VĂN THƠ NHẠC
Thứ Hai, 20 tháng 7, 2026
Vũ điệu tái sinh trong từng cơn đau
(Đọc “Nghiêng về phía nỗi đau” tập thơ của Trịnh Bích Ngân, NXB Hội Nhà văn, quý II, 2024)
Đọc tập thơ Dọc đường máu của Vương Cường
Đọc tập thơ Dọc đường máu
của Vương Cường
Tiến sĩ Vương Cường là một cựu chiến binh, nguyên giảng viên
nhiều năm làm công tác nghiên cứu và quản lý khoa học tại Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh. Ông đồng thời là nhà thơ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam với số
lượng tác phẩm đã in gồm 5 tập thơ, 3 tập tiểu luận và tản văn. Thơ và các tiểu
luận của Vương Cường không còn xa lạ với độc giả yêu thơ, vì đều có giọng điệu
riêng, vả chăng vì chính ông đã tuyên bố “Thơ chỉ cho phép đi một mình, không
đi tập thể”; “Với thơ, không có sinh sản vô tính”.
Tập thơ Dọc đường máu (Nhà xuất bản Hội Nhà văn,
2024) là tác phẩm thơ mới nhất của Vương Cường và là tập thơ chào mừng kỷ
niệm 50 năm giải phóng miền Nam (1975 - 2025). Dọc đường máu là một bản
trường ca bi tráng, khắc họa chân thực và đầy xúc động về cuộc chiến tranh, về
những người lính và ký ức không thể phai nhòa của một thế hệ đã đi qua lửa đạn.
Với ngôn ngữ sắc bén, hình ảnh giàu sức gợi và cảm xúc chân thành, tập thơ
không chỉ là lời tri ân dành cho những đồng đội đã ngã xuống mà còn là một chứng
tích sống động về cuộc chiến khốc liệt nhưng hào hùng. Tập thơ này không chỉ là
hồi ức, mà còn là lời nhắc nhớ, để chúng ta không quên những trang sử bi tráng
của dân tộc, quả đúng như tôi đã viết về anh trong cuốn “102 mảnh ghép văn
nhân” (Nxb Hội Nhà văn, 2017): “Là tiến sĩ mang tâm hồn thi sĩ/ Anh sợ lãng
quên một thuở bi hùng”.
Tập thơ bao quát nhiều chủ đề về chiến tranh và người lính,
nhưng nổi bật nhất vẫn là về Ký ức chiến trường, Tình đồng đội, Nỗi đau hậu
chiến và Triết lý nhân sinh. Tác giả sử dụng một lối thơ giàu hình ảnh,
cô đọng nhưng sắc sảo. Ông kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình, giữa hồi
ức và hiện thực, giữa những chi tiết sống động và những liên tưởng triết lý.
Câu thơ của ông không quá cầu kỳ, không lên gân, nhưng luôn chạm đến tận cùng cảm
xúc người đọc. Nhịp điệu thơ biến đổi linh hoạt, có lúc chậm rãi như lời kể
chuyện, có lúc dồn dập như nhịp chân hành quân.
Ví dụ, trong bài "Khi ấy mặt trời chưa
lên" (trang 35), nhịp thơ chậm rãi, trầm lắng như lời kể chuyện:
"Chỉ có ánh sáng vừa lên
mới trông rõ giải sao trong khói bom
không đứng yên, mang tâm hồn chiến sỹ
mới trông rõ dòng sông Đồng Nai
lấp loáng chảy ngang..."
Ngược lại, trong bài "Quỹ đạo hình
sin" (trang 24), nhịp thơ dồn dập, căng thẳng, như hơi thở gấp gáp của
chiến trận:
"Bom nổ nhấc xe lên, đặt xuống
Quỹ đạo hình sin có bước nhảy giữa chừng
Khói bom ùa vào buồng lái tối sầm
cái gạt nước bị thương quét bụi
khoảng thấy trước chỉ một tầm tay với
đoàn xe không đèn lầm lũi chạy trong đêm."
Câu thơ của ông không hoa mỹ cầu kỳ, nhưng lại có sức lay động
không nhỏ. Chẳng hạn, trong bài "Ngã xuống trước bình
minh" (trang 33), ông viết:
"Đã vượt qua cả ngàn cây số đạn bom
bạn ngã xuống giữa rừng cao su Bà Rịa
Đành chịu lỗi với mẹ..."
Những câu thơ như vậy thể hiện sự giản dị nhưng đầy đau đớn
và chân thực về chiến tranh.
Bên cạnh giá trị nội dung và nghệ thuật, tập thơ còn mang đến
một không gian ký ức sống động, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp thế hệ
sau hiểu rõ hơn về tinh thần bất khuất của những người lính năm xưa. Có thể khẳng
định, Dọc đường máu là một tập thơ rất đáng được trân trọng về người
lính Cụ Hồ.
Thơ Vương Cường không chỉ là hồi ức, mà còn là lời nhắc nhớ,
để chúng ta không quên những trang sử bi tráng của dân tộc. Văn chương TP. Hồ
Chí Minh trân trọng giới thiệu chùm 5 bài thơ rút từ tác phẩm này.
Nguyên
Hùng chọn và giới thiệu.
Cặp mắt cô giao liên mở ra lần cuối
Cặp mắt ấy mở ra
bầu trời thêm vào hai ngôi sao mới
em thu hết những mái nhà khổ đau nặng trĩu
dòng sông, những con cò lặn lội
cánh đồng, những bông lúa sót
em lắng nghe tiếng hát ầu ơ
thuở nhỏ của bà
em thu về và mang đi
những cột khói hình nấm tàn phá quê nhà
Em có làm thơ đâu
nhưng em là thi sỹ
đôi bàn chân len lỏi giữa rừng sâu
chiếc võng mắc chông chênh bên bờ suối
vừng trăng xanh tỏa mát góc rừng
Những cột khói hình nấm rung lên dữ dội
em quay lại phía sau
những binh đoàn theo chân em ra trận
mảnh đất đòi tự do
mảnh đất đòi giải phóng
những dấu chân lỗ chỗ in dày
trên đất nước thân yêu
đã thành tiếng gọi em
từ bao giờ hỡi em gái giao liên - thi sỹ?
Em khát khao cuộc sống
từng nhành lá cũng thành thơ, thành nhạc
mái nhà lá đơn sơ mộc mạc
bếp lửa hồng ai đó nhen nhóm nhau
tôi muốn nói rất nhiều
bằng sự lặng im
vết thương em xuyên suốt cả đoàn quân
Ơi cặp mắt em giao liên – thi sỹ
đã khép lại rồi trong tay chúng tôi
những người chiến sỹ
không phải bầu trời tắt hai ngôi sao
mà rực cháy một trời rực rỡ
những binh đoàn nhận thêm ánh sáng từ em
ra trận
Những cột khói hình nấm sẽ tan
những cột khói hình nấm sẽ tan!
mai đây đất nước rợp trắng cánh cò
trời xanh chim dệt
vĩnh biệt em - cuộc đời mến yêu
cả nước nhớ em
người im lặng ngã xuống dọc đường
Ơi giọt nắng ban mai trong suốt
tôi muốn tạc tượng đài em
giữa lồng lộng Trường Sơn...
Trường Sơn 3/1975
Ngã xuống trước bình minh
Đã vượt qua cả ngàn cây số đạn bom
bạn ngã xuống giữa rừng cao su Bà Rịa
Đành chịu lỗi với mẹ
Ngày mai
chiến dịch cuối cùng sẽ mở
chắc mẹ ở nhà dõi theo
chờ
máu chảy theo hình chữ S
chảy đến mỗi ngõ nhà…
Khi ấy mặt trời chưa lên
Chỉ có pháo bắn thật gần
mới được cười thoải mái
bom nổ loạt thật dài
mới hát hết một câu
pháo sáng vãi đúng đầu
mới nhìn rõ mặt nhau
mới nhìn rõ những cái đầu
mọc lên từ cát
giống một vườn cây ươm
Chỉ có dứt hẳn tiếng pháo tiếng bom
mới nghe tiếng gào của dòng sông chảy xiết
tiếng quẫy nước phải rất tinh mới nghe thấy được
trong chớp lửa nhập nhòe chúng tôi vượt sông
Chỉ có ánh sáng vừa lên
mới trông rõ giải sao trong khói bom
không đứng yên, mang tâm hồn chiến sỹ
mới trông rõ dòng sông Đồng Nai
lấp loáng chảy ngang
và đội hình chúng tôi vượt qua hàng dọc
thành một dấu cộng
mặt trời khi ấy chưa lên
Mặt trời sẽ lên thôi
chúng tôi đẩy mặt trời lên
để nhìn rõ Sài Gòn phía trước
để viên đạn bay đi khỏi lạc
bầy chim xòe quạt đón mặt trời
Sài Gòn ơi!
hồi hộp kia rồi
qua họng súng bồn chồn trên sóng nước
mặt trời khi ấy vẫn chưa lên...
Vượt sông Đồng Nai
30/4/1975
Người chết hai lần, cuộc đi chưa trọn
Giờ anh không thắp được nén hương
trên nấm mộ của mình
như bốn mươi hai năm về trước
Lính vận tải khiêng anh về, một chân cụt tận gốc
đồng đội mang vùi xuống đất
không quan tài
không vải lượm
không cần cành lá che mặt
không cần mảnh sắt tây lương khô han rỉ
khắc mộ chí
không cần đắp đất vồng lên
dán cỏ
không sơ đồ
không giỗ chạp
mộ chân
coi như không mộ
Đồng đội cõng anh ra thăm
anh thắp một nắm hương
rải một ôm hoa dại
anh vái trời
anh vái đất
anh khóc, trách phần cơ thể không chờ nhau
biết cuộc tiễn đưa mấy người có được
anh tiễn đưa chân mình
Giờ người thân lượm anh bằng vải đỏ
mặt đánh phấn
cùng nằm bên anh
là đôi nạng gỗ
mấy tấm huân chương
một nắm đất
một mảnh trời xanh
một góc thành Quảng Trị
tiễn anh, gió đưa bài ca một thuở
tiễn anh, nắng đưa nét vàng hắt hiu một thuở
tiễn anh, có những người lính già, mắt đục
Ai được chết hai lần?
ai được khóc mình khi mình đã chết?
ai được chạy trong đời một chân?
ai đã đi là đi sau hết?
ai tưởng đến lượt mình
lại hóa ra không?
Thôi từ giã một đời đi sau
cuộc tìm kiếm lại mới bắt đầu
người chết hai lần
cuộc đi chưa trọn…
Cõng bạn đi chơi
Nằm giữa cánh rừng sâu không tên
hay dưới đáy sông Thạch Hãn
úp mặt vào bùn
mày nhìn thấy gì đâu
đôi chân đứt lìa mấy đoạn
mày có đi được đâu
Đêm đêm trăng khuất bóng hiên nhà
gió giật đùng đùng trong cơn mê dại
cái miệng mày bê bết máu
tao có ngủ được đâu
Thức cõng mày đi mấy vòng cho đã
mày hăm hở đến nhà người yêu
gặp bà già nhăn nheo tóc bạc
trong đáy mắt có vài vết sẹo
vết sẹo nước mắt bào không khô
Mày xăm xăm chạy ùa tìm mẹ
cả bố mẹ mày đã ra gò mả
hai nắm đất lặng im
hai nắm đất một thời biết khóc
đêm đêm thả nước mắt vào mưa
thả buồn vào gió
thả mong chờ vào hư vô
Mày loạng choạng vào bàn thờ thắp hương
lại gặp mình ngồi cười sau nải chuối
Thôi mày về đi
cái thằng hai mươi tuổi
tao thương mày
mày chẳng biết thương tao…
4/2016
28/2/2025
Nguyên Hùng
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Vài cảm nhận về Cuộc thi Thơ 1-2-3
Vài cảm nhận về Cuộc thi Thơ 1-2-3
Cuộc thi Thơ 1-2-3 (The 1-2-3 Poetry Style/ Phannist Poetry)
năm 2024 – 2025 đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo các tác giả trong lẫn
ngoài nước và đã công bố kết quả. Nhà lý luận phê bình, nhà thơ Võ Quốc Việt –
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thay mặt Ban Chung khảo đã có bài tiểu luận công
phu, sâu sắc mang tính tổng kết về cuộc thi. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn
đọc.
1. Bẩm thụ khí chất quê hương Phú Yên – “một thời trấn biên
trên hành trình khẩn hoang mở cõi về phương Nam của dân tộc” – nhà thơ Phan
Hoàng luôn cho thấy ý hướng cách tân, vươn mình về phía tương lai. Trên hành
trình văn chương hơn ba thập kỷ, thể thơ 1-2-3 ra đời chính trong ý hướng như vậy.
Nhà thơ Phan Hoàng chia sẻ: “Năm 2018 là một năm đầy “biến động” đối với tôi. Từ
bỏ nhiều hoạt động xã hội, tôi tranh thủ thời gian du lịch nhiều nơi, tập trung
đọc sách, nghiên cứu tìm con đường mới cho sáng tác. Sau chuyến tham quan hai
thành phố lớn Moskva và Saint Petersburg đầy ấn tượng về văn hoá Nga, trên chuyến
bay trở về khi ngang vịnh Ba Tư ở Trung Đông tự dưng tôi nảy ra ý tưởng thể
nghiệm một hình thức thơ mới gọi là Thơ 1-2-3”[1]. Có thể nói, thơ 1-2-3 là thể
nghiệm khởi đi từ khát vọng đổi mới thi ca đương thời.
Thể thơ 1-2-3 được nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng từ mùa thu
năm 2018. Đến nay, thể loại này đã được hưởng ứng và phát triển rộng rãi. Chỉ
trong thời gian ngắn, thể thơ 1-2-3 phát triển đa dạng về thi tài, thi liệu,
thi hứng,… góp phần làm phong phú sinh hoạt thi ca hiện nay. Tiến sĩ Nguyễn
Minh Ca cho rằng: “Cần có nhiều thời gian hơn để thẩm định giá trị và ảnh hưởng
của nó với thơ ca Việt Nam hiện đại, nhưng với tinh thần đổi mới, những đóng
góp và ảnh hưởng của thơ 1-2-3 đến phong trào sáng tác thể loại này trong vài
năm trở lại đây là đáng được ghi nhận”[2]. Trải qua quá trình vận động phát triển,
thơ 1-2-3 dần khẳng định giá trị nghệ thuật. Trên phương diện ngôn từ nghệ thuật,
nhà nghiên cứu Bảo Bình nhận thấy thể thơ này “phóng khoáng trong sự mực thước,
nửa phần bay lượn tự do, nửa phần còn lại là vẫn phải bay trong khung trời cho
phép”[3]. Thơ 1-2-3 được hưởng ứng như vậy phần nào cho thấy sự phát triển và
nhu cầu cách tân thi ca của thi giới hiện nay. Điều này ít nhiều ấn chứng cho sự
dịch chuyển của sinh cảnh thơ Việt đương thời.
Chính thế, việc tổ chức Cuộc thi Thơ 1-2-3 như sự hồi ứng tự
nhiên. Cuộc thi thơ không chỉ giúp thi giới 1-2-3 có cơ hội thể hiện phong cách
thi ca mà còn góp phần cho sự phát triển chung của thể loại này.
2. Với tinh thần đó, Cuộc thi Thơ 1-2-3 lần thứ I do
trang Nhịp Sống Văn Học và Văn Học Sài Gòn tổ chức từ tháng 9.2024 đến tháng
1.2025. Liên tục từ đầu tháng 9.2024 tới 24 giờ ngày 23.01.2025, sau gần 5
tháng phát động, Ban Tổ chức Cuộc thi Thơ 1-2-3 lần thứ I đã nhận được sự hưởng
ứng sôi nổi của anh chị em làm thơ trong và ngoài nước với gần 619 bài thơ sáng
tác theo thể thơ 1-2-3.
Qua cuộc thi, sự hưởng ứng của thi giới đối với thể loại thơ
1-2-3 trước hết biểu hiện ở quang cảnh thi ca sống động với nhiều chủ đề đa dạng:
từ tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, vẻ đẹp
thiên nhiên; cho đến triết lý sống, triết lý về nghệ thuật và những hoài niệm về
đời người. Thế nhưng điểm nổi bật: thể thơ 1-2-3 thể hiện sự kết dệt, giao
thoa, cộng hưởng nhiều suy tư khác nhau về đời sống của giới cầm bút. Điều này
cho thấy những nhà thơ tham gia cuộc thi có sự chiêm nghiệm, trăn trở và ưu tư
về tự thân, tha nhân và đời người.
Thêm nữa, quan niệm nghệ thuật của thi giới 1-2-3 trong cuộc
thi này trang trải trên nhiều phương diện: thế giới quan, nhân sinh quan, thẩm
mỹ quan, đạo đức quan,… Những bài thơ 1-2-3 tham gia cuộc thi này còn cho thấy
giới cầm bút đồng thời phóng chiếu trên hai chiều kích thời gian: (1) sự hồi vọng
quá khứ, chiêm nghiệm về kỷ niệm quá vãng, niềm thương nhớ sơ xưa; (2) sự cộng
hưởng với thời đương đại cho thấy hơi thở đời sống đang diễn ra với niềm tin tưởng
lạc quan vào tương lai. Bên cạnh đó nhiều bài thơ thể hiện chiều hướng đào sâu
vào nội tâm con người. Từ những vỉa tầng sâu kín tâm hồn, các nhà thơ không chỉ
góp phần giúp bạn đọc thấu hiểu thêm trầm tích hồn người mà còn thông qua đó hướng
bạn đọc đến những giá trị chân-thiện-mỹ. Với Cuộc thi Thơ 1-2-3 lần đầu tiên được
tổ chức, những chiều kích suy tưởng như vậy là điều đáng ghi nhận.
Bên cạnh đó, các nhà thơ tham gia cuộc thi còn cho thấy sự tiếp
nối và phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa dân tộc và phản ánh
niềm tin tưởng lạc quan vào nhịp sống thời đương đại. Những dòng thơ như “Anh bộ
đội nâng niu nụ cười con trẻ/ nụ cười như mọc lên từ trong bùn đất/ một tượng
đài sừng sững thiêng liêng tỏa sáng tình người” (Nguyễn Kim Thịnh); hay “Đồng đội,
người thân tìm anh / Suốt một đời mải miết/ Đến lúc họ đi hết rồi anh vẫn giữ đất
quê hương” (Nguyễn Thái Bảo) đã tiếp nối tinh thần yêu nước của dân tộc ta từ
thời khói lửa đến lúc thanh bình. Nhiều bài thơ bộc lộ lòng trân quý đối với
truyền thống văn hóa dân tộc, như: “em ngắt câu dân ca cắm vào hồn thiêng xứ sở/
cây lúa trổ đồng thơm hương thì con gái/ con sông Hậu hiền hòa tắm mát cả mùa
xuân” (Hồ Trung Chính); “Những cánh hoa cà phê trổ trắng trong ký ức phơi khô/
Dưới bóng bạch đàn ai gói nhớ vào ngọn gió nóng bỏng đầu mùa/ Đêm trở mình
hương bánh căn lẫn mùi khói củi gọi về quê xa” (Võ Thị Như Mai);… Với cảm hứng
thế sự, các nhà thơ thể hiện nhiều suy ngẫm trước nhịp sống thời đại: “Trường
Sa, Hoàng Sa đảo nổi đảo chìm/ Lịch sử mấy ngàn năm đất nước Rồng Tiên/ Non nước
vững âu vàng vạn kỷ” (Chu Minh); “Thời đại tự do yêu có nhiều lý do cần đến
sex/ Cho nhận, trải nghiệm là cùng nhau và vì nhau” (Đoàn Thị Diễm Thuyên).
Không chỉ vậy, các nhà thơ cũng khai thác những cung bậc đời
thường, qua đó bạn đọc có dịp cảm thấu và chiêm nghiệm lại giá trị tình cảm quý
giá của đời người. “Con rô ăn sao búng nước ao khuya tĩnh mịch/ Cơn gió nhón
gót xào xạc bụi chuối tiêu già/ Lược trăng đầu tháng la đà chải mái tóc mẹ ta
trắng buốt…” (Dương Vũ); “Con bật que diêm lòng mình, đốt ngọn lửa tự tàn tro/
Kê bên chân mẹ âu lửa hồng, nhìn khói cay vào mắt/ Mẹ như cánh đồng lênh láng đầy
trăng, soi con bước” (Phan Minh Thoại). Cùng với đó, phần nhiều bài thơ 1-2-3
tham gia cuộc thi này cho thấy khả năng khai thác cảm xúc vi tế. Các nhà thơ
không chỉ có cách tiếp cận thực tại rất cá tính mà còn cho thấy độ nhạy bén
trong cảm quan nghệ thuật. “Đem quá khứ rải dưới chân, hái nụ cười thiên hạ/
Gieo hạt từ tâm soi vào mình làm tựa/ Gặt ước mơ ở tuổi xuân thì” (Trần Thị
Thùy Vy); hay “Em đậu xuống khu vườn anh/ Hồn nhiên nhành xuân không vết tuổi/
Ngụ cư anh vương quốc thanh tân” (Vũ Trần Anh Thư). Do đó, mỗi bài thơ đều thể
hiện nhãn quan đời sống và cá tính nghệ thuật rất riêng. Đến với thi ca một
cách chân thành, mỗi bài thơ, mỗi tiếng thơ đều đáng quý, đáng trân trọng!
Và sự hưởng ứng của giới cầm bút dành cho thể thơ này còn biểu
hiện qua lực lượng sáng tác. Lực lượng sáng tác đa dạng về lứa tuổi, nghề nghiệp
và nơi cư trú (từ trong nước đến hải ngoại). Dù hoàn cảnh sống khác nhau và
lĩnh vực nghề nghiệp riêng, song tất cả các nhà thơ tham gia cuộc thi đều bộc lộ
tình yêu thi ca chân thành, đằm thắm. Trên hết, các nhà thơ thể hiện tinh thần
nghiêm túc trong thực hành sáng tạo; thể hiện nhận thức tích cực tham gia đóng
góp cho sự phát triển chung của thể loại. Thơ 1-2-3 không chỉ là thể nghiệm cá
nhân mà các nhà thơ trong cuộc thi này còn góp phần tạo nên hiện tượng đáng chú
ý trong sinh cảnh văn chương hiện nay.
3. Tựu trung, Cuộc thi Thơ 1-2-3 do trang Nhịp Sống Văn
Học và Văn Học Sài Gòn tổ chức đã góp phần thúc đẩy sinh hoạt thi ca sôi nổi,
lành mạnh, tinh thần lạc quan, niềm tin tưởng tươi sáng vào đời sống xã hội hiện
nay. Sinh hoạt thơ 1-2-3 qua cuộc thi này còn cho thấy tâm hồn yêu thi ca khởi
đi từ truyền thống vốn có của người Việt. Thông qua cuộc thi, giới cầm bút cho
thấy thế giới quan rộng mở, phản ánh hiện thực đời sống với chất giọng vừa trữ
tình vừa triết lý. Nhiều bài thơ thể hiện sự chiêm nghiệm về đời người, những nỗi
niềm, những cung bậc cảm xúc giữa dòng đời.
Bên cạnh đó, nhiều cây bút bộc lộ cảm thức về thiên nhiên, biểu
thị mỹ cảm giao hòa với thiên nhiên tạo vật. Nổi bật hơn hết, các sáng tác tham
gia cuộc thi này bộc lộ tình yêu quê hương sâu nặng; sự trân trọng tình cảm con
người và thượng tôn tính người trong sáng tốt đẹp; cùng với đó là sự ghi ơn và
tự hào về lịch sử đất nước, về văn hóa truyền thống dân tộc và về lịch sử đấu
tranh hào hùng của thế hệ đi trước.
Chú thích:
[1] Nguyễn Tham Thiện Kế (phỏng vấn,
2021). Nhà thơ – nhà báo Phan Hoàng: Tôi muốn góp phần tiếp thêm động lực cho
bạn trẻ. Trang thông tin Hội Nhà văn Việt Nam. Nguồn:
https://vanvn.vn/.
[2] Nguyễn Minh Ca (2024). Thơ 1-2-3 trong không gian
văn học đương đại Việt Nam. Trang thông tin Hội Nhà văn Việt Nam. Nguồn:
https://vanvn.vn/.
[3] Bảo Bình (2024). Thơ 1-2-3, thể thơ độc đáo của nghệ
thuật ngôn từ đương đại. Trang thông tin Hội Nhà văn Việt Nam. Nguồn:
https://vanvn.vn/.
Rừng Dầu, 28/2/2025
Võ Quốc Việt
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Triệu hạt tâm hồn rót đầy biển tình yêu
Triệu hạt tâm hồn rót đầy biển tình yêu
(Đọc PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ, Nguyễn Đức Quận, NXB
Hội nhà văn, 2024)
I. GIỮA NHỮNG DÒNG HOÀI NIỆM
Mẹ vẫn ở đó, trong ngôi nhà nhỏ ở quê. Con đã đi xa từ những
ngày thanh xuân còn đang chảy trên lối cũ. Mười năm, rồi lại mười năm nữa,
quãng đường đi chừng ngắn đó mà ngón tay đếm không xuể, lòng trống vắng mà ký ức
lại quay về. Bên đó, mẹ thắt thỏm, tất bật như ngày cũ. Đó là điều duy nhất con
dám tin rằng không đổi thay giữa bao điều đã nằm ngoài bàn tay con. Những mùa
năm cũ, lúc con còn bên mẹ, những buổi chiều hè rực đỏ hay đêm mùa đông gió lạnh,
mẹ đều nhóm lửa, đun nước, kể chuyện con nghe. Sáng mai mặt trời lên đẹp lắm,
ai mà tĩnh tâm thì nhìn thấy ánh hồng lung linh. Lúc đó con nghĩ rằng, những điều
như thế mẹ nói với con để làm gì? Rồi con lớn, rời quê hương, bước vào đô thành
ồn ào, và chẳng bao giờ có thời gian dành cho những ánh hồng lung linh đó. Con
lại học những bài học khác, về sự cần cù, về những chuyến xe tải chở hàng đi và
đến, về những ngày chông chênh giữa đời. Rồi có những đêm con chợt giật mình thức
giấc, ngồi nhắm mắt và thấy mây trắng bay qua ngõ nhà, che đi bóng mẹ đang tần
tảo nơi quê xa. PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ. Con đi xa, mang theo lòng
mình những vị ngọt của câu chuyện đêm mùa hè, những bài ca dao mẹ hát, những
đêm đốt lửa khoai hồng ấm áp. Rồi có ngày, những điều đó trở nên xa lạ. Cuối
ngày, có khi con muốn nghe một tiếng "con ơi" từ giọng mẹ, nhưng chỉ
có tiếng gío rét luồn qua khung cửa
Và cứ thế, những bước chân phiêu bạt giữa cuộc đời vẫn mãi
quay về một khoảng trời nhớ mẹ. Đọc PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ của Nguyễn
Đức Quận, lòng ta như được trải ra giữa những cung bậc của nhớ thương, day dứt
và tiếc nuối. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của riêng tác giả mà còn là nỗi
niềm chung của những kẻ xa quê, những người con mãi lặn lội giữa dòng đời, để rồi
một ngày giật mình nhận ra—mẹ vẫn ở đó, nhưng bóng mẹ đã nhòa dần trong sương
khói thời gian. Từng câu thơ khắc khoải, chân thành, chạm đến sâu thẳm tâm hồn,
khiến ta không khỏi tự vấn: phải chi thời gian chậm lại, phải chi những bước
chân chưa từng rời đi, phải chi… mây trắng không ngang ngõ, để giây phút bên mẹ
mãi còn vẹn nguyên.
Có những nỗi nhớ nằm sâu trong lòng, chỉ chờ một câu thơ khẽ
chạm là trào dâng như sóng. PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ của Nguyễn Đức
Quận là một tập thơ như thế, nhẹ nhàng mà da diết, giản dị mà khắc khoải. Trong
từng dòng chữ, ta thấy hình bóng quê hương, nghe được nhịp thở của những tháng
năm cũ, cảm nhận được nỗi lòng của một người con xa xứ mãi khôn nguôi niềm
thương nhớ. Tôi đọc tập thơ theo bốn ý chủ đạo, như bốn cánh cửa mở ra những miền
cảm xúc khác nhau. Ở đó có quê hương vẫy gọi, có những mùa tháng đã đi qua
nhưng vẫn đọng lại trong ký ức, có khát khao một bến bờ an yên giữa bao dâu bể,
và có cả những tâm tư thầm kín mà không phải lúc nào cũng dễ dàng bày tỏ. Nguyễn
Đức Quận không tô vẽ những nỗi niềm bằng lời hoa mỹ mà để cảm xúc tự nhiên chảy
trôi, chân thành và sâu lắng. Đọc thơ anh, ta như được trở về với chính những
ký ức của mình, để rồi chợt nhận ra, trong dòng chảy vô tận của thời gian, có
những điều dù xa đến đâu cũng chẳng thể phai mờ.
II. BỐN CÁNH CỬA MỞ RA NHỮNG MIỀN CẢM XÚC
1. Miền đất gọi mời
Quy Nhơn mời gọi những kẻ lữ hành bằng tiếng sóng vỗ rì rào,
bằng những con đường đầy nắng, nơi biển xanh ôm ấp bờ cát dài dịu dàng như một
lời tự tình. Thành phố ấy không vồn vã, mà trầm lắng, tựa như một bài thơ chưa
viết hết, để ai đến rồi cũng lưu luyến chẳng muốn rời. Thăm bến My Lăng, ta bắt
gặp hình bóng những con thuyền nhỏ chở đầy nỗi niềm của người dân chài. Nơi
đây, nước mặn và tình người quyện vào nhau, dệt nên bức tranh quê hương bình dị
mà sâu đậm. (Cầu Trường Thi nối đôi bờ lở/ Sông Cửa Tiền êm sóng ru
trăng/ Chân quay gót ta còn mãi nhớ/ Một lần về thăm bến My Lăng).. Chiều Quy
Nhơn đổ bóng xuống những hàng phi lao, gió thổi mát những câu chuyện cũ. Trong
khoảnh khắc ấy, lòng ta bình yên đến lạ, như thể thời gian đang ngừng lại, như
thể chỉ cần một tiếng gọi là có thể quay về những ngày tháng xưa.
Hát với dòng Kôn, ta nghe được tiếng vọng của lịch sử, những
câu ca về một thời binh đao lửa đạn, về những anh hùng đã ngã xuống để đất nước
được bình yên. Dòng sông ấy không chỉ chở phù sa mà còn gánh cả bao nhiêu ký ức
của người dân Bình Định. (Huyền Trân ôm giấc mộng dài/ Tháp Chăm trầm
mặc u hoài đau thương/ Về đây hát với quê hương/ Trường Thi bến nước còn vương
vấn lòng). Dòng Kôn tắm mát bóng dừa, trôi qua bao làng mạc, bao bến bờ,
chứng kiến biết bao đổi thay của đất nước. Những câu hát giao duyên xưa vẫn còn
vương trên mặt nước, níu giữ bước chân người lữ khách chưa muốn rời xa. Bến bến
Trường Thi, nơi từng lớp người trẻ mài giũa kinh thư, ôm ấp bao khát vọng. Đã
qua rồi thời bảng vàng bia đá, nhưng trong sâu thẳm, giấc mơ vươn xa vẫn còn
vang mãi, theo những dòng sông, theo những con đường, theo những người con rời
quê đi muôn hướng nhưng lòng vẫn nhớ về...
Phú Yên cất lên tình ca giữa những cánh đồng xanh, nơi hoa
vàng trải dài trên cỏ xanh như một bức tranh bất tận. Đất trời nơi đây đẹp đến
nao lòng, khiến ai một lần đặt chân đến cũng muốn lưu lại mãi mãi. (Đưa em
về lại Vũng Rô/ Bình minh ló dạng thuyền vô cá đầy/ Bên nhau duyên lại thắm
say/ Trời yên biển lặng tình ngây ngất tình).
Tình ca Lý Sơn vang lên giữa biển trời rộng lớn, nơi những
hòn đảo nhỏ giữ lấy hồn thiêng đất mẹ. Sóng biển miệt mài vỗ vào vách đá, như lời
thì thầm của những người con kiên cường bám biển, giữ đảo, giữ quê hương. (Ta
đưa nhau thăm núi Giếng Tiền/ Triệu năm rồi nay vẫn giữ nguyên/ Lên Thới Lới
xem mây vờn đỉnh/ Xuống Tò Vò tìm chút an yên). Quảng Ngãi ta ơi, miền đất
nặng nghĩa tình, nơi từng thớ đất, từng ngọn núi, từng dòng sông đều khắc ghi dấu
chân cha ông. Mảnh đất ấy, dù có đi xa bao nhiêu, vẫn mãi là nơi để trở về.
Bình Định ta ơi, bao nhiêu năm vẫn sừng sững với võ trận Tây
Sơn, với những câu hát bội ngân vang trong đêm hội. Người Bình Định chân chất,
kiên trung, như sóng biển ngày đêm vỗ bờ, như mạch nguồn bất tận của những câu
thơ còn vang mãi. Lại Giang đôi bờ tựa một khúc hát quê hương, lúc trầm lúc bổng
theo từng con nước. Hai bờ sông in bóng những nhịp cầu, nơi những đôi lứa hẹn
hò, nơi những người con xa quê thầm gửi nỗi nhớ vào con sóng lăn tăn.
Đi thêm nữa để gặp người con gái, em nghiêng nón lá Gò Găng,
bóng hình ấy như một nét chấm phá dịu dàng trên bức tranh quê. Cô gái nhỏ, nụ
cười e ấp, bước chân nhẹ nhàng bên bờ sông, tựa như một dáng hình quá đỗi thân
thương trong ký ức. Miền đất ấy, mãi mãi là một khúc tình ca trong tim người xa
xứ.
2. Những mùa đi qua
Tháng Tư về, mang theo hơi thở nồng nàn của mùa hạ mới chớm.
Những cơn gió đổi màu, những cành bằng lăng bắt đầu chấm tím lên trời. Lòng người
cũng nhẹ bẫng như những vệt mây trắng lửng lơ trên nền trời trong vắt. (Tháng
chạm khẽ vào cánh phượng/ Phượng chỉ mỉm cười không nói năng/ Nắng đứng trộm
nhìn chim bướm lượn/ Sân trường ôm ấp bước chân quen). Tháng Tư, tháng của
những cuộc chia ly, những trang lưu bút viết vội, của những năm tháng thanh
xuân còn dang dở. Nắng tháng Tư mang vị ngọt của những ngày giao mùa, khi hạ vẫn
còn e ấp nơi đầu ngõ, khi những cơn mưa rào chưa kịp trút xuống. Người ta bảo,
tháng Tư có những vạt nắng vàng chỉ lắm – không gay gắt mà cũng chẳng nhạt
nhòa, đủ để hong khô những miền ký ức còn ướt đẫm trong tim.
Rồi bâng khuâng tháng Năm ùa về, mang theo chút luyến lưu từ
mùa cũ. Đâu đó, tiếng ve râm ran trong vòm lá, báo hiệu những ngày hè sắp đến.
Lòng người cũng chợt bâng khuâng như chính những con đường ngập sắc phượng hồng,
rực rỡ nhưng cũng chất chứa bao nỗi niềm. Hạ tím lặng lẽ trôi qua những hàng
cây, để lại sắc bằng lăng buồn đến nao lòng. Đâu đó, có một mùa yêu chợt đến rồi
vội đi, như những cánh hoa rơi trên vai áo ai, không kịp giữ lại một lời hẹn. (Phượng
hồng xác pháo thầm thương/ Ép vào trang vở mùi hương thơm lừng/ Chia tay xa
cách người dưng/ Mà sao lại nhớ quá chừng đi thôi)
Mùa thu bất chợt, như một lời hẹn không báo trước. Gió se lạnh
thoảng qua vai áo mỏng, lá vàng chao nghiêng trên những con phố nhỏ. Có những
ngày trời xanh đến nao lòng, có những buổi chiều nắng rót mật lên từng ô cửa sổ.
Người ta thường nhớ về mùa thu bằng những điều dịu dàng nhất – một góc phố cũ,
một bản tình ca xưa, một dáng người lặng lẽ bên đường… (Cánh đồng trải thảm
hướng dương/ Vàng ươm lan tỏa thơm đường chân qua/ Dạ yến thảo đa sắc hoa/ Trắng,
hồng, đỏ, tím ... mặn mà, thanh tao). Hoa thu tháng Tám nở âm thầm trên những
lối đi. Không rực rỡ như mùa hạ, không lạnh lẽo như đông, tháng Tám trầm lặng với
sắc hoa cúc vàng đón nắng, với chút heo may khẽ khàng mơn man những tâm hồn nhạy
cảm.
Khúc thu vàng vang lên trong những chiều gió se lạnh, những
con đường ngập lá, những hàng cây thay áo mới. Mùa thu như một bản nhạc không lời,
nhẹ nhàng mà thấm sâu vào lòng người. (Lúa chín chờ đợi gặt xong/ Nắng vàng tô
thắm má hồng môi tươi/ Quê em con gái duyên cười/ Đôi bờ tóc rối thơm mùi rạ
rơm). Và rồi, quê em mùa lúa chín rực rỡ dưới nắng vàng. Mùi thơm lúa mới
hòa vào gió, chạy dài trên những triền đê, ôm trọn lấy tuổi thơ của những đứa
trẻ lớn lên từ đồng ruộng. Những cánh cò chao nghiêng giữa cánh đồng bao la, lặng
lẽ chứng kiến bao mùa đi qua, bao con người trở về và rời xa. Mùa nào cũng có
những sắc màu riêng, như những nốt nhạc ngân dài trên bản giao hưởng của thời
gian. Và lòng người, cũng cứ thế mà đổi thay theo những mùa trôi…
3. Sẽ có một bến bờ an yên
Có những ngày, tôi đi tìm phù sa của tâm hồn mình, như dòng
sông mải miết bồi đắp bến bờ ký ức. Tôi viện vào câu lục bát bên bờ La Tinh, lắng
nghe những nhịp vần dịu dàng như tiếng ru của mẹ thuở nào. Lục bát – không chỉ
là thơ, mà còn là miền quê lắng sâu trong tâm tưởng, là dòng nước mát lành tưới
tắm những nỗi niềm. Tôi đi, tìm câu lục bát giữa mênh mang đời sống, để thấy
trong từng con chữ, có cả hơi thở của cha ông, có cả bóng hình quê nhà thân thuộc. (Nguyễn
Đức Quận mở lòng đón nhận mọi vui buồn nhân gian. Anh như tha thiết với cuộc đời
hơn sau bao rọi soi thấu tận. Thấu tận để bao dung cho người cho mình, gạn đục
khơi trong mà tìm chút nhẹ lòng – Ngô Phong)
Nhưng cũng có những ngày chẳng có gì đặc biệt – một ngày bình
thường đến mức tưởng như không đáng nhớ. Vậy mà chính những ngày như thế lại
làm lòng người trầm lắng, tự hỏi mình đã quên bao nhiêu giấc mơ, đã đánh mất
bao nhiêu niềm vui bé nhỏ. Tôi ngồi lặng yên, nhìn sắc màu tình yêu len lỏi
trong từng khoảnh khắc: một ánh mắt dịu dàng, một bàn tay khẽ siết, một chiều
mưa ai đó che chung chiếc ô… Tình yêu không ồn ào, chẳng cần rực rỡ, mà cứ thế
lặng lẽ nhuộm màu những ngày tưởng như vô vị. (Một ngày vừa sinh ta ra mẹ
cồn cào bụng thắt/ Bát cháo khoai lấp dạ giữa đêm đông/ Cha chân trần ngập dưới
bão giông/ vay lon gạo chờ mùa sau gặt tr
Biển hát lời ru bên sóng, thủ thỉ cùng nỗi nhớ. Có lúc tôi thấy
mình như đứa trẻ lạc vào giấc mơ của nước, đi tìm hạ đánh rơi trong một buổi
chiều lộng gió. Giữa bầu trời xanh vời vợi, trái tim hồng vẫn rạo rực nhịp đập,
vẫn tin vào những điều đẹp đẽ của cuộc đời. Nhưng đâu đó, có những khoảng lặng
vàng dương, có những niềm riêng không dễ gọi thành tên. (Dặn lòng gắng học
chữ yêu thương/ Thương thân thương phận dẫu chưa suông/ Thương cha thương mẹ
thương đồng loại/ Yêu người khốn khó yêu quê hương). Dặn lòng đừng níu giữ
những gì đã xa, nhưng có ai không chênh vênh khi rơi tình? Khi tình chưa nguôi,
mọi con đường đều mang dáng hình một người đã cũ. Ta cứ ngỡ mình đã quên, nhưng
bất chợt một làn gió thổi qua, một bài hát cũ vang lên, và ta lại thấy lòng
mình se sắt.
Dòng chảy của tâm hồn cũng như dòng sông – có lúc êm đềm, có
khi cuộn trào, có những lớp phù sa lặng lẽ bồi đắp và cũng có những nhánh rẽ
không thể quay về. Nhưng dù thế nào, ta vẫn đi, vẫn tìm, vẫn tin rằng phía trước,
sẽ có một bến bờ an yên…
4. Những tâm tư thầm kín
Chớm thu, sắc tím len lỏi vào những buổi chiều lặng gió. Đôi
khi chỉ cần một tách trà nhớ, đã đủ để lòng người chạm đông, nghe hơi lạnh len
vào từng kẽ tay, từng nỗi niềm chưa kịp gọi tên. Khúc sang đông như bản nhạc chậm,
lắng lại trong hương đồng, trong mưa trên phố biển rì rào những lời tự tình.(Gương
trong soi bóng nắng chiều tan/ Tĩnh lặng theo dòng trôi miên man/ Sóng buồn
không gợn lay theo gió/ Im ắng mặt hồ đón thu sang). Có những ngày xuân
còn vương chút dư âm, lởn vởn nắng xuân trên mái phố cũ. Vạt nắng nghiêng
nghiêng, chạm vào tình xuân, vào chút duyên sót lại của một đoạn đường cũ kỹ.
Nhớ về những ngày phố biển bây giờ, tôi gom nhặt gió đông, vẽ ký họa cho ta những
đường nét xưa cũ mà thân thương. (Nắng xuân lên ấm đôi miền/ Mưa về xuân tưới
xanh duyên má hồng/ Em đi mưa nắng chờ trông/ Có người chín nhớ mười mong mỏi
mòn). Ngoài kia, mênh mang tháp cổ, thời gian như một giấc mơ không lời. Bỗng
dưng, tôi thấy mình lặng lẽ giữa những đoạn khúc bâng quơ, giữa vu lan nỗi nhớ
vơi đầy. Biển vẫn hát, gió vẫn thì thầm, nhưng mây trắng không ngang ngõ nữa.
Phải chăng có những điều khi đi rồi sẽ chẳng quay về? (Mưa trên phố biển
chiều đông/ Đi qua miền nhớ mênh mông/ Ký ức chợt tràn hội ngộ/ Mơ hoang hồ thỉ
tang bồng). Phố biển bây giờ lặng như một khúc hát hai sóng vỗ, chạm vào
lòng người những dư âm dịu dàng. Tôi đứng giữa những mảng ký ức lấp lánh, để thấy
dù mùa có đổi thay, vẫn còn đó những giấc mơ chưa kịp tàn phai…
III. NHẸ NHƯ MỘT TIẾNG THỞ DÀI
Có những chặng đường đi qua bao nẻo, nhưng rốt cùng vẫn quay
về một bến đỗ sâu thẳm trong tâm hồn, nơi ký ức, yêu thương và những nỗi niềm gửi
lại thời gian. PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ của Nguyễn Đức Quận tựa như một
bản nhạc trầm lặng, vang lên giữa muôn trùng thương nhớ, để mỗi người đọc đều
có thể soi thấy bóng mình trong đó. Thơ anh nhắc ta rằng, dù có lạc bước đến
đâu, vẫn luôn có một miền yêu thương vẹn nguyên chờ đợi. Xin gửi đến thi sĩ bốn
câu thơ như một lời tri ân, như một chút nắng dịu dàng đọng lại giữa trang thơ
và nhẹ như một tiếng thở dài: Này dấu chân ngủ quên giữa mênh mông cúc
vàng/ Lênh đênh quả tim gánh tin yêu ruổi rong tứ bể/ Dẫu bàn chân không dẫm những
bước lao đao trên trần thế/ Triệu hạt tâm hồn rót đầy biển tình yêu.
5/3/2025
Võ Thị Như Mai
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Khám phá vương triều Tiền Lý qua tiểu thuyết lịch sử
Khám phá vương triều
Tiền Lý qua tiểu thuyết lịch sử
Thượng tá, nhà văn Phùng Văn Khai là người khá đa di năng. Từ
lúc bước vào văn nghiệp, anh viết ký, truyện ngắn, làm thơ, cày báo… đều đặn,
thuộc dạng “nhạc nào cũng nhảy được” và nhảy khá hay.
Tuy nhiên, thể loại làm nên bản sắc, định vị chỗ đứng của
Phùng Văn Khai trong dòng chảy văn học đương đại nước nhà là tiểu thuyết, cụ thể
là tiểu thuyết lịch sử. Tiểu thuyết Ngô Vương của anh đã đoạt giải
thưởng Hội Nhà văn giai đoạn 2016 – 2019. Trong những ngày cuối năm 2024, anh
đã cho tái bản “seri” tiểu thuyết viết về vương triều tiền Lý gồm Nam Đế Vạn
Xuân – Triệu Vương phục quốc – Lý Đào Lang Vương – Lý Phật Tử định quốc.
Cả bốn tiểu thuyết đều được viết theo dạng tiểu thuyết chương
hồi. Ẩn chứa trong hình hài cổ xưa nhất của tiểu thuyết ấy là một tư duy mới mẻ
và những dự định lớn lao của tác giả. Với bốn tiểu thuyết tái bản lần này, có
thể thấy Phùng Văn Khai đang nỗ lực phục dựng lại cả một giai đoạn quan trọng,
rực rỡ của lịch sử nước nhà, nhưng vì nhiều lí do khác nhau hiện nay vẫn chưa
nhận được sự quan tâm của nhiều nhà văn, vẫn là “khoảng trống” trong văn chương
nói chung, địa hạt tiểu thuyết lịch sử nói riêng. Đó không chỉ đơn thuần là tái
hiện lại những bước thăng trầm của một cá nhân anh hùng hay một triều đại mà
cao còn là quá trình phục dựng lại cả một nền văn minh – văn hóa rực rỡ của dân
tộc trong suốt quá trình dựng nước – và giữ nước cả ngàn năm trên tất cả các
phương diện: nông nghiệp, tâm linh, quân sự, chính trị, ẩm thực, trang phục,
dân gian, cung đình…. Hành trình phục dựng này một mặt tất nhiên phản ánh niềm
tự hào dân tộc, tinh thần ngợi ca tinh thần yêu nước – dựng nước – giữ nước hào
hùng của các bậc tiền nhân, mặt khác – theo tôi cũng là tư tưởng chính xuyên suốt
các tiểu thuyết lịch sử của anh, đó là truyền đi thông điệp về bản sắc độc đáo,
sự sức sống mãnh liệt và sự bình đẳng của văn hóa Việt, dân tộc Việt đối với
các nền văn hóa, các quốc gia láng giềng lớn trong khu vực.
Viết về một thời kỳ mà chính sử lưu giữ không nhiều, chính những
khó khăn trong việc tìm kiếm tư liệu lại là thuận lợi không ngờ tới đối với người
cầm bút. Những “khoảng trắng” chính sử không đề cập là mảnh đất màu mỡ để nhà
văn phát huy trí tưởng tượng, bồi đắp cho đứa con tinh thần những giá trị lịch
sử, giá trị nhân văn, những tình tiết, chi tiết độc đáo mà không chịu sự “ràng
buộc” bởi những quan niệm chính thống, không phải kiêng kị, không sợ “phạm húy”
khi viết. Xét trên phương diện này, Phùng Văn Khai đã làm tốt. Anh phát huy tối
đa trí tưởng tượng, khả năng hư cấu trên cơ sở của dã sử để từ đó tạo cho các
nhân vật lịch sử của mình một sức hấp dẫn riêng. Các nhân vật trung tâm của bốn
cuốn tiểu thuyết là Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Lý Thiên Bảo, Lý Phật Tử cùng
các nhân vật lịch sử khác đều hiện lên một cách “quen thuộc và mới mẻ” trong sự
hình dung của bạn đọc nhiều thế hệ. Về phương diện bút pháp, sự kết hợp một
cách nhuần nhuyễn giữa huyền ảo, lãng mạn, hiện thực đã tạo nên những trang viết
vừa giàu chất thơ, vừa ngồn ngột chất đời sống, lại đậm chất thần thoại, truyền
kỳ trong bốn cuốn tiểu thuyết có sức níu giữ đôi mắt bạn đọc trên khổ sách dày
cộp.
Những điểm trên đem lại cho các tác phẩm của Phùng Văn Khai một
sự vạm vỡ, bề thế cần phải có ở thể loại tiểu thuyết lịch sử. Nó cũng phản ánh
bút lực sung mãn, dồi dào của Phùng Văn Khai ở một đề tài khó, nhiều gai góc mà
chỉ có những người cầm bút thật sự yêu đất nước, yêu dân tộc, yêu lịch sử mới
dám dấn thân.
5/3/2025
Đ.M.T
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Một vọng âm quá khứ hào hùng nhưng lắm đau thương
Một vọng âm quá khứ
hào hùng nhưng lắm đau thương
(Đọc “Hòa âm đêm”, Nxb Hội Nhà văn, 2024 của Trương Tuyết Mai)
Đọc “Hòa âm đêm” (Nxb Hội Nhà văn, 2024) của nhạc sĩ, thi
sĩ Trương
Tuyết Mai, bạn đọc tưởng chừng như nghe được muôn vàn âm thanh của cuộc sống.
Là tiếng thiên nhiên (tiếng gió, tiếng lá, tiếng sóng, tiếng trăng…), là tiếng
đời lăn náo nức. Tiếng vui lẫn tiếng buồn. Tiếng hôm nay và tiếng của ngày xưa.
Tất cả như “hòa âm” vang vọng dội vào trái tim của nữ sĩ. Trong muôn vàn thứ tiếng
ấy, có lẽ tiếng vọng về từ quá khứ là âm sắc đặc biệt vọng động tâm tư tác giả.
Đó là tiếng vọng hào hùng nhưng lắm đau thương của dân tộc ta
trong cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ với mục tiêu Giải
phóng Miền Nam thống nhất đất nước kéo dài mấy mươi năm là bản anh hùng ca mà
dân tộc ta đã viết bằng máu và nước mắt. Nói đến con đường thống nhất Bắc Nam
là phải nói đến con đường Trường Sơn huyền thoại, là con đường huyết mạch cho
miền Bắc chi viện sức người sức của để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trên con đường này, ngày đêm rầm rập đoàn quân Nam tiến và đoàn Thanh niên Xung
phong đi lấp hố bom mở đường. Chính vì thế, Trường Sơn cũng chính là trọng điểm
bắn phá của kẻ thù. Trương Tuyết Mai quê ở Phú Yên, thời thiếu nữ theo cha tập
kết ra Bắc. Ôm hoài bão vào Nam giải phóng miền Nam nhưng mãi đến năm 1974 chị
mới thực hiện được khát vọng này. Nghe và trải nghiệm những gian khổ Trường
Sơn, chị rất thấm thía cái giá đắt phải trả cho Độc lập Tự do. Giờ đây, sống
trong hòa bình, ký ức đau thương một thời chống Mỹ như thường trực sống lại
trong lòng chị. Nên, khi nghe tiếng chim Đồi Thơm hót mà “Những cánh rừng xa/ Bỗng
chấp chới hiện về” (Ơi chim đồi thơm). Những cánh rừng xa ấy chính là
những cánh rừng Trường Sơn. Nơi “Đâu chỉ có sống chết/ Treo sợi tóc từng ngày”,
“Đâu chỉ sốt rét/ Giữa rừng sâu heo hút/ Bần bật run lên cánh võng/ Rồi tàn hơi”.
Vâng, đâu chỉ tử sinh do bom rơi đạn vãi mà còn do sốt rét rừng, do thiếu ăn,
thiếu uống “quay quắt đói lòng”. Ký ức ấy sao có thể quên, nhất là đối với người
trong cuộc. Đồng đội chị chẳng phải là những cô Thanh Niên Xung phong? Chẳng phải
là người lính lái xe Trường Sơn? Đó là lý do khi đã “Ngần ấy năm xa/ Mà lòng ta
mãi tha thiết/ Biển cạn non mòn/ Vẫn yêu lắm- Lính Trường Sơn”. Yêu “Lính Trường
Sơn” bằng một tình yêu “tha thiết” dù “Biển cạn non mòn” cũng không hề đổi
thay. Một tình yêu son sắt thủy chung của những con người cùng chí hướng, cùng
lý tưởng nhưng trên hết là tình yêu, lòng khâm phục và hàm ơn đối với những con
người sắn sàng lấy máu của mình để tô thắm màu cờ Tổ quốc.
Một trong những trọng điểm bắn phá của kẻ địch còn phải kể đến
dòng sông Thạch Hãn. Bởi dòng sông này là con đường huyết mạch bảo vệ Thành cổ
Quảng Trị. Dòng sông này cũng là nơi “nằm lại” vĩnh hằng của biết bao anh hùng
tuổi trẻ. Viết về Thạch Hãn đã có bốn dòng thơ khắc đá của Lê Bá Dương nhưng có
ai ngăn được cảm khái dâng trào của người cầm bút khi “nghĩ đến” nơi này.
Trương Tuyết Mai cũng không ngăn được dòng nước mắt khi nhớ lại ký ức bi tráng
mà rất đỗi hào hùng gắn với dòng Thạch Hãn. Thi sĩ đã “Thì thầm cùngThạch Hãn” (*).
Thạch Hãn ơi! Thạch Hãn!/ Xin mách bảo dùm tôi/ nơi anh nằm
có ấm/ hay sóng gió tơi bời
Sông ơi nhè nhẹ thôi/ hãy ru anh dào dạt/ Đừng cuộn xoáy dâng
trào/ đừng cồn cào quặn thắt
Chỉ là “thì thầm” thôi nhưng tiếng gọi
có sức vọng động xoáy vào tận tim gan. Đau lắm, “quặn thắt” lắm. Cuộc chiến đã
kết thúc hơn nửa thế kỷ rồi nhưng đau thương, mất mát như vẫn còn hiển hiện.
Màu nước dòng Thạch Hãn hôm nay “xanh” hơn, cuộc sống của ta ngày nay “xanh”
hơn bởi có bao “tuổi hai mươi” đã từng lấy máu của mình “nhuộm đỏ”.
Đâu ngờ lòng tôi vẫn hừng hực lửa
Những năm tháng đau thương
Vẫn không nguôi nhớ…
(Yêu nước
là đặc quyền của người Việt tôi)
“Những năm tháng đau thương” đó là năm tháng nào? Rất rõ
rành, khúc chiết, Trương Tuyết Mai tường thuật lại:
“Ngày ấy- mười bảy tháng Hai năm Bảy chin/ Một bầy thú dữ/ Với
đầy đủ chiến tranh hiện đại/ Sáu mươi vạn giặc Tàu/ ngang ngược tràn qua”.
Thì ra, hết giặc Mỹ lại giặc Tàu. Không phải giặcTàu của hơn
nghìn năm trước mà là giặc Tàu của thế kỷ XX lăm le đánh vào biên giới phía Bắc
nước ta ngày 17/2/ 1979. Rất cụ thể rõ ràng về ngày tháng năm giặc Tàu “ngang
ngược tràn qua” và cũng rất cụ thể về số lượng “sáu mươi vạn giặc Tàu”, quả là
con số “biết nói” về mộng xâm lược của kẻ thù phía Bắc. “Giặc phía Bắc nước
ta đời đời hiểm độc”, đó là lời đúc kết của Trương Tuyết Mai dựa vào thực tế của
lịch sử hàng nghìn năm ta đánh Tống, diệt Nguyên, bình Minh, đạp Thanh và cả
hôm nay:
“Chúng đâm Hoàng Sa, Trường Sa/ Đâm Gạc Ma sóng dậy/
Xúi Khơ Me Đỏ/ Đâm Tây Nam biên giới/ Máu dân lành/ Chảy thành suối thành
sông…”
Đây chẳng phải là một bản cáo trạng đanh thép lên án tội ác của
giặc Tàu. Là người yêu nước, đương nhiên không thể không sục sôi, căm hận và
đương nhiên không thể không tuyên bố với kẻ thù rằng:
- Chống giặc ngoại
xâm vẫn nguyên bầu máu nóng
Việt Nam tôi không
chùn bước bao giờ
Rất khẳng khái, rất hào sảng. Tưởng như nghe đâu đây âm hưởng
lời hỏi tội của tiền nhân “Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh
tơi bời” và lời kêu gọi kháng chiến của Bác Hồ “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ
nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Vì một lẽ dễ hiểu: Yêu
nước là đặc quyền của người Việt tôi (*).
Biên giới Tây Nam- Việt Nam, nơi xảy ra vụ thảm sát Ba Chúc,
một tội ác chiến tranh gây ra bởi chính quyền Khmer Đỏ cũng là một ký ức Trương
Tuyết Mai không quên:
- Ba Chúc ơi, Ba Chúc/ bầm gan tím ruột nỗi đau sâu/ Ta nhất định
tìm ra/ Kẻ thù giấu mặt. (Chới với những bàn tay)
Tiếng gọi “Ba Chúc ơi, Ba Chúc!” trong nỗi thảng thốt bàng
hoàng, đớn đau vô hạn. Chẳng phải đây là “nỗi đau sâu”? “Hàng ngàn người ngã xuống”
chỉ trong vòng mươi ngày thôi sao chẳng “bầm gan tím ruột” cho được. Lý do bị
thảm sát là gì mãi mãi là câu hỏi lớn “Mãi không thể hiểu vì sao”, vì kẻ thảm
sát là “Kẻ thù giấu măt”. Kẻ thù thì “giấu mặt” còn chết chóc tang thương thì cứ
phơi bày.
Đau thương, chết chóc đâu chỉ hiện diện lúc xảy ra chiến
tranh mà hệ lụy của chiến tranh kéo dài không lường được. Đó là bi kịch chất độc
da cam. Mượn “Lời ru” (*) của người mẹ, thi sĩ tái hiện bi kịch
này:
“À ơi à/ Con có nghe mẹ hát/ Ru những đôi mắt mở dáo
dác/ Ru những cái đầu to/ Ngơ ngác vô hồn”.
“Con có nghe mẹ hát/ Ru nỗi niềm cháy khát/ Linh nghiệm một phép màu/ Trả về cho các con/ Những hình
hài nguyên vẹn”
Cũng viết về nỗi đau da cam, nhà thơ Lệ Thu (nhà thơ cùng thời
với Trương Tuyết Mai) đã để cho người mẹ khấn cầu: “Tôi khấn lạy mười phương/ cầu
cho con tôi mở mắt/ cầu cho con tôi mọc tay chân” và kêu cứu “Có ai cứu con tôi
không/ hỡi nhân loại toàn cầu/ Đi-ô-xin là gì/ ai rải xuống đất này chi?/ làm
cho con tôi không thành hình vóc/ chỉ cục thịt vô hồn làm sao sống giữa thế
gian” (Mầm xanh của mẹ). Trương Tuyết Mai không van lạy cũng không kêu cứu hay
hỏi tội ai mà chỉ tin vào “Linh nghiệm một phép màu/ Trả về cho các con/
Những hình hài nguyên vẹn”. Phép màu hẳn không xuất hiện giữa thế gian đầy
rẫy tội đồ nhưng mẹ vẫn “cháy khát” niềm tin vào thần linh bởi không còn con đường
nào khác để cứu con mình. Mẹ ru con nhưng cũng chính là ru lòng mình vậy. Ru một
niềm tin không bao giờ thành hiện thực. Lúc cất lên tiếng ru thê thiết cũng là
lúc mẹ đứng trên đỉnh của nỗi đớn đau, tuyệt vọng, hãi hùng. Tiếng “À ơi à” như
cắt cứa tim gan.
Khi xem bức tranh “Ôm trọn nỗi đau” của họa sĩ Trịnh Thanh
Tùng, hình ảnh người mẹ trong tranh “Giống như chiếc bóng/ bà ngậm ngùi cúi xuống/
Quàng tay ôm/ những đứa trẻ vô hồn” đã khiến cho “Người xem tranh-chôn chân
-hóa đá”. Nếu nỗi đau người mẹ trong tranh được họa sĩ khắc nổi bằng sắc màu
thì nỗi đau tê điếng lòng của người xem tranh được Trương Tuyết Mai để cho hình
ảnh thơ “chôn chân- hóa đá” cất tiếng. Bởi người xem tranh đã nhập thân vào
nhân vật trong tranh, lấy nỗi đau của nhân vật làm nỗi đau chính mình. Và, bởi
người xem tranh cũng mang trái tim người mẹ. Rõ ràng, đau thương do chiến tranh
mang lại không chừa một ai nhưng có lẽ người gánh chịu nhiều nhất vẫn là người
mẹ
Còn và còn rất nhiều bi kịch do chiến tranh mang lại không
sao kể hết. Nữ sĩ chỉ có “Điều ước giản dị” (*) này: “Cho thế giới yên lành sau
trước/ Hiền hòa chân thiện/ Không súng gươm”.
Gọi “Hòa âm đêm” là bài ca khát vọng? Đúng. Khát vọng tình
yêu đôi lứa hạnh phúc viên mãn. Khát vọng tìm về ngày xưa có bóng dáng mẹ hiền,
có tuổi thơ hồn nhiên. Khát vọng cho bao cuộc đời, bao phận người thoát khỏi
bóng đêm, sống đời hạnh phúc. Khát vọng xóa bỏ bất công, xua tan cái ác, cái xấu.
…Nhưng có phải khát vọng nào cũng thực hiện được đâu khi thời gian khắc nghiệt
cứ chảy trên phận người, khi mà mỗi cá nhân không đủ lực. Nên, bài ca này điệu
buồn nhiều hơn điệu vui. Trong điệu buồn đó, ngòi bút Trương Tuyết Mai chạm đến
ký ức chiến tranh. Mà nói đến chiến tranh là nói đến mất mát, đau thương, hy
sinh, chết chóc tức là nói đến chuyện buồn. Nhưng Trương Tuyết Mai viết về chiến
tranh không phải để buồn mà là để nhắc nhở mình đừng quên quá khứ đau thương của
dân tộc, đừng quên cái giá đắt mà dân tộc ta phải trả cho Độc lập Tự do, để niềm
tự hào dân tộc luôn chảy trong huyết quản mình. Biết ơn quá khứ, soi mình vào
quá khứ của dân tộc để tôi rèn nhân cách, di dưỡng tinh thần, để mỗi bước đi của
ta vào cuộc sống hôm nay thêm ý nghĩa, phải chăng đó là tâm niệm của nhà thơ?
Đó cũng là đạo lý sống “Uống nước nhớ nguồn”. Lời nhắc nhở này là hành trang
Trương Tuyết Mai mang theo bên mình trong hành trình “làm người” đầy kiêu hãnh.
Đến nay, nhạc sĩ, thi sĩ Trương Tuyết Mai đã bước vào tuổi bát tuần mà vẫn
không ngừng cống hiến cho đời bằng những sáng tạo nghệ thuật như lời chị thầm
nhủ “Ta là ngọn đèn/ Cạn dầu/ Lụn bấc/ Chẳng còn gì/ Cũng mong cháy hết mình/ Dẫu
không đủ sưởi trái tim/ Cũng ấm được bàn tay”.
“Hòa âm đêm” là kết tinh của một trái tim biết nghe, biết
nghĩ, biết thao thức cùng dân tộc mình của nữ sĩ Trương Tuyết Mai.
Chú thích:
(*) là tên một số bài thơ trong tập thơ này.
Bình Định, 15/3/2025
Tuệ Mỹ
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Một đêm trăng không dễ có ở trên đời
Một đêm trăng không dễ có ở trên đời!
(Cảm nhận “Đặng Nguyệt
Anh thơ chọn tập 1”)
Thực tế, Đặng Nguyệt Anh là
một nhà thơ. Nhưng khi gấp “Đặng Nguyệt Anh thơ chọn (tập 1)” lại,
trong tôi đong chứa không chỉ là tiếng thơ “Giữa lại những trầm tư yên ắng”,
những “Mơ ước” và “tương tư nắng”. Mà còn là một hiện hữu, một
giấc mơ ngọt ngào dễ gì có được trên đời. Một huyền thoại, vâng! Nhưng đã thành
thực theo cách thật kì diệu: “Nguyệt” nơi “Mảnh trăng cuối rừng” đang
bước ra từ giấc mộng đêm hè hôm ấy, ngước nhìn lên bỗng thấy những tán lá kết
vòm ôm lấy trăng sáng trên nền trời xanh sâu thẳm nơi “Rừng núi hoang vu.
Trăng hạ huyền làm ta [sao khỏi] chới với”. Đặc biệt, con đường ban đêm với
ngàn sao nhấp nháy như những đôi mắt biếc nhìn xuống trần gian từ tiên thiên...
thật giàu nhạc tính...Thơ khác nào trăng kia nở ra trong vắt, có chút bí mật và
xa lạ như được tẩm ướp trong bầu không vô trùng không chút tạp chất: “Trăng
xa soi tỏ lòng người/ trăng trân trọng cả những lời tử sinh/ nhưng…một cõi
riêng mình/…/ Trăng vi diệu sống thanh tân một đời”.
Chính cái đêm như thế! Cái đêm trăng trong sáng lạ thường với
bước chân thiếu phụ hối hả đường khuya vào Nam ra Bắc để tìm chồng viễn
chinh…Và rồi trở thành cô du kích giữa đường rừng/ đời “muôn nẻo nắng
mưa”. Trải nghiệm những cung đường trăng đầy hoa lửa, hồn thi nhân nhận thức
và thấm nhuần “Cõi người còn lắm giá băng/ trăm năm mời ghé cung hằng dạo
xuân”.
Vâng! và cũng chính từ cái đêm trăng nước mộng mơ. Cái đêm
trăng cũng đầy lạnh lùng xa cách chốn đường khuya nẻo vắng giục lòng chiến thắng
đó, một nữ nhân nương theo lối mòn Trường Sơn tìm phu quân đã trở nên kiên
trinh, như bông hoa tỏa hương dọc chiến hào: “Ta đợi trăng đi những bước
trập trùng cao thấp mộng du/…/ Mình ta thức với xanh xao núi rừng/ À ơi ta cõng
trên lưng/ À ơi ta ủ trong lòng. À ơi!...”
Thời/ không nghệ thuật ngập tràn ánh trăng. Thứ ánh sáng thượng
tuần trong xanh, diệu vợi. trăng theo thiếu nữ đi về miền nhớ: “Bâng khâng
về người xuân cũ/ một trời lãng đãng phấn hương say”. Ngược lên non ngàn
hay một chiều Paris, nơi vạn lý quan san, trăng dọi sáng đôi bờ êm đềm sông
Đông. Dưới dòng sáng lấp lánh sự sống ấy, mọi thứ dường như đang âm thầm lặng lẽ
nở ra những điềm an lành đẹp đẽ ẩn hiện với những nét trang nhã, thanh kỳ, mỹ lệ
đến không ngờ. Đó là “ngọn lửa hòa bình không bao giờ tắt”. Đêm
rừng ấy bản hòa sắc trữ tình ngân vang: “Từ em/ gọi nguyệt về trăng/ là
khi tôi đã gọi rằm/ sang đêm/ Hoang sơ/ một lối cỏ mềm/ cháy lên em.../ thắp
sáng miền nhân gian!”.
Thưở ấy, người con gái sông Ninh xuân xanh rạng ngời đã vội
trùng biệt viễn ly với người chồng đương kì mặn nồng gối chăn và rồi đằng đẵng
triền miên “Chưa kịp lành vết thương/ đất nước lại đạn bom chinh chiến” .
Cung đường trận mạc lỗ chỗ những hố bom, đêm trường sâu thấn: “sông Ninh
tràn đầy pháo sáng/ sông Ninh tràn đầy thủy lôi/ không làm mềm lòng trai gái
quê tôi”... “Ngoại ơi!” Có phải không? Trong cái đêm “thiếp từng mảng ánh
trăng”(Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu) “ngoại” đã gặp lại ông. Kể
từ đó trong thơ trăng trở thành thi cảm bất tận, ăn ngấm những giọt lệ lung
linh, huyền diệu. Đâu đây trên cảo thơm luôn dậy mùi hương phù sa bãi bồi, những “chân
đê xanh mướt cỏ non/ .../ thuyền ai về neo dưới bóng hàng tre”. Trăng ấm
áp nở sắc trắng tinh khôi lối về bình minh cùng hương rừng Hoàng liên quyến
rũ, “Trời khuya lạc một vì sao/ Để em/ [Ngoại tôi] gửi nhớ thương vào
hương đêm”.
Khi tình nẩy nở, khi tình đơm bông, khi hôn nhân đơm hoa kết
hạt cũng không thể huyền diệu hơn phút giây đó. Phải không “ngoại”? “Phút
giây số phận” (AndreMaurois) trong một đời người. Khoảnh khắc “ngoại” gặp
lại “ông” giữa đêm trăng sáng bừng cả giải ngân hà, nơi tuyến lửa, hay đầu sóng
ngọn gió...Gặp lại lần này là minh chứng/ đóng đinh lòng son sắt vợi sâu, viết
nên câu chuyện trăm năm đời người và nghĩa tình chồng vợ tựa thiếp vàng sơn
son. “Ngoại” đã từng “Lặng im” (tr46) nén tang tóc thời thế: “Anh
đâu”/.../ “Em như nắng gió trăng sao dõi tìm”. Để rồi hôm nay, khuôn dáng “trời em áo lụa”/…/ “mắt thu biếc nắng”/…/ “một đời
ai thực ai mơ”. “Ngoại” tỏa rạng hơn, bừng sáng hơn và ngàn lần cao quý
hơn so với “thuyền trăng…/ trắng trong ngân hà”.
Khoảnh khắc đó/ Đột nhiên/ Cỏ cây chim thú/ Đình cuộc
chiến tranh/ đã tiếp diễn bao đời (Khoảng khắc đó – Maicơn
Đâyanăng). Hồn thơ “Bồi hồi tháng giêng nhịp xuân trong vắt. Nguyên sơ đất
trời phút giao hòa. Nhân loại sinh thành cho em gặp anh. Vườn ngát hương cau quấn
quýt giây trầu. Truyền thuyết tình yêu bắt đầu từ đấy.” Ngày đó ngoại thật
xinh đẹp trẻ trung như trăng non đầu tháng. Cô gái vận áo xanh và “Mình ta
thức với xanh xao núi rừng”. Hình ảnh nàng thơ giữa đêm trường cô tịch đã xóa
đi cảm giác ưu sầu, lạnh lẽo, thổi vào không khí cô liêu một ý vị trữ tình ấp
iu, nồng đượm. Và dưới hằng hà sa số tình cảm ánh sáng kia, “ngoại” lả lướt hơn
trong màu áo xanh, thêm phần hư ảo: “Xa xưa từ vạn kiếp rồi/ hình như ai
đã ngỏ lời... hình như/ trăng thì vẫn cứ mộng mơ/ cứ huyền ảo, cứ thực hư giữa
trời”.
Trong cái đêm bất thường ấy, người thiếu nữ hiện lên phi thường.
Không chỉ là một cô gái như mảnh trăng thanh tân, xinh đẹp mà còn là một mảnh hồn
trần gan góc, xốc liệt đạn bom: “Xin lau lách đưng phủ đường nhan sắc/ Bão
giông ơi đừng lấp lối nhu mì/ Và đức hạnh: thiên đường hay địa ngục/ Cứu em nào
qua phận mỏng nữ nhi”. Nó tạo nên vẻ đẹp trong thuần nhất quán, chín và
hoàn thiện một cách kì diệu mà, nói như một học giả, tự thân nó đã là sức mạnh: “Thật
nàng đấy ư?/ Li ti những giọt trăng đang tan ra, thấm vào hoa cỏ đất đai. Vũ trụ
chuyển hóa. Ta ngu ngơ cuồng si, phiêu bạt mười phương, nửa kiếp phong trần.”
Có thể nói rằng, dọc chiến hào luôn có dấu chân của tình yêu
đôi lứa: “Tôi đi trồng gió mỗi ngày/ Hồn tôi giờ đã xanh đầy gió non”.
Tình ái quốc lồng trong sự bền bỉ, son sắc đợi chờ và niềm cảm dũng chiến đấu: “Con
đường gần con đường xa/ Đi bên nhau để mặn mà yêu tin/ Để rồi thao thức từng
đêm/ Cho trang thơ cũng say niềm khát khao”... Trên con đường đi tìm hạnh
phúc “ngoại” đã hóa thành cô xung kích, để tới đích hai trái tim tuổi trẻ phải
đổi bằng giá máu... Nhưng phải chăng là thế này “Hạnh phúc thực hơn mọi điều đã
tả - Lại ngọt ngào kì lạ, lớn lao hơn” (Bằng Việt)? Nhưng có phải chăng là thế
này “bắt đâu từ đâu nhỉ?/ Từ tấm lòng mùa thu/ Yêu thương và tha thứ/
Không oán ghét hận thù”. Đã có một đêm như thế. Một đêm chiến tranh thanh
bình yên ả “Trăng lên như thể con thuyền/ buồm căng thương nhớ/ trôi quên
ngân hà”.
Hồn thơ trong sáng vời vợi đã nẩy nở từ “Vàng son thời
thiếu nữ/ Thương mình tím hoàng hôn”. Một giấc mơ thi vị đã thành thực ư! Vâng!
Thực hơn thế là “ngoại” của hôm nay chưa bao giờ quên cái phút giây gặp lại
nơi “trời thu trong vắt” đó. Và có phải thế này chăng, từ buổi hạnh
ngộ cho mãi về sau “Trăng” đã trở thành điểm tựa tinh thần sáng mãi trong tâm hồn
“thiếu nữ”:: “Ngày xưa/ trăng nõn trăng non/ Chỉ thương chú cuội/ mỏi mòn
gốc đa/ Bao nhiêu tuổi nữa trăng già/ Gió hoang thổi dạt Ngân Hà/ về đâu?”.
22/3/2025
Tuấn Trần
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Vũ điệu tái sinh trong từng cơn đau
Vũ điệu tái sinh trong từng cơn đau (Đọc “Nghiêng về phía nỗi đau” tập thơ của Trịnh Bích Ngân, NXB Hội Nhà văn, quý II, 2024) Đúng là có ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Sống ở phố, viết về phố, vài nét về văn chương đô thị “Sống ở phố, viết về phố”. Thiển nghĩ, đó là cách nói giản dị hóa, nhẹ nhàng hóa để ...





