Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026

Bóng xuân

Bóng xuân

1. Chợ xuân năm nay không đông vui nhộn nhịp như mùa xuân năm trước. Cây thế bày la liệt, hoa đỗ quyên đỏ thắm, trà phấn hồng chíu chít nụ đợi nắng lên là bung lụa. Những cánh mộc trắng ngà khẽ rùng mình, giá buốt mưa gió càng làm hương mộc ngát hơn. Các dãy hàng bày la liệt, rổ rá cày cuốc, đồ nông sản nhiều tới cơ man nhưng chợ vẫn thưa thớt khách du xuân.

Vài ông đồ ngồi bán chữ thở dài nhìn giấy đỏ mưa hắt vào hoen phẩm. Chữ Phúc, chữ Lộc, chữ Tâm bị mưa bụi làm vết mực loang dài như nước mắt của chúng sinh. Ông đồ già thở dài nhìn sang hàng bên có cô đồ trẻ mắt đượm buồn hiu hắt bó gối nhìn mưa rơi. Ông bỗng thở dài rồi lẩm bẩm: Giời đất này chả biết sao nữa? Chợ xuân mà vắng hoe, cũng chỉ tại dịch cúm covid mà thôi. Tiếng thở dài loang trong giá buốt.

Kéo cao cổ áo khoác cho đỡ lạnh, người đàn ông đảo mắt nhìn khắp chợ, mặc gió mưa, ông sải bước tới gian hàng bán đồ cổ bày la liệt. Lão chủ hàng đang ngủ gà ngủ gật thấy bước chân khách choàng tỉnh. Một giọng khàn khàn như người nghiện cất lên:

– Gớm trời mưa quá! Ông mua đồ mở hàng cho em đi. Ế ẩm quá! Chưa có năm nào như năm nay, từ sáng tới giờ chưa bán được gì cả.

Người khách ngần ngừ, toan bước đi, nhưng lão bán hàng như tỉnh hẳn :

– Nhờ vía bác cả năm. Bác mua mở hàng cho em đi, em bán rẻ lấy may bác ơi.

Tiếng mời chào nài nỉ, khiến khách chẳng đành lòng bước qua. Dõi mắt nhìn một lượt. Đĩa cổ Lý ngư vọng nguyệt, Hạc mai nguyên cặp, tiền đồng các triều đại hàng đống, đồ gốm sứ Lý Trần và cả chén ấm Minh Thanh đủ cả. Đôi hươu lộc bằng đồng đứng cạnh nhau mà vẫn toát lên vẻ bơ vơ. Người khách cầm chiếc nậm lên ngắm nghía. Lão chủ hàng nheo đôi mắt chuột tinh quái véo von:

– Ông quả là người có con mắt tinh tế. Chiếc nậm này có tên Tiêu Tượng, hàng thượng phủ đẹp và lụa không tì vết. Ông xem nét vẽ con voi đang cuộn tàu lá chuối tinh xảo không? Men của nó là men ngọc, đẹp như một bức tình thư ông nhé.

Nói rồi lão ngâm nga:

“Tình thư một bức phong còn kín

Gió nơi đâu gượng mở xem”.

Lão đọc thơ Nguyễn Trãi rồi cười khà:

– Đúng là quí vật đi tìm quí nhân, không phải ai cũng nhận ra chiếc nậm này đâu, đại ca ạ!

Khách vẫn lặng im, khuôn mặt tươi hơn một chút, có lẽ khách cũng vui lây cái véo von của lão bán hàng bẻm mép. Qua vài lời mặc cả phát giá, khách đồng ý mua chiếc nậm Tiêu Tượng. Tần ngần ánh mắt, khách dõi sang hàng đồ cổ bên cạnh, bắt gặp ánh mắt thiếu phụ thật đẹp mà đượm buồn. Nàng ngồi bán hàng mà xa vắng, lơ đãng như chìm vào thế giới huyền bí. Những đồ gốm sứ của nàng cũ kĩ không còn nguyên vẹn, chúng sứt mẻ lệch đôi, lũ đồ đồng hoen rỉ mốc xanh, vài cái cốc bằng đồng như từ các vương triều Trung Hoa cũ. Mươi đồng bạc trắng hoa xòe nằm tênh hênh trên manh chiếu cũ. Không một lời chào hàng thiếu phụ ngước đôi mắt nhung thăm thẳm nhìn khách. Nàng không đẹp rực rỡ kiêu sa như đóa hải đường e ấp trong gió sớm mà nét đẹp nuột nà đằm thắm của cặp môi đỏ tươi, đôi bàn tay trắng như ngó cần đan vào nhau. Nàng ngồi bên những đồ cổ xưa rất giống như vương phi thất thế. Ánh mắt như từ tiền kiếp hiện về ma mị dẫn dụ. Nhìn lũ ấm đồng thiếp mệt trong gió lạnh, lũ ấm ngả màu vàng sỉn không bắt mắt, lão hàng đồ cổ ngồi bên quan sát thiếu phụ rồi cười khẩy. Khách toan bước đi chợt mắt ông sáng lên trước một vật lạ. Ông ngồi xuống bên lũ ấm cổ, nhẹ tay nâng một chiếc ấm hình con rùa lên. Màu đồng cổ nâu sạm, nắp ấm là con rùa con, thân ấm là con rùa mẹ, được gò đúc tinh xảo, có những cổ tự rất đẹp. Không cưỡng được cảm xúc ông cất tiếng hỏi thiếu phụ bán hàng:

– Bao nhiêu tiền chiếc ấm này hả cô?

Thiếu phụ nhìn ông khách phong trần nhưng vẫn không giấu được vẻ lịch lãm của đất thành kinh. Nàng liếc chiếc ấm cổ, một thoáng ngạc nhiên xuất hiện trong đầu. Chiếc ấm này đã nằm trong sạp hàng đồ cổ bao năm nay từ khi nàng còn bé tí, nó lăn lóc theo cha nàng khắp các lễ hội ngày xuân nhưng chẳng thấy ai hỏi gì cả? Rồi cha nàng về cõi bên kia, nàng theo nghiệp cha quen dần với gánh hàng đồ cổ nhưng cái ấm vẫn nằm tẻ nhạt trên mẹt hàng của nàng. Sao bây giờ lại có người đàn ông này để ý tới chiếc ấm và cầm trên tay nâng niu thế này? Một thoáng bối rối, đôi mắt nhung huyền thắm thắm ngước lên, giọng nói nhẹ như gió thoảng:

– Tùy ông cho bao nhiêu cũng được. Em bán cho ông chiếc ấm lấy may.

Mắt nhung gợn sóng thu ba. Nhìn vào đấy khách như gặp cả bể oan cừu. Thật kỳ lạ chưa có người bán hàng nào lại thờ ơ với đồng tiền như vậy? Khách bối rồi rồi mỉm cười lấy một nắm tiền mới trong ví đặt vào tay thiếu phụ. Giọng trầm ấm cất lên:

– Bao nhiêu tiền này đủ chưa cô?

Thiếu phụ mỉm cười rồi nhẹ nhàng gật đầu:

– Thưa ông thừa rồi ạ! Cảm ơn ông đã có duyên với chiếc quần ấm mẫu tử này.

Người bán ấm nhoẻn cười, nụ cười xinh đẹp bừng sáng khuôn mặt. Khách lâng lâng bước đi trong ánh mắt huyền thăm thẳm vướng víu hương hoa mộc quyến ngọt loang xa, loang xa. Mưa mỗi lúc thêm nặng hạt. Khách đường xa rùng mình, gió đông mỗi ngày một bạo hơn.

Đại hồng chung chùa Đại Bi chợt ngân nga. Tiếng chuông đúng ngọ cất lên, như giục bước chân người mua ấm. Ông nhanh chân mua thẻ hương, bước vào tam quan. Khói trầm nghi ngút, thấp thoáng vài bóng người đang sì sụp khấn vái trước Phật đài. Khách thành kính thắp ba nén nhang vào bát hương công đồng, rồi đặt chiếc ấm xuống bệ thờ khấn vái

– Con nam mô a di đà Phật. Con lạy chín phương trời mười phương chư Phật. Con kính lạy hoàng thiên hậu thổ chư vị tôn thần. Con là họa sĩ ở kinh thành, nay về lễ Phật cầu an, du xuân Viềng Tỉnh cũng do lòng đam mê cổ vật yêu hồn cốt văn hóa xưa mà được gặp chiếc ấm lạ giữa hội xuân. Có lẽ cũng là một nhân duyên. Con cúi xin Phật Trời phù hộ cho con đem ấm về được bình an may mắn.

Lời khấn vừa dứt. Nén hương thắp vòng tít lại. Chiếc ấm đồng nâu sỉn chợt hồng rực lên như phép màu đã linh hiển. Họa sĩ cúi đầu khấn vái cảm tạ trước tam bảo, mở vuông lụa đỏ trong túi xách bọc lấy chiếc ấm thanh thản bước ra khỏi tam quan

2. Xe hơi dừng lại nơi biệt thự cổ trồng toàn hoa hồng trắng. Họa sĩ bước xuống. Người quản gia già vội vàng mở cổng:

– Thưa cậu đã về. Cậu vào nhanh kẻo trời đang mưa to ạ!

Cầm chiếc ô từ tay người quản gia, ông sải bước tới tiền sảnh. Biệt thự cổ được kiến trúc theo lối Gothic vòm mái trang nhã. Tất cả các cánh cửa đều làm bằng đồng và được chạm trổ cầu kì, trong mưa bụi mùa xuân biệt thự đẹp như lâu đài của bá tước phương tây. Điều đặc biệt nhất là lối đi rải sỏi trắng, dọc hai bên trồng toàn hoa hồng trắng. Loài hoa hồng cổ tỏa hương thơm ngát, kẻ mơ mộng nhìn vào sẽ phải thốt lên: Ta đang lạc vào vương quốc bất tử của hoa hồng ư? Và cảm giác sẽ có một nàng công chúa ngủ quên dưới những bụi hồng ấy.

Giũ chiếc áo khoác bay đi mưa bụi đường xa, họa sĩ ngước ánh nhìn nhàn nhạt về phía quản gia rồi cất tiếng:

– Hôm nay tôi đi vắng ở nhà có chuyện gì không?

– Thưa cậu. Có ông Thành đồ cổ tới tìm ạ! Ông ấy còn hẹn là chiều tối sẽ tới để xem tranh và bàn với cậu về vài món đồ cổ ạ!

Họa sĩ Vũ Thượng nhăn mặt khó chịu khi người quản gia nhắc tới Thành- gã buôn đồ cổ lõi đời và cũng là một kẻ sưu tầm tranh hợm hĩnh. Đã nhiều lần ông muốn tuyệt giao với kẻ trọc phú bần tiện đó nhưng gã cứ bám chằng lấy ông. Lúc gặp mặt, gã xoắn lấy véo von như người của kiếp trước không bằng. Gã mua tranh của Vũ Thượng treo trong phòng khách nhà mình và luôn ngẩng đầu khoe với thiên hạ rằng họa sĩ với hắn là chỗ tâm giao. Gã luôn mượn danh tiếng của ông để làm sang. Bao lần gã gọi điện tới ông tắt máy không muốn giao tiếp, nên gã đã rút ra kinh nghiệm xương máu là không việc gì lên tiếng mà cứ đến thẳng biệt thự nếu như muốn gặp chủ nhân. Chiếc áo khoác vừa được người quản gia đỡ lấy treo vào mắc thì cũng là lúc chuông cổng biệt thự reo lên. Họa sĩ nhăn mặt:

– Ta mệt mỏi không muốn tiếp khách lúc này. Lão hãy ra cổng từ chối cho ta.

Giới mỹ thuật đồn rằng họa sĩ Vũ Thượng là gã quí tộc gàn, cực tài nhưng tính cách thì lập dị không giống ai. Vũ Thượng đắm say với nghệ thuật, từng du học ở trường Mỹ thuật danh tiếng nước ngoài trở về. Vũ Thượng giầu có vì được hưởng một gia sản kếch sù của cha ông để lại. Căn biệt thự này cũng chính là tài sản của người cha để lại cho con. Nhưng trong con mắt của họa sĩ thì tài sản này chỉ là thứ phù hoa. Nỗi cô đơn luôn gặm nhấm ông. Có những người không bao giờ chịu yên phận dừng chân ở một chỗ nào nhất định, họ luôn muốn lang thang hết sông dài biển rộng. Có những kẻ tư tưởng chẳng bao giờ bình lặng mà nó luôn lang thang tới tận cùng ngóc ngách của vũ trụ và nhân gian. Cái lang thang đó đã biến thành sự cô đơn đến tận cùng của tâm hồn. Hồn hoang leo ngược đó đã hội tụ cả trong con người của họa sĩ Vũ Thượng. Nhiều khi Vũ Thượng bỏ cả biệt thự khoác ba lô chinh chiến tận miền biên viễn nơi đèo mây, dốc núi để nghe tiếng thở của đại ngàn, ngắm một sắc hoa cải mèo nở rộ trên nương, hoặc ngẩn ngơ buồn bã trước bức tượng nhà mồ của Tây Nguyên. Những chuyến đi xa về, ông lao vào vẽ như điên dại, quên ăn quên ngủ thả hồn vào những bức tranh. Điều đặc biệt hơn trong biệt thự của Vũ Thượng là chẳng bao giờ thấy xuất hiện một bóng hồng. Bao kẻ giàu có gia thế đánh tiếng gả con gái cho họa sĩ, nhiều cô gái xem tranh của Vũ Thượng cũng trở nên thương nhớ xa xôi. Nhưng tất cả véo von và dư âm đó không làm họa sĩ xuyến xao rung động. Sắp bước sang tuổi năm mươi Vũ Thượng vẫn là họa sĩ độc thân. Mặc dù đã từng du học trời Âu, phong cách đậm sắc thái phương tây nhưng ông vẫn mê cổ vật và mê ấm, có lẽ cũng là gien di truyền từ đời trước để lại.

3. Chuông cổng lại đổ dồn liên tiếp, người quản gia chậm chạp nhìn chủ đoán ý rồi bước ra mở cổng. Cánh cổng đồng hé một lối nhỏ chỉ vừa đủ cho mái tóc già nua bạc trắng đưa ra:

– Thưa ông! Cậu chủ mệt, khi khác ông quay lại.

Chưa kịp quay đầu lại khép cổng thì gã lùn đầu tóc bờm xờm, mắt ốc nhồi vằn đỏ, trán ngũ đoản, cất tiếng đầy hơi rượu:

– Sao lão cứ khó khăn với chúng tôi nhỉ? Cho tôi vào chỉ gặp chủ lão năm phút rồi ra luôn có sao đâu. Chủ tớ nhà lão phách lối quá đấy!

Người già yếu làm sao kháng cự được với kẻ đẫm hơi men đang đẩy mạnh cánh cửa bước vào sân biệt thự. Cái dáng ngắn tủn, đôi bàn chân cập rập như của gã hề làm xiếc, gã buôn đồ cổ vừa đi vừa chạy vào biệt thự. Cứ như thế gã đã tới đại sảnh. Nhìn thấy cái ấm cổ gói trong tấm lụa đỏ đặt trên bàn trà, chẳng kịp chào hỏi gã vồ lấy:

– Ui danh họa kiếm ở đâu ra vật quý này vậy? Bao nhiêu tiền đây? Cái ấm này lạ nhỉ? Để lại cho đệ nhé!

Thấy chủ nhân của chiếc ấm nhăn mặt không nói tiếng gì, gã vẫn giả tảng như chả có chuyện gì sảy ra, liền lấy điện thoại chụp lấy chụp để. Gã vật ngửa thân ấm sang trái, lật ngửa những cái chân con rùa mà chụp, cả nắp ấm là con rùa con nữa, mắt gã hoa lên vì những cổ tự trên thân ấm như phát quang. Ngắm nghía bằng con mắt nhà nghề, soi đồ cổ xong, gã buông cái ấm vào lụa đỏ :

– Cái ấm này lạ và đẹp, nhưng không khéo đại ca mua phải hàng giả đấy.

Thấy thái độ thờ ơ của chủ nhân, gã hơi chột dạ. Hình như Vũ Thượng đọc được kiểu dìm hàng của gã. Gã lại chép miệng véo von:

– Nhưng không sao. Cái ấm này vẫn lạ, đại ca cứ để cho đệ nhé. Nó về tay đệ thì sẽ lừa được thiên hạ.

Khuôn mặt đẹp của họa sĩ vẫn lạnh lùng, thờ ơ như không để ý gì đến lời tán tỉnh mánh lới của kẻ buôn đồ cổ. Cảm giác như hồn của họa sĩ đang lênh đênh trôi trên những cánh hoa hồng cổ ngan ngát trong gió xuân ngoài lối đi dẫn vào biệt thự.

– Đại ca làm sao thế? Em gửi đại ca ba ngàn đô gọi là chút lộc đầu năm. Anh để cho em nhé!

Gió vẫn thổi. Hương hồng cổ nồng nàn, hồn vẫn phiêu dạt tận đẩu đâu. Cuộc mà cả độc thoại của kẻ buôn đổ cổ mỗi lúc một ráo riết:

– Anh không nghe em nói gì sao? Cái ấm này em gửi anh bảy ngàn đô anh gật đi để thằng em còn ôm nàng về dinh.

Tiếng nói của gã như hét lên. Họa sĩ Vũ Thượng như bừng tỉnh, cất tiếng lạnh lùng:

– Quản gia tiễn khách, tôi muốn nghỉ ngơi.

Gã buôn đồ cổ sượng sùng, tiếc rẻ đứng lên. Trước khi rời bước đôi bàn tay ngắn tũn chuối mắn của gã còn mân mê vuốt ve cái ấm thêm một lần nữa. Bước chân ra tới cổng rồi gã vẫn còn ngoái cổ nhìn vào tiền sảnh.

4. Đêm chìm sâu trong yên tĩnh. Ngoài hiên vẫn lắc thắc giọt mưa xuân. Họa sĩ thao thức mãi không thể nào ngủ được. Có gì đó bồi hồi thấp thỏm cứ dâng lên trong lòng ông như thủy triều cồn cào trong ngày bão.

Vũ Thượng tiến lại bộ tràng kỷ và ngồi xuống. Chẳng muốn làm phiền người quản gia già nua đã gắn bó với gia đình họa sĩ từ mấy đời trước. Ông lặng lẽ nhặt vài mảnh trầm bỏ vào lư hương. Hương trầm bén lửa tỏa hương ngan ngát, căn phòng thờ vốn tĩnh mịch giờ chập chờn trong ánh lửa và hương thơm. Đôi hồng lạp to như bắp tay cũng được thắp lên. Căn phòng chan hòa ánh sáng nến. Chợt tiếng ho khẽ từ sau lưng khiến họa sĩ giật mình:

– Cậu muốn gì ạ?

Họa sĩ định thần nhận ra tiếng nói của quản gia. Ái ngại nhìn người hầu già, họa sĩ xua tay:

– Không có gì, mặc ta. Lão cứ đi nghỉ đi kẻo trời lạnh lại ốm..

Người quản gia già ngần ngừ một chút rồi lặng lẽ lui vào phòng sau đi nghỉ. Nhẹ nhàng, họa sĩ lấy chiếc thau đồng thường để bao sái đồ thờ, mở chum rượu Vò Di lâu năm. Khí rượu thơm tràn ngập cả căn phòng làm họa sĩ lâng lâng. Vò Di tửu nổi tiếng của miền Sơn Nam Hạ được một nữ văn sĩ tận tay chưng cất và gửi biếu, họa sĩ nâng niu thường làm đồ phù tửu kính cáo tiên linh giờ được dùng gáo ngà múc ra từ cái chum bịt vải đỏ. Đưa tay đỡ lấy chiếc ấm con rùa bằng đồng, họa sĩ nhẹ nhàng tưới rượu lên thân ấm cọ rửa. Như ma nhập, họa sĩ buột miệng:

– Qua bao tao loạn, nàng đã về với ta rồi ư? Nàng yên tâm ta sẽ yêu thương nàng và nâng niu như bảo bối.

Lời khấn nguyện vừa dứt, chiếc ấm chợt hồng rực lên như có hào quang tỏa sáng. Họa sĩ kinh hãi và mừng rỡ, liền lấy nước sôi dội vào lòng ấm để tráng đi hơi rượu. Một mùi hương trà ngào ngạt từ trong ấm tỏa ra. Đưa tay với lọ trà Long Tỉnh, một thứ trà quí tận Chiết Giang người ta thường dùng nước suối bản địa mà pha. Nhưng họa sĩ Vũ Thượng là một kẻ sành trà thì lại dùng những hạt sương trên lá sen, kỳ công hàng tuần liền khi mùa sen nở nơi đồng nội mà hứng lấy. Trà Long Tỉnh không ưa nước sôi già mà chỉ sôi lăn tăn là có thể pha mới nhuận hương. Thứ trà một lá, duy nhất trên cây chỉ một búp nhỏ này khi nhấp trên môi tinh thần cực nhẹ nhõm như thức tỉnh lục giác, sảng khoái đến vô cùng. Vũ Thượng yêu trà Long Tỉnh vì nó có thể dẫn người ta vào cõi mơ. Sau biên thức của sảng khoái thì có thể đưa con người vào giấc mơ ngạt ngào đồi núi và bát ngát xanh như một giấc viễn du thần tiên.

Búp trà Long Tỉnh thả vào ấm. Nước trong hỏa lò than cũng reo vui, chiếc ấm đồng sôi lên sùng sục, hương trà thanh khiết tới dị thường. Họa sĩ nhấp chén hương thơm trên môi, chợt trong làn khói thơm mờ ảo của hương trà xuất hiện một người con gái đẹp.Y phục như quận chúa thuở xưa, nhẹ nhàng nở nụ cười tiến về phía mình:

– Chàng ơi! Đã bao năm nay chàng có an mạnh không? Có còn thương nhớ thiếp hay không? Chàng có nhớ bài thơ chàng làm được khắc vào đáy ấm lúc thiếp lên kiệu hoa, vâng lệnh cha gả về miền biên viễn phía Bắc để giữ yên bờ cõi hay không?Chàng còn nhớ bài thơ đẫm lệ đó hay không?

Họa sĩ ngơ ngác như đi trong sương mù, tiếng đọc thơ trong như ngọc cất lên:

Vạn lý xa xôi vạn lý tình

Đào hoa ôm mộng cõi ba sinh

Ta thương hương lửa chưa nồng đượm

Muôn kiếp phu thê một bóng hình

Nước mắt của nàng trong tựa ngọc tuôn rơi trên gò má thắm. Vũ Thượng thấy lòng mình đau như cắt, cảm giác hàng ngàn mũi kim châm vào tim tê buốt nhức nhối đến khôn cùng. Người con gái đẹp bất giác tiến về phía họa sĩ, như có một ma lực nào xui khiến Vũ Thượng liền ôm lấy người đẹp. Nước mắt nàng làm nỗi đau trong tim của họa sĩ như dịu hẳn đi. Giọng oanh vàng đẫm lệ vẫn thỏ thẻ bên tai:

– Chàng ơi! Thiếp là con gái tổng đốc miền Sơn Nam Hạ, còn chàng chính là một họa sư danh tiếng. Cha thiếp rất yêu chuộng đồ đồng tinh xảo lên đã mời chàng về vẽ mẫu cho những đồ vật trong dinh mỗi khi cần dùng. Người cũng rất thích được truyền thần lại chân dung của mình, lên hàng tháng trời chàng được cha thiếp lưu lại để họa.

Tiếng thỏ thẻ ngọt ngọt vẫn cất lên:

– Còn thiếp làm sao quên được vẻ anh tuấn của chàng, quên sao được buổi ấy trong vườn hoa khi hải đường e ấp trong gió sớm, chàng đã say đắm vẽ đôi chim uyên ương lên khăn lụa tặng thiếp. Chiếc khăn ấy giờ thiếp vẫn mang bên mình. Ai có ngờ đâu uyên ương nhỏ máu. Cầm chiếc khăn tặng thiếp biết mình đã thuộc về chàng muôn kiếp. Ngày cưới của chúng ta cũng chính là ngày thiếp nhận định mệnh oan khiên. Phải từ biệt chàng ra đi vĩnh viễn. Phu quân ơi! Đường biên cương lắt lẻo thân gái dặm trường, xa xôi vạn lý thiếp sao đành lòng lỗi đạo phu thê cơ chứ? Hơn tháng trời rong ruổi, thiếp ôm chiếc ấm chàng tặng lúc ra đi chẳng phút nào rời. Chàng ôi! Sao chàng không đợi một ngày chúng ta đoàn tụ mà lại vội vã xông vào đội quân của triều đình mà bỏ mạng nơi chiến địa. Tin dữ từ quê nhà truyền tới làm sao thiếp có thể yên lòng làm phu nhân của tù trưởng miền biên viễn? Rồi cũng chính đêm động phòng hoa chúc, thiếp đã uống rượu độc giao bôi mà rời xa nhân thế vĩnh viễn. Trong cõi luân hồi, thiếp chẳng đành lòng vẫn đi tìm chàng. Nhân duyên cho chúng ta gặp lại nhau đây. Từ nay chỉ xin chàng đừng rời xa thiếp nữa. Thiếp không muốn mất chàng thêm một lần nữa đâu họa sư của thiếp ơi.

Người con gái đẹp nghẹn ngào khóc òa lên làm Vũ Thượng xúc động thương cảm đưa tay ôm chặt nàng vào lòng. Một mùi hương ngào ngạt làm chàng xốn xang rực nóng toàn thân

Gió xuân mỗi lúc thêm lạnh, Vũ Thượng chợt giật mình khi tiếng gọi của quản gia:

– Cậu ơi! Cậu dậy vào chăn nằm đi, cậu gọi tên ai mà thảng thốt vậy? Có nàng nào đâu? Cậu ngồi đây cả đêm hay sao?

Vũ Thượng choàng tỉnh, người nóng ran, mồ hôi vẫn ướt trên trán. Hương thơm vẫn còn phảng phất trong không gian. Họa sĩ bàng hoàng vì mình vừa trải qua một giấc mơ. Có chút gì run rẩy thổn thức thật lạ dâng lên trong tim họa sĩ. Một câu hỏi mơ hồ chợt nhen lên trong hồn chàng: Không lẽ chàng họa sư của giấc mơ đêm qua chính là tiền thân của ta ư? Và ta họa sĩ Vũ thượng chính là hậu kiếp nhân duyên của chàng? Họa sĩ chợt bàng hoàng nhận ra một điều là thiếu phụ xinh đẹp bán ấm nơi Viềng Tỉnh rất giống người con gái trong giấc mơ đêm qua của minh? Ta phải làm sao bây giờ? Tự dưng họa sĩ thấy nhớ khuôn mặt và bàn tay búp măng đẹp óng sáng của người bán ấm hội xuân quá!

5. Năm sau, hoa đào nở, nắng xuân tơ lụa bừng sáng miền Sơn Nam Hạ, dịch covid đã bị đẩy lùi. Người ta nô nức đi chợ Viềng bán rủi cầu may. Hoa khoe sắc tươi hồng mời gọi người đi chợ xuân. Những ông đồ, cô đồ đang hối hả thảo nét bút tươi thắm cho người đến xin chữ đầu năm. Đại hổng chung chùa Đại Bi vẫn ngân nga thoát tục chứng giám lòng thành cho chúng sinh đi lễ. Mấy gian hàng đồ cổ tíu tít người mua và xem hàng. Người đàn ông lịch lãm, sang trọng dắt tay một thiếu phụ xinh đẹp, đài các tiến tới gian hàng đồ cổ. Đó là họa sĩ Vũ Thượng và người vợ mới cưới. Nhận ra khách quen năm ngoái gã bán đồ cổ véo von:

– May quá lại gặp bác. Chiếc nậm Tiêu Tượng em bán cho bác vẫn đẹp chứ ạ?

Họa sĩ mỉm cười cúi nhìn một vài món đồ cổ của gã rồi cầm lên. Gã bán hàng ngước mắt nhìn thiếu phụ đang nhoẻn cười cùng họa sĩ rồi buột miệng:

– Cô đây là… Tôi không nhầm chứ?

Thốt ra được câu nói đó, hắn im lặng, chăm chú nhìn người đàn bà. Họa sĩ mỉm cười âu yếm cầm tay vợ:

– Đây là nhà tôi, chủ nhân của chiếc ấm đồng mà tôi mua năm ngoái.

Thiếu phụ ngước đôi mắt nhung thăm thẳm nở nụ cười đằm thắm với chồng. Gã bán đồ cổ ngỡ ngàng lẩm bẩm thốt lên: Nhân duyên.

Người vào chợ mỗi lúc một đông, nắng xuân như ửng hồng trên gò má người thiếu phụ đang xoan.

19/10/2026

Lê Hà Ngân

Theo https://vanhocsaigon.com/

Chùm truyện cực ngắn của Cristina Rivera Garza - Mexico

Chùm truyện cực ngắn của
Cristina Rivera Garza - Mexico

Cristina Rivera Garza sinh năm 1964, nhà văn nổi tiếng người Mexico. Sự nghiệp của bà bắt đầu được ghi nhận từ những năm 1980, khi bà đoạt giải thơ Punto de Partida năm 1984 với Apuntes, giải truyện ngắn quốc gia San Luis Potosí năm 1987 với La guerra no importa. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Cristina Rivera Garza là Nadie me verá llorar, tác phẩm này đã mang lại cho bà Giải IMPAC/CONARTE/ITESM năm 2000. Carlos Fuentes từng gọi đây là “một trong những tiểu thuyết vừa đẹp vừa ám ảnh nhất từng được viết ở Mexico”. Năm 2024, bà đoạt giải Pulitzer cho thể loại hồi kí – tự truyện với tác phẩm El invencible verano de Liliana.

CUỘC HẸN

Khi đặt một phòng tại khách sạn Cosmos, hắn tin rằng chỗ này là đúng nơi rồi. Hắn đã bắt đầu nghiên cứu từ khá lâu trước kia và theo đuổi nó một cách cẩn thận và nghiêm túc. Hắn tự tin chọn một căn phòng ở tầng cao, nơi có góc nhìn khá đẹp về thành phố nhộn nhịp bên dưới.

Vừa bước vào, hắn đã nhận ra mùi hương ấy ngay lập tức nhưng không hành động gì. Hắn treo quần áo gọn vào một chỗ và đặt vật dụng cá nhân lên cái quầy bằng đá hoa cương trong phòng tắm. Hắn dừng lại, nhìn xuống thành phố xuyên qua những ô cửa sổ cách âm. Những hình người nhỏ xíu đi vội vàng. Đàn ông hói đầu và đàn ông chống nạng; đàn ông mặc jeans và đàn ông ở trần rách rưới. Xe cứu thương. Con lừa. Đèn giao thông. Vậy ra đây là tận cùng thế giới, hắn lẩm bẩm. Sau đó, hắn gọi phục vụ phòng. Hắn muốn thứ gì đó nặng đô và truyền thống. Thứ gì đó đầy nhục cảm. Thịt thú rừng nấu xốt táo đen. Thịt thỏ với ác-ti-sô và bắp cải xoăn. Gan ngỗng. Một ít sâm-panh.

Hắn đang nằm nghỉ thì chuông reo. Một mảnh giấy nhắn tuồn qua khe cửa. Tránh xa ra. Ngươi sắp không thể thoát được nữa rồi. Hắn vuốt tờ giấy, đưa lên môi và mỉm cười một mình. Hắn mở một trong những cái túi, lôi ra khoan, búa, tua-vít rồi đặt chúng lên sàn tủ quần áo được trải thảm. Một bảo tàng nhỏ. Một kiểu trưng bày. Hắn nhìn đống dụng cụ với vẻ xa cách rồi vội vã cất lại chúng vào túi.

“Đây là lần đầu ngài đến đây phải không ạ?” Cậu trai trẻ mang bữa tối tới cho hắn hỏi. “Một lựa chọn lạ lùng.” Cậu ta nói khi đặt khay thức ăn lên bàn. Một luồng điện chạy dọc sống lưng hắn. Một đàn kiến bò trên gáy.

“Chắc ngài sẽ thích nó thôi.” Cuối cùng, cậu ta nói.

Ngay sau khi người phục vụ đóng cửa, hắn bắt đầu làm việc. Hắn để túi dụng cụ trở lại tủ, gạt quần áo vừa treo lúc trước ra khi tiến vào. Hắn cẩn thận dò dẫm trên các bức tường. Nghe thấy có âm thanh rỗng, hắn liền bỏ cái búa xuống và cầm tua-vít lên. Hắn quỳ gối, mồ hôi hột lấm tấm bên thái dương. Tấm gỗ ở chân bức tường bên phải dễ dàng bong ra. Hắn cúi xuống. Hắn ngồi xổm. Cuối cùng, hắn chui qua khe hở.

Hắn chưa chuẩn bị gì cho điều này. Hắn đã hình dung mình sẽ gặp cô trong một cái lồng, nhưng không phải là cái lồng lộng lẫy đến thế. Hắn từng tưởng tượng về cô hàng ngàn lần: lom khom, trong dáng dấp của một đứa trẻ hoang dã bị tách khỏi loài người từ khi sinh ra. Nhưng giờ đây, thay vào đó, cô đang thong dong ngồi đu đưa, nhìn hắn qua những chấn song bằng vàng. Hắn nuốt thứ mà hắn nghĩ là nước bọt. Nó có vị của lau sậy đầm lầy, của cá thời tiền sử và của thịt thối.

“Tôi tưởng cô không tồn tại chứ.” Cuối cùng, hắn nói.

“Tôi lại tưởng người không tồn tại là anh kia.” Cô đáp, phát âm từng chữ một cách bình thản, chậm rãi. Trong giọng nói của cô là tiếng lá khô, tiếng gỉ sét và tiếng xương gãy.

HAI CÔ GÁI KHÔNG TÊN

Tôi nghe thấy tiếng nước chảy khi mở khóa cửa. Em ấy ở đúng nơi tôi nghĩ sẽ tìm thấy em: bên trong một căn phòng tắm bé xíu, tay vẫn để dưới vòi nước. Em nhìn chằm chằm thứ gì đó trên tấm gương mà tôi không thể nhìn thấy. Em nhìn thứ gì đó thì sẽ nhìn say sưa. Em chỉ nhận ra tôi ở đó khi tôi tắt nước và đặt khăn bông lên đôi tay ửng đỏ của em.

“Nhìn xem em vừa làm gì kìa.” Tôi càm ràm. “Trông như mấy con gà luộc quá lâu ấy.” Tôi nói thêm, chạm vào làn da ướt. Em nhìn tôi, nâng tay phải lên rồi dừng lại. Mu bàn tay. Lòng bàn tay. Móng tay. Khớp ngón. Em xem xét tất cả.

“Tay.” Em nói bằng giọng gần như chỉ vừa đủ nghe. “Họ cắt tay rồi.”

“Ừ.” Tôi đáp khi dìu em quay về phòng. Lúc tắt tivi, tôi nghe thấy tiếng xe cứu thương trên phố. Tôi đỡ em lên giường. Em chui vào những tấm chăn flannel rồi ngay lập tức chỉ về phía cái lược trên bàn trang điểm. Em vừa chải mớ tóc dài màu xám của mình vừa ngâm nga một điệu nhạc tôi không nhận ra. Vĩnh cửu là bao lâu? Tay em run rẩy, miệng hơi hé. Hình dáng hộp sọ.

“Chân.” Em nói, đột ngột quay sang tôi. “Lần này họ cắt cả chân nữa.”

“Ừ.” Tôi đáp, đặt đôi dép lê của em bên cạnh giường. “Chị nghe tin rồi.” Tôi nhặt mấy cuốn tạp chí dưới sàn lên và kéo rèm lại. Đèn giao thông. Tiếng còi xe và tiếng giày trên vỉa hè. Tôi chuẩn bị tắt đèn thì em nói: “Cả tóc nữa. Họ cũng cắt tóc luôn.”

Em nhìn tôi từ xa. Em đang ở giữa một sa mạc đầy xương trắng, cố gắng nhìn rõ bóng hình của tôi từ khoảng cách xa. Em nhăn mặt. Khi em đã ngủ, tôi ra phòng khách, gác chân lên. Tôi mệt lử như bà hàng xóm. Tôi cạn kiệt năng lượng. Chúng ta thực sự cần phải sống lâu đến thế sao? Tôi nhìn lên trần nhà. Có lẽ tôi đã cầu nguyện đôi chút. Và rồi tôi gom đủ sức để đứng dậy. Tôi về căn hộ của mình ở kế bên. Chìa khóa. Ổ khóa. Tivi. Tôi lục tủ xem có gì ăn không. Vài cái bánh quy cũ. Vài miếng khoai tây chiên. Tôi mở một chai Coca. Những cô gái ấy, tôi nghĩ khi ngã lên ghế sofa, gác chân lên ghế đôn bọc đệm, những cô gái thậm chí còn không có thời gian để mệt như thế này. Nếu họ có chút thời gian, tôi chợt tin chắc, hẳn là họ đã gác chân lên ngay tại đây. Nếu họ sống sót. Ngay tại đây. Tối nay.

KẺ NHẶT NHẠNH ĐỒ ĂN

Ả đã rời đi nhiều năm. Ả học được cách phân biệt các loại nấm, loại nào ăn được và loại nào có độc. Ả tắm rửa dưới ao hồ, sông ngòi. Vũng nước. Nhà tắm công cộng. Ả nhai cả vỏ cây. Một kẻ nhặt nhạnh đồ ăn. Một tay bụi đời. Một người đàn bà điên của rừng xanh.

“Sao mẹ lại làm thế?” Con trai ả hỏi khi ả trở về.

Có những mùa hè ả đi chân đất. Ả diễn dịch bài hát của những chiếc lá, nhất là khi chúng khô đi. Ả dừng lại. “Để suy nghĩ.” Ả đáp, nhẹ nhàng đặt tay mình lên tay con. “Để có thời gian để suy nghĩ.” Ả nhấn mạnh. Đôi mắt ả mở to.

QUAN NIỆM CỦA HỌ, CHẲNG HẠN VỀ BẦU TRỜI

Họ biết mưa. Họ có xu hướng nhớ lại những điều mình biết rõ: đặc trưng của mưa. Màu sắc. Hình dạng. Nhiệt độ. Đó là thứ tri thức được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng những lời thì thầm. Rất ít người từng thấy nó (chúng ta có rất ít dữ liệu về quan niệm của họ, chẳng hạn như quan niệm về mưa), nhưng ai cũng biết về nó.

Có một truyền thống thơ ca mạnh mẽ trong thứ mà ta có thể mô tả là văn chương của họ. Những cuốn sách về mưa: những tấm vải bông nhẹ có kích thước bằng con người thấm loang lổ cái mà họ gọi là “vết mưa” được nối với nhau bằng vòng gỗ. “Nếu anh chạm vào chúng,” họ nói “anh sẽ biến thành nước.” Không giải thích gì thêm.

Mối liên kết của họ với mưa tiết lộ thông tin về họ: trong khi chúng ta dùng áo mưa và ô để che chắn cơ thể do bản năng tự vệ vốn có thì họ ngược lại, bỏ mũ ra, ngửa mặt nhìn mây, dang tay, há miệng trong một tư thế mà đa phần mọi người coi là mang tính tôn giáo. Môi họ mở ra. Chân họ cách mặt đất vài tấc. Sự sùng kính. Họ có thể ngắm các giọt mưa trên khung cửa sổ hàng giờ liền.

Mưa phùn là một từ mà họ phát âm rất cẩn trọng. Họ có thể lắng nghe giọng nói vọng tới từ những nơi xa xôi suốt cả ngày. Họ thì thầm.

KHÔNG NGƯỜI TRÔNG COI

Cô trở thành người trông coi ngọn hải đăng sau khi chồng qua đời. Cô chôn cất anh ở sân sau, gần ruộng ác-ti-sô và hoa hướng dương. Nói cô không nhớ anh là nói dối. Cô thậm chí từng nghĩ tới việc quay lại đất liền. Nhưng bầu trời xám xịt và mỏng dính. Mong manh như bánh mì. Còn chân trời thì quá sắc bén. Cô dở dài khi cắt bấc đèn, đánh bóng các thấu kính, châm lại dầu. Khi ngọn hải đăng không có người trông, cô vẫn tiếp tục cắt bấc đèn, đánh bóng các thấu kính và châm thêm dầu. Cô thời dài. Khách du lịch đứng nhìn với vẻ đầy khâm phục. “Kia kìa.” Họ nói, cố gắng chỉ và đúng nơi trên bầu trời mà cô đang nhìn thẳng vào mắt.

NHỮNG GÌ CHIM NHÌN THẤY

Một thế giới bất khả bị chôn vùi trong tuyết.

Một người đàn ông, một người đàn bà, một đứa trẻ, và một con nai sừng tấm: những vết đốm trên phong cảnh. Một con sông từng mang tên Lerma. Hoặc là Pripiat.

Bóng của nó trên trang giấy này khi đang bay.

Dấu chân bé xíu của ai đó, hoặc của thứ gì đó, kéo lê theo sau.

SỢI DÂY

James Turrell nói: “Tôi luôn đưa yếu tố thời gian vào tác phẩm. Có một số cách để làm điều đó: một là để thời gian xuất hiện cùng với cách đôi mắt mở ra; hai là sự đồng nhất tổng thể mang cái nhìn đờ đẫn vô hồn; ba là sự thay đổi. Tại Skypaces là sự thay đổi.”

Vì thế, tôi bước vào Skyspaces, lặng yên nằm ngửa, bất động như một bức tượng bị lãng quên hoặc một cái xác, nhìn lên khoảng mở trên cao.

Một con diều hâu bay qua.

Một đám mây hóa thành mây rồi biến thành hư không.

Màu trắng.

Hai cái máy bay.

Và âm thanh này.

Những từ ngữ nói với tôi bằng tông giọng thấp ngay bên tai tôi. Những câu nói như lời thì thầm. Hoặc mũi tên.

Sinh vật ấy bỏ lên đầu gối tôi khi tôi không thể cử động. Và mắt tôi mở ra như thế. Nó bước lên mép ngực tôi, giơ cánh tay lên tỏ dấu hiệu chiến thắng hoặc chiến tranh. Và sợi dây, quấn quanh tay chân tôi, ghim xuống sàn, làm tôi tê liệt như thế. Nó lại gần miệng tôi. Nó có hôn tôi không?

Một mẩu hội thoại.

Những dấu vết.

Turrell sinh năm 1943.

BÀI HÁT CỦA CÁ VOI

Một tỉ phú lập dị thiết kế và xây một cái bể bơi lớn ở sau nhà. Bà ta sơn nó màu xanh lam. Lúc ở một mình, bà thì thầm từ “to nhất”. Đó là một ngày tháng Sáu sáng sủa khi phóng viên hỏi bà tại sao. Bà chỉnh lại kính râm và hơi quay đầu, đáp: “Anh không nghe thấy chúng sao?”.

Chú thích:

(1) James Turrell là một nghệ sĩ người Mỹ nổi tiếng với các

tác phẩm nghệ thuật sắp đặt sử dụng ánh sáng và không gian.

22/10/2026

Cristina Rivera Garza

Đinh Phương Ly dịch

Nguồn: Trong Tank Magazine

Theo https://vanhocsaigon.com/

Truyện cực ngắn của Lê Đức Quang: Má

Truyện cực ngắn
của Lê Đức Quang: Má

Anh vốn tuổi trẻ khát khao lời khen, cho rằng má không ủng hộ con đường văn chương của anh, chỉ nghĩ đến tiền nhiều ít, không chia sẻ hiểu anh gì cả. Từ đó trở đi, anh giận dỗi rất ít về thăm má hơn…

Khổ sở, phấn đấu khó khăn lắm anh mới gom hết các truyện ngắn đăng trên báo, gởi đến Nhà xuất bản in thành tập truyện ngắn. Mừng quá, anh hối hả đem về quê tặng cho má, còn bày đặt trân trọng đề vào đầu trang sách: “Kính tặng má! Con cám ơn má đã tảo tần nuôi con khôn lớn…”.

Má không thèm nhìn cuốn sách, bĩu môi: “Má không cần đọc, cũng hiểu văn chương của con bê bối như thế nào rồi!…”. Nghe má nói vậy, anh hụt hẫng, buồn ghê gớm!

Lần sau về quê thăm má, đứa cháu dắt ra sau hè, nhỏ to mách: “Từ ngày cậu lên thành phố, đêm nào ngoại cũng lấy sách của cậu ra đọc hết trơn à”.

Anh mừng thầm hỏi: “Có thật không?”. Đứa cháu nhanh nhảu, nói: “Sao không thật! Đêm khuya, ngoại đọc mỏi mắt, còn bắt con đọc cho ngoại nghe. Đêm nào cũng vậy, ngoại bắt con đọc hoài, chỉ bao nhiêu cốt truyện đó, con ớn tới não luôn!”. Anh hỏi tới: “Ngoại có khen hay, dỡ gì không?”. Đứa cháu nói: “Ngoại tấm tắc khen, ai ngờ, cậu viết văn hay ghê!…”.

Sau đó đến giờ ăn cơm trưa, anh vờ hỏi má:

– Tập truyện của con, má có đọc dòng nào không?

Má bảo:

– Má có đọc vài dòng, nhưng văn dở quá, bỏ ngang!…

Anh vốn tuổi trẻ khát khao lời khen, cho rằng má không ủng hộ con đường văn chương của anh, chỉ nghĩ đến tiền nhiều ít, không chia sẻ hiểu anh gì cả. Từ đó trở đi, anh giận dỗi rất ít về thăm má hơn.

Thời gian trôi qua, má đột ngột mất, anh về, đứa cháu bảo: “Hôm ngoại bị bệnh, dặn con nói với cậu: Cậu đã theo nghiệp viết, đừng gian dối, phải viết cho trót với nghề!…”.  Lúc này anh mới hiểu ra, má luôn âm thầm ủng hộ anh, chê bai để anh hãy cố gắng lên thêm nữa. Má sợ anh kiêu ngạo, thỏa mãn, “chết” giữa đường đời!…

Giờ đây đứng bên mộ má, anh hối hận rưng rưng nước mắt, thầm gọi hai chữ: Má ơi!…

24/10/2026

Lê Đức Quang

Theo https://vanhocsaigon.com/

Hương cuội

Hương cuội

Đứa cháu đích tôn và lũ cháu ngoại đang loay hoay ngoài sân với những đồ đồng ngũ sự lổng chổng trên đám trấu và tro đẫm nước.

Ông chúng, cụ Kép làng Mọc, cũng đang loay hoay với mấy chục chậu lan xếp thành hàng dưới giàn thiên lý.

Trái với thời tiết, buổi chiều cuối năm gió nồm thổi nhiều.

Cơn gió nồm thổi nhẹ, như muốn nhạo cái ông già kia mặc cả một tấm áo trấn thủ bằng lông cừu trắng. Trời nồm nực, bức đến tắm nước lã được, ông cụ Kép mặc áo lông cừu xứ Bắc! Không, đấy chỉ là một thói quen của cụ Kép. Mỗi khi cụ ra thăm vườn cảnh, trong một năm, trừ những ngày hạ ra không kể còn thì lúc nào cũng khoác tấm áo cừu. Mùa xuân, mùa thu, khí hậu ấm, áo mở khuy. Sang đến đông tuyết, cụ cài hết một hàng khuy nơi áo, thế là vừa. Trong cái vườn cây nhỏ, trong đám cỏ cây xanh rờn, những buổi sớm tinh mơ và những buổi chiều tàn nắng, người ta thường thấy một ông già lông mày bạc, tóc bạc, râu bạc, mặc áo lông trắng, lom khom tỉa những lá úa trong đám lá xanh. Cụ Kép nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ quý.

Buổi chiều ba mươi Tết năm nay, cả một cái gia đình cũ kỹ nhà cụ Kép đang tới tấp dọn dẹp để ăn tết.

Mợ ấm cả, mợ ấm hai ngồi lau lá dong chăm chỉ. Thỉnh thoảng họ ngừng tay để hỏi nhau xem còn thiếu những thực phẩm gì trong cái mâm cơm cúng chiều nay. Lũ con đàn bi bô ngoài sân. Chúng đang đánh bóng ở ngoài sân những lư, đỉnh, cây đèn nến bằng đồng mắt cua và bằng thiếc sông Ngâu. Chốc chốc, lũ trẻ lại mỉm cười, nghển những đầu thưa thớt ít sợi tóc tơ, nhìn vào phía trong nhà cầu, hỏi mẹ chúng:

– Bao giờ cậu mới về, hả mợ?

Không biết nên trả lời con trẻ thế nào cho tiện, mợ ấm cả đưa mắt cho mợ ấm hai.

Ông ấm cả và ông ấm hai, đi làm việc ở tận xa chưa thấy về ăn Tết. Cứ lời những người trong làng có người đi làm việc nhà nước thì được nghỉ những từ chiều hai mươi chín kia mà. Muốn được khuây nỗi mong, hai chị em dâu, người đã đứng tuổi, càng thái đồ nấu cỗ cho thực nhanh. Gớm, những miếng trứng tráng để bày mặt cỗ bát, thài hình miếng trám, sao mà đẹp thế. Đứng bên cạnh mẹ, đứa nhỏ nhất trong đàn con đã thủ thỉ van nài mợ ấm hai:

– Mợ cho con cái miếng mợ cắt hỏng kia nhá!

Người mẹ không nghỉ tay làm việc trên tấm thớt. Lừ mắt nhìn con. Thằng bé vội chạy ra ngoài, sán đến cạnh cụ Kép:

– Ông đang làm gì thế hở ông?

–  ấy chết, cháu đừng mó vào hoa của ông. Ông đang thăm xem đúng hôm nào thì hoa của ông nở đủ.

– Ông cho cháu một cái… Cháu xin ông cái lá gẫy kia nhá!

– Cháu không nghịch được những thứ này. Thôi, đi lên trên nhà với ông. Mợ cháu mà trông thấy cháu ra nghịch cây của ông, thì cháu lại phải đòn đấy.

Nhớ đến trận đòn phất trần hôm nọ, vì trót nghịch gẫy mất mấy giò lan của ông nội, thằng bé mặt phụng phịu và hai tay đánh đai vào mình ông già, kéo trĩu cả tấm áo lông cừu. Nó làm nũng ông và quấn quít lấy ông, mong ông sẽ che chở cho, nếu mẹ nó nom thấy nó ra nghịch chậu cây cấm.

Cụ Kép cười khà khà. Rồi cụ lại vạch từng gốc rò lan, xem xét tỉ mỉ đến màng hoa, đến rò lan và thân lá. Hết chậu này đến chậu khác.

Tưởng chừng như cháu mình cũng là một người biết đến chuyện chơi cây, hiểu đến thời tiết trong một năm, có đủ những kinh nghiệm, thói tục và thông minh của người lớn, ông già đã nói với cháu bé:

– Tự nhiên, cuối năm lại nổi gió nồm. Cháu có thấy bực mình không? Ông tiếc cho mấy chục chậu lan của ông quá. Nở hết thôi!

Đứa cháu không hiểu đến ý nghĩa câu than phiền của ông già, ngửng bộ mặt ngây thơ lên, hỏi hai ba lần:

– Hoa sắp nở, sao lại tiếc hở ông?

Cụ Kép nhìn lại cái người bé tí hon đứng với mình trong vườn lan, thân cao không vượt khỏi cái lá lan uốn cầu vồng, cụ Kép đãi đứa cháu ngây thơ một nụ cười rất độ lượng, mắt nhấp nháy kính tuổi:

– Nếu không có nồm, thì hoa trong vườn ông còn lâu mới nỏ. Hoa sẽ nở nhằm vào ngày rằm tháng giêng. Đúng vào ngày Tết Nguyên Tiêu. Ông cháu chúng ta sẽ có hoa mà thưởng xuân, cháu đã hiểu chưa? Bây giờ cháu chạy vào gọi bõ già ra đây cho ông bảo.

– Bõ đi ra bờ ao rửa đá cuội từ ban trưa kia ông ạ.

Phải, phía cầu ao trong vườn cụ Kép, một người lão bộc, đang lom khom dúng rổ đá xuống nước ao và sàng sẩy rổ đá như kiểu người ta sàng mẹt gạo. Tiếng đá bị tung lên dập vào nhau kêu sào sạo, khiến lũ cò trắng nghỉ chân trên lũy tre vội bay mất. Bõ già nghỉ tay, nhìn đàn cò sợ hãi bay cao, với nét cười của một người chịu vui sống trong sự an phận.

Bõ ở với cụ Kép đã lâu lắm. Cái hồi cụ Kép còn là một thầy khóa sinh hai mươi tuổi, bõ già đã nếm cơm ở của nhà này rồi. Chính bõ vác lều chõng cho cụ đi thi tú tài. Những việc lớn nhỏ trong nhà, bõ đều nhớ hết. Bõ nhớ cả đến ngày giỗ giúi trong họ. Không có bõ nhắc nhỏm có lẽ nhiều lần mợ ấm cả đã bỏ mất ngày giỗ. Bõ già hình như chỉ trải cuộc sống của mình để hằng năm, nhắc nhỏm đến những ngày giỗ trọng và giỗ giúi của gia đình người khác.

– Thưa mợ, đến mười sáu tháng tư này lại là chính kỵ cụ ngoại… Thưa mợ…

Mợ ấm cả, muốn tỏ sự cảm ơn, kín đáo đãi bõ già một miếng trầu kèm miếng cau tươi mềm. Trong cái gia đình yên lặng này, bõ già được thiện cảm của mọi người, không phải vì ỏn thót mà chính vì lòng thẳng thắn. Lắm lúc trông tội nghiệp lạ. Bõ tính toán, xếp đặt việc nhà chủ y như một người có quyền lợi dính dấp vào đấy. Cái hoài bão to lớn của bõ, là lúc trăm tuổi nằm xuống sao được một cái “áo” gỗ vàng tâm thật dày.

Ở đây, không ai nỡ nói nặng bõ. Và, đến những việc nặng, mọi người đều tránh cho bõ già. Công việc thường trong một ngày, có nhiều hôm chỉ thu vào việc chuyên trà tàu và thay bã điếu cho cụ Kép. Thậm chí trong những ngày cuối năm bận rộn như hôm nay, mà bõ già cũng không phải mó tay vào việc gì cả. Làm lợn gói giò chả, vo gạo, đồ đậu xanh làm bánh chưng, làm dầu đèn, lau bàn thờ, nhất nhất không việc gì phải qua tay bõ. Mãi đến trưa hôm ba mươi Tết, cụ Kép mới bảo bõ già đi rửa mấy trăm hòn đá cuội trắng. Nghe thấy bõ già nhận lấy cái việc rất ngộ nghĩnh đó, cả nhà đều cười. Thứ nhất là lũ trẻ con. Cụ Kép vẫn nghiêm trang dặn người bõ già:

– Bõ đem đá ra bờ ao rửa cho sạch. Lấy bẹ dừa mà kỳ cho nhẵn, cho trắng tinh ra. Xong rồi, lựa những viên đá tròn bỏ vào một cái rổ. Những viên đá xù xì, không tròn trĩnh, để một rổ khác.

Bõ già tỏ ý hiểu:

– Thưa cụ, con biết rồi. Cụ lại sắp cho dọn một bữa rượu “Thạch lan hương”. Nhưng sao năm nay, lại soạn đá sớm quá? Thưa cụ, con nhớ mọi năm cứ hạ cây nêu xong rồi mới đem cuội ra ngâm kia mà…

– Thế bõ không thấy giời đổi gió nồm đấy à? Thế bõ không biết năm nay hoa nở sớm hơn mọi năm sao? Tôi đã cho ngâm thóc để lấy mầm nấu kẹo mạch nha từ mấy hôm nay rồi.

Bõ già gật gật…

Cụ Kép là người thích uống rượu ngâm thơ và chơi hoa lan. Cụ đã tới cái tuổi được hoàn toàn nhàn rỗi để dưỡng lấy tính tình. Vì bây giờ trong nhà cụ cũng đã thừa bát ăn. Xưa kia, cụ cũng muốn có một vườn cảnh để sớm chiều ra đấy tự tình. Nhưng nghĩ rằng mình chỉ là một anh nhà nho sống vào giữa buổi Tây Tàu nhố nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu hao mất bao nhiêu giá trị tinh thần; nhưng nghĩ mình chỉ là một kẻ chọn nhầm thế kỷ với hai bàn tay không có lợi khí mới, thì riêng lo cho thân thế, lo cho sự mất còn của mình cũng chưa xong, nói chi đến chuyện chơi hoa. Cụ Kép thường nói với lớp bạn cũ rằng có một vườn hoa là một việc dễ dàng, những đủ thời giờ mà săn sóc đến hoa mới là việc khó. Cụ muốn nói rằng người chơi hoa nhiều khi phải lấy cái chí thành chí tình ra mà đối đãi với giống hoa cỏ không bao giờ biết lên tiếng. Như thế mới phải đạo, cái đạo của người tài tử. Chứ còn cứ gây được lên một khoảnh vườn, khuân hoa cỏ các nơi về mà trồng, phó mặc chúng ở giữa trời, đày chúng ra mưa nắng với thờ ơ, chúng trổ bông không biết đến, chúng tàn lá cũng không hay thì chơi hoa làm gì cho thêm tội.

Đến hồi gần đây, biết đã đủ tư cách chơi cây cảnh, cụ Kép mới gây lấy một vườn lan nho nhỏ. Giống lan gì cũng có một chậu. Tiểu kiều, Đại kiều, Nhất điểm, Loạn điểm, Yên tử v.v… Chỉ trừ có giống lan Bạch ngọc là không thấy trồng ở vườn. Không phải vì lan Bạch ngọc đắt giá mỗi giò mười đồng bạc, mà cụ Kép không trồng giống hoa này. Trong một buổi uống trà đêm, cụ Kép nói với một người bạn đến hỏi cụ về cách thức trồng cây vườn hoa:

– Tôi tự biết không chăm được lan Bạch ngọc. Công phu lắm, ông ạ. Gió mạnh là gẫy, nắng già một chút là héo, mưa nặng hột là nẫu cánh. Bạch ngọc thì đẹp lắm. Nhưng những giống nhẹ nhàng ấy thì yểu lắm. Chăm như chăm con mọn ấy. Chiều chuộng quá như con cầu tự. Lầm lỡ một chút là chúng đi ngay. Những vật quý ấy không ở lâu bền với người ta. Lan Bạch ngọc hay ưa hơi đàn bà. Trồng nó ở vườn các tiểu thư thì phải hơn.

Thiếu hẳn loài Bạch ngọc, cụ Kép đã cho trồng nhiều giống Mặc lan, Đông lan, Trần mộng. Giống này khỏe, đen hoa và rò đẫy, hoa có khi đậu được đến nửa tháng và trong mươi ngày, nếu chủ vườn có quên bón tưới, cũng không lụi.

Chiều hôm nay, hoa Mặc lan chớm nở.

Chiều mai, mùng một Tết, hoa Mặc lan mãn khai đầy vườn.

Đêm giao thừa, bên cạnh nồi bánh chưng sôi sình sịch, bõ già đang chăm chú canh nồi kẹo mạch nha. Cụ Kép dặn bõ già phải cẩn thận xem lửa kẻo lơ đễnh một chút là khê mất nồi kẹo.

Hai ông ấm, con trai cụ Kép, người lớn tuổi đứng đắn như thế, mà lại ngồi gần đấy, phất giấy vào những nan lồng. Thực là hai đứa trẻ con đang ngồi nghịch với lồng bàn giấy. Họ trịnh trọng ngồi dán hồ, vuốt giấy. Ông cụ Kép đứng kèm bên, mỗi lúc lại nhắc:

– Này Cả, thầy tưởng miệng lồng bàn, con nên đan to hơn miệng chậu. Con chạy ra, lấy cái que đo lại lợi chậu xem. Nếu rộng thì hỏng hết. Đo lợi chậu Mặc lan thôi.

Hai ông ấm, ngồi phất được đến mười cái lồng bàn giấy. Họ rất vui sướng vì họ tin đã làm toại được sở thích của cha già. Cụ Kép co ro chạy từ nồi mạch nha, qua đám lồng bàn giấy, đến cái rổ đá cuội đã ráo nước thì cụ ngồi xổm xuống, ngồi lựa lấy những viên đá thật trắng, thật tròn, để ra một mẹt riêng. Ông ấm cả, ông ấm hai lễ mễ bưng những chậu Mặc lan vào trong nhà. Cả ba ông con đều nhặt những hòn cuội xấu nhất, méo mó, xù xì trải xuống mặt đất những chậu lan gần nở. Mỗi lần có một người đụng mạnh vào rò lan đen, cụ Kép lại xuýt xoa như có người châm kim vào da thịt mình.

Nồi kẹo đã nấu xong nhưng phải đợi đến gần cuối canh hai kẹo mới nguội.

Bây giờ thêm được bõ già đỡ một tay nữa, cả ba ông con đều lấy những hòn cuội để riêng ban nãy ra mẹt, đem dúng đá cuội vào nồi kẹo, quấn kẹo bọc kín lấy đá, được viên nào liền đem đặt luôn vào lồng chậu hoa. Những viên đá bọc kẹo được đặt nhẹ nhàng lên trên lượt đá lót lên nền đất chậu hoa.

úp xong lồng bàn giấy lên mười chậu Mặc lan thì vừa cúng giao thừa.

Ba ông con, khăn lượt áo thâm lạy trước bàn thờ đặt ngoài trời. Năm nay, trời giao thừa lành.

Cả một buổi sớm, cụ Kép phải bận ở đình làng. Trước khi ra đình cụ đã dặn bõ già ở nhà phải sửa soạn cho đủ để đến quá trưa, cụ và vài cụ nữa đi việc đình làng về sẽ cùng uống rượu thưởng hoa.

Bõ già đã bày ra giữa sân bốn cái đôn sứ Bát Tràng mầu xanh quan lục. Trước mặt mỗi đôn, bõ già đặt một án thư nhỏ, trên đó ngất nghểu hai chậu lan còn lù lù chiếc lồng bàn úp, và một hũ rượu da lươn lớn có nút lá chuối khô. Bõ già xếp đặt trông thạo lắm. Trong mấy năm nay, đầu mùa xuân nào bõ già cũng phải ít ra là một lần, bày biện bàn tiệc rượu Thạch lan hương như thế. Bõ già hôm nay lẩm bẩm phàn nàn với ông ấm hai:

– Năm nay cụ nhà uống rượu sớm quá và lại uống ban ngày. Mọi năm, cứ đúng rằm tháng giêng mới uống. Vả lại uống vào chiều tối. Đốt đèn lồng, treo ở  ngoài vườn, trông vào bữa rượu hoa, đẹp lắm cậu ạ.

Ông ấm hai vui chuyện, hỏi bõ già:

– Này bõ già, tôi tưởng uống rượu nhấm với đá cuội tẩm kẹo mạch nha thì có thú vị gì. Chỉ thêm xót ruột.

– Chết, cậu đừng nói thế, cụ nghe thấy cụ mắng chết. Cậu không nên nói tới chữ xót ruột. Chính cụ nhà có giảng cho tôi nghe rằng những cụ sành uống rượu, trước khi vào bàn rượu không ăn uống gì cả. Các cụ thường uống vào lúc thanh tâm. Và trong lúc vui chén, tịnh không dùng những đồ nhắm mặn như thịt cá đâu. Mấy vò rượu này, là rượu tăm đấy. Cụ nhà ta quý nó hơn vàng. Khi rót rỏ ra ngoài một vài giọt, lúc khách về, cụ mắng đến phát thẹn lên. Cậu đậy nút lại không có rượu bay!

Phía ngoài cổng, có tiếng chó sủa vang.

Bõ già nhìn ra thấy bốn cụ tiến vào đã quá nửa lòng ngõ duối. Cụ nào cũng cầm một cây quạt thước, chống một chiếc gậy tre càng cua hay trúc đùi gà. Uống xong tuần nước, cụ Kép mời ba cụ ra sân uống rượu. Bõ già vòng tay vái các cụ và đợi các cụ yên vị rồi thì khom khom mở từng chiếc lồng bàn giấy một.

Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất từ đêm qua, đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây. Bốn cụ và bõ già đánh hơi mũi: những cặp mắt kém cỏi đăm đăm nhìn kỹ vào khoảng không trong vắt như có ý theo dõi luồng hương thơm đang thấm nhập dần vào các lớp khí trời. Cơn gió nhẹ pha loãng hương thơm đặc vào không gian.

– Dạ, xin rước các cụ.

Dứt tiếng cụ Kép, tất cả bốn cụ đề úp lòng bàn tay vào nhau thi lễ và giơ tay chỉ thẳng vào giữa mời nhau ai cao tuổi xin nhắp chén trước đi. Tiệc rượu bắt đầu. Bõ già kính cẩn chắp tay đứng sau lưng chủ, có vẻ cũng thèm say lắm.

– Trời lạnh thêm chút nữa, uống Thạch lan hương mới đúng phép, chủ nhân ạ!

Đáp lời cụ Cử Lủ, cụ Kép vuốt râu cười nói:

– Chính thế. Nhưng đệ sợ chờ được lạnh đến, thì hoa vườn nhà tàn mất. Trông kẹo mạch nha không đông, còn dính vào lớp đá lót, đệ cũng biết là không được khéo lắm. Trời nồm biết làm thế nào.

– Này cụ Kép, kẹo đá thơm ngon đấy. Chỉ hiềm có mùi ung ủng pha vào hương lan. Chắc kẹo nấu bén nồi, khê và thêm không được đông nên mới có tạp vị nhiễm vào.

Sau mấy câu phê bình về tiệc rượu, tỏ ra mình là người biết thưởng thức những vị thanh lương đạm bạc, bốn cụ đều xoay câu chuyện sang phía thơ văn.

Cụ Tú người cùng làng với cụ Kép mở đầu câu chuyện làm thơ.

– Sớm nay, đệ đã khai bút rồi. Đệ nghĩ dược một đôi câu đối. Để các cụ chữa cho mấy chữ. Chiều nay sẽ viết luôn vào giấy hồng điều để xin phép dán thêm vào cổng nhà.

Ba cụ cùng cạn chén một lúc, cùng nói một lúc:

– Cụ Tú hãy cạn luôn ba chén rồi hãy đọc đôi câu đối mới. Câu đối của cụ còn ai mà hạch nổi chữ nào. Cụ nói gì mà khiêm tốn vậy… Chúng tôi xin nghe.

Chờ cụ Tú dặng hắng lấy giọng, mỗi cụ đều bỏ vào mồm những viên kẹo mạch nha đá cuội ướp hương lan. Những nhân đá đánh vào răng kêu lách cách. Mỗi ông già đọc một đôi câu đối.

Rồi chén rượu ngừng là một lời thơ ngâm trong trẻo. Cứ thế cho tàn hết buổi chiều.

Mấy cụ đều khen lẫn nhau là thơ hay. Trong cái êm ấm của buổi chiều xuân sớm, tiếng ngâm thơ quyến rũ cả đến tâm hồn một người lão bộc. Bõ già, chiều mồng một Tết tự nhiên mặt sáng tỏ hẳn lên. Cái đẹp của tiệc rượu ngâm thơ lây cả sang người bõ.

Vò rượu vợi với chiều xuân sớm quên đi.

Những vò rượu vợi dần. Trong lòng đĩa sứ đựng nhân đá, hòn cuội cao dần lên, bõ già đưa thêm mãi những đĩa sứ vào bàn rượu.

Từ phía đầu làng, dội về mấy tiếng pháo lẻ loi. Lũ cháu nhỏ, nấp sau cột nhà, muốn chạy ra xin bõ già phát cho chúng những hòn cuội đã nhắm rượu xong rồi kia.

26/10/2026

Nguyễn Tuân

Theo https://vanhocsaigon.com/

Nông nênh phận đời

Nông nênh phận đời

Thị đứng trước gương, chải đi chải lại mái tóc đã điểm nhiều sợi bạc mãi cũng không ưng ý. Chiếc đồng hồ treo trên tường cứ thủng thỉnh từng giây tí tách khiến thị không khỏi sốt ruột. Gần đến giờ hẹn, quần áo thị vẫn bày la liệt trên giường. Hết bộ ngắn, bộ dài lại đến váy, thị ướm vào người, rồi thõng thượt lắc đầu. Ở cái tuổi xế chiều, thị vẫn giữ được nhiều nét đẹp, nhưng thân hình không còn mảnh mai nữa, dù rằng trước gương thị vẫn thấy mình khá cân đối. Chọn mãi rồi thị cũng mặc lên mình chiếc váy màu xanh thiên thanh, tôn lên nước da sáng, rồi tung tẩy bước nhanh ra khỏi nhà.

Ði hết con ngõ hẹp, thị hướng tầm mắt về phía xa, bóng gã đang dần hiện rõ. Dáng hơi chúi về phía trước, làn khói thuốc bay lên quyện lấy mái tóc hoa râm ánh lên dưới đèn cao áp. Lòng thị gợn lên những cảm giác xao xuyến, hồi hộp như thời con gái, mặc dù giờ đây thị đã là người đàn bà đang dần trôi về bên kia cuộc đời. Thị nhẹ nhàng hình như cố tình rón rén đi về phía gã. Tấm lưng to sụ và khói thuốc khét lẹt phả vào mặt thị. Giọng thị nhẹ bẫng:

– Anh! Chờ em lâu chưa?

Gã đàn ông giật mình đánh thót quay lại. Một gương mặt đen sạm, vết sẹo dài ngang qua gò má và những nếp nhăn chồng chéo lên nhau, duy chỉ có hàm răng trắng bóng đều đặn là gợi chút thân thiện.

– Anh tưởng em không ra chứ?

– Thôi chúng mình đi anh.

Gã lại cười, chiếc xe máy lướt nhẹ trên con đường rải nhựa phẳng phiu. Thành phố về đêm rực rỡ và nhộn nhịp. Từng luồng xe cứ thay nhau lao đi, những quán xá phô bày nhiều kiểu mời gọi độc đáo. Ánh điện màu giăng mắc như mạng nhện. Mỗi thứ tạo nên một trường khúc riêng. Gió lên, những cơn gió nhẹ nhàng lướt qua tóc, qua áo, qua da người mơn man đùa nghịch. Thị nhắm đôi mắt, tận hưởng từng cảm xúc đang len dần vào các thớ thịt, rung rinh kỳ lạ. Những mệt nhọc, lo toan, những xô bồ của ngày thường hình như không còn làm thị vướng bận. Thị nhâm nhi từng tí một sự thư thái và thầm cảm ơn gã, người đàn ông mà bất kỳ ai nhìn vào cũng lạnh sống lưng, nhưng lại cho thị giây phút yên bình như thế này. Một làn gió khẽ se lại khiến thị thấy lạnh, tay gã đàn ông vòng ra sau ôm nhẹ làm thị thấy ấm lên đôi chút. Thị nép sát vào gã, bỏ lại sau lưng cả một quá khứ đau buồn và mệt mỏi.

Năm mười bảy tuổi, thị ở độ tuổi đẹp nhất của người con gái, thời mà người ta gọi là lúa trổ đòng mơn mởn và thích mắt. Ai cũng bảo thị đẹp nhất làng. Thị hồng hào, trắng ngần, gương mặt luôn tươi sáng, đôi môi hé nở như nụ hoa đón hạt sương mai. Thị luôn mặc chiếc áo gụ đã sờn rách vá nhằng nhịt cùng chiếc quần lụa đen lúc nào cũng được xắn lên để lộ đôi chân tròn lẳn, chắc nịch, khiến bao trai làng mê mẩn. Nhà thị nghèo lắm, lại đông anh em, nên thị đâu có thời gian để thấy mình đẹp. Thị làm quần quật từ khi chó chưa kịp trông nhà đến khi gà vội lên chuồng, tay chân thị thoăn thoắt không lúc nào yên. Nào cấy hái, ruộng vườn, nào bếp núc, nhà cửa đến làm thuê, gặt mướn thị đảm đang hết. Thị cứ làm tối mặt từ lúc nhỏ đến lớn khi nào không hay. Khi thị nghe được những lời khen ngợi, những lời trêu ghẹo của trai làng, thị mới đứng trước gương nhận ra mình đã thành thiếu nữ. Nhưng vốn hay lam hay làm, thị vội vàng bỏ quên những lời trăng hoa đó ở đằng sau để đi tìm công việc trên thành phố.

Lần đầu tiên thấy thành phố, thị như lạc vào thế giới hoàn toàn khác, xa hoa và lung linh, hư ảo. Thị bước vào cánh cửa ấy với bao nhiêu sự ngỡ ngàng, lạ lẫm. Trong suy nghĩ, thị mơ ước được sở hữu những thứ đắt giá ấy, thị thấy sao mình kệch cỡm đến vậy. Ðôi khi thị thấy chán nản, định bụng quay về lũy tre làng, quay về với đồng ruộng, mặc cho số phận đưa đẩy. Thị sẽ như bao cô gái quê khác kiếm một tấm chồng, sinh con đẻ cái yên ổn phận mình. Nhưng chính lúc tuyệt vọng ấy, cánh cửa thành phố lại chào đón thị trong một lần lang thang ở phố cổ.

Con đường nhỏ với bao nhiêu hàng quán từ đâu mọc ra, ngõ ngách nhằng nhịt làm thị không biết mình đã lạc vào đâu nữa. Cả một buổi sáng, thị cứ đi lòng vòng mà không ra được khỏi phố. Trời nắng như đỏ lửa, trán thị lấm tấm mồ hôi, chiếc áo bó sát người ướt đẫm, gương mặt thị phờ phạc. Thị đến bên gốc cây ngồi phịch xuống mà thở. Những tia nắng gắt gao đâm thủng tán lá xuyên thẳng xuống mặt đất. Thị ngao ngán. Lúc đầu thị cũng theo mấy bà đứng tuổi đi tìm phế liệu trong những đống rác ngùn ngụt như núi. Tưởng đơn giản, nhưng mùi hôi thối, tanh tưởi khiến thị buồn nôn, mà những thứ thu nhặt được bán đi chẳng đủ bữa cơm cho thị qua ngày. Cả người thị lúc nào cũng bốc lên mùi khăn khẳn khó chịu. Ði đến đâu thị cũng ngần ngại. Ðôi khi nhìn vào bàn tay xúc từng thìa cơm thị nghĩ đến lúc bới móc rác rưởi, thị không tài nào nuốt nổi. Vậy là thị bỏ nghề.

– Anh cho em hỏi, ở đây có cần người làm không ạ?

Người đàn ông chừng bốn mươi tuổi quay lại, dáng người cao vừa phải, đôi mắt bộc lộ sự nghiêm nghị nhưng thân thiện, gương mặt rắn rỏi, nước da ngăm đen càng tạo cho người đàn ông sự vững chắc, tin tưởng. Ðối diện với đôi mắt ấy, thị thoáng lúng túng.

– Cô cần tìm việc à? Cô thử vào hỏi bà chủ xem sao?

Thị nở nụ cười tươi tắn như lời cảm ơn với người đàn ông rồi vội bước nhanh vào gian phía trong. Ngôi nhà được xây khá đơn giản, không gian rộng để làm quán. Nền nhà lát xi măng sạch sẽ, bát đĩa được xếp gọn gàng. Thị nhìn thấy người đàn bà đang ngồi trên chiếc ghế bành, hai chân giạng ra thoải mái đếm tiền. Thị tiến lại gần với vẻ e dè, ngại ngần:

– Chào chị!

Người đàn bà giật mình ngẩng phắt lên nhìn thị, cái nhìn sắc lạnh. Bà vội vơ lấy những đồng tiền còn sót lại nhét xuống chiếc đùi to sụ của mình cảnh giác. Bà cất giọng sang sảng đầy uy lực:

– Cần gì?

– Em cần việc làm.

Thị không vòng vo, không trình bày dài dòng, vì thị biết họ cần thị ở sức khỏe, chăm chỉ chứ không cần những thứ ngôn từ cầu kỳ, hoa mỹ. Người đàn bà hơi nhíu đôi chân mày được tô đậm như than, môi mím lại nhìn thị từ đầu đến chân dò xét. Lát sau, bà ta đứng dậy rót cốc nước chè tươi rồi nói:

– Ðược, nhìn cô thấy cô thật thà, tôi cũng đang thiếu người. Tôi nói trước vì là hàng ăn nên cô phải thức khuya dậy sớm, phải ân cần, niềm nở. Ở đây chủ yếu là dân lao động nên cô cũng không phải giữ ý tứ làm gì. Mọi việc anh ấy sẽ chỉ cho.

Thị vui mừng gật đầu lia lịa. Lúc này, thị mới dám ngẩng đầu lên nhìn thẳng người đàn bà. Gương mặt bà béo phì sang hai bên má, người to xề, môi mỏng dính tô một lớp son đỏ. Bà Năm béo phì, người to xề, môi đỏ chót, ánh mắt sắc lạnh. Sau này thị được biết thêm rằng bà chưa chồng, sống một mình, được mọi người gọi là bà Năm voi.

Công việc của thị khá vất vả, hàng ngày, thị phải dậy từ ba giờ sáng đi chợ cùng bà chủ, sau đó về chuẩn bị mọi thứ để kịp đến giờ bán hàng. Tuy vậy, ở đây thị thấy thoải mái và vui vẻ, không bị ánh nhìn phân biệt đối xử của mọi người. Bà Năm tính tình xởi lởi, hay nói và xem ra có vẻ rất thích thị. Bà thường dạy thị cách làm món ăn thế nào cho khéo và kể cho thị nghe đủ thứ chuyện. Ðôi lúc hứng lên bà còn dẫn thị đi siêu thị hoặc cho thị manh áo mới. Thị cũng đối đãi với bà Năm như chị gái mình, nhất nhất đều nghe theo lời bà chỉ dạy. Việc thu tiền bán hàng, bà Năm giao cho người đàn ông tên Thân mà thị đã gặp lần đầu tiên. Thân là người đàn ông từng trải, sống trầm tính, thị ít khi thấy Thân cười. Mỗi lần cùng dọn dẹp hoặc làm gì đó, thị và Thân thường nói chuyện, kể cho nhau nghe về quê hương, về những khó khăn riêng của mình. Có lẽ vì cùng cảnh làm thuê nên thị nhận được từ Thân sự đồng cảm, tin tưởng. Ở Thân có một sức hút kỳ lạ, nụ cười duyên, ánh mắt thẳng thắn, giọng nói trầm ấm. Tất cả gợi cho thị những cảm xúc lạ lùng mà chưa bao giờ thị có. Thân giúp đỡ thị rất nhiều. Thường buổi tối, khi công việc đã tạm nguôi tay và bà Năm ngồi đếm tiền, tính toán lãi lời, thị mới có chút thời gian riêng. Thị cũng chẳng có việc gì đặc biệt, ngoại trừ phải viết thư về nhà hoặc vuốt đi vuốt lại những đồng tiền nhàu nhĩ của bà Năm trả cho.

Lúc đầu vuốt còn thấy da tay mình mát lịm nhưng sau thị chán vì có ôm ấp chúng cũng chẳng đẻ thêm cho thị đồng nào, thành thử thị lại ngồi bó gối trong xó mà nghĩ vẩn vơ về cha mẹ, anh em. Ðoán thử xem họ ra sao, lũ bạn đã có thêm đứa nào lấy chồng, đứa nào có con hay chưa? Nghĩ nhiều, thị thấy buồn, thấy nhớ nhà nên thị chỉ biết nhìn ra phía sau bếp, Thân vẫn luôn ở đó. Cũng giống như thị, Thân dành thời gian rỗi để chỉ hút thuốc lá và ngẫm nghĩ chuyện đời. Những lúc như vậy, thị thấy Thân trầm ngâm, suy tư lắm. Dáng Thân cứ nhạt nhòa trong màn đêm, chỉ có khói thuốc lơ lửng trên không. Thị rón rén đến bên cạnh Thân mà ngước nhìn lên bầu trời. Trời đen huyễn, nhấp nháy vài vì sao lẻ loi. Hai người cứ đứng như vậy cho thời gian trôi đi. Khi đã quen rồi, câu chuyện của họ trở nên thân tình hơn. Thân kể cho thị nghe về quê hương, về cuộc đời phiêu bạt đã trải qua. Thị nuốt lấy từng lời thương cảm và xúc động.

Thân quê Thanh Hóa, miền quê nghèo đói, quanh năm làm quần quật mà vẫn không đủ ăn. Từ buôn gỗ đến đào đá quý rồi hầu đêm cho những ông chủ xài thuốc phiện…, Thân từng trải qua một cuộc đời phiêu bạt, nghèo khổ, nguy hiểm và cuối cùng chán ngán chuyện đổi đời.

Từ lúc được nghe Thân kể về cuộc đời gã, thị đâm ra có cảm tình với Thân. Cả ngày thị mong ngóng đến tối để được cùng Thân hàn huyên, tâm sự. Ở bên cạnh Thân, thị tìm được sự bao bọc, che chở. Nhưng cũng ngay chính lúc đó, bà Năm dường như phát hiện ra mối quan hệ bất thường giữa thị và Thân. Bà bắt đầu thay đổi thái độ với thị, không còn sự thân thiện nữa, thị làm gì cũng như cái gai trong mắt bà. Bà thường cáu kỉnh với thị vô cớ và nhìn thị sắc lạnh ghê người. Chỉ cần bà Năm quát một tiếng là thị đã vội co rúm lại. Bà cũng bắt đầu dồn việc cho thị nhiều hơn, nhất là mỗi khi đêm về, thị không còn thời gian rảnh để chuyện trò cùng Thân nữa. Nếu thấy Thân loe ngoe giúp thị là bà quát ngay. Mãi cho đến một hôm, thị mới biết được lý do sự thay đổi thái độ của bà Năm với thị.

Hôm ấy là ngày rằm, vầng trăng vừa to, vừa sáng như cái bóng điện treo lơ lửng giữa không trung khiến thị cảm thấy rạo rực, cảm thấy nhớ Thân, nhưng lúc đó, thị đang phải đi mua đồ cúng theo lời dặn của bà Năm. Thị trẹo hẳn người sang một bên bởi chiếc làn quá nặng, lại thêm bao nhiêu thứ lỉnh kỉnh khác. Thị ì ạch lết đi từng bước, thầm trách bà Năm chơi ác với mình. Ðã thế, trong lúc vội vàng sang đường, thị còn va vào một chiếc xe máy mới coong của người thanh niên có gương mặt non choẹt. Người thanh niên nhặt nhạnh đồ lên cho thị, rồi ngỏ ý chở thị về quán. Thị không chút ngần ngừ bởi cái mệt đang làm thị rã rời chân tay, tâm trí thị đang còn vướng bận nơi Thân. Về đến nhà, thị cất đồ rồi nhìn quanh nhà. Chiếc ghế bành bà Năm vẫn ngồi đếm tiền giờ trống rỗng. Thị thấy lạ lẫm, có bao giờ nhà cửa lại im ắng như thế này đâu. Thị rón rén đi về phía bếp, hy vọng sẽ thấy Thân ở đó. Không thấy ai. Thị đảo ra phía khu vườn rộng, nơi trồng toàn mướp là mướp, xung quanh trồng thêm mấy bụi chuối xơ xác không được chăm sóc. Bỗng bước chân thị chững lại vì nghe tiếng bà Năm vang lên.

– Anh nên suy nghĩ cho kỹ lời đề nghị của tôi, đó là cách giúp anh thoát khỏi thân phận làm thuê, một bước lên làm ông chủ.

Ánh trăng xuyên xuống giàn mướp, soi rõ bóng hai người, một cao, một lùn giúp thị nhận ra đó là Thân và bà Năm. Thị không biết hai người đang nói chuyện gì mà lại kéo nhau tận khu vườn vào ban đêm như thế này. Nhưng rồi thị chợt rợn người khi thấy sau lời nói, bà Năm đưa bàn tay múp míp vuốt ve đôi tay chai xạm của Thân đầy tình ý. Thị nắm chặt vào cây luồng để giữ bình tĩnh.

– Bà xem tôi là loại gì. Tôi không cần những thứ bẩn thỉu mà bà đem ra trao đổi bằng thân xác.

– Thân à! Tôi thật lòng với anh, chỉ cần anh đồng ý mọi thứ, tiền bạc tôi có sẽ là của anh. Con Mẫn không bao giờ cho anh được điều như vậy đâu.

Cái hất mạnh của Thân khiến bà Năm chới với. Tiếng Thân dứt khoát:

– Bà im đi. Bà có tiền bạc, mặc bà. Tôi cần Mẫn, vì chỉ có cô ấy mới cho tôi sự ấm áp của người phụ nữ, bà hiểu không?

Tiếng bà Năm rít qua gió:

– Tình người à. Mơ tưởng. Tôi nói cho anh biết, chỉ cần tôi đẩy con Mẫn ra khỏi nhà xem anh còn dính được với nó nữa không. Nghèo còn sĩ diện, anh cứ chờ đấy…

Thị đứng im thin thít, không dám động đậy. Thân yêu thị nên kiên quyết từ chối bà Năm. Giờ thị hiểu tại sao bà Năm lại ưu ái, giao toàn bộ việc thu tiền của quán cho Thân. Bà đang muốn biến Thân thành ông chủ, thành chồng bà. Nhưng những lời bà Năm nói làm thị lo ngại… Thị sợ những cản trở của bà, sợ những hy vọng mới lóe lên lại bị dập tắt. Liệu thị có thể như Thân gạt bỏ tất cả vì tình yêu hay không, nhưng còn ước mơ đổi đời của thị thì sao, theo Thân rồi thị cũng chỉ còn hai bàn tay trắng, tương lai mù mịt. Cuộc đời thị đã có quá nhiều khốn khó, khổ cực, thị không thể lại tự chôn mình vào cái cảnh cơ hàn một lần nữa. Mọi ý nghĩ cứ dấy lên trong đầu thị. Từng cơn gió thổi, giũ tung mái tóc của thị quấn vào đôi gò má hơi cao. Thân vẫn đứng đấy, trầm ngâm, lặng lẽ. Dượm chân định bước ra, nhưng thị có cảm giác như ai kéo lại. Những bứt rứt đang vò rối lòng thị. Tiếng lẹp xẹp của đôi dép Thân quẹt trên đám đất còn ướt nhoèn khiến thị thót tim. Dáng Thân tiến qua thị, cái mùi mồ hôi đặc sệt đàn ông khiến thị hồi hộp lạ kỳ. Nhưng thị có cớ gì mà chạy đến với Thân đây, chẳng nhẽ thị lại chấp nhận sự thật, thị là người đã nghe và chứng kiến toàn bộ câu chuyện vừa rồi hay sao? Không! Thị có thể làm vậy lắm chứ. Nhưng rồi thị sẽ được gì hay chỉ khiến cho cả thị, Thân và bà Năm thêm khó xử. Thị thở dài, nhắm đôi mắt lại. Màn đêm buông xuống thẫm hơn, những hạt sương lành lạnh tan đều trong không khí.

Sau đêm đó, thị cố né tránh Thân, thị chỉ biết cắm cúi vào công việc. Thị cố né Thân vì sợ bà Năm tống cổ ra khỏi nhà, sợ lại một lần nữa bàn tay vừa mới trắng trẻo phải bới những đống rác bốc lên mùi hôi thối. Tâm trạng đó khiến thị rã rời. Ðêm về thị trằn trọc, suy nghĩ, có lúc thị muốn la hét, muốn đập phá nhưng qua giây phút ấy, thị lại trở về với lý trí. Người thị gầy xọp đi, hai con mắt thâm quầng, trũng sâu, gò má vốn cao bây giờ càng nhô cao hơn trên khuôn mặt. Vào đúng thời điểm giằng co đó, thị phát hiện có một mối tình khác theo đuổi mình. Ðó là chàng trai có khuôn mặt sáng sủa, nếu không muốn nói là đẹp trai, vô tình va vào thị hôm nào. Lúc đầu thị không biết điều đó, thị vẫn bưng bê cho khách với vẻ mặt lầm lũi. Trong cái quán đa phần là người dân lao động, sự xuất hiện một vị khách trẻ tuổi và lịch lãm với gương mặt trắng trẻo trở nên tương phản vô cùng. Thị vẫn phục vụ chàng trai như những khách hàng khác, nhẹ nhàng và tận tụy, duy đôi mắt của thị lúc nào cũng dịu buồn. Thị mơ hồ nhận ra sự để ý của vị khách kia dành cho mình, nhưng hình ảnh Thân và câu chuyện đêm trăng sáng hôm nào khiến thị chùng lại.

Lại nói về bà Năm, sau lần bị Thân khước từ, bà càng gắt gao kiểm soát thị hơn. Mụ cứ tưởng miếng mồi béo bở đưa ra sẽ làm Thân không thể từ chối được, vậy mà mọi thứ vụt mất. Cái tính đàn bà trong mụ trỗi dậy mãnh liệt, mụ tự ái vì bị hạ thấp liền đổ dồn mọi bực tức vào thị. Thị né tránh bao nhiêu, mụ lại càng dòm ngó, bới móc bấy nhiêu. Mãi khi có vị khách trẻ đến quán ý tứ với thị thì mụ mới nới lỏng cho thị đôi phần. Bằng con mắt lọc đời, mụ biết dụng tâm của vị khách sang trọng ấy đến cái quán bé tẹo này là vì cái gì, vì ai. Vì vậy, mỗi lần chàng trai đến, mụ tạo cơ hội để chàng tiếp cận nhiều hơn với thị, còn thị thì đắm chìm vào mơ ước được người ấy có thể giúp thị đổi đời.

Rồi chàng trai, tên là Chiến, ngỏ lời yêu thị, những lời yêu thiết tha, cháy bỏng, đầy rạo rực và khát khao y như trên phim mà thị đã xem. Nghe những lời yêu đó, đôi mắt thị mở to, hàng mi dài cong vút không kịp chớp. Trái tim thị đập loạn xạ, cảm giác lạ lẫm xâm nhập như một thứ thuốc lạ kỳ thị mới được uống lần đầu. Thị cứ đờ đẫn như một khúc gỗ mặc cho Chiến cuống quýt hôn hít khắp khuôn mặt của mình. Trong đầu thị chỉ còn hiện ra giàn mướp sau nhà. Từng trái mướp to xanh, những dây mướp bám vào thân cây luồng ngoằn nghèo như những con rắn, lấp ló sau những chiếc lá dính lông ram ráp. Tất cả tạo nên một sinh lực mới trong thị, khiến thị run rẩy. Ðầu thị trống rỗng, hình ảnh Thân chỉ còn vương vãi, rồi tắt lịm trong cái dục vọng đàn bà đang xâm chiếm thị.

Hơn ba tháng sau, đám cưới của thị với Chiến được tổ chức. Thị chính thức là gái có chồng. Ngày thị cưới, trời vần lên những cơn giông đen xịt cũng là ngày Thân rời quán cơm mặc cho bà Năm ngờ ngẫn trông theo.

– Mày nấu thế này ai mà nuốt nổi!

Tiếng loảng xoảng khô khốc vang lên trong ngôi nhà hai tầng khá khang trang. Trong một căn phòng của ngôi nhà ấy, mảnh bát đĩa vỡ vương vãi trên sàn. Người đàn bà đang đứng chôn chân gần chiếc tủ bóng nhoáng. Một dòng máu loang thẫm xuống gương mặt khắc khổ.

– Tao ốm đau thế này, mày thỏa mãn lắm nhỉ, chắc mày chờ tao chết sớm để tìm thằng tình nhân của mày chứ gì… Mày… mày dám.

Người đàn bà vẫn bất động nghe tiếng người đàn ông đang hắt ra đứt quãng vì cơn hen suyễn. Mặt người đàn ông hốc hác, hai hốc mắt trắng đục như nước sữa để ôi. Khung xương lồng ngực nâng lên, hạ xuống theo nhịp thở phì phò. Những mảng da trên người đàn ông nhàu nát, loang loáng vết đồi mồi. Người vợ đứng nín lặng bên chồng không ai khác là thị. Không bao lâu sau ngày về làm vợ, làm dâu nhà Chiến, thị mới biết đằng sau cái vỏ bọc giàu có kia là cả một xã hội đầy tệ nạn thu nhỏ. Máu cờ bạc, lô đề ăn sâu đến tận xương tủy năm anh em Chiến, ấy vậy, Chiến còn bị hen suyễn nặng. Lúc đầu, Chiến ngó lơ lời khuyên giải của thị, sau thì hắn chuyển sang chửi, “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với thị không thương tiếc. Thị bỏ về nhà mẹ đẻ được hai hôm, đến hôm thứ ba, Chiến dọa nạt cả đến bố mẹ vợ. Hai đứa con thị không có mẹ cũng khốn khổ với bố. Chúng như những tàu lá xanh rũ ra, nhớp nháp vì đói, vì đòn. Thị lại cam chịu cái tính quái gở cùng những cơn hen suyễn thường xuyên tái phát của chồng. Từ một gã thư sinh, trắng trẻo, chỉ sau sáu năm, Chiến trở nên thân tàn ma dại, cả ngày chỉ lê lết ở nhà, cuối chiều lại sển đít với lũ bạn tính toán xoay vần theo những con số lô đề. Mọi thứ trong nhà cứ đội nón ra đi, cơm áo gạo tiền đè nặng lên đôi vai của thị. Thị càng cực nhọc hơn vì chuyện tranh giành tài sản của anh em Chiến. Thị mặc kệ, lầm lũi chạy chợ nuôi các con mà không nửa lời can dự, bởi thị biết đó là hậu quả từ việc mong muốn đổi đời của mình. Giá như ngày ấy, thị đủ can đảm sống với tình yêu, chấp nhận Thân thì có lẽ thị không phải hối tiếc như bây giờ.

Hôm đó, vào ngày giáp Tết, mọi tranh chấp bên gia đình chồng im ắng lại. Thị thấy dễ thở hơn đôi chút, vả lại, chồng thị giờ đây cũng không còn sức lực nào mà hơn thua với ai thêm nữa. Ðêm ngày chúi mặt vào số đề, lại triền miên chìm trong rượu rồi bị cơn hen hành hạ, hắn chỉ còn như con gián nằm bẹp dí ở nhà, thở phì phò liếc mắt nhìn vợ con. Ðôi khi hắn khóc rống lên từng cơn, tự đấm thùm thụp vào chính mình. Thị nhìn thấy hết, nhưng dửng dưng. Sự vô cảm của thị được đổi lấy bằng quá nhiều trận đòn roi, tiếng nhiếc móc của người đàn ông từng đốt tâm can chị bằng những lời hứa có cánh mỹ miều. Thị bưng bát cháo lên căn phòng tầng hai, nơi thị đặt chồng nằm ở đó cho tiện chăm sóc. Không có tiếng thở phì phò như mọi lần, im ắng đến bất thường. Thị đẩy cửa bước vào, bát cháo trên tay thị rơi vỡ toang. Trên trần nhà, chồng thị đang buông mình dưới thòng lọng bằng sợi dây phơi quần áo, mắt trợn ngược, gương mặt vẹo vọ, hai bên mép nước dãi rỉ ra, chân tay thẳng đuột, dưới sàn nhà chiếc ghế thắp hương đổ kềnh. Thị sợ hãi hét lên một tiếng rồi ngất xỉu.

– Em sao thế? Ðang nghĩ gì mà im lặng lâu vậy?

Thị giật mình thoát khỏi hồi ức. Những cơn gió vẫn cứ mơn man thổi. Giờ thị đã ngoài năm mươi, các con đều khôn lớn. Ðịnh mệnh đưa thị gặp lại Thân khi gã đến xin làm bảo vệ khu chợ thị buôn bán. Thị vẫn phởn phơ, đầy đặn; gã từng trải, trầm tính, ít nói. Qua bao trôi nổi, gã đã hiểu thị và muốn nối lại quãng tình xưa từng lạc mất vì những phù hoa.

– Anh Thân, liệu rằng chúng mình còn cơ hội để có thể bắt đầu lại không?

– Chúng ta đều độc thân… hà cớ chi hạnh phúc chỉ thiên hạ có, mình thì không. Anh nghĩ sau tất cả, chúng ta xứng đáng với niềm vui cuối của đời mình.

Trời đầy sao mênh mang và dịu vợi. Những đôi trai gái dập dìu bên nhau dưới những hàng cây xanh vời vợi gió. Thị nép mình vào lưng Thân, thanh thản buông bỏ nỗi cô đơn, đớn đau đã trải qua, để hiểu được đời mình đã nổi nênh thế nào. Ðêm thẫm vào không gian những điều rất đổi bình dị, nhẹ nhàng.

28/10/2026

Ngân Hằng

Theo https://vanhocsaigon.com/

Bóng xuân

Bóng xuân 1. Chợ xuân năm nay không đông vui nhộn nhịp như mùa xuân năm trước. Cây thế bày la liệt, hoa đỗ quyên đỏ thắm, trà phấn hồng ch...