Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Tô Hoài, một phong cách văn xuôi nhiều màu sắc*

Tô Hoài, một phong cách văn
xuôi nhiều màu sắc *

Trong dòng văn học hiện thực thời kỳ 1939-1945 – Tô Hoài là một cây bút tiêu biểu đa năng. Ông có tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, truyện thiếu nhi… Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám khối lượng tác phẩm lại được nhân lên với nhiều thể loại, nhiều màu vẻ.
Trọng điểm của một đời văn là quê hương. Bộ ba tác phẩm Quê hương, Quê người, Quê nhà là dòng chảy qua nhiều thập kỷ nhiều tư liệu về quê hương Việt Nam. Hơn thế nữa sau Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp ông lại có một quê hương mới. Truyện Tây Bắc rồi Miền Tây là quê hương của nhiều dân tộc vùng cao. Ông tiếp tục truyền thống của những trang viết về làng quê của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng trong hoàn cảnh của thời kỳ mới khắc nghiệt và nặng nề của chế độ kiểm duyệt của thực dân Pháp và phát xít Nhật.
1. Tô Hoài có một cách nhìn làng quê vừa chân thực, xác thực vừa cởi mở. Điều này phụ thuộc một phần vào đặc điểm của các vùng quê. Theo Tô Hoài những làng quê xa thành phố xa phủ huyện thường hương lý, cường hào ra sức áp bức bóc lột dân quê như các trường hợp trong Tắt Đèn, Bước đường cùng. Tô Hoài sống và viết ở vùng quê ngoại thời không khí làng quê có phần cởi mở hơn. Vẫn là cảnh dân quê bị bần như tơ nhện giăng mắc con mồi cho đến khi chết, dân quê nhiều khi có nhiều người phải bỏ làng ra đi (Quê người). Tuy nhiên vẫn có cảnh người dân quê đi cùng xe với ông lý ra bưu điện tỉnh lĩnh tiền. Nhiều làng quê ngạt thở với sự tàn ác của hào lý nhưng cũng dễ thở trong những ngày lễ hội trong cảnh làng xóm được mùa và niềm vui của các gia đình trong ngày cưới xin cho con cái.
Vùng quê ngoại thành cũng vắng bóng những nhân vật hách dịch tàn ác kiểu Nghị Quế, Nghị Lại, Bá Kiến.
2. Nhà văn Vũ Ngọc Phan trong tác phẩm Nhà văn hiện đại đã xem Tô Hoài là nhà phong tục. Chính xác trong phân loại. Nói tới phong tục là nói tới những điều tốt đẹp cần giữ gìn bảo vệ trong cuộc sống. Làng quê Việt Nam có nhiều phong tục tốt đẹp trong sinh hoạt làm ăn cư xử. Chỉ riêng tết Nguyên đán đã có nhiều điều cần biết trong ứng xử: xông nhà, mừng tuổi, lễ tết cha mẹ… Về giao tiếp xã hội mỗi dân tộc, miền đất, vùng quê cũng có những phong tục cần bảo vệ. Phong tục là việc tốt, điều hay hàng ngày được lắng đọng và bền vững theo thời gian. Nước Nga có tục dâng quà quí là bánh mỳ và muối cho việc đón tiếp các vị khách lãnh đạo nước ngoài tại sân bay. Nhỏ bé bình dị nhưng là một phong tục cần bảo vệ những phong tục cho từng miền đất làng quê. Trên xu hướng hiện đại hóa các phong tục biến dần không được bảo vệ. Chỉ còn những ngày kỷ niệm sự kiện lớn, sự việc nhỏ. Điều này thể hiện rõ nhất ở các dân tộc vùng cao.
Trở lại với phong tục trong tác phẩm của Tô Hoài. Đọc Quê người và những truyện ngắn của Tô Hoài thời kỳ trước Cách mạng viết về làng quê dễ thấy khung cảnh hội hè của cả làng trong dịp tết nhất, hội làng, hội thi văn nghệ, thi đánh vật. Các hoạt động trên được tổ chức theo phong tục thường niên nhất là vào dịp đầu xuân. Điều này dường như trái ngược với việc khai thác miêu tả lệ làng trong tác phẩm Việc làng của Ngô Tất Tố. Hai nhà văn với hai mục đích khác nhau. Ngô Tất Tố viết Việc làng để phê phán những lệ làng lạc hậu mà chế độ thực dân phong kiến vẫn duy trì, ảnh hưởng đến cuộc sống của người nông dân và văn hóa làng xã. Đó là một đóng góp của những trang viết. Tô Hoài tả phong tục góp phần miêu tả những tập quán lành mạnh cần lưu giữ, trang văn cũng vui vẻ phong phú hơn.
3. Các nhà văn hiện thực như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao… ít miêu tả thiên nhiên. Các tác giả dường như tập trung miêu tả những xung đột xã hội, những mâu thuẫn của làng quê nên thiếu đi một phần cần có khi viết về làng quê là thiên nhiên.
Tô Hoài chú ý đến vẻ đẹp của thiên nhiên. Từ một câu chuyện gặp gỡ giữa đôi trai gái ở đầu làng cũng có bờ tre che chở, có ánh trăng soi rọi. Với đề tài miền núi thiên nhiên càng có vị trí quan trọng. Mùa xuân trong Vợ chồng A Phủ có rừng núi cao cây cối nở hoa dập dìu với tiếng sáo, tiếng nước suối chảy tạo không khí tươi vui. Tô Hoài có viết một chi tiết vui là trong sáng tác Nam Cao miêu tả giỏi về tâm lý và ít viết về thiên nhiên nên thỉnh thoảng nhờ Tô Hoài tả giúp cho một đôi cảnh thiên nhiên trong câu chuyện.
Nói tới thiên nhiên là nói tới bầu trời xanh, rừng núi, con suối, bờ tre giếng nước nhưng cũng phải chú ý đến thế giới những bạn nhỏ của con người: con chim, con cá, rồi các loài vật con mèo, con gà xung quanh ta. Tô Hoài là nhà văn viết giỏi, viết hay về các loài vật.
Chỉ riêng một chuyện Dế mèn phiêu lưu ký cũng đã ghi một điểm son cho trang viết. Loài vật trong truyện của Tô Hoài thường gần gũi và ám chỉ vào cảnh ngộ của con người nhất là người nông dân ở làng quê. Truyện ngắn Gà Trống ri gợi thương cảm cho những hoàn cảnh không may, con gà trống ri bé nhỏ không được các bạn mái để ý phải lạc loài đi tìm con mái bé nhỏ ở cuối làng để có chút hạnh phúc lứa đôi. Nồi nào vung ấy không phải chỉ ở thế giới người mà cả ở sự kén chọn của loài vật. Có bạn đọc hỏi ông, sao ông không viết về các loài vật to như La Phông-ten nhà văn Pháp nổi tiếng. Ông cười và cho biết cái gì gần mình thì dễ viết dễ thân thiết hơn còn với hổ báo, sư tử xa lạ và phải lên vườn bách thú.
4. Khuynh hướng sử thi hóa đề tài quê hương đất nước.
Miêu tả một đối tượng Tô Hoài quan tâm đến quá trình và diễn biến phù hợp với quy luật vận động và phát triển xã hội. Tô Hoài muốn ghi nhận những chuyển biến những thành quả của miền đất quê hương của mình qua thời gian nhất là qua mốc lớn của xã hội.
Sau Cách mạng tháng Tám đi kháng chiến theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc Tô Hoài có tác phẩm Truyện Tây Bắc được tặng giải nhất cùng với Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc. Hai tác phẩm đã miêu tả thành công những con người mới trong văn học. Đinh Núp chân dung một người thực việc thực, và vợ chồng A Phủ hai nhân vật chính của câu chyện gợi cảm và gây ấn tượng.
Vợ chồng A Phủ và miền đất quê hương của đồng bào Mông đã neo giữ ở tác giả những tình cảm và kỷ niệm tốt đẹp. Tác giả vẫn quan tâm theo dõi sự đổi thay của miền quê hương này trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền núi qua tác phẩm Miền Tây tiếp nối nhưng không trùng lặp. Qua nhiều năm trưởng thành miền Tây trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội có một bộ mặt mới tươi đẹp. Những nhân vật như A Phủ, Mỵ ngày xưa đã nhường lại cho hình ảnh những con người mới. Hai phiên chợ cũ và phiên chợ mới hai miền hay là hai hình ảnh của thời kỳ. Vốn sống của Tô Hoài phong phú, phát triển nhiều sáng tạo mới. Nói như nhà văn Hữu Mai trong một cuộc hội thảo ở Viện Văn học năm 2001 “Tô Hoài viết bằng vốn sống cũ nhưng luôn mới và hấp dẫn”.
5. Đề tài Hà Nội.
Vốn là một thư ký bán giầy cho hãng giày Bata ở Hà Nội Tô Hoài hiểu biết và có một vốn sống phong phú về đề tài Hà Nội cũ. Là một nhà văn sớm có sáng tác viết về Hà Nội càng khích lệ và thúc đẩy ông đi sâu tìm hiểu về Hà Nội. Có một Hà Nội trong văn chương Tự Lực văn đoàn. Cuộc sống phồn hoa ăn chơi của những người giàu có. Hà Nội ba mươi sáu phố phường của Thạch Lam là một Hà Nội đẹp, nên thơ trong nhiều cảnh đời bình dị. Có một Hà Nội trong văn chương Vũ Trọng Phụng tập trung với nhiều cảnh đời đua chen, cạnh tranh xô bồ ở khu phố cổ, Hàng Buồm, Hàng Bạc, Hàng… Phía trên là cảnh ăn chơi của một số gia đình bắt chước theo kiểu tân tiến, “văn minh” vẫn còn một khoảng trống dành cho Tô Hoài. Đó là cảnh Hà Nội đời thường của các tầng lớp trung lưu và người nghèo khổ sinh hoạt nơi phố phường. Có không khí vui tươi của những ngày lễ hội hội Tây, Tết Trung thu, lễ hội chùa, có không khí tấp nập mua bán quần áo, tơ lụa, vải vóc và nhộn nhịp nhất là các hàng ăn đường phố. Các thức ăn bánh cuốn, chả cá, phở, cơm đầu ghế, rồi các hàng quà rong của người Tàu như bánh rán, bánh chín tầng mây, bát bảo lường xà. Tô Hoài miêu tả chân thực, không tô điểm nhưng luôn trong lòng vẫn là ý thức và tình cảm tôn trọng cảnh và người của Hà Nội cũ. Với sở trường của một ngòi bút giỏi quan sát Hà Nội cũ hiện ra như những bức tranh sinh động.
Ngoài những tác phẩm chính Tô Hoài còn quan tâm đến những giai thoại truyền thuyết và tạo dựng nhiều tác phẩm sinh động như Đảo hoang, rồi chuyện thiếu nhi, chuyện loài vật… Nhà thơ Hữu Thỉnh cho rằng Tô Hoài là tác giả có nhiều đầu sách nhất. Chính xác nhưng điều quan trọng là một phong cách văn xuôi chân thực hấp dẫn, nhiều màu sắc.
Nguyễn Đình Thi về Nguyễn Sen Tô Hoài có thể lập được một bộ tự điển Tô Hoài. Trong con người Nguyễn Sen khó mà tách bạch ra được chỗ nào là nhà văn, chỗ nào là nhà báo, nhà quản lý, chỗ nào là người công dân, người đảng viên.
… Một số bài thơ của tôi Sen đọc và bảo thẳng với tôi “Thi không biết làm thơ. Tên anh là Thi nhưng anh không làm nổi một câu thơ xoàng. Tôi định đùa lại Sen: Vâng tôi không viết nổi một câu thơ xoàng bởi vì tôi chỉ làm được những câu thơ hay, nhưng nghĩ thế nào tôi lại không nói như vậy”.
Nhà văn Đặng Tiến: Tô Hoài là nhà văn không bao giờ già. Vì con người anh chưa bao giờ trẻ. Tô Hoài miên viễn là buổi trưa mùa thu, mùa thu có những ngày không sáng cũng không chiều. Nhưng vẫn có những chiều chiều. Những chiều chiều mãi mãi trong chúng ta.
Năm 1957 sau khi tốt nghiệp ngành văn Đại học Sư phạm Hà Nội tôi được giữ lại làm cán bộ giảng dạy của trường. Ngoài việc chuẩn bị cho việc giảng dạy tôi quan tâm đến việc nghiên cứu. Năm cuối của khóa học tôi viết hai chuyên luận về Nguyên Hồng và Nguyễn Công Hoan. Tôi không có ý viết tiếp hoàn thiện hai chuyên luận vì các nhà văn đang sung sức đang cho xuất bản. Tôi nghĩ đến Nam Cao và quyết định tìm hiểu và nghiên cứu về nhà văn hiện thực nổi tiếng này. Nam Cao ngoài tiểu thuyết Sống mòn thường viết nhiều truyện ngắn đăng trên Tiểu thuyết thứ 7 tờ báo này không còn số nào lưu trữ ở Thư viện Trung ương.
Hội Nhà văn cho biết nhà văn thân tín gần gũi nhất của Nam Cao là Tô Hoài. Tôi tìm đến ông để xin ý kiến về Nam Cao. Cuối phố Trần Quốc Toản có một phố nhỏ, đường lát đá và nằm sâu trong ngõ là nhà của nhà văn Tô Hoài. Tôi xin gặp và được ông đón tiếp niềm nở. Chuyện kể về Nam Cao thời kỳ trước Cách mạng, những năm kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc. Về các tác phẩm của Nam Cao. Càng nghe càng thấy thú vị sáng ra nhiều ý tưởng và kiến thức bổ ích. Lúc này ông khoảng trên dưới bốn mươi tuổi, lãnh đạo Hội Nhà văn. Nhà văn Tô Hoài có trí nhớ tốt nhận xét về người về việc công bằng và nhân ái của một người giàu trải nghiệm am hiểu việc đời.
Về tư liệu bài báo Nam Cao tôi tìm ở các hiệu sách cũ đặc biệt ở cửa hàng sách cũ phố Lãn Ông khi các bà đồng nát vào buổi trưa đổ sách báo cũ về bán cho cửa hàng. Nhiều truyện ngắn như Trạch Văn Đoành, Một đám cưới đều được tìm thấy ở đấy. Cuốn Đôi lứa xứng đôi (1941) do nhà Cộng lực xuất bản, vẫn chưa tìm được. Tôi đã đến Nxb Cộng lực nhưng không thu thập được gì. Sau mấy năm viết xong tác phẩm Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc tôi nhờ nhà văn Tô Hoài đọc hộ và cho tôi nhận xét. Ông đã viết cho tôi bài giới thiệu in ở đầu tập sách. Nhà xuất bản văn hóa ấn hành. Tác phẩm đầu tay được báo Văn học khen ngợi. Tôi vui mừng và biết ơn Tô Hoài ân nhân đầu tiên với người mới vào nghề. Trong lời giới thiệu ông viết “Đọc tập nghiên cứu này dù chỉ vài dòng nhận xét tôi cũng không thể viết. Nhưng trang sau đây Hà Minh Đức đã làm tất cả vì chúng ta. Tôi chỉ biết có đồng tình và nhiệt liệt hoan nghênh”**. Sau này tôi tìm được cuốn Đôi lứa xứng đôi lại có thêm đầy đủ các truyện ngắn của Nam Cao, tôi đã bổ sung và đặt tên là Nam Cao – Đời văn và tác phẩm (Nxb Văn học. 1998). Cuốn sách được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2000 về Khoa học công nghệ trong cụm ba tác phẩm (Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nam Cao – Đời văn và tác phảm, C. Mac Ph. Anghen V.I Lênin và một số vấn đề lý luận văn nghệ) sau này trong nhiều năm tôi vẫn đến thăm anh trong dịp ngày lễ, ngày Tết. Ông đã giúp cho tôi hiểu biết thêm nhiều về miền Tây, về các dân tộc ít người, về Hà Nội xưa và về chuyện của các nhà văn. Trên cả ba vấn đề ông kể vui sâu sắc, mới lạ và vui vẻ. Tôi nghĩ thầm nghe chuyện nhà văn Tô Hoài như nghe chuyện kể Một nghìn một đêm lẻ không bao giờ vơi cạn. Điều tôi ngạc nhiên là ông chủ động và không hề ngạc nhiên với bất cứ chuyện gì phức tạp, nan giải. Tất cả đều được ông chỉ ra cái gốc sự thật như thế nào và được lý giải nhẹ nhàng thanh thoát. Điều quan trọng và đáng quý là sự thành thực đến tự nhiên vui vẻ khi kể về chuyện mình. Khi ông được tặng giải nhất Truyện Tây Bắc của Hội Nhà văn. Về chuyện này một vài tờ báo trong Nam thêu dệt, bịa đặt về chuyện Tô Hoài đi thực tế ở vùng dân tộc được chính quyền địa phương buổi tối cho các cô đến mắc màn, quạt cho ông ngủ. Tô Hoài kể cho tôi nghe và ông nói “Được như thế thì tốt quá”. Ông cũng là người đa tình nhưng kín đáo và biết hạn chế. Có lần ông tâm sự “Mình yêu nhiều hơn Thi nhưng không có sự cố. Một lần tôi hỏi ông: Người ta nói anh và chị T.N yêu nhau. Ông cười và bảo “Mình cũng nghe nói thế.” Đời của nhà văn Tô Hoài có nhiều kỷ niệm đẹp. Ông nhắc nhở tôi sống phải có kỷ niệm”. Và chắc chắn muốn có kỷ niệm phải biết yêu thương, gắn bó với những gì tốt đẹp của cuộc sống, không thể vô cảm, cưỡi ngựa xem hoa. Ông sống giản dị dễ chan hòa với cuộc sống đời thường. Tôi chưa bao giờ trông thấy ông đi xe đạp, xe máy. Ông thích tản bộ. Khi công tác ở Hội Nhà văn Hà Nội ở phố Hàng Buồm ông thường đi bộ từ nhà phố Đoàn Nhữ Hài lên và đi bộ về. Thỉnh thoảng ông tạt qua chỗ tôi ở phố Hàng Ngang chơi. Có lần ông dẫn cả cụ Nguyễn Tuân lên nhà tôi. Căn nhà cũ dễ lạc lối để cụ phải kêu lên “Tôi lạc vào Hồng Kông cũ rồi”. Trong một vài lần vào hiệu ăn với ông, ông ăn rất ít và chỉ thích nhấm nháp rượu vang. Một tinh thần minh mẫn, nhạy cảm và một cơ thể khỏe mạnh, nhẹ nhàng, bền bỉ. Phải chăng nhà văn đã được rèn luyện từ ngày ở Tây Bắc đi ngựa qua vùng đất núi ăn ngô bung, hòa mình với cuộc sống của đồng bào vùng cao. Ông tôn trọng thời gian và ví mình như người thợ khâu lúc nào cũng phải giữ mũi kim đường chỉ cho tươi tắn, đều đặn, trong công việc.
Trong những năm cuối đời tôi được tháp tùng và mời ông đi thăm lại cảnh Hà Nội. Từ câu chuyện ở nội đô, khách sạn Mêtropole mà ông quen thuộc khi mới tiếp quản thủ đô đến các làng quê ngoại thành. Mùa xuân và những ngày giáp Tết tôi mời ông bà đi dạo cảnh ngoại thành. Ông chăm chú quan sát dừng xe ở nhiều chỗ. Ông xuống xe trầm ngâm ngắm cảnh Hồ Tây, phần cảnh đẹp xưa còn lại và phần đã đổi thay. Một lần tôi kể cho ông nghe chuyện một cháu bé gặp nạn và tay có quyển Dế mèn phiêu lưu ký, ảnh chú dế mèn bị ướt và nhầu nát. Ông rưng rưng không cầm được nước mắt thương cháu bé và con dế mèn. Dế mèn từ tuổi thơ đã bay xa đến nhiều xứ sở làm bạn với các em nhỏ và hôm nay vẫn còn gây xúc động với chính tác giả.
Một đời văn với nhiều tác phẩm có giá trị, một cây bút sáng tạo với nhiều thể loại văn chương, một cây đại thụ của làng văn mãi mãi được ghi nhớ: nhà văn Tô Hoài.
Chú thích:
* Xem chuyên luận Hà Minh Đức: Tô Hoài – sức sáng tạo của một đời văn, Nxb Giáo dục. 2010. 311tr.
** In trong cuốn Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc.
5/8/2020
Hà Minh Đức
Nguồn: Văn Nghệ số 31/2020
Theo https://vanhocsaigon.com/

May, có câu thơ ngơ ngác nẻo buồn

May, có câu thơ
ngơ ngác nẻo buồn…

Lê Thiếu Nhơn coi trọng thủ pháp diễn đạt. Chịu tìm tòi, chịu tốn thời gian cho thể nghiệm. Ở tập này, anh tìm trong ngôn ngữ, trong hình ảnh sức gợi của ẩn dụ, của biểu tượng. Bài thơ ngắn gọn mà nói được xa rộng, dễ đọc mà không dễ đi hết chiều sâu tâm tưởng…
Những năm cuối thập niên tám mươi thế kỷ 20, khi nước ta bắt đầu thực thi quốc sách đổi mới, thì văn học nghệ thuật ngay lập tức có những biểu hiện thay đổi, nhất là ở thể loại thơ: một loạt những giá trị quá khứ được phục hồi và nhiều cách tân sáng tạo xuất hiện. Một số tác giả trẻ, ở lứa 20 tuổi, ngay bước mở đầu văn nghiệp của mình, đã chọn vào lối đi mới đó. Mới về nội dung: dám thành thực với mình hơn trong cảm xúc và nhận thức. Và cũng mới về hình thức thể hiện: gạt bỏ những trang sức dư thừa và đôi khi cũng mất cả sự trong sáng mạch lạc. Sự thành công cố nhiên không thể đồng đều. Sự đón nhận của công chúng cũng còn nhiều dè dặt. Bạn đọc thấy rõ một động cựa văn chương của cả lớp người trẻ tuổi, nhưng chưa thật sự cố định sự chờ đợi vào những tên tuổi cụ thể. Tình hình này có khác với các giai đoạn trước như trong phong trào thơ mới, hay thơ trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Nhưng đến nay, sau 20 năm, khi các tác giả lứa ấy vào tuổi 40 thì phong vị, bản sắc của từng người đã bộc lộ khá rõ. Phần đóng góp của từng người đã tạo nên lớp bạn đọc chờ đợi, tin cậy của cả lớp cầm bút. Lê Thiếu Nhơn với nỗi dằn vặt “thơ đi bên đời như tội đồ mong trắng án” mà chúng ta đang đọc đây là một trong số ấy.
Lê Thiếu Nhơn viết đều, cả thơ lẫn phê bình thơ. Trong phê bình, anh chịu đọc, đọc các tác giả của cả nền thơ chứ không chỉ riêng lớp tuổi mình. Anh đã có nhiều kiến giải khá chắc chắn, đôi khi tinh tế có tính phát hiện. Với thơ, như ở tập “Gió heo may ngày nắng gián đoạn”, chủ đề đã tập trung vào những mặt thiết yếu của cuộc đời. Anh lưu tâm bạn đọc tới những thực trạng xã hội đương thời. Có niềm vui thành tựu của đất nước, vẻ đẹp của thiên nhiên, nhưng nhiều hơn, lại là những lo âu, nghĩ ngợi, quằn quại, đau xót trước những diễn biến xấu trong cộng đồng. Thường ngày, người ta ai chả thích nghe những chuyện vui, nhưng điều phấn chấn. Bập vào những mảng tối rất cần một sự lịch lãm, một bản lĩnh, một lòng yêu thương con người sâu sắc, một tấm lòng chân thành. Trong ba mươi năm bút mực văn chương vừa qua, Lê Thiếu Nhơn đã có nhiều tình thế để rèn luyện về các phẩm chất tâm hồn ấy. Đến tập “Gió heo may ngày nắng gián đoạn”, thơ anh gọn chắc lại, chủ đề rõ lên và bao trùm là tinh thần trách nhiệm công dân, muốn thơ có ích cho cộng đồng. Thơ anh đang đến và bắt đầu hạ trại trong tâm trí độc giả. Đây là một dấu hiệu trưởng thành của bạn viết lẫn bạn đọc. Thử xét bài thơ đầu tập:
GIỮA TRANG GIẤY TRẮNG
Bao kẻ mộng mơ đã phung phí hết tuổi mình
Thi ca vẫn không thể ngăn bàn tay đen đúa
Bàn tay gian tà vơ vét ngân khố
Bàn tay bịp bợm sấp ngửa trắng đen
Tôi thức suốt đêm chờ một giọt nước mắt
Sao chỉ nghe những giọng cười điên đảo thị phi
Thế kỷ chảy lên trời lời hát bất lương!
Lẽ nào bút đành hạ thổ?
Lẽ nào giấy đành khăn tang?
Chúng ta thấy gì? Thấy, ở ngay câu mở đầu, một sự chia tay với loại thơ phù phiếm và ở ngay câu sau: tự trách sự bất lực của thơ trong việc chặn tay kẻ ác, kẻ gian. Đã có thời, trong cơn lãng mạn tuổi trẻ, anh đã mơ mộng tin rằng tác động thơ ca như thần chú khuyến thiện, đọc xong là người ta cải tà quy chính. Nhưng vào cuộc đời anh thấy không phải thế, không dễ dàng thế. (Sandoz Pêtôphi, nhà thơ lớn nước Hungary, hi sinh trên chiến lũy năm 27 tuổi, cũng đã tự thú: Đi vào trong láo nháo cuộc đời. Mới biết chúng ta nhầm lẫn cả). Đi tù bọn chúng còn chả sợ, huống chi thơ ca hò vè… ăn nhằm gì.
Giận thân, giận đời thì than vãn thế chứ trong sâu thẳm, Lê Thiếu Nhơn vẫn đắm đuối tin vào tác động hoàn thiện con người của thơ. Chứng cớ ở hai câu cuối lẽ nào, lẽ nào... Thơ công dân giáo dục mà đầy lên, mà không nén được, những cảm xúc cá thể. Đấy là thành công của Lê Thiếu Nhơn. Nói chung các bạn trẻ thời nay hay có sự thẳng băng như thế. Tôi kính trọng sự can đảm ấy. Can đảm để thiết thực, để có ích.
Lê Thiếu Nhơn mở to mắt và mở ngỏ cõi lòng để dám nhìn, để tiếp nhận cuộc sống hôm nay như nó vốn có. Cũng có lúc, nhiều lúc, anh như chới với trong ngọn triều vùi dập của cái xấu, của sa đọa, của giả dối toàn thân, mưu danh mưu lợi. Lê Thiếu Nhơn kinh sợ sức công phá của đồng tiền. Một trùm xã hội đen từng khuyên đàn em, lời khuyên quá đơn giản mà hữu hiệu đáng sợ “mua bằng tiền không được thì mua bằng rất nhiều tiền”. Lê Thiếu Nhơn có nao núng, anh khuyên thiên hạ tự vệ trong tình thế thụ động. Tội nghiệp: “Nhân nghĩa thời đồng tiền sấp ngửa/ Tránh ngày mai riêng ai phụ bạc/ Xin người đừng thề thốt hôm nay”. Nhưng lắng lại, nghe kỹ hơn, đấy không phải lời khuyên mà đúng hơn, là lời lên án, tố cáo sự lộng hành của cái xấu, lời cảnh báo nghiêm khắc, quyết liệt. Anh học cách mát mẻ cay đắng của Nguyễn Du chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa. Lớp thi sĩ vẫn được coi là trẻ, không chỉ thẳng băng mà còn thâm trầm. Lời lẽ của họ dắt bạn đọc lặn sâu vào tâm thế đương thời. Có lúc, ở một khoảnh khắc nào đó, Lê Thiếu Nhơn như quá chừng mệt mỏi. Một tình cảm bất an thường trực. Đã có bài thơ như một dấu than không nguyên do. Đã có ý định tìm vào tĩnh lặng, không xôn xao nữa, mà quên lãng, mà về già như nắng quái chiều hôm:
Hát về điều không xôn xao nữa
giữa mùa đang xôn xao
Bỗng thèm ngọn gió lãng quên
trên những bờ lau mưa dài nắng quái.
May sao, đấy chỉ là một cơn học cổ điển thôi. Nhân tiện, nói thêm, phong thái cổ điển trong thơ Lê Thiếu Nhơn ở tập này, đã có vị lắm, nhưng ở những chủ đề khác!
Trở lại với điều đang nói, Lê Thiếu Nhơn đã không giấu những điều trông thấy và cũng không giấu cả nỗi đau đớn lòng. Nhưng không chỉ có thế. Đấy mới chỉ là thông tin. Thông tin hiện thực và thông tin tâm trạng. Chúng ta xem anh xử lí thông tin ra sao để đạt được bình tâm, để tìm ra sức mạnh, để sáng suốt mà vượt lên nó. Đây là một thái độ sống tích cực. Xã hội ta mấy năm nay, đang có những biến động tăng cường tấn công cái tham cái ác, tấn công thói lạm quyền, lăng loàn dân chúng. Có những ông to thoái hóa đã ra tòa. Những điều trông thấy ấy thành nguồn nuôi dưỡng lòng tin. Trong cuộc tự phấn đấu của thơ, trước những biểu hiện sa sút của lối sống, Lê Thiếu Nhơn đã nhiều lần tự nhủ gìn giữ như một vũ khí tùy thân, là lòng tin vào đạo lí, tin vào sức mạnh của nhân phẩm, của cái đẹp. Niềm tin ấy như một tiềm lực, như một bản năng ẩn giấu đâu đó trong con người. Những khi tình cảm nao núng, trong một tình huống oan khiên nào đó, cái ác tạm thời thắng thế. Nao núng chứ. Chúng ta nên cảm thông cho trái tim con người, nhất là khi trái tim ấy đã tự phơi ra ngoài lồng ngực. Những lúc ấy Lê Thiếu Nhơn đã phải nương vào lí trí. Lấy những nguyên lí của lương thiện làm điểm tựa. Đã nhiều lần tôi gặp một mệnh lệnh cách trong thơ anh “Đành phải tin!”, “Đành phải tin!”. Đó là một lời tự nhủ. Một thủ pháp lấy nguyên tắc mà chế ngự tình hình. Anh tin vào sức mạnh của tương lai: “Con bi bô cây dài ngày xanh thẳm/ Con chập chững núi cao thuở ngàn trùng”. Nguyên lí của cây là xanh thắm. Nguyên lí của núi là ngàn trùng. Nguyên lí của hi vọng khi có tiếng đưa nôi: “Những đổ vỡ ngổn ngang ngày tháng cũ/ Đã tan vào tiếng kẽo kẹt đưa nôi”. Anh tìm sức mạnh từ cội nguồn, từ mẹ, từ quê hương:
– Tôi tập sống cặm cụi như tay mẹ tần tảo
Tôi tập sống độ lượng như lòng mẹ bao dung
Tôi tập sống lương thiện như mắt mẹ trong trẻo
– Miền Trung trong đêm không thể nhìn ra cột cây số bên đường
Tôi lấy hơi thở của biển để nghe gần hơn ngôi nhà của mẹ
Giông bão kẻ đi xa đã lặng sóng phía khu vườn
– Tôi tìm cách đi lùi trong ký ức, đi lùi đến ngây thơ!
Còn màu hoa bên mép vực dại khờ
Làm sao tìm được cách tha thứ những tiếng vỗ tay phản trắc?
Ngây thơ nhưng đủ nhận ra kẻ phản trắc núp trong dáng vỗ tay hoan hô. Biết, nhưng trong lòng, anh tự giải tỏa bằng tìm cách nghĩ để tha thứ. Lại có lúc anh phẫn nộ với kẻ đạo đức giả, đóng vai trí tuệ, cất mồm chửi mọi thứ rồi đau đớn nốc rượu thương dân và về ngủ kĩ. Cách ứng xử biện chứng trước cuộc đời nhiều mặt nạ là một khía cạnh trí tuệ của thơ hôm nay. Tha thứ, phẫn nộ và ái ngại. Cái tâm thế ái ngại phải chăng là một tổng hợp của cả tha thứ và phẫn nộ, của cả lòng mình lẫn lòng người:
Cúi xuống nghe lòng mình ái ngại
Ái ngại lòng mình cúi xuống nghe
Cái tư thế cúi đầu nghĩ ngợi này quả đáng “ái ngại” thật. Nhưng lại mừng cho thơ. Không xuôi chèo mát mái nhưng đầy ý chí tự vượt. Tác giả cố tìm mọi cách tự mình xoay trở, để vượt qua tình thế. Kể cả “tôi trồng một hàng cây cho chim về hót…” dù là hót cái hắt hiu đời mình. Kiên trì giữ lấy tính độc lập lương thiện: “Can đảm không bầy đàn/ Can đảm không bè cánh”. Nghĩ đến tình thế này, chủ trương biện pháp này là thực thi một tinh thần nhập cuộc tích cực, không phải lơ mơ mây gió hay lớn giọng kẻ cả kiểu yêu nước thương dân không tốn kém.
Biện pháp cuối cùng là lấy chủ nghĩa lãng mạn trong trẻo để thắng hiện thực lươn lẹo. Lấy tình yêu (muôn đời) và niềm lạc quan tôn giáo (từ bi) làm sạch tâm hồn mình: “Cũng may còn thấy em cười giữa đời xuôi ngược”
Lê Thiếu Nhơn coi trọng thủ pháp diễn đạt. Chịu tìm tòi, chịu tốn thời gian cho thể nghiệm. Ở tập này, anh tìm trong ngôn ngữ, trong hình ảnh sức gợi của ẩn dụ, của biểu tượng. Bài thơ ngắn gọn mà nói được xa rộng, dễ đọc mà không dễ đi hết chiều sâu tâm tưởng. Chỗ ấy là thành công, mà cũng có thể còn một cách bức nào đó giữa sản phẩm và người tiêu thụ. Làm người đọc thân mình, mê mình tùy vào việc giải tỏa cách bức này. Việc ấy Lê Thiếu Nhơn đang ráo riết làm và làm có hiệu quả.
6/8/2020
Vũ Quần Phương
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ẩn dụ trong Truyện Kiều

Ẩn dụ trong Truyện Kiều

Truyện Kiều sử dụng rất nhiều ẩn dụ. Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi Truyện Kiều gồm có khoảng 240 câu có ẩn dụ trong số 3254 câu, chiếm tỉ lệ 7,2%. Mọi người đều biết ngôn ngữ thơ thực chất là ngôn ngữ ẩn dụ, do đó thành phần ẩn dụ gia tăng rõ ràng có tác dụng tạo nên chất thơ cho lời thơ, làm cho văn chương Truyện Kiều thêm bóng bẩy, thấm thía. Lê Trí Viễn từng nhận xét rất đúng: “Cách nói nhiều hình tượng trong Truyện Kiều là cách nói bằng ẩn dụ, không có trang nào là không thấy một vài ẩn dụ(1).
Khái niệm “ẩn dụ” mà chúng tôi nói đây mang nội dung hiện đại. Trong thuật ngữ phong cách học cổ điển Trung Hoa có thuật ngũ tỉ dụ bao gồm ba hình thức: minh dụ (A như B), ẩn dụ hay ám dụ (A là B) và tá dụ (mượn B thay cho A, A vắng mặt. Ví dụ: Tuế hàn nãi tri tùng bách chi hậu điêu dã. “Tùng bách” được ví với người quân tử, nhưng ở đây nó không được nói ra, vắng mặt). ẩn dụ trong nội dung hiện đại rõ ràng là bao gồm cả hình thức “tá dụ” nêu trên và chỉ phân biệt với “minh dụ”, được hiểu là phương thức so sánh hình ảnh.
Ẩn dụ nói chung là phương thức tu từ thường gặp trong thơ ca (và cả trong các văn bản khác) có cấu tạo như sau: Nó đem từ ngữ hay phương thức biểu đạt vốn để chỉ sự vật A hay hành động A, mà chỉ trực tiếp sự vật B hay hành động B hoàn toàn khác, mà lại không thấy rõ sự so sánh giữa chúng với nhau. Người ta cũng gọi đó là ví ngầm, cái đem dùng làm ví là dụ thể, cái được ví tức là được nói đến là dụ chỉ. Trong văn học ẩn dụ là hình thức tu từ nhằm phát hiện cái tương đồng giữa hai sự  vật khác lạ. Hai sự vật dụ thể và dụ chỉ càng khác xa nhau bao nhiêu thì ẩn dụ càng gây ấn tượng bấy nhiêu. Đó là ẩn dụ có giá trị nhận thức, phát hiện. Một số nhà nghiên cứu cho rằng ẩn dụ ở phương Tây thiên về giá trị nhận thức, còn ẩn dụ trong văn học phương Đông thiên về giá trị biểu cảm(2).
Truyện Kiều là tác phẩm văn học cổ điển thời trung đại, ẩn dụ của nó nằm trong quỹ đạo thi ca phương Đông. Ở đây ẩn dụ ít có giá trị nhận thức, phát hiện mà nặng về giá trị biểu cảm. Ẩn dụ biểu cảm có loại thể hiện cảm xúc nhất thời, thoáng qua. Có loại cảm xúc hằng thường. Chính vì nặng về giá trị  biểu cảm hằng thường mà người ta thường sử dụng những ẩn dụ quen thuộc như là sáo ngữ. Nguyễn Du có những ẩn dụ biểu cảm độc đáo, nhưng vẫn có cội nguồn trong thơ văn Trung Quốc:
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.
Hình ảnh ngầm ví hoa lựu với lửa lập lòe làm nhớ tới câu thơ của Dĩu Tín “Sơn hoa diệm hỏa nhiên” hay câu thơ “Sơn thanh hoa dục nhiên” của Đỗ Phủ. Song ở đây cũng như hoa trong Truyện Kiều có xu hướng cụ thể hóa trong khi tả cảnh: lửa lựu, cũng như hoa lê, hải đường …. hoa lửa từ tính chất chuyển thành trạng thái, động tác.
Như khi tả tình Thúc Sinh:
Mày ai trăng mới in ngần
Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa.
Câu này có thể gợi  nhớ câu thơ Trung Quốc “Sơ nguyệt như mi” nhưng đã chuyển từ so sánh tả cảnh khách quan sang ẩn dụ chủ quan để miêu tả tình cảm Thúc Sinh. Nhìn trăng mà liên tưởng tới nét cong của lông  mày người đẹp, rồi nhớ tới phấn hương ngày nào, thật là tinh vi.
Khi Từ Hải ra đi:
Quyết lời dứt áo ra đi
Gió đưa bằng tiện đã lìa dặm khơi.
Hoặc khi Kiều nhớ Từ Hải:
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
 Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm
hình ảnh đều rất đẹp, khi thì khí phách, khi thì mênh mang, tuy có vận dụng hình ảnh của Trang Tử.
Khi tả tiếng đàn bạc mệnh với hai ẩn dụ mà ẩn dụ thứ hai rất mới mẻ:
Một cung gió thảm mưa sầu
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay
Hình ảnh này cũng có nguồn trong hình ảnh “khốc huyết” trong thơ văn Trung Quốc.
Đó là ẩn dụ tuy có cội nguồn ngoại lai nhưng đều mang dấu ấn Nguyễn Du. Nhưng nhìn chung ẩn dụ trong Truyện Kiều phần nhiều thuộc loại “Thay thế giản đơn” một đối tượng muốn biểu hiện bằng một đối tượng khác đẹp đẽ, cao quý, thi vị và đã được sử dụng nhiều lần, lặp đi lặp lại.
– Nàng càng giọt ngọc chứa chan
– Dòng thu như xối cơn sầu.
– Hoa cười ngọc thốt đoan trang.
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
– Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu  hờn kém xanh
– Êm đềm trướng rũ màn tre,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai
– Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương.
– Khen tài nhả ngọc phun châu.
– Nàng rằng khuảng vắng đêm trường
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.
– Gìn vàng giữ ngọc cho hay…
Các dụ thể loại này thường được sử dụng nhiều lần, hoặc đã quen thuộc như là sáo ngữ: tuyết trở, sương che, gió bắt mưa cầm, đá biết tuổi vàng, đầu trâu mặt ngựa, ruồi xanh, vườn hồng, chim xanh, nước non, bình gãy gương tan, trâm gẫy bình rơi…. Nhưng có lẽ ta nên chưa vội kết luận là Nguyễn Du thiếu cá tính, mặc dù đây là bút pháp cổ điển quen thuộc của Thơ Đường. Hai tác giả Mỹ gốc Hoa là Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật thơ Đường đã nhận thấy phần nhiều ẩn dụ trong thơ Đường đều là sáo ngữ như mặt trăng thì gọi “minh nguyệt”, minh kính, ngọc luân, người đẹp thì gọi là hoa, mắt thì gọi là thu ba, chiến tranh thì gọi là can qua, quan hệ gắn bó thì gọi là cốt nhục… Khi một ẩn dụ được sử dụng đi sử dụng lại quá nhiều thì mất đi cảm giác mới lạ và trở thành sáo ngữ. Đó là đặc trưng chung của tu từ học trung đại.Lúc này ẩn dụ được sử dụng chỉ vì thói quen. Tuy vậy, các sáo ngữ này có tác dụng cường điệu đặc trưng tình cảm của chúng(3). Điều này đặc biệt đúng với Nguyễn Du, và ở đây nhà thơ đã thể hiện nét riêng của mình. Dường như Nguyễn Du “có một cảm quan cây, trái” khi nghĩ về cuộc đời(4).
Đối với con người ở xứ sở nông nghiệp có lẽ không có cảm xúc nào thân thiết với con người hơn là cảm xúc cây trái, hoa, cành. Đành rằng trong thơ cổ điển dụ thể hoa thường dùng để chỉ người đẹp, nhưng ở đây nhà thơ đã dùng để chỉ Thúy Kiều trong mọi tình huống, khi được yêu, khi bị bán, bị hành hạ, tủi nhục. Hoa, liễu đây đã trở thành hình tượng con người, hóa thân thành người cho nên có người hiểu là “nhân hóa”.
– Nặng lòng xót liễu vì hoa
– Cành hoa đem bán vào phường lái buôn.
– Ba cây chập lại một cành mẫu đơn.
– Đang tay vùi liễu dập hoa tơi bời.
– Đào hoen quẹn má, liễu tan tác mày….
Các ẩn dụ này đã có tác dụng gợi cảm xúc thương yêu và đau xót. Chúng không phải là ẩn dụ nhận thức mà là biểu trưng cho nhân vật và đã trở thành những ẩn dụ biểu cảm. Các hình ảnh vàng, ngọc, hương, hoa…. vốn là hình ảnh tôn quý, đáng được nâng niu, và được dùng thay thế con người khi miêu tả trong các tình huống khác nhau.
Khi Kiều bị Mã Giám Sinh chiếm đoạt:
– Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về.
Một cơn mưa gió nặng nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương!
Khi Kiều hối hận:
Phẩm tiên rơi đến tay hèn
Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai
Biết thân đến bước lạc loài
Nhị đào thả bẻ cho người tình chung
Khi Kiều biểu hiện vẻ đẹp:
– Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.
Khi Kiều được hưởng hạnh phúc:
– Hải đường mơn mởn cành tơ
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng
Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho đang!
– Một nhà sum họp trúc mai
Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông
Hương càng đượm lửa càng nồng
Càng xôi vẻ ngọc, càng lồng màu sen.
Các ẩn dụ này không rời rạc, riêng lẻ, mà là một chùm, một tập hợp thể hiện một hiện tượng đầy đặn và một cảm xúc toàn vẹn. Nguyễn Du hầu như không dùng một từ ngữ hay một phương thức biểu đạt riêng lẻ làm ẩn dụ, mà dùng một chuỗi các sự vật tương đồng làm ẩn dụ, cho nên các dụ thể mất đi ý nghĩa sáo ngữ, mà hóa thân vào dụ chỉ, khêu gợi dụ chỉ, mà con người ở dụ chỉ đó cảm nhận về cuộc đời một cách tượng trưng. Cảm nhận về sự yếu đuối, lênh đênh, tan vỡ:
– Bây giờ trâm gẫy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân
– Rõ ràng hoa rụng hương bay.
– Phận sao phận bạc như vôi,
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
– Vì ai rụng cải rơi kim
Để ai bèo nổi mây chìm vì ai.
– Rằng tôi bèo bọt chút thân
Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh
– Rộng thương cỏ nội hoa hèn
– Đã đành túc trái tiền oan
Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi
– Phận bèo bao quản nước sa
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
– Nghĩ mình mặt nước cánh bèo
– Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa.
Các hình ảnh bọt bèo, bến nước, nước chảy hoa trôi, cỏ nội hoa hèn, rụng cải rơi kim hô ứng với các hình ảnh một hạt mưa rào, con ong cái kiến, nhện này tơ kia, thân lươn lấm đầu, kiến bò miệng chén, con tằm đến thác, mạt cưa mướp đắng, kẻ cắp bà già, thăm ván bán thuyền…. đã tạo nên một cảm quan rất dân tộc. Những hình ảnh sóng gió, mưa gió, mặt nước cánh bèo, nước sa, bèo nổi mây chìm… gợi ra một môi trường sông nước, gió bão, mưa lụt mà người Việt Nam rất quen thuộc. Đồng thời các hình ảnh sáo trong thơ Đường hòa trộn với hình ảnh của tục ngữ thành ngữ, làm nên chất lượng mới cho ngôn ngữ văn học tiếng Việt. Các hình ảnh ẩn dụ trong Truyện Kiều cho thấy một đặc điểm là từ hàng loạt hình ảnh sáo mòn Nguyễn Du đã tạo thành những hình ảnh gợi cảm. Người xưa thường nói “hóa trần hủ thành thần kì” (biến cũ nát thành thần kì) chính là như vậy. Như chúng tôi đã phân tích, đó là do nhà thơ dùng từng cặp, từng chuỗi dụ thể và truyền vào đó một cảm quan dân tộc, từ cảm quan cây trái, hoa lá, đến cảm quan mưa gió, lênh đênh, từ cảm quan quí phái, trang nhã đến cảm quan sinh hoạt hương thôn phàm tục. Đó chính là cảm quan của Nguyễn Du, là cá tính của Nguyễn Du. Ẩn dụ được nói ra từ trong cảm nhận sâu thẳm của tâm hồn người, cho nên mỗi ẩn dụ có một sức nặng tình cảm. Văn chương hay không chỉ do hình ảnh mới lạ mà còn do tình cảm. Mà nói đến tình cảm thì phải nói tới chiều sâu của tình cảm đó. Hêghen từng nói đại ý mọi người ai vào nhà thờ cũng làm dấu thánh giá và nói “Amen”. Nhưng có người nói Amen như bắt chước người khác, có người nói như thói quen hút thuốc, ăn trầu, có người từ niềm tin mê muội, có người nói từ tất cả sự chiêm nghiệm cuộc đời đầy đau khổ.
Do vậy, chiều sâu tình cảm khác nhau rất xa. Những ẩn dụ của Nguyễn Du đều dồn nén tình cảm thật sự.
Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc vui đầy tháng trận cười suốt đêm
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh.
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rũ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?
Tác giả (và nhân vật) đã để tất cả niềm vui nỗi đau đích thực của mình vào trong các ẩn dụ ấy. Có thể nói đó không chỉ giản đơn là ẩn dụ mà còn là sinh dụ, hoạt dụ, tình dụ.
Những ẩn dụ quen thuộc làm người đọc không cần giải mã ẩn dụ, mà tức khắc chuyển sang đồng cảm. Loại ẩn dụ này là một yếu tố tạo thành văn bản “dễ đọc” cho công chúng. Người ta có thể đọc Truyện Kiều như đọc ca dao rất đỗi thân thuộc, gần gũi.
Tất nhiên trong Truyện Kiều cũng có những ẩn dụ khô khan như:
– Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
Hoặc: Khen: Tài nhả ngọc phun châu
           Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này.
Hoặc: Tay tiên gió táp mưa sa,
           Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.
Đó là những chỗ lời nói nhân vật chưa được tự nhiên do mới tiếp xúc với nhau buổi đầu, mới có tính cách xã giao, đưa đẩy hoặc do nhà văn có vẻ tán tụng nhân vật của mình, chứ chưa sống vào tâm hồn nhân vật.
Ẩn dụ trong Truyện Kiều cũng đồng chất với so sánh trong Truyện Kiều, là so sánh biểu cảm, chứ không phải so sánh nhận thức. Chẳng hạn:
Thiếp như hoa đã lìa cành
Chàng như con bướm lượn vành mà chơi
Do đó chúng tôi tạm thời không xem xét riêng.
Nghiên cứu ẩn dụ trong Truyện Kiều có thể thấy rằng Nguyễn Du như các nhà thơ trung đại nói chung, không có dụng ý đi tìm ẩn dụ hoàn toàn mới mẻ mà là dùng một cách mới, sáng tạo lại các ẩn dụ, so sánh…. đã có trong thi văn truyền thống. Ông đã tiếp nhận kiểu ẩn dụ trong thơ Đường và trong tục ngữ, ca dao theo hướng ẩn dụ biểu hiện tính chất và biểu cảm làm cho lời văn Truyện Kiều thêm thi vị và chứa chan tình cảm.
Chú thích:
(1) Lê Trí Viễn (nhiều tác giả) Giáo trình văn học sử Việt Nam. NXB Giáo dục Hà Nội, 1962, tr.208-209.
(2) Diệp Khê Mật. So sánh và ẩn dụ trong thi pháp Trung Quốc và phương Tây. “Văn học so sánh”  kỳ 3, năm 1987
(3) Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường, Trần Đình Sử, Lê Tẩm dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000tr.266,269.
(4) Xem mục “Cái nhìn nghệ thuật” ở chương trước.
7/8/2020
Trần Đình Sử
Theo https://vanhocsaigon.com/

Báo chí với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Báo chí với việc giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Việt

Tiếng Việt là một sinh ngữ, và ngôn ngữ trên báo chí cũng không ngừng phát triển góp phần không nhỏ vào sự phát triển của tiếng Việt hiện đại.
Tuy nhiên trong quá trình phát triển, báo chí đã bộc lộ không ít những nhược điểm trong sử dụng từ ngữ, văn phạm làm phương hại đến sự trong sáng của tiếng Việt, và góp phần không nhỏ vào sự lệch lạc trong lỗi dùng từ của một bộ phận người đọc, người nghe, làm phương hại đến đến sự trong sáng của tiếng Việt, làm ảnh hưởng không nhỏ và tạo nên sự lệch lạc trong lỗi dùng từ của một bộ phận người đọc báo, người nghe đài, xem truyền hình.
Về tu từ:
Có một nhận xét chung là khả năng tu từ học cũng như kỹ năng diễn đạt của báo chí nước ta đang ngày càng pha tạp giữa ngôn ngữ thuần Việt với ngôn ngữ nước ngoài. Khiến câu chữ trên báo chí lắm lúc trở nên ngô nghê, khó hiểu hoặc khô cứng. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có thể là do các nhà báo của ta trong quá trình học và sử dụng ngoại ngữ đã mang theo thói quen sử dụng cấu trúc của câu văn tiếng nước ngoài vào câu văn Việt; hoặc là muốn viết cho khác người, cho lạ, cho hiện đại. Ví dụ: Bản quy hoạch này được thực hiện bởi một nhóm các kiến trúc sư trẻ;  Cú đâm nhau chí mạng được xảy ra giữa hai xe máy phóng ngược chiều với một tốc độ rất cao; Sự cạn dần đi của nguồn nước được xảy ra khi các nhà máy thuỷ điện mọc lên chi chít trên thượng nguồn các con sông.v.v. Những câu trên đều có thể diễn đạt lại theo lối thuần Việt, xuôi tai và dễ hiểu hơn, nhất là với số đông người bình dân: Một nhóm kiến trúc sư trẻ đã thực hiện bản qui hoạch này; hai xe máy phóng ngược chiều với tốc độ rất cao đã đâm nhau một cú chí mạng; Các nhà máy thủy điện mọc lên chi chít trên thượng nguồn các con sông đã làm cho nguồn nước bị cạn dần đi .v.v. Chính cách viết theo cấu trúc đặt trước từ “được” những động từ và tính từ đã làm nên những câu văn kiểu tây tây như thế. Trong lúc cách nói truyền thống của người Việt ta là Chúng ta đi trên đường tắc nghẽn quá; không ai nói Chúng ta tắc nghẽn quá bởi con đường đi. Nghe cứ như là văn dịch.  Tất nhiên là dù nói và viết  theo cách nào thì người đọc người nghe cũng hiểu Chúng ta đi trên một con đường tắc nghẽn; và con đường tắc nghẽn mà chúng ta đang đi. Về nghĩa giữa hai câu thì giống nhau nhưng diễn đạt theo câu thứ hai thì vụng về và nặng nề lắm. Trong khẩu ngữ thì có thể nói như thế nhưng trên báo chí thì không nên chút nào. Trên thực tế, việc đưa khẩu ngữ vào các bài báo của số đông các nhà báo đang ngày càng phổ biến. Và đó là một thói quen xấu, khi báo chí được xem là một phương tiện truyền thông phổ cập và cổ điển.
Ngay ở cách đặt title cho bài báo cũng nhiều lúc chưa ổn, thậm chí gây bức bối cho người đọc báo. Một title bài phải sao cho ngắn gọn và kín, đọc qua title bài, bạn đọc sẽ thấy ngay bài báo sẽ có nội dung về vấn đề gì nhưng đồng thời ngay ở cái title cũng cần gây được sự chú ý, tò mò cho người đọc. Ví dụ: Mất bảy mạng người trong một vụ hoả hoạn. Đọc cái title này bạn đọc sẽ biết nội dung bài báo là nói về một vụ hoả hoạn nghiêm trọng gây chết đến bảy người. Nhưng người ta cũng cần biết là vụ cháy xảy ra ở đâu, vào lúc nào, diễn biến như thế nào và nguyên nhân do đâu. Và vì thế mà người ta sẽ đọc hết bài báo để nắm các thông tin trên. Nhưng nếu cũng với bài báo trên mà đặt  title: Vụ hoả hoạn ở Bình Dương vì sao mất đến bảy mạng người? Với dấu (?) ở cuối thì sẽ khiến cho người đọc khó chịu. Bởi người đọc đến với bài báo đó là để tìm đến với sự thật chứ không phải là đi tìm câu trả lời mà nhà báo đặt ra. Trong trường hợp này chỉ có một trong hai khả năng: do có người đốt hoặc do bất cẩn. Vậy chỉ có thể đặt title với sự khẳng định: Vụ hoả hoạn ở Bình Dương là do có người đốt; hoặc Vụ hoả hoạn ở Bình Dương là do bất cẩn.
Trong trường hợp cụ thể này, nếu chưa xác định được nguyên nhân thì chỉ nên đặt title: Đi tìm nguyên nhân vụ hoả hoạn ở Bình Dương là đủ. Tương tự không nên đặt các title bài kiểu: Tăng giá xăng trong thời điểm này liệu có thích hợp? Trong trường hợp này nếu quan điểm của nhà báo là không thích hợp thì khẳng định luôn là: Tăng giá xăng trong thời điểm này là không thích hợp; ngược lại thì nói: Tăng giá xăng trong thời điểm này là thích hợp. Gần đây báo chí ta còn có tình trạng phổ biến  đặt câu hỏi với dạng động từ + tại sao không?  Ví dụ: Cá cược bóng đá, tại sao không?; Hoặc Tết sách, tại sao không? …  Nói kiểu ấy một vài lần thì được, nói hoài kiểu câu hỏi ấy thì gây khó chịu cho người đọc. Người đọc báo có quyền bắt bẻ lại nhà báo với những cái title cụ thể hơn: Có thể/không thể cá cược bóng đá; hoặc Nên/không nên có tết sách …
Đa số bạn đọc không thú vị gì với các title bài đồng thời là một câu hỏi. Bởi nhiệm vụ của họ không phải là đi tìm câu trả lời mà là tìm đến với sự thật là câu trả lời của nhà báo nằm trong nội dung bài báo. Và như vậy, cũng có nghĩa là các title bài không nên là những câu hỏi. Trong lúc đó thì đáng buồn thay đang có nhan nhản những title đề như thế trên các trang báo ra hàng ngày.
Về sử dụng từ
Như đã biết, lượng từ Hán – Việt chiếm đến 70% trong ngôn ngữ tiếng Việt. Chúng ta không máy móc là phải Việt hoá tất cả các từ Hán – Việt để cho tiếng Việt được trong sáng. Và trên thực tế không phải từ Hán – Việt nào cũng có thể Việt hoá được. Tuy nhiên, lạm dụng và sử dụng quá nhiều từ Hán – Việt trong khi có thể sử dụng từ thuần Việt là không nên. Điều này trong giới ngôn ngữ học đã nói nhiều, chúng tôi xin không nhắc lại.
Điều chúng tôi muốn nói là tình trạng sử dụng sai từ Hán – Việt trong báo chí. Rõ nhất là ở từ khiêm tốn. Ai cũng biết khiêm tốn là từ dùng để chỉ một phẩm chất tốt của con người. Ông ấy giỏi nhưng khiêm tốn lắm; Những người thông minh là những người biết khiêm tốn. Bác Hồ cũng dạy các cháu thiếu niên nhi đồng là Khiêm tốn, thật thà,  dũng cảm. Từ nghịch nghĩa với khiêm tốn là tự cao, một thói xấu của con người. Tuy nhiên gần đây từ khiêm tốn đang được dùng để chỉ những cái gì còn ít, như là một từ định lượng. Ví dụ: Kết quả đạt được của doanh nghiệp trong năm qua còn khiêm tốn; hoặc:  Thành tích của đội bóng A trong mùa bóng vừa qua là quá khiêm tốn …  thậm chí có nhà lãnh đạo khi đi nước ngoài cũng đã phát biểu: Tiềm năng hợp tác kinh tế giữa hai nước Việt – Nga là rất to lớn nhưng chúng ta thực hiện còn quá khiêm tốn. Tại sao không nói thẳng, nói rõ ra là …còn ít; …còn thấp mà lại thay từ khiêm tốn vào đấy. Nếu vậy, chúng ta phải hiểu từ khiêm tốn trong Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên và nhi đồng “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” như thế nào đây! Chẳng thế mà có độc giả đã viết bài than phiền về cái sai phổ biến và trầm trọng của báo chí khi dùng từ khiêm tốn với nhan đề chua chát: Tôi sợ khiêm tốn lắm rồi!
Đó là cái sai rất đậm nét trong dùng từ Hán – Việt mà không ít người đã lên tiếng phê phán nhưng chưa thấy ai sửa, ngược lại kiểu sai này ngày càng phổ biến và trầm trọng hơn. Báo chí, hơn ai hết phải thấy được khả năng lan toả và tác động to lớn của mình trong đời sống xã hội để từ đó cũng phải cẩn trọng hơn ai hết trong sử dụng từ ngữ.
Một cái sai khác trong dùng từ cũng đang rất phổ biến trong báo chí của ta là dùng từ bà con, nhất là trong các bài báo, các chương trình phát thanh và truyền hình hướng về đối tượng đọc và nghe là nông dân, đồng bào các dân tộc thiểu số. Ví dụ: Bà con và các bạn thân mến! Theo từ điển tiếng Việt, nghĩa của từ bà con là để chỉ những người có cùng quan hệ huyết thống, có quan hệ họ hàng thân thuộc bên nội, bên ngoại với nhau… Có lẽ khi các nhà báo và các báo, đài gọi đối tượng hướng tới để tuyên truyền của mình, những người nông dân, những đồng bào các dân tộc thiểu số là bà con nhằm tạo sự gần gũi, thân thiết. Nếu vậy khi viết về những người công nhân,  những tầng lớp lao động khác trong xã hội thì không cần sự bà con gần gũi đó hay sao! Đó là chưa nói tới chuyện người nông dân trong xã hội ta ngày nay cũng đã được nâng cao về dân trí và các nhận thức khác, họ sẽ không muốn cánh báo chí gọi mình theo lối mị dân như thế. Và khi đó, tác dụng tuyên truyền sẽ bị giảm sút do lỗi dùng từ không chính xác.
Trong trường hợp này, nên thay từ bà con bằng đồng bào là thích hợp hơn cả: Đồng bào và các bạn thân mến! Bởi rằng, đồng bào là một từ gốc Hán nhưng không hề xa lạ trong tiếng Việt.      
Lỗi trong dùng từ theo kiểu khẩu ngữ cũng đang phổ biến trên các mặt báo. Có lẽ chưa có bao giờ mà lời ăn tiếng nói thông thường trong cuộc sống hàng ngày lại được các nhà báo sử dụng thoải mái đến mức hồn nhiên như hiện nay. Tác dụng của nó là khiến cho báo chí trở nên gần gũi hơn với người đọc nhưng nếu lạm dụng quá thì sẽ làm mất đi tính nghiêm túc của bài báo, và của cả tờ báo.
Chẳng hạn một từ đang được báo chí dùng rất thịnh hành là bật mí. Ví dụ: Bật mí về hậu trường làm phim truyền hình Việt Nam; hoặc Bật mí về những cây xăng gian lận thương mại ở Long An .v.v. Ai cũng biết, bật mí là nói lái của từ bí mật, như một sự chơi chữ, nhằm chỉ những điều đã bị lộ diện, không còn bí mật nữa. Dùng ở ngoài sách vở theo dạng khẩu ngữ, ngôn ngữ đường phố không thì không sao nhưng nếu sử dụng chính thức trên báo chí sẽ làm mất hẳn sự nghiêm túc của bài báo, biến một vấn đề nghiêm túc thành một sự bông lơn, đùa cợt.
Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ, lượng từ mới xuất hiện ngày càng nhiều và đi vào đời sống ngôn ngữ như một lẽ tự nhiên. Điều đó làm cho ngôn ngữ nước nhà ngày càng phong phú. Tuy nhiên, không phải từ mới nào cũng có lí để tồn tại. Lẫn trong những từ mới, đã có những từ ghép được các nhà báo “sáng tạo” một cách khập khễnh, làm biến dạng cả tiếng Việt. Ví dụ: viết thanh thiếu nhi thay cho viết đầy đủ là thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; chi đảng bộ thay cho chi bộ, đảng bộ; khán thính giả thay cho khán giả, thính giả; phối kết hợp thay cho phối hợp, kết hợp .v.v. Thực ra các trường hợp trên chỉ là một cách viết tắt chứ không phải là những từ ghép. Trong khẩu ngữ khi nói không chính thức có thể dùng nhưng khi đi vào văn bản viết của ngôn ngữ báo chí thì không nên bởi nó làm mất đi độ chính xác và tính nghiêm túc của bài báo. Nếu chấp nhận “sáng tạo” và cứ  phát triển theo xu hướng trên thì sẽ có lúc dùng ngoan cố thay cho ngoan ngoãn và cố gắng; cao xà lá thay cho cao su, xà phòng, thuốc lá. Như vậy có mà loạn từ ngữ! Phát hiện và sử dụng cái mới là một điều tích cực nhưng không phải cái gì  khác  lạ cũng là cái mới.
Về dùng từ nước ngoài
 Khi đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có ngôn ngữ cũng tham gia mạnh mẽ vào quá trình hội nhập ấy. Ngày nay, khi lật bất cứ trang báo nào, người đọc cũng có thể thấy ngay những từ nước ngoài được sử dụng một cách phổ biến như: Phone, fax, mail, website, blog, computer, hacker, show, live show, game show, shopping v.v. và v.v.  Đó là những từ nước ngoài mà con người trong thế giới hiện đại dù ở bất cứ quốc gia nào cũng không thể không sử dụng. Bởi dù có bảo thủ đến đâu chúng ta cũng khó mà thay thế các từ thuần Việt vào các từ nước ngoài như fax, mail, website, blog… Trong trường hợp nếu cố tình thay thế, chúng ta sẽ có cách diễn đạt dài dòng, thậm chí là không chính xác, không rõ nghĩa. Có thể khẳng định rằng, với sự xuất hiện ngày càng dày đặc các từ nước ngoài trên các phương tiện truyền thông mà chỉ cách đây mấy năm còn xa lạ nhưng nay đã trở nên quen thuộc với số đông đã góp phần cho sự diễn đạt chính xác và làm phong phú thêm cho ngôn ngữ Việt nói chung và ngôn ngữ báo chí nói riêng. Mặt khác, điều đó cũng góp phần nói lên sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước ta ngày nay.
Tuy nhiên, cùng với sự tiếp thu và Việt hoá được nhiều cái hay của từ ngữ nước ngoài trong thời buổi đất nước hội nhập thì có một điều chúng ta đã nói rất nhiều, rất lâu rồi nhưng ngày càng trở thành một thói quen xấu là việc lạm dụng từ nước ngoài, sử dụng từ nước ngoài trong những trường hợp không cần thiết. Tình trạng này làm cho tiếng Việt bị mất đi sự trong sáng, thậm chí bị biến dạng, lai căng trông rất kệch cỡm. Điều đáng báo động là xu hướng này đang ngày càng thịnh hành, nhất là thói quen sử dụng tiếng Anh thay cho tiếng Việt ngay cả trong những trường hợp không cần thiết.
Có lẽ ngày nay, chỉ trừ số ít tờ báo như Nhân dân, Quân đội nhân dân, Tiền phong thì đa số các mặt báo còn lại, nhất là báo điện tử, báo mạng, thậm chí cả trong các văn bản hành chính; rồi cách gọi, cách đặt tên cho sự kiện cũng nhan nhản sự lạm dụng từ tiếng Anh. Như không nói là liên hoan mà nói là festival. Trong các cuộc liên hoan mang phạm vi quốc tế thì dĩ nhiên là và hoàn toàn có thể sử dụng từ festival như Festival thanh niên, sinh viên quốc tế ; Festival Huế (với thành phần tham gia có nhiều khách quốc tế)… nhưng cũng có những liên hoan mà tính quốc tế hầu như không có hoặc có rất ít như Festival lúa gạo ; Festival trái cây ; Festival thuỷ sản Cần Thơ, Festival thanh niên nông thôn, Festival Tây Sơn – Bình Định v.v. thì hoàn toàn nên gọi là liên hoan chẳng những là để giữ gìn sự trong sáng cho tiếng Việt mà còn là để gần gũi với đa số nhân dân, nhất là với nông dân. Ngoài ra có thể kể thêm cho những trường hợp lạm dụng tiếng Anh như: dùng building, villa thay cho nhà cao tầng, biệt thự ; sale off thay cho hạ giá ; scandal thay cho bê bối ; collection thay cho sưu tập. Ngay cả khu du lịch nổi tiếng ở Nha Trang hoàn toàn được xây dựng với sự đầu tư của người Việt nhưng lại được đặt tên là Vinpearland chứ không chịu gọi là Hòn ngọc Việt, một cái tên thuần Việt vừa đẹp vừa nhiều ấn tượng. Hình như là có một bộ phận người Việt cho rằng có gọi theo tên Tây như thế thì mới sang, mới hiện đại ; còn gọi theo tiếng Việt thì bị giảm giá (!).
Trong phạm vi vấn đề này, như đã nói ở trên, chúng tôi không phản đối mà ngược lại, còn phần nào ủng hộ việc sử dụng những từ ngữ nước ngoài trong những trường hợp không thể dùng tiếng Việt, hoặc nếu cố tình sử dụng tiếng Việt sẽ làm cho câu chữ dài dòng, không nói hết nghĩa của từ và thuật ngữ. Chẳng hạn trong việc sử dụng mạng thông tin điện tử thì dùng mail, fax, hacker, gameshow, forum … Hoặc trong hệ thống các trang blog hoàn toàn mang tính cá nhân thì người chủ các blog có thể dùng từ theo ý‎ thích của họ. Chẳng hạn dùng entry, comment, post, up… thay cho các từ tiếng Việt tương đương, bởi chúng chỉ giới hạn trong phạm vi cá nhân hoặc trong một bộ phận người dùng. Tuy nhiên, nếu qúa lạm dụng và nhân bản ra với cả các loại hình báo chí chính thống khác thì chắc chắn là sẽ loạn ngôn ngữ. Cái gì cũng nên có giới hạn của nó.
Ở đây, chúng tôi muốn đề cập thêm đến việc sử dụng không chính xác hoặc sai nghiêm trọng khi sử dụng từ Hán – Việt hoặc từ gốc Hán của báo chí. Chúng tôi xin dẫn ra đây hai ví dụ tiêu biểu: Ai cũng biết nước Việt ta từ xưa đến nay mới chỉ có duy nhất một bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố trong ngày Quốc khánh 2 – 9 – 1945 tại Hà Nội. Vậy mà trong không ít các lời dẫn chương trình, các bài viết trên một vài tờ báo, các biên tập viên và người dẫn chương trình khi nói đến bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và bài Cáo bình Ngô  của Nguyễn Trãi vẫn cho rằng đó là hai bản tuyên ngôn độc lập khác nữa của nước Việt Nam ngoài bản Tuyên ngôn nói trên do Hồ Chí Minh công bố ; và khẳng định luôn là nước ta có đến ba bản tuyên ngôn độc lập. Trong lúc thực ra, hai tác phẩm kể trên của Lý Thường Kiệt và Nguyễn Trãi xét về mặt ‎ ý nghĩa chỉ có giá trị như một lời tuyên ngôn mà thôi. chương trình đã nhầm lẫn chữ môn nghĩa là cổng, cửa với môn là môn học. Những hạt sạn to như thế ngày nay trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình, báo mạng … có mà nhặt cả ngày cũng không hết.
Mấy đề xuất:        
Trước thực trạng đáng lo ngại như đã trình bày ở trên, đề nghị các nhà ngôn ngữ, các nhà giáo trong nghiên cứu, giảng dạy qua các báo và tạp chí nên có nhiều bài viết về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nhất là mở các mục kiểu như mục Dọn vườn của báo Văn Nghệ trước đây. Mục này vốn rất được bạn đọc chú ý và thích thú nhưng có lẽ do ngày nay có quá nhiều cỏ rác dọn không xuể nên duy trì không đều.
Hãy xem việc giữ gìn và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt, nhất là trong thời kì cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, là một trong những biểu hiện, là một nội dung của lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
8/8/2020
Hà Tùng Sơn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Bây giờ, văn chương thì để làm gì

Bây giờ, văn
chương thì để làm gì?

“Bây giờ, văn chương thì để làm gì?”. Khoan trả lời, mà hãy “ngần ngừ” một chút trước câu hỏi “cắc cớ” này, có thể nhiều người sẽ thấy ở trong đó, ngoài sự hoài nghi, còn thoáng một nỗi bi quan cho vận mệnh của văn chương, cho lý do thực sự mà nhờ đó văn chương trụ lại được trong dòng đời sống ngày hôm nay. Nỗi bi quan ấy không ngẫu nhiên nảy sinh theo kiểu nảy sinh một ý thích bất chợt. Nó có nguyên cớ của nó. Sự thui chột thói quen đọc sách, trong đó có sách văn chương, ở một bộ phận lớn độc giả tiềm năng – cái mà giới truyền thông Việt Nam ngày nay thường gọi là “sự khủng hoảng của văn hóa đọc” – cần phải được cắt nghĩa vượt qua và nhiều hơn một tình trạng “suy bại tinh thần xã hội” hay “học phong đình đốn” dễ dãi nào đó. Theo hướng ấy, một cách rốt ráo, có lẽ nên đưa ra một câu hỏi khác, đầy tính thực dụng: Đọc tác phẩm văn chương để được cái gì?
Cách đây một thế kỷ, thậm chí chỉ nửa thế kỷ thôi, câu trả lời sẽ đến rất nhanh: Để được biết nhiều hơn về thế giới này. Người trả lời có thể diễn giải như sau: Chúa nặn ra con người với tư cách là một sinh vật bất toàn, một sinh vật bị đóng khung trong cái bi kịch của sự giằng xé giữa hữu hạn và vô hạn. Nó sống ở đây, bây giờ, nhưng lại luôn thường trực niềm ham muốn được trải nghiệm đời sống của mình ở mọi nơi, mọi lúc. Chỉ có một cây cầu để đưa nó đi từ bờ hữu hạn sang tới miền vô hạn thôi, đó là văn chương. Đọc tác phẩm văn chương, con người được lên rừng, xuống biển, vào lòng đất, ra sa mạc, tới thảo nguyên, đang ở hiện tại bỗng trở về quá khứ rồi thoắt cái lại nhảy vọt đến tương lai. Trong những cuộc dịch chuyển tọa độ không gian/ thời gian ấy, tri giác địa – lịch sử của người đọc được mở rộng, mà kiến văn về địa – nhân học, về địa – văn hóa của anh ta cũng trở nên dầy dặn thêm. Bởi anh ta được tiếp xúc với các cộng đồng người cùng phong tục tập quán và các thiết chế văn hóa xã hội của họ, anh ta được sống với các cuộc đời cá thể cùng bao niềm vui nỗi buồn, bao éo le khuất khúc, bao bi kịch hài kịch và những tấn kịch nhân sinh chưa được gọi tên khác. Biết được nhiều hơn về thế giới này cũng có nghĩa là biết được nhiều hơn về chính mình, biết được những khả năng cùng những giới hạn, những sức níu và những sức vươn nằm trong bản thân mình, một hạt bụi người trong thế giới. Tất cả những điều đó, người đọc có được là nhờ tác phẩm văn chương. Nhưng, trớ trêu thay, trong điều kiện của đời sống xã hội ngày nay, sức mạnh ấy của văn chương chừng đã không còn nguyên vẹn như trước; hay nói cách khác, sau câu khẳng định đã xuất hiện một vài câu hỏi nghi ngờ: Duy nhất văn chương làm được điều đó chăng? Liệu có thể có những loại hình khác sẽ đảm nhận công việc với hiệu quả cao hơn, và bởi thế, chúng sẽ đẩy văn chương xuống “bàn hai”?
Có. Báo chí, truyền hình, điện ảnh, đặc biệt là mạng xã hội, đã và đang là những thế lực biến văn chương thành kẻ “ở chiếu dưới” trong việc giúp con người hiểu biết nhiều hơn về thế giới này. Chúng mang cái thế giới rộng lớn, đa chiều và dồn dập các sự kiện đến với con người nhanh hơn, cụ thể hơn, sống động hơn nhiều so với điều tác phẩm văn chương có thể đem lại. Chỉ cần một cái nhấp chuột hay một cái nhấn nút chuyển kênh, ngay lập tức ta đã có thể biết những chuyển động ở thì hiện tại (hoặc quá khứ rất gần) trong thế giới mà ta đang sống: bầu cử Tổng thống ở Hoa Kỳ, chiến tranh ở Iraq, căng thẳng chính trị ở bán đảo Triều Tiên, sụt hầm mỏ ở Chile, bão lụt ở Trung Quốc, nạn đói và dịch bệch ở Somali, biểu tình ở Hương Cảng v.v… Sự lệch pha về thời gian giữa “sự kiện đang diễn ra” và “sự kiện đang được chứng kiến” là rất không đáng kể, và đó là điều mà tác phẩm văn chương không có cách gì giải quyết được. Hoặc giả, một cách chậm rãi hơn, nếu ta muốn biết về phong tục tập quán, đời sống xã hội, các thiết chế và giá trị văn hóa của một cộng đồng người nào đó ở một vùng đất nào đó trên bề mặt quả địa cầu này, rõ ràng là những chương trình truyền hình thực tế hoặc những bộ phim tài liệu khoa học sẽ thỏa mãn nhu cầu ấy tốt hơn nhiều so với một tác phẩm văn chương (Cần phải mở ngoặc đơn để nói thêm một chút ở đây: Chẳng cần so với truyền hình và điện ảnh, trong trường hợp này, một tác phẩm văn chương tốt nhất cũng không thể hơn được một ghi chép dân tộc học vào loại “cẩn thận”. Tôi không tin khi đọc một tác phẩm văn chương nào đó về đời sống của người Mường, tôi sẽ biết về người Mường nhiều hơn khi tôi đọc cuốn Người Mường ở Hòa Bình của Trần Từ, tức nhà dân tộc học Từ Chi. Tương tự như vậy, là người M’nông Gar trong Chúng tôi ăn rừng của G.Condominas, thổ dân châu Mỹ trong Nhiệt đới buồn của C.Levi Strauss). Cách đây không lâu, khi nhìn vào những thành tựu của văn học, khi phải cắt nghĩa giá trị của một số tác phẩm, chúng ta thường nhấn mạnh đến khả năng thâm nhập hiện thực của tác giả, cái cách anh ta sống cùng hiện thực, khám phá nó, rút tỉa nó, để từ hiện thực ấy làm nên một hiện thực khác, chân thật hơn, sống động hơn trong cuốn sách của mình. Những tác phẩm viết về đời sống của người dân công giáo vùng duyên hải Bắc bộ của Nguyễn Khải vài chục năm trước là ví dụ khá tốt cho câu chuyện này. Thời đó, khi mới ra đời, các tác phẩm loại này của Nguyễn Khải được đón nhận rất nồng nhiệt, mà một trong những lý do chủ yếu là chúng đã mở ra trước mắt người đọc cả một mảng đời sống phức tạp, có phong vị rất riêng, mảng đời sống mà lúc ấy không phải ai cũng dễ dàng có điều kiện thâm nhập và trải nghiệm. Một tác giả ở tạp chí Văn nghệ quân đội, khi nói về người tiền bối của mình, đã có nhận xét khá tinh: Lúc đó, nhà văn không chỉ là nhà văn, mà nhà văn còn gánh luôn công việc của nhà báo, tác phẩm của nhà văn là thông điệp nghệ thuật, và tác phẩm ấy cũng kiêm luôn chức năng của thông tin báo chí. Vài chục năm trước là thế, còn hiện nay, khi báo chí đã phát triển mạnh đến vậy, lại được sự hỗ trợ tối đa của công nghệ hiện đại, điều hiển nhiên là nó sẽ vượt trên văn chương rất xa trong việc đem lại cho con người những hình ảnh nóng ấm, tươi rói và hết sức cụ thể về thế giới này.
Nhưng nói vậy không phải là nhà văn đã hết việc (cũng có nghĩa là hết lý do để tồn tại, điều này sẽ nói sau), nhưng một cái nhìn khác đi về chức năng của văn chương theo cách như vậy là cần thiết. Vài ba năm trở lại đây ở ta rộ lên những ý kiến xung quanh nội dung “văn học phản ánh hiện thực đất nước hôm nay”. Đã có hẳn mấy cuộc hội thảo như “Văn học với đề tài nông nghiệp, nông thôn”, “Văn học với doanh nhân” v.v… Một mặt, có thể xem điều đó như một nỗ lực nhận diện, đánh giá văn chương đương đại. Nhưng mặt khác, dễ nhận thấy hơn, động thái ấy chính là lời thúc giục, là sự yêu cầu người sáng tác văn chương phải lao mình vào những “dòng chảy lớn” của đất nước hôm nay, phải viết về nó, phải biến văn học thành nơi in đậm hình ảnh của xã hội.
Có hai vấn đề cần phải/ đáng được bình luận ở yêu cầu này.
Thứ nhất, Phải chăng đang xuất hiện xu hướng coi văn chương như một sự “chứng kiến” đối với những sự kiện, những vấn đề xã hội mà nhà văn là người phải thể hiện sự có mặt của mình, bất kể anh có cảm thấy đủ điều kiện và thời gian lắng đọng để làm điều đó hay không. Nông nghiệp, nông thôn ư? Việt Nam ta chẳng phải là đất nước mà nông nghiệp chiếm một vị trí tối quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nông thôn phủ trên đa phần diện tích lãnh thổ và trong mỗi người dân – dù là thị dân nhiều đời – đều sống một “người nhà quê” đó sao? Vậy tại sao nhà văn không viết về đề tài đó, nhất là khi nông thôn đang chuyển mình mạnh mẽ dưới sự tác động tích cực của những chương trình hành động lớn? Doanh nhân ư? Đó chẳng phải “một anh hùng của thời đại chúng ta”, một mẫu người mới, mẫu người mang lại sự giàu có cho quốc gia, bởi thế rất đáng biểu dương sao? Vậy vì cớ gì nhà văn chưa hăm hở viết về mẫu người này như trước đây đã từng hăm hở viết về các nhân vật công – nông – binh? Yêu cầu được luận chứng rất hợp lý, chỉ có một chi tiết dường như chưa được tính đến (hoặc cố tình bị bỏ qua): với tư cách người sáng tạo tự do, nhà văn cần có đầy đủ điều kiện và cơ hội để tiếp cận với đề tài một cách đầy đủ và toàn diện, và thực ra thì anh ta cũng chẳng “dại gì” không viết nếu đó là một đề tài hấp dẫn và người viết tự thấy bản thân mình có đủ năng lực để giải quyết nó.
Thứ hai, đặt ra yêu cầu công việc cho văn chương trước “hiện thực đất nước hôm nay”, trước “sự kiện đang diễn ra” chính là yêu cầu nhà văn phải trở thành nhà báo, trong khi, như đã nói ở trên, phương tiện tác nghiệp báo chí của nhà văn cùn nhụt hơn rất nhiều so với phương tiện tác nghiệp báo chí của nhà báo “thứ thiệt” trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay.
Vậy nhà văn đành quay lưng ngoảnh mặt trước “hiện thực đất nước hôm nay” chăng? Tôi không mấy tin vào cái kịch bản buồn bã này. Dù thế nào đi chăng nữa, dù theo đường thẳng hay đường vòng, dù hữu ý hay vô ý, thế nào “hiện thực đất nước hôm nay” cũng in dấu vết và lưu vọng âm của nó trong sáng tác của các nhà văn đương đại. Ngay ở một cuốn tiểu thuyết tình rất “sến” như Phải lấy người như anh chẳng hạn, đọc kỹ, ta sẽ thấy có những vấn đề của cuộc sống đương đại, những vấn đề trong cách nghĩ và trong tình cảm của một bộ phận người trẻ tuổi hôm nay. Mặt khác, có thể tin rằng văn chương ngày nay, cũng như văn chương muôn đời trong mai sau, không bao giờ hết việc để làm nếu nó nhắm đúng miền xác định của mình, cái miền mà báo chí chỉ có thể khoan thủng ở vùng ven. Đó là thân phận Con Người. Con người như là nguyên nhân và kết quả của các thiết chế xã hội, là sự bất mãn khôn nguôi trước hiện thực, con người với những giới hạn không thể vượt qua, với sự giằng xé thường trực giữa các ham muốn, với những nỗi đau có thật, có lời và không lời. Hoặc, mượn cách nói của Albert Camus (với một chút thay đổi): Văn chương vẫn còn có thể làm được điều gì đó có ý nghĩa thực sự nếu như nó bước thật chắc chân trên con đường độc đạo, giữa hai bờ vực: một bên là thứ văn chương của những tràng vỗ tay tán dương tuyên truyền, bên kia là thứ văn chương trưởng giả đầy những tình cảm xa hoa điêu trá.
9/8/2020
Hoài Nam
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đọc "Nỗi buồn đan cẳng chéo" của Đặng Tường Vy

Đọc "Nỗi buồn đan cẳng
chéo" của Đặng Tường Vy

Đọc “Nỗi buồn đan cẳng chéo”của Đặng Tường Vy ta như đi qua một căn phòng treo nhiều tranh lạ, màu sắc tưởng như phản cảm nhưng lại cuốn hút ta đứng lại nhìn, nhìn lâu và nhìn say sưa, bỏ đi còn nuốn quay lại nhìn…
NỖI BUỒN ĐAN CẲNG CHÉO
Ai cầm tay ngọn gió
Xước cả một trời đau
Dấu sầu mang bụi đỏ
Đường về có còn nhau
Nhịp đời nung đỏ đóm
Đếm từng hơi thở buồn
Gã mặt trời giấc muộn
Thôi làm bạn chim muông
Cõng buồn sang ngõ nhỏ
Nói lời với người xa
Nổi trầm qua nhịp gõ
Thời gian có đâu là
Vuốt giọt sương kẽ lá
Vô thường có gọi tên
Giả vờ thôi đừng dạ
Đời còn chút nhớ quên
Ao tù qua mấy nẻo
Quạ quang quác trời xa
Nỗi buồn đan cẳng chéo
Chân trần thắt ngõ qua
Tay buông lơi tràng hạt
Thôi nguyện cầu ngày mai
Chữ duyên còn bỏng rát
Chén rượu đời men cay.
04.8.2020
Đặng Tường Vy
Những ngày trốn dịch Covid trong nhà, tôi tìm nguồn vui riêng cho mình, là đọc thơ của các  bạn facebook, khám phá cho mình nhiều bài thơ hay của những tác giả còn xa lạ đối với tôi. Sáng nay vừa thức giấc, còn nằm trên giường đã đọc được một bài thơ hay. Đó là một bài thơ có ý tứ lạ lùng nhưng độc đáo.
“Nỗi buồn đan cẳng chéo”: Chỉ cái đầu đề thôi có thể cho ta trề môi chê trách vì thật là vô nghĩa. Thế nhưng chịu khó đọc bài thơ, ta sẽ tìm được một hình ảnh trẻ vui và lạc quan trong nỗi buồn của tác giả.
Vậy hãy vào ngay khổ đầu của bài thơ để thấy nó lạ và nó độc đáo ở đâu:
Ai cầm tay ngọn gió
Xước cả một trời đau
Dấu sầu mang bụi đỏ
Đường về có còn nhau
Trước hết tác giả ngược đời khi tả nỗi sầu nằm trong ngọn gió mang đầy bụi đỏ. Người đi trên đường về cô đơn, không còn  nhau nữa. Gió cuốn qua không gian như có người cầm tay nó chạy, để lại sau nó, bụi đỏ bám trên những dấu tích kỷ niệm nằm trên đường về.
Thường thường thì cảnh sinh tình, nhưng để sinh tình buồn, cảnh phải sâu lắng, nên thơ và hiu hắt, giống như Thúy Kiều  buồn khi ở “Trước lầu ngưng bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”vậy.
Thế nhưng ở đây, đọc khổ thơ đầu của “Nỗi buồn đan cẳng chéo” ở trên, ta thấy ngay nhà thơ có khuynh hướng tả thật. Sự thật thì nhìn có thể nghịch lý, nhưng chính nó  là thật thì có  nghịch lý vẫn là sự thật. Đây là sự thật có ý vị, là  một cảm xúc bất chợt sinh ra trên con đường về,  mà một cây bút e dè không dám viết thành thơ bao giờ, và một cây bút non tay cũng chẳng bao giờ viết thành một bài thơ hay được.
Bây giờ xin mời bước qua khổ thơ thơ thứ hai:.
Nhịp đời nung đỏ đóm
Đếm từng hơi thở buồn
Gã mặt trời giấc muộn
Thôi làm bạn chim muông
Trong khổ thơ nầy, chiều đang xuống dần dần. Chiều đang xuống dần dần vì “Gã mặt trời giấc muộn/Thôi làm bạn chim muông” trong khi “Nhịp đời nung đỏ đóm/Đếm từng hơi thở buồn”. Chỉ có buổi chiều thì cảnh mới làm cho buồn, và chỉ có cảnh mặt trời lặn thì mặt trời mới “Thôi làm bạn chim muông”. Nếu cảnh bình minh thì mặt trời “sẽ” hoặc “sắp” làm bạn chim muông chớ không “thôi” bao giờ.
Khổ thơ vẽ nên một khung cảnh không đẹp nhưng bức tranh lại đẹp vì tài hoa của bàn tay nghệ sĩ, đã phát họa như thật cả hơi thở buồn của  buổi chiều trong sắc đỏ, là một màu sắc đối nghịch với vẻ buồn mà người họa tranh hay người viết văn thường hay né tránh.
Qua khổ thơ thứ ba:
Cõng buồn sang ngõ nhỏ
Nói lời với người xa
Nổi trầm qua nhịp gõ
Thời gian có đâu là
Nhiều nhà thơ đã viết “cõng mẹ”, “cõng vợ” hay “cõng em” để diễn tả hình ảnh thân thương với những người thân yêu của mình. Nhà thơ dùng từ ngữ “cõng buồn” cũng cho ta một cảm nhận thi vị trong nỗi buồn của tác giả. Có lẽ tác giả muốn nói mình đến con ngỏ nhỏ, kỷ niệm hiện về êm ái, nỗi buồn nhè nhè đến, đem hạnh phúc trở về trong tâm tưởng, như những điều âu yếm năm xưa còn đó, nỗi buồn không làm nặng bờ vai.
Khổ thơ hoàn toàn diễn tả được sự giao cảm giữa hai người qua giác quan thư sáu. “Nói lời với người xa” là nói tiếp những gì  ngày xưa đã nói với nhau. “Nối trầm qua nhịp gõ” là truyền thông hiểu nhau qua nhịp thời gian trầm gõ, và “Thời gian có đâu là” nghĩa là thời gian  không thể làm mờ phai tình yêu và kỷ niệm.
Bước qua khổ thơ thứ tư:
Vuốt giọt sương kẽ lá
Vô thường có gọi tên
Giả vờ thôi đừng dạ
Đời còn chút nhớ quên
Nhà thơ vuốt giọt sương trên kẽ lá, tức thì cảm nhận ngay sự vô thường ở đời giống như “trực chỉ nhân tâm/kiến tánh thành đạo” trong giáo lý nhà Phật. Thế nhưng ở đây nhà thơ không kiến tánh sự vô thường trời đất mà kiến tánh sự vô thường của tình yêu. Sự vô thường đó chính là tình yêu của mình. Tình yêu của tác giả thì có năm, có  mùa, có tên tuổi được gọi lại trong con tim lúc nầy, nên nhà thơ đã “Giả vờ thôi đừng dạ” và tự an ủi lòng mình “Đời còn chút nhớ quên”.
Khổ thơ diễn đạt sự nhớ nhung, sự bâng khuâng xảy ra trong lòng tác giả. Câu thơ dung dị, dễ thương mà xâu xa ý nghĩa, bộc lộ một tâm hồn  cởi mở, lạc quan, vị tha trong tình yêu và cuộc sống.
Qua khổ thơ thứ tư, không gian nặng nề hơn, nỗi buồn của tác giả “Cõng” trên vai đã trĩu, nên tác giả phải rũ bỏ nó, bằng cách vừa đi vừa nhảy, đan cẳng chéo như trẻ em tung tăng khi phấn chấn trong lòng:
Ao tù qua mấy nẻo
Quạ quang quác trời xa
Nỗi buồn đan cẳng chéo
Chân trần thắt ngõ qua
Hình ảnh trong thơ thật là sống động, cho ta tưởng tượng được vạn vật đã u trầm, người đi mang đầy tâm sự, đã quyết tâm vứt bỏ nỗi buồn bằng dáng đi như in nốt nhạc trên con đường chiều. Khổ thơ như một đoạn  phim hiển hiện trước mắt có bóng dáng, màu sắc và tiếng nhạc từ vết chân chim của thiếu nữ.
Khổ cuối bài thơ hơi nghịch lý ở chổ cô gái có tràng hạt trên tay:
Tay buông lơi tràng hạt
Thôi nguyện cầu ngày mai
Chữ duyên còn bỏng rát
Chén rượu đời men cay.
Nếu không khó tính, người đọc có thể hiểu câu thơ mang ý nghĩa quyết tâm quên quá khứ vừa nẩy sinh trong lòng tác giả. “Tay buông lơi tràng hạt/ Thôi nguyện cầu ngày mai” là bỏ trong lòng đi những ước nguyện tái ngộ hay mơ ước một lâu đài tình ái sau nầy. “Chữ duyên còn bỏng rát/ Chén rượu đời men cay” là tiếng than cho mối tình nồng nàn như chén rượu đã uống. Hương vị của mối tình đó khi tưởng niệm, tác giả còn  tưởng tượng được như còn bỏng rát trên làn môi.
Đọc “Nỗi buồn đan cẳng chéo” của Đặng Tường Vy ta như đi qua một căn phòng treo nhiều tranh lạ, màu sắc tưởng như phản cảm nhưng lại cuốn hút ta đứng lại nhìn, nhìn lâu và nhìn say sưa, bỏ đi còn nuốn quay lại nhìn. Với tôi, bài thơ cho tôi niềm vui khi vừa thức giấc và giết được thì giờ của tôi cả buổi sáng hôm nay.
11/8/2020
Châu Thạch
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tô Hoài, một phong cách văn xuôi nhiều màu sắc*

Tô Hoài, một phong cách văn xuôi nhiều màu sắc * Trong dòng văn học hiện thực thời kỳ 1939-1945 – Tô Hoài là một cây bút tiêu biểu đa năng...