Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

 

Trần Vũ Mai – quyết liệt và mạnh mẽ

Hằng năm, cứ đến ngày 19 tháng Giêng, ngày nhà thơ Trần Vũ Mai qua đời, là nhóm bạn bè chúng tôi lại nhớ đến anh, một nhà thơ, một người bạn, một hồn thơ quyết liệt và lặng lẽ đến kỳ lạ.

Vào chiến trường miền Nam từ tháng 4 năm 1971, đã từng “nằm vùng” rất lâu ở cực Nam Trung Bộ, nơi chiến trường nổi tiếng là “đói và chết chóc”, hồi đó gọi là T6 mà anh em chúng tôi vẫn đùa là “ 6 tấm”, nó là cái gì thì ai cũng biết rồi. Trần Vũ Mai đã tham gia nhiều chiến dịch, trải qua nhiều trận đánh cùng với bộ đội và du kích, đã chất chứa trong lòng mình, trong ký ức mình bao nhiêu là số phận những con người trong chiến tranh mà anh mong sẽ có ngày mình viết lại được. Không để làm gì, chỉ để trả ơn trả nghĩa với đồng đội, đồng bào đã bảo bọc mình những tháng năm gian khổ và cay đắng.

Hòa bình, là dịp may cho những người có tài năng văn học đã sống sót qua chiến tranh như Trần Vũ Mai. Anh háo hức, ngược xuôi, đi và viết, đi và nghĩ, đi và yêu. Nhưng vốn là một chàng trai vừa bản lĩnh, mạnh mẽ nhưng lại vừa đầy những thương cảm, yếu đuối, Trần Vũ Mai đã chọn Trần Mai Ninh và Hemingway làm thần tượng – hai nhà thơ nhà văn cũng đầy những phức cảm giống như anh.

Là một người từng trải nhưng có tâm hồn ngây thơ và thánh thiện của một đứa trẻ, Trần Vũ Mai đã tin yêu là hết mình. Nhưng khi thất vọng thì cũng thật khó gỡ. Anh đã thất vọng vì mọi điều không tốt đẹp như anh nghĩ, như anh tin, như anh kỳ vọng. Sau chiến tranh, rất nhiều cái xấu, nhiều người không tốt đã xuất hiện, và họ đã nhiều lần khiến Trần Vũ Mai phải thảng thốt kêu lên: “Ơ, sao lại thế này?” Thì nó là thế, biết làm sao!

Bây giờ, không phải nhiều người biết đến Trần Vũ Mai và thơ anh, mặc dù theo tôi, anh là một trong những nhà thơ tài năng và bản lĩnh vượt trội của thế hệ thơ chống Mỹ. Cơ sự cho cái thiếu “duyên nổi tiếng” này là ở chỗ Trần Vũ Mai lúc sinh thời không bao giờ thèm “PR” cho thơ mình. Anh cố ý tránh xa những nơi có thể đọc thơ hay quảng bá thơ, nhất là thơ của anh. Công tác ở Nhà Xuất bản Tác Phẩm Mới (tức Nxb Hội Nhà Văn sau này) nhưng Trần Vũ Mai không hề “nhân dịp” đó để công bố bất cứ tập thơ nào của mình ở Nhà xuất bản “nhà” này. Và hình như anh cũng hơi thờ ơ với sự công bố tác phẩm của mình ở những nơi khác. Mai làm việc quá nghiêm cẩn, anh trăn trở với từng con chữ, nhưng hình như anh chỉ làm thơ cho… mình đọc là chính, như kiểu anh ghi nhật ký. Trong số những nhà văn trẻ hồi ấy đi chiến trường, thì Trần Vũ Mai là người chăm ghi nhật ký nhất. Nhiều đoạn nhật ký của anh được công bố sau khi anh mất (Mai mất năm 1991) mang tính văn học rất cao, vì được anh viết rất kỹ.

Trường ca Ở làng Phước Hậu của anh được thai nghén và viết từ một ngôi làng ở Phú Yên. Lúc đầu nó có tên là Cảm giác lạc quan, nhưng về sau nhà văn Nguyễn Chí Trung, người thủ trưởng đầy quả cảm trong chiến đấu mà Mai rất quí trọng, đã gợi ý anh nên đổi tên là Ở làng Phước Hậu cho nó… dễ hiểu. Có lẽ ông Trung thấy cái tên Cảm giác lạc quan này tuy hay và lạ nhưng hơi… ngài ngại thế nào ấy (?). Thôi thì lấy tên Ở làng Phước Hậu có vẻ “người thật việc thật” cho nó… lành. Tôi nghĩ, chính cú “thay tên đổi họ” ấy đã khiến trường ca này, một trong những trường ca rất hay về cuộc chiến tranh chống Mỹ, có một số phận hơi khuất lấp. Đó là điều rất đáng tiếc.

Có thể giải mã cái tên ban đầu Cảm giác lạc quan của trường ca này, khi cái lạc quan ngay sau giải phóng mới chỉ là “cảm giác”. Điều đó hoàn toàn đúng, và là một người từng ở chiến trường Nam Bộ ngót 5 năm, tôi chứng thực điều ấy.  Khi lạc quan mới chỉ là cảm giác, thì từ lạc quan tới bi quan lại là một khoảng ngắn. Ai đã từng đi kháng chiến, đã từng sống sau chiến tranh ở Việt Nam đều thấu hiểu điều này… Nhưng có lẽ Trần Vũ Mai cố gắng để không tin như vậy. Nhưng rồi thực tế đã buộc anh nghĩ khác. Anh chọn cho mình sự “giải thoát tạm thời” bằng cách… uống rượu, và chọn giải pháp căn cơ hơn là ghi nhật ký. Và viết những bài thơ, viết cả một trường ca mới Nàng chim Lạc mà anh cất trong ngăn kéo để chơi.

Tôi ít thấy một nhà thơ nào mà coi danh vọng “không là cái đinh gì” như Trần Vũ Mai. Nhớ ngày mới giải phóng, giữa Sài Gòn tôi gặp lại Trần Vũ Mai khi anh theo quân đoàn 2 đánh vào Sài Gòn. Mai đi xe jeep, rủ tôi vào nhà hàng Thanh Thế uống rượu tây. Trông anh giống hệt Hemingway khi ông chiến đấu ở Tây Ban Nha trong nội chiến. Mà đúng là trong đời, Mai chỉ thần tượng có hai người: một là Trần Mai Ninh, và hai là Hemingway. Đều là hai nhà thơ nhà văn ưa mạo hiểm và sống lãng tử. Trần Vũ Mai cũng vậy. Anh đã mạo hiểm trong chiến tranh. Và mạo hiểm cả trong hòa bình. Ngay cái chết của anh cũng mơ hồ và bí ẩn như cái chết của Trần Mai Ninh và Hemingway. Dù là chết trong hòa bình.

Trần Vũ Mai có hai bài thơ viết trước và sau khi đã ở chiến trường gây được ấn tượng rất mạnh đối với tôi và nhiều anh chị em làm thơ khác cùng thế hệ, đó là bài thơ Thành phố nghiêng mình viết ở Nha Trang tháng 4 năm 1975, và bài thơ Thảm cỏ bờ sông Hồng viết đầu năm 1971 trước khi rời Hà Nội vào chiến trường Cực Nam Trung Bộ. Rồi tôi đọc và tìm thêm một bài thơ nữa mà tôi rất thích, vì nó bộc lộ được những yêu thương, dằn xé và đau buồn của Trần Vũ Mai, đó là bài thơ Tự khúc viết tháng 9 năm 1978.

Bây giờ, đọc lại bài thơ Thảm cỏ bờ sông Hồng, bài thơ Trần Vũ Mai viết đầu năm 1971, trước khi rời Hà Nội vào chiến trường khu Năm cùng anh chị em trong lớp viết văn trẻ đặc biệt của Hội nhà văn Việt Nam, bài thơ vừa dịu dàng vừa mãnh liệt, vừa hồn nhiên vừa kiêu hãnh, tôi lại càng tiếc cho một tài năng thơ đã sớm bị cắt ngang mạch sáng tạo. Vào một lúc tĩnh tâm nào đó, có lẽ chúng ta nên đọc lại bài thơ này để có cảm nhận sâu hơn về một thế hệ đã dấn thân vào chiến trường những tháng năm ác liệt nhất.

THẢM CỎ BỜ SÔNG HỒNG

Buổi sớm

gương mặt em như xa vắng

anh đi những phố hè tìm mọi mảnh đường quen

lổ đổ tinh mơ rêu phủ

đường cong xa vời

gạch lửa phơi đỏ thắm

Đã từng mưa ở đây

Nắng đã từng trắng

mảnh tường tươi này

anh thuộc lòng dấu cũ em qua

Bữa ấy chúng mình đi trong đêm lửa đạn sông Hồng

mưa lũ

tay em lạnh mà không run sợ

anh nghĩ ngày mai còn trời đạn ấy

mặt anh thì xạm cháy

nhưng ngày mai ơi

chớ vắng bàn tay em

trên đôi vai người lính của ta cứng cỏi từ năm vào cuộc

ngày mai ơi

Hà Nội không phai

suốt một ngày bầu trời thăm thẳm

nhớ riêng em

tôi nhớ những gì tôi chưa có được

thảm cỏ bờ sông Hồng non tơ

màu cẩm thạch nghiêng chào giã biệt

nếu ta có lỗi với em

cũng vì ta muốn mình không có lỗi

trước mặt em còn được tươi cười

giọng vang và trẻ mãi

bao giờ ta cũng chỉ là ta thôi

Cùng với những gì ta mến yêu sầu tư mộng tưởng

thảm cỏ bờ sông Hồng phủ bọc trái tim

nơi sâu kín ấy cũng đã bị đạn bom chạm tới

những tròng mắt đảo điên để ý đến ta rồi

đừng buồn em nhé, bây giờ

hồi em buồn nhớ

anh còn buồn hơn

Em

nhỏ bé mà trắng tinh

trước mặt thảm cỏ dòng sông

cầm tay một bông đại đóa

em ạ, chớ buồn

anh vào cực Nam đây.

(Hà Nội, 3/1971)

Nhưng một bài thơ có thể coi là “Tuyên ngôn Thơ” của riêng Trần Vũ Mai, được anh viết ngay sau ngày kết thúc chiến tranh, bài thơ Thành phố nghiêng mình viết về Nha Trang, có gắn với Tuy Hòa, nơi Trần Vũ Mai từng nằm hầm bí mật những năm tháng chiến tranh, lại cho tôi một ấn tượng choáng ngợp khi lần đầu tôi được đọc bài thơ này in trên tờ Văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ (cái tên tôi nhớ không rõ lắm) vào tháng 6 năm 1975 ở Đà Nẵng. Đây là bài thơ đầy yêu thương của nhà thơ Trần Vũ Mai và đầy chất thép của người lính Việt Cộng Trần Vũ Mai. Đúng như Xuân Diệu viết “Yêu và căm hai đợt sóng ào ào”, bài thơ của Trần Vũ Mai khởi đi một mạch, như tác giả đã viết nó trong cơn xuất thần, chất chứa bao điều muốn nói. Tôi nghĩ, thành phố Nha Trang, dù bây giờ có đổi khác thế nào, thì vẫn là thành phố dưới chính thể này, và nên coi bài thơ Thành phố nghiêng mình của Trần Vũ Mai như một bảo vật văn hóa của thành phố mình. Không phải thành phố nào ở Việt Nam cũng có được một bài thơ như thế đâu.

THÀNH PHỐ NGHIÊNG MÌNH

Đến năm ấy chúng xây thành dựng lên cửa sắt

Khai trương một thời xích xiềng roi vọt

Ôi, Nha Trang, người bỗng hóa ngục tù

Lúc bấy giờ

Nha Trang

Những mẹ già dắt tôi qua đường tối

Có những trái mìn quân thù giấu lại

Bay khát thèm máu của ta chăng!

Lúc bấy giờ gió cũng lặng yên

Thời gian khó, giấc mơ tôi kỳ diệu

Làm sao cho một sáng đứng lên

Để ánh ngày soi tỏ mặt tỏ tên

Những mẹ già dắt tôi qua đường tối

Hết đêm này đêm nọ chẳng hề ngơi

Lúc bấy giờ

Tôi vẫn sống, em vừa ngã xuống

Máu em thấm nơi cửa hầm đỏ đất

Tôi nhìn trời có nghĩa gì đâu

Đôi cuộn mây hồng hay ánh trăng sao

Em thường nói, rồi chúng mình trẻ mãi

Tôi cầm khẩu súng em, lắng nghe lần cuối

Đêm vượt đường chim dậy hót cho em

Rồi tôi đi qua mấy cánh rừng

Vượt mấy dòng sông trải nhiều trận đánh

Lòng nông nổi nhớ em như biển

Như thiếu muối và thương nhớ biển

Trong trái tim mình lấp lánh cả đời em

Tôi qua mấy chục cánh rừng

Có đêm chợp ngủ bên dòng Đak Suk

Súng để gối đầu chân thì gối dép

Nghe ngọn gió nào cũng như gió Nha Trang

Từ Buôn Mê Thuột gợi lòng

Cứ nhìn về phía biển

Biết nói gì, biết nói làm sao!

Ở Tuy Hòa khi tiếng hát ngân cao

Hát ca ngợi tháng ngày vĩ đại

Quân đoàn đi như sóng cuộn trên đường

Vượt núi non, qua những cánh đồng

Qua những sân nhà, những ngọn cờ Tổ quốc

Ôi, ngày hôm nay chúng ta có được

Cả đoàn quân rực rỡ ánh ban mai

Như bờ biển sóng vun như những luống cày

Tôi ngoảnh lại

Tuy Hòa rung mềm mại

Tuy Hòa vui trong gió thổi

Lúc bấy giờ

Lúc ấy

Hỡi Nha Trang!

Lúc bấy giờ

Nha Trang

Nha Trang ngục tù hóa thành chợ búa

Chợ cháy ra tro, chúng ngả nghiêng cười

Thằng đại tá một đêm tháo thạy

Trong nhà tắm mảnh cờ vàng chết đói

Súng và hoa cả xác chết ngoài sông

Những con tàu đổ người xuống biển

Ngày giam trong khóa xích

Đàn chó hoang rên rỉ cuối đường

Lúc bấy giờ

Nha Trang

Những người phá thành phá vây đã tới

Nha Trang nghiêng mình

Manh áo Mỹ bạc màu rơi xuống biển

Những em gái cầm chổi ra đường

Hốt rác đầu mũ lính

Thành phố hiện ra cùng ánh cờ sao

Tưởng như thế cuộc đời vô tận mãi

Bao hạnh phúc nở ra nhiều hoa trái

Vâng, cho dù như thế các anh ơi

Nếu kẻ thù đã chết

Thì tội ác bay vẫn còn ở Nha Trang

Ghi trên nét mặt, khắc giữa lòng đường

Đây lời nhắn đã thấm vào ngọn lửa

Của người hy sinh những trận phá thành

Hạnh phúc sẽ kéo dài vô tận

Là cây lá dần xanh trở lại

Là những tường nhà Nha Trang không còn dấu đạn xuyên

Là đất đai, biển cả, khoảng không

(trừ đi những phần kia còn chất độc)

Là vẻ đẹp người hôm nay ca hát

Là đồng hoang trở lại những mùa vui

Chiều buông xuống chan hòa trời biển

Là đứa con tôi mai mốt ra đời

Từ lâu lắm

Nếu kẻ thù đã chết

Thì tội ác bay vẫn còn ở Nha Trang

Tôi tìm mẹ tôi trên mỗi đoạn đường

Mìn xếp đống góc sân nhà mẹ

Ồ, ánh ngày sao mà sáng thế

Mẹ già ơi, con muốn khóc, lòng con

Lòng con chẳng biết nói sao nữa, mẹ

Khi mẹ kể cùng con và thành phố nghiêng mình

(Nha Trang tháng 4/1975)

Và bài thơ thứ ba, bài Tự khúc viết ở Hà Nội năm 1978, khi Trần Vũ Mai đã buồn nhiều hơn vui. Khi anh đã, như người Mỹ sau chiến tranh thường nói, mắc vào “hội chứng thời hậu chiến”. Tôi không biết những người lính Mỹ mắc phải hội chứng này ra sao, nhưng với thi sĩ Việt Nam và người lính Việt Cộng Trần Vũ Mai, thì đây là một hội chứng khốc liệt. Chúng ta đọc bài thơ Tự khúc và tự cảm nhận điều đó. Bài thơ này Trần Vũ Mai viết cho riêng mình, nhưng đã nói được rất nhiều cho những người lính cũ, người kháng chiến cũ chúng tôi. Không nguôi yêu thương, nhưng không thể dứt đau buồn. Và đúng như một câu trong bài thơ, nhiều lúc như rơi vào “vô vọng”.

TỰ KHÚC

Lúc bình minh mà vắng cả sắc màu

anh nằm xuống nhìn lên kia vô vọng

anh đã hét trong phòng im cửa đóng

lúc thương người lại giận chính mình thôi

đêm lúc lặng thinh nghe vắng vẻ cuối trời

ai chẳng đến với anh như thế cả

chắc vì em nên gió chiều rực rỡ

nửa khuya rồi mưa lạnh thấm hai ta

đường vẫn cũ xưa trời thẳm vẫn cao xa

có chăng mới là giọng em hát đó

có chăng mới tiếng cười em nho nhỏ

vỡ tan dần trong thầm lắng lòng anh

ôi chim xa của đôi cánh ân tình

của tiếng hót làm vui làm đau đớn

của tĩnh mịch ngẩng trông lên cao thẳm

của tình yêu trời đất đã ban cho

sóng biển vừa gieo hai ta lên bờ

không tất cả có lẽ phải thế

không thể khác chắc sẽ là phải thế

mang nỗi sầu tha thiết nhớ em yêu

(9/1978)

12/11/2019

Thanh Thảo

Nguồn: Văn Nghệ, 31/2019

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Hồn nhiên – tinh tế – bản năng trong thơ Thanh Tùng

Nhắc đến nhà thơ Thanh Tùng là nghĩ ngay đến bài thơ nổi tiếng được phổ nhạc, một ca khúc được phổ biến rất rộng rãi. Ông viết bài thơ ấy nhân có chuyện buồn về tình yêu, tất nhiên không hề nhằm mục đích gửi đăng báo. Thanh Tùng luôn hồn nhiên như thế. Hồi ông làm biên tập thơ ở tạp chí Tài Hoa Trẻ, ông nhiều tuổi nhất cơ quan nhưng tính tình lại hồn nhiên trẻ trung nhất cơ quan.

1. BẢN TÍNH HỒN NHIÊN LÀ ĐIỀU NỔI BẬT NHẤT TRONG THƠ THANH TÙNG, điều này có thể thấy trong hầu hết các bài thơ.

Không có trẻ thơ thành phố cũng già đi

Ta cũng già đi vì thiếu những điều vô lý

(Nỗi nhớ trẻ thơ)

Câu trên là một nhận xét bình thường không có gì đặc biệt, nhưng câu dưới hơi bị “quan ngại”. Bài thơ viết về thành phố Hải Phòng năm 1972, năm mà máy bay Mỹ hàng ngày đánh phá thành phố rất ác liệt và thả thủy lôi dày đặc phong tỏa cảng và các cửa sông. Tất cả mọi người đều rời thành phố đi sơ tán chỉ những người có nhiệm vụ mới ở lại nên thành phố thiếu vắng trẻ em. Trong hoàn cảnh như thế, nếu nhớ các em quá và có ý thơ hay về trẻ em thì cũng điều chỉnh cho dễ chấp nhận, chứ người chín chắn cẩn trọng khó có thể viết “ta già đi vì thiếu những điều vô lý”, câu thơ dễ bị quy chụp này nọ về tư tưởng hay ít ra cũng không thể phổ biến được. Nhưng Thanh Tùng thì cứ hồn nhiên vậy bởi ông viết để đọc cho bạn bè nghe chứ không nhằm để đăng báo và như thế ông có câu thơ hay.

Bài “Viên gạch ở Hàng Thao” có câu rất ấn tượng:

Bỗng tôi tin một điều có thật

Tôi đập viên gạch vỡ

Một dòng máu tươi sẽ túa ra thắm đỏ

Ông “tin một điều có thật” mà không bao giờ có thật cả bởi dù anh đập đến ngàn viên gạch vỡ cũng chả tìm thấy một giọt máu chứ chưa nói “một dòng máu tươi sẽ túa ra thắm đỏ”. Người bản tính cẩn trọng sẽ viết thật hơn chứ khó có thể tưởng tượng đến như thế. Nhưng Thanh Tùng đã chứng kiến cái chết của nhiều đồng đội, đồng bào mà thi thể lẫn trong đống gạch vỡ ấy, máu của họ thấm vào những viên gạch ngói vỡ nát, với bản tính hồn nhiên và cái nhìn trực giác ông đã viết được câu thơ tưởng như không thể có mà hóa ra sống động tươi ròng và hay đến thế. Trong bài thơ “Thời hoa đỏ” nổi tiếng của ông:

Hoa như mưa rơi rơi

Như tháng ngày xưa ta dại khờ

Anh đâu buồn mà chỉ tiếc

Em không đi hết những ngày đắm say.

Bài thơ này ông cũng viết giữa những năm chiến tranh ác liệt, trong bối cảnh bom đạn lửa khói hồi ấy những “dại khờ”, “đắm say” nhìn chung là rất khó xuất hiện trên báo, nhưng Thanh Tùng vẫn cứ hồn nhiên mặc cho cảm xúc tuôn trào. Năm 1977 nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh về công tác tại Hải Phòng đến thăm Thanh Tùng nghe đọc bài này, ông rất thích nhưng thấy khó đăng. Ông đã ra ga, ngồi chờ tàu, nghĩ ngợi thế nào, ông lại chạy bộ trở lại nhà Thanh Tùng cầm bài thơ về rồi tìm cách cho đăng ở Văn nghệ Quân đội. Năm 1989, nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng mang theo bài thơ này trong chuyến đi thực tế sáng tác ở Liên Xô cũ và phổ nhạc cũng là chuyện rất tình cờ. Cả bài thơ “Thời hoa đỏ” là cảm xúc tiếc nuối, đau buồn nhưng không bi lụy; xa xót mà vẫn vững vàng. Những điều ấy được thể hiện một cách hồn nhiên.

Trường hợp bài “Sám hối”:

Những giọt nước mắt móc vào nhau thành sợi xích

Ghì con về miền hoang lạnh xa xôi

Bỗng trong con xé ra đột ngột

Gió ùa vào ớn vắng đến chân da.

(Sám hối)

Người nào bước vào con đường thơ cũng phải khổ công luyện rèn tay nghề, phải gia công nghệ thuật, kỹ thuật cho tinh xảo, Thanh Tùng cũng vậy. Ở đoạn thơ trên đây, câu đầu “Những giọt nước mắt móc vào nhau thành sợi xích” là sự vận dụng thủ pháp nghệ thuật, luyện công khá rõ. Liên tưởng giỏi nhưng công phu quá thành ra cầu kỳ; nước mắt là thật, nhưng “móc vào nhau thành sợi xích” thì hơi bị giả, vừa ưu điểm lại vừa khuyết điểm. Nhưng ngay câu thơ sau đó, ông lại trở về với cảm xúc mênh mang mơ hồ “miền hoang lạnh xa xôi” là rất Thanh Tùng. Hai câu sau cũng trở về trực giác quen thuộc “trong con xé ra đột ngột/ gió ùa vào ớn vắng đến chân da”, nét chân thực hồn nhiên không thể lẫn.

Luyện công để viết được câu “Những giọt nước mắt móc vào nhau thành sợi xích” không khó lắm. Nhưng để viết được những câu hồn nhiên bình dị “miền hoang lạnh xa xôi”, “gió ùa vào ớn vắng đến chân da” mới thật là khó.

Câu thơ vừa ưu điểm vừa khuyết điểm nêu trên ở cái buổi nhà thơ còn “non trẻ”, nhưng sau đó, nhìn chung, nhà thơ Thanh Tùng có nhiều thành công trong việc kết hợp bản tính hồn nhiên và sự rèn luyện nghệ thuật thơ ca. Tôi rất ấn tượng những bài thơ về Hải Phòng của Thanh Tùng, mỗi câu thơ đều như được chiết xuất từ máu thịt của nhà thơ:

Hải Phòng ơi

Người đã nhận của tôi nước mắt mồ hôi

Rồi trả lại cho tôi những câu thơ lửa…

(Hải Phòng hôm nay)

Tôi đã tìm ra bao cung bậc buồn vui trong tiếng búa

Rắn lên cùng thép gang…

(Hải Phòng muối của đời tôi)

Đặc biệt nhất là bài “Mùi xưa”. Bài thơ có 18 câu, mở đầu:

Tôi đã rất xa mùi xưa

Xanh xao gọi mãi đến vô cùng…

Nhiều nhà thơ đã viết về kỷ niệm rất thành công, Thanh Tùng có lối thể hiện riêng, kết hợp “mùi xưa” gần mà xa cùng với “vô cùng” mênh mang và sâu thẳm.

Mẹ đi về xa xót gió mưa

Em đi về bay lượn trong mơ

Hoa đi về tan tác mùi xưa…

Không hẳn cụ thể và cũng không hẳn ra trừu tượng; thấp thoáng nét dáng nào đấy nhưng lại rất mơ hồ. Thơ viết được như vậy mới là cao thủ, mới khó. Và kết thúc:

Tôi không sao nuôi nấng nổi

Để ngày xưa lụi tàn

Chẳng còn mong trở lại

Âm thầm đổ nhớ xuống hôm nay.

Câu nào cũng hồn nhiên mới mẻ và gợi cảm đến lạ lùng. Câu cuối cùng: “Âm thầm đổ nhớ xuống hôm

nay” là câu thơ thật hay.

2. NÉT TINH TẾ TRONG THƠ THANH TÙNG.

Về thời tiết “chuyển mùa” ông viết:

Một mặt lá mùa hè còn níu ở

Mặt kia thoáng đã thu đầy

Ta xanh lại trong ta từng hơi thở

Khi chạm vào thảng thốt heo may.

Trong một chiếc lá mà chứa đựng cả hai mùa là một quan sát tinh tế tài tình. Hai câu thơ trên có thể do khổ công rèn luyện mà đạt được, nhưng hai câu dưới thì rõ ràng trở lại nguyên khởi đặc tính hồn nhiên và tinh tế của Thanh Tùng: “Ta xanh lại trong ta từng hơi thở/ Khi chạm vào thảng thốt heo may”. Nói “chạm vào” thường là nghĩ đến vật gì có hình khối, nhưng “thảng thốt heo may” thì khó hình dung nó thế nào. Thật là tinh tế Thanh Tùng, khó lẫn với ai được.

Và khi mùa thu về, ngồi trong nhà nhìn ra mảnh vườn có hàng rào tre vạt nhọn, nhà thơ thấy gió thu mượt mà thổi qua đấy, ông cảm thấy làm sao làn gió kia tránh khỏi bị trầy xước:

Tôi van đấy mảnh giậu nghiêng trước cửa

Đừng sắc thế

Cứ xước lên mình của gió.

Nhà thơ phải thốt lên “tôi van đấy”, đủ biết ông yêu mùa thu biết chừng nào! Nét tinh tế ấy còn trở lại với nhà thơ Thanh Tùng trong bài “Sinh nhật”:

Ngày tôi ra đời gió chưa bị xước

Mọi bông hoa được nở hết mình.

(Sinh nhật)

Như vậy là từ khi nhà thơ có mặt trên cõi đời đến lúc viết bài thơ, thời gian ấy gió thu bị trầy xước nhiều lắm? Điều này khiến ta liên tưởng đến những cơn bão lốc thời cuộc hay những ngổn ngang oan trái từng bày ra trên cõi thế? Câu thơ hàm súc, nói được nhiều điều cả về thiên nhiên và xã hội.

Gió vô hình mà có lúc lại làm điểm tựa cho thi nhân:

Hỡi ngọn gió xưa thơ dại

Về đây cho vịn gió ơi

Một mình với bao chờ đợi

Mà như chẳng đợi chờ ai.

(Khát khao)

Đọc hai câu trên gật gù thấy hay, nhưng hai câu dưới còn hay hơn nữa “Một mình với bao chờ đợi/ Mà như chẳng đợi chờ ai”, một rung cảm nhẹ nhàng và mơ hồ. Lại nhớ câu thơ tuyệt vời của Xuân Diệu “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Dường như chỉ tâm hồn đa cảm với dàn ăng ten vô cùng bén nhạy của thi nhân mới bắt được tần sóng tế vi ấy của tâm trạng mà thôi.

Nhà thơ Thanh Tùng có nhiều câu thơ bảng lảng mơ hồ:

Em ngã vào anh theo cách ngã của mùa thu

Rồi hôn lên anh theo cách hôn dài của gió.

(Em và thu)

Thật khó hình dung “ngã vào anh theo cách ngã của mùa thu” là ra làm sao mà chỉ cảm được phần nào mà thôi: một nhẹ nhàng êm ái đượm buồn chăng? Một gần gũi mà xa xôi chăng? Một xa xót tiếc nuối chăng?… Dẫu là gì thì tựu trung vẫn là một cung thẩm mỹ rung động đến nao lòng. Tôi có cảm tưởng như nếu vụng tay bổ sung thêm một chi tiết cụ thể dù rất nhỏ thôi, câu thơ sẽ đổ ngay.

Bài Chiều có những câu trong trẻo, đẹp đến lạ lùng:

Chiều căng ra ở giữa lòng buồm

Chiều vỡ vụn nơi đầu ngọn sóng

Chiều chết đuối nơi mắt người mong ngóng

Chiều nén đầy đáy giếng góc vườn hoang…

Rõ ràng ông không “tả chân” mà thiên về kỳ ảo. Chiều thuộc khái niệm thời gian, không cầm nắm được mà chỉ cảm nhận, ấy thế mà ông viết “chiều căng ra, vỡ vụn, chết đuối, nén đầy…” toàn những động từ mạnh vốn chỉ quan hệ với những sự vật rất cụ thể, khiến câu thơ sống động, uyển chuyển rất hấp dẫn. Phải có năng lực tưởng tượng, liên tưởng của thi tài, chứ đâu dễ gì viết được thế. Bài “Chiều” là lát cắt rất mỏng của thời gian mà đứng được qua nhiều giông bão thời cuộc.

Sự tinh tế cộng với sức liên tưởng phong phú tạo nên những câu thơ mới lạ:

Thôi rồi đứt nỗi hôm nay

Đành hẹn nối vào kiếp khác

Bây giờ tôi đi giật lùi

Tình yêu ở phía sau tôi.

(Bây giờ)

Hai câu trên làm tiền đề để nối tiếp đến hai câu thật đặc sắc ở dưới: nhà thơ đi giật lùi mong gặp được tình yêu ở phía sau. Ông vẫn muốn nối lại mối tình vừa tan vỡ hay sao? Là phỏng đoán vậy thôi chứ có thể có những ý hướng khác. Thơ hay là mở ra nhiều chiều liên tưởng, ở mỗi hoàn cảnh, mỗi thời gian không gian khác nhau, mỗi người có những liên tưởng khác nhau chứ đừng khuôn vào một cách cảm, cách hiểu. Tôi rất thích những bài thơ, câu thơ gây tranh cãi không hồi kết.

Đặc biệt đề tài về rượu, bài Gặp bạn cũ:

Rượu ấy bây giờ không có nữa

Chỉ còn trong đáy của hồn sâu

Ngày xưa ta ủ trong men dại

Bây giờ mới đủ để mà say

Cái hay trong thơ Thanh Tùng thường rất tự nhiên chứ ít thấy có dấu vết của gia công nghệ thuật, kỹ thuật. “Chỉ còn trong đáy của hồn sâu” là một ví dụ, câu này rất hay và viết được tự nhiên như thế thật là khó, vậy mà Thanh Tùng viết cứ nhẹ nhàng như không. Hoặc câu cuối:

Mỗi đứa lại vội vàng mấy ngả

Bao giờ trở lại uống nhau đây?

Người non tay thì có thể viết: “Bao giờ trở lại uống cùng nhau”. Nhưng Thanh Tùng viết “uống nhau”, thì rất… tửu khách và thi khách.

Nhiều câu thơ hồn nhiên tinh tế khác của ông đã in vào bộ nhớ của tôi:

– Em để lại trong tim tôi một mũi dao

Thi thoảng lại nhấn sâu thêm một chút

Tôi mang nó suốt đời,

Còn em thì không biết

Những mùa thu ướt máu vẫn đi về.

– Tôi rung lên mỗi khi chạm tới bóng cửa ô

Như chạm vào vai gày áo mẹ…

– Tôi có khóc đâu mà gió ướt

Mà nắng rát lên môi mặn chát…

– Tôi đã bị ít nhiều phản phúc

Sao bây giờ toàn nỗi nhớ thương sâu…

– Rượu không say chỉ đủ để buồn thôi…

– Gió tự do thổi rỗng mặt đường…

– Anh đọc được cả những điều nhân dân không nói…

– Anh đang ở trong ngôi nhà mà em đã mua với giá cả một đời cô đơn thiếu nữ. v.v…

3. BẢN NĂNG THƠ – NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG THƠ THANH TÙNG.

Có nhiều người ngại từ bản năng (mà thay bằng năng khiếu), xem ra cũng có cơ sở. Nhưng với Thanh Tùng thì khác, ông bảo rằng, do hoàn cảnh khó khăn, éo le (cha mẹ chia tay nhau từ khi ông còn rất bé), nên không được học hành đến đầu đến đũa, bởi vậy đầu tiên là ông làm thơ theo bản năng rồi tự học. Khách quan mà nói, bản năng thi sĩ là của Trời phú, là vốn quý vô giá không gì có thể so sánh được. Có thể nói nhà thơ Thanh Tùng hơn người ở cái chất bản năng thơ ấy. Suy cho cùng thì hồn nhiên, tinh tế do bản năng mà có.

Nhìn chung, trong quá trình trưởng thành, học tập, rèn luyện, cùng với những ảnh hưởng môi trường, bản năng của con người dần được thay thế bằng tri thức, lý trí, tình cảm. Nhưng với Thanh Tùng thì bản năng thi sĩ được bảo toàn khá vững chắc và bền bỉ. Từ đấy giúp ông phát sinh một khả năng mới, rất đặc biệt đó là ứng tác thơ.

Trong một số cuộc vui, khi có người yêu cầu ứng tác thơ, không bao giờ ông từ chối. Ông đề nghị cử tọa “ra đề”. Khi nhận “đề” rồi, ông trầm ngâm một thoáng tìm thi tứ, sau đó ông hắng giọng đọc liền một mạch xong bài thơ. Tôi để ý thấy thơ ứng tác của ông không hề dễ dãi, mà có ý tứ khá mạch lạc rõ ràng, đôi khi thật bất ngờ có câu thơ mới lạ và hay. Giờ nghĩ lại thấy tiếc khi ấy không có máy ghi âm, không thể nhớ được, thật uổng phí. Nhưng may mắn tôi còn nhớ được vài bài ngắn. Ấy là trong một tiệc cưới, khi cha mẹ và cô dâu chú rể đến bàn tiệc cảm ơn khách và chụp ảnh, chú rể ngỏ ý muốn nhà thơ Thanh Tùng ứng tác bài thơ. Tôi lo cho ông, giữa ồn ào náo nhiệt, lại bừng bừng hơi men rượu, làm sao mà tỉnh táo tìm tứ thơ, rồi ngôn từ, hình ảnh nữa, bao nhiêu thứ chứ đâu phải chuyện đùa chơi… Nhưng tôi thấy ông gật gù vài giây rồi cầm đôi đũa giơ lên như định gắp cái gì, rồi ông đọc:

Chúc hai em

Với đôi đũa ngắn

Gắp được miếng hạnh phúc từ xa.

Mọi người vỗ tay tán thưởng, bài thơ với hình ảnh gần gũi, cụ thể mà có tầm khái quát thật đẹp.

Dường như thi tứ, ngôn từ, hình ảnh luôn thường trực trong con người ông, bất cứ lúc nào gọi là thơ bật ra ngay.

Ai từng làm thơ đều biết, để có được thi hứng, nung nấu tứ thơ, viết, sửa từng câu từng chữ, có khi hàng năm mới được bài thơ. Hồi còn nhỏ tôi mê Văn học Nga, đọc truyện ngắn “Nhà thơ ứng tác”, ấn tượng mãi đến giờ. Tôi nghĩ, người có khả năng ứng tác là một biệt tài Trời phú, trường hợp này trên thế giới vô cùng hiếm hoi. Nhưng đó là truyện, chắc hư cấu thôi, chứ dễ đâu có thật! Vậy mà giờ đây, ngay bên cạnh tôi, cùng làm việc với tôi là một nhà thơ ứng tác tài ba bằng xương bằng thịt, có thật một trăm phần trăm. Nhiều lúc tôi nhìn ông, chiêm ngưỡng ông, và thầm hỏi, con người bình dị vậy mà tài năng đặc biệt đến thế ư? Bí mật Trời phú cho được cất giấu ở chỗ nào vậy?

Và sau đây là bài thơ ứng tác nữa của ông, mà bạn bè ghi lại được vì ngắn. Bài này có in trong tuyển tập thơ Thanh Tùng mang tên “Không đề”.

Em đã tiêu đồng tiền vàng duy nhất

Trong “ngân hàng” xơ xác của tôi

Đã đến ngày tôi nơm nớp đợi

Chống chọi với từng cơn lay nhẹ

Rụng chiếc lá cuối cùng

Trong vườn Thượng Đế để dành cho tôi.

Từ “em” ở câu thơ đầu có lẽ không nhằm đến một người cụ thể nào mà là một biểu tượng, ta có thể hiểu như là cuộc đời chẳng hạn. Nhà thơ đã dâng tặng cuộc đời “đồng tiền vàng duy nhất” chính là nguồn thơ trong tâm hồn thi sĩ. Bài thơ như một điềm báo, “Chiếc lá cuối cùng trong vườn Thượng Đế” đã rụng, ông đã rời cõi thế hơn hai năm nhưng “Thời hoa đỏ” còn “dại khờ” và “đắm say” mãi mãi.

Nhà thơ Thanh Tùng là người của cửa biển Hải Phòng, cuối đời ông sống ở Sài Gòn, vốn quen với những cơn gió mạnh mẽ phóng túng (cả cuộc đời ông cũng vậy), thơ ông tài hoa khoáng đạt sâu sắc mới mẻ. Ông để lại dấu ấn thật đẹp đối với Thi đàn Việt Nam và trong lòng bạn yêu thơ.

Phú Nhuận - Sài Gòn, 12/10/2019

Nguyễn Vũ Tiềm

Nguồn: Tham luận Hội thảo “Thanh Tùng, còn đây thời hoa đỏ”

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Vấn đề nghiên cứu so sánh phức hợp trong văn học Bắc miền Trung

Sự phong phú, đa dạng của thể loại trong sáng tác của văn học Bắc miền Trung cũng là vấn đề có ảnh hưởng lớn đến nghiên cứu văn học. Từ khoảng năm 2000 đến nay, nói riêng về văn xuôi, mỗi năm đã có khoảng hơn sáu mươi tác phẩm của hơn ba chục nhà văn viết văn xuôi ở miền Trung. Mỗi cuốn sách cũng đã có từ 150 trang đến 500 trang gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn, tạp văn, bút ký v.v… Tuy nhiên các tác giả gây được ấn tượng sâu sắc cho người đọc không nhiều.

Nghiên cứu so sánh phức hợp đã trở thành một trong những đối tượng của những cuộc tranh luận trong nghiên cứu khoa học xã hội. Các ý kiến xung quanh những cuộc tranh luận theo xu hướng này đều tập trung để trả lời cho câu hỏi: Khoa học xã hội có cần đến phương pháp so sánh phức hợp hay không?

Cũng như các ngành thuộc khoa học xã hội, nghiên cứu văn học cũng mang tính lịch sử, tính lý luận – mỹ học, nó vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, một trong những cách biểu hiện quan trọng nhất của ý thức xã hội để hiểu bản chất và lí giải các quá trình, các hiện tượng của nó. Những môn như  âm nhạc và nghệ thuật tạo hình cũng phản ánh ý thức con người, xã hội và chúng ta cũng phải soi sáng các quá trình và các hiện tượng của chúng bằng phương pháp đó như đối với văn học.

Lợi ích của việc so sánh phức hợp được thể hiện ở chỗ nó hỗ trợ được đến mức nào trong việc xem  xét sự phản ánh hiện thực của các phân môn trong khoa học xã hội theo chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Như vậy, nghiên cứu so sánh giúp chúng ta có mối liên hệ biện chứng rộng lớn hơn. Vấn đề ở đây là nghiên cứu so sánh trong văn học Bắc miền Trung không có nghĩa là bước ngoặt hay là sự chuyển hướng sang một phương pháp hoặc một quan điểm nào khác mà có nghĩa là mở rộng phạm vi nghiên cứu từ trước tới nay; và cũng có thể là một khả năng mới để nắm bắt các mối liên hệ. Những năm gần đây, nghiên cứu Văn học Bắc miền trung thường được thể hiện qua một con đường cơ bản là đăng tải trên các báo, tạp chí, hoặc truyền hình, hội thảo của các tỉnh. Bên cạnh những công trình nghiên cứu có quy mô thì thực tế cho thấy, từ một góc độ nào đó, việc nghiên cứu văn học Bắc miền Trung vẫn còn mang tính đơn lẻ, phong trào, hoặc là nhấn mạnh nội dung xã hội trong tác phẩm, hoặc là khai thác chân dung qua tác phẩm, hoặc là bình luận về ngôn từ một cách đơn giản theo kiểu cảm thụ… Chúng ta thấy rõ rằng, các công công trình nghiên cứu thường nói được ảnh hưởng của tác phẩm mà ít khi chỉ ra đúng bản chất của chúng. Do vậy, một thực tế thường xảy ra là: đôi khi chúng ta có thể biết được các số liệu có giá trị về cấu trúc của tác phẩm văn học, về hệ thống ký hiệu ngôn ngữ, hoặc phong cách, kết cấu hay tâm lý của nó nhưng những vấn đề về sự ra đời, về các mối liên quan nhau của  các tác phẩm thì  vẫn là bí ẩn đối với chúng ta. Tôi cho rằng, nghiên cứu văn học Bắc miền Trung phải đặt trong mối quan hệ với các hiện tượng khoa học xã hội khác như âm nhạc, nghệ thuật tạo hình… đồng thời từng hiện tượng văn học cũng phải được xem xét trong mối liên hệ, đối chiếu với các hiện tượng tương đồng của những thành tựu văn học ở Nam miền Trung và các khu vực khác…thậm chí là cả với văn học các nước. Bởi chúng ta không thể hiểu đặc trưng của văn học nếu không có hiểu biết về lịch sử, triết học, lịch sử kinh tế…Theo Suête Itvan, trước đây “việc nghiên cứu nền văn học của những nước châu Á, châu Phi, Mỹ – latinh vừa ra khỏi tình trạng thuộc địa và nửa thuộc địa cũng được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu phức hợp, nghiên cứu văn học song song với nghiên cứu dân tộc học, lịch sử âm nhạc”(1).  Đây là một trong những nhận xét rất cần cho những người làm công tác nghiên cứu văn học nói chung và nghiên cứu văn học Bắc miền Trung nói riêng.

Căn cứ vào thực tiễn nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và nghiên cứu văn học Bắc miền Trung những năm gần đây nói riêng, chúng tôi có những đề xuất như sau:

1. Nghiên cứu văn học Bắc miền Trung cần phải mở ra và nắm bắt được những mối liên hệ rộng lớn hơn, mới mẻ hơn. Do đó phải có sự đối chiếu, so sánh giữa các hiện tượng văn học trong khu vực, xác lập những sự trùng hợp và khác biệt, từ đó tiến tới lý giải được bản chất của giá trị văn học.

2. Để hiểu sâu sắc hơn các hiện tượng văn học, cần so sánh với thành tựu của các các bộ môn khác như âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, kiến trúc…

3. Cần xuất phát từ thực tế thành tựu và giá trị đặc trưng của văn học khi nghiên cứu ảnh hưởng và sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hiện tượng văn học.

4. Chúng ta nên cố gắng tạo nên những tổng hợp có bình diện cao hơn sự tổng hợp theo số lượng của các tác phẩm và cần phải chú ý đến cả chất lượng của quá trình tiếp nhận, lịch sử tiếp nhận các tác phẩm văn học. Bởi có nhiều văn bản tác phẩm được in trên sách, báo, tạp chí…để cuối cùng các báo, tạp chí…ấy nằm im lìm trong kho sách hoặc trong các thư viện thì cũng trở nên vô nghĩa. Quá trình so sánh diễn ra trong nghiên cứu về lịch sử tiếp nhận các tác phẩm văn học giữa các vùng miền cũng nên được chú ý hơn.

5. Một vấn đề nữa là cần quan tâm hơn đến đội ngũ tham gia nghiên cứu. Ngoài các cơ quan như báo, tạp chí, sở văn hoá thông tin…thì các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp trong khu vực Bắc miền Trung là nơi có nhiều người có tiềm năng tham gia nghiên cứu khoa học. Bởi một trong những tiêu chí của giảng viên Đại học là vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu. Tuy vậy, các công trình nghiên cứu của giảng viên và sinh viên ở trường Đại học sau khi nghiệm thu xong thường được để ngay ngắn trên giá sách, chỉ được công bố trong phạm vi khu vực trường nên việc đầu tư chất lượng cho các công trình nghiên cứu vẫn còn là vấn đề cần quan tâm.

6. Sự phong phú, đa dạng của thể loại trong sáng tác của văn học Bắc miền Trung cũng là vấn đề có ảnh hưởng lớn đến nghiên cứu văn học. Từ khoảng năm 2000 đến nay, nói riêng về văn xuôi, mỗi năm đã có khoảng hơn sáu mươi tác phẩm của hơn ba chục nhà văn viết văn xuôi ở miền Trung. Mỗi cuốn sách cũng đã có từ 150 trang đến 500 trang gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn, tạp văn, bút ký v.v…Tuy nhiên các tác giả gây được ấn tượng sâu sắc cho người đọc không nhiều. Trong suy nghĩ của người đọc, văn xuôi miền Trung vẫn là: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Thuỳ Mai, Từ Nguyên Tĩnh, Kiều Vượng và các tác giả như Nguyễn Quang Hà, Phan Cao Toại, Hà Khánh Linh, Hữu Phương, Nguyễn Khắc Phê, Hoàng Bình Trọng. Ngoài ra, có thể kể thêm những cây bút như Đức Ban, Trần Thị Huyền Trang, Quý Thế, Thu Loan, Bá Dũng, Nguyễn Gia Nùng, Như Bình, Nguyễn Thị Phước, Đàm Quỳnh Ngọc… Còn số lượng tác phẩm thuộc thể thơ từ năm 2000 đến nay thì khó để thống kê hết. Như vậy, nên chăng là chính từ người sáng tác đã phải có ý thức tự chọn lọc khi quyết định công bố các tác phẩm thơ của mình.

Nói chung, việc đặt ra vấn đề có phương pháp nghiên cứu so sánh phức hợp hay không trong nghiên cứu các phân môn ở lĩnh vực khoa học xã hội nói chung không có gì là mới mẻ. Tuy vậy, đối với nghiên cứu văn học Bắc miền Trung thì đây cũng là một yếu tố cần quan tâm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1). Dẫn theo tài liệu của Viện khoa học và xã hội Việt Nam, Viện văn học, Các vấn đề của khoa học văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr 227.

(2). Các báo và tạp chí, phần về nghiên cứu văn học, nghệ thuật của các tỉnh Bắc miền Trung từ năm 2000 đến nay.

12/11/2019

Mai Thị Liên Giang

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

“Thơ rơi”- Thể loại văn chương độc đáo ở Nam bộ

Trong kho tàng văn hóa dân gian phong phú, đa sắc màu của các dân tộc Việt Nam, văn chương bình dân Nam bộ có những nét đặc sắc, độc đáo, đã ghi dấu ấn thời đại qua từng giai đoạn lịch sử của phương Nam. Cách nay hơn 100 năm, giữa thời kỳ đầy biến động,  trong đời sống xã hội, văn hóa, tinh thần của cư dân Nam bộ dưới sự đô hộ của người Pháp, có một thể loại thơ độc đáo ra đời, đó là “Thơ rơi”.

Văn học dân gian Nam bộ có rất nhiều thể loại: văn truyền khẩu, tục ngữ, câu đố, truyện cổ, ca dao, hò, vè … Trong đó, có một loại hình văn chương bình dân ít được nhắc đến, nhưng khá thông dụng trong đời sống của tầng lớp lao động bình dân ở Nam bộ cách đây khoảng 100 năm. Đó là “Thơ rơi” với những đặc trưng, độc đáo, thú vị .

Theo nhiều nghiên cứu, “Thơi rơi” xuất hiện nhiều nhất vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX và lưu hành trong dân gian chỉ một thời gian rồi dần không còn phổ biến nữa. Thể loại văn học này ban đầu được thể hiện bằng văn viết nhưng do phương thức phổ biến truyền miệng nên những tác phẩm “Thơ rơi” còn được xem là “Thơ và bài hát”. Qua một số bài còn lưu truyền phổ biến, có thể thấy đây là một loại thư viết bằng văn vần. “Thơ rơi” được những người lao động bình dân trong xã hội lúc bấy giờ dùng tỏ bày tâm sự, tình cảm riêng tư trong những câu chuyện phổ biến: thăm viếng, khuyên can, kể tình cảnh khổ sở khi bị tù đày hay bị bắt sung quân nơi biên ải, nỗi nhớ quê nhà của những người phải tha phương cầu thực, hoặc trách cứ sự bội phản của người yêu, khẳng định lời ước hẹn trăm năm giữa vợ chồng, phản ánh những sự kiện xót xa, tệ hại đang diễn ra trong xã hội. Do đó thơ rơi cũng mang tính thời sự.

Từ đó có thể thấy “Thơ rơi” là một thể văn vần truyền khẩu rất thông dụng mô tả những tâm tình, những u ẩn khó nói ra trước đối phương hoặc những tình cảm muốn trao gởi tận tay người mình muốn trao đổi. Về bản chất “Thơ rơi” khá giống với thư ngỏ ngày nay. Về hình thức thì thể loại này không cần ghi địa chỉ đến, tên người nhận… nhưng người đọc “Thơ rơi” sẽ cảm nhận sự gần gũi. Người viết “Thơ rơi” không nhất thiết là tác giả, bởi đa phần ngày xưa “Thơ rơi” được những người bình dân nhờ những người có biết chút văn chương, chữ nghĩa viết hộ cho họ.

“Thơ rơi” ngày nay hầu như đã mai một, bởi nó không còn phù hợp hoàn cảnh, không gian lịch sử, đời sống xã hội. Tim hiểu về “Thơ rơi” để thấy rằng người xưa đã từng sử dựng môt loại hình văn chương độc đáo không phải là không có mục đích. Sau đây xin kể những nội dung phổ biến của “Thơ rơi”.

– Nói lên sự uất ức: Oán than cách đối xử bạc bẽo, lừa gạt như trong bài “Lường công chàng rể” (dân gian truyền khẩu):

Trước khấu đầu lạy mẹ

Sau lời hỏi cô nương?

Ba năm dư cột chữ cang thường

Ngày bửa củi, đêm trăng thời giã gạo

Chí quyết làm rể cố công cho phải đạo

Cho nên mình trần trải dám so đo

Vì cớ sao không rõ căn do

Mà nay bậu nỡ mặt thay lòng phụ rãy

Người ở đời ai cũng trọng điều hơn lẽ phải

Vậy mà bậu tham vàng bỏ ngãi đi cho đành!

– Thơ rơi kêu ca: Diễn tả nỗi u ẩn trong lòng, nhằm mục đích cầu xin, ta thán. Thông thường nhất là khi nhân vật bị phụ tình, bị đối xử bạc bẽo, họ làm thơ rơi diễn tả tâm sự u uất, buồn bã với mong muốn đối tác, người nghe có sự hồi âm:

Em ơi dù em có ở nơi nào

Anh cũng xin một dạ y chang

Trai như anh chẳng thiếu chi cái duyên

Gái như bậu nhiều nơi trăng thắm

Niềm vợ chồng anh còn thương em lắm

Nỡ bụng nào em dứt nghĩa cho đành

 …Giận hiền thê anh hết giận lại thương

 Anh có nói ra thì té lẽ ghen tương

Bằng không nói nín đi bị chê ngu chê dại

Dẫu em có nơi nào cũng suy đi tính lại

Đừng quên bến cũ đò xưa…        

– Mang tính thông tin thuật sự: Đây là một loại thông tin được diễn đạt bằng hình thức hò, vè truyền khẩu nhằm thông tin một vấn đề bức xúc gì đó mà tác giả không muốn người nhận, nghe bị liên lụy bởi những kẻ đối đầu với người viết. Ví dụ như năm 1873, trong trận quyết chiến với quân Pháp ở căn cứ Bảy Thưa (An Giang), lãnh tụ kháng Pháp Trần Văn Thành (Quản Cơ Thành) mất tích (hi sinh). Con trai ông là Trần Văn Chái bị thương rồi bị Pháp bắt giam. Sau đó mấy ngày thì tuẫn tiết trong ngục. Bà phu nhân ông Quản Cơ mới thông báo cho con dâu bằng hình thức “Thơ rơi”, học thuộc lòng truyền khẩu để tránh sự theo dõi của giặc…

Trước gởi lời thăm cưu nghĩa

Sau mới tính hai chữ tường tri

Kể từ ngày nam bắc phân li

Cơ trời khiến đông tây lưỡng lộ

Chí dốc ẩn cư đền tùy thổ

Ngõ đợi thời báo bổ quận nương

Nguyện nhật tiền kết nghĩa tào khương

Bỗng phút đâu xiêu lạc

Cha âm các, mẹ dương quang

Thêm đôi trẻ lỡ làng

Lòng ôm chữ từ bi, thố tử

– “Thơ rơi” mang tính chất gửi chung cho một nhóm người: Ngoài ý nghĩa kêu gọi, phản kháng, phơi bày nỗi u uất trong lòng, người ta còn thấy có một loại thơ rơi manh tính chất dạy răn hay khuyến dụ chung cho một dạng người. Những bài thơ này được phổ biến khá sâu rộng, vượt qua không gian, địa giới hanh chính, có sức sống khá bền vững trong lòng công chúng. Ví như bài “Răn phận gái”, có đoạn:

Khuyên mấy em mấy cháu phải chừa

Đừng làm chuyện thừa ưa

Học thói tệ mà đi ngang bước ngửa

Đến chừng ấy bụng mang dạ chửa

Mà cha già chụm lửa cháy râu

Có tiền trăm nào chuộc đặng đâu!

– “Thơ rơi” viết theo thể loại văn vần như thư tín ngày nay: Thời ấy, những người biết chữ nghĩa, văn chương, khi muốn giao lưu liên lạc với ai đó, họ thường sử dụng thể loại văn vần để thông tin, bày tỏ tình cảm, đối đáp qua lại, khuyên răn, nhắn nhủ:

Chiều chiều mây giăng  cây thọ

Đêm đêm trăng giọi lầu vàng

Sầu tương tư chẳng dứt lụy hàng

 Nhớ phu tướng châu rơi lợt đợt

Tưởng lang quan lòng bạc dửng dưng…

Theo các nhà nghiên cứu, dù “Thơ rơi” có sử dụng những thể loại thơ chính thống như lục bát, song thất lục bát, thất ngôn; nhưng cách đặt chữ vẫn không mang chất hàn lâm, bác học. “Thơ rơi” luôn mang theo nó ngôn ngữ dân gian phù hợp với quần chúng bình dân. Do đó tính phổ biến, sự lan truyền rộng rãi và nghiễm nhiên trỏ thành một món ăn tinh thần khá thú vị!

Tuy nhiên, do yếu tố dễ thuộc, dễ nhớ nên người ta còn vận dụng “Thơ rơi” như một loại thơ nặc danh nhằm mục đích nói xấu, tố cáo, vu vạ… theo chủ ý của tác giả. Điều này đã được chính quyền khuyến cáo trong sách “Quốc triều chánh biên toát yếu”(quyển I): “Dân gian làm thơ nặc danh gây tội cho người ta, vậy hãy đặt một thùng thơ tại cửa khuyết, để cho ai đến kêu oan thì bỏ vào”. Tác giả Nguyễn Liên Phong trong tập “Nam kỳ phong tục diễn ca” (1909), cũng có đánh giá:

Tục hay tin chuyện bá xàm

Mấy thầy tướng số nói thầm nói vơ

Tục hay thù vặt thừa cơ

Phao thuốc, phao súng, thơ rơi, rơi tờ.

Đã hơn 100 năm từ lúc ra đời, “Thơ rơi” đã hoàn thành công việc phục vụ đời sống tinh thần của giới bình dân ngày ấy. Dấu vết của “Thơ rơi” là hình thức “Thư ngõ” hay “Bố cáo”, nhưng cũng đã thay đổi khá nhiều so với xuất xứ. Tìm hiểu, nghiên cứu về một loại hình văn chương đã từng tồn tại trong một thời kỳ đầy biến động, có sự giao thoa văn hóa truyền thống và đương đại, cũng là một cách hiểu thêm về lịch sử, văn hóa, xã hội thời bấy giờ.

Nguồn tham khảo:

– “Văn học Miền Nam Lục Tỉnh”, Nguyễn Văn Hầu (tập 1, NXB Trẻ 2012.

– Từ điển Văn hóa Đông Nam Á, NXB Văn hóa thông tin, 1999.

13/11/2019

Đặng Hoàng Thám

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Trần Vũ Mai – quyết liệt và mạnh mẽ Hằng năm, cứ đến ngày 19 tháng Giêng, ngày nhà thơ Trần Vũ Mai qua đời, là nhóm bạn bè chúng tôi lại...