Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2026

XXXXX"Lửa từ bi" trên hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương

"Lửa từ bi" trên hành trình thơ
của Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương xuất hiện trên thi đàn sau khi những tên tuổi lớn của Phong trào Thơ mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu… đã đi qua thời đỉnh cao. Ông xuất hiện với một giọng thơ lạ: vừa cổ kính xưa cũ vừa hiện đại đến táo bạo; vừa thanh cao phiêu dật vừa nhục thể đến trần trụi rã rời…

Ông tự nhận và cũng được không ít người xưng tụng là “Ông hoàng thơ ca”, bậc “Thi vương” (Hoàng Chương), “Thi bá”… Trước 1945 ông có Thơ say (1940), Mây (1943). Trong kháng chiến ông có Thơ lửa (1948), Rừng phong (1954). Sau 1954 ông có Hoa đăng (1959), Trời một phương (1962), Lửa từ bi (1963), Ánh trăng đạo lý (1966), Bút nở hoa đàm (1967), Cành mai trắng mộng (1968), Ngồi quán (1971), Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973)…

Dõi theo hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương ta thấy có nhiều thay đổi, trong đó có khúc quanh quan trọng là việc cho ra đời tập thơ Lửa từ bi – một tập thơ được viết ra từ ánh sáng ngọn lửa tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức trong cuộc đấu tranh vì tự do, hòa bình, vì Phật pháp và vì dân tộc.

1. VŨ HOÀNG CHƯƠNG TỪ “THƠ SAY” ĐẾN “LỬA TỪ BI”

Từ Say (Thơ say) đến Mộng (Mây)

Vũ Hoàng Chương xuất hiện với những vần thơ say – có cái say từ thiên cổ theo kiểu “túy hậu cuồng ngâm”, say để phát lộ tính tình, nhưng cũng có cái say của thời hiện đại, ở những đô thị mới mẻ, náo nhiệt mà cũng không thiếu trụy lạc của thời thực dân. Bài thơ Say đi em mở đầu tập Thơ say là bài thơ mang nhịp điệu mới mẻ ấy. Người thơ say nhạc, say khiêu vũ, say rượu và say với giai nhân:

Khúc nhạc hồng êm ái

Điệu kèn biếc quay cuồng.

Một trời phấn hương

Đôi người gió sương

(…) Âm ba gờn gợn nhỏ,

Ánh sáng phai phai dần…

Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân,

Lui đôi vai, tiến đôi chân:

Riết đôi tay, ngả đôi thân,

Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió,

Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,

Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!

Say để quên đi mối Sầu – một mối Sầu nào đó người thơ không nói rõ, nhưng cơ hồ lớn lắm, như bức thành sừng sững mà cái say rã rời cũng không làm cho nó sụp đổ được:

Say đi em! Say đi em!

Say cho lơi lả ánh đèn,

Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt

Rượu, rượu nữa và quên, quên hết!

(…) Chân rã rời

Quay cuồng chi được nữa,

Gối mỏi gân rơi!

Trong men cháy giác quan vừa bén lửa.

Say không còn biết cho đời,

Nhưng em ơi,

Đất trời nghiêng ngửa

Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ

Đất trời nghiêng ngửa,

Thành Sầu không sụp đổ, em ơi! (1)

Bài Say đi em mở đầu tập thơ mà như bài tựa, nó gồm thâu hết cái say trong cả tập thơ. Ẩn chứa sau cái say ấy là mối sầu vạn cổ như trong thơ xưa, mà cũng pha chút đắng cay thân phận của một người dân thuộc địa.

Người thơ sẽ nói rõ hơn, thảm hại hơn về cái thân phận ấy ở nhiều bài thơ sau, mà ấn tượng nhất là bài Phương xa:

Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa,

Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh,

Bể vô tận xá gì phương hướng nữa,

Thuyền ơi thuyền! theo gió hãy lênh đênh.

Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ.

Một đôi người u uất nỗi bơ vơ,

Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,

Thuyền ơi thuyền! xin ghé bến hoang sơ.

Thế nhưng nhổ thuyền đi đâu, trốn ở bến bờ nào được? Người trốn vào ái tình bẽ bàng với những cô gái môi nâu vì thuốc phiện:

Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,

Sát gần đây, gần nữa cặp môi nâu

(…) Hãy buông lại gần đây làn tóc rối

Sát gần đây, gần nữa cặp môi điên,

Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,

Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.

Quên (Thơ Say)

Trong những cơn say rượu và thuốc phiện, người thơ mơ trốn lên Thiên Thai, Đào Nguyên… nhưng động xưa đã khép, “Đào Nguyên lạc lối” không tìm được nữa! Người tìm vào những mối tình học trò với những U tình, Cánh buồm trắng, Vườn tâm sự, Em là công chúa… Nhưng tình học trò dù có thiết tha đến mấy dường như cũng quá nhạt với người! Người tìm vào những giấc mộng tình yêu với hồ ly, gái liêu trai… với phức cảm vừa rùng rợn lại vừa đắm say:

Gạn giấc chiêm bao với mảnh hình

Tóc xòa buông rủ mái tròn xinh.

Hoa mai thêu trắng nền xiêm lụa,

Đôi mắt ngời sao miệng đẫm tình.

Lòng cháy yêu đương tự bấy giờ,

Sá chi người thực với trong mơ!

… Đêm đêm ảo ảnh thơm chăn gối,

Tình hướng về Đông, dạ lắng chờ.

Tình Liêu Trai (Mây)

Thế nhưng Tình Liêu Trai cũng chỉ Mộng. Đôi khi người sực tỉnh, một niềm xót xa thân phận và một niềm khao khát hành động lại ùa về:

Ôi! Lòng ta sao buồn không nguôi?

Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi.

Há vì cơm áo chẳng no lành?

Há vì đời không ai mắt xanh?

Nhớ thuở xưa chưa có ta hề đường đi thênh thênh

Kịp tới khi có ta hề chông gai mông mênh.

Cuồng vọng cả mà thôi, bốn phương hề vướng mắc.

Ba mươi năm trên vai hề trống không bình sinh…

Túy hậu cuồng ngâm

Bài thơ Túy hậu cuồng ngâm cuối tập thơ Mây có một giọng khác lạ so với những bài thơ trước, nhưng theo tôi nó vẫn là một phần máu thịt trong hồn thơ Vũ Hoàng Chương. Bài thơ như một sự tỉnh mộng, nhưng từ một góc nhìn khác lại cũng là chìm vào giấc mộng: giấc mộng hành động, giấc mộng anh hùng!

Từ Mộng đến với Hành động và Sân hận

Từ Vũ Hoàng Chương của Túy hậu cuồng ngâm đến Vũ Hoàng Chương của Thơ lửa do Hội Văn hóa Liên khu 3 ấn hành 1948 thì gần lắm rồi, chỉ một bước chân qua bên kia là “Vùng tự do” (vùng kháng chiến) là tới. Như chính Vũ Hoàng Chương bộc bạch: “Tự biết mình là một người dân vong quốc, tôi rất kính trọng Kháng chiến và cảm phục Cách mạng. Sự cảm phục và kính trọng này đã khiến cho tôi giác ngộ được phần nào, và tự hứa sẽ tích cực tham dự công cuộc chung của nhân dân do Hồ Chủ tịch lãnh đạo”(2).

Trong kháng chiến, Vũ Hoàng Chương chuyển hướng thành một nhà thơ ái quốc nhiệt thành và say mê hành động, như chính trong văn bản trên, ông đã kể về những hoạt động của mình:

“- đã viết được vở kịch thơ Hồn Cách mạng, diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội (1946)

 – đã được giải thưởng thứ 3 về thơ Toàn quốc kháng chiến, do đích thân Hồ Chủ tịch làm chủ khảo (1947)

– đã được hội Văn hóa Liên khu 3 ấn hành cho tập thơ kháng chiến nhan đề Thơ lửa (1948)

– đã viết đều ở báo Công Dân tại tỉnh Nam Định (1947, 48)…

– đã được bầu làm trưởng nhánh Văn chương Báo chí của hội Văn nghệ chi nhánh Liên khu 3 (1948)…”(3).

Vì thế chúng ta không hề ngạc nhiên khi đọc bài thơ Nhớ về Hà Nội vàng son của ông viết năm 1947 – bài thơ có một giọng điệu trong sáng, hào hứng hiếm có. Theo tôi, đây là một trong những bài thơ hay nhất viết về Cách mạng tháng Tám:

Ôi ngày mười chín, ngày oanh liệt!

Sóng đỏ hoa vàng khắp bốn phương

Hà Nội tiếng reo hò bất tuyệt

Vang sang bờ nọ Thái Bình Dương.

Ba mươi sáu phố, ngày hôm ấy

Là những nhành sông đỏ sóng cờ

Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại

Năm cánh hoa xoè trên năm cửa ô (…) 

Chen tiếng hoan hô, này khẩu hiệu

Muôn năm Chủ tịch Hồ Chí Minh!

Muôn năm người lính già tiêu biểu

Vì giang sơn quyết bỏ gia đình.

Ôi ngày mười chín, ngày sung sướng!

Vạn ước mong dồn một ước mong!

Ôi mùa thi ấy, mùa tin tưởng!

Một tấm lòng mang vạn tấm lòng (…) 

Thế nhưng rồi Vũ Hoàng Chương lại đi đến một khúc quanh khác: năm 1950, ông bỏ về Hà Nội, rồi từ Hà Nội ông di cư vào Nam năm 1954. Thơ Vũ Hoàng Chương từ sau 1954 là nỗi hoài niệm về Hà Nội, về quê hương miền Bắc. Được chiều chuộng trong không gian văn nghệ bên kia bờ Hiền Lương, ông trượt đi trong nghịch cảnh. Với những tập Hoa đăng (1959), Trời một phương (1962)… thơ ông mang nặng nỗi niềm u uất và cả sân hận… Đọc những bài thơ như Bài ca Bình Bắc, Nhớ Thăng Long, Từ đây, Nhớ Bắc… người ta thấy rất nhiều ảo tưởng, rất nhiều hoang tưởng và nhất là rất nhiều sân hận. Nhưng mà thôi, với thi sĩ thì nói đến sân hận làm gì! Nguyễn Du chẳng đã từng nhắc chúng ta: “Thân tàn gạn đục khơi trong/ Là nhờ quân tử khác lòng người ta”?…

2. ĐẾN VỚI TỈNH THỨC, TÌNH YÊU TRONG “LỬA TỪ BI”

Chế độ Ngô Đình Diệm đã không đem lại tự do, hòa bình, thống nhất như có thời Vũ Hoàng Chương từng ảo tưởng. Chế độ ấy thi hành chính sách kỳ thị tôn giáo, cấm đoán Phật giáo – một tôn giáo thân thiết gắn bó với dân tộc hơn nghìn năm nay. Chế độ ấy mở cửa đất nước cho quân đội ngoại bang vào dày xéo quê hương. Hòa bình, thống nhất trở nên xa vời, thảm họa của cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử dân tộc đang đến rất gần… Ngày 11 tháng 6 năm 1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Hòa thượng bình thản ngồi trong khối lửa, nhưng cả thế giới thì rúng động trước sức nóng của khối lửa ấy.

Trong bối cảnh ấy, Vũ Hoàng Chương đã nhận ra bộ mặt thật của chế độ và nghịch cảnh của dân tộc, nhà thơ đã đi đến một khúc quanh mới: ông từ bỏ những vọng tưởng và sân hận mà thức tỉnh đi đến với Tình yêu – tình yêu Tự do, Hòa bình, tình Anh em và tình Nhân loại. Bài thơ Lửa từ bi và cả tập thơ cùng tên là minh chứng cho khúc quanh đó.

Vũ Hoàng Chương cũng xác quyết về khúc quanh này trong Lời tựa tập Lửa từ bi: “Những bài thơ trong tập này nhằm ghi lại một nguồn cảm hứng mới của tác giả, khơi dậy trong lòng cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ Việt Nam, khoảng năm 2.507 Phật lịch (từ 15 tháng Tư đến 15 tháng Chín), tức là năm 1963 d.l.”(4).

Trong không khí đàn áp Phật giáo khốc liệt của năm 1963, bài thơ Lửa từ bi đã ra đời một cách khó khăn. Lúc đầu bài thơ bị tòa báo từ chối, sau nó được in dạng quay ronéo như truyền đơn, và sau đó mới được xuất bản trong tập thơ Lửa từ bi cùng 14 bài thơ khác. Tác giả kể: “Bài Lửa từ bi gửi đăng nhật báo Tự do Saigon ngày 28/7/63 bị kiểm duyệt bỏ trọn, đã được văn phòng Chùa Xá Lợi, ngay sau đó, quay thành những bản “Ronéo” và phổ biến nhân ngày Chung thất của Bồ Tát Quảng Đức. Bài Người với người được đăng trên nhật báo Tự do ngày 18/8/63 chỉ bị kiểm duyệt bỏ 10 chữ. Sau đấy, Chùa Xá Lợi bị cường quyền xâm phạm, nhật báo Tự do cũng bị đình bản, tác giả không còn phương tiện nào khác để phổ biến thơ của mình ngoài cách truyền tay trong số các bạn thân tín”(5).

Tập thơ được xuất bản, nhưng không phải bởi một nhà xuất bản có uy tín nào, mà do Đoàn Thanh niên tăng ni – một tổ chức đấu tranh cho Phật giáo đứng ra in. Giấy in xấu, bìa vẽ vội, xuất bản rất nhanh – chỉ 3 tháng sau khi Hòa thượng chịu pháp nạn: tháng 9 năm 1963. Thế nhưng tập thơ này lại trở thành tập thơ hay nhất của Vũ Hoàng Chương sau Thơ say. 

Bài thơ bắt đầu bằng cảnh tượng Hòa Thượng Thích Quảng Đức tọa thiền trong tòa sen lửa. Ngọn lửa thì ngùn ngụt bốc lên, còn chúng sinh với xác phàm và tâm trần khổ đau thì quỳ xuống. Ngọn lửa của Hòa thượng cháy lên thành một mặt trời thứ hai:

Lửa! lửa cháy ngất tòa sen!

tám chín phương nhục thể trần tâm

hiện thành THƠ, quỳ cả xuống.

Hai Vầng – Sáng rưng rưng

Đông Tây nhoà lệ ngọc

chắp tay đón một Mặt-trời-mới-mọc,

ánh Đạo – Vàng phơi phới

đang bừng lên, dâng lên(6)

Hòa thượng thiêu mình không phải bằng cái tâm sân hận, mà Người tận hiến cuộc sống của mình từ tình thương và lòng từ bi: 

Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,

NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày

bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây;

gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ,

Phật – pháp chẳng rời tay.

Sáu ngả Luân – hồi đâu đó

mang mang cùng nín thở,

tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh – xe – quay.

Ngọn lửa từ nhục thân của Hòa thượng ngùn ngụt cháy, nhưng ngọn lửa ấy không phải lan ra thành bão lửa, mà ngọn lửa đưa Hòa thượng lên Niết bàn và để lại bóng mát cho chúng sinh:

Không khí vặn mình theo

khóc oà lên nổi gió;

NGƯỜI siêu thăng

giông bão lắng từ đây.

Bóng NGƯỜI vượt chín tầng mây,

nhân gian mát rợi bóng cây Bồ – đề.

Hòa thượng trở thành bất tử – bất tử mà không cần ngọc đá để tạc tượng, không cần lụa tre của người viết sử làm thơ:

Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc;

lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi;  

chỗ NGƯỜI ngồi: một thiên – thu – tuyệt – tác

trong vô hình sáng chói nét Từ – Bi.

Vì ngọc đá lụa tre của trần gian vẫn có ngày mục nát, nhưng trái tim yêu thương của Hòa thượng thì vĩnh cửu, tỏa ánh sáng từ bi xuống tận tầng đáy sâu nhất của hỏa ngục – nơi con người bị đọa đày: 

Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?

ngọc đá cũng thành tro

lụa tre dần mục nát

với Thời – gian lê vết máu qua đi.

Còn mãi chứ! còn Trái – Tim – Bồ – Tát

gội hào quang xuống tận ngục A – tỳ.

Trước ngọn lửa từ bi ấy, nhà thơ đại ngộ: từ vô minh mà đến tỉnh thức. Những kiêu căng, ngông nghênh của một “thi vương”, “thi bá” trần hoàn cũng hết, nhà thơ chỉ coi thơ là rơm rác trước ánh lửa kia, và rồi lại mong thơ mình là rơm rạ để cháy lên theo lời kinh:

Ôi Ngọn – lửa – huyền – vi!

thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác

từ cõi Vô – minh

hướng về Cực – lạc;  

vần điệu của Thi – nhân chỉ còn là rơm rác

và chỉ nguyện được là rơm rác,

THƠ cháy lên theo với lời Kinh

tụng cho Nhân – loại hoà bình

trước sau bền vững tình Huynh – đệ này.

Thơ Vũ Hoàng Chương cháy lên từ đó, cháy lên để soi đường đi đến với Tình yêu – tình yêu Tự do, Hòa bình, tình Anh em và tình Nhân loại:

Thổn thức nghe lòng trái Đất

mong thành quả Phúc về cây;

nam mô Bổn – Sư Thích – Ca – Mâu – Ni – Phật;

đồng loại chúng con

nắm tay nhau tràn nước mắt,

tình thương hiện Tháp – Chín – Tầng xây.

Bài thơ có sức truyền cảm mạnh mẽ. Ngay sau đó nó được truyền ra nước ngoài. Với uy tín của mình, Vũ Hoàng Chương đã kêu gọi giới trí thức quốc tế chú ý đến cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Tác giả kể:

“Riêng 2 bài Lửa từ bi và Người với người đã gửi sang Âu châu ngay sau lúc sáng tác nên nữ thi sĩ Bỉ quốc Simone Kuhnen de la Cœuillerie đã dịch Pháp ngữ để kịp thời đệ trình lên Hội nghị thi ca quốc tế họp tại Knokke từ 5 đến 9 tháng 9/63. Tác giả cũng đích thân gửi thư yêu cầu Hội nghị chú trọng đến cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ tại Việt Nam. Thi sĩ Pierre – Louis Flouquet, nhân danh Phó chủ tịch, đã thỏa mãn lời yêu cầu này. Hai bản dịch (Feu de Sacrifice và D’homme à homme) đã được giới thiệu với các đại biểu của 50 quốc gia. Một đoạn trong bài thứ nhất được ngâm lên giữa Hội nghị, đó là đoạn:

Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?

Ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát

Với Thời-gian lê vết máu qua đi.

Còn mãi chứ! còn TRÁI TIM BỒ TÁT

Gội hào quang xuống tận ngục A – Tỳ”(7)

Từ sau tập Lửa từ bi, trong thơ Vũ Hoàng Chương những chán chường, khổ đau, mộng mị như trong Thơ Say và Mây cũng hết; những ảo tưởng, hoang tưởng và sân hận trong Hoa đăng, Trời một phương cũng không còn, thơ ông như đến với một cảnh giới khác: tràn đầy yêu thương, tràn đầy tình huynh đệ, tràn đầy hỉ xả, và cả lạc quan. Đọc tên các tập thơ sau Lửa từ bi cũng thấy được phần nào: Ánh trăng đạo lý (1966), Bút nở hoa đàm (1967), Cành mai trắng mộng (1968), v.v… Ông bắt đầu cách ly mình với chính quyền thân Mỹ. Năm 1966 khi đang làm chủ tịch Hội văn bút(8), ông đã từ chối tham gia hội nghị về thơ tổ chức ở New York để phản đối Mỹ và chính quyền bù nhìn – như ông viết: “Năm 1966, hội nghị ở Mỹ (New York) nhưng tôi không đi, và đã cử Tổng thư ký đi thay làm trưởng phái đoàn. Vì tôi ghét bọn Mỹ Thiệu và Kỳ lúc đó đang đàn áp Phật giáo ở Đà Nẵng, Sài Gòn”(9).

Con đường thơ của Vũ Hoàng Chương trải qua những tháng ngày buồn tủi, khốc liệt nhất của dân tộc. Vũ Hoàng Chương là một thiên tài thơ Việt Nam hiện đại, một thiên tài thơ chịu lắm thăng trầm. Dường như chúng ta vẫn nhìn ông với con mắt định kiến mà không biết ông đã trải qua một hành trình gian khổ từ Thơ Say, Mây đến Thơ lửa; rồi từ Hoa đăng, Trời một phương đến với Lửa từ bi… một hành trình tự lột xác mình. Chúng ta chưa đánh giá hết bước chuyển mình của Vũ Hoàng Chương từ tập Lửa từ bi cũng như chưa đánh giá hết vị trí lịch sử của tập thơ này với văn học Việt Nam hiện đại. Tôi xin trích một đoạn đánh giá về tập thơ này trong Lời giới thiệu của Nhà xuất bản Rừng Trúc khi ấn hành thơ Vũ Hoàng Chương ở Paris:

“Phải nhận rằng ngàn-chín-trăm-sáu-ba đánh dấu sự chuyển mình lớn của văn học Việt Nam trong giai đoạn mới của sử tính. Dường như chúng ta vừa trở về tổ ấm, vừa nắm bắt vũ khí sở trường chôn lâu trong hoen rỉ và lãng quên để trang bị tri thức và tâm linh mình. Không có vũ khí tinh thần này, chúng ta chẳng còn là ta nữa.

Bài Lửa từ bi của Vũ Hoàng Chương đã thực đánh dấu cho sự chuyển mình đó. Nó bộc lộ đủ một phong triều văn học mới, dựng trên Bao dung và Trí tuệ. Bởi nó ánh được Ngọn lửa tỉnh thức. Bởi nó đã dùng lời Việt nói ra sự chấn động ầm ầm của lương tâm quốc tế”(10).

Bài thơ là một khúc quanh của một nhà thơ, đánh dấu một khúc quanh của một nền văn học(11). Nó thực sự cần có một chỗ đứng xứng đáng hơn trong các tuyển tập, trong các bộ lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Và tác giả của bài thơ cũng vậy. 

Chú thích:

(1) Vũ Hoàng Chương: Say đi em, in trong Thơ say, Mây. Nxb. Hội Nhà văn, H., 1996. Các bài dưới đây đều theo sách này.

(2) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.

(3) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.

(4) Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xb, Sài Gòn, 1963.

(5) Bài tựa tập Lửa từ bi, Sđd.

(6) Theo bản in Lửa từ bi trong tập thơ Chúng ta mất hết chỉ còn nhau, thơ Vũ Hoàng Chương, Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974.

(7) Bài tựa tập Lửa từ bi, Sđd.

(8) Vũ Hoàng Chương làm Chủ tịch Hội Văn bút (Pen club) từ 1964-1968.

(9) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.

(10) Lời tựa tập Chúng ta mất hết chỉ còn nhau. Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974.

(11) Các tập thơ của Vũ Hoàng Chương: Thơ Say (tác giả xuất bản, 1940; Nxb. Hội Nhà văn tái bản, 1995), Mây (Đời Nay xb, 1943, Nxb. Hội Nhà văn tái bản, 1995), Kịch thơ Trương Chi (tập kịch thơ, gồm 3 vở: Trương Chi, Vân Muội, Hồng Diệp, 1944, bản viết tay của tác giả), Cô gái ma (kịch thơ, 1944, bản viết tay của tác giả), Rừng phong (P.Văn Tươi xb, Sài Gòn, 1954), Hoa đăng (Văn hữu Á châu xb, Sài Gòn, 1959), Tâm sự kẻ sang Tần (kịch thơ, công diễn lần đầu ở H., 1951, 1961, bản chép tay của tác giả), Trời một phương (tác giả xuất bản, 1962), Lửa từ bi (Đoàn Thanh niên tăng ni xb, SG, 1963), Poèmes Choisis (thi tuyển, Versions Francaises de Simone Kuhnen de la Coeuillerie; Préface de André Guimbretiere; Editions Nguyen Khang, Sai Gon, 1963), Ánh trăng đạo lý (Nha Tuyên úy Phật giáo ấn hành, 1966), Cành mai trắng mộng (1968), Ngồi quán (Lửa thiêng xb, Sài Gòn, 1971), Đời vắng em rồi say với ai (1971), Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974), Ta đã làm chi đời ta (hồi ký, 1974) và một số di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.

– Xin xem: Hoài Thanh – Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, tái bản. Nxb. Văn học, H., 1998.

– Nhiều tác giả: Từ điển văn học (bộ mới). Nxb. Thế giới, H., 2004.

PHỤ LỤC

Lửa từ bi

Kính dâng lên Bồ-tát Quảng-Đức

Lửa! lửa cháy ngất tòa sen!

tám chín phương nhục thể trần tâm

hiện thành THƠ, quỳ cả xuống.

Hai Vầng-Sáng rưng rưng

Đông Tây nhoà lệ ngọc

chắp tay đón một Mặt-trời-mới-mọc,

ánh Đạo-Vàng phơi phới

đang bừng lên, dâng lên

Ôi, đích thực hôm nay trời có mặt;

giờ là giờ Hoàng-đạo nguy nga!

Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt

nhìn nhau: tình Huynh-đệ bao la.

Nam mô Đức-Phật-Di-Đà,

Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay?

Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,

NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày

bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây;

gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ,

Phật-pháp chẳng rời tay.

Sáu ngả Luân-hồi đâu đó

mang mang cùng nín thở,

tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh-xe-quay.

Không khí vặn mình theo

khóc oà lên nổi gió;

NGƯỜI siêu thăng

giông bão lắng từ đây.

Bóng NGƯỜI vượt chín tầng mây,

nhân gian mát rợi bóng cây Bồ-đề.

Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc;

lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi;

chỗ NGƯỜI ngồi: một thiên-thu-tuyệt-tác

trong vô hình sáng chói nét Từ-Bi.

Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?

ngọc đá cũng thành tro

lụa tre dần mục nát

với Thời-gian lê vết máu qua đi.

Còn mãi chứ! còn Trái-Tim-Bồ-Tát

gội hào quang xuống tận ngục A-tỳ. 

Ôi Ngọn-lửa-huyền-vi!

thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác

từ cõi Vô-minh

hướng về Cực-lạc;

vần điệu của Thi-nhân chỉ còn là rơm rác

và chỉ nguyện được là rơm rác,

THƠ cháy lên theo với lời Kinh

tụng cho Nhân-loại hoà bình

trước sau bền vững tình Huynh-đệ này.

Thổn thức nghe lòng trái Đất

mong thành quả Phúc về cây;

nam mô Bổn-Sư Thích-Ca-Mâu-Ni-Phật(1);

đồng loại chúng con

nắm tay nhau tràn nước mắt,

tình thương hiện Tháp-Chín-Tầng xây.

Saigon tháng 5, P.l. 2507

(T.l. tháng 6, 1963)(2)

Vũ Hoàng Chương

(Chép lại chính xác theo tập thơ Chúng ta mất hết chỉ còn nhau, thơ Vũ Hoàng Chương, Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974)

Chú thích:

(1) Bản trong tập Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xuất bản, Saigon, 1963 viết là “Nam mô Thích-Ca-Mầu-Ni-Phật” (không có “Bổn-sư” và không phải “Mâu-Ni”)

(2) Bản trong tập Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xuất bản, Saigon, 1963 viết là: “Khởi viết từ ngày 11-6-63, xong ngày 15-7-63 tại Saigon”

31/10/2022

Đoàn Lê Giang

Theo https://vanvn.vn/

Trần Huyền Trân thi sĩ nghiêm túc qua từng lời thơ

Trần Huyền Trân thi sĩ
nghiêm túc qua từng lời thơ

Trong phong trào Thơ mới, Trần Huyền Trân từng làm quản lý báo Bắc Hà, có thơ in trên báo Phụ nữ thời đàm, Ngọ báo, Ích Hữu, Tao đàn…

Thi sĩ, nhà văn, nhà hoạt động sân khấu Trần Huyền Trân, tên thật là Trần Đình Kim (13.9.1913 – 22.4.1989), còn có các bút danh Trần Kim, Bình Minh, Lê Dân, Trần Thế, Cô Vân Anh; sinh tại Hà Nội, quê gốc ở huyện Ân Thi (Hưng Yên).

Một thời Trần Huyền Trân cùng Thâm Tâm, Nguyễn Bính kết thành nhóm Tam Anh ở gần Cống Trắng, trong căn nhà lều vó được gọi cho sang thành gác Sơn Nam và nhóm thơ Cống Trắng.

Trong phong trào Thơ mới, ông từng làm quản lý báo Bắc Hà, có thơ in trên các báo Phụ nữ thời đàm, Ngọ báo, Tiểu thuyết thứ Bảy, Ích Hữu, Tao đàn, Phổ thông bán nguyệt san…

Mặc dù chưa in thành tập nhưng tiếng thơ Trần Huyền Trân thực sự có sắc thái riêng, nhận được sự quan tâm của nhiều văn nhân đương thời như Lê Tràng Kiều, Trương Tửu, Mộc Khuê (Kiều Thanh Quế), Lương Đức Thiệp, Diệu Anh (Đinh Gia Trinh), Vũ Bội Liêu, Lê Huy Vân, Vũ Ngọc Phan, Trần Trọng Biên và được Hoài Thanh – Hoài Chân ghi nhận như một biệt lệ trong Thi nhân Việt Nam (1932-1941)…

Dung dị qua những vần thơ

Trong công trình Ba mươi năm văn học (NXB Tân Việt, H., 1941), có ý nghĩa tổng kết một giai đoạn văn học, nhà phê bình Mộc Khuê Kiều Thanh Quế (1913-1947) xác định: “Làng thơ mới (mới lẫn cũ) của văn học quốc ngữ trong vòng mười năm nay đếm được […].

Ngoài ra, văn học quốc ngữ còn đếm được nhiều thi sĩ tuy chưa có tác phẩm ra đời, nhưng tài năng đã phát huy rõ rệt trên các báo chí: Thái Can, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân với những vần cổ kính; Phan Khắc Khoan với những “vần Huy Thông” rất trầm hùng”…

Trong bộ sách đại thành Thi nhân Việt Nam (Nguyễn Đức Phiên Xb, Huế, 1942), hai nhà phê bình Hoài Thanh – Hoài Chân đã biệt đãi và trân trọng vinh danh tiếng thơ Trần Huyền Trân: “Sinh ngày 13 septembre 1913 ở Hà Nội. Tự học ở Hà Nội. Hiện viết giúp: Tiểu thuyết thứ Bảy, Truyền bá, Phổ thông bán nguyệt san…

Viết đến đây tôi đã định khép cửa lại, dầu có thiên tài đến gõ cũng không mở. Thế mà lại phải mở cửa để đón một nhà thơ nữa: Trần Huyền Trân. Trần Huyền Trân, con người có tên lạ ấy, không phải là một thiên tài. Nhưng tôi ưa những vần thơ hiền lành và ít nói yêu đương. Cũng có lần thi nhân tả tình tương tư:

Xa nhau gió ít lạnh nhiều,

Lửa khuya tàn chậm, mưa chiều

đổ nhanh.

Nhưng thường thì Huyền Trân tìm thi hứng, hoặc trong những cảnh đời buồn bã như cảnh đời cùng của thi sĩ Tản Đà:

Có đàn con trẻ nheo nheo,

Có dăm món nợ eo sèo bên tai.

Chừng lâu rượu chẳng về chai,

Nhện giăng giá bút một vài đường tơ.

Nghiên son lớp lớp bụi mờ,

Mọt ôn tờ lại từng từ cổ thi.

hoặc trong cảnh đồng quê:

Mặt trời say rượu tắm ven đông

Nước thẹn bâng khuâng ửng má hồng.

Bầy sẻ đâu về cười khúc khích

Rủ nhau lúa chín trộm vài bông.

Đồng quê của Huyền Trân đã mất hết vẻ quê mùa. Nó làm duyên làm dáng như một cô gái thành thị. Huyền Trân ưa nhất là nói tình mẹ con. Người gợi cái hình ảnh Phạm Ngũ Lão sau khi dẹp giặc Nguyên. Đêm ấy tiệc khao quân vừa tan. Ai nấy đều yên ngủ. Cho đến chiến mã cũng:

Đuôi mừng phủi sạch bụi binh đao.

Giữa lúc ấy Phạm Ngũ Lão một mình ngồi trong trướng, lòng băn khoăn

nhớ mẹ:

Binh thư ngừng giở, bào quên cởi,

Đèn nhớ mong ai bấc lụi dần.

Thế rồi tướng quân quất ngựa tìm

về chốn:

Nằm ôm gốc gạo lều dăm mái

Cánh liếp che sương hé đợi chờ.

Than ôi! Tướng quân về tới nơi thì mẹ già không còn nữa.

Thơ Huyền Trân không xuất sắc lắm. Nhưng sau khi đọc hoài những câu rặt anh anh em em tôi đã tìm thấy ở đây cái thú của người đi đổi gió”.

Đa dạng trong sáng tác

Trên phương diện sáng tác, Trần Trọng Biên có bài Khúc hát quá quan (Bài thơ thứ nhất trả lời Độc hành ca của Trần Huyền Trân) dài 50 câu, trong đó có bốn câu mở đầu: “Cố nhân! Ới hỡi người xưa,/Dọn đi Tâm sự đẩy mưa về rừng”./Đến đây chim hót vang lừng,/Vi vu tiếng gió, vô chừng nước mây”, và đến câu kết: Gió lên phơi phới mây trời,/Con chim Minh Nguyệt hót ngoài không trung,/ Lửa chài hiu hắt ven sông,/Bâng khuâng tưởng tiếng chuông đồng ngàn xưa (Tiểu thuyết thứ Bảy, số 454, ra ngày 27/3/1943, tr.8).

Rồi qua năm sau, trong bài điểm sách Nhân đọc Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh – Hoài Chân, nhà phê bình xuất sắc phương Nam Kiều Thanh Quế đã nhìn nhận hình thức nghệ thuật câu thơ Trần Huyền Trân trong tương quan thơ Bích Khê, Hàn Mặc Tử và đi sâu phân tích và so sánh ngôn từ nghệ thuật thơ Trần Huyền Trân với thơ Pháp:

“Đến Bích Khuê mà Hàn Mặc Tử hết lời khen tặng trong bài tựa tập Tinh huyết, tôi rất lấy làm lạ sao tác giả Thi nhân Việt Nam, đã viết được những trang thật giá trị (Xem “Một thời đại trong thi ca” trong Thi nhân Việt Nam, tr.9-55), lại cũng thiếu sáng suốt như Hàn Mặc Tử mà bảo rằng: “Tôi đã gặp trong Tinh huyết (của Bích Khê) những câu hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam.

Ô! hay buồn vương cây ngô đồng,

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông

Hai câu ấy có hay vào bậc nhất không, khỏi nói tất ai cũng biết nó may ra chỉ đọc nghe được mà thôi.

Đã hết đâu! Đối với bài Duy tân tác giả Thi nhân Việt Nam, còn dám bảo: “Tôi đã đọc không biết mấy chục lần bài Duy tân. Tôi thấy trong đó những câu thật đẹp”. Xin tìm một vài câu thật đẹp ấy:

… Vì hình dung những sắc mát non tơ,

Như mặt trời lọc qua khóm liễu, một

Hoàng hôn…

Trong ba câu thơ ấy, tôi thấy Bích Khê làm một cái liên cước (enjambement) sai luật thơ Pháp. Theo luật thơ Pháp, phàm muốn làm liên cước, người ta chỉ được phép nối liền câu thơ trên với câu dưới bằng một động từ (verbe) với một túc từ (conplément), hay bằng một chủ từ (sujet) với một động từ, như trong hai câu thơ này của Trần Huyền Trân:

Tôi nghe xa lắm làn mây trắng,

Rời bóng kinh thành lững thững đi.

(Giao thừa)

Cái liên cước của Bích Khê lại nối liền một quán từ (article) với một danh từ (nom): Chữ một trong câu thứ hai là quán từ nối liền với hoàng hôn trong câu kế là danh từ. Rõ ràng Bích Khê không hiểu luật thơ!

Thơ của Bích Khê, Hàn Mặc Tử đầy tưởng tượng. Nhưng các hình tượng, do óc tưởng tượng của hai ông tạo ra, rời rạc, vấp váp và rơi như lá vàng buổi chiều thu!” (Tri tân, số 134, tháng 3/1944)…

Đến đây xin nói thêm, đương thời phong trào Thơ mới (1932-1945), Trần Huyền Trân còn viết tới bốn tiểu thuyết nữa. Diệu Anh Đinh Gia Trinh trong bài Những hoạt động văn chương Việt Nam trong năm qua đã điểm danh: “Làm sống lại tâm hồn những thời xưa và phân tích những cảm xúc và trạng thái tâm lý khéo léo thì có mấy nhà văn thuộc về một văn đoàn khác: Ông Lưu Trọng Lư, ông Trần Huyền Trân và ông Nguyễn Xuân Huy. Hai ông Lư và Huy trong năm nay không sản xuất mấy. Tác phẩm xuất bản gần đây của ông Trần Huyền Trân là quyển Tâm sự người kỹ nữ đã được nhiều độc giả chú ý” (Thanh nghị, số 10, tháng 3/1942)…

Trở lên là việc giới thiệu một vài nhận xét của người đương thời phong trào Thơ mới về thơ Trần Huyền Trân. Chúng tôi chủ ý chỉ tìm hiểu ý kiến của những người sống đồng thời với thời Thơ mới bàn về thơ Trần Huyền Trân bởi thấy rằng đó là nhận xét của người trong cuộc, trong khí quyển một thời, khi mà những đánh giá của họ còn trực diện, trực giác, tươi mới, chưa bị pha phách bởi những quan niệm thiên kiến ngoài văn chương hoặc do sự gián cách bởi thời gian như không ít trang bình luận, đánh giá ở giai đoạn sau này.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, cũng như nhiều tác gia Thơ mới khác, thơ Trần Huyền Trân cũng chuyển giọng nhập cuộc đời sống xã hội theo một lối khác và giới nghiên cứu, phê bình cũng xét đoán thơ ông theo những cung cách, tiêu chí và thước đo khác trước.

1/11/2022

La Nguyễn Hữu Sơn

Theo https://vanvn.vn/

"Tình già" của Phan Khôi là Thơ mới

"Tình già" của
Phan Khôi là Thơ mới?

Việt Nam đã có thơ mới sánh cùng với thơ mới của các nước Nhật Bản, Trung Hoa, Indonesia; khác nhau ở chỗ phong trào thơ mới dậy lên sớm hơn hoặc muộn hơn ba năm mà thôi. Còn các nước Thái Lan, Lào và Campuchia không có chuyện thơ mới bởi lẽ tình hình văn nghệ thiếu điều kiện phát triển.

Báo Phụ Nữ Tân Văn số 22 ra ngày 10.3.1932 đăng bài thơ Tình già của nhà nho tân tiến Phan Khôi (1887 – 1959). Khoảng hơn 8 tháng sau, tuần báo Phong Hóa đăng lại bài thơ dậy sóng ấy vào số báo Tết năm Quý Dậu, ngày 24.1.1933. Trước những chuyển biến của xã hội nước ta và nhất là tình hình văn nghệ tiến triển, bài Tình già được truyền tụng nhanh vì gây nên nhiều ấn tượng trong giới thanh niên trí thức thời bấy giờ.

I. Nguyên tác bài thơ và chú giải

TÌNH GIÀ

Hai mươi bốn năm xưa(1) một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ.
Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
– Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là, không đặng.
Để đến nỗi, tình trước phục sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau.
– Hay! mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ!
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng.
Mà tính việc thủy chung
Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi cái đầu đều bạc,
Nếu chẳng quen hung(2) đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc(3) đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi(4)

Lời kết thể hiện sắc nét thần thái của đôi tình nhân, tình cũ nghĩa xưa làm sao quên “được”, nhưng mà lấy nhau thì không “đặng”. Đây là thơ hay, hay vì ý và âm điệu làm rung cảm lòng người. Hèn gì mà Xuân Diệu vượt rào thay chữ để viết thành câu thơ “Yêu, là chết ở trong lòng một ít”(5).

Năm 1941,Vũ Ngọc Phan có vội lắm không khi sớm đưa ra nhận định: “Phan Khôi là người khởi xướng thơ mới trước nhất”(6). Xem chừng vượt đèn đỏ, cầm còi chạy trước ô tô! Phải xem mặt mới bắt được hình dung.

II. Vài nét về tiểu sử Phan Khôi

Phan Khôi sinh năm Đinh Hợi, 1887, lớn hơn Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu một tuổi. Ông mất năm 1960, thọ 73 tuổi trong cảnh ngộ khó khăn và ngặt nghèo. Có điều ai cũng cảm thương cho người tài danh với bút hiệu Chương Dân chết rồi mà mộ phần đã bị thất lạc nơi nào không hay biết.

Ông quê làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; đậu Tú tài khoa Bính Ngọ, 1906 tại trường thi Thừa Thiên, lúc 19 tuổi.
Trong quá trình làm báo, ông đã từng là Chủ bút báo Sông Hương từ cuối thập kỷ 30 đến đầu thập kỷ 40. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc; năm 1954 làm việc ở Hội Nhà văn Việt Nam tại Hà Nội.

Ông thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt. Ông nội đã từng giữ chứng Án sát dưới triều vua Đồng Khánh. Quan Án Phan Nhu sinh hạ Phó bảng Phan Trân là thân phụ của cụ Tú Phan Khôi. Mẹ ông là con gái của Tổng đốc Hoàng Diệu(7).

Đặc điểm của đời ông là sớm hưởng ứng tư tưởng canh tân, chuộng đổi mới theo chủ trương của phong trào Duy Tân. Năm 1908, Tú tài Phan Khôi trở thành bạn tù với cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ra tù năm 1911, ông cắt tóc ngắn, mặc âu phục, không màng ra làm quan, tôi luyện văn chương quốc ngữ và lại chịu khó học chữ Pháp để rộng đường giao thiệp và sớm tiếp thu văn hóa Âu Tây.

Kể từ năm 1917 đến năm 1945, ông chính thức bước qua ngưỡng cửa làng văn, làng báo. Từ đó là bệ phóng cho nhà văn Phan Khôi nghiễm nhiên trở thành nhà nghiên cứu, phê bình văn và dịch thuật một cách đĩnh đạc. Thơ văn của ông mang đậm dấu ấn bản chất con người xứ Quảng lịch lãm trường đời. Ông chẳng mấy thích làm thi sĩ bởi lẽ ông chỉ làm thơ khi thật cảm hứng(8) và tư chất ông hơi khe khắt theo tinh thần “quý hồ tinh bất quý hồ đa”, ông thẩm định và phê bình thơ với phong thái nghiêm cẩn, thâm sâu. Với Phan Khôi thi sĩ phải vượt xa, nhất thiết loại bỏ làm thơ theo lối thợ thơ. Đó là điểm khác biệt rạch ròi giữa ông Tú Khôi với nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu(9).

Ông phê bình văn học một cách khách quan, không khoan nhượng, không nể vì sửa lưng bất cứ ai viết sai lệch. Cả độc giả lẫn người đời đều quý trọng vì ông ngồi đúng chỗ với cương vị như “Ngự sử trên văn đàn”(10).

Cụ Tú Khôi sống và viết có lập trường chính kiến rõ rệt. Ông đã từng viết:

Cũng đành nhắm mắt không ân hận,
Nằm dưới mồ nghe khúc thái bình.
(Thăm Bộ đội)

Suốt một đời làm văn, làm báo, phê bình và nghiên cứu văn học, ông đã để lại bốn tác phẩm chính: Chương Dân thi thoại, Trở vỏ lửa ra(11), Việt ngữ nghiên cứu, Dịch Lỗ Tấn.

Nhận định về Phan Khôi, nhà nghiên cứu và phê bình Vũ Ngọc Phan phát hiện ra hai ưu điểm của ông qua bộ sách Nhà văn hiện đại, xuất bản năm 1942 như sau:

1. Văn ông có một giọng đặc biệt, dù trộn lẫn với văn ai cũng không thể lẫn được.

2. Phan Khôi mà đóng vai Ngự sử đoàn văn thì thật xứng đáng, vì không mấy người kiêm được điều kiện như ông.

III. Phong trào Thơ mới; thơ mới là gì?

Từ thơ cũ đến thơ mới thì tất yếu phải trải qua một quá trình phát triển. Sở dĩ ở phần sơ lược vể tiểu sử Phan Khôi ở phần II, chúng tôi đã lấy thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu để so sánh với nhà Nho tân tiến Phan Khôi. Học hành và khoa cử xưa đều có tiểu kỳ thi môn thi phụ. Nho sinh phải làm thơ, làm phú. Riêng về thơ thì gồm các thể loại như thơ cổ phong, thơ Đường luật, ca trù. So với Phan Khôi thì Nguyễn Khắc Hiếu rộng đường sáng tác các thể loại thi phú hơn. Hát nói, một loại hình của ca trù thì Tản Đà trội vượt hơn Phan Khôi vì thân phụ và thân mẫu của Nguyễn Khắc Hiếu đều là nghệ nhân và nghệ sĩ(12).

Ở tác phẩm Tuấn, Chàng trai nước Việt, chứng tích thời đại đầu thế kỷ XX, Nguyễn Vỹ nói về Phong trào thơ mới của nước ta:
“Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong là tiền phong của phong trào thơ mới. Mới từ tinh thần đến thể thức. Mới từ tư tưởng đến cách diễn tả tư tưởng. Tất cả những gì rườm rà, luộm thuộm, cổ kính, theo ảnh hưởng văn chương Trung Hoa đều bị gạt bỏ dần dần và được thay thế bằng lối viết rõ rệt, có quy củ, có văn phạm của văn chương Pháp. Điều đó không ai phủ nhận được”(13).
Kể từ khi bài thơ Tình già xuất hiện trên văn đàn thì khắp ba miền Nam, Bắc, Trung dấy lên cao “Phong trào Thơ mới”. Có thể nói bài thơ ấy được ví von như thêm một giọt nước làm tràn ly mà thôi. Phong trào thơ mới trở nên sôi nổi trong thời gian bộc phát từ năm 1932 – 1936.

Thơ mới là gì? Các thi gia mỗi người giải thích theo mỗi cách khác nhau. Có thanh niên tân học yêu thơ mới, tìm hỏi thi sĩ Lưu Trọng Lư về cách thức và bí quyết sáng tác thơ mới. Nhà thơ đa tình và mơ mộng của đất Quảng Bình đã trả trời một cách thản nhiên rằng: “Cứ làm bừa đi, rồi thành ra thơ gì cũng được. Đừng giống như thơ cũ, bỏ niêm luật thơ cũ, tức là thơ mới”(14).

Thơ mới là một danh từ khát quát nếu không muốn nói là mường tượng. Mơ hồ quá! Thơ cũ hay thơ cổ điển có khuôn mẫu ràng buộc theo từng thể loại cụ thể như Đường luật ngũ ngôn, thất ngôn; song thất lục bát, ca trù còn quen gọi là hát ả đào hoặc hát nói, hát cửa đình… là những thể tài phổ biến của ca trù mà hai tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huế đã phân định rạch ròi trong Việt Nam ca trù biên khảo(15).

Năm 1971, ông Nguyễn Thiên Thụ cho ra mắt bạn đọc Nghệ thuật hành văn, nguyên gốc là giáo trình giảng dạy về nghệ thuật viết văn được tu chỉnh lại được độc giả đồng tình đón nhận. Ông đã viết rõ về thơ mới như sau:
“Khi phong trào Âu hóa lan rộng đến nước ta, các thanh niên tân học muốn bắt chước thơ Pháp để tạo nên một sinh lực mới cho thi ca Việt Nam. Do đó, thơ mới ra đời.

Thơ mới tuy tự do, không hạn chế số câu, số chữ, không cần đối, niêm nhưng vẫn phải có vần có điệu”(16).

Sách ra mắt bạn đọc vào đầu tháng 2 năm ấy. Tiếc thay, vào ngày 4.2.1971, nhà văn Nguyễn Vỹ qua đời vì tai nạn xe hơi ở tỉnh Long An. Có một mối đồng cảm về các giải thích để trả lời câu hỏi “Thơ mới là gì?” của ba nhà nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam tiếp nối nhau theo dòng chảy văn học nước nhà.

IV. Phan Khôi khẳng định bài Tình già không phải là thơ mới

Nối dòng, cả ba nhà nghiên cứu đều “đồng sàng đồng mộng”, tất cả đều thao thức về “hiện tượng thơ mới” ra đời và thơ mới là gì? Thể loại thơ ấy vì sao lại được mệnh danh là thơ mới. Nguyễn Vỹ đã tinh tế tìm gặp cho kỳ được bậc cha chú để hỏi cho ra chuyện, ra vấn đề khiến không những mình mà còn nhiều người đã ưu tư và trăn trở.

Sau nhiều lần hầu chuyện với cụ Tú Khôi, chủ bút báo Phụ Nữ Thời Đàm ở Hà Nội, Nguyễn Vỹ đã viết theo thể loại hồi ức (mémoir) để xếp đăng vào bộ sách dày ngót tới 978 trang khổ 14,5×20,5 phần thơ mới năm 1932 – 1934.

Một Phan Khôi với bút hiệu Tú Sơn; một Nguyễn Vỹ như đã gửi nguồn cơn tâm huyết qua nhân vật Tuấn khắc khoải vì vận nước đổi thay. Tuổi tác hai mẩu người có chí hướng cách biệt nhau vừa đúng một thế hệ. Tình cảm đồng châu xứ Quảng của hai nhà văn ở nơi đất khách Hà Nội vào những năm 1934 – 1935… lại trở nên ngày mỗi thân thiện và nồng thắm hơn khác nào như tình bác cháu, tình thầy trò trong nghề cầm bút. Suy cho cùng, duyên văn tự là cái duyên dun dủi tốt lành và chân thực.

Tình thân ấy đã triển nở, được Nguyễn Vỹ ghi lại như găm vào ký ức qua nhân vật Tuấn, chàng trai nước Việt bằng nhiều mẩu đối thoại hồn nhiên và trong sáng giữa hai thế hệ “bác – cháu”:

“Tuấn được gặp cụ hai ba lần ở Hà Nội, trong tòa báo Phụ Nữ Thời Đàm mà cụ làm chủ bút. Cụ có cho Tuấn xem bài thơ của cụ, gọi là “thơ mới”, toàn một giọng trào phúng. Một lần cụ bảo với Tuấn: “Người ta cứ đổ riệt cho tú Phan Khôi này là đề ra thơ mới. Thiệt là bá láp bá xăm. Tui có ưa làm thơ bao giờ đâu, thơ cũ không làm huống chi là thơ mới. Để trả lời những ánh nói bậy đó, tui tức mình làm bài thơ mới chơi, gọi là “thơ mới” mà chính là để ngạo thơ mới đó”(17).

Chất Quảng dân dã và tri thức mới hiển lộ rõ nét trong phong cách nói trào phúng của một cụ già ở độ tuổi tri thiên mệnh. Thật là sống sao nói vậy mà viết lại thành văn cũng vậy mà thôi. Nhân cách ấy nếu gọi cho đúng, riết cho chặt thì xứng là cốt chất chẳng thể nào lẫn lộn với ai được. Ngay cả cái bút hiệu “Tú Sơn” đã thể hiện một lối chơi chữ mang sắc màu thời đại: “Nửa ta nửa Tây”. Tú Sơn là biến trại của “tout seul” có nghĩa là “cô độc hoàn toàn”. Một ông Tú tài Hán học khác người đồng môn, đồng khoa đương thời vào năm 1908 mở đầu cho phong trào Duy Tân. Cụ Hà Ngại viết tác phẩm Khúc tiêu đồng, hồi ký của một vị quan triều Nguyễn, đã nhận định về một Phan Khôi như sau ở trang 89 – 90: “Tú tài Phan Khôi ngấm ngầm cổ động học mới nhiều các vị cách mạng tiền bối không thể kể ra cho hết…”.

Câu chuyện còn dài nữa giữa Phan Khôi có bút hiệu Chương Dân với Nguyễn Vỹ ẩn chứa hình ảnh Tuấn, chàng trai nước Việt không chỉ đơn thuần ngừng lại đó. Mà còn tiếp diễn một “xen”(19) hay là một “điệp khúc” lý thú. Mời độc giả, thính giả nghe kể tiếp:

“Tuấn có hỏi cụ Tú Phan Khôi:

– Người ta bảo rằng bài “Tình già” của bác đăng trong Phụ Nữ Tân Văn là thơ mới đấy.

Cụ Tú cười oang oang:

– Mới cái mốc xì! Bài “Tình già”, tui làm theo điệu thơ cổ phong của Tàu, chớ mới cái gì!”(20)
Nguyễn Vỹ thật có tài biết “điểm huyệt” đúng vào chỗ ngứa của bậc trưởng thượng đáng hàng cha chú mình để cố làm sao khui cho ra ẩn số mà đã hơn năm bày năm qua giới thanh niên tàn học, giới tài tử văn nhân và kể cả quần chúng đã đinh ninh một dạ một lòng là Bài thơ Tình già của Phan Khôi là thơ mới.

Thơ cổ phong của Trung Quốc thịnh hành trước đời nhà Đường, trước khi thơ Đường đi vào quy chuẩn với số câu, số chữ, vần điệu, niêm luật một cách mực thước đúng khuôn khổ. Nói một cách khác cho dễ hiểu thì thơ cổ phong na ná gần như thơ tự do vậy. Thành thử, chính tác giả Phan Khôi chỉ chấp nhận thơ của mình dậy sóng một thời là “thơ mới”, đóng khung vào giữa hai dấu ngoặc kép. Thì ra bài thơ Tình già của Phan Khôi chào đời ngày 10.3.1932 không phải là thơ mới.

Sự tình xem ra có oái oăm không? Giữa tác giả, tác phẩm và dư luận về bài thơ dậy sóng Tình già đã không cùng đi chung một con đường nhất thống. Điều này khiến cho sách báo, văn học sử và kể cả giáo trình văn học ở các cấp học đã hữu tình hoặc vô tình dẫn đường cho người học đi sai đường, lệch lối. Tất cả dồn ứ lại thành cái sai lớn sớm phủ lên những mái đầu xanh trong quá khứ vào những năm cuối thập kỷ 30, 40, 50 của thế kỷ trước, thế kỷ thứ hai mươi.

Chú thích:
(1) 24 năm xưa: Lúc ấy là năm 1908, Phan Khôi 21 tuổi, cái tuổi tình yêu dậy sóng. Tình của ông Tú Khôi lãng mạn có vừa đâu!
(2) Hung: “hung” là nhiều. Người miền Trung nói “cho chi nhiều, hung dữ rứa”. Yêu hung: yêu nhiều.
(3) Liếc: trai gái liếc nhau, nhìn bên này, nhìn bên kia một cách thầm kín. Liếc bên phải, liếc bên trái.
(4) Có đuôi: con còn nhỏ, níu đi theo mẹ như cái đuôi. Mắt có đuôi nheo, nhìn nhau lại có khi liếc mắt để tỏ tình quyến luyến, yêu  thương. Yêu nhau thì được mà lấy nhau lại không đặng. Nhìn mà lòng thầm thương.
(5) Nhà văn Roland Dorgeles, ở Paris sang du lịch Việt Nam viết được tác phẩm “Sur la route mandarine” (Trên đường cái quan). Ở  trang đầu có viết 5 chữ tiếng Pháp: “Partir, cest mourir un peu”. Đi, là chết trong lòng một ít.
(6) Nhà văn hiện đại, tập I, Vũ Ngọc Phan, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989, tr 244.
(7) Khúc tiêu đồng, Hồi ký của một vị quan triều Nguyễn, Hà Ngại, Nxb. Trẻ, TP HCM, 2014, tr 21.
(8) Trong Chương Dân thi thoại, Phan Khôi viết rõ: “Sự học của một bậc thi sĩ tất nhiên phải đủ các tri thức phổ thông như mọi kẻ  khác đã đành, mà lại phải có cái học chuyên môn về nghề làm thi nữa” .
(9) Tản Đà là nhà thơ, trên thi đàn cây bút của ông sắc sảo về các thể loại như ca trù, thơ cũ, thơ mới, một nhà thơ diễn tả đúng  nhất tâm hồn Việt Nam như lời nhận định của Vũ Ngọc Phan.
(10) Báo Phụ Nữ Tân Văn, số 62 ra ngày 24/7/1930, Phan Khôi viết bài “Cảnh cáo các nhà học phiệt” để công kích những người  có địa vị trong văn giới không kể chi đến dư luận. Năm 1931 trên báo này mở mục “Vai ngự sử trên đàn văn” để chỉ những sai lầm.
(11) “Trở vỏ lửa ra” là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Phan Khôi. Vũ Ngọc Phan cho rằng Phan Khôi dùng ngòi bút nhà báo hơn là ngòi  bút của tiểu thuyết gia. Những câu, những chữ dùng là ngôn ngữ ở vùng Nam Trung bộ, làm giàu cho tiếng Việt.
(12) Việc so sánh này chỉ cốt ý làm rõ việc: thơ mới là biến thể của thơ cổ phong và hát nói. Theo Dương Quảng Hàm trong Việt  Nam Văn học sử yếu thì “lối thơ tám chữ của phong trào thơ mới thoát thai ở hát ả đào mà ra.
(13) TUẤN, Chàng Trai Nước Việt, Chứng tích thời đại đầu thế kỷ XX, Nguyễn Vỹ, Nxb. Văn học, TP HCM, 2006, tr 750. Nguyễn Vỹ  (1912 – 1971) là nhà thơ, nhà văn, nhà báo. Đất Quảng Ngãi có đến 2 ông Nguyễn Vỹ: Nguyễn Vỹ nhà văn và Nguyễn Vỹ làm Thanh  tra học chánh trước 1975.
(14) TUẤN, Chàng Trai Nước Việt, Chứng tích thời đại đầu thế kỷ XX, sđd,tr.752
(15) Nhà văn hiện đại, tập II, Vũ Ngọc Phan, Nxb. Khoa học Xã hội, Tp HCM, 1989.
(16) Nghệ thuật hành văn, Nguyễn Thiên Thụ, Nxb. Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1971, tr 140.
(17) TUẤN, Chàng Trai Nước Việt, Chứng tích thời đại đầu thế kỷ XX, sđd, tr 742.
(18) Tout seul: người cô độc, Ông tú Khôi “cô độc” vì không giống ai về bản lĩnh sống và viết. Đại thi hào Tagore viết: “Personne ne  répond à ton appel/ Marche tout seul, marche tout seul.Nghĩa là: Nếu chẳng ai đáp lời bạn gọi/ Bước một mình, bạn hãy đi lên. Nhà Nho  tân tiến, nhà Nho chân chính có cách nói trào lộng sâu sắc, pha phách cái khôi hài (ironie) của Tây phương mà Platon đã chủ xướng.
(19) “Xen” là cảnh, hoạt cảnh. Biến trại từ tiếng Pháp.  
(20) Xưa nay, người ta đã đăng đàn diễn thuyết về thơ mới tại Hà Nội, Sài Gòn và cả ở Cố đô Huế. Người nói Tây, người nói Đông.  Câu hỏi bay vút tận trời, sao cụ Phan Khôi không lên tiếng sớm.  

15/8/2014

Lê Quang Thái

Nguồn: Tạp chí Sông Hương

Theo https://vanvn.vn/

XXXXX"Lửa từ bi" trên hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương

"Lửa từ bi" trên hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương Vũ Hoàng Chương xuất hiện trên thi đàn sau khi những tên tuổi lớn của Phong ...