Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026

Giai điệu trầm quê hương của Trần Vạn Giã

Giai điệu trầm quê
hương của Trần Vạn Giã

TRẦM KHÚC
Chiều ơi và ngọn gió may
Thổi bao đời cát đã bay trên đồi
Hình như trong gió có lời
Ru tôi tìm lại một thời cỏ non
Hình như trong trái bần giòn
Mùi thơm con gái có còn trong cây
Ném thơ về một phương này
Để bay theo gió. Để bay theo tình
Những đồi cát vẫn trắng tinh
Chỉ tôi với bóng lặng thinh trên đường
Tạ ơn làng.
Thắp nén hương.
Trần Vạn Giã
Nhà thơ Trần Vạn Giã là một trong số ít các nhà thơ quê ở Khánh Hòa từng có tác phẩm tham gia phong trào đấu tranh ở đô thị miền Nam trước giải phóng 1975. Anh cùng với lớp nhà thơ trẻ lúc bấy giờ là Trần Quang Long, Ngô Kha, Lê Văn Ngăn, Thái Ngọc San, Võ Quê, Trần Hoài Dạ Vũ, Lê Nhược Thủy… nói lên  tiếng nói yêu nước, nhận diện kẻ thù, thức tỉnh tinh thần dân tộc qua các bài thơ đăng trên các tạp chí tiến bộ ở Sài Gòn như Trình bày, Đứng dậy, Làm dân, Tiếng nói…
Sau năm 1975 nhà thơ Trần Vạn Giã tiếp tục sáng tác. Thơ anh là sự tiếp nối và phát triển nguồn mạch của tình yêu nước, thương dân.
Quê hương là chủ đề nổi bật và xuyên suốt trong thơ Trần Vạn Giã. Dù viết về quê hương chìm trong khói lửa chiến tranh hay trong những khung cảnh yên ả thời bình, thơ anh vẫn tràn đầy cảm xúc trữ tình yêu thương gắn bó, ân nghĩa thuỷ chung và luôn day dứt bởi những kỷ niệm.
Bài thơ “Trầm khúc” là một giai điệu trầm về quê hương cất lên tự hồn của một người con xa quê nay trở về.
 
Người làm thơ có nghề hiểu rất rõ viết về quê hương là một thử thách, bởi khó lòng đạt tới hoặc vượt qua những đỉnh cao trước đó của bao thế hệ nhà thơ. Với “Trầm khúc” Trần Vạn Giã đã khôn ngoan chọn một lối đi hẹp, một không gian, thời gian hẹp và một giọng trầm. Bài thơ sẽ không đặt ra những vấn đề lớn như Tổ quốc – nhân dân thông qua chủ đề quê hương như nhiều nhà thơ đã thành công, và như vậy nó tránh được lối mòn hay ít nhất là không vay mượn một cách vô tình.
“Chiều ơi và ngọn gió may
thổi bao đời cát đã bay trên đồi”
Thời gian được xác định là “chiều” với lời thốt gọi “Chiều ơi”. Thời gian cuối ngày, hay cũng là thời gian đời người. Đó cũng là cái khoảng thời gian cần và phù hợp với những trạng thái cảm xúc lắng sâu, thanh lọc.
Không gian ở đây không nghiêng về tính bao quát mang tầm vũ trụ kỳ vĩ, mà chỉ là những chi tiết, cụ thể, hình ảnh quen thuộc mà rất gợi. Anh chọn ngọn gió may, cát, trái bần, những hình ảnh thật bình thường, nhỏ bé, khiêm nhường để trải tình, tạo nên những câu thơ chân thật, ý tưởng mới lạ. Gió may vốn là những ngọn gió nhẹ, vậy mà những ngọn gió mong manh ấy từng thổi bao đời cát bay  trên đồi.
Hình ảnh cát đã phần nào định danh cái quê hương mà nhà thơ đang nói đến, đó là dải đất duyên hải miền Trung, nơi, những cơn gió cuốn từng đợt  cát trắng loá thuỷ tinh, bay nhẹ nhàng như làn mây  mỏng và bồi lên thành gò, thành đồi trải dài như vô tận.
Vì sao không phải là hạt cát, bụi cát hay cồn cát mà là đời cát? Một từ, một hình ảnh đắc địa trong câu thơ này tạo nên hiệu quả nghệ thuật khá bất ngờ. Người đọc rung cảm, liên tưởng  đến thân phận con người nhỏ nhoi, lặng lẽ, vô danh đã bền bỉ cùng tháng năm bồi đắp nên những đồi cát trắng tinh, làm nên sức vóc của thiên nhiên, của vùng đất. Soi vào đời cát  trắng tinh ấy ta thấy hiện lên tính cách và phẩm  chất người miền Trung. Cát ở đây là biểu tượng, là đặc trưng của miền Trung, như thể cây đa bến nước sân đình của Bắc Bộ, như thể bóng dừa kênh rạch của Nam Bộ.
Với tâm thế một người xa quê trở về, nhà thơ soi tìm kỷ niệm. Và ngọn gió may đã giúp anh lần mở những ngăn ô ký ức:
“Hình như trong gió có lời
ru tôi tìm lại một thời cỏ non
Hình như trong trái bần giòn
Mùi thơm con gái có còn trong cây”
Câu thơ được diễn đạt bằng trực cảm. Nhờ trực cảm mà nhà thơ nhận biết quê hương cả bằng thính giác “Trong gió có lời ru”, vị giác: “Trái bần giòn” và khứu giác: “Mùi thơm con gái”. Nhưng tất cả chỉ là giả định “hình như”. Bởi những âm thanh , hương vị kia không phải là cái đang hiển hiện mà là cái đang được tái tạo bằng hồi ức.
Lời ru nhắc về một thời cỏ non, thời thanh xuân tươi đẹp của đời người, mà mỗi khi nhớ lại tâm hồn không khỏi xao động.
Trái bần có lẽ là một thứ trái rất hiếm khi được đưa vào thơ (?). Nó là “đặc sản” của vùng ngập mặn. Nhưng vì trái bần mang chứa nhiều kỷ niệm nên cái vị giòn của nó đã theo suốt cuộc đời nhà thơ và nó trở nên rất thơ.
Và cái mùi  thơm con gái, cái mùi thơm không thể định tính này như đã ủ men trong tâm hồn rồi bất chợt dậy hương trong buổi xế chiều của đời người. Mới hay cái mùi hương tình yêu đầu đời đã bền bỉ vượt thời gian lưu giữ trong cây, trong hồn người giữa quê hương.
Có thể nói, với bài thơ “Trầm khúc”  kỷ niệm đã trở thành chất liệu quí cho thơ.
“Thơ là nhu cầu mình tâm sự với chính mình” (Hoàng Ngọc Hiến). Đúng vậy. Ở khổ thơ thứ hai, nhân vật trữ tình (tác giả) đã hiện ra rõ nét:
“Những đồi cát vẫn trắng tinh
Chỉ tôi với bóng lặng thinh trên đường”
Nhà thơ trở về quê hương với tâm trạng cô đơn và nỗi  buồn dịu ngọt. Đó là trạng thái tâm hồn tác nhân thăng hoa một tình yêu quê hương ở độ sâu, ở sự chiêm nghiệm.
Trước những đồi cát trắng tinh, nhà thơ – đứa con của quê hương chợt nhìn lại mình. Quê hương vẫn đẹp, trong ngần dù trải bao biến cố thăng trầm. Còn nhà thơ, anh sẽ làm gì? Yêu thương, biết ơn, tạ lỗi sẽ là chưa đủ. Nhà thơ đã nhận ra trách nhiệm của mình:
“Ném thơ về một phương này
Để bay theo gió. Để bay theo tình”
Phải sống cho thơ. Sống cho quê hương. Sống đến tận cùng cuộc sống như những đời cát kia vẫn bay theo gió, bồi đắp nên đồi. Nhẹ nhàng, chân thành, bài thơ lục bát gieo vào lòng người những nốt nhạc trầm và nó sẽ ở trong mãi trong ngóc ngách tâm hồn, và nó sẽ bất ngờ ngân vang
8/10/2009
Lê Khánh Mai
Theo https://www.vanchuongviet.org/

 

Bóng người trong Đời vạn dặm

Ngay từ những trang đầu tập thơ “Đời vạn dặm” của Hồng Thị Vinh, tôi bắt gặp câu thơ “Có những tài nhân âm thầm trong bóng tối/ Như kình ngư quẫy đạp giữa biển ngầu/ Dẫu tư chất vẫn không thành danh phận/… / Đi kiệt sức mới gặp chiếc bóng mình/ In trên nền trời quên lãng” (Dưới bóng trời, quên lãng).

Một suy ngẫm, một nhận định khái quát hay đó là niềm chứng ngộ của chính tác giả về cuộc đời. Phải, cuộc đời muôn dặm, con người đã trải, đã quẫy đạp, đã vắt kiệt mình để tồn tại và lao đến những cái đích vô hình rồi rơi vào quên lãng. Có cái gì đó thôi thúc tôi đọc hết tập thơ. Hình như những dòng ch trên đây đang chỉ dẫn về một cuộc vật lộn nội tâm âm thầm mà dữ đội. Sự “quẫy đạp” nội tâm là trạng thái con người khao khát nhận diện chính mình, tìm ý nghĩa nhân sinh.
Trong một bài thơ khác, Hồng Thị Vinh viết:

 

“Đời vạn dặm theo dòng trôi chảy mãi

Nghĩa lý gì đâu chiều ngả bóng, xuân vơi

Ta hạt bụi cuốn đi rồi trở lại

Vẫn còn ta đâu thể lạc dấu đời”

(Đời vạn dặm)

 

Con người dẫu nhỏ nhoi cát bụi vẫn “cuốn đi rồi trở lại” không mất hút vào hư vô, ở đây bộc lộ mâu thuẫn. Nhà thơ vừa xót xa cho cái sự quên lãng của kiếp người lại tự nhủ “vẫn còn ta” và không thể “ lạc dâu đời” . Mâu thuẫn này phản ánh một thực tế những băn khoăn muôn thuở của kiếp người không bao giờ có lời giải đáp. Cho dù vậy con người buộc phải có ý thức về bản ngã, về cõi sống. Cõi sống thật đáng quí, đáng nâng niu, ngay cả khi đời người đã ngả bóng chiều, xuân vơi. Cảm nhận cuộc đời như vậy, để làm người không thể cứ vô tư mà sống. Nhà thơ luôn ngắm nhìn, lắng nghe trăn trở cùng cõi sống.

 

Một màu dã quỳ bất chợt gặp nơi núi rừng heo hút cũng khiến lòng rưng rưng hạnh phúc, và tận hưởng vẻ đẹp của hoa, như thể đây là cơ hội duy nhất trong đời: “Sáng lên màu thương nhớ/ Giữa hoàng hoa/ thơm phớt cánh dã quỳ/ Đi suốt kiếp mới gặp màu vàng ấy/…/ Dẫu rét mướt cũng một lần thấy được/ Dẫu dã quỳ vàng mãi đến thiên thu (Đến Biển Hồ)

 

Dừng chân nơi ngọn núi đá voi phủ phục giữa truông rộng hoang vu, chị xót thương con voi đá to xác thế mà cũng phải chịu cảnh chơ vơ, sợ hãi, cô đơn: “Thân to xác lớn/ vẫn sợ ngày dài đêm vắng/ Dẫu vô hồn vẫn sợ ánh trăng ma/ …/ Trần trụi chốn ta nằm/ Cổ mộ chẳng mái che”. (Núi đá voi phủ phục)

 

Trước một bức tranh, chị nhìn ngắm không chỉ để cảm thụ cái nghệ thuật của màu sắc, chị giải mã những ẩn ngữ phía sau nó để nhận mặt cuộc đời với những vui buồn, khổ đau hạnh phúc. Chị hiểu ra con người là một thực thể cô đơn luôn đi một mình trong những cuộc kiếm tìm: “Bức tranh nói lời ẩn ngữ/ Có lời than trong hồn cát/ Có lời vui trong ngọn sóng chan đầy/ Không hạnh phúc là dối/ Đau thương chưa phải thật/ Không ai đi cùng tôi/ Trên con đường tìm kiếm vô cùng” (Chén đắng).

 

Và đằng sau tất cả cảm nhận thiên nhiên, nghệ thuật, đời thường… là bản ngã nhà thơ. Cái bản ngã ấy có khi mặc cảm, có khi tự tin kiêu hãnh. Thơ Hồng Thị Vinh có rất nhiều câu hỏi, những câu hỏi xoáy vào ý nghĩa sống làm người. Bắt đầu là việc tìm kiếm chính bản thân: “Có phải núi gần/ Đường ta xa/ Có phải biển đầy hồn ta cát mọn/ Nằm thu mình giữa bãi sóng trùng dương” (Loài hoa chợt nở). Rồi chị làm một cuộc “phẫu thuật” chính mình, nhận ra cái tự thân đầy tính phức tạp, phải tự mình điều chỉnh để trở về trạng thái đơn giản bình yên như một phương pháp giải thoát: “Có lúc tự mình vỡ ra… / Có lúc thấy mình nhoè nhoẹt…/ Lại thấy mình biến mất…/ Thật bình yên/ Như chưa từng quá khứ/ chưa từng hiện tại / Tương lai “ (Tự thân)

Quá trình nhận thức bản thân cũng là quá trình nhận thức về con người với đầy mâu thuẫn, trăn trở. Trong trục quay của thời gian quá khứ hiện tại và tương lai, con người luôn vội vã và đa sự. Bận rộn với những cái đích vô hình người ta đã lãng quên hiện tại, để trôi tuột đi những phút giây quý giá. Pháp thiền “Tại và hiện” của luân lý nhà Phật như một phương châm tỉnh thức đưa ta trở về thực tại: “Nhắc câu kinh luân hồi quên nhớ/ Chợt quý từng hơi thở bước đi/ Yêu thương nơi đây hạnh phúc giờ này/ Kẻo rồi tiếc muộn” (Những sắc màu bình yên).

Cuối cùng nhà thơ chứng nghiệm chân lý cuộc sống thật giản đơn. Đó là sự thấu suốt cái lẽ sắc không, cái tiết tấu của hư vô để đạt tới an nhiên , cực lạc, một trạng thái hạnh phúc vô bờ.


“Tôi đã thấy điều không thể thấy

Và đã nghe tiết tấu của hư vô

Mênh mông ấy có khi là cực lạc

Bờ tịch nhiên sóng nước vỗ mơ hồ”

(Chim hót hồn nhiên)

Không gian trong thơ Hồng Thị Vinh tịnh lặng, không gian thiền, nghiêng về phía thiêng liêng. Điều đó góp phần tỏ rõ thái độ trân trọng của nhà thơ trước vũ trụ, thiên nhiên và cuộc sống. Và, dẫu “Đời muôn dặm” vô biên, ở đâu, lúc nào cũng hiện lên hình bóng con người nhỏ bé mang vác nỗi cô đơn cùng những câu hỏi không nguôi về kiếp người.

25/6/2009

Lê Khánh Mai

Theo https://www.vanchuongviet.org/

 

Hạnh phúc không ở thiên đường - Một truyện ngắn đặc sắc

Đọc “10 truyện ngắn hay năm 2019” Báo Văn nghệ  Hội Nhà Văn, phụ bản số tết canh tý năm 2020, thấy có truyện hay, có truyện thường, nhưng theo tôi, xuất sắc nhất là truyện ngắn “Hạnh phúc không ở thiên đường” của Trần Thái Hưng, một tác giả trẻ, sinh năm 1990, quê Hải Phòng, nghề nghiệp Kỹ sư.

Với phong cách nghệ thuật hậu hiện đại, Trần Thái Hưng kể chuyện một cách tự nhiên, không tự sự chủ quan, không bày tỏ cảm xúc, thái độ về sự vật, hiện tượng, không xây dựng cốt truyện, không phân tuyến nhân vật. Truyện bao gồm những lát cắt của đời sống và những mảnh đời riêng lẻ, rời rạc của 5 nhân vật: bố, mẹ, anh trai, em gái, đặt trong không gian hẹp của một căn hộ gia đình. 

 

“Thiên đường” là danh từ chỉ nhà vệ sinh ở tầng một trong góc cuối cùng của căn nhà, nó rất sạch sẽ vì được bố lau dọn suốt ngày. Nó trở thành nơi thân thiết nhất của các thành viên trong gia đình, đặc biệt từ khi nhà vệ sinh tầng 2 bị tắc, lềnh phềnh chất thải, nhưng gọi mãi mà đội hút bể phốt vẫn chưa đến giải quyết nên cả gia đình dùng chung cái thiên đường ấy, và nó trở thành hình ảnh trung tâm của truyện ngắn này. Các nhân vật sử dụng cái thiên đường ấy không chỉ để tống khứ các chất cặn bã trong cơ thể của quy trình dị hóa của bản năng sinh tồn thì họ còn tận dụng nó như một nơi an toàn nhất để sống những giây phút tự do cá nhân tuyệt đối.

 

Bố có bằng tiến sĩ, từng là nhà khoa học hàng đầu. từng nghiên cứu phân tử X có thể tạo ra những xung năng lượng tương ứng với bộ não của con người. Ông khẳng định đề tài khoa học của ông là có căn cứ, nhưng lại bị đồng nghiệp cho là viển vông, tâm thần và bị đình chỉ. Bố trở về nhà đọc sách, viết hồi ký và tưởng tượng ở trong nhà vệ sinh, thiên đường của riêng ông, chẳng cần quái gì cái Viện nghiên cứu chậm tiến bộ và bảo thủ ấy nữa. Đáng buồn là Mẹ và cả nhà đều tin là bố bị tâm thần, chỉ duy nhất một người hiểu bố, tôn trọng bố đó là bà giúp việc. Bố đọc hết bảy cuốn sách về thiền định, đạt đến cảnh giới ngủ ngồi chứ không ngủ nằm, có khi ngồi thiền trên bồn cầu và bố vẫn còn nhiều tạp niệm… Bố buồn vì những giấc mơ không thành. Bố hận  thằng Viện phó không chấp nhận công trình phân tử X. Bố khóc vì cô đơn, khóc ở thiên đường và nhiều khi nghĩ đến cái chết. Bố từng viết thư tuyệt mệnh, viết hồi ký, từng suy nghĩ về những phương cách tự tử như nhảy cầu, lao vào ô tô, uống thuốc ngủ…

 

Mẹ rất giỏi, biết 3 thứ tiếng, làm trợ lý giám đốc, lương tháng vài nghìn đô, nuôi cả nhà. Mẹ nói gì cũng coi như là chân lý. Mẹ không quan tâm đến bố làm gì, nghĩ gì. Mẹ bảo, bố: “Làm gì không quan trọng, quan trọng là bị tâm thần”. Mẹ tóc quấn lọn, son môi đỏ thắm, áo trễ ngực, sực nức nước hoa và hay đi công tác với sếp. Mẹ thường về nhà rất khuya, say mèm, rũ rượi nôn mửa ra thiên đường, cào cấu da thịt bố, mê dại gọi tên người tình. Mẹ là người quyền lực nhất trong nhà. Đến cái bồn cầu tầng 2 bị tắc cả tuần lễ, mọi người gọi đội hút bể phốt mãi không được lại phải cậy đến mẹ. Mẹ nói “cái gì tắc thì thông”…

 

Anh trai tốt nghiệp đại học loại trung bình, tương lai vẫn rộng mở vì có mẹ soi đường chỉ lối. Mẹ bảo chờ tay trưởng phòng tài chính nghỉ hưu, tay phó phòng sẽ lên thay, tay này hứa sẽ giúp con trai mẹ vào chức phó phòng… Anh trai không phải lo nghĩ gì, giành nhiều thời gian rảnh rỗi chơi game và xem phim đen, say sưa ngắm hình ảnh đôi thanh niên nam nữ ngoại quốc quằn quại quấn riết nhau để lấy cảm hứng và thủ dâm nhiều lần tại thiên đường.

Em gái học lớp 12, thường ngồi trên bồn cầu nhắn tin cho bạn trai cùng trường, tên facbook là Long Trai Đẹp, với những nội dung yêu đương tuổi học trò, vừa xé giấy vệ sinh vừa tủm tỉm cười. Tại thiên đường, em gái hàng ngày nhắn tin, gọi video cho Long Trai đẹp, tự do sống với cảm xúc vui buồn riêng tư, khi thì cười khúc khích, khi thì khóc lóc…

Có thể nói mỗi nhân vật trong gia đình là một tiểu hành tinh riêng lẻ, vận hành theo một quỹ đạo riêng, không có sự liên kết với nhau. Nếu lúc nào đó họ ngồi bên nhau, trong bữa cơm thường nhật, thì mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng và những câu chuyện rời rạc không thể kết nối họ với nhau.

Cuối cùng thì mỗi nhân vật phải chấp nhận sự thật của mình:

- Sự thật về bố: Bố chết tại thiên đường (bồn cầu). Thiên đường của bố không còn là thiên đường nữa, nhưng có một sự thật mở ra, là, có những thiên đường khác đã và đang bắt đầu.

- Sự thật về mẹ: Người mẹ giỏi giang đã bị đuổi việc. Công an kinh tế đến tận nhà để điều tra vì mẹ liên quan đến vụ biển thủ công ty của tay Phó phòng tài chính.

- Sự thật về anh trai: Anh trai phải đi cấp cứu trong một lần thủ dâm ở thiên đường… Bác sĩ bảo chưa chết được, nhưng phải nằm viện một thời gian để điều trị bệnh suy thận cấp. Để lâu là hỏng, là toi.

- Sự thật về em gái: Em gái đã chặn facebook của Long Trai đẹp và suốt ngày than thở trên facebook của mình về những yêu thương vụn vỡ, dối trá của đàn

ông và nỗi cô đơn tuyệt vọng.

- Cuối cùng là sự thật về cái bồn cầu bị tắc: Đội hút bể phốt chuyên nghiệp đã chứng minh nguyên nhân là do cái que thử thai của em gái.

Trần Thái Hưng viết truyện ngắn “Hạnh phúc không ở thiên đường” bằng một giọng văn hết sức tỉnh táo, một cái nhìn chân thực, không biểu tượng và sắc lạnh đến đau đớn. Khi tư tưởng tự do cá nhân lên ngôi thống trị đời sống, con người  trượt dài trong những đam mê mù quáng sẽ không tránh khỏi những bi kịch số phận. Đó cũng là lời cảnh báo đối với sự suy yếu, tan rã những giường mối cấu trúc của hình mẫu gia đình truyền thống làm lung lay nền tảng xã hội.

Đúng như tự bạch của Trần Thái Hưng: “Tôi viết không phải để bi lụy hay khiến độc giả cực đoan thêm, tôi viết với hy vọng sự thay đổi, hy vọng một thế giới sống chậm lại, công bằng và tốt đẹp hơn”.

2/10/2024

Lê Khánh Mai

Theo https://www.vanchuongviet.org/

 

Trái tim tự do luôn rực cháy

Đọc tác phẩm PHIẾN HẠ (NXB Hội Nhà Văn, 2024) của Trần Hạ Vi

Ban đầu, tôi có ý tưởng tìm kiếm triết lý, khám phá cội nguồn cảm xúc để thăm dò định nghĩa thơ trong PHIẾN HẠ (PH) của Trần Hạ Vi (THV). Đọc dần, tôi biết mình đã hoài công. Bởi thơ trong PH chính là cuộc sống, là tình yêu của tác giả. Tình yêu ấy hồn nhiên thật thà, mỏng manh như “nhánh tường vi”, và mơ hồ như “thì thầm lời yêu quyển sách”. Cảm thức thơ tưởng chừng vu vơ mà thực ra THV đang băng tới, vượt rào để cán đích đương đại với thoại ngôn mạnh mẽ, chân thực. Giọng thơ THV “tỉnh như sáo sậu” lại hàm chứa đậm đặc chất liệu hiện đại của cuộc sống thực ở hải ngoại, hiếm gặp ở những tác giả trên bầu trời văn chương trong nước.

Thơ đến từ đâu
nếu không phải từ chúng ta

Nhánh tường vi nhạt màu
thì thầm lời yêu quyển sách
“Em có cần thiết cho anh không?”
“Và anh sẽ yêu em bao lâu?”

(Hạ thương)

Trong PH, ta sẽ bắt gặp tâm cảm thơ xáo động như dựng ngược lên, như nước sôi trong bình siêu tốc, như pháo hoa bắn lên trời cao, như đom đóm lập lòe và thậm chí như một tia chớp trong đêm tối. Nếu bạn cố tìm một mối dây liên kết nào đó về bố cục, về thi tứ và những gì thuộc về trạng thái “bình thường”, trạng thái “đang là” truyền thống thì bạn sẽ thất vọng và ngạc nhiên vì những câu thơ tự cháy rực lên. THV thiêu rụi cái trước cái sau, cái trên cái dưới, cái lẽ ra phải song hành, hay nói ngắn gọn hơn là chuỗi logich đã bị cô đốt cháy.

Ngày mai trời sẽ sáng. Chúng ta sẽ đi ra rừng. Hái cỏ tranh. Tết vòng hoa. Hai mươi ba bông hoa.

Chiếc máy cắt cỏ già nua hát một bài rầu rĩ.
Em đừng đi. Anh tìm, túi trước, túi sau, trong ba lô. Không còn kẹo bạc hà. Chỉ còn một trái cam, tròn như mặt trời. Sáng như mặt trời.

(Những bài thơ trong đầu)

Tới PH thì cảm thức thơ THV vươn tới độ sâu, độ nén và suy tưởng đày dặn, mãnh liệt và già dặn hơn rất nhiều so với VI ba năm trước. Cô soi rọi lục tìm bóng tối của bóng tối để phát hiện tia sáng thực tại đa tầng của cảm xúc, đặc biệt là tình yêu hiện sinh. Củ hành là một liên tưởng độc đáo, bóc lớp này sẽ lòi ra lớp bên trong, càng vào sâu càng nõn nà mà gần gủi với bản ngã. Theo tác già, đàn ông cũng như đàn bà, nhân cách và đạo đức luôn ẩn trú trong “căn phòng bí mật có nhiều cánh cửa”:

Anh cởi mở với em một lần

cũng là tự rọi vào lòng mình thêm lần nữa

Căn phòng bí mật có nhiều cánh cửa

Mở khóa một lần

lại thêm cửa bên trong

(Củ hành)

Khả năng liên tưởng kỳ diệu khi THV đặt bút viết khiến tôi kinh ngạc, cho dù thơ chính là hình thái ngôn ngữ tự do nhất của bản ngã. Tôi không hiểu cái gì, vì sao, động cơ nào đã khiến một phụ nữ xinh đẹp “Không có quan điểm về xã hội hay bình đẳng giới/Chỉ có tình yêu tình yêu” đã với đến tận những vật vã của Van Gogh. Một liên tưởng vượt biên giới địa lí, thời gian và cả lĩnh vực tri thức nghệ thuật, kích thích sự tiếp nhận, cảm thụ của bạn đọc:

Câu chuyện của nàng bình thường
Không có quan điểm về xã hội hay bình đẳng giới
Chỉ có tình yêu tình yêu
Và những vật vã
Mà có lẽ ngày xưa Van Gogh cũng đã đi qua

(Câu chuyện của nàng)

Dòng ý thức chuyển động không ngừng nghỉ, suy tưởng không phụ thuộc vào tiền đề của ý tứ bài thơ. Tôi có cảm giác khi viết xong bài thơ, THV cũng ngỡ ngàng với chính mình, với những phơi trải tâm thức bật ra trên bàn phím:

Biển đảo ta chưa bao giờ ngừng biến động

Quốc hội Mỹ điều tra luận tội tổng thống Trump

Trái bóng tròn sân cỏ cứ lăn
Anh nhặt em từ những bài thơ viết vội

(Thơ tình chiều thứ bảy)

Ẩn dụ trong PH thực sự đẹp, cái đẹp không nề hà ngữ nghĩa, không đi tìm từ thế giới siêu thực. Dung lượng thơ ẩn trú lặng lẽ đâu đó trong tầng tri thức đằm sâu, nay thoát xác, bứt phá ra khỏi xác thân, đến một xứ sở đầy ánh sáng của thứ ngôn ngữ không bận lòng đến quy ước xã hội:

Anh viết con mèo gào hoang dại

những ẩn số từ vũ trụ

Descartes đi lạc từ một điểm trong euclip

em là Venus ngàn năm tỏa sáng

mùa chảy vào tối ngập tràn

(Tháng bảy yêu ai)

Tâm thức tình yêu trong PH không còn là những giá trị chung thủy, hạnh phúc hay khổ đau muôn thuở. Ở đây, nhãn quan về quan hệ nam nữ chừng như đã được tự do hóa, hoặc thực dụng hóa, chân thành đến độ như ai cũng sẳn sàng chấp nhận sự lừa dối, hay có vẻ như tự lừa đối. Tôi không nghĩ những câu thơ trích dẫn dưới đây có hàm ý mỉa mai, chát đắng. Phải chăng đó là một “trạng thái bình thường” của tư duy phương Tây, nơi THV đang sống, đang lột xác để thoát ra khỏi cái vỏ bọc của con ve sầu:

Hôm nay nghe giọng anh
Vẫn trẻ trung như xưa
Cũng một bài thơ
Mềm đi khi nhắc đến
‘em’
Lạc đi khi nhắc đến
‘tình yêu chúng ta’
Dẫu đó không phải tình yêu chúng ta

(Bài thơ và tình yêu)

Thơ THV trong PH còn bao hàm nội cảm cháy phừng phừng trong một người đàn bà, ý thức được cơ thể mình là một phiên bản con người, “khi đầu vú em đứng dậy” trong hoan lạc với người đàn ông khác, nàng vẫn cảm nhận được tình yêu dành cho anh.

Khi đầu vú em đứng dậy
vẫn yêu anh
trong tâm tưởng của tâm tưởng
một miền thế giới rất riêng
chưa chấp nhận rã duyên
không nhớ
không buồn
vì chưa bao giờ xa cách
chưa bao giờ ngừng yêu

(Beauty and the beast)

Và cảm giác Sex tâm lý thần thánh – con người được tôn trọng, người phụ nữ không cần che dấu những vết tích của hoan lạc, của hạnh phúc phút giây:

Hai người đàn ông cuối cùng

Khi rời đi

đã quên khóa cửa

Chị nhặt màu chiều gói lại một thanh âm

Đường vân chiếu ngang tuần hoàn tơ máu

Đám cỏ dại đường parabol liềm hái

Nhựa ứa ra hăng hắc nồng nồng

(Hai người đàn ông cuối cùng)

 

Nói thì nói cho cùng cho tận như thế, nhưng THV cũng có lúc trở về với một cô gái hiền ngoan, vẫn đau đáu một giấc mơ êm đềm, thánh thiện, lãng mạn như “nụ hôn mùa thu”:

Hôn em đi đừng nhớ đến ngày mai
Đừng bận lòng công việc còn dang dở
Một phút yêu díu dan một phút thở
Nhịp tim chờ nhịp tim níu vần thơ

(Nụ hôn mùa thu)

Dư luận có đôi khi cũng thúc giục Trần Hạ Vi nhìn lại mình từ cái nhìn của bạn văn về tính cách và phong cách thơ của mình. Đó là một hình ảnh con người làm thơ hiện đại, phóng túng, sẳn sàng viết thơ sex, “thơ không mặc gì”. Cô thản nhiên đón nhận với một nụ cười thẳm sâu, không phải vì phản đối, cũng không phải là chấp nhận mà là một sự mặc nhiên bỏ mặc và xem thị phi là chuyện đương nhiên ở đời:

Tôi giở trang thơ tôi
Áo quần ngắn dài xộc xệch
Jeans xanh sọt tím áo yếm cánh cam
Tóc tai rũ rượi
Có người bảo tôi làm thơ từ rún trở xuống
Có người bảo thơ tôi không mặc gì

(Đồng phục thơ)

Đẹp đẽ và nhân văn biết bao khi THV nhìn ra thế giới, dõi mắt đến tận Afganistan, Ukraina. Theo tôi, đó không phải là những giọt nước mắt sụt sùi, mà là một thế giới quan về sự phi lí, những đau đớn tột cùng cho thân phận con người, kiếp người:

Anh khóc bằng cặp mắt em hôm qua
Trên mái đầu những đứa con đã chết
Những đứa con Afghanistan
Nửa triệu nắm xương tàn
Thống khổ
Ly tan

(Chiếc áo đỏ sân bay Kabul 2021)

Và cô đã chọn cách quên dĩ vãng thảm sầu của nhân loại và cả bản thân cô bằng cách bay đi, “Bay đi/ giữa bao lần bụng đói”, bay đến một nơi nào đó chưa xác định. Để rồi, có một ngày, đó là ngày hôm nay, một Trần Hạ Vi tỏa sáng trên giảng đường đại học với PH nồng nàn mà các bạn đang cầm trên tay.

Em đã bay đi
giữa vùng ánh sáng phân kỳ
Bay đi
giữa bao lần bụng đói
Em đã chọn quên
quên
quên
quên
lãng quên mãi miền ký ức
để sống cho hôm nay
cho một ngày
như mọi ngày
đón ánh hồng lên

(Sinh sau 1975)

Tôi xin phép được chọn một số câu thơ mà tôi cho là tuyên ngôn của THV trong PHIẾN HẠ:

Tôi là một trái tim tự do
sống đời vui vẻ
Một sớm mai rất lạ
Tôi yêu người
Một sớm mai rất lạ
Tôi lắc mình rời xa

(Tôi là một trái tim tự do)

Trái tim tự do đã hiến tặng những vần thơ tự do để chúng ta có ấn phẩm PHIẾN HẠ xinh xắn trên kệ sách.

Chúc Trần Hạ Vi muôn thuở yêu đẹp và làm thơ với ngôn ngữ bản thể cũng tự do như trái tim cô luôn rực cháy.

Bà Rịa, 30/7/2024

Nguyên Bình

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2026

 

Đọc tác phẩm Ngón tay mặt trời - Phạm Đức Mạnh

Phạm Đức Mạnh là hội viên HNV TPHCM. Cho đến nay, gia tài văn chương của anh là 6 tập thơ đầy đặn, in ấn trang nhã. Đọc hai tập thơ anh gởi tặng: ĐẾM LÃI NỤ CƯỜI và NGÒN TAY MẶT TRỜI (NTMT) ấn tượng đẹp đầu tiên là ngôn từ trong thơ PĐM chắc lọc, nền nã, viết từ tâm thế một con người nhân hậu, có trước có sau, không ôm đồm triết luận cao vời mà đậm nét nhân văn trong cảm xúc, trong ứng xử với nhân vật trữ tình, không cay cú, cũng không bỡn cợt kiếp phù sinh giả dối điêu ngoa, ít thấy biểu hiện nhân sinh quan về cõi đời phù du đang rất thời thượng trong thơ ca hiện nay. Phạm Đức Mạnh làm thơ với cái tâm lành, hiền hậu, anh khai ngôn với ngọn nguồn cảm xúc trong trái tim, không hề mượn ngòi bút để ngợi ca huyễn mộng, tung hê lí tưởng, cũng không đã phá tồn tại, hiện hữu quanh mình. Thơ anh lành như dòng suối mát, mà có đôi khi, suối cũng chảy qua bờ dốc gập ghềnh. Tôi nghĩ thế.


Đại thi hào Gớt nói: “Thế giới rộng lớn, phong phú và cuộc sống đa dạng tới mức sẽ chẳng thiếu gì nguyên cớ để làm thơ”. 
Nhà thơ PĐM cũng thế, anh đã từng lăn lộn với màu áo lính, khi trở về với đời thường, anh bước vào hoạt động trong lĩnh vực báo chí, kinh doanh. Vậy nên, vốn liếng thi chất, thi liệu trong anh vô cùng dạn dày, đầy đặn, phong phú, để NTMT là một tác phẩm khái quát tầm nhìn, với nhiều góc độ suy tưởng, mà chủ đề chủ đạo là những cung bậc cảm xúc hiến dâng cha mẹ, yêu thương gởi tặng cho tình yêu, những suy tưởng về thân phận con người thời đại và những hoài niệm tuyệt đẹp mà nhà thơ ấp ủ trong tâm thức. 
Nếu ở tác phẩm ĐẾM LÃI NỤ CƯỜI, PĐM còn sử dụng một số từ ngữ quen thuộc mang tính nghề nghiệp (tài chánh) của mình : “Một lần khờ khạo đi vay / Trắng hồn cặm cụi tháng ngày trả em / Nỗi buồn không đặt được tên / Trở thành nợ xấu triền miên rối bời” ( Đếm lãi nụ cười ) thì đến NTMT, ta thấy một PĐM đã cởi trói cho ngôn ngữ thơ thăng hoa muôn màu muôn vẻ. 
Công ơn sinh thành dưỡng dục kết tụ và tỏa hương trong suốt tập thơ. Đó là những câu thơ rút ruột, gây hiệu ứng rộng sâu đến người đọc, được nhà thơ viết từ một tấm lòng hiểu kính vô bờ. Ta hãy lắng nghe tâm tư của thi sĩ, ngay ở bài đầu của NTMT:
“Trong mơ lưu lạc trở về
Quỳ hôn lòng mẹ tái trê mong chờ”. (Phiêu dạt, tr 5)
Nhà thơ luôn đau đáu trong lòng, nơi quê nhà, mẹ già đắng lòng khô héo mong chờ đàn con đang lưu lạc chốn xa. Thế mà, trong cuộc sống bộn bề, dễ gì đứa con thương cha nhớ mẹ ấy có thể gạt bỏ ngổn ngang cơm áo mà về ôm chầm lấy mẹ. Vâng, tôi hiểu, anh cũng như tôi, chúng ta chỉ về quỳ bên mẹ trong giấc mơ hằng đêm, giữa cái rần rật đua chen phố thị hoa đèn. Và đây, tuyệt đỉnh của thi ngôn anh dành cho mẹ, hạt ngọc của bài thơ chủ đề NTMT. Chúng ta hãy lắng nghe, chia sẻ và chiêm nghiệm cùng nhà thơ:
“Khói bếp rề rà tắm sương
phảng phất hương nắng non thoa son buổi sớm
đánh thức tôi ngón tay mặt trời
Bừng tỉnh
bóng mẹ gầy
nhòa mất
mãi xa
xa mãi
xa.”
Có còn dòng thơ nào viết về mẹ đẹp hơn không? Thi sĩ đắm chìm trong giấc mơ trở về quê nhà, nơi anh lớn lên từng ngày bên mẹ. Bạn đã từng nhìn khói bếp “rề rà” trên mái tranh còn đẫm sương mai chưa? Khói bếp của nhà thơ không chịu bay lên mà bò trườn lan quyện trên mái tranh vừa ”tắm sương” đêm lạnh. Rồi những tia nắng đầu tiên của ngày mới, mà theo thi ngôn của nhà thơ, đó là “hương nắng non thoa son buổi sớm” ( thi ngôn đẹp quá) để, những tia nắng ấy, được nhà thơ ẩn dụ là “ngón tay mặt trời” đánh thức chàng trai đang đắm chìm trong giấc mơ. Một ẩn dụ vô tiền khoáng hậu, làm cho tác phẩm bừng lên ánh sáng, đầu sách trang trọng lạ lùng. Và rồi, thủ pháp ngắt dòng của những câu tiếp theo biểu đạt trọn vẹn nỗi nghẹn ngào khi nhà thơ bừng tỉnh để chơi vơi. Thủ pháp ngắt dòng giữa câu tuy không mới nhưng được nhà thơ sử dụng đúng chỗ, khiến câu thơ như nhỏ từng giọt từng giọt, rót nhớ nhung vào lòng tác giả, vào lòng tôi và tất cả bạn đọc, có phải vậy không? PĐM không ôm đồm dụng ngôn kể lể công lao khó nhọc của đấng sinh thành, sứ mệnh chuyển tải gần như vô ngôn mà hiệu ứng gợi cảm mạnh mẽ vô cùng. Tôi xin phép được gọi đó là tài năng. 
Tôi lại đang sốt ruột muốn khám phá hương vị tình yêu trong NTMT. Tác phẩm văn học nào mà không có bóng dáng và hơi thở của tình yêu bạn nhỉ? Hugo nói : con người không có tình yêu cũng như trái đất không có ánh sáng mặt trời. 
Nhà thơ PĐM nói gì về tình yêu? Trong chuyện lứa đôi, ai mà không ít nhất là một lần hối tiếc:
“Giá xưa
Em – đừng rụt rè như hoa trinh nữ
Anh – như nai ngơ ngác lạc đời
Trái tim – đừng chia ba phần tươi đỏ
Thu lòng đâu nuối tiếc lả tả rơi”. ( Nuối tiếc. tr 19)
Hồi tiếc để rồi ước ao, mà vô vọng, mà bất lực, chàng thi sĩ phải chắp tay cầu xin đúc Phật. Ôi, phải chăng, khi yêu, lòng ta trở nên thánh thiện:
Cầu xin Đức Phật từ bi
“Người em mong đợi ước gì là …tôi”. (Ước gì. Tr 70)
Ha ha! Thất tình mà duyên dáng quá ! Tôi chào thua. Nhưng các bạn hãy xem tiếp này:
Cho dù có nuối tiếc bao nhiêu thì dòng đời vẫn cứ trôi, trôi đi như dòng sông vô tình chảy mãi, để bây giờ, ở ngưỡng hoàng hôn cuộc đời, nhà thơ của chúng ta chỉ còn biết:
“Giờ ngồi đong đếm tuổi xuân
Vẫn không gỡ nổi trầm luân cõi người
Chiều thơm còn lại tiếng cười
Tôi xin dâng tặng cho người yêu tôi”.. (Hoài niệm. tr33)
Mà, oái oăm thay, dù có dâng tặng cả vũ trụ này, bê cả trái đất này đem quỳ dưới chân nàng thơ để làm sính lễ cầu hôn, thì nỗi buồn vạn kiếp vẫn bủa vây chàng thi sĩ dại khờ như hàng tá chàng thi sĩ tương tư mộng mị,(trong đó có tôi) khi nàng hững hờ, khi giai nhân quay gót, để rồi thơ hờn thơ trách, thơ điêu linh tủi phận cho mình, thương quá:
“Đêm nay
nửa vui – em hóa thần tình yêu
thả tim dệt mộng
nửa buồn – anh hóa đá thời gian
Đời ngậm ngùi
đắng cay anh gánh”.
Và, cuối cùng. EM chỉ còn là nổi nhớ. Nhớ người yêu như thi sĩ PĐM thì có ai nhớ hơn nửa không? Còn tôi, tôi bó tay chịu thua đây: 
“Cứ 1/1000 giây lại nhớ em
Cồn cào cơn khát cứ đầy thêm
Bốn mùa nhớ nhớ chồng lên nhớ
Mất ngủ vẫn cười mơ thấy em”.
Có thể nói, tình yêu trong NTMT không là chuyện tình đem kể, không là run rẩy nụ hôn đầu, không hẹn hò nơi quán vắng, không hoa tím đợi chờ. Hình tượng EM trữ tình trong thơ PĐM chỉ là cảm xúc hư ảnh, phổ quát, hình như là một quá trình đúc kết những cảm giác yêu thương xuyên suốt cuôc đời nhà thơ. 
Thế đấy, thần tình yêu quái ác luôn hành xác các thi sĩ đáng thương, thế mà, họ vẫn là những con người luôn đau đau cho thân phận tha nhân đâu đó trong vòng quay nhân thế: 
“Thẩn thơ đi bán số đời
Xuân già tủi tủi phận người chát chua”. ( Có em, tr 36)
Mà “sân khấu đời” chân giả giả chân:
“Bỗng 
Đất trời biến thể
Sân khấu đời ngột ngạt
Nhung nhúc
Kép người nhảy múa
Thật giả khôn lường”.
Thế nên, nhà thơ có đôi khi lắc đầu tuyệt vọng, ngao ngán, cũng như bao người mắc cạn, bế tắc giữa vũng lầy thời đại chúng ta, hình như mất phương hướng khi bị cuốn vào vòng xoáy của cơn bão hiện sinh: 
“Tôi còn 
Chẳng nhận ra tôi
Da sầu nhem nhém mồ hôi trét sình
Nhiều khi tôi muốn tàng hình
Trốn vào khuôn nhớ một mình ngủ say”…
Tôi tin rằng nhà thơ sẽ không trốn vào đâu cả. Anh vẫn từng ngày sống vui, sống khỏe, nhìn ảnh chân dung anh, tôi cứ mơ ước được sung sức khỏe mạnh như anh lắm. Tôi biết chắc PĐM vẫn còn đầy đủ năng lượng để cho ra đời những tác phẩm tuyệt vời hơn nữa, cống hiến cho thơ ca, cho bạn bè và cho chính niềm vui niềm yêu thơ của chính tác giả. 
Chúc mừng NTMT. Đứa con tinh thần tuyệt vời của nhà thơ hiền hòa tôi yêu mến, dù chuyện gặp nhau hàn huyên mới chỉ là lởi hẹn hò một sớm cà phê. Chúc anh vui. 
Trân trọng giới thiệu tác phẩm NGÒN TAY MẶT TRỜI với bạn bè gần xa. 

Bà Rịa, 20/7/2019

Nguyên Bình

Theo https://www.vanchuongviet.org/

 

Đôi dòng cảm nhận cánh cửa hiện sinh - Nguyễn Thụy Sơn

Tôi quả bạo gan khi nhắm mắt nhảy xuống cái vực sâu thăm thẳm mà Nguyễn Thụy Sơn (NTS) vừa dắt độc giả đền bên bờ hoang liêu của CÁNH CỬA HIỆN SINH. Đánh liều vì thơ NTS đã được một số cây bút chuyên nghiệp đánh giá, phê bình với khá nhiều giấy mực. Tôi cũng chưa có dịp đọc TRẦM TÍCH, tác phẩm của NTS vừa trình làng trong thời gian gần đây. Nhưng có gì ngăn cấm tôi viết ra cảm xúc của mình trước một bài thơ mà tôi yêu thích, khiến hồn tôi rung động? Puskin gọi nhà thơ là “ca sỹ kiêu hãnh của tự do”, Còn tôi, tôi không được tự do thả đôi cánh diều thăng hoa khi lắng nghe ca sĩ kiêu hãnh của tự do cất tiếng hát từ bên trong cánh cửa thiền chăng? 
Thế đấy, khẳng định để tự tin. Ngòi bút không chuyên của tôi bắt đầu hí hoáy. Có điều, xin thưa lại một lần nữa, đây chỉ là cảm nhận của riêng mình, tôi không bao giờ nghĩ mình đủ tư cách khen chê thơ của nhà thơ mà bạn bè đang rất yêu mến và ngưỡng mộ, đương nhiên, trong đó có Nguyên Bình. ( là tôi )
Không gian thơ của CÁNH CỬA HIỆN SINH (CCHS) là một nguyên khối quyện hòa đậm chất suy tưởng. NTS không đặc tả đậm nhạt cái thế giới đang tồn tại để làm khúc dạo đầu, ở đây nhà thơ quán niệm thẳm sâu về quá khứ và hiện tại: 
Mượn bóng chiều vàng thỏa hiệp đêm
Mây Tần qua Sở phủ non thiêng
Rêu phong khóa kín hồn bia đá 
Bia miệng ngàn năm ngậm tuổi tên
Vâng, tôi cảm nhận được thời khắc pha trộn huyễn hoặc của ngày và đêm, của thực tại và tâm linh, của quá khứ bị bào mòn và vị lai chưa định hình, của xét nét nhân gian bia miệng mà tác giả chứng ngộ qua những thăng trầm biến thiên chuyển dịch. “Mây Tần qua Sở phủ non thiêng”, phải chăng thi nhân bày tỏ nỗi đau trước những khát khao danh vọng thấp hèn đã ngập tràn bao phủ lấy non cao của lòng tự trọng, hồn bia đá ngàn năm đã bị khóa kín bởi rêu phong thời gian vô vị, âm thầm bào mòn, gậm nhấm cho năm tháng tàn phai, và bia miệng ngàn năm không còn lên tiếng? 
Vác nỗi buồn lên gõ cửa trời 
Dọc hàng mây trắng nắng ai phơi 
Thiền am bóng bụt vừa đi vắng 
Sương tuyết hồn ta hóa thạch ngồi
NTS, sau khi ngẫm ngợi chuyện đời xưa nay đắn đót, dè dặt ôm giấc mơ nhân gian bay vào cõi tịnh. Thi nhân vác cả nỗi buồn ngàn năm ấy đi gõ cửa thiên đình. Tôi đoan chắc rằng, nỗi buồn này không là đớn đau cá thể, không là hụt hẫng chơi vơi tình sầu tầm thường, mà chính là bi kịch nhân gian, mãi mê ngụp lặn hoang đàng với nhân sinh quan hẹp hòi đua chen hơn thiệt. Tác giả muốn cầm cố căn bệnh di căn của con người hôm nay cho trời đất, cho vũ trụ vĩnh hằng, như một sứ mệnh cứu rỗi tự thân gánh lấy. Thế mà, hãy xem kìa các bạn, trên đường viễn phương nhọc nhằn đó, thi nhân vẫn kịp ngắm nhìn “dọc hàng mây trắng nắng ai phơi” , lững lờ, bềnh bồng phù du, như cánh hạc từ cao tít từng không chiêm ngưỡng nét đẹp muôn đời của thiên nhiên lộng lẫy dưới đôi cánh lả bay, rồi lần ghé vào “thiền am bóng bụt vừa đi vắng”. Ngay cả ông Bụt, chủ nhân thiền am mà nhà thơ cũng cho "đi vắng", để làm gì ư? Tôi chợt khám phá ra rằng, NTS thiết tha sở hữu một giấc mơ tự do tuyệt đối, bởi, chắc hẳn vào giây phút thăng hoa, tâm hồn thi nhân tinh khiết, không còn gờn gợn chút gì, trong như suối, lành như sương, vẹn nguyên như chân như diệu pháp thường hằng. Phải chăng chỉ còn TÔIi, còn TA, mà hồn ta là tuyết sương ngàn năm hóa thạch, một mình một bóng chễm chệ ngự cõi hoang nhiên. Phút giây ấy xuất thần vi diệu biết bao. Hình như Hê gen từng nói: “Thi ca là thứ nghệ thuật chung của tâm hồn đã trở nên tự do và không bị bó buộc vào nhận thức giác quan về vật chất bên ngoài; thay vì thế, nó diễn ra riêng tư trong không gian bên trong và thời gian bên trong của tư tưởng và cảm xúc.” Tôi nghĩ, lúc vén tay phóng bút, NTS đã bay lên vi vút cùng cảm xúc, quên mình là ai.
Vậy mà, bay chưa qua hết chín từng mây, không biết đã kịp gõ cửa nhà trời hay chưa, nhà thơ chừng như lại va vấp nỗi đời, âu cũng là thân phận con người, nào có ai đã vượt qua bên kia sông để đến với bờ giác như câu chú bát nhã ba la mật. Thật đau lòng, tôi thắt cả ruột gan: 
Dúi ngày sau cánh cửa hiện sinh 
Ếch trước gương soi thẹn bóng mình 
Đục nước ao nhà trăng lõa thể 
Bên hồ chết cạn giọt nguyên sương
Đêm hoang vu và ngày mỏi mệt. “Dúi ngày”, ôi thi ngôn hàm chứa trọn vẹn thực tại đầy mai mỉa làm nhức nhối tim gan. Cánh cửa hiện sinh toang hoác, nuốt chửng cái còm cỏi thân phận con người đang bị đọa đày, dày vò đến mỏi mòn khát vọng. Nhìn thấy cái hạn hữu của nhận thức, thẹn với mình như con ếch tự soi gương trong đáy giếng lạnh, thấy cuộc đời đen trắng lõa lồ, “đục nước ao nhà trăng lõa thể”. Ngoảnh lại chạm mặt nhân gian, vầng trăng thanh cao rơi xuống ao bùn, tung hê nhan sắc xiêm áo diêm dúa, và than ôi, “giọt nguyên sương” chết cạn mất rồi. Cánh cửa hiện sinh đêm ngày mở khép trong tối tăm và ảm đạm cùng thân phận người, thân phận thi nhân.
Thế thì, biết làm sao đây, thi nhân đành lòng gõ nốt trầm lên khung nhạc của lòng kiêu hãnh thi ca, mà đớn đau, mà mù lòa, có chăng là khát vọng hé mở cánh cửa thiền thay cho cánh cửa hiện sinh u trầm:
Gõ xuống hợp âm một nốt trầm 
Dội vào vách đá lặng thinh âm 
Chúa trên thập giá chùi vệt máu 
Phật ngự đài sen bước xuống ... THIỀN.
Nhưng, nốt trầm của nỗi buồn hiện sinh chừng như cũng chỉ dội vào vách đá, hắt thanh âm trở lại cắt cứa lòng người, đau như nỗi đau tận cùng của Chúa trên thập giá, và, “Phật ngự đài sen bước xuống… THIỀN” , phải chăng là để cứu độ hành giả mắc nạn giữa cõi đời ô trọc... 
Tác giả không dụng ngôn nhiều trong suốt bài thơ, mà thi ý lồng lộng muôn phương, mà cảnh giới thiền tâm trong mơ ước tuy mong manh sương khói nhưng có lẽ đã chạm lòng người đọc. CÁNH CỬA HIỆN SINH đã cho tôi khóc cười cùng tác giả, khóc cười cùng bao khát khao mà thi nhân thời đại chúng ta ít người vươn tới được.
Chúc Nguyễn Thụy Sơn tiếp tục sáng tác sung mãn, cống hiến cho đời những bài thơ hay.

CÁNH CỬA HIỆN SINH 
Mượn bóng chiều vàng thỏa hiệp đêm
MâyTần qua Sở phủ non thiêng
Rêu phong khóa kín hồn bia đá 
Bia miệng ngàn năm ngậm tuổi tên
Vác nỗi buồn lên gõ cửa trời 
Dọc hàng mây trắng nắng ai phơi 
Thiền am bóng bụt vừa đi vắng 
Sương tuyết hồn ta hóa thạch ngồi
Dúi ngày sau cánh cửa hiện sinh 
Ếch trước gương soi thẹn bóng mình 
Đục nước ao nhà trăng lõa thể 
Bên hồ chết cạn giọt nguyên sương
Gõ xuống hợp âm một nốt trầm 
Dội vào vách đá lặng thinh âm 
Chúa trên thập giá chùi vệt máu 
Phật ngự đài sen bước xuống... THIỀN.

Bà Rịa, 21/6/2019

Nguyên Bình

Theo https://www.vanchuongviet.org/

 

Giọt dương cầm thánh thót trong đêm sâu

Nhà thơ Khúc Thụy Du

(Trần Mai Ngân)

Thật là lạ lùng, mỗi khi lần giở những trang thơ của nhà thơ KHÚC THỤY DU, tâm thức tôi lại có cái gì đó âm vang như từng giọt dương cầm thánh thót rơi rơi trong đêm nến hồng ấm áp. Dường như là thanh âm từ tiếng xưa trăm năm vọng về, hay từ giấc mơ nào xa thẳm mới vừa bị đánh thức? Lãng đãng giữa không gian êm đềm huyền thoại ấy, hồn thơ ai khuấy động làn ánh sáng lung linh, rồi hòa cùng giọt đàn mộng mị, tan loãng vào đêm sâu. Nếu tôi có mơ, thì chắc hẳn đây cũng là một giấc mơ đẹp giữa những bộn bề.

Không lặn lội vào cõi thơ ai đó thì làm sao thấu cảm tâm hồn một thi nhân? Du theo hồn thơ, ta lặng lẽ đạp bóng thi nhân đi sâu đi mãi vào miền hoang vu nội cảm điệp trùng. Lắng lòng với ý thơ bất tuyệt, ta bàng hoàng thấu tỏ bao điều dấu kín trong vô vàn ẩn dụ của mật ngôn thi tứ.

1.    GIẤC THỤY DU. Huyền ảo một tình yêu.

Hãy lắng nghe KTD tâm sự ở khúc dạo đầu, thay cho lời tựa:

“Trong đêm tĩnh mịch, trong đêm u hoài tôi luôn thầm gọi yêu dấu. Tôi cũng tự hứa với yêu dấu là tôi sẽ mãi yêu thương người đến muôn nghìn năm sau dù người không hề hay biết”

“Trong đêm như thế tôi làm thơ những bài thơ vắt bằng cạn kiệt của con tim hy vọng và cũng đầy thất vọng”

Chỉ bấy nhiêu dòng với cả tâm tình hiến dâng, Khúc Thụy Du đã tự mình khẳng định cái chân lí muôn đời YÊU LÀ CHO ĐI. Và thơ chị là một chuỗi yêu thương âu yếm dệt xâu từng đêm từng đêm lặng thầm gởi trao cho người yêu dấu. Chàng là ai? người diễm phúc nhất trên cõi đời này, chẳng biết đến giờ đây đã mở cửa trái tim đón nhận những vần thơ thi nhân trao gởi, hay dấu yêu cũng chỉ là hình bóng ảo huyền muôn đời không có thật:

Em biết

Trong khúc quanh đồng vọng

Dư âm của dấu yêu

Dù rất rõ một điều

Là không hề có thật… (Khúc Thụy Du)

Đêm của nhà thơ mãi là đêm mộng du, đêm của chơi vơi từng giọt nhớ thương, đêm của lệ nến vơi đầy, mỗi khúc thơ cũng là một khúc nhạc du dương, ta nghe như từng giọt đàn thánh thót rơi trong khuê phòng yên ắng:

Hằng đêm…

Nghiêng rơi chơi vơi

Cung trầm ảo vọng một lời

Gọi tên ai trên đôi môi

Thụy du khúc – buồn xa xôi ! (Đêm mộng du)

Không biết vô tình hay hữu ý, nhà thơ sử dụng thể thơ lục ngôn độc vận buồn não nuột, xao xuyến lòng tôi.

Thơ của KTD như làn sương khói lung linh trong đêm thắp nến, chị ươm trong cõi thơ mình từng vần điệu, từng thi ngôn thi ảnh mơ hồ, như người yêu dấu trăm năm của chị xa vời tựa “một làn khói trắng, ru đời vào quên lãng…”:

Ta như hoa – người như sương đêm

Phủ ngộp trong nhau – giấc nghê thường

Tan cùng cung bậc hương đêm nguyện

Hòa trộn nhịp nhàng với tiếng khuya. (Sương và hoa)

Hình như trong thơ và qua thơ KTD, tất cả hiện hữu đều huyền ảo, tình yêu chị nồng nàn là thế, dâng hiến là thế mà rồi cũng chỉ như một thoáng phù du, mê hoặc:

Bến mê ai lạc lối vào

Lịm trong một giấc ngọt ngào huyền không

Mênh mông chỉ thấy mênh mông

Tình tôi xa vắng vọng vào vách ngân ! (phù du)

Ngay cả cánh chuồn của tuổi thơ yêu dấu cũng là những vòng bay lượn nhạt nhòa trong tâm thức, đến nỗi đôi cánh mỏng đã trượt chân tội tình vào ngang trái:

Chuồn chuồn cánh mỏng ru tình

Ru mây ru gió ru mình à ơi

Ngày xưa không thốt nên lời

Ngày nay cánh mỏi một đời vẫn xa…(chuồn chuồn bay)

Để đêm của thi nhân là những đêm dài nuối tiếc, linh hồn nàng bay lượn trong bóng đêm, hụt hẫng, bơ vơ, mất mát, để nỗi buồn lặng lẽ vò xé không gian, nỗi buồn rơi vãi, nỗi buồn lững lơ, nỗi buồn không định hình vây chụp lấy nỗi cô đơn, nỗi riêng một mình lẽ bóng khi người yêu dấu của thi nhân đã vẫy tay:

Đêm nguệch ngoạc nỗi buồn

Vẽ vành khăn sô trắng

Để tang lời chia tay

Ngại ngùng trên môi ai. ( Đêm vẽ)

Thế cho nên, nhà thơ dạo bước bên hiên chùa thanh vắng, hay khi nghe tiếng chuông giáo đường leng keng trong chiều hoang phế, chị ngoan ngoãn chấp tay “xin chút nhiệm mầu”. Âu là vậy, trong mất mát, khổ đau con người thường vịn vào bàn tay thượng đế nâng đỡ niềm tin và linh hồn:

Nhiệm mầu xin đến một lần

Cho bàn tay chạm thật gần bàn tay

Cho đêm tiếp nối đêm dài

Để ta nương tựa những ngày có nhau…(Xin chut nhiệm mầu)

Có chăng một lần tan vỡ trong cuộc đời nhà thơ ? Có chăng một lần “tình yêu vỗ cánh bay xa”, hay có chăng một lần người ấy ra đi vĩnh viễn, bỏ lại bên trời kỉ niệm một nhan sắc mặn mà với một tình yêu bất tuyệt, cho đi mà không hề mong nhận lại? Thật lòng, tôi không đủ can đảm đặt câu hỏi vẩn vơ này với KTD, chỉ xin cảm nhận chứ không là thức nhận, khi viết về những vần thơ nhân chứng cho nét đẹp tình yêu cao thượng trong tâm hồn thi sĩ.

2.    DƯ ÂM NGHÌN TRÙNG

Trọn vẹn một tình yêu dâng hiến.

Đi sâu vào tập thơ DƯ ÂM NGHÌN TRÙNG (DANT), tôi lại càng cảm nhận sâu sắc thế nào là một tình yêu vĩnh cửu, tình yêu cho đi. Trong khung trời diễm mộng ấy, thi nhân ôm ấp hoài niệm dấu yêu cho cả cuộc đời mình, trong suốt hành trình thơ, mãi mãi tôn thờ sự rung động ban đầu mà chính nàng thơ bắt gặp, và thơ, như là một phương tiện giao cảm với chàng ở tận một nơi xa vời nào đó.

Với dấu yêu!

Đơn giản là em yêu anh

Đơn giản là em chỉ muốn khi mình từ biệt cuộc đời thì những bài thơ này, những tứ thơ này đã được ghi tên tặng anh, tặng cuộc tình của chúng mình, một cuộc tình hyền ảo có thật mà em đã đặt tên là GIẤC THỤY DU.

Này đây, nồng hương nụ tình trong phút giây hai người bên nhau, trái tim nhà thơ cháy bỏng lửa yêu đương mặn nồng, Khúc Thụy Du không  hề dấu diếm phút giây tận hiến cho hạnh phúc lứa đôi:

Nữa đi anh …thật sâu và thật chắc

Hơi ấm nồng rạo rực dấu đôi tay

Nụ hôn sâu trượt xuống thật là dài

Vào ngực tối miên man vùi chăn gối. (Ơn anh)

Khi yêu đương, bao nhiêu cho đi cũng là chưa đủ, đêm ngà ngọc đắm say, ngày hơi thở nồng nàn dồn dập, vậy mà nàng thơ luôn khát khao một tình xuân trọn vẹn, nên mãi miết ngơ ngẫn lòng hỏi lòng, hỏi mãi với người yêu dấu:

Ngực trầm hương thở vội

Yêu dấu ơi sao vừa

Xuân non cành lộc biếc

Ta có mùa xuân chưa. (Gọi xuân)

Thời gian của yêu đương là thời gian không trôi. Giấc mơ của yêu đương là giấc thụy du miên viễn. Cho đến khi bàn tay ta chạm vào cuộc sống ác nghiệt,  linh hồn ta chạm vào nỗi trống vắng não nề, đó là lúc ta nhận ra mình chơi vơi trong đêm say mèm ân ái chỉ còn là ảo giác, không gian quanh nhà thơ chỉ còn đêm hoang lạnh, đêm hắt hiu :

Đêm nay đêm của lặng thinh

Cuồng si thuở ấy bóng hình nơi đâu

Dấu tay vết bấu còn sâu

Ngát trên da thịt một mầu hư vô. ( Đêm là hư vô)

Cứ thế, cuộc đời trôi như dòng sông trôi, chỉ có tình yêu ở lại*. Thấp thỏm từng ngày, bơ vơ từng đêm, triền miên xa, triền miên nhớ, thanh tân nay đã héo khô, tình non nay đã già, chỉ có ân tình vẫn trọn vẹn thủy chung, ươm đầy hy vọng:

Dẫu mấy mươi, dẫu tóc đã phai màu

Ta nhuộm lại xuân thì muôn năm cũ

Những mộng mơ mà em anh ấp ủ

Sẽ như hoa, như trai chín thơm lừng (Tình già)

Với một tình yêu thương mênh mông như thế, ta không ngạc nhiên khi nàng thơ độc thoại, mà như giao bôi cùng người tình trăm năm của linh hồn nàng. Tôi hiểu và tôi xót xa. Tôi chia sẻ và tôi ngưỡng mộ, tôi kính trọng và tôi khóc thầm:

Hư vô đầy một chén

Tôi mời mình đêm nay

Ta cùng cạn và say

Tôi gọi mình quắt quay. (Mình à)

Trước mắt tôi, giai nhân bày cuộc rượu, độc ẩm mà đối ẩm, đối ẩm với hình bóng xa xăm. Trong cơn say, thơ là thực, thơ là chứng nhân, thơ là phút giây hiện hữu, “Tôi mời mình đêm nay”. Tôi thấm cái từ TÔI  mà không là EM như đã từng ngọt ngào, và rồi, “mình ơi mình có hay”. Những uẩn khúc của nội tâm chuyển biến kì ảo, giữa xót xa và dịu dàng, giữa cay đắng và thiết tha, được nhà thơ thể hiện tinh tế mà chân thực quá. Tôi tin KTD trong phút giây này là KTD của tình yêu.

Viết mãi, với thơ tình KTD thì tôi nghĩ không bao giờ cạn. Thơ chị chính là tình yêu. Và tình yêu là lời của yêu thương trong tâm hồn chị, và tôi tin, người ấy cũng yêu chị như chính chị yêu người, dù hai người giờ đây không còn là của nhau trên cuộc đời này.

Tôi xin trích dẫn một đoạn thơ tình bất hủ của Tagore:

“Đôi mắt âu lo của em buồn

Em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh

Như trăng kia nhìn sâu vào biển cả,

Em đã biết cõi đời anh

Anh không giấu em một điều gì cả,

Chính vì thế mà em không bao giờ hiểu biết hết về anh” ( Bài số 28)

Phải chăng, tình yêu là sự đồng điệu trong cảm thụ, sự giao hòa trong gần gủi, là dâng hiến trong tâm hồn. Nhưng trái tim con người, thế giới nội tâm con người lại mãi là một cõi bí mật vô cùng tận. Chỉ có thể lí giải như thế khi nhà thơ KTD phải “Để tang lời chia tay/ Ngại ngùng trên môi ai.” cho cuộc tình duy nhất, chung thủy, vẹn nguyên của cuộc đời chị. 

Chúc cho con đường thơ trước mặt của KTD vươn tới bao điều tốt đẹp, như là một đại biểu cho những khúc thơ tình tinh khôi, diễm mộng. Độc giả vẫn rất cần những viên ngọc lấp lánh đó giữa những bầm dập tai ương của xã hội thời @.

5/6/2021

Nguyên Bình

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Giai điệu trầm quê hương của Trần Vạn Giã

Giai điệu trầm quê hương của Trần Vạn Giã TRẦM KHÚC Chiều ơi và ngọn gió may Thổi bao đời cát đã bay trên đồi Hình như trong gió có lời Ru t...