Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Tôi đã "Đạo" văn như thế nào

Tôi đã "Đạo" văn như thế nào

Mấy hôm nay trên mạng diễn ra một cuộc tranh luận hiện đang còn bất phân thắng bại. Song điều đó không mấy quan trọng. Trong tranh luận văn nghệ, đôi khi quan trọng không phải kết quả. Quan trọng là quá trình và… thái độ. Tôi rất lấy làm mừng, lần tranh luận này đã mở ra một vấn đề khá cơ bản của lý luận và thực tiễn sáng tác văn học: liên văn bản và đạo văn. Đã đến lúc cần phân biệt thế nào là liên văn bản và thế nào là đạo văn.
Không khí tranh luận tuy nóng, nhưng không ai nóng tính, tranh luận bằng văn chữ, không bằng võ chữ. Ấy là tôi mới chỉ nhận xét về một bên. Còn phía bên kia, đại diện là nhà thơ Trần Mạnh Hảo, người cho rằng bài thơ Mùa thi đổ lửa của Văn Gía đăng trên Văn Nghệ bộ mới, là đạo ca từ trong bài Ngẫu hứng phố của Trần Tiến, không hiểu sao còn chưa đưa ra ý kiến của mình, nên tôi không lạm bàn.
Và tôi có ý chờ các nhà lý luận vào cuộc. Cuối cùng thì nhà lí luận Nguyễn Văn Dân hôm qua cũng đã xuất hiện và đưa hẳn lên tút mục từ “Liên văn bản” trong cuốn từ điển Mỹ học sắp ra của ông. Sau khi tiếp thu ý kiến của độc giả đòi phân biệt giữa đạo văn với liên văn bản, lát sau ông, không giải thích sự khác biệt giữa 2 khái niệm này, mà đưa hẳn 2 trích đoạn nói về đạo văn của một nhà nghiên cứu nước ngoài. Tôi xin chép lại nguyên văn:
1/ “Những nghiên cứu về liên văn bản cho thấy tác phẩm giống như một bản viết trong đó các văn bản chồng lấn lên nhau đến vô cùng. Từ đó, đạo văn được xếp vào trong một thủ pháp thẩm mỹ viết lại và cùng lúc nó thoát khỏi mọi nội hàm đạo đức để trở thành một vấn đề văn học thực sự”.
2/ “Theo quan điểm này, đạo văn tỏ ra là một dạng liên văn bản ‘hợp pháp’, thậm chí là một hành vi sáng tạo thực sự. (…) nhìn từ góc độ thẩm mỹ, nó hoàn toàn ‘có thể tha thứ được’ và thậm chí còn có thể tạo ra một tác phẩm độc đáo” (Marie-Hélène Beaudry, 2011).
Nếu tin tưởng ý kiến của nhà liên văn bản học này, thì chỉ còn nước thốt lên: ôi trời, có thế thôi mà mấy ngày nay cứ ầm ĩ hết cả lên! Mới biết cái từ “đạo văn” ở ta nó khiếp thật, tội đạo văn được xếp trên tội tham nhũng và sau mỗi tội phản quốc! Có điều, để phân biệt thứ đạo văn “chân chất”, diễn nôm là “thuổng”  mà ta không khó nhận ra ở một vài cuốn sách, những luận văn, luận án (chép y xì cả đoạn dài khự, thậm chí vài chục trang với đầy đủ các dấu chấm dấu phẩy), thì phải rất lưu ý tới điều cốt lõi mà hai đoạn trích nêu trên nhấn mạnh: “thủ pháp thẩm mỹ viết lại”, “hành vi sáng tạo thức sự”, “tạo ra tác phẩm độc đáo”. Điều đó có nghĩa, cũng một thủ pháp nghệ thuật, một chất liệu ngôn từ, mô típ, hình tượng… nhưng người đi sau phải cho ra được sản phẩm Mới, có tính sáng tạo, tức tạo được trường nghĩa mới có khả năng mở rộng để tham gia vào các liên văn bản khác và đầy chất thẩm mĩ. Nó khác hẳn với sự bệ nguyên xi cái của người khác rồi chắp vá vào sản phẩm của mình, không sáng tạo, phi thẩm mỹ, bởi nó chỉ là một mụn vá!
Để hiểu thêm vấn đề tôi dẫn ra đây cuộc đối thoại giữa tôi và nhà vật lý – nhà văn Gia Ninh Trần trên fb (không hiểu sao các nhà tự nhiên thường khi rời bỏ lĩnh vực của mình toàn nhảy sang văn chương nghệ thuật). Ông viết: “Mỗ viết văn nghiệp dư, chả học hành trường lớp gì, chỉ có đọc sách đông tây kim cổ, đủ thứ tiếng có thể hiểu. Thế chắc chắn là văn phong ý tứ, câu chữ của thiên hạ chui vào đầu cả đống, chả biết của ai nữa, thành một mớ hổ lốn nó nhảy múa trong đầu, vô thức viết ra, thế nào cũng bị quy là đạo văn rồi. Vậy thì nhận tội trước là đạo văn vô thức cho nó lành, khỏi phiền đến các văn nhân, nhà phê bình chuyên nghiệp. (Bác nhà văn này rất giống bần cố nông xưa, chưa gì đã nhận mình là địa chủ với đầy đủ tội lỗi để đỡ bị vu, quy thành phần, do đó đỡ bị đấu tố). Và tôi đã trả lời: “Anh nói thành lí luận rồi đấy ạ. Cái mớ hỗn độn chứa trong vô thức ấy chính là phông nền văn hóa. Đọc ai đó dễ nhận thấy cái phông nền đó mỏng hay dầy”. Người viết mà phông nền văn hóa (cũng là một thứ liên văn bản) mỏng như lưỡi mèo thì việc thuổng văn của người khác là điều không khó hiểu lắm. Còn nếu dầy, thì việc gì phải xoắn trước những lời vu vạ!
Trong cái tút trích đoạn kết truyện Bà đỡ, tôi cũng tự nhận mình “đạo văn” và mời mọi người tìm ra cái sự đạo ấy. Kết quả: người cho rằng câu cuối cùng: “Bà ơi, thế giới mênh mông, mênh mông không bằng nhà mình” – là ca từ của Trần Tiến (lại Trần Tiến!). Nhưng cho rằng tôi “không đạo” vì nói rõ “lắng nghe tiếng nhạc trong con tim đang thổn thức” và ca từ của Trần Tiến được in nghiêng. Có người thì cho rằng câu đầu là đạo Dế mèn; người khác – đạo tận bài thơ Em bé Hiroshima của ông Nazim Hickmet! Cuối cùng họa sĩ Ba Tỉnh đoán đúng, câu “dõi theo khói hương vẽ nẻo, tôi ngước nhìn lên chốn cao xanh” là đạo từ câu thơ “Khói hương vẽ nẻo đường lên niết bàn” trong bài Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa của Nguyễn Duy. Nhưng vẫn chưa đủ, tôi còn đạo một câu thơ nữa của ông, khi viết “Mùa thu năm ấy tôi về quê thăm bà ngoại giờ chỉ còn là một nấm đất phủ đầy cúc dại, khúc tần.…”. Những ai từng đọc và nhớ thơ Nguyễn Duy, hẳn biết ý này có trong bài thơ nào của ông.
Vấn đề đạo văn và liên văn bản là vấn đề phức tạp và tinh tế, đòi hỏi được chú ý để: phát triển, bổ sung vào lý thuyết liên văn bản (điều các nhà lý luận của ta có thể làm và làm tốt được); đóng góp thiết thực cho những thực hành thẩm mĩ của giới sáng tác; ngoài chuyện vạch rõ hành vi phi đạo đức của những kẻ lười và vô trách nhiệm khi thuổng văn của người khác, quan trọng hơn, còn là cố gắng đừng làm tổn thương đạo đức, tinh thần của người khác. Nhưng với một bài trên fb không thể viết dài và thấu đáo được. Tuy vậy, tôi cũng cố nói thêm một chút: Từ những điều viết trên đây, thấy rõ rằng, tôi mới chỉ nói tới đạo văn như một hành vi thẩm mĩ, như sự đồng điệu trên mọi cấp độ của các văn bản, như thước đo phông nền văn hóa của người viết và người đọc. Nói ngắn gọn, mới chỉ nói tới khía cạnh tiếp nhận và ảnh hưởng của văn học. Đạo văn (tức là khái niệm mang tính tích cực mĩ học như Marie-Hélène Beaudry khẳng định) còn rất nhiều các khía cạnh khác nữa, mà ở đây tôi chỉ có thể nêu thêm một cái nữa thôi, để phòng tránh những điều dở khóc dở cười có thể xẩy ra, đó là sự tương đồng về cấu trúc tư duy-xúc cảm của những người sáng tác trước những hiện tượng giống nhau. Trong bài viết gần đây của nhà văn Đinh Văn Chinh, có chi tiết ông gọi là “quy chiếu rộng” khi nói tới sự giống nhau (tới 7 chữ) giữa 2 câu thơ, 1- của Hà Tốn (?-518) “Mây mỏng bay lên từ đá núi/ Trăng non nhô lên trên sóng” và 2- của Đỗ Phủ (712-770) “Mây mỏng ngủ nhờ trên đá núi/ Trăng lẻ vươn mình trên sóng khơi” và khẳng định: Suốt 1251 năm qua, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam không ai bảo Đỗ Phủ đạo thơ của Hà Tốn. Và ông nhận xét: “Riêng cá nhân tôi, tôi thán phục Đỗ Phủ ở chỗ, có mấy thứ vật liệu như nhau mà qua bàn tay phù thủy Đỗ Phủ, vẻ đẹp ngôn từ trở nên sang trọng, lộng lẫy khác thường”. Cứ giả sử Đỗ Phủ có  đạo thơ của Hà Tốn đi (ngày ấy thơ ít, tác gỉa ít, họ đọc của nhau nhiều, chứ chả như bây giờ, người nào viết kẻ ấy đọc, cùng lắm là bắt vợ/chồng đọc), thì có làm sao, khi câu thơ, nhờ tài Đỗ Phủ mà “trở nên sang trọng, lộng lẫy khác thường”!. Chưa hết, cái sự tương đồng tư duy-xúc cảm trước hiện tượng tự nhiên “mây, núi” này còn khiến cho Lermontov ở thế kỷ 19 đã cho ra câu thơ tương đồng: “Đêm. Mây vàng ngủ lại/ Trên ngực đá khổng lồ” (mà A, Chekhov đã lấy làm đề tựa cho thiên truyện Dọc đường của ông). Bảo 2 cụ kia đạo nhau còn được, chứ bảo Lermontov đạo của 2 cụ kia thì chỉ là những người phông nền văn hóa mỏng như lá lúa, hoặc bằng o. Lại nữa, trong Kiều có câu “Thuyền tình vừa ghé tới nơi/ Thì đà gương vỡ bình rơi bao giờ” còn thủ lĩnh của chủ nghĩa Vị lai Nga Maiakovski thì có câu “Thuyền tình va phải đời thường vỡ tan”. Hình tượng “thuyền tình” có thể bơi tới bất cứ nơi đâu, neo đậu ở bất kỳ bài thơ nào “Chỉ có thuyền mới hiểu, biển mênh mông nhường nào”…
Trên đây là câu chuyện về đạo văn. Tôi buộc phải viết hơi dài, không phải để thanh minh cho bài thơ Mùa thi đổ lửa của Văn Giá, vì bài thơ ấy không cần phải thanh minh. Văn Giá không đạo-thuổng của ai hết. Anh sáng tạo ra bài thơ của mình; cũng không tranh luận với nhà thơ Trần Mạnh Hảo, vì bạn bè cùng trang lứa như anh Văn Chinh từng khuyên ông rồi, là đừng có làm ầm lên vì một chuyện không đâu vào đâu, mà ổng còn không nghe. Huống hồ tôi, một người không đủ tài và tầm để phá đổ bất cứ định kiến nào, nhất là định kiến của người có tuổi.
Điều tôi muốn ở đây, là thông qua câu chuyện này đặt và giải quyết (ở mức độ nào đó) một vấn đề quan trọng của lý luận và sáng tác văn học: liên văn bản. Có chút tri thức này rồi thì chúng ta, nhỡ có thấy ai đó dùng một hình tượng giống mình, cốt truyện na ná mình, một tứ thơ tương tự… thì cũng đừng vội nhảy dựng lên quy kết họ đạo văn mình. Cả một sinh mạng văn chương đấy.
Bài viết đã ngang ngửa một bài nghiên cứu. Tôi hứa sẽ không quay lại đề tài này.
13/8/2021
Đào Tuấn Ảnh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Cảm thức lưu lạc trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái

Cảm thức lưu lạc trong sáng tác Nguyễn Ngọc
Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái

Cảm thức lưu lạc là một nét đặc trưng của văn hóa Nam Bộ trên một không gian sông nước. Ngày nay, khi mà tình trạng ô nhiễm môi trường, nguy cơ sinh thái ảnh hưởng đến toàn cầu một cách mạnh mẽ, cảm thức ấy cũng nhuốm màu sắc của thời đại khủng hoảng sinh thái. Bài viết của chúng tôi muốn từ tư tưởng cốt lõi đó để “đọc” truyện ngắn, tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tư. Từ góc nhìn này, nhà văn đã đặt ra một cách trực diện những vấn đề môi trường và số phận của con người trong thời đại khủng hoảng môi sinh. Đồng thời tác giả cũng đề xuất cách lắng nghe tiếng nói từ tự nhiên để tìm cho ra câu trả lời cho những khủng hoảng của con người thời hiện đại và đề xuất một thái độ sống gần gũi tự nhiên để được chia sẻ và thanh thản.

Trong xã hội hiện đại, cùng với tốc độ đô thị hóa và sự ỷ lại vào khoa học kỹ thuật, con người đang ngày càng khai thác tự nhiên quá mức, khiến cho tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Thiên nhiên trả thù con người không phải chỉ bằng các thảm họa, thiên tai, các bệnh hiểm nghèo… mà đáng sợ hơn, trả thù bằng sự biến mất của chính nó. Phê bình sinh thái (ecocritisim) nổi lên khi vấn đề biến đổi khí hậu, sự xuống cấp về môi trường trở thành vấn đề sống còn của nhân loại, văn học quan tâm đến sự sống cho nên khúc ngoặt của nó xét đến cùng lại liên quan đến bản thể của văn học. Trong các định nghĩa về phê bình sinh thái, định nghĩa của Glotfelty được xem là ngắn gọn và dễ hiểu hơn cả:
Nói đơn giản, phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên. Cũng giống như phê bình nữ quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từ góc độ giới tính, phê bình Marxit mang lại ý thức của phương thức sản xuất và thành phần kinh tế để đọc văn bản, phê bình sinh thái mang đến phương pháp tiếp cận trái đất là trung tâm (earth-centered approach) để nghiên cứu văn học (G. Chellry, 1996: xviii)
Phê bình sinh thái với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn học mới, ra đời trong bối cảnh giới học thuật phản ứng trước nguy cơ môi sinh bị hủy hoại do chính con người, với mục đích thông qua văn học để thẩm định lại toàn bộ văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán tư tưởng, chính sách, mô hình xã hội… đã ảnh hưởng như thế nào đến thái độ đối với tự nhiên, khiến cho môi trường lâm vào tình trạng suy thoái như hiện nay.
Về tự nhiên, có thể thấy Nam bộ là vùng đất có sông ngòi chằng chịt, với rất nhiều kênh, rạch, xẻo, ao hồ và đồng ruộng mênh mông… Người Nam bộ sinh hoạt đi lại chủ yếu bằng ghe, xuồng do vậy cuộc sống của họ mang đậm dấu ấn sông nước, điều đó dĩ nhiên được ánh xạ vào văn chương. Mặt khác, vùng đất Nam Bộ lại là nơi lưu dấu của những lưu dân từ miền Trung vào, người Hoa kiều hay cư dân từ Biển Hồ lưu lạc qua nên sẵn trong tâm thức, mặc cảm lưu lạc đã hằn in. Cảm thức lưu lạc là một cảm giác về tình trạng nhân sinh, khi con người bị đứt lìa ra khỏi không gian quen thuộc, đẩy vào môi trường xa lạ khiến họ trở nên lạc lõng, bơ vơ, mất mát. Cảm thức lưu lạc trở thành nét đặc trưng của văn học Nam Bộ. Không gian Nam bộ trong Hương rừng Cà Mau (Sơn Nam) là những địa danh ấn tượng về sự hoang dã, những bức tranh hùng vĩ, thơ mộng cùng vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng, con người sử thi với khát vọng chinh phục thiên nhiên dữ dằn khắc nghiệt hoang sơ, kì bí, lạ lùng, thâm u của rừng trầm, sông sâu, của thú rừng hoang dã trong buổi đầu khai khẩn phương Nam. Trong Đất rừng Phương Nam, ta bắt gặp những hình ảnh đặc trưng của miền Tây Nam bộ, thể hiện ngay từ các tên chương của tác phẩm như: Đi câu rắn, Đi lấy mật, Rừng cháy, Phường săn cá sấu, Qua Stróc miên, Sân chim… Đoàn Giỏi chọn một cậu bé thành phố lưu lạc về miền sông nước làm nhân vật chính, lấy con mắt chiêm ngưỡng, lạ lùng, tò mò của người thành phố để nhìn vẻ đẹp sông nước mênh mông, giàu có. Tấm ván phóng dao (Mạc Can) kể về một gánh xiếc lưu lạc qua nhiều vùng đất để mưu sinh với những ám ảnh hiện sinh khiến cho cảm thức thương hồ lưu lạc đã vừa pha vào đó một tinh thần hậu hiện đại.
Mảnh đất Nam Bộ dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu. Là hạ nguồn của Mê Kông đổ ra biển, vùng đất này dễ bị tổn thương từ hai phía: những tác động cả từ thượng du và cả từ phía biển. Do vậy hạn hán xâm ngập mặn, triều cường, lở đất, lũ lụt… là những vấn đề môi trường thường trực. Văn xuôi Nam Bộ có những động hướng mới trước áp lực của sự thay đổi sinh thái “Trong bối cảnh hiện nay, vùng đất này đang từng ngày đối mặt với nguy cơ xâm nhập mặn, triều cường, sạt lở đất, đô thị hóa nông thôn… Đó là những vấn đề bức thiết kéo nhà văn vào cuộc” (Bùi Thanh Truyền, 2018: 51). Cảm thức lưu lạc trong văn Nguyễn Ngọc Tư cũng nhuốm màu sắc của thời đại khủng hoảng sinh thái, của xu hướng toàn cầu hóa và của nền kinh tế thị trường. Bài viết của chúng tôi thông qua 1) kiểu nhân vật lưu lạc trong 2) hành trình phản lãng mạn với những ảo tưởng không gian sinh thái Nam Bộ để 3) thức nhận về tình trạng khủng hoảng môi trường mà Nguyễn Ngọc Tư đã rung lên hồi chuông cảnh tỉnh “Đồng cỏ bạn đang dạo chơi một ngày kia sẽ biến mất. Dòng sông bạn đang tắm một ngày kia sẽ biến mất. Tiếng chim hót ban mai một ngày kia sẽ biến mất” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 160).
Kiểu nhân vật lưu lạc trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư
Có thể khái quát nhân vật lưu lạc trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư thành hai kiểu: 1) Lưu lạc vì mưu sinh, (tức là vì công việc, do môi trường kiếm ăn trên sông nước, đồng bãi); 2) là vì một niềm đau, lưu lạc như là hình thức tự lưu đầy. Tuy nhiên, kiểu tự sự của Nguyễn Ngọc Tư vừa có sức hút của truyền thống với cốt truyện chính bao giờ cũng có vẻ giật gân lại vừa rất hiện đại, cốt truyện luôn bị chìm đi bởi những yếu tố ngoài cốt truyện, bằng cách đó tác giả làm cho truyện chồng lên nhiều tầng ý nghĩa mà soi chiếu ở góc độ nào cũng bóc tách ra được các vấn đề. Và đôi khi do sự chìm lấp của cốt truyện, những vấn đề đặt ra ngoài cốt truyện ấy hiện lên thật sắc nét. Do vậy, sự phân chia thành hai kiểu nhân vật lưu lạc như vậy chỉ mang tính tương đối.
Chúng tôi tạm thống kê kiểu nhân vật lưu lạc trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư như sau (chúng tôi giới hạn ở tiểu thuyết và truyện ngắn):

STT

Tên tác phẩm

Nhân vật

Cốt truyện

1

Sông

 

Ân, Bối, Xu, chị Ánh

Phượt bằng đủ các phương tiện (xe máy, đi bộ, ghe xuồng, đi bộ hành hương…) để thực hiện dự án viết cuốn sách du khảo sông Di

2

Khói trời lộng lẫy

 

Di (tên nhân vật còn có nghĩa là đi)

Di vốn là con rơi của một gia đình chỉ có con gái, người bố chỉ mong ước có cậu con trai. Nhân việc thực hiện dự án của Viện Di sản thiên nhiên và con người cô đã đem người em trai đi, tự lưu đày ở một vùng hẻo lánh

3

Gió lẻ

Em, gã, hắn

Xe tải Landu đưa các nhân vật đi trên khắp các nẻo đường

4

Cái nhìn khắc khoải

Ông lão

Chăn vịt trên khắp cánh đồng

5

Cánh đồng bất tận

Út Vũ, Nương, Điền, Sương

Người mẹ ngoại tình, Sương phát hiện, mẹ xấu hổ bỏ đi, người cha đưa hai con chăn vịt trên khắp cánh đồng

6

Dòng nhớ

dì

Sau khi đứa con chết đuối, cuộc hôn nhân đổ vỡ, bố lên bờ, còn dì vẫn tiếp tục buôn bán trên ghe thuyền

7

Nhớ sông

Giang, Thủy, bố

Buôn bán trên ghe

8

Duyên phận so le

Bỏ nhà theo người tình sinh con, bị phụ tình đành gửi con cho một gia đình giám đốc hiếm muộn và ở mãi mũi So Le để được gần con

9

Thềm nắng sau lưng

Bằng

Phiêu du trên những chiếc thuyền dù mẹ ngăn cấm

10

Nước như nước mắt

Sáo

Vào mùa nước nổi, gia đình Sáo sống trên ghe, người chồng vì thèm lá ngò gai nấu cá mà bị giết chết

11

Thương quá rau răm

Văn

Văn là một bác sĩ được cử đến Mút Cà Tha nhưng sông nước buồn thiu khiến chàng rời bỏ dòng sông trở về thành thị

12

Cải ơi

Ông Sáu

Bán vé số để đi tìm người con riêng của vợ

13

Biển người mênh mông

Ông Sáu

Bán vé số dạo để tìm người vợ bỏ đi do ông lỡ lời khi say rượu

14

Sầu trên đỉnh Puvân

Vĩnh

Khách du lịch sinh thái lên đỉnh núi Puvân ngắm hoa sầu đông

15

Thổ Sầu

Dậu

Du lịch sinh thái ở một vùng Thổ Sầu nghèo khổ

16

Của ngày đã mất

Tôi, Em

Hai thầy trò đi điền dã ghi chép câu ca ở vùng Thổ Sầu

Trước hết, lưu lạc gắn với đặc điểm tự nhiên vùng Nam Bộ, làm nên kiểu nhân vật vì cuộc mưu sinh. Mặc dù khắp đất nước Việt Nam trồng lúa nước nhưng không ở đâu cánh đồng lại cũng mang đặc trưng lưu lạc như ở Nam Bộ. Những cánh đồng lúa mênh mông, trải dài vô tận là không gian sống của những người nuôi vịt chạy đồng, không biết đâu là nhà, không ở một chỗ cố định. Truyện ngắn Cái nhìn khắc khoải kể về số phận của một người đàn ông làm nghề chăn vịt trên đồng: “Ông làm nghề nuôi vịt chạy đồng. Hôm nay ở đồng Rạch Mũi, mai ở Nhà Phấn Ngọn, xa nữa lại dạt đến Cái Bát không chừng. Ông đậu ghe, dựng lều, lùa vịt lên những cánh đồng vừa mới gặt xong, ngó chừng chừng sang những cánh đồng lúa mới vừa chín tới và suy nghĩ về một vạt đồng khác lúa vừa no đòng đòng. Đời của ông là một cuộc đời lang bạt. Một cuộc sống trên đồng khơi” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 50).
Với đặc điểm sông ngòi chằng chịt, người Nam bộ sống và sinh hoạt trên sông đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của vùng này. Dòng sông làm cho không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư mang đậm dấu ấn sông nước, tạo nên đặc điểm cuộc sống tự nhiên của người dân Nam Bộ như buôn bán trên ghe, chợ nổi; những sinh hoạt thường nhật trên khúc sông: chiều chiều các bà các mẹ, các chị hay giặt giũ áo quần, lau chùi xoong chảo ở đó… Dòng sông trong Sông, Thềm nắng sau lưng, Nhớ sông, Dòng nhớ… chở thương nhớ, nỗi buồn, niềm đau, cả hi vọng của những phận người sống cùng sông. Ghe, xuồng… trở thành nhà và phương tiện buôn bán “Chiếc ghe là một ngôi nhà nhỏ, ngang hai mét, dài năm bảy mét. Nhỏ bé, chật hẹp. Nhưng có một cái gì đó thật khác thường, thế giới đó hẹp đến nỗi chỉ vừa để xoay lưng, để nằm co, để cúi người… mà cũng dài rộng vô phương bởi cuộc sống rày đây mai đó, lênh đênh cuối bãi đầu ghềnh” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 112). Chiếc ghe là ngôi nhà nhỏ, là phương tiện đi lại phổ biến, đồng thời là nơi chứa đựng cả những bình yên, hạnh phúc và sóng gió trong cuộc đời. Sinh ra, lớn lên ở đó, cuộc đời gắn bó với sông nước, tên của những đứa trẻ cũng gắn với sông nước: Giang, Thủy. Dòng sông với những phiên họp chợ nổi nhộn nhịp, với sự thanh bình của bữa cơm chiều: “Những chiều tà, chợ nổi đìu hiu bập bềnh đậu hết một vạt áo nắng vàng hoe hoe, đỏ hoe hoe. Những người đàn bà cúi đầu ngó chăm chăm nồi cơm dào dạt khói, những người đàn ông ngồi xếp bằng ngồi trên mui ghe vấn những điếu thuốc to đùng bằng đầu ngón chân cái, phì phà nhả khói lên trời. Những đứa trẻ con ngồi tênh hênh trên mũi ghe câu cá chốt, cá mè. Những cô con gái sau một ngày bán hàng mệt mỏi soi mình xuống sông, chải tóc” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 112). Cả nhà Giang lênh đênh trên sông nước, dòng sông đã gắn liền với Giang từ thuở ấu thơ. Khi lớn lên hai chị em Giang lại theo cha sống kiếp thương hồ lênh đênh trên mặt nước. Vậy nên khó có thể từ bỏ kiếp sống lênh đênh này để lên bờ bắt đầu cuộc sống khác. Giang rời sông, lấy chồng nhưng vẫn không thể quên sông nước, mỗi lần nôn nao nhớ lại chèo ghe ra đi: “Thường thì cơm nước, quét dọn xong hễ hở ra giờ nào Giang lấy xuồng chèo đi giờ ấy… chèo đã đời rồi nó buông chèo lụi vô đám lá, lấy tay vịn, ngồi ở đó. Rồi chèo về” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 117). Giang nhớ giấc ngủ bồng bềnh trên ghe, cái chông chênh của ghe ru con người ở trên nó đi vào giấc ngủ, giờ ngủ trên đất liền, Giang không quen nổi. Con người là một phần của thiên nhiên, khi tách ra khỏi cuộc sống sông nước đó, nhân vật mất chỗ đứng, trở thành chơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời.
Đặc biệt hơn, ta bắt gặp ở truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư cách cư xử của con người một vùng đất mà “tâm thức sông nước” đã thành hành vi ứng xử. Mỗi khi gặp gặp chuyện không may trên vùng đất sinh sống, họ chọn kiếp sống thương hồ. Vì một niềm đau, đi như là biểu tượng của sự lưu đày, do vậy trong truyện Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện rất nhiều hình ảnh biểu tượng của sự ra đi, luân chuyển: dòng sông, con đường, cánh đồng, ghe xuồng, chiếc xe tải đường dài… Một số truyện như Nhớ sông, Biển người mênh mông, Dòng nhớ, Cái nhìn khắc khoải, Cánh đồng bất tận, Cải ơi… là minh chứng tiêu biểu cho nếp sống sinh hoạt này, lưu lạc để quên đi nỗi đau, họ tìm cuộc sống mới lênh đênh. Sau khi người vợ ngoại tình, Út Vũ (Cánh đồng bất tận) đốt nhà lên ghe cùng hai đứa con và đàn vịt đi dọc theo các con sông. Đi hết dòng sông, đi hết những cánh đồng bất tận… Nguyễn Ngọc Tư miêu tả những cảm giác mất mát trong hành trình lưu lạc của hai đứa trẻ rất thấm thía. Nương và Điền (Cánh đồng bất tận) trồng một cái cây ô môi nhỏ bên đường và chúng buồn rầu khi phải dời đi mà không biết cái cây lớn lên như thế nào “không biết mai này còn có dịp quay lại coi tụi cây nầy lớn lên, để trèo lên hái trái, để giăng cái võng, ngủ một giấc đã đời” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 187). Thấm cảm giác của đời du mục, nhân vật lo sợ những khoảng trống vắng, những luyến lưu, lòng đau vì những gắn bó “Sống đời mục đồng, chúng tôi buộc mình đừng yêu thương, quyến luyến bất cứ ai, để khoải ngậm ngùi, để lòng dửng dung khi cuốn lều, nhổ sào đi sang cánh đồng khác, dòng kinh khác” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 188).
Theo Grey Garrag, “Khái niệm “nơi cư trú” (dwelling) không phải là một trạng thái nhất thời thoáng qua mà hơn thế nữa, nó ngụ ý về những thời kì dài chồng xếp lên nhau của mỗi người với không gian của kí ức, tổ tiên và cái chết, của lễ nghi, cuộc sống và công việc” (G.  Garrard, 2004: 108). Dòng sông gắn với hình ảnh bất hạnh của những người thân yêu nên dù nghèo khổ, vất vả, lênh đênh, các nhân vật không nỡ rời bỏ. Giang (Nhớ sông) mãi mãi không thể quên được khúc sông nơi người mẹ chết đuối. Cho dù đã lên bờ, cô vẫn không nguôi ngoai được sợi dây đã gắn kết sông nước bất diệt với ba cha con, với người sống và người chết: “Sau nầy, khi vợ chết, không hoàn toàn vì miếng ăn mà cả nhà ông Chín trôi dạt hết dòng sông này đến con kinh kia. Ở đáy con sông nào đó, còn là nơi gởi gắm xương thịt của người đàn bà xấu số – má Giang” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 155). Người vợ trước của ba (Dòng nhớ) nguyện chọn kiếp sống lênh đênh trên sông vì đứa con vừa biết bò rơi xuống đó – “mẹ sẽ sống trên sông hoài, hoài hoài với con” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 130). Có lẽ, chỉ sông nước mênh mang là cứu rỗi được nỗi đau của người mẹ mất con. Ngay cả ba, dù phũ phàng bỏ lại vợ cùng nỗi mất mát khủng khiếp cũng chưa một phút thôi nhớ cái khúc sông đau đớn của cuộc đời mình: “Tựa như ông đang ở đây nhưng tâm hồn ông, trái tim ông, tấm lòng ông chảy tan vào dòng nước tự lâu rồi” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 124). Có những nỗi đau không cất được thành lời mà chỉ có thiên nhiên câm lặng chứng kiến mới có thể sẻ chia. Xuyến (Duyên phận so le) từ chối tình cảm của các chàng trai đến với cô, nguyện ở mãi mũi So Le, chấp nhận thân phận lưu đày ở một cái mũi đất buồn thiu vì tình yêu duy nhất cô đã dành cho bé Bi, đứa con cô lén để ở gốc cây điệp nhà vợ chồng ông giám đốc hiếm muộn. Lúc đau khổ quá, “những khuya, ngủ không được, Xuyến lọ mọ lại khoảng sân đầy lá trước nhà Bi, rờ rẫm chỗ đất cạnh gốc điệp già” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 143), cái cây duy nhất chứng kiến việc cô đã bỏ lại đứa con, vì nghèo khó, vì đơn độc, vì bị phụ tình, không thể nuôi con lớn đủ đầy. Trong truyện Nguyễn Ngọc Tư, ta cũng bắt gặp kiểu nhân vật vì lỡ lời, người thân bỏ đi, hối hận, các nhận vật tự lưu đày đi tìm người thân: ông Sáu (Biển người mênh mông) bán vé số dạo đi tìm người vợ bỏ đi, con vật đã gắn bó với ông, người bạn duy nhất chia sẻ nỗi muộn phiền là con bìm bịp; ông Sáu (Cải ơi) bán vé số để đi tìm người con riêng của vợ; hắn (Gió lẻ) đi xe tải đường dài để tìm nội… Đi dường như là để trốn chạy, là để tìm quên, là để nguôi ngoai niềm đau “đi đi và che dấu bao nhiêu là vết thương” (Nguyễn Ngọc Tư 2012: 62) như một câu hát của Trịnh Công Sơn.
Kiểu nhân vật lưu lạc gắn với không gian sông nước, không gian con đường, không gian cánh đồng… mà mỗi nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư đã đi qua, trưởng thành và gắn bó cho thấy niềm yêu quý không gian sống, nơi ông bà, bố mẹ và cả mình sinh ra, lớn lên và chết đi chính là dấu hiệu đầu tiên của của tình yêu quê hương xứ sở. Con người gắn bó với không gian sống không chỉ vì nó đem lại những tiện ích vật chất, mà còn là nơi gìn giữ những giá trị trong đời sống tinh thần, là một phần tâm hồn bởi mỗi người đều có sự gắn bó đầy quyền uy giữa tâm hồn với nơi đã sinh ra, lớn lên, trưởng thành và gắn bó. Nhân vật mang cảm thức lưu lạc của Nguyễn Ngọc Tư vừa mênh mông, đơn chiếc, lạc lõng, nổi trôi vừa gắn bó thiết tha với hành trình như một phần của tâm hồn, kí ức.
Lưu lạc – Hay là hành trình thức nhận khủng hoảng sinh thái
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, trái đất nóng lên, Nam Bộ là vùng đất chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhà văn lí giải số phận của nhân vật trên nền tảng của biến đổi môi trường sinh thái. Nương theo số phận của nhân vật, đặt ra nhiều vấn đề của môi trường và số phận của cá nhân trong chỉnh thể sinh thái, Nguyễn Ngọc Tư cho thấy những phận người khi nếm trải những khủng hoảng môi sinh. Nước như nước mắt là câu chuyện về người chồng bị người yêu cũ giết chết, người vợ tìm cách trả thù kẻ đã gây ra cái chết của chồng, lại là người tình cũ của cô. Nhưng cốt truyện khá gay cấn đó chỉ như là một cái cớ còn hầu hết nó được dệt nên bởi cảm nhận của nhân vật về mùa nước nổi, về sự xâm thực của biển, đẩy người nông dân ngày một lùi xa vào đất liền “Ngó nước bắt đầu linh đinh bờ bãi, người ở xóm Rẫy thở dài ứ hự, chắc năm sau ăn tết trên ghe”, sống trong tình cảnh “cứ mỗi năm nước đuổi lại sớm hơn, mùa mỗi năm lại dài hơn (…) nước theo sông ngày càng vào sâu hơn, trên bờ bãi, ngấm vào chân ruộng… đắp tới đâu, nước theo tới đó, cơi nhà tới đâu, nước ngập tới đó” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 11), môi trường sống xung quanh ngày một xuống cấp nghiêm trọng: “cây trái tàn rụi, chỉ có cỏ đuôi mèo là sống được”, “những con cá nước đục còn sót lại, ốm ròm, trên mình đầy ghẻ lở” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 11), đôi cá bạc đầu huyền thoại “đờ đẫn, như dịu dàng lại như kiệt sức”, sức chống chọi với mùa của con người cũng “mệt mỏi và đuối sức như con cá nước đục khắc khoải sống với cái vị mặn mòi xa xót của biển”, “nước đuổi đã hai tháng rồi, đến con người cũng phờ phạc đi” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 10). “Khi bị bứng lìa ra khỏi mặt đất”, sống trên ghe mọi sinh hoạt bị đảo lộn: chỉ được “tắm khô”, giữa bữa cơm bất chợt thèm ớt, nắng mà không có bóng cây mắc võng nằm, chết cũng phải chờ nước rút thì mới đem âm thổ… thì có lẽ  nguyên nhân cái chết vì thèm rau tưởng như vô lí của chồng Sáo cũng trở nên bình thường “nó diễn ra mỗi ngày, người ta chết đuối, chết vì khát, vì thèm tắm, vì nhớ vị của trái ổi chát, vì giành nhau cành củi trôi sông…” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 14) và vì một điều nghiêm trọng hơn nhiều như ông bán xôi dạo thốt lên “thời thế loạn rồi, đất không còn thì thứ gì còn” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 14). Cái cảm giác ngoài cốt truyện đó đã giải thích nguyên nhân về cái chết nghe thật bâng quơ và khó tin “Chồng Sáo chết vì mấy lá ng̣ò gai”. Dường như ở tác phẩm này, nếu chỉ đọc cốt truyện bề ngoài có vẻ giật gân, thời thượng : cốt truyện tình yêu, cốt truyện báo thù… thì sẽ không lí giải hết những giá trị của tác phẩm bởi ẩn sau đó là cốt truyện không kém phần quan trọng: cốt truyện về sinh mệnh của tự nhiên. Nhìn bề mặt, lí do cái chết của chồng Sáo được giải thích có vẻ hoàn toàn nghĩa đen, nhưng kì thực, đọc kĩ tác phẩm, soi chiếu vào sự nhấn mạnh về một kĩ thuật viết có dụng ý: câu “Chồng Sáo chết vì mấy lá ngò gai” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 8) được đánh số thứ tự đầu tiên, chỉ có một dòng cho phần đầu tiên ấy. Kiểu tự sự đó nhằm đánh dấu cho người đọc về một cốt truyện khác được dẫn nhập qua những cảm nhận về mùa nước nổi. Nếu so sánh với Mùa len trâu của Sơn Nam, cảm hứng về sự khủng hoảng sinh thái với số phận con người của Nguyễn Ngọc Tư càng trở nên rõ hơn, dù miêu tả con người chống chọi như thế nào với mùa nước nổi thì điều Sơn Nam muốn khẳng định lại là sự hồi sinh, là cảm hứng về sự trưởng thành của con người qua gian nan mà tự nhiên thử thách. Nguyễn Ngọc Tư đặt ra nhiều vấn đề của môi trường và số phận của cá nhân trong chỉnh thể sinh thái, cảnh báo về tình trạng biến đổi khí hậu hiện diện lên từng số phận nhân vật, từng ngôi nhà, mỗi con sông.
Xâm ngập mặn, mùa nước nổi là một hiện tượng tự nhiên của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Là nhà văn của miền sông nước, Nguyễn Ngọc Tư phát hiện ra rằng nước được coi là yếu tố quan trọng nhất cấu thành sự cân bằng sinh thái tự nhiên, thiếu nước là hạn hán nhưng tác giả cũng phát hiện ra nghịch cảnh “dừng chân bên bờ sông lớn mênh mang, mỉa mai, người ở đây lại không có nước để dùng” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 155). Tình cảnh thiếu nước sạch thật tội nghiệp: “Họ đi mua nước ngọt bằng xuồng chèo, nín thở để nước khỏi sánh ra ngoài… tụt xuống ao tắm táp thứ nước chua lét vì phèn, rồi xối lại đúng hai gàu. Nước vo cơm dùng để rửa rau, nước rửa rau xong dành rửa cá” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 162). Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đến nỗi ước sao trước lúc chết “được tắm một bữa đã đời”. Trong tiểu thuyết Sông, một lần nữa nhà văn nhắc lại tình cảnh ấy “Bế lom khom rửa chén, thứ nước sông mà khi nãy cậu thấy chị dùng để nấu cơm, kho cá, thứ nước cậu đã tè vào và đang tắm táp” (Nguyễn Ngọc Tư 2012: 42). Trong bối cảnh chúng ta đang đặt vấn đề về “an ninh nước”, phát hiện này của Nguyễn Ngọc Tư quả đã chạm vào những điều thiết cốt của sinh thái môi trường.
Sông là hành trình nhại tiểu thuyết phiêu lưu. Cuốn tiểu thuyết bắt đầu bằng hành trình du khảo trên sông Di. Ân cùng với hai người bạn săn tìm vẻ đẹp trên hành trình khám phá dọc sông. Nhưng hầu như, không một trang nào viết về sự trù phú hai bên sông. Không một trang nào viết về cảm hứng chinh phục tự nhiên. Trải nghiệm của cuộc đi là trải nghiệm của sự tàn rã, cỗi cằn. Hành trình du khảo trên sông Di là hành trình với những người bé mọn, đau khổ, vất vả mưu sinh trên những khúc đoạn sông Di “Báo chí đếm được có đến chục cái không ở những cái làng giăng giăng gần bờ này. Không đất. Không tiền. Không chữ. Không biết đi về đâu. Không biết chôn ở đâu. Không thịt. Không luật pháp…” (Nguyễn Ngọc Tư 2012: 27). Sự suy giảm môi trường sống biểu hiện ở những con kinh đen ngòm, sông Di đã bị biến dạng thành những dòng đen đầy rác rưởi “Sông ngờ nghệch không thể nhận ra là nước đang chảy nếu không có những váng rêu nhớt phập phều. Đã vậy chợ Bình Khê còn kẹp cổ nó giữa dãy nhà cao cẳng tẹp nhẹp. Chỗ có tên là bến Lở mà chị Ánh đã từng rửa chân, giờ là bãi rác nửa chìm nửa nổi” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 69).
Con người cố ý phạm vào tự nhiên và tất yếu phải gánh lấy hậu quả là những biến đối khí hậu (climate change). Tiểu thuyết Sông viết về một nhân vật đồng tính chán chường, hoang hoải với cuộc sống đô thị thực hiện dự án về kí sự sông Di và coi đó là cuộc ra đi mãi mãi của mình như những con sông lở – đất đai, địa danh, nhà cửa, con người… bị đứt rời, cắt khúc, mất tích vào khoảng không mênh mông của dòng nước “Cuộc hẹn không thành vì nửa đêm sông Di đã mang Hường đi. Quán Tầm Sương chìm vào lòng sông sau một tiếng gầm thảng thốt. Dân Ngã Chín không lạ gì với việc mất một ai đó, một căn phòng nào đó biến mất. Họ quen với việc một người ngồi cạnh mình bỗng dưng lọt tõm vào một hố sâu nào. Mọi sự biến mất đã trở nên bình thường, họ thò đôi đũa ra để gắp thức ăn thì không thấy mâm cơm đâu nữa, họ với tay lấy áo mặc sau khi tắm xong thì nó không còn ở đó, họ đứng dậy rót rượu và cái ghế vẫn còn ấm hơi người lẳng lặng rơi xuống sông và người kia thì ngồi phịch vào khoảng không, cũng biến mất” (Nguyễn Ngọc Tư 2012: 32). Mỗi bước chân mà Ân đặt đến ở những nhánh của con sông Di là những phận người trên mỗi khúc của dòng sông ấy. Tình trạng biến đổi khí hậu giăng mắc khắp nơi. Là chỗ hạ nguồn có cái tên lạ Mù Sa, nơi người ta sẵn sàng cho những cuộc đi, tất cả đều được bỏ trong các thùng mì tôm “Xóm cồn nhà nào cũng thấp, phần lớn cất bằng vật liệu tạm bợ. Cả xóm như đang dợm bỏ đi. Đồ đạc gói gém trong mấy cái thùng mì tôm, thùng bột ngọt” (Nguyễn Ngọc Tư 2012: 33). Là một địa danh bất kì cách Sài Gòn 448km, mà kí ức về cánh rừng trôi vẫn còn mồn một trong tâm trí của bà già “nửa đêm có vạt rừng rùng rùng trôi ra biển, trên đó có khi cả một cái xóm, người ta và chó gà” (Nguyễn Ngọc Tư 2012: 39). Một trong những điểm làm nên phần hấp dẫn của tiểu thuyết là phần dư, những yếu tố ngoài cốt truyện. Sông hấp dẫn người đọc không phải chỉ là cái cốt truyện thời thượng về đề tài đồng tính, là những chuyến đi phượt của giới trẻ, và cái chán chường hoang mang của những người trẻ mà theo hành trình du khảo, người đọc nhận thấy không chỉ số phận con người mà số phận của sông. Đúng hơn, số phận của sông đã làm nên những phận người: Cái cảm giác lúc nào cũng “Thấp thỏm. Nơm nớp. Côi cút”. Khắp các trang viết là nỗi ai hoài trước vẻ đẹp tự nhiên ngày một nhạt phai, phập phồng một nỗi âu lo về những hiểm họa thiên nhiên đe dọa cuộc sống của người dân cực Nam tổ quốc “Mười bảy bài báo cậu đọc được trên mạng nói về sạt lở đất trên một trăm cây số vuông từ Yên Hoa đến dốc Sương Mù” (Nguyễn Ngọc Tư 2012: 34).
Một quốc gia vùng nhiệt đới, hẳn nhiên phải đối mặt với thời tiết cực đoan, hết lũ lụt lại hạn hán. Cánh đồng bất tận mở ra bằng một hành trình khô hạn trên cánh đồng: “mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này” , “trong một mùa hạn nóng bỏng, bất thường”, “nắng rất dài”, “mùa mưa vẫn còn xa lắm”, “nắng võ vàng trên những cánh đồng hoang lạnh”, “nắng giữa trưa nóng rát”, “nắng như tát lửa”. Hạn hán là thảm họa đối với người nông dân. Trong Sầu trên đỉnh Puvan Vĩnh lên núi săn hoa sầu đông huyền thoại, được cậu bé Củi, một người dân bản địa phải chịu “13 tháng nắng hạn liên tiếp” tức là “hơn bốn trăm ngày nắng như thiêu như rang” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 45) kể về cực khổ của cuộc sống đối mặt với hạn hán, đàn dê của Củi chết hết, chỉ còn một con. Nắng thậm chí làm cho cả nước mắt cũng ráo hoảnh “dường như nước mắt cũng bị cái nắng dai dẳng rút cạn, bay hơi đi” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 50).
Các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư mang tâm thế của con người thời hiện đại bị văn minh dồn đuổi, nhận ra sự mất mát của tự nhiên. Thiên nhiên bị hi sinh cho những mục đích thực dụng của con người. Quá trình Di nhận công việc ở Viện Di sản thiên nhiên và con người với một tâm trạng hào hứng nhiệt tâm (Di đã cố để níu giữ những vẻ đẹp trên cõi đời này, háo hức vì những vẻ đẹp được cất giữ trong Viện) đến khi rời bỏ công việc là quá trình thức nhận của nhân vật: từ cái nhìn lí tưởng hóa sang cái nhìn đầy tỉnh táo về thực tế: con người bức tử tự nhiên rồi lại tự an ủi mình bằng những hình thức lưu giữ đầy giả tạo thế giới tự nhiên. Di nhận thấy những vẻ đẹp bị nhốt trong Viện là những vẻ đẹp chết, không có sinh sắc của sự sống. Lắng nghe tiếng kêu cứu từ tự nhiên, Di và những kẻ mê đắm thiên nhiên trong Viện Di sản thiên nhiên và con người như Nhứt, Trúc, “Anh” đều có “cảm giác mất mát thật rõ ràng”; “Những vẻ đẹp được nhốt trong phòng lưu giữ của Viện là những tiếng kêu thét tuyệt vọng, bất lực trước mất mát, sự run rẩy của nỗi buồn, bởi quá nhiều thứ ta không bao giờ thấy lại ngoài đời” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 155), bởi ở đó là tiếng gọi khẩn thiết về sự biến mất dần của vẻ đẹp tự nhiên, là “sự níu kéo vô vọng”. Chị Trúc đưa đơn xin thôi việc khi vùng đất Thổ Sầu “người ta bắt đầu tới vùng thảo nguyên Thổ Sầu xới tung nó lên khai thác quặng, nơi đó biến thành một đại công trường”. Anh bồn chồn, bối rối, sốt ruột vì “cánh rừng hai trăm năm tuổi… Năm sau, người ta sẽ san phẳng chúng và trồng lên một khu công nghiệp lớn nhất nước” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 155).
Những cuộc đi của các nhân vật rõ ràng không phải khám phá những vùng đất lạ, chinh phục thiên nhiên hoang dã… mà đi để nhận ra sự cỗi cằn, để trải nghiệm thân phận nạn nhân trước sự khủng hoảng sinh thái. Cách viết này của Nguyễn Ngọc Tư từ chối cách nhìn ngạo mạn về “đại tự sự” con người khắc phục hoàn cảnh, cải tạo tự nhiên… một chiều. Tự nhiên có sinh mệnh riêng và ảnh hưởng đến con người, không phải như diễn ngôn ngạo mạn mà con người vẫn thường rêu rao về sự khắc phục tự nhiên, yêu cầu tự nhiên phải phục tùng ý chí của con người. “Mặc dù con người đã bỏ ra bao nhiêu nỗ lực để giữ cho mình cái địa vị thống trị, thì có phải tự nhiên chỉ mang một thân phận lệ thuộc hay không khi thực sự chúng ta đã và đang tiếp tục được nó nhắc nhở lại về một thứ địa vị thực sự thông qua mỗi trận động đất, mỗi lần núi lửa phun trào, những ngôi sao chổi vụt qua, cũng như việc không ai có thể dự đoán được một cách chính xác sự thay đổi thất thường của thời tiết” (R. Kate,  2017:  59).
Hầu hết các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư sống, lớn lên và vật lộn trên mảnh đất của mình nên đó là cái nhìn của người trong cuộc, đứng trước đổi thay, phai nhạt của quê hương thấy xót xa, đắng đót. Người nông dân hàng ngày đối diện với bờ kênh, con rạch, mảnh ruộng… nên cảm nhận về những tai họa của tự nhiên: đất lở, núi lở, hạn hán, xâm ngập mặn, mùa nước nổi kéo dài… thật cụ thể, chân thực. Nhiều ý kiến cho rằng Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của “miệt vườn” Nam Bộ nhưng kì thực, đọc truyện, thi thoảng lắm mới thấy hình ảnh cây trái xum xuê còn hầu như là sự phai màu của đất, sự biến mất của tự nhiên tươi đẹp, những thảm họa thiên nhiên trút xuống… Hành trình lưu lạc của các nhân vật thức nhận về số phận của người nông dân trước hậu quả của tình trạng biến đổi khí hậu.
Phiêu lưu – hay là hành trình phản lãng mạn
Trên thế giới, tiểu thuyết phiêu lưu trở thành thể loại yêu thích Trên sa mạc và trong rừng thẳm, Tám mươi ngày vòng quanh thế giới, Người tình…, văn học phiêu lưu gắn với phong trào phát kiến địa lí, tiểu thuyết phiêu lưu khám phá những điều mới lạ ở những vùng đất mới. Văn học Việt Nam, đề tài phiêu lưu cũng được yêu thích: Nguyễn Tuân với “chủ nghĩa xê dịch”, đi để trốn cái bức bối của xã hội thị dân, của môi trường công chức tù hãm, nhạt nhẽo, ganh ghét, cảm giác bức bối không thoát ra được, phải đi để vượt thoát là tâm trạng của Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua… Ngày nay, phong trào du lịch sinh thái giúp thỏa mãn khát vọng khám phá những vùng đất lạ, những trải nghiệm mới mẻ… Tuy nhiên Grey Garrard trong chuyên luận Phê bình sinh thái (thuật ngữ phê bình mới) (Ecocriticism (The New Critical Idiom, 2004) đã chất vấn và khéo léo đưa người đọc qua những cạm bẫy của lí thuyết, đào sâu vào những tranh luận chính của phê bình sinh thái hôm nay. Ông cho rằng “những cách thức chuyển nghĩa đồng quê (pastoral) và hoang dã (wilderness) ngụ ý là không gian thẩm mĩ du lịch” (G. Grey, 2004: 108). Ông chỉ ra rằng, dưới cái nhìn của các nhà phê bình sinh thái, văn chương thôn dã (pastoral) là “những mô tả cố tình lảng tránh hay đầy hư ngụy về đời sống nông thôn” (G. Grey, 2004: 38).
Vùng đất và con người Nam Bộ qua truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư không phải là vùng cực Nam giàu có về sản vật cây trái, trữ tình thơ mộng trên sông nước mà là những chi tiết dữ dội: bờ kinh dập dìu gái điếm, những người đàn bà đánh ghen bằng bạo lực, tên cán bộ kiểm dịch háo sắc… sự nghèo nàn, dốt nát với những đứa trẻ tên Thù, tên Hận hung hãn, ít học… (Cánh đồng bất tận). Là cô gái có số phận trớ trêu của làn sóng kết hôn với chồng ngoại quốc như Dịu (Sầu trên đỉnh Puvan): giả vờ li dị chồng sang Đài Loan làm việc, bị ông chủ hãm hiếp, trở về làng trong bẽ bàng, đau xót với người chồng cũ. Dù tình thương của chồng vô bờ bến, thông cảm với đứa bé trong bụng, cô không thể chịu đựng được, để con lại cho mẹ đẻ nuôi, cô bỏ ra Sài Gòn làm gái mại dâm. Cuộc đời của cô trở nên xiêu dạt, đau khổ, day dứt, người phụ nữ nông dân trở nên chống chếnh, chông chênh như là rời khỏi sức mạnh ngàn đời nương tựa.
Vĩnh (Sầu trên đỉnh PuVan) một chàng trai thành phố ưa thích khám phá, ngược núi ngắm cánh sầu đông nở hoa bằng một thái độ chiêm bái trước tự nhiên huyền bí, hoa sầu đông chỉ nở hoa vào cơn mưa đầu tiên sau 12 tháng nắng liên tiếp. Vĩnh đam mê với vẻ đẹp lạ lùng “Vĩnh thì như phát điên, như đang mộng du khi những vòm lá chết của những cây sầu bỗng phát sáng” (Nguyễn Ngọc Tư 2009: 59). Thế nhưng, thái độ chiêm bái tự nhiên của Vĩnh đối lập với cái nhìn của Củi, thằng bé chăn dê dưới chân núi về hoa sầu đông là cái nhìn của người dân bản địa sinh sống nhọc nhằn trên mảnh đất khó khăn vất vả “Đồ quỉ – cây đó xài không được, dê còn chê, hổng biết mọc làm chi mà vô duyên vô dùng. Má tui nói cây sầu sống bằng xương dê, xương trâu bò, năm nào bầy dê nhà tui chết nhiều sầu mới trổ bông…”; “Trong mắt nó bông sầu còn tệ hơn bông bí vì bông bí ăn được” (Nguyễn Ngọc Tư 2009: 45). Đặt niềm say mê hoa sầu một cách mộng mị của Vĩnh bên cạnh sự nếm trải cay cực của Củi và của những người dân sống trong hạn hán, Nguyễn Ngọc Tư cho thấy người thành phố không hiểu nỗi khổ của người nông dân “Dịu đọc được sự căm ghét những kẻ vì bông sầu mà đã cầu mong cơn nắng thật dài, không cần biết nơi này những bầy dê chết cong queo trên đồng cỏ cháy” (Nguyễn Ngọc Tư 2009: 58). Nhưng chàng trai thành phố, coi thiên nhiên nhiên là đối tượng để thưởng ngoạn, khi không còn gì để khám phá nữa Vĩnh cảm thấy đời sống thật nhạt nhẽo “Anh thấy sợ hãi ngày mai trống rỗng kia. Hoang mang. Ngơ ngác. Rã rời. Vụn nát”. Đó là cảm giác về nỗi cô độc. Thiên nhiên nhắc nhớ cho Vĩnh về nỗi cô đơn, sự vô nghĩa của kiếp người. Trong mắt Vĩnh, hoa biểu tượng cho sự hủy diệt “bông sầu đã rụng tả tơi, những bông sầu bầm lại như máu khô. Và Vĩnh treo mình lửng lơ trên cành sầu khẳng khiu, trơ trụi… Đỉnh núi mờ sương xào xạc gió, như đang day diết lại lời nguyền…. những cây sầu giết người” (Nguyễn Ngọc Tư 2009: 60). Từ chối trở về cuộc sống hàng ngày dưới kia đầy đau đớn, mệt nhọc, chán chường, anh lựa chọn cái chết giữa tự nhiên. Những cách hoa vô tư, sáng trong đã giúp Vĩnh trút bỏ được nỗi ưu phiền, nặng nợ trần gian với trái tim u sầu, mệt mỏi. Như vậy, con người thời hiện đại không còn tìm lại được cái bình yên giữa thiên nhiên, họ ngắm thiên nhiên không phải để thấy cái an nhiên tĩnh tại trong lòng mà để thấm thía niềm cô độc giữa cõi đời mênh mông này.
Alison Byerly phê phán: cảm thức về phong cảnh đã tác động đến cách bài trí cảnh quan, việc “thẩm mĩ hóa cảnh quan” đã tái tạo nhiều khu vực tự nhiên theo cách sắp đặt của họ “Việc thẩm mĩ hóa cảnh quan kiểu này đã xóa bỏ nó khỏi địa hạt tự nhiên và xác định nó như một đối tượng hợp pháp của sự tiêu dùng nghệ thuật” (B. Alison, 2017: 215). Trong tiểu thuyết Sông, Lệ Kiều phẳng phiu, đẹp đẽ đã được tạo ra bằng cách thức như vậy. Đẩy người dân bản địa ra khỏi không gian cư trú để xây dựng một không gian mĩ lệ, xinh đẹp, phăng phiu. Vùng Thổ Sầu, để phát triển du lịch, người ta cố tình để các không gian cũ kĩ, mục nát, nghèo khổ, lam lũ… điều đó làm thỏa mãn vẻ hiếu kì của khách du lịch nhưng lại khiến những người dân bản địa sống trong không gian ấy cảm thấy bất tiện, khó khăn “chái bếp nhà tôi sập do mối ăn, nhưng không lợp được, phải chờ mưa nắng cho mớ lá mới ngả màu cũ kĩ một chút” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 94). Những hình thức du lịch theo trào lưu, hòa nhập vào thiên nhiên dưới cái tên mĩ miều “du lịch sinh thái” được Nguyễn Ngọc Tư bóc trần và phê phán một cách sâu sắc. Chẳng những không cảm nhận được cái huyền nhiệm của tự nhiên mà còn phá hủy tự nhiên, kéo theo đó là những tệ nạn xã hội. Những khung hình đẹp về những vùng quê đẹp đẽ thực chất che dấu sau đó những cằn cỗi, nhếch nhác: Băng Khâu là một vùng núi bị biến thành khu du lịch không có quy hoạch, nham nhở (như là những chiếc băng khâu); hồ Thiêng ngập đầy những rác và tệ nạn mại dâm…
Các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư mang tâm thế của con người thời hiện đại bị văn minh dồn đuổi, nhận ra sự mất mát của tự nhiên. Thiên nhiên bị hi sinh cho những mục đích thực dụng của con người. Trong tác phẩm có tính chất luận đề Khói trời lộng lẫy, thông qua những cảnh báo về việc con người đã biến thiên nhiên thành đại công trường, khu công nghiệp, nhà ở, thành phố… “xua đuổi thiên nhiên đi xa”, “hạ nhục tự nhiên”, can thiệp thô bạo vào vẻ đẹp nguyên sơ Nguyễn Ngọc Tư cảnh báo “Con người hủy hoại thiên nhiên bằng cách hạ nhục nó. Thiên nhiên trả thù bằng cách nó biến mất” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 153). Vẻ đẹp bị nhốt trong Viện là những vẻ đẹp chết, không có sinh sắc của sự sống. Người đọc nhận ra một tiếng nói khẩn thiết, mãnh liệt về một tấm lòng tha thiết với thiên nhiên, mê đắm với vẻ đẹp của cành hoa ngọn cỏ, đau đớn trước sự mất dần của thiên nhiên tươi đẹp, chua chát trước sự tàn hại của con người.
Lời cảnh tỉnh này được Nguyễn Ngọc Tư phát biểu rõ hơn qua tiểu thuyết Sông về dân tộc Đào, một dân tộc hùng mạnh trên cao nguyên Thượng Sơn đã bị diệt vong: “Thương lái Hoa Bắc mua bất cứ thứ gì nơi này có. Từ bụi cỏ sa lệ cao chỉ bằng ngón tay cho đến những thân gỗ nghiến giữa đại ngàn… Đất đá. Vật dụng. Cây cỏ… Giờ thì người Đào bán đến cả nội tạng và trẻ con”, “Sự tàn rã lặng lẽ phủ lên cái mặt đất lởm khởm những hang hốc, trơ trụi không có bóng cây, thưa vắng người”, “giữa vùng Thượng sơn mà không nghe thấy tiếng thú rừng táo tác trong đêm. Có lẽ chúng cũng bị săn bán” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 183). Như một ẩn dụ về thế giới của loài người: khi người ta chỉ sống ích kỉ, biếng nhác, coi tự nhiên chỉ là nguồn lợi để phát triển kinh tế (chỉ chăm chăm để bán), là đối tượng để bóc lột thì tất yếu sẽ diệt vong. Điều này cũng đã từng xảy ra với nhiều nền văn minh trên thế giới. Một số nhà khoa học giả thuyết rằng các nền văn minh Maya, nền văn minh Mesopotamia, nền văn minh Crete… đã tiêu vong vì nạn phá rừng (để xây dựng các thành phố, đóng thuyền bè…) dẫn tới việc khí hậu trở nên khắc nghiệt và dẫn tới diệt vong. Thiên nhiên, cái tưởng như vĩnh hằng cũng dễ bị thương tổn như thế nào và thực chất rất mong manh.
Kết thúc hành trình cuối cùng ở Túi, Ân nhớ về cuộc hội ngộ với sông Di lần đầu tiên là một trận lũ “thực sự ở đây là cái biển rồi”: “Cậu gặp sông Di lần đầu. Hung hãn một cách ráo riết, cay nghiệt. Mặt sông là cái xoáy nước đỏ ngầu cuộn xiết. Không có bờ. Hệ thống các con sông lớn ở miền Hạ chìm trong một trận lũ lụt được cho là lớn nhất trong một trăm năm trở lại… Ở mái nhà sắp chìm lút, những cánh tay đen đúa thò khỏi mớ ngói vẫy vẫy. Trên cái đệm cao su rách rã trôi qua có một em bé chừng hai tuổi nằm như ngủ, nước săm sắp đến vành tai. Nửa dưới để truồng, da xanh ngắt. Cậu không khóc được khi ôm xác em nhỏ trên tay” (Nguyễn Ngọc Tư 2010: 211). Mở đầu và kết thúc hành trình du khảo sông Di ở Túi bằng một “Đại hồng thủy” (Ngay cả tên địa danh là “Túi” hẳn có một hàm nghĩa như là hình tượng trái bầu trong những cơn đại hồng thủy) tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư như là một ẩn dụ về sức mạnh của sinh mệnh tự nhiên.
Với thông điệp nhức nhối về môi trường, bằng cái nhìn sắc sảo và niềm ưu tư với những đổi thay của Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư đã lôi ra ánh sáng những ảo tưởng về du lịch sinh thái, phản đề về những diễn ngôn đầy huyền thoại về một Nam Bộ giàu có về sản vật, cây trái. Những mất mát, đau đớn, chua chát… thể hiện qua một giọng văn vừa giễu nhại, vừa trữ tình cất lên từ một tâm hồn đã bén rễ rất sâu vào mảnh đất Nam Bộ.
Vẫn là tiếp nối cảm thức lưu lạc trong văn học truyền thống Nam Bộ nhưng Nguyễn Ngọc Tư đem đến những vấn đề mới mẻ mang hơi thở thời hiện đại, phản đề về cái nhìn mang tính thẩm mĩ du lịch, những ảo vọng về thiên đường miền sông nước để nhận chân một Nam Bộ khác, một Nam Bộ phải đối diện với tất cả khủng hoảng của thời đại biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến từng ngôi nhà, ngõ phố, con sông… Quan trọng hơn, tác giả đã phản ảnh trung thực với một nỗi ưu sầu day dứt về trách nhiệm của con người trước tình trạng môi trường sống ngày càng tồi tệ đi.
Văn học cần có những tiếng nói dấn thân “Sự suy thoái hệ sinh thái của một quốc gia không chỉ quy trách nhiệm cho những người quản lý đất nước mà cả cho sự thờ ơ của từng công dân, trong đó có những nhà văn” (Huỳnh Như Phương, 2013) góp phần trách nhiệm về những khủng hoảng môi trường con người đang đối diện. Bằng cách đặt vấn đề sắc nhọn, trực diện không né tránh với một tấm lòng thiết tha trĩu nặng ưu tư trước những số phận người nông dân mà cuộc sống, mưu sinh, hi vọng, cái chết gắn với sông nước Nguyễn Ngọc Tư đã góp một tiếng nói để hình thành nên chủ nghĩa nhân văn sinh thái (ecology humanism).
Tài liệu trích dẫn:
1. Byerly, Alison. 2017. “Giá trị của cánh quan: mĩ học phong cảnh và hệ thống vườn quốc gia”, Lê Quốc Hiếu dịch và tổng thuật, Phê bình sinh thái là gì?. Hoàng Tố Mai (chủ biên). Hà Nội: Nxb Hội Nhà văn.
2. Mạc Can. 2016. Tấm ván phóng dao. Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ
3. Glotfelty, Chellry. 1996. “Introduction: Literary Studies in an Age of Enviromental Crisis”. The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology. edited by Cheryll Glotfelty and Harold Fromm. Athens and London: University of Georgia Press.
4. Garrard, Grey. 2004. Ecocriticism (The New Critical Idiom). London and New York: Routledge.
5. Đoàn Giỏi. 2018. Đất rừng phương Nam. Hà Nội: Nxb Kim Đồng
6. Rigby, Kate . (2017), Chapter 7: “Ecocritisim”, Introducing Criticism at the Twenty -First Century, Edinburgh UP, Đặng Thị Thái Hà dịch, Phê bình sinh thái là gì?, Hoàng Tố Mai (chủ biên). Hà Nội: Nxb. Hội Nhà văn.
7. Sơn Nam. 2104. Hương rừng Cà Mau. Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ.
8. Huỳnh Như Phương. 2013. Mùa xuân, sinh thái và văn chương. http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
9. Bùi Thanh Truyền. 2018. “Diễn trình sinh thái trong văn xuôi Nam bộ”, Tạp chí Sông Hương, Số
10. Nguyễn Ngọc Tư. 2009. Gió lẻ và 9 câu chuyện khác. Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ.
11. Nguyễn Ngọc Tư. 2010. Khói trời lộng lẫy. Hồ Chí Minh: Nxb Thời đại.
12. Nguyễn Ngọc Tư. 2010. Cánh đồng bất tận. Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ.
13. Nguyễn Ngọc Tư. 2012. Sông. Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ.
15/8/2021
Trần Thị Ánh Nguyệt
Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, số 241, 9-2018
Theo https://vanhocsaigon.com/

Trần Dạ Từ, thuở làm thơ yêu em

Trần Dạ Từ, thuở làm
thơ yêu em

Tình yêu thám hiểm những bí mật của con người. Không ở đâu người ta có thể hạnh phúc hơn hay tuyệt vọng hơn, hèn yếu hơn hay cao cả hơn, như trong tình yêu.
Em ngồi đây, ngồi sát nữa, người thương
Kìa những ngày thơ rụng đỏ chân tường
Kìa sự sống như những chiều bãi biển
Thơ Trần Dạ Từ là tình yêu thời mới lớn, say đắm vụng về, và tình yêu của người đứng tuổi, trải qua hoạn nạn, tù đầy. Đó là tiếng thơ giàu vần điệu, không có nhiều khai phá về ngôn ngữ; tuy vậy khả năng đào sâu của tác giả vào các đề tài tưởng như đã rất cũ,  từ đó mở ra những ngã rẽ cảm xúc làm người đọc bất ngờ. Trong thơ Trần Dạ Từ có một nỗi buồn rầu, phiền muộn, như khái niệm blue của người Mỹ, mặc dù thế, thơ ấy không tuyệt vọng, than thở, bi lụy. Ngôn ngữ bám rễ vào đời sống thành thị, dân nghèo, tầng lớp cơ cực. Sự dằn vặt, lối nghĩ ngợi, phân vân, là tiêu biểu cho những người trẻ tuổi trong một xã hội tự do và lo âu, chứa mầm loạn lạc từ bên trong hoặc bên ngoài. Thơ ông như lời độc thoại có kịch tính, lời nói không hướng tới người đọc mà hướng tới một nhân vật nào khác, có mặt trong bài thơ hoặc ngoài bài thơ, đứng đâu đó trước mặt chúng ta. Ngôn ngữ ấy tìm cách ghi lại ký ức, phản ánh đời sống cùng thời, đời sống trí thức không chịu thỏa hiệp.
Chuồng gà đã bỏ không từ lâu
Chả còn tiếng gì giục giã nữa
Trong các góc phòng và cánh cửa
Bóng tối đập đôi cánh vùng vằng
Thơ ca dạy ta cách vượt qua biên giới giữa bóng tối và ngày mới, giữa căm phẫn và thương xót, cách đi qua sự trống rỗng vô nghĩa của tồn tại, truy tìm những thực tại mới hay ý nghĩa của những thực tại ấy. Thơ Trần Dạ Từ, mặt khác, ca ngợi tình yêu, niềm vui vỡ òa lồng ngực của tuổi trẻ; có bài được phổ thành ca khúc nổi tiếng. Trong giai đoạn sớm, tính chất yêu đời và hồn nhiên của ông vẫn nổi bật hơn cả.
Tỉnh dậy dưới chân đồi
Ruộng ngô ai ngào ngạt
Chạy khắp ruộng tìm coi
Nào ngờ em trốn mất
­Được nén lại trong kích thước năm chữ, nhiều khổ thơ, “Mùa Ngô Cũ” là một trong những bài thơ trong sáng, dễ đọc. Trần Dạ Từ cũng có nhiều bài thơ tình khác, cùng thời, đôi khi ngôn ngữ khá cũ kỹ, rõ ràng do ông chưa thoát ra khỏi ảnh hưởng của thơ tiền chiến. Khi vượt qua được ảnh hưởng ấy, ông có những bài thành công hơn hẳn.
Rất sớm, tình yêu từ thời niên thiếu đã pha đậm tình dục, mạnh mẽ, cảm xúc, gần như điên rồ, trong bài thơ lục bát ngắn:
Biết yêu người thủa mười lăm
Trong vườn ngây dại ta nằm sót sa
Cỏ cây ồ ạt ra hoa
Chùm môi bông phượng la đà tới lui
Khi không da thịt cả cười
Cùng ta trộn lẫn đất trời với em
(Buổi Hẹn Đầu, toàn bài)
Thể xác ấy không chỉ ao ước tình nhân mà còn muốn ôm lấy cả đất trời, cùng bao thèm muốn khác. Da thịt tự cười, vì muốn xé toang giới hạn của chúng. Như thế là ông đã dùng cỏ cây để mô tả một thứ tình yêu ướt đẫm thể xác trước hay cùng thời với Bùi Giáng: cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao.
Tuy đã làm chủ các loại thơ vần điệu, nhưng thực ra chỉ ở thể tự do, thơ Trần Dạ Từ mới hoàn toàn sảng khoái, phóng túng, rào rạt.
Anh sẽ về, câu chuyện mùa thanh trà
Dăm ba nỗi đớn đau đôi chút niềm hối tiếc
Là tình yêu chúng ta
Hai trái tim nhỏ nhoi
Gom lại báo động thế kỷ này
Những đất đai chia cắt
Công phẫn ngực, nghẹn ngào hơi
Chờ chóng mặt
Là tình yêu chúng ta
Hai nỗi bi thương cộng một
Tiếng kêu tổ quốc này
Đòi mở mắt
Hai niềm tin hèn mọn những lòng tin chất ngất
Bài hát ấy nhắc anh thời có em
(Thơ Tình Năm Tám)
Trần Dạ Từ làm thơ từ thời trẻ, khoảng những năm 1950, nhưng bút hiệu ấy chỉ xuất hiện cùng với những bài thơ tình đầu tiên từ năm 1957 trên bán nguyệt san Gió Mới do Nguyên Sa chủ bút, và từ năm 1958 trên tạp chí Sáng Tạo, Mai Thảo chủ biên. Sinh tại miền Bắc, Trần Dạ Từ là nhà thơ miền Nam thời chiến tranh hai mươi năm.  Nửa đầu của những năm sáu mươi, thời kỳ miền Nam biến động, với chiến tranh lan rộng, cũng là lúc thơ ông thực sự đổi khác. Đó là thơ tuổi của hai mươi chấn động và nhập cuộc, không chỉ trên trang giấy mà còn trong đám đông.  Những bài thời kỳ này tới sau nhưng được tập hợp in thành sách trước, trong tập “Tỏ Tình Trong Đêm“, xuất bản 1965. Sách sau đó bị tịch thu vì tính chất phản chiến(1). Thơ của tuổi trẻ chiến tranh và bụi bặm thành phố.
Khi buổi chiều rụng xuống lũ cột đèn đứng lên
Con phố này nỗi đau buồn bật sáng
Lời hát ru an lành từ nguồn cội nay bị đẩy sâu vào tình huống hoang tàn tang tóc của cuộc chiến:
Ru con mượn bóng thay người
Mượn bia làm gối mượn trời làm chăn
Mượn giông mượn bão làm màn
Mượn cây làm quạt mượn tàn làm hiên
Mượn sao làm mắt mẹ hiền
Mượn nơi chiến trận làm miền rong chơi
Mượn xương máu bọc nụ cười
Mượn cơn bom đạn làm lời ru con
(Bài Ru Mới, toàn bài)
Riêng những bài thơ tình đầu tiên, tuy tới sớm hơn, từ những năm 1950, nhưng mãi tới 1971 mới được in thành sách, trong tập “Thuở Làm Thơ Yêu Em“(2). Thuở là một khoảng thời gian rộng, nhiều ngày hay nhiều năm, thay đổi tùy mỗi người, tùy ký ức, vì thuở là nhớ lại. Thuở làm thơ là một lịch sử, một chương của lịch sử nối vào những chương khác. Đó là không gian bạn đã sống, thời gian bạn đã yêu, thở, chết, sống lại. Một khúc quanh, một dòng sông, một cây cầu gẫy, bạn ngắm nhìn, đặt tay lên, và bạn lắng nghe: tiếng rì rầm tàu chạy.
Người đi qua đời tôi
Chiều âm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương
Tiếng hát nào hơ nóng
Chúng ta có những ngày như vậy, mùa hè ríu rít chim chóc, mùa đông ảm đạm chết người, mùa thu lịm tắt, cỏ cây không hồi phục. Thơ tình Trần Dạ Từ như căn nhà, bếp lửa, cánh cửa sổ, ở đó bạn từng ngồi xuống giữa những người khác, trước mặt một người khác. Những bài thơ ngắn nén chặt, bạn không thể buông ra giữa chừng, như một thể thống nhất, giữa sự vật, thời gian đi qua nhanh như cắt khiến lịch sử không kịp hiện hữu. Khi thì như đứa trẻ lớn lên trên đường phố, dan díu, hóa thân.
Tường vôi trắng là hồn
Dù về sau tác giả làm thơ tự do nhiều hơn, lục bát Trần Dạ Từ vẫn là một dòng tươi tắn, mới lạ, tài hoa. Tình yêu như niềm vui thú: niềm vui của tình yêu là có thật, lớn lao, khó cắt nghĩa, bàng hoàng; nhận thức về nó đẹp như ảo giác. Trong các loại tình như tình mẫu tử, tình yêu bí nhiệm đối với đấng tối cao, tình huynh đệ, tình nhân loại, thì tình yêu nam nữ biến ảo nhất, bất ngờ, ngọt ngào, chua xót nhất, để lại dấu ấn lớn lao bậc nhất trong đời sống cá nhân.
Tiếng cười đâu đó giòn tan
Nụ hôn ngày đó miên man một đời
Tình yêu như một công việc: sống là công việc khó khăn, sống trong tình yêu càng khó khăn. Những thử thách của chiến tranh, tù đầy, nghèo đói, các hoàn cảnh phi nhân tính, guồng máy bạo lực xấu xa, và các cá nhân độc ác quanh ta, thuộc đủ mọi lập trường, lúc nào cũng hiện diện. Thơ tình vừa ca ngợi tình yêu vừa chuẩn bị cho người đọc nỗi âu lo của các nhân vật, sự hoang mang, số phận đen tối của họ. Những người yêu nhau phải kết hợp để vượt qua nghịch cảnh, nhưng họ cũng phải vượt qua yếu đuối của chính họ, tan rã của chính họ.
Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông
Trên môi ta, vạn đóa hồng
Hôn em trời đất một lòng chứa chan
Tiếng cười đâu đó ròn tan
Nụ hôn ngày đó miên man một đời
Hôm nay chợt nhớ thương người
Tiếng ve mùa cũ rụng rời vai anh
Trưa vàng, cỏ biếc, vườn xanh
Môi ai chín đỏ đầu cành phượng xưa.
(Nụ Hôn Đầu, toàn bài )
Đây là bài thơ tình nổi tiếng của Trần Dạ Từ, và, tôi nghĩ, một trong những bài lục bát hay nhất của mọi thời đại. Hình ảnh và giọng điệu di chuyển giữa lối kể chuyện và ca khúc; một câu chuyện thông thường, không có gì đặc biệt. Chỉ là mối tình đầu. Và tình đầu nào cũng tan vỡ, và khi nhớ lại bạn không thể nào hiểu tại sao nó tan vỡ. Tình đầu bao giờ cũng đẹp vì được bạn nhớ lại và vì nó đẹp thật. Một mối tình đẹp như thế phải được đặt trong bối cảnh thơ mộng hợp với lứa tuổi mới lớn. Cái tài tình của Trần Dạ Từ là ở đây: khung cảnh. Một khung cảnh giản dị, thuần phác. Có thể có người cho rằng đó là khung cảnh thuần túy nghệ thuật, không có thực. Điều thú vị là tất cả những cảnh được mô tả, trưa vàng, cỏ biếc, tiếng ve, đều là cảnh thông thường, dễ gặp trong một mùa hè nhiệt đới, không phải cảnh mai lan cúc trúc như trong thơ Đường, cũng không phải cảnh đượm màu giấc mơ:
Vùng cúc bên ngoài đọng dưới sương
(Xuân Diệu)
Cũng không cách điệu như trong lục bát tiền chiến:
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh
(Lưu Trọng Lư)
Thơ Trần Dạ Từ, vào những năm khởi đầu của miền Nam, cố gắng vượt khỏi ảnh hưởng của thơ lãng mạn, chạm tới khuynh hướng hiện đại, nghiêng về tả thực, về một khuynh hướng ngôn ngữ giản dị và trực tiếp, khách quan. Trong toàn bài thơ, chỉ có một hình ảnh có vẻ không thật, nhưng lại được tác giả chỉ ra rõ ràng:
Trên môi ta, vạn đóa hồng
Đó là cách nói tượng trưng, hơn là hình ảnh của bài thơ. Câu thơ ấy thực ra không có gì đặc biệt, nhưng dễ được người đọc chấp nhận vì nó chủ ý nói về một tâm sự chứ không mô tả. Cái hay của toàn bài là sự mô tả sống động, mặc dù giản dị, các hình ảnh được lặp đi lặp lại, mở đầu và kết thúc cân đối, ngắn gọn mà miên man, vì gợi lên nhiều hoài niệm, khơi đúng mạch tình cảm nhiều người. Đó là cách đọc liên văn bản. Anh chỉ cần biết, đối với anh, tình yêu là mới, cái cầm tay là mới, môi hôn là mới.
Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang
Vô thức tình yêu.
Tiếng ve râm ran ở đâu? Hàng cây, lưng chừng giữa trời và đất. Nhưng thật ra chúng từ đâu tới? Một lần tôi trở lại Huế, vào chùa Thiên Mụ buổi trưa, đi thẩn thơ trong vườn, nhớ người thiếu nữ tên một loài hoa đã cùng đi qua đó nhiều năm trước, trong im lặng, chợt trỗi vang lừng âm nhạc kỳ lạ, có dễ hàng chục năm tôi chưa được nghe. Thứ âm nhạc ấy vang lên, không phải từ một phía mà hai, bốn phía, khắp nơi, không phải từ những nhành cây nơi ta biết loài ve sầu thường sống ở đó, mà từ trên trời, đám mây, từ dưới đất, trong cỏ, từ phía sau chiếc xe hơi trong vụ tự thiêu nổi tiếng kia. Và lúc đó tôi biết rằng tôi được nghe tiếng ve lần đầu, miên man thế này:
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông
Như vậy xúc cảm là mới nếu sự kết hợp hình ảnh là mới. Mới và chân thành. Dựa vào một nhạc điệu quen thuộc, lục bát Trần Dạ Từ sử dụng hình ảnh không xa lạ nhưng trong một kết hợp lạ, ít nhất là đến thời điểm ấy, và sự trở lại của nó ở đoạn cuối, vừa là sự kết thúc đẹp vừa là sự mở lớn chiều kích xúc cảm, nâng chúng lên. Sự đau khổ mà số phận mang lại còn chưa đến, những tình nhân hãy còn ngây thơ. Thế giới với ta là một. Chúng ta yêu nhau, trời đất yêu nhau. Chúng ta muốn hòa bình. Muốn bên nhau đời đời.
Hôn em trời đất một lòng chứa chan
Trời đất một lòng với chúng ta. Trời đất dung chứa chúng ta và được làm đầy lên bởi tình yêu của chúng ta. Nhưng rồi cũng như tất cả những mối tình đầu khác, tình yêu chỉ tự ý thức về mình khi nó không còn hiện hữu, như linh hồn nhìn ngắm lại cuộc hiện sinh của mình sau khi đã bay ngoài cõi.
Hôm nay chợt nhớ thương người
Tiếng ve mùa cũ rụng rời vai anh
Tự do của một đất nước cũng tự ý thức về mình như thế, một khi không còn nữa.
Và hạnh phúc cũng thế. Tuổi thơ càng thế.
Nhưng thiên nhiên vẫn ở đó, tan nát rồi bền bỉ, bối cảnh tình yêu vẫn còn. Sức mạnh của ký ức mang chúng ta trở lại, giữa đất trời, trong đúng thứ phối hợp màu sắc như hội họa.
Trưa vàng, cỏ biếc, vườn xanh
Đây là sự sắp xếp lại câu lục trên kia:
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng
Chính sự tráo đổi các cặp chữ, trưa từ trước ra sau, vườn từ sau ra trước, gây ra ấn tượng xáo trộn thời gian, chuyển ngược kim đồng hồ. Chính nhờ sự chuyển dịch vừa tự nhiên vừa nhân tạo ấy mà thi sĩ gặp được người cũ của mình.
Môi ai chín đỏ đầu cành phượng xưa
Đỏ như vết thương.
Một bài thơ tình nở bừng bừng như phượng mà vẫn dịu dàng khiêm tốn. Đó là sự quan sát bị phân rã trong thời đại tối tăm, một tình nhân đứng đó giữa đổi thay thời thế, bơ vơ tìm dấu tình đầu như nguồn cội. Cảm giác được thấy lại lần đầu tiên sự bừng nở và lụi tàn của mùa hạnh phúc. Có sự giao thoa giữa giấc mơ và hiện thực, giữa quá khứ và hiện tại, sự tự vấn giữa sôi nổi thèm khát và hoài niệm. Trong vài trường hợp khác, có bước nhảy vọt giữa ý nghĩa này và ý nghĩa khác, hoặc giữa ý nghĩa và vô nghĩa:
Người đi qua đời tôi
Hồn lưng mùa rét mướt
Người đi qua đời tôi
Chiều ầm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương
Như thế là có vị của siêu thực.
Tuy nhiên thơ ông nhắc nhở người đọc về hiện hữu của thế giới khác, của người khác, khi chúng ta đã vào hẳn bên trong tâm hồn tác giả. Không có một thiên đường để mất. Quá khứ ám ảnh:
Những ngày thơ đánh mất
Còn níu theo chân đòi
­Tình yêu của Trần Dạ Từ già hơn tuổi của mình, triết lý, suy nghiệm.
Người đi qua đời tôi
Hồn lưng mùa rét mướt
Đường bay đầy lá mùa
Vàng xưa đầy dấu chân
Lòng vắng như ngày tháng
Đen tối vùng lãng quên
Đó là tình yêu bị đánh cắp. Cơn bão bên kia thành phố sắp tới. Thời gian không thuộc về chúng ta. Cuộc chiến tranh không thuộc về chúng ta. Mọi thứ ngoài tầm kiểm soát của tuổi trẻ, của thi sĩ. Ngay cả trong những bài thơ tình như bài này, âm điệu thì du dương, vì vậy đã được phổ nhạc, ngôn ngữ của ông vẫn cứ sắc bén. Sau khi thi sĩ nói xong, mọi người đều thấy đó là ngôn ngữ bình dân, dễ dàng, gần như ai nói cũng được, nhưng trước ông, không ai nói thế.
Không ai nói:
Người đi qua đời tôi
Không ai nói:
Mây mù lên mấy vai
Gió mù lên mấy trời
Chưa ai từng nói:
Không nhớ gì sao người
Ngôn ngữ đằm thắm mà cứng cỏi, dồn nén mà bồi hồi. Sự thân mật trong thơ Trần Dạ Từ là đặc biệt. Sự thân mật: đó là khoảng cách giữa tác giả và người đọc, giữa người đọc và nhân vật văn chương. Mặc dù thoạt nhìn, thơ ông kín đáo độc thoại, không có giao tế, kịch, một ngôn ngữ thầm thì, nhưng đó là trò chuyện giữa hai người dưới ngọn đèn mờ tỏ, kể lại chuyện tình dưới đêm trăng, vết thương trong bùn lầy nước đọng, tội ác trong rừng, các biên giới mà thơ trữ tình muốn chạm tới. Giọng nói của người kể chuyện nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng, chi tiết, tỉnh thức, soi sáng, tự ý thức về mình, của một cá nhân vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ. Dù đôi khi tác giả chỉ nói về một sự vật thoáng qua, một kỷ niệm nhỏ.
Thủa làm thơ yêu em
Trời mưa chưa ướt áo
Hoa cúc vàng chân thềm
Gió may lưng bờ dậu
Chiều sương dầy bốn phía
Lòng anh mấy ngã ba
Tiếng đời đi rất nhẹ
Nhịp sầu lên thiết tha
Thủa làm thơ yêu em
Cả giòng sông thương nhớ
Cả vai cầu tay nghiêng
Tương tư trời thành phố
Anh đi rồi lại đến
Bài thơ không hết lời
Bao nhiêu lần hò hẹn
Sớm chiều sao xa xôi
Mười bẩy năm chợt thức
Bây giờ là bao giờ
Bàn tay trên mái tóc
Nghìn sau còn bâng quơ.
(Thuở Làm Thơ Yêu Em, toàn bài)
Thương nhớ xảy ra trong khoảng cách. Khoảng cách càng lớn, trong không gian hay thời gian, thương nhớ càng tăng lên. Như vậy tình yêu trong Trần Dạ Từ là thương nhớ, nghĩ về, sống lại. Tình yêu ấy được sinh trở lại bởi khoảng cách, hoài niệm. Hoài niệm là đặt bạn vào vị trí ngoại biên và đối tượng được hoài niệm di chuyển về trung tâm. Thủ pháp nhân cách hóa được Trần Dạ Từ sử dụng thường xuyên, trở thành một trong những phương pháp chính yếu. Ngôn ngữ thơ là sự bắc cầu giữa vẻ đẹp và hiện thực mới, giữa vẻ đẹp và sự thất bại, giữa niềm đau có thật của t ình y êu và mất mát có thật của chiến tranh. Một trong những lợi thế của phong cách trầm tư, độc thoại, với cấu trúc rộng mở, buông lỏng, như trong bài thơ Thuở Làm Thơ Yêu Em là các câu thơ nối vào nhau một cách liên tục nhưng không quá chặt chẽ, các hình ảnh có thể đảo ngược, thậm chí trật tự thời gian cũng có thể xáo trộn, nhưng câu chuyện ấy vẫn là câu chuyện được kể lại, tuy rời rạc, chắp nối mà vẫn chỉ có thể là của một người, và của người ấy mà thôi. Đó là nhờ giọng điệu âu yếm và lo âu. Lo âu nhưng không sợ hãi. Thật ra đó là một hình thức suy nghĩ về tương lai, sự tiên đoán về những sự kiện sắp xảy ra, nhu cầu định hướng trong một thực tại hỗn loạn của tình yêu và ly tán, của tội ác chống con người trong chiến tranh và sau chiến tranh, của sự nhầm lẫn giữa sự thật và gian dối. Tình yêu đầy âu yếm và xao xuyến là của một người hoàn toàn lành mạnh đi giữa những hoàn cảnh khắc nghiệt.
Năm suốt những con đường mưa giông
Năm dọc những bờ hè giá rét
Năm với lời vỗ về chiều tàn
Năm cùng tiếng trở mình khuya khoắt
(Giã Từ Năm Thìn, trong tập Tỏ Tình Trong Đêm)
Bên kia âu lo là chờ đợi. Bên kia chờ đợi là hy vọng. Là giấc mơ hòa bình, và khi đã có hòa bình là giấc mơ tự do, vì đó là một nền hòa bình trong tù đầy. Thơ mô tả đời sống thực, hối hả xáo trộn, biến ảo khôn lường, nhịp đập của đời sống, sự vui thú, chán chường mệt mỏi. Cảm giác ngột ngạt nóng nảy của thời đại kinh hoàng, bóng ma chiến tranh ngày một tới gần, vừa đi qua, bạn vừa nhìn thấy nó. Sự nổi loạn ngấm ngầm, sự lạc đường. Khi ngôn ngữ thơ mô tả một tâm trạng lo lắng, một vết thương tình yêu, sức mạnh của chúng bộc lộ. Thơ Trần Dạ Từ viết ở thể hiện tại, mô tả sự vật trong vị trí di chuyển, đầy sức sống, hơi thở. Cái nhìn của nhà thơ bao giờ cũng là cái nhìn trở lại, nhận thức và nhận thức lần nữa, tình yêu là tình yêu lớn lên, gần như trưởng thành ngay ở tuổi nhỏ, điều ấy có liên quan gì đến cuộc đời riêng của tác giả hay không, những kinh nghiệm riêng tư, có lẽ không ai biết. Mặc dù ngôn ngữ thơ ông trong sáng, không phải bài nào đoạn thơ nào cũng được thế, không phải vì chúng khó hiểu mà vì chúng gợi lên những góc khuất, riêng tư đến nỗi mọi diễn dịch tùy thuộc ở người đọc.
Tuổi trẻ đi qua một lần, một lần thôi
Tôi hèn nhát như một loài dế cỏ
Hạnh phúc đi qua một lần
Cũng chỉ một lần thôi
Và sự tan vỡ ấy làm mọi người cười rộ
(Buổi Trưa về Thị Nghè)
Một bài thơ trở nên khó hiểu khi nó quay lưng với người đọc. Hoặc vì sự quay lưng ấy là cần thiết cho người đọc hoặc vì cần thiết cho chính nó. Những bài thơ thế sự của Trần Dạ Từ chua chát, buồn rầu, là những câu mô tả ngắn gọn, một nghệ thuật làm thơ hiện đang bị bỏ quên. Mỗi chi tiết của bài thơ đều hướng về phía kết thúc hoặc nhằm tạo dựng một không khí, như thể bài thơ là ngôi nhà. Tập thơ “Tỏ tình trong đêm“, giữa những cuộc đảo chính, một xã hội phân rã, trước ngọn lửa chiến tranh dâng cao, là một lời “tỏ tình” kiểu khác. Của một tình yêu già trước tuổi.
Năm đọa đầy những đêm giới nghiêm
Năm đằng đẵng những ngày tuyệt thực
Năm máu chảy và năm ruột mềm
(Giã Từ Năm Thìn)
Suy nghiệm triết lý đầy chất thơ. Sự trao đổi vị trí giữa nhà thơ và sự vật, cảnh vật bên ngoài hóa thành tâm cảnh và ngược lại, tôi biến thành em và em biến thành tôi.
Cho tôi xin nửa bóng trăng ngoài
Với nửa mùa thu trong mắt ai
Lá rụng bao nhiêu hè phố cũ
Sao nghe lòng rưng rưng nhớ người
(Trăng Mười Sáu)
Trong giai đoạn sau của miền Nam, chúng ta thấy sự mất cân bằng trong ngôn ngữ thơ thời ấy. Trần Dạ Từ nhắc đến mặt trời, mùa hè, mùa nắng, bông phượng, con đường, hè phố, chân tường, sự lấp lánh, và chúng không phải là những vật trang sức mà chính là linh hồn của thế giới mà ông đi qua, đẹp nhưng sẽ mất. Những hình ảnh ấy được sắp xếp sao cho chúng làm nổi bật lên nhân dáng khốn khổ của tác giả hay của bạn bè, cùng giai đoạn. Thơ ông là ánh sáng và bóng tối, ánh sáng của quá khứ và bóng tối của tương lai. Nỗi trầm tư trong thơ ông không phải là triết lý siêu hình mà là phản ứng tất nhiên của người trí thức trước một thời đại, là sự tra vấn của nhà thơ đối với lương tâm mình. Đó là sự chuyển hóa các tình huống khách quan thành điều kiện tâm lý, là sự lý giải trật tự của đời sống, bằng bước đi của cá nhân. Lịch sử dân tộc là tập hợp tổng thể các tính cách cá nhân. Là cuộc huynh đệ thương tàn, sự phá hủy của những giá trị dân tộc.
Tặng cho em cuộc chiến hung tàn
Trên quê hương của bao nhiêu bà mẹ
Nơi đồng bào ta ăn bom đạn thay cơm
Nơi lá chuối khô được bện làm mũ tang
 vẫn không đủ để đội đầu con trẻ
(Tặng Vật Tỏ Tình)
Nhiều năm sau, sau cuộc đổi đời của dân tộc, từ trong tù đầy, Trần Dạ Từ viết nhiều bài thơ mới, như “Hòn Đá Làm Ra Lửa”(3). Thật ra đây không phải là lần đầu tiên Trần Dạ Từ phải đi tù và làm thơ trong tù. Thời 1963, Đệ nhất Cộng hoà, ông đi tù trong vài tháng, còn sau 1975, hơn mười hai năm. Trong năm 1963 ác liệt, ông viết những câu thơ dũng cảm, làm rung động lòng người:
Nửa đêm nàng bị bịt mắt dẫn về đó
Chúng tra khảo nàng để tìm chàng
Nàng bị cặp điện vào hai tai
bị cặp điện vào vú
Trong khi đó chàng ở sát cạnh nàng
Ở ngay trong tim nàng
Ở những nơi mình nàng rõ
(Thơ Viết Trong Tù 1963)
Tình yêu là cách nhìn ra bên ngoài, là cách sống giữa thiên nhiên, nhưng trong thơ ông, đó cũng là nhìn vào bên trong, sự trở lại, đầy dũng cảm. Tình yêu là trở lại. Làm thế nào để một người có thể vượt qua thời gian, đi tìm tuổi thanh xuân? Chỉ bằng cách nhìn vào bên trong, sống lại chính đời sống của mình, kéo dài đời sống ấy. Trước cái đẹp, trước hoài niệm, trước nỗi buồn, con người trở nên khiêm tốn. Con người khiêm tốn hơn trong tình yêu thương. Thì ra khiêm tốn chỉ sinh ra từ sự kính trọng đối với người khác, và sự kính trọng đối với người khác sinh ra trong một bầu khí quyển tự do. Sự gắn bó của tâm hồn vào những mất mát làm tăng thương tổn và cùng thời làm tăng cái đẹp, sự dũng cảm.
Ném lên. Ném lên. Ném lên nữa
Từng trái bắp. Từng lát đường
Ném lên. Ném lên. Ném lên nữa
Từng gói thuốc. Từng vắt cơm
Ném cả gánh hàng rong
Ném tràn như nước mắt
Ném hết. Ném hết
Ném cho người đi đầy
Tấm lòng Phan Rang.
Tấm lòng. Ôi ViệtNam
(Tấm Lòng Phan Rang)(4)
Tình đồng bào.
“Hòn Đá Làm Ra Lửa” là một bài thơ dài hơn, có thể gọi là trường thi hay trường ca. Một bài thơ nhân chứng, một bài thơ tình, kiểu khác. Mạnh mẽ, đau xót, nhưng trầm tĩnh. Giọng điệu của tác giả thay đổi, khi lạnh lùng khách quan, khi nghĩ ngợi, khi hài hước châm biếm, khi ân cần thương cảm. Cấu trúc của bài thơ là cấu trúc mở, gồm những mặt phẳng liên tiếp cắt ngang. Lịch sử các nhà thơ không thể tách rời khỏi lịch sử của những thứ sau đây: một xã hội tự do, một đất nước chiến tranh, sự sụp đổ, sự đàn áp. Dù vô tình hay với ý thức rõ rệt, các nhà thơ thuộc thế hệ Trần Dạ Từ tích hợp thể thơ trữ tình cá nhân, bắt nguồn từ truyền thống lãng mạn tiền chiến nhưng táo bạo đi xa hơn, tách ra, đôi khi như sự nổi loạn, đôi khi chỉ là sự tiếp tục dấn bước, với một ngôn ngữ trực tiếp, dũng cảm, rách xé, rời rạc, phẫn nộ, lo âu, có tính chất phê phán, đặc trưng cho một thời đại tan vỡ.
Khỏi cần sần sùi nữa
Hòn đá cổ sơ đen đúa của ta
Tôi biết chúng ta sẽ ra sao
Bạn bè chúng ta. Kẻ thù chúng ta
Quê hương đẫm lệ và thế giới ngộp khói
Tôi biết chúng ta sẽ gặp nhau thế nào
Trong mắt. Trong cổ. Trong ngực em
Trong mắt. Trong cổ. Trong ngực tôi
Ngọn lửa ta hớn hở, tung tăng
Tình yêu là tự do vượt khỏi ràng buộc nghi lễ, truyền thống. Hơn thế nữa, vượt khỏi những khổ đau bí mật và những bất hạnh bị chính ta đè nén do định kiến và quy ước. Tình yêu không phải là mục đích tự thân mà là hành trình, và chính trong hành trình ấy mà tình yêu nảy nở, trở nên bền vững.
Có thể chúng ta sẽ sống sót. Sẽ trở về
Cùng vuốt ve lại trang giấy bị vò nát ném bỏ
Cùng bắt đầu lại. Từ chỗ được bôi xóa
Thơ chống lại quên lãng. Khả năng quên lãng, khả năng sống trong một xã hội không có lịch sử, có thể tồn tại ở nhiều người thiếu can đảm và thiếu trung thành với các nguyên tắc, bọn cơ hội, đầy rẫy dưới những chế độ chính trị khác nhau. Sáng tạo được sinh ra bởi giây phút mà phẩm chất làm người chiếu sáng nhất, chống lại hư vô, chống lại bôi xóa, chống lại phản bội lịch sử. Mặc dù không phải là một nhà thơ có tuyên ngôn trường phái rõ ràng, Trần Dạ Từ thể hiện khuynh hướng hiện đại từ sớm. Đó là khuynh hướng tin vào sự hiện hữu đương thời, giây phút sáng tạo, hình mẫu văn hóa, khả năng rời bỏ sự ràng buộc của quá khứ. Một điểm đặc sắc của thơ Trần Dạ Từ là điểm nhìn của người kể chuyện, chúng thay đổi, từ các phía khác. Tình yêu cũng là hôn nhân, giữa chồng và vợ qua chiến tranh, tù đầy, hoạn nạn. Bất kỳ một quan hệ nào cũng sẽ thay đổi qua thời gian, tình yêu cũng thế, nhưng chính trong thử thách mà chúng lớn lên. Chính là khả năng của một con người được tái hợp với cái bình thường, sau những năm mất tự do, chính khả năng của họ chạm tay vào một cánh tay yêu dấu, một cánh cửa quen thuộc, chính khả năng ấy làm nên ý nghĩa của phẩm giá con người. Trần Dạ Từ có khả năng nhìn vào sự vật, hòn đá, vật vô tri, sờ lên chúng, cọ sát chúng vào nhau làm phát sáng lửa.
Chỉ có tôi và em cất giữ
Rời nhau ra. Lặng lẽ. Dư thừa
Hợp đôi lại, chúng làm ra lửa
Em hay người nữ trong thơ Trần Dạ Từ là chủ đề đặc biệt. Trong những bài thơ viết về sau, người nữ là vợ, là mẹ, là người đàn bà tri âm tri kỷ của tác giả. Tình yêu là hôn nhân. Hôn nhân là sự mất mát, bất hạnh, chia lìa, nhưng cũng là niềm tin, cứu rỗi, là cái còn lại sau cùng của ý chí tự do. Như vậy hôn nhân là thiêng liêng, tình yêu là nơi nương tựa. Nhưng người nữ ấy cũng trôi dạt, long đong như bao số phận khác, vì vậy đó còn là lo âu. Thơ ông là thơ về nỗi lo âu, triền miên, ám ảnh.
Tôi không biết giờ này em ra sao
Có lượm lại đủ lũ con cái tan tác không
Em có gì để ăn. Cho chúng ăn
Em làm cách gì để thở. Cho chúng thở
Em còn chỗ nào để nương náu, tạm bợ
Trần Dạ Từ sử dụng một từ vựng không lớn trong các bài thơ tình, nhưng khi chuyển sang làm thơ thế sự, đặc biệt những bài viết trong tù, ông sử dụng nhiều hơn các chữ ít dùng trước đó, trần trụi, đời thường, thậm chí gai góc dữ dội. Đen đúa, sần sùi, không đáng một xu, quạ không thèm mổ, kiến không thèm bu, em đã nhe răng, ăn nhằm gì, rôm rả, nước miếng ứa, chẳng hề hấn gì là những chữ chúng ta gặp trong thơ ông giai đoạn sau. Chính sự cần thiết của việc bày tỏ, giao tiếp, của sự mở một cánh cửa mà có việc sử dụng một ngôn ngữ đời thường đến thế, dân gian, mãnh liệt, hài hước và khinh mạn, có sự bất cần và phản kháng đến thế. Các nhà thơ tài năng sử dụng ngôn ngữ trần tục khi cần thiết. Hơn thế, ngoài những nghĩa thông thường có thể tìm thấy trong từ điển, chữ trong thơ Trần Dạ Từ có ý nghĩa riêng, tạo cảm xúc riêng, hồi ức riêng, những tham chiếu khác nhau ở người đọc khác nhau. Dù vậy, chữ của ông không mang lại cảm giác mơ hồ, phân vân (ambiguity) như một số nhà thơ khó đọc khác. Thơ ông dễ hiểu, khá giản dị, gần như trong sáng, trong nhiều đoạn, nhiều bài. Nhiều chữ trong thơ có thể giãn nở, nới rộng để bao gồm nghĩa khác cho những văn cảnh khác. Giọng điệu có tính tuyên bố, biểu hiện, trực tiếp, nhưng vẫn không thô ráp, đó là nhờ sự tinh tế.
Tôi sẽ sửng sốt nhìn. Sẽ thật thà mô tả
Cho bạn hữu và kẻ thù cùng biết
Những hạt cơm tương lai
Phải cười như thế nào
Trong con mắt háu đói của nhân loại
Thơ hy vọng giữ lại giây phút của lịch sử, đóng đinh các số phận lên bức tường ký ức, làm cho người chết sống lại, làm cho trí tưởng tượng trở thành phương tiện duy nhất của con người vượt khỏi hoàn cảnh phi nhân. Sự thương tiếc mà thơ ca mang lại mở ra mối tương thông giữa nhà thơ và thế giới bên ngoài, kéo dài sự sống sót của một nền văn hóa qua khỏi ngọn lửa bạo động, chống lại hủy diệt, thắp một ngọn đèn nhỏ bên cửa sổ, cuối đường. Xã hội miền Nam, dưới một chế độ nay đã hoàn toàn biến mất, ngày ấy trong chiến tranh, đầy những khiếm khuyết, những âm mưu, những lầm lỗi, vẫn là một nền dân chủ đang hoàn thiện, vẫn là một xã hội có tính chất dân sự cao nhất cho đến nay, chưa hề được đánh giá một cách công bằng, thì nay đã được thơ ca nhìn nhận lại.
Phải rồi. Chúng ta có chung một thành phố
Nơi định mệnh chân dài của mỗi người đã ngủ
Những cây me Nguyên Sa canh cửa dịu dàng
Cột điện Thanh Tâm Tuyền dữ tợn
Quán rượu Mai Thảo, Phạm Đình Chương
Đêm nguyệt cầm Cung Tiến.
Thơ ấy là một loại thơ nhân chứng được viết trong hoàn cảnh bi đát, cá nhân, trực tiếp, với góc nhìn cận cảnh, với ngôn ngữ giản dị và mỉa mai, tự tin và ngậm ngùi, trong một ý thức sáng rõ mà dịu dàng. Nếu so sánh thơ viết sau này với những bài thơ trước đó, Trần Dạ Từ là một trong những người viết thực sự thay đổi bút pháp. Nếu Thanh Tâm Tuyền từ sở trường thơ tự do trở lại với thơ cổ điển có vần, chẳng hạn, thì Trần Dạ Từ thay đổi theo hướng ngược lại, những bài thơ trong tù một số lớn được viết dưới thể tự do, hoặc có vần nhưng âm điệu phóng khoáng. Sự va đập dữ dội của hiện thực, sự tan vỡ của những niềm hi vọng vào một tương lai tự do, sự đàn áp, săn đuổi, để lại dấu ấn rất sâu trong thơ Trần Dạ Từ. Khác với nền thơ có phần hư vô, chán nản, ít chịu trách nhiệm trước đây ở miền Nam, thơ ông sau này là tiếng nói dõng dạc, kẻ đứng thật trên đôi chân của mình trước dông bão. Trong tiếng gào thét của xã hội mới, giọng nói nhỏ nhẹ, quyết liệt nhưng hóm hỉnh của ông vang lên như sự từ chối thua cuộc, sự thản nhiên bất khuất, trong một ngôn ngữ dửng dưng mà xúc động, nén lại.
Chúng ta có chung một thời đại
Con đường tình ngoằn ngoèo của Phạm Duy
Khu rừng lau mênh mông của Doãn Quốc Sĩ
Mụ đế quốc khốn khổ của Võ Phiến
Những khuôn mặt dị dạng trong thế giới của Choé
Trong chiến tranh, chúng ta mơ hòa bình; trong cảnh tù đầy, chúng ta sẽ mơ tự do. Nhưng trong cả chiến tranh và hòa bình, trong cả tù đầy và tự do, người nghệ sĩ đều phải nghĩ đến nhân phẩm.
Không thứ cờ quạt nào vấy nhơ nổi bầu trời
Không thứ chủ nghĩa nào bôi bẩn được trí nhớ
Đồi núi và em mặc chung áo nắng vàng
Suối nước và em đi chung từng bước chân
Giản dị như ngày nào, em tới
Chúng ta dễ dàng nhận ra nhau
Và nụ cười em rì rào cùng cỏ cây mặt đất:
“À. Anh ấy nằm đây
Phải vậy chớ
Anh ấy vẫn giữ nó
Hòn đá làm ra lửa.”
“Hòn đá làm ra lửa” vừa là câu chuyện kể, có mở đầu và kết thúc, có những diễn tiến phù hợp với tiểu sử tác giả, vừa là sự phản kháng đối với các ảo tưởng, nhưng đó cũng là một bài thơ trữ tình. Mối quan tâm của nó là sự hành hạ đối với con người, các chủ nghĩa mê tín, sự vượt qua chúng, không những bằng lòng dũng cảm mà còn bằng tình yêu, không những bằng sự phản kháng mà còn bằng lòng tin. Tôi nghĩ rằng lòng tin là ý tưởng cốt lõi của toàn bộ tác phẩm này. Lòng tin vào điều gì? Vào nhân cách, vào giá trị nhân loại, lòng tin vào một nửa đất nước tự do, thật ra là giấc mơ cao nhất của tất cả người Việt, dù họ ý thức được điều đó hay không, đã bị đánh bại trong chiến tranh, vào một xã hội được hướng dẫn bởi công lý, vào lý tưởng hay sự tìm kiếm lý tưởng của thế hệ mình. Bài thơ nói về tình yêu, lòng chung thủy, tính dũng cảm, sự điềm tĩnh với chút bùi ngùi, và sự thèm khát đoàn tụ, của kẻ phải đi qua những ngày đen tối. Cấu trúc của bài thơ là một cấu trúc khó định hình, vì dựa vào các hình ảnh và ý tưởng đầy cảm hứng, chúng là dịp để bày tỏ các quan niệm về đời sống và về chính trị, nhưng chúng hiện hữu trước hết như những hình ảnh và ngôn ngữ thơ ca. Bài thơ “Hòn đá làm ra lửa” vận động như một cấu trúc trầm tư và mô tả. Bài thơ tập trung vào các chi tiết cụ thể, ngắn gọn, có thật, trong những đoạn thơ đặc biệt, sự mô tả ấy chuyển thành những suy nghĩ triết lý, sự phản kháng, tiếng cười và tiếng khóc thầm lặng lẽ, xao xuyến trước cuộc đời bất trắc và lòng tin vững mạnh vào giá trị của một truyền thống xã hội đã mất.Trần Dạ Từ chưa bao giờ tỏ ra nghi ngờ sức mạnh của ngôn ngữ như một số nhà thơ sau này. Nỗi băn khoăn có tính triết học ấy ít xảy ra trong một xã hội đầy biến động khi ngôn ngữ hiển nhiên trở thành phương tiện quan trọng và cuối cùng của việc gìn giữ các niềm tin và truyền đi những giá trị cao quý. Kẻ sống sót sau chiến tranh vừa cảm thấy có lỗi với người đã mất, bạn bè mình, đồng thời tự mang thêm trách nhiệm của những người ấy trên vai, trong cuộc hành trình đi qua cái chết.
Có thể sẽ không còn. Cũng chẳng mất đi đâu
Dòng chảy nào không thẩm thấu, không bốc hơi
Có thể chúng ta vẫn quân quất đâu đó
Như bọt nước tung tóe reo vui
Nơi này. Nơi kia
Trong bước đi bất tận của dòng suối sinh nở
Khác với các nhà thơ hậu Auschwitz của châu Âu như Samuel Beckett, các nhà thơ Việt Nam thời kỳ sau này có nhiều niềm tin hơn vào khả năng bày tỏ và giao tiếp của thơ ca. Rõ ràng là trong một bối cảnh kinh hoàng không kém, hỗn loạn không kém, vì nhiều lý do, các nhà thơ ấy tin rằng họ có thể vượt qua thời đại khó khăn mà không gục ngã, bằng sự can đảm của người tin vào các giá trị mà họ bảo vệ. Tôi cho rằng chính niềm tin ấy trực tiếp dẫn họ đến niềm tin vào ngôn ngữ, hiện tượng ít tra vấn đối với nó.
Cánh cửa bứt khỏi cổng. Nhà bứt khỏi người
Trang giấy bứt khỏi mặt bàn
Chữ nghĩa bứt khỏi sách
Đó là hoàn cảnh bên ngoài chống lại ngôn ngữ. Đó là sự truy vấn hiện thực, một hiện thực không bình thường. Mặc dù hình như Trần Dạ Từ chỉ nói về những điều ông biết, sống với chúng, đã nghiền ngẫm chúng, như tình yêu thời trẻ và năm tháng tù đầy, sự thật của chúng không phải là không có gì để bàn cãi nữa. Sự hoang dã của điều kiện sống trong nhà tù và điều kiện xã hội bên ngoài, đặc biệt những năm bảy mươi tám mươi thế kỷ trước, là chống lại văn hóa dân tộc. Niềm hy vọng của tác giả trong bài thơ “Hòn đá làm ra lửa” có phải là một ảo tưởng không? Có phải những năm tháng tù đầy sẽ chấm dứt và tự do sẽ xuất hiện. Có phải sự đoàn tụ của hai người yêu nhau sẽ làm nên một ngày mới, có phải sự kết hợp giữa hai hòn đá sẽ làm ra lửa. Có phải đó là niềm lạc quan không thực tế? Ngày nay nhìn lại sau chừng ấy năm, người đọc có thể nghĩ thế, và họ có thể đúng. Nhưng vào khoảnh khắc ấy của lịch sử, niềm hy vọng ấy không phải chỉ là hy vọng. Đó là khả năng sống sót của một nạn nhân, nhờ thế người tù ấy có thể bước qua mặt đất bùn lầy, giúp họ ngẩng đầu lên trong buổi sáng tháng Giêng.
Tôi biết bạn bè chúng ta, kẻ thù chúng ta
Quê hương đẫm lệ và thế giới ngộp khói của chúng ta sẽ ra sao
Tôi biết chúng ta sẽ gặp nhau thế nào
Trong mắt. Trong cổ. Trong ngực em
Trong mắt. Trong cổ. Trong ngực tôi
Tôi nghe nó thì thầm
“Chẳng hề hấn gì. Chẳng hề hấn gì”
Và tôi mỉm cười
Thư thái hình ảnh em bước tới
Thơ Trần Dạ Từ, như thế, là một tình yêu tự ý thức. Tình yêu thực sự bao giờ cũng ngây thơ, gần như tuổi trẻ, xúc cảm, bồng bột, mạnh mẽ, điên cuồng, ít tự ý thức. Nhưng đến một lúc nào, bỗng dưng mọi chuyện trở thành giản dị trước mặt bạn, như chân trời mở ra sau một khúc quanh. Bạn vẫn còn dũng cảm và liều lĩnh, nhưng bạn hiểu được giới hạn của mình. Thi sĩ hiểu rằng giữa tình yêu và cuộc đời, giữa trái tim và hiện thực, nhiều khi có những sự thật khác. Bao giờ cũng có một khoảng cách. Phương pháp của Trần Dạ Từ là sử dụng các vần điệu cổ điển, thậm chí các hình ảnh cũng không mới, để nói về một tình cảm rất mới. Tình yêu thì có gì mới? Nhân loại ngàn đời vẫn yêu nhau như thế. Nhưng thi sĩ không cần biết điều ấy. Thật khó khăn để tự nhìn lại mình. Một bài thơ tự nhìn lại mình khi phải đi xa một quãng, giữ được khoảng cách với đối tượng của nó. Thơ trong tù của Trần Dạ Từ đóng góp vào dòng thơ lừng lẫy của những tù nhân lương tâm: Vũ Hoàng Chương, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Chí Thiện, Cung Trầm Tưởng, Trần Dạ Từ, Hoàng Hưng, Hà Thúc Sinh. Những bài thơ nổi bật của ông: Thơ mừng sinh nhật Nhã 83, Chôn bạn ngày mưa, Hòn đá làm ra lửa. Giai đoạn ở tù, và sau đó nữa, bài thơ Hòn Đá Làm Ra Lửa dài như trường ca, dữ dội, huyền ảo, phát sáng. Bài thơ đứng vững chãi như tư cách của người tù lương tâm. Đi qua một xã hội chiến tranh, những ngày mất tự do và bị hành hạ, cuộc sống lưu vong, những gánh nặng, bài thơ như một người ngồi bên kia đường trong một quán cà phê tồi tàn, ở một góc tối mà bạn không nhìn rõ vì bạn ở ngoài mới bước vào, nhưng định thần lại bạn có thể nhìn thấy. Như vậy sức mạnh của bài thơ nằm ở sự chuyển hóa, ở khả năng thay đổi, sự phức tạp của hình ảnh, của ngôn ngữ, của thông điệp, sự phức tạp ấy đã từng làm hỏng nhiều bài thơ của các tác giả khác nhau và ngay cả những người viết tài năng cũng bị nó dẫn đi lạc đường, đã trở thành quyền lực của ngôn ngữ trong trường hợp “Hòn đá làm ra lửa”. Đó là một bài thơ vừa độc thoại vừa đối thoại, vừa trữ tình vừa có tính kịch, nhiều mô tả mà vẫn đi giữa thức điệu trầm tư sâu lắng. Từ ngữ phóng khoáng mà chặt chẽ, phép tu từ khéo léo ẩn kín. Cấu trúc thoáng đãng, nửa như một bài hành, nửa như một trường ca, đi dọc xương sống thời gian, quay vòng trở lại, với điệp khúc, các hình ảnh lặp lại, như xáo trộn của ký ức đối với người khác. Người khác đối với ta không phải là địa ngục. Người khác đối với ta là chú tâm, là hy vọng, là ý nghĩa. Cũng như trong tình yêu, chỉ sự hiện diện đã làm đầy tất cả. Sự gần gũi, tin tưởng, sự không phân biệt giữa một người đem lòng yêu người khác và một người được yêu thương, sự đồng nhất ấy là cao quý trong những quan hệ giữa người và người. Thơ làm xúc động người đọc không chỉ bằng kêu gọi, thương khóc, hay bày tỏ thái độ, nước mắt, sự kêu ca, thậm chí, căm giận lộ rõ. Tất nhiên không phải bao giờ Trần Dạ Từ cũng được thế, trong một số bài thơ, một số đoạn thơ, ông vẫn không giữ được bình tĩnh đối với kẻ thù. Nhiều người cũng có nhược điểm ấy, họ quên mất rằng trong các tranh luận lịch sử, dù trong văn chương hay các cuộc bầu cử, trong khi chúng ta giận dữ thì kẻ thù bình tĩnh. Mục đích của tranh luận không phải là kẻ đối diện, mục đích của nó là khán giả. Thật ra cũng chính bằng cảm xúc dữ dội mà ông viết được những câu thơ ít người viết được trong hoàn cảnh khốn khổ, ở vị trí cao hơn hẳn so với tội ác.
Chiến tranh. Cách mạng. Ngày hội của quần chúng
Tội nghiệp. Họ được dạy dỗ thế
Tội nghiệp. Họ tin sống tin chết như thế
Đó gần như là sự ngạo nghễ. Nhưng trước đó nhà thơ cũng đã có lúc nói:
Tôi quên nói với em điều này:
Tôi yêu em đến mức có thể yêu luôn
 những người đang gọi chúng ta là kẻ thù
Hòn đá bình thường mà kỳ dị kia chính là một nhân vật, nhân vật thứ ba của bài thơ tình. Trong bài thơ dài ấy còn có nhiều người khác.
Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa. Sắp chết
Sẽ đến lượt Lưu. Đến lượt Lê. Đến lượt Doãn
Có thể sẽ không còn chúng ta
Câu thơ bi đát, lớn lao. Có thể sẽ không còn chúng ta, người trí thức tự do. Tinh hoa của dân tộc. Điều ấy thật đáng sợ. Sự mất mát, thua cuộc, sự sụp đổ của một nửa đất nước, sự tan vỡ của những hạnh phúc, sau những thứ ấy con người sống thế nào? Bằng lòng tri ân không ngớt đối với cuộc đời, sự giữ gìn cẩn thận các giá trị văn hóa.  Lòng tự trọng, kiên nhẫn lặng lẽ, sự trầm tư, cảm giác vững chãi khi đặt chân lên mặt đất, cảm giác thuộc về. Và lòng tin, bao dung, có cái cười mỉm rất lặng lẽ.
Lửa và khói. Hạnh phúc và lỗi lầm
Chúng ta đã bứt ra khỏi nhau
Em mất tích. Em kiệt sức. Em một mình
Thật quá nặng cho em
Làm sao em thở
Trong một thời đại như hôm nay, thơ ca hoặc là lạc đường hoặc là tìm lại được sứ mệnh của nó, ngôn ngữ hoặc là bị xé nát, bị lạm dụng, bị biến đổi hoặc là tìm thấy sức mạnh lớn nhất của nó, khả năng chia sẻ.
Lòng ta ở với người
Dù thân ta đầy ải
Dù sức ta đĩa dầu vơi
Vẫn sáng lên một lời
Lời ta ở với người
Bài thơ này được tác giả phổ nhạc. Trần Dạ Từ là một nghệ sĩ đa năng: làm báo, làm thơ, viết nhạc. Là tác giả của nhiều ca khúc. Nhờ những người như ông, thơ và nhạc nắm tay nhau như hai tri kỷ.
Chàng thi sĩ ngu ngơ
Và năm tháng bơ vơ
Bờ nắng bờ mưa
Mẹ già khô héo
Nợ nần kêu réo
Ân oán mè nheo
Xương máu hò reo
Bạn hãy nghe “Gọi Tên Dòng Sông“(5). Khi tôi nghe Tuấn Ngọc hát bài này, hay Quang Tuấn, trong một bài khác, tôi nhận ra sức mạnh của âm nhạc, của âm thanh, của sự hiện diện của người khác. Nhân đây, cần nói thêm rằng khi ca từ đạt đến đỉnh cao của vẻ đẹp ngôn ngữ, chúng tựa như thơ. Chính vì vậy mà nhiều người nghĩ lầm rằng ca từ cũng là thơ, nhưng thật ra, tuy có nhiều điểm tương đồng, chúng vẫn khác nhau. Thơ là ngôn ngữ trên nền trắng im lặng. Ca từ, hay lời của ca khúc, là ngôn ngữ trên nền của âm thanh. Chính các giai điệu, các nhạc cụ, cấu trúc thính phòng, không gian, khán giả…tạo ra hậu cảnh hay môi trường của ca khúc. Như vậy, thơ không cần môi trường, ca khúc cần môi trường. Mặt khác, như thi sĩ Hayden Carruth(6) nói: lịch sử thực sự của văn học là lịch sử của tình yêu. Ngôn ngữ, cũng như âm nhạc, không làm thay đổi lịch sử, nhưng có thể thay đổi cái nhìn của chúng ta đối với nó. Xuyên suốt nhiều năm, mặc dù với số lượng tác phẩm không lớn, Trần Dạ Từ thường xuyên trở lại với những ưu tư về thế sự, nỗi lo âu đối với đời sống và xã hội cùng thời, những tra vấn có tính triết học đối với số phận cá nhân, không ngừng trở lại với tình yêu và phẩm chất của nó, sự vui thú, chia sẻ, sự hy sinh. Ngôn ngữ thơ ngắn gọn, nhiều động từ, nghĩa cụ thể, nặng về mô tả, giọng thản nhiên, hài hước, có chút bi phẫn nhưng không cay đắng, là một câu chuyện kể có thứ tự trước sau với những mảnh rời xếp chồng lên nhau. Đó là câu chuyện của hai người yêu nhau, của vợ và chồng hay tình nhân, sự chia tay nhưng không đổ vỡ, sự xa cách nhưng gắn bó, sự mất mát nhưng vẫn sở hữu. Sự thua trận nhưng vững vàng, lòng tin vào chiến thắng cuối cùng của lương tâm. Cấu trúc của một bài thơ hay thường có những điểm uốn về tư duy hoặc giọng điệu, đôi khi những bước ngoặt. Điều này thấy rõ hơn trong những bài thơ dài, trường ca, nhưng cũng có thể xuất hiện ở những bài thơ ngắn khác. Nhân vật trong bài thơ Hòn đá làm ra lửa có thể xem là tác giả. Hoàn cảnh và điều kiện của nhân vật ấy, trong tù đầy, dành một không gian cho riêng mình, một lãnh thổ của tự chủ, nhẫn nại, lòng yêu đời, như cánh cửa đêm đêm vẫn mở lòng ra hít thở khí trời.
Không hề từ mặt trời từ gió nồm
Chính từ lửa chung của đôi ta
Những cành phượng chụm đầu bốc cháy
Lợp đỏ một mùa hè ngây dại
Thơ trữ tình còn là nhận thức, triết lý về xã hội. Trong hầu hết các bài thơ của Trần Dạ Từ, có những khúc quanh, đưa người đọc từ chỗ tối ra chỗ sáng, hoặc ngược lại từ sự mất mát đến hoài niệm, từ cái chết đến hy vọng, từ trạng thái an toàn, hòa bình tạm thời đến chiến tranh. Thơ ông có một nhịp điệu âm nhạc giấu kín, bề ngoài phóng túng mà bên trong chặt chẽ. Tôi chưa thấy ai viết về một thành phố, Sài Gòn phải không, văn xuôi mà nhiều nhạc tính như thế này.
Chớp mắt. Thấy mình có trong nhau
Mở cửa. Thấy anh em đông đủ
Bắt tay, chào hỏi. Thấy thành phố
Bước đi, trò truyện. Thấy quê hương
Hất mặt, vươn vai. Thấy bầu trời
Hít hà. Thấy thời đại mình thở
Phải rồi. Chúng ta có chung một thành phố
Nhạc tính ẩn kín ấy là niềm lạc quan, tình yêu đời sống, niềm tin vào con người, vang mãi trong ngôn ngữ của Trần Dạ Từ năm này qua năm khác, như vốn quý mà dân tộc ký truyền lại. Giọng điệu ấy là độc thoại, trữ tình, nhưng vẫn có tính đối thoại, giao tiếp, tính kịch. Một người muốn chia sẻ, trước hết phải khiêm tốn và mạnh mẽ, nhẫn nhục và khoan thứ, và ấm áp.
Sự nhẹ nhõm tự nhiên trong việc chọn chữ làm cho sự giản dị trở thành cái đẹp tự nó, và hình ảnh sắc bén và giàu có, ý tưởng rõ ràng, và có cả một nhân cách đứng đằng sau những bài thơ viết trong ngày khó khăn của đời mình, tất cả những thứ ấy đã làm ông trở thành một trong những nhà thơ nhân chứng quan trọng của thời thế hôm nay, của tình yêu hôm nay.
Đêm biếc cành soan, thơm giấc mơ
Đầu hiên hoa trắng nở bao giờ
Em mười sáu tuổi trăng mười sáu
Áo lụa phơi buồn sân gió xưa
Kể từ những bài thơ tình đầu đời, được nhiều người yêu mến, trong một không gian hạnh phúc, những ngày dậy thì của miền Nam, đến những bài thơ thế sự đa đoan của giai đoạn chiến tranh khốc liệt, đến những bài thơ viết trong tù và sau đó, trong hoàn cảnh nhiễu nhương, thơ Trần Dạ Từ cốt lõi vẫn là thơ tình, là lòng say mê đắm đuối đối với cái đẹp và lương thiện, là lời ca hát không ngừng của hạnh phúc đôi lứa, thanh sạch vững vàng.
Chú thích:
(1) Trích đoạn chú thích của nhà thơ Trần Dạ Từ: Tỏ Tình Trong Đêm, xuất bản bởi Tạp chí Tiếng Nói, Sài gòn 1965.  Sau khi phát hành, tập thơ bị thu hồi giấy phép xuất bản vì lý do “vi phạm sự kiểm duyệt”, sách bị tịch thu. Một số thơ trong tập được chuyển sang Anh ngữ và phổ biến tại Hoa Kỳ thời cuối thập niên 60’ bởi Giáo sư Huỳnh Sanh Thông tại Đại Học Yale và một số dịch giả khác. Các bản dịch Anh ngữ của Huỳnh Sanh Thông được in lại trong “An Anthology of Vietnamese Poems: from the Eleventh through the Twentieth Centuries”  do Yale University Press xuất bản năm 1996. Bản thảo được đánh máy lại  từ ấn bản đầu tiên do một thân hữu tại Pháp còn giữ trao cho tác giả năm 1991. Một số câu, đoạn  thơ  từng bị sai lạc khi phổ biến dưới sự kiểm duyệt được chỉnh sửa lại theo trí nhớ.
(2) Tập thứ hai này được Giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1971 – 1972.  Trang đầu tiên của tập thơ ghi:  Thuở Làm Thơ Yêu Em, Phổ nhạc: Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Phạm Duy, Bìa và minh họa : Nguyễn Trung, NXB Thương Yêu 1971.
Từ 1971 tới 1975, sách ba lần được tái bản.
Bài tiểu luận này khởi đầu từ thơ Trần Dạ Từ trong tập ấy.
(3) Hòn Đá Làm Ra Lửa (chú thích của tác giả, bản gốc): Trại tù Gia Trung-Hàm Tân, Vietnam 1979 – 1988. Viết thành chữ lần đầu tại Thụy Điển, tháng 11, 1988.
(4) Chú thích củaTrần Dạ Từ cho “Tấm Lòng Phan Rang“. – Ở đầu bài: “Nơi đoàn xe chở tù đi lưu đày phải ngừng đổ xăng, vào buổi trưa ngày 30 tháng 8 năm 1977” – Ở cuối bài: “Ca khúc Trần Dạ Từ 1978. Thu thanh lần đầu:  Nguyên Khang, trong CD 2015, “Thương Linh: Bay”. Trình diễn lần đầu:  Lê Uyên . Segerstrom Center for the Arts. Costa Mesa, California, May 30, 2015”
(5) Ca khúc “Gọi Tên Dòng Sông”
www.youtube.com/watch?v=BuzwgRX6sPs
Trình diễn lần đầu: Tuấn Ngọc, Segerstrom Center for the Arts. Costa Mesa, California, May 30, 2015.
Trước 1975, tại Sai gon Trần Dạ Từ từng nhiều năm chủ trương Tuần báo nghệ thuật “Truyền thanh và truyền hình,” đồng thời là nhà sản xuất chương trình âm nhạc cho Đài phát thanh.  Qua những năm tù đày,  những bài thơ ngắn khác được ông phổ nhạc thành  “bài hát thơ” theo nghĩa như cặp đôi từng được mô tả trong kinh Vệ Đà “Anh là bài hát / Em là câu thơ“.
(6) “the real history of literature is the history of love”, ghi theo trí nhớ của người viết.
Tài liệu tham khảo:
* Cám ơn nhà thơ Trần Dạ Từ đã cung cấp những văn bản chính xác, kèm các chú thích, mà người viết đã dùng để trích đăng thơ và đưa vào chú thích trong tiểu luận này. NĐT.
* Đỗ Quý Toàn, Tìm thơ trong tiếng nói, NXB Thanh Văn, 1992
* Caroline Forché, Against Forgetting, NXB Norton, 1993
* Thi Vũ, Bốn mươi năm thơ Việt Nam, 1945-1985, NXB Quê  mẹ, Paris 1993
* Hanna Segal, Psychoanalysis, Literature and War, NXB Routledge, London, 1997
* David Constantine, A Living Language, NXB Bloodaxe, 2004.
16/4/2018
Nguyễn Đức Tùng
Nguồn: Vanvn.vn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tôi đã "Đạo" văn như thế nào

Tôi đã "Đạo" văn như thế nào Mấy hôm nay trên mạng diễn ra một cuộc tranh luận hiện đang còn bất phân thắng bại. Song điều đó kh...