VĂN THƠ NHẠC
Thứ Hai, 2 tháng 11, 2026
Cây đào phai bên bờ rào đá
Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu trên biển, người không rõ tung tích. Nghe đâu hồi đó A Châu cũng trên chuyến tàu ấy…
Dốc gió
Dốc gió
Hẹn tới hẹn lui, cuối
cùng tôi cũng gác lại được mọi việc theo Bạch Lan lên xe rong ruổi núi đồi. Tây
Giang mùa này đẹp lắm, trẩu nở trắng rừng, Lan nhắn.
Tôi háo hức, nhớ chùm hoa
như mây lơ lửng giữa đại ngàn trong bức hình Lan gửi, lại mê những cung đường
ngoằn ngoèo núi tựa núi, mây gối mây. Nay hoa vô ưu nở dọc suối, không đi được
thì chờ năm sau, Lan lấp lửng… Tôi còn chần chừ được sao.
Đúng là trẩu nở trắng rừng,
hai đứa vừa ồ à, vừa ôi a, kiểu mê không lối thoát. Hơn hai mươi năm ngắm trẩu
dọc dãy Trường Sơn, tớ chỉ mơ một lần chạm được chùm bông thôi, Lan nói. Thì
hái, khó gì! Tôi mạnh miệng. Nhưng trẩu là giống kỳ lạ, hoa cứ nở từ đỉnh của
những nhánh, mà nhánh lại vươn cao, thành thử từ xa nhìn, trẩu cứ như từng chùm
mây trắng bồng bềnh trên sắc xanh dịu dàng của lá.
Dựng xe sát lề, ngó tới
ngó lui, cuối cùng cũng tìm được một chùm bông không quá cao. Nhưng làm sao để
với tới, với chúng tôi là cả một câu chuyện. Hai đứa cởi giày, cởi cả mũ bảo hiểm,
nhảy loi choi vẫn không biết cách nào chạm vào được “giấc mơ trắng”, đành ngồi
bệt, tay chống cằm thèm thuồng. Bất chợt một chiếc xe bán tải dừng đột ngột, hạ
kính, cần giúp gì không em ơi? Tôi ngớ ra một chút, nhận thấy tình trạng thảm hại
của hai đứa, bật cười bẽn lẽn. Vừa lúc đó, cửa xe bên kia bật mở, một người đàn
ông bước xuống, trùi trụi nắng gió. Quânnnnn… Tôi há miệng kinh ngạc. Là anh ư?
Là anh thật sao? Bốn mắt chúng tôi nhìn nhau, suýt nữa thì Quân gần như lao tới
ôm tôi.
Trạm dừng nghỉ xinh xắn
không níu bước chúng tôi được lâu, Quân bặm môi, ngửa cổ như toan tính một điều
gì đó. Cho xe lên xe, chúng ta cùng đi, Quân nói. Tôi lắc đầu, Lan nó không chịu
được ô tô, với em cũng muốn ngắm núi rừng… Quân trầm ngâm hồi lâu, đường dốc
núi xa lắm đấy em. Quân định nói thêm gì đó, lại thôi. Cả hai rơi vào khoảng
không chơi vơi đủ để nghe tiếng gió luồn qua vực thẳm. Nhìn những cung đường ẩn
mây lượn sóng giữa đỉnh trời, tôi biết thật không dễ dàng với một người trẻ hăm
hở sống như anh. Hay anh đã có nàng sơn nữ nào níu bước? Tôi hồ nghi nhìn Quân,
anh nhếch nhẹ môi, nụ cười trở nên khó hiểu, một vết thương chưa lành, một cuộc
chạy trốn, hay gì gì đó nhiều lắm mà tôi không đủ năng lực nhìn thấu đối
phương. Thật ra, đã bao giờ tôi hiểu hết anh đâu, cũng như việc chúng tôi rời
nhau đoạn trước của cuộc đời, chưa từng có lời chia tay chính thức, chỉ nước mắt,
nước mắt cho tôi và sự im lặng nơi anh.
Khi chúng tôi rời quán
thì Lan đã có trên tay chùm trẩu trắng muốt dịu dàng cùng nụ cười ngời nắng.
Xem nè xem nè, Lan cuống quýt như đứa trẻ được quà, miệng xuýt xoa, mắt rờ rỡ.
Tôi cầm chùm bông như quả tú cầu mây ấy, trước tầm mắt, hoa mãn khai có cuống
nhụy hồng đậm, hoa vừa nở nhụy vàng kem bắt mắt, từng đóa như những ngôi sao
rung rinh.
Cảm ơn anh nhiều nghe,
Lan vẫy tay chào, anh chàng vừa hái giúp chùm bông thoắt cái đã ngồi sau tay
lái, hẹn Đỉnh Quế nhé! Tôi đưa mắt nhìn Lan, quen à? Xứ ni của tui mờ bà, Lan
cười toe, nụ cười của người chiến thắng. Quân nhìn tôi, chiếc xe chở anh trườn
đi trong tiếng gió gào. Một cơn gió tạt ngang sườn khiến áo khoác tôi căng phồng,
từng lớp gió rượt nhau luồn qua khe núi tạo nên thứ âm thanh sắc ngọt, mây vón
lại rồi như bị gió cán mỏng, bay là đà tạo thành những chiếc khăn voan ôm
choàng cổ núi, những bông trẩu rung lên lả tả trong vạt nắng mỏng. Không gian
như bị gió bào, rộng thênh thênh không điểm tựa dù trước mắt tôi là núi. Phía
không cùng ấy, chỉ cần với nhẹ, đã có thể chạm được Quân. Không. Tôi không nghĩ
lại gặp Quân ở đây, ngay đỉnh dốc Gió này, khi mà mọi thứ tưởng đã ngủ yên.
Hai người chưa hết duyên,
Lan nói trong tiếng gió vụt qua mặt. Tôi bám vào hông Lan, như một phản xạ
đương nhiên của người không quen vượt núi đèo, đầu tôi ù ù tiếng gió. Tôi và
Quân còn duyên thật ư? Tôi tưởng lửa lòng đã tàn lạnh, và những người đàn ông,
dù vô tình hay hữu ý, đều chưa thật tâm muốn nhen lại, thắp lên một niềm tin
yêu mới trong tôi. Là tôi không đủ tốt, hay phước tôi chưa đủ dày? Là gì đi nữa
thì tôi vẫn là con người của muôn năm cũ, đầy kiêu hãnh.
Cậu hoàn toàn có thể yêu
ai đó, cho riêng mình, mẹ, các con, họ đều có cuộc đời của riêng họ. Sống đủ
lâu, tớ nhận ra rằng, mọi thứ rồi cũng vào lãng quên, kể cả chúng ta, vậy nên,
đừng chần chừ nữa, yêu đi. Lan xúi. Yêu ai, tôi hỏi, không biết hỏi Lan hay hỏi
mình. Tôi từng chứng kiến người bạn đơn thân yêu một người đàn ông đang vợ, là
anh ta không hạnh phúc, là không thể ly hôn, là hầm bà lằng các thứ. Tôi nhìn
người, ngẫm mình, thấy rằng điều đó quá sức chịu đựng. Người đàn ông ấy, dĩ
nhiên vẫn bên vợ, vẫn giữ hình ảnh một gia đình hoàn hảo. Còn người phụ nữ thì
sao? Thì đành chịu thôi, ai biểu số mình hẩm hiu. Tôi nghe chua chát, luôn dặn
lòng, đàn ông với mình phải như “đồ lót”, không phải thứ để khoe khoang, nhưng
đủ tốt để thấy thoải mái, và nhất là, không dùng chung với ai.
Tôi không biết đã đi qua
bao nhiêu đèo dốc, lên dốc liên tục, xuống dốc liên tục, những tấm biển báo với
độ dài hàng cây số khiến tôi choáng ngợp, biên giới gần ngay đây thôi, dòng ký
tự loằng ngoằng nói với tôi điều đó. Những công trình thi công dở dang, bụi bay
mù mịt choán hết tầm nhìn. Tôi kinh hoàng nhìn những chiếc “hổ vồ” lao đi trong
gió bụi, không một tiếng còi cảnh báo cho xe đối diện khi qua những khúc cua.
Quen rồi, cậu để ý đi, chỉ xe phố, xe lạ tới đây mới bấm còi, còn dân trên này
chẳng ai làm điều đó, toàn khúc cua tay áo, bấm có mà liệt còi, tiếng Lan hòa
trong tiếng gió. Lan chỉ cho tôi những lùm bướm bạc dọc đường, loại cây nhỏ mọc
gần nhau, hoa vàng, lá đài màu trắng trông như những cánh bướm bay rập rờn
trong sắc xanh miên mải của rừng. Tít trên kia là chùm phượng núi đỏ rực, kiêu
sa ngạo nghễ. Chẳng hiểu sao tôi thấy nó cô đơn như loài bỉ ngạn, Lan cười ngất,
chưa nghe ai liên tưởng thế bao giờ.
Lại dốc, lại gió, lại những
vòng cua ngặt, giọng chúng tôi lào thào qua làn khẩu trang. Núi lớp chồng lớp sừng
sững oai hùng, mây gối mây bồng bềnh tiên cảnh, mỗi tội dòng A Vương đã bị chặn
dòng, đáy sông từng lớp đá ngửa mặt khô khốc nhìn trời, chao ôi buồn đến nao
lòng con sông một thời thơ mộng trong những câu thơ Bạch Lan viết. Tôi tưởng tượng
cây trẩu đứng ngay mé sông, gió lùa khiến từng cánh rơi như rải ngọc xuống mặt
sông hiền hòa, những cánh hoa tuy đã rụng khỏi cuống vẫn vẹn nguyên hình hài
xoay xoay trong làn nước mát. Bây giờ sông như suối cạn, cánh hoa trôi về đâu?
Cánh hoa trôi về đâu? Tôi bất giác buột miệng hỏi. Lan không nói. Tôi cũng
không thể nhìn vào mắt cô ấy lúc này, nhưng cảm giác nuối tiếc ấy có lẽ khó
lòng giấu được qua cái lắc đầu bất lực.
Tự khi nào tôi luôn xót
những cánh hoa tàn? Tự khi nào tôi đâm cám cảnh cho những điều tưởng như hiển
nhiên trong cuộc sống? Tôi là ai, tôi ở đâu giữa cuộc đời này? Một cuộc hôn
nhân không tình yêu, một mái nhà không đủ ấm cho các con, và còn gì nữa? Sống
không hạnh phúc đã là có tội với bản thân rồi, buông đi, Lan vẫn nhắc.
Tôi lại nhớ lời con gái
chất vấn, sao mẹ không nhổ quách đi cho rồi, chiếc răng khôn chết tiệt ấy, khôn
gì không biết chỉ thấy toàn gây đau đớn. Tôi đã bật cười, giữ nó trông khuôn mặt
mẹ sẽ đầy đặn hơn. Là tôi nghĩ, nếu rút chân răng đi rồi, khuôn lợi sẽ bị teo lại,
hai má hóp đi trông già nua xấu xí. Bộ đẹp quan trọng đến thế sao? Để trông dễ
nhìn thôi mà phải chịu đau đớn âm ỉ, con thà vứt sạch, con gái cong môi. Tôi chỉ
biết cười, tự khi nào tôi nuôi dưỡng suy nghĩ điên rồ ấy? Giữ lại cuộc hôn nhân
không tình yêu còn đớn đau hơn giữ chiếc răng không thực hiện đúng chức năng.
Vẫn dốc. Tây Giang đãi
tôi món dốc, dốc và gió. Mùa này còn đỡ, mùa mưa thì kinh khủng, cậu có thể bay
từ núi này qua núi nọ như chim mà không cần đôi cánh, Lan tếu táo. Tôi nhìn sườn
đèo, hình dung lưng núi cong vòm hứng gió, những cú tạt dọc rồi luồn lách trong
khe sâu bỗng thổi bùng đột ngột, tay lái loạng choạng trong màn mưa dày. Mưa
Tây Giang âm ỉ, như nước mắt chia tay người mình yêu đậm sâu ý, Lan lại cố ý
pha trò, như ngoáy sâu vào tâm can tôi. Đối diện đi, hoặc dừng lại mọi cảm xúc,
hoặc cho nhau cơ hội nếu còn duyên đủ nợ, tui thấy mệt giùm cho hai người.
Quân đã ly hôn, dĩ nhiên
không phải do tôi. Tôi đã rời cuộc đời anh cho tới ngày gặp lại trong ngỡ ngàng
của hai kẻ bại trận. Và dù tôi đã từng cố gắng giúp anh làm một điều gì đó cho
bọn trẻ nhà anh, nhưng vô ích. Quân đã đi đâu đó, thật lâu, những mấy năm rồi
chúng tôi không gặp nhau, như biến mất khỏi cuộc đời, thì bỗng nhiên, lúc nãy
đây thôi, ở một nơi xa lạ không từng nghĩ tới, chúng tôi đã gặp lại nhau.
Chẳng có gì là ngẫu
nhiên, trăm triệu hạt mưa không hạt nào rơi nhầm chỗ, đấy là nhân duyên hội tụ,
phải tin chứ! Lan nói trong tiếng gió. Tôi không biết mình có thật sẵn sàng cho
cuộc gặp tới đây. Tôi còn biết đi đâu ở đâu để tránh gặp anh khi Tây Giang hùng
vĩ là thế nhưng chỉ độc một con đường. Khi lên đây, tôi không từng nghĩ mình cần
sửa soạn một trái tim lành lặn để làm một điều gì đó.
Hay… hay là quay về. Tôi
ngập ngừng đập vai Lan. Hình như gió khiến cú đập vai của tôi nhẹ bẫng, Lan vẫn
giữ tay ga, trả số, chiếc xe khựng lại một chút rồi vù vù vượt đi hòa vào tiếng
gió, không kịp nghe mùi hoa rừng thoang thoảng.
14/5/2026
Hồ Loan
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Chùm truyện cực ngắn của Trần Vinh
Chùm truyện cực ngắn của Trần Vinh
Khi tỉnh dậy, người mẹ
thì thầm với đứa con câu đầu tiên: – Con yêu! Điều mẹ hồi hộp và mong chờ nhất
không phải là trai hay gái mà là hình hài của con đầy đủ bình thường. Mẹ cảm ơn
con!.
MẢNH TRỜI
Trời mưa.
Cha cầm cây dù.
Con có mảnh trời tạnh
ráo.
LƯNG CHA
Đi học, con ngồi sau xe
trùm kín nép vào lưng cha.
Đến cổng trường, thấy áo
cha ướt con mới biết trời mưa.
TIỀN HỌC
Người đàn ông nài nỉ tạm ứng
được một phần tiền công liền vội vàng chạy đến lớp học thêm.
Một học sinh bước ra cầm
tiền rồi phàn nàn:
– Sao sáng nay bố không
đưa tiền luôn cho con? Thấy các bạn nộp tiền mà con xấu hổ không biết dấu mặt
vào đâu.
– À… bố… bố đã để sẵn tiền
trong túi rồi mà quên mất. Bố xin lỗi nhé!
LY NƯỚC
Nó có thói quen trước khi
đi ngủ uống một ly nước ấm với vị chua ngọt của chanh và mật ong. Nhiều người
khen nó có làn da sáng mịn.
Đã 3 đêm rồi, nó cảm thấy
thiêu thiếu thứ gì đó mà chưa nghĩ ra. Thì ra mẹ nó bị ốm, 3 đêm rồi không dậy
nổi để pha li nước ấm chua ngọt đưa vào phòng cho nó.
TỰ HÀO
Đứa con phàn nàn:
– Ba ạ, bây giờ con đã là
một học sinh lớp 9 rồi mà cứ phải ngồi sau xe để ba chở con đi học thì xấu hổ
quá, cả trường cười vào mặt con đấy.
Thế là đứa con được tự do
một mình một xe đạp điện đi học. Hôm ấy đang trên đường đi học thì chiếc xe đạp
điện bị sự cố. Đứa con luống cuống lo sợ không kịp giờ kiểm tra giữa kỳ. Ngay
lúc đó có một người dừng xe lại và giọng nói quen thuộc vang lên:
– Nào, con lên xe ba
nhanh lên cho kịp giờ.
Đứa con quá bất ngờ. Thì
ra người đàn ông luôn trùm kín đồ bảo hộ, sáng nào cũng đi làm qua cổng trường
lại chính là ba của nó.
Người cha phóng xe chở
con vào thẳng cổng trường. Đứa con bỗng vô cùng tự hào trước ánh mắt của bạn bè
và thầy cô giáo.
HÌNH HÀI CON
Trên bàn đẻ, người sản phụ
mặt tái nhợt, sức đuối dần vì những cơn đau dữ dội kéo dài bất thường. Người sản
phụ ấy đã lượng được sức mình nên sẵn sàng đánh đổi sinh mạng, nhường quyền sống
cho đứa con.
Đến giới hạn sinh tử cuối
cùng, đứa con mới chịu chào đời. Bản năng làm mẹ trỗi dậy, người mẹ chỉ kịp ngước
nhìn con. Trong khoảng khắc đó khuôn mặt người mẹ ửng hồng, ánh mắt long lanh hạnh
phúc, miệng thều thào: “Con… bình… thường…” rồi chìm vào cơn mê. Trên môi người
mẹ vẫn còn lại nụ cười.
Khi tỉnh dậy, người mẹ
thì thầm với đứa con câu đầu tiên:
– Con yêu! Điều mẹ hồi hộp
và mong chờ nhất không phải là trai hay gái mà là hình hài của con đầy đủ bình
thường. Mẹ cảm ơn con!
TRƯỞNG THÀNH
Đi học mẫu giáo về, bé Út
sà vào lòng mẹ rồi thủ thỉ:
– Mẹ ơi, tại sao anh Hai
đi học về mà không được mẹ ôm?
– À… đó là vì anh Hai con
khôn lớn rồi.
Mấy năm sau, Út lại hỏi mẹ:
– Mẹ ơi, vì sao anh Hai
đi làm lâu rồi mà sao không thấy về hả mẹ?
– À… vì anh Hai con đã
trưởng thành.
Thì ra quá trình nuôi con
khôn lớn trưởng thành cũng là quá trình cha mẹ và con cái từ từ rời xa nhau.
GÀ MẸ
Sáng sớm gà mẹ dẫn đàn
con mới nở ra vườn kiếm mồi.
Chó đốm nhe răng gầm gừ
xông tới.
Đàn gà con bé xíu không
chạy kịp.
Gà mẹ bỗng xù lông giang
cánh hoá thành đại bàng rồi tung chân cào thẳng vào mặt chó đốm.
Chó đốm hoảng sợ, cụp
đuôi bỏ chạy vào nhà.
GÀ NHIỀU ĐẦU
Gà mẹ dẫn đàn gà con đi
tìm mồi.
Một gã diều hâu sà xuống.
Gà mẹ xù lông giang cánh
ôm lấy đàn con.
Từ trong đôi cánh gà mẹ bỗng
mọc ra nhiều cái đầu nhỏ xíu.
Gã diều hâu bất ngờ, hoảng
sợ rồi bay đi.
16/5/2026
Trần Vinh
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Vũ môn
Vũ môn
Chiều gần tàn, hoàng
hôn như những bọng mỡ gà trên chảo lửa, quắt queo, xám ngắt. Chớp tựa mảng
xương cá khô khốc vắt ngang dọc trên tầng không ám một màu tro nguội. Lão Hiến
lại đi, vừa quá giang được đến thị trấn thì giông to gió lớn. Lão nghĩ bụng sẽ
vào tiệm thuốc bảo vệ thực vật và nói lúa nhà lão bị đạo ôn cổ bông nặng quá.
Hãy bán cho lão một chai thuốc sâu loại lớn và nặng liều. Lão đặt lên
bàn một sấp dày cộp toàn tiền lẻ từ một đến năm nghìn, nhanh chóng nói cô
nhân viên bán cho mình một chai BMW 747.
Thứ mơ ước đã có trong
tay, lão tập tễnh cố đi nhanh, định bụng tìm một bờ mương nào đó có nhiều nước
và lau sậy. Lão sẽ ngửa cổ thưởng thức nó như bọn trẻ con nhấm nháp ly cô ca cô
la mát rượi rồi lăn xuống mương. Mưa tạnh, trời tối nhanh, lão băn khoăn chưa
biết đi hướng nào thì Tịnh lù lù xông đến. Nó giật chai thuốc, xốc ngược lão
lên vai rồi bế lão quay lại hàng vừa mua và giễu lão qua nhiều hàng nữa. Đi đến
đâu nó cũng chìa mặt lão ra cho người ta xem, mếu máo “Ông này là bố
tôi, ông ấy bị tâm thần, nghĩ thuốc sâu là nước uống nên bố tôi mua gì các cô
không được bán”.
Ruột gan lão lộn lên, hốc
mắt cay xè. Thế mà thằng này lại nhận lão là bố. Không phải! Lão chỉ có ơn với
mẹ con nó thôi nhưng bao năm nay bà Út và Tịnh đã trả xong cả rồi. Thời trẻ,
lão oanh tạc muôn phương. Cưới vợ được ít hôm, lão quyết lên đường sang bên kia
biên giới kiếm sống. Vợ lão van nài, bảo làm thuê quanh làng tiền ít nhưng còn
được nhìn thấy nhau. Lão gạt đi, nói không liều thì quanh năm nghèo khó. Lão dứt
áo ra đi, vợ trẻ sụp xuống hiên nhà, khóc nấc.
Lão đi liền hai năm mới
trở về một bận, xây cho vợ được cái bếp nhưng không đủ để gieo vào người bà một
mầm sống đã lại đi. Cùng làng có vài người đi với lão đều chọn nghề canh sòng bạc.
Một dạo, cảnh sát Campuchia càn quét, lão biết chắc bị bắt sẽ ở tù vì nhập cảnh
trái phép nên ồ ạt cùng mấy chục người liều mạng nhảy xuống sông. Ai cũng tin
lão không về nữa vì cảnh sát vớt lên tận mấy chục xác người, có tất thảy người
đi cùng mà chỉ có lão là trôi mất xác. Một ngày đẹp trời, lão gầy còm, đen nhẻm
xuất hiện trong sự thất kinh của vợ và dân làng. Giây phút hạnh ngộ chìm trong
nước mắt và những nỗi tủi hổ xót xa. Lão đứng trước di ảnh mình điên cuồng chất
vấn rồi cầm dao toan đâm chết kẻ đang chung sống với bà. Bà ôm lão lại, quỳ mọp
dưới chân để cho gã kia chạy. Hắn ta không đi, nửa đêm quay lại tính đưa bà chạy
trốn. Lão ngoan độc dạng chân giữa nhà, bắt hắn muốn có được bà thì phải chui
qua háng hắn. Bà cắn môi òa khóc, cố thốt ra những lời cay đắng, rằng đau khổ
lúc mất chồng mới làm bà xiêu lòng thoáng chốc, tìm đến hắn như kẻ thế thay. Hắn
thất vọng quay đầu đi thẳng, còn lão quyết trả thù bà bằng những bài học đạo đức
được rao giảng từ ngày này sang ngày khác. Giữa nhà, lão treo lên một chiếc kẻng
đồng mỏng. Mỗi bữa đến giờ ăn, lão lại gõ lên đó những tiếng leng keng buốt lạnh.
Bữa nào bà lỡ dọn cơm ra trước khi lão đánh kẻng, lão sẽ dùng hết sự “hoạt
ngôn” mà mình có để chì chiết và đay nghiến phẩm hạnh của bà.
Đứa bé xuất hiện khi lão
và bà đang trên đỉnh của sự tan vỡ, nỗi nghi ngờ như lũ mọt ăn gỗ đục ruỗng tâm
hồn lão. Đứa trẻ nào phải con lão. Lão khẳng định chắc nịch khi cái bụng bà đã
lặc lè tám tháng. Ánh mắt bà hằn lên vẻ tuyệt vọng. Lão căm thù ánh mắt ấy. Vẻ
chết lặng của bà khiến lão cảm thấy lão không là gì cả. Lão giận dữ ra khỏi nhà
lúc trời đã vào đêm, mưa tong tong nhỏ giọt từ mái tranh khô xác.
Rời nhà, lão lên lán
nương dự định ở vài ngày cho đỡ chướng tai gai mắt. Vừa đến ngày thứ hai, lũ
quét hung hãn dội về cuốn phăng mấy ngôi nhà dưới thấp. Anh em biết chuyện,
khuyên lão về còn nom dòm vợ con. Ừ thì lão về, vừa đến cầu lại gặp Tịnh gầy nhẳng,
bé teo chơi vơi giữa dòng nước dữ. Bà Út gào con thảm thiết nhưng không ai dám
liều lĩnh. Toàn bọn hèn, hùm ăn không hết thịt mà cứ đứng tồng ngộc trên bờ chỉ
trỏ. Thế là lão nhảy, nước bùn xộc vào miệng tanh ngòm, cả người lão lao vun
vút như chiếc xe đạp đang tuột dốc thì mất phanh, vết bớt giữa lưng tê tái. Lạ
là cái bớt mỗi khi lão gặp chuyện lại nhôn nhốt, nóng ran như bị ai chích điện
dù lão đang đằm mình dưới sông lạnh. Chợt nhớ đến hồi nhảy sông trốn thoát ở
Campuchia, lão xoay ngang người, thả cho trôi. Lúc trôi ngang lão thấy Tịnh như
con nhái bén bám vào cây chuối. Lão vội giang tay rộng, chân thọc xuống
nước căn hướng Tịnh mà đến.
Khi còn cách Tịnh một hai
mét, lão đánh liều phi thân như con rái cá chồm sang. Loay hoay mãi, đến khi cả
lão với Tịnh nhũn ra không còn tí sức mới kiếm được một chỗ nước lặng để
dạt vào. Bà Út tưởng Tịnh đã chết liền khóc như rồ dại. Thấy thằng bé mặt tái
xanh bò lại gọi “mẹ mẹ” yếu ớt thì mới choàng tỉnh. Bà dập đầu côm cốp xuống đất
tạ ơn. Ơn với huệ, lão chả thiết, lão đứng lên tìm đường về nhà. Lối mòn dẫn
lên nhà lão trơn tuột bởi bùn non, đám cỏ tranh cao lút đầu người gãy nát. Nhà
lão trống thênh, lũ đã quét hết lớp ván thưng xung quanh nhà. Dưới đống đổ nát,
chiếc dép tổ ong của vợ nằm chỏng chơ. Lão ú ớ chạy quanh gọi vợ, khản cả tiếng
mà vợ lão không đáp lời. Lão lao xuống đồi, ngã lăn lông lốc lại lồm cồm bò dậy.
Không kêu thành tiếng được, lão hét, một tiếng hét chói tai khiến dân làng phải
chú ý. Người ta ùa đến, đốt đuốc soi trong đêm để tìm bà tận ba ngày mà bất lực.
Đến ngày thứ tư, nước lũ dưới xuôi rút cạn mới thấy vợ lão dạt vào bãi ngô. Bụng
bầu tám tháng trương to, lặc lè như bụng trâu chết đuối. Người ta không cho lão
đến gần, lão bất chấp xé người, gạt ra đám đông, xác người mặt nhớt đen, lỗ rỗ
bởi cá rỉa không động đậy mà ộc máu. Lão quỳ xuống, lăn lê, tay đưa ra lại rụt
vào. Người làng quấn vợ lão vào áo tơi mưa, trằn qua trằn lại khiến bụng bà
vang lên tiếng “bục” lạ lẫm. Không khí đặc lại, hơi ẩm tanh lợm và nặng trịch
tan ra. Ai nấy sợ hãi dừng tay, tản ra ngơ ngác nhìn vệt sẫm quẫy lên, phun
sùng sục như bị nén khí lâu ngày chỉ chờ phút giải thoát. Từng vệt nước thẫm chảy
cạn, đến khi cởi quần, ai nấy bàng hoàng, kinh hãi phát hiện dưới háng của bà
có đứa trẻ đã trồi hẳn ra và còn nằm nguyên trong bọc nước ối. Khi vừa chạm
vào, cái bọc vỡ ra, da thịt đứa bé đã lợt lạt và bắt đầu phân hủy. Vậy mà trên
lưng nó vẫn nhìn rõ lắm một cái bớt đã hóa màu tím thẫm.
Từ ngày mất vợ con, lão
hóa điên hóa dại, gặp đất ăn đất, gặp kiến ăn kiến. Bà Út thương không chịu được
đã đón lão về trả ơn. Hôm đầu, bà thắp một nén nhang để lão cắm lên bát hương của
vợ đã được bà xin về nhà thờ cúng. Lão tru lên, lắp bắp vò đầu bứt tóc và điên
cuồng đập phá. Vợ lão còn sống sờ sờ, đêm nào cũng ngồi với lão trên tấm
chiếu trải giữa sân, hôm thì chải tóc, hôm lại phe phẩy cây quạt quạt cho lão
giữa hè oi bức. Con trai lão đã 15 tuổi, lớn lắm rồi, chẳng mấy chốc
mà cưới vợ rồi sinh con đẻ cái cho lão ẵm bồng cháu chắt. Thấy lão phát rồ,
bà Út với Tịnh phải đưa lão ra ngoài, nhanh chóng tìm thợ về lắp cửa để cách biệt
phòng thờ không cho lão vào trong nữa. Bà cũng chịu khó đưa lão đi các nơi chữa
bệnh, thầy thuốc nói bệnh phát do tâm, tâm an người mới ổn. Bà đành đưa lão về,
nghe kể có loài cá chép sống lâu hóa rồng sẽ chữa được bách bệnh. Thế là Tịnh
nuôi cá, thả vào ao toàn cá chép hồng rực. Chăm nuôi tốt, chúng lớn thôi thổi
nhưng màu hồng càng lúc càng nhạt đi. Bà Út vẫn kiên trì mỗi ngày hấp một con
cùng đỗ đen và nài nỉ lão cố ăn cho hết. Dù những con cá chẳng thể hóa được
thành rồng ấy không làm cho đầu óc lão minh mẫn lại thì nó cũng khiến lão
bớt đau, an ủi lão cố sống nốt phần đời rệu rã với tỉ ti thứ bệnh khoác lên
thân thể già nua ọp ẹp.
Tịnh cứ thế vác lão đi,
lão quẫy đạp trên lưng nó chẳng khác nào đứa trẻ giở trò ăn vạ. Mệt quá, Tịnh
thả lão ngã vật ra cỏ còn nó ngồi phệt dưới đất khóc tu tu. Lão ngơ ngác nhìn Tịnh,
bất chợt, Tịnh như phát cuồng quay lại túm cổ áo lão, day đi day lại “ Muốn
chết lắm phải không, vậy tôi cho bác chết”. Lời vừa tuôn khỏi miệng, nó bật
dậy, một tay túm ngang lưng còn tay kia ôm ngang đùi, vật như bao gạo. Tịnh chạy
phăm phăm lại phía hồ nước, rất nhanh, nó dùng hết sức bình sinh cõng lão nhảy
tùm xuống. Lão vốn bơi giỏi, nhưng từ ngày gặp biến cố, khả năng bơi lội của
lão dường như đã mất. Lão ngợp nước, chìm xuống lại trồi lên, quẫy đạp loạn xạ.
Bóng nước loang loáng tan ra dưới ánh sáng nhờ nhợ của trăng rằm bị mây che phủ.
Chợt, lão thấy vợ về tay ôm một đứa trẻ. Bà đứng nghiêng người, chỉ để cho lão nhìn
một nửa gương mặt đứa bé quấn trong tã. Mắt lão kéo màng vẩn đục, càng đau mắt
lão càng đục. Bà chỉ lẳng lặng đứng nhìn lão, mãi mới mở miệng nói “ Đi
thôi”. Cả người lão căng cứng, lão ú ớ gọi tên, cố vươn tay ra với lấy bà,
nhưng bà như một dải lụa, phất phơ trước mắt lão rồi nhẹ hẫng vụt lên không
trung, lặng tắt.
Tịnh cắn răng đứng sát
mép bờ chờ đợi, chờ ham muốn sống trong lão hồi sinh. Tự nhiên, lão không quẫy
nữa, Tịnh hốt hoảng bơi ra thì thấy lão đã nằm ngửa, chân thọc xuống nước khua
nhẹ tìm hướng vào bờ. Lão lồm cồm bò lên vệ cỏ, nằm vật ra thở hồng hộc. Không
thở nữa, lão lại trân trối nhìn trăng rồi co người lại khóc rấm rứt. Nín khóc,
lão quờ tay sang Tịnh, hổn hển “Mày đi mua cho tao chai rượu”. Tịnh bất
ngờ quá, chồm lấy lão vồ vập hỏi “ Bác muốn uống rượu, bác không muốn
chết nữa phải không?” Lão lặng im, Tịnh kéo tay lão đứng dậy đi về
làng. Sau hôm ấy lão hiền đi, không còn nhăm nhe dọa chết. Lão cũng không ăn cá
nữa, dù bà Út có nói thế nào lão cũng nhất quyết không ăn. Lão minh mẫn bảo bệnh
vậy rồi, có ăn thế ăn nữa cũng không chữa được. Bà Út sửng sốt vì lão nói tỉnh
bơ cứ như người chưa bị bệnh bao giờ. Nhiều đêm, lão không ngủ, ánh mắt hấp háy
vọng vào gian thờ đóng kín. Một hôm, bà Út thấy lão tập tễnh mở cửa phòng, bóng
tối chầm chậm tan ra, lão đứng lặng thinh không bật đèn cứ thế mò mẫm nhóm
hương. Ngoài trời đổ mưa, tiếng ếch nhái xôn xao khắp mặt ao phẳng lặng.
Mưa tạnh, trời rót nắng
vàng ươm. Tiếng kẻng leng keng gọi cá được Tịnh phấn khởi gióng lên nhưng không
còn cảnh cá nhôn nhao chao lượn, quây tròn lấy nhau chờ mồi. Mưa lớn, nước dâng
nhưng để đến bờ thì còn xa lắm. Ấy vậy mà từng đàn cá chép vẫn lựa nước, theo
nhau thoát ra ngoài, đi cho bằng sạch. Bà Út an ủi Tịnh đừng buồn đừng tiếc, bởi
cá chép muốn hóa rồng đều phải vượt vũ môn.
19/5/2026
Hà Hồng Nguyên
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Đường về Cổng Trời
Đường về Cổng Trời
Chú Thòong đã ở bên tôi
suốt cả mấy tháng mùa thu hanh heo khô quắt cho đến những ngày mưa phùn rét mướt.
Chú hay bày trò cho đoạn đường đến trường của tôi ngày một gần hơn. Những ngày
được về nhà, hai chú cháu thường đi rừng nhặt hạt dẻ, chú nhìn khói bếp bay mờ
mịt dưới những gốc mận nở hoa trắng xóa mơ tưởng.
– Chú Thòong… chú…
Tôi thốt lên khe khẽ khi
nhìn thấy người đàn ông đi từ dưới cánh sân khấu lên trong những tràng pháo tay
không dứt của cả hội trường. Tư lệnh chào đáp lại rồi trịnh trọng mời ngồi dãy
ghế đầu dành cho đại biểu. “Ai vậy?”, “Phó tư lệnh cảnh vệ, thiếu tướng Phan Thọ,
sao?”, “Không” tôi ấp úng ngồi xuống, cảm xúc xâm lấn khó tả. Có cảm giác nào
đó từ trong sâu thẳm khiến tôi gọi tên một người mà tôi luôn nhớ tới. Hôm nay
là buổi lễ chia tay cho các chiến sĩ đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về với
quê hương.
– Nhà mày ở đâu?
– Qua Cổng Trời là đến.
– Dân Na Ngoi mà cũng đòi
đi học à?
Mỗi lần nói đến Cổng Trời
và đoạn đường đi bộ về nhà vào dịp cuối tuần là tôi lại không yên. Chẳng có con
đường nào mà lại đi đến sốt ruột như con đường này. Rừng càng về chiều càng tối.
Đường dốc trơn trượt. Đứa trẻ mười tuổi một mình giữa đường cứ cắm mặt dưới đất,
đơn độc mà đi. Lòng thấp thỏm bao nỗi sợ. Tôi sợ gặp đám du côn chặn đường, sợ
đối diện với cha, biết được tôi bị đám trai bản khác đuổi đánh hay chặn đường
gây chuyện, chắc chắn ông sẽ bắt tôi nghỉ học.
Tôi đã vượt qua được chướng
ngại vật thứ nhất sau khi học hết lớp 2 ở bản, tôi phải băng rừng lội suối gần
20 km để theo học lớp 3 cũng phải đi bộ gần mất hai ngày đường. Ở bản có hai đứa
đi học, mỗi lần đến trường hai đứa phải cõng trên vai 5 cân gạo rồi bẻ măng đắng
dọc đường làm gậy chống để đến nơi còn có mà ăn. Lâu dần thằng Nới nản, bỏ học
khiến tôi đôi lần đối diện với con đường dằng dặc phía trước cũng thoáng chần
chừ.
Buổi đầu đi học trường
dân tộc nội trú, tôi như con chim bị đưa ra khỏi cánh rừng quen thuộc của mình.
Đôi khi nhớ nhà không chịu nổi, tôi trốn học, chạy bộ gần 20 km đường đèo để về
đến Cổng Trời. Nhưng rồi từ khúc quanh vào bản, tôi nhìn xuống con dốc sâu hun
hút mờ mịt trong sương, lòng lại nôn nao.
Việc tôi được đi học là
việc từ trước giờ chưa có xảy ra ở bản làng thâm sơn cùng cốc này.
Việc hy hữu đó là nhờ chú
Thòong.
Chú Thòong đến ở xóm tôi
vào đúng một đêm mưa to gió lớn. Nước dưới Khe Tạt hung dữ như một con trâu
điên hồng hộc đâm đầu vào hết đám cây bụi cỏ bên suối, nhổ tung chúng lên rồi
nhấn vào dòng nước đang cuồn cuộn chảy. Hết lũ quét, cha tôi tìm thấy chú nằm
ngất cạnh một gốc cây to. Chú chẳng nhớ nổi mình đến từ đâu, đi đâu nên cha tôi
thương tình cho chú ở lại phụ việc vặt trong nhà và trông nom lũ em cho mẹ tôi
xuống suối.
Chú Thòong chân cao chân
thấp, tuổi thật chắc thua ba tôi nhưng mái tóc lù xù, bộ đồ rách rưới khiến chú
nom như một kẻ dở người. Chú ngủ ở nhà dưới bên cạnh cái bếp lửa ở giữa nhà,
trên cái sạp đựng đủ các loại củ quả dự trữ như bí đỏ, bí xanh, ngô, khoai, sắn
các loại.
Từ bữa tôi bị bắt nạt dọc
đường, cha tôi giao luôn nhiệm vụ kèm tôi đến trường cho chú, kiểu có người lớn
bọn nó đỡ dọa tôi hơn chứ thực ra chú Thòong thì nào có làm được gì.
Từ ngày có chú, tôi không
chán việc phải đi học. Tôi đi trước, chú Thòong đi sau, tấp ta tấp tểnh trên những
con đường xuống dốc.
– Tiến, Tiến cố gắng đi học
nhé Tiến… – chú Thòong nói cờ lăm cờ lay mãi mới được một câu như thế.
– Cha nói chỉ học đến lúc
biết chữ thôi là nghỉ, không cần hơn.
– Bậy… bậy nào! Thế giới
là ở nơi những con… con chữ ấy đấy. Có nó chúng ta sẽ đi được trăm ngàn vạn dặm
chứ không phải qua một con dốc như thế này.
– Là ra đến Hà Nội phải
không ạ?
– Còn xa xa hơn cả thế…
– Đến chú còn không biết
chú tên chi, từ đâu đến đây mà đòi… – Tôi cười vỗ vỗ vào lưng chú – Được rồi,
sau này cháu sẽ bảo vệ chú.
– Tên Thò…ong … Nhất nhất
định nhé…
Tôi gật đầu.
Tôi đã nghĩ mãi những lời
bâng quơ của chú Thòong thốt ra. Lời chú Thòong hôm đó có thể đúng, có thể sai
nhưng đã gieo vào lòng một đứa trẻ miền biên viễn như tôi một ước mơ cháy bỏng.
Chú Thòong đã ở bên tôi
suốt cả mấy tháng mùa thu hanh heo khô quắt cho đến những ngày mưa phùn rét mướt.
Chú hay bày trò cho đoạn đường đến trường của tôi ngày một gần hơn. Những ngày
được về nhà, hai chú cháu thường đi rừng nhặt hạt dẻ, chú nhìn khói bếp bay mờ
mịt dưới những gốc mận nở hoa trắng xóa mơ tưởng:
– Tiến sau này lớn lên
làm homestay cho bản mình chắc sẽ có nhiều người đến du lịch.
– Ai mà lên đến đây – tôi
cười trước cách nói ngây thơ của chú Thòong…
– Sau Tiến đưa họ lên…
– Thôi được – tôi miễn cưỡng.
Tôi đã hứa với chú Thòong
rất nhiều những điều vu vơ như thế vì nghĩ những điều đó làm sao có thể được.
Người đến với bản tôi nhiều nhất là các cô giáo cấp 1 rồi cũng đi sau khi họ vận
động trẻ con đi học không thành. Rồi đến những người đi rừng xin trú chân qua một
đêm và đi.
Khi tôi quen với đoạn đường
dốc dài, với những bài tập chạy, tập leo trèo, nhảy hố, vượt tường và khả năng
phán đoán địa hình, thời tiết thì chú Thòong đột ngột biến mất như khi chú đến.
Đêm đó, cả làng bị thức giấc bởi những tiếng súng nổ dồn dập liên hồi. Một đợt
truy bắt tội phạm ma túy lớn nhất từ trước giờ đã làm mọi thứ xáo trộn. Những
người đàn ông ngày ngày đi rừng đã trở thành đồng phạm của bọn buôn bán ma túy
khi nhận cõng hàng qua biên giới qua đường tiểu ngạch. Người ta còn phát hiện
ra trong những cánh rừng giáp biên vẫn có những cánh đồng trồng cây anh túc. Đến
khi họ bị bắt đi, cả bản tôi vẫn chưa hết bàng hoàng.
Chú Thòong biến mất trong
dịp ấy. Cả nhà tôi bần thần, nhưng người sốc nhất vẫn là tôi. Bố tôi sau khi kiếm
tìm chú suốt mấy ngày trời không tìm ra tung tích, mỗi bữa ăn đều buông lời
phàn nàn vì đã lỡ để chú Thòong theo sát tôi vào những ngày đến trường: “Biết
chừng nó lại rủ rê thằng Tiến nhà mình đi xách hàng cấm”, “biết đâu…biết đâu”…
Tôi lúc đó chỉ muốn hét lên rằng, tôi không tin chú Thòong có thể làm việc gì
đó xấu. Tôi gào lên tôi chỉ lo chú Thòong có thể đã bị người ta sát hại hay chú
bị đánh ngất ở đâu đó khi bọn xấu muốn bịt đầu mối, nhưng tôi không có đủ lý lẽ
để có thể biện hộ cho chú. Tôi vùng đứng dậy, nước mắt lã chã chạy xuống cả một
đoạn dốc dài.
Mùa đông buồn tê tái. Gió
lạnh thun thút thổi làm gục mọi ý chí muốn ra khỏi nhà của cha tôi. Mẹ tôi đẻ
thêm em bé. Cha tôi nhìn bốn đứa trẻ lít nhít tuổi nhau thở dài: “Hết đợt mưa
này, thằng Tiến theo tao vào rừng”.
Tôi ngồi bên liếp cửa
nhìn ra ngoài trời ướt sũng không biết vui hay buồn. Nhà sáu miệng ăn, các em
còn chưa đủ sức trèo lên cây hồng hái trái chín giúp mẹ thì làm sao tôi có thể
tiếp tục được đi học.
– Thằng Tiến hái đi một
gùi hồng mai xuống thị trấn đem cho bà Xơn mà lấy tiền đóng học phí.
Lời mẹ nói nhỏ tưởng như
rì rầm mà có sức mạnh kinh khủng đẩy tôi ra khỏi hiện thực phũ phàng đang diễn
ra trước mắt. Bố tôi ngồi im. Tôi hết nhìn bố sang nhìn mẹ, định mở miệng nói
“con nghỉ học” nhưng rồi ngay lập tức trước mắt tôi hiện ra con đèo trước mắt,
Cổng Trời mờ mịt sương giăng. Tôi muốn đi ra ngoài thế giới rộng lớn đó, tôi muốn
cho người ta biết, phía sau cổng trời đó, bản mường tôi như một người đẹp say
ngủ đang chờ người đánh thức.
Tốt nghiệp THPT, tôi đăng
ký nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện, tôi được chọn về làm nhiệm vụ cận vệ. Tôi
đã rất tự hào khi biết để tìm ra những tân binh ưu tú nhất trong hàng chục
nghìn thanh niên trúng tuyển nghĩa vụ quân sự không phải là điều dễ dàng. Đôi
cánh chú Thòong chắp cho tôi, tôi đã dang rộng bay cao rồi. Tôi đã thực hiện được
giấc mơ của mình là trở thành một người lính cảnh vệ hoàn thành nhiệm vụ và được
xuất ngũ. Ngày mai đây, tôi lại trở về với Cổng Trời của mình. Về để viết tiếp
giấc mơ của chú về Cổng Trời đang như một người đẹp say ngủ cần tôi đánh thức.
– Hạ sĩ Vừ Văn Tiến!
Một tiếng nói vang lên
sau lưng khiến tôi giật mình. Tôi đứng bật dậy, xoay mình, dơ tay lên ngang đầu.
Trước mắt tôi là chú Thòong, chú Thòong trong bộ đồ quân phục đang dang rộng
vòng tay ôm chầm lấy tôi mắt ngấn nước. Tôi òa khóc. Đã vào trong quân ngũ, nếm
mật, nằm gai chịu đựng bao nhiêu thử thách, nước mắt tôi cũng không rơi như thế
này. Tôi úp mặt vào vai chú. Chú vỗ vỗ vào lưng tôi nghẹn ngào: “Cái thằng nhóc
này…”, rồi chú cũng khóc.
Sau này, tôi mới biết, cuộc
chia tay không báo trước của chú có kế hoạch từ trước, ngay sau khi có vụ vây bắt
ma túy lớn đó xảy ra.
– Thế đấy – chú Thòong vỗ
vai tôi – Đến lúc phải về rồi chứ?
– Vâng ạ – tôi đưa tay
lên lau nước mắt – Cháu đã thực hiện được giấc mơ của mình là đi thật xa, giờ
đã đến lúc cháu phải trở về để thực hiện lời hứa của mình.
– Ngày mai, ta cùng về lại
Cổng Trời.
– Rõ!
Trời vừa chớm sang chiều,
Cổng Trời đã xẩm xẩm tối. Dưới cánh rừng hoa mận trắng, hoa cải vàng có hai người
lính vừa bước xuống xe. Người lính già đi trước, người lính trẻ theo sau cùng
đi lên đèo. Họ bước vội vã xuyên qua những tán cây vội vàng. Xa xa, phía cuối
con dốc, chỗ khúc quanh vào bản, sau những rặng hồng chín rực như lửa, Cổng Trời
dần hiện ra trong mù sương khiến hai người vội vàng. Thật chẳng có con đường
nào mà lại đi đến sốt ruột bằng con đường trở về nhà đến thế…
21/5/2026
Trần Quỳnh Nga
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Nơi ấy là cửa biển
Nơi ấy là cửa biển
Đêm khuya lắm rồi mà Vui
vẫn chưa ngủ. Vui ngồi dựa lưng vào đầu giường. Trên đùi là chiếc Ipad với giao
diện của trang Facebook. Vui dán mắt vào màn hình, chăm chú đọc dòng chữ vừa hiện
lên sau tiếng “tích”:
Cửa biển: Ông đi ngủ đi,
bên ấy đã là 2 giờ đêm rồi đấy?
Vui mổ cò trên bàn phím,
rồi nhấn enter:
Nhớ quê hương: Chưa ngủ.
Già rùi. Khó ngủ lắm.
Cửa biển: Ngủ đi, mai còn
lấy sức mà làm.
Những dòng hội thoại cứ
thế nối tiếp nhau:
Nhớ quê hương: Tui làm
cái nghề “Quanh năm xoong chảo đen xì/ Nước sôi ùng ục thấy gì tương lai”. Ngủ
sớm hay ngủ muộn chả ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới đâu bà ơi.
Cửa biển: He, thế
thì chém tiếp chút nữa, rồi tôi phải tập trung làm việc, 8 giờ rồi, muộn mất.
Nhớ quê hương: Tôi
có quà cho bà đây, nhận nhé: “Ngày xưa thắt đáy lưng ong/ Giờ đây đi chật cửa
phòng vậy sao/ Thôi về nhớ tập thể thao/ Ăn ít 1 chút cho hao … mỡ phần”-
haaaaa…
Cửa biển: Trả hàng này:
“Bắc cước Tỷ mới luyện 1 năm//Thế mà khối kẻ đã bị băm/ Đệ mà loạng quạng thì đừng
trách/ Kẻo lại kêu: “Trời, Tỷ chơi khăm”.
Nhớ quê hương: hiiii, bà
vẫn ứng khẩu nhanh đấy nhỉ. Làm thơ tặng bà xong, tôi cười đến nỗi miệng chưa
ngậm lại được. Bây giờ con ngan nhà tôi mà tỉnh dậy nhìn thấy, có khi tưởng tôi
điên, kakakaka…
Vui bật cười. Giật mình
nhìn sang bên. “Con ngan” nhà Vui vẫn ngủ say sưa. Vui chát tiếp một lúc nữa, đến
khi cô bạn thoát mạng Vui mới tắt máy đi ngủ.
Cửa Biển là cô bạn thân học
hồi cấp 2 mà Vui mới tìm lại được sau hơn hai mươi năm bặt tin. Cửa Biển chỉ là
nickname, nhưng Vui lại thích coi đó là tên thường gọi của cô ấy, vì nó khiến
cho Vui cảm thấy thân thiết hơn, gần gũi hơn với quê hương mình. Vui thấy cái
tên ấy còn có gì đó mang đặc trưng tính cách của con gái đất Cảng, những thứ rất
riêng mà Vui chỉ cảm nhận được chứ không thể diễn tả bằng lời. Mỗi lần thấy cái
tên đó hiện trên dòng status, Vui lại thấy gương mặt cô bạn cười rạng ngời, cái
cười kiêu hãnh kiểu: “Vâng! Tôi là con gái Hải Phòng!”.
Kéo chăn đến ngang ngực,
Vui nhắm chặt mắt, nhưng niềm vui tưởng nhỏ nhoi ấy khiến cho đầu Vui vẫn tỉnh
như sáo. Đã gần một tháng nay, lịch sinh học của Vui bị đảo lộn hết cả. Trước
đây, cứ sau một ngày làm việc mệt nhọc, buổi tối Vui bật TV xem kênh VTV4 một
lúc rồi đi ngủ ngay. Nhưng những ngày này, hôm nào Vui cũng thức khuya, thậm
chí Vui còn mong ngày làm việc chóng kết thúc để Vui còn lên mạng chát với bạn
bè. Cái facebook này hay thật, nhờ nó mà người ta có thể tán chuyện với nhau dù
ở cách xa hàng chục nghìn cây số. Nhờ nó mà người ta có thể tìm thấy nhau dù bặt
tin đã mấy chục năm ròng.
Trước đây, mấy đứa con suốt
ngày dán mắt vào điện thoại, Vui ghét. Càu nhàu. La lối. Bọn chúng vẫn không
thôi. Vui vào thử xem có gì mà bọn chúng nghiện thế. Vui lấy nick là “Nhớ
quê hương”, upload cái bản mặt phèn phẹt, kèm quả kính cơn đen sì mà Vui tự
chụp bằng điện thoại lên làm hình đại diện. Rồi một ngày đẹp trời, bỗng dưng có
cái nick “Cửa Biển” nhảy vào: “Hây, Vui béo phải không”. Vui bấm, xem cái hình
đại diện, nhận ngay ra là cô bạn học hồi nhỏ, tên My. Mừng quá, chát luôn. Qua
My, Vui tìm lại được biết bao bạn bè, có người cùng ở Đức mà Vui không biết, chỉ
cách thành phố nơi Vui sống có ba trăm cây. Có người làm việc ở Úc, ở Ấn Độ…
còn phần đông vẫn ở Việt Nam. Mà chả ở đấy thì ở đâu. Quê cha đất tổ ở đấy,
sinh ra, lớn lên ở đấy, già thì đào sâu chôn chặt ở đấy. Mấy ai xa quê như Vui
đâu.
Tìm lại được bạn bè, dù
chỉ được trò chuyện và nhìn thấy nhau qua màn hình điện thoại hay máy tính, Vui
vẫn thấy thật hạnh phúc và ý nghĩa. Vui thấy như vừa tìm lại được quê hương. Mới
đấy mà đã hơn ba chục năm rồi. Lớp Vui xưa là lớp chọn của trường nên bạn bè
Vui ở Việt Nam khá thành đạt, đứa là Tiến sĩ, Thạc sĩ, đứa làm giám đốc này,
trưởng phòng nọ. Mấy đứa đang ở Úc và Ấn Độ thì toàn làm việc tại Đại sứ quán,
Lãnh sự quán Việt Nam. Vui lại buồn. Bao năm vất vả mưu sinh xa quê từ thuở mười
sáu tuổi, giờ kinh tế mới gọi là tạm ổn. Vui nén tiếng thở dài, nhìn sang bên cạnh,
“con ngan Tây” nhà Vui vẫn say giấc nồng.
Vui cứ nằm như thế, hai
tay đan vào nhau gối dưới đầu, mắt chăm chắm nhìn lên khoảng không trước mắt.
Bao ký ức của những ngày thơ ấu, tưởng quên, nay lần lượt sống dậy. Vui nhớ những
tháng năm học trò. Nhớ ngôi trường với dãy nhà cấp bốn cũ kỹ rêu phong. Nhớ lại
từng gương mặt thầy cô, bạn bè trong tấm hình mà bạn Vui post lên facebook hôm
trước. Thầy Quang chủ nhiệm và dạy môn Văn. Vui học kém Văn nên bố mẹ gửi học
thêm ở nhà thầy cùng Sỹ và Lê Anh. Ba đứa bọn Vui có lần còn lục nồi cơm nguội
nhà thầy. Cô giáo dạy Toán mà bọn Vui gọi là cô Nguyệt trẻ, bởi đúng là cô trẻ
so với tuổi, vóc dáng đẹp, làn da trắng mịn và khuôn mặt xinh một cách quý
phái. Cô nghiêm khắc nhưng cũng rất tâm lý và thương yêu học sinh nên đứa nào
cũng quý cô. Rồi cả thầy Phồn dạy Vật Lý, thầy Dưỡng dạy Sinh học. Từng gương mặt
các thầy cô và những giờ học cứ thế lần lượt hiện lên trong đầu Vui. Nhớ sao
cái buổi sáng giữa mùa thu, đương giờ chào cờ, thầy Kim đang nhận xét thì một
cơn gió heo may ào tới. Và một trận mưa lá phượng trút xuống sân trường. Học
sinh đồng loạt ồ lên thích thú. Nhiều thầy cô giơ tay hứng lấy những lá phượng
vàng ươm. Thầy Kim ngừng lời, dành những phút tĩnh lặng để mọi người cùng tận
hưởng cái khung cảnh và khoảnh khắc thiên nhiên tuyệt đẹp ấy.
Rồi Vui nhớ lại những chiều
được nghỉ học đi chơi. Cả bọn kéo nhau lén chui qua rào thép gai để vào sân bay
quân sự gần trường, leo lên những chiếc máy bay đã cũ kỹ hư hỏng, giả làm phi
công. Có hôm bị các chú bộ đội phát hiện, bọn chúng ù té chạy, có thằng bị dây
thép gai cào chảy máu cả lưng. Ấy thế mà chẳng chừa. Như thể cái gì càng bị cấm
thì càng có sức hút. Vui nhớ từng con đường mòn, từng lỗ rào, từng rạch nước
nơi bọn Vui “đột kích” vào sân bay. Cái sân bay ấy đến giờ vẫn được gọi bằng
tên mà Pháp đặt từ hồi xây dựng năm 1912. Cái sân bay ấy chính là nơi ghi dấu
chiến công oanh liệt của quân ta: phá hủy 59 chiếc máy bay và nhiều phương tiện
quân sự của Pháp lúc bấy giờ, để làm nên chiến thắng Cát Bi rực lửa vào lúc 0
giờ 45 ngày 7 tháng 3 năm 1954 ấy. Vui nhớ như in những con số, bởi ngôi trường
Vui học mang tên Cát Bi.
Hằng năm, mỗi dịp kỷ niệm
chiến thắng này là một lần bọn Vui được các thầy cô ôn lại để ghi nhớ những
phút giây hào hùng, oanh liệt ấy. Giờ đây nghĩ lại, Vui bỗng thấy thật tự hào về
cái vùng đất nơi Vui được sinh ra và lớn lên. Hai mươi mấy năm xa rồi. Vui đã
đi qua biết bao thành phố đông đúc, hiện đại của phương Tây, vậy mà từng cảnh vật,
từng âm thanh vẫn hằn sâu trong Vui. Vui nhớ những con phố đơn sơ nhưng lúc nào
cũng nhộn nhịp, rộn rã tiếng nói cười. Nhớ cả những buổi sáng ồn ã trong dãy tập
thể của công nhân nhà máy. Nhớ tiếng khoá cửa lục cục, tiếng chào hỏi nhau xôn
xao, tiếng líp xe đạp kêu lách tách, ro ro theo những bóng áo xanh xa dần,
trong đó có cả cha mẹ Vui. Ôi, nhớ… Mới nhớ có ngần ấy thôi, ruột gan Vui đã thấy
cồn cào. Mắt Vui bỗng cay xè. Và rồi dòng nước ấm tràn ra hai bên thái dương của
Vui.
Có một hôm, sau khi nghe
Vui bộc bạch tâm tư và nỗi nhớ quê hương, Cửa Biển an ủi:
– Ông đừng buồn, hãy thử
nghĩ và tìm cách quay trở về xem sao. Ông có quyền trở về bất cứ khi nào ông muốn
cơ mà. Và nếu có thể, hãy nghĩ xem mình còn làm được gì hơn nữa cho quê mình.
– Tôi hỏi thật, nếu giờ
tôi về làm tiệm ăn ở Việt Nam, bà thấy có được không? – Vui đột nhiên chuyển mạch
câu chuyện sang hướng khác.
– Tiệm ăn Nhật, giống như
cái ông đang làm ở Đức ấy hả?
– Ừ.
– Ơ, được quá đi chứ, Hải
Phòng mình hình như chưa có cái nào. Mà làm tiệm ăn ở cái thành phố đông đúc
này, đã ai không trụ nổi đâu. Luôn đi thôi?
– Luôn thì đã sướng, tôi
còn vướng những ba toa đằng sau, tôi muốn chúng được học hành tử tế bên này,
tương lai mai sau tính tiếp. Con ngan nhà tôi thì đơn giản, mấy lần tôi dò ý,
thấy không phản ứng chuyện về sống ở Việt Nam. Hắn bảo tôi đi đâu, hắn đi đó.
– Nhất ông rồi. Vậy thì vấn
đề còn lại của ông là phải cân nhắc, tính toán thật kỹ thôi. Trai Hải Phòng sợ
gì sóng gió, vất đâu chả kiếm được ăn.
– Làm đủ ăn không tính
làm gì, tôi có dự định lớn hơn, tính mở cái gì đó ở Việt Nam để các em tôi làm
ăn, chứ chúng còn lông bông lắm.
Thế là, câu chuyện của
hai người bạn quay hẳn sang chủ đề làm kinh tế. Nếu giữa thành phố Cảng, và rồi
ở nhiều thành phố khác của Việt Nam mọc lên những nhà hàng chuyên cá ngừ thì
sao nhỉ, với những món ăn đúng phong cách Nhật và cả những món cá đặc trưng,
truyền thống của Việt Nam? Làm thế nào để ngư dân Việt Nam có tàu vỏ sắt hoặc
tàu lớn hiện đại hơn, vững chãi hơn để vươn khơi bám biển. Nếu họ biết cách
đánh bắt, bảo quản cá ngừ đại dương theo đúng tiêu chuẩn thì con đường nào,
phương cách nào để những con cá ấy được xuất sang Nhật Bản mà vẫn còn tươi
nguyên?
Bấy nhiêu câu hỏi họ đặt
ra là bấy nhiêu bước trong bản kế hoạch dần được định hình. Vui chỉ băn khoăn:
Liệu Vui có thuyết phục được thầy Kato Hitoshi đồng ý hợp tác, chuyển giao
phương pháp đánh bắt, bảo quản cá ngừ đại dương hay không mà thôi.
Những băn khoăn lo lắng,
Vui không dám nói ra với Cửa Biển. Trước khi thoát mạng, Vui không quên dặn cô
bạn liên lạc sớm với Hải, một người bạn cùng lớp hiện đang làm cán bộ quản lý ở
một tỉnh miền Trung.
Sau đêm ấy, Vui mất ngủ
thêm mấy đêm liền. Khi đã cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng lại tất cả mọi vấn đề,
Vui quyết định bay sang Nhật thăm thầy Kato sớm hơn thường lệ, cũng là để xin ý
kiến và bàn chuyện với thầy.
Thầy Kato đang là Giám đốc
điều hành của một công ty xuất nhập khẩu và kinh doanh chuỗi cửa hàng hải sản tại
Nhật. Thầy còn là một thành viên tích cực của Hội hữu nghị Nhật – Việt tại
Sakai. Sau khi nghe Vui trình bày dự định và kế hoạch, thầy không giấu được vẻ
vui mừng:
– Ồ, vậy là thầy trò ta
cùng tư tưởng, chí hướng rồi.
Thầy dành suốt buổi hôm ấy
để phân tích với cậu học trò quý mến của mình về vấn đề mối quan hệ đối tác chiến
lược sâu rộng giữa Nhật Bản – Việt Nam. Thầy cung cấp thêm cho Vui nhiều thông
tin hơn về việc hợp tác đánh bắt cá trên biển Đông.
Nghe thầy nói, Vui không
kìm nổi vẻ sung sướng, bật hẳn người lên:
– Thầy, vậy là con lại gặp
vận may rồi.
Thầy Kato góp ý cho kế hoạch
của Vui, không quên nói với Vui rằng, sức mạnh lớn nhất không gì khác chính là
nội lực của chính bản thân mình. Thầy hứa sẽ ủng hộ và giúp Vui thực hiện những
dự định tốt đẹp ấy.
Khi chia tay Vui, giọng
thầy đột nhiên lắng xuống, đầy xúc động:
– Thầy bất ngờ khi con
quyết định sớm thế. Dù có đi đâu, cuối cùng rồi cũng phải về nhà thôi, con ạ.
– Xong cả rồi, bà ạ.
Vui hồ hởi khoe với cô bạn
khi đèn chat phía cô ấy bật xanh. Chưa kịp chờ bạn trả lời, Vui tiếp:
– Một mình tôi về trước,
vào thẳng miền Trung với thằng Hải luôn rồi mới quay ra đó với các bà.
– Đi bước nào chắc bước
đó nhé.
– Biết rồi, bà cứ nhắc thừa.
Tôi sẽ về đó đúng ngày Tết Độc lập luôn, để được sống trong cái không khí tưng
bừng mà bao lâu nay tôi chỉ thấy trên TV thôi, xem cảm xúc thế nào. À mà này,
sao bà lại lấy nick là Cửa Biển? Cái tên của bà làm tôi luôn thấy ấm lòng mỗi
khi nhắc đến.
Một khoảng lặng khá dài
trôi qua, trước khi những dòng chữ mới hiện lên:
– Vì ở nơi ấy, tất cả các
dòng sông đều cuồn cuộn uốn mình trước khi hối hả ùa ra biển lớn, để lại mỡ màu
phù sa bồi đắp cho những bãi bờ. Vì đấy là nơi dang rộng vòng tay chở che cho
những con thuyền mỏng manh vào trú đậu, tránh cơn bão tố phía khơi xa. Đấy cũng
là nơi dịu dàng và ân cần chào đón những con tàu hân hoan trở về sau chuyến hải
hành dài vạn dặm. Nơi ấy là cửa biển.
Cảm giác rạo rực dâng đầy
trong Vui sau dòng tin nhắn ấy. Mắt Vui nhòe đi. Vui thấy hiện lên hình ảnh những
con tàu đánh cá lừng lững vươn khơi. Vui thấy những ngư dân vững vàng hiên
ngang nơi đầu sóng. Vui thấy những khoang tàu đầy ắp cá tôm về bến mỗi bình
minh. Những con cá ngừ da xanh ngắt được chuyển đến các cửa hàng, được đi máy
bay sang Nhật. Vui đứng đó, giữa vòng tay thân thương, yêu mến của bạn bè, giữa
rừng cờ hoa rực rỡ của ngày Tết Độc lập. Tim Vui nghẹn lại. Vui không còn là
người Nhớ quê hương nữa.
Vui phải về. Vui phải về
thôi!.
25/5/2026
Đặng Thị Thúy
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Nàng dâu ghê gớm
Nàng dâu ghê gớm
Nếu mọi người vẫn muốn
tin vào những lời ma mị để kẻ ngoài dắt mũi làm khổ gia đình, thì đó là việc của
các anh các chị. Nhưng với tư cách là con cháu trong nhà, em không cho phép bất
kỳ ai đem cụ nhà mình ra làm trò cười thêm một lần nào nữa. Từ giờ phút này, việc
gì đúng đạo lý em làm, việc gì sai trái em kiên quyết không đồng ý!
Màn kịch của lão thầy bói
“Kính Đen” cuối cùng cũng khép lại trong ê chề. Tất cả những lời phán truyền
hùng hồn, những nghi lễ rình rang suốt mấy ngày qua bỗng chốc tan thành mây
khói, ngay giây phút nhát cuốc cuối cùng xới vào lòng đất lạnh: Không có tiểu
quách, cũng chẳng có dấu tích nào cả. Dưới nấm mồ chỉ là lớp đất sét nâu xỉn,
trơ trọi như một lời mỉa mai cay nghiệt vào sự mê muội của người đời. Lão thầy
cùng đám đồ đệ vội vàng cuốn gói, lủi thủi rời đi trong nhục nhã.
Anh Minh – Trưởng họ, đứng
lặng đó, gương mặt tái mét không còn một giọt máu. Cả cơ thể cường tráng và
dáng vẻ phấn chấn khi nãy bỗng chốc rũ xuống như nhành cỏ héo trước ngọn lửa lớn.
Không chỉ là nỗi nhục nhã vì bị lừa gạt, mà một nỗi sợ hãi vô hình bao trùm lấy
tâm trí anh. Những lời thao túng về “vận hạn”, về “người âm quở trách” của lão
thầy trước đó giờ như những bóng ma lởn vởn, khiến lòng tin bấy lâu nay trong
anh hoàn toàn vụn vỡ.
Giữa lúc anh Minh đang
chơi vơi như người chết đuối, thì người lái máy xúc khoảng 40 tuổi đã lặng lẽ
quan sát mọi việc từ sáng đến giờ tiến lại gần. Gã đặt bàn tay thô ráp lên vai
anh Minh, thì thầm bằng giọng ra vẻ thấu cảm:
– Em biết có một thầy này
cao tay lắm, em sẽ giới thiệu giúp anh. Anh yên tâm, chắc chắn gia đình sẽ tìm
thấy các cụ thôi.
Như người sắp chết chìm vớ
được cọc gỗ, anh Minh bừng tỉnh, nắm chặt lấy bàn tay sạm nắng của người lái
máy xúc như thể nếu không gã sẽ biến mất:
– Thầy ở đâu? Chú làm ơn
giới thiệu giúp tôi. Chú giúp gia đình tôi với chú nhé!
– Vậy tối nay em sẽ đưa
các anh qua gặp thầy.
Câu nói ấy như một liều
thuốc tiên. Anh Minh bỗng chốc “xanh tươi” trở lại sau cơn héo rũ ban chiều.
Tối hôm ấy, sau một ngày
kiệt sức dưới cái nắng đầu mùa oi ả, đại gia đình vừa dùng xong bữa cơm muộn,
anh Minh đứng dậy, nói giọng nghiêm nghị của người ra lệnh:
– Các chú tranh thủ uống
nước rồi theo tôi đi có việc ngay!
Anh Ánh, chú Tuân và
Hoàng vội vã buông chén nước uống dở. Anh Minh quơ vội cái áo khoác lên vai rồi
nhanh chóng giục mọi người. Chiếc xe lao đi trong đêm, ánh đèn pha xé toạc màn
sương đang bắt đầu bảng lảng giăng trên những cánh đồng trũng. Bên trong xe, một
bầu không khí đặc quánh sự ngột ngạt. Anh Minh ngồi ở ghế phụ, mắt dán chặt vào
những vệt sáng lướt qua cửa sổ, tay liên tục vân vê chiếc điện thoại như chờ đợi
một phép màu.
Hoàng – vốn là một thầy
giáo, người từ trước tới nay không tin vào chuyện bói toán, không nhịn được anh
lên tiếng:
– Anh Minh này… mình có vội
vàng quá không? Tay lái máy xúc đó liệu có chắc chắn, hay lại là một gã “cò mồi”
khác dẫn mình đến cho một lão “Kính Đen” thứ hai?
Câu hỏi của Hoàng như một
gáo nước lạnh tạt thẳng vào sự kỳ vọng đang bùng cháy của anh Minh. Tuân ngồi
ghế sau cũng dè dặt hùa theo:
– Em cũng lo lắm. Hồi
sáng mình mất mặt với dân làng thế là đủ rồi. Giờ mà lại bị lừa nữa, thiên hạ
cười cho, lại bảo nhà mình có tiền mà không có trí.
Anh Minh không quay đầu lại,
giọng anh khản đặc nhưng đanh thép:
– Các chú thôi đi! Còn nước
còn tát. Lòng tôi đang như lửa đốt đây này. Nếu không tìm được các cụ làm sao
tôi yên lòng được chứ. Thật giả đến nơi sẽ rõ.
Câu nói của anh Minh khiến
Hoàng thoáng lặng người. Anh nhận ra phía sau sự cố chấp ấy là cả một gánh nặng
trách nhiệm mà người anh trưởng đang gồng gánh.
Anh Ánh ngồi cạnh Tuân, vốn
là người ít nói nhất, chỉ khẽ thở dài. Anh gầy gò, nay mặt mày lại càng hốc
hác, dáng vẻ thất thần như kẻ mất hồn. Anh cũng giống anh Minh, không chỉ đơn
thuần đi tìm mộ, mà đang đi tìm một lối thoát cho sự hoảng loạn đang gặm nhấm
tâm trí sau những lời hù dọa ác độc của lão Kính Đen.
Xe dừng lại ở bên một
ngôi làng cổ. Gã lái máy xúc đã đợi sẵn, đứng tựa lưng vào gốc đa già, đốm thuốc
trên tay lập lòe đỏ rực giữa màn đêm.
– Đến rồi, các anh đi bộ
theo em. Thầy không thích tiếng động cơ làm phá vỡ không gian yên tĩnh nơi đây.
Cả nhóm đi bộ vào một con
ngõ sâu hút, lát gạch nghiêng đã rêu phong. Trái ngược với điện thờ nguy nga, sặc
sỡ của lão ‘’Kính Đen’’, nơi ở của thầy này hiện ra là một ngôi nhà ba gian mái
ngói cổ kính, sân gạch rải rác lá rụng. Không có tiếng chuông khánh rộn ràng,
chỉ có mùi thơm thanh khiết của hoa mộc thoảng trong gió đêm.
Dưới hiên nhà, một người
đàn bà có vóc dáng đậm đà, vững chãi đang thong thả pha trà. Cô ta có móng tay
nhọn hoắt sơn trắng tinh và đôi môi đỏ chót tựa như được quét sơn. Đôi mắt một
mí cụp xuống, cô ta khoảng hơn 40 tuổi, toát lên một vẻ bí ẩn vừa sắc sảo vừa
khó đoán. Đó là cô Liên. Thấy nhóm người đi vào, cô không ngẩng đầu lên, chỉ thản
nhiên rót nước vào bốn chiếc chén nhỏ:
– Các anh đường xa vất vả,
uống chén nước cho tịnh tâm đã. Chuyện dưới đất, cứ để lòng mình yên thì đất mới
mở lời.
Anh Minh bước lên định quỳ
xuống, nhưng cô Liên đã giơ tay ngăn lại. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào anh, dịu
dàng nhưng dường như xuyên thấu tâm can:
– Anh đang sợ? Sợ lời
phán của kẻ khác, hay sợ chính sự hoài nghi của mình?
Anh Minh bỗng khựng lại,
đôi vai run lên bần bật. Câu nói của cô như nhát dao gỡ bỏ lớp vỏ bọc mà anh
dày công che đậy. Cõi tâm anh bấy lâu nay quả thực đang lạc lối trong nỗi sợ
hãi mà lão Kính Đen đã gieo rắc.
Sáng hôm sau, anh em con
cháu trong gia đình tôi đã tề tựu đông đủ. Không khí buổi sớm vốn dĩ thoáng
đãng, mát mẻ là thế, vậy mà lòng người ai nấy đều nặng trĩu những bồn chồn lo
âu. Chúng tôi đợi hơn một tiếng đồng hồ mới thấy chiếc xe ô tô trắng từ từ tiến
đến rồi đỗ xịch.
Từ trong xe, cô Liên bước
ra. Nhìn cô ta chẳng khác nào một diễn viên đang chuẩn bị lên sàn diễn với phục
trang cầu kỳ, cứ thế lừng lững, lặng lẽ đi vào giữa những ánh mắt đang nín thở
dõi theo.
– Con chào thầy!
Anh Minh cùng mấy người nữa
vội vã chắp tay, khom lưng cung kính. Một vài người đứng đó, vẻ mặt ngạc nhiên
xen lẫn e dè, im lặng quan sát. Cô Liên lẳng lặng đi thẳng về phía trước, nét mặt
lạnh tanh, uy nghiêm đến phát sợ. Gã lái máy xúc và hai đệ tử lục đục xách đồ lễ
theo sau. Theo cái chỉ tay đầy quyền uy của cô Liên, hàng loạt đồ mã xanh đỏ,
mũ quan, hoa quả, xôi chè được bày biện ra choáng ngợp cả một khoảng đất. Con
cháu chúng tôi răm rắp ngồi xuống phía sau lưng “thầy” như những quân cờ đã được
sắp đặt sẵn.
Cô Liên lấy từ trong túi
ra chiếc áo choàng dài màu gụ, thứ trang phục mang vẻ u tịch của chốn tu hành.
Những nén nhang được thắp lên, khói mù mịt cả một góc trời. Tiếng mõ bắt đầu điểm:
– Choeng… choeng… choeng…
Tiếng chuông quyện vào
khói hương nghi ngút, cùng tiếng cúng bái ngân nga, trầm bổng đầy ma mị. Bỗng
nhiên, cô Hoa – cháu gái cụ tôi, miệng méo sệch, mắt trợn ngược, ú ớ không
thành tiếng. Chị Kha, vợ anh Minh, thấy vậy liền lao đến mếu máo:
– Ối cụ ơi! Con là cháu
dâu của cụ đây. Chúng con lặn lội đi tìm để rước cụ về nhà mới, cụ có linh
thiêng thì chỉ bảo cho con cháu với cụ ơi!
Chị Kha cứ thế ôm lấy đứa
cháu chồng, vừa khóc lóc vừa kể lể đầy vẻ nịnh bợ. Cô Liên đứng bên cạnh, gương
mặt lạnh băng, đôi mắt lim dim rồi phán một câu xanh rờn:
– Cụ về nhập vào cô ấy đấy!
Nghe thế, cả nhà cuống
quýt xúm xít vái lạy như tế sao. Nhưng trong khi Hoa vẫn còn đang ú ớ không ra
lời, mặt mũi ngơ ngác, thì cô Liên lại đột ngột đổi giọng, âm sắc trở nên khàn
đục, đầy ghê rợn:
– Cụ thoát rồi! Bây giờ
là vong khác nhập!
Anh Minh nghe vậy thì hồn
siêu phách lạc, giọng líu cả lại vì sợ:
– Thế… thế người đang nhập
này là ai hả cô?
Ánh mắt cô Liên bỗng trở
nên bí hiểm, đầy vẻ đe dọa. Cô ta hạ thấp giọng, từng lời thốt ra như luồng gió
lạnh buốt:
– Người này là quan cai
quản cụ của anh. Họ đang ngăn trở, không cho gia đình tìm thấy cụ đâu.
Cô Liên chưa dứt lời, anh
Minh đã run như cầy sấy, mặt cắt không còn giọt máu, miệng lắp bắp không rõ tiếng:
– Vậy… vậy bây giờ phải
làm thế nào hả cô… Xin cô làm phúc chỉ đường cho nhà con…
– Phải lập đàn cúng lớn để
bắt lấy cái vong ấy nhốt lại! – Cô Liên chém tay vào không trung. – Nếu không,
nó sẽ theo về quấy quả, ám quẻ cho các anh tan cửa nát nhà đấy. Nguy hiểm lắm!
Anh Minh run rẩy đến mức
đứng không vững, vội vã khẩn khoản:
– Gia đình con trăm sự nhờ
cả vào cô. Xin cô ra tay cứu giúp, tốn kém bao nhiêu nhà con cũng chịu ạ!
Cô Liên khẽ lắc đầu, vẻ mặt
tỏ ra vô cùng nan giải:
– Khả năng của tôi cũng
có hạn, tôi chỉ cúng bước khởi đầu được thôi. Phải là chị tôi – người có đủ
pháp lực trấn áp mới bắt nổi cái vong này. Chị tôi cũng phải kết hợp với sư thầy
ở đền… mới nhốt được nó lại. Sau đó mới dùng đến máy xúc mà đào. Và anh nên nhớ
cho kỹ…
Cô ta dừng lại một nhịp,
nhìn xoáy vào mắt anh Minh như muốn thôi miên:
– Ở cái đất này, chỉ có
tôi mới nhìn thấy cụ. Còn lại, tất cả các anh đều đã bị màn sương mù che mắt hết
cả rồi!
Cả không gian lặng đi. Những
khuôn mặt cúi gập xuống, nỗi lo âu hiển hiện rõ mồn một. Tôi và Hoàng nhìn
nhau, lòng nặng trĩu một nỗi bất an tột độ. Những lời phán kia chẳng khác nào
những mũi dao tẩm độc, nhắm thẳng vào sự yếu mềm để bào mòn tâm trí, khiến người
ta chết dần chết mòn trong nỗi sợ hãi vô hình. Tôi nhìn anh Minh – người đang
hoàn toàn bị khuất phục trước những kịch bản tâm linh ác ý kia, rồi nhìn sang
những người thân đang thất thần, gương mặt xám xịt như tro tàn. Một tiếng thở
dài não lòng bật ra từ lồng ngực tôi. Trong cái mê cung của những âm mưu núp
bóng thần thánh này, liệu ai sẽ là người đủ tỉnh táo để thoát ra?
Chiều hôm ấy, tôi đang ở
khu từ đường thì nghe tiếng quát tháo ầm ĩ phía nhà trên. Dự cảm có chuyện chẳng
lành, tôi vội vàng đi lên. Đập vào mắt tôi là một cảnh tượng hỗn loạn: anh Minh
và anh Ánh mỗi người nằm thượt ra một giường, gương mặt hốc hác đầy vẻ kinh
hãi. Chị Kha và chị Mi đang xúm xít quanh chú Thi – con trai thứ hai của chú chồng
tôi. Vì quá khiếp sợ trước những lời phán truyền, chú mượn rượu giải sầu đến mức
say khướt, ngồi không vững, giọng khản đặc luyên thuyên vô nghĩa. Thế nhưng,
hai người chị dâu lại quả quyết rằng “cụ” đang nhập, cứ thế tung hứng rồi sum
xoe khép nép gọi chú là “cụ”. Trong cơn say bét nhè, chú Thi cũng bắt đầu lên
giọng bề trên để dạy bảo con cháu.
Nhìn cảnh tượng nực cười
đến xót xa ấy, lồng ngực tôi như có ngọn lửa bùng lên. Sự im lặng bấy lâu nay
đã vỡ òa thành một quyết tâm sắt đá. Tôi nhận ra mình không thể đứng nhìn thêm
một giây phút nào nữa, không thể để mặc gia đình này tiếp tục rơi xuống hố sâu
của sự cuồng tín và bị kẻ khác dắt mũi thêm được nữa.
Tôi nhìn chị Kha, hỏi bằng
giọng sắc lạnh:
– Có chuyện gì mà mọi người
ầm ĩ cả lên thế ạ?
Chị Kha chỉ tay vào chú
Thi, vẻ mặt sùng bái xen lẫn hù dọa:
– Cụ về đang nói chuyện!
Cụ bảo nếu không nhờ cô Liên cúng cho thì cái vong ấy sẽ về bắt vài mạng nhà
mình đấy thím à!
Tôi nhìn sang chú Thi,
gương mặt chú tái nhợt vì rượu, người lảo đảo không trụ vững. Tôi tiến lại vỗ
vai chú, nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát:
– Chú say rượu quá rồi.
Chú về nhà nghỉ đi.
Chú Thi trợn mắt quát:
– Tao không nói chuyện với
mày! Mày là con cháu tao…
Không để chú nói hết câu,
tôi chỉ thẳng tay vào mặt chú, giọng đanh lại đầy uy quyền:
– Chú say lắm rồi. Chú về
nhà nghỉ ngay cho tôi!
Trước sự quyết liệt đột
ngột của tôi, chú Thi im bặt, lóng ngóng hai tay đan vào nhau, đầu cúi gằm như
kẻ mắc lỗi. Chị Kha thấy “kịch bản” bị phá hỏng, môi run lẩy bẩy, cố tỏ vẻ ngây
ngô hòng che đậy sự lúng túng:
– Thím… thím quát tháo cụ
như vậy là hỗn đấy? Cụ đang về dạy bảo mà… Thím làm như vậy sẽ bị quở trách đấy…
Tôi quay sang nhìn thẳng
vào mắt chị, không chút kiêng dè:
– Chị thôi đi! Chị không
thao túng tâm lý tôi được đâu. Đừng cố tình lấy cái danh người chết để gán cho
người say rượu nói linh tinh nữa. Cụ nhà mình khi sinh thời là người khôn
ngoan, đức độ, không bao giờ mượn lời của một kẻ say rượu bét nhè để dạy bảo
con cháu luyên thuyên như thế cả. Chị đừng có đem linh hồn của cụ ra mà hù dọa
mọi người rồi làm trò cười như thế nữa!
Bị nói trúng tim đen, chị
Kha cứng họng, mặt tím tái lại vì vừa thẹn vừa giận. Chị ta không còn lý lẽ nào
khác, bèn chống nạnh, cao giọng lấy vị thế dâu trưởng ra đè nén:
– Thím… thím đừng cậy bỏ
tiền ra mà lấn át mọi người. Nên nhớ thím chỉ là dâu thứ thôi. Việc thờ cúng, mời
thầy là quyền của vợ chồng tôi, thím không có quyền can thiệp!
Tôi cười nhạt, ánh mắt
đanh lại đầy bản lĩnh:
– Chị nhắc đến quyền hạn,
vậy sao chị không nhắc đến trách nhiệm? Chị ạ, em tin chắc chắn rằng cụ sẽ
không bao giờ quở trách em. Bởi vì ở cái nhà này, ai tốt xấu thế nào mọi người
đều biết, các cụ linh thiêng cũng sẽ thấu cả. Em gánh vác công việc nhà chồng
ra sao, phụng dưỡng bố mẹ lúc ốm đau thế nào, trời đất đều biết. Em không mời
thầy về cúng bái rùm beng, nhưng tuần rằm mồng một, giỗ chạp Tết nhất, em chưa
bao giờ để lạnh lẽo khói hương.
Tôi tiến lên một bước, giọng
nghẹn lại vì uất ức nhưng vẫn đầy uy lực:
– Còn anh chị thì sao? Tự
nghĩ lại đi! Bỏ mặc bố mẹ lúc ốm đau, thậm chí bố mẹ nhắm mắt xuôi tay cũng
không thấy mặt đâu. Công việc gia đình thì thoái thác hết cho các em. Giờ anh
chị lại mang thầy về cúng bái rồi cho rằng như mình mới là có hiếu với các cụ.
Anh chị tỉnh lại đi, đừng có dùng cái danh Trưởng tộc để che đậy cho sự ích kỷ
của mình nữa!
Chị Kha mặt tím lại, chỉ
lắp bắp không rõ tiếng. Đúng lúc đó, Hoàng từ dưới từ đường nghe tiếng chạy đến,
giọng anh vang lên dứt khoát:
– Em thực sự không hiểu nổi
các anh các chị nữa! Em đã cố nhắm mắt để mọi người mời hết thầy này đến thầy
kia về cúng bái, dù em thừa biết cúng bái chẳng phải cho người chết, mà chỉ để
yên lòng các anh các chị. Nhưng hết bài học từ cô Hương, ông Dũng rồi đến gã
‘’Kính Đen”, sự việc đã sờ sờ ra đó mà mọi người vẫn không chịu rút kinh nghiệm?
Bây giờ lại tiếp tục dẫn dắt cả nhà lún sâu theo cô Liên này sao?
Hoàng dừng lại một nhịp,
ánh mắt quét qua những gương mặt đang bàng hoàng, rồi tiếp tục bằng giọng đanh
thép:
– Người ta bảo “tái tam
ba bận”, đằng này các anh các chị mời đến sáu, bảy thầy cúng rồi nhưng đều xôi
hỏng bỏng không hết. Hễ ai bảo đâu có thầy giỏi là lại lao vào như thiêu thân,
cuồng tín đến mức mất cả lý trí!
Hoàng gằn giọng:
– Nếu mọi người vẫn muốn
tin vào những lời ma mị để kẻ ngoài dắt mũi làm khổ gia đình, thì đó là việc của
các anh các chị. Nhưng với tư cách là con cháu trong nhà, em không cho phép bất
kỳ ai đem cụ nhà mình ra làm trò cười thêm một lần nào nữa. Từ giờ phút này, việc
gì đúng đạo lý em làm, việc gì sai trái em kiên quyết không đồng ý!
Cả gian nhà lặng phắc, chỉ
còn tiếng gió rít qua khe cửa và mùi khói nhang nồng nặc đến nghẹt thở. Anh
Minh và anh Ánh đang nằm bệt trên giường cũng phải giật mình ngồi dậy, gương mặt
hốc hác hiện lên vẻ bàng hoàng. Họ ngơ ngác nhìn người em trai vốn dĩ bấy lâu
nay luôn giữ thái độ nhẹ nhàng để giữ hòa khí, nay bỗng chốc trở nên kiên nghị
đến lạ kỳ.
Nói rồi, Hoàng dắt tôi bước
qua đống vàng mã xanh đỏ đang bày bừa giữa nhà. Phía sau lưng, tiếng chị Kha vẫn
lu loa xỉa xói, cố vớt vát lấy chút quyền uy đang rạn vỡ:
– Anh Minh, chú Ánh thấy
chưa? Các anh để chú thím ấy lộng quyền thế à? Nếu chú thím ấy không đồng ý
cúng, xảy ra chuyện gì với cái nhà này thì ai sẽ chịu trách nhiệm đây?
Anh Minh không đáp lời,
chỉ cố ngồi dậy rồi hắt ra một tiếng thở dài thườn thượt. Hoàng nắm tay tôi đi
thẳng ra cổng. Anh dừng lại, hít một hơi thật sâu làn không khí trong lành của
buổi chiều – thứ không khí thuần khiết không còn đặc quánh mùi khói hương u tịch.
Tôi nhìn anh, khẽ hỏi:
– Anh không sợ mọi người
nói mình ghê gớm sao?
Hoàng nhìn tôi, một nụ cười
hiếm hoi xuất hiện trên gương mặt mệt mỏi:
– Thì anh thà để em mang
tiếng là nàng dâu ghê gớm, còn anh làm thằng em ngang bướng. Ít nhất, chúng ta
còn giữ được cái đầu tỉnh táo để phụng thờ tổ tiên đúng cách.
Tôi thở phào, lòng nhẹ bẫng.
Đúng vậy, đôi khi người ta phải chấp nhận đóng vai “ghê gớm” để bảo vệ những
giá trị thực sự. Chúng tôi cứ thế bước đi, để lại sau lưng cái mê cung lầm lạc
đang tự sụp đổ trong chính nỗi sợ hãi của nó.
Nắng cuối ngày nhảy nhót
trên những tán lá bưởi xanh mướt. Đi bên cạnh Hoàng, tôi thấy đôi vai anh như vừa
trút bỏ được một gánh nặng ngàn cân. Tôi ngoái lại nhìn ngôi nhà từ đường, nơi
tổ tiên ngự trị, bỗng thấy thương cho các cụ vô cùng. Có lẽ ở cõi vĩnh hằng,
các cụ cũng đang đau lòng khi thấy con cháu dùng tên tuổi mình làm bình phong
cho những nỗi sợ hãi hèn nhát và sự lười biếng trong tâm hồn.
Người ta cứ mải miết đi
tìm những “ngôi nhà mới” bằng gạch đá, tiểu quách dưới lòng đất sâu, nhưng lại
để mặc cho ngôi nhà tâm linh của chính mình trở nên hoang lạnh, phủ đầy cỏ dại
của sự mê muội. Anh Minh, anh Ánh, chị Mi, chị Kha… họ không chỉ lạc lối giữa
cánh đồng tìm mộ, mà đang lạc ngay trong chính đức tin lệch lạc của mình. Họ
bám víu vào cô Liên, vào gã Kính Đen… như những người lữ hành khát cháy giữa sa
mạc, mải miết đuổi theo ảo ảnh mà cứ ngỡ là nguồn suối mát.
Tôi siết chặt tay chồng,
cảm nhận hơi ấm của thực tại. Tôi hiểu rằng hiếu thảo không nằm ở mâm cao cỗ đầy
hay những lời phán truyền huyền bí. Nó nằm ở cách chúng ta sống tử tế với nhau
khi còn tại thế, và giữ cho hương hỏa tổ tiên được thanh sạch, không vấy bẩn bởi
những toan tính u tối.
Chúng tôi bước tiếp về
phía cánh đồng rộng lớn, nơi gió bắt đầu thổi lồng lộng, quét sạch những tàn dư
của mùi khói nhang ngột ngạt phía sau lưng. Cánh đồng bát ngát hiện ra trước mắt,
như một chân trời mới của sự thanh thản và bình yên.
27/5/2026
Nguyễn Thị Bích Vượng
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Cây đào phai bên bờ rào đá
Cây đào phai bên bờ rào đá Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời nà...
-
Thẩn thơ Võ Phiến Nhà văn Võ Phiến, sinh năm1925 tại Bình Định - qua đời chiều 28-9-2015 tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Dư luận chợt nhớ đến một sự n...
-
Nỗi khắc khoải kiếm tìm bản thể trong truyện của Nguyên Minh Nguyên Minh như một chứng nhân sinh động cho một thế hệ cầm bút từ trước 1975...
-
Đến với thơ của Bùi Hoàng Linh Tác giả Bùi Hoàng Linh đến với nghiệp văn chương khi còn đang học phổ thông tại Trường Quốc Học Huế. Thơ Bù...





