Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

Để nghề viết văn trở thành một nghề cao quý

Để nghề viết văn trở
thành một nghề cao quý

Từ sau 1945, có một kiểu người viết văn đã hình thành với chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Bài viết không có tham vọng trình bày vấn đề một cách toàn diện, mà chỉ đi vào một số khía cạnh:

– Nên nghĩ sao để đưa công việc viết văn thành một hoạt động nghề nghiệp thực thụ.

– Nên lo sao để trau dồi bản lĩnh người viết và hình thành nên những trí thức có cốt cách vững vàng.

– Nên đánh giá sao để mức độ quan liêu hoá, từ đó dần tìm cách giải thoát khỏi căn bệnh ác độc đó.

I. Theo nhiều người kể lại, trước Cách mạng nhà văn Nguyễn Tuân có lần bị ra toà. Khi người ta hỏi ông nghề nghiệp gì, ông trả lời viết văn thì viên thư lại liền ghi: vô nghề nghiệp. Mẩu giai thoại này thường được dẫn ra để ngụ ý là trước Cách mạng, nghề viết văn rất bị xem thường. Nhưng theo chúng tôi tìm hiểu thì mặc dù bị thành kiến như vậy, bấy giờ viết văn đã là một nghề với nghĩa:

a- Có những người coi viết văn như một công việc làm đều đều để kiếm sống mình và vợ con mình bằng chính nghề đó, không cần một thứ phụ cấp nào khác.

b- Trình độ nghề nghiệp của người viết khá ổn định. Ai chỉ có năng khiếu mà không hết lòng với nghề, sớm bị đào thải. Ngược lại những người theo đuổi nghề nhiều năm là những người chuyên sâu, có trình độ tay nghề cao.

Khi tôi hỏi nhà văn Tô Hoài trước Cách mạng trong vòng có mấy năm 1941, 1942, 1943, 1944… sao ông viết được nhiều thế, ông thường trả lời đại ý: Tình hình làm nghề lúc ấy nó đòi hỏi như vậy. Không có mặt hàng riêng anh không sống được (mặt hàng riêng, ở đây ý nói đề tài riêng, phong cách riêng). Có mặt hàng riêng rồi, lại phải viết đều, viết khoẻ nữa. Có điều lạ là đến bây giờ đọc lại nhiều tác phẩm của Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài lúc ấy, những tác phẩm mà đôi khi các ông kể là phải viết vội để mang bán lấy tiền khi vợ đau, con ốm v.v… còn thấy có giá trị, điều đó chỉ chứng tỏ ngòi bút của các ông đã đạt đến độ chín cần thiết. Mặc dù nước ta bấy giờ là một nước thuộc địa, nhưng những ảnh hưởng của thế giới vẫn dội vào đều đều và văn học ta từ 1925 đến 1945 đã trải qua những giai đoạn phát triển tiêu biểu thường thấy ở nhiều nền văn học khác.

Từ sau Cách mạng, khi nói về nghề viết văn, chúng ta thường hay nói đây là một công tác cách mạng mà không xem như một nghề kiếm sống. Đại khái thấy có ai có năng khiếu viết lách một chút là các cơ quan báo chí xuất bản liền kéo về làm các công việc kề cận với sáng tác, như phóng viên, biên tập viên. Rồi dần dần, trong những trường hợp đặc cách mà ở lớp người trên 40 này mới có một vài người được hưởng, còn chủ yếu dành cho các ngòi bút cao niên, tách ra thành sáng tác chuyên nghiệp, không phải làm gì mà vẫn được hưởng đều đều, lên lương đều đều, việc xếp lương và lên lương này dựa vào thâm niên tham gia cách mạng chứ không phải chất lượng sáng tác. Còn nhuận bút chỉ là chuyện phụ, thêm thắt vào cho đỡ tủi, cả người trả lẫn người nhận đều hiểu không ai sống bằng nhuận bút, thôi Nhà nước đã quy định vậy, thì ta cũng theo vậy. Nói gọn lại là đến nay chúng ta chỉ có những cán bộ viết văn chứ không có những người viết văn sống bằng nghề nghiệp của mình và về căn bản, Hội của chúng ta là một thứ hội của phong trào chứ không phải hội của những cây bút chuyên nghiệp. Phong trào có cái cần của nó (và đây là điều mà những ai mới vào nghề thường được răn dạy: hãy nhớ mình từ phong trào mà trưởng thành lên, không được tách rời cơ sở v.v… và v.v…). Nhưng đã đến lúc nên nói với nhau rằng đánh giá văn học một nước không bao giờ người ta dừng ở phong trào mà phải xem trình độ chuyên nghiệp hoá đến đâu, tức là xem cách đào tạo những cây bút tiêu biểu sống cả đời bằng nghề viết và trình độ những cây bút tiêu biểu đó so với các thời đại trước và so với trình độ ở các nước khác. Thử nhìn lại tình hình Hội ta ở chỗ này thấy có nhiều điểm đáng lo ngại. Hàng năm, rồi vài năm một lần, Hội lại kiểm điểm xem đã phát hiện được bao nhiêu cây bút mới, đã giúp cho phong trào tỉnh nọ tỉnh kia ra sao. Còn số phận các cây bút hôm qua đã phát hiện đó như thế nào, họ có khả năng trở thành những nhà văn chững chạc không thì không cần biết. Do đẻ giỏi mà nuôi kém, đẻ tràn lan, cốt lấy thành tích, mà không chú trọng bồi dưỡng tiếp tục, không mở ra con đường chọn lọc tự nhiên thông qua đào thải nên đã nảy sinh những hiện tượng rất lạ, trong không khí cởi mở hiện nay nên cho phép nói là những hiện tượng kỳ cục, quái gở. Có những người chỉ ngẫu nhiên có được một số sáng tác đột xuất cũng được chuyên nghiệp hoá, rồi sau cứ lẽo đẽo theo đuổi mãi với nghề, song không bao giờ viết được cái gì khá hơn những cái ban đầu kia nữa. Hoặc có những người có năng khiếu, phải nói là rất có năng khiếu nữa, giá ở trong một hoàn cảnh tốt, có thể trở thành một cây bút làm nghề thuần thục, đằng này ngược lại, sau một hai tác phẩm đầu, sinh ta lười lĩnh, làm dối làm ẩu, sống bằng cái uy danh sẵn có của tác phẩm đầu tay mà không biết rằng nhà văn là kẻ đời đời khởi nghiệp, cuộc đời người viết chỉ có nghĩa ở chỗ luôn luôn là những cuộc làm lại từ đầu. Do không có cạnh tranh, cũng như không có sự bắt buộc nhà văn để anh ta luôn luôn làm mới mình, chinh phục lại độc giả… nên số người viết khoẻ, đều tay, cái sau hơn cái trước, số đó rất nhiều. Một người như nhà văn Tô Hoài thường dặn dò một số anh em viết phê bình như chúng tôi là nên nhớ cái nghiệp nhà văn An Nam ta nó mỏng lắm. Khó tìm được thấy người viết quyển nào cũng hay. Đã có những người tuyên bố viết những bộ sách vài ba tập, nhưng thường thường là chỉ được tập đầu, còn các tập sau chả ra gì. Thậm chí, trong một cuốn sách cũng có hiện tượng xôi đỗ, chương được, chương không. Chúng tôi rất đồng tình với nhận xét trên đây của Tô Hoài. Nhắc lại ý kiến đó của ông, chúng tôi chỉ muốn lưu ý rằng đấy chẳng phải là một điều hay ho gì. Hơn nữa, phải thấy đấy là một điều đáng xấu hổ, không phải cho riêng ai, mà cho cả phong trào, và cái hướng phấn đấu là phải có được những cây bút vững vàng viết đều viết khoẻ, luôn luôn trên đường hoàn thiện sự nghiệp của mình để trở thành những tên tuổi làm vẻ vang cho nhân dân, cho đất nước. Lại cũng rất đáng báo động là trình độ nghề nghiệp của chúng ta hiện nay rất thấp. Đã đành viết văn là công việc của tâm huyết, của tư tưởng, nhưng trong nghề vẫn có những cái thuộc về kỹ thuật viết, những biểu hiện cụ thể của tư duy nghệ thuật, nó là dấu hiệu khiến cho đọc văn của thế kỷ này thấy khác hẳn với văn của thế kỷ khác. Với những ai không cho rằng có kỹ thuật viết văn, chúng tôi xin phép dừng lại ở đây, vì tranh luận về việc đó đòi hỏi rất nhiều giấy mực. Riêng với những ai công nhận là có kỹ thuật viết, tôi nghĩ các bạn đó cũng dễ nhận ra là kỹ thuật viết của chúng ta hiện nay – đặc biệt là trong văn xuôi — rất cổ lỗ; cũng như hội hoạ, văn học ta hoàn toàn đứng ngoài mà không dây dưa gì đến những trào lưu chung của thế giới trong cái thế kỷ chúng ta đang sống. Khắc phục sự lạc hậu ấy trong hành nghề phải có thời gian, phải có chuẩn bị, nhưng nên nhớ đó là một trong những việc phải làm để đưa việc viết văn trở nên nghề nghiệp thực thụ. Và suy cho cùng, việc đào tạo những cây bút làm nghề thực thụ là cách tốt nhất để củng cố cái phong trào mà chúng ta từng dày công lo liệu. Từ các cây bút có trình độ hành nghề hiện đại, chúng ta mới có cơ hình thành những tài năng có tầm cỡ, những nhà văn đi ra thế giới bằng sáng tác của mình chứ không phải chỉ được đón tiếp như một nhà văn Việt Nam nói chung, điều mà Nguyễn Minh Châu từng than tiếc và những ai có lương tâm đều thấy đúng.

II. Từ những người viết có năng khiếu tới những người viết sống bằng nghề, có tay nghề hiện đại, đã có một nấc thang; từ những người làm nghề thành thạo lo sao hình thành nên những người có cốt cách trí thức, biết suy nghĩ và trả lời cho những lo toan chung của dân tộc, của đất nước, đấy lại là một nấc thang cao hơn, khó hơn. Do đức tính khiêm tốn đã ăn vào máu chúng ta (một thứ khiêm tốn đồng nghĩa với cầu an, sợ sệt, không dám chịu trách nhiệm, cốt sống yên thân qua ngày), giới cầm bút thường lảng tránh câu chuyện này, cho là trình độ ta còn thấp, không nên làm. Nhưng lảng mãi không được, cho nên xin phép khơi gợi lên ở đây và mong được hưởng ứng với nghĩa: bàn đi, bàn đi, rồi may ra có lúc chúng ta có thể làm, chứ không bao giờ bàn thì chắc chắn không bao giờ làm nổi.

Đọc lịch sử văn học một nước có nhiều duyên nợ với ta như nước Pháp, hẳn mọi người đều biết rằng ở đây, thời đại nào cũng hình thành nên những nhà văn đồng thời là những trí thức lớn của đất nước, những người viết văn không có chức vụ gì trong chính quyền, nhưng luôn luôn là những tiếng nói mạnh mẽ tham gia vào các việc lớn trong xã hội. Từ V. Hugo trở đi qua R. Rolland, A.France, H. Barbusse đến A. Gide và J.P. Sartre, A. Camus và L.Aragon … các nhà văn ấy đồng thời là những trí thức lớn. Cốt cách trí thức toát ra qua tác phẩm của họ, ở đó có cả truyền thống lâu dài mà nền văn hoá Pháp đã thu góp được, cốt cách trí thức đó lại cô kết trong con người của họ, bộc lộ ra qua cách ứng xử của họ. Nhắc đến tên tuổi các nhà văn ấy có nghĩa là nhắc đến một quyền lực, một uy tín. Đây cũng là chỉ số đánh dấu sự phát triển rất cao của một nền văn học, cái trình độ mà, ví dụ như, khi nhìn lại văn học Việt Nam trước Cách mạng, chúng ta thấy là chưa đạt tới. Theo chúng tôi hiểu, trước Cách mạng 1945 giới viết văn ở nước ta mới chỉ có những người hành nghề giỏi mà chưa có những trí thức với nghĩa tốt đẹp nhất của chữ ấy: những giá trị tinh thần mà đến nhà nước cũng phải vì nể.

Thế còn vai trò người viết văn trong xã hội ta từ sau Cách mạng tháng Tám? Đây là một vấn đề lớn, liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển của trí thức Cách mạng nói chung. Trong phạm vi hiểu biết còn hạn chế, chúng tôi chỉ muốn nói một số điều liên quan đến sự định hướng mà lớp người viết trẻ từ hồi chống Mỹ hay được nhắc nhở, ý chúng muốn nói tới kiểu nhà văn mà bọn tôi được giáo dục là phải cố mà noi theo.

Đối tượng phục vụ của nền văn học mới là nhân dân lao động. Bản thân những người cầm bút trẻ phần lớn là con em của nhân dân lao động trưởng thành lên. Hơn bốn mươi năm qua, đất nước lại luôn luôn bận rộn. Do hoàn cảnh thúc bách, tận trong tâm khảm mọi người viết, bao giờ cũng khắc khoải một điều: phục vụ trước đã, tìm tòi làm chi vội, gắng viết làm sao để những người mới thoát nạn mù chữ cũng hiểu, thế là quý rồi. Bấy nhiêu lời dặn dò, điều tâm sự… là những yếu tố tạo nên cả một khí hậu văn học, nếu có thể nói như vậy. Chúng ta thường chỉ mới lưu ý tới ảnh hưởng của những điều kiện đó tới kết quả về mặt sáng tác. Rằng văn học ta sau 1945 mới chỉ có những tác phẩm lành mạnh phản ánh một cách khiêm tốn những biến chuyển của cách mạng. Rằng các nhà văn còn cần làm việc nhiều mới dần dần có được những tác phẩm tương ứng với tầm vóc của lịch sử v.v…. và v.v… Tất cả những cái đó đều đúng, nhưng còn nhiều hệ luỵ khác, nhất là những hệ luỵ cô kết thành nếp sống nếp nghĩ, cái đó mới đáng lo. Chẳng hạn, việc miêu tả đời sống một cách thô thiển (chỉ dừng lại ở mức miêu tả mà không đào sâu vào làm nổi bật ý nghĩa đời sống) ban đầu là một thực tế phải chấp nhận, sau trở thành một thứ khuôn thước, không ai nghĩ là nên làm khác. “Ở nước Việt Nam hôm nay, trẻ con làm văn nghị, người lớn làm văn miêu tả” – đấy là một câu tổng kết, mà ngẫm ra thấy đúng và do đó, thấy rất đau xót. Trong một bài báo viết trước khi mất, nhà văn Nguyễn Minh Châu nhận xét: “Một thời gian có lẽ cũng khá dài, hoặc ngay cả bây giờ, trong xã hội ta có một thứ quan niệm: làm nhà văn chỉ cần viết câu cho gãy gọn, đúng văn phạm, khéo hơn một chút nữa là viết cho dí dỏm…”. Ý ông muốn nói do quan niệm như thế, nên không bao giờ lớp nhà văn trẻ trưởng thành nổi. Nếu được gọi sự vật bằng tên của nó, thì theo chúng tôi, quan niệm mà Nguyễn Minh Châu chỉ trích ở đây là quan niệm tước đi cốt cách trí thức ở nhà văn. Viết văn chỉ là một hành động tự phát, thấy đời đẹp thì ngứa cổ hót chơi. Mà ở thời đại này lịch sử đã quá nhiều kỳ tích, trong nhân dân đã quá nhiều mẫu người đẹp, hào hùng, nên nhà văn không cần suy nghĩ gì thêm, cứ ghi chép về họ cũng đủ. Một quan niệm như thế đẻ ra kiểu nhà văn có tính chất nghệ nhân, hoặc ca ngợi hoặc than vãn (khi thấy có một số mặt tiêu cực như hiện nay thì than vãn) mà không bao giờ hiểu bản chất đời sống. Đó là loại nhà văn giống như xẩm chợ, thiên về nói leo, phát biểu một thứ phản xạ tức thời và nông nổi trước đời sống hơn là chiêm nghiệm suy nghĩ thành thế giới nghệ thuật độc đáo của riêng mình. Xẩm thì cũng cần, chắc có người nói thế, được công nhận là xẩm tức cũng phải có năng khiếu, có lao động, và như thế là được rồi! Nhưng ở thời đại nào cũng vậy, điều mà đất nước và nhân dân đòi hỏi là những nghệ sĩ hành nghề một cách tự giác. Ở những nghệ sĩ này, bên cạnh năng khiếu còn cần nhiều phẩm chất khác: trình độ văn hoá (văn hoá theo nghĩa rộng, chứ không phải bằng cấp của người đi học), khả năng vừa đi vào đời sống vừa đơn độc suy nghĩ, thậm chí không ngại dấn thân vào những khu vực thoạt nhìn tưởng là trừu tượng siêu hình, nhưng nằm trong bản chất của sự sống, những điều hình như không dây dưa gì đến đời thường, nhưng một lúc nào đó, những người bình thường lại rất cần. Tóm lại cần tạo ra những nhân cách lớn, mà phần vốn liếng tinh thần bao gồm cả quan sát thể nghiệm lẫn kiến thức do sách vở mang lại, từ đó có thói quen sống làm việc của một trí thức. Chỉ những người như thế mới có khả năng vừa nói một cách đầy đủ về đời sống, vừa nâng người đọc lên tầm tư duy mới. Đó cũng là những người dám lên tiếng về các vấn đề lớn lao của nhân dân đất nước và khi cần, lấy uy tín danh dự của mình ra, bảo đảm cho điều mình nói. Cái cốt cách trí thức ấy cũng chính là tiền đề gốc, để tạo ra những giá trị có tính chất nhân bản sâu sắc.

Thiếu lý tưởng nghề nghiệp, thiếu cốt cách trí thức, đây có phải căn bệnh có thật của những người viết văn hôm nay không, thậm chí nếu có thì nên gọi là bệnh hay là quan điểm thực tiễn cần thiết, một điểm đáng tự hào, xin các bạn đồng nghiệp cùng bàn. Phần chúng tôi, xin thú thực là trước khi nêu ý kiến này, đã phải phân vân rất nhiều, cầm bút viết ra mà cứ cảm thấy ngần ngại. Đúng là khi đã vào sâu nghề nghiệp, trong thâm tâm nhiều người cũng thấy phải phấn đấu để tạo ra cốt cách cho ngòi bút của mình, học thêm, trau dồi bản lĩnh thêm. Tự đào luyện thành một trí thức chân chính, cái điều ấy càng ngày càng hiện lên như một mơ ước. Có điều trong những ngày gạo châu củi quế, văn hoá tiêu dùng tràn lan này, cái chuyện đó xa vời quá, bàn tới không được, nói ra e thành chuyện lạc lõng. Nhưng có cái lạ ở những người viết văn là những nét tâm lý đáng sợ sau đây: khi không thể làm, thì coi là việc không cần làm. Và nếu mình không làm được mà người khác có ý muốn làm thì ra công khích bác, chế giễu. “Thời buổi này còn nói chuyện trí thức ư? Cũ rồi, lỗi thời rồi! Lại muốn chơi trội ư? Lại muốn theo kiểu thơ văn hũ nút ư?…”. Những lời châm chọc tương tự đã giết hại bao mầm mống tốt đẹp ở những người toan đi vào con đường tự rèn mình, những mong manh lại cho nghề văn một ý nghĩa cao quý như một thiên chức tốt đẹp. Ấy là không kể có những nhà văn nhà thơ đàn anh từng được đào tạo kỹ càng, giờ vẫn chịu khó làm nghề, chịu khó học hỏi, có thói quen làm việc của những trí thức, nhưng đôi khi cũng vô tình hay cố ý hùa theo mọi người, bỉ bác những tìm tòi học hỏi của các bạn trẻ. Việc hùa theo một cách vô trách nhiệm này lâu ngày ở các vị ấy trở thành một thứ thói quen nhắc đi nhắc lại không biết nhàm chán đến mức người ta có thể tự hỏi: hay là các vị ấy có tri thức rồi thì không muốn ai có nữa, thậm chí muốn nghề văn của ta càng lạc hậu càng tốt, nhân cách anh em chung quanh càng kém đi thì nhân cách các vị ấy càng đẹp đẽ hơn lên. Dù là động cơ nào đi nữa thì lối ứng xử này cũng rất nguy hiểm.

III. Không lo rèn luyện về mặt nghề nghiệp, không tự cảnh tỉnh và hướng suy nghĩ vào cuộc tìm tòi hoàn thiện của người trí thức, thế các nhà văn — tôi không nói tất cả, nhưng ngờ rằng không ít nhà văn ở ta- hướng năng lượng, hướng nhiệt tình đời sống của mình vào đâu? Xin thưa: hướng đi làm quan. Câu trả lời nghe có vẻ lạ tai nhưng lại là sự thật mỗi ngày mỗi hiển hiện rõ rệt.

Xưa kia, dưới thời phong kiến, nhiều nhà nho có tâm huyết đã ra làm quan rồi, thậm chí đã hiển đạt lắm rồi, thượng thư, tổng đốc hẳn hoi, nhưng vẫn canh cánh bên lòng một nỗi buồn cảm thấy mình rơi vào vòng ô trọc, và dồn cả tấc lòng mình vào những câu thơ tâm sự mà lúc viết ngỡ rằng có thể không ai biết tới. Trong lòng các ông quan ấy vẫn còn những thi sĩ chân chính. Nay thì hình như mọi chuyện xảy ra theo chiều ngược lại, người ta thích làm quan ngay trong giới của mình, một sự lạ lùng, vậy mà, oái oăm thay, lại là điều có thật. Trong bộ máy hành chính của ta, Hội nhà văn chỉ là một cơ quan nhỏ, cỡ ngang một vụ, quyền lợi hình như không có gì béo bở lắm. Tiền tiêu cho Hội hàng năm, đã có người nửa đùa nửa thật mà dự đoán rằng không khéo chỉ xấp xỉ tiền tiêu cho một đội bóng đá. Nhưng như mấy câu thơ tức cảnh của Nguyễn Gia Thiều:

Vẻ chi tèo teo cảnh

Thế mà cũng tang thương

ở đây cũng vẫn có đủ những căn bệnh mà xã hội ta đang có.

Cái ham muốn làm quan đó diễn ra dai dẳng hàng ngày lại càng nồng nã quay cuồng trong lòng người ta trước những sự kiện như một kỳ bổ nhiệm, một đợt đại hội “Lâu nay nhiều người chúng ta đến đại hội, điều đầu tiên là xì xào xem ai vào chấp hành “.Một nhận xét như thế không làm ai bận tâm vì nó là chuyện đương nhiên. Sở dĩ người nào cũng ngong ngóng nhìn vào chỗ ấy, vì quả thật, theo cách tổ chức như của chúng ta, một chức vụ trong Hội bảo đảm cho người ta nhiều thứ lắm.

Một người phụ trách nếu biết tận dụng quyền lực sẽ có thể in sách ào ào vì Hội có nhà xuất bản riêng. Sách ra rồi sẽ có báo của Hội ca ngợi tâng bốc. Các hội đồng thì đề nghị tặng thưởng. Các cơ quan đối ngoại thì gợi ý Hội bạn nên dịch nên in…

Hồi còn bao cấp, quyền lợi lớn đến vậy đó. Về sau có vẻ bớt đi, nhưng còn lớn lắm, vì ở lĩnh vực nào có xóa bỏ bao cấp không biết, chứ trong lĩnh vực tư tưởng, đâu có chuyện bỏ!

Có thể so với “quan chức” ở các ngành khác, quyền lợi của các “quan chức” trong giới cầm bút chả mùi mẽ gì! Nhưng “quan chức” trong văn nghệ có cái thú là nhàn thân và có một lớp vỏ rất đẹp đẽ. Trong lúc làm “quan”, người ta có thể tự an ủi: hình như ta vẫn là người lao động cơ mà…Do ta viết hay nên sách được tái bản và nước ngoài cho dịch… Họ không viết hay bằng ta nên họ tị nạnh… Ôi, đã có cái lý để tự biện hộ khéo léo đến như thế, thì sự hấp dẫn của quyền lực chỉ càng thêm mạnh mẽ! Cũng do chỗ được một hình thức màu mè che đậy, nên chủ nghĩa quan liêu có nhiều biến dạng cụ thể, tạo nên một sức quyến rũ kỳ lạ. Người xưa nói tu tại gia, còn trong giới chúng ta có lối vụ tiếng tăm nhất thời, thực chất cũng là làm quan mà lại không có chức tước nào, chỉ có sự thiêng liêng của nghề văn bị đánh tráo và bị lợi dụng.

Ở ta danh nghĩa hội viên Hội nhà văn khá quan trọng, và đó là một quan niệm được hình thành trong suốt trường kỳ lịch sử, nên khá bền chắc trong lòng người. Trong khi kiếm sống bằng nhiều nghề khác, nhiều người vẫn tìm đủ cách để xin vào Hội, và hay oán thán rằng Hội không mở rộng cửa đón mình. Lại cốt vào để dành quyền lợi, một ít tiền trợ cấp, một suất vé đi tham quan, đi họp ở nước ngoài chứ gì? Một số người khinh bạc dè bỉu. Cái đó theo tôi có, nhưng không phải tất cả. Công bằng mà nói, phải thấy nhiều người có động cơ trong sáng, muốn vào Hội vì nghĩ rằng có xuất hội viên nghĩa là tài năng được khẳng định, là có được một vị trí nghề nghiệp vững chắc. Nhưng với tư cách là một hội viên tính đến 2007 là ba chục năm, tôi cũng xin được phép thú nhận một suy nghĩ khác: Cái đích của việc viết văn cao đẹp hơn nhiều, sự công nhận của những người đương thời, kể cả những người cùng giới, rất cần cho mình, nhưng suy cho cùng, vẫn không phải là bảo đảm chắc chắn cho những gì mình đã và sẽ viết ra. Xưa nay, trong lịch sử, đã có bao nhiêu trường hợp một nhà văn được người đương thời đưa lên tận mây xanh, sau không ai biết tới nữa. Vậy thì dù rất quý những lời động viên nhau, chúng ta cũng nên nhìn sự đời nhẹ đi một chút, và chính các nhà văn phải đi đầu trong việc này, thành thực, biết điều, thận trọng. Sở dĩ, một số anh em mới viết đôi khi cay cú với chuyện vào hội vì chính các hội viên cũ đầu têu gây ra một thứ danh hão. Trong thâm tâm những hội viên ấy không khỏi cảm thấy (và qua giọng nói tiếng cười cho người ta cảm thấy) mình là một cái gì đã thành rồi, đã liệt hạng rồi, có ngạch có bậc rồi. Đây chính là chủ nghĩa quan liêu thông thường, một thứ tâm lý quan liêu bắt rễ vào suy nghĩ trong số đông chúng ta. Từ chỗ cần khẳng định vị trí và thành tựu của văn học cách mạng, chúng ta đi dần tới chỗ khuếch đại đóng góp của từng người. Tự chúng ta làm, rồi lại tự chúng ta khen nhau, văn thơ chúng ta in trên báo chưa ráo mực nhiều khi đã vào thẳng sách giáo khoa. Trong các sách văn học sử, chúng ta dành chỗ cho thời hiện đại quá nhiều ; dù cố ý hay vô tình thì cũng là cách vĩnh viễn hoá những tên tuổi hiện thời, xếp mình và bè bạn mình bên cạnh những đấng, những bậc kỳ cựu trong quá khứ đã chịu nổi thử thách của thời gian. Đấy là một thứ tự đầu độc rất có hại cho sáng tác. Sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu là một người lao động rất cần cù, ngay khi tuổi đã cao, ông vẫn hàng ngày đánh vật với trang giấy trắng, luôn luôn dốc sức làm những công việc lâu dài mà khi có dịp xuất hiện trên báo chí cũng không bỏ qua bao giờ. Có điều, đối với nhiều anh em làm biên tập ở các báo, nhà xuất bản, tức cánh ở trong bếp núc nghề văn như chúng tôi, Xuân Diệu thường hiện ra với một chỗ yếu không thể khắc phục, đó là ông rất sợ người ta quên mình, lâu không mời ông viết là ông không bằng lòng, trong một “bảng vàng danh dự” nào đó (nhiều khi chỉ là một danh sách đưa ra ngẫu nhiên, trong một bài báo nhỏ) mà thiếu tên ông là ông cự ngay. Sự hiếu danh ở Xuân Diệu rất thành thực, khiến không ai nỡ giận ông. Chúng tôi cũng hiểu, trong đời tư, ông rất đơn độc, nên luôn luôn cần được bù đắp, muốn mình luôn luôn sống với văn học, sống với mọi người. Song nghĩ đến việc một nhà thơ thuộc loại dẫn đầu cả một nền thơ, mà luôn luôn sợ người ta quên, sợ người ta xếp lầm chỗ mình như thế, chúng tôi cứ thấy có gì tội nghiệp, lại cứ thấy tiếc cho ông. Mặc dù đã có gan bỏ hết các chức tước để chỉ dồn sức vào các trang viết, Xuân Diệu vẫn bị mấy chữ tiếng thơm trói buộc, và điều đó đã kìm hãm ông, không cho phép ông tập trung làm việc, nhất là không cho phép ông phiêu lưu tìm kiếm, như nghề văn vốn đòi hỏi. Trường hợp Xuân Diệu thật ra chỉ là một ca điển hình, căn bệnh trên đây ít nhiều có trong mỗi chúng ta. Do ảnh hưởng của một thứ chủ nghĩa tập thể thô thiển, ta quan niệm rằng sự đánh giá của số đông về từng cá nhân bao giờ cũng chính xác và nhất thành là bất biến, và thuộc về lịch sử, ta đâm ra sợ hãi khi có vẻ ra ngoài thông lệ, không theo lối nói, lối ứng xử của chung quanh và chỉ hoàn toàn yên tâm khi thấy mình nói chung cũng giống như mọi người, rồi trong khuôn khổ cái chung ấy, nhích được một chút hơn mọi người thì hí hửng, sung sướng. Cái tâm lý bầy đàn này – ở Liên Xô cũ người ta gọi như thế- vốn đã đi ngược lại bản chất con người nói chung, lại càng là không thể chấp nhận được với những ai làm nghề sáng tạo, bởi nó không tạo được sự đơn độc tinh thần vốn là cần thiết với những công việc lớn. Để khắc phục chỗ yếu này, trước hết cần có sự cởi mở về quan niệm. Cái mới nào khi mới ra đời chẳng đơn độc, thậm chí là thiểu số nữa. Nếu cứ lấy đa số ra mà áp đặt thì trong nhiều trường hợp, không có được cái mới thực sự. Muốn có được cái mới, chủ quan từng người phải có sự kiên trì mà chung quanh phải có sự thông cảm. Trong nền văn học ta sau Cách mạng, đã có những trường hợp do người viết có được ngoan cường chỉ là mình, dám là mình, mà một phong cách được hình thành. Đó là, chẳng hạn, những trang văn xuôi của Nguyễn Khải, một cách nhìn đời sống ban đầu bị bao người kêu là độc ác, tàn nhẫn, nhưng khi quen rồi, lại cho là sắc sảo, biết phát hiện. Đó là, chẳng hạn, thơ của Nguyễn Đình Thi, thứ thơ có một thời bị mang ra phê bình cho là yếu đuối, xa lạ với quần chúng (chúng tôi còn được nghe kể là có một câu phê phán rất cô đọng “Anh không khóc nhưng những chữ của anh nó thút thít”), nay đối với chúng ta lại là một thứ thơ có chiều sâu nội tâm và theo ý tôi là một cách tân về giọng điệu trong thơ. Hoá ra, chưa nói đâu xa, ngay ở các bậc đàn anh hôm nay đang viết, cũng đã có những bài học quý, các anh đã nêu gương dũng cảm tìm tòi, đi ngược lại sự công nhận nhất thời của số đông để tìm tới giá trị lâu dài hơn cho tác phẩm của mình. Tôi không rõ là tại sao các anh thường quên không dặn dò lớp người sau dũng cảm, dám đơn độc tìm tòi, mà thường chỉ nhắc chúng tôi là lắng nghe chung quanh, hoà hợp với phong trào và khi xem xét các tác phẩm mới viết ra, các anh cũng chỉ lấy sự công nhận của số đông ra làm tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá. Trong một hoàn cảnh như thế, dĩ nhiên, cái tâm lý quan liêu nói trên – thích danh tiếng, thích xác định “địa vị lâu dài” trong văn học, hợm hĩnh một cách nông nổi – tha hồ lây lan như một thứ dịch bệnh, đời sống văn học có lúc chỉ còn cái vẻ nhộn nhịp bề ngoài mà thiếu sự âm thầm kiên nhẫn tìm tòi. Lấy cái nhất thời để đánh giá nhau hoặc chê bai nhau, chúng ta tự làm yếu mình đi rất nhiều và đến khi làn sóng văn hoá tiêu dùng lan tới, thì nhiều người bó gối quy hàng. Trước khi mất, Nguyễn Minh Châu có nói với Nguyễn Đăng Mạnh: “Nhà văn mà sợ dân chủ thì không thể hiểu được”. Mượn cách nói đó cũng có thể nói nhà văn mà chỉ biết có tiếng thơm đương thời (tôi nhấn mạnh chữ chỉ), mà chỉ đánh giá theo số lượng trang viết, số cuốn được làm khi in tuyển tập, số bài phê bình tâng bốc… thì cũng không thể hiểu được. Nhưng đó là một nét tâm lý đang phổ biến. Cái hướng mà chúng ta phải nghĩ ở đây là bảo nhau cùng sửa, người nào cũng sửa thì mới nhanh chóng giải được bệnh.

7/7/2021

Vương Trí Nhàn

Nguồn: Những kiếp hoa dại, xuất bản 2001

Theo https://vanvn.vn/

Vũ Thanh Hoa - Hành trình thơ cô đơn và đầy tự tin

Vũ Thanh Hoa - Hành trình
thơ cô đơn và đầy tự tin

Thơ Vũ Thanh Hoa thể hiện rõ nét đó là một giọng thơ nhân ái, giàu nữ tính. Nét nữ tính trong thơ chị cũng tạo ra được chất giọng riêng khó lẫn với những thi sĩ khác trong nền thơ ca đương đại. Bên cạnh nét dịu dàng, đằm thắm, bao dung; người đọc còn nhận ra sự mãnh mẽ, bạo liệt rất khác của Vũ Thanh Hoa – Người đàn bà thơ cô đơn và đầy kiêu hãnh.

Thơ chị có giá trị trước hết ở sự chân thật bởi một tâm hồn cháy bỏng yêu đương, với những khát vọng vô bờ bến, một tính cách sắc sảo, sôi nổi và mãnh liệt. Phải chăng, chính điều này đã làm nên dấu ấn của hồn thơ trữ tình Vũ Thanh Hoa. Trong hành trình thơ của mình, Vũ Thanh Hoa đã tạo dựng một phong cách thơ riêng biệt, rất đáng được trân trọng.

Thơ Vũ Thanh Hoa thể hiện một quá trình tìm tòi không mệt mỏi để vươn lên tìm đến cái đặc sắc của nghệ thuật. Từ tập thơ Nỗi đau của lá (2006) cho đến sau này là Trong em có người đàn bà khác (2009), Lời cầu hôn đêm qua (2012), Lục bát phố (2015)… đã có sự chuyển biến rõ rệt. Càng về sau Vũ Thanh Hoa càng thể hiện rõ nét những đổi mới nghệ thuật trong cách thể hiện, cấu tứ, hình ảnh, ngôn ngữ…

Nỗi buồn hiện diện hầu khắp trong các câu thơ, bài thơ, tập thơ của Vũ Thanh Hoa. Đó là những nỗi buồn đa thanh sắc nhưng cái căn cốt vẫn là nỗi buồn đến từ những điều chị cảm thấy bất an, hẫng hụt trước cuộc sống. Cảm hứng nghệ thuật của Vũ Thanh Hoa bắt nguồn từ những chấn thương dữ dội của tinh thần và những khắc khoải trong đời sống nội tâm. Có lẽ Vũ Thanh Hoa là người đàn bà chỉn chu, lại quá nhạy cảm, dễ xao động tâm hồn nên bất cứ điều gì cũng làm cho người thi sĩ đa tình ấy xốn xang. Để rồi, đôi lúc chị như một kẻ “mộng du”.

Tất cả người qua phố đều quen/ mỗi mình là lạ/ có ai đợi đâu mà chuyến xe hối hả/ chiều qua đêm… nỗi nhớ khứ hồi… (Phố cũ).

Đi qua những năm tháng trắc trở, đầy những tổn thương trên bước đường tình, chị muốn trở về với bản thể thật nhất của con người: em muốn ngắm anh như thuở sơ sinh/ trần trụi hình hài/ bí mật như đêm/ sót lại từ nghìn năm trước/ xanh như rừng/ nâu như đất/ tràn đầy như nước/ đợi em nghìn năm sau (Sơ sinh nỗi nhớ).

Tình yêu là bến đỗ bình yên của trái tim người phụ nữ. Bởi phụ nữ sinh ra là để yêu. Những tình cảm chân thành, tự nhiên, vô tư, không hề toan tính. Và “Em” cứ ngỡ tình yêu ấy sẽ vẹn tròn. Nhưng đó chỉ là quá vãng, hiện tại là nỗi cô đơn, trống vắng đến nao lòng.

mở dòng tin nhắn “Nhớ Em”/ kỷ niệm loang sẫm phố/ em lang thang/ buổi chiều thất lạc/ quán café đâu cũng ngỡ anh chờ

rơi những nốt trầm về đáy phức âm/ ký ức phù du/ nỗi nhớ anh là thật/ em ngoa dụ nỗi buồn bằng ngôn từ lấp lánh/ giấu buổi chiều cô độc vào đêm (Cô độc chiều).

Điều dễ nhận thấy trong thơ Vũ Thanh Hoa thể hiện kiểu kết cấu trữ tình. Biểu lộ nhiều cung bậc cảm xúc trước những được mất  của chính cuộc đời thi sĩ:

Dẫu biết đời mình sẽ trắc trở, đa đoan/ Nhắm mắt trong đêm, con đường đầy cạm bẫy/ Cây cầu nhỏ của ngày xưa đã gẫy/ Biết bao giờ tìm thấy nửa vầng trăng? (Gửi chồng cũ).

Dù gặp bất trắc, buồn đau, cô đơn nhưng người đàn bà trong thơ chị vẫn giữ nét bình thản, tự tại, đáng yêu đến lạ:

Trước bão giông em bình thản/ Trước thị phi em mỉm cười/ Trước núi cao, biển rộng, vực sâu em cắn răng bước đi/ đôi chân trần rướm máu/ Thế nhân đổi trắng thay đen, thế nhân ô trọc,/ thế nhân lọc lừa, em ngẩng đầu kiêu hãnh (Trước anh).

Sự kiên định, mạnh mẽ trước những giông bão cuộc đời đã làm nên nét riêng của người đàn bà đầy kiêu hãnh trong thơ chị: dám sống, dám ngẩng cao đầu trước bao lọc lừa, gian dối. Bản thể cô đơn thường trực trong con người đời thường và cả trong thơ Vũ Thanh Hoa được phơi trải đến tận cùng. Trạng thái ấy không phải là sự bế tắc mà là do sự ý thức sâu sắc về nhân cách và hoàn cảnh của bản thân. Càng về sau thơ Vũ Thanh Hoa càng hiển lộ rõ những đặc trưng và thế mạnh vốn có của một cây bút thơ giàu nội lực. Thơ chị đằm sâu, kết hợp giữa lối viết truyền thống và hiện đại với nhiều liên tưởng bất ngờ, thú vị. Chị biết làm mới ngôn ngữ, hình ảnh, câu chữ trong thơ. Vì thế, có những bài thơ, câu thơ, hình ảnh thơ của Vũ Thanh Hoa phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới có thể giải mã những ý đồ mà thi nhân gửi gắm.

Học ngành Luật và suốt thời thơ ấu ở nước ngoài có tác động không nhỏ đến hành trình sáng tạo thơ ca của Vũ Thanh Hoa. Chính điều này đã tạo nên một hồn thơ Vũ Thanh Hoa giàu cá tính, dám bộc bạch những khát vọng riêng tư sâu kín một cách thành thật, mãnh liệt, cuốn hút. Nhà thơ cho rằng: “Văn chương là tiếng hát của số phận”. Mọi cảm xúc có ở trong thơ đều bắt nguồn từ những xúc cảm chân thực trong đời sống mà chị từng chứng kiến hoặc đã trải qua. Bằng năng khiếu, vốn sống, vốn văn hóa, sự tìm tòi, suy tư, trăn trở về đời và nghề, Vũ Thanh Hoa đã khéo chắt lọc, lắng kết mọi sắc thái, cung bậc cảm xúc để đưa vào thơ theo cách riêng của mình. Do vậy, Vũ Thanh Hoa đã tạo ra giọng thơ rất khác, không dễ bị trộn lẫn. Tiếng thơ của chị như lời tâm tình, thủ thỉ, vừa trữ tình sâu lắng, vừa đắng đót, xót xa.

Bên cạnh chị kế thừa lối thơ truyền thống (chị có hẳn một tập thơ lục bát: Lục bát phố với 46 bài đầy đặn, đẹp có nhiều cách tân), Vũ Thanh Hoa đã “dám” khai phá để tạo cho mình cách thể hiện riêng trong cách dùng ngôn ngữ, hình ảnh lẫn hình thức thơ theo kiểu hậu hiện đại. Đó là điều đáng được ghi nhận ở một cây bút thơ nữ như chị.

Ngôn ngữ, hình ảnh thơ mở ra sự liên tưởng tận cùng, tạo nên sự trùng phức, hiển lộ một hiện thực đa tầng với những suy tư, nghiệm sinh mới.

– Nắng dở dang vu vơ nhặt cuối mùa,/ Cô đơn gõ những thanh âm đồng vọng./ Xao xác gió./ Ngẩn ngơ hoa trước gió,/ Nụ âm thầm./ Đắng đót  khoảng trời câm (Vu vơ nhặt).

– Đêm trườn qua dải eo thon/ đổ cơn xoáy lốc niêm phong dấu nằm (Nhất dạ tình).

– chúm chím ngực hồng sững sờ mây lụa mỏng,/ lượn sóng eo thon tẩn ngẩn biếc xanh trời,/ nhan sắc thức,/ ngày lật trang,/ đá thở (Nhan sắc).

– những giấc mơ đã mắc cạn trên nóc nhà cao ốc (Những giấc mơ mất cắp).

– Giấu đi một nụ đa tình/ Ngày xuân mơn mởn thình lình nở hoa (Lục bát xuân).

Nét nổi bật và cũng là điều làm nên sự độc đáo nhất trong thơ Vũ Thanh Hoa là phép điệp, phép tương phản được sử dụng nhiều trong hầu khắp các sáng tác của mình.

– anh yêu em/ anh yêu em/ giây giây/ phút phút/ ngày ngày/ tháng tháng/ năm năm/ anh yêu em/ anh yêu em/ nắng hồng rừng rực/ nắng nhạt môi son/ lá xanh/ lá héo hon/ mây tóc em thả dần phía khói/ anh yêu em/ anh yêu em/ thao thức vầng trăng/ mặt trời ngái ngủ rón rén bầy chim rúc rích sau thềm/ anh yêu em/ anh yêu em/ trái đất ngừng quay/ trái đất quay/ trái đất của mọi ngày/ anh yêu em/ anh yêu em/ anh yêu em… (Anh yêu em).

– một ngày không anh/ con đường thân quen trở thành sa mạc/ gom cả âm thanh hỗn phố/ lặng im chiếc lá lìa cành/ một người đi qua/ một người/ nhiều người/ ai vừa gọi tên em không nhớ nữa/ ai vừa mỉm cười em không nhớ nữa… (Phơi thơ).

Lãng quên là một bài thơ ấn tượng, mới đọc lướt qua sẽ thấy đó là những câu chữ có vẻ bình thường, câu chuyện kể cũng có vẻ bình thường. Nhưng ẩn đằng sau câu chữ và câu chuyện tưởng như bình thường ấy là cả những xao động, bất an.

Sáng chủ nhật ngồi gom những lãng quên/ cái bóng ngủ yên trên tường ố/ bài hát cũ vùi câu thơ cũ/ chiếc lá vàng rơi những hẹn hò

Mùa yêu thương sẽ dừng lại nơi đâu/ nỗi buồn dần dần xâm thực/ em giữ mãi bí mật chưa từng hỏi/ dư âm vang vọng suốt đời

… Hình như bão đang về ngoài cửa/ có một người ngồi khóc… lãng quên…

Vũ Thanh Hoa viết nhiều về tình yêu, thể hiện một tâm hồn khao khát mãnh liệt, dù phải trải qua không ít truân chuyên. Hình như nhà thơ thường dự cảm những gì đang có rồi cũng đến lúc tuột khỏi tầm tay. Cái ám ảnh nhất của đời người phụ nữ là thiếu vắng đi bóng dáng người đàn ông mà mình yêu thương .Thiếu anh rồi con sóng bỗng mồ côi/ Con tàu vẫn ngược xuôi khách đông mà sao vắng/ Cà phê đắng, sân trưa hè lặng nắng/ Em đi sóng đôi vẫn như chỉ một mình (Một nửa).

Là người phụ nữ luôn hướng đến tình yêu chân chính, thành thật hết lòng nên Vũ Thanh Hoa sẵn sàng đón nhận những biến động trong tâm hồn mình. Tìm kiếm, chờ mong, dâng hiến, hi vọng, thất vọng, hạnh phúc, khổ đau… là những trạng huống mà chị luôn gặp phải. Nhà thơ có cảm giác hoang mang, lo sợ khi tình yêu bất thành. Bởi trong đời chị rất sợ chia cách, phân ly. Vì những gì đã hằng sâu trong tâm não sẽ rất khó để phai mờ. cần bao lâu để quên/ hoá phù điêu những lần gặp gỡ/ trái tim cháy làm tan chảy tượng/ anh lạnh lùng làm tan chảy em (Cần bao nhiêu lâu để quên).

Đối với Vũ Thanh Hoa tình yêu là lẽ sống, là chỗ dựa vững chắc để chị vững bước trên mọi nẻo đường đời. Nhưng ở đời gieo những hạt mầm yêu thương chưa chắc gì đã gặt được vụ mùa hạnh phúc. Hơn ai hết, nhà thơ Vũ Thanh Hoa hiểu rõ điều đó nên chị chấp nhận nghịch lý muôn thuở của tình yêu. Anh thì vẫn một đại dương sâu thẳm/ Em chơi vơi chẳng biết dạt nơi nào/ Chiếc lá nhỏ buông mình vào biển lớn/ Chỉ nỗi buồn em nhận của riêng em… (Nỗi đau của lá).

Chị sống nhiệt thành, chân thật với khao khát và đam mê mãnh liệt. Vì thế, trong thơ chị các từ biểu lộ những cung bậc, sắc thái tình yêu được sử dụng với tần số cao: quên, nhớ, thờ ơ, lạnh lùng, nông nổi, thao thức, cô độc, thất lạc, lang thang, ký ức phù du, ăn năn, chơi vơi, giọt nhớ, không còn gì, không thể vãn hồi, mong manh, mưa ký ức, người đàn bà đi lạc, nỗi buồn qua phố, rỗng, lỗi lầm, thiêu thân, ám ảnh, lời tỏ tình, khúc ru, đoản khúc, giá như, nghịch lý, nỗi đau của lá, nỗi buồn giấu kín, tàn tro, nói với người bên kia, nợ, nỗi buồn mặc định, đêm thức, đánh rơi, đi ngược, cạn ngày…

Thời gian trong thơ Vũ Thanh Hoa là thời gian tâm trạng. Khảo sát trong hành trình thơ chị, người đọc nhận ra thời gian không theo một chiều mà có sự đan xen giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Thời gian hồi tưởng, tìm về một thời tuổi trẻ, để làm lại những điều hữu ích và quan trọng nhất là: “Chẳng bao giờ để mất anh”. Nếu thời gian quay trở lại mười năm/ Khi ấy em vừa hai mươi tuổi/ Em sẽ có nhiều điều làm lại/ Chẳng bao giờ em để mất anh

Nhưng không có thể ai níu được thời gian, nên đành phải ngậm ngùi chấp nhận một thực tế phũ phàng:

Nếu thời gian quay trở lại mười năm…/ Nhưng thời gian thì cứ trôi trôi mãi…/ Và anh sẽ chẳng bao giờ trở lại/ Em đánh rơi vụng dại một mối tình… (Nếu trở lại).

Đôi lúc, nhà thơ tự dặn lòng, mình phải can đảm mà sống mà yêu và mặc kệ tất cả:

kệ cho nỗi nhớ bập bênh/ thả trôi chiếc lá lênh đênh lạc mùa

dán vào quên một lá bùa/ đánh lừa chiếc bóng như vừa tẩy trang

thêu thùa chi những đa mang/ nỗi buồn tìm chỗ xếp hàng trong tim… (Xếp hàng).

Có lúc nhà thơ cảm thấy chới với không biết nương tựa vào đâu, khi chị nhận ra quanh mình thứ gì cũng méo mó, nhạt nhẽo, buồn bã, giả dối và khổ đau.

còn chỗ trống nào cho tôi không?/ thiên đường chật thánh thần/ địa ngục chật ma

mặt đất hằng hà người sống/ những hình hài quẩn quanh ngõ cụt/ va nhau tóe những mảnh hồn/ …

nước mắt nhạt thếch/ trắng thớ vòng ôm/ bốn ngả sân ga chất đầy mặt nạ/ tàu chưa qua mà nhỡ chuyến/ còn chỗ trống nào cho tôi không? (Còn chỗ trống nào cho tôi không?).

Hiện thực cuộc sống thời mở cửa nơi phố thị với bao bộn bề giá trị, nhà thơ đôi lúc có khao khát được “lắng lòng”, sống những giây phút bình yên. Điều đó hoàn toàn chính đáng, bởi chị đã thừa thãi những nỗi đau, bởi chị đôi lúc vì quá cả tin mà nhận về mình quá nhiều thua thiệt.

Xin một phút được rời xa phố thị /Những bon chen mua bán bạc màu/ Xin một phút không hồ nghi suy tính / Anh tin em và em tin anh (Bình yên).

Bên cạnh cái tôi đời tư – thế sự trong thơ Vũ Thanh Hoa còn thể hiện khá rõ nét cái tôi chiêm nghiệm – triết lý. Nếu cái tôi đời tư – thế sự đem đến cho người đọc sự cảm thông, chia sẻ nỗi niềm của chị trước tình yêu và thế thái nhân tình thì cái tôi chiêm nghiệm – triết lý sẽ giúp cho độc giả hiểu một cách trọn vẹn về hồn thơ Vũ Thanh Hoa. Rồi tôi chợt ngộ: Thiên đường hay địa ngục/ Với những được, thua, thành bại ở trong đời/ Cũng đơn giản như khi ta nhắm mắt/ Khe khẽ hòa mình vào màu trắng tinh khôi… (Lời cầu nguyện sau cùng).

Thơ Vũ Thanh Hoa sử dụng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, mộc mạc để diễn tả những cung bậc tình cảm, những chiêm nghiệm về cuộc đời. Bên cạnh đó, thơ chị vẫn có nhiều sự đầu tư, gia công, rèn giũa, chọn lọc ngôn từ để lời thơ không nôm na mà rất giàu tính hình tượng với việc sử dụng nhiều biện pháp tu từ. Chị có nhiều bài thơ hay được bạn đọc nhớ đến như: Xin lỗi anh, Gửi chồng cũ, Nỗi đau của lá, Trong em có người đàn bà khác, Ai nhắn mùa đông về rất vội, Những giấc mơ mất cắp, Cô độc chiều…

Vũ Thanh Hoa là người phụ nữ sống hết mình vì tình yêu và cái đẹp. Trải qua những thăng trầm của cuộc sống, sự trải nghiệm với đời và nghề cho thấy một Vũ Thanh Hoa là người đàn bà mạnh mẽ, nghị lực, giàu đức tin.

Điều đặc biệt trong thơ Vũ Thanh Hoa đó là những nỗi buồn, sự chơi vơi, cô đơn đến đậm đặc. Nhưng đó là những nỗi buồn tinh khiết, đầy kiêu hãnh, bởi ở đó ta không hề nghe những lời ai oán, trách móc não nề. Bao đắng đót, khắc khoải, lo âu của một thời đã qua, đến khi bình tâm chị nhận ra:

Bây giờ/ Insert/ ngày xưa/ nhớ quên/ / Delete/ thiếu thừa/ Cancel/ Bán buôn/ cho trắng/ nỗi buồn/ nợ nần/ vay trả/ vuông tròn/ Shut down (Lục bát @).

Vũ Thanh Hoa đã đem đến cho độc giả những vần thơ ám ảnh khôn nguôi. Thi nhân bộc lộ rõ nét một cái tôi cô đơn với những khát vọng, đam mê lớn lao về những điều kỳ diệu của tình yêu và số phận. Tiếng thơ ấy của chị mang một vẻ đẹp rất riêng, thấm đẫm chất nhân văn và tràn đầy nữ tính; góp phần tạo nên sự đa sắc hương của thơ nữ Việt Nam đương đại.

9/7/2021

Nguyễn Văn Hòa

Theo https://vanvn.vn/

Tiếng thơ Phạm Đương nhìn từ cảm thức thời gian

Tiếng thơ Phạm Đương
nhìn từ cảm thức thời gian

Đời người, nhứt là đàn ông “có chữ” (ý thơ Cao Bá Quát), ai lại không muốn lập danh. Với Phạm Đương, bút danh Trần Đăng báo đã sớm “lập danh”, còn Phạm Đương thơ tuy xuất hiện muộn hơn nhưng cũng đã gặt hái được những thành công trong dòng chảy của thơ ca đương đại. Đọc suốt ba tập thơ của anh gồm: Bùn non (2005), Những bước chân gửi lại (2007) và Giờ thứ 25 (2012), không biết có phải vì là một nhà báo chuyên nghiệp (trọng thời gian, thời điểm phản ánh của một bản tin hay không), nhưng tôi thấy, đúng là thời gian đã trở thành một cảm thức, một ám ảnh thơ của Phạm Đương.

Bạn đọc hai câu thơ này:

giăng mắc những chiếc dây vô hình

nối về một vùng sáng trong mơ sót lại

(Gió dại)

Thời gian trôi qua như mơ, thời gian vô tình nước chảy, chỉ cơn mơ còn lại. Mơ mà thật, vì nó là thời gian. Nhưng thời gian đâu chỉ là thời điểm, thời khắc, là giây, phút, giờ, ngày, tháng, năm… của nhà báo, mà nó là cái đã qua thời điểm, thời khắc, còn đọng lại, “sót lại” trong thẳm sâu vô thức của con người. Nhà báo trọng sự chính xác đến từng phút giây của sự việc phản ánh, nhưng sau cái phản ánh thực của dòng tin tức, trong lòng nhà báo chứa biết bao nhiêu nỗi đau, nỗi xót xa… của mẫu tin mình đưa nóng. Tin đó, sự kiện đó, nhưng chứa đằng sau nó là bao nỗi niềm. Thơ ở đó, Phạm Đương khuất sau Trần Đăng bắt đầu ở đó. Và nhà thơ bắt đầu nhìn nhận. Cảm thức thời gian trong thơ Phạm Đương phức tạp, đa chiều, nhiều lẽ… như chính cái sự đời phức tạp mà anh nhìn, cảm nhận qua những sự kiện báo chí với chức năng “thông tin và định hướng”. Thơ mất định hướng ư? Không đâu! Thơ dắt con người đi về bản chất đời, bản chất nhân văn của cuộc nhân sinh trên tầm nhân loại. Bản tin báo chí nào chẳng thế: thời gian, địa điểm, sự việc. Chấm hết. Còn thời gian trong cảm nhận của thơ thì quá đa chiều, phức tạp đến mức, ai cũng có thể phán: “Phi lý! Đồ điên!”. Thơ chính là cái thời gian phi lý, là cái thằng điên đầy chất người ấy. Thử cảm nhận, giải mã một vài khía cạnh thời gian thơ Phạm Đương…

1. Thời-gian-phi-thời-gian để tự nhìn nhận mình

Đó là cái “giờ thứ 25” anh tự thoát xác mình để làm một “tên khùng”, một “gã rồ” trước thơ: Bỏ lại mọi toan tính phía sau lưng/ anh có giờ thứ hai lăm khuya khoắt/ giờ thứ hai lăm ngọt nhạt/ giờ thứ hai lăm bồn chồn/ hai mươi bốn giờ đi qua nhìn anh bằng đôi mắt khác/ một tên khùng trong bóng đêm/ một gã rồ trước nến (Giờ thứ hai lăm). Cái “giờ thứ 25” ấy thực ra không thể gọi là “thứ 25” vì làm gì có thời gian đó, mà đó là cái thời gian anh nghỉ ngơi công việc thường ngày để sống với chính mình, sống thật với lòng mình: kim đồng hồ nhích dần đến khoảng tối/ nơi tôi có thể gặp lại khuôn mặt thật của mình/ sau một ngày sắm vai kẻ khác /…/ tôi hi vọng gặp lại mình một giây/ trước khi bắt đầu sắm vai kẻ khác (Những mảnh vỡ). Đọc Phạm Đương, ta chợt giật mình thon thót, vì hình như anh đã nói hộ chính ta cái 24 giờ không là ta ấy. Có những cái mà trong 24 giờ thường nhật ta tưởng thật, té ra lại là không, ta đã tự đào huyệt chôn mình cho dù đang ngả nghiêng, nói cười ồn ả: rồi mình xóa mình/ xóa cả chiếc bóng hờ bao năm tưởng thật/ xóa một màu trắng xóa/ rét run/ ồn ã nói cười ồn ã ngả nghiêng/ cố chôn trống vắng/ bằng những chiếc huyệt ồn/ làm sao lấp được? (Một ngày xanh). Sống thật với lòng mình trong cái khoảng thời gian phi thời gian ấy để những câu thơ thật sự là thơ, để cuộc sống trong veo cùng cuộc sống, để ta về lại với cái sơ nguyên bản thể của chính ta. Có thể đó là Nát bàn của Phật, Thiên đường của Đức Chúa Trời… Nhưng có lẽ đúng hơn, ít mơ hồ, xa xôi hơn tôn giáo, là chính cái Nát Bàn trong lòng của mỗi con người trần ai hướng thiện để tâm hồn không mảy may “nhiễm độc” bởi những lố lăng buôn Thánh bán Thần: anh chẳng đem lại gì cho em/ trong giờ thứ hai lăm khuya khoắt/ ngoài những câu thơ như khói thuốc/ những câu thơ không nhiễm độc bao giờ (Giờ thứ hai lăm). Chính cái thời gian “thứ 25” ngắn ngủi ấy sẽ “cứu rỗi” anh, “cứu rỗi” tôi, và thậm chí là cả nhân loại rộng lớn, cả vũ trụ bao la này còn biết mình được sống, còn thấy tương lai để mà sống giữa cuộc đời toàn cốt thép bê tông: ba phần tư ngày/ ba phần tư thời gian xoay vần trong tù mù /cơm áo/ hy vọng nửa chiều sót lại/ cứu rỗi những hố đen trên sao hỏa/ khỏi bị khỏa lấp bằng sắt thép (Một phần tư ngày). Không cần đến “một phần tư ngày” đâu, chỉ cần một sát – na “thứ 25” kia, ta biết thế giới vẫn còn tồn tại.

2. Thời gian theo dòng ký ức để nhìn nhận tình đời

Ngoài cái thời-gian-phi-thời-gian ấy, Phạm Đương vẫn thường đứng ở thực tại, đẩy cái thời gian lùi về quá khứ để nhìn nhận muôn mặt cuộc đời. Hình như với Phạm Đương, muốn nhìn nhận tình đời để thành thơ nhằm ghi lại cái điều mình cảm được trong một khoảnh khắc thời gian nào đó, anh cứ đẩy nó về quá khứ: Tình cờ gặp lại chú Năm đồng hương nơi đất Mũi/ bốn mươi năm xa quê/ chừng ấy thời gian đủ để quên nhiều thứ/ nhưng giọng Quảng thì không lẫn vào đâu được (Trên chiếu rượu với chú Năm đồng hương nơi đất Mũi). “Bốn mươi năm” lưu lạc, xa quê, mà giọng Quảng cứ y sì giọng Quảng, để từ cái chất Quảng ấy, anh nhận ra giá trị một con người, giá trị một đời người, giá trị của cuộc sống biến chuyển không ngừng nghỉ: hành trang mang theo là giọng bài chòi/ rơi rớt dọc đường cùng ghe bầu tắc ráng/ giờ chỉ còn câu vọng cổ/ mỗi câu hát một phận đời xa xứ/ lục bình trôi biết bến đỗ nơi nào (Trên chiếu rượu với chú Năm đồng hương nơi đất Mũi).

Cùng một thế hệ thơ, nhưng nhà thơ nữ trẻ hơn là Vi Thùy Linh thì phản ánh thời gian ngay trong thực tại “thế kỷ 21” mình đang đứng để chiêm nghiệm về không gian nhiều hơn là sự đẩy lùi thời gian về quá khứ: Ở thế kỷ 21, một bé trai hỏi Mẹ:/ – Mẹ ơi, Trái đất rộng lớn bằng nào?/ – Bằng ước mơ của mẹ về con/ – Còn Cha của con?/ – Người là một Thế giới (Vi Thùy Linh – linh). Còn Phạm Đương dù đang đứng ở thực tại “tuổi năm tư”, anh đã vội vàng đem  trừ “tuổi hai lăm” nơi “rừng săng lẻ” để bộc lộ ký ức của một thời những người lính Trường Sơn. Thơ Phạm Đương cứ hư thực, thực hư khi thời gian được cảm thức từ mặt sau thực tại: rừng săng lẻ năm ta hai lăm tuổi/ lá xanh hoa tím/ giờ tuổi năm tư/ hoa tím ngày xưa vẫn tím/ tóc ta nay đã sương mù (Ký ức).Và cũng trong thời máu lửa gian nan với “kỷ luật thép” của chiến tranh ấy, sau “bốn mươi mốt năm”, người đàn bà và người đàn ông ấy mới lại gặp nhau. Chứng kiến cuộc gặp gỡ éo le này trong hiện tại, Phạm Đương đã có những dòng thơ vô cùng xúc động khi anh đẩy câu chuyện lùi lại “bốn mươi mốt năm” xưa: Sáng nay nghe một chuyện không vui không buồn/ Người đàn bà sáu mươi tuổi bất ngờ gặp lại người tình cũ/ Trong trại an dưỡng thương binh nặng/ Một gã du kích cách đây đã bốn mươi mốt năm / Bà thì nhận ra ngay còn ông lơ đễnh như kẻ xa lạ/…/ trong đáy thẳm gã du kích năm xưa/ người ấy luôn luôn mười chín tuổi (Biện hộ cho những giấc mơ không có thật). Rồi lại gặp ký ức “hai mươi tư năm” của những người lính hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới phía Nam mà chính anh là người trong cuộc:

tôi gặp lại trong ký ức những hàng bia Đức Cơ

hai mươi tư năm vẫn một màu trắng xóa

(Những bông quỳ muộn).

Còn Vi Thùy Linh lại thường “khai phá nội tâm”, khám phá vũ trụ, nhân sinh ngay trong thời gian thực tại: Con đi dọc đất nước mình 7 tuần hối hả/ Tìm thêm được nơi chở che thiêng liêng: Chúa, các Thánh dưới sải tay thập tự/ Trái Đất ngơ ngác một ngày con trải rộng tán tán mây phẳng phiu tựa hồ/ Cha có thể dắt con lang thang trên ấy/ Khi soi gương và tắm, con thấy Cha, hình hài dung mạo đội kiếp trầm luân (Vi Thùy Linh – Thư gửi cha).

Đọc Phạm Đương, ta dễ nhận ra, sau cái hiện thực trụi trần của nhà báo Trần Đăng, anh là người nuôi thơ bằng ký ức, bằng những cái đã qua, mà 24 giờ trần ai có đi hết một phận người, cũng không thể nào gột sạch: có một vệt bùn trôi nhanh trong trí nhớ/ ô mô ô miếc gì cũng không tẩy được/ vệt bùn mọc rêu ký ức/ lấy nỗi nhớ ra mà giặt (Suýt nữa thì vỡ). Không chỉ có ký ức tha phương về lịch sử mở cõi của toàn dân tộc, quá khứ chiến tranh mà toàn dân tộc đã đi qua; trên bình diện rộng cả thế giới, Phạm Đương cũng dằng dặc phân thân bằng chính quá khứ nhân loại đã đi qua: chim khuôn ngọc quay về sau mùa di thực/ cây vô ưu ra hoa qua hai nghìn năm hành khất/ rơm rạ oằn lưng trong mắt người nghèo (sóng giêng hai). Ngay cả chuyện hạt thóc cổ khai quật được ở thành Dền nẩy mầm(!) trong hiện tại cũng được anh nối với quá khứ, với nhân loại bằng cái nhìn đối sánh để nâng tầm rộng của chiều liên tưởng thời gian, để cân bằng chính mình giữa muôn biến thiên của xa rộng cuộc đời: Những hạt thóc bị giam suốt ba ngàn năm/ giờ vẫn nảy mầm/ không một nhà tù nào có thể nhốt được khát vọng (Hạt thóc và bom). Giữa “Những hạt thóc bị giam suốt ba nghìn năm” và “Những trái bom mai phục trong đất ba mươi lăm năm trước”, cái thì “nẩy mầm khát vọng”, cái lại “bị xới tung lên vung vãi tội ác”, làm sao có thể cân bằng?: chúng ta đang đi trên những chiếc dây/ căng qua đời sống/ tìm sự thăng bằng giữa hạt thóc và bom (Hạt thóc và bom).

Về với cuộc sống đời thường, cả những chuyện trớ trêu, vặt vãnh hàng ngày, Phạm Đương vẫn cứ đẩy lùi thời gian về phía của ký ức. Mà một khi phủ lên chuyện thường ngày lớp sương của quá khứ, của ký ức, thơ Phạm Đương cứ đẩy người đọc về phía bồng bềnh của những liên tưởng, để bất chợt nhận ra một nụ cười thật buồn, một ý vị triết lý sâu cay qua cái giọng thơ tưởng cứ cợt đùa theo kiểu Phạm Đương: mười năm ở nhà chật/ lúc nào cũng canh cánh bên lòng/ không biết đêm nay có thằng bạn nào say rượu xin ngủ nhờ không?/…/ cả trăm bài thơ từ căn nhà chật/…/ ba tháng rộng cửa cao nhà/ rồi một năm tường cao kín cổng/ vẫn chưa thấy có đêm nào ngủ yên/ vẫn không thấy có thằng bạn nào say rượu/ xin ngủ qua đêm/ một câu thơ cũng không viết nổi/ bỗng thèm cái thời nhà chật/ hỏi có điên không?(Một thời nhà chật). Ai điên, ai tỉnh trong cái chuyện thường ngày này? Nhưng rõ ràng, nhà thơ chính là người tỉnh nhất. Tỉnh để nhận nhìn phía sau cái kín cổng cao tường kia, phía bên dưới của tòa nhà cao tầng kia,… ký ức của một thời – “Một thời nhà chật” mà tràn đầy nhân ái, ăm ắp những câu thơ.

Ký ức ám cả đến chuyện tình yêu “hai mươi ba năm”: em vẫn như hai mươi ba năm trước/ ám vào tôi không gỡ ra được/…/ hai mươi ba năm sau/ kem đã tan thành nước/ sao tôi còn nghe buốt (Hai mươi ba năm). Cả chuyện mới diễn ra chỉ có “ba trăm sáu tư ngày”: có một thằng đàn ông/ chẳng thèm buông nửa câu thề thốt/ lặng lẽ theo em cuối đất cùng trời/ đủ ba trăm sáu tư ngày/ chỉ trừ/ mùng một tháng tư (Cá tháng tư). Và… chuyện vợ chồng “bao năm qua”: bao năm qua/ anh luôn để ngỏ tất cả các lối vào/ không dựng trạm thu phí/ bởi anh tin vào sự lương thiện/ khi kẻ trộm vào nhà ta/ bằng những bước chân không hề lẻn/ ấy là lúc/ những chiếc khóa tâm hồn trở nên vô nghĩa (Nhè nhẹ). Kẻ trộm vào nhà một cách ngang nhiên “không hề lẻn” vì đã có “tín hiệu báo yên” của người trong nhà thì rõ ràng, không ai có tài nào “giữ của”, cho dù đó là “của quý” nhất trên đời. Khi mà niềm tin tuyệt đối vào sự lương thiện bị đánh tráo, thì “chiếc chìa khóa tâm hồn” cũng bị vô hiệu huống hồ là những chùm chìa khóa thật khóa chặt các tường rào, cổng ngõ, cửa nhà… Đọc những câu thơ bình thường này mà bỗng thấy “kinh”, thấy “rợn”. Phạm Đương đã làm được điều đó.

Trong khi đó, cách nhìn nhận về thời gian của Nguyễn Thế Hoàng Linh ít bị chi phối bởi những ám ảnh quá khứ. Nhà thơ trẻ này vẫn thường đặt mình vào thời gian thực tại cho dù ước mình “được chết” để “nằm im” cho thực tại “tuôn trào” cũng chỉ chết ngay trong thực tại: Giá mà được chết đi một lúc/ nằm im cho cuộc sống nhỏ tuôn trào/ nếu người ta tống ngay vào nhà xác/ cứ thế mà chết cóng cũng chẳng sao (Nguyễn Thế Hoàng Linh-Giá mà được chết đi một lúc). Tôi có cảm giác, thơ Phạm Đương chỉ cần đọc đã thấy thích, cảm được cái lạ rất bất chợt, mà chẳng cần nhọc công phân tích, vì những chuyện thường ngày anh viết ra, chẳng có gì là lạ. Tất cả đó, cứ đọc lên thấy xót, thấy vui, thấy hay, thấy lạ… Và đặc biệt là người đọc nếm được vị đắng triết lý cuộc đời qua cái giọng thơ không lấy gì làm nghiêm trọng của anh.

3. Lỡ nhịp thời gian

Cái vị đắng triết lý càng thấm đượm ở những bài thơ, những đoạn thơ viết về những hối tiếc, nuối tiếc đã vuột khỏi tầm tay trong dòng chảy thời gian:

năm mươi tuổi làm điều chi cũng muộn

ước điều chi cũng quá trễ tràng

(Đà Lạt).

Những loài hoa khác nở vào cuối mùa cũng chẳng ai cho là muộn, là trái mùa. Nhưng hoa mai lỡ hẹn không rộ nở được vào dịp tết thì xem như đã vô duyên vì đã quá muộn màng, cho dù vẫn còn đó sắc vàng gắng gượng: Những đóa mai cuối mùa/ gượng vàng lên lần chót/ anh biết/ em đã lỡ một nhịp/ lỡ một nhịp/ bông vẫn vàng cây vẫn xanh chồi xanh chầm chậm/ chẳng hiểu vì sao/ mùa gọi mùa đi đàn chim sẻ chưa bao giờ trễ hẹn/ mất mùa lúa úa cả mùa cau hết nơi chim làm tổ (Một ngày xanh). Chỉ “lỡ một nhịp” thời gian thôi, tất cả rồi cũng vô tình đi qua tự nhiên như “cây xanh chồi”, như “mùa gọi mùa chim về đúng hẹn”, nhưng “lỡ một nhịp” dù chỉ là cái sát-na bé nhỏ trong thân phận người, là mất đi tất cả:

anh bị hất ra rìa cơn bão giá

chợt thấy mình chưa kịp nở đã già nua…

(Nhịp mùa).

Và cái cảm giác muộn màng giữa bóng đêm và ánh ngày này, cứ rờn rợn trong ta khi lỡ để trượt qua dù chỉ một phút giây trong dằng dặc kiếp người: Chỉ còn lại những bông quỳ muộn/ run lập cập/ trong bóng đêm/ nơi ánh ngày vừa tắt/ tôi muộn màng như một bông quỳ/ mơ giấc mơ sũng nước/ đêm mùa khô Tây Nguyên/ gió trôi ngược (Những bông quỳ muộn). Đã lỡ nhịp rồi, dù có cố mượn thời gian để “vá vết thương” thì vô tình anh lại cố tình rạch thêm vết thương lòng mà mỗi lần khâu là mỗi lần “đầm đìa” máu đỏ: anh như chiếc đồng hồ ngược/ mượn thời gian vá vết thương khuya/ ai đã rạch một đường hư ảo/ để anh khâu những nhát đầm đìa?(Ý nghĩ rách). Ôi! Dài rộng là thời gian, chữa lành vết thương cũng nhờ vả thời gian. Nhưng sao cái thời gian lỡ nhịp của Phạm Đương cứ mê hoặc ta bằng những ám ảnh của sự mất mát. Cái “đoạn trường lỡ nhịp” của Phạm Đương là những khoảnh khắc thơ độc sáng bằng một lối nói thẳng thừng mà có khả năng xuyên thấu, “cứa” vào lòng người đọc một cảm giác xót xa…

Có thể nói, nằm trong mặt bằng của thi ca đương đại qua đối chiếu sơ bộ với các thế hệ thơ từ 5x (Mai Văn Phấn) đến cùng lứa 6x với Phạm Đương (như Nguyễn Thanh Mừng) và các đại biểu của thế hệ trẻ hơn: 7x (Phan Huyền Thư) và 8x (Vi Thùy Linh, Nguyễn Thế Hoàng Linh), Phạm Đương vẫn có một giọng thơ riêng không trộn lẫn, ít nhất là trong phạm vi cảm thức về thời gian ở bài viết này. Nếu Mai Văn Phấn đột phá bằng một giọng thơ tự “cách tân” mình một cách mạnh mẽ; Nguyễn Thanh Mừng vẫn giữ “nguyên giọng” cổ điển dễ đọc, dễ hiểu; Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Nguyễn Thế Hoàng Linh khẳng định giọng thơ bằng một “tiếng nói mới của thế hệ thơ trẻ” sau thời kỳ đổi mới thì Phạm Đương lại chỉ “đổi giọng” một cách trình tự qua từng tập thơ. Thơ anh mới và lạ hơn so với Nguyễn Thanh Mừng nhưng cũng đễ đọc, dễ hiểu hơn so với Mai Văn Phấn, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh và Nguyễn Thế Hoàng Linh. Chính sự đa dạng giọng điệu này của từng tác giả, mỗi nhà thơ đã có những đóng góp đáng kể trong tiến trình đổi mới thơ ca đương đại. Và tất nhiên, trong đó có Phạm Đương.

13/7/2021

Mai Bá Ẩn

Theo https://vanvn.vn/

Thơ tình Trần Nhuận Minh

Thơ tình Trần Nhuận Minh

Trần Nhuận Minh không may mắn trong tình yêu đầu đời. Nhưng với độc giả đọc thơ ông có thể nói là “may thay…”. Bởi chính cuộc tình không thành của ông đã để lại cho đời những bài thơ tình làm rung động lòng người. Đó là niềm đắm say kỳ diệu chất chứa sự viên mãn của đời, là cảm giác thổn thức… trước một mối tình đã để mất, trước một vẻ Đẹp mãi mãi lùi xa. Rồi một chạnh lòng xót xa trước những kỷ niệm xưa, một ước vọng tái sinh để được yêu lần nữa…

“Thì em xa

Em đã quá xa rồi…”

(Thơ Trần Nhuận Minh)

1. Trần Nhuận Minh (TNM) là nhà thơ hiện thực (“hiểu theo ý nghĩa nghiêm chỉnh nhất của từ này”, Vũ Quần Phương). Thơ ông da diết một nỗi niềm nhân thế, một nỗi đau nhân sinh. Chính TNM cũng nói về thơ mình, “…. nỗi ám ảnh xuyên suốt (trong thơ ông – NTL) là số phận của nhân dân, cuộc thành bại của đời người”. Những bài thơ hiện thực ấy (bao gồm thơ thế sự, thơ chân dung, thơ chiêm nghiệm…) được nhà thơ viết bằng bút pháp hiện thực nghiêm ngặt, sâu sắc và hàm súc.

Nhưng TNM không chỉ làm thơ hiện thực, TNM còn viết nhiều thơ trữ tình đặc biệt là thơ tình. Tình yêu – cái đề tài vĩnh cửu của văn học xuất hiện nhiều trong thơ ông. Trong hàng chục tập thơ của TNM, hầu như tập nào cũng có vài bài thơ tình. Tập “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh” nhà thơ đã dành 2 khúc (khúc 19, 45) cho tình yêu. Tình yêu chính là nguồn cảm xúc vô bờ cho thơ TNM. Lãng mạn, mộng ảo, trữ tình còn là cõi để thơ ông rộng cánh.

2. Muốn làm được thơ tình, người viết phải có “trải nghiệm”. Khác với nhiều người đàn ông có thể có nhiều người tình, theo tác giả Lê Thị Thanh Bình “Nhà thơ Trần Nhuận Minh khẳng định chắc chắn như đinh đóng cột rằng, trong đời ông, ông từng và chỉ yêu có hai người. Người đầu tiên là mối tình đầu (cũng là mối tình lớn của đời ông – NTL) trong trắng và thơ dại, nhưng cũng đủ làm đau rát tâm hồn ông trong một quãng thời gian dài, để đến mức nhà thơ Trần Đăng Khoa em ông, lúc 10 tuổi đã từng ứng khẩu hai câu thơ đùa giỡn ông “Thề không lấy vợ suốt đời/ Hôm nay bỗng thấy một trời nhớ nhung”… (Nhung chính là tên cô gái ấy – mới thấy cái tài của cậu bé Trần Đăng Khoa). Người thứ hai ông yêu chính là người vợ hiền của ông ” ( mà trong một bài thơ, ông đề tặng “nàng ” là D. ) Trong thơ ông, hầu hết các bài thơ tình, ông viết về người yêu cũ như một sự đền bù những mất mát trong cõi xa vắng của tinh thần, có lần ông nói vui rằng, yêu một người yêu cũ – dù chỉ để có nỗi niềm thật mà làm thơ thôi – lòng vẫn nhẹ nhõm hơn, trước hết, ngay người vợ của mình, cũng không cho mình là một kẻ bội bạc.

Với nhiều người làm thơ, mỗi bài thơ tình có thể có một “nhân vật trữ tình” khác nhau. Các nhân vật “em” “nàng” trong bài thơ tình chưa chắc đã là nhân vật có thật. Có thể đó chỉ là những ảo ảnh lãng mạn, mộng mơ, sản phẩm của trí tưởng tượng hoặc rất nhiều người tình tồn tại trong nhân vật “em” “nàng” ấy. TNM thì khác. Trong thơ tình của ông (và cả ngoài đời) ông không có người tình mộng mị. TNM tự phong cho mình “là người viết những bài thơ tình đích thực”. Bởi “nhân vật trữ tình” trong những bài thơ đó là hoàn toàn có thực, hiện hữu và ám ảnh. Người phụ nữ ấy là người tình chói lọi, là nguồn cảm hứng quý báu để TNM viết nên những bài thơ tình làm thổn thức trái tim người yêu thơ. “Em” là linh hồn của mảng thơ đặc sắc trong sự nghiệp thi ca của TNM, xuyên suốt con đường thơ và cuộc đời dài dằng dặc của ông; người đó đã để lại vết thương lòng trong ông. Theo thời gian, vết thương ấy cứ tưởng nó sẽ lành nhưng thực ra không thể lành được. Mối tình ấy, đến lúc chết có lẽ sẽ không thôi ám ảnh ông, chính nhà thơ cũng thừa nhận:

“Khi nằm co chân lên, đầu gối chạm

đỉnh trời hình chữ nhật (* tấm ván thiên)

Yêu em vẫn là lần thứ nhất”

Người đó đã rất xa ông cả không gian và thời gian, giờ đây chỉ nằm trong kí ức, hoài niệm; nếu có gặp cũng chỉ gặp….trong mộng. Người phụ nữ ấy –  “nàng thơ” của ông – lúc bảng lảng mơ hồ như một chút “ nợ nần khói sương”: một vầng trăng bên trời, một giọt sương đầm đìa, một áng mây bồng bềnh trôi lãng đãng ở cuối trời xưa, một dấu chân để lại, một ngọn gió thoảng qua, một làn khói sương hư ảo, một ánh nắng mong manh, một hương xuân, một bóng xưa, nếu rõ hơn là một “màu” thì lại là màu thu, màu xưa, màu quên…, lúc lại hiện ra cồn cào, đau đớn trong thi sĩ.

Ông đã viết về “em” về mối tình của mình trong những bài thơ tình mong manh, ngắn ngủi, nhưng mãnh liệt đầy cảm xúc và hầu hết những bài thơ tình đó đều từ cái nhìn “ngoảnh lại”, đều ở “thì” quá khứ, đều ở “thuở” xa xôi. Ta hay gặp trong thơ tình TNM những từ “xưa” “cũ”: ngày xưa, trời xưa, bóng xưa, mắt môi xưa, hồn xưa, màu xưa, đóa xưa, hay nhà cũ, người tình cũ….

3. Đọc thơ TNM, ta như được chứng kiến lịch sử tâm hồn trái tim, lịch sử tình yêu của nhà thơ; một mối tình sâu đậm từ thuở hoa niên, đến lúc hai người chỉ còn “ở hai đầu nỗi nhớ” với những tiếc nuối khổ đau trọn kiếp cho người ôm trọn mối tình: “Lòng ta chôn một khối tình/ Tình trong giây phút mà thành thiên thu” (Tình tuyệt vọng….Felix Arvers)

Bắt đầu từ “cái thuở ban đầu lưu luyến”  ấy, nhà thơ TNM đã thật thà kể lại trong bài “Đêm ấy rừng thu”:

…“Anh muốn nắm tay em mà không dám nắm tay em

Mỗi chiếc lá là một con mắt nhìn

Đứng ở chỗ nào cũng thấy trống trải”

... “Cây lá nói với nhau là chúng yêu nhau

Anh cũng muốn nói với em điều ấy

nhưng anh im lặng

Chân tay chẳng biết để làm gì…”

Một tình yêu kiểu học trò, thuần túy tinh thần trong trắng, tinh khiết. Thầy giáo trẻ TNM ngày ấy, đi chơi với người yêu trong rừng nhưng không dám cầm tay người yêu và nói lấy một từ “yêu”. Anh giữ một khoảng cách đủ cho sự thiêng liêng, thánh thiện của tình cảm hay anh không đủ “dũng khí”, còn rụt rè “ngu ngốc” để sau này nhớ lại phải nuối tiếc, dằn vặt vì đã “lỡ” đánh mất người mình yêu?

Tình yêu ấy, sau bao năm độ cảm xúc nồng nàn trong thơ TMN không hề thay đổi, cho đến chặng cuối cuộc đời, khi những dự cảm đầu tiên về cái chết tưởng như đã rất gần, vẫn đau đáu trong ông. Bài thơ “Liệu có kiếp sau….” được TNM làm ở bệnh viện K. (2012), ông viết về những ước mong của mình với nỗi buồn mênh mông tràn ngập cả cõi lòng; ông lại nhớ về người phụ nữ ấy với ước ao:

“Liệu có kiếp sau không, để ta lại bắt đầu”

“Liệu có kiếp sau không, để ta lại yêu nhau”

Ngọn lửa tình yêu được thổi bùng lên cùng với tình yêu sự sống, yêu cuộc đời, yêu con người ở những tháng ngày ấy.

4. Thơ tình của TNM cũng như tâm hồn ông: phong phú và nhạy cảm với vô vàn những cung bậc cảm xúc khác nhau: bao nồng nàn đắm say, bao khao khát mộng mơ, bao nhớ mong da diết, bao bâng khuâng xao xuyến…rồi những hờn giận, những tái tê, những trách cứ muộn phiền, những day dứt nát tan, những buồn bã xót xa, và hơn cả là nỗi đau mất mát mà người làm thơ càng cố quên đi thì càng đau, càng nhớ.

Ta hãy lắng nghe những cung đàn cảm xúc ấy, bắt đầu là niềm hân hoan đắm say.

“Em yêu ơi, em của thời đắm say”: Cái thời đắm say ấy được Puskin kể trong bài thơ “Vô đề” nổi tiếng của mình, còn TNM kể về nó trong bài “Đêm ấy rừng thu”

“Đêm ấy rừng thu, nhiều trăng quá, nhiều trăng quá

Vàng rót tràn trời…

“Đêm ấy rừng thu, nhiều gió quá, nhiều gió quá

Cây lá rì rào

Cây lá nói với nhau là chúng yêu nhau”…

“Đêm ấy rừng thu, thơm lạ lùng, thơm lạ lùng”…

“Đêm ấy” là cái đêm anh cùng em đi chơi trong rừng

Dù đã bao năm rồi ngoảnh lại, anh vẫn nhớ cái khu rừng ấy với khung cảnh thần tiên huyền diệu khi ta bên nhau. Cảnh như phụ họa với lòng người: đẹp lạ lùng, hấp dẫn lạ lùng….Người đang yêu đang trong một tâm trạng toại nguyện, sung sướng. Những chữ “quá” “lạ lùng” nói lên niềm hạnh phúc tột cùng, cảm giác thiêng liêng của chàng trai.

Ở đây, trong “bức tranh” tình yêu của TNM, thiên nhiên là một mảng màu đẹp đẽ. Tất cả rừng thu, gió thu, trăng thu đều huyền diệu đều lên hương. Thiên nhiên được cảm nhận bằng sự hòa điệu tuyệt vời với tâm trạng của kẻ đang yêu. Tất cả vượt lên cõi tầm thường. Thế giới quanh anh đầy màu sắc, hương thơm, sống động rạo rực. Phải chăng, nơi nào có tình yêu, nơi đó luôn có điều kì diệu?

Điều kỳ diệu ấy, người đọc còn gặp trong khúc 19 của tập thơ “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh”. Khi nhân vật trữ tình “ta” được ở bên “em” thì “những ngôi sao” cũng “yêu nhau” “ríu rít ở trên cành”. Cảnh trong mắt của kẻ đang yêu cũng được ảo hóa.

Cảnh như thế, còn người?

Trong mắt “anh”, “em” bao giờ cũng hiện ra thật đẹp đẽ, ngát hương:

“Tà áo em đầy gió

Vòm ngực em đầy gió

Đôi môi em đầy trăng

Đôi mắt em đầy trăng…..”

(Đêm ấy rừng thu)

Em hiện ra với chữ “Em” viết hoa:

“Buông trên vai Em

Mà đêm mượt như nhung

Lọc qua áo em mà hương trời thơm vậy”

(Khúc 19 – 45 Khúc đàn bầu của kẻ vô danh)

Dịu dàng, âu yếm, nồng nàn biết bao. Thật là những lời nói “dễ ưa” của kẻ đang yêu

Em luôn luôn hiện hữu trong anh, có lúc xa xôi huyền ảo, sáng trong như ánh trăng thu

“Em hắt lên anh màu thu biếc người

Em như vầng trăng sang bên kia trời”

(Màu xưa)

Nhưng cũng có lúc gần gũi, thân thiết, ấm áp

“Em đến bất ngờ trời rét dữ

Cây bàng rụng lá đứng run mưa

Ơ kìa, bên cửa bông hồng trắng

Lại nở thơm lừng một đóa xưa…

(Em đến, 1991)

Hạnh phúc thật bất ngờ. Một ngày đông lạnh giá, lung linh một đóa hồng (biểu tượng của tình yêu, của trắng trong, thanh khiết) hiện bên cửa nhà anh. Bao năm rồi gặp lại, giờ đây em đã là một thiếu phụ (có thể già đi, “cũ” đi), nhưng trong mắt anh em vẫn đẹp, vẫn ngát hương như thuở nào, em – “một đóa xưa”

Bài thơ tứ tuyệt nhỏ ngọn, xinh xắn gơi ta nhớ về khổ thơ trong bài “Bài thơ về hạnh phúc” của Dương Hương Ly:

“Trong một góc vườn cháy khét lửa napan

Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc

Và em gọi đó là hạnh phúc”

Dù văn cảnh của hai bài thơ khác nhau, nhưng cái cảm giác hạnh phúc bất ngờ khiến hai nhân vật trữ tình ngỡ ngàng, sửng sốt thì đều như thế.

Bài thơ viết khi TNM đã sắp sang tuổi ngũ tuần (nhà thơ sinh năm 1944), đã qua rồi cái “thời hoa đỏ” nhưng thơ ông vẫn trẻ trung nồng nàn, say đắm

Đã yêu thì phải nhớ vì “nhớ” là một trong những thuộc tính của tình yêu. Nhà thơ Lưu Quang Vũ trong một vở kịch cho rằng cõi âm có không thì không biết nhưng cõi nhớ thì có thật. Ca dao xưa có câu: “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”. Thơ tình TNM cũng nói nhiều về nỗi nhớ. Khi xa cách chia ly thì vẻ đẹp của nỗi nhớ xuất hiện. Xét về “cường độ” thì nỗi nhớ người yêu của TNM không kém gì chàng trai trong câu ca dao.

“Lòng tôi lúc nào cũng như lửa đốt, cũng như dao cắt

Nỗi nhớ là gì mà không thể nào nguôi”…

(Kí ức)

Nỗi thương nhớ bồn chồn cứ dày vò, “hành hạ” kẻ đang yêu

Và khi: “Tôi tìm về ký ức thuở xa xôi”

Thì: “Em ở đâu? Chẳng còn ai biết nữa”

Chỉ thấy:

“Tháp Rùa vẫn dửng dưng sau màn xanh liễu rủ

Gốc phượng em ngồi xưa, ai đã khoét  đi rồi”

Nhà thơ Bairơn (Anh) đã từng viết: “Những hình ảnh thoáng qua trước mắt chúng ta mà chúng ta đã thấy thì từ nay trở đi sẽ không bao giờ tìm thấy nữa, nhưng đối với những trái tim yêu, có thể lại được “nhìn thấy” trong giấc mơ, trong ký ức, trong hoài niệm”

Trở lại bài thơ “Ký ức” của TNM, kỷ niệm cũ cứ ùa về trong cõi nhớ của “nhân vật trữ tình”. “Em cứ rõ mồn một trước mặt với biết bao hoài niệm, bao hình dung tưởng tượng”

“Bác xích lô ngủ trưa, nằm cong,

ngón chân chĩa lên trời

Em đã đứng chỗ này, chờ tôi trong gió lạnh

Cái bím tóc dưới ánh đèn lấp lánh

Tàu điện qua làm tà áo em bay”…

Nhớ cụ thể như thế là nhớ sâu

Chìm đắm trong hoài niệm, thơ TNM thấp thoáng “Bóng xưa”

“Nhà cũ mười năm còn ngơ ngác

Sân thu vẫn đợi bước em về

Ánh trăng đêm ấy mười bảy tuổi

Biết có bay vàng trong ngõ quê”…

(Điền Trì, 9/2009)

Bài thơ tứ tuyệt đẹp và buồn. Thương lắm những từ” “ngơ ngác”, “đợi”. Tất cả vẫn như xưa: ngôi nhà cũ, cái sân nhỏ, ánh trăng, ngõ quê, chỉ vắng em. Tất cả vẫn đợi em về. Và ẩn sau đó là lòng người vẫn còn “ngơ ngác”: thảng thốt trước cảnh đó mà người đâu, giống như tâm trạng của chàng Kim khi trở về vườn Thúy

“Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm  ngoái còn cười gió Đông”

Và “Đi về này những lối này năm xưa”…

Nỗi nhớ em thường hiện về trong giấc mộng của người làm thơ. TNM hay viết về “chiêm bao”, vì đó là ký ức (tài sản để lại của mối tình dang dở, là “âm bản” của một trái tim thương nhớ). Trong bài “Chiêm bao” , “em” “Hiện lên hờn dỗi rồi đi”. Em “giận”, em “trách” tôi, em làm tôi “khắc khoải không yên”, em làm tôi xót xa.

“Xa nhau mấy chục năm nay

Gần nhau dù một phần ngày cũng không”

Những giấc mơ ấy đã “dày vò” hiện tại

Trước sau, TNM vẫn là người hoài niệm

Thời gian trôi đi sẽ phủ một lớp bụi mờ lên kỉ niệm. Rồi mọi thứ sẽ dần rơi vào quên lãng. Nhưng với TNM, kỷ niệm không mất đi, vẫn nằm đâu đó, lẩn khuất trong một góc sâu thẳm của tâm hồn, chỉ chờ một dịp nào đó để bùng lên và dòng nhớ theo đó mà ùa về ngập cõi lòng. Con người đó càng sống nhiều năm tháng, càng trải nghiệm, càng mong nhớ. Trái tim yêu của TNM “không một phút bình yên”

Nhưng người tình đó không chỉ nhớ. Có khi còn có những lúc bâng khuâng:

“Bây giờ em có chồng rồi

Sao em vẫn mặc áo hồi anh may…”

(Bâng khuâng)

Về bài thơ, tác giả Hà Khải Hưng (bút danh của nhà thơ Phạm Khải)  đã nhận xét thật ý nhị “Bài thơ chỉ vẻn vẹn có hai câu, mà ngẫm đi ngẫm lại vẫn thấy bâng khuâng”

Có khi là những hờn giận. Trong tình yêu “Được giận hờn nhau vui sướng biết bao nhiêu” (Xuân Diệu), bởi giận hờn cũng là một thứ gia vị của tình yêu. Tình yêu nào mà chẳng có giông bão giận hờn nhưng khi em “quay đi” thì không chỉ giận hờn mà là chua chát đắng cay, là nỗi đau , là nỗi buồn tê tái.

Trong “Bài thơ không gửi cho ai” TNM viết

“Ngoài làn mây trắng bay ở ngang trời 

và trái tim xanh đập trong lồng ngực

anh chẳng có gì đâu

Em quay đi là phải quá rồi tiếc nuối làm chi thời dang dở”…

Nói “nuối tiếc làm chi thời dang dở”, nói vậy nhưng không phải vậy. Đó chỉ là cách nói giận hờn của chàng trai mà thôi. Bởi vì, anh vẫn luôn ao ước một lần được gần bên em:

“Anh vẫn ở bên em. Làm sao em biết được

Ấy là khi môi em mơ hồ như thoáng ướt

Và dịu dàng, em thấy ấm ở lòng tay

Và khi gió không lùa… mà tà áo em bay….”

 (Em có về Hạ Long)

Vẫn nồng nàn, dịu dàng, ấm áp dù anh không ở bên em : “dù anh đã lẫn vào trời biếc”…

“Không gì đau khổ bằng sự hối hận: Thơ tình TNM cũng có nhiều ân hận, tiếc nuối. “Thơ tình ngày không em” là một bài thơ đầy hối tiếc, dằn vặt với tình xưa. Bài thơ này đã được nhiều bạn trẻ yêu mến và đồng cảm:

“Nếu biết rằng sẽ chẳng gặp lại nhau

Anh đã chẳng buộc em bao tội lỗi

Em đứng lặng. Mặt úp vào bóng tối

Khổ thân em có nói được gì đâu…

Nếu biết rằng sẽ chẳng gặp lại nhau

Anh đã chẳng hẹn em đêm ấy nữa

Để quá khứ chỉ còn là thương nhớ

Và tương lai ít ra cũng ngọt ngào…

Nếu biết rằng sẽ chẳng gặp lại nhau

Anh đã chẳng trách em yêu người khác

Điều đơn giản bây giờ anh mới biết

Thì em xa

Em đã quá xa rồi …

(1970)

Nếu “sự nuối tiếc là nỗi đau của ký ức” thì bài thơ tràn đầy nỗi đau. Điệp khúc “Nếu biết rằng sẽ chẳng gặp lại nhau” lặp lại ở ba khổ thơ như một sự tự dày vò, tiếc nuối, ân hận. Nhân vật “anh” tự dằn vặt, tự trách mình nhưng cũng chẳng làm lại được bởi “Em đã quá xa rồi” , và cũng bởi nói như một triết gia Hy Lạp cổ đại “Có ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông?”

5. Thơ tình TNM dồi dào những cung bậc cảm xúc nhưng đọng lại trong thơ ông hơn cả là nỗi buồn. Thơ tình TNM là vẻ đẹp pha trộn giữa hân hoan và khổ đau. Tình yêu dù ở tuổi nào, muôn kiếp muôn đời vẫn là hạnh phúc và đau khổ, ngọt ngào và cay đắng, thiên đường và địa ngục.

TNM có khát vọng tình yêu tha thiết, yêu hết mình. Tình yêu của ông thật sâu đậm nên khi giấc mộng tình tan vỡ, vết thương lòng trong ông càng đau. Chấp nhận mọi sự đã an bài như là số phận, và dường như thế,  những bài thơ tình TNM thật buồn. Vả lại, ngôi nhà của thơ là ngôi nhà mang “địa chỉ buồn”, “thơ gần nước mắt hơn là nụ cười”, vì vậy buồn đau là cảm xúc bao trùm trong hầu hết những bài thơ tình của TNM.

Nỗi buồn trong thơ TNM có khi mong manh, thoáng qua, tinh khiết cũng có khi xót xa, đắng đót. Nhà thơ có nhiều bài thơ hay mang âm điệu buồn này: Mùa thu đến, Tím biếc, Màu xưa, Vào phút ấy thì em nên đến nhé, Liệu có kiếp sau…..

“Mùa thu đến” là một bài thơ đẹp về ngôn từ, thi ảnh, nhịp điệu và buồn trong cảm xúc:

“Mùa thu đến thăm tôi và để lại

Bước chân vu vơ… những chiếc lá vàng

Và nỗi buồn mong manh tinh khiết

Giữa sắc trắng mây trời bay lang thang…

Mùa thu ở trong tôi và đánh mất

Mối tình tươi non thuở nào thuở nào

Em yêu ơi,  thôi em đừng thổn thức

Dày vò tôi qua mấy cõi chiêm bao…

Mùa thu bỏ tôi đi và vứt bỏ

Bao mộng mơ cuối gió heo may

Tôi chỉ còn một giọt sương lạnh buốt

Đọng không tan từ thuở thơ ngây…”

Nỗi buồn trong bài thơ thật dịu dàng, thấm thía và mong manh, tinh khiết. Đó là nỗi buồn khi mùa thu của đất trời, mùa thu của cuộc đời đến… Tất cả những gì là xanh tươi, là mộng đẹp đã để lại phía sau và cái “giọt sương lạnh buốt”, “đọng không tan” trong trái tim nhân vật trữ tình từ “thuở thơ ngây”, thuở “mộng mơ” ấy có phải là mối tình buồn bã với “em yêu”

Trong bài thơ “Chiêm bao”, TNM cũng từng thú nhận:

“Nỗi gì khắc khoải không yên

Đập như giọt đắng trong tim thế này”

Còn trong bài “Cho ta hỏi” nhà thơ thú thật với em”. Khi “ta cũng phải ra đi” thì:

“Chỉ có trái tim yêu, là còn bâng khuâng đập

Thảng thốt, xót đau…

Dưới nấm cỏ xanh rì”

Nhân vật trữ tình ở cả ba bài thơ vẫn giữ cho riêng mình khối tình cảm xót đau. Những câu thơ ấy gợi nhớ đến chàng Trương Chi xưa đã đi vào huyền thoại như biểu tượng cho mối tình tuyệt vọng.Chàng nghệ sĩ chèo đò ấy khi sống không lấy được Mỵ Nương, khi chết quả tim chàng đọng lại thành viên ngọc. Như vậy, Trương Chi thân dẫu chết đi nhưng món nợ tình ấy như một khối ngọc trĩu nặng và thuần khiết còn đeo đẳng chàng không bao giờ tan. Dựa vào điển tích ấy, Nguyễn Du đã viết hai câu Kiều bất hủ: ..“Nợ tình chưa trả cho ai/ Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”để nói về mối tình nàng Kiều với chàng Kim Trọng. Con người ở thời đại nào cũng vậy khi gặp một bi tình thì đều mang một trái tim đau bị tổn thương như thế…

Sau này, trong bài “Lửa” (1985) TNM lại viết:

“Có thể sau này, khi tôi chết

Những nỗi niềm thành khối vẫn không tan”

Bài “Tím biếc”, cũng vẫn xao xác một nỗi buồn như vậy

Bài thơ được viết ngay sau buổi chiều khi vợ chồng người yêu cũ từ nơi xa về Hạ Long nghỉ mát tìm đến nhà TNM, lúc ấy ông đi vắng. Gần 30 năm sau, đúng dịp sinh nhật lần thứ 50 của ông… Tất cả như “thức dậy” trong trái tim buồn nhớ:

“Cây cỏ vô tình nhuốm nỗi dở dang em

Gió thổi suốt đêm trăng mười bảy tuổi

Em ở đâu? Trời dịu dàng bối rối

Thả vào hồn ta giọt sương cũ đầm đìa…”

Buồn hơn cả vì tất cả đã trôi vào dĩ vãng. Tất cả đã trôi về “cuối trời xưa”

“Năm tháng qua đi. Vui buồn cũng qua đi

Ta cúi nhặt dấu chân thời mây nước

Bồng bềnh hỡi làm sao mà tới được

Một màu quên….lãng đãng

Cuối trời xưa…”

“Làm sao mà tới được”, một câu hỏi day dứt hay một lời cảm thán? Bài thơ buồn mênh mông.

Càng về sau khi bước sang mùa đông của cuộc đời, thơ tình TNM càng thấm thía nỗi buồn đau, càng chất chứa nỗi suy tư – những suy tư mang đậm màu sắc triết học. Ấy là khi nhà thơ đã thấy mình đã bước vào chặng cuối như nhà thơ Vũ Quần Phương đã viết trong bài “Cửa biển” : “Đến đây gần bể xa nguồn/  Con sông chảy chậm, nỗi buồn tan lâu”

Giờ đây, với TNM, dù đã trải qua bao buồn vui sướng khổ của cuộc đời nhưng có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau “mất em”? Xưa trẻ tuổi, nỗi đau còn bỏng rát, ông bàng hoàng đau đớn

“Anh mất em như mùa hè mất nắng

Con chim mất tiếng hót”…

(Không đề)

Thì nay, mường tượng tới những phút cuối của cuộc đời, ông lại nghĩ tới người con gái năm xưa. “Vào phút ấy thì em đến nhé” là một bài thơ có tứ thơ mới lạ, xúc động, ám ảnh. Thi phẩm buồn đến…phát khóc.

“Ta xa nhau suốt cả cuộc đời rồi

Vào phút ấy thì em nên gần nhé”…

“Ta đã không nhau suốt cả mọi ngày đêm

Vào phút ấy thì em nên có nhé”…

“Ta đã quên nhau trong tất cả mọi buồn vui

Vào phút ấy thì em nên nhớ nhé”…

Những câu thơ không thể da diết, xót xa hơn.

Rồi điệp khúc “Vào phút ấy thì em nên…” lặp lại ở 3 khổ thơ thật buồn bã. Tất cả nói lên rằng: cho đến phút lâm chung của cuộc đời, anh vẫn không thôi nhớ em và xót đau, anh vẫn khao khát mong gặp lại em trước khi bước vào cõi hư vô. Đấy là sở nguyện cuối cùng của anh.

6. Thơ tình TNM là cánh cửa rộng mở để người đọc đi vào thế giới tinh thần, cuộc sống bên trong của nhà thơ. Qua những bài thơ tình của ông, người đọc cảm nhận được sâu sắc chiều sâu của cảm xúc, kích thước tâm hồn của người viết.

Thơ tình TNM tràn ngập xúc cảm nhưng không ủy mị  (điều người ta dễ thấy ở thơ tình). Thơ ông mộc mạc, chân thành, giản dị – giản dị một cách sâu sắc – như trái tim nhân hậu của nhà thơ nhưng nhiều khi cũng rất lãng mạn, bay bổng. TNM có những bài rất đời thường nhưng cũng có không ít những bài bay bướm mộng mơ. Và tất cả những bài thơ ấy được viết với phong cách giàu suy tư.

Là “sản phẩm” của mối tình sâu nặng, dang dở nên “giọng điệu” chủ đạo trong thơ tình TNM là trầm buồn. Trên cái nền giọng điệu trầm buồn ấy, nhà thơ đã tổ chức nhiều sắc thái giọng điệu khác nhau: mê đắm, ngất ngây, hân hoan, nhớ nhung, mong mỏi, hờn dỗi, tiếc nuối, nguyện cầu… Sự có mặt và sự luân chuyển màu sắc giọng điệu làm cho mạch thơ trở nên mềm mại, biến hóa và tạo nên một giải phổ giọng điệu rộng lớn và thống nhất. Điều đó nói lên tài năng và cả lao động nghệ thuật miệt mài, nghiêm túc của nhà thơ.

Có ai  đó đã nói: “Dường như sự dở dang đã làm nên ý nghĩa và dư vị của cuộc đời này”. Những cuộc tình không thành, những cuộc rượt đuổi trái tim mình…. được con người nói đến nhiều hơn so với những gì viên mãn tràn đầy vốn được gọi tên là Hạnh Phúc. Đấy cũng là lí do để ta hiểu vì sao các nhà thơ rất ít viết về người vợ thân yêu của mình, dù đó mới là nền tảng tinh thần cho cuộc đời sáng tác của mọi nhà thơ. Đấy cũng là điều vì sao bạn đọc không nỡ oán trách mà lại dễ  dàng thông cảm hơn với các nhà thơ …

Vì thế, cũng như nhiều nhà thơ khác, thơ tình TNM hầu hết là thơ “thất tình” (viết về mối tình đã mất), nó là phía bên kia của Hạnh Phúc, bên cạnh người vợ hiền của mình. Nó như một sự dở dang của cái Đẹp, sự khao khát vươn tới những gì mà con người mong ước, đó là cái Hoàn Thiện, Hoàn Mỹ.

TNM không may mắn trong tình yêu đầu đời. Nhưng với độc giả đọc thơ ông có thể nói là “may thay…”. Bởi chính cuộc tình không thành của ông đã để lại cho đời những bài thơ tình làm rung động lòng người. Đó là niềm đắm say kỳ diệu chất chứa sự viên mãn của đời, là cảm giác thổn thức… trước một mối tình đã để mất, trước một vẻ Đẹp mãi mãi lùi xa. Rồi một chạnh lòng xót xa trước những kỷ niệm xưa, một ước vọng tái sinh để được yêu lần nữa… Và ta thấy buồn mênh mông  cùng “nhân vật trữ tình”: “Sự đời nước mắt soi gương/ Càng yêu thương lắm, càng thương nhớ nhiều” (Ca dao)

… Và sau hết, đó là sự trân trọng, cảm mến trước một tình yêu sâu nặng, thủy chung, vững bền qua năm tháng. Tiếng nói sâu thẳm của một trái tim yêu trong những bài thơ tình của TNM làm cho những trái tim khác ngân vang cộng hưởng, người đọc như thấy mình ở trong đó. Đó là lẽ tồn tại của thi ca.

Từ bao đời nay, tình yêu luôn là giấc mộng giữa đời thường. “Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ, không thương một kẻ nào” (Xuân Diệu). Có tình yêu với những ái, ố, hỷ, nộ, cuộc sống con người sẽ có ý nghĩa hơn. Vì lẽ đó, những bài thơ tình của TNM chắc chắn sẽ có sức sống lâu bền với thời gian.

Hải Dương, 24/7/2017

Nguyễn Thị Lan

Theo https://vanvn.vn/

Để nghề viết văn trở thành một nghề cao quý

Để nghề viết văn trở thành một nghề cao quý Từ sau 1945, có một kiểu người viết văn đã hình thành với chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Bài viết kh...