Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

 

Hồ Anh Thái ‘nhặt’ được ‘Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân’

Đọc cuốn sách mới “ra lò” của nhà văn Hồ Anh Thái, dày 469 trang, chữ hơi nhỏ, trong ba ngày liền không rời, nghĩa là nó cuốn hút ghê gớm, đủ sức lôi tôi ra khỏi giá vẽ và cả giấc ngủ của hai đêm.

Một câu chuyện được kể trong Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân, nếu tóm tắt thì rất ngắn: trong khách sạn sân bay, người đàn ông nhặt được một tập bản thảo, in ấn đóng xén như một cuốn sách thông thường. Nhưng đọc xong tập bản thảo thì mọi biến cố xảy ra sau đó dẫn anh ta vào một tình huống: ta đọc một cuốn sách bất kỳ rồi phát hiện ra rằng ta có thể chính là người viết ra cuốn sách ấy.

“Một khi tác phẩm vượt quá lãnh địa của nhà xuất bản, tác phẩm trao quyền định giá cho người nào có dịp đọc nó…”.

Nhưng câu chuyện ấy trải dài gần 500 trang sách, trang nào cũng khiến ta khóc, cười, ngạc nhiên và thú vị, bởi ta thấy lấp lánh những hạt tri thức mà cây bút đầy “ma thuật” của Hồ Anh Thái như vô tình đặt vào giữa câu chuyện ấy.

Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân kể về việc một “anh” bị nhỡ chuyến bay vì cái khái niệm 0 giờ (trong thực tế rất nhiều người bị nhầm, tôi cũng bị một lần như thế). Vé ghi 00:15, tức là người bay phải đến nhà ga từ đêm hôm qua. Nhân đó anh nghĩ về việc giờ thứ 24, thực sự dường như nó chỉ có 1 giây. Từ 23 giờ 59 gì đó, nó nhảy phắt sang 0 giờ… Được “cô hàng không” gợi ý, anh chờ nếu có người bỏ chuyến anh sẽ được bay. Và trong lúc chờ, anh quan sát được ối thứ xảy ra. Trong đó có việc liên quan với một cô chân đầy lông…

Nhân vật của Hồ Anh Thái không có tên người cụ thể (ông Vinh, chị Quang, anh Nam, chị Bắc), mà chỉ là “anh”, là “người giọng nữ trầm”, “chân nhiều lông”, “cô hàng không”, “chị giày đỏ”, hoặc “em bé”, hoặc “mẹ cô ấy”. Thủ pháp này khá đặc biệt, làm nên sự thú vị cho người đọc.

Hồ Anh Thái làm tôi luôn ngạc nhiên, không chỉ kỹ, vô cùng kỹ về chữ và nghĩa, ông luôn làm mới trong những hình thức của câu. Tôi thích thú với những gì ông viết về sự sống và cái chết, triết lý về Phật, về cõi tạm, rất nhẹ nhàng, dễ hiểu, bằng ta đọc hàng trăm trang giáo điều khác.

Ông diễu nhại một nhà sư với “quẻ bói”:

“Anh chỉ còn được sống ba năm nữa thôi. Trong người anh chất độc tương đương ba viên đạn súng ngắn. Nhưng. Biết thì không chết. Tôi. Sẽ chữa. Cho anh. Sẽ. Được 10 năm”.

“…Anh không nói ra miệng nhưng trong lòng thầm đáp lời ông sư. Tôi chưa nhiều tuổi, nhưng thế giới này tôi đi đã nhiều. Tôi đã được đi những nơi tôi muốn, đã được làm công việc mình thích, cho nên khi nào được gọi đi hẳn thì tôi cũng sẵn sàng. Ông là người nhà Phật, ông biết Phật nói gì rồi? Thế giới này chỉ là nơi ta đến thăm trong chốc lát rồi đi.

Đúng thế. Chẳng có du khách nào lấy cớ điểm du lịch này đẹp mà đòi ở lại vĩnh viễn. Dù có thích đến mấy thì hết thời gian thăm viếng, du khách nào cũng phải chia tay để ra về. Cuộc trở về ấy chỉ là sự chuyển kiếp, chỉ là giấc ngủ dài…”.

Đời sống hiện thực ngồn ngộn trong Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân. Từ chuyện trong chùa, ngoài đền: “…chùa chiền bây giờ không còn chỗ cho người ta ngồi một mình mà ngầm nghiền ngẫm, suy tư. Chùa chiền lúc này cũng đông nghịt như gala đại nhạc hội, hội trường phổ biến các quy định bán hàng đa cấp…”.

“…ra khỏi cái trạm ấy rồi, tự nhiên lại tức. Chốn thiêng đền thiêng. Mà chính quyền đâu, lại để bọn làm tiền hoành hành ngang nhiên. Tức. Hết cả cảm hứng. Tự nhiên nổi giận một mình…”, đến chuyện “Việt Minh ta giỏi lắm… Tây lông chết có phải vì chó dữ cắn đâu, Việt Minh đấy…”. Chuyện bà mẹ là dịch giả hẳn hoi mà quên hẳn con, từng có những đứa con…

Đọc, chúng ta sẽ thưởng thức câu chuyện theo cách khác nhau. Nếu quan tâm đến văn hóa tâm linh, đến chính trị, đến thể chế hay đến cung cách sống và làm việc của người Việt, ta cũng nhận ra ngay, dù giọng văn tưng tửng, như thể chỉ phớt qua.

Rồi cũng bâng quơ nhắc về tình trạng báo chí thông tin của hiện tại, anh rất hóm hỉnh gọi khám xét là “kiểm tra an ninh”; “…nhưng mấy ngày sau thì thông tin muộn trên báo chí và trên mạng xã hội mới biết là một kiểu kiểm tra khác, đấy là khám phụ khoa” (trang 25). Nhân việc khám phụ khoa để phát hiện ai vứt thai nhi trong phòng vệ sinh mà ông nói: “…công dân dân chủ tranh thủ thời gian xếp hàng khai sáng văn minh dân chủ cho công dân nước độc tài nhưng thời gian có hạn, cho nên độc tài có vẻ vẫn bền vững…”. Kết cục chẳng tìm ra thủ phạm. Báo chí cũng hăng hái, cũng chỉ hăng hái trong những vấn đề thuần túy nhân quyền… nhưng có vẻ lúng túng trong việc giới tính…

Viết ngon ơ. Chẳng như những tràng giang đại hải của ai đó về khái niệm dân chủ hay độc tài.

Hay chuyện đi du lịch thăm núi lửa, ở đó có ngôi đền thiêng…

Cứ núi nào cao, tháp nào cao đều gọi là Meru. Ngọn đại Meru… “…vừa đi vừa truyền nhau cái huyền thoại từ thế kỷ thứ 15… Vì lời hứa của vua cha với thần linh và lòng dũng cảm giữ lời hứa của chính mình, hoàng tử (người con thứ 25 của vua) đã nhảy vào lòng núi lửa… Nhiều người đến chỗ đó đem theo vật phẩm (hoa quả, bò, gà, quần áo mới…) và lòng tin, họ coi đó là lễ vật, họ ném vào (cái gọi là) miệng núi lửa…

Cô gái đi du lịch leo lên rồi bị ngã bên bờ miệng núi lửa… mọi người hò hét ra sức lôi cô ta lại… Lúc cô ngã dốc đầu xuống, chiếc váy cũng úp ngược xuống như một cái ô bị cơn cuồng phong làm cho cụp ngược… Khi được lôi lên, chiếc váy lại như cái ô cụp lại đúng chiều, anh nhận ra hai cẳng chân bên trong cái váy là cẳng chân đàn ông đầy lông lại còn xoăn xoăn… khiến người đọc sẽ cùng “anh” “…chết đến phao câu cũng vẫn phải cười”.

Đọc đến đấy ta hiểu ra rằng người đời bây giờ nhân rộng các truyền thuyết, các sự tích để lừa, như kiểu sư bói “anh sẽ chết sau 3 năm vì trong đầu anh có độc… và tôi sẽ chữa khỏi cho anh”…; “có người hiến tế thì cũng có người đi hôi, đi nhặt những của hiến tế mà thôi…”.

Ôi, cuốn sách này khiến tôi vừa chết cười, nhớ đến gương mặt điển trai hổ của Hồ Anh Thái, một người mê nhạc, hiểu âm nhạc và thích nghe Lê Dung hát (nghe đi nghe lại không biết chán). Một người làm tròn trách nhiệm nhà ngoại giao ở chức Phó đại sứ thâm trầm. Vừa thấy ông là người thành tinh trong việc sử dụng ngôn ngữ diễu nhại hiếm có.

Ôi ông Thái Phó đại sứ ơi, tôi cứ nghĩ ông hoàn toàn cấm cung trong địa hạt tinh hoa, từ thảm trải phòng đến những bắt tay ngoại giao và nghi lễ cổ điển. Ông không biết gì, không bén mảng gì đến đời sống xã hội lầm than, những chuyện nực cười, những chuyện không thể tin được… Nhưng ông biết quá nhiều. Ông biết hết, chỉ là ông lùi lại để quan sát. Để ông sử dụng những chi tiết đó cho những sáng tác của ông. Và từ đó ông đưa tư tưởng của một trí thức vào một cách bình dị cho các tầng bạn đọc đều có thể hiểu.

Đoạn cuối – phần Sáu, “Đọc sách khiến ta thành tác giả”, một lần nữa, ông khuyến khích tất cả người đọc chỉ bằng một câu ấy.

Câu chuyện nhẩn nha nhiều chi tiết, nhiều chuyện trong một truyện.

Trở lại chuyện tập bản thảo đến với “anh”, theo trình tự: “Anh nhặt được tấm bản thảo in ấn, đóng xén hoàn chỉnh như một quyển sách trong sảnh lễ tân của sleep post. Tác giả của bản thảo để lại địa chỉ email, mong chờ người nào đọc thì cho ý kiến phản hồi. Anh đọc. Cuốn sách viết về hai thế hệ trong một gia đình. Rồi anh nhận được thư của nhà xuất bản gửi cho anh, thông báo rằng họ quyết định in. Tuy vậy, nhà xuất bản đề nghị anh bổ sung phần viết về thế hệ thứ ba của gia đình. Thư qua thư lại, anh muốn chứng tỏ mình không phải là tác giả. Nhưng việc bức thư dứt khoát đổ về hộp thư của anh lại chứng tỏ nhà xuất bản và ai đó vô hình đều định rõ tác giả là anh…”.

“…Có cái bẫy nào ở đây chăng. Bẫy điện toán? Nhà xuất bản vô hình?… Nhưng nếu anh bấm nút gửi đi, anh chính thức nhận mình là tác giả. Nếu anh không gửi đi, anh cứ giữ lại, bản thảo sẽ được in ra mà không có phần viết về thế hệ thứ ba. Câu chuyện về một gia đình sẽ không trọn vẹn. Thiệt thòi cho nhà xuất bản, thiệt thòi cho độc giả, thiệt thòi cho tác giả.

Mà hình như tác giả là anh. Trong một giấc mơ nào đó hoặc trong một cảnh giới nào đó, anh đã viết sách, đã in ấn thành năm bản rồi đi, bỏ vào sảnh lễ tân khách sạn, bỏ vào câu lạc bộ, bỏ vào văn phòng du lịch. Anh đã chờ năm này qua năm khác xem có ai gửi lời nhận xét đến cho mình không.

Anh không còn tin vào các nhà xuất bản. Họ chỉ có mỗi việc treo biển nhà xuất bản lên, xin nhà nước cái trụ sở, rồi họ ngồi vào đó và đeo khẩu trang im lặng. Bản thảo gửi đến, họ nhận được và im lặng. Tác giả hỏi ý kiến thì họ lắc đầu. Sai lắc. Im thin thít. Hoặc sai lắc giờ chỉ anh còn hy vọng vào phán quyết của những người đọc vô hình.

Anh nhớ có nhà văn lớn từng nói, nhà văn làm nên nhà xuất bản và nhà xuất bản làm nên nhà văn. Ở xứ này thì nhà văn không làm nên nhà xuất bản, mà nhà xuất bản cũng không làm nên nhà văn…”.

Đọc đến đây, tôi muốn dừng lại để khóc đã. Vì hay. Vì trúng và đúng. Xứ này là xứ nào, tùy bạn đọc hiểu thôi.

Văn của Hồ Anh Thái lôi cuốn người đọc trước hết bởi, như đã nói, anh sử dụng thủ pháp hiện thực huyền ảo (như người ta vẫn gọi – một thi pháp thực thực ảo ảo). Các chi tiết có thực ở đời thường được sử dụng rất sống động, hài hước và dí dỏm nhờ quan sát kỹ lưỡng, miêu tả sáng sủa, cuốn hút. Giọng văn có nhạc tính, đọc rất dễ chịu như một cuốn thơ, nhưng nó chuyên chở những điều to lớn và căn bản của tư tưởng, của thái độ nhà văn.

Vì thế câu chuyện kéo dài mà không nhàm chán.

Không dễ gì để làm được như thế. Ví như trong hội họa, vẽ hiện thực cổ điển đã khó; hiện thực mà pha ấn tượng, sử dụng bút pháp biểu hiện lại càng khó. Sao cho người thưởng thức tác phẩm chỉ dùng trực giác cũng hiểu, mà dùng cả lý trí cùng những kinh nghiệm kỹ thuật ở tầng “smart” cũng thích thú là một điều vô cùng khó.

Tôi thấy cuốn sách này của Hồ Anh Thái nó như thế, khiến cho người ta không thể nhàm chán và càng ngắm, càng đọc càng thích. Đọc lần sau lại phát hiện thêm một tầng ngữ nghĩa nữa.

Cần nói thêm, trong sách, Hồ Anh Thái có trích dẫn ca từ của một số ca khúc. Nhân thể nó nằm trong câu chuyện của anh thì anh nhắc đến, như một thứ gia vị cho một món ăn đẳng cấp. Đọc sách của Hồ Anh Thái, tôi lại nhớ đến những nhạc sĩ Hoàng Vân, Nguyễn Tài Tuệ… Tác phẩm của họ sử dụng nhiều chất liệu dân gian, nhưng toàn thể cả nhạc và lời đều là hàn lâm, bác học. Vì thế nên những tác phẩm ấy đi cùng năm tháng, dù bất cứ vang lên trong giai đoạn lịch sử nào, thể chế nào…

Thông tin về nhà văn – nhà ngoại giao Hồ Anh Thái

Sinh năm 1960, Hồ Anh Thái không chỉ là nhà văn mà còn là một nhà ngoại giao, từng là Phó đại sứ ở Iran. Chính những năm tháng công tác tại nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Ấn Độ, đã mang đến cho sáng tác của ông một chiều kích văn hóa rộng mở, nơi các yếu tố phương Đông, phương Tây, hiện đại và huyền thoại giao thoa một cách độc đáo.

Về tác phẩm, Hồ Anh Thái có một khối lượng sáng tác phong phú, đa dạng về thể loại. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như: Người đàn bà trên đảo; Cõi người rung chuông tận thế; Mười lẻ một đêm; Đức Phật, nàng Savitri và tôi; Tự sự 265 ngày; Bốn lối vào nhà cười.

4/4/2026
Trần Thị Trường

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nỗi đau trần thế trong “Hai phía phù sinh” của Nguyễn Thúy Quỳnh

Không phải ngẫu nhiên, ngay lời đề từ Hai phía phù sinh (Nxb. Hội Nhà văn, H.2018) Nguyễn Thúy Quỳnh viết: “thả bầy chữ qua cánh đồng, dòng sông, những cơn dông qua thăm thẳm bóng đêm về miền Ánh Sáng”.

Đây cũng là tâm thức chi phối thế giới nghệ thuật trong tập thơ, và xoay quanh tư duy thơ thấm đẫm tinh thần hiện sinh nhân bản, Nguyễn Thúy Quỳnh đã bày tỏ những ưu lo của mình về một cõi nhân gian đầy rẫy những khổ đau mà con người phải gánh chịu trong hành trình sống của chính mình. Một nỗi đau mà đức Phật đã khái quát một cách đầy hình tượng trong một tư duy triết học để chúng sinh có thể cảm nhận được khi Ngài cho rằng: “Đời là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước bể”. Còn nhà thơ Etophi của Phi Châu, nơi mà đói nghèo và chết chóc luôn trùm lên số phận của bao kiếp người thì xót xa thở than: “Buồn đau là biển cả /Sung sướng là ngọc châu/ Khi mò được ngọc châu dưới biển/ E nửa vời tan nát biết đâu?”.

Thật vậy, thân phận của con người trên cõi trần thế này thật mong manh, vì thế hạnh phúc nếu có cũng chỉ là màn sương hư ảo.  Và thơ Nguyễn Thúy  Quỳnh cũng đã bước đầu chạm đến những suy nghiệm mang màu sắc hiện sinh này. Thế nên, hiện diện trên những trang thơ của chị là muôn triệu sinh linh bé bỏng đang đối diện với sự sống và cái chết; hạnh phúc và bất hạnh; Sự thật và giả dối; tốt và xấu đang hiển lộ trong từng khoảnh khắc của hiện hữu…Sự vận động, giằng co giữa những đối cực của thế giới muôn hình vạn trạng sắc màu, cung bậc trong Hai phía phù sinh diễn ra căng thẳng, dữ dội, khốc liệt. Và như một tất yếu của sự khủng hoảng trong xã hội mà mọi giá trị đều bị đảo lộn nên nhiều khi cái ác đã thắng cái thiện, lẽ phải, công lý, sự chân chính, thật thà bị nhấn chìm bởi những phi lý, bất công, gian xảo, lọc lừa, trí trá nhưng đầy quyền lực…khiến cho mọi sinh linh bị đẩy vào chân tường của bi kịch. Song dẫu sinh linh trên cõi trần thế này có bị chìm đắm trong tận cùng của bi kịch, thì cuối cùng, nhân loại vẫn tiếp tục cuộc hành trình hướng về miền ánh sáng, dẫu có phải đánh đổi bằng máu và nước mắt – đó là thứ ánh sáng cuối cùng còn sót lại có thể cứu rỗi con người, gieo hạt niềm tin khi tất cả đang chìm trong đêm đen mờ mịt. Hai phía phù sinh đúng như tên gọi của nó mang màu hiện sinh rõ nét, cho nên tập thơ đã khơi gợi trong bạn đọc những ưu tư về một cõi trần ai đầy trắc trở, vô thường.

Ám ảnh sâu nhất trong lòng người đọc tập thơ có lẽ là việc tái hiện những cái chết.  Tập thơ có 20 bài thì có 13 bài xuất hiện cái chết. Đó là cái chết của một con mèo bị xe cán, Cá chết ở sông Nhuệ, Có thể ở nơi ngọn khói hương bay lên, Tặng linh hồn bé Nhung, Cho dù sự thật có mùi gì, Viếng những người lính dù hy sinh ngày 6/7, Tặng các con ở Ishinomaki, Đôi dòng dâng những hồn cây, Thiêu thân, Về một sinh linh vừa rời bỏ trần gian, Hỏi, Nghĩ trong sương mù, Nghĩ cùng năm mới,… Thực ra, sống và chết là hai đối cực luôn diễn ra tự nhiên trong sự vận động của vũ trụ, của đời sống con người. Tuy vậy, dù bất luận là lý do gì cái chết cũng luôn mang đến cho con người những ưu tư, nặng nề, bởi lẽ cái chết là hiện thực hóa sự hư ảo, mỏng manh trong sự tồn sinh của vạn vật trên cõi trần thế…

Đọc Hai phía phù sinh, có thể nhận thấy tâm thức hiện sinh xuất hiện như một giá trị trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh. Nhà thơ đã không thể nén lòng trước những cái chết thê thảm, đớn đau, đầy phi lý, cho dù đó là cái chết của con người, hay là một sinh vật nào đó trong thế giới hỗn mang này. Và chính những nỗi đau này đã tạo nên những dự phóng sáng tạo trong thơ, trở thành những ám ảnh của vô thức và tâm linh không chỉ trong tâm cảm thi nhân mà còn trong tâm cảm của người đọc: Giữa bầy nhầy máu/ sót lại một vạt lông trắng mịn/ Nó bé bỏng và thanh khiết thế ra ngã năm làm gì/ để chết tức tưởi dưới một bánh xe vô tình/ chết thêm hàng vạn lần dưới những vòng xe vô cảm… (Về một con mèo bị xe cán)

Quên đi con nhé/ nẻo đường gập ghềnh từng là nỗi kinh hoàng của con ngày ngày chiếc xe đạp tả tơi, bộ áo quần rách nát/ Quên đi/ những hạt cơm cuối cùng con vét tối qua/ trong chiếc nồi lúc nào cũng thiếu từng nắm gạo/ Trái tim bé bỏng của con sẽ không còn triền miên nhức nhối cơn đau… (Tặng linh hồn bé Nhung)

Mười tám dòng sông/Một sớm đổ vào trời/ Mười tám ngọn lửa /Thiêu đốt triệu hồn người/ Mười tám vầng trăng / khuyết suốt đời con trẻ/ Mười tám lá xanh/ Rụng nát lòng cội rễ (Viếng những người lính dù hy sinh ngày 6/7)

Đâu phải chiến tranh / mà mấy chục cuộc đời nát vụn một ngày mìn nổ đá rơi/ phút chốc chạm đường ray, đồng làng bời bời khăn trắng (Những tích tắc quanh tôi)

Những Người Cây bị bức tử đã được đem đi/ Không còn chút dấu vết nào/ Dù chỉ một cánh tay, một con mắt lá/ Người ta đã dọn sạch thi hài của họ (Đôi dòng dâng những hồn cây)

Ở những bài thơ xuất hiện cái chết, với âm chủ là giọng kể chậm, trầm, buồn, hiện thực do tác giả “tự cảm thấy” được tái hiện trước mắt người đọc phủ gam màu lạnh, tối sẫm, u ám, thê lương, cái chết xảy ra nhiều khi chỉ là trong tích tắc, bất ngờ đến khó tin, những cái chết mang đầy ưu tư về cõi trần thế:  Sự sống của một chú mèo xinh xắn, một bầy cá dưới sông,  một em nhỏ mồ côi, một hài nhi bé bỏng mới chào đời, một người lính dù trẻ tuổi, một thân cây đang mơn mởn xanh tươi…tất cả bị cắt đứt một cách đột ngột, tàn bạo, phũ phàng, mọi sinh linh vừa hiện hữu đó mà bỗng nhiên trong khoảnh khắc đã trở thành cát bụi…nỗi đau lắng lại, kết khối trong sâu thẳm lòng người…

Tại sao con người và những sinh vật vô tội lại phải chết tức tưởi, oan khuất như vậy? Câu hỏi truy vấn nhân tâm thế cuộc nhức nhối vang lên nhưng đâu dễ có câu trả lời. Chỉ biết những cái chết không đáng chết của vạn vật là một sự phi lý khiến lòng người đau đớn khôn nguôi. Những ngang trái, bất công hoành hành trên cõi thế khiến bao kiếp phận sinh linh bị dập vùi tơi tả đã đẩy giới hạn chịu đựng của con người đến tận cùng, cho nên  trong tập thơ, bạn đọc có thể thấy chủ thể trữ tình đã không thể kiềm chế, tác giả nhiều lần xuất hiện trực tiếp  trong tư thế của người phán xử trước tòa án lương tâm: Những lời đầu môi trôi về đâu/ chỉ còn vạn giấc chết nổi trắng mặt sông (Cá chết ở sông Nhuệ), Không một lời biện minh nào đủ lấp đầy sự ra đi tức tưởi của con/ không một sự sám hối nào đủ xóa tội cho những người ở lại/ Chúng ta, những kẻ thản nhiên sống và ngợi ca sự sang giàu/ giữa trùng trùng áp phích, pa nô quảng cáo sáng choang/ không một ai đủ tư cách cầu xin con/ một em bé chết đói giữa ban ngày/ tha thứ (Tặng linh hồn bé Nhung), Đừng than khóc rùm beng rồi làm khổ nhau/ Nếu có lòng hãy thương lấy những sinh linh cô độc đang bơ vơ trên mặt đất này (Về một sinh linh vừa rời bỏ trần gian).

Với sự nghiệm sinh sâu sắc, thơ Nguyễn Thúy Quỳnh đã  truyền cảm hứng cho người đọc, buộc chúng ta phải sống chậm lại, dành ít phút ngẫm nghĩ về nhân tình thế thái…cảm thức hiện sinh của tập thơ khiến chúng ta phải suy tư về sự được/ mất, chân/giả, thiện/ác, tốt/xấu trên cõi trần, bởi, trước cái chết mọi thứ bỗng trở thành phù du, vô nghĩa… Và, nếu trái tim nhà thơ không thực sự xót xa đau đớn, cảm thông trước sự sống và cái chết của sinh mệnh con người cũng như vạn vật thì không thể có những vần thơ thấm đẫm tinh thần nhân bản như thế!? Đây cũng là điều cần ghi nhận về ý thức công dân của nhà thơ trước những vấn đề nhiễu nhương đang từng ngày từng giờ giết chết môi trường sống của con người và mọi sinh vật khác mà những nhà khoa học chân chính đang cảnh báo.

Soi chiếu con người và cuộc sống từ những góc nhìn khuất lấp, ẩn tàng nhiều thông điệp, trong Hai phía phù sinh  Nguyễn Thúy Quỳnh một mặt vừa tỏ rõ thái độ chia sẻ, đồng hành cùng những kiếp phận chịu nhiều mất mát, khổ đau, vừa “lột mặt nạ” của những kẻ tàn độc, vô lương. Đã đến lúc người tử tế không thể đồng hành với những kẻ nhân danh “công lý” mà đằng sau vỏ bọc hào nhoáng là sự giả dối, ti tiện, đớn hèn, họ chỉ biết: Cao đàm khoát luận về sự tử tế/ bền bỉ tuyên ngôn cho tình yêu thương/ rỏ nước mắt trước kẻ khốn cùng/ và im lặng trước những điều giả dối…giữa u u minh minh vẫn nhìn ra đâu là Chân, Giả/ rồi nhếch mép quay đi (Phác thảo một chân dung). Âm vang trong Hai phía phù sinh là niềm day dứt, là câu hỏi trăn trở cõi người sẽ ra sao đây nếu nhan nhản quanh chúng ta chỉ còn thấy:  những ánh mắt nhắm tịt/ những ánh mắt nhìn ngang/ những ánh mắt vờ như không nhìn/ những ánh mắt cụp xuống/ những bàn tay lạnh tanh/ những bàn tay vờ nhấn phím/ những bàn tay buông xuôi dưới gầm bàn/ những bàn tay sột soạt trong bóng tối (Tôi nhìn thấy).

Tập thơ, vì thế đã phơi bày một sự thật đau lòng trong thời đại kỹ trị, đó là sự vô cảm như căn bệnh trầm kha lan truyền trong xã hội đã, đang và sẽ làm băng hoại giá trị Người trong mỗi một Con Người. Nó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những bi kịch diễn ra trong cõi trần thế mà tận cùng của những tấn bi kịch ấy chính là những cái chết thương tâm. Thông điệp nhân văn đó vang lên khẩn thiết, thôi thúc người đọc hướng về phía ánh sáng nhân văn để cùng nhau hành động ngăn chặn những tấn bi kịch đang phủ xuống cuộc sống muôn loài trên cõi trần thế này. Thiết nghĩ, đây cũng có thể coi là khát vọng “dấn thân” của thi nhân vì một sự hiện hữu đúng nghĩa của con người và vạn vật.

Thơ vốn là tiếng gọi sâu thẳm của cõi vô thức và tâm linh kết hợp với trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ. Không bắt đầu từ những gì cao siêu, to tát, trong Hai nửa phù sinh, Nguyễn Thúy Quỳnh luôn ưu tư, suy niệm về cuộc sống từ những điều giản dị mà tên gọi những bài thơ có thể cho chúng ta thấy điều này: Dựng nhà, Sau tiếng sét đầu mùa, Chuyện kể về một ngôi nhà, Về chậu hoa giấy ở hành lang, Chuyện trong quán nước, Nghĩ vặt về khẩu trang sau bản tin môi trường, Về một con mèo sống cùng nhà, Trở về nhà, Biên bản buổi chiều chưa đặt tên…Hành trình cuộc sống vốn không ít cay đắng đa đoan, lưu dấu nhiều kỷ niệm buồn, vui, đau khổ, hạnh phúc… của thi nhân đã ít nhiều ảnh hưởng đến kiến tạo thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Dường như những “ẩn ức” từ trong cuộc sống là “dự phóng” để nhà thơ có thể trải lòng mình một cách “thành thực”, một phẩm tính rất cần có trong thơ mà nếu không có nó thì thơ cũng chỉ là những ngữ ngôn rỗng tuếch vô hồn.

Và đây là chính là sự thành thật hiếm quí như thế trong thơ Quỳnh: Một phần mười giây/ mẹ kịp nhận ra nỗi khiếp đảm trong mắt các con/ sau ánh chớp chói loà và tiếng nổ rung trời của nó / một phần trăm giây/ mẹ kịp nhận ra những cánh tay nhỏ nhoi vươn lên/ bước chân mẹ chập vào nhau, đổ về phía cuối phòng/ mười lăm mét sao mà hun hút/ Trong bóng tối chết lặng/ dưới tay mình/ mẹ gặp những mạch máu của các con đang líu ríu chảy/ những nơ ron thần kinh nép vào nhau run rẩy/ những tế bào tươi non cuống cuồng/ khao khát được chở che… Xin lỗi các con. (Sau tiếng sét đầu mùa), Vẫn biết sinh ký tử quy/ vẫn biết ngày của anh không tính bằng trăng nhưng… /giá mà em ngộ ra những phù du cõi người/ bập bềnh trôi ngoài cửa nhà mình/ biết đâu giờ này/ những bước chân anh đang chậm chạp lên cầu thang/ căn phòng bé nhỏ/ vẫn ấm tiếng anh gọi em và con mỗi sớm (Có thể ở nơi ngọn khói hương bay lên). Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, giàu nữ tính trong những bài thơ được cất lên từ những trải nghiệm của chính cuộc đời tác giả  là yếu tố góp phần không nhỏ cảm hóa, lay động trái tim bạn đọc. Những lo âu, dằn vặt, tự vấn, những sám hối, tiếc nuối và cả đau đáu khát khao rất thật của Nguyễn Thúy Quỳnh đã đánh thức nơi người đọc những gì thuộc về thiên lương, nhân bản nhất của con người. Giá như giọng điệu đó được chảy trong tập thơ như một mạch ngầm xuyên suốt thì tôi tin sức thuyết phục  từ tập thơ này của Nguyễn Thúy Quỳnh còn lớn hơn nhiều.

Dẫu thế nào thì cuộc sống vẫn không ngừng trôi về phía trước, đời người vẫn diễn ra như một hành trình dằng dặc và lữ khách không thể dừng chân. Người thơ Nguyễn Thúy Quỳnh vẫn tiếp tục trăn trở, ưu lo để hướng đến sự hoàn thiện về  đời và thơ của mình. Bởi đã là con người, và hơn nữa là một nhà thơ không ai là không có những giới hạn. Vấn đề là mình có nhận ra những giới hạn ấy để dũng cảm vượt lên và hoàn thiện chính mình. Tôi đọc thấy trong Hai nửa phù sinh của Nguyễn Thúy Quỳnh những ưu tư chồng chất ưu tư, những khắc khoải, lo âu không ngừng chảy để hướng về miền Ánh Sáng.  Mặc dù người viết bài này không hẳn thích một số những cái kết có tính luận đề, lý trí và tỉnh táo nhưng biết đâu đó lại là dụng ý nghệ thuật của tác giả?! Tất nhiên tôi tôn trọng chính kiến của Nguyễn Thúy Quỳnh – một nhà thơ khao khát Tự do, tôn trọng Sự thật, luôn khát vọng Hạnh phúc cho con người và vì con người. Chừng nào còn dằn vặt, ưu tư trong cõi phù sinh, chừng đó tôi tin Nguyễn Thúy Quỳnh sẽ tiếp tục vượt qua giới hạn của chính mình để khẳng định bản lĩnh sáng tạo nghệ thuật, như chị đã xác quyết:  Nhưng sinh ra đã là cây/ Không thể dầm chân trong bóng tối/ Ngày ngày gắng gỏi vươn tìm ánh sáng/ Chắt chiu những tia nắng ngoài kia…Bất chấp sự cắt tỉa cho vừa khuôn phép/ Bất chấp cánh cửa kia một ngày bị khép/ Vì những bông hoa / chỉ rực rỡ dưới mặt trời (Về chậu hoa giấy ở hành lang)./.

Cầu mong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh tiếp tục tỏa hương, một thứ hương của thành thực và nhân bản… một yếu tính không thể thiếu trong thơ, nhất là trong cõi nhân gian vốn đang đầy những điều nhiễu nhương này…!.

6/4/2026
Cao Thị Hồng

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Một miền thảo nguyên xanh in dấu trong thơ

Có những vùng đất không chỉ tồn tại trong địa lý mà còn sống trong tâm thức, trong ký ức và trong thi ca. Mộc Châu – cao nguyên xanh của Sơn La là một miền như thế. Với các nhà thơ, văn nghệ sĩ Sơn La, Mộc Châu không đơn thuần là một không gian cư trú hay một địa danh hành chính mà là nơi gửi gắm tình cảm, là miền ký ức thẳm sâu, là nguồn cảm hứng bền bỉ nuôi dưỡng sáng tạo.

Sau những đổi thay về tổ chức hành chính theo Nghị quyết của Quốc hội, khi cấp huyện không còn, cái tên “Mộc Châu” không còn hiện diện như một đơn vị quản lý cấp huyện, nhưng trong thơ ca, nó vẫn ngân lên như một miền thương nhớ. Những câu thơ viết về Mộc Châu vì thế không chỉ là sự miêu tả cảnh sắc mà là sự kết tinh của tình yêu đất, yêu người, là tiếng nói của những tâm hồn đã từng gắn bó, từng đi qua và từng “mắc nợ” với cao nguyên này. Chính từ điểm nhìn ấy, hình tượng Mộc Châu trong thơ Sơn La hiện lên như một chỉnh thể đa chiều: vừa là miền ký ức lịch sử vừa là không gian văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc vừa là miền cảm xúc lãng mạn, vừa là bức tranh thiên nhiên đặc sắc, đồng thời cũng là biểu tượng của sự đổi mới và khát vọng phát triển.

1. Mộc Châu – miền ký ức và chiều sâu lịch sử

Trong dòng chảy thơ ca Sơn La, Mộc Châu trước hết hiện lên như một miền ký ức, nơi thời gian không trôi đi mà lắng đọng thành những lớp trầm tích cảm xúc, lịch sử và tâm linh. Ở đó, ký ức không chỉ thuộc về cá nhân mà đã hòa vào ký ức cộng đồng, trở thành một phần của căn cốt vùng đất.

Những hoài niệm về Mộc Châu thường bắt đầu từ những gì rất đỗi riêng tư nhưng lại có sức lan tỏa rộng lớn. Trong thơ Châu Ngọc, ký ức hiện lên qua một cách nói đầy ám ảnh: “Thảo nguyên xanh, mảnh đất nặng tình/ Cô gái Mông nợ tôi cái nhớ” (Gửi lại thảo nguyên niềm ký ức). “Nợ cái nhớ” không chỉ là một ẩn dụ tình cảm mà còn là một sự ràng buộc tinh thần sâu sắc. Nỗi nhớ ở đây không còn là cảm xúc thoáng qua mà trở thành một “món nợ”, nghĩa là không thể dứt bỏ, không thể lãng quên. Đó chính là sợi dây vô hình gắn kết con người với đất, với người, với những gì đã từng sống. Ký ức ấy không chỉ êm đềm mà còn in dấu những tháng ngày gian khó: “Ngày ấy nghèo, nhà xiêu vách nứa/Đường ngoằn ngoèo, sườn núi bẻ cong”. Thiên nhiên và đời sống hòa quyện trong một bức tranh khắc nghiệt, nơi cái nghèo, cái khó không chỉ là hoàn cảnh mà còn là thử thách hun đúc nên phẩm chất con người. Chính trong những điều kiện ấy, vẻ đẹp bền bỉ, kiên cường của con người Mộc Châu được hình thành và lưu giữ.

Từ ký ức đời thường, thơ ca mở rộng sang ký ức lịch sử, nơi Mộc Châu trở thành không gian của những cuộc chia ly và dấn thân: “Thoát sao nổi, hai thời chinh chiến/ Trai gái tòng chinh, khăn gói lên đường” (Gửi lại thảo nguyên niềm ký ức- Châu Ngọc). Chiến tranh ở đây không chỉ là một biến cố mà đã trở thành một phần của ký ức tập thể. Những dấu vết của nó vẫn còn hiện hữu, không chỉ trong vật chất mà trong cả cảm thức: “Vết đạn lạc treo vách ký ức/ Vẫn làm xước ngọn gió mùa xuân” (Thăm đồn Mộc Lỵ – Lương Mỹ Hạnh). Hình ảnh “làm xước ngọn gió mùa xuân” là một phát hiện nghệ thuật giàu sức ám ảnh, quá khứ không ngủ yên mà vẫn tác động đến hiện tại, khiến cả mùa xuân – biểu tượng của sự sống cũng mang vết thương – một hình ảnh mang tính biểu tượng, tạo nên chiều sâu nhân văn cho thơ. Trong Người đi Châu Mộc chiều sương ấy của Phạm Hiển với ngôn ngữ giàu tính tạo hình, khắc họa khí thế hào hùng của lịch sử, góp phần xây dựng hình tượng Mộc Châu như một “địa chỉ ký ức”: “Đài tưởng niệm lưỡi lê sáng quắc/ Nhọn hoắt trời cao chí diệt thù”…

Trong mạch nguồn ký ức, hình ảnh Hồ Chí Minh hiện lên như một điểm tựa tinh thần thiêng liêng và bền vững. Bài thơ Mộc Châu còn ấm hơi Người của Trần Quang Đức đã khắc họa xúc động sự hiện diện ấy: “Mộc Châu ngày ấy Bác về/ Từng lời sâu lắng bây giờ còn vang”. Đó không chỉ là ký ức lịch sử mà là một sự “hiện diện sống” trong tâm thức. Hình ảnh Bác với “dép mòn”, “áo ka ki bạc” trở thành biểu tượng của sự giản dị, gần dân, vì dân. Tình cảm của Người dành cho đồng bào các dân tộc Mộc Châu đã hóa thành nguồn động lực tinh thần, tiếp sức cho các thế hệ hôm nay trong hành trình xây dựng và phát triển quê hương. Câu thơ “Mộc Châu còn ấm hơi Người ngàn năm” vì thế không chỉ mang ý nghĩa hoài niệm mà còn là một khẳng định: tư tưởng và tình yêu thương của Bác vẫn đang lan tỏa, soi đường cho hiện tại và tương lai.

Nếu hình ảnh Bác là ánh sáng dẫn đường thì hình tượng đoàn quân Tây Tiến  gắn với tên tuổi Quang Dũng lại tạo nên chiều sâu bi tráng cho không gian lịch sử Mộc Châu. Trong cảm hứng của Bùi Nguyên Lượng, dòng sông Mã không còn là một thực thể địa lý mà trở thành biểu tượng của lịch sử sống: “Sông Mã không chỉ chở nặng phù sa/ Mà còn mang dáng hình sâu thẳm”. Ở đây, thiên nhiên đã được “nhân hóa” thành ký ức, thành linh hồn.

Đặc biệt, những câu thơ như: “Mỗi bước, một dấu chân hóa đá, vào lịch sử”; “Chúng tôi chưa từng tan vào hư vô/Chỉ hóa sương để giữ màu cờ thổn thức” đã nâng cảm hứng lịch sử lên tầm triết luận. Con người không mất đi mà hóa thân vào đất nước, vào thiên nhiên, vào ký ức dân tộc. Cái chết không còn là kết thúc mà là một hình thức tồn tại khác âm thầm nhưng bất tử. Đỉnh cao của cảm hứng ấy là sự khái quát: “Dòng sông ấy/ Không chỉ là địa lý/ Mà là bản tình ca/ Được viết/ Bằng máu, bằng mộng mơ…”. Dòng sông trở thành nơi giao thoa giữa thực tại và lịch sử, giữa cái hữu hình và vô hình, giữa sự sống và ký ức. Trong Ru gió miền lau của Huyền Mến những người lính Tây Tiến tiếp tục hiện về: “Những linh hồn đã trở thành bất tử/ Bạt ngàn lau… bông trắng về trời”. Họ không biến mất mà hòa vào không gian, trở thành một phần của cảnh sắc, của tâm linh, của bản sắc vùng đất.

Như vậy, từ ký ức đời thường đến ký ức chiến tranh, từ hình ảnh Bác Hồ đến đoàn quân Tây Tiến, thơ ca đã kiến tạo nên một Mộc Châu đa tầng, vừa là không gian địa lý vừa là không gian lịch sử vừa là không gian tinh thần. Ở đó, quá khứ không khép lại mà luôn hiện diện trong hiện tại, nâng đỡ và soi sáng cho con người. Có thể nói, chính chiều sâu ký ức và lịch sử ấy đã làm nên bản sắc riêng của Mộc Châu. Một vùng đất không chỉ đẹp bởi thiên nhiên mà còn thiêng liêng bởi những gì đã đi qua và vẫn còn sống mãi trong tâm hồn con người hôm nay.

2. Mộc Châu – không gian văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Một đặc điểm nổi bật của thơ Mộc Châu là sự hiện diện đậm nét của bản sắc văn hóa các dân tộc. Điều này trước hết thể hiện qua trang phục: “Vẫn áo cóm, vẫn khăn piêu, xà tích/ Vẫn váy đen Thái, vẫn váy Mông xanh” (Mộc Châu – Hương chè, em kiêu sa – Hoàng Việt Thắng). Điệp từ “vẫn” tạo nhịp điệu khẳng định, nhấn mạnh sự bền vững của truyền thống trong dòng chảy hiện đại. Không gian lễ hội hiện lên sống động. Hình ảnh chợ tình là một biểu tượng văn hóa nổi bật. Trong thơ Kim Châu, chợ tình không chỉ là một phiên chợ mà là không gian của cảm xúc, của khát vọng yêu thương: “Chợ Cao nguyên đầy ắp vị hương tình/ Trai gái cuồng quay tìm vị ngọt”; “Mắt môi say lảo đảo vị yêu đầu”; “Sóng váy đung đưa điệu khèn thêm huyền ảo” (Đêm chợ tình – Kim Châu). Hình ảnh “sóng váy” kết hợp với “điệu khèn” tạo nên một trường liên tưởng giàu nhạc tính, biểu hiện sinh động đời sống tinh thần. Chợ tình ở đây vừa thực vừa mộng vừa mang tính sinh hoạt vừa mang tính biểu tượng cho đời sống tình cảm phong phú của con người miền cao. Nó gắn với quan niệm về tình yêu, về sự gắn bó, về nhịp sống theo mùa… những yếu tố cốt lõi của văn hóa nông nghiệp miền núi.

Đời sống sinh hoạt cũng mang đậm dấu ấn văn hóa: “Người H’Mông bán bánh dày, chuốt sợi lanh dệt vải” (Về Mộc Châu đi anh – Huyền Mến) và tinh thần cộng đồng: “Tay nắm chặt tay/ Say với điệu xòe, tiếng nhạc” (Bản em – Huyền Mến). Không chỉ dừng lại ở đó, thơ Mộc Châu còn khắc họa đời sống thường nhật: cảnh hái dâu, trồng chè, chăn nuôi, đi rừng… Những hình ảnh ấy tạo nên một bức tranh sinh hoạt chân thực, gần gũi, qua đó tôn vinh vẻ đẹp lao động và tâm hồn người dân. Mộc Châu không chỉ đẹp về cảnh quan mà còn là không gian văn hóa sống động, nơi bản sắc dân tộc được gìn giữ và lan tỏa.

3. Mộc Châu – miền thảo nguyên của tình yêu và cảm hứng lãng mạn

Một dòng chảy xuyên suốt trong thơ viết về Mộc Châu là cảm hứng trữ tình – lãng mạn. Thiên nhiên trở thành biểu tượng của tình yêu: “Đồi chè trái tim ta cùng nhau lên” (Chuyện tình trên thảo nguyên – Minh Niệm). Hình ảnh đồi chè hình trái tim vừa mang tính hiện thực vừa mang tính biểu tượng, thể hiện sự hòa quyện giữa cảnh và tình. Tình yêu còn được thể hiện qua những ẩn dụ tinh tế: “Đôi mắt trà đêm hội long lanh/ Chưa kịp uống mà dâng đầy mật ngọt” (Mộc Châu – Hương chè, em kiêu sa – Hoàng Việt Thắng). Không gian tình yêu mang màu sắc huyền ảo: “Thác Dải Yếm thầm thì điều huyền bí” (Anh về Châu Mộc với em đi – Minh Niệm). Bên cạnh đó là tình yêu quê hương: “Châu Mộc thân thương/ Như đất mẹ hiền hoà” (Chiều cao nguyên – Nguyễn Thị Thu Hà). Mộc Châu trở thành một không gian cảm xúc, nơi con người tìm thấy sự đồng điệu giữa thiên nhiên và tâm hồn.

Nếu như Minh Niệm, Hoàng Việt Thắng, Nguyễn Thu Hà thiên về miêu tả và biểu cảm thì thơ Bùi Nguyên Lượng lại đẩy cảm hứng lãng mạn của Mộc Châu lên một tầng cao hơn, tầng huyền thoại và siêu thực. Trong bài thơ Mộc Châu nơi cỏ biết mơ, ngay từ câu mở đầu: “Có một nơi cỏ biết mơ thần thoại/ Mây biết buồn và gió biết làm thơ”, không gian Mộc Châu đã được “thiêng hóa”. Cỏ, mây, gió đều mang linh hồn, mang khả năng cảm xúc và sáng tạo. Đây không còn là thiên nhiên tả thực mà là thiên nhiên mang tính vũ trụ luận. Một thế giới đồng sáng tạo với con người.

Hơn nữa, những hình ảnh tình yêu được nâng lên tầm biểu tượng: “Ai đi qua cũng để lại dấu giầy/ Mà không biết trái tim mình rơi mất”. Một phát hiện đầy tính triết lý: Mộc Châu không chỉ là nơi đến mà là nơi lấy đi một phần tâm hồn con người. Hay hình ảnh khác trong thơ ông: “Đồi chè ngủ như ngực trần thiếu nữ/ Thở êm đềm như sương sớm chưa tan”. Một sự so sánh táo bạo nhưng tinh tế, vừa gợi cảm vừa trong trẻo cho thấy sự hòa quyện giữa thiên nhiên, nữ tính và sự sống. Thơ viết về miền cao nguyên đã góp phần làm rõ: Mộc Châu không chỉ là miền lãng mạn, mà là một không gian huyền thoại hóa của tình yêu và tồn tại.

4. Mộc Châu – bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng

Thiên nhiên là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của thơ Mộc Châu. Vẻ đẹp hùng vĩ và giàu chất họa: “Chiều Hua Tạt nắng ươm vàng má núi” (Lấp lánh một thiên đường – Ngô Quang Đức). Cách nhân hóa “má núi” khiến cảnh vật trở nên gần gũi, có hồn. Thiên nhiên mang tính huyền ảo: “Mù sương như đặc quánh/ Ru mềm miền cỏ mật” (Thảo nguyên ngày mưa – Minh Niệm). Sương không còn là hiện tượng tự nhiên mà trở thành một “chất liệu cảm giác”. Bức tranh mùa xuân tươi sáng: “Bản của em trắng tinh khôi hoa mận/ Chúm chím cười hồng phớt nụ đào phai” (Xuân về trên bản nhỏ – Huyền Mến). Thiên nhiên Mộc Châu hiện lên vừa thực vừa mộng, trở thành một chủ thể thẩm mỹ đồng hành với con người.

Nếu các nhà thơ khác dừng lại ở vẻ đẹp thơ mộng thì Bùi Nguyên Lượng đã đẩy thiên nhiên Mộc Châu vào chiều sâu biểu tượng và huyền ảo: “Thác Dải Yếm xõa buông như tóc vỡ/ Chảy nghìn năm kể chuyện cuộc tình đầu” (Mộc Châu nơi cỏ biết mơ – Bùi Nguyên Lượng). Thác nước không còn là cảnh vật mà trở thành một “ký ức chảy” của thời gian, mang chức năng kể chuyện. Hay hình ảnh giàu tính siêu thực: “Tuyệt Tình Cốc chảy ngược vào tim núi”. Không gian bị đảo chiều (nước “chảy ngược”), tạo cảm giác phi logic hiện thực nhưng hợp logic cảm xúc, mở ra chiều sâu nội tâm. Đặc biệt: “Ta ngồi xuống chạm tay vào huyễn mộng/ Miền xanh non vừa hé nụ mơ màng”. Thiên nhiên không chỉ được nhìn mà còn được “chạm”, nhưng cái chạm ấy lại là chạm vào “huyễn mộng”.  Một cách diễn đạt mang tính triết học về cái đẹp. Thiên nhiên Mộc Châu trong thơ không chỉ là đối tượng miêu tả mà trở thành không gian ký ức, không gian biểu tượng, không gian triết luận.

5. Mộc Châu – hình ảnh của đổi mới và khát vọng phát triển

Trong dòng chảy thơ ca viết về Tây Bắc, Mộc Châu từng hiện lên chủ yếu như một miền sương khói của hoài niệm, của vẻ đẹp nguyên sơ mang màu sắc huyền thoại. Tuy nhiên, trong những sáng tác gần đây, cảm hứng thẩm mỹ đã có sự dịch chuyển rõ rệt: từ cái nhìn tĩnh tại sang cái nhìn vận động, từ vẻ đẹp thiên nhiên sang ý thức về phát triển. Mộc Châu không còn chỉ là “nơi cỏ biết mơ” mà đã trở thành biểu tượng của đổi mới và khát vọng vươn lên. Hình ảnh “gió du lịch thức xanh muôn trầm tích”(Ngô Quang Đức) là một phát hiện nghệ thuật tiêu biểu cho khuynh hướng này. Ở đây, “gió” không chỉ mang tính tự nhiên mà đã được biểu tượng hóa thành lực đẩy của thời đại. Nó mang theo dòng chảy của kinh tế thị trường, của giao lưu văn hóa, của hội nhập, len lỏi vào từng “trầm tích”. Tức là những giá trị vốn ngủ yên trong lòng đất: cảnh quan, văn hóa bản địa, lịch sử. Động từ “thức xanh” đặc biệt giàu sức gợi, không chỉ là đánh thức mà còn là làm hồi sinh, làm tươi mới, làm cho những giá trị cũ trở nên sống động trong một hình thái mới. Như vậy, thơ ca đã kịp thời ghi nhận một bước chuyển quan trọng: từ “tiềm năng” sang “hiện thực phát triển”.

Mộc Châu không còn là một vùng đất “đẹp để ngắm” mà là một không gian “đẹp để sống, để đầu tư, để kiến tạo”. Song song với hình ảnh ngoại lực (du lịch, phát triển), thơ ca còn nhấn mạnh yếu tố nội lực. Đó là con người và tư duy. Câu thơ “tư duy mới như ngàn sao lấp lánh” mở ra một trường liên tưởng rộng: “tư duy” vốn trừu tượng được cụ thể hóa thành ánh sáng. “Ngàn sao” không chỉ biểu trưng cho số lượng mà còn gợi tính lan tỏa, định hướng và bền vững. Điều này hàm ý rằng sự đổi mới ở Mộc Châu không phải là hiện tượng nhất thời, mà là một quá trình có chiều sâu, được dẫn dắt bởi nhận thức mới, bởi cách nghĩ mới. Đáng chú ý hơn, giọng điệu khẳng định trong câu thơ của Huyền Mến: “Mộc Châu bây giờ đã thay thịt đổi da” lại mang tính chất như một “tuyên ngôn đời sống”. Không cầu kỳ hình ảnh, không ẩn dụ phức tạp, câu thơ trực diện, gần khẩu ngữ nhưng lại có sức nặng của trải nghiệm thực tế. Nó cho thấy sự đổi thay đã đi vào đời sống, trở thành điều có thể “nhìn thấy, chạm thấy”. và trong thơ chị, khát vọng tương lai hiện rõ: “Kỷ nguyên mới vươn mình cho khát vọng thăng hoa”. Mộc Châu trong thơ không chỉ là “miền đã qua” mà còn là miền đang tới, nơi hội tụ của niềm tin và khát vọng phát triển bền vững.

Nhìn tổng thể, cảm hứng về đổi mới trong thơ viết về Mộc Châu không dừng lại ở việc phản ánh hiện thực mà còn mang tính dự báo và kiến tạo. Thơ không chỉ “tả cái đang có” mà còn “gợi cái sẽ đến”. Một Mộc Châu của tương lai, nơi thiên nhiên, con người và tư duy phát triển hòa quyện trong một chỉnh thể năng động, hiện đại nhưng vẫn giữ được căn cốt văn hóa.

6. Con người Mộc Châu trong công cuộc đổi mới

Nếu trong thơ ca truyền thống, con người Tây Bắc thường hiện lên như một phần của thiên nhiên: hồn hậu, mộc mạc, gắn bó với núi rừng thì trong thơ ca hiện đại, con người Mộc Châu đã được đặt vào vị trí trung tâm của tiến trình đổi mới. Họ không còn chỉ là “chủ thể cảm xúc” mà đã trở thành “chủ thể hành động”, “chủ thể sáng tạo”, trực tiếp làm nên diện mạo mới của vùng đất. Trước hết, đó vẫn là con người của truyền thống – giàu tình nghĩa, gắn bó cộng đồng. Những câu thơ như: “Người Mộc Châu luôn yêu thương, gắn bó/ Giúp đỡ nhau lúc gian khó, đường cùng” không chỉ mang tính miêu tả mà còn là sự khẳng định một nền tảng đạo lý bền vững. Chính nền tảng ấy đã giúp cộng đồng các dân tộc nơi đây Thái, Mông, Mường, Kinh… có thể cùng nhau vượt qua những khắc nghiệt của thiên nhiên và lịch sử, tạo nên sức mạnh nội sinh cho quá trình phát triển. Tuy nhiên, điểm mới nổi bật là con người Mộc Châu hôm nay đã vượt ra khỏi giới hạn của sự “chịu đựng”để bước vào không gian của “chủ động phát triển”. Họ biết khai thác tiềm năng của chính quê hương mình: từ đồi chè, trang trại bò sữa đến du lịch sinh thái, du lịch văn hóa.

Hình ảnh: “Đàn bò sữa như một đoàn sứ giả/ Gặm thời gian giữa cỏ thanh bình” là một ẩn dụ giàu sức gợi. “Sứ giả” ở đây không chỉ mang sản phẩm mà còn mang theo thông điệp của một nền kinh tế mới, nền nông nghiệp hiện đại, gắn với thị trường, thương hiệu và tư duy hội nhập. Không dừng lại ở đó, con người Mộc Châu còn là những người biết “thẩm mỹ hóa” đời sống. Họ không chỉ sản xuất mà còn biết làm đẹp, biết kể câu chuyện về quê hương mình qua văn hóa và du lịch. Những điệu xòe, tiếng khèn, những mùa hoa mận, hoa đào… không còn chỉ là sinh hoạt văn hóa nội tại mà đã trở thành “tài nguyên mềm”, góp phần định hình bản sắc trong quá trình hội nhập và phát triển. Đặc biệt, trong chiều sâu tâm hồn, con người nơi đây vẫn giữ được chất thơ, một sự nhạy cảm tinh tế với thiên nhiên và cuộc sống. Họ sống trong đổi mới nhưng không đánh mất mình; ngược lại, chính họ làm cho quá trình đổi mới ấy mang màu sắc riêng, không hòa lẫn.

Trong bức tranh con người Mộc Châu hôm nay, không thể không nhắc tới hình ảnh những chiến sĩ biên phòng, những người đang ngày đêm gìn giữ nơi tuyến đầu Tổ quốc. Nếu đoàn quân Tây Tiến là biểu tượng của quá khứ bi tráng, thì người lính biên phòng hôm nay chính là hiện thân của trách nhiệm và sự hy sinh thầm lặng trong thời bình. Trong thơ Hà Thu, họ hiện lên chân thực và xúc động: “Đường tuần tra vời vợi trong mây/ Màu quân phục lẫn vào màu lá…” (Em sẽ về Lóng Sập mùa xuân). Đó là một cuộc sống đầy gian khổ: đêm rừng, sương dày, mưa dầm, muỗi vắt… nhưng vượt lên trên tất cả là lý tưởng cao đẹp: “Cột mốc, đường biên thiêng liêng đến lạ/ Trái tim anh gửi trọn nơi này!” Người lính biên phòng không chỉ canh giữ biên cương, mà còn gìn giữ sự bình yên cho từng bản làng, từng mái nhà. Ước mơ của họ thật giản dị mà sâu sắc: “Biên giới bình yên, ấm chiều khói bếp/ Tiếng trẻ ê a bình minh đến lớp…”. Đó là vẻ đẹp của sự hy sinh thầm lặng. Một vẻ đẹp đời thường mà cao cả, góp phần làm nên chiều sâu nhân văn cho hình tượng con người Mộc Châu trong thời đại mới.

Trong thơ Bùi Nguyên Lượng, hình tượng ấy hiện lên vừa chân thực vừa mang tầm khái quát: “Khi trước mặt là ngàn trùng đá dựng/ Và sau lưng là Tổ quốc yêu thương/ Mỗi bước chân giữ yên từng bản nhỏ/ Mỗi ánh nhìn chắn bão giữa biên cương”(Cột mốc niềm tin). Không gian biên giới hiện ra với tất cả sự khắc nghiệt, còn người lính được đặt trong thế đối diện giữa thử thách và trách nhiệm. Họ không chỉ tuần tra, canh gác mà đang trực tiếp gìn giữ sự bình yên cho từng bản làng, từng mái nhà… những giá trị cụ thể nhưng cũng vô cùng thiêng liêng. Đặc biệt, câu thơ: “Lịch sử biết những nơi nào anh đứng/ Nơi ấy thành cột mốc của niềm tin” đã nâng hình tượng người lính lên tầm biểu tượng. “Cột mốc” ở đây không còn là khái niệm địa lý mà là một giá trị tinh thần được dựng lên từ lòng dân, từ máu xương và từ trách nhiệm. Người lính không chỉ bảo vệ đường biên hữu hình mà còn gìn giữ đường biên của niềm tin, của chủ quyền trong ý thức cộng đồng.

Hình tượng con người Mộc Châu trong thời đại mới hiện lên như một chỉnh thể thống nhất mà đa diện: vừa là người lao động sáng tạo trong phát triển kinh tế – văn hóa, vừa là chủ thể gìn giữ bản sắc, vừa là lực lượng bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc. Họ vừa mang trong mình chiều sâu truyền thống, vừa thể hiện rõ tinh thần đổi mới và khát vọng vươn lên. Chính sự kết tinh hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa đời sống và lý tưởng, giữa phát triển và bảo vệ ấy đã làm nên động lực nội sinh mạnh mẽ cho Mộc Châu. Và cũng chính con người với tất cả chiều sâu tâm hồn và ý chí hành động là nhân tố quyết định để miền thảo nguyên xanh này không ngừng chuyển mình, vươn tới một tương lai bền vững và giàu bản sắc.

Nhìn lại, có thể khẳng định rằng thơ Sơn La viết về Mộc Châu không chỉ thực hiện chức năng phản ánh và biểu đạt cảm xúc mà còn góp phần hình thành một hệ giá trị bền vững trong đời sống tinh thần cộng đồng. Thông qua việc khơi mở nhận thức về lịch sử, bồi đắp tình yêu quê hương, nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa và nuôi dưỡng cảm quan thẩm mỹ, thơ ca đã thực hiện trọn vẹn thiên chức của mình: vừa làm giàu đời sống tâm hồn, vừa góp phần định hình bản sắc văn hóa vùng miền. Trên nền tảng đó, hình tượng Mộc Châu trong thơ hiện lên như một chỉnh thể nghệ thuật giàu tính biểu tượng. Một miền ký ức thấm đẫm lịch sử, một không gian văn hóa đa sắc, một thế giới cảm xúc lãng mạn và cũng là một vùng đất đang chuyển mình mạnh mẽ trong dòng chảy hiện đại. Những hình ảnh thơ như đồi chè, thác Dải Yếm, rừng thông, sương mù, chợ tình… không chỉ tồn tại trong nghệ thuật mà còn trở thành những biểu tượng giàu sức gợi trong tâm trí người đọc, góp phần lan tỏa và quảng bá vẻ đẹp của vùng đất trong đời sống thực tiễn.

Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi việc sắp xếp lại đơn vị hành chính đã làm thay đổi tên gọi quen thuộc, không còn danh xưng “huyện Mộc Châu” mà được tổ chức lại thành các phường như phường Mộc Châu, phường Vân Sơn, phường Thảo Nguyên, phường Mộc Sơn cùng một số xã… thì ý nghĩa của hình tượng Mộc Châu trong thơ ca càng trở nên sâu sắc hơn. Bởi lẽ, dù tên gọi hành chính có thay đổi thì cảnh quan thiên nhiên, tiềm năng phát triển và đặc biệt là con người nơi đây vẫn vẹn nguyên những giá trị cốt lõi. “Mộc Châu” vì thế không chỉ là một đơn vị địa lý – hành chính mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa – tinh thần bền vững, tồn tại trong ký ức, trong thơ ca và trong nhận thức cộng đồng. Chính trong sự “bất biến trong biến đổi” ấy, hình tượng Mộc Châu càng cho thấy chiều sâu nội tại và khả năng thích ứng với những điều kiện lịch sử – xã hội mới.

Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, miền thảo nguyên xanh ấy cùng những con người giàu nghị lực, giàu khát vọng chắc chắn sẽ tiếp tục làm nên những điều kỳ diệu. Khi truyền thống được gìn giữ, bản sắc được tôn vinh và đổi mới được thúc đẩy, Mộc Châu  dù mang những tên gọi hành chính khác nhau vẫn sẽ tỏa sáng như một vùng đất hội tụ giữa thiên nhiên, văn hóa và con người. Và như vậy, khởi đi từ một miền thảo nguyên trong ký ức và cảm xúc, Mộc Châu qua thơ đã vượt ra ngoài phạm vi nghệ thuật thuần túy để trở thành một biểu tượng văn hóa – thẩm mỹ giàu sức sống. Không chỉ “in dấu trong thơ”, Mộc Châu còn lan tỏa trong đời sống, trong nhận thức và trong hành trình phát triển của hôm nay và mai sau. Chính ở điểm hội tụ ấy, thơ ca không chỉ là tiếng nói của tâm hồn, mà còn trở thành một nguồn lực tinh thần góp phần kiến tạo tương lai cho vùng đất cao nguyên xanh này.

Chú thích:

Các bài thơ của các tác giả được trích trong tiểu luận này đã được đăng trên Tạp chí Suối Reo – Hội LHVHNT Sơn La (Hà Thu, Lương Mỹ Hạnh, Phạm Hiển, Huyền Mến, Bùi Nguyên Lượng, Châu Ngọc, Kim Châu, Hoàng Minh Niệm, Ngô Quang Đức…).

Vân Sơn, Sơn La, 8/3/2026
Hoàng Kim Ngọc

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Vẻ đẹp người lính trong “Nỗi nhớ hình giọt lệ” của nhà thơ Phan Bá Linh

Phan Bá Linh là nhà thơ chiến sĩ từ những ngày khoác áo lính tạm biệt quê nhà Quảng Trị đầy gió Lào rát bỏng, nhập ngũ 1978 và trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Campuchia trong những năm gian khổ, ác liệt nhất hơn 10 năm trời (1979-1988). Anh là một trong những cây bút sáng tác khá sớm ở Quân khu 9 nói riêng và  Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Đề tài, chủ đề trong thơ anh đa dạng nhưng nổi bật nhất vẫn là đề tài về người lính mang vẻ đẹp vừa bình dị vừa hiện đại.

Từ những năm 1978, anh đã có thơ đăng trên các báo, tạp chí Văn nghệ Trung ương và địa phương, đã xuất bản bốn tập thơ viết về nhiều đề tài, được đông đảo bạn đọc yêu thích: Đi hết tầm ngọn gió (Tập thơ – NXB Cà Mau 1987), Tình yêu người lính  (Tập thơ- NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2008), Tay cầm tháng giêng (Tập thơ – NXB QĐND,  2011), Bình minh giữa nắng chiều (Tập thơ – NXB Hội Nhà văn, 2012). Và hơn 14 năm qua tưởng như anh gác bút để mưu sinh, chỉ thỉnh thoảng đăng thơ trên facebook, zalo giao lưu với bạn bè, thì sang đầu xuân Bính Ngọ (2026) hồn thơ lại bùng cháy, rồi anh tập hợp lại những bài thơ viết về đề tài người lính – anh bộ đội Cụ Hồ, để tặng bạn đọc – một tập thơ viết về nỗi nhớ với những kỷ niệm thấm đẫm máu, nước mắt và nỗi đau ở chiến trường Campuchia, mang tên “Nỗi nhớ hình giọt lệ”.

Tập thơ có 60 bài khắc sâu một thông điệp về tình nhân ái và trách nhiệm công dân trước cuộc đời và vận mệnh đất nước. Qua mỗi vần thơ anh âm thầm sống lại những kỷ niệm về tình yêu, tình đồng đội, về những trận đánh khốc liệt ở chiến trường Campuchia khi quân tình nguyện Việt Nam giúp bạn diệt trừ bọn Ponpot độc tài, cứu người dân thoát khỏi nạn “diệt chủng”. Nhà văn Nam Cao đã nói “Sống đã rồi hãy viết”. Anh đã sống những ngày rực lửa cận kề cái chết, anh đã sống những ngày tháng thanh bình bên nước bạn cộng hòa dân chủ Đức sau khi xuất ngũ. Với cuộc mưu sinh đời thường khá vất vã nhưng hồn thơ trong anh chưa bao giờ nguội tắt. Anh đã dự cảm nếu không có thơ thì nhân loại sẽ như thế nào: “Nhân loại có thơ như người mù có gậy/ Như đứa trẻ mồ côi bỗng đón mẹ trở về/ Thơ là thuyền đưa ta vượt sông mê/ Thi sĩ – gã lái đò giàu có”(Thơ).  Hoặc “Còn đó những giấc mơ/ Còn đây niềm khát vọng/ Cơm áo và trang thơ/ Với anh là cuộc sống” (Về với mưa khuya).

Với một quan niệm “vị nhân sinh” về thơ như thế thì ở “Nỗi nhớ hình giọt lệ” tình người, tình đồng đội lại tăng lên bội phần, dâng trào đến rơi nước mắt. Ngay tên tập thơ đã nói lên điều đó. Nỗi nhớ có nhiều cung bậc luôn gắn với những vui, buồn hờn, giận hay ái, ố, hỉ, nộ. Hơn 10 năm chiến đấu gian khổ, ác liệt nhất ở chiến trường Kokong Campuchia, anh may mắn thoát chết nhiều lần và trở về trong tâm trạng:

Mạng sống đống vàng, người ta bảo/ Dẫu không lành lặn giữa ngày vui/ Hết giặc nay về lo cơm áo/ Vẫn nhớ rừng xưa đến ngậm ngùi – (Gửi Nguyên)

Thơ anh có tiếng khóc, tiếng cười, có muôn vàn nỗi nhớ. Có bài thơ là tiếng khóc, là nén tâm nhang dâng lên hương hồn cố đại tướng Võ Nguyên Giáp – “người anh cả” của quân đội Việt Nam anh hùng, như bài “Khóc tướng quân”: “Tin ông mất như cơn địa chấn/ Cả đất trời thấm đẫm tang thương/ Tướng quân lẫm liệt phi thường/ Vẫn không thoát khỏi con đường tử sinh”.

Cái “giọt lệ” ấy hầu như có mặt trực tiếp hay gián tiếp ở các bài thơ trong tập. Đây là tiếng khóc xé ruột gan, khi xuất ngũ về thăm nhà thì cha mẹ đã là người thiên cổ:

Khi trở về ngồi bên nấm cỏ xanh/ Mới nhận biết mình vẫn còn cha mẹ/ Mới cảm hết tình quê sao nặng thế/ Nơi cha mẹ nằm đất hóa thiêng liêng.- (Nỗi nhớ hình giọt lệ)

Nỗi nhớ làng quê, cha mẹ, anh chị cứ theo anh đi đầu non cuối bể. Nó mang hình “giọt lệ” và cứ nguyên vẹn trong tâm tưởng. Mỗi bước quân hành, nó như một động lực tạo thêm sức mạnh, thôi thúc anh chắc tay súng:

Tôi mang theo hình bóng làng quê/ Đi đánh giặc đầu non cuối bể/ Có nỗi nhớ mang hình giọt lệ/ Vẫn nguyên lành như thế đến hôm nay.- (Nỗi nhớ hình giọt lệ)

Và biết bao nỗi đau về nhân tình thế thái trước những biến thiên của lịch sử của xã hội và con người sau cuộc chiến đều hiện hữu trong thơ. Có nỗi nhớ về những người mẹ, người chị người em và bạn bè thân thiết, người còn, người mất. Có người chị mỗi ngày mòn mỏi chờ chồng ở chiến trường xa và cuối cùng chỉ là “Đốt nén nhang như đốt lòng mình” (Chị). Bàn chân anh qua bao đèo cao suối sâu, bao nghĩa trang, thấy “Các anh chỉnh tề hàng ngũ/ Tên người bia đá khắc ghi” nhắc nhở ta khắc ghi “uống nước nhớ nguồn”.

Gian khổ đến mấy nhưng tâm hồn người lính đâu có thành sỏi đá. Bên cạnh những vần thơ “lửa cháy” trong anh thì những vần thơ “tươi xanh”  vẫn vút lên cung bậc tình yêu nồng cháy không kém phần lãng mạn: “Nỗi nhớ nào thành mưa nguồn chớp biển/ Đến đất trời cũng réo gọi tên nhau/Anh khẽ gọi tên em chiều gió trở/ Tiếng anh chìm trong tiếng gió ngàn lau” (Những cơn mưa). Anh nhớ đến tên em, mắt em, tóc em, lời em để cuối cùng trong anh “Em là cả một bài thơ/ Tôi say xưa viết trước giờ hành quân” (Người tôi yêu) hay “Bởi ngoài em tôi chẳng có riêng tư/ Chỉ cây súng và mối tình hy vọng”. Chính tình yêu ấy đã tiếp lửa cho anh thêm sức mạnh. Đúng như nhà thơ Xuân Diệu đã viết “Hang chẳng thẳm núi chẳng dài/ Một người chiến đấu với hai tâm hồn” (Anh đi công tác). Giữa hai trận đánh, phút nghỉ ngơi ít ỏi chờ giặc tới thì những người lính lại đem thơ tình ra đọc cho nhau nghe: “Giữa đạn bay, bãi cháy ngàn lau/ Người lính đọc thơ tình đợi giặc/ Em lắng đọng giữa hồn tôi giăng mắc/ Lại xa vời trong nỗi khát khao” (Tình yêu người lính).

Thơ Phan Bá Linh không miêu tả, tường thuật những trận đánh khói lửa ngút trời như trong phim “Mưa đỏ” (2025) tái hiện cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972, mà anh chỉ ghi lại những cảm nhận qua nỗi nhớ những gì mình mắt thấy tai nghe, những trận chiến ác liệt, và cả những trãi nghiệm đời thường qua nhân vật tôi “trữ tình”. Tuy vậy anh vẫn luôn nhận mình chỉ là kẻ “dại khờ” để “Dấn thân vào cuộc chiến chinh/ Cũng là dịp để biết mình vàng thau” để rồi “Là tôi đây kẻ dại khờ/ Lợi danh mang tặng, giấc mơ để dành” (Kẻ dại khờ). Chính vùng quê “Đất gió” Quảng Trị đã tôi luyện con người chiến sĩ và con người thi sĩ trong anh thấm đẫm tình quê, tình đời.

Trong tập thơ này duy nhất có bài “Vùng đất tử” ở Kokong là anh miêu tả khá chi tiết nỗi khốc liệt của thiên nhiên mà người lính đã đối mặt để sống và chiến đấu: “Vùng “đất tử” nhiều năm chúng tôi đã sống/ Ta đến đây “đất tử” hóa “đất sinh”. Đó là “Nơi mùa khô đi qua làm xơ xác cây rừng/ Gió thổi khô ruột đất/ Con ong không có hoa làm mật/ Con chim rừng bỏ tổ bay đi/ Con rùa nằm lại dưới lòng khe/ Mai nó như bị nướng”. Và đến mùa mưa thì mưa như trút nước “Suốt mùa mưa không thấy mặt trời/ Bốn giờ chiều đã tối/ Mây đen trùm lên đầu núi/ Mây bay dưới mái tăng/ Mây luồn dưới võng bạn nằm/ Mưa, mưa tối mặt”. Thiên nhiên quái ác, kẻ thù thâm độc không thể làm chùn bước chân người lính. Những tên rừng, tên núi ở Kokong cứ hiện về trong ký ức như một đoạn phim quay cận cảnh. Nào là Ruộng Muối-Sireompel, nào là nơi bốn con sông chảy cắt đường 18, vùng đất Kép, Tabenrung. Những mùa khô ở Pitnin cũng chẳng kém Kokong: “Gió thổi mờ rừng, gió liếm cạn từng khúc suối/ Mặt trời xòe quạt lửa/ Đất cùng người nắng đốt trần thân”.

Gian khổ, ác liệt của chiến trường càng tôi thêm tinh thần thép của mỗi chiến sĩ, tình đồng đội được nâng cấp số nhân. Các anh chia nhau từng ngụm nước, điếu thuốc. Miếng cá khô dành cho thương binh, người bệnh. Sốt rét, muỗi vắt, rắn rết, hổ báo, kẻ thù không thể làm sờn lòng người lính, và họ luôn quyết tử cho nước bạn hồi sinh.

Khi ngọn lửa chiến tranh nguôi tắt, anh trở về với cuộc sống đời thường cũng đối mặt với không ít khó khăn nhưng anh đã có nghị lực và ý chí của anh bộ đội Cụ Hồ đã được tôi luyện hơn 10 năm ở chiến trường nên anh vẫn vượt lên tất cả để xây dựng cuộc sống mới đàng hoàng hơn, tươi đẹp hơn.

“Nỗi nhớ hình giọt lệ”- tập thơ thứ năm này của nhà thơ Phan Bá Linh vẫn tiếp nối mạch nguồn của bốn tập thơ trước. Cái đáng quý trong thơ anh là sự chân thật và giản dị, dễ đọc, dễ hiểu, dân dã mà hiện đại, không đánh đố người đọc phải giải mã nhiều tầng nghĩa liên tưởng như kiểu thơ hậu hiện đại, mà nó có sự giao thoa giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời thường, và anh thành công hơn cả là ở thể thơ lục bát truyền thống và thể thơ 7-8 chữ của phong trào Thơ mới. Thơ anh chính là: “Điệu tâm hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu” như nhà thơ Tố Hữu đã nói. Vì thế chất trữ tình luôn hòa quện với chất lính làm cho hình tượng thơ nổi gió, neo lại được trong tâm hồn người đọc.“Nỗi nhớ hình giọt lệ” của nhà thơ, chiến sĩ Phan Bá Linh là một tập thơ mang vẻ đẹp nhân văn của anh bộ đội Cụ Hồ.

11/4/2026
Lê Xuân

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

“Nương theo dòng chảy” của Trần Sang

Nhà thơ Trần Sang, tên thật Trần Phước Sang – hạt phù sa “Nương theo dòng chảy” đầu nguồn sông Cửu Long miền biên vực Tân Châu [Việt Nam – Kampuchia], xưa thuộc Châu Đốc và nay là An Giang. Miền đất ấy, vốn có bề dày văn hóa lịch sử cũng như sản phẩm tơ lụa với Lụa Tân Châu một thời vang bóng.

Nhà thơ họ Trần gắn bó đất quê, hồn quê và dành trọn tấm lòng yêu quê hương qua văn chương. Theo trang thông tin Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang, “năm 2014, anh xuất bản tập thơ đầu tay “Sông muôn đời vẫn thế” và đoạt Giải Tác giả trẻ của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam trong năm này”. Từ đó đến nay, Trần Sang miệt mài “Nương theo dòng chảy” của nước và thời gian trên hành trình thi ca “dâng hiến” người đọc những thanh âm trong treo, hình ảnh tươi sáng, giọng điệu dung dị, chân thật, gần gũi. Ngần ấy, Trần Sang tạo riêng có thế mạnh ẩn chứa mạch ngầm hằng hà sa số phù sa chiêm nghiệm sâu lắng. Tập thơ Nương theo dòng chảy (NXB Đà Nẵng, 2025) tiếp nối mạch suy tưởng đó, mang lại cho bạn đọc cơ hội quay vào chính mình để sống trọn vẹn với những dòng chảy nội tại và hòa vào dòng chảy chung của đời sống thường nhật trong cõi nhân gian.

Dòng chảy đời sống hối hả thời hiện đại

Nhiều bài thơ của nhà thơ Trần Sang thể hiện bối cảnh đời sống của thời đương đại. Cho thấy, nhà thơ họ Trần luôn gắn chặt lòng mình với nhịp đời đang xảy ra. Trong đời sống đó, Trần Sang cảm tưởng, thực hành sống của con người đương thời như đang dấn thân vào mê cũng dữ liệu – vấn nạn sống trong không gian số hóa. Con người ngày càng gắn chặt vào công nghệ, đến mức bị chi phối và lệ thuộc. Và đến mức, lòng người bị thuật toán uốn cong. “Lòng người uốn cong qua thuật toán / lạnh lùng lặp mãi ánh nhìn xưa / sự thật trôi xa ngoài cú click / ta trao nhau lời hứa mơ hồ / qua tín hiệu 4G, 5G / nhanh như chớp mắt rồi tan biến / như tin nhắn vừa đến đã quên thôi / (tr.7). Cho thấy, công nghệ đã bá đạo đến mức chi phối sự định hình suy nghĩ và hành vi con người.

Qua đó, nhà thơ Trần Sang còn phản ánh sự nhập nhằng giữa thực tại và thế giới ảo. Thông tin thật giả lẫn lộn, con người sa lầy trong ma trận truyền thông. Vì thế mối liên kết tâm hồn giữa người với người có nguy cơ trở nên xói mòn. Ở đó, cảm xúc trở nên thông tin, trở nên xơ cứng. Đúng hơn, cái chết của cảm xúc con người. Và chính ở đây, nhà thơ bộc lộ nỗi khao khát “nhân tính”, mong mỏi quy nguyên bản diện nhân tâm. “ngày mai ai còn nhớ / khi lịch sử hóa chuỗi nhị phân / cảm xúc thu mình trong biểu tượng / “một like” “một love” hay “haha” / che giấu nỗi trống rỗng bên trong / ta lạc bước mê cung chằng chịt / tìm một câu trả lời chẳng thấy trên google / một ánh mắt chưa bị che bởi filter / và một trái tim chưa hóa thành cỗ máy kiếm tìm …” (tr.8). Tác động công nghệ cũng như đời sống vật chất hiện đại khiến cho con người trở thành cỗ máy vô hồn. Và, cũng như thế, tình người trong xã hội hiện đại cũng chịu sức ép – sức ép rất nặng của “cơ chế thị trường” khiến con người phải sống với nhau bằng nhiều – rất nhiều lớp mặt nạ. Nhà thơ họ Trần bày ra cuộc đời như bãi chiến trường, thể hiện nỗi ngao ngán và chán chường trước cuộc đấu tranh sinh tồn của con người. Sống trở nên sự chấn thương hiển nhiên. Hung khí gây tạo vết thương hay đúng hơn, vết cắt cứa và theo Trần Sang: dối trá, ích kỷ, lòng tham, dò xét, toan tính. Đời sống vật chất tiêu thụ có nguy cơ khiến cho con người vong bản. Đánh mất bản diện nhân tâm, con người có nguy cơ sụp đổ hệ giá trị sống và trở nên “hư vô hóa”!

Thời đại ấy, chiếc điện thoại nhiều khi lại gần gũi với ta hơn là những người thân yêu. “Khi chiếc điện thoại trở thành bạn thân/ và ánh sáng màn hình/ che mờ đi nụ cười của mẹ/ của cha/ của chính chúng ta …” (tr.21). Giữa vòng quay đó, đồng tiền lên ngôi, nó cuốn phăng đi tình thân, nó hùng hục như lũ quét, mọi giá trị thiêng liêng có thể bị mai một bởi sức câu kéo của đồng tiền. “Đồng tiền/ chảy tràn như cơn lũ/ cuốn theo sự thờ ơ/ cả những giá trị/ đã từng thiêng liêng” (tr.21). Nhà thơ cho thấy nhiều ưu tư về lẽ biến đổi của đời sống dưới sức ép kim tiền. Khi con người có thể ngồi trên nỗi khổ của kẻ khác; khi trẻ con ngay từ thơ bé đã làm trò mua bán cảm xúc bằng lượt thích và độ tương tác trên mạng xã hội. Con người trong đời sống số hóa dần chạy theo giá trị bên ngoài mà không trau dồi đời sống nội tâm. Và, vì vậy, giữa vòng quay cuộc đời hối hả, nhà thơ mong mỏi chốn bình yên, cho mình cũng như cho bạn đọc. Nhưng tìm đâu trên đời này chốn bình yên nếu lòng người không có bình yên. Vì thấy, hãy trở về lòng mình, đó là khởi nguồn an nhiên!

Thơ Trần Sang không chỉ những nhức nhối của đời sống hiện đại. Ở phương diện khác, thơ Trần Sáng còn những gam màu tươi tắn trong sáng, đầy rung cảm trước vẻ đẹp cuộc đời và tha nhân.

Dòng chảy rung cảm trước vẻ đẹp cuộc đời

Vượt qua vòng quay điên đảo rối ren đời sống, thơ Trần Sáng nhóm lửa và ngọn lửa ánh lên những cảm xúc tinh tế. Đâu đó trong đời sống bộn bề, hồn thơ lắng đọng trong khoảnh khắc, trong lúc lắng nghe, hồn thơ giao hòa thiên nhiên. Từ những rung động rất đời thường như thế, nhà thơ bộc lộ ít nhiều suy tư về đời sống. Thơ Trần Sang thường khởi đi từ những rung động nhẹ nhàng như vậy nhưng không dừng lại ở đó mà thường hướng đến một góc nhìn triết lý về đời sống. “Tiếng chim không chỉ là tiếng chim/ là giọng thì thầm của thời gian/ đưa tôi về với những điều nguyên sơ nhất/ trong vòng xoay của đời/ có khi nào tôi quên mất / yên bình thực ra / chỉ hiện hữu như một khúc ca không lời?” (tr.11). Phải chăng, nhà thơ họ Trần đất Phú Lộc gợi nhắc lòng người đôi khi mải mê chạy theo đời hối hả có thể quên mất sự bình yên hằng có. Như thế, nhà thơ gián tiếp kêu gọi ta dừng lại phút giây để nhận diện chính mình, cũng như thực sự nhận ra cuộc đời chung quanh. Hạnh phúc chẳng phải mục tiêu cao xa hãy viễn đích mịt mù mà hạnh phúc có thể có được trong sự trọn vẹn của từng giây phút hiện tại. Trong lắng đọng phút giây, nhà thơ Trần Sang đã cho phép lòng dạ tự chữa lành. Nói đến những đổ vỡ, tổn thương nhưng ý thơ không u trầm buồn bã, ngược lại “hong lại mình”, bằng cách đó tác giả tìm kiếm sự chữa lành, vượt thoát những tổn thương mất mát đã qua.

Hồn thơ lắng nghe truyền thần của tự nhiên, phát hiện vẻ đẹp và sự nhiệm mầu của tạo hóa. Hơi thở của đất ướp vào con chữ, tạo nên dư vị thi ca. Nhà thơ lắng nghe chuyện kể của đất trời của tạo vật. Không phải nhìn bằng mắt, không phải nghe bằng tai, mà nghe nhìn bằng trái tim, nhà thơ cảm được sự nứt mầm của hạt giống, những mùa gió vừa rụng xuống, những cơn mưa đầu mùa. Len qua kẽ nứt, những cảm xúc vi tế hóa thành thơ. “Đất thì thầm nỗi đau/ những vết xước hằn sâu/ bởi bàn tay con người/ đào xới và lấy đi/ chưa một lần trả lại/ Tôi nằm im/ nghe đất thở/ nghe cả tiếng khóc khẽ khàng/ mỏng manh như giọt sương rơi/ Rồi mai này/ đất còn đủ hơi/ để kể tiếp/ một câu chuyện lành lặn không?” (tr.118). Ý thức sinh thái ẩn chứa trong hơi thở của đất. Trong sự liên thông với thần thức thiên nhiên, nhà thơ thấu cảm niềm đau sinh giới. Không chỉ là sinh giới vô tri vô giác, ở đó, nhà thơ phát hiện những vết hằn năm tháng, tức mỗi sự thể đều hàm chứa trong nó một câu chuyện. Sinh giới bị phá hoại, con người không chỉ mất mát thiên nhiên mà còn mất mát chính phần đời sống trong mối liên hệ mật thiết với thiên nhiên.

Về phần cốt tủy nhất của tâm hồn, nhà thơ Trần Sang dành cho tình cảm gia đình. Qua hình ảnh đôi bàn tay, nhà thơ khơi gợi cội nguồn sinh dưỡng của con. Từ hơi ấm bàn tay cha mẹ gắn bó cuộc đời, con được sinh ra. Rồi bàn tay chai sần vì năm tháng của mẹ giữ gìn cho con cả bầu trời thơ bé. Bàn tay thô ráp của cha với con là nơi an toàn nhất, cũng là điểm tựa cho con vượt qua bão giông. Và, “bàn tay em/ đôi lúc run rẩy/ đôi lúc chênh vênh/ nhưng khi siết chặt/ lại đủ hóa một người thành mái ấm” (tr.19). Đó là, đôi đôi tay của người bạn đời gắn bó keo sơn, là điểm tựa, là mái ấm gia đình, là nơi quay về… – quay về những lúc nghịch cảnh, trái gió trở trời trên bước đường đời. Từ những bàn tay ấm nóng ấy, nhà thơ phát hiện giữa cuộc sống bộn bề hẳn vẫn còn những đều tử tế tốt đẹp, dù nhỏ bé những vẫn lặng lẽ điểm tô cho đời. Chẳng hạn như ánh mắt trẻ thơ trong veo, như niềm san sẻ trong hoạn nạn gian khó.

Bởi, những điều tốt đẹp như thế, nhà thơ Trần Sang dù trang trải những u buồn tổn thương thì cuối cùng vẫn chia sẻ một niềm tin tưởng lạc quan. Cùng với đó, người con làng Phú Lộc giờ đã là nhà thơ – nhà thơ có xu hướng trở về nơi chôn nhau cắt rún – tiếng võng trưa hè hòa nhịp tiếng má ru con cùng tiếng sóng vỗ bờ sông nước. Lâng lâng hồn quê nhà, thương lắm những ngày xa lắc xa lơ ấy!

Dòng chảy hoài niệm thời gian

Giữa nhịp sống hối hả, nhà thơ Trần Sang chợt bồi hồi hoài niệm quá khứ và kèm theo đó, nhà thơ họ Trần chiệm nghiệm nơi cội chốn nguồn. Tình thơ khắc khoải, ý thơ sâu lắng, tâm hồn con người bằng suy tưởng đã quay lại cố hương sau nhiều năm lưu lạc. Đằng sau hình ảnh bình dị làng quê, bạn đọc có thể nhận ra vài suy nghiệm về thân phận con người. Và, trong đó, bạn đọc hẳn còn cảm thấu dường như có niềm chua chát về mất mát. “Về cày xới lại mảnh đất chôn nhau/ tìm gốc gác/ hai mươi năm lưu lạc/ có ngờ đâu lục bình trôi lại không trổ bông?” (tr.13). Lời thơ như gợi lên chút xót xa năm cũ. Hình ảnh lục bình gợi thân phận chìm nổi giữa dòng đời. Gợi ra nỗi buồn – nỗi buồn xa vắng của kiếp sống lưu lạc – song dù dù lưu lạc khắp bốn phương trời, lục bình vẫn vừa trôi vừa trổ bông.

Thơ Trần Sang ở phương diện này mang chất giọng xa rất xa – và xa rất xa ấy, chính là gần rất gần nỗi ngậm ngùi. “Ngần ấy năm sống đời xứ chợ / tìm chén cơm trên bước đường lầm lũi / ngày tất bật chưa kịp gặp mặt trời / đêm về gác tay lên trán mà hổ thẹn với vầng trăng quê” (tr.13). Trên bước đường gian truân mưu sinh, người bị vùi dập trong chuỗi ngày đè nặng bởi cơm áo gạo tiền. Sự hổ thẹn với trăng quê, đúng hơn là nỗi day dứt của tâm hồn cứ đau đáu một nỗi quê nhà. Lấy bóng quê làm gương phóng chiếu, nhà thơ Trân Sang cảm nhận rảo vọng vòng danh lợi. “Danh vọng đâu cho kẻ quên đường?”, câu tự vấn của tâm hồn lương tri. Nếm trải sóng gió, nhà thơ nhận ra danh vọng không thể bù đắp cho sự mất mát nguồn cội. Con người vong bản, mất gốc đã đánh mất chính mình thì, danh vọng còn nghĩa lý gì nữa! Và trong ý thơ, cơ hồ ta nhận ra nhà thơ có ý trách nhẹ nhàng những người mải mê chạy theo danh vọng mà đánh mất quê hương.

Trong thơ Trần Sang, thời gian đời người như tiếng thở dài. Hồi vọng thời gian, thơ Trần Sang mang cảm thức u buồn, sầu muộn, nặng tâm tưởng. Đó là lúc ý thức phản tư và thấy chủ thể trữ tình đứng bên kia dốc người. Ánh nắng hoàng hôn thưa buồn soi lại tuổi thanh xuân, nhà thơ bỗng chốc thấy mình đứng giữa mênh mông. “Bao năm tháng gom đầy trăn trở/ rồi cũng nhòa như hạt bụi bay/ bước quá nửa đời, tôi mới hiểu/ vinh quang nào cũng thoáng mây bay/ lối tôi đi phủ đầy nắng xế/ còn bao mùa để kịp yêu thương/ có ai đợi bên hiên gió lộng/ lặng nghe chiều vọng khúc vô thường” (tr.120). Nhà thơ triết lý về thời gian. Ý nghĩa đời người hiện ra: hư không. Vinh quang, danh lợi đều bị thời gian bôi xóa. Chính vậy, hồn thơ “chỉ có lòng thanh thản mà đi/ ngoài yêu thương tôi giữ được gì? / hòa vào gió, theo cánh thiên di …” (tr.120). Chỉ để gió cuốn đi! Nhưng trong cái biến đổi hư không ấy, yêu thương sẽ lan tỏa cùng những dòng chảy thi ca.

Cảm thức thời gian tạo nên sức nặng cho câu thơ Trần Sang. Thời gian luôn gợi ra trong lòng nhà thơ nỗi niềm mất mát, thương tưởng. Nhất là thời khắc cuối năm. Trong giây phút lắng đọng, nhà thơ với trời đất lặng lẽ nhìn nhau. Không nói, nhưng dường như đã thấu hiểu. Nhà thơ như thấy mình là “cây khô đứng chờ một làn gió mới/ những mùa xanh chưa kịp về” (tr.92). Thời gian tràn qua thổi lùa đi ngày xanh, để sót lại những mảnh vỡ. Ý thơ này khiến ta liên tưởng đến câu thơ Lý Thương Ẩn: “Tương kiến thì nan biệt diệc nan/ Đông phong vô lực bách hoa tàn”. Gió đông phơ phất ấy vậy thổi tàn trăm hoa. Thời gian vô hình nhưng khiến cho niềm vui nhạt nhòa, đời người trôi chảy tan biến. Trong cảm thức như vậy, nhà thơ trở lại với chính mình: “ngày cuối năm/ là lúc tôi đối diện với chính mình/ nhìn sâu vào những vết nứt trong tim/ và hiểu rằng/ nơi ấy, nắng vẫn thắp lên từng ánh sáng/ khiến tôi mạnh mẽ hơn/ không chỉ để tồn tại/ mà để yêu thương” (tr.92).

Thời xưa như mạch ngầm đong đầy thương nhớ mà từ đó hồn thơ thả lòng tắm mát trong những ký ức đẹp đẽ, cũng là cách để hồn thơ thoát khỏi những thúc bách bộn bề của buổi đương thời. Khi đó, hồn thơ còn trang trải những suy tư triết lý.

Dòng chảy suy nghiệm hiện sinh

Thơ Trần Sang với dáng vẻ dung dị nhưng có chiều sâu tư tưởng. Những bài thơ với ngôn ngữ đơn sơ song ẩn chứa suy tư sâu lắng. Bằng hình tượng giản đơn, nhà thơ có khả năng triết luận, tìm vào bản thể đối tượng, ký thác ở đó những suy niệm hiện sinh. Bài thơ “Vòng tròn” như cơn áp thấp suy tưởng. Cây bút vẽ vòng trên giấy, không biết lối nào để thoát, gợi tả sự bế tắc của cuộc sống tù đọng. Sống như thường trực phải lê bước trong mê cung lạc lối. “Thời gian là vòng lặp lại/ mình xoay trong những tháng ngày / đi mãi có lần sẽ gặp / chính mình lạc lối hôm nay / và như thế tôi ở lại / giữa vòng tròn chẳng ai hay…” (tr.6). Nhận ra điều này tức bắt đầu phản tư, tức hàm chứa khát vọng vượt thoát. Nhà thơ họ Trần nhận diện sự rỗng không của đời sống; đời sống hiện lên như vòng lặp bất tận. Nguy cơ của nó: đời vô nghĩa! Bằng suy tưởng, con người lắp đầy dòng chảy trống rỗng đó. Bởi con người không thể sống với cái rỗng không. Thơ Trần Sang ưng ức nỗi đau hiện sinh, một tâm trạng vây khốn và giãy thoát, một trái tim băn khoăn khôn nguôi về nghĩa lý tồn tại.

Bên cạnh đó, Trần Sang qua thi ca biểu thị truy vấn vào bản chất tồn tại, nghĩa lý của tồn tại, cách thế tồn tại. Sự viết và sự sáng tạo có thể là gì trong đời sống này, mỗi con người, mỗi chặng đường đời có thể như “một cuốn sách chưa hoàn thành” hay một trang còn viết dở. Và sự viết có phải cách để chủ thể sáng tạo thành toàn đời sống? Liệu có thể thành toàn “hay chỉ là một bản thảo khác”. Bài thơ của Trần Sang liên tục là những câu hỏi. Có lẽ, với thi ca, với nghệ thuật nói chung, con người chỉ có thể nêu ra những truy vấn mà không thể chạm đến câu trả lời. Nhà thơ để dành việc đó cho tâm tưởng mỗi người đọc. “Vậy nếu tôi dừng lại/ không đi tiếp, không viết tiếp/ thế giới này có mất đi một dòng chữ/ hay chỉ là một bản thảo khác/ chờ ai đó chỉnh sửa lần cuối?” (tr.122). Suy tưởng và thi ca hòa quyện, hồn thơ Trần Sang cắt nghĩa tồn tại. “Tồn tại là sự chấp nhận/ không phải chạy trốn” (tr.41). Phải đối diện với chính cuộc hiện hữu, để truy cầu và trong đó nghĩa lý tồn tại hiển hiện ra. Đi xa hơn, nhà thơ ưu tư về tự do và ràng buộc. “Ngọn cỏ nhỏ giữa cơn bão/ cúi mình để đứng vững/ đôi khi tự do/ là biết cách/ tồn tại giữa bốn bề ràng buộc” (tr.41). Việc bứt phá ràng buộc rất có thể khiến hồn người lại sa vào ràng buộc khác. Và còn hơi thở, không thể không bị ràng ruộc. Cho nên đã có triết gia nào nói rằng sống tức là lưu đày biệt tích, cũng có triết gia cho rằng sống là phi lý cố nhiên. Nhưng một khi đối diện, và dù chỉ chấp nhận thôi, ngọn cỏ tự do liền phất phơ trong gió!

Đi sâu vào tâm hồn con người, Trần Sang mang lại không chỉ hành trình tìm về bản thể mà trên hành trình đó, nhà thơ cho bạn đọc cơ hội cảm nghiệm tổn thương trong không gian mơ tưởng. Giấc mơ là phương thức nghệ thuật hữu hiệu để chủ thể sáng tạo đào sâu vào phần tàng khuất của tâm hồn. Trong đó, nhà thơ nhận diện niềm đau, nhặt từng mảnh vỡ. “Đêm lạnh/ tôi ngồi bên những mảnh vỡ/ và tự hỏi/ có ai từng vá được một giấc mơ nứt vỡ?” (tr.104). Câu hỏi ấy, nhà thơ Trần Sang không chỉ hỏi mình, mà đặt ra cho mỗi người đọc. Ai từng vỡ vụn tâm hồn và ai từng chắp vá mảnh vụn giấc mơ. Trong miền tâm tưởng sâu thẳm, ai hẳn cũng từng bị tổn thương, có những niềm đau tưởng đã lành lặn nhưng thực ra chỉ nằm im đó, chìm vào tiềm thức, chứ không mất hẳn đi. Niềm đau ấy cho đến cuối cùng trở thành vết tích con người trên hành trình sống trải. Giá trị đời người nhiều khi đến từ những vụn vỡ như vậy!

Đôi lời kết:

Thơ Trần Sang mang vẻ ngoài giản dị, gần gũi với đời sống thường nhật, nhưng ẩn chứa bên trong là những dòng chảy tâm tư, chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, con người và xã hội. Sự bình dị trong thơ Trần Sang không hời hợi mà chứa đựng những mạch ngầm suy tưởng, triết lý. Bên cạnh đó, thơ Trần Sang phản ánh bối cảnh xã hội hiện đại, đặc biệt là sự ảnh hưởng của công nghệ, đô thị hóa, và sự thay đổi trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Trong đó, Trần Sang nhìn thấy và diễn tả được những vấn đề nhức nhối của thời đại, như sự lệ thuộc vào công nghệ, sự xói mòn của tình người, và sự mất mát các giá trị truyền thống. Không dừng lại ở việc miêu tả hiện thực, trang thơ Trần Sang còn đi sâu vào những suy tưởng về bản chất tồn tại, ý nghĩa cuộc sống, và sự cô đơn của con người trong xã hội hiện đại; và thường đặt ra những truy vấn hiện sinh nặng ưu tư chiêm nghiệm, khơi gợi người đọc suy ngẫm về thân phận con người và thế giới xung quanh.

Hồn thơ Trần Sang đậm tính nhân văn, thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến con người, đến những giá trị tinh thần và tình cảm. Mắt thơ nhìn thấy và phản ánh được những vấn đề của xã hội hiện đại, đồng thời kêu gọi sự trở về với những giá trị nhân bản, với tình yêu thương và sự tử tế. Kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ giản dị và những suy tưởng sâu sắc, Trần Sang khéo léo sử dụng hình ảnh thiên nhiên, những chi tiết đời thường để diễn tả những cảm xúc và triết lý phức tạp, tạo nên sức hấp dẫn và sự đồng cảm với người đọc. Nhờ đó, trang thơ Trần Sang còn là hành trình tìm kiếm sự bình yên, sự chữa lành trong tâm hồn. Cảm xúc thơ trong trẻo, nhẹ nhàng hòa quyền chất triết lý suy nghiệm, thơ Trần Sang là những giây phút lắng lòng với chính mình để nhận diện vẻ đẹp cuộc đời, nhận diện trong đắng cay có biết bao ngọt bùi từ cay đắng sinh sôi nảy nở!.

13/4/2026
Trần Bảo Định

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Hồ Anh Thái ‘nhặt’ được ‘Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân’ Đọc cuốn sách mới “ra lò” của nhà văn Hồ Anh Thái, dày 469 trang, chữ hơi nh...