Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

Nghề bán giấc mộng

Nghề bán giấc mộng

Gabriel García Márquez là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của văn học thế giới thế kỷ XX. Ông là tiểu thuyết gia, nhà báo, nhà viết truyện ngắn và nhà biên kịch người Colombia, đồng thời là gương mặt tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (magical realism) trong văn học Mỹ Latinh.
Gabriel José García Márquez sinh ngày 6 tháng 3 năm 1927 tại thị trấn Aracataca, Colombia.
Ông được ông bà ngoại nuôi dưỡng từ nhỏ. Ông ngoại, một cựu đại tá từng tham gia nội chiến Colombia, kể cho ông nghe nhiều câu chuyện về lịch sử và chính trị; còn bà ngoại lại kể những truyền thuyết, chuyện ma và điều kỳ bí bằng giọng điềm nhiên như thể chúng hoàn toàn có thật. Chính cách kể chuyện ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách sáng tác của García Márquez.
Ông học luật tại Đại học Quốc gia Colombia nhưng sớm bỏ dở để theo nghề báo. Trước khi nổi tiếng với tư cách nhà văn, ông đã làm phóng viên ở Colombia, châu Âu và Mexico.
Tên tuổi của García Márquez được biết đến từ những truyện ngắn đầu tay, nhưng ông chỉ thực sự trở thành hiện tượng văn học thế giới sau khi xuất bản tiểu thuyết One Hundred Years of Solitude (Trăm năm cô đơn) năm 1967.
Cuốn tiểu thuyết được dịch ra hàng chục ngôn ngữ, bán hàng chục triệu bản và được xem là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của thế kỷ XX.
Ngoài Trăm năm cô đơn, các tác phẩm nổi tiếng của ông còn có:
Love in the Time of Cholera (Tình yêu thời thổ tả)
Chronicle of a Death Foretold (Biên niên ký về một cái chết được báo trước)
The Autumn of the Patriarch (Mùa thu của vị trưởng lão)
No One Writes to the Colonel (Không ai viết thư cho đại tá)
Of Love and Other Demons (Tình yêu và những con quỷ khác)
Living to Tell the Tale (Sống để kể lại)
Năm 1982, García Márquez được trao Giải Nobel Văn học. Viện Hàn lâm Thụy Điển ca ngợi ông vì:
“Những tiểu thuyết và truyện ngắn của ông đã kết hợp thế giới kỳ ảo và hiện thực trong một vũ trụ tưởng tượng phong phú, phản ánh đời sống và những xung đột của cả một châu lục.”
Điểm nổi bật trong văn chương García Márquez là hiện thực huyền ảo.
Ở tác phẩm của ông, những điều kỳ diệu xuất hiện giữa đời thường mà các nhân vật đón nhận như một phần tự nhiên của cuộc sống. Chẳng hạn, một cô gái có thể bay lên trời, những hồn ma có thể trò chuyện với người sống, hay cơn mưa kéo dài nhiều nămnhưng tất cả đều được kể bằng giọng bình thản, khiến điều kỳ ảo trở nên thuyết phục.
Bên cạnh đó, tác phẩm của ông còn xoay quanh nhiều chủ đề lớn:
Sự cô đơn của con người.
Tình yêu vượt qua thời gian.
Ký ức và lịch sử.
Bạo lực và chính trị ở Mỹ Latinh.Sự tuần hoàn của số phận.
Gabriel García Márquez được xem là nhà văn có ảnh hưởng lớn nhất của văn học Mỹ Latinh hiện đại, cùng với những tên tuổi như Jorge Luis Borges, Julio Cortázar và Mario Vargas Llosa.
Tác phẩm của ông đã ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nhà văn trên khắp thế giới và góp phần đưa văn học Mỹ Latinh trở thành một hiện tượng toàn cầu trong thế kỷ XX.
Gabriel García Márquez qua đời ngày 17 tháng 4 năm 2014 tại Thành phố Mexico, hưởng thọ 87 tuổi.
Ngày nay, ông vẫn được coi là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của mọi thời đại. Riêng Trăm năm cô đơn thường được xếp ngang hàng với những kiệt tác như Don Quixote, War and Peace và Ulysses, đồng thời là một trong những cuốn tiểu thuyết có ảnh hưởng sâu rộng nhất của văn học thế giới hiện đại.
Lúc chín giờ sáng, trong lúc chúng tôi đang dùng điểm tâm trên sân thượng khách sạn Habana Rievera, ngay giữa cơn nắng chói chang, một ngọn sóng khủng khiếp đã cuốn theo nhiều chiếc xe đang chạy trên đường Malećon hoặc đang đỗ trên lề đường, trong số đó, một chiếc đã bị hất dính vào tường khách sạn. Như một tiếng mìn nổ, tạo nên nỗi kinh hoàng suốt hai mươi tầng toà nhà, biến cánh cửa lớn vào đại sảnh thành cát bụi. Nhiều du khách đang đứng ở quầy tiếp tân bị hất tung lên trời, cùng lúc với đồ đạc, có người bị các mảnh kiếng vỡ cắt nát. Chắc hẳn là đợt sóng thần khổng lồ, bởi giữa con đường chắn Malećon và khách sạn, còn có cả một đại lộ rộng xe chạy hai chiều, cơn sóng đã tràn qua đó mà vẫn còn đủ mạnh để xé vụn thành mảnh các khoảng tường kính.
Các tình nguyện viên người Cuba nhiệt tình, có nhân viên cứu hộ giúp sức, đã mất gần sáu tiếng đồng hồ để dọn dẹp các đống đổ nát, bít lối đi ra biển, mở một cổng khác, và rồi mọi sự trở lại bình thường. Suốt buổi sáng, không ai để ý tới chiếc xe bị ghim dính trên tường, ai cũng nghĩ đó là một trong những chiếc đang đỗ bên lề. Nhưng đến khi xe cần cẩu kéo chiếc xe bị nạn ra, người ta mới phát hiện thi thể một phụ nữ dính vào tay lái nhờ chiếc dây an toàn. Cú va chạm mạnh đến mức không mảnh xương nào của bà còn nguyên vẹn. Khuôn mặt bà bị dập nát, đôi ủng rách bươm, quần áo nát thành mảnh vụn. Bà đeo một chiếc nhẫn vàng hình con rắn với đôi mắt ngọc bích. Cảnh sát xác nhận đây là người quản gia của viên tân đại sứ Bồ Đào Nha và gia đình.
Bà ta đến La Havane cùng lúc với gia đình đại sứ cách đây hai tuần, và sáng hôm đó lái chiếc xe mới đi mua sắm. Khi đọc tin trên báo, tên của bà không gợi cho tôi điều gì, nhưng tôi lại thấy tò mò về chiếc nhẫn hình con rắn với đôi mắt ngọc bích. Tuy thế, tôi không thể nào xác minh được bà đeo nhẫn ở ngón tay nào.
Đấy là một chỉ dấu quan trọng, bởi tôi ngờ rằng bà ta hẳn là nhân vật khó quên mà tôi không biết được tên thật, người cũng đeo chiếc nhẫn tương tự như thế, điều rất khác thường vào thời kỳ đó. Tôi đã gặp bà ấy ba mươi bốn năm trước, tại Vienne, hôm tôi ngồi ăn xúc xích và khoai luộc, uống bia hơi trong một quán ăn mà đám sinh viên Mỹ la tinh hay lui tới. Tôi vừa từ Rome tới ngay sáng hôm đó, và còn nhớ cái ấn tượng đầu tiên khi nhìn thấy vóc dáng đẫy đà của bà, những chùm đuôi chồn nơi cổ áo khoác ngoài và chiếc nhẫn Ai cập hình rắn đó. Tôi nghĩ bà là người Áo duy nhất ngồi nơi chiếc bàn gỗ dài đó, vì bà nói không nghỉ lấy hơi một thứ tiếng Tây Ban Nha thô kệch với giọng kim. Tuy nhiên, bà sinh tại Colombie, và chỉ sang Áo vào thời giữa hai cuộc thế chiến, lúc còn nhỏ xíu, để học âm nhạc và ca hát. Vào lúc tôi quen bà, bà chỉ khoảng ba chục, nhưng nhìn có vẻ già hơn bởi bà chưa bao giờ xinh đẹp và như hơi già trước tuổi. Nhưng dù sao đó là một con người tuyệt vời. Và cũng là một trong những người đáng sợ.
Vienne vẫn còn là một đế đô cổ kính, do vị trí địa lý ở giữa hai thế giới không thể hoà hợp từ sau thế chiến thứ hai đã biến thành thiên đường của buôn bán chợ đen và gián điệp quốc tế. Tôi không hình dung ra được nơi nào thích hợp hơn cho người đồng hương lưu vong của tôi, người đã chọn đến ăn ở quán sinh viên do muốn trung thành với gốc gác của mình bởi lẽ bà có khả năng mua tiền mặt cả chỗ ngồi cả hết thảy khách ăn có mặt lúc đó. Bà không bao giờ tiết lộ tên thật của mình, lúc nào tôi cũng chỉ biết bà dưới cái biệt hiệu khó đọc mà đám sinh viên Mỹ la-tinh đặt cho bà: Frau Frida. Lúc ấy, tôi vừa mới được giới thiệu với bà thì phạm ngay một lỗi thất lễ là hỏi bà làm sao có thể sống được ở một nơi xa cách và khác biệt với những mỏm đá lộng gió của xứ Quindio đến thế, và bà trả lời ngay:
“ Tôi nằm mộng để có lương.”
Thực tế, đó là nghề nghiệp duy nhất của bà. Là con thứ ba trong số mười một người con của một thương gia giàu có của xứ Caldas cổ, ngay từ khi mới biết nói, bà đã tạo nên một thói quen tốt trong gia đình là thuật lại những giấc mơ của mình ngay khi mới ngủ dậy, chưa ăn uống gì, là lúc mà tính chất sấm truyền của các giấc mơ đang ở trạng thái thuần khiết. Lúc lên bảy, bà nằm mơ thấy một trong các anh em bị dòng nước cuốn trôi. Chỉ vì mê tín sùng đạo, bà mẹ cấm tiệt con trai không được tắm sông. Nhưng Frau Frida lại có hệ thống tiên đoán riêng của mình:
“ Giấc mơ trên không tiên đoán là anh sẽ chết đuối, mà là không nên ăn kẹo. ”
Lời tiên đoán này dường như là một sự sỉ nhục đơn thuần đối với cậu bé năm tuổi, cậu làm sao sống được nếu không có những viên kẹo vào ngày chủ nhật. Bà mẹ lại tin vào tài năng tiên đoán của con gái, yêu cầu tuân thủ tuyệt đối sự cảnh báo. Nhưng còn cậu nhỏ, lợi dụng phút lơ đễnh của mẹ, đã ăn lén một viên kẹo quế và bị hóc, không sao cứu được.
Frau Frida chưa hề nghĩ tới việc biến khả năng tiên đoán đó thành một nghề kiếm ăn cho đến khi đời sống khiến cô ngạt thở với những mùa đông khắc nghiệt ở Vienne. Lúc đó, cô mới đi gõ cửa xin việc ở bất kỳ nhà nào mà cô nghĩ là sống được. Người ta hỏi cô làm được việc gì và cô nói thật: “ Nằm mộng “. Chủ nhà hài lòng với lối giải thích vắn tắt đó và đồng ý mướn cô với khoản thù lao đủ cho những chi tiêu tằn tiện, thêm vào đó, cô được ở một căn phòng xinh xắn, cơm ngày ba bữa - đặc biệt là bữa điểm tâm, là thời gian cả gia đình ngồi xuống để biết được tương lai gần nhất của mỗi người vào ngày hôm đó: ông bố, một nhà tài chính lỗi lạc, bà mẹ, một phụ nữ vui tính, say mê nhạc thính phòng lãng mạn, và hai đứa con, mười một và chín tuổi. Cả nhà đều sùng đạo, và do vậy, đều có xu hướng mê tín từ lâu. Họ nồng nhiệt đón tiếp Frau Frida và chỉ mong ở cô mỗi một việc là giải thích giấc mộng của cô để tiên đoán số mệnh hàng ngày của gia đình.
Cô làm việc đó khá tốt và lâu dài, nhất là trong những năm chiến tranh, thời gian mà thực tế còn bi thảm hơn ác mộng. Chỉ mình cô có quyền quyết định, lúc ăn điểm tâm, việc mỗi người trong nhà phải làm hôm đó, và làm như thế nào, cứ thế, những lời tiên đoán của cô trở thành quyền lực tối cao trong nhà. Ảnh hưởng của cô đối với gia đình trở nên tuyệt đối: ngay cả tiếng thở dài nhẹ cũng phải theo lệnh của cô. Thời gian tôi quen biết cô ở Vienne, ông chủ nhà vừa mới qua đời và đã ưu ái di tặng cô một phần tài sản, với điều kiện cô phải tiếp tục nằm mộng cho gia đình ông cho đến khi nào cô không nằm mộng được nữa.
Tôi lưu lại Vienne hơn một tháng, cùng chia sẻ hoàn cảnh thiếu thốn với các sinh viên, trong khi chờ một khoản tiền gởi chẳng bao giờ đến. Những lần viếng thăm bất ngờ và sự hào phóng của Frau Frieda tại quán ăn giống như những buổi yến tiệc đối với chế độ ăn uống kham khổ của chúng tôi. Một tối kia, trong cơn sảng khoái có chút men bia, cô đã thì thầm vào tai tôi, với sự tin chắc không cho phép chậm trễ:
“ Tôi đến đây để báo với bạn là tối qua tôi đã nằm mộng thấy bạn. Bạn phải rời nơi đây ngay và đừng trở lại Vienne trong vòng năm năm tới!”
Cô tỏ ra tin chắc đến mức ngay tối hôm đó, tôi đáp chuyến tàu cuối cùng đến Rome. Và tôi cũng bị ám ảnh bởi điều đó nên từ dạo ấy tôi cứ tự coi như là người sống sót cuối cùng thoát khỏi một tai ương mà thực ra chưa hề xảy đến với tôi. Tôi vẫn chưa dám trở lại Vienne.
Trước khi xảy ra cơn tai biến ở La Havane, tôi có gặp lại Frau Frieda ở Barcelona, trong một tình huống bất ngờ gần như là huyền bí đối với tôi. Hôm đó Pablo Neruda (1) đặt chân lên đất Tây Ban Nha lần đầu tiên kể từ khi xảy ra cuộc nội chiến, nhân lúc dừng chân tạm trong chuyến du lịch đường biển đến Valparaíso. Ông đã cùng chúng tôi lục lọi các hiệu sách cũ suốt buổi sáng, và đến tiệm Porter, ông mua được một cuốn sách cũ, sờn gáy, phai bìa, mà ông phải trả với số tiền không kém hai tháng lương làm lãnh sự ở Rangoon. Ông di chuyển giữa đám đông như một con voi bị thương, biểu lộ sự thích thú trẻ con về sự vận hành bên trong mỗi sự vật, bởi ông nhìn thế giới như một món đồ chơi cơ khí vĩ đại, giúp ông khám phá cuộc sống.
Tôi chưa từng thấy một người nào gần giống hơn với cái ý tưởng mà ta nghĩ về một vị Giáo hoàng thời Phục hưng: phàm ăn và thanh tao. Tuy không hề mong đợi, lúc nào ông cũng chủ toạ bàn ăn. Vợ ông, bà Matilde, quàng vào cổ ông một cái khăn ăn trông giống như khăn quàng khi hớt tóc hơn là khi ngồi ăn, nhưng chỉ có cách đó nước xốt mới khỏi vương vãi khắp người ông. Hôm đó, ở tiệm Carvalleiras, ông thật tiêu biểu. Ông ăn cả ba con tôm hùm, bóc vỏ chúng với nghệ thuật của một nhà phẫu thuật, mắt nhìn hau háu qua dĩa các thực khách khác, và, bị khuất phục bởi thói tham ăn đưa tới sự thèm thuồng, ông bổ vào hết dĩa này đến dĩa khác: món sò Galice, sen biển Bilbao, tôm hùm Alicante, hải sâm Costa Brava. Trong thời gian đó, theo lối những người Pháp, ông chỉ bàn về những tinh tế của nghệ thuật ẩm thực, giơ lên cao những sợi râu tôm hùm Chili, rồi nói thầm với tôi:
“ Có người nào sau lưng tôi cứ nhìn tôi nãy giờ đấy!”
Tôi liếc nhìn qua vai ông: đúng thế. Đằng sau ông, cách ba bàn, một phụ nữ không e dè, đội chiếc mũ phớt lỗi thời, cổ quàng khăn tím, đang chậm rãi ăn, mắt dán chặt vào ông. Tôi nhận ra bà ta ngay. Bà ta già đi, và mập ra, nhưng chính là bà, với chiếc nhẫn hình rắn trên ngón tay trỏ.
Bà từ Naples đến trên cùng chiếc tàu với ông bà Neruda, nhưng trên tàu họ không nhìn thấy nhau. Chúng tôi mời bà qua ngồi cùng bàn uống cà phê, và tôi xin bà kể về những giấc mộng, cốt để làm nhà thơ ngạc nhiên. Tuy nhiên ông chẳng hề chú tâm và tuyên bố thẳng thừng rằng ông không tin những chuyện đoán giải mộng.
“ Chỉ có thi ca có cái nhìn thấu suốt!”, ông nói.
Sau buổi ăn trưa, trong cuộc đi dạo không tránh được trên đường Ramblas, tôi cố ý đi chậm lại sau với Frau Frieda để cùng nhắc lại những kỷ niệm mà không tiện cho người khác nghe. Bà kể là bà đã bán hết điền sản bên Áo để về sống ẩn dật ở Porto, trong một căn nhà mà bà miêu tả như một lâu đài nằm cheo leo trên đồi, từ nơi này có thể nhìn thấy cả đại dương, tít tận châu Mỹ. Bà chẳng nói rõ với tôi, nhưng qua câu chuyện bà tiết lộ rằng cứ qua từng giấc mộng, bà đã thu tóm hết tài sản của những người chủ lừng danh của bà ở Vienne. Tôi không ngạc nhiên quá mức bởi tôi từng nghĩ chuyện giải đoán điềm mộng của bà chỉ là một mưu kế giúp bà sinh tồn. Tôi nói với bà như thế.
Bà bật lên cười, nụ cười không kềm chế được. “ Anh lúc nào cũng ngang ngược”, bà nói. Thế rồi bà im bặt, vì cả đám đã dừng lại để đợi Neruda kết thúc cuộc nói chuyện bằng thứ tiếng lóng Chili với những con vẹt. Khi chúng tôi tiếp tục câu chuyện, Frau Frieda đổi đề tài:
“ À này, anh có thể trở lại Vienne rồi đấy.”
Lúc này, tôi bỗng nhận ra là đã mười ba năm trôi qua kể từ lần chúng tôi mới gặp nhau.
“ Ngay cả nếu các giấc mộng của bà trật lất, tôi cũng không trở lại nơi đó, tôi nói. Chẳng ai biết được ra sao.”
Lúc ba giờ, chúng tôi từ biệt bà để đi theo Neruda vào giấc ngủ trưa thiêng liêng của ông. Ông ngủ ở nhà chúng tôi sau khi chuẩn bị rất trọng thể khiến nghĩ tới nghi thức uống trà ở Nhật Bản. Có mấy cửa sổ phải mở ra, mấy cái khác khép lại để tạo nhiệt độ hoàn hảo, với ánh sáng chừng mực theo một hướng nào đó, và một sự yên lặng tuyệt đối. Neruda rơi vào giấc ngủ ngay và thức giấc sau mười phút, y như trẻ con, vào lúc chúng ta ít chờ đợi nhất. Ông xuất hiện nơi phòng khách, tươi tỉnh, vết hằn của chiếc gối trên má.
“Tôi đã mơ thấy người đàn bà chuyên nằm mộng đó”, ông nói.
Matilde muốn ông thuật lại giấc mộng.
“Tôi mơ thấy bà ấy nằm mơ về tôi, ông nói.”
- Đấy là chuyện của Borges (2) rồi, tôi đáp lại.
Ông nhìn tôi thất vọng.
“Chuyện đó có người viết rồi à? “
- Nếu chưa viết thì có ngày ông ta sẽ viết thôi. Đó sẽ là một trong những mê cung (2) của ông ta. “
Lúc sáu giờ chiều, ngay khi lên tàu, Neruda cáo từ chúng tôi, đến ngồi nơi một cái bàn riêng, bắt đầu viết những câu thơ tinh khiết, nhúng ngòi bút vào thứ mực xanh ông thường vẽ hoa, vẽ cá, vẽ chim, thay cho lời đề tặng các tác phẩm của mình. Khi nghe tiếng còi hụ lần đầu, chúng tôi đi tìm Frau Frieda và thấy bà trên cầu tàu hạng nhì vào lúc chúng tôi sắp rời đi mà không kịp từ biệt bà. Bà cũng ngủ trưa vừa mới dậy.
“Tôi nằm mộng thấy ông thi sĩ,” bà bảo chúng tôi.
Ngạc nhiên, tôi yêu cầu bà thuật lại giấc mộng.
“Tôi nằm mộng thấy ông ấy nằm mộng về tôi”, bà nói, sững sờ vì cái nhìn ngạc nhiên của tôi, bà nói tiếp: “ Bạn muốn gì nữa, trong số các giấc mộng, có lúc cũng có khi mộng chẳng liên quan gì với thực cả.”
Tôi không còn gặp lại bà nữa và cũng chẳng bận tâm về số phận của bà, cho đến cái ngày tôi nghe tin có người đàn bà đeo nhẫn hình rắn chết trong vụ tai biến ở khách sạn Riviera. Tôi không thể cầm lòng không hỏi ông đại sứ Bồ Đào Nha vào lúc tôi có cơ hội làm quen ông, mấy tháng sau đó, trong một buổi tiếp tân ngoại giao. Ông đại sứ nói về bà đầy sôi nổi với lòng ngưỡng mộ hết mức. “ Ông không thể tưởng tượng bà ấy phi thường đến thế nào, ông nói. Hẳn là ông không thể không viết một câu chuyện về bà.” Và ông tiếp tục nói cùng một giọng điệu như thế, với những chi tiết bất ngờ, nhưng chẳng có chi tiết nào cho phép tôi đi đến một kết luận dứt khoát.
Cuối cùng tôi hỏi ông: “Vậy thì, nói cụ thể ra là bà ấy đã làm gì!”
“Chẳng làm gì cả, ông đáp, giọng chán chường. Bà ấy chỉ nằm mộng”.
Chú thích:
(1) Pablo Neruda, Nhà thơ Chile (1904-1973), Giải Nobel Văn học 1971.
(2) Borges, tức là Jorge Francisco Isidoro Luis Borges Acevedo, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng người Argentine (1899-1986). “Mê cung“ là một trong những chủ đề quen thuộc, bên cạnh giấc mộng, thư viện, triết học, tôn giáo, được đề cập trong các truyện ngắn của ông, nhất là trong tuyển tập “Ficcionnes“ (Hư cấu), xuất bản năm 1944.
3/8/2026 
Thân Trọng Sơn dịch
Nguồn: Trong cuốn Douze Contes vagabonds,
trang 59-65. NXB Grasset, 1995
Theo https://www.art2all.net/

Mạc Đăng Dung - Ngụy triều hay vương triều

Mạc Đăng Dung
Ngụy triều hay vương triều?

Sau biến cố mùa Xuân 1968, tôi sinh sống ở Mỹ, trú ngụ tại Silver Spring, bang Maryland, là vùng ngoại ô của thủ đô Washington DC cách Tòa Bạch Ốc chừng 20 km. Hồi ấy cộng đồng nguời Việt ít oi nên hầu hết biết nhau. Một lần, tôi được mời đến chơi nhà cụ Hoàng Văn Chí ở Bowie, MD. Ai ở vùng này cũng đã được ăn tương Cự Đà do gia đình cụ sản xuất. Sau một tuần trà nước, cụ vui vẻ chuyện trò với mọi người và nói rằng cụ mời tất cả bà con họ Hoàng họp mặt – cụ chỉ tay về phía tôi rồi phán: “Và cô là người họ Hoàng trẻ tuổi nhất hôm nay.” Nghe mà vui quá! -- Cụ muốn chia sẻ một thông tin mới tìm ra. Tôi không nhớ cụ đã nói những điều gì chỉ nhớ một chi tiết về họ Hoàng. Cụ cho biết mới khám phá ra rằng cách viết chữ Hán thì chữ Hoàng là do chấm một dấu chấm vào chữ Mạc. Có thể là sau khi nhà Mạc bị diệt vong, con cháu thêm dấu chấm đổi ra họ Hoàng để tránh bị truy nã. Khi nhà Lý bị nhà Trần cướp ngôi, triều đại mới buộc con cháu họ Lý đổi ra họ Nguyễn! Không biết những người họ Hoàng kia nghĩ gì, riêng tôi ra về hơi buồn vì nghĩ hậu duệ của một dòng dõi cướp ngôi mà lịch sử gán là ngụy triều thì cũng không vẻ vang gì!
Theo chính sử, nước ta chỉ có 7 triều đại kể từ nhà Ngô. Ngô Quyền (939-965) là thời đại thứ nhất. Nhà Nguyễn (1802- 1945) là thời đại thứ 7. Ở giữa thì có Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê. Nhà Hồ (1400-1407), Nhà Mạc (1527-1592), và nhà Tây Sơn (1788-1802) bị coi là ngụy triều. Nhà viết sử Trần Trọng Kim kết luận ba triều đại này là ngụy vì ông dựa trên quan điểm Nho giáo về chính thống. Ngụy là giả, là không chính thức, là đã cướp ngôi vua cũ, là kế thừa không hợp pháp dòng dõi vương quyền trước đó. Tôi rất ngạc nhiên khi đọc đinh nghĩa hai chữ chính thống này! Rõ ràng nhà Trần cũng cướp ngôi nhà Lý, nhà Lý cướp ngôi nhà tiền Lê. Và nhà Tiền Lê thì cướp ngôi nhà Đinh. Đinh Bộ Lĩnh dẹp được 12 sứ quân rồi lên ngôi. Lê Lợi đánh đuổi quân Tàu, không tranh ngôi vua với ai cả mới là hai ông vua chính thống theo định nghĩa của Trần Trọng Kim. Vua Gia Long thì vì thù nhà mà kiên trì đánh nhau với quân Tây Sơn. Cuối cùng ông thắng vì vua Quang Trung đột ngột qua đời. Nếu không có Quang Trung đánh đuổi quân Tàu vào sâu nước Tàu, chiếm cả lưỡng Quãng thì nước ta đã bị Bắc thuộc lần thứ năm rồi! Sao vua Quang Trung không chính thống? Vua có công ổn định đất nước, có công chống xâm lăng mà. Triều đại nhà Trần là một triều đại vẻ vang của dân tộc, ba lần đại thắng quân Nguyên Mông, nhiều danh tướng, nhiều nhân tài, dân chúng an cư lạc nghiệp gần hai trăm năm nhưng không ai quên là Trần Thủ Độ đã giết vua Huệ Tông và cướp ngôi từ Lý Chiêu Hoàng, thì sao là chính thống, là vương triều được!
Tôi không hề biết cách Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần như thế nào cho đến nay đọc lại chi tiết lịch sử thì không thể không nghĩ đến thuyết nhân quả của nhà Phật. Âm mưu cướp ngôi của Hồ Quý Ly không khác gì âm mưu của Trần Thủ Độ! Hồ Quý Ly là ngoại thích của vua Trần, ép vua Trần Thuận Tông - con rể của ông - nhường ngôi cho con trai mới 2 tuổi (có nơi nói 3 tuổi), là Trần Thiếu Đế rồi đi tu. Một năm sau, ông giết vua Trần Thuận Tông và năm sau nữa thì ép cháu ngoại nhường ngôi cho mình và lập ra nhà Hồ.
Tôi thì cho rằng không thể xếp hạng triều đại nào là chính hay ngụy được. Theo quy luật thành trụ hoại diệt thì không thể có một đế chế hay thể chế nào trường tồn mãi. Non nước nào, quốc gia nào cũng cần một thành phần lãnh đạo giỏi biết cách trị quốc, an dân. Một khi thành phần này không làm tròn sứ mạng thì tự nhiên phải bị đào thải! Còn nhớ cách đây khá lâu khi tôi say mê xem phim Bao Công – Tôi thú vị loạt phim này vì biết Bao Chửng cuối cùng sẽ tìm ra kẻ xấu và minh oan cho người ngay! – khi xem chuyện “Triển Chiêu đột nhập kho vàng giúp Bao Công phá vụ án hoàng thân quốc thích” nghe được lời của Sài Chính, vị hoàng thân của triều trước, khuyên con trai là Sài Ngọc không nên mưu đồ khôi phục triều đại cũ của dòng họ ông. Ông giải thích rằng non sông này không là của riêng của triều đại nào hết, rằng vị vua nào không mang lại cơm no, áo ấm cho thần dân thì không thể ngồi mãi trên ngai vàng. Và tôi nghĩ ngay đến lịch sử nước ta rồi chợt ngộ ra rằng những nhà viết sử xưa phân chia vương triều và ngụy triều là bóp méo lịch sử, là chối bỏ công lao của những vị thức thời đã đứng lên lèo lái non sông qua cơn hoạn nạn. Vua Đinh mất đột ngột. Vua con mới 6 tuổi. Các quan, các tướng trong triều tranh dành ảnh hưởng gây hỗn loạn, dân chúng lầm than. Vua Tống của Tàu thừa cơ sai tướng đem quân sang xâm lược. Tướng Lê Hoàn dẹp yên nội loạn, nhận áo hoàng bào để yên lòng binh sĩ thì mới oanh liệt đánh đuổi được 30 vạn quân Tàu. Ông xứng đáng được lên ngôi tiếp nối cơ nghiệp nhà Đinh, trị vì đất nước. Cũng không thể nói nhà Mạc là ngụy vì đã cướp ngôi nhà Lê. Mấy ông vua cuối đời nhà Lê mất dần lòng tin của dân vì đã không lo tròn việc nước. Loạn lạc khắp nơi, quan lại chia bè chia phái đánh nhau, dân tình khốn khổ. Ông vua thứ 8 Lê Uy Mục hiếu sát, đa nghi đã giết oan nhiều công thần, giết cả người trong hoàng tộc, đầu độc cả bà nội, bị người đời gọi là Vua Quỹ. Ác giả ác báo! Vua Quỹ Uy Mục lại bị người em chú bác là Lê Tương Dực bức tử và cướp ngôi. Triều đại nhà Lê đã lụi tàn nên Lê Tương Dực nắm được ngôi vua nhưng không lo trị nước an dân mà chỉ ham mê tửu sắc, xây dựng cung điện xa hoa, sưu cao thuế nặng, lòng người ta thán dọn đường cho Mạc Đăng Dung thay đổi triều đại. Năm 1527, Mạc Đăng Dung phế Lê Cung Hoàng lập ra nhà Mạc.
Mạc Đăng Dung là ai, có công hay là tội đồ của dân tộc? Hãy cùng đọc lại lịch sử trước khi phê phán ông. Xuất thân từ nghề chài lưới ở Cổ Trai là Hải Phòng ngày nay. Ông đỗ võ trạng nguyên đời Lê Tương Dực, là cháu 7 đời của Mạc Đỉnh Chi, làm quan lớn, lên đến Thái Sư An Hưng Vương. Ông có công ổn định đất nước, dẹp nhiều nội loạn do nhiều bè phái trong triều tranh nhau xưng hùng xưng bá. Ông làm quan dưới trướng vua Lê Chiêu Tông. Vị vua thiếu niên chưa trưởng thành, không biết dùng người, đã giết lầm công thần và trở thành một quân cờ cho nhiều thế lực tranh quyền đoạt vị để cuối cùng bị Mạc Đăng Dung đuổi bắt và giết chết. Mạc Đăng Dung đăng cơ hoàng đế sau khi ép Lê Cung Hoàng - vị vua cuối cùng của nhà Lê – nhường ngôi.
Mạc Đăng Dung chỉnh đốn triều chính, cải tổ quy chế ruộng đất. Ông cho khai khẩn đất hoang, lập đê điều phòng lụt, khuyến khích công thương nghiệp vương tới thị trường ở nước ngoài, cho đúc tiền Thông Bảo. Ông đem lại thái bình thinh vượng cho đất nước, no ấm cho nhân dân chỉ sau mấy năm ở ngôi. Sử liệu do đời Lê-Trịnh viết ra chê bai ông là ngụy nhưng cũng phải công nhận thành tựu của ông và đã ghi: “Từ đây, người buôn bán và người đi đường đều đi tay không. Ban đêm không có trộm cướp… đường sá không nhặt của rơi, cửa ngoài không đóng, thường được mùa, trong cõi tạm yên.”
Năm 1533, Nguyễn Kim, một cựu thần nhà Lê, dương cờ ‘Phù Lê diệt Mạc’ bắt đầu đánh phá. Nhà Minh cũng lăm le muốn xua quân sang nước ta dưới chiêu bài ủng hộ nhà Lê, trừng trị nhà Mạc. Ở trong tình thế lưỡng đầu thọ địch, vừa phải đương đầu với nhà Minh, vừa phải chống đỡ cánh quân của Nguyễn Kim, Mạc Đăng Dung vẫn ổn định xã hội, tổ chức thi cử 3 năm một lần. Theo thống kê thì trong hơn 60 năm ở Thăng Long, nhà Mạc đã mở 21 khoa thi hội lấy đỗ 460 tiến sĩ các loại. Tổng số trạng nguyên trong 800 năm thi cử Hán học của nước ta là 56 vị thì 10 vị giựt giải trạng nguyên dưới triều Mạc! Trong 10 ông trạng này có Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hai thập kỷ cuối triều Lê suy đồi đủ mọi mặt nên Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không đi thi, không muốn làm quan dưới triều Lê cho nên đến khi 45 tuổi ông mới nộp đơn dự thi dưới triều Mạc Đăng Doanh, vị vua thứ hai của nhà Mạc và ông là cận thần của nhà Mạc! Lên ngôi năm 1527, 2 năm sau Mạc Đăng Dung đã mở khoa thi và có hơn 4000 thí sinh tham dự gồm cả con cháu quan lại nhà Lê. Ông trọng dụng người tài, không truy cứu giết hại người của triều đại trước. Ông là một nhà lãnh đạo có tài, biết cách trị nước, an dân. Trong một thời gian ngắn và phải đối diện với thù trong, giặc ngoài mà ông và con cháu ông đã đưa đất nước tránh được quân xâm lược phương Bắc, bình ổn tình hình, thúc đẩy nền kinh tế ổn định và phát triển. Nếu như không có lực lượng phù Lê của Nguyễn Kim và họ Trịnh thì chắc chắn nhà Mạc được rảnh tay làm nhiều việc ích lợi cho quốc gia dân tộc hơn nữa. Cuộc chiến Nam Bắc Triều 60 năm, thêm 80 năm họ Trịnh đánh phá tàn quân của họ Mạc ở Cao Bằng và 150 năm Trịnh Nguyễn phân tranh, ròng rã gần 300 năm nội chiến là do ai khởi xướng, đã làm tiêu hao nhiều sinh mạng, của cải khiến nền kinh tế kiệt quệ, vườn ruộng tiêu điều, đời sống nhân dân cả hai miền hết sức cơ cực! Không biết Nguyễn Kim có thành ý muốn phù Lê diệt Mạc thật hay chỉ muốn nắm thời cơ để thay đổi triều đại. Ai cũng biết họ Trịnh không ra mặt chiếm ngôi vua Lê vì nhớ lời khuyên của Trạng Trình cho nên giáo sư sử học Văn Tạo kết luận rằng, “Mạc là ngụy công khai, Trịnh Nguyễn là ngụy giấu mặt!”
Đọc lịch sử, ta chỉ có thể thở dài, buồn cho vận nước. Nếu không bị Khổng Tử của Tàu khống chế tư duy của giới Nho học phân biệt ngụy triều và vương triều thì danh nghĩa phù dòng họ chính thống không có cơ sở đứng vững, thì Mạc Đăng Dung đã được tiếng anh hùng vì đã có công đầu trong việc tạo lập lại thế ổn định xã hội, ổn định chính trường của đất nước sau hơn hai mươi năm hỗn loạn của cuối triều đại Lê Sơ. Dù kết tội ông phản nghịch, sử gia Lê Quý Đôn cũng thừa nhận rằng thần dân hướng về Mạc Đăng Dung, đã hân hoan ra đón ông về kinh đô, rằng họ Mạc chỉ bị rắc rối vì những thế lực cũ thân nhà Lê, không phải vì phía dân!
Tôi còn nhớ khi học sử ký nước ta ở Trung Học Đệ Nhất Cấp, tôi cùng một nhóm bạn thân cứ hỏi nhau sao mà một đất nước nhỏ bé như nước ta lại có thể không bị Hán hóa sau cả ngàn năm đô hộ! Sao mà đất nước nhỏ bé của chúng ta có thể ba lần đánh bại quân Mông Cổ, một đế chế đã san bằng Âu Châu, chiếm cứ cả Moscova của Nga!
Thử tưởng tượng nếu không có cuộc nội chiến Nam Bắc Triều 60 năm do Nguyễn Kim gây ra thì Mạc Đăng Dung và triều đại của ông đã có thể đưa nước ta vươn lên cao ở vùng Đông Nam Á. Lại thêm 80 năm nhà Mạc ở Cao Bằng bị quân Lê-Trịnh đánh phá. Vừa đánh nhau với họ Mạc ở Cao Bằng, họ Trịnh cho quân chinh phạt họ Nguyễn ở phương Nam. Đánh nhau thêm 150 năm nữa. Vậy là nước Nam nhỏ bé của chúng ta phải khốn đốn với gần 300 năm nội chiến! Thật là kỳ tích vẫn tồn tại một dải đất chữ S dưới ánh mặt trời ngày nay! 
À mà sao mấy ông viết sử không kể đến triều đại của vua Lý Nam Đế, vị vua đầu tiên trong lịch sử lập quốc của nước ta, vị vua đã xây chùa Trấn Quốc, nay vẫn còn thi gan cùng tuế nguyệt ở Hồ Tây, Hà Nội! Sau khi đuổi quân của nhà Lương đang thống trị nước ta về Tàu, ông xưng là Nam Việt Đế, vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử nước ta, là dấu mốc tự chủ, khẳng định vị thế ngang hàng với phương Bắc. Các nhà sử học cho rằng cuộc khởi nghĩa của ông và vương triều nhà Tiền Lý (544-602) giữ một vị trí rất quan trọng, dành được quyền độc lập tự chủ lâu dài nhất trong lịch sử 1000 năm đô hộ giặc Tàu. Ông cũng được công nhận là một trong 14 anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Nhà Tiền Lý cũng phải được con cháu ghi nhớ, trân trọng ngang tầm với các triều đại khác.
Ta đã thấy sự phân biệt vương triều và ngụy triều của thời phong kiến là lệch lạc, là bóp méo lịch sử thì nước Nam ta từ nhà Tiền Lý đến nhà Nguyễn là 11 đời! Đời nào cũng có những vị vua anh minh khiến con cháu tự hào nhưng cũng có những vị vua không xứng đáng làm vua!
Tôi không hề biết thân thế của cụ Hoàng Văn Chí cho đến nay mới có dịp đọc tiểu sử của cụ và hiểu được nỗi trăn trở của một học giả ưu tư về đất nước. Chắc cụ đã tìm hiểu về triều đại Mạc Đăng Dung và thấy hãnh diện về ông nên cụ đã chọn bút danh Mạc Định khi dịch cuốn From Colonialism to Communism do Cụ viết bằng tiếng Anh sang tiếng Việt, nói về chủ nghĩa cọng sản tại Việt Nam. Cụ mất năm 1988 ở Bowie, Md. Cô gái họ Hoàng trẻ nhất năm ấy xin thương mến thắp một nén hương lòng kính viếng hương hồn Cụ.
Thôn Vỹ, Mùa Hạ 2026
Hoàng Thị Quỳnh Hoa
Theo https://www.art2all.net/

Đọc cọp bếp lửa trên vỉa hè Sài Gòn, thời 1950'S

Đọc cọp bếp lửa trên vỉa hè
Sài Gòn, thời 1950'S

1. Trong một bài tạp ghi, tản mạn - được gọi hứng từ một bài điểm cuốn ‘Đọc Lolita tại Teheran’, trên phụ trang văn học của tờ Thời Báo Luân Đôn, TLS - tôi có viết về hình ảnh của chính mình, khi đứng ngay trên vỉa hè Sài Gòn, đọc cọp cuốn Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, được ông chủ nhà xuất bản của nó, là Nguyễn Đình Vượng đem ra bán xon, lấy lại vốn, chắc là vì chẳng có ma nào đọc. Tôi còn nhớ cuốn sách bìa mầu vàng (1).
Tôi nói đọc cọp, là vì hồi đó, nghèo quá, không thể nào có tiền mua nhiều thứ, không cứ gì sách: một xa xỉ phẩm!
Hình như đó là lần đầu tôi biết đến cái tên Thanh Tâm Tuyền, tác giả cuốn Bếp Lửa.
Lần thứ nhì, là biết đến tờ Sáng Tạo của nhóm bạn bè của ông.
Cũng là qua một anh bạn cùng lớp Nguyễn Hải Hà, học cùng với nhau năm Đệ Nhị, tại trường Hồng Lạc, khi đó còn là một lớp học, trên đường Sương Nguyệt Anh, ở gần vườn Bờ Rô, ngã tư Lê Văn Duyệt, Hồng Thập Tự.
Kỷ niệm lần đầu đọc Bếp Lửa trên vỉa hè Sài Gòn làm tôi liên tưởng tới một mẩu chuyện của nhà soạn nhạc lừng danh, thuộc dòng nhạc Thời Đại Mới, New Age, Yanni, người đã từng mang cả bộ sậu tới chơi tại Đền Thiêng Ấn Độ, và Tử Cấm Thành Bắc Kinh.
Và cũng có thể ngược lại: chính câu chuyện của Yanni làm tôi nhớ đến cái cảnh đứng như trời trồng, giữa vỉa hè Sài Gòn. ngấu nghiến đọc Bếp Lửa, đọc xong len lén đặt nó trở lại vỉa hè, rồi len lén bỏ đi, tránh cặp mắt chẳng có gì là hài lòng của người bán!
Ông Yanni này tâm sự với thính giả, qua một lần phỏng vấn trên TV, hình như vậy, là ông rất biết ơn ông bố của ông. Vào năm ông chín tuổi, biết ông con quá mê âm nhạc, và quá cần cây đàn piano, ông bố bèn đem cầm cố căn nhà, tài sản độc nhất mà ông có được, để mua cây đàn cho ông con.
Ông nói, mua chậm là hỏng. Năm đó, tôi rất cần cây đàn. Tất cả những gì gọi là mầm nhạc ở trong tôi, chúng đòi hỏi cây đàn. Để chậm một tí, là những mầm đó héo đi, sau đó có được cây đàn thì cũng cẩm như không!
Kinh nghiệm của tôi đọc cuốn Bếp Lửa cũng như vậy. Phải đọc đúng vào lúc đó [Lúc đó, là lúc nào, tôi sẽ xin nói rõ, sau này]. Từ nó, mà ra những anh em bà con họ hàng của nó, thí dụ như Buồn Nôn, Bức Tường của Sartre, Kẻ Xa Lạ của Camus, và nói rộng ra, cả thế giới văn chương.
Có lần, tui hùng dũng tuyên bố, tôi đọc những tác giả khác, thí dụ Thanh Tâm Tuyền, thí dụ Sartre, thí dụ Camus, là để hiểu tôi, cũng là theo ý nghĩa đó. Nói bạo hơn một chút: Những kỷ niệm của riêng Gấu tui, chỉ Gấu tui biết, tôi nhờ đọc họ, mới thấy ra được. Mới biết là mình có những kỷ niệm đó đó. Chúng thực sự ở trong tôi, nhưng tôi không thấy, không hề biết đến chúng. Nếu không có họ, như những mầm âm nhạc mà Yanni nói đó, chúng cứ thế mà khô héo đi, cùng với cuộc đời thường của mỗi con người thường…
Tôi lấy thí dụ, một lần đọc Salman Rushdie, ông kể lần trở về thành phố quê hương, Bombay, nhìn tấm hình căn nhà cũ, hình đen trắng, vẻ lem luốc tiều tụy của nó làm bật ra ở nơi ông giấc mộng lớn văn chương: Ta sẽ viết một cuốn sách thay thế cho tấm hình nghèo nàn dơ dáy kia. Cuốn sách của ta sẽ là một bức hình mầu Technicolor về thành phố Bombay.
Đọc tới đây, đột nhiên Gấu nhớ ra kỷ niệm về cây viết chì xanh đỏ lần đầu tiên có trong đời.
Cây viết chì đó thực sự không phải của Gấu, mà của một ông cậu, em bà cụ thân sinh ra Gấu. Cậu Cầu. Con Bà Ba, tức vợ thứ ba của Ông Ngoại Gấu.
Nhà Gấu nghèo, bố mất sớm vì tai họa đảng phái ngay năm 1945, bà cụ phải đem mấy đứa con ăn chực nơi bà con, mỗi người è cổ chịu một đứa. Gấu được Ông Ngoại, sau khi Bà Ba gật đầu, nuôi, một phần là để ba cậu con của Bà Ba có người hầu.
Trong số ba cậu, Cậu Cầu là người thương Gấu nhiều nhất.
Lần đó, Bà Ba đi Hà Nội, khi về mua khá nhiều quà cho ba cậu con, trong có cây viết chì đầu xanh đầu đỏ. Cậu Cầu đưa cho thằng cháu chơi một tí. Thấy thằng cháu mê quá, không muốn trả, ông tặc lưỡi, thôi cho mày, nhưng giấu thật kỹ nhé, thằng mắt lác!
Chả là Gấu vừa lùn lại vừa lé [lác].
Có thể nói, giống như Rushdie, Gấu viết văn bằng cây viết chì xanh xanh đỏ đỏ mà ông cậu cho, vào lúc chín, hay muời tuổi…
Chú thích:
(1) Cuốn Bếp Lửa sau đó, được tái bản mấy lần. Lần sau cùng là vào năm 1974, nhà xuất bản Kẻ Sĩ do nhà thơ Tô Thuỳ Yên chủ trương.
Lạ một điều, hành động trên của Nguyễn Đình Vượng như tiên đoán ra được số phận của cuốn Bếp Lửa, phải tái sinh từ những tro than của vỉa hè Sài Gòn, cũng như số phận của cả một nền văn học trước miền nam, tái sinh từ những tro than của cuộc phần thư 1975.
2. Vạn sự là do cái duyên.
Tôi đọc cọp cuốn Bếp Lửa luôn một mạch, ngay trên vỉa hè Sài Gòn.
Cuốn sách mỏng, chừng trăm trang, và tôi đã luyện cho mình một cách đọc sách thật nhanh, ngay từ những vỉa hè ở Hà Nội.
Hồi đó, mê đọc truyện kiếm hiệp, thời của những Long Hình Quái Khách, Bồng Lai Hiệp Nữ, Người Nhạn Trắng… Tôi còn nhớ, chúng được xuất bản thành từng tập, và tôi đã quen với cái thú chầu chực ngay ở tiệm sách, khi tập mới vừa ra lò, chụp liền và cứ thế vừa đi vừa đọc, chưa về tới nhà là đã ngốn gọn nó. Có khi mê mẩn quá, sợ đụng người đi đường, thế là tì người vào một cột điện, và cứ thế ngốn!
Đó là thời gian được bà cô nuôi, cho ăn học. Hiệp định Genève, cô theo chồng về Pháp, thằng bé xuống tầu vào nam, tới mãi năm 2001 mới gặp lại, ở Sài Gòn, khi bà về dự đám tang người em trai, tức Chú Thanh của tôi, cũng là lần đầu tiên Gấu trở lại đất bắc, rồi sau đó, vô Sài Gòn gặp bà.
Đang còn choáng váng với Bếp Lửa, bạn Nguyễn Hải Hà dí vào tay tờ Sáng Tạo.
Sau này, tôi vẫn thường tự hỏi, bạn tôi gần như suốt một đời sau đó, không hề tỏ ra là một con người say mê văn chương, vậy mà tại làm sao lại biết đến tờ Sáng Tạo, trong khi tôi mù tịt. Chỉ có thể trả lời, là tại tôi không một xu dính túi, giả như có nhìn thấy tờ Sáng Tạo thì cũng đành đứng nhìn!
Rồi thi đậu Tú Tài I. Trường tư lúc đó chưa có lớp Đệ Nhất, thế là được vô học Chu Văn An, khi trường này mở thêm xóm nhà lá, ở kế bên trường Pétrus Ký, khu đất sau thành Trung Tâm Học Liệu, khi trường Chu Văn An dọn về cơ sở khang trang trong Chợ Lớn [ở Sài Gòn lâu như thế, vậy mà Gấu vẫn không biết, nó nằm ở góc nào?].
Thế là gặp cả một lô bạn mới, từ các trường tư khắp nơi tụ lại. Thế là quen Phạm Dzư Chất, em trai nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.
Chất học Hồ Ngọc Cẩn, trước tôi một lớp thì phải, anh rớt Tú Tài I, phải ra trường tư học, đậu năm sau, nhờ vậy mà tôi trở thành bạn của anh, cùng học lớp B.8, ngay cổng ra vào của khu xóm nhà lá.
Qua anh tôi quen thêm một số bạn, lập thành nhóm Thất Hiền, trong có Phạm Năng Cẩn, cũng dân Hồ Ngọc Cẩn, nhưng bỏ ngang, đi tìm việc làm.
Chất đưa tôi về nhà. Tới lúc đó tôi mới biết anh là em trai của anh Tâm, tức nhà thơ Thanh tâm Tuyền.
Giả như tôi không đọc Bếp Lửa thì cái sự gặp nhà thơ, nhà văn TTT chắc cũng bình thường giản dị, như mọi chuyện bình thường giản dị ở trên đời. Giả như tôi không nhớ Hà Nội đến điên cả người chắc gì tôi đã may mắn được gặp cuốn Bếp Lửa, mà như chính tác giả nói về nó, trong bài viết Thơ Giữa Chiến Tranh Và Trại Tù: “… miêu tả không khí Hà-nội trước 1954; đi và ở đều là những chọn lựa miễn cưỡng, chia lìa hoặc cái chết. Lập tức có phản ứng của những nhà văn cách mạng. Trong một bài điểm sách trên Văn Nghệ, một nhà phê bình hỏi tôi: "Trong khi nhân dân miền Bắc đất nước ra công xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhân vật trong Bếp Lửa đi đâu?". Tôi trả lời: "Anh ta đi đến sự huỷ diệt của lịch sử," mỗi nhà văn là một kẻ sống sót”.
Tôi đọc Bếp Lửa vào lúc lớ ngớ nhất. Còn con nít nhất, và nhớ Hà Nội theo kiểu con nít. Tôi vô Nam cũng không hề theo cái kiểu của TTT nhận định, ‘đi hay ở đều là những chọn lựa miễn cưỡng’. Sau này nghe Cẩn kể lại, anh bỏ đi vào Nam, vì cứ ngỡ, đi ít lâu rồi lại về, giống như một chuyến liều lĩnh trốn nhà đi chơi xa. Có thể, tôi cũng có cùng một tâm trạng như vậy, nhưng ẩn sau tâm trạng liều lĩnh trốn nhà đi chơi xa, còn có những hình ảnh, do đọc một số truyện ngắn của Tô Hoài, về một nước Sài Gòn không hề có mùa đông, không hề có đói khổ.
Thời gian học trung học, mỗi lần ghé quán cơm xã hội, mua một tí đồ ăn, còn cơm thì tha hồ, mặc sức mà đớp, Gấu tôi lại nhớ đến cái lý do bỏ bắc vào nam, thật là đơn giản như vậy.
Chẳng có chọn lựa miễn cưỡng chi hết.
3. Một năm học tuyệt vời.
Đọc đã lâu, nên không nhớ rõ, hình như nữ văn sĩ Tây, Francoise Sagan, do rớt tú tài, buồn quá, bèn bầy đặt viết một cuốn tiểu thuyết, vẫn nghe nói, không được đúng văn phạm Phú Lăng Xa cho lắm, và ‘con chim lạ’, do hỏng thi, bèn ngứa cổ hót chơi bèn biến thành một hiện tượng văn học Tây. Khiến một anh nhà văn già, nhà bình luận số một của giới trưởng giả Tây, François Mauriac, phải ngả nón chào, “Ôi con quỉ nhỏ mới ngộ, mới đáng yêu làm sao!”
[What a charming little monster, said the ageing François Mauriac, a great chronicler of the bourgeoisie, theo bài ai điếu Sagan trên tờ Guardian (1) ]
Ngộ, tiếng miền nam, có nghĩa là đẹp, thường dùng để chỉ một em mới trổ mã, hay ‘hót’ theo Đinh Hùng:
Nhan sắc ấy chớ nên tàn nhẫn vội!
Thấy người sang bắt quàng là cùng họ: Gấu tui viết truyện ngắn đầu tay của mình, cũng là do hỏng đợt I, kỳ thi Tú Tài Hai, tức là vào cuối năm học Đệ Nhất, niên học 1957-1958, lớp B.8, Xóm Nhà Lá trường Chu Văn An, lúc còn ở ké bên trường Petrus Ký.
Năm đó, ba đứa, Chất, Quốc, và tui cùng hỏng kỳ một. Trước khi vào cuộc hành xác, khổ hạnh, ‘thức trắng đêm nay và đêm mai….’ cho kỳ hai, bà cụ Chất thương tình cho cả ba đi Nha Trang tắm biển.
Ấy là cũng ăn ké một cuộc đi chơi hè của con em gia đình ngành Hoả Xa, do bà T. bạn của cụ Chất tổ chức. Bà T, là phu nhân một ông công chức bự của ngành này. Lần đó đi, có thêm Hải, cũng con một người bạn thân của cụ Chất. Hải có cô em gái tên Khanh. Về già, Gấu vẫn còn nhớ được một điều là cô bé rất ngây thơ, rất ngoan. Sau này, khi Gấu gặp nhiều chuyện khổ tâm về cái vụ vợ con, bà cụ Chất có lần tiếc giùm, phải chi mà hồi đó mày quen con Khanh, có khi lại hóa hay cũng nên!
Đúng ra cụ phải nói: Phải chi hồi đó, con Khanh nó để ý đến mày một tị, nhưng làm sao có chuyện đó cơ chứ, Kh. lúc đó còn con nít quá, làm sao có chuyện để ý!
Bởi vì trong cuộc đi chơi lần đó, không phải cô Khanh quá con nít đó hớp hồn Gấu, nhưng mà là cô Hà, con út của bà T.
Cô chị, tên Ph., thì nhắm bắt bạn Chất!
Gấu nhớ, sau chuyến đi, hai người có dính mí nhau, và cả hai cụ coi bộ hơi phiền.
Một bữa, quanh mâm cơm, bà cụ Chất đem chuyện ra kể.
Gấu nói:
- Hai người còn đi chơi mí nhau không?
Bà cụ gật đầu:
- Còn.
Gấu bèn đoán mò:
- Như vậy là chưa sao đâu, chưa có chuyện gì xẩy ra. Nếu có, là tránh mặt nhau liền!
Anh T. cười, khen Gấu:
- Thằng này tâm lý gớm! Đúng như vậy đấy. Chưa có gì ghê gớm xẩy ra đâu, mẹ đừng lo!
Chú thích:
(1) Françoise Sagan, Iconic writer of 1950s French intellectual chic whose life mirrored the indulgent world of her characters
Anne CorbettMonday September 27, 2004
The Guardian
4. Thất Hiền
Thất Hiền, tức bẩy người hiền, tức bẩy đứa chúng tôi, đều quen nhau qua Chất, em trai nhà thơ TTT.
Năm đó, do trường tư không có lớp đệ nhất, đám chúng tôi, sau khi đậu tú tài I, đều được trường Chu Văn An thâu nhận, do đó Chất và tôi quen nhau. Sủng, Luận tuy cùng bọn, nhưng đậu Tú Tài I năm trước. Cẩn bỏ học ngang đang tìm việc làm. Giả sử như Chất đậu năm trước đó, cùng với hai tên Sủng và Luận, tôi đã không có cơ hội làm quen với anh, và như thế mọi chuyện trong cuộc đời của tôi chắc chắn sẽ đổi khác.
Phải đến mãi sau này, khi về già, nhớ lại, tôi mới nhận ra, một số chuyện xẩy đến với tôi, tưởng như chẳng liên quan với nhau, vậy mà, “ma đưa lối quỉ dẫn đường”, chúng đều như xúi giục, năn nỉ , hăm dọa, “này Gấu, mày là phải viết văn chứ không thể trở thành một ông thầy dậy toán, hay lý hoá như mấy tên Sủng tên Luận bạn mày đâu”!
Tôi cứ như nhìn ra con đường dẫn, từ cái cảnh Gấu tôi, đứng ngay trên vỉa hè Sài Gòn ngấu nghiến đọc cọp cuốn Bếp Lửa của TTT. Cảnh này dẫn tới cảnh anh bạn Nguyễn Hải Hà “tình cờ” giúi vào tay Gấu tờ Sáng Tạo, trong khi cả hai đều là những thằng mê toán đến phát điên, và có thể trở nên khùng, nếu gặp một bài toán khó, không làm sao giải được!
Tất cả là để dẫn tới chuyện, tôi quen Chất, tại năm học đệ nhất ban toán, tại lớp B. 8, trường Chu Văn Anh. Và được anh dẫn về nhà chơi, biết bà cụ anh, và ông anh của anh, nhà thơ TTT.
Tôi đã có lần kể lại, trong "Một Người Anh”, cái cảnh đến nhà, lần thứ nhất gặp nhà TTT ngồi ở một cái bàn nhỏ ở góc nhà.
“…. Rồi thi đậu Tú Tài phần một. Khi đó trường tư chưa có Đệ Nhất. Tôi được vào Chu Văn An, hiệu trưởng là thầy Trần Văn Việt, khi nhà trường còn nằm nhờ phía sau trường Pétrus Ký. Học chung với đám dân trường tư, trong có Chất, em anh T. Qua Chất, tôi có thêm một số bạn, Cẩn, Quốc, Sủng, Luận, Tín. Đúng 7 đứa. Nhà bà cụ Chất là nơi chúng tôi thường tụ họp. Ngay từ những ngày đầu tới chơi, thấy anh T. ngồi co cả hai chân lên ghế, trước một cái bàn nhỏ ở góc nhà, tôi đã tưởng tượng, phải nói là đã mơ ước, tương lai của mình sau này rồi sẽ y hệt như vậy.”
[Một người anh]
Cái bàn nhỏ đó, tôi lại nhớ ra nó, khi gặp lại ông cậu, lần trở lại Hà Nội. Ông cũng nhớ lại, lần đầu tiên ông có được cái bàn ở trong đời, đấy là nhờ ông Nguyễn Văn Linh và chính sách cởi trói. “Không có ông Linh, với chính sách cởi trói cho đảng viên, mợ mày đâu có cơ hội mở ra cái quầy bán đinh sắt ở phía dưới nhà, nhờ vậy mới có đồng ra đồng vào."
Tôi nhìn lên bàn, thấy cuốn Larousse, ấn bản đời thứ tiền sử.
"Cậu dùng cuốn từ điển này?”
Ông gật đầu.
“Cũng mới mua sau này, nhờ cái sạp bán đinh sắt.”
Ông bùi ngùi kể lại, lần hai cậu cháu gặp gỡ năm 1954, cậu thì từ rừng núi Việt Bắc về tiếp thu thủ đô, cháu, sau khi nhường thủ đô cho ông cậu, bèn vội vàng chạy ra ga Hàng Cỏ, lên tầu hoả, xuống Hải Phòng, xuống tầu há mồm, ra vịnh Hạ Long, lên tầu Đệ Thất Hạm Đội, chuồn vô Nam, năn nỉ Sài Gòn nhận thằng bé Bắc Kỳ làm con nuôi.
Năm 2001, về lại Hà Nội, nghe ông cậu than thở:
"Suốt cả tuổi trẻ, cậu lên rừng, theo kháng chiến, 1954 về Hà Nội, lập gia đình, suốt quãng đời còn lại, chỉ mong sao có được một cái bàn để mà làm việc."
Ôi chao câu nói của ông cậu, làm tôi nhớ đến Nguyên Hồng, khi viết Bỉ Vỏ, trên mấy cái thùng gỗ, thay cho cái bàn!
Khỉ như thế đấy, viết, tức là nhớ lại, những khổ với sướng chung quanh một cái bàn!.
Nguyễn Quốc Trụ
Nguồn: Tin Van tinvan.limo
Theo https://www.art2all.net/

Những ống khói tầu mệt lả

Những ống khói tầu mệt lả

Vào giữa thế kỷ 19, những chiếc tầu chạy bằng hơi nước đã làm một cuộc cách mạng về du lịch trên biển, đem những thành phố Âu châu tới gần nhau hơn, và khiến cho những chuyến viếng thăm ngắn hạn Istanbul có thể thực hiện được, và có một số nhà văn lợi dụng những chuyến đi như thế để đi vài đường tốc ký về thành phố. Những bài viết như vậy đã ảnh hưởng tới một số ít ỏi nhà văn địa phương, giúp họ có một ý tưởng mới mẻ về thành phố của họ. Nhưng, cùng với sự xuất hiện của những chiếc tầu chạy bằng hơi nước ở cảng Bosphorus, thành phố cũng có thêm một cái vẻ nhìn mới. Một công ty hàng hải, thoạt đầu có tên Sirket-i-Hayriye và sau này đổi là Sehir-Hatlari [City Lines: Những đường thuỷ trong khu vực thành phố] được thành lập, và chẳng mấy chốc, những làng mạc ở bên vịnh Bosphorus đều có riêng một bến tầu, và khi những con phà đi lại giữa eo biển, Istanbul có dáng vẻ một thành phố Âu châu. (Bạn hãy để ý đến từ “vapeur”, tiếng Pháp, có nghĩa là hơi nước, từ này đã tìm đường vô Istanbul của Thổ nhĩ kỳ và vào cuộc sống thường nhật của nó, biến thành vapur, tiếng Thổ nhĩ kỳ, dùng như tiếng Anh, chiếc tầu, ship). Trong số những thay đổi mà những chiếc phà đem lại, là những làng xóm tấp nập ở hai bên vịnh Bosphorus, và ở Mũi Vàng, chúng trở thành một phần của thành phố, chưa kể những lâu đài, những toà nhà lớn, [meyhans] rộn rịp, mọc lên ở những nơi mà những con tầu cập bến. (Trước khi có những con phà, gần như chưa có những con đường nối chúng lại với nhau).
Khi những con phà bắt đầu đưa hành khách lên xuống vịnh Bosphorus, chúng trở thành thân quen với người dân thành phố, như là những Kizkulesi, Hagia Sophia, và Galata Bridge, và chẳng mấy chốc, chúng nhập vào đề tài thường nhật, đóng một vai quan trọng, trở thành một biểu tượng, giống như lá cờ, nó nhắc nhở cho cư dân Istanbul, chúng ta cùng sống trong một thành phố lớn. Như những người ở Venice quyến luyến với những “vaporettos”, người dân Istanbul rất thích phô ra cho những du khách những hình dáng, kiểu này mốt nọ của những con tầu “vapur” của từng tuyến đường của công ty City Lines. Có trọn một tủ sách dành cho chúng, với những hình ảnh, minh họa. Gautier viết, bất cứ một tiệm cắt tóc nào trong thành phố cũng có ít nhất là một tấm hình, tầu “vapur” treo trên tường. Cha tôi có thể nhận ra bất cứ một chiếc nào được đưa ra sử dụng, vào thời điểm nào khi ông còn là một đứa bé, chỉ bằng cái dáng tuyệt vời của con tầu, và nếu không thể nhận ra liền lập tức, chỉ một lát sau là ông đọc ra tên của con tầu, và chúng ngân nga ở trong tôi, giống như một bài thơ: Năm mươi ba Insirah, Sáu mươi bẩy Kalender, Bốn mươi bẩy Tarz-I Nevin, Năm muơi chin Kamer…
Khi tôi hỏi cha tôi, làm thế nào mà cha phân biệt được những con tầu bề ngoài trông như nhau, ông nêu ra những tính chất đặc biệt của từng con tầu – khi hai cha con đang đi một vòng dọc theo Bosphorus, hay, nếu bị kẹt đường, kẹt xe, ngồi tại phòng khách trong căn nhà của chúng tôi ở Besiktas, hoặc, ngay cả khi cha tôi đã xác định tính độc nhất, cái chỉ có nó mới có, của từng con tầu – con tầu này trông như có một cái bướu, con tầu kia ống khói mới dài làm sao, cao vời vợi, còn con kia, mũi giống như mỏ chim, con nọ hơi nghiêng về một bên mỗi khi đi ngược dòng nước.. Nhưng ông nói gì thì nói, tôi vẫn thấy thật khó phân biệt chúng, cho dù đã nghiên cứu thật tỉ mỉ, đã dí sát mũi vào từng chiếc. Nhưng tôi học được sự khác biệt giữa ba con phà – hai được chế tạo tại Anh, còn con thứ ba, tại Taranto, Ý, vào năm 1952, đúng năm tôi ra đời – chúng được đặt tên theo những khu vườn; sau khi nghiên cứu, tìm hiểu dáng vẻ và chiều dài của từng chiếc, sau cùng tôi có thể chỉ ra, đây là con phà Fenerbahce, đây là con phà Dolmabahce, khác con phà Pasabahce: con phà may mắn của tôi. Cứ mỗi lần đi lang thang trong thành phố, mê mải suy nghĩ đến nỗi thất lạc ở trong nó, và, nhìn xuống một lối đi, nhìn ra ngoài cửa sổ, thoáng bắt gặp con phà, là tôi sướng mê tơi, mình may rồi, hôm nay mình gặp may rồi, gặp được con số may của mình, và tôi vẫn còn cảm thấy như vậy, vào những ngày này.
Tặng phẩm lớn lao, tuyệt vời mà những con phà đem lại cho thành phố, hay, phần đóng góp của chúng vào bóng dáng Istanbul in lên nền trời, là những đợt khói phà, từ những ống khói của chúng, lẽ dĩ nhiên! Tôi mê làm sao, vẽ những đợt khói than mầu tối xậm của chúng, thay đổi theo vị trí của con phà, và đó là con nào trong ba con, tùy dòng nước, và lẽ dĩ nhiên, tùy con gió. Trước khi tôi đem những đợt khói phà vào trong bức tranh của mình, khi đó, nó phải coi như là đã, chỉ còn thiếu khói, ngay cả khi sơn đã khô được nửa chừng. Giống như chữ ký trên tranh, tôi thường để ở góc dưới, phía bên phải, khói là con tem, và là con tem đặc biệt của từng con phà. Khi những đợt khói dầy trông như một đám mây, nhất là khi chúng cùng bốc lên từ tất cả những ống khói của bao nhiêu con tầu di động chung quanh cầu Galata, lúc đó có thể coi như thế giới của tôi được bọc bởi một bức màn đen.
Đi dạo bên bờ Bosphorus, hay đi trên phà, tôi thích nhất là chìm mình vào màn khói dầy của một con tầu, đi qua rồi, và để lại ở phía sau nó. Và nếu gió chiều theo ý tôi, thì tôi sẽ ngẩng mặt để hứng trọn trận mưa khô, giống như một mạng nhện, của những hạt bụi than còn thơm mùi lò lửa.
Thường là, đúng vào lúc của những nhát cọ sau cùng, tôi cảm thấy hân hoan làm sao khi choàng lên bức tranh chiếc vương miện, là khói, (đôi khi, tôi chơi quá liều, và làm hỏng bức tranh), và tôi sẽ ghi nhớ cảnh tượng, khói thoát ra khỏi ống khói tầu, lan rộng ra, rồi biến mất, để dùng cho những bức tranh trong tương lai. Nhưng, khi nhát cọ cuối cùng điểm hóa xong, thì cũng là lúc thực tại của riêng bức tranh xuất hiệh, và nó làm tôi quên béng khói thực ở bên ngoài, hình dáng nó như thế nào.
Tuyệt nhất, hoàn hảo nhất, là, khi gió thật nhẹ, khói thoát ra khỏi ống khói tầu, rồi bay lên được một góc 45 độ, và tới đó, nó bắt đầu bay song song với con tầu, mà không hề chuyển đổi hình dáng của nó, như thể có một người nào đó vẽ một đường thật là uyển chuyển, thật là duyên dáng lên nền trời để chỉ cho thấy đường bay của con tầu trên mặt vịnh Bosphorus. Cột khói than, mịn, của một con phà nằm thở phì phào tại bến, trong một buổi trời không gió, như mang trong nó một nỗi buồn và nó làm tôi nhớ tới làn khói lam bốc lên từ một mái tranh nghèo.
Khi con phà và gió nhè nhẹ chuyển hướng, khói xà xuống mặt vịnh, toả ra thành từng cuộn, trông như những con chữ Ả Rập. Nhưng, bất cứ khi nào vẽ cảnh Bosphorus với con phà của công ty City Lines, tôi đều cần tới khói để chuyên chở nỗi buồn Bosphorus, bởi vậy niềm vui vì một hình dáng có tính tình cờ của khói tầu kia, mặc dù rất mê, nhưng nó cũng làm phiền tôi rất nhiều.
Vào một ngày không có gió, khi khói tầu phun ra phì phì, và thi nhau vần vũ trên nền trời Bosphorus, làm sao mà kể hết cho được nỗi buồn mà con phà để lại, trên lối đi của nó, từ bến này tới bến nọ. Tôi mê ơi là mê, đợt khói dầy nằm nơi đường viền chân trời, rồi lầm lì lao tới, với những đám mây trông thật đáng sợ ở đằng sau nó, như trong một bức họa của Turner. Nhưng, ngoài chuyện mê vẽ cho được một bức họa cảnh Bosphorus mà ở trong đó có một, hay vài con phà cùng với những khói tầu mệt lả của chúng, thì những đợt khói mệt lả đó, không phải tôi chỉ nhìn thấy từ chính những con phà, mà còn từ những bức tranh của Monet, Sisley, và Pisarro, chúng sống dậy và gây hứng khởi cho tôi – thí dụ, đám mây xanh nhạt của Monet, trong bức Nhà Ga Saint-Lazarre, hay là những đám mây trông thật vui nhộn, cuộn tròn như những những đọn kem lạnh, trong một thế giới hoàn toàn khác biệt của tranh Dufy – đó là những gì mà tôi vẽ.
Flaubert mở ra cuốn Giáo Dục Tình Cảm của ông bằng những dòng tuyệt vời, miêu tả những hình dáng thay đổi của khói, và đây là một trong những lý do tôi mê ông, lẽ nhiên, còn có những lý do khác nữa.
Tới đây chúng ta chấm dứt bài ngợi ca khói, bằng cách dùng nó, như là cây cầu bước qua điệu buồn kế tiếp.
Cách viết sóng sau đè sóng trước này, là được gợi hứng từ một kỹ thuật âm nhạc Ottoman có tên là ara taksim. Từ “taksim” có nghĩa chia ra, thu gom lại, chia nước ra thành từng dòng, từng khe, và đây là lý do tại sao những cánh đồng lớn, nơi Nerval nhìn thấy những người bán hàng rong và những nghĩa địa (và nơi này cũng còn được sử dụng như là một trung tâm phân phát nước), được những người dân thành phố Istanbul gọi là “taksim”. Họ vẫn gọi nơi đó bằng cái tên như thế, ngay cả bây giờ, và đó là nơi tôi rong ruổi hết cuộc đời của tôi, là ‘một góc trời chỉ biết ăn chơi”, của tôi.
Nhưng khi hai ông nhà văn Flaubert và Nerval ghé thăm nó, thì nó lại chưa có cái tên Taksim này.
Orhan Pamuk
Nguyễn Quốc Trụ dịch
Nguồn: Tin Van www.tanvien.net 
Theo https://www.art2all.net/

Tình đầu, hồi ức và thành phố

Tình đầu, hồi ức và thành phố

Orhan Pamuk
Gửi tới Cha tôi, Gunduz Pamuk (1925-2002)
Cái đẹp của một phong cảnh thì nằm ở trong nỗi buồn của nó
Ahmet Rasim
1. Một Orhan khác
Ngay từ khi còn bé tí, tôi đã hồ nghi thế giới của tôi rộng hơn nhiều so với những gì tôi có thể nhìn thấy: ở đâu đó, trong những con phố của Istanbul, có một căn nhà giống như căn nhà của chúng tôi, ở đó có một thằng bé Orhan khác, rất giống tôi, tôi và nó là hai đứa sinh đôi, hơn thế nữa, nó có thể là một thế thân của tôi. Tôi không thể nhớ, tôi lấy ý nghĩ đó ở đâu, và làm thế nào nó đến với tôi. Hẳn là nó nhập vào tôi, từ mớ bòng bong, là những câu chuyện xì xầm, những hiểu lầm, ngộ nhận, những ảo tưởng, và những sợ hãi. Nhưng, trong một hồi ức sớm sủa nhất mà tôi còn giữ được, tôi đã cảm nhận thật rõ ràng, về một thằng bé Orhan khác, một bóng ma của mình rồi.
Khi lên năm tuổi, tôi được gửi tới sống trong một thời gian ngắn tại một căn nhà khác. Sau một, trong rất nhiều những cuộc chia ly bão tố, cha mẹ chúng tôi bằng lòng gặp nhau tại Paris, và theo quyết định, ông anh tôi và tôi ở lại Istanbul, tuy nhiên, không sống chung dưới một mái nhà. Ông anh tôi sẽ sống với bà tôi cùng toàn thể bà con trong gia đình, tại khu nhà của dòng họ Pamuk, tọa lạc ở Nisantasi, còn tôi thì được gửi tới ở với cô của tôi, tại Cihangir. Trên tường nhà của cô tôi, nơi tôi được tiếp đón thật là niềm nở, có treo bức hình một đứa bé, và, cứ mỗi lần, hoặc cô tôi, hoặc dượng tôi, nhìn bức hình, là lại nhìn qua tôi, chỉ tay, và cười: “Cháu đó!”
Cái chú bé đáng yêu ở trong bức hình, với cặp mắt to, quả có giống tôi. Chú đội một cái mũ, một trong những cái tôi vẫn thường đội, khi đi ra đường. Tuy nhiên tôi biết chú không phải là tôi. (Sự thực, đó là một bản sao, một kitsch, bức hình một chú bé dễ thương mà một người nào đó đã đem về từ Âu Châu). Tuy nhiên, tôi vẫn băn khoăn tự hỏi, liệu chăng, có một thằng bé Orhan khác, sống trong một căn nhà khác?
Lẽ dĩ nhiên, tôi, bây giờ, cũng sống trong một căn nhà khác. Như thể, tôi phải dời đổi, để gặp đứa bé song sinh với mình, nhưng, bởi vì tôi chỉ muốn trở về căn nhà thực của tôi, tôi chẳng thích thú gì khi làm quen chú bé đó. Cái trò đùa vui nho nhỏ của vợ chồng cô tôi, tôi là đứa bé trong bức hình, trong đó, có chút chế nhạo tuy không cố tình, nó giống như một giọt nước làm tràn một cái ly đã đầy, là mớ cảm xúc, ý nghĩ của tôi về một thằng bé giống hệt mình, về bức hình của tôi và bức hình mà tôi giống, căn nhà của tôi và căn nhà khác. Tất cả những điều này càng làm tăng thêm ước muốn lại được trở về cùng với mọi người trong gia đình.
Chẳng bao lâu, ước muốn của tôi trở thành sự thực. Nhưng cái bóng ma của một thằng bé Orhan khác, trong một căn nhà khác, đâu đó trong thành phố Istanbul chẳng bao giờ rời bỏ tôi. Suốt thời ấu thơ, và luôn cả những năm mới lớn, nó ám ảnh, quấy nhiễu tôi. Vào những buổi chiều mùa đông, lang thang trên đường phố, tôi thường đưa mắt nhìn vô những căn nhà hai bên đường, qua ánh đèn vàng nhạt ở bên trong nhà, và mơ mòng tưởng tượng, những gia đình hạnh phúc, bình dị, sống những cuộc sống thoải mái dễ chịu của họ. Thế rồi, bỗng dưng tôi giật mình đánh thót khi nghĩ đến một anh chàng Orhan khác, có thể đang sống, trong một trong những căn nhà đó. Lớn dần thêm, già dặn hơn, bóng ma trở thành tai quái, và tai quái trở thành ác mộng cứ thế trở đi trở lại. Trong một vài giấc mơ, cuộc gặp gỡ giữa tôi và anh ta, một Orhan khác đó, luôn xẩy ra trong một căn nhà khác, khiến tôi sợ khiếp vía. Trong những lần mơ khác, hai Orhan im lặng nhìn nhau, lạnh như băng. Trong những khoảnh khắc giữa tỉnh thức và mê muội, tôi ôm ghì cái gối, bám riết căn nhà, con phố, cái chỗ của tôi, ở trên cõi đời này. Khi tủi thân, cảm thấy bất hạnh, tôi tưởng tượng ra mình ở trong căn nhà khác, trong cuộc đời khác, ở cái nơi chốn mà anh Orhan khác sống, và, mặc dù mọi chuyện, tôi nửa thuyết phục chính mình, tôi là anh ta và thích thú khi tưởng tượng, anh ta hạnh phúc, sự thích thú như thế đó, có một thời gian, nó khiến cho tôi cảm thấy không cần thiết phải tìm kiếm cho ra căn nhà khác, trong một phần khác, được tưởng tượng ra, của thành phố.
Và bây giờ, chúng ta đi đến trung tâm của vấn đề: Tôi chẳng bao giờ rời khỏi Istanbul, chẳng hề rời những căn nhà, những con phố, và những lối xóm của thời thơ ấu của tôi. Mặc dù, lúc này lúc nọ, tôi sống trong những khu vực khác nhau, năm chục năm sau, nhìn lại, tôi lúc nào cũng cảm thấy mình đóng rễ ở khu nhà của dòng họ Pamuk của tôi, nơi những tấm hình đầu tiên được chụp, nơi bà mẹ tôi lần đầu tiên ôm tôi trong vòng tay của bà, và phô tôi ra với thế giới, với cuộc đời. Tôi biết, sự bền bỉ này, mang nợ một điều gì đó, từ người bạn tưởng tượng, anh chàng Orhan khác kia, và từ niềm an ủi mà tôi có được từ mối thân quen giữa hai chúng tôi. Và chính vì lý do đó mà tôi cảm thấy câu chuyện của tôi có một điều gì đặc biệt cho thành phố, và cho chính tôi: chúng ta sống trong một thời đại, được định nghĩa bằng di dân hàng loạt và bằng sự sáng tạo mang đậm tính di dân, do những người di dân mà có được, bởi vậy, có nhiều lúc tôi thật khó cảm nhận được, và thật khó cắt nghĩa, tại sao tôi cứ ở lỳ một chỗ, không chỉ ở lỳ một chỗ, mà còn ở lỳ mãi cùng một tòa nhà. Và giọng nói buồn phiền của mẹ tôi lại vẳng lên: “Tại sao con không đi ra ngoài một lát? Tại sao không thử thay đổi quang cảnh, làm một chuyến đi đây đi đó?”
Conrad, Nabokov, Naipaul – những nhà văn này được biết đến, là do đã hỳ hục xoay sở, tìm cách thiên di, chuyển đổi, giữa những ngôn ngữ, văn hóa, xứ sở, đại lục, và ngay cả những nền văn minh. Sự tưởng tượng của họ được nuôi dưỡng bằng lưu vong, một sự nuôi dưỡng không được chiết ra từ gốc rễ, nhưng chẳng cần gốc rễ. Tuy nhiên, sự tưởng tượng của tôi, đòi hỏi, tôi phải ở lỳ ở trong vẫn chỉ cùng một thành phố, cùng một con đường, cùng một căn nhà, cùng một cái nhìn từ đó. Bộ mặt của Istanbul là bộ mặt của tôi. Tôi mắc míu, duyên nợ với thành phố này, bởi vì nó đã làm cho tôi trở thành tôi là tôi, như bây giờ.
Gustave Flaubert, viếng thăm Istanbul 102 năm trước năm tôi ra đời, ngỡ ngàng vì muôn vàn vẻ này nét kia của cuộc sống, trong những con phố nguyên thuỷ, cổ xưa của nó, trong một bức thư, ông tiên đoán, chỉ trong chừng một thế kỷ, thành phố sẽ trở thành thủ đô của thế giới. Sự trái ngược đã biến thành sự thực: Sau khi Đế quốc Ottoman sụp đổ, thế giới hầu như quên hẳn, thành phố Istanbul đã từng hiện hữu ở trên cõi đời này. Thành phố mà tôi từ đó sinh ra, ngày một nghèo hơn, thê thảm thêm, và ngày càng thêm trơ trọi, tách rời, so với trước kia, so với lịch sử hai ngàn năm của nó. Với tôi, nó luôn luôn là một thành phố của điêu tàn, và của tận điểm, buồn ơi là buồn, của một đế chế. Tôi trải qua cả cuộc đời của mình, chỉ để đánh lộn với nỗi buồn này, hay, như tất cả những cư dân của thành phố, để biến nó thành của riêng tôi.
Trong đời người, ít ra cũng có một lần, sự nhìn lại bản thân dẫn chúng ta tới chuyện, quan sát những hoàn cảnh, điều kiện, mà từ đó, chúng ta ra đời. Tại sao ta sinh ra, tại cái góc đặc biệt đó của thế giới, vào một ngày đặc biệt đó? Những gia đình, mà từ đó chúng ta sinh ra, những xứ sở, thành phố, mà, cuộc xổ số đời đã chỉ định cho chúng ta – chúng mong ước tình yêu từ chúng ta, và sau cùng, chúng ta yêu chúng, từ tận cùng trái tim của mình; nhưng, liệu chúng ta có lẽ còn xứng đáng được hưởng, thêm hơn nữa, tốt hơn nữa? Tôi, chính tôi, thỉnh thoảng lại ban cho mình cái ý nghĩ, làm sao mà mình kém may mắn đến như thế, vì đã sinh ra tại một thành phố già nua, nghèo nàn, bị chôn vùi dưới những tro than của một đế quốc điêu tàn. Nhưng, một giọng nói từ bên trong tôi luôn luôn nài nỉ, rằng, may đấy, may đấy, không phải không may đâu. Nếu đây là vấn đề của cải, giầu sang, thì chắc chắn kể như tôi là một kẻ may mắn vì đã sinh ra trong một gia đình dễ dãi khi ngọn thuỷ triều của thành phố đang ở lúc thấp nhất (tuy nhiên, có nhiều người lại nói ngược lại). Nói gì thì nói, tôi không thích than van: tôi chấp nhận thành phố tôi sinh ra từ đó, như tôi chấp nhận hình hài của tôi (nhiều như là tôi muốn, giá mà mình đẹp trai hơn, to con hơn) và cái sự tôi sinh ra là đàn ông, (ngay cả chuyện, tôi vẫn thường tự hỏi, một cách ngây ngô, giả như mình sinh ra là đàn bà, thì sự tình có tệ hơn chăng). Đó là phần số của tôi, và ngu gì mà sửng cồ với nó. Cuốn sách này là về “cái gọi là” phần số.
Tôi sinh vào lúc nửa đêm ngày 7 Tháng Sáu, 1952, trong một nhà hộ sinh tư tại Moda. Những hành lang của nó, tôi nghe kể lại, thì thật là êm ả, vào đêm hôm đó, và thế giới, thì cũng vậy. Ngoài chuyện núi lửa Strambolini, từ hai ngày trước bất thình lình phun lửa và tro, kể như chẳng có gì xẩy ra cho trái đất của chúng ta. Nhật báo toàn những tin vụn vặt: vài câu chuyện binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ đi chiến đấu tại Korea; vài tin đồn xuất phát từ phía người Mỹ, về nỗi sợ, có thể Bắc Hàn đang sửa soạn sử dụng vũ khí sinh học. Vào những giờ trước khi tôi ra đời, mẹ tôi mải miết theo dõi một tin địa phương: Hai ngày trước đó, mấy người gác đêm và một số cư dân “dũng cảm” tại Trung Tâm Sinh Viên Konya đã nhìn thấy một người đàn ông đeo mặt nạ ghê sợ tìm cách leo vô một căn nhà qua cửa sổ phòng tắm; họ rượt đuổi người này qua những đường phố, tới một nhà máy cưa, tại đây, sau khi chửi rủa cảnh sát, người đàn ông chai lì đã tự sát; ngày hôm sau, một người bán hàng vải nhận diện xác chết, là của một tên găng tơ, một năm trước, tại Harbie, ban ngày ban mặt, hắn, tay lăm lăm khẩu súng, xông vào tiệm của ông ta để ăn cướp.
Khi đọc đến dòng chót của cái tin gay cấn, mẹ tôi, một mình ở trong phòng, vì, như nhiều năm sau này, bà kể lại cho tôi nghe, với một giọng giận dữ và buồn rầu, bà lúc đó thật bồn chồn, một phần vì tôi chậm ra đời, một phần vì ông bố của tôi, sau khi đưa bà vợ tới nhà bảo sanh, bèn bỏ bà một mình, đi du hí với đám bạn. Người độc nhất ở trong phòng sinh, cùng với bà, là bà của cô của tôi. Đang đêm, bà trèo qua tường, bao quanh khu vườn nhà bảo sanh, để vào với mẹ tôi. Khi nhìn tôi lần đầu, bà mẹ tôi, so tôi với thằng anh ra đời trước đó hai năm, và nhận thấy, tôi bèo nhèo, mảnh mai, hơn.
Nhưng, “hay là, hình như bà đã nói với tôi như vậy”?  Ở Thổ Nhĩ Kỳ, chúng tôi có một cách nói đặc biệt, một thì đặc biệt, nó cho phép chúng tôi phân biệt giữa ba chuyện nghe qua nghe lại, với những gì chứng kiến tận mắt; khi kể về những giấc mơ, chuyện thần tiên, hay sự kiện đã qua, chúng tôi sử dụng cách đặc biệt này. Thật có ích, vì, khi chúng ta "nhớ lại” những kỷ niệm đầu đời, khi còn nằm nôi, những bước đi chập chững đầu tiên, tất cả những chuyện đó, chúng ta nghe người lớn, nghe bố mẹ, kể lại, thường là, chúng ta có cảm giác ngọt ngào như nhìn thấy mình trong giấc mơ của mình. Và chúng ta phải trả một cái giá thật đắt cho cái cảm giác ngọt lịm này. Một khi in vào trong đầu, những gì nghe kể lại, từ những nguời khác, về những gì chúng ta đã làm, đã trải qua, như thế, chúng thường gây ấn tượng, nhiều hơn nhiều, so với những gì chính chúng ta nhớ lại. Và, đâu có khác, một khi chúng ta biết về cuộc đời của chúng ta, từ những người khác, thì cũng vậy, chúng ta để cho những người khác tạo dáng, tạo khuôn, cho hiểu biết của chúng ta, về thành phố mà chúng ta sống ở trong đó.
Những lần, khi chấp nhận, những câu chuyện mà tôi nghe về thành phố của tôi, và về chính tôi, là của mình, tôi thèm viết ra, như vầy: “Ngày xửa ngày xưa, tôi là họa sĩ. Tôi sinh ra ở Istanbul. Tôi là một đứa trẻ ưa tò mò. Rồi thì, tới năm tôi hai mươi hai tuổi, không hiểu sao, tôi lại đâm ra viết tiểu thuyết. Tôi thèm kể câu chuyện của đời mình theo kiểu đó, như thể đời mình là một chuyện gì xẩy ra cho một người khác, như thể đời mình là một giấc mơ, trong đó, tôi nghe tiếng nói của mình nhạt nhòa dần đi, ngọt lịm, và điều mình ước muốn, thì, ôi chao, thật là tuyệt vời. Đẹp thật, tuyệt vời thật, tuy nhiên, tôi nhận ra, kể chuyện đời mình như một sử thi như thế là không đáng tin cậy, cứ như thể chúng ta có tới hai cuộc đời, cuộc đời thứ nhất sáng hơn thực hơn, so với cuộc đời thứ nhì, bắt đầu, khi chúng ta thức giấc. 
Bởi vì - với những người như tôi, ít ra - cuộc đời thứ nhì đó, kiếm ở chi đâu, nếu không là, ở trong chính cuốn sách này, mà bạn đang cầm ở trong tay.
Và chính vì thế, hãy thật cẩn thận, bạn đọc thân mến. Hãy cho tôi nói thẳng với bạn, và, đổi lại, tôi yêu cầu ở bạn, sự cảm thông.
Orhan Pamuk
Nguyễn Quốc Trụ dịch
Nguồn: Tin Van www.tanvien.net 
Theo https://www.art2all.net/

Nữ sử Đạm Phương và các nhân vật đồng thời

Nữ sử Đạm Phương
và các nhân vật đồng thời

(Đề tài ở buổi hội thảo tại Lan Viên Cổ Tích 2, đường Bạch Đằng, TP Huế ngày 28 tháng 6, 2026 do TS Thái Kim Lan tổ chức)
Xã hội ta trước thế kỷ XX, văn hóa phong tục vẫn nặng văn hóa phong tục Khổng Mạnh, nhứt nam viết hữu, thập nữ viết vô nên con gái không được đi học. Thế hệ bà nội, bà ngoại tôi không ai biết chữ dù là con nhà con quan! Thế hệ các cô tôi có gia đình cũng không cho con gái đến trường. May mắn cho các cô tôi được cho đi học bài bản. Ông nội tôi là người đi trước thời đại! Và trong thời kỳ phong kiến ấy có một quận chúa cành vàng lá ngọc cũng được đi học, Công Nương Đồng Canh, cháu nội Vua Minh Mạng. Cho thấy triều đình nhà Nguyễn cũng khá thức thời, cởi mở cho nữ giới được phát triển tiềm năng. Hai vị hoàng tử bác của cô là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương được Vua Tự Đức khâm phục, trân trọng ngang với thi nhân đời Đường bên Tàu:
Văn như Siêu Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường!
Không hổ là con cháu Tùng Tuy, Công Nương Đồng Canh sớm phát hiện tài năng là một nữ sử của thời đại với bút hiệu Đạm Phương. Bà làm thơ, viết văn, viết bình luận về vai trò phụ nữ trong xã hội, về nữ quyền và cho đăng trên nhiều tờ báo trong nước, gồm cả báo riêng của phụ nữ. Từ năm 1918 đến 1929 bà gởi hơn 200 bài viết cho các báo. Bà là ký giả nữ đầu tiên viết bài cho Nam Phong Tạp Chí của học giả Phạm Quỳnh. Bà cọng tác với tờ Phụ Nữ Tùng San ở Huế do nhóm nữ lưu tiên phong thành lập năm 1929.
Quý bạn cũng biết nữ sử là danh từ Hán Việt chỉ người phụ nữ ghi chép sử sách, văn thư, là một vị nữ quan trong cung đình phong kiến xưa. Trong văn học và văn hóa, ‘nữ sử’ được dùng như một danh xưng trân trọng để chỉ các bậc trí thức nữ, hoặc nhà hoạt động xã hội nữ có kiến thức uyên bác, đóng vai trò lớn trong việc lưu truyền văn hóa nước nhà. Bà Đạm Phương là một nữ sử đúng nghĩa đen vì rất uyên bác về văn hóa truyền thống, thông thạo Hán học, giỏi chữ Pháp và ngôn ngữ Việt. Năm 20 tuổi, bà được mời vào cung phụ tá hoàng hậu và dạy học cho các công chúa, được triều đình phong chức nữ sử. Bà cũng xứng đáng là một nữ sử theo nghĩa bóng, là một influencer lớn đã để lại dấu ấn cho nhiều thế hệ. Bà là một nhà trí thức, có công đẩy mạnh phong trào lưu truyền văn hóa, giải phóng phụ nữ, khai sáng nữ quyền. Bà cho rằng chìa khóa cho việc nâng cao vị thế của phụ nữ là giáo dục.
Trong bài “Muốn cho nữ lưu biết chức nghiệp, phải có Học hội nữ công.” Bà viết: “Nước mình đàn bà con gái không phải không có óc thông minh, cũng không phải không có tài năng song không biết cách cùng nhau mà mưu sự nghiệp hạnh phúc chung, làm cho sự nghiệp về đường nữ công là cái phận sự của mình, phải nên chăm chút để gây dựng một nền giáo dục hoàn toàn mới mong nở mày nở mặt với người ta.” Bà kêu gọi người phụ nữ muốn giải phóng mình thì phải học chữ, học nghề để có thể bước ra khỏi xó bếp, thoát ra khỏi cái ách tam tòng, sống tự lập, góp phần phát triển kinh tế, phục vụ nước nhà!
Bà Đạm Phương là một nhà hành động, không chỉ hô hào suông. Bà kêu gọi nữ giới thành lập Học Hội Nữ Công. Hội ý với cụ Phan Bội Châu, Học Hội Nữ Công được thành lập vào cuối tháng Tư, 1926 nhằm đoàn kết, giáo dục phụ nữ nước nhà. Hiệp hội quy tụ khá nhiều nhân vật có uy tín ở Huế với Bà Đạm Phương là Hội Trưởng, bà Trần Quang Khải là Hội Phó, Tổng thư ký là bà Trần Thị Như Mân cùng các vị ủy viên là phu nhân của quý ông Nguyễn Khoa Tú, Ưng Úy, Thân Trọng Phước, Nguyễn Bá Trác. Mục đích của Hội là dạy nữ công gia chánh, may vá thêu thùa, dạy nghề để phụ nữ có thể độc lập về mặt kinh tế. Quy mô của Hội ngày càng phát triển. Bà Đạm Phương cử cán bộ ra Hà Đông, Hà Nội, vào Quảng Nam học thêm các nghề mới như dệt vải, ươm tơ, nuôi tằm để về chỉ vẻ lại cho chị em trong Hội. Bà mời thầy về dạy kỹ thuật mới như đã mời ông Diễm ở Hà Đông về dạy cách dệt vải khổ rộng với năng suất cao hơn kiểu dệt cũ. Bà cũng đi vào Nam, ra Bắc giới thiệu mô hình Nữ Công Học Hội và khuyến khích thành lập những hội tương tự ở địa phương.
Nữ Công Học Hội thành công được coi là một sự kiện lịch sử quan trọng trong công cuộc nâng cao vị trí phụ nữ trong xã hội thời bấy giờ. Hoạt động của Hội đã gây được tiếng vang khắp cả nước. Nhiều học sinh ở các tỉnh miền Trung, Saigon, Hanoi tự động tổ chức chi nhánh tại địa phương mình. Nữ sử Đạm Phương thật đúng là một vị nữ lưu hoạt động cho bình đẳng giới (Feminist). Bà cũng khởi động phong trào nữ lưu tiên phong cùng bà Trần Thị Như Mân, Hoàng Thị Vệ (vợ bs Thân Trọng Phước), Hồ Thị Hạnh (Sư Bà Diệu Không) và nhiều phụ nữ khác. Bà Như Mân là cựu học sinh Đồng Khánh (hình năm 1931) và là phu nhân của học giả Đào Duy Anh.
Nhớ khi kiểm tài liệu để viết cuốn Lá Trúc Che Ngang – Chuyện tình của cô tôi, tôi thấy cô tôi (Hoàng Thị Kim Cúc) có nhắc tên bà Đạm Phương. Cô đã trò chuyện với bà về vấn đề phụ nữ. Cô cũng rất quan tâm đến vấn đề nữ giới và vai trò của người đàn bà ở trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Năm 1935, cô gởi bài “Thơ cho chị Thanh Hà” cho báo Tràng An ở Huế qua mục Tiếng Oanh.
Năm 1936, cô gởi bài “Thiên chức đàn bà” cho báo Tràng An. Cũng năm 1936, cô gởi bài “Vài nguyên nhân làm ngăn trở bước đường tiến hóa của chị em con nhà khuê các” cho báo Đàn Bà ở Hà Nội. Mồng 6, tháng 12, 1941 cô viết thư trả lời bà Thụy An, báo Đàn Bà ở Hà Nội, về “Chị em trí thức ở thần kinh.” …
Nói đến nữ lưu tiên phong của Huế mà không nhắc đến tiểu thư Hồ Thị Hạnh là một thiếu sót lớn! Trước khi trở thành nhà tu hành Thích Nữ Diệu Không, cô Hồ Thị Hạnh, con út của quan đầu triều Hồ Đắc Trung, cũng là một bậc nữ lưu tiên tiến. Cô tốt nghiệp trường Đồng Khánh, giỏi tiếng Pháp, tinh thông Hán học và rất năng nổ, chung tay cùng chị em sinh hoạt xã hội, dấn thân vào các hoạt động từ thiện, khích động phong trào giải phóng phụ nữ, đòi quyền bình đẳng với nam giới, quyền làm người. Cô từng là thành viên sáng lập Học Hội Nữ Công và làm thủ quỹ cho hội cùng với bà Tổng thư ký Như Mân. Con nhà danh gia vọng tộc, cô Hồ Thị Hạnh nhất định không thiếu vương tôn công tử muốn kết thân, nhưng cô chọn làm vợ kế của một người bị bệnh lao thời kỳ cuối có 6 con mất mẹ là hạnh nguyện bồ tát của cô. Cô thưa với thân phụ, “Con muốn nuôi các con ông ấy.” Ông ấy là ông Cao Xuân Xang, con cụ Cao Xuân Dục, quan Phụ Chính Đại Thần, được phong Đông Các Điện Đại Học Sĩ khi về hưu.
Không có chức quan nào to hơn! Ông Cao Xuân Xang học ở Pháp về cũng làm quan ở Cơ Mật Viện. Ông còn vẽ giỏi, thơ hay. Ông bị bênh lao khi vợ qua đời nên không thể tục huyền, không dám hỏi cưới ai. Tiểu thư Hồ Thị Hạnh phải mở lời với ông trước và đem 6 người con của ông về nhà mình nuôi dưỡng. Ba năm sau bên nhà ông xin cưới để cô được danh chính ngôn thuận làm mẹ. Đám cưới buồn như một đám tang. Trong hồi ký “Đường Thiền Sen Nở” Sư Bà viết: “Ngày chú rể lên lạy hai cụ, cả nhà hai họ đều khóc. Khi các con ra lạy ông bà ngoại và cha mẹ, họ hàng đều khóc như là đám ma.” Bà làm bài thơ Đám Cưới như sau:
Đám cưới hay là một đám tang?
Cả nhà, lớn, nhỏ thảy đều than
Chồng chung, bệnh hoạn tình phai nhạt
Vợ kế, kề vai gánh đoạn tràng
Kẻ nói là ngu, người nói dại
Người cho là dở, kẻ cho gan
Biết chăng chỉ có người trong cuộc
Gạy mái thuyền từ phải biết sang
Đúng là chỉ có người trong cuộc mới biết phận mình phải “gạy mái thuyền từ” để thực hành hạnh nguyên bồ tát vì bản thân đã sớm hiểu câu “phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật!” Đám tang xảy ra vào tháng 3, năm 1930, 11 tháng sau ngày đám cưới buồn ấy. Ông ra đi ngay sau khi được nhìn mặt đứa con thứ 7 vừa chào đời. Bà nuôi con trai được cứng cát rồi gởi cho người chị. Bà gởi người con gái đầu của chồng cho vợ chồng người anh chồng rồi đưa hết 5 người con vào nội trú hai trường Quốc Học và Đồng Khánh. Bà cũng gởi gắm nhờ chị mình trông nom rồi thí phát xuất gia năm 1932, với pháp danh Thích Nữ Diệu Không. Chị bà tên Hồ Thị Huyên, phu nhân của cụ Ưng Úy, về sau cũng xuất gia là Sư Bà Diệu Huệ.
Một nữ lưu tiên phong miền Trung nữa là nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa, sinh năm 1896 ở Đà Nẵng, là nhà báo, nhà văn, nhà diễn thuyết, nhà hoạt động xã hội. Bà tranh đấu không ngừng nghỉ cho phong trào nữ lưu và văn học, cọng tác với các báo An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Nam Phong tạp chí, Phụ nữ tân văn. Bà để lại cho đời nhiều tác phẩm giá trị như Tây Phương Mỹ Nhân, Huyền Trân Công Chúa, Chiêm Thành Lược Khảo được Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng và bà Đạm Phương khen ngợi. Hưởng ứng Nữ Công Học Hội của bà Đạm Phương, bà thành lập Nữ Công Học Hội Đà Nẳng, lập đoàn phụ nữ, khuyến khích nữ sinh đi du học nước ngoài. Bà thật đáng nể phục là một feminist rất sớm ở nước ta. Bà là người đầu tiên cắt tóc ngắn, xử dụng phương tiện xe đạp đi lại trong thành phố.
Đó là hình ảnh rất lạ đối với phụ nữ đương thời. Nhưng bà được học Tây học có điều kiện tiếp cận với những sinh hoạt văn minh hiện đại.
Ở Hà Nội thì có bà Thụy An tên Lưu Thị Yến sinh năm 1916. Có khiếu văn thơ từ nhỏ. Năm 13 tuổi, báo Nam Phong đã đăng thơ của bà. Năm 16 tuổi bà được giải thưởng văn chương của triều đình Huế. Ngoài ra, bà còn là một nhà báo được tín nhiệm. Bà cùng chồng sáng lập Báo Đàn Bà Mới ở Sài Gòn (1934) với vai Tổng biên tập. Bà tuyên bố Đàn Bà Mới là cái trường để chị em cùng nhau học hỏi và bàn luận ý kiến. Trên tờ số 1, bà cho đăng bức hình hí họa giới nữ gánh, bê gạch vữa, và xây tường với lời chú: “Chị em chúng tôi xây nền, đắp móng.” Sau khi tờ Đàn Bà Mới ở Sài Gòn bị đình chỉ năm 1937, bà mở tờ Đàn Bà Mới ở Hà Nội năm 1939, cũng cùng năm, bà nhận làm chủ nhiệm tờ Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn.
Đồng thời với bà Đạm Phương còn có những nữ lưu tiền phong ở phương Nam. Nhà nghiên cứu Bằng Giang trong tác phẩm ‘Saigon Cố Sự’ cho rằng : “Tính đến năm 1930, văn học quốc ngữ Nam Kỳ có non 20 tác giả nữ còn để lại tác phẩm in thành sách, nhưng các tác giả trên không để lại một tiếng vang nào ngoại trừ Phan Thị Bạch Vân, chủ nhân Nữ Lưu Thơ Quán ở Gò Công.”
Phan Thị Bạch Vân, tên thật là Phan Thị Mai sinh năm 1903 ở Biên Hòa. Bà theo chồng về sống ở Gò Công và sáng lập Nữ Lưu Thơ Quán ở đây. Ban biên tập gồm có Đạm Phương (Huế), Nguyễn Thị Đan Tâm (Phú Quảng Trung Kỳ), Hoàng Thị Tuyết Hoa (bút danh của Phan Thị Bạch Vân), Tùng Viên (Phủ Quảng Trung Kỳ), Vũ Xuân Đệ (Hà Nội), Quốc Anh (giáo học Phú Thọ, Đồng Hới), Á Nam Trần Tuấn Khải (Hà Nội). Nữ lưu thơ quán xuất bản sách mỗi tháng 3 kỳ với mục đích bán giá hạ cho độc giả nữ, giúp cho trí thức nữ lưu được chóng mở, học vấn thêm cao. Nữ Lưu Thơ Quán chọn xuất bản những tác phẩm có giá trị về chính trị, lịch sử, truyện ký, tiểu thuyết, phụ nữ, nữ công, văn học, khoa học, thương mại và thiệt nghiệp. Tiếc thay Nữ Lưu Thơ Quán chỉ hoạt động được gần hai năm thị bị chính quyền Pháp thu hồi giấy phép vì không muốn thơ quán truyền bá những tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những kiến thức khoa học cho thanh niên nam nữ nước ta.
Nam Kỳ còn có nữ sĩ Sương Nguyệt Anh với tên khai sinh là Nguyễn Thị Khuê hay Ngọc Khuê sinh năm 1864, cùng người chị Nguyễn Thị Xuyến nổi danh khắp vùng là Nhị Kiều vì tài sắc vẹn toàn. Bà là con gái thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu gốc Bến Tre. Bà có một con gái khi chồng qua đời. Không muốn đi bước nữa nên bà lấy bút danh là Sương Nguyệt Anh, mở trường dạy chữ Nho và bắt đầu làm thơ, viết văn. Năm 1918, được mời làm chủ bút tờ Nữ Giới Chung. Tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt dành riêng cho phụ nữ ở Việt Nam. Tờ báo thể hiện tư tưởng tiến bộ, đòi quyền bình đẳng nam nữ, chủ trương nâng cao dân trí, khuyến khích công nông thương và nhất là đề cao vai trò phụ nữ trong xã hội, đưa ra những tấm gương phụ nữ tân tiến tại châu Âu, Mỹ. Tờ báo còn đề cao tinh thần quật khởi của phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa như Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân v.v… Tờ báo nhấn mạnh sự quan trọng của ngôn ngữ Việt. Trong số báo ra mắt, bà chủ bút nêu mục đính chính là truyền bá chữ quốc ngữ vì Nam kỳ không còn là đất đai của nước ta nữa mà là thuộc địa của Pháp và chính quyền Pháp không cho dạy chữ quốc ngữ ở trường học! Tuy chỉ hoạt động gần một năm - báo bị đình bản ngày19 tháng 7, 1918 – sau khi ra được 22 số, tờ Nữ Giới Chung gây ấn tượng mạnh trong làng báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX. Báo bị đình bản có thể vì bà từ chối lời yêu cầu của chủ nhân tờ báo, một người Pháp có tên Henri Blasquiere. Ông này muốn tờ báo “ca ngợi chính quyền” và “cổ động người Việt đi lính cho Pháp.” Không những cô chủ bút không nghe mà còn cho đăng liền mấy bài thơ có nội dung ngược lại. Tài liệu cho thấy bà được mời đi gặp chính quyền trong năm 1930! Ngày 1, tháng 2 năm 2023, Google Doodle tôn vinh bà là Nữ tổng biên tập đầu tiên của tờ báo phụ nữ đầu tiên tại Việt Nam.
Tờ báo phụ nữ thứ hai ở miền Nam ra đời năm 1929 là tờ Phụ Nữ Tân Văn do vợ chồng bà Cao Thị Khanh sáng lập. Bà Cao Thị Khanh sinh năm 1900 ở Gò Công. Bà quy tụ một đội phụ nữ trí thức có văn tài, lấy tờ Phụ Nữ Tân Văn làm phương tiện tổ chức những hội đoàn phục vụ cho xã hội và lý tưởng canh tân. Tờ Phụ Nữ Tân Văn với logo 3 cô gái Bắc Trung Nam thể hiện tinh thần đoàn kết, tuy ba mà một, kê vai gánh vác sơn hà! Báo hướng tới khuynh hướng tiến bộ, tuyên truyền dân chủ, dân sinh, phục vụ cho quyền lợi phụ nữ. Báo được phổ biến rộng rãi, bán ra tận ngoài Trung và ngoài Bắc. Ngoài việc dùng giấy mực để cổ vũ lối sống mới, vợ chồng bà còn tổ chức nhiều hoạt động xã hội, cụ thể hóa những đường lối tờ báo chủ trương. Họ thành lập “Quỹ Đồng xu học sinh nghèo”, “Bữa cơm cho người nghèo”, “Ban ủy viên Phụ nữ cứu tế”, “Hội Dục Anh” và “Nữ lưu học hội” để tạo môi trường trao đổi, bàn luận về các vấn đề bình đẳng giới, khuyến khích phụ nữ tham gia vào các diễn đàn chính trị và khoa học, thúc đẩy giáo dục trẻ em gái. Tờ báo phải đình bản vào tháng Tư, 1935 do gặp khủng hoảng kinh tế.
Và người nữ lưu cấp tiến đồng thời với Nữ Sử Đạm Phương cuối cùng tôi muốn giới thiệu hôm nay là ký giả Manh Manh, nổi tiếng là nhà thơ mới, là một cây bút xông xáo, nhà diễn thuyết nữ tài năng. Bà tên thật là Nguyễn Thị Kiêm sinh năm 1914 ở Gò Công. Thuở nhỏ bà theo học Trường Nữ Sinh Áo Tím ở Sài Gòn. Năm 1931, tốt nghiệp bằng thành chung, ban Sư Phạm, bà được giữ lại trường giảng dạy. Vừa dạy học, bà dấn thân vào nghề báo, một nghề rất mới mẻ với nữ giới thời ấy. Theo tài liệu, bà là người phụ nữ đầu tiên, đăng thơ, viết bài, đăng đàn diễn thuyết hô hào ủng hộ phong trào thơ mới tại Việt Nam. Bà cọng tác với nhiều tờ báo, làm phóng viên đắc lực cho tờ Phụ Nữ Tân Văn, tờ báo của người bạn thân cùng chí hướng. Tờ báo là bệ phóng quan trọng giúp bà công bố các sáng tác thơ văn truyền bá tư tưởng tiến bộ! Rất tiếc tờ báo chết yểu (đình bản 21 tháng 4,1935). Cô thi sĩ trẻ với mộng tưởng cao không còn nơi thi thố tài năng. Nhưng những đóng góp của cô vẫn được những thế hệ sau trân trọng. Hoài Thanh Hoài Chân đã viết về cô như sau: “… người nữ chiến sĩ tiền phong anh dũng và hăng say hoạt động để bảo vệ và củng cố nền tảng thơ mới bén rễ, sống mạnh, ta phải kể Nguyễn Thị Manh Manh một tay đã đóng góp không nhỏ cho nền văn học đất nước.”
Câu chuyện giới thiệu những nữ lưu tiên phong đồng thời với nhà Nữ Sử Đạm Phương xin khép lại ở đây. Cám ơn quý vị đã lắng nghe. Xin chào.
Hoàng Thị Quỳnh Hoa
Theo https://www.art2all.net/

Nghề bán giấc mộng

Nghề bán giấc mộng G abriel García Márquez là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của văn học thế giới thế kỷ XX. Ông là tiểu thuyết gia...