Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

Nhà văn Sài Gòn sống và viết

Nhà văn Sài Gòn sống và viết

Văn chương miền Nam trước 1975 là văn chương Việt Nam. Dẫu có rất nhiều khác biệt thì hôm nay đọc lại, chúng ta càng nhận ra diện mạo chung: Nền văn học Việt Nam thống nhất trong đa dạng, bổ sung, làm đầy nhau trên cùng một dòng chảy tìm về…
Trong diễn văn khai mạc cuộc gặp mặt lần thứ nhất “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc” ngày 24-10-2017, nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam – cho biết: “Bảo tàng Văn học Việt Nam đã dành một phòng lưu giữ và trưng bày các tác phẩm của miền Nam xuất bản trước năm 1975, thu hút sự quan tâm của nhiều khách thăm”.
Theo Báo Văn Nghệ số 43 (tháng 10-2017), “nhiều đại biểu đã rất ngạc nhiên và xúc động thăm phòng trưng bày các tác phẩm sáng tác và công bố trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Họ bỗng hiểu ra rằng, những bước đi của sự hàn gắn, hòa hợp đã được Hội Nhà Văn Việt Nam chủ động khởi hành từ lâu rồi”.
Riêng Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm (Hội Nhà văn Việt Nam) đã ra số báo “đặc biệt” – số 25 (9-10-2017): Các tác giả thời chống Mỹ có bài in cùng các tác giả Sài Gòn trước năm 1975. Ngay lời nói đầu, tạp chí viết: “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam” – chân lý ấy dẫn chúng ta đến hệ quả: Văn chương miền Nam trước 1975 là văn chương Việt Nam. Dẫu có rất nhiều khác biệt thì hôm nay đọc lại, chúng ta càng nhận ra diện mạo chung: Nền văn học Việt Nam thống nhất trong đa dạng, bổ sung, làm đầy nhau trên cùng một dòng chảy tìm về.
Xin được sơ lược về một vài nhà văn Sài Gòn đã được nhắc đến trong số báo trên.
Những mảnh đời snack bar
Quán bar hay snack bar, tục gọi là sờ nách ba, xuất hiện từ khi quân đội Mỹ có mặt tại Việt Nam. Nơi nào có lính Mỹ thì xuất hiện bao nhiêu là tệ nạn xã hội.
Chỗ lính Mỹ uống rượu tiêu sầu sau những chuyến hành quân còn sống trở về ở quán bar có các cô gái ngồi tiếp, nghe họ nói chuyện. Các cô chỉ cần biết một số câu đàm thoại cấp tốc thuộc lòng, cho họ rờ rẫm đỡ ghiền mà uống rượu nhiều hơn. Khi lính Mỹ uống rượu nhiều thì các cô sẽ có tiền “bông” nhiều, có khi còn được “bo” thêm một số đô-la xanh, đỏ; “nặng đô” hơn thì hẹn ở phòng ngủ nào đó hoặc đưa về nhà…
Đọc báo thấy nói nhiều về “gái bán bar” nhưng trong văn chương Sài Gòn thì hình ảnh và cuộc đời họ chỉ xuất hiện đậm đặc, chi tiết trong những truyện ngắn và tiểu thuyết gắn với tên một tác giả nữ: Nguyễn Thị Thụy Vũ. Có lẽ trước khi đi vào con đường sáng tác “cho đỡ cô đơn”, bà chưa nghĩ là mình sẽ chọn đề tài này. Song, hình như các nhân vật này đã tự đến với Nguyễn Thị Thụy Vũ, phơi bày những số phận bị trời đày để bà có những “Thú hoang”, “Mèo đêm”, “Lao vào lửa”…
Khi lên Sài Gòn, để sinh sống, Nguyễn Thị Thụy Vũ mở một lớp Anh văn tại nhà, dạy cho các cô gái bán bar. Bà cho biết nhiều cô đến đây học thì chẳng bao nhiêu nhưng tâm sự cho bà nghe thì nhiều. Mục đích đi học chỉ như là cái cớ để họ kể chuyện đời và sự uất ức, bị bóc lột bởi chủ bar, ghen ghét của “đồng nghiệp”.
Tiếp xúc, nghe các cô gái này tâm sự về những mảnh đời trôi dạt với lính Mỹ, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã xúc động tâm cảm rồi từ cuộc đời họ, qua lăng kính, tâm thức và sự sáng tạo của người cùng giới, bà đã xúc động đưa lên trang giấy. Nguyễn Thị Thụy Vũ trở thành nhà văn đầu tiên và duy nhất đưa vào văn học Sài Gòn thân phận phụ nữ của một thời kỳ bom đạn, một phần “đen” của lịch sử Sài Gòn với hình ảnh snack bar đầy ở đường Nguyễn Văn Thoại (Lý Thường Kiệt ngày nay), khu Khánh Hội, Hai Bà Trưng…
Phơi bày sự thối nát, phi nghĩa
“Chung sự vụ” là cơ quan quân đội tìm kiếm, lắp ghép những thi thể mất đầu, tứ chi và tan rữa, sắp xếp vào quan tài rồi giao lại cho thân nhân về chôn cất hoặc đơn vị này sẽ tự chôn cất theo yêu cầu của thân nhân. Trong quyển truyện này, Nguyên Sa đã phơi bày bộ mặt thối nát, làm giàu nhờ chiến tranh phi nghĩa của những viên sĩ quan cao cấp trong quân đội Việt Nam Cộng hòa qua chuyện hai bà vợ lớn và vợ bé tranh giành cái thây ma của Thiếu tá Nguyễn Văn Tình.
“Vài ngày làm việc ở Chung sự vụ” được nguyệt san Nhân văn số 14 (thuộc Tạp chí Văn học) phát hành vào tháng 6-1972. Ngay sau đó, Bộ Thông tin ra lệnh tịch thu; Biện lý cuộc Tòa Sơ thẩm Sài Gòn ra lệnh truy tố Phan Kim Thịnh, chủ nhiệm Tạp chí Văn học và tòng phạm là tác giả Nguyên Sa trước tòa tiểu hình chánh phạm vì “đã dùng báo chí để phổ biến luận điệu có thể phương hại nền an ninh quốc gia, làm suy giảm kỷ luật và tinh thần chiến đấu của quân đội”.
Bản Khởi tố trạng đã nêu những trích đoạn trong tác phẩm “Vài ngày làm việc ở Chung sự vụ” được cho là “nguy hại” như sau: “Loại B cũng khóc lóc như A, khóc biểu dương lực lượng có kèm theo chửi bới tùm lum, chửi bới chánh phủ, chửi cả lò những thằng to đầu để chồng bà chết. Trời tru đất diệt năm đời, mười đời chúng mày. Chúng bay ngồi ở Sài Gòn, ngồi vơ vét móc hầu, bóp cổ người ta, bắt chồng bắt con người ta đi chỗ hòn tên mũi đạn…” (trang 7).
“Bà thiếu tướng gọi giật giọng: Trung úy, tôi ra lệnh cho ông ở đây giải quyết cho xong, ông đi đâu, ông không nghe, tôi nói ông tướng giáng cấp ông tức khắc. Trung úy Lan đang bước nhanh dừng lại đột ngột, mặt tái nhợt, trong mắt căm phẫn ngùn ngụt. Trung úy hét lớn: Các người nói gì. Bàn tay đưa lên cổ áo trái giằng mạnh, ném ra phía trước hai bông mai đồng. Các người nói gì? Lon đó, các người mang về mà nấu mà ăn, nếu điều đó mang lại cho các ông, các bà sự sung sướng. Các người là một bọn bạo tàn, không phải, bọn vô liêm sỉ, cũng không phải, bọn trống rỗng, bọn không tim không óc. Các người đến đây làm gì? Tìm kiếm cái gì, tranh giành nhau cái gì ở đây? Muốn biết ai phải ai trái không, muốn biết lẽ phải, muốn biết sự thật chân lý hình thù nó ra làm sao không, tôi nói cho mà hay. Tiếng hét của trung úy Lan càng lớn hơn, có hơi thở dốc, sự uất nghẹn… Các người có hiểu không – Đó là con giòi đang đục khoét thân xác ông thiếu tá Tình ở dưới nhà xác kia. Chân lý đó, lẽ phải đó… Xuống đó mà kiếm!” (trang 148 – 149).
Với “sự xúc động có tên là khổ đau của tâm hồn trước số phận của dân tộc trong chiến tranh triền miên” (Nguyên Sa) đã giúp ông viết tác phẩm này.
30/4/2020
Lê Văn Nghĩa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn Bùi Tự Lực: Ký ức tuổi thơ làm bệ phóng trang văn

Nhà văn Bùi Tự Lực: Ký ức
tuổi thơ làm bệ phóng trang văn

Nhà văn Bùi Tự Lực sinh ngày 9.10.1954 ở xã Bình Trị, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam vừa đột ngột từ trần ngày 30.4.2020 tại Đà Nẵng. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2003, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành – Chủ tịch Hội đồng Văn xuôi Hội Nhà văn TP Đà Nẵng. Bùi Tự Lực là tác giả của nhiều tập truyện, thơ, bút ký, trong đó nổi bật nhất là tập truyện vừa Nội tôi (Giải B cuộc vận động sáng tác truyện, tranh truyện thiếu nhi 1999-2000 của NXB Kim Đồng) được tái bản hàng chục lần, ngoài ra ông còn được trao Giải thưởng Văn học Nghệ thuật TP Đà Nẵng lần thứ nhất (1997-2005) và Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Đất Quảng lần thứ nhất (1997-2010)…
Vĩnh biệt nhà văn Bùi Tự Lực, VHSG xin chia buồn sâu sắc với gia đình, đồng nghiệp cùng những người yêu mến ông, và xin trân trọng giới thiệu lại bài viết của nhà thơ Phan Hoàng từ báo Sài Gòn Giải Phóng như nén tâm hương tưởng nhớ một kẻ sĩ đất Quảng!
Tuổi thơ của các nhà văn
Thật khó hình dung một nhà văn không có những ký ức vui buồn của tuổi thơ để làm bệ phóng cho trang viết đời mình. Nhiều nhà văn trên thế giới đôi khi chỉ có một tác phẩm viết chủ yếu về thời thơ ấu mà sống mãi trong lòng bạn đọc. Kiệt tác Hoàng tử bé của nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupéry chính là giấc mơ chinh phục vũ trụ từ thuở nhỏ của ông với những tiên cảm đầy kinh ngạc. Hai tiểu thuyết nổi tiếng của Nga là Thời thơ ấu gian khổ của nhà văn Yamil Mustafin và Thép đã tôi thế đấy của nhà văn Nikolai Ostrovsky sống trong lòng người đọc những kỷ niệm lãng mạn và bi thương của tuổi xanh trôi qua trong chiến tranh.
Văn học Việt Nam đương đại cũng vậy. Ký ức tuổi thơ có khi là đề tài chủ đạo của một tác phẩm hoặc là nguồn cảm hứng chi phối trong nhiều sáng tác. Nếu như không có tuổi thơ phiêu bồng “tung tăng cuốc kêu dế gáy chim ca/ cóc nhái gọi sấm gọi chớp gọi mưa” ở làng Nghĩa Đô bên bờ sông Tô Lịch trong xanh ngày xưa với những trò chơi tắm sông, chọi dế, đúc dế thì nhà văn Tô Hoài khó mà dựng nên Dế mèn phiêu lưu ký làm say mê bạn đọc nhiều thế hệ. Còn nhà văn Nguyên Hồng với tiểu thuyết tự truyện Những ngày thơ ấu đã ám ảnh chúng ta bởi như nhà văn Thạch Lam nhìn nhận “nó là sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại lạc loài trong những lề thói khắc nghiệt của một gia đình sắp tàn”. Khác với nhà văn Tô Hoài, tuổi thơ của nhà văn Nguyễn Hồng cô đơn nghiệt ngã trong một gia đình mà người cha và người mẹ khác tính khác nết, không yêu thương nhau, để rồi cuối cùng “linh hồn trẻ” phải ngơ ngác lang thang hè phố giữa sự hắt hủi để kiếm miếng ăn tồn tại ở đất cảng Hải Phòng.
Thế hệ sau, ở Nam bộ, nhà văn Nguyễn Quang Sáng trải qua tuổi thơ thi vị và dữ dội ở Cù lao Giêng nằm giữa sông Tiền, để từ đó ông viết nên hai tiểu thuyết Đất lửa và Dòng sông thơ ấu và nhiều truyện ngắn. Nhà văn Sơn Nam tái hiện Chuyện xưa tích cũ cùng một số tác phẩm khác cũng từ những hồi ức thuở ấu thơ được nghe người lớn kể về thời khẩn hoang lập làng đánh cọp đuổi sấu ở Nam Bộ. Tự truyện Gió bụi Sài Gòn của Thiếu tướng – nhà văn Bùi Cát Vũ cũng chính là hồi ức tuổi thơ lưu lạc của ông từ Trà Vinh lên thành phố này mưu sinh, chạy chân bán báo rồi viết báo, trước khi dấn thân vào con đường cứu nước. Nhà thơ Bùi Chí Vinh viết bộ truyện 40 tập cho thiếu nhi Ngũ quái Sài Gòn chủ yếu cũng kết nối cảm hứng từ những ký ức thời thơ ấu gian khổ của ông bên bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Thành công vang dội của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh với hàng loạt tác phẩm gây sốt với bạn đọc nhiều thế hệ cũng gắn liền với những ký ức đẹp đẽ và sinh động của thời tuổi xanh ở xứ Quảng và Sài Gòn. Và nhiều truyện viết cho thiếu nhi của các nhà văn Lê Văn Thảo, Hoàng Văn Bổn, Minh Quân, Thuỳ An, Kim Hài, Trần Đức Tiến, Khôi Vũ, Trần Quốc Toàn, Trần Hoàng Vy, Lý Lan, Lưu Thị Lương,… cũng từ cảm hứng ký ức ấu thơ.
Trong thi ca Việt cũng vậy. Nhờ từ thuở bé được mẹ ru hời bằng những câu Kiều và lời ví dặm 5 chữ xen lục bát mà nhà thơ Huy Cận đã thấm thấu tinh thần văn hoá và thể thơ truyền thống dân tộc, trở thành người viết lục bát hay hàng đầu thi ca Việt đương đại, đồng thời với tình yêu thiên nhiên và con người mà ông đã được sớm “giác ngộ” để thể hiện nhân văn trong thơ mình. Nhà thơ Lê Đạt viết bài thơ Cha tôi nổi tiếng từ những kỷ niệm đau thương về đấng sinh thành mà tuổi thơ ông chứng kiến ở vùng cao Bắc Giang: “Đất quê cha tôi/ đất quê Đề Thám/ Rừng rậm sông sâu/ Con gái cũng theo đòi nghề võ”, để rồi từ thất bại của cuộc đời người cha mà ông đã đứng lên: “Năm tháng mài mòn/ bao nhiêu khát vọng/ Cha đã dạy con một bài học lớn/ Đau thương/ kiên quyết làm người”. Với nhà thơ Hoàng Cầm, ký ức lãng mạn thuở thiếu thời không chỉ giúp viết nên bài thơ Lá diêu bông bất tử, mà còn bàng bạc trong suốt đời thơ ông, như trong Bên kia sông Đuống thơ mộng và nuối tiếc về một vùng văn hoá Kinh Bắc: “Ai về bên kia sông Đuống/ Có nhớ từng khuôn mặt búp sen/ Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu toả nắng/ Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen/ Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối/ Những nàng dệt sợi/ Đi bán lụa mầu/  Những người thợ nhuộm/ Đồng Tỉnh, Huê Cầu/ Bây giờ đi đâu, về đâu?”.
Bi kịch thời thơ ấu của Bùi Tự Lực
Tôi cũng có một tuổi thơ vừa lãng mạn như nhà thơ Hoàng Cầm nhưng vừa dữ dội, gian khó như nhà văn Nguyễn Quang Sáng và Bùi Cát Vũ. Đó là một tuổi thơ trôi qua trong chiến tranh bi thương ở duyên hải miền Trung, lớn lên trên đôi vai gồng gánh đạn bom của người mẹ đơn độc tảo tần, mà tôi đã ghi lại trong bài thơ Mẹ gánh ước mơ: “Mẹ quảy mẹ chạy/ cắc bụp cắc đùng/ người ngã sau lưng/ người chúi trước mặt/ Tuổi thơ tôi trên thúng gióng tản cư/ mẹ gánh ước mơ chạy qua mùa loạn lạc/ tiếng khóc con thơ/ mạnh hơn/ tiếng gầm đại bác…”. Chính nhờ đó mà mới đây khi ra Đà Nẵng được nhà văn Bùi Tự Lực tặng tự truyện Nội tôi viết về thời thơ ấu gian khổ của anh giữa chiến tranh, tôi đọc trong nỗi nghẹn ngào xúc động, hiểu hơn tại sao tác phẩm này từng được trao giải cao về văn học thiếu nhi và được Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản đến 6 lần trong hơn 15 năm qua.
Cha hoạt động cách mạng, bị địch bắt, ra tù tiếp tục bám trụ quê hương chiến đấu ở đất Quảng Nam. Vì hoàn cảnh éo le, để cứu con trai và gia đình chồng bị địch vây hãm, người mẹ đành nuốt nước mắt đi lấy chồng làng bên. Bùi Tự Lực phải sống côi cút nhờ sự cưu mang của bà nội giữa vùng địch tạm chiếm trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Bà nội đơn độc làm vườn làm ruộng để nuôi cháu trai, bốc thuốc Nam giúp đỡ bà con hàng xóm, dành dụm thực phẩm tiếp tế cho con trai và cán bộ hoạt động bí mật, nghĩ ra nhiều mưu mẹo nhằm tránh sự theo dõi khủng bố của kẻ thù. Sống thiếu thốn vật chất lẫn tình cảm, Bùi Tự Lực sớm “tự lực” giúp bà nội làm lụng để có cái ăn cái mặc và đi học, dù phải đến trường rất muộn so với bạn cùng lứa. Đến năm 12 tuổi, anh thoát ly làm giao bưu, rồi rời bà nội vượt Trường Sơn ra miền Bắc…
Đất nước thống nhất, Bùi Tự Lực trở về quê hương thì bà nội không còn nữa. Bà đã mất tích vào đêm rằm tháng bảy năm 1972. Mười ba năm anh và gia đình ra sức tìm kiếm nhưng vẫn không tìm được tung tích của bà. Thế rồi một ngày ngay tại quê hương làng Bình Trị bỗng nổi lên câu chuyện ma, mà hình ảnh được thuật lại giống như bà nội của anh, đó là bóng bà lão ngồi chải tóc trắng như cước ở cống Bà Xanh vào những chạng vạng tối, vào quán bên đường gõ cửa mua rượu uống, ngâm ngợi lời thơ tuồng “Thoại Khanh – Châu Tuấn”… Anh liền vội về quê cùng gia đình đi tìm hiểu. Khi trở lại cơ quan anh lại nhận được một lá thư lạ vẽ sơ đồ bằng chữ Nho về nơi bà nội được chôn cất. Địa điểm ấy chính là một doi bờ ngay cống Bà Xanh ở Bình Trị. Bà nội bị địch âm thầm thủ tiêu vào ngay buổi chiều rằm tháng bảy bà mất tích, được một người đàn ông trong làng hay tin tìm đến chôn cất tử tế. Vì ngại liên luỵ nên ông giữ mãi bí mật, cho đến khi ở tuổi bát tuần sắp gần đất xa trời ông mới tiết lộ, bắn tin bằng câu chuyện ma và vẽ sơ đồ gửi cho Bùi Tự Lực.
Hài cốt bà nội được cải táng về nghĩa trang gia tộc. Nhà nước truy tặng bà là liệt sĩ và phong Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngay đợt I. Đó là cụ Lê Thị Đỉnh, một trong những người phụ nữ nổi tiếng của xứ Quảng thời chiến tranh chống Mỹ, như nhà văn Bùi Tự Lực tự thuật trong truyện Nội tôi: “Cuộc đời bà hiện hữu giữa đời thường, với những việc làm rất thực, như mơ và có những điều tưởng như huyền thoại: Chuyên cần tích góp để mà dâng hiến, hy sinh; dồn nén đau thương để bùng nổ căm giận; đa mưu kỳ xảo để giữ lòng tận tuỵ thành tâm… Trong bà nội vô hình có một ranh giới cực kỳ mong manh giữa bao nhiêu nghịch lý: Tỉnh táo với say sưa, chuyện đời với truyền thuyết, loạn trí với tĩnh tâm, tiếng chửi rủa oán thù cay nghiệt với lời ru mênh mang giữa đất trời… và có một điều gì đó phi thường – Già cỗi, đơn phương, trắng tay mà đầy uy lực trước kẻ thù”.
Mấy mươi năm chiến tranh trên đất nước này xuất hiện rất nhiều người phụ nữ như cụ bà anh hùng Lê Thị Đỉnh. Trong đau thương bà may mắn có được người cháu trai Bùi Tự Lực trải qua tuổi thơ bất hạnh đã trở thành người cầm bút tái hiện lại hình ảnh xúc động về bà nội mình. Chính từ bi kịch mà con người lớn lên, và với Bùi Tự Lực cũng chính từ bi kịch thời thơ ấu đã giúp anh viết nên câu chuyện day dứt lòng người. Một lần nữa ký ức tuổi thơ đã trở thành bệ phóng cho trang văn, bởi nếu không trải qua thời thơ ấu với bà nội trong hoàn cảnh khắc nghiệt thì cuộc đời người thầy giáo hiệu trưởng và phó giám đốc kho bạc huyện ở xứ Quảng là Bùi Tự Lực có thể đã chuyển sang một hướng khác.
2/5/2020
Phan Hoàng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đọc lại Hainơ trong "Mùa thơ" Covid-19

Đọc lại Hainơ
trong "Mùa thơ" Covid-19

Tôi thiển nghĩ, không phải thời bây giờ thơ không cần thiết cho đời sống thường nhật, mà chính là thơ dở mới không cần thiết cho đời sống, không cần cho ai cả. Đôi khi chính loại thơ này làm hại cho chính bản thân thơ, bản thân người làm thơ – những người làm ra thơ dở…
Trong lúc cả nước đang đồng lòng, chung sức chống lại dịch bệnh COVID-19, trên mạng xã hội cũng đang rộ lên những bài thơ mà nhiều người gọi là “mùa thơ” COVID-19.
Những bài thơ ca ngợi chủ trương đúng đắn, kịp thời của chúng ta nhằm đẩy lùi nạn dịch đang hoành hoành trên khắp thế giới. Những bài thơ nói lên quyết tâm của mỗi con người trước khó khăn, thách thức của đại dịch cùng những vần thơ ca ngợi những doanh nhân, nghệ sỹ, những người dân bình thường góp tiền của, công sức cho công cuộc chống dịch…
Người ta còn lấy thơ của những nhà thơ nổi tiếng như Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Bính… để “chế tác” ra những khổ thơ, vần thơ trong mùa dịch…
Có nhiều ý kiến khác nhau về “Mùa thơ” COVID-19, khen, chê, giễu cợt đến hài hước!
Hôm vừa rồi, tôi có một người quen từ Đức về bị cách ly ở Sơn Tây có lên FB tâm sự, rồi gọi điện cho tôi và nói nhờ có cuốn thơ của nhà thơ Đức nổi tiếng Henrich Hainơ mang về nên những ngày cách ly đọc cho đỡ buồn, đọc đến thuộc lòng: “Tim ta ơi đừng nên u uất/ Số phận mình gắng chịu cho quen/ Những thứ gì mùa đông cướp mất/ Mùa hạ về sẽ trả lại cho em…”. Vì tôi không biết tiếng Đức nên bạn đọc bài thơ dịch này. Thực ra tôi cũng đã thuộc lòng những câu thơ trên.
Thuở còn là sinh viên đại học, tôi đã thuộc lòng nhiều câu thơ mà sau này tôi mới biết đó là của nhà thơ nổi tiếng người Đức H.Hainơ. Những người yêu thơ Việt Nam có lẽ không ai là không nhớ tới bài thơ “Trong mơ anh đã khóc”: “Trong mơ anh đã khóc/ Thấy em trong áo quan/ Đến khi anh tỉnh giấc/ Nước mắt cứ tuôn tràn/ Trong mơ anh đã khóc/ Thấy em không trung thành / Tỉnh dậy, anh, đôi mắt/ Lệ đắng còn chảy quanh/ Trong mơ anh đã khóc/ Thấy em vẫn dịu hiền/ Thế rồi anh tỉnh giấc/ Nước mắt vẫn triền miên” (Hoàng Trung Thông dịch).
Nói về thơ H. Hainơ, nhà nghiên cứu văn học Nga Sinman cho rằng “Ông đã cho ta thấy một cái tôi trữ tình đau khổ, sáng tạo, bông đùa, phủ định và yêu thương – tất cả đều xuất phát từ cuộc sống thường nhật… có lẽ Hainơ đã đạt tới mức độ cao nhất trong sự gắn bó với đọc giả của ông”.
Đọc lại nhận định này, tôi càng thấm thía hơn khi nghĩ về thơ. Nhà thơ phải sống thế nào, yêu thế nào, sáng tạo thế nào, gắn bó với người đọc thế nào… mới có những bài thơ, câu thơ còn lại với thời gian.
Bây giờ, ở ta người làm thơ rất nhiều, thơ in trên báo, trong các tập thơ, trên mạng xã hội cũng rất nhiều. Nhưng, có một nghịch lý, ấy là người thích đọc thơ lại rất ít. Tôi đã tận mắt chứng kiến một nhà thơ khi mở trang thơ của một tờ báo văn nghệ chính thống, chỉ lướt qua hơn chục bài thơ in trên đó, rồi dừng lại đọc bài thơ của mình, không đọc thơ ai cả, chỉ ngồi rung đùi!
Bản thân tôi là người yêu thơ, thấy thơ là đọc, ở trên báo, trong sách hay trên Facebook, nhưng nhiều khi đọc cả mấy chục bài thơ, mỏi cả mắt mà không tìm được dù là một câu thơ mà mình thích.
Thế nhưng, khi đọc lại H.Hainơ, lại say mê không muốn rời cuốn sách. Không phải tại tôi đã chán thơ mà tại thơ dở làm tôi chán chăng?!
Tôi bỗng nhớ tới câu nói của Nữ hoàng Áo Elisaeth: “Hainơ khác với nhiều thi sỹ đương thời, vì ông khinh ghét sự giả dối; ông luôn luôn thể hiện mình như con người và tất cả lỗi lầm của con người”. Cái đẹp trong thơ là vậy chăng?! Không phải là sự uốn éo giả tạo!
Henrich Hainơ (1797-1856) là người Đức, gốc Do Thái. Tác phẩm thơ đầu tiên là Gedichte (Những bài thơ) viết về mối tình cuồng si của ông với cô em họ. Nước Đức thời ông sống không phải văn minh, phát triển như bây giờ. Ông đã trải qua nhiều khổ đau trong đời sống thường nhật. Năm 1831, ông phải rời bỏ quê hương sang Paris, Thủ đô của nước Pháp, sống ở đấy cho đến cuối đời. Có một câu nói nổi tiếng của ông mà mãi sau này nhiều người còn nhắc lại: “Nếu một người lúc nào cũng có thể mỉm cười trước tất cả mọi điều thì chắc chắn người đó trong lòng đã có nhiều rạn nứt đau đớn”. Đọc thơ ông, ta thấy nhiều nhiều “rạn nứt đau đớn” trong đó, những “rạn nứt” mà ông đã không hề giấu giếm, nó đã biến thành thơ, biến thành nụ cười vươn dậy trước mọi khổ đau. Đúng là “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay” – nói như cụ Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” bất hủ.
“Con thường sống ngẩng cao đầu mẹ ạ/ Tính tình con hơi ngang bướng kiêu kỳ/ Nếu có vị chúa nào nhìn con vào mắt/ Con chẳng bao giờ cúi mặt trước uy nghi/  Nhưng mẹ ơi – con xin thú thật/ Trái tim con dù kiêu hãnh thế nào/ Đứng trước mẹ dịu dàng, chân chất/ Con thấy mình bé nhỏ làm sao…”. Trước đây tôi từng ngân lên những câu thơ này khi nghĩ về người mẹ mà không biết thơ của ai. Bây giờ, tôi mới hay đó là những câu trong bài thơ “Gửi mẹ” của Hainơ do nhà thơ Tế Hanh dịch qua bản tiếng Pháp.
Tôi còn nhớ một lần bị thầy giáo dạy toán phạt, ấy là năm học lớp 10 (hệ 10 năm) vì mải lúi húi chép lại một bài thơ từ sổ tay của một người bạn cùng lớp. Đến nay tôi vẫn thuộc lòng bài thơ này và bây giờ mới biết là của nhà thơ Hainơ: “Mùa hè nồng cháy/ Ở trên má em/ Mùa đông lạnh lẽo/ Ở trong tim em/ Nhưng có một ngày/ Hỡi em / Mùa đông sẽ trên má/ Mùa hè ở trong tim (Mùa hè nồng cháy – Tế Hanh dịch).
Khi tôi biên soạn cuốn “Những câu thơ hay Đông – Tây – Kim – Cổ”  (Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2013), tôi bỗng nhớ đến mấy câu thơ tôi đã thuộc lòng :
Triệu năm, đã triệu năm rồi
Những ngôi sao ở trên trời đã yêu.
Lời của sao đẹp bao nhiêu
Nhưng mấy ai hiểu ít nhiều em ơi?
Chỉ anh hiểu được mà thôi
Vì anh học được những lời của em.
Lúc đó tôi cứ ngỡ là thơ của một nhà thơ Nga nổi tiếng nào đó. Nhưng vì không tìm được tác giả nên tôi không thể đưa vào cuốn sách, mà chỉ ngân nga những đêm sao sáng đầy trời một mình ở nhà vườn Sóc Sơn. Giờ mới biết là thơ của Hainơ, bài “Triệu năm” cũng do Tế Hanh dịch.
Tôi rất thích bài thơ “Họ giày vò thân tôi” của Hainơ: “Họ giày vò thân tôi/ Họ làm tôi phát cáu/ Người với lòng yêu thương/ Người với lòng căm ghét/ Họ đầu độc bữa ăn/ Họ đầu độc chén nước/ Người với lòng yêu thương/ Người với lòng căm ghét/ Nhưng cái người giày vò/ Và đầu độc tôi nhất/ Chẳng bao giờ yêu tôi/ Cũng chẳng bao giờ ghét”  (Tế Hanh dịch). Bây giờ ta hay nói đến thói vô cảm như là một tội ác vô hình đang trở thành căn bệnh của xã hội hiện đại. Ấy vậy mà Hainơ đã thể hiện rất tài tình thói vô cảm này trong bài thơ “Họ giày vò thân thôi” từ những năm đầu của thế kỷ 19. Tính hiện đại trong cấu tứ, trong ý tưởng, trong cách thể hiện, cả trong ngôn từ của bài thơ thực sự sâu xa, minh triết. Bây giờ ta nói đến thơ hiện đại hay hậu hiện đại, thực ra Hainơ đã thể hiện trong bài thơ này, tính hiện đại còn nguyên giá trị dù thời gian cách chúng ta gần hai thế kỷ!
Cả thói đời giả dối, đạo đức giả cũng được Hainơ chỉ trích không thương tiếc trong bài thơ “Thiên hạ thực ngu”:
Thiên hạ thực ngu, thiên hạ thực mù
Và càng ngày càng trở nên dớ dẩn!
Họ bảo em tính tình không đứng đắn
Hỡi bé em xinh đẹp của tôi ơi.
Thiên hạ thực ngu, thiên hạ thực mù,
Và mãi mãi sẽ hiểu sai cô bé;
Họ đâu biết em hôn lại ngọt ngào đến thế
Nụ hôn cháy nồng làm ngây ngất hồn tôi
(Quang Chiến dịch)
Tôi thiển nghĩ, không phải thời bây giờ thơ không cần thiết cho đời sống thường nhật, mà chính là thơ dở mới không cần thiết cho đời sống, không cần cho ai cả. Đôi khi chính loại thơ này làm hại cho chính bản thân thơ, bản thân người làm thơ – những người làm ra thơ dở!
Tôi chỉ làm thơ khi không còn cách gì có thể diễn đạt được những rung động sâu xa trong tâm hồn mình. Để kết thúc bài viết này, tốt nhất là dẫn ra đây bài thơ “Khi anh nói cùng em” của Hainơ:
Khi anh nói cùng em những điều anh đau khổ,
Em ngáp dài không nói năng chi;
Khi trong thơ anh nỗi đau thổ lộ,
Em khen anh thi tứ diệu kỳ 
(Hoàng Trung Thông dịch).
Chú thích:
Tất cả thơ trích trong bài viết này là từ cuốn “H. Hainơ – Thơ trữ tình”  – Nhà xuất bản Văn học
4/5/2020
Dương Kỳ Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chút hương cỏ xưa nơi xứ rượu hồng đào

Chút hương cỏ xưa
nơi xứ rượu hồng đào

Gần đây, nhà văn Lê Trâm trình làng hai tác phẩm: tập truyện ngắn “Đêm nguyệt bạch” và tập tản văn “Về yêu xứ rượu hồng đào”. Niềm ưu tư tôi đọc trong anh có lẽ cũng là sức sống thẩm mỹ tạo nên sức chuyển động trong truyện ngắn của Lê Trâm. Còn đọc tản văn của Lê Trâm mới thấy hết cái tâm hồn khoáng đạt của anh.
Đọc chưa qua một “Đêm nguyệt bạch” – tập truyện ngắn của Lê Trâm, sách đầy đặn hơn 220 trang in, gồm 16 truyện ngắn, do NXB Trẻ cấp phép vừa mới phát hành – ấy vậy mà tác giả của nó lại tiếp tục trình làng tập tản văn “Về yêu xứ rượu hồng đào”, sách do NXB Đà Nẵng cấp phép, cũng gần 200 trang in đằm tay không kém. Chỉ mới mươi ngày nửa tháng thôi mà hai đầu sách mới tinh tươm xuất xưởng in. Đấy là chưa nói cách nay mới độ tròn năm, Lê Trâm cũng đã tưng bừng tổ chức giới thiệu tập truyện ngắn “Phía gió biển không còn ai” tại hai nơi Đà Nẵng và Tam Kỳ. Lao động chữ nghĩa vừa miệt mài vừa “tốc hành” kiểu Lê Trâm quả thật hiếm hoi trong làng văn đất Quảng.
Nếu quan niệm rằng một truyện ngắn hay, gieo vào lòng bạn đọc được những thiện cảm, là một truyện ngắn phải xây dựng cho được cái cốt truyện độc đáo, chỉ ngần đó tiêu chí thôi thì quả Lê Trâm đã phần nào thu được cái kết quả đó. Ví như, từ “Đêm của bướm” (Phía gió biển không còn ai) cho đến “Một trang giải phẫu sinh lý người” (Đêm nguyệt bạch). Dường như với Lê Trâm, kinh nghiệm của hơn 40 năm cầm bút đã đặt cái vị thế nhà văn luôn nghiêm cẩn trước trang viết một đòi hỏi vừa khắc nghiệt nhưng cũng vừa là sự thách thức, rằng nếu không lạ lẫm, không độc đáo thì tốt hơn hết là không viết gì. Niềm ưu tư tôi đọc trong anh có lẽ cũng là sức sống thẩm mỹ tạo nên sức chuyển động trong truyện ngắn của Lê Trâm, cho dù không phải truyện ngắn nào của anh cũng thỏa mãn được khát vọng ấy.
Nhưng sự độc đáo dẫu có lạ hóa đến chừng nào, kiểu như thủ pháp huyền ảo trong “Đêm của bướm”, hoặc nhuốm màu truyền kỳ pha chút yếu tố “đường rừng” như trong “Đêm nguyệt bạch” thì linh hồn của mỗi truyện vẫn phải tựa vào điều căn cơ cốt tử, ấy là dự phóng của cái tôi nghệ sĩ. Với Lê Trâm, dường như mấy mươi năm cầm bút cũng là mấy chục năm anh đứng trên bục giảng. Môi trường sư phạm ấy hẳn là thế giới đã mài mòn những con đường nhà văn đi qua. Thế nên, chắc chắn một điều, thế giới đó không còn là ngoại giới (exterieur) – một đối tượng để mô tả, mà là thế giới tự nội (immanence), từ đấy những nhân vật của nhà văn bước ra, là Đàm Hưng, là tôi trong một “Chúc ban mai tốt lành”, là ông Dưỡng trong “Một trang giải phẫu sinh lý người” hoặc là cô giáo Hạnh trong “Đêm nguyệt bạch”. Nếu hiểu bút pháp như là thứ của riêng mỗi nhà văn thì cái cách hành văn nhẹ nhàng mà đằm sâu, giản dị mà sáng sủa, tất cả đã tạo nên một phong cách Lê Trâm đĩnh đạc, điềm tĩnh, chừng như anh xa lạ với những phong cách phóng túng, cầu kỳ.
Nhưng nếu hiểu bút pháp của nhà văn còn là một thứ bẩm sinh bí mật, nó chính là cái tạng, cái giọng văn, là hơi thở, tiếng nói, bước đi, dáng đứng tự bao giờ sơ khai đã hình thành, khu biệt là vậy song thời gian, sự tác động của ngoại giới, thời đại chẳng hạn, chắc chắn sẽ ít nhiều có làm ảnh hưởng đến kỹ thuật viết. Thậm chí, đến cả tư tưởng cũng dịch chuyển, càng trưởng thành càng dạn dày kinh nghiệm. Tuy vậy, cái tạng văn, cái giọng văn thì khó làm thay đổi. Đến nỗi người ta có thể nghe văn, đọc và thẩm văn là có thể nhận ra người viết. Thể hiện rõ nhất là khi đọc tập ký và tản văn “Về yêu xứ rượu hồng đào” của Lê Trâm.
Tuy rằng tác giả đã bố cục sách ra làm hai phần với hai chủ đề, một là “Dấu xưa” và tiếp phần hai – cũng là tên chung của sách “Về yêu xứ rượu hồng đào”. Dường như để tương ứng với bố cục, nhà văn cũng xếp thể loại của sách là: ký và tản văn. Nhưng thú thật, có khi đấy là chuyện hình thức, bởi tôi đọc đến khi gấp sách lại vẫn cứ miên man theo xứ rượu hồng đào, thế nên, nếu gọi đây là một tập tản văn thì cũng chả sai tí nào. Đọc tản văn Lê Trâm mới thấy hết cái tâm hồn khoáng đạt của anh cũng lãng mạn như rượu hồng đào chưa nhấm mà say. Mộc mạc, dung dị mà lại mênh mang thăm thẳm tình yêu theo từng lối xưa quê nhà. Gấp tập tản văn của Lê Trâm lại, chừng như trong khoảnh khắc mơ hồ cho vô thức lên tiếng, tôi thấy “Về yêu xứ rượu hồng đào” hay là “Sơ khai du mục tầm phương thảo” của Bùi thi sĩ cũng chỉ thế thôi! Bởi lẽ, hương hoa cỏ ngày xưa bây giờ là những lối vô tận đâu để mà du mục đi tìm cho thỏa.
5/5/2020
Nguyễn Nhã Tiên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Cõi say của Vũ Hoàng Chương

Cõi say của Vũ Hoàng Chương

Thơ Vũ Hoàng Chương hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc nét Đông phương dù Hoàng lớn lên giữa cao trào Thơ mới.
Vũ Hoàng Chương sinh ngày 5/5/1916 tại Nam Định. Năm 1930 ông lên Hà Nội học trung học tại trường Albert Sarraut. Năm 1937, ông đỗ tú tài Tây và theo học khoa Luật Đại học Hà Nội. Hai năm sau, ông thôi học, làm phó thanh tra Sở Hỏa xa Đông Dương. Có lúc ông đã làm trưởng ga Bắc Ninh.
Cũng thời ấy, ông bắt đầu có thơ in trên các báo và gây được sự chú ý. Năm 1940, tập Thơ say được ấn hành, đánh dấu một quãng đời văn chương lẫy lừng của người thi sĩ tài ba.
Thơ Vũ Hoàng Chương hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc nét Đông Phương dù Hoàng lớn lên giữa cao trào Thơ mới. Thơ của Hoàng được đánh giá là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc”.
Vũ Hoàng Chương từng chia sẻ chia sẻ: “Tôi học chữ Nho từ năm tuổi, thơ phú chữ Nho ảnh hưởng rất mạnh đến đầu óc tôi. Đến mười hai tuổi, tôi mới học chữ Pháp cho nên văn chương, văn hóa Pháp chỉ ảnh hưởng hời hợt ở trên, chớ không sâu xa như chữ Nho. Hiện giờ, tôi vẫn đọc và viết chữ Nho và tinh thần tiết ra trong những vần thơ vẫn bàng bạc triết học Đông phương nhiều hơn là Tây phương.”
Bắt đầu từ tập Thơ say đến Mây, Vũ Hoàng Chương đã tạo cho mình một cõi thi ca đầy quyến rũ với những vần thơ loạng choạng, uyển chuyển cũ vũ điệu say.
Như bao nhiêu thanh niên thuở ấy, Hoàng Chương sống trong trạng thái bất mãn, cô đơn, lạc lõng giữa đời.
Dân tộc còn bị nô lệ chưa nhìn thấy lối thoát; trong khi đó, xung quanh chàng người ta đang bon chen ganh đua giành giật những mảnh bằng to, mong chiếm địa vị cao để hưởng vinh hoa phú quí mà người Pháp đã cố tình nhử mồi, mua chuộc. Với bản ngã ưa sầu mộng, nhiều cảm xúc và thiếu óc thực tế như Hoàng, chốn ấy nhất định không phải là nơi chàng đeo đuổi, mà còn cảm thấy quá xa lạ là đằng khác.
Còn gia đình, cha chàng là một nhà nho bảo thủ, nghiêm khắc, bấy lâu nay hai cha con đã có mối bất hòa về chuyện hôn nhân của chàng. Ông Tri huyện chỉ muốn sau khi Hoàng học xong sẽ đi hỏi cô con gái một vị quan Bố chánh, bạn thiết của ông cho chàng. Hoàng đã theo Tây học, những tư tưởng tự do cá nhân, giải phóng tình cảm đã nẩy mầm, bén rễ trong tim óc của chàng, làm sao chàng có thể nghe lời? Chàng thở than rằng: “Riêng tôi sống cuộc đời vô vị/ Khắc nỗi buồn u uẩn từ lâu”.
Khi ấy, chỉ trong mơ, Vũ Hoàng Chương mới sống thực như lòng mình, và chàng đã say sưa giãi bầy hết chân tình cùng ai:
Xuân đắm trong mơ một buổi chiều
Bên em anh thấy sóng lòng xiêu
Mê man giãi hết tình u ẩn
Trong lúc điên rồ anh quá yêu.
Chàng đắm chìm trong những cơn say, say men rượu, say tình ái, từ cái say ấy mà quê hết đi, cõi đời chán trường này. Trong thơ chàng, cái tâm tư si tình khiến dày vò chàng, khiến chàng “chết đi sống lại”. Chàng tìm đến cái cõi lênh đênh của những người kỹ nữ, để được vỗ về, và cũng là để được ngả vào điên cuồng:
Say đi em say đi em
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng điên rồ xác thịt
Rượu rượu nữa và quên quên hết
(Mời say)
Nhưng chàng thi sĩ lãng mạn, mộng sầu thuở ấy, say mà không trụy lạc, không tìm quên, chàng say để đắm mình trong nồng nàn, trong những viển vông của cõi mộng, trong cái đê mê của khoái cảm đau đớn bởi sau tất cả những cơn say ấy là một bức thành sầu, bức thành của thi ca.
Có ai say để quên sầu
Lòng ta lảo đảo càng sâu vết buồn
Chén rượu đôi đường
Lúc còn trẻ, Vũ Hoàng Chương được gặp gỡ nàng Tố Vân, con gái một gia đình khá giả, để rồi từ đó rơi vào mối tình mặn nồng với nàng. Nhiều lời thề ước đã được thốt nên, để rồi nàng bỏ chàng đi lấy chồng. Chàng ôm mãi trong lòng một mối tình với nàng Tố Vân, cũng chính người con gái ấy là nàng thơ say, là nguồn cơn để Vũ Hoàng Chương mài bút mà viết nên những vũ điệu say khiến lòng người say đắm.
Bài thơ Mười hai tháng sáu là một trong những bài thơ chàng viết trong trạng thái mê man của men say, cái thứ men chất chồng tuyệt vọng:
Tháng sáu, mười hai, từ đây nhé
Chung đôi, từ đây nhé lìa đôi!
Em xa lạ quá, đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi.
Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu, ghi mười hai,
Tình ta, ta tiếc! cuồng, ta khóc.
Tố của Hoàng nay Tố của ai?…
Cõi say, cõi tình và cõi thi ca quện chặt vào nhau trong thơ Vũ Hoàng Chương là những vần thơ vừa da diết vừa phóng túng lại chất chứa đầy những tuyệt vọng của một tài thơ mị tình. Đấy là cõi riêng mà chàng thi sĩ Vũ Hoàng Chương kiến tạo nên, là nơi mọi ràng buộc của lý trí và hiện thực trở nên mờ nhòa.
Cái say ở đây chính là cõi thăng hoa của một bản năng sáng tạo, và thiên tính nghệ thuật thi ca vĩnh hằng. Ấy là trạng thái thăng hoa của thi sĩ. Cõi say của Vũ Hoàng Chương cũng như cõi điên của Hàn Mặc Tử, hay là cõi man rợ của Đinh Hùng…
5/5/2020
Phong Linh
Nguồn: Zingnews
Theo https://vanhocsaigon.com/

Cảm thức về Tình yêu và Thân phận trong truyện Nguyễn Thị Lê Na

Cảm thức về Tình yêu và Thân phận
trong truyện Nguyễn Thị Lê Na

Với sự nỗ lực lao động, sáng tạo và lòng yêu văn chương, truyện của Nguyễn Thị Lê Na đã để lại trong lòng người đọc những mỹ cảm cả về phương diện nội dung và nghệ thuật, trong đó, mỹ cảm sâu sắc nhất là những câu chuyện viết về Tình yêu và Thân phận đàn bà giàu tính nhân bản mà phải do chính người đàn bà viết văn mới thấu cảm và thể hiện sâu sắc, đúng chất đàn bà…
1. Là thi sĩ tâm linh của xứ Liban, nằm giữa hai vùng văn hóa Á – Âu, trong Mật Khải (The Prophet), một danh tác được xem “là ngọn đuốc thắp bằng Sự Thật và Tình Yêu để soi sáng những vấn đề muôn thuở, của cuộc đời mà mỗi người phải sống và nghĩ, phải hỏi và đáp cho chính mình và cho tất cả”[1], khi luận về tình yêu, Kahlil Gibran đã suy niệm: “Tình yêu không cho gì trừ bản thân và cũng không nhận gì ngoài bản thân./ Tình yêu không chiếm hữu gì và không thể bị chiếm hữu; / Bởi chính tình yêu đã tự đủ rồi”.[2]
Tình yêu là một bí tích nhiệm mầu của cuộc sống, Thượng đế ban cho con người từ khi Người tạo ra Ađam và Eva trong vườn địa đàng. Tình yêu tự bản thân là một giá trị hằng cửu không tách rời thân phận. Nhưng Thân phận thì hữu hạn mà Tình yêu thì vô cùng (ý Trịnh Công Sơn). Vì vậy, viết về Tình yêu và Thân phận là đi tìm cái vô cùng trong cái hữu hạn và tìm cái hữu hạn trong cái vô cùng. Hai bình diện này tưởng chừng đối lập nhau nhưng thực ra rất gắn kết với nhau,  làm nên giá trị riêng có của tình yêu, ám ảnh tâm thức nhân loại với những dấu ấn không dễ mờ phai mà những tác phẩm như Romeo và Juliet của Shakespeare, Truyện Kiều của Nguyễn Du; Mối tình đầu của Ivan Turgenev… là những minh chứng. Nằm trong dòng mạch cảm thức này, với những truyện ngắn dung dị nhưng không thiếu chiều sâu tâm cảm, trong hai tập truyện Bến Mê (Nxb. Thuận Hóa, 2007) và Đắng ngọt đàn bà (Nxb. Hội Nhà văn, 2019), Nguyễn Thị Lê Na, một nữ văn sĩ “lạ hoắc” như cái tên của chị đã sẻ chia những cảm thức của mình về Tình yêu và Thân phận, đó là Thân phận đàn bà qua thế giới hình tượng người phụ nữ mà với họ, Tình Yêu đã trở thành một yếu tính của Thân phận, của định mệnh, với những vinh quang và cay đắng, hạnh phúc và khổ đau, vui mừng và hờn tủi, để họ dấn thân, dù có phải “tử vì đạo” cho Tình Yêu,  họ vẫn chấp nhận như một sự đặt để của phận số mà không nuối tiếc, ân hận…
2. Đi vào thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na, từ Bến Mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2019), ta thấy chủ đề trung tâm chi phối cảm hứng sáng tạo của nhà văn chính là Tình yêu và Thân phận đàn bà, với nhiều phận số, nhiều mảnh đời, nhiều hoàn cảnh… Cảm hứng này đã trở thành một nỗi ám ảnh của vô thức và tâm linh trong từng trang văn của Nguyễn Thị Lê Na. Đó là thân phận một cô giáo (Vĩ Thanh), mà trong dự cảm của người mẹ luôn lo sợ “con phải khổ mất thôi, con gái mà bướng bỉnh, cá tính chẳng có mấy ai hạnh phúc đâu!”[3]. Vì thế, khi gặp Kha, yêu Kha, lấy Kha làm chồng, tưởng đâu sẽ tìm được bến bờ hạnh phúc, không ngờ lại nhận ở Kha những bi kịch. Song, cô cho rằng nỗi đau khổ đời mình là sự mặc định của phận số mà “đã là số phận, con người ta không thể chọn cho mình nỗi bất hạnh hay sự may mắn”[4]; Đó là thân phận của Miên (Như cánh hoa rơi), người cô giáo và Mây, người học trò, Miên vô cùng yêu quí mà cuộc gặp gỡ và sự sẻ chia những vui buồn giữa hai người trong cuộc sống Miên xem như “định mệnh”. Nhưng bi kịch đã đến khi Miên biết Phong, người chồng tương lai, mình hết mực yêu thương và tin tưởng cũng đã yêu Mây và để lại trong Mây giọt máu của mình. Vì thế, Miên không thể làm đám cưới với Phong, chỉ thương cho thân phận của Mây vì: “Mây đã ném trọn mình vào cuộc chơi mà chỉ nhận lại nỗi đau không ai chia sớt được”[5].Bi kịch vỡ mộng Miên “nhận được” từ “tình yêu” của Phong, không phải ngẫu nhiên mà đã được “dự báo” từ sự linh cảm của người mẹ, khi Miên đưa Phong về ra mắt, bà đã nhận ra “hình như ở Phong có điều gì đó bất trắc. Nếu con dựa vào Phong thì rất mong manh…”[6] ; Đó là thân phận của Nga (Tìm về bến trong), người con gái có phận số bất hạnh vì bị “ông bố dượng cưỡng hiếp”, từ thời còn niên thiếu, chỉ vì: “tại con giống mạ con quá!”, để rồi, khi yêu Biền và đã thành vợ chồng, phát hiện Nga không còn trinh tiết, Biền đã chì chiết Nga: “Tôi thật không ngờ… Tôi cưới cô đã là con đàn bà…”[7]. Và, trong lúc quẩn trí, Nga đã toan tự vận, xem đó là điều tất yếu của số phận: “Lúc này tôi không còn thiết sống. Tôi leo ra tận ngọn cây cừa, thả mình rơi xuống. Thế là hết, rồi người ta sẽ thi nhau bàn tán về thân phận của tôi cho mà xem”.[8]; Đó là nỗi đau trong cuộc đời Lam (Bến mê) khi phát hiện sự phản bội của chồng lúc ân ái với Linh, em gái Lam, tại nhà mình, nơi Lam đã chắt chiu từng phút giây hạnh phúc; Đó là nỗi đau của Vy (Đắng ngọt đàn bà), trước sự chiếm đoạt của Thúy đối với tình yêu và hạnh phúc trong cuộc sống của gia đình mình, phá vỡ cái tổ ấm đã bao năm Vy nâng niu, gìn giữ mà Vy xem như “số phận đã an bài”[9]; Đó là thân phận của Sinh (Sinh) với nỗi đau và những trái ngang mà Sinh phải gánh chịu, khi chồng mình có con với Thắm, người đàn bà đẻ thuê do quan hệ trực tiếp, không phải qua sự can thiệp của y học, mà Sinh xem đó là “số phận đa đoan của cuộc đời”[10]; Đó cũng là nỗi đau trong tình yêu của Lụa (Lụa), khi đã trao thân cho người mình yêu, nhưng không lấy được nhau, để rồi phải dấn thân vào gió bụi phong trần như một sự trớ trêu của số phận qua lời thở than của bà chủ nhà hàng: “Tội nghiệp con bé, người yêu bỏ rơi khi bụng mang dạ chửa. Gá phải thằng chồng nghiện ngập, suốt ngày bị đánh. May mà rảy ra được. Đúng là hồng nhan…”[11], để rồi khi nghĩ về đời Lụa, người ta xa xót tự hỏi “Sao số phận lại đa đoan đến thế!?”. [12] Và giống như cuộc đời của Lụa, Nhiên trong Mùa cà phê hoa trắng cũng trao thân cho Duy, để rồi nhận lại ở Duy sự trốn chạy trong im lặng và Nhiên tự hỏi: “Có phải là định mệnh không? Lẽ nào đây là nơi tâm thức Nhiên đã chọn để đặt dấu chấm hết của cuộc đời.”[13]
Có thể nói, Tình yêu và Thân phận đàn bà qua những trang văn của Nguyễn Thị Lê Na trong Bến Mê và Ngọt đắng đàn bà là hiện thân sự lựa chọn của chính họ. Mỗi người đàn bà trong từng truyện là một cuộc đời, một phận số, một nhân vị luôn chênh chao, đứt gãy và nói như Hàn trong Những Khoảng cách còn lại: “Bây giờ, cuộc sống là một thế giới với bao mảnh đời số phận khác nhau, ở đó khó có thể tìm thấy sự hoàn hảo”.[14] Vì vậy, cho dẫu tất cả họ đều khát sống, khát yêu, khát hạnh phúc, và luôn dấn thân, tận hiến cho tình yêu thì cũng khó tìm được hạnh phúc, thậm chí phải nhận bi kịch, khổ đau, bất hạnh trên chuyến tàu định mệnh, để rồi, có người còn tìm đến cái chết: “Nhiên nhoài người nhìn xuống một vực nước sâu hút xanh lè, cuồn cuộn xoáy chóng mặt (…) Nhiên sẽ như chiếc lá chao xuống, đáp nhẹ mặt nước như cánh chim bói cá, nước sẽ đưa nhiên đi thật xa, theo sông ra tận biển khơi, và xa hơn nữa. Không tăm tích…”[15] Và, những người đàn bà trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na, nếu phải chọn lựa giữa Tình Yêu và Thân Phận, họ đều chọn Tình Yêu vì chính Tình Yêu làm nên Thân Phận của họ. Tình yêu trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na không mới lạ, không hiện đại với những cảm xúc nỗi loạn mang tính sắc dục như tình yêu ở một số truyện ngắn đương đại mà phần lớn, tình yêu trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na là tình yêu nghiêng về những giá trị luân lý truyền thống. Nhưng không vì thế mà thiếu hơi thở của cuộc sống hiện đại, cũng như kém phần nồng mặn da diết, dữ dội, vốn là phẩm tính của tình yêu. Chính điều này đã đem đến cho những trang viết về tình yêu của Nguyễn Thị Lê Na một dự vị, một sắc thái mỹ cảm tình ái riêng, có khả năng níu giữ tâm cảm người đọc. Bởi nói như H. De Balzzac: “Cảm giác, yêu thương, đau khổ, hy sinh đó là sở trường của sinh hoạt đàn bà”.[16] Những cung bậc cảm xúc này đều tìm thấy trong truyện của Nguyễn Thi Lê Na qua các diễn ngôn tình yêu mang hơi hướm “ngôn tình” ở những trang văn của chị là một xác chứng. Đó là những phút giây êm đềm trong tình yêu giữa Miên và Phong trong Như cánh hoa rơi: “ Miên nhớ… Buổi chiều nắng nhạt dần, biển dịu dàng vuốt ve bờ cát trắng. Phong nói lời yêu và Miên lâng lâng cảm giác hạnh phúc lòng tràn ngập những ước mơ về một tình yêu kỳ diệu (…) Những lần như thế, Miên ngã đầu lên vai anh nhìn hoàng hôn buông xuống đếm những con sóng bạc đầu, như tiếng sóng vỗ bờ mà cảm nhận thủy triều đang lên, thấy mình thật nhỏ bé và hạnh phúc vì được che chở”.[17]; Đó là hương vị ngọt ngào của tình yêu đầu đời trong cảm nhận của Vy ở Đắng Ngọt đàn bà mà dù chỉ là hoài niệm vẫn có sức sống mãnh liệt, diệu kỳ trong tâm cảm Vy: “Cái ngày ấy, khi trước mặt là cánh đồng chiêm trủng mênh mang lúa chín anh đã nói lời tỏ tình, vừa chân thành vừa sợ sệt (…) Cái buổi chiều ấy tất tật, từ ngọn cỏ ven bờ ruộng, những ao đầm ngọt nước phủ đầy rong rêu, đều trở nên gần gũi và đáng yêu làm sao. Đó là lần đầu tiên Vy đón nhận nụ hôn đầu đời ngọt lịm, họ trao nhau hạnh phúc trong sự chứng kiến của ngọn gió chiều lang thang trên cánh đồng thoảng thơm mùi lúa, mùi cỏ mật và trong veo tiếng chim cà lơi rót tự trời cao xuống”[18]. Còn đây là những cảm nhận của Lam về sự lên ngôi của tình yêu ở những ngày đầu của cuộc sống hôn nhân trong Bến Mê: “Lam còn nhớ như in ngày tháng bắt đầu hạnh phúc của đời mình, Lam đắm đuối trong men tình yêu của chồng. Cưới nhau mọi cái trong Lam hết thảy đều thiêng liêng và hút hết hồn chị. Lam cứ muốn được ngoan hiền trong vòng tay yêu thương của Phan, cảm nhận niềm hạnh phúc dâng lên tột độ”.[19] Song, diễn ngôn tình yêu trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na không chỉ có những giây phút êm đềm lãng mạn và trong veo như Dưới bóng hoàng lan của Thạch Lam hay nhiều tác phẩm khác của văn chương thời Tiền chiến mà còn có những trang viết mang sắc màu nhục cảm của tình yêu thời hiện đại mà cảm xúc của Vy khi gặp lại người tình ngày xưa là một minh chứng: “Anh nhẹ nhàng kéo Vy vào lòng, ôm choàng trong vòng tay của mình. Những nụ hôn như cơn mưa mùa hạ rơi trên cỏ khát. Nhẹ nhàng lướt từ mái tóc, đến đôi mắt mơ màng, dừng lại trên đôi môi chín mọng. Hai cơ thể tìm đến nhau ghì riết. Anh đầy khát khao nồng nàn, Vy cũng bỏng rẫy không kìm nén. Những lăn tăn về bổn phận đức hạnh và lòng chung thủy, sự thương chồng nhớ con bay đâu mất cả… chỉ còn lại nhu cầu dâng hiến, nhu cầu hưởng thụ bản năng”.[20]; Hay diễn ngôn tình yêu chỉ có ở những cuộc tình thời công nghệ 4.0 mà với sự biểu cảm của “ngôn ngữ thân xác” đã cho thấy biểu hiện của một tình yêu tận hiến, có sức cuồng phong như một “cơn bão” trên thân thể người đàn bà đang khao khát ái ân: “Căn phòng, như đêm thu ngoài bãi không người… Chị thả hồn cùng mây gió và ánh trăng dịu hồng mơn man. Mặt điện thoại chấp chới dòng tin: “cho anh hôn cái” “Dạ” “Anh hôn mắt… hôn môi… hôn cái cổ cao…?” “Dạ” “Anh hôn ngực…?” “Dạ” “Anh hôn xuống dưới… anh hôn…”. Người chị như hòn than. Chín lịm. Tay chị run rẫy lần cởi váy xống. Lần đầu tiên trong đời, chị tự cởi váy xống. Chị ngắm cơ thể chắc lẳn gái một con của mình dưới ánh đèn hồng. Người nổi da gà trên từng milimet, nơi môi Phong lướt nhẹ theo tin nhắn, Tay chị vô tình lướt theo trên mỗi đầu dây thần kinh”.[21] Thật vậy, tình yêu chỉ thăng hoa trong dòng sông cảm xúc của ân ái nồng nàn sắc dục. Bởi, nếu chỉ có sự hòa hợp về tâm hồn, không thể tạo nên một tình yêu đích thực. Sự bất lực về nhục cảm trong tình yêu là một bi kịch. Vì vậy, khi biết mình bị ung thư, phải cắt bỏ một trong những phần nhạy cảm nhất trên cơ thể người đàn bà, Thư đã xa xót thở than, có lẽ,: “Một khi thân thể vợ đã không còn nguyên vẹn anh có còn cảm hứng chi? Trong lòng Thư luôn gợn những day dứt âm ỉ. Cái cảm giác bản năng về sự dâng hiến ban tặng của người phụ nữ không còn, khiến cô chống chếnh tủi thân. Người ta nói rằng tình yêu không có tình dục thì rất đễ đứt rời.”[22]
Để thể hiện cảm thức về Tình yêu và Thân phận của người đàn bà, một trong những thi pháp ở truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na, không thể không nói đến, đó là việc tạo nên những chi tiết bất ngờ khi xây dựng cốt truyện, khiến người đọc nhiều khi có cảm giác như bị nhà văn “đánh lừa” một cách thú vị. Sự bất ngờ của các chi tiết trong ngữ pháp của truyện đã tạo nên bước chuyển hóa trong quan hệ giữa Tình yêu và Thân phận của những người đàn bà trong truyện và cũng là căn nguyện tạo nên bước ngoặc trong số phận và nhân vị làm thay đổi thân phận của họ. Những chi tiết bất ngờ thường được nhà văn tạo nên từ sự xuất hiện của người thứ ba trong tình yêu và hôn nhân, buộc họ phải lựa chọn hướng đi cho phần đời còn lại của mình. Sự chọn lựa này phần lớn do người đàn bà quyết định. Đó là một sự chọn lựa hiện sinh để họ được sống đúng nghĩa với bản ngã và nhân vị của mình cho dù có thể nhận lấy bi kịch. Điều này, có thể nhận thấy trong Còn lại chút này qua sự chọn lựa của Lạc khi cô “quyết định ra khỏi ngành an ninh” để được yêu Tuyên và lấy Tuyên làm chồng. Nhưng rồi, Lạc đã bị Tuyên bỏ rơi trong đớn đau và cô độc để chạy theo một người đàn bà khác, quyền thế hơn, giàu có hơn. Vậy mà, Lạc vẫn tin vào sự quyết định của mình. Bởi trong suy niệm của Lạc, trong tình yêu “dù là người khôn ngoan duy lý đến đâu cũng không khỏi có một chút liều, một chút mù quáng và nhiều khi một chút điên nữa.”.[23] Như vậy, Lạc đã chọn lựa Tình Yêu và Tình Yêu đã làm nên Thân Phận của Lạc chứ không phải phận số đã chọn lựa đề làm nên Tình Yêu và Thân phận của Lạc.
Trong Như cánh hoa rơi, chi tiết bất ngờ xuất hiện, lúc Miên nhận ra sự phản bội của Phong, khi Phong đã bí mật đến với Mây, người học trò mà Miên yêu quí và để lại trong Mây một mầm sống, dẫu rằng Phong đã chuẩn bị đám cưới với Miên. Đau khổ, bẽ bàng, thất vọng đến ê chề, Miên lặng lẽ quyết định xa Phong, để đi vào con đường gió bụi, chấp nhận cuộc đời của những “cánh hoa rơi”; Hay sự bất ngờ trong Bến Mê khi Lam “bắt gặp Phan cùng đứa em gái ruột thịt đang cùng nhau không một mảnh vải che thân, ngay chính giữa phòng khách nhà mình, cách Lam và hai đứa con chỉ một bức tường. Sự việc xảy ra quá bất ngờ và đột ngột, đến nỗi Lam không kịp lẫn tránh” để rồi chính Lam phải đưa Linh, em gái của mình đi phá thai, nhưng khi người nữ hộ sinh tiến hành công việc thì “Lam lao thẳng đến bến bàn sản phụ, kéo Linh bật dậy. “Thôi về em” Cả hai chị em ôm nhau cùng òa khóc”[24]. Và sau đó Lam quyết định ly dị Phan rồi hành trình về phương Nam trên con tàu của cuộc đời mình mà ga đổ vẫn đang là ẩn số chưa có lời giải!?; Hay những chi tiết bất ngờ trong Đắng ngọt đàn bà, khi Vy tìm đến người tình cũ ở khách sạn với “nhu cầu dâng hiến, nhu cầu hưởng thụ bản năng…” và “đúng lúc thân hình Vy đang chín nẫu, mê muội nhất, thì anh nói nhỏ vào tai Vy, như xin phép: “cho anh nhé…” Vy giật thót mình. Anh nói gì? Giấc mộng chốn địa đàng chợt tan biến (…) Tấm thân nồng nẫy chợt rùng mình, co rúm lại, đờ đẫn lạnh băng…” [25]. Tuy không  được sống với tình yêu của mình nhưng Vy rất vui vì “cuối cùng, người đàn bà đức hạnh trong cô đã mĩn cười” và “thoát được mớ bòng bóng rối rắm của tình cảm thuở ban đầu đang ngún cháy” để “tôn thờ” tình yêu thủy chung đối với chồng thì Vy bất ngờ nhận được tin Văn đã “ra vào khách sạn với con Thuý bên đối tác” của công ty, “đã mua nhà riêng cho con nhỏ ấy rồi”.[26] Và việc gì đến tất sẽ đến. Vy quyết định ly hôn với Văn, lặng lẽ đi tìm một lối riêng cho cuộc đời mình. Ở Sinh, chi tiết bất ngờ là khi Sinh phát hiện mối quan hệ của Lâm, chồng mình với Thắm, người đàn bà nhờ mang thai hộ, vì Sinh không có khả năng sinh con. Nhưng khi Sinh quyết định ly dị chồng để ra đi, bất ngờ trên chuyến tàu vào Nam Sinh phát hiện mình mang thai và Sinh tự vấn: “Điều ấy thật ư? Trớ trêu thay! Ông trời ơi! Sao ông nỡ đối xử với con như vậy. Sinh ôm mặt khóc. Nghẹn ngào sung sướng. Hối tiếc. Lo lắng. Không ngờ, cái xác suất ít ỏi mà bác sĩ từng nói, đã dành cho Sinh. Có thể chị thụ thai vào cái đêm nồng nàn ấy… ”.[27]; Hay hàng loạt chi tiết bất ngờ ở các tác phẩm làm thay đổi số phận, từ đó thay đổi thân phận người đàn bà. Đó là sự xuất hiện của Mai trong Tiếng sáo người hát rong đã làm thay đổi cuộc đời Mai, người con gái có tấm lòng nhân hậu và đức hy sinh. Trong Vùng rừng sáng, sự xuất ngoại bất ngờ của Hồ Thoong khi anh quyết định đi tìm Pak, mang Pak về với mẹ con Seo đang ở vùng rừng núi để Seo thực hiện ước mơ khoa học và hạnh phúc gia đình của mình. Và cũng với môtíp như thế, trong Mùa cà phê hoa trắng, hành trình bất ngờ của Hồ Ruôn khi chàng bí mật theo Nhiên, khi Nhiên đi tìm Duy, người mình yêu và đã trao thân để bàn chyện đám cưới nhưng Duy đã chạy trốn. Thất vọng ê chề khi biết mình bị phụ tình, Nhiên quyết định tìm đến cáí chết thì Hồ Ruôn xuất hiện. “Hồ Ruôn vẫn giữ chặt nhiên trong vòng tay, từ tốn: “Về đi Nhiên, về với bản làng TaKai, với cha…” Nhiên buông thỏng hai tay, nhìn xuống cái bụng đã nhô lên dưới làn áo, nước mắt lưng tròng. Miệng liên tiếp lặp lại: “cậu biết thì làm được gì chứ!” “ Miềng làm được tất cả, Nhiên ạ, cả việc làm bố thằng bé trong bụng Nhiên…”[28].
Khác với sự xuất hiện bất ngờ của những tình tiết nói trên, một chi tiết nghệ thuật luôn ám ảnh tâm thức người đọc trong sáng tác của Nguyễn Thị Lê Na đó là hành trình của những chuyến tàu. Hình ảnh này không chỉ đơn thuần là chi tiết nghệ thuật mà còn là dự phóng mang cảm hứng sáng tạo của nhà văn mà truyện Trong khoang tàu chật là một xác chứng, ở đó chất chứa biết bao cuộc đời, bao thân phận, bao cảnh ngộ. Và trong khoang tàu này chuyên chở biết bao nhiêu vui buồn của kiếp nhân sinh: “Tiếng tàu vẫn xình xịch, xình xịch lướt qua đồng hoang. Cố át những âm thanh nhiều cung bậc trong khoang tàu chật. Ngoài cửa sổ con tàu, vội vã mùa đi nối tiếp. Mới màu xanh của cây trái đó, giờ là hoang tàn cỏ cháy. Nắng chói lóa không gian. Hai bên, tràm hoa vàng cằn cổi nở hoa, đơn lẻ, buồn bã, không ai buồn ngắm”.[29] Và cũng như sự trôi dạt của khiếp người trong cõi nhân gian trên chuyến tàu cuộc đời: “Con tàu lại chuyển bánh, sầm sập lao về phía trước, mang theo những tổ ấm gia đình nhỏ nhoi như những tổ chim mong manh trong gió bão…” [30]
Nếu trên khoang tàu này là một xã hội thu nhỏ với những thân phận, những cuộc đời hiện hữu thì ở từng truyện ngắn, hình ảnh mỗi chuyến tàu chuyên chở mỗi phận đời của từng thân phận đàn bà khi họ quyết định ra đi để tìm một bến đổ mới cho chuyến tàu của đời mình mà ở đó hạnh phúc có khi là những ảo ảnh. Đó là chuyến tàu của Lam trong Bến mê: “Chuyến tàu vào Nam chở ba mẹ con Lam cùng quyết tâm sắt đá. “Đón em nhé. Tàu SE2 chuyến 15h, Lam nhấn phím gởi đi hình dung ra gương mặt hạnh phúc của người ấy (…) Tiếng loa thông báo đoàn tàu sắp đến ga, Lam giật mình. Đến rồi ư? (…) Xuống đi. Dưới ba bậc tam cấp ấy là cuộc đời mới, là vườn địa đàng của tình yêu chị. Xuống thôi! (…) Và chợt người đàn bà yếu đuối an phận trong chị lên tiếng khẻ khàng: “Đây có thực là bến đổ của con tàu đời chị? (…) Tất cả đều có vẻ sắc sắc không không. Cho đến khi con tàu rùng mình chuyển bánh, Lam mới sực tỉnh. Nhưng đã muộn rồi. Con tàu tiếp tục hành trình về phương Nam…”[31]  Còn đây là hình ảnh chuyến tàu trong truyện Sinh: “Sinh xách valy ra đi. Con tàu ngập ngừng rời bến như muốn hỏi lại đã dứt khoát chưa? (…) Con tàu đưa Sinh đi ngay trong đêm. Như chạy trốn (…) Hai mẹ con dắt díu nhau xuống tàu. Cơn mưa kéo dài hơn hai hôm nay trời đã tạnh. Thành phố sau chừng ấy năm minh ra đi, có biết bao thay đổi. Nhưng con đường về ngôi nhà xưa vẫn như nâng bước chân líu ríu của hai mẹ con. Chị muốn con trai kịp nhìn thấy bố, trước khi vĩnh viễn tiễn biệt”[32]. Và, cũng là chuyến tàu nhưng nếu chuyến tàu của Lam trong Bến mê là một chuyến tàu đi tìm hạnh phúc mới nhưng chỉ là những sắc sắc không không và sẽ không có ngày trở về thì chuyến tàu trong cuộc đời Sinh là chuyến tàu ra đi trong khổ đau lặng lẽ nhưng trở về trong hạnh phúc cho dẫu hạnh phúc đó không trọn vẹn vì Lâm, chồng của Sinh đã đi xa mà không biết mình đã có cậu con trai với người vợ mình yêu quí. Và “Sinh lại ra tàu, nhưng việc trở ra lần này với cu An là một chuyến tàu khác…”[33] Đó là chuyến tàu của những dang dỡ của hành trình sống trong đời một người đàn bà mà Lam đã lựa chọn.
3. Mặc dầu mới chỉ xuất hiện trên văn đàn với hai tập truyện mỏng manh, khiêm nhã như chính tính cách những người đàn bà trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na nhưng không vì thế, truyện của chị lại thiếu đi sức nặng của cảm xúc, của tâm tưởng. Với sự nỗ lực lao động, sáng tạo và lòng yêu văn chương, truyện của Nguyễn Thị Lê Na đã để lại trong lòng người đọc những mỹ cảm cả về phương diện nội dung và nghệ thuật, trong đó, mỹ cảm sâu sắc nhất là những câu chuyện viết về Tình yêuvà Thân phậnđàn bà giàu tính nhân bản mà phải do chính người đàn bà viết văn mới thấu cảm và thể hiện sâu sắc, đúng chất đàn bà. Và, từ góc nhìn nữ quyền luận, cảm thức về Tình yêu và Thân phận trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na cũng là một tiếng nói góp phần đòi quyền sống, quyền được yêu, được hạnh phúc, được xác lập nhân vị của người đàn bà trong thiết chế xã hội mà không phải người đàn bà không còn gặp những bi kịch thân phận. Vì, nói như Mai Thảo:“Làm văn chương ở người đàn bà bây giờ đồng nghĩa với lên tiếng đòi quyền được sống, bình đẳng và tự do như đời sống đàn ông. Viết, bởi vậy là một phản ứng, một thái độ”[34]. Với quá trình nghiệm sinh của một nữ nhà văn trong hành trình yêu và sống, cảm thức về Tình yêu và Thân phận đàn bà trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na được phản ảnh khá sinh động, tinh tế, phong phú. Xét trong dòng chảy của văn xuôi nữ Việt Nam đương đại, truyện của Nguyễn Thị Lê Na là những truyện đáng đọc, nếu chúng ta muốn hiểu hơn về Tình yêu và Thân phận đàn bà trong cuộc sống hiện nay, từ cây bút của một nhà văn nữ.
Viết về Tình yêu và Thân phân đàn bà trong xã hội hiện đại nhưng truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na còn đậm chất truyền thống, không chỉ trong tư tưởng mà ngay cả trong thi pháp truyện. Vì thế, để có thể đi xa hơn nữa trong hành trình sáng tạo, nhà văn cần có những bứt phá, tiếp cận với thi pháp văn xuôi hiện đại và hậu hiện đại. Và nếu không muốn lặp lại chính mình, nhằm xác lập chỗ đứng trong đời sống văn học, nên chăng, người viết cần lưu tâm đến việc đổi mới bút pháp, kiến tạo những diễn ngôn có chất triết luận với những thông điệp nhân sinh sâu sắc, giàu tính nhân văn, như thế mới chạm đến tâm cảm tiếp nhận của người đọc. Tôi tin và chờ mong những dự phóng sáng tạo độc đáo đang chờ chị ở phía trước…
Chú thích:
[1] Kahlil Gibran – Mật Khải, Phan Bích Thủy dịch, Nxb. Hiện Đại, Sài Gòn, 1975, tr.7
[2] Kahlil Gibran – Mật Khải, Phan Bích Thủy dịch, Nxb. Hiện Đại, Sài Gòn, 1975, tr.21
 [3] Vĩ Thanh – Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.5
[4] Vĩ Thanh – Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.14
[5] Như cánh hoa rơi – Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.33
[6] Như cánh hoa rơi – Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.27
[7] Tìm về bến trong –  Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.77
[8] Tìm về bến trong – Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.78
[9] Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.10
[10] Sinh – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.24
[11] Lụa – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.80
[12] Lụa – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.74
[13] Mùa cà phê hoa trắng – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.159
[14] Những khoảng cách còn lại – Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.105
[15] Mùa cà phê hoa trắng – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.160
[16] Hoàng Xuân Việt, Danh ngôn từ điển, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1972, tr.107
[17] Như cánh hoa rơi – Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.25 – 26
[18] Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.7
[19] Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.139
[20] Đắng ngọt đàn bà (Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.11
[21] Cơn bão – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.119
[22] Một ngày vừa chớm thu – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.104
[23] Còn lại chút này – Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr. 44
[24] Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.149
[25] Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.11
[26] Đắng ngọt đàn bà (Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.16
[27] Sinh – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.31
[28] Mùa cà phê hoa trắng – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.174
[29] Trong khoang tàu chật  – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.88
[30] Trong khoang tàu chật – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.93
[31] Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.156 -157
[32] Sinh – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr. 30 – 31
[33] Sinh – Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr. 30 – 33
[34] Bán Nguyệt san Văn số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.2
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 20/4/2020
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn Thanh Châu sống và viết

Nhà văn Thanh Châu sống và viết

Nhà văn Thanh Châu có một chỗ đứng không thể thiếu trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
Nhà văn Thanh Châu được xem là một hiện tượng bất bình thường trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Ông là một nhà văn, nhà báo đã nổi tiếng từ giai đoạn trước 1945 với hàng loạt các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết gây xôn xao văn đàn lúc bấy giờ. Ông là tác giả “đầu trò” của vụ Hai sắc hoa ti-gôn và T. T.Kh – một nghi án văn chương đã đi vào bất tử. Sau 1945, ông đi theo kháng chiến và cầm bút phụng sự cách mạng. Nhưng khoảng những năm giáp ranh hai thập kỷ 50-60, khi đang làm ở báo Văn nghệ, ông lại xin về hưu sớm, lúc mới chừng 55-56 tuổi. Sau đó, người ta thấy ông hầu như vắng bóng trên văn đàn. Thỉnh thoảng, năm thì mười họa ông có viết đôi cái, chưa đủ cho người của thời này nhắc nhớ đến ông. Về cơ bản, sự nghiệp văn chương của nhà văn Thanh Châu từ sau 1954 trở đi bị rơi vào im lặng, gần như bị bỏ quên. Xin nói ngay để tránh hiểu lầm: không phải do tổ chức nào quên, hoặc ai đó cố tình quên, mà chủ yếu do bạn đọc quên, đời sống văn học quên với nhiều lý do khác nhau. Và trong câu chuyện này, bạn đọc cũng không có lỗi…
Có thể hình dung cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Thanh Châu được chia làm hai chặng lớn: chặng trước 1945 và chặng sau 1945.
Theo như tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được, tác phẩm sớm nhất của Thanh Châu là thơ chứ không phải là truyện ngắn. Ông đã từng đăng bài thơ Lá run trên tờ Phong hóa của nhóm Tự lực văn đoàn, số 66, ra ngày thứ Sáu, 29/9/1933. Sau đó, năm 1934, nhà văn cho đăng truyện ngắn Trong bóng tối trên tờ Trung Bắc Tân văn(1) – tờ báo do nhà báo, học giả Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Kể từ đó, Thanh Châu cộng tác chặt chẽ với tờ Trung Bắc Tân văn (TBTV), và cho đăng liên tục các truyện ngắn ở tờ này. Riêng trong năm 1936, theo thống kê trên những gì sưu tầm được, ít nhất nhà văn Thanh Châu cho đăng 13 truyện trên tờ TBTV.
Bắt đầu năm 1937, nhà văn Thanh Châu chuyển sang cộng tác cho tờ Phổ thông bán nguyệt san (PTBNS)(2), một ấn phẩm của nhà Tân Dân do ông Vũ Đình Long làm chủ bút. Truyện ngắn đầu tiên nhà văn Thanh Châu cho đăng ở tờ báo này là Hoa ti-gôn, và sau đấy xuất hiện nhà thơ T. T.Kh của bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn và mấy bài thơ khác như một nỗi bí ẩn đẹp đẽ mang tinh thần lãng mạn. Cũng không hiểu lý do vì sao, từ bấy trở đi, tuyệt nhiên không thấy Thanh Châu cho đăng tác phẩm ở TBTV nữa. Ông chuyển hẳn sang viết cho PTBNS và Tiểu thuyết thứ bảy (TTTB). Theo chính tác giả trong bài viết Mười năm với tiểu thuyết thứ bảy (xem trong sách này), thì từ năm 1934, năm Tiểu thuyết thứ bảy ra đời, ông đã chính thức cộng tác với nhà Tân Dân cho đến tận 1943. Lại theo hồi ký Vũ Bằng trong Bốn mươi năm nói láo, nhà văn Thanh Châu là cộng tác viên thân thiết của tờ báo này, lại là bạn thân của Vũ Bằng, có nhiều ý tưởng gợi ý cho Vũ Bằng và ông Vũ Đình Long phát triển tờ báo(3). Như vậy, bắt đầu từ 1937, nhà văn Thanh Châu chính thức thôi không cộng tác cho TBTV nữa, mà chuyển hẳn sang cộng tác cho PTBNS và TTTB. Phần lớn những truyện ngắn, tiểu thuyết hay nhất của Thanh Châu đều đăng ở hai ấn phẩm báo chí kể trên. Cũng phải thôi, những năm đầu tiên mới vào nghề, những cái viết chưa phải đã già tay. Từ 1937 trở đi, nhà văn Thanh Châu viết nhiều, viết khỏe, và tay nghề vững lên trông thấy. Có thể kể đến một số tác phẩm đặc sắc gồm các truyện ngắn như: Hoa ti-gôn, Lớp cuối cùng, Vườn chanh, Nhớ quê, Cái ngõ tối; các tiểu thuyết: Tà áo lụa, Bóng dáng xưa, Cùng một ánh trăng. Tất cả đều cho đăng trên TTTB.
Có thể nói, giai đoạn những năm trước 1945 của nhà văn Thanh Châu đúng là một thời “vang bóng”. Ông đã có những đóng góp thực sự vào nền văn học lúc bấy giờ với những thành tựu đáng kể. Tên tuổi của nhà văn đã được xác lập ngay từ giai đoạn này.
Giai đoạn sau 1945 của nhà văn Thanh Châu được tính từ lúc ông đi theo cách mạng cho đến khi ông mất: năm 2007. Nhìn vào quãng thời gian này, ai đó thấy có vẻ hơi kéo dài, có điều gì đó bất bình thường. Nhưng xin thưa: không. Căn cứ vào hoạt động văn học của ông, việc phân chia ra làm hai giai đoạn như vậy là thích hợp. Số là, từ sau 1945 trở đi ông viết không nhiều. Số lượng những cái viết của ông đếm không hết những đốt ngón tay trên một bàn tay. Dĩ nhiên, văn chương không nên tính theo số lượng. Nhưng vẫn phải thành thực mà nói: bao nhiêu anh hoa của nhà văn đã có vẻ như “tiêu hoang” gần hết cho giai đoạn trước rồi. Đến giai đoạn này, ông viết vài cái phóng sự, bút ký trong tư cách nhà báo, vài cái hồi ức kỷ niệm, dịch một vở kịch, viết một truyện ngắn. Thế thôi.
Nhìn vào thực tế này, không ít người thắc mắc tại sao giai đoạn sau này nhà văn lại ít viết như vậy? Trong khi đó, trước 1945, nhà văn Thanh Châu là người được coi là viết khỏe, viết dễ dàng. Và trên thực tế lúc bấy giờ, ông đã có một số lượng truyện ngắn và tiểu thuyết đáng nể. Sinh thời lúc nhà văn còn sống, tôi cũng đã từng có lúc hỏi ông như vậy. Nhưng thường thì ông không trả lời trực diện. Căn cứ vào nhiều lần nói chuyện, chắp nhặt những mẩu chuyện đây đó của ông, kết hợp với việc đọc tài liệu, thì có thể có mấy lý do:
Thứ nhất, hiện thực đời sống từ những năm 1945 trở đi thay đổi nhanh quá so với thời trước đó. Mọi sự thay đổi bao giờ cũng có tính chất phức tạp. Nó không chỉ có những điều như ta mong, mà có cả những điều không mong. Nhìn vào hàng loạt các nhà văn nhà thơ của giai đoạn trước 1945 đi theo cách mạng và kháng chiến, số chuyển đổi ngòi bút viết kịp thời mau lẹ về cuộc sống mới không có nhiều, và số thành công ngay lập tức thì hầu như không có. Mỗi nhà văn trước một hiện thực mới, khả năng thức thời, khả năng chuyển đổi tương thích không giống nhau. Ở đây chưa bàn đến lập trường – thứ mà người ta dễ quy kết nhất – mà chỉ bàn về cảm quan của người cầm bút. Cùng là trước hiện thực cách mạng sau 1945, Xuân Diệu là người nồng nhiệt đến mức vồ vập với cách mạng, với kháng chiến. Ngay trong những ngày Cách mạng tháng Tám đã có Ngọn quốc kỳ (1945), Hội nghị non sông (1945). Trong khi đó, những bài thơ đầu tiên của Chế Lan Viên sau cách mạng được làm vào năm 1952, tức là sau đó đến 7 năm, được in trong tập Gửi các anh (1954). Nhìn sang bên văn xuôi thấy rõ hơn: hầu hết các nhà văn phải bắt đầu từ quãng 1948 trở đi mới bắt đầu viết trở lại, mà cũng chưa có những thành công đáng kể như sau này. Tiêu biểu như Nam Cao chẳng hạn, viết Đôi mắt năm 1948; Nguyễn Huy Tưởng viết vở kịch Những người ở lại (1948); Tô Hoài viết Núi cứu quốc (tập truyện) cũng vào năm 1948… Tuy nhiên, các cây bút này cũng chỉ bỡ ngỡ mất vài năm, sau đó nhập cuộc khá nhuần nhuyễn với văn nghệ kháng chiến. Riêng ngòi bút Thanh Châu là một trường hợp chậm thích nghi với đời sống mới. Cái nhanh, chậm trước hết tùy thuộc vào tạng của mỗi người.
Thứ hai, hiện thực cuộc sống thay đổi không nên hiểu chỉ là hiện thực xã hội bên ngoài. Đối với mỗi nhà văn, nó có thể kéo theo sự thay đổi cả vùng thẩm mỹ. Có người giữ được vùng thẩm mỹ nhất quán, có người không. Nam Cao chuyên chú vào vấn đề nhân cách con người. Đi theo kháng chiến, tuy hiện thực cuộc sống đã mới hẳn, nhưng vấn đề nhân cách con người vẫn được tiếp tục đặt ra. Thế cho nên Nam Cao có ngay Đôi mắt. Đối với Thanh Châu, vùng thẩm mỹ của ông trước Cách mạng tháng Tám về cơ bản tập trung vào cuộc sống tinh thần của tầng lớp thị dân đô thị với tất cả tính chất phong phú và phức tạp của nó. Và công chúng độc giả mà ông hướng tới (trên thực tế là ông đã có được) chính là tầng lớp thị dân đô thị đông đảo lúc bấy giờ. Khi cuộc kháng chiến xảy ra, đương nhiên cái vùng thẩm mỹ quen thuộc đó đã bị tan vỡ. Nhà văn Thanh Châu không kịp trở tay. Hoặc ông cũng không muốn trở tay. Một người đã từng viết những áng văn nhuốm màu lãng mạn và nghiêng về chủ nghĩa duy mỹ như Hoa ti-gôn, Vườn chanh, Tà áo lụa, Cùng một ánh trăng… không dễ gì nhập vào nền văn nghệ kháng chiến mà công chúng của nó phần lớn là tầng lớp công nông binh. Ông cũng đã cố gắng nhập cuộc, cũng đã viết mấy cái ký, phóng sự, nhưng chưa thể nói là đã đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của kháng chiến đối với mỗi văn nghệ sĩ.
Lý do cuối cùng, vào những năm 1958-1960 ông mang tâm trạng bất hòa đối với cung cách lãnh đạo văn nghệ lúc bấy giờ. Ông không phải là người theo cánh Nhân văn. Sau khi ông cho đăng phóng sự Mua hàng mậu dịch (1956), ông chịu nhiều lời dị nghị. Ông cảm thấy mệt mỏi, thấy có điều gì không ổn trong đời sống văn nghệ, nên ông đã chủ động xin nghỉ hưu sớm. Như các nhà thi sĩ đời xưa, ông đã tìm cách lánh đời, bảo toàn danh tiết.
Dĩ nhiên, ông cũng chưa triệt để đi theo lựa chọn này như cái cách thế tồn tại của nhà nghiên cứu Trương Tửu, hoặc nhà văn Kim Lân (sau khi in truyện Con chó xấu xí). Thỉnh thoảng ông vẫn viết vài ba cái, tuy rất ít thôi. Viết như một sự nhớ nghề. Cái viết cuối cùng của ông, ở thể loại truyện là Từ Thức (1995), ở hồi ký là Chặng đường làm báo thời Pháp thuộc – Từ những bài báo đầu tiên (1997). Với số lượng quá ít ỏi như vậy, lúc này ngòi bút Thanh Châu đã không còn đủ mạnh để giành lấy độc giả về phía mình như giai đoạn trước 1945 ông đã từng có một cách huy hoàng.
Về giá trị tư tưởng, nghệ thuật và phong cách của nhà văn Thanh Châu tôi đã có bài viết khá kỹ Thanh Châu – nhà văn “Chuyên kể đẹp chuyện đời” (có trong tuyển tập này). Ở đây, tôi chỉ xin nhấn mạnh mấy điểm có tính chất khái quát nhất để bạn đọc dễ hình dung về những đóng góp đặc sắc của nhà văn Thanh Châu trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Thứ nhất, nhìn một cách tổng quát, văn của nhà văn Thanh Châu thuộc về xu hướng văn chương trữ tình lãng mạn. Nó được thể hiện khá nhất quán ở mấy điểm: chuyên quan tâm và miêu tả thế giới nhân vật ở phương diện nội tâm; thế giới nhân vật phần lớn là những người thuộc tầng lớp tiểu tư sản thành thị, trong đó nhiều hơn cả là lớp người nghệ sĩ (họa sĩ, nhà thơ, nhà văn, diễn viên… ) hoặc các cô gái dáng dấp tiểu thư khuê các được học hành và cung cách sống theo lối Tây; đề tài phần lớn là những câu chuyện thuộc về tình yêu trai gái với đủ các cung bậc của khổ đau và hạnh phúc; cách miêu tả tâm trạng nghiêng về hồi cố; lời văn đẹp với giọng điệu trữ tình, giàu chất thơ, nhiều hình ảnh mĩ lệ, ngôn từ tinh tế… Tất cả những điều này về cơ bản khác hẳn với văn chương của trào lưu hiện thực, nơi mà các nghệ sĩ cố nắm bắt và miêu tả đời sống như nó vốn có với mục đích phê phán và cải tạo xã hội. Cũng xin nói thêm, tuy không đi theo khuynh hướng hiện thực, nhưng trong hồn văn Thanh Châu, cảm quan hiện thực đôi khi cũng khá mạnh và chi phối vào một số truyện của ông. Cũng có cảnh lầm than, đói khổ như các truyện Ngày sinh nhật, Rước xuân vào, Quạnh hiu… Tuy nhiên kiểu truyện như thế này chiếm số lượng không nhiều.
Có một điểm đáng chú ý ở đây: phần lớn các nhà văn viết cho Tiểu thuyết thứ bảy của nhà Tân Dân như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Tô Hoài, Nam Cao… đều là các nhà văn hiện thực. Tuy nhiên, trên tờ báo này, họ cũng chấp nhận những tác phẩm của các tác giả có khuynh hướng lãng mạn, thí dụ như Nguyễn Tuân, Ngọc Giao, Thanh Châu, Thâm Tâm… chẳng hạn. Chủ trương của ông chủ bút Vũ Đình Long khi sáng lập ra tờ báo này (và một số phụ bản khác) nhằm hướng tới công chúng bạn đọc bình dân đô thị (hơi khác một chút với Ngày nay của Tự lực văn đoàn, hướng chủ yếu vào thanh niên trí thức Tây học đô thị). Chính vì thế, nếu chỉ xét về sự đa dạng của lối viết, của tác giả và công chúng tiếp nhận, Tiểu thuyết thứ bảy thực sự hơn hẳn Ngày nay.
Thứ hai, về mặt quan niệm thẩm mỹ, đồng thời cũng là quan niệm nghệ thuật của nhà văn Thanh Châu, có thể thấy người nghệ sĩ này đã nhất quán trong một tinh thần coi Cái Đẹp chính là vẻ đẹp tâm hồn sang quý ở con người. Thế giới nhân vật của Thanh Châu khá đa dạng: nhiều đẳng cấp người khác nhau (giàu nghèo, con nhà tiểu tư sản, con nhà lao động; người trí thức, người làm thuê…); với những không gian và hoàn cảnh khác nhau: phố xá, khu du lịch, nơi bãi biển, vùng thôn quê, trang ấp… Tất cả các nhân vật đó đều toát lên một đời sống tinh thần tinh tế, giàu có, biết coi trọng và chăm sóc thế giới nội tâm, biết lắng nghe và giao cảm với thế giới bên ngoài. Tâm hồn các nhân vật trong cách biểu đạt của nhà văn đều toát lên vẻ sang quý đáng trọng, đáng yêu. Nhà văn Thanh Châu ít có hứng thú miêu tả kiếp sống mưu sinh mà thường tập trung vào những diễn biến nội tâm của con người. Ở đó, con người bộc lộ niềm yêu sống, khát vọng sống, hoặc những phút giây cố gắng đến tuyệt vọng giành giật lấy sự sống từ bàn tay của tử thần. Ở đó, niềm yêu sống và khát sống còn tràn ra cả những loài hoa cỏ thảo mộc, côn trùng, vũ trụ… Những truyện như Lớp cuối cùng, Vườn chanh, Tà áo lụa, Cái ngõ tối, Cùng một ánh trăng… đều nhiệt thành biểu đạt niềm khát sống của con người và tạo vật như vậy. Rõ ràng, văn Thanh Châu đã biểu đạt thật xuất sắc tình yêu sự sống của con người. Đó là giá trị nhân văn phổ quát mà văn chương của ông đã tới được. Nhờ thế, một số tác phẩm của Thanh Châu có sức sống lâu bền trong lòng bạn đọc.
Thứ ba, lối viết truyện của ông khá đa dạng. Trước nhất nói về thể loại, ông viết cả tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn. Có một số truyện của ông khá dài so với dung lượng truyện ngắn thông thường, tạm gọi là truyện vừa: mấy truyện viết cho thiếu nhi như Cún số 5, Vàng, Thấy chim hồng nhạn bay đi. Một số tác phẩm được xếp vào tiểu thuyết như: Cái ngõ tối, Tà áo lụa, Cùng một ánh trăng. Riêng tiểu thuyết, Thanh Châu viết cũng không quá dài, cái dầy dặn nhất cũng già trăm trang in. Sinh thời, trong một lần trò chuyện, ông nói với tôi: truyện ngắn của phương Tây thường rất gọn, đã là truyện ngắn thì tiêu chuẩn đầu tiên phải ngắn đã; vì thế nếu đã viết truyện ngắn, cần rất cô đúc. Nếu nhìn kỹ vào các tác phẩm của Thanh Châu, có một điểm khá nhất quán: ông không sa vào kể sự, tức là không ham dựng chuyện, dựng đường dây sự kiện biến cố; nếu có một vài sự gì đó xảy ra cũng thường chỉ là cái cớ để nhân vật bộc lộ tâm trạng. Chính điều đó quy định dung lượng đạt đến độ ngắn gọn, cô đúc. Thêm nữa, nếu xét về bút pháp, có thể nói phần lớn truyện của ông là truyện tâm tình. Tiểu thuyết của ông cũng là tiểu thuyết tâm trạng. Ngoài một số ít truyện viết theo cảm quan hiện thực như đã dẫn trên kia, ông có viết một vài cái truyện theo tinh thần humour hóm hỉnh như: Ba hôm mưa bão, Tri kỷ. Những truyện này cũng có cái thú vị nhất định. Nó góp phần làm nên sự đa dạng. Tuy nhiên, vẫn phải thấy sự nhất quán ở nhà văn Thanh Châu: một cây bút trữ tình lãng mạn từ trong cốt tủy. Ngòi bút này cứ lặng lẽ đào vào những gì tế vi nhất của tâm hồn nhân vật. Điều đó làm nên sức quyến rũ trong văn Thanh Châu.
Điểm cuối cùng, không thể không nói đến vẻ đẹp ngôn ngữ trong văn Thanh Châu. Như chúng ta đã thấy, câu văn và ngôn từ của văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1932-1945 so với giai đoạn trước 1930 đã có sự tiến bộ vượt trội. Nó chấm dứt câu văn biền ngẫu. Nó chấm dứt các điển tích điển cố. Nó đoạn tuyệt với những hình ảnh mang tính ước lệ của văn chương trung đại. Giờ đây câu văn co duỗi nhịp nhàng, ngôn từ và giọng điệu rất gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày, tính khẩu ngữ của lời văn được tăng cường; đặc biệt các nhà văn có ý thức cá tính hóa ngôn ngữ trong mỗi sáng tạo của mình. Trong một tinh thần đó, văn xuôi lãng mạn, văn xuôi hiện thực, càng những năm về sau của giai đoạn 1930-1945 càng rõ, đã thực sự đóng góp to lớn vào sự phát triển ngôn ngữ tiếng Việt. Nhà văn Thanh Châu cũng là một gương mặt nằm trong đội hình ấy. Cái đặc sắc riêng của nhà văn Thanh Châu ở phương diện ngôn ngữ đó là sự tinh tế, tinh xảo của câu văn, của chữ nghĩa, của từ dùng, của hình ảnh. Đọc văn ông có cái khoái thú khi thuởng thức những dụng công của một người nghệ sĩ tài hoa.
Tôi nghĩ rằng, văn học Việt Nam hiện đại còn mấy “món nợ” đối với nhà văn Thanh Châu.
Thứ nhất, về cơ bản, bạn đọc hiện nay chưa hiểu về nhà văn, chưa hình dung được vị trí và đóng góp của nhà văn như thế nào đối với nền văn học Việt Nam hiện đại. Tuyển tập này ra đời là một việc làm cần thiết góp phần vào việc phục dựng lại diện mạo và tầm vóc của nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Thứ hai, với lòng nhiệt thành của Hội Nhà văn Việt Nam, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng nhà văn Thanh Châu rất xứng đáng được vinh danh không chỉ trong các diễn đàn chính thức của sinh hoạt văn học quốc gia, mà còn cần được đặt tên cho một trường học, một con đường nào đó tại Nghệ An, Thanh Hóa, hoặc tại Hà Nội.
Thứ ba, trong các bộ Lịch sử văn học Việt Nam của các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu, rất cần bổ khuyết tên tuổi và vị trí của nhà văn Thanh Châu trong giai đoạn 1930-1945 nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung.
Sinh thời, nhà văn tự nhận mình như thân phận của một con dế “chuyên kể đẹp chuyện đêm khuya”. Chị Quỳnh Châu, con gái nhà văn kể: khi nhà văn mất tại TP. Hồ Chí Minh, gia đình đặt mộ của cụ tại Nghĩa trang “Đồng hương Bến Tre”; ít hôm sau đến thắp hương cho cha, chị bất ngờ thấy trên mộ cụ có một con dế to được tạc bằng đá, không ghi rõ của ai phúng tặng… Thế mới biết bạn đọc có cái cách ứng xử riêng của họ. Họ không lệ thuộc vào ai, không theo một chỉ thị nào. Họ chỉ xử sự bằng lòng yêu nghệ thuật. Có thể nói rằng đó là sự công bằng của cuộc đời đã đền đáp cho người nghệ sĩ. Dân gian đã từng nói: Ông Giời có mắt; lại cũng nói: cho đời bao nhiêu, đời sẽ đền đáp bấy nhiêu. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Thanh Châu là một minh chứng thuyết phục. Sinh thời ông có không ít thiệt thòi, nhưng cho đến ngày hôm nay, mọi mơ hồ về ông đã được giải tỏa, sự nghiệp văn chương của ông đã được ghi nhận lại một cách xứng đáng.
Có thể công việc sưu tầm của chúng tôi chưa đầy đủ. Nhìn lại, di sản mà ông để lại bao gồm 50 truyện ngắn/ vừa (trong đó gồm 3 truyện viết cho thiếu nhi: Vàng, Cún số 5, Thấy chim hồng nhạn bay đi), 3 tiểu thuyết và một số hồi ức, bình luận, dịch thuật. Bảo đó là một sự nghiệp đồ sộ thì chưa phải. Nhưng bảo là một sự nghiệp đáng kính trọng thì chắc không ai băn khoăn.
Nhà văn Thanh Châu có một chỗ đứng không thể thiếu trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
Chú thích:
(1) Sau khi tờ Đông Dương Tạp chí ngừng hoạt động, tờ Trung Bắc Tân văn do Schneider làm chủ nhiệm và Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút, ra số 1 ngày 7-1-1915; lúc đầu ra hàng tuần vào ngày Chủ nhật; từ tháng 10-1915 ra một tháng 2 kỳ sau đó nâng lên 3 kỳ. Đây là tờ báo ra hàng ngày duy nhất phát hành rộng ở Bắc và Trung kỳ. Chính quyền thực dân khai thác tờ báo như một diễn đàn chính trị xã hội phục vụ cho chế độ thuộc địa, nhưng nó cũng trở thành một diễn đàn quan trọng thu hút nhiều cây bút nổi tiếng đương thời trên các lĩnh vực văn hoá. Tờ báo tồn tại đến tháng 4-1941 mới đình bản (tổng cộng 7.265 số, được coi là một trong những tờ báo ra được nhiều số nhất). Sau khi Nguyễn Văn Vĩnh mất (5-1936), người kế tục là Nguyễn Văn Luận và Phạm Huy Lục.
(2) Phổ thông bán nguyệt san là tạp chí văn học được xem như tờ phụ trương của tờ Tiểu thuyết thứ bảy do nhà Tân Dân của ông Vũ Đình Long chủ trương. Số đầu tiên ra ngày 1/12/1936, mỗi tháng ra 2 kì vào ngày 1 và 15. Mỗi số khoảng 150 trang, đăng trọn vẹn một tiểu thuyết và một vài truyện ngắn cùng các tranh luận nhỏ về các vấn đề văn hóa, học thuật. Phổ thông bán nguyệt san được trình bày dưới dạng một quyển sách hơn là một tờ báo.
(3) Xem trong Bốn mươi năm nói láo (Mục Tiểu thuyết thứ bẩy, phần III-Báo xây dựng), Tuyển tập Vũ Bằng, tập 1, NXB Văn học, 2000).
Hà Nội, 22/7/2013
Văn Giá
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn Sài Gòn sống và viết

Nhà văn Sài Gòn sống và viết Văn chương miền Nam trước 1975 là văn chương Việt Nam. Dẫu có rất nhiều khác biệt thì hôm nay đọc lại, chúng ...