VĂN THƠ NHẠC
Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026
Murakami và một lời giải thích cho tâm thức cái ác của Nhật Bản hiện đại
Murakami và một lời giải thích cho
Cái ác của nước Nhật đến từ đâu? Tại sao sự phát triển và giàu có cũng không khiến cho con người bớt cuồng loạn và cực đoan? Thứ gì đang ngầm ẩn bên dưới những đô thị hiện đại ấy, khiến một số kẻ không thôi bị ám ảnh bởi máu?
Tiếng thở mẹ nhọc nhằn - Tiếng rung ngân của lòng hiếu thảo
Tiếng thở mẹ nhọc nhằn
Tiếng rung ngân của lòng hiếu thảo
Với người mẹ già, “tiếng thở” phản ánh sức khỏe sinh mệnh
rõ rệt. “Tiếng thở” của người mẹ trong bài thơ không là nhịp bình thường, mà tựa
như của người phải mang gánh nặng. Đó là dấu hiệu sức khỏe mẹ đang suy giảm, thể
trạng mẹ đang ốm yếu. “Tiếng thở mẹ nhọc nhằn” vang lên trong đêm
khuya tĩnh lặng, đã gọi lên từ sâu thẳm hồi ức và suy cảm của người con: “tiếng
cánh cò rã rời trăm năm âm thầm mưa nắng/ tiếng kết tủa buồn vui đời sông
chạm biển về nguồn”…
TIẾNG THỞ MẸ NHỌC NHẰN
Thơ Phan Hoàng
Thẫn thờ đêm tiếng thở mẹ nhọc nhằn
tiếng cánh cò rã rời trăm năm âm thầm mưa nắng
tiếng kết tủa buồn vui đời sông chạm biển về nguồn
Quẳng gánh bôn ba phiêu bạt hư danh
bay về ngôi nhà tuổi thơ độc thoại gió xuân ký ức
như con bò đi hoang trở về hít thở mùi chuồng thân thuộc
cúi đầu tạ lỗi nghĩa trọng tình thâm
đêm đêm canh giữ tiếng thở mẹ nhọc nhằn
lòng nặng trĩu ngọn núi tuyết đông suy tư nhức nhói
Ngoài vườn côn trùng mê mải reo ca
đón chào những mầm non cựa mình vươn từ lòng đất
gió rón rén nép mình hơi ấm se sắt sinh thành
nước mắt lặng lẽ cứa vào lòng đêm
rơi theo từng tiếng thở mẹ nhọc nhằn dự báo
trận bão đau thương lớn nhất thế gian âm ỉ tràn về
Ước gì ngọn gió ta như mầm non mới cựa mình lòng đất
và cơ thể mẹ là ngôi vườn thanh xuân ấm áp tiếng hoang sơ.
Lời bình của Hà Phi Phượng:
Trong bài thơ Con cò, nhà thơ Chế Lan Viên từng viết rất
hay về tình mẫu tử: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ/ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn
theo con”. Nhạc sĩ Y Vân sáng tác ca khúc nổi tiếng Lòng mẹ có
câu hát rất da diết: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào…”. Với tuổi
thơ, mẹ là chiếc nôi êm, là bầu sữa ngọt. Khi ta trưởng thành, mẹ như mái nhà
trầm nâu đợi bước ta đường xa mỏi mệt trở về. Ở đâu có mẹ, ở đó có yêu thương.
Và ta ước mẹ ta còn mãi, như ước hơi ấm yêu thương mãi mãi bảo bọc mình.
Bài thơ Tiếng thở mẹ nhọc nhằn của nhà thơ Phan
Hoàng là một tiếng lòng thiết tha với người mẹ sinh thành, đồng thời góp một
nét chạm khắc độc đáo về hình tượng cao quý của người mẹ Việt. Nhan đề Tiếng
thở mẹ nhọc nhằn cũng là âm thanh chủ đạo trong cả bài thơ, trở thành hình
tượng sâu đậm. Vì sao thi sĩ Phan Hoàng bật lên những câu thơ về “tiếng thở mẹ”?
Có lẽ đó chính là âm thanh khiến nhà thơ day dứt nhất, âu lo nhất, trong những
ngày chăm mẹ ốm đau.
Chúng ta biết rằng, hơi thở vô cùng quý giá, vì đó là cốt tủy
của sự sống. Với người mẹ già, “tiếng thở” phản ánh sức khỏe sinh mệnh rõ rệt.
“Tiếng thở” của người mẹ trong bài thơ không là nhịp bình thường, mà tựa như của
người phải mang gánh nặng. Đó là dấu hiệu sức khỏe mẹ đang suy giảm, thể trạng
mẹ đang ốm yếu. “Tiếng thở mẹ nhọc nhằn” vang lên trong đêm khuya
tĩnh lặng, đã gọi lên từ sâu thẳm hồi ức và suy cảm của người con:
tiếng cánh cò rã rời trăm năm âm thầm mưa nắng
tiếng kết tủa buồn vui đời sông chạm biển về nguồn
Hai câu thơ giàu biểu cảm, ẩn dụ cuộc đời mẹ với cánh cò,
dòng sông. Nếu như con cò trong ca dao, dân ca Việt Nam đã trở thành biểu tượng
của đức tính hiền lành, siêng năng, tảo tần “âm thầm” vượt khó, thì dòng sông
trong cảm thức của Phan Hoàng là biểu tượng của lòng bao dung, cống hiến, một đời
nhẫn nại, “kết tủa buồn vui” như phù sa bồi đắp xanh tốt bãi bờ. Chỉ
với hai câu thơ, cuộc đời và phẩm cách của người mẹ đã được khắc họa thật giản
dị mà cao quý, trong cái nhìn yêu thương, thấu cảm và hiếu đễ của người
con.
Ra đi từ nhà mẹ, ai trong chúng ta chẳng đã từng bị cuốn vào
dòng chảy cuộc sống bộn bề lo toan mưu sinh, ít nhiều tham vọng. Nhưng đã về
bên mẹ, tất cả gai góc, phong trần hay hào quang, danh lợi không còn quan trọng
nữa. Bên mẹ, ta chỉ là đứa con bé nhỏ, được đằm mình trong tình yêu thương biển
rộng của mẹ hiền.
Ở khổ thơ thứ hai, có cặp câu thơ rất độc đáo: “như con
bò đi hoang trở về hít thở mùi chuồng thân thuộc/ cúi đầu tạ lỗi nghĩa trọng
tình thâm”. Tôi đã giật mình trước lối so sánh trong cặp câu thơ này, bởi hình ảnh
thơ đã chạm đến trái tim, gây niềm xúc động, đồng cảm sâu sắc. Có phải tuổi thơ
anh lớn lên, quấn quyện với cánh đồng, hàng cây, với đàn bò – tài sản lớn của
người nông dân ở miền Trung chang chang nắng gió, nên anh rất thân thuộc, yêu
thương và hiểu rõ tập tính của loài vật nuôi hiền lành này. Dù “đi hoang” bao
lâu, thì nó vẫn nhớ “mùi chuồng” mà tìm về. Như người con đi xa tới đâu, dẫu có
thể ăn ngon, ở sang đến mức nào, cũng không quên được mái nhà đơn sơ, vòng tay
ôm ấp thuở ấu thời của cha mẹ. Ngôi vườn ấy, gian bếp ấy, món ăn mẹ nấu, mùi cỏ
cây hoa trái, mùi nắng gió, hay thậm chí mùi mồ hôi áo mẹ đã trở thành khí quyển
thân thuộc và an lành nhất, thấm thía vào da thịt, vào buồng phổi, quả tim của
anh, là dưỡng khí nuôi anh lớn lên, là phong vị lặn vào hồn anh, để rồi chỉ cần
trở về “chiếc nôi tuổi thơ”, tất cả lập tức bừng thức!
Trong khí quyển thân thuộc, yêu thương và an lành ấy, mẹ là
linh hồn, là nguồn năng lượng sưởi ấm, là bóng mát chở che, gần gụi mà cao rộng.
Tâm trí chúng ta, vẫn hằng tin cha mẹ không thể yếu đi, không thể vắng bóng
trên đời. Vì vậy mà, vào một ngày cha mẹ lâm bệnh, đau ốm, gầy gò và yếu ớt, ta
mới giật thột, ngỡ ngàng! Khi “đêm đêm canh giữ tiếng thở mẹ nhọc nhằn”, người
con trong bài thơ “thẫn thờ” hoang mang, lòng con giá lạnh và âu lo “nặng
trĩu ngọn núi tuyết đông suy tư nhức nhói”. Từng cử chỉ của con thật khẽ
khàng, thận trọng, như sợ làm đau thân thể mẹ: “gió rón rén nép mình hơi ấm
se sắt sinh thành”. Từng giọt nước mắt của con “cứa vào lòng đêm” thật
xót xa, thật day dứt.
Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Ba mươi năm trở lại
nhà, nước mắt xuống mâm cơm” thì ở đây, giọt nước mắt trong thơ Phan
Hoàng “rơi theo từng tiếng thở mẹ nhọc nhằn dự báo/ trận bão đau thương nhất
thế gian âm ỉ tràn về”. Dẫu mẹ còn bên con, mà hình dung mẹ mất đi, con đã
tưởng như bão tố, như sóng thần ngoài khơi đang lừng lững tràn về hòng cuốn
phăng tất cả. Hình ảnh ẩn dụ mang hiệu ứng mạnh mẽ, gây xúc động sâu xa!
Kết thúc bài thơ là lời ước nguyện :
Ước gì ngọn gió ta như mầm non mới cựa mình lòng đất
và cơ thể mẹ là ngôi vườn thanh xuân ấm áp tiếng hoang sơ
Lời ước nguyện này là điều không thể đạt được trong đời thực.
Nhưng hơn hết, tôi đọc được trong đó sự tỉnh thức, niềm yêu thương, trân quý,
biết ơn: Sự thức tỉnh về cái cách một đi không trở lại của thời gian, của quy
luật sinh- lão- bệnh- tử trong kiếp người hữu hạn. Niềm yêu thương, trân quý,
biết ơn về những hi sinh tuổi trẻ, thanh xuân, ước mơ, và có khi cả cuộc sống của
mẹ, để cho con được hiện hữu, được hạnh phúc giữa cuộc đời.
Đến đây tôi tin rằng, bài thơ khép lại mà vẫn mở ra nhiều cộng
hưởng cảm xúc, suy nghĩ, mong ước trong lòng độc giả. Bởi đó là tiếng ngân rung
tinh tế, rất đỗi chân thành của lòng hiếu thảo!
Và trên đời, còn tình yêu nào hơn tình mẫu tử? Vẻ đẹp nào hơn
vẻ đẹp lòng hiếu thảo của người làm con?.
7/8/2022
Hà Phi Phượng
Nguồn: Báo Văn Nghệ 7.2022
Theo https://vanvn.vn/
Cao Bá Quát và cái án "Giảo giam hậu"
Cao Bá Quát và
cái án "Giảo giam hậu"
Trong lời giới thiệu sách “Thơ chữ Hán Cao Bá Quát”
(NXB Văn học, in lần thứ hai, 1977), nhà nghiên cứu Vũ Khiêu có một đoạn viết về
sự kiện Cao Bá Quát bị bắt giam: “Về Bộ Lễ ít lâu, ông được cử làm sơ khảo trường
Thừa Thiên. Trong khi chấm thi, ông thấy có những quyển khá, nhưng lại có chỗ
sai phạm vào tên húy của nhà vua.
Đây chính là cảnh ngộ của những người oan uổng như ông ngày
trước. Triều đình này thực ra không quý trọng nhân tài mà chỉ chú trọng đến những
cái vụn vặt. Ái ngại cho những người có tài mà phạm những sơ suất nhỏ, ông đã
cùng người bạn là Phan Nhạ dùng muội đèn chữa những quyển ấy cho khỏi bị hỏng.
Việc bị lộ, ông bị viên giám sát là Hồ Trọng Tuấn đàn hặc.
Khi án đưa lên thì vua nhà Nguyễn là Thiệu Trị, trước những lời
buộc tội vô lý đối với ông, đã phải giảm cho ông từ tội trảm quyết xuống tội giảo
giam hậu. Đây là bước ngoặt lớn nhất trong đời Cao Bá Quát. Cao đã từ ngục thất
này đến ngục thất khác, bị tra tấn và chịu những nhục hình man rợ nhất, sống những
ngày buồn bực đau khổ, uất ức, căm thù”.
Tiếp đó, ông nhận định về bộ phận tác phẩm thi ca mà Cao Bá
Quát viết trong ngục: “Trong trường hợp đó, có những người mất hết tinh thần, gục
đầu đợi tội hoặc chờ chết. Nhưng ở Cao, những ngày trong tù là những ngày sống
mãnh liệt. Sức mạnh tinh thần đó vẫn tràn ngập trong những bài thơ làm trong
lúc đó”.
Đặt trong bầu không khí văn hóa và tinh thần chung của giới
nghiên cứu văn học Việt Nam trung đại những năm 70, những nhận định trên là
hoàn toàn hợp lý (mà thật ra cũng khó lòng nhận định khác được). Nhà Nguyễn, là
chính quyền phong kiến không dung nạp những nhân cách lớn, và những nhân cách lớn
thì không thể sống trong chính quyền ấy mà không có hành động phản kháng nhất định
nào đó.
Sự kiện Cao Bá Quát vì chữa bài thi “giúp” thí sinh mà bị tù
tội được nhìn ít nhiều mang tính tiên nghiệm như vậy. Cho đến nay, khi vị trí của
vương triều Nguyễn trong sự phát triển liên tục của lịch sử đã được đánh giá cởi
mở hơn, đầy đủ hơn, chính xác hơn; rồi bản thân Cao Bá Quát cũng đã được định vị
theo một khung hình tác giả văn học cụ thể (với rất nhiều sự đồng thuận của giới
chuyên môn), thiết nghĩ cần phải hình dung vấn đề này một cách khác đi.
Nói sao mặc lòng, việc Cao Bá Quát sửa bài thi là một cái tội:
trường ốc có quy chế của trường ốc, xưa hay nay đều vậy, không ai có thể vin
vào bất cứ lý do gì để bào chữa cho các hành vi vi phạm. Với tội này, thoạt
tiên ông bị khép vào án trảm quyết (chém chết ngay), rồi giảm xuống thành án giảo
giam hậu (giam lại, đợi thắt cổ đến chết sau), cuối cùng chỉ là bị tống ngục, rồi
cho đi “dương trình hiệu lực” để chuộc tội.
Có thể trách rằng hình luật của nhà Nguyễn quá hà khắc (hẳn
là so với ngày nay, nhà Nguyễn mạnh tay hơn rất nhiều trong việc xử lí những vi
phạm quy chế thi cử), nhưng không thể nói rằng vua nhà Nguyễn đã không biết quý
trọng người tài: việc nới tay với Cao Bá Quát là gì, nếu không phải là sự thể
hiện của lòng lân tài? Nhiều giai thoại nói về việc Cao Bá Quát sửa gáy quan
trên, thậm chí giễu cợt cay độc đối với vua mà rốt cuộc vẫn vô sự, lại càng
giúp ta thêm phần hoài nghi trước cái huyền thoại về một tài năng lớn, một nhân
cách lớn bị vùi dập bởi một chính quyền hủ bại.
Vậy, phải lý giải sao đây về hành vi phạm quy của Cao Bá Quát
trong tư cách ông sơ khảo của một kỳ thi Hương? Đơn giản, thì nói rằng đó là sự
“ái ngại cho những người có tài mà phạm những sơ suất nhỏ”. Nhưng cũng không thể
loại trừ việc đó như một biểu hiện cho sự “bất cơ” (không chịu khép mình vào
khuôn khổ) của một người có thừa sự tự nhận thức và tự tin vào những phẩm chất
cá nhân vượt trội của mình.
Cao Bá Quát là một nhà Nho tài tử, và như hầu hết các nhà Nho
tài tử, ông không thiếu sự thị tài, đặc biệt là tài năng văn chương – thứ tài
năng vốn được coi là quan trọng bậc nhất trong xã hội thời đó. (Trong “Tài tử
đa cùng phú”, ông nói đến các đại gia của văn chương Trung Hoa như Đỗ Phủ, Lý Bạch
không phải với tư cách là những mẫu mực để noi theo, mà là những “vật chuẩn” để
ông đo tài năng của mình).
Không những vậy, Cao Bá Quát còn là người nuôi dưỡng cho mình
những giấc mơ táo bạo. (Ông viết trong “Tài tử đa cùng phú”: “Tươi nét mặt thư
sinh lồ lộ, bưng mắt trần toan đạp cửa phù đồ/ Rửa buồng gan du tử nhơn nhơn,
giương tay tạo rắp xoay cơn khí số“).
Đến chỗ này, có thể nói Cao Bá Quát đã phần nào nối được với
một trong những cảm hứng chủ đạo của văn chương nhà Nho tài tử trước đó: cảm hứng
về người anh hùng thời loạn. Loạn thế sinh anh hùng. Thời loạn, những giềng mối
cương thường đứt tung, người tài tử không còn chịu khép mình vào khuôn khổ của
những yêu cầu “trung, nghĩa” truyền thống nữa.
Anh ta mơ tới một sự nghiệp cá nhân lẫy lừng, một ngôi đế sư
(thầy của vua), thậm chí không loại trừ giấc mơ vươn tới ngôi cửu trùng. Thơ
văn của những tác giả nhà Nho tài tử trước đó như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Cầu,
Nguyễn Hữu Chỉnh đậm đặc cảm hứng này.
Tuy nhiên đến Nguyễn Công Trứ, người gần như cùng thời với
Cao Bá Quát, biên độ của giấc mơ thu hẹp dần: sự củng cố vững chắc của chính
quyền chuyên chế nhà Nguyễn đã luôn treo sẵn thanh gươm Damocles trên cổ những
kẻ bạo phổi dám có “tâm tư này khác”, người đã ca “Bài ca ngất ngưởng” như Nguyễn
Công Trứ mà cuối cùng vẫn phải ngậm ngùi tổng kết: “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”!
Đặt trong thực tế lịch sử như vậy, khó có thể nói rằng việc
Cao Bá Quát trở thành một trong những đầu lĩnh của một cuộc khởi nghĩa, rồi cái
chết sau đó của ông, là biểu hiện của tinh thần đấu tranh phản kháng mang tính
cách mạng trước chính quyền phong kiến phản động. Đúng hơn, đó chỉ là sự phản
ánh một dạng bi kịch của mẫu người mà ông noi theo: người anh hùng thời loạn
trong lòng chế độ chuyên chế đang mở rộng quy mô tới mức tối đa.
Nhưng nói như vậy là nói trước, nói quá phạm vi vấn đề đang
bàn. Trở lại với chuyện Cao Bá Quát bị hạ ngục, có thể khẳng định ngay rằng cái
môi trường tù ngục khắc nghiệt, tuy khiến ông phải đau khổ phẫn hận, nhưng đồng
thời môi trường đó lại là trở thành nguồn dưỡng chất để nuôi sống, để làm bùng
cháy ở ông niềm tin xác quyết vào tài năng của mình. (Tinh thần vượt lên trên
hoàn cảnh, không chịu để cho hoàn cảnh đè bẹp, có lẽ đó chính là điều mà Lời giới
thiệu “Thơ chữ Hán Cao Bá Quát” đã khẳng định bằng câu “Nhưng ở Cao, những ngày
trong tù là những ngày sống mãnh liệt”).
Hai trạng thái đó đồng tồn tại và đan xen lẫn nhau trong thơ
tù của Cao Bá Quát. Không ít lần ông đã hạ những câu thơ trầm thống: “Mộng hồi
thành khuyết hồn nghi khách/ Lệ sái hành dương huyết binh không” (Mơ về nơi
thành khuyết, hồn mình những tưởng là ai/ Nhìn cái gông cái cùm, khóc đến cạn
dòng lệ máu – bài Tức sự), hoặc: “Thư thành hận tự không đề huyết/ Tửu
túy ly bôi tức mộng hồn” (Chữ hận viết xong cứ khóc hoài đến nỗi trào máu/ Chén
phân ly nhấp say là hồn vào cõi mộng – bài Kí hận 1).
Không ít lần ông đã phát phẫn: “Ỷ chẩm khan trường kiếm/ Hô
đăng kiểm tệ cừu/ Cưỡng liên tâm lực tại/ Cơ ngọa bất câm sầu” (Tựa gối nhìn
thanh kiếm dài/ Gọi đèn xem lại áo bông rách/ Bực bội vì tâm lực vẫn còn/ Mà bị
giam cầm nằm một chỗ buồn không chịu nổi – bài Độc dạ cảm hoài).
Thế nhưng, vượt qua trạng thái đó, thơ tù của Cao Bá Quát lại
thể hiện một sự tự tin thật đáng khâm phục. Trong bài “Cấm sở cảm sự, túng bút
ngẫu thư” (Nơi nhà giam nhân việc cảm xúc, phóng bút viết ngay), ông viết: “Luật
xuy Thử cốc hàn ưng chuyển/ Kiếm lạc Phong thành dạ hữu quang” (Điệu sáo thổi ở
Thử cốc, khí lạnh phải chuyển/ Thanh gươm vùi dưới đất Phong thành ban đêm vẫn
có ánh sáng).
Không thể rõ ràng hơn: trong ngục thất, Cao Bá Quát vẫn tự ví
mình với những bảo vật, như điệu sáo mà Trâu Diễn thổi ở Thử cốc và thanh kiếm
Long tuyền chôn dưới đất Phong thành. Bảo vật, dù thế nào đi nữa vẫn là bảo vật,
chỉ cần gặp thời cơ là lập tức chúng sẽ hiển lộ những phẩm chất siêu việt của
mình.
Cũng bởi tự tin mà Cao Bá Quát mới có thể vịnh cái gông dài một
cách đầy hài hước: “Trước cước khởi tri cơ sự giới/ Phấn nhiêm trường quải tửu
tinh tù/ Hà đương giá tác vân thê khứ/ Nhất tiếu thừa phong ổn xấn hưu” (Quàng
vào chân có biết đâu rằng mình bị mắc bẫy/ Vểnh râu lên lấy làm lạ vì sao “ngôi
sao rượu” cũng bị tù/ Ước gì đem gông này bắc làm cái thang mây/ Cười xòa một
tiếng cưỡi gió mà lên cho rảnh – bài Trường giang thiên 3).
Cũng bởi tự tin mà ông mới có thể tái hiện cái cảnh bị tra tấn
một cách cường điệu, đầy sinh động (và thú vị nữa, như thể ông không phải nạn
nhân mà chỉ là người quan sát) ở bài “Đằng tiên ca” (Bài ca cái roi song): “Có
cái roi song to, dài thật là dài/ Da nó tía, mình nó cứng, uốn nó lại thẳng đờ
ra/ Người bị tội nằm duỗi, vẻ sợ hãi xanh xám/ Đầu quay nghiêng, mắt lấm lét,
như con dê hoảng hốt/ Chân tay căng thẳng, hai mắt quáng lên… Roi quất nhoang
nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp/ Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật
vào bờ ao lở/ Lúc ngừng lại như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi/ Hai cái nọc đứng
sững, có vẻ vững chắc/ Tiếng rên rỉ vang quanh dãy hành lang – Dịch
nghĩa“.
Và cũng bằng sự tự tin ấy, Cao Bá Quát mới có thể “đụng vào
cái vẩy ngược của con rồng” như ở một trong bốn bài thơ mà ông gượng đau viết
sau khi bị Bộ Lễ tra tấn “cho đến nơi đến chốn”. Bài này, sau hai câu mở đầu có
vẻ rất “biết điều”: “Hồi tư đãi sỹ chủ ân khoan/ Cảm tích vi tư lý vận gian” (Nghĩ
lại ơn vua đãi ngộ kẻ sĩ thật là rộng/ Gặp vận khó khăn đâu dám tiếc cái thân
nhỏ mọn này), thì hai câu kết lại đầy bóng gió: “Nghĩ hướng bình nhân thoại tâm
sự/ Đê thanh trường khủng ngỗ thiên khan” (Muốn đến với mọi người để chuyện trò
tâm sự/ Nhưng phải nói khẽ, sợ trái ý trời sẽ bị trời phạt).
Trong mảng thơ tù này, hơn một lần Cao Bá Quát đã khẳng định
việc ông sẽ không chết vì cái án văn tự: “Dũng phu na tử hàn mặc trường” (Là
người dũng cảm, đâu có chịu chết ở nơi văn tự – Đằng tiên ca), “Hàn mặc tri phi
ngã tử sở” (Biết rằng bút mực không phải nơi để cho mình chết).
Niềm tin ấy đã được ông chứng thực bằng chính cái kết số phận
cuộc đời mình: lúc sống, Cao Bá Quát nổi danh thiên hạ nhờ tài năng văn chương
(Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán), nhưng khi chết, ông lại chết như một kẻ “bạn
nghịch” của triều đình nhà Nguyễn, một đầu lĩnh của đám “giặc cỏ”.
Hậu thế khó có thể phán xét rằng Cao Bá Quát đúng hay sai
trong sự lựa chọn ấy. Chỉ chắc chắn một điều: cho đến giữa thế kỷ XIX, với tất
cả những điều kiện thực tại của nền quân chủ chuyên chế ở Việt Nam, con đường
vươn tới hình ảnh một anh hùng thời loạn của Cao Bá Quát đã trở thành tuyệt lộ!
Dẫu sao chăng nữa, ở chặng giữa của con đường ấy, chặng tù ngục,
Cao Bá Quát đã để lại một di sản thi ca đặc sắc. Nếu có thể nói đến một dòng
“ngục trung thi” trong thơ Việt Nam (với những tác giả sáng giá như Huỳnh Thúc
Kháng, Ngô Đức Kế, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Thủy v.v…), hẳn người ta sẽ phải,
trước hết, nhắc tới người tài tử đa cùng Cao Chu Thần – Cao Bá Quát?.
8/8/2022
Nam Khanh
Theo https://vanvn.vn/
Sư phạm và tâm lý học
Sư phạm và tâm lý học
Chúng tôi sẽ sử dụng định nghĩa giáo dục của Pavel
Petrovich Blonskii, nhà tâm lý học và nhà cải cách giáo dục Liên Xô, ông đã viết
rằng giáo dục bao gồm một nỗ lực có chủ ý, có tổ chức và kéo dài nhằm tác động
đến quá trình phát triển của một cá nhân.
Sư phạm
Sư phạm là lĩnh vực nghiên cứu về giáo dục trẻ thơ. Nhưng còn
giáo dục là gì? Chúng ta có thể định nghĩa giáo dục theo rất nhiều cách. Chúng
tôi sẽ sử dụng định nghĩa giáo dục của Pavel Petrovich Blonskii, nhà tâm lý học
và nhà cải cách giáo dục Liên Xô, ông đã viết rằng giáo dục bao gồm một nỗ lực
có chủ ý, có tổ chức và kéo dài nhằm tác động đến quá trình phát triển của một
cá nhân.
Trong lĩnh vực sư phạm, cũng như trong nghiên cứu về giáo dục,
cần phải xác định rõ ràng và chính xác cách thức tổ chức nỗ lực này, những hình
thức khác nhau của nỗ lực đó, những kỹ thuật chuyên môn mà nỗ lực đó có thể sử
dụng và định hướng của nỗ lực đó. Một mục tiêu xa hơn là nhắm đến việc chúng ta
có thể hiểu được quy luật điều chỉnh quá trình phát triển của cá nhân mà chúng
ta định tác động tới là gì. Theo đó, sư phạm bao gồm, vì tất cả các mục đích thực
tiễn, một số lĩnh vực tri thức hoàn toàn khác nhau. Một mặt, vì sư phạm mang
trách nhiệm phát triển trẻ thơ, do đó sư phạm là một lĩnh vực con của lĩnh vực
sinh học (tức là khoa học tự nhiên). Mặt khác, vì mọi hình thức giáo dục đều đặt
ra cho mình những lý tưởng, những mục tiêu hoặc những chuẩn mực cụ thể, vì lẽ
đó, cho nên sư phạm là lĩnh vực phải liên quan đến lĩnh vực triết học hoặc lĩnh
vực khoa học quy phạm.
Do đó, cuộc tranh cãi không hồi kết trong lĩnh vực sư phạm có
liên quan đến những phương diện triết học và sinh học của lĩnh vực này. Phương
pháp luận của các khoa học thiết lập nên một sự phân biệt cơ bản giữa các lĩnh
vực khoa học nghiên cứu các sự kiện và các lĩnh vực khoa học thiết lập các chuẩn
mực. Không cần phải bàn cãi gì cả, sư phạm nằm ở ranh giới giữa hai kiểu hình
khoa học này.
Tuy nhiên, tự bản thân các sự kiện không thể đưa chúng ta đến
bất kỳ loại kết luận khoa học chính xác nào về giáo dục, cũng như các chuẩn mực
không thể cung cấp cho chúng ta bất kỳ sự đảm bảo nào rằng một lý tưởng thực sự
là hiện thực nếu nó không được hướng dẫn bởi những sự kiện. Blonskii đã viết rằng
nền sư phạm triết học làm nảy sinh thứ tinh thần giáo dục theo chủ thuyết không
tưởng. Nhưng nền sư phạm khoa học sẽ vận hành không phải bằng cách thiết lập những
lý tưởng, những chuẩn mực và những quy luật bậc cao hơn, mà bằng cách nghiên cứu
về quá trình phát triển thực tế của cá nhân đang được giáo dục và hình thức
tương tác thực tế giữa cá nhân và môi trường giáo dục của cá nhân đó. Nền sư phạm
khoa học được thành lập không dựa trên cái tư biện trừu tượng, mà dựa trên dữ
liệu rút ra từ quan sát và kinh nghiệm, và sư phạm là một khoa học thực nghiệm
hoàn toàn đặc trưng; sư phạm không phải là triết học ứng dụng (1).
Tuy nhiên, ngay cả khi là một khoa học thực nghiệm hoàn toàn
độc đáo, sư phạm vẫn dựa trên các khoa học bổ trợ, ví dụ, đạo đức học xã hội
xác định các mục tiêu và các vấn đề tổng thể của giáo dục, tâm lý học cùng với
sinh lý học cùng xác định các công cụ để sử dụng trong việc giải quyết những vấn
đề này.
Tâm lý học
Theo nghĩa chặt chẽ của khái niệm này, lĩnh vực tâm lý học là
khoa học về linh hồn. Đây đã là định nghĩa của tâm lý học từ thuở khai nguyên
tri thức.
Trong quan điểm nguyên thủy của con người, có một sự phân biệt
giữa thể xác và linh hồn, chúng được hiểu là những bản thể riêng biệt. Điều đó
giả định rằng con người sở hữu một bản chất nhị nguyên. Sự xuất hiện của quan
điểm này bắt nguồn từ thời nguyên thủy, khi con người, sau khi quan sát các hiện
tượng về giấc ngủ, cái chết, bệnh tật và những thứ tương tự đã tin tưởng rằng một
đôi hoặc, một loại linh hồn, đang cư ngụ trong mình. Trong các hình thức tư tưởng
phát triển hơn, niềm tin này đưa ra giả định về đặc điểm thuộc về một quan niệm
về linh hồn mà trong tư tưởng của người nguyên thủy, nó gợi lại những bản thể vật
chất tinh tế như khói hoặc hơi. Ngay cả từ tiếng Nga có nghĩa là “linh hồn”,
dusha, trên thực tế, cũng liên quan đến từ dyshat vốn là biểu thị khả năng thở
của con người(2).
Tâm lý học, trên thực tế, là một khoa học về linh hồn. Các
nhà triết học đã nghiên cứu bản chất và các thuộc tính của linh hồn này và đã đặt
ra vô vàn câu hỏi về nó, chẳng hạn, liệu linh hồn là khả tử hay bất tử, mối
quan hệ giữa linh hồn và thể xác là gì, và bản chất thiết yếu và các đặc điểm của
bản thể linh hồn là gì.
Xu hướng này đã thống trị trong lĩnh vực tâm lý học trong một
thời gian khá là dài, và công bằng mà nói, xu hướng này có thể được gọi là tâm
lý học siêu hình, vì nó luôn quan tâm đến những nội dung siêu cảm giác nằm
ngoài kinh nghiệm của chúng ta. Cùng với sự xuất hiện của một khoa học đích thực
về tâm lý học, toàn bộ lĩnh vực tri thức đã được phân chia và phân nhánh, một mặt
chia thành lĩnh vực tâm lý học siêu hình, một mặt nghiên cứu các chủ đề về chân
lý và nghiên cứu thế giới siêu cảm giác và thế giới thực chứng, hay còn gọi là
tâm lý học khoa học, trong chừng mực có thể chắc chắn, đã cố ý giới hạn chính
nó trong phạm vi kinh nghiệm. (Thứ tri thức mà nó thu thập được vẫn được coi là
thứ tri thức xác thực).
Vào thế kỷ 18, tâm lý học chia thành hai lĩnh vực, tâm lý học
duy lý và tâm lý học thực nghiệm. Tâm lý học duy lý tiếp tục được gọi là tâm lý
học siêu hình, vì phương pháp nghiên cứu chính của tâm lý học duy lý là phương
pháp tư biện. Đối lập với tâm lý học duy lý, tâm lý học thực nghiệm tự định
nghĩa ngay như một khoa học về các sự kiện dựa trên kinh nghiệm, và cố gắng đặt
mình vào cùng một loại mối quan hệ như là loại mối quan hệ của khoa học tự
nhiên với đối tượng nghiên cứu của nó. Tuy nhiên, mặc dù tâm lý học thực nghiệm
bắt đầu bằng sự phê phán rất gay gắt tâm lý học duy lý, nhưng hình thức tâm lý
học này cũng tiếp tục tự chiếm lĩnh những nghiên cứu về những vấn đề siêu hình
trong suốt một thời gian dài.
Tâm lý học siêu hình đã bị những nhà triết học như John
Locke, David Hume và Immanuel Kant chỉ trích rất gay gắt. Những nhà triết học
này đã chỉ ra rằng linh hồn không là thứ gì khác, mà chính là sản phẩm của trí
tưởng tượng của chúng ta, và trên thực tế, theo kinh nghiệm của chúng ta, chỉ
có những hành vi tri giác cụ thể mới xuất hiện nơi chúng ta tại mọi thời điểm
trong đời sống; và chúng ta sẽ không có bất kỳ cảm giác nào về một linh hồn dưới
hình thức một bản thể đặc biệt.
Do đó, thay cho lĩnh vực tâm lý học với tư cách là khoa học về
linh hồn, đã nảy sinh ra một khoa học mới về sự kiện tinh thần. Khoa học này được
N .N. Lange gọi là một “tâm lý học không có linh hồn.” Tuy nhiên, Lange lưu ý rằng
tất nhiên, phải chăng tâm lý học không được gọi là khoa học của linh hồn nữa?
Chúng ta nên quan niệm sao về một lĩnh vực khoa học khiến chúng ta nghi ngờ rằng
liệu nói chung có một chủ thể để nghiên cứu hay không? Chúng ta có một cái tên
truyền thống cho một nhóm hiện tượng lớn, nhưng không được xác định rõ. Tên gọi
này đã đến với chúng ta từ thời đại mà các ràng buộc khoa học khắt khe ngày nay
còn chưa được biết đến. Chúng ta có nên loại bỏ một cái tên khi chủ thể của
khoa học đã thay đổi không? Điều này e là quá kỹ tính và phi thực tế. Vì vậy,
chúng tôi sẽ mạnh dạn sử dụng thuật ngữ ‘tâm lý học mà không có bất kỳ giả định
nào về linh hồn’. Cái tên này vẫn còn phù hợp chừng nào chúng ta còn quan tâm đến
một chủ thể mà không là chủ thể của bất kỳ lĩnh vực khoa học nào khác (3).
Tâm lý học thực nghiệm cũng được chuyển đổi thành một “tâm lý
học không có bất kỳ giả định nào về linh hồn,” hoặc “tâm lý học không có siêu
hình học” hoặc “tâm lý học dựa trên kinh nghiệm.” Cần phải lưu ý trong mối liên
hệ này rằng bước đi này chỉ là một bước đi nửa vời và chỉ là một thỏa hiệp mà
thôi. Mặc dù một tỷ lệ siêu hình học đáng kể đã bị loại bỏ trong đó, lĩnh vực
tâm lý học này vẫn không hoàn toàn đứng vững như là khoa học tự nhiên. Nó được
coi như một khoa học về các sự kiện [dushevnyi] tinh thần hoặc các sự kiện ý thức.
Không có định nghĩa nào trong số các định nghĩa này có thể chống lại những phê
phán khoa học.
Hình thức tâm lý học này rao giảng rằng các sự kiện tinh thần,
về bản chất, hoàn toàn khác với tất cả các sự kiện khác trên thế giới, rằng
chúng là phi vật chất, không có quảng tính và không thể tiếp cận với kinh nghiệm
khách quan, và chúng xảy ra cùng với các quá trình vật lý bên trong cơ thể
chúng ta mà không liên quan đến chúng thông qua phương thức kết nối nhân quả.
Do đó, mặc dù người ta cho rằng dù có sự hiện hữu của các sự kiện phi vật chất,
phi không gian mà không hề có mối liên hệ nhân quả, tuy nhiên hình thức tâm lý
học này vẫn hoàn toàn giữ lại quan điểm nhị nguyên mà chúng ta đã biết đến đối
với bản chất con người, hay “thuyết nhị nguyên”, vốn là đặc trưng của tư duy
nguyên thủy và tư tưởng tôn giáo của con người. Không phải ngẫu nhiên mà hình
thức tâm lý học này có liên hệ mật thiết với triết học duy tâm, vốn rao giảng rằng
linh hồn là một chất đặc biệt không giống vật chất, và ý thức sở hữu một thực tại
đặc biệt và nguyên thủy độc lập với sự tồn tại. Do đó, hình thức tâm lý học
này, vốn tự bế quan tỏa cảng, càng trở nên xa lạ với sự tồn tại của ý thức, phải
chịu đựng một sự hiện hữu vô hồn, cô lập với thực tại, và bất lực khi phải đối
mặt với những câu hỏi quan trọng nhất về hành vi của con người.
Đầu tiên, ý thức chỉ chiếm một phần không đáng kể trong tất cả
kinh nghiệm [psikhicheskii] tinh thần, vì chúng ta có cả toàn bộ thế giới rộng
lớn của vô thức để tha hồ xem xét. Thứ hai, ý thức hoặc chỉ biểu thị một số thuộc
tính duy nhất của kinh nghiệm, hoặc cấu thành, dưới hình thức ngụy trang, cùng
một thực thể giống như khái niệm linh hồn, chỉ dưới một cái tên khác. Blonskii
lưu ý rằng một tâm lý học không có bất kỳ giả định nào về linh hồn, hình thức
tâm lý học này đột nhiên bắt đầu nghiên cứu các hiện tượng của… linh hồn. Tất
nhiên, điều này được chứng minh bởi thực tế là thuật ngữ, “hiện tượng
[dushevnye] tinh thần” chỉ đơn giản là biểu thị một nhóm các hiện tượng đặc
trưng khác với các sự kiện hoặc sự vật vật chất bởi thực tế là những hiện tượng
đặc trưng này, tức là các sự kiện tinh thần không hiện hữu trong không gian,
không chiếm bất kỳ phần nào của không gian, không được mắt, tai hoặc bất kỳ cơ
quan giác quan nào khác tri giác được và chỉ được nhận thức trực tiếp khi được
kinh nghiệm. Nhưng liệu những suy nghĩ có thể hiện hữu trong sự vắng mặt của phần
không gian được gọi là bộ não hay không? Bạn không thể nhìn thấy, ít nhất một
phần, niềm vui của tôi và nghe thấy những mong muốn của tôi hay sao? Làm thế
nào bạn có thể khẳng định sau đó rằng các sự kiện tinh thần không liên quan đến
không gian, không được tri giác trực tiếp bởi bất kỳ ai khác ngoài tôi và những
người đó không thể nhìn thấy chúng?(4).
Ngay cả tâm lý học thực nghiệm, với tư cách là những lĩnh vực
có những ủng hộ mạnh mẽ nhất, cũng đề xướng về tầm quan trọng của phương diện vận
động trong việc nghiên cứu các quá trình tinh thần. Tâm lý học thực nghiệm đã
chỉ ra rằng sự phát triển của các quá trình trung tâm phức tạp nhất bắt đầu bằng
sự vận động và sự vận động đó không phải là “phụ lục nhỏ” của đời sống tinh thần.
Thật vậy, tất cả các quá trình tinh thần được hiểu là các bộ phận cấu thành của
một hành động, như là các yếu tố sơ khởi của một hành động cụ thể. Hugo
Mlinsterberg viết: “Chúng tôi suy nghĩ bởi vì chúng tôi tham gia vào hành động.
Dù Mlinsterberg cảnh báo rằng bức tranh biếm họa vĩ đại nhất của lý thuyết này
được thể hiện ở sự hiểu nhầm một cách rõ ràng rằng sự phong phú của đời sống nội
tâm là một hàm số của số lượng các vận động của một người và do vậy, vận động
viên hoặc diễn viên xiếc nhào lộn sở hữu đời sống nội tâm phong phú nhất. Trong
các hành vi phức tạp, phản ứng vận động không hề gồm một loại hành động cơ bắp,
mà là một sự mở rộng hoặc sự khép lại mới mẻ của các đương vận động trong chính
não bộ. Tuy nhiên, với tất cả mối quan tâm đến phương diện vận động, hình thức
tâm lý học này tiếp tục phân biệt các sự kiện tinh thần cụ thể là tồn tại phi vật
chất về bản chất, tức là nó tiếp tục giữ lại thuyết nhị nguyên và thuyết duy
linh của tâm lý học thực nghiệm.
Do đó, thay cho một khoa học về các sự kiện tinh thần, ngày
nay tâm lý học đã bắt đầu mang hình thức của một lĩnh vực khoa học mới, một
khoa học mà các nhà tâm lý học Mỹ đã gọi là nghiên cứu về hành vi của các sinh
vật. Về mặt thuật ngữ, “hành vi”, được các nhà tâm lý học này hiểu là toàn bộ tổng
thể các vận động, bên trong và cả bên ngoài, mà một sinh vật thực hiện theo ý
muốn của nó. Tâm lý học được dẫn dắt bởi một thực tế lâu đời rằng mọi trạng
thái ý thức không có ngoại lệ đều gắn liền với những vận động cụ thể. Nói cách
khác, tất cả các sự kiện tinh thần xảy ra trong cơ thể sinh vật có thể được
nghiên cứu trên quan điểm vận động.
Tâm lý học coi ngay cả các hình thức ý thức phức tạp nhất
cũng là các hình thức vận động nhất định đặc biệt tinh vi và không thể tri giác
nổi. Do đó, tâm lý học trở thành một khoa học sinh học, vì nó nghiên cứu hành
vi vốn được hiểu là một trong các hình thức thích nghi quan trọng nhất của cơ
thể với môi trường. Do đó, nó giải thích hành vi là quá trình tương tác giữa
sinh vật và môi trường, mà nguyên tắc giải thích của nhà tâm lý là nguyên tắc về
tính hữu ích sinh học của tâm lý.
Tuy nhiên, hành vi của con người xảy ra trong khuôn khổ phức
tạp của môi trường xã hội. Con người tương giao với thế giới tự nhiên không có
cách nào khác hơn là thông qua môi trường xã hội, và theo đó, môi trường xã hội
là nhân tố quan trọng nhất chi phối và thiết lập nên hành vi của con người. Tâm
lý học nghiên cứu hành vi của con người xã hội và những quy luật biến đổi của
hành vi này.
Không chỉ chủ thể, mà cả các phương pháp của lĩnh vực này
cũng vì thế mà thay đổi. Trong khi ở tâm lý học thực nghiệm, phương pháp chính
là phương pháp nội quan, tức là tri giác các quá trình tinh thần của chính
mình, thì tâm lý học mới lại bác bỏ phương pháp này, cho dù nó được hiểu là
phương pháp duy nhất có thể, hay chỉ là một phương pháp then chốt. Trên thực tế,
phương pháp nội quan là một phương pháp đặc trưng cho thuyết chủ quan cực đoan,
vì con người đồng thời là người quan sát và người được quan sát. Nó kéo theo một
sự phân chia sự chú ý, một hành vi không bao giờ có thể đạt được trọn vẹn; hoặc
chính cảm giác hoặc một số hiện tượng khác đang được quan sát sẽ biến mất dưới
tác động của sự quan sát, hoặc chúng ta có nguy cơ bỏ qua điều gì là quan trọng
nhất khi chúng ta bị tác động mạnh mẽ đến mức mọi thứ bị át đi bởi kinh nghiệm
tức thì. Blonskii đã viết: “Quan sát nỗi sợ hãi của chính mình có nghĩa
là không sợ hãi cho lắm,” quan sát sự tức giận của chính mình sẽ trở thành một
cách giúp bản thân bắt đầu bỏ qua mọi thứ gây tức giận. Nhưng nếu chúng ta bị gặm
nát bởi một nỗi sợ hãi kinh khủng hoặc một cơn thịnh nộ điên rồ, chúng ta sẽ
không có thời gian để quan sát chính mình.”
Do đó, nội quan không được coi là sự tự tri giác hay là một
trạng thái thụ động của ý thức, trong đó các sự kiện tinh thần, có thể nói, tự
chúng được ghi lại trong ý thức của chúng ta, mà là một kiểu hoạt động đặc biệt
hướng tới sự tri giác về kinh nghiệm của chính chúng ta. Hoạt động này có thể ảnh
hưởng đến các hành động khác, có thể làm rối loạn chúng và bản thân nó có thể bị
rối loạn bởi các hành động khác. Do đó, trong khi bác bỏ tuyên bố rằng nội quan
là suối nguồn duy nhất của tri thức tâm lý học, thì khoa học tâm lý học hiện đại
vẫn không từ bỏ việc sử dụng phương pháp này, ví dụ, dưới hình thức báo cáo bằng
miệng của một chủ thể hoặc phát biểu của một chủ thể mà, một cách tự nhiên, tự
nó phải được phân tích và diễn giải, giống như tất cả các phương diện khác của
hành vi của một chủ thể. Những báo cáo miệng này có thể khiến chúng ta phải
tính đến trong nghiên cứu về hành vi của chúng ta về các vận động và các phản ứng
bên trong bị ức chế hoặc bị che giấu mà nếu không có phương pháp này, sẽ nằm
ngoài phạm vi quan sát của chúng ta.
Tuy nhiên, dữ liệu được tích lũy qua phương pháp này phải được
theo dõi và kiểm tra chặt chẽ nhất có thể so với các kết quả khách quan, vì
chúng ta luôn có nguy cơ thu được các kết quả sai lệch và bị bóp méo chủ quan.
Do đó, quan sát khách quan và thực nghiệm vẫn là phương pháp chính của khoa học
tâm lý học. So với việc quan sát đơn thuần, thực nghiệm có thuận lợi là cho
phép chúng ta đưa ra bất kỳ sự kiện nào chúng ta yêu cầu bất cứ khi nào chúng
ta muốn và bao nhiêu lần tùy ý – tách chúng ra, kết hợp chúng lại với nhau, đặt
chúng trong những điều kiện khác nhau và thay đổi chúng phù hợp với các điều kiện
của nghiên cứu cụ thể.
Cơ sở duy vật của tâm lý học mới này là một trong các đặc
trưng của nó. Rằng thực sự tâm lý học duy vật rõ ràng là một tâm lý học mới coi
tất cả hành vi của con người là bao gồm một loạt các vận động và các phản ứng
và sở hữu tất cả các thuộc tính của tồn tại vật chất. Một đặc trưng thứ hai có
thể thấy trong thuyết khách quan của tâm lý học mới này, vì nó quy định rằng điều
kiện tiên quyết của các nghiên cứu tâm lý học này là các nghiên cứu đó phải dựa
trên sự xác minh khách quan về tài liệu của nó. Cuối cùng, đặc trưng thứ ba là
phương pháp biện chứng. Theo nguyên tắc cơ bản của phương pháp này, các quá
trình tinh thần được hiểu là phát triển trong sự thống nhất không thể hòa tan với
tất cả các quá trình khác trong cơ thể và phụ thuộc một cách chính xác vào các
quy luật phát triển giống như mọi thứ khác trong tự nhiên. Cuối cùng, đặc trưng
cuối cùng của tâm lý học này có thể thấy trong cơ sở sinh học xã hội của nó, ý
nghĩa của cơ sở này đã được định nghĩa trước đó.
Tâm lý học khoa học hiện đang phải trải qua một cuộc khủng hoảng
về loại hình, và lĩnh vực mới chỉ mới đạt được giai đoạn xây dựng ban đầu. Tuy
nhiên, điều này không có nghĩa là nó bị ràng buộc để chỉ dựa vào kết quả của
chính nó. Ngược lại, người ta thường buộc phải dựa vào toàn bộ hệ thống các kết
quả chính xác và đáng tin cậy về mặt khoa học của tâm lý học cũ. Một khi quan
điểm ban đầu và cơ bản của khoa học tâm lý học đối với chủ thể của nó đã thay đổi,
nó nhận thấy cần phải hết lần này đến lần khác diễn giải lại các kết quả cũ,
chuyển các khái niệm cũ sang một ngôn ngữ mới, đồng thời làm sáng tỏ và lĩnh hội
các sự kiện và các quy luật đã được khám phá trước đó dưới góc nhìn của một triển
vọng mới. Do đó, trong một thời gian lâu dài sắp tới, chắc chắn sẽ vẫn còn
trong tâm lý học ấn tượng về tính hai mặt ngay từ tận gốc rễ của nó, bắt đầu bằng
các khái quát hóa rộng nhất và kết thúc bằng các thuật ngữ. Tình trạng này đặc
biệt khó tránh khỏi trong giai đoạn chuyển tiếp và rất quan trọng của chúng ta,
khi bản thân khoa học tâm lý học đang trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng
trong chính nền tảng của nó.
Tâm lý học giáo dục
Vào nửa sau của thế kỷ 19 đã xảy ra một bước ngoặt trong tâm
lý học. Tâm lý học bước vào giai đoạn thực nghiệm. Trên thực tế, chính nhờ thực
nghiệm mà tất cả các ngành khoa học tự nhiên đã đạt được những thành công lớn
lao. Thực nghiệm tạo nên vật lý học, hóa học và sinh lý học. Các bác sĩ, các
nhà sinh lý học, các nhà hóa học và các nhà thiên văn học cũng là những người đầu
tiên nhấn mạnh tiềm năng của thực nghiệm trong tâm lý học. Sử dụng thực nghiệm
trong tâm lý học đi kèm với những nỗ lực nhằm nghiên cứu chính xác nhất các hiện
tượng, và rồi tâm lý học bắt đầu cố gắng trở thành một khoa học chính xác. Do
đó, thật tự nhiên, tâm lý học cố gắng sử dụng các quy luật lý thuyết của khoa học
trong các ứng dụng thực tế của nó, giống như cách đã xảy ra trong tất cả các
lĩnh vực ứng dụng.
Blonskii viết: “Tâm lý học giáo dục”, là một nhánh của tâm lý
học ứng dụng nghiên cứu việc áp dụng các kết luận của tâm lý học lý thuyết vào
quá trình giáo dục và giảng dạy.” Ban đầu, khi mới xuất hiện, tâm lý học giáo dục
đã khơi dậy những niềm hy vọng thật là lớn lao, và dường như với tất cả mọi người
rằng, dưới sự hướng dẫn của tâm lý học giáo dục, giáo dục trên thực tế sẽ trở
thành một quá trình chính xác như công nghệ. Tuy nhiên, những kỳ vọng này đã được
chứng minh là viển vông, và rất nhanh chóng tràn ngập một cảm giác thất vọng
nói chung trong tâm lý học. Có rất nhiều lý do cho thấy tại sao điều này lại xảy
ra, một số lý do là ở tính lý thuyết và ở bản chất của lĩnh vực mới, và những
lý do khác thì có liên quan đến các tác động thực tiễn, đã kéo theo sự phát triển
lịch sử của chính tâm lý học.
Lý do đầu tiên nằm ở thực tế là khoa học không bao giờ trực
tiếp đóng vai trò là người hầu gái cho thực tiễn. William James đã khá đúng đắn
khi lưu ý rằng thật là một sự ảo tưởng sâu sắc khi nghĩ rằng các chương trình
giảng dạy, các chương trình học thuật hoặc phương pháp giảng dạy thực tế có thể
được đưa ra khỏi lĩnh vực tâm lý học để sử dụng ở trường học mà không cần phải
bổ sung thêm.
Tâm lý học là một khoa học, và giảng dạy là một nghệ thuật;
và khoa học không bao giờ tạo ra nghệ thuật trực tiếp từ chính chúng… Khoa học
logic chưa bao giờ làm cho con người suy luận đúng đắn, và khoa học đạo đức…
chưa bao giờ làm cho con người hành xử đúng đắn… Sư phạm và tâm lý học song
hành với nhau, và sư phạm không bắt nguồn từ tâm lý học theo bất cứ ý nghĩa
nào. Hai lĩnh vực đều tương đẳng, và không lĩnh vực nào phụ thuộc vào lĩnh vực
nào. Và vì vậy ở mọi nơi, việc giảng dạy phải phù hợp với tâm lý học, nhưng
không nhất thiết phải là kiểu giảng dạy duy nhất phù hợp với tâm lý học; có nhiều
phương pháp giảng dạy đa dạng cũng có thể phù hợp với các quy luật tâm lý học.
Do đó, hiểu biết về tâm lý học, hoàn toàn không có gì đảm bảo rằng chúng ta sẽ
trở thành những người thầy giỏi (5).
Tính tầm thường của tâm lý giáo dục, mà lĩnh vực này đã khoác
lên ngay cả trong các nghiên cứu của những người đề xướng vĩ đại nhất của lĩnh
vực này, lại là một lý do khác dẫn đến cảm giác thất vọng này. Auguste Lay đã
trách móc Ernst Meumann vì đã hạ cấp tâm lý học giáo dục xuống mức độ của một
“món đồ thủ công đơn thuần.” Trên thực tế, trong quá trình phát triển cổ điển,
tâm lý học giáo dục gần gũi với một khái niệm về sức khỏe tâm thần hơn là gần với
sư phạm.
Vì vậy, tâm lý học không thể trực tiếp đưa ra bất kỳ loại kết
luận sư phạm nào. Nhưng vì quá trình giáo dục là một trong các đối tượng nghiên
cứu của tâm lý học, nên tất nhiên, tri thức về các nền tảng chung của tâm lý học
sẽ giúp chúng ta đạt được một công thức nghiêm ngặt ở lĩnh vực này. Cho đến
cùng, giáo dục luôn biểu thị một sự thay đổi các hình thức di truyền của hành
vi và một quá trình nuôi dưỡng các phương thức phản ứng mới. Do đó, nếu chúng
ta muốn xem quá trình này từ quan điểm khoa học, thì tất yếu chúng ta phải ghi
nhớ các quy luật chung về các phản ứng và các điều kiện mà theo đó các phản ứng
và các điều kiện ấy được hình thành. Như vậy, mối quan hệ giữa sư phạm và tâm
lý học, một cách tuyệt đối, nhắc lại mối quan hệ giữa tất cả các khoa học ứng dụng
khác và các lĩnh vực lý thuyết của chúng. Tâm lý học đã bắt đầu được đem dùng
vào các vấn đề thực tiễn, nghiên cứu tội phạm, điều trị bệnh tật, lao động và
kinh tế. Theo Miinsterberg,… mọi thứ chỉ ra rằng chúng ta sẽ sớm có một tâm lý
học ứng dụng thực sự, đáng kể. Và sau đó một tâm lý học ứng dụng như vậy sẽ
không còn là một đống hỗn độn những tâm lý học lý thuyết đơn thuần như vậy mà
có thể dùng cho các mục đích thực tiễn. Do đó, Tâm lý học Ứng dụng sẽ đặt trong
mối quan hệ tương tự với tâm lý học thông thường, ở đó kỹ thuật là vật lý học.
Nó sẽ giải quyết riêng cho câu hỏi: Làm thế nào tâm lý học có thể giúp chúng ta
đạt được các mục đích nhất định?… Vì thế tâm lý giáo dục, một sản phẩm của vài
năm nay, là một khoa học mới tạo thành một phần của tâm lý học ứng dụng cùng với
tâm lý học pháp lý và y tế, kinh tế và thẩm mỹ và công nghiệp… Tâm lý học giáo
dục hoàn toàn mới đang bắt đầu và không thể đưa ra bất kỳ hệ thống kê đơn hoặc
lời khuyên trọn vẹn nào… Và nó phải dựa vào các nguồn lực của chính nó. Nếu tâm
lý học giáo dục chỉ đơn giản để dành lấy tài liệu có sẵn của tâm lý học đại
cương, thì điều đó sẽ là vô ích… Tuy nhiên, một sự khởi đầu đã được thực hiện,
và không còn nghi ngờ gì nữa, từ những khởi đầu còn khiêm tốn, một tâm lý giáo
dục đích thực sẽ sớm nảy sinh(6).
Vì lý do này nên không thể đồng ý với Blonskii với tuyên bố rằng
tâm lý học giáo dục, một mặt vay mượn các chương về tâm lý học lý thuyết mà người
thầy quan tâm, ví dụ, những chương về trí nhớ, về sự chú ý, về trí tưởng tượng,
và những thứ tương tự, và mặt khác, thảo luận về những ràng buộc về mặt sư phạm
do cuộc sống hàng ngày đặt ra trong bối cảnh tương ứng của chúng với các quy luật
của đời sống tinh thần, đóng vai trò quyết định, ví dụ, làm thế nào để giảng dạy
kỹ năng viết lách theo cách phù hợp nhất với tâm lý của trẻ thơ(7).
Ở đây Blonskii đã hoàn toàn sai lầm. Đầu tiên, bất kỳ sự vay
mượn nào đối với các chương sách tâm lý học đại cương đã được giải quyết trọn vẹn
sẽ chỉ đơn giản là sự chuyền tải vô nghĩa đối với các kết quả đã được giải quyết
trọn vẹn trong tâm lý học đại cương, chúng sẽ trở thành các kết quả ngoại lai
và các mảng tri thức rời rạc trong tâm lý học giáo dục, như Miinsterberg đã
nói. Thứ hai, không thể có đời sống nếu không có khoa học, cũng như không thể
thảo luận về các hạn chế của sư phạm; đây là một vấn đề của sư phạm lý thuyết.
Cuối cùng, nếu tâm lý học giáo dục chỉ phục vụ trong vai trò tư vấn chuyên môn
thì cũng không có ý nghĩa gì.
Mối quan hệ đúng đắn giữa điểm mạnh và mục tiêu khoa học chỉ
có thể được thiết lập nếu những lĩnh vực con khác nhau của tâm lý học được phân
bổ cho những lĩnh vực sư phạm riêng lẻ theo cách sau: [1] lịch sử các hệ thống
sư phạm; [2] lịch sử của các khái niệm giáo dục; [3] sư phạm lý thuyết; [4], sư
phạm thực nghiệm. (Sư phạm thực nghiệm sau đó đã được xác định quá vội vàng và
quá sai lầm, với tâm lý học giáo dục, cũng như trong các thực nghiệm, mặc dù bất
kỳ nhà nghiên cứu nào cũng có thể phải đối phó với các nghiên cứu thực nghiệm về
chuyên môn kỹ thuật giáo dục này khác, thứ không có bản chất tâm lý học); và cuối
cùng, [5], tâm lý học giáo dục, phải tồn tại như một khoa học riêng biệt; Do
đó, những tác giả nói về sự “chuyển đổi từ sư phạm thành tâm lý học giáo dục”
là hoàn toàn sai lầm. Trên thực tế, khái niệm này xuất hiện chỉ do sự hiểu nhầm
về những gì tạo nên các vấn đề của mỗi lĩnh vực khoa học và sự phân biệt không
rõ ràng giữa những vấn đề này.
Blonskii cũng tuyên bố rằng sư phạm phải dựa trên tâm lý học
giáo dục, giống như là hoạt động chăn nuôi thì phải dựa trên sinh học thực nghiệm
vậy.
Cái đó dĩ nhiên là một chuyện; nhưng để tuyên bố rằng sư phạm
là tâm lý học hướng nghiệp thực nghiệm thì là một chuyện hoàn toàn khác. Tương
tự, cần phải nói rõ một điều rằng chăn nuôi phụ thuộc vào sinh học thực nghiệm,
nhưng việc đồng nhất chăn nuôi với sinh học thực nghiệm là một vấn đề hoàn toàn
khác. Sự phụ thuộc như vậy là đúng đắn, nhưng sự đồng nhất thì không hề đúng đắn
tí tẹo nào.
Các nhà sư phạm phải thảo luận về các mục tiêu và các vấn đề
của giáo dục, trong khi tâm lý học giáo dục thì cũng chỉ có thể chỉ định cho
chúng ta các phương tiện thực hiện quá trình giáo dục đó chứ không thể làm gì
hơn được.
Người bán hoa thì yêu quý những bông hoa tulip của mình và
căm ghét cỏ dại; nhà thực vật học thì chỉ biết mô tả và giải thích theo quan điểm
của mình, và không như người bán hoa cho được, anh ta không thể căm ghét hay
yêu quý bất cứ thứ gì; đối với anh ta cỏ dại là cái thực, vì thế, cỏ dại cũng
quan trọng như bông hoa đẹp nhất… Cũng như nhà thực vật học quan tâm đến cỏ dại
không kém sự quan tâm đến bông hoa, khoa học về nhân loại quan tâm đến sự ngu
xuẩn của con người không kém sự quan tâm đến trí tuệ của con người; đối với nhà
khoa học, tất cả chỉ là nội dung cần phải được phân tích và giải thích mà không
có chỗ cho niềm đam mê và quan điểm đảng phái. Hành động cao quý nhất, theo
quan điểm này, không hề tốt đẹp hơn thứ tội ác đáng ghê tởm nhất, tình cảm đẹp
đẽ nhất, cũng theo quan điểm này, không hề đáng giá hơn sự thô bỉ đáng ghê rợn,
và tư tưởng sâu sắc nhất của bậc thiên tài không hề được ưa thích hơn lời nói lảm
nhảm của kẻ mất trí; tất cả đều là nội dung trung lập, chỉ có một khẳng định
duy nhất, rằng những thứ đó hiện hữu như một mắt xích trong một chuỗi các sự kiện
có mối quan hệ nhân quả với nhau.
Nói một cách chính xác thì tâm lý học giáo dục có thể được định
hướng, đó là hướng tới bất kỳ hệ thống giáo dục nào theo một cách bình đẳng.
Tâm lý học giáo dục có thể cho chúng ta biết cách giáo dục kẻ nô lệ và cả con
người tự do, và sự nghiệp tư tưởng của tâm lý học giáo dục chính là cuộc cách mạng
của con người. Chúng ta thấy điều này bộc lộ khá hùng hồn qua những gì đã diễn
ra trong nền khoa học Châu Âu, một nền khoa học đầy chất sáng tạo trong cả những
phát minh ra các công cụ kiến tạo cũng như những phát minh ra các công cụ hủy
diệt. Hóa học và vật lý học đóng vai trò như nhau cả trong chiến tranh và trong
nền văn hóa. Do đó, mọi hệ thống giáo dục đều phải có hệ thống tâm lý học giáo
dục riêng tây.
Sự vắng mặt của một tâm lý học giáo dục có thể được giải
thích bằng những nguyên nhân và những phương diện lịch sử thuần túy của quá
trình phát triển của tâm lý học. Blonskii đã đúng đắn khi nói rằng những thiếu
sót ngày nay của tâm lý học giáo dục có thể được giải thích bởi những tàn tích
của thuyết duy linh và quan điểm theo chủ nghĩa cá nhân, và rằng chỉ có tâm lý
học giáo dục mới được sử dụng trong sư phạm, và từ đây đã hình thành nên một
lĩnh vực khoa học xã hội sinh học.
Tâm lý học xưa cũ, vốn coi yếu tố tâm lý tách biệt khỏi hành
vi, trên thực tế, không thể tìm thấy mảnh đất đích thực cho một khoa học ứng dụng.
Ngược lại, bởi vì tâm lý học xưa cũ chỉ liên quan đến những công trình từ trên
trời rơi xuống, và những điều trừu tượng, nên lĩnh vực này luôn luôn lạc lõng với
kinh nghiệm đích thực và do đó, nó là một lĩnh vực quá thiếu thực chất để có thể
trở thành một suối nguồn mà từ đó sinh ra một lĩnh vực tâm lý học giáo dục. Mọi
khoa học đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và xét cho cùng, cũng hướng đến ứng
dụng thực tiễn. Marx đã nói rằng các triết gia diễn giải thế giới thế là đủ lắm
rồi, giờ đã đến lúc phải thay đổi nó. Một thời đại như vậy đang đến với tất thảy
các lĩnh vực khoa học. Nhưng các triết gia đã diễn giải linh hồn và các hiện tượng
tinh thần cho đến khi họ không còn có thể tìm ra cách để diễn lại những hiện tượng
này đơn giản vì những hiện tượng này nằm ngoài lãnh vực của kinh nghiệm. Tuy
nhiên, bây giờ, khi tâm lý học đã bắt đầu nghiên cứu về hành vi, điều tự nhiên
chúng ta tự hỏi là làm thế nào để thay đổi hành vi. Tâm lý học giáo dục cũng là
một khoa học về các quy luật biến đổi của hành vi con người cũng như các phương
tiện để làm chủ các quy luật này.
Vì vậy, tâm lý học giáo dục nên được coi như một lĩnh vực độc
lập, như một nhánh đặc biệt của lĩnh vực tâm lý học ứng dụng. Và chuyện hầu hết
các tác giả (chẳng hạn như, Meumann, Blonskii, cùng nhiều tác giả khác) đã đồng
nhất tâm lý học giáo dục với sư phạm thực nghiệm là một chuyện hoàn toàn sai lầm.
Đó thực sự là một cách tiếp cận sai lầm đã được Miinsterberg chứng minh xong một
cách khá là thuyết phục, theo quan điểm của ông, sư phạm thực nghiệm chính là một
lĩnh vực con của tâm lý học hướng nghiệp. “Nếu điều này là như vậy,” như Gessen
viết, vậy thì liệu có hợp lý không khi coi nhánh kỹ thuật tâm lý học này là sư
phạm chỉ vì nó liên quan đến công việc tìm kiếm các phương tiện kỹ thuật có thể
được áp dụng trong điều kiện thực tiễn của lĩnh vực sư phạm? Trên thực tế, khi
được áp dụng trong lĩnh vực tư pháp, tâm lý học hướng nghiệp cũng không vì thế
mà trở thành luật học. Nói theo cùng một cách chính xác thì khi áp dụng vào đời
sống kinh tế, tâm lý học hướng nghiệp không vì thế mà trở thành một phần của
kinh tế chính trị. Cũng như rõ ràng, không có cơ sở để khẳng định rằng khi áp dụng
vào giáo dục, tâm lý học hướng nghiệp, theo thời gian, sẽ hoàn toàn trở thành
sư phạm, và nó cũng không thể được coi là một lĩnh vực con của sư phạm. Sư phạm
thực nghiệm, theo cách diễn giải tốt nhất, có thể gọi là tâm lý học hướng nghiệp
giáo dục (9).
Sẽ thật là đúng đắn khi chúng ta phân biệt giữa(1) sư phạm
thực nghiệm, liên quan đến giải pháp cho những vấn đề sư phạm và giảng dạy thuần
túy bằng thực nghiệm (chẳng hạn như, ở một trường học thí điểm); và (2)tâm
lý học hướng nghiệp sư phạm, tương tự như các nhánh khác của tâm lý học hướng
nghiệp và liên quan đến các cuộc điều tra tâm lý học được áp dụng trong lĩnh vực
giáo dục.
Nhưng tâm lý học hướng nghiệp sư phạm chỉ cấu thành một phần
của lĩnh vực tâm lý học giáo dục mà thôi, vì theo Milnsterberg, “kỹ thuật tâm
lý học này hầu như không giống tâm lý học ứng dụng, mà chỉ cấu thành một phân nửa
của tâm lý học ứng dụng.” Phân nửa còn lại của tâm lý học ứng dụng bao gồm “tâm
lý học văn hóa.” Hai phân nửa đó cùng nhau cấu thành một “tâm lý học giáo dục
đích thực”, công trình này trong thực tế sẽ là một nhiệm vụ trong tương lai rất
gần.
Gessen viết: “Liệu có phải vì sư phạm thực nghiệm vẫn còn quá
ít ỏi để nói về độ chính xác ở các kết luận,” rằng nó là mối quan tâm của chủ yếu
của giáo viên và triết gia thay vì của bác sĩ và chuyên gia tâm lý học? hay
chăng”10).
8/8/2022
Lev Semyonovich Vygotsky
Viên Minh dịch
Nguồn: L.S. Vygotsky (1926), Chapter 1, Educational Psychology
Theo https://vanvn.vn/
Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết "Trong vô tận" của Vĩnh Quyền
Ngôn ngữ nghệ thuật trong
tiểu thuyết "Trong vô tận" của Vĩnh
Quyền
Tiểu luận khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Tịnh Thy
phân tích một trong những yếu tố làm nên thành công của tiểu thuyết Trong
vô tận của nhà văn Vĩnh Quyền: cấu trúc nghệ thuật trên bốn bình diện: chủ
đề, cốt truyện, kết cấu và ngôn ngữ. Được tác giả vui lòng chia sẻ, trân trọng
giới thiệu đến bạn đọc phần trích về ngôn ngữ…
Lời kể, lời tả và lời bình luận trong Trong vô tận được
tác giả tạo nên nét riêng biệt. Các kiểu lời đó đậm dấu ấn cảm quan lịch sử lẫn
tố chất văn hóa hoàng gia trong ngòi bút Vĩnh Quyền. Ông từng chinh phục người
đọc bởi vẻ quý phái trong Qua miền phủ đệ, tập tản văn về cố đô Huế, với tư
cách là một người con của Huế, một hậu duệ của hoàng gia. Trong tiểu thuyết
cũng vậy, văn phong của Vĩnh Quyền thư thái, ung dung. Lối kể chậm rãi, khoan
thai đó phù hợp với kiểu truyện giàu chất hồi cố như Trong vô tận.
Ngôn ngữ kể chuyện mang tính tự thuật trong Trong vô tận luôn
nặng cảm xúc và suy tư, thể hiện nội tâm phức tạp của nhân vật. Với người kể
chuyện 1, nhân vật người con, giọng kể dường như là sự khẳng định những chiêm
nghiệm của chính mình: “Với tôi, hình thức ngôn từ nào, kể cả thơ và nhạc,đều bất
lực và thậm chí lệch lạc khi cất tiếng nói về mẹ, dẫu với chính mình, vì khi ấy
mẹ là nhân vật, là khách thể. Tôi chỉ muốn kết nối với mẹ bằng sợi nhau vô hình
trong niềm cô quạnh vô biên của vũ trụ” (tr.21). Ngôn từ thật nhẹ nhàng nhưng
da diết nỗi niềm.
Dòng hồi ức miên man trong cơn hôn mê của người kể chuyện 2,
nhân vật người cha, cũng thấm đẫm cảm xúc, dù là với những kỉ niệm khô khan nhất
của tuổi thơ. Mỗi đứa trẻ trong gia đình Tôn Thất của ông đều phải chép gia phả
như một cách tìm hiểu dần lịch sử dòng tộc.
“Bài học vỡ lòng về lịch sử dòng tộc và đất nước cứ tự nhiên
chảy thấu vào kí ức mỗi đứa trẻ… bởi sao chép là một cách ghi nhớ có hiệu quả.
Khi đứng tuổi, có dịp về phủ thờ, mở xem cuốn gia phả chính tay mình cày cục
chép, ai cũng xúc động như đang khẽ chạm vào tuổi thơ, chạm vào một thời đẹp đẽ
đã xa và khôngthể không bật cười rớm nước mắt thấy lại nét chữ non dại của mình
ở những chương đầu” (tr.48).Trong lời kể đan lồng lời tả và bình luận, ngôn ngữ
kể chuyện trở thành ngôn ngữ độc thoại, đối diện với chính mình trong nỗi xúc động
về một kỉ niệm đã xa.
Có những trường đoạn ngôn ngữ kể chuyện của Trong vô tận xen
lẫn miêu tả, có sức lay động hồn người từ không gian, thời gian cho đến hành động
và suy nghĩ của nhân vật. Với người kể chuyện 2,từ khi còn là thơ ấu, cậu đã
chú ý đến thanh kiếm treo đầu giường ông nội. Cậu kể lại rằng, toàn thấy ông
đem kiếm ra lau bụi, mà cậu thì rất muốn được xem ông múa kiếm.
Ông cười, giọng trầm hẳn và xa xôi: “Thời của kiếm cũng như
thời của ta qua lâu rồi” (tr.135). Cuối cùng, cậu cũng được xem ông múa kiếm,
nhưng không như mong đợi. Cuối thu năm ấy, trời lạnh nhẹ, gió khuya bỗng thổi mạnh,cậu
bé tỉnh giấc nhìn ra sân, “sửng sốt với cảnh ông điều khiển xe lăn bằng tay
trái, nhanh nhẹn tiến thoái, xoay trở trong khi tay phải múa thanh kiếm vun vút
giữa cơn mưa lá vàng đêm trở gió. Hết bài kiếm, người ông rũ xuống như chẳng
còn sức lực, hai vai nhô lên rung khẽ. Không nghe nhưng tôi biết ông khóc. Đó
là lần đầu tiên và duy nhất tôi thấy ông khóc… Rồi tôi nhận ra vị mặn nước mắt
trên môi mình.
Khi tôi quyết định mở mắt ra, ông tôi và chiếc xe lăn đã biến
mất, gió cũng thôi xao xác, chỉ xác lá còn vương vãi trên sân im ắng” (tr.136).
Đây không chỉ là cảnh (dù cảnh rất đẹp) hay mộtmàn nghệ thuật (dù nghệ thuật
cao siêu), mà còn là tình – tình của người xem và của người múa kiếm. Người xem
thì cảm thông, người múa kiếm thì chua xót. Không một lời giãi bày hay an ủi, sự
im lặng của con người, của đất trời như thấu được nỗi buồn của người người
tráng sĩ chí lớn chưa thành thân đã bại, anh hùng để hận đến nghìn năm.
Ngôn ngữ văn chương của Trong vô tận giàu tính triết
luận và luận đề. Vì thế, rất nhiều thông điệp được chuyển tải trực tiếp đến người
đọc: “Một đất nước như Việt Nam, nếu được cho là cường quốc vào một thời kì nào
đó, thì xuất phát điểm không hoàn toàn thuộc về thành tựu khoa học, kinh tế,
quân sự mà chính là sự hưng thịnh của nguyên khí quốc gia. Nói cách khác, tùy
thuộc vào việc đào tạo hiền tài và sử dụng hiền tài”; “Người Việt khác người
Hoa, một trong nghìn cái khác là xã hội người Việt không tồn tại giới hiệp
khách giang hồ.
Người Việt xưa chỉ động đến cây thương, thanh kiếm khi tính mạng
bị đe dọa, đất nước bị xâm lăng. Đuổi giặc rồi, họ quay về với con trâu cái
cày, với ca dao. Có lẽ vì vậy, hầu như người Việt không có những danh tướng sở
hữu vũ khí tinh xảo quý giá hay lưu danh thiên cổ. Bảo tàng Trung Hoa, Nhật Bản
giữ được nhiều bảo kiếm của các nhân vậtlịch sử, còn bảo tàng của ta chỉ có vài
thanh kiếm cũ cùn mẻ, han gỉ là vậy” (tr. 222, 137). Chínhnhững câu nói mang
tính suy nghiệm đó đã khiến cho người đọc cảm thấy như đang trò chuyện vớinhững
nhà thông thái khi đọc Trong vô tận.
Giải thưởng Văn học Đông Nam Á/ Southeast Asian Writers gọi
tên nhà văn Vĩnh Quyền (nguyên Trưởng VPĐD báo Lao Động tại miền Trung-Tây
nguyên) với “Trong vô tận” (NXB Trẻ, 2019). Tác phẩm này đã nhận Giải nhì Giải
Tiểu thuyết 2016-2019 của Hội Nhà văn Việt Nam.
Qua cách miêu tả của Vĩnh Quyền, không gian Trong vô tận đẫm
chất thơ, chất thiền của văn hóa Huế. Chính đặc trưng văn hóa đã đem lại cho
tác phẩm một phong cách nghệ thuật độc đáo. Chỉ cần điểm xuyết trong không gian
truyện một vài chi tiết, vài hình ảnh, vài ngôn từ, thì cái chất quý tộc, chất
cố đô đã hiển hiện: “Hàng năm vào hai dịp tết và hè, đại gia đình tôi tổ chức
cho con cháu khắp nơi về phủ thờ gặp nhau để sau này biết anh biết em, vừa vui
chơi vừa tìm hiểu dần lịch sử dòng tộc, trong đó có mục chép gia phả”; “Cái cổng
mái vòm ngoài đời trông chẳng khác mấy trong ảnh chụp…
Từ dạo ấy, nơi đây đã rêu phong đến độ không thể rêu phong
hơn”; “Hạnh đưa tôi lên chùa cổ lưng chừng núi Kim Phụng đầu nguồn sông Hương,
nơi bảy đời gia đình tôi quy y” (tr.48, 84, 81). Không gian hoài cổ, không khí
tịch liêu, lễ nghi nghiêm túc và cách giới thiệu “bảy đời gia đình tôi” chính
là chất Huế không lẫn vào đâu được. Đôi khi, văn chương khiến người ta rung cảm
chỉ vì một vài chữ gieo thả tự nhiên như chảy ra từ trong huyết thống của người
cầm bút. Một vài chữ đó trong văn của Vĩnh Quyền là bóng dáng của thời hoàng
kim một đi không trở lại của xứ Huế…
Chạm đến hầu hết những “chủ đề vĩnh cửu” của văn chương nên nội
dung của Trong vô tận đề cập muôn mặt của cuộc sống. Đồng thời, kết cấu
dung hợp thể loại đã khiến cho ngôn ngữ của văn bản mang tính liên văn bản. Để
trình bày quan điểm lịch sử, chính trị, nhân vật của Trong vô tận thường sử dụng
kiểu ngôn ngữ giàu tính chính luận và tính khoa học như những trích dẫn minh chứng
để tăng tính thuyết phục. Cuộc tranh luận giữa người kể chuyện 1 và người bạn
làm báo về đề tài “Nước Đại Nam – cường quốc Đông Á” là sự kết hợp thành công
giữa văn phong nghệ thuật và văn phongkhoa học: “Nghĩ xem, một nước ba lần cản
vó ngựa quân Mông Cổ từng chinh phục Trung Hoa, Nga, hàng chục nước Tây Á và
châu Âu mà không cường quốc thì là gì? Một nước hơn một ngàn năm, từ năm 111
trước công nguyên đến năm 905 không ngừng kháng chiến chống Tàu để cuối cùng
giành được độc lập mà không cường quốc thì là gì?
Người Pháp chỉ cần ba tháng đến ba năm để đánh bại và đặt nền
đô hộ lên hàng chục nước trên thế giới, nhưng phải mất ba mươi năm mới lập được
chế độ bảo hộ trên toàn cõi Việt Nam, đất nước như vậy không cường quốc thì là
gì? Trong hồi kí L’Empired’Annam xuất bản năm 1904 của đại úy Charles Gosselin
và hồi kí L’Indochine Francais xuất bảnnăm 1905 của toàn quyền Paul Doumer, về
sau là Tổng thống Pháp, đều tự hào nước Pháp của họ thắng được một cường quốc tại
Đông Á là Annam” (tr.17). Việc chêm chen ngôn ngữ khoa học vào tiểu thuyết là mục
đích nghiên cứu quá khứ để có một tầm nhìn rõ hơn về hiện nay chứ không xuất
phát từ tâm thế của típ người xem quá khứ mới là thời hoàng kim. Đó chính là mục
đích sử dụng ngôn ngữ mà Vĩnh Quyền đã bày tỏ.
Theo nhà nghiên cứu Lã Nguyên, “văn bản nghệ thuật không phải
là cái bọc đựng nghĩa một cách thụ động, mà là tổ chức truyền đạt, lưu giữ và
sáng tạo thông tin”, “nó là thiết chế có phẩm chất trí tuệ”. Thiết chế đó trong
cấu trúc của Trong vô tận là sự đa dạng của chủ đề, cốt truyện và kết cấu; được
Vĩnh Quyền tổ chức từ một kiểu “ngôn ngữ đặc biệt” với mã văn hóa riêng thể hiện
sự tìm tòi, sáng tạo của một cây bút mang phong cách hậu hiện đại. Được chưng cất
từ văn hóa và lịch sử, đồng thời mang đậm hơi thở của thời đại, ngôn ngữ nghệ
thuật của nhà văn Vĩnh Quyền trong tiểuthuyết Trong vô tận vừa sống động, vừa mực
thước, đa biến và ảo diệu. Ngôn ngữ nghệ thuật đã là một ấn tượng đặc biệt mà
Trong vô tận khắc ghi trong sự tiếp nhận của người đọc. Đó cũng là điểm để khẳng
định thành công trong cấu trúc văn bản nghệ thuật của tác phẩm.
8/8/2022
Nguyễn Thị Tịnh Thy
Nguồn: Báo Lao Động 2.2022
Theo https://vanvn.vn/
Thơ Đặng Bá Tiến - Mỹ cảm về những vọng âm huyền sử và nỗi đau sinh thái
Thơ Đặng Bá Tiến - Mỹ cảm về những
vọng âm huyền sử và nỗi
đau sinh thái
Trong gia tài nghệ thuật của ông, nếu những bức ảnh đặc
sắc đã đạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế hoặc đang được trưng bày
trong một số bảo tàng là phần phô diễn những quan sát, những trải nghiệm về
thiên nhiên và con người một cách trực tiếp, sống động, thì thơ ca chính là phần
lắng đọng, chưng cất, tinh chế những trải nghiệm ấy cùng với thứ mỹ cảm vừa
giàu tính thời sự, vừa mang chiều sâu triết lý nhân sinh của một tâm hồn đa cảm
và trí tuệ sắc sảo.
Đặng Bá Tiến là một nhà báo, một nghệ sĩ rong ruổi trên nhiều
chặng đường văn hoá nghệ thuật: làm báo, làm thơ, làm nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhưng
có lẽ hành trình nào cũng đưa ông về một miền cổ tích trong tâm tưởng: miền của
cái Đẹp được dệt nên bởi lá hoa, bởi chim muông, bởi đại ngàn, bởi những nụ cười,
những phong tục tập quán, những truyền thuyết, sử thi, giai thoại, và hơn hết,
bởi một tình yêu tha thiết, trách nhiệm xã hội và những rung cảm đặc biệt tinh
tế trước cuộc đời cùng tài năng biến những rung cảm ấy thành thứ ngôn ngữ nghệ
thuật giàu cảm xúc, chạm đến trái tim người đọc.
Trong gia tài nghệ thuật của ông, nếu những bức ảnh đặc sắc
đã đạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế hoặc đang được trưng bày trong một
số bảo tàng là phần phô diễn những quan sát, những trải nghiệm về thiên nhiên
và con người một cách trực tiếp, sống động, thì thơ ca chính là phần lắng đọng,
chưng cất, tinh chế những trải nghiệm ấy cùng với thứ mỹ cảm vừa giàu tính thời
sự, vừa mang chiều sâu triết lý nhân sinh của một tâm hồn đa cảm và trí tuệ sắc
sảo. Đọc thơ ông là tham dự vào một hành trình miên viễn – lung linh sắc màu,
ngất ngư nhịp điệu và đắm đuối suy tư để tìm lại những vọng âm huyền sử, những
ký ức văn hoá, để tưởng nhớ bản nguyên sinh thái của một vùng đất và của sự sống
nói chung.
Trong tâm lý học sáng tạo nghệ thuật có khái niệm “vùng thẩm
mỹ”, và một trong những hướng tiếp cận hiện đại đối với văn học là gắn tác giả,
tác phẩm với các “nơi chốn” (place) sản sinh ra nó để phân tích ý nghĩa của nó
với nơi chốn ấy: “Nơi chốn không trừu tượng hoặc bất biến. Chúng được kiến tạo
và cấu thành bởi một loạt các quá trình sinh thái xã hội phức tạp, đầy mâu thuẫn.
Do đó, những câu hỏi về căn tính, giới tính, dân tộc, giai cấp, chủ nghĩa quốc
tế, chủ nghĩa đa văn hoá, hay toàn cầu hóa, sẽ đóng một vai trò quan trọng
trong phê bình nơi chốn – tương tự như với các phương pháp tiếp cận khác trong
phê bình văn học. Các nhà phê bình nơi chốn (placed critics) hướng sự chú tâm của
họ vào nơi chốn để kiếm tìm các phương pháp “chữa lành” cho các vấn đề xã hội
và sinh thái địa phương – giống như các nhà phê bình thông thường coi tác phẩm
của họ là giải pháp cho các vấn đề quốc gia” (Ball, E.). Tiếp cận từ cả góc độ
tâm lý học sáng tạo lẫn từ lý thuyết phê bình sinh thái (Ecocriticism), phê
bình nơi chốn (Placed criticism) thì Tây Nguyên chính là nơi chốn quen thuộc,
vùng sinh thái – xã hội thân thuộc, vùng thẩm mỹ chủ yếu của thơ Đặng Bá Tiến.
Từ trường ca Rừng cổ tích qua các tập thơ Hồn
cẩm hương và Linh hồn tiếng hú xuất hiện nhiều địa danh khác
nhau, trải khắp các vùng miền đất nước, nhưng hiện lên với tần suất dày đặc nhất,
thông qua nhiều hình ảnh nhất, chứa đựng nhiều cảm xúc và tâm tư nhất, chính là
Tây Nguyên. Những ám ảnh sinh thái của nhà thơ được thể hiện rõ nét trong các
bài thơ về Tây Nguyên. Ông viết về Tây Nguyên bằng một tư thế đặc biệt: không
phải một người bản địa Tây Nguyên, nhưng cũng không phải một nghệ sĩ rong chơi
qua Tây Nguyên trong thoáng chốc. Từ Hà Tĩnh – miền đất văn nhân, chuyển vào
sinh sống gần bốn mươi năm ở Đắk Lắk, làm việc, gắn bó sự nghiệp với Tây
Nguyên, cái nhìn đối với Tây Nguyên trong thơ ông vừa là cái nhìn quan sát,
chiêm ngưỡng của một chứng nhân từ bên ngoài, vừa là cái nhìn tham dự, thẩm thấu
ở bên trong của một người thuộc về và gắn bó. Bởi thế, những vần thơ về Tây
Nguyên của Đặng Bá Tiến vừa chứa chan xúc cảm, tình yêu nồng nàn với cảnh vật,
con người Tây Nguyên, vừa thể hiện một thái độ khách quan, những suy tư đầy lý
trí và tinh thần trách nhiệm với miền đất ấy.
Nếu trong ấn tượng chung của người Việt Nam, và trong ký ức
văn học nghệ thuật, Tây Nguyên thường hiện lên trong vẻ đẹp quyến rũ của rừng đại
ngàn, của cao nguyên đất đỏ hùng vĩ, của một nền văn hoá đa dạng, giàu bản sắc
truyền thống từ các tộc người, và được miêu tả trong niềm tự hào, say mê, khao
khát, thì thơ Đặng Bá Tiến lại tái hiện Tây Nguyên từ một góc nhìn khác, một cảm
thức khác. Đó là một Tây Nguyên của sự vận động biến đổi, Tây Nguyên của những
nghịch lý, những bi kịch; một Tây Nguyên hiện lên trong nỗi đau, nỗi ám ảnh về
những vẻ đẹp đang dần tàn phai, những giá trị đang dần mất mát, những bản sắc
đang dần mai một, và khắc khoải một nỗi nhớ nhung, sầu thương khôn nguôi về những
ảnh hình, những biểu tượng đẹp đẽ của thiên nhiên và văn hoá đang có nguy cơ biến
mất. Đó chính là nỗi đau rừng và nỗi đau văn hoá hiển hiện một cách đậm đặc như
những ám ảnh sinh thái trong tác phẩm của Đặng Bá Tiến qua hàng loạt tác phẩm,
mà tiêu biểu nhất là qua Hồn cẩm hương (Nhà xuất bản Hội Nhà văn,
2017) và Linh hồn tiếng hú (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2020). Hai tập
thơ đưa người đọc vào những chuyến du ngoạn của tâm hồn tìm về với rừng xanh, với
nét đẹp và bản nguyên sinh thái của một miền xanh kỳ thú; cùng trò chuyện và
suy tư với rừng, với đại ngàn, với buôn làng, với linh hồn một vùng đất – vùng
thẩm mĩ thân thiết của tác giả. Cuộc trò chuyện ấy xuất phát từ tâm sự cá nhân,
từ những trải nghiệm về “cuộc bể dâu” mà chủ thể trữ tình quan sát thấy:
Mới đó mà thời trai trẻ đã bỏ ta/Đại ngàn đã thưa dần cổ thụ/
Nước cũng cạn rồi, lá khô đầy bến cũ/ Chỉ gió còn hú mãi tiếng buồn xưa/ Bạn bè
rụng rơi theo nắng theo mưa/ Cồng chiêng cũng vơi dần buôn vắng…(Cúc quỳ).
Và sau những quan sát là những xúc cảm: là tình yêu và nỗi
đau mất mát – khi ào ạt sôi nổi khi nghẹn ngào đầy suy tư, khi sâu lắng khi cuồng
nhiệt – cứ trở đi trở lại trong ông và tràn sang người đọc một nỗi day dứt, ám ảnh
về sự mai một, biến mất những giá trị đẹp đẽ của đất, của người Tây
Nguyên. Những xúc cảm ấy hằn trong hình ảnh, trong tâm tư của từng ngọn thác,
dòng sông, con voi, già làng, lời chiêng, tiếng hú… Có thể nói, thơ Đặng Bá Tiến,
với phương thức trữ tình nhập vai và lối viết phóng khoáng, giàu cảm xúc, giàu
tính biểu tượng, là cách nhìn đa chiều đầy trăn trở về Tây Nguyên trên tinh thần
“Tưởng nhớ trái đất”(remember the earth), tưởng nhớ đại ngàn, lấy sinh thái,
trái đất làm trung tâm (earth – centered) để cất lên những tiếng kêu cứu về
sinh thái và văn hoá cho vùng đất Tây Nguyên nói riêng, cho đất nước và nhân loại
nói chung trên hành trình phát triển.
“Giải huyền thoại” về Tây Nguyên bằng cái nhìn đương đại
Cây, rừng, suối, thác, cao nguyên là những hình ảnh quen thuộc
của thiên nhiên Tây Nguyên, tạo nên một nét đặc trưng cho vùng đất ấy: hệ sinh
thái rừng. Và những cánh rừng bạt ngàn, thơ mộng, hùng vĩ ấy lại tạo nên một hệ
sinh thái tinh thần đặc trưng cho buôn làng Tây Nguyên: văn hoá rừng – với lối
sống, thói quen sinh hoạt, tập tục sản xuất, ứng xử, tín ngưỡng gắn liền với rừng.
Nguyên Ngọc – một nhà văn, nhà phê bình gắn bó mật thiết với Tây Nguyên, cho biết:
“Một làng Tây Nguyên phải có ít nhất năm loại rừng, đủ cả năm loại thì mới
thành làng, mới còn làng Tây Nguyên và còn Tây Nguyên”, năm loại rừng đó là: “Rừng
đã biến thành nơi cư trú của con người. Là khoảnh rừng làng đã xin, đã mượn của
tự nhiên – rừng làm đất cư ngụ”; “Rừng để làng làm rẫy, là khu vực được quy định
rất chặt chẽ, rõ ràng, do già làng chọn, và hội đồng già làng phân cho các hộ
canh tác”; ‘Rừng sinh hoạt, là khu vực rừng không làm rẫy, con người chỉ thỉnh
thoảng vào đấy khi tìm sợi mây, khúc gỗ làm vật dụng, khi theo dấu con ong và
tìm cái mật, khi mải miết đuổi theo con cheo, con chồn…”; “Rừng đã thành
nghĩa trang, bao giờ cũng nằm về hướng tây của làng, hướng mặt trời lặn, đường
đi về cõi bên kia”; và “Rừng thiêng, hay rừng ma. Là nơi ngự trị của các thần
linh. Không ai được động tới. Đến đây, tự nhiên thống trị tuyệt đối. Đấy cũng
là rừng đầu nguồn, giữ nước, sự sống của làng” (Nguyên Ngọc). Rừng vừa là môi
trường sống, là cái nôi của sự sống ở Tây Nguyên, vừa là không gian linh thiêng
huyền bí trong tâm thức của người Tây Nguyên, vừa là nơi người Tây Nguyên tìm
cách thích nghi, khai thác, chung sống trong cả khát vọng chinh phục và thái độ
thành kính.
Nhiều nhà nghiên cứu về văn hoá Tây Nguyên đã thống nhất đánh
giá rừng là yếu tố đặc biệt quan trọng trong không gian tự nhiên, xã hội, trong
văn hoá của người Tây Nguyên. Nguyễn Văn Kim khẳng định: “Đặc tính rừng núi chi
phối hầu hết nếp sống, nếp sinh hoạt kinh tế, văn hoá, đời sống tâm linh của
người Ê – đê và đồng bào Tây Nguyên. Rừng là nơi khởi nguyên đồng thời cũng là
nơi trở về với tổ tiên của bao thế hệ. Rừng gắn với đời sống tâm linh, với tầng
sâu về nguồn cội văn hoá” (Nguyễn Văn Kim, 73). Có thể nói núi rừng chính là đặc
trưng sinh thái cả về thiên nhiên, cả về tinh thần, văn hoá của người dân Tây
Nguyên, và đặc điểm đó được lưu giữ đậm nét trong các sáng tác văn học nghệ thuật.
Các tác phẩm của Tây Nguyên và về Tây Nguyên thường khắc hoạ vùng đất này với
nét đẹp bình dị, khoáng đạt của con người hoà quyện trong vẻ đẹp trù phú, xanh
tươi, huyền bí và kỳ vĩ của thiên nhiên: Sử thi Đam Săn được đưa vào chương
trình Sách Giáo khoa môn Ngữ văn Trung học phổ thông với trích đoạn đặc sắc về
chàng trai Đam Săn đi bắt Nữ thần Mặt Trời – thể hiện dũng khí vô song và khát
vọng phi thường của người tù trưởng Ê – đê; những ca khúc nổi tiếng về Tây
Nguyên luôn lấp lánh vẻ đẹp của con người gắn với thiên nhiên tươi xanh, mát
lành: Gái trai quê tôi da nâu mắt sáng vóc dáng hiền hoà/ Những đứa con của
Trường Sơn trung kiên như Trường Sơn, như tiếng trống già làng (Nguyễn Cường,
Ơi M’ Drăk), Khi rung lên vài sợi dây đàn đã đong đầy hồn người Raglai/ Ôi
Raglai những rừng cây ngọn núi mang tiếng đàn chapi (Trần Tiến, Giấc mơ
Chapi), Gái trai Ê Đê, gái trai Mơ Nông/ Hát cho cao nguyên xanh mãi mãi/
Hát cho K’ Rông A Na sóng vỗ/ Xôn xang, mênh mang (Nguyễn Cường, Xôn xang
mênh mang cao nguyên Đăk Lăk)… Truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn
Trung Thành được mở đầu bằng hình tượng cây xà nu như một ẩn dụ cho nỗi đau, sự
hi sinh và sức sống, khả năng hồi sinh diệu kỳ của dân làng Xô Man trong bom đạn
chiến tranh. Có những tác phẩm hình dung về Tây Nguyên bằng một màu xanh ngút
ngàn của trời, của nước, của núi, của cây: Trời Tây Nguyên xanh/ Hồ trong
nước xanh/ Trường Sơn xa xanh/ Ngút ngàn cây xanh (Hoàng Vân, Tình ca Tây
Nguyên). Sức sống của thiên nhiên và nét đẹp khoẻ khoắn trong lao động của con
người khiến cho Tây Nguyên luôn rộn ràng niềm vui của đất trời, niềm tự hào,
say mê ngây ngất của lòng người: Tháng Ba, rừng Tây Nguyên hoa thắm đỏ/
Làng buôn vang tiếng chiêng múa hát/ Bầy chim muông cất cánh rợp trời/ Sông từng
đàn con cá lội bơi (Văn Thắng, Tháng Ba Tây Nguyên).
Từ văn hoá rừng, từ sự tương tác với rừng, với nương rẫy, một
số học giả định vị văn hoá Tây Nguyên với những đặc sản vùng miền được kiến tạo
một cách phong phú, giàu có, trở thành một di sản đáng tự hào giữa bức tranh
chung của văn hoá Việt Nam trên hành trình phát triển trong bối cảnh xã hội
đương đại: “Nền văn minh nương rẫy Tây Nguyên đã cống hiến cho dân tộc Việt Nam
một địa chỉ văn hóa, với ba hình thái văn hóa phi vật thể lớn: Kho tàng đồ sộ
các trường ca – sử thi truyền miệng mà không một đất nước nào trên thế giới có
được; vùng không gian văn hóa cồng chiêng độc đáo và phong phú; vùng du lịch
sinh thái và văn hóa huyền thoại đầy sức quyến rũ” (Linh Nga NiêkDam). Có thể
nói sự hình dung của các học giả, giới nghệ sĩ và công chúng văn học nghệ thuật
về Tây Nguyên thường gắn với nét đẹp hùng vĩ, bao la, trù phú, xanh tốt của
thiên nhiên, vẻ đẹp mộc mạc, khoẻ khoắn, hồn hậu của con người và nền văn hoá
giàu bản sắc, phong phú di sản của các tộc người thiểu số. Cái nhìn ấy dường
như tạo thành một định đề, một huyền thoại về vùng đất Tây Nguyên, và không ngừng
được nhân lên, được tiếp nối, được bồi đắp thêm trong các công trình, các tác
phẩm.
Nhưng đến với thơ Đặng Bá Tiến, người đọc có thể có một góc
nhìn, một cách tiếp cận khác về Tây Nguyên: Tây Nguyên trong thơ sinh thái, Tây
Nguyên trong nỗi âu lo về một cuộc khủng hoảng, tổn thương của cả thiên nhiên
và văn hoá bản địa trên tiến trình phát triển của xã hội. Nỗi âu lo ấy được thể
hiện vừa trực tiếp trên bề mặt câu chữ dày đặc những thông điệp giàu tính thời
sự, vừa ẩn dụ, sâu sắc trong hệ thống những hình ảnh, biểu tượng, những rung cảm
thẩm mỹ giàu tính triết lý mà vẻ đẹp của thơ ca mang lại cho người đọc.
Trong lời mở đầu trường ca Rừng cổ tích, Đặng Bá Tiến từng
bộc bạch: “Văn hoá bản địa Tây Nguyên độc đáo, đặc sắc. Thiên nhiên Tây Nguyên
hùng vĩ, thơ mộng, động – thực vật phong phú. […]. Vậy mà bây giờ… Bản Đôn đã
và đang từng ngày, từng giờ đánh rơi dần bản sắc văn hoá độc đáo của mình. Tấm
áo đẹp mà thiên nhiên khoác cho Bản Đôn cũng đang bị xé toạc dần từng mảng lớn.
Đấy là nỗi buồn. Và không chỉ buồn, thực sự là nỗi đau đối với tất cả những ai
yêu mến vùng đất này! Tôi viết trường ca Rừng cổ tích như một hoài niệm,
một giấc mơ của riêng mình về vùng đất Bản Đôn thân thương” (Đặng Bá Tiến:
2012, 6). Hoài niệm Tây Nguyên, tinh thần tưởng nhớ vẻ đẹp của Tây Nguyên trong
quá khứ được thể hiện tha thiết, và hiện hữu một cách đậm đặc trong những hoài
niệm ấy là một nỗi đau rừng và nỗi đau văn hoá khôn xiết, cồn cào.
Trong một bài viết có ý nghĩa nền tảng đối với Phê bình sinh
thái, “Phê bình sinh thái: nghiên cứu văn học trong bối cảnh khủng hoảng môi
trường toàn cầu” (Ecocriticism: literary studies in an age of environmental
crisis), khi định nghĩa về Phê bình sinh thái, Cheryll Glotfelty từng minh định
những mối quan tâm đặc biệt của các nhà sinh thái học như sau: “Phê bình sinh
thái và các nhà lí thuyết đã đặt ra nhiều vấn đề: tự nhiên được hình dung như
thế nào trong các bài thơ trữ tình? Vai trò của bối cảnh tự nhiên trong cốt
truyện của tiểu thuyết? Các giá trị thể hiện trong kịch có nhất quán với trí tuệ
sinh thái? Làm thế nào chúng ta có thể mô tả cách viết về tự nhiên như một thể
loại? Ngoài chủng tộc, giới tính nên đặt điểm nào trở thành danh mục phê bình mới?
Nhà văn nam viết về tự nhiên khác nhà văn nữ như thế nào? Cách đọc nào chịu ảnh
hưởng của mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên? Ý niệm về sự hoang
dã sẽ thay đổi như thế nào trong thời gian tới? Những cách nào và những tác động
gì mà khủng hoảng môi trường thấm vào văn học đương thời và văn hóa đại chúng?”
(Cheryll Glotfelty). Đọc thơ Đặng Bá Tiến từ góc nhìn của Phê bình sinh thái,
có thể thấy: cách mà nhà thơ trình hiện thiên nhiên trong tác phẩm của mình, những
ẩn dụ, những biểu tượng nghệ thuật trong thơ ông nói lên một sự trăn trở, dằn vặt
sâu sắc về những rạn nứt trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, sự
đổi thay của thiên nhiên theo hướng mất mát những giá trị nguyên sơ và trù phú,
và bao trùm lên tất cả là tinh thần trân quý, khát vọng tìm lại bản nguyên sinh
thái của vùng đất Tây Nguyên. Đó chính là một cái nhìn đương đại đầy tính hiện
thực trên tinh thần “giải huyền thoại” của thơ ông về vùng đất này.
Nỗi đau rừng hay là tinh thần “Tưởng nhớ Trái đất”
Theo Kate Rigby, một trong những điểm cốt lõi hàng đầu của
Phê bình sinh thái là “tưởng nhớ trái đất thông qua sự phơi bày trước mắt con
người khoản nợ của văn hoá đối với tự nhiên”. Thơ Đặng Bá Tiến, theo đó, chính
là những văn bản chứa đựng tinh thần tưởng nhớ Trái đất, tưởng nhớ vẻ đẹp
nguyên sơ của rừng Tây Nguyên từ những vọng âm trong quá khứ, trong huyền sử của
miền đất ấy.
Một kiểu kết cấu quen thuộc trong các bài thơ của Đặng Bá Tiến
là kết cấu tương phản, đối lập: tương phản giữa quá khứ với hiện tại, giữa hoài
niệm, hồi ức về hôm qua với hiện thực được phơi bày hôm nay. Qua đó, nhà thơ thực
hiện một hành trình trong tâm tưởng để “đi tìm thời gian đã mất”, tìm lại quá
khứ huy hoàng, rực rỡ, đầy màu sắc, âm thanh, tràn ngập những hình ảnh sinh động,
rộn ràng của thiên nhiên gắn với không gian núi rừng, để rồi sực tỉnh trước hiện
thực: tất cả những vẻ đẹp đó chỉ là ảo ảnh, hồi ức, tất cả nay “còn đâu”:
Còn đâu những tháng ba trời đất thơm lừng/ Trăm thứ hoa rừng
đua nhau khoe sắc/ Ong đập cánh cho ngợp trời phấn rắc/ Mật ngọt như mưa dưới
tán biếc ròng ròng/ Còn đâu điệu múa xoè của những bầy công/ Cánh rừng bên sông
chỉ còn đất trống/Lau phơ phất một màu tang trắng/ Hồn cẩm hương… cũng hết gốc
nương nhờ/Nơi đàn voi quần tụ dưới trăng mơ/Giờ những đống xương khô tàn lạnh/
Mùa săn voi chỉ còn ảo ảnh/ Trong hoài niệm hằng đêm lại vỗ cánh bay về./ (Tiếng
tù và Ma – Kông).
Những nét đẹp lãng mạn, thơ mộng của rừng xưa đã vụt biến mất
như trong giấc mơ, chỉ còn lại sự trống vắng, hắt hiu, tàn lụi. Và hình ảnh người
đàn bà mang gùi đi trên con đường thân thuộc bỗng trở nên lẻ loi, buồn tủi bởi
không được thiên nhiên điểm tô, hoà quyện:
Không có tiếng chim đ’rao, không có tiếng chim s’tiêng… lảnh
lót như ngày xưa./ Không có mùi hương hoa ê – pang, hoa sớc – khọt… bay trong
sương như ngày xưa./ Không có làn khói mỏng dan díu trên mái tranh như ngày
xưa./ Chỉ có hoài niệm về rừng xưa, buôn xưa, tiếng chim xưa chập chờn ẩn hiện./
Làm niềm tin cho người đàn bà gắng sức. (Người đàn bà mang gùi).
“Còn đâu”, “Không có” – những điệp khúc trong hai đoạn thơ
trên đã diễn tả nỗi mất mát và cả sự hụt hẫng, tiếc nuối, nhớ thương về rừng
xưa. Và những hoài niệm ấy dường như luôn là báu vật, là sức mạnh, niềm tin để
con người của hôm nay bớt trơ trọi, đơn côi giữa cảnh tượng heo hút không còn
những người bạn thiên nhiên thưở nào. Nhưng càng hoài niệm thì chủ thể trữ tình
càng xót xa nhận ra sự đối lập giữa hiện tại và quá khứ: Những ngày sống
cùng đại thụ, bạn cùng cây lá, muôn ngả là rừng, là những bàn tay Mẹ Thiên
Nhiên bao dung che chở /Bây giờ suối khô, rừng hoang…(Nước mắt tượng nhà mồ).
Trong những đoạn thơ trên, thiên nhiên – những yếu tố “non –
human” vốn dĩ là một người bạn của con người trong hệ sinh thái, những yếu tố vốn
bình đẳng với con người, thậm chí là cái nôi che chở, môi trường, nguồn sống của
con người, đang trở thành nạn nhân của sự phá huỷ, tiêu diệt, và nhà thơ đã đặt
những câu hỏi nhức nhối để lên án đanh thép những kẻ làm nên nỗi mất mát, nỗi
đau này. Đặng Bá Tiến đã từng viết nhiều bài báo về nạn phá rừng, nhưng với
thơ, ông còn có thêm những “vũ khí” tinh thần lợi hại nữa để sự phản ánh về vấn
nạn này trở nên sâu sắc và tràn đầy cảm xúc. Trong tập Hồn cẩm hương, bằng
phương thức nhập vai, hoá thân vào nhân vật trữ tình, thơ ông không phải sự mô
tả, phản ánh một chiều mà là câu chuyện, là tâm sự, là nỗi niềm của chính thiên
nhiên, là nơi hệ sinh thái cất lời: đó là câu hỏi của thác Đray Nu: Mẹ Đại
Ngàn mát lành cội rễ/ Ai đưa Mẹ về xanh lại núi đồi xưa?, là Lời con voi Bản
Đôn: Chiều nay ta nhai nắng đến rã rời/ Chẳng còn cỏ thơm, chẳng còn mía ngọt/
Ta nuốt cả phận mình trong đắng đót/ Bản Đôn ơi ai còn hiểu lòng ta? Những
câu hỏi cứ lặp đi lặp lại, trở thành mô típ quen thuộc của một loạt bài thơ:
Quá khứ đẹp tươi của cỏ cây chim muông, của rừng đại ngàn xanh thắm – Hiện tại
điêu tàn, chơ vơ, mất mát- Ai có thể trở lại ngày xưa, ai có thể trả lại rừng
xưa? Những câu hỏi buông lơi, những câu hỏi cồn cào không lời đáp như liên tục
bổ sung, hô ứng với nhau để gieo vào lòng người đọc tình yêu, tình thương bỏng
cháy với Trái đất, với đại ngàn, với dòng thác, với con sông, với voi, với chim
muông, hoa nắng, và từ đó nhen lên một nỗi xót xa với thiên nhiên đang chết dần,
thưa vắng dần.
Vẫn là phương thức trữ tình nhập vai và những câu hỏi tu từ,
nhưng đến Linh hồn tiếng hú, chủ thể trữ tình thường là con người: là “tôi”, là
“ta” – những đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất; là mí – người mẹ đắng lòng nhớ lá
bép rừng xưa, là cô gái má đầm nước mắt thương voi gầy Bản Đôn; là già làng, Ây
Nô, Khăm Xay với nỗi cô đơn trong chén rượu nhớ rừng, trong đắm đuối xót thương
linh hồn tiếng hú… Nếu ở Hồn cẩm hương, “Nỗi rừng” được bộc lộ sôi nổi, nồng
nhiệt, cháy bỏng trong những hoài niệm, những nhớ thương, những khao khát, thì
đến Linh hồn tiếng hú, dường như những tình cảm, những tâm trạng với thiên
nhiên, với đại ngàn, với đất đã bầm lại trong nỗi đau, nỗi hận, trong những suy
tư giàu triết lý. Nếu tập trước là tiếng kêu cứu của tự nhiên non – human, thì
tập sau là nỗi niềm của những con người đang bị bóc tách dần khỏi tự nhiên, bị
“mất trộm” tự nhiên như là một phần cuộc sống của mình, và của cả những linh hồn
không nơi trú ngụ:Giờ ta về giữa rừng xưa/ hồn không chỗ trú/ nắng mưa ngút trời/
xót xa!/ ta hỏi một lời:/rừng tàn/ sông cạn/ rồi người về đâu?!- (Câu hỏi
của linh hồn).
Có thể nói, trong hai tập thơ, có một nỗi ám ảnh nhức nhối về
sự biến đổi, mai một, mất mát của thiên nhiên so với quá khứ, được cụ thể hoá,
định danh thành “Nỗi rừng” (như tên Phần I của Hồn cẩm hương). Nỗi niềm ấy được
nhìn, được diễn tả từ cả góc nhìn của thiên nhiên và góc nhìn của con người –
trong sự bình đẳng, hô ứng với nhau: thiên nhiên nhớ nhung quá khứ tươi xanh,
trù phú, kỳ vĩ của mình, và con người nuối tiếc, buồn thương thiên nhiên – người
bạn, người chở che, nuôi dưỡng mình, bị mất mát. Điều đáng nói là trong những lời
tâm sự, những nỗi niềm của cả tự nhiên và con người, có thể thấy rõ một sự chối
từ tư tưởng lấy con người làm trung tâm (anthropocentrism) và đề cao tinh thần
lấy sinh thái làm trung tâm, trái đất làm trung tâm (earth – centered), trong
đó tiếng nói con người và tiếng nói của thiên nhiên (lời của thác, của sông, của
hồ, của rừng, của voi, của hoa, của bìm bịp…) đều là tiếng nói nhân danh hệ
sinh thái, nhân danh sự sống, nhân danh Tây Nguyên. Sự hoà hợp giữa con người
và thiên nhiên vì một hệ sinh thái cân bằng chính là khát vọng, là niềm tin tối
thượng trong các bài thơ sinh thái, và trong một số tác phẩm (Lời chiêng từ đất,
Nước mắt tượng nhà mồ, Chuyện của Ma – Té, Chuyện về hồ Lăk, Chuyện không hot),
khát vọng ấy được thể hiện qua niềm tin về Giàng: Giàng là đấng tối cao, là mẹ
thiên nhiên, là quy luật vận hành của tạo hoá, của hệ sinh thái. Vì vậy, trong
nhiều bài thơ, tác giả cũng trực tiếp hay gián tiếp phê phán, lên án những hành
động phá huỷ tự nhiên, đi ngược lại sự sắp xếp của Giàng khiến hệ sinh thái bị
tổn thương, cuộc sống bị mất cân bằng: “Hồ Lắk bây giờ…”/ Già nghẹn ngào,
mắt nhoè sương khói/ “… nước đục vũng trâu/ Cá chích điện kiệt rồi/ Nai hoẵng
quanh hồ còn trong chuyện kể thôi/ Vài bóng voi già buông vòi tư lự/ Rừng trơ gốc
mưa cuộn trào đất đỏ/ Hồ đang bỏ người/ Về với Giàng xưa…” (Chuyện về hồ Lắk).
Trong sự đối lập giữa còn và mất, giữa có và không, giữa quá
khứ tươi đẹp giàu có và hiện tại hoang vắng cằn cỗi của thiên nhiên ấy, nhà thơ
không chỉ miêu tả, không chỉ tiếc nuối, không chỉ xót thương, ông đã đặt ra câu
hỏi đanh thép về thủ phạm của hiện trạng đau đớn này, và kiếm tìm điểm tựa ở tổ
tiên, ở Giàng:
Hỡi ông bà tổ tiên, hỡi Giàng trên cao xa kia, ai đã lấy cắp
những cánh rừng của tổ tiên tiên ta./Ai đã hút máu cánh rừng của ta, để bây giờ
giọt nước mắt của rừng khô thành đá ngổn ngang lòng suối.-(Nước mắt tượng nhà mồ).
Thông qua dày đặc những hình ảnh, những địa danh, những nhân
vật sống động được hoà trộn trong những cảm xúc thẩm mỹ dạt dào, nhà thơ đã
đánh thức trong người đọc những rung cảm, những suy tư, đã đặt ra những câu hỏi
buộc người đọc phải dấn thân vào một cuộc thảo luận: Nguồn cơn nào đã khiến đại
ngàn Tây Nguyên, hệ sinh thái Tây Nguyên bị mất mát, phá vỡ? Nguyên nhân nào đã
dẫn đến nỗi đau rừng nhức nhối như vậy? – Là thói quen khai thác rừng trong cuộc
sống hàng ngày của người dân bản địa? Là nạn phá rừng tràn lan sau những làn
sóng di cư? Biết bao kẻ đứng sau sự tổn thương, sau cái chết của đại ngàn – với
những khuôn mặt muôn hình vạn trạng nhưng đều giống nhau ở nỗi khát tiền, cơn
mơ tiền mà gỗ rừng mang lại, như nhà thơ từng phác thảo chân dung trong Rừng cổ
tích – bằng thứ ngôn ngữ đầy tinh thần hiện thực và tính thời sự: Sau làn
sóng di cư/ Là bọn lâm tặc, là lũ mọt rừng trăm phương mò tới/ Chúng ngấu nghiến
ăn rừng trong bóng tối/ Ăn rừng giữa bạch nhật thanh thiên/ Chúng nuốt cả cây gỗ
dài như sợi bún/ Chúng ngủ mơ cũng thấy gỗ chập chờn/ Chúng bán, mua cả rừng gỗ
giản đơn/ Bằng những dự án đỏ lòm con dấu/ Và bầm tím những mưu đồ ẩn náu/
Chúng nháy mắt nhau là rừng đổ ào ào/ Những cánh rừng đẫm máu thương đau/ Voi
phơi xác cho quạ, diều mở tiệc/ Hổ, báo cũng cùng đường mạt kiếp/ Chúng biến cẩm,
hương thành những đống vàng mười/ Thành đô – la xanh cho chúng đổi đời…
Có lẽ chính bởi vì Đặng Bá Tiến hiểu rất rõ thực trạng này
thông qua sự quan sát và kinh nghiệm thực tiễn của nhiều năm làm báo, làm nhiếp
ảnh, nên thơ ông chan chứa nỗi đau rừng, sự trăn trở trước vấn nạn mất rừng,
nhưng ông chỉ dừng lại ở việc phản ánh và và bộc lộ tâm tư từ góc nhìn sinh
thái, ông không trực tiếp phơi bày những nguyên nhân, càng không thể đưa ra được
những giải pháp cho hiện trạng. Và câu chuyện ấy, hiện trạng ấy đâu phải chỉ của
riêng Tây Nguyên. Vì vậy, ông không phán xét, chỉ cảm thán. Rốt cuộc, ông đứng
về đâu trong cuộc chiến chống lại “lâm tặc” (theo nghĩa rộng nhất của từ này)?
Có lẽ, ông đứng về phe Trái đất, bằng tất cả yêu thương, bằng tất cả những nỗi
buồn triền miên, những đau xót khuôn nguôi – vô vọng, bế tắc, và bằng cả những
giấc mơ trong tâm tưởng.
Ký ức về huyền sử và trăn trở về những thách thức của cộng đồng
trong phát triển, hội nhập.
Một trong những mối quan tâm hàng đầu của văn học sinh thái
và phê bình sinh thái là mối quan hệ giữa văn hoá và tự nhiên, văn minh và
hoang dã – nói cách khác là nghịch lý của việc phá huỷ môi trường tự nhiên để đạt
tới những giá trị văn hoá và trình độ văn minh mới của những quốc gia phát triển
thiếu bền vững. Hiểu rộng ra, phê bình sinh thái phê phán sự áp đặt thô bạo của
con người lên giới tự nhiên để đạt được những thành tựu văn minh hiện đại. Từ
góc nhìn của phê bình sinh thái, có thể thấy trong thơ Đặng Bá Tiến chứa đựng một
sự suy tư, day dứt không nguôi trước sự mai một của văn hoá rừng và những biểu
hiện văn hoá đương đại, sự hội nhập, pha tạp các giá trị đa dạng đang làm phai
nhạt dần bản sắc văn hoá truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên. Khi rừng bị
thu hẹp, những “hồn cẩm thương”, “linh hồn tiếng hú” không còn là sinh quyển
quen thuộc, thì văn hoá rừng cũng không có điều kiện bảo tồn. Sự thưa vắng rừng
đại ngàn liên quan mật thiết tới những biến đổi về phong tục, tập quán, lối sống,
phong khí. Bên cạnh đó, những biến đổi về cơ cấu dân cư của khu vực cũng chi phối
rất đậm nét bức tranh văn hoá nơi đây.
Trước kia, cư dân ở Tây Nguyên có đến gần 70% là người dân tộc
thiểu số, với 18 tộc người. Hiện nay, Tây Nguyên có đủ cư dân của 54 tộc người
trên đất nước Việt Nam, trong đó người dân tộc thiểu số chỉ còn chiếm khoảng gần
37%, người Kinh chiếm tỉ lệ lớn và có ảnh hưởng quan trọng trong quá trình xây
dựng, phát triển kinh tế – xã hội của khu vực. Sự tương tác văn hoá trong quá
trình phát triển, hội nhập đã khiến cho đời sống văn hoá ở khu vực có những biến
đổi quan trọng, trong đó có việc phai nhạt dần bản sắc văn hoá truyền thống của
người bản địa, hoặc sự du nhập, pha trộn giữa các nền văn hoá tộc người dẫn đến
sự lai căng, xa lạ với thói quen, tập tục truyền thống. Khi rừng bị tàn phá và
các tộc người thiểu số dần dần thoát ly khỏi cuộc sống phụ thuộc vào rừng để du
nhập lối sống hiện đại trên đà công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì những bản sắc
văn hoá truyền thống cũng dần mai một. Đặng Bá Tiến đã cất lên một tiếng thở
dài trong thơ về hiện trạng này. Tiếng hú là một âm thanh gắn liền với tập tục
sinh hoạt và lao động của dân làng xưa khi cuộc sống gắn liền với rừng. Âm
thanh gọi đàn vang dội núi rừng ấy tượng trưng cho đời sống hoang dã, cho sự cường
tráng, nét phóng khoáng của người Tây Nguyên khi gọi nhau vào rừng săn bắn, lao
động, khi quần tụ trong những sinh hoạt cộng đồng, nhưng nay đã vắng im khỏi
buôn làng, khiến nhà thơ, già làng và cả cảnh vật cồn cào nỗi nhớ:Tất cả đều
nghe/ Không phải bằng tai và bằng ruột gan khắc khoải/ Tiếng hú từ thăm thẳm thời
gian/ Vọng về từ những mùa săn voi xa lắc/ Từ những tháng ba hú gọi nhau đi tìm
mật/ Rừng cổ thụ bảy tầng ong bao đõ đung đưa/ Tiếng hú từ những cơn mưa xưa/
Cá say nước đầu mùa nổi đầy Sê rê pốc/ Cá vớt lên tràn khoang độc mộc/
Đêm/ Tiếng hú thơm rượu cần, thơm cá nướng/ Khắp làng buôn…(Linh hồn tiếng hú).
Từng câu thơ như tuôn dài, trôi dài theo nhịp điệu khắc khoải,
buông lơi triền miên của nỗi nhớ, nỗi khát thèm không khí xưa, và rồi vỡ vụn,
nghẹn ngào trong sự đối mặt với nỗi mất mát của hiện tại: Tiếng hú xưa/ giờ
như cứa vào tim/ còn đâu/ tìm đâu tiếng hú? Bài thơ Linh hồn tiếng hú và
tập thơ cùng tên, cao hơn nỗi nhớ rừng, sâu hơn nỗi đau rừng, đó là nỗi hoài niệm
về một tập tục, một không khí, một hệ sinh quyển đậm văn hoá rừng của buôn làng
Tây Nguyên, hoài niệm về một huyền sử được bao phủ bởi tinh thần hoà hợp, sự cố
kết, đầm ấm của buôn làng.
Cồng chiêng vốn là đặc trưng văn hoá của Tây Nguyên, là hơi
thở, linh hồn của các sinh hoạt văn hoá, lễ hội truyền thống bản địa, nhưng
trong xã hội hiện nay đang thưa vắng dần, hoặc được kết hợp một cách thô bạo với
những sắc màu văn hoá không phù hợp:
Tất cả đều xa lạ/ Những cà – vạt kia, những com – lê kia, những
toà nhà cao tầng kia, những pop rock kia, ta không hiểu, ta không biết…
Họ kéo ta về từ trăm năm trước, bắt ta ngân lên những lời
chiêng linh thiêng trong ánh đèn điện tử chói loà biến hoá như lũ ma rừng, bắt
tiếng chiêng ta va vào những bức tường xi măng vô hồn khô khốc, bắt những đôi
tai vểnh lên dù nó muốn cụp xuống, bắt những cái miệng phải cười, dù nó đang muốn
khóc, bắt những cái bụng phải vui, dù nó đã lên váng nỗi buồn và dù chán chường
đã duềnh lên như lũ lụt.
Thần linh ơi/Giàng ơi/Ta xin thần linh, ta xin Giàng tha thứ
cho loài chiêng ta, ta không muốn dối lòng mình, ta không muốn làm điều khác với
ông bà ta đã làm, ta không muốn sự phục hưng vô hồn, vô cảm – (Lời chiêng
từ đất).
Nhập thân để cất lên lời của chiêng, Đặng Bá Tiến đã phơi bày
một hiện trạng đầy nghịch lý: trong lúc văn hoá cồng chiêng đang phai nhạt dần
trong cộng đồng, thì những cuộc bảo tồn, chấn hưng, phục hưng lại làm cho nét đặc
sắc văn hoá ấy bị bóp méo, trở nên dị dạng, kệch cỡm, giả dối, lại càng mất đi
những nét đẹp, nét linh thiêng vốn có.
Cũng với tinh thần hoá thân vào đối tượng để cất lên tâm tư của
mình, Nước mắt tượng nhà mồ lại là một khía cạnh khác trong nỗi đau văn hoá về
một tập tục tâm linh ở Tây Nguyên. Nỗi đau văn hoá gắn liền với nỗi đau rừng:
khi rừng mất cũng là khi những nề nếp sinh hoạt, những tập tục linh thiêng bị
xâm phạm và xúc phạm:
Tất cả đã đổi thay/ Đêm nay ta còn đây/ Ngày mai, ngày kia đời
tượng ta biết có còn không/ Khi rừng hết, khi nghệ nhân buông rìu/ Ngồi chắp
tay khấn Giàng nhìn đời bằng đôi mắt nhắm/Nhắm để nhìn, để không còn nghe,
không còn biết, những chướng ta gai mắt những nhà mồ sắt thép xi măng, những
hip hop, rock, jazz thét gào cuốn chìm cả ay – ray êm đềm tình tứ./Nhắm mắt, bịt
tai để chìm vào quá khứ, để bàn tay được cầm rìu tạc tượng, được gõ chiêng
trong mơ, trong ảo giác buôn làng 100 năm trước… (Nước mắt tượng nhà mồ).
Đó còn là nỗi niềm của những người dân bản địa trước nguy cơ
mát mát những sản vật địa phương: Món ngon của ông bà, đành ăn trong tưởng tượng
(Chuyện của mí), là văn hoá suy tôn già làng, người lớn tuổi bị lung lay: bao
tâm huyết già làng Bản Đôn gửi gắm trong Giọng bổng trầm như kể sử thi nhưng nhận
lại sự thờ ơ của lũ trẻ đang nghêu ngao nhạc rock (Chuyện không hot), là sự biến
đổi thiếu định hướng của những không gian văn hoá đặc trưng vùng miền: Bản Đôn
ngày nay mang bộ mặt của một thứ không rõ hình hài: Bản chẳng còn là bản,
Làng chưa hẳn là làng, Phố càng chưa là phố… Tất cả những điều ấy khiến
cho Tôi chơi vơi, ngỡ ngàng (Bản Đôn). Ta có thể thấy rõ tất cả những
nghịch lý, những điều trớ trêu mà tác giả thể hiện trong thơ được hiển hiện
trong thực tế phát triển của Tây Nguyên: nhà rông, nhà dài thưa vắng dần và những
ngôi nhà tiêu biểu cho kiến trúc, thói quen sinh hoạt của người bản địa thường
hiện diện ở những địa chỉ du lịch, những nhà hàng, quán cafe theo mô hình nhà
rông, nhà dài để thu hút du khách tham quan, tìm hiểu hơn là hiện diện trong thực
tế cuộc sống; văn hoá cồng chiêng được Unesco công nhận là kiệt tác truyền khẩu
và phi vật thể của nhân loại, nhưng không nhiều gia đình còn sử dụng cồng
chiêng, “kiệt tác” ấy chủ yếu được trưng bày như bảo vật im lặng trong bảo
tàng; những trang phục truyền thống chủ yếu xuất hiện trong các dịp biểu diễn ở
lễ hội hoặc trên sân khấu…
Những biến đổi ấy, một mặt, phản ánh sự tự phủ định hoặc đào
thải của một số thành tố văn hoá trong quá trình phát triển của kinh tế – xã hội
để lưu giữ những giá trị phù hợp với điều kiện mới, nhưng trên một phương diện
khác, cũng cho thấy những bất cập của cơ chế bảo tồn, phát huy những giá trị
văn hoá truyền thống trước yêu cầu phát triển kinh tế. Đó là sự thống nhất,
tính hiện đại đang khiến cho đa dạng văn hoá, những biệt sắc văn hoá truyền thống
của các tộc người thiểu số có nguy cơ bị mai một, triệt tiêu ngay trên chính
vùng đất đã sản sinh ra nó. Từ những liên hệ ấy, có thể thấy Đặng Bá Tiến, bằng
phương thức trữ tình nhập vai, bằng những hình thức thơ co giãn tự do đến tận độ,
bằng những biểu tượng văn hoá lặp đi lặp lại (chiêng, tượng nhà mồ, Bản Đôn,
già làng..), đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ phai nhạt bản sắc văn
hoá trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập. Đó chính là tinh thần chung
của thơ ca sinh thái, tinh thần chung của những nhà thơ có nhận thức, cảm quan
sinh thái nhạy bén và sâu sắc. Như Deuk Ju Jeon đã mô tả khái quát, “Họ (các
nhà thơ sinh thái) phê phán những yếu tố tiêu cực của văn minh phương Tây, song
đồng thời cũng trải qua việc cô lập khỏi một nền văn hoá bản địa. Mặc dù chính
cuộc sống và giá trị của họ đi ngược lại với thế giới công nghệ cao của nền văn
minh phương Tây, tuy nhiên, khả năng cảm thụ của họ, dù có ý thức hay không, vẫn
có thể bị ảnh hưởng bởi nó. Các cá nhân không thể hoàn toàn tách rời khỏi một
xã hội ngày càng lớn mạnh và độc quyền hơn, đặc biệt là trong thời đại hiện đại
và hậu hiện đại” (Deuk Ju Jeon, 3). Soi chiếu vào thơ Đặng Bá Tiến, ta cũng thấy
những vấn đề ông hình tượng hoá trong thơ không chỉ là vấn đề riêng của Tây
Nguyên, mà còn là vấn đề khá phổ biến ở những khu vực của người thiểu số, ở các
quốc gia đang phát triển, công nghiệp hoá, hiện đại hoá như Việt Nam.
Những vấn đề về tự nhiên và văn hoá, quá khứ và hiện tại, xã
hội và nghệ thuật được hoà quyện vào nhau để mang đến cho người đọc những rung
động sâu sắc và từ đó trăn trở, suy tư, đối thoại về những vấn đề của một vùng
đất. Và không chỉ là một vùng đất, không chỉ là Tây Nguyên, thơ Đặng Bá Tiến
khiến người ta suy ngẫm về Trái đất, về hệ sinh thái, về chính mình với tư cách
là một thành phần của hệ sinh thái ấy, trên hành trình sống và góp phần vào sự
phát triển chung của xã hội. Với ý nghĩa như vậy, thơ Đặng Bá Tiến không chỉ gợi
cho chúng ta về “những mối quan tâm trên bình diện sinh học, tâm lý học và tâm
lý giữa con người với thế giới tự nhiên” ở phạm vi địa phương, vùng miền như
Karen Lauren Thornber mô tả những nhà phê bình sinh thái trước thế kỷ XXI trong
bài “Những tương lai của phê bình sinh thái” (Hoàng Tố Mai, 314), mà sâu rộng
hơn, còn gợi lên những vấn đề xã hội liên đới như ảnh hưởng của công nghiệp hoá
và bất công môi trường, những vấn đề về cộng đồng bản địa trong tương tác với
các tộc người khác trên hành trình hội nhập và phát triển…
Nói cách khác, từ một vùng thẩm mỹ yêu thích cụ thể là Tây
Nguyên, là Đắk Lắk, là Bản Đôn, từ nỗi đau rừng và nỗi đau văn hoá về vùng đất ấy,
thơ Đặng Bá Tiến đưa chúng ta đến những suy tư sinh thái được dịch chuyển từ phạm
vi địa phương sang phạm vi quốc gia và toàn cầu trong xã hội đương đại.
“Nhà phê bình sinh thái đọc một tác phẩm văn học với những câu hỏi nhất định
trong đầu để làm nổi bật các giá trị môi trường” (Makwana Pradeep Haribhai,
Manish Vyas). Và bởi vì “Làm thế nào để nghiên cứu văn học có thể dẫn tới những
hành động vì môi trường?” là một trong 12 câu hỏi cốt lõi mà các nhà phê bình
sinh thái đặt ra khi khám phá một văn bản văn học, nên những phân tích, nhận định
về thơ Đặng Bá Tiến chính là lời cảnh báo và đánh thức con người về một ứng xử
đúng đắn để bảo vệ Tây Nguyên, bảo vệ trái đất bằng một tư duy sinh thái trung
tâm (ecocentric) giàu ý nghĩa nhân văn, giá trị xã hội.
Là thơ sinh thái, văn học sinh thái, nhưng không chỉ để người
đọc nhận thức, suy tư về những vấn đề sinh thái, lịch sử, văn hoá, thơ Đặng Bá
Tiến trên hết vẫn là thơ ca, là nghệ thuật, là mỹ cảm được hiển thị qua vẻ đẹp
của ngôn từ, của hình ảnh, biểu tượng, của nhịp điệu, thanh âm để độc giả được
thưởng thức, chiêm ngưỡng. Như một tiếng thở dài, như nỗi đau đã lâu ngày bị
nén lại, thơ ông nhẹ nhàng nhưng thấm thía, dễ hiểu nhưng không kém phần triết
lý, đậm chất suy tư; tập trung về chủ đề nhưng mỗi bài lại mang một tứ thơ, một
hình hài mới mẻ và hấp dẫn. Hình ảnh, hình tượng thơ ông vừa đa dạng, vừa có sự
xảy lặp để tạo điểm nhấn. Những con sông, dòng thác, con voi, những già làng,
hay Bản Đôn đều là những hình ảnh, nhân vật, địa danh được lặp lại trong nhiều
bài thơ, là nơi tác giả gửi gắm đậm đặc nhất những suy tư về sự đổi thay, mất
mát, những tâm sự chất chứa nỗi đau, nhưng ở mỗi bài lại mang một dáng vẻ, được
dệt bằng một sắc thái ngôn ngữ và giọng điệu khác nhau – khi thiết tha, khi đau
đớn cồn cào, khi thổn thức, khi dồn dập. Sắc thái tình cảm về cùng một đối tượng,
theo đó, sẽ khác nhau ở từng bài khiến, cho rung cảm, suy nghĩ về vấn đề được
trở lại tâm trí người đọc, tăng tiến nhưng không nhàm chán.
Điểm đáng chú ý trong tư duy và nghệ thuật thơ Đặng Bá Tiến
là thủ pháp trữ tình nhập vai và thủ pháp đối lập. Nếu trữ tình nhập vai là
cách nhà thơ nhập thân, bộc lộ tâm tư, suy nghĩ, dòng ý thức nhân vật trữ tình
(già làng, tượng nhà mồ, voi bản Đôn, thác Đray-Nu…), để chủ đề tác phẩm được cất
lên từ điểm nhìn và lời của người trong cuộc với tinh thần “Thiên nhân hợp nhất”,
tinh thần sinh thái trung tâm – không áp đặt, không phán xét; thì thủ pháp đối
lập đã thể hiện những quan sát, trải nghiệm và trăn trở của chủ thể trữ tình
trong sự chông chênh bập bềnh giữa nay và xưa, giữa sự hoang vắng, mất mát, cằn
cỗi với sự trù phú, xanh tươi, rộn rã, giữa nỗi buồn và sự cô độc triền miên
trong hiện tại với phong khí hân hoan, phóng khoáng của dĩ vãng, kỷ niệm… Hai
thủ pháp ấy được lặp lại thường xuyên trong nhiều bài thơ, trở thành đặc điểm
thi pháp đáng chú ý của thơ Đặng Bá Tiến, nhưng qua mỗi bài đều được thể hiện
sinh động bằng một tứ thơ với những hình ảnh, biểu tượng cụ thể, sinh động.
Vẻ đẹp thơ ông còn đến từ thể thơ tự do với sự co giãn linh
hoạt, năng động – khi thì là những câu ngắn với 2, 3 chữ, khi tuôn dài thành
thơ văn xuôi như một dòng ý thức triền miên, vô định. Dù sử dụng nhiều thể thơ,
nhưng có lẽ thơ tự do đã được Đặng Bá Tiến vận dụng hiệu quả nhất, đặc biệt ở
những bài có sự nhập vai. Chẳng hạn, ở bài Đray-Nu, câu thơ co giãn đa dạng,
khi chỉ 1 chữ, khi thì 10 chữ, những dòng thơ uốn lượn trên trang giấy như dòng
thác bạc đổ xuống – khi mềm mại dịu dàng, khi ồn ào náo nhiệt; Lời chiêng từ đất
hay Khúc xuân chép ở bản Đôn được tạo nên bởi những đoạn thơ văn xuôi miên viễn
như âm vang của tiếng chiêng cồng, như hơi thở, không khí mùa xuân đang len lỏi,
lan toả vào câu từ theo cảm nhận mùa xuân nơi buôn làng của tác giả… Sự linh hoạt
của thể thơ lại được điểm tô bởi sự đa dạng về màu sắc, hình hài của cảnh vật
và sự đa dạng của nhịp điệu thời gian nên càng tạo nên nét phong phú, hấp dẫn,
lôi cuốn cho các tác phẩm. Có thể nói, thơ Đặng Bá Tiến là sự quyện hoà giữa
chiều sâu tư tưởng, tình cảm với sự hấp dẫn của một lối viết vừa đa dạng, linh
hoạt, vừa có những điểm nhấn đầy bản sắc.
Đặng Bá Tiến dành nhiều bài thơ, dòng thơ để thể hiện tình
yêu với hoa dã quỳ – loài hoa mang màu nắng đặc trưng của Tây Nguyên. Trong
bài Cúc quỳ, ông viết:Ta bé nhỏ giữa một trời huyền/gót lữ hành đậu lại giữa
rừng hoa.
Nhân vật lớn nhất, hình tượng yêu quý nhất của Đặng Bá Tiến
là Tây Nguyên, là đất nước, là lịch sử – văn hoá được khúc xạ qua ánh sáng thơ
ca. Trước những đổi thay, chuyển vần theo năm tháng, nhà thơ đã hoá thân, nhập
vai vào cẩm, vào hương, vào voi, vào sông, vào thác, vào tượng gỗ, vào già
làng… để cảm nhận và hình tượng hoá những ám ảnh sinh thái bằng câu chữ, bằng vẻ
đẹp lãng mạn, phóng khoáng của thơ ca. Còn lại sau những chuyển vần của cảnh
quan, của đời sống, là một hằng số, một giá trị bất biến: tình yêu, tinh thần
trách nhiệm của nhà thơ với đất nước, với thời đại, và những rung động, những mỹ
cảm tinh tế, nhạy bén, sâu sắc. Giữa “một trời huyền sử” mênh mang nhiều thăng
trầm còn mất, thơ ông như hoa dã quỳ bỏng cháy, thắp một màu nắng vào kho tàng
văn học đương đại Tây Nguyên.
Tài liệu trích dẫn:
1. Nguyên Ngọc (2018), “Người Tây Nguyên làm văn hoá như thế
nào?”,
https://nguoidothi.net.vn/.
2. Nguyễn Văn Kim (2020), Huyền thoại về một vùng đất –
Không gian văn hoá Tây Nguyên qua sử thi Ê – đê, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội,
Hà Nội.
3. Linh Nga NiêkDam (2006), “Văn hoá Tây Nguyên trong dòng chảy
văn hoá Việt Nam”,
https://nhandan.vn/.
4. Ball, E. (2006), “Literary Criticism for Places”, Symplokē,
14(1/2), 232-251. Retrieved September 7, 2021, from
http://www.jstor.org/.
5. Cheryll Glotfelty (2014), “Nghiên cứu văn học trong thời đại
khủng hoảng môi trường”, Trần Thị Ánh Nguyệt dịch,
http://tapchisonghuong.com.vn/.
6. Kate Rigby, Chapter 7: “Ecocriticism” from Julian Wolfreys
(ed.), Introducing Criticism at the Twenty-First Century, Edinburgh: Edinburgh
UP, 151-78.
7. Đặng Bá Tiến (2012), Rừng cổ tích, Nhà xuất bản Hội Nhà
văn, Hà Nội.
8. Đặng Bá Tiến (2017), Hồn cẩm hương, Nhà xuất bản Hội Nhà
văn, Hà Nội.
9. Đặng Bá Tiến (2020), Linh hồn tiếng hú, Nhà xuất bản Hội
Nhà văn, Hà Nội.
10. Deuk Ju Jeon (2004), Nature and poetry: an ecoccritical
approach to modern poetry (from the romantic age to the ecological age),
University of Nebraska.
11. Hoàng Tố Mai (chủ biên) (2017), Phê bình sinh thái là gì?,
Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội.
12. Makwana Pradeep Haribhai, Manish Vyas (2019), “Ecocritic: A
Bridge between Nature & Literature”, Think India Journal (Vol 22 Issue 14
December 2019).
10/8/2022
Nguyễn Thị Năm Hoàng
Theo https://vanvn.vn/
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
Murakami và một lời giải thích cho tâm thức cái ác của Nhật Bản hiện đại
Murakami và một lời giải thích cho tâm thức cái ác của Nhật Bản hiện đại Cái ác của nước Nhật đến từ đâu? Tại sao sự phát triển và giàu có...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...



.gif)
