Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

 

Thơ là linh dược

Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thùy Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hóa thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.

Ai cũng biết rằng, thời gian gần đây cao trào thơ Việt Nam nở như hoa xuân, các tâm hồn thơ thi nhau sáng tác, nhưng không vì thế mà mất đi chất thơ, càng lúc càng dồi dào sức sống. Riêng tôi, không đánh giá thơ giỏi dở mà muốn nói Thơ là cái hồn tinh tuý của dân tộc Việt Nam đã lớn lên trong cái nôi Thơ Ca. Mỗi người, mỗi nét, mang đủ màu sắc khắc hoạ thơ của mình. Rất đặc biệt, tác giả Trần Thị Thuỳ Vy không thêu dệt tâng bốc thơ của mình mà chỉ đánh giá qua bốn từ: THƠ LÀ LINH DƯỢC. Đã nói là linh dược thì sẽ chữa lành các căn bệnh mà con người vốn mắc phải! Hay! Lối suy nghĩ rất mới.

Đối với tác giả dùng ngôn ngữ diễn tả tâm tư tình cảm bằng giọng điệu rất mới trong thơ, trong Mái đêm: Em trao anh trái tim côi từng đêm…Hình như một ánh trăng vừa tàn/ một chiếc lá vừa rơi/ một làn gió vừa thổi tung mái tóc/ rối bời vì bóng anh lồng lộng/ một sợi tóc vừa rụng xuống/ khỏi mái đêm sâu thẳm (Cả những ngày đã quên, trang 12).

Rất là tự nhiên đến đổi, khi chạm vào hồn thơ người đọc không hề hay biết là những vần thơ mà cứ ngỡ là một quang cảnh êm đềm trước mắt. Cái hay của tác giả là như thế, như ta xem một tác phẩm chân dung nghệ thuật của hoạ sĩ tài danh, nét vẽ mê hoặc người xem, những lỗ chân lông người trong tranh hiện rõ và đôi mắt long lanh đang giao tiếp chuyện trò với người đối diện. Ở cái nhìn khác, Chơ Ro. Tôi nhìn thấy bầu trời Chơ Ro trong mắt em/… những chiếc gùi trên lưng cõng đầy mưa nắng/…mùa con két về rỉa bắp/ tiếng con dê gọi bầy/ mùa dựng rượu ghè/ mùa giống trống chiêng/ tế dâng đủ đầy/ mùa nương rẫy/ mùa dấu chân em bám đá/ ngược dốc gọi nguồn/ơi Chơ Ro! Cả những ngày đã quên, trang 18).

Một quang cảnh đẹp bịnh dị quê hương được vẽ lên bằng ngôn ngữ tuyệt vời đến đổi người đọc nhận ra góc quê hương trước mặt, thời gian chầm chậm trôi mà mọi sự sinh hoạt đang diễn tiến từng chút một. Sự linh động, và sự chân quê không hào nhoáng, không lập khuôn, bởi sự thật đã khắc hoạ tinh tế. Ở đâu đó trên cánh đồng thì tiếng trâu nhịp chân về chuồng, hay tiếng chim gọi nhau về tổ khi trời sắp tối, thì ở Chơ Ro tiếng dê gọi bầy. Hình ảnh trung thực trong thơ tác giả đã làm cho người đọc phải giật mình vì đứng trước một góc quê hương đậm đà bản sắc dân tộc. Lần theo chiều cảm xúc ta chạm đến nỗi niềm của tác giả với Mặc trầm lời ru. Người đàn bà ẵm bồng cánh buồm vừa mọc/ tiếng khóc của nụ chồi đỏ hỏn/của ánh mặt trời dâng sóng/ Vượt cạn…/ Người đàn bà chèo cạn đêm nay/ôm hòn máu đời mình/mặc trầm lời ru. Cả những ngày đã quên, trang 32).

Vượt cạn của người đàn bà luôn là nỗi bất trắc mà cũng là niềm vui nhất trong đời. Tiếng khóc của trẻ thơ làm cho người đàn bà lớn hẳn và mạnh mẽ hơn, sẵn sàng đối mặt, luôn giữ an toàn cho mầm non trong mọi hoàn cảnh! Ở đây, vượt cạn, tác giả đã mạnh dạn ẵm bồng cánh buồm vừa mọc, dùng đôi tay vươn dài che chở cho nụ chồi đỏ hỏn. Hình ảnh người đàn bà có đầy đủ trách nhiệm thật đáng trân trọng!

Trở lại với góc quê hương ta bắt gặp ký ức cối xây lúa chạm vào lòng, một nỗi niềm hằn sâu vào hàng thế kỷ khôn nguôi. Làn da đồng hun sâu dãi dầu của ông/ nụ cười móm mém tóc mây của bà/… đường cày và những lằn roi ví thá/ những bữa cơm vội vã/ giấc ngủ đượm bùn phèn của mẹ/khói thuốc phập phều ngày đông của cha/… ngun ngút khói chiều giáp hạt/ gom cánh chim tuổi thơ/ phơi ngày trở giấc/… chiếc cối xay/ xoay tròn… xoay đều/ điệu mưa bình yên/ ru nhưng giấc mơ màu mỡ. Cả những ngày đã quên, trang 46).

Một buổi sớm mai nào đó, giọt cà phê rơi trong đáy cốc, chợt nghe tiếng va chạm vào lòng! Thèm, nhớ, bâng khuâng. Nhưng với tác giả lại khác hơn, cô đã vẽ lên một bức tranh không gam màu mà ẩn hiện sáng tối rõ nét bằng những ngôn từ thật ấn tượng. Chiều nay caphe cùng anh/ được trở về mười tám/tuổi dám yêu dám nhận/Ngày mai không caphe/ không cute/ không mầu nhiệm/… ngày mai rồi ngày mai nữa…/ gánh hàng rong trên vai bà Bảy cong dần/ từng bước đi chậm chạp/ tiếng mời chào thưa hơn/ Chiều nay/ bên anh tuổi mười tám hiện thời/ như giọt cà phê rơi. (Cả những ngày đã quên, trang 66). Hãy để lòng thanh thản và nhắm mắt để nghe tiếng guốc gõ trên từng cung, có một khoảng lặng đến ngậm ngùi chỉ trong vài câu ngắn ngủi. Tác giả đã thâu tóm thời thời gian, không gian một cách tài tình cho người đọc nhận ra suốt chiều dài cuộc đời và thân phận, nhận ra điều trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Đây là một nghệ thuật diễn tả cho một biểu cảm của ngôn ngữ, hay tiếng lòng của tác giả đau đáu nỗi niềm của người đời. Con người dù bận rộn đến đâu, đôi khi cũng có những giây phút suy gẫm thiền định (méditation). Những giây phút này tác giả nhận ra sắc màu tâm tưởng bằng những cung bậc từ tốn: Người đàn bà len qua giông tố/ vất vưởng giữa sa mạc/ cằn cỗi giữa hoang tàn/ đồng hành cùng bóng đêm/ Có lúc lả đi chạm chân tuyệt vọng/ Chơn tâm vụt sáng/ Bàn chân dần ấm/ Chạm sỏi biết đau/…Từng bước/ Từng bước… chuyển hồng/ (Cả những ngày đã quên trang 93).

Tác giả đã khéo léo chuyển hóa tâm trạng một cách tài tình, dù là bài thơ ngắn nhưng cũng đủ để người đọc suy gẫm việc đời, không chịu đầu hàng nghịch cảnh, lúc nào cũng vươn lên cho dù một chân què quặt dưới ánh sáng mặt trời. Nhìn chung qua tập thơ Cả những ngày đã quên tác giả Trần Thị Thùy Vy đã cho ta nhận ra nhưng điều tưởng chừng như rất đơn giản như ăn ngủ thường nhật nhưng không hề đơn giản chút nào, mỗi cử chỉ động tác đều có ý nghĩa riêng của nó, qua thời gian và không gian nhưng động tác đó lại càng nhiệm mầu đầy sắc màu trong cuộc sống bằng thơ. Thơ của Thuỳ Vy rất thực trong đời sống, thế nên rất sinh động càng đọc càng say mê.

Bao nhiêu lo toan của người đàn bà, trước cảnh cơm, áo gạo tiền mà vẫn Thơ. Có thể nói, thơ với Trần Thị Thuỳ Vy là linh dược (mesdicament miracle). Chính tác giả đã nói: Tôi đọc thơ xuôi dọc bờ kênh/ nức lòng cây trái/ vũ trụ nuôi em/trái tim rực hồng/ Những bài thơ nơi đại dương xa xôi/ hừng hực yêu thương/ cháy tràn chữ/ những ký tự nhảy nhót/… Thơ là linh duợc/ linh dược là thơ/ (Cả những ngày đã quên, trang 22). Rất đặc biệt, thơ của Thùy Vy thoát qua vần điệu, ngôn từ hào phóng không gò bó, mà nhẹ nhàng êm đềm tạo cho người đọc say mê lạ lùng.

Dòng thời gian đi qua không trở lại, mọi thứ dần khuất trong kiếp người. Nhưng tình thơ của Thùy Vy không mất, nó vẫn hiện hữu nơi góc quê hương, trên vai áo bạt màu của người mẹ còng lưng theo năm tháng. Và nó vẫn hiện hữu cùng với tiếng dê gọi đàn khi chiều về trên thôn bản nào đó! Với sức trẻ, thơ Thùy Vy sẽ còn bay xa và cao hơn ở khắp mọi nơi. Mong rằng, với mạch thơ đầy sức sống của tác giả Trần Thị Thùy Vy sẽ tiếp tục cho ra đời những tác phẩm đáng yêu, đáng trân trọng.

Cần Thơ, 5/12/025

Nhật Hồng
Nguồn:VanVn
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

 

Đọc thơ của một luật sư

Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...

Nguyễn Thái Hưng nguyên là sinh viên Khoa Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau anh còn học Luật, làm Kiểm sát viên lâu năm. Là Luật sư, nên chất thơ mang mạch nguồn của những quan hệ cuộc sống đa chiều. Đôi khi anh nhặt ra quãng ngơi nghỉ chọn lọc lấy chất lãng mạn của hiện tượng và sự việc mà suy tưởng sâu, thành lời.

Còn nhớ ở ngay tập đầu tay, Thái Hưng đã quan niệm về thơ khá sâu nặng. “Thơ tìm ta trú ngụ”, mà ta thì nghèo, xót xa đến trắng ngọn cỏ, người có thể chết còn thơ thì không. Điều này với Thái Hưng cũng chỉ được rút ra, cô đặc lại từ kinh nghiệm xương máu của người cha:

Con ơi!

Thơ không tắt thở

Thơ không cần vuốt mắt như bố

Thơ hóa thạch ở lòng người!

Thơ vận người. Nhưng người - đến lúc nào đó - nhất định rồi sẽ nhắm mắt, từ giã thế gian, còn thơ thì vẫn cứ thức chong chong cùng tuế nguyệt.

Bạn đọc ngày nay - nhiều người rất thích lối sáng tác thiên về bố cục và coi đó như một cách đổi mới, bứt phá. Thái Hưng nằm trong trường hợp ấy, ham chất chứa nội dung mà nhẹ đi độ bóng bảy cần thiết? Câu thơ hàm xúc, đầy đặn một tâm trạng, Tâm trạng đến từ lòng chân thành. Chúng ta đọc, thực sự thấy có một sức hấp dẫn tự nhiên - như thơ tự bản năng vậy.

LÁ THAY MÙA là tập thơ thứ hai của anh. Vẫn một cái tên thơ nhè nhẹ như thế. Qua Thu, sang Đông rồi mùa Xuân sẽ đến. Và quả nhiên ta gặp một tập thơ mới này với tiết khí ấm áp, dịu êm hơn. Hay nói cách khác, nếu ở tập thơ trước, hồ nước thiếu vẻ xanh trong còn nguyên đấy thì hôm nay nó mượn gió mà bay dần lên. Giống như phận quả, vắt lấy từ khô khát mà thơm.

Chúng ta dễ nhận được ở đây một nỗi buồn man mác phận người. Nỗi buồn ấy như nó được chọn làm tư tưởng chủ đạo theo dọc tập thơ. Đó như là quê bây giờ, là lá và chim, là đất và đá, là sông và suối, là gió và nắng là ngày và đêm, và hơn thế nữa, là bồng lai và trần đời, là nỗi đau và sự mòn mỏi...cứ thế, nó đan xen vào nhau, nó bỡn cợt và giận dỗi. Tuy vậy, Thái Hưng không buông bỏ theo những quan niệm đã cũ mà nhìn về mối quan hệ gốc theo một hướng lạc quan, như anh nói với rau Răm khi Cải đã bay về trời:

 ... Lời ru ngọt ánh trăng gieo

Cũng thôi! Mặc với trời cao, gió ngàn

Lệ buồn thở ấy chứa chan

Làm sương đầu núi mát sang lá gầy

Giữ cho mình chút đắng cay

Có cay, cay hết kiếp này - Thôi em!

Bởi vì, với cải thì nên là: Về giời, gió rủ thì đi? Nhân gian ở nữa, lỡ thì đấy em! Theo cái lôgic này, chúng ta thấy có một hướng luận đề khá thú vị, rằng phận gái cần chọn lấy cơ hội để “trao thân gửi phận”, chứ kén chọn mãi rồi sẽ lại ‘lỡ thì” …mất thôi!

Có nhiều chiều hướng khác nhau, song loạt bài nặng về thân phận là trội nhất trong thơ Thái Hưng. Có lẽ trong đời sống xã hội muôn màu muôn vẻ thì tích lại trong tâm thức anh chính là những mảnh đời gian nan, oan khuất, đau thương…Hiểu để đồng cảm, hay là chính bản thân Luật sư cũng sống trong hoàn cảnh đó thì mới tìm ra lối thoát cho từng mảnh vỡ khác nhau. Vậy nên, Thái Hưng - dù viết về điều gì hay viết như thế nào thì rốt cuộc vẫn cứ phảng phất cái thân phận khốn khó của con người. Tôi cũng đồng nhất với nhận định của Nhà thơ, nhà phê bình văn học Phạm Đình Ân là: “thơ Thái Hưng có tình yêu thuần phác nam - nữ, có tình quê hương thôn dã, có hình ảnh người mẹ, có thế sự đời thường và cả tầm quốc gia”. Bạn đọc không thể không tập trung sự chú ý đến bốn bài về mẹ đậm đà, sâu lắng tình yêu thương, ba bài về người chị mến thương ngày đêm, xót xa về người chồng là liệt sĩ - cùng những bài khác đề cập thân phận người phụ nữ. Bài Mẹ tôi có những khổ thơ xúc động:..Nào buồng cau, cơi trầu hay mớ lạc/ Nhịp hải hà quay quắt rổ nan tre./Gió nồm nam võng trĩu cả trưa hè/ Buổi chợ muộn nắng hong vàng nón lá/ Đêm bão giật nhà không còn mái nữa/ Chái bếp nghèo mẹ ấp ủ che con”.

Thái Hưng khá tinh tế trong việc sử dụng hình ảnh và nhịp điệu để làm mềm hóa những cụm từ gồ ghề. Có lẽ ở đây không có sự cố ý nào trong cách sắp đặt mà tự nó cứ dồn nén và bộc lộ tự nhiên như người gieo trồng có nghề thôi. Những câu, những đoạn thơ hay, lấp lánh ở khá nhiều bài như:

Nhóm bài tình quê hương, đất nước:

… Ừ quê đấy, mấy mùa chưa về nữa

Mới mơ thôi, sóng lúa đã quanh nhà

Và cây táo vãi trời hoa xuống ngõ

Bạc đầu rồi con nhớ lắm…quê xưa.

(Là Quê đấy)

Mùa thu để lá bơ vơ

Câu thơ che mãi vẫn chưa kín người

Xin đừng rơi nữa lá ơi

Buồn thu không lá …sầu người lỡ yêu.

(Lá rơi).

Trăm năm trăng khuyết, núi mòn

Lúa đồng mẹ hát như còn ngậm sương.

(Cõng Mẹ đi chơi)

Theo lẽ thường, Thái Hưng tất nhiên dịch chuyển trạng thái đúng bản ngã của mình. Anh nhìn sâu vào từng ý nghĩ với sự chuyển động của nó. Cái hồn ở bên trong một thực thể sẽ trôi về phía nào, tìm chỗ trú ngụ nào là tùy theo ý thức của mỗi con người chứ không phải “vật tự nó” đặt không đúng chỗ. Ví như với một phù điêu thiếu nữ đơn lẻ kiểu “nữ thần” ở biển thì: Hải Tiến chiều thu biển vắng/ Sóng xô bờ đá vô hồi/ Thiếu nữ mình trần vẫn đứng/ Bên bờ vời vợi đơn côi. Và để rồi: Lại sắp thêm mùa đông nữa/ Vắng người, biển bỏ ra khơi/ Thiếu nữ mình trần vẫn đứng/ Gió thương u ú… về trời. Có phải cái “u ú” kia là ý thức của nhà thơ trước không gian thiếu nữ ấy? cái u ú vô tích sự của trời đất được tạo ra để gắn với cái gọi là niềm thương! Tưởng chừng đều vô hồn cả, nhưng rồi, một điều tích cực của thân phận đã cứu rỗi:

Đó là em gác canh hay chờ đợi

Đó là tôi tìm đến hay bỏ đi

Ngôi sao đỏ cháy bùng trên mặt cỏ

Ngọn đèn em, hoa lửa đỡ tim mình.

Chỉ có điều, những muốn như thế mà nào được thế! Trong tôi bỗng hiện lên câu thơ Thái Hưng viết về chính chị dâu mình là vợ liệt sĩ: Trái tim thương chín cả trời/ Khát khao như lửa mà đời biết đâu/ Một mình cằm cặm đêm thâu/ Câu thơ như tượng Mị Châu cụt đầu…Và nhẽ ấy, cuối cùng, như bao người đời vậy, anh tìm đến một miền xa hơn - nơi có tiếng chuông và bóng Bồ đề - cho dù anh cũng không muốn đưa nhân vật của mình đến đó. Có người từng đợi mà hóa đá/ Đâu phải chờ người dóng - mới ngân nga!- câu thơ tượng hình, tượng thanh, viết thế mới khéo.

Sau tất cả, tất cả cảm thông, nhường nhịn cho gia đình, anh em, bạn bè, cho quê hương đất nước, Thái Hưng muốn nhận về cho mình một phần, dù chỉ là chút hy vọng nhỏ thôi:

Đêm No-en

Anh không được cùng em

Cũng chẳng cần Cha rửa tội

Vì tình yêu không bao giờ có lỗi

Dù em lỡ hẹn nhiều… như đêm No-en!..

Một lối viết giàu suy tưởng bằng cách sử dụng kết hợp tính ước lệ cao. Nhiều như đêm No-en - những đêm cuối năm chờ đợi ấy, năm nào cũng lỡ hẹn cả hay là chỉ có một, hai lần thôi nghĩ cũng đã nhiều lắm rồi.

Và, có một ngoại lệ rằng, tập LÁ THAY MÙA được in ra vào những ngày tháng đầu của quê hương hòa nhập theo địa giới hành chính mới. Những kỷ niệm xưa đan xen với hy vọng nhịp sống mới. Có chút vương vấn, man mác về nơi gắn bó máu thịt của mình - âu cũng là cái lẽ của thơ:

 Ừ vẫn thế quê ơi, xanh vẫn lúa

Biển Đồng Châu lồng lộng ráng mây hồng

Lại tha thiết tự hào - đây phố Hiến

Với nhãn lồng, sông Luộc, bến Triều Dương…

Những vần thơ mà chúng tôi trích dẫn trên đây, có lẽ bạn đọc cũng tự đánh giá, nhìn nhận về những gì làm nên nghệ thuật thơ Thái Hưng trong dòng mạch tư tưởng đầy chất nhân văn ấy. Chúng ta hãy cùng đọc ở thơ anh trong tập này.

Chú thích:                                                                                                

* Nhà thơ Bùi Việt Mỹ - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội

* Nguyễn Thái Hưng

- Nhà văn Hà Nội

- Luật sư-TW Hội luật gia Việt Nam

- Tác phẩm đã xuất bản:

+ Đi qua mùa thu - NXB Hội Nhà văn -2024

+ Bằng lăng tím lối Mễ Trì - NXB Hội Nhà văn-2024 (In chung nhiều tác giả);

30/8/2025
Bùi Việt Mỹ
Nguồn:VanVn
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

Phê bình như là tự truyện

Phê bình như là tự truyện

Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Phê bình cũng là tự truyện, cái tín niệm này khởi sinh và thành hình dần trong tôi đã lâu. Một hôm nào đó, lật giở ấn phẩm Viết và đọc chuyên đề mùa hạ 2021, đọc nhà phê bình Vương Trí Nhàn trả lời phỏng vấn Yên Ba, tôi đặc biệt khoái thú khi đến đoạn này:
“Thánh Thán là một ngòi bút đa dạng. Nhưng cái đặc biệt của Thánh Thán mà tôi muốn theo: ông ấy công khai nói rõ chỉ mượn những cái tìm thấy ở người khác, để nói về mình. Tức là tôi thích Thánh Thán ở chỗ rất chủ quan như cách nói của ta bây giờ. Thú thực, tôi cố ý không lảng tránh sự can dự chủ quan trên trang viết. Tôi chẳng bao giờ khách quan như một số người đòi hỏi. (…) Trong những bài viết ấy luôn có bản thân tôi, những vui buồn và những từng trải của tôi”.
Và khi nhìn rất lâu vào tên cuốn sách mới nhất của Trịnh Lữ – Vẽ gì cũng là tự họa – thì thêm lần nữa củng cố trong tôi xác tín: phê bình văn học cũng là tự truyện – tự truyện của nhà phê bình.
Trong dòng chảy của văn học, bên cạnh người sáng tác là người phê bình – người làm công việc lý giải, đánh giá và soi sáng tác phẩm. Nếu sáng tác là hành trình khai mở thế giới nội tâm của nhà văn thông qua hình tượng nghệ thuật, thì phê bình – tưởng như thuần lý trí và khách quan – cũng ẩn chứa trong đó những tầng sâu cá nhân của nhà phê bình. Phê bình văn học cũng là tự truyện, nhận định này không chỉ làm rõ một phần bản chất của phê bình văn học, mà còn gợi suy ngẫm về mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và hoạt động nhận thức bộ môn nghệ thuật ngôn từ, đặc biệt là trong thời đại mà cái tôi cá nhân và sự trung thực nội tâm được cổ xúy và tôn trọng.
Trước hết, phê bình cũng là tự sự
Suy cho cùng, không riêng gì với hoạt động phê bình, mà đằng sau tất cả hoạt động tư duy của con người đều có một cái lõi cốt truyện. Con người có nhu cầu kể chuyện dưới mọi hình thức. Kể chuyện là cách họ giao tiếp với thế giới, trình hiện chính mình.
Trong thư Ban biên tập Viết và đọc chuyên đề mùa thu 2018, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tự sự: “Chuyên đề Viết & đọc ra đời chỉ như một nỗ lực dựng lên một ngôi nhà nhỏ cho những người kể chuyện chân chính của thế gian bước vào, nhóm lên ngọn lửa và cất tiếng. Mỗi một nhà văn, nhà thơ, mỗi một họa sĩ, mỗi một nhà nghiên cứu, mỗi một nhà báo, mỗi một người giảng dạy trong nhà trường… và mỗi một bạn đọc chính là một người kể chuyện của thế gian này. Không còn cách nào khác, tất cả chúng ta hãy bước đi và cất tiếng về những điều tốt đẹp đang bị vùi lấp bởi chính con người”.
Nhà phê bình đồng thời là nhà văn người Ý Umberto Eco từng chia sẻ, chỉ sau khi viết xong tiểu thuyết đầu tay khá lâu ông mới nhận ra rằng tất cả những tác phẩm phê bình của ông tự thân chúng đã mang tính tự sự. Sau đó ông hay nói đùa rằng ông đã bắt đầu viết tiểu luận với Tên của đóa hồng, trước đó ông chỉ viết tiểu thuyết như Tác phẩm mở hoặc Cấu trúc thiếu hay những cuốn khác. Nhưng nói một cách nghiêm túc, ông luôn luôn muốn kể chuyện, ngay cả khi chấp bút các công trình khoa học: “Tôi kể chuyện, vì tôi đã kể vô khối chuyện cho các con tôi hồi chúng còn bé, do vậy việc lấy câu chuyện làm trung tâm đã thấm vào tôi. Rồi nhiều năm sau này bỗng nhiên tôi thấy muốn thay đổi phương thức kể chuyện đã quen của mình. Không phải là tôi đổi từ không viết tự sự sang viết tự sự, mà đơn giản chỉ là thay đổi cách kể chuyện. Những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi đã ra đời như thế”.
Phê bình, lâu nay, thường bị hình dung như một thao tác lạnh: phân tích, bóc tách, lí giải. Nhưng thực ra, phê bình cũng là một hình thức tự sự: nhà phê bình đi xuyên qua ngôn ngữ của người khác để trích xuất câu chuyện của chính mình.
Với chủ thể phê bình, đọc một văn bản, bản chất là bước vào một thế giới đã được ai đó kể lại. Và nếu như nhà văn kể chuyện bằng nhân vật, bối cảnh, giọng điệu, thì người làm phê bình kể lại chính trải nghiệm đọc đó – bằng những chất liệu của ngôn ngữ phân tích, nhưng cũng đầy cảm xúc, kí ức, và cả những khoảng lặng riêng tư. Một bài phê bình thực sự chạm tới, là khi kể lại được câu chuyện về “một cuộc gặp gỡ”: giữa người đọc với văn bản; giữa “điển”, “tầm đón nhận” với hình tượng; giữa chủ thể tiếp nhận và chủ thể sáng tạo…
Phê bình, như vậy, là một dạng nhật kí đọc và sống, là một cách nhà phê bình lưu giữ lại những điều chạm vào mình. Khi ấy, phê bình không cao giọng giảng giải dạy dỗ, mà bình thản thủ thỉ kể chuyện: về đối tượng phê bình, và qua đó, về chính chủ thể phê bình. Lúc này, tự sự cũng là tự truyện.
Phê bình và tự truyện – tưởng khác mà gần
Phê bình là một hoạt động tư duy có tính khoa học, nhằm phân tích, lí giải và định hướng giá trị của một hiện tượng văn học. Tự truyện, ngược lại, là hình thức người viết kể lại cuộc đời, cảm xúc, quan điểm của chính mình – nơi cái tôi được đặt ở trung tâm. Nhưng thú vị thay, trong những bài phê bình tưởng như khách quan và “lạnh”, cái tôi của người viết vẫn hiển thị sinh động. Khi một nhà phê bình lựa chọn và đưa ra nhận định về một hiện tượng văn học, họ không chỉ nói về hiện tượng văn học đó, mà đồng thời hé lộ hệ giá trị, quan điểm thẩm mĩ, vốn sống và cả tâm thức của chính mình. Nói cách khác, người phê bình không thể thoát khỏi cái bóng của chính họ trong khi nhìn vào người khác – và đó là lúc phê bình trở thành một dạng “tự truyện gián tiếp”: người này thiên về “lấy hồn ta để hiểu hồn người”, người khác lại thiên về dùng lí tính, tư duy logic để giải phẫu những kĩ thuật thuộc về mặt hình thức của văn bản; người này bị hút cuốn bởi hấp lực của nỗi buồn niềm đau nơi tác phẩm, người khác lại chỉ muốn đọc những cái viết nhẹ nhõm vui tươi… Nghĩa là, cứ xem nhà phê bình chọn đọc gì và đọc như thế nào, ta sẽ định danh được họ.
Với Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh không chỉ là một người sưu tầm và phân loại thơ của phong trào Thơ mới, mà còn là một “thi sĩ trong vỏ bọc nhà phê bình”. Cách ông lựa chọn thơ, trừu xuất từng hồn thơ… phản ánh một cái tôi phê bình mơ mộng duy cảm duy mĩ. Phê bình kiểu Hoài Thanh không chỉ giúp ta thông hiểu Thơ mới, mà còn phơi mở bản đồ tâm hồn nhà phê bình với khung thẩm mĩ, với “trực giác”, “ấn tượng”… riêng tây.
Nhà văn Việt Nam hiện đại – chân dung và phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh là một “tự truyện học thuật” được viết bằng chính trải nghiệm cá nhân của nhà phê bình với văn chương và đời sống.
Nhà văn, nhà phê bình người Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk (Nobel văn chương 2006) từng chia sẻ, một mùa hè khi mang cuốn sách Tu viện thành Parme của nhà văn người Pháp Stendhal theo người, nhiều lần ông tự hỏi tại sao chỉ cần biết cuốn sách ở bên đã thấy khoái như vậy, và thôi thúc ông nói về cuốn sách – niềm vui thú đó của mình. Khi chìm đắm tuyệt đối vào tâm hồn cuốn sách, ông thấy như thể tác giả của nó thầm thì toàn bộ sự thông thái vào tai ông, chia sẻ những sự những niềm chỉ cho riêng ông. Ông xúc động bộc giãi: “Đến gần như vậy trong trí óc và tinh thần của một nhà văn rỡ ràng dường này giúp tôi tự tin, và nhờ đó, như với mọi người hạnh phúc khác, niềm tự tôn trong tôi dâng trào”.
Những màu khác là tuyển tập tản văn, diễn văn, tiểu luận được Orhan Pamuk chủ ý tập hợp để tạo thành một cuốn sách hoàn toàn mới lấy yếu tố tự truyện làm trung tâm. Những bài phê bình xuất hiện trong đây ở các phần tách biệt như một chuỗi phân mảnh để phản ánh cùng một câu chuyện mang tính tự truyện của cuốn sách. Nói về Istanbul, hay bàn luận về các cuốn sách, tác giả, bức tranh mà bản thân yêu thích nhất, với Orhan Pamuk luôn luôn là một cái cớ để nói về cuộc đời. Phần “Nhìn ra cửa sổ”, câu chuyện ở cuối sách, theo ông, mang tính chất tự truyện mạnh đến nỗi tên nhân vật rất có thể là Orhan Pamuk. Khi soạn cuốn sách này ông bàng hoàng nhận ra bản thân có mối quan tâm đặc biệt và khuynh hướng thiên về các thảm họa tự nhiên (động đất) và thảm họa xã hội (chính trị). Ông luôn luôn tin rằng ắt phải có một kẻ cuồng viết tham lam và gần như không thể lay chuyển thường trú trong bản thân – “một sinh vật không thể bao giờ viết cho đủ, kẻ lúc nào cũng biến cuộc sống thành từ ngữ” – và để cho hắn ta vui lòng ông cần phải tiếp tục viết. Đây là cuốn sách được đặt trong một cái khung để gợi ra một trung tâm mà ông cố gắng che giấu. Với ông, cuốn sách này “là hồ sơ – là bằng chứng – của một đời sống nội tâm”.
Ngay cả trong phân tích hậu cấu trúc, nơi tưởng như triệt tiêu cái tôi, nhà phê bình người Pháp Roland Barthes cũng vô thức kể lại bản thể mình qua S/Z (P/S). Đây là một tác phẩm phê bình văn học, cụ thể là một phân tích chi tiết về truyện ngắn Sarrasine của đại văn hào người Pháp Balzac. Nhà phê bình Thụy Khuê truy vấn và tường giải: Tại sao Barthes lại chọn truyện ngắn Sarrasine của Balzac? Lối phân tích vừa cắt vừa dán của Barthes khiến chúng ta có thể thấy tất cả những nét lồi lõm của một tác phẩm cổ điển tưởng là nhẵn nhụi bằng phẳng. Cái nhan đề S/Z của Roland Barthes biểu trưng tính chất bí mật của toàn thể tác phẩm qua hai nhân vật chính: S là chữ đầu tiên tên Sarrasine, người họa sĩ tài danh đam mê, và Z là chữ đầu tiên tên Zambinella, một danh ca bị thiến từ nhỏ để giữ giọng kim tuyệt vời. Hai người đàn ông này, liên hệ tới sự đồng tính của Barthes, đều mang tên đàn bà, tuy đứng ở hai phía nhưng cùng một nòi: tài hoa bạc mệnh.
Cũng theo Thụy Khuê, nhà phê bình người Bỉ Georges Poulet từng nói về lối phê bình của Madame de Staël – nữ văn sĩ người Pháp gốc Thụy Sĩ – như sau: “Đó là một lối phê bình ích kỉ nhất và vô vụ lợi nhất, đưa đến sự tìm biết sâu xa chính mình, trong say đắm, đem cái tôi của mình hòa nhập với cái tôi của người khác”. Georges Poulet đưa ra khái niệm sự thấu minh (transparence), tức là sự thông suốt, giữa người viết và người đọc. Theo ông, sự hòa hợp giữa những tâm hồn qua văn chương cũng giống như một cuộc hôn nhân hạnh phúc.
Ngày nay, với sự phát triển của internet và mạng xã hội, hoạt động phê bình văn học không còn tự trị, chỉ đi sâu vào tháp ngà hàn lâm, mà trở nên dân chủ, đi rộng ra đời sống. Những bài review, cảm nhận tác phẩm trên blog, diễn đàn, facebook… thường không theo chuẩn mực khoa học nghiêm ngặt, nhưng lại bộc lộ rõ cái tôi cá nhân. Người viết chia sẻ những gì họ thấy, cảm, nghĩ – và chính điều đó làm cho mỗi bài phê bình trở thành một mảnh ghép chân thực của “nhật kí tinh thần” người viết.
Phê bình như tự truyện – nghĩa lý và lưu ý
Về nghĩa lí, phê bình như tự truyện giúp giải phóng cái tôi trong phê bình, biến phê bình thành một hành vi sáng tạo thực sự. Nhà phê bình không chỉ làm công việc “phụ trợ” cho tác phẩm, mà trở thành người đối thoại, người đồng hành, đồng sáng tạo.
Phê bình kiểu tự truyện làm cho phê bình trở nên gần gũi hơn với độc giả, đặc biệt là trong thời đại mà con người ngày càng cần kết nối tương tác, cần được lắng nghe tiếng nói khác. Một bài phê bình giàu tính chủ quan có phần cực đoan là một bài giàu tính kích thích, giàu khả năng sinh sự, tạo hiệu ứng hoặc chia sẻ đồng cảm hoặc tranh luận đối thoại – đúng như tinh thần của một xã hội đa chiều.
Phê bình mang dấu ấn tự truyện cũng phản ánh sự trung thực trí tuệ và tâm hồn của người viết. Người ta không thể che giấu toàn bộ bản thân khi kể chuyện về một điều gì đó một cách sâu sắc – đặc biệt là khi kể chuyện về cái đẹp, cái thiện, và cả những giới hạn của con người.
Theo nhà phê bình Từ Huy, Alain Robbe-Grillet, nhà văn và nhà làm phim người Pháp, đã nói về những bài viết của Barthes bàn về các tác phẩm Kẻ nhìn trộm và Những chiếc tẩy của ông như sau: “Tôi đã tin rằng Barthes không hề nói gì về tôi, mà ngược lại, ông nói về chính ông, không phải theo một cách thức chặt chẽ, chính xác…, mà lỏng…”. Chính điều này lại hấp dẫn Robbe-Grillet. Ông hoàn toàn chấp nhận việc nhà phê bình có thể dùng tác phẩm của mình như một cái cớ để triển khai tư tưởng của chính họ, bất chấp việc những tư tưởng đó có thể hoàn toàn không ăn nhập gì với ý đồ sáng tạo, với cách hiểu của nhà văn về tác phẩm của mình. Bởi vì suy cho cùng, ý đồ của nhà văn sau khi tác phẩm đã được viết ra sẽ chỉ tồn tại như một cách thức diễn giải giữa vô vàn cách thức diễn giải khác. Điều quan trọng là tác phẩm có khả năng kích thích những tiềm năng của diễn giải.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, không phải cứ phê bình là tự truyện, càng không thể đánh đồng phê bình với tùy bút, dẫn phê bình đến tùy tiện. Phê bình là khoa học, đúng hơn, là “con vật lưỡng thê” dùng dằng giữa khoa học và nghệ thuật. Trái tim nóng nghệ thuật rất cần cái đầu lạnh khoa học phối tiết.
Nhà phê bình người Đức Erich Auerbach từng nhấn mạnh: “Phương pháp phân tích văn bản cho người nghiên cứu một sự tự do nào đó trong cách diễn giải: tức là tự do lựa chọn và tô đậm chỗ nào anh ta thích. Tuy vậy, cái điểm mà anh xác định luôn luôn phải có trong văn bản. Những cách giải thích của tôi, chắc chắn là bị hướng dẫn bởi một ý hướng nhất định, nhưng ý hướng này không có sẵn mà nó được hình thành dần dần, từng trang, từng trang, cùng với luận điểm giải thích văn bản mà tôi đang nghiên cứu, và trong nhiều trang, tôi để cho văn bản hướng dẫn mình. (…) Tôi không hề có ý định chỉ trình bày những gì phù hợp với những phát biểu của tôi; ngược lại, tôi cố gắng dành chỗ cho sự đa dạng và giữ sự mềm dẻo trong lập luận…”.
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mỹ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Những phân mảnh phê bình mang tính tự truyện lưu lại những mối quan tâm, niềm nhiệt hứng của chủ thể phê bình. Với họ, đọc là ân điển, viết là lạc thú. Những lần khởi bút viết phê bình được Orhan Pamuk gọi là “những khoảnh khắc vụt hiện”, “những khoảnh khắc kỳ lạ khi chân lý bằng cách nào đó được rọi sáng”, còn nữ văn sĩ người Anh Virginia Woolf gọi là “những khoảnh khắc hiện hữu”. Phải thôi, khi mà có vô hạn hiện tượng văn học, tại sao nhà phê bình chỉ chọn đọc hữu hạn hiện tượng này thôi, và đến lượt, trong hữu hạn hiện tượng đã đọc, họ chỉ dừng lại chấp bút phê bình một phần nhỏ này thôi. Và ta hiểu, tại sao nhiều nhà phê bình lại run rẩy xúc động ghi đề tặng cố hương, cố nhân, người thân… vào đầu mỗi cuốn sách phê bình của mình.
Với nhà phê bình, viết là một cách để nói họ đang sống, họ đang hiện diện, họ đã yêu cái đẹp này theo cách của họ. Từ đó có thể thấy, phê bình – như một tự truyện gián tiếp – không chỉ là nỗ lực của nhà phê bình trong việc giải phẫu hiện tượng văn học, đặc biệt là tác phẩm văn học, mà còn là hiện thân của khát vọng trình hiện bản thân, của nhu cầu tương giao với thế giới và nhìn sâu vào chính mình của chính họ.
Vì lẽ đó, như đã nói, trong mỗi bài phê bình đích thực, ta không chỉ thấy được văn bản văn học mà còn thấy được đời sống tinh thần của người đọc nó. Những xúc cảm, tổn thương, vẻ đẹp và những vùng tối trong tâm thức – tất cả được viết ra như thể người viết đang soi gương dưới ánh sáng lấp lánh và mờ đục của văn chương. Như ánh đèn chiếu vào sương, những thứ tưởng không hình hài bỗng hiện rõ – một khoảnh khắc vụt sáng giữa vô vàn tiếng ồn im lặng.
Phê bình không chỉ là diễn giải người khác, mà là tự soi mình. Không chỉ là lý giải, mà còn là tự khải. Không chỉ là khách thể hóa, mà còn là hành trình chủ thể hiện diện trong ngôn từ.
Nhà phê bình không viết để phô phang kiến thức, mà viết để lần tìm linh hồn của mình.
Trong hành trình ấy, nhà phê bình không bao giờ có thể chạm được vào cái tuyệt đối – nhưng ít nhất, họ đã dấn bước. Và một điều chắc chắn, họ không thể “tuyệt không dấu vết”.
30/12/2025
Hoàng Đăng Khoa
Nguồn:VanVn
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách

Cẩm nang nhỏ có giá trị
để đi vào thế giới của sách

Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Ngắn gọn, súc tích, “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là cuốn cẩm nang dễ hiểu nhất, giúp độc giả đi vào thế giới của sách. Sách viết về phương pháp đọc sách đã có rất nhiều. Cuốn sách được coi là kinh điển cho dòng này là: “Thú đọc sách” của charles van doren; “ Đọc sách như một nghệ thuật” của Adler Modtimer ... Đó là những tác phẩm được biên soạn rất công phu. Mặc dầu vậy khó khăn trong tâm lý đọc sách của độc giả ngại khó, ngại dài.  Độc giả có thể tìm đọc cuốn nhẹ nhàng hơn của tác giả Nhật Bản Yuji Akaba, đã rất nổi tiếng hiện nay là cuốn “ Kỹ năng đọc sách hiệu quả”. Ở Việt  Nam, học giả Hoàng Xuân Việt có viết cuốn: “Nghệ thuật đọc sách báo”  cũng rất hay nhưng đã lâu không tái bản.  
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn xuất  là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp. Sách được xuất bản giữa thời điểm thế giới công nghệ thông tin đang bùng nổ, ngành xuất bản có nhiều đổi mới, đầy triển vọng và cũng nhiều thách thức. Trong bối cảnh đó, người nắm bắt thông tin nhanh nhạy sẽ có thế mạnh. Nhưng mọi tri thức của nhân loại đều có trong sách. Sứ mệnh của con người cần biết đọc sách, mà đọc sách giỏi trước hết phải biết điểm sách. Tác giả viết: “Tôi đã biết những gì và cảm nhận được những gì sau khi đọc xong cuốn sách này?”. Như thế , “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn hứa hẹn cho độc giả biết nhiều bí mật của sách. Nó như nấc thang đầu tiên giúp độc giả đến với sách không phải với tâm lý e ngại, mà rất phấn khích, đã vững rồi lại muốn đi những bước tiếp theo. Cuốn sách phù hợp với các bạn yêu sách , lại có ước vọng cao hơn là đến nghề văn. Bước đầu tiên là giúp họ biết cách đọc một cuốn sách làm sao thâu hái được nhiều tri thức nhất, từ đó giúp họ biết cách điểm sách hay nói rộng biết phân tích, bình luận một cuốn sách.
Bạn đọc đi sâu với hai phương pháp điểm sách đặc thù: Đầu tiên là điểm sách theo cách mô tả. Tác giả hướng dẫn rất cụ thể với 3 phần: Mở bài, thân bài, kết luận. Qua mỗi cách, tác giả đều làm rõ từng phần, có ví dụ cụ thể từ các tác phẩm kinh điển. Đáng nói là qua 3 phần tác giả đều có lối đi riêng, độc đáo. Chẳng hạn tác phẩm: “Tôi thấy hoa trên thảm cỏ xanh” nếu mở theo cách tập làm văn xưa sẽ viết: “Tôi thấy hoa trên thảm cỏ xanh là một tác phẩm văn học chứa đựng nhiều tuổi thơ của biết bao thế hệ trẻ em Việt Nam”. Với Nguyễn Ngọc Sơn, anh có cách đi cho riêng mình, bằng lối mở đầy tính bất ngờ, sáng tao. Anh viết: “Thơ mộng, đầy chất thơ. Đọc Tôi thấy hoa vàng trên  cỏ xanh là cách nhanh nhất, dễ dàng nhất để giúp bạn quay về với tuổi thơ hồn nhiên, ngọt ngào...”. Vẫn hướng đi sáng tạo này, phần kết luận, tác giả còn gợi mở thêm nhiều cách kết bài mới, bên cạnh những cách đã có trước đây. Chẳng hạn muốn kết bài cho tiểu sử Steve Job, tác giả dẫn bằng một câu danh ngôn của nhà triết học người Pháp Descartes: “ Đọc sách hay cũng giống như trò chuyện với các bộ óc tuyệt vời nhất của những thế kỷ đã trôi qua”. Steve Job - người có bộ óc tuyệt vời của thế kỷ 21 - chắc chắn sẽ là nhân vật tuyệt vời, đáng để bạn trò chuyện bên tách cafe vào mỗi buổi sáng.
Cách thứ hai là điểm sách theo cách bình luận. Đây là hoạt động giới thiệu sách mang đậm tính học thuật. Để bình luận thành công một cuốn sách, tác giả hướng người đọc trả lời 3 câu hỏi sau:
- Lập luận này của tác giả đúng chưa? Vì sao tác giả nói như vậy?
- Những vấn đề này là kiến giải khoa học hay chỉ là những nhận định phiến diện và chủ quan?
- Những kiến thức của tác giả có thể ứng dụng được không? Những thông tin của tác giả có chính xác không?
Đáng chú ý, tác giả đi đến cách đặt vấn đề bình luận những cuốn sách theo thể loại. Tôi rất tâm đắc khi Nguyễn Ngọc Sơn đã có những ý kiến xác đáng về các thể loại sách mang tính học thuật cao, đầy tính  gai góc: “Bạn muốn bình luận cuốn sách về văn học thì mở bài của nó phải nói về trường phái văn học, phong cách viết hoặc nói về xu hướng của văn học hiện đại. Nếu bạn bình luận về sách triết học, phần  mở bài của bạn không thể không nhắc đến chủ nghĩa duy tâm siêu hình, chủ nghĩa duy vật biện chứng, những trường phái triết học kinh điển. Khi bạn bình luận về sách kinh tế chính trị, thì bạn không thể không nhắc đến “bàn tay vô hình” hay “giá trị thặng dư”, những học thuyết kinh điển của kinh tế chính trị”. Tiếc rằng những chỉ dẫn này không được làm sáng tỏ trong phần trích dẫn quan trọng và trình bày trích dẫn từ cuốn sách khác. Thế nên việc bình luận cụ thể những cuốn sách về văn học, triết học, kinh tế... còn bị bỏ ngỏ do tác giả không dẫn ví dụ về loại này, lại thay bằng bình luận cuốn sách về Bí quyết thuyết trình của Steve Job: “Bằng cách đưa ra những dẫn chứng sâu sắc về thuyết phục, Carmine Gallo đã chỉ ra những bí quyết  trình bày cực kỳ đắt giá trong suốt thời gian Steve Job làm lãnh đạo Apple. Thông qua việc phân tích các bài thuyết trình trên Youtube, tác giả đã chỉ ra được các bí quyết, phương pháp mà vị lãnh đạo này thường áp dụng mỗi khi giới thiệu những sản phẩm mới”.
Bên cạnh chủ đề trọng tâm là đọc sách, điểm sách, Nguyễn Ngọc Sơn cũng không quên đề cập đến chuyện bếp núc xoay quanh vấn đề đọc sách và viết lách. Từ chuyện phát triển kỹ năng đọc và viết, đến chuyện tiêu chí chọn sách tốt, đặt tiêu đề, sử dụng ngôn từ... Tất cả góp phần làm cho cuốn sách thêm phong phú về nội dung, thỏa mãn được chờ mong của bạn đọc yêu sách. Tuy nhiên với dung lượng nhỏ (chỉ khoảng 150 trang), cuốn sách không có tham vọng đi vào mọi ngõ ngách của nghề sách. Với những gợi mở của nó, hi vọng sẽ giúp độc giả có nền tảng để thêm nhiều tìm tòi, đi sâu hơn vào thế giới mênh mông  này. Sách kinh dịch nói: Nhà muốn vững trước hết phải có nền, huống chi đối với người đọc sách. Quý độc giả có tâm huyết với sách tại sao lại không tạo nền móng vững chắc cho mình. Còn chần chừ gì nữa mà bạn đọc bỏ lỡ “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn.
1/1/2026
Vương Sỹ Thanh Chương
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Văn học mùa Giáng sinh

Văn học mùa Giáng sinh

Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Lo âu và có một cơn giận dữ thầm lặng đang bùng cháy trong lòng ông. Nước Anh thời Victoria ngày càng giàu... và ngày càng tàn nhẫn. Trẻ em bị bóc lột, gia đình đói khát, người nghèo bị đối xử như thể đó là tội của họ. Dickens nhìn thấy mọi thứ. Và ông không thể câm lặng, giả vờ như chẳng có gì xảy ra.
Chính vì vậy, chỉ trong sáu tuần quyết liệt, ông đã viết A Christmas Carol ("Khúc ca Giáng Sinh".)
Cuốn sách ra mắt vào ngày 19 tháng 12 năm 1843. Dickens muốn nó phải đẹp, được giữ gìn cẩn thận, xem như một vật quý giá: bìa vải đỏ, viền vàng, hình minh họa màu của John Leech. Nó phải được xem là một món quà tặng chứ không chỉ để đọc.
Bản in đầu tiên với 6.000 bản đã được bán hết trước đêm Giáng sinh. Trong năm sau, nó đã được tái bản nhiều lần. Chi phí sản xuất có làm giảm thu nhập nhưng tác động xã hội là rất lớn.
Một trăm tám mươi năm sau, "cuốn sách nhỏ về ma" đó vẫn không mất đi sức mạnh của nó. Ngược lại. Nó đã trở thành một nghi lễ. Một nguyên mẫu. Một la bàn đạo đức trở lại rất đúng giờ vào mỗi tháng Mười Hai hàng năm.
Câu chuyện trong sách rất đơn giản và phổ quát.
Ebenezer Scrooge, một người keo kiệt và cô đơn, coi thường Giáng Sinh và tất cả những gì Thánh lễ này đại diện. Gã coi đó là một điều vô nghĩa và đắt tiền. Một thứ lãng phí thời gian.
Nhưng vào đêm trước Giáng sinh, gã được hồn ma của người bạn Jacob Marley và ba linh hồn đến viếng thăm:
- Giáng sinh quá khứ
– Giáng sinh hiện tại
– Giáng sinh tương lai
Thông qua họ, Scrooge buộc phải thực sự nhìn vào bản thân mình.
Quá khứ cho thấy ông ta là một đứa trẻ bị lãng quên và một chàng trai trẻ đã hy sinh tình yêu trên bàn thờ tiền bạc.
Hiện tại tiết lộ cho ông ta sự giàu có vô hình của những người tuy có ít nhưng biết cách chia sẻ mọi thứ cho mọi người.
Tương lai đặt trước mặt gã là một hậu quả đáng sợ: chết mà không để lại bất cứ điều gì, nếu không muốn nói là sự thờ ơ.
Và ở đây Dickens vẫn ảnh hưởng đến chúng ta cho đến ngày nay.
Bởi vì, sau tất cả, chúng ta đều là một lão Scrooge. Chúng ta sống trong một thế giới hối hả, siêu kết nối, phố xá đầy ánh sáng và các cửa hàng lấp lánh, nhưng chúng ta thường thiếu thời gian, được lắng nghe và cảm thấy ấm áp thực sự. Chúng ta đang phấn đấu để làm cho Giáng Sinh trở nên "hoàn hảo", như thể đó là một pha trình diễn, và cuối cùng chúng ta mệt mỏi, tâm hồn trở nên trống rỗng và lòng đầy hoài nghi.
Khi Scrooge hỏi:
"Tại sao phải vui vẻ? Tại sao phải chi tiêu? Tại sao phải cố gắng trở thành người tốt?"
… Một số người trong chúng ta hiểu câu hỏi đó.
Và Dickens trả lời ngay mà không cần tài hùng biện: nếu chúng ta không thắp sáng ánh sáng bên trong mình, chúng ta không thể chiếu sáng cho bất kỳ ai.
Ngay cả sự ra đời cuốn sách cũng là một hành động khẩn cấp. Năm 1843, Dickens gặp khó khăn về kinh tế và sáng tạo. Như bộ phim The Man Who Invented Christmas đã kể lại, ông đang tìm kiếm một câu chuyện vừa tố cáo xã hội vừa làm thức tỉnh đạo đức. Sau một bài phát biểu ở Manchester chống lại nghèo đói ở trẻ em thì ý tưởng đã hình thành. Ông đi dạo quanh London hàng giờ, nói chuyện với chính mình, trong khi Scrooge và những hồn ma càng lúc càng sống động trong tâm trí.
Dickens không chỉ viết một tiểu thuyết hay truyện kể.
Ông đã khôi phục ý nghĩa cho một Thánh lễ Giáng Sinh đang trở nên trống rỗng.
Ông nhắc nhở thế giới rằng Giáng Sinh không phải là để tiêu dùng hay - phô trương mà là để kết nối.
Và mỗi khi chúng ta đọc cuốn sách hoặc xem một trong những bản chuyển thể của nó, thông điệp ấy vẫn còn nguyên vẹn:
Hãy quay trở lại với những điều thật sự cần thiết.
Một cử chỉ tử tế
Một bàn ăn để cùng chia sẻ
Một cái nhìn để nhận ra người khác
Như triết gia Seneca đã viết:
"Si vis amari, ama."
Nếu bạn muốn được yêu, thì hãy yêu.
Có lẽ đây là lý do tại sao, sau một trăm tám mươi năm, A Christmas Carol vẫn tiếp tục nói với chúng ta.
Bởi vì nó không yêu cầu hay đòi hỏi là chúng ta phải hoàn hảo.
Nó chỉ yêu cầu CHÚNG TA PHẢI LÀ CON NGƯỜI.
* A Christmas Carol ("Khúc ca Giáng Sinh") của Charles Dickens
2/1/2026
Trương Văn Dân dịch
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình

Chính Nguyễn Văn Mạnh đã
tự làm sáng con đường dấn thân
phụng sự văn nghiệp của mình

Đọc ĐƯỜNG SÁNG của Nguyễn Văn Mạnh là đọc lại một hành trình đời người nhiều bão tố nhưng không khuất phục. Từ người lính trận, nhà báo, luật gia đến nhà thơ, nhà văn, Nguyễn Văn Mạnh đã tự viết nên số phận mình bằng dấn thân và trung thực. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín – người bạn học, bạn đồng hương – mang đến một cái nhìn gần gũi, tin cậy và giàu xúc cảm về cuốn tiểu thuyết mới này.
Những ngày cuối năm 2025, tôi đọc tiểu thuyết ĐƯỜNG SÁNG của luật gia, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Văn Mạnh. Đây là cuốn tiểu thuyết mang tính tự thuật tái hiện cuộc sống hơn nửa thế kỷ qua của chính tác giả. Khi gấp sách lại, trong tâm thức của tôi bao nhiêu kỷ niệm lại ùa về sau chặng đường hơn 60 năm tôi và Mạnh cùng trải nghiệm và suy ngẫm.
Chúng tôi sinh ra trên mảnh đất Hiệp Hòa khó nghèo heo hút. Là xã cuối cùng trong bản đồ dư địa chí của thành phố Hải Phòng. Chúng tôi cùng tuổi Bính Thân, cùng học chung một lớp từ cấp 1 đến hết cấp 2 phổ thông tại trường xã và học chung cấp 3 trường huyện. Có thể nói tuổi thơ, tuổi học trò của chúng tôi đã có sự gắn bó sẻ chia với bao kỉ niệm vui buồn không thể nào lãng quên dù năm tháng đã phủ một lớp bụi mờ trên ký ức.
Quê chúng tôi là một vùng quê chiêm trũng đói nghèo lạc hậu. Thời chiến tranh loạn lạc, máy bay Mỹ quần thảo bắn phá suốt đêm ngày, thanh niên trai tráng trong làng lần lượt lên đường tòng quân chiến đấu, chỉ còn những người già, phụ nữ và trẻ em ở tuổi học sinh ở lại hậu phương. Mùa hè nóng nực, mùa đông giá rét, chúng tôi vừa đi học vừa phụ giúp gia đình chăn trâu cắt cỏ, mót khoai hôi cá để vượt qua nạn đói nghèo luôn rình rập quanh năm. Mạnh thuở ấn niên ốm đau còi cọc, dáng người gầy gò bé nhỏ lụp xụp trong bộ áo quần nhuộm nâu nhưng đôi mắt sáng tinh nhanh và nụ cười hiền luôn thường trực trên khuôn mặt thánh thiện của tuổi học trò. Lớp học của chúng tôi được đào âm sâu vào lòng đất, trên đắp tường dày cả thước, mái nhà được bện rơm để tránh mảnh bom. Tôi và Mạnh đều là học sinh thông minh hiếu học, có ý chi tự lập và không chịu đầu hàng số phận. Hoàn cảnh nhà Mạnh còn khó khăn nghèo đói hơn cả nhà tôi do bố Mạnh mất sớm. Trong hoàn cảnh mồ côi, mấy anh chị em yếm thế vì bị đối xử phân biệt do ông bố của Mạnh thời Pháp thuộc làm chức sắc trong thôn xóm, bị Cách mạng quy địa chủ cường hào, bị tịch thu gia sản ruộng vườn. Sau này, được hạ thành phần là địa chủ kháng chiến, nhưng lúc đó đã mất hết nhà cửa, phải dựng túp nhà tranh nhỏ bé ở góc làng trú thân qua mưa nắng. Mẹ của Mạnh là người phụ nữ đoan trang, hiền hậu, khuôn mặt hằn nét chịu đựng vất vả truân chuyên của cuộc đời. Tôi đã nhiều đêm ngủ cùng Mạnh trong ổ rơm ngay cạnh bếp vừa nấu cơm vừa nấu cám lợn cho đỡ rét. Hồi đó chính quyền địa phương và cả nhà trường còn coi nặng thành phần giai cấp xuất thân, dù chỉ phụ thuộc nhưng tạo ra những áp lực nặng nề cho các học sinh là con em các gia đình có vấn đề về lý lịch.  Dù học giỏi thì lớn lên cũng chỉ cày ruộng không dám mơ đi học đại học hoặc làm các ngành nghề thoát ly đồng ruộng. Ngay từ khi học xong lớp 7/10, ở lứa tuổi 14 – 15, chúng tôi đã nung nấu ý chí phải thoát ly khỏi luỹ tre làng bằng con đường tình nguyện đi bộ đội. Dù biết rằng là người lính chiến đấu ở chiến trường (hoặc là xanh cỏ hoặc là đỏ ngực). Chủ nghĩa lý lịch còn được duy trì ngay cả trong quân ngũ, giữa chiến trường ác liệt đạn bom nhưng con đường phấn đấu kết nạp Đảng, đào tạo sĩ quan cũng bị phân biệt bởi có ông cha dính dáng phục vụ chế độ cũ…
Trong chương I và chương II của tiểu thuyết, Nguyễn Văn Mạnh đã cho chúng ta biết hoàn cảnh chính trị, điều kiện xuất thân và gia thế của mình. Nhưng với tính khiêm nhường, kiệm lời vốn có, tiểu thuyết chỉ khắc hoạ một phần cuộc sống mà tác giả đã trải qua. Thật chạnh lòng khi ghi lại một đoạn tự sự của Mạnh: “Số phận đã đóng dấu cho mình là con địa chủ thì mình sẽ xoá dấu ấy bằng máu và long trung thành trên chiến trường”.
Những năm giặc Mỹ tái đánh phá ra miền Bắc, máy bay B52 ném bom huỷ diệt, tôi và Mạnh cùng học cấp 3 của trường huyện nhưng khác lớp. Trường phải phân học sinh sơ tán về các xã.  Lớp học ấn dưới luỹ tre xanh của các xóm nhỏ ven sông. Ngồi học trong lớp nhưng tâm trí chúng tôi không thể tập trung bởi tiếng bom gào, máy bay gầm thét, bởi dòng suy nghĩ luôn hướng đến việc lên đường tòng quân cầm súng giết giặc. Tháng 2/1973 tôi tình nguyện đi bộ đội khi đang học lớp 9/10. Đến tháng 5/1974 đến lượt Nguyễn Văn Mạnh cũng tình nguyện viết đơn bằng máu và vinh dự được nhập ngũ. Trải qua rèn luyện chiến đấu tại chiến trường Nam bộ, gian khổ hy sinh do hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến trường, lằn rành sinh tử đã đào luyện chúng tôi trở thành những người lính dạn dày gan dạ, không sợ hiểm nguy, như những cánh chim đã trưởng thành trong bão tố và máu lửa. Theo chính sách của quân đội, những quân nhân nào không đủ tiêu chuẩn phục vụ lâu dài sẽ được chuyển ngành hoặc xuất ngũ về địa phương. Năm 1979 từ mặt trận biên giới Tây Nam tôi được chuyển ngành về bộ Công nghiệp nhẹ tại thành phố Hồ Chí Minh, còn Nguyễn Văn Mạnh năm 1980 được chuyển ngành về công tác tại báo Minh Hải… Đường đời cứ thế trôi đi, biết bao gian nan vất vả khi mỗi người phải tự đương đầu với hoàn cảnh công tác và thực tế cuộc sống khó khăn thiếu thốn của một thời bao cấp…
Tôi không tin vào sự huyễn hoặc của số phận nhưng ở lứa tuổi chúng tôi cái tuổi Bính Thân 1956 gặp rất nhiều hoàn cảnh long đong về sinh kế, trắc trở về đường công thành danh toại và lận đận bước tình duyên. Chẳng thế mà người đời có câu: “Người ta tuổi ngọ tuổi mùi/ Tôi nay ngậm ngùi lận đận tuổi thân”. Nhưng ông bà lại dạy “đức năng thắng số”, chỉ có nỗ lực vượt khó, chỉ có khát vọng vươn lên để tự thay đổi vận mạng cuộc đời mình thì mới có cơ hội nhập hòa cuộc sống để ổn định phát triển, tiến tới tính chuyện “ an cư lạc nghiệp”.
Trong tiểu thuyết ĐƯỜNG SÁNG, chương III và chương IV, Nguyễn Văn Mạnh đã tái hiện những thăng trầm trong cuộc chiến đấu khi là người lính trực tiếp bảo vệ tổ quốc hay trên cương vị một phóng viên khi đã chuyển ngành công tác tại báo Minh Hải. Với khí chất cương thường của người con đất cảng Hải Phòng, với cách sống trung thực tận tuỵ, cách viết đầy tính hiện thực, không phô trương bóp méo sự thật, anh không dễ dàng hoà nhập với tập thể có nhiều người kèn cựa ganh ghét dèm pha. Và rồi như mặc định một cánh chim bão bùng giông tố, anh không khuất phục nghịch cảnh, không chấp nhận số phận nghiệt ngã để quyết tâm đứng vững trước mọi thử thách truân chuyên. Anh chuyển công tác qua toà án Minh Hải rồi lại ra toà án tỉnh Khánh Hòa. Mỗi bước di chuyển là một sự vùng vẫy thoát ra trong nghịch cảnh khó khăn trong sự đa đoan trách nhiệm phục dưỡng mẹ già, nuôi vợ dại con thơ.
Đầu thập kỷ 90 Mạnh chuyển về báo Công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh cũng là lúc tôi gặp lại Mạnh sau gần 20 năm xa cách bặt tin nhau. Từ đó đến nay đã 30 năm tôi và Mạnh luôn có dịp gặp gỡ chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống và trong công viêc, trong đam mê sáng tác văn chương. Trong lớp bạn bè cùng học ở quê chỉ có tôi và Mạnh còn tham gia hoạt động xã hội, ở tuổi 70, dù đã nghỉ hưu nhưng chúng tôi luôn bận rộn với các công việc sáng tác và tham dự các hoạt động báo chí văn chương.
Tôi cho rằng Nguyễn Văn Mạnh là người có ý chí, bản lãnh phi thường để duy trì ổn định cuộc sống bình thường. Hơn 50 năm qua Mạnh đã dấn thân chiến đấu và phấn đấu không ngừng nghĩ, không thối chí, chấp nhận những khó khăn thách thức số phận. Chấp nhận những đổi thay dù vất vả rủi ro để mong tạo cơ hội thay đổi cuộc sống, để tiếp cận các vận hội, phụng sự xã hội và mưu cầu hạnh phúc chính cuộc đời mình. Lúc ra Bắc, lúc vào Nam, lúc ở tận cùng đất Mũi lại có lúc trụ lại giữa rừng núi Khánh Sơn của tỉnh khánh Hoà đèo heo hút gió giữa vùng sơn cước. Có lẽ hoàn cảnh đẩy đưa đã tôi luyện cho Mạnh sức chịu đựng dẻo dai, bản lĩnh chiến đấu hơn người để vươn lên làm chủ vận mệnh của mình. Bên cạnh những lo toan về công việc anh còn đau đáu nỗi niềm thương cảm đứa em ruột thịt đã hy sinh tại biên giới phía Bắc từ năm 1979 đến nay cũng chưa tìm kiếm được hài cốt.
Tôi nhớ lại câu thơ: “Ví thử đường đời bằng phẳng cả/ Anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Câu thơ như vận vào cuộc đời của Mạnh, va vào nghịch cảnh và duyên phận, phổ vào chức nghiệp và sự dấn thân bằng tất cả tâm huyết của mình. Sự thành công nào cũng phải đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, thậm chí bằng cả máu của mình. Từ một thanh niên thoát ly luỹ tre làng với lý lịch nặng nề vì bị quy chụp thành phần “địa chủ” Mạnh đã nhẫn nhịn chịu đựng và dấn thân tận hiến trong chiến đấu. Lấy máu của mình để xoá dấu ấn xuất thân, lấy khát vọng của mình để đạt các bước trưởng thành trong cuộc sống. Hơn nửa thế kỷ bôn ba, Mạnh đã thành công, thành danh và thành nhân
 Là người lính xông pha trận mặc, là nhà báo dũng cảm đấu tranh với cái ác bảo vệ những giá trị chân chính, là một luật gia luôn đứng về lẽ phải mang lại niềm tin cho người yếu thế, là một nhà thơ luôn có cái nhìn sâu sắc bản thể hướng tới chân thiên mỹ. Trong hoàn cảnh nào Mạnh cũng tự tin ngẩng cao đầu mang dấu ấn ứng xử tiết tháo cương thường của người đất Cảng không đầu hàng số phận. Ở chương V và VI trong tiểu thuyết mang yếu tố tự thuật về cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ của mình, Mạnh có bước ngoặt vô cùng ngoạn mục, trải qua thử thách trải nghiệm tài năng đức độ của một nhà báo, nhà văn được những bậc đàn anh đàn chị quý mến tin tưởng giao cho trọng trách là người biên tập chính của Diễn đàn văn nghệ, một phụ thương của Thời báo văn học - nghệ thuật Việt Nam. Đên nay đã phát hành 43 số báo với nội dung phong phú đủ các thể loại, tập hợp các bài viết của các tác giả là các nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu khoa học có uy tín trên văn đàn nước Việt.
Năng khiếu văn chương có từ thời học sinh cấp 2, 3 được hun đúc qua chặng đường nửa thế kỉ tu luyện đã bùng cháy soi sáng con đường văn nghiệp. Chỉ trong 4 năm, Mạnh xuất bản 2 tập thơ, 1 tập tản văn và 1 tiểu thuyết. Nhớ lại chuyện cách đây 7- 8 năm, tôi và Mạnh cùng tham gia sinh hoạt với các anh em quê Vĩnh Bảo trong câu lạc bộ thơ Vĩnh Bảo trời Nam do tôi sáng lập và làm chủ nhiệm nhưng người cộng tác tận tuỵ hiệu quả là Mạnh. Tôi có nói Mạnh tập hợp các bài thơ của mình để in các tác phẩm, đăng kí vào Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Mạnh đã âm thầm sáng tác, khí phách và nội lực văn chương phát tiết thật phong phú, sung sức, chất lượng văn chương khẳng định tầm nhận thức và sức biểu cảm của một người thơ giàu nghị lực và khát vọng. Lộc văn chương phát tiết rực rỡ khi Mạnh trở thành hội viên hội nhà văn Thành phố Hải Phòng năm 2023 và trở thành hội viên hội nhà văn Việt Nam năm 2024.
Vĩnh Bảo quê hương của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, một danh nhân văn hóa lỗi lạc của dân tộc trong thế kỷ XVI. Truyền thống tinh hoa văn học đã hun đúc lên các thế hệ nhà văn Việt Nam người Vĩnh Bảo thế kỷ XX, XXI. Đến nay các nhà văn người Vĩnh Bảo là một tập hợp những người cầm viết có tâm và có tầm trên văn đàn Việt vàcó lịch sử cống hiến rất đáng trân trọng. Trong số 21 nhà văn góp mặt trong tập sách Nhà văn Việt Nam huyện Vĩnh Bảo mới phát hành năm 2025, người ta đọc thấy các tên tuổi: Khái Hưng, Trần Bảng, Thi Hoàng, Kim Chuông, Tô Ngọc Thạch, Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Thuý Loan, Nguyễn Bình Minh, v.v... cùng góp mặt trong tên tuổi các nhà văn Việt Nam còn có Phạm Trung Tín, Nguyễn Văn Mạnh và các anh chị em đã tận hiến cho sự nghiệp văn chương.
Tôi rất tâm đắc với tên ĐƯỜNG SÁNG là tựa đề cho cuốn tiểu thuyết của luật gia, nhà báo nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh được PGS.TS nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng viết lời tựa và đặt lại tên cho tác phẩm. Nhưng tôi khẳng định rằng chính tác giả Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình.
Tp.HCM, 1/1/2026
Phạm Trung Tín
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

Những câu thơ biết thức

Những câu thơ biết thức

Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó:  Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Tối đến mở xem thì bất ngờ bị nó cuốn hút. Sức cuốn hút của “vật thể nặng” nên đêm trằn trọc mãi không ngủ được. Mùa thu bỗng trở nên nặng nề đến thế! Mùa thu này là sự dịu nhẹ của cọng gió thẳm xanh hay là dáng cương thường của cây sấu già trắng bão đây? Có lẽ nó có cả (!). Và, Đất sẽ là cái kết, trả lời cho những nghi vấn bắt buộc ấy. Năm bốn lăm làng chết trăm người
Bố tôi một mình ra tỉnh
Nửa đời trở về, tay trắng
Ông đứng lặng trước ngôi nhà xưa
Phóng chiếc mai xuống đất mà thề:
- Không đi nữa!
Như một tuyên ngôn về cái sự đời. Nửa đời long đong nơi đất khách quê người để ông đủ nhận ra canh bạc của lòng người. Ở đâu cũng thế cả, chuyện lam làm, giành giật kiếm sống; đồng bạc buột ra rơi tõm vào đám chợ. Nửa đời mà đâu đã nên người, đâu làm đã nên ăn. Cái chí lớn đeo đuổi suốt từ khi ấy chẳng thành. Và rồi người ta thấy ông đột ngột trở về, hai bàn tay trắng! Cái hình ảnh vốn cương thường kia, đứng lặng trước ngôi nhà của mình, cay đắng, nghiệt ngã, nuốt hận mà ngước con mắt lên “phóng” mạnh cái mai xuống. Không đâu bằng đất nhà mình, đất của chính ông cha nhà mình để lại. Ở đó nó có tất cả, không cần phải đi tìm ở đâu cả. Bây giờ ông đã nhận ra nó như vậy đấy!
Gần như là một tuyên ngôn thứ hai, nó có mối liên kết chặt chẽ với câu chuyện trên kia. Thơ tìm ta trú ngụ, ta nghèo xót xa trắng ngọn cỏ, ta chết còn thơ thì không. Điều này cũng chỉ được rút ra, cô đặc lại từ kinh nghiệm xương máu của người cha:
Con ơi!
Thơ không tắt thở
Thơ không cần vuốt mắt như bố
Thơ hóa thạch ở lòng người!
Thơ vận người. Nhưng người - đến lúc nào đó - nhất định rồi sẽ nhắm mắt, ngừng thở, còn thơ thì vẫn thức. Câu chuyện lại còn ẩn khuất điều kỳ lạ là: Từ nhát phóng mai xuống đất khi trở về sau mấy chục năm trời, ông thờ chữ Nhẫn. Vậy trước khi nhắm mắt xuôi tay, ở con người cả quyết ấy đã dặn lại con cháu điều gì và hành động gì của ông là sau chót? Thật chẳng ai ngờ, ông lại bảo lấy vôi xóa sạch cái chữ Nhẫn kia đi!...Vậy chẳng lẽ từ thế hệ sau ông thì không cần đến, không chọn đến chữ Nhẫn ấy nữa.Trớ trêu vậy chăng?
Đấy là câu chuyện hay về cái nhẽ ở đời. Nhưng, đây là thơ. Thái Hưng viết thơ như thế sao? Nặng về bố cục một nội dung mà thiếu đi độ bóng bảy cần thiết? Không, với dụng ý mà tác giả cần truyền tải, anh cứ viết sao cho nó hàm xúc, nó đầy một tâm trạng chân thành. Rõ ràng, chúng ta đọc đã thực sự thấy có một sức hấp dẫn tự nhiên - như thơ tự bản năng vậy. Chợt nhớ, khi còn đi học, chúng tôi đã rất thích kiểu thơ “thời sự” của Владимирович Маяковский, (1893 - 1930), nó thức, ví như một đoạn trong bài Những người loạn họp,(cái cách diễn đạt hợp tạng, Thái Hưng dễ bị lây):
…Kích động quá, không tài nào chợp mắt
Trời đã sáng tờ mờ
Tôi đón ban mai với một ước mơ:
“Ôi ước sao
Được họp thêm một cuộc.
Để tìm phương thanh toán
Các cuộc họp trên đời”
(Gs. Hoàng Ngọc Hiến dịch)
Cứ mạch thơ theo kiểu cách ấy kéo dài suốt trong tập. Mỗi bài là một vấn đề được cấu tứ theo một lập luận có trình tự, song buông bỏ bằng cách đưa ra minh chứng đang tồn tại thực tế để mặc bạn đọc đi tìm cái nghĩa đích thực. Trong bài Anh tôi, với một cấu tứ rằng:
Dưới trưa nắng xoay trần
Vét bùn đổ lên
mặt ruộng
Mồ hôi bám lưng bóng mật
Ròng ròng trên ngực chẳng khô
Chân bấm lún đá ngõ làng chuyển lúa
Vai cuộn lằn thoi gỗ
Gánh vơi cả đồng suốt tháng suốt năm…để hình ảnh người nông dân lam làm ấy:
Bóng đổ lặng im trên vách
Lưng cong sao Thần Nông trên trời.
Còn nếu muốn nghỉ thì anh ấy mượn ngày giỗ bố mà nghỉ, nghỉ xen lẫn cả giải trí nữa:
Hôm nay
Tôi về giỗ Bố
Ngồi bên vò rượu nếp thơm
Nghe anh tôi đọc bài thơ tự làm…Thật vậy, cái vò rượu nếp thơm kia là thành quả của sự lao động vất vả, nhọc nhằn, đối mặt với nắng, mưa, bão tố, với cả chính những thói tham lam của con người nữa. Song đêm đêm, ngước sương sao, ông vẫn còn cảm tác thành thơ. Buông bỏ mấy câu, đọc chơi như Lý Bạch (!). Đấy chính là con người.
Bài Về vùng than có những câu như thế này:
Về vùng than tìm bạn
Than đen - người đen
nụ cười - chớp trắng
Ngồn ngột nóng…
Dưới sâu trăm mét đất...
Than như máu chảy vọt lên.
Một đời người than
Một ngàn đời than
Sừng sững một góc bể
Những thứ lờ mờ không thể lẫn vào than.
Vậy ở cái khoảng trời bể sừng sững, mênh mang kia có những cái thứ gì lờ mờ nhỉ? Thì hãy một lần thả mắt mà nhìn trong đám mây nước mà xem, quả nhiên, nhiều vệt, nhiều hình và nhiều màu nhằng nhịt lắm. Chừng ấy nó sắm vai đại diện cho tất cả chứ không phải là cái khối màu đen xì, hé ra cái miệng chớp trắng sâu tít trong lòng đất kia! Phải rồi, ở đây, Thái Hưng lại không cho phép những cái thứ đại diện ấy được lẫn với màu riêng có của bạn mình, bởi anh coi hình ảnh đó mới là giá trị đích thực của mọi thành quả.
Trước những năm 2000, cái nghèo như con ma ngay ở sau lưng, ta sợ, vùng chạy mà nó cứ khư khư bám riết. Cái nghèo trùm lên những mối tình, đòi gây khó dễ bởi nhiều lý do khác nhau. Có những đêm đông, cha run rẩy đội mưa về bên mẹ, cứ như người đi trộm vặt về. Còn với chị vợ liệt sĩ thì:
…Trái tim thương chín cả trời
Khát khao như lửa mà đời biết đâu
Một mình cằm cặm đêm thâu
Câu thơ như tượng Mị Châu cụt đầu
Bây giờ, người chị mà cả đời cặm cụi, lam lũ, lẩn quất ở góc cái đồng làng chua mặn ấy đã khuất xa mãi, có lẽ chỉ còn có mỗi tác giả nhớ. Cái nhớ cũng chết cứng, bất lực như tượng đá, nơi thỉnh thoảng có gió, cát và chú chim sâu đơn độc:
Mà sao giờ tiếng chim
Vọng về côi cút thế
Vòm cây hoa vẫn nở
Người đi rồi….lắng im.
Còn với cả người mình yêu nữa, rốt cuộc cũng chỉ để lại cho anh một bi kịch suốt chặng đường đời còn lại. Bây giờ là sau năm 2000, với bao nhiêu những hình ảnh, những âm thanh và những gợi cảm đủ đầy quến rũ, nhưng sao tác giả cứ da diết nhớ về cái tình xưa cũ ấy. Phải chăng, ý nghĩ của năm tháng đã qua đã tạo thành lối mòn trong tâm tư, rồi mặc đời, cứ thêu hoa dệt gấm cho mối tình riêng của mình:
Nhưng sao khi mùa thu đi qua
Lối mòn tình yêu trổ chùm nấm dại
Em vần vũ cơn mưa huyền thoại
Giũ rối đời anh - lá khô rơi…
Và lại nữa, những vần thơ viết sau 2000, nghĩa là sau Truyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, khi mà người ta có thể bộc bạch về một sự thật từng bị ẩn khuất bằng cái đầu của mình. Thái Hưng có một lối suy nghĩ khác về sự kiện
Nhà văn hóa Nguyễn Trãi (1380 -1442), quân sư của vua Lê Lợi, với vụ oan khuất Lệ Chi Viên - vụ án đã dẫn đến cả ba đời gia tộc Nguyễn Trãi bị triều đình hành quyết, mãi 22 năm sau mới được minh oan. Điều mà Nguyễn Thái Hưng nhìn đến là ở chỗ hình như người đời đã thật sự cảm thấy thỏa đáng?! Âu cũng là lẽ thường tình. Nhưng chính sự hiện diện của hình ảnh Nguyễn Trãi ở Côn Sơn thì có phải lại thêm một “oan khuất” nữa?! Rằng, Người ngồi đó, hưởng lộc trời, còn mọi người trong dòng họ của Người thì đâu rôi?. Rằng, đã vô tình có một sự tương phản ở đây!
Hai mươi hai năm máu đỏ lại rồi
Nhân dân tôn thờ, nhân dân kính vọng
Một mình ông một ngôi đền,
còn gia tộc thì đâu?!
Nước suối chảy hoài mềm lại thương đau
Mây trắng, trời xanh, gió về vi vút
Lỗi lầm xưa đất nước này đã chuộc
Sao ông vẫn ưu tư…
không siêu thoát chốn tiên bồng?
(bài: Viếng đền Côn Sơn)
Vâng, hầu như các bài thơ trong tập của Thái Hưng đều để lại hoặc khơi dậy một vấn đề mà hình như tác giả đã tự va chạm, tự hành, tự đối diện với nó trong một thời gian dài. Từ một tâm trạng nặng trịch được nhào nặn cho nó nhuần nhuyễn tới mức buột ra thành một cấu trúc thơ. Cái hàm ý về sự hiện diện của Nguyễn Trãi như nói trên được diễn tả bằng thơ thì thật phải khéo lựa lắm mới thành thơ được. Về ý nghĩa tư tưởng của bài, tác giả cũng dừng lại ở mức độ ấy là hợp lẽ, còn lại gì nữa thì thuộc về bạn đọc chúng ta.
Dẫu là Thơ của một Luật sư rồi một Kiểm sát viên thì không chỉ viết chơi. Song để cho suy tư đau đáu, ngồn ngộn trăm chiều luôn bị đánh thức kia được dịu vợi đi, tôi mượn mấy câu dạng tự tình của anh để khép lại đôi lời của mình:
MUỘN
Cây đã quên không gọi
Mùa hè vội đi không nói
Để quả chín cuối cành
Một mình ngơ ngẩn mãi.
Là tôi đấy, quả ơi! đừng nghi ngại
Chót muộn cùng, xin hãy rụng về nhau….
Nguyên tiêu, 2025.
Chú thich:
* Nhà thơ Bùi Việt Mỹ – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội
* Nguyễn Thái Hưng
- Nhà văn Hà Nội
- Luật sư - TW Hội luật gia Việt Nam
- Tác phẩm đã xuất bản:
+ Đi qua mùa thu - NXB Hội Nhà văn -2024
+ Lá thay mùa- NXB Hội Nhà văn -2025
+ Bằng lăng tím lối Mễ Trì - NXB Hội Nhà văn-2024 (In chung nhiều tác giả).
8/1/2026
Bùi Việt Mỹ
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

  Thơ là linh dược Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thùy Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Qu...