Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

 

Nhà thơ Phan Hoàng với thể thơ 1-2-3

Qua thực tế sáng tác thơ 1-2-3 một số năm gần đây, việc ngồi lại với nhau, đọc lại, thông tin, trao đổi, ghi nhận và rút kinh nghiệm là công việc cần thiết, thậm chí là hào hứng. Tại Cần Thơ, sáng ngày 6/11/2024, Hội Nhà văn Cần Thơ phối hợp với Trường Đại học Cần Thơ tổ chức tọa đàm với chủ đề “Thơ 1-2 -3 trong không gian văn học đương đại”. Nhiều tham luận, ý kiến được nêu lên, đáng chú ý là ý kiến của Lê Xuân, Nhất Nguyên, Bình Địa Mộc, Nguyễn Chí Hoan, Bảo Bình, Đỗ Nguyên Thương, Đoàn Hữu Nam, Trần Thanh Dũng, Nguyễn Minh Ca…

Trao đổi với phóng viên VOV về thể thơ 1-2-3 xuất hiện những năm gần đây, nhà thơ Phan Hoàng (công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh) cho biết: Mùa Thu năm 2018, anh sang thăm nước Nga, chính nước Nga với những giá trị thi ca và cuộc sống đã nuôi cảm hứng, giúp anh tìm ra thể thơ mới này. Có thể nói, thơ 1- 2 -3 ngay từ đầu đã đáp ứng nhu cầu thơ hiện đại là ngắn gọn, cô đúc, thiên về trí tuệ, không thích vòng vo, rông dài.

Theo Phan Hoàng, thể thơ 1-2-3 cũng có “quy chế” riêng của nó: câu 1, tên bài, gọi là đoạn một, tối đa 11 chữ; câu 2 và 3, tức đoạn hai, mỗi câu tối đa 12 chữ; câu 4 và 5, tức đoạn ba, mỗi câu tối đa 13 chữ. Theo nhà thơ Phan Hoàng, 1-2 -3 là một câu, hai câu, ba câu; đồng thời tương ứng với số chữ trong câu thơ ở mỗi vị trí: 11-12-13. Đặt tên 1- 2- 3, nhà thơ ngầm muốn nói với bạn đọc, bạn viết thông điệp này: Mỗi lần làm thơ là mỗi lần chúng ta gần với một sự khởi đầu. Cuộc đời này, bất cứ thứ gì cũng cần có sự khởi đầu, để đi đến cái đích ta mong muốn.

Như vậy, thể thơ 1- 2-3 không phải hoàn toàn tự do, muốn tung tẩy thế nào mặc lòng. Tuy vậy, “quy chế” của nó xem ra khá đơn giản, không có gì cầu kỳ khi ta đã sẵn sàng cầm bút, mang sẵn nỗi niềm và thi tứ trong tim. Thơ 1-2 -3, hiểu nôm na, cũng là mệnh lệnh cho nhà thơ xuất phát trong mỗi cuộc đua nào đó, cũng như khi bắt tay làm một việc trong đời thường, với sự quyết đoán và hào hứng cao. Đề tài không hạn chế, tác giả tự định đoạt, đáng chú ý, không khuyến khích sử dụng một số thể thơ truyền thống vào thơ 1- 2-3 (như lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, ngũ ngôn, thất ngôn…). Thì ra, niêm luật đó chỉ đơn giản là một hiệu lệnh, mở đường, được thúc giục từ bên trong, đưa ta nhanh chóng và đúng hướng về tới đích nghệ thuật. Xin dẫn lại ở đây chùm thơ 1-2-3 của nhiều tác giả, đã được công bố ở trang vanvn.vn của Hội Nhà văn Việt Nam thời gian gần đây:

Ai có còn khao khát một dòng sông

Gió vẫn chạy tìm cỏ hoa trên triền đê bừng nắng

Những chú bò mơ thơm ngát cỏ non

Cánh đồng nhớ muôn cánh cò chớp trắng

Đầm sen mơ màng gọi những mùa trăng

Có bước chân hoàng hôn lang thang tìm về bến cũ.

(Bùi Thanh Hà)

Anh đến tìm em ngày mưa dầm gió bấc

Gặp em đang cố xóa dấu chân từng nhẵn cổng nhẵn hè

Xóa tiếng từ quy khắc khoải…

Lòng anh là khúc củi

Em lạnh lùng ném vào bếp lửa

Khúc củi không đau mà mắt em cay.

(Đoàn Hữu Nam)

Điều gì buồn hơn cả sự chia ly

Và cảm giác bị lãng quên ngay khi đang trước mặt

Là không một ai hỏi han sau nhiều năm xa vắng

Có nhiều người rời khỏi cuộc đời mà chẳng ai phát hiện ra

Đến cuối cùng buồn bã nhất đâu phải sự chia xa

Mà là khi tâm tưởng mỗi người không còn nghĩ về nhau nữa.

(Trương Mỹ Ngọc)

Chạm

Gió chạm mây, tia nắng chạm ngày

Nụ hoa chạm hạt sương

Con đường thơ chạm mỗi chiều

Cánh chim mỏi chở hoàng hôn

Buồng tim chạm mắt buồn.

(Trần Thị Thùy Vi)

Tác giả Nguyễn Tiến Nên (Quảng Bình) cho xuất bản cả trăm bài 1-2-3 lấy tên “Vụn và Lành”, không chỉ là thể nghiệm, nhà thơ đã bắt gặp ở thể thơ mới này sự đồng điệu và thăng hoa:

Sau mỗi chuyến đi ta lợp lại mái nhà

Lợp lại những ẩm mốc rêu rong

Những sần sùi năm tháng

Lợp tâm hồn bằng lời ru con sóng

Lợp nỗi buồn bằng một thoáng hư vô

Lợp ngày mai bằng những áng thơ…

Qua thực tế sáng tác thơ 1-2-3 một số năm gần đây, việc ngồi lại với nhau, đọc lại, thông tin, trao đổi, ghi nhận và rút kinh nghiệm là công việc cần thiết, thậm chí là hào hứng. Tại Cần Thơ, sáng ngày 6/11/2024, Hội Nhà văn Cần Thơ phối hợp với Trường Đại học Cần Thơ tổ chức tọa đàm với chủ đề “Thơ 1-2 -3 trong không gian văn học đương đại”. Nhiều tham luận, ý kiến được nêu lên, đáng chú ý là ý kiến của Lê Xuân, Nhất Nguyên, Bình Địa Mộc, Nguyễn Chí Hoan, Bảo Bình, Đỗ Nguyên Thương, Đoàn Hữu Nam, Trần Thanh Dũng, Nguyễn Minh Ca… đã được đăng tải trên trang Website của Hội Nhà văn VN được bạn đọc xa gần hoan nghênh. Từ hội thảo này, những ai quan tâm đều hoan hỷ khi biết được thông tin, thể thơ 1-2 -3 tính đến nay đã có hơn 1000 cây bút hưởng ứng, được dịch, giới thiệu qua hơn 20 thứ tiếng trên thế giới.

Cái khó ở thể thơ 1-2-3 này, theo tôi, ở hai vấn đề: Lập tứ và kiệm lời. Còn điều này nữa, làm thơ theo thể 1-2 -3 không khéo dễ sa vào khô khan, khẩu hiệu, lộ rõ ý đồ người viết. Khó đấy, nhưng mỗi khi vượt qua được rồi, bài thơ hay sẽ hiện dần ra thì hạnh phúc cũng không hề nhỏ. Xin dẫn tiếp một bài thơ viết theo thể 1-2 -3 của chính nhà thơ Phan Hoàng để bạn đọc tham khảo, cũng là để thấy anh gắn bó, sống chết với thơ như thế nào:

Những câu thơ tri kỷ

Như con thiêu thân yêu quá trần gian

Đắm say thơ hay, rượu ngon, gái đẹp

Gái đẹp rồi cũng lìa bỏ đôi mắt mù mờ

Rượu ngon rồi cũng lìa xa tấm thân cằn cỗi

May còn những câu thơ an ủi trí nhớ cô đơn.

(2025)

Mỗi thể thơ bao giờ cũng có thế mạnh cũng như hạn chế khác nhau, buộc người cầm bút không thể ngẫu hứng khi chọn lựa sử dụng. Gần đây, cư dân mạng xôn xao quanh tập thơ Ba câu có tên “Thả” của nhà thơ Mai Văn Phấn. Hư thực đến đâu, xin được miễn bàn ở đây. Qua trao đổi, nhà thơ nêu quan niệm cần lưu ý khi người cầm bút tìm kiếm, nắm bắt cho thơ mình một thể thức nào đó. Theo ông, người viết có thể làm thơ với bất kỳ thể thức nào, chủ đích là lập ra một không gian mới. Nếu bạn đọc không nhìn ra thế giới khác lạ trong văn bản thơ, họ cũng sẽ không tìm ra giá trị thi ca của anh ta… Ý kiến này nên được tham khảo.

Thêm một tin vui, trên trang vanhocsaigon.com, cập nhật ngày 1/3/2025, đã thông báo thể lệ cuộc thi sách thơ 1-2-3 lần thứ nhất, xuất bản từ tháng 9/2024 trở về trước với mục đích cổ vũ, ghi nhận, làm lan tỏa thêm thể thơ mới thuần Việt này. Đây cũng là dịp góp phần tôn vinh vẻ đẹp thi ca dân tộc… Xin chúc mừng nhà thơ Phan Hoàng với đóng góp mới mẻ, giàu ý nghĩa này. Tôi, trong lặng lẽ đã thử làm thơ 1- 2 -3, tự thấy thất bại. Tuy nhiên, bản thân lại rất mừng khi đọc đây đó, qua các trang thơ, vài ba cuộc thi thơ, hay hội nghị về thể thơ 1- 2-3 thật đông vui; và tôi biết đề xuất táo bạo, có cơ sở của anh đang dần đi vào đời sống thơ đương đại nước ta.

9/3/2025

Nguyễn Văn Hùng

Nguồn: Tạp chí Sông Lam 3.2025

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Tôi yêu “Con giai phố cổ” của Nguyễn Việt Hà

Tôi được đọc Nguyễn Việt Hà mới từ 2014, trong khi tác phẩm của anh xuất hiện từ 1999 với Cơ hội của Chúa. Đến bây giờ, năm 2024, anh đã thành công trong các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn và xuất sắc nhất là tạp văn. Trong đó Con giai phố cổ (2013) đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc về giọng văn, nghệ thuật diễn đạt và cảm xúc.

Không thể tách biệt rành rẽ ba khía cạnh này bởi chúng đan xen, hòa quyện nhau rất tự nhiên và gây lý thú rất riêng cho người đọc. Chỉ thấy gật gù, khoái trá và rất tâm đắc. Nhưng đôi khi tự hỏi hay ở chỗ nào thì lại ngẩn người ra, trầm ngâm suy nghĩ và cảm nhận. Giống như một người tình mà ta say mê, nhưng nếu tự vấn: yêu vì lẽ gì thì đành chịu. Chỉ thấy đáng yêu thì yêu thôi. Mà một khi trái tim đã rung động rồi thì mọi lý lẽ là vô nghĩa.

Trước đây viết về Hà Nội, với thể loại tùy bút có Thạch Lam, Vũ Bằng. Hà Nội băm báu phố phường của Thạch Lam thì tinh tế, nhẹ nhàng, giàu chất thơ. Còn Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng lại thức dậy trong mỗi người các giác quan ẩm thực riêng biệt, độc đáo khi thưởng thức những đặc sản không thể có bất cứ vùng miền nào – bởi nó là riêng của Hà Nội. Song cả Thạch Lam và Vũ Bằng đều để lại trong lòng chúng ta một cảm giác chung đó là hoài niệm về vẻ đẹp của cái thời một đi không trở lại. Hương vị của những gì là tinh hoa do trời đất và con người tạo nên ấy, giờ đây hình như không còn nữa. Bởi chỉ có thiên nhiên trong những ngày tháng ấy, chỉ có những con người xuất thân trong hoàn cảnh riêng của gia đình và hoàn cảnh chung của xã hội trong thời đại ấy, mới tạo nên những áng văn tài hoa như thế ấy!

Đến tạp văn Con giai phố cổ, tôi thấy giữa Nguyễn Việt Hà với thế hệ nhà văn lớp trước là Thạch Lam và Vũ Bằng có một điểm chung. Cả ba đều không đã động đến kỳ hoa, dị thảo hay món ăn cầu kỳ, hiếm có khó tìm, hoặc giới phong kiến quý tộc trong cuộc sống đất kinh kì trong quá khứ. Những đối tượng họ đề cập tới chủ yếu là những gì bình thường ta thường gặp trong đời sống hàng ngày. Nhưng chính những sự vật, hiện tượng, con người bình thường ấy lại tạo nên tinh hoa của một Hà Nội ngàn năm văn vật.

Điều độc đáo của Nguyễn Việt Hà trong tạp văn này là anh hoàn toàn tập trung bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, đánh giá của mình về người Hà Nội. Nếu coi Hà Nội ngày nay tức là Thăng Long xưa là nơi hội tụ tinh hoa của cả nước thì người phố cổ trong tạp văn Nguyễn Việt Hà là đại diện cho tinh hoa Hà Nội. Ca dao từng có câu:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

Trong số đó có ba loại nhân vật tiêu biểu cho người phố cổ là “cao bồi già Hà Nội”, “con giai phố cổ” và “bạn vong niên”. Một điều phi lý. Bạn vong niên, theo Nguyễn Việt Hà là bạn lệch tuổi, đương nhiên già hơn và thường già hơn một can (10 năm), hay một chi (12 năm). Còn cao bồi già Hà Nội “là những ngoại hình trung niên, rất khó đoán tuổi, đã gần sáu mươi hay ngoài bảy mươi.” Vậy mà cả hai đều được gọi là “con giai phố cổ” – xếp ngang cùng lứa thanh niên mới lớn mười bảy, mười tám cho tới khoảng ba mươi xuân xanh. Cách xếp ngang hàng như vậy cho thấy cái nhìn của Nguyễn Việt Hà về hình tượng con giai phố cổ rất nhân văn. Người đàn ông ở phố cổ Hà Nội không có tuổi, họ luôn trẻ trung, lịch lãm, hóm hỉnh, thông minh và hấp dẫn trước bất kỳ một đối tượng khác giới nào.

Một trong ba nhân vật “con giai phố cổ”, trước hết, Nguyễn Việt Hà dành lòng quý mến, tâm đắc, biết ơn nhất của mình cho “bạn vong niên”. Một điều kiện hiếm có, khó tìm, độc đáo đến lạ lùng là người đó thường tự chọn cho bản thân một cuộc sống cá nhân hoàn toàn tự do, không chịu vướng bận hoặc bị kiềm tỏa bởi bất cứ lý do gì. Đó là cuộc sống độc thân, phải chăng đây là yếu tố chủ quan đầu tiên khiến họ tự do lựa chọn bạn tri âm tri kỷ của mình và cũng tùy ý cư xử với người ấy theo cách tốt nhất và thú vị nhất.

“Cho dù ở cữ tuổi nào hay từng đã vài lần hôn nhân nhưng hiện tại bọn họ đều sống độc thân, thỉnh thoảng có người ở cùng mẹ già. Đã được họ coi là bạn thì có thể đến chơi nhà họ bất kể giờ giấc, không cần bất cứ lý do gì. Và nếu chiều có muộn, đêm có khuya, trời có mưa thì đương nhiên thanh thản thoải con gà mái nằm lại dùng bữa ngủ thân mật. Có vẻ như họ không có khái niệm bị làm phiền, mặc dầu chẳng bao giờ có ai thấy họ quấy rầy người khác.” Cách sống ấy làm không ít người tò mò nhận xét và bình phẩm là lập dị. Nhưng hiểu rõ quyền sống cá nhân, bạn vong niên tự tin, điềm nhiên sống theo ý mình, bất chấp dư luận đàm tiếu. Bởi vậy ai được trở thành tri âm tri kỷ của bạn vong niên thì phải là người yêu tự do của bản thân mình và biết tôn trọng tự do của người khác.

Bạn vong niên với Nguyễn Việt Hà còn là người cực kỳ hiểu biết nhờ đọc nhiều và từng trải. Song điều vô cùng đáng quý, đáng trân trọng và nể phục là tấm lòng nhân hậu được thể hiện hết sức tinh tế, chân thành và giản dị của bạn vong niên. Đối với người bạn trẻ, ít tuổi hơn, chưa va vấp nhiều với đời, bạn vong niên không bao giờ có thái độ kẻ cả, bề trên, lên mặt dạy đời hoặc mỉa mai châm biếm. Như một người anh lớn độ lượng, bao dung, sẵn sàng cảm thông, chia sẻ; đồng thời lại như một người bạn thấu hiểu cả những điều mà anh bạn trẻ kia không nói ra hoặc chưa thể nói, bạn vong niên không nêu cụ thể cách giải quyết mà khéo léo, tế nhị, mượn những mẩu chuyện xa xôi vừa thực, vừa buồn cười để khiến cho bạn hiểu ý bóng gió mà tự giễu cợt bản thân và nhìn đời bằng đôi mắt tỉnh táo hơn. Tuổi trẻ vốn hay cực đoan tin yêu hết mình nên thất vọng cũng cùng cực, gần như tuyệt vọng. Trong những cảnh huống ấy, bạn vong niên là ánh sáng dẫn đường đưa bạn ra khỏi tuyệt lộ: “Khi tỉnh hẳn giấc, gã trai bàng hoàng thấy trời thật sáng. Rồi thấy cái trường đại học mình thi trượt hình như cũng chó chết. Hoặc rồi thấy mình cũng chẳng cần nhảy cầu tự vẫn, vì cái cô vợ tha hóa kia cũng chẳng đáng phải chặt chân chặt tay mà chỉ đáng nhổ một bãi nước bọt.”

Năm tháng qua đi, những chàng trai trẻ ngày nào đã trưởng thành và chín chắn. tình bạn vong niên vẫn hồn nhiên như khí trời, quý giá như chất màu trong đất giúp cho cây đời tri âm tri kỷ mãi mãi xanh tươi. Cây đời càng phát triển tán lá xum xuê của nó giống như bạn vong niên luôn luôn tỏa bóng mát che cho bạn khi nắng gắt, cản ngăn gió mạnh lúc mưa dông. Viết về tình bạn có nhiều câu nói hay. Nhưng ít có áng văn nào ngợi ca đầy biết ơn, hàm súc, trang trọng và cảm động như những lời của Nguyễn Việt Hà dâng tặng cho bạn vong niên – loại nhân vật hiếm có giữa đời thường trong Con giai phố cổ: “Bạn vong niên giống như tiểu thuyết kiệt tác nó chỉ rưng rưng sẻ chia trải nghiệm, không bao giờ dạy khôn, không bao giờ đưa ra những giải pháp. Nó song hành cùng người đọc bằng tinh thần độ lượng, bình dị, vị tha. Nó trân trọng tất cả những sai lầm trong trắng.”

Có những phẩm chất độc đáo như vậy không phải vì bạn vong niên là thần thánh. Họ là những con người bình thường sống giữa nhân gian. Họ vô danh chứ không hề nổi danh như một nghệ sĩ ưu tú hay nghệ sĩ nhân dân nào. Họ cũng từng có tuổi thanh xuân như anh bạn trẻ kia. Như vậy bao cay đắng, tủi nhục, khổ đau mà tuổi trẻ bất ngờ hứng chịu, dằn vặt, quằn quại họ cũng từng chịu trận, ngấm đòn và vượt thoát nhờ người bạn vong niên của chính họ: “Chỉ có những tài năng đã cay đắng thì mới chân thành biết  thương những tài năng được Chúa sinh ra sau mình. Thuật ngữ của “văn minh bằng hữu Phương Đông” xót xa gọi đó là lòng liên tài. Và tấm lòng hồn hậu ấy đã nuôi dưỡng cho văn thơ nhạc họa Thủ đô được không ít những tác phẩm bất hủ.”

Bạn vong niên dám sống cô đơn giữa đám đông người được tạo nên bởi chính tấm “lòng liên tài” đó. Lòng liên tài ấy không phải bây giờ mới có mà nó được kế thừa có sáng tạo từ truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Nó vượt qua cả thời gian và không gian mà thi hào Nguyễn Du là tiêu biểu. Không có tấm lòng liên tài thì không thể có tiếng khóc của Tố Như tiếc thương cho tài sắc nàng Tiểu Thanh sống trước ông ba trăm năm mãi tận bên Trung Quốc. Lòng liên tài là niềm tự hào và khát vọng của Nguyễn Du khi nghĩ đến thế hệ mai sau trong bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí”:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.

Dịch là:   

Ba trăm năm nữa ta nào biết

Thiên hạ ai người khóc Tố Như.

Trước đây, trong thơ ca, chúng ta chỉ thấp thoáng mấy nét về tình bạn vong niên giữa Lý Bạch với Mạnh Hạo Nhiên – hai nhà thơ nổi tiếng đời Đường trong bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (được dịch là: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng.)

Cổ nhân tây từ Hoàng Hạc lâu

Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu

Cô phàm viễn ảnh bích không tận

Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

Phải đến nhà văn Hà Nội Nguyễn Việt Hà, bằng tạp văn, với lòng biết ơn chân thành sâu sắc, anh đã bộc lộ cảm xúc, kể, tả, nhận xét, bình giá… giúp ta hiểu cụ thể và xúc động thực sự trước hình tượng bạn vong niên. Bạn vong niên là những tinh hoa đầu tiên trong lớp con giai phố cổ và trở thành mơ ước của nhiều người, đặc biệt là giới nghệ sĩ. Bởi vì theo Nguyễn Việt Hà:  “Đến ngày nay, cuộc sống vẫn nhan nhản nhiều bất trắc. Đã thật lương thiện đàng hoàng đàn ông rất dễ rơi vào cảnh khốn cùng hoạn nạn. Ở vào hoàn cảnh “khốn nạn” ấy, vợ thì bạc, con thì nhỏ, cái danh cái lợi thì phù phiếm chẳng cứu giúp gì. Duy nhất chỉ có một điều tin được, nó ấm áp an ủi để cố tử tế mà sống, đó là nghĩa tình từ những huynh đệ bằng hữu.

Và tuyệt vời thay, trong số những bằng hữu hiếm hoi đấy, luôn có một người bạn vong niên da sắp mồi tóc đã bạc.”

Ước có một người bạn vong niên trong đời chính là mơ về một người tri âm tri kỉ. Bởi muốn có một tình bạn tri âm tri kỉ như thế một tình bạn lý tưởng như thế thì cả hai đều phải tu thân. Để có một người bạn vong niên của mình hoặc mình trở thành bạn vong niên của người nào đó thì cả hai đều tìm đến nhau bởi lòng liên tài. Tu thân để thành tài đã khó rồi, lại còn khiêm nhường, tôn trọng, thương quý cả những người tài năng mà bất hạnh khác còn khó hơn. Bởi kẻ có tài mà không có tâm thường ích kỷ, kiêu căng, tự phụ, khinh người. Hơn nữa còn do số phận quyết định. Nếu có được tri âm tri kỷ rồi liệu có giữ được bền lâu. Tình bạn giữa Bá Nha với Chung Tử Kỳ chẳng là bi kịch của khát vọng tri âm tri kỷ đó sao? Nhưng dù cái Đẹp trên đời mong manh lắm thì bạn vong niên vẫn là con người đẹp trong những giấc mơ đẹp của Con giai phố cổ.

Loại con giai thứ hai mà Nguyễn Việt Hà gửi gắm cảm xúc thú vị, tự hào nối tiếp là “cao bồi già Hà Nội”. Có lẽ viết về loại con giai thứ hai này, Nguyễn Việt Hà đã thể hiện nguyên tắc trò chơi trong tư duy hậu hiện đại. Anh đã hạ bệ những quan niệm độc tôn, nhất thành bất biến trong xã hội Việt Nam thời bao cấp về con người. Anh đưa nhân vật của mình đến sát hơn cuộc đời thực, “nơi các sự vật, hiện tượng xảy ra chủ yếu theo quy luật ngẫu nhiên”, anh “không cắt nghĩa những ngẫu nhiên đó”. (Khái niệm hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học)

Cao bồi vốn là một danh từ chỉ người làm nghề chăn bò ở châu Mỹ. Họ thường mặc quần bò bó sát người, đội mũ rộng vành; cử chỉ mạnh mẽ, ngang tàng, phóng khoáng giữa những đồng cỏ bao la. Nhưng ở Việt Nam, trong thời bao cấp, danh từ này bị hiểu sai lạc. Khoảng từ 1955 – 1980, cao bồi thường dùng để gọi những thanh niên ăn mặc khác người. Áo thường kẻ ca rô sắc màu xanh, đỏ, vàng nổi bật; quần thì hoặc tuýp chật bó lấy chân, hoặc loe rộng, miệng phì phèo thuốc lá, đi đứng tự tin, đầu ngẩng cao. Nhưng dưới con mắt của các nhà giáo dục và dân chúng thời đó thì đấy là kiểu cách của những thanh thiếu niên mới lớn, đua đòi ăn chơi, lười biếng học hành, không tuân thủ nội quy, kỷ luật. Đã từng có lời ca chế giễu, chê trách họ:

Học sinh cao bồi mặc áo sơ mi ca rô

Lại thêm cái quần ống tuýp trông như ma cô

Và cũng từng có phong trào cán bộ Đoàn Thanh niên tổ chức dùng kéo cắt bỏ những quần ống tuýp hoặc loe của những ai mặc nó trên đường phố. Dư luận coi họ là những kẻ lố lăng, ngạo ngược và thường chỉ trích, phê phán khá mạnh.

Thế mà, đến tạp văn của Nguyễn Việt Hà danh từ ấy lại được khẳng định một cách ngạo nghễ, tự tin trong nhan đề “cao bồi già Hà Nội.”

Vào thời kinh tế bao cấp tất cả nhu yếu phẩm đều do nhà nước quản lý và phân phối theo kế hoạch nên cuộc sống rất thiếu thốn, khó khăn. Chỉ có cán bộ, công nhân viên nhà nước mới được cấp tem phiếu để mua gạo, thịt, vải vóc, đường, mắm ở mức tối thiểu. Còn nhân dân thì tự cung, tự cấp. Nền kinh tế tập thể đã cào bằng tất cả. Mọi người ăn mặc kiểu dáng, màu sắc đều phần đông giống nhau. Quanh đi quẩn lại chỉ có áo sơ mi, áo cánh, áo vest. Nữ quần vải đen, nam quần kaki ống vừa phải. Màu sắc chung là xanh, nâu, đen vì đó là màu trang phục của người lao động cơ bản công nhân và nông dân.

Cho nên, dưới con mắt của số đông, cách trang phục, sinh hoạt, chơi bời của cao bồi già là một kiểu chơi trội, phớt đời rất cá tính. “Đó là những ngoại hình trung niên rất khó đoán tuổi đã gần sáu mươi hay ngoài bảy mươi. Quần áo phẳng phiu, hàng hiệu hoặc là kiểu đờ mi xe dông (quần kaki áo vest), hoặc một bộ đũi sáng sang trọng đĩ tính nổi bật ra khỏi cái hồi khó khăn khi đồ cotton chưa lên ngôi. Bọn họ thích đi bộ, có lẽ cũng vì già, nhiều tay phô phang thì cầm baton, mồm ngậm tẩu, đầu đội “phớt” dạ và dưới thắt lưng da nâu có thấp thoáng một sợi dây xích sáng trắng từ cái đồng hồ quả quýt nắp bạc. Bọn họ ăn sáng ở linh tinh các quán, các hàng rong, nơi các ông chủ, bà chủ nổi tiếng nấu ngon cùng tài nhớ mặt khách, rồi khệnh khạng tới một hàng cà phê quen”. Thật ra, cách sống ấy của các cao bồi già thể hiện quan niệm sống của họ. Với họ, con người có quyền khẳng định vẻ đẹp cá nhân và quyền hưởng hạnh phúc. Nếu điều đó chẳng làm hại đến ai. Quả thật, trang phục cách sống ấy rất văn hóa. Trang phục nhã nhặn, lịch sự, sang trọng. Ăn uống có giờ giấc, nề nếp và tùy chọn theo khẩu vị của mình. Họ không chấp nhận lối sống a dua, xuề xòa, lôi thôi luộm thuộm nhưng tự cho là giản dị; hoặc tùy tiện, bừa bãi, cẩu thả lại tự nhủ là mình dân dã, quần chúng, gần gũi với mọi người. Lòng tự trọng mình và tôn trọng người pha chất nghệ sĩ ấy đã đưa họ lên tầm văn hóa rất riêng của người Hà Nội. Chỉ có ở cỡ tuổi như thế, cung cách ăn mặc và sinh hoạt như thế mới được “giới vỉa hè trân trọng gọi cũng như bọn họ trịch thượng tự nhận cao bồi già Hà Nội” mà thôi.

Sự khác đời ấy hoàn toàn phù hợp với sở thích văn hóa văn nghệ tinh hoa. Sinh ra ở Hà Nội, mảnh đất có các tác giả nổi tiếng của Thơ mới, Tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, nhạc Tiền chiến, lại bẩm sinh “Do bản chất tài hoa, đám cao bồi hầu hết tinh tế ham thích âm nhạc, văn thơ, hội họa”. Thơ của họ không in thành tập, không đăng báo nhưng được dân Hà Thành yêu thích, khoái trá lan truyền. Mỗi lần đọc lên, người nghe đắc ý, gật gù tán thưởng bởi nó ngẫu nhiên nêu ra được nhiều điều tưởng như phi lý nhưng lại rất chí lý. “Không vênh vang mặt giai không sợ. Không giáo giở lòng gái không thương”. Đây là hai câu vào loại nhẹ nhất trong các bài thơ có nhan đề “Đời có ra chi mà đéo chửi” của một chân chính cao bồi ngoài bát thập. Những câu thơ đầy xúc cảm thế sự là kết quả của sự chiêm nghiệm thói đời. Sự bịp bợm, giả trá, càn rỡ có khi lại lên ngôi trong thời đại đến cả thế giới cũng còn đang phức tạp, gay cấn, lộn xộn. Đến nỗi nhà thơ cách mạng Tố Hữu đã có lúc phải kêu lên:

Chợ trời thật giả đâu chân lý?

Hàng hóa, lương tâm cũng thiếu thừa.

Tuy Nguyễn Việt Hà không viết ra nhưng ai cũng ngầm hiểu. Cao bồi già phố cổ Hà Nội sở dĩ có bản lĩnh như thế bởi họ không chỉ tinh hoa trong văn hóa vật chất và tinh thần mà còn sáng suốt và dũng cảm trong làm ăn kinh tế. Phần lớn cao bồi già Hà Nội là người dân kinh tế tự do, làm ăn thủ công buôn bán nhỏ, không song hành với kinh tế tập thể của nhà nước như công nhân, cán bộ, xã viên trong nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã. Vợ con họ thường buôn bán trong các chợ có tiếng như chợ Đồng Xuân, chợ Hàng Da, chợ Mơ, chợ Hôm… hoặc có cửa hàng ở các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, Hàng Bạc… thậm chí bán ở vỉa hè. Họ làm ăn trong sự kiểm soát, sự cho phép có mức độ của nhà nước. Họ dám làm chủ, chịu trách nhiệm từ kinh tế đến văn hóa của gia đình mình. Họ là số ít tinh hoa trong đám đông đại trà người Hà Nội. Họ sống bằng chính sức lực mềm dẻo, linh hoạt và trí tuệ tỉnh táo, sáng suốt của bản thân. Họ chính là một trong những mẫu người đẹp của Hà Nội giữa đời thường trong thời kỳ bao cấp.

Giọng văn Nguyễn Việt Hà có sự trầm lắng trong những dòng cuối. Đang từ ngợi ca đầy thú vị, tự hào bỗng chuyển sang nuối tiếc cho một vẻ đẹp một đi không trở lại, như nền văn minh cổ đại Hy Lạp – La Mã thời xưa:

“Ngày nay, lớp cao bồi già đang dần dần tuyệt tự. Chẳng biết họ hay hay dở, nhưng bọn họ xứng đáng được ghi vào sách đỏ để bảo vệ giữ gìn như một loài khác lạ quý hiếm. Bởi không có họ, cũng như không có kẻ cắp ở chợ Đồng Xuân hoặc “phe phẩy” chợ Giời, Hà Nội sẽ vĩnh viễn mất đi một khoảng trống bi tráng nhố nhăng.

Mà nhố nhăng là một đặc tính làm nên một đô thị lớn, nhà văn Vũ Trọng Phụng chuyên viết về cao bồi gốc Hà Nội đã bảo vậy”.

Đoạn văn một lần nữa đã để lại trong lòng độc giả dư âm của cái duyên rất riêng, rất cuốn hút của Nguyễn Việt Hà. Buồn sâu lắng ẩn giấu trong nụ cười hài hước, hóm hỉnh, ý tứ liên tưởng xa xôi, nhiều chiều. Song tất cả đều khắc ghi một cảm xúc chủ đạo:  khẳng định, ngợi ca “cao bồi già Hà Nội”.

Song, đàn ông với đúng nghĩa trẻ trung, lãng tử, tài hoa thì phải đến lớp “con giai phố cổ”. Đó là loại nhân vật kế thừa bản lĩnh sống tự do và tấm lòng nhân hậu liên tài của cao bồi già Hà Nội và bạn vong niên nhưng hiện đại và lãng mạn hơn. Bằng giọng văn vừa kiêu hãnh tự hào, vừa châm biếm giễu cợt, tác giả vừa giải thích cái khác, vừa ngợi ca cái hay trong xuất xứ của con giai phố cổ: “chỉ biết con giai ở những phố mang tên “Hàng…” là đương nhiên đặc sản sang trọng rất Kẻ Chợ. Đám lóc nhóc đang lớn ấy tuổi khoảng từ mười sáu đến hai mươi và cho đến bây giờ vẫn hầu hết là con nhà buôn bán… Vì hay dính dáng tới buôn bán, thậm chí chỉ là chứng kiến, nên đám con giai phố cổ tất thảy đều hoạt bát khoáng đạt lẫn lộn cả tiểu xảo lưu manh, nhất là những đứa “không gia đình” sớm bị vứt ra vỉa hè kiểu như thằng Xuân tóc đỏ.”

Biết trân trọng giá trị cá nhân, con giai phố cổ hiểu nét độc đáo, dị biệt, đặc sắc tạo nên cái Đẹp của cuộc sống và con người. Ngay khi còn là học sinh, lúc phần đông xã hội ca ngợi lối sống tập thể nhàn nhạt, chung chung, không sắc nét thì “Hồi bao cấp, con giai phố cổ không thích chơi thành bầy đàn như ở các quân khu Lý Nam Đế hay 1A Hoàng Văn Thụ, chúng thỉnh thoảng cặp đôi và có thể học cùng nhau từ năm cấp Một”. Đến tuổi thanh niên, được bố mẹ nhà có điều kiện cho đi xe đẹp từ năm cuối cấp ba, họ đã có ý thức tạc vào khung trời chiều Hà Nội một dáng chơi đầy cá tính. “Đạp xe không chậm lắm, mặt lành lạnh nửa vui nửa như bất cần. Bọn có xe đẹp là bậc thầy của “cưa đường” một kiểu tán gái chỉ riêng có ở Hà Nội. Đa phần là chúng cưa đổ vì ngoài chuyện xông xênh dư dật, bọn chúng đều thật sự chân thành. Và các nàng khi bị cưa gần đứt, không hiểu sao thường đổ sầm về phía thằng đi cưa.”

Phớt đời, kiêu kỳ, quý phái nhưng chân thành, cùng với “thông minh tài hoa lãng tử kiêu bạc”, “không một thứ giai của vùng nào sánh nổi” đã làm nên vẻ đẹp độc đáo đầy sức quyến rũ của con giai phố cổ. Nhạc Phú Quang, tranh Lê Thiết Cương là những minh chứng đầy thuyết phục.

Từ lão niên “cao bồi già Hà Nội” đến trung niên “bạn vong niên” rồi đến thanh niên “con giai phố cổ”, Nguyễn Việt Hà – nhà văn Hà Nội đã tinh kết lại và khắc họa một ấn tượng đặc biệt độc đáo. Con giai phố cổ Hà Nội không nổi tiếng về học hàm học vị trong lĩnh vực học vấn; cũng không xuất chúng trong khoa học quân sự hay có tài kinh bang tế thế như các bậc vĩ nhân. Con giai phố cổ chỉ là những con người bình thường, làm cái nghề bình thường của gia đình buôn bán mà trong xã hội phong kiến thường được xếp ở hạng cuối cùng trong bậc thang nghề nghiệp: sĩ, nông, công, thương. Nhưng suốt đời, trải qua bao thế hệ, con giai phố cổ luôn phát huy lối sống tinh hoa của cha ông: làm thế nào để cuộc sống của mình đầy đủ hơn, giàu sang hơn, tốt đẹp hơn – ăn phải ngon, mặc phải đẹp, sống phải đường hoàng, kiêu hãnh trước cuộc đời – bằng sức lực, trí tuệ của mình mà chẳng làm hại đến ai. “Rồi ngày qua ngày, tất cả giờ đây đã quá trung niên, bọn họ thong thả ăn, tinh tế mặc, chầm chậm sống. Có bọn họ, Hà Nội hôm nay mới có dăm bảy hàng phở ngon, vài ba quán cà phê thị dân sâu lắng. Bọn họ chẳng chịu là gì, sống bạc nhược nghệ sĩ nửa mùa. Rồi trả ơn Hà Nội bằng cách quyết liệt tự nuôi cho mình những thói quen của bao đời Hà Nội”.

Bình thản, bình thường, bình lặng, thanh sạch và vĩnh cửu như chính cuộc sống. Phải chăng Hà Nội được thế giới tôn vinh là Thành phố hòa bình là vì có được chất sống và nhịp sống này. Lối sống của con giai phố cổ là một bản sắc văn hóa phi vật thể ở người Hà Nội. Lối sống ấy là ước mơ và niềm kiêu hãnh của bao thế hệ con giai đất kinh kì. Sống như thế, đôi khi du khách phương xa cảm thấy vừa buồn vừa vui. Buồn vì nó êm ả, không sóng gió, bão tố để tạo được tiếng vang gây sự chú ý cho thiên hạ; vui vì đó là một cuộc sống đẹp, đáng yêu, đáng mơ ước… Và khó có thể với tới nếu không phải là “con giai phố cổ” với chiều sâu văn hóa trầm tích, tinh hoa.

Con giai phố cổ (2013) ra đời muộn hơn nhiều so với tác phẩm đầu tay Cơ hội của chúa (1999). Nhưng không hiểu sao tôi thấy nó mới chính là mối tình đầu trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Việt Hà. Hài hước, giễu cợt, cảm nhận hồn nhiên cực kỳ duyên hóm. Giọng văn tự nhiên như lời trò chuyện tâm tình với bạn bè, người thân, độc giả và đôi khi cả với chính mình: “Một đô thị đã ngoài nghìn tuổi thì đương nhiên phải có linh hồn. Hoặc hay hoặc dở đâu có quan trọng, chỉ biết nó thăm thẳm mơ màng rêu phong tạo riêng một bản sắc. Phố cổ chính là nơi giữ gìn được đôi chút những mảnh hồn độc đáo ấy. Có phải thế chăng mà cho dù bị dung tục phát triển các phố cổ đến nay vẫn chưa chịu mất.

Mà mất làm sao được khi trong từng ngôi nhà của nó vẫn có mấy thằng con trai”.

Tất cả đều nhằm bộc lộ tình yêu day dứt, thiết tha, đầy trân trọng dưới hình thức kể, nhận xét, biểu cảm đùa vui với con giai phố cổ.

Trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Việt Hà, Con giai phố cổ là một bản nhạc có giai điệu đặc sắc, độc đáo không thể nào quên được. Nhắc tới Nguyễn Việt Hà là hình tượng con giai phố cổ lại hiện ra trong những nốt nhạc khi trầm lắng, lúc vút cao trong tiết tấu nhịp nhàng, thanh bình, dịu ngọt. Sau bản nhạc ấy, người ta hiểu hơn, yêu mến hơn, gần gũi hơn với người Hà Nội.  Bởi đó chính là những người Hà Nội tinh hoa theo con mắt của một nhà văn Hà Nội xuất sắc – Nguyễn Việt Hà.

Trong một ngàn năm Thăng Long cùng với biết bao thế hệ người Hà Nội, Nguyễn Việt Hà đã nhìn ra được những tinh hoa giữa bạt ngàn đại trà mênh mông, là “con giai phố cổ” để khẳng định và ngợi ca. Nguyễn Việt Hà cũng như Thúy Kiều xứng đáng với lời khen của Từ Hải trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du:

Khen cho con mắt tinh đời

Anh hùng đoán giữa trần ai mới già.

Hải Phòng, 9/8/2024

Thái Thị Hải

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Tình yêu sau chiến tranh – Nhớ lại chuyện làm sách ở Mỹ

Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam mang tên “Tình yêu sau chiến tranh – Văn xuôi Việt Nam đương đại” (Love after War: Contemporary Fiction from Vietnam) do nhà xuất bản Curbstone Press ở Mỹ ấn hành năm 2003. Cho đến nay, đây vẫn là tuyển tập dày dặn nhất xuất bản ở Âu – Mỹ, dày 650 trang khổ lớn, tập hợp truyện ngắn của 45 tác giả Việt Nam.

Đã hơn hai mươi năm qua đi, kỷ niệm về việc hợp tác làm tuyển tập này với các nhà văn và nhà xuất bản Mỹ vẫn còn sống động trong ký ức của nhiều nhà văn Việt Nam.

Bộ tuyển tập dày dặn nhất

Một tuyển tập lớn như Tình yêu sau chiến tranh chỉ có thể được xuất bản ở một số nước Đông Âu trước năm 1990 vì tình hữu nghị, chứ ở phương Tây thì chưa thấy. Người đọc nước ngoài sẽ gặp ở đây các thế hệ nhà văn Việt Nam, từ Tô Hoài sang Chu Văn, Nguyễn Minh Châu, Trang Thế Hy, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Vũ Bão đến Nguyễn Quang Thân, Lê Văn Thảo tới Nguyễn Huy Thiệp, Đoàn Lê, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Trần Thùy Mai, Ngô Thị Kim Cúc, Dạ Ngân, rồi Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Triều Hải cho đến Nguyễn Ngọc Tư. Có nhà văn đã khuất và người đang sung sức, có nhà văn của các vùng miền, có cả nhiều gương mặt nhà văn nữ tiêu biểu.

Là đồng chủ biên của tuyển tập này, nhà văn Mỹ Wayne Karlin và tôi đã phải viết giới thiệu gần 100 truyện ngắn Việt Nam để cuối cùng nhà xuất bản chọn lấy một nửa trong số đó. Cũng đành phải bằng lòng với sự phán quyết của nhà xuất bản, người bắt mạch được gu của người đọc Mỹ. Chúng tôi tổ chức toàn bộ truyện ngắn vào năm phần sao cho cấu trúc liên hoàn này khiến độc giả có thể đọc từ đầu đến cuối, tuần tự như một cuốn tiểu thuyết, hình dung ra một phần đời sống xã hội Việt Nam, phần nào tâm lý con người và tâm trạng thời ta đang sống. Có thể là ít nhiều diện mạo văn chương Việt Nam từ sau chiến tranh nữa.

Bộ sách văn chương Việt Nam và một nhà văn Mỹ

Người đứng tên chủ biên bộ sách Những tiếng nói từ Việt Nam của NXB Curbstone Press là nhà văn Wayne Karlin. Ông tham gia dịch, hiệu đính và trau chuốt tất cả các bản dịch sách Việt Nam: hợp tuyển truyện ngắn hậu chiến của các nhà văn Việt Nam và Mỹ mang tên Phía bên kia góc trời (The Other Side of Heaven). Nhân tiện xin nói, chữ heaven ở đây không phải là thiên đường như có người dịch, mà có nghĩa là bầu trời. Việt Nam và Mỹ ở tận hai góc trời, giờ đây cần bắc một nhịp cầu hòa giải bằng văn chương nối liền hai góc trời xa xôi ấy. Đó là ý tưởng của Wayne Karlin khi làm cuốn sách được Hội Các nhà phê bình Văn học Mỹ bầu chọn là cuốn hợp tuyển hay nhất của năm 1995. Ông đã cộng tác với nhiều dịch giả người Việt và người Mỹ để cho ra những bản dịch Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, Những ngôi sao, trái đất, dòng sông của Lê Minh Khuê, Thời gian của người của Nguyễn Khải, Trong sương hồng hiện ra và Người đàn bà trên đảo của Hồ Anh Thái, Sang sông của Nguyễn Huy Thiệp, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Nghĩa địa xóm Chùa của Đoàn Lê…

Năm 1998, sau khi xuất bản sách của nhà văn Lê Minh Khuê và của Hồ Anh Thái, NXB Curbstone Press mời chúng tôi làm cố vấn biên tập cho bộ sách Những tiếng nói từ Việt Nam (Voices from Vietnam), bộ sách kéo dài hơn mười năm với những cuốn sách nêu ở trên. Tuy nhiên thời gian chủ yếu dành cho việc sáng tác, chúng tôi lượng sức khó theo cho hết bộ sách còn kéo dài. Chính vì vậy, Wayne Karlin và tôi đề xuất nhà xuất bản làm một tuyển tập, cố gắng giới thiệu càng nhiều càng tốt tác giả Việt Nam trong đó, coi như một sự hoàn tất, trước khi rút về viết sách của mình. Còn nhiều tác phẩm chúng tôi đã giới thiệu nhưng không được NXB chấp nhận, kể cũng đáng tiếc. Tuy vậy nói cho cùng đây chỉ là nỗ lực của cá nhân những người làm sách, trong khi chưa có một công trình cấp nhà nước cho việc đối ngoại bằng văn chương.

Trước khi kể về Wayne Karlin ở khía cạnh một người dịch sách và hiệu đính có nghề, xin giới thiệu đôi nét về sự nghiệp văn chương của ông. Wayne Karlin là tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết gây dư luận như Đường cắt, Cho chúng ta, Vai phụ, Những người tù, Tiếng đồn và bia mộ, Xứ sở ao ước, Genizah, trong đó  Những linh hồn phiêu dạt đã được dịch ra tiếng Việt, kể về việc tác giả đã kết nối để đưa kỷ vật một chiến sĩ về với gia đình ở Việt Nam – anh đã hy sinh khi đối đầu với một người lính Mỹ…

Wayne Karlin đã đoạt một số giải thưởng văn học có uy tín của Mỹ. Ông là nhà văn có văn phong đẹp, ngôn ngữ chắt lọc và giàu nhạc điệu. Thời báo New York, một tờ báo được tiếng là có gu khi ấy, đã hạ một lời khen những cuốn sách Việt Nam kể trên “được dịch bằng một thứ ngôn ngữ tiếng Anh hạng nhất” (first-rate English language). Công này chủ yếu là của Wayne Karlin.

Hợp tác giữa những đồng chủ biên

Tôi trực tiếp dịch một nửa trong số gần 50 truyện ngắn của tuyển tập, nhưng với tư cách chủ biên, cả Wayne Karlin và tôi đều phải vất vả nhiều với toàn bộ tập sách. Trong quá trình cùng nhau dịch, không thể nhớ hết những lần tranh luận. Chúng tôi đều cầu toàn, và tất nhiên tranh luận phát sinh cũng vì độ chênh giữa hai ngôn ngữ vốn sẵn có nhiều điểm khác biệt, giữa lối tư duy của hai dân tộc cũng rất nhiều khác biệt.

Chẳng hạn ở đầu truyện Cô gái đầm sen, nhà văn Nguyễn Phan Hách viết: “Một lần về quê, tránh nắng, anh khởi hành đi bộ từ sáng tinh mơ… Sương sớm mù mịt. Gió nhẹ hây hây đem theo mùi sen thơm ngát. Đang đi trong ánh trăng mờ, Tuệ thấy một cô gái từ đầm sen bên đường bước lên…” Người đọc Việt Nam dễ dàng xác định được thời gian của câu chuyện này: đó là lúc sáng sớm, trời còn mờ tối, còn sương và còn trăng. Nhưng Wayne Karlin đã thêm vào đây hai chữ xác định thời gian: That night (đêm ấy). Tôi không đồng ý, trong nguyên bản là sáng sớm, làm sao có thể đổi thành đêm được? Wayne Karlin cũng giữ ý kiến của ông, độc giả Mỹ sẽ không sao hình dung nổi là early in the morning (sáng sớm) lại có thể xảy ra câu chuyện trong sương mù, trong ánh trăng và trên trời còn sao.

Tranh luận mãi, cuối cùng tôi nhượng bộ. Lý do: bản tiếng Anh là dành cho độc giả Mỹ, những người vốn duy lý, đòi hỏi sự chính xác về không gian, thời gian, về sự sở hữu… chứ không chấp nhận sự mập mờ thấp thoáng. Tất nhiên đây là do hai cách tư duy và tiếp nhận khác nhau, còn trên thực tế khoảng ba bốn giờ sáng như thế, bên này có thể gọi là sớm hôm ấy, bên kia lại gọi là đêm ấy thôi mà.

Sang đến truyện Lúa hát của Võ Thị Xuân Hà, đúng là tư duy chính xác của người Mỹ cũng khiến ta phải lưu ý. Tác giả viết rằng ở làng ấy có tục làm lễ rước muối quanh cánh đồng, rồi người ta rắc muối vào bếp, lấy tro bón ruộng cho lúa xanh. Wayne Karlin giật mình: người Mỹ tin rằng đất mặn là đất xấu, không trồng trọt được, đọc thế ai mà tin nổi? Tôi điện thoại hỏi tác giả, chị bảo đó chẳng qua là tín ngưỡng của làng, như là làm phép, người ta đâu có đổ muối xuống ruộng làm cho đất mặn. Đoạn này cũng không thể lược đi, người dịch phải trung thành. Rốt cuộc hai người dịch chúng tôi chấp nhận đặt thêm cái chú thích về lễ rước muối như một tín ngưỡng, bằng cách ấy hạn chế được phản ứng của người đọc bản tiếng Anh. Cũng vẫn ở truyện này, Wayne Karlin bàn, cái tít Lúa hát có thể gây hiệu quả trong tiếng Việt, nhưng trong tiếng Anh nó véo von văn vẻ và quá nhẹ. Ông đề nghị đổi tên truyện gây ấn tượng hơn cho người đọc Mỹ: Lúa và muối (Rice and Salt).

Còn ở truyện Cầu thang, Nguyễn Thị Thu Huệ vẽ ra khung cảnh một cái ngõ Hà Nội mà chúng ta đều dễ hình dung: “Đầu ngõ là một hàng phở. Họ bán chui bán lủi nên phải giấu mỗi nơi một thứ. Bánh phở thì treo lủng lẳng ở giữa ngõ. Cuối ngõ thì có hai chậu bát lình sình nước và những chiếc bát nổi cùng hành ớt và váng mỡ”. Nhưng một người ngồi tít ở bang Maryland bên Mỹ, dù đã sang Hà Nội nhiều lần cũng khó hình dung ra. Ông hỏi tôi: chủ hàng phở là người trong cái ngõ ấy hay sao mà ông ta được chiếm chỗ để bán hàng? Và ông ta treo bánh phở lên ngõ bằng cách nào? Người Mỹ không thể tưởng tượng được sự chiếm dụng một cái ngõ chung, cản trở mọi người qua lại, cũng không hiểu được cách người ta chỉ kinh doanh một thời điểm nào đó trong ngày thì để thực phẩm vào đâu? Tôi giải thích rằng chủ hiệu phở có thể là người trong ngõ, cũng có thể là người ở nơi khác chỉ đến để bán hàng. Lại còn vẽ cho ông thấy một trong những cách người ta có thể treo bánh phở trong ngõ: đóng đinh lên tường, nối tạm một đoạn dây, hoặc đơn giản trong thúng trong túi… Wayne Karlin thích thú: Có thể đưa thêm câu này vào truyện được không? Tất nhiên, phải hỏi ý kiến Thu Huệ, chị vui vẻ bằng lòng. Đúng là tất cả vì người đọc ở bên kia đại dương, những người còn thiếu nhiều kiến thức thực tế về Việt Nam.

Nhưng ở trường hợp sau đây thì ngược lại. Nhiều khi một khái niệm nghe rất thuận tai ở đây lại khó tiếp nhận ở bên kia. Câu cuối cùng trong truyện Tiếng hát và tiếng khóc của nhà văn Trang Thế Hy: “Nó nhắc nhở người cầm bút đừng bao giờ đánh mất cái điểm tựa đáng tin cậy của mình là nỗi đau khổ lớn của số đông người thầm lặng”. Cụm từ “số đông người thầm lặng” tôi chuyển chính xác thành “the silent majority”. Wayne Karlin bàn: ở Mỹ, cụm từ này thường được những chính khách cánh hữu dùng như một thứ bánh vẽ để mỵ dân, vì thế người Mỹ dị ứng với nó. Để tránh gây phản cảm cho người đọc, ông đề nghị lược bỏ chữ majority (số đông), câu văn còn lại là “nỗi đau khổ lớn của những người thầm lặng”, vẫn giữ được khá chính xác nội dung.

Còn truyện Bố con là đàn bà của nhà văn Vũ Bão, tôi đã đọc nhiều lần, nhưng phải đến khi bắt tay vào dịch, phải nghiền ngẫm từng câu từng chữ như chính mình là người viết thì mới phát hiện ra những chi tiết nhỏ. Nhỏ đến mức tác giả không biết, biên tập viên tiếng Việt cũng bỏ qua, bao nhiêu người đọc cũng bỏ qua nốt. Nhưng đọc nó bằng con mắt của người đọc nước ngoài duy lý, tôi không bỏ qua được nữa. Ví dụ đoạn này: “Vừa mới nhận buồng, Mì đã xắn tay áo, xắn ống quần, lấy chổi quét nhà, quét tường, treo một loạt tranh diễn viên, cắm hoa vào vỏ đạn 37 li, đóng đinh treo gương mỏ neo, xé cánh tay áo đã rách lau giường, gấp chăn màn vuông bánh chưng đặt ngay ngắn ở đầu giường. Mì chạy đi mượn búa đóng đinh treo mắc áo, căng dây kéo ri đô…” Tôi vừa đánh dấu vào hai lần đóng đinh và độc giả dễ dàng nhận ra rằng lần đóng đinh thứ hai cô Mì mới có búa, còn lần đầu cô đóng bằng gì thì chỉ có nhà văn Vũ Bão cây hài hước mới biết được. Một đoạn khác, “Ngát bực mình ngồi trong giường nói vọng ra”, nhưng chỉ qua sáu dòng đối thoại thì lại là “Ngát vẫn nằm trên giường”. Tất nhiên tôi đã phải hỏi ý kiến của  tác giả và xoay chuyển lại theo kiểu một người dọn vườn văn. Chưa hết, khi bản tiếng Anh vào tay Wayne Karlin, ông kêu lên rằng trong truyện chỉ nhắc đến hai cô bạn cùng phòng đi lấy chồng, tại sao ngay từ dòng đầu tác giả lại viết: “Trong phòng có bốn chị em thì ba người đã lần lượt đi lấy chồng”. Trong văn cảnh này, độc giả Việt Nam vẫn ngầm hiểu là tác giả có quyền chỉ nhắc đến hai trường hợp nổi bật trong số ba cô bạn cùng phòng đã đi lấy chồng, nhưng độc giả Mỹ tính đếm rõ ràng không chịu “ngầm hiểu” như vậy. Cuối cùng chúng tôi phải xoay lại: “tất cả” chị em trong phòng đã lần lượt đi lấy chồng…

Như vậy, là đồng chủ biên, chúng tôi không chỉ làm người dịch sách, chọn lựa tác phẩm, sắp xếp truyện vào các phần theo một cấu trúc gắn kết tương đối hợp lý, mà còn phải làm người biên tập hiểu rõ gu của độc giả, thậm chí phải làm người dọn vườn văn. Chắc rằng người đọc nếu có đối chiếu song ngữ sẽ nhận ra trong bản dịch những chỗ mà dịch giả và người chủ biên đã xoay chuyển như đã nói ở trên.

Một nhà xuất bản yêu văn chương Việt Nam

Hệ thống giáo dục Mỹ vẫn thường để ngỏ một phần giáo trình cho các trường tự tìm thêm sách giảng dạy. Nhà văn Wayne Karlin là giáo sư Đại học St. Mary ở Maryland, ông cùng với NXB Curbstone quảng bá bộ sách Việt Nam đến các trường đại học và nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt.

Cũng nhờ sự quảng bá của Wayne Karlin và NXB Curbstone, các trường đại học Mỹ còn mở rộng giáo trình sang những cuốn sách xuất bản ở nhiều nước khác như Thời xa vắng của Lê Lựu (nhà xuất bản Đại học Massachusetts), Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp (nhà xuất bản Đại học Oxford ở Malaysia), Người đàn bà trên đảo và Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái (nhà xuất bản Đại học Washington và Đại học Texas), Thiên sứ của Phạm Thị Hoài (Hyland House ở Australia), Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (Secker & Warburg ở Anh), tập thơ Đường xa của Nguyễn Duy…

Người Mỹ ít đọc sách dịch. Hàng nghìn nhà xuất bản tất nhiên chú trọng  đến việc sách in ra có bán được hay không. Họ không có nghĩa vụ tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc. Wayne Karlin đã tìm ra NXB Curbstone nhận in sách Việt Nam và đưa sách hiện diện chính thức trên thị trường sách toàn quốc, có mặt trong hệ thống hiệu sách và bán cả trên mạng (hãng Amazon.com). Số lượng phát hành lần đầu, như mọi NXB khác ở Mỹ, thường là 5.000 bản, nhưng khác một điều là sách của NXB Curbstone hàng năm vẫn đều đều được in nối bản. Còn sách do các trường đại học xuất bản chủ yếu chỉ bán trong hệ thống trường đại học ở Mỹ và những nước liên kết, với số lượng hạn chế là 1.000 bản. Số lượng sách phát hành là một bí mật kinh doanh, chỉ có NXB và cơ quan thuế biết với nhau, không ghi đằng sau mỗi cuốn sách như ở ta.

Curbstone Press là nhà xuất bản không lợi nhuận. Tính chất không lợi nhuận khiến thu nhập của người làm xuất bản và nhuận bút cho tác giả và dịch giả đều mang tính tượng trưng. Không lợi nhuận còn có nghĩa là nhà xuất bản không phải nộp thuế thu nhập. Để đáp lại việc không phải đóng thuế, họ phải làm nghĩa vụ phát triển văn hóa xã hội bằng cách tặng sách cho các thư viện trên toàn quốc, cho các trường học… Sách của NXB vì thế được in ít nhất 5.000 cuốn bán trong toàn quốc để trang trải chi phí in ấn, phát hành và dịch vụ, ngoài ra còn có một số lượng đáng kể được đem tặng đến tận tay sinh viên và trí thức.

Sau khi giám đốc Curbstone, ông Alexander Taylor qua đời cuối năm 2007, toàn bộ dự án và công trình xuất bản của Curbstone Press đã được chuyển giao sang nhà xuất bản Đại học Tây Bắc Mỹ.

Những luồng dư luận

Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam phát hành và tạo được dư luận tốt trên báo chí. Đây là ý kiến của nhà văn Robert Olen Butler, tác giả cuốn sách đoạt giải Pulitzer Hương thơm từ núi lạ (đề tài Việt Nam): “Nhiều nhà văn Việt Nam là những tác giả tầm cỡ và tuyển tập bằng tiếng Anh này là biểu hiện đầy đủ nhất. Wayne Karlin và Hồ Anh Thái đã làm chủ biên và dịch một cuốn sách bậc thầy sẽ còn lại mãi”[1]. Báo Biên niên sử San Francisco ngày 2-11-2003 nhận định: “Tình yêu sau chiến tranh là tuyển tập văn xuôi đương đại Việt Nam lớn nhất bằng tiếng Anh và không còn lời nào khác ngoài chữ hoành tráng để nói về cuốn sách này. Tuyển tập có thể dễ dàng sánh với những bậc thầy truyện ngắn được khuếch trương nhiều của chúng ta như Raymond Carver, John Cheever và Grace Paley hoặc những nhà văn có tính thưởng thức của tạp chí New Yorker và Playboy. Chủ ý so sánh với Playboy bởi vì trái ngược với huyền thoại về các nước cộng sản, không có chủ đề nào là không thể đối với những nhà văn ở đây, ít ra là trong mọi sự thể hiện đa dạng và phức tạp về năng lượng sắc dục của con người”[2].

Còn Thời báo St. Petersburg ra ngày 14-9-2003 bình luận: “Tình yêu sau chiến tranh là một tuyển tập văn xuôi sinh động của những tác giả mà tác phẩm xếp vào hàng những gì hay nhất của văn chương thế giới. Là chủ biên đồng thời là dịch giả, Wayne Karlin và Hồ Anh Thái xứng với một tấm huy chương vì đã tập hợp được những tác phẩm này trong một tuyển tập. Văn phong đẹp, Tình yêu sau chiến tranh cho thấy rằng văn học Việt Nam, và cả đời sống ở đó, đang phát triển mạnh”[3].Năm 2003 báo Biên niên sử San Francisco bình chọn tuyển tập này vào bản danh sách 100 cuốn sách hay. Có lẽ ngay cả ở một nước có văn hóa đọc phát triển, khó có ai đọc hết 100 cuốn sách hay nhất trong năm. Nhưng việc bình chọn này có ý nghĩa với những nhà phê bình văn học và đội ngũ biên tập viên theo dõi xuất bản ở Mỹ, sau đó là độc giả yêu văn chương.

Chú thích:

[1] Many of the writers of Vietnam are world-class artists, and this is the most comprehensive demonstration of that to be found in English language. Wayne Karlin and Ho Anh Thai have edited and translated a masterful volume that will endure (Robert Olen Butler, author of “A Good Scent from a Strange Mountain”).

[2] Love After War” is the largest collection of contemporary Vietnamese fiction writers in English translation, and there is no word for it other than magnificent. This collection could easily hold its own alongside our own much-vaunted short-story masters such as Raymond Carver, John Cheever and Grace Paley, or the best literary entertainers from the New Yorker and Playboy. The comparison with Playboy is deliberate, because, contrary to the myths about communist countries, no topic is off-limits for these writers, least of all the multifarious, convoluted expressions of the human libido (San Francisco Chronicle, November 2, 2003).

[3] “Love After War” is a vital collection of fiction by authors whose work ranks with the best world literature. Working as translators as well as editors, Karlin and Thai deserve a medal for gathering these fictions up in one omnibus. In high style, Love After War shows that Vietnamese literature, and life, are going strong (St. Petersburg Times, September 14, 2003).

12/3/2025

Hồ Anh Thái

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Tình yêu nơi “Những đóa hoa khẽ hương” của Bùi Thanh Hà

Nếu đọc thơ 1-2-3 của nhà thơ Phan Hoàng – “Giáo chủ”- người sáng lập thơ 1-2-3 ta phải đọc đi đọc lại không dưới vài lần để ngõ hầu tìm hiểu ý tứ ẩn mình sau câu chữ, cô đọng súc tích, dung chứa nội dung lớn hơn ngôn từ thì đọc thơ Bùi Thanh Hà, hoàn toàn không còn cảm giác ấy! Phải chăng do chị cũng là giáo viên như tôi nên dễ có sự đồng điệu trong cách tiếp cận?

Thơ Bùi Thanh Hà đề tài khá phong phú, phần lớn viết về tình yêu; có bài viết về cha mẹ, có bài viết về quê hương (quê mẹ) và có nhiều bài viết về người lính, về cảnh quan thiên nhiên những nơi chị từng đặt chân đến (Miền Trung, Hà Giang…).

Tập thơ Những đóa hoa khẽ hương có 122 bài thơ, chia làm 5 phần, phần 1 Ôm hương gió trời thầm lặng ngỏ lời thương, phần 2 Có một bầu trời ướp hương kỷ niệm, phần 3 Những vì sao lung linh không bao giờ tắt, phần 4 Có nỗi nhớ chở đầy dòng sông và phần 5 Anh tin không trong trái tim em có một đóa hồng. Sự sắp xếp theo chủ đề cũng mang tính tương đối bởi trong mỗi phần đều có điểm chung, phần lớn viết về tình yêu. Phần thứ nhất có “Biển dạt dào dâng nỗi nhớ đầy vơi”, phần 2 “Trăng lơ lửng chờ anh trong vườn khuya khao khát”, phần 3 “Địa cầu cần tình yêu như ta cần nhau giữa miền thăm thẳm…”, phần 4 “Nụ hôn mùa đông đang lướt vội/ Hơi thở mùa đông còn nhoi nhói” và phần 5 Những đóa hoa tình yêu không ngủ… hát bài ca vô thường.

Cho hay, tình yêu muôn thuở là đề tài hấp dẫn của thơ, cho dù đó là thơ cổ điển hay hiện đại. Nói chính xác từ thời dân tộc ta chưa có chữ viết, ca dao đã thể hiện sâu sắc tình yêu lứa đôi. Sau này đã có một thời gian khá dài nhiều nhà nghiên cứu đi tìm lời giải đáp cho việc thể thơ nào phù hợp để diễn tả tình yêu lứa đôi. Với Truyện Kiều của Nguyễn Du thì lục bát quả thực là một thể thơ chuyển tải những cung bậc cảm xúc tình yêu vô cùng hấp dẫn. Đến văn học hiện đại thơ ngũ ngôn như Sóng của Xuân Quỳnh, thơ tự do như Biển của Xuân Diệu cũng dạt dào cảm xúc để diễn tả một sự thật hiển nhiên “nếu không có tình yêu thì vầng mặt trời sẽ tắt” như cách nói của một thi sỹ phương Tây hoặc sự so sánh bằng những hình ảnh đẹp như nhà thơ Xuân Diệu “Cây nến chỉ thực sự sống khi đang cháy sáng, cây đàn chỉ thực sự sống khi rung lên những giai điệu, thanh âm và con người chỉ thực sự sống khi đang yêu”.

Thơ về tình yêu luôn hấp dẫn dù viết theo thể nào, xuất hiện trong thời đại nào. Vài năm gần đây (từ 2018) trên diễn đàn xuất hiện thể thơ 1-2-3 do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng và thành công! Tính đến nay đã có hàng ngàn người sáng tác thể thơ này và một số trường đại học phối hợp với Hội Nhà văn của tỉnh hội thảo về thơ 1-2-3.

“Thơ 1-2-3 mỗi bài thơ là một chỉnh thể độc lập gồm 3 đoạn 6 câu.

Đoạn 1 chỉ có một câu, tối đa 11 chữ, đồng thời cũng là tên bài thơ, nhằm tránh trùng lắp tên những bài thơ đã xuất hiện.

Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 chữ.

Đoạn 3 có 3 câu, với mỗi câu tối đa 13 chữ.

Chữ càng tinh lọc, càng đa nghĩa càng có giá trị.

Đề tài thơ 1-2-3 hoàn toàn tự do, nội dung chủ yếu đi từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội tâm tác giả muốn biểu hiện.

Đặc biệt khuyến khích tính độc lập từng câu thơ trong mối tương quan toàn bài, đồng thời giữa câu 1 và câu 6 có tính hô ứng để nội dung bài thơ chặt chẽ, thống nhất trong một không gian thẩm mỹ riêng biệt.

Không khuyến khích biến thể các loại thơ truyền thống: lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn… thành thơ 1-2-3”.

Như vậy thơ 1-2-3 có nét giống với thơ tự do, không bị gò bó bởi niêm, luật, vần; không bị chi phối bởi cách đặt thanh bằng, thanh trắc sao cho đúng vị trí. Thơ 1-2-3 cũng như các thể thơ truyền thống thể hiện được tất cả các cung bậc cảm xúc của con người và nhà thơ Bùi Thanh Hà đã thành công với tập thơ Những đóa hoa khẽ hương.

Những đóa hoa khẽ hương của Bùi Thanh Hà sử dụng rất nhiều hình ảnh của thiên nhiên như mây, mưa, ánh trăng, cỏ biếc, gió lao xao…. Có cảm giác rằng tất cả những hình ảnh vốn đẹp đẽ xuất hiện trong thiên nhiên đều được đưa vào thơ Bùi Thanh Hà. Cách sử dụng ngôn từ của chị cũng linh hoạt và vô cùng nữ tính khi chủ thể trữ tình trong mỗi bài thơ thường là nhân vật nữ xưng em.

Khi là “Gió muốn nói gì cùng em”

Gió muốn nói gì cùng em/ Trong bóng đêm những vì sao lặn vào biển khát/ Lặn vào mắt em…/ Gió vuốt ve làn tóc/ Nơi đảo xa những chàng trai mở căng lồng ngực/ Gửi gió về…

Khi là “Cây lá nghiêng mình soi bóng nước”

Cây lá nghiêng mình soi bóng nước/ Em nghiêng mình soi đáy mắt anh/ Hồ Gươm lấp lánh nghiêng trời biếc…/ Những tiếng lòng ngân lên tha thiết/ Nghiêng cánh heo may ngàn năm cũ theo về/ Hiện tại soi mình vào quá khứ say mê.

Cho hay, “em” là một hồn thơ phong phú, cách sử dụng thi liệu quen thuộc mà không sáo mòn!

Thơ viết trên đảo, viết về người lính có cả thời điểm bình minh và hoàng hôn, có những cảm xúc vỡ òa của người trung du lần đầu đi biển Tôi- người đàn bà trung du hay mơ về với biển/ Muốn ôm cả đất trời; có những nỗi niềm đồng cảm với lính đảo xa xôi…

Hoàng hôn trên đảo nhỏ/ Sóng mặc áo biếc – hồng/ Mây gọi chim về núi…/ Mắt em có sóng nhìn bối rối/ Bờ cát giấu chân người/ Biển dạt dào dâng nỗi nhớ đầy vơi…

Và khát vọng “Tôi muốn ôm đảo vào lòng” đã gói trọn tình cảm trìu mến thân thương của nhà thơ Bùi Thanh Hà với biển, đảo, với đất trời, đằm sâu một tình yêu Tổ quốc và trân trọng những hy sinh, những cống hiến lặng thầm của lính đảo.

Những bài thơ viết về tình cảm của cha mẹ trĩu nặng ấm áp yêu thương; Có những cung bậc cảm xúc thường gặp như tình cảm của con đối với cha mẹ cũng có những cung bậc cảm xúc thể hiện sự từng trải, như kinh nghiệm các cụ xưa để lại, rằng “có sinh con mới hiểu lòng cha mẹ”, có trưởng thành mới hiểu được những cử chỉ của mẹ dành cho cha và ngược lại. Đó là những câu thơ chuyển chở chất nhân văn của người con hiếu thảo, không nói nhiều hai tiếng biết ơn nhưng vẫn ánh lên lòng biết ơn chân thành và đậm nét sau câu chữ!

Đọc thơ chị, thấy có nỗi lòng người cha đau đáu:

Bây giờ cha không còn nhớ nữa/ Những đớn đau trong cảnh lao tù/ Sóng Phú Quốc gầm gào mặn chát…/ Chỉ những vết thương trên người cha chợt nhắc/ Những ngày mưa gió bão bùng/ Lá phổi nghẹn ngào…đồng đội cõng trên lưng…/

Có tiếng khóc thầm của mẹ mỗi đêm:

Mẹ khóc bao nhiêu đêm/ Chúng con không đếm nổi/ Bóng mẹ in vách tường cao vời vợi…/ Mẹ nhìn ngọn lửa bập bùng/ Có tiếng con reo/ Có bữa cơm nghèo tiễn con ra trận…

Bùi Thanh Hà là người con gái hiếu thuận, quan tâm cha, mẹ. Sự quan tâm ấy cũng rất nữ tính và đằm thắm, chân thành. Chị sống cùng cha những kỷ niệm một thời chiến tranh, thời cha bị giam cầm tại nhà lao Phú Quốc, chị thức cùng mẹ những đêm trường dài dặc niềm thương, trong nước mắt đêm đêm khi mẹ lo lắng cho đứa con ra trận. Ngọn lửa bập bùng in bóng mẹ trên vách tường cao vời vợi mỗi đêm sẽ ấm áp thêm khi mẹ hoài niệm về hành trình nuôi nấng các con từ tấm bé, và chắc hẳn mẹ còn vui hơn nhiều lần như thế khi biết có người con gái hiếu thảo là nhà thơ- nhà giáo Bùi Thanh Hà đang thấp thỏm lo âu cùng mẹ, hòa điệu cùng tâm trạng mẹ đêm đêm.

Bùi Thanh Hà là vậy, thơ chị chân thành, đằm thắm. Khi viết về cha mẹ, chị luôn gửi trọn vào đó bao tình yêu, tình thương ấm áp ngọt ngào, chị thừa hưởng nơi mẹ, cha tình yêu da diết

Con nhìn thấy những dòng nước mắt/ Lăn trên gò má nhăn nheo/ Nhìn thấy cả nét cười trong veo trên đôi môi khô héo./ Giờ con mới hiểu thẳm sâu ngôn ngữ không lời/ Khi ánh mắt cha nhìn mẹ xa xót…âu yếm…chơi vơi/ Bàn tay mẹ run rẩy nắm tay cha…nắm mãi…

Và, chiếm dung lượng nhiều nhất vẫn là thơ viết về tình yêu lứa đôi!

Tình yêu trong thơ của Bùi Thanh Hà phong phú các cung bậc cảm xúc…

Em vớt từng ánh trăng vàng/ Thả vào đêm thao thức/ Cho biển khuya sóng xô rạo rực…/ Trăng tan vào đáy mắt/ Trăng ngọt lịm bờ môi/ Làm sao vớt được ánh trăng nơi mắt ấy người ơi!

Không thể nào không yêu những đêm trăng như thế, những nỗi niềm như thế? Ta bắt gặp ở đây dáng dấp câu thơ nổi tiếng một thời của nhà thơ Hoàng Hữu. Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau khi Em đã khóc/ Trăng từng giọt tan vào em mặn chát… trong bài thơ nổi tiếng Hai nửa vầng trăng. Ánh trăng, hoài niệm, ước vọng và tình yêu luôn là những hình ảnh gắn kết một cách đầy chất thơ khi diễn tả những rung động rất thực, rất đời nhưng cũng huyễn hoặc và lung linh như ảo ảnh.

Bài Anh bảo em “dẫu lìa ngó ý…được viết một cách khéo léo khi đan cài, trích dẫn lời thơ, lời hát từ các ca khúc nổi tiếng… khiến người đọc như được sống lại không khí của thơ, nhạc tình yêu và mùa thu.

Anh bảo em “dẫu lìa ngó ý…/ Vấn vương tơ lòng” nào chuyện của sen/ Những cọng hoa buồn tơ trắng lệ sương/ Dòng sông chở bài ca ra biển, cánh đồng ủ ấp hương sen/ Còn anh và em ướp hương mùa cũ/ Những đóa hoa tình yêu không ngủ… hát bài ca vô thường.

Còn anh và em ướp hương mùa cũ/ Những đóa hoa tình yêu không ngủ… hát bài ca vô thường. Đấy đích thực là câu thơ của tình yêu không có mùa, không có tuổi, “mùa cũ” chỉ là dấu mốc thời gian, chứ tình cảm nồng nàn và thủy chung thì luôn luôn tươi mới.

Bài Đêm qua em nằm mơ anh về giá trị đọng lại ở câu kết, hay nói cách khác câu kết làm nên linh hồn bài thơ, khiến cho bài thơ có sức sống lâu bền, đi cùng năm tháng, đi cùng tình yêu và niềm tin bất diệt

Đêm qua em nằm mơ anh về/ Bóng đêm chợt xanh biếc/ Anh bế em quàng lên vai chiếc khăn màu ly biệt/ Tiếng súng chói tai/ giấc mơ biến mất/ Những cánh chim xa khuất gọi bình minh.

Thơ hay là thơ có sức ám ảnh và bài thơ Đêm qua em nằm mơ anh về là một trong số những bài thơ như vậy trong tập Những đóa hoa khẽ hương của nhà thơ Bùi Thanh Hà. Mới đọc thấy có sự phi lý, đêm mơ thấy anh, đêm chợt xanh biếc, đêm đổi màu theo với niềm tin, ước vọng sum họp và hạnh phúc ngập tràn. Nhiều người trong đêm gặp được giấc mơ đẹp, tỉnh dậy còn nuối tiếc và ước giấc mơ lặp lại hoặc mơ tiếp… Nhưng với Bùi Thanh Hà, chị không nói như vậy, dù tôi biết, không người con gái nào không ước được nối tiếp giấc mơ gặp gỡ, giấc mơ yêu thương, giấc mơ hạnh phúc. Điều phi lý trở nên có lý khi câu cuối bài thơ xuất hiện Những cánh chim xa khuất gọi bình minh. Câu thơ không đơn thuần phản ánh hiện thực sau đêm thì bình minh đến mà hàm chứa thông điệp về ngày mai. Bình minh là biểu tượng của ngày mai tươi sáng, ngày chiến tranh kết thúc, ngày anh về là hiện thực chứ không còn là ảo ảnh, không còn là khao khát cháy bỏng hiển hiện thành giấc mơ đêm qua…

Những đóa hoa khẽ hương là một tập thơ đầy đặn, giàu cảm xúc, nội dung phong phú, nhiều câu đẹp, nhiều bài hay, để lại dư âm trong tâm trí người đọc. Ngay nhan đề đã thể hiện nữ tính, mang nét dáng thục nữ Bùi Thanh Hà; 122 bài thơ nho nhỏ tựa như 122 đoá hoa xinh xắn, bình dị, khiêm nhường, dịu dàng, thầm lặng, khe khẽ dâng hương, toả lan Cái Đẹp cho đời. Đọc thơ chị, lại nhớ câu nói của Hàn Mặc Tử “Người thơ phong vận như thơ ấy”. Cảm ơn vì chị đã làm thơ, đã khắc khoải, đã bâng khuâng, đã nghẹn ngào theo từng con chữ để độc giả được thưởng thức, được trải nghiệm, được đồng hiện và đắm say.

15/3/2025

Đỗ Nguyên Thương

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Tính triết luận và hoài niệm trong thơ Vân Anh

Bằng cách khai thác, đẩy khả năng triết luận và hoài niệm trong thơ của mình thành một ngôn ngữ riêng, phong cách riêng, tôi nghĩ, nhà thơ Vân Anh đã tạo ra một cá tính văn học trên vùng đất Xứ Nghệ.

Đọc thơ Nguyễn Vân Anh không khó. Nhưng tìm ra được một cái “tít” để viết một bài thật sâu, thật đậm, thật rõ nét, thật đặc trưng Vân Anh thì không dễ. Người ưa chất bàn luận, triết lý, thế sự, thời cuộc thì tìm thấy cái chất bàn luận, triết lý, thời sự, thời cuộc. Người ưa tái hiện, dựng lại phong cảnh làng quê đất nước thì tìm thấy cái chất hội họạ, ký sự. Người ưa cái chân chất, mộc mạc, bình dị, gần gũi, chân quê, đằm thắm thì tìm thấy trong thơ bà cái chất mộc mạc, giản dị, chân quê, đằm thắm. Người ưa hoài niệm, hồi ức về tình yêu thì tìm thấy trong thơ bà cái chất hoài niệm, hồi ức về tình yêu. Đọc rồi ngẫm. Bày ra rồi vo lại. Riêng rẽ rồi khái quát. Cuối cùng tôi nhận ra, hơn hai trăm bài thơ trong “Vân Anh tuyển tập thơ” (NXB Nghệ An 2023) có một cái chung, một cái nổi bật, một cái đặc trưng Vân Anh. Đó là hồn thơ chân chất, mộc mạc, giản dị, không cầu kỳ, không màu mè, đa cảm, nhạy cảm. Tiếng thơ và tiếng lòng là một. Con tim và khối óc là một. thơ nhập vào thời cuộc. Thời cuộc nhập vào thơ. Từ ánh nhìn đến nhịp tim không xa. Từ nhịp tim đến ngôn ngữ thơ càng không xa.

“Xứ Nghệ” là điển hình cho cách nghĩ, cách cảm tuôn trào, mạnh mẽ, phóng khoáng, bộc trực, không có “vùng đệm” giữa con tim và khối óc. Bà viết bằng sự thúc giục của nội lực. Câu chữ đòi được bật ra: “Xứ Nghệ/ Gió Lào hất tung bãi cát/ sang bờ Bắc sông Lam/ sông Lam dải lụa xanh/ đọng phù sa thái âm mát lành địa linh/ dòng đời trong đục thắt ngang lở bồi/ con thuyền ví giặm đầy vơi/ Chở mai sau cập về nơi cội nguồn”…/ “Xứ Nghệ/ Đại thi hào Nguyễn Du/ Bà Chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương/ nơi hai dòng chảy văn chương dân dã, bác học hợp lưu”(Xứ Nghệ). Xúc cảm bật ra. Không kìm nén được mạch con chữ. Niềm tự hào về vùng đất địa linh nhân kiệt tuôn chảy. Thế là bà tả, bà kể, bà liên tưởng. Bà miên man trong con chữ. Con chữ dắt bà đi.

Cái vùng đất nuôi hồn Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, vùng đất Xứ Nghệ lại nuôi lớn tâm hồn bà. Bà thật khéo dẫn dắt từ một sự vĩ đại nuôi lớn một sự vĩ đại bà viết: “Xứ Nghệ/ Cho tôi câu thơ quăng quật kiếp người/ …/ Những người đàn bà góa/ Cô đơn thiêu đốt thịt da/ đổ lúa ra xay/ đổ trấu ra xay/ Xay cạn đêm”…Đó là một vùng đất giàu văn hóa, giàu di chỉ văn hóa: “Nơi di chỉ cất bảo tàng/ chiếc muôi múc canh bằng đá/…/Đứa con nghèo của người mẹ Thiên Nhiên/ Đất phên dậu che chắn đông, Tây, rừng , biển” (Xứ Nghệ). Niềm tự hào ấy nuôi lớn bà, làm giàu có cho tâm hồn bà. Chính vì thế bà cầu nguyện: “Nếu có kiếp sau/ Ta lại về Xứ Nghệ đầu thai” (Xứ Nghệ).

Rất ít những nhà thơ, đặc biệt là đối với những nhà thơ trẻ thường tránh những đề tài lớn, vấn đề lớn. Hầu hết họ sợ chưa giàu vốn sống, chưa nhiều va đập, chưa đủ trình độ, năng lực, sự kiến giải còn hạn chế. Họ choáng ngợp trước những tên tuổi lớn như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Giang Nam, Thanh Hải, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm… Nhà thơ Nguyễn Vân Anh không né tránh. Bà đi vào các đề tài vĩ mô, kiến gải các đề tài ấy theo cách của riêng mình. Bà không ngại khi viết về những chủ đề, đề tài to tát ấy. Đó là phong cách thơ của bà. Ngôn ngữ thơ của bà. Hồn thơ của bà. Cách nghĩ, cách cảm của bà. Nó chi phối thơ bà. Trong tuyển tập có rất nhiều bài viết về quê hương, tổ quốc, làng xóm như: ‘’Tổ quốc’’,’’ Hồn quê’’, ‘’Trước ngôi nhà Lịch sử, Mỵ Châu’’, ‘’Độc thoại trước biển’’, ‘’Thơ tình mùa thu viết trước đền Chín Gian’’,’’ Huyền thoại biển mặn’’, ‘’Vọng lời thi nhân’’,’’ Nhớ Hương Sơn’’, ‘’Tản mạn Đà Lạt’’, ‘’Tướng Giáp về quê’’, ‘’Thăm mộ cha’’…

Mỗi bài có một giọng điệu. Mỗi bài có một hoàn cảnh. Mỗi bài có một nỗi niềm. Nhưng Tất cả được xâu chuỗi trong một cách nghĩ, cách cảm. Có thể dẫn ra, trong bài “Tổ Quốc” bà viết: “Tổ Quốc/ Hôm Qua/ Vót nhọn ý thức chủ quyền lãnh thổ/ đâm thủng thuyền xâm lăng Trung Hoa/ Trên sóng Bạch Đằng/ Nén chặt đau thương thành bộc phá/ nổ tung hầm Đờ-cát/ Ở Điện Biên/ Lúc thông cầu Thống Nhất hai miền/ Quyết toán không bắng tiền/ bằng ba mươi năm nước nhà chia cắt” (Tổ Quốc). Bài “Trước ngôi nhà Lịch sử” cũng vậy. Bà viết: “Buổi dân Việt/ Luẩn quẩn trong ao làng tù túng/ Những ai/ nuôi giấc mơ tự do cho dân tộc bơi lội giữa trùng dương?/ Những ai/ trong một một gia đình/ Đàn ông  rủ nhau ra trận/ lần lượt trở về sau di ảnh?”. Đậm đặc nhất cho chất “triết luận” trong thơ của bà không bài nào tiêu biểu hơn là bài “Bản tình ca bất tử”. Mọi vấn đề đã được bà luận rõ ràng, rành mạch, người viết không cần phải bình thêm lời nào nữa: “Con tàu “Hành Tinh Trái Đất”/ Chạy qua hai ga/ Khởi Thủy và Tận Thế/ Hành khách sắm hai vai Thiện – Ác/ Thay nhau diễn vở… tấn trò đời/ Bi Thương và Hùng Tráng/ Con tàu chạy qua sa mạc Chiến Tranh/ Lại chạy qua thảo nguyên Hòa Bình/ Tiếng ca khải hoàn/ Hòa âm tiếng kèn thất trện/ Bản hợp xướng Hạnh Phúc và Khổ Đau” (Bản tình ca bất tử)

Sở trường của bà là “luận”. Bà không nặng về ngôn ngữ trữ tình. Bà cũng không nặng về giãi bày tâm trạng. Cái đập vào óc người đọc, cái làm cho người đọc phải suy ngẫm, phải nhớ về bà, đó là chất “triết luận” trong thơ của bà. Không riêng gì những bài trong mạch nói về tầm vĩ mô như Tổ Quốc, quê hương, các vấn đề thời sự, thời đại, thời cuộc, chính trị bà mới thể hiện khả năng “triết luận” mà chất “luận” trở thành thế mạnh xuyên suốt các mạch thơ, vỉa thơ của bà trong tuyển tập thơ Vân Anh. Có bài, cái tên gợi nhiều chất trữ tình nhưng toàn bài không một câu mang tính trữ tình. Một trăm phần trăm số câu trong bài là “luận”. Hãy đọc bài “Đàn bà”: “Là nước/ Đàn bà đẩy/ con thuyền công danh đàn ông/ sang bờ bên kia… khát vọng/ Là nước/ Đàn bà nhấn/ con thuyền công danh đàn ông/ chìm đáy đại dương…tuyệt vọng/ Là nước/ Đàn Bà tự vỗ sóng/ cho mình/ cho nhau/ Là nước/ Đàn bà mạch nguồn vô tận/ Tình thương con tuôn chảy vĩnh vĩnh hằng” (Đàn bà).

Khoan hãy bình sức mạnh ghê gớm của đàn bà, thiên chức đàn bà có thể quyết định mọi thành bại sự nghiệp của đàn ông, tự ru mình, tự tôn mình, có tình thương con như suối nguồn vô tận. Khoan hãy phân tích vì sao nhiều câu thơ của bà viết hoa chữ đầu câu, nhiều câu chữ đầu câu lại không viết hoa, dù rằng câu ấy cũng xuống dòng, cũng ngắt ra từ câu trước, có ngữ đủ ý, có ngữ không đủ ý. Ngụ ý của tác giả là gì? Khoan hãy lý giải những chữ viết hoa bất thường. Tôi chỉ thấy cái toàn cục, cái bao trùm là sở trường triết luận của bà. Ta có thể dẫn ra hàng loạt bài cùng phong cách triết luận ấy: “Những ngọn núi lè tè ngạo mạn tự phong chót vót/ Những ao hồ tù đọng kiêu căng luôn tự bão hòa/ những đường ray hoen rỉ tư duy định vị/ những vòng “kim cô” giáo điều tự ấn lên đầu làm khuôn mẫu/ Những phẩm cách dàn hàng ngang đồng phục/ những dấu vân tay bản ngã đồng dạng nhạt nhòa” (Trăn trở); “Buổi dân Việt/ Luẩn quẩn trong ao làng tù túng/ Những ai…/ nuôi giấc mơ tự do cho dân tộc bơi lội giữa trùng dương?/ những ai trong một gia đình/ Đàn ông rủ nhau ra trận/ Lần lượt trở về sau di ảnh?/ Những ai…/ dằng dặc thời thiếu phụ/ chờ hóa Vọng Phu?” (Trước ngôi nhà Lịch sử)…

Bà luận về mọi thứ trong xã hội. Bà luận về nhân cách, nhân phẩm, nhân tâm, nhân nghĩa. Bà luận về sự trung thực, giả dối, cao sang, hèn mạt. bà luận về đức tin, sự hy sinh. Bà luận về lẽ sống. Bà luận về Lịch sử: “Xin đừng trách nàng/”Trái tim lầm chỗ để trên đầu”/ Cuộc đời nàng hai phía nỗi đau/ Rùa Vàng ơi! Sao vội kết tội nàng là giặc?” (Mỵ Châu). Những chủ đề, đề tài, vấn đề cảm hứng thơ không mới. Cái mới chính là “triết luận” tạo nên phong cách thơ Nguyễn Vân Anh.

Một khối lượng lớn các bài trong tập Nguyễn Vân Anh dành cho cha mẹ, tình yêu: ‘’Nhớ mẹ’’, ‘’Quê với mẹ và anh’’, ‘’Mẹ dắt con về’’, ‘’Vọng quê’’,’’ Ngẫm về đôi bàn tay’’, ‘’Ám ảnh’’, ‘’Thơ tình mùa thu viết trước đền Chín Gian’’, ‘’Huyền thoại biển mặn, tình yêu của tôi, ‘’Thiếu phụ thành Vinh’’,’’ Màu kỷ niệm’’, ‘’Bóng xưa’’, ’’Mùa hương trinh nữ’’, ‘’Chỉ số tình yêu’’, ‘’Gặp, Khát’’,” Thơ viếng một cuộc tình”, Đợi…

Ở phần này, Thơ Vân Anh đằm hơn, ngọt hơn, dịu dàng hơn, êm đềm hơn. Cái tình làm hoa làm lá cho thơ xanh mát. Tiếng nhạc của thơ trữ tình rung ngân. Có lúc nó mang âm thanh của gió. Có lúc nó mang cái mặn mòi của muối. có lúc nó mang cái mơn man của sóng. Ta cảm nhận được cái ân tình, cái thủ thỉ, cái êm ái: “Mẹ ơi!/ con bơi qua ba mươi sáu bến sông/ mỗi lần trái tim đàn bà bị xé rách/ Mẹ xốc nách/ Về thôi! Mẹ giúp con liền sẹo” (Nhớ mẹ). Hình như tình mẹ có ma lực. Cứ nói đến mẹ thì bão tố cũng không gào thét nửa, nắng lửa cũng không đốt thiêu nữa, quỷ dữ cũng không ác độc nữa. Người mẹ đã làm tất cả, hiến dâng tất cả cho con: “Mẹ lên hái quả Mặt Trời/ Cho con đá bóng, mẹ ngồi mẹ xem/ Hái Vầng Trăng nở đêm đêm/ Mẹ cho con kết làm đèn Trung Thu” (Lòng Mẹ).

Nhà thơ Vân Anh có những câu thơ về mẹ đẹp đến nao lòng:“Đâu mái tranh gầy mẹ nhóm bếp năm xưa/ Vương nhẹ khói trong bình minh rất mỏng/ Đâu cây mẹ trưa hè gió lộng/ Ve sầu ru nhịp võng hàng tre?” (Quê với mẹ và anh). Cái thanh tao của câu chữ, cái tinh tế của hình ảnh, cái quyến rũ của hồn thơ làm ta cứ ước tuyển tập có thật nhiều những đoạn, những khổ thơ níu giữ lòng người như thế. Cái đẹp ấy cháy lên từ hoài niệm, bùng lên từ ký ức. Nó là của thì đã qua, không phải của thì hiện tại. Đó là những ký ức, những hoài niệm long lanh nuôi lớn tâm hồn nhà thơ.

Tình yêu trong thơ Vân Anh cũng nặng về hoài niệm, nặng về hôm qua, nặng về tâm khảm. Có thể coi đoạn dẫn sau đây là một khổ thơ phổ quát tiêu biểu cho mảng thơ tình của bà: “Kỷ niệm ken dày mọi ngả/ Tuổi trẻ chúng mình/ Mái Trường Sơn thành nơi hò hẹn/ Tóc hai màu ta mới có nhau” (Thành phố của riêng ta). Bà cũng từng đã có một thời tình yêu dắm đuối. Nhưng nó đã là quá khứ. Cái thuở chìm trong mắt nhau, chết trong mắt nhau như âm thanh của tiếng sáo diều, như vầng trăng sáng nơi đáy giếng. Nghe được mà không nắm được. Thấy được mà không cầm được. Tuổi mười tám đôi mươi không còn nữa. sóng vẫn vỗ mà sông đã mất: “Người ta vớt em lên/ Từ đáy mắt anh đắm đuối/ nụ hôn se hơi thu bối rối/ Hương tình đầu ướp thơm đêm” (Thành phố của riêng ta).

Thơ tình của Vân Anh là thơ về những những dòng sông đã từng cuồn cuộn chảy, những con sóng đã từng dào dạt vỗ, những ngọn lửa đã từng hừng hực cháy. Bây giờ những câu thơ thơ tìm đường trở về kéo kén trên kỷ niệm xưa; sưởi ấm trên bếp than xưa, tắm lại những dòng sông xưa và nghe lại tiếng sóng của ngày xưa, tăm lại cái thuở: “Tuổi hai mươi riêng một trời mơ ước/ Ghé thuyền về bến đò Choi/ Sim bao mùa tím rộ trên đồi/ Cam mọng vỏ cho vàng phiên chợ tết/ “Nhớ Hương Sơn”  Bài thơ tình da diết/ Gửi cho Mình và giữ cho Ta”… “Gặp lại rồi, chốn cũ Hương Sơn/ tìm được hành trang lứa đôi thất lạc/ Ngàn Phố ơi! Chàng trai thầm lặng/ Ta gọi tên mình: bến đậu Bình An” (Thổn thức một vùng quê).

Không mấy khi tình và thơ cùng chín, cùng gặt hái. Cái trớ trêu là tình thường chín trước. Hạnh phúc lứa đôi thường chín trước. Cái hoan hỉ cực lạc thường chín trước. Niềm vui cuộc đời gặt trước. Vụ mùa thơ thường gieo sau, chín sau, gặt sau. Thơ về tình yêu thường gặt trong hoài niệm là thế. Thơ Vân Anh hầu hết gặt hái về hoài niệm, về ký ức. Từ Hoài niệm, từ ký ức người thơ lại mơ ước, lại hy vọng, lại chiêm bao, lại khát. Hàng loạt những bài thơ nói về tình yêu của Vân Anh thể hiện tâm trạng ấy, như : ‘’Ký ức buồn, Khát’’, ‘’Biển chiều vắng anh’’, ‘’Ơi sông La, em muốn về bên nớ’’, ‘’Tản mạn trước mùa Giáng sinh’’, ‘’Hoang tưởng’’, ‘’Chia đôi’’, ‘’Mắt nhớ’’, ’’Nói với anh’’, ‘’Khóa tình yêu’’, ‘’Duyên tiền kiếp’’, ‘’Gặp’’, ‘’Cổ tích đôi ta’’…Một con tàu tình yêu chìm đắm thì thơ đóng năm bảy con tàu khác quay về trục vớt lên. Một bông hoa tình yêu ngày xưa tàn lụi. Thơ hóa thành trăm nghìn con ong bay về chốn cũ hút lại hương mật trên những cánh hoa xưa. Thơ Vân Anh có cái khắc khoải đó: “Ta phiêu bạt chia sa/ quá nửa đời cay đắng/ bao nhiêu là trống vắng/ cho cuộc đời ngả nghiêng/…/ thôi đành mất một nửa” (Cổ tích đôi ta). Cho dù bây giờ chim đã có đôi, chim đã vào lồng, cá đã cắn câu, cho dù bây giờ ván đã đóng thuyền “Ta làm nhà làm cửa/ Ta thành vợ thành chồng/ Ta làm mẹ làm cha/ Rồi thành ông thành bà/ Ta vẫn tìm một nửa” (Cổ tích đôi ta).

Tình yêu mãnh liệt thế, bạo liệt thế. Nó có ma lực. Hình như ma sinh ra lực cho thơ hay sao ấy? Cứ sau những cuộc chia ly, phân ly, những cuộc tan vỡ, những cuộc bèo dạt mây trôi, kẻ bắc người nam, người trên bến, kẻ dưới thuyền thì thơ bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Lạ thế. Càng lâm ly thống thiết, càng trớ trêu, bi đát, bi kịch thì thơ càng đầy sinh khí, sinh lực, màu mỡ, càng xanh tốt, càng đơm hoa kết trái, tỏa hương, càng mê ly, cuốn rũ. Từ mảnh vỡ cũ, từ đống tro cũ, đống than cũ, bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu tâm trạng: “Ước một lần… Lại ước có một lần/ Ngàn vạn “ước một lần” như thế/ Đi ngược tâm hồn mình lặng lẽ/ Cột mốc thời gian nào cũng khắc đậm tình anh” (Ước có một lần).

Rồi con sóng tình phiêu lãng được đẩy đến tột cùng bi thiết: “Ôi bát hương vỡ ra từng miếng/ Xóc vào tim tín chủ lặng cầm nhang/ Đúng hai lần ta chít khăn tang/ Khóc trên nấm mồ hai lần bị giết/ Lần đầu tiên cho tình yêu đã chết/ Lần cuối cùng cho kỷ niệm riêng ta” (Hai lần tiễn biệt). Đúng như Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều “Ma đưa lối, quỷ đưa đường/ Lại tìm những chỗ đoạn trường mà đi”. Thơ tình yêu của Vân Anh có nhiều đoạn trường, có nhiều khúc hát đứt ruột: “Em luẩn quẩn trong trái tim vụng dại/ Ngã vấp hoài trên lối quen thân”/…/Tâm hồn em như một người điên/ Lẫn lộn thực hư trong tình yêu đơn độc”/…/Em linh cảm một điều cay đắng/ Mình đã thành cổ tích trong anh” (Đợi).

Trong một cuộc Hội thảo về Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Nguyễn Bình Phương, Phó Chủ Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân Đội đã phát biểu, đại ý, chúng ta cần tạo ra một xu hướng văn học hơn hay là cần tạo ra một cá tính văn học hơn? Ông tự trả lời, theo tôi, chúng ta cần tạo ra một cá tính văn học hơn.

Bằng cách khai thác, đẩy khả năng triết luận và hoài niệm trong thơ của mình thành một ngôn ngữ riêng, phong cách riêng, tôi nghĩ, nhà thơ Vân Anh đã tạo ra một cá tính văn học trên vùng đất Xứ Nghệ.

7/6/2024

Nguyễn Minh Khiêm

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Nhà thơ Phan Hoàng với thể thơ 1-2-3 Qua thực tế sáng tác thơ 1-2-3 một số năm gần đây, việc ngồi lại với nhau, đọc lại, thông tin, trao...