VĂN THƠ NHẠC
Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026
Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca
“Bầu trời không mái che”* là tập thơ mới nhất của Mai Văn Phấn
được xuất bản cuối năm 2010. Cũng như “Vách nước”, “Hôm sau”, “Và đột nhiên gió
thổi”…, tác giả luôn làm cho bạn đọc bất ngờ bởi cách đặt tên rất khác người
cho những thi phẩm của mình.
Nhận diện truyện ngắn "Vàng lửa" qua yếu tố văn hóa
Nhận diện truyện ngắn
"Vàng lửa" qua yếu tố văn hóa
Được công bố lần đầu vào
ngày 30 tháng 4 năm 1988 trên tuần báo Văn nghệ, Vàng lửa đặt ra một vấn đề khá
nhạy cảm đối với người đọc trong việc đánh giá lịch sử và văn hóa
dân tộc, mà từ lâu, bởi nhiều lý do khác nhau, chúng ta nhận diện chưa đúng bản
chất của nó.
Thực ra, Vàng lửa là truyện
ngắn mang tính luận đề , khô khan, thậm chí chẳng khác gì một bài biên khảo
nhưng đọc lại vô cùng hấp dẫn bởi phần nội hàm phong phú với nhiều nhận định sắc
sảo về cách thẩm định lại một số giá trị vẫn được xem là dĩ thành bất biến. Viết
truyện ngắn này, tác giả tỏ ra khá kín võ khi anh sáng tạo ra nhân vật Phăng, một
gã thực dân phương Tây vượt biển sang Đông Dương tìm vàng, nhận xét
về nền văn hóa Việt. Điều này tương đối dễ hiểu bởi tâm lý vọng ngoại của không
ít công dân vong bản. Chả thế mà, vào những năm bảy mươi của thế kỷ trước, có
nhà văn thuộc thành phần thứ ba của Mặt trận dân tộc GPMNVN lấy tên là Patzi,
viết về một đề tài liên quan đến vấn đề dân tộc, tuy chẳng lấy gì làm xuất sắc
nhưng đã gây cho dư luận thế giới, nhất là các phong trào cánh tả, xôn xao một
thời. Vàng lửa, qua cái nhìn của Phăng, phác họa rất rõ nét hai gương mặt tiêu
biểu của Việt Nam thời cận đại. Có một mẫu số chung là, cả hai nhân vật
lớn này đều chịu ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa Trung Hoa. Đó là một nền văn
hóa vĩ đại, có hấp lực cực kỳ lớn nhưng bảo thủ, trì trệ như một nhà
nghiên cứu phương Tây từng nhận xét "đến sớm, ở lâu nhưng đi muộn".
Về mặt chính trị, Nguyễn
Ánh, một nhân vật lịch sử sáng chói của nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ
XIX, người đã lập ra vương triều phong kiến kéo dài 143 năm, đã lạnh lùng tuyên
bố với cố vấn Phăng khi ông ta hỏi nhà vua về các nhà tư tưởng phương Đông:
" Tất cả do cay cú đời sống. Họ là quá khứ. Thời khắc đang sống mới là
đáng kể". Chi tiết thú vị này làm người đọc liên tưởng ngay đến câu tục ngữ
dân gian "được làm vua thua làm giặc" mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã
cụ thể hóa trong truyện ngắn Nguyễn Thị Lộ viết sau đó ít lâu :" Những cột
trụ nhà nước như bọn Lê Ngân, Lê Sát, Lê Văn Linh, Lê Hy... đều là những chính
khách xuất thân giang hồ, trị nước bằng mưu mẹo chứ không xuất phát từ đạo và
luật". Chính vì tổ chức nhà nước không được xây dựng trên một hệ tư tưởng
tiến bộ mà lại hình thành từ những thủ đoạn chính trị bảo thủ, lạc hậu, nên
"Cung đình giống như nơi tụ họp các anh hùng lục lâm, chỗ nhóm lửa, chỗ thổi
cơm, chỗ múa giáo, chế được đặt ra do vui chuyện mà định. Trên các chân dung
chính khách chỉ nhìn thấy các cơ mặt bất động hoàn toàn, biểu thị tinh thần
chính trị tù đọng tột cùng. Số trẻ trung hơn, dễ thấy trên gương mặt chối bỏ thẳng
thừng học vấn, chỉ chờ đón tiếp nhận cảm giác lạc thú".
Khác với phần lớn những
thủ lĩnh mở đầu các vương triều phong kiến Việt Nam suốt hơn ngàn năm lịch sử đều
xuất thân từ thành phần bình dân, Gia Long có nguồn gốc quý tộc cao cấp của một
dòng chúa nổi tiếng từ thế kỷ XVI, nhưng ông cũng không tiến bộ hơn bao nhiêu
so với những hoàng đế tiền nhiệm. Đó là thói kiêu ngạo của một kẻ ếch ngồi đáy
giếng, độc tài, chuyên chế, tự cho mình độc quyền chân lý và ưa nịnh hót. Điều
này giải thích vì sao ông không cần tư tưởng (hoặc sử dụng một thứ ngụy tư tưởng)
nhưng lại rất giàu thủ đoạn chính trị ngắn hạn để thao túng cộng đồng dân tộc
chịu ảnh hưởng sâu sắc của thứ văn hóa Khổng giáo phương Bắc, kìm hãm nhân tài,
làm thui chột mọi khả năng sáng tạo . Thói quen bắt chước một cách lố bịch thật
sự đã vượt rất xa giới hạn của sự giao thoa văn hóa thông thường, nhưng ở quy
mô khiêm tốn hơn nhiều so với nước láng giềng. Bắc Kinh có điện Thái
Hòa thì Thăng Long, Huế cũng có điện Thái Hòa. Trung Quốc có cửu đỉnh
tượng trưng cho cửu châu từ thời nhà Chu thì triều đình Đại Nam cũng
có cửu đỉnh những chẳng tượng trưng cho cái gì rõ rệt mà chỉ để vẽ phong cảnh.
Nhà Đại Thanh có niên hiệu Càn Long thì nhà Nguyễn có niên hiệu Gia Long v.v...
Gia Long là biểu tượng tập
trung nhất của hệ ý thức phong kiến tập quyền có nguồn gốc từ Hoa Hạ. Ông chính
là thứ sản phẩm tinh thần bắt chước một cách mù quáng tạo nên thiết
chế xã hội đầy khuyết tật đẩy dân tộc đến những thảm họa xét ra có thể tránh được
nếu những người kế tục ngai vàng sau ông có tầm nhìn của hoàng đế Minh Trị Nhật
Bản từ những năm ba mươi của thế kỷ XIX. Chân dung chính trị của vị Cao hoàng đế
triều Nguyễn được Phăng thuật lại xem ra khá là khách quan :" Nhà vua là một
khối cô đơn khổng lồ. Ông đóng trò rất giỏi trong triều đình. Ông đi, đứng, ra,
vào, ra các mệnh lệnh, chấp nhận sự tung hô của bọn quần thần. Ông là người cha
nghiêm khắc của lũ con ích kỷ, đần độn. Là người chồng đáng kính của các bà vợ
tầm thường...Ông biết rõ ông đã già, với bọn cung tần mỹ nữ trẻ đẹp ông bất lực.
Ông biết rõ cái triều đình thiển cận do ông dựng lên, biết rõ quốc gia mình
nghèo đói. Ông luôn lo sợ bởi quyền lực nằm trong tay, nó lớn ngoài sức chứa của
một con người..."
Trên cơ sở một nền chính
trị tàn bạo , Gia Long, ngoài việc có công lớn trong quá trình mở mang bờ cõi
và thống nhất đất nước sau nhiều thế kỷ dân tộc phân ly dẫn đến cảnh
huynh đệ tương tàn, ông và các hậu duệ của ông cũng để lại cho con cháu những
thói quen văn hóa tai hại. Nó lặn sâu vào tâm thức dân tộc làm mỗi chúng ta ngộ
nhận, tự thỏa mãn với những giá trị kém bền vững, thậm chí giá trị ảo,
huyễn hoặc bản thân mà không dám nhìn thẳng vào thói hư tật xấu , tự
soi gương để xem mình là ai, thuộc thứ hạng nào trong mối tương quan
với cộng đồng nhân loại.
Vua Gia Long là vị hoàng
đế tàn nhẫn đem cả dân tộc mình ra đặt cược vào canh bạc chính trị đầy máu và
nước mắt. Cái sự vĩ đại ở ông vua được xem là một trong số không nhiều bậc anh
hùng nước Nam là hiểu rất rõ thần dân nghèo đói của mình phải "hoạt động
cù lần" để sống mòn mỏi, nhưng, hoặc là bất lực, hoặc là cố tình duy trì
tình trạng trì trệ như vậy để bảo toàn chiếc ngai vàng quyền lực . Dân càng ngu
càng dễ cai trị. Ở đây, lòng yêu nước chỉ là một thứ khái niệm giả tạo được đưa
đẩy trên đầu lưỡi lũ lưu manh chính trị. Tính phổ quát của hiện tượng văn hóa
phương Đông là nỗi sợ hãi truyền kiếp của tầng lớp thứ dân trước nền chính trị
độc tài luôn được duy trì bằng bạo lực trong tình trạng nghèo đói triền miên. Đấy
chính là điều kiện tất yếu để con người tự thủ tiêu tinh thần dân chủ vốn chưa
bao giờ có trong ý tức cộng đồng, làm cho những giá trị tốt đẹp của văn
hóa dân tộc mỗi ngày một mất dần, chỉ còn lại những thứ gần như cặn
bã, như phân chia đẳng cấp, học vẹt để ra làm quan đè đầu cưỡi cổ thiên hạ, đấu
đá tranh giành quyền lực, thói đố kỵ, tầm nhìn thiển cận và bè
phái,v.v... Lời phán của vua Gia Long với Phăng :" Khanh chẳng
hiểu gì cả, vinh quang nào chẳng xây trên điếm nhục" phần nào đã chứng
minh cho luận điểm trên.
Nhân vật thứ hai được kể
đến là Nguyên Du. Theo Phăng, Nguyễn Du cũng là vật quốc bảo nhưng nhẹ đồng cân
hơn so với vua Gia Long. Người Tây phương có nhãn quan của một nhà bình luận
chính trị này coi tác giả Đoạn trường tân thanh là sản phẩm cưỡng dâm của nền
văn minh Trung Hoa nên con người ông chứa đầy điển tích :" Nguyễn Du là đứa
con của cô gái đồng trinh kia, dòng máu chứa đầy điển tích của tên đàn ông khốn
nạn đã cưỡng hiếp mẹ mình. Nguyễn Du ngập trong mớ bùng nhùng của đời sống, còn
vua Gia Long đứng cao hẳn ngoài đời sống ấy. Người mẹ của Nguyễn Du ( tức nền
chính trị đương thời) giấu giếm con mình sự ê chề và chịu đựng với tinh thần
cao cả, kiềm chế. Phải ba trăm năm sau người ta mới thấy điều này vô
nghĩa". Đây là nhận xét khá chối tai, xúc phạm đến lòng tự ái dân tộc,
nhưng, trớ trêu thay, lại không phải không có lý. Chúng ta hãy bắt đầu từ Truyện
Kiều . Tuy được xem là thi hào lớn của dân tộc, là nhà nghệ sỹ sáng tạo ngôn ngữ
tuyệt vời nhưng công bằng mà nói Đoạn trường tân thanh vẫn là tác phẩm vay mượn
của nền văn học Trung Quốc ít ra là ở phần cốt truyện. Gần như mỗi câu trong
Truyện Kiều đều có vài ba điển cố, đến nỗi học giả Đào Duy Anh phải viết cả một
quyển Từ điển Truyện Kiều mấy trăm trang để giải thích những điển tích, những
thành ngữ cho phần lớn độc giả nội địa vốn rất mơ hồ về Hán học . Tâm lý sùng
bái văn hóa Bắc Quốc đã làm cho nhà nghệ sỹ tài hoa của chúng ta chuyển dịch gần
như toàn bộ truyện Vương Thúy Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, kể cả những phần hạn
chế về kết cấu cũng như thuyết "Tài mệnh tương đố" sang thể lục bát
mà không có sáng tạo gì đáng kể về mặt tư tưởng.
Phăng phân biệt rất rõ về
đẳng cấp giữa Gia Long và Nguyễn Du vì Gia Long " khủng khiếp ở khả năng
dám bỡn cợt với tạo hóa, dám mang cả dân tộc mình ra lường gạt, phục vụ cho
chính bản thân mình. Ông làm cho lịch sử sinh động hẳn lên..." Trong Khi
Gia Long đứng trên cộng đồng thì Nguyễn Du lại hòa mình vào cộng đồng
. Gia Long không tin học vấn có thể cải tạo giống nòi thì Nguyễn Du Viết Văn tế
thập loại chúng sinh, nhỏ lệ trước nỗi đau của nàng Kiều bằng câu thơ cảm thán
: "Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung".
Gia Long thích trò chơi quyền lực, dám hy sinh cả một bộ phận dân tộc trong những
cuộc chinh phạt đẫm máu để tranh đoạt thiên hạ, trong khi ấy Nguyễn Du lại xót
thương cho từng thân phận đơn lẻ như Thúy Kiều, người kỹ nữ gảy đàn ở Thăng
Long thành hay mẹ con người hành khất ông gặp trên đường đi sứ... Xét về mối
tương quan, theo Phăng, lòng tốt của Nguyễn chỉ là thứ lòng tốt nhỏ, không cứu
được ai, vì ngay bản thân ông cũng phải lưu lạc mười năm trời đói khát, bệnh tật
nơi đất khách. Nhưng điều ấy không quan trọng lắm nếu so với cách Gia Long, tức
nhà cầm quyền đương thời, đối xử với văn nghệ sĩ theo phương thức chăn nuôi gia
súc: "Ông không coi Nguyễn Du ra gì, hoặc có thể ông coi Nguyễn Du là một
con ngựa giống tốt trong cả đàn ngựa, lợn, bò, gà mà ông chăn dắt". Qua nhận
xét của Phăng, ta có thể thấy, những bậc quân chủ như Gia Long, không bao giờ
thực sự coi trọng trí thức, nhất là trí thức văn nghệ sỹ, mà chỉ xem họ như một
thứ cây cảnh, con cảnh, thỉnh thoảng ban phát cho chút bổng lộc để họ lặp đi lặp
lại lời xưng tụng thứ công đức trừu tượng của chính nhà độc tài như một con vẹt.
Văn hóa, tự cổ chí kim bao giờ cũng là động lực chính thúc đẩy xã hội phát triển.
Nhưng đó phải là một nền văn hóa lành mạnh được tích hợp và kế thừa từ sự nỗ lực
không mệt mỏi của những bộ óc thông minh qua nhiều thế hệ, chứ không phải là sự
bắt chước một cách máy móc rồi "Việt hóa" nó thành một bản sao nhợt
nhạt. Chúng ta đã có quá đủ bài học đau đớn từ sự bắt chước thiển cận, nên suốt
cả chiều dài lịch sử mấy nghìn năm vắng bóng một thứ văn tự ra hồn ,
nếu không có các nhà truyền đạo Cơ Đốc đem mẫu tự Latin ghi âm tiếng Việt, mà
tiêu biểu là đức cha Alexandre de Rhodes, tạo thành chữ Quốc ngữ vô cùng tiện lợi,
thì chẳng biết bây giờ tình cảnh đất nước sẽ ra sao.
Sự kiện không bình thường
của nền văn hóa Việt được Phăng dùng hình ảnh như là bị nền văn minh Trung Hoa
cưỡng hiếp, sau này được nữ nhà văn Đỗ Hoàng Diệu viết rất thành công
trong truyện ngắn Bóng đè. Cái nền văn hóa đầy những khuyết tật ấy sống
dai đến mức, sang những năm đầu của thế kỷ XXI, vào những ngày giỗ, bóng ma vẫn
hiện về cưỡng dâm đứa cháu dâu. Điều đáng ngạc nhiên nữa là, trong những cuộc
làm tình quái dị theo kiểu Liêu Trai trước bàn thờ tổ tiên ấy, cô cháu dâu lại
tỏ ra thỏa mãn, thậm chí cứ sắp đến một ngày giỗ nào đó, lại hối thúc chồng về
quê. Chi tiết này liệu có gợi cho ta liên tưởng đến đặc tính di truyền?
Đọc Vàng lửa, ta dễ bị
đánh lừa bởi những sự kiện giàu kịch tính về chuyện đào đãi vàng của nhóm người
ngoại quốc cũng như ba đoạn kết khá độc đáo với những cái chết bí ẩn của họ mà
quên đi vấn đề chính tác giả đặt ra là cần phải xem lại cả một nền văn hóa.
Vàng lửa chẳng những đã giải thiêng thần tượng, xét lại lịch sử mà
còn chỉ ra nguyên nhân của đời sống trì trệ cùng những bất cập của xã hội
phương Đông bị ràng buộc bởi hệ ý thức bảo thủ, lạc hậu kéo dài nhiều thiên
niên kỷ. Vấn đề là, liệu chúng ta có thắng được chính mình trên bước đường đi tới
tương lai?.
19/7/2009
Đặng Văn Sinh
Theo
https://www.vanchuongviet.org/
Lòng tốt nảy mầm từ tình yêu trong trắng
Lòng tốt nảy mầm từ tình yêu trong trắng
(Đọc “Người chậm” tiểu
thuyết của J.M.Coetzee, Thanh Vân dịch. NXB Văn học và Công ty Bách Việt, 2008)
Sau khi được tặng giải
thưởng Nobel văn học (2003) và tiểu thuyết “Ruồng bỏ” được dịch
ra tiếng Việt, tên tuổi nhà văn Nam Phi J.M.Coetzee (sinh năm 1940) không còn
xa lạ với bạn đọc yêu văn chương ở Việt Nam. Thú thật, có những tác giả tuy được
Nobel, nhưng đọc không dễ hoặc “khó vào” (Cao Hành Kiện là một ví dụ). Với “Người
chậm” (NC) thì khác; một lần nữa, chúng ta được thưởng thức một tác phẩm
có sức cuốn hút nhờ tài nghệ của một cây bút tiểu thuyết bậc thầy. Cũng như “Ruồng
bỏ” bắt đầu bằng chuyện vị giáo sư có “quan hệ” với một sinh viên bị hạ nhục
trước Hội đồng kỷ luật, NC khởi đầu từ một “sự cố” có thể gọi là “vặt vãnh”:
nhà nhiếp ảnh Rayment bị gãy chân trong một tai nạn giao thông, phải thuê nữ điều
dưỡng viên Marijana chăm sóc… Gọi là “vặt vãnh” vì so với các đề-tài-lớn, bối-cảnh-lớn
như “Chiến tranh và hòa bình”, “Sông Đông êm đềm”… của Nga hay các tiểu thuyết
nhiều tập “Cơn bão đã đến” của Nguyên Hồng, “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi, “Dấu
chân người lính” của Nguyễn Minh Châu… mà không ít người, với một quan niệm
“nào đó” về văn chương, thường tin rằng chỉ những đề tài lớn như thế mới làm
nên tác phẩm lớn, thì đề tài của J.M.Coetzee nghe qua thật là tầm thường, thậm
chí là “rẻ tiền”! Chuyện một anh chàng nhiếp ảnh què cụt mê mẩn, mơ ước được ôm
ấp cô điều dưỡng viên xinh đẹp thì có khác chi loại chuyện các ông chủ sờ mó
“ô-sin” thường được thêu dệt thêm bên vỉa hè sau giờ tan công sở!
Vậy mà J.M.Coetzee lại
làm “nên chuyện”, khiến hàng triệu độc giả khắp thế giới tán thưởng. Chính vì
J.M.Coetzee đã có biệt tài chọn được tình huống mà con người thời đại nào, dân
tộc nào cũng có lúc phải trải qua: đó là bi kịch của con người khi phải sống cô
đơn, do cách sống riêng không phù hợp với cộng đồng hay thời đại, do phải “di tản”
hay do tuổi tác, bệnh tật… Nói cách khác, đó là bi kịch muôn đời của nhân loại,
nên tác phẩm của J.M.Coetzee dễ dàng đến với mọi dân tộc. Trong NC, bi kịch của
Rayment không chỉ vì gãy chân - nói cách khác, sự cố gãy chân chỉ là biểu hiện
cụ thể của sự xung đột giữa hai lối sống: nhà nhiếp ảnh say mê sưu tầm những bức
ảnh cổ ghi dấu những giai đoạn lịch sử bị bỏ quên, chỉ thích đi xe đạp trước những
chàng trai khoái phóng xe với tốc độ cao. Tuy vậy, đặt nhân vật trong tình huống
gãy chân quá đầu gối, không thể nối khớp mà lại không chịu lắp chân giả, được một
nữ điều dưỡng viên - một “người đàn bà, người mẹ tuyệt vời” về
mọi phương diện chăm sóc hàng ngày, con người có dịp suy ngẫm về mọi thứ và buộc
phải bộc lộ những ham muốn đủ cung bậc về sinh lý và tinh thần. Với khả năng
miêu tả tâm lý một cách sâu sắc và tinh tế, mặc dù tác giả không ngại “lột trần”
các ý nghĩ thầm kín về bản năng nhục dục (“…có thể cảm thấy mắt ông dõi
theo, chị chắc thế, cảm thấy hơi ấm từ ông mơn trớn đùi chị, ngực chị… Nếu nhờ
phép mầu nào đó, ông có thể ôm ngay Marijana lúc này…”), nhưng điều đó
không làm giảm vẻ đẹp tình yêu chân thật và trong trắng của ông - một tình yêu
mà “ông không thể hình dung Chúa đằm thắm hơn ông yêu Marijana vào lúc này”.
Cách thể hiện tình yêu trên cả hai mặt rất “người” và rất khéo léo của tác giả
đã khiến cho trang sách thêm sức thuyết phục vì sự chân thật và tính nhân bản.
Rayment ham muốn được yêu thương đến mức “như một người đàn bà chưa bao giờ
sinh hạ một đứa con, đã quá già để làm việc ấy, nay đột nhiên ham muốn mãnh liệt
và cấp bách được làm mẹ. Thèm muốn đến mức có thể ăn trộm con người khác, thèm
muốn đến điên rồ” nhưng ông cũng tự biết “là không thể được. Như thế là
vô liêm sỉ.” Một tình yêu có phần tội nghiệp mà lại đáng tôn trọng.
Sự “cô đơn” và lạc điệu với
cộng đồng của gia đình Marijana cũng có tính phổ biến: đó là số phận của những
người di tản, phải rời xa quê hương (Ở NC, là từ Croatia chuyển đến Australia).
Cả hai vợ chồng đều phải đổi nghề, chịu phận thấp kém, nhưng là một phụ nữ có học,
có văn hoá, Marijana đã chịu đựng và vượt qua những thử thách nhiều mặt, là một
nhân vật đẹp mà không đơn giản. Chính vì thế mà Rayment, dù biết là không tưởng,
vẫn thổ lộ tình yêu của mình, không vì “sắc đẹp” mà là vì sự “hoàn hảo”, “không
giống sự thèm muốn” mà “là sự ngưỡng mộ” - những từ ngữ diễn
tả thật tinh tế cảm xúc phức tạp của nhân vật.
Khác và “Ruồng bỏ” cái kết
thúc khá là có hậu với sự kiện thằng con đam mê “tốc độ” của Marijana bí mật và
bất ngờ chế tạo một chiếc xe chuyển động bằng tay quay tặng Rayment khiến chúng
ta cảm động và tin rằng lòng tốt của con người vẫn bất chấp những điều
phi lý, những nghịch cảnh trong cuộc sống hôm nay. Và có lẽ lòng tốt ấy đã nẩy
mầm từ tình yêu chân thật và không vụ lợi của Rayment…
18/8/2009
Nguyễn Khắc Phê
Theo
https://www.vanchuongviet.org/
"Thế giới song song" và tính chất đa thanh trong tiểu thuyết "Đất trời vần vũ"
"Thế giới song song" và tính chất đa thanh
trong tiểu thuyết "Đất trời vần vũ"
(Đọc “Đất trời vần
vũ”, tiểu thuyết của Nguyễn Một, NXB Hội Nhà văn và Công ty Bách Việt,
2009)
Nhà văn có cái tên thật
giản dị - Nguyễn Một - và hình như chưa nhiều người biết bằng bút danh Dạ Thảo
Linh, do anh là tác giả của 5 cuốn truyện viết cho thiếu nhi được xuất bản
trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 2004 (“Hoa dủ dẻ”, “Năm đứa trẻ xóm đồi”,
“Màu hoa trắng”, “Long lanh giọt nắng” và “Mùa trái chín”). Từ năm 1996 đến năm
2008, anh còn xuất bản 3 tập bút ký, 2 tập truyện ngắn dành cho người lớn; năm
2002 anh có 2 truyện ngắn được chọn là “truyện ngắn hay” trong tháng đăng trên
báo “Văn nghệ”. Như thế, xem ra Nguyễn Một đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng về nhiều mặt
- trong đó có cái thường gọi là “vốn sống” (thực ra là sự từng trải, thấu hiểu
nhiều cảnh đời) và “tay nghề” trước khi bắt tay xây dựng cuốn tiểu thuyết đầu
tay của mình. Có lẽ nhờ thế mà sách chưa ra “lò” đã có dư luận, được các cây
bút vào loại có tên tuổi trong làng văn như Lê Minh Khuê, Sương Nguyệt Minh,
Nguyễn Đức Thiện, Phong Điệp, Trần Thu Hằng tán thưởng ngay trên bìa 4 cuốn
sách. Cũng ở bìa 4, nhà báo Trần Đình Thu còn viết: “Một cuốn tiểu thuyết
không dành cho người thần kinh không đủ mạnh, để tiếp nhận những nỗi đau khủng
khiếp của nhân vật trong nhiều chiều không gian khác nhau. “Đất trời vần vũ”, sự
ám ảnh khốc liệt về cái chết, chiến tranh, hận thù và tình yêu.” Được
biết ĐTVV đã được vào chung khảo cuộc thi tiểu thuyết do Hội Nhà văn Việt Nam tổ
chức (2006-2009).
Nếu để “PR” cho cuốn sách
thì chừng ấy là đủ, nhưng bàn về một cuốn tiểu thuyết đa diện, đa thanh, phức tạp,
thực hư lẫn lộn đến “rắc rối” như “Đất trời vần vũ” (ĐTVV) thì
không thể bằng một vài dòng - thậm chí một vài trang cũng chưa đủ.
ĐTVV chỉ hơn ba trăm
trang, sự kiện diễn ra chủ yếu quanh một dải đất “hư cấu” gọi là cù lao Dao,
nhưng chất chứa bao nhiêu cuộc “bể dâu”, hưng phế trong suốt chiều dài lịch sử
ba trăm năm tổ tiên chúng ta mở cõi về phương Nam. Có những họ tên thật, cả những
trang sử cũ được tác giả dẫn ra như họ Mạc, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, các
chúa Nguyễn, sự xâm lấn của vua Chân Lạp…, nhưng ĐTVV không phải là tiểu thuyết
lịch sử, cũng không phải chỉ nói chuyện “ngày xưa” mà ngược lại, đầy ắp và tươi
rói những sự kiện vấn đề của ngày hôm nay. Hãy nghe bà Năm Trầu nói với Tư Ngồng,
một “ông quan cách mạng” khi người dân cù lao “cứng đầu” chống lại việc “đô thị
hóa” hủy hoại môi trường đang bị chủ tịch xã dọa cho công an đến “gô cổ”:
“…Cánh đồng bên kia sông
bay biến thành khu công nghiệp, chúng đổ nước thải ra đầy dòng sông…Ngày xưa,
mày có nhớ không, nó xanh ngẳt, chỗ nào cũng có con tôm con cá. Hồi đó, đêm đêm
tụi bay mò dề, tao dúi vào tay nải của tụi bay nào gạo, nào đường,
nào cá tôm…Bây giờ chẳng còn gì, chẳng may có giặc trở lại, bay ăn cái gì để
chiến đấu?”(*)
Chỉ là một chi tiết của
tiểu thuyết, nhưng nó gợi nghĩ đến những vụ các nhà máy xả nước thải vô tội vạ
đang dần giết chết các dòng sông mà báo chí gần đây đã lên án, điển hình là nhà
máy bột ngọt Vedan ơ Đồng Nai.
Cho dù vậy, ĐTVV cuốn hút
và để lại dư âm khá sâu xa trong lòng người đọc lại là số phận oái oăm và bi kịch
của các nhân vật và cả của cái “cù lao Dao” bị dằng xé giữa các thế lực, giữa
hai bờ thiện-ác, giữa cái cao cả và dục vọng thấp hèn. Nhân vật chính Tư Ngồng
là vậy. Ông là hậu duệ của một dòng họ từng được Chúa (Nguyễn) cử vào cai quản
vùng đất phía Nam - từ một người lính anh dũng “hồi còn ở trong địa đạo…ôm
cây súng vọt lên bắn vào đám người nhảy từ trên máy bay xuống…” dần biến
thành một vị “quan cách mạng” ăn chơi trác táng với một “triết lý” ghê sợ về sự
máu mê chiếm đoạt của mình: “Kẻ chiến thắng phải được thụ hưởng những
chiến lợi phẩm mà họ đã bỏ xương máu ra đổi lấy, đó là lẽ tự nhiên thôi, từ xưa
đến giờ là thế, chế độ nào cũng vậy thôi…” Và Tư Ngồng đã “bể tim” mà
chết, một cái chết kỳ bí và kinh khủng, ngay trang đầu tiểu thuyết - cái “cớ” để
dân cù lao Dao và tác giả “ôn cố tri tân” về biết bao số phận cay đắng đã làm
nên lịch sử 300 năm của rẻo đất này.
Nếu chỉ với Tư Ngồng -
nhân vật tiêu biểu cho loại cán bộ có chức quyền tha hoá sau khi cách mạng
thành công - thì ĐTVV không tạo được ấn tượng mới; nhiều tiểu thuyết và phim những
năm qua đã khắc hoạ, bóc trần kỹ càng hơn những “tên tuổi” có chức vụ cao hơn,
mức sa đoạ tệ hại hơn. Nói cách khác, rất may là tác giả đã không sa đà với sự
tha hoá của Tư Ngồng, một chủ đề đã nhàm và có thể không “sinh động” và ghê gớm
bằng thực tế cuộc sống đã được phản ánh phần nào qua báo chí và các vụ án.
Trong ĐTVV, có một số nhân vật hư hư thực thực, như “nhà thơ” -
người may mắn được ở chung nhà với cô Lụa “đẹp lộng lẫy như hoa hậu”, chủ
quán cà phê bên bến đò Trạm - lại có vai trò quan trọng vì ông như
là nhân chứng của lịch sử, là tiếng nói của dân gian. “…Quán của Lụa
đông người đến uống hơn kể từ lúc có nhà thơ. Họ thích thú với vẻ ngây ngô chất
phác và dễ gần gũi của anh, họ cũng thích nghe anh đọc thơ, những bài thơ đầy sự
ám ảnh khốc liệt của chiến tranh và tình yêu, họ thích nghe anh kể chuyện, những
câu chuyện cổ kỳ lạ…Lụa cho anh tá túc, cho anh vay tiền mua chiếc thuyền, hàng
ngày anh đi giăng câu và sưu tầm chuyện xưa đọc theo bờ sông Thanh Long hoang dại
và hùng vĩ này…”
“Nhà thơ” xuất hiện ngay
từ chương đầu của tiểu thuyết như thế, nhưng đến gần nửa cuốn sách mới biết ông
có bút hiệu là “Miên Trường” và “sinh ra ở miền Trung Việt Nam, nơi nắng
và gió hun đúc con người cô đặc như những gốc cây cổ thụ…”
Nếu như muốn “câu khách”
bằng những pha “sex” như không ít tiểu thuyết và cả truyện ngắn gần đây, tác giả
thừa sức tả những cảnh “mây mưa” hấp dẫn giữa “nhà thơ” và cô Lụa chủ quán xinh
đẹp - thì căn nhà chỉ có hai người, lại có con thuyền rong chơi trên dòng
sông “hoang dại và hùng vĩ” kia. Cũng may là Nguyễn Một không
sa vào “mẹo tiểu thuyết” (chữ của ông Phan Ngọc) tầm thường đó. Anh cũng miêu tả
Lụa “áo rộng hơi trễ tràng, bầu ngực căng cứng gợi cảm…” và “đàn
ông trong vùng đều nhìn cô với ánh mắt thèm muốn…”, trong đó, Bảy Tánh - một
trung sĩ cảnh sát chế độ cũ, nay “làm nghề buôn bán heo bò, đôi khi
kiêm luôn việc thiến heo và thụ tinh cho heo… đã có một vợ chính và ba người vợ
lẽ, nhưng hễ thấy gái đẹp là híp cả mắt, đeo đuổi Lụa cả năm trời nhưng không
có được chút cảm tình từ cô”; nhưng chỉ thế thôi, tác giả chuyển hướng chú
ý sang Bảy Tánh - một nhân vật phụ tưởng như không lý do gì gắn kết với cốt
truyện trong tiểu thuyết nhưng vẫn rất đáng nhớ vì có tính cách, là “con người
này” - một thuật ngữ cổ điển khi bàn về nghệ thuật xây dựng nhân vật. Ví như diễn
đạt thái độ Bảy Tánh khó chịu, ghen ghét với “nhà thơ” vi ông được Lụa ưu ái,
tác giả đã viết: “Thoáng qua trong đầu y, một ý nghĩ tàn bạo, là cho gã
nhà thơ này một nhát dao vào cuống họng, một nhát dao đâm xéo từ chỗ lõm trên cổ,
xuyên tận tim, máu sẽ tuôn ồng ộc…” Đúng là giọng lưỡi của một tay đồ
tể! Tuy vậy, tác giả không miêu tả nhân vật theo hai tuyến “tốt-xấu” rạch ròi
đơn giản và ấu trĩ. Chỉ một đoạn sau, thì Bảy Tánh đã nghĩ là mình “không
bao giờ làm được điều đó. Giết con vật thì dễ chứ giết một con người là
chuyện cực kỳ khó”. Và cho dù không tin vào quỷ thần và linh hồn, “mỗi
lần cầm dao chọc vào cổ con heo là y khấn nguyện tất cả các đấng quyền năng xin
phép hoá kiếp cho con vật bị loài người khinh bỉ này.” Khi bị người đời chửi, y
tự an ủi với một ý nghĩ không hề tầm thường: “Dù sao ta cũng chỉ cầm
dao giết heo, khối thằng đồ tể cầm dao giết cả người thì sao?” Chuyện
Bảy Tánh trong trại “cải tạo” cũng khá độc đáo: Y thèm đường quá, may gặp anh bộ
đội gác tù thương người, kiếm được đường ăn từ…hố xí, sướng quá, “vừa
ăn vừa khóc một cách thoả thuê” rồi thét lên: “Đường là Thượng
Đế!”; thế là lộ chuyện và anh bộ đội thương người bị kỷ luật vì “mất
lập trường quan điểm, có quan hệ mật thiết với trại viên..”
“Truyện” trong tiểu thuyết
ĐTVV “nhảy cóc” từ chuyện này sang chuyện kia như thế và tác giả - hình như có
nhã ý dành quyền tưởng tượng cho người đọc, nên chỉ lựa chọn những thời khắc,
những lát cắt đậm đặc có ý nghĩa nhất. Cũng vì thế, các chương trong ĐTVV thường
rất ngắn - cuốn sách dày 340 trang mà có đến 40 chương - tuy cũng có một số
chương tạo cảm giác vụn và nhạt. Nói cách khác, ĐTVV không có một cốt truyện thật
gắn bó và hoàn chỉnh - mặc dù mở đầu và kết thúc cùng là cảnh quanh cái chết của
Tư Ngồng, rồi cảnh “nhà thơ” và Lụa “hợp cẩn” - nhưng tác giả đã khéo gắn kết
chúng quanh cái “cù lao Dao” - hiện thân của lịch sử, văn hoá, truyền thống một
vùng đất trải qua mấy đời hưng phế, thịnh suy thấm đẫm máu và nước mắt.
Một nét khác biệt so với
một số tiểu thuyết ôm trùm một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước vừa
được xuất bản trong mấy năm qua, là ĐTVV có cái nhìn xa hơn về quá khứ và nhân
vật không chỉ tập trung vào một hai gia đình, dòng họ. Vì cù lao là vùng đất mới
khai khẩn, người từ nhiều nơi, nhiều dân tộc nhập cư đến. Nhờ thế mà ĐTVV là một
tiểu thuyết đa dạng, đa thanh, phản ánh được nhiều góc cạnh của cuộc đời “lắm nỗi
truân chuyên”. Cũng là bi kịch, nhưng khác với gia đình Tư Ngồng có vợ là Diệu
Lan bỏ đi tu (sau khi đứa con trai từ nhỏ đã ám ảnh vì cảnh chém giết trong chiến
tranh, rồi hóa điên và chết thảm) nhưng bi kịch cuộc đời Trần Đình - một người
lính anh hùng, đồng đội của Tư Ngồng nhưng rồi bị chính Tư Ngồng xử bắn oan uổng
- “nhà thơ” Miên Trường và anh em Nguyễn Hữu Trí, Hữu Hà… lại ở một
bình diện và cấp độ khác. So với cảnh Hữu Hà khi di tản dạt vào đảo hoang phải
ăn thịt đồng loại thì cảnh thằng con Tư Ngồng ăn mọi thứ máu me dơ bẩn chẳng thấm
vào đâu!...
Để có thể “nén chặt” cả
núi sự kiện và nhân vật trong hơn ba trăm trang sách, cùng với nhân vật “nhà
thơ” như là một người-kể-chuyện-dân-gian, tác giả đã sử dụng nhiều câu chuyện
huyền thoại và dựng lên một “thế giới song song” - tức là thế
giới cõi âm. Thủ pháp này, nhà văn Xuân Đức đã sử dụng trong tiểu thuyết “Bến
đò xưa lặng lẽ” (Giải thưởng Hội Nhà văn 2004) với linh hồn người lính anh hùng
bị chết oan trở về gặp lại đồng đội; nhưng với Nguyễn Một thì “thế giới song
song” đồng hành suốt tiểu thuyết - từ linh hồn những vị khai khẩn cù
lao đến vợ con Tư Ngồng, anh lính bị chết oan Trần Đình … Với các huyền thoại
và “thế giới song song”, nhân vật có chiều sâu hơn và “sống” lâu dài hơn
so với cuộc đời thực. Và cũng nhờ thủ pháp này, thời gian hiện tại của tiểu
thuyết chỉ trong khoảng vài ngày (từ lúc Tư Ngồng chết đến đám tang của lão)
nhưng đã tái hiện được số phận của một vùng đất với vô số kiếp người qua mấy thế
kỷ.
Khi có nhà báo nhận xét
“điều cốt lõi rút ra từ câu chuyện này là tình yêu – “tình yêu đã cứu thế giới
này, tình yêu mới thực sự có quyền lực và sức mạnh”, Nguyễn Một đã tâm sự: “Theo
tôi, cuốn ĐTVV không chỉ chứa đựng một thông điệp đơn giản như vậy, tôi tin bạn
đọc sẽ cảm nhận nhiều hơn thế…”
Quả đúng như vậy. Cuốn tiểu
thuyết nếu chỉ có một thông điệp về tình yêu như văn hào Đốt-tôi-ép-xki đã
tuyên ngôn từ lâu thì có lẽ chẳng cần phải tồn thì giờ. ĐTVV bìa sách không đẹp,
hai chương cuối không hay, nhưng là một cuốn tiểu thuyết có những tìm tòi về
nghệ thuật thể hiện và cách nhìn hiện thực tránh được những lối mòn, rất đáng
tìm đọc, nhất là với những độc giả đang viết tiếp lịch sử trên vùng đất phía
Nam giàu tiềm năng – trong đó có tiềm năng sáng tạo văn học mà ĐTVV, tiếp sau
“Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, là những đột phá khởi đầu.
22/8/2009
Nguyễn Khắc Phê
Theo
https://www.vanchuongviet.org/
Đã đến lúc cần một cách nhìn toàn diện, tôn trọng sự thật
Đã đến lúc cần một cách
nhìn toàn diện, tôn trọng sự thật
Lâu nay bàn về đề tài chiến
tranh, chúng ta thường đòi hỏi dựng cho được hình tượng người anh hùng. Điều đó
là đúng vì nhân vật anh hùng hướng người đọc tới cái cao cả, một phẩm chất rất
cần thiết cho cuộc sống, nhất là khi con người phải đối đầu với thử thách khắc
nghiệt trong chiến tranh. Mấy chục năm qua, văn học nghệ thuật đã tạo ra được
nhiều điển hình về người anh hùng nhưng vẫn còn “mắc nợ” với nhân dân vì nếu
nhìn thẳng vào sự thật thì hình tượng người anh hùng chưa có sức lay động mãnh
liệt, chưa có sức sống lâu bền trong tâm hồn công chúng. Lý giải điều này hẳn
là có nhiều nguyên nhân mà trước hết phải nói đến là tài năng, nội lực của người
viết còn yếu kém. Điều này có lẽ “muôn thuở” đúng, nhưng thiết nghĩ chẳng phải
bàn luận nhiều vì về cơ bản, nó là thứ “Trời cho”, không có thì đành chịu, nếu
cố sức đạt đến thường chỉ hoài công. Vậy nên xin bàn đến những nguyên nhân khác
mà chúng ta có thể thay đổi, “cải tiến” được.
Theo tôi, một nguyên nhân
không kém phần quan trọng khiến các tác phẩm viết về chiến tranh chưa thoả mãn
người đọc là quan niệm, cách nhìn về chiến tranh, về người anh hùng, vì lẽ này
lẽ khác, còn phiến diện. Do đó, chiến tranh hiện ra trên trang sách không sinh
động, thường chỉ một chiều diễn tả, chứng minh “ta thắng-địch thua” và người
anh hùng thì thường đơn giản, xơ cứng. Nói cho công bằng thì từ ngày đất nước
“Đổi Mới”, cũng đã có một số tác giả, tác phẩm cố gắng vượt lên những hạn chế
này. Như tiểu thuyết “Đất trắng” của nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, có lẽ là tác phẩm
đầu tiên “dám” miêu tả một chính uỷ hèn nhát đào ngũ; hay như “Nỗi buồn chiến
tranh” của Bảo Ninh đã thể hiện những mặt bi thảm của chiến tranh. Có điều cả 2
tác phẩm vừa kể đều đã bị phê phán rằng sao lại dám miêu tả cuộc chiến tranh vĩ
đại của dân tộc ta như thế. Ở Thừa Thiên - Huế, nhà văn Nguyễn Việt, trong tác
phẩm “Người lính đào hoa” (NXB Lao Động, 1998) đã không ngại ngần chọn nhân vật
chính là một chàng trai có số “đào hoa”, yêu đương hết mình cũng như đánh giặc,
bên cạnh một vị chỉ huy hèn nhát, hám gái, hám công; còn nhà văn Nguyễn Quang
Hà, trong tiểu thuyết “Sông dài như kiếm” (NXB Quân đội nhân dân, 2001) cũng đã
phơi bày thói kèn cựa, đố kỵ, hưởng lạc của người có chức quyền ngay
trong chiến tranh gian khổ. Hình như cũng có người không đồng tình với tác giả
về cách nhìn này. Đúng ra, cần phải quan niệm, một cuộc chiến tranh khốc liệt đến
mức người chính uỷ từng trải bao thử thách vẫn phải bỏ chạy, một cuộc chiến
tranh có những cảnh bi thảm và có kẻ đố kỵ như Bảo Ninh, Nguyễn Quang Hà miêu tả,
mà chúng ta vẫn chịu đựng được và đánh thắng thì càng chứng tỏ phẩm chất anh
hùng của dân tộc ta. Xin được nói ngay ở đây là những tác phẩm đó chưa phải là
toàn bích, chưa dựng được hình tượng người anh hùng thật sống động và tiêu biểu
cho cuộc chiến tranh lâu dài khốc liệt của dân tộc ta, càng chưa phải là những
tác phẩm tái hiện được toàn diện cuộc chiến tranh vừa qua như nhiều người đòi hỏi.
Mà thật ra, mỗi tác phẩm - dù là tác phẩm xuất sắc nhất - cũng chỉ thể hiện được
một phần, một khía cạnh, một vùng đất, một khoảng thời gian nhất định của cuộc
chiến tranh trường kỳ, ác liệt, phức tạp và rộng khắp từ Nam đến Bắc mà dân tộc
ta vừa trải qua. Đòi hỏi có tác phẩm lớn, tái hiện “toàn diện” cuộc chiến tranh
đó có lẽ là ảo tưởng. Phải nhiều tác giả, nhiều tác phẩm cộng lại mới mong hoàn
thành được nhiệm vụ nặng nề này.
Tuy vậy, trong văn học
nghệ thuật có đặc thù “qua giọt nước có thể nhìn thấy biển cả” - một tác phẩm
quy mô nhỏ, như một truyện ngắn, vẫn có thể phản ánh được bản chất của cuộc sống.
Và mỗi tác phẩm, dù chỉ miêu tả một giai đoạn, một vùng đất trong cuộc chiến
tranh cũng phải có cách nhìn toàn diện, tôn trọng sự thật mới có thể đạt đến
giá trị cao được đông đảo độc giả thừa nhận. So sánh hơi khập khiễng một chút,
nhưng cũng tương tự như ăn một chiếc bánh - dù là chiếc bánh nậm mỏng manh của
xứ Huế, dù chọn lấy phần nhân tôm thịt ở giữa có “chất lượng” nhất, cũng không
ngon bằng thưởng thức tất cả một lúc. Ai cũng biết cuộc chiến tranh nào, trận
đánh nào cũng có hai bên, nhưng thử hỏi các tác phẩm của chúng ta đã diễn tả
thân phận con người “bên kia chiến tuyến” được mấy phần trăm sự thật? Họ có là
con người không, hay chỉ được nhìn như là một động vật hai chân độc ác, dâm
đãng, uống máu người không tanh? Về người anh hùng, thì ai cũng biết là con người
thường chỉ có thể lập được sự tích phi thường trong một giai đoạn, thậm chí
trong phút chốc - “chỉ một phút làm nên lịch sử” như anh hùng Nguyễn Văn Trỗi;
còn nữa thì vẫn là một con người bình thường với mọi nỗi buồn vui, hờn giận, thậm
chí là hèn yếu của kiếp nhân sinh. Thử hỏi các hình tượng anh hùng trên trang
sách có được mấy phần trăm hình ảnh con người chân thật sinh động như vậy?
Trước đây, khi cuộc chiến
tranh đang diễn ra ác liệt, khi ranh giới địch-ta không thể một chút nhoà mờ, lầm
lẫn, do yêu cầu của nhiệm vụ tuyên truyền, động viên mọi nguồn lực để giành chiến
thắng và cũng do thiếu hiểu biết, những người cầm bút chưa thể miêu tả được cuộc
chiến đấu muôn màu muôn vẻ với thân phận con người cả hai bên chiến tuyến đúng
như nó đã diễn ra. Nay thì đất nước hoà bình đã hơn 30 năm, nhiều tài liệu - kể
cả những tài liệu mật đã được “mở khoá”, và quan trọng hơn, con người ở hai bên
chiến tuyến đã sống bên nhau - thậm chí trở nên “thông gia”, cùng chung một mục
đích là xây dựng một nước Việt Nam “công bằng-dân chủ-văn minh” thì không lý gì
trên trang sách lại chỉ viết “một nửa sự thật”. Cần phải nói rõ đây không phải
là sự “mơ hồ” về lập trường “địch-ta” hay mắc mưu”diễn biến hoà bình” mà cuộc sống
vốn nó như thế, bạn đọc đòi hỏi như thế. Và chỉ có như thế văn nghệ mới có sức
sống lâu bền, mới làm tròn phận sự của nó.
Hiện tượng “Nhật ký Đặng
Thuỳ Trâm” là một bằng chứng hiển nhiên cho những điều vừa trình bày. Cuốn nhật
ký không phải là một tác phẩm có nghệ thuật cao cường mà vẫn hấp dẫn đông đảo
người đọc - kể cả những người xưa kia là kẻ thù của chúng ta, cả những trí thức
Việt kiều từng tỏ ra bất đồng chính kiến với chúng ta. (Xin dẫn ý kiến của …)
Vì sao vậy? Đơn giản chỉ vì nó miêu tả chân thực tâm trạng, thân phận con người
trong chiến tranh, chứ không phải vì thành tích chiến đấu của anh hùng Đặng Thuỳ
Trâm. Đọc “Nhật ký…”, chúng ta được tiếp xúc với một anh hùng có nhiều nước mắt,
nhiều nỗi buồn, có tình yêu nồng nhiệt mà thầm kín với người em “kết nghĩa”, với
cả người lãnh đạo Đảng của địa phương…Mặc dù thế, chị vẫn sẵn sàng hy sinh vì Tổ
quốc và chính vì thế chúng ta càng yêu quý người anh hùng. Cuốn “Nhật ký…” còn
hấp dẫn vì “lịch trình” kỳ lạ của nó, vì chúng ta bỗng như ngỡ ngàng khi thấy
trong hàng ngũ “kẻ thù độc ác” lại có người biết quý trọng “chất lửa” trong cuốn
“Nhật ký…”, rồi gìn giữ nó như một báu vật suốt 30 năm ròng!
Hai tuyển tập truyện ngắn
của nhà văn Mường Mán xuất bản gần đây cũng thể hiện cách nhìn mới về chiến
tranh. Với trên hai chục đầu sách - trong đó có trên chục truyện dài dành cho
tuổi học trò, nhà văn Mường Mán không phải là một tên tuổi xa lạ với bạn đọc.
Nhưng qua tuyển tập truyện ngắn "Cạn chén tình" (NXB Trẻ - 2003),
chúng ta còn gặp một cây bút truyện ngắn đặc sắc, một “Mường-Mán-khác”, một
cách nhìn chiến tranh từ bên kia chiến tuyến.
Điều đặc biệt dễ thấy hơn
cả là trong tuyển tập dày dặn gồm 48 truyện ngắn này có quá nửa là những truyện
viết trước năm 1975, khi tác giả là phóng viên báo chí Sài Gòn ở chiến trường
miền Trung. Lâu nay, không ít người, khi nói về thế hệ nhà văn ở miền Nam trong
giai đoạn này thường chỉ lưu ý đến những cây bút “phản chiến” hoặc những kẻ “bồi
bút chống cộng”; Mường Mán có con đường riêng của mình. Trên những truyện in
trong tuyển tập này hầu như không có tiếng bom đạn, không miêu tả trận đánh
nào, cũng không thấy những “cuộc đấu” quyết liệt về ý thức hệ, về chuyện thắng
bại “địch - ta” mà đầy ắp nhân tình - tình yêu quê hương, trai gái, vợ con, bạn
bè..., cả những tình yêu thoáng qua, những kẻ bạc tình và bao trùm lên tất cả
là tình yêu thương của tác giả đối với những cuộc đời bất hạnh, những số phận
trớ trêu.
Có thể có bạn đọc sẽ
trách tác giả lảng tránh những “điểm nóng” của thời cuộc và hẳn rằng đó không
phải là cách tốt nhất để nhà văn phản ánh cuộc sống sôi động mấy chục năm qua
như nhiều người đòi hỏi. Nhưng một nhà văn được bạn đọc nhớ đến trước hết nhờ
có cách thể hiện cuộc sống với bút pháp riêng, xây dựng được một thế giới nghệ
thuật độc đáo giàu sức truyền cảm và gợi nghĩ đến những vấn đề sâu xa về lẽ sống
ở đời, chứ không phải là viết về đề tài “nóng” hay “lạnh”, “lớn” hay “nhỏ”. Nhiều
truyện ngắn trong “Cạn chén tình” đã tạo được hiệu quả nghệ thuật như thế. Cần
nói thêm là tuy tác giả không trực tiếp viết về chiến tranh, nhưng những đảo lộn
và dư âm của cuộc chiến khốc liệt để lại dấu ấn sâu sắc trong nhiều truyện ngắn.
Và ngẫm cho cùng, quả bom hay viên đạn nổ bùng trong giây lát, nhưng hậu quả của
nó, nỗi đau nó gây ra thì đeo đẳng con người ta suốt cả cuộc đời. Bà mẹ của
Phan suốt ngày đêm, từ năm này sang năm khác, mỏi mòn tựa cửa đợi con về; cô em
gái mỗi lúc quá buồn lại bịa chuyện mẹ chết để gọi một người bạn của Phan về
cho có bóng dáng đàn ông trong nhà, nhưng bà mẹ nhất quyết không cho ai bước
vào cửa, nếu không phải là Phan! Và thảm kịch đã xảy ra khi người yêu của cô em
gái đặt chân lên thềm, bà mẹ đã túm đầu một bức tượng đập lên đầu chàng
trai...(Truyện “Bi kịch”) Nhân vật không tên trong truyện “Người đàn ông hay cười”
ba lần li hôn, không sao kiếm được việc làm chỉ vì cái tật hay cười, ngay cả
trong đám tang và trước nỗi bất hạnh của người đời! Mãi rồi người ta mới hiểu
người cựu chiến binh ấy vì “một miểng bom hay đạn gì đó nhỏ xíu kẹt lại trong hộp
sọ không thể gắp ra... thỉnh thoảng gây những xung động trêu ngươi, buộc anh phải
nở những nụ cười ngoài ý muốn!” Truyện “Bi kịch” viết từ năm 1972, truyện sau
viết năm 1995; tác giả không nói rõ, nhưng độc giả nếu quen phân tích nhân vật
theo kiểu “địch-ta” có thể nhận ra “người đàn ông hay cười” là một chiến sĩ
cách mạng. Còn Phan? Anh lên “rừng” theo cách mạng, hay đi lính “cộng hoà”, hay
chỉ vì thất vọng trước thời thế mà bỏ nhà phiêu bạt? Sự mơ hồ này có lẽ là chủ
ý của tác giả và nhờ đó, truyện có ý nghiã khái quát hơn, có sức sống lâu hơn.
Tuy thế, Mường
Mán không phải là cây bút “trung lập” hay “mất lập trường”. Chỉ một
truyện ngắn “Những mùa trăng ca múa” viết năm 1972 với hình ảnh chiếc mũ cối bộ
đội, với “o Dương” cùng những đồng chí du kích đánh Tây ở làng quê anh được
miêu tả qua những trang văn thật đẹp và đậm đà tình nghiã đã thể hiện sự trân
trọng của tác giả đối với những người đã hy sinh vì Tổ Quốc, thể hiện tình yêu
da diết đối với quê hương. Giọng điệu Huế, hình ảnh Huế và làng Chuồn
quê anh thấm đẫm trên rất nhiều trang sách. “... Tôi bỏ những đường phố lớn, lẩn
lút trốn vào Đại Nội men theo chân thành cổ. Bóng chiều và niềm im lặng tuyệt vời
thả trí tôi tận đáy hồ xanh. Trên mặt hồ xanh, tôi ngồi xuống, lòng thanh thản
nhẹ tênh, cái mũ cối úp lên đùi. Cái mũ cối già nua bạc màu kỷ niệm. Tôi nhìn
cái mũ và nhớ o Dương...Tôi im nghe tiếng hát o xưa lồng lộng vọng về. Tôi hát,
hát say mê những tiếng hát đầu lòng xưa, mơ hồ thấy vầng trán quấn quýt tóc bay
của o khẽ chạm tới vầng trăng vô hình nào đó...” (Tạp chí “Văn nghệ Quân đội” từng
in lại truyện này với lời giới thiệu trân trọng của nhà văn Nguyễn Khải.) Trong
truyện “Về giữa mùa hè” (viết năm 1973) in đầu cuốn sách với rất nhiều chi tiết,
nhân vật chân thật như là một đoạn hồi ký thì tác giả đã dành những dòng thật
xúc động khi viết về người Cha kính yêu của mình đã hy sinh trong cuộc kháng
chiến lần thứ nhất...
Với "Sáu giang hồ và
những mảnh đời phiêu dạt khác” (NXB Trẻ, 2005), Mường Mán lại bất ngờ tung ra
những truyện không thiếu tiếng bom đạn, tranh đấu "địch-ta" có sức
lay động người đọc với cái nhìn nhân bản từ một góc độ mới - nói chính xác hơn
là góc nhìn cận cảnh của người trong cuộc "bên kia chiến tuyến", lâu
nay hiếm thấy trên các trang sách xuất bản trong nước. Cuộc "kỳ ngộ"
tại mặt trận Khe Sanh giữa một thiếu úy quân đội Sài Gòn và nhóm tù binh
"Việt Cộng" trước sự "chứng kiến" của nữ phóng
viên Mỹ có chồng là phi công vừa bị chết tại đây - chính viên thiếu úy đã xông
ra cứu một tù binh dính đạn pháo kích khi họ đưa anh lên trực thăng về căn cứ...("Ngày
không đáng nhớ") Rồi cuộc đời bi thảm của trung úy Hãn, từ cuộc tháo
chạy ra cửa Thuận An mùa Xuân 1975 đến khi rời trại cải tạo Hiệp Đức với thương
tật oái oăm khiến anh mất khả năng làm chồng sau một tai nạn lao động...("Chớp
mắt trăm năm"); Một sĩ quan Ban 5 (Ban chiến tranh chính trị) lại có cảm
tình với cô tù binh "xã đội phó" Út Chuyên khi biết cô vừa được làm mẹ,
đến ngày trao trả tù binh tại sông Thạch Hãn thì vị trí "kẻ thắng và người
bại" lại hoán vị và gã sĩ quan sau 7 năm cải tạo lại "đụng đầu"
cô du kích "năm xưa", chỉ khác là cô vừa ra tù sau mấy năm thất bại
trên thương trường; cả hai "không còn người thắng lẫn kẻ thua" và họ
đã trao thân cho nhau rồi sang Mỹ theo diện H.O, nhưng vẫn chẳng tìm thấy hạnh
phúc...("Xa như cổ tích").
Cần nói thêm là nhờ không
khí cởi mở hơn trong hoạt động sáng tác, xuất bản hiện nay - nhất là khi mà vị
đứng đầu Chính phủ công khai "cảm ơn và mong muốn có được tin tức về
thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu của quân đội đối phương" (**) - những truyện như thế đã đến được với
bạn đọc một cách thuận lợi. Việc một người như Nguyễn Trung Hiếu vẫn biết quý
trọng cuốn "Nhật ký có lửa" cùng với các nhân vật là sĩ quan
quân đội Sài Gòn trước đây trong truyện của Mường Mán như thiếu úy Tạo
("Ngày không đáng nhớ") "gã sĩ quan Ban 5" ("Xa như cổ
tích")...đã giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc chiến đã qua,
thấy rõ hơn sự phi lý nếu cứ duy trì "cách nhìn hẹp hòi, biệt phái, bởi
chuyện phân biệt thắng-thua, bởi những kỳ thị ta-ngụy..." như nguyên Thủ
tướng Võ Văn Kiệt đã viết trong dịp kỷ niệm 60 Quốc khánh vừa qua. (Xem báo
"Nhân dân" và "Tuổi trẻ" 29/8/2005).
Riêng về sáng tác văn nghệ,
nhất là trong sáng tác về đề tài chiến tranh, cách nhìn lịch sử, con
người toàn diện, tôn trọng sự thật sẽ giúp mở rộng chân trời sáng tạo để có những
tác phẩm sâu sắc hơn, nhân bản hơn; và như thế sẽ có giá trị lâu bền hơn.
(Tham luận tại Toạ đàm viết
về chiến tranh cách mạng do Hội Nhà văn Thừa Thiên - Huế tổ chức. Đã đăng trên
Tạp chí “Văn nghệ quân đội” số tháng 5/2006)
Chú thích:
(**) Trích
thư ngày 4/8/2005 của Thủ tướng Phan Văn Khải gửi Tòa soạn và bạn đọc báo
"Tuổi trẻ" sau khi đọc Nhật ký của hai liệt sĩ Đặng Thùy Trâm và Nguyễn
Văn Thạc.
21/8/2006
Nguyễn Khắc Phê
Theo
https://www.vanchuongviet.org/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca
Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca “Bầu trời không mái che” * là tập thơ mới nhất của Mai Văn Phấn được xuất bản cuối năm 2010. Cũng như...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...


.gif)
.gif)