Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

Tính cách và tâm hồn người Nam Bộ qua thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

Tính cách và tâm hồn người Nam Bộ
qua thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Đình Chiểu – nhà thơ lớn, tiêu biểu cho dòng văn học yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX, người mà tên tuổi gắn liền với phong trào đấu tranh oanh liệt của nhân dân miền Nam ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp đặt chân lên đất nước ta. Đó là “Ngôi sao có ánh sáng khác thường, càng nhìn lại càng thấy sáng” (Phạm Văn Đồng). Đã hơn một thế kỷ qua, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu in đậm dấu ấn vào tình cảm người dân Nam Bộ và nhân dân cả nước.
Người Nam Bộ đọc thơ, nói thơ, hát thơ, kể thơ, diễn thơ của ông dưới nhiều hình thức dân gian. Thơ văn của nhà thơ – chiến sĩ ấy đã vượt qua biên giới của lý trí đến với bạn bè một số nước trên thế giới. Vậy, điều gì đã làm nên sức hấp dẫn kỳ diệu ấy ở thơ văn ông? Một trong những yếu tố có tính chất quyết định là sự gắn bó chặt chẽ của ông vời đời sống người dân lao động. Qua thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ta có thể soi thấy tính cách và thế giới tâm hồn người dân Nam Bộ. Và ta sẽ bắt gặp ở đó nhiều yếu tố văn hoá dân gian của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Ta hãy ngược dòng lịch sử tìm hiểu sự hình thành của vùng đất “chín rồng” này để hiểu rõ hơn tính cách và tâm hồn con người Nam Bộ được bộc lộ trong thơ văn của ông. Theo nhiều tài liệu lịch sử ghi nhận thì vùng đất Nam Bộ mới hình thành trên dưới 300 năm nay, theo sự Nam tiến của các chúa Nguyễn. Từ năm 1658 đến 1757 các chúa Nguyễn đã chiếm được các vùng đất từ Biên Hoà đến Hà Tiên. Miền Nam cứ thế được khẩn hoang, mở mang, một mặt lấn dần ra biển, một mặt được nới rộng biên cương sau những chiến thắng lớn với Chiêm Thành, Chân Lạp. Ngày nay vùng đất này đã bát ngát, mênh mông, trù phú vào bậc nhất nước ta:
Miền Nam hết nắng rồi mưa
Cho cam lắm trái cho dừa thêm xanh
Sầu riêng nặng trĩu trên cành
Mãng cầu, măng cụt ngon lành biết bao
Lúa xanh dưới trận mưa rào
Sông sâu nước chảy dạt dào tình quê… (Ca dao)
Trên mảnh đất ấy, chủ nhân của nó cũng là những con người đặc biệt. Phần lớn họ là những người từ miền Bắc, miền Trung dạt vào với ba nguồn: Một là những con người bất khuất vì nghĩa khí không chịu khuất phục chế độ phong kiến, vào đây để sinh cơ lập nghiệp. Hai là những tù nhân, tù binh hay tội đồ bị chúa Nguyễn đày vào để khẩn hoang đất đai. Ba là những lính thú từ miền Bắc và miền Trung tự nguyện theo chúa Nguyễn vào Nam. Ngoài ra còn có một số người gốc Hoa, người Khmer di cư tới. Phần lớn những con người này bất mãn với triều đình phong kiến. Họ có những đặc điểm dễ thấy như: dũng cảm, ngang tàng, phóng khoáng, bộc trực, trọng nghĩa khinh tài, điệu nghệ với tinh thần:
Kiến ngãi bất vi vô dõng dã
Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng
(Nghĩa là: Thấy việc nghĩa mà không làm không phải là người dũng cảm/ Thấy người bị nạn mà không cứu không phải là người anh hùng).
Những con người đó giàu lòng vị tha, có nhân đức, có đời sống tinh thần phong phú, thích nghe nói thơ, thích đọc truyện Tàu. Nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu đã nhận xét khá lý thú và xác đáng về tính cách của họ: “Đó là những con người tròn thì ra tròn, vuông thì ra vuông, chứ không méo mó quanh co. Lời nói của họ thẳng như dao dựa chém đá”.
Trên đất nước ta có 54 dân tộc anh em, tuy khác nhau về nhiều mặt nhưng mỗi dân tộc như một tế bào của Tổ quốc, luôn bên nhau tạo nên khối cộng đồng người Việt có truyền thống đoàn kết, nhân hậu, anh dũng, bất khuất, cần cù… Dưới thời thực dân Pháp cai trị, chúng đã chia nước ta ra làm ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam Kỳ để dễ cai trị, gây mâu thuẫn, mất đoàn kết dân tộc. Đó là chính sách “chia để trị” rất phản động của thực dân Pháp. Thực ra, tổ tiên của người miền Nam cũng là tổ tiên của người miền Bắc, miền Trung, và xa hơn nữa theo truyền thuyết thì đó là những đứa con cùng một bọc của mẹ Âu Cơ. Theo duy vật biện chứng thì tính cách mỗi con người được hình thành bởi nhiều yếu tố như: hoàn cảnh địa lý (môi trường tự nhiên), bẩm sinh di truyền, điều kiện giáo dục của gia đình, xã hội và đặc biệt là sự tự thân vận động của mỗi cá nhân. Trong đó yếu tố giáo dục giữ vai trò quyết định tới sự hình thành và phát triển tính cánh, tâm hồn. Bác Hồ đã nói: Hiền dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên (Nhật ký trong tù). Ở đây, chúng ta không đi sâu tìm hiểu cá tính của người dân Nam Bộ dưới lăng kính của nhà sử học hay nhà tâm lý mà chỉ tìm hiểu tính cách đó, tâm hồn đó của họ được bộc lộ qua thơ văn Nguyễn Đình Chiểu như thế nào?
Như chúng ta đã biết, Nguyễn Đình Chiểu là con của một bà vợ thứ, sinh ra ở Gia Định (1.7.1822) trong một gia đình nhà Nho nghèo. Từ nhỏ, ông được theo cha đi nhiều nơi, ra học ở Huế. Khi nghe tin mẹ mất, ông đau khổ và trở về Nam thọ tang với biết bao gian nan trên lộ trình… Nhưng điều đau lòng hơn là khi thấy quê hương bị thực dân Pháp xâm chiếm. Ông chạy về quê vợ ở Cần Giuộc rồi sau về “tị địa” ở Ba Tri, Bến Tre. Đây là thời kỳ buồn thảm nhất trong cuộc đời nhà thơ. Ông sống thanh bạch trong sự thương yêu, đùm bọc của sĩ tử và bà con làng xóm.
Sự nghiệp sáng tác của ông gắn liền với vận mệnh đất nước và nhân dân Nam Bộ trong một giai đoạn lịch sử đầy bi tráng. Thơ văn của ông là hơi thở, là ý tình của người dân Nam Bộ. Có lúc ông là “thầy học giữa làng”, có khi là “thầy lang cuối xóm”. Trong ông, có “ba con người trí thức”. Đó là “thầy thuốc, thầy giáo, và nhà thơ” (Giáo sư Lê Trí Viễn). Dù thời thế có đảo điên, lòng ông vẫn vằng vặc sáng như trăng rằm “Lòng đạo xin tròn một tấm gương”. Mục đích cuộc đời ông là dùng ngòi bút để “chở đạo, đâm gian”, đem lại hạnh phúc cho dân lành:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Bởi vậy, tiếng nói trong thơ ông rất đa dạng. Khi là tiếng giảng về đạo lý làm người của một Kỳ Nhân Sư, khi là lời thăm bệnh của một ông Ngư, ông Tiều trong “Ngư – Tiều y thuật vấn đáp”. Khi là sự lo lắng cho sĩ tử, có lúc là tiếng khóc của trẻ thơ chạy loạn “Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy/ Mất ổ bầy chim dáo dát bay”. Đôi khi trong ông có cái giận lôi đình của một trang hảo hán như Tử Trực, Hớn Minh: “Tôi bèn nổi giận một khi/ Vật chàng xuống đó bẻ đi một giò” (Lục Vân Tiên).
Nhưng tiếng nói sâu xa nhất, vang vọng nhất đến muôn đời sau vẫn là tiếng nói giản dị, mộc mạc của những người nông dân “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ bíêt ruộng trâu ở trong làng bộ”. Thế mà họ vẫn quyết ra tay “bộ hổ”, sẵn sàng “cắn cổ”, “ăn gan”, xé xác quân thù. Đó là tiếng nói của lương tâm chính nghĩa, rất Nam Bộ mà cũng rất thơ. Mỗi lời thơ của ông đều chứa chan lòng nhân đạo và rực lửa chiến đấu. Ngôn ngữ trong thơ ông “là thứ ngôn ngữ bình dân, chân thực, thông dụng, thực tế, có cái vị thơm, cái hương lành của cây trái Nam Bộ – cái hương vị văn miền Nam” (Xuân Diệu).
Phần lớn thơ văn của ông được viết ra khi mắt đã mù, nhờ học trò ghi lại, được nhân dân nhớ và truyền miệng như ca dao. Xuất phát từ phương thức sáng tác mang tính dân gian, và được người dân Nam Bộ dùng để kể, để nói, để hát và trình diễn. Nó hướng tới đối tượng đông đảo là quần chúng ít học. Nhiều bài ông dành riêng cho học trò hay cho con cháu với tính chất “gia huấn ca” nhưng vẫn có tác dụng giáo dục sâu rộng tới mọi lớp người trong xã hội.
Nguyễn Đình Chiểu có một vốn hiểu biết sâu về Nho học, cộng với sự tiếp thu di sản văn hoá dân gian, nhất là những truyện Nôm, truyện Tàu. Và đặc biệt, ông sống rất gần gũi với người lao động nên mỗi ý tình của thơ văn ông cũng là hương vị, là cách cảm, cách nghĩ của người dân Nam Bộ. Dù viết về đề tài nào, thể loại nào, thơ văn ông cũng rất gần gũi quần chúng. Nó khác với thứ văn mang bút pháp ước lệ của một số nhà Nho chuyên “ngâm hoa vịnh nguyệt”. Nó lại càng khác xa vơí thứ văn chương “sa lông” giải trí của giới trí thức tư sản ở thành thị sau này. Truyện thơ của ông có kết cấu từng phần rõ ràng, kết thúc có hậu, nhằm thoả mãn ước vọng của người bình dân lương thiện, và họ rất dễ nhớ, dễ đọc. Mỗi phần, mỗi đoạn đều được diễn đạt rõ ràng, gắn kết với nhau chặt chẽ. Cách chuyển ý, chuyển mạch như một lời kể “Thứ này đến thứ Vân Tiên” hay “Thứ này đến thứ Nguyệt Nga”. Ví như truyện thơ “Dương Từ – Hà Mậu” (DT -HM) đựợc chia ra 12 đoạn rõ ràng: DT – HM đi thi, DT – HM gặp ông Ngư, DT – HM gặp ông Tiều, Tà đạo, Người đạo sĩ, Đaị học chi đạo, Nghi vệ Khổng Tử, Hoà thượng khuyên đời, Một cảnh âm phủ, Tội của bà mụ dốt, DT – HM trở về, Dương Từ xuất gia. Hay trong “Ngư – Tiều y thuật vấn đáp” có bố cục các phần, rõ ràng như từng vị thuốc: Lung khởi, Đạo dẫn, Nhập môn, Nhân Sư, Tra án, Kết mạt…
Ở những bài Văn tế hay thơ Đường, ông đều viết bằng ngôn ngữ giản dị, lời ít ý nhiều, gần gũi mà sâu xa thấm thía. Hàng loạt những từ ngữ của dân cày ùa vào bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” như: côi cút, toan lo, từng ngó, dao phay, thói mạt, mắc mớ, trắng lốp, đen sì, chém, đạp, lướt, xô, xông, ngoài cật, trong tay, đoái nhìn, cám bởi. Tất cả những từ ngữ đó góp phần khắc hoạ được bức tượng đài lộng lẫy về người nghĩa sĩ nông dân anh hùng cứu nước, tự nguyện chống giặc đến cùng, hy sinh anh dũng. Đồng thời cũng gợi lên bao xót xa, thương cảm, kính phục của nhân dân ta đối với người nghĩa sĩ.
Người dân Nam Bộ có đặc tính thương yêu, căm ghét rõ ràng. Những từ như “mạt rệp”, “tinh chiên” đã diễn tả được thái độ căm ghét, khinh bỉ đối với kẻ thù tới mức tột cùng: “Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”, hay “Ghét thói mạt như nhà nông ghét cỏ”… Họ nhìn sự vật phải thật rõ ràng, đã “đen” là phải “đen sì”, đã “trắng” là phải “trắng lốp”, chứ không mờ ảo chung chung. Khí thế xung trận của người nghĩa sĩ như sấm sét trút xuống đầu kẻ thù qua các từ ngữ gợi hình và những động từ mạnh: nào sợ, chi nài, coi giặc như không, ăn gan, cắn cổ. Nhưng khi buồn, những con người ấy cũng “hai hàng luỵ nhỏ”, và nhìn cỏ cây đâu đâu cũng thấy “muôn dặm sầu giăng”. Nhiều khẩu ngữ, quán ngữ của nhân dân Nam Bộ có mặt trong bài Văn tế như: danh nổi tợ phao, tiếng vang như mõ, tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo, treo dê bán chó… Nhiều câu hỏi tu từ khắc hoạ được tâm trạng nhân vật trữ tình:
– Vì ai khiến dưa chia, khăn xé?
– Ôi làm ra cớ ấy, tạo hoá ghét nhau chi?
– Người ấy vì ai ra cớ ấy?
– Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió
(Văn tế)
Hay: Vườn luống trông xuân hoa ủ dột
Ruộng riêng buồn chủ lúa khô khan?
(Điếu Phan Tòng)
Hoặc: Biết thuở nào cờ phất trống rung
Hỡi nhật nguyệt hai vầng sao chẳng đoái?
(Văn tế Trương Định)
Mong chờ cũng là đòi hỏi, kêu gọi không phải cho riêng mình mà vì vận mệnh của dân tộc:
Nỡ để dân đen chìm đắm mãi
Này ông Hạ Vũ ở đâu rồi? (Nước lụt)
Hay: Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này? (Chạy giặc)
Họ trông chờ “Thánh đế”, trời đất chăng, nhưng tất cả đều mờ mịt, vô vọng:
Chừng nào Thánh đế ân soi thấu
Một trận mưa nhuần rửa núi sông? 
Hay: Ngày nào trời đất an ngôi cũ
Nhìn thấy non sông bặt gió Tây?
Hoặc: Bao giờ nhật nguyệt vầng gương sáng
Bốn biển âu ca hiệp một nhà?
Những từ ngữ để hỏi: vì ai, thuở nào, luống trông, hỏi trang, nỡ để, chừng nào, ngày nào, bao giờ… cứ lặp đi lặp lại trong thơ ông như một điệp khúc, nó day dứt như một món nợ lịch sử cần được phải trả. Đất nước loạn ly, dân lành chìm đắm, gió Tây sờ sờ, Thánh đế chỉ là tên gọi, còn nhật nguyệt, trời đất cứ im lìm. Mây đen vẫn phủ khắp các miền Tổ quốc. Nỗi lo và niềm hy vọng cứ thôi thúc nhà thơ và muôn triệu người dân Nam Bộ yêu nước lúc bấy giờ. Những câu hỏi trong thơ ông đặt ra như một ẩn số, biết khi nào có lời giải? Nếu “Văn học là nhân học” (M. Goóc-ki) thì hơn bao giờ điều đó thể hiện rất rõ trong cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Ta có thể soi thấy cuộc đời ông qua những lời thơ áng văn ấy. Nhân vật Lục Vân Tiên chính là hình bóng ông phản chiếu gần như nguyên mẫu. Mỗi nhân vật trong truyện thơ Lục Vân Tiên là tượng trưng cho một tính cách, tâm hồn một loại người trong cuộc đời thực ở Nam Bộ. Đó là những con người luôn “trọng nghĩa khinh tài”, hành động, ý nghĩ luôn hướng tới nhân – nghĩa – lễ – trí – tín, những chuẩn mực đạo đức của Nho giáo phong kiến nhưng lại rất dân dã.
Người đọc ai mà chẳng mến yêu, cảm phục một Lục Vân Tiên, một Vương Tử Trực, Hớn Minh, hay ông Ngư, ông Tiều, Tiểu đồng. Và ai chẳng ghét cay ghét đắng loại người gian ác, lật lọng như: Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, cha con Võ Thể Loan. Mỗi nhân vật là một phát ngôn của ông về một điều cần gửi gắm: Tử Trực chung thuỷ, Tiểu Đồng tình nghĩa, Hớn Minh cương trực, Nguyệt Nga kiên trinh thuỉy chung ơn nghĩa. Nàng không thụ động như những cô gái trong các truyện Nôm bình dân lúc bấy giờ mà nàng chủ động chống lại sự áp bức của triều đình, không thể làm theo lời vua khi vua làm việc không hợp với chính nghĩa. Nàng can đảm chống lại số phận và nàng đã chiến thắng. Đối lập với thương là ghét, hai mặt trái ngược nhau nhưng luôn gắn kết hữu cơ. Ông có câu thơ như một tuyên ngôn về lẽ sống: “Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương”. Ông đã để cho ông Quán đứng trên quan điểm người lao động mà dõng dạc tuyên bố thay mình:
Quán rằng ghét việc tầm phào
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm
Ghét đời Trụ, Kiệt mê dâm
Để dân đến nôĩ, sa hầm sẩy hang
Ghét đời U Lệ đa đoan
Để dân luống chịu lầm than muôn phần…
Những khẩu ngữ Nam Bộ được ông đưa vào thơ đúng lúc, đúng chỗ, khắc sâu được ý tưởng như: tầm phào, ghét cay ghét đắng, lầm than muôn phần, lằng nhằng. Lời chửi của Vương Tử Trực đối với cha con Võ Thể Loan cũng rất dân gian:
Chẳng hay người học sách chi
Nói ra những tiếng dị kỳ khó nghe?
… Khen cho lòng chẳng thẹn lòng
Còn mang mặt đến đèo bòng làm chi?
Lời trách của Nguyệt Nga với Lục Vân Tiên thật đáng yêu. Nó bình dân, nôm na không một chút văn vẻ mà thấm thía biết bao:
Vật chi một chút gọi là
Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ
Của này là của vất vơ
Lòng chê cũng phải, mặt ngơ sao đành!
Khi nàng tặng trâm thì Vân Tiên “làm ngơ” nhưng khi nàng tặng “thơ”: “Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ” thì chàng bằng lòng ngay: “Vân Tiên ngó lại rằng: ừ”. Nhà thơ Xuân Diệu gọi “đó là tiếng “ừ” vô song, tôi chưa thấy trong truyện nào có. Nó rất quý báu, là hơi tiếng của quần chúng miền Nam vào trong truyện thơ giai nhân tài tử của ta”. Ngôn ngữ nhân vật trong truyện Lục Vân Tiên gợi ra cái thần thái của ngôn ngữ Nam Bộ. Thầy Pháp thì “hú gió kêu mưa/ sai chim, khiến lợn, đuổi lừa, bắt trâu”, rồi “đau Nam chữa Bắc”. Đó là hạng người lừa dối bằng một thứ ngôn ngữ “lằng nhằng”. Trịnh Hâm thì dốt nát, ngôn ngữ cửa miệng của y rất láo xược. Đó là giọng điệu của hạng người quen ăn trên ngồi trốc, bóc lột, khinh bỉ dân thường. Nó miệt thị ông Quán:
Gối rơm ôm phận gối rơm
Có đâu dưới thấp mà chồm lên cao.
Còn Bùi Kiệm thì được cách điệu hoá bằng lối nói của quần chúng Nam Bộ:
Con người Bùi Kiệm máu dê
Ngồi chề bê, mặt như sề thịt trâu
Cái mặt y được ví với cái “sề thịt trâu” thì thật đáng ghê tởm. Kiều Nguyệt Nga khi đã hành động là làm ngay, không suy nghĩ lâu:
Than rồi bức tượng vai mang
Nhắm chừng nước chảy vội vàng nhảy ngay.
Đó là cái “nhảy” của cô gái Nam Bộ. Nó khác xa với Thuý Kiều khi nhảy xuống sông Tiền Đường, Nguyễn Du còn để cho nàng lưu luyến, suy nghĩ:
Cửa bồng vội mở rèm châu
Trời cao sông rộng một màu bao la.
Ngôn ngữ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu luôn mang hơi thở của đời thường. Ông dùng “ngòi viết” chứ không nói “ngòi bút”, “nhem nhèm” thay cho từ “thèm”, và rất nhiều từ khẩu ngữ: cùi dày, hèn chi, thổi hà xì hít… Nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao, điển tích được ông vận dụng sáng tạo, linh hoạt, như: vật đổi sao dời, sớm còn tối mất, nước xối đầu vịt, ếch nằm đáy giếng…, và nhiều điển tích, điển cố về Trụ, Kiệt, Nghiêu, Thuấn, Quan Vũ, Triệu Tử Long, Bá Di, Thúc Tề…
Có khi ông mượn ý từ câu ca dao:
Ai ai cũng ở trong đời
Chính chuyên trắc nết chết thời cũng ma.
Là rút từ câu: Lẳng lơ chết cũng ra ma
Chính chuyên chết cũng khênh ra ngoài đồng.
Ca dao có câu: Tới đây thì ở lại đây
Bao giờ bén rễ xanh cây hãy về.
Thì ông viết: Tới đây thì ở lại đây
Cùng con gái lão sum vầy thất gia.
Ở một số bài thơ mang tính ngụ ngôn, ông đã chửi bọn tay sai của thực dân Pháp bằng những từ ngữ mỉa mai, khinh bỉ, như: lũ kiến bất tài, giống bèo vô dụng, lổm ngổm giường cao thấy chó ngồi (Nước lụt). Ở các bài Ngựa Tiêu Sương, Con dê, Thảo thử hịch… ông bộc lộ một cái nhìn thâm thuý, làm bật tiếng cười phê phán. Nó khác xa chất uy-mua của người Anh, người Pháp trong một số truyện ngụ ngôn của họ.
Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu nói chung và truyện thơ Lục Vân Tiên nói chung đã đi sâu vào đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ hơn hai thế kỷ nay, được mọi người nâng niu, gìn giữ, quý trọng. Nhiều câu thơ không cần gọt giũa mà vẫn nói được nhiều điều đơn giản, thẳng thắn, có khi “còn nguyên thuỷ của người Nam Bộ” (Trần Văn Giàu). Truyện Lục Vân Tiên đã đi vào kho tàng ca dao, câu đố, điệu hò của văn hoá dân gian Nam Bộ:
“Hò… ơ… Này này người nghĩa của em ơi/ Lòng em giữ trọn như nàng Nguyệt Nga”, hoặc như: “Hò… ơ… Nàng Nguyệt Nga em bậu ơi/ Anh đây giữ lòng chung thuỷ theo đường anh Vân Tiên”. Ở Thừa Thiên – Huế, truyện thơ Lục Vân Tiên cũng in dấu ấn trong hò Mái nhì, Mái đẩy: “Bớ em ơi! Em đừng suy nghĩ thiệt hơn/ Hãy ở như Nguyệt Nga ngày trước, lòng dạ keo sơn chẳng rời”.
Tóm lại: Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu tuy chưa được trau chuốt như văn Truyện Kiều của Nguyễn Du. Các hình tượng, hình ảnh, tính cách, tâm lý nhân vật nhiều chỗ tuy diễn đạt còn đơn giản nhưng vẫn có sức lay động cao tới tâm hồn người đọc. Đó là thơ văn của nhà thơ – chiến sĩ mù loà, được viết ra bằng máu và nước mắt cho đông đảo quần chúng lao động đọc, kể, nói, diễn. Mỗi từ ngữ của ông đều phản chiếu tính cách, tâm hồn người dân Nam Bộ. Nếu ở nước Anh có nhà thơ mù Min-tơn đã viết nên trường ca bất hủ “Thiên đường lạc mất”, nếu ở nước Nga Xô viết có nhà văn N.Ô-trốp-sky trong lúc mù và bại liệt đã viết tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy” được xem là sách “gối đầu giường” của nhiều thế hệ thanh niên một thời, thì ở Việt Nam chúng ta rất tự hào có nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu tuy mù nhưng lòng dạ sáng trong đã viết hàng ngàn câu thơ, bài văn làm rạng rỡ thi đàn dân tộc.
Thơ văn của ông trước và sau thời gian thực dân Pháp xâm lược Nam Bộ là ánh hào quang phản chiếu một giai đoạn lịch sử bi hùng của đất nước. Thứ văn chương ấy là “đòn xoay chế độ, phá cường quyền” (Sóng Hồng), phục vụ kịp thời cuộc đấu tranh của dân tộc. Đó là thứ văn chương chí nghĩa, chí tình nên hoạ nên nhạc rất nhuần nhụy như chính hơi thở cuộc sống miền sông nước Nam Bộ giàu hoa thơm trái ngọt. Thơ văn của ông đã cắm một mốc lớn ở thế kỷ XIX, nêu cao ngọn cờ yêu nước, chiến đấu hy sinh đến cùng cho hạnh phúc của dân tộc. Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu “càng nhìn lại càng thấy sáng”.
3/7/2022
Lê Xuân
Theo https://vanvn.vn/

Nguyễn Thị Thanh Xuân gởi theo chút duyên tình đọc

Nguyễn Thị Thanh Xuân
gởi theo chút duyên tình đọc

“Gửi đây chút duyên tình đọc” sẽ không là chút duyên tình đọc mà nhiều duyên tình đọc mang đến cho người đọc hôm nay những mạch ngầm rung động đầy thú vị và thú vị ấy, truyền cảm hứng khiến người đọc hăm hở nối tiếp chút duyên tình gởi theo…!
Đúng là cơ duyên! Cơ duyên bởi những chân dung văn học xuất hiện trong tập sách “Gửi đây chút duyên tình đọc” của Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Xuân, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Như Book ấn hành tháng 10 năm 2019, là cuộc hội ngộ “ngẫu nhiên, bất ngờ” giữa tâm hồn người nghệ sĩ và tâm tình bạn tri âm. Ngẫu nhiên đối với chính tác giả tập sách, bất ngờ dành riêng có cho bạn đọc. Tin rằng, “Gửi đây chút duyên tình đọc” sẽ không là chút duyên tình đọc mà nhiều duyên tình đọc mang đến cho người đọc hôm nay những mạch ngầm rung động đầy thú vị và thú vị ấy, truyền cảm hứng khiến người đọc hăm hở nối tiếp chút duyên tình gởi theo…!
1. Tương phùng và chia sẻ
Đồng hành cùng tác giả tập sách, bạn đọc hẳn có cơ hội du hành vào thời gian khoảng một thế kỷ: từ tiền bán thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI. Đây là chặng đường dài của văn học Việt Nam. PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân thông qua việc phác họa chân dung văn học đã sống cùng với những thăng trầm của nền văn học nước nhà. Qua đó, tác giả tập sách bộc lộ những ưu tư của bản thân về người, về tác phẩm và đời sống văn học. Những ưu tư đó, có lẽ, góp phần xác lập vị thế nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học, nhà giáo và cũng là “bạn đọc lý tưởng” cho văn nhân nhiều thời kỳ khác nhau trong một đất nước đầy biến động.
Bằng lối viết giản dị, tác giả “Gửi đây chút duyên tình đọc” hình như có xu hướng biến những khái niệm và hệ thống lý luận nặng nề trở nên đơn giản, minh xác. Dẫu rằng ngẫu nhĩ tương phùng, kỳ thực tác giả đã nỗ lực mang duyên tình đọc từ tâm thế của tác giả đến cùng bạn đọc trong cách thế dễ tiếp nhận hơn. Chẳng ngoa khi nói rằng, tác giả tập sách không ngần ngại mở toang cánh cửa dẫn bạn đọc vào địa hạt văn chương của nhiều văn nhân vừa quen vừa lạ. Có thể xem PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân là người “trợ duyên” giúp bao nhiêu văn sĩ xưa nay được cơ hội trở lại với bạn đọc đương thời. “Qua trang sách này, tiếng nói của họ sẽ xuyên qua thời gian, gửi gắm bao nhiêu là thông điệp, bằng một cách thế riêng” (tr.7). Quả thực, PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân đã kích hoạt và làm bừng lên cảm hửng sẻ chia. Dầu viết theo lối “tùy bút đọc” hay thiên khảo luận chặt chẽ, mỗi bài viết luôn mang lại cho bạn đọc đương thời nhiều trắc diện khác nhau của từng chân dung văn học. Việc này cũng nói lên, tác giả tập sách không mang tâm thế “tĩnh” và hệ quy chiếu cố định để từ đó, phóng tầm nhìn đến đối tượng khắc họa chân dung. Trái lại, tác giả tập sách xuất phát từ đặc trưng phong cách, tư tưởng và thông điệp của mỗi văn sĩ để xác lập cách tiếp cận phù hợp. Phải là người nhuần nhuyễn điêu luyện về phương pháp mới có thể khiến “vạn pháp” thành “nhất pháp” và rồi “vô pháp”, nhưng kỳ thực ẩn chứa trong đó là sự kết hợp nhuần nhị và nhẹ nhàng những phương pháp nghiên cứu văn học. Rồi, bằng cách đó, tác giả tập sách đã thành công trong việc khắc họa chân dung văn học bằng cuộc tương phùng ngẫu nhĩ!
Nhìn người bằng đôi mắt của mình thì bóng người làm gương phản chiếu tư thế của mình. Cớ sao tác giả tập sách quan tâm đến vấn đề quốc học trong quan niệm Phan Khôi để nói tới sự học nước nhà. Rõ ràng từ những phân tích của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân, người đọc không thể không nghĩ tới sự học của nước nhà hôm nay. Chuyện xưa đánh động chuyện nay.
“Đọc nhau vì duyên, trọng nhau vì tình, “duyên tình đọc” là sự hấp thụ nhau như lửa cháy lên sức nóng, làm sống lại ánh sáng từ những nơi mờ tối. […] Lửa của người viết, lửa của người đọc, lửa từ năng lượng tác phẩm, lửa của sự tương thông, lửa của tâm giao – nguồn sống ủ kín đó âm thầm nhảy múa và thao thức trong sâu kín của trí tuệ người đọc, khiến người ta có cảm giác cần đến sự đọc nhau, đọc cho nhau; vì sự đọc ấy mà nghĩ suy; nối dài những cách nghĩ suy để đọc thêm những “văn bản” sống động ngoài chữ nghĩa như những thông điệp vẫn đang từng giờ tìm lối hiển lộ nơi cảm xúc và tâm hồn con người”[1].
Từ ngọn lửa Phan Khôi, PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân mở ra duyên tình đọc, nhắc nhở sự vượt thoát của Phan Khôi trong văn nghệ nói chung để nhắc nhở người đương thời, nhứt là người trí thức về bản mệnh của kẻ trí thức. Quả thực, tác giả tâp sách đâu khác gì người tri âm tri kỷ của những bóng hình đã lướt qua đời sống văn nghệ nước nhà, nhưng hãy còn những uẩn tình u uất chi đó. Duyên tình đọc: trước hết, chính là sự sẻ chia, thấu cảm. Xưa Phan Khôi “thân oan cho Võ Hậu”, hậu thế cũng không ít người thân oan cho Phan Khôi, âu cũng là duyên nghiệp xưa nay! Vì đâu mà có cơ duyên ấy? Phải chăng, người xưa kẻ nay đều cùng một chí hướng: bênh vực cho người yếu thế, lên tiếng thay cho những cái tiên phong bị trù dập, ngăn trở, che lấp.
“Tôi viết bài nầy, cái ý thân oan cho một người đàn bà còn là ý thứ hai; mà cái ý cốt cũa tôi là muốn cho chúng ta phê bình một người nào, phải xét rõ lịch sử, hoàn cảnh, tâm sự cũa người ấy rồi sẻ phê bình, chớ đừng có đụng đâu nói đó”[2].
Nối bước, tác giả tập sách thốt lên nỗi lòng Phan Khôi.
“Là con người như vậy, thì việc Phan Khôi tham gia kháng chiến chống Pháp và đồng thời viết cho Nhân văn giai phẩm, cũng là lẽ tất nhiên. Ông đã sống và hành động đúng với tâm niệm, đúng với cốt cách của mình. Những giá trị mà ông xác tín nằm trong hệ thống giá trị phổ quát mà nhân loại không thôi mong mỏi, hướng về. Nhưng Phan Khôi cũng mãi mãi là người cô đơn trong khí phách, trong hoài bão của mình, cả thời ông sống và cho đến hôm nay” (tr.28).
Mối đồng cảm – đồng điệu ấy, có lẽ, khiến cho tác giả tập sách cảm mến và thấy gần gũi với Phan Khôi –  Từ đó, người trở thành kẻ tri kỷ với tiền nhân. Trong mối giao tình này, PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân có lẽ cũng hướng đến tính tiên phong của người trí thức. Chí ít, bạn đọc có thể thấy thiện cảm của tác giả tập sách đối với những nhà trí thức tiên phong và do đó, bạn đọc cũng thấy tác giả tập sách đứng về phía cái mới, tiến bộ và phát triển.
2. Lập trường tiếp nhận
Tiên phong – Dân tộc – Cái đẹp, … có thể nói là những nền tảng mà tác giả tập sách đã dựa vào để phóng tầm nhìn phác họa chân dung văn học trong “Gửi đây chút duyên tình đọc”. Từ cách thế trí thức tiên phong của Phan Khôi, lập trường dân tộc của Phan Khôi và quan điểm duy mỹ của Hoài Thanh, bạn đọc có thể hình dung đời sống văn nghệ nước nhà nửa đầu thế kỷ XX. Những quan niệm này còn tiếp tục cuộn chảy trong sinh hoạt văn chương giai đoạn sau. Nhìn các chân dung văn học, bạn đọc cũng gián tiếp nhìn thấy tác giả tập sách. Nhìn thấy tinh thần dân tộc của Thiếu Sơn phải chăng nhìn thấy tinh thần dân tộc của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân. Bên cạnh một Phan Khôi duy lý có một Hoài Thanh duy mỹ, đó là thế cân bằng của chính tác giả tập sách khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu.
Từ lòng mình đến tâm người, sự cân bằng của tác giả tập sách biểu hiện ở những đánh giá khách quan từ nhiều góc độ khác nhau. Bên cạnh đóng góp, tác giả tập sách còn chỉ ra những hạn chế nhất định của mỗi đối tượng (tr.35). Dẫu vậy, bạn đọc vẫn nhận thấy, trên hết, là tinh thần “gạn đục khơi trong”, sự cầu thị – trân trọng những giá trị “phi – thời – không”, mà thế hệ đi trước đã để lại cho hậu thế. Trân quý cách thế làm văn học của thế hệ đi trước, bản thân tác giả tập sách cũng sẽ được thế hệ tiếp nối quan tâm và trân trọng!
Càng rơi vào thế bị thúc bách, người ta càng có khuynh hướng trở về với chính mình, nhận diện chính mình. Trong những tình thế đó, cảm quan năng lực dường như bộc phát mãnh liệt. Ngòi bút mềm mại, uyển chuyển hơn, đôi mắt nhìn đời cũng tự do lãng mạn hơn. PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân không ngại bày tỏ thành thật tâm thế của mình khi bắt gặp Túp lều nát của Nguyễn Trần Ai/Nguyễn Đổng Chi. Cuộc gặp gỡ ngẫu nhĩ tương phùng này khiến cho bài viết cơ hồ là sự kết hợp giữa tản văn, khảo cứu và lối viết chân dung văn học.
“Tôi gặp gỡ Túp lều nát vào những ngày sắp hết hạn nộp bài cho hội thảo và ngay tức thì, bị hút từ tên sách. Khởi đi từ một xúc động cá nhân, hoàn toàn cảm tính, nhưng tôi biết mình sẽ phải vượt qua trạng thái đó. Bởi tôi đang đối mặt với phóng sự, một thể loại của sự thực, trần trụi, gân guốc, và bởi tôi đang đi vào trang viết của Nguyễn Đổng Chi, một nhà văn làm khoa học. Cuộc gặp gỡ muộn màng này buộc tôi chỉ đủ thời gian chăm chú vào văn bản, và tôi thực hành Đọc kỹ (Close-reading), dõi theo mối quan hệ giữa thủ pháp và ý nghĩa. Túp lều nát được khởi thảo từ 1933 đến 1936, công bố năm 1937: thời gian ấy đến nay xê xích trong khoảng 80 năm. Phải mất 80 năm mới có cuộc gặp gỡ này, để tôi nhận ra từ đó một giá trị mà tôi gọi tên là Tiếng kêu, lời vọng, chữ khắc” (tr.140).
Nhìn một lượt 18 bức chân dung, bạn đọc có lẽ nhận ra lối viết của tác giả tập sách thường bắt đầu bằng việc trình bày rõ cớ sự tương phùng, tâm thế tiếp nhận và phương pháp tiếp cận đối tượng văn học. Dù bắt đầu bằng lối viết minh xác chặt chẽ đầy tính khoa học hay bắt đầu bằng lòng tương cảm đồng điệu thì mỗi bài viết đầu thể hiện sự thành thực của tác giả tập sách ngay từ đầu. Điều này, phải chăng cho thấy, tác giả tập sách cũng đã tự thành thực với chính lòng mình và những gì được trình bày trong tập sách; do đó, cũng chính là tiếng lòng thổn thức hết sức tự nhiên của người viết. Bằng sự khiêm nhường cố hữu, nữ tác giả họ Nguyễn thật bụng nói ra những gian khó, ngán trở và hạn chế khi phác họa mỗi bức chân dung văn học. Việc này, không làm giảm chất lượng bài viết mà ngược lại, còn tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc tự xác lập tâm thế của mình khi cảm thông cùng tác giả tập sách qua mỗi bức chân dung. Đồng thời, việc này cũng khẳng định tác phong và đạo đức của nhà làm khoa học, nhà nghiên cứu chân chính. Nhứt là, những bạn trẻ bắt đầu tập tành nghiên cứu, lấy đó làm gương giữ mình, kiến thiết đời nghiên cứu lâu dài.
Đúng như tựa sách, nữ tác giả họ Nguyễn bắt đầu bằng tương phùng để nối dài thêm những ưu tư của người xưa-kẻ nay. Cô Thanh Xuân gọi đó là “những khoảnh khắc bừng lên cảm hứng sẻ chia” (tr.8). Cho nên, con người khí phách hoài bão Phan Khôi (tr.28) đã sống lại qua ngòi bút của PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân, cũng như tiếng nói chính trực vì nhân dân đất nước của Thiếu Sơn (tr.54), niềm cám cảnh bất đắc dĩ trước thời cuộc của Hoài Thanh (tr.82), nỗi niềm trí thức yêu nước dấn thân trường hợp Hồ Hữu Tường (tr.117), cuộc giằng co giữa suy tư mơ mộng nghệ sĩ và thực tại khốc liệt trong tâm hồn Triều Sơn (tr.139), tiếng kêu tha thiết của Nguyễn Trần Ai trước tình cảnh “túp lều nát” lần hồi đổ sụp lên đầu dân đen (tr.142); v.v… Mượn chuyện xưa để bày tỏ nỗi lòng hôm nay. Người trí thức làm khoa học, nhứt là khoa học văn chương, không chỉ bó mình trong phạm vi “phòng thí nghiệm/văn bản”, kỳ thực, đôi mắt vẫn ngó nhìn đời sống. Thậm chí nhìn không chớp mắt bởi bản chất  “thức trí” không thể làm ngơ trước vấn nạn xã hội đương thời. Phải chăng, nữ tác giả họ Nguyễn đã ngó cũng như thấy nên trở về với người xưa, qua chữ nghĩa quá khứ, rồi đồng vọng và khuếch trương vài âm ba thống thiết năm cũ trước thực trạng bây giờ. “Thật, giả sẽ được phơi bày dưới ánh mặt trời” (tr.82). Nhưng, phải nhờ công tao ngộ làm thành tương phùng, nhờ bàn tay kẻ hậu sinh lật trở những trang viết bị màu thời gian biến sắc, thì ánh nắng trời mới soi rọi thấu suốt nỗi niềm người xưa. PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân bồi thêm niềm tin tưởng của Hoài Thanh về tình thế bất đắc dĩ phải “tạm gác lại”, mở ra để nắng trời soi thấy lòng trung trinh của Phan Khôi với đời sống con người, dắt lối đến túp lều nát hơn 80 năm trước để khẳng định giá trị xứng đáng của tác phẩm này.
Có lẽ, những băn khoăn của tác giả tập sách về Túp lều nát đáng cho người đọc hôm nay nghiền ngẫm:
“Đọc phóng sự Nguyễn Đổng Chi, câu hỏi hiện lên: Ta đã làm gì trong những năm tháng này và những năm tháng ấy? Ta lại thấy cần những trang phóng sự như những hòn lửa hồng bọc băng bên ngoài của Túp lều nát biết bao!” (tr.152).
Phải chăng, bản chất người trí thức chẳng bao giờ êm xuôi với chính mình và thời cuộc. Những ung nhọt nhức nhối xã hội chẳng khác gì viên sỏi luộm cuộm trong lòng, người trí thức đã “thức trí” chẳng thể né tránh “bản mệnh lương tâm” đời sống. Và, do đó, chẳng thế tránh nguy cơ “thí thân” cho sự vận động phát triển xã hội con người!
“Than ôi! Người ta thường nói: “Cứng quá thì gãy”. Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời. Sao lại đoán trước là sẽ gãy mà chịu đổi cứng ra mềm?” (Nguyễn Dữ).
3. Mô phạm và phá cách
Về cách viết tập sách, theo Phạm Phú Phong:
“Đối với những tác giả thời danh, đã có nhiều người nói đến, sức khám phá và sáng tạo của tác giả là đã tìm ra những chỗ còn bỏ ngõ, khám phá những yếu tố mới, bởi trên con đường đã chi chít những dấu chân, người viết cố tìm ra được những khoảng trống hiếm hoi để đặt bàn chân ấm nóng của mình, nắm được “cái thần” của mỗi người, tô thêm những nét chấm phá, để người đọc có thêm một góc nhìn mới có thể nhận diện rõ chân dung tinh thần của từng tác giả”[3].
Ngoài yếu tố mới, đi vào những con đường hẹp và lối chấm phá, bạn đọc hôm nay còn nhận thấy và học hỏi được gì ở lối viết của nữ tác giả họ Nguyễn “Gửi đây chút duyên tình đọc”?
Nữ tác giả họ Nguyễn thường có lối viết giản dị, bám theo chiều dài cuộc đời của mỗi nhân vật và thường khi rình bày từng chặng đường đời của nhân vật. Ở mỗi chặng đường, nữ tác giả họ Nguyễn điểm qua từng dấu ấn đáng kể, từng đóng góp làm nên thành tựu và tên tuổi của nhân vật ấy. Cách viết này, giúp bạn đọc – nhứt là bạn đọc trẻ, chưa biết hoặc ít biết về những nhân vật này, sẽ rất thuận tiện để tiếp cận. Không đánh đố và “thử thách” tri kiến của độc giả, lối viết và trình bày của nữ tác giả họ Nguyễn rất gần gũi, chân thành; đồng thời sành hiểu tâm lý từng đối tượng người đọc.
Hơn hết, bạn đọc nhận ra tấm chơn tình của nữ tác giả họ Nguyễn trải lòng cùng với từng nỗi thăng trầm biến cố của đối tượng được tập sách khắc họa. Do đó, trang viết của nữ tác giả họ Nguyễn vừa có giá trị khoa học, vừa giàu trữ lượng thông tin và đồng thời giàu cảm xúc; thừa sức lôi cuốn, dẫn dụ độc giả suy ngẫm từng trang viết bởi từng trang viết không sơ cứng khô khan; ngược lại rất mềm mại, đằm thắm. Viết về Bích Khê, Hồ Hữu Tường, Triều Sơn, … PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuận trình bày những nét châm phá ấn tượng, cốt lõi đời văn của từng đối tượng; đồng thời biểu lộ niềm say mê hăng hái trong quá trình nghiên cứu biểu hiện trong từng lời văn khắc họa chân dung. PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân đã chia sẻ cùng Bích Khê nỗi chênh vênh đời thơ (tr.92), hăng say với nhiệt huyết, năng động, tự tin, lạc quan hiếm thấy của Hồ Hữu Tường (tr.94), cùng xê dịch đắm đuối suy tư và mộng mơ với Triều Sơn (tr.139), … Có lẽ, PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân đã cân bằng được cả hai tâm thế: nhà nghiên cứu và người tri kỷ với tao nhân văn sĩ trăm năm qua. Nói vậy, bạn đọc nên chú ý thêm, điểm nhìn của tác giả tập sách vừa là cái nhìn gần nhìn cận cảnh (để đồng cảm chia sẻ nỗi đời niềm chữ của đối tượng) vừa nhìn xa nhìn rộng nhìn bao quát (để phóng tầm mắt đánh giá thành tựu cả đời văn) trên nền hệ quy chiếu lịch sử văn học hiện đại.
Theo dõi tập sách cả 18 bức chân dung, bạn đọc cảm nhận nữ tác giả họ Nguyễn dành nhiều công phu khảo cứu và điều dễ thấy nhất, chính là lối trình bày rất tỉ mỉ của tác giả tập sách. Bất cứ chân dung văn học nào, nữ tác giả họ Nguyễn cũng bỏ công ra sức khảo sát nghiêm túc từng tác phẩm, chú trọng chi tiết, điểm qua những mấu chốt quan trọng trong đời văn của đối tượng. Có lẽ, do thiên tính cẩn trọng và cầu toàn nên tuy kiệm ngôn, nhưng những phán đoán của nữ tác giả họ Nguyễn thường là kết quả từ quá trình khảo sát tỉ mỉ chu toàn. Do đó, sự kiệm ngôn ấy luôn giữ cho những phán đoán cẩn ngôn có độ chính xác đáng tin cậy!
Cùng du hành với PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân từ câu chuyện của Phan Khôi đến đời văn Nguyễn Nhật Ánh, điểm chung: họ đều là những con người bình thường trở nên phi thường (hoặc ít ra nữ tác giả họ Nguyễn cũng đã chỉ ra sự phi thường của đối tượng được khắc hoạ). Điều này, có ý nghĩa gì? Nói rằng “ngẫu nhĩ tương phùng”, nhưng có vẻ không ngẫu nhĩ chút nào! Mà ngược lại, việc lựa chọn, sắp xếp các chân dung văn học trong tập sách này cơ hồ mong muốn mang lại cho bạn đọc cảm nghiệm từng khía cạnh đời sống văn học nước Việt ở nhiều trắc diện, địa hạt, thời kỳ, … khác nhau. Ngẫu nhĩ thế, âu cũng là trọn vẹn!
Qua lối viết chân dung, Phạm Phú Phong còn nhận xét về hình tượng tác giả tập sách:
“Không nhiều bài và thỉnh thoảng mới xuất hiện người xưng “tôi” trong trang viết, một cách có ý thức của tác giả. Hơn ai hết, người viết phê bình là người cố tình trốn lặn đằng sau câu chữ, nhưng tùy thuộc vào cảm xúc, tình cảm nặng đầy trên từng trang viết, vô tình làm hiện ra chân dung tự họa của người viết. Với Nguyễn Thị Thanh Xuân, đó là sự cảm thụ tinh tế, tình cảm đằm thắm và sự tự tin một cách xác tín. Qua mỗi trang viết nặng đầy cảm xúc của chị, có thể nhận ra một điều chắc chắn rằng, chị phải quý trọng các tác giả nhiều lắm và dành cho họ những tình cảm chân thành cũng như tình yêu chị dành cho văn học”[4].
Một đặc điểm nữa trong lối viết của PGS.TS, Nguyễn Thị Thanh Xuân đáng cho các bạn trẻ hôm nay nghiền ngẫm. Ấy là, cách viết với phần mở đầu khá mềm mỏng, khiêm tốn… Đặc biệt, cách đặt vấn đề rất nhẹ nhàng và đơn giản. Tuy nhiên, khi triển khai các luận điểm và luận cứ/luận chứng, bạn đọc liền nhận ra đôi mắt sắc sảo của người viết: bởi cái nhìn sâu, chi tiết (từ các khía cạnh cận văn bản, liên văn bản – tr.140-141). Thậm chí tác giả tập sách chú ý vào các chi tiết rất nhỏ mà bạn đọc thường ít ngờ tới. Qua những chi tiết nhỏ, theo lối quy nạp, tác giả tập sách lại phát hiện ra đặc điểm thú vị độc đáo của chân dung văn học. Sự chặt chẽ mô phạm trong lối viết của PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân chính là ở chỗ ấy. Cho nên, nói “tùy bút đọc” nhưng không có nghĩa phóng túng mà ngược lại, mỗi bài viết đều mang tính mô phạm nhất định. Phải chăng, đó là sự kết hợp vị thế nhà giáo và nhà nghiên cứu – người làm khoa học cũng là người truyền cảm hứng!
Thiên tư nghệ sĩ của nữ tác giả họ Nguyễn, có lẽ, biểu thị qua niềm thích thú trước các chân dung văn học “kỳ quái” đến “kỳ tuyệt” trong cõi chữ nghĩa mênh mông. Nào Hồ Hữu Thường, nào Bích Khê, nào Bùi Giáng, … cuộc tương phùng đầy phóng khoáng của những “hiệp khách tiếu ngạo”. Cuộc hành trạng chữ nghĩa của họ ví như cân đẩu thống vượt khỏi mặt bằng đời sống chữ nghĩa cùng thời. Cuộc “Phi Lạc” náo động cõi trần của của Hồ tiên sinh, dòng tinh huyết vừa bỏng rát bên trong vừa băng khí bên ngoài của Bích Khê qua cái nhìn của PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân hiện ra trong dáng hình dòng suối xanh lặng lẽ, cuộc ba đào giỡn hớt “Bùi Giàng Búi” với tác giả lại hiện ra như linh đan bản nhiên tư tưởng, … thực chất biểu thị sự đồng điệu giữa tâm hồn người phác họa chân dung và bản thân đối tượng được phác họa.
Ngẫm lại, quả thực nhà nghiên cứu, nhứt là nghiên cứu văn chương, lẩn khuất sâu kín trong thâm tâm vẫn luôn có cái cá tính “kiêu bạc”, phong thái hiệp khách, du hý mộng trường trong máu tủy. Tác giả tập sách chẳng đã thú thực, bao năm tháng thiếu thời mơ mộng, say mê đọc “dế mèn” cho tới “câu chuyện dòng sông” đó thôi! Rõ ràng, ngòi bút minh xác cẩn trọng của nhà khảo cứu luôn ẩn chứa bên trong tính phiêu bồng của người nghệ sĩ. Phải chăng, đó là, cá tính tinh quái, nghịch ngợm, rong chơi, giỡn hớt, ngã ngớn, bay bổng, hài hước, lanh trí đến mức ranh ma … do Mercury chiếu mạng (mà tác giả tập sách có nhắc tới, tr.154). Bởi cái tôi nghệ sĩ mãi mãi trẻ, mãi mãi “thanh xuân”, mãi mãi là một phần không tách rời trong chỉnh thể hồn người. Và, do đó, cái tôi nghệ sĩ trẻ trung của buổi thiếu thời vẫn còn và vẫn còn mãi song hành cùng vị thế nhà khảo cứu trên từng chặng đường chữ nghĩa.
4. Nữ tính và vượt giới
Viết về các đấng mày râu, nữ tác giả họ Nguyễn đứng ở góc độ quan sát, ghi nhận, thông cảm và sau đó, bày tỏ niềm trân trọng quý mến. Viết về các chân dung nữ, nữ tác giả họ Nguyễn ở một tâm thế khác – Tâm thế chung và cùng sẻ chia, đồng điệu, thương cảm, xót xa… nắm đôi bàn tay giữa các chị em gái thủ thỉ với nhau bao nỗi niềm kín đáo. Mỗi trang viết như thế đều cho thấy trái tim đồng điệu nữ tính của nữ tác giả họ Nguyễn với Nguyễn Thị Thụy Vũ, Phùng Khánh, Lê Giang, … Nguyễn Thị Thụy Vũ khiến PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân nhớ tới Hồ Xuân Hương. Góp phần lý giải/biện bạch chăng, nhưng trên hết, tác giả tập sách đã đồng cảm với niềm cay đắng thống khổ của Nguyễn Thị Thụy Vũ cả trong đời người lẫn đời văn. Cô nhìn thấy sự chân thành và can đảm của Nguyễn Thị Thụy Vũ.
“Chân thành vì đúng là nhà văn của chúng ta say mê dõi theo những nhân vật có cái nhìn thẳng, thậm chí xấc xược, với những quy ước xã hội, những quy tắc đạo đức phi tự nhiên. Can đảm, bởi ý nghĩa thông thường của tiếng Việt, cynique có nghĩa là vô liêm sỉ. Nguyễn Thị Thụy Vũ làm ta nhớ đến Hồ Xuân Hương ở cái cynique vượt ra ngoài ý nghĩa hẹp hòi, thông tục. Đó là khát vọng muốn đạt đến tự do, vượt qua những hệ lụy, những thứ bậc, những cấm kỵ sáo mòn, giả dối” (tr.183-184).
Cũng như, tác giả tập sách đã nhìn thấy và ghi nhận trí tuệ và tâm hồn nữ rất Việt Nam của Ni sư Trí Hải trong việc chuyển dịch tác phẩm của Hermann Hesse.
“Tuổi đôi mươi, Phùng Khánh đã sớm nhận ra những giá trị đích thực như vậy xuyên qua trùng trùng sách vở. Những gì Hermann Hesse tìm thấy được qua những năm tháng dài trải nghiệm kiến thức Tây-Đông, đã được Phùng Khánh tiếp nhận một cách tự nhiên, trẻ trung của một tâm hồn nữ Việt Nam. Khi chuyển ngữ tiểu thuyết Siddhartha, Phùng Khánh và Phùng Thăng đã tự nhiên phả vào bản dịch cái nhìn Phật tính mà gia đình của hai dịch giả đã thấm nhuần tự bao đời. Vì vậy thay vì giữ nguyên nhan đề là Siddhartha của nguyên tác (có thể dịch ra là Tất Đạt Đa) hai dịch giả đã lấy một cái tên mới: Câu chuyện dòng sông” (tr.188).
Ngay từ tiêu đề bản dịch, PGS.TS, Nguyễn Thị Thanh Xuân đã nhìn ra khía cạnh”cynique” trong phong cách dịch của Phùng Khánh, Phùng Thăng. Bởi Phùng Khánh, Phùng Thăng dịch Câu chuyện dòng sông cũng là điều dễ hiểu, nhưng dịch Bắt trẻ đồng xanh (tr.193) thì, … những nhân vật như Holden văng tục “không kéo da non”. Người dịch phải chăng đã tự vượt qua chính giới hạn của mình – công nữ hoàng tộc – vượt qua cấm kỵ sáo mòn! Bạn đọc nhìn thấy ở Phùng Khánh, Phùng Thăng, Nguyễn Thị Thụy Vũ một tâm hồn nữ tự do – rất tự do!
Có lẽ, ở nữ tác giả họ Nguyễn cũng tồn tại một khía cạnh tự do rất nữ tính như vậy!
5. Cuộc “Nam tiến” trong văn chương
Nữ tác giả họ Nguyễn, bản quán Quảng Nam với sông Thu Bồn mà dòng chảy thuận chiều ngang theo thế núi Trường Sơn đổ ra Biển Đông – Đất nghèo khó, người kiên cường, giàu lòng nhân ái và nặng hồn nghệ sĩ. Song, nữ tác giả họ Nguyễn đã gắn kết cuộc đời ngót ngét nửa thế kỷ ở Sài Gòn – vùng đất Gia Định xưa – Quãng thời gian đó, có lẽ, đủ dài để thấm ngấm niềm thương mến nảy nở giữa người và đất. Phải chăng vậy, PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân có phần quý mến và nhạy bén với giá trị văn hóa (tạm gọi) Đàng Trong. Từ vùng đất Quảng quê hương đến vùng đất Sài Gòn – trời Nam đương thời, tính chất của văn chương “Nam hà” thấm nhuần từ văn phong, tư tưởng cho đến những cuộc tương phùng giữa người với người. Dẫu có hơi máy móc, nhưng nếu thử liệt kê, người đọc sẽ thấy, trong 18 bức chân dung: có 12 chân dung Đàng Trong, 6 chân dung Đàng Ngoài. Trong số 6 văn nhân sinh ra ở phía Bắc, người đọc cũng nhận ra có đôi người gắn bó mật thiết đời văn ở không gian văn học trời Nam. Như vậy, “Gửi đây chút duyên tình đọc” có phần nghiêng về vùng văn học phía Nam – đất Đàng Trong. Việc này, người đọc cảm thông và cũng dễ hiểu bởi tính tiên phong của khu vực văn học trời Nam đã thể hiện từ khi văn học quốc ngữ phôi thai, phổ biến, phát triển từ những thập niên cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX cho đến nay. Chưa vội luận xét đến đóng góp và giá trị văn chương của mỗi khu vực văn học, nhưng người đọc hôm nay có thể nhìn thấy rõ ràng văn học “Đàng Trong” trải qua nhiều thời kỳ luôn là khu vực văn học sôi động với nhiều khía cạnh tiên phong, tiến bộ.
Người đọc có thể dùng khái niệm được PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân nhắc đến để nghĩ tiếp về cuộc tương phùng trên đất Đàng Trong trong địa hạt chữ nghĩa này: “Chủ âm” (tr.202). Cũng có nghĩa, nữ tác giả họ Nguyễn chú ý đến tác phẩm văn học như là tính văn học (la littérarité). Khởi đi từ quan niệm của Trường phái Hình thức Nga (đặc biệt quan niệm của R. Jakobson), PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân đã vận dụng để khai mở chủ âm phương Nam trong ngòi bút của một số tác giả. Chẳng hạn, trường hợp Lê Giang: “Chữ của Lê Giang lạ. Đó là chữ của lời không phải của từ. Lời níu nắm từng vốc một những từ, bay lượn trong không gian trò chuyện, nói năng. Bằng cách kết hợp từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa theo cách riêng của bà, lời biến hóa. Bằng các liên tưởng rộng, bất ngờ, đôi khi phải dừng lại, đọc kỹ mới nắm bắt kịp, lời tung tóe như kính vạn hoa. Bằng cách hòa trộn giọng, trong đó chủ âm là đùa nghịch, lời cuộn chuyển” (tr.202). Phong khí trong văn miền Nam thường khiến cộng đồng tiếp nhận ít nhiều kinh ngạc. Phải chăng, chủ âm trong phong khí văn học miền Nam chính là xu hướng vượt qua giới hạn, khuôn khổ. Bởi vậy, chủ âm ấy có khả năng đánh động sự tham dự của độc giả trong cộng đồng tiếp nhận.
Không riêng tập sách này, khuynh hướng nghiên cứu văn học miền Nam cũng dàn trải trong sự nghiệp chữ nghĩa của PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân. “Sống đâu quen đó”, nghĩ cũng là lẽ thường! Trong quá trình cống hiến cho đời sống văn học hơn 40 năm qua, bên cạnh rất nhiều công trình, đề tài, bài báo, … trải rộng nhiều địa hạt khác nhau thì số lượng công trình nghiên cứu về văn học Nam Bộ chiếm số lượng đáng kể, chẳng hạn một số sách, đề tài: Điều tra cơ bản về kinh tế, văn hóa, xã hội đồng bằng sông Cửu Long (1986);  Địa chí Bến Tre (1991); Từ điển Sài Gòn- thành phố Hồ Chí Minh (2000, xuất bản 2008); 25 năm một vùng tiểu thuyết (2002); Điều tra, bảo tồn, nghiên cứu di sản văn học chữ quốc ngữ ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX (2010); Điều tra, bảo tồn, nghiên cứu  di sản văn học Nam Bộ giai đoạn từ 1930 đến 1945 (2010);  Văn học Quốc ngữ Nam Bộ 1945-1954 (2010); Hoạt động Nghiên cứu, Lý luận, Phê bình Văn học Quốc ngữ ở Nam Bộ trước 1954 (Sưu tầm, tuyển chọn và nghiên cứu, 2017); Sự du nhập các lý thuyết văn học Phương Tây vào Miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 (2017);…   bài báo và tham luận: Chữ quốc ngữ, báo chí, công chúng và văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX (2010); Giao tiếp văn học ở Nam Bộ, qua trường hợp “Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam” của Kiều Thanh Quế (2012); Phong cách đọc của công chúng Sài Gòn- Nam Bộ (2015); Nghĩ về việc nghiên cứu văn học ở Sài Gòn- Nam Bộ (2015); Phân tâm học trong đời sống văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 (2016); Nghiên cứu hiện tượng văn học Hồ Biểu Chánh (2016);  … Liệu bạn có nhận ra cuộc “Nam tiến” từ cổ điển đến hiện đại, từ trong nước đến ngoài nước, của tác giả tập sách này trong địa hạt văn chương. Liệu việc này có làm bạn nhớ đến quá trình Nam tiến của những lưu dân vùng “Thuận Quảng” vào Nam kỳ tìm cuộc sống mới. Bằng cuộc “Nam tiến” chữ nghĩa, ít nhiều, cô Thanh Xuân cũng như nhiều văn nhân Trung kỳ nhiều thời kỳ khác nhau, đã góp phần làm cho đời sống văn học phía Nam thêm sôi động, góp phần thúc đẩy sinh hoạt văn chương khu vực này cùng hòa nhịp vào sinh hoạt văn chương chung của cả nước.
Trên hết, người đọc có thể thấy tấm lòng của PGS. TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân với đời sống văn học miền Nam.
Tạm kết:
“Gửi đây chút duyên tình đọc”, người đọc – nhứt là bạn đọc trẻ, sẽ thu nhận được nhiều điều đáng suy ngẫm. Trong đó, lối viết chân dung văn học vừa mô phạm, độc đáo; vừa đậm đà, truyền cảm và đồng thời cân bằng giữa tính chính xác khoa học lẫn tính xúc cảm của văn chương, mà ít người có thể làm được khi phác họa đời chữ nghĩa. Thứ nữa, thông qua mỗi bức chân dung, độc giả hôm nay có cơ hội cùng trở lại với biến cố thời đại từng trải qua trên dải đất quê hương đói nghèo song nặng tình với văn chương. Và, có lẽ vậy, PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân đã mở cuộc đồng vọng, mở luồng cảm hứng sẻ chia để tiếng nói hôm qua trở lại giữa cuộc sống hôm nay, thì thầm nhắc nhở cùng con người đương thời những vấn đề đời sống và chữ nghĩa.
Từ mười tám bức chân dung, độc giả có thể chắp nối để phần nào hình dung bức tranh toàn cảnh đời sống văn học Việt Nam hiện đại. Hơn thế, độc giả cũng có thể nhìn thấy “chân dung tự họa” của nữ tác giả họ Nguyễn – người phụ nữ đất Quảng Nam. Ở đó, người đọc thấy tác phong của nhà nghiên cứu, dáng hình của nhà mô phạm và những bước phiêu bồng, lãng mạn, tình tứ rất nghệ sĩ của nữ tác giả họ Nguyễn. Ví như, bữa tiệc ẩm thực, phải nói “Gửi đây chút duyên tình đọc” tròn vị – Tròn vị, vì mỗi bài viết đưa người đọc trải qua từng hương vị màu sắc khác nhau mà trên hết, từng hương vị đã hòa quyện cũng như tự cân bằng, tạo thành cảm nhận chung về “cuộc du hành văn chương” xưa nay.
Miệt mài với văn chương, PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân đã mở ra rất nhiều cuộc “ngẫu nhĩ tương phùng” giữa các văn nhân trong nước lẫn nước ngoài. Thế nhưng, tình quê hương trong ngòi bút của nữ Phó giáo sư – Tiến sĩ họ Nguyễn vẫn sâu nặng, nồng nàn hơn cả.
“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say
Bạn về nằm nghĩ gác tay
Hỏi nơi mô ơn trượng nghĩa dày bằng ta?”
(Ca dao)
Mở đầu với Phan Khôi (Điện Bàn, Quảng Nam) kết thúc với Nguyễn Nhật Ánh (Thăng Bình, Quảng Nam), “Gửi đây chút duyên tình đọc”, đầm đầm nỗi nhớ cố hương, nặng nặng lòng nơi chôn nhau cắt rún của nữ tác giả họ Nguyễn. Tôi gọi PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân người trợ duyên tình yêu đất nước đến người đọc thông qua chữ nghĩa, người truyền cảm hứng văn chương trả ân tình xứ sở trong sự khiêm tốn Gửi đây chút duyên tình đọc!
Tài liệu tham khảo:
[1] Lê Thị Thanh Tâm (12-10-2019). “Gửi đây chút duyên tình đọc”: Những ngọn lửa ủ kín…. Trích xuất từ https://nld.com.vn/.
[2] Phan Khôi (1930). Xóa một cái án trong lịch sử: Thân oan cho Võ Hậu. Tuần báo Phụ Nữ tân văn (Năm thứ hai số 55 ra ngày 5 Juin 1930). Saigon, tr.13 (11-13).
[3] Phạm Phú Phong (17/04/2020). 18 chân dung văn học – từ một cái nhìn phác thảo. Trích xuất từ: http://tapchisonghuong.com.vn/.
[4] Phạm Phú Phong (17/04/2020). 18 chân dung văn học – từ một cái nhìn phác thảo. Trích xuất từ: http://tapchisonghuong.com.vn/.
5/7/2022
Trần Bảo Định
Theo https://vanvn.vn/

Bi hài câu chuyện ngoại giao trong Năm lá quốc thư của Hồ Anh Thái

Bi hài câu chuyện ngoại giao trong
Năm lá quốc thư của Hồ Anh Thái

Năm lá quốc thư là “cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về nghề ngoại giao và người ngoại giao trong cuộc sống đương đại”. Chọn mảng vùng ngoại giao (mảnh đất thiêng) với những ngài đại sứ (đẳng cấp cao) làm đối tượng để trào tiếu, giễu nhại, Hồ Anh Thái gần như độc quyền.
“Điều mà chúng ta cần không phải là các tác phẩm lớn mà là những tác phẩm bông đùa (playful)… Một câu chuyện là một trò chơi mà mỗi người tham dự nhờ đó bạn có thể chơi nó”(Ronald Sukenich). Bông đùa, chơi, giễu trở thành phong cách thời đại. Sau hơn 10 tiểu thuyết, và bốn mươi năm ghim ý tưởng trong đầu, với Năm lá quốc thư, một lần nữa Hồ Anh Thái mang lại cho văn học tiếng cười, phần hài nổi bật, phần bi khuất chìm, mang sức nặng của một tác phẩm playful. Theo nhà văn, Năm lá quốc thư là “cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về nghề ngoại giao và người ngoại giao trong cuộc sống đương đại”. Chọn mảng vùng ngoại giao (mảnh đất thiêng) với những ngài đại sứ (đẳng cấp cao) làm đối tượng để trào tiếu, giễu nhại, Hồ Anh Thái gần như độc quyền.
Năm lá quốc thư thể hiện rõ sự đa dạng trong tính thống nhất của phong cách Hồ Anh Thái. Sau hàng loạt tiểu thuyết thuộc hệ hình hậu hiện đại mà mỗi tác phẩm là một cách chơi; càng về sau, Hồ Anh Thái càng dấu trò chơi kĩ thuật, với một lối viết “truyền thống trá hình”. Năm lá quốc thư thiên về lối tự sự chính luận với bố cục theo tuyến tính, được phân đoạn rõ ràng theo đánh số thứ tự; nhưng nội dung không đơn giản là chuyện các lá quốc thư, cũng không liền mạch thứ tự trước sau mà được ghép nối từ những mảnh nhỏ- mỗi mảnh dung hợp nhiều vấn đề: liên văn hóa, ngoại giao, lịch sử, điện ảnh, tộc người, căn tính dân tộc… Từ năm lá quốc thư gắn liền với năm vị đại sứ, người đọc có thể kiến tạo nên một cốt truyện hoàn chỉnh hướng theo tinh thần nhân quả- một chủ đề có tính xuyên văn bản trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Cách gọi tên nhân vật theo công việc, chức vụ khiến câu chuyện về giới ngoại giao được soi chiếu nhiều mặt; cá nhân trở thành đại diện, thành đám đông. Cuộc sống, tính cách của những nhà ngoại giao hiển lộ đầy đặn với tất cả những gì thuộc về bản tính Việt ở cả hai mặt tốt và xấu. Nhà văn bóc bỏ mọi lớp giấy bóng mờ, phơi ra các ngóc ngách chỉ có người trong cuộc mới nhìn thấu suốt. Từ những khoảng sáng tối đó, cái đẹp sau những kì thị, vùi dập vẫn trồi lên với một happy end dường như không thuộc về lối viết của Hồ Anh Thái.
Anh và năm lá quốc thư
Trong số những tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, đây là tác phẩm mà hình tượng tác giả rõ nhất. Dẫu nhà văn có rào đón: “Tác giả sử dụng quyền hư cấu để đưa người đọc bước vào một khung cảnh thuần túy tiểu thuyết”(Lời nói đầu); và dẫu người đọc thông diễn tác phẩm từ đặc trưng tiểu thuyết, vẫn nhìn thấy một cái tôi tự truyện, qua nhân vật, qua người kể chuyện. Trong Năm lá quốc thư, Anh vừa là nhân vật, vừa là người kể chuyện, Anh nói tiếng, nói giọng của nhà văn. Anh là một nhà ngoại giao lịch lãm với bề dày văn hóa ứng xử, một nhà văn hóa am hiểu mọi lĩnh vực; thông tuệ về văn học nghệ thuật đông tây kim cổ. Anh là tâm điểm, là sợi giây kết nối toàn nhân vật trong câu chuyện về giới ngoại giao. Anh gắn liền mật thiết với năm lá quốc thư của năm đời đại sứ. Anh là thư kí, người tháp tùng đại sứ để trình quốc thư mà “đằng sau nó là cả một đất nước. Nó là quốc thể”. Từ câu chuyện ngoại giao(thuộc bí mật quốc gia), từ những cá nhân riêng biệt (đại sứ), câu chuyện trở thành chung của toàn xã hội với sự xuống cấp trầm trọng của các chuẩn mực giá trị. Cuốn tiểu thuyết phản ánh xã hội Việt Nam trong giai đoạn vừa thoát ra khỏi chiến tranh, vừa xây dựng một cuộc sống hòa bình còn nhiều bất trắc và thiếu thốn. Trong hoàn cảnh đặc thù đó, một mặt, tâm lí hưởng thụ của con người trỗi dậy; mặt khác, mặc-cảm-thiếu-hụt khơi dậy bản-năng-lấp-đầy(ông tham tán nghiện giấy vệ sinh, những đại sứ ông đại sứ bà biến hành lang chung cư thành xó bếp, cơi nới, lấn chiếm, trồng trọt chăn nuôi trên đất chung…). Tất cả đều phát sinh từ sự thiếu thốn, thói xấu hình thành như một quán tính, một thứ vô thức tập thể. Những con người đại diện cho quốc thể đó, đang sống ở những vùng đất từng được xem là cái nôi văn hóa, đa phần lại làm nhục quốc thể bằng tư duy tiểu nông vặt vãnh. Trong một thế giới quyền lực, đầy mưu mô, tranh chấp, lẫn lộn giả thật, Anh đại diện cho cái đẹp, cái tốt. Nhà văn sắc sảo đến từng chi tiết khi phơi bày mọi mặt của giới ngoại giao, đồng thời cũng thật lãng mạn khi viết về cái Đẹp- của các nền văn hóa, của thiên nhiên, tâm hồn con người, đặc biệt khi viết về phụ nữ.
Anh – Rosa và cây vĩ cầm đứt dây
Năm lá quốc thư không phải là cuốn tiểu thuyết chủ yếu viết về bi kịch phụ nữ hay ngợi ca thiên tính nữ. Tuy vậy, trong câu chuyện về ngoại giao, vẫn thấy những trang văn lấp lóe cái nhìn thấu cảm với thân phận nữ, dẫu có lúc giấu đi qua tiếng cười giễu nhại. Giữa những khoảng tối, thiên tính nữ cứ ánh ngời làm mềm mại giọng điệu cứng cõi, bỗ bã, thậm chí có lúc tàn nhẫn của nhà văn(khi viết về sự tha hóa). Trừ Bà Đại Sứ(3), giới nữ trong tác phẩm thật đáng yêu. Đặc biệt, hai người phụ nữ trong mối quan hệ Anh – Rosa – Nàng đã làm nên cốt lõi nhân văn của câu chuyện bi hài giới ngoại giao.
Giữa hỗn loạn chính trị của lãnh thổ Malastan, Rosa xuất hiện như một chìa khóa mở ra mạch ngầm của câu chuyện tưởng như chỉ viết về các ngài đại sứ. Rosa xuất hiện không nhiều nhưng cái bóng của cô gái vùng Trung Á ôm trùm tác phẩm. Nhà văn chỉ phác họa một vài nét, nhưng Rosa trở thành điểm thẩm mĩ. Là mã văn hóa và liên văn hóa. Là đối kháng và dung hòa văn hóa. Chính từ mối quan hệ giữa Anh và Rosa, nhà văn đã khắc họa diện mạo đặc thù của một vùng đất với những cuộc đảo chính liên tục, trong đó người phụ nữ bị coi rẻ. Roza là nạn nhân của những biến loạn do “những lực lượng khủng bố mang tên Nhà nước Thánh chiến lợi dụng thời cơ để nổi dậy”. Cha mẹ làm ăn ở Thụy Sĩ, Rosa nhiều lần muốn ra đi nhưng dưới chính quyền mới cô mắc kẹt ở Manlasta. Gắn liền với Rosa là chiếc vĩ cầm và chiếc khăn choàng sắc tộc. Đằng sau Rosa là bóng dáng của những người đàn bà dưới áo choàng đen của một vùng văn hóa. Là người đàn bà bị anh chàng lịch sự, điển trai giáng vào mặt một báng súng, vì những người lính cửa khẩu vừa “phát hiện ra bà ta là người Malastan”; là Rosa bị “lôi xềnh xệch” khi chiếc khăn đội đầu hóa trang tụt xuống, lộ mặt, với ánh mắt “thất thần tuyệt vọng”; là “đôi ba bóng phụ nữ lặng lẽ lướt trên vỉa hè. Áo choàng đen lùng nhùng. Vuông khăn đen kéo che ngang mặt. Chỉ còn hở đôi mắt”. Từ Rosa, xoay  quanh cô gái với chiếc đàn số phận đứt hết dây, vấn đề về phụ nữ của một số tộc người ở Tây Á, Trung Á và Nam Á đầy đặn dần qua từng mảnh ghép. Chính quyền Malastan sau khi đánh đổ chính quyền quân chủ đã trở nên cực đoan, kì thị phụ nữ, “đóng cửa các trường học của nữ sinh, cấm đàn bà con gái đi học”; “…mạng che mặt và áo choàng đen che kín từ đầu đến mắt cá chân”; “khăn đen là màu tôn giáo coi đức hạnh”; sắc đẹp của người phụ nữ chính là nguồn gốc của mọi tội lỗi  “tôn giáo ở đây không cho phép người lạ chụp ảnh phụ nữ, không được phép công khai ca tụng nhan sắc phụ nữ của họ”. Bất bình đẳng diễn ra ở ngay một đất nước cách mạng với những tấm biển nhắc nhở phụ nữ đặt nơi công cộng, lối vào các công viên và các bảo tàng: “Hở tóc và lộ eo sẽ kích động tính dâm dục của đàn ông”. Nhưng vượt qua bóng ma kì thị, vượt lên những khác biệt về sắc tộc, tôn giáo, câu chuyện về Anh – Rosa là câu chuyện đậm chất nhân văn. Cái đẹp chìm sau những lực lượng khủng bố của nhà nước Thánh chiến, những sinh hoạt nhốn nháo của một thiểu số người Việt ở xứ người, cứ từng tí một lại trồi lên. Trực cảm về cái chân-thiện-mĩ khiến con người gần nhau, hiểu nhau. Những giai điệu xuyên không gian thời gian, tộc người đã kết nối những con người không cùng màu da, tiếng nói. Gặp nhau lần đầu, dẫu Rosa không hề chạm vào dây đàn, nhưng âm thanh “trên cả âm thanh. Xuyên qua bóng tối. Nhỏ từng giọt từng giọt da diết vào hai tâm hồn hòa đồng cách cảm”; “Anh tìm vai cô trong bóng tối, siết chặt” giữa màn đêm dày đặc ở sân bay và tiếng rít đanh nhọn của những quả tên lửa bay ngang đầu. Cái siết vai vội vàng đó là nguyên nhân thôi thúc Anh luôn tìm kiếm Rosa. Sự mất tích của Rosa là một tình huống hợp lí giữa lãnh thổ Maslanta biến loạn, nhưng là dụng ý đánh vắng nhân vật của nhà văn. Để thôi thúc kiếm tìm. Để thêm khao khát vẻ đẹp thánh thiện giữa nhiều cạm bẫy. Để câu chuyện dài ra bằng các mảng sáng lấp lánh giữa những khoảng tối. Anh đi tìm Rosa, trên những đường phố đầy phụ nữ “che kín mặt”, qua những “ngõ hẻm hun hút”, những “cái sân lát gạch ẩm ướt và u tối” với hi vọng Rosa sẽ tình cờ nhìn thấy Anh “qua một ô cửa tối tăm nào đó”. Tình huống kiếm tìm và một loạt biểu tượng gắn liền với Rosa lại xuất hiện khiến câu chuyện tình yêu đầy ảo giác.
Lần gặp lại Rosa thực sự bằng xương bằng thịt(cô đã được đoàn tụ gia đình, qua bao nhiêu lần binh biến máu lửa, cô trở lại Manlasta để đầu tư vào một xí nghiệp may mặc xuất khẩu) “họ ôm nhau ngay mà không tự ghìm mình”. Dẫu Rosa vẫn choàng tấm khăn đội đầu, chỉ hở mỗi gương mặt. Dẫu Anh vẫn biết cái ôm đó “không thể xảy ra ở một xứ tôn giáo nghiêm khắc”. Sự liên cảm kì diệu giữa hai tâm hồn đã gắn kết Anh và Rosa vượt qua mọi tôn giáo, sắc tộc, kể cả những bức hại. Rosa là biểu tượng liên văn hóa. Rosa gợi trong Anh những suy tư, ám ảnh về thân phận con người, về lẽ vô thường, sinh diệt. Sự thay đổi số phận của Rosa là sự dung hòa văn hóa, kể cả cách ăn mặc của cô và khuôn mặt không che mạng “đẹp mê hồn”. Kể cả khúc vĩ cầm cũng không còn vô thanh bởi “sự cấm đoán nghiệt ngã của một thời”…
Anh – Nàng và chiếc cặp ngoại giao
Nàng là một trong tám cô gái “xinh tươi làm nức lòng gần bốn chục chàng trai” trong khóa đầu tiên của trường Ngoại giao. Với Anh, Nàng là mối tình trong trẻo thuở sinh viên. Những trường đoạn viết về Nàng gần như là những trang tự thuật của nhà văn về tuổi trẻ của một thế hệ đầy ước mơ hoài bão, thẳng thắn và chân thật; về tình yêu trong trẻo, tinh khôi.
Hai lần Anh – Nàng nằm bên nhau, thời sinh viên, do những tình huống ngẫu nhiên, bị động, khao khát nhường kia mà trong trẻo nhường nào. Giọng hài hước, bông đùa lấn át khi câu chuyện được kể lại từ điểm nhìn hiện tại (khi lần thứ ba họ nằm bên nhau): “Nằm. Hai lần. Và chắc chắc là chỉ có nằm thôi, không có gì khác. Chính xác là kiểu nằm platonic love, nằm chay tịnh”. Cái nhìn thiên vị khiến nhà văn khắc họa chân dung một người nữ thật vẹn toàn. Nàng thật khác đối với thế giới nhốn nháo, bẩn tưởi trong mọi chuyện của Hồ Anh Thái. Nàng hấp dẫn, hoàn hảo. Nàng trong trẻo, ánh sáng còn lại của cái thế giới bé nhỏ mà xám xịt của những nhà ngoại giao ở xứ người.
Lần thứ ba nằm bên nhau (khi nàng đã là một nhà ngoại giao trẻ, năng nổ trung thực và đã trải qua quá nhiều sóng gió), không “chay tịnh” nữa, giữa “tiếng loa cầu kinh vang vang bên ngoài, Anh mới lờ mờ hiểu thêm về Nàng. Cũng giống Rosa, dẫu địa văn hóa có khác nhau, cả hai đều là nạn nhân của các thể chế từ khi nàng làm thư kí, tháp tùng Đại Sứ Bà sang một đất nước ở vùng Nam Á, và một chớp mắt như mơ là đến quần đảo ở phía nam Ấn Độ Dương. Quên hết ngoại giao, chính trị, danh vị,.. cõi lòng Nàng mở ra trước rừng lá phong vàng lá phong đỏ bừng lên ở khắp đảo. “Nàng say sưa như chân không chạm đất…”; “Nàng chạy tung tăng giữa rừng phong đang chuyển sắc đỏ và vàng”; “Nàng nằm lăn ra giữa thảm lá. Nằm im. Im hoàn toàn”… “Cháu muốn ở lại vĩnh viễn trên đảo này cô ơi!”. Câu nói tha thiết trước cái đẹp toàn bích, trong khoảnh khắc giao cảm kì diệu giữa con người và thiên nhiên, giữa cõi lòng và cõi trời, không ngờ lại là cái bẫy đẩy Nàng hoàn hảo đến thế thành “một tên phản động”, mang “tư tưởng vọng ngoại, gọi chủ nghĩa tư bản là thiên đường”, “có biểu hiện thần kinh nặng”; thành tội “đào ngũ lưu vong” phải “còng tay về nước”…  dẫu không một văn bản nào kết luận rằng Nàng có tội hay vô tội. Tất cả tội trạng mà cô gái đó mang vác chỉ vì “quá hồn nhiên quá tin vào bà đại sứ” và vì những phản ứng về các hóa đơn giả chồng chất của Đại Sứ Bà. Lòng tham đã đẩy Đại Sứ Bà đến chỗ tận cùng tội ác. Mưu mô, thâm độc, quyền uy, Đại Sứ Bà đã biến Nàng hoàn hảo đến thế, lãng mạn, hồn nhiên và chân thật đến vậy thành cô gái trầm cảm, “ngẩn ngẩn ngơ ngơ”, như hóa thành người khác. Sự thay đổi của Nàng, từ cô sinh viên trường Đại học Ngoại giao trong sáng, cô thư kí đại sứ năng động, thẳng thắn đến chỗ mất niềm tin, chống cự và thỏa hiệp với cái xấu, rồi bị coi là tâm thần khi Nàng ám ảnh day dứt về sự thỏa hiệp của mình. Chính những sang chấn tâm hồn đó ghim sâu, dồn nén, bùng phát, khơi dậy ở Nàng bản-năng-trả-thù. Một mặt, hành vi trả thù Bà Đại Sứ chính là kết quả của “cái ấm ức tâm lý”(Freud) mà Nàng chịu đựng từ ngày bị còng tay về nước. Mặt khác, với Nàng việc trả thù đó cũng thật “nhi nữ thường tình”: sắp xếp, lên kế hoạch “yêu” để cướp lá quốc thư. Nhà văn vừa tạo tình huống như truyện trinh thám để kể lại những âm mưu, dàn cảnh rất phụ nữ của Nàng, vừa lí giải căn nguyên. Lần thứ ba Nàng nằm bên Anh, vì Anh thì ít mà chính là vì chiếc cặp ngoại giao- “trong cặp chỉ đựng đúng một lá quốc thư”, mà quốc thư là quốc thể, không thể thuộc về Đại Sứ Bà. Nhưng “yêu” thì thỏa mãn, còn hành vi trả thù thì bất thành. Cái còn lại là cảm giác bẽ bàng khó nói của hai người. Anh nhìn thấy “vẻ tuyệt vọng cùng cực trên mặt nàng. Tuyệt vọng và thất vọng”. Với nàng, thêm một sang chấn nặng nề vì mất niềm tin- “Không âm thanh và không lời lẽ nào. Vô thanh và vô ngôn. Có cả vẻ tuyệt tình làm cho Nàng chết sững”. Cảm xúc đóng băng cho thấy tổn thất lẫn mặc cảm nặng nề ở một thiếu phụ muốn lấy lại niềm tin chứ không phải muốn trả thù. Còn anh- “anh cũng chết sững” và sau đó là cảm giác hụt hẩng vì đã đánh mất nàng chỉ để giữ lại lá quốc thư thứ ba “có một góc nhàu và một vết ố”.
Nàng và Rosa, thuộc về hai đất nước, hai nền văn hóa khác nhau đã gặp nhau ở bản chất nhân văn của loài người. Những người phụ nữ bất kể màu da, cứng cỏi là thế mà nhân hậu, dịu dàng đến thế. Nơi súng đạn hoảng loạn ở xứ người, Anh nhận ra Nàng nhờ một mái tóc dài tung bay, “chỉ mái tóc dài Việt Nam mới không trùm khăn và tung bay kiểu như thế”. Còn lại trong Anh là “gương mặt Nàng đỏ hồng và sáng bừng lên cho đến khi xa dần”. Với Rosa, điều còn lại nơi Anh là những khúc nhạc vĩ cầm. Những âm thanh đã từng vang lên trong im lặng, trong “tăm tối chiến tranh và sự bức hại ngăn cản con người”. Những âm thanh hoàn chỉnh, thiết tha, vang vọng, “thanh thoát tiếng đàn. Và rì rầm rì rầm tiếng dòng sông”.
Thật bất ngờ, Đại Sứ Năm(ở Hamania, một nước Đông Âu) chính là Anh. Và cũng thật bất ngờ, quốc thư thứ năm không còn những dòng chữ bóng bẩy, rập khuôn, lặp đi lặp lại đến giả dối, bởi Đại Sứ Năm không cần những lời giới thiệu hoa mĩ. Chỉ còn lại trong Anh khi nghĩ về Nàng và Rosa, “thân gái dặm trường. Một người phụ nữ, bằng ấy biến động đã quá đủ cho cả đời người”.
5/7/2022
Lê Thị Hường
Theo https://vanvn.vn/

Nhà nho thi sĩ Nguyễn Đình Chiểu trong bối cảnh văn hóa dân tộc thế kỷ XIX

Nhà nho thi sĩ Nguyễn Đình Chiểu
trong bối cảnh văn hóa
dân tộc thế kỷ XIX

Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của danh sĩ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) có nhiều điều thật độc đáo, sinh động và thú vị. Ông sinh ở Gia Định nhưng quê cha ở Thừa Thiên Huế.
Do những biến động của đất nước, thời cuộc và số phận, ông có tuổi thơ gắn bó với Gia Định và nhiều năm trở về xứ Huế, sau này lấy vợ, sinh sống ở cả miền Đông và Tây Nam Bộ. Nghiệm sinh 66 năm trên cõi đời, Nguyễn Đình Chiểu có gần 30 năm theo đuổi con đường khoa cử Nho học và quá nửa phần đời còn lại bị mù, sống trong cảnh loạn lạc, nước mất nhà tan. Nguyễn Đình Chiểu là nhà Nho yêu nước, lại có người em út là Nguyễn Đình Huân tham gia chống Pháp và hy sinh ở Cần Giuộc, cùng việc chứng kiến nhiều tấm gương anh hùng, nghĩa sĩ như: Trương Định, Phan Thanh Giản, Phan Ngọc Tòng nên đã trở thành đối tượng viếng tế trong nhiều tác phẩm của ông. Về cơ bản, Nguyễn Đình Chiểu thuộc kiểu tác giả nhà Nho cuối mùa phong kiến tự chủ và dòng văn học bi hùng yêu nước chống Pháp xâm lược. Thêm nữa, do điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt, nội dung thơ văn Nguyễn Đình Chiểu cũng có phần khác biệt so với các nhà Nho canh tân đương thời như kiểu Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), Nguyễn Lộ Trạch (1853-1895)…
Trên thực tế, các vấn đề thuộc về tiểu sử tác giả, nội dung hiện thực cuộc sống đương thời thường có mối liên hệ chặt chẽ với tác phẩm văn học. Với trường hợp Nguyễn Đình Chiểu, điều này càng trở nên sâu sắc, rõ ràng hơn. Xét trên phương diện chủ đề, Nguyễn Đình Chiểu quan tâm phản ánh và khẳng định cả những nội dung thuộc về nghĩa khí con người và phẩm chất đạo đức Nho giáo truyền thống, cũng như những vấn đề in đậm chất thế sự, thời sự. Cần thấy rõ sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu thực sự đa dạng, phong phú, chuyên về chữ Nôm, bao gồm cả dòng cảm hứng lịch sử và hiện thực, cả tác phẩm trường thiên và thơ đoản thiên, cả truyện thơ và loại văn học chức năng (hịch, văn tế), cả các thể Đường luật, phú lục và thơ lục bát truyền thống, dân dã…
Với những đề tài hướng về các giá trị truyền thống, ông đề cao lý tưởng Nho giáo, tư tưởng nhân nghĩa, tập trung xây dựng thế giới nhân vật tuân thủ theo khuôn mẫu “trung, hiếu, tiết, nghĩa”, “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Xuyên suốt quá trình sáng tác, Nguyễn Đình Chiểu nhấn mạnh những giá trị đạo đức truyền thống: “Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình” (Lục Vân Tiên); “Xưa nay đều chọn đường trung hiếu/ Sách vở còn ghi lẽ chánh tà” (Đạo trời)… Ông đặc biệt đề cao chí khí và sức mạnh của văn chương: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” (Than đạo)…
Với loại đề tài thế sự, Nguyễn Đình Chiểu bắt nhịp với đời sống của nhân dân và số phận của dân tộc, đất nước. Nguyễn Đình Chiểu sống và sáng tác vào đúng giai đoạn chuyển giao thời đại, giữa lúc thực dân Pháp từng bước xâm chiếm và thống trị toàn cõi Việt Nam. Ông lại là người con của Nam Bộ, đứng đầu trận tuyến, cảm nhận rõ việc giặc Pháp đánh chiếm miền Đông, miền Tây rồi cả nước. Bản thân ông là người tài giỏi, có chí, yêu nước nhưng không may bị mù nên càng dốc hết tâm trí vào sự nghiệp văn chương với những tác phẩm xuất sắc: “Chạy giặc” (1859), “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” (1861)… góp thêm tiếng nói vào cuộc đấu tranh chống xâm lược. Ông đề cao tư tưởng nhân nghĩa, đức hy sinh vì quê hương, đất nước: “Làm người trung nghĩa đáng bia son” (Điếu Phan Công Tòng, bài 9); “Vì nước tấm thân đã gửi, còn mất cũng cam/ Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào nại” (Điếu Trương Định)…
Trong khi thi phẩm “Lục Vân Tiên” có ý nghĩa nối dài sức sống thể loại truyện thơ (kết hợp nhuần nhuyễn tinh thần treo gương đạo lý với điệu thơ lục bát bình dân, ít điển tích, dễ hiểu và hóa thân trong phong cách kể thơ, diễn thơ, đồng thời văn bản sớm được khắc in, phiên âm, dịch sang tiếng Pháp và tái bản nhiều lần giúp cho tác phẩm càng có sức lan tỏa sâu rộng) thì “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” lại vươn tới giá trị tinh kết, đỉnh cao của dòng văn học yêu nước chống xâm lược giai đoạn nửa cuối thế kỷ 19. Qua bài văn tế, Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng được hình tượng người nghĩa binh nông dân thực sự sinh động, thân thuộc, xuất thân nơi làng quê “toan lo nghèo khó”, “chỉ biết ruộng trâu”, “việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm” và tập trung nói về sự hy sinh, mất mát, phản ánh chân thực trang sử bi hùng của các nghĩa binh nông dân đã bỏ mình vì nước.
Ông xác định sự hy sinh cao cả nhưng trước sau vẫn xót xa bởi cái chết vẫn là cái chết, mất mát vẫn là mất mát, một đi không trở lại, không gì có thể thay thế được: “Đâu biết xác phàm vội bỏ”, “nào hay da ngựa bọc thây”, “tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm”… Nỗi đau ấy giăng mắc cả không gian, đất trời và lòng người: “Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng/ Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ”… Điều cần chú ý là tiếng nói khóc thương của Nguyễn Đình Chiểu có buồn thương nhưng không bi lụy. Đoạn kết của bài văn tế trở nên trầm hùng, nỗi đau xót cá nhân nhường chỗ cho tiếng nói ngợi ca và tinh thần trường tồn cùng sử xanh: “Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen/ Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ…”. Trên tất cả, tinh thần “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc” tạo nên ý nghĩa thanh lọc sâu lắng, càng khẳng định niềm tin vào sức mạnh dân tộc, giá trị nhân văn và sức mạnh của tinh thần yêu nước.
Văn chương Nguyễn Đình Chiểu đặc biệt phù hợp với người dân vùng đất mở Nam Bộ. Nhắc đến Nguyễn Đình Chiểu là nhớ đến vùng quê sáng tác Nam Bộ. Nhà thơ đã xây dựng được hệ thống nhân vật giàu nhân nghĩa, trung thực, dũng cảm, kết tinh đầy đủ tâm hồn và khí phách người dân phương Nam phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài (tiền). Bằng việc sử dụng ngôn từ chân chất, giàu tính khẩu ngữ, gần với lời ăn tiếng nói thường ngày, Nguyễn Đình Chiểu có được hình thức diễn đạt thực sự đại chúng, dễ hiểu, dễ nhớ. Điều đó phù hợp với đời sống văn hóa, lối cảm, lối nghĩ bình dị của người dân Nam Bộ. Chính nhờ gắn bó với số phận nhân dân, đất nước mà cả hai dòng tác phẩm hướng tâm đạo lý cũng như in đậm chất thời sự chống xâm lăng của Nguyễn Đình Chiểu đều chuyển tải được không khí thời đại, có được khả năng lan tỏa sâu rộng và sức sống vượt thời gian.
6/7/2022
Nguyễn Hữu Sơn
Nguồn: Báo Quân Đội Nhân Dân 7.2022
Theo https://vanvn.vn/

Võ Hồng - Phẩm hạnh của văn chương

Võ Hồng - Phẩm hạnh
của văn chương

Trong giới viết văn có ba ông họ Võ/ Vũ người miền Trung cùng gửi gắm tác phẩm trên mặt báo này: Vũ Hạnh (tên thật là Nguyễn Đức Dũng) gốc Quảng Nam, Võ Phiến (tên thật là Đoàn Thế Nhơn) gốc Bình Định và Võ Hồng gốc Phú Yên. Trong khi Vũ Hạnh là cây bút phản kháng có đẳng cấp, Võ Phiến là nhà văn tài năng có ý nguyện vun bồi cho chế độ, thì Võ Hồng đứng ở một vị trí trung hòa, không bị cột chặt vào một phe phái chính trị nào, tự tạo dựng cho mình một không gian của nhà văn hóa thuần thành…
Nhà văn Võ Hồng sinh tại làng Ngân Sơn, xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên – một ngôi làng trước chuyên làm đồ gốm, nằm bên bờ sông Phường Lụa trên đường từ cầu Lò Gốm dẫn đến nhà thờ Mằng Lăng và gành Đá Đĩa. Ngày sinh của ông theo giấy khai sinh là 05.5.1921, nhưng theo lời ông kể đúng là ngày 21.01.1923, tức ngày 5 tháng Chạp năm Nhâm Tuất.[1]
20 năm sau truyện ngắn đầu tay Mùa gặt (1939), in trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy với bút hiệu Ngân Sơn, tập truyện đầu tiên Hoài cố nhân (1959) của Võ Hồng được xuất bản. Từ ấy đến nay đã có gần 200 bài viết bàn về sự nghiệp và tác phẩm của ông. Hơn tám thập niên đi vào đời sống, văn chương Võ Hồng đã khắc họa chân dung tinh thần của tác giả như một nhà văn có vị trí vững chắc trên văn đàn nửa cuối thế kỷ XX. Nay là dịp thuận lợi để chúng ta đào sâu suy nghĩ tìm ra những phẩm chất văn chương đặc biệt ở Võ Hồng và góp phần làm một tổng kết về sự nghiệp của ông.
Thiết nghĩ, có nhiểu cách tiếp cận tác phẩm Võ Hồng và mỗi cách đều có ưu thế riêng và đem lại hiệu quả nhất định. Ở đây chúng tôi mạo muội soi chiếu sự nghiệp của ông từ ba góc độ như sau.
Võ Hồng giữa truyền thống và hiện đại
Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định Võ Hồng là nhà văn thuộc khuynh hướng tôn vinh truyền thống văn hóa của dân tộc. Điều này không có gì phải bàn cãi. Nhưng điều quan trọng là truyền thống mà Võ Hồng ngợi ca là truyền thống nào và truyền thồng đó có mâu thuẫn với hiện đại hay không, thậm chí có loại trừ tính hiện đại hay không? Sự quan tâm có phần nghiêng về truyền thống ấy có làm văn chương Võ Hồng lạc lõng trong thời đại ngày nay hay không?
Kể những câu chuyện về quê hương đất nước, Võ Hồng thường phả vào đó hơi thở của mạch sống cần lao và hương vị tình nghĩa nghìn năm của con người Việt Nam. Những trang văn viết về nông thôn của ông thấm đượm không khí văn hóa bình dân, quê kiểng. Tác giả và nhân vật của mình không xa lạ với đạo Nho, nhưng hiếm thấy trong tác phẩm Võ Hồng sự xiển dương truyền thống Khổng giáo, ngoài những câu chuyện về học chữ Nho và cách thi cử thời xưa qua hồi ức của một vài nhân vật.
Có lẽ truyền thống Phật giáo ảnh hưởng đến Võ Hồng nhiều hơn. Một mặt, nhân sinh quan Phật giáo chi phối đời sống những người dân quê miền Nam Trung bộ như một không khí văn hóa bao bọc xóm làng. Mặt khác, Võ Hồng là người có để tâm nghiên cứu đạo Phật và tiếp xúc thân tình với nhiều tu sĩ Phật giáo. Trong tùy bút Tiếng chuông triêu mộ, nhà văn kể về thời gian ông nhận dạy cho Viện Cao đẳng Phật học ở Nha Trang mỗi tuần một buổi vào chiều thứ sáu: “Mỗi tuần một lần như vậy, tôi được gần gũi với thiên nhiên và tâm hồn tôi được buông xả, nhẹ nhàng. Lắm lúc tôi quên mất hiện tại mà trở về hồi nào không hay, cái tâm trạng của một đứa nhỏ mười tuổi, mười hai tuổi, say mê màu xanh của lá, màu vàng của hoa và mùi thơm ngai ngái của nhựa cây. […] Tôi không là Phật tử. Tôi không biết tụng kinh, nhưng tôi lại xao xuyến dạt dào mỗi khi nghe tiếng kinh tiếng mõ. Những lúc đó tôi tự nhiên trút bỏ mọi ảo vọng ở đời mà cúi nhìn xuống thân phận yếu đuối nhỏ mọn của mình…”. Với giọng văn trầm ấm, những thiên truyện viết về ngôi chủa, về không gian sinh hoạt Phật sự hướng người đọc trở về với truyền thống tâm linh lâu đời của dân tộc, như một phần của đời sống tinh thần ở nông thôn Việt Nam.
Nhưng yếu tố truyền thống chủ yếu trong tác phẩm Võ Hồng có lẽ chính là những phong tục tập quán đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân quê. Hàng năm, bạn đọc miền Nam thường chờ đợi những truyện ngắn của ông đăng trên các số báo Xuân của tập san Văn, tạp chí Bách Khoa (Xuất hành năm mới, Ngày xuân êm đềm, Mùa xuân nghe tiếng chim…). Ở đó người đọc gặp gỡ những em bé, cụ già, thanh niên nam nữ đi chợ Tết, chuẩn bị lễ cúng đầu năm, đi tảo mộ để hiệp thông với người thân đã khuất. Những sinh hoạt đó diễn ra nhẹ nhàng, có phần trầm lắng, không rộn ràng, ồn ã như cách đón xuân của người thành thị, nhưng có một sức thu hút của điều thiêng liêng với tâm tình con người.
Hình như về mặt này, tình cảm Võ Hồng có phần thiên vị về phía người nông dân hơn là người thị dân. Ông trân quý những lề thói xưa cũ, tuy không lên tiếng khuyến khích hay quảng bá. Ông chỉ miêu tả một hiện tượng, người đọc có thể không tán đồng, chỉ cần nhìn ngắm hiện tượng đó như một nét đặc biệt của đời sống. Chẳng hạn câu chuyện Năm Nhiều ưa thích cúng quảy, luôn thành kính chăm chút việc chăm lo ngày giỗ như là một ngày hội của tâm hồn mà anh không thể dứt bỏ (Thế giới của Năm Nhiều). Lễ cúng trường cũng nói lên một tập tục có ý nghĩa trong cách ứng xử của con người với học vấn và giáo dục thời trước, như lễ cúng ở gia đình trước khi cho con đến trường, đó là “thủ tục” khai tâm trước khi khai trí.
Nét truyền thống ở người nông dân mà Võ Hồng tỏ ra đồng cảm. sẻ chia và dùng ngòi bút bảo vệ rõ nhất là sự gắn bó với đất đai vĩnh cửu. Đọc Võ Hồng, có thể thấy những đức tính của người nông dân Việt Nam như cần cù, siêng năng, chịu thương chịu khó đều là hệ quả của một phẩm chất chủ đạo và đặc trưng nhất là “tình yêu đất”, như tên một truyện ngắn của ông. Tình yêu đất là tình cảm đã trở thành bổn phận, trách nhiệm và quyền lợi. Người nông dân đấu tranh cho sự tồn tại của mình là đấu tranh cho quyền được yêu đất, và mọi chế độ chính trị muốn đại diện cho nông dân thì phải đáp ứng và bảo vệ cái quyền đó của họ. Bà Năm Xự quyết không bỏ làng không phải vì muốn gắn bó với một thế lực chính trị nào mà chẳng qua vì không muốn từ bỏ mảnh đất Tổ tiên để lại (Bên đập Đồng Cháy). Ham tiếc từng cục đất, lão Túc đã chết vì rắn hổ mang cắn ngay trên miếng đất Gò Đình (Tình yêu đất). Nhà văn muốn ghi giữ những truyền thống tốt đẹp làm nên phong hóa của làng quê, như người nông dân giữ gìn mảnh đất hương hỏa của mình.
Tuy nhiên, thời đại thổi những cơn “gió cuốn” vào đời sống và người nghệ sĩ không thể lãnh đạm trước thực tại cũng như không thể né tránh trước những câu hỏi nhân sinh của thời hiện đại. Thành ra cái truyền thống mà Võ Hồng tôn vinh không phải là truyền thống đóng khung, xơ cứng và chết dí trong khuôn khổ. Điều đó một phần vì tác giả là người được đào tạo, rèn luyện trong môi trường Tây học, phần khác vì chính hoạt động của ông luôn kết nối với đời sống xã hội đang chuyển động để những trang văn hấp thụ hơi thở của thời hiện đại.
Trong thế giới văn xuôi của Võ Hồng, bên cạnh những nhân vật ẩn náu trong truyền thống, đôi khi lý tưởng hóa cuộc sống nông thôn, hờn dỗi với đô thị, xuất hiện những nhân vật đối diện với thời thế một cách điềm tĩnh, có cái nhìn hiện đại trước những biến đổi, thăng trầm của xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX. Từ những trang văn của ông hiện ra không chỉ khung cảnh làng quê với tiếng chim chèo bẻo hay con đường đầy phân trâu mà còn có bức tranh phố thị đang trăn trở tiếp thu lối sống tân tiến phương Tây. Nhà văn trân quý vẻ đẹp của những chiếc áo cánh may bằng vải thô nhuộm hột cau già, những giọt mồ hôi lăn trên đôi má rám nắng của người thôn nữ cũng như vẻ đẹp của cô gái thị thành duyên dáng đi qua phố xá với mùi hương dìu dịu của nước hoa tử linh lan. Nhà văn am hiểu các loại xe máy, ô tô, tủ lạnh chẳng kém các phương tiện làm nông như cái cày, cái bừa, cái nong, cái sàng, cái rựa. Tác phẩm ông đầy những chi tiết cho thấy tác giả tiếp nhận sâu sắc đời sống văn nghệ Âu Mỹ, từ âm nhạc cổ điển của Liszt đến tiểu thuyết hiện đại của Georghiu, tuy ông chưa bước chân ra khỏi đất nước một ngày nào.
Tính hiện đại của văn chương Võ Hồng thể hiện rõ nét qua cách nhìn và cách lý giải những chuyển biến của thời thế. Những tưởng nhà văn suốt ngày giam mình trong căn phòng, khoảnh sân sẽ thành người ngoại cuộc với xã hội. Trái lại, cảm quan nghệ sĩ giúp ngòi bút nhà văn thấu hiểu và nắm bắt những biến thái của đời sống. Tình trạng tham nhũng trong xã hội miền Nam làm biến chất những con người không đứng vững trước lằn ranh mong manh của sự tha hóa. Từ năm 1973, trong truyện ngắn Mong manh một thoáng, Võ Hồng đã tả một người phụ nữ đoan chính quyết từ bỏ mối tình sâu đậm với một viên chức chỉ vì chứng kiến anh ta lạnh lùng nhận lấy những đồng tiền xương máu của một bà cụ nghèo khó lo lót xin tha cho người con bị bắt oan. Câu chuyện có vẻ lý tưởng hóa, nhưng ngày nay đọc lại bỗng giật mình: xã hội bây giờ hình như đã quen sống với những viên chức như vậy và liệu còn bao nhiêu những người phụ nữ nhạy cảm như cô Bạch Huệ? Qua sự miêu tả của Võ Hồng (Những bí mật của anh Đỗ Cúc, Những nỗi khổ vụn vặt, Đụng độ), sự sa sút của giáo dục với nạn văn mẫu, xin điểm, học thêm, bạo lực trường thi không phải bây giờ mới có, nhưng thời trước hình như chưa thật phổ biến, nhất là chưa được xem như chuyện bình thường như bây giờ. Là nhà giáo, Võ Hồng nhạy cảm với cái xấu và dự báo sức tàn phá của nó nếu tiếng nói của lương tri xã hội không còn đủ sức kiềm chế.
Trong những truyện ngắn nói trên, khi phản ánh những suy đồi của xã hội, Võ Hồng không cao giọng phê phán hay kết án ai, mà chỉ ôn tồn trình bày một thực trạng và cách ứng xử của người đời trước thực trạng đó. Ông giữ thái độ bình tĩnh: “Cuộc đời thường không tốt quá, cũng không xấu quá như ta tưởng”. Hình như cái thái độ có vẻ “chiết trung” này có thể là bài học về cách sống của thời hiện đại. Trong mọi biến thiên của thời cuộc, con người cố gắng giữ được sự bình an của tâm hồn: “Tâm an, thế giới an”. Trong truyện ngắn Rồi trái cây sẽ chín, tiếng còi tàu mỗi buổi tối gợi lên hình ảnh đoàn tụ của gia đình người lái tàu trong tưởng tượng của một cặp vợ chồng trẻ, đến một ngày kia phơi bày sự thật trần trụi về một gia đình xung đột, bất trắc, khiến đôi vợ chồng này đi đến quyết định dời nhà xa khỏi đường xe lửa để tránh ám ảnh của tiếng còi tàu mà giữ được cuộc sống thăng bằng và bình lặng.
Trong những ngày căng thẳng vì đại dịch Covid-19, đọc lại mấy truyện ngắn của Võ Hồng ta thấy văn chương ông từ nửa thế kỷ trước vẫn đồng hành với bạn đọc ngày nay. Với giọng văn hóm hỉnh, truyện Ảo giác màu xanh viết về tình cảnh “kiệm ước song hành” tác động đến đời sống của người công chức thời trước, loay hoay với đồng lương để duy trì sự tồn tại sao mà giống chúng ta ngày nay, khó khăn, vất vả nhưng rồi mọi sự đâu cũng vào đó trong một niềm hy vọng nhuốm màu ảo vọng. Trong truyện ngắn Hãy đến chậm hơn nữa, tác giả nói về một nhân vật chết trẻ vì mang bệnh nan y vào thời nhân loại chưa tìm ra thuốc chữa: “Anh đã hưởng được gì ở cuộc đời? Nghe một tiếng chim tu hú vào đầu mủa hè, ngửi một mùi thơm của hoa mù u trong buổi chiều, những con chuồn chuồn đảo lộn trên nền trời sau cơn mưa…, những niềm vui đó quá nhỏ so với nỗi khổ đè nặng của anh. Giá cứ thong thả, giá cứ đến chậm chậm một chút để kịp cho nhân loại dọn dẹp bớt những khổ não”. Câu văn đó làm ta nhớ đến hàng vạn nạn nhân xấu số của Covid-19 ở nước ta, đã tử vong vì mắc bệnh khi nhân loại chưa biết bao giờ mới có thể “dọn dẹp bớt những khổ não”.
Chất uy-mua của Võ Hồng luôn ẩn kín trong những trang văn một nụ cười thâm trầm mà lặng lẽ. Truyện ngắn Lá vẫn xanh là một dẫn chứng. Trong khi người cha bị ám ảnh bởi cái tin giả về ngày tận thế, lúc nào cũng lo nghĩ đến cái chết và tưởng rằng mọi người ai cũng đang chấn động như mình, thì mấy đứa con bình thản như không, chỉ bận tâm đến bài học, bài thi. Trong mùa dịch này, có bao nhiêu người mang tâm trạng của người cha trong truyện!
Nói đến mối quan hệ truyền thống – hiện đại trong văn chương Võ Hồng mà chỉ bàn phương diện nội dung là một thiếu sót. Chúng tôi xin dành nói kỹ hơn điều này trong mục thứ ba ở cuối bài.
Võ Hồng giữa chính trị và văn hóa
Võ Hồng trải qua tuổi thanh niên giữa thập niên 40, 50 thế kỷ trước vào giai đoạn lịch sử Việt Nam có nhiều biến động: chiến tranh thế giới lan đến Đông Dương, Nhật đảo chính Pháp, đưa quân vào nước ta rồi bị thua trận; Pháp quay lại, cuộc kháng chiến bùng nổ, chi phối số phận của mọi người dân Việt, trong đó có tầng lớp trí thức.
Là người nhạy cảm và ưu thời mẫn thế, Võ Hồng đã xoay trở trong cơn cuồng phong của lịch sử, để góp phần khiêm tốn của mình vào cuộc cứu nguy cho đất nước và giữ được lương tri của người trí thức. Ngoài những văn bản có tính chất hồi ức như Thơm ngát hương cau, Những ngày Lương Văn Chánh, Tay cầm viên phấn, trong đó nhà văn kể lại sinh hoạt thời kháng chiến mà ông tham gia ở Phú Yên; trong nhiều tác phẩm có yếu tố tự truyện khác, xuất hiện những nhân vật mang dấu vết cuộc đời của tác giả, qua chặng đường đi học ở Hà Nội dở dang phải về quê, miễn cưỡng hợp tác với chính quyền Trần Trọng Kim, rồi theo tiếng gọi lương tâm, dấn thân vào hoạt động kháng chiến từ Đà Lạt đến Phú Yên.
Hoa bươm bướm và Như cánh chim bay là hai cuốn tiểu thuyết giàu yếu tố chính trị – xã hội của Võ Hồng đều tập trung tái hiện những ngày gian khổ đương đầu với thế lực Nhật – Pháp từ 1945 đến 1954. Luân và Quỳ, hai nhân vật chính đi suốt hành trình đó, là hình tượng hư cấu từ chất liệu đời thực của tác giả và người bạn đời của mình. Họ đã gặp nhau, cảm thông và yêu thương nhau trong cảnh ngộ khó khăn, bối rối của kháng chiến và cùng đi với dân tộc một chặng đưởng bỏng lửa của lịch sử.
Rời bỏ vị trí của người trí thức đứng bên dòng lịch sử, họ đã chứng kiến những chuyện ấu trĩ trong giai đoạn đầu kháng chiến: chống giặc ngoại xâm thì nâng cao cảnh giác đến mức nghi ngờ người mũi cao là Việt gian; chống giặc đói thì áp dụng phương pháp trồng “khoai lang bồ” chỉ ra dây mà không ra củ; chống giặc dốt thì đóng cổng giăng dây đố chữ, thậm chí đóng chuồng nhốt người mù chữ như nhốt bò. Trong đời riêng họ từng phải đối phó với những thủ đoạn nhỏ nhen của Đạo, người tìm cách ngăn cản mối tình của họ, thậm chí đẩy Luân vào chỗ nguy hiểm có thể dẫn đến cái chết để độc quyền chiếm hữu trái tim của Quỳ.
Vượt lên trên tất cả những điều đó là sự gặp gỡ của lương tri người trí thức với lòng yêu nước dung dị và sự hy sinh vô bờ của đồng bào mình. Những người nghèo không quản gian nan, nguy hiểm xông ra tuyến đầu. Những người giàu đứt ruột mà chấp nhận đập phá nhà cửa theo chính sách tiêu thổ kháng chiến. Những người giáo viên tâm huyết dạy bình dân học vụ kiên trì đến lớp với phương tiện nghèo nàn, học trò chểnh mảng. Sự trong sáng đó hóa giải những nghi ngại, băn khoăn và mở ra lòng tin về một chính trị của lương tri.
Dấn thân vào hoạt động xã hội, nhân vật Luân phân vân trước chọn lựa giữa hai lĩnh vực: công tác tuyên truyền hay bình dân học vụ. Anh nhận thấy ở lĩnh vực thứ nhất, “những lời tuyên bố cứ phải cải chính liên tục. Sự thật hôm nay không chắc sẽ còn là sự thật ngày mai. Những tờ báo còn nằm trơ đó, trơ trẽn với những bài nhận định chỉ sáng suốt có một thời gian ngắn”. Đó là chính trị nhất thời, chính trị của từng giai đoạn. Kinh nghiệm và sự nhạy cảm hướng anh đến với chính trị lâu bền, chính trị của lương tri, chính trị của văn hóa. Ý nghĩ của Luân vào giữa những năm 1940 vẫn còn có ý nghĩa thời sự với ngày nay: “Dân mà dốt thì đừng mong có chế độ dân chủ thật sự, có công bằng, có tiến bộ. Mà chỉ là một bầy cừu ngoan ngoãn. Hy vọng mười năm sau, 15 năm sau, 20 năm sau, nhờ đọc được sách mà họ khai phóng được trí óc, hấp thụ được tư tưởng, mở rộng được nhãn giới”. Tư tưởng Phan Châu Trinh ắt hẳn đã được hấp thụ trong con người “quân tử cỡ nhỏ” đó.
Khi Luân nhậm chức Ty trưởng Ty Bình dân học vụ, tuy vẫn là công tác văn hóa – giáo dục, dù muốn dù không, anh cũng phải đương đầu với guồng máy quyền lực và ứng xử với quy luật của chính trị chứ không phải quy luật của văn hóa thuần túy. Hệ quả là anh bị điều qua làm hiệu trưởng một trường trung học, có lẽ là công việc phù hợp nhất với tính cách “không làm hại ai, tốt với mọi người, không dám tàn bạo, không dám làm điều ác”, như lời một người bạn nhận xét về anh.
Sở Phối hợp Nghệ thuật của Bộ Thông tin Việt Nam Cộng Hòa lúc đầu ngăn trở việc xuất bản tiểu thuyết Như cánh chim bay, nhưng rồi họ cũng tháo gỡ việc này vì nhận ra rằng đây không phải là tác phẩm “thiên Cộng” mà là “thiên kháng chiến”, cuộc kháng chiến “đả thực bài phong” mà họ không thể phủ nhận. Hơn nữa, vấn đề ám ảnh của tác phẩm này là sự trăn trở chọn lựa của con người trước vận mệnh dân tộc chứ không phải là chọn con đường chính trị quyền lực nào,
Cũng như nhân vật Luân, ngoài đời tác giả Võ Hồng cũng chuyển hướng sang lĩnh vực giáo dục từ năm 1946 và bền bỉ với vinh nhục của nghề giáo suốt ba giai đoạn lịch sử, cho đến ngày về hưu năm 1982. Kinh nghiệm và sự lịch lãm ít nhiều giúp ông có tâm thế điềm tĩnh và cách ứng xử linh hoạt trong xã hội miền Nam sau 1954, lúc mà văn hóa cũng không khỏi bị chính trị chi phối, tuy có phần tinh vi, tế nhị hơn, để giữ được sự yên ổn trong lãnh địa yêu thích của mình là văn chương.
Nhận lời tham gia Hội đồng Văn hóa Giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Võ Hồng luôn giữ tư thế của một nhà trí thức độc lập. Theo lời kể của Mang Viên Long, mỗi lần đi họp ở Sài Gòn, ông đều nói với mọi người là đi thăm con. Có thể cắt nghĩa điều này bằng tính khiêm tốn, không thích phô trương của ông. Có thể ông nhận ra rằng đây chẳng qua là một thiết chế tư vấn không có thực quyền, một thứ cây kiểng trang trí. Cũng có thể ông không muốn gợi lên sự đố kỵ của một ai đó vốn tự hào mình là người phục vụ hết lòng cho chế độ lại không được mời ngồi vào chỗ của một nhà văn ngợi ca kháng chiến và phê phán ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa ngoại lai như ông. Tinh thần Phật giáo giúp Võ Hồng hiểu rằng khi mình tạo điều kiện cho lòng đố kỵ của một người nào đó trỗi dậy thì chính mình cũng có lỗi.
Xuất bản ở miền Nam những năm 1957-1975, tạp chí Bách Khoa – lúc đầu có tên Bách Khoa Thời Đại – là tờ báo thu hút sự cộng tác của những cây bút thuộc các khuynh hướng chính trị, xã hội, nghệ thuật khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Trong giới viết văn có ba ông họ Võ/ Vũ người miền Trung cùng gửi gắm tác phẩm trên mặt báo này: Vũ Hạnh (tên thật là Nguyễn Đức Dũng) gốc Quảng Nam, Võ Phiến (tên thật là Đoàn Thế Nhơn) gốc Bình Định và Võ Hồng gốc Phú Yên. Trong khi Vũ Hạnh là cây bút phản kháng có đẳng cấp, Võ Phiến là nhà văn tài năng có ý nguyện vun bồi cho chế độ, thì Võ Hồng đứng ở một vị trí trung hòa, không bị cột chặt vào một phe phái chính trị nào, tự tạo dựng cho mình một không gian của nhà văn hóa thuần thành. Ông chỉ trích ảnh hưởng của lối sống suy đồi nhưng không cộng tác với những tờ báo khuynh tả, đối lập, cũng không cắt đứt sợi dây tinh thần liên lạc với những biến động xã hội.
Quan hệ giữa Vũ Hạnh và Võ Hồng không có gì đặc biệt, còn giữa Võ Phiến và Võ Hồng thì hơi nghịch lý. Võ Hồng không tiếc lời khen ngợi văn chương Võ Phiến, hoan nghênh sách giáo khoa đưa tác phẩm Võ Phiến vào chương trình trung học. Có lần ông còn ra đề bài cho học sinh phân tích, bình luận tác phẩm Võ Phiến rồi chọn những bài hay nhất gửi tặng tác giả. Võ Hồng nói: “Tôi có cảm tưởng ông Võ Phiến lúc nào cũng trăn trở, nghe ngóng, đuổi bắt những cảm xúc, cảm nghĩ tế vi, thoáng qua. Thiên nhiên, xã hội, con người, tất cả được nhìn qua mắt ông, bị phân chất”.[2]
Trái lại, Võ Phiến thì chê bai Võ Hồng, chê cả quan niệm văn học lẫn nghệ thuật viết văn: “Võ Hồng quả được an thân. Chế độ này qua chế độ kia, thế cuộc bao phen đổi thay, ông vẫn an, vẫn nhàn, vẫn khỏe. Vẫn viết lách để răn đời. Răn toàn điều lành. Nguyễn Tuân từng nói đến những con người vô thưởng vô phạt, rất lành, lành như vị hoài sơn trong thang thuốc bắc. Là người như ông Võ chăng? Cái lành thường là cái nhạt. Có phải vì vậy mà ít được chú ý?”[3]. Mượn lời người khác để chê một bạn văn cùng hoàn cảnh cầm bút với mình là “vô thưởng vô phạt”, có lẽ trong trường văn trận bút không phải chỉ một mình Võ Phiến.
Tuy nhiên, sau cuộc đời lặng lẽ, trầm mặc trong cảnh ngộ cô đơn trải qua hai chế độ, có lẽ cũng không dễ đoán định con người Võ Hồng có thật sự an thân, an nhàn hay không; không dễ cắt nghĩa tại sao ông chấp nhận dừng chân một chỗ, trụ lại trong tín ngưỡng nghệ thuật của mình, giam mình trong thế giới đó để “hoài cố nhân”.
Từ 1975 cho đến cuối đời, Võ Hồng tiếp tục im lặng ẩn mình trong thế giới của riêng ông, nhưng ông vẫn lắng nghe, hiểu biết thời thế, chứ không chôn mình trong dĩ vãng. Ông nhẫn nại (chữ ông hay dùng) đọc lại những văn bản cũ, cẩn trọng đến độ tỉ mỉ sửa chữa những lỗi kỹ thuật, khi bằng bút chì, khi bằng bút mực. Đồng thời ông vẫn nuôi cảm hứng sáng tác về những đề tài thông thuộc, nhất là về môi trường giáo dục. Có lần trả lời tạp chí Cánh Én, một tờ báo có khuynh hướng cấp tiến xuất bản ở Nha Trang trong thời đầu Đổi Mới, Võ Hồng phàn nàn: “Văn chương tròn trịa lý tưởng! Không dám có những suy nghĩ gai góc, không cho có những cảm xúc mới lạ, độc đáo… mà chỉ được cảm xúc thông thường, bình thường, tầm thường, bằng phẳng, công thức, gần như đã vạch sẵn. Văn chương được bào chế như những món ăn quá lành mạnh, bởi đã được sát trùng quá kỹ lưỡng. […] Mà xã hội đòi hỏi người cầm bút phải nhìn thấy những vấn đề, phát biểu những ý nghĩ, nêu lên những băn khoăn để người đọc cùng cảm xúc, cùng suy nghĩ. Có vậy xã hội mới tiến lên được. Chớ nếu cứ tròn trịa như bánh xe thì xã hội cứ thế mà lăn tới an toàn, hà tất còn cần đến văn chương làm gì?”. Ông còn nói: “Hỏi: Văn chương có phản ảnh thực tại không thì chưa đủ. Phải hỏi thêm: Và phản ảnh thực tại mà có văn chương không? […]. Văn chương không phải là cái xe để chỉ chở tư tưởng chính trị, không phải chỉ được nuôi dưỡng bằng tư tưởng chính trị mà đủ”[4].
Vậy là người và văn Võ Hồng đâu có an thân và lạc thời, ông ẩn nhẫn mà không bàng quan với xã hội.
Võ Hồng giữa đạo đức và nghệ thuật
Ông Võ Bình Định trách ông Võ Phú Yên viết lách để răn đời không phải không có yếu tố hợp lý. Những lời rao giảng đạo đức trong văn chương thường gây dị ứng, thậm chí phản tác dụng. Võ Hồng có khi đưa ra những lời khuyên trực diện quá đậm làm giảm đi vẻ đẹp tự nhiên như hơi thở của cuộc đời. Trong một truyện ngắn cảm động như Đôi bạn vong niên, giá như tác giả lược bỏ gần ba trang kín những dòng chữ khuyên răn của ông cụ ghi trong sổ tay cô gái lên đường đi học xa thì nghệ thuật nhuần nhị hơn và bài học tình người sẽ được tiếp nhận thấm thía hơn. Phải chăng đó là sự méo mó nghề nghiệp của một nhà văn đã “sa lầy” vào nghề giáo suốt 30 năm?!
Thật ra Võ Hồng đâu có bao giờ phủ nhận rằng ông làm văn học cũng là làm giáo dục và ông đâu có đối lập nghệ thuật với đạo lý. Ngòi bút của ông không ngưng theo đuổi những câu chuyện mang lại sự “thanh lọc tâm hồn” cho độc giả thiếu nhi và ta chỉ có thể nhận ra giá trị của tác phẩm từ góc độ của tình thương yêu: Áo em cài hoa trắng, Trận đòn hòa giải, Vùng trời thơ ấu, Vẫy tay ngậm ngùi, Thương mái trường xưa. Thiết nghĩ, với tài năng hóa thân vào những nhân vật trẻ em của tác giả, những tác phẩm này vẫn có thể tìm được sự đồng cảm của bạn đọc thiếu nhi ngày nay.
Ai đã từng sống ở miền Nam những năm 1965 – 1975 mà nói đạo đức không có nguy cơ suy đồi là không thành thật. Chính Võ Phiến ghi nhận: “chiến tranh tạo ra tình trạng rối ren hỗn loạn ở nhiều nơi, tình trạng thuận lợi cho sự hoành hành nhũng lạm của các cấp hành chánh, quân sự: nào hối lộ, buôn lậu, nào lính ma, lính kiểng, chợ đen chợ đỏ v.v…”; “Nếp sống của đám quân nhân Mỹ xa nhà và dư dật, lại làm phát triển những tổ chức ăn chơi: phòng trà ca nhạc, đĩ điếm, gái nhảy…, làm lan tràn nạn hút xách, cao-bồi v.v…”.[5]
Nhưng điều quan trọng là xã hội và con người miền Nam, với sự trợ giúp của sức mạnh văn hóa, văn học, nghệ thuật, đã nhìn thẳng và đứng vững trước nguy cơ suy đồi đó.
Những thiên truyện hay có yếu tố xã hội của Võ Hồng thường là những truyện không phân biệt ranh giới giàu nghèo và không theo một hệ quy chiếu đạo đức cứng nhắc. Thoạt nhìn, truyện Dấu chân sa mạc tưởng như viết để phê phán cô Ba Hường và nói lên quy luật nhân quả ở đời. Thật ra tác giả chỉ miêu tả một cuộc đời, một số phận mà không nhằm kết án ai hay đả kích điều gì. Cô Ba Hường vừa là nạn nhân của hoàn cảnh, vừa là nạn nhân của chính số phận mình, số phận của một người giàu hưởng tài sản không phải do bàn tay mình làm ra. Cô đáng thương hơn là đáng trách. Đối chứng với số phận Ba Hường là cuộc đời anh Tộc trong Niềm tin chưa mất, một lương tri của người cần lao được số phận mỉm cười như đền bù cho những thua thiệt trong đời: “Tâm hồn Tộc như cái phòng rộng trống trơn, không có xó kẹt, không có bóng tối. Tộc làm những điều mình nói và có thể nói cả những điều mình làm. Có thể nói cả những điều mình nghĩ nữa. Trong một xã hội nhiễm độc mà dối trá đã thành điển lệ, mà thù hằn đã thành khí giới phổ thông, quả tình nhân cách của Tộc vươn lên như một chồi cây mạnh giúp tôi tin cậy cuộc đời”.
Khi người Mỹ đổ quân vào miền Nam thì ngòi bút Võ Hồng trở nên mất bình tĩnh. Ông trở lại lối viết phân biệt chính – tà và ngòi bút đôi khi trở nên cay nghiệt với cái xấu, cái ác. Nỗi bức xúc của ông tràn ra đến ba cuốn tiểu thuyết: Nhánh rong phiêu bạt, Gió cuốn, Thiên đường ở trên cao. Thúy, nhân vật chính của Nhánh rong phiêu bạt, là nạn nhân của cuộc chiến huynh đệ tương tàn, bị bom đạn cướp mất những người thân yêu, cửa nhà tan nát, lang thang trên đời và trở thành nạn nhân của môi trường xã hội khắc nghiệt. Người tốt bụng thì nghèo, không có điều kiện cứu giúp cô; người giàu thì chua ngoa, kiêu kỳ, đanh đá, tìm cách vắt kiệt sức lao động của cô. Như nhánh rong trên giòng nước lũ, Thúy đã giữ được thiên lương của một đứa bé có giáo dục và được hưởng quả phúc từ cha mẹ. Cuốn truyện dài này nhiều chỗ phóng đại về cái xấu của người đời, với một đoạn kết có hậu lộ rõ sự sắp đặt của bàn tay tác giả.
Gió cuốn tái hiện những thay đổi của xã hội miền Nam khi hứng chịu nếp sống Mỹ tràn đến. Một người chồng vì sức cảm dỗ của đồng tiền đã vô hình trung đẩy vợ vào vòng tay những viên chức Mỹ. Sự kháng cự của người đàn bà ngày một yếu ớt và trở nên buông xuôi trước cơn gió cuốn. Sáng tác trước 1975 nhưng đến 1978 mới được xuất bản, Thiên đường ở trên cao, qua số phận Thérèse Băng Trinh, là tiếng kêu cứu gần như tuyệt vọng trước sự tàn phá của ma túy đối với sự sống và tinh thần của thế hệ trẻ, mà hậu quả ngày càng thảm khốc cho đến bây giờ.
Khách quan mà nói, tiểu thuyết Võ Hồng, dù viết về hiện thực kháng chiến hay về hiện thực xã hội miền Nam đều có phần dàn trải, thiên về miêu tả sự kiện hơn là khắc họa tính cách. Hình như ngòi bút của ông không sở trường với những cốt truyện có mâu thuẫn, xung đột nặng nề. Khi thể hiện những tình huống gay cấn, văn Võ Hồng không còn giữ được vẻ mềm mại, uyển chuyển vốn có. Ông để cho hình ảnh của những đợt sóng triều xã hội che khuất những trạng thái diễn biến tâm lý con người vốn là điều mà ông thành công đặc biệt trong truyện ngắn. Ngòi bút ông linh hoạt và tỉ mỉ khi miêu tả bức tranh sinh hoạt và chi tiết đời sống, nhưng điều này cơ bản lại không tạo nên chất tiểu thuyết cho tác phẩm. Từ 1974, Đỗ Quý Toàn đã nhận xét, hơi khắt khe, về Như cánh chim bay: “Võ Hồng thành công với tư cách một người viết ký sự thời 45, nhiều đoạn ký sự ngắn, Nhưng viết tiểu thuyết thì ông đã không thành công”. Dù Võ Hồng không phải là là ngòi bút tiểu thuyết ký sự hay tiểu thuyết tư liệu như Nguyễn Vỹ trong Tuấn, chàng trai nước Việt, người đọc vẫn có thể đòi hỏi ở ông sự đằm chín hơn trong tác phẩm. Hình như ông cũng tự ý thức điều này, nên thường ghi thể loại là truyện dài, chứ không phải tiểu thuyết. Ông giải thích với Mang Viên Long: “Ông Đỗ Quý Toàn trên báo Đời có nêu những khuyết điểm của Như cánh chim bay, những khuyết điểm tôi công nhận bởi tôi đã biết trước. tôi đã ‘dọn mình’ trước. Tôi phải chịu ‘bó tay’ để bộ truyện của tôi được người đọc tin là ‘có thiệt’. Vì nó dính dáng tới nhiều những sự kiện lịch sử gần đây, mà các sự kiện đó đều bị hai bên nói mâu thuẫn nhau hết nên tôi phải giữ thái độ trung thực, mà muốn trung thực thì câu chuyện cũng đừng éo le thái quá, giả tạo thái quá. Đó, phải tự nguyện ‘bó tay’ là như vậy”.[6]
Quả là Võ Hồng có phần nào dễ dãi khi xác định tính cấu trúc của thể loại. Ông đã từng trích đoạn từ các truyện dài Hoa bươm bướm, Gió cuốn để đăng tạp chí với tư cách như một truyện ngắn, khiến người đọc có thể hụt hẫng. Truyện dài Nhánh rong phiêu bạt, tuy đã kết thúc ở ấn tượng “ở hiền gặp lành” cuối chương 14, tác giả còn viết thêm chương 15 để nói đến hậu vận tốt đẹp của nhân vật chính. Đáng tiếc, trong cả bốn lần xuất bản do NXB Lá Bối (1970), Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa (1979), NXB Đồng Nai (1997) và NXB Văn Học (2009) chương này đều bị đưa ra khỏi văn bản. In lại chương này có thể cho thấy phần nào quan niệm nhân sinh lẫn quan niệm nghệ thuật của Võ Hồng.
Khi nói đến phẩm hạnh của văn chương Võ Hồng, tất nhiên chúng tôi không chỉ muốn nói đến nhân cách của nhà văn hay giá trị giáo dục trong tác phẩm của ông dù điều này chắc chắn có ảnh hưởng đến chất lượng của tác phẩm. Những phút chói sáng trong trang văn không tách rời với những phút chói sáng trong tâm hồn. Nói đến phẩm hạnh của văn chương là nói đến sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần soi chiếu vào văn bản như ánh sáng chiếu vào pha lê, là nói đến nghệ thuật của ký ức được truyền đạt qua ngôn từ và hình tượng. Nghệ thuật nói lên phẩm hạnh của nhà văn. Thậm chí, nghệ thuật cũng chính là phẩm hạnh, bởi đạo đức của nghề văn chủ yếu được tìm thấy trong chất lượng nghệ thuật và tài nghệ thuyết phục người đọc. Cần phải đọc hết không chỉ các tiểu thuyết mà tất cả truyện ngắn Võ Hồng mới nhận ra được phẩm hạnh văn chương của ông.
Trong bài viết đặc sắc “Đọc Võ Hồng: truyện tình của giới trung lưu”, in trên tập san Văn số đặc biệt về tác giả này, Cao Huy Khanh nhận xét “truyện tình Võ Hồng chính là một thứ nhạc êm dịu trong nỗ lực tiếp nối những khúc tình ca lãng mạn có điều độ của một thời văn chương đã qua”. Nhà phê bình giải thích: “Tình yêu của giới trung lưu, lãng mạn một cách có chừng mực, say đắm một cách có điều độ, niềm hạnh phúc lẫn nỗi đau khổ được điều chỉnh cho ngang tầm mức trung bình làm sao vừa bằng với sức chịu đựng trong nếp tâm lý chung của người công chức, tất cả những điều đó dường như đều có thể tìm thấy trong tiểu thuyết của Võ Hồng, nhà văn của giới trung lưu”[7]. Có thể nói đó là một phát hiện của Cao Huy Khanh.
Tuy nhiên, nghĩ cho kỹ, độc giả văn học nói chung ở Sài Gòn thời ấy, chứ không riêng gì độc giả của Võ Hồng, chủ yếu vẫn là giới trung lưu. Người thợ, người làm ruộng không đọc đã đành, mà giới thượng lưu e rằng cũng không mấy người yêu thích văn chương. Vậy mà văn học thời đó vẫn bày cho giới trung lưu rất nhiều món ăn tinh thần và được tiêu thụ, đâu riêng gì món “tình ca lãng mạn có điều độ”. Có “những tình nhân chậm chạp và quá sức hiền lành”, những “nhân vật nam nhưng lại tỏ ra ít có nam tính” của Võ Hồng thì cũng có những nhân vật nam mà nam tính bùng dậy trong những giây phút mãnh liệt và cuồng nhiệt của Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Thảo Trường. Trong thời đại cách mạng giải phóng tính dục mà tả người tình nhân “chỉ có cái hôn đầu mũi vào má như hôn trẻ con” (Khoảng mát), “một cái chạm tay bên ngoài mà ấm nóng cả đời” (Lá vẫn xanh), ân hận về cái ý nghĩ cộc cằn rằng “người nữ ngon như một cái bánh” (Con suối mùa xuân) thì quả là đi lùi thời đại!
Trước khi viết văn bằng sự tưởng tượng, người ta viết văn bằng sự từng trải; tưởng tượng mà không qua từng trải thì dễ thành khiên cưỡng, sống sượng. Võ Hồng chấp nhận chịu tiếng là người không từng trải trong tình trường hơn là người viết văn sống sượng. Vả chăng, xét theo quan điểm phân tâm học, biết đâu lối viết “sạch sẽ” quá đáng đó lại không ẩn chứa những niềm khát khao ẩn ức tìm cách được thăng hoa.
Đi theo lối riêng, Võ Hồng lại là một người dân chủ trong cảm thụ nghệ thuật. Không những ông đề cao Võ Phiến, một phong cách văn chương rất khác biệt với ông, mà ông còn biểu dương Túy Hồng, người phụ nữ viết tiểu thuyết hiện sinh rất xa lạ với cá tính sáng tạo của ông: “Ngôn ngữ được cô sử dụng sống động như những sinh vật. Nhiều câu nói ‘thật’ đến nỗi, ‘sống’ đến nỗi mình có cảm tưởng như mình vừa nghe nhân vật thốt ra câu đó, âm thanh như còn vang lên đó, khiến mình đôi lúc bàng hoàng. Đọc cô Túy Hồng mình không có cảm tưởng phải chịu đựng một người đang làm văn chương, mà mình đang quằn quại xót xa, đang thổn thức theo tác giả”[8].
Có lẽ cũng nên cân nhắc khi nhận định rằng văn chương Võ Hồng là sự nối dài văn học lãng mạn thời kỷ 1930-1945, với hàm ý rằng nhà văn sáng tác ở những năm 1960 bằng tâm thế và kỹ thuật thời tiền chiến. Qua những phát biểu trực tiếp cũng như toát lên từ tình thế và hành động của nhân vật, không hề thấy ở Võ Hồng cái tâm thế của người làm cách mạng xã hội để thay cũ đổi mới như Tự Lực Văn đoàn. Ông cũng không có ý định làm cải cách văn chương. Ông in cuốn sách đầu tay gần như cùng lúc với nỗ lực phục hồi Tự Lực Văn đoàn, nhưng thất bại, của Nhất Linh. Không ai để lại cho ông một chỗ trống, bởi đơn giản những gì ông viết về kháng chiến và xã hội chưa ai trải nghiệm trước ông.
Ngay cả trong những “truyện tình thất tình” của Võ Hồng, nếu so với tác phẩm của Khái Hưng, Thạch Lam… sẽ thấy một khoảng cách nhất định. Cao Huy Khanh tinh tế khi nói lên cái tâm thế sáng tác của Võ Hồng: “hầu hết truyện của Võ Hồng đều được đặt trên một một căn bản hồi tưởng nòng cốt, đều có một nội dung hoài niệm minh nhiên. Chính trong cái kinh nghiệm hồi tưởng về chiến tranh đó chừng như người ta có thể đoán thấy được cái nét tâm lý cầu an của con người; mệt mỏi, chán chê, sợ sệt, kinh tởm, đó là nét tâm lý chung của những người vừa thoát chết qua một thời thế hỗn loạn cùng cực, của những kẻ được may mắn sống sót sau một cuộc chiến tàn khốc”[9]. Hẳn nhiên đó không phải là tâm thế của những nhà văn thời 1930 – 1945.
Vậy thì cuối cùng Võ Hồng vẫn là Võ Hồng. Không thể đặt ông vào cái khuôn loại hình lãng mạn hay hiện thực. Người ta không thể bắt ông Võ này phải giống ông Võ kia, cũng như không nên lấy cái đấu của ông Võ kia đong ông Võ này. Đó thực sự là sự đa dạng của văn học miền Nam. Võ Phiến có vẻ thú vị khi nói rằng có đến ba tuyển tập truyện ngắn miền Nam đã không chọn in tác phẩm của Võ Hồng. Thì đã sao, điều đó chỉ đáng tiếc cho các tuyển tập đó và cho độc giả hơn là cho Võ Hồng. Đâu phải vì đó mà có thể kết luận rằng Võ Hồng không có truyện hay. Cũng như bây giờ có những tuyển tập truyện ngắn Việt Nam sau 1954 mà không thấy tên Võ Phiến, thì ta đâu có thể nghĩ giản đơn rằng Võ Phiến không phải là nhà văn viết truyện đặc sắc.
Hơn nữa, chọn mỗi nhà văn một truyện ngắn hay là việc làm khó khăn và tế nhị, phụ thuộc vào thị hiếu thay đổi từng lúc của người tuyển chọn và sở thích của nhà xuất bản, độc giả, thị trường. Trong truyện ngắn của Võ Hồng nên chọn truyện nào cho một tuyển tập, điều đó không đơn giản. Trong một lá thư gửi người viết bài này năm 1986, Võ Hồng nói ông thích nhất truyện Nhẹ hơn cơn gió thoảng. Võ Phiến, năm 1999, chọn Trầm mặc cây rừng (Văn học miền Nam – Truyện, cuốn 3, NXB Văn Nghệ). Trần Hữu Tá, năm 2000, chọn hai truyện Nhẹ hơn cơn gió thoảng và Chuyến về Tuy Hòa (Về một chặng đường văn học, NXB Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh). Hội Văn Nghệ Phú Yên, năm 2004, chọn Tình yêu đất (Tuyển tập văn học Phú Yên thế kỷ XX, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ Thuật Phú Yên xuất bản). Trần Hoài Thư, năm 2009, chọn Mong manh một thoáng (Văn miền Nam, NXB Thư Ấn Quán). Người viết bài này, năm 1986, chọn Bên đập Đồng Cháy (Mùa xuân chim én bay về, NXB Cửu Long). Còn nếu bây giờ cho tôi chọn lại thì xin chọn truyện Đi con đường khác. Cũng một truyện tình thất tình, trong không gian và khoảnh khắc nhạy cảm chốn thiền môn, không éo le bi kịch nhưng đọng lại một nỗi buồn tê tái, mà tôi nghĩ không ai có thể viết ám ảnh được như Võ Hồng.
Tóm lại, trân quý truyền thống mà không bàng quan với hiện đại, không tách rời chính trị nhưng lấy văn hóa làm chọn lựa căn bản, coi trọng đạo đức nhưng vẫn giữ tư chất nghệ thuật: đó là thế đứng của Võ Hồng trong một giai đoạn phức tạp, bi tráng của lịch sử đất nước và lịch sử văn học dân tộc.
Chú thích:
[1] Xem Nguyễn Thị Thu Trang (2003): Võ Hồng – nhà văn và tác phẩm, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Phú Yên, tr. 11. Theo bài Nguyễn Nam Anh phỏng vấn (1972): “Nhà văn Võ Hồng”, Tâp san Văn, Sài Gòn, số 209, ngày 01-9-1972, “Võ Hồng sinh ngày 05 tháng Chạp năm Nhâm Tuất (02-12-1922)”. Nếu âm lịch là 05 tháng Chạp năm Nhâm Tuất thì dương lịch là 21- 01-19 23.
[2] Võ Hồng (1971): “Tôi cảm tạ văn chương”, Tuần báo Tìm Hiểu, Sài Gòn, số 7 tháng 10 – 1971.
[3] Võ Phiến (1999): Văn học miền Nam – Truyện, cuốn 3, NXB Văn Nghệ, California, tr. 1718.
[4] Xem Tạp chí Cánh Én, Hội Văn Nghệ Phú Khánh, số tháng 11 – 1988.
[5] Võ Phiến (2000): Văn học miền Nam – Tổng quan, NXB Văn Nghệ, California, 258 – 259.
[6] Theo Mang Viên Long (1974): “Võ Hồng, những lần gặp gỡ”, Giai phẩm Văn, Sài Gòn, số đặc biệt Nhà văn Võ Hồng, ngày 14 – 2 – 1974, tr. 73.
[7] Cao Huy Khanh (1974): “Đọc Võ Hồng: truyện tình của giới trung lưu”, Giai phẩm Văn, Sài Gòn, số đặc biệt Nhà văn Võ Hồng, ngày 14 – 2 – 1974, tr. 31. 35.
[8] Võ Hồng (1971): “Tôi cảm tạ văn chương”, Bđd.
[9] Cao Huy Khanh (1974), Bđd, tr. 33.
Nguồn: Tạp chí Nghiên Cứu Văn Học, Viện Văn Học, Hà Nội, số 6, tháng 6/2022, tr. 21-32.
TP Hồ Chí Minh, 6/2/2022
Huỳnh Như Phương
Theo https://vanvn.vn/

Tính cách và tâm hồn người Nam Bộ qua thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

Tính cách và tâm hồn người Nam Bộ qua thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Nguyễn Đình Chiểu – nhà thơ lớn, tiêu biểu cho dòng văn học yêu nước chống...