Thứ Ba, 12 tháng 5, 2026

 

Trần Bảo Định, cây bút đặc sắc trong dòng văn học sinh thái

Không tính 6 tập thơ “thù tạc” bày tỏ ân nghĩa với quê hương, bạn bè, người thân, Trần Bảo Định (TBĐ) – “nhà văn – không thẻ” mới nhập cuộc làng văn với tập truyện “Kiếp Ba Khía” năm 2014, đã ra sách liên tục. Năm 2017, ông in liền 2 tập: “Phận lìm kìm” và “Chim phương Nam”… Cho đến nay, TBĐ đã in 14 tập truyện – mới nhất là “Mùa hoa nắng” (NXB Tổng hợp TPHCM – 2020). Ở đây chỉ bàn đến một chủ đề nổi bật trong các tác phẩm của TBĐ, cũng là vấn đề hệ trọng của cả nhân loại.

Nói cho đúng thì toàn bộ các tập văn xuôi của TBĐ đều đậm đà… mùi Đất phương Nam. Bạn văn Bích Ngân khi đảm trách biên tập Nhà xuất bản VHVNTPHCM –  đã nhận xét về văn xuôi TBĐ:

“… Tác giả sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ Nam Bộ một cách dân dã, hài hước, thú vị qua những sự đời, sự người, sự vật… với tính cách riêng, bằng vốn sống tích lũy và sự am hiểu sâu rộng của mình…

Còn tôi, qua tập truyện thứ 4 này của TBĐ, càng khẳng định ông xứng danh là “người kể chuyện dân gian hiện đại”. Chúng ta đều biết, nhiều truyện dân gian mượn con vật để nhắc nhở con người. TBĐ thì cả 4 tập truyện đều lấy nhan đề bằng tên con vật; tuy vậy, 3 tập trước, trong nhiều truyện, con vật chỉ là kẻ làm chứng, là “nhân vật” phụ để tác giả gửi gắm ý tưởng của mình; còn “Chim phương Nam” (CPN), tất cả 27 truyện, “nhân vật” chính đều là… chim! Cuốn sách ghi là “Tạp bút”, nhưng đúng như anh Hàn Tấn Quang (chủ biên Tạp chí “Kiến thức ngày nay”) đã viết trong “Thay lời tựa” là những trang viết của TBĐ “không phải truyện mà thành truyện.”

Cả 4 tập truyện, và đặc biệt với CPN, nhà văn TBĐ có lẽ là cây bút lập kỷ lục viết về loài vật trong làng văn Việt Nam. Cũng như nhiều nhà văn khác (như Kim Lân với “Con chó xấu xí”, Nguyễn Công Hoan với “Con ngựa già”, Nguyễn Văn Bổng với “Con trâu”…), TBĐ cũng “mượn loài vật” để gửi gắm những triết lý về nhân sinh, thời cuộc, nhưng bằng sự tập trung toàn truyện các loài chim trong CPN và nhiều truyện về nhiều loài vật khác trong 3 cuốn sách trước, TBĐ đã liên tục phát tín hiệu S.O.S. kêu cứu cho môi trường sinh thái đang bị con người hủy hoại với một tốc độ khủng khiếp, đến mức mà nhà văn từng đoạt giải Nobel Mạc Ngôn đã phải kêu lên: “Văn học của chúng ta kỳ thực gánh vác trách nhiệm to lớn, chính là trách nhiệm cứu lấy trái đất, cứu lấy nhân loại…” vì “Những ngày tháng tốt đẹp của nhân loại đã không còn nhiều nữa!”

Như thế, có thể nói, TBĐ là một cây bút có đóng góp rất đặc sắc trong dòng “văn học sinh thái” đang ngày càng được chú ý; và do đó, các tác phẩm của ông, ngoài nét riêng là thể hiện cuộc sống vùng đất Nam Bộ một cách “dân dã, hài hước” bằng vốn tích lũy suốt cả cuộc đời sống giữa lòng dân vùng đất châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, đã vươn tới một chiều kích rộng lớn hơn và rất thời sự nữa.

Nhiều truyện trong CPN có cái kết làm chúng ta đau lòng, khi những con chim là bạn thân thiết của con người bị đưa lên bàn nhậu. Như con le le trở thành bạn của Đực Nụi, khi anh về cất chòi tại ngã ba Vàm Dưng, thậm chí nó làm nhiệm vụ cảnh giới, báo trước khi sắp có lính đi ruồng bố thì bầy le le rối đội hình bay về hướng chòi của anh; nhưng rồi con người “nhằm thỏa mãn ham muốn dục vọng… ngày nào le le cũng bị bắt bằng bẫy lưới do bọn “le le mồi”…” Và khi nghe hung tin bầy le le bị hốt lên xuồng, mặc dù le le trống tinh khôn dùng kế “điệu hổ ly sơn” lao mình trước mũi xuồng hòng cứu vợ con, “Đực Nụi ngồi uống hơn lít rượu một mình say bí tử” rồi thốt kêu: “Ác lai ác báo!” (Truyện “Le le, nỗi đau của mẹ”).

Trong truyện “Bìm bịp tiếng kêu thương”, chúng ta gặp những trang văn rưng rưng kỷ niệm tuổi thơ của chính tác giả nơi quê ngoại: “…Đầu hạ, bìm bịp đẻ. Đầu thu, cả vợ lẫn chồng cùng gánh vác việc nuôi con, nó chẳng ly thân ly dị bao giờ. Mái nhường miếng mồi ngon cho chồng cho con… Tôi đã rình coi bữa ăn chiều sum họp của “gia đình bìm bịp” ở đám biền thí thời bom đạn…”; nhưng rồi “chỉ một lời đồn thổi bá vơ, người săn đuổi và tận tuyệt nòi bìm bịp, ngâm rượu tráng dương bổ thận…” nên khi tác giả “trở về khu vườn nhà ngoại sau bao năm đi xa … chỉ nghe tiếng lá rơi trên thềm nhà cũ. Cầu ao, bến nước, bãi biển… còn nằm trơ đó, bìm bịp thì tuyệt chủng rồi!”

Có lẽ không phải ngẫu nhiên TBĐ lấy tên người vợ hiền Lê Kim Phượng ghi dưới loạt truyện CPN khi đăng trên “Kiến thức ngày nay”. Thực ra, cả tập truyện là tiếng kêu của Đất Mẹ nhẫn nhục và bao dung như TBĐ đã miêu tả chuyện “má con cô Hai” bị giặc giết cùng con sáo trâu biết nói tiếng người thời Thủ khoa Huân khởi nghĩa (truyện “Miếu sáo trâu”). Trong CPN, nhiều lần người mẹ phải lên tiếng kêu cứu cho đàn chim, cũng là lời dạy nhân nghĩa đối với tuổi thơ dại dột. “Tôi bị má đánh đòn khi bắn thằng chài rớt bến sông. Sao con cướp đi sự sống của nó? Rồi ai cướp sự sống của con?…” (Truyện “Cánh chim thằng chài” – tức là chim bói cá)

Một cách khái quát hơn, trong truyện “Cú Mèo – chúa tể đêm”, TBĐ đã viết:

“…Trời sinh muôn loài chắc là chẳng phải để giỡn chơi. Nếu chẳng phải để giỡn chơi, chắc trời ban mỗi loài có một giá trị về sinh thái và, nó cũng chẳng thể tách rời cả hệ sinh thái trong trời đất. Người “nhân danh” sự sống của mình, thay đổi hệ sinh thái thì chính sự thay đổi ấy sẽ từng bước cướp đi sự sống con người. Tàn sát chim cú mèo, vô tình người đứng về phía chuột, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho giống nòi chuột nhanh chóng sinh sôi nẩy nở…”

Tuy không phải là chủ đề của cuốn sách, nhưng nhân nhắc đến chim Cú Mèo, tưởng cũng nên gỡ mối oan, đồng thời là sự mê tín cả tin của không ít người rằng tiếng cú báo điềm gở, chết chóc. Hãy nghe TBĐ thuật lại lời của “bác Hai ở Cần Thơ”: “Ở đâu đêm tối có chuột, có cú mèo… Tiếng nó kêu giữa đêm trường mù mù tăm tăm đó là tiếng gọi bạn tình… Tùy bóng đêm và tùy tình huống săn bắt con mồi mà nó “rung cây nhát khỉ” qua tiếng kêu phát ra nhiều loại âm thanh: Rit, hét, gầm gừ… Con mồi nghe âm thanh cú kêu khiếp sợ rời chỗ núp, chạy trốn. Cú chờ có vậy và con mồi nạp mạng!”

Bạn hãy tin lời “bác Hai” (cũng là lời TBĐ), khi ông “viết như là một liệu pháp để vượt qua những cơn đau của chứng bệnh nan y, quái ác…“vét cạn lòng, nạo khô dạ” thành câu chữ “vàng ròng Nam Bộ” …” (Hàn Tấn Quang) không chỉ mang đậm triết lý nhân sinh mà nhiều trang miêu tả chi tiết các loài chim, từ màu lông ở khóe mắt, hình thù các ngón chân… cho đến điệu hót gọi bạn tình, một cách tỉ mỉ, sáng rõ và sinh động, có lẽ các thầy giáo dạy sinh vật cũng… chào thua!.

9/12/2020

Nguyễn Khắc Phê

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Trò chuyện với thiên thần và Một phút tự do

Tôi tạm khóa cửa nhà hơn hai tuần, hai tuần có thể gọi đùa là “an cư kiết hạ” như các bậc tu hành tự đóng cửa trong mùa mưa không đi khất thực để khỏi dẫm lên những sinh vật bé nhỏ bên đường và cũng nhân đó tu tập nhiều hơn.

Tôi của hai tuần trong mùa hè châu Âu chưa dứt cơn đại dịch Covid-19 vẫn bận rộn như bao ngày thường. Vợ chồng già hưởng lương hưu, con cái đã an bề có gì đâu mà lu bu tất bật. Chăm sóc cháu ngoại là niềm vui, là hạnh phúc giúp vợ chồng con gái vài buổi trong tuần là chuyện tự nguyện, dẫu cực chút đỉnh cũng đâu phải là điều để thở than.

Ấy vậy mà tôi lại nghe có cái gì đó không ổn chẳng biết từ đâu tới, nghe mình bị gò bó bởi những buộc ràng bởi thế sự chung quanh. Kỳ thật, khí hậu thay đổi bất thường, băng tan, núi lỡ, sông cạn, đất rung rinh là chuyện chung của thế giới mà, ăn thua gì đến tôi. Chiến tranh nóng, lạnh khắp nơi khi sáng, khi chiều là chuyện chính trị của mấy ông lãnh đạo các quốc gia, tôi băn khoăn lo lắng có ích gì đâu. Thực phẩm dơ, sạch do lòng tham không đáy của con người tạo thành để kiếm chác thêm trên sức khoẻ, mạng sống của con người tôi chúi mũi vào cũng chẳng thay đổi gì được. Tham ô, nhủng loạn, bè phái gia tăng như virus mùa đại dịch làm trì trệ cuộc sống tôi có ngàn mắt, ngàn tay cũng không thấy hết và không chặt dứt được những tệ đoan đó. Ấy, tôi đang nhắc đến một đại họa gần nhất của thế giới rồi, chuyện đại dịch Covid-19 từ cuối năm 2019 đến giờ vẫn chưa yên, con tiểu tiểu siêu siêu vi khuẩn mang tên Coronna Vũ Hán rồi lại đổi khai sanh thành Covid-19 nầy coi vậy mà kinh khủng thật, nước to, nước nhỏ, nước giàu, nước nghèo gì nó cũng chẳng để yên, ai cũng sợ nó, tôi tài cán gì mà bung xung bàn đến tên nó đây.

Nói chung chung, hai tuần lể trốn bạn bè Facebook tôi chẳng thấy tâm trí thảnh thơi như mình tưởng, cái đầu cứ quay đều như con thoi những chuyện bên đời, ông xã tôi than” vợ chẳng nghĩ đến chồng mà lại nghĩ chi những chuyện vòng vòng thế gian”. Tôi cười, chống chế viện dẫn đâu phải chỉ có mình tôi mà có nhiều người khác còn bận tâm nhiều, lo lắng xa hơn tôi nữa kìa. Rồi tôi đem tên đôi bạn văn cũng là bà con trong nhà ra  làm mẫu cho xã nhà tôi nghe, Trương Văn Dân và Elena Pucillo đó, đôi danh tài nầy Ý – Việt gì cũng biết tiếng nghe tên, không phải vì những quyển sách đầy tình người của họ mà vì sự mẫu mực trong cách sống của cả hai khiến tên tuổi họ gần gủi cùng mọi người chung quanh và độc già Ý Việt hai bên.

Tôi nợ Dân niềm vui viết lách, không có Dân tôi sẽ mãi là bà bếp chỉ biết làm nội trợ ở xó nhà. Nợ thêm cậu em nầy tiếng tu oa chào đời hai năm trước của đứa con tinh thần tôi mang nặng gần hai mươi năm mà không chịu thập hoạt hoài thai, phải chờ có sự giúp đỡ của Dân tôi mới đuơc  toại ý hài lòng. Hơn mười năm rồi, vợ chồng Dân chọn VN làm nơi vui hưởng tuổi hoàng hôn cũng là thời gian đôi lứa nầy ra sức đóng góp cho văn hoá nước nhà bao tác phẩm đáng tự hào. Giữa thời buổi khó khăn, người đời lo cơm áo hơn tìm sách đọc, thì sách của Dân lại được tái xuất bản, quyển Bàn tay nhỏ dưới mưa là một minh chứng về sự yêu mến của người đọc dành cho Dân.

Khi dịch Covid-19 mới bắt đầu, Elena đang ở Ý để thăm gia đình và nhân tiện giới thiệu cùng thân hữu quyển Một phút tự do bản tiếng Ý (Un istante di libertà, xuất bản năm 2019, tác phẩm mới của nàng.) Trong khi đó Dân đã về VN trước và chờ vợ. Nhưng dịch cúm hoành hành khá mạnh tại Ý khiến sự giao thông giữa Ý và các nước bị gián đoạn, Ý dường như trong tình trạng “bế quan tỏa cảng”, nội bất xuất, ngoại bất nhập và Elena không biết làm sao để về VN theo dự tính, đành ở lại Ý một mình để hát bài “Anh ở trời đông, em ở trời tây”. Đây là lúc tình yêu được đóng triện son bằng sự kiên nhẫn bứt phá mọi trở ngại tìm vé chuyên bay qua mọi ngỏ trắc tréo để cuối cùng họ đã gặp lại nhau, chứng tỏ cho người đời biết tình yêu vẫn còn ngự trị giữa thế giiớ kim tiền vật chất đầy máy móc robot, điện tử.

Chuyện tình của Dân Elena ai cũng biết, tôi kể lại không phải để đóng thêm dấu son cho mối tình đầy màu hồng của “đôi trẻ” mà để làm chiếc cầu nói về hai đứa con tinh thần của họ vừa chào đời đã bị cách ly cha mẹ vì Covid-19, con tu oa ở quê cha Việt Nam nhưng phụ mẫu còn vướng chân nơi đất mẹ tận trời Ý xa xăm. Và các bạn có biết tại sao tôi phải dài dòng để làm cái máy rè lặp lại những điều về họ mà nhiều người đã viết tường tận hơn tôi không? Vì hai cái tên Trò chuyện với thiên thần (Trương văn Dân) và Một phút tự do (Elena Pucillo) có cái gì đó dường như gần gũi với những trăn trở của tôi trong hai tuần “an cư kiết hạ”. Sách mới xuất bản, chưa đến Ý, nhưng báo chí quê nhà đã có lời bình mà tôi đọc được qua mạng truyền thông vi tính, tôi đọc lời bình trên báo mà mưòng tượng như cả hai đang viết hộ cho tôi, cho những người cùng nhìn thấy sự bất lực của mình trong một thế giới ngày một thêm xa, dường như không có mình trong đó nữa.

Một phút tự do như báo Thanh Niên nhận định thì tác phẩm gồm nhiều chuyện nhỏ, “như những lát cắt thân phận, cuộc sống con người trong mối quan hệ ràng buôc gia đình – xã hội qua cái nhìn đầy cảm thông, thấu hiểu, tinh tế, nhân văn, như “liều thuốc” an lành xoa dịu đau đớn, bất hạnh. Tác phẩm gây ấn tượng về một tâm hồn Việt, chất văn hóa Viêt trong cô dâu Ý dung dị, hòa ái.

Nhưng Trò chuyện với thiên thần thì nhà báo lại cho đó là một cuốn sách mang tính triết, tính mổ xẻ khoa học. Chuyện lấy bối cảnh thoại ngữ giữa bậc sanh thành cùng đứa con còn trong bụng mẹ với những khoắc khoải về một cuộc sống thời đại mới và lo lắng không biết dòng định mệnh nào sẽ chờ đợi con trẻ khi chào đời, lúc lớn lên. Một chuổi lý lịch dài của lịch sử VN, những gian truân thời chinh chiến không còn,, được thay thế bằng sự phức tạp và đa dạng của một xã hội băng hoại, thế hệ trẻ thờ ơ cùng văn hóa làm khô cạn tâm linh, đưa dần đến sự hấp hối dãy chết của con người và của cả hành tinh nầy. (Báo Thanh Niên trích lời bình của nhà văn, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu).

Dân cho bạn bè đọc trước  một trích đoạn nói về Vàng trong Trò chuyện với thiên thần, như vầy đây:

“… Vàng lên? Vàng xuống?

Nỗi ám ảnh lớn nhất của con người hiện nay là biến tất cả tài nguyên của trái đất và mọi thứ hàng hóa thành tiền rồi đem cất vào ngân hàng.

Con hãy xem trường hợp của Vàng. Vàng hiện hữu trong thiên nhiên và được thiên nhiên cất giữ. Nhưng con người thích sở hữu và khai thác vàng, một trong những hoạt động có tính cách phá hoại nhất đối với môi trường. Để làm ra một ounce vàng, người ta phải đãi từ 250 tấn đất đá. Các mỏ khai thác toàn cầu đều sử dụng thủy ngân, góp một phần ba vào bức tranh ô nhiễm thủy ngân trên thế giới. Việc đào vàng còn đòi hỏi một lượng lớn hoá chất natri xyanua rất độc hại và để tách ramột kilogram vnàg người ta phải dùng đến 5.000 lít acqua regia, một hỗn hợp của acit nitric và axit clohydric…

Lấy được vàng rồi, con người sẽ làm gì?

Xây những căn hầm bêtông chắc chắn trong ngân hàng để cất giữ nó!”

Chỉ đọc một đoạn nhỏ đó thôi, tôi đã nghe tâm đắc cùng bạn mình, những bức bối về đồng loại “Người” của tôi lại lao xao nổi dậy. Tôi lầm bầm “những căn hầm bêtông đó cất giữ vàng và giữ luôn trái tim của con người nên bên ngoài những căn hầm bêtông đó cuộc sống dường như trở nên vô cảm”

Tôi chưa cầm trên tay hai quyển sách trên, chỉ đọc lời bình mà nghe lòng dịu xuống như có tri âm, tri kỷ sẻ chia những ray rức riêng trong lòng tôi. Thiên Thần của Dân trong tác phẩm là một thai nhi còn trong bụng mẹ. Gọi là thiên thần vì thai nhi đó chưa nhuốm bụi trần, còn tinh khiết như một thiên thần với tính bản thiện của con người. Còn Tự Do của Elena là những nhẹ nhàng bay bổng trong vài khoảnh khắc của cuộc sống lắm nhiêu khê ràng buộc, giản đơn không cầu kỳ, không đòi hỏi.

Cả Dân và Elena cùng tôi vừa có tình gia đình thân thuộc vừa có cả những tương tác tâm đồng, tôi ngồi đây giữa đêm khuya về sáng, viết những giòng nầy trong lúc tâm hồn chợt thấy thanh an, xin gửi đến hai ngươi bạn thân tình lời cám ơn đã giúp tôi hiểu thế nào là hai chữ Tự Do và làm sao để tâm hồn mình an vững giữa bao biến chuyển của những cuộc đổi dời. Mong làm sao Tự Do và Thiên Thần hiện diện khắp mọi nhà, mọi nơi để người người cùng được chia sẻ sẻ ý tình của đôi văn tài nầy.

Chúc Dân và Elena dù ở góc trời nào cũng mãi bên nhau để tiếp tục cống hiến cho đời những tác phẩm chứng tỏ cái Tâm và cái Tài của hai em. Và nói thêm riêng giữa chi em mình, chị từ hơn mười mấy năm nay trên đường chữ nghĩa chị đã có một thiên thần luôn giúp chị những khi chị cần, thiên thần đó tên gọi TRƯƠNG văn DÂN.

16/7/2020

Huỳnh Ngọc Nga

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Trải nghiệm trong cảm nhận văn chương

Đọc văn, đọc thơ đúng và hay cũng là cách dẫn dắt quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương cho người học.

1. Trong nhiều cấp độ tiếp nhận tác phẩm văn học: tri giác, cảm thụ tác phẩm, ngôn ngữ, tình tiết, cốt truyện, thể loại để có thể cảm nhận hình tượng trong sự toàn vẹn; người đọc tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của nghệ sỹ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng và tình cảm của tác giả; nâng cấp lí giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn hoá, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật…; thì cấp độ: Đưa hình tượng vào văn cảnh đời sống và kinh nghiệm sống của mình để thể nghiệm, đồng cảm là yếu tố có nhiều bất ngờ và khá lý thú.

Lúc tôi mới 20 tuổi, tôi đã đọc tác phẩm “Ông già và biển cả” của nhà văn Hêminguây (nhà văn nhận giải thưởng Nobel vào năm 1954), đọc xong tôi suy nghĩ rằng: sao câu chuyện “cá kéo người, người kéo cá” trong mấy ngày đêm, rồi khi kéo vào bờ chỉ là “bộ xương con cá kiếm khổng lồ” mà nhà văn kể lên trên 100 trang văn; lúc đó tôi cũng chưa cảm nhận được ý nghĩa sâu xa về “nguyên lý tảng băng trôi” trong tác phẩm. Thế rồi, khi dạy học phần Văn học nước ngoài cho sinh viên, tôi lại  dạy tác phẩm “Ông già và biển cả”, lúc đó tôi rất lúng túng; tôi đọc tài liệu tham khảo, tài liệu hướng dẫn, đọc hết những gì liên quan đến tác phẩm, vẫn chưa thể dạy tác phẩm bằng chính cảm nhận gan ruột của mình. Vào lớp, tôi hỏi bâng quơ với sinh viên (hỏi để tự trấn an mình trước một tác phẩm văn chương mà mình chưa có cảm nhận sâu sắc): Vì sao tác phẩm “Ông già và biển cả” được xem là “kiệt tác”? Các em trả lời rất hồn nhiên: Vì đó là tác phẩm của nhà văn nhận được giải thưởng Nobel… Tôi vẫn giảng dạy, vẫn băn khoăn; cho đến một hôm, trong giờ thực hành, một sinh viên lên tập giảng trích đoạn “Xan-ti-a-gô và con cá kiếm”; tôi thấy em lúng túng, toát mồ hôi hột, dù ngoài trời mưa rất to, nước đã ngập đến sân trường, rất lạnh… Đột nhiên tôi hỏi em những câu hỏi không liên quan gì đến bài học: Em đi dạy được mấy năm rồi? Gia đình ở đâu? Chồng em làm gì? Vì sao phải đi dạy xa nhà như thế? Vì sao vẫn còn học nâng chuẩn trong hoàn cảnh khó khăn như thế?… Khi em trả lời những câu hỏi của tôi, tôi chợt nhận ra em rất vất vả, khó khăn, nhưng vẫn cố học cho được cái bằng chuẩn hoá để tự tin đứng trên bục giảng; thế là trong tôi xuất hiện một vùng cảm nhận mới về tác phẩm “Ông già và biển cả” – “con người – hai tiếng ấy mới thiêng liêng làm sao”. Giờ học hôm đó như là sự trải nghiệm cho tôi và các em, tôi nhận ra cảm nhận tác phẩm văn chương cần đến kinh nghiệm sống, vốn sống để lý giải những ẩn ý sâu xa mà nhà văn gửi vào trong hình tượng văn chương.

Có lần, tôi đến dạy ở Gia Lai vào tháng 6, Huế đang nắng chói chang, oi nồng mà lên đến Gia Lai thì “Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông”, khi các em đang làm bài kiểm tra bất giác tôi nhìn xuống các em, và chợt hiểu câu thơ của Vũ Hữu Định: “Em Pleiku má đỏ môi hồng”… thế là cảm, là thương mến; dạy xong rồi mà cô trò còn quyến luyến, rủ nhau đi uống cà phê, chuyện trò. Rồi các em lưu luyến, đưa tiễn, đến sân bay các em vẫn chưa về, còn nói: chừng nào cô bước lên máy bay, tụi em mới về. Tôi bước lên máy bay mà không dám nhìn lui, vì ngoái lui chắc là tôi đã khóc, cái tình của các em sao mà sâu sắc thế, đậm đà thế, lưu luyến thế… Nhờ đó mà tôi hiểu hơn câu thơ của Nguyễn Đình Thi: “Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”…

Thời còn là sinh viên, tôi sợ nhất là những bài thi về “Nhật ký trong tù”; thơ thì chưa hẳn là sợ, mà sợ cách ra đề: “Hãy phân tích bài thơ… để làm rõ tinh thần thép, chất thép”… Rồi đến khi đi dạy, đồng nghiệp tôi dạy mảng văn học này, cũng rất thích ra đề theo lối đó; hễ mỗi lần đọc loại đề thi này, tôi chắc chắn sinh viên sẽ sợ hãi giống tôi. Năm 2000, tôi đăng kí nghiên cứu đề tài khoa học cấp trường: “Đặc trưng thơ tứ tuyệt trong Nhật ký trong tù”, mục đích của tôi là tìm hiểu đến tận cùng đặc trưng nghệ thuật của tập thơ. Đặc trưng nổi bật của tập thơ là tính chân thực, bởi vừa được viết theo thể nhật ký, lại bằng thơ, nên cảm xúc ở mỗi bài thơ là cảm xúc chân thực, trực tiếp của chính tác giả. Với cảm xúc đó chúng ta nhận ra con người trong thơ Hồ Chí Minh là con người hướng nội – con người độc thoại với chính mình và con người với cảm thức nhân loại. Cũng nhờ đó, mà tôi đã có dịp đi sâu nghiên cứu đặc trưng của thể loại thơ tứ tuyệt: hàm súc tối đa về mặt ngôn từ và cấu trúc cân đối, hài hòa, ổn định; đồng thời với dung lượng gọn nhỏ tuyệt cú rất đắc dụng trong việc thỏa mãn nhu cầu “tốc ký nội tâm” và “câu tuy ngắn nhưng ý thì dài, lời tuy ngắn nhưng nghĩa lại xa”… Sau đó tôi đã viết bài báo đăng trên Tạp chí Giáo dục – đào tạo Thừa Thiên Huế: “Con người hướng nội trong Nhật ký trong tù qua hai bài thơ: Mộ – Chiều tối, Tẩu lộ – Đi đường”. Mục đích khi viết bài báo này của tôi là góp thêm những gợi ý về cách nhìn nhận chân xác giá trị của tập thơ “Nhật ký trong tù”, tránh lối dạy rập khuôn, máy móc, gán ghép…

2. Trải nghiệm trong cảm nhận văn chương nhiều khi bắt đầu từ những câu chuyện vu vơ, cũng có thể đánh thức những băn khoăn, trăn trở trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học.

Lúc đến Quy Nhơn dạy, tôi hăm hở đi tìm người bạn cùng học thời Cao học (1982 – 1984), bạn tôi đang dạy ở Đại học Quy Nhơn. Vừa vào nhà bạn tôi, vợ bạn tôi đã chào hỏi như là chúng tôi đã biết nhau từ lâu lắm rồi, sau đó cô ấy dặn: chiều mai chị đi dạy về để chồng em đưa chị đi thăm mộ Hàn Mặc Tử rồi về nhà em ăn cơm. Tôi rất vui, vì chưa đến mộ Hàn Mặc Tử bao giờ… Khi đến bãi đá trứng, chúng tôi ngồi nghỉ một chút, bạn tôi nhắc lại những kỉ niệm ngày xưa… phút chốc tôi chợt hiểu thêm một vài khổ thơ trong bài thơ “Chuyện mười năm trước” của nhà thơ Bessonov(1): “Chỉ có một lần thôi/ Em hỏi anh im lặng/ Thế mà em hờn giận/ Để chúng mình xa nhau…/ Những đôi lứa yêu nhau/ Có nghe tôi kể lại/ Chỉ một lần trót dại/ Thế mà thành chia phôi”, dù rằng ngày xưa bạn ấy chưa hề hỏi tôi, nhưng khi bạn ấy nhắc về kí ức học cùng lớp Cao học ở Hà Nội, thì tôi chợt ngộ ra một điều cực kì giản dị: nhiều khi cơ hội chỉ đến một lần trong đời, nếu bạn không nắm bắt được, thì mãi mãi tiếc nuối…

Đọc văn, đọc thơ đúng và hay cũng là cách dẫn dắt quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương cho người học.

Tôi dạy học phần Rèn kĩ năng thực hành tiếng Việt cho sinh viên ngành Tiểu học, nên tôi vẫn thường thị phạm về cách đọc diễn cảm cho sinh viên. Tôi còn nhớ, có cô giáo từng lên nhà hỏi tôi về cách dạy bài thơ “Tiếng chổi tre” trong đợt thi giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh, tôi bảo cô ấy đọc bài thơ cho tôi nghe, sau khi cô ấy đọc xong, tôi lại nói: giờ tôi đọc nhé. Khi tôi đọc xong bài thơ, thì cô ấy sờ sờ cánh tay, rồi nói với tôi: em nổi gai ốc luôn, em biết cách dạy bài này rồi, và sau đó cô ấy đạt giải cao trong kì thi, trong khi tôi chưa hề trao đổi về cách dạy bài thơ.

Sinh viên thường mời tôi hát mỗi khi kết thúc buổi học, tôi biết mình hát không hay, nên tôi thường đọc thơ, bài thơ tôi đọc nhiều nhất là bài “Lịch sử những vì sao”(2)– (Có một đôi trai gái yêu nhau/ người con gái bỗng đem lòng phụ bạc/ quay trái tim đi tìm tình yêu khác/ Bỏ chàng trai bơ vơ/ Chàng trai lạnh lẽo cô đơn/ Trái tim lớn chứa quá nhiều đau khổ/ Nên một hôm trái tim bùng nổ/ Những mảnh tim bay đi bốn phương trời/ Những mảnh tim bay đi bốn phương trời/ Nhớ thương thành ánh sáng/ Cứ đêm đêm hiện về lấp loáng/ Nói những lời chung thủy khổ đau/ Vì thế khi yêu nhau/ người ta thường nhìn lên trời sao hẹn ước).

Tôi cứ đọc bài thơ từ năm này qua năm khác, từ lớp này qua lớp khác, vậy mà trong một lần trên đường đi dạy, tôi giật mình nhớ lại, nhận ra mình đã đọc sai bài thơ đến 7 năm, đọc mãi mà không biết là mình đã “giết chết bài thơ”. Bài thơ có 2 câu lặp nhau: “Những mảnh tim bay đi bốn phương trời”, thế mà tôi chỉ đọc 1 câu, vì lặp 2 câu khó cho việc lên bổng xuống trầm, nhấn nhá của tôi. Tôi giật mình, câu thơ lặp lại mới là câu hay nhất của bài thơ, đó là lời nhà thơ tự lẩm bẩm, tự nói một mình về nỗi đau khi bị phụ bạc… Từ đó tôi đọc bài thơ này hay hơn, và cũng lý giải vì sao, khi đi học tôi thường thích ngồi bàn đầu, vì tôi có thể nghe lời nói nhỏ nhất của giáo viên khi giảng bài, đó mới là lời giảng sâu lắng, là cung trầm khi cảm nhận tác phẩm văn chương; giọng của thầy không phải lúc nào cũng “sang sảng”, nếu không lắng nghe sẽ không cảm nhận hết vẻ đẹp của văn chương từ “nốt lặng” tuyệt vời mà tác giả đã gửi gắm vào đó. Tương tự như vậy, tôi đã hiểu cách đọc câu thơ: “Cô bé nhà bên (có ai ngờ)/ cũng vào du kích” – (Quê hương – Giang Nam)…

3. Từ một vài ví dụ trong quá trình cảm nhận văn chương qua trải nghiệm, chúng tôi nhận thấy rằng dạy học văn ngoài những kiến thức trong sách vở, thì kinh nghiệm sống hay còn gọi là “trải nghiệm” cũng có vai trò rất quan trọng, giúp cho quá trình cảm nhận và hiểu tác phẩm văn chương đến gần với ý đồ sáng tác của nhà văn. Câu nói “thầy giáo già, con hát trẻ”, phần nào nói đến kinh nghiệm quý báu của người thầy trải qua bao năm tháng trên bục giảng, càng dạy học những tác phẩm văn chương càng cần đến những cảm nhận chân xác và tự thân từ người thầy cũng như từ người học.

Chú thích:

(1) Ở dạng tồn nghi về chuyện tình của ông với nhà thơ Olga Berggoltz

(2) Thời đó, chúng tôi cứ nghĩ là thơ của Lermontov, sau này tra cứu thì không phải, hiện giờ vẫn chưa rõ tên tác giả.

Huế, 20/11/2020

Hoàng Thị Thu Thủy

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Mai Quỳnh Nam và nghệ thuật ý niệm

Tập thơ đầu Bước trượt của Mai Quỳnh Nam ra đời năm 1995. Đến nay ông đã có tập thơ thứ sáu Không tỳ vết (2020). Hai lăm năm sáng tạo liên tục đủ để người đọc hình dung ra một đường thơ, đời thơ của một cá tính, một nhân cách Tập Bước trượt hiện ra ngay tác giả là một học thức, lời thơ ít hoa mỹ mà trọng cái ý cái tình.

Đọc một lần thơ Mai Quỳnh Nam xem như chưa đọc. Nhiều từ, nhiều nghĩa chìm sâu theo mạch ngầm: “Thôi như là hạt tuyết – trinh trắng giữ cho mình – còn bao nhiêu buốt lạnh – ném trả về hư vinh” (Không đề). Thực ra những bài ông viết thời kỳ đầu còn nhiều giãi bày, tâm trạng, ngôn ngữ thơ dung dị, kết cấu mạch lạc. Sau này bằng học thức ông hiểu thơ nhiều hơn, nhờ đó có những mới lạ trong kết cấu, ngôn ngữ. Ngôn ngữ tình cảm dồn nén lại, tạo những bùng nổ bất ngờ thú vị “Tôi chới với giữa bờ và nước – không cưỡng được lòng mình – Tôi trượt về em” (Tôi viết những dòng này). Từ đây Mai Quỳnh Nam đã tuyên bố “Tôi đã chấp nhận mình – một số phận – một lối nghĩ – một cách viết”.

Dõng dạc như thế, nên Các sự việc rời rạc (2002) Mai Quỳnh Nam đúc thơ lại, súc tích hơn, xuất hiện nhiều thơ ngắn, đặc biệt là các bài 3 dòng thơ (có khi chỉ 1 câu thơ phân 3 dòng, làm một bài). Trong tập 52 bài thơ không dài, có 7 bài 2, 3 dòng và 14 bài 4 dòng. Những bài thơ như thế bắt đầu gây ấn tượng thị giác người đọc. Tập thơ mở rộng cảm hứng đến nhiều vấn đề. Dưới góc nhìn của nhà xã hội học, Các sự việc rời rạc được liên kết lại cho người đọc thấy có phỏng vấn xã hội học về quan hệ giới, logic khác của tình yêu, đời sống hiện đại, cơm hộp, nhà hộp, sống độc thân, những viên thuốc tránh thai…

Phép thử thuật tư liệu (2007) có 2 bài độc đáo: Những câu hỏi, Tiểu đội phó, tôi và con chó. Nhiều người thích bởi tinh tế, phong phú chất liệu sống thực, ác liệt của chiến trường. Có thể là những bài viết từ trước, khác giọng thơ Mai Quỳnh Nam, giọng tưng tưởng ngang tàng, rất lính. Phép thử thuật tư liệu, thơ ngắn gia tăng. 8 bài 3 dòng, 14 bài 4 dòng. Ở đây biện luận về thơ, đám đông, tương quan nhiều ít, giống và khác, thái độ im lặng, tập tính giống loài… Ý niệm tuyệt đối, chứa đựng sự hiểu biết của nhà thơ về thế giới qua kinh nghiệm cá nhân.

Biến thể khác (2012) thơ ngắn 10 bài 3 dòng, 16 bài 4 dòng. Vẫn cái nhìn xã hội học: thống kê về thời gian, những khuôn mẫu kinh hoàng, lối sống hiện đại, xã hội linh tinh nhốn nháo những hình nhân, hình nộm… Và những cảm nhận về đời người nhẹ nhàng thanh thản: Khi chào đời đến Miền tất định với Người liền kề.

Không thiên vị (2015) thơ 1 dòng 2 dòng, 3 dòng lên đến 28 bài và 8 bài 4 dòng. Nhà thơ nhìn trực diện vào ngay cả những mặt trái của cuộc đời, những tha hóa nhân cách, cậy quyền cậy tiền, buôn tuổi trục lợi, “Chính trị là đấu trường – nơi loại trừ quy luật tình thương”, luận về quyền sống chết, thực và ngụy của việc tôn vinh và ý niệm về sự cứu rỗi “Mặt hồ xanh thắm nuôi sống niềm hy vọng”.

Đến Không tỳ vết (2020) hầu như xóa hết thơ dài, duy một bài dài nhất 12 dòng. Còn lại 37 bài 1 dòng, 2 dòng, 3 dòng thơ. Và một số bài khác 4, 5 dòng thơ. Nhiều ý tưởng của tập dừng lại ở ý niệm, theo chủ quan, cảm tính của nhà thơ, chưa định hình, chưa nâng lên thành khái niệm, tư tưởng. Các ý tưởng cứ bàng bạc, dẫn dắt người đọc triền miên trong những cảm nhận mơ màng, có khi xót xa hoang hoải. Và nhờ vậy chất thơ đậm, sắc lạnh.

Phác thảo như thế để thấy hành trình tâm trạng Mai Quỳnh Nam. Tìm một độc đạo riêng cho mình, từ thực tiễn hiển lộ, không ve vuốt, nhà thơ gợi một ý niệm về thế giới nhân sinh và xã hội nhiều xô bồ, lệch vẹo. Không bị ràng buộc bởi những mỹ từ, hình ảnh mỹ cảm, thơ Mai Quỳnh Nam tự nhiên cày xới lên những triết lý, những mảnh vỡ tri thức. Đây là loại thơ được cảm hứng biểu hiện cuộc đời, con người dưới góc nhìn xã hội học. Các hiện tượng xã hội, quan hệ xã hội là đối tượng để xã hội học quan sát, phân tích đánh giá, khái quát thành những khái niệm, châm ngôn, triệt lý, nhờ hình thức câu thơ định dạng, chuyển tải. Vì vậy, với nhà thơ, ngoài năng khiếu thơ ca còn rất cần vốn văn hóa, học thức thực chất. Có thế nhà thơ mới biết điều hành ý tưởng, câu chữ, hình ảnh… làm lộ ra ý niệm, cả ở hình thức và nội dung cảm hứng thơ ca.

Trở lại với thơ Mai Quỳnh Nam, nghệ thuật thơ Mai Quỳnh Nam in rõ nghệ thuật ý niệm. Không phải ngay từ đầu mà phải một thời gian sau, Mai Quỳnh Nam mới có ý thức tạo nên một thể thơ như vậy. Ý niệm thể, bắt đầu có ở tập thơ thứ hai Các sự việc rời rạc. Nghệ thuật ý niệm coi trọng ý tưởng trước hơn là kết quả của ý tưởng. Từ một ý tưởng ban đầu được phát triển nâng dần lên qua những dị bản, thậm chí nhiều dị bản; được sắp xếp thao tác của nhà thơ.

Tôi dẫn 2 bài thơ ở 2 trang 6 và 7 của Phép thử thuật tư liệu

Chớ có lạm dụng những từ2. Hãy tận tâm

đẹp                                         nhiều khi

cũng dễ hư                             trong lặng thầm

Mỗi bài thơ chỉ 1 câu thơ ngắt 3 dòng thành bài. Mỗi bài riêng rẽ như một module. Các module ghép với nhau thành bài thơ hoàn chỉnh.

Chớ lạm dụng mỹ từ 2. Hãy tận tâm

đẹp                                nhiều khi

cũng dễ hư                    trong lặng thầm

Hãy tận tâm                   Chớ lạm dụng mỹ từ

nhiều khi                        đẹp    

trong lặng thầm             cũng dễ hư

Có thể đặt module sau lên trước, module trước đảo xuống sau, bài thơ mới vẫn nguyên giá trị. Cấu trúc thay đổi. Nói đúng hơn là tạo ra một biến thể mới.

Ở tập Biến thể khác

Lá rơi      2. Một chiếc lá nhọn, hai chiếc

lá tròn

trên đá lạnh          xanh biếc

hai hạt sương

lóng lánh              bạt ngàn lá non

Xếp module 1 chồng lên module 2

Xếp module 2 chồng lên module 1

Cả 2 cách đều tạo những bài thơ mới hoàn chỉnh

Lá rơi             2. Một chiếc lá nhọn, hai chiếc

lá tròn

trên đá lạnh        xanh biếc

hai hạt sương

lóng lánh            bạt ngàn lá non

Một chiếc lá nhọn,

hai chiếc lá tròn     Lá rơi

Xanh biếc              trên đá lạnh

Bạt ngàn lá non     hai hạt sương lóng lánh

Đến Không tỳ vết, số lượng các module tăng lên đáng kể. Tôi trích 3 bài ở các trang liền nhau 9, 10, 11. Mỗi bài thơ là một module. 3 module này có thể lắp ghép hình thành nhiều bài thơ:

Chỉ có thể có khi biết rũ bỏ

Cái thiêng quá gian nan

thế tục ngập xác phàm

Tôn giáo cần được dung hòa

lẽ nào Thánh kinh không phôi pha

Thao tác quen thuộc, chúng ta sẽ có:

1+2. Chỉ có thể có khi biết rũ bỏ

Cái thiêng quá gian nan

thế tục ngập xác phàm

1+3. Chỉ có thể có

khi biết rũ bỏ

Tôn giáo cần được dung hòa

lẽ nào Thánh kinh không phôi pha

2+1. Cái thiêng quá gian nan

thế tục ngập xác phàm

Chỉ có thể có

khi biết rũ bỏ

2+3. Cái thiêng quá gian nan

thế tục, ngập xác phàm

Tôn giáo cần được dung hòa

lẽ nào thành kính không phôi pha

3 + 1. Tôn giáo cần được dung hòa

lẽ nào Thánh kinh không phôi pha

Chỉ có thể có

khi biết rũ bỏ

3 + 2. Tôn giáo cần được dung hòa

lẽ nào Thánh khinh không phôi pha

Cái thiêng quá gian nan

thế tục ngập xác phàm

1+2+3 Chỉ có thể có

khi biết rũ bỏ

Cái thiêng quá gian nan

thế tục ngập xác phàm

Tôn giáo cần được dung hòa

lẽ nào Thánh kinh không phôi pha

1+3+2 Chỉ có thể là có

khi biết rũ bỏ

Tôn giáo cần được dung hòa

lẽ nào Thánh kinh không phôi pha

Cái thiêng quá gian nan

thế tục ngập xác phàm

2+1+3 Cái thiêng quá gian nan

thế tục ngập xác phạm

Chỉ có thể có

khi biết rũ bỏ

Tôn giáo cần được dung hòa

lẽ nào Thánh kinh không phôi pha

2+3+1 Cái thiêng quá gian nan

thế tục ngập xác phàm

Tôn giáo cần được dung hòa

lẽ nào Thánh kinh không phôi pha

Chỉ có thể có

khi biết rũ bỏ

3+1+2 Tôn giáo cần được dung hòa

lẽ nào Thánh kinh không phôi pha

Chỉ có thể có

khi biết rũ bỏ

Cái thiêng quá gian nan

thế tục ngập xác phàm

3+2+1 Tôn giáo cần được dung hòa

lẽ nào Thánh kinh không phôi pha

Cái thiêng quá gian nan

thế tục ngập xác phàm

Chỉ có thể có

khi biết rũ bỏ

Những thao tác này tạo ra trong tâm trí người đọc một vùng liên tưởng về các yếu tố liên quan, đó chính là ý niệm thể. Ba bài thơ ban đầu, 3 module theo thao tác chủ ý của tác giả, người đọc có thể nhận được 15 bài thơ (kể cả 3 bài thơ gốc) nhờ biến hóa từ 3 bài thơ (3 module gốc). Chúng ta chưa xác định được thể của thơ này. Nó vẫn còn nằm ở ý niệm, theo chủ quan và được cảm nhận bằng cảm tính. Về hình thức thể này vẫn nằm/ liên quan với các thể truyền thống của dân tộc, nhưng lại chưa đạt tới mức thành khái niệm. Khái niệm có nội dung và mang nghĩa, biểu hiện kết quả của một khái quát. Khái niệm bao hàm nhiều cái riêng, cái cá biệt. Từ hiện thực khách quan bằng khái quát, khái niệm chính là mô hình của hiện thực ấy.

Nghệ thuật ý niệm cần chủ thể có ý tưởng hơn là kết quả của ý tưởng, cần nhà thơ trung thành với ý tưởng, không thay đổi, kiên định trong quá trình kiến tạo tác phẩm. Như vậy không phải cuối cùng tác phẩm thế nào, mà là ở chỗ tác phẩm được hình thành, phát triển từ ý tưởng, thể hiện quá trình vận động của ý tưởng. Vì thế ý niệm thể chưa rõ ràng, đôi khi ngẫu nhiên trong hành động.

Là nhà xã hội học, Mai Quỳnh Nam có thể ý thức cụ thể hơn, tăng cường thêm chi tiết để khái quát nâng lên khái niệm thể. Là nhà thơ, Mai Quỳnh Nam dừng lại ở vô thường mù mờ của đối tượng và chỉ cung cấp cho người đọc một ý niệm về thể. Nghệ thuật ý niệm theo tôi, ở trường hợp này, là gây ấn tượng thị giác và làm thỏa mãn người đọc ở phần lý hơn tình.

Vậy muốn đọc loại thơ này, người đọc ngoài vốn văn hóa, cần thay đổi thói quen đọc truyền thống, tạo tư thế đọc mới, hy vọng tiếp cận được và có nhiều sẻ chia với thơ được sáng tạo theo tư duy nghệ thuật ý niệm.

12/12/2020

Mã Giang Lân

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Những tác phẩm có giá trị lâu bền của Văn Lê

Tôi biết nhà thơ, nhà văn, nhà biên kịch đạo diễn Văn Lê từ lâu trong một lần nghe anh cùng với nhà thơ Nguyễn Duy và nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm nói chuyện và đọc thơ tại Nhà văn hóa Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh. Phải nói nói rằng qua cuộc gặp gỡ ấy, tôi mới thấy được cái tính hóm hỉnh, văn hóa và trí nhớ nhạy cảm của các nhà thơ mà tôi yêu quý. Riêng anh Văn Lê từ lần gặp ấy đến sau này thân quen khi tôi bước chân vào làng văn thành phố, tôi càng quý mến anh hơn.

Phải nói rằng Văn Lê là con người tài năng thứ thiệt của văn chương, một người anh dễ mến, dễ gần, môt người bạn tâm giao của văn chương chữ nghĩa đức độ. Gặp nhau anh hỏi thăm công việc viết lách, gia đình và sức khỏe. Có lần anh nói với tôi: “Chúng mình từng là người lính mà hình như chú cũng trải qua hai đời lính, viết gì cho người lính, viết gì cho những năm tháng đi qua chiến tranh, viết gì cho cuộc sống đời thường hôm nay được gì thì cứ viết chú ạ”. Những câu chuyện anh tâm sự, những đề tài anh viết lách, nghe anh trao đổi tôi mới ngộ ra rằng, anh là một kho tư liệu sống quý hiếm và sống động. Anh cũng là người vui vẻ đọc sách mà các bạn gửi tặng dù hay dở anh cũng đọc hết, khen chê rõ ràng và chọn cách khen chê mà các tác giả được anh nhận xét phải tâm đắc. Có lần tôi tặng anh tập thơ thứ hai của tôi, anh xem qua một hồi và nói: “Chú viết rất lính, rất quê, rất tính cách và hình như chú là người xứ Thanh”. Hôm ấy có mấy nhà thơ nhà văn, trong đó có nhà thơ, nhà lí luận phê bình nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha nữa. Anh hỏi tôi: Chú vào hội chưa? Tôi trả lời anh: – Em chưa được anh ạ! Anh bảo: Vào hay không vào chả sao, miễn là được mấy anh em ở đây nhất trí cậu là nhà thơ rồi phải không ông Kha. Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha nói rằng:- Được quá đi rồi, hôm qua tớ viết xong bài bình cho tập thơ Đối thoại với thời gian của Vũ Quỳnh đấy. Trong lúc trà dư tửu hậu mà được các bác bề trên cho mấy câu như vậy là thích lắm rồi.

Lần gặp gỡ năm 2013 anh tặng tôi tập thơ Vé trở về của anh với dòng chữ đề tặng: Thân tặng Vũ Quỳnh yêu quý –  Sài Gòn ngày 21.8.2013 – Văn Lê. Anh nói với tôi: “Chú với tôi giống nhau chọn đề tài người lính và nông dân”. Khi đọc hết tập thơ tôi thấy anh là bậc trưởng lão của “văn đàn, còn mình như cậu choai choai mới lớn tập tễnh bước chân vào làng văn. Mấy năm nay thỉnh thoảng gặp anh. Anh ốm và gầy đi nhiều vì trải qua nhiều lúc bệnh hiểm nghèo. Nghe nói động mạch của người ta thì tắc nghẽn, chật hẹp phải nông ra, còn của anh thì rộng, không cẩn thận là không cầm được máu nếu như bất trắc và anh ra đi cũng từ con tim ngừng đập Nghe bạn bè anh em nói, cuộc đời anh Văn Lê có nhiều tâm trạng, trong suy tư của anh ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của một con người sâu sắc với văn chương. Đã có nhiều nhận định mang tính khái quát: Nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ chân chính giỏi giang thường là một nhà tâm lý tốt với bè bạn và với đời sống con người trong nhân vật của tác phẩm mình. Họ đánh giá và xây dựng nhân vật rất hay, xây dựng rút ra triết lý sống nhân văn, cho nhân vật tử tế. Họ tạo dựng lên nghệ thuật của cái đẹp, làm ra chân lí để đi đến trác tuyệt. Phê phán cái ác khéo léo buộc cái ác phải đầu hàng, nhất là chỉ dạy cách làm người, làm giàu cho người khác trên văn đàn. Hay như vậy đấy nhưng cũng còn nhiều văn nghệ sĩ tài giỏi mà không lãnh đạo, chỉ đạo được số phận của mình trở nên giàu có, hạnh phúc. Hình như vấn đề ấy nó truân chuyên và mênh mông quá đối những người có đức có tài. Hình như cuộc đời anh Văn Lê người có cả hàng chục tác phẩm văn học, điện ảnh, có nhiều giải thưởng cấp trung ương, có cả cánh diều vàng, diều bạc và nghệ sĩ ưu tú cũng nằm trong số ấy!

Hôm nay đọc lại bài Vé trở về của anh, bài thơ cũng là tên tập thơ của anh viết về đề tài người lính hi sinh trên chiến trường, viết về người quê khổ sở một đời mà gia tộc chỉ có hai người. Người sống đi tìm người hy sinh, vét trong tuối những đồng xu cuối cùng để mua cho anh mình tấm vé trở về để như người còn sống. Xót xa cho một hoàn cảnh bi thương:

Ngày anh lên đường bầu trời cong vênh

Mất sạch vết cả những vầng mây trắng

Gió lạc lối tràn qua đồng vắng, vấp vào vách đá

Bật lên tiếng kêu rên xiết vô tình

Anh hun hút lao vào chiến tranh

Bỏ gia tộc cho một người còn lại

Bỏ gia tộc cho một người em gái mỏng manh như món đồ dễ vỡ, co ro như bà lão ăn mày

… Và:

Những năm chiến tranh đất nước gieo neo

Giấy báo tử về làng như lá rụng!

Khủng khiếp nhất là làm người sống

Sáng mở mắt ra là nơm nớp trong lòng

Và rồi ngày anh trai hy sinh đến bến nước cũng bơ vơ, cô em chẳng còn ai mà chờ đợi nữa. Sau nhiều năm đi tìm mộ anh trên bạt ngàn Trường sơn, đến tận Tây Ninh. Cô em gái còn may mắn tìm thấy mộ anh và bốc cốt mang về:

Đưa anh ra bến tàu.

Cô lặng lẽ nhìn chồng… lặng lẽ

Cô nhất quyết mua cho anh tấm vé

Cô muốn anh trai cô như người sống về làng

Hai con người chân đất lang thang

Rách rưới như kẻ ăn mày

Co ro như người khất nợ

Hai con người đổi hết tiền mình có

Lấy tiền xu để thêm vé trở về

Con tàu lăn dài qua những vùng quê

Chỉ có người lính đi qua chiến tranh như anh mới lột tả hết được những mất mát đau thương của người lính, của hậu phương người lính một thời khốn khó. Chì có ngòi bút, con người Văn Lê mới khắc họa được những mảng xám tối ấy rõ nét như vậy. Con người và cuộc đời nghĩa tình của Lê Chí Thụy hiểu hết sự hy sinh nên đã lấy tên đồng đội mình Văn Lê trước lúc hy sinh vẫn còn ấp ủ, mong muốn mình trở thành nhà thơ. Và đồng đội còn sống Lê Chí Thụy đã lấy bút danh Văn Lê để đồng đội mình trở thành nhà thơ như ước nguyện. Như vậy cả cuộc đời Lê Chí Thụy tuy là nhà văn, nhà thơ… nhưng không ai biết tác phẩm của anh, chỉ có hồ sơ lịch sử Lê Chí Thụy mới rõ. Riêng người đời chỉ biết nhà thơ – nhà văn – nhà biên kịch – đạo diễn – Nghệ sĩ ưu tú Văn Lê. Văn Lê hai lần đi vào quân ngũ. Một Văn Lê cầm súng và cầm bút luôn hướng tới chân thiện mỹ nhân văn, cảm thông sâu sắc trước nỗi đau mất mát hy sinh nghèo khó của đất nước con người thời xa xăm ấy.

Văn Lê một con người của thơ, người của văn chương bi tráng sống động và hiện thực, con người của nền điện ảnh nước nhà với Long Thành cầm giả ca. Văn Lê là người của những tác phẩm đạt giải cao trong làng văn học và điện ảnh có giá trị uyên nguyên. Văn Lê cuộc đời và số phận có lúc nghiệt ngã và long đong. Bây giờ anh đã đi về phía bên kia mặt trời, đi về miền xa thẳm nhưng những tác phẩm thơ – văn và điện ảnh cùng với tên tuổi Văn Lê còn giá trị uyên nguyên muôn đời sau.

TP. HCM, 20/9/2020

Nguyễn Vú Quỳnh

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nỗi cô đơn thường trực trong thơ Hữu Ước

Thơ Hữu Ước bộc trực, thiên về trực cảm, trực giác và luôn “thượng ý” chứ không “thượng từ”. Nhưng đằng sau những gì tưởng như rất thẳng băng, rất trực tiếp ấy lại là những gì không hoàn toàn thẳng băng, không hoàn toàn trực tiếp, đầy ẩn ý và cần phải được tiếp tục giải mã bằng sự chia sẻ, thấu hiểu của trải nghiệm đến tận cùng từ phía độc giả.

Lâu nay, tôi luôn đánh giá cao “đơn vị thơ” hay, gây ấn tượng mạnh. “Đơn vị thơ hay” ở đây là câu thơ hay, chi tiết thơ hay, câu thơ gây ấn tượng mạnh, chi tiết thơ gây ấn tượng mạnh. Những “đơn vị thơ hay” ấy đủ sức làm điểm tựa vững vàng cho một tứ thơ, nhiều khi không có chúng, tứ thơ không đứng được. Những “đơn vị thơ hay” ấy, cũng là những giây phút khác thường, đôi khi được thăng hoa một cách hốt nhiên và có phần vô thức.

Sinh thời, nhà thơ Phạm Tiến Duật thường coi những câu thơ hay, những câu thơ gây ấn tượng mạnh là những chiếc đinh đóng vào trí nhớ của độc giả.

Cho nên, không phải vô cớ mà mỗi khi đọc thơ Hữu Ước, tôi không thể không nhớ những câu thơ thuộc dạng “đóng vào trí nhớ của độc giả” của ông và đọc lên một lần là nhớ. Ít nhất, “Buồn vui đều rất cũ” là ví dụ thứ nhất. “Giọt sương chỉ thấm lên môi má hồng” là ví dụ thứ hai. “Lưu danh thiên cổ cho ai nhỉ?/ Một nấm mồ xanh ông với ông” là ví dụ thứ ba.

Đó là những câu thơ được sinh ra từ sự trải nghiệm rất cá nhân, của cá nhân,  thường là sở hữu của một người và chỉ thuộc về một người. Chúng được thoát thai, giải thoát từ sự ghìm nén của tình cảm, thái độ, sự cô đơn đến độ trong đời sống này. Đó là những câu thơ như những ngọn đèn vừa tỏa sáng rực rỡ, vừa nóng ấm, cùng lúc mang đến một hiệu quả kép, không giống đèn nê-ông, đã sáng vừa phải, lại gần như chẳng có chút nóng ấm nào.

Những câu thơ ấy không phải “làm cho xong” mà “làm là xong”, như kiểu đã đi thì kiểu gì cũng phải đến, cũng phải tới vậy! Và chúng cũng là những câu thơ “giản dị khó làm” theo cách viết, kiểu viết và quan niệm về thơ của nhà thơ lớn người Đức B. Brecht.

Riêng về B. Brecht, tôi có thể nói thêm rằng: Đó là một nhà thơ mà chất thơ luôn thường trực trong ông, ở trong ông và đề tài trong thơ ông chỉ là một cái cớ để ông bám vào. Nói một cách hình tượng thì thơ B. Brecht như những tấm áo tư tưởng được treo lên những chiếc đinh là những đề tài. Và vấn đề là “những tấm áo tư tưởng” chứ không phải “những chiếc đinh”.

Đến “Mùi lửa”, “chất” Hữu Ước vẫn nguyên vẹn nhưng có phần đầy đặn hơn, sâu sắc hơn. Hữu Ước tin vào những người ăn mày và khẳng định “Họ đi ăn xin là có thật”. Hữu Ước “Tin ở ngày chiến thắng” vì “niềm tin ấy là niềm tin có thật” (Câu hỏi niềm tin). Hữu Ước chỉ tin “Nỗi đau là có thật” và “Một ngày là cả trăm năm” (Khóc vợ) kể từ khi vợ ông mất. Và chỉ khi vợ ông mất, ông mới có thể viết nổi (hoặc viết được) những câu thơ đau đớn và khác lạ như thế này:

Cái rét cứa vào da thịt
Ướp nỗi buồn cô đơn

Nỗi nhớ mồ côi…

(“Nỗi nhớ mồ côi”)

Theo tôi, “có thật” ở đây đã vượt qua “nhìn thấy” để đến với “cảm thấy”. Và “nhìn thấy” mới là hiện thực thứ nhất, còn “cảm thấy” là hiện thực thứ hai. Nếu “nhìn thấy” là cái bên ngoài, thì “cảm thấy” là cái bên trong.

Tất nhiên, trong phần “Viết cho vợ”, Hữu Ước không chỉ có những câu thơ như thế mà còn: “Cái ngõ nhỏ không còn hơi thở cũ/ Em đi biền biệt/ Lá vàng bơ vơ…” (Lá vàng rơi) và ông cũng xác quyết lẫn xác tín vợ ông chính lá “lá bùa” để ông đi qua địa ngục khi bước vào vòng lao lý qua:

Bước vào vòng lao lý
Vợ tôi đưa tôi lá bùa
Đêm ngày tôi cầu nguyện
Nam mô a Di Đà…

Lá bùa trong địa ngục
Nuôi tôi tròn ba năm.

(Lá bùa)

Người nhận thấy “Cái ngõ nhỏ không còn hơi thở cũ”…chắc hẳn phải là người nhớ thương và tiếc thương vợ đến nhường nào. Cái ngõ nhỏ ấy cũng trở nên xa lạ và không quen thuộc nữa khi “em đi biền biệt”. Với tác giả, cái ngõ nhỏ ấy không còn là cái ngõ nhỏ thuở nào vì “không còn hơi thở cũ”.

Khi đọc “Lá bùa”, tự dưng tôi lại nhớ áng thơ “Đợi anh về” của nhà thơ của nước Nga Xô viết Simonov. Trong bài, ở phần dịch thô, có câu: “Chính sự đợi chờ của em đã cứu sống anh”. Chỉ ở phần dịch thơ này, câu thơ đã quá hay. Chính niềm tin vào tình yêu của người ở hậu phương đã giúp người lính ở tiền phương trở về, dẫu cho nhiều người lính vẫn bị mặc định bởi  “Xưa nay chinh chiến mấy ai về”. Tôi nghĩ “Lá bùa” ở đây không chỉ là một lá bùa cụ thể mà là một niềm tin, một hy vọng thiêng liêng.

Thơ Hữu Ước nhắc nhiều đến cô đơn và cô đơn như là nỗi ám ảnh thường trực của ông: “Âm thầm lẻ bóng/ Tôi và tôi” (Chỗ dựa), “Nhìn ngang nhìn dọc: Đơn côi/ Và một cái bóng cùng tôi chập chờn” (Đêm), “Một mình/ Mong manh/ Hoài nghi... (Làm người… khó, “Nay về lưu ẩn miền sơn cước/ Vui buồn giấu kín giữa trời xanh (Than)… Có lẽ vì thế, con gái ông mới nói với ông: “Gia tài lớn nhất của bố là sự cô đơn” chăng?

“Nhìn ngang nhìn dọc: Đơn côi/ Và một cái bóng cùng tôi chập chờn” là một cặp lục bát về một cái tôi – đơn côi, một cái tôi – chập chờn thật hay và hay một cách thấm thía, đau đớn và đau đớn thấm thía của Hữu Ước. Một người mà nhìn ngang, nhìn dọc chỉ thấy đơn côi và ôm trùm lên không gian đơn côi ấy chỉ còn là một cái bóng chập chờn bủa vây, thì thử hỏi có sự đơn côi nào lớn lao hơn thế? Đây cũng là một cặp lục bát không dễ viết và không phải lúc nào cũng viết được về sự đơn côi.

Chắc chắn là người phải ngộ ra một điều gì đó, một lẽ gì đó, Hữu Ước mới viết: “Đứng dậy/ Tập tễnh/ Lại leo núi khác/ Chẳng để làm gì” (Leo núi), “Dại khôn khôn dại chuyện đã qua” (Ngẫm), “Người cũ tự hào vì câu chuyện cũ/ Và thế họ sống được tới hôm nay” (Cổ tích)…

Khi viết “Đứng dậy/ Tập tễnh/ Lại leo núi khác”…để rồi “Chẳng để làm gì” hoặc coi “Dại khôn khôn dại” như “Chuyện đã qua”, Hữu Ước đã thực sự thoát khỏi mọi ràng buộc quen thuộc để “trở về mình”, “trở về ngôi nhà của mình”. Bằng “Chẳng để làm gì”, “Chuyện đã qua”, cuối cùng ông đã nhận thức ra cái tất yếu của đời sống. Còn khi viết “Người cũ tự hào vì câu chuyện cũ…”, Hữu Ước trân trọng những người sống quanh ông cùng những thói quen, những cái vốn có  của họ.

Nhưng không chỉ có thế, Hữu Ước còn sở hữu những tứ thơ độc đáo. Có thể kể tên: “Con mãnh thú vô hình”, “Leo núi”, “Món nhắm”, “Cỏ và đời”, “Thơ thơ”, “Vịnh thi sỹ”, “Viếng mộ Đỗ Phủ”, “Lá bùa”, “Mùi lửa”…

Trong “Món nhắm”, Hữu Ước thương cho những kẻ vô công rồi nghề, lấy câu chuyện người khác để làm quà. Chắc phải thấy họ kỳ cục quá nên ông mới hạ bút:

Nhưng nếu hắn không là món nhắm của mọi người
Thì họ buồn quá
Vì thời gian họ không biết để làm gì…

Cách nay đã lâu, triết gia người Đức Nietzsche từng coi khi lửa cháy sẽ diễn ra cùng lúc sáng tạo và hủy diệt hoặc vừa hủy diệt vừa sáng tạo, vừa sáng tạo vừa hủy diệt. Ở một góc cạnh khác, Hữu Ước phát hiện ra mùi lửa không giống mùi người, không giống mùi hoa, không giống mùi cỏ, bởi vì:

Mùi lửa có hơi thở của người
Sự sống…

Đối với Hữu Ước, quan trọng là “Mùi lửa có hơi thở của người”… Vâng, nếu không có lửa và cả nước, cả không khí nữa, chắc chắn không có “sự sống”!

Thơ Hữu Ước bộc trực, thiên về trực cảm, trực giác và luôn “thượng ý” chứ không “thượng từ”. Nhưng đằng sau những gì tưởng như rất thẳng băng, rất trực tiếp ấy lại là những gì không hoàn toàn thẳng băng, không hoàn toàn trực tiếp, đầy ẩn ý và cần phải được tiếp tục giải mã bằng sự chia sẻ, thấu hiểu của trải nghiệm đến tận cùng từ phía độc giả.

Hãy đọc thơ Hữu Ước như đọc cuộc đời của ông vậy!

Thời gian gần đây, Hữu Ước hay đến Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm chơi. Mỗi lần đến, ông thường say sưa nói đến những tác phẩm mới hoàn thành và những dự định viết của mình trong tương lai gần. Ông cũng hay nói đến những tác phẩm đã xuất bản và sắp xuất bản, trong đó có “Mùi lửa”. Riêng với tập thơ này, ông rất tâm đắc và gửi gắm thật nhiều… Tôi tin ông là người luôn coi sự viết là hạnh phúc lớn nhất của người cầm bút.

Hà Nội. 13/10/2020

Đặng Huy Giang

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Đại ẩn dụ là gì?

Khi Ngôn ngữ học tri nhận xác tín rằng, ẩn dụ là phương thức của tư duy, chúng xuất hiện trong mọi lĩnh vực suy nghĩ, không kể là tư duy logic hay tư duy hình tượng thì một câu hỏi không dễ trả lời đặt ra, vậy ẩn dụ trong môi trường văn chương như thế nào? Chúng có gì khác với ẩn dụ thường quy? Chúng vẫn được hình thành trên cơ sơ ánh xạ hay được tạo lập theo một phương thức khác ?

Gần bốn mươi năm qua, giới học giả đã đi tìm câu trả lời theo nhiều cách khác nhau và  nhiều tri thức của Ngôn ngữ học tri nhận đã được vận dung để nghiên cứu văn chương như lý thuyết ngữ nghĩa khung, hình và nền, tiền cảnh và hậu cảnh… Thành tựu là khá lớn, nhưng chủ yếu là trên cứ liệu của các ngôn ngữ biến hình. Riêng ẩn dụ trong tác phẩm văn chương đã được đúc kết thành 7 loại. Bài này chỉ giới thiệu một loại trong số đó.

Đại ẩn dụ (megametaphor) là ẩn dụ vĩ mô. Cấu trúc của nó gồm hai tầng: tầng nổi và tầng chìm. Tầng nổi chứa nghĩa nguyên thủy (nghĩa đen) của từ vựng và của văn bản. Ỏ đây có thể xuất hiện nhiều ẩn dụ ý niệm tức những ẩn dụ khái quát bậc trên kiểu như Tri thức là thực phẩm và ẩn dụ ngôn ngữ, tức ẩn dụ bậc dưới dựa vào lớp từ ngữ đa nghĩa hệ thống, kiểu như Nuốt không trôi bài tập này, Chưa tiêu hóa hết tri thức, Học nhiều quá rồi cũng có ngày bội thực, Thầy cô giáo mớm bài cho học sinh trước mắt giám thị… Đây là miền ý niệm nguồn.Tầng chìm chứa nghĩa hàm ẩn (nghĩa bóng) tức miền đích, người đọc phải thông qua suy luận, đoán định để thực hiện một phép ánh xạ. Không kể là thơ hay văn xuôi nghệ thuật, các thuộc tính của miền nguồn phải được lựa chọn để  sao cho tương thích với miền đích.

Tuy mối quan hệ  giữa nguồn- đích và đặc trưng ánh xạ đơn giản/ phức tạp có khác nhau tùy theo thể loại, nhưng đây là một hiện tượng không xa lạ trong truyền thống ngữ văn Việt Nam. Nhiều bài thơ trong dòng văn học yêu nước Nam Bộ cuối thế kỷ XIX của Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Bùi Hữu Nghĩa, Học Lạc…, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Lê Thánh Tông và cả Ngụ ngôn… đều được tạo lập theo phương thức đại ẩn dụ .

Đại ẩn dụ xuất hiện trong trường hợp: dùng để biểu đạt các chủ đề tế nhị, lồng ghép một bài học luân lý, ngầm giải thích về một hàm ý nào đó; hoặc, không muốn chuốc lấy rắc rối, hay không chịu trách nhiệm về  hành động ngôn từ của mình. Đây là hiện tượng một thời được gán cho là hiện tượng biểu tượng hai mặt, đã khiến cho nhiều người lao đao vì chữ nghĩa.

Xin được minh họa một vài chi tiết trong thơ  thơ Phan Văn Trị.

Thông qua những sự vật hiện tượng cụ thể từ miền nguồn như con cóc, con rận…hoặc hát bội, quán nước, chùa hư…nghĩa là hiện thực vốn có thật trong đời sống, Phan Văn Trị  nhắm đến miền đích là phê phán kẻ xấu, bằng đại ẩn dụ. Nói cách khác, để sáng tạo loại thơ này, tác giả phải vận dụng ngôn từ thế nào để đạt được yêu cầu: Chỉ bằng một hình  thức biểu đạt duy nhất, laị phải chuyên chở nhiều tầng nghĩa. Ở đây, xảy ra một sự lựa chọn khá gay gắt, vừa phải bảo đảm theo trật tự của lô gích nổi, tức là phải phục vụ cho một đề tài nhất định (chủ đề nổi) nhưng lại vừa phải tuân thủ theo một nội dung khác dưới dạng tiềm ẩn (chủ đề chìm). Để đạt được mục đích ấy, trước hết, cùng một lúc, tác giả phải xây dụng hai hệ thống đề tài. Tuy chúng có những liên hệ mật thiết với nhau, nhưng vẫn là những hệ thống riêng. Trên bề mặt chữ nghĩa, ta tri giác được hệ thống chìm là nhờ vào liên tưởng (ánh xạ). Chẳng hạn: Trên trính có nhà còn lợp lọng, Dưới chân không ngựa lại giơ roi. Liên hệ với đề vịnh của bài thơ Hát bội, ta biết hai câu thơ đề cập đến tính chất ước lệ của nghệ thuật tuồng, nhưng rõ ràng nội dung của nó không chỉ dừng lại ở đó. Cũng vậy, trong bài Con trâu, ta nhận thức được sở chỉ bằng những chi tiết mô tả trực tiếp như: sừng, bụng, lá sách, cằm, râu, đít, nghé ngọ. Và những thuộc tính được nhân hoá như: “chàng va… lớn đầu”, “lơ thơ ba lá sách”, “lèm bèm một chòm râu”… lại gợi mở cho ta một hướng tri nhận khác với chủ đề nổi. Cái hay ở đây, cả hai hệ thống đề tài ấy đều hoàn chỉnh, hoàn chỉnh đến mức chỉ cần thay đổi một vài từ ngữ, lập tức tính chất lưỡng nghĩa của chúng bị phá vỡ ngay. Và có không ít trường hợp, các câu thơ vốn nằm trong hệ thống, do chi phối bởi các mối quan hệ trên trục đối vị và trục ngữ đoạn, tầng nghĩa nổi của nó hầu như chiếm lĩnh toàn bộ. Nhưng một khi tách khỏi ngữ cảnh, tầng nghĩa chìm lại trội hẳn lên. Đây là những tín hiệu gởi mở, cũng chính là căn cứ, làm cơ sở cho  sự kiểm tra ánh xạ: Giường ngà chiếu ngọc từng nương dựa, Má phấn môi son cũng ấp yêu (Con muỗi). Hay: Mấy trận chi sờn cơn gió bụi, Trăm vòng nào nại sức lung lay (Cái cối xay).

Rõ  ràng, cái chi phối tâm trí ta khi đọc mấy câu thơ vừa dẫn chính ở những thuộc tính rất người, chứ không phải ở đối tượng trực tiếp được nêu ra. Chính điều này cũng giải thích vì sao, tầng nghĩa thứ hai, nghĩa chìm lại bao trùm và chi phối toàn bộ văn bản, còn tầng nghĩa nổi thực chất chỉ là cái cớ, nghĩa vẫn cứ sờ sờ ra đó, lại còn được miêu tả, gọi tên hẳn hoi, ấy vậy mà vẫn là thứ yếu.

Điều quan trọng, các ẩn dụ vi mô như ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ngôn ngữ ở miền nguồn phải là những chỉ dấu định hướng để nhận hiểu các thuộc tính  ánh xạ,  làm nên một chỉnh thể mà đại ẩn dụ biểu hiện  ở miền đích.

14/12/2020
Trịnh Sâm

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Trần Bảo Định, cây bút đặc sắc trong dòng văn học sinh thái Không tính 6 tập thơ “thù tạc” bày tỏ ân nghĩa với quê hương, ba...