Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

 

Nguyễn Tuân – Bậc thầy về tùy bút

Xuất hiện trên văn đàn vào đầu thế kỷ XX, Nguyễn Tuân là một tên tuổi lớn của văn học Việt Nam hiện đại, một nhà văn bậc thầy, một nhân cách văn hóa mẫu mực. Ông đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ mà đỉnh cao là những bài tùy bút với phong cách riêng biệt không lẫn với bất cứ cây bút nào.

Một cây bút có sức viết dồi dào

Nguyễn Tuân sinh ngày 10.7.1910, quê ở làng Nhân Mục (thường gọi là làng Mọc), thôn Thượng Đình, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội.

Xuất hiện trên đàn văn vào cuối thập niên 30 và đầu 40 thế kỷ XX, Nguyễn Tuân đã khẳng định ngay lập tức tên tuổi của mình ở một văn phẩm gần như thâu tóm và kết tinh mọi tinh hoa làm nên sự hoàn thiện và hoàn mỹ của một phong cách viết “Vang bóng một thời”.

Với khởi đầu rất ấn tượng là “Vang bóng một thời”, Nguyễn Tuân đến với Cách mạng tháng Tám bằng sự tận lực sống với thời cuộc, với sự sống đương đại, nhãn tiền.

Với Nguyễn Tuân, đã chọn nghề viết, ông đã không ngừng viết bất cứ lúc nào, dẫu với bất cứ chuyển động nào của lịch sử. Tháng Tám – mùa thu cũng đã vào văn Nguyễn Tuân trong vẻ lộng lẫy của một bức sơn mài. Ông không ngần ngại đi lên chiến khu Việt Bắc, viết những trang mới nồng ấm tình người trong “Đường vui”, “Tình chiến dịch”…

Nguyễn Tuân là một cây bút có sức viết dồi dào. Cả trước và sau Cách mạng Tháng Tám, ông đều để lại rất nhiều tác phẩm có giá trị như “Vang bóng một thời”, “Tuỳ bút I”, “Thiếu quê hương”, “Chiếc lư đồng mắt cua”, “Tóc chị Hoài”, “Đường vui”, “Tình chiến dịch”, “Sông Đà”, “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”… đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc bởi nó mang phong cách uyên bác, tài hoa, độc đáo và một giọng văn rất riêng.

Ông ưa một lối viết liên tưởng mang tính chất tạo hình, ông viết không chỉ bằng ngòi bút của một nhà văn mà dường như còn viết bằng nhãn quan, bằng ngòi bút của một họa sỹ, của một nhà điêu khắc nên văn của ông rất giàu màu sắc, rất giàu hình khối, rất giàu chất điện ảnh. Chất điện ảnh, chất điêu khắc, chất hội họa đã làm cho sự hoa mỹ trong lời văn của Nguyễn Tuân rất rõ nét và đa dạng.

Gần 50 năm hoạt động văn học liên tục, Nguyễn Tuân đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển văn xuôi quốc ngữ Việt Nam hiện đại, với phong cách nghệ thuật độc đáo, trình độ sử dụng tiếng Việt điêu luyện. Con đường nghệ thuật này của ông tiêu biểu cho một lớp văn nghệ sĩ Việt Nam vốn mang quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, đã chuyển mình trở thành văn nghệ sĩ cách mạng. Toàn bộ sáng tác của ông thấm đẫm tinh thần dân tộc thiết tha, nhất là những giá trị văn hóa cổ truyền.

Giới nghiên cứu ca tụng những bữa tiệc ngôn từ trên trang văn Nguyễn Tuân và đề cập đến việc soạn một từ điển ngôn ngữ Nguyễn Tuân, với những “phố Phái”, “huyện đảo”… mà ông đã góp vào kho từ vựng chung của tiếng Việt. Người ta hiểu rằng cả một vùng trời lung linh ngôn ngữ ấy là tinh kết của một cuộc sống từng trải, si mê góp nhặt từng mảy vàng tiếng mẹ đẻ… Nguyễn Tuân thực sự là một bậc thầy ngôn từ mà rất lâu nữa mới có nhà văn khác sánh kịp. Chẳng hạn, ông dùng cụm từ “Hà Nội nội thành” về nghĩa tương đương cụm từ “nội thành Hà Nội” nhưng đọc cụm từ của Nguyễn Tuân ta thấy sự hội tụ tinh hoa đất kinh kỳ rất rõ ở trong một vùng địa lý chật hẹp.

Có thể nói, bất kỳ ở giai đoạn nào, ông cũng có những tác phẩm để đời. Ngoài truyện ký, Nguyễn Tuân còn viết tiểu luận phê bình và viết các chân dung văn học. Ông viết về tiếng Việt giàu và đẹp, về Truyện Kiều, về Tú Xương, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Thạch Lam, về Dostoyevsky, Tchekhov, Lỗ Tấn. Với vốn hiểu biết phong phú trong nhiều lĩnh vực, với năng lực thẩm mỹ sắc sảo và lối viết tài hoa phóng túng, những bài viết đó thường đậm đà, có những phát hiện độc đáo, tâm đắc.

Một bậc thầy về tùy bút

Ngoài ra, đỉnh cao trong văn nghiệp đồ sộ mà Nguyễn Tuân để lại là những bài tùy bút với phong cách riêng biệt không lẫn với bất cứ cây bút nào. Ông cũng được coi là một trong 3 nhà văn (cùng với Tố Hữu và Xuân Diệu) sớm có tác phẩm ngay từ những ngày đầu chào mừng kỷ nguyên độc lập của dân tộc.

Nếu như dòng tùy bút trước Cách mạng Tháng Tám của Nguyễn Tuân thấm đẫm sự kiêu bạc của cái “tôi” tác giả – một con người tài hoa, khinh bạc, muốn “nổi loạn” chống lại xã hội phàm tục, thì sau Cách mạng tháng Tám, ông đã hòa mình vào cuộc sống nhân dân, rũ bỏ cái “tôi”, vươn lên thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa văn nghệ. “Tùy bút kháng chiến” đã có cái nhìn ấm áp, tin yêu với cuộc đời mới, sự gắn bó cảm động giữa nhà văn và quần chúng kháng chiến. Trong một số truyện như “Những con đò danh dự”, “Thắng càn”, ông đã thể hiện chân thực những người lao động bình thường giản dị mà rất mực anh dũng trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ của dân tộc.

Đặc biệt, tùy bút “Sông Đà” viết về cuộc sống đổi thay đi lên chủ nghĩa xã hội ở vùng Tây Bắc và những tác phẩm tùy bút viết trong những năm chống Mỹ cứu nước viết về cuộc chiến đấu anh hùng của quân dân Thủ đô Hà Nội, được tập hợp trong tác phẩm “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” chính là những chiến công sácng chói của người chiến sĩ văn nghệ Nguyễn Tuân.

Có thể nói, tùy bút Nguyễn Tuân thấm đượm thứ văn hóa Đông Tây đã được ông tiếp nhận – không chỉ hiểu triết lý mà còn thấm cả đạo lý, dù hấp thụ sâu sắc chủ nghĩa tự do cá nhân vẫn thấy mình nặng nợ với đất nước, với làng xóm, phố phường, thấy mình có gốc rễ từ lịch sử.

Chỉ riêng các tác phẩm viết về Hà Nội thật khó quên. Các thú chơi xưa của các nhà Nho như uống rượu, uống trà, thả thơ… được nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả từ cái nhìn đầy hoài niệm hướng về quá khứ trong tập “Vang bóng một thời”. Rồi sau này, chỉ cần tùy bút “Phở” đã thâu tóm những gì cần biết và cả cách thưởng thức món phở. Hoặc vi mô hơn, chỉ cần hai chữ “Phố Phái” là cả một dòng tranh vẽ phố cổ Hà Nội đặc sắc của danh họa Bùi Xuân Phái được định danh.

Đối với ông, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật. Tài phải đi đôi với tâm. Ấy là “thiên lương” trong sạch, là lòng yêu nước thiết tha, là nhân cách cứng cỏi trước uy quyền phi nghĩa và đồng tiền phàm tục. Người đọc mến Nguyễn Tuân về tài, nhưng còn trọng ông về nhân cách đó nữa.

Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I, cho các tác phẩm “Nguyễn” (truyện ngắn, 1945), “Đường vui” (tuỳ bút, 1949), “Tùy bút kháng chiến” (1955), “Sông Đà” (tuỳ bút, 1960), “Tình chiến dịch” (tùy bút, 1960), “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” (tùy bút, 1972), “Ký” (1976), “Tuyển tập Nguyễn Tuân” (tập I, 1981; tập II, 1982), “Chuyện nghề” (phê bình tiểu luận, 1986).

Ông mất tại Hà Nội, tên ông được đặt cho một con đường ở Hà Nội.

4/5/2022

Thanh Hoa

Nguồn: TTXVN

Theo https://vanvn.vn/

 

Theo chân Trần Tùng Chinh đến “Bên giếng nước”

Con người có nguy cơ xa lìa cái tâm thiện một khi chính cuộc sống này đã và đang đẩy con người vào những lo toan chữ nghĩa, danh lợi! Một kí ức tuổi thơ không đủ cho nhân vật Hia Quang bám trụ với tình thâm dòng họ, nó mong manh quá, dễ đứt quá! Ai đã xô nhân vật Quang xuống vũng sâu của sự lạnh lùng? Phải chăng đây là thông điệp mà Trần Tùng Chinh muốn gửi gắm: Cái gì không duy trì được bằng tình thương thì cũng khó lòng níu kéo cho tình thương tồn tại?

Câu chuyện “Bên giếng nước” xoay quanh một gia đình anh em cô cậu. Ở đó trước kia là một gia đình. Những đứa trẻ con lớn lên trong đầy ắp kỉ niệm tuổi thơ. Rồi ông ngoại qua đời, bà ngoại già yếu dần. Má và chế Hằng về ở với ngoại để chăm sóc cho bà. Nhà ấy còn có vợ chồng củ Hai và Hia Quang. Hia Quang du học bên trời Tây, chế Hằng gả chồng bên xứ lụa Tân Châu. Chả bao lâu, bà ngoại mất. Lo cho bà ngoại xong, rồi Hia Quang du học trở về là cũng bắt đầu mọc mầm sự rạn nứt chia li. Nhân vật má đành phải theo con gái, là chế Hằng, về nhà chồng chế ở Tân Châu trong sự tức tưởi. Chẳng bao lâu nhân vật má chết. Hằng sống trong sự buồn bã cô đơn… Song cuối cùng, nhân vật chế Hằng không sống trong oán thán, tủi hờn mà lại bừng sáng lên bởi ước mơ nhân văn cao quý.

Truyện ngắn của Trần Tùng Chinh là lời cảnh báo và xác nhận một sự thật, đó là xu hướng hưởng thụ vật chất tiện nghi, nó sẵn sàng khỏa lấp mọi thứ, kể cả những kỉ niệm êm đềm của quá khứ. Căn nhà của ngoại là nơi chứa đầy những kỉ niệm tuổi thơ của nhân vật chế Hằng, của Hia Quang. Bởi vậy, mỗi lần chế Hằng về nhà ngoại là mỗi lần chế muốn ra phía sau nhà, nói thác để đút cơm cho con, nhưng là muốn ra bên giếng nước. Ra giếng nước để tìm lại tuổi thơ của mình. Ra giếng nước để đắm chìm vào không gian êm đềm của kí ức. Ở đó có mấy tàu lá chuối mà Hia Quang thích vặt trụi từng tàu để làm súng bắn chơi. Ở đó là nơi Hằng thích trò chơi mua bán đồ hàng. Nhưng bây giờ, mỗi lần ra được giếng nước là phải đi vòng qua nhà ý Tám vì không gian đã bị thay đổi. Không gian bị ngăn trở ấy, chính là dấu hiệu của biết bao những thay đổi phía sau, mà nạn nhân đau đớn nhất, éo le thay, lại chính là chế Hằng. Vì sao cũng là những con người đều bước ra từ thế giới tuổi thơ êm đềm đó, lớn lên trong một không gian làng xã dòng họ như nhau mà sau này chế Hằng và Hia Quang lại khác nhau nhiều đến vậy? Nếu chế Hằng hoài niệm bao nhiêu thì Hia Quang lại thờ ơ bấy nhiêu. Điều gì đã can thiệp vào tính cách của nhân vật để họ phải khác xa nhau đến nhường ấy? Phải chăng sự hưởng thụ vật chất của đời sống đủ đầy tiện nghi đã làm cho Hia Quang thay đổi? Và cũng phải chăng là ở sự giáo dục của gia đình tạo mầm mống cho sự khác biệt ghê gớm này? Con của củ, kiểm Hai thì làm sao còn được những gié nhánh của yêu thương dòng họ cho dù là chắt mót vì chính họ là những con người của tình đời đen bạc. Hia Quang có được tẩm ướp liên tục cái cách sống nghĩa tình mà chính má chế Hằng là nhân vật sống khi má ngày đêm chăm sóc ngoại? Ai kể cho Hia Quang nghe để Hia Quang hướng tâm thiện về gia đình, về dòng họ? Điều này, hẳn nhiên vợ chồng củ Hai đời nào làm được. Lại thêm Hia Quang đi du học. Khoảng cách lạnh lùng ngày một bị đẩy ra xa. Hồi chuông đã được gióng lên khẩn thiết về tình người! Con người có nguy cơ xa lìa cái tâm thiện một khi chính cuộc sống này đã và đang đẩy con người vào những lo toan chữ nghĩa, danh lợi! Một kí ức tuổi thơ không đủ cho nhân vật Hia Quang bám trụ với tình thâm dòng họ, nó mong manh quá, dễ đứt quá! Ai đã xô nhân vật Quang xuống vũng sâu của sự lạnh lùng? Phải chăng đây là thông điệp mà Trần Tùng Chinh muốn gửi gắm: Cái gì không duy trì được bằng tình thương thì cũng khó lòng níu kéo cho tình thương tồn tại?

Nhìn ở góc nhìn hiện thực thì “Bên giếng nước” phơi bày thói ỷ lại, lợi dụng và nhẫn tâm. Trước đó, ngoại còn sống, tuổi già sức yếu “chỉ cần một năm nữa thôi là bà thọ đúng một trăm tuổi” thì ai nuôi ngoại nếu không có nhân vật má chế Hằng? Cũng tiện, khi đó má buôn bán không được, lại thêm chồng má mới chết, nên bỏ ghe lên bờ, vừa có chỗ ở lại vừa chăm sóc ngoại luôn. Những năm tháng đó, củ và kiểm Hai không lên tiếng. Bởi họ còn phải lo cho Hia Quang đi du học. Phải chi có sự sắp xếp ngay từ đầu thì má và chế Hằng đâu đến nỗi phải dời khỏi căn nhà ngoại trong tức tưởi như vậy? Lúc ấy, nói được ra như vậy thì ai sẽ chăm sóc ngoại? Thôi thì, im lặng là vàng. Vàng bốn số chín cho vợ chồng củ Hai nhưng là vàng hai con mắt cho cuộc đời của má. Má có biết chi? Chỉ biết cắm cúi vào chăm sóc cho ngoại, đó vừa là bổn phận vừa là trách nhiệm của má. Má âm thầm làm việc ấy, cần cù chịu khó làm việc như thế cho đến khi ngoại mất. Đến lúc ấy, cũng chính Hằng, với sự tinh tế của một người phụ nữ, nhân vật cảm nhận ngay ra sự khó chịu của tùa kiểm“quăng thúng đụng nia” khi chế Hằng về cúng cơm ngoại, rồi có ý nán lại ít hôm. Khi người ta không còn khai thác được sức người của má Hằng thì cũng là lúc người ta bộc lộ cái bản chất tham lam và chây lười. Họ không muốn cho má Hằng ở lại căn nhà ấy nữa. Vì sao vợ chồng củ Hai biết rõ là má Hằng sẽ không còn chỗ để đi mà họ vẫn bày ra buổi nói chuyện – cốt là để đuổi má Hằng? Củ Hai thì ra bộ khó nghĩ, kiểm Hai thì thật giả lẫn lộn, rồi thì cuối cùng câu chuyện cũng trắng phớ ra bản chất tham lam, ác lạnh nơi họ, họ dùng cái lí ra chiều phải để dậm dọa và cắt đứt mối thâm tình không một mảy may thương xót: “Cô Ba khóc lóc cái gì? Có gì mà khóc? Nhà này của ba má, ba má mất rồi thì là của anh hai cô. Cô nhắm ở đây được thì ở; nhưng tui nói mất lòng trước đặng lòng sau, nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt; nhà cũng đông miệng ăn mà thiếu người làm; chỉ sợ cô Ba nói anh chị chơi gác xử ép cô. Nếu cô tính kế ở lại lâu dài thì cô coi sóc nhà cửa, tui nuôi cơm ngày hai bữa. Còn cách khác thì tùy cô quyết định… Mà lâu dài thì tui cũng không nói trước được à nghen. Mai mốt, nhà này tui và anh cô cũng giao lại cho vợ chồng thằng Quang thôi… Thành ra, tui mà là cô chắc tui cũng đi ở chỗ khác cho nó khỏe cái thân!” Chật chội ư? Thì xưa nay căn nhà vẫn thế, có sao đâu? Hia Quang về là cái cớ để cho họ vin vào mà đuổi má Hằng.

Sự lãnh đạm, ghẻ lạnh lấn lướt khi tình người bị cái hãnh tiến và sĩ diện vây bủa. Hia Quang “về, gặp chế ẵm con Thảo đứng trước nhà đón, chỉ giơ tay hế lô rồi nắm tay cô bạn gái có mái tóc hoe vàng đi tuốt vô trong” là nó đã mở ra một cánh cửa hoàn toàn khác với sự mong đợi của Hằng. Không một mảy may cử chỉ thân thiện, phải chăng tác giả đã để cho nhân vật Quang tự đánh mất mình ngay từ bước chân đầu tiên quay trở lại căn nhà tuổi thơ của mình sau khi du học về? Mọi người chào đón Hia Quang trong thái độ trọng thị. Chỉ duy nhất Hằng là người cảm nhận được sự thay đổi ấy ở Hia Quang. Nhưng đó cũng chỉ là cảm nhận mơ hồ nơi Hằng. Dẫu sao, chị cũng còn hi vọng ở người anh họ, bởi trong tận cùng thâm tâm của chị, chị vẫn tin ở Hia Quang. Giữa chị và Hia Quang đã có bao nhiêu những kỉ niệm tuổi thơ êm đẹp bên giếng nước. Nó là nền tảng tâm hồn mà có lẽ chị hiểu hơn ai hết, rồi đây Hia Quang sẽ là Hia Quang của ngày xưa, Hia Quang của những trò chơi vặt trụi lá chuối để làm súng lộp bộp bắn chế? Cứ thế, vệt sáng nhân nghĩa lóe lên trong nhân vật Hằng. Chỉ đến khi cuộc nói chuyện về chỗ ở của má gần như đi vào bế tắc, thì niềm tin ấy về Hia Quang mới hoàn toàn bị dập tắt: “Chế nhìn sang hia Quang cầu cứu, nhưng đáp lại cái nhìn thống thiết của chế, hia lạnh lùng đứng dậy đi vào nhà trong. Thái độ đó của hia làm cho chế thật sự đau lòng; thà là hia lấy cây súng tàu lá chuối ngày nào mà quất vào tim chế. Sáng hôm sau, mẹ con chế quay trở lại Tân Châu.”

“Bên giếng nước” có được một giọng kể tự nhiên, trữ tình và ray rứt. Ray rứt mà không oán than. Nhân vật chế Hằng như đang kể lại câu chuyện về gia đình mình cho người kể nghe, và người kể bưng y nguyên câu chuyện ấy mang lên trang giấy hầu độc giả. Thành thử người kể như ẩn mình đi, làm cho câu chuyện khách quan biến hóa linh hoạt. Có lúc người kể như nhập vào nhân vật chế Hằng làm một khiến cho câu chuyện cứ tự nhiên tuần tự mà phơi bày. Bên cạnh những con người lạnh tanh tình nghĩa cứ rờ rỡ trôi qua (củ, kiểm Hai, Hia Quang), người đọc còn nhận ra một mảng sáng nghĩa tình thấm đượm chất người (ở chế Hằng và má). Thoạt đầu, là cái lo mơ hồ nơi nhân vật chế Hằng: “Từ chỗ đó, là có thể ngẩn ngơ dòm lại ký ức nhà ngoại trong sự hình dung ngày càng mơ hồ xa xăm, lòng bỗng chạnh buồn khi nghĩ đến thế hệ của con Thảo sẽ không bao giờ có thể nhìn thấy nữa…”. Cái lo lắng ấy thể hiện nỗi thắc thỏm về một sự thật đoạn tuyệt giữa quá khứ với tương lai, khi con người nhẫn tâm từ bỏ. Bức tường ngăn cách ấy đang lạnh lùng tồn tại thì lẽ đương nhiên cái không gian vui chơi của con trẻ coi như cũng đã đặt vào dấu chấm hết. Cho nên, khi ngoại mất, mặc dù“con Thảo còn đỏ hỏn, mà chế nhứt quyết ẵm theo để cho đứa con gái đầu lòng bé bỏng của chế đưa bà cố của nó đến nơi an nghỉ cuối cùng” là chi tiết thể hiện ước mơ gắn bó với nguồn cội. Nhân vật má thì lo lắng cho Hằng, chỉ có người mẹ mới có được sự “nóng ruột, đứng ngồi không yên” khi nơi con gái ở đang bị nạn đất lở đe dọa đến tính mạng: “Ở đất Tân Châu, nhà chồng chế, không may ở ngay nơi đất lở. Mùa nước, có ngày sông nuốt chửng đi hàng chục mét đất, chỉ mấy tiếng ầm ầm nghe như long trời, nhìn ra chỉ còn bọt sủi tăm sùng sục. Má chế nóng ruột, đứng ngồi không yên nên nhắn chế tạm thời để chồng lại đó vì chồng chế còn có công ăn việc làm, còn chế bồng con Thảo về xứ núi với má, tá túc nhà ngoại kiếm đường mần ăn. Má còn nói, ở lại đó không khéo, tối ngủ, sáng dậy thấy mình nằm dưới sông, lạnh ngắt.” Đó là những mảng màu tươi sáng bừng lên trong truyện. Góp phần vẽ lên những bức chân dung đa sắc.

Không gian trong truyện là không gian nghệ thuật được miêu tả qua cái nhìn tâm lí, nó nói lên được rất nhiều điều. Mảnh vườn của gì Tám được nhìn qua con mắt tuổi thơ nên nó mênh mông, đầy ắp những kỉ niệm: “Thật ra mảnh vườn của ý Tám cũng không lớn lắm, thậm chí có phần nhỏ hẹp, nhưng chẳng hiểu sao khi Hằng còn con nít, chị lại thấy khu vườn sao mà thênh thang”. Rồi cái lối đi “chỉ từ chỗ giếng nước đi đến bờ rào có hàng me nước um tùm đã là một khoảng cách dài miên man”. Đó là không gian tuổi thơ êm đềm trong sáng. Đến khi lớn lên mọi thứ đã thay đổi“chỗ đó bây giờ là một bức tường. Bức tường ấy, gạch còn mới nguyên xây chắn lên sừng sững làm ranh giới phân đất rạch ròi giữa nhà ngoại – bây giờ là nhà của củ Hai và hia Quang – với phía bên nhà hàng xóm”. Thì bức tường kia không chỉ là bức tường ranh giới nữa mà nó còn là hiện thân của sự chia cách quá khứ êm đềm với hiện tại đang có nguy cơ nhàu nát. Không còn thấy được trực tiếp giếng nước kia, chỗ ẩn chứa quá nhiều kỉ niệm cũng là không còn cơ hội nhìn thấy được sự hòa hợp của lòng người. Một không gian ngậm ngùi chia rẽ, vì giờ “muốn ra sau giếng ngùi ngùi nhớ lại ngày xưa, chế chỉ còn cách đi tuốt ra sau nhà ý Tám”. Rồi vẫn theo cái mạch truyện ấy, không gian căn nhà ngoại xưa là không gian yên ấm, nghĩa tình: “cái giọng run run của ngoại bật ra một cách khó khăn từ hai cái hàm lợi, không còn cái răng nào, mắt ngoại kèm nhèm nhìn chế, biểu bây nói cái gì, bây đi đâu, không ở đây nữa ha?”. Ngoại hỏi chế mà như níu giữ, hỏi mà như trách cứ, sao lại đi, không ở với ngoại nữa hả? Một không gian thân thương trìu mến. Nhưng cũng căn nhà đó, khi ngoại không còn “thì căn nhà lớn ba gian bỗng trở nên chật chội bức bối hơn bao giờ hết”. Đích thị là một không gian tù túng chật hẹp của lòng người. Bởi “dường như cái thuở anh em cùng lớn lên bên nhau với bao chuyện vui buồn, giờ sau bao năm xa cách, đã nhạt như nước ốc”. Và gần cuối truyện, một không gian là lạ xuất hiện khi chia li, tác giả ghim ngòi bút của mình vào đặc tả bên ngoài căn nhà của ngoại: “Mái ngói đã ngả màu rêu, thấp thoáng sau tàng cây mãng cầu cho chế bao nhiêu hột búng ô quan. Bàn thờ ông thiên phía trước hàng hiên lót gạch tàu ngày xưa chơi lò cò không biết mệt. Mấy cây cột to, đen bóng lên nước mà vòng tay của chế lúc thơ bé ôm không giáp… Nhìn lướt qua ngôi nhà thân thuộc thật nhanh nhưng chế đã kịp khắc mọi thứ vào trong sâu thẳm tim mình”. Không gian ấy là không gian tuổi thơ thu nhỏ, là chứng tích ghi lại một thời đằng đẵng những kí ức, bây giờ nó là không gian chia lìa đau đớn của sự đổ vỡ:“Bởi, chỉ cần lần tới có dịp trở về, chế biết ngôi nhà gắn với cả một thời thơ ấu ấy của chế sẽ không còn nữa…” Mỗi một không gian là một nỗi niềm, cứ hun hút và phập phồng, chứa nặng những khắc khoải âu lo.

Một điều lạ mà quen, quen đến độ làm cho độc giả khó nhận ra, là những người phụ nữ cam chịu như là một bản năng mặc định kia vì sao lại cam chịu nhẫn nhịn đến vậy? Phải chăng, sự “trọng nam khinh nữ” đã ăn quá sâu vào tiềm thức con người đã làm cho họ như vậy?

Bởi thế, “Bên giếng nước” là một thiên truyện cứ lặng lẽ ám ảnh con người. Chuyện anh em ruột rà nhạt tình sau khi cha mẹ mất xưa nay không hiếm, nhưng Trần Tùng Chinh có cách thể hiện nó rất riêng. Cái riêng ấy là cách dựng truyện tự nhiên, chọn lọc chi tiết để vạc đẽo ra nhân vật. Rồi qua cách kể, nhân vật tự bộc lộ bản chất con người mình. Người kể chuyện đôi chỗ xuất hiện (chế Hằng) nhưng phần nhiều là giấu mình đi, để cho nhân vật như tự kể về mình (khi chế, má chế) làm cho câu chuyện vừa giàu yếu tố chủ quan trữ tình vừa đạt giá trị khách quan. Có lẽ lời mong ước của nhân vật chế Hằng cũng là mong ước của tất cả chúng ta chăng? Lời mong ước lấp lánh vẻ đẹp nhân văn cũng như sự thiêng liêng cao cả và chứa chan tình người: “Rằng mai này khi con Thảo lớn lên, và những đứa em khác của nó chuẩn bị ra đời, chúng sẽ trưởng thành, sẽ sinh con đẻ cái; chế sẽ dạy cho chúng mãi mãi yêu thương nhau trong tình ruột rà máu mủ. Chế sẽ trối trăng với chúng trong cái ngày ở thì tương lai mà chế sẽ đi theo má, theo ngoại, rằng đến mỗi lần đám giỗ của mình, chế chỉ muốn trở về một nơi, một chỗ mà thôi… Nơi đó, từ trên bàn thờ phảng phất mùi trầm hương thơm ngát, chế từ trong bức hình sẽ nhìn xuống bầy con cháu quây quần đông đủ mà mỉm cười mãn nguyện. Và chế tin, ở đâu đó bên cạnh mình, ngoại và má chế cũng mỉm cười…” Niềm tin ấy của nhân vật truyền đến độc giả một thông điệp sức mạnh của tình thương yêu gắn bó. Nhân vật tin, chẳng lẽ chúng ta lại không tin vào sức mạnh của tình thương?.

4/5/2022

Khang Quốc Ngọc

Theo https://vanvn.vn/

 

Nguyễn Huy Tưởng – Người viết lịch sử bằng các tác phẩm văn học

Những ngày tháng Hà Nội sục sôi chuẩn bị khởi nghĩa, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là một trong những đại biểu của Hội Văn hóa Cứu quốc Thủ đô được cử đi dự Quốc dân Đại hội Tân Trào. Cách mạng tháng Tám thành công, ông là Đại biểu quốc hội khóa I của nước Việt Nam DCCH (1946). Sau ngày Hà Nội được giải phóng, ông là Ủy viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam (khóa I). Ông sớm về cõi thiên thu từ năm 1960, nhưng di sản văn học đồ sộ mà ông để lại vẫn sống mãi trong cõi Người!

Tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc và viết tờ Tiên phong trên quê hương Dục Tú (Đông Anh)

Sinh ngày 6.5.1912 trong gia đình nhà nho nghèo ở Dục Tú, Phủ Đông Ngàn tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội), rồi đi học ở trường Bonal (Hải Phòng), Nguyễn Huy Tưởng được học cả chữ Hán và tiếng Pháp. Mười tám tuổi, ông đã mang một bầu tâm sự và có ý thức rõ ràng về sứ mệnh người cầm bút: “Phận sự một người tầm thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ có việc viết văn quốc ngữ thôi”. Do đó, khi Hội truyển bá quốc ngữ thành lập (năm 1938), ông đã tham gia Hội, cùng ông Quản Xuân Nam hoạt động truyền bá quốc ngữ ở Hà Nội. Khi phải chuyển xuống làm công chức nhà Đoan ở Hải Phòng, ông lại cùng với các ông Nguyễn Công Mỹ, Lưu Văn Lợi… xuống các ngõ phố, xóm thợ dạy dân lao động học chữ quốc ngữ. Tháng 11.1943, nhà Đoan điều chuyển ông trở lại Hà Nội làm việc. Đó là điều kiện thuận lợi cho ông hoạt động. Từ tháng 4.1944, ông gặp gỡ các ông Nguyễn Xuân Huy, Như Phong, Nguyên Hồng, Nam Cao, Trần  Huyền Trân.

Bao tâm tư một nhà báo, nhà văn yêu nước sâu nặng đã được giải đáp khi ông được ánh sáng của Đề cương văn hoá Việt Nam soi chiếu. Ông tâm sự: “Đọc đề cương văn hoá của Đảng, tôi thích nhất khẩu hiệu: dân tộc-khoa học-đại chúng, nhất là khẩu hiệu dân tộc. Từ đó tôi tham gia Văn hoá Cứu quốc, và cũng từ đó mới có ý định viết văn để phấn đấu cho một lý tưởng” (Tham luận tại hội nghị những người viết văn trẻ lần thú nhất – tháng 11.1959). Ông tìm thấy ở Hội Văn hoá Cứu quốc một tổ chức giúp ông thể hiện được chí hướng đem văn học phụng sự dân tộc và ông lao vào hoạt động cho Hội. Nhà văn Nguyên Hồng từng ở cùng Nguyễn Huy Tưởng, đã viết: “Căn gác ở phố Pescadore (tức Phù Đổng Thiên Vương), có một anh công chức lương không đủ chi một bữa rượu, một văn sĩ cà mèng và một bà cụ buôn bán đầu đường cuối chợ chạy đói ở nhà quê ra – cái gác ấy là một trong những cơ sở liên lạc của Hội Văn hóa Cứu quốc”.. Nhà văn Tô Hoài đã có những chi tiết rất sinh động về cuộc sống và sự hoạt động say mê của ông trong Hội Văn hóa Cứu quốc sau ngày Nhật đảo chính Pháp: “Chúng tôi gặp nhau luôn, không còn giữ bí mật nghiêm ngặt như mọi khi chỉ có tổ ba người biết với nhau. Chị Tưởng đem các con đi tránh bom Mỹ về quê Dục Tú đã lâu. Một mình Nguyễn Huy Tưởng ở lại… chỉ thấy anh mặc quần sooc, với cái xe đạp trần trụi không phanh, không chuông đi khắp nơi. Chẳng mấy ngày anh không lên Nghĩa Đô gặp Nam Cao và tôi. Khi thì thúc bài cho báo Cứu Quốc; khi đem lên báo Cờ giải phóng, Tạp chí Cộng sản. Căn gác nhà Nguyễn Huy Tưởng có cửa khóa, anh đề số 1789, năm cách mạng Pháp, chúng tôi đều biết, ai đến cứ việc mở vào, lúc ngủ nhờ, lúc hội họp… cả cái xe bò nón lá của Nguyên Hồng cũng được đấy đến để trước nhà của Nguyễn Huy Tưởng”.(1)

Nhật ký của ông ghi rõ những ngày tháng quan trọng gặp các nhà văn, nhà báo, các đồng chí lãnh đạo của Đảng mà sau này, ông mới biết, đó chính là hoạt động cho Văn hóa cứu quốc: “Ngày 16.10.1944: đi với Ngọc Ban (tức đồng chí Mười Hương – PKT). Ngày 25.5.1945: Trần Huy Liệu đến ngủ đêm. Kính phục người có danh vọng trong xã hội. Ngày 9/6/1945: Luôn mấy hôm họp về văn hóa cứu quốc; được anh em tín nhiệm. Ngày 7.7.1945: Được tin được đi dự một hội nghị quan trọng (Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Huy Tưởng được đi dự Quốc dân đại hội ở Tân trào- PKT). Ngày 9.7.1945: Thảo luận các bài của báo Tiên phong” 2). Tờ Tiên phong, cơ quan ngôn luận của Hội Văn hóa Cứu quốc đã được viết ngay trong ngôi nhà thân thuộc của gia đình ông ở Dục Tú. Nhà văn Như Phong kể lại những ngày ở đó để viết số đầu tiên như thế nào: “Trước hết, phải đặt tên cho tờ báo đầu tiên này của Văn hóa Cứu quốc. Có anh đưa ra tên Tiền phong. Nhưng cũng có người chợt nhớ ra rằng, Tiền phong đã được lấy cho một tờ báo Thanh niên của Đảng. Chúng tôi đổi ra là Tiên phong… chúng tôi định rõ nội dung số báo đầu tiên, rồi phân công nhau viết. Mỗi anh ngồi vào một xó. Anh thì có chỗ ngồi hẳn hoi ở bàn, anh thì lấy sập thờ làm bàn viết” (3).

Cách mạng đã khơi dậy sức sống mới của muôn người. Sau ngày 19.8.1945, ông hăm hở tham gia trong ban chuẩn bị dựng khán đài trên Quảng trường Ba Đình cho Lễ Độc lập, tiếp tục hoàn chỉnh việc in số 1 của tờ Tiên phong bị dang dở bởi bao sự kiện dồn dập của cuộc khởi nghĩa cuốn đi, và chỉ sau cuộc khởi nghĩa hai tháng báo đã ra mắt bạn đọc với chữ in typô, giấy tốt, trình bày đẹp. Cuối năm 1945, ông đi tuyên truyền và tiếp xúc cử tri Bắc Ninh, chuẩn bị cho bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trúng cử vào đại biểu Quốc hội khóa I; rồi ông viết kịch Bắc Sơn, công diễn tại Nhà Hát Lớn tháng 4.1946 (Hội Văn hóa cứu quốc đã in kịch bản vào tháng 7.1946) được các văn nghệ sĩ Thủ đô nhiệt liệt hoan nghênh. Thành công của vở Bắc Sơn (nhạc Văn Cao), mở đầu cho dòng kịch nói phục vụ quần chúng nhân dân.

Tại Đại hội các văn nghệ sĩ lần thứ nhất tại Thủ đô Hà Nội tháng 10 năm 1946, Nguyễn Huy Tưởng được bầu vào Ban chấp hành Hội Văn hóa Cứu quốc; sau đó, ông là một trong những người phụ trách công tác đưa các văn nghệ sĩ lên chiến khu Việt Bắc tham gia đánh giặc bằng vũ khí văn nghệ của mình. Bước chân trải bao đèo núi Tuyên Quang, Thái Nguyên, làm báo của Hội Văn hóa Cứu quốc rồi làm thư ký tạp chí Văn Nghệ của Hội nhà văn Việt Nam; sáng tác ký, nhật ký chiến dịch, phóng sự mà nóng hổi nhất là Ký sự Cao Lạng, nhưng lòng ông vẫn hướng về Thủ đô Hà Nội vừa trải qua 60 ngày khói lửa. Mỗi chuyến đi thực tế ở mặt  trận, gặp gỡ các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô, ông vui như Tết. Đó là thời kỳ đầy ắp vốn sống thực tiễn để đến năm 1958, Nguyễn Huy Tưởng viết Sống mãi với Thủ đô và truyện phim Luỹ Hoa.

Người viết lịch sử bằng các tác văn học

Hai mươi tuổi, Nguyễn Huy Tưởng đã ghi trong nhật ký ngày 13/1/1932: “Người không biết lịch sử nước mình là con trâu đi cày ruộng; cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào cũng được”. Ý thức sâu sắc đó được ông gửi gắm vào một loạt các sáng tác thơ ca ngợi Trần Bình Trọng, viết truyện Trần Quốc Toản cho các em sói con đăng trên tạp chí L’Annam Nouveau, cùng các tiểu luận: Ý nghĩa của việc thiên đô của Lý Thái Tổ trong lịch sử Việt Nam và Hội nghị Diên Hồng đăng trên tạp chí Tri Tân số 17 và số 23 (1941). Và rồi, khó có thể hình dung được, ông công chức Nguyễn Huy Tưởng biến phòng làm việc của Sở Đoan thành nơi sáng tác tiểu thuyết lịch sử An Tư công chúa và Đêm hội Long Trì, lấy bối cảnh Thăng Long thời Trần và thời Lê-Trịnh (đăng tải trên các số Tri Tân trong năm 1942-1943). Kịch bản Vũ Như Tô  được đăng trên Tri Tân từ 18/11/1943 đến 20/4/1944 (năm 1946 được Hội Văn hóa Cứu quốc xuất bản thành sách lần đầu tiên). Những tác phẩm văn học đó, lấy hồn cốt là lịch sử Thăng Long thời Trần, thời Lê – Trịnh, đã đưa ông lên đỉnh cao trên văn đàn từ những năm 40 thế kỷ XX, mà cho đến nay, theo tôi, vẫn chưa có ai vượt ông trong thể loại sáng tác tiểu thuyết và kịch bản văn học lấy đề tài và bối cảnh lịch sử. Sau ngày Hà Nội giải phóng, tâm can vẫn đau đáu đưa lịch sử dân tộc vào văn học để giữ lấy cái gốc của văn học nghệ thuật, ông viết truyện cho thiếu nhi “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”, rồi tiếp tục sửa  chữa lần thứ hai bản thảo “Sống mãi với Thủ đô”.

Khi ông sửa tiểu thuyết lịch sử duy nhất về Trung đoàn thủ đô đến lần thứ ba thì bạo bệnh đã khiến ông phải tạm ngưng lại. Hơn nửa thế kỷ đã qua, lớp nhà văn của thời Văn hóa Cứu quốc mấy ai còn nhớ kịch bản phim Lũy Hoa dựa trên sườn bản thảo Sống mãi với Thủ đô được đưa in khi Nguyễn Huy Tưởng đang nằm trên giường bệnh? Nhà văn Nguyễn Tuân chính là người gợi ý với tác giả đổi tên bản thảo kịch bản phim Hoa trên chiến luỹ thành Luỹ Hoa, lại là người mang tay sách đầu tiên vào bệnh viện cho bạn xem; nhưng phải đến năm 1996, kỷ niệm 50 năm Toàn quốc kháng chiến, phim mới được chiếu trên đài truyền hình Hà Nội. Còn tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô chào đời sau khi nhà văn đã mất; nhưng như nhạc sĩ Văn Cao viết: “Cái chết của anh/ Cái chết một nhà văn/ Không bao giờ là cái chết”.

Những lời tri ân

Nguyễn Huy Tưởng đã mất như một chiến sĩ của Hà Nội. Đi sau linh cữu ông có những chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô mà ông hằng gắn bó và đón họ ngày trở về trong đoàn quân chiến thắng mùa Thu năm 1954. Ngôi nhà của tuổi ấu thơ ở quê hương Dục Tú, nơi làm số 1 báo Tiên phong, đã được công nhận là di tích cách mạng. Năm 1996, Nguyễn Huy Tưởng được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về những đóng góp của ông cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Nhưng đã và sẽ còn mãi với thời gian, với văn hoá dân tộc một Nguyễn Huy Tưởng chân thành, đôn hậu, cởi mở, hết lòng yêu thương, nhân ái với bạn bè bởi ông đã chọn một cách sống đẹp của nhà văn: “Đừng viết cái gì sai với sự thực của con người, dù là dưới hình thức phục vụ. Người là thật. Phải thật với người”. 

Những điều ông viết với ý thức của một nhà văn suốt đời lấy phụng sự dân tộc làm đích phấn đấu, đến nay, đọc lại, vẫn sáng ngời nhân cách cao quý.Tuyên ngôn về sứ mệnh cao quý của người nghệ sĩ phải biết sống chết vì nghệ thuật, và người cầm cân nảy mực phải biết trọng dụng, phát huy trí tuệ tài năng của họ đã được ông sáng tạo tài tình trong hình tượng nghệ thuật Đan Thiềm – Vũ Như Tô trong kịch bản Vũ Như Tô. Điều ông tâm đắc về văn học nghệ thuật phục vụ con người, viết cách nay hơn nửa thế kỷ, vẫn giữ nguyên giá trị tôn quý, sáng soi cho mỗi người cầm bút: “Hơn lúc nào hết, phải đề cao ý thức tôn trọng con người, tôn trọng cái địa vị chủ nhân của mỗi một người Việt Nam. Mỗi con người là một lâu đài thiêng liêng mà chúng ta phải tới với một tấm lòng chân thành tôn kính… (Tùy bút Một ngày chủ nhật, 1956).  Ông “ Sống mãi với Thủ đô”, trong lòng mọi người, từ các em nhỏ đến các văn nghệ sĩ…bất tử cùng “Cửu trùng đài” trên bầu trời sao Khuê lấp lánh, lấp lánh…

Chú thích:

(1) Theo Nguyễn Huy Tưởng, một nhà văn Hà Nội, NXBHN, 2011, tr 60, 61.

(2) Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, NXBTN, 2006.

(3)  Bài Theo con đường đã chọn, trong sách Sáng mãi lửa thiêng của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, NXBCTQG, 2009, tr 275. 

5/5/2022

Phạm Kim Thanh

Theo https://vanvn.vn/

 

Chế Lan Viên, “nhân sư” của thi đàn Việt Nam

Trong phong trào Thơ mới (1932-1945), giữa một “rừng” thi nhân lãng mạn-cảm tính, thi sĩ có thế giới nghệ thuật thơ triết luận, nhiều suy tưởng lý trí, nhiều trăn trở tinh thần nhất là Chế Lan Viên (1920-1989).

Tên thật của Chế Lan Viên là Phan Ngọc Hoan, nguyên quán ở Quảng Trị, song nơi ông sinh ra và lớn lên là mảnh đất Bình Định. Vùng đất Bình Định vốn là kinh đô xưa của vương quốc Chiêm Thành. Phan Ngọc Hoan chọn một bút danh mang họ của người Chăm (họ Chế) và trong vũ trụ thơ của ông trước năm 1945, xuất hiện dày đặc số phận, địa danh, đặc trưng văn hóa, hình ảnh, sự kiện lịch sử của người Chăm. Chế Lan Viên là một bút danh, song đó cũng là một lựa chọn có tính chất phản kháng trí thức đối với chế độ cũ, trạng huống xã hội, tinh thần trong xã hội Việt Nam nửa thực dân-nửa phong kiến. Thông qua câu chuyện quá khứ, Chế Lan Viên muốn ngầm diễn đạt nỗi buồn chung nước mất nhà tan: Chiêm nương ơi, cười lên đi em hỡi!/ Cho lòng anh quên một phút buồn lo!/ Nhìn chi em chân trời xa vòi vọi/ Nhớ chi em sầu hận nước Chàm ta? (Đêm tàn). Sự nổi loạn, điên cuồng, ma mị, kinh dị trong thế giới thơ Chế Lan Viên giai đoạn Thơ mới (trước năm 1945) do đó cần xem xét như một phản kháng, đấu tranh xã hội qua thơ, bên cạnh xem xét dưới ảnh hưởng của những tư trào thơ ca hiện đại phương Tây như chủ nghĩa tượng trưng hay chủ nghĩa siêu thực.

Xuất hiện “như một niềm kinh dị” (nhận xét của nhà phê bình văn học Hoài Thanh) vào năm 17 tuổi, với tập thơ ám ảnh khủng khiếp “Điêu tàn”, Chế Lan Viên đã sớm cho thấy, mình là người dẫn đường cho Trường thơ Loạn ở Bình Định nói riêng, và sẽ sớm là đại diện đáng kể bậc nhất của phong trào Thơ mới nói chung. Trong tác phẩm “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình đầy quyền uy Hoài Thanh đã dành những lời nhận định ưu ái bậc nhất dành cho một nhà thơ trẻ, báo hiệu một tương lai đầy hứa hẹn trong thi giới: “Cái mạnh mẽ, cái to lớn ấy, những đau thương vô lý mà da diết ấy, cái thế giới lạ lùng và rùng rợn ấy, ai có ngờ ở trong tâm trí một cậu bé mười lăm mười sáu tuổi. Cậu bé ấy đã khiến bao người ngạc nhiên. Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở giữa thế kỷ hai mươi, nó sừng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật”.

“Điêu tàn” xứng đáng là một trong những điểm mốc lịch sử, một thành tựu đáng kể bậc nhất của Thơ mới. Ở đấy, chúng ta dễ dàng tìm thấy những đặc trưng mỹ học của Thơ mới-thơ ca lãng mạn, với những đặc trưng phổ biến như cái buồn và cô đơn cá nhân, không lý do, mang tầm vũ trụ. Chế Lan Viên đã sáng tạo ra những thi ảnh đẹp và điển hình bậc nhất lịch sử Thơ mới: Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!/ Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh/ Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo (Những sợi tơ lòng); Tôi có chờ đâu, có đợi đâu/ Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?/ Với tôi tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau (Xuân). Nhưng, Chế Lan Viên cũng như những người bạn đồng hành trong Trường thơ Loạn (Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan…) đã đi xa hơn chủ nghĩa lãng mạn, để vắt một chân sang chủ nghĩa siêu thực và chủ nghĩa tượng trưng. Thơ mới như vậy, là một trào lưu không thuần nhất, mà là sự hợp lưu của nhiều nhánh tư trào thơ phương Tây, trong đó, chủ nghĩa lãng mạn chỉ là dòng chính bên cạnh nhiều dòng phụ lưu khác.

Dưới ảnh hưởng của E.Poe (1809-1849, Mỹ), C.Baudelaire (1821-1867, Pháp), thế giới thơ “Điêu tàn” dày đặc những hình ảnh ma mị, những hình thức cảm giác ghê rợn: Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn/ Muôn Ma Hời sờ soạng dắt nhau đi. Qua hệ thống hình tượng ma quỷ, yêu tinh, hồn, máu, xương, tủy, đầu sọ… Chế Lan Viên vừa thử bút trong một trường nghệ thuật mới, đột phá hẳn so với hệ quy ước mỹ học của thơ trung đại, nhưng qua đó, cũng thể hiện tính thời sự và thái độ phản kháng trí thức của mình một cách ngầm ẩn trước thực tại xã hội.

Điểm đáng chú ý trong thơ Chế Lan Viên ở giai đoạn này và cả những giai đoạn sau, đó chính là tính triết lý, ý thức riết róng về sáng tạo thi ca, quan niệm thi ca. Chế Lan Viên thuộc về số ít thi sĩ có ý thức về sáng tạo và quan niệm về sáng tạo rõ ràng, có hệ thống. Do đó, những tiểu luận và lời tựa của ông trong suốt sự nghiệp thường có ý nghĩa lý luận-phê bình văn học sâu sắc. Trong khi đa số thi sĩ sáng tạo bằng cảm xúc, bản năng, thì Chế Lan Viên có sự tìm tòi các lý thuyết, quan niệm của các tư trào văn nghệ phương Tây đương đại, từ đó kết tinh nên quan niệm và phong cách cá nhân của riêng mình. Lời tựa của tập “Điêu tàn” xứng đáng là lời tuyên ngôn nghệ thuật cho phái Trường thơ Loạn ở Bình Định: “Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: Làm thơ là sự phi thường. Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát Hiện Tại. Nó xối trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm Tương Lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý”…

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, hành trình thơ Chế Lan Viên có sự chuyển đường quyết liệt, dù không dễ dàng. Từ mỹ học Thơ mới sang mỹ học chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của thơ ca cách mạng, đó đồng thời cũng là sự chuyển đổi từ ý thức hệ tác giả, từ trí thức tiểu tư sản yêu nước, sang chiến sĩ cách mạng vô sản trên địa hạt sáng tạo văn chương. Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả/ Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn/ Trái cây rơi vào áo người ngắm quả/ Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?). Ở chặng đường nào, điều đặc biệt ở Chế Lan Viên, ông vẫn luôn là người dẫn đường và là người tiêu biểu bậc nhất. Ở mỹ học thơ ca cách mạng vô sản, có thể nói, phong cách thơ triết lý, đậm tính chất suy tưởng của Chế Lan Viên mới được định hình, thăng hoa. Nếu như trong “Điêu tàn”, Chế Lan Viên chưa thực sự tạo ra dấu ấn cá nhân trong tư duy thơ, nếu đem so với Bích Khê hay Hàn Mặc Tử, thì ở giai đoạn thứ hai của hành trình sáng tạo, Chế Lan Viên đã xác lập một vị trí riêng, độc đáo và độc nhất. Những người bạn đồng hành trong Trường thơ Loạn của ông đa phần dừng lại ở mỹ học lãng mạn, tượng trưng hay siêu thực, còn Chế Lan Viên vẫn tiếp tục “nhận đường” và chuyển đổi mỹ học sang một trào lưu mới. Cuộc sống đánh vào thơ trăm nghìn lớp sóng/ Chớ ngồi trong phòng ăn bọt bể anh ơi/ Tâm hồn anh là của đời một nửa/ Một nửa kia lại cũng của đời (Nghĩ về thơ II).

Khởi đi từ tập “Gửi các anh” (1954) và đạt đến đỉnh cao trong tập “Ánh sáng và phù sa” (1960), Chế Lan Viên đã đi trọn vẹn một cuộc hành trình thay đổi nhận thức cả trong thi ca lẫn thực tiễn hoạt động và tư tưởng chính trị. Ý thức hệ vô sản giờ đây là tư tưởng mới, quy định sự chuyển đổi của giọng điệu, thi pháp thơ, phong cách tác giả, tình cảm chủ đạo, hệ thống hình ảnh và cả nhân sinh quan, thế giới quan. Chế Lan Viên như thế, đã “lầm lũi vượt qua sa mạc siêu hình đi từ thung lũng đau thương đến cánh đồng vui”. Tôi viết cho ai? Cho cả mọi người/ Nhưng, rất gần, cho những đứa em tôi/… Cho ai cũ thơ tôi làm ướt áo/ Nay họ về sưởi nắng thơ tôi (Nghĩ về thơ I). Tính triết lý, chiêm nghiệm trong thơ Chế Lan Viên được kết tinh điển hình nhất trong bài thơ nổi tiếng “Tiếng hát con tàu”: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ/ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa/ Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa/ Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

Sau năm 1975, chiến tranh kết thúc, thi sĩ quay về với đời sống thường nhật với nhịp sống hòa bình, riêng tư. Do đó, lúc này âm hưởng sử thi hoành tráng trong thơ Chế Lan Viên được thay bằng giọng suy tưởng, trầm tư, dưới cảm quan của góc nhìn đời tư thế sự. Nhà thơ vẫn duy trì phong cách triết lý, chiêm nghiệm của mình trong những tập thơ quả ngọt cuối mùa như “Hoa trên đá”, “Ta gửi cho mình” và đặc biệt là bộ ba “Di cảo thơ”. “Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng trầm/ Tiếng hát lẫn với im lìm của đất/ Vườn lặng im mà thơm mùi mít mật/ Còn hơn anh rồ giọng hát vang ngân” (Giọng trầm). Dù vui hay buồn, dù lạc quan hay bi quan, đó cũng đều là những cung bậc tình cảm chân thật, đời thường và tất yếu mà mọi con người đều phải trải qua, khi đi trọn vẹn một hành trình sinh-lão-bệnh-tử. Chế Lan Viên vẫn luôn xứng đáng là nhà thơ trí tuệ, triết luận tiêu biểu nhất của thi ca Việt Nam thế kỷ 20. Chế Lan Viên, với tôi, nhà nhân sư của thơ ca Việt Nam hiện đại.

Nhân sư có nguồn gốc từ trong thần thoại Ai Cập. Người dân sông Nile đã xây dựng những bức tượng nhân sư khổng lồ để làm vị thần cai quản cho các kim tự tháp (lăng mộ của các Pharaoh), canh gác những ngôi đền thiêng, hay nắm cửa ngõ vào những thành phố. Nhân sư là vị thần có hình dạng kỳ lạ, có thân sư tử và đầu người, có thể có thêm cánh chim ưng. Nhân sư là biểu tượng của trí tuệ, những hiểu biết lý tính uyên nguyên của tự nhiên. Chế Lan Viên trong sự nghiệp thi ca vắt dài hơn nửa thế kỷ (54 năm), đã viết những vần thơ trí tuệ, triết lý. Dấu ấn và vị thế của ông để lại đối với Thơ mới, thơ ca kháng chiến và thơ ca Việt Nam sau năm 1975 là luôn ở vị trí tiên phong, là tiêu biểu bậc nhất. Một thi sĩ đã luôn quên mình vì nghệ thuật, vì nhân dân, và vì sáng tạo như câu thơ nổi tiếng trong bài “Nhật ký một người chữa bệnh”: Tôi đâu dám tủi buồn quên nhiệm vụ/ Mỗi câu thơ đều phải vượt lên mình.

Nhà thơ Chế Lan Viên, tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20-10-1920, nguyên quán tại xã Thanh An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Ông từng giữ chức vụ Ủy viên Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam.

Chế Lan Viên là tác giả của hơn 30 tác phẩm gồm thơ, văn xuôi, tiểu luận phê bình văn học. Tiêu biểu như: Các tập thơ: “Điêu tàn” (1937), “Gửi các anh” (1954), “Ánh sáng và phù sa” (1960), “Hoa ngày thường – Chim báo bão” (1967), “Những bài thơ đánh giặc” (1972), “Đối thoại mới” (1973), “Hoa trước lăng Người” (1976), “Di cảo thơ” (3 tập, 1992, 1993, 1995)…; các tập văn xuôi: “Vàng sao” (1942), “Những ngày nổi giận” (1966)…; các tập tiểu luận phê bình văn học: “Nói chuyện thơ văn” (1960), “Vào nghề” (1962), “Suy nghĩ và bình luận” (1971), “Bay theo đường bay dân tộc đang bay” (1976), “Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân” (1981)…

Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt I (1996) với cụm tác phẩm: “Ánh sáng và phù sa”, “Hoa ngày thường – Chim báo bão”, “Những bài thơ đánh giặc”, “Đối thoại mới”, “Hoa trước lăng Người”.

6/5/2022

Phan Tuấn Anh

Nguồn: QĐND

Theo https://vanvn.vn/

 

Nguyễn Thành Long còn lại…    

Tôi có thể mạnh dạn nói rằng văn Nguyễn Thành Long đẹp nhất là ở những trang miêu tả thiên nhiên. Khi dựng lên bức tranh thiên nhiên, nhà văn đã đạt được điều mà không phải nhà văn nào cũng có được: đưa cả cái không khí, hơi thở của thiên nhiên vào trang viết.

Thoạt tiên tôi có ý định đặt nhan đề cho bài viết này bằng một cái tên hơi điệu điệu một chút là : Lặng lẽ … Nguyễn Thành Long. Cái tên có vẻ hay hay, được gợi ý từ câu chuyện Lặng lẽ Sa Pa và chứa nhiều sức gợi. Nhưng sau rồi, tôi thấy có gì không ổn. Không, văn Nguyễn Thành Long không phải là một loại văn… lặng lẽ. Văn Nguyễn Thành Long cũng bám sát vào cuộc sống, bám sát các phong trào xã hội, bám sát vào các điển hình con người mới, đặt cả niềm tin vào nó, ngợi ca nó nồng nhiệt, và lắm lúc cũng có vẻ ồn ào. Nghĩ thế, nên thôi không dùng cái nhan đề ngẫu hứng kia nữa. Nhưng nhắc đến Nguyễn Thành Long là nhớ ngay đến Lặng lẽ Sa Pa. Nhắc đến truyện ngắn Việt Nam sau 1945, người ta cũng không thể không tính đến Lặng lẽ Sa Pa. Cứ như thể ông là nghệ sĩ của một tác phẩm vậy. Hiện tượng nhà thơ của một bài thơ, nhà văn của một áng văn trong bất cứ nền văn chương nào, thời nào cũng có. Nghĩa là, trên thực tế thì không phải họ chỉ viết có một (thậm chí viết khá nhiều nữa kia), nhưng chỉ có một tác phẩm ấy thôi vượt qua được sự sàng lọc khắt khe của thời gian và còn lại. Văn chương có cái nghiệt ngã của nó. Thành nhà văn lớn đâu có nhiều. Có được một tác phẩm sống mãi cùng năm tháng cũng đã là quý giá. Nghĩ thế, mới thấy Nguyễn Thành Long cũng là một gương mặt còn lại với bạn đọc hôm nay.

Thế thì đường nét chân thực nhất của chân dung nghệ sĩ Nguyễn Thành Long như thế nào? Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này không hẳn đơn giản. Giới nghiên cứu phê bình đương thời cũng không dành nhiều bút mực lắm cho nhà văn này thì phải. Dưới đây là một phác thảo Nguyễn Thành Long mấy nét.

Đời người phải sống sao cho ra sống

Có thể hình dung sáng tạo của Nguyễn Thành Long trải dài trên hai chặng: chặng thứ nhất, từ 1955 đến 1975; và chặng thứ hai từ 1975 đến khi ông ngừng bút.

Ở chặng đầu, hầu hết là các truyện viết về con người và cuộc sống mới diễn ra trên miền Bắc hậu phương đang xây dựng đất nước. Còn chặng thứ hai, các tác phẩm chủ yếu lại đề cập đến những khung cảnh đoàn viên giữa người Nam kẻ Bắc sau bao năm ly tán do chiến tranh và những số phận đổi đời từ chế độ cũ sang chế độ mới. Thế giới nhân vật của Nguyễn Thành Long trong khung cảnh nào cũng vậy, bao giờ cũng mang trong mình dòng máu kiên trinh. Nếu trong lao động dựng xây đất nước thì đó là lòng hy sinh vô bờ bến của con người đối với đất nước, quê hương. Nếu trong chiến tranh ly tán đó lại là những tấm lòng son sắt hướng về cách mạng.

Về cơ bản Nguyễn Thành Long nhìn con người theo tinh thần cổ tích, nghĩa là tốt xấu rạch ròi, phân minh. Cái nhìn, cách cảm thụ của ông về đời sống thật sáng rõ, dứt khoát. Người đã tốt là tốt đến cùng. Họ là con người hoặc vốn đã mang bản tính tốt, hoặc được cuộc sống rèn luyện trở nên người tốt. Ông ít quan tâm đến loại người xấu, người tiêu cực. Cái nhìn về đời sống của ông là cái nhìn đạo đức, lấy đạo đức truyền thống được bổ sung thêm những phẩm chất của con người mới để lựa chọn nhân vật, soi xét nhân vật. Tác phẩm nào cũng vậy. Có thể lấy Sáng mai nào, xế chiều nào làm ví dụ. Câu chuyện kể về một nữ văn sĩ đi thực tế tại một nhà máy, cùng với nỗi trăn trở về nghề nghiệp của mình là nhận thức sâu thêm về hình ảnh người cán bộ quản lý, giám đốc nhà máy tên là Nghiên. Người cán bộ này mang những phẩm chất tốt đẹp: vừa giỏi chuyên môn, vừa năng động, biết cách quản lý, hết lòng vì việc chung mà chịu nỗi thiệt thòi riêng, được nhân viên, công nhân yêu quý. Bên cạnh đó cũng có những loại cán bộ như Lê Thực, vì hám lợi hám danh sinh lòng đố kỵ, rồi rắp tâm làm hại những người chính trực ngay thẳng như giám đốc Phước…

Mô hình người cán bộ trong những năm tháng này là “gác tình riêng vì nghĩa lớn”, hy sinh quyền lợi cá nhân, tất cả vì tập thể. Các nhân vật của Nguyễn Thành Long cũng y như vậy. Dĩ nhiên, ông không dừng lại ở chỗ miêu tả thành tích theo kiểu người tốt việc tốt, mà đã biết phát hiện ra cả những thiệt thòi mất mát của con người một khi chỉ sống và hành động theo cái phương châm duy ý chí trên kia. Nhân vật Nghiên chẳng hạn. Hậu quả của cách sống ấy là: vợ bỏ đi học nước ngoài, bản thân luôn mang tâm trạng buồn bã, khối u trong người giờ đã phát thành bệnh buộc phải vào bệnh viện. Thực ra, nhà văn chưa phải đã biết đề cập đến những mất mát thua thiệt ấy bằng ý thức phản tỉnh. Nhưng bằng mẫn cảm nghệ sĩ, một cách tự nhiên nhất, ông đọc ra được ít nhiều cái bi kịch riêng – chung của con người. Có lẽ, ngày hôm nay đọc lại những trang viết như trên, mới có thể cảm nhận thấy thêm cái màu sắc bi kịch trong sự hy sinh ấy. Nó khác hẳn với tâm thế đọc ngày xưa, âm hưởng chủ đạo của văn học là ngợi ca, cảm phục và ngưỡng mộ. Đây là một vấn đề thuộc tâm lý tiếp nhận, thể hiện một phần nào quan điểm và cách cảm thụ về đời sống và nghệ thuật của bạn đọc ngày hôm nay. Khi mà quan niệm về giá trị thay đổi, thế tất dẫn đến cách tiếp nhận nghệ thuật cũng thay đổi theo.

Truyện Hạnh Nhơn được viết năm 1981 cho ta biết thêm về một nhân vật như vậy. Cô gái có tên là Hạnh Nhơn vì mang một niềm tin thiêng liêng là người cha sẽ trở về nên cô kiên quyết không di tản, khước từ lời rủ rê của người yêu cô. Sau khi gặp “ba”, cô đã hoàn toàn yên tâm ở lại nhà máy, và là một cán bộ khoa học trẻ đầy nhiệt huyết, được đông đảo cán bộ công nhân nhà máy khâm phục và ủng hộ. Còn nhân vật tôi cũng vậy, do tin rằng mẹ của Hạnh Nhơn – người bạn của em gái mình ngày nào, đã tin tưởng trao gửi đứa con gái bé bỏng nhờ mình che chở, nên anh không được quyền từ chối, cũng như không được quyền tước đoạt niềm tin thiêng liêng của cô gái rằng anh chính là ba của cô. Đấy, câu chuyện hướng vào những con người tốt, với những ý nghĩ tốt, cách ứng xử tốt, vì xuất phát từ tình thương cũng có, mà vì trách nhiệm của một người làm gương cũng có. Nhiều nhân vật của Nguyễn Thành Long cũng như của nền văn học cách mạng sau 1945 đều mang tính cách nêu gương như vậy – những tấm gương để soi chung.

Tất cả những con người tốt đẹp mà nhà văn lựa chọn và miêu tả trên kia đều thấm nhuần một tinh thần khảng khái nhuốm chất lãng mạn của cả một thế hệ những năm sau 1945, đó chính là tinh thần của Paven Coosaghin trong Thép đã tôi thế đấy : “Đời người chỉ sống có một lần…”. Nhân vật tôi trong Hạnh Nhơn trước khi đi xa đã chép câu nói nổi tiếng ấy vào trang sổ của Hạnh Nhơn. Ngày ấy, những trao gửi, hy vọng, tin yêu như thế là có thật.

Cắt nghĩa cho cách nhìn, cảm thụ và lựa chọn nhân vật của Nguyễn Thành Long như trên kia đã thấy, có lẽ phải đi từ một nhận thức: nhà văn của chúng ta đặt cả niềm tin, tình yêu vào con người, vào chế độ này. Tin yêu và trân trọng con người là cái căn bản có ý nghĩa quyết định để nhà văn sáng tạo. Còn tin yêu vào thời thế thì không phải là lý do tiên quyết và không phải ai cũng có được. Nhưng nhà văn Nguyễn Thành Long lại là người tha thiết với thời cuộc, tha thiết với các chủ trương và các phong trào, tin vào viễn cảnh tươi sáng mà những nhà cách mạng lãng mạn nghĩ ra. Trong bài ký Bình Định quê tôi được viết ngay sau sự kiện giải phóng miền Nam ít tháng, ông viết : “Riêng tôi có một nhận xét này: ngồi ở Bình Định nghe nói chuyện phục hồi kinh tế, xây dựng tương lai, có cái gì thật giống ở miền Bắc những khi theo anh em Uỷ ban nông nghiệp đi các địa phương giải đáp cho ra “cây gì”, “con gì” và lấy làm lạ mãi về sự nhuần nhị tài tình từ công việc chiến tranh chuyển sang công việc hoà bình”. Ở một bài ký khác, ông cũng hào hứng bộc bạch: “Không phải ở đất nước nào người ta cũng khó lòng phân biệt sự thật và những câu chuyện thần tiên. Người ta chỉ nhầm lẫn như vậy ở những nơi nào phẩm chất con người thật là cao đẹp” (Dọc dài đất nước, Tết 1979).

Ngày hôm nay, nhìn lại quãng những năm bảy chín tám mươi của thế kỷ XX vừa qua, không thể không thừa nhận rằng đất nước chúng ta đã rơi vào tình trạng kiệt quệ, đói khổ, thiếu thốn vô cùng. Những nhà hoạch định chính sách quốc gia cũng bộc lộ sự lúng túng, vừa làm vừa mầy mò, cái đúng cái sai khó có thể lường. Ấy thế mà nhà văn của chúng ta vẫn ca lên những lời trên mây như vậy kể cũng lạ. Không phải ông không chân thành. Nhưng sự chân thành ấy rõ ràng là có chút dễ dãi. Đại đa số các tác phẩm thuộc nền văn nghệ cách mạng ít nhiều rơi vào sự dễ dãi ấy. Nhưng theo tôi nghĩ, ở đây có hai loại: chân thành và thiếu chân thành. Sự thiếu chân thành rất gần với sự nói dối. Tôi tin Nguyễn Thành Long là người trong bản tính không biết nói dối. Nhà văn đem nguyên cả cái cả tin ấy vào trang viết.

Nhưng như một ai đó nói: Nếu không tin thì tôi biết sống bằng gì. Nhà văn Nguyễn Thành Long vẫn cứ tin, cứ sống và viết với niềm tin về  một cuộc sống sớm đổi thay. Chẳng có gì đáng trách móc ở chỗ này cả. Một thời nó thế. Âu cũng là “cái thời lãng mạn” của một thế hệ những người cầm bút không dám, không được sống hết là mình, đa số bị cuốn theo cái động hướng chung của thời cuộc.

Tôi lại nghĩ thêm: hình như cái nghĩa khí miền Trung nơi con người tác giả có góp phần chi phối cách lựa chọn và miêu tả loại nhân vật nêu gương kể trên. Đức tính này thể hiện cái nhìn rạch ròi và có phần nghiêm khắc về nhân cách con người. Trong mọi hoàn cảnh, con người vẫn biết giữ và cần phải giữ lòng ngay thẳng, lương thiện, cốt cách của mình, và một khi đã tin theo thì thuỷ chung cho trọn.  Các nhân vật yêu dấu của Nguyễn Thành Long đều noi theo cái tinh thần nghĩa khí của quê hương Bình Định thượng võ, ít nhiều mang cái cốt cách của các đấng bậc trượng phu trong các vở tuồng Trung Bộ. Sinh ra trong một gia đình cách mạng, năm 1954 Nguyễn Thành Long tập kết ra Bắc. Bước vào nghề viết từ năm 1955 với tác phẩm Bát cơm cụ Hồ. Từ bấy trở đi, ngòi bút của ông tận tuỵ với đời sống và lý tưởng cách mạng. Cái nghĩa khí miền Trung được ông nuôi dưỡng bền bỉ, cộng với những nhận thức mới về cách mạng, cả hai đã nâng ngòi bút của ông về phía ngợi ca.

Mở hồn ra Giữa trong xanh…

Tôi có thể mạnh dạn nói rằng văn Nguyễn Thành Long đẹp nhất là ở những trang miêu tả thiên nhiên. Khi dựng lên bức tranh thiên nhiên, nhà văn đã đạt được điều mà không phải nhà văn nào cũng có được: đưa cả cái không khí, hơi thở của thiên nhiên vào trang viết. Xin bạn đọc dừng lại để thưởng lãm vài đoạn văn Nguyễn Thành Long.

Đây là cảnh biển cả trong cái nhìn của nhân vật : “Cô gái kêu lên một tiếng kinh ngạc. Cô vẫn giữ từ bé, giữ mãi như người ta giữ một lẽ sống của đời mình, hình ảnh tuyệt đẹp, khoảng trong xanh bao la của trời nước quê hương bằng pha lê màu ngọc bích, mịn và nuột nà, vang ngân và đắm đuối. Nhưng cô chưa hề tận mắt một mình bắt gặp cái cảnh huyền ảo như đêm trăng giữa trùng khơi này, trời biển đông hừng một màu trắng bạc, cái màu trắng bạc chói loà như có cả tiếng nhạc, xoá tất cả mọi ranh giới trong lòng ta. Ta không còn cảm giác đang bơi với thuyền, mà đang đi lên, đi lên lên mãi cái gì xán lạn lắm, cao lắm” (Giữa trong xanh).

Còn đây là cảnh thành phố Đà Lạt với vài nét vẽ ngôn từ điêu luyện: “Thành phố là một chiếc nhẫn nạm kim cương mỗi mặt đá một màu đặt trong một cái hộp xanh sẫm làm bằng rừng thông già. Mỗi lần ngửng lên, ta lại kinh ngạc, ta kinh ngạc hoài vì cái đẹp khêu gợi của những cái chao lá thông chúng tung những hình chóp ánh sáng trắng lên trời, màu trắng rỡ đọng trong lá xối xuống toả khói và hoà tan trong màu xanh ngọc lạnh của da trời. Những hồ nước vuông vắn, phẳng lì không chút gợn dưới trời tháng bảy, chúng hơi vắng vẻ và không gắn nhiều vào đời sống thường nhật như những hồ nước ở Hà Nội, nhưng chúng thật là những nét bút không thể thiếu cho sự hài hoà của bức tranh Đà Lạt, lấp lánh trong bóng đêm, thu bớt ánh sáng ban ngày. Và hoa, cả Đà Lạt là một biệt thự lớn có đủ các thứ hoa, dơn, lila, mácgơrit, bêgônha, thược dược đủ màu sắc lấp ló ú oà khắp nơi, giắt trên các lối đi, các hàng rào, các khu vườn, các cửa sổ, các mái nhà” (Đà Lạt hoa hương). Tôi dám chắc rằng đây là một trong số không nhiều áng văn miêu tả đẹp nhất về Đà Lạt mến yêu. Trong các trang văn của Nguyễn Thành Long có không ít những trang miêu tả thiên nhiên đẹp đẽ, tinh tế như thế. Ngay cả trong Lặng lẽ Sa Pa cũng vậy. Đoạn miêu tả vẻ đẹp của rừng thông được xem là đỉnh cao của văn miêu tả thiên nhiên. Khi miêu tả phong cảnh, ngòi bút Nguyễn Thành Long thường ưu tiên cho ánh sáng, những ánh sáng tinh khôi, rung động, có chút gì bí ẩn của thiên nhiên vĩnh hằng. Phải có cách cảm thụ màu sắc theo kiểu hoạ sĩ mới có được những nét bút tài hoa, tinh tế đến vậy. Văn của Nguyễn Thành Long bao giờ cũng hân hoan những ánh sáng muôn màu – hiểu theo nghĩa chân thực nhất của hình ảnh này.

Đọc văn Nguyễn Thành Long thấy hầu hết mỗi truyện được viết ra là kết quả của một chuyến đi cụ thể theo suốt Dọc dài đất nước. Điều đó không chỉ được thể hiện trong nội dung truyện, mà còn bằng những chỉ dẫn ngày tháng năm, địa chỉ rõ ràng ở phần kết truyện. Nó nói với ta hai điều: thứ nhất, vào thời điểm mà Nguyễn Thành Long viết truyện, nền văn nghệ của ta đang đặc biệt đề cao cách thâm nhập trực tiếp của nhà văn vào cuộc sống được gọi là “đi thực tế”. Ai không đi thực tế, tức là về sống trực tiếp cùng với bà con nông dân, công nhân, bộ đội … thì bị coi là xa rời quần chúng, xa nhân dân, là rơi vào “tháp ngà” tiêu cực. Nếu ai hăng hái nhập cuộc về cơ sở, người đó được tuyên dương. Nguyễn Thành Long xem ra cũng là người thích đi, hăm hở đi thực tế. Ông không  chỉ coi đi thực tế là nhiệm vụ mà quan trọng hơn là cái cách lấy vốn sống, lấy ý tưởng, lấy hình mẫu nhân vật …Thứ hai, ông là người yêu đất nước, yêu mọi miền quê xứ sở, cảm thấy có cái thú được đi, được nhìn ngắm và thưởng ngoạn. Yêu nên muốn đi nhiều. Đi nhiều nên lại càng yêu. Nguyễn Thành Long là thế. Ông chẳng qua cũng là người đồng bệnh với anh chàng  mắc bệnh thèm người trong Lặng lẽ Sa Pa.

Nhờ đi vào cuộc sống, đi cần mẫn và hào hứng khắp đất nước quê hương, nên nhà văn có những trang văn rất đẹp, gọi ra được những cái thơ mộng, tình tứ riêng của mỗi vùng miền. Không thua kém bất cứ nhà văn nào, văn Nguyễn Thành Long có những trang miêu tả thiên nhiên đất nước trăm miền bằng những lời lẽ gấm hoa tinh mỹ. Lao động ngôn từ ở những trang văn như thế thật đáng nể.

Của tin còn một chút này …

Ấy là tôi muốn nói đến Lặng lẽ Sa Pa. Đây là một câu chuyện ngợi ca những con người đã hy sinh một cách vô tư và thầm lặng những tháng năm tuổi trẻ cho đất nước. Nhân vật chính là chàng trai làm nghề khí tượng trên đỉnh núi cao heo hút và đặc biệt vắng người. Tác giả để cho nhân vật toàn nói những lời “lý tuởng” của thanh niên thời ấy. Cô gái kỹ sư lâm nghiệp tuy không nói nhưng cũng nghĩ toàn những điều lý tưởng. Các nhân vật đều rơi vào tình trạng đơn giản, một chiều, góp vào giọng điệu ngợi ca chung của một thời.

Tuy thế, vẫn phải thừa nhận rằng đây là một câu chuyện đặc biệt có duyên. Hễ ai đã một lần đọc nó chắc không thể nào quên được. Hoá ra câu chuyện “ăn nhau” ở mấy điểm khá độc đáo: 1 – tình huống truyện ; 2 – một số tình tiết ấn tượng ; và 3 – không khí truyện.

Nói về tình huống truyện, nhà văn Nguyễn Thành Long cho rằng nó chính là những “moment” (khoảnh khắc) cuộc sống “được nâng cao thêm mức mà ta muốn” (dẫn theo Các nhà văn nói về văn, tập hai, NXB Tác phẩm mới, 1986). Với Lặng lẽ Sa Pa, tình huống truyện là cuộc gặp gỡ có phần khá tình cờ, độc đáo giữa nguời hoạ sĩ già, cô gái kỹ sư nông nghiệp và anh thanh niên làm nghề khí tượng trên núi cao. Người hoạ sĩ già thì đi vẽ. Cô kỹ sư lần đầu tiên đi nhận công tác trên miền núi. Còn anh thanh niên quanh năm sống trên núi cao một mình nên được gọi là “người cô độc nhất thế gian”. Mỗi người theo đuổi một công việc riêng, vốn không quen biết nhau, tình cờ lại gặp nhau tại một nơi núi cao hẻo lánh. Chỉ nội điều này thôi đã hứa hẹn nhiều thú vị. Thêm nữa: anh thanh niên 27 tuổi này chưa vợ con. Cô gái lần đầu bước vào môi trường công tác, lại vừa chủ động chia tay một mối tình chật hẹp, vướng víu, mà cô tự nhận là lầm. Người hoạ sĩ già đi chơi một chuyến miền Tây trước khi có một lễ tiễn về hưu. Tình thế nhân vật được bày đặt cũng đã lại hứa hẹn nhiều điều phía trước. Họ lại chỉ được gặp nhau trong nửa tiếng đồng hồ, và ai cũng hiểu rằng chuyện gặp lại nhau là điều cực hiếm. Phải nói ngay rằng, bố trí để cho các nhân vật gặp nhau trong một thời gian, địa điểm như vậy, tức là tác giả đã có trong tay một moment rất đắc địa.

Công việc chỉ còn là triển khai cho các nhân vật có chi tiết, có đời sống.

Nguyễn Thành Long sinh ngày 16 tháng 6 năm 1925, quê gốc ở làng Kim Bồng, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông tham gia hoạt động văn nghệ trong những năm kháng chiến chống Pháp ở Nam Trung bộ. Sau năm 1954, tập kết ra Bắc, ông chuyển về sáng tác và biên tập ở các báo chí, nhà xuất bản, có thời gian còn tham gia dạy ở Trường viết văn Nguyễn Du. Ông mất ở Hà Nội ngày 6 tháng 5 năm 1991. Tác phẩm chính: Bát cơm Cụ Hồ (1952), Chuyện nhà chuyện xưởng (1962), Những tiếng vỗ cánh (1967), Giữa trong xanh (1972), Nửa đêm về sáng (1978), Lý Sơn mùa tỏi (1981), Sáng mai nào, xế chiều nào (1984), Lặng lẽ Sa Pa, Hạnh Nhơn, Núi Đỗ Quyên… Ông đã được nhận Giải thưởng Phạm Văn Đồng với tập truyện kí Bát cơm Cụ Hồ (1953). (Tranh của họa sĩ Hoàng A Sáng)

Như đã thấy, với anh thanh niên này có nhiều điều thật lạ. Chi tiết anh lăn cây gỗ xuống ngang đường để được gặp người, để cho đỡ “thèm người” khá gây ấn tượng. Anh cho biết công việc ban đêm của anh với cái lặng im ghê người trong những đêm bão tuyết. Chi tiết anh vô tình lập công vì phát hiện ra một đám mây khô. Còn cơ ngơi của anh cũng là một thế giới lạ lẫm và thú vị: căn phòng ngăn nắp, bàn đọc, giá sách, trồng và chăm sóc các loài hoa, nuôi gà đẻ trứng … Nhìn vào chỗ ăn ở này, thấy anh là người căn cơ, chu đáo, yên tâm gắn bó lâu dài với công việc, nó khác hẳn với cách sống tạm bợ chờ ngày rời bỏ. Ngần ấy chi tiết cũng đã đủ để tạo một ấn tượng khá đậm nét.

Với cô gái cũng thế, trong sự xúc động tự nhiên trước một tấm lòng, một cảnh đời, cô làm như vô tình  quên đã cố ý để lại chiếc khăn mùi soa cho anh. Còn anh con trai đó vô tâm đến nỗi tưởng người ta quên thật nên đã đuổi theo để trả. Tình tiết này có cái vẻ ý vị rất đáng yêu. Nó thuộc về tuổi trẻ – những con người vừa mẫn cảm, vừa nâng niu những xúc cảm thánh thiện và lại giàu tự trọng. Chi tiết ấy chưa nói được gì về một quan hệ tình cảm, mà chỉ như một nỗi vu vơ hư thoảng trong đời. Nó như làn hương dìu dịu của một loài hoa rừng nào vậy. Nó phả vào câu chuyện một cái không khí mơ màng lặng lẽ. Tôi nghĩ, nắm bắt và miêu tả cho thật chính xác, thật sống động những chi tiết rất tinh tế như vậy không phải dễ.

Điều thành công hơn cả của tác phẩm này là ở chỗ nhà văn đã tạo ra được một không khí nghệ thuật ủ ướp toàn tác phẩm, trong mỗi nhân vật, mỗi chi tiết, trong từng câu chữ. Cái không khí đó là gì? Có thể gọi thành tên được không? Có thể nói, bao trùm lên toàn câu chuyện là một không khí lặng lẽ mơ màng sâu lắng. Lặng lẽ trong khung cảnh. Lặng lẽ trong suy nghĩ. Lặng lẽ trong sự đổi thay của tâm hồn nhân vật. Lặng lẽ trong cái bắt tay tiễn biệt. Lặng lẽ trong ánh nhìn … Tất cả đều lặng lẽ. Cô gái trong suốt cuộc gặp gỡ tay ba ấy không hề nói một lời nào (duy nhất một lần được hỏi: “Cũng đoàn viên phỏng?”, “Vâng – Cô gái sẽ nói.”, cũng chỉ sẽ nói thôi), mà cô chỉ theo đuổi những ý nghĩ nội tâm, một thứ lặng lẽ đã có từ lúc trước “cứ nhìn ra ngoài cửa xe, mắt lặng lẽ mà say mê”. Người hoạ sĩ già cũng rất kiệm lời. Duy chỉ có một người hơi ồn ào đó là anh thanh niên khí tượng. Anh ấy nói suốt từ đầu đến cuối. Nói do yêu cầu của người hoạ sĩ già. Nói cũng do một nhu cầu tự nhiên của anh là muốn được giãi bày, thổ lộ với người khác, nhất là một người như anh, bấy nay chỉ được sống thầm với cây lá mây trời, giờ mới lại được gặp người, nói cho hả bệnh thèm người. Và cái sự nói nhiều đó chỉ khuấy động được chừng 30 phút để rồi sau đó nơi anh đang đứng lại càng lặng lẽ – cái lặng lẽ thăm thẳm muôn đời của thượng ngàn.

Để làm nên sự lặng lẽ mơ màng bao trùm ấy còn có thêm một nhân vật nữa:”nhân vật thiên nhiên”. Bức tranh núi rừng ở đây được miêu tả mới đẹp, mới tinh khiết làm sao: “… cảnh trước mặt bỗng hiện lên đẹp một cách kỳ lạ. Nắng bây giờ bắt đầu len tới đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe”. Một khung cảnh đầy ánh sáng, nhung tuyết, mong manh …

Tôi tỉ mẩn thống kê, thì ra trong tác phẩm này những từ như lặng lẽ, im lặng hoặc gần nghĩa như vậy xuất hiện khá nhiều : lặng lẽ Sa Pa, mắt lặng lẽ mà say mê, nín bặt (vì cảnh trước mặt hiện lên đẹp một cách kỳ lạ), anh thanh niên mời chén trà “yên lặng đặt trước mặt cô, trong cái lặng im của Sa Pa, trong cái vắng vẻ vòi vọi, hai người (…) im lặng rất lâu”, và kết thúc tác phẩm cũng lại bằng một quãng im lặng mênh mang : “Cô gái liếc nhìn bác già một cái rất nhanh, tự nhiên hồi hộp, nhưng vẫn im lặng”. Điều này chắc không phải ngẫu nhiên. Tất cả, từ những biểu hiện bên ngoài đến những cảm xúc nội tâm của con người hoà hợp dịu dàng với khung cảnh tạo nên một không khí lặng lẽ mơ màng sâu lắng. Không khí đầy chất thơ lãng mạn ấy là kết quả của một sức mạnh nghệ thuật tổng hoà, rất khó có thể tách bạch ra được. Tôi cho rằng đây là chỗ thành công nhất của tác phẩm. Vào quãng những năm trước 1945, nhà văn Thạch Lam đã đặc biệt lưu ý đến “không khí bao bọc xung quanh nhân vật”. Nhà văn Nguyễn Tuân khi viết về Tắt đèn cũng đã đặc biệt tinh nhạy chỉ ra cái không khí oi ngột bao trùm tác phẩm … Những nhà văn tinh tường nghề nghiệp bao giờ cũng quan tâm đến cái không khí của truyện – không khí nghệ thuật. Nguyễn Thành Long đã thực sự thành công ở điểm này trong Lặng lẽ Sa Pa. Nhờ thế mà câu chuyện có cái duyên ý vị làm xao lòng người đọc từ bấy đến nay.

Tuy nhiên cái chất lặng lẽ  trong tác phẩm  được bố trí ngay từ nhan đề truyện, lại được triển khai suốt trong quá trình câu chuyện, đã làm nên một tương quan giữa khung cảnh thiên nhiên, cuộc gặp gỡ tình cờ, và tâm hồn cùng phẩm chất nhân vật. Cho nên cái chất lặng lẽ này còn được hiểu như một ẩn dụ: sự hy sinh thầm lặng của con người vùng cao trong những năm tháng dựng xây đất nước. Tác giả cũng không có ý định giấu giếm ý đồ nghệ thuật này, thậm chí còn hơi bị lộ nữa kia. Bởi thế, công bằng mà nói rằng cái hiệu quả  nghệ thuật  chưa được như mong muốn, chưa hoàn toàn thuyết phục bạn đọc.

Hạt ngọc nào chẳng ít nhiều tỳ vết. Dẫu sao đi nữa, Lặng lẽ Sa Pa vẫn là một dấu son nghệ thuật đáng trân trọng của một đời cầm bút.

Nguyễn Thành Long suốt đời thuỷ chung với thể loại truyện ngắn. Thỉnh thoảng ông có viết ký nhưng không nhiều. Trong quá trình sáng tạo, cũng đã có lúc ông suy tư, đúc kết kinh nghiệm viết truyện ngắn, và phát biểu ở một vài chỗ. Có lần ông nói: “Truyện ngắn phải mang dấu ấn của tác giả, biểu hiện sự tồn tại của tác giả. Dấu ấn ấy trước hết là tấm lòng đằm thắm của anh, sau đó là bút pháp, giọng nói, nhịp điệu câu chuyện của anh, những “cái áo”, “làn da” của tấm lòng tác giả. Nếu không có gì để nói, làm sao anh nâng nổi ngòi bút của anh cho được” (Các nhà văn nói về văn, sđd, tr.106). Thật vậy, trong suốt hành trình sáng tạo, quả tim Nguyễn Thành Long lúc nào cũng yêu tin và gắn bó nồng hậu đối với đất nước, con người.

Cũng phải thành thực mà nói rằng, đại đa số những áng văn thuần ngợi ca của Nguyễn Thành Long về “cái thời lãng mạn” (Nguyễn Khải) thực sự đã không chứng minh được sức sống của chúng trong lòng bạn đọc hôm nay. Tuy nhiên, trong đó vẫn còn lại một tác phẩm độc sáng về một vùng cao Sa Pa ngàn đời ấy. Hẳn là, trong tình yêu của người dân nước Việt dành cho Sa Pa hôm nay, tôi tin rằng có một phần là nhờ áng văn Lặng lẽ Sa Pa. Nên chăng, Sa Pa có một con đường, một trường học nào đó mang tên Nguyễn Thành Long thì hay biết mấy. Sự khoe hương khoe sắc của vùng du lịch Sa Pa hôm nay sẽ đẹp hơn, có tư thế văn hóa hơn nếu biết bắt đầu đi từ những việc tưởng như bé nhỏ như vậy.

Cự Lộc, 25/7/2005

Ngô Văn Giá

Theo https://vanvn.vn/

 

Nhà văn Lý Văn Sâm: Một căn cước văn hóa Đồng Nai – Đông Nam Bộ

Nhà văn Lý Văn Sâm sinh ngày 17.02.1921, tại làng Tân Nhuận, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (cũ) – nay thuộc xã Bình Long, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và mất ngày 14.9.2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông còn có một số bút danh khác như: Đào Lê Nhân, Bách Thảo Sương, Ánh Minh… Ông cùng thế hệ với các nhà văn: Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Viễn Phương, Dương Tử Giang, Vũ Anh Khanh, Kiên Giang, Thẩm Thệ Hà, Hoàng Văn Bổn, Huỳnh Văn Nghệ…

Tuổi thiếu thời ông đi nhiều nơi để theo học, từ trường tỉnh ở Biên Hòa, Đồng Nai đến trường Pétrus Ký, Sài Gòn rồi ra Quốc học Huế. Lớn lên ông có thời gian sống và làm việc ở Sài Gòn trong ngành an ninh và ở Chiến khu D, R. Từ thời kháng chiến chống Mỹ đến trước khi ông từ giã cõi đời,  nhà văn Lý Văn Sâm từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác nhau như: Chánh văn phòng Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang tỉnh Thủ Dầu Một, Trưởng đoàn Văn công miền Nam, chủ bút báo Chiến thắng của Quân giải phóng miền Nam (1956 – 1958); Chính trị viên Đoàn Văn công giải phóng, thư ký toà soạn báo Văn nghệ Giải phóng, Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật Bộ Văn hoá Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Tổng thư ký đầu tiên của Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam… thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam (1959). Ông có nhiều thời gian sống và làm việc ở những địa phương ngoài quê hương Đồng Nai. Khi nghỉ hưu, ông lại về sống ở quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh và mất ở đấy.

Nhà văn Lý Văn Sâm được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt II, năm 2006.

1. Cốt cách con người nhà văn Lý Văn Sâm, cũng như trong các sáng tác văn chương của ông, đặc biệt là mảng “Truyện đường rừng” được viết từ đầu những năm 40, thế kỷ trước đã xác lập ở con người này những “mã văn hóa” đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ nói chung, và đặc biệt là vùng núi rừng Đồng Nai nói riêng, nơi ông từng sinh ra và có những tháng ngày tuổi thơ dữ dội và nghiệt ngã ở đấy. Có lẽ vì thế, khi nhắc đến nhà văn Lý Văn Sâm thì phần lớn người ta thường nghĩ ông là một trong số những người xứng đáng nhất mang tấm thẻ “Căn cước văn hóa” Đồng Nai – Đông Nam Bộ.

Có lẽ với một tuổi thơ không mấy yên ả, thậm chí là rất sóng gió, cô độc và buồn tẻ, đã hình thành nên cốt cách một cậu bé Lý Văn Sâm, người đã sinh ra và lớn lên ở miền đồng rừng, không trộn lẫn vào đâu được: vừa gan lì, trơ trọi, không sợ bất cứ ai, cái gì; vừa giàu ước mơ bay bổng lãng mạn; vừa chất chứa khí tiết ngang tàng, nhưng cũng giàu lòng vị tha, nhân ái.

Sinh thời ông cho hay: “Đến năm 7 tuổi, tôi mới có dịp ra thị trấn Tân Uyên, nên từ nhỏ tôi đã có tâm hồn ẩn dật. Tôi cứ ngồi bó gối ở trong nhà bà ngoại, thấy xe hơi chạy, ao ước có lúc mình được ngồi trên chiếc xe đó. Ông già tôi làm kiểm lâm và lãnh tiền xâu trả cho công nhân đốn cây.

Từ nhỏ, tôi ở với bà ngoại, không có điều kiện trò chuyện với ai. Tôi trở thành cậu bé hết sức cô đơn. Một lần nhà bị cháy, gia đình ngoại tôi chạy từ rừng về, tưởng tôi bị chết cháy trong đó rồi. May có cô câm giúp việc tên là Quơn la ú ớ rồi nhảy vô cứu tôi. Nếu không có cô ấy thì tôi chẳng còn. Lúc 7 tuổi, tôi đã biết tiếng Tây do cha tôi dạy. Hoàn cảnh sống ở chốn rừng núi âm u làm tôi hay bất mãn, chống sự bất công của xã hội và thích ẩn dật”*.

“Tôi bắt đầu quen ăn cơm Mọi, uống nước mạch và cùng các ủ rũ hát đối đáp dưới trăng rằm. Đêm đêm, tôi thức bên đèn giữa tiếng ngáy của Sơn Lâm say giấc và để cho lòng mình chảy thành mực trên giấy trắng” (Thâm u và cao cả)

Với một dáng vẻ bề ngoài nhỏ thó, lầm lì ít nói, chỉ biết làm và làm. Vậy mà bên trong con người ấy lại chất chứa một tấm lòng nhân văn cao cả, một tâm hồn lãng mạn phiêu bồng, một ý chí kiên cường khác lạ, một nghị lực vượt khó phi thường. Tính cách của nhà văn Lý Văn Sâm giống như những cái cây giữa đại ngàn đồng rừng Biên Hòa xưa: tự nhiên mọc và tự nhiên phải sống, dù cho thiên nhiên có khắc nghiệt đến mấy, dù cho điều kiện vật chất có khó khăn và túng thiếu đến đâu cũng không hề lay chuyển được ý chí tồn tại của cậu bé Lý Văn Sâm. Chính cậu bé Sâm ấy, ngay từ thuở mới lọt lòng đã vô thức khẳng định bản ngã tồn tại của chính mình trước khi có thể làm được một việc gì đấy, dù rất nhỏ cho mình, người thân, cộng đồng và sau là để lại cho đời. Để rồi sau này lớn lên thành anh bộ đội, người chiến sĩ công an, hay nhà quản lý văn hóa… ở đâu, công việc gì ông cũng đều làm và làm tốt khi được cấp trên tin cậy giao phó.

Căn cước văn hóa là những biểu hiện đặc trưng về văn hóa của một địa phương, vùng miền nào đấy trong tương quan so sánh và khu biệt với những địa phương và vùng miền khác. Hay nói một cách cụ thể hơn, căn cước văn hóa là những mã văn hóa riêng của từng vùng miền, địa phương.

Ở nước ta có nhiều vùng miền địa lý và lịch sử mang những mã văn hóa độc đáo, riêng biệt như: Khu vực đô thị – thành phố, khu vực Tây Nguyên, khu vực duyên hải Miền Trung, khu vực miền núi phía Bắc, khu vực đồng bằng sông Hồng, khu vực Thanh – Nghệ – Tĩnh, khu vực Đông Nam Bộ, khu vực Tây Nam Bộ. Trong các khu vực ấy, xét về khía cạnh văn hóa, có thể được chia ra làm nhiều tiểu khu vực. Ví như khu vực văn hóa đô thị – thành phố có các tiểu khu vực như: Thành phố Hồ Chí Minh, Cố đô Huế, Thủ đô Hà Nội… Tuy cùng thuộc về vùng văn hóa đô thị- thành phố, nhưng ở ba thành phố này lại có những mã văn hóa rất riêng mà các thành phố khác không có…

2. Căn cước văn hóa của một nhà văn không chỉ nằm ở đặc tính cá nhân, lối sống, cách ứng xử của anh ta với thiên nhiên, con người và xã hội trong đời sống thường nhật của nhà văn ấy. Mà ở chỗ sâu xa nhất nó còn được thể hiện ở cốt cách của cả hệ thống nhân vật trong tác phẩm mà nhà văn đã dày công hoá thân vào, xây dựng nên. Cốt cách của hệ thống nhân vật ấy của nhà văn Lý Văn Sâm là một, là duy nhất, không trộn lẫn với bất cứ ai, nhưng vẫn mang đậm những mã văn hóa của con người Đồng Nai nói riêng và Đông Nam Bộ nói chung.

Một ông “Con trời” chả giống ai: “Gã còn trẻ lắm. Mặt tròn, mắt sáng, đôi môi lúc nào cũng dành sẵn một nụ cười. Màu da ngâm ngâm đen, láng như đồng, tỏ rằng gã có rất nhiều sức mạnh. Gã mặc theo kiểu những người đi săn: đầu đội nón vành lớn, chân đi ủng da đen. Trông gã oai nghi, hùng dũng lắm”. (Kòn – Trô).

Qua cuộc đối đáp giữa gã và cô gái tên Phụng, một nữ thợ săn thiện nghệ, dần dần tung tích và tính cách của ông “con trời” này mới được lộ ra là chính người đang tiếp chuyện với mình: “Nghe Phụng hỏi, gã mỉm cười, hỏi lại Phụng:

– Bà có nghe người ta nói đến tên Kòn- Trô lần nào không?

Phụng ngạc nhiên, trả lời:

– Có! Tôi vừa tới đây đã nghe người ta nói ở vùng này có một tướng cướp lợi hại tên là Kòn- Trô thường hay đón ô-tô du khách để đoạt tiền, hoặc bắt cóc người ta. Nhưng thưa ngài, tại sao ngài lại hỏi tôi câu ấy?

– Vậy thì bà hiện đang nằm trong đại trại của Kòn – Trô.

Phụng đứng phắt lên, trợn mắt:

– Ngài là… Kòn – Trô?

Người đàn ông cũng đứng theo lên, gật đầu:

– Vâng!

Phụng hãi hùng liếc mắt nhìn quanh để tìm một sự cầu cứu. Trong mắt nàng, Kòn – Trô đứng chắn ngang như một pho tượng đá. Không kịp nghĩ ngợi, nàng nhảy tới một bước, rút dao găm đâm vào ngực Kòn – Trô một nhát.

Kòn – Trô né mình sang một bên, đưa hai tay ra đỡ. Phụng đang lỡ đà gần ngã sấp. Chàng nói với Phụng, giọng trách móc:

– Sao bà lại định giết tôi? (Kòn- Trô)

Sau đấy gã giảng giải cho cô gái thợ săn kia biết về nguồn gốc vì sao Kòn – Trô lại gắn bó với vùng đồng rừng này lâu bền và khăng khiết đến thế. “Kòn – Trô nói với Phụng: – Bọn thủ hạ của tôi hơn một trăm người đều sống chung với nhau trong những căn trại ấy. Họ toàn một giống mọi Châu – Mạ (Tcau – Ma) gan dạ và đanh thép. Tôi dùng họ rất được việc mà họ rất trung thành với tôi. Tôi bảo chết, họ chết. Tôi bảo sống, họ sống. Họ thương tôi và kính trọng tôi như cha.

Bà nghĩ còn lòng thương nào khăng khít hơn lòng thương của những kẻ vô gia cư, không cha, không mẹ, thân thế và cuộc đời gần giống in nhau. Không cần phải cắt máu ăn thề mà họ cũng ăn ở với nhau một niềm chung thủy. Ấy cũng bởi sự chung đụng trường niên nó gây cho bọn họ cái dây đoàn thể bền bỉ, không ai có thể cắt đứt được. Ở đây, không có sự phản bội, không có sự man trá, không có sự ghen tị nó làm cho người ta phải cực lòng lo nghĩ về nhau. Tâm hồn họ đã hòa hợp cùng cỏ cây hoang dại. (Kòn – Trô).

Và tại sao, một tên tướng cướp như Kòn – Trô mà lại có thể đối xử tử tế với một cô gái thợ săn trẻ bị lạc đường như vậy? Mới nghe tưởng chừng như có gì đó phi lý. Mãi sau khi Phụng nghe Kòn – Trô giảng giải, mới tạm thời cảm thấy yên lòng: “- Bà coi! Bọn chúng tôi trồng khoai, cấy lúa, gieo bắp, gây riêng một thế giới phóng khoáng, xa hẳn gió bụi chốn thị thành. Chỉ vì một năm, gạo thua, lúa kém, chúng tôi mới phải ép lòng đón người giật của và cướp kho lương của ông đồn, tại đây. Từ đó, tiếng tăm Kòn – Trô nổi dậy một vùng. Nhưng chúng tôi chỉ báo động trong một năm ấy thôi, rồi thì cải ác, tùng thiện, trở về chốn cũ, cầm lại cái cày, quơ lại cái cuốc, sống một cuộc đời lương thiện như những kẻ nông dân. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại bị bao vây nhưng vì không thuộc đường lối nên trăm người vào đây, khó mà trở về cho đủ. Cuộc đời tôi từ đó càng ngày càng nặng tội, càng ngày càng lem luốc, càng ngày càng xa nhân loại. Người đời cho bọn tôi là một lũ quỉ sống, uống máu người không tanh…” (Kòn-  Trô).

Sau này có người hỏi nhà văn Lý Văn Sâm về nguyên mẫu nhân vật Kòn – Trô trong truyện ngắn đầu tay cùng tên của ông là ai. Nhà văn không ngần ngại thú nhận rằng đấy chính là ông.

Tuy nhiên, nếu ai đó tinh ý hay có nghề, đọc truyện ngắn này đều có thể không quá khó để nhận ra sự rút hết gan ruột của nhà văn ra để hóa thân vào nhân vật Kòn – Trô này. Một chàng trai trẻ sinh ra và lớn lên ở miền đồng rừng Biên Hòa, Đồng Nai từ thuở còn nguyên sơ, hoang vắng khi con người dường như chưa tách khỏi rốn bà nhũ mẫu tự nhiên sống chung với thú dữ, chim muông và thậm chí còn ăn thịt lẫn nhau.

***

Có thể nói phần lớn các nhân vật chính của 8 truyện ngắn được tập hợp trong tập sách “Kòn – Trô” do Bùi Quang Huy sưu tầm, giới thiệu và Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai ấn hành năm 2008 đều là những con người khác lạ, thậm chí là phi thường. Có thể họ là những tên tướng cướp hay những người anh hùng, cũng có thể họ là những người bình thường nhưng có ý chí và mưu lược cũng như những hành động mà người bình thường không thể nào có và làm được, hoặc nhờ có sự trợ giúp của thần linh mà họ trở nên phi thường, như Kòn – Trô trong truyện ngắn cùng tên; Cả Tiễn trong truyện “Mũi tổ”; hai cha con Răng Sa Bang và Răng Sa Mát trong truyện “Răng Sa Mát”; ông Bader, chủ đồn điền người Đức trong “Ngăn rạch bắt sấu”; Năm Mun người Thổ lai trong “Thâm u và cao cả”; Lương Điền trong “Thần Ngư động”; bà Đổng trong “Voi đội đèn”; nữ Chúa, Ngạc Ngư thần trong “Xác Mu Mi trên núi đá”. Tất cả họ dù ít hay nhiều và ở những suy nghĩ và hành động khác nhau nhưng đầu mang tầm vóc, chiều kích của những nhân vật, người anh hùng trong sử thi của các dân tộc của cộng đồng người Việt cổ. Cứ như là giời sinh ra họ chỉ để làm những việc phi thường ngõ hầu cứu rỗi chúng sinh, khi mà đất trời, vũ trụ tự nhiên và con người chưa từng sống tách biệt với nhau, hãy còn u mê trong cõi hỗn mang. “Đó là buổi loài người còn sống chung với muông thú và cùng ngơ ngác như nhau, lấy mắt nhìn năm, tháng trôi qua… Này là núi non của muôn đời tăm tối… này là cây cao, bóng cả của rừng núi âm u. Núi chưa có người đặt bước thám du, rừng cây chưa có dấu vết của lưỡi búa tiều phu hủy hoại.

Vẻ thiên nhiên còn nguyên vẹn màu trinh.

Ở một chốn sơn lâm vô danh kia có một giống Mọi man di đang giết lẫn nhau để giành sự sống. Cấu xé nhau, ăn thịt lẫn nhau chán rồi.

Họ họp nhau thành những bộ lạc ở dọc hai bên bờ của một con sông lớn (Bây giờ là sông La Ngà)” (Xác Mu Mi trên núi đá).

3. Căn cước văn hóa của một nhà văn còn được thể hiện ở hệ thống từ vựng ngôn ngữ mà tác giả thường xuyên sử dụng trong khi sáng tác mang đậm dấu ấn đặc trưng của đời sống văn hóa ở vùng, miền, địa phương, nơi từng gắn bó với tuổi thơ, để lại nhiều kỷ niệm buồn vui đến mức chúng theo bám, ám ảnh trong kho tàng ký ức của nhà văn không thể nào có thể dứt ra hoặc tẩy gọt đi được. Đối với nhà văn Lý Văn Sâm điều ấy như một mặc định (defaut) trong bản thể tồn tại của ông về khía cạnh văn hóa (phần hồn). Nếu như tước bỏ hệ thống từ vựng ngôn ngữ ấy, thì 8 truyện ngắn trong “Kòn- Trô” không còn thuộc về ông, là của ông nữa. Dẫu biết rằng, ngôn ngữ chỉ là vỏ của tư duy, nên nó là hình thức biểu hiện cuối cùng của tác phẩm văn chương. Nhưng cái vỏ ấy quan trọng đến mức, người đọc phải nhờ vào chúng, thông qua chúng để nhận diện tác phẩm văn chương này là thuộc về (của) nhà văn này, chứ không phải của nhà văn khác. Nó thuộc vùng văn hóa này chứ không phải của những vùng văn hóa khác.

Trong 8 truyện ngắn của tập “Kòn – Trô” có tới 106 từ, cụm từ địa phương, kể cả nghĩa đen lẫn tiếng lóng cần phải được chú thích. Số từ, cụm từ ấy được phân bổ như sau: “Kòn- Trô” có 11 từ, cụm từ; “Mũi tổ”: 20; “Ngăn rạch bắt sấu”: 16; “Răng Ma Sát”: 19; “Thâm u và cao cả”: 9; “Thần Ngư động”: 6; “Voi đội đèn”: 13; “Xác Mu Mi trên núi đá”: 12. Cũng cần nói rõ thêm rằng, con số thống kê này hoàn toàn mang tính chủ quan của người viết bài này. Trong đấy có cả những từ, cụm từ mà tác giả đã chú thích ngay cuối mỗi truyện. Nhưng phần lớn là những từ, cụm từ (ghép cố định, ghép không cố định, láy…) mà nhà văn Lý Văn Sâm mặc định rằng mọi người đã biết nên không cần phải chú thích. Nhưng thực chất có rất nhiều từ mang tính vùng miền, địa phương Biên Hòa, Đồng Nai, từ cổ, từ Hán- Việt mà không phải ai cũng biết dù đấy là bạn đọc thông thường hay nhà chuyên môn về ngôn ngữ học, lý luận, phê bình văn học. Chẳng hạn như các từ: “Kợ mã” có nghĩa là kỵ mã, người cưỡi ngựa; “Bắt thường đó” nghĩa là bắt đền đó; “Gộp đá”: mô đá; “Dãy trường kiều”: cây cầu dài; “Tấm rừng”: khu rừng; “Một miếng mây”: một đám mây; “Ăn ong”: lấy mật ong; “Ăn chịu”: mắc nợ; “Miếng khói mỏng”: làn khói mỏng…

Nói như vậy để chúng ta thấy một nhà văn nào đấy muốn có một tấm thẻ “Căn cước văn hóa” của một vùng miền, địa phương, nhất thiết anh ta phải là con người sống và có những ứng xử văn hóa cũng như sáng tạo ra cho được một hệ thống nhân vật của mình có lối sống, tính cách, giọng điệu và ngôn ngữ mang những “mã văn hóa” như là thứ “tài sản” riêng của vùng miền, địa phương ấy. Nếu như vậy, Lý Văn Sâm là nhà văn xứng đáng nhất mang tấm thẻ “Căn cước văn hóa” của Đồng Nai nói riêng và Đông Nam Bộ nói chung.

Chú thích:

* Phan Phú Yên. Lý Văn Sâm vẫn quyến rũ chuyện đường rừng. Văn chương phương Nam, ngày 30.8.2021

Về năm sinh của nhà văn Lý Văn Sâm, nhiều tài liệu chưa thống nhất. Chúng tôi giữ nguyên nội dung này theo bài viết của các tác giả.

7/5/2022

Đỗ Ngọc Yên

Nguồn: VHNTĐN

Theo https://vanvn.vn/

  Nguyễn Tuân – Bậc thầy về tùy bút Xuất hiện trên văn đàn vào đầu thế kỷ XX, Nguyễn Tuân là một tên tuổi lớn của văn học Việt Nam hiện đạ...