Thứ Ba, 3 tháng 11, 2026

Bất chợt mai vàng

Bất chợt mai vàng

Ngẫm ra, cuộc đời của mỗi con người, hình như là sự xâu chuỗi của những điều bất chợt. Bất chợt vui, bất chợt buồn, bất chợt được, mất, bất chợt bạn bè… Vạn vật xung quanh con người luôn bất chợt biến đổi khôn lường. Riêng cái gốc mai vàng trồng trước cửa nhà tôi thì đã năm, bảy năm vẫn không chịu đem đến cho tôi một sự bất chợt nào.

“Sáng ra sân trước một nhành mai”- Mãn Giác Thiền Sư

Như một thoáng chốc, cái gốc đào năm ngoái dựng ở góc vườn chưa kịp khô thành củi thì tháng Chạp đã xồng xộc ập đến, khi dịch Covid, từ chỗ năm, bảy chục F0 thời giãn cách đã tăng lên ngùn ngụt với hàng dăm bảy ngàn ca nhiễm mỗi ngày. Năm ngoái còn nơm nớp coi F0 như bệnh nan y, bệnh hủi, giờ đã chấp nhận sống chung với nó, thậm chí coi thường nó. Người dân mình kể cũng lạ, có thể quen với mọi thứ, thích nghi với mọi thứ, kể cả trước sự dậm dọa của cái chết.

Rồi năm, bảy ngày Tết cũng trôi qua thật nhanh như chưa hề có nó, như nó chưa từng đến. Nhưng trong năm bảy ngày ngắn ngủi ấy có quá nhiều điều bất chợt đã tìm đến với tôi, một lão già đã ngoài bảy mươi, lúc nào cũng cảm thấy thời gian đang phụ mình, buông bỏ mình để phi với tốc độ chóng mặt về phía trước.

Ngẫm ra, cuộc đời của mỗi con người, hình như là sự xâu chuỗi của những điều bất chợt. Bất chợt vui, bất chợt buồn, bất chợt được, mất, bất chợt bạn bè… Vạn vật xung quanh con người luôn bất chợt biến đổi khôn lường. Riêng cái gốc mai vàng trồng trước cửa nhà tôi thì đã năm, bảy năm vẫn không chịu đem đến cho tôi một sự bất chợt nào. Mai vàng nhưng Tết đến chỉ để lại những mầm nụ đen đúa run lên trong mưa lạnh và gió rét. Nó đã phụ công bố con tôi chăm bẵm cả năm trời. Năm nào cũng hy vọng nó sẽ nở hoa vào đúng dịp Tết. Nhưng hy vọng để mà thất vọng. Thằng con tôi có lúc ngẫu hứng bảo: Hình như nó cũng đã bị nhiễm Covid rồi. Tôi phì cười. Chưa có nhà khoa học nào phát hiện cây cũng có thể bị nhiễm Covid, ngoại trừ sâu bệnh. Mà sâu bệnh cũng là một loại reo rắc vi rút chứ sao. Con tôi lại nói.

Trước Tết độ tuần, thằng cháu ruột, con chị dâu tôi bất chợt gọi điện cho tôi, giọng méo mó, ngàn ngạt. “Mẹ cháu sắp mất rồi.” Tôi giật mình vội vàng hô hoán, thu xếp cả nhà lên hai chiếc xe cà tàng chạy hấp hoảng về quê. Lần đầu tiên trong nhiều năm, tôi thấy thời gian sao trôi đi quá ư chậm chạp. Dọc đường về, gió cứ thổi hun hút dọc triền đê cùng với đào, mai và quất tỏa về các ngõ xóm. Tôi xác định năm nay nhà mình sẽ không có Tết. Cháu tôi nói “sắp” có nghĩa là chị tôi vẫn đang ở vào giai đoạn cuối.

Tôi sợ mình sẽ không về kịp, để gặp chị khi chị đang còn sống. Cách đây dăm ba tháng chị tôi đột ngột trở bệnh sau một cú bước hụt từ thềm nhà xuống sân. Bắt đầu những ngày tháng nằm liệt giường, liệt chiếu giữa mùa dịch Covid đang ở vào giai đoạn đỉnh điểm.

Lúc đó, trên sân nhà chị tôi đã tấp nập người. Bạt đã được căng, bàn ghế đã được kê một dãy dài để đón khách. Trong nhà, trên chiếc sập kê ở gian giữa, dưới ban thờ, chị tôi nằm thoi thóp, khuôn mặt nhợt nhạt như đanh lại, bất động.

Thời điểm này, làng tôi có đến sáu, bảy trăm người nhiễm Covid. Những tấm biển đỏ cách ly y tế được treo xôi đỗ ở nhiều ngôi nhà trong các ngõ xóm. Mặc kệ con Covid, người thân, bạn bè của chị tôi, các cháu tôi cứ tấp nập, từng tốp, từng tốp đến hỏi thăm, nói là để gặp mặt chị tôi lần chót. Nhiều cuộc điện thoại của các F0, bạn bè của các cháu tôi cũng nheo nhéo gọi hỏi han, chia sẻ và đều tỏ ra lấy làm tiếc vì không thể đến được.

Tôi ở nhà một ngày, hai ngày. Chị tôi vẫn nằm đó bất động và dạn dĩ. Những cây đào trồng ở vườn nhà đã chập chờn những bông nở đầu tiên, đỏ bầm, đỏ như được chắt ra từ nhựa cây, từ giá rét. Chỉ còn vài ba ngày nữa, qua mồng 1 tháng Giêng, theo cách tính của ông bà ta, chị tôi sẽ tròn 90 tuổi.

Chị dâu tôi là vợ liệt sĩ. Chị ở góa từ năm mới ngoài 30 tuổi. Một nách bốn con. Lớn lên chúng tỏa đi khắp nơi. Đứa lấy chồng ở xã bên, đứa vào Nha Trang lập nghiệp ở Ty Thủy Lợi. Đứa lên đường nhập ngũ thời chống Tàu, giờ đã nghỉ hưu với quân hàm Đại tá. Đứa lên cao nguyên trồng cà phê, ca cao… Sau gần 50 năm, đây là lần đầu chúng cùng trở về tụ họp bên mẹ, ăn Tết với mẹ. Âu đó cũng là niềm hạnh phúc của chị tôi, của các cháu. Có lẽ đó cũng là lý do để chị tôi dùng dằng không nỡ, không muốn dứt bỏ cõi sống của mình.

Dẫu sao thì cả nhà tôi vẫn cứ hồi hộp, nơm nớp, lo chị tôi sẽ bất chợt ra đi vào dịp Tết. Như vậy sẽ không chỉ phá vỡ ngày Tết của gia đình tôi mà còn phiền lụy tới bà con, họ hàng. Giữa lúc còn đang hoang mang như vậy thì cháu dâu tôi từ Chèm Vẽ trở về vui vẻ thông báo: Cô chú và cả nhà yên tâm. Cháu vừa đi xem về. Thầy gọi vía mẹ cháu lên, vía dặn: còn muốn ở thêm một xuân nữa cho tròn 90 tuổi. Tôi bán tín bán nghi nhưng cũng tạm yên lòng để trở về thành phố, nơi tôi đã sống, đã làm việc già nửa đời người. Về nhưng vẫn cứ ngong ngóng chờ một sự bất chợt từ cháu tôi. Cả nhà tôi cũng xác định sẵn sàng bỏ Tết phố để về quê chịu tang chị.

Chiều 30 Tết, lúc tôi đang xăm xoi nhìn cái đen đúa của chậu mai trước nhà thì cháu tôi đột ngột gọi điện bảo: Cô chú đừng lo. Mẹ cháu vẫn thế, có phần tỉnh táo hơn trước. Tôi thở phào, dặn phải test nhanh cho mẹ để biết mà phòng tránh cho những người còn lại. Người ra, người vào đông như vậy, người nào cũng ghé xuống hỏi han, thăm dò xem chị tôi có còn nghe được không, còn nhớ người đang trò chuyện là ai không?

Khác với sự lo lắng của tôi, vợ tôi lại nghĩ: Nếu test chẳng may bị F0, y tế người ta sẽ lập tức ập đến đưa chị tôi đi, lúc ấy chỉ còn biết chống mắt lên mà nhìn, mà chịu đựng.

Được chết bên con cháu là một hạnh phúc, may mắn của người chết trong mùa dịch. Ở làng tôi, nhiều người chết vì dịch Covid đã phải ra đi lạnh lẽo từ bệnh viện và chỉ được trở về trong một bình tro cốt nhận lại từ nhà hỏa táng trong thành phố!

Chị Liễn, tên của chị, về làm dâu mẹ tôi từ hồi còn rất trẻ. Chị hơn anh trai tôi ba tuổi. Thấy bảo đêm đầu tiên, chị cuộn chăn nằm trên giường còn anh trai tôi đắp chiếu nằm dưới đất. Đêm sau chị trốn về nhà mẹ đẻ. Từ hôm đó, sáng nào tôi cũng phải lên nhà chị, đứng ở ngoài đường, gọi vọng qua cái ao nhỏ đầy bèo tấm. “Chị Liễn ơi, u bảo về đi cấy.”

Nhà tôi nghèo nhưng trong cải cách lại bị quy là địa chủ. Mẹ tôi bị đưa ra đấu tố ở sân đình vì trước đó, bố tôi đi lính lê dương Pháp đến ngót 10 năm. 4 năm ở Pháp, 2 năm ở Thượng Hải, 2 năm ở Đáp Cầu, chủ yếu đi để kiếm tiền về làm nhà, tậu ruộng. Năm 1950, ông bị vu cho là du kích nằm vùng, bị Pháp bắn chết ở ao đình giữa làng. Những năm cải cách là những năm khốn khó nhất của gia đình tôi. Chị tôi, một nách hai con cùng với anh tôi, mẹ tôi đã phải cầm cự từng ngày để vượt qua cái đói, cái rét. Vì bị quy là địa chủ, lại bị tịch thu tất cả của cải còn lại, nên cả nhà sáu, bảy miệng ăn chỉ có cháo loãng và khoai lang luộc.

Thấu hiểu gia cảnh nhà tôi, bà con họ hàng mỗi người một chút lén giấu đội cải cách mang đến nhà bên cạnh chờ đêm xuống quẳng qua hàng rào sang sân nhà tôi. Sáng nào trở dậy, tôi cũng thấy những chiếc đẫy vải buộc thắt nút trong chứa vài đấu gạo, mươi bắp ngô nằm rải rác trên sân. Cậu ruột tôi, nguyên là Chủ tịch Liên xã Kháng chiến cũng bị vu cho là thành phần Quốc dân Đảng. Ông phẫn chí treo cổ tự vẫn. Sau sửa sai, gia đình tôi xuống thành phần trung nông, còn cậu ruột tôi thì cho đến nay, vẫn không được ai minh oan cho cả.

Cuộc cải cách năm ấy đã đổ ập vào làng tôi như một cơn bão với sức phá hủy ghê gớm. Bão tan, cuộc sống cũng dần dần ổn định. Chị và anh trai tôi lao vào làm lụng, buôn bán để mấy năm sau thay được mái nhà tranh bằng mái ngói Sông Cầu. Cái đói tạm qua đi nhưng cái án trung nông lớp trên, nhà có người đi lính Pháp thì cứ bám dai dẳng trong cuộc sống của gia đình tôi. Năm 1965, tôi bỏ học nhập ngũ. Năm sau, anh trai tôi cũng làm đơn tình nguyện nhập ngũ mặc dù theo luật định, anh tôi được miễn nghĩa vụ quân sự vì năm đó anh đã ngoài 30 tuổi. Trong một bức thư gửi cho tôi, anh tôi viết đại ý: Anh phải đi để thay đổi lý lịch cho các cháu. Lúc đi anh chị tôi đã có bốn mặt con. Một gái ba trai. Đứa lớn mười một, còn đứa út thì mới tròn hai tuổi.

Chị tôi ở nhà, gồng gánh nuôi bốn đứa con. Chị xin ra ở riêng theo tục lệ. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không cắt nghĩa được, bằng cách nào, chị tôi và mẹ tôi đã vượt qua được cái giai đoạn khốn khó ấy. Anh tôi vào chiến trường khu 5 được một năm thì mất. Bù lại, các con của anh tôi trở thành con liệt sĩ được đi học hết đại học, ít nhất thì cũng tốt nghiệp phổ thông trung học như thằng cháu út.

Trường hợp hy sinh của anh tôi khá đặc biệt. Sau ngày nhập ngũ, anh được biên chế vào Lữ đoàn Tên lửa vác vai ĐKB. Năm ấy anh là quản lý đại đội, đang là đối tượng cảm tình Đảng. Trong trận đánh tập kích nổi tiếng vào sân bay Đà Nẵng rạng sáng ngày 31 tháng 7 năm 1966, do một người đồng đội cùng tỉnh, cùng huyện cáo ốm nên anh tôi được phân công đi thay. Trận tập kích bất ngờ ấy, ta đã phá hủy mấy chục máy bay của địch. Chiến tích được đăng trang trọng trên trang một báo Nhân Dân ở Hà Nội. Sau trận tập kích, đơn vị anh tôi rút nhanh về căn cứ. Trên đường rút, khi đã lên đến đỉnh dốc của một ngọn đồi, anh tôi chợt nghe tiếng gọi đuối hơi dưới chân dốc: “Anh Khái ơi, giúp em với”. Anh tôi quay lộn trở lại chân dốc, giúp người đồng đội vác chiếc nòng pháo to và nặng. Lên đến đỉnh đồi thì pháo bầy truy đuổi của Mỹ kịp ập tới. Anh tôi và hai người khác bị dập nát. Ba ngày sau, đơn vị mới cử được người đến tìm xác của ba anh em. Họ đưa ba cái thi thể không còn nguyên vẹn xuống chôn vội vã dưới chân đồi. Năm 1975, vẫn những người đồng đội ấy đã tìm về con dốc. Họ đã phải cuốc đất tìm lại ba ngôi mộ như cuốc khoai. Những người dân trong xóm nói: Họ biết ở mảnh vườn có ba ngôi mộ bộ đội giải phóng, nhưng vì được chôn quá nông nên đã bị heo nhà, heo rừng rũi ủi tanh bành. Người dân trong xóm đã bảo nhau hốt xương cốt, chia thành ba chôn lại. Năm 1969, Mỹ cho xe ủi đến san bình địa khu vườn. Để rốt cuộc, cho đến ngày được quy tập, cả ba liệt sĩ, gom lại cũng chỉ còn một bọc xương nhỏ và lại được chia ba một lần nữa. Phần mộ của anh tôi chỉ là một mảnh xương chậu. Cũng không dám chắc mảnh xương ấy có phải là của anh tôi không? Chính vì biết được điều này, nên trong rất nhiều năm sống ở Đà Nẵng, tôi vẫn không có ý định đưa phần mộ anh tôi về quê, theo ước muốn cay đắng của mẹ tôi.

Sau này, qua một người đồng đội của anh tôi, tôi được biết, cái con người cáo ốm khiến anh tôi phải đi thay trong trận đánh năm ấy vẫn còn sống sờ sờ ở xã bên. Nhiều lần tôi muốn tìm đến gặp ông để hỏi chuyện về trường hợp hy sinh của anh tôi nhưng lại ngần ngại vì như vậy chẳng khác nào dồn ông ta vào thế khó. Vả lại tôi rất sợ phải nghe những điều dối trá. Dù sao thì anh tôi, mẹ tôi cũng đã mất. Thêm nữa, tôi không muốn chị tôi, các cháu tôi mang cái mặc cảm ngờ ngợ khi đứng trước ngôi mộ của anh tôi đã được các cháu tôi đưa về nghĩa trang liệt sĩ của làng.

Bây giờ thì chị tôi đang nằm đó, yên lặng và thanh thản sau một đời bầm dập, vất vả vì con, vì cháu. Những năm gần đây, chị cứ nhớ nhớ, quên quên. Hỏi thì cười, một nụ cười hồn hậu và cởi mở khác với sự gay gắt và quyết liệt khi phải gồng gánh cả cái gia đình khốn khổ, trong đó có anh em tôi.

Tối mồng một Tết, theo thông lệ hàng năm, cả nhà tôi về quê, hưởng trọn một đêm Tết quê. Một đêm Tết tròn trịa và yên ả để sáng mồng 2 cả hai bên nội ngoại sẽ tụ họp, ăn bữa cỗ đầu năm, cũng là để mừng thọ chị tôi tròn 90 tuổi. Nhưng vì chị tôi đang nằm đó, thêm nữa dịch Covid đang hoành hành dữ dội nên phạm vi gặp gỡ được thu hẹp, chỉ con cháu trong nhà. Trong mấy ngày áp Tết chị tôi có vẻ tỉnh lại, mỗi ngày cũng cố ăn được vài lưng bát cháo bằng hình thức bơm xông. Hình như chị cũng cố chờ cho đầy tròn 90 tuổi, cố nấn ná ở thêm với con, với cháu.

Sáng mồng 2 Tết, tôi dậy sớm, đang xăm xoi cái cành đào chưa hết Tết đã nở bung nở bét, thì cháu dâu tôi chạy xuống thông báo: hai mẹ con con Bơ, cháu nội của thằng cháu tôi, có nghĩa là đứa chắt gọi tôi bằng cụ đã bị nhiễm Covid. Thế là tá hỏa cả lên. Tối hôm qua mấy đứa trẻ vẫn còn dan díu chơi đùa ầm ĩ với nhau khua động cả các nhà hàng xóm. Mặc dù vào thời điểm này, người làng tôi bắt đầu coi thường con Covid. Người ta bảo đã tiêm vắc xin mũi ba, cứ dính dăm bảy ngày lại khỏi, đôi khi cũng chả cần thuốc men gì. Tuy vậy tôi vẫn hoảng. Một phương án lập tức được thực hiện. Vợ chồng tôi chạy sang nhà ông bà ngoại làm lễ, chạy lên nhà trên mừng tuổi chị tôi rồi đôn đốc con cháu ra xe chạy một mạch về thành phố. Bỏ lễ, bỏ cỗ. Một cuộc tháo chạy khỏi con Covid hết sức ngoạn mục và buồn cười. Trước khi đi, tôi còn dặn các cháu test nhanh cho mẹ. Nếu chẳng may mẹ bị F0 thì cũng không được báo với y tế xã. Tôi biết như vậy là sai nhưng không muốn các cháu tôi phải xa mẹ trong một trường hợp oái oăm như vậy.

Những ngày Tết Nhâm Dần là những ngày Tết thật khác thường. Không pháo hoa, không lễ hội. Đường phố trở nên hoang vắng, sâu hun hút. F0 nhan nhản khắp nơi. Ba ngàn, 4 ngàn rồi mười mấy ngàn ca nhiễm mỗi ngày. Nhưng khác với thời kỳ phong tỏa, người Hà Nội có vẻ bình thản. Ai nhiễm Covid thì nằm nhà. Ai khỏe thì cứ ra đường bình thường, làm ăn bình thường. Cái khác thường nằm ở chỗ rất bình thường ấy.

Qua rằm, chị dâu tôi mất. Chị đã được hưởng trọn những ngày Tết bên con cháu. Khi gọi cho tôi, thằng cháu nói giọng nhẹ nhõm: “Chú ơi, mẹ cháu đi rồi sạch sẽ và thanh thản lắm.” Cả nhà tôi lại rồng rắn về quê. Riêng trẻ nhỏ thì phải để lại. Gì thì cũng không thể đùa rỡn với con Covid được.

Sân trên, sân dưới nhà tôi lại ồn ào. Bạt lại được căng trên những khoảng sân trống. Bàn ghế tiếp khách lại được kê dọn. Cả họ, cả xóm vào việc, đâu vào đấy răm rắp. Tuy là đám tang giữa mùa dịch nhưng không bị bỏ sót một nghi thức nào. Cũng phục dĩ, chèo đò, cũng các vãi trong bộ đồ nâu sồng gõ mõ tụng niệm.

Khi thằng cháu trai trưởng của chị tôi cầm chiếc áo của mẹ, bước lên chiếc thang dựng sát mái nhà vừa khóc vừa phất chiếc áo ba lần, gọi hồn chị tôi ba lần, tôi chợt rùng mình, tưởng như anh trai tôi cũng đang trở về đón chị tôi sau gần 60 năm âm dương cách biệt.

Hồi còn ở nhà, anh trai tôi là một người sống nhu hòa, đôn hậu. Mới ngoài 30, mái tóc anh đã lốm đốm bạc. Anh luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác, lo cho người khác. Anh Sước, một người bạn thân của anh tôi thường bảo: Thằng Khái nó cứ lo chuyện đâu đâu, toàn một thứ ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng. Có một câu nói cửa miệng của anh trai tôi mà cho đến nay tôi vẫn nhớ: Lơ tơ mơ con chim xanh. Câu nói ấy thực ra chẳng có nghĩa gì cả, nhưng lại vận vào cuộc đời của anh tôi. Đúng ra, anh không được chủ động lo cho cuộc sống của mình.

Năm ấy, ngoài cái lý do đi bộ đội, sẵn sàng vào chiến trường để thay đổi lý lịch cho các cháu, còn một nguyên do khác. Đó là những năm khốn khổ sau cải cách chị dâu tôi đòi ăn riêng đẩy anh vào một trường hợp khó xử. Một bên là mẹ và hai đứa em còn non dại, một bên là vợ và 4 đứa con. Thực ra việc đòi ra ở riêng của chị tôi hồi đó cũng có cái lý của nó. Một cái khó nếu được chia làm đôi thì cái khó chỉ còn lại một nửa. Chị tôi nghĩ thế, bảo thế và làm thế. Thương mẹ, thương vợ anh tôi chọn con đường đi khỏi nhà và đã vĩnh viễn không bao giờ quay trở lại.

Khi thằng cháu trưởng của chị tôi bước xuống thang, lễ phát tang và lễ viếng mới được bắt đầu. Mọi việc diễn ra xuôn xẻ và sẽ chẳng có gì bất ngờ nếu như tôi không tình cờ được tiếp một người khách lạ. Một người đàn ông tóc bạc trắng, gầy gò, đôi mắt mờ đục như cùi nhãn. Sau khi làm lễ trước linh cữu chị tôi, ông trở lại bàn uống nước, cử chỉ chậm chạp và có phần đờ đẫn. “Các ông các bà dưới này không biết tôi đâu. Ông chậm rãi nói. Tôi là người cùng đơn vị với ông nhà, là cái người cáo ốm để ông nhà phải đi thay trong trận tập kích sân bay Đà Nẵng năm trước. Hồi các cháu đưa ông nhà về quê, tôi muốn xuống nhưng cứ mặc cảm sao ấy nên chỉ dám vái vọng từ xa. Tôi là người đi quy tập đưa ông về nghĩa trang nên tôi biết, hài cốt ông không thực sự còn nguyên vẹn. Nhưng người ta nói quan trọng là ở cái hồn, cái vía.  Sớm nay, nghe tin bà mất, tôi liều xuống, thắp hương và tạ lỗi với bà. Nếu như tôi không cáo ốm năm ấy thì chắc gì ông đã mất, bà nhà phải ở góa chừng ấy năm”….

Tôi sững sờ nhìn ông, lúng búng nói rằng, thôi chuyện đã qua rồi, chiến tranh nó thế, con người nó thế. Lúc thế này, mai thế khác, bác đừng bận tâm nữa, cố sống vui, sống khỏe là mừng rồi. “Hơn năm mươi năm nay, tôi cứ ân hận về điều đó. Giờ cũng đã ngót 90, chả sống được mấy nữa. Điều gì cần nói thì phải nói cho thanh thản chú ạ.” Ông đột ngột gọi tôi bằng chú một cách thân tình. Tôi nắm vội lấy bàn tay nhớp nhớp mồ hôi của ông, thấu hiểu những gì ông nói và thấy nhẹ lòng. Người ta bảo, được nhẹ lòng trước cái chết của người thân là phúc phận của người còn sống.

Sau năm ngày chịu tang chị, vợ chồng tôi trở lại thành phố. Không hiểu sao, tôi cứ bị ám ảnh mãi về cuộc gặp gỡ bất chợt với người đồng đội cũ của anh tôi. Trước khi về, tôi dặn thằng cháu đại tá nhớ để ý tới ông cụ. Khi nào ông cụ mất thì nhà mình cũng phải có vòng hoa phúng viếng cho phải lẽ. Người dám nghĩ, dám làm, dám chịu như vậy không còn được nhiều trong thời buổi bây giờ. Không dè, cháu tôi cũng đã biết tên ông, nhà ông, một thương binh nặng. Cháu tôi còn bảo ông đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ sau trận tập kích năm ấy.

Với một tâm trạng nhẹ nhõm như vừa gặp được một điều gì hết sức quý giá, tôi đã trở về ngôi nhà thành phố của mình. Cứ nghĩ, ở đời còn ẩn khuất bao nhiêu điều tốt đẹp. Dịch dã tai họa đôi khi lại đẩy con người về phía lương thiện, về sự chia sẻ. Người với người gần gụi với nhau hơn, bao dung và dễ tha thứ hơn. Tôi định bụng sẽ mua một cành mận trắng, mơ trắng cũng được để thay thế cành mai đen đúa trước nhà. Sau rằm, người Hà Nội vẫn có thói quen chơi đào, mận cho đến hết tháng Giêng.

Nhưng vừa mới bước vào khoảng sân nhỏ trước nhà, tôi sững sờ khi thấy trên cái cành mai khẳng khiu đã bị bỏ quên hôm nào đang bất chợt bung ra những cánh hoa vàng rực. Một màu vàng mỏng manh nhưng chói gắt như đang sẵn sàng chống trả với cơn gió mùa đông bắc đang cuồn cuộn đổ về. Tôi nghĩ cái loài mai này thật lạ. Khi người ta chăm chút, hy vọng vào nó, thì nó cứ câm nín đen đúa. Và khi đã bị quên đi, bị ném bỏ thì nó lại biến đổi một cách bất chợt. Tôi nhìn chậu mai vàng còn chi chít nụ, lại nghĩ, không biết sẽ còn điều bất chợt nào tìm đến với tôi, với cái gia đình đang đoàn tụ của các cháu tôi và rộng lớn hơn, với cái thành phố đang ở vào thế da báo Covid mà tôi đang cư ngụ?

Nhưng sẽ chẳng có sự bất chợt nào đáng kể hơn sự bất chợt mai vàng trước cửa nhà tôi. Kể cả việc sau ba ngày lễ tang chị dâu tôi kết thúc, con dâu, con trai tôi đều bị nhiễm Covid, đẩy vợ chồng tôi tuổi cao, bệnh nền vào thế phòng ngự, chờ đợi. Nhưng hình như, khi người ta sẵn sàng đối diện với tai họa, với sự dậm dọa của cái chết, thì tai họa và cái chết lại không bất chợt tìm đến.

7/1/2022

Nguyễn Trí Huân 

Theo https://vanhocsaigon.com/

Bầu trời chung

Bầu trời chung

Nam là cậu bé học lớp 5 trường làng. Mỗi buổi tối, sau khi học bài xong, cậu thoải mái ngắm bầu trời, nhìn mây bay từ cửa sổ phòng mình.

Có hôm, Nam thấy những đám mây sáng trôi đi chậm rãi, thong thả bên cạnh các vì sao. Có hôm, khi trời chuyển và có vẻ muốn mưa, mây bị gió mang đi vội vã. Những lúc ấy, mây đen kịt che lấp hết cả trăng, sao. Còn những đêm trời đẹp, bầu trời cao mênh mông, gió nhè nhẹ thổi, trăng dát vàng xuống mặt đất, long lanh trên những tàu chuối trong vườn. Có rất nhiều thứ để Nam thích, nhưng cậu vẫn mê nhất là được ngắm nhìn những đêm trăng sáng.

Đêm nay, trăng đẹp quá. Ánh trăng vàng dịu phủ khắp mọi nơi. Con sông gần nhà Nam lấp lánh như có ai rắc bạc. Nam vừa làm xong các bài tập về nhà, cậu tựa cửa phòng mình, ngắm trăng và thầm nghĩ: “Không biết ở nơi khác, trẻ em có nhìn thấy mặt trăng như thế này không nhỉ?”

Câu hỏi ấy cứ ở mãi trong đầu Nam. Cậu chạy sang phòng bà ngoại:

– Ngoại ơi, ở nơi xa nhà mình, xa nước mình, các bạn nhỏ như con có thấy trăng giống như ở đây không ạ?

Bà ngoại hiền từ xoa đầu đứa cháu nhỏ:

– Có chứ con! Trăng treo trên trời và là của chung, đâu phải trăng của riêng làng mình thôi đâu.

Nam im lặng một lúc rồi nói:

– Con muốn hỏi điều ấy với một bạn ở rất xa, xem bạn ấy nói thế nào bà ạ!

Bà cười:

– Nếu con muốn vậy thì cứ thử đi. Bà ủng hộ con đó!

Đêm ấy, Nam viết một bức thư:

“Chào bạn, người mình chưa gặp và ở một nơi rất xa!

Mình tên là Nam, sống ở một làng ven sông của Việt Nam. Đêm nay trăng sáng lắm. Bạn có thấy mặt trăng này không? Mình rất mong nhận được câu trả lời của bạn.

Bạn của bầu trời. Kí tên: Nam.”

Ở cuối thư, Nam vẽ một cậu bé nằm trên cỏ; một bầu trời đêm có nhiều sao và mặt trăng tròn.

Sáng hôm sau, Nam cho thư vào một chiếc chai thủy tinh, nút chặt lại rồi mang ra bến sông. Cậu thì thầm:

– Hãy đem lá thư này đến nơi nào mà sông muốn trao gửi nhé!

Chiếc chai trôi đi, lắc nhẹ theo dòng nước, rồi xa dần. Từ hôm ấy, ngày nào Nam cũng ra bãi cỏ ven sông, nhìn dòng nước đang trôi xuôi và chờ đợi.

Ở một nơi rất xa, bên kia biển xanh mênh mông, có một cô bé tên là Aila.

Sáng nay, Aila đi bộ trên bờ biển cùng ông nội mình. Sóng vừa rút, để lại cát ướt và những vỏ ốc nhỏ. Cô bé bỗng reo lên:

– Ông ơi, có một cái chai này!

Aila mở cái chai ra. Bên trong nó có một tờ giấy nhỏ. Người ông cẩn thận mở tờ giấy, đọc chậm rãi rồi mỉm cười:

– Thư của một bạn nhỏ ở xa, bạn ấy viết bằng tiếng Việt Nam. May quá! Ngày trước, ông đã từng có thời gian công tác ở Việt Nam nên cũng đọc và viết được tiếng của họ.

Aila mở to mắt:

– Thật không ông?

– Đúng vậy! Và bạn ấy đang hỏi một câu rất đẹp với người nhận được lá thư này.

Aila không hiểu được chữ trong lá thư, nhưng em nhìn thấy hình vẽ một cậu bé nằm trên cỏ, trên cao là bầu trời đêm nhiều sao và mặt trăng tròn trong lá thư ấy.

Cô bé nghĩ thầm: “Ở chỗ bạn ấy cũng có trăng như chỗ mình. Chắc bạn ấy cũng đang nhìn trăng giống mình nhỉ?!”

Tối hôm đó, Aila ngước nhìn bầu trời. Trăng sáng lắm.

Hôm sau, Aila viết thư trả lời. Ông nội cô bé giúp em dịch phần thư sang tiếng Việt Nam:

“Chào bạn Nam! Mình đã nhận được thư của bạn. Mình là Aila, nhà mình sống gần biển đấy. Chỗ mình có sóng biển và nhiều chim hải âu lắm. Đêm qua, mình cũng nhìn thấy mặt trăng rất sáng. Có lẽ nhà bạn và Aila không gần nhau, nhưng chúng mình cùng nhìn một bầu trời đấy bạn ạ. Bạn của bầu trời. Kí tên: Aila.”

Ở cuối thư, Aila vẽ biển và một cô bé đang ngước nhìn lên trời đêm.

Chiếc phong bì không ghi rõ địa chỉ. Chỉ có dòng chữ: “Gửi bạn Nam, nhà ở một làng ven sông của Việt Nam”

Chị nhân viên bưu điện nhìn dòng chữ ghi trên phong thư rồi bật cười:

– Ghi như vậy thì thư biết đi đâu? Ai nhận đây?

Nhưng rồi chị vẫn nói:

– Thôi, cứ thử xem!

Bức thư được chuyển đi, từ nơi này sang nơi khác, qua nhiều bưu cục và nhiều bàn tay. Nhiều người lắc đầu. Nhưng cũng có người hỏi thêm:

– Làng ven sông nào nhỉ?

Một bác bưu tá già nói:

– Nghe giống vùng này!

Bức thư lại tiếp tục đi. Không ai chắc nó sẽ đến được nơi mà nó muốn đến. Nhưng mọi người cũng thầm mong: “Biết đâu… nó sẽ tìm được người cần nhận!”

Và một buổi chiều, bác bưu tá dừng trước cổng nhà Nam:

– Nam ơi, có thư cho cháu này!

Nam run run nhận lá thư, thấy tên mình trên bì thư, cậu đã hồi hộp lắm. Đọc xong, cậu ôm chặt lá thư vào ngực, chạy đến bên bà:

– Bà ơi! Là thư gửi cho con bà ạ… bạn ấy cũng thấy trăng!

Chiều hôm đó, Nam mang thư ra bãi cỏ. Cậu bé đọc lại bức thư của người bạn phương xa, ngắm thật kĩ bức tranh cô bạn ấy vẽ. Đêm đến, cậu lại đứng ỏ bên cửa sổ căn phòng mình, nhìn dòng sông và nghe tiếng sóng vỗ ì oạp vào bờ. Đêm nay, gió rất nhẹ và trăng vẫn hiền, vẫn dịu dàng như bao mùa trước.

Lòng Nam rộn ràng vui. Cậu tưởng tượng Aila cũng đang nhìn lên bầu trời như mình: “Hay thật! Một bên là dòng sông, một bên là biển, và ở giữa là bao nhiêu nơi, bao nhiêu người chưa từng gặp. Nhưng trăng ở đâu cũng tròn, cũng đẹp giống nhau!” Nam thầm nói:

– Hóa ra… dù ở đâu… trẻ em cũng có cùng một bầu trời!

Gió lướt qua, mặt sông dạt dào sóng. Ánh trăng phủ trên mặt sông vỡ nhòe ra rồi lại long lanh… long lanh.

Nam và Aila lại tiếp tục viết thư cho nhau. Có những điều, hai người bạn cần người lớn giúp dịch ra để hiểu được ngôn ngữ của nhau. Nhưng cũng có những điều, hai đứa trẻ không cần ai giúp đỡ, vì những điều ấy đã nằm sẵn trong ánh trăng và trong bầu trời chung cả rồi.

9/4/2026

Trần Hà Yên

Theo https://vanhocsaigon.com/

Ngược sáng

Ngược sáng

Anh Thuyên nhà bên xóm Bến sang xóm tôi cưới chị Linh. Chị Linh xinh, da trắng, tóc dài nên nhiều anh trong xóm tôi mê, vậy mà chị lại đi lấy người xóm Bến. Mấy ngày trước khi chị theo chồng, trai xóm tôi buồn như mèo cắt tai, như người già chết vợ. Tôi – thằng bé mới mười ba tuổi – cũng buồn!

Anh Cương thầm yêu chị Linh. Ngày cưới chị, đám rước đi chưa hết quãng đường đê đã bị anh Cương chặn lại. Thế là ẩu đả, máu loang đỏ đường đê, máu phun đầy mặt trai tráng. Hình như từ xưa đến nay mọi cuộc chiến tranh tàn khốc đều có nguyên nhân từ đàn bà?! Anh Thuyên bị bắt nhốt sau khi bẻ gãy một tay, một chân anh Cương. Đêm tân hôn chiếc giường cưới lạnh như mặt đá già.

***

Tội đánh người anh Thuyên phải đi tù ba năm, cộng với tội trộm máy bơm hợp tác xã mới tổng cộng anh phải ở tù năm năm. Trại tù cách làng tôi hơn mười cây số, mỗi lần đi thăm anh Thuyên chị Linh đều sang rủ tôi theo.

Tôi và chị đi thăm anh Thuyên hết một mùa nắng. Đến mùa mưa, một lần chị em tôi đang chở nhau trên đường thì có một chiếc xe gắn máy đỏ chót chạy ngược chiều. Đường xăm xắp nước, chiếc xe đỏ phóng nhanh nước bắn lên khắp áo quần, mặt mũi làm chị lạng tay lái, chiếc xe cùng hai chị em đổ kềnh sang bên đường. Chúng tôi chưa kịp bò dậy thì chiếc xe máy đỏ đã quay lại. Người thanh niên ăn mặc lịch sự vội vàng dựng xe rồi chạy lại đỡ hai chị em lên.

Khi đối mặt với chị Linh, anh ta sững mất mấy giây rồi miệng ấp a ấp úng xin lỗi. Còn tay thì vội vàng rút khăn mùi soa thơm phức trong túi áo ra chấm bùn trên mặt, trên áo chị Linh. Tôi đứng nhìn. Hết tủi lại tức. Tôi càng tức hơn khi chị Linh còn nhìn thủ phạm mà cười, má ửng hồng, miệng ấp a ấp úng như người có lỗi lặp đi lặp lại điệp khúc: “Em không sao, em không sao”. Chị Linh như bị người đàn ông thôi miên, cứ đứng vậy cho người ta lau lên vai, lên má, lên tóc…

***

Sau lần ấy, mỗi lần đi thăm anh Thuyên chị Linh vẫn sang rủ tôi đi cùng, nhưng tôi viện đủ lý do để từ chối. Dần dần rồi chị cũng thôi không sang rủ nữa. Chị vẫn chăm đi thăm anh Thuyên một mình. Tôi lại nghe người làng nói hằng tháng chị lấy cớ đi thăm anh Thuyên nhưng chỉ đạp xe ra đến thị trấn rồi leo lên ngồi sau xe máy màu đỏ chót có người đàn ông chở đi chơi. Tôi cật vấn, chị ôm tôi xoa đầu khóc chẳng nói gì, rồi chị lánh dần mặt tôi. Tôi thấy mất mát thực sự.

Tôi thi đậu đại học, tôi có người yêu. Em Thi của tôi không xinh nhưng có tấm lưng và mái tóc giống chị Linh. Những lần say đắm, em thường phủ lên mặt tôi mái tóc dày, dài, óng mượt. Tôi nghe như tuổi thơ vọng về. Trong tóc em có hương lúa, hương ngô ngậm đòng. Có mùi phù sa, với hương hoa cà, hoa bí. Trong mơ, tôi đã là một người đàn ông thực thụ ở cái tuổi mười bốn. Nhưng với Thi, tôi vẫn là một chàng trai trong trắng thơ ngây.

Tôi muốn tôn thờ một tình yêu thánh thiện. Tôi sợ lắm phút nhập thân cũng là phút tình yêu tắt thở… Nhưng tôi đã sai lầm, chí ít là trong tình cảm đối với Thi. Để đến khi em ra đi tôi mới biết em nghi ngờ khả năng đàn ông trong tôi. Nếu chỉ vậy thì cũng không sao, tôi vẫn có thể học xong đại học và rồi cuộc sống sẽ cuốn tôi đi với những vui buồn của nó. Nhưng tôi đã phải trút toàn bộ ẩn ức kìm nén vào bộ mặt đắc thắng của người yêu Thi.

Đàn ông sợ nhất là bị chế giễu sự bất lực trước đám đông (?!)… Tôi bị đuổi học. Tôi lại ngược miền gió cát về với tuổi thơ.

***

Anh Thuyên về quê trước tôi. Sau bao thăng trầm đò chở chị Linh vẫn chưa một lần cập bến. Anh Thuyên mang về quê nghề thợ mộc. Anh lập tốp thợ ngược ngàn. Ngày tôi về, bà đội mâm sang nhà anh Thuyên xin cho tôi cùng đi làm. Nghe bà nói, anh cười ằng ặc:

– Bà cho cháu theo thằng tù mà không sợ nó hư à?

– Có việc làm thì không sợ hư. Anh đã ở tù rồi, anh sẽ dạy nó cách để không phải vào tù.

– Muốn không phải vào tù thì đừng dây vào gái. Xin lỗi bà, gái là gốc của mọi tội lỗi.

– Tôi biết, anh nói vậy là anh đã nhận. Thằng kia, sao còn đứng đực mặt ra đó, không quỳ xuống mà bái sư?

– Sư với cụ gì cái thằng tù bà ơi. Sao lại nhận thầy ngược như thế? Hai năm đại học nó đã nghe bao lời vàng lời ngọc của các vị đại đại giáo sư, đại đại tiến sĩ vậy mà vì gái còn hư. Thằng tù như tôi đang còn trần gian lắm, thầy với sư với cụ gì cái giống tôi. Thôi đếch phải lạy, về chuẩn bị tay bị tay gậy mai sang ngược với anh ta đi ăn mày thiên hạ.

Chúng tôi xắm nắm chuẩn bị ngược ngàn từ mờ sáng. Ban đầu anh Thuyên giục ghê lắm, giục ăn, giục uống, nhưng khi ăn uống xong anh lại trùng trình hút thuốc lào vặt rồi ngồi nhìn ra ngõ xỉa răng tanh tách. Xấp xửng mặt trời lên nửa con sào mới thấy chị Linh lần khần vào ngõ. Hình như mắt anh Thuyên có lóe lên một tia sướng. Nhưng anh chả đổi thế ngồi, nói:

– Chuyến này tôi tìm được người mới, cô không phải đi.

– Người gì cái thằng ngợm đó.

Nghe chị Linh nói mà tôi thắt lòng. Ngày xưa chị đâu có thế. Cái thời quá vãng xa xưa. Tôi đã khác hay chị quá nhiều thay đổi? Nghe chị Linh nói, anh Thuyên xẵng:

– Thì cô là người chắc?

– Ngợm cả một lũ, anh ngợm, tôi ngợm, chúng nó ngợm. Không cho theo, tôi quay lại làm đĩ, đừng trách.

Hết thật rồi, chị Linh đã lấy nốt những gì ngây thơ còn lại trong con người tôi. Thấy chị Linh cương quyết, anh Thuyên cũng không cản nữa, thế là đoàn ngược ngàn. Đi hết nửa ngày đường rừng rồi cũng vào đến nơi. Chúng tôi tự dựng lán, khi đục gỗ, cả cán đục và dùi đục đều phải ngâm nước để tiếng đục không vọng đi xa.

Đã đi nhiều lần nên chị Linh biết đào bếp Hoàng Cầm rất khéo. Tất nhiên như anh Thuyên nói: “Cũng là để đừng thơi thơi như đéo ngày thôi, chứ mắt cú vọ bọn kiểm lâm chúng nó biết hết, nhưng chủ nó mua rồi đành phải làm thằng mù một lũ”. Nhóm đàn ông bọn tôi nằm chung một lán, sạp nứa. Chị Linh được nằm riêng một lán, sạp ghép hai cái bìa gỗ lim bằng ngằn ngặt.

Khi lát xong sạp cho chị Linh, anh Thuyên còn cẩn thận đưa mấy đường bào cho phẳng hết những sóng cưa. Ghép xong anh nhìn cái sạp của chị Linh lạ lắm. Hay anh nhớ lần đầu tiên anh chuẩn bị giường cưới cho mình với chị Linh?

Mới vào nghề nên tôi được giao nhiệm vụ bào phá với cưa ngang. Thỉnh thoảng rỗi việc, đi qua chỗ tôi bào, chị Linh ngồi tè he xuống bên đối diện rút bào cùng tôi. Tôi ấn, chị rút được một lúc, mồ hôi của cả hai đều tứa ra, mặt chị lại đỏ sây đỏ sất, cái thời quá vãng xưa lại hiện về. Quất quanh trong hương đại ngàn, tôi nghe như thoang thoảng mùi tóc chị, mùi tóc em Thi.

Bào phá chỉ mệt mấy ngày đầu, sau đó công việc ít hơn, khi rảnh tôi lại cùng chị lội suối bắt cua, bắt cá, hái môn thục cải thiện. Những lúc đó chị lại trở về với những ngày xưa, những ngày mưa chị xắn cao quần đi qua ngõ nhà tôi ra đồng. Tôi gọi với theo: “Chị Linh ơi, nhớ bắt cho em mấy con muồm muỗm to nhé”. Chị sẽ trả lời: “Cục cưng của chị nhớ ở nhà ngoan, đừng ra bờ ao nghịch nước, rồi chị sẽ bắt cho”.

Mỗi lúc bắt được con cua to, chị cũng reo lên hồn nhiên, răng trắng lấp lánh suối. Tôi lại đứng nhìn chị như vừa lạ vừa quen. Ước gì rừng núi, ruộng đồng mãi giữ chị tôi của những ngày khốn khó xưa. Giờ đây anh Thuyên đã về, hai người làm lại từ đầu cũng đâu có muộn. Vậy mà sao…

Đến bữa ăn, chị luôn ngồi gần nồi cơm xới cho cả bọn. Ai ăn xong một bát cũng đều chìa cho chị xới. Riêng anh Thuyên cứ xong một bát lại đặt kịch xuống sàn, chị Linh phải chồm qua người tôi lấy bát xới cơm cho anh, thoảng trong miếng cơm tôi và có cả mùi tóc chị.

Anh Thuyên nhận làm một lúc hai cái nhà lim ba gian. Hì hục hơn tháng trời chúng tôi đã làm hoàn chỉnh một cái. Chủ nhà mang tiền vào tận lán trả và thuê chúng tôi chặt nứa để bó xung quanh cột, hạ, rui, mè, trắn, kẻ dong theo suối về xuôi. Trưa, sau khi ăn cơm xong, anh Thuyên họp cả tốp thợ lại, trước lúc chia tiền anh nói:

– Thằng nửa đại học lấy cái bút tính giúp anh.

Tôi tính đến ai, anh Thuyên đếm tiền trao cho người ấy. Đến lượt chị Linh, ngoài tiền công, anh đưa thêm cho chị ba trăm ngàn và nói:

– Tháng rồi tao sang đục mày bốn đêm… cũng theo giá thị trường… tao trả.

Chị Linh đang tính đưa tay cầm tiền bỗng rụt lại, liếc nhanh sang tôi rồi bỗng dưng mặt tái lại, chị chửi:

– Mả cha thằng tù, đồ chó.

Anh Thuyên mặt vẫn không biến sắc, thủng thẳng:

– Thằng tù… đù con điếm.

Chị Linh không nói gì, lẳng lặng cầm tiền nhét vội vào cạp quần, nước mắt lã chã rơi. Chị quay sang nhìn tôi bằng ánh mắt thật lạ và khó hiểu. Hình như ánh mắt này tôi đã gặp ở Thi ngày em với tôi còn yêu đương nồng nàn, và ngày tôi rời khỏi trường đại học cũng là ánh mắt ấy của Thi. Rồi không cả tiếng nức, chị bước qua tôi cúi đầu tha thủi đi xuống suối, cứ thế lội ngược dòng. Trong đời chị liệu còn mấy lần phải lội con nước ngược chị ơi?!

Cả buổi trưa đó chị không về. Chiều, chúng tôi khiêng cột nhà xuống suối. Mới khiêng đến cột thứ hai anh Thuyên đã sùng sục chạy về lán cầm theo cây thước vuông xuống suối, anh cuống cuồng đo lại cột cái, đo đến ba lần rồi anh mới gọi giật tôi lại: “Thằng mặt trắng, thằng nửa đại học kia lại đây. Mày giết ông rồi, chó liếm hết mực hay sao mà mày thiến cụt cột cái đến năm phân? Cha mày, có mỗi cái câu “Mộc gia, nề giảm” mà cũng không chịu nhớ, ngơ ngơ ngác ngác như hươu gạc”.

Tôi đứng như trời trồng giữa suối, tốp thợ cũng dừng tay theo. Anh Thuyên lẳng lặng bỏ lên lán nằm. Vậy mà tôi lại phạm vào điều cấm kỵ nhất của nghề mộc. Ma xui quỷ khiến hay ánh mắt chị Linh, em Thi đã xúi bẩy tôi đưa lưỡi cưa lên trên năm phân? Tôi cũng nem nép lên theo anh rồi móc hết tiền công trong túi ra và nói: “Em có mỗi chừng này, nhờ anh mua cột đền họ… Còn thiếu, em làm trả dần”.

Anh không nhìn tôi, không trả lời, không cầm tiền. Tôi đặt nắm tiền nhàu nhĩ xuống sạp và lẳng lặng lội xuống suối. Vô thức tôi cũng lội theo con nước ngược. Tôi đi và thỉnh thoảng tôi gặp tôi, gặp chị Linh với những chiều gió cả, tôi và chị nô đùa trên suối lặn ngụp bắt con bóng cát, con tôm càng, con cua đá. Tôi gặp lại chị, gặp lại tôi của những ngày xưa thân ái.

Tôi cứ mộng du đi và tôi lại gặp chị. Chị đang ngồi chon von trên một hòn đá to giữa lòng suối. Tôi đứng nhìn rồi leo lên với chị. Tôi ngả lưng xuống mặt đá. Đá bao nhiêu tuổi, đau gì mà mặt chằng chịt vết nhăn? Chị bó gối ngồi kề bên mặt lạnh băng, buồn như mặt đá. Khi bóng tối bao trùm tôi cũng nhắm mắt và thiếp đi lúc nào không biết, chỉ đến khi những giọt mưa rừng quất vào người rát rạt tôi mới vùng tỉnh dậy.

Tôi đã gối đầu lên người chị tự bao giờ, chị đang gập người che mưa cho tôi. Nghe tiếng suối gầm gào, tôi hốt hoảng nhìn xuống. Lũ rừng! Chắc phía thượng nguồn mưa lớn, nước đã lồng về vây kín hòn đá chị em tôi ngồi. Tôi lắc vai chị hét lớn:

– Sao chị không thức em dậy khi còn kịp?

– Nếu nước cuốn đi được thì tốt. Sống chắc gì đã hay hơn chết.

– Nhưng em… em…

– Chưa muốn chết, nhất là chết cùng tôi chứ gì? Thì tại tôi, tại tôi cả – chị hét – Để tôi chết đi cho rồi. Đàn ông, tao căm thù đàn ông.

Chị hất tôi ra và định lao mình xuống dòng nước đang há những cái lưỡi dài chờ đợi thèm thuồng. Tôi ghì chị lại trên mặt đá. Không biết nước mưa hay nước mắt chị, nước mắt tôi thấm mặn môi? Một lúc sau, thấy có vùng vẫy, lẫy hờn cũng không thể thoát được vòng tay thép của tôi, người chị mềm dần, ấm nóng.

Tôi vẫn ôm chị, lần đầu tiên tay tôi ôm trọn được một vòng quanh người chị. Mùi tóc, mùi da thịt chị lại rộn lên, ký ức xưa ùa về ứ tràn lồng ngực… Tôi vội vàng thả chị ra. Chị hụt hẫng nhìn tôi thở dài. Thoảng đâu phía đầu nguồn vọng lại tiếng con chim tìm chồng thao thiết gọi, da diết nhớ: chàng ơi chàng… chàng ơi chàng… Buột miệng chị nói:

– Sao đàn bà luôn phải theo đàn ông?

– Chả phải, đó chỉ là chuyện cổ tích.

– Sao Thuyên nó phạm bao nhiêu tội, đi tù về là trả xong nợ… Còn chị, biết khi nào thoát hết tội nợ đây em?

– Anh Thuyên cố chấp vậy… Sao chị…?

– Em đã từng yêu em biết. Cũng tại chị, cứ cắn răng chịu nhục mấy năm qua chỉ mong có đứa con để Thuyên nghĩ lại. Thuyên không biết, còn chị thì cứ tự dối mình. Không có trái vì Thuyên gieo giống lép…

Trăng vẫn rờ rỡ và nước vẫn vờn chân đá. Chị đã nằm xuống mặt đá và hình như chị đang thiếp đi. Trong giấc ngủ thấy chị thanh bình lạ, tóc chị trăng vào trốn đầy. Tôi cứ ngồi vậy ngây người ngắm chị ngủ rồi giật mình, chị giống Thi đến lạ, giống từ mái tóc, bờ môi… Ngả người nằm xuống bên chị rồi tôi cũng thiếp đi…

Trong mơ tôi thấy Thi trở về, em úp mặt vào ngực tôi tức tưởi khóc cho những tháng ngày nông nổi. Tôi vuốt tóc em, thơm lên bờ môi cong đã bao lần bạc phấn với môi kẻ bạc tình. Tôi muốn chứng tỏ khả năng đàn ông của mình. Tôi sẽ làm tất cả, làm như nó vốn là vậy, được vậy và phải vậy Thi ơi… Tôi trườn lên, trườn lên, trườn lên mãi…

Tôi đã tỉnh ngủ nhưng vẫn nhắm mắt nằm nán lại để cho những cảm xúc thần tiên ngấm lắng, để được tận hưởng những giây phút hết mình. Để tự thỏa thuê khi đã chứng tỏ được mình là đàn ông đích thực với em Thi… Đến khi nghe vẳng bên tai lời chị nói: “Cảm ơn em, chị tin là lần này chị sẽ có… Thuyên sẽ nghĩ lại”. Tôi vùng dậy. Trời ơi…

Tôi vơ vội đống quần áo nhảy ào xuống dòng suối đang ngửa mình nây nẩy hứng ánh bình minh… Lần ngược này liệu tôi có còn xuôi?!

13/4/2026

Nguyễn Thế Hùng

Theo https://vanhocsaigon.com/

Sương gió ngày qua

Sương gió ngày qua

Tui mừng vì có thể nối lại tình xưa, sao Năm hờ hững chi vậy. Chiều chiều nhìn qua nhà Năm tui buồn, mà buồn là tui uống rượu, mà uống rượu là má Tư chửi. Hơ hớ! Tui sung sướng nhứt trên đời còn sống trở về nhìn Năm mỗi ngày, còn nghe má chửi mỗi ngày…

– Chị còn đau chỗ nào tôi xoa cho bớt nghe.

– Không sao đâu, già rồi xương cốt nó cứ hành mình vậy thôi. Nhớ ngày xưa còn trẻ có sợ gì đâu hé!

Ngày xưa của hai người phụ nữ khi còn trẻ đã hơn 50 năm qua.

1. Hồi đó chị ở bên xã An Bình, tui bên xã Thuận Đức, ấy là sau trận đánh lớn gặp nhau còn sống sót mới biết được chứ hồi chuẩn bị, việc ai nấy làm đâu có biết nhau. Tình hình lúc đó chỉ biết cấp trên truyền đạt chủ trương phải làm một số việc khẩn cấp, chỉ biết chuẩn bị tổng tấn công, nhưng không rõ lúc nào. Vùng ven ngày đó hoang vu, xa xa có một nhà dân, nhưng phải bám dân, phải vận động người dân ủng hộ cách mạng. Rồi từ trong dân đã có một số căn hầm bí mật, cũng từ trong dân đã có lúa vựa trong nhà, có vũ khí chia ra giấu nhiều nhà dân, có nơi ăn chốn ở để đưa cán bộ về cài cắm trong thế hợp pháp và bán hợp pháp.

Chị ở bên này cũng phải len lõi trong dân, có người lo mảng khác như em, chị lo mua thuốc men, dụng cụ y tế. Cơ số thuốc gởi nhờ mấy tiệm thuốc tây là cơ sở của mình vận động gom giúp không bị lộ, rồi chuẩn bị sẵn sàng cho một trận đánh lớn. Đâu có biết ngày giờ cụ thể của trận đánh đâu, chỉ biết chuẩn bị theo lệnh của cấp trên thôi.

Chị có còn nhớ em Thương không? Trời, nhớ lại mà tội cho em ấy, bụng mang dạ chửa mà mê công tác lắm. Cũng cùng các đồng chí chuẩn bị ráo riết cho trận đánh, vậy mà trước ngày vào thị xã, chồng nó hy sinh trước cửa ngõ vào thị xã, tưởng con nhỏ không vượt qua, vậy mà nó bậm môi, tay đở cái bụng bầu lao vào trận đánh. Sau ngày giải phóng nó bồng chống đưa con về quê chồng phụng dưỡng cha mẹ chồng trọn vẹn đạo nghĩa làm dâu con. Thương cũng lao động giỏi, nuôi con ăn học nên người. Chị có biết em gặp nó ở đâu không? Tại buổi họp mặt những bà mẹ gởi con đi kháng chiến, nó khóc vì mừng và gởi lời thăm chị rất nhiều. Cứ mỗi lần gặp Thương nó luôn khoe đứa con gái nó sinh trong dịp Tết năm ấy.

Thương kể lúc đó đau bụng quá trời luôn, còn phải tổ chức đón một đồng chí từ căn cứ vào nội thành, đi qua đồn, bót không phải đơn giản, chỉ có nội tuyến của ta cài cắm trong bót phối hợp mới làm được. Trước giờ người liên lạc chỉ có em, anh ta nhận lệnh từ em, trời đau bụng chi giờ này không biết, ráng đi con cho mẹ xong việc rồi con hãy ra. Vậy mà con nhỏ như nghe được lời năn nỉ của em nó lì trong bụng, em đưa được đồng chí mình về nhà cơ sở ở nội ô rồi con bé gặp mặt bà mụ là sổ tọt ra hà chị. Thương kể chuyện sinh nở mà như một cuộc đi chơi. Con bé tên Khánh, nhưng tôi không nhớ nỗi chỉ gọi thân thiết nó là con bé Thân, kỷ niệm năm mùa Xuân mẹ nó sinh nó ra đời, nhưng cha nó lại vĩnh viễn ra đi. Con bé Khánh được gởi về nội ô thị xã cho người chị của Thương nuôi dưỡng. Thương ra mộ chồng thắp hương cho anh trong một ngày mưa gió tơi bời. Thương lạnh lắm, nhưng cái lạnh bên ngoài không bằng sự đơn côi bên trong khi phải vừa công tác, vừa phải lặn lội về với con bất cứ lúc nào có thể.

2. Em ở bên này có yên đâu chị, chị có nhớ trưởng ấp Sáu Sẹo không, trời hắn ác nhơn lắm chị. Một số anh em đằng mình đã bị hắn chỉ điểm và bị bắt, bị tra tấn. Anh Chín bị đánh gãy chân ngay tại chợ. Hắn đánh hơi em có tham gia đằng mình, có lần hắn dẫn chiêu hồi về nhìn mặt. May đợt đó em mới sanh con còn nằm lửa, mà người chiêu hồi đầu trùm bao bố nhìn em một lúc lâu rồi lắc đầu bỏ đi. Sau đợt đó nội tuyến báo do khác đường dây, nên người chiêu hồi không biết em thiệt. Nhưng để đảm bảo an toàn, trên đã sắp xếp cho em chuyển vùng hoạt động, vậy là mẹ con em bồng chống về huyện xa mở một tiệm tạp hóa nhỏ vùng ven đô làm chỗ cho anh em về liên lạc. Những người bỏ mối hàng cho em đa phần là anh em của mình, cũng từ cái tiệm tạp hóa em lại có đủ thứ gởi vô trong cho đàng mình trong thế hợp pháp.

Hương dần lớn em gởi về thành ở nhà dì Ba đi học, dần dần nó cũng xong tú tài toàn phần cũng là ngày toàn thắng, ba nó đi tập kết trở về. Nhà em rạng rỡ niềm vui, hạnh phúc mà cứ ngỡ như mơ. Nhìn lại so với một số đồng chí, thấy sao mình may mắn. Nhiều khi gặp lại chị em mình đơn côi, em không biết nói gì hơn chỉ động viên mấy chị, qua hết rồi mình còn sống để được hưởng hòa bình. Chiến tranh, khói lửa đã qua, có chồng, có con bên cạnh, niềm vui cứ lâng lâng một thời gian sau mới hết. Con gái em tốt nghiệp đại học, ra trường mở công ty làm kinh tế. Ai gặp cũng khen em tốt số. Nào ngờ Hương sai phạm trong quản lý gây hậu quả nghiêm trọng phải nhận lãnh án tù. Hai vợ chồng em suy sụp vì con, rồi sau đó là chuỗi ngày nuôi cháu ngoại, thăm lo cho con trong tù. Chồng Hương bỏ nó khi biết vợ vướng vào vòng lao lý. Mười lăm năm của một đời người, Hương mãn hạn tù trở về, teo tóp, gầy gò, héo úa. Ba Hương bệnh ngày càng nhiều rồi ổng cũng bỏ em đi. Những trận B52 ngoài Bắc vùi lấp ổng ngày xưa, sau khi mọi người tìm được ông ấy dưới đống đổ nát, từ đó di chứng để lại cứ trở trời máu trong lỗ tai ổng cứ ri rỉ. Dù đi nhiều bệnh viện, dù được chữa chạy kịp thời nhưng rồi ông ấy cũng ra đi. Gia đình em buồn hiu hắt, Hương mặc cảm với đời, với bạn bè, trầm cảm, u buồn, mất cân bằng cuộc sống một thời gian dài. Chị ơi! Những ngày tháng đó, vì con, vì cháu em gắng gượng để vực dậy cuộc sống gia đình, lòng luôn tự nhủ phải tự đấu tranh, phấn đấu cho mình chứ làm sao bây giờ.

Nước lớn rồi, bìm bịp kêu chị có nghe không? Chị còn nhớ thằng Hai Thẹo đi tập kết hồi đó không? Rồi thằng Chín Cụ đi lính quốc gia nữa.

3. Tôi xuống tàu ra đất Bắc, được học hành đàng hoàng, được phân công về quản lý một nông trường. Tất cả cho miền Nam thân yêu là nhiệm vụ thiêng liêng lúc bấy giờ. Tôi dành cả thanh xuân của mình cho những vụ mùa, những kế hoạch sản xuất. Tôi không cưới vợ dù có lắm đám mối mai. Người ta nói tôi liệt dương nên không dám cưới vợ, kệ tôi không quan tâm.Sâu thẳm trong trái tim tôi lời hẹn ước bên bến sông trăng trong một mùa thương nhớ tôi chưa quên. Trong đó, cuộc chiến còn ác liệt quá biết em tôi có yên ổn. Tôi không có tin tức gì của em từ dạo ấy, nhưng tôi tin vào đôi mắt trong veo của em đã âm thầm đưa tiễn tôi bên bến sông năm nào. Rồi tôi sẽ trở về sẽ cùng em đi nhổ mạ, cấy lúa sau đó khi mùa vàng ươm khắp cánh đồng lại cùng nhau đi cắt lúa cùng trai gái trong xóm. Tiếng hò của miệt vườn sông Hậu lại cất lên đối đáp khắp bờ bãi ruộng đồng, em má ửng hồng với nụ cười rạng rở tỏa sáng một góc quê. Trong những đêm thâu trên đất Bắc tôi đã da diết nhớ em và mơ những giấc mơ về em thật ngọt ngào đằm thắm. Bóng hình em trong trái tim tôi luôn thúc giục tôi làm việc và làm việc hết mình cho ngày toàn thắng.

Rồi tôi cũng trở về trong vinh quang, trong sự chờ đón của gia đình. Cha mẹ già đã mất, người chị gái héo hon cố giữ lấy mảnh vườn hương quả trao lại cho tôi. Trên cõi đời giờ chỉ còn tôi và chị, chiến tranh loạn lạc anh trai tôi và thằng Út đã yên nghỉ nơi nghĩa trang cùng đồng đội. Người em gái bên bến sông trăng của tôi đã hy sinh ngay cửa ngõ vào thành phố khi đón đoàn quân giải phóng. Chị tôi khóc rất nhiều, kể về em rất nhiều, đã từ lâu mặc nhiên coi em là em dâu trong nhà. Nhưng rồi cuộc sống vẫn phải sống tiếp, nhiều năm sau tôi đã lập gia đình theo lời khẩn cầu của chị gái. Vợ tôi hiền lành, nhu mì đúng kiểu chân chất miền Tây. Thỉnh thoảng sáng ra thấy vợ rơm rớm khóc, gặng hỏi vợ không nói chỉ lắc đầu. Cho đến khi đứa con gái đầu lòng lên năm tuổi, một sáng thức dậy nó thẻ thọt: má hay thiệt ba ngủ mớ gọi ai đó om sòm lên mà má chỉ ngồi nhìn ba khóc. Mà không phải một lần này đâu, mấy lần rồi. Mai mốt ba đừng vậy nữa cho má với con ngủ nghe ba. Tôi nhìn vợ thật lâu, cô ấy quay đi như không nghe thấy gì. Sau này lâu lắm, tôi ngày càng cưng chiều vợ, nụ cười vợ có lúc rạng rỡ hơn. Khi tôi gặng hỏi lần nữa, vợ tôi cười buồn, giờ hổng lẽ ghen với người chết, già rồi mới có mụn con, coi như ông trời bù đắp. Anh mơ thôi mà, sáng mai ra lại là chồng em.

4. Chín Cụ ơi! Chín Cụ mày không chết trôi chết nổi, mày sống chi mà về đây báo tao. Tiếng la hét của bà Tư, tiếng lè nhè say rượu của chú Chín Cụ lại vang lên. Chú Chín Cụ bị bắt quân dịch đi lính tận miền Đông. Một lần hành quân đi lạc đường bị du kích bắt về đưa vô trong chỉnh huấn. Chín Cụ giác ngộ xin ở lại phục vụ đằng mình. Giải phóng Chín Cụ dìa quê hông ai tin chú đã cải tà quy chánh. Người ta bắt chú Chín Cụ lên ban quân quản trình diện, ăn cơm nhà nước cả tuần chờ xác minh mới được thả về. Câu chuyện chú Chín Cụ đầu hàng làm tà lọt cho ông chỉ huy Bảy Bé cứ rượu vào lè nhè kể con nít xóm này riết thuộc lòng. Bao nhiêu con gái trẻ đẹp chú Chín Cụ không để ý lại đi theo đuổi dì Năm chồng chết trong kháng chiến có năm đứa com. Con gái lớn dì Năm nhỏ hơn chú Chín Cụ có ba tuổi. Nhiều lần chú Chín Cụ ngõ lời, dì Năm từ chối. Chồng chết năm con, đi bước nữa mà chi, cám ơn anh Chín Cụ nghe Năm muốn ở vậy nuôi con khôn lớn hà! Trời, buồn chi buồn vậy. Tui thương Năm từ lúc Năm chưa có chồng, ai ngờ sau cuộc hiến trở về chồng Năm đã ra đi. Tui mừng vì có thể nối lại tình xưa, sao Năm hờ hững chi vậy. Chiều chiều nhìn qua nhà Năm tui buồn, mà buồn là tui uống rượu, mà uống rượu là má Tư chửi. Hơ hớ! Tui sung sướng nhứt trên đời còn sống trở về nhìn Năm mỗi ngày, còn nghe má chửi mỗi ngày. Ậc, ậc nhiều anh em đồng đội hy sinh nơi sông sâu nước chảy, nơi cỏ rậm rừng hoang. Má Tư à! Đừng có rủa con má ơi!.

14/4/2026

Nguyễn Kim Thanh

Theo https://vanhocsaigon.com/

Khi mặt trời sắp chạm vào khe núi

Khi mặt trời sắp chạm vào khe núi

1. “Mặt trời sắp chạm vào khe núi rồi, ta về thôi anh ơi!”.

Âm thanh trong trẻo, dịu dàng lướt trên đồi chè xanh mênh mông rồi nhẹ nhàng bay lên không trung, đậu vào vành tai phật của nhà thơ miền rừng khiến ông Diền đang mơ màng ngắm cảnh chợt bừng tỉnh, trở về với thực tại. Chiều nay, hai vợ chồng ông đã có một cuộc trải nghiệm đầy thú vị trên đồi chè thơ mộng Uyên Hai.

Thu gọn chiếc máy ảnh Nikon bỏ vào túi, ông liếc nhìn người vợ trẻ thon thả trong bộ đồ trang phục Thái bó sát lưng ong. Trong lòng ông như có tiếng ríu rít của một bầy chim hót, lại như có sắc trắng muốt và hương thơm thoang thoảng một rừng ban nở.

… Mười lăm tuổi, cậu bé Chảo Văn Diền đượcbố mẹ cưới cho một cô vợ  cùng tuổi, gầy quắt  như con nhái bén, tóc vàng ệch như râu ngô theo lễ nghi của dân tộc Giáy. Hôm ấy, cậu mới biết đó là cô bé Vùi Thị Liếng ở ngay sát cạnh nhà mình. Liếng mồ côi cả cha lẫn mẹ, bấy lâu ở với vợ chồng người chị gái có vẻ mặt âu sầu. Cậu dửng dưng, chẳng thấy vui, cũng chẳng thấy buồn gì cả.

Bố mẹ bảo:

– Con lớn rồi và lại thích lên thị trấn học thì phải cưới vợ để nó ở nhà giúp bố mẹ làm ruộng nương, chăm gà, lợn chứ!

Diền mười lăm tuổi mới học hết cấp một. Ở xã lúc đó chưa có trường cấp hai nhưng thích đi học ở thị trấn quá nên cậu đành đồng ý lấy vợ cho qua chuyện. “Ừ thì cưới. Lại được mổ con lợn to, tha hồ mà đánh chén với mấy thằng bạn thân trong bản”.

Hồi đó, tảo hôn và việc “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” là tục lệ truyền thống của dân tộc Giáy nên không ai cấm cản. Bố mẹ Diền khá giả lại có mỗi Diền là con trai nên đám cưới cũng réo rắt, thiết thatiếng kèn Pí Kẻo hòa chung tiếng kèn đồng, tiếng trống, chũm chọe, tiếng gõ mai rùa và tiếng lắc chuông thánh thót. Diền xúng xính trong bộ quần áochàm mới, đầu vấn khăn. Nó cứ  mê mải nghe đội kèn thổi bài “Chào chủ nhà” đến bài “ Mời rượu”. Sắp đến bài “Cúng tổ tiên” thì ông Chảo Văn Hái – bố Diền mới chạy vào lôi nó ra đứng sát Liếng chuẩn bị hành lễ. Cái Liếng mặc áo đen che kín mông, xẻ nách phải, đắp thêm nhiều miếng vải màu sặc sỡ.Theo lời chỉ dẫn của ông Hái, hai đứa trẻ ngượng nghịu đi thẳng đến bàn thờ, quỳ xuống lễ gia tiên xin phép cho cô dâu được làm con cháu trong nhà.

Hành lễ xong, mẹ Diền xuất hiện, tươi cười dắt cái Liếng đi thăm buồng bố mẹ chồng và các gian buồng khác trong nhà. Cái Diến vụng về, ngượng nghịu, đi bên mẹ mà hai chân líu ra líu ríu như chực ngã.

Đám cưới Diền và Liếng kéo dài ba ngày ba đêm. Họ hàng, người cùng bản ăn  xôi, thịt lợn, bánh dày, bánh bỏng thoải mái, rượu rót tràn bát.

Đêm tân hôn, sau khi ăn no uống say với bạn bè,Diền chui tọt vào buồng ngủ đến sáng. Thấy cái Liếng cứ ra ra vào vào lọ mọ dọn dẹp bếp núc, mẹ Diền thương tình bảo:

– Khuya rồi, con vào buồng ngủ với chồng con đi! Có gì mai dọn tiếp.

Cô bé run run cầm cái chổi định ra quét sân thì bà mẹ chồng giằng lấy, đẩy cô vào buồng, chốt chặt cửa bên ngoài lại. Liếng rón rén ngồi xuống mép giường nhìn cậu hàng xóm mặt non choẹt ngủ. Nóthở dài khi nghe tiếng thạch sùng tắc lưỡi trên trần nhà, ếch nhái kêu oàm oạp ngoài bờ ao. Gà gáy canh ba, Liếng mệt quá, gục xuống ngủ thiếp đi. Đến khi bà mẹ chồng mở cửa phòng, tia nắng sớm mai soi rọi cảnh hai đứa trẻ ranh, một nằm giang chân giang tay chiếm hết phần giường, một nằm gục co quắp dưới chân giường, bà thở dài ngao ngán: “Vợ với chả chồng!”.

Mẹ sinh Diền năm mười bẩy tuổi. Dưới Diền là bốn đứa em gái lít nha lít nhít, đứa nào cũng chỉ họchết lớp một thì bỏ học. Bố bảo:

– Con gái thì học làm gì cho tốn thời gian. Có mài cái chữ ra mà ăn được đâu. Cứ chăm chỉ làm ruộng làm nương, chăn gà, nuôi lợn tốt rồi sẽ có người hỏi về làm vợ. Nhà này chỉ cần cho thằng Diềnhọc lên thôi!

Ở xã lúc đó chỉ có duy nhất Diền được đi học ở thị trấn cách nhà hai chục cây số nên Diền được bố mẹ gửi trọ nhờ nhà cán bộ người Kinh ngày trước từng làm chủ tịch xã, tên Sinh nay chuyển lên làm Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân huyện. Cậu bé học một biết hai lại hiền lành, khiêm tốn nên được nhiều thầy yêu, bạn quý. Chả ai hay cậu bé mặt búng ra sữa ấy đã có vợ ở nhà. Mỗi tháng Diền về thăm bố mẹ một lần, lấy thêm gạo nếp, thịt lợn treo trên gác bếp lên góp ăn với cán bộ người Kinh tốt bụng. Mỗi lần về, cậu vẫn  theo cha mẹ và vợ đi làm ruộng làmnương, lúc rảnh thì bắn nỏ, chơi đẩy gậy với lũ trẻ con trong bản. Tối đến, như con gà trống choai quen chuồng, cậu cũng rửa sạch sẽ mặt mũi chân tay rồi đingủ sớm. Cậu cố tình để một chiếc chăn mỏng chia đôi giường, ngủ quay mặt vào tường. Ban ngày đi làm nương hay ở nhà, cô bé Liếng và cậu cũng vẫncứ lạnh nhạt với nhau như hai kẻ xa lạ, có việc gì cần hỏi thì chỉ nói trống không hoặc ừ hữ cho qua chuyện. Diền học cùng bọn con gái là con cán bộ trên thị trấn, thấy đứa nào cũng xinh đẹp, lanh lợi và ăn mặt gọn gàng, sạch sẽ chứ đâu có lôi thôi lếch thếch, quê cục như cái Liếng vợ mình. Đợi Diền ngủ say, cái Liếng cũng từ từ leo lên giường ngủ. Nhưng nó không ngủ dưới chân giường như đêm tân hôn nữamà nằm ở phần giường đã được Diền phân đôi, quay mặt ra bên ngoài. Nó tủi thân, nước mắt trào thấm gối: “Mình cứ như người ở cho nhà nó, ngày nào cũng làm quần quật cùng bố mẹ chồng để dành dụm bát gạo, củ khoai, quả trứng… cho nó đem đi ăn học mà mỗi lần nó về, nó chẳng coi mình ra cái gì. Vợ chồng gì mà tối ngủ nào cũng quay lưng vào nhau  như thế chứ!”.

Thấy con dâu buồn, mẹ ca cẩm với bố, nói bố là đàn ông thì phải bảo ban con trai cư xử sao cho phải với vợ. Bố gạt phắt ngay:

– Ôi dào! Trời khắc dạy nó!

Rồi liếc nhìn đôi mắt của bà vợ tuy đã có nămcon nhưng vẫn còn long lanh rực lửa, ông bố tủm tỉm cười, buông lửng một câu:

– Như tôi với bà ấy…

Mẹ đỏ mặt, lườm bố một cái thật nhanh.

2. Thằng Phanh chột lấy được con vợ đẹp nhất bản Chậu đấy!

– Chẳng phải đẹp nhất bản Chậu đâu! Cái Thoa đẹp nhất xã Tùng Cơi đấy!

Người thứ ba nói:

– Tao thấy nó đứng số một trong huyện này chứ chẳng đùa! Nghe người già kể: bà ngoại nó ngày xưa đẹp nhất đội gái xòe của vua Đèo Văn Long đấy!

– Thế sao nó phải lấy thằng Phanh chột? Nó tham nhà thằng ấy giàu à?

– Không phải đâu! Mẹ tao kể: Ngày xưa, mẹ thằng Phanh và mẹ cái Thoa thân nhau từ tấm bé, lấy chồng có con rồi vẫn làm nhà cạnh nhà nhau, có củ sắn, củ khoai, con cua, con ốc đều chia nhau ăn cùng. Thằng Phanh cùng tuổi cái Thoa nhưng to con đen sì, thô vụng, cái Thoa trái lại, nhỏ nhắn, trắng trẻo và xinh xắn. Có một lần bố mẹ hai nhà mải làm việc chẳng để ý đến hai đứa trẻ  đang chơi đánh khăng dưới sàn nhà. Cái Thoa loay hoay thế nào mà cái khăng bật lên vụt đúng vào con mắt phải của thằng Phanh. Thằng Phanh khóc rống lên như con lợn bị chọc tiết. Hai gia đình cuống quýt buộc túm chăn vào hai đoạn tre dài làm cáng đưa thằng Phang lên bệnh viện mổ mắt nhưng hồi ấy trình độ y bác sĩ tuyến huyện còn kém nên không cứu nổi con mắt phải của nó. Bố mẹ thằng Phanh thương xót con, âu sầu mất ăn mất ngủ, ai cũng gầy tọp đi. Mẹ cái Thoa thươngbạn, thương thằng con bạn bỗng dưng vì con mình mà trở thành tật nguyền bèn năn nỉ với chồng rồi sau đó sang an ủi vợ chồng cô bạn thân:

– Thôi hai bạn đừng buồn nữa. Con dại thì cái mang. Sau này lớn lên, chúng tôi sẽ cho cái Thoa về làm vợ thằng Phanh.

Mẹ Phanh như người chết đuối vớ được cọc:

– Thật nhé! Thật nhé! Tôi lo nhất là lớn lên thằng Phanh khó lấy được vợ thôi!

3. Học hết lớp bẩy, Diền về nghỉ hè. Từ bố mẹ, các em đến bà con làng xóm ai cũng trố mắt ngỡ ngàng thấy cậu trở thành một chàng thanh niên cao to vạm vỡ, gương mặt tuy nổi đầy mụn trứng cá nhưng nom thật nam tính: Đôi mắt to rực sáng như sao, sống mũi cao thanh tú và cái miệng cười tươi ngây thơ nhưtrẻ con sắp được ăn thịt gà ấy. Năm cuối cấp nên cậu tranh thủ mọi lúc để học bài, từ tết đến giờ cậu mới dám về nhà.

Bẵng đi nửa năm không về nhà, cậu ngạc nhiên thấy cái Liếng nhái bén đen sì vợ mình bỗng trổ mã biến thành một con người hoàn toàn khác: Nom nó phởn phơ, mơn mởn như bó mạ non mẹ buộc chít giữa eo gánh ra ruộng cấy. Dưới cái chỗ chít eo ấy là cặp mông căng mẩy tròn trịa như mông con kiến bống và đôi đùi dế săn chắc thon dần xuống gót chân trần trắng trẻo, mịn màng. Ngước lên chỗ thắt eo như lưng ong là đôi măng non vừa nhu nhú cứ phập phà phập phồng theo nhịp thở của đứa gái mười bẩy vừa đi nương về.

Nhận ra Diền đang ngơ ngẩn ngắm nhìn mình, cái Liếng e thẹn lảng cái nhìn ra phía đàn gà con vừa xuống ổ, miệng khe khẽ gọi chúng: “Chiếp! Chiếp!Chiếp! Chiếp!”.

“Cái miệng nó xinh, tiếng gọi gà cũng xinh thế nhỉ!” – Diền thầm nghĩ trong bụng nhưng lại xăn xắn chạy đến bên mẹ, đỡ bó củi to tướng trên lưng mẹ:

– Lần sau mẹ địu bó củi nhỏ thôi, đừng làm bó to thế này đau lưng lắm đấy!

Mẹ cảm động, âu yếm nhìn cậu trai cả mới đi học xa về mà chững chạc, biết điều, biết ăn biết nói thế, cái bụng bà cũng nhảy tưng tưng lên vì vui sướng.

Tối hôm ấy, làm xong việc băm chuối nấu cám lợn, dọn dẹp quét tước bếp núc, Liếng vào nhà tắm làm vệ sinh lâu hơn mọi ngày. Nhìn thấy bánh xà phòng thơm Diền mới đem về tắm hồi chiều vẫn còn ươn ướt, Liếng vội vàng xoa lên khắp cơ thể trinh nữ của mình một cách thích thú và mỉm cười tự chếnhạo mình: “Mày dùng chung xà phòng thơm với thằng Diền rồi, xấu hổ lắm nhé!”. Lúc vào  buồng ngủ, cô không thấy Diền để cái chăn mỏng phân chia ranh giới giường như mọi bận nữa mà xếp riêng cho cô một chiếc chăn hoa mới toanh, phẳng phiu để trên đầu giường. Dưới ngọn đèn hoa kỳ khêu nhỏ, anh chàng nằm thẳng thớm, đắp riêng một chiếc chăn thổ cẩm, nom thật hiền. Nhưng nghe tiếng thở đều đều,phập phồng của Diền, Liếng biết anh ta giả vờ ngủthôi. Mùi da thịt ngầy ngậy của cậu trai mới lớn giống mùi xạ của con cầy hương cứ vương vít xộc vào hốc mũi Liếng, Cô cố tình xoay người ra bên ngoài nhưng không sao tránh được cái mùi xạ hương thơm như mùi cơm nếp mới cứ ấp  iu, lan tỏa, lại ấp iu, lan tỏa thật đê mê, quyến rũ.

Trai gái mới lớn ở gần nhau như  “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” nhất là khi họ chợt nhận ra “người của mình” cũng đẹp đẽ, thơm tho, hấp dẫn. Chẳng cần nói năng, tán tỉnh, ve vãn. Họ tâm tình với nhau bằng ngôn ngữ cơ thể: nụ cười e lệ, ánh mắt si mê, vòng tay từ rụt rè, ý tứ đến tham lam, táo bạo. Rồi việc gì phải đến cũng đến.

Hôm sau, thấy hai đứa dậy sớm, Diền ra sân tập thể dục, Liếng vào bếp đồ xôi sắn cho bố mẹ ăn sáng đi làm nương, nét mặt đứa nào cũng tươi hơn hớn như chồi non lộc nhú đầu xuân, bố mẹ Diền thấy ưng cái bụng lắm!

Rồi Diền được nhà trường làm hồ sơ cho đi học Trường Văn công Khu tự trị Tây Bắc. Chàng trai ra đi trong nỗi nhớ thương cha mẹ và người vợ trẻ đẹp, chăm chỉ. Đẹp trai, có năng khiếu đàn hát, chàng luôn được thầy cô và bạn bè yêu quý, tôn trọng.

4. Năm mười sáu tuổi, Thoa tóc đen, da trắnghồng, thân hình nở nang cân đối và gương mặt sáng sủa, ưa nhìn: đôi mắt to tròn, long lanh, chiếc mũi cao nhỏ gọn, đôi môi hình trái tim lúc nào cũng đỏ tươi, ướt rượt như gọi mời… Trai bản đua nhau đi chọc sàn tán tỉnh. Thoa cũng thấy trái tim mình hồi hộp, rung rinh, xao xuyến nhưng bố mẹ luôn nhắc nhủ cô:

– Con là người của thằng Phanh rồi. Đừng có làm sai chữ tín để bố mẹ mất mặt với bố mẹ thằng Phanh và bà con trong bản nhé!

Thoa vốn hiền lành, ngoan ngoãn nên chẳng dám làm  trái ý bố mẹ. Cô dằn lòng, khóa chặt cửa nhà, không dám bước khỏi “tang quản” – đầu sàn dành cho người nữ lên xuống – bước xuống chín bậc cầu thang để gặp cậu trai bản đẹp đẽ mà mình cũng thấy ưng cái bụng.

Lời hứa của cha mẹ Thoa như dao chém chặt vào đá, chẳng thể lung lay. Hai năm sau, Phanh và Thoa vừa tròn mười tám tuổi, hai gia đình quyết định tổ chức hôn lễ cho hai đứa. Khỏi phải nói Phanh vui mừng đến chừng nào, cậu thấy cậu là người hạnh phúc nhất thế gian này. Thoa không ghét cũng không yêu Phanh, cô chỉ vâng theo lời cha mẹ như một đứa gái ngoan, hiếu thảo với cha mẹ thôi. Mặc dù hai nhà ở sát nách nhau ngót hai mươi năm qua nhưng đám cưới vẫn được tiến hành đầy đủ các bước theo đúng tục lệ, nghi thức của dân tộc Thái: Sau lễ “dướn đăng” (dạm ngõ) nhà trai sang nhà gái hỏi vợ cho con là bắt đầu nghi thức “pay  gia mươn” (thăm tháng) tháng nào nhà trai cũng phải đưa lễ gồm rượu, cơi trầu sang thăm nhà gái cho đến ngày cưới. Hai nhà vốn có mối thâm tình nên bố mẹ Thoa cũng không thách cưới cao, không đòi trâu, đòi tiền bạc, chỉ nhận chút ít tiền cho nhà trai vui lòng. Mẹ cùng Thoa miệt mài ngày đêm dệt vải, làm khăn piêu, váy áo, chăn, gối, nệm… làm quà cho ông bà, bố mẹ, chú bác, anh chị em nhà chồng. Trong buổi lễ đón dâu, đoàn nhà trai cũng vượt qua nghi lễ “tát nước” mà bên nhà gái đã chuẩn bị sẵn để cho các thanh niên  bên nhà gái hắt và khoát nước  làm cho cả nhà trai – nhất là ông mối và chú rể bị ướt cho đến khi họ xin tha mới thôi.Chú rể vào nhà thay quần áo để tiến hành nghi thức quỳ lạy ông bà, tổ tiên, bố mẹ nhà gái.

Sau lễ “Phúc beeng” (Lễ tơ hồng) vì nhà gần nhau quá đoàn rước dâu phải gửi cô dâu sang bên nhà hàng xóm, chờ đến đúng giờ mới đưa cô dâu vào nhà.Phanh và Thoa lại tiếp tục trải qua nghi lễ “Rửa chân”. Tiệc cưới diễn ra thật vui vẻ, nam nữ hát khắp, hát đối đáp  giao duyên tình tứ.

Ngắm cô dâu chú rể đi từng mâm mời rượu, nhiều trai bản không giấu nổi tiếng thở dài thườn thượt, tiếc cho bông hoa ban xinh đẹp nhất mường bản đã  rơi vào tay Phanh…

5. Khi Diền về Sơn La học ở trường Văn công Khu Tự trị Tây Bắc thì ở nhà Liếng mang thai cậu con trai đầu lòng, bố mẹ Diền càng thêm yêu quý cô con dâu ngoan hiền, chăm chỉ. Các dịp nghỉ hè, nghỉ tết, như con ong nó nhớ đường đi lối về, Diền ngày càng chịu khó về thăm bố mẹ và Liếng nhiều hơn.

Sau ba năm học ra trường, mới hai mươi mốt tuổi, anh đã được làm  bố của ba nhóc tì hai trai một gái khỏe mạnh, xinh đẹp. Niềm vui thật trọn vẹn khi Diền được nhận vào công tác ở Phòng Văn hóa huyện. Ngoài niềm say mê với công tác chuyên môn, Diền còn dành thời gian  tìm hiểu, viết về phong tục tập quán của dân tộc mình, mạnh dạn gửi đăng trên Tạp chí Văn nghệ tỉnh. Không ngờ những bài viết tỉ mẩn chi tiết của anh được Ban Biên tập đặc biệt chú trọng và in ra được đông đảo độc giả trong tỉnh hào hứng đón nhận. Dần dần, Diền được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc Thiểu số Việt Nam rồi Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam. Tiếng tăm chàng cán bộ trẻ dân tộc Giáy nổi như cồn. Anh được cất nhắc làm Phó rồi đến Trưởng Phòng Văn hóa huyện. Cô Liếng vẫn ở nhà với bố mẹ chồng, sinh thêm một con trai nữa và đi ruộng đi nương, chăm sóc con cái, chăn nuôi lợn gà. Mỗi ngày chủ nhật về thăm nhà, anh thường đem theo bạn văn chương về ăn cơm uống rượu cùng gia đình. Ai cũng khen vợ anh nhanh nhẹn, chịu khó, hiếu thảo với bố mẹ chồng và thật là hiếu khách. Nhưng khi rời khỏi nhà anh về huyện, có người bạn nói đùa:

– Diền à! Cái nhà mày ở cũng đẹp rồi nhưng nhiều khi làm xong nhà rồi, đi vào rừng còn thấy có nhiều cây gỗ đẹp hơn nữa đấy!

Diền hiểu ý anh ta ngầm chê vợ mình già và xấu hơn mình. Không nói ra những hàng ngày soi gương chải tóc đi làm Diền cũng biết thế! Diền cũng biết vẫn có những cô gái trẻ đẹp trong và ngoài cơ quan để ý đến mình. Nhưng anh luôn nhớ lời mẹ dặn:

– Vợ con nó khổ lắm và tốt lắm! Nó thay con chăm sóc bố mẹ già, nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Con đừng làm điều gì sai với nó nhé!

Diền dành dụm tiền mua quần áo, giày dép mới cho vợ nhưng Liếng ngại dùng lắm! Cô cất đi để dành ngày cuối tuần chồng về, đưa khách về mới dùng, còn lúc ở nhà cô tranh thủ mặc đồ cũ lao động cho khỏi phí.

Khi Diền được điều động về tỉnh làm Phó Giám đốc Sở Văn hóa thì hai đứa con lớn cũng đã vào học Trường thiếu niên Dân tộc Nội trú của tỉnh, bớt gánh nặng cho Liếng ở nhà. Rồi cha mẹ lần lượt qua đời. Diền biết ơn vợ đã thay mình chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ mình thật chu đáo. Anh đang định thu xếp đưa Liếng và cậu con trai út theo mình về tỉnh thì bất ngờ Liếng bị cảm đột ngột rồi qua đời.

Diền càng hiểu và thấm thía nỗi đau khi mất đi người vợ hiền chung thủy suốt đời hy sinh cho chồng cho con. Anh thay vợ quan tâm chăm sóc định hướng nghề nghiệp cho các con thật chu đáo.

6. Cuộc hôn nhân sắp đặt của hai bên gia đình tuy không được như ý của Thoa nhưng cũng không làm Thoa thất vọng phiền lòng vì Phanh và bố mẹ Phanh đối xử với Thoa thật tốt.

Có những thằng đàn ông hiếu sắc rỗi mồm, mỗi khi đi ngang qua Thoa thường buông lời ỡm ờ:

– “ Tiếc bông hoa nhài cắm bãi…”.

– “ Gái một nom mòn con mắt”!

Thoa vốn hiền lành, lơ đi như là tai bị điếc không nghe thấy gì cả.

Tuy nhiên, hàng ngày Thoa tránh nhìn vào gương mặt chồng, tránh nhìn vào con mắt phải mờ đục xấu xí của Phanh. Nhất là những lúc làm chuyện vợ chồng, cô thường nhắm tịt hai mắt lại, cố hồi tưởng đến đôi mắt to tròn tinh nghịch của Phanh tuổi ấu thơ– nét nổi bật duy nhất của Phanh. Cho đến khi Phanhđổ uỵch cái thân hình đồ sộ rã rời ra giường, thở dốc vì đã hả hê thỏa mãn, Thoa mới khẽ khàng ngồi dậy, vào nhà tắm vệ sinh cơ thể trước khi trở về giường ngủ tiếp.

   ​Thế mà cũng có được với nhau đến ba đứa con: Hai gái, một trai. Đứa con trai ra đời làm bố mẹ Phanh và Phanh vui mừng khôn xiết. Phanh xin phép bố mẹ cho vợ chồng anh ra ở riêng.

Phanh cùng bạn vào rừng chặt cây làm nhà. Số xui xẻo, người bạn lao cây từ trên dốc xuống chẳng may đổ trúng người Phanh. Anh đột tử khi chưa kịp thực hiện mơ ước làm cho vợ con mình một căn nhà nhỏ xinh.

Cái chết đột ngột, thương tâm của Phanh như một cú trời giáng xuống đầu mẹ chồng, Thoa và ba đứa con thơ. Thoa ôm mẹ chồng khóc ròng rã ngày đêm. Phanh đi rồi, Thoa mới cảm thấy ân hận và xót thương anh ấy biết chừng nào! Phanh thật tốt tính và yêu thương vợ con vô hạn. Nhớ lúc anh còn sống, Thoa vốn hát hay múa dẻo nên tham gia đội văn nghệ của xã. Phanh không hề kêu ca phàn nàn mà tối tối sẵn sàng trông con cho Thoa tham gia hát múa với bạn bè. Thoa ở vậy nuôi mẹ chồng và đàn con nhỏ. Giờ chúng đều có đôi có lứa. Cô Thoa xinh đẹp ngày nào giờ đã lên chức bà nội, bà ngoại rồi.

7. Thấm thoắt, ông Diền đã bước qua cái tuổi “xưa nay hiếm”. Ông được nghỉ hưu hơn chục năm rồi nhưng trời thương cho ông sức khỏe nên nhìn ông vẫn phong độ tráng kiện lắm! Vợ mất rồi, ông tìm nguồn vui trong việc nuôi dạy con cái, dựng vợ gả chồng cho chúng. Và giờ thì ông lao vào say sưa sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân tộc mình. Vốn là một tay máy cừ khôi, đã từng có nhiều ảnh tham dự và đạt giải thưởng cao trong khu vực, giờ ông lại theo đuổi đam mê đi săn tìm cái đẹp. Khai thác vẻ đẹp dân tộc mình chưa thỏa, hàng ngày rảnh rỗi, ông lại cưỡi con xe HondaWave Alpha đến vùng dân tộc Mông tìm hiểu lễ hội Gàu Tào Cha, cầu cho mưa thuận gió hòa,mùa màng tươi tốt; xuống vùng đồng bào dân tộc Lự xem lễ hội căm mường, bà con dâng tế lễ vật cầukhẩn thần sông, thần khe, thần suối và thần rồng phụ hộ cho mọi người trong mường bản được no đủ, điều lành ở lại, điều dữ mang đi.

Hôm nay, ông Diền xuống vùng đất gió tìm hiểu thêm về xòe Thái. Ông không điện báo trước cho Trưởng phòng Văn hóa – Thông tin huyện mà tự đi xe máy xuống thật sớm. Đến cổng Nhà văn hóa bản Lụa, bước chân ông chợt dừng lại khi thấy một người thiếu nữ Thái đang cầm chiếc chổi dài quét sân, dáng mềm mại nhịp nhàng như múa. Bản năng nghề nghiệp, ông vội bấm máy lên tục mấy kiểu liền, chớp lấy cái dáng lưng ong thon thả trong bộ váy áo cóm bó sát thân hình mơn mớn. Nghe tiếng động, cô gái quay lại ấp úng:

– Cháu… cháu chào bác ạ! Bác hỏi ai đấy ạ?

– Tôi là cán bộ nghỉ hưu ở trên tỉnh xuống. Tôi muốn hỏi đội múa xòe bản Lụa hôm nay có tập xòe không đấy cô?

– À, hôm nay chủ nhật, cháu chỉ hướng dẫn cho các em học sinh gái trong bản tập  múa thôi ạ!

– Hay quá! Cô cho tôi dự và chụp vài kiểu ảnh, viết bài cho Tạp chí Văn nghệ tỉnh có được không?

– Bác cứ tự nhiên thoải mái đi ạ!

Một tốp chừng hai chục đứa con gái choai choai mới lớn đứa nào cũng mặc váy sa tanh đen, áo cóm trắng, vắt khăn piêu hững hờ qua vai như một bầy thiên nga bỗng từ đâu ùa đến làm sáng rực cả khoảng sân cô Thoa vừa quét.  Chúng ríu rít chào:

– Cháu chào ông ạ!

– Cháu chào bà Thoa ạ!

– Bà ơi! Sao bà không để chúng cháu ra quét dọn. Bà có tuổi rồi, nghỉ ngơi cho khỏe chứ!

Nghe bọn trẻ nói vậy, ông Diền mới ngẩng lên nhìn mặt cô Thoa. Ừ, thoạt nhìn nom cô ấy trẻ như thiếu nữ nhưng nhìn kỹ thì cũng ngoài bốn mươi rồi đấy nhỉ! Vẫn trẻ hơn Lả – con gái út đang làm bác sĩ của mình. Thế thì cô ấy gọi mình là bác xưng là cháu cũng đúng thôi.

Cô Thoa quay sang ông Diền:

– Xin phép bác, chúng cháu bắt đầu nhé!

Ông Diền nheo mắt cười, gật đầu. Trước khi nghỉ hưu, ông đã được cất nhắc lên làm Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin của tỉnh nên đã quá quen thuộc với phong trào văn nghệ ở cơ sở. Cô Thoa thong thả bậtcát sét, một bản nhạc rộn rã vang lên theo nhịp 2/4, 4/4, hòa với tiếng nhạc cụ tính tẩu, kèn loa,khèn bè, trống, chiêng, chũm chọe, pí pặp, lũ con gái đã nhanh nhẹn nắm tay nhau thành vòng tròn rồi nhịp nhàng tiến lùi uyển chuyển theo nhịp hát. Ông Diền biết: đó là điệu xòe Khăm then (nắm tay nhau) và điệu xòe Đôn hôn (bước tiến lùi) mà người Thái rất ưa chuộng. Đến điệu Khắm khăn mơi lảu (Nâng khăn mời rượu) và điệu Om mọn tốp mư (vỗ tay đi vòng tròn), ông Diền đang say sưa ghi hình và chụp ảnh, bỗng thấy lòng rộn rã náo nức như thuở còn thanh niên mỗi dịp tết đến xuân về lạc vào miền xòe lễ hội của dân tộc Thái. Điệu xòe quyến rũ mê hoặc thể hiện tinh thần đoàn kết cộng đồng cao, không phân biệt tuổi tác, giàu nghèo. Ông Diền nhảy vào vòng xòe, một tay nắm lấy tay cô Thoa, một tay nắm lấy tay một cháu gái nhỏ tầm tuổi cháu gái nội ông, cùng xòe, càng xòe càng thấy say. Ông nhảy điêu luyện thành thục đến mức lũ con cháu ngỡ ngàng reo lên:

– Ôi, ông xòe đẹp quá! Ông là người dân tộc gì mà thuộc xòe của dân tộc cháu như thế nhỉ!

Ông Diền chỉ mủm mỉm cười và không nói gì. Cô Thoa và lũ trẻ chẳng ngờ ông già tóc bạc phơ bồng bềnh kia từng đứng đầu ngành Văn hóa của tỉnh. Bên tai ông văng vẳng câu ca ngọt ngào của dân tộc Thái:

“Không xòe, không vui

Không xòe, cây ngô không ra bắp

Không xòe, cây lúa không trổ bông

Không xòe, trai gái không thành đôi”…

Trưa ấy tan muộn, ông Diền không muốn làm phiền anh em cơ sở nên ra quán bình dân ăn tạm mộtxuất cơm với món pa pỉnh tộp (cá nướng mổ lưng) của người Thái cùng với bát canh nó pửng (măng ngâm gio)  ngon ơi là ngon.

Chiều về đến nhà, vợ chồng cậu con trai cả là giáo viên ngạc nhiên thấy bố nết mặt phấn khởi, lại còn huýt sáo nữa chứ!

Nghe các con hỏi, ông vui vẻ kể cho chúng nghe chuyến tác nghiệp thú vị xảy ra sáng nay. Ông sực nhớ ra: đã hứa với Thoa là gửi ngay băng video và những tấm hình ông chụp họ múa xòe sáng nay.

Cô Thoa đang thiu thiu ngủ cùng cháu nội ba tuổi bỗng nghe tiếng điện thoại di động đổ chuông. Cô vui mừng ngắm mãi những bức ảnh, video và không quên nhắn tin cho ông Diền: “Bác chụp ảnh đẹp quá! Chúng cháu cám ơn bác  nhé!”

Ông Diền nhắn tin lại: “Chủ nhật tuần sau, tôi lại xuống nhé!”.

Dần dà, ông được thưởng thức các điệu xòe trình diễn nghệ thuật: xòe khăn, xòe nón, xòe quạt, xòe sạp xòe nhạc, xòe gậy, xòe hoa… Lần nào thưởng thức, chụp ảnh quay phim xong, ông cũng được bà mẹ chồng của Thoa mời ăn bữa cơm trưa cùng gia đình.

Mẹ Pản tầm tuổi ông Diền nhưng nom khắc khổ và già hơn trước tuổi. Có lẽ bởi chồng bà và con trai ra đi quá sớm, bà chỉ còn biết nương tựa vào con dau và lũ cháu nội. Ông Diền tranh thủ hướng dẫn Thoa cách chụp ảnh, chẳng mấy chốc cô đã thành thạo và say mê với ống kính. Rồi dần dà, họ chuyển từ cách xưng hô “bác cháu” sang “anh em” từ lúc nào không biết. Bà mẹ chồng và ba đứa con Thoa rất quý mến ông Diền và cố ý vun vào. Các con ông Diền thương bố cũng không hề phản đối tình cảm của hai người. Cô Thoa giờ cũng trở thành hội viên Hội văn học nghệ thuật tỉnh, chuyên ngành nhiếp ảnh. Họ không tổ chức đám cưới, không về ở cùng nhà mà vài ba ngày lại đèo nhau xuống các huyện săn tìm ảnh đẹp. Họ nghỉ ngơi, nấu nướng với nhau trong nhà nghỉ, tối tối lại chụm đầu bên nhau chỉnh sửa ảnh. Ông Diền mua tặng cô Thoa chiếc máy ảnh Nikon Z6 hiện đại nhất.

Mặt trời sắp lặn sau khe núi vẫn sáng lên rực rỡ…

15/4/2026

Bùi Thị Sơn

Theo https://vanhocsaigon.com/

Bất chợt mai vàng

Bất chợt mai vàng Ngẫm ra, cuộc đời của mỗi con người, hình như là sự xâu chuỗi của những điều bất chợt. Bất chợt vui, bất chợt buồn, bất ...