VĂN THƠ NHẠC
Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026
Vọng âm - Một tiểu thuyết dày công tư duy và lao động quá khứ
Vọng âm - Một tiểu thuyết dày
Nhà văn Nguyễn Thu Hà vừa
có buổi ra mắt tiểu thuyết “Vọng âm” (NXB Công an nhân dân) tại TPHCM. Và nhà
văn An Bình Minh đã có tham luận về cuốn tiểu thuyết này, xin trân trọng giới
thiệu cùng bạn đọc.
Nguyễn Tuân - Nhà văn của hình dung từ
Nguyễn Tuân - Nhà văn của hình dung từ
Mỗi nhà văn, kể cả những
nhà văn lớn, thường chỉ có vài cái tài nổi bật nào đó. Chẳng hạn, tôi nghĩ,
Nguyễn Tuân giỏi làm dáng, nhưng không có tài hài hước, dẫu giờ đây, nhiều
trang văn làm dáng của ông đọc lên khiến ta bật cười. Ông không có tài diễn
trò, hoặc thông tin sự kiện. Toàn bộ tài năng của ông bộc lộ ở khả năng tạo ra
bức tranh về các trạng thái thế giới…
1. Thế nào là nhà văn lớn? Xin thưa, tôi có chuẩn mực
riêng để định giá. Đã gọi là nhà văn lớn, thì văn chương của bà ấy hay ông ấy
đương nhiên phải để lại trong kí ức tiếp nhận của tôi một đặc điểm nổi trội nào
đó nói lên tài năng và phong cách của họ. Tôi xếp Nguyễn Công Hoan vào hàng đại
bút, vì sáng tác của ông để lại trong trí nhớ tôi đầy ắp các mô
típ truyện kể trào phúng. Mỗi mô típ là một hành động. Nó là cái tiềm
tàng ở động từ. Tỉ như: “Ngựa gẫy chân, Đức Kitô làm phép
chữa lành chân ngựa”. “Gẫy” là mô típ. “Làm phép” là mô típ. “Chữa lành” là
mô típ. Cả câu là sơ đồ một truyện kể. Truyện kể là tổng thể các mô típ được
trình bày theo một trật tự nào đó. Hình dung như thế, tôi gọi Thạch Lam
là nhà văn của nội động từ và Nguyễn Công Hoan là nhà
văn của ngoại động từ.
Nguyễn Tuân cũng viết
truyện. Vang bóng một thời (Tân Dân, 1940) là tập truyện nổi
tiếng của ông. Ngoài Vang bóng một thời, ông còn hàng loạt tập truyện
khác, ví như Thiếu quê hương (Anh Hoa, 1943), Nguyễn (Thời
Đại, 1945), Chiếc lư đồng mắt cua (Hàn Thuyên, 1941), tiểu
thuyết Tóc chị Hoài (Lượm lúa vàng, 1943) và một loạt truyện
ngắn mà ông gọi là Yêu ngôn… Thế mà người ta vẫn gọi Nguyễn Tuân là
“vua tuỳ bút”. Về phần mình, đọc truyện của ông, tai tôi không tìm thấy khoái cảm
được tự nghe, mắt tôi không ánh lên niềm vui được tự xem, tự nhìn, tự quan
sát, tự thấy một hành động đang diễn ra để xúc động thẩm
mĩ tự nẩy nở trong lòng. Mỗi lần ngồi trước trang văn của ông,
mọi giác quan của tôi tựa như bị cưỡng bức, bị áp đặt,
buộc phải tiếp nhận một bức tranh, hay một pho tượng do ông sáng tạo ra, đẹp đấy,
nhưng xa lạ với thế giới thường nhật của tôi. Tôi tìm cách lí giải vì sao có cảm
giác ấy. Thì ra, mọi sự độc đáo của văn Nguyễn Tuân có gốc gác ở hình
tượng nghệ thuật, chứ không phải ở các mô típ truyện kể, hay yếu tố
trò diễn. Hình tượng là sự vật, hoặc nhân vật được hình dung một cách cụ thể –
cảm tính. Nó là cái tiềm tàng ở danh từ. Để danh từ thành hình tượng,
cần phải mô tả. Đúng là Nguyễn Tuân giỏi mô tả hơn kể chuyện. Mà ông kể
chuyện chẳng qua cũng là để mô tả. Chất liệu chủ yếu cần được sử dụng để mô
tả hình tượng chỉ có thể là hình dung từ. Nhà văn càng sáng tạo nhiều
hình dung từ để mô tả con người và sự vật, hình tượng nghệ thuật càng in đậm dấu
ấn phong cách cá nhân, và vì thế, nó càng trở thành sức mạnh cưỡng bức, áp đặt
đối với sự tiếp nhận thẩm mĩ của độc giả.
Lấy ngay một thí dụ từ
bài kí Cánh B.52 rụng xuống một thôn hoa Hà Nội. Ở đây, “cánh” là
danh từ, “B.52” là hình dung từ. Ở một chỗ khác trong bài kí, Nguyễn Tuân gọi
chiếc máy bay này là “cỗ”: “cỗ B.52”, “B.52” là danh từ. Đọc vào bài kí, ta thấy
những danh từ ấy lớn dần lên thành hình tượng. Có hai loại hình dung từ được
nhà văn huy động để kiến tạo hình tượng. Trước hết là những hình dung từ người
ta vẫn quen sử dụng để chỉ sức mạnh của không lực Hoa Kì: “đại bàng” và “pháo
đài bay”. “Hăm ba con đại bàng Mĩ B. 52
là thành tựu chiến thắng chung của thủ đô trong chiến dịch mười hai ngày đêm liền
Hà Nội chỉ ngủ có một mắt”[1]. “Pháo đài bay chiến
lược Mĩ bị Hà nội bắn rơi tại chỗ…” (Cánh B.52 rụng xuống một thôn hoa
Hà Nội.- II, 359.- Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh.- LN). Đối lập với hai hình
dung từ đã trở thành khuôn sáo này là hàng loạt hình dung từ của riêng Nguyễn
Tuân, do Nguyễn Tuân sáng tạo ra, hết sức độc đáo. Ông gọi “hăm ba cỗ
B. 52” vừa bị bắn hạ là “xác đại bàng Mĩ gẫy cánh”,
là “cái tủ đứng Mĩ”, là “hòn non bộ Hoa Kì đuy – ra”,
là “tảng cánh Mĩ”, là “đầu lâu đuy- ra khổng lồ”, “đầu B.
52 cháy đen trên cái sọ dừa vĩ đại”, là “cục đuy – ra Mĩ vãi rụng”, “cục
Mĩ giết người” và, cuối cùng là: “cục Mĩ to tướng chềnh ềnh
trên mặt hồ đó” (Cánh B.52 rụng xuống một thôn hoa Hà Nội.- I,
258, 259, 260, 261)… Nhờ vào loạt hình dung từ độc đáo này, Nguyễn Tuân làm hiển
hiện trước mắt người đọc hình tượng cụ thể – cảm tính, nói lên sự
thất bại thảm hại của sức mạnh không lực Hoa Kì
Tôi gọi Nguyễn Tuân là nhà
văn của hình dung từ với ý nghĩa như vậy. Xin nói rõ, trong tiểu luận
này, tôi sẽ khảo sát hình dung từ như một thành phần cú pháp truyện kể.
Trong cú pháp truyện kể, nó là vị ngữ, giữ chức năng tương đương một vị
từ. Nó có nhiệm vụ gọi tên sự vật, mô tả đặc điểm, trạng thái của chủ thể,
chứ không thông tin sự kiện. Vì thế, đây bộ phận cơ bản làm nên nội dung của hình
tượng văn bản, hình tượng tác phẩm. Từ góc độ tiếp cận như thế,
tôi rút ra nhận xét như sau. Đời văn của Nguyễn Tuân trải qua nhiều giai đoạn,
ngòi bút của ông từng thử thách nhiều lối viết, từ “bút lạnh” trong Bữa
rượu máu (Chém treo ngành), qua lối siêu thực, kinh dị trong mạch Yêu
ngôn và sau này, tới “văn nóng” hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ông sáng tạo
ra cả một kho hình dung từ phong phú đa dạng. Có điều, lối viết dù thay đổi thế
nào, kho hình dung từ dẫu phong phú đa dạng đến đâu, thì hình tượng tác
phẩm của Nguyễn Tuân vẫn không vượt ra ngoài trường nghĩa của bốn phạm
trù quen thuộc với mĩ học truyền thống phương Đông: kì – quái – chí –
tuyệt. Nguyễn Tuân để lại hàng nghìn trang sách. Nhưng hàng nghìn trang
sách ấy chỉ là chỉnh thể của 4 văn bản truyện kể. Trước Chùa đàn (1946),
có truyện kì nhân và kì thú. Sau Chùa đàn có
truyện kì quanvà quái nhân. Ở cấp độ thấp hơn, bản
thân kì và các phạm trù chí, tuyệt,
cùng một số khái niệm đồng nghĩa với nó, như “đại”, “cực”,là thành
phần vị ngữ của các truyện trong truyện.
2.1. Kì
nhân. Từ Chùa đàn (1946) đổ về trước, hình tượng trung tâm
trong sáng tác của Nguyễn Tuân là nhân vật. Trong mỗi tác phẩm của
ông, nhân vật chính thường là một kì nhân, cuộc đời nhân vật nào
cũng giống như được bao bọc bởi một pho “huyền sử”. Huấn Cao là kì nhân.
Bát Lê là kì nhân. Bá Nhỡ, Cậu Lãnh, cô Tơ trong đều là những kì
nhân. Thành ra truyện kể về nghệ nhân trong sáng tác của
Nguyễn Tuân cũng chính là truyện kể về kì nhân.
Nhưng kì nhân là
ai? Họ là nghệ nhân, nghệ sĩ. Trong thế giới nhân vật của
Nguyễn Tuân có rất nhiều nghệ sĩ, nghệ nhân. Huấn Cao
trong Chữ người tử tù là nghệ nhân trong nghệ
thuật viết chữ. Ông Thông Phu, cô Tâm trong Chiếc lư đồng mắt cua,
Bá Nhỡ, Lãnh Út, cô Tơ trong “Tâm sự của nước độc” và nhiều
nhân vật trong các tác phẩm khác là nghệ sĩ đàn ca. Trong cách hiểu theo một
nghĩa rộng của Nguyễn Tuân, Bát Lê trong Bữa rượu máu, Bá Huần, Cai
Xanh, Phó Kình, Lý Văn trong Một đám bất đắc chí, hay Bố Ô
trong Bố Ô , ông Sáu trong Những chiếc ấm đất đều
là nghệ nhân, nghệ sĩ. Nhưng “Nguyễn”, hay “Bạch”và nhân vật người kể
chuyện vẫn xưng “tôi” như một văn sĩ mới thực sự là nghệ sĩ lớn nhất
trong sáng tác của Nguyễn Tuân. Những cô Tơ, Bá Nhỡ, Thông Phu, Huấn cao và bao
nhiêu nhân vật khác chẳng qua chỉ là sự phân thân của “Bạch”, của “Nguyễn”, của
“Tôi” mà thôi. Giới nghiên cứu đã bàn nhiều về chuyện này, tôi có gì để nói
thêm.
Nghệ sĩ là ai? Có ba phạm
trù hình dung từ được sử như các vị ngữ để triển khai truyện kể về các nghệ
sĩ như những kì nhân: kì tài, tuyệt kĩ và kì
vật.
Kì tài là
đặc điểm nhận biết đầu tiên của các kì nhân trong sáng tác của
Nguyễn Tuân. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng, trong văn học trung đại,
“khái niệm người tài, tài tử (…) chỉ là một ước lệ hình thức, mang nội dung hạn
hẹp, không có nhiều ý nghĩa”[2]. Nguyễn Tuân trao cho phạm trù “người tài”, “kì
tài” một nội dung cụ thể, từ góc độ quan niệm nghệ thuật rất riêng của ông. Có
hai điểm đặc biệt đáng lưu ý.
Thứ nhất, “tài” gắn với
“nghệ”, ở đâu có “nghệ” và sự sinh hoạt của con người, ở đó có người tài và nghệ
thuật. Huấn Cao trong Chữ người tử tù có tài viết chữ. Bá Nhỡ,
cô Tơ trong “Tâm sự của nước độc” có tài đàn hát. Đọc Vang
bóng một thời của Nguyễn Tuân, ta bắt gặp tài thả thơ, tài uống
trà, tài uống rượu…Một tên đao phủ như Bát Lê cũng có tài lạ: tài “chém
treo ngành”. Ngay cả cánh thảo khấu đạo tặc trong Một đám bất đắc chí cũng
có những bậc kì tài, như từ Bá Huần, Cai Xanh, Phó Kình, Lý Văn…
Thứ hai, vì “tài” gắn liền
với “nghệ”, nên tuyệt kĩ là biểu hiện cụ thể của kì
tài. Với Nguyễn Tuân, tuyệt kĩ chính là tuyệt mĩ.
Vừa nghe tới tên Huấn Cao, viên quản ngục đã ngờ ngợ, không biết đó có phải
là “người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất
nhanh và rất đẹp” (Chữ người tử tù. I, 85. Chữ in đậm do
tôi nhấn mạnh.- LN). “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm”
(Chữ người tử tù. T.1, tr.90. Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh.- LN). Đối tượng
thán phục của viên quản ngục – “viết chữ rất nhanh”, “chữ (…) vuông lắm” – đều
là những dấu hiệu của tuyệt kĩ. Cách nhìn người tài và cái tài từ
góc độ tuyệt kĩ như thế được thể hiện rõ nhất trong Bữa
rượu máu. Xin hãy đọc đoạn văn mô tả cảnh luyện đao của Bát Lê trong vườn
chuối Hoàng thành: “Bát Lê trịnh trọng tiến vào cái khu vườn chuối đã dọn
từ hôm trước để nhận lấy lưỡi gươm thí nghiệm cuối cùng của một cuộc tập chém.
Y đứng vào giữa hai dãy chuối, tay phải cầm ngang thanh quất. Y lùi lại ba
bước, lấy hơi thở cho đều, vừa hát to câu:
– Tiếng loa vừa
dậy, vừa
tiến mạnh lên, thuận tay chém vào cây chuối đầu tiên dãy bên phải. Ðà gươm mạnh
từ cao soải xuống theo một chiều chếch, tưởng gặp đến gỗ cứng cũng lướt qua. Thế
mà thanh quất chỉ ngập vào chiều sâu thân cây độ chín phần mười. Lưỡi thanh quất
bị ngừng ở cái cữ ấy, rồi lại được lấy ra khỏi thân cây chảy mủ. Vừa giật lưỡi
thanh quất khỏi thân cây đang từ từ gục xuống, vừa hát một câu nữa:
– Hồi chiêng đã mau.
Bát Lê lại tiến thêm ba
bước đến ngang tầm cây chuối hàng đầu dãy bên trái. Bái Lê thuận đà thanh quất,
lại chém xuống đấy một nhát thứ hai. Một thân cây thứ hai gục xuống nữa như một
thân hình người quỳ chịu tội. Thế rồi vừa hát, vừa chém bên trái, vừa chém bên
phải. Bát Lê đã hát hết mười bốn câu, và đánh gục mười bốn cây chuối. Bát Lê
quay mình lại, ngắm các công trình phá hoại của mình. Thì ở mười bốn cây chuối
chịu tội kia, thân trên bị chém vẫn còn dính vào phần gốc bởi một lần bẹ giập
nát.
Bát Lê mỉm cười, gỡ cái
khăn trùm trên đầu, lau lưỡi gươm vào đấy, vuông vải lại dẫm thêm chất nhựa
xám” ( Bữa
rượu máu. I, 37 – 38).
Đã già, lại suốt một năm
không hành nghề, thế mà khi hành quyết, tay đao của Bát Lê vẫn thuần thục, điêu
luyện:
“Bát Lê bắt đầu hoa không
thanh quất mấy vòng. Rồi y hát những câu tẩy oan với hồn con tội. Trong nhà rạp
các quan chỉ nghe thấy cái âm lơ lớ rờn rợn. Quan Công sứ chăm chú nhìn Bát Lê
múa lượn giữa hai hàng tử tù và múa hát đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị
quỳ kia chẻ gục đến đấy. Những tia máu phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời
chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống.
Bát Lê làm xong công việc,
không nghỉ ngơi chạy tuốt vào đứng trước nhà rạp. Bấy giờ quan Công sứ mới nhìn
kỹ. Y mặc áo dài trắng, một dải giây lưng điều thắt chẽn ngang bụng. Thấy trên
quần áo trắng của y không có một giọt máu phun tới…” (Bữa
rượu máu. I, 40).
Chém như thế gọi là “chém
treo ngành”. Một nhát đao chém “ngọt” một đầu người, đầu người bị chém gập xuống,
vẫn dính vào cổ bằng lần da gáy.
Tài uống trà của lão ăn
mày trong Những chiếc ấm đất cũng đạt tới độ tuyệt kĩ, tuyệt
mĩ như thế. Không phải ngẫu nhiên mà lão được giới thiệu như một
“người ăn mày cổ quái”. Lão có riêng một bộ ấm chén uống trà vẫn cất trong bị
ăn mày. Vào nhà phú hộ ăn mày, lão không xin cơm, xin gạo, chỉ xin “được uống
nguyên một ấm trà mới”. Vừa đưa chén trà lên miệng, lão đã kịp phát hiện trà của
phú hộ có lẫn mùi trấu, nên uống vào không thấy “khoái hoạt”.
Trong Một đám bất
đắc chí, từ Bá Huần, Cai Xanh, Phó Kình, cho đến Lý Văn, đều có tài sử dụng
một loại khí cụ đạt tới sự tuyệt kĩ. Một cây mai trong tay Phó Kình có thể “chấp
cả một ấp người”. Phó Kình khiến cây “bút chì”, tức cây mai, đã tài, nhưng Lý
Văn còn cao thủ hơn. Hãy xem cảnh thị phạm của y trước đám đàn em: “Sẵn
có đàn gà đang đi trong luống khoai lang, Lý Văn mượn Phó Kình đưa cho mình cây
“bút chì”, buộc thòng lọng múi dây vào cổ tay trái và bảo: “Chú nào ném hộ anh
hòn đất đi!”. Tiếng hòn đất đụng đất kêu đánh bộp. Mấy con gà bay tà tà khỏi mặt
vườn, đập cánh bồm bộp. Tiếng lưỡi mai ở tay Lý Văn phóng ra kêu đánh vụt. Một
tiếng gà kêu oác. Cả bọn chạy ra luống khoai, giơ cao con gà gãy mất hai chân.
Vết thương gọn gàng vừa đúng quãng đầu gối và cặp giò chưa lìa hẳn, vẫn còn
dính vào đùi bởi lần da hoen máu. Lý Văn gác mai, nói với tất cả bọn: – Nếu
mình ném mạnh tay quá và không biết tính sức đi của “bút chì” thì nát mất gà” (Một
đám bất đắc chí.- I, 99 – 100).
Tôi cho rằng, với việc mô
tả người tài và cái tài như thế, Nguyễn Tuân
đã mở rộng khái niệm “nghệ thuật” tới giới hạn chưa từng thấy ở đâu trong lịch
sử văn hoá Việt Nam.
Truyện kì nhân của
Nguyễn Tuân thường mở ra nhánh truyện về kì vật. Số
phận của mỗi kì vật bao giờ cũng gắn chặt với thân phận
nghệ sĩ của các kì nhân. Không hiếm trường hợp, nhà văn lấy
ngay tên các kì vật đặt nhan đề cho tác phẩm. Chiếc lư
đồng mắt cua, hay Những chiếc ấm đất là trường hợp như vậy.
Chiếc “lư đồng” trong Chiếc lư đồng mắt cua là kì vật.
Trong Những chiếc ấm đất, “ấm đất” cũng là kì vật. Xin
hãy nghe ông Sáu nói về sự khác thường, kì lạ của những chiếc ấm: “…Đúng
ấm Tàu đây mà. Nếu không tin ông cứ úp xuống mặt miếng gỗ kia. Cho ấm ngửa trôn
lên. Cứ xem miệng vòi với quai và gờ miệng ấm đều cán sát mặt bằng miếng gỗ thì
biết. Nếu muốn thử kĩ nữa, quí khách thả nó vào chậu nước, thấy nó nổi đều, cân
nhau, không triềng, thế là đích ấm Tàu” (Những chiếc ấm đất.-
I, 49). Kì nhất có lẽ là cây đàn của Ông Chánh Thú trong “Tâm
sự của nước độc” (Chùa đàn). Cứ theo lời Cô Tơ, vợ goá của Ông
Chánh Thú, kể lại, thì: “Cây đàn đó hình như có phù trú, yểm bùa biếc
gì ấy. Tang đàn làm bằng nắp ván thôi cỗ quan tài một người con gái đồng trinh.
Hồi còn mồ ma nhà tôi, cái đàn ấy cũng đã sinh ra nhiều chứng lắm rồi. Về sau,
cứ vào những đêm tối giời không tiếng gà gáy chó kêu và thứ nhất là vào những
đêm áp ngày giỗ nhà tôi, thường cây đàn vẫn dở giời, thành đổ mồ hôi cứ vã ra
như tắm và thùng đàn phát lên những tiếng thở dài và vật mình vật mẩy với bức
vách, cứ lủng củng suốt đêm”(“Tâm sự của nước độc”.- I, 358 – 359).
Khi Bá Nhỡ “khom mình, cách xa đàn chừng một với tay” để ngắm nghía, “bỗng
đàn cũ nổ ra một tiếng tách gọn như cái tiếng nứt dọc bóng đèn a phiến. Bá Nhỡ
giật mình, ngấc lên, lùi lại một chút. Thì ra một sợi dây đàn đứt phựt, nó đang
xoắn quấn và rung rung gởi lại vào phòng vắng ít dư ba của thanh âm dùng dắng rỉ
rền” (Ntr. I, 359). Có người khách ham hát, mê đàn, vì cả gan đàn bằng
cây đàn của Chánh Thú, mà hoá thành kẻ “bán thân bất toại”.
Cần lưu ý: tuy đều
là kì vật, nhưng giữa cây đàn của Chánh Thú với những
chiếc ấm đất của cụ Sáu, hay chiếc lư đồng của
ông Thông Phu chẳng có một chuẩn mực chung nào về cái “kì”. Trong sáng tác của
Nguyễn Tuân, đó là phạm trù chủ thể. Chỉ có “kì vật” của “tôi”, dành cho
“tôi”, trong ý thức của “tôi”. Trong Chiếc lư đồng mắt cua có
một đoạn triết lí rất hay: “… Chiếc lư của tôi suốt hai đời chủ, chỉ được
đặt những nơi không đáng gọi là tôn thờ chút nào. Nó đã tuôn nhả những vòng
khói thơm giữa những nơi hôi hám ẩm sũng. Nó đã phải đốt nóng trong hoàn cảnh
xóm hát ả đào. Cái rất thanh cao ấy đã phải ở giữa một cái rất tục bạo. Nghĩa
là cuộc đời tinh thần của chiếc lư ấy đã lạc cả sứ mệnh, ý nghĩa rồi, chẳng
đáng chàng làng nữa rồi. Các người còn muốn rước về nhà nữa hay thôi? Nhưng
đối với tôi thì cái công trình kim khí nhỏ mọn ấy lại là cả một cuốn tiểu thuyết
trong người mang theo đời mình. Ơ, chuyện: cái gì có mật thiết riêng đối với một
người này thì không thể nào cũng thíc hợp như thế cho một người khác được, vốn
như thế mà lại” (Chiếc lư đồng mắt cua.- I, 174 – Chữ in
đậm do tôi nhấn mạnh – LN). Thành ra, kì vật là phạm trù đa
nghĩa. Bộ chén ngọc trong Ngôi mả cũlà kì vật hiểu
theo nghĩa “bảo vật gia truyền”. Trong Một đám bất đắc chí,
xung quanh “con dao thép sáng ngời” và “hộp đựng thuốc lào” của Cai Xanh có cả
một pho “huyền sử đã bao trùm”. Chúng là kì vật, hiểu theo
nghĩa tín vật. Trong “Tâm sự của nước độc”, Chánh
Thú để lại cây đàn đáy cho vợ với lời nguyền, cô chỉ lại được hát, khi một ai
đó dám cầm cây đàn cũ của chồng mà đàn lúc cô gõ phách. Nó là kì vật hiểu
theo nghĩa là linh vật, là đàn ma. Trong Chiếc
lư đồng mắt cua, ông Thông Phu trao lại cho “tôi” “chiếc lư đồng”, nó
là kì vật theo nghĩa kỉ vật của. Cho
nên phận người là phận phận vật, số phận của kì
vật gắn chặt với số phận của kì nhân. Trong Những
chiếc ấm đất, ông Sáu xem những chiếc ấm trà như báu vật, nhưng cuối đời,
thất thế, gia cảnh sa sút, ông mang chúng ra bầy bán giữa chợ. Trong Chiếc
lư đồng mắt cua có cảnh cô Tâm vừa hát vừa nhìn làn khói nhang toả ra
từ chiếc lư đồng: “Tâm nhìn thẳng vào cái cây khói mọc từ lòng lư trầm lên
cao độ một thước ta rồi mới kết soắn lại như tán cây bàng, như một vòm cây nhãn
bằng khói, Tâm nhìn làn khói mà hát, mắt long lanh tiếng hát có tinh thần và
nhiều chữ mở, nhiều hơi mớm rất thần tình” (Chiếc lư đồng mắt cua.-
I, 235 – 236).
Là phạm trù chủ thể, “của
tôi”, “riêng tôi”, kì vật hoá ra chẳng phải là cái gì có giá
trị bền vững. Số phận của “chiếc ấm”, “cây đàn”, “chiếc lư”… nói lên phận
bạc của bao kiếp nghệ nhân, nghệ sĩ, như
cụ Sáu, Chánh Thú, cô Tơ, Bá Nhỡ, cô Tâm, ông Thông Phu và cả “tôi” nữa…
2.2. Kì
thú. Sau kì nhân, thì kì thú là truyện
kể trung tâm trong sáng tác của Nguyễn Tuân, tính từ Chùa đàn đổ
về trước. Nó là truyện kể về nghệ thuật. Gọi đó là truyện trung
tâm, vì nó vừa là sự tiếp tục mạch truyện kì nhân, nghệ sĩ,
vừa mở nhiều nhánh truyện mới về kì duyên, kì ngộ, chí thành, chí tình như
những bình diện khác nhau làm nên bản chất của nghệ thuật.
Nghệ thuật là gì? Đọc
sáng tác của Nguyễn Tuân, tôi thấy có thể gói gọn khái niệm nghệ thuật vào một
chữ “thú”. Nghệ thuật là sự kì thú.
Trước hết, “thú” là sợi
dây nối kết các tâm hồn nghệ sĩ. Nhiều khi “thú” tạo nên những cuộc “kì
ngộ” thoáng chốc giữa những kẻ đa tình ngay trong một
đám đông vô danh. Tôi muốn nhắc tới truyện Một ngày một đêm cuối năm (Một
chuyến đi). Truyện kể lại cuộc dạo chơi bất đắc dĩ và buổi tối ngắm
chợ hoa của nhà văn trong ngày áp tết ở Hương Cảng. Bao trùm toàn bộ
tác phẩm là tâm trạng chán nản, u ám của vị khách tha hương“Rũ áo phong
sương trên gác trọ. Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang”. Có cảm giác như đó
là văn bản không có truyện kể. Sự kiện truyện kể chỉ thực sự xuất hiện khi nhà
văn yêu hoa, đi ngắm chợ hoa , bất chợt đụng phải người thiếu phụ Trung
Hoa “mặt đỏ bừng, tay nâng cao củ thuỷ tiên”. Chợ đông như kiến cỏ.
Hai bên đường là hai dòng thác người, một dòng ngược, một dòng xuôi. Đang bị
chen lấn, xô đẩy giữa dòng thác người ấy, “chỉ kịp nhìn nàng hé một nụ
cười”, nhà văn, người ngắm hoa, liền tự nguyện làm nhiệm vụ của kẻ mở đường.
Một cảnh tượng diễn ra thật thú vị: “Nàng đẩy tôi, tôi lại đẩy những
người phía trước. Và cứ thế chúng tôi trôi trên con đường, trôi trong lòng con
sông đào. Hai bờ hoa đào! Thỉnh thoảng, liếc ngang sang dòng người đi ngược
bên phía tay phải, tôi đón nhận được bao nhiêu nụ cười của những giai nhân
không quen biết. Những đoá hoa hàm tiếu kia chỉ hiện ra trong khoảnh khắc,
nhanh như một tia sáng. Những hình ảnh ấm áp tươi tỉnh ấy hiện ra cho tôi đủ
thì giờ để thêm tiếc, rồi lại mờ ngay, rồi lại lẩn ngay vào cái vô danh của đêm
hội” (Một ngày một đêm cuối năm.- I, 21). Bị xô đẩy giữa
thác người vô danh trong đêm hội, để rồi khắc tạc mãi trong dạ “nụ cười của những
giai nhân không quen biết”! Chẳng lẽ, đó không phải là duyên kì ngộ? Tác
phẩm được khép lại bằng đoạn triết lí trữ tình thế này: “…Trong cuộc sống,
người ta người ta thường đi qua cuộc đời nhau và trong cái nhanh chóng của tình
cờ gặp gỡ, người ta đã có sẵn nhiều thiện cảm đối với nhau. Để rồi sau này,
không có lúc nào gặp nhau lần nữa. Để rồi chỉ nhớ tiế nhau trong hình ảnh lờ mờ,
để rồi chỉ chờ đợi nhau trong một buổi tái ngộ không bao giờ đến. Giống đa tình
hay vướng phải thứ tình cảm không có hậu” (Một ngày một đêm cuối
năm.- I, 21).
Trong thiên tự truyện Chiếc
lư đồng mắt cua, Nguyễn Tuân kể: “Mười năm trước, tôi là một người
đi tù về […]. Ở tù ra, vẫn lại chẳng biết nên làm gì cho phải cả, tôi đâm đầu
đi làm thư kí cho một hãng điện khí […]. Ấy thế rồi cái duyên nơi
hàng viện đã cho tôi gặp một người. Một người đàn ông. Đã có tuổi và hiện bấy
giờ đứng làm chủ một nhà hát. Ấy là ông Thông Phu” (Chiếc lư đồng mắt
cua.- I,175. Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh.- LN). Ở đây, nguồn cội của
“duyên” là “thú”. Cái “thú” xoá bỏ cả khoảng cách xã hội, lẫn khoảng cách thế hệ,
tuổi tác, đưa một chàng trai, một kẻ vừa mãn hạn tù, một công chức con nhà “gia
thế” đến với một người luống tuổi, ông chủ nhà hát, và một đám “xướng ca vô
loài”. “Duyên hàng hiệu” mà Nguyễn Tuân nói ở đây thực sự là truyện kể về kì
thú, kì duyên.
Chữ người tử tù chính
là truyện kể về một mối kì duyên, kì thú. Nội dung truyện
kể lộ ra ở “cảnh cho chữ”. Cảnh ấy hiện lên như một bức tranh giàu chất tạo
hình:“Trong một không khí khói toả như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một
bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch
còn nguyên vẹn lần hồ” (Chữ người tử tù.- I, 91). Nhà văn sử dụng
triệt để nguyên tắc tương phản của bút pháp lãng mạn để tô đậm tính chất kì lạ,
khác thường, hi hữu của nó. Trước hết là sự đối lập giữa hình ảnh ngục
quan và hình ảnh tử tù. Ngục quan là kẻ “xin”. Tử tù là người “cho”, người
“ban”. Cổ đeo gông, chân vướng xiềng, tử tù vẫn hiện lên như một kì
nhân, ung dung, sang trọng, khí phách ngang tàng, trái ngược với sự “khúm
núm”, “sợ hãi” của ngục quan. Thứ nữa là sự tương phản giữa “cảnh cho chữ” với
địa điểm diễn ra cảnh ấy. Một bên là hiện thân của cái tài, cái đẹp, của khí
phách và khát vọng tự do. Một bên là nhà tù, nơi giam cầm tự do của con người,
là “buồng tối chật hẹp, ầm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân
chuột, phân gián”. “Cho chữ” trong hoàn cảnh ấy, với những con người như thế,
quả là một sự kì duyên, kì ngộ, một “cảnh tượng xưa nay
chưa từng có” mà hạt nhân nối kết của nó là kì thú.
Trong “Tâm sự của
nước độc”, kì thú cũng là sợi dây nối kết của truyện kể về kì
duyên, kì ngộnhư vậy. Không phải ngẫu nhiên, tác phẩm được mở ra bằng câu đề
từ: “Ai hay hát mà ai hay nghe hát”. Không có sự gặp gỡ giữa người
“hay hát” và người “hay nghe hát” sẽ không có màn “tam tấu” đầy phấn khích và
bi tráng ở cuối thiên truyện.
Kì thú không
chỉ là sợi dây nối kết các tâm hồn nghệ sĩ, mà là hạt nhân làm nên bản
chất của nghệ thuật. Lần theo mạch truyện của Nguyễn Tuân, ta thấy
cái kì thú hiện lên như một hình tượng với ba đặc điểm sau
đây:
Thứ nhất: nó là cái chí
linh, tuyệt linh. Cho nên, Nguyễn Tuân bao giờ cũng mô tả cái
kì thú như một lễ nghi trang trọng, đầy bí ẩn. Nghệ
thuật thật ra là một nghi lễ tuyệt linh, chí linh. Hãy xem,
trong Chữ người tử tù, “cảnh cho chữ”, nơi thể hiện đầy đủ nhất
cái kì thú của việc chơi chữ, được Nguyễn Tuân mô tả như một
cuộc hành lễ có cả vái lạy theo đúng nghĩa đen của nó. Nghe Huấn
Cao khuyên phải bỏ nghề dơ bẩn rồi hãy nghĩ tới chuyện chơi chữ, “Ngục
quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ
vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”” (Chữ
người tử tù.- I, 92).
Ai đã một lần đọc “Tâm
sự của nước độc” đều nhận ra ngay, màn tam tấu đàn – hát –
pháchgiống hệt một giá “ốp đồng”, cả Bá Nhỡ, cô Tơ và cậu Lãnh đều bị “đồng
ốp” trong một bầu không khí mê man, bí ẩn, kinh dị, đầy phấn khích. Ngay cả
chuyện ăn uống, như ăn phở, uống rượu, uống trà, hay hút thuốc phiện, nếu là
cái kì thú, cũng được Nguyễn Tuân mô tả như một nghi lễ tuyệt
linh, chí linh như vậy. Hãy xem “tiệc trà” ăn xin của một
lão ăn mày với đầy đủ lễ nghi trang trọng:“Hắn ngỏ ý […] muốn
được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, dở cái bị ăn mày của hắn ra,
cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và là lạ, mọi người lại
đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi
[…]. Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên
trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn
là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống
đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào
nhau và thưa với chủ nhà… […]. Hắn lạy tạ, tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà
chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi
xách nón, vái lạy chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đường” (Những
chiếc ấm đất.- I, 45 – 46).
Vì kì thú là
cái chí linh, nên trước cái kì thú, người ta phải chí
thành và chí tình. Ngôi mả cũ là câu chuyện
về sự chí thành. Nhờ có sự chí thành mà cô Tú và cậu
Chiêu thỉnh được cụ Hồ về nhà đặt lại mộ huyệt cho cha, thoả được ý nguyện của
mình. “Tâm sự của nước độc” chủ yếu là câu chuyện về sự chí
tình. Ở đây, vừa có sự chí tình trong tình yêu chồng vợ giữa
cậu Lãnh và mợ Lãnh, cô Tơ và chánh Thú, vừa có sự chí tình trong
tình tri ngộ giữa Bá Nhỡ và cậu Lãnh, giữa chủ và tớ, giữa kẻ làm ơn và kẻ hàm
ơn. Bao trùm lên tất cả còn là sự chí tìnhtrong tình yêu vô bờ đối
với sự sống, với nghệ thuật. Màn tam tấu ở cuối tác phẩm là bản tráng ca về sự chí
tình ấy. Trong Chữ người tử tù vừa có sự chí
tình, vừa có sự chí thành. Chí tình là
tình yêu vô bờ bến của con người với cái đẹp và cái tài:“Biết đọc vỡ nghĩa
sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là
có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do ông Huấn Cao viết
[…] Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn cao trong tay, dưới quyền
mình mà không biết làm thể nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp mặt một người
cách xa y nhièu quá, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp
xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất” (Chữ người tử tù.-
I, 90). Chí thành là sự lễ phép, cung kính nhất
mực trước cái tài và cái đẹp. Ta hiểu vì sao, trước thái độ “khinh bạc đến điều”
của Huấn Cao, nghe Huấn Cao bảo không muốn gặp mặt viên quản ngục, ngục quan vẫn“lễ
phép lui ra với một câu: “Xin lĩnh ý””. Không chỉ rất mực “lễ phép”, nhìn cảnh
tử tù “cho chữ”, mà cả quản ngục, lẫn thơ lại, kẻ khúm núm, người sợ
hãi: “Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét
chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ,
viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm
đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run
run bưng chậu mực” (Nhtr. 91.- Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh.-
LN). Trong ngữ cảnh ở đây, các chữ “run run”, “khúm núm” không có nét nghĩa nào
khác, ngoài sự “cung kính”. Mà cung kính chẳng qua
là biểu hiện của sự chí thành.
Thứ hai: kì thú không
chỉ xoá bỏ khoảng cách xã hội và sự khác biệt thế hệ. Nó còn vượt lên trên sự đối
lập thiện – ác, vươn ra ngoài mọi ràng buộc của luân lí quan
phương. Trong Một đám bất đắc chí, Bá Huần, Cai Xanh, Phó Kình, Lý
Văn là những tay “anh chị”, “trộm cướp” khét tiếng. Bát Lê trong Bữa rượu
máu là một tên đao phủ. Bá Nhỡ trong Tâm sự của nước độclà
kẻ giết người tìm đến ấp Mê thảo lẩn tránh. Thế mà Nguyễn Tuân mô tả đầy hứng
khởi những “ngón nghề” tuyệt kĩ của họ để gợi dậy ở người đọc
khoái cảm kì thú về cái tuyệt mĩ.
Trong sáng tác của Nguyễn
Tuân, Chữ người tử tù có lẽ là nơi các đường ranh giới đối lập
thiện – ác được giăng ra nhiều nhất. Bản thân mối quan hệ giữa Huấn Cao với ngục
quan đã có tới hai lần đối lập. Nhìn từ phía này, ngục quan là mệnh quan triều
đình, đại diện cho trật tự, luân lí và đạo đức, Huấn Cao là tử tù, giặc của triều
đình, kẻ bất trung, vô đạo. Nhìn từ phía khác, từ lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn,
Huấn Cao là bậc kì tài, cũng là trang anh hùng đội trời đạp đất, khí phách
ngang tàng, cuộc đời như được bao bọc trong một thiên huyền sử. Nói cách khác,
ông là hiện thân của cái tận mĩ, chí thiện. Trong
khi đó, quản ngục và thơ lại chỉ là lũ phàm phu, bọn tiểu tốt vô danh, đại diện
cho trật tự thối tha mà Huấn Cao chống lại. Chúng là hiện thân của cái
xấu, cái ác. Đối lập gay gắt nhất vẫn là đối lập giữa giữa một
bên là cái “thiên lương” không hề suy suyển ở những kẻ như thày Bát, viên thơ lại
và quản ngục, với một bên là “hoàn cảnh đề lao”, nơi “người ta sống bằng tàn nhẫn,
bằng lừa lọc”. Không phải ngẫu nhiên, Nguyễn tuân gọi tấm lòng của viên quan
coi ngục là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc
luật đều hỗn loạn xô bồ” (Chữ người tử tù.- I, 87). “Cảnh cho
chữ” trong Chữ người tử tù là cảnh tượng chiến thắng huy hoàng
của khoái cảm kì thú trước cái đẹp và cái
tài như là sự biểu hiện chính yếu của nó.
Trong sáng tác của Nguyễn
Tuân có hai đề tài quan trọng: thú ăn chơi tao nhã và thú
xê dịch giang hồ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, viết về những đề tài ấy,
Nguyễn Tuân muốn đối lập chúng với đời sống tẻ nhạt của thời đại máy móc, hoặc
sự xô bồ, hỗn độn đầy chất văn xuôi của xã hội đô thị đương thời. Tôi nghĩ, ý
nghĩa tư tưởng của những tác phẩm viết về thú xê dịch và thú ăn chơi của Nguyễn
Tuân không phải là ở đấy. Bởi vì, Nguyễn Tuân không chỉ là tác giả của Vang
bóng một thời. Ông còn là chủ nhân của một loạt tác phẩm: Chiếc
lư đồng mắt cua, Ngọn đèn dầu lạc, Tàn đèn dầu lạc...
Ông không chỉ viết về những cái thú của lớp người thất thế thuộc vể thời đã qua
như trồng hoa cây cảnh, làm đèn kéo quân, đánh cờ, uống trà, “đánh thơ”, “thả
thơ”, mà còn viết cả về thú uống rượu, hút thuốc phiện, thú nhà trò, con hát,
thú “hàng viện” của người đương thời. Chỉ cần đọc mấy tác phẩm, ví như Chiếc
lư đồng mắt cua, Cửa Đại, hay Chiếc va li mới, ta sẽ
nhận ra ngay trục đối lập của Nguyễn Tuân. Ở những tác phẩm ấy, ông thường đối
lập hai thế giới: trong này và ngoài kia. Trong
này là thế giới của khuôn viên, nhà cửa; ngoài kia là thế giới của thiên nhiên
bao la, xã hội rộng lớn. Trong này là thế giới của công sở, của gia đình, cha mẹ,
vợ con; ngoài kia là thế giới của nhà hát, “hàng viện”, cao lâu, tửu quán, của
nhân tình, nhân ngãi. Mỗi thế giới có không gian riêng, luân lí riêng. Trong
này là thế giới của bổn phận, ngoài kia là thế giới của những cuộc kì
duyên, kì ngộ, thế giới tri kỉ, tri âm, “biệt nhỡn liên tài”.
Trong này là thế giới tri thức kinh viện chết cứng của nhà phê bình, ngoài kia
là cuộc đời sống động, kì thú của nghệ sĩ. Có thể khái quát,
trong này là thế giới chính thống, quan phương, ngoài
kia là vương địa của cái ngoại biên, bên lề. Không phải
ngẫu nhiên, trong Chiếc lư đồng mắt cua, Nguyễn Tuân gọi thế giới
gia đình, thế giới trong nhà là ban ngày, còn thế giới ngoài kia,
thế giới cao lâu, nhà trò, tửu quán thuộc về ban đêm. “Ban đêm” là
cả một thế giới sống động. “Ban ngày” chỉ là thế giới đông lạnh, chết cứng.
Tôi cho rằng, trong văn học
trước 1945, đề tài về những người dưới đáy là phát hiện riêng
của văn học hiện thực phê phán. Nguyễn Tuân có công đi đầu, mở ra đề tài về kẻ
bên lề, dân ngoại biên. Gần như không có ngoại lệ, thế giới nhân vật đông
đúc của ông đều là dân cư của vùng ngoại biên, bên lề.
Trong sáng tác của ông, chỉ ở thế giới bên lề mới có các bậc kì
nhân, kì tài, những người chí thành, chí
tình, mới diễn ra những chuyện kì duyên, kì ngộ.
Quan trọng hơn, chỉ khi nào phiêu dạt sang bên lề, ra ngoại
biên, sáng tạo nghệ thuật mới tìm thấy sự kì thú để thăng
hoa.
Thứ ba, và đây là điểm
quan trọng nhất, kì thú là một “khoái cảm đau đớn”. Chỉ có
“khoái cảm đau đớn” mới sinh ra nghệ thuật đích thực. Bởi vì, trong nghệ thuật, kì
thú chứa đựng trong bản thân sức mạnh sinh thành.
Trong Chiếc lư đồng mắt cua, Nguyễn Tuân kể rằng, “mươi năm về trước,
tôi là một người đi tù về”. Vì đi tù, bị đẩy sang thế giới bên lề, “không
được biết đến cái thú đèn sách nhà
trường, cái thú đi thi nữa, tôi bèn tìm đến cái thú giang
hồ”.(Chiếc lư đồng mắt cua.- I, 175.- Chữ in đậm do tôi nhấn
mạnh – LN). Hãy xem thế giới “ban đêm” khơi dậy cảm hứng và “thú giang hồ” đã
truyền cho nghệ sĩ sức mạnh sinh thành như thế nào: “Lâu nay, tôi không
chịu sống ban ngày, hình như chỉ ở được đêm tối thôi. Tôi thích đêm tối lắm.
[…] Ban ngày, tôi thường lừ đừ, tối thì tôi lại trở nên nhanh nhẹn. Đến như câu
chuyện trao đổi, bất cứ là ai cũng vậy. Ban ngày, tôi nói chuyện uể oải, nhát gừng
dở dở ương ương […]. Tôi nghiệm ra tôi chỉ say đắm những lời tôi nói vào lúc đã
lên đèn rồi. Câu chuyện của tôi trình gửi với chung quanh chỉ có duyên, có lễ độ,
có thuỷ chung, có mạch lạc, dưới một cái ánh đèn thôi. […] Hình như trong người
tôi có hai cái tôi. Một cái bản ngã khác thuộc về phần đêm. Nếu ban ngày
tôi đã thờ ơ lửng khửng, e lệ, chán mỏi thì từ buổi tối trở đi, tôi lại nhanh
nhẹn, thiết tha ham sống và cười đùa luôn luôn. Chừng như chỉ có đêm hôm và
bóng tối mới là cái hoàn cảnh vững chắc cho tâm thần bất định của tôi […] Trời
ơi, cuộc sống tình cảm của tôi về phần đêm sao giàu có đến thế được nhỉ”(Chiếc
lư đồng mắt cua.- I, 188 – 189). Trong “Tâm sự của nước độc” có
một tình tiết rất đáng lưu ý. Sau khi người vợ yêu quí tử nạn, Lãnh Út đoạn tuyệt
với đời sống “văn minh” cơ giới và mọi thứ sinh thú. Y hoá dại, chỉ còn là cái
xác không hồn. Bá Nhỡ tìm mọi cách thoả mãn tất cả các ước muốn phi lý nhất của
cậu chủ, khơi dậy ở y những si mê đã chết, từ nhục cảm của một tửu đồ, đến
khoái cảm tinh thần của một gã “hay nghe hát” và tay trống sành sỏi. Để làm gì?
Để cậu chủ“tục huyền” với đời sống.
Là sức mạnh sinh thành, kì
thú cao hơn sự sống. Cho nên, mới có kẻ không màng tới sự sống, từ bỏ
“người bạn đạo đức khô khan” để đến với đam mê và lạc thú. Ở phương diện
này, kì thú là sức mạnh huỷ diệt. Nó buộc người ta
phải “phóng túng hình hài”. Nó đưa người ta tới chỗ tha hoá. Nó khiến người ta
tan xương, nát thịt, vắt kiệt máu huyết, nhục thể phân rã. Đây là thân hình Bá
Nhỡ khi y đê mê trong tiếng đàn: “Máu chảy ra nhiều quá. Toàn thân Bá
Nhỡ đỏ ngòm. Áo quần màu trắng của Bá Nhỡ vụt trở nên một vóc đại hồng. Người
Bá Nhỡ là một cái vại đựng chất lỏng có nhiều chỗ rò rỉ. Máu trong cơ thể Bá Nhỡ
cứ đều đều một dòng tuôn mà thẩm lậu ra ngoài” (Tâm sự của nước độc.-
I, 368). Biểu hiện cao nhất của sự tha hoá là cái chết. Khi bản “tam tấu”
kết thúc, “Bá Nhỡ chỉ còn là một cái bóng […] Như một thứ keo, máu cũ
khô quánh đã gắn chặt mười đầu ngón tay Bá Nhỡ vào mấy sợi tơ đỏ xẫm và mặt
tang ngô đồng hoen ố. Mười ngón như một đã bị đóng đinh liền vào phím cây đàn.
Máu đã tuôn hết chất nồng và chỉ còn toả ra một mùi tanh nhạt. Bá Nhỡ gục vào
đàn, nách cắp lấy thành đàn mà nhoài ra thành giường…” (Tâm sự
của nước độc”.- I, 368). Tàn đèn dầu lạc, Ngọn đèn
dầu lạc là những nghĩa địa đầy xác chết. Trong Vang bóng một
thời, Chiếc lư đồng mắt cua, Chùa đàn cũng có
rất nhiều cái chết, cái chết nào cũng là vật hiến tế của đam mê, lạc thú. Gọi kì
thú là “khoái cảm đau đớn” với ý nghĩa như vậy.
Mọi khoái cảm sẽ tự nó cất
lên tiếng hát. Nhưng “khoái cảm đau đớn” không thể cất tiếng hát véo von, hay
khúc ca hùng tráng. Nó chỉ có thể là là tiếng “rên”, ở cực này, hoặc tiếng thét
điên dại, si mê đau đớn, ở cực kia. Tàn đèn dầu lạc, Ngọn đèn dầu lạc,
Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Tóc chị Hoài, Chiếc lư đồng mắt cua… đều
là những tiếng “rên” khoái thú với tất cả sự trái khoáy của nhục cảm. Yêu
ngôn, “Tâm sự của nước độc”, nhất là khúc “tam tấu” trong tác phẩm này, thực
sự là tiếng thét đau đớn, điên dại, si mê.
Nghệ thuật là sự thăng
hoa của kì thú. Nó là khoái cảm thiêng liêng, là một thứ nghi lễ
tôn giáo mà đám con nhang, đệ tử là kẻ chí thành, chí tình. Nó vượt
ra ngoài mọi giới hạn thiện – ác và sự trói buộc của các tín điều luân lí khô cứng.
Nó nẩy nở ở thế giới ngoại biên, bên lề, và chỉ ở đó nó mới có sự thăng hoa. Nó
chứa đựng bên trong xung đột giữa sự siêu thoát tinh thần và sự giằng xé nhục cảm.
Nó là “khoái cảm đau đớn”. Nó khiến nghệ thuật lúc thì cất lên thành tiếng
“thét” si mê, khi thốt ra tiếng “rên” đầy khoái thú âm thầm. Thế giới nghệ thuật
mà Nguyễn Tuân mô tả trước 1945 đã toát lên một quan niệm mĩ học như thế. Tôi
nghĩ, tầm vóc tư tưởng của nhà văn là ở đó. Đây là cơ sở để nhiều tác phẩm
của ông trở thành những kiệt tác như là kết tinh của chủ nghĩa hiện đại ở giai
đoạn phát triển nhất của nó.
Trong sáng tác của Nguyễn
Tuân trước 1945, kì thú còn có ý nghĩa quan trọng như một phạm
trù thi pháp học. Nó là “điểm nhãn” trong kết cấu truyện kể của ông. Gọi nó là
“điểm nhãn” trước hết vì nó là điểm tựa, là “đầu mối” nối kết các nhân vật
trong sáng tác của ông. Trong mỗi truyện kể của Nguyễn Tuân, các nhân vật thường
được kết nối với nhau bằng một cái “thú” nào đó. Trong Chữ người tử tù,
các nhân vật nối kết với nhau bằng thú chơi chữ. Thú “hàng viện” là đầu mối
nối kết các nhân vật trong Chiếc lư đồng mắt cua. Đầu mối nối kết
các nhân vật trong “Tâm sự của nước độc” lộ ra ngay ở tên của
nhân vật chính và đề từ của tác phẩm. Tôi ngờ, đặt tên nhân vật là Bá Nhỡ, Nguyễn
Tuân muốn người đọc liên tưởng tới Bá Nha. Trong truyện cổ, Chung Tử Kì chết,
Bá Nha đập đàn vì không có tri âm. Trong truyện của Nguyễn Tuân, đàn tự vỡ, Bá
Nhỡ thoát xác vì chàng tự nguyện đánh đổi mạng sống để lấy tiếng đàn.“Ai hay
hát mà ai hay nghe hát…” là đề từ của tác phẩm. Trong truyện cổ, Bá
Nha đập đàn, tức là tự mình giết chết thú đàn. Trong tác phẩm
của Nguyễn Tuân, sự kì thú của việc “hay hát” và “nghe hát”
đã nối kết các nhân vật Bá Nhỡ – cô Tơ – cậu Lãnh – Chánh Thú, cũng là nối kết
âm – dương, người sống với người chết làm thành bản tam tấu vang mãi thanh âm bất
tử của nghệ thuật.
Gọi kì thú là
“điểm nhãn” kết cấu truyện kể của Nguyễn Tuân còn vì nó còn là “điểm vàng”
trong mỗi truyện kể của ông. Khái niệm “điểm vàng” truyện kể doV.I. Chiupa, nhà
tự sự học người Nga, đưa ra khi ông đến giảng bài tại khoa Ngữ Văn Đại học Sư
phạm Hà Nội mà tôi có ngồi nghe. Theo ông, truyện kể là sự nối kết của nhiều phần,
nhiều tiết, nhiều đoạn, nhiều cảnh theo một kiểu cấu hình nào đó. Giữa các phần,
các tiết như thế, thể nào cũng có một đoạn, hay cảnh đầu mối, nó làm cho các phần,
các đoạn, các cảnh có vẻ như rời rạc nối kết với nhau thành chỉnh thể. Nó bộc lộ
toàn bộ tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. Nó khiến người ta nhận ra, tác phẩm chỉ
là văn bản tầm thường, hay một kiệt tác. Ông gọi cái “cảnh” ấy, “phần” ấy là
“điểm vàng. Kết cấu truyện kể của Nguyễn Tuân thoạt nhìn có vẻ rất tản mạn, vì
ông thường viết rất tự do, phóng túng. Nhưng nếu đọc kĩ, ta thấy, đúng là những
tác phẩm hay nhất của ông thường là những tác phẩm có một “điểm vàng”. “Điểm
vàng” này không phải ở đâu khác, mà chính là cái cảnh, cái đoạn ông mô tả sự
thăng hoa của kì thú. Chẳng hạn, “cảnh cho chữ” là “điểm vàng” trong Chữ
người tử tù. Màn tam tấu đàn – ca – trống là “điểm vàng” trong “Tâm
sự của nước độc”.
Để khép lại phần này, xin
nói thêm một ý. Việc xác định “điểm vàng” này khiến tôi hoài nghi cái cách mà
giới nghiên cứu, phê bình vẫn thường sử dụng khi phân tích một số tác phẩm của
Nguyễn Tuân. Chẳng hạn, tôi không hoàn toàn tin, rằng Nguyễn Tuân viết Tàn
đèn dầu lạc, hay Ngọn đèn dầu lạc chỉ là để tỏ sự “hoài
nghi tất cả những giá trị được coi là truyền thống, lật mặt trái của
đạo đức dưới các dạng cửa thiền, để trình bày một không khí cạm bẫy phù dung mà
âm dương không khác biệt, tu tục nằm chung, thiện ác mù mờ dưới ánh đèn dầu lạc”. Tôi
cũng không thật tin, rằng Nguyễn Tuân viết Vang bóng một thời là
để tỏ “thái độ phủ nhận, bất hợp tác với chế độ thực dân và xã hội phàm
tục, vụ lợi đương thời”. Hoặc, khi phân tích Chữ người từ tù,
giới nghiên cứu, phê bình thường xem Huấn Cao là nhân vật chính và dựa vào đấy
để xác định chủ đề của tác phẩm. Nhưng căn cứ vào điểm “đầu mối” và “điểm vàng”
kết cấu của thiên truyện, tôi thấy quản ngục mới thực là hình tượng trung tâm
và cần phải dựa vào đấy để nêu chủ đề của Chữ người tử tù.
3.1. Kì quan.
Năm 1945, Nguyễn Tuân viết Lột xác. Có thể xem đó là tuyên ngôn nghệ
thuật của ông. Trong sáng tác của Nguyễn Tuân, sự “lột xác” này được thể hiện ở
nhiều bình diện. Ở tiểu luận này, tôi chỉ quan tâm tới nguyên tắc tổ chức
hình tượng truyện kể của nhà văn. Như đã nói, trước Chùa đàn,
sáng tác của ông là sự triển khai của hai hình tượng truyện kể: kì nhân và kì
thú. Kì nhân là truyện về nghệ nhân, nghệ sĩ. Kì
thú là là truyện về nghệ thuât. Sau Chùa đàn,
sáng tác của Nguyễn Tuân cũng chỉ tập trung kiến tạo hai hình tượng: Chúng
ta và chúng nó, Tổ quốc và kẻ thù.
Đó là hai nội dung chủ chốt của hai truyện kể: kì quan và quái
nhân. Truyện kì nhân, kì thú là sản phẩm của ý
thức hệ lãng mạn, thể hiện quan niệm về con người cá nhân, cá thể. Truyện kể về kì
quan và quái nhân là con đẻ của tư tưởng hệ quốc gia
thời chiến, gắn với hai đề tài chủ chốt của văn học miền Bắc giai đoạn 1945 –
1975: chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ý đồ chuyển trọng tâm kiến
tạo hình tượng truyện kể từ nhân vật qua cảnh vật,
từ kì nhânqua kì quan được bộc lộ ngay trong cách
đặt nhan đề hàng loạt tác phẩm của Nguyễn Tuân: Giữa một thị xã mới giải
phóng, Tháp rùa giữa rừng, Tây Bắc và Là Cai, Bến Hồ và làng tranh,
Làng hoa, Con hồ thủ đô, Trang hoa, Tờ hoa, Sông Đà, Đường lên Tây Bắc, Suối quặng,
Một bài thơ Đường, Huyện đảo, Vẫn cái tiếng dội Cà Mau ấy, Cô Tô, Thăng Long cầu
mới 15 nhịp, Đám cưới giữa trận đại pháo, Mỏm Lũng Cú tột Bắc, Cánh B. 52 rụng
xuống một thôn hoa Ngọc Hà, Đất cùng trời toàn cõi ta từ đây xem như sạch hẳn
bóng nó, Đèn điện phố phường Hà Nội vui sáng hơn bất cứ lúc nào…
Nguyễn Tuân thường nói tới
chuyện sẽ “quay phim”, vẽ tranh, dựng áp – phích. Chẳng hạn, trong bài kí Người
lái đò Sông Đà, ông kể về dự định sẽ làm phim truyện, hoặc phim kí sự về
Sông Đà, và khi làm phim, thể nào “cũng phải đưa ông quay phim lên tàu
bay” (I, 596). Trong bài Đường lên Tây Bắc, ông nói tới cả
chuyện quay phim, lẫn vẽ áp – phích. Ông viết: ““Bây giờ thì khác quá đi rồi.
Cuộc đời có tổ chức, có trật tự, công khai có Đảng có kế hoạch, cuộc đời mới
đang bén rễ đâm chồi mạnh, và nơi đây đang kết tinh nhiều giống hoa say nồng
chưa nở một lần nào trên đồi lũng Thái Mèo. Trong tôi đang hình thành lên một tấm
áp-phích đòi tuyên truyền bằng được cho Tây Bắc giàu có sáng tươi
và hồn hậu. Tôi mong mỏi một cuộc thi vẽ tem dán thư.Tây Bắc đầy của
chìm của nổi, với những con người bao đời chịu đựng thiệt thòi bất công, với những
phong cảnh bao la một niềm lãng mạn xã hội chủ nghĩa, Tây Bắc xứng đáng in hình
tem lên nhiều lá thư gửi tới ức triệu cánh tay miền ngược miền xuôi đang hào hứng
lên đường xây dựng” (II, 608.- Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh – LN). Ở một
đoạn khác ông viết: “Mây ở đây xốp lên như bông, như len của Tây Bắc
trong tương lai gần đây. Lúc này có phim màu đem ra mà quay dăm bảy chục thước
ghép vào với một số cảnh sinh hoạt khác mà gửi đi dự thi quốc tế, nếu không được
ăn giải thì chí ít cũng hấp dẫn cảm tình người xem đối với cảnh đẹp Tổ quốc ta
yên vui lao động hoà bình”(II, 614).
Chao ôi, Nguyễn Tuân hình
dung được cả “bông” và “len Tây Bắc trong tương lai” cũng sẽ “xốp” như “mây”
Tây bắc! Trong con mắt của ông, cuộc sống mới là một “cảnh đẹp”, xã
hội mới là “phong cảnh bao la một niềm lãng mạn xã hội chủ nghĩa”.
Ông vẽ tranh, quay phim, dựng áp – phích để “tuyên truyền” với miền xuôi, miền
ngược và “bạn bè quốc tế” về “cảnh đẹp” ấy, “phong cảnh” ấy. Cho nên, việc chuyển
đổi từ nhân vật qua cảnh vật, từ kì nhân sang kì
quan không đơn giản chỉ là sự chuyển đổi đối tượng của cái nhìn mà là
sự chuyển đổi nhãn quan giá trị và nguyên tắc thế giới quan. Khái niệm cảnh
quan, kì quan ở đây vì thế không đồng nghĩa với bức tranh
phong cảnh thiên nhiên. Nó là một hình dung từ, được sử dụng như một nguyên tắc
tạo nghĩa truyện kể về kì quan Tổ quốc.
Cấu trúc ngữ nghĩa của
hình tượng kì quan Tổ quốc trong sáng tác của Nguyễn
Tuân có gì đặc biệt? Đâu là lớp vị ngữ của truyện kể về kì quan Tổ
quốc?
Xin hãy nhìn vào tấm bản
đồ Tổ quốc treo ở đồn biên phòng Tây Trang qua sự hình dung của Nguyễn
Tuân: “Tôi nhớ lại cái bản đồ hình thể Tổ quốc Việt Nam treo trên tường
đồn chính, ngay trên chỗ để cái đài cho anh em chiều chiều nghe cái tiếng rồn rập
đi lên từng bước của Tổ quốc đang chuyển mình và mình mẩy Tổ quốc
đang ánh lên cái mầu mỡ của các cánh đồng thi đua sinh nở. Trên bản đồ hình thể
có ruộng màu nâu non, có núi màu vỏ già, biển màu lam, sông ngòi màu xanh quan
lục, đường trục màu đỏ gạch vừa ra lò, thấy cái tầm Tây Trang đây cũng ngang với
cái vành khuyên thủ đô Hà Nội, đường Bắc vĩ tuyến 21 kéo một vệt qua rừng Tây
Trang, qua phố phường Hà Nội, qua những hòn đảo vịnh Hạ Long, qua cái vùng làm
cá hộp, thứ cá bể xốt cà chua đóng hộp gửi thẳng lên đây cho an hem và đang xếp
ở kho thực phẩm của anh nuôi dưới sân đồn kia. Cái vệt thẳng tắp trên bản đồ ấy
từ rừng núi chỗ ta đóng, qua đồng bằng quê hương chúng ta, qua thủ đô rồi ra biển
cả, vị chi là dài 600 cây số đường trường đấy các đồng chí ạ. Đủ thấy Tổ
quốc ta là rộng, là đẹp, là đủ cả, và chúng ta được tự hào mà giữ gìn và phát
triển cái cơ nghiệp mà dân tộc để lại từ bao đời nay” (Tây Trang.-
I, 629 – 630 – Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh – LN).
Rất dễ nhận ra, trong ý
thức nghệ thuật của Nguyễn Tuân, cấu trúc ngữ nghĩa của hình tượng kì
quan Tổ quốc được kiến tạo trên bốn cột trụ: a) địa
hình địa vật, b) phong cảnh thiên nhiên, c) tài nguyên khoáng sản, d) truyền thống
cách mạng. Đọc tác phẩm của ông ta lại thấy, xoay quanh bốn cột trụ cấu
trúc ấy là cả một hệ thống hình dung từ làm nên trường nghĩa của hình tượng: kì
địa, kì phong, kì thuỷ, kì thanh, kì sắc, kì hình, tuyệt đỉnh, tuyệt vời, tuyệt
mĩ…
Trong bài kí Đường
lên Tây Bắc, Nguyễn Tuân kể thế này: “Đời sống Tây Bắc ngày nay là
một tấm lòng tin tưởng không bờ bến, tin mình, tin người, mấy chục dân miền cao
và đồng bằng tin cậy lẫn nhau và nhất là tin chắc vào cái chế độ đẹp sáng do
tay mình đắp cao mãi lên trên chỗ cao nguyên tiềm tàng sức sống này” (I,
612). Người Tây Bắc tin mình, tin người, yêu cuộc sống mới, chế độ mới như thế,
vì nơi đây có một truyền thống cách mạng tuyệt đỉnh, tuyệt
vời. Trong Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân rưng rưng một niềm
tự hào:“Gặp lại những đồng chí Tây Bắc cũ lúc này đang làm kế hoạch, đang
làm công trường, làm ruộng, làm nương xã hội chủ nghĩa ở Tây Bắc, tôi đi sâu
vào một số tiểu sử cuộc đời hạt động ở Tây Bắc mà tôi cứ nghĩ rằng đấy là những
thỏi vàng của một khối vàng xã hội chủ nghĩa Đảng ta đem đầu tư vào Tây Bắc” (Người
lái đò Sông Đà.- I, 583).
Cũng như vậy, những trang
văn của Nguyễn Tuân làm nổi lên một hình tượng Tổ quốc Việt Nam giàu có tuyệt
vời, tuyệt đỉnh của. Đọc văn ông, thấy khoáng sản nước ta
chỗ nào cũng “lộ thiên”, đâu đâu cũng đầy những “vàng nổi, vàng chìm”, khai
thác muôn đời không hết. Ông kể: “Nhiều người bảo tôi rằng dọc sông Đà,
cứ bờ sông từ Mường Tè đến Vạn Yên, chỗ nào cũng có vàng cốm, nhỏ thì bằng gạo
tấm, to thì bằng hạt ngô; có con vịt bầu mổ ra là lấy được trong mề mấy đồng
cân vàng…” (Người lái đò Sông Đà.- I, 582).
Những trang văn bay bổng
nhất của Nguyễn Tuân là những trang mô tả kì quan đất nước từ
góc độ địa hình, địa vật và phong cảnh thiên nhiên.
Trong sáng tác của ông mọi
địa danh, từ Lũng Cú đến Cà Mau, từ Tây Bắc qua Đông Bắc, từ Sơn La, Sông Đà,
cho tới Than Uyên, Quỳnh Nhai, kì quan nào cũng là kì
địa. Cà Mau là một kì địa. Nguyễn Tuân gọi đó là “ngón
chân cái Tổ quốc chưa khô bùn vạn dặm” (Vẫn cái tiếng dội Cà Mau ấy.-
II, 203). Cheo leo ở địa đầu phía Bắc Tổ quốc, Lũng Cú là kì địa.
Quỳnh Nhai, Than Uyên, Tây Trang, Sông Đà đều là những kì địa. Ta
nhận ra đó là kì địa, trước hết vì chỗ nào cũng được nhà văn mô tả
như những “hiểm địa”, có thể gọi là cực hiểm, chí hiểm.
Than Uyên ở vào vị thế “chí hiểm”, nó là một vùng “u uất quẩn gió”; gió cũng
không có đường, chẳng biết đi lối nào. Chỉ cần nghe tên mấy cài đèo được Nguyễn
Tuân nhắc tới trong Suối quặng, ta biết ngay, Hà Giang là một kì
địa: đèo “cổng giời Long Bánh Chè”, hoặc đèo “Con Ngựa
truỵ Thai”… Người lái đò Sông Đà được mở ra bằng câu đề từ: “Chúng
thuỷ gia Đông tẩu. Đà Giang độc Bắc lưu” – “Mọi dòng sông đổ về
phía Đông. Riêng Sông Đà chảy ở phía Bắc”. Câu đề từ tự nó đã giới thiệu về
dòng sông như một kì địa. Nguyễn Tuân gọi Sông Đà là một thứ kẻ thù
có “tâm địa độc ác”. Nó thực sự là một “hiểm địa”. Núi, thác, “hút nước”, “thạch
trận”, cái nào cũng cực hiểm, chí hiểm. Hai bên bờ Sông
Đà vách núi dựng đứng, lòng sông có những quãng rất hẹp. Trên Sông Đà có đến mấy
trăm thác nước, riêng đoạn đầu nguồn, từ chỗ dòng sông đổ vào Việt Nam đã có
nào là thác Kẻng Mỏ Trên – La Sa – Hát Vá – Mằn Hi – Mằn Lay – Hát Nhạt
– Mằn Thắm – Hát No Kéo – Kẻng Mỏ Dưới, đến đoạn Lai Châu, Sơn La lại
có Hát Lai – Hát Pi – Hát Soong Pút – Hát Soong Mon, Hát Pố – Hát Kếch
– Hát Tran – Hát Moong, Hát Tiếu…, thác nào cũng hung hiểm. Sau thác
nước và những cái hút nước khủng khiếp chết người là “thạch trận” với đủ “cửa
sinh”, “cửa tử”và các ngón “võ”, nào “đòn âm”, “đòn gió”, “đánh vỗ mặt”,
“đánh vu hồi”, “túm thắt lưng”, “thúc hạ bộ”… giăng ra khắp nơi, rình rập
sự sống của con người.
Nguyễn Tuân thường “mượn
oai” của thần gió và thần nước để mô tả
các kì địa như những hiểm địa. Âm thanh thác nước
trong bài kí Người lái đò Sông Đà thực sự là một thứ kì
thanh, kì âm: “… Còn xa lắm mới đến cái thác dưới.
Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác
nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích,
giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng
đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tung rừng lửa, rừng lửa
cũng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng…” (Người lái đò Sông
Đà.- I, 593). Gió bão ngoài Cô Tô (Cô Tô.- II, 150-162), gió Lào ở
Thanh Hoá (Gió Lào.- I, 423 – 429), hay gió ở Than Uyên (Gió Than
Uyên.- I, 771 – 784) thực sự là những thứ kì phong.
Đọc văn Nguyễn Tuân, thấy kì
quan, một mặt là kì địa, hiểm địa, mặt khác lại là
những công trình mĩ thuật tuyệt đỉnh, tuyệt vời. Có một thời, Chế
Lan Viên nghe thấy “…Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”. Tố Hữu
nhìn thấy: “Nước non mình đâu cũng đẹp như tranh”. Trong cái nhìn của
Nguyễn Tuân, “hoa” và “thơ Đường”, một công trình
nghệ thuật tuyệt đỉnh, tuyệt vời của tạo hoá và một công trình
nghệ thuật tuyệt đỉnh, tuyệt vời của con người, trở thành biểu tượng
của trạng thái nhân sinh. Đó là những hình dung từ thường xuyên được ông sử dụng
để tạo nghĩa cho hình tượng kì quan Tổ quốc. Với Nguyễn Tuân, một
cánh đồng muối, một người phụ nữ cho con bú trong nhà hộ sinh, màu vôi trắng của
nhà ở hoà quyện với màu xanh phủ khắp đất nước cũng làm thành một Trang
Hoa. Ông gọi con đường mới mở ở Tây Bắc là “Một bài thơ Đường”. Ông
thấy màu nước Sông Đà ánh lên “màu nắng tháng ba Đường thi”.
Trên những trang văn của ông, đất nước ta, mỗi con người là một “bông hoa”,
đâu đâu cũng là những “làng hoa”, “tờ hoa”, “trang hoa”, “vườn hoa”… Tây
Bắc là một Tờ hoavà“Việt Nam là cái vườn đẹp trên đó nở rất nhiều
hoa, ra rất nhiều trái”. “Tây Bắc cũng là một cái vườn hoa trong đó
mỗi dân tộc của mấy mươi dân tộc ít người là một giống hoa đượm nhiều màu sắc.
Và chế độ cộng hoà dân chủ chúng ta giống như một người làm vườn khổng lồ vô
cùng nhân ái đang ra công vun xới cho khu vườn Tây Bắc nở thêm nhiều hoa và hoa
Tây Bắc phải kết nhiều trái quả” (Xoè.- I, 699).
Ông sử dụng điêu luyện
các “ngón nghề” của điện ảnh, hội hoạ, tạo ra những cảnh tượng kì hình, kì
sắc để lột tả vẻ đẹp tuyệt đỉnh, tuyệt vời của các
công trình mĩ thuật mà tạo hoá ban tặng cho con người. Qua con mắt hội hoạ của
ông, “Con Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn
hiện trong mây trời Tây bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù
khói núi Mèo đốt nương xuân” (Người lái đò Sông Đà.- I, 596).
Ông nhìn thấy màu nước Sông Đà thay đổi theo mùa: “Mùa xuân dòng xanh
ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô.
Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ
cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội vì mỗi độ thu về […] Đã có lần
tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân […] Tôi nhìn cái miếng sáng loé lên một màu trắng
tháng ba Đường thi “yên hoa tam nguyệt hạ Dương Châu” (Nh.tr.- I,
597). Trên trang văn của Nguyễn Tuâ, Sông đà không chỉ là vùng kì địa,
là thế giới kì sắc, kì thanh, mà còn là dòng chảy của
những bước nhịp kì thú, khi thì gấp gáp, cuồn cuộn, sôi réo, lúc êm
ả, chậm rãi, thong dong: “Thuyền tôi trôi trên dòng Sông Đà. Cảnh ven
sông ở đây lặng lờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng
lờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu
mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ tranh đồi núi đang ra những nõn búp. Một
đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ tranh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ
tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa…” (Nh.tr.-597).
3.2. Quái nhân.
Các nhà nghiên cứu, phê bình thường nói nhiều về sự tài hoa của văn Nguyễn
Tuân. Nhưng quả là tôi chưa mấy ai phân đúng mức tính Đảng và tính
chiến đấutrong sáng tác của ông. Về phương diện này, tôi nghĩ, sau 1945,
văn Nguyễn Tuân không thua kém sáng tác của bất kì ai, kể cả những tác gia hàng
đầu của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, như Tố Hữu, Chế Lan Viên, hay
Anh Đức sau này. Những gì ông viết về kẻ thù phong kiến và đế quốc tự chúng đã
nói lên điều đó.
Trong thời kháng chiến chống
Pháp và những năm đầu sau hoà bình lập lại, đề tài về tội ác của chế độ thổ ti,
lang đạo ở miền núi phía Bắc Việt Nam nhiều lần trở đi trở lại trong không ít
tác phẩm của Nguyễn Tuân. Xoè, Một tí về lịch sử và một bản
lí lịch là những áng văn nổi tiếng của ông. Nhân vật chíng trong hai
tác phẩm này là Đèo văn Long, một ông vua Tây Bắc được “tấn phong” hẳn hoi.
Trong thời kì chiến tranh chống Mĩ, Nguyễn Tuân “đánh” Mĩ và “diệt” máy bay Mĩ
bằng cả một tập kí: Hà Nội ta đánh mĩ giỏi. Cuốn sách tập hợp 11
bài kí với những tác phẩm nổi tiếng, ví như Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi, Hà
Nội giải tù Mĩ qua phố Hà Nội, Đèn điện phố phường Hà Nội vui sáng hơn bất cứ
lúc nào… Ngoài ra, Nguyễn Tuân còn một loạt tác phẩm “đánh Mĩ” khác in
trong Kí, ví như Bưu điện Thanh đánh Mĩ, Hà Nội ta diệt
B. 52, Cánh B. 52 rụng xuống một thôn hoa Hà Nội, Đất cùng trời toàn cõi ta từ
đây xen như sạch hẳn bóng nó…Tôi nói tới tính Đảng và tính
chiến đấu ở mảng sáng tác này của Nguyễn Tuân, vì bài kí nào của ông
cũng hừng hực khí thế của quân dân Hà Nội, rưng rưng niềm tự hào dân tộc, cháy
bỏng một niềm khinh ghét sâu sắc kẻ thù xâm lược. Tôi nghĩ, đây là mảng sáng
tác thể hiện triệt để nhất cái nhìn “địch – ta” theo nguyên tắc bổ đôi:“Chúng
là thú vật, ta đây là người” (Tố Hữu).
Trong Một tí về lịch
sử và một bản lí lịch, Nguyễn Tuân nói, ông được nghe kể rất nhiều về lí lịch
Đèo Văn Long – “Người kinh kể lại, người Thái kể lại, cả đến những ông
già, bà già Hoa Kiều cũng kể lại…”. Sau này, khi viết về giặc Mĩ, nhà văn
được tận mắt nhìn thấy “Hà Nội giải tù binh Mĩ qua phố Hà Nội”, Mĩ “ăn một cái
Tết ta”, “Nôen Mĩ”, thấy “ba phi công Mĩ đi bộ trong chợ hoa sơ tán”. Thậm chí,
ông còn vào tận buồng giam hỏi cung tên Mích Kên, viên thiếu tá phi công hải
quân hạm đội VII mà bây giờ là Thượng nghị sĩ John McCain. Thú vị là ở chỗ, dẫu
được nghe kể, hay tự mắt chứng kiến rồi kể lại, thì mọi câu chuyện về kẻ thù
phong kiến – đế quốc, dẫu đế quốc, phong kiến là Đèo Văn Long, hay Mích Kên, đều
được Nguyễn Tuân gói thành một truyện kể duy nhất: truyện quái nhân.
Thật vậy. “Quái” là loài thú
lạ. Cho nên, truyện quái nhân của Nguyễn Tuân thực ra là
những câu chuyện về quái thú. Ở một cấp độ khác, hình tượng quái
thú này sẽ được nhà văn cụ thể hoá bằng hàng loạt truyện kể về
lũ cầm thú, ác thú, quái vật…
Là quái thú,
kẻ thù không có diện mạo riêng. Nghệ thuật không thể mô tả chúng theo nguyên tắc
cá thể hoá. Chúng chỉ có thể là “đám”, “đàn”, “lũ”, “bọn” làm thành
“dây”: “Phía trong đê chỗ bờ sông lố nhố một lũ giặc
phi công Mĩ xích tay từng cặp một”. “Đám tù Hoa Kì tập trung
ở chỗ gần chân đê hữu ngạn sông Hồng”. “ Bọn phi công
Mĩ này bị ta bắt sống”.“Những thằng tù dây của
dây tù Hoa Kì từ phía bờ sông tiến vào ngã bảy hoa thị” (Hà
Nội giải tù Mĩ qua phố Hà Nội. – II, 285, 286, 287 – Những chữ in đậm do
tôi nhấn mạnh – LN).“…Lũ tù dây. Ưng, Khuyển, Phệ Hoa
Kì một dây hiện hình” (Đèn điện phố phường
Hà Nội vui sáng hơn bất cứ lúc nào.- II, 310 – Những chữ in đậm do tôi nhấn
mạnh – LN). Mặt mũi, điệu bộ của chúng hết sức giống nhau. Mặt Đèo Văn
Long là mặt một con “lợn rừng”: “Tôi ở trên nhà Đèo Văn Long, cố nhớ lại
cái khuôn mặt tên chúa đất Việt gian khát máu người. Một cái mặt lợn
rừng phì phị mà tôi đã trông thấy trên một tấm tranh xém lửa nhặt
được trong một nhà hội tề năm 1949 bộ đội ta tiêu diệt những đồn Đại Bục Đại
Phát phía trong Sông Thao” (Một tí về lịch sử và một bản lí lịch.- I,
684-685.- Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh). Điệu bộ của Mích Kên là điệu bộ của một
con thú. Bước vào phòng giam, nhà văn nhìn thấy hắn “thẳng cẳng nằm
dài”, “lờ đờ một đôi mắt nhiều lòng trắng và rậm lông mày. Với một bộ râu xồm
đen kịt” (Nh.tr., 310). Nó có những nét ngoại hình của loài quái
thú và một nhà văn như Nguyễn Tuân có quyền xử sự với nó như với con vật: “Tôi
cắm một điếu thuốc Điện Biên vào mồm thằng giặc. Nó cảm ơn. Tôi
bật diêm châm vào mặt nó, nó nghển nghển đầu xin
cảm ơn. Tôi đặt cái gạt tàn thuốc lá lên ngực nó đầy
lông rậm dầy như cái ức của một con thú dữ” (Nh.tr., 313.- Những
chữ in đậm do tôi nhấn mạnh – LN). Ngay cả tiếng khóc của nó, Nguyễn Tuân cũng
nghe thành một tiếng rên của con vật: “…Đến mục nhắn tin gia đình thì
thằng Kên bỗng khóc nấc lên […]. Tiếng nấc đã thành một điệp khúc. Cái
tiếng nấc Hoa Kì của một thằng tù rên, có nốt lại nghe ẳng lên như tiếng bị hóc
xương nơi cổ họng” (Đèn điện phố phường Hà Nội vui sáng hơn
bất cứ lúc nào.- II, 322 – 323 – Những chữ in đậm do tôi nhấn mạnh – LN).
Là quái thú,
binh sĩ của đế quốc sống đời sống bản năng, nhục dục, “hạ cấp” của loài cầm
thú. Trong bài kí Giữa hai xuân, Nguyễn Tuân kể lại cuộc trò chuyện
lí thú giữa một anh chỉ huy trẻ và một bác sĩ quân y. Bác sĩ quân y hỏi: “
– Cái vấn đề sinh lí trong anh em bộ đội, anh thấy thế nào? Có những trường hợp
đặc biệt không?”. Anh chỉ huy trẻ trả lời: “ – Việc này không thành
vấn đề. Ở những tổ chức binh sĩ của đế quốc, người ta săn sóc đến điều này
ngang hàng với đạn dược, lương thực. Trận Ý chiếm A-bit-si-ni chẳng hạn. Có
hàng đoàn “nhà thổ lưu động” theo toán quân viễn chinh, chiếc xe nào của lính
dùng, xe nào của quan dùng, đều có ghi số hiệu ở ngoài cửa “xe sinh lí”. Đối với
chúng ta, vấn đề giải quyết sinh lí đó không thể thành vấn đề như chúng nó. Vì
rằng bộ đội Việt Nam thấy mình hoàn toàn nhập vào đấu tranh, tình cảm, ý nghĩ
và cảm giác đều đặt hết cả vào chiến đấu. Bộ máy tuyên truyền của đối phương
thường rêu rao chúng ta là bộ đội khổ hạnh. Có đúng. Chúng ta cầm
súng, diệt những thứ dục vọng hạ cấp để đạt tới những khát vọng cao thượng của
con người” (Giữa hai xuân.- I, 420 – 421 – Chữ in đậm do
tôi nhấn mạnh – LN). Trong Xoè, Nguyễn Tuân còn tạo ra hai hình ảnh
đối lập về ứng xử văn hoá nhằm làm nổi bật sự khác biệt giữa con vật và cong
người: lớp xoè dưới chế độ mới và những đội xoè của
cha con Đèo Văn Long. Bên này, là bông hoa rừng, hiện thân của văn hoá và vẻ đẹp
chế độ. Bên kia, “đã bị cưỡng bức biến thành một cái đệm sống để cho
quan khách nhà họ Đèo nằm lên”. Nó là bằng chứng về sự dâm loạn cầm thú.
Chúng tranh nhau “hiếp dâm” nghệ thuật xoè, khiến trong những đêm tiệc, “máu
đồng trinh cứ rỏ theo bước chân của đôi chân khiêu vũ, cô gái xoè cứ giẫm lên
máu mình mà múa, rồi máu tươi ấy khô dần một đống trên một cuộc đời đã biến
thành một cái đệm, lớp máu đêm sau đóng vẩy trên lớp máu đêm đầu, và cứ thế cứ
thế”(Xoè.- I, 705 – 706).
Bài kí Đèn điện
phố phường Hà Nội vui sáng hơn bất cứ lúc nào được khép lại bằng một
liên tưởng mà ta không thể tìm thấy ở đâu, ngoài sáng tác của Nguyễn Tuân: trại
giam phi công Mĩ đang “nuôi giữ những con ác thú”, “chăn nuôi những con
Hoa Kì”, giống như Sở thú Hà Nội nuôi giữ cả một bầy hổ, báo, gấu… Nhà văn
gọi đó là “buổi mơ”. Trong “buổi mơ chưa cất cơn”, ông nghe thấy lũ hổ, báo
trong Sở thú biết nói tiếng người:“Có con vừa gặm nhồm nhoàn vừa nói lem lẻm
lên cái luận điệu lô gích Hoa Kì […]. Một con Mĩ khác mặt như lợn lòi lại lằn
nhằn mà nhại giọng người […] Nghe thằng Mĩ lợn lòi đó, thấy nó hao hao cái giọng
ồ ồ thằng quan tư Rô Bớc tôi đã gặp năm ngoái ở trại giam”. Ngược lai, ông
nhìn thấy “hầu hết phi công Hoa Kì đang gau gáu xì xụp ăn uống ngay
trong một dãy nhà sắt mà người ta chỉ giành riêng cho những con vật dữ nhất” (II,
332, 335).
Nếu phong kiến, đế quốc
là loài quái thú, thì những chiếc B.52 của Mĩ là một thứ quái
vật. Ở trên kia, tôi đã nhắc tới bài kí Cánh B.52 rụng xuống một
thôn hoa Hà Nội. Một cái cánh máy bay mà vỡ vụn ra thành “tảng” (“tảng
cánh Mĩ”), thành “cục” (“cục đuy – ra Mĩ vãi rụng”, “cục Mĩ
giết người”,“cục Mĩ to tướng chềnh ềnh trên mặt hồ đó”). Nhìn những
“tảng”, nhứng “cục” ấy lại thấy, chỗ này là “cái tủ” (“cái tủ đứng Mĩ”),
chỗ kia là “hòn non bộ” (“hòn non bộ Hoa Kì đuy – ra”), nhưng chỗ kia nữa
thì lại là “xác”, là “đầu”, “đầu lâu”, “sọ dừa” (“xác đại bàng Mĩ gẫy cánh”, “đầu
lâu đuy- ra khổng lồ”, “đầu B. 52 cháy đen trên cái sọ dừa vĩ đại”). Đúng
là có hình tượng một “quái vật tan thây” như hiện ra trước mắt
ta.
Thực ra, trong sáng tác của
Nguyễn Tuân, quái thú hay quái vật đều chỉ là
những hình dung từ làm nổi bật hình tượng kẻ thù. Cho nên, là quái
vật, mà cái cánh B. 52 lại đủ cả “sọ dừa”, “đầu lâu” như một loài quái
thú. Ở một chỗ khác, Nguyễn Tuân lại mô tả đám quái thú tù binh Mĩ đi
giữa lòng đường Hà Nội giống như một thứ quái vật rác rưởi: “…Giữa lòng
sông khô trục chính của Hà Nội, đang lừ đừ trôi đi những rơm rác Hoa Kì. Từ
lòng đường, xông lêm mùi của Thần Chết, một cái thứ khắm thối Hoa Kì mà không một
thứ nước huê đế quốc nào tẩy tan được”(Hà nội giải tù Mĩ qua phố Hà Nội.-
II, 286-287). Nguyễn Tuân là bậc thầy trong nghệ thuật tạo ra những hình ảnh đầy
sức ám gợi nói lên “phận vật” gắn chặt với “phận người”, số phận của “quái vật”
cột chặt với số phận của “quái nhân”. Đọc Một tí về lịch sử và một bản
lí lịch, tôi không sao quên được hình ảnh vua Đèo Văn Long bỏ chạy qua Lào
“ăn xin”, “kéo dài cái sống của một động vật” và trên sàn múa
xoè của nhà y “đầy những đống cứt ngựa không rõ của ngựa ai”. Nhưng
ám gợi nhất có lẽ vẫn là hình ảnh xác lính Mĩ và xác máy bay Mĩ
trong Vẫn cái tiếng dội Cà Mau ấy…: “…Xác những con phượng hoàng
Mĩ ngày cảng lún thêm dưới lớp cát lầy mặn. Những cái xác chim Mĩ, xác mới
trùng lên xác cũ trên vùng đất trẻ Cà Mau. Trong bùn miền Nam chỗ cực Nam không
ai nghĩ rằng quốc huy Hoa Kì in trên mình phượng hang bay lại vùi ở dưới lớp
phù sa đó, kẹt vào giữa cái rễ rau muống biển màu hoa tím đó, kẹt vào dưới những
cánh tay rừng đước. Sách Pháp cũ có nói rằng cứ mỗi năm bùn phù sa mũi Cà mau lấn
ra biển khoảng 70 đến 100 thước […]. Và từ mấy chục năm nay, cũng như thây xác
sĩ Mĩ, binh Mĩ làm phân bón cho rừng đước, xác tàu bay Mĩ cũng vô tình dự phần
vào cái việc sinh thànhcủa mũi đất Cà Mau” (Vẫn cái tiếng dội Cà
Mau ấy…- II, 192 – 193). Tôi tin, chỉ có Nguyễn Tuân mới sáng tạo ra
được những hình ảnh như vậy.
4.1. Khép
lại bài viết, tôi muốn nêu một nhận xét thế này. Mỗi nhà văn, kể cả những
nhà văn lớn, thường chỉ có vài cái tài nổi bật nào đó. Chẳng hạn, tôi nghĩ,
Nguyễn Tuân giỏi làm dáng, nhưng không có tài hài hước, dẫu giờ đây, nhiều
trang văn làm dáng của ông đọc lên khiến ta bật cười. Ông không có tài diễn
trò, hoặc thông tin sự kiện. Toàn bộ tài năng của ông bộc lộ ở khả năng tạo ra
bức tranh về các trạng thái thế giới. Ông mô tả giỏi hơn kể
chuyện và ông kể chuyện chẳng qua cũng là để mô tả. Nhờ thế, sáng tác của ông tạo
ra một thế giới hình tượng đầy hấp dẫn. Đặc điểm tài năng này đã đưa Nguyễn
Tuân đến với tuỳ bút. Mọi sáng tác của ông đều được kiến tạo theo cấu trúc tuỳ
bút, ngay cả khi nó là truyện.
4.2. Hình
tượng trong sáng tác của nguyễn Tuân được kiến tạo bằng cả một kho hình
dung phong phú, đa dạng. Nhưng cái kho hình dung từ ấy dẫu đa dạng, phong phú
thế nào, thì trường nghĩa của chúng vẫn không vượt ra ngoài phạm vi của bốn phạm
trù mĩ học truyền thống: kì – quái – chí – tuyệt. Thực tế cho thấy,
nếu xem toàn bộ sáng tác của Nguyễn Tuân là một văn bản, thì văn bản ấy là chỉnh
thể của bốn hình tượng truyện kể. Kì nhân – Kì thú – Kì quan – Quái
nhân là các hình dung từ trung tâm giữ chức năng vị ngữ của những truyện
kể ấy. Kì nhân và Kì thú là truyện kể là truyện
kể về nghệ sĩ, nghệ nhân và nghệ thuật. Kì
quan và Quái nhân là truyện kể về “chúng ta” và “chúng
nó”, về Tổ quốc và kẻ thù.
4.3. “Kì”,
“quái”, “chí”, “tuyệt” là những dạng khác nhau của cái siêu việt, trác
tuyệt, như một phạm trù thẩm mĩ. Hướng tới cái siêu việt, trác
tuyệt, chắc chắn tầm nhìn nghệ thuật của Nguyễn Tuân buộc phải bỏ qua cái
thường nhật. Ông nói nhiều tới chí thành và chí
tình, nhưng không thấy chỗ nào ông bàn tới vẻ đẹp của cái lí, sự chí
lí, hay kì lí. Sự vắng bóng của cái lí và cái
thường nhật là đặc điểm nổi bật của thế giới nghệ thuật trong sáng tác
của Nguyễn Tuân.
4.4. Trong
sáng tác của Nguyễn Tuân từ Chùa đàn đổ về trước, cái
trác tuyệt, siêu việt là một quan hệ thẩm mĩ giữa thế giới với cái
tôi – danh từ, tôi – tên gọi. Nó là chủ thể truyện kể.
“Tôi” ở đây là Bạch, là chàng Nguyễn, là “tôi” phân thân thành những Huấn Cao,
Quản ngục, Thông Phu, cô Tâm, Bá Nhỡ, cô Tơ, Bố Ô, cụ Sáu… Nói cách khác, nó
là cái trác tuyệt của ý thức hệ lãng mạn thể
hiện quan niệm về con người cá nhân, cá thể, vượt ra ngoài mọi giới hạn thiện –
ác và sự ràng buộc luân lí. Nó hướng tới “khoái cảm đau đớn” như là nền tảng của
nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa. Sau Chùa đàn, trong sáng tác của
Nguyễn Tuân, cái cái trác tuyệt, siêu việt là một quan hệ thẩm
mĩ giữa thế giới với cái tôi – đại từ, tôi – công dân. Nó là chứng
nhân, là người trần thuật, chứ không phải là chủ thể truyện kể.
Nói cách khác, nó là cái trác tuyệt của ý thức cộng đồng, của hệ tư
tưởng quốc gia thời chiến. Nó hướng tới cái điển phạm của nghệ
thuật từ chương.
Khái quát lại, có thể
nói, từ hiện đại tìm về truyền thống là tiến trình phát triển
tư duy nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
Chú thích:
[1] Tuyển
tập Nguyễn Tuân (2 tập). Nxb Văn học, 2004. T.2, Tr. 258. Mọi đoạn
trích sáng tác của Nguyễn Tuân ở phần tiếp theo đều được dẫn theo nguồn này,
sau mỗi trích dẫn chúng tôi sẽ mở ngoặc đơn ghi chú tên tác phẩm, số tập bằng
chữ số La Mã và số trang bằng chữ số Ả rập.
[2] Trần
Đình Sử.- Tuyển tập. T. 1. Nxb. Giáo dục, 2005. Tr. 67.
Đồng Bát, 22/9/2014
Lã Nguyên
Nguồn: Phê bình văn học
Theo https://vanhocsaigon.com/
Phác thảo diện mạo văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Phác thảo diện mạo văn
xuôi
dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Trong những năm qua, một
số sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số đã mang đến cho văn học Việt Nam những
sáng tạo mới trong cách nhìn và tư duy nghệ thuật. Chính điều ấy đã rút ngắn dần
khoảng cách giữa người phản ánh với đối tượng được phản ánh, giữa hiện thực được
phản ánh với người tiếp nhận.
1. Từ một thực tế tiếp nhận
Đầu thế kỷ XX, cùng
với sự hình thành và phát triển của nền văn học quốc ngữ, văn học dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện đại cũng xuất hiện và dần khẳng định vị trí với sự tham góp của
nhiều tác giả ở những dân tộc khác nhau. Văn học dân tộc thiểu số hiện đại là một
bộ phận nằm trong dòng chảy của văn học hiện đại Việt Nam. Nó bao gồm các sáng
tác của các tác giả người dân tộc thiểu số viết về dân tộc mình và những trăn
trở của họ về các vấn đề của đời sống, xã hội. Những sáng tác của họ hầu như
chưa được quan tâm hoặc mới dừng lại ở những nghiên cứu khái lược, lẻ tẻ. Chính
vì vậy, dường như mảng văn học này “còn nằm bền lề của việc giảng dạy văn học,
nằm bên lề của các sách giáo khoa, giáo trình và trong các diễn đàn văn học, có
nghĩa là nó còn nằm bên lề cuộc sống văn học Việt Nam hiện đại”(1).
Trong bối cảnh đó, văn
xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại cũng được nghiên cứu rất hạn chế. Phần
lớn những nghiên cứu về văn xuôi dân tộc thiểu số thường chú ý đến những sáng
tác viết về miền núi của Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trung Thành, Ma Văn
Kháng…. với những tác phẩm đã có tiếng tăm trên văn đàn như: Vợ chồng A
phủ, Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Đồng bạc trắng hoa xòe viết
về các dân tộc Hmông ở Tây Bắc, Ê đê ở Tây Nguyên, Dao ở Việt Bắc…. Thực tế này
đã vô tình tạo một rào cản trong tiếp nhận và phát triển văn học thiểu số, bởi:
“Muốn hiểu đời sống thực của người dân miền núi và dân tộc phải có đời sống thực
của người trong cuộc”(2).Và bản thân các nhà văn này cũng tự nhận thấy
những hạn chế nhất định trong ngòi bút của mình, Tô Hoài thừa nhận: “Cho tới
nay tôi viết một số tác phẩm đề tài miền núi. Các anh liệt sĩ (Hoàng Văn Thụ,
Vừ A Dính), cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Bắc (Vợ chồng A Phủ, Họ
Giàng ở Phìn Sa). Tôi cho rằng dẫu tôi đã cố gắng, nhưng những tác phẩm ấy
chỉ đạt tới đôi nét chấm phá của một bức kí họa thông qua cảm xúc mới mẻ của
mình. Tôi không thể có được tâm hồn và những hiểu biết để thể hiện như Đinh Ân
(Mường), Vi Hồng (Tày), Mã Thế Vinh (Nùng), Mã A Lềnh (Mông). Văn học các dân tộc
thiểu số có thực sự phong phú, lớn mạnh phải do chính các nhà văn dân tộc ấy
xây dựng, góp phần vào nền văn học đa dân tộc của chúng ta”(3). Đây
là một nhận xét đáng để người nghiên cứu quan tâm. Văn học hiện đại Việt Nam là
một nền văn học thống nhất, đa dân tộc. Thể hiện đặc trưng này một cách rực rỡ
nhất có lẽ là ở sự góp mặt của những tác phẩm văn học viết về miền núi và các
dân tộc thiểu số trong thành tựu chung của văn học cả nước. Kể từ sau cách mạng
tháng Tám năm 1945, bộ phận văn học này trên thực tế đã được tạo thành bằng cảm
hứng dồi dào của chính các cây bút người dân tộc thiểu số. Họ có nghĩa vụ và đã
tự nguyện một cách nhiệt thành tham gia vào công cuộc viết lịch sử tâm hồn dân
tộc mình. Hòa vào dòng chung của văn học dân tộc với nội dung yêu nước, căm thù
giặc, ca ngợi cách mạng, sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số cũng góp một
tiếng nói bảo vệ đất nước, căm thù giặc ngoại xâm, đồng thời quảng bá và bảo tồn
những nét văn hóa phong tục tập quán đẹp của dân tộc mình. Do vậy, nghiên cứu
văn học dân tộc thiểu số cần có cái nhìn toàn diện, bao quát để khẳng định những
giá trị không thể thay thế của những sáng tác mà các tác giả dân tộc thiểu số cống
hiến bên cạnh những tác phẩm của những tác giả người Kinh viết về dân tộc và miền
núi.
Hơn nữa, nghiên cứu văn học
dân tộc thiểu số không phải là xác định nó tiến kịp hay bước sau so với văn học
cả nước mà cần xác định xu hướng phát triển, cùng những đóng góp của mảng văn học
này vào tiến trình vận động của văn học dân tộc. Chúng ta không nên đặt ra vấn
đề so sánh hơn thua, đuổi kịp hay còn lạc hậu so với văn học dân tộc để đưa ra
những kì vọng e rằng không thực tế: “Một chặng đường hơn nửa thế kỷ, văn học viết
các dân tộc thiểu số Việt Nam đã làm một cuộc hành trình thần tốc, xuyên suốt
nghìn năm (so với văn học Kinh) để sải bước kịp văn học cả nước”(4).
Cần có cái nhìn khách quan, công tâm, khoa học để đánh giá cụ thể, đúng đắn những
đóng góp nhất định và những hạn chế còn tồn tại trong dòng văn học dân tộc thiểu
số nói chung và văn xuôi dân tộc thiểu số nói riêng để từ đó có những định hướng
hợp lý thúc đẩy sự phát triển đa dạng của văn học dân tộc thiểu số ở các vùng
miền trong cả nước, tạo ra sự phong phú đa sắc màu của văn học dân tộc Việt
Nam.
2. Các chặng đường phát
triển
Nếu như văn học viết dân
tộc Kinh ra đời cách đây mười thế kỷ, thì văn học viết các dân tộc thiểu số Việt
Nam chỉ mới ra đời, hình thành, phát triển vào đầu thế kỷ XX. Bộ phận văn xuôi
dân tộc thiểu số cũng bắt đầu le lói từ những năm 30 của thế kỷ XX.
Đầu thế kỷ XX, trên văn
đàn văn học xuất hiện một số tác phẩm viết về đời sống sinh hoạt của người dân
tộc thiểu số ở miền núi. Những tác giả đóng góp cho mảng đề tài này đều xuất
thân là người Kinh như Thế Lữ với tập truyện Vàng và máu (1934),
Lan Khai với Truyện đường rừng (1940). Đương thời, những tác
phẩm này đã thu hút sự chú ý của người đọc bởi sự mới mẻ, kì dị, kích thích trí
tò mò khám phá của độc giả trước cảnh sắc của những miền đất xa xôi, hoang dã với
những phong tục tập quán kì bí, độc đáo hoặc những hủ tục mông muội thậm chí
man rợ. Nhà văn giống như người du khách lãng tử muốn khám phá những miền đất
còn hoang vu, chiêm ngưỡng những tộc người còn nhiều bí ẩn.
Trước năm 1945, văn xuôi
của tác giả người dân tộc thiểu số chưa xuất hiện. Từ sau 1945 theo định hướng
đường lối văn nghệ của Đảng, mảng văn học dân tộc thiểu số được quan tâm phát
triển cả về lực lượng sáng tác, số lượng, chất lượng tác phẩm và đã đạt được những
thành tựu đáng kể. Ngoài một số tác giả người Kinh có những sáng tác về miền
núi, dân tộc như Hồ Chí Minh (Giấc ngủ mười năm, 1948), Nam Cao (Nhật
kí ở rừng, 1948), Tô Hoài (Vợ chồng A Phủ, 1952; Cứu
đất cứu mường, 1953), Nguyên Ngọc (Đất nước đứng lên, 1954)… Một
số tác phẩm của các tác giả người dân tộc thiểu số đã xuất hiện gia nhập vào
dòng chảy chung của văn xuôi dân tộc miền núi vốn trước đây chỉ là độc quyền của
những cây bút người Kinh. Một thế hệ nhà văn trẻ người dân tộc đã được hình
thành trong những năm 50 – 60 khi miền Nam đấu tranh chống Mỹ, miền Bắc xây dựng
xã hội chủ nghĩa. Họ là những trí thức thiết tha muốn đóng góp vào nền văn học
đa dân tộc bằng sức lực và tài năng của chính mình. Đó là Nông Viết Toại (Boỏng
tàng tập éo, 1952), Nông Minh Châu (Ché Mèn được đi họp, 1959), Y
Điêng (Em chờ bộ đội Awa Hồ, 1960), Hoàng Hạc (Ké Nàm, 1963), Triều
Ân (Tiếng khèn A Pá, 1968), Vi Thị Kim Bình (Những bông huệ,
1968)… Cách mạng, nhân dân, văn hóa dân gian là 3 nguồn mạch cảm hứng nuôi dưỡng
các cây bút văn xuôi người dân tộc thiểu số trong những năm tháng cách mạng và
kháng chiến chống Pháp. Sáng tác của họ luôn bám sát công cuộc cách mạng của
dân tộc, thể hiện sâu sắc cảm xúc tâm trạng của người dân miền núi trong những
tháng ngày gian khổ đầy mất mát, hi sinh nhưng oanh liệt, oai hùng. Phạm vi đề
tài phản ánh khá rộng, họ không chỉ viết về miền núi mà còn viết về miền xuôi,
về miền Nam, thậm chí quan tâm cả tới những vấn đề có tính quốc tế, ngợi ca sự
đổi đời của nhân dân các dân tộc và cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Văn xuôi thời kỳ này chủ
yếu viết về con người, quê hương miền núi. Đây là giai đoạn mà ý thức dân tộc của
các tác giả được thức tỉnh, họ háo hức khám phá với tâm hồn “bừng nắng hạ” hăng
say, hăm hở, tràn đầy cảm hứng lãng mạn khi cảm nhận về quê hương dân tộc. Dường
như chưa bao giờ người ta lại tự hào về quê hương, dân tộc mình đến vậy. Và
cùng với những đóng góp của các tác giả người Kinh và các tác giả người dân tộc,
văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đã dần được định vị và “góp phần xứng đáng
vào công cuộc cách mạng, cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng xã hội
chủ nghĩa, trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền văn học Việt Nam xã hội
chủ nghĩa”(5).
Từ sau năm 1975, trong
không khí hoà bình xây dựng cuộc sống mới, văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển
khá mạnh mẽ. Các tác giả người dân tộc thiểu số đông đảo hơn và thành tựu sáng
tác cũng rực rỡ hơn. Thời kỳ này văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển mạnh về số
lượng cũng như chất lượng, giúp chúng ta có thể nhận diện một cách rõ ràng, khẳng
định nó như một thực thể riêng, độc đáo trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại.
Vào những năm cuối thế kỉ
XX, ngoài những tác giả người Kinh vẫn không ngừng trăn trở về đề tài miền núi,
dân tộc như: Mạc Phi, Xuân Thiều, Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn
Khắc Trường, Sơn Nam, Vũ Hạnh, Phạm Duy Nghĩa… đội ngũ những cây bút người dân
tộc được mở rộng, xuất hiện đông đảo, không chỉ ở phía Bắc mà cả miền Trung, miền
Nam của đất nước. Ở Tây Nguyên có Hlinh Niê (Êđê) với tập truyện Con rắn
màu xanh da trời (1997) và tập kí Trăng Xí Thoại (1999),
Kim Nhất (Ba na) với các tập truyện Động rừng (1999), Hồn
ma núi (2002) và Niê Thanh Mai (Êđê) với tập truyện Về bên kia
núi (2007). Ở phía Nam lần đầu tiên xuất hiện văn xuôi của một số dân
tộc như truyện kí Chân dung người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh (1994)
của Lý Lan (Hoa), tiểu thuyết Chân dung cát (2006) của
Inrasara… Ở khu vực miền Trung xuất hiện La Quán Miên (Thái) với tập truyện Hai
người trở về bản (1996), Kha Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003),
Lang Quốc Khánh với tập kí Những miền thương nhớ (2005), Hà Thị
Cẩm Anh (Mường) với Gốc gội xù xì. Ở vùng Việt Bắc và Tây Bắc tác
giả người Tày luôn chiếm số đông. Ngoài các nhà văn như Ma Trường Nguyên, Hà
Lâm Kỳ, còn có Đoàn Lư, Hoàng Hữu Sang, Cao Duy Sơn… Trong đó đáng chú ý là nhà
văn Vi Hồng. Từ 1980 – 1997, Vi Hồng đã cho ra đời 14 cuốn tiểu thuyết: Đất
bằng (1980), Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đã rơi (1985), Vào hang
(1990), Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Lòng dạ đàn bà (1992),
Dòng sông nước mắt (1993), Ái tình và kẻ hành khất (1993), Tháng năm biết nói
(1993), Chồng thật vợ giả (1994), Phụ tình (1994), Đi tìm giàu sang (1995), Đọa
đày (1997). Ngoài ra ông còn có các tập truyện ngắn: Đuông Thang
(1988), Người làm mồi bẫy hổ (1990), Thách đố (1995), Đường về với mẹ chữ
(1997). Ông là một hiện tượng văn học đáng được quan tâm về sức làm việc
phi thường và những hiểu biết về con người, phong tục tập quán, thiên nhiên miền
núi mang đậm sắc thái Tày.
Trong những sáng tác
trên, có những tác phẩm khá xuất sắc thể hiện được bản sắc dân tộc riêng về dựng
cảnh, dựng người, cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật và tư duy nghệ thuật độc
đáo. Nhiều tác phẩm đã kết hợp được bút pháp tự sự theo kiểu truyền thống ảnh
hưởng từ các sử thi, truyện cổ, truyện thơ… với bút pháp văn xuôi hiện đại tạo
nên sự đa dạng, nhiều vẻ, nhiều giọng điệu, trở thành “vườn hoa nhiều hương sắc”
làm phong phú bức tranh của đời sống văn học hiện đại nước ta. Mã A Lềnh với
bút kí Cao Nguyên trắng mang giọng điệu sôi nổi hào hứng đã
ghi lại những đổi mới trên quê hương trong thời kỳ kinh tế thị trường. Văn
phong lôi cuốn, hấp dẫn, linh hoạt, phong phú. Quê hương hiện ra như một bức
tranh với những nét hoa văn khác nhau nhưng luôn có gam màu chủ đạo là rực rỡ
sôi động. Cao Duy Sơn với Người lang thang, Cực lạc, Hoa mận đỏ… đặc
biệt là Đàn trời đã tái hiện một bức tranh xã hội phong phú với
những mảnh đời và lối sống khác nhau ở miền núi. Tác giả đã miêu tả những xung
đột trong cuộc sống, trong tâm hồn mỗi cá nhân với một ngòi bút tinh tế sống động,
đậm chất hiện thực nhưng cũng không kém phần lãng mạn. Kim Nhất (Ba Na) thể hiện
khá phong phú những phong tục tập quán của dân tộc mình qua Chuyện buôn
làng, Nối dây, Phạt kơ đi…
Qua tập kí Chân
dung người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh, Lý Lan đã khắc họa chân thực, cảm động
“chân dung” của một bộ phận người Hoa sống ở thành phố hiện đại nhất nước ta
trong một thời gian dài và một không gian rộng gắn liền với từng bước thăng trầm
của lịch sử dân tộc. Hình ảnh những con người lao động vất vả trong mưu sinh, lập
nghiệp luôn có ý chí vươn lên làm chủ cuộc sống bên cạnh những ông chủ tham lam
xảo quyệt bon chen làm giầu hiện lên thật sinh động… Nhưng điều được thể hiện nổi
bật ở đây là tinh thần đoàn kết gắn bó của người Hoa đối với dân tộc Việt trong
cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc. Hlinh Niê đã biết kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa
chất huyền thoại và sử thi khi viết về con người, cuộc sống ở Tây Nguyên. Tác
giả giới thiệu kho tàng folklore độc đáo với những ngôi nhà rông, hình hoa văn
chim thú được lưu giữ trên nóc các nhà mồ, nghệ thuật ẩm thực kiểu Tây Nguyên…
miêu tả sắc nét lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng chiêng, những nét hoa văn thổ cẩm
phối hợp hài hòa giữa các gam: xanh, vàng, đỏ để làm nổi bật hai màu chủ đạo:
đen và trắng (Về đâu hỡi thổ cẩm Tây Nguyên, Trăng Xí Thoại). Tác giả
còn ngợi ca cuộc sống mới đang chuyển mình của dân tộc Tây Nguyên. Một bộ phận
người dân đã vươn lên trong làm kinh tế, thoát khỏi cuộc sống thiếu thốn nghèo
khổ, được thụ hưởng cuộc sống có điện, có tiện nghi (Du xuân Tây Nguyên,
Làng mặt trời, Bình minh người Dao Cư Suê, Buôn Yung mùa hoa trắng…). Người
con của núi rừng Tây Nguyên không chỉ trăn trở trước những luật tục lạc hậu vẫn
tồn tại mà còn đau đớn, xót xa trước những di sản văn hóa đang bị mai một dần
khi “hàng trăm các nghệ nhân theo dòng thời gian lặng lẽ nằm xuống. Hàng trăm
nghề truyền thống lụi tàn, hàng trăm cổ vật như có cánh bay, hàng trăm công
trình sưu tầm, công sức và tâm huyết của bao người bị mối xông thành đất.
Chiêng Gia Rai, Ê Đê, Ba Na chảy thành máu trong các lò nấu đồng”(6).
Đây không chỉ là lời cảnh báo mà là một hiện thực nhức nhối về sự mất mát, một
đi không trở lại của di sản văn hóa dân tộc.
Có thể nói, tuy chưa có
những tài năng xuất sắc, những phong cách đích thực, nhưng những cây bút người
dân tộc thiểu số đã phần nào thực hiện được sứ mệnh cũng như khát khao cháy bỏng
của những người con không quên nguồn cội, đó là nuôi giữ ngọn lửa văn chương của
dân tộc mình. Nếu không có sự hòa nhập máu thịt, cộng sinh giữa chủ thể và
khách thể thì các nhà văn dân tộc thiểu số không thể viết về con người, cuộc sống
của dân tộc mình đầy cảm xúc như thế. Hầu hết các nhà văn dân tộc thường có cảm
xúc mãnh liệt, nóng bỏng da diết về con người, cuộc sống của dân tộc mình, quê
hương mình. Bởi những người cầm bút là con em dân tộc có một thế mạnh nhất định
khi linh giác của họ từ trong huyết thống đã được nuôi dưỡng, tiềm ẩn ở vùng vô
thức của tâm linh sâu thẳm, những biểu tượng văn hóa của dân tộc mình.
Trong sự phát triển chung
của đất nước, bộ mặt miền núi và cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số đã
và đang có bước phát triển đa dạng về mọi mặt. Nhiều tác phẩm hướng về công cuộc
xây dựng đời sống, phát triển kinh tế ở miền núi như tiểu thuyết Gió
hoang của Ma Trường Nguyên, tập bút kí Cao nguyên trắng của
Mã A Lềnh và các tập truyện ngắn của Sa Phong Ba. Phạm vi hiện thực cũng được mở
rộng hơn nhờ sự dân chủ, đổi mới của văn học. Những vấn đề nhạy cảm, những mảng
tối, những mặt trái của hiện thực trước đây từng bị né tránh nay phần nào đã được
phơi bày. Trong những năm 90, các tiểu thuyết của Vi Hồng được dư luận quan tâm
bởi những vấn đề có tính thời sự. Tác giả đề cập đến sự băng hoại đạo đức của một
số trí thức có địa vị nhưng ham tiền tài danh vọng (Người trong ống, Gã ngược
đời), những sai lầm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, sự ấu trĩ của việc
ngăn cấm cá nhân làm giàu (Chồng thật vợ giả, Thung lũng đá rơi,…).
Nhìn chung, cho tới nay,
nhiều dân tộc thiểu số vẫn chưa có mặt trong cuốn biên niên sử của văn học Việt
Nam hiện đại. So với khoảng thời gian đã mấy chục năm của công cuộc đổi mới,
nhìn chung văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi vẫn chưa theo kịp bước đi của hiện
thực. Từ trước đến nay, bộ phận văn học này còn ít chạm đến chiến tranh cách mạng
– một hiện thực lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh của các dân tộc miền
núi. Phần lớn các nhà văn chỉ miêu tả công cuộc xây dựng đời sống mới mà chưa
tái hiện những tên tuổi đã đi vào lịch sử cách mạng, kháng chiến ở miền núi. Và
cả về tầm vóc lẫn số lượng còn thiếu những tác phẩm khái quát được những vấn đề
trung tâm của dân tộc – miền núi trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường,
thực hiện xóa đói giảm nghèo, đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một số vấn
đề “thời sự” ở các vùng miền núi như an ninh, quốc phòng… chưa được phản ánh
toàn diện, triệt để. Những hiện tượng bất ổn về chính trị xã hội, thực trạng
đói nghèo, thất học, mù chữ hoặc tái mù chữ ở nhiều nơi đến nay mới chỉ được đề
cập trong một số rất ít truyện ngắn. Về đội ngũ sáng tác, sự kế tục của thế hệ
người viết trẻ ở cả dân tộc Kinh và các dân tộc khác hiện rất ít ỏi. Đây cũng
là một trong những vấn đề đang được nhiều nhà nghiên cứu quan ngại khi nhìn về
tương lai phát triển của văn xuôi miền núi.
3. Một vài đặc điểm tiêu
biểu
3.1. Văn
xuôi dân tộc thiểu số miền núi đã công khai hé mở thực trạng về sự nghèo đói
truyền kiếp của người dân vùng cao, vạch trần thói mị dân, sự sa đọa cùng hành
vi đen tối của quan lang bản địa. Sự hiện hữu của cái nghèo, cái ác, tác động
tiêu cực của kinh tế thị trường đối với vùng cao là vấn đề được nhiều tác phẩm
quan tâm. Sự xâm nhập của thương trường phá vỡ sự yên bình ngàn đời của núi rừng,
lối sống thực dụng nhen nhóm lan tỏa làm rạn nứt nếp nghĩ truyền thống, cái xấu
xa phi pháp khuấy đảo sự thanh bình của làng bản… Đó là những dấu hiệu băn
khoăn đáng lo ngại trước sự biến chuyển của đời sống người dân miền núi. Đáng
lưu ý là ngoài những vấn đề mang tính xã hội, một số tác phẩm đã đi vào các
khía cạnh của đời tư con người vùng cao, với những câu chuyện tình yêu nhiều
sóng gió, trắc trở, với những số phận cá nhân chứa đầy bi kịch, với lòng tham
và cả sự tha hóa của con người…
Trước năm 1975, văn xuôi
dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung phản ánh cuộc đấu tranh cứu quốc vĩ đại của
dân tộc, có nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, ca ngợi quê hương, đất nước, con
người mới. Hiện nay biên độ sáng tác đã mở rộng hơn. Văn xuôi dân tộc thiểu số
đã từng bước bắt nhịp vào đời sống của đất nước, ca ngợi cái mới, cái tốt đẹp đồng
thời cũng phê phán cái xấu, cái lạc hậu, cái ác, cổ vũ, động viên đi sâu miêu tả
thân phận con người miền núi với những số phận mới, khát vọng mới. Trong trang
viết của các nhà văn, cuộc sống con người miền núi đã có nhiều đổi thay. Sự tù
đọng trong nghèo khó, đói rét, tật bệnh của người dân đang dần được khắc phục.
Sự trói buộc của những tập tục lạc hậu trong những bản làng heo hút đang được nới
bỏ. Vẫn còn nhiều vấn đề đang diễn ra trong đời sống của đồng bào miền núi, người
dân phải vật lộn với những khó khăn của cuộc sống mới: nạn tảo hôn, mù chữ, phá
rừng, hút sách… Người phụ nữ miền núi là hiện thân của bức tranh toàn cảnh về số
phận con người ngàn đời trong rừng thẳm. “Thân phận người con gái ở nơi rừng rú
mọi thứ như ải ra, mục ra bởi bóng núi đè” (Vi Hồng). Tuy vậy, ở họ vẫn ánh lên
vẻ đẹp của người lao động khỏe khoắn, hồn nhiên, thủy chung với những khát vọng
cao đẹp lại mang dáng vẻ riêng của từng dân tộc. Những chàng trai mang nhiều
hoài bão khát vọng nhưng không thể thực hiện được. Hình tượng những nhân vật với
những mảnh đời bất hạnh. Những người dân lương thiện có địa vị thấp hèn trong
xã hội, phải sống trong cảnh nghèo hèn tối tăm, với môi trường sống khắc nghiệt
hoặc trong sự áp bức bóc lột của cường quyền, bạo lực… nhưng luôn có ý thức
vươn lên vượt qua số phận. Những nhân vật đại diện cho thế lực hắc ám, đại diện
cho những kẻ thuộc tầng lớp thống trị miền núi, nắm giữ cường quyền, đè nén,
bóc lột, cướp đoạt tự do hạnh phúc của dân nghèo vô tội. Họ giống như bóng đêm
dầy đặc bao phủ cuộc sống, tác yêu, tác quái áp bức con người.
Bức tranh hiện thực xã hội
miền núi hiện ra với không gian thiên nhiên hoang dã, không gian hiện thực buồn
lạnh, u ám của những thị trấn nhỏ nơi biên thùy, những bản làng còn chìm trong
nghèo khó. Ở đó xuất hiện những xung đột giữa khát vọng no ấm, tình yêu, hạnh
phúc với những thế lực hắc ám, những rào cản từ hủ tục, những oái oăm trắc trở
muôn đời của kiếp người, làm ngời sáng những tình cảm thủy chung thiêng liêng,
những phẩm chất cao đẹp của con người miền núi dũng cảm và nhân hậu. Những con
người này mộc mạc nguyên sơ vừa mang vẻ đẹp của sự e ấp hồn nhiên, vừa thể hiện
bản năng sống dồi dào mãnh liệt đầy tự chủ, năng động trước mỗi cảnh ngộ của cuộc
đời mà họ phải đối mặt đương đầu. Chính vì vậy, nhân vật của các nhà văn miền
núi thường “không có những tính cách với những nét hằn nổi, để có thể cảm nhận
như sờ mó được”(7) nhưng vẫn lôi cuốn người đọc bởi sự phong
phú của thế giới nhân vật, sự sinh động của phong tục tập quán và khả năng tưởng
tượng, sáng tạo, hư cấu ít có.
Đặc biệt khi miêu tả nhân
vật, các tác giả thường dùng thủ pháp so sánh, tương phản theo lối “vật hoá” (đối
với nhân vật phản diện) hoặc “thần hoá” (đối với nhân vật chính diện). Những
nhân vật phản diện thường được xây dựng bằng thủ pháp “vật hoá” nhằm hạ
thấp đối tượng. Chẳng hạn nhân vật Khàng (Dưới chân núi Nục Vèn –
Cao Duy Sơn) được miêu tả “nghịch như con khỉ độc trên rừng, dữ như con hổ
đói” (8). Khi nhìn thấy cô gái đẹp, hắn “đứng như con gấu, mắt
vằn đỏ như mắt con hổ đói hau háu nhìn cắm vào cái gáy nõn chuối rừng”(9).
Tính nết thì “ác như con rắn độc”(10). Còn lão lí trưởng – bố Khàng
thì “mặt khoặm lại trông dữ như mặt diều hâu”(11). Hoặc chân dung
nhân vật Eng Bải (Eng Bải – Triều Ân): “hai má dài như mặt ngựa
không đeo hàm thiếc”, “tiếng cười như tiếng ngựa, khi thì hờ hờ, khi thì hi hí”(12).
Thằng Thìm với “cặp mắt to như con ốc nhồi, lồi ra như người ta ấn hai con ốc
nhồi to vào hốc mắt”, có nụ cười nhếch mép “như trâu cười nước đái của nó”(13).
Hình ảnh ông anh cả của Hoàng (Tháng năm biết nói – Vi Hồng) “khi
cười thì cái mũi héo lại, nhăn thun lủn như con đỉa”(14). Mụ Tẹo –
người vợ duyên nợ của Hoàng có mái tóc “rất dầy nhưng sao vàng như lông bò, da
mặt đỏ phớt nhưng sao nhẵn thín như da con lươn già”. “Cô ta nhách ra từng tiếng
dai như mảnh da trâu khô và rít qua kẽ răng”(15). Với thủ pháp “vật
hóa”, các nhân vật phản diện trở thành những con vật tầm thường thậm chí bẩn thỉu,
hèn hạ.
Ngược lại khi khắc hoạ những
nhân vật lí tưởng, các tác giả lại sử dụng thủ pháp so sánh với xu hướng “thần
hoá”, “tiên hoá”. Người con gái đẹp thường được ví với “bông hoa tiên trên vách
núi”, “bông hoa thánh”, “hoa vặc viền trên đá” hoặc “đẹp như một nàng tiên”….
Chẳng hạn: “Họ có khuôn mặt trái xoan rất xinh đẹp như bàn tay tiên đúc nặn
nên…Cái mũi của họ thật thanh tú với cặp môi đỏ chót như quả nhót chín mọng,
lúc nào cũng ươn ướt như tô một thứ nước son của tiên của phật”(16).
Hầu hết các nhà văn dân tộc
thiểu số đều chịu ảnh hưởng của thi pháp dân gian với quan niệm ở hiền gặp
lành, ác giả ác báo. Hệ thống nhân vật trong tác phẩm thường được phân định
thành hai tuyến rõ ràng tốt – xấu, thiện – ác. Những nhân vật chính diện thì được
miêu tả thánh thiện, nhân ái như tiên, bụt, chân thực tới tận đáy lòng. Ngược lại,
nhân vật phản diện thì xấu xa, ti tiện, độc ác và tàn nhẫn đến cùng cực. Nhân vật
chính diện luôn có vẻ đẹp hoàn mĩ từ hình thức bề ngoài đến phẩm chất, nhân
cách. Họ thường là những con người lí tưởng chân thực, giầu lòng nhân ái, giầu
khát vọng về tình yêu tự do, có sức sống bền bỉ, mãnh liệt. Tính nhân văn và
lòng trắc ẩn luôn là khát vọng muôn đời mà các nhà văn người dân tộc gửi gắm kì
vọng ở những nhân vật đại diện cho vẻ đẹp của dân tộc mình, cộng đồng mình.
Ngay cả khi nhà văn viết về cái xấu, cái ác thì cũng là để bảo vệ cái tốt, cái
thiện, đấu tranh, cảnh tỉnh con người biết cảnh giác và tránh xa những gì phi đạo
đức, phản nhân văn. Chính điều này làm cho cảm hứng ngợi ca, khẳng định trở
thành cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm của các nhà văn dân tộc thiểu số.
3.2. Văn
xuôi miền núi còn đi sâu miêu tả, khắc họa đời sống tinh thần vốn đã rất phong
phú, đa dạng của văn hóa và con người miền núi. Đó là những phong tục tập quán
đặc trưng của các dân tộc thiểu số. Văn xuôi viết về dân tộc thiểu số miền núi
cũng đã đào sâu vào các mặt đời sống của các dân tộc làm rạng nên những nét
riêng, độc đáo trong lễ hội, cách trang trí nhà cửa hay lối sống. Các tác giả
cũng chỉ ra cái xấu chưa bị tiêu diệt đến cùng, cái tốt đang khởi sắc và cả cái
đẹp đang bị mai một. Đó còn là thực trạng về sự mông muội, mê tín dị đoan nặng
nề bị kẻ ác lợi dụng và tố cáo hoặc những luật tục vô nhân đạo còn tồn tại ở
vùng cao đang bắt đầu bị lớp trẻ chống đối. Những con người miền núi sâu nặng
nghĩa tình, bền bỉ, thuần hậu lần lượt bước vào các trang văn của người nghệ
sĩ. Những tăm tối u mê, đói rét, lạc hậu, giả dối đều là kẻ thù của cái đẹp.
Các nhà văn đã tập trung miêu tả những tập quán của dân tộc thiểu số về cư trú,
lao động, sinh hoạt, vui chơi, tín ngưỡng, những nét tâm lý riêng của mỗi cộng
đồng. Chẳng hạn trang phục của đồng bào Dao đỏ, Dao quần trắng, Hmông, Tày… hiện
lên khác nhau rõ nét. Các tác phẩm đã phản ánh sâu sắc hiện thực cuộc sống vùng
đồng bào các dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng dân tộc, khơi dậy
và nuôi dưỡng tình cảm, khát vọng xây dựng, giữ gìn nét đẹp văn hóa của dân tộc
mình.
Đến với ngày lễ hội của
các dân tộc, người đọc ngỡ ngàng trước sự đa dạng trong màu sắc văn hóa, trang
phục, trong ngôn ngữ, trong các lễ thức dân gian, các điệu múa cổ truyền và cả
trong ẩm thực… Sự phong phú ấy phần nào nói lên sự đa dạng trong bản sắc dân tộc.
Nếu đi sâu vào văn hóa của từng tộc người chúng ta sẽ thấy những trầm tích về lịch
sử được bảo lưu qua lời ăn tiếng nói, qua phong tục tập quán và phương cách ứng
xử. Dân tộc nào cũng có những nét riêng về văn hóa. Đó là nét đặc thù mang dấu ấn
khu biệt của mỗi cộng đồng. Hiểu biết các dân tộc thông qua văn hóa của từng tộc
người là yếu tố quan trọng để tạo dựng nên tác phẩm văn học nghệ thuật hiện đại.
Những phong tục tập quán
với những nét tiêu biểu cho bản sắc của từng dân tộc biểu hiện những đặc tính
trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng của con người vùng rừng núi. Từ những tục lệ
ma chay, cưới xin, đón dâu, ở rể, các lễ hội dân gian như hội tung còn, đánh
khăng, chơi quay, bắn nỏ đến những phong tục tín ngưỡng như lễ cầu mưa, cầu nắng,
cầu mùa, lễ vào nhà mới, lễ mừng được mùa, lễ cấp sắc, cầu ngư, lễ bỏ mả (pơ
thi), lễ cúng rừng, cúng nguồn nước… hiện lên chân thực. Vẻ đẹp lễ hội được
toát lên từ những nghi thức long trọng, những lời ca, tiếng hát, điệu vũ của cô
then xinh đẹp mang hình bóng quê hương, cỏ cây, hoa lá, trời mây, sông suối làm
say đắm lòng người. Những thói quen ăn ở, sinh hoạt, nếp sống hàng ngày đều ghi
lại dấu ấn văn hóa. Người Hmông sống trong những ngôi nhà mái thấp trên đỉnh
núi mờ sương, dân tộc Dao làm nhà sàn trên những mô cao cạnh nguồn nước, đồng
bào Tày làm nhà trong thung lũng… Những dấu ấn này đang mai một theo thời gian
khi vấn đề hiện đại hoá xã hội đang đi vào từng thôn bản làm thay đổi cuộc sống
và nếp sinh hoạt của các dân tộc thiểu số. Do đó, những trang văn của các tác
giả vô hình chung trở thành từ điển sống để chúng ta khảo cứu về nếp sống cổ
truyền của mỗi tộc người.
Như vậy, hầu hết các tác
giả đều chú trọng miêu tả đời sống tâm linh với những nét phong tục tập quán đẹp
đẽ, cả những hủ tục đã ăn sâu vào tiềm thức ngàn đời của con người miền núi.
Đây cũng là một trong những điểm nhấn làm nên sức hấp dẫn của những tác phẩm
văn xuôi viết về dân tộc thiểu số miền núi.
3.3. Ngôn
ngữ nghệ thuật được hoàn thiện nhờ tài năng lao động của nhà văn. Khác với ngôn
ngữ văn hóa, ngôn ngữ nghệ thuật mang dấu ấn, màu sắc riêng của từng tác giả,
phản ánh nét độc đáo không lặp lại của mỗi nhà văn. Khi các nhà văn sử dụng
ngôn ngữ nghệ thuật, mỗi người lại có khả năng thể hiện một giọng điệu riêng,
cách xử lý riêng tạo nên cá tính sáng tạo, phong cách đặc thù. Nhiều tác giả là
con em các dân tộc được học tập và giáo dục dưới chế độ mới dần dần hình thành
đội ngũ trí thức người dân tộc, trong đó một số người đã say mê bước vào con đường
sáng tạo văn chương. Mô hình chung của các nhà văn dân tộc thiểu số thường là
những trí thức viết văn kiêm nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Không
chỉ thông qua con đường được đào tạo chính thức, họ còn tự học thêm rất nhiều.
Đặc biệt vốn tri thức của họ ngày càng dầy dặn chính là do họ biết khai thác vốn
văn hoá dân tộc được cộng đồng, họ tộc và môi trường sống truyền nhập. Vốn hiểu
biết văn hóa, văn học dân gian phong phú đã chắp cánh cho sáng tác của các nhà
văn dân tộc thiểu số thêm bay bổng, lãng mạn. Phần lớn cách viết của các tác giả
này nằm trong một hệ thống văn hoá, ngôn ngữ dân tộc, những câu nói ví von, so
sánh giầu hình tượng nhuần nhuyễn trong một kiểu tư duy dân gian – truyền thống.
Các thủ pháp ví von, so
sánh liên tưởng thường được các nhà văn dân tộc thiểu số sử dụng với mật độ lớn.
Điều này thể hiện rõ sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong cách viết của các
tác giả đồng thời tạo cho tác phẩm giầu chất thơ, phù hợp với cách phô diễn của
người dân tộc thiểu số. Vấn đề đặt ra là, liệu ảnh hưởng dân gian quá sâu đậm
có tạo nên hiệu ứng ngược chiều như lo ngại của một số nhà nghiên cứu: “Các tác
giả thường dùng lối nói ví von, so sánh nên chất văn xuôi chưa được nổi rõ, các
nhân vật thường được xây dựng theo kiểu nhân vật chức năng hoặc loại hình như
trong các truyện cổ tích, thần thoại hoặc nhân vật cổ mà thiếu chiều sâu phân
tích, lý giải để nhân vật có được tính cách riêng”(17). Rõ ràng, thực
trạng này là có cơ sở, nếu xét thành tựu văn xuôi dân tộc thiểu số theo lí luận
hiện đại thì tiến trình hiện đại hóa còn nhiều điều phải trăn trở, luận bàn.
Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ tiếp nhận với tầm tiếp nhận của độc giả, sự tiếp
thu kế thừa các yếu tố văn hóa văn học dân gian là một trong những con đường để
tác phẩm của các nhà văn dân tộc thiểu số đi vào công chúng miền núi một cách
hiệu quả. Nên chăng có thể coi đây là một thế mạnh của các nhà văn miền núi?
Mỗi tác giả đại diện cho
mỗi dân tộc khác nhau lại có những cách vận dụng kho tàng folklore của mình
theo cách riêng tuỳ thuộc vào vốn văn hóa mà họ thụ hưởng. Vi Hồng là người con
của dân tộc Tày, ông đã vận dụng rất thành công vốn văn hóa văn học dân gian
Tày – Nùng như sli, lượn, thành ngữ, tục ngữ, puối pác (lời nói bằng câu có vần),
puối rọi (câu nói có nhịp và vần điệu như hát) trong ngôn ngữ trần thuật, đặc
biệt là ngôn ngữ nhân vật tạo ra cách nói “ngọt tiếng”, “ngọt lời”
nên tạo hiệu ứng “ngọt tim”. Có thể nói, trong sáng tác của Vi Hồng,
chính ngôn ngữ dân gian đã đem lại sắc thái dân dã, mộc mạc nhưng tươi mới, độc
đáo biểu hiện môi trường sinh hoạt còn đậm nét dân gian của vùng đất Việt Bắc.
Ngược lại, văn xuôi của Hlinh Niê lại mang màu sắc sử thi Tây Nguyên với chất
huyền thoại khi đậm đặc lúc mờ nhạt đan cài nhuần nhuyễn trong hình tượng nhân
vật, cốt truyện hay các chi tiết sự kiện thực mà như ảo. Đặc biệt ngôn ngữ giầu
hình ảnh, giầu nhịp điệu, phép so sánh và phóng đại được sử dụng có hiệu qủa đậm
chất lãng mạn, bay bổng. Điều này cho thấy, cội nguồn văn hoá dân gian tạo sinh
tác động sâu sắc tới tác giả chính là kho tàng sử thi đồ sộ của dân tộc Ê Đê,
Ba Na với: Đăm Săn, Đăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú, Đăm Noi…
Như vậy, tiếp thu văn học
dân gian cũng là một đặc trưng quan trọng tạo nên đặc điểm riêng biệt của bộ phận
văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi.
Thành tựu về nghệ thuật của
văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi được thể hiện như một quá trình nỗ lực tự
hoàn thiện để hòa nhập với trình độ phát triển chung của văn học nước nhà. Văn
xuôi miền núi ngày càng có xu hướng cởi bỏ những trì níu đã lỗi thời của cách
tư duy thô mộc. Tiếp tục kế thừa truyền thống nhưng ít nhiều đã thấy cốt truyện
linh hoạt, biến ảo hơn, nhân vật đa chiều, phóng túng và gần với đời thực hơn.
Ngôn ngữ, giọng điệu, không gian cũng gợi lên những phong vị mới. Đây đó ở một
số sáng tác, yếu tố kì ảo (fantastique), nghịch dị (grotesque) đã xuất hiện, dù
mờ nhạt. Quy mô lớn rộng của tiểu thuyết sử thi có chiều hướng nhường chỗ cho
những tác phẩm nhỏ, vừa nhưng sánh đặc hơn về thông tin, chi tiết. Về phía các
tác giả dân tộc thiểu số, tiến bộ xã hội cùng sự giao lưu văn hóa là nhân tố
thúc đẩy nhanh chóng quá trình hiện đại hóa văn xuôi của họ. Tư duy nghệ thuật
phát triển, vốn tri thức về nhiều lĩnh vực của đời sống được mở mang giúp khu vực
sáng tác này vượt qua được lối biểu đạt quen thuộc, đơn giản. Cộng thêm hàm lượng
từ ngữ phong phú và cú pháp không ngừng được gia công, gọt giũa đã đem đến cho
văn xuôi viết về dân tộc thiểu số miền núi những mới mẻ đáng khích lệ.
Trong những năm qua, một
số sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số đã mang đến cho văn học Việt Nam những
sáng tạo mới trong cách nhìn và tư duy nghệ thuật. Chính điều ấy đã rút ngắn dần
khoảng cách giữa người phản ánh với đối tượng được phản ánh, giữa hiện thực được
phản ánh với người tiếp nhận. Trên thực tế, văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi
vẫn đang trên hành trình phát triển với nhiều hứa hẹn mới mẻ, những hạn chế sẽ
dần được khắc phục, những thành công tiếp tục được phát huy dựa trên nền tảng vững
chãi của những thành tựu văn học giai đoạn trước. Văn xuôi miền núi là bộ phận
không thể tách rời với văn học dân tộc, văn học thời đại. Vì thế, văn học dân tộc
muốn phát triển toàn diện không thể không quan tâm đến sự tồn sinh và phát triển
của bộ phận văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi.
Chú thích:
(1) Lâm
Tiến: Văn học và miền núi, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2002;
tr.41.
(2) Ngọc
Bái: Văn học với đề tài miền núi, dân tộc, Nguồn: nhandan.com.vn
(3) Dẫn
theo Lâm Tiến: Viết về con người, cuộc sống các dân tộc thiểu số, Tạp
chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 142, tháng 11/2006; tr.19.
(4), (5), (17) Lâm
Tiến: Thế kỷ XX – chặng đường đầu của văn học viết các dân tộc thiểu số
Việt Nam, in trong cuốn: Văn học và miền núi, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội,
2002; tr.152, 153, 146.
(6) Hlinh
Niê: Folklore Tây Nguyên độc đáo và giầu có – còn chăng ?, in trong
cuốn: Trăng Xí Thoại, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1999; tr.75.
(7) Phong
Lê: 40 năm văn hoá nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam 1945 – 1985,
Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1985; tr 266.
(8), (9), (10), (11) Cao
Duy Sơn: Những đám mây hình người, Nxb.Văn hoá dân tộc, Hà Nội,
2002; tr.195, 196, 199, 198.
(12) Triều
Ân: Tuyển tập thơ văn Triều Ân, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2006; tr.180.
(13), (14), (15) Vi
Hồng: Tháng năm biết nói, Nxb.Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1993; tr.35,
37, 98.
(16) Vi
Hồng: Chồng thật vợ giả, Nxb.Thanh Niên, Hà Nội, 1994; tr. 42.
23/3/2026
Cao Thị Hảo
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Vọng âm - Một tiểu thuyết dày công tư duy và lao động quá khứ
Vọng âm - Một tiểu thuyết dày công tư duy và lao động quá khứ Nhà văn Nguyễn Thu Hà vừa có buổi ra mắt tiểu thuyết “Vọng âm” (NXB Công an ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...

