VĂN THƠ NHẠC
Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026
Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm
Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nhân bản, tích cực trong sáng tác của Tô Hoài mà hạt nhân tạo nên sự thay đổi đó là nhận thức mới về giá trị cá nhân – cộng đồng, về sự nghiêm túc trong trò chơi nghệ thuật của nhà văn…
Giác quan thứ sáu, là điều có thật
Giác quan thứ sáu, là điều có thật
Xin được nói ngay, đây không phải là một thứ linh tính,
kiểu như lòng bồn chồn, nóng ruột, mắt luôn co giựt, những dấu hiệu báo trước một
điều gì hệ trọng có tính chất tâm linh sắp xảy ra như cách hình dung của dân
gian. Đây cũng không phải là một thứ trực giác hay sự mẫn cảm thường có ở con
người.
Theo phật giáo, đó là một loại tâm giác, chi phối mọi giác
quan khác. Còn theo tri nhận luận, là cách áp đặt lên thông tin nhận thức
lên đầu vào của các giác quan.
Giác quan thứ sáu, là điều có thật
Theo phật giáo, con người tiếp xúc với ngoại cảnh không chỉ bằng
mắt và tai, mà còn bằng bốn căn hay giác quan khác là mũi, lưỡi, thân và ý.
Một nhận xét thoạt có vẻ bình thường, nhưng kỳ thực biện giải cho có ngọn nguồn,
có sức thuyết phục cũng không hề đơn giản. Năm giác quan là thị giác (thấy),
thính giác (nghe), khứu giác (ngửi), vị giác (nếm), xúc giác (sờ) thì quá rõ
ràng, còn ý giác hay tâm giác là gì? Vai trò và chức năng của nó như
thế nào trong hệ giác, đặc biệt trong quá trình, nói như ngôn ngữ nhà phật, từ
vô minh đến giác ngộ, hiểu là một quá trình nhận thức thông qua những trải nghiệm
có tính hướng nội? Mọi hiện tượng bao gồm vật tượng và tâm tượng đều do nhiều yếu
tố tụ thành, trong đó năm giác quan được nhìn nhận thuộc phạm trù vật tượng, có
hình có sắc. Đó là năm yếu tố căn bản mà cũng là năm căn nguyên, nguồn cội của
mọi nhận thức sơ khởi, từ đây sẽ phát sinh nhiều ngọn ngành khác.
Cần lưu ý, dựa vào tiêu chí vật chất, hữu hình, năm giác quan
được xem xét như một hệ thống hoàn toàn độc lập, trong đó mỗi giác quan cũng là
những yếu tố độc lập tương đối và chúng đảm nhiệm những chức năng khác nhau.
Cũng theo phật pháp, ngoài ngũ căn như đã đề cập ở trên, con người còn có một
căn nữa, quan trọng hơn rất nhiều, đó là tâm căn hay ý căn, hoàn toàn đồng
nghĩa với tâm giác hay ý giác. Nó không được định vị một cách rõ ràng như các
giác quan khác, chỉ có thể hiểu là bên trong con người, tùy theo nền văn hóa có
thể là ở trong đầu mà cũng có thể trong tim hay trong lòng, trong bụng, trong dạ.
Tâm giác vô hình, phi vật chất, nhưng nó lại có ý nghĩa quyết định trong hết thảy
mọi việc. Nó là nhân vật chỉ huy, không có nó, mắt sáng cũng như mù, tai nghe
cũng như điếc và khi tu luyện đến một trình độ nào đó, tâm giác sẽ giúp con người
nhìn thấu về quá khứ, thấy được sự vận động của tương lai, cũng như cảm nhận được
cái lẽ huyền diệu của đất trời.
Với tư cách là một ngành nghiên cứu khoa học, quan điểm của
ngôn ngữ học hiện đại, cụ thể là ngôn ngữ học tri nhận lại có những điểm rất gần
gũi với cách hình dung của nhà phật.
Trước hết với lý thuyết nghiệm thân, các nhà ngôn ngữ học
hình dung con người thường dùng những trải nghiệm ngay với chính cơ thể của
mình để tương tác với ngoại cảnh. Từ việc phân lập một không gian vốn liên tục
thành những thực thể rời rạc với những ranh giới nhân tạo như chính con người
cá thể tồn tại trên mặt đất, từ việc tư thế thẳng đứng của con người trong việc
định vị không gian và thời gian, đến cả những cảm nhận đơn giản từ giác quan,
dùng nó như một cơ sở để phóng chiếu lên những thực thể trừu tượng đều có ý
nghĩa nghiệm thân. Và chính những điều ấy chi phối cách nghĩ, cách cảm mà nhiều
khi chính con người cũng không nhận ra.
Chẳng hạn, không phải ngẫu nhiên mà trong rất nhiều ngôn ngữ
đều tồn tại ý niệm tốt là bên phải, xấu là bên trái, phải là đúng, trái là
sai, hay khi nói ai đó là cánh tay phải, là nói đến tính chất thân thiết quan
trọng của họ đối với một người khác. Bởi như chúng ta đều biết, phần lớn
con người đều thuận tay phải, làm việc với tay phải thì dễ dàng hơn rất nhiều
so với tay trái, đó là chưa kể sự phiền toái trong hoạt động của người thuận
tay trái. Hay, hãy quan sát khuôn mặt, dáng đi, trạng thái tâm lý của một người
hạnh phúc vui vẻ và các biểu hiện của một người buồn rầu, thất bại, chán nản,
chúng ta mới thấy hết được ý nghĩa của nguyên lý vui vẻ thì hướng
lên, buồn phiền thì hướng xuống và hàng loạt cách biểu thị cho các ý niệm
vừa nêu như: bay trên chín tầng mây, phấn chấn tinh thần, lên tinh thần,
lòng lâng lâng, nâng tinh thần lên, ngẩng cao đầu, vênh mặt, hất mặt lên trời (vui
vẻ)… và xuống tinh thần, suy sụp tinh thần, tinh thần đi xuống, rơi vào
tuyệt vọng, ngã lòng, ủ rũ, cúi gầm mặt, đôi mắt cụp xuống (buồn phiền)…
Trong năm giác quan như những thông tin đầu vào của một
modul, nếu chịu khó quan sát chúng ta sẽ thấy sự cảm nhận trực tiếp và cả sự xử
lý thông tin một cách trực tiếp của con người không nhiều mà thường thông qua một
sự chuyển đổi được gọi là sự chuyển đổi cảm giác được ghi lại trong ngôn
ngữ. Trong đó, thông qua cái cụ thể, vật chất, hữu hình để nói đến cái trừu tượng,
cái phi vật chất vô hình. Chẳng hạn, vị giác: Bài thơ nhạt thếch, nó đùa
nhạt như nước ốc…, xúc giác: Cách định danh tên riêng ở Nam Bộ thô ráp, vấn
đề đang hot, khuôn mặt lạnh như tiền…,thị giác: đầu óc nó tối tăm, lập luận
sáng trưng…, thính giác: Thời ồn ào ngựa non háu đã qua lâu rồi,
câu văn thánh thót…, khứu giác: Để tiếng thơm muôn đời, lập luận thối không chịu
được…. Trong đó, cũng giống như một số ngôn ngữ khác, nhất là trong tiếng Anh,
động từ thấy (see) có biên độ biểu đạt khá rộng : Thấy lạnh
(nóng, mát, ấm), thấy nhạt (mặn, đắng, ngọt), thấy thơm (thối, tanh,
hôi), thấy tối (sáng, âm u, quang đãng), thấy ồn (im ắng, xì xào, rì
rào), đặc biệt với mẫu cấu tạo X+ thấy kiểu như: nhìn thấy, sờ thấy, ngửi
thấy, nghe thấy, nếm thấy… hay mẫu thấy + X kiểu như: thấy lo,
thấy sợ, thấy ghét, thấy thương… thấy xấu, thấy đẹp, thấy sạch, thấy dơ…, đó là
lý do vì sao ngôn ngữ học gọi tầm mắt của con người là trường thị giác và là một
vật chứa đựng. Tương tự, động từ nghe (listen) cũng có tầm hoạt động,
khả năng kết hợp và sự chuyển nghĩa của nó không kém gì thấy. Điều này, hiển
nhiên có liên quan đến thần thoại về các hộ pháp Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong
Nhĩ trong phật giáo.
Nhìn chung, nền văn minh nào của nhân loại cũng đều ít nhiều
đề cập đến vai trò của năm giác quan, nhất là thị giác và thính giác
trong nhận thức thế giới, cũng như giá trị biểu trưng của chúng.
Dễ thấy, phật giáo luận và tri nhận luận đều coi trọng vai
trò của năm giác quan trong nhận thức.Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, mặc dù
con người dùng năm giác quan như một bệ phóng, nhất là với sự trợ giúp của khoa
học kỹ thuật, đã sử dụng chúng một cách hữu hiệu trong việc nối dài tầm hoạt động
các giác quan, nhưng chúng không phải là nhân tố quyết định.
Theo ngôn ngữ học, con người hay khai thác các tương đồng trải
nghiệm để lập thức. Nói cụ thể hơn, chúng ta xuất phát từ sự trải nghiệm nhiều
hơn, hiểu biết nhiều hơn ở miền nguồn, trong đó sự cảm nhận của các giác quan,
để hiểu lĩnh vực trải nghiệm ít hơn, hiểu biết ít hơn ở miền đích, như những chủ
đề tâm linh chẳng hạn. Ví dụ ẩn dụ: Đời người là đời cỏ cây, ở đây toàn bộ
tri thức về thực vật, từ hạt lúc nẩy mầm đến lúc phát triển, già cỗi… từ gốc
cây, thân cây, ngọn cây, hoa lá, quả… đều dùng làm cơ sở để phóng chiếu lên cuộc
đời của con người. Điều bao trùm lên tất cả là một sự tương tác. Nói theo nhà
phật,tương tác giữa tâm tượng và vật tượng, hay khoa học tri nhận,tương
tác giữa con người và môi trường, tương tác giữa miền nguồn và miền đích. Ngôn
ngữ học tri nhận phê phán quan điểm nhị nguyên của phương Tây, cho rằng
tâm hồn tách khỏi thể xác, nó cũng không chia sẻ cái nhìn khách quan chủ
nghĩa, tách con người ra khỏi môi trường, với huyền thoại quyền lực của con người,
có thể chinh phục được thiên nhiên, lại cũng không thể tán đồng quan điểm chủ
quan chủ nghĩa với cái nhìn lãng mạn. Ngược lại, ngôn ngữ học tri nhận chủ
trương, thân xác có liên quan đến tư duy, con người là một bộ phận của môi trường,
vai trò trải nghiệm của chủ thể tri nhận trong một cộng đồng diễn ngôn là hết sức
to lớn, thậm chí có ý nghĩa quyết định trong việc ý niệm hóa và phạm trù hóa thế
giới.
Tri nhận luận không quá thiên về tâm giác có tính chất hướng
nội như lý thuyết phật giáo, trái lại rất đề cao vai trò trí tuệ của con người.
Trong đó, nhận thức không hoàn toàn trùng khớp với hiện thực, ngôn ngữ
không quy chiếu trực tiếp hiện thực mà phải thông qua sự nhào nặn, sự tái cấu
trúc, diễn giải rất tinh tế, rất sáng tạo của chủ thể tri nhận. Nói khác,
con người tiếp nhận thế giới một cách chủ động, ngoại cảnh chỉ có giá trị kích
hoạt, nhận thức của con người lệ thuộc vào kinh nghiệm, vào sự lựa chọn độ nổi
trội và sự chú ý gắn với những tình huống cụ thể. Chúng ta trực tiếp
trải nghiệm không phải từ thế giới thực mà là thế giới đã được tái cấu
trúc. Liên quan đến vấn đề đang bàn, thông tin đầu vào từ năm giác quan thị
giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác bao giờ cũng được cơ cấu
trí não tổ chức lại, nhiều khi có tính chất vô thức và chính cái cơ cấu ấy quyết
định việc hình thành thông tin quan yếu. Nói như ngôn ngữ học tri nhận, dựa vào
các thông tin đầu vào, cơ cấu trí não hình thành nên thế giới tri nhận. Đó
là cách ý niệm hóa, bao gồm ý niệm hóa ngôn ngữ và ý niệm hóa văn hóa.
Nói một cách hình tượng, ý niệm hóa – một thao tác của trí tuệ, là giác quan thứ
sáu trong quá trình nhận thức của con người.
2/12/2020
Trịnh Sâm
Theo https://vanhocsaigon.com/
Về truyện dài kỳ - Một chuyên mục nhật báo trước 1975
Về truyện dài kỳ - Một chuyên
mục nhật báo trước 1975
Lâu lắm rồi, chữ phơi-dơ-tông (feuilleton – truyện dài
kỳ) không còn xuất hiện trên các trang báo Việt Nam. Nếu như các chuyên mục với
những thể loại điều tra, phóng sự, bình luận, viết tin… được dạy, nghiên
cứu, đề tài luận văn thạc sĩ, tiến sĩ thì phơi-dơ-tông-truyện dài kỳ (TDK)
không được nhắc đến và nhìn nhận như một chuyên mục đã từng tồn tại trên báo
chí VN từ xa xưa và khoảng năm 1987 – sau ‘Ván bài lật ngửa’ trên
báo Tuổi Trẻ, chuyên mục này đã biến mất. Báo chí hiện nay không còn
chuyên mục TDK nữa!
Tạm thời định nghĩa phơi-dơ-tông là truyện dài kỳ, chưa
in thành sách, được đăng hàng ngày, hoặc hàng tuần trên báo, hay tạp chí, là một
‘phát minh’ của làng báo Pháp từ thế kỷ 19. Tờ báo ‘Sìèle’ (Thế kỷ) vào năm
1835 đã đăng một truyện dài kỳ về phong tục ở Tây Ban Nha. Thật đáng tiếc, truyện
dài kỳ nầy chỉ đăng được 4 kỳ thì ‘ngủm củ tỏi’ vì bạn đọc chê không hấp dẫn.
Năm sau, đại văn hào Balzac cũng thất bại khi đăng truyện ‘Vielle fille’ (Cô
gái già). Nhưng vẫn hơn đồng nghiệp đi trước đến 11 kỳ. Cũng cùng lý do: Độc giả
đòi hỏi truyện phải có tính chất giải trí, hấp dẫn. Phải chi, Balzac đặt tên
truyện là ‘Cô gái trẻ’ thì có thể ngon lành rồi. Có lẽ, thể loại nầy còn
hơi thở là nhờ công của tờ báo ‘Journal des Debals’ đăng bộ truyện của Eugène
Sue ‘ Les Mystères de Paris’ (Những bí mật của Paris-truyện này đã được xuất bản
ở VN). Trong thời gian đăng truyện nầy thì số lượng báo tăng lên vùn vụt. Cạnh
tranh, tờ ‘Constitutinnel’ cũng mua bộ truyện ‘Le Juif errant’ (tạm dịch Người
Do Thái Lang Thang) cũng của tác giả nầy. Báo đang in ra có 3000 đã vọt lên
40.000 số mỗi ngày.
Sau nầy Alexandre Dumas, tác giả những bộ tiểu thuyết
phơi-ơ-tông điển hình Les Trois Mousquetaires, Le Comte de Monte-Cristo.
Được xem là một trong những người viết truyện dài kỳ nổi tiếng nhất của Pháp.
TRUYỆN DÀI KỲ THỜI TRƯỚC 1975
Người Việt Nam học cách làm báo từ người Pháp vì vậy những tờ
báo VN thời kỳ đầu cũng đã có chuyên mục truyện dài kỳ để… bán báo. Theo nhà
văn Vũ Bằng trong bài ‘Báo chí Bắc Việt 34-54 – Văn học(Sài gòn): ‘Phong hóa được
hoan nghênh vì báo nầy đã đưa ra một cái mới là tiểu thuyết dài và tiểu thuyết
ngắn có tính chất tư sản (phù hợp với người dân lúc đó)’.
Theo ông Lại Nguyên Ân thì thời kỳ rực rỡ nhất của báo chí tiếng
Việt thời kỳ từ năm 1913 – 1914 đến 1945 là báo văn hóa, văn nghệ, văn chương.
Nền văn chương hiện đại của tiếng Việt ra đời và tựa một phần trên báo chí.
Phong trào thơ mới cũng được phát động, cổ động trên báo chí. Các tác phẩm được
công bố trên báo chí trước khi xuất bản thành các tập sách.
Ở một góc nhìn khác, dịch giả Thúy Toàn cho rằng không chỉ có
thơ, văn mà cả văn học dịch cũng đã xuất hiện nhờ báo chí. Dịch giả Thúy Toàn dẫn
chứng: “Tờ Tiếng dân ra đời năm 1927 ở Huế, thì ngay số đầu tiên đã đăng tải bản
dịch Phục sinh của Hoa Trung. Bản dịch Phục Sinh được đăng tải liên tiếp từ số
đầu tiên kéo dài tới số thứ 86”.
Trong khoảng thời gian từ 1950 đến 54, trên các báo Liên Hiệp
đã xuất hiện cây bút Hoàng Ly với ‘Tiếng Địch Trên Sông’, ‘Hận Loa Thành’, ‘Kỹ
Nữ Sông Kỳ Cùng’ Nguyễn Quỳnh viết một loạt truyện dã sử trên báo Tia
Sáng, còn Bạch Diện là tác giả nhiều bộ dã sử kéo dài mấy năm liền trên các báo
Liên Hiệp, Giang Sơn…
Ở Nam Kỳ, làng báo Sài Gòn cũng đã đọc TDK khoảng cuối những
năm 1920. Từ năm 1924, Phú Đức đã xuất hiện ‘Câu Chuyện Canh Trường’ trên báo
‘Trung Lập’ và sau đó là ‘Căn Nhà Bí Mật’. Bên báo ‘Công Luận’ thì có Nam Đình.
Năm 1929, Hồ Biểu Chánh đã xuất hiện ‘Vì Nghĩa Hay Vì Tình’ hàng tuần trên Phụ
Nữ Tân Văn của ông Nguyễn Đức Nhuận. Từ sau năm 1945 trong làng báo Sài Gòn ,
TDK giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành một tờ báo. Khi xuất bản một
tờ báo là, các chủ báo, nhà quản lý phải nghĩ ngay đến các tác giả viết TDK ăn
khách. Theo nhà văn Vũ Hạnh ‘…đặc biệt là tiểu thuyết trang trong (nhật báo)
đủ các thể loại’-(Báo chí hôm nay 1954-65-Bách Khoa số 217 ngày 15.1.66).
Cũng trong tạp chí Bách Khoa số nầy nhà văn Võ Phiến nhận định ‘… chiếm
nhiều chỗ nhất là những truyện để giải trí…’.
Tại sao các nhật báo Sài gòn đều ‘sống chết’ với chuyên mục nầy.
Lý do đơn giàn là TDK là một chuyên mục hấp dẫn với những người bỏ tiền ra mua
báo. Một tờ báo có thể có đến bốn TDK đủ các thể loại như tâm lý xã hội, truyện
trinh thám, truyện ma, võ hiệp kỳ tình, truyện Tàu…để đáp ứng nhu cầu của đủ thể
loại độc giả. Một tờ báo nào đó chỉ cần có một TDK hay, ăn khách, sẽ làm
cho tờ báo đó sống vững, sống mạnh khỏe-chủ báo chắc chắn có xe hơi nhà lầu. Đó
là trường hợp của các tờ nhật báo Sài gòn mới của bà Bút Trà với TDK của Bà
Tùng Long, Thần Chung với tiểu thuyết Cô Bạch Mai do chính Chủ nhiệm Nam Đình
viết, những năm 1951, 1952. Ngay cả những tờ báo có tiếng về ‘lập trường chính
trị’ như ‘ Sống’, Chu Tử cũng phải mời bà Tùng Long viết TDK. Hoặc tờ ‘Xây Dựng’
của linh mục Nguyễn Quang Lãm thì phải nuôi Duyên Anh với ‘Điệu Ru Nước Mắt’-một
truyện du đãng thời thượng lúc đó được cho là viết dựa theo cuộc đời trùm du
đãng Đại Ca Thay.
Trong ‘Hồi Ký Bà Tùng Long’ có ghi lại bài viết của ký giả Trần
Quân của tờ Times Sài gòn ‘… cái gì trong tờ báo đã khiến cho bà (độc giả)
quan tâm chiếu cố đến vậy, bà sẽ nói với bạn không một chút ngần ngại là không
phải những chuyện tranh đấu không ngừng của Lumumba, hay cuộc tranh chấp không
bao giờ chấm dứt của Phoumi và Phouma, và cũng không phải sự ra đời của một
hoàng nam kế vị ngai vàng của xứ Iran, mà chỉ là tiểu thuyết ra hằng ngày trên
báo của một cây bút nữ được cả nước nghe tên, được cả nước đọc với bút hiệu Bà
Tùng Long… ‘
Người đọc TDK lúc đó là ai? Vẫn theo nhận định của Trần Quân ‘Độc giả của bà
(Tùng long) thuộc nhiều thành phần khác nhau, phần đông ở giới lao động,
ít học, những người nội trợ muốn tìm cái chìa khóa hạnh phúc, những kẻ không có
phương tiện để đến trường nghe lời giảng dạy của các thầy giáo, cả những quân
nhân ở những vùng xa xôi hay những thủy thủ thiếu mái ấm gia đình’. Đồng
tình theo nhận định nầy, tác giả viết TDK chuyên nghiệp Gã Thâm viết ‘Độc
giả tiểu thuyết phơi-ơ-tông những năm xưa ở Sài Gòn đa phần là phụ nữ. Ngoài việc
mỗi ngày đi chợ, thường là ra khỏi nhà vài bước là có chợ đầu xóm bán đủ thức
ăn, ngoài việc nấu ăn, trông con, những phụ nữ ấy có nhiều thì giờ nhàn rỗi, họ
đọc tiểu thuyết đăng từng ngày trong các nhật báo. Họ là lớp độc giả chính,
trung thành của tiểu thuyết phơi-ơ-tông, và họ rất chịu bỏ tiền mua báo. Báo
nào có tiểu thuyết được họ đọc là báo bán chạy’.
Theo tôi, có lẽ hai tác giả nói trên vẫn còn phiến diện khi
không nhắc đến những độc giả là đàn ông ở nhiều lứa tuổi và thành phần khi họ
thích đọc những truyện trinh thám như ‘Bàn Tay Máu’ của Phi Long (Ngọc Sơn),
truyện Võ hiệp kỳ tình ‘Kỹ nữ Gò Ôn Khâu’ (Hoài Điệp Thứ Lang-nhà thơ Đinh
Hùng), ‘Lệnh Xé Xác’ (Lã Phi Khanh-Vũ Bình Thư) và kể cả nhiều tầng lớp trí thức
mê say truyện chưởng của Kim Dung. Họ đã hàng ngày chờ đợi ‘ Cô Gái Đồ Long’,
‘Anh Hùng Xạ Điêu’, ‘Tiếu Ngạo Giang Hồ’…của ‘Cấm Dùng’ Tiên Sinh (Kim Dung)
qua cách chuyển ngữ rất giang hồ hành hiệp của Hàn Giang Nhạn. Nói không quá
là nhật trình lúc đó sống nhờ truyện chưởng. Họ mua báo hàng ngày chỉ vì
muốn đọc truyện chưởng dài kỳ của Kim Dung mà thôi. Trong một buổi hội luận
dành cho SV báo chí, nhà báo Từ Chung nêu câu hỏi rất giản dị ‘ Tại sao báo VN
nào chũng phải đăng truyện kiếm hiệp’ và tự trả lời‘ quan trọng hơn cả,
không có kiếm hiệp thì báo bán không chạy. Báo bán không chạy thì báo chết.
Nó giản dị vậy thôi.’ Báo có thể rất nghiêm chỉnh, tin tức bình luận đều hay
nhưng không thể không có tiểu thuyết ăn khách. ‘Phi kiếm hiệp bất thành báo’
SỐNG BẰNG TRUYỆN DÀI KỲ
Một tờ báo được độc giả đón nhận nhờ TDK hấp dẫn thì không những
đời chủ báo lên hương mà các tác giả viết TDK vẫn có thể ung dung sống thoải
mái, thậm chí có người còn đi xe hơi và nuôi cả gia đình như Bà Tùng Long
xác định viết TDK để nuôi con. Và năm 72 bà đã ngừng viết vì các con đã lớn
(theo Hồi Ký Bà TL) Họ-nếu gọi là nhà văn- thì đây chính là những nhà văn
đã sống bằng chính nhận bút chứ không cần lương cố định của một tòa soạn nào.
Theo tác giả Hoàng Hải Thủy tự nhận xét ‘Tôi trở thành thợ viết tiểu thuyết
phơi-ơ-tông chuyên nghiệp, tôi sống bằng việc viết truyện phơi-ơ-tông.’ Lúc ấy,
trong làng báo Sài gòn đã xuất hiện những người viết TDK chuyên nghiệp. Họ
chỉ viết TDK để sống và chỉ sống bằng việc viết TDK. Viết xong, nếu ăn
khách, sẽ được nhà xuất bản mua để in thành sách, nhiều tác giả TDK tự xuất bản
tác phẩm của mình như Ngọc Linh, Duyên Anh. Thí dụ như trường hợp của Dương Hà,
sau khi thành công với TDK đầu tay ‘Bên dòng Sông Trẹm’, từ năm 1952 Dương Hà
chuyên viết tiểu thuyết cho nhật báo Sàigòn mới đề sống cho đến khi báo nầy bị
đóng cửa vào năm 1964.
Có lẽ thấy viết TDK đăng nhật trình hàng ngày vừa có tiền sống
lại vừa phổ biến được tác phẩm nhanh và rộng nên những nhà văn được cho là
‘chính thống’ như Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thụy
Long …đều lao vào viết truyện dài kỳ cho các nhật và tuần báo. Nhờ TDK mà cuộc
sống của họ dư dã và ổn định. Họ sống được là vì mỗi ngày họ phải cung cấp TDK
cho ít nhất là hai tờ nhật báo như bà Tùng Long viết trong hồi ký ‘Anh thử nghĩ
xem tôi còn thì giờ đâu để mà viết cho Sống nữa chớ? Tiếng Vang rồi Sàigòn Mới,
rồi hai tờ báo tuần Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Diễn Đàn (làm thư ký tòa soạn),
Phụ Nữ Ngày Mai với một truyện dài và một truyện ngắn hằng tuần’.Nhà văn Phú Đức,
tác giả ‘Châu Về Hợp phố được cho là người viết TDK với kỷ lục viết cho năm tờ
báo hàng ngày. Do đó, đích thân ông phải đi giao bài cho từng tòa soạn vì sợ cảnh
‘râu ông nọ cắm cằm bà kia’. Đã từng có nhà văn do đãng trí đưa nhầm truyện viết
cho báo B sang báo A nên hôm đó độc giả không hiểu tại sao anh Hùng đang
đưa em Loan đi chơi tửu lầu Đồng Khánh thì lại xảy ra cuộc đánh ghen của hai bà
ở tận xứ chó ăn đá gà ăn muối Chắc cà đao và ngược lại. Để tránh tình trạn này,
nhà văn Sơn Nam đến từng tòa báo, ngồi vào bàn viết yêu cầu nhân viên tòa soạn
cho đọc truyện xem lại ngày hôm trước đã viết đến đoạn nào để ráp viết tiếp cho
chắc ăn. Vì có lần sau khi truyện đã đăng báo thì ông chủ bút cho biết là nhân
vật X. lần trước đã bị ông khai tử rồi sao bây giớ còn xuất hiện. Thế là ông
tìm cách cho nhân vật ‘hồi dương’ một cách hợp lý. Ngay cả Kim Dung cũng lâm
vào tình trạng cho nhân vật võ hiệp bị chết vì đao kiếm đoạn trước sau đó xuất
hiện và đánh tiếp ngon ơ!
Bạn đọc sẽ không thắc mắc tại sao có sự nhầm lẫn nầy nếu như
bạn đã biết các cây bút TDK thường viết đủ số chữ cho phần ‘đất’ trên trang báo
chứ ít khi họ viết thành một quyển tiểu thuyết trước rồi lấy ra đăng lại như
bây giờ. Chính vì lý do nầy mà nhà văn không được chểnh mảng vì bị ‘thúc vào
đít’ hàng ngày bởi trang báo đang để trắng, các ấn công, thầy ‘Cò’ đang chờ
bài. Theo họ khi bị ‘rượt đuổi ‘ vào giờ chót như vậy thì họ mới có ‘yên sĩ phi
lý thuần’ (aspiration) mà viết thật hay. Và nhờ viết hàng ngày mà họ có
thể đo lường sự quan tâm của bạn đọc về câu chuyện để có ý và hứng thú viết tiếp
cho ngày hôm sau. Ông Nam Đình, đang làm chủ báo nhưng lại là cây bút viết TDK,
hàng ngày, thường la cà ở các sạp báo để hỏi người bán hoặc độc giả về câu chuyện
và các nhân vật của ông xuất hiện trên báo ngày hôm nay. Có độc giả tức tối vì
nhân vật nữ bị ám sát thì hôm sau ông liền cho nhân vật nữ sống lại một cách rất
thuyết phục –cũng như trong phim, nhân vật chính chết thì lấy gì mà xem!
Giao bài đủ số trang, số chữ là sự thuận lợi chỉ dành riêng
cho người viết chứ các chủ báo, chủ bút thì lên ruột từng đoạn. Khi gần hết hạn
đưa bài xuống nhà in, ấn công hối thúc thì chủ bút chỉ lạy trời cho ông ‘Phơi’
xuất hiện. Và khi có bản thảo viết tay chi chít những con chữ thế là một guồng
máy bắt đầu náo loạn từ thợ sắp chữ, sửa lỗi đến thợ bản vổ. Thỉnh thoảng
khi không nhận được bài thì chỗ trống đó sẽ được trám vào bằng bài thơ thẩn,
sưu tầm nào đó với giòng chữ cáo lỗi bạn đọc ‘Vì tác giả bệnh bất ngờ nên
truyện phải tạm ngưng hôm nay. Mong bạn đọc thông cảm và chờ đọc vào số báo
ngày mai’. Đến chế độ Nguyễn Văn Thiệu, các bài viết trái ý kiểm duyệt sẽ bị đục
bỏ, nên tranh thủ và cũng để châm biếm sự kiểm duyệt báo chí các tòa soạn thường
dùng bốn chữ ‘Tự Ý Đục Bỏ’ làm cho bạn đọc tưởng truyện đang có ‘vấn đề’ hay
thiên cộng. Còn nếu như nhà văn bị bệnh dài ngày thì những người trong tòa soạn
sẽ cùng nhau viết tiếp truyện đang dang dở. Các nhân vật ra sao thì ra để tác
giả hết bệnh tự xử trí. Đây là trường hợp của truyện dài “Một Triệu Đồng” của
nhà báo Như Phong đăng trên nhật báo Tự Do, khi Như Phong bị lao phổi, do truyện
đang ăn khách, toà soạn quyết định tiếp tục. Trong hồi ký ‘Tôi Làm Báo’ nhà văn
nhà giáo Tạ Quang Khôi kể lại: ” Ông Nguyễn Hoạt yêu cầu mỗi người viết một
đoạn để chờ ông Như Phong đi làm lại”. Và truyện dài của nhà báo Như Phong
đã được nhà thơ Đinh Hùng, nhà báo Nguyễn Hoạt và sau đó là Tạ Quang Khôi viết
thay cho tới khi nhà báo Như Phong trở lại toà báo.
Vì phải viết cho nhiều tờ báo trong một ngày nên một số ít
nhà văn viết TDK đã nhờ người viết thuê ẩn danh để họ ký tên. (Bây giờ gọi là
Ghost writer). Việc nầy ít khi được tiết lộ công khai vì thỏa thuận ngầm giữa
hai bên nhưng không phải là không có. Theo nhà văn Vũ Bằng, Lê Văn Trương và
chính ông cũng nhờ người viết thuê rồi đứng tên là tác giả: ‘Có nhiều truyện của
Lê Văn Trương viết mà không phải chữ của Trương. Tôi bảo anh chính là ‘mọi’ viết
chớ không phải là anh viết thì lập tức anh thề liền ‘tôi mà nói dối chết một đời
cha ba đời con’. Những nhà văn , nhà báo Âu Mỹ nuôi ‘mọi’ để viết rồi ký
tên mình vào đó là chuyện thường thấy ,có gì lạ đâu. Tôi đã từng có lúc viết
không kịp cũng phải nhờ ‘mọi’ giúp. Đó là thời kỳ 1940-42 tôi đưa ra loạt bài
nói về các thứ ma quỷ, siêu hình học ( một ông giáo bây giờ đã qua đời giúp việc
cho tôi hàng tháng) lúc tôi viết về loại báo Tabloid của Mỹ đăng trên ‘Trung bắc
chủ nhật’. Và lúc tôi nhận viết mỗi tuần một ‘Truyện có thực’ và mỗi tháng một
truyện dài hoặc để đăng ‘Phổ thông bán nguyệt san’ hoặc đăng báo ‘Truyền Bá’
(Văn Học- số 74 –sài gòn 1967)
NHỮNG CÂY BÚT TRUYỆN DÀI KỲ CỦA LÀNG BÁO SÀI GÒN
Tôi chưa có đủ tài liệu để xác định xem người viết TDK đầu
tiên trong làng báo Sài gòn là ai nhưng, tạm thời, theo dòng thời gian
thì một trong những tác giả viết TDK xưa của Sài Gòn là Hồ Biểu Chánh, tác giả
những bộ truyện nổi tiếng Tỉnh Mộng, Cay Đắng Mùi Đời, viết năm 1923, Ngọn Cỏ
Gió Đùa, viết năm 1926.Tác giả thứ hai là Phú Đức với những bộ truyện đúng kiểu
tiểu thuyết phơi-ơ-tông như Châu Về Hiệp Phố, viết năm 1926, Căn Nhà Bí Mật, viết
năm 1929, Tình trường huyết lệ, viết năm 1930..vv.
Riêng nhà văn Phú Đức được cho là người chiếm kỷ lục viết TDK
cho năm tờ báo một ngày. Xuất thân từ nghề ‘gỏ đầu trẻ’, đang yêu đương phơi phới,
chàng trai tỉnh Gia Định bèn dàn trải mối tình thơ mộng của mình bằng TDK đầu
tiên mang tên ‘Câu Chuyện Canh Trường’ trên báo ‘Trung Lập’của ông De
Lachevrotière do ông Trương Duy Toản làm chủ bút vào năm 1924. Ai mà dè, từ TDK
đầu tiên đó, Phú Đức được ông Trương Duy Toản tiếp tục viết TDK ‘Căn Nhà Bí Mật’,
‘Châu Về Hiệp Phố’. Cả hai bộ TDK nầy đã mang lại cho báo Trung Lập số độc
giả kỷ lục trong làng báo thời ấy. Sau đó, ông được nhà báo Nam Đình mời về báo
Công Luận làm chủ bút. Ở tờ báo nầy , mang danh là chủ bút, ăn lương ngang với
Đốc Phủ Sứ nhưng chỉ có việc duy nhất là viết TDK ‘ Tiểu Anh Hùng Võ Kiết’ rồi
ngồi lên xe hơi xì-gà mà rong chơi với các người đẹp ái mộ khắp Sài Gòn.
Sau thời kỳ ‘nhung lụa’ ngót nghét cũng gần 20 năm, Phú Đức
phải còng lưng viết TDK cho 5 tờ báo mỗi ngày. Ông làm việc như công chức, đúng
giờ, đúng khắc. Mỗi buổi sáng, ông đến nhà một bạn làng văn, đóng đô ở đó viết
cho đến xế trưa là đã xong số lượng trang viết cho các tờ báo đang chờ bản thảo
của cây bút được quảng cáo là ‘…Đứa con tinh thần mà tác giả đắc ý nhất, sau
bao nhiêu năm dầy công thai nghén một cốt truyện ly kỳ, rung rợn, quyết làm cho
độc giả càng đọc càng mê say, cảm động…’. Nhưng thật ra những đưa con tinh
thần nầy chính là những TDK đã đăng trên Trung lập và Công Luận rồi được ông
xào nấu lại từng kỳ cho các tờ báo đang đói TDK. Hậu quả là vào năm 1952, một
tuần báo đã viết bài với cái tít giật gân là Phú Đức: Tiểu Thuyết Gia Bổn Cũ Soạn
Lại’. Một nhà văn thiếu nhi cũng là một nhà báo kênh kiệu đã nhận xét ‘Trong lịch
sử làm báo duy nhất một nhà văn Phú Đức quyến rũ độc giả ròng rã mấy năm
bằng Quách si ma , nhân vật kỳ bí của triền miên phơi ơ tông Châu về Hiệp phố.
Nhật báo của ông là … Châu về hiệp phố. Độc giả tranh nhau mua báo của ông chỉ
để theo bước chân đi của Quách si ma ! Sức quyến rũ của ngòi bút Phú Đức thật
đáng nể. Thời đó, chỉ có một người viết TDK đứng sau Phú Đức là Nam Đình.
Dù là chủ tờ báo Thần Chung (1950) cũng thuộc loại có ‘số má’ nhưng ông đích
thân viết TDK hàng ngày. Nếu Phú Đức được làng báo lúc ấy phong là người viết
TDK ‘Bổn cũ soạn lại’ thì Nam Đình được tặng danh hiệu là ‘đại hải trường
giang’. Từ TDK ‘Bà Lớn’ qua ‘Cháu Bà Lớn’ rồi ‘Cô Bạch Mai’ tới ‘Cô Bạch Mai’ tới
‘Cháu Ngọc’ Nam Đình đã cứu tờ Thần Chung đang từ chỗ sắp đình bản vươn lên thứ
hạng nhất nhì lúc đó. Trước đó thì có ‘Kòn Trô’(1941), ‘Sương Giò Biên
thùy’(1948) của nhà văn Lý Văn Sâm.
Nếu bên Thần Chung có ‘ Cô Bạch Mai’ thì năm 1952 bên Sài Gòn
mới của bà Bút Trà xuất hiện ‘Bên Dòng Sông Trẹm’ của cây bút mới toanh Dương
Hà. Do nổi tiếng nên truyện được xuất bản thành sách ngay sau khi đăng hết trên
báo. Không thua kém, bên báo Tiếng Chuông xuất hiện Ngọc Sơn với những TDK
‘Ngày Về’, ‘Hồng và Cúc’, ‘Sau Dẫy Nhà Lầu’. Sau 1954 Ngọc Sơn chuyển qua
viết TDK trinh thám kỳ tình ‘Bàn Tay Máu’ (có tranh minh họa kèm theo) với
bút hiệu Phi Long trên báo Sài Gòn Mới.
Nói đến TDK tâm lý xã hội ăn khách nhất lúc đó không thể kể đến
hai cây bút nổi tiếng của những năm 1950 là bà Tùng Long, bà Lan Phương. TDK của
các nữ sĩ nầy đều có nhân vật chính là phụ nữ , thường gặp hoàn cảnh éo le
nhưng đều vượt qua nghịch cảnh và kết truyện đều có hậu. Tất cả TDK của hai bà
đều đề cao tình nghĩa gia đình, đề cao người phụ nữ nên đa số độc giả là nữ đều
mê mẩn. Sau năm 1965 nhật báo Sài Gòn có mấy cây viết phơi-ơ-tông nữ nổi tiếng:
Túy Hồng, Lệ Hằng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng. Tôi đọc được trong một cuộc phòng
vấn trên báo bà Nguyễn Thị Hoàng cho biết trên bàn viết lúc nào củng có hai
…máy đánh chữ dành để viết hai truyện khác nhau cùng lúc. Khi viết bị bí truyện
nầy thì nhảy sang viết truyện kia.
Không thua bà Tùng Long, Lan Phương các cây bút nam giới cũng
có Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc với những truyện dài về sông nước và con nguời nam
bộ. Bình Nguyên Lộc đăng đoạn đầu truyện dài kỳ’ Phù sa’, đăng trên báo
Thanh Niên năm 1943, với tên Di dân lập ấp. Ông đã mê hoặc được độc giả nhờ
truyện nầy. Sau đó, ông viết lại được độ 1/6 tác phẩm, cho in trên tuần báo
Nhân Loại. Theo lời Bình Nguyên Lộc, Phù sa là “tác phẩm quan trọng nhất” của
ông, làm sống lại cuộc “tiến vào Nam” của đồng bào Nam-Ngãi để dựng nên miền Lục
Tỉnh’. Ngọc Linh với ‘Như Hạt Mưa Sa’, Lê Xuyên với ‘Chú Tư Cầu’ (Sài Gòn Mai
năm 1961), Dân Việt với TDK của Chu Tử: Sống, Yêu, Tình, Loạn xuất hiện năm
1961, 1962.An Khê với ‘ Hai Chuyến Xe Hoa.Lã Phi Khanh, với TDK Lệnh Xé Xác
trên báo Tin Sáng. Văn Quang với ‘Đời Chưa Trang điểm’, Nguyễn Đình Toàn với
‘Áo Mơ Phai’,Trọng Nguyên. Dương Trữ La, Lê Minh Hoàng Thái Sơn…đa dạng sắc màu
thể loại TDK trên các nhật báo. Ngay cả nhà thơ như Bùi Giáng cũng viết TDK.
Khi tìm tài liệu viết bài nầy, tôi bất ngờ nhất là nhà thơ Bùi Giáng cũng viết
TDK…võ hiệp. Theo hồi ký của tác giả Kiều Giang thì ‘Bùi Giáng cũng có thời kỳ
viết bộ truyện phơi-ơ-tông đăng trên nhật báo sống năm 1970. Anh thường cho hai
nhân vật nam nữ khơi khơi dùng thật nhiều hai chữ ‘liên tồn, tồn liên trong
truyện, đại khái:
“Nàng có sắc đẹp tồn liên..
“Nàng nở nụ cười liên tồn…’
‘Đa tạ đại hiệp đã có dạ tồn liên…’
Được biết nhà thơ và vì là nhà thơ nên Bùi tiên sinh đã thất
bại trong việc viết TDK. Do ‘liên’ (tưởng ) hoài nên TDK của ông không ‘tồn’ (tại)
được. Không dễ dàng gì để trở thành một người viết TDK ăn khách nếu không biết
kỹ thuật ‘câu rê’ sao cho hấp dẫn mà thời đại ta gọi là câu ‘Viu’ (View). Một
bí quyết gọi là ‘nhà nghề’ của Phú Đức là ông viết đến chỗ gay cấn thì cắt
ngang, bắt độc giả chờ ngày mai đọc tiếp. Nam Đình thì ra sạp báo, lén nghe ý
kiến người đọc để sửa chữa và bổ khuyết cho nhân vật. Viết dài hay ngắn
đoạn nào đó là tùy theo sự thích thú của bạn đọc. Câu rê thuộc loại cao thủ là
Lê Xuyên. Trong TDK ‘Chú Tư Cầu’, tác giả nầy cho nhân vật nam từ lúc tay run
run chuẩn bị mở nút ‘bóp’ (một loại nút áo bà ba miền nam) cho đến lúc mở được
đã kéo dài 15 kỳ nhở vào kỹ thuật viết đối thoại bằng những từ bình dân
nam bộ, linh động và hấp dẫn. Theo kết luận của một nhà văn lão thành thì ‘…
Tuy đăng từng ngày, mỗi ngày một tiểu đoạn, nhưng cách viết và lối dựng truyện
phải là những bí quyết sắc bén giam nhốt không rời thần trí và ham thích người
đọc, đã bước chân qua cửa truyện, là không thể trở lui, phải từng số từng ngày
đợi chờ đọc tiếp.Mở đầu đã đầy đặc những tình tiết bốc cháy từ những dòng mê đắm
thứ nhất. Chuyển đoạn vừa đố vừa giảng. Chuyện đang vòm trời hiện tại thoắt đã
chân trời tương lai. Bằng những diễn biến bây giờ, bằng hồi tưởng, đột ngột kéo
ngược hết về thì quá khứ. Bất ngờ cắt đứt một sáo trộn đóng khung trong một cảnh
trí này, ném bỗng sáo trộn ấy vào một cảnh trí hoàn toàn khác biệt. Đang thuật
đang tả chuyển thành viết thư, nghiêng sang nhật ký. Và thuật tả cũng luôn luôn
phải đối thoại len vào. Trăm nghìn xảo thuật hâm nóng cảm giác, làm ngỡ ngàng mọi
tưởng trước, sai lạc mọi phán đoản ấy, đã được chuyên chở bộn bề vào tiểu thuyết
đăng báo chúng ta hiện nay, bằng con đường điện ảnh, bằng vay mượn và phối hợp
cách thức viết với cách thức thực hiện phim ảnh. Nói chung, đó là kỹ thuật của
loại phim truyện trinh thám, nghẹt thở, giật gân, bao giờ cũng tạo được tác dụng
làm căng thẳng giác quan ta.’
Đó là về mặt kỹ thuật. theo tôi, một yếu tố quan trọng để một
TDK thành công là tính chất giáo dục, nhân văn. Tất nhiên, khi viết nhà văn TDK
luôn đặt yếu tố hấp dẫn, giải trí lên hàng đầu nhưng nội dung truyện vẫn là cái
thiện thắng cái ác, ở hiền gặp lành, đầy đủ ‘nhân, lễ , nghĩa, trí, tín’. Họ
thích nhân vật chính là thiếu nữ xinh đẹp, hiền hậu, con nhà nghèo – nghèo mà vẫn
giữ được trong sạch – bị rơi vào những cảnh ngộ oan trái nhưng sau cùng vượt thắng
được nghịch cảnh, gặp tình yêu. Hoặc nhân vật chính là một thiếu nữ con nhà
giàu sang yêu một chàng trai nghèo nhưng lương thiện. Sau cùng tình yêu phải thắng,
đôi tình nhân sau trăm cay, nghìn đắng, sẽ thành vợ, thành chồng, sống hạnh
phúc bên nhau mãi mãi. Nếu truyện có tướng cướp thì tướng cướp sẽ hoàn
lương, nếu có kẻ giết người thì kẻ đó sẽ chết, đi tù hoặc đi tu để trả giá cho
hành động của mình. Đọc TDK, người đọc sẽ luôn thấy được sự hướng thiện của tác
phẩm, những bài học đạo đức đến từ những niểm hạnh phúc, nỗi đau, cách xử thế của
từng nhân vật. Tóm lại khi chữ Hết được đặt dưới TDK, người đọc đã tìm ra Chân,
Thiện, Mỹ. Bà Tùng Long đã kể trong hồi ký ‘ Có lần tôi đang viết một
câu chuyện dài, có chiều hướng không cho hai nhân vật yêu nhau đi đến hôn nhân,
thì một buổi sáng vừa để cái cặp lên bàn, toan ngồi lại làm việc thì bà Bút
Trà– chị dâu của tôi mà cũng là chủ nhiệm của báo Sàigòn Mới lúc bấy giờ – cho
người mời tôi vào và nói:
– Thím không định cho Yến và Thanh kết hôn sao?
Thấy tôi cười mà không trả lời thì chị tôi nói:
– Thím nên cho tụi nó kết hôn với nhau, như thế mới hợp tình
hợp lý và mới đúng với cái tên tiểu thuyết mà thím đặt Gương Vỡ Lại Lành.’
LÀ NHÀ VĂN HAY NHÀ BÁO?
Dù những TDK trên các nhật báo đã làm say sưa bạn đọc
nhưng người viết vẫn không được xem là nhà văn, thậm chí còn có khuynh hướng
xem đây là ‘tiểu thuyết ba xu’. Khuynh hướng nầy đã có từ những nhà văn Pháp
vào cuối thập niên thế kỷ 19. Nhà văn Pháp Eugène Sue với những tác phẩm nổi tiếng
lúc ấy vẫn chỉ được xem là Feuilletonniste chứ không gọi là nhà văn. Còn
ở Sài gòn thời ấy, theo Trần Quân (Hồi Ký Bà Tùng Long) ‘…Mặc dù không có một
quyển sách nào của bà được các nhà phê bình đem ra phê bình như một tác phẩm
văn học của những nhà văn được coi là trí thức lúc bấy giờ, chính bà Tùng Long
cũng tự nhận mình không phải là một nhà văn…’
Có lẽ nhà văn Võ Phiến là người không xem trọng TDK như
N.H.Qviết: ‘Trước 1975, dù biết phơi-dơ-tông rất được ưa chuộng,
dù hiểu nguyên nhân của sự ưa chuộng ấy nằm ở phần đàm thoại, song tự thâm tâm,
tôi đoán, Võ Phiến có chút khinh rẻ loại văn chương nhật trình mà ông, cũng như
nhiều người khác nữa, không coi là văn chương thực sự.’
Trong một bài viết của mình, nhà văn Võ Phiến
đã cho rằng các nhà văn viết TDK đã đi vào xu hướng bình dân:
‘…Mặt khác, viết tân văn tiểu thuyết đăng nhật báo, một việc
như vậy không phải chỉ ảnh hưởng đến túi tiền của nhà văn mà thôi, nó còn ảnh
hưởng đến bút pháp, văn phong, rồi có thể dần dần đến quan niệm sáng tạo của
nhà văn nữa không chừng. Mai Thảo có lần nhận rằng: “Hiện tượng của truyện dài
viết từng đoạn, đăng từng kỳ nơi trang trong các nhật báo (…), đẩy hầu hết những
cây bút sáng tác chuyên nghiệp hiện nay tới kiếm tìm một văn thể mới, áp dụng một
bút pháp mới.” Quả thật phải có văn thể bút pháp khác: truyện nhật trình không
thể là thứ truyện cô đọng, văn nhật trình không thể là thứ văn chương cầu kỳ,
bí hiểm. Đã chấp nhận viết nhật trình, chấp nhận “xuống đường”, thì phải hòa
mình vào quần chúng. Mà một khi hòa mình đôi ba năm liền vào quần chúng, các vị
cao sĩ kiểu cách làm sao còn giữ nguyên được kiểu cách xưa! Cho nên xuề xòa như
Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam… thì thêm một tí xuề xòa nữa sau thời kỳ trăm hoa đua
nở của nhật trình; còn các nữ sĩ thoạt tiên ngại ngùng e lệ như Thụy Vũ, Túy Hồng,
Nhã Ca v.v…, viết nhật trình riết một lúc rồi ai nấy lưu loát mạnh dạn, ai nấy
ào ào như gió táp mưa sa, nữ cũng bạo mồm bạo miệng không kém nam; đến như
Mai Thảo, như Thanh Tâm Tuyền v.v…, thuở suy tư trên Sáng Tạo và lúc dạn dày
trên các trang nhật trình phong cách thật khác xa!’
Ngay cả nữ nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ – một cây bút TDK cũng
chua chát nhìn nhận trên Nguyệt san Minh Đức xuân 74 như sau:
‘Chị Túy Hồng vốn là bạn thân nhất của tôi thì gặp nhiều
thăng trầm rõ rệt trong nghiệp viết văn. Từ Huế vào Saigon, chị được giới độc
giả trí thức hoan nghinh nồng nhiệt. Cuộc giao dư giữa chị và các nhà văn thuộc
nhóm Sáng Tạo đã đưa đến cuộc hôn nhân giữa nhà văn Thanh Nam và chị. Hạnh phúc
lứa đôi làm chị ngưng sáng tác một thời gian dài. Sau khi viết cho tạp chí Vấn
Đề loạt truyện dài nhan đề “Những Sợi Sắc Không”, chị được tờ nhật báo Tia Sáng
mời viết tiểu thuyết đăng theo thể thức feuilleton.
Kể từ đó, chị nắm lấy cơ hội để viết báo. Vì viết nhiều
feuilleton, nên chị phải nghỉ dạy học. Kế đó, đứa con gái thứ hai của chị
bị chứng sung màng óc và chết tại Bịnh Viện Nhi Đồng, chị liền ngưng viết
feuilleton suốt một năm ròng. Đến khi bắt tay vài việc trở lại, chị như mất
hết đà mất hết trớn, mất luôn cả hứng thú. Và rồi, chị bỗng nhiên nhận thấy nghề
viết feuilleton không phải là nghề bảo đảm lâu bền cho việc sinh nhai nên chị
xin đi dạy trở lại. Kể ra lối viết feuilleton của chị Túy Hồng đối với độc
giả miền Nam, nhất là lớp độc giả miệt Hậu Giang Lục Tỉnh thì hơi cao. Đa
số độc giả không theo đuổi kịp tư tưởng của chị và cũng không thể thấm nhập
được lối chơi chữ trác tuyệt của chị. Bởi lẽ đó, khi viết feuilleton cho
các nhật báo, chị đã bỏ rơi độc giả mỗi ngày ở đằng sau khá xa và họ hào hến
bắt hụt liên tiếp những tình ý của chị. Nhưng viết trên các tuần san lẫn nguyệt
san, Túy Hồng đủ thời giờ để cho tình ý của mình thấm vào đầu óc độc giả
hòa tan vào cảm xúc của họ nên chị được họ ái một nồng nhiệt. Hiện nay Túy
Hồng vẫn tiếp tục thai nghén và sinh nở. Ngoài ra, chị cũng làm bếp, săn
sóc nhà cửa nên cũng không rỗi rảnh để đi lại với bạn bè đồng nghiệp. Tôi
thường đến than với chị là càng viết feuilleton, càng đau đầu nhức óc. Chị
liền bày cho một diệu kế là khi nào mõi mệt tinh thần, khi nào lao tâm hồn
trí thì nên dở quyển kinh hoặc mở tập nhạc ra, ngắt từng đoạn rồi cho vào
tác phẩm. Bởi lẻ đó mà nhân vật trong một vài tác phẩm của tôi đều theo đạo Phật
và cũng biết ca hát rất là thời trang. Mỗi khi họ có tâm sự là họ niệm Phật đọc
kinh. Mỗi khi họ cao hứng là hát véo von bất kể Trời đất. Chị Túy Hồng là
mẫu người Huế không mất gốc. Chị không bao giờ dám vào quán để dung điểm
tâm hay để giải khát. Luôn luôn, chị giữ thái độ trang nghiêm, e ấp dù tác
phẩm của chị sôi bỏng, táo bạo. Nhưng việc viết lách của những nhà văn nữ
trang lứa với tôi thì quả thật ồn ào dù không cố tình khoa trương đi nữa.
Viết feuilleton cho các nhật báo chỉ là một công việc cẩu
thả của kẻ liều mạng hơn là cuộc xuất thần trong nghệ thuật phóng bút. Đã lỡ
theo đuổi vào nghề viết feuilleton rồi, nhà văn không còn thời giờ để đọc
sách, không còn thời giờ để suy nghĩ nữa. Chất liệu sống cùng kiến thức
càng lúc càng khô kiệt, hao hớt vì sự vung vãi quá trớn của nhà văn. Nguy
hiểm ở chỗ không có thời giờ để suy nghiệm lại những chặng đường sáng tác
của mình và làm những dự định trong tương lai cho đường lối sáng tác của
mình. Người đàn bà làm văn nghệ mà chưa thoát khỏi những nhu cầu thúc bách
của sinh kế, đã thấy rõ ngày xế bóng của tài năng mình quá gần kề. Công việc viết
lách đối với họ giống như cây tre trổ hết bông trong một kỳ để mà chết. Không
có gì chua xót cho bằng người đàn bà cầm bút đang độ chán ngán, muốn gát
bút để nghỉ xả hơi trong một thời gian, nhưng không tìm đâu cơ hội quý báu
ấy. Và rồi họ phải viết như mang ách để kéo cày.’
Dù TDK có được xem là văn học hay không nhưng vào thập
niên 1960, nhiều nhà văn Miền Nam, có số lượng sách khá đồ sộ nhờ viết TDK cho
các nhật báo. Bà Tùng Long cho biết là ‘tôi đã xuất bản độ 70 bộ truyện dài và
truyện vừa. Truyện đã đăng báo nhưng chưa in thành sách vẫn còn khoảng chục bộ.
Truyện nhi đồng viết vì yêu cầu của nhà xuất bản Nhi đồng khoảng vài chục truyện.
Còn truyện ngắn cũng vài trăm cái.’
Các tờ báo nhờ TDK mà sống thì chính TDK cũng làm các tác giả
trở nên nổi tiếng, gần gũi với công chúng. Ngay ở Mỹ, từng phần của truyện Love
story ban đầu được đăng trên tạp chí The Ladies’ Home Journey[ đã
trở thành tác phẩm bán chạy nhất trong năm 1970 tại Mỹ và được dịch ra hơn 20
thứ tiếng. Giống như Kim Dung với những bộ truyện võ hiệp, nếu hàng ngày
không viết từng trang cho Minh Báo thì ông sẽ không thể có Trương Vô Kỵ, Vi Tiểu
Bảo, Lệnh Hồ Xung. Nhà văn Sài Gòn cũng vậy. Mỗi tác giả đều có một gia tài tác
phẩm đáng thèm muốn như nhà văn Võ Phiến nhận định ‘Nhận viết truyện cho
báo hàng ngày tức là ép mình vào một thế kẹt: đã “dính” vào là bị lôi đi tuồn
tuột, không thể dừng được. Thành thử trong thời kỳ này sức sáng tác của tiểu
thuyết gia bỗng tăng vọt lên. Cùng lượt viết cho năm ba tờ báo một lúc, viết liền
trong đôi ba năm, mỗi tác giả đã có vài chục tác phẩm xuất bản’.
Công bằng mà nói, những TDK sau nầy được in thành sách do sự
hấp dẫn của nó, không phải không có những quyển tiểu thuyết có giá trị. “Đò Dọc”
của Bình Nguyên Lộc, “Áo Mơ Phai” của Nguyễn Đình Toàn là TDK nhưng vẫn đoạt giải
văn học danh giá của miền nam trước kia đấy thôi. Đóng góp vào sự ‘giàu có’ của
văn học miền nam (tập trung là ở Sài gòn), bên cạnh những tác phẩm văn học in
thành sách hoặc trong các báo, tạp chí của các nhà văn nổi tiếng lúc đó như Vũ
Hạnh với ‘Bút Máu’, ‘Lửa Rừng’, ‘Ngôi Trường Đi Xuống’, nhà văn Lý Văn Sâm, nhà
văn Trang Thế Hy, nhà văn Sơn Nam, nhà văn Lê Vĩnh Hòa (em ruột nhà văn
Võ Phiến), nhà văn Vũ Bằng, nhà văn Nguyên Hùng, nhà văn Ngọc Linh, Cô Hợp Phố…
thì các tác giả viết TDK cũng có mặt một số tác phẩm. Những tác giả, những quyển
tiểu thuyết còn ‘sống’ đến hôm nay, được độc giả và các nhà phê bình văn học nhắc
đến chứng tỏ nó đã vượt qua cái ngưỡng oan nghiệt của cụm từ
‘phơi-dơ-tông’. Ở Sài gòn thì không thiếu những tác giả và tác phẩm vẫn còn được
nhắc và nghiên cứu đến tận ngày nay. Thời gian và văn học sử sẽ đem lại sự công
bằng cho họ, cho một chuyên mục báo chí đã từng một thời gây mưa gió trong nền
báo chí Việt Nam.
2/12/2020
Lê Văn Nghĩa
Theo https://vanhocsaigon.com/
Những bài thơ về hoa của Chế Lan Viên
Những bài thơ về
hoa của Chế Lan Viên
Chế Lan Viên (1920-1989) là nhà thơ lớn của dân tộc, một
gương mặt tiêu biểu, độc đáo của thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông để lại một di sản
văn chương đồ sộ, nhiều thể loại, tiếp tục gây ngạc nhiên cho nhiều thế hệ đi
sau. Năm 2020, kỷ niệm 100 năm sinh nhà thơ Chế Lan Viên (1920-2020). Xin giới
thiệu bài viết về các loại hoa, sinh thời nhà thơ yêu mến và trân quý.
Osawa (Nhật Bản) trong Minh triết của hoa rất có lý
khi cho rằng: Hoa có tiếng nói của hoa (Văn Nghệ, Xuân Nhâm Thân, số
5 và 6, ngày 8/2/1992). Điều này đúng với mảng thơ viết về hoa của Chế Lan
Viên. Trong toàn bộ sáng tác của mình, Chế Lan Viên đã dành cho hoa một tiếng
nói riêng(1). Nhà thơ nói đến những loài hoa quen thuộc chung quanh mình với một
tình yêu nồng thắm, sâu lắng. Chỉ riêng điểm này, ông đã khác nhiều so với những
nhà thơ đồng thời. Năm 1985, tại Cộng hoà Liên bang Đức, trả lời Giiter
Giesenfeld, ông đã nói rõ quan niệm sáng tác: “Thơ tình, thơ về hoa, về cuộc đời
bình thường rất cần thiết. Cần núi cao của chủ nghĩa anh hùng nhưng cũng cần
các đồng bằng của đời sống hàng ngày“. Chế Lan Viên cho đó là khía cạnh hằng
ngày của cuộc sống con người (côté quotidien de la vie). Có điều là, lâu nay,
ta quen nhìn Chế Lan Viên dưới góc độ chính luận, triết học mà bỏ qua hoặc ít
nói đến những tiếng nói thầm, dễ yêu của tác giả. Và, ở khía cạnh này, Chế Lan
Viên cũng tạo được một thành tựu đáng trân trọng và tự hào.
Thơ về hoa của Chế Lan Viên thường là những bài thơ ngắn,
chỉ vỏn vẹn 4 câu. Nó nằm giữa những bài thơ dài viết về những chủ đề lớn. Theo
cách nghĩ của Chế Lan Viên, thơ về hoa là một loại sujet quotidien (đề tài ngày
thường). Dầu là thế, qua mấy chục bài thơ viết riêng về hoa, người ta dễ nhận
ra thế giới tâm hồn của nhà thơ. Ở đây, câu chữ bình dị, sáng trong, không có
chút gì kiêu sa nhưng lấp lánh sau đó là những rung động tế vi, trùng trùng diệu
vợi. Mong manh một màu sắc, xao xuyến một mùi hương, nhưng sao bâng khuâng lòng
người kỳ lạ. Dường như là, với những bài thơ về hoa, Chế Lan Viên muốn trở về với
nguồn cội của phương Đông. Đó là Nguyễn Trãi trong Môn hoa mộc với những mai,
cúc, tùng, hoa đào, mẫu đơn, hoa nhài, hoa sen, hoa mộc. Đó là Tản Đà:
Tin xuân đến ngọn cây đào
Bảo cho hoa biết ra chào chúa Xuân …
(Vui Xuân – Báo Ngày nay, Xuân 1939)
Đối với người phương Đông, hoa là nhịp cầu tri âm giữa con
người với vũ trụ, là thông điệp giữa thế giới trần gian này với đất trời mênh
mông, bao la. Hoa là biểu tượng của cái Đẹp, của tinh anh, là tiếng nói của
tình đời. Huy Cận, trong Vũ trụ ca, có một bài thơ nói rõ quan niệm
này:
Hoa về
Mỗi năm hoa về đây
Hoa nói gì với người
Lòng đời chắc nặng lắm
Hoa nói hoài không thôi.
Với Chế Lan Viên, ở những bài thơ về hoa, như tác giả thường
nói, vẫn thẩm thấu hai yếu tố: yếu tố trữ tình (élément lyrique)
và yếu tố triết học (élément philosophique). Hoa gạo son là
một bài thơ triết luận về thời gian. Seneca, nhà triết học cổ đại La Mã, đã
nói: “Mọi của cải trên đời đều là của người khác, chỉ có thời gian là của tôi”.
Ý nghĩa thời gian gắn liền với ý nghĩa đời người. Biết vậy, nhưng mấy ai chủ động
chiếm lĩnh được quy luật này. Năm tháng vô tình đi qua. Tháng ngày biền biệt
trôi. Mùa xuân đến, không hay. Một bông hoa gạo đỏ thắm, thình lình nở, khiến
con người quay nhìn lại đời mình. Chế Lan Viên diễn tả rất hay cái thảng thốt của
con người trước khắc nghiệt của thời gian. Mùa xuân sắp qua mau, đừng mong
ngóng những chân trời xa, những bến bờ mơ mộng.
Chế Lan Viên nói nhiều đến các loài hoa, nào là hoa đào,
hoa sứ, hoa hồng, hoa dại, hoa súng, hoa sữa, cả đến các loài hoa ít người đề cập
như: hoa chạc chiu, hoa lau, hoa táo, hoa xoan… Ở mỗi tên hoa, với màu sắc
và hương thơm riêng, nhà thơ thổi vào đấy những cung bậc tâm hồn.
Tháng ba ta, khi mùa đông đã rũ áo ra đi, gặp tiết xuân, những
cành xoan mơn mởn với bao chùm hoa trắng phủ đầy các cành. Một sáng nào, trong
khu vườn quen thuộc, mùi hương lạ lan toả. Mùi hương ấy không người sẻ chia,
nên:
Không em anh ngại qua vườn
Sợ mùi hương, sợ mùi hương… nhắc mình
(Hoa tháng ba)
Một lần nhìn thấy những hoa súng hồng nở thắm trên mặt hồ,
nhà thơ đặt câu hỏi như ngỡ ngàng, rồi cũng trả lời:
Sáng nay ra đường gặp ai? Gặp đoá súng hồng
Hồng như chưa có môi nào hồng được vậy
Có gì đó ở đoá súng hồng để nhà thơ qua rồi, quay ngoắt lại,
hỏi tiếp :
Hỏi “Hoa súng hồng, hoa súng hồng, mày có phải hoa không? ”
(Hoa súng hồng)
Chút thẫn thờ đáng yêu ấy là hương vị riêng của bài thơ. Hỏi
rồi đáp, đáp rồi hỏi, cái xao xuyến đó mấy ai trong đời được gặp. Bài thơ xinh
xắn, tinh tế, nói lên lòng yêu hoa tha thiết của tác giả. Cũng lại có khi, với
hoa súng tím, Chế Lan Viên đi vào một ngõ ngách khác của đời thường. Không hiểu
sao, mỗi lần nhắc đến hoa súng. Chế Lan Viên thường bộc lộ những tâm sự riêng
tư.
– Mỗi lần đau, anh lại đến Tây hồ
Chữa lành anh là hoa súng tím
(Hoa súng tím)
– Người ta chỉ biết màu sen anh đỏ rực
Còn nỗi buồn hoa súng tím biết cho đâu !
(Hoa súng – Di cảo thơ II)
Phải chăng, với những câu thơ như thế, ẩn bên trong một tâm
trạng kín đáo. Tuổi sáu tư, tôi mới biết màu hoa dân dã – Biết hoa rồi,
tôi đã sáu mươi tư (Hoa súng An Giang). Không phải đến tuổi ngoài sáu
mươi, nhà thơ mới tìm đến và yêu hoa súng. Chẳng qua, đó chỉ là một cách nói.
Song, hình như là, mỗi chặng đường đời, dẫu vinh quang hay cay đắng, nhà thơ đều
tìm thấy ở hoa một người bạn tri âm. Hoa súng An Giang viết trước
ngày mất hơn một năm. Bài thơ phảng phất dư âm của những dòng tự sự. Cái đỏ rực
của màu sen, ai cũng thấy, nói khác đi đấy là một Chế Lan Viên chính luận, còn
nỗi niềm riêng tây – cái mặt dấu đi của tháp Bayon bốn mặt – ai hiểu và thông cảm.
Cuộc đời với nghìn trò cười khóc, nhưng rồi những chuyến xe không có
khứ hồi – Nguyễn Trãi, Nguyễn Du từng đi chuyến trước không phải là những
điều đáng nói lắm sao ? Mùa bệnh 1988, Chế Lan Viên viết hai bài thơ về
hoa. Hoa sữa, nói đến cái cô đơn, lạnh lẽo của một người nằm bệnh. Trăng
sáng với mùi hương ngạt ngào, nhà thơ bỗng rùng mình nhớ đến sự hữu hạn của đời
người :
Nằm một mình anh sợ
Hương và trăng đến soi
Nhưng, cũng ở những phút giây ấy, Chế Lan Viên nhớ về một
loài hoa của thời đánh giặc – hoa chạc chìu. Sắc hương nghèo, cành
khô quắt, nằm trong đáy xắc, được cất mang theo như một hình ảnh quê hương với
nhiều kỷ niệm. Thì ra, vẫn một Chế Lan Viên yêu quí cái đẹp của một thời – một
thời kiêu hùng không thể nào quên.
Vâng, cái thời ấy làm sao quên được. Những người lính trên đảo
Long Châu, mười năm rời đảo, vẫn nhớ mãi những cánh hoa hoài. Tên hoa và nỗi nhớ
như đan vào nhau. Cũng như một cành mai trên chốt trong thời chống Mỹ. Chốt chỉ
có 3 người. Mùa xuân lại đến. Để thưởng xuân, phải đổi bằng một giá :
Chặt nó về phải vượt qua bãi bom dày đặc
Và công khiêng hết một ngày trời
(Cành mai ở chốt)
Cành mai đem lại cái ấm áp cho mùa xuân, cho lòng người. Nhân
vật thứ tư ấy, sự có mặt của nó, nói rõ lý do tồn tại của dân tộc. Mùa xuân lớn
lao của đất nước bắt nguồn từ những mùa xuân của ba người lính trên chốt. Bài
thơ ngắn nhưng hàm ý sâu. Cũng như những ngàn hoa lau trắng nơi biên giới. Nơi ấy, suốt
một đời cùng với gió giao tranh, chỉ trắng có một mình, bạt ngàn trắng ở tận
cùng bờ cõi là hồn thiêng sông núi. Chính vì lẽ đó, tác giả :
Ai đi biên giới cho lòng ta theo với
Thăm ngàn lau chỉ trắng có một mình..
(Lau biên giới)
Cái ngàn lau xao xác trắng (Lau mùa thu) thường
được liên hệ với thiên tài văn học Nguyễn Du. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du
nhiều lần nói về hoa lau. Đó là :” Một loài thảo, mọc ở chỗ đất hoang, hoa
sắc trắng, cũng gọi là lau lách “(Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội,1974, trang 214). Một lần về Hà Tĩnh, nhà thơ viết:
Man mác hoa lau trắng
Đường về thăm Nguyễn Du
Ngàn lau từ Nguyễn thấy
Bạc xóa đến bây giờ.
(Hoa lau trắng)
Một cành hồng còn sót lại trên trận địa, trên một thị trấn
hoang tàn sau trận bom dội. Cành hồng phân chia hai cực: cái đẹp và sức sống với
cái huỷ diệt và man rợ. Đóa hồng đã chịu ba nghìn trận lửa để giữ lại chút bình
yên cho con người, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới.
Có thể nói, trong chùm thơ về hoa. Chế Lan Viên đưa người đọc
đến những miền cảm xúc mới lạ. Văn chương ít ai nhắc đến hoa táo. Mùi hương táo
không thơm, vị hắc. Vậy mà nhà thơ đợi mùa hoa suốt tuần, đợi đến lúc :
Quả non dần đậu thay hoa trắng
Đợi lúc em về chĩu trước sân
(Hoa táo)
Ở Huế, về hè, những hồ trong khu thành nội, sen thường nở. Những
cánh sen trắng muốt, bọc ven cổ thành, làm nên nét riêng của Huế. Chế Lan Viên
gọi đấy là sen Huế. Huế với nhà thơ như người bạn cũ. Sen nở như chờ tác
giả. Tình cố tri đó khiến cho người nghệ sĩ muốn mượn một tà áo lụa bọc lấy
mùi hương ấy để dành. Suy nghĩ thật độc đáo. Người ta chỉ có thể bọc bàn,
bọc ghế, bọc sách, bọc vở, vậy mà có người tính đến việc bọc lấy mùi hương (Sen
Huế). Lòng yêu hoa, yêu người, yêu Huế đến thế là cùng. Những mùa xuân phương
Nam, chỉ với mai vàng, tác giả lại đau đáu nhớ cành đào đất Bắc. Bài thơ ngắn,
thể 5 chữ, ghi giữ tâm trạng:
Đứt ruột nhớ hoa đào
(Đào và Mai)
Đây cũng là cảm nghĩ chung của nhiều người : Khi ta ở chỉ
là nơi đất ở. Khi ta đi, đất bỗng hoá tâm hồn (Tiếng hát con tàu).
Cả Đông lẫn Tây, con người đều gắn hoa với đời sống. Song, ở
Chế Lan Viên, độc đáo hơn cả là nhà thơ đã lấy sắc màu của hoa để so sánh với
các cung bậc tình cảm :
Hạnh phúc màu hoa huệ
Nhớ nhung màu hoa lau
Biệt ly màu rách xé
Lãng quên đâu có màu
(Màu)
Không lãng quên với đời, cho nên, hoa gạo son ở ngã ba đường
như một người tình đỏ chót môi son, để đến nỗi xe qua rồi, qua mãi … cái màu đỏ
ấy vẫn chói đỏ trong hồn.
Với chùm thơ về hoa, Chế Lan Viên đã gửi vào văn học một tiếng
nói mới. Tiếng nói ấy vừa thực vừa mơ, lẫn giữa mộng và đời, thật là thú vị. Sắc
hương của mỗi loài hoa được nhà thơ tạo dựng bằng một cái nhìn riêng, đầy cá
tính, đầy cảm xúc.
Chú thích:
(1) Các bài thơ về hoa trích từ Chế Lan Viên, Di cảo
thơ, Tập I, NXB Thuận Hóa, 1992 – Tập II, NXB Thuận Hóa, 1993 – Tập III, NXB
Thuận Hóa, 1996.
6/12/2020
Huỳnh Văn Hoa
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thơ của người "Lườm nguýt" Đỗ Ngọc Yên
Thơ của người
"Lườm nguýt" Đỗ Ngọc Yên
Năm 2020 có lẽ là năm “được mùa” của nhà văn chuyên
ngành lý luận phê bình văn học Đỗ Ngọc Yên. Quý 3 ông tung ra gần như là “gối
nhau” 3 tác phẩm. Đặc biệt thú vị là cặp “song sinh” thơ “Điều muốn nói” và “Dậy
thì Giêng”. Nếu như “Điều muốn nói” gồm 36 bài thơ thế sự thì “Dậy
thì Giêng” là 45 bài thơ tình.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa, đề từ cho cả hai tập thơ cũng không dấu
được bất ngờ: “Bấy lâu nay, khi nhắc đến Đỗ Ngọc Yên, ta cứ hình dung một nhà
phê bình tinh nhạy và sắc lẹm. Nói một cách suồng sã thì anh là một nhà “lườm
nguýt” chuyên nghiệp. Vậy mà gần đây anh lại xuất hiện với dáng vẻ yểu điệu,
nhưng rất vững chãi của một nhà sáng tác, để chúng ta có điều kiện “lườm
nguýt” lại anh”. Nhà thơ Trần Quang Quý, trong Tựa cho “Dậy thì Giêng” của
nhà văn Đỗ Ngọc Yên cũng có cảm trạng tương tự.
Tác giả của cặp “song sinh”, nhà văn Đỗ Ngọc Yên thì trải
lòng: “Ở tuổi thất thập lần đầu tiên tôi quyết định “sinh đôi”. Một
trai, một gái. Trai là tập thơ thế sự có tên “Điều muốn nói”. Gái là
tập thơ tình có tên “Dậy thì Giêng”. Có người bảo tôi “liều”. Vâng.
Có người bảo tôi “dại”. Vâng. Với tôi, liều hay dại, thắng hay thua,
thành hay bại… âu cũng chỉ là một cuộc chơi, hay đúng hơn là một hành
trình dấn thân đầy nghiệt ngã nhưng thực sự thú vị”.
Gia tài “lườm nguýt” của nhà văn Đỗ Ngọc Yên đến nay đã có 10
tác phẩm. “Dự cảm thu” tiểu luận và phê bình do NXB Quân đội nhân dân in và
phát hành là tác phẩm mới nhất, ra mắt độc giả vào tháng 7/2020.
Trong “Điều muốn nói”, Đỗ Ngọc Yên cũng viết về nhiều đề tài.
Trước hết, ông viết về bố mẹ, về người chị; đặc biệt có 4 bài thơ về mẹ “Lời ru
của mẹ”, “Mẹ tôi”, “Nhớ mẹ chiều nay”, “Ta về bên mẹ mình thôi”. Tình mẫu tử
luôn thiêng liêng nhất, ông viết về mẹ nhiều là điều dễ hiểu. Ông viết về bản
thân, bạn bè, con người và nhân sinh. Gần như đó là quá trình tìm kiếm để trả lời
câu hỏi về bản ngã. Đỗ Ngọc Yên viết về làng quê, đất nước và thế giới. Gần như
đó là quá trình để minh định tình yêu với cuộc sống. Yêu đất nước phải bắt đầu
từ ngôi làng nơi mình sinh ra và lớn lên, nơi chôn chặt nhúm nhau của bản thân
ông khi từ hạt cát đến với “quán trọ” trần gian.
Lưng còng phơi giữa nắng hè
Áo nâu tơi tả, nón mê gẫy vành
Bấm tay từ thuở tóc xanh
Vẹt mòn móng cái chẳng thành ấm no
(Ta về bên mẹ mình thôi).
Đỗ Ngọc Yên có những câu thơ lục bát về mẹ rưng rức, xúc động,
xa xót. Nhà văn Đỗ Ngọc Yên sinh ra ở một vùng quê lam lũ, nghèo đói. Chắc ông
đông anh chị em. Quê lam lũ thì bố mẹ sao thoát được phận đời sấp ngửa.
“Nhà ta vùng đồng chiêm
bàn tay cha bong da theo từng mùa vụ”,
“bàn tay lợp nhà lo giữ cái nóc
kẻo mai ngày cột mục kèo hư”,
(Bàn tay cha).
“Bàn tay ấy
giờ xạm đi
sau mỗi mùa gieo cấy
và dày thêm sạn chai
bào mòn bay cán cuốc xeo cày”,
(Bàn tay chị).
Đọc những bài thơ của Đỗ Ngọc Yên về làng quê, người thân,
không ai không thương cánh đồng một thời đói khát, thương những giọt mồ hôi
chan trên cánh đồng chưa ải. Dẫu vất vả là vậy, nhưng với những người sinh ra từ
quê, không có nơi nào đẹp bằng nơi mình sinh ra, không có câu hát nào ngọt hơn
lời ru của mẹ. Quê hương nuôi người lớn lên, dẫu bằng gian khó, mẹ mang nặng đẻ
đau, vất vả sớm tối mong con mình lớn lên, mang nặng nghĩa nhân.
Mẹ như thân cò lặn lội bờ sông
Bắt tép nuôi con lời ru cũng ướt
Tháng ngày mẹ sống cùng sông nước
Chẳng khi nào làm vẩn đục lời ru
(Lời ru của mẹ)
Chắc Đỗ Ngọc Yên cũng như nhà thơ Xadax Gamzat, bố của nhà
văn Raxun Gamzatop “Ông yêu làng Xada của mình và không bao giờ đổi nó lấy bất
cứ một thủ đô nào trên trái đất này”, (Dadghexxtan của tôi). Đến lượt Raxun
Gamzatop ‘Trên mỗi bước đi tôi gặp lại mình, gặp lại thời thơ ấu của tôi, gặp lại
những mùa xuân, những cơn mưa, những bông hoa và những chiếc lá rụng mùa thu của
tôi”, (Sách đã dẫn). Không gì đổi được làng.
Không chỉ đằm thắm da diết nỗi lòng, Đỗ Ngọc Yên còn hết sức
“thế sự” trong những bài thơ về thế cuộc “Thất Thủ Thiêm”, “Thế giới này”… Những
sự kiện nóng hổi ập vào trái tim ông làm trái tim thổn thức, bật lên thành thơ.
Dù viết về thời cuộc trong nước hay thế giới thì Đỗ Ngọc Yên luôn tìm lời giải
cho thân phận.
“Cụ già
còng lưng
chậm bước
thúng đội đầu
khách qua đường
ngó nghiêng”
và
“Sáng mai
chân cột đèn
cạnh thúng ngô
có người đắp mặt
manh chiếu vắt ngang…”,
(Tiếng rao đêm).
Xã hội đã có những chuyển động tích cực nhưng bên cạnh người
có cuộc sống khá giả, giàu sang còn không ít người nghèo, những người lang
thang cơ nhỡ, bất hạnh vì nhiều lý do. Đọc bài thơ “Tiếng rao đêm” của ông,
không thể không nhớ đến bài thơ “Người đàn bà Pê ru của tôi” của nhà thơ Nga vĩ
đại Yevgeny Aleksandrovich Yevtushenko.
Em cười mãi với cuộc đời, còn tôi khóc với riêng em
Điều mới nghe tưởng chừng như vô lý
Một nụ cười đi qua hàng thế kỷ
Để lại mỗi cuộc đời một tiếng khóc riêng
(Về bức tranh Nàng Monaliza)
Nhà thơ Trần Quang Quý trong bài TỰA với tiêu đề “Những mùa
yêu Đỗ Ngọc Yên” cho “Dậy thì Giêng” đã đọc ra nhân vị Đỗ Ngọc Yên. Đang “dậy
thì” nên trái tim nhà văn Đỗ Ngọc Yên lao xao cả 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Ông
dành cho mùa xuân 11 bài, mùa thu 18 bài… và nhân vật trữ tình “em” 5 bài. Nhà
thơ Trần Quang Quý gọi là “yêu không mùa”, nói cách khác là cảm thức xuyên mùa
của nhà văn Đỗ Ngọc Yên. Tuy nhiên, thơ tình Đỗ Ngọc Yên chỉ là ước lệ, sự phân
định thơ tình trong “Dậy thì Giêng” và thơ thế sự “Điều muốn nói” chỉ là ước lệ.
Nhiều bài ở cả 2 tập có “2 trong 1”. Tôi đọc bài “Dậy thì Giêng”- được lấy làm
tên chung cho tập thơ thì hoá ra ông nấp sau “dậy thì” để nói về thế cuộc:
Trẻ con bây giờ nó thế
Người kêu tăng trọng lắm vào
Đất trời đảo điên nào biết
Giống nòi suy kiệt ai đau?
“Giêng, Hai đã dậy thì” thì quá bất bình thường. Cuộc sống
đang “nháp” vào mỗi người nhiều dị bản, dễ thấy trong bài thơ “Nháp”:
“Hàng sấu Phan Đình Phùng giờ bặt tiếng ve đêm
ngày nghiến nát mùa hè tuổi thơ tinh nghịch
em ngang qua một bóng hình tịch mịch
thăm thẳm sâu chốn ấy nháp tôi vào?”.
Ông nêu ra một giả định nếu như tất cả ai cũng là “bản
nháp”, bản ảo, không thực, cái bản ngã bị tước đoạt.
Phải nói rằng, với “Dậy thì Giêng”, không gian, thời gian 4
mùa gắn với tâm trạng tạo xung lực sáng tạo cho nhà thơ. Môt năm bắt đầu từ mùa
xuân nên dễ hiểu chính mùa xuân là thời khắc bắt đầu tích tụ phồn thực và bung
tỏa rực rỡ bốn mùa.
“Gió đè
vật vã
hôn thảm thiết
cây ngả long
đợi mưa, đón nước
trăng ngu ngơ chẳng hề hay biết
dưới trần gian
đâu cũng phồn thực xuân”,
(Phồn thực xuân).
Là nhà lý luận phê bình, chuyên gia “lườm nguýt” thiên hạ như
cách nói của nhà thơ Trần Đăng Khoa nên Đỗ Ngọc Yên ý thức rõ về thơ mình. Thơ
ông đa thi pháp, đa thể tài, thậm chí “thi pháp dân gian” là lục bát cũng được
ông sử dụng, bày tỏ cảm xúc trong trường cụ thể. Tuy nhiên, với những bài thơ tự
do, đa phần ở cả 2 thi tập, Đỗ Ngọc Yên rất chú ý về ngắt câu, nhịp điệu, thi ảnh,
liên tưởng. Thơ Đỗ Ngọc Yên vì thế nhịp điệu bật, nẩy.
“Em đến với tôi
cánh đồng hạn khô
tuếch toác vết thương
tím bầm gan ruột”,
(Em đến).
“Em đi
để lại tôi
và
bầu trời vần vũ bão going
tối sầm mặt đất
ánh chớp lập lòe
tìm đâu gương mặt thật
TÌNH YÊU”,
(Em đi).
Cả khi “Em đến” và cả khi “Em đi” tạo cho người đọc một sự tò
mò ngay trong nhịp điệu. Mặt khác, Đỗ Ngọc Yên hay dùng điệp từ/ điệp ngữ nhấn
nhá tạo ra hiệu ứng uyển chuyển của cảm xúc, làm tăng sức gợi hình, gợi cảm
trong câu thơ. Ông cũng là người chuyển “trạng thái” trong thơ mình từ tính từ
sang động từ tạo ra hiệu ứng khác của thơ hậu hiện đại, nhất là gợi tính về phồn
thực.
Những mùa yêu của nhà thơ Đỗ Ngọc Yên không chỉ xuyên thời
gian mà còn xuyên không gian. Ông viết từ “Chợ tình Khau Vai” cho đến các vùng
miền khác của đất nước. Đọc “Dậy thì Giêng” hẳn người đọc sẽ thắc mắc, ông dậy
thì từ miền núi đến miền xuôi, đồng bằng đến ven biển. Đặc biệt, ông dành cho
Nha Trang đến 4/45 bài trong tập. Đỗ Ngọc Yên viết về mùa thu 18/45 bài trong tập,
hóa ra ông dù “Dậy thì Giêng” tức là đầy sức sống, chồi, nõn nhưng tâm hồn chỉ
là “Hồ thu”. Vì thế, mà ông nhìn Nha Trang cũng có mùa thu, dẫu nam Trung bộ chỉ
hai mùa mưa, nắng.
“chiều như ngắn hơn dưới gót chân thiếu nữ
đêm khớp hờ
bờ môi hoang vỡ
Nha Trang mùa này như thể chỉ để yêu”,
(Thu này Nha Trang).
Ở tuổi thất thập, con người không mấy can đảm bước vào tình
yêu, nhưng cảm xúc luôn mơn trớn như trái tim Đỗ Ngọc Yên cũng là phần quà tặng
của riêng ông.
Nhà văn Đỗ Ngọc Yên đã “dậy thì thành công” bước vào “mùa yêu”
với nhiều nỗi niềm, trăn trở. Đọc thơ Đỗ Ngọc Yên người ta không thể hoài nghi
về độ “thanh tân” của chàng trai ngoài bảy mươi. Ông yêu đến cháy đỏ câu thơ,
không muốn chỉ “mơ hồ”:
Anh là dòng sông nham nhở
Phù sa có đâu bồi bờ
Còn đây trái tim cháy dở
Sao khuya rụng vỡ mặt buồn
(Mơ hồ).
Hà Nội, 19/9/2020
Ngô Đức Hành
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm
Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...



