VĂN THƠ NHẠC
Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026
Nguyễn Huy Thiệp và một chiến lược kể chuyện khác
Nguyễn Huy Thiệp và
Trong cơn gió văn chương lan theo chiều rộng thì truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một lốc xoáy bốc lên cao, mở ra một nghệ thuật mới, làm choáng váng, ngất ngây độc giả.
Dòng văn học hoang tàn của Đức
Dòng văn học hoang tàn của Đức
Dòng Văn học hoang tàn (Trümmerliteratur, tiếng Đức)
là một dòng văn học riêng có của một nền văn học lớn – văn học Đức, với 12 nhà
văn được nhận Giải Nobel Văn chương. Nó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian
ngắn (1945-1950), nhưng đã để lại những dấu ấn đậm nét trong nền văn chương Đức
đương đại.
Các tác giả của dòng Văn học hoang tàn phần lớn là những người
lính trẻ bị giam giữ trong các trại tù binh sau chiến tranh hoặc đã trở về quê
hương. Vì thế những tác phẩm đầu tiên của dòng văn học này cũng có ở trong các
tạp chí của các trại tù binh chiến tranh (ví dụ như tạp chí Tiếng gọi). Thời kỳ
văn học đặc trưng này của Đức đã không phát triển từ những truyền thống văn học
Đức trước đây, mà tìm những hình mẫu của nó trong các truyện ngắn Mỹ và trong
thuyết hiện sinh Pháp. Ban đầu, phần lớn các tác giả trẻ của thế hệ thanh niên
này mới bắt đầu sáng tác văn chương và không tiếp tục truyền thống của các mảng Văn
học Quốc xã, Văn học di cư nội địa và Văn học lưu vong.
Dòng Văn học hoang tàn kết thúc vào đầu những năm 50, khi nước
Đức bắt đầu với công cuộc xây dựng lại và dần dần giành lại chủ quyền hoàn toàn
và đầy đủ (ngày 7.9.1949 Cộng hòa Liên bang Đức được thành lập và vào ngày 7.10
năm ấy Hiến pháp của Cộng hòa Dân chủ Đức được ban hành), cùng với sự vững mạnh
lên của người Đức trong nguồn lực tài chính và xã hội. Ngoài ra cũng phải nhắc
đến sự ra đời của Nhóm 47, tiếp đến là nền văn học của Cộng hòa Dân chủ Đức. Từ
quãng thời gian này nền văn học hậu chiến Đức để lại dấu ấn chủ yếu qua các nhà
văn lớn như Heinrich Böll, Günter Grass, Arno Schmidt và thay thế dòng Văn học
hoang tàn.
Đề tài và mô típ của dòng Văn học hoang tàn:
Bọn Quốc xã đã sử dụng tiếng Đức vào việc tuyên truyền và
kích động quần chúng. Đồng thời chúng khuếch trương tư tưởng trong ngôn ngữ, vì
một số từ nhất định không còn chứa đựng sự cắt nghĩa trung lập được dùng để
tuyên truyền cho các giá trị đạo đức quốc xã. Vì thế những từ như “kiêu
hãnh”,”dân tộc” hoặc “thuần chủng” bị lạm dụng cho những mục đích tuyên truyền,
để việc sử dụng những từ này chỉ còn chứa đựng ý nghĩa quốc xã. Ngoài ra bọn Quốc
xã sử dụng những từ mới để tô vẽ, để che giấu và để ca ngợi chuỗi hành động tàn
bạo không thể tưởng tượng nổi của chúng. Một ví dụ cho sự tạo ra từ mới của bọn
Quốc xã là cụm từ “giải pháp cuối cùng”. Tuy nhiên, cụm từ mới đầu nghe như là
vô hại này biểu thị một trong những sự tàn ác xấu xa nhất ở Đế chế Thứ ba (Đức
Quốc xã) – cụm từ lóng hàm ý chỉ sự tận diệt người Do Thái – và sau này ở trong
các trại tập trung tại châu Âu. Lên án, đả phá ý thức ngôn ngữ này của bọn Quốc
xã các tác giả của dòng Văn học hoang tàn muốn đạt được thành tựu cùng với mối
quan hệ cũ giữa ngôn ngữ và văn chương. Qua quá trình thanh lọc ngôn ngữ (quá
trình thủ tiêu chủ nghĩa Quốc xã) ngôn ngữ đã cần được giải phóng bởi hệ tư tưởng.
Cả trên phương diện hình thức lẫn trên phương diện nội dung người ta muốn định
ranh giới với những truyền thống văn học cũ và muốn bắt đầu một sự khởi đầu mới.
Người ta muốn lịch sử nước Đức bắt đầu lại từ con số 0. Dòng Văn học hoang tàn
phản ánh điều kiện sống của con người ở trong các trại tù nhân chiến tranh,
trong các thành phố đổ nát và trong các vùng chiếm đóng. Tình cảnh không quê
hương, sự phiêu bạt trong một thế giới bị tàn phá và sự sụp đổ của các giá trị
đạo đức trước đó là các mô típ của dòng văn học này. Ngoài ra tội lỗi tập thể của
người Đức trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai và trong việc tàn sát người Do
Thái là đề tài chủ yếu. Trong chiến tranh, bản thân nhiều tác giả là lính Đức
và là công dân của Đế chế Thứ ba. Việc viết và mổ xẻ sự luận tội ấy cho thấy
quyết tâm của người Đức, không bao giờ cho phép quá khứ ấy lại xuất hiện hoặc
làm sống lại.
Bút pháp và thể loại của dòng Văn học hoang tàn:
Các truyền thuyết anh hùng Đức, các thiên sử thi và nền văn học
tuyên truyền được coi là những kẻ gọt giũa văn hóa trong Đế chế Thứ ba và là bảo
bối. Tuy thế, đến thời kỳ của dòng Văn học hoang tàn phong cách bút pháp dựa
vào văn học cổ điển khi thể hiện cũng ít được hoan nghênh, như thể văn thống
thiết là phương tiện thuyết phục của lời nói trong thuật hùng biện Hy Lạp. Thực
tế cho thấy, văn học nổi trội trước hết qua sự cô đọng, qua lối hành văn sắc sảo
và qua một phong cách ngôn ngữ giản dị. Cái gọi là thừa nhận sự thật đòi hỏi ở
dòng Văn học hoang tàn là nó phải tả thực và chân thực. Những tác phẩm của dòng
văn học này không chú trọng vào việc mổ xẻ tâm lí, và phần lớn bỏ qua việc cắt
nghĩa hay đánh giá sự việc. Một thể loại được yêu thích của dòng văn học này là
truyện ngắn, vì nó đặc trưng cho một sự khởi đầu tự do, là một sự kết thúc mở
và thích hợp cho những cách nhìn từng lớp và chủ quan vào cuộc sống thường nhật
của người dân Đức ở thời kỳ này.
Một số nhà văn tiêu biểu của dòng Văn học hoang tàn:
1- Wolfgang Borchert (1921 – 1947). Sự nghiệp sáng tác tuy
tương đối ngắn ngủi của ông, bao gồm các truyện ngắn, thơ, kịch nhưng đã làm
cho ông trở thành một trong những tác giả nổi tiếng nhất của dòng Văn học hoang
tàn.
2- Heinrich Böll, tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 –
1985) là nhà văn và một dịch giả Đức. Ông được coi là một trong những nhà văn lớn
nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học.
Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng
xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông:
“Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người
che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…
3- Hans Bender (1919 – 2015) là nhà văn Đức và nhà xuất bản.
Ông là lính Đức bị bắt làm tù binh ở Liên xô trong Chiến tranh Thế giới lần thứ
2. Sau khi được trả tự do trở về Đức ông bắt đầu con đường văn chương của mình
bằng việc sáng tác thơ và truyện ngắn cũng như cho xuất bản cuốn Tạp chí Văn học
Konturen, Tạp chí Akzente. Ông cũng là biên tập viên văn học cho Tạp chí Magnum
và tờ báo Deutsche Zeitung.
4- Wolfdietrich Schnurre (1920- 1989) là nhà thơ trữ tình và
nhà văn lớn của nền văn học Tây Đức thời hậu chiến, ông đã để lại khối lượng
tác phẩm khá đồ sộ và đã nhận được nhiều giải thưởng văn học của Đức.
Từ 1950 ông là nhà văn tự do. Năm 1947 ông là đồng sáng lập
viên của Nhóm 47 và là thành viên của PEN (là chữ viết tắt gồm những mẫu tự đầu
tiên của Poets, Essayists và Novelists (các nhà thơ, nhà viết tiểu luận và tiểu
thuyết gia)).
5- Elisabeth Langässer (1899 – 1950) là một nữ nhà văn Đức.
Bà thuộc về những nữ nhà văn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Cơ đốc giáo. Một trong
những đề tài sáng tác chính của bà là sự xung đột giữa việc sống bản năng giống
như quỷ Satan và việc sống giống như các thiên thần. Bà trở nên nổi tiếng trước
hết là nhờ những bài thơ trữ tình, các truyện vừa và truyện ngắn của mình.
6- Heiner Müller (sinh ngày 9.1.1929 tại làng Eppen, bang
Sachsen; mất ngày 30.12.1995 tại Berlin) được coi là một trong những nhà viết kịch
nổi tiếng người Đức của nửa sau của thế kỷ 20. Ngoài ra ông còn là nhà văn, nhà
thơ trữ tình, đạo diễn, giám đốc nhà hát và chủ tịch Viện Hàn lâm Nghệ thuật
Berlin (Đông Berlin).
18/5/2021
Phạm Đức Hùng
Theo https://vanvn.vn/
Cá nhân phản tỉnh trong trường ca Trần Anh Thái
Cá nhân phản tỉnh
trong trường ca Trần Anh Thái
Tìm kiếm ánh sáng thuần khiết trong tâm hồn chính là
nét chủ đạo giúp đưa con người cá nhân phản tỉnh vượt qua bóng tối u uẩn, vươn
tới ánh sáng, tự do minh triết. Toàn bộ tinh thần của trường ca Trần Anh Thái,
thông qua hình ảnh con người cá nhân phản tỉnh, vì thế đã khởi cuộc tìm kiếm ý
nghĩa cuộc sống trong luồng ánh sáng có nhiều khúc đoạn thăng trầm, nhiều khi
nhuốm màu hoang hoải, thâm u của bóng tối. Trên tất cả, nó vẫn là luồng ánh
sáng nâng niu qua nỗi khổ đau của “Đôi mắt sáng tiên tri chỉ tay về phía mặt trời
đang tan trong làn sương”…
I. Điểm nhìn suy tưởng.
GS Trần Đình Sử, trong tiểu luận Tản mạn về trường ca,
viết: “… Mặc dù các nhà thơ Việt Nam đã kiên trì chiếm lĩnh trận địa thơ ca,
luôn tìm tòi, sau đợt trường ca năm 70 – 80 với các tên tuổi Thu Bồn, Nguyễn
Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu… đầu thế kỉ XXI lại xuất hiện
các tên tuổi mới như Thi Hoàng, Hoàng Trần Cương và gần đây nổi bật lên bộ ba
trường ca của Trần Anh Thái. Nhưng nhìn chung, trường ca của chúng ta vẫn còn
khá đơn điệu trong hình thức sử thi độc thoại và xâu chuỗi. Tính cách nhân vật
trữ tình nội dung cũng đơn điệu, thường là người lính, người chứng kiến chiến
tranh, đau thương, mất mát, người yêu Tổ quốc. tư tưởng nhìn chung vẫn tin tưởng,
lạc quan, ít có gì gây ấn tượng mới mẻ. Có lẽ chỉ có trường ca của Trần Anh
Thái là mới chớm có tình cảm lo âu, bối rối, buồn rầu, thất vọng, mặc dù vẫn giữ
niềm tin vào sự sống con người. Có lẽ đó là lần đầu xuất hiện tư tưởng buồn rầu,
thất vọng, tự giễu mình trong một nền thơ tràn trề niềm tin và hy vọng chắc nịch…”
Đọc trường ca Trần Anh Thái, mỗi người bằng suy cảm của mình
tiếp nhận nó theo những phương thức khác nhau. Xuyên suốt các tập trường ca của
anh là điểm nhìn của con người cá nhân luôn tự vấn, tự khơi mở, kiếm tìm Chân
giá trị. Nói như chính nhà thơ thì: Trường ca hiện nay đã bước sang một
giai đoạn khác. Nó đào sâu và phát triển vào mọi ngõ ngách của đời sống con người.
Nó đa dạng, phức tạp và liên tục biến đổi, nhưng vẫn giữ được mạch ngầm chủ đạo
và nhất quán. Trường ca hiện đại hạn chế tối đa cách kể và tả câu chuyện hay sự
kiện. Nó tránh mọi sự giải thích dài dòng. Nó cố gắng đi sâu vào đời sống bên
trong của con người, tiến sâu vào sự tự nhận thức bản thân; chối bỏ việc phản
ánh giản đơn những kinh nghiệm bề mặt, cái bên ngoài, những diễn biến
khách quan. Nó thể hiện rõ tinh thần tự phản biện và nhận thức lại, tìm kiếm bản
chất Người, tìm kiếm cái bên trong của con người. Nó là qúa trình phát triển tự
thân của nhận thức và nhu cầu sáng tạo.
Tiếp nhận bốn tập trường ca đã in, người đọc đều thống nhất với
nhau ở một nhận định: Dấu ấn riêng trường ca Trần Anh Thái trước tiên là ở những
suy tư, lý giải về con người. Đó tuyệt nhiên không phải là con người bước ra từ
khúc hoan ca chiến thắng, mang vóc dáng lẫm liệt của sử thi, thần thoại. Nhân vật
trong trường ca của anh là những con người bình dị của đồng, của đất, của cuộc
khẩn hoang, lấn biển, của nỗi bất hạnh trong chiến tranh. Để rồi từ những phận
người cụ thể, bé nhỏ, yếu đuối nơi làng biển nghèo, từ gan ruột, trải nghiệm và
đau đáu của chính mình mà nhận Chân, kiếm tìm ý nghĩa cuộc sống. Một nhân vật,
một cá nhân được khắc họa với những nỗi đau giằng xé là một câu hỏi, một lời
truy vấn về con người, về ý nghĩa của sự tồn tại, hòng tới gần hơn với bản
thể Người.
Chúng ta thường thấy, các tác giả trường ca trước đây hướng về
lịch sử bằng cái nhìn sử thi. Trần Anh Thái không theo lối này. Anh dồn hết bút
lực vào việc xây dựng cái tôi trữ tình mang đậm cảm hứng đời tư, chứa đựng
chiêm nghiệm nhân sinh sâu sắc. Chiến tranh cùng sự hủy diệt đàn áp lên số phận
con người, được nói ra bằng ngôn ngữ thơ giàu sức lay động nhất, mang chiều sâu
nhân bản: “Xác quân thù, xác bạn gục vào nhau”…
Cấu thành tác phẩm của mình, Trần Anh Thái đã chọn điểm nhìn
của người lính kinh qua chiến tranh, gian khổ, chết chóc. Nhưng, cảm nhận về
chiến tranh, về cái chết, tác giả không phân biệt, rạch ròi địch/ ta, đồng đội
/ kẻ thù mà bày tỏ suy tư về sự sống, về tính Người. Điểm nhìn hướng tới tính
nhân loại đưa tác phẩm vượt ra khỏi hạn định của thể chế chính trị mà vươn tới
chiều sâu nhân bản cao cả.
Vì lí do đó, chúng tôi đưa ra cảm nhận về điểm nhìn khi tiếp
nhận trường ca Trần Anh Thái thay cho lí do khai mở vấn đề. Từ điểm nhìn ,
chúng ta mở ra tác phẩm.
II. Cá nhân phản tỉnh
Hình tượng con người được khắc họa đậm nét và xuyên suốt các
tập trường ca của anh là con người độc lập – những cá nhân tự khai mở,
thoát khỏi lối mòn nhận thức. Bằng chính số phận mình cùng hi vọng, nỗi đau, thất
vọng, không ngừng tìm kiếm ánh sáng anh minh. Con người trong trường ca Trần
Anh Thái nỗ lực không ngừng để tiến gần hơn tới việc xác lập, nhận Chân giá trị
của cuộc sống, hòng đi sâu tìm hiểu bản ngã của chính mình. Khảo sát, kiến giải
bộ bốn trường ca của Trần Anh Thái gồm: Đổ bóng xuống mặt trời, Trên đường,
Ngày đang mở sáng, Mỗi loài hoa một mặt trời cho chúng ta thấy rõ nhất
hình ảnh con người cá nhân phản tỉnh cùng thông điệp tác giả truyền tải qua
hình ảnh này.
Xét nội hàm văn bản có thể thấy con người cá nhân phản tỉnh
trong trường ca Trần Anh Thái được khắc họa với diễn tiến của hành trình nhận
thức để tới gần hơn với tính Người.
Con người đi tìm Chân giá trị
Khái niệm con người cá nhân phản tỉnh mà chúng tôi đưa ra ở
đây được hiểu theo nghĩa: con người nhận thức lại các giá trị trong cuộc sống,
xác lập lại những căn cốt trước đây anh ta coi như một chuẩn mực, như giá trị
thiêng liêng phải được tuân thủ, tôn thờ. Nhưng với sự phát triển ngày càng cao
của nhận thức, con người tự giải mã lại những gì đã được xác lập trước đó, phản
tỉnh để nhìn nhận đúng bản chất của những hiện tượng mà lâu nay còn nhiều khuất
lấp.
Chúng tôi chia sẻ với nhà phê bình Đỗ Minh Tuấn trong bài viết
bàn về trường ca rằng: “.. Chúng ta có những trường ca hay, sôi động về chiến
tranh cách mạng, nhưng thiếu những trường ca suy tưởng trầm lắng về quá trình
khai sáng của dân tộc Việt với những hành trình vượt qua khổ đau, bất hạnh, tối
tăm. Sáng tác của nhà thơ Trần Anh Thái ( cụ thể là bản trường ca Ngày
đang mở sáng), không chỉ là bản huyền ca về thân phận cộng đồng trong dòng chảy
khốc liệt của lịch sử khai sáng mà còn là bản huyền ca cảm động, ngợi ca niềm
khao khát văn minh văn hóa hằng cháy đốt ngàn năm trong thẳm sâu tâm thức Việt”.
Cùng với nhận xét trên, đọc trường ca Trần Anh Thái, không thể không khẳng
định rằng chân dung con người cá nhân phản tỉnh được khắc họa rõ nét, mang chiều
sâu nhân bản. Đó là những con người đã trải qua biết bao thăng trầm của cuộc sống,
bước ra từ trong chiến tranh, sống những ngày đầu tiên nước ta đổi mới, rồi chứng
kiến sự phát triển của cuộc sống vật chất cũng như mặt trái của nó. Họ –
những con người đi qua cuộc chiến, trải nghiệm nhiều hi sinh, mất mát đang nhìn
lại mình, lí giải chính mình.
Nhận thức về chiến tranh, giải mã ý nghĩa của sự tồn tại, sự
sống và cái chết. Bằng ngôn ngữ, hình ảnh thơ, tác giả đã khắc tạc rõ nét hình
tượng con người cá nhân dịch chuyển vừa đớn đau, vừa minh triết cùng sự vận động
của ánh sáng (ở đây là chiều kích văn minh, văn hóa). Ánh sáng, nỗi đau đớn, thức
tỉnh tràn qua bóng tối của thân phận cộng đồng, thứ bóng tối bí ẩn và u uẩn
trong đền thiêng, cõi lặng. Nỗi ám ảnh về chiến tranh là âm hưởng chủ đạo, đè nặng
lên thân phận cá nhân phản tỉnh. Tất cả nhằm sáng rõ khẳng định rằng: Chiến
tranh không phải là sự thúc đẩy tiến trình xã hội. Nói một cách xác đáng nhất
thì chiến tranh chính là mồ chôn cuộc sống.
Nói cá nhân phản tỉnh nhưng anh ta không hiện diện như một cá
thể đơn lẻ, dị biệt. Anh ta đại diện cho một thế hệ ở vào thời điểm không thể
quên trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Đó là những người lính nông dân ra đi
từ làng quê nghèo ven biển. Khối tình cảm nguyên sơ, trong trẻo, đẹp đẽ với con
người, với làng quê, với đất nước được họ mang theo trong hành trang nhập ngũ.
Nơi chiến trường ác liệt, chứng kiến máu chảy, cái chết, họ nhận rõ hơn
ai hết sự vô nghĩa của chiến tranh. Nhưng, không chỉ có vậy, với một cá nhân
trong những năm tháng khốc liệt thì để nhận Chân sự thật là một hành trình nhiều
màu sắc mà gam màu trầm buồn chiếm dung lượng áp đảo.
Cá nhân phản tỉnh – anh lính nông dân trước chiến tranh
mang tâm trạng phơi phới lạc quan ra trận. Với con người ấy, dấn thân vào chiến
trường là sự xông pha, là nhiệt huyết của tuổi trẻ: “Tuổi mười bảy mộng mơ
trích máu cổ tay dạt vào cuộc chiến/ Giấc mơ đi làm Người/ Đất nước
như vầng trăng đầu thu ru mình bên biển biếc”. Nhưng, hiện thực bên dưới vầng
trăng thu không êm đềm chỉ có “Người đổ sấp/ Mặt bạn tôi bê bết máu chiến hào” .Hiện
thực tàn khốc tự kéo theo nó câu hỏi đòi được trả lời chân xác: “Ai hoan
ca, ai mỗi ngày gióng lên điệu khèn trên mỗi xác người”. Hỏi, đáp để tự vấn,
tự soát xét: Bao con người, bao số phận bị đẩy tới lò lửa chiến tranh? Không
tham chiến, không gián tiếp hay trực tiếp gây ra cái chết cho một đồng loại
khác, họ liệu có thể trở về?
Khép lại trang thơ, tự trong chúng ta cùng nảy sinh câu hỏi:
Có hay không sự lựa chọn khác trong chiến tranh? Câu hỏi vang lên và được giải
đáp ngay sau đó. Chiến tranh là cuộc đấu chỉ có hai con đường, “chiến
tranh không có con đường thứ ba”. Hoặc sống, hoặc chết nên ai cũng cố giành giật
sự sống về cho mình. Dù xuất phát điểm khác nhau thì tới lúc này, họ cũng nhận
ra bất luận vì lí do gì thì chiến tranh cũng chỉ mang đến hủy diệt, nhấn
chìm thế giới trong trạng huống bi thương “Nhân loại đau buồn trong mọi cuộc
chiến tranh”
Nhận thức đó được minh chứng từng giây, từng phút trước cá
nhân phản tỉnh. Tham chiến, tận mắt chứng kiến đồng đội hy sinh, chứng kiến cái
chết của cả những con người phía bên kia chiến tuyến, nhiệt huyết ngày đầu tòng
quân ít nhiều nguôi vợi. “..Bây giờ trung đội về nơi tập kết / Cơn mơ mê sảng/
Có đứa khóc cười / Có đứa gọi nhầm tên đồng đội / Đứa thức ngồi ôm mặt
khóc dưới cây. ( Đổ bóng xuống mặt trời)
Sự thay đổi cảm xúc, tâm thế của con người trước và trong chiến
tranh được khắc họa thông qua điểm nhìn, qua quá trình nhận thức của người lính
trẻ. Đối mặt với thực tế, cá nhân đó đã nhận thức ra nỗi đau mà chiến tranh để
lại không chỉ riêng cho mình mà còn cho cả nhân loại là không thể xóa bỏ.. Nó
là những vết thương không bao giờ lành đối với những người đã từng sống và chiến
đấu trong những tháng ngày đó. Bước ra khỏi chiến tranh, con người cá nhân
không thể trở về vẹn nguyên. Độ lùi của thời gian, trả giá của hi sinh, mất mát
càng giúp anh ta nhìn nhận rõ mình hơn.
“Ngày ấy chúng ta đi ước vọng tràn trề/ Khát tự do như
người khát khô trên sa mạc/ Tuổi mười bảy mơ hồ trung thực/ Ước một
khoảng trời bình yên che chở mẹ ta/ Bông cúc dại cánh đồng ngày ấy nở vàng
hoa/ Tia nắng nhẹ miên man hương đất/ Chúng ta đi trong tình yêu niềm
hoan ca có thật/ Không do dự chần chừ không toan tính/ Số phận nhọc
nhằn năm tháng thương đau”
Nếm trải mất mát, khốc liệt của chiến tranh. Nhân sinh quan
nơi con người cá nhân mở rộng khỏi biên giới ta – địch. Máu đổ, cái chết, những
con người hai bên chiến tuyến đối diện với nhau, với chính mình, nghĩa là đối
diện với quan hệ sống – chết của con người với con người. Chính trong ứng
xử với thế giới đồng đẳng ( người với người) này, cá nhân phản tỉnh được nghĩ,
được nói tiếng nói của mình – tiếng nói của bản ngã, của tính Người không vụ lợi,
toan tính.
Đối diện với thân phận cá nhân, trường ca Trần Anh Thái vì thế
không là bài ca hân hoan với chiến thắng, không là trang văn đanh thép, lên án,
hằn thù mang danh giai cấp, lợi ích. Trên tất cả, nó là nỗi truy vấn, lí giải về
sự vô nghĩa của chiến tranh – thảm họa do chính con người gieo giắc lên
cuộc sống của mình mà chưa hề có dấu hiệu thuyên giảm. Nhiều câu thơ, đoạn thơ
xuất thần như những lời thì thầm từ vô thức chất chứa bao đớn đau.
“Cái chết/ Bom vùi lấp mặt/ Mặt trời lấp mặt/ Xác quân thù
xác bạn gục vào nhau” “ Tôi nghe lạnh giữa hai bờ cuộc chiến/ Cái chết xếp hàng
cái chết tiễn đưa nhau” “ Kẻ thất trận dưới chân đồi lê bước/ Kéo hoàng hôn rã
rời/ Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc/ Nước mắt tạc vào gió thổi ngàn sau”…
Dù kẻ chiến thắng hay kẻ thất trận, tạm ngưng tiếng súng, nơi
chiến trường khốc liệt, họ hơn ai hết cảm nhận sâu sắc về sự tối nghĩa của chiến
tranh, về thương tích chiến tranh “ tạc vào gió thổi ngàn sau”
Hòa bình, trở lại làng quê nơi mình đã ra đi, người lính
không tìm về được chốn bình yên, xoa dịu. Trái lại, anh ta chạm vào muôn tầng đớn
đau khác:
Hàng xóm khăn tang đứng nép góc đườngHàng xóm mái nhà sương rơi ướt đẫm / Bão không về sao
áo gối nhàu ra/ Hoa vô cớ rụng giữa ngày chẳng gió?Trăng sáng chi vằng vặc
chỗ không người ? Giấc ngủ tôi quay vào bóng tối/ Những chiếc gai đinh găm phía
đầu giường…
Ngay trong ngày trở về cùng tiếng khèn chiến thắng, người
lính gặp không khí tang tóc bao trùm làng xóm. Nỗi đau chồng lấp nỗi đau.
Không khí tang tóc nơi làng quê yêu dấu khác nào không khí , cảnh tượng nơi chiến
trường họ đã chứng kiến. (Nhập nhoạng người / Nhập nhoạng trắng / Những thân
hình bó trắng / xác chết chồng xác chết đợi ngày mai ) – Ngày đang mở
sáng –
Không phải là cái nhìn tự vấn của những cựu binh sau cuộc chiến,
càng không phải bản nhạc trong dàn thanh âm của lời kêu gọi xóa nhòa mọi thù hận.
Cao hơn tất cả, nó là sự trưởng thành của cái tôi phản tỉnh, của tư duy thi ca
tuân theo sự dẫn dắt của chiều sâu nhân bản. Người lính, cá nhân trong bản trường
ca không mơ hồ về sứ mệnh của chính mình trong cuộc chiến. Anh ta hiểu một cách
sâu sắc rằng “chiến tranh không có con đường thứ ba”. Trước sinh mệnh cá nhân,
mọi cuộc chiến đều trở nên vô nghĩa.
Ở một khía cạnh khác, tiếp nhận tác phẩm trường ca Trần Anh
Thái, người đọc còn nhận ra tinh thần giải thiêng. Giải thiêng là để nhận thức
lại một qui luật phổ biến và là một việc làm đương nhiên của mọi thời đại dựa
trên cơ sở lịch sử xã hội… Xuyên suốt bốn tập trường ca, tinh thần này vang
lên, bật ra từ cõi thẳm sâu trong tâm hồn nhà thơ: “ Làng trước biển sóng
rền bão tố/ Người đứng lên đổ bóng xuống mặt trời” “ Không có vùng sáng nào độc
quyền/ Chúng ta bị dối lừa trong lời tụng ca rối rắm, giấc mơ vấy đục/ Gã hề
lăng xăng sàn diễn u mê “ Không ai độc chiếm hào quang/ Những sinh linh bé bỏng
yếu mềm dựng lên gương mặt trần gian/ Chúng ta bước lên kiêu hãnh” “Những ảo vọng
cuồng mê ý chí uy quyền?/ Gió than thở cây rừng vật vã/ Về cái chết sinh linh
những người vô tội/ Tên họ cao hơn mọi tôn giáo lễ nghi!” “ Hãy cởi bỏ áo khăn
màu mè niềm tin giả dối/ Và thắp sáng tình yêu thuần khiết con Người”…
Tinh thần giải thiêng được cảm nhận ở đây không phải được tác
giả chủ định triển khai hòng tạo hiệu ứng lạ hóa cho tác phẩm. Cùng với sự vận
động mang tính logic trong tư duy, cá nhân phản tỉnh không tìm được câu trả lời
có ý nghĩa cho sự tồn tại của chính mình. Sự thôi thúc, khao khát kiếm tìm ý
nghĩa cuộc sống khiến anh ta hướng sự vận động tư duy ra phía ngoài mình, hướng
tới mối quan hệ với thế giới siêu đẳng ( con người với thế giới tâm linh, thần
thánh). Vì thế mà liên tiếp các câu hỏi nảy sinh.
“Phật ở đâu gương mặt xanh xao đứa bé đánh giày”/ “Phật ở đâu
giữa cõi chúng sinh/ Nơi cuộc sống lầm than chua xót”
Câu hỏi vang lên đầy nhức nhối, Phật ở đâu? Đấng linh thiêng
tối cao ở đâu khi những con người lầm than cơ cực kia đang phải chịu đói rét
đau khổ, khi mà họ cần được người chở che bao bọc nhất. Hỏi để khẳng định: Phật
không ở đâu khác, không phải ở tàn hương khói tỏa, cũng không phải ở đỉnh trời
xa hút, Phật ở ngay trong ta, ở chính mỗi con người. “Phật ở đây tàn
hương khói tỏa mờ/ Trên pho tượng đỉnh trời xa hút/ Phật ở đôi mắt
người trong suốt/ Người ở trong ta ta ở trong người”
Tinh thần giải thiêng nảy sinh nhằm mục đích gì? Câu hỏi đưa
chúng ta vòng trở lại các bản trường ca. Cùng với sự phát triển tư duy của cá
nhân phản tỉnh, hình ảnh độc giả bắt gặp nhiều hơn cả chính là hình ảnh về một
con đường. Khảo sát riêng tác phẩm Ngày đang mở sáng, chúng ta đã bắt gặp
hình ảnh: con đường không tên ; con đường ký ức ; con đường kiệt sức ; con
đường đêm tối ; con đường mất dấu ; con đường đầy bất trắc ; con đường nhọc nhằn
gai bụi ; đường quành quèo dốc đứng ; máu khô đường mòn….vv
Có thể nói, cùng với suy nghiệm về con người, cá nhân phản tỉnh
đi tìm Chân giá trị. Tất cả theo cảm hứng tìm kiếm con đường mới, đợi chờ ánh
sáng khi bản thân cá nhân đó từng có lúc sa lầy trong tăm tối, hẫng hụt,
đau đớn thể xác, tinh thần đã giúp sáng tác của Trần Anh Thái trở nên khác biệt.
Toàn bộ trường ca của trần Anh Thái, nói theo cách nói của Đỗ Minh Tuấn chính
là dòng cảm hứng, dòng ý thức truy nguyên, băng qua đầm lầy kí ức của cộng đồng
để khai phá một lối đi tâm linh cho sự tái hiện lịch sử cộng đồng qua tâm trạng
cá nhân. Hiện thực tàn khốc cùng vùng văn hóa tâm linh khiến trường ca Trần Anh
Thái mang nhiều dư vang.
Con người giải mã chính mình
Truy nguyên nguồn cội và giải mã chính mình là đặc điểm của
cá nhân phản tỉnh. Các nhân vật trữ tình trong bốn trường ca này cũng không ngoại
lệ. Bằng chính cuộc sống, âu lo và mất mát, không ngừng đi tìm lại mình, giải
mã chính mình. Vì thế, trong trường ca Trần Anh Thái, bên cạnh thế giới hiện thực
được tái hiện theo chiều dài lịch sử của buổi dựng làng, tiến biển, mở đất rồi
chiến tranh, loạn lạc còn một thế giới khác của tâm tưởng. Ứng xử của con người
với thế giới siêu nhiên được khắc họa, mang theo nó những ẩn dụ sâu xa.
Những cá nhân – nhân vật trữ tình đặc biệt đi sâu, tìm về bản thể.
Càng tìm kiếm, càng lý giải thì càng đưa con người cá nhân trở
về với hiện thực. Toàn bộ tinh thần của anh ta vì thế mà đi sâu vào từng ngóc
ngách nỗi đau, nhu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân. Đó là nỗi đau của người cha,
người mẹ khi mất đi những đứa con thân yêu nhất của mình: “Mẹ như chiếc áo nhàu
rơm/ Cha không còn sức đưa em về nghĩa trang dòng họ/ Mẹ mấy năm liền
nước mắt gối đêm”. Hiện thực và huyền ảo là hai yếu tố tương
hỗ nhau trong trường ca Trần Anh Thái. Cảm quan về lịch sử, về những suy nghiệm
cuộc sống con người đã trở thành đặc điểm cuốn hút trong sáng tác của
anh.
Vây bủa con người cá nhân là nỗi đau. Nỗi đau sinh ra từ chiến
tranh, đeo bám anh ta cả khi hòa bình. Buông cây súng nhưng không thể
buông bỏ nỗi ám ảnh về nó. Với thương tổn tinh thần, người lính sau chiến tranh
đối diện với mặt trận khác. Mặt trận của những mưu sinh tủn mủn, với nỗi lo lắng
cơm áo gạo tiền: “Con thơ đói sữa/ Nắn túi quay đi/ Ròng ròng
nước mắt/ Bầu trời cong hình một lưỡi câu”/ Nỗi đau ấy chỉ biết giấu vào
đêm:“Hòa bình lánh mặt / Nước mắt giấu đêm”
Chủ thể nhận thức với chồng chất cô đơn, với tâm trạng hoài
nghi, hoang mang, bất an, mộng mị, càng cố minh định những bí ẩn của cuộc sống
quanh mình thì càng rơi vào bế tắc. Nhưng, cá nhân đó không ngừng đối thoại,
không ngừng kiếm tìm ánh sáng của cuộc sống – thứ ánh sáng đưa anh ta tới gần
hơn với tính nhân loại, tính Người. Vì thế mà trong khoảng sinh hữu hạn của
mình, cá nhân ấy đã không hoài, không uổng phí. Ý nghĩa của sự nhận Chân phải
trả giá bằng mất mát, tổn thương, hy sinh nằm ở chỗ : Bằng vào nhận thức, vượt
lên nỗi đau, cá nhân phản tỉnh đã nỗ lực để có thể chạm tay vào vùng sáng anh
minh của chiều sâu nhân bản. Thứ ánh sáng giúp họ tự đưa mình ra hỏi bóng tối
hoang hoải, thâm u.
Nỗi buồn, sự cô đơn là cảm xúc chủ đạo nơi cá nhân phản tỉnh.
Nhưng, nỗi buồn ấy, sự cô đơn ấy không chỉ là nỗi niềm khép kín của nhân vật
trong bản trường ca. Nó được mở rộng về phía nhân loại nói chung trên hành
trình khám phá chính mình. Ánh sáng thuần khiết của chiều sâu nhân bản không lụi
tắt, ngay cả khi đối diện với sự thật : “ Không có gì là tôi nơi đây,
không có gì thuộc về tôi ở thế giới này…”
Hành trình nhận thức của cá nhân phản tỉnh cũng chính là sự mới
mẻ về nhận thức, lý giải con người trong các trường ca của Trần Anh Thái. Nó được
coi là điểm dấu mốc, là nét gạch đầu tiên, đặt nền móng cho sự chuyển mình, đổi
mới của thể loại trường ca khi đi sâu khai thác những tầng ẩn sâu trong đời sống
con người. Tiếp nhận trường ca Trần Anh Thái vì thế người đọc không nhất thiết
phải bám vào tác phẩm theo mạch chuyện từ đầu chí cuối. Mở ra một trang
sách, hòa nhập vào thế giới ưu tư của cá nhân phản tỉnh ở bất kì cung đoạn nào
trên hành trình nhận thức về chiến tranh, bạn cũng gặp những tư tưởng mang giá
trị căn cốt.
Con người giải mã cuộc sống
Cùng với nhu cầu giải mã chính mình đã nảy sinh nhu cầu tìm
hiểu, lí giải, nhận thức cuộc sống xung quanh. Con người cá nhân đó đã thấy gì
sau hào quang thắng trận? Ngoài nỗi đau, thương tích của chính mình, anh ta còn
chứng kiến nỗi đau của những chị, những mẹ nơi hậu phương đã im tiếng súng: “Má
Mừng về quê cũ/ Nhà không đất không/ Cánh đồng ẩn đầy bất trắc/ Sông
Vệ nhòa nhòa sương/ Gương mặt chồng và năm đứa con/Tàn nhang rơi lạnh”.
Nỗi ám ảnh của chiến trang hiện hữu trong đời sống thực và
không buông tha cá nhân phản tỉnh dù anh ta ở chiều kích nào của không gian, thời
gian. Nó ám ảnh, giày vò trong cả những giấc mơ: “Đêm mơ/ Người lính
Bắc năm xưa chập chờn xanh rớt/ Chị bóc hộp đường phèn/ Cổ khô nấc
nghẹn/ Anh vẫy tay bước đi/ Rất xa…/Rất xa…/Rất xa…”
Giấc mơ trở đi trở lại trong các bản trường ca. Giấc mơ nâng
đỡ, nuôi dưỡng đời sống tinh thần của cá nhân phản tỉnh. Nó không chỉ điểm mặt,
gọi tên nỗi ám ảnh thường trực trong đời sống tinh thần. Nó còn hiển lộ kỳ vọng.
Vì thế mà dù xuất hiện trong cõi ảo mộng, nó vẫn khắc họa rõ nét hình ảnh mang
tính biểu tượng của tiềm thức. Chính nó, cái giấc mơ đẹp đẽ, cái giấc mơ đau đớn,
đầy ám ảnh lại là sợi dây bền vững đưa cá nhân đó tới tự do. Tự do được hiểu
theo nghĩa xác lập ý nghĩa của sự tồn tại, sự sống. Chính nó giúp cho con người
không chai lì, trơ đá khi đối diện với hiện thực mưu sinh, với nhân tình thế
thái muôn màu, nhiều góc khuất: “ Tôi phóng túng thả những con tàu cất giấu
trong mơ / Bay mãi mãi về phía mặt trời bí ẩn.”
Chiến tranh lùi xa, sống trong thời bình, nghĩ về chiến
tranh, cá nhân phản tỉnh nhìn đâu cũng thấy những ẩn ức tinh thần: “.. Người
ta mua hương hoa viếng người thân trong nghĩa trang liệt sĩ / Nén nhang chị thắp
trời không..”
Nếm trải nỗi đau của mình, của người, con người cá nhân với
thân thể, trái tim mang đầy thương tích, bước lơ ngơ trong cuộc hòa nhập vào cuộc
sống thường. Với thương tích găm sâu ấy, anh ta vẫn phải tồn tại, vẫn phải tiếp
tục bước vào cuộc chiến hòa nhập để sống, để mưu cầu hạnh phúc. Nhưng, cuộc chiến
không tiếng súng xem ra không hề dễ dàng, đơn giản: “Bán buôn lóng ngóng/ Cơm
bữa ăn đong/ Ao vườn ruộng sản/ Đóng khung giữa trời” (Ngày đang mở
sáng)
Chứng kiến sự đổi thay của xã hội, lóng ngóng hòa nhập với nó
và chua chát nhận ra sự phụ thuộc, bất lực của con người trước sức mạnh của đồng
tiền. Tiền làm nên công lí, tiền làm nên quyền uy cho con người. Không chỉ vậy,
tiền còn làm khuấy đảo cả cõi tâm linh. Tiền trở thành thứ quyền uy vạn năng: “Tiền
u uẩn cõi người tiền tàng hình trong công đường nhà sếp/ Tiền chen chân
tinh quái chiếc ghế bọc nhung/ Đồng tiền uốn gập lưng trước uy quyền ngông
ngạo/ Tiền ẩn giữa giọng người tiền hóa âm thanh ngữ điệu/ Tiền khuấy
động tâm linh phủ mờ tượng Phật/ Tiền trò chơi dơ bẩn nhóm, phe…” (Mỗi
loài hoa một mặt trời)
Tồn tại, mưu sinh, đối diện với các mối quan hệ, anh ta gặm
nhấm sự bất ngờ, đau đớn khi đồng tiền làm tha hóa nhân cách của con người. Một
người đau ốm, với những “đồng tiền rách rưới tựa vào nhau” được đưa vào viện chẳng
ai đoái hoài. Địa phận của từ đức, cứu người chỉ có “gương mặt lạnh/ Tiếng la
hét và lời nguyền rủa” Nét phác họa mảnh, nhỏ đã hoàn tất nhiệm vụ
của nó khi biểu đạt suy cảm của cá nhân phản tỉnh trong cuộc sống sau chiến
tranh.
Trong hành trình phát triển nhận thức, băng qua chuỗi ký ức
tràn ngập bóng tối của thân phận cộng đồng, một cách tự nhiên nhất, con người với
thân thể và trái tim mang nhiều thương tich ấy vẫn cảm nhận được thật rõ ràng “sự
sống sinh ra sau cái chết già/ Không có đại lộ trần gian/Không có bữa tiệc nào
dọn sẵn/ Ánh sáng nâng niu qua nỗi khổ đau”
Xây dựng hình ảnh cá nhân phản tỉnh đau đáu nỗi niềm chiến
tranh, đau đáu nỗi niềm trước sự vô cảm của con người trong đời sống kinh tế thị
trường là sự chảy trôi cảm xúc, sự thúc đẩy quá trình nhận thức của nhân vật mà
trong bản trường ca và trong chính tư duy người sáng tác.. Nhân vật trong
trường ca Trần Anh Thái vì thế nhiều khi hoang mang, vô vọng trước việc
kiếm tìm hạnh phúc cũng như xác lập ý nghĩa của sự tồn tại, sự sống “ Hạnh
phúc thật con người? / Mơ hồ đêm tối ..” ( Ngày đang mở sáng).
Nhưng, dù có lạc lõng, bơ vơ, chìm trong đêm tối mơ hồ thì cá
nhân ấy vẫn nỗ lực không ngừng hòng đi tới miền ánh sáng . Ở tận cùng đớn đau,
anh ta không ngừng tự đưa ra khuyến dụ minh triết dành cho chính mình: “Hãy
bước ra con ơi!/ Biển trước mặt con tàu đi vô hạn/ Sấm sét giông rền sóng
ngầm lốc xoáy/ Thì con ơi!Có thể tàu con sẽ lẫn trong đêm tối/ Nhưng hãy
tin ở cánh tay mình và chớ ngả nghiêng cần lái…/ Ở nơi tận cùng ánh sáng
hừng lên” (Mỗi loài hoa một mặt trời)
Khắc họa chân dung cá nhân phản tỉnh, mang sự vận động mạnh
khỏe trong ý thức, hướng tới giá trị nhân bản bằng cái nhìn siêu thoát,
chính là mấu chốt làm nên thành công của trường ca Trần Anh Thái cũng như dấu ấn
sáng tạo riêng anh.
III. Dấu ấn riêng của trường ca Trần Anh Thái
Trải nghiệm với tạp văn, truyện ngắn , tiểu thuyết…vv trước
khi đến với trường ca.. Hành trình sáng tác của Trần Anh Thái cũng chính là
hành trình kiếm tìm và khai mở chính mình. Với anh, viết là đi về phía
Con Người. Là Trên đường đi vào cùng tận cõi lòng, chiều sâu thân phận
Con Người. Người nghệ sĩ trong hành trình sáng tác đi tìm lời giải đáp về ý
nghĩa của cuộc sống là điều không mới mẻ. Cũng đi tìm ý nghĩa của sự tồn
tại, của con người trong thế giới của các mối quan hệ, nhưng Trần Anh Thái
trong các bản trường ca không phát triển mạch cảm xúc theo các thân phận để từ
đó khắc họa, ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất thuộc về tính Người. Con người phản tỉnh
trong trường ca Trần Anh Thái không chăm chăm nương vào các sự kiện lớn hòng
đưa ra một phát ngôn đại diện cho lớp người thuộc cùng thế hệ, cậy vào thực tế
mà mình đã kinh qua.
Sự khác biệt nằm ở chỗ nhà thơ trong cách nhìn, cách
đánh giá, lý giải về con người, về lịch sử luôn đặt cán cân đối trọng ở cả hai
phương diện: con người cá nhân – con người nhân loại. Nhờ thế mà tiếp nhận nó,
người đọc nhận ra tính phổ quát thuộc về Con Người. Bi kịch cá nhân song hành
cùng bi kịch lịch sử. Thông qua số phận của người lính, của con người cụ thể với
thân phận nhỏ nhoi nơi làng biển Đồng Châu là bóng hình của thời đại, của nhân
loại trong hành trình sinh tồn, không ngừng vận động từ tăm tối tới ánh sáng của
hi vọng, của tự do, của sự sống. Nói một cách rõ ràng thì trong các sáng tác của
mình, Trần Anh Thái luôn hướng tri thức của ngòi bút về việc giải mã tính Người.
Vì lẽ đó, mọi mưu toan tiếp nhận thơ ca bằng cách đưa về các khái niệm hiện thực,
nhân đạo hay yêu nước một cách thuần túy đều dẫn đến những kiến giải sai khác.
Thơ trường thiên vẫn được người sáng tác hiểu với tư
cách của một thể loại tổng hợp, trữ tình – tự sự hoành tráng. Trường ca Trần
Anh Thái có theo lối này? Ghi nhận đóng góp của Trần Anh Thái cho thể loại trường
ca, chúng ta có thể chỉ ra rất rõ những dấu ấn cụ thể ở cả hai phương diện nội
dung và hình thức nghệ thuật.
Đổi mới về nghệ thuật:
Vượt ra khỏi khuôn mẫu, hạn định chật hẹp, trường ca “Đổ bóng
xuống mặt trời”, “Trên Đường”, “Ngày đang mở sáng” hay “
Mỗi loài hoa một mặt trời “ đều được thể hiện tổng hợp của nhiều hình thức
diễn đạt khác nhau. Khi thì là câu thơ, khi là một giấc mơ, khi là một đoạn văn
xuôi, khi là những đoạn đối thoại ngắn như một đoạn đối thoại của kịch. Nghĩa
là, một cách thể hiện đa thanh, đa sắc.
Người đọc, bằng nội hàm văn bản, có thể thâu tóm trình tự thời
gian được triển khai trong trường ca Trần Anh Thái theo diễn tiến của bố cục
trước, trong và sau chiến tranh. Nhưng, thời gian tuyến tính đó không nương bám
vào các biến cố trọng đại, nó nương bám vào dòng kí ức. Ở đây là những kí ức của
đời thường với những nỗi niềm rất nhân bản mà chính anh đã tham gia. Cái kí ức
rớm máu trong trái tim người đang chịu đựng nó. Vì thế, chiều dài, bề sâu của bản
trường ca là chiều dài và bề sâu tâm trạng, tư duy mang đầy tính phản tỉnh. Phản
tỉnh để thức tỉnh, để tránh cho chính mình không rơi vào hào quang vô cảm:
“.. Vô cảm tiếng cười, vô cảm ánh nhìn nhau…”
Như vậy, đóng góp mới về mặt nghệ thuật của trường ca Trần
Anh Thái nằm ở chỗ: Trường ca cũ thường viết theo kiểu kể và tả câu chuyện
có đầu cuối, lớp lang, chú trọng vào yếu tố tự sự, trong đó có sự kết hợp nhiều
thể loại thơ truyền thống như lục bát, ngũ ngôn, thơ bốn câu…
Trong các trường ca của Trần Anh Thái, người đọc có thể
dễ dàng nhận thấy rất rõ lối viết chủ yếu dựa vào tri giác với những trải nghiệm
của chính cá nhân tác giả cùng những tưởng tượng và ký ức… Các trường ca của
anh chối từ cách kể câu chuyện theo kiểu lớp lang rù rì cùng các biến cố lịch sử
trọng đại. Cấu trúc trường ca của anh thường đan xen giữa hiện thực và huyền ảo,
giữa hiện tại và quá khứ, không tuân theo một khuôn khổ có sẵn.
Đọc trường ca Trần Anh Thái (tác phẩm Ngày đang mở sáng),
PGS-TS Nguyễn Đăng Điệp đã nhận xét xác đáng: “… Đóng góp thực sự của Trần Anh
Thái đối với thể loại trường ca nằm trong cách tổ chức cấu trúc bề sâu. Nhà thơ
như loại bỏ hầu hết các yếu tố kể, tả để ưu tiên cho tâm trạng dẫn đường. Đến với Ngày
đang mở sáng, người đọc bị dẫn dụ vào một thế giới đầy khắc khoải, nhiều lúc
thâm u…… Ngôn ngữ thơ Trần Anh Thái được chọn lọc kĩ càng nhưng vẫn hết sức tự
nhiên bởi đó là những con chữ chân thực nhất của một trái tim nhạy cảm đầy suy
tư. Trước Trần Anh Thái, các tác giả khác như Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh,
Thanh Thảo… cũng có những đoạn miêu tả tâm trạng sâu sắc. Tuy nhiên,
trong Đường tới thành phố hay Mặt đường khát vọng… tâm trạng thường
gắn liền với sự kiện. Còn trong Ngày đang mở sáng, Trần Anh Thái đã lấy
tâm trạng để miêu tả tâm trạng”.
Với cả bốn tác phẩm của mình, Trần Anh Thái sử dụng duy nhất
là thể thơ tự do, đồng thời đan xen nhiều đoạn thơ văn xuôi, nhiều đoạn độc thoại,
đối thoại, thậm chí là những đoạn đối thoại như kịch, nhưng cuốn hút, không
nhàm chán do có cách viết , cách thể hiện thơ tự do và thơ văn xuôi hiệu quả, tạo
ấn tượng mạnh. Về ngôn ngữ, Trần Anh Thái đã sử dụng biện pháp phá vỡ cấu trúc
ngữ pháp của tiếng Việt, nhằm tạo hiệu quả cảm xúc cao : Ngọn lửa xa xôi
đôi mắt con thơ/ Người tựa vào đôi mắt ấy dò tìm / Run rẩy vịn qua tháng năm gầy
mòn yếu ớt (Ngày đang mở sáng)
Đọc trường ca Trần Anh Thái, chúng ta đều thấy rất rõ sự
khổ công tìm tòi về ngôn ngữ khiến cho những hình ảnh thơ vừa mới thoáng ngân
lên đã lưu bám trong tâm trí độc giả. Xin được đưa ra hình ảnh “ nụ cười
bươm tả” làm dẫn chứng cho nhận định này. Theo phân tích của tác giả Kiều
Nga thì: “Trần Anh Thái đã ghép hai tính từ “rách bươm” và “tơi tả” để tạo
nên tính từ kép “bươm tả”. Bản thân “rách bươm” và “tơi tả”, nếu đứng độc lập
đã gợi hình ảnh đến gai người, đến kinh ngạc. Nó làm cho người ta liên tưởng tới
sự nghèo hèn, khổ hạnh, tan tác và tuyệt vọng: đôi khi chỉ cần nghe qua đã thấy
nổi da gà, xa xót về một nỗi niềm đau thương mất mát. Từ ghép “Bươm tả” kết hợp
ghép từ, ghép nghĩa thì nó đã cho người đọc một mỹ cảm mới. Nó không chỉ
là sự khổ công trong sáng tạo nghệ thuật, thái độ không chịu chấp nhận thói
quen nhàm cũ mà giá trị thực sự của văn học còn là khả năng làm ra cái mới, cái
chưa ai làm. Ở đây cụm từ “Bươm tả” đã cho người đọc một thay đổi, trong cách
tiếp xúc với những loại văn bản có nhiều dụng công tìm tòi, một cách hiểu mới về
nghĩa của từ”.
Đổi mới về nội dung:
Chiến tranh và những hệ lụy luôn ám ảnh và chi phối trong các
sáng tác của Trần Anh Thái. Viết về chiến tranh, các tác giả trước anh thường
bày tỏ niềm hân hoan, kiêu hãnh và đôi khi là sự háo hức, lạc quan quá đà của
người ra trận chỉ biết có xông tới và chiến thắng. Nhân vật trong trường ca Trần
Anh Thái khi là những con người cụ thể, khi là những con người vô danh. Người
lính trong “Đổ bóng xuống mặt trời” khi trở về sau chiến tranh không là những
khúc hoan ca mà là “ Giấc ngủ tôi quay vào bóng tối/ Những chiếc gai đinh
găm phía đầu giường/Có gì đó như đang vỡ/ Tiếng bom rơi xé rít chân trời… Là
người em gái khóc đẫm tà nước mắt, là hàng xóm khăn tang đứng nép góc đường. Là
ngọn đèn kỳ vặn nhỏ và câu chuyện rầm rì của người làng. Là người chị héo hon
đi tìm hài cốt chồng, là giỗ tết đi mua hương hoa về thắp trời không vì không
biết ngày tháng anh hy sinh. Là ông Hác thương binh ba lần sinh con ra đều chết
yểu. Tấm huy chương của ông Tạng cất vào ba lô thi thoảng lấy ra xem như người
ngớ ngẩn, sống dở chết dở, điên khùng…Ngay cả trong tập trường ca có tên gọi chứa
đầy niềm hân hoan là “Ngày đang mở sáng”, tác giả đã không chỉ viết về những
con người ở “ Phía bên này cuộc chiến” mà còn viết cả những nhân vật ở “ Phía
bên kia cuộc chiến”. Viết về thân phận họ, về cái chết của họ và những nỗi bất
hạnh, mất mát, đau thương mà những người thân yêu của họ phải gánh chịu. Điều
này cho thấy, tính Người trong trường ca Trần Anh Thái luôn hướng đến giá
trị nhân bản, tuyệt không phải là một khái niệm cao siêu, trừu tượng.
Các tác giả trường ca trước đây rất ít viết về những người “
bên kia cuộc chiến”… Nếu có thì dứt khoát là “Ta tốt địch xấu” một mô típ khá
quen thuộc, một chiều… Hướng đến ứng xử nhân bản của con người với nhau, trong
các sáng tác của Trần Anh Thái, vì thế, hướng tới sự tôn vinh những con người
giản dị bình thường. Cá nhân phản tỉnh đi tìm chân giá trị, giải mã chính mình
và giải mã cuộc sống. Anh ta bắt đầu từ không gian đầu tiên mà mình xuất hiện –
không gian làng. Không gian làng cùng hành trình đi tìm Chân giá trị, giải mã
chính mình và giải mã cuộc sống nơi cá nhân phản tỉnh khiến sáng tác của Trần
Anh Thái vì thế không là những khúc hoan ca, không là những lời hô hào, khoa
trương nhân danh cộng đồng ở khía cạnh chung chung. Đi sâu vào chiều tâm
linh, tìm kiếm bản thể, tìm kiếm cõi Người. Nhân vật trữ tình đối thoại với
chính mình , với sinh tử để nhận ra sự chua xót của hiện thực chiến tranh tàn
khốc: “Những cái chết mơ hồ/ Những cái chết chẳng thể nào cất lên tiếng nói/ Những
cái chết muôn đời thua cuộc/ Trong trò chơi tạo hóa đặt bày (Mỗi loài hoa
một mặt trời)…
Bằng các sáng tác, nhà thơ Trần Anh Thái đã tuân thủ tuyên
ngôn nghệ thuật mà mình đặt ra và lấy nó làm kim chỉ nam cho hoạt động
sáng tạo: Trường ca là tiếng nói của chủ thể, của tự do thuần khiết,
của bản chất Người chứ không phải là tiếng nói của một phía. Ở đây con người hiện
diện và được nhìn nhận, soi chiếu dưới rất nhiều góc nhìn khác nhau chứ không
phải con người chỉ được phác họa từ một điểm nhìn duy nhất…. Kết luận về dấu ấn
riêng của trường ca Trần Anh Thái có thể gói trong nhận định rằng: Nhân vật trữ
tình trong các bản trường ca trước Trần Anh Thái, là những con người bình thường
được tôi luyện trong chiến công, kỳ tích phi thường mà trở thành Thánh nhân.
Nhân vật trữ tình trong trường ca Trần Anh Thái là những con người bình thường
trải nghiệm trong đớn đau, trong luồng ánh sáng tự do trong suốt để trở về với
con người bản thể…
IV. Khi sáng tác chạm tới cõi Người
Đọc bộ bốn trường ca, người đọc đều cảm nhận rất rõ cảm
hứng chủ đạo chính là cảm hứng Trên đường, là khát vọng kếm tìm và khai mở.
Song song với tâm thế kiếm tìm, khai mở của nhân vật trữ tình – cá nhân phản tỉnh
là tâm thế của chính tác giả. Cùng chung nhận định với chúng tôi, nhà thơ Dương
Kiều Minh từng khẳng định: Bắt đầu từ khát vọng ra đi tìm kiếm nguồn cội, chân
lý đến sự bừng thức. Tất cả được xây dựng với tâm thế an nhiên, tự tại. Rồi từ
đó, cảm hứng trường ca đột nhiên vút lên, bứt khỏi những riêng tư, đời thường,
hữu hạn để vươn tới cái tuyệt đối, vĩnh hằng. Tâm thế Trên đường là
tâm thế có tính đại diện chung cho con người trên hành trình tìm về bản thể, giải
đáp những câu hỏi về số phận, về cuộc đời. Mạch tự sự vì thế cũng trở nên gọn
gàng, thoáng đãng hơn, đem tới cho người đọc một cảm giác nhẹ nhõm. Đấy là cái
nhẹ nhõm của xúc cảm siêu thoát, ở giây phút đốn ngộ chân lý sau hành trình nỗ
lực đi và kiếm tìm.
Nói về thể loại trường ca mà mình đã lựa chọn như một sự phù
hợp với tạng tính sáng tác, nhà thơ Trần Anh Thái chia sẻ: Trường ca Việt Nam từ
Đẻ đất đẻ nước cho tới nay vẫn là một dòng chảy kéo dài không ngưng nghỉ. Và
tôi nghĩ, con đường của nó sẽ là vô tận vô cùng, không có dấu hiệu ngưng nghỉ
và mãi mãi không ngưng nghỉ, bởi khi con người còn tồn tại thì thơ ca – trường
ca còn tồn tại. Chỉ có sự khác nhau trong cách thể hiện, bởi thời đại
khác đi đương nhiên hình thức và nội dung cũng khác đi, nhưng bản chất thì bất
di bất dịch: Đó là hướng tới đời sống tinh thần thuần túy của con người.
Đi vào chính mình, tìm kiếm bản ngã trong nỗi ám ảnh về con
người chính là yếu tố làm nên diện mạo thi ca Trần Anh Thái. Nói như tiến sĩ Đỗ
Thu Thủy thì: …Từ trước tới nay chưa có trường ca nào nỗi day dứt về con người
lại ám ảnh thường trực như trong các trường ca của anh. Từ những thân phận bé
nhỏ, cụ thể, yếu đuối, lam lũ trong hành trình dựng làng, khởi đất (Đổ bóng xuống
mặt trời) đến những số phận, cuộc đời trong hành trình kiếm tìm và giải mã về số
phận người lúc Trên đường, cho tới những con người đang hướng về Ngày
đang mở sáng, với những dáng vẻ khác nhau… thảy đều hướng tới cõi Người. Có thể
thấy ở những trường ca này, những bi kịch cá nhân luôn tồn tại song hành cùng
bi kịch lịch sử. Thông qua những số phận ấy, người ta thấy hiện lên dáng vẻ,
bóng hình của dân tộc, của thời đại, của nhân loại nói chung trong hành trình tồn
sinh và không ngừng khai sáng.
Khắc họa rõ nét chân dung con người cá nhân phản tỉnh với nhiều
nỗi niềm, ưu tư về mình, về giá trị của cuộc sống, mà trên hết là tính nhân văn
cao cả với nghệ thuật nhiều tìm tòi, đổi mới là những gì chúng ta ghi nhận ở
trường ca Trần Anh Thái. Nhưng, khổ công tìm tòi, đổi mới không hẳn là đích đến
cao nhất. Trong một trao đổi về thơ, Trần Anh Thái bày tỏ: “… Với tôi, tự do
thuần khiết chính là bản chất của thơ… Chúng ta sinh ra và lầm lũi đi trên con
đường có niềm vui sướng tận cùng và nỗi đau khổ lắng sâu. Chúng ta bị cuộc sống
ép buộc. Trên con đường ấy, đôi khi ta bắt gặp một vài mảnh vỡ của Thiên đường
nhưng ngay sau đó lại là vực thẳm. Chúng ta càng đi càng bước vào mê cung lầm lẫn
nhiều khổ đau và không ít khi tuyệt vọng. Chính trong những khoảnh khắc hạnh
phúc tận cùng và nỗi đau khổ tận cùng ta có được sự tĩnh tâm. Chỉ ở trạng thái
này ta có được tự do thuần khiết. Khi bạn nhìn bầu trời vào một sáng mùa thu
trong suốt không một gợn mây, bạn sẽ thấy bầu trời sâu và cao như nó vốn có,
nhưng nếu bạn nhìn bầu trời vào một ngày có nhiều mây, bạn sẽ thấy bầu trời chật
hẹp, thấp và gần hơn. Ở đây có một cái gì rất gần với sự sáng tạo. Nếu ở trạng
thái trong suốt, trạng thái của tự do thuần khiến, người sáng tạo có nhiều cơ hội
để đến được với bản chất của sự vật, đến được với bản thân mình, đến được với
thơ. Tất cả chúng ta phải thừa nhận rằng, khi văn học nói được những điều thẳm
sâu nhất của con người, thì nó trở thành sản phẩm quí giá…
Tìm kiếm ánh sáng thuần khiết trong tâm hồn chính là nét chủ
đạo giúp đưa con người cá nhân phản tỉnh vượt qua bóng tối u uẩn, vươn tới ánh
sáng, tự do minh triết. Toàn bộ tinh thần của trường ca Trần Anh Thái, thông
qua hình ảnh con người cá nhân phản tỉnh, vì thế đã khởi cuộc tìm kiếm ý nghĩa
cuộc sống trong luồng ánh sáng có nhiều khúc đoạn thăng trầm, nhiều khi nhuốm
màu hoang hoải, thâm u của bóng tối. Trên tất cả, nó vẫn là luồng ánh sáng nâng
niu qua nỗi khổ đau của “Đôi mắt sáng tiên tri chỉ tay về phía mặt trời đang
tan trong làn sương”. Nói một cách rõ ràng hơn thì tinh thần trường ca Trần Anh
Thái được kiến tạo từ trong chính bản thể hướng tới tính Người trong luồng ánh
sáng của tự do trong suốt. Ánh sáng đó giúp cá nhân phản tỉnh dịch thoát ra khỏi
hiện thực giản đơn, tầm thường mà chạm tới tầng ẩn sâu nơi bản thể Người. Đây
cũng chính là quy chuẩn làm nên sức nặng của trường ca Trần Anh Thái.
19/5/2021
Nguyễn Hồng Nhung
Theo https://vanvn.vn/
Cảm thức cô đơn trong Lửa thiêng của Huy Cận
Cảm thức cô đơn trong
Lửa thiêng của Huy Cận
Cô đơn như một phương cách để thi nhân có thể gặp gỡ
và lắng nghe tiếng Con Người luôn hiện diện trong cõi sâu thẳm của tâm
linh, cô đơn để tìm về hoà hợp trong mối giây tương quan và liên đới với
nhân loại, và rộng hơn, cao hơn cô đơn để nối sợi dây giao cảm cùng vũ trụ vô
biên, vĩnh hằng, tìm về miền thanh tịnh…
1. Sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội
nhiều biến động, cũ mới giao thời, trắng đen lẫn lộn, nhiều giá trị bị đánh
tráo, thân phận con người bị coi rẻ như bèo bọt, nổi trôi… xuất phát từ những
niềm đau nhức nhối tâm can, chàng Huy Cận khi đó “đang ở giữa độ măng trẻ của đời
người” (Xuân Diệu) đã phát tiết tinh hoa trong Lửa thiêng (1940) với
những dòng thơ như những giọt buồn khôn dứt. Chỉ từ những điều bình thường, giản
dị, người thi sĩ tài hoa đem “đúc” thành “châu ngọc” để chia sẻ cùng nhân thế,
âu đó cũng là một hệ giá trị văn hóa mà Huy Cận dâng tặng cuộc đời.
Trước nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu phê bình (Hà Như Chi,
Uyên Thao, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Tấn Long, Sông Thai, Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng
Điệp…), luận bàn về “khối sầu thiên cổ” trong thơ Huy Cận nhưng quả thật “khối
sầu” đó, trải qua thời gian, cho dù được nhìn từ góc nào vẫn tỏa ánh sáng thâm
u, huyền diệu bí ẩn, như chính tác giả viết: một chiếc linh hồn nhỏ/ mang
mang thiên cổ sầu (Ê chề). Đọc Lửa thiêng của Huy Cận, chúng ta
có thể cảm nhận rõ trong thơ Huy Cận song song nỗi “buồn điệp điệp” bao giờ cũng
là sự khắc khoải về nỗi cô đơn ám ảnh tâm cảm thi nhân. Đã có nhiều
luận giải về nỗi buồn – một phương diện thẩm mỹ mang giá trị như là một
biểu hiện niềm đau thân phận của kiếp lưu đày, nhưng cảm thức cô đơn trong
thơ Huy Cận vẫn là một vấn đề còn nhiều bỏ ngỏ. Chúng tôi cho rằng cô đơn có
thể coi như một yếu tính, một phương diện thẩm mỹ không thể không nói đến, nó
góp phần không nhỏ làm nên sự độc đáo, hấp dẫn trong nhiều áng thơ còn lại với
thời gian trong Lửa thiêng của Huy Cận. Tìm hiểu Cảm thức cô đơn
trong Lửa thiêng của Huy Cận có thể nhận diện chiều sâu trong tư duy nghệ
thuật của một trong những gương mặt tiêu biểu của cuộc cách mạng thơ trong quá
trình hiện đại hóa thơ ca dân tộc, đó là phong trào Thơ mới.
2. Cô đơn hay sự cô đơn (Loneliness) là một trạng thái cảm
xúc phức tạp của con người nhằm đáp ứng lại với sự cách ly của bản thân với xã
hội. Cô đơn thường bao gồm cảm giác lo âu, suy tư, trăn trở… về sự trống vắng của
con người bởi sự thiếu hụt tình cảm, không cảm nhận được sự kết nối cảm xúc giữa
con người với con người và vạn vật của thế giới. Sự cô đơn có thể cảm nhận ngay
cả khi con người được bao quanh bởi nhiều người, nhiều lúc sống giữa “đám đông”
mà lòng vẫn tràn đầy cảm giác cô đơn, thậm chí con người cô đơn ngay chính ngôi
nhà của mình. Các nhà hiện sinh chủ nghĩa quan niệm cô đơn là yếu tính của
bản thể. Cô đơn mang tính phổ quát và tồn tại trong xã hội loài người như một phẩm
tính người. Vì thế cô đơn luôn hiện hữu ở mọi thời đại, mọi dân tộc, và in dấu
rõ nét trong nhiều tác phẩm văn chương đông tây kim cổ của nhân loại là một điều
tất yếu …
Đọc Lửa thiêng của Huy Cận, cảm thức cô đơn như một
mạch ngầm xuyên suốt hồn thơ, với nhiều cung bậc, thanh âm, hoặc sâu đậm, hoặc
mờ nhòe, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thể hiện trong hầu hết các bài
thơ: Bi ca, Bình yên, Buồn đêm mưa, Cầu khẩn, Cách xa, Chết, Chiều xưa,Chiều
xuân, Dấu chân bên đường, Đẹp xưa, Đi giữa đường thơm,Điệu buồn,Giấc ngủ chiều,
Hồn xa, Hồn xuân, Khung tình, Lời dịu, Mai sau, Mưa, Quanh quẩn, Thu, Thu rừng,
Tiễn đưa, Tình mất, Tình tự, Trò chuyện, Trông lên, Xuân, Xuân ý, Ê chề,
Họa điệu, Tràng giang, Thuyền đi, Thu rừng, Nhạc sầu, Ngậm ngùi, Vạn lý
tình … Cô đơn bao phủ không gian, thời gian, cô đơn hiện hữu trên từng lá
cây, ngọn cỏ, cánh bèo, đám mây, dòng sông, con thuyền, cơn mưa, làn gió, cánh
chim trời… Căn nguyên nào khiến cô đơn trở thành âm hưởng chủ đạo chi phối ý thức
kiến tạo thi giới nghệ thuật của Lửa thiêng? Nữ văn sĩ Marguerite Duras có
lý khi cho rằng “cô đơn như là hư không, cả một rỗng tuếch mênh mông, cần phải
lấp đầy”, và từ ý kiến này có thể thấy cô đơn phủ đầy thi giới của Huy Cận bởi trong
cảm nhận của ông mọi cái thuộc thế giới hiện hữu từng giây phút quanh ông đều lạnh
lùng, xa lạ,ngoài tầm kiềm soát của con người, bức tường thành phi lý lúc vô
hình, lúc hữu hình bủa vây, ngăn cách tứ phía, cuộc sống của con người chỉ là một
sự tồn tại vô nghĩa. Khoảng hư không rỗng tuếch bao la tưởng đến vô cùng trong
tâm hồn thi nhân chỉ còn có thể được lấp đầy bằng thi ca. Và cô đơn như một
phương cách để thi nhân có thể gặp gỡ và lắng nghe tiếng Con Người luôn hiện diện
trong cõi sâu thẳm của tâm linh cô đơn để tìm về hoà hợp trong mối giây tương
quan và liên đới với nhân loại, và rộng hơn, cao hơn cô đơn để nối sợi dây giao
cảm cùng vũ trụ vô biên, vĩnh hằng, tìm về miền thanh tịnh. Dùng cô đơn để vượt
thoát cô đơn, để được sống là chính mình – “Tôi tồn tại” chỉ thực sự có ý nghĩa
khi cái tôi này tự tách ra khỏi tồn tại; Và đây là căn nguyên sâu xa nhất để có
thể luận giải vì sao cô đơn lại trở thành âm hưởng chính trong Lửa thiêng của
Huy Cận. Từ trạng thái cô đơn tỏa ra “buồn điệp điệp”, “sầu muôn ngả”…cô đơn
như nguồn cội của mọi nỗi sầu, buồn – đó là tiếng thở dài mang âm hưởng của thời
đại, “là một phản ứng thời đại”1.
Trong đời sống, con người thường rơi vào trạng thái khổ tâm
nhất, khi cảm nhận nỗi lẻ loi, đơn chiếc, không thể có một sợi dây kết nối yêu
thương cùng người có thể sẻ chia buồn vui cay đắng cùng mình. Huy Cận thấu hiểu
điều đó và thi nhân cũng cảm nhận rất rõ, trong cõi nhân gian đi tìm người tri
âm, tri kỷ để gắn kết thật khó lắm thay! Tri nhận ra khoảng cách xa vời, lạnh
lùng giữa con người với con người trong cuộc sống nơi trần thế đã khiến
cảm thức cô đơn trong Lửa thiêng của Huy Cận thấm đẫm màu bi thương.
Không ít lần trong Lửa thiêng chúng ta gặp Huy Cận
thảng thốt, xót xa tiếc nuối trước những cuộc chia lìa, giã biệt: Tới ngã
ba sông, nước bốn bề/ Nửa chiều gà lạ gáy bên đê/ Làng xa lặng lẽ sau tre trúc/
Bến cũ thuyền em sắp ghé về (Em về nhà); Ôi nắng vàng sao mà nhớ
nhung/ Có ai đàn lẻ để tơ chùng/ Có ai tiễn biệt nơi xa ấy/ Xui bước chân đây
cũng ngại ngùng…(Nhớ hờ). Thôi đã tan rồi vạn gót hương/ Của người đẹp tới
tự trăm phương/ Tan rồi những bước không hò hẹn/ Đã bước trùng nhau một ngả đường (Dấu
chân trên đường). Vì ta đợi cho nên người chẳng đến/ Người xa ta, xa từ
thuở sơ sinh (…) Nhưng chân đẹp vội rẽ đường trăm lối / Gió bay qua
thôi đưa tiếng cười chào / Rồi một bữa đứng chờ người chẳng tới (Bi ca).
Hoài Thanh từng xác quyết: “cái buồn của Lửa thiêng là cái buồn
tỏa ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh”2. Quả đúng là vậy,
cảm thức cô đơn dường như xuất phát từ những ám ảnh thuở “sơ sinh”, của ký ức,
cô đơn tụ hợp, kết đọng trong tiềm thức thi nhân, cô đơn đúc thành “sợi sợi buồn”
sâu lắng, da diết, thao thiết chảy trong giọng điệu thơ Huy Cận. Dẫu đương thời
khi viết những câu thơ trong Lửa thiêng thi nhân mới chỉ đang ở độ tuổi
đôi mươi, nhưng với trái tim dạt dào cảm xúc và tâm hồn nhạy bén, ngần đó cũng
đủ nghiệm sinh để thấu hiểu cô đơn là mong muốn cho đi mà không có người nhận,
là muốn nhận mà “chờ mãi” chẳng có ai cho, cô đơn là chờ đợi, mà cái mình chờ đợi
chẳng bao giờ đến, cô đơn là gần nhau mà vẫn cách biệt, không phải cách biệt của
không gian mà là cách biệt của cõi lòng…
Trong cô đơn, cảm xúc của Huy Cận thật tinh tế, thi nhân nhận
thấy sâu thẳm trong lòng đang “run” lên bởi “nỗi hàn bao la” dâng trong lòng,
cái lạnh giá của ngoại cảnh đã đánh thức, cộng hưởng cùng cái lạnh vốn thấm sâu
nơi vô thức khiến lòng người càng thêm khắc khoải trong một đêm mưa: Nghe
đi rời rạc trong hồn/ Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi… /Rơi rơi… dìu dịu rơi
rơi…/Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ… /Tương tư hướng lạc phương mờ…/Trở
nghiêng gối nặng hững hờ nằm nghe /Gió về, lòng rộng không che/ Hơi may hiu hắt
bốn bề tâm tư…(Buồn đêm mưa). Con người không chỉ cô đơn trong không gian mà
còn cô đơn trong thời gian. Đếm mưa rơi như đếm từng giọt thời gian đang rơi
rơi hòa tan vào mênh mang vũ trụ… một mình trong cái khoảnh khắc hiện tại, xa
cách quá khứ, đối diện với tương lai bấp bênh, mờ mịt, con người không chỉ xa lạ,
“lạc hướng phương mờ” với môi trường sống của mình mà còn xa lạ với chính mình,
xa lạ với quá khứ và của tương lai của mình. Tìm kiếm đâu hơi ấm, cái nhìn và lời
nói ân tình của tha nhân? Khi xung quanh nhiều lúc sự bất công, thói đời phản bội,
đen bạc, lòng người lạnh lùng, vô cảm như xé nát trái tim ta, khiến ta khi đối
diện với tha nhân chỉ cảm thấy mình bị vây hãm và tổn thương sâu sắc? Đó là nỗi
cô đơn kinh hoàng bởi sự vô tâm và lòng dạ hiểm ác của con người gây ra đối với
con người…
Cái tôi trữ tình bất an trong từng giây phút hiện hữu, có lúc
cuống quýt “chạy trốn” nhưng càng chạy trốn càng lâm vào bi kịch của trạng thái
cô đơn: Trốn tránh bơ vơ chạy ngủ lang,Hồn ơi! Có nhớ giấc trần gian/ Nệm
là hơi thở, da: chăn ấm/ Xương cọ vào xương bớt nỗi hàn ?(Ngủ chung)
; Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế! Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường;
Phố đìu hiu màu đá cũ lên sương, Sương hay chính bụi phai tàn lả tả?(Nhạc sầu);
Tai dưới đất để nghe chừng tiếng sóng/ Ở trên đời, đầu ấy ngửng lên cao/
Sẽ nằm im! Ôi đau đớn chừng nào/ Thân bay nhảy giam trong mồ nhỏ tí (Chết).
Khi chỉ còn cách “xương cọ vào xương bớt nỗi hàn” và nghĩ về cái “chết, mồ côi,
bụi phai tàn…” là khi con người đã sống tận cùng của cảm giác cô đơn. Một hồn
đau, một đời lạnh khiến con người vốn dĩ đã cô đơn lại càng trở nên cô đơn hơn
bao giờ hết. Chiều sâu cảm xúc cho thấy tầm vóc, nội lực của nhà thơ, vì thế là
người hiểu Huy Cận hơn ai hết, khi viết tựa cho Lửa thiêng, Xuân
Diệu đã có phát hiện khá tinh tế: “Huy Cận nói hộ cho ta đó, những giọt nước mắt
thường đến quanh mi rồi ngừng. Huy Cận vì đã vì ta mà rơi xuống má; cái linh hồn
ấy bơ vơ không kể hết, kiếp người lang thang, đất trời trôi nổi, lạnh lắm nhân
gian ơi!”3. Nhận xét của Xuân Diệu cho thấy, nỗi cô đơn thân phận được cảm nhận
từ tâm linh sâu thẳm đã đem đến cho thơ Huy Cận chất lượng thẩm mỹ mà không phải
người làm thơ nào cũng dễ dàng có được; Giọt nước mắt tràn mi “rơi xuống má”để
rồi chảy dài mãi của thi nhân chính là giọt nước mắt “thanh lọc” tâm hồn, giọt nước
mắt của niềm đau vượt qua sự than vãn, bi lụy yếu đuối của cá nhân để vươn đến
nỗi đau cho muôn kiếp người trong cõi nhân sinh. Cảm thức cô đơn bởi sự xa
cách, lạnh lùng giữa con người với con người giữa cõi trần ai được đẩy đến độ
cao trào nhất, nó ám ảnh như lời nhắc nhở bạn đọc qua nhiều thế hệ, ở mọi thời
đại, ý thức sâu sắc hơn về thân phận hẩm hiu, mong manh của kiếp người trên
“cõi tạm”. Để từ nỗi âu lo này, mỗi người tự nhủ hãy sống có một trái tim biết
cảm thương, một tấm lòng biết trắc ẩn, một tâm hồn biết mở rộng và dám ra vượt
khỏi “khung tình” ích kỷ của mình để gặp gỡ, chia sẻ, trao tặng những gì mình
có thể, để đem lại niềm vui và hạnh phúc cho nhau trong cuộc đời. Thông điệp
vang lên đằng sau câu chữ của Lửa thiêng đã thắp lên ngọn lửa thiêng
trong tâm hồn người đọc, từ đó gợi suy nghĩ về việc giữ gìn phẩm tính Người
trong mỗi chúng ta, nhất là trong thời đại mà sự phát triển của kỹ thuật số chi
phối đến từng hoạt động, bao phủ khắp không gian trú ngụ của con người.
Bên cạnh cảm thức cô đơn bởi sự thiếu vắng hơi ấm của con người, giữa
mênh mang bao la vũ trụ, đối với Huy Cận con người và vạn vật sinh linh chỉ là
một hạt bụi nhỏ nhoi. Thiên nhiên, vũ trụ càng bao la, con người càng trở nên
bé nhỏ, mong manh – đó là căn nguyên khiến thơ Huy Cận mang nặng nỗi cô đơn, niềm
âu lo chỉ có thể diễn tả được bằng độ sâu của Trời và chiều rộng của Đất; Cô
đơn của Huy Cận trong Lửa thiêng còn là cô đơn của nghìn năm xưa vọng
lại – đó là nỗi cô đơn của “linh hồn nhỏ”, đối diện cùng vũ trụ của hồn xa, hồn
xưa…Song, để chống lại định mệnh, chống lại một thế giới mà con người đang bị
nhấn chìm vào sự lãng quên bởi thời gian và không gian vô định, Huy Cận dám chấp
nhận độc hành, dấn thân Đi hết thời gian không nhớ thương (Hồn xa) để
đối diện cùng cỏ cây, mây, trời, sông, nước… Có thể bắt gặp trong thơ Huy Cận
nhiều câu thơ mà nỗi cô đơn như thấm sâu, lan tỏa trong từng chuyển động hỗn loạn
của thiên nhiên, vũ trụ: Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/ Sông dài, trời
rộng, bến cô liêu(…) Bèo dạt về đâu hàng nối hàng/ Mênh mang không một chuyến
đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật/ Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng… (Tràng
giang); Tôi luồn tay nhỏ hứng không gian/ Với gió xa xôi lạnh lẽo
ngàn (Mưa); Lâng lâng chiều nhẹ ghé muôn tai/ Trong bóng chiều như mờ
tiếng ai/ Thổi lạc hương rừng cơn gió đến/ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài…
(Nhớ hờ) Tương tư đôi chốn tình ngàn dặm/ Vạn lý sầu lên núi tiếp
mây (Vạn lý tình); Trăng lên trong lúc đang chiều/ Gió về trong
lúc ngọn triều mới lên/ Thuyền đi, sông nước ưu phiền/ Buồm treo ráng đỏ rong
miền viễn khơi/ Canh khuya tạnh vắng bên cồn,Trăng phơi đầu bãi, nước dồn
mênh mang (Thuyền đi).
Có lẽ cũng là bởi thi nhân thức nhận rõ một quy luật bất khả
kháng: con người đã sinh ra trên đời là phải “họa điệu” cùng cô đơn. Cô đơn ám ảnh,
thao thức khôn nguôi, trở đi trở lại, cô đơn chi phối toàn bộ cái nhìn của tác
giả trong quá trình kiến tạo thi giới. Những bài thơ như Họa điệu, Tràng
giang, Thuyền đi, Thu rừng, Nhạc sầu, Ngậm ngùi, Vạn lý tình Chiều xưa,Chiều
xuân, Dấu chân bên đường, Đẹp xưa, Đi giữa đường thơm, Điệu buồn,Giấc ngủ chiều,
Hồn xa, Hồn xuân…ít nhiều đều cho thấy trong ý thức nghệ thuật của mình Huy Cận
luôn coi cô đơn như một phương tiện đắc dụng nhất để bộc bạch nỗi niềm của thi
nhân về cõi nhân sinh với bao thân phận con người nhỏ bé, nổi chìm theo dòng chảy
thời gian vô thủy vô chung cùng bao biến thiên dâu bể của cuộc đời…
Các nhà hiện sinh đã khẳng định cô đơn là một yếu tính của
thân phận con người. Nếu chối bỏ, không thừa nhận sự cô đơn chính là đã vô tình
tước bỏ những phẩm tính Người trong mỗi Con Người. Do đó, thực chất của cô đơn
là tập trung năng lực để sáng tạo, cô đơn được coi như một giá trị tinh thần.
Đó là những giây phút tĩnh lặng như một điều kiện để khám phá bản thân sâu rộng
hơn qua những gì mình đã, đang sống và cảm nhận. Chiêm nghiệm thơ Huy Cận chúng
ta thấy cảm thức cô đơn không nằm ngoài những giá trị nhân văn trên. Huy Cận đã
không trốn chạy cô đơn, cô đơn được thi nhân được xem như một sức mạnh để chống
lại định mệnh, cô đơn vượt lên trên bi lụy, nó mang lại cho con người niềm tin
để sáng tạo và hướng về phía trước với hy vọng tương lai, cô đơn nhưng
không đánh mất đi bản thể Người mà cô đơn là để nhận chân chính bản thân, để khẳng
định nhân vị của mình; Và điều này cũng luận giải vì sao cảm thức cô
đơn là phẩm tính, là mạch ngầm chủ đạo xuyên suốt thơ Huy Cận nhưng dư âm neo lại
trong lòng bạn đọc khi tiếp nhận Lửa thiêng không phải là sự yếu đuối,
bi lụy, khóc than, rẫu rĩ cho thân phận “lạc loài”, mà chỉ là nỗi buồn thăm thẳm.
Đằng sau “mặt nạ” buồn là lòng yêu đời, khát sống của thi nhân, cho nên đây đó
trong Lửa thiêng còn có những dòng thơ trong trẻo, “mang ngầm sinh lực
như men ủ nắng” (chữ dùng của Xuân Diệu), ngày nay chúng ta đọc lại vẫn không hề
thấy lạc lõng: Trong giấc đẹp sẽ thấy trời mở rộng/ Không gian hồng, đời
nhuộm màu hy vọng/ Tôi sẽ giơ tay để đón rước Đời (Lời dịu). Thời khắc
đang đi nhịp thái bình(…) Ngoài đường buổi sáng thơm hương mới/ Thú sống
thơm mùi cỏ mới lên (Bình yên). Đúng như Xuân Diệu xác quyết trong lời tựa
tập Lửa Thiêng: “Cái tiếc sớm, cái thương ngừa ấy chẳng qua là sự trá hình
của lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ yêu sự sống”4.
3. Xét trên bình diện phổ quát, cảm thức cô đơn
cũng là vấn đề thường gặp trong văn chương của nhiều thi nhân mà tên tuổi đã trở
nên gắn bó với nền văn hóa dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính…; cũng là một đề tài thường gặp trong thơ của
nhiều thi nhân nổi tiếng trên thế giới như: Lý Bạch, Thôi Hiệu, J.Goethe,
A.Rimbaud, C.Baudelaire, P.Valéry, G.Apollinaire, S.Mallarmé, A.Puskin,
M.Lermontov, S.Yesenin, Onga Becgon… Cảm thức cô đơn trong Lửa thiêng của
Huy Cận không nằm ngoài quỹ đạo của tư duy thơ mang tính phổ quát toàn nhân loại.
Do vậy, sự hiện hữu cái tôi cô đơn bản thể trong thơ Huy Cận là giá
trị chứng tỏ tư duy thơ của ông đã bắt kịp với dòng chảy của tư duy thơ nhân loại.
Tám mươi năm đã qua, kể từ khi Lửa thiêng ra đời, thi phẩm của Huy Cận
đã được kiểm chứng bởi thời gian, và nó đã chứng tỏ “Ngọc đau buồn, nguyên khối
vẫn chưa tan”. Cảm thức cô đơn trong Lửa thiêng có thể coi như một chất
ngọc trong “khối sầu thiên cổ” của một thi sĩ mà suốt đời đau đáu tâm niệm: Người
biết đấy, lòng tôi trong trắng lắm/ Người cho sao tôi giữ vậy, như gương/ Mặt
trời đẹp, sắc đời đua nở thắm/ Tôi đã đành mang nặng nghiệp yêu thương (Trình
bày).
Xin mượn lời Xuân Diệu – người bạn tâm giao, tri kỷ một đời của
Huy Cận trong lời tựa tập thơ Lửa Thiêng để tưởng nhớ về Huy Cận –
thi sĩ của hôm qua, hôm nay và đến muôn sau: “Chúng tôi khuây khỏa trong chuyện
đời, ráng lấp cho đầy cái khoảng trống trong linh hồn…chúng tôi sợ sầu, nên làm
ngơ với nhớ thương dằng dặc. Nay người nói ra, chúng tôi càng nhớ lại; chúng
tôi ngước mắt nhìn lên cõi trời, để hình ảnh hồn chúng tôi. Chúng tôi cũng bơ
vơ, mỗi hồn người là một cõi bơ vơ, chúng ta đồng một bơ vơ với nhau, vậy thì
người cũng bớt bơ vơ một chút” 5.
Chú thích:
1. Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn học sử giản ước tân
biên (tập 3), Quốc học Tùng thư xuất bản, SG, 1965, tr.579.
2. Hoài Thanh , Hoài Chân, Thi Nhân Việt Nam, Nxb.
Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003, tr.135
3. 4, 5 Huy Cận, Lửa Thiêng, Đại học Văn khoa, tái
bản, Sài Gòn, 1967, tr.10,9,11.
20/5/2021
Cao Thị Hồng
Theo https://vanvn.vn/
Tâm thức biển của người Việt: Một cái nhìn văn hóa - Lịch sử
Tâm thức biển của người Việt: Một
cái nhìn văn hóa - Lịch sử
Biển với người Việt Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng
và sẽ ngày càng quan trọng hơn. Nhưng tâm thức biển thì tùy từng giai đoạn mà đậm
nhạt khác nhau.
1. Trong kỷ Băng hà, cách đây 12.000 – 7.000 năm, khi Trái đất
nóng lên, băng ở hai cực tan chảy, nước biển dâng lên gọi là biển tiến; còn khi
Trái đất lạnh đi, băng đóng lại ở hai cực, nước biển rút xuống gọi là biển lùi.
Khi biển tiến thì cư dân ven biển và đồng bằng chạy nước lên
vùng núi và cao nguyên. Từ chỗ làm nông/ngư nghiệp, họ thoái lùi, hay hoang
hóa, trở thành những người hái lượm, săn bắt. Khi biển lùi thì họ lại xuống đồng
bằng rồi tiến ra biển, làm nông nghiệp lúa nước và đánh bắt cá dọc sông ven biển.
Lúc bấy giờ thềm lục địa nổi lên, cư dân có thể dùng bè di chuyển từ đảo này
sang đảo khác ở khu vực Nam Thái Bình Dương, thậm chí sang tận Mỹ châu.
Nhịp biển tiến – lùi như vậy không chỉ diễn ra có một lần và
trong một thời gian ngắn. Dấu tích vật chất còn lưu lại ở nhiều nơi. Các hòn đảo
đá vôi ở vịnh Hạ Long còn ghi dấu những ngấn sóng cách mặt nước hiện nay hàng
mét. Núi Yên Tử, trên lối lên chùa Đồng, người hành hương ngạc nhiên bắt gặp
hóa thạch của những con ốc biển. Nhưng, có lẽ dấu vết của những cơn đại hồng thủy
còn dễ thấy hơn ở các mảnh vỡ huyền thoại, truyền thuyết, truyện cổ. Như truyện Sơn
Tinh – Thủy Tinh của người Kinh, Sự tích hồ Ba Bể của người Tày,
trường ca Khảm hải/Vượt biển cũng của người Tày, đề tài cá trong truyện
cổ Ba Na và hoa văn trang trí trên thổ cẩm của nhiều tộc người Tây Nguyên.
Như vậy, người Việt Nam tự trong bản thân mình, từ xa xưa, đã
có văn hóa đất và văn hóa biển, sau này theo các luồng di cư theo chiều Đông
Tây và Tây Đông thì có cả văn hóa Đông Nam Á lục địa và hải đảo.
2. Khi mực nước biển xấp xỉ như mực nước hiện nay, vào thời kỳ
cuối Đá mới sang Đồng, thì trên lãnh thổ Việt Nam xuất hiện các văn hóa cổ như
Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo. Đây là thời kỳ tâm thức biển đậm. Trống đồng Đông
Sơn có mặt ở nhiều nước Đông Nam Á có thể do cư dân Đông Sơn khi di cư mang
theo, hoặc do buôn bán trao đổi.
Tại di tích của nền văn hóa Sa Huỳnh, phát hiện các đồng tiền
Ngũ Thủ và Vương Mãng, các gương đồng của nhà Tây Hán, đỉnh đồng nhà Đông Hán,
chứng tỏ họ đã có một nền sản xuất hàng hóa thủ công cùng với sự giao thương
buôn bán tương đối phát triển.
Còn khi khai quật di chỉ Óc Eo, các nhà khảo cổ tìm thấy những
đồng tiền in hình hoàng đế La Mã, chứng tỏ bấy giờ buôn bán không chỉ quẩn
quanh Đông Nam Á, Nam Á mà đã viễn dương sang châu Âu. Như vậy, bấy giờ, phương
tiện giao thông, buôn bán chủ yếu bằng đường sông, biển. Người Việt Nam, do vậy,
cũng rất giỏi chế tạo những chiếc bè tre vượt biển và đóng thuyền chiến. Hai trận
thắng lớn trên sông Bạch Đằng và trận đánh chiếm đoàn thuyền chở quân lương của
nhà Nguyên trên vịnh Hạ Long, đã nói lên điều đó.
Con thuyền, như vậy, đã trở thành biểu tượng cho văn hóa Việt
Nam, đối lập với cỗ xe ngựa, hoặc con ngựa biểu tượng cho văn hóa phương Bắc.
Thuyền, thậm chí còn là biểu tượng tình yêu trai gái như thuyền và bến, thuyền
và biển…
Ngày nay, khi giao thông đường sông không còn quan trọng nữa
mà đường biển còn quanh quẩn ven bờ thì đường bộ với những chiếc ô tô thay thế
vai trò của đường thủy, hình ảnh thuyền bắt đầu nhạt dần. Theo đà đó, các từ chỉ
giao thông sông, biển cũng chẳng còn. Nhưng nếu ai làm khảo cổ học ngôn từ, thì
thấy đâu đâu cũng còn những hóa thạch ngôn ngữ nằm trong các địa danh sông nước
như chợ búa (búa là bến, nên chợ búa là chợ bến/sông), bến Bình Than (than cũng
là bến), là Ngọc Than (quê tôi thì là làng bến ngọc), Vạn Lai Triều ở phố Hiến
là bến chờ để vào triều/chầu Thăng Long chứ không phải “đến đây từ vạn dặm
sông” như Hữu Ngọc dịch, làng vạn chài là làng bến thuyền của cư dân đánh cá
trên sông biển…
3. Tâm thức nhạt biển xa rừng có thể bắt đầu từ thời Lê sơ. Bấy
giờ đồng bằng Bắc bộ được phù sa bồi lắp tương đối bằng phẳng, chỉ còn sót lại
một vài vùng trũng, như Phú Xuyên (Hà Tây), Hà Nam “cầu tõm”. Lương thực được đảm
bảo. Số lượng ruộng tư ngang với ruộng công. Sự ra đời của gia đình hạt nhân và
hạt nhân mở rộng cày cấy trên những mảnh ruộng nhỏ của riêng mình.
Lúc này cũng là khi Tống nho phát triển ở Việt Nam, chủ yếu
là hình nhi hạ, tức phần nghi lễ, nghi thức, đạo đức. Tống nho hình nhi hạ chủ
trương an bần lạc đạo, chống lại thương nghiệp vì sợ mất sự ổn định của cộng đồng.
Việt Nam dần rơi vào chủ nghĩa tam nông: nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Làng
xã xuất hiện như một đơn vị tự cung tự cấp. Người ta không cần phải ra khỏi lũy
tre làng đã tự đầy đủ. Người tiểu nông ra đời. Thiết chế làng xã phân biệt
chính cư và ngụ cư, trong đó dân chính cư được hưởng mọi quyền lợi thành viên của
làng, còn dân ngụ cư thì chỉ có nghĩa vụ phục dịch. Chế độ ruộng công chỉ phân
bổ cho các suất đinh sống ở làng khiến người dân không dám bỏ làng đi xa. Họ
bám chặt đất làng, ruộng làng, ngại mọi chuyện phiêu lưu. Từ đó hình thành tâm
lý xa rừng nhạt biển.
Đặc biệt là từ khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam, với máy móc
cơ giới, họ mở mang hanh thông đường bộ thì giao thông thủy càng bị thu hẹp. Những
chuyến tàu thủy cuối cùng đi trên sông Hồng là của Bạch Thái Bưởi. Cảng sông Vị
Hoàng doanh xưa với thuyền bè tấp nập nay nhường chỗ cho cảng biển Hải Phòng của
người Pháp…
4. Việt Nam có hàng ngàn cây số bờ biển, là bao lơn nhìn ra
Thái Bình Dương, nhưng chưa phải là vương quốc biển, do tâm lý bám ruộng bám
làng, sợ phiêu lưu của người nông dân, hay người có căn tính nông dân. Từ khi
nhạt biển, Việt Nam không có ngoại thương đúng nghĩa. Các cuộc hải trình đi
Indonesia, Singapore thời Nguyễn như các chuyến đi của Phan Huy Chú, Cao Bá
Quát, Phạm Phú Thứ… chỉ là mua sắm hàng tiêu dùng cho vua. Còn hàng hóa chủ yếu
“xuất khẩu tại chỗ”, mà về sau cũng “bế quan tỏa cảng”. Bởi vậy, không có nhiều
thành phố ven biển. Ngư dân thì đánh bắt quanh bờ, không có tàu thuyền lớn để
ra khơi. Vì thế, ý thức về lãnh hải (thềm lục địa và hải đảo) của người dân, và
cả lãnh đạo, còn rất yếu ớt, lờ mờ.
Trước đây nghiên cứu văn hóa Việt Nam chịu sự thống trị của
cái nhìn từ đồng bằng. Đó là cơ sở của Việt tâm luận. Gần đây, nhà nghiên cứu
văn hóa, nhà Việt Nam học người Úc – Li Tana đã đưa ra một cái nhìn từ biển. Bà
chứng minh rằng Việt Nam trong quá khứ cũng là một quốc gia biển, nhất là ở xứ
Đàng Trong. Bởi vậy, làm sao khôi phục lại được tâm thức biển thời đậm là một
bài toán khả giải, đòi hỏi sự chung tay góp óc toàn dân, nhất là giới lãnh đạo
và các trí thức độc lập có tâm, có tầm.
5. Viết đến đây, tôi bỗng nhớ tới tiểu thuyết Tàu Tôtem
Sói của Khương Nhung, kể về cuộc đấu tranh sinh tồn giữa một đàn sói và những
người chăn cừu ở thảo nguyên Nội Mông. Những người chăn cừu, do học được từ bầy
sói, nhiều mưu mẹo không kém nhưng chỉ để đối phó nhằm kiểm soát sói, chứ không
phải tiêu diệt. Nhưng rồi những người trồng trọt đến, họ vỡ hoang, trồng lúa mì
và tiêu diệt bầy sói. Đàn cừu không còn cuộc sống tự nhiên, tức không bị sói
săn đuổi nữa, nhiễm bệnh, chết dần. Khương Nhung nêu rõ tính ưu việt của du mục
so với nông nghiệp.
Ông còn cho biết trong lịch sử Trung Hoa, những nhân vật lịch
sử lớn đều xuất thân du mục hoặc có nguồn gốc du mục: Dương Kiên, Dương Quảng
nhà Tùy; Võ Tắc Thiên nhà Đường; Hốt Tất Liệt nhà Nguyên; Khang Hy nhà Thanh…
Tinh thần du mục bây giờ không còn nữa, phải tìm tinh thần
khác thay thế. Khương Nhung đề xuất lấy tinh thần hải thương của Trịnh Hòa (người
Duy Ngô Nhĩ) đời Minh. Đó chính là hướng biển và làm chủ biển. Trung Quốc đã và
đang hiện thực hóa tư tưởng này. Việt Nam muốn bảo vệ biển đảo của mình phải học
Tàu để chống lại Tàu – đó là thành lập lực lượng hải quân, phát triển hải
thương, đặc biệt là xây dựng các cảng biển, các thành phố ven biển.
Tài liệu tham khảo chính:
1. S. Oppenheimer (2004), Địa đàng ở phương Đông, Lê Sỹ
Giảng, Hoàng Thị Hà dịch, NXB Lao Động
2. Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong, Lịch sử kinh tế – xã hội
Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII, Nguyễn Nghị dịch, NXB Trẻ
3. Nguyễn Thanh Nhã (2013), Bức tranh kinh tế Việt Nam
thế kỷ XVII – XVIII, Nguyễn Nghị dịch, NXB Trí Thức
4. Đỗ Thị Thùy Lan (2016), Hệ thống cảng thị sông Đàng
Ngoài (Lịch sử ngoại thương Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII), NXB Đại học Quốc
gia
5. Nguyễn Văn Kim (2014), Vân Đồn – thương cảng quốc tế
của Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia.
23/5/2021
Đỗ Lai Thúy
Theo https://vanvn.vn/
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
Nguyễn Huy Thiệp và một chiến lược kể chuyện khác
Nguyễn Huy Thiệp và một chiến lược kể chuyện khác Trong cơn gió văn chương lan theo chiều rộng thì truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một lốc...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...



