Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

 

Người đàn bà với ý nghĩ nhiều hơn thời gian đã nghĩ

“Câu thơ một chữ cái

Câu thơ bắt nhịp nỗi buồn”

(Một ngày trái mùa xuân – Trần Thị Huê)

Trần Thị Huê xuất hiện không ồn ào, phô trương. Thơ chị gánh vác những đằm lặng của người “đàn bà đã cũ”. Chị viết như để giải thoát khỏi ràng buộc của cuộc sống, để được là chính mình. Đọc “Thế giới ngủ trong đường viền”, giọng thơ tự thuật, tâm tình của chị từng xuất hiện ở các thi tập trước, nhưng nay đậm nét, độc đáo hơnKhai mở phần vô thức, có thể nói, là tín hiệu thám mã những ám tượng, hấp dẫn của diễn ngôn “chảy qua cơn mê” và cảm quan phái tính của người đàn bà thơ “đợi bàn tay che kín nỗi buồn” trong “Thế giới ngủ trong đường viền”.

Thơ luôn tạo sinh những luật chơi. Sự chơi có vai trò quan trọng đối với quá trình cách tân thơ, đưa đến cái hay, cái mới và xác lập mối quan hệ tương tác giữa tác giả - tác phẩm - người đọc. Thi sĩ hoàn toàn linh hoạt, tự do, chủ động, bày biện các chiều cạnh của thế giới theo luật chơi của mình. Càng nhiều khoảng lặng, điểm dừng, điểm đứt gãy, trật khớp thì sự vẫy gọi, làm đầy văn bản càng lớn. Từ người chơi, người tham gia và kể cả luật chơi đều không ngừng dịch chuyển, biến đổi theo tính chất tắc kè hoa của ngôn ngữ. Tất nhiên, để giải phóng và thăng hoa cảm xúc, sự liên tưởng ở người đọc, thi sĩ phải là người đầu tiên ý thức sáng tạo luật chơi. Sự chơi của thơ sẽ rơi vào khiên cưỡng, áp đặt nếu thi sĩ chỉ là “thợ thơ”. Xuất phát điểm của thơ và cái đích của thơ, xét cho cùng, đều bắt nguồn từ vóc hình “tự nhiên” của nó. Nhưng nó (thơ) chỉ thực sự có hồn, có cảm xúc, tạo sự lay động khi thi sĩ biết vượt lên trên thủ thuật luyện chữ, khắc chữ. “Thế giới ngủ trong đường viền” của Trần Thị Huê đã có những cuộc “vọc” chữ khá thú vị. Tập thơ là chuỗi dài các cuộc đối thoại giữa người đàn bà thơ với anh, với vạn vật xung quanh. Lúc nào người đàn bà thơ cũng chủ động tạo các cuộc đối thoại, muốn “nói với”, “nói cùng”, phơi bản thể mà tâm sự, giãi bày. Nói với anh, với vạn vật, thực chất là người đàn bà thơ đang tự đối thoại với nỗi đơn độc của mình. Đó là dạng đối thoại trong độc thoại. Đối thoại theo hướng “vô âm”. Chị để người đàn bà thơ đối diện, chất vấn đồng thời với hai con người, hai phía thời gian, nhằm tạo ra nhiều tiếng nói, nhiều điểm nhìn. Rồi chị huy động mọi cảm xúc của người đàn bà thơ đặt lên cảm xúc của người đàn ông, của vạn vật mà xác tín bản thể: “Em vẽ lên trang giấy những mảng màu khác lạNói với dòng kẻMàu nguyên gốc tô hết con đườngCho dù anh khó lòng cắm hoa vào đó/ Người ta chỉ đi qua/Và tựa lưng vào cái khác/ Mảng màu nói thật lòng/ Chỉ vẽ hết con đường gần như anh đã biếtBản nhạc buồn/ Hôn lên ánh mặt trời uống vật cản ngày em không thể nuốt/ Ngày xanh ngồi bên câu thơNgổn ngang ý nghĩ/ Ý nghĩ lớn đầu ngón tayĐủ để nói với anhMàu nguyên gốc tựa như ánh bình minh lớn lên từ biểnNhẫn nại trước phong ba/ Và biết cõng cánh chuồn trong nắng/ Trước yên bìnhNgày mới không tên” (Ngày mới không tên).

Thời gian đêm được chị đẩy lùi về miền hồi ức, nơi người đàn bà thơ đã từng có một tình yêu đẹp. Rồi chị dùng không gian đặc đêm lôi kéo người đàn bà thơ ra khỏi miền ấy, để người đàn bà thơ đối diện với thực tại đầy chua xót, bẽ bàng. Không - thời gian đêm vì thế như là nhân chứng làm rõ phận đời của người đàn bà thơ. Đồng hiện không -  thời gian giữa quá khứ và hiện tại, giữa ngọt ngào, hạnh phúc với đơn chiếc, trống vắng, chị phản ánh rõ nét hơn thế giới nội tâm của người đàn bà thơ, vừa đa cảm, phức tạp vừa khó dò đoán, suy xét. Một mặt, người đàn bà thơ muốn lãng quên khuôn mặt người đàn ông, mặt khác, lại muốn đào xới, lật tung. Câu chuyện về người đàn ông cứ vắt từ đêm này sang đêm khác, không nguôi thổn thức: “Em kể anh ngheNhững dấu chấm than dài trên trang giấy/ Những câu chuyện dành riêng cho anh phía ấy đơn côiĐêm tròn xoe đôi mắtĐêm dài trên mái tócĐêm mảng màu xanh thắmĐêm của suối mát trong lànhĐêm không phải con tàu anh đi cùng chuyếnĐêm/ Là em phía ấy lặng thầm” (Đêm). Qua những câu như: “Căn nhà chật bóng tối”, “Dán sẵn vào bức tường chết”, “Những bậc thang có chữ số”, “Những dòng chữ tựa cọng rơm rối”, “Khuôn mặt cửa sổ sao phủ kín trời”... có thể hình dung người đàn bà thơ đang ngồi trước văn bản vào những đêm khuya, bên ô cửa sổ nhỏ “lạnh ngắt”, trong một căn nhà có cầu thang được đo “bằng lời nói” mà ngẫm nghĩ về thân phận và cuộc sống. Xét về mặt không gian, điểm nhìn của người đàn bà thơ bị giới hạn, trói buộc. Ngay cả nhan đề tập thơ “Thế giới ngủ trong đường viền” cũng đã thể hiện sự chật chội. Không gian riêng tư của người đàn bà thơ được chị thu hẹp lại, gói lại, có đường, có viền, có nét và đậm tính nữ: “Thế giới ngủ trong đường viền của chiếc túi xách”. Xét về mặt thời gian tâm lý, vạn vật không cố định một chỗ, mà đang trương nở và bị khuấy đảo. Kết cấu dạng “dài hơn”, “nhiều hơn”, “chật”, “khâu”, “vá”, “xếp”, “gọi”, “chẻ đôi”, “chia hai phía”... là những căn cước thấu hiểu tâm trạng của người đàn bà thơ. Người đàn bà thơ đã lấy cuộc đời mình ra mà làm “sống động” những ký tự: “Là em phía ấy lặng thầmNhững chùm hoa không còn biết nởNhững bài thơ không còn biết hátNhưng chuyện buồn cứ thế mãi ngân lênCăn nhà chật bóng tối/ Căn nhà khép lạiMùa trăng vãn tiếng ve ngânVà rồi mọi chuyện qua đi/ Những tiếng động vồ vập/ Những cầu thang ai chia lối khác” (Đêm); tự cô đặc mình trong đường viền của bức tranh cuộc đời, tự xem mình là kẻ đứng phía sau, là kẻ bên lề: “Chừng ấy năm đi dưới bàn chânNghe xát và êm khoảng khuyết/ Chân viết hẳn một nét huyền chảy dài mi mắtTóc khâu hoài niệm trăng ngọt nằm nghiêng” (Thế giới ngủ trong đường viền). Chuỗi đơn chiếc này láy đi láy lại, dồn ép “nỗi đoạn trường” của người đàn bà thơ: “Nghiêng về đơn phương đặt vào bàn tay trốngPhương trời cứ ráo riết gió thổi cứ xoay quanh vành môi trái timDán sẵn vào bức tường chếtNăm canh chạy dài/ Mất hút” (Dài hơn cuộc đời anh đang có).

Những chấn thương tâm hồn sinh tạo ảo giác, khiến cho các sự vật hiện tượng xung quanh người đàn bà thơ đều biến dạng. Xuất phát từ điểm nhìn của ô cửa nhỏ nhưng sự tưởng tượng, sự vỡ bung nội cảm trong người đàn bà thơ quá lớn, khiến thế giới cứ chập chờn thực ảo. Lúc này, những xung năng vươn dậy, làm méo mó, xô lệch, đứt gãy mọi thi ảnh. Trang giấy, ô cửa sổ, chiếc cầu thang, căn nhà không thể chứa hết nỗi niềm của người đàn bà thơ. Nỗi niềm căng chật, trườn ra bên ngoài: “Chuông gọi nói mỗi câuMọi ràng buộc xếp gọn dưới đáy ba lôNghiêng về đơn phương đặt vào bàn tay trốngPhương trời cứ ráo riết gió thổi cứ xoay quanh vành môi trái timDán sẵn vào bức tường chếtNăm canh chạy dài/ Mất hút” (Dài hơn cuộc đời anh đang có). Không - thời gian đêm (lặp lại đến 53 lần) trở thành khoảng nối giữa bên trong và bên ngoài, có và không, thực và mơ, có lý và phi lý. Người đàn bà thơ xem đêm như là trò chơi. Nhưng người đàn bà thơ không thể nào quán xuyến được luật chơi. Đêm cố hữu, đậm đặc lên cơ thể và ngôi nhà của người đàn bà thơ. Đêm bám riết lấy cơ thể của người đàn bà thơ, chồng chất suốt năm canh, và chồng từ đêm này sang đêm khác: “Đêm dài không thể ghép nguyên nụ hôn”, “Gợi mắt buồn trắng đêm”“Đêm dài của ngàn vì sao đang bủa vây bàn tay nhỏ b锓Đêm dài trên mái tóc”, “Để cho tóc rối úa màu với đêm”, “Bốn mùa và đêm rơi vào đáy mắt”, “Làn môi vẽ con đường son đỏ/ Gợi mắt buồn trắng đêm” (Nẻo có đôi)... Tuy nhiên, khoảnh khắc hiện hữu, được là chính mình ấy càng làm cho cơn mộng ảo thêm phần tê tái. Người đàn bà thơ bị đêm bủa vây, giăng kín. Càng hạn định, người đàn bà thơ càng muốn nổi loạn, bứt phá và vượt thoát. Người đàn bà thơ tìm mọi cách chơi/đùa/nghịch với đêm, áp thân thể lên đêm, lấy thân thể giao hòa với đêm để cảm nhận từng sát na hiện hữu. Thân thể lẫn tâm hồn bươn khỏi không gian chật hẹp, tìm đến sự vô biên của thời gian, sự rộng lớn của vũ trụ: “Mắt đêm gãy đôi”, Gọi đêm tràn ra ngoài khung cửa”, “Đêm tràn phố thị ướt ngôi nhà hướng về phía núi”,... Do vậy, đối thoại cũng là phương tiện để người đàn bà thơ tự tạo ra sự gây hấn với bản thân. Lằn ranh gây hấn ấy nảy nở những góc nhìn “biến dạng”, “phi lý”. Trần Thị Huê đặt các thi ảnh có lý bên cạnh các thi ảnh phi lý rồi phá vỡ, nhảy cóc liên tục. Những ý tưởng nhảy cóc, những màu sắc siêu thực cứ cuộn vào nhau, gối lên nhau, lăn lộn cùng nỗi niềm của người đàn bà thơ. Lẽ sinh tồn của vạn vật xung quanh chính là hiện thân bóng hình và thân phận người đàn bà thơ: “Đồng hồ treo tường lạc giọng”, “Mảng màu nói thật lòng/ Chỉ vẽ hết con đường gần như anh đã biết” (Ngày mới không tên), “Chỉ có làn nước trong veo neo vào tận cùng của đáy cốc/ Và rồi nhẫn nại tập đi” (Ngọn cỏ bắt đầu biết mọc), “Mặt trời hái nhiều nếp nhăn xếp đầy tay”, “Không gian khâu ngàn vết thương”,… Có lúc đành lòng đến là tê tái: “Đêm cứ mang em ra làm trò đùa mãi thế”; thậm chí phải nhận sự trả giá của đêm: “Em vô tư người đàn bà vô tư chẳng biết mắt đêm đã gãy”; và hành trình phía trước dẫu “Đường đi trong chiếc guốc/ Đường đi chìm vào khoảng lặng im” (Người đàn ông của chị); song người đàn bà thơ của chị chưa bao giờ ngừng khát khao khẳng định tiếng nói của trái tim, vẫn rất kiêu hãnh, ngạo nghễ về nỗi cô đơn của mình và thổ lộ cái “nhân vị đàn bà”: “Mặt trời quay về hướng núiChị cuộn mái tóc dài che khuôn mặt/ Che số phận của mình và người đàn ông giấu mặtChị đã cưới sau mưa” (Người đàn ông của chị). Ở đó, người đàn bà thơ biết “nói thật lòng”, biết thỏa thuận theo lí lẽ riêng: “Nếp vải chừa lề/ Đủ dành cho hạnh phúc” (Sợi chỉ). Như thế, thái độ hiện sinh của người đàn bà thơ là thái độ thặng dư giá trị, vẻ đẹp của nỗi buồn: “Chỉ ước cắm vào mình minh những cánh hoa thơm”, “Tay bưng mặt trời còn lại phía cao vút cát vàng”, “Bản nhạc của tôi thành chong chóng bay lên”,…

Nội hàm tiếng nói trong “Thế giới ngủ trong đường viền” được mở rộng, không chỉ là tiếng nói của người đàn bà thơ mà còn là tiếng nói của những thân phận đàn bà: “Em hóa thành câu thơ/ GọnCâu thơ một chữ cáiCâu thơ bắt nhịp nỗi buồn” (Một ngày trái mùa xuân). Nếu độc giả dùng lý trí để giải mã, khó có thể cảm thụ được những khoảnh khắc vong thân, khát vọng “vá lành cơn khát” của “đôi môi thèm son” rất đỗi nhân bản trong thế giới vô thức của người đàn bà thơ. Vì “Thế giới ngủ trong đường viền” của Trần Thị Huê là thế giới của “ý nghĩ nhiều hơn thời gian đã nghĩ”.

20/3/2020

Hoàng Thụy Anh

Theo https://www.vanchuongviet.org/

 

Ánh sáng của tình người

Thuở nhỏ, Đỗ Công Tiềm nổi tiếng là một cậu học trò ham học. Anh dành nhiều thời gian cho việc đọc sách. Anh vun vén tình yêu văn chương từ dạo ấy làm động lực cho những ngày tháng nhập ngũ; và sau này, nhân thêm niềm say mê, hứng thú trong các giờ dạy. Anh bắt đầu bén với nghề viết từ năm 1989. Hiện nay, gia tài anh đã có 3 tập truyện ngắn: “Bạn láng giềng”(1), “Đêm vắng”(2) và “Ánh đèn bên nhà hàng xóm”(3). Đọc văn của Đỗ Công Tiềm, nhất là những người đã từng gặp anh ngoài đời, hẳn cùng một suy nghĩ: văn và đời là một. Những trang viết mộc mạc, bình dị nhưng không kém phần sâu lắng, nỗi niềm. Nổi bật trên hết là ánh sáng của tình người, lòng bao dung và nhân ái. Cũng nằm trong nguồn ánh sáng đó, “Ánh đèn bên nhà hàng xóm” là tập truyện phản ánh một cách rõ nét đời sống nông thôn và số phận người nông dân thông qua những biến cố xã hội.

 

Nói đến đề tài nông thôn, nông nghiệp và người nông dân, không thể không nhắc đến những cây bút gạo cội như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Đoàn Lê, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Lập,… So với các cây bút này, Đỗ Công Tiềm tuy chưa thể đọ vai, bằng vai, nhưng giọng văn dân dã, đời thường và cái nhìn thấm đẫm tinh thần nhân văn của anh lại là thế mạnh, giúp anh trụ vững với đề tài về mảnh đất nông thôn. Ba tập truyện và một số giải thưởng, có thể khẳng định, anh đã đang đồng hành với nhiều tác giả khác, cùng lấp khoảng trống, để đề tài nông thôn không còn là “đất trắng”. Anh đạt được một số giải như: giải 3 cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Kinh Bắc năm 2010, giải nhất Giải thưởng sáng tác văn học đề tài “Xây dựng nông thôn mới” cho bút kí “Đất - Người Minh Tân”, giải C của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2019 cho cuốn “Ánh đèn bên nhà hàng xóm”.

 

“Ánh đèn bên nhà hàng xóm” là tập truyện xoay quanh đề tài đời sống người dân ở nông thôn trong thời kì thị trường hóa, đô thị hóa. Các sự kiện như cải cách ruộng đất, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, hay những năm tháng gian khổ của chiến tranh được anh nhắc đến qua dòng hồi ức, kể lại của nhân vật, chứ không trực tiếp mổ xẻ, dựng lại. Dưới cái nhìn thế sự, dòng hồi ức này đã góp phần bổ sung và lí giải những bi kịch dai dẳng mà người nông dân phải gánh từ bao đời nay. Người nông dân của anh vừa chịu tàn dư chấn thương của giai đoạn trước, vừa bị trì níu, ràng buộc bởi những hủ tục, vừa chịu guồng quay hối hả, bao gồm cả tích cực lẫn tiêu cực, của quá trình đô thị hoá.

Đỗ Công Tiềm quan niệm: “Con người ta cái cần thiết cốt yếu nhất là gia đình. Gia đình có êm ấm bền vững thì cuộc đời mới có ý nghĩa, có hạnh phúc” [tr.29]. Nên, các truyện của anh hầu hết xoay quanh các mối quan hệ trong gia đình. Anh dùng không gian nhỏ bé này khắc hoạ số phận của người nông dân, đặc biệt là người phụ nữ. Họ không chỉ chịu nỗi đau, dư chấn của chiến tranh mà còn phải chịu áp lực của quá trình đô thị hoá. Có những người phụ nữ chịu nhiều nhọc nhằn, giông bão vừa thương vừa trọng như chị Nhã (Ngăn cách), bà và mẹ (Ngăn cách), chị dâu (Chị dâu tôi), người vợ (Kẻ khuyết tật), chị Lựu (Đêm vắng),… Có những người phụ nữ vừa đáng thương nhưng vừa đáng trách như Hoài (Bong bóng vẫn bay), chị Hạnh (Bụi gạch),… Tình yêu và hạnh phúc của người phụ nữ thật mong manh, bất hạnh. Chị Lựu dành cả tuổi thanh xuân của mình để chờ đợi anh Huấn - chồng chị. Đời không lấy hết nước mắt của chị, vẫn cho chị có những giây phút vui vẻ, rạng rỡ bên cạnh chồng, dù cuộc trở về của anh còn mang theo sự không vẹn nguyên hình hài (Đêm vắng). Người mẹ trong truyện “Cô bé xấu xí” “có quản chi vất vả nhọc nhằn, chỉ mong sao sinh nở lấy vài mụn con, để lấy được cái ‘lãi’ của đời người con gái” [tr.161] nhưng rồi cũng không thoát nổi định mệnh, từ giã cõi đời trong trạng thái người điên. Mỗi người đeo đuổi một mất mát riêng. Nhưng những người phụ nữ của Đỗ Công Tiềm đều gặp nhau ở một điểm, đó là giàu lòng hi sinh, yêu thương và vị tha: “Tình yêu của  những người phụ nữ… thật mộc mạc chân thành, cứ như rễ trúc, rễ tre, đã đâm vào lòng đất rồi thì chẳng có một thứ giông bão nào lay nhổ nổi” [tr.162].

 

Trong “Ánh đèn bên nhà hàng xóm” “… những con người, nom ai cũng đen đúa lầm lụi, tất bật, nhưng ai cũng cởi mở đến lạ” [tr.59]. Đó là vợ chồng tôi (Tiếng chim lẻ bạn), tôi (Ánh mắt học trò), Phác, Dũng, Chiên, Mai, Hoa và Bình (Bong bóng vẫn bay), tôi (Ánh đèn bên nhà hàng xóm), tôi, vợ chồng anh Phân (Bạn láng giềng)… Họ là những con người lam lũ, vất vả, cơ cực nhưng sống với nhau chận thật, tình nghĩa và bao dung. Bao năm bôn ba ngược xuôi, dành một phần đời cho trận mạc, cứ ngỡ người vợ yêu quý sẽ bù đắp mọi thứ, nhưng rồi người vợ cũng bỏ anh Hoán mà đi (Tiếng chim lẻ bạn). Trong hoàn cảnh ấy, anh Hoán nhận ra giá trị thực sự của tình bè bạn: “tình bạn… là tài sản quý giá nhất mà mình còn lại” [tr.41]. Anh Phân trong truyện “Bạn láng giềng”, nếu không có người bạn láng giềng tốt bụng giúp đỡ, sẻ chia, đâu dễ trở về cội nguồn khi từ giã cõi đời? Y trong truyện “Ánh đèn bên nhà hàng xóm” bị cuộc đời giày xéo bầm giập, nhưng trước sau vẫn là người có tấm lòng nhân ái, tốt bụng. Y hi sinh bản thân mình, chấp nhận vào tù vì người khác. Y cưu mang hai mẹ con chị Xim và bé Anh Thư khi người chồng/cha ngã bệnh chết trong tù. Sự gắn bó, vun đắp  cái tình, cái nghĩa theo tập quán “sớm lửa, tối đèn có nhau” của người nông dân trong truyện của Đỗ Công Tiềm chính là bài học vô giá nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn của mỗi chúng ta. Đó là món quà quý, vốn quý mà ai trong cuộc đời cũng từng ước ao.

 

Trong quá trình đô thị hoá, nông thôn của Đỗ Công Tiềm niềm vui đan cài nỗi buồn. Niềm vui khi đời sống vật chất lẫn tinh thần của bà con xóm làng được nâng cao, cải thiện. Nỗi buồn khi sự phân hoá giàu nghèo, các tệ nạn xã hội liên tục bủa vây làm họ đánh mất tình làng nghĩa xóm, đổi thay nhân tính. Tắm gội trong cơn lốc của nền kinh tế thị trường, của đô thị hoá, Mí bị đồng tiền chi phối, chỉ quan tâm đến chuyện được mất, hơn thua (Ánh mắt học trò); Quang đi du học về, ngỡ mở mang văn hoá, ai ngờ đầy toan tính (Tháng ngày vẫn trôi). Đỗ Công Tiềm thường nhìn những nhân vật bị tác động, biến đổi do hoàn cảnh xã hội bằng thái độ cảm thông xen lẫn xót xa. Một số người nông dân bị tác động của xã hội, trượt ra ngoài lối sống văn hoá, nhưng anh vẫn phát hiện gốc rễ thiên lương thẳm sâu bên trong tâm hồn họ. Nếu đặt họ trong hoàn cảnh xã hội cũ, trong một bối cảnh khác, họ là người tốt bụng, thiện lương. Nhưng đặt trong hoàn cảnh xã hội mới, họ vô tình trở thành nạn nhân của cái xấu xa. Anh em nhà cậu Chung trong “Chị dâu tôi”, Quang trong “Tháng ngày vẫn trôi”, chị Hạnh trong “Bụi gạch”, Mí trong “Ánh mắt học trò” vốn là những người tử tế nhưng đều vì đồng tiền mà đánh mất giá trị bản thân. Hoài để cuộc đời của mình trượt dài trên đồng tiền và danh vọng, nhưng nhờ tình cảm vô giá của bạn bè mà cô đã nhận ra những lỗi lầm và quyết làm lại cuộc đời. Người thợ đấu mang trong mình nỗi oan là kẻ giết vợ, phải chịu cảnh tù đày, song lại có tấm lòng nhân hậu, chấp nhận nuôi Bống, đứa trẻ thiểu năng trí tuệ bị bỏ rơi. Tấm lòng ấy còn trong sáng hơn, quý hơn khi anh thợ đấu luôn tự dằn vặt mình để tình cảm giữa anh và Bống mãi mãi là ông cháu. Đó là nét đẹp văn hoá ứng xử mà anh luôn tự hào, nâng niu, hướng đến trong các trang văn của mình. Hoặc thông qua những câu chuyện như việc anh em tranh giành đất đai trong truyện “Chị dâu tôi”, “Tháng ngày vẫn trôi”, anh chỉ ra những mâu thuẫn trong gia đình, làng xóm, dòng họ; chỉ ra những suy nghĩ lạc hậu, cổ hủ về ý thức tộc họ; đồng thời thắp lên ánh sáng của vẻ đẹp bình dị, thật thà, nhân hậu của người dân quê đồng bằng Bắc bộ, kết gắn tình yêu cội nguồn trong cái tình cái nghĩa của xóm làng.

 

Bên cạnh người nông dân tha hoá, anh còn khai thác người nông dân bi kịch, biết vượt lên chính mình. Trong truyện của anh, nhiều số phận đối lập, không trùng khít với hoàn cảnh xã hội mới. Sự đối lập này không phải do thiên tính mà do biến động phức tạp, xã hội chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Họ trở thành kẻ lạc lõng, lệch về một phía. Như ông Bốc trong truyện ngắn cùng tên - “Ông Bốc”, ông Vạm trong truyện ngắn “Người của một thời”, ông già trong “Ông già đợi xe buýt”. Những hoài niệm của ông Bốc, ông Vạm, ông già, xét ở một góc độ nhất định, có thể nói là lời cảnh báo sự xuống cấp, băng hoại về các giá trị văn hoá, phong tục tập quán của làng quê. Trong truyện của anh, có những nhân vật bước ra từ chiến tranh, không một vết xước nào trên cơ thể, nhưng lại bị trầy xước từ cuộc sống hiện tại. Anh Tính, thực hiện lời hẹn với anh Trường, lấy Lan, không sinh con mà dồn hết tình yêu thương và sự chăm sóc cho hai đứa, Quang và Quốc. Nhưng Quang đã nhẫn tâm, sống vì tiền, đánh đổi hết mọi thứ bằng gáo nước lạnh khi quyết lấy lại đất đai mà bố Trường và mẹ Lan để lại. Cư xử của Quang còn thua cư xử của hai đứa trẻ tật nguyền của anh Phượng và chị Nụ. Cuộc sống dồn anh Tính từ bi kịch này đến bi kịch khác, nhưng anh biết hoá giải nỗi đau, đứng vững, giữ lòng thanh thản. Số phận của ông Bốc còn bi kịch hơn anh Tính: mất cha mẹ từ khi còn nhỏ, đi chiến đấu trở về thì người yêu đã đi lấy chồng, thành tích trên chiến trường không được ghi nhận, anh em chia rẽ vì tranh giành đất đai. Ông Bốc trở thành kẻ trắng tay. Ấy vậy mà, khi có trong tay ngôi nhà của người đàn bà khổ hạnh để lại, ông cũng không nghĩ đến bản thân mình mà dành tất cả những gì mình có cho hai mẹ con nhà chị Lân. Vết xước từ cuộc sống không hề làm những người nông dân như anh Tính, ông Bốc đổi thay. Cái gốc nhân ái vẫn vững bền, kiên gan trước mọi giông tố.

Tập truyện nổi bật với ba nguồn cảm hứng: cảm hứng nhân văn, cảm hứng bi kịch và cảm hứng phê phán. Đan xen ba nguồn cảm hứng này, Đỗ Công Tiềm đã tái hiện một cách khá chi tiết về đời sống nông thôn và người nông dân trong giai đoạn tiền đổi mới. Bằng giọng văn đầy xa xót, ngậm ngùi, anh đã bày tỏ sự đồng cảm trước những phận số bất trắc, thiệt thòi do biến động của lịch sử, xã hội, bày tỏ nỗi niềm khôn nguôi về một thời đã xa và khát vọng nuôi dưỡng tình yêu thương lẫn nhau giữa người với người. Như thế, không gian chật chội, tù động bởi cái nghèo đói, bởi dư chấn của thời kì trước, bởi những tập tục tăm tối, lạc hậu, bởi sự ảnh hưởng quá trình đô thị hoá của làng quê, không bó hẹp được vẻ đẹp tâm hồn sớm tối có nhau của người nông dân.

Kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ trong truyện của Đỗ Công Tiềm tuy giản dị, mộc mạc như con người quê nhưng anh đã tái hiện được những thân phận người trên mảnh đất nông thôn, đã ít nhiều rút ngắn khoảng trống văn học về đề tài nông thôn. Nông thôn trong “Ánh đèn bên nhà hàng xóm” vì thế vừa là nơi minh chứng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp, vừa là nơi ảnh hưởng, tồn tại các tập tục lạc hậu, lỗi thời. Phải là nhà văn rặt yêu quê, một lòng một dạ sống, trải nghiệm và gắn bó với quê, Đỗ Công Tiềm mới khai thác được kiệt cùng cái chất cộng đồng và tự trị của người quê như thế.

“Ánh đèn bên nhà hàng xóm” là ánh sáng của tình yêu thương. Nguồn sáng ấy không bao giờ tắt, như tâm niệm của chúng ta khi nói về người nông dân: tối lửa tắt đèn có nhau. Và đó cũng là ánh đèn được thắp từ chính trái tim nhân hậu của nhà văn Đỗ Công Tiềm.

Chú thích;

(1). Đỗ Công Tiềm, Bạn láng giềng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005.

(2). Đỗ Công Tiềm, Đêm vắng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010.

(3). Đỗ Công Tiềm, Ánh đèn bên nhà hàng xóm, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2019.

8/5/2020

Hoàng Thụy Anh

Theo https://www.vanchuongviet.org/

 

Tiếng kêu trầm thống trong Những cơn mưa mùa đông

Trước năm 75, tôi đã đọc Lữ Quỳnh với những Cát vàng, Sông sương mù, Vườn trái đắng, cùng một số bài viết đăng rải rác trên các báo văn nghệ Sài Gòn. Đọc và chỉ biết có vậy, chưa hề gặp nhau lần nào, mặc dù cùng chung trên tờ Ý Thức.

Cách đây 2 năm, Lữ Quỳnh bất ngờ về ăn tết với chúng tôi. Vậy là đã “kiến kỳ hình”. Với giọng nói nhỏ nhẹ, chừng mực của anh, chúng tôi nói chuyện văn chương, nhắc lại chuyện làm báo văn nghệ thời trước, chuyện bạn bè bên này, bên kia, những hoang tưởng và thỏa hiệp...

 

Gặp nhau đúng 12 tiếng, anh vội vã lên tàu về lại Sài Gòn. Một chuyến rong chơi ngày mùng Bốn tết như một kỷ niệm của những người già còn giữ một chút lãng mạn thời tuổi trẻ đầy dẫy những ảo tưởng. Và giữa đầu năm nay, anh viết thư hỏi: “Anh có thể tìm giúp tôi quyển truyện vừa Những cơn mưa mùa đông đánh máy giúp tôi?”. Tôi nhận lời và sục sạo đi tìm đứa con thất lạc từ lâu của anh. May mắn là tìm thấy và tôi ngồi gõ cho anh. Loáng một cái, hơn tháng sau anh gửi tặng tôi tập sách này. Đúng là duyên số. Một tập sách, ba lần đọc. Bản đọc lần đầu do nhà Nam Giao ấn hành 1974 tôi mượn từ tủ sách Ý Thức, lần thứ hai đọc trên máy (vừa đánh vừa đọc) và lần này, đọc từ Thư quán bản thảo tái bản 2010.

Lần đọc đầu, tôi chia sẻ với tác giả về nỗi đau của những người trong cuộc, về những ước mơ, hy vọng và thất vọng. Đọc lần đánh máy cảm thông những mất mát không đáng có của cả dân tộc. Và, lần này là sự xót xa khi nhìn lại một giai đoạn lịch sử u ám, là tiếng kêu nát lòng, bi thống của kiếp người bị đọa đày trong địa ngục của những ảo tưởng ngông cuồng. Nhìn lại và nhớ lại một giai đoạn trầm thống nhất, đen tối nhất như một thứ mạng nhện của định mệnh hiển nhiên, treo giăng trong căn nhà hoang phế!

Những cơn mưa mùa đông xoay quanh ba nhân vật: đứa cháu nội, ông già và cô con dâu. Cả ba cùng sống trong căn nhà hoang lạnh, tưởng như gần nhau, nhưng hóa ra luôn luôn phải tách rời, chia cách. Ba con người, ba thế hệ như là biểu tượng cho đất nước trong ba thời kỳ xung đột nối liền nhau: Sự hy sinh quá lớn của dân tộc trong quá khứ với ông già; chia lìa, hoang tưởng thời kỳ cô con dâu và người con vắng mặt, kẻ luôn tin chính nghĩa sẽ thắng: “Bác và chị cố gắng chịu đựng thêm một thời gian nữa. Không lâu lắm đâu. Chính nghĩa sẽ phải thắng.Chị có biết không, anh đag làm lớn lắm đấy. Cách mạng không bao giờ quên ơn những người đã hy sinh quá nhiều cả” (trg 30-31). Cuối cùng là Vũ, đứa cháu, đứa con luôn bị ám ảnh bởi những cơn sốt màu đỏ chói lòa về kẻ vắng mặt về người mẹ bắt đầu có những dấu hiệu bất thường va người ông đau khổ. Đứa bé trong truyện là hiện thân của thế hệ chưa biết gì về chiến tranh, nhưng lắm mơ ước mf mơ ước nhỏ bé kia không bao giờ đến với nó: “Đứa trẻ nằm mơ thấy hắn vượt qua không biết bao nhiêu đồi cát... Hắn thấy ẩn hiện phía trước mình là một người đàn ông, khi trên đồi, lúc dưới lũng thấp... người đàn ông đang ẩn hiện phía trước là cha hắn. Đứa trẻ cố sức vượt lên, nhưng khoảng cánh giữa hai người không bao giờ thu ngắn được” (tr 23).

Quá khứ qua hình bóng ông già là những mất mát, đau thương quá lớn của một kiếp người, mà nói theo ngôn ngữ thông thường là số phận bắt ông phải chịu đựng. Đó là hai người con trai đã chết vì những vết chém đầy thù hận; đứa còn lại tiếp tục lao vào những hoang tưởng lập lại trật tự, công bằng cho xã hội, cho cả dân tộc đã tắm gội không biết bao nhiêu tai họa từ mớ lý thuyết sần sùi, khập khiễng. Và giờ đây, ông già đau khổ kia luôn ám ảnh về sự ra đi bất toàn của đứa con trai duy nhất còn lại, ám ảnh về cái chết khủng khiếp của hai đứa khác, gọi là sự hy sinh cao cả: “Ông linh cảm có điều gì khác lạ trong không khí gia đình những ngày gần đây... Những giọt nước mắt lặng lẽ chảy xuống đôi má nhăn nheo xạm đen của ông già” (trg 22).

Với những người như ông, đã từng chứng kiến biết bao xáo trộn, những chia lìa, tan tác; những đổ vỡ, tang thương... thì cái ý hướng cầu mong sự bình an đến cho gia đình, cho mọi nhà là điều hiển nhiên. Sự đau đớn, tủi nhục, ê chề đã giằng xéo suốt cả cuộc đời, vượt quá sức chịu đựng của con người nhỏ bé như ông cũng là cách hành hình ở dạng khác, đẩy cả bầy người cứ mãi phải lăn lộn trong đống bùn nhơ và máu xương và nước mắt. Sự khốn cùng ấy cứ thản nhiên chia đều cho mỗi số phận với cái từ hoa mỹ “sự hy sinh cao cả”.

Ông già đã hy sinh những người con và sẽ còn tiếp tục hy sinh nữa, để làm tròn chức năng của một công dân ưu tú, điển hình! “Nếu gọi là khổ, thì ông đây mới là kẻ khốn khổ nhất. Ông già thế này rồi mà đâu có được yên nghỉ. Một lần khóc hai chú cháu chết, một lần khóc cha cháu ra đi. Nước mắt người già tưởng như thế cũng đã quá nhiều... Ông già khóc. Nước mắt làm ông nghẹn lại không nói thêm được nữa” (trg 42).

Sự chịu đựng quá mức của một công dân ưu tú cũng đến lúc phải đổi ra loại “công dân hạng tư” theo quan điểm mâu thuẫn chính trị, bởi những bi phẫn tự đáy lóng vang lên như một tiếng kêu uất nghẹn, xé toạt bức màn nhung lụa man trá: “Nhắn với hắn là tôi già rồi. Tôi không mơ ước gì nữa hết ngoài việc mong sao gia đình sớm đoàn tụ... Tôi khổ lắm. Tôi không còn tha thiết gì nữa hết. Tôi chẳng muốn cách mạng cách miết gì ráo. Tôi muốn sống bình yên như mọi gia đình bình thường khác... Ông già khóc. Ông không kiềm được sự bi phẫn trong lòng mình...” (trg 31).

Gia tài của ông già là những người con, cháu; nhưng giờ đây ông chỉ còn mỗi một giọt máu bên cạnh ông là Vũ và một khác nữa là cô con dâu trong căn nhà rường cổ nằm trong khu vườn rộng mênh mông. Khu vườn và căn nhà kia cùng bể cá và bức bình phong bị tróc chính là sự trống vắng, thiếu thốn hơi ấm gia đình của ông già. Và ông quyết giữ cho kỳ được, bằng bất cứ giá nào về giòng máu của mình: Vũ phải lên tỉnh học, phải đi thật xa cái làng quê đầy bất trắc  như để tránh những tai ương có thể giáng xuống cho cả gia đình bất cứ lúc nào. Ông ngậm ngùi tiễn cháu ra đi với một niềm vui chưa từng có trong cuộc đời khốn khổ của mình, như một mãn nguyện vừa thực hiện một việc làm cao cả!

Với cô con dâu thì khác. Chị còn quá trẻ để phải thoi thóp chờ đợi hết năm này đến tháng khác với người chồng chị từng yêu thương, ân ái. Sự chờ đợi mỏi mòn kia cùng những thôi thúc bất chợt của thân xác khiến chị “run rẩy, sững sờ”, rồi sau đó đổ vật xuống như một thân cây mục đứng giữa trời mưa nắng quá lâu; chỉ cần một cơn gió thoảng nhẹ là cả thân cây từng là mẫu hình thủy chung của người phụ nữ Việt Nam bắt đầu trượt dài xuống dốc thẳm! Chị đã đổ xuống thật nhanh sau những giằng co giữa lý trí và trái tim bắt đầu đập rối tung lên. Chị là đàn bà. Mà tất cả các trái tim đều nằm ở khoang trái lồng ngực. Trái tim chị không nghe theo cái đầu của chính chị nữa rồi. Sự không nghe theo, bắt đầu từ cái nhìn rất ý thức về chính mình, từ chính thân thể mình.

Chị đứng dậy cúi nhìn ngực mình. Bộ ngực căng cứng sau lớp vải áo không có nịt vú, và qua khe hở của hai chiếc cúc, chị thấy màu da trắng ngần của mình. Chị bước chậm rãi vô phòng riêng, vừa đi vừa nghĩ: đã bao lâu rồi mình không để ý đến thân thể mình? Chị cẩn thận ngồi xuống mép giường, đưa tay tìm trong xắc lấy ra hộp phấn nhỏ. Chị nhìn vào gương và thoa nhẹ lớp phấn lên mặt. Những ngày gần đây chị vẫn thường làm vậy để rồi vài phút sau lại nhúng khăn ướt lau sạch, bước ra khỏi phòng một cách kín đáo” (trg 17).

Có thể lên tiếng trách cứ người đàn bà kia không, khi mà chị phải chịu đựng từng ấy năm dài dằng dặc, phòng không bóng chiếc? Khi mà tất thảy những người phụ nữ như chị hãy còn quá trẻ để phung phí cho tuổi thanh xuân cứ trôi đi biền biệt?

Ánh mắt đầu tiên chị chạm phải, thoạt đầu là những rung cảm tuổi xuân trong một con người bình thường như bao người bình thường khác đã chờ đợi và bị ngủ yên dài ngày: “Trong một giây ngừng nói, bất chợt ánh mắt y hướng về phía chị và bốn mắt tình cờ giao nhau. Chị bối rối nhìn xuống, và cũng kịp nhận ra ánh mắt của y đã đậu lâu trong mắt chị” (trg 17).

Những rung động ban đầu cùng những khắc khoải về tình cảm, khiến người đàn bà phải tự hỏi lòng mình và đấu tranh quyết liệt trong những khoảnh khắc định mệnh tại ngã ba sông: “Đời chị với những biến chuyển hình như được gắn liền với những dòng sông, những bến nước. Bến sông ngày nào tiễn cha thằng Vũ ra đi chị  vẫn còn nhớ như in trong trí với những cảm giác sợ hãi, mừng tủi, đau đớn...Rồi chiếc bến ở ngả ba sông mới đây, nơi người đàn ông đang làm đồn trưởng với một quyền uy của một lãnh chúa ở địa phương. Tại sao chị lại rung cảm về y, tại sao vẫn một tâm hồn ở chị, mà chị có thể yêu hai người trái nghịch với nhau từ lý tưởng đến tính tình như vậy? Những câu hỏi cứ bật ra không ngừng nghỉ trong đầu”(trg 21).

Trách ai? Có phải do lỗi từ người đàn bà vắng chồng lâu ngày, có lúc cũng có những ham muốn xác thịt, yêu thương, vuốt ve, an ủi? Hay lỗi từ tay đồn trưởng kia, khi y đã biết quá rõ “lý lịch” chị và cũng thật lòng yêu chị? Hay lỗi do từ người chồng vắng mặt quá lâu, không biết sống chết ra sao?

Nếu nói đến hai từ cao cả “hy sinh”, có lẽ người đàn bà này đã hy sinh quá nhiều và quá đủ? Trên cõi đời này, không một người vợ muốn cảnh biệt ly kéo dài vô tận đến như thế, ra đi mà không có ngày về trong khi tháng ngày thanh xuân cứ lụn tàn dần, héo hắt dần, vàng úa dần rồi rụng xuống như những cơn mưa mùa đông kéo qua cuộc đời chị?

Nếu như không xảy ra cảnh xâu xé, tranh ngôi bá đồ vương và, nếu như các lãnh tụ cùng là “đồng bào”, khởi đi từ trăm trứng tổ tiên giống nòi Lạc Việt, ngồi bàn với nhau thì máu đâu đổ ra, hận thù đâu cứ chồng chất cao lên mãi, dằng dặc trắng dãi Trường Sơn? Cái khổ nạn kia, sao cứ bắt người dân tầng tầng lớp lớp phải gánh chịu?

Trong đoạn văn ngắn này, Lữ Quỳnh đặt câu hỏi không phải cho nhân vật mà cho những người có quyền uy, xô đẩy cả thế hệ của anh điên cuồng lao vào nhau chỉ với hai chữ độc lập tự do! Bao nhiêu những vấn nạn lịch sử chưa giải quyết xong lại tiếp nối những vấn nạn khác, lớp sau đè chồng lên lớp trước thành một khối ung rữa, không một ai lên tiếng thừa nhận, không một ai dám mạnh tay cắt bỏ một khi đã thâu tóm quyền lực trong tay?

Đó là tiếng kêu trầm thống của cả dân tộc, là sự tan nát phẩm hạnh lịch sử, là sự thỏa mãn trong ngập ngụa phung phí. Trinh tiết lịch sử bị xé rách, đầm đìa máu me ngay từ huyền sử Lạc Hồng. Sự chia lìa năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển là khởi đầu một điềm báo cho bốn ngàn năm sau? Sự phi lý ấy là một ảo tưởng luôn được xác tín bằng ngôn ngữ rao giảng lú lấp, từ trinh tiết của dân tộc Việt?

Hệ lụy của những kẻ bán buôn lịch sử, hình như được các nhà văn, kể cả Lữ Quỳnh, đều gán vào thân phận của người đàn bà, những bà mẹ Việt Nam cao đẹp, anh hùng: Cao đẹp khổ ải và anh hùng chịu đựng! Và cái gã đồn trưởng kia rất có lý, khi giáng đòn tâm lý cuối cùng vào người đàn  bà, khuấy trộn nỗi hoài nghi lớn dần lên, rồi nhìn nhận nó như một sự thật: “Em có chồng điều ấy thật rõ nhưng em làm sao tin được ngày hắn trở về. Hắn đã sai lầm ngay khi chọn lựa. Ở trên đời này, người ta có thể chọn lựa bất cứ cái gì, nhưng không được hy sinh những người yêu dấu là vợ con mình”(trg 38).

Người đàn bà đã sụp ngã từ những dịu ngọt man trá ấy mà cũng có thể là thật lòng: “Người đàn bà nắm lấy bàn tay y định đẩy ra, nhưng chị lại giữ yên bàn tay đó trong tay mình, dù cho bà tay ấy bắt đầu không còn lễ độ nữa. Nó di chuyển khắp trên vuông ngực chị làm những cúc áo bật ra. Lúc đó người đàn bà mới vội vàng co rúm lại, đưa hai tay ôm lấy ngực và cúi người xuống. Nhưng dù sao vẫn đã quá muộn. Chị đã đốt chị và bây giờ ngọn lửa đang độ đỏ thắm... Chị mơ hồ nhớ đế những cảm giác thật xa xưa, ngày người chồng chưa thoát ly. Cái cảm giác đó đã chết trong chị từ bảy năm qua bây giờ đang trở về khốc liệt trong vòng tay kẻ khác. Chị biết con đê cối cùng ngăn dòng nước lũ sắp vỡ. Chị biết rõ ràng điều đó, khi chị nhận ra những ngón tay chị đang bấu riết đôi vai người đàn ông.

Người đàn bà ngã xuống giường. Chị buông thả cho bàn tay y tự do trên các hàng nút áo quần chị. Chị biết con đê cuối cùng đã vỡ. Nước cuồn cuộn trào ra” (trg 39-40).

Cái nhục cảm có ý thức của người đàn bà Lữ Quỳnh và chị Ba của Thế Uyên có gì khác nhau? Chị Ba thì nằm dưới thân xác hai người đàn ông đối đầu nhau ở bên này và bên kia lằn ranh thù hận. Còn người đàn bà của Lữ Quỳnh là những khát khao trỗi dậy bất ngờ được kích động bởi một chủ thể bên ngoài vừa là hình hài có sẵn, lấp ló đâu đó bên trong con người chị, để mãi tới giờ phút đó, từ sự kích động, rờ chạm, kích thích kia, chị mới chợt khám phá cái hình hài có thật trong cơn rối mâu thẫu thèm khát, như một hệ quả tất nhiên của  những con người cô đơn như chị. Nhưng để bị xô đẩy tới sự cô đơn kia, thì không phải do chính chị chọn lựa mà là kẻ khác, mang đầy ảo tưởng.

Cầu nối giữa người đàn bà, người ông là đứa cháu mang tên Vũ. Ở lứa tuổi còn rất nhỏ, nhưng Vũ đã mang mặc cảm cô đơn, vì sự vắng mặt của người cha mà nó không hề biết, về sự xa cách của người mẹ từ những chuyến buôn trôi nổi kéo dài và những lần nó bất ngờ nhìn thấy mẹ chăm chút nhan sắc như một điều lạ lẫm đối với một đứa trẻ con như Vũ.

Nỗi tủi nhục của Vũ là sự thiếu thốn tình thương yêu trong mái ấm gia đình mà bất kỳ một đứa trẻ bình thường nào cũng cần. Vậy nhưng trước mắt Vũ là những ngôi mộ nằm khép trong vành lăng là những câu chữ Hán hắn không thể đọc được, là khu vườn, bể cá. Chỗ dựa tình cảm mong manh chỉ còn lại người ông già nua với những tâm trạng buồn tủi lúc đầy lúc vơi. Vũ thương ông, thương mẹ và cả  người cha vắng mặt, nhưng lại là một thứ tình thương không thật trọn vẹn, luôn luôn xuất hiện bên cạnh những dấu hỏi: “... đứa trẻ vội vàng nghĩ tới ông nội giờ này ở nhà một mình... ông đã lo lắng cho hắn không ít” (trg 8). Với người cha vắng mặt, có lúc Vũ trở nên phẫn nộ: “Cha cháu. Ông bỏ rơi cháu. Một người cha thương con không bao giờ bỏ rơi con bơ vơ như vậy” (trg 41). Và với người mẹ, chỗ dựa tìh cảm cuối cùng của Vũ cũng bị phá vỡ, khi nó khám phá, lần đầu trông thấy chị “tô điểm phấn son làm dáng” trong phòng riêng. Và dĩ nhiên, với hiện tượng bất ngờ đập vào mắt đứa trẻ trong giây phút cần chút tình mẫu tử bị đổ vỡ, Vũ đã phản ứng theo lối trẻ con thông thường, nhưng lại là cái thông thường đau rát: “Đứa trẻ ngừng lại ở ngưỡng cửa trố mắt nhìn mẹ, vô cùng ngạc nhiên, rồi quay phắt lưng. Hắn cắm đầu chạy biến ra khỏi nhà với nước mắt ràn rụa trên mặt” (trg 18).

Từ những mặc cảm thiếu thốn tình cảm kia, Vũ đã mang theo suốt năm tháng lên tỉnh học (một cách bảo vệ huyết thống của người ông). Vũ tách biệt ra khỏi đám đông bạn bè, tách biệt mọi biến chuyển thời cuộc âm ỉ trong lòng thành phố bằng những tờ truyền đơn, bằng những cuộc hội họp, “các lớp lớn đang sửa soạn làm cái gì đó”. Vũ cũng có những ray rức tuổi trẻ, những ray rức của riêng mình về thời cuộc, nhưng Vũ không tham gia. Chính sự tách lìa này khiến một đứa trẻ như Vũ tự cảm thấy như bản thân mình không còn là chính mình, không thể hòa nhập vào cơn bão sùng sục đang bắt đầu lấp ló bằng những đám mây mù vần vũ trong thành phố và những người lính đứng dọc hai bên đường!

Ở phần này, Lữ Quỳnh không dông dài, chỉ phác họa vài chi tiết nhỏ, không đẩy lên thành cao trào. Tôi nghĩ Lữ Quỳnh đúng khi chọn lựa một kết cấu hợp lý cho tập truyện vừa, và chỉ hé mở cho người đọc hiểu về thái độ của Vũ: “Thông à, tôi không biết ngày trước, nghĩ như thế nào mà ba tôi thoát ly gia đình một cách dứt khoát như vậy. Đổi lại sự vắng mặt của ông, gia đình chịu nhiều thiệt thòi quá. Mẹ như bỏ đi hẳn, còn ông nội già nua, suốt ngày sống với mớ hy vọng còm cõi, mong manh. Ông chờ gì ở người vắng mặt? Ông chờ gì ở tôi? Tôi biết ông chỉ chờ và ao ước mỗi một điều là sự yên ổn, sum vầy. Tôi biết sự yên ổn là liều thuốc sau cùng của ông nên tôi đã cố gắng vâng lời ông hết sức. Cha của tôi đã làm ông nội già đi quá nhanh. Riêng tôi, ông phải cản lại. Vì ngoài tôi ra, bây giờ ông không còn một ai, không một ai cả, bạn hiểu không” (trg 64).

Mấy dòng tâm sự ngắn ngủi của Vũ với người bạn học, Lữ Quỳnh đã khắc họa thật ngắn gọn nỗi tủi nhục của một thế hệ thiếu niên trong giai đoạn qua phân, để đặt ra câu trả lời thích đáng cho những người trong cuộc. Tiếc thay, những câu hỏi như vậy, xuất phát từ nhiều cách khác nhau của nhiều nhà văn khác nhau mãi mãi rơi vào vùng im lặng. Im lặng đến rợn người. Không một  câu trả lời nào cả. Lịch sử tàn nhẫn cứ ào ào xô tới, hết lớp này tới lớp khác, chô vùi tuổi trẻ, chôn vùi con người vĩnh viễ chìm vào bóng đêm! Đó là lần sau cùng Vũ ý thức mình có một người cha. Và người cha ấy chỉ hiện hữu trong giây phút ngắn ngủi bằng tiếng kêu xé ruột “cha ơi”: “Đôi môi Vũ run rẩy, cuối cùng chỉ thốt được hai tiếng “cha ơi”, trong khi hình ảnh khu vườn của mùa mưa quê nhà, chiếc đầu lắc lư của ông nội cùng với những kỷ niệm hẩm hiu thời thơ ấu của Vũ hiện ra để rồi trắng dần như cơn mưa mùa đông...”(trg 91).

Đó là những dòng cuối cùng Lữ Quỳnh khép lại tập sách mỏng của mình khiến người đọc cảm thấy như chính mình đang đứng dưới cơn mưa trắng trời lạnh buốt. Tâm trạng này đã đến với kẻ viết bài cách đây 35 năm và bây giờ khi đóng tập truyện lại, cái cảm giác thẫn thờ kia hình như vẫn nguyện vẹn như ngày nào./.

Chú thích:

(*) Lữ Quỳnh, Những cơn mưa mùa đông, Thư Quán Bản Thảo tái bản, Hoa Kỳ 2010.

9/6/2010

Nguyễn Lệ Uyên

Theo https://www.vanchuongviet.org/

 

Thơ Nhã Ca, Một vài tư liệu nhỏ

Nửa cuối thập niên 1950s đến đầu 1960s, diễn đàn văn học miền Nam là sự nối dài của Tự Lực Văn Đoàn, hiển hiện rất rõ trên Tân Phong, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Hữu… Chỉ đến khi nhóm Sáng Tạo ra mắt số đầu tiên tháng 10/1956 với tuyên ngôn “làm mới nền VHNT Việt Nam”, thì liền sau đó xuất hiện nhiều cây bút, chẳng những làm nên tên tuổi sau này mà còn tạo cho dòng văn chương miền Nam tràn đầy tính sáng tạo, tự do, nhân bản.

 

            Đọc lại tạp chí Sáng Tạo số ra mắt, Mai Thảo đã vung bút đến 5 trang dưới tựa “Sài Gòn thủ đô văn hóa” để vẽ ra một viễn cảnh xán lạn của nền văn hóa văn nghệ trên miền đất tự do : “ Ánh sáng của Văn Hóa cháy lên hôm nay từ giữa lòng đời sống lớn rộng của dân tộc là một giòng máu bừng bừng mãnh liệt luân lưu trong một cơ thể chứa đựng cái vô hạn của những năng lực sáng tạo trẻ mạnh phong phú.Giòng máu bắt nguồn từ trái tim. Sài Gòn xuất hiện trên những kinh rạch tăm tối ngày nào, đã đổi thay để có thêm một hình thể tinh thần nữa: hình thể của một trái tim đập mạnh, với những đường máu, những lối ánh sáng đan chen nhau, tỏa đi trên toàn thể, toàn diện”. (Mai Thảo – Sài gòn thủ đô văn hóa, Sáng Tạo bộ cũ, số 1 tháng 10/1956)

Sau Sáng Tạo, nhiều tạp chí văn nghệ ra đời tại Sài Gòn, những người viết trẻ lần lượt xuất hiện và lấn át cả những cây đa cây đề trước đó: Đỗ Tốn, Vi Huyền Đắc, Mặc Đỗ, Tương Phố… Và, trong sinh hoạt văn nghệ khởi đầu cho tự do sáng tạo với nhiều khuynh hướng (kể từ thập niên 1960s), đã xuất hiện nhiều cây bút nữ khiến cho văn đàn miền Nam sôi động hẳn lên. Nhã Ca trong trường hợp đó!

Những trang viết đầu tay của bà khi còn là nữ sinh Trung học Đồng Khánh (Huế) đang trong thời kỳ tuổi mới lớn, giàu mộng mơ, tưởng tượng, cảm xúc chắt lọc, sâu lắng…

Khởi đầu, từ năm 1957 trở đi, thơ truyện của bà gửi đăng đều đặn trên các tuần báo tạp chí văn nghệ Sài Gòn với tên thật Trần Thị Thu Vân, nhưng tên tuổi cũng chỉ thàng thàng, không có gì nổi trội, chưa gây được sự chú ý, có lẽ do vốn sống chưa nhiều, chưa đụng chạm với thực tế bập bềnh nhiều lớp màu sáng tối lẫn lộn!

Phải đến năm 1960s, tên tuổi Nhã Ca mới được biết đến như một bông hoa đẹp giữa rừng thơ muôn màu sắc! Đó là khoảng thời gian Nguyên Sa đứng ra chủ trương nguyệt san Hiện Đại, một tập san văn học nghệ thuật, một diễn đàn độc lập, không nhận tài trợ từ các cơ quan nhà nước và nước ngoài như Chỉ Đạo, Sáng Tạo….

Ngay trên Hiện Đại số 1 ra tháng 4 năm 1960 với chuyên đề Truy niệm những nhà văn, thơ đã từ trần với các bài viết về Hoàng Đạo, Albert Camus, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Thâm Tâm, Phan Huy Vịnh còn có những sáng tác mới của Mặc Đỗ, Duy thanh, Nguyên Sa, Mai Thảo, Thái Thủy… Đáng chú ý: ngay số Hiện Đại ra mắt độc giả, Nguyên Sa đã đăng cùng một lúc 3 bài thơ của Trần Thy Nhã Ca với lời giới thiệu hết sức trang trọng đây là một thi tài đặc biệt : Bài Nhã ca thứ nhất – Thanh Xuân – Ngày tháng trôi đi, gây chú ý với, không chỉ các “nhà văn trẻ” cùng thời mà còn với độc giả cả nước! Lập tức câu hỏi: Trần Thy Nhã Ca là ai luôn được đặt ra và không có câu trả lời. Mãi cho đến những tháng sau đó, thơ truyện của bà liên tục xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn thì mọi người mới vỡ lẽ; đặc biệt, thi tài của bà được khẳng định khi tập thơ đầu được giải văn chương toàn quốc năm 1965 với tập Nhã ca mới!

So với các văn bản in sau này, thì bài Nhã Ca thứ nhất, trên Hiện Đại số 1 chỉ có 4 khổ, thiếu đi khổ thứ 3:

Tôi làm con gái
Đời như heo may
Tình bằng cỏ dại
Giận hờn không khuây

Không rõ khi chọn đăng, Nguyên Sa có cắt đi khổ thứ 3 hay sau này Nhã Ca viết thêm khổ thơ này khi in thành sách?  

Trong bài viết Nữ tính trong ngôn ngữ Nhã Ca trên Văn số 35, ngay ở những dòng đầu, nhà phê bình Đặng Tiến đã dẫn 4 câu thơ cuối cùng trong bài Thanh xuân:

Đời sống ôi buồn như cỏ khô
Này anh, em cũng tợ sương mù
Khi về tay nhỏ che trời rét
Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ, 
 để nhắc đến “Người đàn bà trong thơ là một huyền thoại: thơ trong người đàn bà là một huyền thoại khác. Thơ của người đàn bà là huyền thoại của huyền thoại, là thơ của thơ. Cách đây đúng năm năm, cũng vào mùa này, Nhã Ca đến với người đọc một cách bất ngờ, nhẹ nhàng như người đẹp trong tranh. Người ta nghe không gian xôn xao trong cái chớp mắt trầm buồn đến mênh mông của người con gái Huế” (Văn số 35 ngày 1/6/1965)

Còn Du Tử Lê, khi nhớ lại 3 bài thơ của bà xuất hiện trên Hiện Đại và những bài thơ khác, đã vung bút, ca ngợi hết lời trong bài viết: “Nhã Ca, bật sáng những ngọn đèn tâm thức soi thấu đáy tầng vô thức(https://tusachtre.com/) và ví von: “Thơ bà xuất hiện, như tiếng nổ lớn của một khối thuốc nổ TNT” .

Nhận định này của Du Tử Lê không phải là không có căn cứ: Ta hãy nhớ lại khoảng thời gian trước thập niên 1960, ngoại trừ nhóm sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi… còn lại, thơ ca vẫn mang hồn cốt của Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, Huy Cận, Hồ Dzếnh, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương…; vẫn mang dáng dấp của những mối tình tan vỡ, đau thương; vẫn là những đạo lý của người phụ nữ phương Đông trong “khung cửa hẹp”. Những Tương Phố, Mộng Tuyết lớp trước và Tôn Nữ Hỷ Khương, Lệ Khánh lớp sau luôn dẫn dắt người đọc bằng những vần thơ thất ngôn, lục bát từ những tình cảm riêng tư: lúc thì lên đồi, xuống dốc, quanh co những đêm trăng sáng; khi thì hoàng hôn tím, mưa rơi sầu muộn… với những tiếng than thầm chen lẫn niềm hân hoan tột cùng tình yêu thăng hoa. Ngay như Cung Trầm Tưởng khi xuất hiện trên văn đàn miền Nam, đã mang hơi hớm phương Tây bằng những dòng lục bát  với ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc mới mẻ hơn, gần gũi với thời hiện đại hơn, nhưng Mai Thảo dạo ấy vẫn gọi đùa lục bát của Cung Trầm Tưởng là “Bà Huyện Thanh Quan mới!”. 

Với Nhã Ca, khi đột phá vào thế giới thi ca miền Nam nửa cuối thế kỷ XX, vẫn sử dụng hình thức hoặc 4, hoặc, 6, 7 chữ nhưng khác với các nhà thơ nữ lớp trước ở chỗ: hình ảnh mới lạ, cấu trúc ngôn ngữ tròn chặt, tứ trong từng câu từng chữ lung linh, huyễn hoặc hơn dòng thơ niêm luật, nên mới thành ra “một khối thuốc nổ TNT” giữa làng văn nghệ Thủ đô!

Khối thuốc ấy, ban đầu là sự lựa chọn cách sống cho riêng mình, phá bỏ tất cả mọi lễ nghi phương Đông, khi bà bỏ nhà ra đi từ năm 19 tuổi để tìm cho riêng mình một đời sống lăn tròn vào xã hội bắt đầu có sự thay đổi dữ dội về mọi mặt của đời sống cá nhân lẫn quần thể rộng lớn, hướng đến tự do dân chủ, giải phóng mọi ràng buộc từ những nghi thức Nho giáo lạc hậu. Sự việc diễn ra tại thời điểm này là một điều rất cấm kỵ với phái nữ và hiếm khi xảy ra đối với các thiếu nữ đất thần kinh. Bà đã gửi gấm nỗi lòng, cùng những hành động của mình một cách trọn vẹn trong bài thơ Tiếng chuông Thiên Mụ như một lời tạm biệt Huế. Một tiếng nấc nghẹn với những tự thú mình là đứa con hư, chỉ vì phải: Đổi họ thay tên viết văn làm báo/Cơm áo dậy mồm ăn lơ nói láo:

“Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi
Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông
Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn

Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy
Tiếng chuông đến và đi chỉ mình tôi thấy
Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan
Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em
Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền
Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố
Tiếng chuông tan dài như đêm không ngủ
Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi”

Võ Phiến nhận xét về Nhã Ca: “Cực đoan, táo tợn, đột ngột là đặc điểm của bà…

Sống giữa một thời không còn cấm kỵ, mà sôi nổi, mà cực đoan, Nhã Ca mạnh dạn tự mình chọn lựa tình yêu của mình, con đường hạnh phúc của mình, con đường đời của mình. Bà không ngần ngại bỏ nhà ra đi, đổi họ thay tên, phiêu lưu trong cái nghề viết văn làm báo. Tự do, bà thích nói đến tiếng ấy: tự do trong thể xác, trong đời mình..."

Nhã Ca là một nhà văn độc lập và bất khuất, bà cũng là một tiêu biểu rõ rệt nhất cho nền văn chương nhân bản của miền Nam trong thời kỳ 1954-1975”. (Võ Phiến, Văn Học Miền Nam – Thơ Miền Nam, NXB Văn Nghệ 1999)

Và Đặng Tiến thì: “Thơ Nhã Ca đày ải trần gian vào biên giới hư ảo của đê mê, thơ Nhã Ca là trầm luân trên từng sợi lông tơ, là thiên thu xóa nhòa trongchớp mắt. Đọc Nhã Ca là linh cảm cả hư không, trong từng thớ thịt, lẫn thể xác trong từng ý niệm vu vơ. Thơ Nhã Ca vừa mời gọi, vừa ôm ấp vừa quyến luyến. Thơ Nhã Ca là lối làm quen ở phút giã từ, là lúc vụt quên khi vừa sực nhớ. Vẻ đẹp Nhã Ca thật như một giấc chiêm bao, và giả như con sông Hoàng Hà từ trời xanh đổ về biển cả:

Ai về đó mà thơm hồn lụa bạch
Cổ chim xanh còn quấn quít tơ vàng
 (Đặng Tiến, Nữ tính trong ngôn ngữ Nhã Ca, Văn số 35 ngày 1/6/1965)

Điều mà các nhà biên khảo, nhà thơ gọi thế giới thi ca của Nhã Ca là hư ảo, huyễn mộng, huyền thoại, khối thuốc nổ TNT hay cực đoan, táo tợn… có thể thu gọn trong bài thơ Đàn bà là mặt trời sau đây:

Vườn hoa nào cũng ở trước mặt chúng ta
Mùa xuân nào cũng nở cho ta những bông hồng
Hỡi các chị, chúng ta đều đẹp như mặt trời
Tinh khiết như bình minh
Vì chúng ta làm ra ái tình
Ra hoa lá và sự sống trên trái đất
Những người nam đã tán tỉnh chúng ta
Và chúng ta đã chọn cho lòng mình
Một ông vua
Trong những người nam đã gặp
Hỡi các chị đến gần tôi coi
Đến gần tôi và cùng rực rỡ
Chúng ta đã tạo một thiên đường
Đã tạo nên nhiều vị vua
Bởi chúng ta đẹp đẽ và xinh tươi
Vì những ham muốn đã tắm rửa cho chúng ta
Xui chúng ta nóng bỏng như lửa
Và lửa từ mặt trời
Mặt trời xinh đẹp
Chị có đôi mắt sâu như giếng nước phương Nam
Chị có tóc mun đen như dòng sông đêm Ai Cập
Chị có lòng nồng nàn, dữ dội như biển đông
Chị có ái tình ngọt như mật ong
Tôi sẽ tới van xin các chị
Nài nỉ các chị cho tôi mượn tất cả
Để tôi khoe với chàng
Đem tới cho chàng
Để chàng nâng niu
Coi tôi như công chúa
Chúng ta, mỗi người phải là một công chúa
Người đàn bà nào cũng đẹp
Mùa xuân và hoa hồng đều nở vì chúng ta
Chúng ta ban phát ái tình
Cho thiên đàng của chúng ta tươi tốt mãi
Chúng ta mua từ núi cao
những màu xanh rất non
mua từ rừng
những lá cây rất vàng
mua từ đất
những giếng nước rất ngọt
và từ biển
trân châu cùng ngọc bích
để trang điểm cho chúng ta đẹp đẽ
Chúng ta góp sông, núi, đồi trên thân thể
và rừng trong tóc
Tôi sẽ hỏi mượn các chị
mọi thứ xinh đẹp và nóng bỏng
tôi sẽ gõ các cánh cửa im lặng thật nhẹ
để chàng kinh hoàng nhận ra tôi
Tôi sẽ làm rụng hết những giọt sương
đang lóng lánh trong hồn chàng
những giọt sương sẽ rụng và làm nên hài nhi
cùng sự sống
cho thiên đàng chúng ta
đông đúc và vui tươi
Tôi sẽ là mặt trời trong lòng chàng
Buổi mai nào cũng lộng lẫy rực rỡ
Tôi sẽ mát như trăng nhưng cũng nóng hơn lửa
hơn cát ở sa mạc
hơn cả cơn giận
của trận hồng thủy trong thánh kinh
Bởi tôi là đàn bà
người đàn bà nào cũng xinh đẹp
cũng làm ra sự sống
Hỡi các chị chúng ta sẽ nối tiếp nhau đẹp mãi
Để những bông hoa của mùa xuân
Phải quanh quẩn chiêm ngưỡng
Hỡi các chị hãy đến đây và làm điên đảo
Sự quay cuồng vui thú của trái đất
Chúng ta luôn luôn xinh đẹp và ở trên cao
Các chị có đôi vú ngọc bích
Có da sữa, tóc dài
Có má hiền, môi mật
Đừng để những kẻ đi săn lạc đường
Hãy dẫn dắt và tội nghiệp họ
Hãy hung dữ với họ như sư tử
Hãy dịu dàng với họ như nai
Để họ quay như trái đất quanh mặt trời
Là chúng ta mãi mãi
Để chúng ta cho họ ngày đêm và bóng tối
Tôi sẽ lùa bóng tối thật dầy vào đêm của chàng
những ánh sáng nóng bỏng cho ngày của chàng
Chúng ta là những người nữ xinh đẹp
Xinh đẹp hơn mọi loài trên trái đất
Chúng ta có lòng ghen mạnh như bão
Chúng ta có sự tinh khiết trong như trăng
Chúng ta có thịt da, có núi, có rừng
Chúng ta đỏ như mặt trời
Đen như đêm
Và vàng như lửa
Tôi cũng có một ông vua cho ái tình tôi
Tôi cũng đã chọn chàng
Để sự sống tràn trên trái đất
Tôi sẽ đi góp nhặt từ mặt trời
Từ phương đông, phương tây, từ những buổi sớm mai
Những sữa, kem và mật để làm nên rượu ngọt
Để pha hương thơm trên thân thể mãi mãi
Trên thịt da tôi mà chàng yêu dấu
Cám ơn Thượng Đế đã cho tôi đôi vú
cho tôi da mịn và tóc dài
cho tôi rực rỡ như mặt trời
để tôi làm ra ái tình và rượu ngọt
tràn trên trái đất
Hỡi các chị hãy đến nhìn tôi coi
Hỡi các chị vô cùng khả ái và xinh tươi
Hãy đến nhìn tôi coi
Tôi đang đỏ đang đen
Đang làm ra nước làm ra lửa

(Thơ Nhã Ca, NXB Thương yêu, 1972)

Những tư liệu nhỏ này trước hết để tỏ lòng mến mộ một tài năng, nhân cách… và để có thêm tư liệu cho các SV khoa Văn rộng đường nghiên cứu 20 năm văn học Miền Nam.

29/1/2024

Nguyễn Lệ Uyên

Theo https://www.vanchuongviet.org/

 

Khói và mảnh trăng khuyết

Từ nơi nào ấy rất xa xôi, như tiếng vọng khẽ:

- Định, mày mạnh giỏi chứ? Bây giờ mày thế nào rồi? Lâu lắm tao không gặp, nhớ lắm!

- Xin lỗi, giọng nói nghe rất quen.

- Ha, ha… đã quên thằng bạn này rồi sao? Đầu óc mày bắt đầu còm cõi từ hồi nào vậy? Tao cứ ngỡ tụi mình vẫn tiếp tục làm thơ dưới khung cửa sổ phòng Thủy đó mà.

- Hả. Nói sao? Thủy ngày xưa. Ngô, mày ở đâu? Tao tưởng.

- Chết từ ba mươi năm nay rồi chứ gì? Người đời nghĩ rằng tao chết rồi, chết thật rồi. Nhưng mà, hỡi ơi, làm sao tao chết được. Tao vẫn gần tụi mày, vẫn biết Thủy bây giờ cơ cực, vẫn biết thỉnh thoảng mày mơ màng làm một cuộc viễn du, đến bên em bằng những giấc mơ tuyệt đẹp, đầy ắp hương hoa và rỗng không sương khói.

- Mày gặp Thủy?

-Tao gặp thường xuyên, không ngày nào, tháng nào, năm nào là tao không ở bên cạnh nàng.

- Mày với Thủy…

- Lại ngộ nhận. Tất cả đều trễ tràng. Tất cả là những sợi khói mong manh, níu theo mảnh trăng khuyết dằn xé nỗi khát khao.

- Tao không hiểu gì cả.

- Mày làm sao hiểu được khi mọi ràng buộc biển dâu bị trói chặt vào guồng lăn cuộc đời!

- Ngô, mày nói cứ như một tên thánh sống bất tài, nói cho hả hơi, hả giận về sự bất lực của mình. Mày đang ở đâu? Tao sẽ tới ngay để gặp mày, để coi bộ dạng xương xẩu hiu hắt, giờ có thay đổi chút nào không?

- Xa vạn dặm mà cũng gần trong cái chạm nhẹ một với tay.

- Mày lại giở giọng bỡn cợt như hồi xưa?

- Không đâu. Mày không thể tìm thấy tao, nhưng tao sẽ đến với mày, ngay bây giờ đây.

 

Những âm thanh u u … kéo dài trong tay nghe. Và như vậy có nghĩa là Ngô đã gát máy.

Rõ ràng là Ngô chứ không thể một kẻ nào khác. Chúng tôi thân với nhau từ khi học Tam Tự Kinh, đánh vật với những nét sổ, nét ngang, gà gật ê a như những chú tiểu bắt đầu học kinh Phật. Rồi chận bò, tắm sông… và lớn lên  và mất hút nhau. Năm tháng trôi đi không một tin tức nhỏ về Ngô. Nó đi những đâu? Làm những gì? Không một ai hay biết. Những cuộc kiếm tìm vô vọng cuối cùng như chiếc tim đèn hết dầu. Vậy mà giờ này, Ngô lại trở về với tôi trong đêm khuya khoắt, ít ra là qua giọng nói từ đâu đó vẳng tới. Hoàn toàn bất ngờ. Hay tôi đang chìm lú trong cõi mê muội của hoài nhớ, mong chờ quay quắt bấy lâu nay?

 

Tôi ngồi chờ dưới ánh trăng hạ tuần nhợt nhạt, hắt những quầng sáng qua song cửa như thể những cụm khói từ một thế giới lạ hoắc, len lạnh hơi đồng. Bên ngoài khu vườn rộng, bóng đêm nhập nhoà vệt tối sáng mỏng tang, vật vờ trên những tàn lá đang im ngủ. Rồi bỗng nhiên những quầng sáng ấy loá trắng chói chang vơi chiếc bóng của Ngô lách qua cánh cửa khép hờ, bước về phía tôi. Cái bóng lêu khêu muôn thuở, bước không muốn chạm đất. Nó hào hển, sôi nổi siết chặt bàn tay tôi, ôm tôi như  ôm một đứa bé con, biểu lộ một thứ tình cảm bị dồn ép lâu ngày.

-Mày vẫn vậy, không đầy đặn, nhưng chưa già đi chút nào. Lâu quá anh em mình không được thấy mặt nhau, cầm tay nhau.

 

Thanh quản Ngô như bị một vật gì đó dính ngang làm giọng nói khao khao, không như bình thường.Tôi nghĩ với tấm áo mặc phong phanh trên người, có thể cái lạnh làm anh bị đởm giọng. Cũng có thể anh ta vội vã chạy đến tôi với đôi chân trần của thằng bé ngày xưa đi chăn trâu, chơi trò cút bắt, u quạ trên những đụn mả đến nỗi anh mệt lả đi?

 

Ngô với tay rút điếu thuốc, rồi lại đặt ngay xuống bàn, không bật lửa. Anh đảo mắt nhìn gian phòng, lướt trên những bức tranh trên tường, phía trước mặt. Đó là những bức tranh thiếu nữ anh vẽ về Thủy qua trí nhớ cách đây trên ba mươi năm, thuở mà đám thanh niên nhai những củ khoai lang sùng của J.P Sartre, của F. Sagan và kêu lên những buồn nôn, ói ỉa... đầy dẫy cả ngoài cuộc đời lẫn trên trang chữ. Cái thời của sự buồn chán, mệt mỏi và làm dáng trí thức cần thiết hơn là sự ăn uống, làm việc, tỉnh táo. Giữa bối cảnh đặc quánh đờm dãi nhầy nhụa đó, Thủy xuất hiện tựa một cánh hoa rực rỡ trên mảnh đất khô khốc cát sỏi, ruồi nhặng.

 

Và rồi cả Ngô và tôi đều yêu Thủy đến điên cuồng, để cuối cùng hình ảnh Thủy đầy ắp trong những trang sách bằng những nét vẽ nguệch ngoạc của Ngô và một mớ chữ nghĩa kết nối thành những âm điệu dày cộp trong cuốn sổ tay của tôi. Từ bên này bức tường rào rêu ẩm, mái ngói oằn cong, tôi và Ngô dùng cọ, dùng bút cào miết lên giấy, vải cái nhan sắc dữ dội kia và tìm cách chuyển đến nàng, để sau đó nàng chuyển lại chúng tôi một cách hằn học, dè bỉu: những ngón tay thon thả, trắng muốt vò nát những thứ chúng tôi yêu quý, ném qua tường như  người ta ném xác súc vật, kèm theo những dây cười miệt thị. Thủy nhìn chúng tôi như hai kẻ điên loạn, coi chúng tôi như lũ người sống trong thế giới của mộng mị và hoang tưởng, ban tặng cho mỗi đứa một lỗ đen ngòm khổ đau thời mới lớn. Lần duy nhất Thủy viết mấy câu, bọc viên đá dăm, ném sang vườn: “Các anh thôi ngay trò vớ vẩn dung tục này lại ngay. Nếu không tôi sẽ kêu ba tôi bắt các anh tống vào khám!”

 

Rồi sau đó, Thủy bước qua chiếc cầu hạnh phúc lắc lẻo với nỗi hân hoan tột cùng của loài báo cái biết mình đẹp nhất trần gian, danh giá nhất trần gian. Đám cưới tổ chức trên nhà hàng nổi dập dềnh sóng nước, dập dềnh hạnh phúc và dập dềnh cơn say lảo đảo của hai kẻ điên loạn chỉ biết đứng trên bờ nhìn những dề lục bình trôi như chính thân phận mình. Hôm đó Ngô say khước, quay trở về nhà bắt tôi căn mảnh vải bố lên giá vẽ. Bao nhiêu ống màu anh đều nặn hết xuống sàn và cầm cọ vẽ như điên như say trên khung vải trắng. Nước mắt chảy cơ hồ như con suối nhỏ. Tôi mơ màng trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê nhìn theo bàn tay gầy guộc cào miết lên giá vẽ… để sáng hôm sau và mãi mãi, tôi không bao giờ biết Ngô đi đâu, về đâu? Phản ứng đầu tiên trong buổi sáng tan tác đó là tôi đá văng khung vải vào góc phòng, bao nhiêu sách vở, chữ nghĩa tôi hất tung vào đó và khoá trái cửa, không bao giờ ghé mắt nhìn với thái độ hả hê của kẻ trí hèn hoan hỉ thực hiện xong chuyện trả thù vặt. Chuột gặm, gián nhấm tôi chẳng thèm biết tới; ẩm mốc, mối đùn tôi chẳng quan tâm… Cho mãi tới sau ngày lấy vợ, tôi mới phát hiện có một bức tranh tuyệt tác mà các tay chuyên sưu tầm tranh sau đó đã trả với một cái giá tôi không thể tưởng tượng nổi. Tôi nghĩ, hình như bọn buôn tranh đang báng bổ Ngô và bức tranh kia, nên đóng sập cửa, treo cao hơn để đón lấy chút nắng nhạt buổi chiều, ánh trăng khuya từ ô cửa sổ hắt vào, thay vì phải nghe những lời tán tụng nhảm nhí của phường bán buôn lừa lọc kia. Những lúc đau khổ, tuyệt vọng; những khi đói rách tơi tả, bị dòng đời nhấn lún xuống tận đáy bùn đen tôi ngồi chàng hảng trên chiếc ghế gỗ (chiếc ghế Ngô vẫn thường ngồi) để nhìn ngắm nó hả hê, đôi lúc như một tín đồ mộ đạo! Cả những lúc no nê hạnh phúc, tôi cũng dạng chân trên ghế bành ngắm nhìn bức tranh với nỗi ngậm ngùi vừa đánh tuột tay đứa bạn thân nhất trần đời. Trước mắt tôi, nó không còn là bức tranh mà là một khu rừng nào đó xa lắc, đầy huyễn hoặc với những con thú quấn quít bên nhau trong quầng sáng hắt hiu của mảnh trăng rớt cuối tháng. Đó là những con sói, con cáo, con beo, bầy nai và đàn cọp vằn… Chúng quần bên nhau giữa một vũ khúc tình. Chúng hung ác và hiền dịu, hạnh phúc và đau khổ, lo sợ và an nhiên. Cả cái xấu và cái tốt hình như đều bật ra trong những đường nét và sắc màu loạn cuồng trong cơn cuồng loạn Ngô phóng bút! Nhưng hơn hết, trong mỗi con thú đều ẩn hiện, thấp thoáng bóng dáng của Thủy, nhất là những đêm trăng khuyết đến tận cùng, nửa đêm giật mình nhìn lên vách, bầy thú biến mất, nhường chỗ cho bóng dáng thiếu nữ khi hân hoan, khi u sầu tha thẩn trong khu rừng già dày đặc khói sương đêm bị ánh trăng hắt vào loang loáng trắng, quái dị. Có khi người thiếu nữ tuyệt trần kia, mặt mày, chân tay, áo quần đầy máu đang dằn xé một đoá hoa cánh rơi lả tả trong lớp khói lung linh với tất cả vẻ đẹp hung ác cực kỳ. Và không ít đêm thao thức vì cái ban ngày đỏ hoét dằn vặt, tôi len lén vạch mùng bước nhẹ ra phòng khách, sững sờ nhìn những con thú mang khuôn mặt Thủy cào cấu nhau đến toé máu… Trong những lần tôi ngồi hàng giờ như vậy trước bầy thú và con người, vợ tôi từ phòng ngủ xô cửa chạy ra, hổn hển: “Tự dưng có những luồng hơi lạnh đến rởn tóc gáy, tròn miết da gà khắp cả người, lạ lắm. Em sợ quá”. Vợ tôi chỉ mới cảm, chưa thấy và chưa hiểu mọi sự, tôi vỗ về, an ủi nàng thôi không hỏi nữa.

 

Còn lại một mình trong đêm vắng, tôi dán mắt lên bức tranh, mong tìm thấy bóng Ngô lẩn khuất đâu đó giữa bầy thú hoang đang nhảy múa. Nhưng tuyệt nhiên chỉ có những móng vuốt giương ra, cào cấu nhau và gào thét man rợ. Ngô biến mất, giống như hòn đá rơi tòm xuống giòng nước xoáy.

Bức tranh vần cột dính trên tường. Những tay buôn tranh đã quá mệt mỏi với giá kinh khủng tôi lắc đầu từ chối, nên cũng không lui tới nữa.

 

Cái lỗ đen ấy đã kín miệng, nhưng thỉnh thoảng vẫn ung lên một chút mủ.

 

Còn giờ đây Ngô đang ngồi trước mặt tôi sau ngần ấy năm dài mất tăm. Tưởng là những đổi thay ghê gớm, nhưng Ngô vẫn như  ngày chúng tôi chia tay. Có điều rất lạ là khuôn mặt anh bợt nhạt như sáp, đôi mắt hun hút sâu, vô cảm. Phía bên dưới dái tai, chỗ xương quai hàm, những vết đỏ loét chạy dài theo cổ và giấu hút đâu đó sau mảnh vải áo sọc đen.

- Định, mày đừng nhìn tao như thế – Ngô đột ngột lên tiếng và xoay ngưởi nhìn ra phía khung cửa phụ ăn thông ra vườn – Mày còn rượu không? Tao cảm thấy lành lạnh.

Tôi mở cánh tủ, lấy ly và chai Hine còn vơi nửa. Ngô uống liền một lúc ba ly.

- Rượu hạng tư – Ngô bật lên thành tiếng.

-Tao không rành ba cái thứ đó.

Ngô khoát tay:

- Không sao, dù hạng tư nhưng nó cũng đốt cơ thể tao ấm lên chút đỉnh. Mà này? Chính xác, tao với mày chia tay bao nhiêu năm, hả?

- Ngày mười sáu tháng năm.

- Không lâu lắm phải không? Mà sao tao lại phải trốn chạy kia chứ? Lúc đó tao đang làm Assistance cho ông Vũ  mà. Ong ta quí tao. Tao cũng kính trọng ông ấy. Riêng đám sinh viên, có vẻ như chúng bị kích động bỡi những luồng tư tưởng nửa ngô, nửa khoai chưa kịp tiêu hoá của ông Văn mang từ bên Tây về… lại được chế dầu thêm bỡi đám dao búa?

- Đó là chuyện cũ.

- Không cũ chút nào khi chúng nó đánh trống thổi kèn hô hào xông vào bắn giết nhau để bảo vệ cái ghế ngồi cho chúng nó. Đám dân chúng thì ngây thơ, bị nhồi nhét, đôi lúc quá sợ hãi để thành những con thiêu thân. Còn đám trí thức nửa vời thì chỉ vì ba dúm chữ nghĩa chó mửa thành kinh thành kệ và vì ảo tưởng về một xã hội công bằng, phồn vinh… mà bán đứng danh dự làm người, xô đẩy cả một dân tộc xuống đáy vực sâu, tắm trong xương cốt và hận thù!

 

Ngô lại rót rượu, dốc ngược đáy ly:

- Cuối cùng thì không thằng nào chịu trách nhiệm về những hành động xuẩn ngốc của mình gây ra, trút vấy lên đầu kẻ khác. Tao biết một thằng đi tu có nòi, thuộc kinh kệ như két. Nó bắt tín đồ đọc kinh như lũ bò nhai lại, rao giảng đạo đức, giáo lý để cuối cùng nó ngủ với gái trong phòng?

 

Lừa mị đến thế thì còn hơn cả thứ giòi bọ đục khoét những xác chết sình thúi trong rừng sâu, bên vực hẳm!

 

Nước mắt Ngô chảy dài, càng lúc càng nhiều, đỏ dần lên như máu. Trước mắt tôi, Ngô trở thành hình nhân lúc xám ngoét, lúc trắng nhợt khi thì sũng màu máu từ hai hốc mắt tuôn ra, từ lỗ tai, lỗ mũi tuôn ra, cả miệng cũng bật trào màu máu đỏ, thấm xuống ngực. Khuôn mặt Ngô trở nên lạnh lùng và lạ lùng mà tôi chưa hề thấy.

-Mày có vẻ như mệt? Nằm xuống chiếc ghế xích đu này nghỉ chút đi?

-Bao nhiêu năm mới được về thăm lại mày, giờ kêu tao ngủ thì thà đừng tới?

-Tao xin lỗi.

 

Im lặng một lúc, tôi lên tiếng:

-Ngô này, bức tranh mày vẽ trong đêm…

-Tranh nào?

 

Tôi đưa ngón tay chỉ lên tường, phía trên đầu anh, nhưng Ngô không dòm theo.

-Nhớ rồi. Đó là bức tranh khói và mảnh trăng khuyết mà trước khi đi tao không kịp nói với mày.

 

Tự dưng khắp thân thể tôi bỗng nghe lạnh đến tột cùng, co rúm lại trong nỗi sợ hãi vừa sung sướng. Nhưng cảm giác ấy chỉ ào đến thật nhanh và rút đi cũng thật nhanh như sấm động. Tôi trở lại bình tĩnh:

- Rồi mày đi những đâu, đến đúng ba mươi năm sau mới quay về?

- Định mệnh.

- Là gì?

- Là sự ra đi và sự trở về.

- Lúc nào mày cũng có thể pha trò được. Ngô mày nói đi. Mày đi những đâu?

-Trước hết là tao bỏ ngang cái chức assistance bổ báng đó và lang thang từ ngôi chùa này đến quán thịt chó khác, từ nhà thờ này đến những nhà thổ nọ để làm một cuộc khám nghiệm về nhân cách con người. Và cuối cùng tao đã khám phá ra một chân lý lộn ngược. Té ra lũ cứt đái và bọn thổ tả kia còn mạt hạng hơn đám ma cô đĩ bợm. Chúng lợi dụng kinh kệ, sấm truyền, lợi dụng lòng tin của kẻ khác để buôn người, đổi chác, phỉnh phờ, lừa lọc. Một bọn lưu manh đội lốt người thượng hạng ngoại hạng. Trong khi đám đĩ bợm chỉ vì cái bao tử. Chúng cũng lưu manh vậy, nhưng ra giá sòng phẳng, không lừa mị phỉnh phờ ai. Thằng nào có nhu cầu xin mời… ai đau khổ, buồn rầu xin mời… kẻ nào sung sướng hoá điên, xin mời… nhưng nhớ là đừng giở trò chơi chịu…! Rất sòng phẳng.

- Nói nghe ớn lạnh?  

-Tao ngụp lặn trong chốn thanh cao lẫn vũng bùn hôi tanh dơ dáy nhân thế. Tao gặp đủ loại mặt mũi, đầu óc bệnh hoạn của bọn người mà đến cả trời đất cũng phải bụm mặt xấu hổ. Tao lang thang cùng khắp ba cõi, đến những nơi mà con người chưa bao giờ đặt chân tới. Tao đi đến độ chân toé máu, cụt ngón; đến độ thân thể teo tóp như que củi khô khốc.

 

Bất chợt, tôi nhìn xuống sàn nhà. Đôi bàn chân Ngô lưng lửng đâu đó trong hai ống quần rách bươm, không chạm đất, đung đưa theo thói quen, như hồi nhỏ anh ngồi vắt vẻo trên cây ổi sẻ sau vườn nhà, thõng chân đưa qua lại trong không khí. Lớn lên, khi bắt đầu biết yêu mỗi khi đứng dưới khung cửa sổ phòng Thủy, Ngô vẫn có thói quen ngồi trên trụ gạch đua đưa hai chân vừa như biểu lộ niềm hạnh phúc, vừa như  tỏ vẻ thất vọng, bỡi ô cửa chỉ hắt ra bên ngoài chút ánh sáng, tuyệt nhiên không có một nụ cười, cái vẫy tay nghịch ngợm.

 

Tôi hỏi Ngô:

- Lúc nãy mày nói gặp Thủy?

- Đúng. Tao gặp nàng lúc vừa sinh con đầu lòng. Hạnh phúc và giàu có. Đài cát và kiêu kỳ. Còn thằng chồng thì làm một quan chức khá lớn ở một Bộ nọ, sai khiến đàn em kiếm tiền mang về cho hắn. Sau này hắn vẫn tiếp tục làm lớn. Tại sao à? Có trời mới biết. Lần đó tao ngồi vẽ tranh trên vỉa hè độ nhật. Cũng toàn tranh thiếu nữ. Bữa nọ, trong đám đông dòm ngó tranh, có một quý ông khoát tay một quý bà, chỉ bức tranh tao đặt trên chiếc ghế đẩu long chân:

“Đẹp! Và có vẻ giống em đó chứ”

 

Một giọng chớt nhả:

“Em thấy cũng được”

“Không. Đẹp. Anh sẽ mua bức này tặng em nhân ngày sinh nhật sắp tới”

Tao quay lại. Té ra là vợ chồng Thủy. Tao lúng túng thật sự. Còn Thủy thì làm như lạ mặt, khẽ nghiêng chào kiểu cách. Lão chồng hỏi:

“Tôi mua bức tranh này, thưa ông?”.

“Xin lỗi, có người mua trước ông bà rồi”

“Anh vẽ bức khác. Tôi thích nó”

”Không thể thế được”

“Có thể đấy!” – Nói và hắn ta lôi vợ đi.

 

Tao đâu ngờ cớ sự sau đó còn tồi tệ hơn. Để chiếm hữu bức tranh, lão lệnh cho đám chân tay dọn sạch các vỉa hè. Mọi người chạy nháo nhào. Những bức tranh của tao, của bạn bè bên cạnh bị hốt lệng lên xe như người ta quăng những bọc rác hôi thối phải đổ vứt đi buổi sáng buổi chiều! Nhưng đây chỉ mới là đoạn khởi đầu của bi kịch. Sau đó mấy ngày, tao đang chán ngán với ly cà phê đắng ngắt, thì có một thằng mặt mũi tựa cô hồn, quăng trước mặt tao bì thư . Nhặt lên, thoang thoảng mùi nước hoa loại đắt tiền. Mở ra, mấy dòng chữ lịch sự một cách mất dạy: “… cuối cùng thì chúng tôi cũng tìm mua được bức tranh bán đấu giá tại Sở Vệ Sinh Đô Thành. Rất mong ông đến treo giúp bức tranh. Vợ chồng tôi… số nhà… đường”.

- Mày tới? – Tôi hỏi, lòng áy náy như chính mình là người trong cuộc.

-Tao tới. Tới để coi cái đám cướp giật, hợm hĩnh đó làm gì? Đúng là bức tranh bữa nọ lão ta đòi mua. Đón tao là bà quản gia và con nhỏ ở đang xách giỏ mở cổng chuẩn bị đi chợ. Tao chìa thư mời. Bà ta nói: “Ong nhà dặn hễ ông đến thì mời vào. Chúng tôi được báo trước rồi”. Tao bước vào, thấy Thủy ngồi dũa móng tay ở phòng khách, mặc bộ váy mỏng tang, loại vải khá đắc tiền.

 

Bức tranh dựng gần đấy. Thủy thong thả chào tao, thong thả đứng dậy, thong thả rót nước và thong thả mời. Dáng điệu nàng bước giống hệt con báo cái trước con mồi đang nhắm mắt chờ bị xé xác, một kiểu cách lố bịch của các  mụ mệnh phụ phu nhân còn sót lại trong thời buổi nhiễu nhương.

“Anh ngạc nhiên lắm phải không?”.

“Hơn thế nữa”.

“Thật tình thì tôi không thích nó. Chỉ vì nhà tôi vẽ vời”.

“Tôi nghĩ ông bà không nên xử sự như vậy”.

“Chúng tôi có làm điều gì khiến ông phiền lòng. Chúng tôi hỏi mua, ông không bán, chúng tôi về. Còn cái này, chúng tôi mua đấu giá từ….”.

“Từ một đám ăn cướp?”.

“Ong nói hơi quá. Có cần phải coi giấy tờ không nhỉ?”.

“Kẻ mạnh có thể biến xác chết thành người sống, thưa bà?”.

“Đó không phải là chuyện của chúng tôi. Chúng tôi mời anh đến không phải để tranh cãi về những chuyện không liên quan đến nghệ thuật”.

 

Tao lộn gan, đứng bật dậy bước ra. Thủy vẫn ngồi bắt chéo chân, với bộ điệu hớ hênh, khiêu khích sự thèm khát dục vọng, nở nụ cười pha chút ngây thơ lẫn đĩ thoã:

“Chẳng gì thì đã có lúc chúng ta như gặp nhau, quen nhau và trong anh, tôi luôn luôn có mặt?”.

Mày nghe nó nói không? Một giọng điệu chỉ có ở đám ma cô, tú bà lại thốt ra từ cửa miệng của con mụ đàn bà có nhan sắc rực rỡ, tuyệt vời kia mà tao và mày đã từng yêu đến không còn nhận ra bến bờ, ngày đêm? Đây là lần đầu tiên trong đời tao được “hân hạnh” đối mặt với nàng, nói vơi nhau không bằng lời êm ái, yêu đương! Tao tự nghĩ, phải chăng nàng là hiện thân của loài quỷ dữ bay vào trần gian để thoá mạ kẻ khác? Một thứ nhan sắc rờn rợn mê hồn, một vẻ đẹp ác độc chưa từng thấy trên những khuôn mặt nữ? Luôn luôn tồn tại hai dáng vẻ đối nghịch nhau? Tao vừa sợ hãi, khinh tởm vừa muốn gần gũi sờ đụng nàng như sờ đụng trên thân lầy nhầy con ấu trùng bướm đa sắc, vừa có cảm giác nôn oẹ mọi thứ trong cơ thể ra ngoài. Chỉ còn một bước chân nữa là tao ở bên ngoài khung cửa, thoát ra khỏi căn phòng ghê tởm mà vô cùng lôi cuốn đó. Tao muốn ngã khuỵu xuống nền gạch hoa, mắt mờ đi.

“Anh giúp tôi. Vì trong anh luôn có tôi, tôi biết thế. Vậy thì tại sao trong tôi không có một chút anh. Đây là điều anh mong mỏi bao nhiêu năm nay mà. Tại sao anh lại từ chối điều anh hằng ao ước đó nhỉ? Để được cái gì…?”

 

Tao nghe dường như có vòng tay chạm đâu đó lên người tao, nóng rực nỗi ham muốn của bầy thú trong mùa tình. Tao nghe tiếng thì thào bên tai như lời của con hồ ly tinh:

“Bây giờ tôi tặng anh điều anh ao ước bấy lâu. Hình như tất cả mọi thứ tình yêu đều kết thúc trên giường ngủ. Tôi tặng anh nỗi khao khát cào cháy cơ thể anh, tâm trí anh để sau đó anh vĩnh viễn bước ra khỏi khung cửa này, như một cách để tôi lột tôi ra khỏi người anh”.

 

Sau đó là nụ hôn dài đến cháy bỏng, là thân thể mềm nhũn oằn oại tựa hồ kẻ động kinh. Mọi thứ cảm giác của loài động vật có bộ não đều đổ ào ra cùng một lúc đến tận cùng trời cao hố thẳm rồi đột ngột đứng khựng lại như cỗ máy chết, trống rỗng đến tận cùng…

Càng về sau, giọng nói của Ngô càng thì thào tựa hơi thở, cố gắng lắm cũng không nghe được gì hơn. Hai môi Ngô mấp máy liên tục đến độ không còn đoán được Ngô nói điều gì. Anh giang hai tay và xoãi chân trên ghế. Im lặng hoàn toàn, lạnh ngắt.

 

Rất lâu sau Ngô mới mở mắt ra, vẫn trong tư thế cũ. Nhưng trên hai hốc mắt lại trào ra hai giọt nước mắt đỏ hoét. Tôi với lấy chiếc khăn vắt trên thành ghế, toan lau cho anh, nhưng Ngô đưa tay ngăn lại. Bàn tay Ngô chạm vào tôi như thể tôi đang chạm vào tảng băng đá. Ngô giật mình, ngồi lại ngay ngắn, giọng phều phào:

-Điều mày muốn biết tao đã kể hết cho mày nghe. Chỉ còn đoạn cuối là sau đó mấy ngày, tên cô hồn kia lại xuất hiện, chỉa súng vào hông, lôi ngược tao lên xe đóng sập cửa lại và đưa tới một nơi tao chưa hề đến. Một chiếc lều bạt dựng sâu phía trong con đường đất đỏ. Hắn đưa tao tới đó thì đã thấy thằng chồng Thủy ngồi bên chai rượu màu. Hắn đưa tay chỉ chiếc  ghế  đẩu đối diện, đẩy ly rượu về phía tao:

“Tôi nghĩ ông nên uống một ly”.

Tao nhìn hắn không hiểu hắn nói gì và làm gì?

“Ong khá lắm, ông hoạ sĩ ạ!” – Nói và hắn quăng tấm ảnh lên mặt bàn gỗ xù xì, giọng đanh lại:

“Ong nhìn thật kỹ đi” .

Trời đất! Sao lại có tấm hình quái quỉ này, tao tự hỏi trong đầu.

“Tôi biết ông yêu vợ tôi đến lú lẫn. Cũng tốt thôi. Nhưng điều tôi không muốn là hình ảnh vợ tôi không được phép tồn tại trong cái đầu óc thối tha kia, không được bày ở vỉa hè như  một con bù nhìn bẹo chim thú. Ong có hiểu không? Tôi nghĩ ông nên uống một ly trong giờ phút hội ngộ kỳ quặc này”.

 

Tao tức điên người, đứng dậy đá văng chiếc bàn ra xa.

Và sau đó là một cõi thênh thang cho tao rong chơi, đi về. Có điều sau đó tao vừa khinh, vừa căm hận lại vừa yêu Thủy hơn bao giờ để chứng kiến gần như cuối cuộc đời sau này của nàng.

 

Vẫn đẹp lộng lẫy, kiêu kỳ trong cái đống đổ nát của gia đình, trong cái bi thương của nhan sắc và danh vọng… Thủy đã mang bán tất cả những gì có thể bán được cho đến cái cuôí cùng. Nàng cũng bắt đầu chạy chợ, lừa lọc, phỉnh phờ thiên hạ để kiếm từng xu, cho đến cái thân xác kia nàng cũng nhấn chìm xuống vũng đen nhầy nhụa…  Tao xót xa, thương hại nàng, nhưng tao không thể làm gì hơn được.

 

Ngô bật khóc tức tưởi, nghẹn ngào. Cả thân thể co rúm lại, đau đớn tột cùng. Tôi ôm đầu nghĩ mông lung trăm chuyện nhân gian, cho tới khi Ngô nói: “thôi tao đi”, ngẩng lên chỉ thấy bức tranh trên tường lay động dữ dội. Những con thú chạy bổ vào tôi, dằn xé rách toạt da thịt máu me trước giọng cười the thé của bầy sói mang trăm mặt con mụ đàn bà kia.

Căn phòng hoàn toàn im vắng.

Và hình như... Tôi cầm chai rượu lên... Hình như nó vẫn còn nguyên như khi tôi lục tủ mang ra cho Ngô?.

4/7/2008

Nguyễn Lệ Uyên

Theo https://www.vanchuongviet.org/

  Người đàn bà với ý nghĩ nhiều hơn thời gian đã nghĩ “Câu thơ một chữ cái Câu thơ bắt nhịp nỗi buồn” (Một ngày trái mùa xuân – Trần Thị...