VĂN THƠ NHẠC
Thứ Tư, 15 tháng 4, 2026
Thụy Khuê, nhà phê bình văn học mành mành
Thụy Khuê, nhà phê bình
Thật khó để khen một điểm gì đó trong cuốn sách của Thụy Khuê: chỗ đúng thì không mới, mà chỗ mới lại không đúng. Phong cách đặc trưng của Thụy Khê là không đọc nhưng ra vẻ đọc. Ở chương 8, Bakhtin và xã hội học văn chương, bà nói đến hai cuốn sách của Medvedev là Phương pháp hình thức trong khoa học văn chương (1928) và Thi học xã hội nhập môn (1928). Chắc bạn đang phì cười: Vì không đọc, Thụy Khuê không biết rằng “Thi học xã hội nhập môn” chỉ là cái phụ đề của cuốn Phương pháp hình thức trong khoa học văn chương mà thôi!…
Thơ Quang Dũng nhìn từ tâm thức văn hóa Việt
Thơ Quang Dũng nhìn
từ tâm thức văn hóa Việt
Đọc và tìm hiểu tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, một
mặt giúp chúng ta giải mã những vẻ đẹp của “giòng sinh mệnh” văn hóa dân tộc kết
tinh trong thơ ông, làm nên hệ giá trị riêng của thơ Quang Dũng. Mặt khác,
chúng ta hiểu sâu sắc hơn về những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp phong
phú đa dạng của nền văn minh sông nước và các phong tục tập quán làm nên phong
hóa dân tộc cùng những giá trị văn nghệ dân gian mà nhà thơ Quang Dũng đã phản ảnh
trong thơ của mình.
1. Khi nghĩ về Quang Dũng, một gương mặt tiêu biểu của thơ ca
kháng chiến chống Pháp, các nhà nghiên cứu thường luận bàn đến phong cách thơ độc
đáo của ông qua các bài thơ nỗi tiếng với giọng sử thi đầy chất bi tráng đã trở
thành những tượng đại thi ca trong tâm thức người đọc như: Tây Tiến, Mắt
người Sơn Tây, Quán nước, Đôi bờ… mà ít quan tâm đến việc giải mã tâm thức văn
hóa Việt, một phẩm tính làm nên hồn thơ Quang Dũng. Trong bối cảnh văn hóa nước
nhà đang đứng trước thảm trạng bị văn hóa Phương Tây xâm lấn dẫn đến nguy cơ mất
dần bản sắc văn hóa dân tộc, việc tìm hiểu tâm thức văn hóa của thơ ca, trong
đó, có thơ Quang Dũng là vấn đề không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa
thực tiễn rất sâu sắc. Bởi, nói như Abert Camus, một triết gia, một nhà văn nổi
tiếng của nhân loại thế kỷ XX, người được trao giải thưởng Nobel văn chương năm
1957 đã xác quyết: “Khi văn hóa xuống cấp, nó rút ngắn con đường dẫn đến nô lệ”.
Vai trò của văn hóa đối với sự tồn vong của đất nước và dân tộc là vô cùng hệ
trọng. Đây cũng là lý do vì sao tôi chọn tìm hiểu về tâm thức văn hóa Việt
trong thơ Quang Dũng, nhân 100 năm ngày sinh của ông. Bởi, Quang Dũng không chỉ
là thi sĩ, ông còn là một họa sĩ, một nghệ sĩ rất am hiểu văn hóa truyền thống
dân tộc và văn hóa Việt đã thấm vào hồn thơ của ông như một ám ảnh của vô thức
và tâm linh. Điều nầy tạo nên phẩm tính riêng, là hệ giá trị mỹ cảm độc đáo
trong thơ Quang Dũng, một thi sĩ mà lòng luôn mở ra với “bốn cõi” để giao cảm
và tình tự với thiên nhiên, với cuộc đời như thi nhân đã chia sẻ:“Gói, khăn,
trăng, gió trời mây bạc / Hồn nhẹ quên trong xác nặng nề.” (Giang hồ). Tâm thức
văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, vì thế là một điệu hồn làm nên hệ giá trị về
những biểu tượng văn hóa đa dạng của thơ ông.
2. Dòng sông – biểu tượng văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng
Nhà thơ Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh ngày
11-10-1921 tại làng Phượng Trì, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông
(nay thuộc Hà Nội). Ông rời xa cõi tạm ngày 13-10-1988. Nơi, thi sĩ Quang Dũng
sinh ra, lớn lên là một vùng đất có bề dày truyền thống với những giá trị văn
hóa vật thể và phi vật thể, không phải nơi nào cũng có được. Đan Phương, trước
đây gọi là xứ Đoài, nơi đã để lại trong tâm thức nhà thơ biết bao nỗi nhớ tha
thiết, đắm say: “Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm / Em đã bao ngày em nhớ thương?”
(Mắt người Sơn Tây). Đây cũng là vùng đất có hệ thống sông ngòi chảy qua
nên địa hình tương đối bằng phẳng, với lượng phù sa màu mở tạo nên sức sống
xanh tươi của vùng nông nghiệp lúa nước. Và cảnh quang môi trường sinh
thái này là một dấu ấn văn hóa trong tâm cảm thi nhân, từ đó hình thành phẩm
tính của tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng mà biểu hiện rõ nhất là
hình ảnh của các giòng sông quê luôn trôi trong tâm thức văn hóa thi nhân như nỗi
ám ảnh của cảm thức hiện sinh. Đó là dòng sông Hồng luôn chất chứa trong đôi bờ
những trầm tích văn hóa văn hóa làng, là hệ giá trị hình thành căn tố văn hóa
dân tộc, bình dị, lắng sâu, ngọt ngào, ẩn chứa những giá trị nhân văn: “Dòng
sông Hồng/ Nước đỏ trường giang đất Bắc/ Có đôi bờ xanh ngô lúa phì nhiêu/ Có
những làng quê trăng sáng sáo diều/ Bóng cây đa cổ thụ/ Nước vận phù sa/ Bóng
soi lều chợ/ Đò ngang tên bến ca dao/ Nghìn năm miếng nước ngọt ngào/ Nuôi sống
quê hương dân tộc/ Ai biết tự bao giờ/ Dòng nước đổ về chở nặng đất nguồn/ Bồi
lên xứ sở/ Dựng những làng xanh/ Bãi mía nương dâu/ Tươi tốt mỡ mầu/ Thị trấn
mái nhà/ Lên dòng khói biếc. (Sông Hồng)
Dòng sông ấy không chỉ là nơi tạo nên các giá trị văn hóa mà
còn là nơi lưu giữ những tri thức văn hóa dân gian làm nên sự phong phú của kho
tàng văn hóa dân tộc: trữ tình, lãng mạn, chất chứa tinh thần lạc quan, khát
khao vươn lên cuộc sống an bình trong sự hòa hợp giữa con người với tự nhiên: “Sông
Hồng Hà xa xưa/ Đời cổ tích/ Vua Thủy Tề dâng nước/ Đánh Sơn Tinh/ Núi và sông/
Tranh nhau một chuyện tình/ Gầm thét phong ba phá phách/ Những mẹ già ta/ Lần
xâu tràng hạt/ Lầm rầm khấn vái cầu xin/ Khi nhìn dòng nước dâng lên/ Lấp loáng
một màu máu đỏ/ Cuốn băng cây rừng/ Xác người, xác hổ/ Trâu, bò, gà, lợn, xác
nhà…/ Nhưng Đời Người/ Từ những thuở ông cha/ Vẫn dọc đôi bờ/ Dựng nên cuộc sống (Sông
Hồng). Chính vì vậy, dòng sông trong tâm thức văn hóa của thơ Quang Dũng không
chỉ là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa mà còn thức nhận tinh thần ngưỡng vọng
về cội nguồn dân tộc như một sức mạnh của “giòng sinh mệnh” văn hóa luôn chảy
trong huyết quản mỗi con người: “Con người chúng ta/ Làm sao quên được/ Gốc nguồn
theo khu vực về đây/ vận mệnh ta theo/ Sau những luống cày Dọc suốt dòng sông
màu mỡ/ Rừng Phú Thọ non cao mộ Tổ/ Nước thiêng soi bóng Hùng Vương/ Mở lối
trung du/ Như cổng lớn mở đường/ Tam Đảo Ba Vì tả hữu/ Đỉnh lấp trong mây/ Cột
trời kỳ diệu/ Giang sơn ngàn thuở thân yêu (Sông Hồng)
Tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng còn biểu hiện qua
nỗi nhớ con sông quê đến quặn lòng những khi xa cách. Đó là nỗi nhớ vừa cụ thể,
lại vừa trừu tượng, vừa hiện thực lại vừa lãng mạng nên đi vào lòng người khá tự
nhiên: “Trưa hè bỗng nhớ sông quê/ Nước soi bóng vải thuyền đi nặng lòng/ Thóc
nhà em có phơi không/ Chói chang lửa thóc sân trông bóng người/ (…) Xa quê đâu
chẳng võ vàng/ Trông mây núi nhớ mây làng về trưa (Mây làng)
Không gian văn hóa qua biểu tượng dòng sông của tâm thức Văn
hóa Việt trong thơ Quang Dũng không chỉ có sông Hồng mà còn có vẻ đẹp của sông
Đáy. Đây cũng là dòng sông ôm ấp làng quê Đan Phượng của thi nhân. Vì vậy, hình
ảnh sông Đáy đi vào thơ Quang Dũng cũng mang sắc màu văn hóa riêng với một vẻ đẹp
riêng của phù sa văn hóa Việt: “Rặng vải ven sông Đáy/ Um tùm bóng cuối xuân/
Sông cạn phơi lòng cát trắng/ Người qua nâng váy ôm quần”. (Đất nước) Và cũng
là dòng chảy của tình tự dân tộc vốn là những phẩm tính văn hóa luôn hiện hữu
trong tâm thức Việt: “Sông Đáy xuôi dài cồn cát mênh mông/ Làng bên bờ xanh
mía/ Thoảng mùi hoa lan hoa nhài nhè nhẹ/ Tiếng nói xa dần/ Chiều tím cuối mùa
xuân/ Sông nước trong xanh/ Những bước chân tròn cát mịn” (Những cô hàng xén)
Có thể nói dòng sông là một không gian văn hóa luôn hiện hữu trong tâm thức của
cư dân gốc nông nghiệp như dân tộc Việt. Vì thế, xuyên suốt chiều dài đất nước
đã có biết bao dòng sông làm nên phù sa văn hóa của các vùng miền như sông
Hồng, sông Thương, sông Lô, sông Cầu, sông Lam, sông Hương, sông Thu Bồn, sông
Trà, sông Hậu, sông Tiền… Và gắn với không gian văn hóa của mỗi dòng sông là những
quang cảnh văn hóa mang nét đẹp riêng về sinh thái mỗi vùng miền. Điều nầy cũng
hiện rõ trong thơ Quang Dũng qua hình ảnh sông Hồng và sông Đáy.
Vốn sống, gắn bó với văn minh sông Hồng, nên thơ Quang Dũng
luôn hiện lên bản sắc của nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Đó là hình ảnh những
sân vườn của ngôi nhà Việt luôn hiện hữu trong tâm cảm thi nhân với niềm tiếc
nhớ khi xa cách : “Trăng sáng sân vườn đôi bóng cau/ Ngồi đây mà gửi nhớ phương
nào/ Gió mát long lanh vầng Bắc đẩu/ Tiết hè ếch nhái rộn bờ ao/ Ngồi đây
năm năm niềm ly hương/ Quê người đôi gót mỏi tha phương/ Có những chiều trăng
tròn đỉnh núi/ Nhà ai chày gạo giã đêm sương/ Tịch mịch sầu rơi bèo râm
ran/ Chuối vườn khuya lọt ánh trăng tàn/ Người ơi quê cũ đèn hoe ngọn/ Tóc bạc
trông chừng cổng héo hon” (Cố Quận). Hay là hình ảnh ao bèo, vườn
chanh, bóng trúc, hương cau nơi vùng quê Bắc Bộ hiện lên trong thơ Quang
Dũng như một hệ giá trị của văn hóa Việt đã tích tụ trong hàng ngàn năm văn hiến
nhằm minh chứng cho “giòng sinh mệnh văn hóa” dân tộc trong tâm thức thi nhân:
“Ngàn năm bèo đọng ở trên ao/ Cô gái vườn chanh thắm má đào/ Quê Việt Nam nằm
trong bóng trúc/ Dòng đời thoang thoảng suối hương cau (Hoa Chanh); “Chốc
đã bao năm trời/ Chiêm ngập bờ xanh lại/ Sông quê hương như gợi/ Ngày ấy hoa
bèo trôi/ Mây thành giăng ngang trời (Đám cưới qua sông Đáy); “Đêm quê
càng tỉnh mịch/ Chỉ bèo đê sương rơi/ Quả xoan rụng mái lá/ Lòng khuya càng rối
bời” (Cuối thu)
3. Làng – biểu tượng văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng
Nói đến văn hóa Việt không thể không nói đến văn hóa làng, mà
trong đó đình làng là một trong những biểu tượng thiêng liêng, là linh hồn của
làng. Kim Định trong công trình nghiên cứu văn hóa Triết lý cái đình đã
xác quyết: “Cái đình có thể coi là đỉnh chót vót của nền văn minh Viêm Việt. Nền
văn minh này đặt nền tảng trên gia đình, nhiều gia đình hợp thành khu, xóm, ấp
và đợt cuối cùng là làng” (1) . Vì vậy, tiếp cận tâm thức văn hóa Việt
trong thơ Quang Dũng, ta thấy hình ảnh Đình Chùa, hiện lên trong thơ như những
biểu tượng của văn hóa tâm linh, gắn với những ngày lễ hội của làng, hình thành
hệ giá trị tinh thần làm nên sức sống ngàn đời của cư dân Việt, để chia sẻ những
buồn vui trong phận số con người. Và đây là một bình diện của văn hóa làng luôn
khắc sâu trong tâm khảm con dân nước Việt: “Sột soạt khắp đường làng/ Những nếp
áo còn mới/ Màu khăn nhiễu tam giang/ Cụ già ấm ly rượu/ Đình chùa vắng khói
hương/ Những mẹ già niệm Phật/ Nam vô trong bóng làng” (Có nhớ về đất Bắc). Và
cùng với đình, chùa là hình ảnh giếng làng, một biểu tượng của văn hóa nông
thôn Việt Nam cũng đi vào tâm thức văn hóa trong thơ Quang Dũng như một hiện
thân của bản sắc văn hóa Việt: “Giếng làng còn ướt trăng trên đá/ Chim ngủ xôn
xao động lá cành (Đường trăng); Hay hình ảnh một Quán nước ven
đường vẫn ẩn chứa trong đó sự ấm êm của một ngôi nhà Việt với những tấm lòng
bao dung nhân ái Việt Nam, dù nghèo về vật chất nhưng không nghèo về tình cảm
đã làm ấm lòng người lính để họ vững tin trên bước đường hành quân: “Tôi lính
qua đường trưa nắng gắt/ Nghỉ nhờ em quán lệch tường xiêu/ Giàn mướp nghèo
không hứa hẹn bao nhiêu/ Mùa gạo đắt, đường xa thưa khách vắng” (Quán nước). Sức
mạnh tinh thần của văn hóa Việt phải chăng bắt nguồn từ những biểu tượng văn
hóa bình dị của nông thôn làng xã Việt Nam nên các nhà nghiên cứu văn hóa đã
xác quyết: người Việt Nam có thể mất nước nhưng không thể mất làng là vì thế!?
Như vậy, từ điểm nhìn địa văn hóa, mỗi dân tộc, mỗi vùng miền
luôn có một không gian hội tụ và kết tinh khí thiêng sông núi để hình thành nên
bản sắc văn hóa của dân tộc đó, vùng miền đó và mỗi con người trong cộng đồng
có quyền tự hào về ý thức bảo vệ bản sắc văn hóa của mình nhằm không bị đồng
hóa. Là một nhà thơ lại là một mghệ sĩ rất am hiểu văn hóa dân tộc cả văn hóa
bác học lẫn văn hóa dân gian, mà văn hóa dân gian phần lớn hội tụ ở văn hóa
làng, Quang Dũng luôn quan tâm đến văn hóa dân gian và đây cũng cơ sở hình
thành tâm thức văn hóa Việt trong thi giới Quang Dũng. Vì vậy, bên cạnh dòng
sông, cánh bèo, giếng làng, đình chùa vốn là những biểu tượng văn hóa Việt gắn
cuộc sống ngàn đời của dân tộc Việt, ta còn thấy hiện lên trong thơ Quang Dũng
hình ảnh một không gian văn hóa nông thôn Việt Nam hiền hòa, thơ mộng và chất
chứa một chiều sâu tâm cảm của cảnh sắc bình dị chân mộc của làng quê Việt: “Bến
cuối thôn xuân hoa gạo rơi/ Sông xanh hiền triết lặng trôi xuôi/ Đò ngang một
chuyến qua mưa bụi/ Ấm áp trong mưa tiếng nói cười/ Cái giọng ru con từ ngõ
trúc/ Thanh bình như phút sống đang trôi (Đất nước). Và đây chính là căn tố
tạo nên niềm tưởng vọng trong ký ức văn hóa làng quê đầy hoài niệm đã kết tinh
thành tâm thức văn hóa Việt, khiến thi nhân không khỏi chạnh lòng mỗi khi nghĩ
về cảnh cũ, người xưa với bao kỷ niệm dấu yêu, hằn sâu trong cuộc đời: “Ngồi
đây vời tưởng đường quê hương/ Lúa đã xanh xanh mấy nẻo làng/ Cốm đã thơm mùi,
hồng đã chín/ Ao sau vườn cũ nước xanh trong (…) Diều sáo vang không hồn ấu
thơ/ Bèo lạnh cầu ao ai đợi chờ? / Một tiếng sung rơi đo lặng lẽ/ Mùa thu xào xạc
lá tre khô”. (Thu). Vẫn là dòng sông đó, giếng nước đó, ao bèo đó, đình làng đó
mà sao khi xa cách lòng ta lại thấy nhớ thương đến quặn lòng. Làng quê vì vậy,
là tình cảm thiêng liêng sâu kín khó thay thể trong tâm thức mỗi người. Phải
chăng, bi kịch lớn nhất trong cuộc đời mỗi người là không có một làng quê để tưởng
vọng, để thương nhớ, để trở về mỗi khi đời mình chênh chao giữa sóng biển cuộc
đời. Có phải vì thế, trong thơ Quang Dũng những giá trị văn hóa làng, một căn tố
của văn hóa Việt cứ xao xác mãi trong điệu hồn thơ ông!? Vì vậy, văn hóa làng,
một biểu tượng của tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, không chỉ thể hiện
qua đình làng chùa làng, vườn tược với hoa trái xanh tươi mà còn thể hiện qua hệ
thống giá trị văn nghệ dân gian với các làn điệu dân ca, tiếng đàn bầu, đàn nhị
như những thanh âm đồng vọng của tâm hồn dân tộc mà dù ở đâu khi nó ngân lên vẫn
chạm đến những nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn văn hóa Việt vì nó chính là hồn
quê, hồn nước: “Đâu tiếng đàn bầu hòa trong tiếng nhị/ Tiền đồng vang tiếng chậu
thâu/ Quán nước bên sông / Đời của bến tàu/ Trong điệu hát của những người hát
xẩm/ Khăn gói trên vai/ Kẻ giang hồ bước chậm/ Nghe hát bài “Anh Khóa” bâng
khuâng/ Hồn nước mang đi theo gót ngàn trùng/ Người đi không mấy người trở lại”
(Sông Hồng)
Theo Vũ Bằng, khi trò chuyện với L.K.T để tìm hiểu tư liệu về
Quang Dũng, ông cho biết: “Quang Dũng còn có cái tài nữa ít có người biết. Sống
chung với vợ chồng chúng tôi, găp lúc mưa sầu gió thảm nằm khằn một chỗ Quang
Dũng mà ca “sáu câu vọng cổ” thì “mùi” một cây, nhưng đặc biệt không phải là ở
điểm đó, mà chính là ở chỗ Quang Dũng đã từng làm nhiều bài ca cải lương cũng
hay như thể là thơ anh vậy (…) Ngoài thơ, cải lương, Quang Dũng còn soạn tân nhạc
nữa”. (2) Như vậy, từ trong máu thịt của Quang Dũng những giá trị
văn hóa dân gian Việt đã là một phẩm tính trong tâm hồn của thi nhân. Thế nên,
tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, còn biểu hiện trong những bài hát cải
lương, những câu vọng cổ, những loại hình sân khấu dân gian ăn sâu trong tiềm
thức dân tộc và làm say mê tâm hồn những người con dân đất Việt: “Cô thiếu
nữ xinh xinh/ Vừa tan rạp hát/ Bắt chước cải lương/ Hát giữa cầu thang / Một
câu vọng cổ (Đường chiều thứ bảy). Không chỉ cải lương, một đặc sản của
văn hóa Nam Bộ hiện hữu trong thơ Quang Dũng mà còn có những bài hát ả đào, đặc
sản của văn hóa Bắc Bộ cũng ngập tràn trong tâm thức văn hóa Quang Dũng: “Bến vắng
thuyền xuôi giọng hát ả đào/ Trăng lạnh mái chèo ca nữ/ Nước êm trôi/ Giấc ngủ
nhà chài”. (Bắt đầu) và dòng máu con Lạc cháu Hồng vẫn sống trong tâm thức thi
nhân như một biểu hiện rực rỡ về tình tự dân tộc của tâm thức văn hóa Việt: “Xuân
đang về khắp nơi/ Giang sơn thắm nụ cười/ Miệng cười trên máu đỏ/ Dòng máu Lạc
Hồng tươi” (Bài hát ra đi). Không chỉ có dòng máu lạc Hồng mà những phong tục tập
quán trong nền văn hóa Việt vẫn luôn ám ảnh tâm thức của người thi sĩ – chiến
sĩ. Vì thế trên bước quân hành, những biểu tượng văn hóa truyền thống là
một thứ dưỡng chất làm nên sự sống, tạo sức mạnh để họ chiến đấu bảo tồn độc lập
tự do cho tổ quốc cũng như các giá trị phong hóa của dân tộc: “Những làng trung
đoàn ta đóng lại/ Tiếng nêu đưa khách dưới mưa phùn/ Hương đen ngũ quả, màu
tranh Tết/ Câu đối mực Tàu bay xa ngát/ Cột nhà tre trúc dãi gan vàng/ Mang câu
đối đỏ niềm son sắt…” (Những làng đi qua). Còn đây là hoài niệm về một đám cưới
ngày xưa, một trong những vẻ đẹp của phong tục, thể hiện văn hóa hôn nhân và
gia đình trong tâm thức văn hóa Việt vẫn hiện hữu trong tâm cảm thi nhân “Ai biết
Hồ Nam giờ ra sao/ Xa cách hồn quê động bóng cau/ Đám cưới qua đò quai nón mới/
Mười năm còn tưởng bóng cô dâu” (Hồ Nam)
4. Người phụ nữ – biểu tượng văn hóa Việt trong thơ Quang
Dũng
Trong chuyên luận Triết lý văn hóa – Khái luận, (Văn hữu
–Á Châu Xuất bản, 1959) của Nguyễn Đăng Thục, khi luận bàn về “Tinh thần
Việt hóa”, ông viết: “Tinh thần nghệ thuật Việt Nam nằm ở trong cái vũ trụ quan
truyền thống của dân tộc. Cái vũ trụ quan ấy thuộc về cái vũ trụ quan truyền thống
Á Châu mà dân tộc Việt Nam đã Việt hóa theo dân tộc tính của nó. Vì trước khi
thâu hóa của người, thì tự nó đã ý thức được nó là một đơn vị nhân loại sinh hoạt
sống động trong một khung cảnh địa lý, khí hậu riêng biệt” (3). Như vậy,
Văn hóa của một vùng miền bao giờ cũng gắn cuộc sống và con người văn hóa của
vùng miền đó, tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng cũng không nằm ngoài
qui luật nầy. Đọc thơ Quang Dũng, biểu tượng văn hóa Việt hiện hữu trong thơ
ông không chỉ thể hiện qua không gian văn hóa của một làng quê mang sắc màu của
nền văn minh nông nghiệp với dòng sông, giếng nước, ao bèo, hoa trái, phong tục
tập quán, những làn điệu dân ca mà còn hiện hữu qua hình ảnh những con người kết
tinh những mỹ cảm văn hóa đã đi vào trong văn chương như những tinh tú trên bầu
trời văn hóa Việt. Đó là hình ảnh “Cô hàng xén” hiện lên ở những câu thơ đầy mỹ
cảm văn hóa mà Quang Dũng đã khắc họa khá tinh tế như một biểu tượng cho vẻ đẹp
truyền thống của người phụ nữ Việt Nam tự ngàn đời: “Những gánh hàng xén bồ
căng/ Má hồng thôn nữ/ Thoảng mùi thơm quê mùa/ Hơi thở ấm trầu răng đen rưng rức/
Mẹ già nón nhẹ bay tua/ Tu hú tu hú/ Mùa vải ven bờ/ Nơi quê hương trời
xưa ấu thơ/ Mái tóc em vừa vương hương bưởi/ Chân nhẹ nhàng còn dính phấn hoa/
Thôn nào cô mới đi qua/ Gà vừa gáy sáng/ Thắt lưng đào bên sông im lặng/ Kiũ kịt
đôi bờ. (Những cô hàng xén). Đó cũng là hình ảnh Cô hàng xén mà nụ cười
“như mùa thu tỏa nắng” trong “Bên kia sông Đuống”, của Hoàng Cầm, hay “Cô hàng
xén” trong câu truyện cùng tên của Thạch Lam. Đó là những con người mang trong
mình chiều sâu văn hóa Việt, rất đáng để chúng ta ngưỡng vọng.
Vẻ đẹp văn hóa của người phụ nữ qua biểu tượng hình ảnh cô
hàng xén hiện lên trong tâm thức thơ Quang Dũng, không chỉ có vẻ đẹp hình thức
trang nhã lịch thiệp, dịu dàng vốn là phẩm tính của người phụ nữ Việt mà còn có
vẻ đẹp tâm hồn được nuôi dưỡng bằng những giá trị của văn hóa dân tộc qua những
truyện nôm mang sắc màu liêu trai như: Nhị Độ Mai, Phạm Công Cúc
Hoa, Truyện Kiều và những chuyện kể đầy huyền thoại trong vườn cổ tích với: Thạch
Sanh, Trê Cóc. Và đây cũng là biểu hiện của dấu ấn tâm thức văn hóa Việt trong
thơ Quang Dũng: “Các cô hàng xén ngày xưa/ Gương tròn bỏ túi/ Tóc giắt hoa
nhài/ Hay ngậm ngùi xem Nhị Độ Mai/ Gấp trang sách lại thương đời Cúc Hoa (…)
Đôi cuốn Thạch Sanh / Một chồng Trê Cóc/ Khi gió mùa xuân/ Xanh cành tươi lộc/
Bói trang Kiều xem chuyện nhân duyên”. (Những cô hàng xén) Hay thanh âm một tiếng
võng đưa kẻo kẹt giữa trưa hè trong âm hưởng của một câu Kiều sâu lắng, thiết
tha cũng mang sắc màu văn hóa Việt: “Đôi quán nằm im trong bóng lá/ Bộ hành
thiêm thiếp nhớ trung châu/ Kẽo kẹt võng đưa người xứ Bắc/ Oán than Kiều lẩy một
vài câu”. (Trưa hè) Và những cô hàng xén trong cái nhìn của Quang Dũng không chỉ
là sự tích tụ những giá trị văn hóa truyền thống mà còn là hiện thân của đời sống
văn hóa làng quê chân mộc với những buồn vui của phận số con người, trong đó có
phận số của những người phụ nữ Việt Nam, cả một đời thương khó, gắn bó cùng quê
hương để làm nên bản sắc văn hóa dân tộc mà nếu không có hình ảnh và cuộc sống
của họ bản sắc văn hóa dân tộc chắc cũng sẽ bị nhạt nhòa: “Sông hiu hiu chiều/
Gió mát ven đê/ Các cô hàng xén gánh về/ Tiếng cười khúc khích/ Tu hú im rồi/
Vàng nghiêng nắng chếch/ Các cô về qua sông/ Sông Đáy xuôi dài cồn cát mênh
mông/ Làng bên bờ xanh mía/ Thoảng mùi hoa lan hoa nhài nhè nhẹ/ Tiếng nói xa dần/
Chiều tím cuối mùa xuân/ Sông nước trong xanh/ Những bước chân tròn cát mịn/
Hàng cau chiều phất phơ/ Diều sáo vang lên trăng sáng tỏ/ Ngõ làng rộn tiếng cười
reo, chó sủa/ Hoa lan vào ngõ tối còn thơm”. (Những cô hàng xén). Vì vậy, nhìn
từ hệ hình văn hóa dân tộc, hình ảnh những cô hàng xén trong thơ Quang Dũng là
sự kết tinh của các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, bởi chính họ là hiện
thân vẻ đẹp của văn hóa Việt, sống mãi trong ca dao cổ tích: “Các cô hàng xén về
làng/ Mai lại đi từ tối đất/ Cần cù nuôi mẹ nuôi em/ Những cô hàng xén tên
xinh/ Đẹp như ca dao nước Việt” (Những cô hàng xén)
Có thể nói, trong thơ Quang Dũng vẻ đẹp văn hóa truyền thống
của dân tộc luôn gắn với tài hoa và nhan sắc của người phụ nữ. Hay nói cách
khác, vẻ đẹp của người phụ nữ đã trở thành một phần không thể thiếu của tâm thức
văn hóa Việt, là nét độc đáo trong thi giới Quang Dũng. Thế nên, bên cạnh hình ảnh
cô hàng xén đã “gồng gánh trên vai” mình những dấu ấn văn hóa Việt thì hình ảnh
người ca nữ ngày xưa cũng hiện lên trong tâm thức của thi nhân với một vẻ
đẹp của sự tài hoa độc đáo của văn hóa Việt: “Em là con hát ở bên sông/ Đàn
phách là đôi bạn khốn cùng/ Khách ghé phương nào thây kiếp khách/ Hoài đâu nước
mắt khóc tình chung”. (Đêm Việt Trì). Người ca nữ ngày xưa trong xã hội cũ vốn
được / bị xem là “xướng ca vô loại” nhưng trong thơ Quang Dũng họ được xem là một
phần không thể thiếu của văn hóa Việt. Sự chuyển hóa cảm thức nầy cho thấy cái
nhìn của Quang Dũng về cô Ca Nữ là cái nhìn cảm thông của những người nghệ sĩ
“liên tài”, cho dù họ có hoàn cảnh sống khác nhau. Thế mới biết sự cảm thông và
độ lượng, khoan hòa cũng là một phẩm tính của nhân cách văn hóa ở người nghệ sĩ
đích thực!? Và đây cũng là bình diện cho thấy tính nhân văn trong thơ Quang
Dũng.
Song hình ảnh Người phụ nữ – biểu tượng văn hóa Việt
trong thơ Quang Dũng không chỉ có Cô hàng xén, cô kỹ nữ mà ẩn sâu trong
tâm thức văn hóa và thi ca của nhà thơ đó là hình ảnh của Người mẹ Việt Nam, một
biểu tượng cao đẹp của văn hóa Việt luôn gắn với hình ảnh quê hương, qua tiếng
ru hời lắng sâu trên dòng sông, bến nước, tan hòa trong những khúc ca dao, những
câu truyện cổ tích, trôi trong tâm cảm thi nhân như hiện thân của linh hồn văn
hóa Việt: “Chiều xuống hồn người/ Bến rộng sông dài/ Nước đỏ mênh mông/ (…) Mẹ
là Việt Nam hiền hậu vô cùng/ Đã hát ru con những lời cổ tích”. (Nhớ về mẹ). Vì
vậy, trong tâm thức thi nhân nhớ về Mẹ là nhớ về những ký ức văn hóa mà ở đó
hình ảnh quê hương luôn hiện lên từ những hoài niệm hằn sâu dấu ấn tâm thức văn
hóa Việt: “Mẹ sống những ngày đất khách/ Nhớ mẹ ngày xưa thuộc hết truyện Kiều
(…) Đi về một miền quê ngoại ngày xưa/ Có khói thui bò/ Có trống làng tế lễ/ Và
có những tiếng cười con trẻ/ Cầm nắm xôi phần/ Có hơi rượu cụ già/ Ấm trong hơi
mùa xuân” (Nhớ về mẹ). Và hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, hình ảnh người mẹ
trong thơ Quang Dũng đã hóa thân thành hình ảnh đất nước quê hương mãi ám ảnh
tâm thức thi nhân như là một biểu tượng cao đẹp của tâm hồn Việt, văn hóa Việt
chảy mãi trong thơ, tồn sinh cùng sức sống văn hóa dân tộc…
5. Thay lời kết:
Từ điểm nhìn Dân tộc, Nhân bản và Khai phóng, văn hóa
không chỉ là chìa khóa mở cánh cửa tri thức để con người biết khám phá và sáng
tạo những giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần mà cũng là chìa khỏa mở
cánh cửa tâm hồn con người để xua tan bóng tối vốn là nơi ẩn nấu của cái ác,
cái xấu, cái đớn hèn, giúp con người vươn đến ánh sáng của những giá trị nhân
văn vốn là căn tố để hình thành những nhân cách văn hóa cao đẹp gắn với bản sắc
văn hóa dân tộc. Đọc và tìm hiểu tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng, một
mặt giúp chúng ta giải mã những vẻ đẹp của “giòng sinh mệnh” văn hóa dân tộc kết
tinh trong thơ ông, làm nên hệ giá trị riêng của thơ Quang Dũng. Mặt khác,
chúng ta hiểu sâu sắc hơn về những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp phong
phú đa dạng của nền văn minh sông nước và các phong tục tập quán làm nên phong
hóa dân tộc cùng những giá trị văn nghệ dân gian mà nhà thơ Quang Dũng đã phản ảnh
trong thơ của mình. Từ góc nhìn này, ta thấy thơ Quang Dũng không chỉ là một
tượng đài thi ca mà còn là một tượng đài văn hóa trong tâm thức người đọc
mà chúng ta cần có ý thức gìn giữ và phát triển, nhất là hiện nay, khi nền
văn hóa dân tộc đang đứng trước những thách thức của xu hướng toàn cầu hóa, nếu
không có ý thức và bản lĩnh giữ gìn văn hóa dân tộc thì việc bị tha hóa và lưu
vong về văn hóa ngay trên đất nước mình là một tất yếu khó tránh khỏi. Bởi, nói
như F. Konoye: “Văn hóa của một dân tộc là gương soi phản chiếu kiến thức, tín
ngưỡng và truyền khẩu của nó. Nói tắt đó là chìa khóa mở của kiến thức và luật
pháp của dân tộc” (4). Tâm thức văn hóa Việt trong thơ Quang Dũng vì vậy
là một hệ giá trị làm nên phẩm tính dân tộc trong thơ ông, góp phần lưu giữ,
trao truyền văn hóa truyền thống dân tộc trước những cơn bão của văn hóa phương
Tây, trong xu hướng hội nhập và phát triển. Bởi, một dân tộc không giữ được nền
văn hóa với bản sắc riêng thì dân tộc đó không thể tồn sinh và con đường dẫn đến
nô lệ văn hóa là tất yếu. Văn hóa, vì thế, không chỉ là một hệ giá trị mà còn
là một là một yếu tính tồn sinh của dân tộc.
Chú thích:
(1) Kim Định, Triết
lý cái đình, Nguồn Sáng xuất bản, Sài Gòn, 1971, tr.31
(2) Vũ Bằng “Tất cả sự thật về nhà thơ Quang Dũng”, Văn học số
140, ngày 15/11/1971, tr.29 – 30
(3) Nguyễn Đăng Thục, Triết lý
văn hóa – Khái luận, Văn hữu – Á Châu Xb, Sài Gòn, 1959, tr.180
(4) Hoàng Xuân Việt, Danh ngôn từ
điển, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1972, tr.383
* Thơ trích dẫn ở bài viết đều lấy trong Quang
Dũng, Mắt người Sơn Tây, (Thơ văn tinh tuyển), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội,
2012.
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 18/8/2021
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Nh. Tay Ngàn - Đùa gió Trà Vinh, sang Paris cơn điên mửa máu
Nh. Tay Ngàn - Đùa gió Trà Vinh,
sang Paris cơn điên mửa máu
“Chim Việt hôm nay chỉ là những gì mình động vào ảo ảnh của
ngàn tiếng vỗ cánh không trung trong phút giây tan tành của Linh Thức. Thôi bây
giờ cũng là kiếp hư thôi.” – Nh. Tay Ngàn
Thập niên 1960, nhiều nhà văn, nhà thơ du học từ Pháp về tạo
nên làn gió đổi mới văn nghệ ở miền Nam như Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Hoàng
Anh Tuấn… Còn Nh. Tay Ngàn lặng lẽ xuất hiện trên báo Văn, trong số 28 ra ngày
15.2.1965 trang “Giới thiệu những cây bút có triển vọng đi xa” viết: “Nh.
Tay Ngàn là nhà thơ có bài được chọn đăng nhiều nhất trong số các bạn trẻ tìm đến
Văn. Tên thật là Nguyễn Văn Nhĩ, sanh năm 1943, nguyên quán Vĩnh Bình. Hiện
đang theo học ngành Canh nông tại Pháp”.
Ông viết nhiều trên tạp chí Quê Mẹ ở Paris, theo Thi Vũ thì
Nh. Tay Ngàn còn để lại di cảo khoảng bốn ngàn trang, đóng thành 20 tập tại nhà
thân nhân. Định mệnh khắc nghiệt lại cướp mất nhà thơ tài hoa, bệnh hoạn, đau
khổ tận cùng, từng có thời gian nằm ở bệnh viện tâm thần: “Đầu tháng Giêng
1978, các bạn của Nhĩ gọi dây nói cho biết Nhĩ chết rồi. Một hôm, bà gác dan
(concierge) thấy mấy ngày qua Nhĩ không ghé lấy thư. Bà lên đập cửa phòng.
Không nghe hồi đáp, bà lo lắng mở cửa xem thì Nhĩ đã nằm chết trên giường nhiều
ngày… Thi hài đốt ở nghĩa địa Père-Lachaise, Paris quận 20. Dự tính
sau này sẽ gửi tro về Việt Nam. Dường như Nhĩ có một người anh sống ở Saigon.
Nghĩa địa Père-Lachaise còn lưu giữ những mộ chí của Gerard de Nerval, Chopin,
Balzac, Alfred de Musset, Proust, Apollinaire, Pissaro, Oscar Wilde…”. (Thi Vũ
– Nh. Tay Ngàn, Lập lòe trí nhớ)
Nh. Tay Ngàn làm thơ, viết văn và vẽ tranh, có lần triển lãm
cá nhân tại phòng tranh Louis Soulanges, đường Montparnasse.
Ông “xa lạ” với văn thơ Sài Gòn thời ấy: “Có thể vốn
sống trong thời loạn ly của họ bị nghẹt nên sanh ra nhiều tánh ganh tị trách
móc hoặc ghen ghét nhỏ nhoi, bởi đó mức văn hóa trì trệ rồi rút lì vào ảo tưởng
bất nhất kia” (thư viết ngày 17.12.76). Kể cả “dị ứng” văn chương thời tiền chiến
và Tự lực Văn đoàn, vì cho rằng : “Giá trị họ ở trong tầng lớp sinh viên học
sinh còn trẻ, thiếu sáng tác chứ không thể là giá trị vĩnh cữu cho chúng ta nữa,
đành rằng mọi tư thế phê bình luôn toa rập với số đông. Ngay cả tôi hồi nhỏ
cũng chẳng bao giờ ưa “tự lực văn đoàn”, tới nay chuyện xưa rồi, nhắc lại để tự
mình thấy điềm nào đó không hay ho nữa” (thư viết ngày 17.12.76). Lúc đầu
ông thích nhóm Sáng Tạo, rồi cũng quay ngoắt đi vì thấy mình không dung nạp được.
Rất nhiều người gán cho ông là poète maudit, một tay ngoài lề
xã hội, lang thang, khốn khó ở Paris, ở Ý, có lúc phải mang bệnh lao, từng vào
nhà thương điên mà vẫn đam mê cuồng nhiệt với văn chương.
Ngay từ thiếu niên, trải qua cuộc chiến tranh chống Pháp khổ ải,
chứng kiến cái chết thảm thương của người cha bị bắn vỡ sọ trên đồng, nên chấn
động tâm thần, có lẽ vì thế những bài thơ tình của Nh. Tay Ngàn đều có những
khoảng hư không tối tăm, quặn thắt, âm vang khó hiểu.
Bài Nỗi Liên đen tối vô cùng, dài 253 câu, là lời tâm sự
trường thiên với người yêu, quê hương Trà Vinh, mang nặng tâm cảm siêu hình
điên loạn:
… Chợt tiếc đau ở những chiều không thần tượng
Tôi có làm gì đâu cho bản thân tôi
Chỉ còn trái tim tôi tâm sự
Ngày thu đang rụng lá nhiều hơn
Bản sầu ca không còn nàng ca sĩ cũ…
… Đùa gió Tháp Mười sang Cửu Long đầy máu…
Không gian Trà Vinh, nơi người Việt, Hoa, Khơ Me chung sống,
đượm hơi thở bàng bạc Phật giáo Tiểu thừa luôn ẩn hiện lập lòe:
…Có những oan hồn nhắn tôi cuộc gặp gỡ
Nơi Liên đã khóc đêm ngày
Trong mười hai năm Trà Vinh đầy quạ…
…Tôi giấu một con rồng trên bãi không gian mun
Chờ những đoàn trẻ thơ bay qua ốc đảo…
Ông kết thân với những người bạn lớn tuổi, hiểu tâm trạng bơ
vơ, cuộc sống đói rách và những khoảng lạnh vắng trong tâm hồn mình như Phạm
Công Thiện, Thi Vũ, Vĩnh Ấn…
Thi Vũ viết: “…Tôi ít thấy ai say sưa viết như Nhĩ. Âm
thầm. Cặm cụi. Không nói. Không ba hoa. Những chuyến viễn trình, những cuộc
tình vặt, những đêm đốt thuốc bên quầy bar với rượu rhum từng ngụm cay nhè… chỉ
để dàn ra từng dòng chữ chân chỉ trang này sang trang khác. Có hôm tôi nhìn thấy
trên 20 tập bloc, dễ cũng trên bốn nghìn trang, chữ nhỏ đều đặn. Từ chữ đầu đến
chữ cuối không một lần mất kiên nhẫn, như một vũ trụ kiến kéo nhau đi thành
hàng dọc. Khi thơ khi văn. Trong văn học Việt Nam có hai người không
viết văn, viết thơ thành bài, mà dàn trải tới vô tận dòng thơ văn không có dấu
chấm. Đó là Bùi Giáng và Nh. Tay Ngàn. Văn và ý tưởng, thơ và ý tưởng trộn nhau
như chớp với đá kết ngọc. Hết õng ẻo với quá khứ, không thời trang thế cuộc,
không nép mình vào ca dao hay bốc khói trên chợ trời văn học. Đọc Nhĩ phải có mắt
xanh với tấm lòng rớm máu thì mới cùng Nhĩ song thoại trong “thế giới vốn nhỏ
và hạt bụi muốn đau”, khi nhà văn Việt Nam “thấy ngu trước nhà văn quốc
tế”.” (Thi Vũ – Nh. Tay Ngàn, Lập lòe trí nhớ)
Trong tùy bút tự sự trên tờ Quê Mẹ (Xuân Canh Ngọ, năm 1990)
Phạm Công Thiện thuật lại cuộc gặp gỡ ở Paris: “… cả hai đều nghèo đói và
chỉ biết sống hết mình với văn thơ nghệ thuật; cả hai thường lang thang suốt
đêm trên những đường phố Paris, lúc nào có chút ít tiền thì la cà ngày đêm
trong những quán café ở Montmartre. Cả hai đều say sưa viết, mộng và mơ bất tận…
Có lúc dắt nhau ra bờ sông Seine, thòng mấy chai rượu đỏ xuống nước sông, uống
rượu say lướt khướt, ngâm thơ Lý Bạch và Nguyễn Du, đọc thơ Appollinaire ngay
nơi chỗ ở xưa của thi nhân, ngó những cụm mây trắng ngập ngừng trên tháp chuông
nhà nguyện Saint Germain-des-Prés…”.
Hay trong thư Lettre à un poète vietnamien avant son
suicide… Phạm Công Thiện viết: “Nh. Tay Ngàn thân quí, …tao vẫn còn giữ lại
màu xám đậm đà ở Paris, trong đó có màu của đôi mắt mày, đôi mắt nửa đêm nửa
ngày của Ý thức mới, của một thứ mây mai vừa hiện trên bầu trời thắp sáng, “một
khung trời mưng mủ” như một lần mày đã gọi thế, phải không Nh. Tay Ngàn?”.
Ở mảng thơ tình của Nh. Tay Ngàn là niềm đau vô hạn, từ ngữ
như có ma lực làm thành những câu thơ tân kỳ, quyến rũ:
… Khoảng ngực trần của em gió bấc
Anh yêu em vô ngần dù đêm nay em đã quên anh
(Nụ cười)
… Khi những chiều anh đáp xe về thành phố và qua vườn
Luxembourg,
Nhìn pho tượng trần truồng gục đầu ngó đất;
Lá rụng dày thương nhớ trở vàng thêm.
(Ảnh tượng cuối thu)
Nghĩ về tập di cảo bốn ngàn trang chi chít chữ, cuộc đời yểu
mệnh của gã poète maudit Nh. Tay Ngàn với niềm bùi ngùi tiếc thương vô hạn và
tôi viết bài thơ:
Mộ chí cho Nh. Tay Ngàn
Những con chữ chết ngộp trong nước sông Mê Kông,
Xác ùn cao chất thành mộ chí.
Lúa hát lời ru, sóng vỗ thay lời kinh tụng bình yên
Nơi đây an nghỉ giấc ngủ nhà thơ tự sát,
Chưa kịp gia nhập vào đội ngũ tiền vệ hay hậu hiện đại nước
Việt.
Một nấm mộ gió giữa đồng bằng
Đơn sơ và trơ trọi
Kết thúc không có hậu, mang mùi vị chua xót, ngậm ngùi
Đó là câu xề vọng cổ nghẹn hơi,
Con dơi đen tức tưởi
Đậu cô đơn nơi nóc chùa Miên
Và bông huệ trắng xứ Trà Vinh ứa lệ tinh khiết.
Thơ NH. TAY NGÀN
BÀN TAY
trên cao xa kia nhớ nhung nàng chỉ còn mảng trời tím lạnh.
buổi chiều tắt dần tắt dần tiếng chuông,
cây lá sẩm.
nàng vuốt lấy mặt nàng,
thấy ngón tay nàng ướt đẫm.
những đớn đau lớn theo đời nàng
nàng đếm mãi trên bàn tay
(ôi những ngón tay yếu ớt như côn trùng đơn chiếc).
còn thanh xuân nàng ư?
nàng hỏi sao mùa đông loài chim ủ rũ?
ôi những chiều những chiều kéo nàng vào bóng tối
những xót đau khó hiểu của hồn chàng,
chàng đặt giữa vũng tay nàng,
chàng bỏ chàng đi;
rồi mặc tình cho con lốc bi thương cháy rực.
nàng vuốt lên thân thể nàng;
ôi bàn tay em đâu là cánh tay anh.
nàng hôn lấy hôn lấy từng chiếc móng.
ở cuối đêm khuôn mặt chàng xanh.
CHIM
một sáng thức dậy nàng biết nàng không còn tiếng hót
mặt trời nàng nhìn thẳng
cũng hóa đen
rồi mùa rét mang về nhớ nhung
lòng nàng mướt xanh
vết thương tự đấy mưng lên
nàng muốn bay vào miền ấm áp của lòng chàng
nhưng cánh nàng đã mỏi
và bắt đầu nàng gọi
rừng chập chùng
căn lầu vườn cây bốc cháy
đêm ơi đêm anh ơi anh
MÙA THU THÀNH PHỐ
Một sớm thức giấc anh chợt nhớ ra mình đang ở trong một thành
phố xa lạ
Anh chợt nhớ ra sau cơn mộng kinh hoàng em đã ngàn trùng mây
nước kêu gào vô vọng nhớ thương
Đáng lẽ giờ này em đang nũng nịu trong vòng tay anh, mớ tóc
đen mềm mướt, đôi mắt ngái ngủ dịu dàng và bên ngoài nắng ấm dọi qua song
Căn phòng vang tiếng em cười vui bữa ăn sáng mà anh nghe thấy
cùng một lúc với giọng chim sẻ ca hát trên những mái ngói
Rồi anh đưa em qua những cửa nhà thân thuộc, một cái dốc một
chiếc cầu con sông chợ nhóm, vườn thú có những lùm cây xanh tươi hoa đỏ và anh
rẽ tay mặt
Trên đường về nhà qua những con đường bóng mát anh thường
huýt sáo
Đâu ngờ đến ngã rẽ cuối cùng bây giờ anh ở đây với bầu trời
xám thấp, các cửa kính đóng chặt – đóng chặt ngàn đời, những ống khói đen sầm
Anh lo sợ cho em trong những buổi chuông về bước nhỏ đánh thức
mọi vật reo hò kỷ niệm
Anh lo sợ trong những chiều sụp tối gian phòng vắng lạnh bóng
đêm lặng lẽ vây lấy em
Anh lo sợ ở cuối đêm anh trở về hình bóng chập chờn không sưởi
đủ chuỗi ngày em đốt bằng ký ức
Em ơi, đâu còn ai cận kề bên em những giữa đêm mưa dưng không
òa khóc
Làm thế nào có thể quên em những khi hoàng hôn sậm mặt
Trong vườn Luxembourg anh ngó anh ngồi im một mình
Những hàng cây đượm vàng lá úa
Mỗi trận gió đem rơi từng chiếc u sầu
Những pho tượng hoen rỉ kia yêu nhau ngàn năm
Cặp tình nhân trong một góc hôn dài đắm đuối
Đâu như đôi ta phải vội vã xa lìa
Để những giọt nước mắt em anh chưa kịp lau
Chưa kịp nếm đắng cay trên môi em đầu lưỡi
Làn tóc rối tung không đợi anh kịp vuốt
Để tháng ngày em xõa mộng thương đau
Em ơi em, làm cách nào em giam giữ hoài con chim giữa
lòng ngực
Anh bay ra thương tích đầy hồn
Em ơi em, những nắng mưa bên kia miền nhiệt đới
Với âu lo chuông đổ gió về
Em lụn tàn đêm gối chiếc bơ vơ
Ôi mộng mị nuôi cuộc đời sao đủ
Còn tương lai kia anh mang bỏ giữa rừng
Em lạc lõng giữa hùm beo rắn rít
Với thân gầy em chỉ khóc van xin.
Làm thế nào có thể quên em được khi đèn đường bật lên vàng võ
Trong những nẻo quanh co phố lầu tẻ ngắt
Anh tìm một vì sao như lệ mắt em
Anh chỉ thấy một khung trời mưng mủ
Và hai tay lạnh giá đã dầy.
ẢNH TƯỢNG CUỐI THU
Khi anh mệt mỏi leo lên ngọn đồi ở miền Orsay nghe những chuyến
xe lửa hú,
anh dẫm lên lớp lá khô như giấc mộng tàn;
nhớ lại khi xưa em là đồng bằng mỗi ngày anh núi rừng ao ước,
muốn gặp nhau anh cất lời gọi vọng,
em trao tình hoa dại đọng sương;
giờ anh đã mờ xây xa vắng,
ngóng về em tiếng gào còm cõi,
chạm xác xơ mặt cỏ nám u buồn.
Khi những chiều anh đáp xe về thành phố và qua vườn
Luxembourg,
nhìn pho tượng trần truồng gục đầu ngó đất;
lá rụng dày thương nhớ trở vàng thêm.
ĐÊM XỨ LẠNH
Nàng nhỏ xuống trí nhớ những giọt lệ xanh
Mộng mị hoang vu tôi mọc dày nấm mốc
Nàng thở trong tim những ngày tháng ấm
Tôi ôm nàng tay vắng hư không
Cay đắng hiện lên như luồng gió lạnh
Tôi cuồng quay như trái bóng dưới chân.
Trong dĩ vãng móng tay nàng nhọn
Đêm trở mình tôi ve vuốt vết thương
Và mắt nàng nửa đêm tinh tú
Triền miên rơi xa xót nhớ nhung.
ĐƠN KHÚC CỦA LIỄU
Ba giờ trưa một khúc nhạc sầu
Un jour sans toi
Những chiếc lá tàn rơi không cần một làn gió
Điếu thuốc đốt lên hình bóng
Và chợt tắt bơ vơ
Kỷ niệm xuống đêm
Ở chót vót của tuyệt vọng
Anh im lìm ngắm hai tay không
Un jour sans toi
Người thủy thủ già từ bỏ biển khơi
Chiếc tàu đã chìm
Căn phòng nhuộm đầy bóng tối
Mền gối bắt đầu rã mục
Liễu ơi Liễu
Un jour sans toi
Tiếng hát cuối cùng nhỏ xuống
Gạch ngói hoang tàn hồn anh
Cùng tiếc thương mọc lan trên đó
Un jour sans toi
Một ngày người thủy thủ già
Vô vọng chuyến ra khơi
Liễu ơi Liễu
CỔ TÍCH
Xưa kia người mẹ sanh một đứa con trai
Bà nuôi chàng nuôi chàng ngót bốn ngàn năm
Rồi một ngày nọ người từ trần
Chàng thì ốm yếu và khóc than
Từ đó cỏ sắc mọc xuyên suốt hồn
Còn trái tim chàng chứa thanh kiếm báu
Của người cha anh hùng
Với thanh kiếm ấy người ta cắt đầu chàng
Một dòng sông chảy qua
Với giọt máu tự trái tim chàng
Mỗi buổi chiều khi mây đen gieo mưa xuống
Mỗi buổi chiều khi biển thổi gió về
Chàng nhớ chàng thương
Người mẹ nuôi nấng chàng bốn ngàn năm khổ nhọc
Mỗi buổi chiều khi ánh nắng cuối cùng chui xuống lòng biển
Những đàn chim phương bắc xa xưa bay về cùng bầu trời tối đậm
Những đàn chim đau thương câm miệng
Chàng sờ lên vết máu
Bốn ngàn năm, bốn ngàn năm chàng đà tìm thấy tận hưởng gì đâu
Duy hai giọt lệ đọng hoài trên gò má.
DI HÀNH TRONG NGÀY
Tôi bị đánh thức một buổi chiều dưới đường hầm
Chiếc metro ngừng rước người đứng chật
Chưa bao giờ tôi bị dồn nghẹt một xó như thế
Tôi vinh thân gì chính tôi đâu
Chưa bao giờ tôi thở nhọc nhằn bằng lúc này
Không khí sắp hết cho hai buồng phổi
Không lấy được một tiếng kêu
Dù để nhắc lại một chiều nào hò hẹn
Hành khách ùa xuống một trạm
Đùn tôi ra mặt đất
Vây lấy tôi giận dữ
Tôi la hét giữa phố
Lánh xa tôi để tôi yên
Óc yếu đuối nhìn lầu cao lộn ngược
Tư tưởng nằm úp mặt đường bừa bãi đá ong
Xe cộ tàn nhẫn
Anh cố quên viễn ảnh hãi hùng một sớm mai
Chết cô đơn khu phố hẻo lánh
Em không hay biết gì nửa đêm bên ấy
Hẳn nhiên em tin anh đang sung sướng
Và bạn bè vẫn gắng đỗ đạt cao
Tôi leo mất thăng bằng trên khải hoàn môn
Chưa bao giờ tôi mãn nguyện cho công việc
Hạnh phúc chỉ là sự tình cờ hiếm hoi
Cả tình yêu anh coi một huyền tích
Hai đứa xuống trần gian tìm dấu chân nhau
Thành phố mô hình xoay vòng tròn
Người vật di dịch như đàn vi khuẩn trong não
Anh them muốn nỗi chết dưới mắt
Làm sao có ngày ngưng chiến em tận mặt anh.
MỘT NGÀY ĐẸP TRỜI THÁNG SÁU
Những trái anh đào chưa có dấu răng
Đàn chim reo mừng trong chòm lá
Những quả bôm bày nụ cười ửng hồng
E thẹn như đôi má lần anh bạo dạn đặt môi
Sầu riêng và hoa hồng nở nửa đêm
Thơm ngon như trái măng cụt bên nhà
Tháng sáu em quên buồn phiền
Ngày tuyết phủ xa lắt xa lơ
Đêm em hát
Để tinh tú xúm lại ngủ
Trên miền tóc không chải
Anh gỡ chiếc mặt nạ của cuộc sống
Chụm hai tay uống cạn nguồn lệ
Suồng sã trên ngực em
Khiến những vì sao hốt hoảng buông mình lã chã.
NỤ CƯỜI
Lũ bồ câu lười héo mái nhà đội tuyết
Chúng sẽ chết trước khi nắng về
Trong vườn Luxembourg jardin des Plantes giữa boulevard Saint
Michel
Trên tháp chuông trên ống khói
Vùng nhiệt đới bên kia trùng dương sa mạc bão cát lòng vực
thâm u
Người ta yêu nhau chậm chạp chuyến xe mỏi
Rồi quên hết sau đó
Khoảng ngực trần của em trời mùa đông
Anh yêu em vô ngần lúc chập tối
Muốn nói vạn lời cho sao hôm mọc
Lúa vàng chờ lưỡi hái
Tử thần chờ anh nhà cửa lầm lì
Sao hôm sau áng mây ám thần trí anh kiệt quệ
Anh sợ nằm trong căn phòng đơn đêm ngủ không được
Ra đón em ngoài gió bấc tuyết rơi
Chuyến tàu bị nạn ngoài biên giới
Anh thầm hỏi ga nào có em
Nụ cười ánh đèn khuya khoắt
Người ta còn có thể yêu nhau nữa không
Khi hồn đêm không nhấc nổi nụ cười
Lũ bồ câu trên mái nhà
Đêm nay chúng gắn liền tuyết giá
Chết sung sướng địa phận thân yêu
Rạng ngày những bà lão mủi lòng cho
Con vật trông thấy thường ngày nơi khung cửa
Ai biết anh sáng hôm sau
Khoảng ngực trần của em gió bấc
Anh yêu em vô ngần dù đêm nay em đã quên anh
Anh còn đủ một giây hôn em ngủ ngon
Dù cạn thuốc quẹt lửa hết xăng
Anh còn đủ một giây đốt nụ cười
Thốt gọi tên người yêu dấu lần cuối
Rồi quay lui về thần chết anh.
(Tập san Văn số 58)
16/10/2021
Trần Hữu Dũng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thơ Đỗ Trung Lai và những cảm thức về mùa thu
Thơ Đỗ Trung Lai và những
cảm thức về mùa thu…
Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai là những mỹ cảm
mang tính khai phóng, nhân bản, dân tộc, nên có ý nghĩa dự báo khá sâu sắc. Bởi,
trong tâm cảm thi nhân luôn hiện hữu một tâm hồn Việt Nam mà ở đó: “Có một
Thăng Long thương nhớ/ Người đi mở cõi mơ về/ Có một Thăng Long thon thả/ Khép
hờ vạt áo ngoài kia”…
1. Tự ngàn xưa, mùa thu đã là đề tài muôn thuở của thi ca nhạc
họa. Song, không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa một phạm vi phản ảnh cuộc sống, mùa
thu còn là mỹ cảm, là nỗi ám ảnh của vô thức và tâm linh tạo nên dự phóng sáng
tạo của người nghệ sĩ. Vì vậy, không lạ gì, trong âm nhạc Việt Nam đã tồn tại
những tình khúc tuyệt đỉnh về mùa thu như: Con thuyền không bến của Đặng
Thế Phong; Gửi gió cho mây ngàn bay, Lá đổ muôn chiều, Thu quyến rũ của
Đoàn Chuẩn -Từ Linh; Thu cô liêu, Buồn tàn thu của Văn Cao; Mùa
thu chết, Nước mắt mùa thu của Phạm Duy; Thu vàng của Cung
Tiến; Nhìn những mùa thu đi của Trịnh Công Sơn; Mùa Thu cho em của
Ngô Thụy Miên; Thu hát cho người của Vũ Đức Sao Biển… Hay trong thi
ca như: Thu ẩm; Thu Vịnh; Thu Điếu của Nguyễn Khuyến; Cảm thu –
tiễn thu của Tản Đà; Tiếng thu của Lưu Trọng Lư; Đây mùa
thu tới của Xuân Diệu; Nắng thu của Nam Trân; Thu của
Chế Lan Viên; Chiều thu của Thái Can; Cây bàng cuối thu của
Nguyễn Bính; Cuối thu của Hàn Mặc Tử, … Thế nên, không phải ngẫu
nhiên, trong “Khúc ngâm mùa thu”, Đỗ Trung Lai đã viết những câu thơ với xúc cảm
khá tinh tế, thể hiện niềm khắc khoải, ưu lo về sự hiện hữu và tồn sinh của mùa
thu mà khi đọc lên ta không khỏi thấy nao lòng: “Ngàn năm xưa đã thu rồi/ Ngàn
năm sau nữa đất trời còn thu/ Chỉ lo lòng đất không mùa/ Làm sao nghe được tiếng
thu dịu dàng!/ Tìm đâu cho đủ hoa vàng/ Để ta kết chuỗi trang hoàng cho thu”?.
Như vậy, đề tài mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, không phải là
điều mới lạ. Song, cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai mang những nét
suy tưởng riêng, thủ pháp riêng, thể hiện nét độc đáo trong cá tính sáng tạo
mang dấu ấn Đỗ Trung Lai, không lặp lại ai và cũng không lặp lại chính mình, điều
quan thiết trong hành trình sáng tạo của người nghệ sĩ. Bởi, đối với sáng tạo
nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật thi ca, việc lặp lại người khác hay lặp lại
chính mình là tự đóng đinh mình trên cây thập giá văn chương. Cảm thức về mùa
thu trong thơ Đỗ Trung Lai vì vậy, là một sáng tạo riêng có của thi nhân. Đó là
một bức tranh đa sắc màu, đa chiều kích, mà ở mỗi bài thơ viết về mùa thu đều
thể hiện một cảm thức, một cái nhìn riêng về thiên nhiên, con người trong cõi
nhân sinh đầy biến động khôn lường. Mùa thu đã trở thành một không gian văn hóa
– hiện sinh, một thế giới nghệ thuật ám ảnh tâm thức thi nhân. Thế nên, chỉ với
ba tập thơ xuất hiện những năm gần đây của Đỗ Trung Lai như: Thơ – 30 (2013); Ơ
thờ ơ (2013); Bảo dông dài ừ dông dài… (2019) đã có 18 bài thơ viết về
mùa thu, chưa kể những câu thơ nói đến mùa thu trong các bài khác. Đó là các
bài thơ: Khúc ngâm mùa thu; Thu cảm; Thu sang (Thơ – 30); Môi dịu
dàng, ta gọi:“Bắc Giang thu!”; Thu tàn Tam Cốc; Tìm một mùa thu cũ; Mùa
thu uống rượu bên hồ Thiền Quang; Một chiều thu; (Ơ thờ ơ); Thu vào chơi
Yên Tử; Thu qua cửa Bắc; Tết trùng cửu, cùng thu qua Chùa Hương; Thu, nhớ Lưu
Trọng Lư; Thu, nhớ Quang Dũng; Thu về với sông Thao; Thu sớm; Đêm thu, dắt cháu
vào phố cổ; Nhời thu đã cạn (Bảo dông dài ừ dông dài…). Có thể nói, mỗi
bài thơ viết về mùa thu là một thi giới thể hiện một nhãn quan, một mỹ cảm
riêng của thi sĩ, kết tinh thành cảm thức thu vừa truyền thống, vừa hiện đại mà
các bài thơ nói trên là một minh chứng. Bởi, theo Max Jacob: “Cả một thế giới
trong một con người, đó là nhà thơ hiện đại”. (1)
2. Điều nhận biết trước tiên, khi giải mã cảm thức về mùa thu
trong thơ Đỗ Trung Lai đó là sự hoài niệm về không gian văn hóa thu của Thăng
Long hiện hữu từ ngàn năm, có thể mất đi bất cứ lúc nào trước sự thờ ơ,
vô cảm của chính những con người đã/ đang/sẽ sống ở đất kinh kỳ như một lời tự
vấn đến tê buốt!?: “Có một Thăng Long xa lắm/ “Lối xưa, xe ngựa, hồn thu…/ Có một
Thăng Long đang thở/ Bên ta từng phút từng giờ/ (…) Có một Thăng Long răng trắng/
Cắn vào quả sấu đầu thu”. (Thăng Long) Hoài niệm về những ký ức lịch sử, văn
hóa Hà Nội hiện hữu trong thơ viết về mùa thu của Đỗ Trung Lai, còn là sự cảm
nhận từ tinh thần mùa thu cách mạng Tháng Tám năm nào khi “Tám mươi năm vong
nô/ Giờ thành dân độc lập/ Lòng ai không mở cờ/ Tái sinh cùng giời đất”, để rồi:
“Nay cùng thu bình thường/ Dạo bên thành Cửa Bắc/ Nhớ về thu năm xưa/ Lòng tự
nhiên hành khúc”. (Thu, qua cửa Bắc) Hay là cảm thức hiện sinh về sự hiện hữu của
mùa thu qua biểu tượng: “một chiếc lá bàng vàng mơ… trỏ về cuối thu…” và những
suy niệm giàu chất triết luận với diễn ngôn mang tính chất vấn về những vấn đề
nhân sinh không dễ trả lời: “Ông ơi! Lá vàng tên gì? / Lá vàng tên là hữu hạn/
Ông ơi hữu hạn là gì? / Nghĩa là rồi xa muôn dặm (…) Là cháu không còn ông dắt!/ Sao
cháu lại không còn ông”. (Đêm thu, dắt cháu vào phố cổ) Và, cuộc “đối thoại” giữa
“ông – cháu” đó là cuộc “đối thoại” giữa hai thế hệ kết thúc bằng một câu thơ bất
ngờ nhưng hợp logic và thú vị: “Kìa! Khéo lá vàng bay mất!”… Thông điệp của bài
thơ đã rõ: Hãy biết trân quí những gì hiện hữu dù đó chỉ là “chiếc lá vàng” cuối
thu còn lại, không nên đi tìm những gì viễn mơ, chẳng có ích cho cuộc sống. Tâm
thức hiện sinh nhân bản cũng bắt nguồn từ những điều bình dị ấy!?
Luận bàn về phẩm tính của nhà thơ, Friedrich Schiller xác quyết:
“Tiềm thức hợp với suy tưởng, tạo thành nhà thơ”.(2) Như vậy, tiềm thức có
vai trò quan trọng trong sáng tạo thi ca và đây là điều thể hiện khá rõ ở cảm
thức mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, khi phần lớn các bài thơ viết về mùa thu của
Anh luôn bắt nguồn từ trong “tiềm thức và suy tưởng” mà cảm thức hiện sinh mang
màu sắc triết luận là một bình diện thể hiện khá sâu sắc vấn đề nầy. Đó là
không khí Phật đài mang sắc màu huyền ảo và thiền định ở bài thơ “Tết trùng cửu,
cùng thu qua chùa Hương”: “Gác gió, chuông chùa buông đủng đỉnh/ Sơn Thủy đồng
sàn cùng vô thường/ Phật điện đồng môn tam –tứ phủ/ Tục lụy xa dần, gần thiên
lương …”; Là những hoài niệm đang xen giữa quá khứ và hiện tại, giữa xưa và nay
với những lời tự vấn đầy trăn trở trong “Mùa thu uống rượu bên hồ Thiền Quang”,
một danh thắng của Hà Nội ngàn năm: “Thiền Quang xanh dưới thấp/ Da trời xanh
trên cao/ Thu phân rồi đấy nhỉ? Người xưa giờ ra sao?“, để rồi, điều còn lại
trong tâm cảm thi nhân là những hoài vọng xa mờ về một thời quá vãng: “Ly này
ai vừa rót/ Ta rót vào hồ thu/ Người xưa là chiếc bóng/ Ngày xưa là sương mù”.
Bởi, nói như Huỳnh Phan Anh: “Thơ ở giữa có và không, thực hữu và hư vô, mời gọi
và từ chối”.(3)
3. Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai không chỉ có những
hoài niệm, ký ức đong đầy không gian văn hóa về thu Hà Nội, mà còn có thi giới
thu ở nhiều vùng văn hóa khác của đất nước. Đó là một thi giới đầy ám ảnh với
những dấu ấn khó phai mờ của sự quyện hòa giữa mộng và thực, giữa hiện hữu và
hư vô kết tinh thành những suy niệm đầy tính triết luận thấm đẫm không gian thiền
học: “Cuối đường hun hút cỏ/ Đền hai Vua chập chờn/ Nợ anh hùng trả hết/ Về đây
ngồi tham thiền”. (Thu tàn Tam Cốc) hay: “Lá chạm tay người dường tay Bụt/ Tán
oan, phổ độ cả mười phương/ Nâng lão mai trà là thu ẩm/ Thiền đàm, Phật pháp được
hoằng dương” (Tết trùng cửu, cùng thu qua chùa Hương). Sự kết tinh tư tưởng triết
luận nầy được thi nhân biểu đạt khá uyên áo trong bài “Thu vào chơi Yên Tử” với
việc sử dụng câu hỏi tư từ như một thủ pháp độc thoại: “Hỏi ai người lục thức/
lục căn/ hiếu tử/ minh quân/ nghiêm phụ…/ Hỏi ai người thiền nhân/ Hỏi ai người
thi sĩ/ Hỏi ai ngang thánh thần” và kết thúc bằng câu trả lời mang chất thiền
luận: “Không người, đành hỏi gió/ Gió thổi vào Trúc Lâm”. Còn ở bài thơ “Thu
tàn Tam Cốc” là niềm trăn trở về những giá trị văn hóa tốt đẹp từ truyền thống
vọng về: “Sen Tam Cốc tàn rồi/ Chờ người người chẳng tới/ Một trời thu vô
duyên/ Ta quay về bến đợi/ Đá muôn tuổi làm núi/ Nước muôn năm làm đường/ Thu
tàn muôn năm khói/ Đò đi về trong sương”. Bài thơ là một lời tự vấn đầy khắc
khoải về quá khứ, không dễ trả lời luôn ám ảnh tâm cảm thi nhân: “Sơn hà đầy
trong mắt/ Người của ta đâu rồi?/ Mặc ba ngàn du khách/ Ta cùng thu gọi người”.
Mặt khác, trong cảm thức về mùa thu, cùng với không gian văn
hóa, lịch sử ở các danh thắng, Đỗ Trung Lai còn dành tình cảm đặc biệt cho các
nhân vật lịch sử của dân tộc. Đó là hình ảnh người anh hùng Đề Thám và những
nghĩa quân Yên Thế đã hy sinh đời mình cho tổ quốc trong bài thơ “Môi dịu dàng,
ta gọi: “Bắc Giang thu!”, mà mỗi câu thơ đều mang sức nặng của tình yêu nước: “Nắng
nhuộm vàng cây, lúa trải đỏ đồng/ Thu thắng trận, thu hòa đàm, thu thất thế/
Thu chết tướng, thu tan quân, thu yên nghỉ/ Thu lộng lẫy, thu hào hùng, thu giản
dị/ Chuốc rượu dưới quân kỳ, bao cung bậc thu qua/ Chuông thu không, rừng động
dưới trăng già/ Tiếng trống trận, tiếng tù và đã tắt/ Nhưng tiếng hát thì không
bao giờ chết/ Tiếng hát giữa lòng người, tiếng hát giữa non sông/ Rằng: “Muôn
năm dòng máu anh hùng!”/ Rằng:“Vạn tuế giống dòng hào kiệt!”/Thời gian trôi, thời
gian trôi mãi miết/ Dạ ngọc gan vàng chói lọi giữa thiên thu”. Hay hình ảnh ông
Kim Ngọc, người đem ấm no cho nhân dân Vĩnh Phú trong cải cách nông nghiệp –
nông thôn thời bao cấp ở miền Bắc, mà cuộc đời phải chịu bao oan khuất: “Hoa
như bảo: Kim phải tôi trong lửa/ Gió như kêu: Ngọc nát cũng
cam lòng/ Nhà muôn nóc giờ thơm cơm Việt/ Nơi suối vàng, hoa cải có vàng không?”
(Thu, về với Sông Thao)
Đi tìm cảm thức mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, không thể,
không nói đến những ưu tư về đời thơ của Lưu Trọng Lư và Quang Dũng trong “Thu,
nhớ Lưu Trọng Lư” và “Thu, nhớ Quang Dũng” mà bài thơ nào cũng thể hiện sự tài
hoa, hướng thiện trong hành trình đến với nghệ thuật của người nghệ sĩ. Đó là một
Lưu Trọng Lư với những câu thơ đầy mỹ cảm trong Tiếng thu đã chất chứa
bao niềm trắc ẩn về thân phận người thi sĩ: “Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng
mờ thổn thức” Người làm thơ, từ lâu/ Đã không cần giấy mực/ Em không nghe mùa
thu/ lá thu kêu xào xạc/ Người làm thơ, từ lâu/ Lá vàng là thân xác/ Em không
nghe mùa thu/ Dù ta còn hay thác/ Gió thu vẫn qua rừng/ Kêu những chiều
diệp lạc”. Hay ảnh hình Quang Dũng, một thi sĩ tài hoa mà tài năng và số phận
luôn ám ảnh trong mỗi câu thơ, khi đọc lên không thể, không xa xót: “Thơ ứa mỗi
vần như máu ứa / Quê hương mờ mịt sau lưng người … Độc mộc trông hoài sao chẳng
thấy/ Mỹ nhân, thi sĩ phận như vôi …Thu cũ vàng trong màu lúa mới/ Lúa mới vàng
trong thu cũ rơi”. Và ẩn trong niềm tưởng nhớ Lưu Trọng Lư và Quang Dũng qua cảm
thức về mùa thu, Đỗ Trung Lai đã “ngộ” ra phận số của người thi sĩ cũng bạc mệnh
như mỹ nhân. Vì vậy, Nguyễn Du, khi hiện hữu vẫn lắng lo than thở: “Bất tri tam
bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”!?. Bởi, nói như Apollinaire:
“Các thi nhân bao giờ cũng tiêu biểu cho một hoàn cảnh, một dân tộc”.(4) Mùa
thu là mùa của vàng úa, của phôi phai. Phải chăng, mùa thu gợi cho Đỗ Trung Lai
nhớ đến phận số người thi sĩ!?
4. Một bình diện khác khi luận giải về cảm thức mùa thu trong
thơ Đỗ Trung Lai, ta thấy thi nhân vẫn sử dụng những thi liệu quen thuộc trong
văn học dân tộc đã thành điển phạm khi viết về mùa thu như: lá vàng, gió
heo may, con đò, dòng sông, bầu trời… và những tâm cảm vốn có trong các bài thơ
thu như: hoài niệm về quá vãng, về tình yêu, về nỗi buồn, niềm cô đơn của
cái tôi bản thể. Song, điểm khác biệt ở cảm thức mùa thu trong thơ Đỗ Trung
Lai, là anh nói đến những ưu tư về nỗi cô đơn phận người, nhất là những con người
dấn thân cho sự sống còn của đất nước và sự tồn sinh của các giá trị văn hóa, lịch
sử của dân tộc mà các bài thơ: “Thu, vào chơi Yên Tử”; “Thu tàn Tam Cốc”; “Mùa
thu uống rượu bên hồ Thiền Quang”; “Tết trùng cửu, cùng thu qua chùa Hương”;
“Môi dịu dàng, ta gọi: “Bắc Giang thu!”; “Thu, qua cửa Bắc”; “Thu, về với Sông
Thao”; “Thu, nhớ Lưu Trọng Lư” và “Thu, nhớ Quang Dũng” … là một minh chứng.
Mùa thu là mùa của ký ức, hoài niệm, nhớ nhung. Viết về mùa
thu mà thiếu những xúc cảm tha thiết nầy, sẽ là khoảng trống về mỹ cảm thi ca
khó chấp nhận. Vì vậy, bên cạnh những cảm thức về văn hóa, lịch sử, về phận số
con người, trong thi giới thu, Đỗ Trung Lai cũng dành một không gian tâm
tưởng cho làng quê, gia đình, cho “cô láng giềng” xa xưa của thuở thiếu thời mà
từ trong vô thức những tình cảm ấy luôn ám ảnh thi nhân. Đó là khung cảnh gia
đình trong “Thu sớm” với những câu thơ đầy sức ám gợi: “Heo mây về quanh nhà/
Gia đình là có thực/ Em gương lược trong phòng/ Thu đầy trên mái tóc”. Hay ảnh
hình một “Cô láng giềng” nào đó, dẫu không “đứng bên hàng tường vi” như “Cô
láng giềng” của Hoàng Quý và dù đã xa xôi, vẫn không làm cho thi sĩ thôi “xao
lòng” mỗi độ thu về: “Ở một phương nào đó/ Em còn nghe thu đi?/ Phương nầy
trong ngõ nhỏ/ Buông bước sầu, anh về”. (Nhời thu đã cạn) Hay nỗi day dứt trong
khúc biệt ly đầy luyến nhớ không dễ mờ phai mà đọc lên lòng ta không khỏi xốn
xang trong thi phẩm “Một chiều thu”: “Ngày đi theo cánh chim đi/ Mây chiều hấp
hối sau đê/ Đò đưa em sang bờ bắc/ heo mây từ đó bay về!” Mùa thu vì thế, là
nơi tâm thức nhà thơ luôn tìm về những ký ức thu xưa trong cuộc đời mình mà hôm
nay chỉ còn là những ảo ảnh xa mờ của một thời quá vãng dù thi nhân muốn “đếm
ngược thời gian” hay “đi vào trong mơ” để “tìm một mùa thu cũ”, nhưng “Chỉ thấy
thu nay về/ Thu xưa còn đâu nữa!” (Tìm một mùa thu cũ). Còn đây là nỗi nhớ đến
quặn lòng, sự ân hận về tình cảm nhạt nhòa với quê hương là sự tự thú rất thực,
không chỉ của thi nhân mà của nhiều người, khi hàng ngày bị cuốn vào cuộc sống
áo cơm chốn thị thành, khiến ta cứ xa dần nguồn cội. Bài “Thu cảm”, vì thế đã gợi
bao niềm thao thức, ưu lo về cố hương: “Muống già tiết trời lạnh/ Nhà vắng, ta
ngồi nhớ quê/ Quê cũng không xa là mấy/ Mà dăm bảy tháng chưa về … Nhớ quê thơ
làm dăm khổ/ Ngồi buồn ta đọc Thu nghe”. Và lúc này, Thu đã hóa thân thành người
tri kỷ để thi nhân giải bày tình cảm đối với cha mẹ, với người thân, với gia
đình. Giá trị nhân bản của thi ca nhiều khi bắt nguồn từ những câu thơ viết về
các điều bình dị như thế!?
5. Không hiểu mùa thu có một ma lực mầu nhiệm như thế nào mà
luôn ám ảnh tâm thức của các văn nghệ sĩ, đến nỗi Chế Lan Viên đã tiếc nuối sự
tàn phai của mùa thu đến nỗi ông đã mong ước đến phi lý, khi muốn nhặt lá vàng
của mùa thu để ngăn lối xuân về: “Ai đâu trở lại mùa thu trước / Nhặt lấy cho
tôi những lá vàng?/ Với của hoa tươi muôn cánh rã/ Về đây đem chắn nẻo xuân
sang!” Rồi thi nhân xác quyết sự gắn kết hồn mình với mùa thu trong nỗi nhớ
mong ngút ngàn: “Ai biết hồn tôi say mộng ảo/ Ý thu góp lại cản tình
xuân?/ Có một người nghèo không biết Tết/ mang lì chiếc áo độ thu tàn ? (…) /
Chao ôi! mong nhớ! ôi mong nhớ/ Một cánh chim thu lạc cuối ngàn”. (5) Còn
Đoàn Chuẩn – Từ Linh thì “tự thú” một cách đáng yêu đầy chất nghệ sĩ tính trong
tình khúc “Thu quyến rũ” với những lời ca chứa chan cảm xúc và giai điệu đẹp đến
lạ thường về mùa thu: “Anh mong chờ mùa thu, dìu thế nhân dần về chốn thiên
thai. Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay, mùa thu quyến rũ anh rồi”. Có lẽ,
Đỗ Trung Lai khi viết về mùa thu cũng không đi ra ngoài từ trường mỹ cảm nầy.
Vì vậy, cảm thức bao trùm trong thơ viết về mùa thu của Đỗ Trung Lai vẫn là những
hoài niệm, những nuối tiếc về thu xưa với những giá trị văn hóa truyền thống lịch
sử của dân tộc quyện hòa trong tình yêu làng quê, gia đình cùng những giá trị
nhân văn làm nên phẩm tính văn hóa Việt mà thi nhân lo sợ sẽ mất dần trong xã hội
hiện đại như chia sẻ của thi sĩ trong “Khúc ngâm mùa thu”: “Tìm đâu đủ khói lam
mờ/ Thả vào đồng đất bãi bờ, rừng cây?/ Tìm đâu vài hạt mây bay/ Để trời bớt nỗi
ngày ngày thiên thanh?/ Tìm đâu ra lá sen xanh/ Để còn bọc cốm cho mình gửi ta/
Tìm đâu móc với sương sa/ Để vai mình lạnh, để da mình mềm?/ Tìm đâu lá lạc bên
thềm/ Để than van những nỗi niềm biệt ly?”. Điều mà Đỗ Trung Lai khao khát đi
tìm là những tín hiệu mỹ cảm làm nên cảm thức về mùa thu trong thơ của thi nhân
nhưng đó cũng chính là những hệ giá trị văn hóa truyền thống làm nên vẻ đẹp của
tâm hồn Việt, văn hóa Việt. Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai, vì thế
không chỉ là những khát khao tìm về những mỹ cảm của mùa thu xưa để nuôi dưỡng
nguồn cảm hứng của một nghệ sĩ mà đó còn là khát khao tìm về những giá trị văn
hóa truyền thống của dân tộc để nuôi sống tâm hồn của một công dân nước Việt để
không bị tha hóa, vong thân ngay trên đất nước mình. Bởi, nói như Guillaume
Apollinaire: “Nhà thơ là kẻ tìm ra được những hứng thú mới, dẫu hứng thú đó khó
chịu đựng. Có thể thành nhà thơ ở mọi lĩnh vực: miễn là thích phiêu lưu và đi
khám phá”.(6)
Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai là những mỹ cảm
mang tính khai phóng, nhân bản, dân tộc, nên có ý nghĩa dự báo khá sâu sắc. Bởi,
trong tâm cảm thi nhân luôn hiện hữu một tâm hồn Việt Nam mà ở đó: “Có một
Thăng Long thương nhớ/ Người đi mở cõi mơ về/ Có một Thăng Long thon thả/ Khép
hờ vạt áo ngoài kia”. Cảm thức về mùa thu trong thơ Đỗ Trung Lai là những cảm
thức mang niềm trắc ẩn khôn nguôi về đất nước quê hương mà anh đã tự nguyện dấn
thân trong tư cách một người Lính – một Công dân – Thi sĩ. Bởi, “Mọi sự đều qua
– chỉ có nghệ thuật mạnh mẻ mới có sức muôn năm trường cửu” (Théophile
Gautier).(7)
Chú thích:
(1) (2) (4 ) (6) (7) Đoàn Thêm, Quan
niệm và sáng tác thơ, Viện Đại học Huế,1962, tr.41; tr.189; tr.78; tr.44; tr.95
(3) Huỳnh Phan Anh, Văn chương và kinh nghiệm hư vô,
Nxb. Hoàng Phương Đông, Sài Gòn, 1968, tr.104
(5) Chế Lan Viên, Điêu Tàn, Hoa Tiên xuất bản, Sài
Gòn, 1967, tr.55
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, Sài Gòn, 10/8/2021
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
Thụy Khuê, nhà phê bình văn học mành mành
Thụy Khuê, nhà phê bình văn học mành mành Thật khó để khen một điểm gì đó trong cuốn sách của Thụy Khuê: chỗ đúng thì không mới, mà chỗ mớ...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...
.gif)

