VĂN THƠ NHẠC
Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026
"Một mùa hè dưới bóng cây" và… rượu…
"Một mùa hè dưới
Tập truyện ngắn “Một mùa hè dưới bóng cây” của nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã được giải thưởng văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2023. Thực lòng cho đến giờ mình vẫn băn khoăn: cùng sinh hoạt trong Hội VHNT địa phương nhưng anh nào là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thì không được gửi tác phẩm xét giải ở Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam mà buộc phải gửi vào Hội Nhà văn. Mà Liên hiệp thì trao đến mấy chục giải cho một năm nhưng Hội Nhà văn chỉ trao vài ba giải. Năm nay nhiều cũng chỉ có 6 tác phẩm được giải. Vì vậy những tác phẩm được giải Hội Nhà văn phải là tác phẩm tương đối hoàn mỹ. Xin chúc mừng Nguyễn Tham Thiện Kế và các nhà văn được giải năm nay. Mình may mắn được đọc “Một mùa hè dưới bóng cây” khi nó vừa ra lò nên khi tập truyện này được giải Hội Nhà văn Việt Nam thì mình không ngỡ ngàng vì đây là một tác phẩm hay, hoàn bích thực sự.
Nguyễn Huy Thiệp và Anh hùng còn chi
Nguyễn Huy Thiệp
và Anh hùng còn chi
“Anh hùng còn chi”,
một ấn phẩm được coi là di cảo Nguyễn Huy Thiệp, công bố những bài thơ chưa từng
được biết đến của ông và một số truyện ngắn đã đăng báo nhưng chưa xuất hiện
trong tuyển tập nào.
Tập sách cũng giới thiệu
các kịch bản phim, tiểu luận, ký họa trên gốm tài hoa của ông, cùng những tấm ảnh
tư liệu quý giá theo mỗi dấu mốc cuộc đời.
Có thể không gây “choáng
váng” văn đàn như những tác phẩm đầu tiên được công bố vào thập niên 1980 nhưng
“Anh hùng còn chi” sẽ giúp chúng ta hình dung đầy đủ hơn về sự nghiệp,
cuộc đời của nhà văn danh tiếng này.
Những vần thơ chua xót
Tháng 11.1977, Nguyễn Huy
Thiệp, bấy giờ vừa trải qua gần 8 năm dạy học ở trường Bổ túc công nông, chuẩn
bị chuyển về dạy ở Trường cấp 2+3 Mai Sơn. Hai ngôi trường, thật ra, cũng đều nằm
trên địa bàn tỉnh Sơn La, đều “đi xa hơn nữa” trong núi rừng Tây Bắc bất tận. Gắn
bó chừng ấy năm dằng dặc với núi rừng, mà lại vào khoảng đời đầu xanh tuổi trẻ
vừa nhiệt huyết vừa mơ mộng, lắm nỗi ưu tư, Nguyễn Huy Thiệp không khỏi xúc động
nói lời từ biệt: “Xin từ biệt những ngày đã sống,/ Tuổi trẻ tôi để lại
nơi đây./ Xin từ biệt những gì đẹp nhất/ Nơi lòng tôi xao xuyến tháng ngày”.
Những câu thơ bộc bạch chân tình này cũng khép lại trang cuối cuốn sổ tay, gần
như là một nhật-ký-thơ, của chàng thanh niên Nguyễn Huy Thiệp.
Cho dù chúng chỉ như lối
ghi nhật ký, thỏa cảm xúc và suy tư của một giáo viên tỉnh lẻ, nhưng đọc lại,
chúng ta vẫn thấy chất giọng, cái nhìn khá riêng. “Còn những gì chua
xót/ Chỉ là trong thơ thôi”, câu đề từ tập thơ hé lộ cách cảm, cách nhìn cuộc
sống, con người của Nguyễn Huy Thiệp không thiên về mang màu hồng, ngợi ca như
dòng mạch chính của thơ cách mạng bấy giờ.
Trong giọng điệu thẳng thắn,
có phần phê phán và giễu nhại, Nguyễn Huy Thiệp nhấn mạnh: “Đâu cũng đầy
bản tính nhác lười/ Thói vị lợi lân la tìm bạn/ Những khuôn mặt vô duyên, buồn
chán/ Đất cằn khô, cỏ mọc chen hoa…”.
Có thể vì thực tế miền
núi gian khó, đơn điệu, tẻ nhạt khiến anh giáo trẻ chưa thể định hình được giá
trị sống của mình và thường nảy sinh ý thức tự chất vấn, tự thú: “Ở
trong anh cũng có ươn hèn/ Cũng vụ lợi, dại rồ, ích kỷ/ Cũng có tháng ngày sống
vô nghĩa lý/ Cũng hóa tầm thường khi bụng hờn ghen”. Nhưng chính thái độ
thoạt tiên bất ổn này, mới tạo nên nguồn năng lượng lớn, vững chãi để Nguyễn
Huy Thiệp lờ mờ nhận ra ánh mắt của cá voi sát thủ, hình ảnh ẩn dụ cho khao
khát thay đổi, vượt thoát thực tại và truy tìm nghĩa lý của bản thân, như ông
đã kể lại: “Tôi chợt nghĩ và nhận ra rằng cái ánh mắt của con cá voi sát thủ
kia có lẽ là tri thức chăng, là mơ ước chăng, là khát vọng hay hạnh phúc chăng,
nó là một cái gì đấy hiện hữu và có thật, rất to lớn, chứa chấp sự hiểm nguy và
không khoan nhượng”.
Khi biết mình đuổi theo
ánh mắt của cá voi sát thủ, ấy là lúc, một anh giáo vùng cao muốn “đau cũng hết
lòng, mơ ước cũng lòng” và sẵn sàng “tát cạn bản thân mình vào đó” cho cuộc dấn
thân viết văn kéo dài hơn bốn mươi năm với nhiều thăng trầm khó phỏng đoán.
Nguyễn Huy Thiệp thường gọi hành trình đó là “đi tìm đạo”.
Có thể nói Những vần thơ
chua xót không hề có câu chữ phá cách, bút pháp tân kì. Nhưng cảm xúc và giọng
điệu, theo tôi, có nét gần gũi với thơ của Lưu Quang Vũ đầu thập niên 1970. Ở
thời điểm này, nhiều thi phẩm của Lưu Quang Vũ ẩn chứa thái độ hoài nghi, buồn
bã, có phần bi phẫn, chua xót, “tôi tan nát kinh hoàng sợ hãi”. Lưu Quang Vũ
cũng tự phác họa chân dung cái tôi cô đơn, nhiều giằng xé nội tâm, thậm chí cảm
thấy như “một tấm gương chẳng biết soi gì”. Nhưng, cũng như Nguyễn Huy Thiệp,
Lưu Quang Vũ chói sáng trên văn đàn thời đổi mới với tư cách kịch tác gia trước
khi công chúng biết rõ hơn những thi phẩm xuất sắc tồn tại trong ngăn kéo của
ông. Cả hai là hiện thân cho tiếng nói trung thực, thẳng thắn và mạnh mẽ bậc nhất
về hiện tình xã hội. Và cả hai cũng cho thấy khả năng tạo tác kiểu văn chương
có sức mạnh lay tỉnh, thôi thúc mà công chúng mong đợi từ lâu để được suy ngẫm,
vỡ lẽ, tự biết mình cần gì và cuối cùng thì làm gì cho đời sống vốn đang buộc họ
phải biết trở tay giỏi hơn thường lệ.
Văn học là cuộc sống
Trong tiểu luận Văn
học là cuộc sống, Nguyễn Huy Thiệp cũng từng đặt câu hỏi, rằng văn chương
có sức mạnh không? Theo ông, “văn học là cuộc sống”, mà cuộc sống thì “chỉ nên
tìm hiểu, nghiên cứu chứ đừng giải thích nó”. Tài năng văn học, theo ông, phải
nằm ở việc thể hiện “chính xác cuộc sống” với điều kiện là “thể hiện chính xác
ngôn từ”.
Nguyễn Huy Thiệp không ngạc
nhiên với kiểu văn chương minh họa, ông chỉ cần nhà văn lao động trung thực, hết
mình với tác phẩm thì sẽ không phải mặc cảm khi nhận tiền thù lao. “Khi nhận tiền
thù lao”, ông lưu ý, “là khóa chốt lại nhân cách nhà văn”, bởi nó sẽ chứng thực
việc nhà văn “phát ngôn cho ai, vì ai, chỗ đứng của nhà văn là chỗ nào?”.
Ông đề đạt rằng một nhà
văn có nhân cách là “nhà văn phát ngôn cho nhân dân lao động, vì nhân dân lao động,
đứng trong nhân dân lao động”. Tôi không nghĩ rằng đây là một quan điểm mới mẻ
của Nguyễn Huy Thiệp, cơ hồ nó còn đại khái và có phần màu mè so với những gì
ông từng phát biểu khá gai góc trong các tiểu luận cùng thời điểm như Một
góc sơ suất trong thế giới nội tâm của nhà văn (1989), Khoảng
trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn (1990), Nhà văn và bốn
trùm Mafia (1991), Con đường văn học (1992). Nhưng
hơn chín năm dạy học, và kế đó, nhiều năm vật lộn mưu sinh (làm công chức, kế
toán, vẽ tranh, làm gốm, buôn bán, nấu ăn, mở nhà hàng,…), “trải qua và chứng
kiến nhiều cảnh ngộ cuộc đời, cả vinh quang lẫn cay đắng”, Nguyễn Huy Thiệp quá
hiểu bản thân cũng chỉ là “nhân dân lao động” và đã “chán ngấy những cuốn sách
thuyết giảng thứ đạo đức giả”. “Nhân dân – ông viết, đang cần những cuốn sách tự
vấn, những cuốn sách giúp họ tự nhận thức lại mình” (Khoảng trống ai lấp được
trong tư tưởng nhà văn). Nhân dân chẳng cần nhà văn phải chỉ bảo “hướng tiến
lên” cho họ như thế nào, ông lưu ý thêm, nhân dân kỳ vọng được nhà văn dẫn dắt
và bênh vực khi họ bị đẩy vào các tình huống trớ trêu nào đấy.
Như thế, với Nguyễn Huy
Thiệp, sức mạnh của văn học chỉ nảy nở trong điều kiện nó thuộc về nhân dân lao
động, trở thành thang thuốc hồi sức sau khi nhân dân lao động, bao gồm cả nhà
văn, đã cật lực để sinh tồn trong vô vàn tình huống đời sống phức tạp. Tôi
nghĩ, đó là lí do vì sao rất nhiều nhân dân lao động, mà thực chất là những bạn
đọc tử tế, đã tự nhận vơ mình là nguyên mẫu nhân vật trong tác phẩm Nguyễn Huy
Thiệp.
Sau hơn bốn thập niên viết
văn, Nguyễn Huy Thiệp vẫn là kiểu nhà văn tạo được cự li đủ khó cho những ý muốn
bình phẩm, dán nhãn vội vàng.
Ký họa trên gốm
Một số bức ảnh tư liệu
cho thấy Nguyễn Huy Thiệp từng vẽ chân dung các thực khách đến nhà hàng Hoa Ban
của ông. Đấy là quãng đầu những năm 1990 khi ông đóng vai trò chủ nhà hàng,
tuyên bố “rửa tay gác kiếm”, không viết văn nữa. Nhưng vẽ, ký họa như thế chỉ
là một “chiêu trò” thu hút thực khách, không thể nói lên tâm tính, cái nhìn của
ông.
Chỉ khi vẽ các văn nhân,
bạn hữu, các tác giả, nhân vật văn chương thì Nguyễn Huy Thiệp mới bộc rõ hơn
kiểu vẽ của ông. Thường thường, ở mặt trước đĩa gốm, mỗi chân dung sẽ được ông
vẽ phác thảo vài nét, lẩy thần thái khuôn mặt là chính. Ở mặt sau, ông ghi đề tặng
hoặc viết lại những câu châm ngôn, hoặc trích đoạn tác phẩm mà ông muốn gửi gắm.
Không kể những văn nhân, bạn hữu thân sơ mà ông vẽ tặng, Nguyễn Huy Thiệp tỏ ra
thích ký họa những cá tính văn chương lớn ít nhiều đã gây hứng thú cho ông như
Victor Hugo, Balzac, Hemingway, Pushkin, Bùi Giáng, Hoàng Ngọc Hiến, Tô Hoài,
Lê Lựu,…
Ông cũng vẽ ký họa lại
bìa, nhân vật tác phẩm của mình nhân dịp chúng được dịch, xuất bản nước ngoài
hoặc tái bản trong nước. Công việc tưởng chỉ giải trí, tiêu khiển thì giờ này lại
được Nguyễn Huy Thiệp khá chăm chút, cẩn trọng. Khó có thể nói rằng các ký họa
này đều có tính mỹ thuật, nhưng cũng như hành trình viết văn, Nguyễn Huy Thiệp,
qua ký họa trên gốm, mà có thế giới nhân vật của mình, có cả anh hùng và ngụy
quân tử, có những câu chữ thảng thốt như dòng viết dưới bức chân dung tự họa của
ông: “Tôi đấy ư?/Ừ, tôi đấy ư?/Đến già vẫn còn nét suy tư” và “cũng
may mà ta đã già”. Chân dung tự họa ấy ông vẽ vào dịp Tết Canh Tý
(2020), chỉ vài trước khi ông gặp bạo bệnh (3.2020) rồi qua đời (3.2021).
6/1/2024
Mai Anh Tuấn
Nguồn: Báo KH-PT số 47
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Tiếng cười mỉa mai, chua chát trong "Quốc âm thi tập"
Tiếng cười mỉa mai, chua
chát trong "Quốc âm thi tập"
Chỉ xét riêng chữ “cười”
theo nghĩa đen xuất hiện nhiều lần trong “Quốc âm thi tập” cũng cho thấy Nguyễn
Trãi là một nhà trào phúng: “Ngày tháng bằng thoi một phút cười” (“Ngôn chí”,
bài 21); “Đến đây rằng hết tiếng chê cười” (“Tự thán”, bài 6); “Thế những cười
ta rằng đánh thơ” (Tự thán); “Người cười dại khó ta cam chịu” (Bảo kính cảnh giới
14)…
Nguyễn Trãi cười nhiều nhất
cho sự trái ngang của cuộc đời. Nhà hiền triết vĩ đại nhiều lần thốt lên “Ở thế
nhiều phen thấy khóc cười” (Tự thuật 9). Là một nhà tư tưởng lớn, cũng là một
nghệ sĩ lớn, qua cái nhìn mỹ học nho gia, Nguyễn Trãi khái quát cái “khóc cười”
ấy vào một chữ “hiểm”, cũng là cách châm biếm đời: “đường hiểm, bể hiểm,
người hiểm, lòng người cực hiểm…”, “Thế gian đường hiểm há chăng
hay/ Càng còn đi ấy thác vay” (Tự thuật 1).
Chữ “vay”, từ cổ có nghĩa
“hay sao” nên hiểu cả câu là: nếu còn cứ đi trên đường hiểm ấy thì rồi sẽ chẳng
gặp nguy mà chết (thác) hay sao. Lời thơ đầy dư ba về sự đắng đót, chua cay: sống
tức là đối mặt với sự nguy hiểm của cuộc đời, có thể chết lúc nào không hay.
Không ngờ câu nói ấy lại vận vào chính cuộc đời nhà thơ với vụ án oan lịch sử.
Ở một “tự thuật” khác ông
viết: “Bể hiểm nhân gian ai kẻ biết?/ Ghê thay thế nước vị qua mềm” (Tự
thuật 4). “Bể hiểm” là một ẩn dụ giàu sức liên tưởng, bể thì sâu, nhiều sóng nổi,
sóng ngầm, nhiều khi mặt bể êm đềm nhưng sóng dữ đang cuồn cuộn tầng dưới. Hơn
nữa “bể hiểm” ấy lại có “nước vị qua mềm”. Nguyễn Trãi đã tiếp thu ý của Lão Tử: “Thiên
hạ mạc nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng” nghĩa
là: không có gì mềm yếu hơn nước, mà chống lại cái cứng mạnh thì cũng không cái
gì hơn được nó. Nước ấy lại trong “bể hiểm” thì càng làm cho “bể hiểm” vô cùng
khó lường.
“Mựa (chớ) trách thế gian
lòng đạm bạc/ Thế gian đạm bạc đấy lòng thường” (Tức
sự 3). Ông không trách thế gian “đạm bạc” (lạt lẽo) mà coi đấy là một quy luật
thông thường, như tự nhắc mình sống ở đời là phải “gắng gỏi”. Đường đời hiểm mà
nơi hiểm nhất là chốn “cửa quyền”: “Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc/
Cho hay đường lợi cực quanh co” (Ngôn chí 19). Nơi chốn ấy “nhiều hiểm
hóc” vì gắn liền với “đường lợi”, mà đường lợi thì bao giờ cũng “quanh co”.
Không còn là nhật xét suông mà là thực tế trải nghiệm.
Có lần ông cay đắng thốt
lên: “Mùi thế đắng cay cùng mặn chát/ Ít nhiều đã vậy một hai phen” (Thuật
hứng 1). Nhà thơ thường hay dùng ẩn dụ – một phương thức tu từ mang giá trị biểu
cảm cao, với nhiều hình tượng mới lạ làm người đọc phải khám phá, suy nghĩ khi
tìm ra ý nghĩa. Được thu nhận một triết lý mới lại càng khâm phục sự thâm thúy
trí tuệ của bậc đại Nho: “Dương trường đường hiểm khúc co que” (Tự
thán 3). “Dương trường” là ruột dê (có hệ tiêu hóa rất tốt, dê ăn được cả cỏ độc)
ẩn dụ cho cái quanh co nhưng bí hiểm của thế gian. “Bành được thương
thua, con tạo hóa/ Diều bay cá nhẩy, đạo tự nhiên” (Tự thán 33).
“Bành” tức ông Bành Tổ tương truyền sống 800 năm, “thương” có nghĩa là chết
non. Một sự chua chát: được thua cũng do tạo hóa cả, như diều bay, như cá nhảy
cũng thuộc tự nhiên rồi!
“Ngọc lành nào có tơ vết/
Vàng thực âu chi lửa thiêu” (Tự thuật 5). Tục ngữ nói “Ngọc
còn có vết” nhưng ở đây là ngọc không tỳ vết. Cũng là vàng thực, không cần thử
thách gì. Một nét cười buồn: đừng nghi ngờ, dễ làm đau ngọc đau vàng. “Phượng
những tiếc cao, diều hãy liệng/ Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi” (Tự
thuật 9). Chim phượng bay cao, diều hâu bay thấp. Hoa quý thì hay héo. Cỏ rác
hay tươi. Bật ra một quy luật trớ trêu đau đớn đáng mỉa mai của cuộc đời: cái
hay cái tốt thì khó tìm và mong manh, cái xấu cái ác thì ngược lại…
“Hùm oai muông mạnh còn nằm
cũi/ Khướu hót chim khôn phải ở lồng” (Tự giới). Một ẩn dụ
dễ hiểu: mạnh như hùm kia, hót hay như khướu nọ, mà còn chịu kiếp trong lồng
cũi. Thế nên người quân tử hãy thận trọng! “Bánh lành trong lá ghê người
thấy/ Tiền tốt ngoài biên họa kẻ hay” (Tức sự 35). “Bánh lành” có thể
ví như người tốt, người tài thường nằm ẩn trong lá, nhìn bề ngoài khó nhận ra,
như tiền (kẽm) không chỉ nhìn cái biên rìa ngoài mà rõ được. “Bằng rồng nọ
ai phen kịp/ Mất thế cho nên mặt dại ngơ” (Tức sự 33). Con rồng lúc
thường thì oai phong lẫm liệt nhưng khi mất thế thì cũng “mặt dại ngơ”. Ý thơ
triết lý chua chát về cái được mất của thế thời.
Từng khẳng định mình có một
cái khác so với người đời là tấm lòng ngay thẳng trong cõi trần thế đáng cười: “Cưu
một lòng ngay khác chúng ngươi/ Ở chưng trần thế mấy phen cười”, nhà thơ
chua chát nhìn thấy cái đáng cười nơi trần thế qua lối thể hiện cũng chua chát.
Ông hay so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng để làm bật ra cái trớ trêu không
dễ nhìn thấy: “Dễ hay ruột bể sâu cạn/ Khôn biết lòng người vắn
dài” (Ngôn chí 5). Có thể đo “ruột bể” nhưng không thể đo được lòng
người. Đo được thì biết nó sâu cạn nguy hiểm thế nào, còn không thì không biết
hiểm nguy ra sao.
Có trường hợp cái trừu tượng
được đặt ở trước trong hai vế so sánh để nhấn mạnh: “Miệng thế nhọn hơn
chông mác nhọn/ Lòng người quanh nữa nước non quanh” (Bảo kính cảnh giới
9). Ở câu này thì “miệng thế nhọn” và “lòng người” đều là những phạm trù trừu
tượng được đặt ở vế trước để người đọc hình dung ra cái đáng sợ nhất vẫn là “miệng
thế” và “lòng người”. Lòng người đã hiểm độc lại luôn quanh co như dòng nước
nên khó biết khó đoán bội phần. Khi những phạm trù cụ thể được đặt trước thường
sẽ đóng vai trò điểm tựa để hiểu rõ hơn phạm trù trừu tượng ở vế sau: “Nuôi
con mới biết lòng cha mẹ/ Thấy loạn thì hay đời Thuấn Nghiêu” (Bảo
kính cảnh giới 8). Hôm nay nuôi con vất vả mới biết lòng cha mẹ trước đây sâu
thẳm ra sao. Muốn hiểu thế nào là “đời Nghiêu Thuấn” hòa bình thì phải từng trải
qua đời loạn lạc…
Tiếng cười Nguyễn Trãi
giàu hàm lượng tri thức cổ xưa nhờ hay xuất hiện ngụ ngôn: “Chúa giàn nẻo
khỏi tan con nghé/ Hòn đất hầu làm mất cái chim” (Bảo kính cảnh giới
23). Ý thơ rút ra từ tập quán của loài trâu luôn sống theo đàn, “sẩy đàn (giàn)
tan nghé”. “Chúa giàn” là trâu đầu đàn mà đi khỏi thì cả đàn cũng tan, ý nói
vai trò lớn lao của người chủ gia đình. Câu sau lấy ý từ ca dao “Đất Bụt
mà ném chim trời/ Chim thì bay mất đất rơi xuống chùa” chỉ việc làm vô
ích dễ gây họa. Nhờ mượn ngụ ngôn mà ý thơ sâu và hóm dễ đi vào lòng người.
“Than lửa hoài chưng, thương vật nấu/ Củi thiêu tiếng khóc cảm thần linh” (Bảo
kính cảnh giới 24). Câu đầu là điển tích trong thơ Tào Thực “Chử đậu nhiên đậu
kỷ” (Cành đậu đun hạt đậu) nhắc chuyện anh em ruột thịt mà lại tàn hại nhau.
Câu sau cũng là điển tích ngụ ngôn về sự đoàn kết anh em ruột thịt: có ba anh
em Điền Chân đời Hán chia gia tài bàn nhau phá cây xanh tổ tiên để lại chia ba
phần làm củi. Cây xanh tự nhiên khô đi mà chết. Ba anh em đoàn kết không chia
gia tài nữa, cây tự nhiên sống xanh trở lại.
Câu “Chim có miệng
kêu, âu lại ngậm/ Cáo khuyên lòng ở, mựa còn ngờ” (Tự thán 38) cũng có
từ ngụ ngôn cổ: chim gặp nguy không dám kêu vì sợ lộ. Khi người gặp nguy thì đừng
tin lời khuyên của cáo. “Thương cá thác vì câu uốn lưỡi/ Ngẫm ruồi nào
chết bát bồ hòn” (Tức sự 35). Con cá chết vì mắc câu. Con ruồi không
chết nếu không sa vào bẫy bồ hòn. Người cũng vậy, đừng chết vì lưỡi câu bổng lộc,
vì bẫy ngọt phú quý… “Lọ vằn sinh lạ mãi phương Tây/ Phụng sự Như Lai
trộm phép thầy/ Hơn chó được ngồi khi mặt bếp/ Tiếc hùm chẳng bảo chước leo
cây” (Mèo). Truyện mèo mặt ngọc (ngọc diện miêu) kể có con chuột thành
tinh cướp vợ một thầy đồ. Thầy đồ kiện, chuột hóa làm quan xử thầy đồ thua. Bao
Công phải sang nước Phật ở phương Tây mượn mèo mặt ngọc vồ chết chuột yêu. Thì
ra có yêu ma quỷ quái đến đâu vẫn sẽ bị công lý trừng trị. “Trộm phép thầy” tức
khi thầy chùa vắng thì mèo trèo cả lên bàn thờ Phật mà ngủ. “Ngồi mặt bếp” là
hình ảnh mèo được ngồi mặt bếp khi chủ làm cơm, hơn chó thường bị đuổi. “Tiếc
hùm…” là chuyện mèo dạy hổ đủ chiêu nhưng không dạy cách leo cây. Con mèo được
đặc tả qua các ngụ ngôn làm hình tượng sinh động, dí dỏm.
Là tiếng nói của một trí
tuệ lớn thấu hiểu quy luật tự nhiên – xã hội, một tâm hồn lớn thấu cảm nỗi đau
đời và yêu đời, “Quốc âm thi tập” là cả một thế giới tiếng cười với giọng chủ đạo
mỉa mai chua chát. Tiếng cười ấy sẽ còn vọng mãi tới mai sau!.
6/1/2024
Nguyễn Thanh Tú
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Dấu ấn văn hóa Trung Hoa trong truyện ngắn Lỗ Tấn
Dấu ấn văn hóa Trung Hoa
trong truyện ngắn Lỗ Tấn
Lỗ Tấn là nhà văn lớn
có vai trò đặt nền móng cho văn học hiện đại Trung Quốc, từng được Quách Mạt
Nhược đánh giá là: “trước Lỗ Tấn chưa hề có Lỗ Tấn; sau Lỗ Tấn có vô vàn Lỗ Tấn”.
Truyện ngắn là một bộ phận trọng yếu trong hệ thống “trước tác đẳng thân” của Lỗ
Tấn, chứa đựng nhiều giá trị nội dung, nghệ thuật phong phú, có ảnh hưởng sâu rộng
cả ở trong và ngoài nước. Trong đó, văn hóa Trung Quốc là thành tố quan trọng
góp phần làm nên giá trị truyện ngắn của ông.
1- Đặt vấn đề:
Lỗ Tấn là nhà văn lớn có
vai trò đặt nền móng cho văn học hiện đại Trung Quốc, từng được Quách Mạt Nhược
đánh giá là: “trước Lỗ Tấn chưa hề có Lỗ Tấn; sau Lỗ Tấn có vô vàn Lỗ Tấn”.
Truyện ngắn là một bộ phận trọng yếu trong hệ thống “trước tác đẳng thân” của Lỗ
Tấn, chứa đựng nhiều giá trị nội dung, nghệ thuật phong phú, có ảnh hưởng sâu rộng
cả ở trong và ngoài nước. Trong đó, văn hóa Trung Quốc là thành tố quan trọng
góp phần làm nên giá trị truyện ngắn của ông.
2- Nội dung nghiên cứu:
Lý do và mục đích sáng
tác
Trong “Tựa viết lấy” (cho
tập Gào thét, viết tại Bắc Kinh, ngày 3 tháng 12 năm 1922), Lỗ
Tấn dẫn ra một trải nghiệm bản thân từ thời còn du học ở trường Y học Tiên Đài
(Nhật Bản, 1904-1906): “thình lình được gặp trên màn ảnh… Một người bị trói ở
giữa, xung quanh là những kẻ đứng xem, người nào người nấy thân thể khỏe mạnh,
nhưng vẻ mặt thì trông rất đần độn. Theo lời thuyết minh, người bị trói là làm
mật thám cho quân đội Nga, bị quân đội Nhật bắt đem ra chặt đầu thị chúng, còn
những đứng vây xung quanh là đến để thưởng thức cuộc thị chúng long trọng đó”
[4, tr.451-452]. Từ trải nghiệm đó, Lỗ Tấn cho rằng: “Dân mà còn ngu muội, hèn
nhát thì dù thân thể có khỏe mạnh, cường tráng chăng nữa, cũng chỉ có thể làm
thứ mà người ta đưa ra chém đầu thị chúng và làm thứ người đứng xem cuộc thị
chúng vô vị như thế kia mà thôi. Còn như đau ốm mà có phải chết đi ít nhiều thì
chưa hẳn đã là bất hạnh. Cho nên, điều chúng ta cần làm trước tiên là biến đổi
tinh thần họ, và theo tôi hồi đó, thì muốn biến đổi tinh thần họ, tất nhiên
không gì bằng dùng văn nghệ. Thế là tôi định đề xướng phong trào văn nghệ” [4,
tr.452]. Ông “tìm ra được mấy kẻ cùng một chí hướng” định xuất bản một tờ tạp
chí lấy tên là Tân sinh, nhưng sau đó họ lần lượt ngãng ra, tờ Tân sinh không
thể ra đời. Trải nghiệm “một nỗi buồn chán chưa từng biết đến”, ông đau khổ “gọi
cái cảm giác ấy là quạnh hiu”, và xác định “phải xua đuổi cho được nỗi quạnh
hiu đó đi” bằng cách “lao đầu vào việc tìm hiểu cái gọi là “quốc dân tính”, hoặc
“trở về thời thượng cổ”” [4, tr.452]. Đây có thể nói là cơ hội để ông nghiên cứu
sâu hơn nguồn mạch văn hóa truyền thống Trung Quốc. Tháng 5 năm 1918, trên tờ
Tân thanh niên, ông đã đăng truyện ngắn đầu tay Nhật ký người điên, thiên truyện
được coi là phát súng lệnh, là lời hịch tuyên chiến chống lễ giáo đạo đức phong
kiến. Nhân vật người điên trong tác phẩm lần đầu tiên nhận ra và lên án lịch sử
4000 năm chế độ phong kiến Trung Quốc là lịch sử “ăn thịt người”. Nhận thức về
cái bản chất “ăn thịt người” của mấy chữ “nhân nghĩa, đạo đức” mà “trang nào
cũng có” ấy sẽ còn ám ảnh, và được tô đậm trong nhiều truyện ngắn viết sau đó của
ông.
Hơn mười năm sau, trong
bài “Vì sao tôi viết tiểu thuyết” (in lần đầu trong cuốn Kinh nghiệm sáng tác
do nhà xuất bản Thiên Mã thư điếm xuất bản tháng 6 năm 1933), Lỗ Tấn nói rõ
hơn: “Khi tôi chú ý đến văn học, tình hình khác với bây giờ nhiều lắm: ở Trung
Quốc, tiểu thuyết không được kể là văn học, người viết tiểu thuyết cũng không
thể gọi là nhà văn học, cho nên không mấy ai muốn theo con đường đó mà ra mắt với
đời. Tôi cũng không có ý định đưa tiểu thuyết vào “văn uyển”, chẳng qua muốn lợi
dụng sức mạnh của nó để cải tạo xã hội mà thôi” [4, tr.540]. Ông cũng giải
thích thêm “ít chủ quan” của mình: “Cho nên mỗi khi chọn đề tài, tôi đều chọn
những người bất hạnh trong xã hội bệnh tật, với mục đích là lôi hết bệnh tật của
họ ra, làm cho mọi người chú ý tìm cách chạy chữa” [4, tr.541].
Một cách nhất quán, Lỗ Tấn
hoàn toàn không nhận mình là “nhà tiểu thuyết”. Với ông, tiểu thuyết chỉ là một
lợi khí sắc bén có thể lợi dụng để thực hiện mục đích cải tạo xã hội mà thôi. Mục
đích “cải tạo xã hội” khiến tiểu thuyết Lỗ Tấn không chỉ là biểu hiện của cái
“chủ nghĩa khải mông” giống như Voltaire và Rousseau của phương Tây thế kỷ
XVIII, mà còn là biểu hiện của cái truyền thống gắn bó hữu cơ giữa “văn” và “đạo”
trong văn học Trung Quốc.
Đặt tên tác phẩm
Sáng tác vì mục đích cải
tạo xã hội nên Lỗ Tấn “hết sức tránh hành văn lôi thôi, nếu thấy đủ truyền đạt
ý tứ của mình cho kẻ khác rồi thì thôi, không cần thêm thắt, kéo dài nữa” [4,
tr.541].
Ông có những truyện ngắn
mà ngay từ cách đặt tên truyện đã bao hàm ý nghĩa tư tưởng chủ đề, ý nghĩa đó sẽ
dần được thể hiện một cách nhất quán trong toàn thiên truyện, như AQ
chính truyện (阿Q正傳), Thuốc (药
Dược), Lễ cầu phúc (祝福Chúc
phúc)…
Qua lời “Tựa” (chương 1),
có thể thấy chữ “chính truyện” trong nhan đề AQ chính truyện vừa
nói được tính nghiêm túc của vấn đề số phận nông dân mà tác giả muốn đặt ra, vừa
góp phần làm nổi bật thái độ châm biếm của ông đối với sự mâu thuẫn giữa thực
chất vô danh tiểu tốt với cái “phương pháp thắng lợi tinh thần” ở nhân vật
chính của tác phẩm này. Cần phải lưu ý chữ “阿”
(phiên âm Hán Việt hay bính âm đều đọc như chữ “a” trong tiếng Việt) trong
nguyên tác không đơn giản chỉ là một ký hiệu A vô nghĩa như chữ Q đặt sau nó,
mà nó “là tiếng người Trung Quốc dùng để gọi một người nào, khi không cần gọi họ,
nhất là những người dưới mình” [4, tr.11]. Còn chữ “Q” (bính âm đọc là “qiu”, đọc
như chữ “xiu” trong tiếng Việt), thực ra chẳng liên quan gì đến cái cách mà
làng Mùi gọi nhân vật này (bính âm: “gui”, đọc gần như “quây” trong tiếng Việt
– gồm hai chữ Hán đồng âm: “桂”
và “貴”, phiên âm Hán Việt là
“quế” và “quý”). Nếu chỉ nhìn vào văn bản dịch mà cho rằng AQ là một cái tên
kép, nguyên khối, là đã làm nghèo nàn ý nghĩa của việc đặt tên tác phẩm và nhân
vật ở đây.
Với tác phẩm Thuốc
(药), nhan
đề trực tiếp đặt vấn đề tìm phương thuốc cho những căn bệnh khác nhau của các
nhân vật trong tác phẩm này: thuốc chữa bệnh lao cho thằng Thuyên, thuốc chữa bệnh
tinh thần (u mê lạc hậu, thiếu giác ngộ, lấy nỗi bất hạnh của người khác làm niềm
vui của mình…) cho người dân, thuốc chữa bệnh xa rời quần chúng cho những người
cách mạng Tân Hợi như Hạ Du…
Lễ cầu phúc (祝福) cũng là một cái
nhan đề chứa đựng nhiều hàm nghĩa. Chữ “chúc phúc” có nghĩa thứ nhất là “cầu
chúc” (động từ), và nghĩa thứ hai là “lễ cầu phúc” (danh từ). Trong đó có cả cầu
cho mình và cả chúc cho người, có cả cái ước nguyện mong muốn trong lòng và cả
cái việc thể hiện ra bên ngoài bằng hành động (cung tiến, sửa soạn lễ vật…), có
cả quá trình làm việc lâu dài để cầu phúc cho mình sau khi chết đi với những
câu hỏi day dứt chưa nhận được sự trả lời thỏa đáng của thím Tường Lâm, và cả
cái không khí rộn ràng làm lễ cầu phúc những ngày cuối năm âm lịch của vợ chồng
chú Tư và những người dân ở Lỗ Trấn.
Có thể nói, từ cách đặt
tên truyện, Lỗ Tấn đã kế thừa một cách tự nhiên đặc điểm cô đọng, hàm súc, biểu
hiện rõ ràng tư tưởng chủ đề, đôi khi là cả nội dung bao biếm từ tản văn và sử
truyện truyền thống trong sáng tác truyện ngắn của ông.
Đặt tên và miêu tả nhân vật
Thế giới nhân vật trong
truyện ngắn Lỗ Tấn khá phong phú, nhưng chủ yếu là “những người bất hạnh trong
xã hội bệnh tật”, như ông tự nhận xét. Có nhân vật có tên, như Nhuận Thổ,
Phương Huyền Xước, Tử Quyên, Tư Thiền… Có nhân vật không tên như “anh đầu
vuông”, “anh trán rộng”… Có nhân vật mà đối với văn hóa Trung Quốc thực sự là hết
sức xa lạ, chỉ là một ký tự la-tinh, thứ ký hiệu vô hồn như Q, D… Một số nhân vật
có tên kèm theo biệt hiệu như “cậu Năm gù”, “lão Nghĩa mắt cá chép”, “Vương sẹo
xồm – Vương râu xồm”, “Cao phu tử”, hoặc chỉ là biệt hiệu như “nàng Tây Thi đậu
phụ – mụ Com pa”, “lão Tây giả”… Có nhân vật có tên trùng với tên tác phẩm, mới
nhìn tưởng là tên họ đầy đủ nhưng khi đi vào nội dung truyện mới biết thực ra
đó cũng là biệt hiệu như Khổng Ất Kỷ. Loại nhân vật có biệt hiệu dựa trên đặc
điểm nhân dạng như “Năm gù”, “Nghĩa mắt cá chép”, “Vương râu xồm”, “nàng Tây
Thi đậu phụ” – “mụ com-pa”… tạo nên sắc thái đa dạng, dễ nhận biết, đồng thời
thể hiện được cách nhìn, cách cảm đối với nhân vật của người bình dân, thường
thấy trong khẩu ngữ. Còn loại có biệt hiệu dựa trên chữ nghĩa sách vở, như “Khổng
Ất Kỷ” (rút từ những câu được viết trên các thiếp đồ, đã có từ lâu – muộn nhất
là đời Minh: “Thượng đại nhân, Khổng Ất Kỷ, Hóa tam thiên, Thất thập sĩ…”) [3,
tr.49], hay chữ “phu tử” trong “Cao Phu tử” (xưa dùng để chỉ thầy, học giả)…
thì rõ ràng là chứa đựng ý nghĩa châm biếm cái lỗi thời, lố bịch ở các nhân vật
chịu ảnh hưởng nặng nề của thứ văn hóa Nho giáo thủ cựu này.
Việc miêu tả nhân vật
trong truyện ngắn Lỗ Tấn thường theo lối “truyền thần”, vốn là nét đặc sắc của
nghệ thuật, đặc biệt là hội họa truyền thống Trung Quốc. Kinh Dịch, phần “Hệ từ”
viết: “Thần dã giả, diệu vạn vật nhi vi ngôn giả dã”, nghĩa là biểu đạt cái áo
diệu (vi diệu) của vạn vật bằng ngôn ngữ, thì gọi là “thần” (dẫn theo [6,
tr.138-139]). Tô Đông Pha, trong sáng tác, rất chú trọng vấn đề “truyền thần”
có lời bàn như sau: “Truyền thần cũng giống như cách xem tướng, muốn nắm bắt được
bản chất của người nào, về nguyên tắc là phải ngầm quan sát họ giữa đám đông…
Phàm cái thần (ý tứ) của con người ta, ai cũng có chỗ biểu hiện (sở tại) của
nó, hoặc ở mắt mi, hoặc ở mũi mồm. Hổ Đầu (Cố Khởi Chi) nói: Trên má vẽ thêm ba
sợi râu, thần thái nổi rõ lên ngay, và cái thần (ý tứ) của người ấy có lẽ ở khoảng
giữa râu và má vậy. Ưu Mạnh đóng giả Tôn Thúc Ngao từ cách chống tay cười nói,
giống quá đến nỗi mọi người ngỡ là người chết sống lại. Điều ấy có phải là toàn
bộ cơ thể giống cả đâu, mà là nắm bắt được cái thần (ý tứ) của Tôn Thúc Ngao mà
thôi” (dẫn theo [6, tr.137-138]). Người Trung Quốc có thành ngữ “畫 龍 點 睛”
(Họa long điểm tinh – Điểm mắt tranh (vẽ) rồng) [5, tr.404], cũng hàm ý đề cao
giá trị của phương pháp “truyền thần” này.
Lỗ Tấn tỏ ra tâm đắc với
phương pháp của người xưa: “Không nhớ ai nói nữa, đại khái là, muốn vẽ một con
người mà hết sức tiết kiệm đường nét, thì hay nhất là vẽ hai con mắt. Tôi cho rất
đúng. Nếu vẽ cả bộ tóc, thì dù tinh tế như thật, cũng chẳng có ý nghĩa gì. Tôi
thường học theo phương pháp đó, tiếc rằng học chưa ra trò” [4, tr.542]. Dù “học
chưa ra trò”, nhưng trên thực tế, ông đã khá thành công trong việc vận dụng
phương pháp truyền thần đó. Tất nhiên nếu không không phải “vẽ hai con mắt”,
thì cái mà ông vẽ, dù chỉ cần vài nét chấm phá, cũng phải là cái đặc điểm làm
cho nhân vật trở nên sinh động, độc đáo. Chẳng hạn, trong truyện ngắn Thuốc,
qua con mắt của lão Thuyên, người bán “thuốc” cho lão là “Một người áo quần đen
ngòm đứng trước mặt lão, mắt sắc như hai lưỡi dao chọc thẳng vào lão làm lão co
rúm lại. Hắn xòe về phía lão một bàn tay to tướng, tay kia cầm một chiếc bánh
bao nhuốm máu, đỏ tươi, máu còn nhỏ từng giọt, từng giọt” [3, tr.58-59]. Đó là
ánh mắt, bàn tay của kẻ đã trơ lì cảm xúc, không còn tình người, coi máu của tử
tù như của quý hiếm để “tiền trao cháo múc”. Khi Cả Khang mới vào quán nhà lão
Thuyên sau cuộc mua bán, tác giả cũng không nói tên bác ta ngay, mà mở đầu bằng
hình ảnh “một người mặt thịt ngang phè từ ngoài đâm sầm vào… Vừa vào, đã nói
oang oang”. Hình ảnh cái “người mặt thịt ngang phè” luôn có giọng “nói oang
oang” ấy được lặp lại nhiều lần cùng với việc bác hào hứng kể công, làm như ban
ơn cho nhà lão Thuyên vì đã bán cho lão cái bánh bao tẩm máu người “lấy về còn
nóng hôi hổi, và ăn cũng còn nóng hôi hổi”, “cam đoan thế nào cũng khỏi”… ấy. Để
cho bác say sưa “giương cổ” khoe công trạng xong xuôi, tác giả mới cho biết cái
tên Cả Khang, trước khi bác ta “cao hứng nói càng to” một chặp nữa về nhân vật
Hạ Du vì “thấy mọi người vểnh tai nghe lấy làm thú lắm” [3, tr.62-63]. Hay nhân
vật AQ trong AQ chính truyện, sau vụ vú Ngò nghĩ mình bị mất việc vì “thằng
nhãi con” (cu D), “tức điên lên”, “trong lúc hằm hằm rảo bước, y bỗng giơ cánh
tay lên, miệng hát: Ngã thủ chấp (i i i) cương (i) tiên cương (i i i) nỉ đả !”
[3, tr.117]. Khi có ý định “đi đầu hàng cách mạng”, “rồi chả biết thế quái nào
mà bỗng y đã tưởng tượng ngay rằng y là người cách mạng, và cả bọn dân làng Mùi
đã thành “tù binh” của y cả rồi !”, “thích chí vô hạn” [3, tr.131], y cũng hát
lên những câu tương tự. Những câu hát này đều dẫn trong hý kịch Long hổ đấu phổ
biến ở vùng Thiệu Hưng đương thời [7], thực sự có ý nghĩa cá biệt hóa tính cách
nhân vật điển hình AQ. Nó vừa tô đậm được trạng thái tinh thần phấn khích của một
kẻ đang say sưa với thắng lợi trong tưởng tượng, vừa nói lên được sức hấp dẫn của
hý kịch đối với y và với dân chúng (phần lớn mù chữ) trong môi trường văn hóa
đơn điệu nghèo nàn ở nông thôn Trung Quốc đương thời.
Sử dụng những từ ngữ,
hình ảnh quen thuộc mang tính biểu tượng
Biểu tượng (symbol) là một
hình ảnh, hình tượng, hay một dấu hiệu của sự vật có thể tri giác được, được
quy ước để biểu đạt một nội dung ý nghĩa nào đó bên ngoài nó. Khác với loại tín
hiệu đơn nhất, cố định về nghĩa, trung tính về sắc thái tình cảm (như biển báo
giao thông), biểu tượng văn hóa có khả năng “co giãn”, mở rộng hoặc thu hẹp
nghĩa tùy theo hoàn cảnh và quy ước của cộng đồng, và luôn gắn với tình cảm, cảm
xúc. Hình tượng văn học cũng có thể trở thành biểu tượng văn hóa, một khi nó được
trừu tượng hóa đi, chỉ giữ lại nét đặc trưng nổi bật nào đó để chỉ chung cho loại
mà nó đại diện. Ví dụ trong dân gian hiện nay, Chí Phèo đã trở thành biểu tượng
của tính hay ăn vạ, Thị Nở trở thành biểu tượng của cái xấu… mặc dù hình tượng
Chí Phèo, Thị Nở trọn vẹn không đơn giản chỉ có như vậy. Truyện ngắn Lỗ Tấn có
nhiều từ ngữ, hình ảnh mang tính biểu tượng. Có thể dẫn ra nhiều trường hợp thú
vị.
– Từ “lang sói” được dùng
để đặt tên đất (thôn Lang Sói), hình ảnh chó sói xuất hiện trong nhiều tác phẩm,
hình ảnh ánh mắt chó sói mà AQ hồi tưởng khi nhìn thấy “những cặp mắt ghê tởm
hơn thế, ghê tởm như chưa bao giờ ghê tởm bằng, vừa lừ lừ, vừa sắc bén, gần mà
như xa, theo riết y, không những nuốt chửng lời nói của y mà chực cấu xé thân
hình y” của đám người đi xem người ta hành hình y… Tất cả đều tập trung thể hiện
cái man rợ, độc ác của thứ văn hóa “ăn thịt người” mà Lỗ Tấn lên án (Nhật ký người
điên, AQ chính truyện, Lễ cầu phúc).
– Hình ảnh “cái bánh
bao”: Bánh bao vốn “là một loại bánh làm bằng bột mỳ có nhân và hấp trong ẩm thực
Trung Hoa. Nó giống với loại bánh màn thầu truyền thống của Trung Quốc. Nhân
bánh bao được làm bằng thịt và/hoặc rau. Bánh bao thường được dùng bất cứ bữa
ăn nào trong ngày trong văn hóa Trung Hoa, và thường được người Trung Quốc dùng
làm món ăn bữa sáng” [1]. Nhưng trong truyện ngắn Lỗ Tấn, nó không còn ý nghĩa
một món ăn thông thường và phổ biến như thế nữa, mà đã trở thành biểu tượng của
“thuốc độc”, sản phẩm của căn bệnh mê tín, ngu muội của dân chúng Trung Quốc
trong trường kỳ lịch sử chế độ phong kiến chuyên chế (Thuốc).
– Hình ảnh “áo cộc” (chỉ
hạng khách bình dân, người lao động nghèo) đối lập với “áo dài” (chỉ hạng khách
sang, những kẻ lắm tiền, nhàn rỗi) (Khổng Ất Kỷ). Khổng Ất Kỷ là người độc nhất
mặc áo dài mà lại đứng trước quày uống rượu (chỗ đứng của “bạn áo cộc”). Sự khập
khiễng giữa trang phục và chỗ đứng ấy góp phần làm nổi bật mâu thuẫn mang tính
bi hài, đáng thương ở nhân vật này.
– Những vết sẹo trên đầu
AQ, Tường Lâm, trên mặt Khổng Ất Kỷ… trở thành dấu hiệu nổi bật về một loại
nhân vật nạn nhân của chế độ phong kiến tàn bạo và mục ruỗng (Lê Nguyên Cẩn gọi
là kiểu nhân vật dị dạng). Những lời giễu nhại lối văn cử tử, những hư từ chi hồ
giả dã được sử dụng khi khắc họa chân dung loại nhân vật trí thức phong kiến lỗi
thời làm nổi bật hàm ý châm biếm.
3- Kết luận:
Truyện ngắn Lỗ Tấn in đậm
dấu ấn văn hóa Trung Quốc. Cái làm nên giá trị, sức hấp dẫn của truyện ngắn Lỗ
Tấn không phải chỉ là việc tiếp thu có chọn lọc các “kỹ thuật” truyện ngắn nước
ngoài, mà chủ yếu là dấu ấn văn hóa, trong đó có nghệ thuật tự sự truyền thống
Trung Quốc, biểu hiện trên nhiều phương diện: lý do và mục đích sáng tác, đặt
tên tác phẩm, đặt tên và miêu tả nhân vật, sử dụng từ ngữ, hình ảnh quen thuộc
mang tính biểu tượng. Muốn giải mã đúng và sâu truyện ngắn của Lỗ Tấn, không thể
không quan tâm đúng mức những biểu hiện này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bánh bao.
Nguồn: https://vi.wikipedia.org/.
2. Trần Lê Bảo (Biên soạn và
tuyển chọn) (2002), Lỗ Tấn Thân thế – Sự nghiệp – Những sáng tác tiêu
biểu, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.
3. Lỗ Tấn (1976), Truyện ngắn
tuyển tập, Trương Chính dịch và giới thiệu, Nxb Văn học, Hà
Nội.
4. Lỗ Tấn (1998), Tạp văn,
Trương Chính dịch và giới thiệu, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
5. Nguyễn Kim Thản chủ biên (1996), Từ
điển Hán – Việt hiện đại (Tái bản có bổ sung và sửa chữa), Nxb Thế giới.
6. Khâu Chấn Thanh (1994), Lý
luận văn học, nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, Mai Xuân Hải dịch, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
7. 阿Q正傳. Nguồn:
http://www.xys.org/.
7/1/2024
Trịnh Đình Hà
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Theo một lịch sử trốn lính trong tiểu thuyết "Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín"
Theo một lịch sử trốn
lính trong tiểu thuyết
"Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín"
Tiểu thuyết “Từ giờ thứ
sáu đến giờ thứ chín” của nhà văn Nguyễn Một (NXB Hội Nhà văn, 2023) là sự quy
chiếu vào bản thân nó, cả trong cách viết và trong các cách đọc khả thể, rất
nhiều văn bản.
Ngay cái nhan đề của tiểu
thuyết đã là một liên văn bản, liên văn bản quan trọng nhất, theo cách trích dẫn
trực tiếp Kinh Thánh mà nhà văn đặt ở những dòng cuối cùng của tác phẩm: “Lúc
đó vào khoảng giờ thứ sáu, tối tăm liền bao trùm cả mặt đất cho đến giờ thứ
chín. Mặt trời trở nên u ám, màn trong đền thờ bị xé ra làm đôi ngay chính giữa”
(Kinh Thánh Lc 23, 1 – 49). Cái khoảng thời gian tối tăm trường dạ từ giờ thứ
sáu đến giờ thứ chín ấy, chính là biểu tượng của thời gian hủy diệt. Và sự hủy
diệt mà Kinh Thánh tiên tri ấy, có thể nói như vậy, đã được Nguyễn Một tìm thấy
hồi đáp từ những hình ảnh đau thương điêu tàn trên quê hương đất nước mình, từ
những gia đình và những cuộc đời bị vùi dập tan nát của đồng bào mình trong cuộc
chiến dai dẳng nhất thế kỷ XX, cuộc chiến mà báo chí phương Tây vẫn thường gọi
là chiến tranh Việt Nam.
“Từ giờ thứ sáu đến giờ
thứ chín” là một tiểu thuyết chiến tranh. Nguyễn Một đã kiến thiết sự “viết chiến
tranh” của mình chủ yếu dựa trên cái trục là cuộc chạy trốn của nhân vật chính,
một chàng trai mới lớn người xứ Quảng tên Sơn, Trần Viết Sơn. Để trốn phải đi
lính, trốn phải cầm súng chiến đấu cho cả quân lực Việt Nam cộng hòa lẫn quân đội
của Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam, từ quê hương Quảng Nam, Sơn đã chạy
đến Thủ Biên, thị xã ven đô Sài Gòn. Từ Thủ Biên, Sơn chạy tiếp vào Tây Ninh. Từ
Tây Ninh, Sơn quay trở lại Thủ Biên rồi chạy đến Sài Gòn và kết thúc cuộc chạy
trốn đúng lúc chính quyền Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ. Chính từ việc dựng lên cái
lịch sử trốn lính kéo dài vài năm với đầy những vòng vo này, Nguyễn Một đã tạo
được một “viết chiến tranh” rất riêng và ít thấy ở các nhà văn khác. Ví như Bảo
Ninh với tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”, hay Vĩnh Quyền với tiểu thuyết “Mảnh
vỡ của mảnh vỡ”, chẳng hạn: hai tác giả này, cũng như nhiều người khác nữa, chỉ
có thể nói được điều gì đó về chiến tranh bằng cách tung nhân vật của mình vào
chiến tranh, đẩy họ ra chiến trường, bắt họ cầm súng chiến đấu cho phía bên này
hoặc phía bên kia. Còn Nguyễn Một lại nỗ lực để nhân vật chính không can dự chiến
tranh, và từ cái tình thế không can dự nhưng vẫn bị chiến tranh làm cho khốc hại
của chàng trai Trần Viết Sơn, nhà văn đã bộc lộ những hình dung ngổn ngang và sự
suy ngẫm nhức nhối của mình về cuộc chiến. Hoặc có thể nói, ông cố gắng tìm kiếm
những đáp án cho một câu hỏi: chiến tranh là gì?
Chiến tranh là tàn sát,
là hủy diệt cuộc sống ở mọi cấp độ. Từ cuộc sống bình yên của các làng mạc, các
gia đình đến sự sống ở trên đời của mỗi cá nhân; từ tình yêu đầy thơ mộng của
những lứa đôi đầu xanh tuổi trẻ đến ước mơ tươi sáng về những con đường phía
trước của một lớp người lớn lên trong thời chiến, tất cả đều bị chiến tranh
chém phập xuống, đứt lìa, hoặc cho nổ tung, vỡ vụn. “Mỗi lòng người một lý lẽ
bất an/ Mỗi cái chết có một hình thức khác…”, thi sỹ miền Nam Nguyễn Tất
Nhiên từng viết những câu thơ như vậy. Nhưng trong tiểu thuyết của Nguyễn Một
thì tuyệt đại đa số các cái chết đều chỉ có một hình thức, đó là chết vì bom đạn.
Bom đạn do quân lính hai bên nã vào nhau trong các trận đánh. Nhưng pháo rớt và
đạn bay vu vơ, không biết của bên nào, gây nên những cái chết oan khuất bất
thình lình của dân thường, cũng có. Đạn bắn ra để trừng phạt hoặc trả thù những
người bị coi là “chiêu hồi”, “chỉ điểm” với bên này, hay “che giấu, tiếp tay
cho Việt cộng” với bên kia, cũng có. Duy nhất chết sung sướng ở tiểu thuyết này
có lẽ chỉ có một người, được nhắc tới khi hồi ức xa xôi dội về, đó là cái chết
của ông tú Mại, cụ tổ họ Trần Viết của Sơn: chết gục trên chiếu xóc đĩa ngay
khi vừa thua tiếng bạc mất trắng cả ruộng vườn lẫn cô vợ bé xinh đẹp.
Sự sống của tình yêu tuổi
trẻ trong chiến tranh cũng mong manh chẳng kém gì mạng người trước bom đạn. Mối
tình học trò của Sơn và Diễm – bản thân hai cái tên này đã làm thành liên văn bản
với một văn bản “kinh điển” của văn hóa xã hội miền Nam suốt những năm 1960, đầu
những năm 1970: nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với tình khúc mê đắm trong “Diễm tuyệt
hư ảo của những ngày xưa” bất hủ – là như thế. Mối tình của Tâm, sỹ quan quân lực
Việt Nam cộng hòa, anh trai của Diễm, với Trang, cũng là như thế. Những tình
nhân ấy đã yêu nhau đắm đuối mà không ngờ rằng: “Mỗi đắm đuối chứa một mầm
gian ác/ Mỗi đời tình có một thú chia tay…” (thơ Nguyễn Tất Nhiên). Những
tình nhân ấy đã không có được nhau trọn vẹn, và những gì mà rốt cuộc họ có được
với nhau thì đều phải trả giá bằng một tuổi trẻ đầy nước mắt, bằng những quăng
quật bầm dập với đời, bằng những cú đòn chí mạng mà chiến tranh và những dư chấn
quá nặng nề của nó giáng xuống trên thân thể và trong tâm hồn họ. Riêng với mối
tình của Sơn và Diễm, dường như Nguyễn Một đã dựng lên bằng toàn bộ sức mạnh của
phẩm tính lãng mạn trong mình. Ông ướp đôi tình nhân trong những làn gió mát của
sông Đồng Nai, trong tiếng chuông và tiếng kinh cầu của ngôi nhà thờ cổ, và nhất
là trong hương hoa bưởi nồng nàn mà thanh khiết của đất Thủ Biên. Chính cái mùi
hương ấy đã lưu giữ những ký ức đẹp đẽ trong Sơn, để về sau này, trước khi tiểu
thuyết khép lại, nó trở nên hóa thiêng với anh. “Sự hóa thiêng của nỗi buồn
sương khói”, hay là sự thanh lọc tâm hồn sau bao mất mát, bao biến động mà chiến
tranh đã tạo trên đời người.
Chiến tranh là vô lý, vô
nghĩa và đầy những lọc lừa, dối trá. Trong chiến tranh Việt Nam, tuy không nhiều,
nhưng cũng không quá hiếm những trường hợp mà cha con hoặc anh em trong một gia
đình mỗi người lại cầm súng chiến đấu cho một bên. Những oái oăm này từng được
nói đến trong tiểu thuyết “Mảnh vỡ của mảnh vỡ” của nhà văn Vĩnh Quyền, hay
truyện vừa “Nhiệt đới gió mùa” của nhà văn Lê Minh Khuê. Và ở tiểu thuyết “Từ
giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của Nguyễn Một, nó ứng ngay vào gia đình Sơn: bốn
anh trai của anh, thì hai người theo cộng sản, hai người theo cộng hòa. Và dù về
bản chất chỉ là những người nông dân ngẫu nhiên bị cuốn vào sự đối kháng chứ
không phải theo tự do lựa chọn của lý trí, bốn người họ cũng đã nã đạn vào nhau
trong một trận đánh lúc nửa đêm. Kết cục thật bi thảm, cái bi thảm của sự vô
nghĩa: hai người lính Việt Nam cộng hòa đã thành tử sỹ “tận nghĩa với quốc
gia”, một chiến sỹ quân giải phóng thành liệt sĩ “hy sinh vì tổ quốc”; chiến sỹ
còn lại thì, như sau này anh tự tiết lộ với Sơn, đã bị mảnh đạn cắt phăng bộ phận
sinh dục. Điều kỳ lạ là cái kết cục bi thảm vô nghĩa, cái ngày tàn nghiệt ấy đã
được người cha của họ, ông Ruộng, dự đoán ngay từ khi bốn đứa con rẽ theo hai
phe đối địch. Chính vì thế mà ông ra lệnh, và đã sắp xếp để Sơn, thằng út, bằng
mọi giá phải chạy trốn, có chết cũng không cầm súng chiến đấu cho bên nào. Một
lịch sử trốn lính được bắt đầu như thế.
Nhân vật ông Ruộng, có thể
nói, là hiện thể cho nhận thức của Nguyễn Một về sự tỉnh táo, trải đời của người
nông dân, nhất là người nông dân xứ Quảng, cái mảnh đất mà bên này bên kia cứ
ngày đêm cài vào nhau như răng lược, và bên nào cũng có lý lẽ cho quyền được xả
súng giết chết kẻ địch của mình. Đọc “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” ta sẽ thấy
ông Ruộng cứng cỏi đến thế nào khi bẻ gãy những nỗ lực thuyết phục của anh con
trai cả, chiến sỹ quân giải phóng, khi anh xin cha cho Sơn “theo anh em vào rừng”.
Và cũng trong tiểu thuyết này, với một nhân vật gốc nông dân xứ Quảng khác –
ông Trần Văn Duy, thiếu tá tiếp vụ của quân lực Việt Nam cộng hòa, anh em kết
nghĩa của ông Ruộng – cái tinh thần cứng cỏi ấy còn trở nên thẳng tuột đến phũ
phàng. Ấy là khi ông Duy phủ nhận lý tưởng “chiến đấu cho miền Nam Việt Nam tự
do” của Tâm, con trai ông: “Chiến tranh là gian trá mà. Dân tộc ngu ngốc mới để
chiến tranh xảy ra. Chiến đấu cái gì, quê hương cái gì? Vô nghĩa hết. Sự sống
quan trọng nhất!”. Sau này, khi nhà văn mượn lời nhân vật Hùng Hippie kể với
Sơn: ông Duy vốn làm giàu bằng việc lợi dụng chức vụ để tuồn hàng viện trợ của
Mỹ bán cho “những người ở trong rừng”, thì cái quan điểm “chiến tranh là gian
trá” mà ông nói ra miệng ấy, vô tình đã tạo thành liên văn bản với một mảng rất
rộng các quan điểm tương tự trong văn chương thế giới. Ví như văn hào Pháp
Anatole France, với kết luận thản nhiên: “Chiến tranh là một cú áp-phe lớn”.
Hay nhà văn Mỹ Joseph Heller, với nhân vật gã sỹ quan hậu cần Milo trong tiểu
thuyết “Bẫy 22” nổi tiếng, kẻ chuyên chỉ đạo những chuyến buôn liên lục địa bằng
đội máy bay chiến đấu, kẻ sẵn sàng ném bom quân mình và làm ăn với quân địch,
miễn là có lời.
“Viết chiến tranh” của
Nguyễn Một trong tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” là một cái viết
mang đậm âm hưởng bi, song cũng có những lúc hài. Cái hài ẩn lẫn trong cái bi.
Đó là khi Sơn, trong cuộc chạy trốn lệnh tổng động viên bắt lính của chính quyền
Việt Nam cộng hòa đã từ thị xã Thủ Biên vào đất Tây Ninh, bị quân giải phóng bắt,
và sau ba tháng huấn luyện trong rừng anh chuẩn bị được bổ sung vào trung đoàn
bộ binh Đông Nam bộ thuộc Trung ương cục miền Nam. Trốn thoát được quân giải
phóng, Sơn lại bị cảnh sát Việt Nam cộng hòa bắt khi anh chạy vào Sài Gòn tá
túc tại phòng trọ của một người bạn cũ, Hoàng thi sỹ, với tội danh tham gia biểu
tình chống chế độ, dù anh chẳng liên quan gì đến việc này. Nỗi trớ trêu đầy hài
hước của một người anh hùng nhất định không cầm súng, không chọn phe trong thời
chiến có thể là như thế. Và nó càng trở nên trớ trêu và hài hước hơn khi về
sau, chỉ cần bằng một lời khai bịa đặt, thì cái quá khứ giải phóng quân và sinh
viên biểu tình chống chế độ Sài Gòn lại là điểm cộng để Sơn được thăng tiến
nhanh chóng trong chế độ mới. Ở phương diện này, có lẽ Nguyễn Một là một trong
số rất ít nhà văn Việt Nam đã bóc trần được cái yếu tính gian trá mập mờ, trắng
đen bất định của chiến tranh. Và không chỉ trong thời chiến, nó còn lan sang cả
thời hậu chiến, như một hệ lụy tất yếu trên đất nước mà con người đã phải gồng
mình chịu đựng biết bao đau thương vì đạn bom và chia cắt.
Bình luận về tiểu thuyết
“Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của Nguyễn Một, nhiều người cho rằng ông đã từ
bỏ lối viết hiện thực huyền ảo – như từng thể hiện ở hai tiểu thuyết “Đất trời
vần vũ” và “Ngược mặt trời” trước đó – để viết một tác phẩm hoàn toàn hiện thực,
trần trụi hiện thực. Tuy nhiên từ “Đất trời vần vũ” và “Ngược mặt trời” đến “Từ
giờ thứ sáu đến giờ thứ chín”, có một yếu tố mà Nguyễn Một luôn kiên định, thậm
chí nhấn mạnh như một niềm tin xác quyết, đó là khả năng nhìn thấu và xoa dịu
những nỗi đau con người của tư tưởng Thiên Chúa giáo. Có thể nói, tư tưởng
Thiên Chúa giáo đã thấm ở phần lõi của cuốn tiểu thuyết chiến tranh buồn này.
Nó đọng lại ở nhiều hình ảnh, nhiều phát ngôn, mà sâu sắc nhất, có lẽ là lời
than trách mang chức năng cắt nghĩa đến nguyên ủy chiến tranh của nhân vật bà
xơ/ dì Thục Hạnh: “Con người chúng ta đã đuổi Chúa ra khỏi cuộc đời. Chúng ta đọc
báo hàng ngày, nhưng mấy ai đọc Kinh Thánh. Chúng ta nghe lời những nhà chính
trị mà vì tham vọng đẩy mọi người vào cuộc chiến, chứ mấy ai nghe lời Chúa:
“Hãy yêu người như yêu mình ta vậy”, chúng ta đòi hỏi phải để chúng ta tự quyết
về cuộc đời của mình như con cái đòi rời bỏ cha mẹ, nhưng khi gặp khổ đau thì
gào lên trách cha mắng mẹ”.
Không gian chiến tranh
trong tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” nằm trọn ở Nam phần của đất
nước thời kỳ còn chia cắt hai miền. Trong không gian chiến tranh ấy, Nguyễn Một
đã nỗ lực tái hiện và tái kiến tạo diện mạo đời sống xã hội một thời. Ngoài bom
đạn, chết chóc, ly tán, trốn chạy, trong không gian chiến tranh ấy, nhà văn vẫn
chừa chỗ, rất rộng, cho thơ và nhạc của hai mươi năm văn nghệ miền Nam Việt
Nam, như một sự quy chiếu liên văn bản giàu tính thẩm mỹ. Rải suốt tác phẩm là
những trích dẫn thơ của Nguyên Sa, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn…, những ca
từ trong nhạc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Nhật
Ngân, Đinh Miên Vũ… Tất cả vang lên, khi thì như sự tương hỗ, có lúc lại như tiếng
đồng vọng với hoàn cảnh hoặc nỗi niềm của con người thời chiến. Hoặc, từ một
phía khác, có thể xem đó như phần nhạc nền đầy ấn tượng của “Từ giờ thứ sáu đến
giờ thứ chín”, một tiểu thuyết chiến tranh xuất sắc của văn chương Việt Nam
trong khoảng hai mươi lăm năm đầu thế kỷ XXI.
7/1/2024
Hoài Nam
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Mọi chuyện bắt đầu từ một bài thơ của Trần Dần
Mọi chuyện bắt đầu từ
một
bài thơ của Trần Dần
Hồi ức của nhà thơ Hà Nhật
– Lương Duy Cán: Hóa ra trong cái buổi gọi là phê bình văn học nghệ thuật hôm ấy,
người ta đã đánh tới tấp cả tập sách Giai phẩm Mùa Xuân, quyết liệt
cứ như đánh một tập đoàn những quân phản động! Hầu như ai cũng phải lên tiếng,
tìm cho ra chỗ để kết tội.
Tháng 7.1954, đang là học
sinh lớp Đệ Tam ở Trường Trung học Chuyên khoa Khải Định, cũng đang chuẩn bị
vào Huế tựu trường (tôi đã được đề nghị cấp học bổng), tôi bỗng quyết định: ở lại
Quảng Bình, nghĩa là ở lại phần đất sắp trở thành Miền Bắc.
Với tâm hồn của chàng
trai 17 đầy lãng mạn, tôi thấy mình đã có một sự lựa chọn đẹp. Cuộc kháng chiến
là một cái gì thật tuyệt vời, những con người trở về từ cuộc Kháng chiến như là
tượng trưng cho cái đẹp.
Thế rồi, tôi phải đi dự
những buổi đấu tố, những lần chứng kiến “những tên địa chủ gian ác” đổ gục ngay
trước mắt mình. Một cái gì đó đang bắt đầu vỡ ra.
May mà ngay từ đầu năm
1955, tôi đã ra Hà Nội. Tôi tiếp tục việc học hành. Rồi đến đầu năm 1956, tôi
đang học lớp Đệ Nhất, chuẩn bị dự kỳ thi Tú tài cuối cùng của Miền Bắc. Tôi đã
đỗ Tú tài Toán, nhưng sau đó lại vào Đại học ở một cái khoa trớ trêu, bắt đầu mọi
khốn khổ cực nhọc cho đời mình: Khoa Văn!
Còn nhớ cái buổi học chiều
đầu tiên sau Tết năm 1956 ấy. Thầy Trương Tửu bước vào lớp với dáng vẻ khá xúc
động. Ngày ấy, thầy Tửu là thần tượng của tất cả chúng tôi. Riêng với tôi, ở gần
nhà (nhà thầy số 53, tôi ở số 10 phố Hàng Gà) nên càng cảm thấy vinh dự.
Thầy kể cho cả lớp biết một
sự việc quan trọng: hôm qua thầy vừa dự một cuộc họp để trao đổi về một hiện tượng
văn học bất ngờ. Đó là một tập sách có tên là: Giai phẩm Mùa Xuân.
Đây là một tập hợp gồm truyện, tiểu luận, phê bình, thơ, tranh… được phát
hành bởi một nhà xuất bản tư nhân có tên là Minh Đức, mà chủ nhân tên là Trần
Thiếu Bảo. Sau này thì các báo gọi ông này là Trần Thiếu … bảo đảm. Người viết
toàn lã những tên tuổi “ghê gớm” những ngày này: Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường,
Lê Đạt, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Phùng Quán, Nguyễn Sáng, Sỹ
Ngọc, Đặng Đình Hưng…
Hóa ra trong cái buổi gọi
là phê bình văn học nghệ thuật hôm ấy, người ta đã đánh tới tấp cả tập sách
Giai phẩm Mùa Xuân, quyết liệt cứ như đánh một tập đoàn những quân phản động! Hầu
như ai cũng phải lên tiếng, tìm cho ra chỗ để kết tội. Phải kết tội được kẻ xấu
mới chứng tỏ được mình là người tốt chứ! Không thể đánh mất ý thức cách mạng,
tinh thần cảnh giác cách mạng!
Tuy nhiên, cái đinh trong
buổi kết tội này chính là một bài thơ của Trần Dần: “Nhất định thắng”!
Đến nay, ngồi đọc lại,
tôi cũng không hiểu vì sao bài thơ này đã bị quăng quật đến như vậy. Bài thơ
tuy có những ý buồn, những câu buồn, nhưng vẫn khẳng định niềm tin lạc quan vào
tương lai kia mà! Tên của bài thơ còn là “Nhất định thắng” kia mà!
Bài thơ có những đoạn tâm
sự tuy buồn nhưng rất đáng yêu:
“Tôi ở phố Sinh Từ:/ Hai
người/ Một gian nhà chật./ Rất yêu nhau, sao cuộc sống không vui?/ Tổ Quốc hôm
nay/ tuy gọi sống Hoà Bình/ Nhưng mới chỉ là năm thứ nhất/ Chúng ta còn muôn việc
rối tinh…/ Chúng ta/ Ngày làm việc, đêm thì lo đẫy giấc/ Vợ con đau thì rối ruột
thuốc men/ Khi mảng vui – khi chợt nhớ – chợt quên/ Trăm cái bận hàng ngày nhay
nhắt/ Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt”.
Có những câu, những đoạn,
những ý thơ cũng đầy lạc quan, nếu không nói là rất hào hùng.
Tuy nhiên, phần lớn những
câu thơ, những ý thơ trong bài này lại dành cho những điều buồn, những chuyện
buồn. Cũng phải thôi. Cuộc sống đang trải qua, vừa trải qua, những chuyện buồn,
mà là buồn ghê gớm. Cuộc Cải cách Ruộng đất vừa nhận ra cả một đống sai lầm, mà
là sai lầm ở tầm cỡ ghê gớm! Rồi một trận vỡ đê Mai Lâm! Rồi cả thiếu đói! Chỉ
kẻ vô tâm, cứng lòng, mới không nhận ra, mới có thể vui, dù là vui gượng!
Trong cái buồn chung, lại
còn cả cái buồn riêng. Làm sao mà không buồn! Làm sao mà bắt mình “lạc quan
cách mạng” được?!
“Gặp em trong mưa/ Em đi
tìm việc/ Mỗi ngày đi lại cúi đầu về/ – Anh ạ./ Họ vẫn bảo chờ…/ Tôi không gặng
hỏi, nói gì ư?/ Trời mưa, trời mưa/ Ba tháng rồi/ Em đợi/ Sống bằng tương lai/
Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi/ Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã…/ Em đi/ trong mưa/
cúi đầu/ nghiêng vai/ Người con gái mới mười chín tuổi”
Cái hình ảnh cô gái trẻ
Hà Nội đi trong cơn mưa “cúi đầu nghiêng vai” đúng là buồn, buồn đến nao lòng!
Lại cũng là một hình ảnh mang sức mạnh nghệ thuật rất cao, cứ đọc là phải nhớ.
Phải nói rằng nếu gọi “Nhất
định thắng” là một bài thơ thì quả là một bài thơ lạ lùng xưa nay chưa từng có.
Bài thơ gồm đến 9 đoạn, được đánh số rõ ràng, mà đoạn nào cũng tương đương với
một bài thơ dài.
Đúng hơn, đây là một bài
xã luận, một bài chính luận bằng thơ. Thì chính Trần Dần đã nói trắng ra rồi
mà: “Chút tài mọn tôi làm thơ chính trị”
Nói thật, tôi khá bị bất
ngờ khi thấy tên tác giả bài thơ. Trần Dần là tác giả văn xuôi chuyên nghiệp cơ
mà. Ông là tác giả cuốn “Người người lớp lớp” đang chiếm vị
trí trang trọng trên các quầy sách kia mà!
Ai ngờ Trần Dần làm thơ,
mà thơ ông điêu luyện đến thế, cao tay đến thế! Thì chính cái điêu luyện ấy,
cái cao tay ấy đang làm khổ ông đấy.
Trong bài thơ dài mấy
trăm câu ấy, có mấy câu, cứ đọc qua là nhớ ngay. Mấy câu ấy lại trở đi trở lại,
mấy lần, như một thứ điệp khúc chủ đề của một bản symphony, một gam màu chử đạo
trong một bức tranh. Đúng là những câu thơ “chết người”:
“Những ngày ấy bao nhiêu
thương xót/ Tôi bước đi/ không thấy phố/ không thấy nhà/ Chỉ thấy mưa sa/ trên
màu cờ đỏ”
Chết ai thì chưa biết,
nhưng tác giả của nó thì chắc là phải chết. Sau này, có những người, dù chưa hề
đọc bài thơ của Trần Dần, nhưng thuộc cả đoạn thơ đó để rồi viện dãn nó ra theo
ý đồ này hay ý đồ khác.
Trong những năm tôi dạy học
ở Quảng Bình, tôi có dạy hay đến đâu, thì tôi vẫn phải đeo lên ngực một cái bảng
tên, vô hình nhưng ai cũng đọc được: bọn Nhân Văn Giai Phẩm.
Đừng ngu mà cựa quậy! Có
một điều mãi đến nay tôi cũng chưa thể biết: trong các giờ dạy của tôi, tôi dạy
gì, nói gì, đọc thơ ai, đều được báo cáo đi đâu đó. Rồi các bài thơ , thậm chí
một đoạn ngắn tôi mới viết trong sổ tay hoặc vở nháp, cũng được chuyển đến một
nơi nào đó.
Trong những buổi họp hội
đồng giáo viên, tôi thường ngồi im lắng nghe. Bởi nếu tôi có góp ý, chỉ ra một
điều kém cỏi nào đó, lập tức tôi nghe ngay một lời răn dạy: “Thử xem lại cái
nhìn của anh hình như phảng phất “không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ”.
Thế là xong. Đúng là ông
Trần Dần làm khổ tôi!
Nhưng chuyện đâu chỉ có
thể. Đúng là kỷ quặc. Mấy tháng sau, tự nhiên trên tờ báo Văn Nghệ của Hội Văn
Nghệ Việt Nam, bỗng xuất hiện ngang nhiên bài thơ của Trần Dần. Rồi món hàng quốc
cấm Giai phẩm mùa Xuân được in lại và bày bán công khai. Không
có một lời giải thích nào. Cứ như anh chàng Aladin ở xứ Ba Tư vừa chà ngón tay
của mình lên cây đèn cổ vậy!
Sự việc cứ thế mà tuần tự
xảy ra: các tập Giai phẩm mùa thu, rồi Giai phẩm mùa Đông,
rồi Đất Mới của sinh viên… Đúng là trăm hoa đua nở!
Cao trào là xuất hiện của
tờ báo Nhân Văn, mà ngay trong số 1, mấy bài viết đã gây choáng váng: bài thơ của
Lê Đạt “Nhân câu chuyện mấy người tự tử”, bút ký của Hoàng Cầm
về “Con người Trần Dần”, truyện ngắn “Con ngựa già của Chúa Trịnh”
của Phùng Cung…
Thiên hạ vừa mừng vừa lo.
Tuy nhiên, mừng và lo đều không lâu. Báo Nhân Văn ra được đến số 5. Người ta
hong hóng tờ số 6. Thì ôi thôi, số báo bị chặn ngay từ nhà in, bởi “giai cấp
công nhân” cương quyết không in!
Vậy là xuất hiện ngay một
phong trào rầm rộ: cả nước quyết tâm đấu tranh chống bọn Nhân Văn – Giai phẩm.
Cứ thế cho đến lúc mọi
chuyện kết thúc trọn vẹn bằng một cuộc họp lớn tại Thái Hà Ấp. Trong cuộc họp
này, các văn nghệ sĩ tự kiếm điểm và tố cáo lẫn nhau (gọi là giúp đỡ nhau) về tội
lỗi của mình. Cuộc họp đã thành công mỹ mãn sau khi ông Tố Hữu đọc một bản báo
cáo dài: Bọn Nhân Văn – Giai phẩm trước toà án dư luận.
Mọi chuyện thế là xong!.
8/1/2024
Lương Duy Cán
Nguồn: Báo Ngày Nay - 7.2022
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Hồ Minh Thông - Tựa vào trăng, tựa vào hư vô tỉnh táo
Hồ Minh Thông - Tựa vào
trăng, tựa vào hư vô tỉnh táo
Tại sao không tựa vào
núi, vào sông, vào rừng, vào bể, vào quá khứ, hiện tại, vào tương lai… hay đơn
giản là tựa vào một bờ vai, một ánh mắt mà lại ngồi tựa vào trăng?
Tôi băn khoăn tự hỏi và tìm kiếm câu trả lời khi đọc tác phẩm của Hồ Minh
Thông, từ tập Đêm trở dạ cho đến Ngồi tựa vào trăng của chị.
Đêm trở dạ của
Hồ Minh Thông có rất nhiều trăng và rất nhiều đêm. Đêm giày vò, đêm thao thức,
đêm trở dạ, đêm hoang mang, đêm tuyệt vọng “tôi cầm tù đêm/ dù biết người
đã thuộc về đêm khác”… Và sau cuối, trong tận cùng của đêm, chỉ còn có vầng
trăng bầu bạn. Trò chuyện, đối thoại, giãi bày, thủ thỉ với trăng, nhưng rồi cuối
cùng vẫn chỉ còn lại riêng mình độc thoại cùng cõi mênh mang, thẳm sâu của vũ
trụ, của nhân thế. Bởi “Trăng vô tình lọt vào khung cửa vắng/Rồi bị cầm tù
trong những bức tường câm” (Trăng), hay “Đêm qua nhặt một mảnh
trăng/Đem về giấu kín trong chăn… với mình/Sáng ra ngồi đó, giật mình/Mảnh
trăng ấy cũng dứt tình bỏ đi” (Nhặt). Trăng hiện hữu của khát khao mộng
tưởng nhưng cũng lạnh lùng nhẫn tâm, trăng gần lắm mà cũng cách xa vời vợi,
trăng nồng nàn mê đắm mà cũng vô tình lãng quên… Nhiều đêm, Hồ Minh Thông không
chỉ đối diện với trăng, đồng thoại cùng trăng giữa cõi sống, mà còn chủ động tựa
vào trăng!
Tôi bị ấn tượng bởi những
câu thơ chất chứa những nỗi buồn đẹp đẽ của chị “Ngồi lại bên tôi một đóa
sen hồng/em mang đến từ những buổi chiều không hình dạng/…/ Ngồi
lại bên tôi ao hồ tĩnh lặng/giọt sương rơi xao xác gót chân son” (Ngồi lại bên
tôi). Nhưng rồi cũng bị cuốn vào những câu thơ thế sự, nhiều day dứt “khi
những con cá ngậm dầu/nôn ọe dưới đáy đại dương/những con mực phun ra bể xô
máu đen ngòm” (Những con thuyền phiền muộn), những mũi tên vô hình
đang lén bắn vào biển “Biển vẫn bị thương/đại dương đẫm máu (Vết
thương xuyên đêm), đàn cò bị giết chết trên hành trình khát vọng của mình “Cánh
đồng biến thành hình của những đám mây/ Rụng lả tả những giấc mơ mơ màu trắng” (Bi
ca cánh cò) hay cánh rừng bị đốt cháy trong tiếng than khóc của người đàn bà mộng
du tìm giọt sương sót lại mớm cho con: “Người đàn bà đi tìm kiếm giọt
sương/mớm cho đứa con khát sữa/bầu vú thơm cháy rần rần như lửa/gương mặt vục
vào khói ho sặc sụa” (Mộng du)…Tác giả quyết liệt bóc từng
lớp vỏ hiện thực của đời sống bằng bản năng thi sĩ “ném vào dòng sông đẫm
trăng trước mặt/… ném ra cánh đồng/nơi ngày xưa mẹ tôi chôn nhúm
rau ở đó” để cuối cùng “Tôi bóc thịt da tôi/bóng đêm trị vì đặc
quánh/Sao người không làm tên lính/canh cánh cổng của đêm/nơi giam giữ tôi suốt
cả một đời?”
Nói cho cùng, khi đặt bút
viết một câu thơ, người thơ đã đặt bước chân đầu tiên trên hành trình tâm hồn
đi tìm bản ngã của mình. Cái hành trình có khởi đầu và không bao giờ kết thúc ấy
sẽ bồi đắp nên chân dung nhà thơ. Tôi đồ rằng, cho dù có nhiều câu thơ dịu
dàng, tinh tế, nhưng trong nhiều bài thơ của Hồ Minh Thông, sự quyết liệt từ
trách nhiệm công dân – thi sĩ trước hiện thực đời sống, trước thiên nhiên đang
bị hủy hoại, trước biển đến “một ngày/con sóng bạc đầu bật khóc/sẽ rong ruổi
đến tận khi nào/ đến tận bao giờ/ đến khi bờ biến mất hay khi cát
không còn tồn tại nữa?” (Bụi sóng) đang làm nên một phần chân dung mới
của thơ Hồ Minh Thông. Chân dung thơ ấy không chỉ là thế giới thăm thẳm cùng tận
trong những riêng tư sâu kín mà còn là suy tư, thái độ, trách nhiệm của người
nghệ sĩ trước cuộc đời, con người. Xúc cảm phập phồng, mãnh liệt ấy trong mảng
cảm hứng này đã tạo nên những mới mẻ đặc biệt hấp dẫn của thơ của chị.
Các
tập thơ Hồ Minh Thông
Trăng là hình tượng nghệ
thuật gần như xuyên suốt trong nhiều bài, nhiều tập thơ của Hồ Minh Thông.
Nhưng điểm nhấn không phải là trăng ấy mà là một người con gái cô đơn trò chuyện
với trăng, tựa vào trăng. Trăng xuất hiện nhiều trong đông tây kim
cổ thi ca, và Hồ Minh Thông cũng đã có được một vầng trăng rất riêng của mình.
Trăng là mảnh gương, trăng là chiếc lá. Trăng xây xước dăn deo trên ngực người
thiếu phụ… Viết về trăng, tác giả vẫn một thái độ nhất quán quyết liệt “Tôi
treo ngược tôi giữa bóng trăng/Đêm qua ai khóc, bóng mây chăng/Ngón tay đau buốt
cào trong gió/Chỉ chạm chút trăng vỡ bẽ bàng” (Bóng trăng)… và
đến “hay gặp trăng rơi/cuối chân mây/chiều qua người nhặt/vài mảnh vỡ/trăng
xao xác rụng/dưới chân cầu” (Gió bay về nơi ấy) thì câu thơ đã trở nên
hiện đại hơn, mang cá tính sáng tạo của thi sĩ.
Hồ Minh Thông ngồi
kể với trăng chuyện một lần say “nhìn đáy mắt người/thấy mây bay/đổ
tình vào bể/theo tăm cá/vớt cả một đời/ sóng có hay” nhưng cuối cùng “đêm
tàn/trăng cũng bỏ ta đi”… Tác giả hóa thân vào hình bóng của nàng Mỵ
Châu thú tội với trăng, thú tội với tình “trước mắt xa thẳm
mù khơi/trắng xóa một trời gió bụi/… mây trôi vặn dặm bẽ bàng…”. Cái xa thẳm
ấy là cái vô biên của nỗi đau, cái miên viễn mịt mù của mất mát xa xót, tựa như
“mây trôi sông vắng bẽ bàng/ để tang con đò chết đuối”. Cứ thẳng thắn thế
đi để đối diện với nỗi đau, bởi vì chỉ có đối mặt ta mới vượt được qua nó. Và
tôi chợt nhận ra, tựa vào trăng chính là cách lựa chọn tựa vào
hư vô tỉnh táo, vào cái bất khả để được cưu mang, vỗ về, bày tỏ trên hành trình
tìm bản ngã thi nhân. Và có lẽ nhờ vậy mà chị vẫn giữ được những câu thơ xuất
thần thi sĩ “Có những chiếc xích đu chở đầy buổi sáng/… Xích đu vẫn ngỡ
mình đang treo giữa dòng sông…” (Xích đu buổi sáng) và mang thi ảnh thật
đẹp “Con cõng nắng trên cánh đồng rơm rạ/…Con gói nắng bay theo từng ngọn
gió” (Bỗng gặp hoa bay).
Đọc thơ Hồ Minh Thông một
cách hệ thống mới thấy khâm phục sự bền bỉ của chị trên hành trình mải miết đi
tìm cái đẹp. Thơ Hồ Minh Thông có khi là những rung động tinh tế, ngọt ngào của
đêm sâu, trong giấc mơ về cha mẹ, người thân và vùng đất miền Trung nhiều nắng
gió, có khi lại sâu sắc, quyết liệt, dữ dội, ám ảnh hơn trong những suy tư về
thế sự, về phận người; chữ ngày một kỹ hơn, cấu tứ lại càng thêm chặt chẽ. Chị
đã có được trong hành trang nghệ thuật của mình những tập thơ dày dặn mang sức
nặng thi ca – điều không phải ai cũng làm được trong cuộc sống nhiều chộn rộn
này. Mong chị tiếp tục viết hay, tiến về phía trước trong sứ mệnh tâm hồn mà chị
đã lựa chọn.
10/1/2024
Hữu Việt
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
"Một mùa hè dưới bóng cây" và… rượu…
"Một mùa hè dưới bóng cây" và… rượu… Tập truyện ngắn “Một mùa hè dưới bóng cây” của nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã được giải th...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...
.gif)




