Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

Thềm xưa - Chốn hồng thiêng của thơ lục bát Nguyễn Nho Khiêm

Thềm xưa - Chốn hồng thiêng của
thơ lục bát Nguyễn Nho Khiêm

Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm (Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng) vừa ấn hành tập thơ thứ bảy – tập Thềm xưa – với thuần một thể thơ: thơ lục bát.
Tập thơ là sự trở về với thể thơ dân tộc trong một tâm thế nhẹ nhàng như một cuộc chơi với thi ca, với chữ nghĩa. Nhưng chính sự tự nhiên, nhẹ nhàng ấy đã đạt hiệu quả lớn lao, sâu sắc. Ấy chính là sự hoà hợp tuyệt diệu giữa nội dung và hình thức tác phẩm. Đề tài, chủ đề của tập thơ đã thể hiện ngay trong thi đề: Thềm xưa. Thềm nhà xưa chính là gia đình, quê hương, nguồn cội. Vậy thì lục bát, thể thơ xa xưa, thể thơ thể hiện bản sắc của dân tộc, tỏ ra hợp điệu, hợp giọng với cảm hứng hoài niệm, yêu thương của tác phẩm.
Hồn quê xưa và cảm thức nay
Dễ nhận thấy, đối tượng trữ tình của Thềm xưa là quê cũ gắn với ngôi nhà cũ. Ngôi nhà ấy, thềm nhà ấy giờ không còn, bỗng lúng túng cả đứng ngồi:
Nhà ta vừa giải tỏa xong/ Ngổn ngang giả hạ, bòng bong vui buồn/ Bao nhiêu kỷ niệm thoát hồn/ Bay lên lơ lửng phố ồn ào qua./ Nửa đời gắn với ngôi nhà/ Thương mưa dồn dột, nắng lòa xòa rơi/ Tường rêu, giường ván quen rồi/ Mai về chỗ mới đứng ngồi nơi đâu? – (Nhà xưa)
Trở về vườn xưa, nhớ ngôi nhà xưa, nhớ bậc thềm xưa và những ký ức lúc hiển hiện lúc nhạt nhoà, nghe lòng dậy sóng:
Bây giờ ngồi nhớ cố hương/ Nhớ đĩa cà tím dầm tương mấy mùa/ Sau vườn, nhớ gốc khế chua/ Trước sân, nhớ chậu hồng chưa xanh cành/ Đất bằng sóng dậy lênh đênh/ Đưa ta tới cõi mông mênh đời người – (Bây giờ)
Trong nỗi hoài niệm về những hình bóng xưa, hình tượng “bóng” xuất hiện nhiều lần, với nhiều đối tượng. Quê hương là “bóng non”, “bóng rừng”, “bóng lá”, “bóng mây”… Đứng giữa quê nhà, mà mọi hồi tưởng xa xăm như chiêm bao, cả “bóng em” cũng chập choạng, chới với:
Cúi đầu/ trước bóng non phơi/ Đỉnh lòng/ còn một góc trời/ hồn quê – (Huyền thoại đỉnh núi quê)
Hôm qua chợt thấy bóng rừng/ Ngủ trên bóng lá xanh từng bóng mây/ Chiêm bao nắng vỗ cánh bay/ Và em nõn trắng một ngày bóng xa – (Bóng xa)
Em xưa bóng nhớ còn đây/ Ủ đêm thành mộng, ủ ngày thành mơ – (Bóng xuân)
Nhưng đó là bóng của khách thể, còn ngay cả tôi (chủ thể) cũng thành ảo ảnh:
Phiêu bồng con mắt rất xa/ Nhìn tôi và thấy như là bóng tôi – (Con mắt phiêu bồng)
Không mải miết chìm đắm trong quá vãng, nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm chọn cách nhìn đời bằng tuệ nhãn với tâm hướng thiền. Trong tư thế Đứng một chân (yoga), thi cảm thiền tính thể hiện trong cách nhìn thiên địa mênh mông, dòng dịch hoá miên viễn, nhân sinh như giấc mộng:
Nhắm mắt tập đứng một chân/ Hai mươi giây đã mấy lần nghiêng chao […]
Co chân tôi đứng, thở ra/ Hai mươi giây mốt, như là chiêm bao/ Đất vẫn rộng, trời vẫn cao/ Và mây trắng vẫn bay vào hư không
Rất nhiều lần, nhà thơ dựng hình tượng đôi mắt thấu thị sắc sắc không không, nên cần buông là buông để giữ tâm bình, như: Con mắt phiêu bồng, Đôi mắt khác, Bây giờ, Nhìn cha, Ra vườn,… Trong Đôi mắt khác, nhà thơ tự thuật:
Một trăm con mắt trong tôi/ Nhìn hoa thấy quả và chồi xưa sau/ Nhìn mây – biển hoá bể dâu/ Thấy khung cửi dệt vết đau nhân tình
Có lẽ, thi sĩ Nguyễn Nho Khiêm yêu mến thi sĩ Bùi Giáng và thích đọc thơ Bùi Giáng (trong Thềm xưa, nhà thơ có đề thơ trên ảnh thi sĩ Bùi Giáng hôn tay nghệ sĩ Kim Cương qua bài Thơ đề ảnh kèm lời đề từ “Cảm mối tình Bùi Giáng và Kim Cương”). Đọc Đôi mắt khác của Nguyễn Nho Khiêm, bạn đọc dường như liên tưởng đến hai câu thơ nổi tiếng của Bùi Giáng: “Bây giờ tôi đối diện tôi / Còn hai con mắt khóc người một con”. Nhưng nếu thi sĩ “điên rực rỡ” (từ của Bùi Giáng) khóc tình nhân thì thi sĩ Đôi mắt khác lại đau nỗi đau nhân tình, quán chiếu lẽ vô thường của tạo hoá:
Một đôi mắt khóc ngày xưa
Một đôi mắt biếc khép vừa hôm nay
Ngoái nhìn xa tít đổi thay
Thấy trong một cõi quần xoay tang tình.
Lời thơ truyền thống và cách tân
Nhà văn Nga Leonis Leonov đã nói: “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”. Đó là yêu cầu sáng tạo trong văn học nghệ thuật. Bất cứ nhà thơ, nhà văn nào cũng nằm lòng chân lý đó. Vậy thì, với thơ lục bát, các nhà thơ hiện đại sẽ tiếp nối truyền thống và cách tân như thế nào?
Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm gây dựng Thềm xưa theo một cấu trúc ba đoạn (phần): Lời đọng trong sương, Giấc mơ bay, Khúc chiều xanh. Có lẽ, Lời đọng trong sương chủ yếu là thao tác hồi cố, trở về quá vãng qua những hoài niệm. Vì thế, những từ “xưa”, “xa” là con mắt thơ. Phần Giấc mơ bay chủ yếu là thơ tình, những tình yêu mơ mộng nhưng trắc trở, thường được hoá giải bằng việc chôn giấu trong tim hoặc bằng buông bỏ. Còn phần cuối – Khúc chiều xanh – là những chiêm nghiệm sau những chuyến đi, đi là để trở về. Cho nên, dẫu có đi muôn phương (vườn An Hiên, động Thiên Đường, cửa Tùng, phá Tam Giang…) thì vẫn không quên Vũng Thùng, phố Hội, núi Sơn Trà, biển Mỹ Khê, đặc biệt là làng Giáng La, cánh đồng làng, bếp của mẹ… Cấu trúc như thế, có lẽ, làm cho thơ giàu yếu tố tự sự hơn, tự sự mạch lạc mà lại không tự sự, trái lại, vẫn là những đoản khúc trữ tình da diết.
Trong Thềm xưa, không hiếm những câu, những bài mang phong vị lục bát dân gian (ca dao) với nhịp dàn đều, nhịp nhàng (nhịp 2/2 hoặc 4/4), với lời thơ, hình ảnh thơ hồn nhiên, mộc mạc, dân dã:
Hoa vườn nở rộ mùa xuân/ Xóm làng bánh tét, bánh chưng, lửa hồng/ Hương trầm khói toả thinh không/ Hồn xưa đỉnh núi ngọn sông tìm về. – (Mùa xuân)
Nhớ ngày xưa ấy, chưa xa/ Quê nghèo khoai sắn xoá nhoà tuổi thơm/ Cánh đồng toàn rạ với rơm/ Cha đi gánh nặng đường rơm, chiều tà…(Xem ảnh cũ)
Bên cạnh đó, Thềm xưa cũng có nhiều bài viết theo phong cách cổ điển mà đăng đối (phép đối) là biểu hiện rõ nhất:
Trăng thanh nhớ rạ, nhớ rơm/ Củ khoai chấm muối, chén cơm chan gừng – (Mẹ quê, 1)
Bàn chân không dám bước nhanh/ Một con đường ngắn loanh quanh cõi người/ Tay run, dè dặt nụ cười/ Ước mơ chiu chắt, niềm vui dụm dành.- (Mẹ quê, 2)
Hải Vân vân hải đợi chờ/ Em trong vô thuỷ bất ngờ vô chung.- (Trên đỉnh đèo Hải Vân nhìn về Đà Nẵng)
Song, với những nhà thơ lục bát đương đại, cách tân tiết tấu qua nhịp thơ, cách tân hình thể câu thơ (mỗi dòng lục hoặc dòng bát được chia thành nhiều dòng), cách tân cấu trúc câu thơ… được các nhà thơ vận dụng khá nhiều. Trong Thềm xưa, chúng ta có thể thường xuyên bắt gặp những phương thức cách tân như thế:
Xem ảnh cũ: nhớ. buồn. mong…/ Ngồi thiền cũng rối bòng bong chuyện nào – (Xem ảnh cũ)
bây giờ/ ngồi nhớ thương nhau/ chiêm bao buốt trái tim đau/ một mình/ em chồng con/ em vô tình/ để tôi nằm chết lặng thinh/ cõi này/ môi tôi/ uống nước mắt say/ năm năm, tháng tháng, ngày ngày/ nhớ em.- (Ngồi nhớ thương nhau)
Em về rộng một ngày thường/ Từ bi cá chợ rẽ đường về sông/ Em về gọi giữa mênh mông/ Lặng im. Thiên sứ tịnh không nói gì.- (Thả cá về sông)
Nhìn tổng thể, Thềm xưa cất lên một giọng điệu khá nhất quán – yêu thương, thiết tha – giọng điệu của lục bát ngàn xưa, điệu tâm hồn Việt qua bao đời. Bởi thế, Thềm xưa có sức đồng cảm và rung động, ít nhiều nhập hoà vào kho tàng lục bát rộng lớn của dân tộc.
Có khi nào chúng ta tự hỏi vì sao có những nhà thơ quyết định ra mắt những tập thơ thuần tuý thể lục bát – một thể thơ đã có từ xa xưa, đôi khi bị đánh giá là đơn giản hoặc gò bó thi luật (âm luật, vần luật). Nhất là, trước đó, thành tựu thơ ca dân tộc đã có quá nhiều đỉnh cao, nhiều “thi bá” trong thể lục bát: Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Huy Cận, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ…
Điều gì đã đưa họ đến với quyết định có vẻ táo bạo ấy? Tự tin chăng? Chắc là không, không ai tự tin rằng mình là “vua lục bát”. Vậy thì chỉ còn vì yêu. Phải! Yêu nên cứ viết, cứ ra mắt thơ lục bát. Một cuộc chơi nhẹ nhàng, thanh tao, được sống với cảm xúc chân thật của “người nhà quê” trong con người mình, được nói “lời quê chấp nhặt dông dài”, được sống với hồn vía “hương hoả cha ông”. Thế là được, được nhất. Còn lại mọi chuyện, tuỳ vào sự tiếp nhận của bạn đọc.
Tôi tin rằng, nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm đã tâm niệm như thế khi trao vào tay bạn đọc chúng ta tập thơ lục bát Thềm xưa – nơi dung chứa “chốn hồng thiêng” (từ của Nguyễn Nho Khiêm) trong cảm thức của tác giả – rất tâm huyết đầy trân trọng như thế!.
27/10/2025
Chế Diễm Trâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Trường hợp nhà văn Nam Cao và quê hương Đại Hoàng dưới góc nhìn di sản văn hóa

Trường hợp nhà văn Nam Cao và quê hương
Đại Hoàng dưới góc nhìn di sản văn hóa

Kỷ niệm 110 năm ngày mất nhà văn Nam Cao (29.10.1915 – 29.10.2025), trên tinh thần phát huy giá trị di sản văn hóa trên quê hương nhà văn gắn với phát triển du lịch, bài viết tiếp cận nhà văn Nam Cao từ góc nhìn di sản học và du lịch văn hóa, nhằm xác lập giá trị văn học của ông không chỉ trong phạm vi nghiên cứu văn chương mà còn như một di sản văn hóa có khả năng góp phần phát triển bền vững địa phương.
Dựa trên lý thuyết về ký ức văn hóa, di sản và du lịch, bài viết phân tích hành trình hình tượng Nam Cao từ cá nhân nhà văn đến biểu tượng văn hóa, từ trang sách đến không gian truyền thông, nghệ thuật và sản phẩm du lịch. Trường hợp làng Đại Hoàng được khảo sát như một “không gian ký ức văn học sống động”, nơi văn học trở thành cầu nối giữa cộng đồng, du khách và lịch sử. Bài viết đề xuất các giải pháp thiết thực như thiết kế tour kể chuyện, phát triển sản phẩm sáng tạo, giáo dục di sản và định vị thương hiệu địa phương gắn với Nam Cao, nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của văn học kiến tạo bản sắc và thúc đẩy phát triển văn hóa – du lịch trong bối cảnh hội nhập.
Làng Vũ Đại – hình ảnh văn học hóa của làng Đại Hoàng đã trở thành một phần ký ức văn hóa của nhiều thế hệ độc giả – Ảnh: nld.com.vn
1. Đặt vấn đề:
Nam Cao là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn học hiện thực phê phán Việt Nam, không chỉ được ghi nhận bởi giá trị tư tưởng và nghệ thuật trong sáng tác mà còn bởi sức lan tỏa lâu dài trong đời sống văn hóa đại chúng. Với các tác phẩm tiêu biểu như Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn, Đôi mắt… nhà văn đã kiến tạo nên một thế giới nghệ thuật độc đáo, phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội nửa đầu TK XX đồng thời thể hiện khát vọng nhân văn mạnh mẽ.
Những địa danh như làng Vũ Đại – hình ảnh văn học hóa của làng Đại Hoàng đã trở thành một phần ký ức văn hóa của nhiều thế hệ độc giả. Di sản văn học của Nam Cao vì thế không chỉ tồn tại trên trang sách, mà còn sống động trong tâm thức cộng đồng và ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng cho hoạt động giáo dục, nghiên cứu cũng như phát triển du lịch văn hóa địa phương.
Trong bối cảnh hiện nay, khi các địa phương ngày càng chú trọng khai thác giá trị văn hóa tại chỗ gắn với phát triển bền vững, việc phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với tên tuổi nhà văn Nam Cao đang mở ra hướng đi mới cho du lịch Ninh Bình nói chung và xã Nam Lý nói riêng. Việc tích hợp giá trị văn học vào phát triển du lịch không chỉ giúp tôn vinh di sản mà còn góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa vùng miền, phù hợp với định hướng phát triển du lịch văn hóa theo khuyến nghị của UNESCO.
Từ góc độ đó, bài viết đề cập đến khả năng khai thác giá trị di sản văn học Nam Cao trong chiến lược phát triển du lịch văn hóa tại quê hương nhà văn, đồng thời phân tích các điều kiện cần thiết về mặt lý luận và thực tiễn để hiện thực hóa định hướng này.
2. Quan điểm về di sản văn hóa, văn học và du lịch văn hóa
Trong khoảng hai thập niên trở lại đây, tư duy về di sản văn hóa đã chuyển biến mạnh mẽ từ cách tiếp cận văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể sang cách tiếp cận kiến tạo và tương tác. Di sản không còn chỉ được hiểu là những hiện vật hay tập tục được lưu truyền mà còn là sản phẩm của quá trình thực hành xã hội và ký ức cộng đồng. Từ góc nhìn này, di sản học (heritage studies) nổi lên như một ngành nghiên cứu đa ngành, nhấn mạnh vai trò của chủ thể văn hóa trong việc kiến tạo và tái hiện quá khứ.
Theo Laurajane Smith, di sản là “một quá trình văn hóa” chứ không chỉ là một thực thể vật chất; nó là kết quả của việc lựa chọn, diễn giải và kể lại quá khứ để phục vụ mục tiêu hiện tại. Smith khẳng định: “Di sản không tồn tại như một hiện thực cố định mà là một thực hành mang tính biểu tượng và ý thức hệ” (1).
Trong lĩnh vực văn học, tiếp cận từ di sản học cho phép chúng ta đọc tác phẩm như một hình thức kiến tạo ký ức và bản sắc, nơi mà văn học vừa là phương tiện bảo tồn, vừa là công cụ diễn giải văn hóa. Ann Rigney nhấn mạnh vai trò của văn học trong việc lan tỏa ký ức tập thể trong các bối cảnh hậu thực dân, hậu chiến tranh, như một hình thức của “memory activism” – chủ động thiết lập những cách nhớ thay thế trong xã hội hiện đại (2).
Khái niệm “văn học như di sản” (heritage literature) vì vậy không chỉ đề cập đến những tác phẩm cổ điển mà còn bao gồm các thực hành sáng tạo, tái hiện, chuyển thể và phổ biến lại văn học trong các bối cảnh văn hóa mới. Các hình thức như chuyển thể điện ảnh, sân khấu hóa, du lịch hóa văn học đều nằm trong chuỗi thực hành này.
Từ góc độ phát triển, UNESCO khẳng định du lịch văn hóa – nếu được quy hoạch bền vững – có thể là động lực thúc đẩy hiểu biết văn hóa, tăng cường bản sắc cộng đồng và phát triển kinh tế địa phương (3). Greg Richards – nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực du lịch văn hóa – đã chỉ ra rằng giá trị nghệ thuật, bao gồm văn học, đóng vai trò then chốt trong việc hình thành bản sắc điểm đến và nâng cao trải nghiệm du lịch (4).
Từ những nền tảng lý luận này, bài viết đề xuất tiếp cận văn học Nam Cao như một thiết chế di sản văn hóa sống động, có khả năng góp phần định hình mô hình du lịch văn hóa gắn với bản sắc địa phương và phát triển bền vững.
3. Nhà văn Nam Cao: Từ chân dung cá nhân đến biểu tượng di sản văn học
Nam Cao (1915-1951), tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo tại làng Đại Hoàng, tỉnh Hà Nam (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình). Ông không chỉ là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán trước Cách mạng tháng Tám mà còn là nhà văn – liệt sĩ, người để lại dấu ấn sâu sắc trong ký ức văn hóa dân tộc. Với các tác phẩm như Chí Phèo, Lão Hạc, Đôi mắt… Nam Cao đã khắc họa những bi kịch cá nhân gắn liền với số phận cộng đồng, phản ánh sâu sắc tâm thế con người Việt Nam trong thời kỳ lịch sử đầy biến động của thế kỷ trước.
Từ góc nhìn di sản học, Nam Cao có thể được xem như một “biểu tượng văn hóa” (cultural icon), khi cuộc đời và tác phẩm của ông không chỉ dừng lại ở giá trị văn học, mà còn trở thành đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, truyền thông và tưởng niệm rộng rãi. Pierre Nora từng đề cập đến khái niệm lieux de mémoire – những “nơi của ký ức” không chỉ mang tính địa lý mà còn là nơi ký ức tập thể được tổ chức và duy trì. Trường hợp nhà văn Nam Cao và quê hương/ làng Đại Hoàng chính là một ví dụ điển hình: một không gian thực được nâng tầm thành nơi chứa đựng biểu tượng văn hóa và ký ức cộng đồng (5).
Di sản văn học Nam Cao không ngừng được làm mới thông qua tái bản, chuyển thể nghệ thuật, sân khấu hóa và cả trong các nghiên cứu liên ngành (văn học, văn hóa học, du lịch học…). Nhiều học giả như Hà Minh Đức, Trần Đăng Suyền, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh (6)… đã dành công trình riêng để phân tích chiều sâu tư tưởng, nghệ thuật và tính tiên phong của nhà văn. Gần đây, các hướng tiếp cận mới trong heritage studies và cultural memory tiếp tục cho phép nhìn nhận Nam Cao như một phần trong tiến trình kiến tạo bản sắc vùng – nơi mà tác giả không chỉ là một cá nhân mà còn là biểu tượng tích hợp của cộng đồng, địa phương, quốc gia.
Bằng việc đặt Nam Cao vào dòng chảy văn hóa và di sản, bài viết không chỉ khẳng định vai trò lịch sử của nhà văn mà còn mở rộng tiềm năng khai thác văn học như một chất liệu sống động cho phát triển du lịch, giáo dục và nhận thức xã hội.
Như vậy, quá trình kiến tạo Nam Cao thành biểu tượng không chỉ do nhà nước hay giới học thuật “gắn nhãn”, mà là kết quả của tương tác đa chiều giữa văn bản, cộng đồng tiếp nhận và phương tiện truyền thông đại chúng. Đúng như nhận định của Laurajane Smith, di sản là “quá trình thực hành văn hóa mang tính diễn ngôn” hơn là một thực thể được phát hiện sẵn (7).
4. Tiếp biến tác phẩm Nam Cao trong truyền thông và nghệ thuật
Tác phẩm Nam Cao, đặc biệt là Chí Phèo, Lão Hạc, Đôi mắt, Sống mòn… không chỉ dừng lại ở giá trị văn học mà đã sớm vượt khỏi trang viết để trở thành một phần ký ức văn hóa cộng đồng. Việc chuyển thể các tác phẩm này sang các loại hình nghệ thuật khác như điện ảnh, truyền hình, kịch nói, hoạt hình, âm nhạc… đã làm phong phú thêm khả năng tiếp cận và cảm thụ của công chúng đối với di sản Nam Cao.
Bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy (1982) của đạo diễn Phạm Văn Khoa là một minh chứng tiêu biểu cho xu hướng chuyển thể tác phẩm văn học nhằm tái hiện và truyền tải những thông điệp nhân văn sâu sắc của Nam Cao. Bộ phim kết hợp chi tiết từ 3 truyện Chí Phèo, Lão Hạc và Sống mòn, tạo nên một không gian ký ức vừa bi kịch, vừa hiện thực, vừa mang giá trị lịch sử – văn hóa rõ nét. Từ góc độ di sản học, có thể xem đây là quá trình “hiện đại hóa ký ức” thông qua phương tiện nghệ thuật đại chúng, giúp lan tỏa biểu tượng Nam Cao ra ngoài biên giới văn bản.
Không chỉ có điện ảnh, các loại hình truyền thông như báo chí, truyện tranh, hoạt hình cũng góp phần định hình lại hình ảnh nhân vật Nam Cao như Chí Phèo, Thị Nở, lão Hạc… thành biểu tượng văn hóa sống động. Việc tái hiện những nhân vật này không chỉ tạo nên hình mẫu đại diện cho tầng lớp bị áp bức trong xã hội Việt Nam cận hiện đại mà còn mở ra khả năng tiếp biến linh hoạt trong bối cảnh hiện tại. Điều này tương ứng với quan niệm của Ann Rigney rằng các biểu tượng văn học có khả năng “du hành xuyên thời gian” (traveling memory), vượt khỏi nguyên bản để phục vụ những mục đích và ý nghĩa mới (8).
Ngoài ra, việc truyền thông đại chúng sử dụng hình ảnh các nhân vật văn học để phản ánh hiện thực xã hội – chẳng hạn việc gọi người ngỗ ngược là “Chí Phèo”, hay những người phụ nữ xấu xí bị gọi là “Thị Nở”, hay con chó Vàng đã trở thành Cậu Vàng, vừa là con chó nuôi trong nhà, vừa là hình ảnh của kim loại vàng đang được xã hội quan tâm – cho thấy sức sống mạnh mẽ và sự lan tỏa lâu dài của ký ức văn học Nam Cao trong tâm trí cộng đồng. Đây cũng là minh chứng cho khả năng tích hợp của văn học vào đời sống, khi các biểu tượng hư cấu trở thành mã văn hóa.
Các biểu tượng văn học như “Chí Phèo” có thể so sánh với trường hợp “Don Quixote” trong văn hóa Tây Ban Nha hoặc “Gregor Samsa” (Kafka) trong văn học Trung Âu – khi những nhân vật tưởng chừng dị biệt trở thành mẫu hình văn hóa định hình cái nhìn xã hội về sự lệch chuẩn, tha hóa hoặc bi kịch thân phận con người.
5. Di sản văn học Nam Cao trong phát triển du lịch văn hóa bền vững
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và du lịch hóa, di sản văn học không chỉ là đối tượng nghiên cứu mà còn là nguồn tài nguyên có giá trị trong việc phát triển du lịch văn hóa bền vững. Nam Cao – với cuộc đời, tác phẩm và quê hương Đại Hoàng – là một ví dụ tiêu biểu cho khả năng kết nối giữa văn học và phát triển địa phương dựa trên tài nguyên văn hóa. Khi văn học được tiếp cận như một thiết chế di sản (heritage institution), nó không chỉ dừng lại ở giá trị tinh thần mà còn có thể chuyển hóa thành giá trị vật chất, thúc đẩy kinh tế, tạo sinh kế và quảng bá bản sắc địa phương.
Theo quan điểm của Gregory Ashworth và Brian Graham, di sản là “sản phẩm của sự lựa chọn xã hội trong hiện tại, phản ánh các nhu cầu kinh tế, chính trị và văn hóa đương thời” (9). Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp làng Đại Hoàng nơi quê hương nhà văn Nam Cao đang từng bước được quy hoạch như một điểm đến du lịch văn học. Từ việc phục dựng lại ngôi nhà Nam Cao, giới thiệu các bối cảnh gắn với nhân vật và truyện ngắn như nhà Bá Kiến, lò gạch cũ, đến việc xây dựng bảo tàng tưởng niệm, làng nghề cá kho (10), tuyến du lịch “về làng Vũ Đại”… đã mở ra một chiến lược phát triển địa phương dựa trên ký ức văn học.
Du lịch văn học, theo Greg Richards, có khả năng “biến các địa điểm tưởng như bình thường thành các biểu tượng văn hóa, tạo điểm đến độc đáo thông qua liên kết với trí nhớ tập thể và các giá trị nghệ thuật” (11). Việc đưa tác phẩm và cuộc đời Nam Cao vào không gian du lịch là một hình thức của cultural storytelling (kể chuyện văn hóa), trong đó du khách không chỉ đến để xem mà còn để trải nghiệm, đồng cảm và đối thoại với lịch sử, với nghệ thuật, và với những số phận nhân vật từng bước ra từ trang sách.
Không thể phủ nhận rằng sự phổ biến của Chí Phèo, Lão Hạc… trong nhà trường và văn hóa đại chúng đã tạo ra một nền tảng tiếp nhận rộng lớn, thuận lợi cho phát triển sản phẩm du lịch văn học. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để kết nối các yếu tố di sản này một cách có chiều sâu và bền vững. Điều đó đòi hỏi sự tham gia của cộng đồng địa phương, chính quyền, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp văn hóa – đúng như mô hình du lịch di sản cộng đồng (community – based heritage tourism) mà nhiều quốc gia đã triển khai hiệu quả (12).
Bài học từ các mô hình thành công như “Shakespeare Country” (Anh), “Victor Hugo Trail” (Pháp) hay “Kafka in Prague” (CH Séc) cho thấy vai trò của văn học không chỉ trong việc bảo tồn ký ức mà còn trong việc tạo ra chuỗi giá trị du lịch – từ lưu trú, ẩm thực, hàng lưu niệm, đến giáo dục và truyền thông. Trong bối cảnh đó, di sản văn học Nam Cao hoàn toàn có thể trở thành nền tảng để xây dựng một thương hiệu địa phương giàu bản sắc, vừa mang tính giáo dục vừa hấp dẫn du khách.
6. Đề xuất giải pháp phát huy giá trị di sản văn học Nam Cao
Việc phát huy giá trị di sản văn học Nam Cao gắn với phát triển du lịch văn hóa không chỉ là nhiệm vụ của ngành Văn hóa – du lịch, mà cần sự phối hợp liên ngành giữa nghiên cứu, quy hoạch không gian, truyền thông và giáo dục cộng đồng. Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, có thể đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng chiến lược như sau:
Hoàn thiện không gian ký ức văn học tại địa phương
Cần xây dựng một không gian tổng thể tích hợp các yếu tố: nhà lưu niệm, bảo tàng văn học, tuyến du lịch “làng Vũ Đại”, trải nghiệm làng nghề cá kho truyền thống… Đồng thời, thiết kế các tour du lịch kể chuyện (storytelling tour) tái hiện hành trình sáng tác và đời sống nhân vật văn học. Mô hình “musealization of place” (bảo tàng hóa địa điểm) như được thực hiện tại “Shakespeare’s Birthplace” (Stratford-upon-Avon) hay “Marcel Proust Museum” (Illiers-Combray) cho thấy hiệu quả bền vững của việc biến nơi chốn thành điểm đến văn hóa mang tính biểu tượng (13).
Xây dựng hệ thống sản phẩm văn hóa – du lịch gắn với tác phẩm Nam Cao
Cần thiết kế các sản phẩm có tính tương tác và gợi mở trải nghiệm, như ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR/AR) tái hiện nhân vật, trò chơi giáo dục dựa trên cốt truyện Nam Cao, phim tài liệu hoặc phim ngắn đa ngôn ngữ. Các sản phẩm lưu niệm (bưu thiếp, tranh vẽ, mô hình nhân vật) nên kết hợp yếu tố bản địa và hình tượng văn học nhằm tăng sức hút. Đây là hướng đi đã thành công tại Nhật Bản với các tour “Murakami Pilgrimage” hay tại CH Séc với “Kafka Tour” (14).
Phát triển giáo dục di sản văn học trong trường học và cộng đồng
Triển khai các chương trình giáo dục trải nghiệm, “trại sáng tác Nam Cao” cho học sinh, sinh viên nhằm gắn kết việc học văn với thực tiễn văn hóa – du lịch. Tổ chức cuộc thi cảm thụ tác phẩm Nam Cao bằng đa phương tiện (viết, vẽ, quay phim, thuyết trình…), đồng thời mời các nhà văn, nghệ sĩ, học giả tới nói chuyện tại quê hương nhà văn để làm sâu sắc thêm nội dung học tập và bồi dưỡng nhân cách qua văn học (15).
Tăng cường truyền thông văn hóa và định vị thương hiệu Nam Cao
Thiết kế chiến lược truyền thông theo hướng “xây dựng thương hiệu địa phương” với biểu tượng Nam Cao, trong đó kết hợp truyền thông chính thống (báo chí, truyền hình) và mạng xã hội (YouTube, TikTok, Facebook) nhằm tạo hiệu ứng lan tỏa và thu hút giới trẻ. Theo quan điểm của Philip Kotler về marketing địa phương, việc xây dựng thương hiệu gắn với nhân vật văn hóa sẽ tạo ra “tính cách của điểm đến” (destination personality) giúp định vị trong tâm trí du khách (16).
Bảo tồn và nghiên cứu chuyên sâu
Thiết lập một trung tâm nghiên cứu văn học Nam Cao, lưu trữ và số hóa toàn bộ di sản liên quan đến cuộc đời – tác phẩm của ông, đồng thời tổ chức hội thảo quốc gia/ quốc tế định kỳ nhằm khẳng định giá trị toàn cầu của nhà văn. Cần mời gọi sự tham gia của các nhà Việt Nam học quốc tế, thúc đẩy dịch thuật và trao đổi học thuật, mở rộng phạm vi nghiên cứu liên ngành (văn học – ký ức – du lịch – công nghệ – giáo dục).
7. Kết luận:
Từ góc nhìn di sản học và du lịch văn hóa, nhà văn Nam Cao không chỉ hiện diện như một nhân vật văn học mang tính lịch sử mà còn là một biểu tượng di sản sống động có khả năng kiến tạo bản sắc địa phương và quốc gia. Di sản văn học của ông – thông qua các tác phẩm, nhân vật, bối cảnh và giá trị nhân văn – đã vượt khỏi phạm vi trang sách để định hình lên một không gian ký ức tập thể, có thể khai thác hiệu quả trong giáo dục, truyền thông và phát triển du lịch bền vững.
Bài viết đã làm rõ tiềm năng của văn học Nam Cao trong việc phát triển không gian văn hóa tại quê hương Đại Hoàng, thông qua các hoạt động như xây dựng tuyến du lịch “làng Vũ Đại”, tổ chức giáo dục di sản, truyền thông đa phương tiện và các sản phẩm văn hóa – sáng tạo. Đặc biệt, việc tích hợp lý thuyết về ký ức văn hóa, di sản học và marketing địa phương đã mở ra những hướng tiếp cận mới, từ đó đề xuất giải pháp khả thi nhằm phát huy giá trị của di sản văn học trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa.
Tương lai của việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn học của nhà văn Nam Cao không chỉ nằm ở việc gìn giữ mà còn ở khả năng làm mới – tức tiếp biến, chuyển thể và lan tỏa thông qua những mô hình sáng tạo. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, cộng đồng, giới nghiên cứu và các chủ thể văn hóa – du lịch, để di sản văn học thực sự trở thành động lực của phát triển bền vững và công cụ vun bồi tinh thần dân tộc trong kỷ nguyên mới.
Chú thích:
1, 7, 15. Smith, L., Uses of heritage (Sử dụng di sản), Routledge, London, 2006, tr.3, 3, 122.
4. A. Heritage, memory and literature (Di sản, ký ức và văn học), trong W. Logan, M. Nic Craith, & U. Kockel (Chủ biên), A companion to heritage studies (Tập san về nghiên cứu di sản), Wiley-Blackwell, Chichester, UK, 2015, tr.143-157.
3. UNESCO, World Heritage and Sustainable Tourism Programme: Cultural heritage and sustainable tourism (Chương trình Di sản Thế giới và Du lịch Bền vững: Di sản văn hóa và du lịch bền vững), whc.unesco.org.
4. Richards, G. (Chủ biên), Cultural tourism in Europe (Du lịch văn hóa ở châu Âu), Wallingford, UK: CABI, 1996; Richards, G., Cultural tourism: Global and local perspectives (Du lịch văn hóa: Quan điểm toàn cầu và địa phương) trong M. Robinson & D. Picard (Chủ biên), Tourism, culture and development (Du lịch, văn hóa và phát triển), Clevedon: Channel View Publications, 2007, tr.25-47.
5. Nora, P., Between memory and history: Les lieux de mémoire (Giữa ký ức và lịch sử: Các địa điểm của ký ức), Representations, 26, 1989, tr.7-24.
6. Hà Minh Đức, Nhà văn Nam Cao, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội 1984; Trần Đăng Suyền, Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2014; Phong Lê, Nam Cao: Đời văn và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001; Nguyễn Đăng Mạnh, Chân dung và đối thoại, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2003.
8. Rigney, A., Plenitude, scarcity and the circulation of cultural memory (Sự phong phú, khan hiếm và sự lưu thông của ký ức văn hóa), Journal of European Studies, 35(1), 2005, tr.11-28.
9. Ashworth, G., & Graham, B., Senses of place: Senses of time (Cảm nhận về địa điểm: Cảm nhận về thời gian), Ashgate, Aldershot, 2005, tr. 21.
10. Xem thêm: Phạm Lan Oanh, Dai Hoang Village’s Braised Fish Cuisine: Its Journey from the Kitchen to Cities and to the World (Ẩm thực cá kho làng Đại Hoàng: Hành trình từ căn bếp đến các thành phố và ra thế giới), Proceedings of the International Conference on Vietnamese – Taiwanese Studies and the 8th Conference on Taiwanese Romanization (Kỷ yếu của Hội thảo quốc tế về Nghiên cứu Việt Nam – Đài Loan (Trung Quốc) và Hội thảo lần thứ 8 về Latinh hóa Đài Loan), Đại học Cheng Kung , Đài Loan (Trung Quốc), 2016, tr.12-14.
11. Richards, G., Cultural tourism: Global and local perspectives (Du lịch văn hóa: Quan điểm toàn cầu và địa phương), Haworth Press, New York, 2007, tr.123.
12. Timothy, D. J., & Boyd, S. W., Heritage tourism (Du lịch di sản), Prentice Hall, London, 2003, tr. 57.
13. Shaughnessy, R., Shakespeare in performance (Shakespeare trong trình diễn), Macmillan, London, 2000, tr.134.
14. Urry, J., & Larsen, J., The tourist gaze 3.0 (Cái nhìn của du khách 3.0), Sage, London, 2011, tr.147.
16. Kotler, P., Haider, D. H., & Rein, I., Marketing places: Attracting investment, industry, and tourism to cities, states, and nations (Tiếp thị địa điểm: Thu hút đầu tư, công nghiệp và du lịch đến các thành phố, bang và quốc gia), Free Press, New York, 1993, tr.75.
1/11/2025
Phạm Lan Oanh
Nguồn: Tạp chí VHNT số 618, 9.2025
Theo https://vanhocsaigon.com/

Phát huy giá trị di sản của danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn trong xã hội đương đại

Phát huy giá trị di sản của danh nhân
văn hóa Lê Quý Đôn trong xã hội đương đại

Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn là một trong những nhân vật kiệt xuất, nhà bác học lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam ở TK XVIII. Ông không chỉ là người nổi tiếng thông minh, mà còn có nhiều cống hiến quan trọng cho nước nhà ở nhiều phương diện như chính trị, ngoại giao, triết học, sử học, dân tộc học, nông học, văn học, thư viện học, địa lý học, xã hội học, luật học…
Trong sự nghiệp của mình, ông để lại cho hậu duệ nhiều công trình giá trị góp phần trong xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc. Lê Quý Đôn là một trong những danh nhân văn hóa tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam, ông còn là minh chứng về đạo đức, trí tuệ, cần cù, yêu nước, sáng tạo, linh hoạt, ham hiểu biết, hiếu học và truyền thống văn hóa dân tộc. Bài viết hệ thống về thân thế, sự nghiệp và những đóng góp của nhà bác học Lê Quý Đôn, đồng thời bàn luận phát huy giá trị di sản của danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn trong bối cảnh xã hội đương đại.
1. Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn
Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-1784), tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, sinh năm Bính Ngọ (1726), làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam – nay là thôn Đồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên (thôn Đồng Phú, Độc Lập, Hưng Hà, Thái Bình trước đây, sau sáp nhập thuộc tỉnh Hưng Yên). Cha ông là Lê Trọng Thứ, đỗ tiến sĩ năm 1724, làm quan Thượng thư Bộ Hình, được phong hàm Thái bảo, tước là Hà Quận Công. Còn thân mẫu của Lê Quý Đôn họ Trương.
Khi còn nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thông minh, có trí nhớ tốt, chăm học và chăm làm. Khi 2 tuổi, ông đã đọc chữ “hữu và vô”; 5 tuổi đọc được nhiều bài trong Kinh Thi; năm 10 tuổi, ông học sử, mỗi ngày thuộc được 80 đến 90 chương và học Kinh Dịch về phần Cương hình và Đồ thuyết; năm 14 tuổi ông đã đọc hết Ngũ Kinh, Tứ Thư, Truyện và Chư tử. Đặc biệt, ông có thể làm 10 bài phú mà không phải nghĩ và không cần viết nháp.
Đến năm 1739, ông theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Đầu năm 1743, ông đỗ đầu khoa thi Hương (Giải nguyên). Và khoa thi Nhâm Thìn (1752), niên hiệu Cảnh Hưng 13, ông đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ, đệ nhị danh (Bảng nhãn). Khoa thi này không lấy đỗ Trạng nguyên, cho nên ông là người đỗ đầu. Như thế, từ thi Hương, thi Hội và thi Đình, ông đều đỗ đầu (Tam nguyên).
Năm 1754, sau khi thi đỗ đại khoa, ông được cử chức Hàn lâm viện Thị thư, sung Toàn tu Quốc sử quán, đồng thời, ông nhiều lần làm thanh tra ở trấn Sơn Nam. Tháng 5-1756, ông được biệt phái sang phủ chúa Trịnh, coi phiên Binh, đến tháng 8 ông được cử đi hiệp đồng với đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa… Năm 1757, ông được bổ nhiệm chức Hàn Lâm viện Thị giảng. Năm 1760, Lê Hy Tông chết, ông và Trần Huy Mật được triều đình cử sang Trung Quốc báo tang và dâng lễ cống. Năm 1762, khi đi sứ về, ông được thăng quan hàm Hàn Lâm viện Thừa chỉ. Năm 1764, ông dâng sớ xin thiết định pháp chế, làm Đốc đồng Kinh Bắc, rồi chuyển làm Tham chính Hải Dương. Nhưng sau đó, không rõ lý do gì, ông xin về quê viết sách.
Năm 1767, Chúa Trịnh Sâm cầm quyền, ông lại được triệu ra làm quan, tham gia biên soạn quốc sử và làm Tư nghiệp ở Quốc tử giám. Năm 1769, ông làm Tán lý quân vụ trong cuộc hành quân đàn áp Lê Duy Mật, rồi được thăng chức Hữu thị lang Bộ Công. Năm 1773, làm Bồi tụng phủ chúa. Và năm 1776, ông làm Hiệp trấn Thuận Hóa (Bình-Trị-Thiên). Sau đó, ông trở về kinh đô Thăng Long làm Tham tụng. Ngày 14-4 năm Giáp Thìn (1784), Lê Quý Đôn mất, thọ 58 tuổi. Khi ông mất đã làm xúc động người dân cả nước. Vũ Khiêu cho biết: “Vua Lê và chúa Trịnh bãi triều ba ngày, coi tang này như một quốc tang”.
2. Những đóng góp và di tích lưu niệm danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn
Lê Quý Đôn được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá và tôn vinh là nhà bác học uyên thâm bậc nhất TK XVIII. Ông không chỉ là người thông minh, học giỏi, chăm chỉ, mà còn có cách thức học và phương pháp nghiên cứu khoa học hiệu quả. Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn để lại cho dân tộc ta nhiều tác phẩm có giá trị khoa học, lịch sử và văn hóa.
Theo Nguyễn Minh Tường, Lê Quý Đôn là tác giả của Đại Việt thông sử (tên gọi khác là Lê triều thông sử), Kiến văn tiểu lục, Lê triều công thần liệt truyện, Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục, Bắc sứ thông lục, Vân Đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục, Thư kinh diễn nghĩa, Quế Đường thi tập, Âm chất văn chú, Quế Đường thi vựng tuyển toàn tập, Tứ thư ước giải, Toàn Việt thi lục. Còn theo Đinh Xuân Lâm và Trương Hữu Quýnh, thì số lượng tác phẩm của Lê Quý Đôn lên tới khoảng 40 bộ, nay còn lại không quá một nửa. Đương thời nhà bác học Lê Quý Đôn quan tâm và đóng góp trên nhiều lĩnh vực như chính trị, ngoại giao, quản lý, khoa học… Có thể chia các công trình của ông ở những phương diện sau:
Một là, về sử học: nhà bác học Lê Quý Đôn biên soạn và để lại nhiều công trình tiêu biểu như Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Bắc sử thông lục, Lê triều công thần liệt truyện. Trong đó, cuốn Phủ biên tạp lục, là tư liệu mà ông thu thập khi làm trấn Thuận Hóa. Đặc biệt, trong công trình này, ông mô tả kỹ về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên về 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Ông mô tả về đặc điểm, hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (1). Còn do ông đi sứ và đọc được nhiều sách Trung Hoa đã biên soạn Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Bắc sứ thông lục. Có thể nói rằng, thời vua Lê – chúa Trịnh và Tây Sơn, Lê Quý Đôn là một trong những sử gia nổi tiếng nhất của nền sử học nước ta, ông được nhiều danh nhân đương thời và hậu thế đánh giá rất cao.
Hai là, về triết học: Lê Quý Đôn để lại nhiều tác phẩm tiêu biểu như: Thi kinh diễn nghĩa, Dịch Kinh phu thuyết, Xuân Thu lược luận, Quần thư khảo biện. Nguyễn Minh Tường viết: “Trong những trước tác của Lê Quý Đôn thể hiện một vũ trụ quan và nhân sinh quan có những yếu tố duy vật, lành mạnh, tích cực. Ông cho nguồn gốc của vũ trụ là một “thứ khí hỗn nguyên” và do sự vận động của thứ khí ấy mà biến thành âm, thành dương, rồi lần lượt biến thành muôn vật, muôn loài. Quan hệ giữa lý và khí, ông cho rằng lý dường như là thuộc tính của khí, là quy luật của khí”. Công trình này ông viết về học thuyết lý, khí, ông nhấn mạnh quy luật vận động phát triển của sự vật. Theo Vũ Khiêu: “Giới triết học tính đến quan điểm duy vật và biện chứng, suy nghĩ về bản thể luận và nhận thức luận của Lê Quý Đôn trong quá trình tiếp thu toàn bộ các trào lưu tư tưởng từ Chu Tử và Khổng Mạnh đến Tống Nho”.
Ba là, về lĩnh vực sáng tác văn học, sưu tập văn chương, văn hóa và những lĩnh vực khoa học khác của Lê Quý Đôn. Về văn học: ông để lại nhiều công trình tiêu biểu như Hoàng Việt văn hải, Quế Đường thi văn tập. Ngoài ra, ông còn quan tâm đến ngôn ngữ học, dân tộc học/ nhân học, địa lý học… Những lĩnh vực khoa học này được phản ánh trong tác phẩm Vân đài loại ngữ. Theo Phan Huy Chú thì: “Bình sinh rất chăm chỉ làm sách. Bàn về kinh sử thì sâu sắc rộng rãi, mà nói về điển cố thì đầy đủ, rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng trên đời”. Về địa lý học, Nguyễn Minh Tường viết: “Chính Lê Quý Đôn là người đầu tiên ở nước ta chấp nhận lý thuyết quả đất tròn và có lẽ cũng là người đầu tiên biết đến 4 châu: Á, Âu, Phi, Mỹ trên thế giới”. Hơn thế, Lê Quý Đôn còn nắm vững địa lý nhiều vùng khác ở miền Bắc.
Bốn là, về nông học: ông dành nhiều tâm huyết nghiên cứu, biết 201 giống lúa, hàng trăm giống cây quả và giống cá. Trong Vân đài loại ngữ (ông biên soạn và hoàn thành trong 3 năm), ông trích dẫn đến 557 loại sách, trong đó có cả sách châu Âu dịch sang Hán văn. Ông khuyên nhà nông: “Phép làm cho tốt ruộng, thì nên trồng đậu xanh trước, thứ đến đậu nho và vừng, các thứ ấy trồng vào tháng 5 và 6. Đến tháng 7 và 8 thu hoạch xong cày lật úp xuống. Làm ruộng trồng lúa cho mùa xuân năm sau, thì mỗi mẫu thu được 10 thạch thóc. Những cây đậu vừng, bừa cày lên như thế, sẽ bón cho ruộng tốt ngang với bón phân tằm hay phân người”.
Năm là, danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn là một trong những tiền bối tạo nền móng cho việc hình thành thư viện học ở nước ta. Ông đóng góp quan trọng cho thư viện và thư mục. Nó được phản ánh qua biên soạn thư mục Nghệ văn chí, là một chương trong bộ Đại Việt thông sử. Trong thiên thư mục này, nhà bác học Lê Quý Đôn đã sưu tầm, thống kê, tra cứu lai lịch thực trạng sách ở nước ta từ nhà Lý đến cuối thời hậu Lê. Trong thư mục Nghệ văn chí, ông tổng hợp, phân chia các sách gồm 115 bộ sách Hán Nôm, thành 4 loại: 1) Hiến chương loại gồm 16 tên sách; 2) Thi văn loại gồm 66 tên sách; 3) Truyện ký loại gồm 19 tên sách; 4) Phương kỹ loại gồm 14 tên sách.
Trong mỗi bộ sách, ông mô tả tên sách, số quyển, tên người biên soạn hay sáng tác, tóm lược nội dung, ghi chú sách mất hay còn và bình luận về bộ sách ấy. Công trình này của ông còn thể hiện tính khoa học trong thư viện học như xác định các yếu tố mô tả sách, xây dựng khung phân loại sách. Đối với thư mục học, ông là người tổng hợp đầu tiên ở nước ta về phương pháp biên soạn tương đối hoàn chỉnh trong sưu tầm, hệ thống hóa, mô tả, sắp xếp, phân tích, dẫn giải… về tư liệu. Mặt khác, bản thư mục còn phản ánh tính dân tộc, độc lập, thực tiễn, sự sáng tạo và linh hoạt của ông.
Di tích lưu niệm danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn ở thôn Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (nay thuộc thôn Đồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên) bao gồm 3 công trình chính: tòa từ đường thờ nhà bác học Lê Quý Đôn và những người thân thích của ông, lăng mộ Lê Trọng Thứ (thân phụ Lê Quý Đôn) và hồ Lê Quý. Do di tích lưu giữ, phản ánh về thân thế, sự nghiệp cũng như giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học của nhà bác học Lê Quý Đôn, cho nên cụm di tích lưu niệm này đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ VHTTDL) xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa quốc gia ngày 12-12-1986.
3. Giá trị di sản của danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn trong xã hội đương đại
Một là, phát huy giá trị di sản của danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn trong giáo dục và đào tạo. Thân thế, sự nghiệp, di sản của nhà bác học Lê Quý Đôn góp phần phản ánh về đất nước, con người, lịch sử và văn hóa Việt Nam. Theo Trần Quốc Vượng thì: “Ông có phong cách dân gian khoáng đạt hòa trộn trong cái bác học uyên thâm kiểu Nho gia. Khi đã trưởng thành và là một quan lớn, ông vẫn giữ được thói quen “tắm nhân dân”, la cà hàng quán, chùa, đền hay trò chuyện với dân trên đường cái quan, học hỏi được nhiều túi khôn và nền văn minh triết dân gian. Ông tích hợp được tri-thức-dân-gian không văn bản cùng pho sách dầy của bách gia chư tử”. Còn Trần Danh Lâm, một trí thức cùng thời đã viết: “Lê Quý Đôn không sách gì là không đọc, không sự vật gì không suy nghĩ đến cùng. Ngày thường nghĩ được điều gì đều viết ngay thành sách. Sách chất đầy bàn, đầy tủ kể ra khôn xiết”.
Chẳng hạn như quan điểm trọng dân, trọng hiền tài, lấy dân làm gốc được ông nghiên cứu, diễn giải, bình luận trong nhiều công trình tiêu biểu như Quần thư khảo biện, Thư kinh diễn nghĩa. Ông cho rằng: “Gốc của nước vẫn ở dân, sinh mệnh của vua cũng ở dân. Lòng dân một khi lung lay thì xuất hiện thế đất lở, làm nên nghiệp vương, nghiệp bá tước trước hết phải biết dùng người hiền tài, vua biết dùng người hiền tài thì hơn tự dùng mình nhiều lắm. Yêu ghét xung đột nhau sinh ra tốt xấu, xa gần xen lẫn nhau sinh ra hối hận, thật giả xung đột nhau sinh ra lợi hại…”. Đồng thời, ông chỉ ra 5 nguy cơ mất nước: “Trẻ không kính già, trò không trọng thầy, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan, sĩ phu ngoảnh mặt” (2).
Thực tế cho thấy, giá trị di sản của nhà bác học Lê Quý Đôn vẫn đã và đang được gìn giữ, phát huy trong giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay. Hình thức này vừa góp phần phản ánh, vừa tôn vinh thân thế và sự nghiệp của ông qua việc thành lập hệ thống trường học từ mầm non đến đại học. Nhiều trường học ở nhiều tỉnh thành trong cả nước đặt tên danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn thành tên trường. Trong những trường học này đã giới thiệu thân thế và sự nghiệp của nhà bác học Lê Quý Đôn.
Bên cạnh đó, những công trình của ông được chuyển dịch, xuất bản làm tư liệu giảng dạy về lịch sử, văn hóa, giáo dục, khoa học trong hệ thống giáo dục quốc gia. Đặc biệt, đã có luận án tiến sĩ nghiên cứu về tư tưởng triết học và văn học của ông như: luận án chuyên ngành Triết học về Nghiên cứu so sánh tư tưởng triết học của Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong; luận án tiến sĩ Văn học về Tư tưởng học thuật và phương pháp biên định di sản văn chương của Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích và Phan Huy Chú… Ngoài ra, những công trình của ông còn là các đề tài luận văn, luận án về Sử học, Văn hóa học, Địa lý học… Do đó, Nhà nước nên thành lập cơ quan nghiên cứu vừa mang tên danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, vừa góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản của ông được tốt hơn trong xã hội đương đại. Như vậy, phát huy giá trị di sản của Lê Quý Đôn trong giáo dục và đào tạo là một trong những phương thức hiệu quả và bền vững nhất.
Hai là, phát huy giá trị di sản nhà bác học Lê Quý Đôn trong phát triển kinh tế, xã hội đương đại như du lịch văn hóa và công nghiệp văn hóa. Có thể nói rằng, di sản liên quan đến danh nhân Lê Quý Đôn và nhiều nhân vật lịch sử khác ở Hưng Yên như Lý Bí, Trần Thủ Độ, Trần Thị Dung, Nguyễn Thị Lộ, Phạm Đôn Lễ, Phan Bá Vành, Nguyễn Đức Cảnh… góp phần phản ánh các thời kỳ lịch sử, công trạng của họ trong xây dựng, phát triển quê hương và đất nước. Song có lẽ Lê Quý Đôn là danh nhân tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Hưng Yên. Vì thế mà danh nhân này không chỉ được tôn vinh là nhà bác học lỗi lạc thời phong kiến ở nước ta, mà ông còn góp phần quảng bá vùng đất, con người, lịch sử và văn hóa Hưng Yên. Theo đó, di tích lịch sử và di sản của ông góp phần tạo thành nguồn lực, sức mạnh mềm, là tài nguyên văn hóa quan trọng phát triển thương hiệu, định vị sản phẩm đặc thù trong phát triển du lịch văn hóa ở Hưng Yên. Đồng thời, di tích lưu niệm và công trình về nhà bác học Lê Quý Đôn là một trong những điểm du lịch văn hóa tiêu biểu của địa phương cùng với chùa Keo, đền Trần, làng dệt Phương La, làng nghề chiếu Hới, ẩm thực, nghệ thuật hát chèo…
Nói cách khác, di sản của danh nhân Lê Quý Đôn và di sản văn hóa Thái Bình (trước đây) là nguồn lực, tiềm năng, động lực, tài sản, vốn văn hóa cho quy hoạch, xây dựng chính sách, chiến lược, đầu tư, quảng bá, tạo dựng không gian, trung tâm, tổ chức lễ hội và sự kiện liên quan đến danh nhân nhằm thu hút các nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội. Chẳng hạn, tổ chức sự kiện kỷ niệm 300 năm ngày sinh (1726-2026) hoặc tưởng nhớ 250 năm ngày mất (1784-2034) của danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn vừa tôn vinh vừa thu hút đa nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở Hưng Yên. Việc định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di sản danh nhân Lê Quý Đôn với những di sản khác trong phát triển du lịch văn hóa không chỉ tạo công ăn, việc làm cho người dân, mà còn là động lực, sức mạnh mềm cho phát triển kinh tế, xã hội. Nó vừa là xu thế, vừa là quy luật tất yếu phù hợp và khách quan trong phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta hiện nay. Đồng thời, nó phù hợp với Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt.
Bên cạnh đó, di sản gắn với thân thế, sự nghiệp của nhà bác học Lê Quý Đôn còn là tiềm năng, nguồn lực góp phần định hình và tạo dựng ngành công nghiệp văn hóa. Di sản liên quan đến danh nhân Lê Quý Đôn cùng với những di sản văn hóa khác ở Hưng Yên còn là tài nguyên cho ứng dụng khoa học và công nghệ, trí tuệ nhân tạo, bản quyền trí tuệ để bảo tồn và phát huy giá trị của chúng trong bối cảnh hiện nay. Nói cách khác, di sản gắn với danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn còn là động lực cho thế hệ người Việt Nam sáng tạo phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo.
4. Kết luận:
Từ những nội dung trên, có thể khẳng định, danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn là một trí thức lỗi lạc và thông tuệ. Ông là một trong những danh nhân tiêu biểu nhất thời vua Lê – chúa Trịnh và Tây Sơn. Ông dành trọn cuộc đời cống hiến cho sự phồn vinh của quốc gia và hạnh phúc của muôn dân. Ông vừa làm quan vừa là một nhà khoa học để lại cho hậu thế một di sản lớn và có giá trị nhiều mặt. Di sản mà ông trao truyền lại rất phong phú và biểu đạt nhiều chiều kích như chính trị, kinh tế, xã hội, các lĩnh vực khoa học và văn hóa dân tộc. Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn là một người đam mê nghiên cứu khoa học và sáng tạo, là tấm gương sáng cho hậu duệ, nhất là những người trí thức học tập và noi theo. Hiện nay, di tích lưu niệm danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn không chỉ góp phần lưu giữ, phản ánh thân thế và sự nghiệp của ông, mà còn như một bảo tàng thu nhỏ, một trường học truyền dạy tính hiếu học, sự cần cù, tính đam mê nghiên cứu khoa học và những cống hiến của nhà bác học với đất nước ta. Di sản của danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn nên được bảo tồn và phát huy giá trị trong giáo dục, đào tạo, phát triển du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo… Có như vậy, giá trị di sản của nhà bác học Lê Quý Đôn sẽ góp phần phát triển kinh tế, xã hội vừa nhanh, vừa bền vững.
Chú thich;
1. Nguyễn Thanh, Lê Quý Đôn viết về Trường Sa và Hoàng Sa, baothaibinh.com.vn, 9-6-2014.
2. Bùi Hoàng Tám, Nỗi “thất vọng” qua lời của Nguyên Phó Chủ tịch nước, dantri.com.vn, 7-1-2016.
Tài liệu tham khảo:
1. Quốc Chấn, Thần đồng xưa của Việt Nam, Nxb Thanh Hóa, 2007.
2. Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ (Tạ Quang Phát dịch), Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1995.
3. Vũ Mạnh Hùng, Khu lưu niệm danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, Bảo tàng tỉnh Thái Bình, 2021.
4. Phạm Bích Huyền, Đặng Thị Hoài Thu, Các ngành công nghiệp văn hóa, Nxb Lao động, Hà Nội, 2012.
5. Vũ Khiêu, Tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.
6. Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Các nhân vật lịch sử – văn hóa, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2008.
7. Nhiều tác giả, Di tích lịch sử văn hóa Thái Bình, tập 1, Bảo tàng Thái Bình, 2008.
8. Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.
9. Phạm Hồng Thái (chủ biên), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở Nhật Bản và Hàn Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015.
10. Nguyễn Minh Tường, Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012.
11. Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, 2000.
12. Trần Quốc Vượng, Trong cõi, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2014.
4/11/2025
Nguyễn Văn Bốn
Nguồn: Tạp chí VHNT số 618, 9.2025
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Trong cơn mê của lửa" - Hành trình "Lột xác" của thơ Bảo Ngọc

"Trong cơn mê của lửa" - Hành trình
"Lột xác" của thơ Bảo Ngọc

Có những tập thơ không chỉ là sự kết tinh của cảm xúc, mà còn là hành trình tự khai sáng. “Trong cơn mê của lửa” của nhà thơ Bảo Ngọc thuộc về loại thơ hiếm hoi ấy – nơi ngọn lửa đam mê, tri thức và thiền định được hòa quyện thành một “bản nhạc nội tâm” vừa bùng cháy, vừa tĩnh lặng.
Bảo Ngọc là một nhà thơ có nhiều dấu ấn trên văn đàn Việt Nam với hàng chục tác phẩm được lựa chọn vào các bộ sách giáo khoa và hàng vài chục tác phẩm được chọn làm ngữ liệu cho các đầu sách bổ trợ Ngữ văn. Đọc thơ chị, người đọc thường hình dung đến một tâm hồn hồn nhiên, trong trẻo. Thế nhưng, nếu đọc tập “Trong cơn mê của lửa” vừa mới xuất bản, không ít người cảm thấy ngỡ ngàng với sự lột xác ngoạn mục này.  Một thế giới mà ở đó tình yêu cháy bỏng cùng song hành với Thiền khi đi qua ranh giới giữa yêu và mộng, hiện tại và siêu thực.
Lửa – biểu tượng của hủy diệt và tái sinh
Ngay từ nhan đề, “Trong cơn mê của lửa” đã gợi ra nghịch lý căn bản: lửa mê, nhưng cũng là ánh sáng; lửa đốt, nhưng cũng sưởi ấm; lửa thiêu hủy, nhưng cũng khai sinh. Trong thi giới của Bảo Ngọc, lửa không chỉ là yếu tố vật chất, mà là biểu tượng cho sự chuyển hóa tinh thần.
“Ngỡ như Trăng mộng du qua cơn mơ của Lửa
Ta nặn bùa yêu thả giữa ngực trời
Ta rót lời yêu bỏng rát trên môi
Người nhìn ta – không nói
Lửa đốt ta – không lời
Ta câu mình – Trăng rơi!”
Một tình yêu bỏng cháy, dữ dội. Từ “yêu và mộng” đến khám phá “bản thể” rồi “lặng” cũng là ba phần cấu trúc tập thơ Trong cơn mê của Lửa. Ngọn lửa ở đây là trung tâm. Nó vừa là “ngọn lửa của yêu thương”, vừa là “ngọn lửa của thức tỉnh”, đốt cháy mọi giả dối để tìm lại bản thể thuần khiết của tâm hồn.
Tình yêu – nơi khởi đầu và điểm đến của mọi giấc mơ
“Người có yêu ta không?
Câu hỏi ấy đêm nào ta cũng hỏi
Mắt gió nhìn ta hun hút vực trời
Người có yêu ta không?
Câu hỏi ấy trước bình minh – sớm nào ta cũng hỏi
Nắng nhặt tim ta – lặng lẽ – nắng cười!”
Những câu hỏi tu từ, hỏi mà không cần câu trả lời hay cũng chính là để tự vấn tâm hồn. Nó cho thấy một ngọn lửa khát khao yêu thương đến cháy bỏng. Bảo Ngọc viết về yêu như người đi trên sợi dây giữa thực và mộng, giữa con người phàm trần và bản ngã thanh khiết. Cái say mê trong thơ chị không ồn ào mà sâu thẳm, mãnh liệt nhưng vẫn đầy kiêu hãnh. “Trong cơn mê của lửa” là tiếng nói của người đàn bà từng trải qua mê say và tỉnh thức, biết khóc mà không bi lụy, biết yêu mà không trói buộc.
“Bản thể” và “Lặng” – từ nhận thức đến giác ngộ
Nếu “Yêu và mộng” là bông hoa rực rỡ, thì “Bản thể” và “Lặng” là gốc rễ chìm sâu. Ở hai phần này, Bảo Ngọc đi xa hơn khỏi xúc cảm cá nhân để bước vào miền triết lý – nơi con người đối diện với chính mình. “Lặng” không phải là sự im bặt, mà là tiếng vọng của tâm linh khi đã đi qua bão tố. Người đọc thấy thấp thoáng tinh thần thiền của Phật pháp, nhưng không hề khô cứng.
Trong “Trong cơn mê của lửa”, nhà thơ không giảng giải thiền bằng ngôn ngữ triết học khô khan, mà thực hành thiền trong chính cấu trúc và nhịp điệu của thơ. Mỗi bài thơ là một khoảnh khắc chánh niệm, một hơi thở ngắn gọn, nhẹ mà sâu. Cấu trúc “1-2-3” giống như ba nhịp thở: vào – giữ – ra; cô đọng nhưng mở ra chiều sâu lặng lẽ của suy tư. Thơ Bảo Ngọc vì vậy không chỉ để đọc, mà để lắng nghe. Người đọc được mời đi qua những tầng của cảm xúc – từ say mê đến buông xả, từ khát vọng đến tĩnh lặng. Trong những câu thơ như “chữ cõng người bay qua biển chết”, ta thấy rõ tinh thần giải thoát khỏi bản ngã, nơi chữ – biểu tượng cho tri thức và nghệ thuật – trở thành con đường dẫn người đến bờ giác ngộ:
Đối gương – Ta và Ngươi – kẻ nào mất trí?
Hào quang bỏ đi rồi – Ta mở mắt ngồi cười nhân thế
Tiền tài, hư danh, nặng túi tham – Ngươi biến thành nô lệ.
Hỡi kẻ bị nhốt ở ngoài trời!
Cái lồng của Ngươi quá chật.
Trong gương – không mặt nạ – chẳng đua tranh – Ta khóc đời một mắt!
Những câu thơ giản đơn nhưng ẩn giấu một triết lý nhân sinh sâu sắc. Đó là sự “tỉnh thức” sâu sắc của tâm hồn, vượt lên trên những tiền tài danh vọng tầm thường của nhân thế, là sự giác ngộ của con người đã hiểu sâu sắc tinh thần của Phật pháp.
“Hơi thở ban mai chạm vào hoa nhỏ
Hoa nói gì không rõ
Mà ngọn gió kia hơn hớn như cười
Có lời này Hoa vừa nhủ cùng Tôi:
“Ta vì Người mà nở – Ta vì Ta mà tàn
Ta – Một cánh đào ôm cả nhân gian”
Bài thơ đã mượn lời của một cánh hoa để nói về quy luật tự nhiên của trời đất: Hoa nở rồi hoa tàn. Tuy nhiên đằng sau cái lẽ sinh diệt thường hằng ấy còn thể hiện sự chủ động mà mỗi con người có thể lựa chọn cách sống cho mình. Câu thơ cuối “Ta một cánh đào ôm cả nhân gian” đã nói một điều giản dị: Khi lòng từ bi đủ rộng để ôm cả nhân gian, ôm nỗi đau phận người, ôm cả nỗi đau nhân thế, ta sẽ thấy nỗi đau của mình chỉ là một bài tập nhỏ, cần được hóa giải để trưởng thành.
Tính thiền trong thơ chị không khép kín, mà mang tính đối thoại với đời sống. Giữa “lửa” và “lặng”, giữa “mê” và “tỉnh”, luôn có một sợi chỉ đỏ – đó là ý thức về sự sống tỉnh thức giữa biến động. Nhà thơ nhìn thế giới bằng con mắt người đã đi qua cơn bão của cảm xúc, để rồi nhận ra rằng mọi thứ, dù rực rỡ hay tàn phai, đều chỉ là những đốm lửa tạm thời trong ngọn nến vô thường. Chính ở đó, “Trong cơn mê của lửa” đạt đến tinh thần thiền hiện đại: không trốn tránh thực tại, mà nhìn thẳng vào nó với một tâm thế an nhiên. Thơ Bảo Ngọc gợi nhớ đến hơi thở của haiku Nhật Bản hay tinh thần tĩnh tại trong thơ Tagore, nhưng vẫn đậm chất Việt – một sự hòa quyện giữa nội lực nữ tính và chiêm nghiệm nhân sinh.
Một ngọn lửa thuần khiết trên thi đàn hôm nay
Giữa dòng chảy của thơ đương đại – nơi nhiều tác phẩm nghiêng về phô diễn kỹ thuật hoặc lên gân triết lý – “Trong cơn mê của lửa” lại chọn cho mình sự trong sáng, giản dị và tĩnh tâm. Đó là thơ của người biết sống chậm, biết lắng nghe nhịp thở của đời và tiếng vọng của tâm hồn. Ngọn lửa trong thơ Bảo Ngọc không dữ dội, nhưng thiêu rụi những phù phiếm, để lại tro tàn của nhận thức, từ đó một ánh sáng khác – ánh sáng của tự hiểu mình – khẽ bừng lên.
“Trong cơn mê của lửa” là tập thơ vừa mang tính tự sự vừa là bản hòa tấu triết lý. Đọc nó, người ta như đứng trước gương soi linh hồn, thấy chính mình đang bốc cháy giữa những ngọn lửa của yêu thương, của mất mát và của giác ngộ. Ngọn lửa ấy – chính là Bảo Ngọc: một nhà thơ nữ đương đại, biết đốt lên từ tro tàn một niềm tin vào thi ca thuần khiết và con người tỉnh thức.
Trong bối cảnh thơ Việt đương đại đang tìm kiếm giọng điệu riêng, “Trong cơn mê của lửa” hiện lên như một ngọn nến thanh khiết – nhỏ bé nhưng bền bỉ, thắp sáng bằng ngọn lửa của niềm tin, của yêu thương và của sự tỉnh thức.
Có những tập thơ không chỉ là sự kết tinh của cảm xúc, mà còn là hành trình tự khai sáng. “Trong cơn mê của lửa” của nhà thơ Bảo Ngọc thuộc về loại thơ hiếm hoi ấy – nơi ngọn lửa đam mê, tri thức và thiền định được hòa quyện thành một “bản nhạc nội tâm” vừa bùng cháy, vừa tĩnh lặng.
5/11/2025
Anh Sa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đọc văn, đọc truyện

Đọc văn, đọc truyện

Đọc bản dịch truyện ngắn của Raymond Carver, có người đã phải kêu lên: Chẳng lẽ một ông lớn văn chương mà lại như thế. Cũng chẳng lẽ lại như thế là truyện ngắn của Nobel văn chương 2013 Alice Munro. Trước đó là tiểu thuyết Những đứa con của nửa đêm của Salman Rushdie, tiểu thuyết Chúa trời của những điều vụn vặt của Arundhati Roy. Xưa hơn nữa, thuở ban đầu truyện ngắn của Hemingway được dịch, cũng có người kêu lên như thế. Những cái truyện rất ngắn, xem ra rất sơ sài, đọc xong thì… chẳng thấy gì cả.
Một số tác phẩm và tác giả vừa kể, hầu như chỉ tập trung vào ngôn ngữ. Ở đấy, cốt truyện được giản lược xuống mức tối thiểu, để có thể chỉ còn tập trung vào ngôn ngữ. Chỉ còn có văn. Nhà văn là phải có văn. Nhà văn phải là ông vua giữa vương quốc ngôn ngữ, là ông tướng giữa mê hồn trận của ngôn ngữ. Dưới bàn tay điều binh khiển tướng của nhà văn, từng đạo quân chữ nghĩa ào ào tiến ra chiến trường, cánh quân trước cánh quân sau, cánh trên cánh dưới, cánh cắt ngang cánh xẻ dọc. Dưới bàn tay quản lý của nhà văn, các bộ các ngành ngôn ngữ cũng vận hành nhịp nhàng trôi chảy đầy hiệu quả. Đấy là những bậc thầy văn chương.
Suy cho cùng, một khi đã đạt tới mẫu số chung là tư tưởng, cảm xúc, và sự hiểu biết về đời sống, thì cái tử số chính là khả năng điều khiển ngôn ngữ. Tử số càng lớn thì càng xác lập tầm vóc lớn lao của nhà văn. Có tư tưởng lớn và hiểu nhiều biết rộng nhưng ngôn ngữ không đạt đến độ bậc thầy thì cái lớn và cái rộng cũng hao hụt, không đến được với người đọc. Những cảm xúc tuyệt vời có truyền đến được với người đọc hay không còn phải phụ thuộc vào việc ngôn ngữ là con thuyền chuyên chở hay là cái rào cản lạnh lùng.
Vậy có những nhà văn chủ trương chỉ tập trung vào ngôn ngữ, làm đẹp cho nó, chơi bời với nó, tung hứng làm xiếc với nó, bóp nặn xoắn vặn nó, múa may khiêu vũ cùng nó. Họ chủ ý không kiến tạo cốt truyện, tác phẩm hầu như không kể lại được, nhân vật nhiều khi cũng chỉ là những cái bóng mờ, chẳng rõ hình hài đường nét. Chỉ còn tập trung vào văn. Đấy là thứ văn hay đến từng câu từng chữ, đọc xong rồi, người ta không nhớ cốt truyện, không nhớ nhân vật, chỉ nhớ văn. Nhớ vanh vách dăm ba câu trong tác phẩm, chẳng chủ tâm học thuộc mà lại thuộc lòng, mà tấm tắc thú vị nhắc lại với nhau. Văn đấy. Văn hay khiến người ta xuýt xoa với câu chữ.
Những tác phẩm và tác giả kể trên thuộc diện như vậy. Toàn bộ giá trị đáng kể của họ chỉ ở văn. Mà văn là thứ hầu như không dịch được. Dịch là diệt. Dịch là mất. Lost in translation. Người dịch tài năng nhất thì cũng chỉ có thể mang đến một bản dịch như mặt trái của tấm thảm. Hoặc chỉ là một bức tranh chép.
Những nhà văn chỉ chuyên chú vào ngôn ngữ này có khi còn chủ trương nhạt hóa tác phẩm. Nhạt bớt đi. Bớt đi cốt truyện. Bớt đi những éo le li kỳ. Bớt đi những cảm xúc lâm ly quá mức. Bớt đi những thủ đoạn quyến rũ lôi kéo người đọc. Bớt đi kỹ thuật tạo những bước ngoặt bất ngờ. Nhạt hóa là chủ trương, là một phương pháp nghệ thuật, là tư tưởng, và rốt cuộc chính là triết học của họ.
Từng có một tuyển tập truyện ngắn đương đại Mỹ được dịch in ở ta và lập tức lại có người cảm thán, chẳng nhẽ một nền văn học như thế mà lại chỉ có những tác phẩm như thế. Xem lại, thì phần lớn trong tuyển tập là những tác phẩm theo lối nhạt hóa. Chẳng có gì, ngoài văn. Mà văn là thứ không dịch được.
Tôi đã nhiều lần dẫn Milan Kundera rằng thời đại mới có xu hướng lùng sục vào văn chương để tìm ra cái mà dựng thành phim, và để chống lại cái xu hướng phổ thông hóa văn chương ấy, nhà văn hãy viết sao cho người ta không thể dựng tác phẩm của anh thành phim được.
Những người quyết liệt nâng niu sản phẩm văn chương thuần túy chắc chắn còn cho rằng phải viết sao cho tác phẩm của anh không thể dịch sang một ngôn ngữ nào khác. Ulysses của James Joyce là một tác phẩm như vậy. Muốn thưởng thức nó, người ta chỉ còn cách đọc bản gốc, một thứ tiếng Anh vượt qua ngôn ngữ tiếng Anh thông dụng, rất nhiều từ không thể tìm thấy trong từ điển. Cũng thế là những nhà văn gốc Ấn viết tiếng Anh đã kể: Salman Rushdie, Arundhati Roy… Tầm vóc lớn lao, nhưng họ chọn con đường vĩnh viễn ở lại với ngôn ngữ gốc, vĩnh viễn là nhà văn chỉ dành riêng dân tộc mình đọc, dù tiếng tăm họ đã vượt ra khỏi biên giới. Có thể họ hữu ý, mà cũng có thể họ chỉ vô tình từ chối con đường thông thoáng cho tác phẩm của mình xuất khẩu vượt biên. Kết quả là những nỗ lực dịch văn họ chỉ đưa đến những chất vấn: chẳng lẽ lại chỉ có như thế.
Đấy là những tác giả muốn độc giả của mình chỉ đọc văn.
Song hành, lại có những tác giả muốn người ta đọc truyện.
Đây là những nhà văn chỉ tập trung đầu tư vào cốt truyện. Phương pháp cổ điển như những người kể chuyện chuyên nghiệp từ cổ đại, khi chưa có chữ viết. Có tích mới dịch nên tuồng. Phải có sự tích có câu chuyện, khi ấy mới có thể hình thành tác phẩm. Câu chuyện là tất cả, thậm chí chỉ là những chuyện có thật ngoài đời được kể lại một cách tỉ mỉ, sao cho có đầu có cuối, trọn vẹn thế được coi là tác phẩm. Khó nhớ được một câu một chữ gây xuýt xoa trong những tác phẩm này, nhưng đọc xong, người ta nhớ cốt truyện và có thể kể lại cho nhau nghe, kể dễ dàng.
Hàng thế kỷ, nhân loại đã quen thuộc với kiểu văn xuôi như thế. Người viết đời này sang đời khác viết như thế. Người đọc đời sau đời trước đọc như thế. Đến mức hình thành một tín điều rằng văn xuôi là phải có cốt truyện, và điều quan trọng nhất của văn xuôi là phải có nhân vật cho người ta nhớ.
Nhưng rồi hàng thế kỷ văn xuôi mang tín điều cũng khiến người ta mệt mỏi. Mệt mỏi với cốt truyện. Lại đến mức có những sự nổi loạn hòa bình: nhà văn không thể chỉ là người kể chuyện. Rồi đến mức công khai hoặc ngấm ngầm xếp chiếu trên chiếu dưới: nhà văn viết ra văn là người ngồi chiếu trên, nhà văn viết ra truyện chỉ ngồi chiếu dưới.
Phải thấy rằng cốt lõi của văn xuôi là truyện. Nhà văn chính là người dựng ra chuyện. Dựng chuyện, lắm chuyện, nhiều chuyện. Những nhà văn này phản biện: đọc văn xuôi fiction (prose/ creative writings) suy cho cùng là đọc truyện. Nếu trong văn xuôi của anh không có chuyện thì anh hãy viết bút ký văn học bút ký triết học, anh viết fiction làm gì, anh đừng hoài công gọi đấy là tiểu thuyết hay truyện ngắn.
Và sự xếp đặt chiếu trên chiếu dưới là cũng nông nổi hồ đồ. Cũng như có thời mệt mỏi với hội họa vẽ như thật, người ta cho rằng chiếc máy ảnh ra đời là sự khai tử cho thứ tranh như thật ấy. Nhưng suy cho cùng, vẽ giống thật hay ước lệ siêu thực hay gì gì cũng được, miễn là nó đi đến tận cùng cái đẹp.
Vậy thì có truyện hay không cốt truyện cũng được, tất cả đều bình đẳng nếu đạt tới hiệu quả nghệ thuật.
Nhà văn Mỹ Wayne Karlin nói, cuộc đời một con người có giới hạn, văn xuôi là trải nghiệm bổ sung cho họ. Obama khuyên các chính khách nên đọc tiểu thuyết. Chắc là ông hàm ý chính khách phải sống nhiều cuộc đời thì mới làm được cái chính trị mà họ đang dấn thân vào. Cả hai quan điểm này đều nhằm vào kiểu văn xuôi mang chứa cốt truyện dày dặn.
Thứ văn xuôi này không phải trả giá như văn xuôi chỉ có văn. Có cốt truyện, khi được dịch sang ngôn ngữ khác, sau khi phần văn đã hao hụt trong cuộc đãi vàng, thì trên mặt sàng vẫn còn lại câu chuyện. Câu chuyện ấy dễ đến với người đọc.
Dù sao người mê sách vẫn ao ước có nhiều tác phẩm hài hòa được cả những yếu tố ấy, cả văn và cả truyện. Vừa đọc truyện, vừa đọc văn.
8/11/2025
Hồ Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/

Cơn đau trong hành trình tìm cái đẹp

Cơn đau trong hành trình tìm cái đẹp

Kể từ tập thơ “Chút sen còn lại” (2021), “Cỏ bạc triền đê” (2021), “Thắp lửa” (2023), những trong trẻo mến thương dần chuyển thành những phức cảm và khát khao chân nhân đắc ngộ của Hồng Thanh Quang. Tập thơ “Giác ngộ” vừa mới được xuất bản hồi tháng 8.2025 là hành trình tu tập với vô vàn trúc trắc, rối lẫn, hỗn mang của tâm hồn và thế sự. Ta lại gặp Hồng Thanh Quang- người trở về sau những cơn đau, bậc trí giả luôn tự truy đuổi mình tới tận cùng trong hành trình giác ngộ.
Tập thơ “Giác ngộ” được tập hợp từ 330 bài thơ của Hồng Thanh Quang. Đây là tập thơ sáng tác thứ mười của ông, lột tả hành trình giác ngộ để đắc đạo. Con đường đạt tới chân lý không phải là con đường thuần túy. Trong tư tưởng của nhân loại, hành trình tu tập của Đức Phật và Jesu hay các đấng bề trên đều trải qua nhiều gian truân và tột cùng gian khó. Trong văn học hiện sinh, tự do tinh thần phải qua cuộc chiến tinh thần với nhiều khoảnh khắc sinh tử. Hồng Thanh Quang không phải là nhà thơ hiện sinh nhưng trong tập thơ “Giác ngộ” bộc lộ chất hiện sinh rõ rệt, phản ánh một hành trình đi theo quy luật chung của nhận thức mà vẫn mang sắc thái riêng gắn với bản ngã.
Ở “Giác ngộ” có một số khác biệt so với các tập thơ trước của Hồng Thanh Quang. Tập thơ “Chút sen còn lại” như hương sen ngan ngát, mỗi bài thơ là một đóa sen. Tập thơ “Giác ngộ” lại như một cuộc hành trình, mỗi sáng tác tựa như một điểm đến, một trạm dừng chân mà ngay ở trạm nghỉ vẫn đầy suy tư, đấu trí. Cấu trúc các bài thơ có sự phá cách hơn hẳn trước, với các bài thơ ngắn, câu chữ có lúc như rơi vụn, mệt mỏi, nhiều ẩn ức. Các câu thơ văn xuôi của ông như sự trải lòng, có một số bài thơ thể lục bát mang nỗi buồn ước lệ. Hình tượng nhân vật không thuần túy như sen, hay “em” mà đa dạng, nhân vật trữ tình được bộc lộ trong nhiều không gian và thời gian khác nhau, có lúc ồn ào, hỗn tạp, nhuốm tính thế sự. Chất đa đoan trong “Giác ngộ” là của một tâm hồn thơ đau đáu với biến cố chính sự, một người già mệt mỏi nhưng trái tim vẫn đầy nhiệt tình và trách nhiệm với đời, vừa có ý từ chối, buông bỏ mọi sự nhưng lại vướng mắc xiềng xích của trần gian.
Tinh thần thơ mang vẻ trầm mặc phương Đông và có lẫn tinh thần hiện sinh của phương Tây. Những bài thơ tự sự của ông chất chứa tâm sự, nặng lòng hơn trong mọi chuyện. Nỗi niềm thi sĩ nhiều khi được đặt trong những câu thơ sắc ngọt cứa vào lòng, những đợt sóng cuồn cuộn khi đứng trước đổi thay của thế sự, ông chịu sự truy đuổi của chính ông trong cuộc kiếm tìm sự cân bằng. Tinh thần của “Giác ngộ” là một hành trình tu tập, nó từng phảng phất ở các tập thơ trước, nhưng ở đấy, ta thấy nổi bật những mâu thuẫn giữa tồn tại và sống, giữa buông bỏ và trách nhiệm, những ồn ào xô bồ và im ắng, những câm lặng và quẫy đạp ở bên trong. Đôi khi lại có một nỗi buồn đẹp, trang nhã, không dễ khơi được thổ lộ trong những câu thơ mang tính ước lệ:
Thế rồi buồn cứ nhiều thêm
Thương ai thả lá bên thềm rêu xưa
Những câu thơ trên dễ khiến nhớ đến những câu tả cảnh của Nguyễn Du, phảng phất nét thơ Đường nhiều thế kỷ trước. Có lúc sự đau đớn, cô độc, hoài nghi, bám víu vào thơ như chất hiện sinh:
Tôi cần một sự chính danh
Cho cơn bão linh hồn…
Trước sự đổi thay, bất ngờ trước thang giá trị mới, Hồng Thanh Quang hoang mang trước sự cả tin của chính mình, ông tự nhắc bản thân: “Đừng sợ hãi những lời cay đắng/Đừng vội tin những tiếng ngọt ngào!”. Nhắc mình như vậy, ông cũng xác định hành trình tu tập mà đau đớn đến mấy, mệt mỏi đến mấy vẫn không được phép bỏ cuộc. Bởi ông chấp nhận một cuộc đau đớn để trả “nợ” đời, trả nợ thâm tình.
Thì vẫn biết sắp đến rồi ga cuối
Khách đồng hành đã vợi bớt nhiều thêm…
Sao ta vẫn muốn được dài lâu nữa,
hững nợ đời, gắng gỏi cùng em…
(Tháng sáu)
Bao nhiêu đớn đau nhưng Hồng Thanh Quang vẫn giữ nhiều niềm tin và hy vọng. Ông chắc chắn hơn và thấm thía hơn những quy luật, tính tất yếu của hiện hữu “Sau giông bão tất yếu trời lại sáng/ Sa mạc nào cũng không mãi vô biên”.
Sau bao nhiêu giằng xé nội tâm, ông giác ngộ sâu sắc hơn về cuộc đời, con người, về chính mình. Giác ngộ về những hiện diện quanh mình mang tính quy luật như nhân- quả, về những hiện tượng đánh lừa bản chất: “những cú lao như xuống dốc không phanh, những dâng hiến tự biến mình thành sa mạc”. Qua bao nhiêu điểm đến, ông biết con đường lấy chân kinh cực kỳ gian nan. Bản thân sự đa cảm quá đỗi của ông khiến ông ngồi không cũng “sinh chuyện”, huống chi, ông lại là người trải nhiều chuyến đi, điểm đến, những biến cố của chính mình và rất nhiều bạn bè. Những hợp âm của cuộc sống trở thành phức cảm trong chiếc vỏ bình yên khi ông nhớ đạo diễn Doãn Hoàng Giang, hay khi ông nhớ tới những con sông (sông Mã, sông Lam, sông Nhật Lệ, sông Hương, bến Ngự Bình), những cánh đồng, ga tàu, thành cổ, sân chùa (chùa Hương), làng bản…
Trước bao mùa hoa gạo, hoa phượng, hoa sen, và cả “bông hồng không đợi mùa vẫn nở”, ông xác định hành trình chịu những cơn đau cả về thể xác và tinh thần, chấp nhận những già nua, chậm chạp. Trải bao lần “nước chảy bèo trôi”, “độc hành” , “biết phận”. Hồng Thanh Quang có lúc xa xôi “Dẫu sao cũng cảm ơn người/ Để ta hiểu được lở bồi nhân gian…”. Có lúc sự đau đớn nằm ngay ở những câu thơ lý trí về mối quan hệ giữa những con người, rằng “Những chung tay chỉ tốt lúc ban đầu”, “Những sự thật hóa ra là nói dối/ Chân lý nằm ở đáy những niềm đau…”
Qua vụn vỡ, ông nhặt được viên ngọc của mình dưới đáy tâm hồn:
Mình tu không nệ đứng ngồi
Miễn sao vẫn được luân hồi nhân tâm.
(Mình tu)
Hồng Thanh Quang vốn mong muốn giữ nhân tâm cùng với trải nghiệm xã hội khiến ông nhận thức được rằng lười cũng là một dạng tu. Nhưng đó là “lười chạy vạy”, “lười cầu cạnh” chứ không phải lười lao động. Ông khát khao đắc ngộ,  chấp nhân đau trong tu tập và tìm thấy hệ giá trị đó là sự sống, là hạnh phúc, tình yêu. Chàng trai Hà thành hào hoa, yêu cuồng nhiệt, đắm say ngày nào nay đã để tình yêu trở thành trầm tích. Trải qua nhiều cơn đau đớn, bĩ cực, trái tim đa cảm của Hồng Thanh Quang lại phải neo ở những khoảnh khắc chấp chới giữa sinh tử khiến ông nhắc đến sự sống nhiều hơn hẳn. Rằng:
Phận một ngày được sống
Coi như là lộc giời
(Trò chuyện với mèo)
Có thể nói, “Giác ngộ” có lúc mang đến những câu chuyện và mong muốn có vẻ giản đơn nhưng sâu xa lại là thước đo hạnh phúc của con người. Với ông “hạnh phúc khi tới già vẫn sống”. Qua những hành trình của Hồng Thanh Quang, con đường tu tập đang ở một bậc mới, sẽ có ai đó hỏi rằng: liệu giác ngộ có phải sự dừng lại? Tôi nghĩ là không. Người giác ngộ để đi tiếp và sống tiếp, để tiếp tục tu tập trong bể đời, giữ sự sống và giữ lửa. Nếu để ý thể thức thơ, ta sẽ thấy câu kết mở và dấu ba chấm điển hình trong mỗi bài thơ của “Giác ngộ”,  việc luận bàn, nghĩ, hành động trong mỗi bài thơ là một sự mở ra. Quá trình chuyển hóa này là sự lắng lại để sống trong một hành trình đẹp tiếp theo.
9/11/2025
Mai Thị Hạnh Lê
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thềm xưa - Chốn hồng thiêng của thơ lục bát Nguyễn Nho Khiêm

Thềm xưa - Chốn hồng thiêng của thơ lục bát Nguyễn Nho Khiêm Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm (Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành...