Thứ Hai, 2 tháng 11, 2026

XXXXXXXAnne Carson: Người thách thức giới hạn văn chương

Anne Carson: Người thách thức
giới hạn văn chương

Giải thưởng Nobel Văn chương 2026 gọi tên nhà văn Anne Carson, nổi tiếng với những sáng tác phá vỡ ranh giới thể loại, ở đó thần thoại, triết học và trải nghiệm cá nhân giao thoa. Trước đó, Annie Ernaux, Han Kang hoặc Bob Dylan, Jon Fosse đều là những nhà văn được Giải thưởng Nobel tôn vinh vì những nỗ lực trong tìm hình thức biểu đạt mới cho văn chương.

Dù chưa có sách xuất bản tại thị trường Việt Nam, Anne Carson có lẽ không quá lạ lẫm với cộng đồng người yêu văn chương. Với sự nghiệp kéo dài hơn bốn thập niên, Carson đã khẳng định vị thế của mình trên văn đàn quốc tế bằng một gia tài sáng tác đa dạng, trải rộng từ thơ ca, tiểu luận, dịch thuật đến kịch và các hình thức văn chương liên thể loại. Những đóng góp ấy đã được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng văn học danh giá, trong đó có T.S. Eliot Prize, Griffin Poetry Prize, Lannan Literary Award for Poetry…

David Leonard, giám đốc điều hành Writers’ Trust of Canada, gọi các tác phẩm của Carson là “mê hoặc”. “Sáng tác của bà có phạm vi rộng, nhưng đồng thời cũng vô cùng thông tuệ. […] Chúng đẹp, thông tuệ, chân thực và giàu tính nhân văn. Đó chính xác là những gì chúng ta cần trong văn chương”.

Thơ, tiểu luận, tiểu thuyết, ký, dịch thuật hay kịch không tồn tại như những phạm trù tách biệt, mà liên tục thâm nhập và biến đổi lẫn nhau trong tác phẩm của Carson. Chính sự bất định về thể loại cũng trở thành một trong những đặc điểm làm nên phong cách của bà.

Những sáng tác khó định nghĩa

Dường như thật khó để đóng khung sáng tác của Anne Carson. Không chỉ về hình thức, sáng tác của bà cũng là những hòa trộn lồng ghép của nhiều chủ đề, nhân vật và bối cảnh tưởng như không thể dung hòa.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Carson, Autobiography of Red (tạm dịch: Tự truyện của Đỏ) được chính bà định nghĩa là tiểu thuyết dạng thơ, trong đó, quái vật Geryon (Geryoneus) trong thần thoại Hy Lạp bỗng là một cậu bé kỳ lạ với đôi cánh màu đỏ, sống giữa thời hiện đại và phải đối diện với những rắc rối gia đình, những trăn trở tình yêu và danh tính. Và tình yêu của đời cậu? Anh hùng Herakles (Hercules), con trai của thần Zeus và Alcmene, hay một cậu bé lạc lối, người quyến rũ Geryon rồi bỏ rơi cậu trong cơn cuồng loạn.

Trong thần thoại, Herakles giết Geryon. Trong Autobiography of Red, Geryon yêu Herakles. “Cái chết” của Geryon trong thần thoại đã được Carson chuyển hóa thành một dạng mất mát tình cảm.

Tại sao lại là “Tự truyện của Đỏ”? Đây là một tự truyện vì Anne Carson trao cho quái vật Geryon quyền tự kể câu chuyện với góc nhìn của mình. Còn màu đỏ, đó là màu phản ánh những chủ đề quan trọng nhất của tác phẩm: dục vọng, tình yêu, đam mê, cơn giận, nỗi hổ thẹn… Một vòng xoáy gây choáng váng của những dòng thơ biến câu chuyện thần thoại thành cuốn tiểu thuyết về hành trình trưởng thành.

Vốn là một dịch giả có tiếng, ngôn ngữ của Anne Carson mang một vẻ đẹp đầy cá tính. Bà hiểu rõ bản chất của ngôn từ. Cách một từ có thể được hiểu nhiều nghĩa, khi được đặt trong ngữ cảnh khác nhau, hoặc chỉ đơn giản là vào một vị trí khác trong một câu.

Carson dường như hiểu rõ tính tự trị của ngôn ngữ, và bà trao quyền cho ngôn ngữ để tự biểu nghĩa theo cách của mình, đồng thời, trao quyền cho độc giả tiếp nhận ngôn ngữ theo cách họ hiểu, bởi vì “từ ngữ có sức nảy. Các ngôn từ, nếu bạn thả chúng ra, sẽ làm những gì chúng muốn làm và những gì chúng phải làm” (“Words bounce. Words, if you let them, will do what they want to do and what they have to do”, trích Autobiography of Red).

Tài năng của Carson dường như không nằm trong việc kiểm soát ngôn ngữ, bà trả tự do cho ngôn ngữ thì đúng hơn. Ở tác phẩm của bà, ta luôn tìm thấy một sự nổi loạn, một thôi thúc phá bỏ khuôn khổ nhất định.

Điều này có lẽ sớm phản ánh trong chính hành trình sự nghiệp của bà. Bản thân Carson đã bỏ học đại học hai lần, bối rối trước những ràng buộc về chương trình giảng dạy. Dù vậy, bà không từ bỏ hẳn sự nghiệp học tập nghiên cứu. Năm 1981, bà hoàn thành luận án tiến sĩ, một nghiên cứu eros và dục vọng trong thơ trữ tình Hy Lạp và La Mã, mang tên Odi et Amo Ergo Sum (tạm dịch: Tôi yêu, tôi ghét, vậy nên tôi tồn tại).

Bà xuất bản tập thơ đầu tiên Canicula di Anna năm 1984 trước khi xuất bản tác phẩm văn xuôi đầu tay vào năm 1986, Eros the Bittersweet, công trình nghiên cứu về tình yêu và dục vọng trong văn học Hy Lạp cổ đại phát triển từ chính luận án tiến sĩ của bà. Eros the Bittersweet không phải một công trình nghiên cứu hàn lâm truyền thống mà mang nhiều đặc điểm của sách lý luận/triết luận và văn chương sáng tạo, đặt nền móng cho những sáng tác phá cách sau này của bà, không chỉ về mặt hình thức mà còn về mặt tư tưởng.

Chẳng hạn, Autobiography of Red lấy một câu chuyện từ thần thoại Hy Lạp, nhưng Carson biến nó thành một câu chuyện hiện đại về ham muốn, khoảng cách và tình yêu không thể sở hữu. Có thể thấy, bà không đơn thuần tái kể thần thoại mà đối thoại với nó, tìm kiếm những khả năng mới trong những câu chuyện tưởng như đã được định hình từ lâu.

Giải Nobel cho người biết thách thức giới hạn văn chương

Xu hướng liên thể loại tiếp tục được phát triển trong những tác phẩm như Glass, Irony and God và Plainwater: Essays and Poetry, trong đó, bà kết hợp thơ với tiểu luận, suy tưởng và những hình thức văn xuôi ngắn. Với The Beauty of the Husband: A Fictional Essay in 29 Tangos, Carson định nghĩa sáng tác này là một “tiểu luận hư cấu”, đan xen thơ, tự truyện, triết luận và hình thức tango để kể về sự đổ vỡ của một cuộc hôn nhân.

Trong sự nghiệp kéo dài hơn bốn thập niên, Anne Carson liên tục thử nghiệm với ranh giới giữa thơ, tiểu luận, dịch thuật, thần thoại, tự truyện… Kết hợp vốn am tường về kinh điển học và tinh thần táo bạo trong sáng tác thể nghiệm, Anne Carson dễ dàng chinh phục được giới phê bình trên thế giới. Các tác phẩm của bà thường được nhận xét là vừa giàu tính học thuật vừa có khả năng biểu đạt cảm xúc mạnh, đồng thời liên tục phá vỡ những ranh giới thông thường giữa các thể loại văn học.

Ngày 8.10, giải Nobel Văn chương gọi tên Anne Carson, “vì những tác phẩm táo bạo và đầy sức sáng tạo, nơi bà đối thoại với truyền thống cổ điển bằng một tinh thần phóng khoáng, tài hoa, từ đó khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại”.

Lựa chọn này dường như tiếp tục truyền thống của hội đồng Nobel trong việc tôn vinh những nhà văn có nhiều nỗ lực trong thúc đẩy giới hạn của văn chương.

Năm 2015, Svetlana Alexievich và các tác phẩm ranh giới giữa báo chí, tư liệu và văn chương được Viện hàn lâm Thuỵ Điển vinh danh “vì những tác phẩm đa thanh, một tượng đài cho đau khổ và lòng can đảm trong thời đại chúng ta”.

Năm 2016, nhạc sĩ Bob Dylan được trao Nobel Văn chương “vì đã tạo ra những biểu đạt thi ca mới trong truyền thống ca khúc lớn của Mỹ”, cho thấy những lời ca cũng là một hình thức biểu đạt thi ca.

Năm 2022, Annie Ernaux được ghi nhận vì cách bà khai thác ký ức cá nhân và tập thể trong các tác phẩm lu mờ ranh giới giữa hư cấu và phi hư cấu.

Năm 2023, Jon Fosse được trao giải cho những vở kịch và văn xuôi đổi mới, đưa “những điều không thể nói thành lời” vào văn chương.

Gần đây hơn, Han Kang được vinh danh năm 2024 với thứ văn xuôi giàu tính thi ca, phơi bày sự mong manh của con người qua những sang chấn lịch sử, trong khi László Krasznahorkai năm 2025 được trao giải cho một sự nghiệp sáng tác mang tính thị kiến, trong đó, ông biến chính cấu trúc của câu văn thành một vấn đề nghệ thuật.

Đặt Anne Carson cạnh những tác gia trên, ta nhận thấy một sự tương đồng thú vị: họ mang đến những câu trả lời riêng cho câu hỏi “một tác phẩm văn chương có thể được viết như thế nào?”.

Trong bối cảnh văn học nói riêng và ngành xuất bản nói chung dường như đang bị văn AI đầu độc, những nhà văn như Anne Carson là một minh chứng rõ rệt cho thấy khả năng sáng tạo nghệ thuật riêng biệt của con người.

Khi AI có thể chỉ mất vài giây để sản xuất những văn bản trôi chảy, đúng cấu trúc và mô phỏng ngày càng tốt những phong cách đã có sẵn, những tác giả trên cho thấy giá trị của một tác phẩm không nằm ở việc nó được viết đúng hay viết đạt chuẩn, mà ở khả năng tạo ra một cách nhìn, một cấu trúc và một quan hệ mới giữa ngôn ngữ với thế giới.

16/10/2026

Anne Carson

Minh Hùng dịch

Nguồn: ZNEWS

Theo https://vanhocsaigon.com/

Giữa ảo ảnh và phù du

Giữa ảo ảnh và phù du

Matsuo Bashō qua đời rất xa quê nhà. Nhà thơ haikai và nhà văn du kí vĩ đại này đã rời Edo vào mùa xuân năm 1694 với mục đích đi đến tận cùng phía nam Nhật Bản. Đến tháng 11 năm đó, ở tuổi 50, ông đã đến Osaka để thăm bạn bè, cùng các học trò sáng tác thơ ca để rồi mắc kiết lị nặng.

Suy ngẫm về một chuyến đi đã từng thực hiện nhiều năm về trước, ông đã viết rằng: “Như một con sò/ bị tách khỏi vỏ cứng, ta chia lìa/ trong mùa thu tàn phai”. Giờ đây có thể nhìn nhận lời chia tay ấy như một điềm báo và sự tiên tri của một cuộc đời dành trọn cho việc du hành.

Trong góc nhìn hậu thế, Bashō là người thật sự “cảm được sức hút của những đám mây bị gió cuốn đi”, do đó cuộc đời của ông cũng đã dạt trôi từ nơi chốn này sang nơi chốn khác. Ông sinh ra với tên Matsuo Kinsaku vào năm 1644 và lần đầu học làm thơ khi đang làm thị vệ cho người thừa kế của một gia tộc giàu có. Mặc dù ngày nay chúng ta tôn vinh thể thơ haiku 17 âm tiết vì sự ngắn gọn cũng như trong sáng, nhưng vào thời của Bashō, dòng này được gọi là thơ haikai (hoặc nếu ba dòng thì là hokku). Ngoài điều đó ra, chúng thường là những sản phẩm mang tính tập thể với nhiều “hồn thơ cùng nhau sáng tạo, từ đó tạo nên một bài hoàn chỉnh với những liên tưởng có phần vui tươi.

Năm 1672, ông đến kinh đô Edo – nơi bản thân dần có những người theo dõi cũng như bảo trợ, và đã đổi tên gần như liên tục. Cái tên Bashō được truyền cảm hứng từ một lùm chuối trồng trong nhà mình bên sông Sumida. Ông từng viết rằng bản thân yêu thích loài thực vật này “vì sự vô dụng của nó”, và mặc dù túp lều cùng những cây chuối đã bị thiêu rụi trong trận hỏa hoạn lớn năm 1682, nhưng ông vẫn giữ tên này cho đến cuối đời.

Sự kết hợp giữa tính hiện diện và cái phù du, nơi những điều thoáng qua được lưu giữ mãi, đã định hình nên hết thảy tác phẩm hay nhất của Bashō, bao gồm cả những nhật kí hành trình và các phác thảo mà ông thực hiện trong những chuyến đi khắp miền trung Nhật Bản. Nổi tiếng nhất trong số đó là Đường hẹp lên miền bắc thẳm gần đây được Meredith McKinney chuyển ngữ, ghi lại chuyến đi kéo dài 5 tháng của ông và người học trò Sora vào năm 1689. Bắt đầu từ năm 1682, Bashō đã nhiều lần đi về phía tây dọc theo bờ biển phía nam của Honshu, thăm tu viện ở Koya-san, các kinh đô cũ Nara và Kyoto, cũng như thành phố trung tâm Nagoya trước khi trở về Edo. Ông đã viết về những chuyến đi của mình, ghi lại cảnh núi Phú Sĩ và hồ Biwa cũng như việc bỏ rơi một đứa trẻ, sự ra đời của một con nai con, những dân làng nghèo đánh cá bằng cung tên gần địa điểm của một trận chiến cổ xưa… và đã làm điều đó bằng sự kết hợp giữa văn xuôi và thơ haikai, một thể loại gọi là haibun.

Trong lịch sử văn chương, nhật kí hành trình của Bashō đã được dịch sang tiếng Anh ít nhất 8 lần, nổi tiếng bậc nhất là bản dịch của Nobuyuki Yuasa khi cách diễn đạt của vị dịch giả đã mang lại cho người đọc cảm nhận chân thực về hành trình của Basho. Theo đó ông đã đi bộ gần 1.500 dặm dọc theo bờ biển, trên những đường mòn giữa các cánh đồng và leo lên những con đường núi quanh co, mang theo áo choàng, mực, áo mưa và giày dự phòng (có lẽ học trò Sora trẻ tuổi đã giúp đỡ ông). Trong suốt hành trình, ông chú trọng tìm kiếm các di tích lịch sử, những cảnh quan nổi tiếng như quần đảo Matsushima, và đặc biệt là những địa danh được các nhà thơ thời trước nhắc đến, trong đó nổi bật hàng đầu là bậc thầy waka thế kỉ 12 Saigyō. Ông được nhiều người hâm mộ cho ở nhờ, cũng như cùng Sora và các nhà thơ địa phương khác sáng tác những bài thơ renga có tính liên kết.

Trong bản dịch mới, sát nguyên tác hơn của Meredith McKinney, mỗi trải nghiệm được cấu trúc thành một chuỗi các đoạn văn ngắn, kéo dài từ chỉ một câu cho đến vài trang, và luôn kết thúc bằng ít nhất một bài thơ hokku ba dòng của Bashō hoặc các học trò. Những bài thơ này nhằm mục đích chắt lọc trải nghiệm, loại bỏ những tạp âm cảm giác và theo đuổi cái vĩnh hằng trong khoảnh khắc hiện tại. Đơn cử khi lang thang trong khuôn viên của một lâu đài thế kỉ 12, Bashō đã dừng ở nơi “cỏ mùa hè um tùm” mọc trên những gò đất đổ nát. Ông kết thúc chuyến thăm ngôi chùa trên núi “đẹp đẽ, thanh bình” Ryūshakuji bằng cách ghi lại một khoảnh khắc của âm thanh bùng nổ: “tiếng ve sầu / xuyên sâu vào đá”. Những bài thơ hokku này phá vỡ ảo tưởng về sự tách biệt thời gian, cuốn người đọc vào khoảnh khắc sáng tác và của những sự trải nghiệm. Trong đó lịch sử, nhân chủng học, thậm chí triết học dường như tan biến, chỉ còn ta ở đó với nhà thơ và tiếng ve sầu. Và rồi họ lại tiếp tục hành trình.

Cách tiếp cận này ghi lại một hành trình được đánh dấu bởi kì vọng và biến cố, giữa điều ta hằng tìm kiếm cũng như tìm thấy. Đôi khi, như ở vịnh Matsushima, nhà thơ thoáng thấy một “kì quan của tạo hóa”. Lúc khác, ông than phiền về điều kiện khắc nghiệt của chuyến đi với những cơn mưa lớn, các con đường quanh co và những đêm ngủ giữa “bọ chét, chấy rận / và một con ngựa tè / ngay cạnh gối tôi”. Vài lần, ông thậm chí còn không nói nên lời vì bệnh tật và kiệt sức. Thường thì ông tìm kiếm những nơi được các nhà thơ trước đó nhắc đến nhưng rồi không thể tìm thấy như hằng mong đợi. Chẳng hạn bên ngoài làng Shinobu, hai người đến thăm một tảng đá nổi tiếng được biết đến trong thơ ca cổ điển bởi sẽ tạo nên họa tiết lá dương xỉ khi tiếp xúc với bề mặt nào đó. Nhưng khi đến đó, họ lại thấy nó bị chôn nửa chừng trong đất, bị dân làng đẩy úp xuống, cũng như là bị giẫm lên bởi cả người dân cũng như du khách đến với nơi đây…

Tập thơ kết thúc vào ngày 6 tháng 9 năm 1689, khi tác giả bước lên con thuyền hướng đến ngôi đền Thần đạo lớn ở Ise. Ông sẽ không trở lại Edo cho đến năm 1691, và trong lúc đó không ngừng hoàn thiện tập thơ haibun cuối cùng này cho đến khi qua đời. Chúng ta biết từ nhật kí của Sora rằng Bashō đã thay đổi nhiều tình tiết trong biên niên sử về chuyến đi của họ, thậm chí có chỗ hoàn toàn hư cấu. Đơn cử ông đã thay đổi thứ tự các cuộc gặp gỡ cũng như thay đổi bối cảnh, khiến chúng không còn chính xác. Ông cũng chỉnh sửa các dấu chấm câu, thách thức niềm tin sẵn có về thơ haiku như một ghi chép mang tính tự phát về các cảm xúc thoáng qua. Để đạt được sự ngắn gọn, ông không ngừng sửa vào lúc cuối đời.

Bằng điều này, Bashō đã cho ta thấy một chuỗi mâu thuẫn gần như hiển nhiên: một ghi chép được hư cấu về một cuộc hành trình có thật, chứa đầy những phiên bản được chỉnh sửa của những bài thơ tưởng chừng ngẫu hứng. Ở đó rời khỏi thềm nhà là bước vào thế giới của sự diễn giải, nơi tất cả mọi thứ dẫu xa lạ hay (dường như) quen thuộc đều được đặt trong khuôn khổ cố định. Vì lí do này, nhật kí du hành thường có xu hướng thay thế những địa điểm và con người có thật mà chúng ghi lại. Herodotus, theo đó, đã viết về những con rắn biết bay và những con kiến ​​khổng lồ có thể giết chết lạc đà; hay dẫu đến với Trung Quốc nhưng Marco Polo không hề để ý đến đũa hay Vạn Lý Trường Thành; mà lại tái hiện những kẻ ăn thịt người và nhiều người đàn ông có đầu găm thẳng vào ngực…

Nhưng sự “cải biên” này của Bashō có phần khác biệt khi tương đối chân thành. Đó là một sự tổng hợp thi vị, một nỗ lực để dung hòa tình yêu dành cho những tác phẩm kinh điển vĩnh cửu với thế giới luôn luôn biến mất xung quanh chúng ta. Thay vì ghi chép về những nơi đã đến hoặc những người đã gặp, Đường hẹp lên miền Bắc thẳm cho thấy ý nghĩa của những cánh hoa cỏ ba lá, những mầm lúa xanh cùng tiếng ve sầu kêu vang trong đá – từ những điều tầm thường xuất hiện trước mắt và rồi biến mất mãi mãi. Sẽ là sai lầm nếu như mong đợi một ghi chép chính xác về những điều như vậy, bởi Bashō biết niềm tin vào sự chính xác cũng như bất biến chính là ảo tưởng. Có thể nói rằng chúng ta viết thơ, chúng ta du lịch, chúng ta tìm kiếm ý nghĩa nào đó trong một thế giới luôn luôn thay đổi – một thế giới không có mục đích nào khác ngoài việc đổi thay.

Bốn ngày trước khi qua đời, Bashō gọi một đệ tử đến bên giường và cất tiếng đọc bài thơ cuối cùng: “Ốm yếu trên đường đi, / giấc mơ của ta lang thang / trên đồng cỏ úa.” Giống như con sò bị tách khỏi vỏ, ông không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục hành trình của mình.

15/10/2026

Matsuo Bashō

Ngô Minh dịch

Nguồn: VNQĐ

Theo https://vanhocsaigon.com/

Những cuộc tháo chạy

Những cuộc tháo chạy

Một trích đoạn tác phẩm Flights của nhà văn Olga Tokarczuk bao gồm 116 đoản văn và truyện, một số hư cấu, một số phi hư cấu, đoạn ngắn nhất chỉ dài hai câu, truyện dài nhất có thể tách thành một tiểu thuyết riêng. Chủ đề xuyên suốt của tác phẩm là sự dịch chuyển, tính chất hữu hạn của cơ thể và ý nghĩa của một nơi chốn thuộc về. Tựa đề gốc của tác phẩm là Bieguni, tên gọi một nhóm người Slavic hư cấu khước từ lối sống định cư và chọn cách sống liên tục di chuyển, rày đây mai đó.

Cô ngồi dậy trên giường, cảm giác nhồn nhột vì những giọt mồ hôi giữa ngực. Chiếc áo ngủ dính chặt vào người cô như lớp da sắp lột. Cô dỏng tai nghe ngóng trong bóng tối và bắt được tiếng thút thít khe khẽ vọng ra từ phòng của Petya. Cô quơ chân tìm dép một lúc, nhưng rồi bỏ cuộc. Cô sẽ chạy chân đất đến chỗ con trai. Kế bên, cô thấy đường nét tối mờ của một người đang cựa mình và thở dài.

“Sao?” – người đàn ông lẩm bẩm, ngái ngủ, nằm xuống gối trở lại.

“Không có gì, Petya”.

Cô bật một ngọn đèn nhỏ trong phòng con và lập tức nhìn thấy đôi mắt nó. Chúng mở to nhìn cô từ bên trong những hố sâu đen ngòm đau đớn mà ánh đèn khắc lên khuôn mặt thằng bé. Cô đặt tay lên trán nó, theo bản năng, như mọi lần. Trán nó không nóng nhưng đẫm mồ hôi, ướt rượt. Cô cẩn thận kéo con đặt ngồi lên rồi xoa lưng nó. Đầu con trai cô ngả lên vai cô; Annushka có thể ngửi thấy mùi mồ hôi, nhận ra cơn đau trong đó, một điều mà cô đã học được: Petya có mùi khác khi nó đang đau.

“Con cố đến sáng được không?” – cô thì thầm, dịu dàng, nhưng rồi nhanh chóng nhận ra đó thật là một câu hỏi ngu ngốc. Tại sao thằng bé phải chịu đựng đến sáng? Cô với tay lấy vỉ thuốc để trên tủ đầu giường, bóc ra một viên, cho vào miệng con. Tiếp theo là một ly nước ấm. Đứa bé uống, sặc nước, vì vậy một lúc sau cô cho nó uống một ngụm nữa, lần này cẩn thận hơn. Thuốc sẽ sớm có tác dụng, cô đặt cơ thể mềm oặt của con nằm nghiêng sang phải, kéo đầu gối lên dưới bụng, nghĩ rằng con sẽ thoải mái nhất trong tư thế này. Cô nằm xuống cạnh con trên mép giường rồi tựa đầu lên tấm lưng giơ xương của con, lắng nghe không khí biến thành hơi thở khi đi vào phổi đứa bé và thải ra vào bóng đêm. Cô chờ đến khi tiến trình này trở nên nhịp nhàng, dễ dàng, tự động, rồi cô đứng dậy, thận trọng, rón rén quay về giường. Cô thà ngủ lại trong phòng của Petya ,như cô vẫn làm cho đến lúc chồng cô trở về. Như thế tốt hơn, tâm trí cô dễ chịu hơn,khi chìm vào giấc ngủ và thức dậy đối diện con. Không phải mở chiếc giường đôi đó ra mỗi đêm: cứ để trống nó. Nhưng chồng là chồng.

Anh trở về bốn tháng trước, sau hai năm đi xa. Anh trở về trong bộ thường phục, chính bộ quần áo anh đã mặc lúc đi, giờ đã lỗi mốt, dù bạn có thể thấy chúng hầu như không hề được mặc. Cô ngửi chúng, chúng chẳng có mùi giống thứ gì, có thể là mùi ẩm rất nhẹ, mùi của sự bất động, một nhà kho đóng kín.

Anh trở về rất khác – cô nhận ra ngay – và đến nay, anh vẫn khác. Đêm đầu tiên, cô xem xét cơ thể anh – nó cũng khác, cứng hơn, to hơn, nhiều cơ bắp hơn, nhưng yếu ớt một cách kỳ lạ.

Cô chạm vào vết sẹo trên vai và da đầu anh, tóc anh rõ ràng đã thưa và bạc hơn. Đôi tay đã trở nên thô hơn, các ngón tay dày hơn, như bởi lao động vất vả. Cô đặt chúng lên bộ ngực trần của mình, nhưng chúng vẫn ngập ngừng. Cô dùng tay mình để thuyết phục anh, nhưng anh vẫn nằm đó thật im lìm, hơi thở thật ngắn, đến nỗi nó khiến cô cảm thấy xấu hổ.

Ban đêm, anh thường thức giấc với một tiếng rên khàn đục, quằn quại, ngồi dậy trong bóng tối, rồi một lúc sau đứng dậy đi đến tủ rượu và rót một ly. Sau đó,hơi thở anh có mùi như hoa quả, như táo. Rồi anh nói, “Đặt tay em lên người anh đi, chạm vào anh đi”.

“Hãy kể cho em nghe ở đó như thế nào, anh sẽ thấy đỡ hơn, kể cho em nghe đi”, cô nói, thì thầm vào tai anh, kích thích anh với hơi thở nóng ran của mình.

Nhưng anh không kể gì với cô.

Trong lúc cô chăm sóc Petya, anh thường đi lại khắp căn hộ trong bộ đồ ngủ kẻ sọc, uống cà phê đen đậm, nhìn ra ngoài cửa sổ sang những tòa nhà chung cư. Sau đó, anh nhìn thằng bé, thỉnh thoảng cúi xuống cạnh nó, cố gắng tạo sự kết nối. Sau đó anh mở tivi và kéo tấm rèm màu vàng lại, biến ánh sáng ban ngày thành một thứ yếu ớt, đặc quánh và nóng hừng hực. Anh không thay quần áo cho đến khoảng trưa, khi y tá của Petya sắp đến, thậm chí không phải lúc nào anh cũng thay. Đôi khi anh chỉ đóng cửa. Âm thanh từ tivi yếu dần, trở thành một tiếng than van ai oán, một lời hiệu triệu đến một thế giới vô tri mới.

Tiền được chuyển đến đúng boong như đồng hồ điểm, hàng tháng. Mà thực ra nó vừa đủ – dư dả cho thuốc men của Petya, cho một chiếc xe lăn tốt hơn, hiếm khi dùng đến, và cho một y tá.

Hôm nay Annushka sẽ không phải chăm sóc thằng bé; hôm nay là ngày nghỉ của cô. Mẹ chồng cô sắp đến, dù bà không biết thực sự thì bà đến để trông chừng ai, con trai hay cháu nội, ai là người bà sẽ phải bận tâm nhiều nhất. Bà sẽ đặt cái túi nhựa kẻ carô cạnh cửa rồi lấy ra bộ đồ mặc ở nhà bằng vải tổng hợp và đôi dép – đồng phục ở nhà của bà. Bà sẽ nhìn vào phòng con trai, hỏi nó một câu, nó sẽ trả lời mà không rời mắt khỏi tivi: có hoặc không. Chỉ vậy, chẳng đáng chờ đợi, cho nên bà sẽ đi đến phòng cháu nội. Nó cần được tắm rửa và cho ăn; drap giường của nó – ướt sũng mồ hôi và nước tiểu, cần được thay; nó cần uống thuốc. Rồi quần áo bẩn cần được cho vào máy giặt, bữa trưa cần được nấu.

Sau đó, bà sẽ dành thời gian với đứa bé; nếu trời đẹp, thằng bé có thể được đưa ra bancông, ngoài đấy cũng chẳng có gì nhiều để ngắm – chỉ là những tòa nhà chung cư như những dải san hô xám xịt khổng lồ trong một đại dương khô cạn, chen chúc những sinh vật cần mẫn, đáy biển của họ chính là đường chân trời mù mịt của đô thị khổng lồ, Matxcơva. Nhưng thằng bé lúc nào cũng ngước lên trời, nhìn lơ lửng bụng những đám mây, dõi theo chúng một lúc, cho đến khi chúng trôi khỏi tầm mắt.

Annushka rất biết ơn mẹ chồng vì cho cô ngày này mỗi tuần. Khi tiến ra cửa, cô hôn phớt lên gò má mềm mượt của bà. Đó là toàn bộ thời gian họ dành cho nhau, lúc nào cũng tại cửa, rồi sau đó cô sẽ chạy thật nhanh xuống cầu thang, càng đi xuống xa càng cảm thấy nhẹ dần. Cô có cả một ngày trước mắt. Không hẳn là cô sẽ dành nó cho bản thân, tất nhiên. Cô có nhiều việc phải làm. Cô sẽ thanh toán các hóa đơn, đi chợ, lấy thuốc cho Petya, đi thăm mộ, và rồi cuối cùng cô sẽ đi đến tận đầu bên kia của thành phố vô hồn này để có thể ngồi trong bóng tối vây kín xung quanh và òa khóc. Mọi thứ kéo dài vô tận vì nơi nào cũng kẹt xe, bị ép chặt giữa dòng người, cô nhìn qua kính cửa sổ của xe buýt khi những chiếc xe khổng lồ có cửa sổ nhuộm màu lướt êm về trước, toát ra một sức mạnh đáng gờm, trong khi tất cả những người còn lại đứng yên bất động. Cô nhìn ra những quảng trường đông nghịt người trẻ, những quầy hàng lưu động bán những món hàng Trung Quốc rẻ tiền. Cô luôn đổi tàu ở ga Kievsky, nơi cô lướt qua đủ loại người khi họ chen nhau đi lên và ra khỏi đó từ các thềm ga dưới lòng đất. Nhưng không có ai thu hút sự chú ý của cô, không có ai làm cô khiếp sợ như nhân vật kỳ lạ đứng ở lối ra, trên phông nền những hàng rào dựng tạm để che móng hầm đang đào của một công trình xây dựng, những hàng rào được dán chằng chịt quảng cáo đến nỗi trông như chúng đang thét gào.

Quỹ đạo của người đàn bà đó là miếng đất trống giữa bức tường và vỉa hè tráng ximăng; cứ thế bà ta chứng kiến dòng chảy không ngừng nghỉ của con người, đón nhận cuộc diễu hành của những khách bộ hành mệt mỏi và hối hả mà bà hay chặn đứng ngay giữa hành trình của họ từ chỗ làm về nhà hoặc ngược lại – bây giờ họ sẽ chuyển phương tiện giao thông, đổi từ tàu điện ngầm sang xe buýt.

Bà ta ăn mặc khác với tất cả bọn họ – bà mặc một đống hổ lốn: quần, bên ngoài là vài cái váy, sắp xếp để cho cái này lộ ra dưới cái kia, thành nhiều lớp, phía trên cũng vậy – nhiều lớp áo, áo da cừu, áo ghilê. Trùm lên toàn bộ là một chiếc áo khoác chần bông màu xám, đỉnh cao của sự đơn giản tinh gọn, tiếng vọng của một tu viện phương đông xa xôi hoặc một trại lao động. Kết hợp lại, những lớp áo quần này tạo ra một cảm giác thẩm mỹ, và Annushka thậm chí khá thích nó; nó gây cho cô ấn tượng là màu sắc được lựa chọn cẩn thận, dù không rõ sự lựa chọn này mang tính con người hay là đỉnh cao thời thượng của sự hỗn mang – những sắc màu nhạt phai, sờn rách và phân rã.

Nhưng điều kỳ lạ nhất là đầu của người đàn bà này – quấn chặt trong một miếng vải, ép vào bằng một chiếc mũ ấm có vành tai – và khuôn mặt bịt kín mít của bà ta; tất cả những gì bạn thấy được là cái miệng của bà khi nó phát ra một tràng những tiếng chửi thề vô tận. Cảnh tượng này thật khó chịu đến nỗi Annushka chưa bao giờ cố gắng hiểu xem những tiếng chửi này có ý nghĩa gì. Và bây giờ cũng vậy, khi lướt qua bà ta, Annushka tăng tốc, sợ rằng người đàn bà này sẽ bám lấy cô. Sợ rằng trong hối hả những từ ngữ dữ dội ấy, Annushka có thể nghe ra tên của chính mình.

Tiết trời dễ chịu của tháng mười hai, vỉa hè khô ráo, sạch tuyết, đôi giày cô mang rất thoải mái. Annushka không lên xe buýt, thay vì vậy cô băng qua cây cầu rồi tản bộ dọc theo đường cao tốc nhiều làn xe, cảm thấy như mình đang đi bên bờ một con sông mênh mang không có chiếc cầu nào. Cô thích chuyến tản bộ này, sẽ không khóc cho đến khi cô đến được nhà thờ của mình, trong góc tối nơi cô luôn quỳ gối và giữ nguyên tư thế khó chịu đó cho đến khi không còn cảm nhận được đôi chân mình nữa, cho đến khi cô đạt đến trạng thái thường xuất hiện sau những cơn đau buốt và cứng đơ – trạng thái của tính không. Nhưng bây giờ thì cô quàng túi xách qua vai và nắm chặt cái túi nhựa đựng những bông hoa nhựa dành cho nghĩa trang. Cô cố gắng không nghĩ đến gì cả, ít nhất không phải nơi cô vừa đi ra. Cô đang tiến vào khu dân cư sang trọng nhất của thành phố, vì vậy có nhiều thứ để cô nhìn – ở đây có đầy cửa hàng, nơi những con manơcanh mảnh mai, mượt mà dửng dưng trưng bày những bộ quần áo đắt tiền nhất. Annushka dừng lại để ngắm một cái xắc tay đính một triệu hạt cườm, trang trí với voan và ren: một loại phép mầu. Cuối cùng, cô đến hiệu thuốc chuyên biệt, nơi cô sẽ phải chờ đợi. Nhưng cô sẽ nhận được những loại thuốc cần thiết. Những loại thuốc vô ích, gần như chẳng xoa dịu được các triệu chứng của con trai cô là bao.

Tại một sạp có mái che, cô mua một túi bánh pirozhki rồi ngồi ăn trên băng ghế trong quảng trường.

Trong nhà thờ nhỏ của mình, cô thấy có nhiều du khách. Vị linh mục trẻ thường lăng xăng trong chốn lánh đời này như một nhà buôn giữa mớ hàng hóa của mình lúc này đang bận kể với du khách về lịch sử tòa nhà và về thánh tượng môn. Với chất giọng du dương, ông ta cất lên những lời rao giảng, cái đầu trên thân người dong dỏng, mảnh mai của ông ta nhìn xuống đám đông nhỏ, bộ râu khá nhạt của ông ta như một vòng hào quang lạ lùng đã tuột ra khỏi đầu và trượt xuống ngực ông ta. Annushka lùi lại: Làm sao cô có thể cầu nguyện và khóc với sự có mặt của đám du khách này? Cô chờ đợi và chờ đợi, nhưng rồi nhóm tiếp theo tiến vào, thế là Annushka quyết định tìm một nơi khác để rơi nước mắt – cách xa đây một chút có một nhà thờ khác, nhỏ và cũ, hầu như lúc nào cũng đóng cửa. Cô từng vào đó nhưng không thích nó, cô thoái lui vì sự lạnh lẽo và mùi gỗ ẩm.

Nhưng bây giờ cô không kén chọn nữa, cô phải tìm một nơi để cuối cùng có thể khóc, một nơi biệt lập nhưng không vắng vẻ; nó phải có sự hiện diện cảm nhận được của một cái gì đó lớn hơn cô, của những cánh tay to lớn vươn ra, run run sự sống. Annushka cũng cần cảm nhận được ánh mắt của ai đó nhìn mình, để cảm thấy tiếng khóc của mình đang được ai đó chứng kiến, để cảm thấy nó không rơi vào thinh không. Đó có thể là đôi mắt vẽ lên gỗ, lúc nào cũng mở, đôi mắt không bao giờ mỏi mệt với bất kỳ điều gì, mãi mãi an tĩnh: hãy để đôi mắt ấy nhìn cô, không chớp.

Cô lấy ba cây nến và bỏ vài đồng xu vào hộp thiếc. Cây đầu tiên cho Petya, cây thứ hai cho người chồng trầm lặng của cô, và cây thứ ba cho mẹ chồng cô trong bộ đồ mặc ở nhà chưa ủi. Cô thắp nến từ một vài cây nến khác đang cháy ở đây, nhìn quanh và tìm thấy một điểm cho mình ở bên phải, trong một góc tối, để không làm phiền những bà già đang cầu nguyện. Cô làm dấu thánh qua loa, cứ thế bắt đầu nghi thức nước mắt của mình.

Nhưng khi cô ngước mắt lên để cầu nguyện, một khuôn mặt khác hiện lên từ bóng tối – khuôn mặt lớn lao của thánh tượng u sầu. Nó là một tấm ván hình vuông treo cao, nằm gần ngay dưới mái vòm nhà thờ, trên đó là hình ảnh đơn giản của Chúa Kitô, vẽ bằng tông màu nâu và xám. Khuôn mặt u tối, trên nền tối, không có vòng hào quang, không có mão gai; chỉ có đôi mắt ánh lên khi nhìn thẳng vào cô, hệt như cô muốn. Ấy vậy mà, đây không phải là kiểu ánh mắt mà Annushka đã nghĩ đến – cô mong đợi đôi mắt dịu dàng tràn đầy tình yêu thương. Ánh mắt này, như thôi miên, khiến cô tê liệt. Dưới nó, cơ thể Annushka co rụt lại. Ông chỉ ở đây một lúc, trôi xuống từ trần nhà trên cao, từ bóng tối sâu thẳm nhất – đó là nơi của Chúa, điểm ẩn nấp của ông. Ông không cần một thân người, chỉ có khuôn mặt mà giờ đây cô phải đối diện. Đó là một ánh nhìn soi mói, xoáy vào đầu cô đầy đau đớn, như một mũi khoan. Khoan một lỗ vào não cô. Đó có thể không phải là khuôn mặt của Đấng Cứu Rỗi, mà của một người bị chìm xuống nước mà không chết, thay vì vậy bảo vệ ông ta khỏi cái chết hiện diện khắp nơi ở dưới nước, mà giờ đây, do những dòng chảy bí ẩn, đã nổi lên mặt nước, tỉnh táo, ý thức cao độ, và nói: Nhìn đây, ta ở đây. Nhưng cô không muốn nhìn ông. Annushka hạ ánh mắt xuống. Cô không muốn biết rằng Chúa yếu đuối và đã lạc lối, rằng Người đã bị lưu đày và Người đang bò trườn trong những đống rác của thế gian, dưới đáy sâu hôi hám của nó. Khóc chẳng có ý nghĩa gì. Đây không phải là nơi dành cho nước mắt. Đức Chúa này sẽ không giúp đỡ hay ủng hộ, động viên, gột sạch, hoặc cứu rỗi được gì. Ánh mắt của kẻ chết chìm dán vào trán cô; cô nghe một tiếng lầm rầm, một tiếng sấm dưới lòng đất từ xa, một sự rung động dưới nền nhà thờ.

Hẳn là vì tối qua cô gần như không ngủ, vì cô hầu như chẳng ăn gì hôm nay – bây giờ cô cảm thấy kiệt sức. Nước mắt không chảy, dưới đáy khô cằn nơi chúng phải rơi xuống.

Cô đứng phắt dậy rồi đi ra. Cứng đờ, thẳng đến tàu điện ngầm.

Có cảm giác như cô vừa có một trải nghiệm, một cái gì đó đã nhập vào cô, làm cô căng cứng bên trong như dây đàn, khiến cô tạo ra một tiếng rất thanh, không một ai nghe thấy. Một âm thanh im lìm, chỉ dành riêng cho cơ thể cô – một buổi hòa nhạc ngắn ngủi trong một lớp cách âm dễ vỡ. Dù vậy, cô vẫn lắng nghe nó, toàn bộ sự chú ý của cô chuyển vào bên trong, nhưng trong tai cô chỉ có tiếng máu chảy rần rật.

Các bậc thang đi xuống, và cô có ấn tượng nó kéo dài mãi mãi, một số người đi xuống, một số khác đi lên. Thông thường ánh mắt cô sẽ trượt trên những khuôn mặt người khác, nhưng lúc này ánh mắt của Annushka, bị ấn tượng mạnh bởi cảnh tượng trong nhà thờ, không thể kiểm soát được nữa. Ánh mắt cô chiếu lên từng người lướt qua – và mỗi khuôn mặt như một cái tát, mạnh, nhức nhối. Cô sẽ không thể chịu đựng nổi nữa, cô sẽ phải bịt mắt lại như bà già điên đứng trước ga tàu đó, và cũng như bà ta, cô sẽ tuôn ra những tiếng chửi.

“Xin xót thương, xin xót thương”, cô thì thầm, bấu các ngón tay vào thanh vịn đang chuyển động nhanh hơn cả các bậc thang; nếu Annushka không buông ra, cô sẽ ngã.

Cô nhìn thấy đoàn người im lặng đi lên đi xuống, vai kề vai, lèn chặt. Họ trượt về điểm của mình như bị buộc dây lôi đi, tiến về nơi nào đó trong các vùng ngoại ô, đến một tầng mười, nơi họ có thể tháo lớp che trên đầu ra rồi rơi vào một giấc ngủ tạo thành từ những mảnh vụn của ngày và đêm. Mà trong thực tế thì đến sáng giấc ngủ không tan biến – những mảnh vụn đó tạo thành những hình ghép, những vệt loang lổ; một số có hình dạng đặc sắc, có thể nói là được định trước.

Cô thấy sự giòn rụm của những cánh tay, sự mong manh của những mi mắt, đường nét không ổn định của những đôi môi người, chuẩn bị vặn vẹo thành một sự nhăn nhó, cô thấy bàn tay họ thật yếu ớt, đôi chân họ thật yếu ớt – chúng sẽ không, không thể, đưa họ đến bất kỳ đích đến nào. Cô thấy trái tim họ đập đúng nhịp, một số nhanh hơn, một số chậm hơn, một chuyển động cơ học bình thường, những túi phổi như những bao nilông bẩn, có thể nghe thấy tiếng thở ra sột soạt. Quần áo của họ đã trở nên trong suốt, nên cô nhìn chúng kết hợp nhau loạn xạ. Cơ thể của chúng ta thật đáng thương, bẩn thỉu, nát vụn – không có ngoại lệ – cho cỗ máy nghiền.

Thang cuốn đưa những sinh vật này thẳng xuống lòng đất, vào trong vực thẳm; đây là những đôi mắt của con chó ba đầu Cerberus trong những buồng kính ở dưới cầu thang, đây là cẩm thạch giả và những cột nhà, những tượng điêu khắc ác quỷ khổng lồ – một số cầm lưỡi liềm, một số khác cầm những bó rơm. Những cái chân to như cột nhà, những đôi vai người khổng lồ. Những chiếc máy kéo – những cỗ máy địa ngục kéo những công cụ tra tấn có răng nhọn cày lên mặt đất những vết thương không bao giờ lành. Từ mọi phía, những nhóm người chen chúc nhau, tay họ giơ lên van xin trong hoảng loạn, miệng họ há to để kêu gào. Ngày Phán Xét Cuối Cùng xảy ra ở đây, dưới lòng sâu của trạm tàu điện ngầm, thắp sáng bằng những ngọn đèn chùm pha lê tỏa ra ánh sáng vàng chết chóc. Những phán quan không thấy đâu, đúng vậy, nhưng khắp nơi bạn có thể cảm nhận được sự hiện diện của họ. Annushka muốn rút lui, chạy ngược dòng người, nhưng thang cuốn không cho phép, cô phải tiếp tục đi xuống, cô sẽ không được tha mạng. Những miệng tàu sẽ há ra trước mặt cô với tiếng xì xì rồi nuốt chửng cô vào đường hầm tăm tối. Nhưng tất nhiên vực thẳm có ở khắp nơi, kể cả trên những tầng phía trên của thành phố, kể cả trên những tầng mười và mười sáu của những tòa nhà cao tầng, trên nóc những ngọn tháp, trên đỉnh những cột ăngten. Không thể thoát khỏi nó. Phải chăng đây chính là điều mà bà điên đang la hét, xen giữa những tiếng chửi thề?

Annushka loạng choạng, tựa vào một bức tường. Nó hằn những vệt trắng lên chiếc áo khoác len của cô, xức dầu thánh lên cô.

Cô phải xuống xe, trời tối rồi, cô xuống bừa vì không thể thấy gì ngoài cửa sổ xe buýt, sương giá đã khắc những cành cây khẳng khiu màu bạc lên kính, nhưng cô thuộc lòng tuyến đường này, cô đã đúng. Chỉ vài cái sân – cô đi đường tắt – là cô sẽ về đến tòa nhà của mình. Nhưng cô chậm lại, chân cô không muốn đưa cô đến đích; chúng chống cự, những bước chân của cô dần dần nhỏ lại. Annushka dừng lại. Cô ngước lên và thấy ánh đèn trong căn hộ của mình. Họ nhất định đang đợi cô – thế là cô lại đi tiếp, nhưng một giây sau cô lại dừng. Gió lạnh xuyên qua áo khoác của cô, thổi tung vạt áo, siết chặt đùi cô với những ngón tay lạnh giá. Cái chạm của nó như lưỡi dao cạo, như thủy tinh vỡ. Nước mắt rơi xuống má cô vì lạnh, làm cơn gió hả hê, cuối cùng đã cho nó một cách để châm chích mặt cô. Annushka lao nhanh về trước, đến chỗ cầu thang, nhưng khi lên đến cửa cô xoay người lại, dựng cổ áo lên, và thật nhanh cô quay trở lại nơi mình vừa đến.

Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow (Ba Lan) là nhà văn, nhà phê bình văn học, nhà thơ và nhà tâm lý học. Bà là nhà văn theo trào lưu nữ quyền (feminism) và hiện thực huyền ảo (magical realism). Năm 1979, những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng trên tạp chí Thanh Niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí Radar và Đời sống văn học. Bà thực sự nổi tiếng từ năm 1997, khi tác phẩm Thời xa xưa và những thời kỳ khác được tặng giải thưởng của Koscielski Foundation (giải thưởng văn học độc lập dành cho các nhà văn tài năng dưới 40 tuổi). Tác phẩm Nhà ngày, nhà đêm được bạn đọc Ba Lan bầu chọn là cuốn sách hay nhất năm 1999. Bieguni (tựa tiếng Anh là Flights) đoạt Man Booker International Prize năm 2018. Các tác phẩm E.E. (1995), Cái tủ (1997) cũng được bạn đọc rất mến mộ.

Hai lần (2002 và 2015) bà được tặng giải thưởng Nike, giải thưởng văn học hằng năm danh giá nhất Ba Lan, với số tiền mặt 100.000 zloty (khoảng 33.000 USD).

Như vậy, Ba Lan với khoảng 40 triệu dân, đã có tới năm nhà văn và nhà thơ đoạt Nobel văn chương: nhà văn Henryk Sienkiewicz (1905), nhà văn Stanislaw Reymont (1924), nhà thơ Czeslaw Milosz (1980), nữ nhà thơ Wislawa Szymborska (1996) và nữ nhà văn Olga Tokarczuk (2018).

30/10/2019

Olga Tokarczuk

Lê Bá Thự dịch

Nguồn: TTCT

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Đêm thánh nhân

… Trong khi cô Kim Thoa và cha Tạc đấu khẩu lời qua tiếng lại đôi co như vậy và số phận ông bác sĩ già hiền lành dở người cũng chưa biết dạt về bên nào đi theo bên nào thì vào đêm ngày thứ tư sau cái đêm rửa nồi Săchgo huyền bí vui nhộn trong lễ bỏ mả của tộc người Gia Rai M’ thur bác sĩ Trương Vĩnh Cần nằm mơ gặp lại hồn ma ông Phạm Văn Cổn.

Vào khoảng nửa đêm đang nằm co ro trên tấm phản góc nhà ngáy gừ rừ gừ rừ ngủ ngon lành như một con chó già thì bác sĩ Trương Vĩnh Cần bỗng nấc khặc lên một cái rồi vẫn nhắm tịt hai mắt chống hai tay lồm cồm bò dậy. Đầu ông nhức như búa bổ hai vai đau như dần người choáng váng nôn nao trong cổ họng lại có con giun to tướng trơn tuột tanh tưởi bò lên bò xuống ngoe nguẩy rất khó chịu. Chống hai tay xuống phản ngồi thừ ra một lúc cố hít vào thở ra vài hơi thật sâu một lúc lâu bác sĩ Cần mới từ từ mở mắt ra và bỗng nhiên ông bác sĩ già lại thấy mình đang đứng lọt thỏm giữa ngôi nhà mồ lủng củng những chum cùng choé bát đĩa dây nhợ bê bết những bẹ chuối nhưng mâm lá chuối ướt nhoét chỏng trơ quăng quật những máng gỗ đầy phè thịt tươi tiết tươi lòng ruột đỏ hon hỏn. Có một điều lạ lùng là ngôi nhà mồ mới hôm qua hôm kia còn ngay ngắn đẹp đẽ tươi tốt sặc sỡ vui mắt thế bây giờ đã hóa ra một ngôi nhà mồ mục nát tiêu điều dúm dó hoang phế hàng cột róc vỏ bôi dầu thẳng tắp sừng sững như cột chống trời giờ đây đã bị mối đục tơi bời nham nhở đổ rụi xuống cong queo như mấy bộ xương khô cháy đen sắp sửa tan biến vào lòng đất chỉ còn duy nhất cây cột cái cất nóc là không bị mục nát mà lại còn nẩy ra hàng chục cành lá non mơn mởn bóng nhẫy đang phe phẩy đong đưa tỏa ra mùi nhựa cây thơm lừng. Nhoáng một cái bác sĩ Trương Vĩnh Cần lại thấy ông đang đứng trơ vơ giữa một khoảnh đất rộng mênh mông xanh rì cỏ cây hoa lá lao xao um tùm tươi tốt. Ông bác sĩ già ngước nhìn lên bầu trời âm âm u u rồi lại cúi xuống ngó nhìn cảnh vật cây cỏ mơn mởn xa gần xung quanh đang xào xạc chập chờn mung lung chìm trong một thứ ánh sáng đùng đục bảng lảng như không có thật thứ ánh sáng chỉ có thể nhìn thấy trong một thế giới khác đó là thế giới của những giấc mộng ma my .

Lẽ nào ta đang thức dậy trong một giấc mơ. Ông bác sĩ già phân vân hoang mang ngơ ngác tự hỏi như vậy rồi ông cấu nhẹ vào mũi chẳng thấy đau gì cả ông lại cấu nhưng lần này cấu thật mạnh vào mông đít cũng chẳng có cảm giác gì. Như vậy là ta lại đang lạc vào thế giới ảo giác của giấc ngủ hoặc của những cơn đau bệnh lên cơn tâm thần phân lập rồi. Buồn thay nản thay, chán đời và xấu hổi cho cái thân phận của ta biết chừng nào.

Những tháng ngày qua kể từ ngày rời khỏi nhà xác đi giang hồ lang thang vô định đã có không biết bao lần bác sĩ Cần rơi vào hoàn cảnh như thế này. Ông nằm ngủ như chết ngáy khò khò và bỗng nhiên nhìn thấy mình chống hai tay lồm cồm bò dậy. Mỗi lần như thế bác sĩ Cần lại tự cấu véo thật đau vào mũi vào mông đít có khi còn cấu vào rốn. Ông véo thật lực nghiến răng véo thật lực như dứt thịt da ra cho đến lúc cái đau bất ngờ ập đến và lôi thốc ông ra khỏi giấc mộng hoặc ra khỏi cơn mê bệnh mung lung đang hành hạ ông. Nhưng lần này không hiểu tại sao ông bác sĩ già lại chẳng muốn tự mình làm mình tỉnh dậy nữa. Ông không nghiến răng tiếp tục cấu véo mũi cấu véo mông đít và rốn của ông nữa. Ông ngồi bệt xuống đám cỏ chống hai tay đỡ cằm dỏng hai tai nghe ngóng, mở thật to hai con mắt nhìn đăm đăm vào cái khoảng không mờ đục mung lung chập chờn trước mặt. Ông bác sĩ già cứ ngồi như thế im phắc cứng đờ ngay đơ y hệt một pho tượng nhà mồ. Có lẽ nếu ông bác sĩ già cứ ngồi mãi như thế thì cuối cùng ông cũng hóa thành một pho tượng gỗ thực sự. Bác sĩ Trương Vĩnh Cần cứ ngồi như thế mãi ngồi mãi ngồi mãi cho đến khi có tiếng bước chân người đạp xào xạo trên lá khô trên cuội sỏi, rồi từ trong đám khói sương đùng đục bảng lảng chập chờn phía trước mặt nhô ra cái thân hình trắng lốp mỏng dính trong suốt tiều tuy như nắm rẻ rách của ông Phạm Văn Cổn. Vừa trông thấy bác sĩ Cần ông Phạm Văn Cổn hú lên mừng rỡ rồi nhào ngay tới trợn ngược hai con mắt tam giác trắng dã:

– Ối ông ơi là ông ơi! Thật khốn khổ cho cái xác ma của tôi. Bà Jung bà Jai cứ nhất định không chịu đăng ký hộ khẩu cho cái xác ma của tôi. Bà Jung bà Jai đuổi cái xác ma của tôi ra khỏi thế giới ma Khu – Lâu ở dưới lòng đất tối đen của hai bà rồi.

Bác sĩ Trương Vĩnh Cần ngơ ngác ngây mặt chẳng hiểu gì cả. Ông bác sĩ già hơi sợ hơi cuống khi thấy cái mặt ma của ông Phạm Văn Cổn uốn cong như miếng da trâu thuộc dối hôi thối cứ áp sát vào lưng vào cổ vào mặt ông làm ông nghẹt thở chỉ muốn hắt xì hơi thật mạnh. Cái mặt ma da trâu thuộc dối đó rỏ xuống mấy giọt nước trong vắt và phào ra một điệu cười nhạt lạnh buốt:

– Thật là trời cao đất dày chẳng thể hiểu được tại sao đời tôi lại khốn nạn như vậy. Gần hết cả đời ngồi trong tù làm bạn với con dế con cóc. Có một đứa con gái thì hóa điên hóa dại, cởi trần truồng ngồi hít bã mía cạnh đống rác thối khắm ở cổng chợ. Bây giờ đã chết rồi hóa thành xác ma, rồi lại bị bà Jung và Jai xua đuổi quầy quậy. Ơ! Ơ hay thật! Tôi biết xoay sở thế nào bây giờ hả ông bác? Nếu còn sống thì cầu mong quỉ thần vật chết tôi đi. Nhưng bây giờ tôi đã chết rồi hóa thành con ma rồi thì làm sao chết được nữa hả ông.

Bây giờ tôi là con ma hoang không nhà không cửa không đền chùa miếu mạo chỉ còn biết bay vật vờ lang thang trong rừng thẳm. Ối ông bác ơi ! Ông bác dón tay làm phúc giúp tôi một việc có được không. Ông bác làm phúc đưa hồn ma tôi về lại dưới xuôi. Lang thang vật vờ nơi rừng thiêng nước độc lạ lẫm này tôi mỏi lắm tôi sợ lắm tôi buồn bã cô đơn lắm. Mấy đêm nay tôi đã tính nát nước ra rồi, dù sao về dưới đó vẫn còn quen cảnh quen người ban đêm hồn ma tôi sẽ nương náu vật vờ trong mấy bụi dú bụi gai ngoài cánh đồng, ban ngày hồn ma tôi sẽ lủi vào trong mấy cái miếu hoang dưới gốc đa rình ăn trạc chút hương tàn oản nguội vậy. ..

Cái mặt ma da trâu thuộc của ông Phạm Văn Cổn lại dí sát vào mặt bác sĩ Cần hà hơi thối hoăng tanh đến lộn mửa. Rồi tự dưng có một bàn tay vô hình nào đó túm lấy tóc ông bác sĩ già lôi ông đứng bật dậy. Bốp! một bàn chân vô hình nào đó đá thốc vào mông đít ông bác sĩ. A lê hấp! Thế là như một kẻ mộng du bác sĩ Trương Vĩnh Cần hú lên một tiếng cắm đầu lao bổ về phía trước ù té chạy. Tất nhiên là ông bác sĩ già ù té chạy thẳng vào rừng thẳm. Không giống những lần trước ù té chạy dưới đồng bằng, ông bác sĩ già cứ nhảy đại qua mương qua ngòi lội bì bõm qua ruộng rồi vắt chân lên cổ tế lên như con trâu đứt mũi phóng ràn rạt trên đường đất đường cấp phối đường nhựa lần này bác sĩ Cần ù té chạy trong cánh rừng thẳm chằng chịt cây cối dây nhợ bụi rậm tren miền thượng ngàn. Bác sĩ Trương Vĩnh Cần ù té chạy. Ông chạy như phát điên phát rồ lúc nào cũng có một bàn tay vô hình ở đằng trước túm chặt lấy tóc lôi đi và thỉnh thoảng lại có bàn chân vô hình khỏe ghê gớm đá bốp vào đít ông bắn vọt về phía trước. Có một điều lạ là rừng thẳm đại ngàn thiên la địa võng rậm rạp chằng chịt cây cối như vậy mà ông bác sĩ già cứ chạy phăng phăng cái kiểu ù té chạy như vậy thì chỉ có bị ma đuổi. Bác sĩ Trương Vĩnh Cần cứ chạy như thế ba ngày ba đêm thì vọt ra khỏi rừng già và lao xuống một cánh đồng bằng mênh mông rào rào sóng lúa. Tới đây thì bàn tay vô hình tóm tóc ông bác sĩ tự dưng biến mất và ông bác sĩ già cũng không thấy bị đá bôm bốp vào đít nữa như vậy là bàn chân vô hình khỏe ghê gớm ở phía sau cũng biến mất. Có thể hiểu là về đến đồng bằng rồi thì hồn ma ông Phạm Văn Cổn đã buông tha ông bác sĩ già và tạt vào trú ngụ nương tựa trong một cái miếu bỏ hoang nào đó cạnh bến sông bến đò rồi. Đáng nhẽ ra thì bác sĩ Trương Vĩnh Cần ngã quay lơ ra nhưng chẳng hiểu tại sao ông bác sĩ già vẫn cứ cuồng lên như một con chó già nổi cơn điên ù té chạy bán sống bán chết thêm hai đêm một ngày nữa tới ngày thứ ba đang phăng phăng phóng trên đường cái quan thi gan cùng một con trâu đứt mũi thì bỗng nhiên có một trận cuồng phong nổi lên đùng đùng cát chạy đá bay mù mịt rồi một cái vòi rồng xoáy tròn đen xì nhấc bổng ông bác sĩ già lên như nhấc một cái lông gà ném tung ông lên cao cuốn vút ông đi mười cây số rồi ném ùm ông xuống một cái hồ nước mênh mông. Đúng lúc đó trời lại xầm ập xuống trận mưa dữ dội. Mặt hồ nổi giận cuộn sóng ngoạm lấy ông bác sĩ già như ngoạm một con mồi dìm ông xuống tận đáy hồ rồi lại nâng ông lên và ném ông văng vào một hòn đảo xanh rợp cây mắt bão có hàng đàn vượn lông vàng đuôi dài đang đuổi nhau chí choé mà dân quanh vùng vẫn quen gọi hòn đảo này là đảo vượn vàng.

Bây giờ quay lại chuyện bà Mẫn là người đã cho bác sĩ Cần ăn nhờ ở đậu trên đảo vượn vàng bà Mẫn nói tiếng Nam Bộ leo lẻo dẻo quẹo đã ngoài bảy mươi tuổi trạc tuổi ông bác sĩ Trương Vĩnh Cần nhưng tóc vẫn còn đen nhánh chưa hề có một sợi bạc, da bụng căng da trống, mông nhọn đùi săn hai vú chắc mẩy như hai nắm cơm trông người ngượm tôi thế này ai cũng ngỡ tôi là gái chưa chồng hoặc quá lắm thì nhầm gái một con trông mòn con mắt chứ có ngờ đâu tôi đã là bà mẹ của mười ba đứa con mặc dù cho đến hôm nay cả mười ba đứa đều đã xanh cỏ cả rồi và cũng giống như những người đàn bà cuộc đời quá nhiều nỗi đau khổ éo le về già thui thủi cô đơn bà Mẫn cũng sa đà vướng vào nghiện ngập người ta nghiện trầu nghiện thuốc lá thuốc lào thuốc phiện ma túy cần sa nhưng bà Mẫn thì lại nghiện kể chuyện. Đêm nào cũng vậy vào khoảng canh ba canh tư là bà Mẫn thức dậy lần đến đầu giường ông bác sĩ Cần lảm nhảm kể chuyện. Có đêm bà châm ngọn đèn măng xông ánh sáng phun phì phì chói lòa có đêm bà đốt ngọn nến bé tí xíu ngắn thun lủn có đêm bà ngồi âm thầm co ro trong bóng tối đen thui. Bà Mẫn kể chuyện cứ kể chuyện chẳng cần biết ông bác sĩ Cần có thức nghe hay là đang ngáy khò khò. Bác sĩ Cần cũng chẳng nhớ là ông đã ngủ bao nhiêu đêm đã chong mắt thức bao nhiêu đêm nằm nghe bà Mẫn kể chuyện. Đêm nào cũng vậy bà Mẫn ngồi kể chuyện lảm nhảm từ canh ba canh tư kể một mạch liên tù tì cho đến khi ngoài trời rạng lên thì bà mới ngừng kể mới chịu vác cái vó lưới kềnh càng lùng bùng đi ra ngoài sườn đảo cởi bỏ quần áo cứ thế tồng ngồng nhông nhông chạy dọc mép nước sáng lóa nắng gió săn bắt những con tép bé tí riu đỏ quạch mà người ta vẫn quen gọi là những con ruốc hồ đem về làm mắm ruốc trộn ăn với cơm với bún. Ngày tháng dần trôi những câu chuyện của bà Mẫn giống như những cơn sóng hồ đều đều kiên nhẫn táp vào hộp sọ rỗng tuếch ốm yếu mung lung của bác sĩ Trương Vĩnh Cần để rồi mắc lại trong đám mây trí nhớ hỗn độn ẩm ướt đang khô dần, hồi lại dần của ông những cảnh đời đậm nhạt chẳng khác gì những mảng phù sa đục ngầu hôm loãng hôm đặc bám rõ chặt vào từng kẽ đá trên đảo vượn vàng. Tôi nhớ là hồi tôi còn bé ở nhà quê tôi nghèo rớt mồng tơi lại rất đông người anh em chú bác cô dì, cậu mợ, ông bà đằng ngoại đằng nội cứ rối tinh cả lên như canh hẹ. Có thể vì đông đúc hỗn loạn quá hay là vì có chuyện thù oán gì bí ẩn sâu xa từ đời cụ kỵ ngày xửa ngày xưa truyền lại nhất định không chịu tan đi cho nên cái đám đông chú bác con cháu cô dì họ hàng đông đúc nhà tôi suốt ngày máy móc rủa xả đấm đá cào cấu cắn xé lẫn nhau mặc dù cả họ nhà tôi từ ông già bà cả đến lũ trẻ lên ba lúc nào cũng leo lẻo khôn ngoan đối đáp người người, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. Ấy! tôi còn rất nhớ trận xô xát hung dữ nhất hai vợ chồng ông bác ruột tôi kéo năm anh am con trai cởi trần trùng trục múa đại long đao xông qua hàng rào chém què hai cẳng con nghé hoa của vợ chồng con cái ông chú họ tôi vì tội để con nghé dẫm nát sào ruộng mới cấy của gia đình ông bác tôi. Tất nhiên vợ chồng con cái ông chú họ của tôi cũng tay thước tay đao choảng lại đấm đá đâm chém sứt đầu mẻ tai máu chảy ròng ròng cũng may chưa đến nỗi xảy ra án mạng. Làng quê của tôi ở cuối một cánh đồng bằng chằng chịt kênh rạch bốn mùa trắng xóa mênh mông trên trời dưới nước đi mãi về phía đằng trước độ một ngày đường thì gặp bể đông mênh mông vỗ sóng đi giật lùi về phía sau lưng độ nửa ngày đường là thấy núi rừng âm u trùng trùng điệp điệp quanh năm vần vũ mây trắng mây đen. Mười một tuổi đầu tôi đã chèo xuồng vun vút đưa ngoại đi chợ mười hai tuổi tròn đầu đội thúng lúa đầy phè đứng chéo chân ở đầu mũi xuồng theo cậu ra đồng ném lúa cả ngày từ sáng tới chiều mà chẳng mỏi tay. Tôi thất thân sớm lắm. Năm mười ba tuổi vú tôi mông tôi đã trồi lên nần nẫn những thịt là thịt. Ngoại tôi một lần đi tắm ngoài rạch đã phát bôm bốp vào mông tôi kêu lên: giời ơi! mày nở nang sớm thế này thì phải gả chồng cho mày thôi. Đúng là thằng bố Chàm tóc xoăn mũi tẹt hai mắt trắng dã đã truyền cho mày cái giống mau sớm tốt nái thế này đây vì tộc người Chàm lấy vợ lấy chồng sớm lắm con ạ. Rồi ngoại tôi kể cho tôi nghe rằng hồi mạ tôi mười ba tuổi vào rừng kiếm củi đã bị một thằng cha người Chàm tóc xoăn mũi tẹt lôi vào bụi rậm dầy vò hãm hiếp suốt từ trưa cho tới tối mịt mới chịu thả cho chạy về, mẹ tôi đã chết ngay sau khi đẻ tôi vì thế ngoại phải nuôi bộ tôi và tôi là đứa trẻ không có bố là như vậy.

Năm mười bảy tuổi, ngoai gả tôi cho một ông thợ sơn tràng goá vợ khỏe mạnh hiền lành thế là tôi ôm bọc quần áo đeo hai vòng khuyên bạc tòng teng ngoại cho theo chồng về vùng lam nham núi đồi cây cỏ này sinh cơ lập nghiệp.

Đêm đầu tiên bác sĩ Trương Vĩnh Cần ngủ lại đảo vượn vàng thì bà Mẫn đã mò vào đầu giường ngồi rì rầm lảm nhảm kể chuyện. Nửa đêm về sáng ông bác sĩ già đang nằm lơ mơ chập chờn thì nghe có giọng đàn bà dẻo kẹo líu la líu lô lên bổng xuống trầm đang rót mật vào tai ông. Bác sĩ Cần he hé mắt nhìn thấy bà Mẫn trùm khăn kín mít quấn tấm xà rông ngồi chồm chỗm co chân trên ghế ngay sát cạnh đầu giường ông bác sĩ già chẳng còn nhớ đêm đầu tiên đó là bà Mẫn kể chuyện gì hình như là chuyện hồi bà mới mười tuổi theo ngoại ra đồng lội nước bắt rắn có một con rắn hổ mang bành to bằng cổ tay chui ra từ bụi cỏ bất ngờ phóng ngay vào ống quần cô bé Mẫn rồi cứ thế trườn ngược lên bụng rắn hổ mang bành độc lắm ác lắm mổ một ái thôi là con trâu mộng sừng kềnh càng cong tếu cũng phải lăn ra dãy đành đạch chổng bốn vó lên trời ấy vậy mà con rắn hổ mang bành chẳng hề đớp cô bé Mẫn chỉ bò dọc theo đùi cô bé nhoi qua cạp quần trườn lên bụng lên ngực bò vắt qua vai qua mặt rồi trườn đi mất chỉ để lại một chút rớt rãi đùng đục xanh lè tanh đến lộn mửa ở háng cô bé ở bụng cô bé và ở trong cái hõm gày nhom giữa hai núm vú trắng bợt vì ngâm nước mới bắt đầu nổi lên cồm cộm như hai núm cau căng mẩy nhỏ xíu. Có thể bà Mẫn đã kể một chuyện đại loại như thế ông bác sĩ già chẳng làm sao nhớ được rõ ràng cũng như hàng chục hàng trăm đêm tiếp sau cứ vào lúc nửa đêm về sáng là bà Mẫn lại trùm khăn kín đầu quấn tấm xà rông ngang bụng leo lên ghế ngồi chồm chỗm rì rầm lảm nhảm kể chuyện vớ vẫn lăng nhăng không đầu không đuôi chuyện lần bà đẻ anh con trai đầu lòng tên là Biên trong cái lều cất ở ngoài vườn gào thét vật vã tóc tai rũ rượi mồm xủi đầy bọt như con vượn điên khiến ông chồng sơn tràng sợ đến vãi đái ra quần vừa hú vừa la mếu máo cuống cuồng lội qua kênh rạch trèo thốc lên mái nhà nhảy tùm xuống ao bèo cứt lợn cũng chính anh con trai cả Biên này lớn lên bỏ vào rừng xanh núi đỏ mất tăm mất tính hàng chục năm trời hóa thành một gã áo đỏ áo đen mũi môi thâm xịt đi dép cao su súng đạn đầy người mắt lạnh như tiền đã đạp vợ chồng bà Mẫn ngã dúi vào góc nhà thản nhiên vung cuốc bổ thẳng thừng vào giữa đỉnh đầu thằng em thứ ba của nó đã bị đánh hộc máu mồm gẫy xả canh tay phải bị trói cứng người vào cây cột cái giữa nhà với một tờ giấy nhàu nát nhoè nhoẹt máu dán bẹt giữa trán loằng ngoằng nguệch ngoạc mấy chữ: tử hình nợ máu chó săn ác ôn bán nước. Những câu chuyện rì rầm rời rạc lảm nhảm không đầu không đuôi lẫn lộn trước sau chẳng biết xảy ra ở đâu hồi nào của bà Mẫn khiến bác sĩ Trương Vĩnh Cần chẳng hiểu gì cả sợ hãi cứ ngỡ là bà Mẫn bị lẫn trí rồi nếu không thì cũng mắc bệnh mộng du hoang tưởng tâm thần phân lập nhưng rồi dần dà những câu chuyện đó cũng đều đặn táp nên những cảnh đời chập chờn mờ ảo đau đáu nhục nhã cay đắng, khốn nạn chua xót sát ớt vào da chọc kim vào xương số phận bất hạnh của vợ chồng một người dân lương thiện dốt nát hiền lành chăm chỉ làng quê ở xóm núi nghèo khó lẩn khuất dưới bóng rừng cây đại ngàn ngoảnh trông ra cánh đồng mênh mông lúa nước cả đời chỉ biết cắm mặt xuống đất cày ruộng chèo đò chặt cây nuôi gà nuôi lợn sinh hạ được mười hai cậu con trai thêm một cô con gái út thuở nhỏ đứa nào cũng béo tốt hiền lành chăm chỉ ít nói suốt ngày ríu rít nô đùa chọc ghẹo lẫn nhau chạy quanh gấu máy của bà ấy vậy mà khi lớn lên đáng nhẽ phải chăm chỉ làm ăn lấy vợ gả chồng đẻ con đẻ cháu thì lại rủ nhau bỏ quê bỏ quán chạy túa lua tứ tung Đông Tây Nam Bắc chẳng hiểu nghe ai xui dại xui khôn đứa mặc quần vàng áo đỏ khoác áo đen áo tím đứa đội nón dứa đứa đội mũ sắt có đứa lại quấn mảnh khăn rằn ri ngay ngang cổ ngang đầu hùng hổ rượt đuổi nhau chạy lộn ngược trở về cái nơi chôn nhau cắt rốn xóm núi nghèo đói hiền lành vô tội thế rồi chẳng rõ có nghiệp chướng gì u uất bí ẩn vận về từ đời cụ kỵ tổ tiên vẫn chưa chịu tan lũ con mười mấy đứa của bà Mẫn lăn xả vào nhau cấu xé đấm đá đâm chém băm chặt cuốc bổ bắn giết hung dữ tàn ác rùng rợn gấp ngàn lần ông bà chú bác cậu mợ cô dì chúng nó ngày xưa chửi bới xô xát đánh chém nhau ở ngoài hàng rào ở trên bờ ruộng bỏ mặc ngoài tai phớt lờ vợ chồng bà Mẫn chạy ngược chạy xuôi gào thét vật vã mếu máo đập trán đập đầu đập hai bầu vú mà đứa nào cũng đã từng mút chùn chụt xuống đất lạy van xin xỏ anh em chúng nó đừng có đối xử với nhau như thế nhưng cũng không khiến được một đứa nào động lòng dường như chúng chẳng còn coi vợ chồng bà Mẫn là bố mẹ của chúng nữa chúng đã hóa thành con cái nhà ai bố mẹ chúng là ai ở tận đẩu tận đâu hoặc là chúng đã trở thành một lũ đi hoang một lũ người từ đám hạt đậu trong hang ủ mãi nắng mưa sương gió mà hóa thành âm binh ngày tháng dần trôi một năm một vụ ném lúa trên đồng một lần vào rừng chặm củi một lần đỡ đẻ cho con trâu con lợn vợ chồng bà Mẫn lại thêm một công việc ghê rợn một năm một lần bó chiếu đào đất đắp mồ chôn cái xác đẫm máu nát nhừ thủng lỗ chỗ vết đạn vết chém của một đứa con xuống lòng đất sâu tối đen hun hút cho đến lần thứ tám bó chiếu kéo cái xác cụt đầu của thằng con trai thứ chín ấn xuống miếng đất chó ỉa sau ngôi miếu hoang ở chân núi thì ông Mẫn hộc máu tươi gục xuống chết tắc tử tức thì.

Những ngày sống nhờ ở đảo vượn vàng bác sĩ Trương Vĩnh Cần chẳng phải làm gì chẳng phải dậy học chẳng phải đãi đất cát đá sỏi chẳng phải thương yêu lo sợ đau đớn tủi hổ cho ai ông dậy rất sớm từ sáng tinh mơ lặng lẽ leo lên sườn đảo vách đá dựng đứng ngồi tựa lưng vào gốc cây Báo Bão xù xì trầm ngâm mặt hồ sớm mai mênh mông tĩnh lặng u trầm phập phồng hư ảo và ông bác sĩ già cứ ngồi như vậy chờ đợi vầng mặt trời tròn xoe từ từ trồi lên từ một sườn núi xa xa bên kia mặt hồ làm thay đổi mặt nước hồ chầm châm sáng dần lên như tấm gương khổng lồ được một tấm vải vô hình lau chùi cọ rửa quét sạch màn sương li ti hư ảo cho đến khi tất cả cảnh vật vòm trời sóng nước trong vắt như lau như ly thì cũng là lúc trên mép nước rực sáng vắng vẻ hoang vu hiện ra một người đàn bà trần truồng tóc dài xỏa sượi đen nhánh da bụng thẳng căng mông nhọn đùi săn vú chắc như nắm cơm tay dơ cao tấm vó lưới lùng nhùng nom như một người tiền sử từ cõi hồng hoang xa xưa hiện về tắm mình trong ánh nắng buổi sớm mai rực rỡ chói lòa như dát vàng dát bạc. Người đàn bà chạy nhông nhông theo mép nước mắt chăm chú nhìn những ngọn sóng lăn tăn sủi bọt trắng lốp đang nối nhau vỗ vào bờ đảo thỉnh thoảng người đàn bà lại lao bổ xuống hồ cuống quít dẫm đạp lên đám bọt sóng nháo nhào dấn người ra xa bất chợt chụp mạnh tấm vó lưới xuống những khoảnh nước đục ngầu quấn quít từng đàn từng vầng từng mảng những con ruốc hồ li ti dày đặc trông xa giống như những vầng rong rêu từ đáy hồ bị dồn đẩy lên mặt nước. Nhớ lại buổi sáng đầu tiên nhìn thấy người đàn bà trần truồng chạy nhông nhông trên mép nước ông bác sĩ già không thể nào tin được đó là người đàn bà đêm qua đầu trùm khăn đen bụng quấn xà rông ngồi chỗm chỗm như mụ phù thủy như thần chết đau khổ rì rầm lảm nhảm rót mật vào tai ông bác sĩ già bao nhiêu câu chuyện lăng nhăng vớ vẫn buồn thảm thương đau oán hận cũng như bác sĩ Cần càng không thể hiểu được vì sao một bà già hơn bảy mươi tuổi đã đẻ mười ba người con lại có thể trẻ trung đẹp đẽ khỏe mạnh đến như vậy ngắm nhìn bà Mẫn trần truồng da dẻ bóng loáng dơ cao cái vó lưới tả tơi có khi ngang lưng còn buộc tòng teng cái dỏ, ông bác sĩ già cứ ngỡ như nhìn thấy nàng công chúa con vua Thủy tề dưới hồ trồi lên. Những ngày sau này khi đã biết ông bác sĩ già chẳng hơn gì lão công công bà Mẫn cũng chẳng cần giữ gìn ý tứ gì nữa chẳng cứ sáng sớm bà cởi trần cởi truồng chạy nhông nhông theo mép nước vớt con ruốc hồ đỏ lòm về làm mắm mà cả ngày vẫn cứ trần truồng đi lại trên đảo bà vui vẻ thản nhiên cù vào nách ông bác sĩ già khi thấy ông quay mặt đi ngượng nghịu: úi dào ơi ông đừng cưa sừng làm nghé nữa cứ như thế này cho mát lại đỡ tốn quần áo, trên đảo còn có ai nữa đâu mà phải che với đậy. Thú thật là mấy ngày đầu tiên ông bác sĩ già cả thẹn lắm nhất là khi cả hai ngồi xồm chỗm hỗm đối diện với nhau qua mâm cơm rưới nước ruốc hồ bày ngay trên mặt đất có một bữa ông bác sĩ suýt chết nghẹn khi đang và cơm bất chợt ngẩng lên thấy ngay cặp vú tròn vo căng mẩy rắn đanh của bà Mẫn nhẩy tâng tâng ngay trên miệng bát cơm đầy phè của ông lại có một lần ông bác sĩ già suýt chết sặc khi ông cúi xuống húp bát canh thì lại thấy ngay một túm lông đen xoăn tít như nắm rong rêu đặc sệt ruốc hồ động đà động đậy ngay trên cái miệng nồi canh bốc hơi nghi ngút. Nhưng rồi trước lạ sau quen dần dà bác sĩ Trương Vĩnh Cần chẳng còn ngạc nhiên chẳng còn hốt hoảng, chẳng còn cả thẹn chẳng còn lạ lẫm sặc nước nghẹn cơm nữa. Rồi đến lượt ngay chính ông cũng cởi trần trùng trục phơi ra bộ xương sườn đức Phật Tuyết Sơn thản nhiên vô tư ngồi bệt xuống đất ăn cơm với bà Mẫn nhưng ông bác sĩ cũng chỉ mới dám cởi trần thôi chưa dám cởi truồng ra và cũng chưa dám mặc quần đùi xi líp phơi ra bộ chân ống đồng trí thức còm nhom trắng bợt. Tuy nhiên cũng cần nói cho hết mỗi khi xách chổi ra quét dọn xối nước và ném bí đỏ cho lũ vượn vàng ở sau nhà thì bà Mẫn lại cẩn thận mặc áo quần gài khuy rõ chặt. Thấy ông bác sĩ già trố mắt tò mò bà Mẫn cười nhạt:

– Mấy thằng khỉ đực là đồ mất dậy, nhất là cụ khỉ già đầu đàn lại càng mất dạy ma đầu dâm đãng, một lần thấy tôi tồng ngồng bê sọt bí đỏ ra thế là cụ khỉ rít lên lao từ ngọn cây xuống một tay ôm dái một tay vồ lấy vú tôi bóp lấy bóp để láo thế, thật đúng là đồ khỉ gió.

Có lẽ nhờ không khí ngoài đảo hồ quá trong lành nhờ những cơn gió hồ thoáng đãng, nhờ cuộc sống tự do bình thản êm đềm thư thái và nhất là nhờ những bát thuốc đùng đục đen xì vừa đắng vừa ngọt vừa cay lại bốc lên mùi khai thối thum thủm như mùi nước đái khỉ mà bà Mẫn vẫn ép uống đều đặn cho nên đã có những ngày bác sĩ Trương Vĩnh Cần hoàn toàn tỉnh táo tỉnh trí như người khỏe mạnh bình thường những buổi trưa oi ả tĩnh mịch mặt trời chính giữa đỉnh đầu chang chang hắt nắng xuống hoang đảo cây cỏ muông thú say nắng lừ đừ uể oải rúc đầu vào bóng râm cũng là những giây phút ông bác sĩ già bỗng thừ mặt ngẩn ngơ nhớ lại một buổi trưa hè ran ran tiếng ve cậu bé Trương Vĩnh Cần trần truồng bò lổm ngổm trên cái hiên nhà lát đá rộng rãi thênh thang lốm đốm ẩn hiện đong đưa vô vàn cánh hoa tigôn bé xíu liu điu tim tím rồi cậu bé Cần vục đầu vào đĩa cơm chó tranh ăn với đàn chó con lũn tũn, rồi cậu bé Cần lại nhoẻn miệng cười ọ ẹ toe toét dơ tay bóp lấy bóp để hai bầu vú căng mọng đầy sữa chảy xệ thỗn thện của con chó mẹ chính dòng bec giê to như con bò đang nằm duỗi chân lim dim đôi mắt thỉnh thoảng thè lưỡi liếm tem tép khắp mặt cậu bé Cần. Ông bác sĩ già cứ bùi ngùi vẩn vơ từ từ nhớ lại như in những chuyện xa vời tận đâu tận đâu nhớ tới những ngày ẩm ướt nóng nực lạnh lẽo hầu như chẳng có buổi sáng buổi trưa buổi chiều tối mà chỉ có thứ ánh ngày nhờn nhợt đùng đục tanh tưởi lạnh lẽo đùn đẩy cái thân xác ông đi vào đi ra đi ra đi vào chui rúc quanh quẩn trong gian nhà xác chẳng khác gì con chuột già rụng răng điếc tai mắt lòa, long móng trốc vẩy thườn thượt thở dài bò quanh quẩn trong hang trong lỗ đất tối đen bẩn thỉu nhớp nhúa. Rồi ông bác sĩ lại chợt nhìn thấy cặp mắt trắng dã trừng trừng của bà Phạm Thị Ngót khi đưa cho ông tờ đơn ly dị: Người ta xử lý kỷ luật ông như vậy là dơ cao đánh khẽ đấy cũng vì họ nể tôi. Mong ông thật tâm ăn năn xám hối tổ chức chỉ đánh kẻ chạy đi chứ không đánh kẻ chạy lại. Rồi ông bác sĩ già lại nghe thấy tiếng tàu hỏa chạy xục xịch xục xịch đánh võng đánh nhịp đưa đẩy đời ông kiếp sống lang thang phiêu dạt vật vờ mờ chồng bao gương mặt đàn ông đàn bà già có trẻ có chập chờn nhoè nhoẹt mếu máo khóc cười nhàu nát nghệch ngoạc những bức ký họa. Cơn gió nào đó ào ào trên trời thổi tung cuốn bay những bức ký họa đời ông rắc rơi lả tả như những chiếc lá mắt bão tai trâu chấp chới chao liệng ngay trước mặt ông. Ngồi im lặng cô đơn giữa buổi trưa hè đảo hoang nóng nực càng tỉnh táo tỉnh tâm nhận ra cái đích thực đích danh thân phận của mình bác sĩ Cần càng thấy buồn bã u sầu tủi hổi chua chát ân hận ông gục đầu vào hai bàn tay nghẹn ngào đánh rơi những giọt nước mắt to tướng mặn chát còn đắng hơn chua hơn và khai thối hơn cả mùi nước đái khỉ không hiểu sao mỗi khi ông bác sĩ già ngồi ủ ê cô độc đau đớn khóc thầm như vậy thì bà Mẫn lại ở xó nào đó hiện ra tất nhiên vẫn trần truồng lặng lẽ ôm lấy đầu ông bác sĩ già kiên nhẫn đổ vào mồm ông bát thuốc đen xì nấu bởi những chùm hạt quả li ti đỏ ối của cây dây leo không tên vẫn bám chặt vào cành Báo bão bà âu yếm cà nhẹ đôi vú căng mẩy tròn vo chắc như nắm cơm lên cổ lên gáy lên mũi ông y hệt như người mẹ đang âu yếm dỗ dành đứa hài nhi tội nghiệp mỗi lần như vậy bác sĩ Cần lại càng nức lên rồi từ từ đổ gục xuống chìm vào một giấc ngủ mỏi mệt mê loạn ú ớ...

30/10/2019

Nguyễn Đình Chính

Nguồn: Trích Chương 17 Đêm thánh nhân

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Tiếng thở dài của đất

Mặc dù chồng nói đất Thành cổ Quảng Trị bị cày xới, bom chồng lên bom, khó có một ngôi mộ nào được nằm yên đâu. Hoạ may lật từng xác lên mới có thể tìm thấy miếng nhôm ghi tên tuổi, số lính, quê quán người tử trận. Bởi tấm danh thiếp này thường đeo nơi cổ mỗi người lính cộng hoà đề phòng sự tìm kiếm sau này.

Mẹ Quyên vẫn nằng nặc đòi được ra cái mảnh đất Tín chết. Chiều vợ, ông Nhân đưa mẹ con Như lên Huế, nhảy xe đò ra Thành cổ Quảng Trị.

Xe đò dừng lại gần bờ sông Thạch Hãn, mẹ Quyên xuống xe. Trước mặt mẹ là cảnh đổ nát hoang tàn. Ông Nhân chỉ ngón tay trước mặt, vẽ những đường ngoằn ngoèo trong khoảng không, nói rằng đó là thị xã Quảng Trị xinh xắn, đó là khu Thành cổ xây từ thời vua Minh Mạng. Nhưng mẹ con Quyên chỉ thấy những hố bom sâu hoắm, những gạch vỡ, những đất màu đỏ quạch bị hất tung lên. Thành dài mấy cây số, chỉ còn một mảng vài chục mét nham nhở ở cổng phía đông. Thị xã Quảng Trị cũng vậy, chỉ còn duy nhất một mảnh tường của trường Bồ Đề. Không hề thấy dấu tích một con đường nào trong thị xã. Bom đạn đã xoá đi hết, đã vùi lấp hết rồi.

Ông Nhân dẫn mẹ con Như trèo lên đống đổ nát, xem có thấy một ngôi mộ nào không. Hoàn toàn không có một ngôi nào.

Có tiếng người đàn ông nào hét toáng sau lưng:

– Này mấy người kia ơi, quay lại đi. Mìn còn đầy ra đó. Khéo nhẵm mìn chết cả lũ bây giờ. Quay lại đi.

Không thể thi gan với sự chết chóc đang rình rập, ông Nhân đành dắt mẹ con Như quay lại.

Mẹ Quyên than vãn:

– Ham hố gì mà con đến cái nơi rùng rợn nhường này, Tín ơi.

Ông Nhân giải thích cho vợ:

– Chúng nghe người ta xúi giục, muốn làm người anh hùng mình ạ. Chưa ngửi được mùi anh hùng thì đã tan xác rồi. Đó cũng là một bi kịch của cõi đời này đấy.

Trưa nắng, ba người dừng chân nơi quán nước trơ trọi, không một tán cây che nắng bên bờ sông.

Bà chủ quán hỏi:

– Ông bà đi tìm mộ con phải không?

Ông Nhân đáp:

– Vâng. Cháu có tên trong danh sách chết trận cổ Thành đăng trên báo Điện Tín.

Bà chủ quán chép miệng:

– Tất cả đều nằm ở dưới cái đống đổ nát kia. Tám mươi mốt ngày đêm. Mỗi ngày ngã gục mấy trăm nhân mạng. Tội quá, không ngày nào không có hàng chục ông bố, bà mẹ đến đây tìm con, rồi nước mắt ngắn nước mắt dài trở về tay không. Chẳng biết thảm cảnh này còn biết kéo dài đến bao giờ.

Bà vào trong quán lấy một thẻ hương đưa cho ông Nhân. Bà nói:

– Ông bà thắp một thẻ hương, thắp vọng cũng được, cho con mình, cho cả những người cùng ngã xuống.

Khói hương bay mềm được một đoạn rồi mờ dần, mờ dần, tan vào không trung. Ông Nhân lấy tiền trả bà chủ quán. Bà xua tay lắc đầu:

– Tôi không có con chết trận ở đây. Nhưng cứ nhìn những người đi tìm con, tìm chồng mà nát cả lòng. Tôi mở quán này, có bát nước độ đường và có thẻ hương làm phúc. Không lấy một đồng nào của ai cả.

– Bà thật tốt. Ông Nhân điềm đạm nói.

– Người Quảng Trị chúng tôi có câu “ơn người phúc ta” ông bà ạ. Biết đến bao giờ mới tìm hết được xương cốt chúng nó ở cái Thành cổ này.

Chiều tối ông bà Nhân mới về đến bến đò Phú Đa. Dẫu không thấy mộ, mẹ Quyên cũng đã đến được nơi Tín chết. Bom đạn ngần ấy sống làm sao được. Nhặt nhạnh, thu vén nuôi con mười chín hai mươi tuổi đầu, biết bao nhiêu trông mong, nhờ cậy, bỗng trắng tay. Phải là người mẹ đứt ruột đẻ con ra mới thấm thía hết nỗi đau đớn ấy. Có lẽ vì vậy không ai hiểu cái nghiệt ngã chiến tranh bằng những người mẹ.

Ở Thành cổ về, mẹ chấp nhận cái chết của Tín, nhưng lại quay sang suốt ngày nhớ Lễ và Trí. Mẹ không nói chuyện với ai, mà cứ lẩm bẩm một mình:

– Lễ ơi, Trí ơi, các con ở đâu bây giờ. Các con có biết thằng Tín nó chết rồi không. Xác nó bị vùi sâu dưới đống gạch đổ nát các con ạ. Sao các con không gửi thư về cho mẹ. Đừng bỏ mẹ mà đi như thằng Tín, Lễ và Trí nhé.

Lẩm bẩm một mình xong mẹ đi một vòng bến đò rồi quay về bàn thờ Tín thắp hương cho nó. Không bữa nào mẹ không đơm một bát cơm, xắp một đôi đũa đặt lên bàn thờ:

– Tín ơi, về ăn cơm với mẹ đi con.

Như nhìn mẹ mà ái ngại. Mẹ tinh anh, nhanh nhẹn, thanh thản thế, bây giờ nhiều lúc mẹ tỏ ra rối trí. Dốc hết tâm lực cho ngần ấy đứa con, các con đã rút mòn hết sức lực mẹ. Bỗng một hôm mẹ một mình đi Huế và mang về nhà tượng Phật bà Quan Âm, chuông mõ, kinh kệ. Mẹ lập bàn thờ Phật.

Ba Nhân bảo:

– Mẹ con cũng đã đến tuổi già rồi. Người già rất muốn được con cái quần tụ, muốn được con cái chăm sóc mình, nhưng con cái bị hút vào chiến tranh hết, đầu óc mẹ đâu còn được bình yên. Khi tinh thần khủng hoảng, thì người ta tìm đến tôn giáo, để bộc bạch, tâm sự. Giáo lý của đạo Phật là phật tại tâm, là từ bi hỉ xả. Cứ để mẹ con tìm sự bình tâm trong Phật giáo.

Như đáp:

– Vâng. Con biết mẹ đang rất lo cho hai em Lễ và Trí. Em Lễ còn có thư về, nhưng Trí thì bặt tăm.

– Lễ lớn rồi. Nó ý thức được mình hơn, ý thức được gia đình. Còn Trí và Tín đang còn ngựa non háu đá. Lý tưởng của Trí đang bị cuồng vọng lôi nó đi, con ạ.

Sáng nào mẹ cũng dậy sớm đánh chuông tụng kinh suốt hai giờ đồng hồ. Mẹ ít nói hơn, trầm mặc hơn, nhưng thanh thản hơn. Một hôm Nghĩa về rất sớm, lúc mẹ đang tụng kinh. Như “suỵt” ra hiệu cho em đừng kinh động:

– Có việc gì mà về sớm vậy em?

Nghĩa kéo chị vào phòng, thủ thỉ:

– Em có việc này muốn hỏi chị.

– Chị nghe đây.

– Em có người yêu rồi chị.

– Tốt.

– Một chàng sinh viên.

– Tốt.

– Tốt bụng, hăng hái và nhiệt tình.

– Điều quan trọng nhất là nó có yêu em không hay tình yêu đơn phương?

– Anh ấy rất yêu em.

– Tốt. Vậy em định hỏi gì chị đây. Hai đứa sắp cưới à?

– Chưa. Chưa cưới. Anh ấy hoạt động trong phong trào sinh viên. Bây giờ trên chiến khu lệnh anh ấy lên. Anh ấy có xin cho em đi cùng. Em hỏi chị, có nên không?

Không cần suy nghĩ, Như nói ngay:

– Em không nên nhẵm chân vào bài học thất bại của chị. Chị đã tin Tùng, để Tùng đi, thế là mất cả chèo lẫn lái. Tình yêu tốt nhất là luôn ở bên nhau. Sự có mặt của mình người khác sẽ phải tránh. Nếu em đã thật sự thấy đời mình không thể thiếu được chàng sinh viên ấy, anh ta đã ngỏ lời đem em đi theo thì em đi. Ở trên chiến khu, an toàn hơn nơi đối mặt trực tiếp với súng đạn.

Nghĩa hỏi:

– Theo chị, như vậy là em đi.

– Tất nhiên. Đi lúc nào đây em.

– Tối nay. Quyết định hơi gấp, nên em về sớm để hỏi chị và hỏi mẹ.

– Thôi. Đừng kinh động mẹ khi mẹ đang tụng kinh. Đây là tin vui cho gia đình ta. Em cứ đi, chị sẽ nói lại hết với ba và mẹ. Em có cần chuẩn bị gì thêm cho chuyến đi đặc biệt này không?

– Anh ấy bảo trên chiến khu đủ cả.

– Chàng sinh viên có nói lên chiến khu em sẽ làm gì không?

– Anh ấy bảo chỉ cần mình có tinh thần. Còn công việc cụ thể, căn cứ vào năng lực của mình cấp trên sẽ phân công.

– Tốt.

– Em gửi lời chào mẹ, chào ba.

– Chúc em đi chân cứng đá mềm.

Hai chị em ôm chầm lấy nhau.

Thế là lại thêm một cuộc chia tay. Thế là những con gà con của gà mẹ đã đi hết. Mỗi đứa đều đi theo một cái vẫy tay riêng. Chúng đều có lý tưởng của chúng. Khi Như thông báo tin này cho ba mẹ.

Ba nói:

– Đúng là đứa nào có số phận của đứa nấy.

Mẹ thì cụ thể hơn, xót xa:

– Ai ngờ những đứa con của mẹ lại dàn chiến tuyến để bắn nhau.

Ý nghĩ này càng thôi thúc mẹ đến với chuông mõ kinh kệ. Đêm nghe tiếng súng đâu đó vẳng lại, mẹ lại giật mình:

– Như ơi, có phải thằng Tín với con Nghĩa, hai chị em nó đang bắn nhau đấy không con.

Sau những đêm như thế, mẹ lại dậy sớm hơn để gõ mõ tụng kinh. Nỗi mong mỏi nhất của mẹ bây giờ là không còn tiếng súng nữa, cho các con mẹ được trở về đoàn tụ trong vòng tay của mẹ. “Im tiếng súng thì ăn muối cũng cam”.

Khi tiếng mõ cần mẫn của mẹ vẫn đều đều cất lên mỗi sáng, thì bất thình lình tiếng súng giải phóng Buôn Mê Thuột bùng lên. Như dây truyền nổ không thể gì dập tắt được, lính cộng hoà ùa nhau chạy khỏi Tây Nguyên. Huế không một tiếng súng, lính cộng hoà cũng tháo chạy. Bị chặn ở chân đèo Hải Vân thì quay lại, cuốn gói về phía cửa biển Thuận An. Trên cánh đồng Tân Mỹ, lính chạy bỏ của giữ người, ngổn ngang xe cộ, súng đạn, quần áo, giầy dép… chỉ có thể dùng hình ảnh lá vàng rụng tơi bời cuối thu, mới diễn tả hết sự ngổn ngang bề bộn của lính thất trận tháo chạy.

Con đường duy nhất đi khỏi Huế lúc này là lên tàu, ra cửa Thuận An, vào Nam. Tàu thì ít, lính thì nhiều. Kẻ ở trên tàu sợ tàu đông quá tải bị chìm chúng đạp những kẻ đang tiếp tục bám thành tàu leo lên. Đạp không hết thì bắn. Thế là súng trên bờ bắn lên tàu. Súng trên tàu bắn xuống. Tiếng súng nổ rền rã cho đến khi những chiếc tàu đã ra tít ngoài khơi xa. Trên bờ cửa biển Thuận An thì ngổn ngang xe cộ, súng đạn, áo quần. Còn dưới nước thì ngổn ngang xác chết. Chỉ một ngày hôm sau xác chết nổi lên lềnh bềnh. Ngư dân Thuận An đem cá biển lên Huế bán, không ai mua. Vì họ nói rằng: Những con cá ấy thế nào cũng rỉa thịt người ăn. Ăn cá chẳng khác gì ăn thịt người chết. Người bán cá chỉ còn cách đổ cá xuống sông, chở ghe, cắp thúng trở về.

Mẹ Quyên nói với chồng:

– Coi tính tình ương ngạnh của chúng nó, chắc thằng Tín không đầu hàng cộng sản đâu. Thế nào nó cũng tìm cách vào Nam. Tôi đoán chắc là nó đã bị đồng đội của nó bắn chết ở cửa biển Thuận An ông ạ. Tôi với ông phải đi tìm nó về chôn. Để thân xác nó bơ vơ, hồn vía nó lưu lạc, tôi không chịu được.

Thấy bà thay đổi cách xưng hô, không bao giờ bà xưng “tôi” với ông, bao giờ cũng “mình, mình”, “em, em” ngọt ngào, bây giờ bà xưng “tôi” tự nhiên. Rõ ràng bà đã là một người khác, người ấy đã già.

Không thể từ chối lời yêu cầu chính đáng của vợ, hai ông bà chống gậy xuống cửa Thuận An. Trước mắt hai người một khung cảnh hãi hùng. Ông bà đã thấy tận mắt Thành cổ Quảng Trị đổ nát tan hoang. Còn ở cửa Thuận An này là cảnh chết chóc ngổn ngang. Những xác chết bập bềnh trên sóng. Sóng xô dồn từng xác chết vào bờ. Người chết dày như nong tằm. Hàng trăm người về Thuận An như ông bà. Họ lấy gậy chọc lật từng cái xác lên để nhìn cho rõ mặt. Nhưng các xác chết đã trương phình, mặt mày phù húp. Rất khó nhận diện. Nhiều người cẩn thận móc dây, kéo bảng tên bằng nhôm đen ở cổ để xác định con em nhà mình. Ông Nhân và vợ cũng bắt chước cách khám tử thi ấy, nhưng nỗi xót xa trong lòng cùng với uế khí bên ngoài đã bứt những con người mê mải với cả vạn xác chết trải dài theo bờ biển kia. Lưng chiều, chỉ còn vài ba cặp ông bà già cũng đã chồn chân nhưng vì lòng thương con giữ họ lại. Ông Nhân và vợ là những người thất vọng sau cùng. Không thấy Trí đâu, cũng mừng là có thể nó còn sống. Nhưng cũng lo không biết mình có bỏ qua xác chết nào không xem kỹ không. Ngày hôm sau quạ phát hiện ra đống mồi quen ăn, bay rợp cửa biển Thuận An, suốt ngày kêu: quạ! quạ!

Phải một tháng sau Huế giải phóng, ông bà Nhân mới được tin về Trí.

Một người bạn thân của Trí về tận bến đò Phú Đa kể lại câu chuyện đầu đuôi rằng:

Đơn vị biệt động của họ đóng tại vùng núi Ngũ Hành Sơn trong Đà Nẵng. Trong đám bạn của họ, một người yêu một cô gái có quầy hàng cha mẹ để lại trong chợ Cồn. Nhưng rồi anh ta lại mê một cô ca sĩ về hát tại Ngũ Hành Sơn. Niềm đam mê ấy được đáp lại, anh ta liền bỏ cô gái chợ Cồn. Mấy lần cô gái chợ Cồn lên tìm anh kia, anh kia không những không tiếp mà còn hắt hủi. Thương một cô gái trẻ xinh đẹp bị phụ bạc, Trí đã cưu mang cô. Đang đau khổ bỗng có người đỡ giúp, cô đã bám lấy Trí. Rồi hai người yêu nhau, và lấy nhau không cần giá thú. Cô gái ấy sinh con với Trí trước khi Đà Nẵng giải phóng bốn tháng.

Trí tìm cách chạy vào Nam. Nhưng cả tiểu đoàn biệt động quân đã bị bắt trên đường rút chạy ở Chu Lai. Trí chỉ là lính thường nên không bị đi tù, mà chỉ bị tập trung cải tạo trong một tháng rồi được tha về. Không bị giam giữ, được về với gia đình, nhưng hàng tuần phải lên trình diện ở chính quyền phường.

Trí nghe chị Nghĩa mình hiện thời là vợ bí thư Thành đoàn Đà Nẵng, anh này học Đại học Huế, lên chiến khu, đưa vợ chưa cưới theo. Hai người đã thành hôn trên chiến khu. Khi Đà Nẵng giải phóng, được đưa về Đà Nẵng công tác. Chức danh ấy là người đang có vai vế trong xã hội. Trí mừng lắm, chạy tới chị đề cậy nhờ. Chị nói:

– Em phải chờ đợi thôi. Gia đình mình thành phần rất phức tạp, đã là một gánh nặng trong lý lịch chị. Bây giờ bảo lãnh cho em, chắc chắn là ảnh hưởng không ít tới đường tiến thân của anh. Em hãy về với ba mẹ, tìm một hướng đi cho mình, chứ anh chị không thể giúp được gì cho em đâu. Em đừng tới đây nữa, đừng làm phiền anh chị nữa.

Trí cảm thấy mình bị chị ruột hắt hủi, dù anh chưa nói ra điều gì cụ thể. Trí buồn, không chào chị, quay ra thẳng, không ngoái đầu nhìn lại. Anh bỏ về chợ tìm vợ. Ngày Đà Nẵng nhốn nháo, nhiều kẻ ham giàu, vào chợ hôi của. Hàng hoá cô gái bị mất hoàn toàn, trắng tay. Anh tìm tới nhà, cha mẹ cô gái đưa cho anh một lá thư:

“Anh Trí yêu.

Hàng hoá mất hết, em đã sạch vốn rồi. Những ngày anh tập trung học tập cải tạo, em đã phải bán thân lấy tiền để nuôi anh. Nếu anh bị tù chắc em cũng sẽ phải tiếp tục làm cái nghề ấy để thăm nuôi anh. Em nguyện không bỏ anh trong lúc anh vận hạn, để trả tình anh đã cưu mang em khi em bị phụ bạc. Nhưng nay nghe tin anh về, em vừa thấy xấu hổ với anh, vừa thấy nhục nhã. Em không thể đem tấm thân nhục nhã này mà đón anh được nữa. Em đem con đi. Không biết sẽ đi đâu, không biết sẽ trôi dạt đến phương nào. Nhưng em sẽ không trở về nữa.

Dù vẫn yêu anh, xin anh đừng tìm em làm gì.

Em. Cô gái chợ Cồn của anh”.

Đọc thư xong, Trí hoàn toàn thất vọng. Vừa bị chị ruột hắt hủi, lại bị người vợ dứt tình. Vừa tan tác về tình đời, lại rất cực đoan về lý tưởng, ngay đêm ấy Trí đã ra cầu Trịnh Minh Thế, uống hết một lít rượu rồi nhảy xuống cầu tự vẫn.

Kể xong người bạn của Trí nói tiếp:

– Chúng cháu đã thuê thợ lặn trên sông Hàn. Nhưng chẳng thấy Trí đâu. Đợi ba ngày chờ xác Trí nổi lên cũng không thấy. Bạn bè bảo cháu phải về đây tìm chị Như và hai bác, báo cho gia đình biết.

Đây là lần đầu tiên mất mát, bà Quyên không oà khóc. Có lẽ nó đã chết trăm lần trong ý tưởng của bà rồi, cho nên khi được báo tin, tin ấy đã nhàm. Cũng có thể do cầu kinh cần mẫn hàng ngày, bà đã tìm được nơi tĩnh trí cho mình. Bà chỉ buồn là tại sao hoà bình đã được hơn một tháng mà không thấy Nghĩa về thăm. Hay cái gia đình lý lịch đầy phúc tạp này, nó cũng sợ đến sự tiến thân của chồng không dám về.

Ông Nhân hỏi:

– Cháu có biết cô gái chợ Cồn vợ Trí không?

– Dạ, cháu có biết ạ.

– Tính tình nó thế nào.

– Một cô gái hiền Thư ạ.

– Sau khi Trí mất, nó có về không?

– Không ạ.

– Bây giờ cháu có biết nó ở đâu không?

– Dạ không ạ.

– Khi nào cháu biết tin cho bác biết nhé.

– Vâng ạ.

– Thay mặt gia đình, bác cám ơn cháu.

Người bạn của Trí đi rồi, bà Quyên nói:

– Thế là gia đình mình lại thêm một đứa chết mất xác. Thế có khổ không.

Bà quay sang Như:

– Con làm giúp cho mẹ việc này: Sớm muộn gì con cũng phải tìm ra cô bé chợ Cồn. Mẹ muốn thấy được đứa cháu nội của mình, muốn được nuôi nó thành người.

Bà Quyên thở dài:

– Dẫu sao đất nước mình cũng im tiếng súng rồi. Đất nước đã phải trả giá bao đau thương để có được một việc rất giản đơn thế này.

31/10/2019

Nguyễn Quang Hà

Nguồn: Trích tiểu thuyết Tiếng thở dài của đất

Theo https://vanhocsaigon.com/

XXXXXXXAnne Carson: Người thách thức giới hạn văn chương

Anne Carson: Người thách thức giới hạn văn chương Giải thưởng Nobel Văn chương 2026 gọi tên nhà văn Anne Carson, nổi tiếng với những sáng ...