VĂN THƠ NHẠC
Thứ Ba, 2 tháng 6, 2026
Thiếu Sơn nhà văn chính trực
“Trang viết của Thiếu Sơn đến với chúng ta hôm nay cũng khiêm nhường như con người ông, dù ông là chứng nhân và đã một thời làm nên sự kiện. Là chứng nhân, Thiếu Sơn cho chúng ta hình ảnh một trí thức chính trực; với sự kiện, Thiếu Sơn trở thành nhà phê bình mở đường”.
Chu Văn Sơn - Một tiếng văn bi mỹ
Chu Văn Sơn - Một tiếng văn bi mỹ
Anh là tiến sĩ văn học, nhà nghiên cứu phê bình giảng dạy
văn chương tại Khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội. Anh có mái tóc xoăn bồng bềnh,
gương mặt sáng, nụ cười tươi của phong thái thi sĩ. Anh có giọng giảng bài trầm
thanh nhiều sắc điệu cuốn hút các sinh viên học sinh, các độc giả yêu văn thơ.
Và anh nổi tiếng nhất ở những bài viết của mình về Thơ, một nghệ thuật ngôn từ
tinh tế, diệu vợi, cần có những sự thẩm bình, phân tích, phát hiện, tìm tòi ở
những mức độ tế vi của từ ngữ và viết ra bằng một giọng văn bay bổng, sâu lắng,
tỉ mỉ, thấu đáo với những con chữ có hồn thơ có nhạc điệu, tài tình và tài hoa.
Văn phê bình thơ của Chu Văn Sơn đọc khoái cảm như thơ. Bạn có thể chứng thực lời
tôi nói ở các cuốn sách nghiên cứu phê bình của anh: Tinh hoa Thơ Mới (1997), Ba
đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử (2003), Thơ,
điệu hồn và cấu trúc (2007).
Nhưng cuốn sách của Chu Văn Sơn tôi đang nói đây viết rất thơ
nhưng lại không phải là bàn về văn chương. Anh viết về thiên nhiên cảnh vật mà
anh được chiêm ngắm và chiêm nghiệm qua những chuyến đi, và qua cả một đời sống.
Ở đây tôi không muốn dùng từ “du lịch” cho Chu Văn Sơn và những cái viết của
anh. Bởi vì người thời nay đang chạy theo du lịch như một “trend”, một “hobby”
đến thành ra xô bồ, bừa bãi. Khi con người hết đói bụng thì họ đói mắt nhìn. Họ
đi chỉ để nhìn, và phần nhiều nhìn mà ít/không thấy, càng rất ít/không nghĩ về
những cái nhìn/thấy trong những chuyến đi. Sơn không thế. Sơn khác họ. Sơn đúng
như một nhà văn nước ngoài đã nói: “Mang tên con người thì dễ, làm một con người
thì khó. Đừng hỏi người đã bước đi nhiều, hãy hỏi người đã nhìn thấy nhiều”.
Anh cũng đi như mọi người, có trong nước và ngoài nước, đến cả những nơi không
phải ai có tiền cũng dám đến và đến được như vào tận hang Sơn Đoòng ở khu di sản
thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng. Cái khác của Sơn là anh gặp Cảnh Vật
vui với Đất Trời từ đó nghĩ về Cuộc Đời và ngẫm về Con Người. “Ta cũng nòi tình
thương người đồng điệu”, Sơn ứng xử với cảnh sắc thiên nhiên trong mỗi chuyến
đi với tâm thế nhân văn đó. Mỗi cảnh mỗi nơi đồng điệu với tâm hồn anh trong những
nghĩ suy dằn vặt về cuộc sống và con người thời hiện đại, và mọi thời. Đến đâu
anh cũng gắng nhìn cảnh vật trước mắt bên ngoài bằng con mắt tâm thức, con mắt
bên trong, con mắt của cái Đẹp vĩnh hằng và mong manh. Và anh thấy ra cái Đẹp ở
sự hài hòa của những cặp đối cực trong tự nhiên.
Trước hết là ở những nơi chốn hữu hình, sự vật cụ thể ngay
trước mắt. Đối cực ở quần thể đền đài Angkor là Con người và thần linh, Kỳ vĩ
và tinh xảo, Giáo gươm và điệu múa, Đá và cây, Khoảnh khắc và vĩnh cửu. Đối cực
ở hang Sơn Đoòng là Báu vật và huyền thoại, Đá và nước, Bóng tối và ánh sáng, Sự
sống và cái chết, Hữu hạn với vô cùng, Chinh phục và thất bại, Giới hạn và vượt
thoát. Đối cực ở những nhà mồ Tây Nguyên, theo tục lệ người sống tạc tượng gỗ
tiễn đưa người chết sang thế giới bên kia, nhưng giờ đây có khi người sống đã
như tượng tạc, bị biến thành tượng nhà mồ trong ngôi nhà mình đang sống. Cố
nhiên không phải con mắt Chu Văn Sơn thì không nhìn ra những đối cực đó, hoặc
có nhìn ra cũng không thấy được những đối cực đó, hoặc có thấy được cũng không
luận nghĩ được sâu những đối cực đó, hoặc có luận nghĩ được cũng không viết được
những trang văn hài hòa đối cực đó. Mà nếu không đối cực thì cũng là trái ngược
mà chỉ Sơn mới nhìn ra và thương xót. Như đến Đầm Vạc không có vạc chỉ thấy cò,
nhìn cò trước mắt nhớ cò tuổi học trò, đang lãng mạn cánh cò bỗng hiện thực trần
trụi cò bị vặt lông làm thịt. Như rặng bằng lăng trước nhà người vào ra nhìn thấy
hàng ngày mà có ai chạnh nghĩ cứ hè đến hoa hồn nhiên hào phóng tím nở hết mình
mà rồi nhanh bị người quên như là rẻ rúng, bạc bẽo. “Mà bằng lăng nào có đòi hỏi
gì. Vẫn nở yêu kiều thế, vẫn khai hội tưng bừng thế, vẫn ríu ran hào phóng thế,
hồn nhiên khi trổ cánh, điềm nhiên khi lìa cành, tỏa sáng một đời hoa, cháy tận
một sắc tím, rồi băng. Bất chấp sự đơn bạc của nhân gian. Đó là phận hoa. Đó là
kiếp hoa. Đó là lẽ hoa rồi.” (tr. 127).
Nhưng đến một thứ cây bình thường, tầm thường thì đúng hơn, mọc
giữa trời đất ai cũng thấy, lại thấy nhiều lần nhiều nơi, có khi còn đem cả về
nhà làm cảnh, nhưng Chu Văn Sơn nhìn nó thấy ra những đối cực, vận những đối cực
đó cho người, thì thật là tuyệt vời, tuyệt thú. Đó là phận hoa bên lề – hoa
lau. Nó là hoa nhưng lại là cỏ, mọc nơi heo hút như mang phận lưu đày nhưng lại
là công dân toàn cầu vì ở đâu mà chẳng gặp lau. Nó là thứ hoa đạm bạc bậc nhất
nhưng lại mang trong mình một chút thiền ý. “Thiền ý về cái lẽ sắc không của tồn
sinh. Không màu mè, không hình nét. Có sắc mà vô sắc. Là hoa mà như không phải
sắc hoa. Có mà như không có. Hoa lau nhắc ta nhiều nhất về sự chập chờn mong
manh của phận người. Cũng là nhắc về cái bạc lý bạc nghĩa của sự tồn sinh” (tr.
139). Nó là lau nhưng cũng là cờ khi Đinh Bộ Lĩnh còn là một đứa trẻ trâu. Chỉ
có mắt trẻ thơ mới nhìn ra được thế. Và lau lại thành lau khi chú bé năm xưa đã
thành ông vua Đinh Tiên Hoàng. Lau như vậy là giống hoa cỏ chỉ được con trẻ và
giống nghệ sĩ đoái hoài, hai loại người có bản tính nhi nhiên. Và cuối cùng người
có thể hờ hững với lau, lau đâu hờ hững với người, khi nơi lau mọc nhiều là
nghĩa địa, “mỗi bông lau cứ như sự hiển linh của một cô hồn. Trước khi Phật Bà
vẩy nước cành dương để hóa giải cho mỗi kiếp người, thì lau đã an ủi cho họ bên
từng nấm mộ” (tr. 143). Trên đây tôi đã dùng những từ xoàng xĩnh của mình tóm lại
những đối cực mà Chu Văn Sơn đã phát hiện ra và viết rất thấm thía về phận lau
cỏ hoa. Nếu lau cất tiếng, chắc hoa sẽ cám ơn người đồng cảm nhiều lắm. “Phận
hoa bên lề” là một trong vài ba bài hay nhất tập sách. Đọc nó cứ rưng rưng,
thương lau thương mình. Và thương Sơn.
Anh đã đến với thiên nhiên như tìm về một chốn bình yên giữa
cuộc sống đang bát nháo xáo động hiện nay. Bình yên như ở Đà Lạt, một vùng ôn đới
giữa đất trời nhiệt đới. Và nhất là Sơn tìm kiếm một sự thanh an như anh đã ngộ
ra khi đến một địa danh trồng chè có tên gọi bằng hai chữ này. Anh hiểu ra sự
say mê, cuốn hút của mỗi vùng đất mình đến có được ấy là do “cái niềm hân hoan
của kẻ đói khát sự thanh sạch an nhiên bỗng gặp được những nguồn thanh an của từng
xứ ấy” (tr. 151). Mỗi lần như thế anh đều thả mình đắm chìm vào nguồn dinh dưỡng
của cõi sống mình may mắn có được và anh coi đấy là một lần hồi sinh. Nhưng
càng sung sướng được tận hưởng khí chất thiên nhiên của đất trời bao nhiêu, anh
càng lo sợ sự can thiệp tàn phá của con người vào vẻ hoang sơ tự nhiên bấy
nhiêu. Đà Lạt đang mất dần sự bình yên. Thanh An trở thành khu du lịch sẽ phải
đối mặt với sự khủng hoảng sinh thái không tránh khỏi. Cả tập sách này Chu Văn
Sơn dẫn người đọc theo anh đi trong mạch cảm xúc bi mỹ đó. Cái Đẹp Đau Thương!
Đọc anh vì thế có thể khóc ở hai tâm trạng: rưng rưng – thiên nhiên đẹp quá,
thích quá, muốn được hòa vào nó; căm phẫn – con người ác quá, vô nhân quá, đang
tâm hủy diệt thiên nhiên. “Cái đẹp không có khả năng tự vệ. Cái ác đã lợi dụng
cái hùng để tàn sát cái đẹp, trong chốc lát, chúng đã biến cái đẹp thành cái
bi” (tr. 26), điều này anh viết không chỉ riêng cho đá núi đền tháp Angkor.
Chu Văn Sơn gọi những bài viết trong tập tùy bút này của mình
là “lời tự tình”. Quả đúng vậy. Chu Văn Sơn, trong tôi, là người tình của Đẹp.
Đẹp như một phẩm chất, một giá trị. Đẹp như một cách sống. Đẹp như một nghệ thuật.
Và Đẹp như một lối viết. Viết, với Sơn, là “ăn nằm” cùng Đẹp trong câu chữ, lời
văn, ý văn, để sinh hạ những văn bản Đẹp. Tôi đồ rằng Sơn luôn viết trong “thú
đau thương” (chữ của Hàn Mặc Tử) lịm cùng con chữ với niềm khao khát tận cùng
nhắm tới sự “thích khoái văn bản” (chữ của Roland Barthes – “Le Plaisir du
Texte”). Tùy bút của Sơn chính vẫn là cái Đẹp của người tình ấy từ phê bình vào
sáng tác. Đọc anh rất sướng về câu chữ và lời văn. Ở câu chữ vì Sơn luôn cố gắng
tìm hết chữ và tìm ra chữ để nói cho cạn kiệt và thăng hoa điều anh cảm nhận và
suy tư. Ở lời văn vì Sơn luôn tìm cách cấu trúc câu trùng điệp, đăng đối, xoay
vòng và gấp khúc ý tứ, khiến người đọc bất ngờ và do đó thích thú, sảng khoái.
Ta hãy đọc đoạn văn anh tả về vùng chè Thanh An: “Có tận mắt ngắm nhìn cả miệt
chè ấy đang yên ả phơi xanh dưới nắng chiều dìu dịu cùng nước hồ văn vắt thế
kia, có thấy mỗi búp chè, nhành chè đang nương nhau, đan nhau, thầm trao xanh
cho nhau trong mỗi vạt chè nhu thuần thế kia, người ta mới thấy cái An cái Tĩnh
trên toàn xứ Nghệ, chừng như, đã rủ nhau về trú ngụ chốn này” (tr. 157). Chất
thơ thấm đẫm trong văn. Có nhiều đoạn văn như thế trong sách này.
Nhưng đoạn văn độc đáo, khác lạ, hay nhất của Chu Văn Sơn,
theo tôi, là đoạn anh hình dung sự hình thành Sơn Đoòng như một cuộc giao hoan
“dữ dằn” của nước và đá (tr. 109-111). Ngoài sự tưởng tượng kỳ thú của một nhà
văn, khi viết đoạn văn này Sơn đã huy động cao độ sự dụng công câu chữ tài tình
mình có. Tôi nghĩ có thể đưa đoạn văn đó vào sách giáo khoa môn văn. Nhưng
trong khi chờ đến khi đó, tôi không thể kìm lòng trích ra đây một ít cho bạn
thưởng văn trước đã: “Nước vận hết tình lực lại thành suối kín, sông ngầm để
liên tục ra những đòn yêu với đá. Ve vuốt, liếm láp rồi va xiết, khoan xuyên.
Lùa mình vào những thớ, những khe nhạy cảm nhất của đá. Lột từng thớt đá, từng
vỉa đá. Khiến mình mẩy đá cương mòng, đau đớn mà hoan lạc. Hàng vạn khối đá vốn
liền thịt, liền cơ bên trong thân thể khổng lồ của núi cứ giật nẩy lên vô hồi,
rúng động vô biên, đòi được xả, được trút. Cứ thế, qua hàng thiên kỷ tình tự miệt
mài và cuồng bạo, sau một cú rùng mình tột đỉnh, tất cả những gì dồn tích bỗng
òa vỡ, đá rùng rùng sụp xuống, thành muôn gò đống ngổn ngang trong tiếng nước
rên, nước rền, hào hển” (tr. 109). Đọc những trang văn thế này ai chẳng muốn đến
ngay nơi có cuộc tình đá nước lay động dữ dội ấy!
“Tự tình cùng Cái Đẹp” là cuốn sách cuối cùng của Chu Văn
Sơn. Đây là một cuốn sách nói (Audio-Book), vừa có thể đọc bằng mắt, vừa có thể
nghe đọc. Mười một bài viết trong tập có giọng đọc của những người bạn văn thân
thiết, khi xem sách dùng công cụ QR code scanner trên điện thoại quét mã code
là nghe được. Sách có lời đầu bằng thơ của nhà thơ Nguyễn Duy, lời giới thiệu của
nhà phê bình Văn Giá (Đại học Văn hóa Hà Nội), lời bạt của nhà phê bình Phan
Huy Dũng (Đại học Vinh). Khi sách ra một tháng thì Chu Văn Sơn qua đời vì bệnh
ung thư (18/4/2019). Nhân giỗ đầu của anh (14/3 âm lịch) tôi cùng bạn đọc “Tự
tình cùng Cái Đẹp” để tưởng nhớ anh, để thấy anh như vẫn còn đây:
Trang văn phảng phất phong vị thiền
thấp thoáng bóng thiền nhân đương đại
lặng lẽ thiền hành
giữa chợ đời bát nháo những quằn quại.
(Nguyễn Duy)
Hẹn bạn lần tới với một cuốn sách mới khác.
16/5/2020
Phạm Xuân Nguyên
Theo https://vanhocsaigon.com/
Chuyện nọ xọ chuyện kia
Chuyện nọ xọ chuyện kia…
Nhìn thấy cái mặt chụ ụ buồn rầu trong ngày oi bức, vợ
thương tình nấu cho món cháo ám, tức cá lóc còn để nguyên con, không xắt khúc,
nấu không đậy vung. Do không đậy nắp vung nên mới gọi cháo ám chăng? Thì đại
khái thế, khi ăn cháo cá lại nhớ ngày xửa ngày xưa thường về chơi Hội An, một
nét đặc thù khó quên vẫn là trước nhà ở phố cổ hầu hết có vẽ hình con mắt gọi
“thần cửa/ mắt cửa” với nhiều hình tròn được cách điệu. Không rõ có liên quan
gì đến… con mắt cá?
Lý giải thế nào đây ta?
Thì đây, trong Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn ở phần
Phẩm vật loại, có đoạn: “Sách Loại tụ nói: “Cái khóa cửa, tất phải làm hình con
cá, lấy nghĩa con cá không nhắm mắt, để giữ đêm”. Lại nói rằng: “Ở biển Đông,
có loài cá, đuôi như đuôi chim cắt, hễ nó phun sóng thì trời mưa; cho nên đời
Đường đến nay, hễ làm nhà thì đắp hình con cá ở nóc nhà để trấn hỏa tai”.
Tóm lại, y hiểu nôm na rằng, con cá liên quan rất gần trong đời sống con người.
Gần đến độ, tục ngữ có câu Con nạ cá nước.
Nạ là gì thế?
Một điều lý thú là Từ điển Việt – Bồ – La (1651) của
Alexandre de Rhodes đã ghi nhận từ áng ná. Áng ná là cha mẹ. Nói
cách khác, một khi ta hiểu nạ có nghĩa là mẹ thì thuở xa xưa ấy người Việt gọi
là ná, sau chuyển qua nạ và dần dà mất hút. Con nạ cá nước, có thể hiểu con có
mẹ như cá có nước. Một sự kết hợp hoàn hảo. Trên cả tuyệt vời. Không lệch mảy
may. “Chuẩn cơm mẹ nấu”. Sống trên đời, lúc nào cũng có mẹ cận kề bên cạnh, thử
hỏi niềm vui nao có thể sánh nổi? Từ nạ hầu như nay không còn phổ biến nữa, chỉ
còn có thể tìm thấy dấu vết trong lời ăn tiếng nói thuở xa xưa, chẳng hạn Chờ
được nạ má đã sưng, Đòng đòng theo nạ quạ theo gà con, Quen việc nhà nạ lạ việc
nhà chồng, Con có nạ như thiên hạ có vua, Lấy con xem nạ lấy gái góa xem đời chồng
xưa…
Từ nạ hiểu theo nghĩa này, vẫn còn trong nạ
dòng. Chinh phụ ngâm có câu: “Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa/ Gái tơ mấy
chốc đã ra nạ dòng”, từ một người con gái mới lớn chưa chồng chỉ nháy mắt trở
thành người đàn bà có con, đứng tuổi, ý nói thời gian trôi cái vèo. Thế thì, từ
“nạ” này có liên quan, có dây mơ rễ má trong tổ hợp “nạ dòng”? Tại sao lại
không?
Trai tân gái góa thì chơi
Đừng nơi có vợ, chớ nơi có chồng
Câu ca dao này, có nhiều bản lại ghi “hóa/ quả/ quá” cùng
nghĩa, tùy phát âm vùng miền. Thông thường, góa dùng chỉ những ai rơi vào trường
hợp chồng (hay vợ) đã mất lúc còn trẻ. Góa bụa là góa chồng, sống trong tình cảnh
cô đơn, “Mẹ góa con côi” nói chung. Thế thì, câu trên với từ góa là hàm nghĩa
như ta đã hiểu?
Y nghĩ là… không.
Đơn giản, trai tân tức trai tơ, chưa một lần “bước lên xe
hoa” cơn cớ làm sao phải “mắt liếc tình đưa” với người đàn bà đã chết chồng? Ơ
hay, trái tim có lý lẽ riêng của nó, khó có thể can thiệp bằng lý trí. Đúng là
thế. Dù cô ấy đã một/ hai đời chồng, chẳng may chồng mất nhưng vẫn còn xuân sắc,
còn “ngọt nước”, có thể “đi bước nữa”, thế mà miệng đời lại mai mỉa: “Trai
tơ lấy gái góa chồng/ Như mua nồi đồng đem nấu cám heo”. Nồi đồng mà dùng
để nấu cám heo, xét ra tréo ngoe quá, đúng là ngớ ngẩn, dại dột. Cái nồi đồng
sáng giá ấy phải là “Nồi đồng thổi gạo tám xoan/ Mở ra cơm trắng thơm vang
cả nhà”. Nay, đem nấu cám heo, còn gì để nói nữa? Cái miệng thiên hạ kể ra cũng
độc địa thiệt. Bình luận đến cỡ này, ai chịu cho thấu?
Nếu chỉ quan sát bằng lý trí, nhìn những gì diễn ra rất logic
khoa học, có lẽ sẽ không thể giải đáp được câu loại “trầm trọng” cỡ như: “Chà,
tay tiến sĩ kia có ăn học đàng hoàng, chữ nghĩa một bồ nhưng sao lại se duyên với
cô nàng có nhan sắc thuộc hạng “cùi bắp”? Hoặc thiên hạ xì xào: “Cô đó khùng rồi,
du học ở nước ngoài đậu thủ khoa nhưng lại “nâng khăn sửa túi” cho tay ất ơ!”.
Hoặc nhiều bậc phụ huynh đã dậm chân kêu trời: “Ủa, bộ hết người yêu sao con lại
vớ phải cô nạ dòng kia?”. Nghĩa là, có nhiều, rất nhiều trường hợp đã xẩy ra mà
người ngoài không thể lý giải nổi. Còn người trong cuộc chẳng việc gì phải giải
thích, chỉ trả lời qua loa ra làm sao?
“Nạ dòng” là từ chỉ người đàn bà đã từng có chồng và đứng tuổi
– như Đại từ điển tiếng Việt đã giải thích; và dẫn chứng bằng câu
minh họa: “Trai tơ mà lấy nạ dòng/ Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu”. Nước
mắm thối à? Thế thì làm sao có thể bật lên tiếng cười mỉa mai, chua chát? Phải
là nước mắm “nhất”, nước mắm nhỉ, nước mắm hảo hạng mới đúng. Câu lục bát này sử
dụng thể tỷ, cho thấy sự trái nghịch không thể chấp nhận. Ai đời loại nước mắm
“ngon lành cành đào” lại cặp kè với “lòng lợn thiu”? Chẳng khác khác gì cách so
sánh “Bầu dục chấm mắm cáy”, tức là cái ngon nhất gắn liền với cái bét nhất để
nói lên sự “sánh duyên” cực kỳ khập khễnh.
Lại còn có câu cũng hàm nghĩa tương tự: “Trai tân lấy
gái nạ dòng/ Cơm chan nước lạnh, mặn nồng gì đâu”. Thậm chí, “Cưới
gái nạ dòng như mang gông vào cổ”. Nói chung, trong suy nghĩ của rất nhiều
người, yêu ai cứ việc, cứ việc há mồm ra song ca “như chim liền cánh, như cây
liền cành”, chẳng ai “ngăn sông cấm chợ” nhưng chớ léng phéng với nạ dòng/ gái
góa/ góa chồng.
Vậy mà trên đời lại có những chàng trai mới lớn, “Mắt
tin cậy và tóc vừa dưỡng rẽ” (Huy Cận) lại si mê, đắm đuối nạ dòng. Nói
theo kiểu thời thượng là “phi công trẻ lái máy bay bà già” – điều từ thuở xa
xưa, hầu như chẳng ai tán thành. Thế mới có câu dặn dò: “Gái khôn tránh khỏi
đò đưa/ Trai khôn tránh khỏi vợ thừa người ta”. Chưa hết, miệng lưỡi thế
gian còn chì chiết: “Trai tơ thì lấy gái tơ/ Đi đâu lật đật mà vơ lại
dòng/ Lại dòng là lại dòng non/ Trai tơ chết hụt vì con lại dòng”.
Thế nhưng xin hỏi một cách nghiêm túc, nạ dòng có gì mà lại
quyến rũ, hấp dẫn trai tơ?
Chị bạn y là một doanh nhân giàu có, thành đạt; do ly hôn nên
thỉnh thoảng vào dịp cuối tuần, chị thường tổ chức tiệc tùng tại nhà với quý
bà, quý cô cùng cảnh ngộ. Trong những dịp như thế, cậu con trai mới lớn của chị
cũng chung vui. Điều đáng chú ý là trong số những người “bạn của mẹ”, có dăm cô
chỉ nhỉnh hơn cậu năm, bảy tuổi. Và rồi “cậu ấm” đã mê tít một cô bạn của mẹ.
“Cậu chịu khó thăm dò thằng nhỏ rồi tìm cách gỡ giúp chị với”. Nghe chị nói
cùng gương mặt mếu máo, dù động lòng, y vẫn thấy khó. Sau một thời gian dài lân
la tìm hiểu, y mới biết rằng, nhiều chàng trai mê đắm những người đàn bà từng
trải vì tò mò lẫn ngưỡng mộ.
Cậu ấm này kể, có một lần, gặp chuyện không ưng ý, cậu ta tâm
sự với bạn gái, nhưng chẳng giải quyết được gì. Trong khi, cũng câu chuyện đó
đem với bạn của mẹ lại khác hẳn – cậu được chỉ dẫn cách xử lý, được góp ý cách
giải quyết. Những chuyện tưởng như lặt vặt ấy dần dà trở thành dấu ấn khó phai
trong tình cảm của chàng trai mới lớn. Chưa kể, từ cách ăn nói, trang điểm,
trang phục đến loại nước hoa bạn của mẹ sử dụng cũng hơn hẳn những cô bạn gái
cùng trang lứa với chàng. Từ đó, cậu ta đâm ra mê tít thò lò. Không phải
ngẫu nhiên, dù đã từng “một lửa”, “hai lửa”, nhiều cô vẫn đầy kiêu hãnh:
Cau già dao sắc lại non
Nạ dòng trang điểm lại giòn như xưa
Vì biết rõ lợi thế của mình, họ tuyên bố: “Nạ dòng như gỗ
ngâm ao/ Vớt lên sáng chói như sao trên trời”. Thậm chí, khi chàng trai mới
lớn còn lơ mơ chăn gối nọ kia thì nạ dòng đã thừa kinh nghiệm. Nếu không, sức mấy
họ dám táo tợn tán tỉnh: “Mạ úa cấy lúa chóng xanh/ Gái dòng chóng đẻ sao anh hững
hờ?”. Các chàng trai mới lớn trong trường hợp ấy sẽ từ chối hay lao tới?
Không chỉ trai mới lớn, những người đã “già đầu”, trong lúc “kén cá chọn canh”,
cũng có thể đụng vào nạ dòng. “Mình nói với ta mình hãy còn son/ Ta đi qua
ngõ thấy con mình bò/ Con mình những trấu cùng tro/ Ta đi gánh nước tắm cho con
mình”. Gọi cô ấy bằng “mình”, nghe ra thân mật lắm. Mà “con mình” cũng có
thể ỡm ờ hiểu là “con của mình”, vì đã trót mê nên chàng không ngại quả quyết: “Con
mình vừa đẹp vừa xinh/ Một nửa giống mình nửa lại giống ta”. Ơ hay, con của
người chồng trước hoặc của ai đấy, tự dưng lại nhận “con mình”? Thiệt oái oăm.
Thế mà câu ca dao trên lại khuyên:
Trai tân gái góa thì chơi
Đừng nơi có vợ, chớ nơi có chồng
Vậy mâu thuẫn quá chứ gì? Mâu thuẫn với những gì thuộc về
quan niệm (thời trước) của người Việt còn lưu giữ trong lời ăn tiếng nói. Nay,
đã có cái nhìn “thoáng” hơn nhiều. Thật ra, chẳng gì mâu thuẫn cả, chỉ do ta…
hiểu không đúng về từ “gái góa” đấy thôi. Đại Nam quấc âm tự vị (1895)
cho biết: “Gái góa: Gái còn son, chưa chồng”. Rõ ràng câu ca dao này cũng thuộc
thể tỷ, chuẩn xác như cách so sánh trong thành ngữ “Trai son gái góa”. Hiểu
theo nghĩa này, Từ điển Việt- Pháp của J.f.M Génibrel (1898)
cũng ghi nhận tương tự là fille – từ điển của Đào Duy Anh giải thích:
con gái, con gái chưa chồng, thiếu nữ. Thế thì tự bao giờ, “gái góa” không còn
hiểu theo nghĩa trên? Tức là chỉ hiểu theo cái nghĩa mà Từ điển tiếng Việt (1977)
của Văn Tân chủ biên giải thích: “Gái góa (như gái hóa): người đàn bà chết chồng”.
Hiện nay, không chỉ Đại từ điển tiếng Việt mà các tự điển khác cũng
giải thích như vậy.
Theo y, cách hiểu này, ít nhất đã xuất hiện từ thập niên
1930, bằng chứng Tự điển Việt – Hoa – Pháp (1937) của Gustave Hue đã
giải thích: “gái góa/ gái hóa: veuve, tức góa chồng, quả phụ. Thành
ngữ có câu “Gái góa lo việc triều đình”, hiểu nghĩa bóng là nhằm chỉ những ai
ôm đồm, cáng đáng, lo lắng đến những việc quá lớn so với khả năng, phận sự của
mình. Vậy, gái góa ở đây là nhằm chỉ theo nghĩa nào vừa nêu trên? Xin nhường lời
cho sự suy luận cho bạn đọc.
Đọc một bài báo đã cà kê dê ngỗng, chuyện nọ xọ chuyện kia, mệt
cả đầu, lại còn buộc người ta suy luận thêm, có phải quá đáng lắm không? Tất
nhiên rồi, đã quá đáng thì quá đáng luôn thể, vậy xin hỏi thêm hình ảnh con mắt
trước cửa nhà phố cổ ở Hội An có liên quan gì đến con cá theo cách giải thích của
nhà bác học Lê Quý Đôn?.
16/5/2020
Lê Minh Quốc
Theo https://vanhocsaigon.com/
Tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê
Tâm thức văn hóa
trong thơ Văn Lê
Đọc những câu thơ này của Văn Lê*, tôi nhớ đến Albert
Camus, một triết gia hiện sinh, một nhà văn nổi tiếng của nhân loại thế kỷ XX,
người được trao giải thưởng Nobel văn chương năm 1957 đã xác quyết: “Khi văn
hóa xuống cấp, nó rút ngắn con đường dẫn đến nô lệ”. Viện dẫn điều này, tôi muốn
chia sẻ với nhà thơ Văn Lê, tại sao tôi chọn viết về tâm thức văn hóa trong thơ
Anh. Vì cũng như Anh, tôi không muốn những tháng năm cầm bút, cầm súng, gần cả
đời người của Anh cho độc lập, tự do của dân tộc trở thành vô nghĩa…
1. Có thể nói, căn tính để xác quyết sự tồn sinh của một dân
tộc là văn hóa chứ không phải là các loại chủ thuyết, cho dù chủ thuyết đó có
hiện đại đến đâu, nếu không phù hợp với văn hóa dân tộc thì không thể nào tồn tại
và sự diệt vong là tất yếu. Bảo tồn và phát huy “giòng sinh mệnh văn hóa” dân tộc,
vì thế, là một trong những căn tố để bảo vệ sự tồn vong của đất nước. Chính vì
vậy, cách đây hơn nửa thế kỷ, trong bối cảnh xã hội miền Nam có nguy cơ mất dần
những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, trước họa xâm lăng của văn hóa
Tây phương và văn hóa Mỹ, trên tập san Sử địa số 05/1967, do nhóm
Giáo sư và Sinh viên, Đại học Sư phạm Sài Gòn chủ trương, trong lá thư tòa soạn,
người viết đã chia sẻ: “Trước thực trạng phá sản văn hóa và đời sống tinh thần
của xứ sở, chúng ta phải cố bảo tồn lấy những gì có tánh cách Việt Nam, đến văn
hóa dân tộc. Nhưng nếu có hỏi những gì có tính cách Việt Nam và văn hóa dân tộc
là gì thì ít người không khỏi lúng túng”.[1]
Bảo vệ văn hóa dân tộc là ý thức thiêng liêng của mỗi công
dân. Nhưng mỗi người chỉ có thể góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc khi hiểu về
“tính cách dân tộc mình và những giá trị phong hóa làm nên tính cách đó”. Sự hiểu
biết về văn hóa dân tộc, vì thế là một trong những phẩm tính không thể thiếu ở
mỗi tư cách công dân, nếu chúng ta không muốn trở thành kẻ vong nô trên
chính đất nước mình. Văn Lê, một nhà thơ mặc áo lính nhưng trong thơ anh, không
chỉ có ký ức chiến tranh mà còn có ký ức văn hóa khá đậm nét. Bởi, nếu ký ức
chiến tranh trong thơ Văn Lê gắn với những năm tháng chiến trường của người
lính, thì ký ức văn hóa lại gắn với hành trình sống của Anh, từ tuổi ấu thơ đến
lúc trưởng thành, làm người lính, rồi “giã từ vũ khí”, trở về với cuộc sống đời
thường. Không những thế, ký ức văn hóa trong thơ Văn Lê còn là những hoài niệm
mà khi xa quê Anh hằng mong nhớ: “Anh nhớ xóm làng nhớ đồng chiêm trũng/ Nhớ cội
nguồn mà anh đã chia phôi…”(Đại hạn). Và đây là nền tảng tư tưởng hình thành phẩm
tính của tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê.
2. Lớn lên từ vùngchiêm trũngở đồng bằng Bắc Bộ, lại chiến đấu
ở đồng bằng Nam Bộ, rồi sống, làm việc ở một đô thị trên 300 năm tuổi như Sài
Gòn, tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê vì thế, là sự hợp lưu diệu kỳ giữa phù
sa văn hóa sông Hồng và sông Cửu Long. Chính sự hợp lưu của hai vùng văn hóa
này cùng sự nghiệm sinh trong những tháng năm chiến đấu ở khắp các chiến trường
đã tạo cho tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê đa dạng về chiều kích, bao quát
nhiều bình diện của tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc, gắn với tình cảm, ý thức
của một công dân – thi sĩ – chiến sĩ mà biểu hiện trước tiên của tâm thức văn
hóa trong thơ Văn Lê là niềm tự hào về cội nguồn Lạc Việt như là sự kết tinh sức
mạnh của giống nòi: “Dân tộc Anh đi qua chiến tranh, đã từng hành quân từ thời
tiền sử/ Cái thời chưa rành rọt núi sông/ Cái thời dân tộc anh còn gọi là Lạc
Việt/ Nguồn cội sinh ra bởi giống Tiên Rồng”. (Những người làm chủ biển Đông)
Trong tâm thức văn hóa của Văn Lê, lịch sử dân tộc không bao giờ tách rời văn
hóa dân tộc. Anh nhìn lịch sử qua lăng kính văn hóa dân tộc và nhìn văn hóa qua
lăng kính của lịch sử dân tộc. Sức mạnh của dân tộc trong cái nhìn của Văn Lê
là sự cộng hưởng của sức mạnh văn hóa và lịch sử dân tộc. Sự hợp hôn nhiệm mầu
giữa lịch sử và văn hóa được minh chứng qua những hình ảnh thơ giàu tính biểu
tượng ở truyền thuyết: Lạc Long Quân – Âu Cơ: “Vào một ngày đẹp trời/ Người Lạc
Việt liên tưởng tới Đức Âu Cơ qua hình tượng Cóc/ Cóc sinh ra cái bọc trăm con/
Sự lý giải về nguồn gốc tổ tiên dị biệt đến lạ thường!/ Nhưng là khởi đầu của
văn chương và là đỉnh cao của nền văn hóa!”. (Gởi một nhà thơ Nam Dương)
Không chỉ thể hiện qua những biểu tượng ở các truyền thuyết,
sức mạnh của lịch sử và văn hóa dân tộc trong thơ Văn Lê còn gắn với những bước
chân hào hùng của dân tộc, với khát vọng tồn sinh, với lòng quả cảm, sự quyết
tâm, vượt lên gian khổ để khẳng định bản lĩnh dân tộc. Đó là bản lĩnh được sống,
được chiến đấu để tạo lập đất nước mình: “Theo bầy chim Hồng lạc dẫn đường/ Cả
dân tộc cứ đi về phía biển / Cho tới khi tìm được quê hương / Kể từ đây dân Lạc
Việt chiếm cả vùng châu thổ / Khai phá bình nguyên thuộc sông Lam, sông Mã,
sông Hồng…/ Dân tộc Anh đã đóng thuyền vượt biển/ Và khai sinh ra tổ quốc non
sông” (Những người làm chủ biển Đông). Là người lính đã chứng kiến những khổ
đau, mất mát, bất hạnh của biết bao phận người trong chiến tranh, hơn ai hết,
Văn Lê đã thấu hiểu được sự phi lý của chiến tranh, dù mang khuôn mặt gì, thì
chiến tranh cũng là điều mà không dân tộc nào trên thế giới chọn lựa như một
cách để tồn tại. Chiến tranh, vì thế là vấn đề mà các dân tộc đều lên án. Việt
Nam là dân tộc luôn yêu chuộng hòa bình, một dân tộc như Huy Cận đã minh định
“lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa” (Đi trên mảnh đất nầy), còn Văn Lê thì xác
quyết: “Anh không biết tổ tiên anh thuở xưa, đã đem đi những gì khi xông ra biển?/
Nhưng có một điều anh tin – chắc chắn/ Là người Lạc không đem theo chiến tranh
mà đem theo văn hóa của mình!/ Họ đem theo những hủ sáp thơm làm từ hoa quí/
mang theo trống đồng nhà sàn và những con lợn ỉ./ Đưa nhục quế, trầm hương, lụa
sông Dâu đến những đảo xa xôi…/ Với những câu thần chú truyền đời/ Vừa bí
hiểm vừa cao siêu và cũng đầy mấu nhiệm”. (Những người làm chủ biển Đông)
Và mầu nhiệm thật! Bởi, có dân tộc nào trên thế giới, đánh giặc bằng tiếng đàn
như Thạch Sanh của dân tộc Việt Nam không!? Có dân tộc nào trên thế gian này lại
chủ trương một cuộc chiến đấu chống ngoại xâm với những giá trị đạo lý đầy tính
nhân văn “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ lấy chí nhân mà thay cường bạo” (Bình
Ngô Đại cáo – Nguyễn Trải). Mặc dầu, trong những tháng năm bị kẻ thù xâm
lược, dân tộc ta phải chịu bao nhiêu cảnh cơ cực lầm than:“Dưới gót giày ngoại
xâm/ Trống lạc Việt bị nghiến làm gươm giáo!/ Lụa sông Dâu không còn may xiêm
áo/ Người Lạc quanh năm phải đóng khố cởi trần/ Đất Âu Lạc hàng năm/ Phải đóng
thuế hơn trăm vạn hộc/ Gạo đất Lạc nuôi sống dân phương Bắc/ Người Lạc Phương
Nam chết đói đầy đường!” (Những người làm chủ biển Đông). Rõ ràng, để thực hiện
âm mưu đồng hóa dân Lạc Việt, bọn xâm lược phương Bắc, không chỉ gieo đau
thương mà còn tàn phá đến tận cùng những giá trị văn hóa của dân tộc Việt. Điều
này cũng được nhà văn – nhà sử học Cao Văn Liên chỉ ra trong tiểu thuyết lịch sử Việt
Nam diễn nghĩa: “Bên cạnh chính sách bóc lột, nhà Hán còn tiến hành chính sách
đồng hóa văn hóa, tiêu diệt văn hóa Việt, buộc dân Việt phải theo văn hóa Hán
(…) Chúng du nhập chữ Hán, du nhập phong tục tập quán Hán vào Âu Lạc và buộc cư
dân Việt phải học và phải theo phong tục tập quan Hán. (…) Dã man hơn, chúng giết
hại đàn ông Việt, buộc phụ nữ Việt phải lấy đàn ông Hán, con người Việt sinh ra
phải khai họ Hán. (…) Chúng đập phá văn bia, đền miếu của người Việt”.[2] Sự tàn diệt văn hóa không từ một thủ đoạn nào của
bọn xâm lược phương Bắc là căn nguyên, buộc chúng ta phải đứng lên chiến đấu
đòi quyền sống và bảo vệ “giòng sinh mệnh văn hóa” dân tộc, chống nguy cơ đồng
hóa của kẻ thù. Sức mạnh văn hóa cùng với sức mạnh lịch sử kết tinh thành sức mạnh
Việt Nam, nên dân tộc ta đã chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giữ
yên bờ cõi như Văn Lê đã đúc kết: “Con giun xéo lắm cũng quằn”/ Dân Lạc Việt
có câu ca ấy/ Người Lạc Việt cùng nhau nổi dậy/ Chống quân nô dịch cứu non sông”.
(Những người làm chủ biển Đông). Nghĩ về sức mạnh lịch sử, trong sự gắn kết với
văn hóa dân tộc là những ưu tư thường trực trong cảm hứng sáng tạo của thơ Văn
Lê mà với dung lượng của một bài viết mang tính cảm nhận, khó có thể nói hết được.
3. Không chỉ nói đến sức mạnh của lịch sử và văn hóa dân tộc,
trong hành trình dựng nước và giữ nước, Văn Lê còn nói đến một bình diện khác của
văn hóa mà nếu không có nó, không thể hình thành bản sắc dân tộc, đó là phong tục
tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, trò chơi dân gian… Đây cũng là một biểu hiện của
tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê được thể hiện thật tinh tế và giàu mỹ cảm. Đọc
thơ Văn Lê, ta không chỉ thấy ở anh tình yêu vô bờ mà còn thấy một sự hiểu biết
khá sâu sắc về những vấn đề của văn hóa dân tộc, nhất là những giá trị văn hóa
truyền thống, điều mà người nghệ sĩ cần có để tạo nên “phông” văn hóa cho riêng
mình. Song, đây cũng là điều không dễ tìm thấy trong phẩm tính của nhà văn Việt
Nam hôm nay. Bởi, nếu nhà văn không cắm rễ sâu trong nền văn hóa dân tộc, không
tìm hiểu, khám phá về văn hóa dân tộc thì khó trở thành nhà văn lớn. Lâu nay,
những nhà văn nhận giải Nobel văn chương trên thế giới là những nhà văn đã đi từ
mảnh đất màu mỡ phù sa của văn hóa dân tộc mình để đến với văn hóa nhân loại.
Hay nói như Văn Lê: “Họ gọi quê mình là làng Tôi/ Gọi Tổ quốc là nước Tôi/ Mọi
cái chung đều gắn với cái Tôi trong đó./ Tôi trong Non sông,/ Tôi trong – xứ sở/
Xứ sở và Tôi hòa quyện muôn đời. (Những người làm chủ biển Đông). Tôi là Làng
quê; là Tổ quốc; là Non sông… và ngược lại… Chính sự hóa thân này nên Con Người
sẵn sàng hy sinh đời mình cho sự hưng vong của tổ quốc, của dân tộc, của xóm
làng. Song, người ta chỉ có thể hóa thân thành tổ quốc, thành dân tộc, khi đã
nhận thức được những giá trị văn hóa của dân tộc, để sống cùng, sống với, sống
cho quê hương mình. Nghĩa là, trở về sống trong khí quyển văn hóa làng với những
giá trị phong hóa đã làm nên hình hài tổ quốc như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã
xác quyết: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi/ Đất nước có trong cái ngày xửa
ngày xưa mẹ thường hay kể/ Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu bà ăn/ Đất nước lớn
lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc/ cái kèo, cái cột thành tên/ Hạt gạo
cũng một nắng hai sương, xay, giả, dần sàn/ Đất nước bắt đầu từ đó.” (Đất nước-Nguyễn
Khoa Điềm).
Tâm thức văn hóa nhìn từ bình diện văn hóa truyền thống của
làng xã Việt Nam trong thơ Văn Lê là một hệ giá trị mà Anh luôn trân quí. Đó
không chỉ là tình yêu văn hóa mà còn là ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc. Phong tục
tập quán được Văn Lê nói đến trong thơ như: nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình,
không chỉ là biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc mà còn là một yếu tính để
khu biệt với “giống người phương Bắc”: “Anh hình dung ra những chàng trai ấy/
Có dáng hùm beo ngón chân cái giao nhau/ Họ nhuộm răng đen và thích ăn trầu!/
Cho khác biệt với giống người phương Bắc/ Họ xăm trên mình những hình thù kỳ quặc/
Đó là bức tranh người và thú hoan ca”. (Những người làm chủ biển Đông) Bên cạnh
phong tục tập quán, nghĩ về cội nguồn văn hóa truyền thống của dân tộc, trong
tâm thức văn hóa của Văn Lê còn là sự hiện hữu của lễ hội, trò chơi dân gian gắn
với sinh hoạt văn hóa làng trong những ngày lễ tết như: trò chơi đánh cờ người:
“Cứ mỗi bận xuân về ta lại nhớ/ Làng quê xưa trống giục đánh cờ người/ Em lộng
lẫy tay cầm con tượng gỗ/ Ta lu mờ vì một nét son môi” (Cờ người), hay trò
chơi ô ăn quan “Những đạo quân sỏi đá đã sẵn sàng/ Con trẻ xếp đều nhau
trên ô vẽ/ Dân đi trước trò chơi qui định thế/ Đá thành người con trẻ bốc trên
tay/ Những hòn đá xếp lại thành đội ngũ/ Trò ăn quan lại tiếp tục luân hồi”.
(Chơi ô ăn quan) mà trong suy niệm của Văn Lê, đây không chỉ đơn thuần là trò
giải trí để vơi đi nhọc nhằn sau những tháng ngày lao động vất vả mà còn là
vòng luân hồi của phận số con người. Sự liên tưởng độc đáo của thi nhân thể hiện
qua các hình tượng thơ đầy tính ẩn dụ trong những câu thơ trên mở ra cho người
đọc một cách nhìn mới, cách nghĩ mới mang ý nghĩa nhân sinh. Và từ những suy niệm
mang tính triết luận về phận số con người qua các trò chơi dân gian, tưởng chừng
chỉ có tính giải trí, thi nhân đã dẫn dụ người đọc đến với những giá trị văn
hóa tâm linh trong đời sống của người Việt Nam. Đây cũng là biểu hiện của tâm
thức văn hóa trong thơ Văn Lê mà khi nghĩ đến, lòng ta không thể không xa xót,
trước sự chênh chao của phận người trong cõi phù sinh: “Ta về với chợ Âm Dương
/ Đêm đông bạc phết gió sương trắng trời/ Ta về từ tít mù khơi/ Như người dương
thế tìm người cõi âm” (Chợ Âm Dương). Quả thật, trên cõi nhân gian “u u minh
minh” này, có biết bao người phải sống, chết trong oan nghiệt. Song, để nhận ra
điều này là không dễ, nếu chúng ta không bước qua cánh cửa “đoạn trường” đầy
cay đắng của cuộc đời. Là một thi nhân đã có quá nhiều sự trải nghiệm cuộc sống,
hơn ai hết, Văn Lê hiểu rất rõ vấn đề này và Anh đã thể hiện điều đó trong thơ
thật cảm động: “Tôi về bên suối Giải Oan / Đêm đông rờn rợn gió hàn cắt da/
Bóng trăng lạc giữa rừng già/ Miếu cô hồn cứ ngó ra trừng trừng/ Bao năm tôi sống
ở rừng/ Lội qua bao suối bao sông một thời/ Đến khi tóc trắng sương rơi/ Mới
tìm con suối cuối trời – Giải Oan !” (Viết bên suối Giải Oan).
Có thể nói, văn hóa tâm linh là một phần tất yếu làm nên phẩm
tính văn hóa dân tộc. Vậy mà, đã có một thời không xa, nó phải chịu biết bao
“oan nghiệt”, bởi sự “thiếu hiểu biết” về văn hóa cùng với cái cảm quan “nhiệt
tình cách mạng” một cách “ngây thơ” đến “cực đoan” của con người và chỉ được
“giải oan” từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới. Thế nên, những
bài thơ viết về văn hóa tâm linh của Văn Lê cũng đã góp phần “giải oan” cho
lĩnh vực văn hóa khá “nhạy cảm” này. Đọc thơ Văn Lê, ta thấy thi nhân bàn đến
nhiều khía cạnh của văn hóa tâm linh như muốn xác quyết một hệ giá trị trong
tâm thức văn hóa của thơ Anh. Những diễn ngôn văn hóa tâm linh trong thơ Văn
Lê, không chỉ có niềm tin tâm linh mà còn ẩn chứa những thông điệp có tính hiện
thực nhân văn sâu sắc. Đó là những oan nghiệt, những bất công đến phi lý không
thể hóa giải được mà con người phải gánh chịu trong những chế độ xã hội đầy thế
lực hắc ám. Vì vậy, họ phải đặt “niềm tin” vào thế giới siêu hình, dù “niềm
tin” ấy cũng chỉ là những ảo vọng xa mờ, nhưng dẫu sao cũng là niềm an ủi, khi
họ không tìm được cứu cánh trong cuộc đời. Đó là niềm tin vào lời nguyện cầu ở
một con “suối giải oan”, là “nén tâm nhang đêm giao thừa” mà ông cha truyền lại:
“Đêm giao thừa cả nhà tôi thức dậy/ Châm đèn lên, vợ tôi thắp nén nhang/ Cái
hương liệu của tổ tiên truyền lại/ Cứ âm u tỏa khói ở trên bàn/ Xin về
đây đừng lo lạc lối/ Đã có mùi hương làm người đưa đường/ Ta cùng uống với nhau
ly rượu chợ/ Cùng xem mùa xuân giữa chốn phố phường” (Mùi nhang đêm giao thừa).
Và đạo Mẫu, một tín ngưỡng dân gian trong đời sống tâm linh của dân tộc cũng được
Văn Lê tôn vinh như một giá trị văn hóa rất đỗi tự hào: “Từ thuở sơ khai dân tộc
của anh luôn sinh ra đàn bà là mạnh mẽ./ Họ mang biểu tượng thiên nhiên mà còn
hơn thế/ Họ được tôn vinh như các vị thần/ Đạo thờ mẹ được hình thành như vậy/
Đây là văn hóa tâm linh của riêng Tổ tiên Anh !” (Những người làm chủ biển
Đông). Thế mới biết, văn hóa tâm linh có ý nghĩa đặc biệt trong văn hóa Việt
Nam cũng như trong tâm thức văn hóa của Văn Lê như thế nào!? Và xét từ một điểm
nhìn nào đó, văn hóa tâm linh cũng là một diệu pháp giúp người ta yên lòng, khi
phải sống trong một thế giới còn quá nhiều những điều bất an.
4. Trong chuyên luận Cửa vào phong tục Việt Nam, tài liệu
học tập về Văn minh Việt Nam dành cho sinh viên Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ấn
hành năm 1974 của Phạm Việt Tuyền, khi luận về vai trò của trí thức Việt Nam đối
với việc giữ gìn nền văn hóa dân tộc, ông đã viết: “Trí thức Việt Nam cần phải
ý thức nhu cầu duy trì phong tục thuần túy và phát triển văn hóa dân tộc (…).
Muốn được như vậy cần phải học hỏi các phong tục thuần túy Việt Nam, cần phải
xét lại các truyền thống dân tộc, để hãnh diện về những điểm có thể coi là dân
tộc tính, là quốc hồn quốc túy…”.[3]Từ điểm nhìn này, ta
thấy tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê không chỉ đóng khung trong những giá trị
văn hóa phi vật thể khi luận về nguồn gốc giống nòi, phong tục tập quán, tín
ngưỡng dân gian… mà Anh còn khám phá nhiều giá trị văn hóa khác, trong đó có
văn hóa vật thể của dân tộc. Đó là hình ảnh những Tháp Chămsừng sững ngàn
năm cùng tuế nguyệt như một kẻ lữ hành đơn độc để xác chứng và lưu giữ giá trị
văn hóa dân tộc, cho dù có trải qua bao tang thương của thời cuộc: “Ngút ngàn ở
giữa rừng xanh/ Hiện lên ngọn tháp một mình – cô đơn!/ Người xưa đã chọn mặt tường/
Để lưu giữ lấy tâm hồn thiêng liêng” (Tháp Chăm). Hay hình ảnh những cư dân Lạc
Việt vẫn miệt mài lam lũ cả một đời thương khó, chịu bao khổ nạn, bám đất, bám
làng, cày sâu, cuốc bẫm làm nên giá trị văn hóa để khẳng định sự tồn sinh của
dân tộc : “Người Lạc Việt cày trên đồng ruộng Lạc !/ Dân Lạc trồng dâu khắp
bờ bãi sông Dâu…/ Lụa Lạc Việt làm nên trang phục Việt, gái trai búi tóc trên đầu !”
Và “Cũng chính Tổ tiên Anh/ Đã dựng lên nhà sàn, đúc trống đồng thờ vật tổ là
chim Hồng Lạc !/ Tổ tiên anh đã làm nỏ thần bí hiểm – liên châu !”
(Những người làm chủ biển Đông)
Yêu quí, tự hào về văn hóa dân tộc, nên nhà thơ vô cùng xa
xót đến đớn đau khi chứng kiến sự mai một của biết bao giá trị văn hóa
truyền thống trước những biến đổi của làng quê thời hiện đại. Đây cũng là một
biểu hiện của tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê được Anh thể hiện khá sâu sắc.
Sự biến đổi văn hóa đó, trong cái nhìn của Văn Lê là biểu hiện của sự tha hóa,
là sự bội phản lại những giá trị văn hóa tốt đẹp có từ ngàn năm của dân tộc mà
khi nghĩ đến, lòng ta không khỏi day dứt: “Dân làng anh bây giờ xuôi ngược/ Thoắt
ẩn/ thoắt hiện/ thoắt đến/ thoắt đi/ Làng quê u u mê mê/ Người ta như ăn cháo
lú/ Họ lao ra bến sông bãi chợ/ Giành gật miếng ăn của nhau/ Chợ quê tràn ngập
đồ Tàu/ Chẳng thiếu thứ gì ngoại trừ đồ thật/ …./ Được về lại làng quê yêu dấu/
Anh cảm thấy hoang mang…/ Có cái gì đó đang tan,/ Đang bị xói mòn từ trong cội
rễ” (Những người làm chủ biển Đông). Không chỉ xa xót trước những biến động
của đời sống văn hóa, nhà thơ còn ngỡ ngàng trước những biến đổi của cảnh quang
môi trường ở làng quê, khi trên những cánh đồng đang mất dần những cánh cò,
cánh vạc khiến làng quê trở nên vô cảm, vô hồn: “Năm trước cò nhiều lắm/ Trắng
phau cả đồng nhà /Năm nay sao hiếm thế/ Muốn nhìn phải tìm xa…/ Cò vắng lòng
cũng nhớ/ Biết giờ đồng bao la/ Thêm ngàn vùng ruộng mới/ Nên cò cũng chia ra”.
(Khi vắng bóng những cánh cò) Như một qui luật của tình cảm, ký ức, trong đó có
ký ức văn hóa bao giờ cũng có sức sống dài lâu, nhất là những ký ức gắn liền với
hoài niệm trong tâm thức con người. Văn Lê cũng thế, khi nhận ra những điều tốt
đẹp của văn hóa làng không còn nữa, nhà thơ không khỏi chạnh lòng, tiếc nuối,
khi nhớ về những ngày xa xưa, có thể cuộc sống còn nghèo nhưng ấm áp tình quê,
hồn quê: “Những năm ấy quê em nghèo xơ xác/ Nhà lưa thưa bên kênh rạch xanh
phèn/ Thân bì bõm như con cò cái vạc/ Em chống xuống vớt lúa giữa mưa đen”.
(Cây tràm mảnh dẻ). Tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê, vì thế là sự kết tinh
giá trị của ký ức văn hóa dân tộc mà Anh luôn giữ gìn như giữ gìn chính cuộc sống
của mình. Điều này đã được minh chứng trong nhiều bài thơ của Anh như: Tìm
đồng hương, Chợ âm dương, Viết bên suối giải oan, Mùi nhang đêm giao thừa, Những
cánh cò trong rừng, Khi vắng những cánh cò, Cây tràm mảnh dẻ, Kinh Bắc, Tháp
Chăm, Cờ Người, Chơi ô ăn quan, Khúc Việt hành phương Nam…
5. Trong kho tàng thi ca dân gian Việt Nam, một di sản văn
hóa phi vật thể quí giá của dân tộc, có những câu ca dao thể hiện nỗi nhớ quê
thê thiết, mà khi đọc lên lòng ta không khỏi rưng rưng: “Đêm đêm đốt đỉnh hương
trầm,/ Khói lên nghi ngút âm thầm nhớ quê” (ca dao). Như vậy, nỗi nhớ quê,
không chỉ là tình cảm bình thường mà đó là tình cảm mang ý nghĩa tâm linh, thể
hiện bản sắc văn hóa Việt. Làng quê đối với người Việt có một sức sống thiêng
liêng. Thế nên, người Việt Nam có thể “bị mất nước” chứ không bao giờ “để mất
làng” và từ sức mạnh của Làng nhân dân ta đã giành lại đất nước. Điều này đã được
xác tín trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đây cũng là cảm hứng
chủ đạo trong nhiều bài thơ của Văn Lê như:Lời người trong cuộc, Khúc hát đồng
quê, Đại hạn, Khúc bi ca, Câu nói không lời,Khúc hát phong tình miền Tây… Đặc
biệt là hai trường ca Vé trở về và Câu chuyện của người lính binh nhì,
trong đó, có những câu thơ chất chứa tình quê sâu nặng của thi nhân mà khi đọc
lên ta không khỏi thấy quặn lòng: “Đồng chiêm nghèo của tôi ơi/ Nhận cho một lạy
của người ra đi” (Khúc hát đồng quê); hay “Nỗi cô quạnh một mình trên đồng trống/
Đã làm anh nhớ mẹ đến gai người/ Anh nhớ xóm làng nhớ đồng chiêm trũng/ nhớ cội
nguồn mà anh đã chia phôi…” (Đại hạn). Ngoài những biểu hiện đã nói ở trên, có
thể nói, kết tinh của tâm thức văn hóa trong thơ Văn Lê chính là cái tình đối với
làng quê, nơi Anh sinh ra cũng như những làng Anh đã sống và chiến đấu trên nước
Việt dấu yêu. Văn hóa làng chính là bầu sửa nuôi dưỡng hồn thơ Anh, chắp cánh
cho Anh trong hành trình sáng tạo nghệ thuật. Tìm hiểu tâm thức văn hóa trong
thơ Văn Lê chính là tìm hiểu cội nguồn văn hóa làng làm nên những dự phóng sáng
tạo trong thơ mà nếu không có nó, Anh không thể bay cao, bay xa trên bầu trời
thi ca dân tộc như Anh đã sẻ chia về bài học làm người qua diễn ngôn thơ chứa đựng
những thông điệp đầy tính ẩn dụ: “Các anh học cách thắt lưng cho chặt/ Học lúa
đồng đội nước mà lên/ Học loài yến không vấy bùn lên tổ/ Học ốc sên để biết
cách im lìm/ Học con cò lặn lội bờ sông/ Học con vịt mò ăn trong nước/ Học cả
con chim bị nhốt ở trong lồng…/ Thầy giáo dạy anh : – Làm “quan” không
khó./ Được thành người mới danh dự cao sang !/ Dân lạc Việt phải sống hồn
lạc Việt/ Không để quê hương cho ma quỉ nhập tràng…/ Anh yêu làng anh – Cái
làng nghèo túng,/ Nhưng trót thương ai thì thương đến tận cùng/ Không vì lợi mà
bán mình cho quỷ/ Đã là người phải có thủy chung”. (Bài học đầu tiên).
Đọc những câu thơ này của Văn Lê, tôi nhớ đến Albert Camus, một
triết gia hiện sinh, một nhà văn nổi tiếng của nhân loại thế kỷ XX, người được
trao giải thưởng Nobel văn chương năm 1957 đã xác quyết: “Khi văn hóa xuống cấp,
nó rút ngắn con đường dẫn đến nô lệ”. Viện dẫn điều này, tôi muốn chia sẻ với
nhà thơ Văn Lê, tại sao tôi chọn viết về tâm thức văn hóa trong thơ Anh. Vì
cũng như Anh, tôi không muốn những tháng năm cầm bút, cầm súng, gần cả đời người
của Anh cho độc lập, tự do của dân tộc trở thành vô nghĩa. Bởi, nếu hôm
nay, chúng ta không nâng cao ý thức bảo tồn “giòng sinh mệnh văn hóa dân tộc”,
để nó “xuống cấp” không phanh thì “con đường dẫn đến nô lệ” như
Albert Camus đã dự báo sẽ là một tất yếu không xa. Vì vậy, tâm thức văn
hóa trong thơ Văn Lê với những gì đã luận giải, thiết nghĩ cũng là một hệ giá
trị, góp phần bảo vệ nền văn hóa dân tộc, cần được trân quý và chia sẻ…
Chú thích:
* Thơ trích dẫn trong bài lấy từ Văn Lê, Tuyển thơ, Nxb. Hội
Nhà văn, Hà Nội, 2015
[1] Tập san Sử địa, tam cá
nguyệt san số 5, tháng 1,2,3/1967, tr.2
[2] Cao Văn Liên, Việt Nam
diễn nghĩa tập 1, Nxb. Hồng Đức, 2019, tr.93
[3] Phạm Việt Truyền, Cửa
vào phong tục Việt Nam, Sài gòn, Tác giả tự xuất bản, 1974, tr. 240.
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 15/5/2020
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Thiếu Sơn nhà văn chính trực
Thiếu Sơn nhà văn chính trực “Trang viết của Thiếu Sơn đến với chúng ta hôm nay cũng khiêm nhường như con người ông, dù ông là chứng nhân ...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...


