
mà bà là tượng trưng sống. Đàn ông, đàn bà, nước mắt giàn giụa vây quanh Ma-ri,
hôn tay, níu áo…
Ngày 17 tháng Sáu, Ma-ri một lần nữa phải cắt cuộc hành
trình. Huyết áp xuống quá thấp làm các bác sĩ lo ngại. Ma-ri phải nghỉ ngơi,
sau còn cố gắng đi thăm hai thành phố và năm trường đại học. Và đến 28 tháng 6,
bà lại đáp tàu Ô-lim-pích trở về, buồng tàu tràn ngập hoa và những bức điện khắp
nơi gửi đến…
Trong sổ tay của mình chính Ma-ri Qui-ri cũng tự đặt những
câu hỏi. Và bà đã trả lời:
“Rất nhiều bạn tôi cho rằng nếu Pi-e và tôi cứ giữ lấy bản
quyền phát minh, chúng tôi đã có những phương tiện tài chính cần thiết để xây dựng
một viện Ra-đi-om đàng hoàng, mà không vấp phải trở ngại, đã cản trở chúng tôi,
và ngày nay vẫn còn cản trở bản thân tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng chúng tôi
đã làm đúng.
Nhân loại hẳn là cần có những người thực tế. Họ luôn luôn cố
đạt được nhiều nhất, về công việc của họ và biết giữ gìn quyền lợi của bản thân
mà không quên lợi ích chung. Nhưng, nhân loại cũng cần những người biết mơ mộng:
Những người biết say sưa và vô tư theo đuổi một sự nghiệp lớn đến nỗi không thể
bận tâm đến những quyền lợi vật chất của bản thân mình.
Rõ ràng là những người như vậy không thể giàu được, vì họ
không muốn giàu. Tuy nhiên, một xã hội có tổ chức, đáng ra phải đảm bảo cho những
người lao động đó, những phương tiện có hiệu quả để họ thực hiện nhiệm vụ,
trong một cuộc sống không còn phải lo nghĩ về vật chất và hoàn toàn dành cho
nghiên cứu khoa học”.
Chương 24
nảy nở
Đối với Ma-ri Qui-ri, chuyến đi thăm nước Mỹ là một bài học.
Nó chứng minh cho bà thấy rằng: cách sống ẩn dật của bà quả là bất lợi. Một nữ
sinh viên có thể ngồi nhà với mấy quyển sách. Một người nghiên cứu vô danh có
thể tự tách mình ra khỏi cuộc đời, và để hết tâm trí vào công việc đang làm.
Nhưng một bà Qui-ri năm mươi lăm tuổi khác với một sinh viên hay là một nhà
nghiên cứu. Bà có trách nhiệm về một khoa học mới, về một phương pháp chữa bệnh
mới. Uy tín của Ma-ri Qui-ri to lớn, đến nỗi chỉ bằng cử chỉ hoặc chỉ bằng sự
có mặt, bà cũng có thể đem lại thành công cho một dự án có ích chung nào đó. Từ
nay, bà sẽ dành một chỗ trống đời mình cho những cuộc trao đổi ấy, cho sứ mạng ấy.
Những chuyến đi của Ma-ri Qui-ri đều giống nhau. Đến nhiều thủ
đô, dự những hội nghị khoa học, những cuộc nói chuyện, những buổi lễ trọng thể
của các trường đại học, những cuộc đi thăm các phòng thí nghiệm. Đến đâu cũng
được hoan nghênh, mừng đón. Đến đâu, cũng muốn giúp ích tận tình. Mà thường phải
chống lại sự suy nhược của sức khỏe.
Và mỗi lần hoàn thành nhiệm vụ chính thức của mình, phần thưởng
quý nhất của Ma-ri là được biết thêm cảnh đẹp thiên nhiên. Ba mươi năm, cặm cụi
trên một công việc khô khan càng làm cho Ma-ri thêm yêu vẻ đẹp của tạo hóa. Một
lần đi trên chiếc tàu nhỏ của Ý qua miền Nam Đại Tây Dương, bà đã vui thích, hồn
nhiên như một đứa trẻ. Bà viết thư cho E-vơ:
“Mẹ đã trông thấy cá bay! Mẹ cũng nghiệm thấy như là mình
không có bóng khi mặt trời chiếu thẳng xuống đầu. Rồi lại thấy những hành tinh
quen thuộc lặn xuống biển: sao Bắc đẩu, Đại hùng tinh. Ở phía nam, có hiện ra
sao ThậpPhương Nam, rất đẹp. Mẹ hầu như không biết gì về những ngôi sao ở
phương trời nầy”.
Bốn tuần lễ ở Ri-ô Đờ Gia-nây-rô, cùng đi với I-ren để nói
chuyện về khoa học là bốn tuần lễ nghỉ ngơi dễ chịu.
Đi Ý, Hà Lan, Anh nhiều lần. Năm 1931, cùng với E-vơ sang Tây
Ban Nha.
Không còn nơi nào trên thế giới mà người ta không biết tên tuổi
Ma-ri Qui-ri. Người ta thấy một bức chân dung của Ma-ri treo trong một đền thờ
Khổng Phu Tử tại một thành phố nhỏ của Trung Quốc. Những bậc hiền ở đây đã xếp ảnh
bà bên cạnh những “ân nhân của loài người”: Nhà triết học Pháp Đề-các, nhà vật
lý học Anh Niu-tơn, Đức Phật và những vua chúa trong lịch sử Trung Quốc.
*
Ngày 15 tháng 5 năm 1922 ở Giơ-ne-vơ, Hội Quốc liên nhất trí
bầu bà “Qui-ri Xkhua-đốp-xka” làm hội viên Hội đồng Quốc tế hợp tác Trí thức.
Trong đời của Ma-ri đây là một sự kiện quan trọng. Từ khi bà
lừng danh, có hàng trăm hội ái hữu, hội lên hiệp, đoàn thể mời bà gia nhập, để
có thể dựa vào tên tuổi của bà. Ma-ri đều từ chối. Bà không muốn chỉ có tên
trong những tổ chức mà mình không có thì giờ tham gia. Vì vậy, việc bà gia nhập
vào hội Quốc liên có một ý nghĩa đặc biệt. Về sau, bà được bầu làm Phó chủ tịch
Hội đồng Quốc tế hợp tác trí thức và tham gia nhiều tiểu ban chuyên môn cũng
như ban lãnh đạo Viện hợp tác trí thức ở Pa-ri.
Sẽ không hiểu đúng con người lý tưởng nhưng cũng thực tế đó,
nếu nghĩ rằng bà ưa thích các trò làm xiếc vô ích với những ý kiến chung chung.
Ở Giơ-ne-vơ, Ma-ri Qui-ri cũng làm việc – và một lần nữa bà đã phục vụ được
khoa học.
Trước tình trạng mà bà gọi là sự “hỗn loạn trong công việc
khoa học trên thế giới”, bà muốn làm cho các bạn đồng nghiệp nhất trí về một số
vấn đề cụ thể: thoạt trông tưởng như nhỏ bé nhưng có ảnh hưởng quyết định đến
bước tiến của khoa học; đó là, tổ chức cho hợp lý khoa Tu thư; thống nhất các
ký hiệu và thuật ngữ khoa học; các khuôn khổ sách xuất bản; các bản tóm tắt các
công trình đăng trên các tạp chí; thiết lập các bản Hằng số để giúp cho người
nghiên cứu có thể tham khảo nhanh chóng những kết quả đã đạt được trong lĩnh vực
nghiên cứu của mình.
Ma-ri Qui-ri còn lưu tâm rất nhiều đến việc giảng dạy trong
các trường đại học và các phòng thí nghiệm. Bà muốn cải tiến phương pháp nghiên
cứu, và chủ trương phải có một “phương hướng chung” để phối hợp những cố gắng của
các nhà nghiên cứu. Bà gợi ý nên có thông báo hội ý giữa các nhà bác học, đứng
đầu từng ngành, như một ban tham mưu, để hướng dẫn công tác khoa học ở châu Âu.
Suốt đời mình, Ma-ri Qui-ri bị một ý nghĩa day dứt. Đó là vấn
đề có những tài năng không được biết đến, không được sử dụng, trong những tầng
lớp xã hội ít được nâng đỡ. Một nông dân, một công nhân biết đâu chẳng có mầm mống
một nhà văn, nhà bác học, họa sĩ, nhạc sĩ? Ma-ri ra sức phát triển các học bổng
quốc tế về nghiên cứu khoa học.
Trong một bản báo cáo, bà viết:
“Ích lợi của xã hội là gì? Phải chăng là sự cổ vũ nảy nở của
chí hướng khoa học? Xã hội đâu đã giàu đến nỗi có thể hy sinh tài năng tự đến cống
hiến? Tôi nghĩ rằng một năng khiếu cần cho một chí hướng khoa học thật sự là một
cái gì vô cùng quý giá, mỏng manh, một kho tàng hiếm mà để mai một đi là có tội
vô lý; phải hết sức chăm sóc đến nó, tạo mọi cơ hội cho nó nẩy nở…”
Và đây là một trái ngược. Nhà nữ vật lý vẫn hằng thoái thác
quyền lợi vật chất, lại tích cực bênh vực “quyền sở hữu khoa học” cho các đồng
nghiệp mình. Bà muốn lập ra một “bản quyền tác giả” của các nhà bác học nhằm
khen thưởng những công trình đã được dùng làm cơ sở cho những áp dụng công nghiệp.
Ước mơ của bà là làm thế nào khắc phục tình trạng nghèo nàn của các phòng thí
nghiệm, bằng một khoản trợ cấp cho nghiên cứu trích trong những lời lãi về
thương mại.
Chỉ một lần bà gác lại một bên những vấn đề thực tế và đến chủ
tọa ở Ma-đrit năm 1933 một cuộc họp về “Tương lai của văn hóa”, có các nhà văn,
các nghệ sĩ của nhiều nước đến tham dự. Như lời của Pôn Va-lê-ri nhà thơ Pháp
đã có sáng kiến triệu tập cuộc họp, đó là “Cuộc gặp mặt của những Đông Ki-sốt của
trí tuệ đang chiến đấu với những cối xay gió của mình”. Do uy tín và những tham
luận độc đáo của mình, Ma-ri làm hội nghị ngạc nhiên. Các đại biểu lên tiếng
báo động, vạch rõ nguy cơ của sự “chuyên môn hóa”, sự “tiêu chuẩn hóa” và cho rằng
khoa học chịu một phần trách nhiệm về cuộc “khủng hoảng văn hóa” trên thế giới.
Lúc này, mới thấy một hình ảnh rất đẹp, có lẽ còn Đông Ki-sốt hơn tất cả những
Đông Ki-sốt[52] có mặt – bênh vực, với một niềm
tin tưởng như xưa, lòng ham mê tìm tòi, sự ưa thích khám phá và phát minh. Tóm
lại, những ham mê vẫn hằng chi phối cuộc đời mình.
Bà nói:
– Tôi nghĩ rằng khoa học có một vẻ đẹp lớn lắm. Nhà bác học
trong phòng thí nghiệm, đâu chỉ là một người có kỹ thuật – đó cũng như là một đứa
trẻ, xúc động trước các hiện tượng thiên nhiên như khi đọc một chuyện thần thoại,...chúng
ta không nên để cho ai lầm tưởng rằng: mỗi tiến bộ về khoa học rút cục cũng chỉ
là động cơ, là máy móc, là bánh xe răng cưa ăn khớp với nhau, mà những thứ đó
cũng mang vẻ đẹp của nó. Trong thế giới của chúng ta óc phiêu lưu chưa mất hẳn.
Nếu tôi thấy xung quanh tôi có một cái gì đó sinh động, đó chính là óc phiêu
lưu mạo hiểm dường như không thể bật rễ được, nó gắn liền với lòng ham muốn hiểu
biết...
Đấu tranh cho một nền văn hóa quốc tế vẫn tôn trọng các nền
văn hóa dân tộc. Bảo vệ nhân cách và tài năng bất cứ ở đâu. Đấu tranh để “củng
cố sức mạnh tinh thần lớn lao của khoa học trên thế giới”, cho một sự “giảm vũ
khí trên lĩnh vực tinh thần”, cho hòa bình. Đó là những cuộc chiến đấu mà bà
Qui-ri đã tiến hành mà không hề dám nghĩ đến một thắng lợi nhanh chóng.
*
Ba bốn lần về thăm quê hương Ba Lan…
Không phải về để nghỉ ngơi, để bớt căng thẳng vì công việc mà
bà Qui-ri về thăm xứ sở, họ hàng. Từ khi nước Ba Lan lại được độc lập, Ma-ri lại
nuôi thêm một hoài bão: lập ở Vác-xô-vi một viện Ra-đi-om, trung tâm nghiên cứu
khoa học và điều trị ung thư, để phục vụ nhân dân mình.
Vừa mới thoát khỏi ách đô hộ lâu năm, nước Ba Lan rất nghèo,
nghèo tiền, nghèo cả người chuyên môn. Ma-ri không có thì giờ tự đi giao dịch,
gây vốn. Người đầu tiên sát cánh với Ma-ri là chị ruột. Tuy đã già nhưng vẫn
hăng hái nhiệt tình như ba mươi năm về trước, Brô-ni-a lao ngay vào công việc,
vừa là kiến trúc sư, vừa đi giao dịch, vừa giữ quỹ.
Đất nước Ba Lan tràn ngập áp phích và tem có in chân dung bà
Qui-ri. Người ta quyên tiền, hoặc nói đúng hơn là quyên gạch “Hãy mua một viên
gạch để xây dựng Viện Ma-ri Xkhua-đốp-xka Qui-ri!”. Lời kêu gọi in trên hàng
ngàn bưu ảnh có kèm một câu viết tay của nhà nữ bác học: “Mong muốn sâu sắc nhất
của tôi là lập một viện Ra-đi-om ở Vác-xô-vi”. Cuộc vận động này được sự giúp đỡ
nhiệt tình của nhà nước Ba Lan, thành phố Vác-xô-vi và nhiều tổ chức quan trọng
ở Ba Lan.
Gạch quyên được ngày càng nhiều… Và đến năm 1925, Ma-ri lại đến
Vác-xô-vi đặt nền móng cho viện Ra-đi-om. Một cuộc về thăm thắng lợi: hồi tưởng
lại quá khứ, hứa hẹn về tương lai… Cả dân tộc thắm thiết đón người phụ nữ mà
báo chí gọi là “Vị phu nhân thứ nhất của nước Cộng hòa Ba Lan”. Các trường đại
học, các viện Hàn lâm, các thành phố Ba Lan đều tặng Ma-ri những danh hiệu cao
quý nhất.
Một buổi sáng nắng ráo, tổng thống nước cộng hòa Ba Lan đặt
viên gạch đầu tiên, xây Viện Ra-đi-om, bà Qui-ri đặt viên thứ hai, và chủ tịch
thành phố đặt viên thứ ba…
Không một chút gì nghi thức cứng rắn trong những buổi lễ đó!
Chẳng phải vì lịch thiệp hay xã giao mà tổng thống Xta-ni-xoap Vôi-trê-khốp-xki
(Stanislav Wojciechowski-NS) khen Ma-ri nói tiếng mẹ đẻ rất sõi sau bấy nhiêu
năm xa đất nước. Vì chính ông cũng đã từng ở Pa-ri, và là bạn của cô sinh viên
Xkhua-đốp-xca. Bạn cũ gặp nhau, bao nhiêu kỷ niệm xưa được nhắc lại.
Xta-ni-xoáp hỏi:
– Bà còn nhớ cái gối du lịch nhỏ mà bà cho tôi mượn, cách đây
ba mươi năm, khi tôi trở về Ba Lan với một sứ mệnh chính trị bí mật? Nó đã giúp
ích cho tôi rất nhiều!
– Nhớ lắm chứ – Ma-ri vừa cười vừa đáp lại – Tôi còn nhớ là
ông còn chưa trả lại cái gối ấy cho tôi!
*
Năm tháng trôi qua, gạch ngày nay đã được xây thành tường.
Nhưng nào Ma-ri và Brô-ni-a đã hết long đong, vất vả. Tuy hai chị em đã đem một
phần lớn vốn liếng dành dụm của mình vào sự nghiệp này, tiền vẫn chưa đủ để mua
số lượng Ra-đi cần thiết cho công cuộc điều trị bệnh ung thư.
Viện Ra-đi-om Vác-xô-vi được khánh thành ngày 29 tháng 5 năm
1932 đánh dấu thành công mỹ mãn về sự nghiệp chung của Ma-ri, Brô-ni-a và nhà
nước Ba Lan. Từ mấy tháng trước, viện đã nhận bệnh nhân đến điều trị theo
phương pháp Qui-ri.
Đó là lần cuối cùng Ma-ri về Ba Lan, thăm lại những phố cũ của
thành phố quê hương, dòng sông Vít-xtuyn mà mỗi lần Ma-ri đều ngắm với lòng dạt
dào nhớ nhung, hầu như hối hận.
Những lá thư gửi cho E-vơ, đã tả lại dòng nước ấy, mặt đất ấy,
những mảnh đá ấy, với một tình cảm quyến luyến mãnh liệt.
“Sáng hôm sau, mẹ đi chơi một mình trên bờ Vít-xtuyn. Dòng
sông lững lờ, uốn khúc trong lòng sông rộng. Ở gần, nước màu xanh lá cây; xa
xa, có ánh mặt trời, nước màu xanh da trời. Những cồn cát đáng yêu lấp lánh dưới
ánh nắng, thường nổi lên nhấp nhô, khiến cho nước chảy ngoằn ngoèo. Mẹ cảm thấy
một nhu cầu không thể cưỡng nổi cần ra chơi trên những bãi cát chan hòa ánh nắng
tuyệt vời ấy.
Một bài hát vùng Cra-cô-vi ngợi ca sông Vít-xtuyn như sau:
dòng sông Ba Lan có một vẻ đẹp quyến rũ đến nỗi ai đã đem lòng say mê đều sẽ
yêu đến trọn đời. Cái đó rất đúng với mẹ”.
Năm 1920, một viện Qui-ri được thành lập ở Pháp để thu thập
những tặng vật, những trợ cấp và nâng đỡ công tác khoa học và y học của viện
Ra-đi-om.
Năm 1922, ba mươi nhăm viện sĩ Viện Hàn lâm Y học gửi kiến
nghị cho các bạn đồng nghiệp đề nghị mời bà Qui-ri vào Viện Hàn lâm Y học, làm
viện sĩ tự do vì sự đóng góp của bà vào việc phát minh ra chất Ra-đi và một
phương pháp chữa bệnh mới. Không những sáu mươi tư viện sĩ y học đã bầu một phụ
nữ, mà lại bầu một người không ứng cử. Thật là một bài học cho Viện Hàn lâm
Khoa học Pháp.
Ngày 7 tháng 2 1922, sau cuộc bỏ phiếu thắng lợi rực rỡ, chủ
tịch Viện Hàn lâm Y học nói:
– Chúng tôi chào bà, một nữ bác học lớn, suốt đời tận tụy với
công tác khoa học, đầy hy sinh gian khổ, một người yêu nước, luôn luôn làm hơn
cả nhiệm vụ của mình, trong thời chiến cũng như trong thời bình. Sự có mặt của
bà đem lại cho chúng tôi ảnh hưởng tốt đẹp của tấm gương sáng và vinh dự của một
danh tiếng lừng lẫy, làm chúng tôi rất đỗi tự hào. Bà là người phụ nữ đầu tiên ở
Pháp được bầu vào viện Hàn lâm mà không phụ nữ nào xứng đáng hơn.
Năm 1923, Viện Qui-ri quyết định kỷ niệm trọng thể hai mươi
nhăm năm phát minh ra Ra-đi – Chính phủ Pháp tặng bà Qui-ri một khoản trợ cấp
hàng năm là bốn mươi nghìn phơ-răng, sau này khi bà chết sẽ chuyển cho hai con
gái hưởng.
Ma-ri trong buổi chiều tà của đời mình, được nhân dân ngưỡng
mộ trên khắp năm châu, đến đâu cũng là khách quý của các chủ tịch nước, các đại
sứ, các vua chúa.
Một hình ảnh luôn luôn nổi lên giữa kỷ niệm mỗi buổi lễ tân,
mỗi buổi đón tiếp ấy là khuôn mặt nhợt nhạt, không sắc thái, hầu như thờ ơ, của
mẹ tôi.
Xưa kia mẹ tôi thường nói:
– Trong khoa học ta nên chú ý đến sự việc mà không nên chú ý
đến con người.
Cuộc đời đã cho Ma-ri thấy rằng các dân tộc và các chính phủ
đều chú ý đến sự việc qua con người. Dù muốn hay không, bà đã chịu để cho các
câu chuyện truyền thuyết về đời mình tôn thêm giá trị của khoa học và giúp cho
các viện khoa học thêm phong phú. Bà đã trở thành người tuyên truyền cổ vũ cho
một sự nghiệp mà lòng mình vẫn hằng tha thiết.
Còn bản thân nhà nữ bác học, không có gì thay đổi: vẫn cái
tính sợ sệt trước công chúng, vẫn tính nhút nhát, làm đôi tay lạnh toát, cổ họng
rất khô. Cố gắng đến thế nào, Ma-ri Qui-ri vẫn không thể thỏa hiệp với danh vọng
và không bao giờ tán thành điều mà bà gọi là những dấu hiệu của sự sùng bái mê
tín.
Chương 25
đảo xanh lu-i
(île saint-louis)
Mỗi lần Ma-ri trở về sau một hành trình đầy thắng lợi, E-vơ
thường ra đón mẹ và ngóng trông một bà Qui-ri ăn mặc xoàng xĩnh, suốt đời đầu tắt
mặt tối, hiện ra cửa sổ một toa tàu đặc biệt. Nhà bác học khệ nệ mang theo một
túi xách tay màu hạt dẻ của một hội phụ nữ Ba Lan tặng. Cái túi phồng lên nào
giấy tờ, nào ví, nào bao kính. Tay còn cắp thêm một bó hoa, như mọi bó hoa được
tặng ở dọc đường, chỉ thêm vướng nhưng không dám bỏ.
Đặt hành lý xuống, Ma-ri lên ba tầng gác tại nhà bà tại đảo
Xanh Lu-i. Trong khi Ma-ri xem qua thư từ báo chí thì E-vơ quỳ xuống đất trước
những va-ly mở, bỏ từng thứ đồ đạc ra.
Xen lẫn những quần áo quen thuộc, có những áo lễ phục bằng
nhung hay bằng lụa được trao tặng cùng với những bằng tiến sĩ danh dự, những hộp
huân chương, những mảnh bằng – và quý hơn hết – những tờ thực đơn của các bữa
tiệc mà Ma-ri sẽ cất giữ cẩn thận. Còn gì tiện bằng dùng mặt sau mấy mẩu bìa
dày và cứng ấy để viết bút chì những bài tính về toán vật lý!
Sau hết là quà của I-ren và E-vơ bọc trong giấy lụa và những
kỷ niệm Ma-ri thích mua vì vừa đơn giản, vừa lạ mắt. Mấy miếng gỗ dán ở bang Tếch-dát
dùng để chặn giấy. Mấy lưỡi dao rất mỏng có chạm chỉ vàng của vùng Tô-lét (Tây
Ban Nha) dùng để đánh dấu trang giữa những quyển sách khoa học. Mấy tấm thảm bằng
len thô dệt ở miền núi nước Ba Lan dùng để trải trên những chiếc bàn xoay.
Ma-ri thường đeo ở cổ vài thứ trang sức nhỏ, mang từ vùng
Cô-lô-ra-đô ở Mỹ về, đó là những miếng bạc thô mà người da đỏ thường khắc những
tia chớp ngoằn ngoèo; ngoài ra còn có một dây chuyền vàng, và một trâm cài bằng
ngọc tím kiểu đã cũ, rất đẹp, đó là tất cả trang sức của mẹ tôi, giá đem bán đi
không được ba trăm phơ-răng.
Cái nhà ở bên Bê-tuyn thật đến lạ, rất rộng nhưng không tiện
tí nào, toàn hành lang với thang gác bên trong, bà Qui-ri sống hai mươi năm trời
ở đó. Những gian phòng rộng lớn, của một ngôi nhà thế kỷ XVIII, chờ đợi mãi chẳng
được những ghế bành, những trường kỷ, cân xứng với quy mô và kiểu cách của nó.
Trong cái phòng khách rộng thênh thang, bộ bàn ghế bằng gỗ đào hoa tâm do cụ
Qui-ri để lại được xếp đặt một cách tùy tiện. Phòng khách có thể ngồi được năm
mươi người mà nhà chỉ có bốn người. Sàn đánh si bóng loáng, bước giày đi kêu
ken két. Không có rèm cửa, Ma-ri chỉ thích đánh sàn bóng, thích cửa kính để trần,
không che lấp một tia nắng nào. Và cũng không ngăn tầm mắt trông thấy tất cả cảnh
đẹp của sông Xen và bến sông tấp nập.
Khi E-vơ còn bé và I-ren làm phụ tá cho bà Qui-ri, còn ở cùng
và làm việc bên cạnh mẹ, câu chuyện quanh bàn tròn ở buồng ăn thường biến thành
một cuộc hội thoại khoa học giữa nhà bác học và con gái lớn. Những công thức
chuyên môn luôn luôn đập vào tai E-vơ và em thường suy diễn những câu chuyện
cao xa đó theo tầm hiểu biết của mình. Thí dụ, em rất vui thích khi nghe mẹ và
chị dùng những từ đại số bê-bê phẩy (Bb’) hay bê-bê bình phương (Bb2). Những bé
xa lạ mà Ma-ri và I-ren nhắc đến luôn ắt hẳn là xinh lắm, E-vơ nghĩ thế. Tại
sao lại có những “bé bình phương”? Và những “bé phẩy” được ưu tiên gì?
Một buổi sáng, năm 1926, I-ren vốn tính điềm đạm báo tin cho
gia đình biết là cô đã hứa hôn với Phrê-đê-rích Giô-li-ô (Frédéric Joliot-NS),
người cộng tác xuất sắc và sôi nổi nhất của Viện Ra-đi-om. Nếp sống của gia
đình đảo lộn hẳn. Một thanh niên trai trẻ, xuất hiện trong một ngôi nhà, mà
ngoài một vài bạn bè thân thuộc, Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ, Mô-rít Qui-ri, Pe-ranh,
Bê-ren, Mô-ranh, không người nào khác lui tới. Đôi vợ chồng son, trước còn ở bến
Bê-tuyn sau ra ở riêng, Ma-ri mừng cho con gái đã gặp hạnh phúc, nhưng không khỏi
bâng khuâng vì không còn được sống từng ngày, từng giờ bên I-ren giờ đây đã
thành một người cộng sự.
Nhưng rồi cuộc sống thân mật thường ngày làm cho Ma-ri hiểu
thêm Phrê-đê-rích Giô-li-ô vừa là học trò, vừa là con rể, và đánh giá được những
đức tính đặc biệt của con người hoạt bát đầy sức sống ấy, thì thấy rằng mọi việc
đều tốt đẹp. Trước chỉ có một phụ tá thì nay có hai để cùng chia sẻ với bà mọi
điều băn khoăn, cùng trao đổi về các vấn đề đang nghiên cứu, nhận những lời
khuyên bảo, và rồi đây còn những gợi ý, mang lại cho bà nhiều suy nghĩ mới mẻ.
Vợ chồng I-ren thường đến ăn ở nhà Ma-ri một tuần bốn bữa. Và quanh chiếc bàn
tròn ở buồng ăn lại rộn lên những câu chuyện về mấy “bé bình phương” và “bé phẩy”.
– Mẹ không ra phòng thí nghiệm à?
Đôi mắt màu tro độ này đã đã đeo kính khung to gọng đồi mồi,
nhìn E-vơ dịu dàng và trìu mến:
– Có, lát nữa mẹ đi. Nhưng trước đó, mẹ còn ra Viện Hàn lâm Y
học. Ba giờ chiều mời họp, có lẽ đủ thì giờ. Phải, mẹ sẽ qua chợ hàng hoa… và
có thể cũng ra công viên một lát.
Ba tiếng còi xe Pho gọi ở dưới nhà. Mấy phút sau, Ma-ri đã
tha thẩn giữa những chậu hoa, chọn mua cây về trồng trong vườn phòng thí nghiệm
bọc trong giấy báo, nhẹ nhàng đặt xuống sàn xe.
Những người làm vườn, trồng hoa rất quen biết Ma-ri, nhưng hầu
như không bao giờ Ma-ri vào một cửa hàng bán hoa. Có lẽ do bản năng hay vì quen
tằn tiện, bà tránh không dám mua loại hoa quý đắt tiền. Và mỗi lần bạn bè mang
đến tặng những bó cẩm chướng to bông, những bó hồng rất đẹp, bà ngắm nghía, ngạc
nhiên và hơi rụt rè, như đứng trước những trang sức quý giá.
Hai giờ rưỡi, chiếc xe Pho đỗ sát hàng rào sắt công viên
Lúc-xăm-bua, và Ma-ri hối hả đi đến chỗ hẹn “cạnh con sư tử đá bên trái”. Hàng
trăm em bé đang chơi ở vườn. Một bé gái, chạy lại ôm lấy bà. Đó là Hê-len
Giô-li-ô, con gái I-ren. Ma-ri bề ngoài là một bà ngoại nghiêm nghị ít bộc lộ
tình cảm. Nhưng bà không ngại mất thì giờ, đi quành thêm nhiều vòng rất xa, chỉ
cần để được nói chuyện vài phút với cháu bé mặc áo đỏ cứ hỏi gặng:
– Bà đi đâu đấy? Sao bà không ở đây với cháu?
Ba giờ kém mười. Đã đến lúc rời Hê-len và trò chơi bằng cát của
em. Trong phòng họp nghiêm trang phố Bô-na-pác, Ma-ri đến chỗ ngồi quen thuộc,
cạnh ông bạn già, bác sĩ Ru. Và một mình là nữ giữa sáu mươi đồng nghiệp nam,
bà tham gia bàn bạc về công việc của Hàn lâm viện Y học.
*
“Sao mà mệt thế!”. Hầu như chiều thứ bảy nào cũng vậy, Ma-ri
Qui-ri, mặt tái nhợt do sự mệt mỏi đẽo gọt làm cho già thêm, thốt ra câu đó.
Công việc đã giữ bà ở phòng thí nghiệm đến bảy giờ rưỡi, có khi đến tám giờ.
Đáp xe về nhà, bà cảm thấy lên ba tầng gác mệt nhọc hơn ngày
thường. Khoác lên vai một áo vải đen, chân đi giầy vải, bà đi đi lại lại trong
nhà, chiều hôm vắng lặng, đợi chị giúp việc đến báo bữa cơm tối.
Con gái nói cũng chẳng được:
– Mẹ làm việc quá độ. Có ai sáu mươi nhăm tuổi rồi còn làm việc
như vậy, mười hai đến mười bốn giờ một ngày!
Nhưng E-vơ biết rất rõ là mẹ mình không thể nào làm việc ít
đi được. Đối với bà Qui-ri, làm việc ít đi là một dấu hiệu của già nua, kiệt sức…
E-vơ chỉ còn một mong ước là mẹ mình còn lâu vẫn cứ đủ sức khỏe làm việc mười bốn
giờ một ngày.
Từ khi I-ren ra ở riêng, bữa cơm chỉ còn hai mẹ con ngồi đối
diện nói chuyện. Các chi tiết nhỏ nhặt trong một ngày dài làm việc mệt nhọc thường
được Ma-ri đem ra bình luận với con gái. Dần dà những mẩu chuyện không đầu
không đuôi tô thành một bức tranh bí ẩn, biến hóa về hoạt động rạo rực của
phòng thí nghiệm mà Ma-ri đã gắn bó cả tâm hồn lẫn thể xác. Những máy móc và dụng
cụ mà E-vơ không bao giờ trông thấy cũng trở nên quen thuộc, cũng như tất cả những
người cộng tác ở phòng thí nghiệm. Bà Qui-ri nói đến họ với một giọng đầy nhiệt
tình, trìu mến dường như là con cháu vậy:
– Mẹ rất bằng lòng với cái thằng Grê-goa “của mẹ”. Ngay từ đầu
mẹ đã thấy là nó rất có khiếu!...(ngừng một lúc, ăn xong món xúp). Con biết
không, hôm nay mẹ đã gặp cái anh chàng Trung Quốc “của mẹ” trong phòng vật lý.
Hai bác cháu đã nói chuyện bằng tiếng Anh tràng giang đại hải: ở Trung Quốc, hễ
nói ngược lại là vô phép. Và khi mẹ đề ra một giả thuyết mà anh ta vừa chứng
minh được là không đúng, anh ta vẫn cứ gật gù một cách lịch sự. Thế là mình cứ
phải đoán xem anh chàng có ý kiến gì khác không. Trước mặt các sinh viên Á
Đông, mẹ thấy rất ngượng về kiểu cách của mình. Họ văn minh hơn chúng ta nhiều!...(ăn
đến món mứt). À, E-vơ ạ, hôm nào ta phải mời anh sinh viên Ba Lan “của mẹ” đến
ăn tối mới được. Mẹ lo anh ấy bị bơ vơ ở giữa Pa-ri mất.
Trong cái Viện Ra-đi-om như cái tháp Ba-ben[53] ấy nhiều thực tập sinh ở các nước
lần lượt đến học. Bao giờ trong đám họ cũng có một sinh viên Ba Lan. Mỗi khi
không thể cấp học bổng cho một đồng hương vì còn nhiều thí sinh khác giỏi hơn,
bà Qui-ri thường bỏ tiền riêng ra để đảm bảo cho một sinh viên trẻ từ Vác-xô-vi
đến đây học. Và anh ta không bao giờ biết cái cử chỉ hào phóng ấy.
...Đương mải mê với những câu chuyện của mình, Ma-ri chợt dừng
lại, cúi xuống con gái và hỏi với một giọng khác:
– Thế nào, con gái yêu của mẹ… Kể chuyện cho mẹ nghe nào. Cho
mẹ biết tin tức khắp nơi chứ!
Có thể kể bất cứ chuyện gì, cả những chuyện trẻ con. Nghe
E-vơ thích thú bình luận về tốc độ lái xe của cô trung bình 70 cây số một giờ,
Ma-ri tỏ vẻ chăm chú, hiểu biết. Bản thân bà, lái xe thận trọng, cũng say mê
môn thể thao này, nên thường hồi hộp theo dõi những kỷ lục đạt được với chiếc
xe Pho của mình. Những chuyện về cháu gái Hê-len, một lời con trẻ làm cho bà cười
đến chảy nước mắt, một nụ cười bất ngờ, trẻ trung.
Ma-ri không có nhiều thì giờ để giáo dục con cái, nhưng mỗi
ngày I-ren và E-vơ tiếp thu ở bà một ảnh hưởng vô cùng tốt đẹp, được sống bên cạnh
một con người rất đặc biệt, không những có tài năng, mà còn có tâm hồn cao đẹp,
vốn rất ghét mọi cái tầm thường nhỏ mọn. Bà Qui-ri tránh không bao giờ mang
mình ra làm mẫu mực cho chị em phụ nữ khác. Với những người quá ngưỡng mộ,
Ma-ri thường nói:
“Không nhất thiết cứ phải sống một cuộc đời khác thường như
tôi. Sở dĩ tôi dành được nhiều thì giờ cho khoa học là vì tôi yêu công việc
nghiên cứu. Điều mà tôi mong ước cho chị em chúng ta là một gia đình bình đẳng
và một việc làm mà mình ham thích.”
Vào những bữa cơm tối êm đềm đó, đôi khi Ma-ri và E-vơ cũng
nói đến tình yêu. Người phụ nữ đã từng thiệt thòi đau khổ về tình cảm ấy, tỏ ra
không thích thú gì tình cảm say mê. Có lẽ bà sẽ rất tán thưởng câu nói của một
nhà văn Pháp “tình yêu không phải là một tình cảm chính đáng”.
Ma-ri viết cho E-vơ:
“Mẹ nghĩ rằng chúng ta cần phải tìm sức mạnh tinh thần trong
một lý tưởng cao, nâng những nguyện vọng, ước mơ ta lên mà không tự kiêu tự
mãn. Và mẹ cũng nghĩ rằng nếu đặt tất cả ý nghĩa cuộc đời vào những tình cảm đầy
giông tố bão táp như tình yêu thì thật đáng tiếc.”
Ma-ri biết lắng nghe những lời tâm sự và hoàn toàn biết giữ
kín những điều được thổ lộ đến nỗi hình như bà chưa bao giờ được nghe thấy.
Ma-ri sẵn sàng giúp đỡ ai gặp khó khăn hoạn nạn. Nhưng hễ nói đến tình yêu thì
câu chuyện với Ma-ri không còn là một cuộc trao đổi tâm tình nữa. Những nhận
xét và triết lý của bà về tình yêu đều chỉ là chung chung và chưa một lần nào
Ma-ri nhắc lại dĩ vãng đau thương của mình để rút ra những bài học hoặc những kỷ
niệm. Đối với bà đó là một lĩnh vực thầm kín mà không ai được bén mảng tới, dù
là người thân thiết nhất.
Ma-ri chỉ để cho con gái đoán biết nỗi buồn phải sống xa hai
chị và người anh ruột thân thiết. Cuộc sống xa quê hương và cảnh góa bụa đã làm
cho Ma-ri hai lần bị thiệt thòi về tình cảm gia đình đầm ấm đáng ra sẽ làm cho
cuộc đời bà thêm êm dịu. Bà viết những bức thư rất buồn cho những người thân giờ
đây cũng không còn được gặp luôn như trước, cho Giắc Qui-ri hiện ở
Mông-pê-li-ê, cho Dô-dếp và Hê-la, và cho Brô-ni-a mà cuộc đời cũng gặp đau
thương: mất hai con và đến 1930 thì chồng chết.
Ma-ri viết cho Brô-ni-a, 12 tháng Tư năm 1932:
“Chị Brô-ni-a, em cũng rất buồn vì chị em ta phải sống xa
nhau. Chị tuy cảm thấy cô đơn nhưng vẫn còn được an ủi là có ba anh em cùng ở
Vác-xô-vi, thỉnh thoảng còn đi lại thăm hỏi, đỡ đần nhau được. Đúng thế, tình
thương yêu đùm bọc ruột thịt là rất quý. Em thiếu nó, nên càng thấm thía điều
đó. Chị hãy lấy đó làm an ủi và đừng quên đứa em gái ở Pa-ri. Chúng ta hãy đi
thăm nhau nhiều hơn”.
*
Sau bữa tối, nếu E-vơ cần đi nghe hòa nhạc, bà Qui-ri nằm ngả
ra chiếc đi-văng ngắm con gái sửa soạn. Về trang phục và thẩm mỹ hai mẹ con
khác hẳn nhau. Nhưng từ lâu, Ma-ri không ép con gái phải theo ý kiến của mình.
Trái lại, giờ đây E-vơ thường khăng khăng bắt mẹ phải may áo mới trước khi áo sờn
cổ, rách tay. Vì vậy những cuộc tranh luận của hai mẹ con thường chỉ đóng khung
trong phạm vi lý thuyết. Và nếu không đồng tình với cách ăn mặc của con gái,
Ma-ri chỉ im lặng, vui vẻ, đôi khi còn pha trò:
– Trời đất ơi! Gót giày gì mà gớm ghiếc như vậy! Không, không
khi nào con làm cho mẹ tin được rằng đàn bà con gái cứ phải đi cà kheo như vậy
mới được. Lại còn cái mốt gì để hở lưng áo dài như thế? Đằng trước thì còn
thương được chứ đời thuở đâu lại để hở lưng hàng cây số như vậy! Một là lố bịch,
hai là dễ sưng phổi, ba là xấu! Ít nhất, lẽ thứ ba phải làm cho con chú ý, nếu
con bất chấp hai lẽ đầu. Nói vậy thôi, chứ áo của con đẹp đấy. Nhưng lúc nào
con cũng mặc đồ đen. Màu đen đâu có hợp với tuổi của con!
Những phút nặng nề nhất là lúc trang điểm. Đợi cho E-vơ tô
son trát phấn một hồi lâu, và đắc ý về công việc đó Ma-ri mới nói:
– Con quay lại đây, mẹ ngắm tí nào!
Bà nhìn ngắm rất thận trọng rồi sửng sốt:
– Con xem, mẹ không phản đối về nguyên tắc cái kiểu bôi lọ
lem này. Mẹ biết rằng xưa nay người ta vẫn làm như thế. Thời Ai-cập cổ đại, người
ta còn bày vẽ ra hơn thế nữa kia. Mẹ chỉ có thể nói điều là mẹ chẳng thấy đẹp
gì cả. Tại sao cứ làm tình làm tội cái cặp lông mày, vẽ sơn lên đôi môi như vậy
chứ!
– Con quả quyết với mẹ rằng như thế này là hơn ạ!
– Hơn! Nhưng thôi, để được an ủi, sáng mai mẹ sẽ vào giường
ngủ hôn con trước khi con có thì giờ bôi những cái lăng nhăng này lên mặt.
Thôi, bây giờ con đi chơi nhé. À, có quyển sách gì cho mẹ đọc không?
– Có, mẹ muốn đọc quyển gì ạ?
– Quyển gì đừng nặng nề quá. Phải là tuổi trẻ như tụi bay thì
mới ngốn được những tiểu thuyết căng thẳng buồn thảm.
Bà không hề đọc những tiểu thuyết Nga mà khi xưa bà hằng ưa
thích. Mặc dầu có những khuynh hướng văn học khác nhau, Ma-ri và E-vơ cũng hay
đọc những tác giả như Kíp-linh[54], Cô-lét[55]. Bà mới tìm thấy ở những tác phẩm như
“Quyển sách rừng thẳm”, “Trời hửng sáng” những hình ảnh chân thật và rực rỡ của
tự nhiên, mà xưa nay vẫn là nguồn an ủi, chỗ sở trường của bà. Ma-ri còn thuộc
hàng nghìn câu thơ Pháp, Anh, Đức, Nga, Ba Lan…
Ma-ri nằm ngả ra chiếc ghế dài lót nhung đỏ, đầu dựa vào gối
mềm nhồi lông, giở một vài trang trong quyển sách E-vơ đưa. Nhưng chỉ nửa giờ
sau bà đã bỏ sách ra, nhỏm dậy, vớ lấy cái bút chì, quyển vở, tập sách khoa học.
Theo thói quen, bà lại ghi chép, làm việc đến hai, ba giờ sáng.
Đi chơi về, E-vơ nhòm qua khung cửa kính tròng nhỏ ở hành
lang vẫn thấy còn sáng ở phòng mẹ. Cô đẩy cửa vào. Và tối nào cũng thế vẫn một
hình ảnh bà Qui-ri đang ngồi dưới sàn, xung quanh nào giấy tờ, nào thước tính,
nào sách. Ma-ri không hề quen ngồi trước bàn giấy, trên một ghế bành theo truyền
thống những nhà “tư tưởng”. Bà cần một chỗ thật rộng để trải những tài liệu, những
giấy vẽ sơ đồ.
Mải chăm chú vào một bài rắc rối và tuy biết con gái về, bà
không ngẩng đầu lên. Đôi lông mày cau lại, vẻ mặt đăm chiêu.
Một quyển vở đặt trên đầu gối, Ma-ri đương viết những dấu hiệu,
những công thức bằng bút chì, miệng lẩm nhẩm.
Và cũng như sáu mươi năm về trước, trong lớp học tính ở trường
tư thục Xi-óoc-ca, bà giáo sư đại học Xoóc-bon ấy, giữa trung tâm Pa-ri, cách
Vác-sa-va ngót 2.000 km, vẫn đếm bằng tiếng Ba Lan, tiếng mẹ đẻ.
Chú thích:
[52] Don Quichotte, một nhân vật trong tác phẩm cùng tên của
nhà văn Tây Ban Nha Cervantes, tượng trưng cho lòng hào hiệp vì nghĩa quên
mình.
[53] Tháp ở trong Thánh Kinh có nhiều người ở các nước khác
nhau đến ở nên ngôn ngữ bất đồng.
[54] Nhà viết tiểu thuyết Anh (Rudyard Kipling 1865 -1936)
[55] Nữ văn sĩ Pháp (Gabiele Colette 1873 – 1954)
Chương 26
phòng thí nghiệm
– Bà Qui-ri có ở đây không?
– Tôi tìm bà Qui-ri, bà đã đến chưa?
– Anh có trông thấy bà Qui-ri không?
Những nhân viên phòng thí nghiệm – cả nam lẫn nữ – mặc áo blu
trắng, hỏi thăm nhau trong gian phòng mà nữ bác học phải đi qua khi vào viện
Ra-đi-om. Sáng nào cũng vậy, thường có từ năm đến mười người đứng trực sẵn ở
đó. Ai cũng muốn hỏi một câu, xin một lời chỉ bảo mà không “làm phiền” đến
Ma-ri, bà thường gọi đùa đó là ban “Xô-viết” của Viện. Đúng chín giờ, chiếc xe
hơi cũ lướt sau hàng rào phía đường Pi-e Qui-ri; quay vào trong sân. Tiếng cửa
xe đóng sập. Bà Qui-ri xuất hiện giữa khung cửa của Viện mở ra vườn. Mọi người
vui vẻ vây chung quanh Ma-ri. Với những giọng kính cẩn rụt rè người thì báo rằng
đã “đo” xong hoặc cho biết tin về dung dịch “pô-lô-ni”, người thì gợi ý mời
Ma-ri đến xem máy Uyn-xơn, sẽ thấy kết quả khả quan.
Ma-ri rất thích những câu hỏi dồn dập đầy nghị lực và lòng
hăng say như thế mở đầu cho một ngày làm việc. Chưa kịp đi cất áo mũ, bà cứ đứng
giữa những người đồng sự. Mỗi nét mặt đăm chiêu lại nhắc nhở cho Ma-ri một thí
nghiệm mà trong những lúc yên tĩnh bà đã để tâm suy nghĩ.
– Anh Phuốc-ni-ê, tôi đã nghĩ đến việc anh nói với tôi. Ý hay
đấy, nhưng phương pháp đề ra không dùng được. Tôi đã tìm ra cách làm khác để có
thể dẫn đến kết quả. Ta sẽ bàn thêm. Thế nào chị Cốt-ten? Chị tìm ra số mấy? Chị
chắc tính đúng chứ? Tối hôm qua, tôi làm lại bài tính và đáp số hơi khác. Thôi
để rồi xem.
Trong những nhận xét ấy, không hề có chỗ nào nhầm lẫn hoặc đại
khái. Những phút mà Ma-ri dành cho ai, hoàn toàn được dồn vào vấn đề mà người ấy
đang tìm tòi suy nghĩ, vấn đề mà bà biết rõ từng chi tiết một. Ngay sau đấy, bà
lại chuyển sang vấn đề khác với một người học trò khác. Bộ óc Ma-ri thích hợp một
cách kỳ lạ với môn thể thao đặc biệt đó. Ở phòng thí nghiệm, nơi tập trung biết
bao trí tuệ miệt mài, bà cũng ví như những kiện tướng đánh cờ, không nhìn bàn cờ,
vẫn theo dõi được cùng một lúc ba, bốn ván cờ khác nhau.
Nhiều người đi qua, chào và dừng lại. Cuộc họp không hẹn mà
đông. Ma-ri ngồi ngay xuống bậc cầu thang và tiếp tục cuộc giải đáp không chút
nghi thức này. Ngồi thấp phải ngẩng đầu lên những người làm việc đứng ngay bên
cạnh hay dựa vào tường, trông bà không có tư thế cổ điển của một thủ trưởng. Thế
nhưng!...
Những sinh viên thực tập ở phòng thí nghiệm đều do Ma-ri chọn
sau khi đã sát hạch cặn kẽ. Và công việc của họ cũng do Ma-ri chỉ định. Gặp khó
khăn gì họ đến hỏi Ma-ri và tin tưởng là bà sẽ tìm ra sai lầm trong thí nghiệm
đã làm cho họ lạc hướng.
Sau bốn mươi năm trời làm công tác khoa học, nhà nữ bác học
tóc bạc ấy đã tích lũy được một vốn hiểu biết rộng lớn đã trở thành kho sách sống
của Viện Ra-đi-om. Bà đã đọc tất cả các bài báo có dính líu đến những thí nghiệm
ở Viện, bằng năm thứ tiếng bà nắm rất vững.
Bà khám phá ra những phát triển mới của các hiện tượng, và
phát minh ra những kỹ thuật mới. Và sau cùng, Ma-ri có một đức tính vô cùng quý
báu để gỡ rối cho mớ bòng bong giữa kiến thức và giả thuyết, đó là “đầu óc thực
tế”. Những thuyết lung bung, những giả định hấp dẫn của một vài thực tập sinh đều
bị bà Qui-ri vận dụng lý lẽ sắc bén bác bỏ. Làm việc với một người thầy như thế,
vừa mạnh dạn, vừa thận trọng thật an toàn biết bao!
Nhóm tụ tập ở đầu cầu thang lại tan dần. Ai may mắn được
Ma-ri gợi ý phấn khởi trở về nơi làm việc. Bà Qui-ri đi với một người trong bọn
họ đến “phòng vật lý” hay “phòng hóa học” và tiếp tục bàn luận trước các dụng cụ
thí nghiệm. Sau đó, bà mới được giải phóng để về phòng riêng, mặc áo blu đen,
và chăm chú vào các thí nghiệm của mình. Nào bà có tập trung tư tưởng được lâu!
Lại có tiếng gõ cửa. Một nghiên cứu sinh trẻ xuất hiện, tay cầm
một tập bản thảo. Sau anh còn một người nữa đợi. Cứ ngày thứ hai Hàn lâm khoa học
họp để thông báo. Các tác giả có công trình được báo cáo ở hội nghị ngay chiều
hôm ấy, thường đến xin bà Qui-ri ý kiến trước.
Ma-ri sang một phòng thật sáng để đọc các bản báo cáo đó. Một
bàn làm việc to bằng gỗ sồi, một ngăn tra cứu sách, nhiều tủ sách, một máy chữ
đã cũ, một ghế bành bọc da làm cho phòng có một vẻ nhã nhặn, kín đáo. Trên bàn,
một lọ mực bằng đá hoa, nhiều chồng sách, một cốc vại đựng một lô bút máy và
bút chì vót nhọn, một “mỹ nghệ phẩm” do một hội sinh viên tặng; một cái bình nhỏ
khảo cổ đào được ở It-si-a, màu nâu rất xinh.
Những bàn tay đến nộp những báo cáo sắp trình bày ở Viện hàn
lâm, run lên vì cảm động. Các tác giả biết rằng công trình của họ sẽ được đọc rất
cẩn thận. Dưới con mắt nghiêm khắc của Ma-ri, bao giờ câu văn cũng chưa thật
sáng, đoạn viết vẫn chưa thật gọn. Bà không chỉ tìm ra những sai lầm về nội
dung kỹ thuật, mà còn thảo lại từng câu, chữa lại từng lỗi văn phạm.
– Tôi nghĩ thế này mới gọi là tạm được.
Rồi bà đưa lại bản thảo – mà anh đã phải trầy trật lắm mới
hoàn thành – cho nhà nghiên cứu trẻ đang toát mồ hôi vì lo lắng.
Gặp một công trình làm cho mình hài lòng, Ma-ri tươi cười
khen:
– Được lắm! Rất tốt!
Người làm báo cáo như được chắp cánh mà bay đến tận phòng thí
nghiệm của gíáo sư Pe-ranh, có nhiệm vụ trình bày trước Viện Hàn lâm khoa học
những thông báo của Viện Ra-đi-om.
Giáo sư không ngớt lời khen:
– Bà Qui-ri chẳng những là một nhà vật lý học lừng danh, mà
còn là vị giám đốc phòng thí nghiệm giỏi nhất mà tôi biết.
Bí quyết của tài năng ấy ở đâu? Trước hết là do tinh thần
trách nhiệm hiếm có của Ma-ri. Bà là người đầy tớ trung thành, người bảo vệ nhiệt
tình uy tín và lợi ích của Viện Ra-đi-om.
Ma-ri Qui-ri kiên trì thu thập dự trữ chất phóng xạ cần cho
những công trình nghiên cứu quy mô. Thư từ trao đổi giữa Ma-ri và các giám đốc
nhà máy Ra-đi-om Bỉ và Hội liên hiệp các mỏ ở Ca-tăng-ga luôn luôn kết thúc như
sau: Hội Liên hiệp mỏ gửi biếu bà Qui-ri mấy tấn phế liệu. Và Ma-ri hăng hái bắt
tay ngay vào việc khai thác chất phóng xạ đang thiếu...
Năm này qua năm khác, phương tiện của phòng thí nghiệm giàu
thêm. Người ta thường thấy bà cùng giáo sư Pe-ranh đến các bộ xin thêm trợ cấp
và học bổng. Vì là “bà Qui-ri” nên ai cũng đều lắng nghe. Năm 1930, bà giành được
một ngân sách đặc biệt là năm trăm nghìn quan cho việc nghiên cứu.
Cũng có lúc mệt nhọc và hơi bực vì cứ phải chạy chọt, bà kể lại
cho E-vơ những buổi chầu chực ở phòng đợi, những nỗi lo âu bực bội và nói đùa:
– Không biết chừng đến lúc họ đuổi mình ra khỏi cửa như những
kẻ ăn mày.
Được một tay lái vững vàng như vậy, phòng thí nghiệm Qui-ri dần
dần đi vào khám phá tất cả các lĩnh vực của khoa phóng xạ còn bí ẩn.
Từ 1919 đến 1934, những nhà hóa học và vật lý ở Viện Ra-đi-om
cho đăng bốn trăm tám mươi ba báo cáo khoa học, gồm ba mươi luận án. Trong số bốn
trăm tám mươi ba thông báo đó, ba mươi mốt bài là của bà Qui-ri.
Con số dù cao vẫn được chú thích thêm – về cuối đời mình, bà
Qui-ri chuẩn bị cho tương lai với một tinh thần hy sinh cao cả, và dành phần lớn
thời giờ vào nhiệm vụ lãnh đạo và giảng dạy. Nếu bà cũng có thể để mỗi phút của
mình vào công việc nghiên cứu của mình như những anh em trẻ cùng làm việc, thử
hỏi sự nghiệp sáng tạo của bà còn tiến triển đến đâu? Và ai có thể nói được phần
đóng góp của Ma-ri vào bao công trình nghiên cứu mà bà đã gợi ý, dìu dắt từng
bước?
Ma-ri không hề đặt cho mình hai câu hỏi đó. Bà lấy làm mừng về
những thắng lợi đạt được do tập thể những nhà bác học mà bà gọi với một giọng tự
hào kín đáo là “Phòng thí nghiệm”.
Những khiếu về tâm lý và lòng nhân đạo đã giúp nhà nữ bác học
vốn cô độc, trở thành một người có tài cổ vũ. Bình thường rất ít thân mật, bà
Qui-ri đã giành được lòng quý mến tận tụy của người cùng làm việc mà sau bao
nhiêu năm cộng tác hằng ngày, bà vẫn trân trọng gọi là “cô” hay “ông”.
Nếu Ma-ri mải bàn về một vấn đề khoa học mà ngồi ngoài trời
quá lâu trên cái ghế dài ngoài vườn thì lập tức giọng lo âu của một chị phụ tá
nhắc nhở:
– Mời bà vào ngay cho kẻo bị lạnh!
Và nếu Ma-ri mải làm việc quên cả ăn, cũng có những bàn tay
kín đáo đặt một ít bánh mì, hoa quả ngay bên cạnh bà.
Anh em “lao công” ở phòng thí nghiệm và những công nhân cảm
thấy quý bà vô hạn. Khi Ma-ri mượn một lái xe riêng, thì người ta thấy anh
Gioóc Boa-tơ từ trước vẫn kiêm lao công, thợ máy, lái xe, làm vườn, rưng rưng
nước mắt vì từ nay sẽ không được đưa bà Qui-ri từ phố Pi-e Qui-ri đến bến
Bê-tuyn.
Một lòng thương yêu vô hạn, tuy không bộc lộ ra, gắn bó Ma-ri
với những người cùng đấu tranh và giúp bà thấy được trong gia đình lớn này những
tâm hồn nồng nhiệt cao quý nhất. Chưa lần nào mẹ tôi buồn như hồi tháng chín
năm 1932 khi được tin một trong những học trò giỏi của bà bị chết đột ngột.
Bà viết cho tôi:
“Đến Pa-ri mẹ bị một nỗi buồn lớn. Nhà hóa học trẻ Ray-mông
mà mẹ rất mến chết đuối ở một sông nhỏ vùng Ác-đéc sơ. Mẹ đã xúc động đến bàng
hoàng. Bà mẹ anh viết thư nói rằng những năm trời làm việc ở phòng thí nghiệm
là những năm quý nhất trong đời anh. Nhưng có ích gì nếu cuộc đời kết thúc như
thế. Một tuổi trẻ đầy hứa hẹn, một thanh niên khôi ngô, tuấn tú đáng yêu, những
năng khiếu đặc sắc – tất cả đều mất đi chỉ vì một cuộc tắm sông tai hại”.
Cặp mắt sáng suốt của Ma-ri phân biệt cái kém và cái giỏi,
nghiêm khắc nhìn ra chỗ mắc mớ thường làm cho người nghiên cứu không vươn lên
thành nhà bác học được. Bà sợ nhất những ai vụng về. Còn sợ hơn cả kẻ hay khoe
khoang. Một bàn tay lóng ngóng làm đổ vỡ cả một công trình lắp máy trong phòng
thí nghiệm làm bà phát bực. Một hôm, bà thân mật nói về một người làm thí nghiệm
không có tài:
– Nếu ai cũng như anh ta, thì môn vật lý khó mà tiến được.
Mỗi lần một đồng sự trình bày xong một luận án, một đề tài tốt
nghiệp hoặc được một giải thưởng thì cả phòng thí nghiệm thường tổ chức ăn mừng.
Mùa hạ, làm ở ngoài trời, dưới bóng những cây trà ở ngoài vườn. Mùa đông, tiếng
bát đĩa loảng xoảng bỗng làm rối loạn sự yên tĩnh của thư viện, gian phòng rộng
rãi nhất của Viện Ra-đi-om. Bát đĩa thật kỳ dị! Cốc kết tủa được dùng làm chén
nước trà và ly rư ợu sâm banh, đũa khuấy bằng thủy tinh thay cho thìa.
Chị em sinh viên bưng bánh mời các bạn, các thầy và các công
nhân viên. Đến dự có Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ, giáo sư phụ trách các buổi thuyết
trình của Viện; Phéc-năng Hô-nếch, trưởng phòng thí nghiệm và một bà Qui-ri hoạt
bát, vui tươi, tay cứ phải giữ cốc nước trà cho khỏi bị đám đông va chạm.
Bỗng ai nấy im lặng. Bà Qui-ri sắp chúc mừng người trúng tuyển.
Vài lời nói ấm áp, khen ngợi công trình độc đáo, và nêu bật khó khăn đã vượt
qua. Cả phòng hoan hô nhiệt liệt khi bà chúc mừng cha mẹ nhân vật chính của bữa
tiệc, hay nếu là một người nước ngoài thì thăm hỏi tổ quốc xa xôi của anh: “Trở
về đất nước tươi đẹp của anh, đất nước mà tôi biết rất rõ, và đã được đồng bào
của anh đón tiếp ân cần, mong anh sẽ giữ mãi một kỷ niệm tốt đẹp ở Viện
Ra-đi-om. Anh sẽ thấy rằng chúng ta làm việc rất nhiều, làm hết sức mình”.
Có một vài bữa tiệc trà đã làm Ma-ri cảm động đặc biệt. Đó là
hai lần ăn mừng luận án tiến sĩ khoa học của con gái và con rể.
Ma-ri thấy rõ sự phát triển thiên tư của hai nhà bác học trẻ
tuổi ấy, dưới sự chỉ đạo của mình. Năm 1934, hai vợ chồng I-ren đạt được một
thành công rực rỡ: Sau nhiều năm nghiên cứu về sự biến chất nguyên tử, I-ren và
Phrê-đê-rích Giô-li-ô đã tìm ra được “phóng xạ nhân tạo”: đem bắn phá hạt nhân
của một vài chất như nhôm (Al), họ đã có thể biến chất này thành những chất
phóng xạ mới, chưa có trong thiên nhiên, từ nay sẽ là những nguồn phóng xạ. Có
thể dễ dàng đoán được tác dụng của sự cấu tạo nguyên thủy lạ lùng đó trong các
lĩnh vực hóa học, sinh lý học, y học. Rồi đây người ta sẽ chế tạo trong công
nghiệp hàng loạt các chất có tính phóng xạ giống như Ra-đi để đáp ứng nhu cầu
trị bệnh bằng phóng xạ.
Trong một buổi họp ở Hội vật lý mà con gái và con rể trình
bày công trình của họ, Ma-ri chăm chú tự hào, ngồi lẫn với thính giả. Gặp An-be
La-boóc, khi xưa là phụ tá của mình và của Pi-e Qui-ri, bà niềm nở khác thường.
– Thế nào? Chúng nói tốt đấy chứ? Tôi nhớ lại cái thời oanh
liệt của chúng mình ở phòng thí nghiệm cũ.
Bà xúc động quá, say sưa quá, ngồi mãi trong buổi liên hoan.
Lúc về, đi bộ dọc bến tàu cùng với nhiều bạn đồng nghiệp, câu chuyện vẫn xoay
quanh thành công của đôi trẻ.
Bên kia vườn của Viện ở phố Pi-e Qui-ri, nhóm cộng tác của
giáo sư Rơ-gô mà Ma-ri thường thân mật gọi là “những người đàng trước mặt” đang
lao vào tìm tòi cách trị bệnh ung thư. Từ 1919 đến 1935, tám nghìn ba trăm mười
chín bệnh nhân được chữa ở Viện Ra-đi-om.
Clốt Rơ-gô, một nòng cốt của phòng thí nghiệm, cũng ra sức tập
trung phương tiện cần thiết cho sự nghiệp của mình: chất Ra-đi, máy móc điều trị,
các phòng làm việc, một bệnh viện. Trước con số rất lớn những ca khỏi bệnh và
do nhu cầu khẩn cấp, ông phải đi vay Ra-đi – Hội liên hiệp mỏ ở Ca-tăng-ga Thượng
cho mượn đến mười gam Ra-đi – và vận động nhà nước và tư nhân trợ cấp. Có một
nhà hảo tâm biếu hội Qui-ri ba triệu bốn trăm nghìn Phơ-răng mà tế nhị giữ kín,
không cho biết tên.
Trung tâm chữa bệnh theo phương pháp Qui-ri nổi tiếng nhất nước
Pháp thành hình. Uy tín của nó rất lớn. Rồi đây, hơn hai trăm thầy thuốc ở năm
châu sẽ đến xin thực tập để học cách chữa bệnh ung thư.
Tuy không tham dự vào công việc sinh lý học và y học, bà
Qui-ri rất chăm chú theo dõi bước tiến của hai ngành này. Bà rất tâm đồng ý hợp
với giáo sư Rơ-gô, người đồng sự có một ý thức phục vụ cao cả và một tinh thần
vô tư tuyệt đối. Cũng như Ma-ri, ông luôn luôn gạt bỏ những lợi nhuận vật chất.
Giá đi vào khám bệnh tư, ông có thể giàu to, nhưng riêng ý nghĩ đó cũng không hề
nẩy ra trong tâm trí ông.
Bà Qui-ri và ông Rơ-gô rất đỗi kinh ngạc về sự hiệu nghiệm của
cách chữa bệnh theo phương pháp Qui-ri, khi có bàn tay chuyên môn giỏi, nhưng
cũng chung một lo lắng. Họ vô cùng lo ngại, và bất lực trước tệ lạm dụng chất
Ra-đi thiếu lương tâm, đang lan tràn trên thế giới. Chỗ này, những thầy thuốc
vì chưa hiểu, cứ dùng bừa chất phóng xạ đối với người bệnh, mà không hề nghĩ đến
nguy cơ của lối “điều trị” đó. Nơi kia bán thuốc men hoặc mỹ phẩm “có chất
Ra-đi” đôi khi còn lấy cả tên Qui-ri để làm quảng cáo...
Nhưng mẹ tôi, gia đình Qui-ri, giáo sư Rơ-gô và Viện Ra-đi-om
tuyệt đối xa lạ với những việc làm đó.
*
– Bác xem hộ có gì quan trọng không? – Ma-ri bận rộn chỉ cho
bà Ra-đê thư ký riêng tập thư từ báo chí đến hôm trước.
Những phong bì thường chỉ ghi vắn tắt “Bà Qui-ri Pa-ri” hay
“Bà Qui-ri, nữ bác học Pháp”. Một nửa là thư xin chữ ký.
Với loại này đã có một phiếu in sẵn câu trả lời: Vì không muốn
cho chữ ký, hoặc ký vào ảnh, bà Qui-ri xin lỗi... Đối với hạng cuồng nhiệt, viết
tám hay mười trang, bằng nhiều thứ mực, điên rồ, dớ dẩn, thì chỉ có một cách trả
lời là im lặng.
Các trường hợp khác, bà Qui-ri cặn kẽ đọc cho thư ký từng bức
điện gửi đồng nghiệp ở nước ngoài, từng lá thư trả lời bao tiếng cầu cứu tuyệt
vọng của những người cứ nghĩ rằng đã là Ma-ri Qui-ri là có thể cứu chữa được mọi
bệnh hoạn, làm nhẹ mọi đau đớn; lại còn thư của mấy nhà chế tạo máy móc, rồi bản
giá cả, hóa đơn, phúc đáp công văn, tất cả thành bốn mươi bảy hồ sơ. Nào như thế
đã đủ đối với quan hệ rộng lớn của nhà nữ bác học. Khắp nơi gửi đến thư xin gặp.
Cứ sáng thứ ba và thứ sáu, Ma-ri mặc cái áo đen lịch sự nhất của mình mà nói:
– Hôm nay là ngày giao thiệp. Ta phải chỉnh tề chứ.
Từ sớm, hành lang phòng thí nghiệm đã đông người ngồi đợi, có
cả nhà báo mà một lời dặn trước của bà thư ký Ra-đê làm họ cụt hứng:
– Bà Qui-ri chỉ tiếp những vị nào hỏi về vấn đề kỹ thuật. Xin
miễn phỏng vấn riêng.
Ma-ri vốn rất nhã nhặn, nhưng trong gian phòng chật hẹp,
nghiêm nghị, với mấy chiếc ghế không đệm, sơ sài, trước sự sốt ruột không giấu
nổi của Ma-ri lúc lúc lại đưa mắt lên nhìn đồng hồ, khách đến nói chuyện không
tài nào ngồi lâu được.
Cứ đến thứ hai và thứ tư, mới sáng ra Ma-ri đã đứng ngồi
không yên. Vì đúng năm giờ chiều phải lên lớp. Sau bữa ăn sáng, bà vào phòng
riêng ở bến Bê-tuyn soạn bài giảng. Bà biên sẵn ra một tờ giấy đầu đề từng
chương. Khoảng bốn giờ rưỡi, bà đến nơi làm việc và lại ngồi ở một phòng nhỏ để
chuẩn bị thêm. Lúc này ai muốn gặp cũng không được.
Hai mươi nhăm năm dạy học, thế nhưng mỗi khi bước lên bục giảng
đường nhỏ, trước mặt ba mươi bảy, bốn mươi học trò, bà vẫn không khỏi xúc động.
Một nếp hoạt động căng thẳng đáng sợ. Ma-ri còn viết báo, soạn
sách khoa học. Một quyển nói về “Sự đồng vị và chất đồng vị”, một tiểu sử Pi-e
Qui-ri xúc tích và cảm động, một quyển sách thu gọn toàn bộ bài giảng của Ma-ri
Qui-ri với một hình thức hoàn hảo.
Những năm trời trong sáng và phong phú đó cũng là những năm
chiến đấu dũng cảm! Ma-ri có nguy cơ bị hỏng cả hai mắt.
Kể từ năm 1920, thầy thuốc đã báo động là cả hai mắt có triệu
chứng thành màng, và sẽ hoàn toàn không nhìn thấy gì. Ma-ri không để cho ai
đoán biết nỗi thất vọng của mình. Bà nói thẳng với hai con cái tai họa ấy và
bàn ngay đến cách chữa; độ hai, ba năm nữa sẽ mổ mắt. Từ nay nhãn mắt mờ dần,
như đặt một đám sương mù vĩnh viễn giữa bà và thế giới bên ngoài, với công việc
nghiên cứu.
Ma-ri viết cho Brô-ni-a, 10 tháng 11 năm 1920:
“Em bị rầy rà nhất về hai mắt và hai tai. Mắt kém lắm rồi, và
có điều trị chắc cũng chẳng ăn thua gì. Tai cứ ù suốt ngày, có khi đến nhức óc.
Em rất lo, công việc có thể bị trở ngại, thậm chí gián đoạn hẳn. Mấy triệu chứng
trên có lẽ do chất Ra-đi gây ra, nhưng không khẳng định hẳn đư ợc.
Đó là những nỗi buồn của em. Chị đừng nói với ai, để cho khỏi
lan ra ngoài. Thôi, ta bàn chuyện khác”.
“Đừng nói với ai”, với I-ren và E-vơ, Ma-ri cũng dặn như thế,
với các anh chị, với anh ruột là những người tâm sự duy nhất của mình. Ma-ri chỉ
có một lo ngại là, nếu không giữ kín, để tin này lan ra, và một ngày kia, báo sẽ
đăng “Bà Qui-ri bị tàn phế”.
Hai bác sĩ điều trị cho bà Qui-ri, cũng lo như vậy. Người bệnh
lấy một tên khác. Đó là bà Ca-rê nào đó bị mắt có màng. Và mỗi lần E-vơ vào hiệu
thuốc hỏi mua kính, cũng là mua cho bà Ca-rê đó thôi.
Ma-ri viết cho E-vơ ngày 13 tháng 7 1923:
“Mẹ định đi mổ mắt vào ngày 18, sáng thứ tư. Con chỉ cần về từ
tối hôm trước. Với cái nóng khủng khiếp này e rằng con mệt. Con nói hộ với bạn
bè ở Lác-cu-ét rằng mẹ đang bận về một cuốn sách mà hai mẹ con ta cùng làm, do
đó mẹ cần đến con vì người ta giục gấp.
Mẹ hôn con
Nói càng ít càng hay con nhé!”
Những ngày nóng nực nằm bệnh viện, E-vơ phải bón súp bằng
thìa cho bà Ca-rê im lặng, đầu quấn toàn băng. Mối lo ngại bệnh có thể trở chứng
gây xuất huyết, hàng tuần lễ làm tiêu tan hy vọng khỏi bệnh.
Hai lần mổ mắt nữa vào tháng ba 1924. Một lần thứ tư vào năm
1930. Vừa mới được tháo băng, Ma-ri đã tập dùng đôi mắt không bình thường, đã mất
nhân, không còn điều tiết được nữa.
Ma-ri viết cho E-vơ, từ nơi điều dưỡng ở Ca-va-le vài tháng
sau lần mổ thứ nhất:
“Mẹ cố tập đi lại không dùng kính có tiến bộ. Đã hai lần đi
chơi núi, đường hiểm, sỏi đá gập ghềnh, thế mà vẫn bước nhanh, không có chuyện
gì. Cái khó khăn hiện nay là cứ nhìn một hóa hai, thành thử không nhận ra được
ai đến gần. Mỗi ngày mẹ tập đọc và tập viết. Đến nay việc đó còn khó hơn tập
đi. Có lẽ con sẽ phải giúp mẹ biên soạn bài cho Bách khoa Toàn thư Anh quốc”.
Dần dần Ma-ri đã thắng số mệnh. Nhờ đeo thêm kính to bà đã có
thể nhìn gần như bình thường, đi ra phố một mình, lái xe lấy và ở phòng thí
nghiệm lại làm được việc cân đo tỉ mỉ. Một sự kỳ diệu của bà! Ma-ri lại thoát
khỏi bóng tối, lại có đủ ánh sáng để làm việc, làm việc cho đến hết đời.
Một bức thư nhỏ, Ma-ri viết cho Brô-ni-a, từ tháng chín 1927,
cho bà biết bí quyết của thắng lợi này:
“Nhiều lúc em không còn đủ can đảm nữa và tự nhủ rằng có lẽ đến
phải nghỉ hẳn, về sống ở thôn quê vui với vườn tược. Nhưng trăm nghìn dây ràng
buộc, biết bao giờ mới thu xếp được như thế. Em cũng chẳng rõ, mà dù chỉ viết
sách khoa học, chả chắc mình đã có thể rời được và thí nghiệm”.
*
“Chả chắc mình có thể rời được phòng thí nghiệm...”
Muốn hiểu được lời thốt từ đáy lòng ấy, phải thấy Ma-ri trước
những dụng cụ thí nghiệm của mình mỗi khi xong sự vụ hàng ngày là bà lại có thể
say sưa nghiên cứu. Không cứ phải một thí nghiệm quan trọng, khuôn mặt gày gò mới
tỏ ra đăm chiêu ngây ngất. Chỉ việc thổi thủy tinh được Ma-ri làm với một bàn
tay nghệ sĩ, hoặc cân đo chính xác cũng làm cho bà sung sướng hân hoan. Sau
này, một cô phụ tá chăm chú và nhậy cảm tên là Sa-mi-ê sẽ nhớ lại miêu tả bà
Qui-ri hằng ngày, tiếc rằng không có một bức ảnh nào ghi lại vẻ say sưa ngây ngất
ấy:
“Bà ngồi trước máy, làm cái việc đo lường trong ánh sáng mập
mờ của một phòng không sưởi ấm, để tránh những thay đổi nhiệt độ. Mọi thao tác
như mở máy bấm đồng hồ đo, nhấc quả cân v.v... đều được Ma-ri làm với một kỷ luật
và một sự nhịp nhàng đáng phục. Một nhạc sĩ đánh dương cầm cũng không sử dụng
đôi tay nhịp nhàng đến vậy. Đó là một kỹ xảo tuyệt trần, xuống mức thấp nhất hệ
số sai lầm của bản thân”.
Sau khi tính toán rất nhanh để so sánh kết quả, bà tỏ ra vui
sướng thật sự vì sai số còn thấp hơn giới hạn cho phép rất nhiều, đảm bảo rằng
đo lường đã chính xác.
Ma-ri thường làm việc rất say sưa. Có lần, vào năm 1927,
I-ren ốm nặng, làm bà lo lắng mất ăn mất ngủ, nhưng khi đã đứng trước máy trong
phòng thí nghiệm, thì bà như quên tất cả, người quen đến hỏi tin về I-ren chỉ
được trả lời vắn tắt, lạnh lùng và sau đó Ma- ri còn tỏ ra bực dọc là “không được
yên mà làm việc”.
Ta hãy ngắm Ma-ri đang làm một thí nghiệm cơ bản chế tạo ra
Ac-ti-ni X để lấy quang phổ của những tia an-pha, công trình cuối cùng của nhà
nữ bác học.
– Phải lấy Ac-ti-ni X nguyên chất ở một trạng thái hóa học
làm cho nó không thể tỏa khí được.
Cả một ngày làm việc vẫn chưa thể tách riêng được chất đó,
Ma-ri Qui-ri ở lại và thí nghiệm, bỏ bữa ăn chiều. Nhưng chất đó đâu chịu tách
ra nhanh, phải làm việc cả đêm cho cái nguồn phóng xạ đang được điều chế không
kịp giảm đi nhiều.
Đến hai giờ sáng, vẫn còn một thao tác cuối cùng: phải ly tâm
dung dịch trong một giờ, trên một cái giá đặc biệt. Tiếng máy ly tâm chạy nghe
rất mệt. Nhưng Ma-ri cứ đứng cạnh nó, không chịu rời căn phòng. Mắt bà gắn với
cái máy, tưởng chừng như lòng tha thiết mong cho thí nghiệm có kết quả có thể bất
chấp Ac-ti-ni X kết tủa.
Lúc này, đối với bà Qui-ri, ngoài máy ly tâm ra, không còn gì
trên đời nữa; cả cuộc sống ngày mai, cả cái mệt cơ thể. Thật là một sự tập
trung cao độ vào việc đang làm…
Khi thí nghiệm không đạt kết quả mong muốn, trông Ma-ri thật
thiểu não. Ngồi trên ghế, hai tay khoanh lại, lưng khom, mắt nhìn trống rỗng,
Ma-ri giống như một bà cụ thôn quê, rất già, mặt buồn rầu trước một cái tang lớn.
Ai nấy tưởng như một tai họa gì xảy ra. Hỏi thì được câu trả lời thống thiết:
– Thế là không lấy được chất Ac-ti-ni!
Hoặc bà đổ lỗi:
– Chất Pô-lô-ni nó thù tôi!
Nhưng nếu có kết quả thì lòng nhẹ nhõm, vui vẻ ríu rít, Ma-ri
ra dạo vườn hoa, như muốn thổ lộ với những khóm hồng, mấy gốc trà, với mặt trời
tất cả niềm vui sướng của mình. Ma-ri lại làm lành với khoa học rồi, lại cười
nói vui vẻ.
Nếu một người nghiên cứu, nhân lúc đó, ngỏ ý muốn để bà xem một
thí nghiệm đang làm, lập tức bà cùng đi đến tận cái máy đang đếm nguyên tử để
ngắm quặng uy-lê-mít đang phát quang, do ảnh hưởng của Ra-đi.
Trước những sự kỳ diệu quen thuộc đó, đôi mắt màu tro sáng
lên vì sung sướng, dường như Ma-ri đang ngắm một bức họa của Bô-ti-xê-li[56] hoặc của Véc-me[57] vậy.
Chú thích:
[56] Botticelli, họa sĩ Ý thời trước Phục Hưng
[57] Vermeer Van Delft, họa sĩ Hà Lan (1622-1675)
Chương 27
nhiệm vụ đã xong
Nhiều lúc Ma-ri nói đến cái chết của mình. Bà bàn luận về hiện
tượng không tránh được này một cách bình thản, và nói đến những hậu quả thiết
thực của nó không chút xao xuyến:
– Cố nhiên là tôi không thể sống được nhiều năm nữa.
Hoặc:
– Tôi lo ngại số phận của Viện Ra-đi-om sau khi tôi chết.
Thực ra trong lòng Ma-ri không hề bình thản cam chịu số mệnh.
Với tất cả bản năng của mình, Ma-ri đẩy xa cái ý nghĩ kết thúc. Những người
khâm phục Ma-ri thường nghĩ rằng bà đã có một cuộc sống không gì sánh tày.
Nhưng đối với Ma-ri, cuộc sống đó nào có đáng kể chi so với sự nghiệp đang tiến
hành.
Ba mươi năm trước đây, như linh cảm trước cái chết do ngẫu
nhiên đưa lại, Pi-e Qui-ri cũng đã lao vào công việc với một nhiệt tình bi thảm.
Nay lại đến lượt Ma-ri thách thức với thần chết. Như để chống lại cuộc tấn công
mà bà thấy trước, Ma-ri nôn nóng dựng lên một bức tường kế hoạch và nhiệm vụ, bất
chấp sự mệt nhọc ngày một tăng, bất chấp các bệnh mãn tính đang đày đọa mình: mắt
kém, tai ù, thấp khớp bả vai.
Những cái đó có nghĩa lý gì? Còn nhiều việc khác quan trọng
hơn. Ma-ri mới cho xây một nhà máy khai thác Ra-đi từ các quặng phóng xạ. Bà đã
từng ao ước nó từ lâu và giờ đây đang làm ở đó những thí nghiệm đầu tiên đầy
hào hứng. Bà còn bận về quyển sách mà sau khi bà chết đi, sẽ không ai làm được.
Rồi công việc về nhóm Ac-ti-ni chưa tiến được bao nhiêu, sau đó lại còn phải
nghiên cứu cấu trúc tinh vi của tia an-pha. Sáng dậy sớm, tất bật đến phòng thí
nghiệm, tối ăn xong lại quay về phòng thí nghiệm…
Bà làm việc một cách vội vã khác thường – và với một sự thiếu
thận trọng đối với bản thân đã thành nếp, bà vẫn xem thường những điều chú ý mà
bà nghiêm khắc buộc học trò phải theo, như cầm các ống nghiệm đựng chất phóng xạ
bằng kẹp, dùng những “mộc” chì để bảo vệ mình chống những tia độc. Có chăng bà
chịu đi thử máu theo điều lệ của Viện Ra-đi-om.
Công thức máu của Ma-ri không bình thường. Chao! Ba mươi lăm
năm trời tiếp xúc với chất Ra-đi, thở khí tỏa của Ra-đi, bốn năm chiến tranh phải
chịu đựng những tia Rơn-ghen nguy hiểm hơn nữa mà chỉ bị một sự thay đổi nhỏ về
máu, một vài chỗ bỏng ở hai bàn tay, tuy có đau và khó chịu, lúc thì khô lúc lại
làm mủ, xét đến cùng, chẳng phải là những hình phạt nặng nề gì!
Tháng chạp năm 1933, một trận ốm ngắn làm cho Ma-ri lo ngại
hơn. Chiếu điện thấy túi mật sỏi khá to. Cũng căn bệnh đã gây cái chết của ông
Xkhua-đốp-xki! Không muốn mổ, bà phải theo chế độ kiêng khem, và giữ sức hơn.
Bà cảm thấy mệt, nhưng để có thể tự chủ là mình còn khỏe, bà
đi trượt băng ở Véc-xây và đến với I-ren trên những bãi trượt tuyết ở Thụy Sĩ.
Bà sung sướng thấy đôi chân còn dẻo dai, nhanh nhẹn. Ngày lễ Phục Sinh, nhân dịp
Brô-ni-a sang Pa-ri chơi, Ma-ri lái xe dẫn chị đi thăm miền Nam nước Pháp.
Chuyến đi thật là tai hại. Ma-ri muốn qua nhiều nơi để
Brô-ni-a có dịp ngắm cảnh đẹp. Sau nhiều chặng, khi tới biệt thự của mình ở
Ca-va-lê, Ma-ri bị nhiễm lạnh kiệt sức. Đến nơi, nhà lạnh như băng, và lò sưởi
đốt vội lên không kịp làm Ma-ri ấm lại. Ma-ri run bắn lên, òa khóc trong lòng
Brô-ni-a như một đứa trẻ. Bị ám ảnh về quyển sách đang viết, bà chỉ lo bị sưng
cuống phổi, không còn sức hoàn thành. Được Brô-ni-a săn sóc an ủi, ngày hôm
sau, Ma-ri tự trấn tĩnh hơn.
Một vài ngày nắng làm cho Ma-ri phấn khởi hẳn lên. Trở về
Pa-ri, Ma-ri thấy khá hơn. Một thầy thuốc nói là cúm và cũng như tất cả thầy
thuốc đã từng nói từ bốn mươi năm nay – do quá lao lực. Cơn sốt cứ âm ỉ, nhưng
Ma-ri cho là không có gì đáng quan tâm. Brô-ni-a trở về Ba Lan mà lòng không
yên. Trước con tàu đi Vác-xô-vi, trên sân ga quen thuộc, hai chị em ôm hôn nhau
một lần cuối cùng.
Ma-ri cứ nửa ốm nửa khỏe, những ngày cảm thấy khá hơn, thì đến
phòng thí nghiệm. Khi thấy hơi choáng váng và mệt, bà ở nhà viết sách...
Song kẻ thù nham hiểm đã nhanh hơn. Sốt vẫn dai dẳng với những
cơn rét ác liệt hơn. E-vơ phải nói khéo lắm mẹ mới cho mời thầy thuốc. Từ trước
đến nay Ma-ri chưa khi nào chịu có một thầy thuốc theo dõi sức khỏe của mình, lấy
cớ là “phiền toái” và “không có cách nào thanh toán với họ được” – vì không có
bác sĩ nào ở Pháp chịu lấy tiền sau khi khám bệnh cho bà Qui-ri.
Nhà bác học ấy, người bạn của tiến bộ ấy, cũng ghét khám và
chữa bệnh như chị em nông dân vậy.
Giáo sư Rơ-gô đến thăm sức khỏe của Ma-ri, gợi ý là nên đến hỏi
giáo sư Ra-vô, ông này lại giới thiệu đến giáo sư Bu-lanh, bác sĩ phụ trách bệnh
viện Pa-ri. Thấy vẻ mặt tái nhợt của Ma-ri, ông nói ngay:
– Phải nằm điều trị, phải nghỉ.
Bà Qui-ri đã nghe những câu ấy không biết bao nhiêu lần rồi
nên chẳng để ý tới nữa. Bà vẫn cứ lên xuống những cầu thang ở bến Bê-tuyn và gần
như ngày nào cũng đến làm việc ở Viện Ra-đi-om.
Một buổi trưa nắng chói tháng 5-1934, Ma-ri ở mãi đến ba rưỡi
ở phòng Vật lý, xếp đặt một cách mệt nhọc những bát sứ, dụng cụ đo lường – những
người bạn trung thành. Bà trao đổi vài lời với những người đồng sự rồi nói:
– Tôi bị sốt. Tôi về đây.
Ma-ri còn đi một vòng quanh vườn, nay đã rực rỡ những khóm
hoa mới trồng. Bỗng nhiên bà dừng lại trước một cây hồng khẳng khiu, và gọi anh
thợ máy lại:
– Gioóc, anh hãy nhìn cây hồng này, phải chăm sóc nó ngay mới
được.
Một nữ sinh bước lại gần khẩn khoản đề nghị bà không nên ở
lâu ngoài vườn và nên về nhà ngay. Tuy làm theo ý cô, trước khi lên xe, bà còn
nghoảnh lại:
– Gioóc – đừng quên đấy – cây hồng...
Con mắt lo ngại nhìn khóm hồng héo rũ là cái nhìn vĩnh biệt của
bà Qui-ri với phòng thí nghiệm.
ù
Bà không rời giường bệnh nữa. Một cuộc chiến đấu rất nản chống
lại một căn bệnh không biết rõ, lúc thì gọi là cúm, lúc thì nghi là sưng cuống
phổi buộc Ma-ri phải chịu đựng những sự chăm sóc chỉ làm cho người ốm thêm mệt
nhọc.
Bà bằng lòng cho đưa đến một bệnh viện để khám toàn bộ. Hai lần
chiếu điện, năm sáu lần xét nghiệm, các nhà chuyên môn vẫn phân vân. Nội tạng
bình thường, không có một bệnh nào rõ rệt. Nhưng vì chiếu phổi thấy hơi mờ nên
các bác sĩ quyết định phải chườm và giác cho bà, trở về bến Bê-tuyn, Ma-ri chẳng
thấy khá hơn mà cũng chẳng yếu thêm, người ta đã xì xào đến tiếng “an dưỡng đường”.
E-vơ rụt rè nói ra chuyện đó, Ma-ri cũng chấp nhận, bằng lòng
đi. Bà đặt hy vọng vào một khí trời trong sạch hơn, cho rằng bụi và tiếng động
trong thành phố làm cho bệnh không khỏi. Mọi người bàn tính. E-vơ sẽ cùng đi với
mẹ và sẽ ở lại an dưỡng đường vài tuần rồi ông anh và các bà chị Ma-ri ở Ba Lan
sẽ sang tiếp, sau đó I-ren sẽ ở với mẹ cả tháng tám và đến mùa thu bệnh sẽ khỏi.
Trong buồng bệnh, vợ chồng I-ren nói chuyện với bà Qui-ri về
công việc phòng thí nghiệm, về ngôi nhà ở Xô, về việc sửa bản thảo cuốn sách mà
Ma-ri vừa làm xong. Một người cộng sự trẻ của giáo sư Rơ-gô, hàng ngày đến thăm
Ma-ri, ca ngợi cuộc sống dễ chịu và tác dụng của an dưỡng đường.
Tuy các bác sĩ không có vẻ bi quan, trong nhà không có ai tỏ
vẻ lo lắng, E-vơ vẫn có cảm giác chắc chắn là có sự chẳng lành.
Những ngày quang đãng rạng rỡ mùa xuân năm ấy, E-vơ sống gần
gũi thân mật với mẹ, giờ đây phải nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Lúc này cô mới thấy hết
tâm hồn trong trắng và trái tim rộng lớn của Ma-ri, và tính dịu dàng không bờ bến
của bà. Ma-ri là người mẹ dịu hiền năm xưa, và trước hết là cô gái cách đây bốn
mươi sáu năm đã viết:
“...những người đa cảm như tôi mà không thể thay đổi bản chất
đó, ít ra cũng nên giữ càng kín càng tốt...”
Đó là bí quyết một tâm hồn e lệ, đa cảm, kín đáo. Suốt cuộc đời
vẻ vang của mình Ma-ri luôn luôn giữ không để có những biểu hiện yếu đuối,
không thốt nên lời kêu gọi giúp đỡ.
Giờ đây cũng vậy, bà Qui-ri không thổ lộ, không phàn nàn hoặc
rất tế nhị kín đáo. Bà chỉ nói đến tương lai... Tương lai phòng thí nghiệm,
tương lai Viện Ra-đi-om Vác-xô-vi, tương lai con cái... Bà hy vọng và biết rằng
I-ren và Phrê-đê-rích Giô-li-ô sắp nhận được giải Nô-ben.
Ma-ri yếu dần. Trước khi đưa mẹ đi an dưỡng, E-vơ đã cố mời bốn
bác sĩ giỏi nhất ở Pháp đến hội chẩn. Tiếc thay căn bệnh quá bí ẩn, không tài
nào xác định được. Các lương y chỉ còn kết luận là do những chấn thương về bệnh
lao tái phát, và cho rằng đi lên vùng núi một thời gian sẽ khỏi hẳn sốt. Họ đã
nhầm.
Chuẩn bị quá vội vàng, tai hại. Để giữ sức cho Ma-ri, phải hạn
chế chỉ để bà tiếp xúc với vài người thân. Tuy vậy bà cũng lén cho gọi người cộng
sự của mình là Cốt-len đến và căn dặn:
– Phải cất kỹ chất Ac-ti-ni, đợi đến khi tôi về. Tôi trông cậy
ở chị thu xếp mọi việc. Sau hè, chúng ta sẽ làm tiếp việc này.
*
Tuy bệnh tình bỗng trầm trọng, các thầy thuốc vẫn khuyên đi
ngay. Chuyến đi vất vả đau thương khôn tả. Trên xe lửa, khi đến Xanh Giéc-ve,
Ma-ri mệt quá, ngất đi trong tay E-vơ và người nữ y tá. Cuối cùng, khi bà được
đặt nằm trong gian phòng đẹp nhất của an dưỡng đường Xăng Xe-lơ-mô-dơ, lại chiếu
điện và xét nghiệm: phổi vẫn không có gì. Chuyến đi đã vô ích!
Sốt quá bốn mươi độ. Không thể giấu Ma-ri việc đó vì tự bà
soát lại mức thủy ngân với sự cẩn thận của nhà bác học. Bà không nói một lời,
nhưng đôi mắt biến sắc tỏ ra rất lo ngại. Giáo sư Rốc ở Thụy Điển được mời gấp
đến, so sánh những bảng thử máu mới nhất thấy con số hồng cầu và bạch cầu rút rất
nhanh. Ông chẩn đoán là một bệnh thiếu máu biến chứng hiểm nghèo. Ông an ủi
Ma-ri cứ bị ám ảnh về sỏi thận và quả quyết với Ma-ri rằng sẽ không mổ và sẽ cố
chữa. Nhưng cuộc sống đã rời dần cái cơ thể quá ốm yếu này.
Bây giờ bắt đầu một cuộc chiến khốc liệt mà người ta gọi là
“một cái chết nhẹ nhàng” khi thân thể không muốn chết còn chống lại kịch liệt. Ở
bên cạnh mẹ, E-vơ lại phải tiến hành một cuộc chiến đấu khác: trong bộ óc của
Ma-ri còn rất sáng suốt, ý nghĩ về cái chết chưa lọt vào được. Cần phải duy trì
sự kỳ diệu đó, tránh cho Ma-ri một nỗi buồn quá lớn, mà không có sự cam phận
nào có thể làm dịu được. Nhất là phải làm bớt đau khổ về thể xác trong khi giữ
cho tâm hồn được thư thái. Giờ đây chăm sóc chỉ làm cho người bệnh thêm mệt.
Truyền máu lúc này vô ích mà chỉ ảnh hưởng đến thần kinh. Và không cần tập hợp
xung quanh người sắp chết, vì thấy người thân đến đông đủ, người bệnh sẽ chỉ thấy
sự thật khốc hại và chỉ thêm đau khổ.
Cuộc sống của an dưỡng đường như dừng lại, khi nghe tin xé ruột
gan:
Ma-ri Qui-ri sắp chết! Tòa nhà chỉ còn thấy sự kính trọng,
tha thiết, im lặng. Hai thầy thuốc thay nhau túc trực trong buồng Ma-ri, nâng đỡ
bà, an ủi bà. Và cũng chăm sóc luôn cả E-vơ, giúp E-vơ chiến đấu, bày cho cách
chiến đấu và hứa sẽ tiêm thuốc làm dịu những cơn đau cuối cùng của mẹ cô.
Ngày mồng 3 tháng 7, buổi sáng bàn tay run rẩy của Ma-ri còn
cầm được hàn thử biểu, đọc được mức thủy ngân một lần cuối cùng, và thấy được sự
hạ nhiệt độ đột ngột thường vẫn đi trước sự kết thúc. Bà mỉm cười vui sướng khi
nghe E-vơ khẳng định rằng đó là dấu hiệu khỏi bệnh, và bây giờ bà sẽ khỏi. Bà
nhìn ra cửa sổ mở, về phía mặt trời, và phía núi non im lặng, lòng tràn đầy ước
vọng, tha thiết muốn sống. Bà nói:
– Chẳng phải thuốc đã làm mẹ dễ chịu đâu, mà là khí trời miền
núi.
Trong lúc hấp hối, khi thì rên rỉ vì đau, khi thì phàn nàn,
mơ màng, ngạc nhiên:
– Tôi không nói được nữa... tôi như mất hồn...
Bà không gọi tên một người nào. Không gọi tên con gái lớn vừa
mới đến Xăng Xe-lơ-môi-dơ cùng chồng, không gọi E-vơ, không gọi họ hàng thân
thiết. Những mối lo nghĩ lớn hay nhỏ về công việc nghiên cứu lại trở về tràn ngập
bộ óc kỳ diệu thành những câu đứt quãng:
– Đầu mục chương sách phải sắp xếp như nhau. Tôi đã nghĩ đến
việc xuất bản.
Và nhìn chằm chặp vào cái chén rồi cố khuấy cái thìa – không,
đâu phải nhìn cái thìa, mà là cái bay – một dụng cụ mỏng manh của phòng thí
nghiệm:
– Họ làm cái này bằng Ra-đi hay bằng Mê-đô-tô-ri đấy nhỉ.
Ma-ri đã xa rời những con người để đến với những đồ vật đáng
yêu mà bà hiến cả cuộc đời.
Miệng bà chỉ lắp bắp không ra lời, và bỗng nhiên, khi thấy
thuốc đến tiêm, bà khẽ thốt lên mệt nhọc:
– Thôi! để cho tôi yên.
*
Những phút cuối cùng tỏa ra sức chống đỡ mãnh liệt của một
người mà vẻ mảnh dẻ chỉ là bề ngoài, một trái tim rất khỏe lồng vào trong thớ
thịt đang lạnh dần, nhưng vẫn cứ đập day dứt, không mệt mỏi. Mười sáu giờ liền,
bác sĩ Pi-e Lu-ít và E-vơ mỗi người cầm một bàn tay lạnh ngắt của một cơ thể mà
cái sống và cái chết đều không muốn nhận. Mãi đến sáng hôm sau khi măt trời điểm
hồng rặng núi và bắt đầu cuộc hành trình của nó trong một bầu trời trong suốt,
khi ánh nắng một buổi sáng rạng rỡ ùa vào trong phòng, tràn đến tận giường, chiếu
vào đôi má gầy guộc, và đôi mắt vô tri vô giác màu tro mà cái chết đã hóa như
thủy tinh, thì quả tim mới ngừng đập.
Trước thi hài, khoa học còn nhiệm vụ phải lên tiếng. Những
triệu chứng không bình thường, các cuộc xét nghiệm máu khác với các bệnh nhân
thiếu máu đã được biết, cuối cùng đã tố ra thủ phạm: đó là chất Ra-đi.
Bác sĩ Rơ-gô viết:
“Bà Qui-ri có thể coi là một trong những nạn nhân dài hạn của
chất phóng xạ mà chồng bà và bản thân bà đã tìm ra”.
Bác sĩ Tô-bê cũng viết:
“Bà Pi-e Qui-ri chết ngày 4 tháng 7 năm 1934 ở Xăng
Xê-lơ-môi-dơ. Căn bệnh là sự thiếu máu hiểm nghèo, diễn biến rất nhanh, có sốt,
tủy xương mất khả năng phản ứng, có lẽ vì bị hư hại do nhiễm phóng xạ quá nhiều”.
Tin buồn từ an dưỡng đường lan ra thế giới, chạm vào những điểm
đau nhói: ở Vác-xô-vi có Hê-la; ở Béc-lanh, trên một chuyến xe lửa chạy gấp về
nước Pháp, có Dô-dếp và Brô-ni-a; ở Mông-pê-li-ê, có Giắc Qui-ri, ở Lơn-đơn có
bà Mê-lô-nây; ở Pa-ri, những người bạn chân thành.
Trước những dụng cụ không còn sức sống ở Viện Ra-đi-om, các
nhà bác học trẻ nức nở.
Giờ đây, bà Qui-ri an nghỉ, xa hẳn những nỗi đau thương đó,
xa hẳn mọi sự huyên náo, trên giường bệnh, trong một an dưỡng đường trước những
nhà khoa học đã tận tụy cứu chữa đến phút cuối cùng. Bà nằm đó, mặc toàn đồ trắng,
mái tóc bạc để lộ một vầng trán mênh mông, khuôn mặt bình thản nghiêm nghị và
dũng cảm như một tráng sĩ; trong giờ phút này, tượng trưng cho cái gì đẹp đẽ,
cao cả.
Đôi tay xương xương, khô ráp đã thành chai, có những vết sẹo
rất sâu vì Ra-đi làm bỏng. Đôi tay đã duỗi thẳng và cứng lại, không còn cái tật
quen thuộc, luôn động đậy các ngón nữa.
Đôi bàn tay ấy đã làm việc nhiều biết chừng nào!
Ngày thứ 6, 6 tháng 7 năm 1934, buổi trưa, không điếu văn,
không quân nhạc, không một chính khách tiễn đưa, Ma-ri Qui-ri âm thầm đi đến
nơi an nghỉ cuối cùng. Bà được an táng ở nghĩ địa Xô, trước mặt người thân, bạn
hữu và những người cộng sự. Cái quan tài mới được đặt trên quan tài Pi-e
Qui-ri. Dô-dếp và Brô-ni-a ném xuống huyệt một nắm đất đem từ Ba Lan sang! Mộ
chí khắc thêm một tên mới: Ma-ri Xkhua-đốp-xka 1867- 1934. Một năm sau, cuốn
sách mà Ma-ri viết xong trước khi mất, mang lại cho những người “yêu vật lý” một
tài liệu cuối cùng của nhà nữ bác học.
Trên bìa xám có in tên tác giả: “Bà Pi-e Qui-ri, Giáo sư trường
Đại học Xoóc-bon. Giải thưởng Nô-ben Vật lý. Giải thưởng Nô-ben Hóa học”.
Và tên sách chỉ có mỗi hai chữ, nghiêm nghị và rạng rỡ:
“PHÓNG XẠ”
PHỤ LỤC
những sự kiện khoa học lớn đương thời marie curie
NĂM SỰ KIỆN
1857 Louis Pasteur (1822 – 1895) nhà bác học Pháp khai sinh
ra ngành Vi Sinh học (bacteriologie)
1863 Alred Nobel (1833 – 1896) nhà bác học Thụỵ Điển, phát
minh ra chất nổ
1867 Karl Marx (1818 – 1883) nhà bác học Đức xuất bản tập 1
cuốn tư bản luận
1869 Charles Darwin (1809 – 1882) nhà khoa học tự nhiên Anh
xuất bản tác phẩm “Sự hình thành các loài do luật tự nhiên đào thải” một bước
ngoặc trong lịch sử sinh vật học
1869 Mendelejew (1834 – 1907) bác học Nga đưa ra bảng Phân loại
chu kỳ các nguyên tố hoá học
1882-83 Robert Koch (1843 – 1910) tìm ra vi trùng lai (1882)
và dịch tả (1883)
1882 Fernand Forest (1851 – 1914) kỹ sư Pháp phát minh máy nổ
4 pha
1886 Henri Moissan (1852 -1907) nhà hoá học Pháp tìm ra chất
fluor
1893 Rudolf Diesel (1858 – 1913) kỹ sư Đức phát minh ra máy nổ
Di-êden
1895 Sáng lập giải Nôben do Alfred Nobel di chúc trước khi chết.
Giải Noben về vật lý, hoá học, y học, văn học và giải hoà bình Noben, mỗi giải
phát hàng năm trị giá 160.000 cu-ron (tiền Thuỵ Điển) trích ở lãi Ngân hàng gia
tài của ông Nobel (khoảng 32triệu tiền Thuỵ Điển)
1895 Conrad Rontgen (1845 – 1923) nhà vật lý Đức – (giải
Noben) khám phá ra quang tuyến X
1895 Hai anh em bác học Pháp Auguste Lumiere (1862 – 1954) v
à Louis Lumiere (1864 – 1948) phát minh máy chiếu bóng
1896 Henri Becquerel (1852 – 1908) nhà vật lý Pháp (giải
Noben) tìm ra hiện tượng phóng xạ
1896-98 Pierre Curie (1859 – 1906) và Marie Curie (1867 –
1934) khám phá ra hiện tượng phóng xạ tự nhiên
1903 Pierre Curie và Marie Curie tìm ra chất Ra-di (giải
Noben)
1903 Anh em kỹ sư Mỹ Orcille Wright (1871 – 1948) và Wilbur
Wright (1867 – 1912) lần đầu tiên thực hiện chuyến bay máy bay hai cánh
1905 Albert Einstein (1879 – 1955) nhà vật lý Đức (giải
Noben) đề xướng thuyết tương đối
1911 Niels Bohr (1885 – 1962) nhà vật lý Đan Mạch (giải
Noben) đề xướng “mẫu hành tinh” của nguyên t ử
1913 Frederik Soddy (1377 -1956) nhà hoá học Anh (giải Noben)
phát hiện ra hiện tượng isotop trong chất phóng xạ
1919 F.W. Aston (1877 – 1945) Nhà vật lý Anh phát hiện ra
isotop trong chất hoá học ổn định
1919 Ernest Rutheford (1871 – 1937) nhà vật lý Anh (giải
Noben) thực hiện phản ứng hạt nhân nhân tạo đầu tiên
1932 Ernest Orlando Lawrence (1901 – 1958) nhà vật lý Mỹ (giải
Noben) phát minh ra máy gia tốc (Zyklotro)
1932 Harold Clayton Urey (sinh 1893) nhà hoá học Mỹ (giải
Noben) một trorng những người đã phát triển bom nguyên tử khám phá ra hạt
deuteron ( hy-dro nặng) và nước nặng
1934 Vợ chồng Frédèric Joliot (1900 – 1958) và Jrene Curie
(1897 – 1956) hai nhà bác học Pháp khám phá ra hiện tượng phóng xạ nhân tạo
4-7-1934 Marie Curie mất tại Sancellemoz (Thuỵ Sĩ).
Ève Curie
Đào Trọng Từ dịch
Theo http://vnthuquan.net/