Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

 

Nguyễn Huy Thiệp – người đạt đỉnh cao của nghệ thuật truyện ngắn

Trước khi gây chấn động văn đàn với tác phẩm Tướng về hưu, Nguyễn Huy Thiệp đã công bố trên báo Văn Nghệ hai truyện ngắn (Mỵ, Vết trượt). Nếu tiếp tục cách khai thác chất liệu sáng tác và bút pháp của những truyện ngắn này, có lẽ ông vẫn tìm được một vị trí trong văn học sử nhưng không thể trở thành hiện tượng độc đáo gây nhiều tranh cãi như chúng ta chứng kiến suốt ba thập niên văn học.

Trong thế kỷ 20 ở nước ta, trên lĩnh vực văn xuôi hư cấu xuất hiện nhiều tài năng đa dạng, tầm cỡ, nhưng thiết nghĩ hai tác gia có tính cách tân và mang số phận kỳ lạ nhất là Vũ Trọng Phụng và Nguyễn Huy Thiệp. Một người cầm bút trong xã hội thuộc địa; một người trong bối cảnh đất nước thống nhất, hòa bình. Một người vào nghề và hoàn thành sự nghiệp khi tuổi đời còn rất trẻ; một người khởi nghiệp khi đã qua tuổi thanh niên và có nhiều trải nghiệm cay đắng trong cuộc đời. Một người chủ yếu thành công ở lĩnh vực tiểu thuyết; một người đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật truyện ngắn. Mượn cách nói của M. Bakhtin, cả hai là những nghệ sĩ thiên bẩm biết cách nhìn thế giới bằng con mắt của thể loại.

Như những ngôn sứ trong Kinh Thánh từng không được chấp nhận trên quê hương mình, dư luận xã hội đã có lúc nghi kỵ, thậm chí lên án hai văn tài nói trên. Những mũi tên bắn vào tác phẩm Vũ Trọng Phụng chủ yếu khi ông đã nằm xuống, còn Nguyễn Huy Thiệp thì phải chịu trận và chống đỡ với những làn sóng đả kích khi đang sức sáng tạo để tiếp tục khẳng định chính mình.

Nói hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm của thời Đổi mới có lẽ cũng đúng, nhưng tác động của thời cuộc may lắm là kích thích và tạo môi trường tương đối thuận lợi cho tác phẩm được công bố. Còn sự thật thì Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm của chính Nguyễn Huy Thiệp, với nội công thâm hậu mà ông rèn luyện trong mười năm dạy học ở Tây Bắc, miền đất của Những ngọn gió Hua Tát.

Xét riêng về thể truyện ngắn, có thể xếp Nguyễn Huy Thiệp bên cạnh Nam Cao. Phong cách Nam Cao thống nhất trong sự viên mãn; phong cách Nguyễn Huy Thiệp thống nhất trong sự biến hóa khó lường: trữ tình dân gian, hiện thực khắc nghiệt pha lẫn yếu tố kỳ ảo. Đó còn là những truyện kể qua ngôn ngữ sân khấu, với những xung đột được đẩy đến cao trào. Không có gì khó hiểu khi nhà thơ trong văn xuôi này cũng là tác giả của những vở kịch đặc sắc mang chiều sâu tư tưởng. Rất tiếc là kịch của Nguyễn Huy Thiệp ít được dàn dựng trên sân khấu nên vẫn còn xa lạ với công chúng.

Khoảng trống Nguyễn Huy Thiệp để lại hôm nay có lẽ còn lâu lắm mới được lấp đầy. Người đời chắc chắn sẽ đọc lại Nguyễn Huy Thiệp và sẽ còn dành nhiều giấy mực để luận bàn về tác phẩm của ông.

22/3/2021

Huỳnh Như Phương

Nguồn: Báo Tuổi Trẻ ngày 21.3.2021

Theo https://vanvn.vn/

 

Bản lĩnh quân tử trong văn học Nguyễn Huy Thiệp

Có thể dự đoán rằng, sau khi Nguyễn Huy Thiệp qua đời, sẽ lại có một “làn sóng thứ hai” khi những tác phẩm của anh, đặc biệt là những truyện ngắn, xuất hiện trở lại, và lần này sẽ găm rất sâu vào lịch sử văn học đương đại Việt Nam.

Nhà văn, có thể giống như nhân vật trong tác phẩm của mình, có thể không. Nhưng dù không giống với nhân vật của mình, thì nhà văn đích thực đều gửi gắm vào nhân vật khí chất sống của mình, bản lĩnh sống của mình, nhân sinh quan của mình. Sự gửi gắm ấy ở Nguyễn Huy Thiệp là rất đậm nét.

Tôi mới đọc một đoạn của một nhà văn, nhà phê bình Việt hải ngoại, trong đó trích vài đoạn thư của Nguyễn Huy Thiệp gửi mình, qua đó đánh giá Thiệp vẫn là “nhà văn của nước nhược tiểu”. Nhưng tôi nghĩ, là nhà văn của “nước nhược tiểu” thì đã sao?

Có thể nhà văn ấy chưa rành lắm chuyện giao dịch để tác phẩm mình được dịch và in ở nước ngoài, văn phong trong vài bức thư ấy có thể hơi quá khiêm nhường. Nhưng khiêm nhường đâu phải là phẩm chất xấu, càng không phải phẩm chất của nhà văn “nước nhược tiểu”. Ngược lại, khiêm nhường thuộc về văn minh là một phẩm chất rất đáng trân trọng.

Phải thú thật là lâu nay tôi không đọc Nguyễn Huy Thiệp, nhưng những truyện ngắn thời kỳ đầu của Thiệp đã khiến tôi vô cùng sung sướng khi đọc chúng. Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn không “tiến bộ từ từ”, anh làm một nhát xong ngay. Xuất hiện là gây sóng gió, là hào quang rỡ ràng, là phân đôi ngay trận tuyến giữa những người thích văn mình, ủng hộ văn mình và những người ghét văn mình, dị ứng với văn mình. Làm được điều đó không hề dễ.

Tôi vẫn nhớ cái ấn tượng đầu tiên khi đọc những “Tướng về hưu”, “Kiếm sắc”, “Phẩm tiết” và sâu một khoảng ngắn là “Những người thợ rừng”, “Sang sông”. Nguyễn Huy Thiệp bằng những tác phẩm đầu tay ấy, đã khẳng định vị trí chắc nịch của mình trên văn đàn và không chỉ văn đàn Việt.

Đúng là, nếu anh ở Mỹ hay ở châu Âu, tác phẩm của anh có thể gây chấn động ở những văn đàn lớn nhất. Nhưng anh là người Việt, ở trên đất Việt Nam, anh phải chịu những khó khăn mà những nhà văn hàng đầu Việt Nam đều phải chịu. Điều đó chưa hẳn đã dở. Khi hoàn cảnh càng khó khăn, thậm chí khắc nghiệt thì nó lại là môi trường kích thích nhà văn vượt lên với những ý tưởng xuất thần. Nguyễn Huy Thiệp đã làm được điều đó.

Tôi nhớ, trong một số truyện ngắn thuộc thời kỳ đầu của Thiệp, thỉnh thoảng anh có chen vào vài đoạn thơ. Tôi đọc và hiểu là anh chịu ảnh hưởng của Bertolt Brecht nhưng ảnh hưởng tốt và thơ anh hay, hợp với truyện anh viết. Nó như những “trữ tình ngoại đề”, thứ không hề thiếu trong kịch Brecht nhưng không bao giờ thừa.

Sau này, Nguyễn Huy Thiệp còn viết kịch và văn đối thoại của anh đưa vào kịch là quá hợp. Nó vừa sắc sảo, vừa mông lung.

Đó là nhà văn không từ chối phương Tây, nhưng hồn cốt của anh vẫn thuộc về phương Đông, thuộc về Việt Nam. Có những đoạn văn của Thiệp là sâu thẳm, một kiểu sâu thẳm mà trong văn xuôi Việt Nam, tới Nguyễn Huy Thiệp mới thấy có. Thế cũng là quá đủ cho một nhà văn, nó hơn mọi giải thưởng, hơn có triệu người đọc, hơn những danh hiệu thực chất và không thực chất mà nhà văn có thể được nhận.

Tôi rất vui, vì khi Nguyễn Huy Thiệp qua đời, những đánh giá về văn học của anh, về di sản mà anh để lại là rất thống nhất. Trưa ngày 24/3, tôi đang ngồi xe ô tô từ Bình Định chạy ra, nghe bài viết về lễ tang Nguyễn Huy Thiệp, một bài viết có nhận định chứ không chỉ đưa tin, bài viết đã khiến tôi rất chú ý. Vì nó khá sâu sắc, không rào đón và những ngợi ca trong đó là thật lòng.

Có thể dự đoán rằng, sau khi Nguyễn Huy Thiệp qua đời, sẽ lại có một “làn sóng thứ hai” khi những tác phẩm của anh, đặc biệt là những truyện ngắn xuất hiện trở lại. Và lần này sẽ găm rất sâu vào lịch sử văn học đương đại Việt Nam, sẽ được đón nhận với rất nhiều người đọc có chất lượng và sẽ được đánh giá phong phú hơn là những lời ngợi ca đơn giản mà mấy hôm nay chúng ta đã đọc, đã nghe.

Một nhà văn có thể sống bình thường như mọi người khác, nhưng toàn bộ cái “bản lĩnh quân tử” của anh đã thể hiện hết trong văn anh, thì đó là nhà văn không có gì phải hối tiếc. Nghĩ cho cùng, chỉ tác phẩm mới đánh giá nhà văn chính xác nhất, chứ không phải những thứ khác.

25/3/2021

Thanh Thảo

Theo https://vanvn.vn/

 

Chế Lan Viên – Làm thơ là một sự phi thường

Có thể thấy, Chế Lan Viên là một nhà thơ đã đem tới một cách nhìn mới từ những suy nghĩ nghiêm túc và sâu sắc về nghề thơ, về sứ mệnh của thơ “Thơ cần có ích”…

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20.10.1920 tại Diễn Châu (Nghệ An). Quê ông ở xã Thanh An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, nhưng Bình Định cũng được xem là quê hương thứ hai.

Đến với thơ rất sớm, nhưng cho đến khi vào Quy Nhơn sinh sống, gặp nhà thơ Yến Lan, ông mới ý thức được ý nghĩa của thơ và từ đó thêm bút danh Lan Viên, mang họ Chế. Bút danh Chế Lan Viên bắt đầu từ đó. Chế Lan Viên tham gia nhóm thơ cùng Yến Lan, Hàn Mặc Tử và Quách Tấn. Cái tên “Bàn thành tứ hữu” (nhóm bốn người bạn ở thành Đồ Bàn – Bình Định) có từ đó. Nếu Hàn Mặc Tử cho rằng “Làm thơ tức là điên” thì Chế Lan Viên coi “làm thơ là một sự phi thường…”.

Hơn 10 tuổi đã đến với thơ, nhưng năm 17 tuổi Chế Lan Viên mới trình làng tập thơ Điêu tàn (1937). Tựa Điêu tàn là Tuyên ngôn của Trường Thơ Loạn do ông và Hàn Mặc Tử lập ra. Kể từ tập thơ đầu tay ấy, Chế Lan Viên đã dần định hình một phong cách thơ giàu chất chính luận, suy tưởng, trí tuệ qua các tập: Gửi các anh (1954), Hoa ngày thường, chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Hoa trước lăng Người (1976), Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1985), Tuyển tập Chế Lan Viên (2 tập, 1985), Di cảo 1 (1994), Di cảo 2 (1995)…

Hành trình chuyển động từ cái tôi sử thi…

Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 chủ yếu được sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Thuộc thế hệ nhà thơ xuất hiện từ phong trào Thơ mới cùng các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Anh Thơ, Vân Đài, Nguyễn Xuân Sanh, Tú Mỡ, Yến Lan, Chế Lan Viên bước vào cuộc kháng chiến vệ quốc với quyết tâm “phải làm một cuộc chuyển quân, một cuộc chuyển thơ từ nơi êm đềm, ẩm ướt của lòng mình đến các nơi cằn khô cháy bỏng, đến các chiến trường”.

Vì thế, vượt qua phút “ngập ngừng”, “xao xuyến”, với tư duy mạnh mẽ, Chế Lan Viên đã chuyển hướng thơ từ “Điêu tàn” qua bước đệm “Gửi các anh” còn quá mong manh, nói như nhà văn Vũ Thị Thường chả khác cái vỏ, cái xác khô teo của con tằm mới ăn một, ăn hai – bỏ lại, để 10 năm rút ruột nhả tơ óng có tên “Ánh sáng phù sa”. Rồi từ đó nhà thơ tự tin định hình một phong cách thơ rất riêng Chế Lan Viên với “Hoa ngày thường, chim báo bão” đến “Những bài thơ đánh giặc”, “Đối thoại mới”, “Hoa trước lăng Người”, “Hái theo mùa”, “Hoa trên đá”… Ông nhanh chóng nhập vào đội ngũ những người mở đường mạnh mẽ, táo bạo, tạo ra một thời đại thi ca mới cách mạng.

Tính sử thi chi phối làm cho nền thơ chống Mỹ có dáng dấp một “dàn đồng ca”, một “dàn hợp xướng” lớn. Nền thơ sinh thành trong bối cảnh tinh thần đặc biệt thể hiện trong câu thơ giàu triết lý của ông “Những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt/ Nụ cười tiễn đưa con ngàn bà mẹ như nhau”.

Nhận thức sâu sắc sứ mệnh của một nền thơ sinh ra trong máu lửa, mỗi nhà thơ là một chiến sĩ “Đứng ngang tầm chiến lũy”; thơ thành “hầm chông giết giặc” phục vụ thời chiến nên “một câu thơ ba phần làm nhiệm vụ”; “Nhiệm vụ thơ nặng hơn trang giấy, các bài thơ. Cái thai nặng hơn bà mẹ”(Ngày vĩ đại)…

Chế Lan Viên sử dụng tần suất đậm đặc các biểu tượng trong thơ chống Mỹ: “Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào Cửa Bắc/ Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng” (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng).

Tính sử thi chi phối cảm xúc sáng tác. Tổ quốc được nhắc tên niềm hoan ca “Tổ quốc là núi thẳm đèo cao tột cùng hoang đảo/ Một giới tuyến ta với thù đọ pháo”, “Tổ quốc nay là từng ngã ba khu phố/ Là một góc phi trường ta đánh giữ/ Tổ quốc là nơi đâu ta sống rất anh hùng” (Xuân 68 gửi miền Nam Tổ quốc). Tình yêu mang đậm chất sử thi là tình yêu vĩ đại, lớn lao với Tổ quốc, nhân dân “Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông” (Sao chiến thắng)…

Cũng chính trong những năm tháng nước sôi lửa bỏng này, các nhà thơ đều cảm nhận sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân. Chế Lan Viên triết luận về sức mạnh hùng hậu của nhân dân qua hình ảnh khái quát “Nhân dân không có thanh gươm vung một cái đến trời mây/ Nhưng họ gánh lịch sử đến nghìn lần lớn hơn đời họ” (Thơ bổ sung).

… đến cái tôi phi sử thi

Thơ viết về chiến tranh sau 1975 đã có nhiều nét mới từ cảm hứng đến chất liệu và giọng điệu. Khi chất liệu sử thi nhạt dần, con người cá nhân được nhìn nhận trong tính toàn vẹn, có chiều sâu và hướng theo cái nhìn thế sự.

Trong các nhà thơ lớp trước đã có đóng góp tích cực cho thơ kháng chiến chống Mỹ, có lẽ Chế Lan Viên là nhà thơ có những lời thơ thống thiết về sự bất lực của thơ trước thực tế. Lời thơ đã từng cất “tiếng hét ở chiến hào”, “Mỗi trang thơ đều dội tiếng ta cười”… đã ngậm ngùi nhìn vào số phận người “Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời/ Tôi ú ớ/ Người ấy nhắc tôi những câu thơ tôi làm làm người ấy xung phong/ Mà tôi xấu hổ/ Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay/ Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ” (Ai? Tôi?)…

Sự nhạt dần cảm hứng phi sử thi đã được Chế Lan Viên đề cập trong sứ mệnh của thơ ca. Nền thơ cách mạng ngoài việc phản ánh hiện thực cách mạng, kháng chiến, đời sống tình cảm con người, còn phải “đề cập, giải đáp không ít những vấn đề của tư tưởng”. Chế Lan Viên là người đã phát biểu nhiều nhất những suy nghĩ về thơ, đặc biệt là dưới dạng “Thơ về thơ”, như Sổ tay thơ, Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ… nghĩ, Thơ bình phương/ Đời lập phương.

Nhà thơ khẳng định: “Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh/ Không phải chỉ “ơ hời” mà còn đập bàn, quát tháo, lo toan” (Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ…).

Vì thế, hình thức thơ cũng phải thay đổi cho phù hợp: “Xưa tôi hát mà bây giờ tôi tập nói/ Chỉ nói thôi mới nói hết được đời” (Sổ tay thơ).

Có thể thấy, Chế Lan Viên là một nhà thơ đã đem tới một cách nhìn mới từ những suy nghĩ nghiêm túc và sâu sắc về nghề thơ, về sứ mệnh của thơ “Thơ cần có ích”. Thế hệ trẻ từ đó cũng có những suy nghĩ sâu sắc về sứ mệnh của thơ với cuộc kháng chiến “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh), “Bài hát của chúng tôi/ Là bài ca ống cóng” (Thanh Thảo), “Thơ bỗng sắc hơn gươm” (Tần Hoài Dạ Vũ), “Mài thơ như kiếm sắc” (Trần Quang Long)…

Khi yếu tố sử thi nhạt dần, cái tôi trữ tình thiếu đi chất tráng ca, nhưng bù lại nó đã tìm thấy tiếng nói khác đầy ắp tâm trạng, nỗi trăn trở, sự day dứt, lo âu đầy trách nhiệm về chiến tranh vệ quốc, về hy sinh, mất mát, về nhu cầu, khát vọng của con người. Thơ nói riêng và văn học nói chung đã hé mở khát vọng bức thiết, đòi hỏi quan tâm đến mỗi số phận cá nhân. Mối quan tâm cộng đồng đã nhường chỗ cho số phận cá nhân. Đó chính là cơ sở để thức tỉnh ý thức cá nhân và tinh thần nhân bản sẽ trở thành nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo bao trùm của nền văn học sau năm 1975.

Chế Lan Viên đoạt Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994 cho tập thơ Di cảo 1 và Di cảo 2; năm 1995 cho tập thơ Hoa trên đá và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt I (năm 1996).

27/3/2021

Lê Thị Bích Hồng

Theo https://vanvn.vn/

 

Nguyễn Bính, nhà thơ của nhiều thời

Một trong những nguyên nhân chính để Nguyễn Bính là nhà thơ của nhiều thời là thơ ông thể hiện rất đặc sắc rất nhiều cổ mẫu kết tinh từ những mô thức tâm lý, “những kinh nghiệm được lặp đi lặp lại nhiều lần của loài người”…

1. Từ khi xuất hiện trong phong trào Thơ mới cho đến nay, Nguyễn Bính đã và chắc chắn vẫn sẽ luôn thuộc các nhà thơ có lượng độc giả đông đảo nhất.Thơ Nguyễn Bính “còn sống mãi, làm việc mãi cho tương lai(1),“người Việt Nam còn yêu thơ Nguyễn Bính mãi, càng văn minh hiện đại lại càng trân trọng” (Vũ Quần Phương)(2)

Điều gì làm nên kỳ diệu ấy?

Có nhiều cách trả lời.

Rằng, thơ Nguyễn Bính có “một điều quý vô ngần: hồn xưa của đất nước” (Hoài Thanh)(3).

Rằng, thơ Nguyễn Bính là “Thơ của đồng quê… hình tượng thơ càng ngẫm càng lấp lánh tri thức”(4).

Rằng, “So với các nhà thơ lãng mạn trước đây, Nguyễn Bính đứng riêng một cõi” (Lê Đình Kỵ)(5).

Và rằng, thơ Nguyễn Bính có “cái thi pháp trời cho những bậc thiên tài có tên gọi là tự nhiên như thở” (Nguyễn Duy)(6).V.v…

Xin nói thêm: Thơ Nguyễn Bính không bao giờ cũ. Nguyễn Bính là nhà thơ của nhiều thời. Vì ông luôn là khác biệt. Khác biệt một cách gần gũi. Gần gũi một cách khác biệt. Tầng sâu nhất của thơ Nguyễn Bính không chỉ là hồn dân tộc, mà còn là “giọng nói của toàn nhân loại thức dậy” qua giọng nói của một con người, một cá nhân. Thơ Nguyễn Bính “dường như nói bằng hàng nghìn giọng, mê đắm và thuyết phục, nó nâng cái mô tả từ chỗ ngắn ngủi một lần và tạm thời lên chỗ tồn tại muôn đời”(7).

2. Nguyễn Bính luôn là như thế, trước hết, ngay từ cách nhà thơ đến với hiện đại.

Trong thời kỳ nảy sinh và phát triển của Thơ mới (từ năm 1932 đến năm 1945), “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỉ”(8). Bấy giờ, vấn đề đặt ra cho quá trình tiếp biến văn hóa với phương Tây, chủ yếu với Pháp, không còn là sự lựa chọn giữa canh tân và thủ cựu, mà là đổi mới thế nào, theo chiều hướng nào. Trong lúc Âu hóa vừa là xu thế vừa là ưu thế của đổi mới cả chiều rộng lẫn chiều sâu, với những nhà thơ rất tiêu biểu như  Xuân Diệu “mới nhất trong các nhà Thơ mới”, Hàn Mặc Tử “lạ nhất trong các nhà Thơ mới”, Chế Lan Viên “không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được” (Hoài Thanh), thì “người nhà quê Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường”, thơ Nguyễn Bính vẫn là “tiếng nói vui buồn của tâm hồn dân gian muôn thuở”(9).

Thơ Nguyễn Bính bổ sung một minh chứng rất sâu sắc và lý thú, thuyết phục về quy luật của mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc. Trong mối quan hệ này, văn học dân gian, văn hóa dân gian  luôn là nền tảng, cơ sở, là văn học “mẹ”, văn hóa “ mẹ”. Điều ấy đặc biệt rõ vào giai đoạn đầu khi văn học viết hình thành và những giai đoạn, thời kỳ văn hóa, văn học dân tộc đứng trước những bước ngoặt thử thách, biến đổi lớn lao. Trong thời kỳ của Thơ mới, chính văn học dân gian, văn hóa dân gian, đất quê, hồn quê, trực tiếp nhất là ca dao, hát nói, đã dẫn Nguyễn Bính đến với hiện đại một cách đầy thuyết phục. Ca dao, hát nói, lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, luôn mang hơi thở cuộc sống hiện tại. Những bài ca dao-dân ca, hát nói, mỗi lần được diễn xướng là một lần sáng tạo, “mỗi lần biểu diễn đều là một lần sáng tác”(10). Vì vậy, ca dao-dân ca, hát nói luôn song hành cùng hiện đại. “Ca dao hay lưu truyền lại được vì nội dung thiết cốt đến người ta, bổ ích cho người ta; ca dao sinh ra là do thời sự, do phút giây ngày tháng hôm đó cần thiết, nhưng lại nói được chuyện lâu dài, phổ biến được trong thời gian và không gian”(11). Cách Nguyễn Bính đến với hiện đại thêm một lần làm sáng tỏ luận đề triết học: “Truyền thống là người lính canh của tinh thần nhân loại… Không có tâm linh nằm ngoài truyền thống”(12).

Thơ Nguyễn Bính đặc rệt truyền thống, mà vẫn mới, vẫn riêng. Ông đã làm mới mê hồn thơ lục bát và thơ thất ngôn theo cách của ông. Nói về những nhà thơ tiêu biểu cho thơ lục bát, người ta sẽ, ngay lập tức, đi thẳng từ ca dao, Nguyễn Du đến Nguyễn Bính, như một mặc định. Đặc biệt, cùng với các nhà Thơ Mới khác, Nguyễn Bính đã đưa cái tôi cá nhân, cũng là cái  tôi của thời đại, cái  tôi của nhân loại vào thơ, tự nhiên nhi nhiên. “Như một vụ big bang trong văn học, sự ra đời của cái tôi đã trở thành nhân tố cốt tử để tạo ra một thời đại trong thi ca”(13), góp phần quan trọng đưa văn học Việt Nam “thực hiện một chuyển dịch quan trọng: vượt khỏi phạm vi khu vực để tiến vào thế giới”(14). Cái tôi ấy, vào những năm tháng đất nước dồn tất cả sức mạnh vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, tất nhiên sẽ không phù hợp. Nhưng khi cuộc sống trở lại trạng thái bình thường, nó lại tìm được những đồng vọng để hiểu thêm một thời và con người. “Cứ đi sâu vào hồn một người, ta sẽ gặp hồn nòi giống. Và đi sâu vào hồn một nòi giống, ta sẽ gặp hồn chung của loài người”(15). “Thơ Nguyễn Bính thuộc trường hợp hiếm hoi…, bởi vì trong cuộc cọ xát cũ mới ấy, đã bộc lộ những sâu sắc trong tâm hồn không chỉ của một cá nhân, mà cả một dân tộc, không chỉ của một thời, mà, có lẽ, của nhiều thời…”(16). Cũng nhờ đó, Nguyễn Bính có các tập thơ hay (chẳng hạn, những tập thơ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945), những bài thơ hay (Lỡ bước sang ngang, Tương tư, Lòng mẹ, Chân quê, Cô hái mơ, Mưa xuân, Hoa cỏ may, Qua nhà,Thư cho thầy mẹ, Chờ nhau, vv…) và hàng trăm câu thơ tuyệt bút như thể trời đất, quỷ thần cho. Nếu chọn một nhà thơ có nhiều câu thơ thần bút nhất trong phong trào Thơ Mới, chắc chắn Nguyễn Bính sẽ đứng hàng thứ nhất.

3. Một trong những nguyên nhân chính để Nguyễn Bính là nhà thơ của nhiều thời là thơ ông thể hiện rất đặc sắc rất nhiều cổ mẫu kết tinh từ những mô thức tâm lý, “những kinh nghiệm được lặp đi lặp lại nhiều lần của loài người”. Từ điển văn học giải thích: “Cổ mẫu là khái niệm dùng để chỉ những mẫu của các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, trong tưởng tượng của con người, chứa đựng trong vô thức tập thể của cộng đồng nhân loại”(17). Nói cách khác, cổ mẫu là những biểu tượng bền vững, bắt nguồn từ vô thức tập thể, chất chứa chiều sâu tâm lý, cảm xúc được chiêm nghiệm qua các thời đại khác nhau của cộng đồng. “Kho báu của nhân loại nằm trong tính đa dạng sáng tạo, nhưng nguồn gốc của tính sáng tạo lại nằm trong tính thống nhất sinh thành của nhân loại”(18). Người đọc văn học theo lý thuyết cổ mẫu thường dõi theo những biểu tượng, những motif lặp đi lặp lại nhiều lần, có ý nghĩa phổ quát trong các tác phẩm để thấy những ý nghĩa điển hình của nó trong văn hóa, văn chương nhân loại và dân tộc cũng như những ý nghĩa chuyển dịch, xung năng, tương tác của nó trong các tác phẩm, tác giả cụ thể(19).

Xin chỉ nói về một vài cổ mẫu.

Trước hết là cổ mẫu Hành trình, cụ thể thêm: cổ mẫu Đi và Lỡ bước.

Hành trình, theo cách nhìn của lý thuyết cổ mẫu, “là tìm kiếm, tìm chân lý, sự bất tử và phát hiện một trung tâm tinh thần”. Hành trình “trở thành dấu hiệu và biểu tượng của sự luôn luôn chối từ bản thân…, và cần kết luận rằng cuộc du hành duy nhất có giá trị là cuộc du hành của con người bên trong bản thân mình”(20). Nhân loại đã có bao nhiêu cuộc hành trình, đớn đau và vĩ đại: hành trình của Chúa, hành trình về đất Phật, hành trình về miền đất hứa, hành trình dời Ai Cập, hành trình của Don Quixote,vv…Nguyễn Bính đã đi đâu, về đâu? Trở lại với không khí xã hội thời Thơ mới. Trong “cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”, hành trình của Nguyễn Bính là hành trình của thi sỹ “giang hồ”, cô đơn, lỡ bước, khi dấu ấn cuối cùng “giấc mơ quan trạng”, “Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên” (Xóm Ngự Viên) – lý tưởng của nho sỹ bình dân một thời, đã vĩnh viễn khép lại: “Khoa cử bỏ rồi, thôi hết Trạng”, “Lỡ duyên búi tóc củ hành, Trường thi Nam Định biến thành trường bay”(Con nhà nho cũ):

Anh đi đấy, anh về đâu

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm (Không đề).

Câu hỏi không lời đáp. Nhịp thơ cũng theo cánh buồm, nhỏ dần, rồi mất hút. Đến nhịp thơ cuối, không còn thấy màu nâu của cánh buồm. Nhịp thơ điệp mà không trùng. Đi mà không biết đi đâu! Về không biết về đâu. Như thân phận trên dòng sông cuộc đời mênh mang, hoang vắng: “Giang hồ ai biết đi đâu mà tìm” (Giang hồ). Dễ hiểu vì sao thơ Nguyễn Bính hay nhắc nhiều đến con đò, bến đò, “chuyến đò thân thế”, và sân ga, con tàu: “Đò sang còn một chuyến này, Khách sang còn một người đây hỡi đò!” (Người đi), “Đem thân đi với giang hồ, Sân ga phẳng lặng, bến đò lênh đênh” (Quê tôi). Ấy là con đò quê, ga là ga xép. Cũng có khi là con sông trong tâm tưởng, chảy rất mạnh, rất mênh mang trong văn hóa phương Đông: sông Tương, sông Dịch.Thời gian chủ yếu là buổi chiều và trong đêm: “Càng chiều anh thấy con đường càng xa” (Định mệnh), “Tàu biết bây giờ chạy đến đâu, Đêm sâu hoàn trả lại đêm sâu”(Chuyến tàu đêm). Con tàu, sân ga trong thơ Nguyễn Bính thật buồn:

– Tàu chạy hình như để chở buồn,

Chở người đi nhớ, kẻ về thương (Chuyến tầu đêm).

– Con tàu ngược, con tàu xuôi

Con tàu chẳng đợi chờ tôi bao giờ (Xa xôi).

-Những từ ga lớn, từ ga nhỏ

Đời chẳng làm cho lấy một ga (Chuyến tầu đêm).

– Ở đây…tôi ở riêng đây,

Hoa tim rớm máu rụng đầy sân ga (Rừng mai xa cách).

– Tàu đi để lại ga đơn chiếc

Đường sắt nằm chờ những chuyến qua

Có người lưu lạc bên đường sắt

Mỗi chuyến tàu đi lại nhớ nhà (Nhớ).

Nguyễn Bính cũng là một bóng người giữa những bóng người đổ bóng xuống sân ga: “bóng lẻ”, “Hai bóng chung lưng thành một bóng”, “bóng liêu xiêu”, “bóng nhòa trong bóng tối”, “Một mình làm cả cuộc phân ly” (Những bóng người trên sân ga).

Tường vàng, mái đỏ màu son

Nhà ga lại chứa linh hồn nhà ga.

Cái “hiện đại” tường vàng, ngói đỏ bề ngoài của ga xép ai ngờ không dấu nổi linh hồn cuộc đời, thân phận, chia lìa và nước mắt.Tường vàng, ngói đỏ, những màu sắc bề ngoài tưởng như rực rỡ ấy chẳng những không che được, mà còn tô đậm hơn cái cô độc, buồn bã của cảnh, của người. Nó còn gợi cuộc đời vàng vọt đang ngày càng phôi pha và ánh mắt đỏ hoe, trái tim đỏ máu trước những chia lìa buồn bã, đón và tiễn đưa vô định. Linh hồn nhà ga là linh hồn của kẻ chứng kiến, cũng là của người lưu lạc trong những cuộc hành trình, chia ly không hẹn ngày gặp lại, hành trình và chia ly sâu thẳm ngay chính trong thân và phận con người.

Nguyễn Bính chính là một hành trình cô đơn như vậy, một nhà ga cô đơn như vậy! Trong hai câu thơ ấy, cái không nói ra nhiều hơn và được cảm nhận mãnh liệt hơn rất nhiều cái đã nói ra.

Chẳng ngẫu nhiên, “Lỡ bước sang ngang”, tên một bài thơ lại được đặt tên cho cả một tập thơ! Không chỉ người con gái “lỡ bước sang ngang”, mà chính Nguyễn Bính và cả thế hệ những người như ông “lỡ bước sang ngang”trong hành trình ấy, trên chuyến đò và sân sân ga ấy:

Năm ấy sang sông lỡ chuyến đò

Đò đầy sóng lớn nước sông to

Mười hai bến nước xa lăng lắc

Lầm tự ngày xưa, lỡ đến giờ.

Trong hành trình “dan díu nợ giang hồ”, “Tự mình đắp núi khơi sông, Tự mình đày ải tấm lòng mình đi” (Đêm nay khơi tỏ tim đèn), “tâm hồn tôi”, cái tôi đang tự đi tìm mình của Nguyễn Bính đến với rất nhiều nơi. Địa danh thực là  Lạng Sơn, Vinh, Huế, Sài Gòn, ga Kép,vv…Địa danh thực mà ảo, ảo mà thực hoặc hoàn toàn ảo thì nhiều hơn rất nhiều: “Kinh thành”, “Xóm Ngự Viên”“ Mười hai bến nước”, “Mây Tần”, “Một nghìn cửa sổ”, “Lầu hoa”,“ Rừng Mơ”, “Rừng mai”, “Bến mơ”, “Vườn Tiên”, “Suối Thiên Thai”,v.v…Ông phân thân thành cặp đối lập: Tráng sĩ – Thi sĩ. Con người “Tráng sĩ” của Ông, có lẽ, là “cái rớt”cuối cùng của kiểu nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam trung đại. Con người ấy vẫn có cái chất hào hoa, kiêu bạc nhưng xuất hiện đã rất lu mờ và đầy cô đơn – cái cô đơn của tráng sĩ không còn hợp thời, không bao giờ có “lúc khải hoàn thân gió bụi”(Lá thư về Bắc):

– Tôi say mơ thấy vì Tiên Trích,

Vua gọi mà không chạy xuống thuyền (Cho tôi ly nữa).

– Sông lạnh thấy đâu người gọi gió,

Trăng tà tìm mãi kẻ mài gươm.

– Thời chưa gặp đó nằm suông mãi,

Suông cả ân tình rượu cũng suông (Xuân vẫn tha hương).

– Hỡi người đi gió cùng mưa

Có xây dựng nổi cơ đồ gì không (Nam Kỳ cùng gió cùng mưa).

– Đem theo cát bụi đường xa lại

Tráng sĩ dừng chân khẽ thở dài (Quán lạnh).

Con người “Thi sĩ” mới thực sự thể hiện “cái tôi”của Nguyễn Bính. Cũng như nhiều nhà thơ khác thời Thơ mới, Nguyễn Bính đến với Tình yêu – tình cảm phổ quát của con người. Nhưng khác với nhiều nhà thơ khác, tiếng vọng của “vô thức tập thể”, của cổ mẫu luôn tự nhiên dệt thành những vần thơ. Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ đã cụ thể hóa được cuộc sống vô thức của toàn nhân loại trong nhiều bài thơ tình yêu. Ông lý tưởng hóa tình yêu trong những bồn chồn, nhớ thương, day dứt. Và, như Platon, nhà hiền triết vĩ đại, trong tác phẩm “Bữa tiệc hay Hội thảo về Tình yêu”, đã nói:  “khi tình yêu được chuyển dịch từ một lý tưởng sang một con người bằng xương bằng thịt”, từ ý niệm vĩnh cửu đến con người cụ thể, thì thực tế điều này lại đưa tới sự “bất cân đối với những điều thiêng liêng”(21). Vì thế, thơ tình của Nguyễn Bình cũng là hành trình Đi – Lỡ bước.

Nguyễn Bính có những vần thơ tương tư nổi tiếng:

– Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người (Tương tư).

– Hồn anh như hoa cỏ may

Một ngày cả gió bám đầy áo em (Hoa cỏ may).

– Em nghe họ nói mong manh

Hình như họ biết chúng mình…với nhau (Chờ nhau).

– Giếng thơi mưa ngập nước tràn

Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều (Qua nhà).

– Cô hái mơ ơi! Cô gái ơi

Chẳng trả lời nhau lấy một lời!

Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng

Rừng mơ hiu hắt, lá mơ rơi… (Cô hái mơ).

– Hai tay người đẹp trông mềm quá

Tôi có ngờ đâu khóa được người (Chú rể là anh).

Ông vương quốc hóa, địa đàng hóa tình yêu: “Ví chăng có một nước Tình Ái, Em làm hoàng hậu, anh làm vua” (Ái khanh hành), “Với người trong giấc mơ tiên, Của chàng thi sĩ quê trên mây hồng” (Mười hai bến nước), “Hồ tiên đâu phải hồ trần, Em không thả cá mà thuần thả thơ” (Xây hồ bán nguyệt). Nỗi nhớ, sự chờ mong tình yêu trong thơ Ông được dệt bằng bao cảm xúc, bao biểu tượng, đi thẳng vào trái tim người:

– Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ

Em thử quay xem được mấy vòng?

Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ

Em thử lào xem được mấy thưng? (Nhớ).

– Nhớ người nhớ cả vầng trăng

Đêm đêm trời cứ xây bằng nước mưa (Nghĩ làm gì nữa).

– Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày

Bao giờ em mới gặp anh đây?

Bao giờ hội Đặng đi qua ngõ

Để mẹ em rằng: Hát tối nay? (Mưa xuân).

Nguyễn Bính đi vào chính mình, nhờ đó đã nói được và nói rất hay, rất sâu những biện chứng tâm hồn, những qui luật tình cảm, cái điều của muôn thuở, muôn người: “Mẹ cha thì nhớ thương mình, Mình đi thương nhớ người tình xa xôi” (Thư cho thầy mẹ), “Trời xanh còn khóc nữa là, Nhớ nhà ít, nhớ người ta thì nhiều” (Gặp nhau). Sống trong tâm lý tình yêu, cảm nhận về thời gian, không gian trong thơ Ông rất đặc biệt, theo cách dân gian nhưng vẫn là duy nhất của riêng Ông, độc bản: “Láng giềng đã đỏ đèn đâu, Chờ em ăn dập miếng trầu, em sang” (Chờ nhau), “Chờ mong như suốt đêm qua, Chàng ơi! Một tháng là ba mươi ngày”, “Cách một ngày ngựa với ba ngày đò” (Thư cho chị), “Nhà em cách bốn quả đồi, Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng, Nhà em xa cách quá chừng, Em van anh đấy, anh đừng yêu em” (Xa cách), “Thương như thế, nhớ làm sao, Kinh thành biết có mưa rào đêm nay” (Thương nhớ Kinh thành).

Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính phần lớn là lỡ hẹn, ly biệt. Lỡ hẹn ngay từ chờ đợi bồn chồn, xốn xang của cuộc hẹn tình yêu đầu đời. Ông nhập thân, hóa thân thành cô gái trong “Mưa xuân”. Mưa ấy, từ những bông hoa bụi “ phơi phới bay”, nhanh chóng chuyển thành “mưa nặng hạt”, những hạt mưa   sầu tủi, tội nghiệp, bẽ bàng. Con đường đến với tình yêu tưởng gần, hóa ra là xa ngái:

Mình em lầm lũi trên đường về

Có ngắn gì đâu một dải đê

Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt

Lạnh lùng thêm tủi với đêm khuya (Mưa xuân).

Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính rất nhiều nước mắt biệt ly. Nỗi cô đơn của Ông đủ lớn để vũ trụ hóa, vô tận hóa những nỗi đau và cô đơn của con người: “Nước mắt là cơm bữa, Hợp tan như bèo trôi” (Đề tặng ảnh), “Đêm nay hai đứa chung tình ấy, Khóc ướt trần gian để biệt nhau”(Bạc tình),“Cửa hàng nghìn khép lại, Tất cả một đêm nay, Có lòng ta rồ dại, Mở ra muôn nghìn ngày” (Một nghìn cửa sổ), “Trời xanh hãy trả lời tôi, Sao người đẹp lại là người…trời xanh”(Người con gái ấy), “Giờ này có lẽ chàng đương khóc, Cả một mùa đông khóc ở ngoài”( Nhớ thương ai), “Có lẽ ngày mai đò ngược sớm, Thôi nàng ở lại để…quên tôi”(Thôi nàng ở lại), “Người cách sông rồi…Tôi cách sông ”. Nhưng, đau khổ, cô đơn nhất của Ông, có lẽ vẫn là hành trình vô vọng đi tìm cái tôi của mình: “Tôi tìm đâu thấy mảnh trời Thần Tiên”, “Nhưng đau lòng biết bao nhiêu, Người tôi yêu chỉ biết yêu như người” (Đào Nguyên), “Thương tôi mình hiểu cho tôi nhé, Mà chỉ mình tôi mới hiểu tôi” (Mười hai bến nước). “Cái tôi là không thể chia sẻ được” (22).Và thực ra, chính Ông cũng không hiểu bản thân mình, vì thê Ông luôn luôn đi tìm mình. Rõ ràng, thơ Nguyễn Bính là“cuộc du hành của con người bên trong bản thân mình”. Hành trình ấy không bao giờ tới đích, bởi vì “con người luôn là câu đố trên thế gian và có lẽ là câu đố vĩ đại nhất…Trong tâm hồn con người có những chiều sâu mà chỉ nghi lễ mới xuống tới được” (23).

Nguyễn Bính là nhân vật điển hình của cặp phạm trù gia đình – không gia đình thời Thơ mới. Đây cũng là cổ mẫu rất tiêu biểu của văn hóa và văn học nhân loại. Gia đình là khái niệm, tổ ấm gần gũi, thiêng liêng, con người lớn lên từ đó và luôn hướng về nó như chỗ tựa tin cậy, an toàn, vững chắc. Bởi vậy, mỗi lần ra khỏi nhà, nhân vật truyện cổ tích thần kỳ đều gặp những tai họa hoặc phải trải qua những thử thách khó khăn. Ở ca dao trữ tình, những cô gái, người con thường mang tâm trạng tủi buồn, xốn xang, bồn chồn thương nhớ mỗi khi “ra đứng bờ ao”, “ra đứng ngõ sau”, “ra đứng bến sông”… Trong văn học nước ngoài,   chỉ cần nhắc tác phẩm “Không gia đình”của nhà văn Pháp Hector Malot, thế kỷ XIX, cũng đủ thấy. Trong thơ Nguyễn Bính, mẫu đề Không gia đình luôn song hành với mẫu đề Đi- Lỡ bước. Với Nguyễn Bính, mổ côi mẹ từ ba tháng tuổi, “Mẹ hiền mất sớm, giời đầy làm thơ”, sự bùng nổ của cảm xúc Không gia đình càng nhức buốt.

– Con đi mười mấy năm trời,

Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương.

– Thầy ơi! Đừng bán vườn chè

Mẹ ơi! Đừng chặt cây lê con trồng (Thư cho Thầy Mẹ).

Những câu thơ ấy như được viết bằng cô đơn, bằng nước mắt!

Yêu gia đình, nhưng Nguyễn Bính vẫn là, nói đúng hơn, vẫn phải là “con chim lìa đàn”:

– Lạy đôi mắt mẹ đừng buồn,

Ngày mai con lại lên đường ra đi (Lại đi).

– Hỡi ôi! Những kẻ lên đường

Đang tâm để cả cô đơn lại nhà (Chia tay).

Nguyễn Bính có gần mười bài thơ gửi chị Trúc, về chị Trúc – nhân vật có bóng dáng trong đời thật nhưng cũng là nhân vật văn học (Lỡ bước sang ngang, Một chiều say, Xây hồ bán nguyệt, Xây lại cuộc đời, Xuân tha hương, Xuân vẫn tha hương, Xuân lại tha hương, Khăn hồng, Chị đã ghen). Phần vì chị Trúc đẹp, duyên dáng, gần gũi, phần nữa, và đây mới là căn nguyên chính, nhà thơ thấy từ đây hình bóng của người mẹ, của những người thân yêu, của điểm tựa tin cậy để gửi gắm, sẻ chia, tỏ bày những tâm sự, niềm khó biết nói cùng ai(24). Con người thiếu thốn tình cảm gia đình và luôn đẫm chất quê hương ấy làm sao không nhớ gia đình, nhớ quê hương: “Em đi non nước xa khơi quá, Mỗi độ xuân về bao nhớ thương!” (Xuân vẫn tha hương), “Chiều ba mươi, hết năm rồi, Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà” (Xuân về nhớ cố hương). Chính từ tầng sâu tâm thức của tiếng vọng Không gia đình, ông đã có những vần thơ tuyệt bút của thánh thần:

Từ nay khi nhớ quê nhà

Thấy mây Tần biết đó là thôn Vân (Anh về quê cũ).

Mây quê hương luôn bay trên đỉnh trời tha hương. Đám mây trên bầu trời tha hương đang ngấn lệ trong thơ ông, hay lệ trong thơ ông đã kết thành những đám mây trên đỉnh trời ta hương ấy? Thực mà rất ảo! Ảo mà rất thực!

Các nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính phần lớn cũng trong trạng thái tinh thần Không gia đình, cô đơn. Đó là cô sư nữ trẻ đẹp “Có cô sư nữ người mong mỏng, Buông thõng dây gầu xuống giếng thơi” (Chiều quê); cụ sư già ép thân xác đến với cô tịch, vô thường: “Sư già quét lá sau chùa, Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông” (Chùa vắng). Đó là tráng sĩ: “Đêm nay tráng sĩ không nơi trọ, Nằm tạm qua đêm quán dọc đường” (Quán lạnh). Đặc biệt, điển hình cho số phận, tâm trạng Không gia đình chính là người phụ nữ trong “Lỡ bước sang ngang”: “Mười năm gối hận bên giường, Mười năm nước mắt bữa thường thay canh”.Tiếng pháo, dây pháo đỏ trong ngày cưới của các cô gái luôn gắn với tiếng thở dài của cả người trong cuộc và người ngoài cuộc. Cả đến người mẹ cũng sống trong bồn chồn, khắc khoải lo âu với trạng thái Không gia đình của người con gái khi đứa con bước chân về nhà chồng. Người mẹ gượng cứng cỏi, chủ động bao nhiêu trước mặt con, thì lại yếu mềm bấy nhiêu ngay khi bàn chân con bước khỏi nhà mình. Những câu thơ dưới đây cũng chính là “Huyền thoại mẹ”:

Đưa con ra đến cửa buồng thôi,

Mẹ phải xa con khổ mấy mươi.

Con ạ! Đêm nay mình mẹ khóc,

Đêm đêm, mình mẹ lại đưa thoi (Lòng mẹ).

Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét: “Ở cái thời ấy, Nguyễn Bính như phần đông các thi sĩ đều buồn. Nguyễn Bính không những buồn mà còn thêm vị đắng cay của kẻ lưu lạc. Nhưng thơ ông không có cái buồn tan rã, đẩy người ta tới chỗ tuyệt vọng, trong nỗi buồn ấy vẫn thấy ấm nóng, khắc khoải tình yêu sự sống”(25).

Chỉ dẫn một vài cổ mẫu trong thơ Nguyễn Bính, đủ thấy thơ Ông có những tầng sâu, ma lực thế nào! Thơ Nguyễn Bính luôn là độc đáo, của riêng Ông nhưng cũng là tâm trạng phổ quát, tiếng lòng của nhiều cá nhân không hề quen biết. Thơ Nguyễn Bính là thơ của nhiều người, nhiều nhà, nhiều thời. Những cổ mẫu thức dậy, đan dệt độc đáo trong thơ Ông đã góp phần làm cho thơ Nguyễn Bính không chỉ ở tầm dân tộc mà còn thuộc tầm nhân loại.

4. Khi chấm giải cho tập thơ “Tâm hồn tôi”của Nguyễn Bính, nhà văn Thạch Lam thay mặt Hội đồng giám khảo “Giải thưởng văn chương Tự lực văn đoàn, năm 1937”, đã nhận xét: “Ông Nguyễn Bính sẽ trở nên một văn sĩ có tương lai” (26). Còn nhà phê bình Phạm Mạnh Phan, người đương thời Thơ mới, đánh giá: Nguyễn Bính đích thực là thi sĩ, có những câu thơ tuyệt diệu (27). Một số nhà thơ, nhà phê bình sau này, như Nguyễn Duy, Ngô Thảo (28) nhận thấy thơ Nguyễn Bính có những dấu hiệu, đặc điểm của thiên tài. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đặt câu hỏi và tự Ông đã trả lời: “Cho đến tận hôm nay, có nhà thơ lục bát nào mà nhân dân thuộc nhiều như Nguyễn Bính chưa?!”(29).

Bây nhiêu cảm nhận, đánh giá, càng cho thấy thêm: Nguyễn Bính đã và sẽ là nhà thơ của nhiều thời! Với ý nghĩa và tầm vóc mà thơ Nguyễn Bính đã có, việc dịch và giới thiệu rộng rãi thơ Nguyễn Bính với cộng đồng quốc tế là rất cần thiết. Để nhân loại hiểu tầm vóc Việt Nam hơn!

Chú thích:

(1) Xem Ngô Thảo: Người chân đất đi vào tương lai, in trong Nguyễn Bính toàn tập, Tập 1, Nxb Hội Nhà văn, H., 2017, tr. 23.

(2) Xem Vũ Quần Phương: Nguyễn Bính trong nền thơ Việt Nam, Sđd, tr. 21.

(3), (8), (15) Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, H., 2008, Tr. 329, 13, 39.

(4), (29) Xem Triệu Xuân: Nguyễn Đình Thi nói về thơ Nguyễn Bính,in trong Nguyễn Bính toàn tập, Tập 2, Sđd, tr. 21, tr. 668.

(5) Xem Lê Đình Kỵ: Tỳ bà truyện, in trong Nguyễn Bính toàn tập, tập 1, Sđd, tr. 28.

(6). Xem Nguyễn Duy: Nguyễn Bính trong tôi, Sđd, tr. 30.

(7). C.G. Jung (Ngân Xuyên dịch): Bí ẩn của những siêu mẫu, in trong S. Freud- C.G.Jumg – G.Tucci – V. Dundes (Nhiều người dịch): Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Nxb Văn hóa Thông tin, H., 2000, tr. 82.

(9) Xem Trần Lê Văn: Nguyễn Bính, một ngôi sao sang trên bầu trời thơ, in trong Nguyễn Bính toàn tập, Tập 1, Sđd, tr.15.

(10) Xem Bùi Thiên Thai: Xung quanh công trình về thi pháp truyền miệng của John Miles Foley, Tạp chí Văn hóa dân gian số 4 năm 2009, tr. 74.

(11) Xuân Diệu: Các nhà thơ học những gì ở ca dao, Tạp chí Văn học số 1 năm 1967, tr. 56.

(12) Hamvas Bala: Minh triết thiêng liêng, tập 1, Nguyễn Hồng Nhung dịch, Nxb Tri thức, H., 2016, tr. 162.

(13) Nguyễn Đăng Điệp: Khối tình lỡ của người chân quê, in trong Nguyễn Bính toàn tập, tập 2, Sđ d, tr. 732.

(14) Nguyễn Đăng Điệp: Giao thời văn học và sự trường cửu của giá trị/căn tinh dân tộc trên hành trình hiện đại: trường hợp Sergei Esenin và Nguyễn Bính, Nghiên cứu Văn học số 4 năm 2016, tr. 40.

(15), (16) Xem Đỗ Lai Thúy: Đường về chân quê, in trong Nguyễn Bính toàn tập, Tập 1, Sđd, tr. 16.

(17)  Đỗ Đức Hiểu (Chủ biên): Từ điển văn học (Bộ mới), Nxb Thế giới, H., năm 2004, tr. 972.

(18), (23) Edgar Morin: Phương pháp, Nhân loại về nhân loại, Bản sắc nhân loại, Nxb Tri thức, tr. 103, 110).

(19) Xem thêm Nguyễn Thị Thanh Xuân, Phê bình cổ mẫu và cổ mẫu nước trong văn học Việt  Nam, https://www.vanhoanghean.com.vn, Tháng 10/ 2010.

(21) Xem Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, 1997, tr. 387.

(22) Xem Charles Van Doren: Thú đọc sách (Phan Quang Định dịch), Nxb Trẻ, 2015, tr. 73.

(23) N.A. Berdylaev: Con người trong thế giới tinh thần, Nxb Tri thức, H., 2016, tr. 35.

(24) Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Bính và tôi, Nxb Văn hóa Thông tin, H., 1999, tr. 124 – 147.

(25). Hữu Thỉnh, Nguyễn Bính một hồn thơ dân tộc, in trong Nguyễn Bính toàn tập, tập 1, sđd, tr. 22.

(26), (27) Xem Nguyễn Hữu Sơn: Thơ mới-Những chuyện chưa bao giờ cũ, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, năm 2017, tr.462, 468.

(28) Nguyễn Bính toàn tập, Tập 1, Sđd, tr. 20, 23.

29/3/2021

Bùi Mạnh Nhị

Theo https://vanvn.vn/

 

Nhà thơ Trần Trí Thông: Mang tiếng gà gáy trong ba lô đi khắp chiến trường

Dữ dội của chiến trường, đa đoan của áo cơm, thao thiết nhớ quê hương đã làm nên một Trần Trí Thông khi thì vô vi lúc thì kiêu bạc nghĩa là anh còn duyên nghiệp với thơ. Trần Trí Thông giàu từ ngữ, nên ít gượng vận, nhiều cách nói cho vừa lòng người…

Chiến tranh đã lùi xa dần, nhưng âm vang hào khí của nó ngày càng thấm sâu vào lòng dân tộc, những nỗi bi hùng vẫn làm xao xuyến trong lòng chúng ta mỗi khi đọc thơ của những người Lính trở về hay còn ở lại, mãi mãi tuổi đôi mươi với chiến trường xưa hun hút gió mưa, chưa được quy tập về nghĩa trang.

Trần Trí Thông sinh ra ở thành phố cảng Hải Phòng, miền đất “Bút sinh hương”, mà hơn năm trăm năm trước đã xuất hiện một tài hoa ưu việt lẫy lừng đó là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đúng vậy miền đất này đã toả hương thơm lan xa trên mọi miền đất nước bởi những cây bút tài hoa: Đồng Đức Bốn, Thi Hoàng, Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thuý Ngoan, Phạm Xuân Trường, Trung Trung Đỉnh, Đình Kính, Nguyễn Đình Thi, Phan Vũ, Thế Lữ, Nguyễn Thuỵ Kha, Hoàng Ngọc Phách v v… và còn nhiều nhà thơ, nhà văn khác, có thể tôi chưa biết chưa quen. Tuổi mười tám Trần Trí Thông đã khoác chinh y theo tiếng gọi của Tổ Quốc lên đường ra trận, từ giã ước mơ riêng để thực hiện ước mơ chung của quốc gia dân tộc, thống nhất đất nước non sông, anh là người trai của thế hệ dấn thân yêu đời , đạp lên gian khó mà đi, giữ vừng niềm tin mà sống. Những cảm xúc dạt dào từ trong gian truân, bảo vệ đất nước đã nân lên trong những nhà thơ Lính cái thi vị cuả thời đánh giặc, gìn giữ  thanh bình cho quê hương dẩu biêt rằng: “Cổ lai chinh chiến kỹ nhân hồi”. Bắt đầu cho hành trình ấy Trần Trí Thông đã giới thiệu mình:

Con đi nhập ngũ sớm mai

Vườn cau thức đếm khóm nhài nở bông

Ngân hà sao vượt qua sông

Buồng trong mình Mẹ nỗi lòng ai hay?

Quê nghèo mưa nắng từ nay

Chuyển mùa tóc Mẹ lay phay gió vờn

Thoắt thoi mười tám năm tròn

Trường Sơn gọi… Mẹ tiễn con lên đường

Chợt nghe cót két cửa buồng

Ngoài hiên guốc mộc khẽ nương xuống thềm

Đền sau chênh chếch hạ huyền

Dưới sân mấy vạt sương mềm lướt qua

Bập bùng lửa bén rơm xa

Gạo khuya Mẹ đãi thơm ra tháng mười

Lung linh một dáng Mẹ ngồi

Giật mình. Thấy bóng Mẹ vời vợi cao

Bầy gà giục sáng nôn nao

Mùi thơm nếp cái rước vào cánh hoa

Vum tròn tay Mẹ nết na

Mo cau nắm cả tiếng gà sang canh

Ngày mai mỗi bước quân hành

Ba – lô con có màu xanh cánh đồng

Có thao tức một tấm lòng

Có ò…o…dậy hừng đông tiếng gà

Trên đây là toàn thể nội dung của bài “Tiếng gà gáy trong ba lô” cũng là tựa đề của tập thơ, một trong sáu tập thơ anh đã xuất bản. Ban đầu tôi muốn trích vài câu, nhưng rồi tôi không thể ngắt mạch cảm xúc của anh, anh đã công phu cho ký ức chụp hình lại giờ phút chia ly rưng rưng này, thật là quý hoá, anh đã nói hộ cho bao nhiêu cuộc chia ly thời ấy có cả nước mắt và nụ cười, và tôi cũng muốn cho những thế hệ sống trong thời bình nhìn lại một dấu ấn lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, xin các bạn hãy chia sẻ sự dông dài này của tôi.

Trần Trí Thông đã nhuần nhuyễn với thể thơ lục bát, anh đã thổi hồn hiện đại vào truyền thống bằng những hình tượng, những thi ảnh, qua những ngôn từ riêng anh, nhẹ nhàng mà bóng bẩy sâu xa, cách nói nhỏ nhẹ dễ gần, dễ nghe, lôi cuốn người đọc muốn đi từ câu này đến câu khác, bài naỳ sang bài khác, tập này sang tập khác. “Quê nghèo mưa nắng từ đây/ Chuyển mùa tóc Mẹ lay phay gió vờn / Thoắt thoi mười tám năm tròn / Trường Sơn gọi… Mẹ tiễn con lên đường” bi mà hùng,  tâm trạng mà dứt khoát, nhẹ nhàng mà dai dẳng, làm nao lòng người. “Vum tròn tay Mẹ nết na /Mo cau nắm cả tiếng gà sang canh” thật là đẹp và hiện đại biết bao, hình ảnh tay mẹ nắm xôi vào mo cau và mo cau lại nắm luôn cả tiếng gà sang canh. “Ngày mai mỗi bước quân hành / Ba lô con có màu xanh cánh đồng / Có thao thức một tấm lòng / Có ò… o gáy hừng đông tiếng gà”Ba lô mà mang cả màu xanh cánh đồng và tiếng gà gáy hừng đông chính hai thứ này đã làm nhẹ đi bao nhiêu là vất vả gian truân của đời Lính, “bập bùng lửa bén rơm xa / Gạo khuya Mẹ đãi thơ ra tháng mười / Lung linh một dáng Mẹ ngồi / Giật mình thấy bóng Mẹ vời vợi cao. Mùi thơm của gạo mẹ đãi đã bay rộng ra cả tháng mười, ở đây chúng ta thấy như thời gian của nhà thơ đang chậm lại, cuộc chia ly dài ra để đủ người đi kẽ ở nói hết những gì muốn nói với nhau, và người lính yên tâm “gieo Thái Sơn nhẹ hồng mao”.

Qua bài thơ trên chúng ta có thể nhận biết khả năng thượng thừa về thơ lục bát của Trần Trí Thông, thơ của lính luôn luôn phản phất mùi hương đồng nội, quê hương, hăng hái xung phong, vững chắc nhịp chân ra trận tiền, tất cả cho một ngày về . Thật là công phu và ý nghĩa vô cùng nếu có ai đó sưu tầm tập họp được những lá thư hành quân của những người lính gửi về cho gia đình, làm cho chúng ta hiểu thêm sự hy sinh vô cùng to lớn của một dân tộc để đòi lại hoà bình thống nhất non sông.

Ngày nay chúng ta đi trong phố xá thị thành, thỉnh thoảng bắt gặp những chiếc cổng làng có khi nó là ranh giới của các tổ dân phố mà ít ai để ý, điều đó cũng tỏ rõ rằng thành thị cũng bắt đầu từ nông thôn, người phố cũng còn bao dáng dấp của người quê, chúng ta hãy còn những gương mặt của văn minh lúa nước . Với tốc độ đô thị hoá đến choáng ngợp hôm nay làm cho nhiều người thương nhớ cảnh cũ làng xưa đã lắng đọng trong tâm hồn họ bao nhiêu ký ức của tuổi thơ. Không dưng mà nhạc sĩ Y Vân lại viết “Tôi thương miền quê nhớ hoàng hôn trên đất xưa / nghe tiếng tiêu mơ màng chiều hè…”

Nếu Nguyễn Bính đã lưu giữ vào tâm hồn mọi người cái tình quê êm đềm mà dữ dội qua nhiều thế hệ thuộc nằm lòng và Anh Thơ đã phát hoạ cái cảnh quê làm cho chúng ta không biết bao giờ mới thôi lưu luyến thì Trần Trí Thông lại mang được cả cảnh quê lẫn tình quê đi đánh giặc khắp chiến trường và ngày về lại thấy thấp thoáng phía sau cổng làng “May mà quê vẫn còn tre / Đầu làng còn quán nước chè nghỉ chân / Tam quan mông mốc phong trần / Người làng chưa khoác áo dân thị trường”, hoặc là “Bao đời thếch tác rạ rơm / Bao người lớn bởi hạt cơm chiêm mùa / Về làng gặp những cơn mưa / Ềnh oang nghe ếch ao chùa gọi đôi”. Trần Trí Thông đã trải nghiệm gì  sau hành trình sương gío trở về: “Gió bấc sao cứ hẹp hòi / Buốt vào thiên hạ làm vơi nghĩa tình”, hoặc là : “Ứơc mơ thay sắc đổi màu / Em quên thuở mặc áo nâu ra thành”. Ngày xưa nhà thơ tài hoa Yến Lan đã dùng “ Chiều bồ câu” để nói cái đẹp , nó nhẹ nhàng, thanh tao, lay gợi quá cho một không gian thơ, thì hôm nay Trần Trí Thông lại dùng “chiều vuông” , buổi chiều vốn nó mênh mông của đất rời của tạo hoá thế mà anh nắn  lại vào không gian của anh có kích thước nghe ra như ta cầm nắm được phải chăng anh muốn khuôn lại hai  đôi mắt, hai tia nhìn gặp gỡ và chia ly của một nữa kia tồn tại rồi không tồn tại trong anh: “Em vể qua buổi chiều vuông / Mắt ai chạy dọc con đường đón em / Hẹn hò chưa kịp tàn đêm / Đã nhàu nát hết một thềm trăng suông” và rồi: “Bây giờ cũng buổi chiều vuông / Có đôi mắt cũ nhường đường em đi.”Tôi tâm đắc với Trần Trí Thông với những cặp lục bát như thế nầy: Nỗi niềm hỏi dưới đất sâu / Còn bao đồng đội nằm đâu chưa về, Bê hai in đậm dấu đời / Tuổi hai mươi đỏ tôi thời chiến tranh, Đêm làm thơ dưới chiế hào / Và tương tư một nhánh đào vườn quê, Giữa bao la giữa điệp trùng / Bầy chim gõ kiến mỗ rung tiếng cồng,  Từ trong thăm thẳm nhớ quên / Chợt soi gương thấy tuổi lên tóc ngồi,  Em ngồi vá gío thành lời / Hải âu gắp nắng đánh rơi khắp chiều,  Khói đồng quấn quýu chân say / Cỏ may khâu nắng cuối ngày vào sương,  Vườn khuya cách một tiếng gà / Vầng trăng mất ngủ trên tà áo em,  Nghiêng gàu em múc ca dao / Cái ong thẩn mẩn đậu vào dáng thon,  Nết na con gái tại trời / Chung chiêng em gánh tháng mười lên đê,  Siêu thị án ngữ cổng đình / Gậy bà nhầm ngõ… giật mình cầu thang v.v… và còn nhiều cặp lục bát nữa nhưng trang viết đã quá dài.

Người ta nói thơ lục bát là kể lễ, quanh co tôi nghĩ không phải vậy đâu chính người làm thơ quanh co vì nghèo từ bí vận lênh đênh tìm đường chuyển ý mà thôi, có phải thơ lục bát dễ làm mà khó hay không? Trần Trí Thông tĩnh lặng trốn vào câu sáu của anh để rồi bung ra câu tám để đời, anh ít thích ra phía trước, không thể hiện mình trước đám đông, không cầu danh vọng gì. Tôi ví anh như một bông hoa súng nở bên một góc trời không động chạm đến vạn vật cỏ cây, nhưng sẳn sàng tím biếc mênh mông lòng người nếu ai đi ngang qua đó. Bao giờ anh cũng luôn giật mình với tiếng gà gáy trong ba lô, có lúc anh nghe tiếng gà gáy nghiêng mới lạ chứ.

Dữ dội của chiến trường, đa đoan của áo cơm, thao thiết nhớ quê hương đã làm nên một Trần Trí Thông khi thì vô vi lúc thì kiêu bạc nghĩa là anh còn duyên nghiệp với thơ. Trần Trí Thông giàu từ ngữ, nên ít gượng vận, nhiều cách nói cho vừa lòng người. Anh có nụ cười hơi nghiêng đôi khi làm cho nửa kia của anh cũng bẽn lẽn và hụt hẫng. Dòng sông,  bến nước, con đò, cây đa, sân đình, chợ quê, mẹ hiền, ca dao, tục ngữ, những cô láng giềng, tiếng chim, tiếng gà, tiếng ếch, có những thứ âm thanh chỉ riêng anh nghe được, có những hình thù chỉ anh mới nhận ra. Tất cả đã làm thành một thứ chất liệu trong quá trình thơ của anh. Xin giới thiệu cùng quý vị có một nhà thơ quê Hải Phòng đang lặng lẽ toả hương bên dòng sông Vàm Thuật của Thành phố Hồ Chí Minh.

30/3/2021

Xuân Trường

Theo https://vanvn.vn/

 

Bài thơ thần trong sách giáo khoa, nên ghi tác giả như thế nào cho đúng?

Xin bạn đọc hãy đọc ngay dưới đây bài của nhà nghiên cứu Đào Thái Sơn đã đăng trên báo Văn nghệ Thái Nguyên điện tử, một tờ báo mà tôi rất trân trọng. Một bài nghiên cứu nghiêm túc, có sức chinh phục cao, khiến tôi thấy mình không cần phải viết thêm điều gì. Tôi xin phép tác giả và báo, được dẫn bài nghiên cứu ra đây, để bạn đọc thêm một lần tiếp xúc với giá trị khoa học của vấn đề  mà tôi đã trình bày từ khoảng 30 năm nay.

Tôi chỉ xin nói thêm, trong một lần tổ chức Ngày thơ Việt Nam, nhà thơ Hữu Thỉnh giao cho nhà thơ Vũ Quần Phương – Chủ tịch Hội đồng thơ và tôi – Ủy viên Hội đồng thơ, thời gian đó, chủ trì cuộc hội thảo về Thơ trung đại Việt Nam, tại nhà Thái Miếu – Văn Miếu Quốc Tử giám Hà Nội. Phó Giáo sư Bùi Duy Tân, người thầy dạy tôi ở trường Đại học Tồng hợp Hà Nội, lúc đó đang nằm điều trị tại Bệnh viện Việt Xô vì chứng ung thư giai đoạn cuối, đã nhờ con chở đến đây. Và tại đây, sau khi thắp hương ở Thái Miếu, ông đã xin lỗi toàn thể nhân dân Việt Nam, xin lỗi tất cả các thế hệ thầy giáo và học trò Việt Nam, vì ông là người (tích cực nhất) cùng các đồng sự của mình, đã khẳng định Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ Thần và viết điều khẳng định chắc chắn như thế vào sách giáo khoa từ khoảng 50 năm nay, nghĩa là nhiều thế hệ đã lớn lên trong niềm tin không có thật đó. Ông đề nghị trả lại cho bài thơ về trước Lý Thường Kiệt khoảng 100 năm trước, ở thời Lê Hoàn. Bài thơ KHUYẾT DANH. Theo báo Văn hóa Nghệ An,  PGS Bùi Duy Tân đã viết đến 6 bài liền về vấn đề này, cho đăng báo và sau đó, công bố trong công trình khoa học đã được tặng Giải thưởng Nhà Nước. Thiết nghĩ điều mà tôi coi là linh thiêng đó của PGS trước lúc xa cõi thế, cũng đáng để cho chúng ta trân trọng.

Tôi đứng sau lưng thầy, rất cảm động, đã viết điều này trong một số bài báo và sách bàn về sử học và sự trung thực cần có của sách giáo khoa.

Tôi đề nghị, tên bài thơ này nên đề là Bài thơ thần (chú thích là theo tên gọi của dân gian) hoặc nếu đề là Nam quốc sơn hà thì  ghi chú ở dưới là tên bài do người sau đặt, và tác giả không nên ghi tên ai. Trước đây ghi tác giả là Lý Thường Kiệt, vài năm gần đây, bỏ tên Lý Thường Kiệt, sau bài phát biểu của Tổng thồng Mĩ,  nay lại đề nghị ghi là Lý Thường Kiệt (?) theo tôi không nên. Tôi thấy ghi  như văn bản sách giáo khoa vài năm trước đây, mà nhà nghiên cứu Đào Thiên Sơn đưa ra (Không ghi tên tác giả), in kèm trong bài này, theo tôi thế là trung thực.

Dạy cho các thế hệ trẻ, điều thứ nhất là sự trung thực mà không có thì theo tôi không còn gì để nói nữa, và có như thế, bài thơ không hề giảm giá trị mà chỉ phong phú và sâu sắc hơn, trong tâm hồn các thế hệ học sinh, sinh viên mà thôi.

Tôi trân trọng kính mong Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Bộ Giáo dục và đào tạo, các vị GSTS, đặc biệt là hai vị mà tôi rất kính trọng là GS Nguyễn Minh Thuyết, PGS-TS Đỗ Ngọc Thống và Ban soạn thảo sách giáo khoa mới, lưu ý xem xét đề nghị này của tôi.

Xin các bạn đọc, đọc ngay bài dưới đây. Nhưng câu chữ đậm là do tôi muốn bạn đọc cần lưu ý hơn.

Về hai chữ “thiên thư” trong bài thơ “Nam quốc sơn hà”

“Nam quốc sơn hà” là bài thơ nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Có thể nói, đây là một loại vũ khí lợi hại để chống giặc ngoại xâm, và là một công cụ tinh thần hữu hiệu để làm tăng sỹ khí trong công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của ông cha ta. Mặc dù đây là một bài thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Hán, nhưng nó lại có tính chất dân gian. Chính vì vậy mà nó tồn tại với nhiều dị bản cho đến ngày hôm nay. Nhưng dù dị bản nào đi nữa thì hai chữ “thiên thư” vẫn có mặt như một loại nhãn tự đặc biệt để làm cơ sở khẳng định cho lập trường chính nghĩa và chủ quyền độc lập của dân tộc ta. Trong bài viết ngắn này, chúng tôi xin lần lượt trình bày các vấn đề trên, để góp phần giải thích những chỗ còn chưa thỏa đáng từ văn bản đặc biệt này.

Một vài vấn đề dị bản cần lưu ý

Thứ nhất, về nhan đề bài thơ. Bài thơ này vốn không có nhan đề và cũng không có tên tác giả cụ thể là ai. Nhan đề “Nam quốc sơn hà” chỉ là do người đời sau biên tập vào cho nó thêm hoàn chỉnh mà thôi. Còn dân gian thì quen gọi đó là bài thơ “thần” vì có liên quan đến tích hai vị thần Trương Hống và Trương Hát được thờ bên sông Như Nguyệt. Còn về tác giả, thì một số nhà nghiên cứu như Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Đinh Gia Khánh và cả Nguyễn Khắc Phi đều cho rằng là Lý Thường Kiệt. Nhưng thực tế thì bài thơ này đã xuất hiện từ trước thời Lê Hoàn chống quân xâm lược Tống, thì làm sao nói là của Lý Thường Kiệt được! Gần đây, nhà nghiên cứu Trần Lê Bảo đã có một công trình chuyên sâu khẳng định lại rất rõ điều này.

Thứ hai, về tính dị bản của bài thơ. Như chúng ta đã biết thì bài thơ này vốn không có lai lịch rõ ràng và bản thân nó mang nhiều yếu tố dân gian, mặc dù nó được viết bằng văn ngôn chữ Hán. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy ít nhất hơn ba mươi dị bản khác nhau như các bản trong “Việt điện u linh”, “Lĩnh Nam chích quái”, “Thiên Nam vân lục”, “Tân đính hiệu bình Việt điện u linh”… Nhưng dị bản được coi là “chính thống” nhất là bản được đưa vào giảng dạy ở chương trình Ngữ văn lớp 7 hiện nay. Đây là bản được chép trong “Việt điện u linh” chép theo thần tích đời Lý và cũng là bản được chép trong sách “Lĩnh Nam chích quái”. Về sau được Ngô Sỹ Liên đưa vào “Đại Việt sử ký toàn thư”, tiếp theo là Bùi Huy Bích đưa vào “Hoàng Việt thi tuyển”.

Ngoài bản được cho là “chính thống” đã nói ở trên, còn có nhiều dị bản khác, đặc biệt là sự khác nhau ở hai câu thơ cuối. Theo thần tích, thì hai anh em nhà họ Trương, Hống và Hát là tướng của Triệu Quang Phục. Sau khi Triệu Quang Phục thất bại, hai ông không chịu theo Lý Phật Tử mà bỏ đi ở ẩn (hoặc tự tử) ở vùng sông Như Nguyệt, về sau được nhân dân lập đền thờ. Hai vị thần này đã có lần giúp Ngô Quyền trong trận Bạch Đằng năm 938, sau lại giúp Nam Tấn Vương (951-965) và cuối cùng là giúp Lý Thường Kiệt chống quân Tống.

Theo thần tích ở đền Như Nguyệt xã Xuân Hạc – Bắc Thái thì câu cuối là “Nhất trận phong ba tận tảo trừ”, có nghĩa là “một trận sóng to gió lớn nổi lên sẽ quét sạch quân giặc”. Theo sách “Lĩnh Nam chích quái”, thì hai câu cuối là “Như kim nghịch tặc lai công kích/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”, có nghĩa là “như hôm nay lũ giặc đến đánh, chúng bây sẽ chuốc lấy thất bại mà thôi”. Một bản “Lĩnh Nam chích quái” khác (ký hiệu 33A) thì chép ba câu cuối như sau “Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư/ Như hà Bắc lỗ lai xâm lược/ Bách nhẫn phiên thành phá trúc dư”, có nghĩa là “như ông trời đã định sẵn trong sách trời, nếu giặc phương Bắc dám tới xâm lược, thì hàng trăm mũi nhọn vùng biên cũng đủ đánh thắng như thế chẻ tre”. Riêng sách “Tân đính hiệu bình Việt điện u linh” thì có chép thêm một dị bản và cũng cho là thơ “thần”. Toàn bài như sau: “Nam Bắc phong cương các biệt cư/ Tinh phân Dực – Chẩn tại thiên thư/ Kình thôn, lang dục chân vô yếm/ Hội kiến trần thanh tảo thái hư”. Nghĩa là: cương giới Nam và Bắc vốn tách biệt, phân dã thuộc sao Dực sao Chẩn đã có ở sách trời, bọn cá kình chó sói lòng tham vô cùng, rồi sẽ thấy như bụi bặm trong không gian bị quét sạch.

Qua các dị bản kể trên, ta thấy tuy câu chữ có phần nào thay đổi nhưng ý chung nhất, cốt lõi vẫn không thay đổi. Đó là lời cảnh cáo quân giặc, khẳng định chủ quyền cương thổ và niềm tin chắc chắn vào sự chiến thắng. Và đặc biệt sự tồn tại của hai chữ “thiên thư” như một lời tuyên ngôn khẳng khái nhất, có căn cứ nhất. Nhưng “ thiên thư” là gì ? Xin được nói rõ ở phần sau của bài.

Từ “thiên thư” đến “ngũ phục”

Nói đến “thiên thư” tức là sách trời là nói đến thuyết “Nhị thập bát tú” của một số quốc gia Á châu cổ đại, đặc biệt là Trung Hoa. “Nhị thập bát tú” là cách gọi của 28 chòm sao nằm trên bầu trời theo cách chia trong thiên văn học cổ đại. “Nhị thập bát tú” có nguồn gốc từ việc quan sát sự di chuyển của mặt trăng trên bầu trời. Mặt trăng đi một vòng quỹ đạo mất hơn 27 ngày, ứng với mỗi ngày là một vị trí trên thiên cầu, và từ đó người phương Đông ta tạo ra hệ thống 28 hoặc đôi khi là 27 hay 36 chòm sao trên bầu trời. Người ta chia vòng Hoàng Đạo thành bốn phần, quy ước như bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc trên mặt đất và gán cho chúng hình ảnh của bốn con vật huyền thoại, hay Tứ Tượng, chúng là: Thanh Long (rồng xanh, ở phương Đông), Bạch Hổ (hổ trắng, ở phương Tây), Chu Tước (sẻ đỏ, ở phương Nam) và Huyền Vũ (rùa đen, ứng với phương Bắc). Mỗi phương có bảy chòm sao. Tên chòm sao cũng là tên của chủ tinh, ngoài ra các sao khác trong mỗi chòm cũng có tên riêng. Cụ thể tên 28 chòm sao đó như sau “Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Túy, Sâm, Tĩnh, Quỹ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chấn”. Nếu căn cứ vào sự phân chia của cung Hoàng đạo với 28 chòm sao thành bốn phương Đông – Tây – Nam – Bắc, thì Trung Quốc thuộc phương Bắc ứng với phân dã của các sao “Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích”, còn Việt Nam thuộc phương Nam ứng với các sao “Tĩnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn”. Vậy rõ ràng “Nam quốc sơn hà” không lệ thuộc hay liên quan gì tới cương vực của phương Bắc cả. Một bằng chứng khác để chứng thực điều này là năm Minh Mạng thứ 18 (1833) nhà vua chỉ đạo cho Đài Thiên Văn đo lại bóng mặt trời và quan sát các vì sao trong “nhị thập bát tú” để duyệt lại phân dã nước ta. Kết quả là Việt Nam nằm hoàn toàn trong phân dã của hai sao Dực, Chẩn và một phần của sao Quỷ ở cực Tây. Từ những vấn đề của khoa học thiên văn đã được công nhận trên đây cho thấy “thiên thư – sách trời” là sự phân định của Tạo hóa, chứ không phải do ý chủ quan của con người. Và “thiên thư” cũng không phải là thuyết Thiên mệnh như một số người lầm tưởng!

Ngoài thuyết phân dã của “Nhị thập bát tú”, xin đưa ra thêm một căn cứ khác là vấn đề “ngũ phục” của quốc gia cổ đại Trung Hoa. Trong sách “Thiên Nam ngữ lục” có hai câu đề cập đến “ngũ phục”:

Ai còn dòng dõi thiên hương
Đã ngoài ngũ phục khả phương trạch người

Thời nhà Ân, nhà Chu sau khi xâm chiếm các nước lân bang rồi ghép các nước ấy vào hàng phiên thuộc chư hầu và đặt ra chế độ “ngũ phục” để ràng buộc họ. Ngũ phục là năm cách thức mà các nước bị lệ thuộc phải phục dịch, hầu hạ, coi như là nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện với thiên tử. Theo sách Chu Lễ, thì chữ “phục” có nghĩa là hầu hạ và cung cấp cho thiên tử (vua của trung ương). Nhà Ân đưa ra 5 hạng phục dịch là: hầu phục, điện phục, tuy phục, yêu phục và hoang phục. Nếu lấy đất của thiên tử làm trung tâm thì “hầu phục” áp dụng cho các nước chư hầu với khoảng cách khoảng 2000km, còn áp dụng “hoang phục” cho các nước chư hầu xa nhất, khoảng 8000km. Và “Nam quốc sơn hà” của ta xa ngoài 8000km so với đất trung ương nhà Ân – Chu, nên hoàn toàn nằm ngoài “ngũ phục” là vậy. Mà ngoài “ngũ phục” là một quốc gia độc lập, không chịu sự ràng buộc và cũng không có nghĩa vụ gì với thiên tử cả. Vấn đề này về sau Nguyễn Trãi thêm một lần khẳng định trong “Bình Ngô đại cáo”:

Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Toàn cảnh của lời tuyên ngôn

Qua một số thần tích, ta có thể khẳng định bài thơ “thần” xuất hiện sớm nhất thời Ngô Quyền qua thời Lê Đại Hành đến thời Lý Thường Kiệt. Theo “Lĩnh Nam chích quái”, thì Trương Hống, Trương Hát giúp Lê Đại Hành đánh Tống năm 981 ở sông Bạch Đằng. Thần nhân đã tàng hình trên sông và ngâm vang bài thơ khiến cho quân giặc hoảng sợ, tháo chạy. Còn theo “Việt điện u linh” thì thần giúp Ngô Quyền, rồi giúp Nam Tấn Vương và sau cùng là giúp Lý Thường Kiệt. Dựa vào câu chuyện này, sử thần Ngô Sỹ Liên chép thêm trong sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” như sau: “Tục truyền rằng Lý Thường Kiệt đắp lũy để làm rào dọc sông để chống giữ. Một đêm các quân sỹ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng ngâm to…”. Vậy có thể nói, Lý Thường Kiệt không phải là tác giả của bài thơ trên, mà là người đại diện cuối cùng cho dân tộc ta đọc bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất này.

(Tôi muốn ghi cho đúng hơn: Theo truyền thuyết, có lẽ Lí Thường Kiệt đã cho người đọc bài thơ này – chứ Lí Thường Kiệt không đọc. TNM ghi thêm)

Khảo sát toàn văn bản, ta thấy chủ đề của bài thơ là “tinh thần độc lập bất khuất của nước Nam ta là điều tất yếu cho chiến thắng trước kẻ thù xâm lược”. Bài thơ theo thể thất ngôn tứ tuyệt, viết bằng chữ Hán, nhưng lại khá giản dị, lời thơ chắc nịch. Kết cấu chia làm hai phần rõ rệt.

Hai câu thơ đầu nêu lên nguyên lý khách quan, tất yếu mà cho dù là kẻ địch đi xâm lược cũng phải thừa nhận. Đó chính là chủ quyền độc lập, tự chủ vốn có của dân tộc ta, đất nước ta đã có tự ngàn xưa.

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tuyệt nhiên phân định tại thiên thư

Núi sông này là thuộc quyền tự quyết của vua nước Nam, người đại diện cho toàn dân tộc trong chế độ phong kiến. Hai chữ “thiên thư” đã nói lên cương vực của nước Nam rất rõ ràng, không nhòe nhập với các nước khác. Đó là vấn đề của tuyệt nhiên chân lý, không phải do ý chủ quan của con người bịa đặt ra, mà là do Trời Đất đã phân định rõ và cụ thể như thế, như đã chứng minh ở phần trên. Và nó hoàn toàn không thể dựa vào tư tưởng “thiên mệnh” (mệnh trời), trời quyết định mọi sự việc ở đời, một cách mơ hồ như thế. Mà cụ thể như lời của Bùi Duy Tân đã viết: “Trời ở đây ẩn trên thiên thư… Cả mớ lý luận về Trời, Khổng Nho thường hay dùng danh ngữ Thiên mệnh, được người Việt tiếp biến theo quan niệm thực dụng”, là hoàn toàn không phù hợp cho vấn đề của bài thơ bất hủ này.

Từ lời khẳng định chủ quyền đến việc củng cố niềm tin và tinh thần đấu tranh bất khuất của dân tộc ta, được chuyển tải trong hai câu thơ cuối.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Đây là hai câu luận và kết cho toàn bài thơ. Nó vừa nêu lên nguyên lý có tính hệ quả vừa là lời hịch kêu gọi toàn dân ta tiến lên tiêu diệt kẻ thù và cũng là lời tuyên ngôn cảnh cáo bọn xâm lược phương Bắc: làm chuyện phi nghĩa, trái đạo trời thì tất phải chịu trừng phạt thích đáng, chuốc lấy tai họa diệt vong.

Chính vì thấy được truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của toàn dân tộc mà nhà Lý đã bình tĩnh trước âm mưu cũng như sức mạnh của kẻ thù. Năm 1075 nhà Lý cho mở khoa thi Tam trường để chọn nhân tài giúp nước. Bản thân Lý Thường Kiệt cho ban bố “Lộ Bố Văn” để cho nhân dân trong nước cũng như cư dân vùng biên giới biết được chủ trương chính nghĩa của ta đánh Tống. Năm 1076, khi quân Tống tiến hành xâm lược nước ta, thì bài thơ “thần” năm xưa lại được sử dụng như một vũ khí tinh thần sắc bén để chống giặc. Ở điểm này, vua tướng nhà Lý hết sức khéo léo khi sử dụng nhân tố thần quyền để động viên tinh thần binh sỹ, cũng như đánh vào lòng mê tín của giặc phương Bắc, khiến cho chúng hoang mang, hoảng sợ. Có thể nói đây là một yếu tố tâm lý hết sức quan trọng trong bất kỳ cuộc chiến nào.

Lời kết:

“Nam quốc sơn hà” là một bài thơ quan trọng bậc nhất trong nền thơ ca dân tộc. Dù là dạng văn học viết, đặc biệt là viết bằng chữ Hán, nhưng lại mang nhiều yếu tố dân gian, từ chuyện thần tích, đến dị bản câu chữ và cả lai lịch. Nhưng những điều đó không phải là điểm quan trọng, mà quan trọng ở chỗ bài thơ đã đưa ra được căn cứ chủ quyền hết sức rõ ràng và khoa học, buộc kẻ thù phải chấp nhận. Bài thơ còn là một lời hịch hiệu triệu toàn dân xông lên đánh giặc. Tuy ngôn từ giản dị, nhưng đủ sức mạnh động viên lòng tướng sỹ vững chí cầm ngang ngọn giáo chống lại kẻ thù. Và đặc biệt hơn là bài thơ như một lời cảnh cáo đanh thép, đánh vào tinh thần quân giặc, khiến cho chúng hoang mang, khiếp sợ. Ngày nay, bài thơ được phổ biến rộng khắp, nhưng cần phải tiếp nhận nó như một bảo vật ngôn từ của dân tộc. Cần phải thấu triệt tinh thần của nó để giữ gìn và phát huy truyền thống đấu tranh bất khuất trước âm mưu và hành động của ngoại bang, dưới bất cứ hình thức nào.

31/3/2021

Đào Thái Sơn

Theo https://vanvn.vn/

  Nguyễn Huy Thiệp – người đạt đỉnh cao của nghệ thuật truyện ngắn Trước khi gây chấn động văn đàn với tác phẩm Tướng về hưu, Nguyễn Huy T...