Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026

 

Chớp bể mưa nguồn

Gói chè để lại chơ vơ trên bàn, chai rượu mở nút lá chuối nằm lăn lóc chưa kịp nút lại. Bẽ bàng sầu tủi, tiếng chửi thề loang trong con ngõ nhỏ.

Nhà văn Lê Hà Ngân ở Ninh Bình

1. Đào đã phai, cánh nhạt dần héo lại rũ xuống trên lối đi của con ngõ nhỏ hai bên trồng toàn đào. Ngõ đào phảng phất một mùi hương ngan ngát trong gió xuân. Tết cũng đã muộn, người ta hối hả ra đồng cày cấy cho kịp thời vụ. Trên những đùm mạ còn được buộc tòng teo tấm bánh chưng để trưa cấy muộn không kịp về ăn cho chắc dạ. Dư âm của tết vẫn còn chậm chuội trên cành nêu uể oải phe phẩy trong gió xuân.

Lão Thính đang dắt con trâu lấm lem bùn đất dưới ruộng lên. Con trâu già thở phì phò trên bờ ruộng. Hai mép nó trắng xóa những bọt mệt nhọc đứng đực lại góc bờ đỗi ruộng. Các bà đi cấy chưa bước qua được vì vướng con trâu thì bực bội gắt lên:

– Trâu với bò… Cái nhà lão Thính này dở người hay sao mà không dắt của nợ này lùi cho người ta đi cấy! Cứ đứng ì ra đấy mà án ngữ là làm sao?

Sau tiếng chửi ráo riết, người và trâu mới bước lên được lên bờ tới gốc gạo ven đường nằm nghỉ. Lão Thính lấy bàn tay đập nhẹ lên lưng con trâu ra chiều âu yếm lắm. Rồi lão nhanh tay lấy cái bánh chưng giấu trong nón rách bên hông ra bóc bánh đút cho trâu ăn. Con vật già nua lim dim mắt tận hưởng cái khoảnh khắc sung sướng mà ông chủ ban cho.

Nhưng tấm bánh chưng vuông dẻo quánh nếp làm con trâu bị dính răng trầy trật không thể nào nuốt trôi được. Nó lại rơi xuống đất, con vật bần thần nhìn miếng bánh chưng rơi. Lão

Thính xuýt xoa nhặt vội tấm bánh chưng lên rồi bẻ từng miếng nhỏ. Lão lẩm bẩm nói cùng con vật:

– Ừ nhỉ? Tại tao không nghĩ ra mày chỉ có một hàm răng dưới mà không có hàm trên nên làm sao mà có thể nhai nuốt ngay được tấm bánh dẻo vuông vức này cơ chứ.

Sau những tiếng lẩm bẩm là lão lại bẻ nhỏ từng miếng bánh đút cho con vật thật trìu mến. Hạt đỗ rơi lão cũng cẩn thận tẩm vào miếng nếp như đang đút cho em bé.

Vài người đàn bà đi qua thấy cảnh đó liền cười ré lên:

– Rõ dở hơi không các bà kìa! Người không có bánh chưng mà ăn lại đem cho trâu ăn rõ nỡm không cơ chứ.

Một tiếng thở dài buông thõng trên bờ ruộng:

– Kệ người ta! Nhà chị cũng rỗi việc lắm cơ, nỏ mồm làm gì kệ lão ấy! Đi mà cấy mau lên. Trưa chật trưa chừa rồi đây này. Nhân sao vật vậy, lão ấy cho trâu ăn bánh chưng để nó cày khỏe thì bận gì đến chị… mà cả năm nó được cái bánh chưng cũng đúng mà.

Nguýt người đàn bà vừa lắm điều một cái, chị ta vén quần lội ùm xuống ruộng hối hả căng dây cấy. Những túm mạ non được tung đều vào các ô ruộng được căng dây thẳng tắp. Khí xuân ngan ngát, trên cánh đồng phe phẩy mạ non xanh theo tay người mọc lên.

Lão Thính về tới nhà thì trưa cũng muộn. Vắt chiếc áo lấm bùn lên cành vối già rêu mốc trầm tư soi bóng xuống mặt ao hiu hắt, chưa kịp rửa chân lão đã nghe tiếng đon đả:

– Bác cả ra đồng về muộn thế? Em chờ bác dễ đến canh giờ rồi đấy! Bác mau vào đây anh em mình làm ấm trà rồi em bàn với bác việc này quan trọng lắm đấy!

Tiếng nói của thằng em kế sao hôm nay lại đon đả gọi mời thế không biết? Thường thì chả bao giờ nó thèm bước chân vào ngõ nhà anh. Nhiều khi giỗ bố cũng chẳng thấy mặt nó đâu. Họ mạc có hỏi thì nó tuyên bố một câu xanh rờn: Con đâu cha mẹ đấy! Các ông bà chỉ rỗi miệng dở hơi lắm điều. Thành thử ông bác bà cô trong họ cũng chán chả thèm nói nữa.

Thằng em kế của lão Thính chỉ mới học hết cấp hai, ngày xưa dốt thậm dốt tệ, khiến ông bố buồn nhưng lại ngạc nhiên vì sự láu cá của nó cả tổng này không ai bì kịp. Thế mà bây giờ đi đâu xa một bước là nó găm thùng, áo trắng ruôn ruốt, bút cài túi áo, kính trắng ngự trên mặt nom rõ trí thức hệt một ông giáo trên phố huyện. Thằng em kế của lão Thính được các cụ đặt tên Thịnh, thằng kế Thịnh có tên là Thinh. Thinh tốt mã, nhưng rẻ cùi cũng khinh anh cả ra mặt. Bởi có bao nhiêu cái xấu về hình thức thì bác cả Thính gánh hết cho rồi còn đâu. Nào là hàng răng hô lúc nào cũng cười cùng mưa gió kể cả đi đám hiếu. Cặp mắt ngưỡng thiên luôn ngửa mặt nhìn giời như bất kính. Đôi bàn chân vạt tép cứ dúi vào nhau trông thật chướng mắt. Khốn nạn nhất là mỗi khi đến đám việc làng trông thấy anh mình là Thinh lại sa sầm nét mặt làm như không quen biết. Anh em ruột mà nhạt như nước ốc làm lão Thính tủi bao bận. Cứ thấy hai thằng chú là lão tự giác tránh mặt để bọn chúng khỏi phải bực mình xấu hổ vì lão. Ấy thế mà hôm nay giời sập hay sao mà chúng lại dẫn xác tới nhà lão hể hả mừng rỡ thế kia. Lão Thính vừa mừng vừa tủi chả hiểu cơ sự ra sao nữa? Thằng Thinh trông thấy lão Thính thì ngoác mồm ra cười hềnh hệch:

– Ui bác cả chịu khó lam làm quá! Cứ thế này mà lấm láp vất vả ốm ra thì chết. Anh vào ngồi đi, chè em pha rồi ạ! Gớm cái loại chè Thái nhà em là cứ là nhất đẳng thần nhé! Đố thằng nào ở cái làng này có chè ngon như của em đấy! Phải không bác Thịnh? Hai bác uống thử coi. Em có bảo bu nó gói sẵn vài lạng sang biếu anh nếm thử?

Sau lời nói hắn lôi từ túi áo ra gói chè Thái bọc giấy báo đặt trang trọng ra giữa bàn mặt vênh vênh đầy tự đắc

Nhìn gói chè lão Thịnh cười khẩy rồi vênh váo:

– Chú chỉ nổ cho quen. Chè này muỗi nhé! Bác cả nhà ta là cứ phải làm be rượu nó mới giãn xương giãn cốt. Em rót luôn anh tợp thử xem nhé!

Chai rượu nút lá chuối trong vắt được đặt dưới chân bàn, giờ được xách lên. Lão Thính chợt ứa nước mắt cảm động, bối rối trước cái sự quan tâm quá ư đặc biệt của hai thằng em ruột. Chao ôi! Chè rượu hỉ hả mừng rỡ, như chưa bao giờ có sự rẻ khinh lạnh lẽo. Từ mừng rỡ ngạc nhiên, lão bỗng nghi ngờ và lo sợ như có sự chẳng lành sắp diễn ra. Chậm rãi lão cất tiếng run run hỏi hai thằng em:

– Hai chú hôm nay tới đây tìm tôi có việc gì đấy? Có gì hai chú cứ nói luôn ra đi. Tôi đang đợi nghe đây.

Thằng Thinh đưa mắt cho ông anh thứ hai của mình. Thịnh xoay xoay chén rượu trong tay rồi húng hắng:

– Thế này bác ạ! Chúng em thấy bác vất vả quá, nên cũng chẳng đành lòng. Anh em mình máu chảy ruột mềm, giờ thấy tiền phơi đầy ngõ mà không bảo anh nhặt có phải phí đi không? Tôi nói thế có phải không chú Thinh?

Thinh đang giả vờ nghệt mặt ra vội vàng hấp tấp lên tiếng:

– Bác hai dạy chí phải ạ! Chả là thế này bác cả ạ! Nhà bác có cái ngõ rộng thế để đi lại e lãng phí mà nhà người ta lại muốn có thêm mươi mét đất để xây thêm nơi thờ phụng. Chúng em sang đây là bàn với bác, bán quách cái ngõ và mảnh đất bên cạnh cho họ xây dựng. Anh có tiền tiêu, cuộc sống đỡ vất vả chúng em cũng mát mặt anh ạ!

Tiếng anh ạ! Cất lên kèm theo tiếng sụt sịt cảm giác như Thinh sắp khóc đến nơi vì thương anh. Lão Thính ngớ người như nuốt phải điều gì khó xử lắm. Lão lúng túng không biết giả nhời sao? Liền cất tiếng gọi vợ:

– Bu nó đâu, ra đây cho tôi nhờ tí việc.

Người đàn bà thấp béo ục ịch, mặt lấm tấm rỗ, nhưng lại được cái đức là đảm đang hiếu thuận với mẹ chồng nhất mực, khiến cả làng ai cũng tấm tắt khen là lão Thính còn tốt số. Thẽ thọt từ trong buồng bước ra. Lão Thính định phân trần và nhắc lại câu chuyện cho vợ hiểu về cuộc viếng thăm của hai ông em quý hóa. Chưa kịp nói gì, thì tiếng thẽ thọt lại cất lên:

– Bố nó không phải nói nữa! Tôi hiểu rồi. Nãy giờ trong buồng tôi đã nghe câu chuyện hai chú nói với bố nó. Cảm ơn hai chú đã có lòng với anh, nhưng hai chú thông cảm làm sao vợ chồng tôi dám bán ngõ nhà đi mà ăn cơ chứa? Bán ngõ đi thì chúng tôi biết đi vào đâu, rồi làng xóm người ta cười chê nhục lắm các chú ạ!

Mặt đỏ phừng phừng thằng em thứ ba của lão Thính vội vung tay chỉ thẳng vào mặt chị dâu:

– Chị đúng là đàn bà chẳng hiểu gì lẽ đời cả. Không trách suốt đời nghèo túng.

Sợ cứng quá sẽ hỏng việc, Thịnh vội vàng lên tiếng:

– Ấy bà chi lo xa quá! Mình không đi ngõ này thì mình mở ngõ khác có sao đâu? Đất nhà bác còn rộng mênh mông mà, bác mở ngõ sang bên trái là ổn ngay thôi mà. Tự dưng bán đất được mấy trăm triệu lại không giàu nhất xóm ấy chứ.

– Rõ khổ! Anh chị có muốn nghèo mãi đâu, khốn nỗi ai lại mở ngõ bên trái bao giờ. Chú không nghe câu ca các cụ dạy rằng: mở ngõ bên trái thi… chả còn à?

Thấy bà chị dâu tưởng chỉ khù khờ hàng ngày thế mà giờ đây đối đáp sắc sảo, Thinh Thịnh quay mặt nhìn nhau lắc đầu rồi lên tiếng:

– Đúng là cái loại đàn bà, tính toán thiển cận, thôi mặc xác ông bà. Nhưng mà đây nói cho mà biết nhé! Đất này là đắt của tổ tiên để lại. Vợ chồng ông bà không có quyền giữ lại nhé! Chúng tôi thách ông bà không cho bán đấy.

– Chú nói lạ! Đất này khi còn sống bố đã sang tên vào sổ đỏ cho chúng tôi. Ai dám đến đây mà bán cơ chứ? Các chú cứ quen bắt nạt ông ấy hiền lành, không bắt nạt được tôi đâu, còn pháp luật nữa chứ.

Gói chè để lại chơ vơ trên bàn, chai rượu mở nút lá chuối nằm lăn lóc chưa kịp nút lại. Bẽ bàng sầu tủi, tiếng chửi thề loang trong con ngõ nhỏ. Hoa đào lả tả hiu hắt, rợn ngợp hòa cùng giọt nước mắt tủi buồn của người đàn ông đang khóc cạnh người đàn bà cũng chua chát tủi phận vì cái tình máu mủ vừa diễn ra của hai người em chồng.

2. Tháng Giêng lạnh, ngai ngái nỗi niềm trống trải rưng rức nỗi đau trong lòng lão Thính khiến lão không ngủ được. Tiếng người mẹ già húng hắng ho càng làm lão buồn bã chẳng yên lòng. Bà cụ đã gần chín mươi tuổi, gần đất xa trời luôn được vợ chồng lão hiếu kính chẳng phút nào ngơi. Cũng may là bà cụ điếc nặng không nghe được cuộc cãi vã mắng mỏ của mấy đứa con mình trưa nay, để người già khỏi đau lòng vì con cái. Tiếng ho mỗi lúc một khan hơn, dầy hơn khiến lão Thính thắt ruột vì thương mẹ. Lão chạy vội vào buồng tìm lọ nước quất ngâm từ mùa xuân năm ngoái chắt ra cái chén, rồi rót thêm mật ong quấy đều rồi nhẹ nhàng bước xuống gian nhà bà cụ ở. Tiếng bước chân gấp gáp, Thính mở lá màn lay bà cụ:

– Mẹ ơi! Mẹ rát họng lắm phải không? Mẹ uống tí nước quất này cho đỡ ngứa họng mẹ ạ!

Tấm lưng còng của người già được đỡ dậy, dựa vào bờ vai gầy guộc của con trai cả xấu xí thiệt thòi mà nhân hậu. Bà Cụ húng hắng kìm cơn ho cố nhoẻn cười cho con yên lòng rồi thều thào cất tiếng:

– Thằng cả không ngủ đi, kệ mẹ ho tí thôi mà. Mày đi làm suốt ngày lại phải thức đêm hôm thế này khổ quá! Mong giời gọi mẹ đi sớm ngày nào thì anh chị mới đỡ vất vả vì mẹ…

Lão Thính xua tay:

– Mẹ lại lẩn thẩn rồi. Mẹ sống được ngày nào, chúng con mừng ngày ấy chứ…

Đỡ bà cụ nằm xuống, lão Thính dẹm màn cẩn thận rồi lặng lẽ quay trở lên. Lão ngồi bắn thuốc lào trên chiếc chõng tre, khói trắng bay mù mịt. Con gà nhà ai vỗ cánh phành phạch, chuông nhà thờ xứ đạo cất lên phá tan buổi mai tĩnh mịch mà ngổn ngang nỗi niềm của người đàn ông tội nghiệp. Nghĩ tới chiếc ngõ mà lòng lão buồn rười rượi, lão cố giữ gìn tấc đất của tổ tông, mơ ước biết đâu sau này con lão có bát ăn bát để thì lão sẽ xây dựng ngôi thờ tự khang trang để khỏi bất kính với tiền nhân.

Tranh của họa sĩ Lê Kiệt

3. Tiếng xe bò lốc cốc qua nhà thờ xứ đạo, một vài người hiếu kỳ quay lại chỉ trỏ. Bà cụ già gầy như chiếc lá ho sù sụ đang bám lấy thành xe rên rỉ:

– Mẹ xin các con, mẹ mệt lắm rồi, cho mẹ xuống ở với anh cả. Mẹ đã quen rồi. Mẹ cũng không muốn các con đem mẹ đi đâu. Mẹ gần đất xa trời rồi, cũng chỉ muốn ở lại mảnh đất mà cha các con đã sống.

Tiếng nói thều thào đứt đoạn. Nước mắt người già tắc nghẹn trong tiếng nấc, thế mà hai thằng con giời đánh không thương xót cứ đẩy chiếc xe lăn đi vùn vụt. Hình như bao căm tức từ vụ bán ngõ không thành giờ đây nó trút cả nỗi bực bội vào chiếc xe. Thằng con bất hiếu lên tiếng nạt nộ:

– Bà thì lúc nào cũng chỉ biết đến thằng cả. Bà nghĩ hai thằng này là con hoang hay sao? Bà cứ yên tâm từ nay chúng tôi sẽ chăm cho mẹ chu đáo không cần tới lão ấy nữa để nhà nó đừng lên mặt là hiếu nghĩa nhé! Bà đừng lải nhải nữa chúng tôi bực mình lắm rồi.

Bánh xe nghiến nát những hạt mưa xuân buốt lạnh. Bà cụ rùng mình gập người trong tiếng ho lăn lóc. Một vệt máu dài ứa ra từ khóe miệng khiến bà xây xẩm mặt mũi không biết trời đất đâu nữa.

Bây giờ thì bà cụ ốm nặng rồi, có lẽ cũng là lúc giời gọi bà về sau những tháng năm vất vả khổ đau ở cõi tạm này. Lão Thính bơ vơ đau xót như trẻ nhỏ lạc mẹ. Đi làm về lão xuống căn buồng mẹ trống hoác mà lòng như muối xát. Lão lên nhà thằng em thứ hai để mong nhìn thấy mẹ mình. Đang lò dò ngoài sân thì một chậu nước từ đâu té ào vào mặt lão cùng tiếng nguyền rủa thậm tệ:

– Đồ chó cút ra khỏi ngõ nhà tao! Từ nay tao cấm cửa không anh em gì với mày nữa.

Lão Thính nhục nhã đớn đau nhìn vào căn nhà của kẻ vừa nguyền rủa mong nhìn thấy mẹ mình.

Một lần… Hai lần… rồi ba lần đều bị hai đứa em chửi rủa đuổi xua. Lão biết tính mẹ chỉ thèm ăn bánh cuốn nóng, liền dậy sớm đi bộ lên đầu chợ mua cho mẹ mấy tấm bánh nóng mong lần thứ tư này đứa em đi vắng lão sẽ được gặp mẹ. Lão rình mãi nhìn vào trong nhà không thấy ai liền lò dò thật khẽ bước vào. Tiếng quát làm lão giật bắn:

– Rình rập gì? Tôi đã bảo ông đừng đến đây nữa rồi mà. Mẹ chúng tôi không muốn gặp ông đâu.

Lão van vỉ:

– Anh lạy chú! Chú không cho anh gặp mẹ thì xin chú làm ơn cho anh gửi gói bánh nóng cho mẹ ăn miếng kẻo phải tội

– Lão đừng có lẩm cẩm! Biến nhanh… Định đem bánh thiu đến đầu độc bà à?

Tiếng chửi rủa rít lên, gói bánh bị ném ra khỏi ngõ. Lão Thính nhặt gói bánh òa khóc. Không nén được nữa lão gào lên:

– Giời cao đất dày ơi! Bánh tôi mua cho mẹ tôi còn nóng mà người ta bảo bánh thiu, người ta không cho mẹ tôi ăn mà còn ném đi gieo tiếng ác cho tôi, giời vén mây mà nhìn xuống xem có ai tủi nhục như tôi không?

Tiếng gào khóc nghẹn ngào hòa trong tiếng thở dài và đàm kháo của đám đông làng xóm. Bàn chân tật nguyền lại lê đọc con đường xi măng, để lại tiếng xì xào cám cảnh cho kẻ vừa bị bắt nạt.

4. Một tuần… rồi hai tuần… rồi ba tuần bà cụ ngày càng ốm nặng. Hai thằng con mới chăm sóc mẹ chưa đầy một tháng đã cảm thấy mệt mỏi kiểu thức lâu chầu mỏi. Chúng chép miệng bảo nhau thà cứ để bà ở nhà lão Thính có lẽ lại tốt hơn mà giá như bà ấy chết cho mát mẻ thì có phải tốt không? Cứ thế này thì gay to, suốt ngày phải chầu trực bã người lắm.

Thời gian đã kéo dài hơn hai tháng. Bà cụ ruốc người đi, mở cánh màn nhìn vào chỉ có bộ khung xương cùng hai hố mắt sâu hoắm, kẻ yếu bóng vía cũng thấy gai người. Ông trưởng tộc tới thăm người ốm liền rỉ tai nhà chủ thế là mọi việc được tiến hành khẩn trương.

Sư cụ chùa làng được mời tới. Ngôi chùa như một ốc đảo tọa lạc giữa đầm sen mênh mông ở cuối làng, nghe nói ngày xưa nơi cuối làng ấy đã mọc lên một cây bồ đề, thời gian như có phép lạ bồ đề cứ xanh tốt như bồ đề miền Tây Trúc. Chùa làng cũng được dựng lên nhờ một người hảo tâm tiến cúng. Nhờ ơn Phật Tổ chùa có trụ trì là người chân tu, luôn giúp đỡ kẻ khó và làm việc công đức. Sư cụ chẳng quản khó khăn mưa gió vẫn tới thỉnh chuông, tụng kinh cho người ốm già nua mau được siêu thoát. Thường người sắp chết chỉ cần tụng ba tối kinh dẫn đường là ra đi một cách mát mẻ nhưng mẹ của Thính, Thịnh, Thinh đã được nhà chùa tụng cho một tuần mà cụ vẫn cứ ngắc ngoải. Từ trong hốc mắt ứa ra giọt nước mắt mờ đục, nỗi đau đớn hằn lên khuôn mặt như chờ đợi một điều gì. Sư cụ gọi riêng gia chủ mà phán rằng:

– Có điều gì mà bà cụ không thanh thản nên khó chết, hãy để cụ toại nguyện mới nhắm mắt ra đi được.

Ông trưởng tộc cũng đứng đấy liền sai người cho tìm lão Thính đến ngay khẩn cấp. Tiếng bước chân khó nhọc của Thính vào sân, mọi người rẽ ra nhường lối cho người con bất hạnh. Lá màn được vén lên, bàn tay của người sắp chết được ủ trong bàn tay của con trai cả. Tiếng nấc gọi mẹ nghẹn ngào cất lên:

– Mẹ ơi! Con là Thính con trai của mẹ đây.

Kỳ lạ làm sao, bà cụ mở choàng mắt nhìn như hút lấy đứa con trai tội nghiệp, môi bà mắp máy như muốn chăng chối điều gì.

Bàn tay nắm lấy tay con cứ lỏng dần, bà cụ nấc lên thở hắt ra rồi về cõi Phật.

Lá màn của người vừa khuất được hạ xuống, tiếng kêu khóc thảm thiết cất lên. Bàn tay của lão Thính vừa vuốt mắt cho mẹ bị người em thứ lắm lấy lôi xềnh xệch ra khỏi nhà hiếu với tiếng nghiến của Thinh:

– Bây giờ mẹ đã đi rồi! Hai anh em tôi không khiến ông làm ma báo hiếu, ông hãy xéo nhanh kẻo tôi nổi giận.

Thinh lôi tay anh cả mình ra khỏi ngõ như một kẻ ăn xin vậy. Mặc sự can ngăn của xóm giềng. Gã đầu trọc đứng bên đường thấy bất bình không chịu được gã hét lên:

– Mẹ là mẹ chung! Hai ông ức hiếp người quá đáng không sợ quả báo à? Ông Thính cứ ngồi ngoài ngõ này mà khóc mẹ, ông xem chúng nó làm gì.

– Này chúng tao không khiến thằng tù can thiệp nhé! Mày thích đi tù nữa không mà dám giây vào?

– Tao đang thích vào tù đây, chúng mày làm được gì tao? Đúng là lũ bất hiếu…

Nói rồi gã đầu trọc xắn cao ống tay áo lộ hình xăm trổ gớm ghiếc, đôi mắt vằn đỏ đứng đầu ngõ khiến thằng Thinh cũng ngại lúc cúc bước vào nhà đám. Cuộc họp ngắn giữa hai anh em hắn đều thống nhất: không cho thằng cả chịu tang và báo hiếu. Lệnh đó vừa được tuyên bố thì ông trưởng họ Đào cũng vỗ đít đứng lên. Bà con họ Đào của làng Nuốn Yên Thái cũng lần lượt ra khỏi ngõ.

Cánh cửa từ đường được mở rộng, trai đinh của dòng họ cùng con cháu được cấp tốc về họp khẩn trương theo sắc lệnh của trưởng tộc. Khăn sếp áo the được mặc trang nghiêm hương trầm thắp lên nghi ngút, tiếng khấn trầm nhưng dõng dạc của trưởng tộc cất lên:

– Kính lạy tiền nhân tiên tổ nay hằng húy chân linh Đào Thị Thiếp đã về hầu tiên tổ. Chúng con thật đau lòng kính lạy tổ tông xin dạy cho lũ con cháu bất hiếu, làm huynh đệ tương tàn. Nay mẹ vừa nằm xuống mà chúng lại không cho con cả chịu tang. Chúng con sẽ tuyên bố lí do là không làm tang lễ cho Đào Thị Thiếp như quy ước của dòng tộc để xem lũ bất hiếu ấy có tỉnh ngộ không. Nếu chúng không cho Đào Văn Thính chịu tang.

Khấn xong, nét mặt của ông trưởng tộc đớn đau như đang nuốt bao điều uất nghẹn vào trong lòng. Lệnh được truyền vào nhà hiếu. Thinh Thịnh ức lắm nhưng sợ hãi vội vàng cho Thính chịu tang. Lúc phát tang. Tiếng kèn nỉ non ai oán cất lên, cầu kiều được sư cụ dẫn đầu cùng các già cứ dải dài ra cho hồn vong mau tới cõi niết bàn. Hoa xoan xám lạnh rắc dọc con đường ra nghĩa địa. Thấp thoáng vài cánh chim trắng toát, bay vụt lên từ những ngôi mộ. Tháng ba thê lương trong cái rét nàng Bân, trong sự thảm đạm của đám hiếu.

Ông Thính côi cút bên mộ mẹ. Ông chẳng còn nước mắt đâu mà khóc nữa, chỉ còn tiếng hờ xé nát lồng ngực gày còm ốm yếu. Bà cụ đã được mồ yên mả đẹp, lũ con lục tục kéo nhau về, chỉ còn ông Thính là ngồi lại trong niềm xót thương tê tái. Mẹ ơi… tiếng nấc khàn đục, trời bỗng nổi cơn giông gió mưa ầm ầm trút nước xuống. Thính ôm lấy mộ mẹ sợ như tiếng sấm tháng Ba làm kinh động giấc ngủ của người nằm xuống. Thính cứ ôm mộ mẹ như hóa điên đến khi cơn mưa đã ngớt, nắng chợt lóe lên từ chân trời xa Thính mới đứng lên nghẹn ngào:

– Mẹ ơi! Con về đây… xin mẹ ở lại phù hộ cho chúng con và các cháu.

Đôi bàn chân vạt tép, vành khăn tang ướt sũng trên đầu, Thính đớn đau lủi thủi rời đồng mả trở về.

5. Thời gian rồi cũng trôi vào quên lãng, thấm thoát bà cụ cũng mất được hơn hai năm. Thằng con lão Thính đi hợp tác lao động bên Nhật cũng mãn hạn sáu năm nay nay tới ngày trở về. Thằng bé quả là có hiếu và chí thú làm ăn, số tiền nó dành dụm được gửi về cho bố mẹ. Lão Thính thương con cũng bỏ hết vào ngân hàng chẳng tiêu đồng nào. Nghe đâu cũng được vài tỷ cơ đấy. Vài tỷ ở cái làng Nuốn này quả là số tiền không nhỏ, mọi người bắt đầu xì xào bóng gió chào lão từ xa. Cái cảm giác của một kẻ có tiền chả lấy gì làm sung sướng. Lão vẫn miệt mài với đồng sâu ruộng cạn, cùng con trâu luôn dũi đầu vào tay lão mỗi khi được lão vỗ về cùng nắm cỏ non. Thịnh Thinh sau cái vụ thầu công trình xây điện thờ cho gia chủ muốn mua cái ngõ nhà lão Thính hụt, càng căm tức anh mình khi phát đơn kiện mấy lần đều thua kiện. Bọn chúng bực mình vì miếng mồi béo bở đã tuột sang tay kẻ khác.

Sớm nay dắt trâu ra đồng, mới đi qua đỗi bảy được vài trăm mét, chả hiểu sao lòng lão Thính nóng như lửa đốt, linh tính như điều chả lành đang diễn ra. Lão buộc con trâu vào gốc gạo rồi hối hả về nhà. Đi qua ngõ nhà thằng em kế, lão bỗng nhìn vào cái ao thấy cánh tay đang chới với trên mặt nước hoảng hồn chạy vào lao xuống ao túm lấy cánh tay đang dần chìm nghỉm mà kéo lấy. Một cái gì nhói buốt dưới chân lão, lão cũng mặc kệ túm chặt lấy đứa bé vác vào bờ. Đứa bé tím tái được lão vác ngược bỏ chạy cho nó ộc nước ra. Bàn chân tật nguyền của lão bị mảnh chai xẻ toang máu, chảy thành vệt dài trên đường làng. Lão gào lên:

– Bà con ơi! Cứu cháu tôi với…

Tiếng gào khàn đục của lão vang lên trên con đường tới trạm xá. Đứa bé chính là cháu nội của lão Thịnh đã được cứu sống. Vợ Thịnh từ chợ Lồng nghe tin chạy về thấy lão Thính đang ôm bàn chân toang máu, liền ứa nước mắt lí nhí:

– Vợ chồng em đội ơn bác. Không có bác hôm nay thì thằng bé chết mất. Nhờ phúc tổ, cháu thoát chết.

Lão Thính ôm cái chân đau nhăn nhó xua tay như chả có điều gì hệ trọng. Lão thấy nhẹ lòng khi thằng bé cấp cứu đã tỉnh, trông thấy bà nó liền òa khóc.

Dân làng Nuốn cứ cam đoan với nhau rằng tết năm nay thấy vợ Thịnh dắt thằng cháu nội tới ngõ nhà lão Thính chúc tụng đon đả từ xa. Nghe đâu lời ăn tiếng nói dịu dàng tôn kính lắm: một điều bác cả, hai điều bác cả rồi còn xin lỗi cái chuyện không phải của nhà em.

Thằng con lão Thính quả là có hiếu, nó đã đưa tiền cho bố khoán thợ xây tận chợ Bút về làm hẳn ngôi từ đường trang nghiêm để thờ cúng tổ tiên. Nghe đâu ngày hoàn thiện công trình cũng thấy Thịnh tới phụ thêm cho việc khánh thành nhanh hơn dự định…

6. Trời vào thu, gió dịu dàng ve vẩy trên cánh đồng đã ngả sang màu vàng ruộm. Đôi chỗ lúa đã uốn cong treo quang đèn chỉ đợi người gặt đem về nhà. Ngọc Mỹ Nhân mờ xa tím nhạt trong sương. Người ta hối hả đi chợ Bút giẽ liềm, mua thêm lạt để về gặt hái. Một bà nhiều chuyện đang ve vẩy đôi tay dẻo dai đựng thúng chuối mật trên đầu buông tiếng:

– Này các bà biết chuyện gì trưa hôm qua ở xóm tôi hay không?

– Chuyện gì thế? Bà kể ngay đi. Sốt ruột quá thôi,

– À chuyện là nhà lão Thính ấy lại bị tai nạn rồi. Rõ khổ không biết có qua không cơ chứ?

Người đàn bà chẳng đợi lài kéo nữa liền hối hả kể luôn rằng: thì là xóm bà ấy mới có Việt kiều từ Anh quốc về chơi. Ui chao! Bà Việt kiều ấy trẻ đẹp mà giàu ơi là giàu. Ngày xưa nghe đâu tên là Nụ bạn chăn trâu với lão Thính cơ đấy lại thân thân là. Vật đổi sao dời giờ giàu sú sụ lại có chồng ngoại quốc. Thôi thì bà con xúm xít hỏi thăm vồn vã ân tình lắm. Ai cũng hả hê vì cô Nụ xa quê mà vẫn hồn hậu tốt bụng khiến nhà nào cũng có quà biếu hậu hĩ. Ấy thế mà lão Thính chả véo vắn cứ lặng lẽ như không. Gặp Nụ đầu làng lão khẽ hỏi: Cô mới về chơi? Rồi lại dắt trâu ra đồng như thường.

Chiều tối qua là cô Nụ sẽ ra sân bay về Anh, mọi người tới tiễn đông lắm. Cô ấy nói là thèm tấm bánh nếp mật ở chợ Lồng ngày xưa. Thế là chả biết sao lão Thính hối hả đạp xe đi chợ Lồng, lúc trở về bị xe máy tông phải nghe nói là đau lắm! Vợ con nghe tin chạy lên thì đùm bánh mật vẫn còn vất lăn lóc bên cạnh. Lão ấy hối thúc thằng con mang về đưa tận tay cô Nụ kẻo cô ấy lên xe mất.

Tiếng thở dài đẫm sương mai của người đàn bà bên cạnh. Rồi tiếng nói lại đều đều cất lên:

– Rõ khổ đời người chớp bể mưa nguồn biết đâu mà bao đồng mãi.  Lão Thính xấu người mà tốt bụng, cầu giời phù hộ cho lão ấy nhanh an mạnh, khổ cái thân lão ấy.

Đằng đông mặt trời đã rạng hồng, phiên chợ Bút lại náo nhiệt tiếng người mua kẻ bán.

14/7/2026
Lê Hà Ngân
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Thung Mơ

Ở thung Mơ này, loài chim họa mi được uống nước đầu nguồn trong vắt, ăn quả chín đầu mùa. Sáng sáng vỗ cánh bay tít tận trời mới hòng thoát khỏi lòng thung. Họa mi là loài chim anh hùng, nghĩa hiệp, thủy chung… Mỗi cặp sống riêng một thung gọi là quản thung. “Quản thung Mơ” phải là con chim số một trong vùng, bởi có nơi nào thiên nhiên hùng vĩ mà thơm thảo hơn được nơi đây. Họa mi ở thung Mơ là loài bách chiến bách thắng.

Chiều nào cũng vậy, khi cái xưởng cưa khép chặt hai cánh cửa gỗ nặng trịch, thì cũng là lúc không gian yên tĩnh nơi “Phố Núi”, cửa rừng này được hoàn trả một cách đầy đủ, ăm ắp nguyên sơ…  Trong cái khoảnh khắc ấy, Lạc có cảm tưởng mình rơi tõm vào một thế giới khác. Anh bần thần đi hết phòng nọ đến phòng kia trong ngôi nhà nhiều tầng của mình, rồi thoảng thốt như sợ ai nhìn thấy điều dị biệt trong tính cách của anh. Lạc là một chủ xí nghiệp đang vào thời kỳ làm ăn thịnh phát. Với số vốn liếng mà nhiều người nằm mơ cũng không thấy được dưới tay gần trăm công nhân, “cô ta” xuất khẩu gỗ ký thẳng với nước ngoài… Lạc không thể ngờ đời mình lại có ngày như hôm nay!

***

Mồ côi cả cha lẫn mẹ, không họ hàng thân thích, Lạc tồn tại bên người chú họ xa tật nguyền, cả đời ông ta không hề rời xa cây nạng gỗ. Hai chú cháu lê lết lần hồi trong sự thương hại của người đời. Chơm chớm biết, Lạc đã hiểu thế nào là nỗi nhục của kẻ ăn xin. Người chú đột ngột qua đời, Lạc quyết định bỏ con đường này. Năm, sáu tuổi Lạc đã tự đi bộ một mình vào rừng lấy lá chuối về gánh về bán cho phường thịt gói giò, nhọc nhằn đổi lấy miếng ăn, có những buổi một mình thui thủi nơi rừng chiều thăm thẳm. Lạc giận dữ vung những nhát dao phầm phập vào thân chuối. Nghe tiếng ngã ràn rạt hình như cậu thấy nguôi ngoai hơn.

Nhà văn Hà Nguyên Huyến ở Hà Nội 

Một hôm, giữa buổi trưa hè nồng nực, mưa rừng xối xả trút xuống, không nơi ẩn náu, Lạc bị trúng cảm khuỵu xuống cạnh một tảng đá lớn nằm kề bên bờ suối. trong cái chập chờn mê tỉnh, Lạc cảm thấy một ông thần núi bê bổng mình lên, tiếng ông lào khào như gió lướt bên tai:

– Tội nghiệp quá! Chẳng biết con cái nhà ai đi đâu mà nên nông nỗi này!

Lạc tỉnh dậy vào lúc gần sáng. Những thìa cháo củ mài sánh quyện đã giúp cậu lại sức. Lạc đưa mắt ren rén nhìn qua đống lửa đang rừng rực cháy giữa căn lều. Phía bên kia một cặp mắt long lanh, trong đáy mắt thỉnh thoảng cũng lóe lên hai đốm lửa, nhưng nồng ấm và chan chứa tình người đáp lại. Sau khi nghe Lạc kể về hoàn cảnh của mình, ông lão chép miệng thở dài, bảo:

– Thứ nhất thiếu mẹ, thiếu cha, thứ nhì gánh vã, thứ ba sơn tràng. Mới tý tuổi đầu mày đã phải chịu đủ cái vất vả của con người rồi!

Ông lão vuốt bàn tay vụng về chai cứng của mình lên mái đầu khé nắng của Lạc, rồi vòng tay ôm cậu bé vào lòng. Từ hôm đó, Lạc trở thành con nuôi người gác rừng.

Người gác rừng cả núi quen gọi là lão Ngạc. Lão Ngạc là người khó hiểu và khó đoán tuổi, lão sống giản đơn bao năm nay trong một mái lều lợp lá cọ. Căn lều nằm án ngữ trước một lối mòn độc đạo dẫn lên núi, nhiều năm nay vắng người qua lại, cỏ bông lan mọc trùm lên nền đường, con đường chỉ còn lại những dấu vết mờ mờ. Vật liệu trong lều hầu như chẳng có gì đáng giá ngoài một chiếc lồng chim, chiếc lồng treo lơ lửng ngay trên đầu chỗ lão thường ngồi trong lều. Trong lồng chỉ có duy nhất một con rắn hổ mang to cỡ bắp tay, nằm cuộn khoanh ở đáy lồng, đầu nghếch lên cái cóng sứ tráng men. Một màu xanh tảo, một màu đỏ tía, thoạt nhìn tựa như một cục máu mới đông. Thỉnh thoảng thấy động con rắn lại ngóc đầu, mắt mở thao láo như hai hòn bi ve, mang bạnh ra, miệng phun phì phì những tiếng ghê rợn vốn có của loài rắn này. Có điều rất lạ là cửa lồng luôn mở mà con rắn không bò ra ngoài trốn đi. Một lần Lạc tò mò hỏi, lão Ngạc bảo:

– Một tháng nó cũng ra đôi lần, tới kỳ luyện nọc nó nằm im trong lồng, nhưng ta cũng không hề biết nó ra vào lúc nào.

Lão Ngạc bắn nỏ giỏi lắm, cánh thợ sơn tràng từ khi có lão canh giữ cánh rừng này lảng dần. Những lúc rảnh rỗi, Lạc mân mê cây nỏ, hỏi cách bắn, lão Ngạc bảo:

– Đạn ăn lên, tên ăn xuống, cứ thế mà bắn, mãi cũng thành tài.

Một bữa, Lạc tỳ đốc nỏ vào rốn, hai chân đạp vào hai cánh nỏ, những ngón tay như những cái móc thép quặp chặt vào sợi dây, cả người cậu gồng lên, chính Lạc cũng không ngờ mình cài được dây vào lẫy. Lão Ngạc trố mắt ngạc nhiên, bảo:

– Mày phải đi học thôi! – Hình như lão Ngạc đoán được sức mạnh của một cậu bé, một thứ nội lực tiềm tàng mà lửa cuộc đời đã hun đúc lên.

Mấy hôm sau, lão Ngạc đưa cậu xuống núi, lão gửi Lạc vào một trường nội trú của các học sinh người dân tộc. Chiều chiều nhìn về phía núi, lòng Lạc chạnh buồn vì cảm giác cô đơn, lạc lõng nhưng cậu không hề oán trách bởi lão Ngạc có bao giờ xuống núi đâu. Cả năm chỉ mỗi một lần, ấy là vào mùa xuân, lần nào lão cũng dẫn Lạc theo. Lão về dự hội làng Yến Vĩ! Yến Vĩ là một làng trù phú nằm cách xa chân núi. Hội làng tưng bừng vào đám, đám nào cũng vui, cũng cuốn hút nhưng lão chỉ xoắn vào đám chọi mi. Hội chọi mi kéo dài năm ngày từ tế khai xuân mùng mười tháng Giêng, đến Tết Nguyên tiêu Rằm tháng Giêng là hết hội.  Trong năm ngày ấy, lão Ngạc là người khác hẳn, lão vui vẻ hòa đồng, trên gương mặt phảng phất nét trẻ thơ.

Lão không có chim góp vui nhưng lão được mọi người bầu vào chân trọng tài. Lão đếm mỏ (thời gian cho trận đấu) cho mỗi cặp, có một năm vào chung kết là một cặp quá hăng. Lão Ngạc đếm đến gần bảy trăm mỏ mới phân thắng bại. Trải đã năm ngày mà giọng lão vẫn sang sảng như tiếng chuông đồng. Nghe tiếng đếm đều đều thả nhịp chắc gọn, đanh thép, cuộc đấu như tăng thêm trang trọng quyết liệt. Mọi người bảo:

– Lão Ngạc tốt giọng thật, mấy chục năm trời mà giọng lão vẫn như xưa…

Thấm thoắt đã mười năm. Lạc tốt nghiệp xuất sắc trong kỳ thi phổ thông trung học và được tuyển vào đại học. Lòng phơi phới, Lạc nhằm hướng núi ngược rừng. Nắng lấp lóa trải vàng trên những triền đồi thoai thoải…

Lạc bước chân vào lều, lão Ngạc vẫn như xưa, lão vẫn ngồi bình thản hút thuốc lào, khói thuốc từ miệng lão bay lên trùm kín cái lồng, con rắn lại nhịp nhịp cái đầu như say khói, nhìn thấy Lạc, lão Ngạc quắc mắt hỏi:

– Mày về đây làm gì nữa, hãy đi đi, đừng bao giờ quay lại cái xó rừng heo hút này nữa.

– Không, ông không thể sống thế này được. – Lạc gào lên – Chẳng lẽ sống mà như kẻ cầm tù, câm lặng suốt đời ư!

– Mày nói gì? – Giọng lão Ngạc trùng xuống – Mày phải đi học tiếp. Tao còn đủ sức nuôi mày, đừng để những tình cảm mê muội ràng buộc mình.

Lạc quỳ xuống, cậu nấc lên nghẹn ngào và bật gọi: “Cha ơi!” Đôi mắt lão Ngạc vốn lành lạnh và hoang dại như mắt thú, giờ đây lại lặng lẽ lăn tròn những gọi nước mắt hiếm hoi. Phần đêm còn lại lão Ngạc đã kể về cuộc đời mình.

Lão tên thật là Nguyễn Phi Ngạc, con trai độc muộn mằn của một gia đình giàu có. Vì hiếm hoi nên cả nhà gọi lão là “Cậu”. Năm mười ba tuổi, bố cậu bảo:

– Cậu phải lấy vợ thôi, có lấy vợ cho Cậu thì mới hòng giữ được cái cơ nghiệp này.

Ngạc nhe răng cười khì khì.

– Cậu cười gì? – Người bố quắc mắt.

– Lấy vợ để chúng nó giễu à, xấu hổ chết.

– Học hành là cái việc “đại đăng khoa” Cậu đã chẳng đâu vào đâu. Đến cái việc “tiểu đăng khoa” Cậu cũng coi là một thứ trò đùa. – Người bố nét mặt rầu rầu buông một tiếng thở dài thườn thượt.

Càng lớn Ngạc càng tỏ ra mình là người không còn hy vọng gì. Cậu lêu lổng khắp nơi nhưng cũng may không đụng vào cờ bạc, thuốc sái, cô đầu… mà chỉ một niềm đam mê chim. Trong muôn loài chim, cậu chỉ mê mỗi họa mi. Hễ thấy ai có chim hay cậu liền mang chim của mình đến gạ đấu cho bằng được. Được thì thôi, nếu chim của cậu thua thì cậu vật nài mua lại con chim thắng bằng mọi giá. Gặp những kẻ nhẫn tâm, lồng cái ý định “đào mỏ” vào, có nhiều con chim cậu phải mang cả ruộng ra mà đổi. Cứ như thế gia sản từ từ đội nón ra đi, cha mẹ cậu héo mòn trước những đam mê chết người đó. Một ngày kia, bố mẹ đặt mình nằm xuống, Ngạc mồ côi vào cái tuổi thanh niên. Nỗi đau mất cha mẹ cũng không làm cho Ngạc tỉnh ngộ, ngược lại được tự do, cậu lại càng ngông cuồng hơn.  Trong nhà lúc nào cũng có hơn chục thực khách “cùng hội cùng thuyền”. Mãi cũng nhàm, một bữa trong số bạn chơi có người bảo:

– Tôi nghe nói chỉ có loài họa mi sống ở thung Mơ mới là bách chiến bách thắng.

Câu nói của người bạn như thổi bừng lên những đam mê của cậu đến tột cùng. Cậu lao vào thung Mơ, tìm tòi, theo đuổi những cánh chim để thỏa mãn những khát khao rồ dại của mình.

Gần một năm trời trên núi, Ngạc mới mò về làng. Làng Yến Vĩ được chứng kiến niềm đam mê thứ hai của Ngạc. Đó là một cô gái sống ở thung Mơ, hai người nên vợ nên chồng. Họ xây hạnh phúc trong mái nhà của tiên tổ. Nhưng “tiếng cả nhà không”, gia sản Ngạc đã phát tán tít tận phương trời nào. Trong hội chơi có người bảo:

– Tiền ở trong tay cậu đấy! Việc gì mà phải tìm đâu xa.

Cậu như tỉnh người ra sau nỗi đam mê bấy lâu. Cậu lại lao vào những cuộc đỏ đen, rốt cuộc tay trắng vẫn hoàn tay trắng.

Một năm làng Yến Vĩ đã vào kỳ chung cuộc, phần thắng như đã nằm trong tay mình, cậu Ngạc phởn phơ mặt mày. Bỗng có một người khách thuốc gần đây thường hay qua lại làng này, lách đám đông len vào, miệng líu la líu lô:

– Còn tôi, tôi xin quyết đấu… chim ông này sẽ thua!

– Sao ông dám quả quyết thế? – Ngạc giật mình hỏi lại.

– Tôi dám chắc vì chim của ông chỉ được nuôi dưỡng bằng nguyên khí trời đất, nên nó còn thô mộc vụng về, ông hãy nhìn chim của tôi xem. – Người khách nói và chỉ vào lồng của mình.

Trong lồng nổi bật lên là hai cái cóng Tàu lóng lánh đối chọi nhau, làm nền cho thêm phần chói lọi.

– Đây là hai cái cóng đựng thức ăn và nước uống. – Người khách nói – Cái “âm” màu xanh tảo đựng nước. Cái “dương” màu tiết dê đựng thức ăn, men của nó được chế ra từ cặp ngọc trong vương phủ nhà Thanh. Mọi thứ đựng vào đây thì kiến, mối, côn trùng đều bất khả xâm phạm. Lại nữa: giảm độc tố, tăng cường sức lực cho chim đấu. – Nói xong lão khách dương dương tự đắc.

– Cứ thử xem.

– Nếu vậy ta phải đánh cược!

– Cược gì?

– Nếu mỗ thua, – người khách trỏ tay vào ngực mình – mỗ mất với ông đôi cóng này. Nếu ông thua thì… thì…

– Ông sẽ được con họa mi này của tôi. – Cậu Ngạc tiếp lời.

– Tôi… tôi cần cái khác kia!

– Cái gì?

– Vợ ông.

Cậu Ngạc lắc đầu, hình như còn một chút gì sâu tận đáy lương tâm níu giữ lại. Nhưng cậu vẫn tin vào lời nói của ông bố vợ: “Ở thung Mơ này, loài chim họa mi được uống nước đầu nguồn trong vắt, ăn quả chín đầu mùa. Sáng sáng vỗ cánh bay tít tận trời mới hòng thoát khỏi lòng thung. Họa mi là loài chim anh hùng, nghĩa hiệp, thủy chung… Mỗi cặp sống riêng một thung gọi là quản thung”. “Quản thung Mơ” phải là con chim số một trong vùng, bởi có nơi nào thiên nhiên hùng vĩ mà thơm thảo hơn được nơi đây. Họa mi ở thung Mơ là loài bách chiến bách thắng.

Lòng tự ái, nỗi đam mê và sự linh cảm chỉ có riêng cậu Ngạc mới có đã thầm mách bảo, Ngạc dứt khoát đặt một chữ “đấu” nặng trịch vào cuộc. Cả làng Yến Vĩ chưa bao giờ chứng kiến cuộc cá cược độc đáo, tàn nhẫn và bạc bẽo đến như vậy!

Người vợ ôm chặt đứa con trai nhỏ vào lòng, nức nở khóc, miệng bải lải van nài bất lực trước vòng người đen đặc, dần dần thít chặt chứng kiến cuộc đấu có một không hai ấy. Hơn bảy trăm mỏ chưa phân thắng bại, con chim của người khách ra đòn rất phũ, mỗi đòn trúng đích con chim của cậu Ngạc bật ra, cơ hồ không thể đứng vững. Rồi bỗng chúng buông nhau, nhảy lên cầu uống nước. Con chim của người khách sau khi uống nước  trong cái cóng ngửa cổ lên trời hót vang. Nguy cơ vỡ trận, cuộc đấu không thành…  Trong nháy mắt như hai ánh chớp, chúng sà xuống lăn xả vào nhau. Sau khi tránh thoát “miếng cánh” hiểm hóc, com mi của cậu Ngạc quặp chặt lấy con chim kia, liên tiếp giáng xuống đầu nó những mỏ nặng nề như búa tạ. Con chim của người khách bật ngửa bụng, chân giãy tê tê… Con chim của cậu Ngạc cũng không đủ sức bay lên cầu nữa, cánh nó xõa ra, nhưng nó vẫn ngẩng cao đầu ca khúc khải hoàn trong tiếng reo hò của cuộc vui giã đám.

Cậu Ngạc thu lại đôi cóng Tàu độc đáo trước con mắt thèm khát của bao người. Con chim của cậu được phong danh “bất khả chiến bại”. Có được con chim quý và đôi cóng Tàu, Ngạc lại càng say mê đấu, tiếng tăm lừng lẫy. Của cải, đồ đạc sau mỗi trận lại từ từ bò về. Dân bản Yến Vĩ bảo nhau:

– Cách làm giàu của Cậu có một không hai.

Cậu Ngạc quý con chim đó lắm! Nó là cục vàng sống, nó là của gia bảo, nó là niềm kiêu hãnh của kẻ đam mê. Nó là sự sống của đời Ngạc. Việc phục vụ chim kiêng kỵ đầu phần là đàn bà con gái, Ngạc đi vắng chỉ duy nhất có đứa con trai là thay thế được, và cũng từ đây dẫn đến khúc ngoặt bất ngờ trong cuộc đời đam mê chim của cậu Ngạc.

Tranh của hoạ sĩ Hoàng Trúc

Một hôm, Ngạc đi ăn giỗ ở làng bên qua đêm mới về được. Ngạc dặn con thay mình cho chim uống, trong lúc sơ sảy chim sổ lồng bay mất… Quá hoảng sợ, đứa trẻ trốn biệt tăm. Biết chuyện cả nhà bố đi tìm, tìm mãi chẳng thấy. Vợ Ngạc thuê cả các phường câu về mò các ao đầm, sông suối mà vẫn “bặt vô âm tín”. Buồn bã, vợ Ngạc qua đời trong mòn mỏi… Ngạc bỏ nhà, bỏ làng ôm mối hận lên núi làm lều cạnh thung Mơ mà ở… Nguyễn Phi Ngạc từ đó trở thành lão Ngạc gác rừng.Trống

Lão Ngạc là người mẫn cán với công việc. Từ ngày có lão, khu rừng vơi đi tiếng chặt gỗ và cưa gỗ. Lão bảo Lạc:

– Cây lát da đồng trên đỉnh núi là linh hồn của núi này, nó là cây cột chống trời, nó mà đổ cả núi rừng này sụp xuống.

Chẳng biết có phải vì đồng lương mà Sở lâm nghiệp cấp cho lão sống, để lão làm việc hay vì cái gì? Có lẽ do lòng trắc ẩn, sự ăn năn hối hận trước những việc làm của mình, hay còn một nỗi đam mê sâu kín trong lòng mà lão không từ bỏ được, đó là hình bóng của người vợ, của những cánh chim họa mi cư trú ở thung này.

***

Lạc vào Đại học Lâm nghiệp, anh chọn khoa Lâm sinh. Sau khi tốt nghiệp, anh một mực xin về đây lập một trạm nghiên cứu lâm sinh ngay bên cạnh căn lều của lão Ngạc mặt hướng nhìn xuống thung Mơ. Từ trong thâm tâm Lạc muốn bù lấp những mất mát trong đời lão Ngạc, có làm được như thế, lòng anh mới phần nào thanh thản được.

Một hôm, đi kiểm tra cây ở trên cốt hai ngàn về, Lạc chột dạ nghe thấy tiếng nói nằng nặng của một người vùng xuôi đang ngồi trong lều. Lạc đứng ngoài vách và vô tình anh nghe được câu chuyện giữa hai người. Lão Ngạc bảo:

– Ông xuống núi đi, đừng bao giờ nói chuyện mua bán với tôi.

– Ông còn chê ít sao, hơn chục cây vàng, cả một gia tài chứ ít gì. Bao kẻ cày đầu, cắm mặt suốt cả cuộc đời mà chẳng có lấy mảy may… vả chăng ông không muốn nuôi chim nữa, đôi cóng ấy ông giữ làm gì.

– Tôi không bán, không bao giờ bán. – Lão Ngạc gằn lên từng tiếng.  Trong lồng con rắn thấy động cất cao đầu, bành mang bạnh ra phun những tiếng phì phì tức giận. Người khách lắc đầu đi giật lùi ra cửa, mắt lấm lét nhìn con rắn. Một lát sau, con rắn lại bình thản nằm nghếch đầu lên hai cái cóng.

Đời sống con người cũng như con sông, con suối, cũng thác ghềnh, cũng êm đềm và những khúc ngoặt. Lạc cũng có một khúc ngoặt như thế… Vài năm sau khi tốt nghiệp đại học, công việc và tháng ngày chậm chạp trôi đi như một thứ luật “nhắc lại” nhàm chán. Lạc không còn là một anh sinh viên nhiệt huyết, đầy hoài bão nữa, anh hiện nguyên hình là một thằng đàn ông trước cuộc đời đầy ma lực quyến rũ. Một hôm, Lạc nói với lão Ngạc bằng cái giọng rầu rầu.

– Con phải đi thôi cha ạ! Cha hãy tha thứ cho con…

Lão Ngạc chỉ lặng lẽ cười nhạt, tiễn Lạc xuống núi bằng cái nhìn vời vợi. Nửa năm sau, Lạc lên núi bảo với lão Ngạc rằng mình đã lấy vợ. Vợ Lạc là một cô con gái con nhà buôn bán ở phố huyện, nấn ná mãi cho đến nửa đêm Lạc vò đầu bứt tai bảo lão Ngạc:

– Thưa cha, cha đã thương chúng con thì thương cho trọn vẹn. Cha hãy cho chúng con một ít, tạo điều kiện cho chúng con khởi nghiệp.

– Ta còn có gì đâu!

– Cha vẫn còn – Lạc năn nỉ, mắt ngước nhìn cầu khẩn.

– Không được! – Lão Ngạc quắc mắt, hình như lão đã đoán được ý định của Lạc – Mà ta cũng báo cho anh biết, không thể động vào nó được, con rắn sẽ không tha mạng cho bất cứ ai mạo hiểm làm điều đó.

Vẻ mặt lão Ngạc đầy tức giận, xách nỏ, lão bỏ ra ngoài. Lạc nhìn theo, tuổi tác đã đè nặng lên vai lão. Lão Ngạc đi ngược lên núi, bàn chân lão choãi ra bám vào đá như bàn chân thạch sùng bám trên tường. Lão đi đơn độc lẻ loi, đến đỉnh núi chỗ cây “cột chống trời”. Lão đứng im phăng phắc nhìn xuống thung Mơ, dáng lão bất động như pho tượng đá. Lạc như kẻ cùng đường, anh ở lại mấy ngày chờ lão về để thuyết phục. Đã mấy ngày chẳng thấy lão Ngạc quay lại lều. Lạc thấy lo lo, vào một buổi chiều tà, bóng tối lễnh loãng khắp thung Mơ thì lão Ngạc về, bước vào lều, lão bảo:

– Cũng may, tìm mãi đến ngày thứ ba mới tìm được cái thế “tử địa” nếu không thì cũng đành bó tay. Con chim này tướng rất lạ, tản đầu, cát xanh, mắt ướt và đặc biệt “rập mềm” – nó sẽ đánh miếng quắp tuyệt vời. Đây là lần cuối cùng ta cho anh, cầm lấy mang về mà kiếm tiền lập nghiệp.

Lạc nửa mừng, nửa lo xuống núi…

Qua hai mùa xuân hội làng Yến Vĩ, bằng con chim, Lạc có số vốn… đầu tiên. Cuối mùa xuân năm đó, Lạc mở cửa lồng nói:

– Mày hãy bay đi và đừng bao giờ mang oan uổng gieo xuống đầu tao.

Bằng sự thông minh lanh lợi và tính quyết đoán, với một số vốn ít ỏi ban đầu nhờ vào con chim mang lại, Lạc đã trở nên giàu có, anh mở một xưởng cưa. Gỗ tròn, gỗ tấm, to nhỏ qua lưỡi cưa như hàm răng cá mập của Lạc là tan tành hết. Gỗ ra, tiền vào, rừng teo tóp, gỗ càng khan hiếm. Những phu gỗ đã phải vào sâu trong rừng. Qua chuyện của họ, Lạc biết cánh rừng bên này do lão Ngạc trấn giữ vẫn nguyên vẹn. Lạc muốn như thế bởi trong lòng anh không dễ một sớm một chiều mà quên đi lão Ngạc được. Từ ngày làm ăn phát đạt, Lạc đã mấy lần đích thân lên núi đón lão về phụng dưỡng nhưng lão chối đây đẩy và buông một câu nhạt nhẽo:

– Về đấy làm sao ta sống nổi.

Chiều nay, khi đóng cửa xưởng cưa, Lạc nhìn về phía núi, miệng lẩm bẩm: “Mũ núi mưa mai, đai núi mưa chiều”, lưng chừng núi là một dải mây xám đục sũng nước dang ngang như một bức tường thành… Lạc quên làm sao được những trận mưa rừng xối xả. Ký ức cứa vào lòng anh lạnh buốt. Anh nỡ phụ bạc cả một tấm lòng nhân hậu, đùm bọc anh từ thuở thiếu thời đến lúc trưởng thành. Giận hờn lẫn lộn, Lạc cáu gắt nói với vợ nhưng chính là để cho mình nguôi ngoai:

– Cho lão chết, ôm một đống vàng mà phải sống nghèo, giam hãm đời mình nơi “thâm sâu cùng cốc”, thật là lão già cố chấp!

Sáng hôm sau, công việc lại kéo Lạc vào những bận rộn thường nhật.

***

Lạc lại ký được một hợp đồng xuất khẩu gỗ rất lớn, anh phấn khởi mừng thầm bảo vợ:

– Xong chuyến này mình lên đón lão Ngạc, chuyển hẳn ra thành phố làm ăn buôn bán cho nó nhàn.

Nhưng khi đặt gỗ với các lái thì họ bảo:

– Đào đâu ra những cây gỗ ấy bây giờ, toàn là “nhóm một”, “vanh” lớn như thế cây cũng phải hàng trăm tuổi, gỗ ấy phải rừng nguyên sinh mới có, cánh rừng này xin lạy cả nón!

Tưởng họ chê ít. Lạc đặt giá cao gấp hai, ba lần cũng chẳng ai nhận lời. Tìm mãi mới được một lái rất bợm nhận lời nhưng hắn lại bảo:

– Chỉ có thể lấy ở vạt rừng mà lão Ngạc coi giữ là còn.

Lạc bỏ đi ngay. Từ ngày đầu mở xưởng Lạc tuyên bố:

– Có cho không cũng không lấy nếu là gỗ của vạt rừng ấy.

Một hôm, có một lái đánh đến xưởng của Lạc mấy chục mét gỗ lát, giá cả phải chăng, Lạc ra xem, biết là “cây cột chống trời” đã bị phạm tội. Anh quay đi, lòng bồn chồn nhớ lão Ngạc, ông lái nhổ toẹt bãi nước bọt bảo:

– Đã là chó mà còn chê… của béo bở lại để thằng khác phỗng mất.

Mối lợi như vừa tuột khỏi tay, máu kinh doanh xem đồng tiền làm trọng. Lạc quay lại, lái gỗ bảo:

– Tôi biết “hèm” của ông rồi “cửu gỗ” phải vòng sang bên kia nói mới “đánh” được đấy!

Lạc giật mình hỏi:

– Thế ông già không biết à?

– Lão già khú ấy sắp chết rồi, cựa còn khó nói gì đến gác xách nữa, chúng nó chỉ sợ có cây nỏ thôi, mà hình như lão không đủ sức căng dây nữa.

Lạc đưa cây gỗ vào xẻ, thật đúng như tên của nó, từng súc gỗ rộng bản đông đặc như miếng tiết, nạc như khoanh giò lụa được bong ra, mới chỉ qua đường cưa đi mà vân gỗ đã nổi lên đẹp chưa từng thấy bao giờ. Lạc hình dung ra sau khi đã bào nhẵn nhụi, tráng qua một nước sơn mặt dầu áp mộc, hoa gỗ lồng lộng nở rực rỡ như một cái đuôi công xòe ra, ai dám chê. Lạc như cầm chắc món hàng sẽ được giao trót lọt.

Xuất xong lô hàng, tiền nong gọn ghẽ nhưng lạc vẫn cảm thấy áy náy. Một cái gì phảng phất trong đầu anh khi xẻ tan “cây cột chống trời” ở rừng này. Sau rồi Lạc chặc lưỡi: “Chẳng qua là những lời nói của lão Ngạc ám ảnh”. Anh lại lao vào những vụ làm ăn “hấu” hơn nhiều.

Một đêm mùa hạ, trời oi bức ngột ngạt, mây đen tụ kín bốn bề mà chẳng có giọt mưa. Quãng nửa đêm, sấm chớp bỗng nổ vang trời, rồi mưa ồ ạt trút xuống, như đổ nước, kéo dài mấy tiếng đồng hồ liền. Không khí dìu dịu, Lạc thiu thiu ngủ trong cái yên ả, mát mẻ của trời đất sau mưa, anh chập chờn thấy những tiếng ì ầm như từ trong lòng đất vọng tới, mỗi lúc một to, một gần… Đến lúc Lạc cảm thấy như có ngàn vạn cặp ngựa đang cấp vó tung bờm sầm sập từ trên núi lao xuống, anh chỉ kịp thét lên một tiếng man dại: “Lũ quét!” và lôi vợ con lên tầng thượng tòa nhà. Bốn bề nước ào ạt đổ về với một sức mạnh khủng khiếp.

Sáng hôm sau, Lạc được chứng kiến quang cảnh đổ nát hoang tàn, chỗ hướng chính lũ đi, mặt đất bị rạch xuống như một dòng sông cạn. Cả nhà Lạc thoát chết nhờ tòa nhà xây cao và vững chắc như một cái lô cốt. Lạc thoảng thốt giật mình. Mấy hôm sau, Lạc quyết định mang lễ vật lên núi để “tạ thần gỗ” và nhân thể đón bằng được lão Ngạc về. Có lẽ lão đã già lắm rồi, không còn đủ sức gác rừng nữa, vả lại lương tâm không cho phép anh cứ trơ ra mà sống.

Đến nơi, trong bời bời bông lau nở trắng xóa, cây cối như biến mất, chẳng còn nhận ra đâu là mái lều ngày xưa anh đã từng sinh sống. Tìm mãi mới thấy dấu vết của nền xưa, có lông lan trùm kín trên đất lều. Đang băn khoăn thì có một người Mán đi săn qua Lạc hỏi, người Mán chỉ biết họ đã chôn ông lão ở bờ suối.

Lạc bàng hoàng kinh sợ, anh lội qua suối đến chỗ người Mán chỉ. Một đống đá xếp lùm lùm làm dấu, bên trên những chiếc nan lồng bị thời gian hủy hoại giờ chỏng chơ, ải nát như một nắm xương của một khúc cá kho nục. Chẳng cầm đặng lòng mình, nước mắt Lạc rưng rưng.

Lạc lặng lẽ bày lễ vật ra trước nấm mồ lạnh đá, cắm xuống những nén nhang. Lạc bỗng giật thót mình, một tiếng “phè” làm anh ngây người chết đứng. Định thần, anh nhận ra con rắn ngày xưa. Nó đã già lắm, thân hình mốc thếch nhưng cặp mắt vẫn tròn xoe lồi ra nhìn Lạc. Anh cắm hương rồi nằm phủ phục trên mặt đất nức nở gọi: “Cha ơi!” Trời lặng gió, khói hương chầm chậm tỏa, con rắn lắc lư cái đầu. Lạc đi xuống thung Mơ, lòng thung tan hoang như một bãi chiến trường, đá lổng chổng lộn xộn vì những kẻ đào vàng lật lên, hai bên vách đá dựng đen sì lởm chởm chẳng còn một cội mơ nào sót lại. trong đống đá Lạc nhìn thấy một vật gì mòng mọng… Anh lại gần nhặt lên xem thì ra đó là một mảnh vỡ của cái “cóng Tàu”. Lạc tìm quanh quất rồi ghép lại, rung rung trong tay nó đỏ bầm như một cục máu. Vành của cái viền đáy cóng nổi bật bốn chữ hán viết đá thảo “Khang Hy niên chế”. Cái cóng tuột khỏi tay tóe ra đỏ rực trên nền đất. Lạc ngồi xuống tần ngần nhìn lại hai bàn tay mình, rồi anh ôm đầu gục xuống… Hoàng hôn buông lòng thung bịt bùng hoang dã.

… Mấy năm sau, trên một trục đường mới mở ven chân núi, thấp thoáng trong những vạt rừng trồng đang vào kỳ khép tán, có một nếp sàn nhỏ, trước cửa treo một tấm biển lớn, biển có một dòng chữ đỏ thắm nổi bật giữa màu xanh núi đồi: “Trạm nghiên cứu lâm sinh”. Mọi người đi qua bảo:

– Đó là nhà của anh kỹ sư kiêm gác rừng có một cái tên ngồ ngộ: “Lạc Rừng”.

17/7/2026
Hà Nguyên Huyến
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Lặng lẽ phù sa

Đêm đã về khuya. Cả xóm nhỏ ven sông đã chìm vào giấc ngủ từ lâu, chỉ còn vài ngọn nến leo lét bên linh cữu dượng. Ánh lửa gầy guộc run rẩy hắt lên bức tường những mảng bóng chập chờn, hư ảo. Khói trầm bảng lảng bay thành một dải mỏng manh, cứ quẩn quanh mãi trong căn nhà đặc quánh mùi tang tóc. Ngoài sân, gió tháng Chạp lùa qua vườn chuối, những tàu lá khô cọ vào nhau xào xạc, nghe như tiếng ai đó vừa khẽ thở dài vào thinh không.

Mọi người trong gia đình sau một ngày lo toan tang lễ đều đã thấm mệt, mỗi người tản mát một góc trên manh chiếu nhàu nhĩ nằm thiếp đi. Mẹ nằm trong buồng trong, thi thoảng lại trở mình khẽ khàng, tiếng giường tre kẽo kẹt xoáy vào lòng tôi một nỗi xót xa. Ngoài sân kia, mấy bác phường kèn trống ngồi co ro trong cái lạnh, rì rầm những câu chuyện đứt quãng về nhân tình thế thái, câu được câu chăng giữa hơi men cay nồng.

Nhà văn Nguyễn Thị Bích Vượng ở Hưng Yên

Tôi ngồi bó gối nơi bậc cửa, nhìn ra khoảng sân quen thuộc mà bỗng thấy lòng trống trải, mông lung đến lạ. Tôi đứng dậy trở về phòng, ngả lưng định chợp mắt một lát, nhưng đầu óc cứ quay cuồng trong bóng tối không sao ngủ nổi. Hễ cứ nhắm mắt lại, gương mặt dượng lại hiện lên – hiền lành, ít nói, thân thuộc như một cái bóng thầm lặng đã đi tới đi lui trong ngôi nhà này suốt mấy chục năm qua. Cái bóng ấy dường như đã hòa tan vào từng kẽ gạch, vào từng viên ngói, vào cả hơi thở phả ra từ đất mẹ phù sa.

Tôi ngồi dậy, bước chậm về phía chiếc quan tài lạnh lẽo. Dượng nằm đó, gương mặt thanh thản sau ô kính nhỏ, trông như vừa chìm vào một giấc ngủ dài không mộng mị. Những nén hương trên quan tài đã tàn, chỉ còn sót lại đoạn chân nhang ngắn ngủi. Tôi run run rút mấy thẻ hương mới, châm lửa, rồi lặng lẽ cắm vào từng bát hương đặt trên nắp quan tài.

Người đàn ông này đã sống cùng mẹ con tôi gần hết cuộc đời tôi. Vậy mà… suốt từng ấy năm dài đằng đẵng, tôi chưa một lần gọi người là “Bố”.

Mẹ kể rằng, ngày xưa bà nội và bà ngoại tôi mâu thuẫn gay gắt, không ai chịu ai, đến mức những định kiến và lòng tự trọng cũ kỹ đã đẩy bố mẹ tôi phải chia lìa khi tôi còn nằm trong bụng mẹ. Sau khi rời xa mẹ con tôi, bố nhập ngũ rồi hy sinh nơi chiến trường B sau mười năm ròng rã chiến đấu. Hình bóng bố trong tôi chỉ là một vầng hào quang xa xăm qua những tấm bằng Tổ quốc ghi công và lời kể nhạt nhòa như khói sương của mẹ.

Tôi lớn lên trong căn nhà nhỏ bên bờ sông Hồng chỉ có mẹ và ông bà ngoại an ủi, vỗ về. Những đêm gió sông thổi về lạnh buốt, tiếng mẹ ru hời khàn đục cứ buồn thương như chạm vào tận đáy lòng non nớt của tôi. Dòng sông mùa lũ nước đỏ ngầu phù sa, cũng giống như cuộc đời mẹ tôi, cứ cuộn sóng và đầy rẫy những ghềnh thác nhọc nhằn. Tôi đã từng ghét dượng – người đàn ông lạ mặt bước vào cuộc đời mẹ con tôi, vì tôi không muốn dượng đến để thay thế vị trí của người cha mà tôi vẫn hằng tưởng tượng và xây đắp…

Năm tôi lên năm, mới bắt đầu học lớp vỡ lòng. Chiều hôm ấy đi học về, vừa bước vào sân tôi đã thấy ông ngoại tất tả từ nhà hàng xóm đi về, tay xách chiếc đèn Măng xông vừa mượn được. Ông tỉ mẩn mang cả chiếc đèn dầu hỏa cũ của nhà ra lau chùi, ánh mắt lấp lánh một niềm vui kín đáo mà tôi chưa từng thấy trước đó. Tôi tò mò hỏi:

– Ông chuẩn bị đèn làm gì thế ạ?

Ông chỉ thủng thẳng bảo:

– Nhà mình có việc con à.

Bước vào nhà, tôi lại thấy một thúng to đựng đầy cau trầu và những bao thuốc lá thơm đặt ngay ngắn trên phản. Tôi cứ ngây ngô ngỡ rằng nhà sắp có giỗ chạp gì lớn, nên chẳng hỏi thêm mà lẳng lặng đi cất cặp sách.

Nhưng khi chiều tà buông xuống, họ hàng kéo đến đông đủ, tiếng cười nói bắt đầu râm ran cả một khoảng sân nhỏ, tôi mới bàng hoàng hiểu ra sự thật: họ đang chuẩn bị đám cưới cho mẹ tôi. Nhìn nét mặt hớn hở, rạng ngời của mọi người, lòng tôi lại trĩu nặng một nỗi buồn không sao tả nổi. Giữa cái náo nhiệt ấy, tôi thấy mình lạc lõng đến tội nghiệp.

Tôi lủi thủi chui vào xó bếp – nơi duy nhất lúc này tối đen như mực và yên tĩnh tuyệt đối. Chỉ có ánh trăng đêm ấy nhạt nhòa, lọt qua tấm vách nứa thủng lỗ chỗ, hắt những vệt sáng xanh xao xuống nền đất ẩm. Qua khe hở nhỏ bé ấy, tôi lặng lẽ quan sát người ta đến chúc phúc cho mẹ, nghe tiếng cười của họ át cả tiếng gió thổi ngoài vườn. Đêm ấy, tôi đã khóc cạn nước mắt trong bóng tối mịt mùng của gian bếp ám mùi khói lâu ngày. Cơn ghen tị trẻ con cứ thế dâng lên như sóng trào; tôi vừa chạnh lòng, vừa sợ hãi cái cảm giác mẹ rồi sẽ thuộc về một người đàn ông khác. Tôi nơm nớp lo sợ rằng tổ ấm mới của mẹ sẽ chẳng còn chỗ cho mình, và tôi sẽ trở thành kẻ thừa thãi trong chính cuộc đời mẹ.

Có lẽ chính từ khoảnh khắc ấy, một vách ngăn vô hình đã dựng lên trong lòng tôi, khiến tôi chẳng thể cất lời gọi dượng là “Bố”, dù sau này dượng đã dốc hết lòng dạ để chăm chút cho tôi, chẳng khác gì những đứa em con chung của mẹ và dượng sau này.

Dượng bước vào đời tôi bằng một sự nhẫn nại hiếm thấy. Dáng dượng cao gầy, nước da sạm màu nắng gió nơi chiến trường và đôi mắt lúc nào cũng ánh lên vẻ hiền từ đến lạ. Dượng vốn là lính chiến, sau vài năm phục vụ trong Quân đội thì chuyển ngành về làm giáo viên trường làng. Có lẽ vì đã đi qua lằn ranh của cái chết nên dượng quý trọng sự bình yên hơn bất cứ ai; dượng nói năng nhỏ nhẹ, đi đứng chậm rãi, như thể sợ từng bước chân hay tiếng động của mình sẽ làm xáo động cái thế giới vốn dĩ đã quá mong manh của hai mẹ con tôi.

Cuộc đời dượng cứ thế lặng lẽ trôi đi, nhịp nhàng giữa hai mảng màu đối lập. Mỗi sáng dượng là ông giáo nho nhã đạp chiếc xe cũ kỹ đến trường; chiều về dượng lại tất tả xắn quần quá gối, trở thành người nông dân cần mẫn giữa đồng sâu. Dượng gánh trên vai cả con chữ cho học trò làng lẫn những nhọc nhằn đồng áng để vun vén cho mẹ con tôi một mái ấm vẹn tròn.

Ngôi trường nơi dượng dạy nằm nép mình dưới những tán xà cừ cổ thụ, chỉ cách nhà một con đê dài hun hút. Những buổi chiều tan học sớm, tôi thường thơ thẩn đứng nhìn qua khung cửa sổ cũ kỹ, tôi thấy dượng đứng trên bục giảng, vạt áo sơ mi tuy đã sờn vai nhưng luôn được ủi phẳng phiu. Tay dượng cầm viên phấn trắng nắn nót từng chữ trên bảng đen; giọng dượng trầm ấm vang vọng giữa không gian tĩnh mịch, giảng giải về lòng nhân nghĩa, về những trang sử hào hùng của dân tộc mà dượng từng gửi lại một phần xương máu nơi chiến trường.

Học trò trong làng đứa nào cũng kính trọng dượng. Bởi dượng không chỉ dạy chữ nghĩa, mà còn chỉ cách cầm cán cuốc sao cho chắc. Có những hôm, tôi thấy dượng nán lại tỉ mẩn sửa chiếc bàn gãy chân cho học trò. Sự tận tụy ấy dường như đã vận cả vào cách dượng đối đãi với tôi. Ở trường, dượng uốn nắn những nét chữ đầu đời cho bao thế hệ; còn ở nhà, dượng lặng lẽ làm một “người thầy không đứng trên bục giảng”, mà dùng chính sự kiên nhẫn để xoa dịu những gồ ghề, gai góc trong lòng tôi.

Bàn chân dượng bấm sâu xuống bùn lầy, đôi vai gầy cùng mẹ gồng gánh qua những mùa vụ thất bát để chị em tôi có bữa cơm ấm bụng, có manh áo mới mỗi độ Tết đến xuân về. Dưới ánh đèn dầu hắt hiu, dượng thường cặm cụi chấm bài xong, dượng lại lụi cụi gọt giũa gỗ làm đồ chơi cho tôi.

 Tranh của hoạ sĩ Hoàng A Sáng

Tôi nhớ mãi mùa lũ năm ấy, nước sông Hồng dâng cao mấp mé bờ đê, tiếng sóng gầm gừ đe dọa cả làng. Dượng thức trắng đêm cùng dân làng hộ đê, bùn đất lấm lem từ đầu đến chân. Vậy mà sáng ra trước khi về nhà, dượng vẫn không quên ghé tiệm tạp hóa mua cho tôi một xấp giấy màu để gấp máy bay. Lại có lần đi học về, tôi thấy trên bàn một chiếc hộp bút còn thơm mùi gỗ mới, nắp khắc bông hoa cúc nhỏ xinh xắn. Dượng bảo:

– Dượng làm cho con đấy.

Tôi mỉm cười:

– Đẹp quá, con cảm ơn dượng.

Dượng không nói gì, chỉ cười – nụ cười hiền hậu như đất, ấm áp như nắng hanh mùa thu.

Nhưng cũng chính sự hiền hậu ấy đôi khi lại khiến một đứa trẻ nhạy cảm như tôi nảy sinh những hiểu lầm đau đớn. Tôi nhớ mãi một buổi chiều dẫn em gái ra đê thả diều, mải mê nhìn theo cánh diều chao lượn trên nền trời xanh thẳm mà quên cả giờ cơm. Lúc hai chị em lếch thếch dắt nhau về thì trời đã sập tối, gió sông thổi lạnh buốt. Vừa thấy bóng hai đứa, dượng đã nghiêm mặt quát mắng em gái, thậm chí dượng còn vớ chiếc roi mây đét nhẹ vào mông em một cái rõ đau:

– Lần sau nhớ đến bữa là phải về, nghe chưa!

Tuyệt nhiên, dượng không hề quát tôi một lời, dù tôi là chị đáng ra phải có lỗi hơn. Lúc ấy, thay vì thấy may mắn, tim tôi lại thắt lên một nỗi tủi thân cay đắng. Tôi tự nhủ: “Phải rồi, vì mình không phải con đẻ, nên dượng mới khách sáo, mới giữ kẽ với mình như người dưng thế đấy”. Sau lần đó, tôi bắt đầu để ý và nhận ra sự khác biệt ấy lặp lại rất nhiều lần. Càng được dượng đối xử nhẹ nhàng, tôi càng lún sâu vào ý nghĩ mình chỉ là một kẻ ngoài lề.

Mãi sau này, mẹ mới khẽ khàng giải thích:

– Con đừng trách dượng không nghiêm khắc với con. Dượng bảo dượng thương con chịu nhiều thiệt thòi từ bé, dượng lại là người đến sau, nên chẳng đành lòng nặng lời, sợ con lại nghĩ ngợi, tủi thân…

Câu nói của mẹ khiến tôi bàng hoàng. Hóa ra, cái khoảng cách mà tôi ngỡ là sự thờ ơ, thực chất lại là cách dượng nâng niu tôi bằng tất cả sự tinh tế và nhẫn nại của một người làm cha. Tôi lặng người xa xót nhìn ra phía triền đê, gió thổi lồng lộng qua những rặng phi lao, bỗng thấy lòng mình chông chênh trước một tình yêu thương lặng lẽ như phù sa sông Hồng, cứ âm thầm bồi đắp, bồi đắp mãi mà chẳng bao giờ đòi hỏi một lời ghi nhận.

Vậy mà, ở trường, khi bạn bè hỏi:

– Bố mày làm nghề gì?

Tôi thường ngập ngừng:

– Bố tao… hy sinh rồi.

Rồi tôi nói thêm:

– Còn dượng tao là giáo viên.

Tôi gọi dượng là dượng, xưng con – một cách gọi vừa đủ lễ phép nhưng cũng đủ để tạo ra một lằn ranh lạnh lẽo mà tôi chưa bao giờ can đảm vượt qua. Tôi cứ cố chấp giữ cái lằn ranh ấy, dẫu cho tôi nhớ như in những lần mình sốt cao li bì lúc mẹ đi vắng, dượng đã cõng tôi chạy bộ mải miết ra đường lớn để tìm xe. Đêm ấy lạnh căm căm, tôi mê man trên lưng dượng, chỉ còn cảm nhận được hơi thở dồn dập của người và lưng áo dượng ướt đẫm mồ hôi dù trời đang rét đậm. Hay như ngày tôi đi thi đại học, dượng dậy từ tinh sương chở tôi lên thị xã bằng chiếc xe đạp cọc cạch. Con đường đá dăm xóc nảy, dượng cứ lầm lùi đạp, mồ hôi chảy ròng ròng trên gò má sạm đen, bết vào mái tóc đã lấm tấm muối tiêu.

Tất cả những nhọc nhằn đó dượng đều nhận lấy về mình, lặng lẽ và bao dung, còn tôi thì vẫn cứ đứng bên kia lằn ranh do chính mình dựng nên, đón nhận tình thương của dượng như một lẽ đương nhiên mà chưa bao giờ thốt ra một lời cảm ơn trọn vẹn.

Có buổi tối sau bữa cơm, dượng uống vài chén rượu nhạt, nhìn tôi bằng đôi mắt đượm buồn:

“Từ bé đến giờ… con vẫn gọi dượng là dượng nhỉ?”

Tôi lúng túng cúi mặt, giả vờ thu dọn bát đũa thật nhanh để lảng tránh. Dượng cười buồn:

– Thôi… con cứ gọi thế cũng được. Dượng không trách con đâu.

Đêm đó tôi trăn trở mãi, một tiếng “Bố” cứ nghẹn ứ nơi cổ họng, muốn bật ra mà không sao thốt nên lời. Cái danh xưng thiêng liêng ấy đối với tôi lúc đó như một pháo đài khó lòng công phá.

Năm tháng vô tình trôi, dượng già đi theo quy luật nghiệt ngã của thời gian. Lưng dượng còng xuống dưới gánh nặng của bao mùa vụ nhọc nhằn, mái tóc trắng xóa như hoa lau ven sông dập dềnh trong gió. Khi chị em tôi lớn lên, mỗi đứa một phương đi công tác cả, mỗi lần về thăm nhà tôi chuyển sang gọi dượng là “ông”, xưng “con” nương theo cách gọi của các cháu ngoại. Tôi ngỡ rằng cách gọi đó đã là một sự gần gũi nhất có thể, mà không hay biết rằng, thẳm sâu trong lòng dượng, một tiếng “Bố” trọn vẹn dành riêng cho mình mới là điều dượng hằng mong đợi.

Chiều hôm qua, dượng trút hơi thở cuối cùng, bình thản rời xa nhân thế. Nắng chiều buông xuống mặt sông Hồng vàng võ, như một lời từ biệt không thanh âm của người dành cho cõi tạm.

Đêm nay, đứng trước linh cữu người, tôi thấy lòng mình vỡ vụn. Tôi đặt tay lên thành gỗ lạnh buốt, cổ họng nghẹn thắt. Một tiếng gọi từ sâu thẳm tâm can bấy lâu bỗng dâng lên, vỡ òa giữa không gian tĩnh lặng đặc quánh mùi trầm hương:

– Bố ơi…

Hai chữ ấy vừa thoát ra, nước mắt tôi đã tuôn rơi lã chã, ướt đầm cả vạt áo tang trắng muốt.

– Bố ơi… con xin lỗi…

Con đã có một người bố nằm lại nơi chiến trường xa xôi, và một người bố sống cạnh con suốt cả cuộc đời, bao bọc con qua bao mùa nắng lửa… vậy mà con lại hẹp hòi đến mức không dám gọi người một tiếng Bố!

Tôi áp trán mình vào thành gỗ lạnh, khóc nấc lên cho sự bướng bỉnh và ích kỷ của chính mình. Ngoài sân, gió lại thổi qua vườn chuối, những tàu lá xào xạc như bàn tay gầy guộc của dượng đang khẽ vuốt tóc vỗ về đứa con dại khờ. Ngọn nến trên quan tài rung lên một cái rồi đứng yên. Trong khoảnh khắc ấy, tôi bỗng cảm nhận được một hơi ấm quen thuộc, dường như dượng đang đứng đó, nhìn tôi bằng ánh mắt hiền từ và nụ cười bao dung như người đã chờ đợi tiếng gọi này từ lâu lắm rồi. Bố nghe thấy rồi, phải không bố?

Đêm dài lê thê. Tôi ngồi bên dượng cho đến khi gà cất tiếng gáy canh năm, xé tan màn sương mờ đục đang bao trùm lên xóm làng. Bác thợ kèn nhà hàng xóm đã đứng bên tôi từ lúc nào, bác vỗ nhẹ lên vai tôi khẽ nói:

– Cháu đừng khóc nữa, đứng dậy vào phòng chợp mắt một lát đi, còn lấy sức sáng ra đưa bố cháu ra đồng.

Câu nói của bác làm tôi bừng tỉnh. Tôi đứng dậy, cảm giác nỗi nghẹn ngào bấy lâu như dòng nước tràn bờ, cuốn trôi đi những ngăn cách cuối cùng để lòng nhẹ tênh. Nhưng cái nhẹ nhàng ấy cũng đau đớn đến xé ruột gan, vì từ nay về sau, dù con có gọi bao nhiêu tiếng “Bố”, thì căn nhà này cũng chỉ còn lại tiếng gió vọng vào từ vườn chuối sau nhà và tiếng sóng vỗ bờ xa xăm thôi bố à! Tôi thì thầm nói với dượng vài câu cuối cho lòng nguôi ngoai, rồi khẽ thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm nhưng xót xa.

Ngoài kia, trời đã lờ mờ sáng. Tiếng kèn trống lại cất lên, bản nhạc buồn da diết như một đường cày cứa vào lòng đất mẹ, tiễn đưa một người thầy, một người nông dân, và một người Bố… đã lặng lẽ yêu thương tôi bằng cả một đời im lặng. Phù sa sông Hồng vẫn đắp bồi nên những bãi bờ xanh mướt cho đời sau, lòng người vẫn chảy, chỉ có tiếng “Bố” là mãi mãi nằm lại với ký ức của một đêm mùa đông buốt giá. Và dòng sông hàng ngày vẫn đỏ nặng phù sa, vẫn lặng lẽ chảy như tình người suốt một đời âm thầm bồi đắp đời con…

20/7/2026
Nguyễn Thị Bích Vượng
Theo https://vanhocsaigon.com/

  Chớp bể mưa nguồn Gói chè để lại chơ vơ trên bàn, chai rượu mở nút lá chuối nằm lăn lóc chưa kịp nút lại. Bẽ bàng sầu tủi, tiếng chửi th...