Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

 

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn

hững giai điệu ngọt ngào, những lời ca tha thiết hợp với chất giọng làm say đắm lòng người. Những ca khúc quen thuộc khơi dậy kỷ niệm như khúc phim cũ vọng từ ký ức đưa ta trở về quá khứ kéo thời gian và không gian lùi lại. Viết về một người đã khuất rất khó, người đó còn nổi tiếng có những nhạc phẩm vang bóng một thời lại càng khó hơn!
Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn lấy tên thật làm bút hiệu, ông sinh 01 tháng 5 năm 1926 tại Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Bắt đầu viết nhạc từ năm 1946, những tác phẩm đầu đời: Đừng Quên Nhau, Trăng Lại Sáng, Thuyền Lãng Tử, Lời Việt Nữ, Ngày Mai Trời Lại Sáng, Nắng Chiều...vv....Ông có năng khiếu âm nhạc từ nhỏ nên tự học nhạc, sau đó xin học hàm thụ tại một trường dạy âm nhạc tại Pháp. Ông là hội viên của Nhạc Sĩ Pháp (S.A.C.E.M), từng dạy âm nhạc tại trường học Nguyễn Duy Hiệu. Nhờ thông minh và giỏi ngoại ngữ, lại biết phương pháp quản trị nên vào năm 1965 ông được nhiệm điều hành một số Công ty thương mại ngoại quốc của Pháp và Mỹ tại Đà Nẵng, Công ty Mekong c ủa VN ở Khánh Hội. Năm 1970 ông lập gia đình. Sau biến cố 1975 ông mở lớp nhạc tại tư gia và làm đàn để sinh sống. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn sáng tác nhạc vì nghệ thuật không sáng tác vì thương mại, ngay những lúc còn cơ hàn ông cũng không chạy theo theo phong trào nhạc thời trang để sáng tác bán nhạc. Dù bận rộn công việc làm ảnh hưởng đến sáng tác nhưng nhạc sĩ vẫn mê viết nhạc nên đã hợp tác với nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết chung ca khúc Lá Rơi Bên Thềm. Đây là một chuyển hướng trong sáng tác của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Ca khúc Lá Rơi Bên Thềm rất hay giai điệu lạ. nhưng mùa thu của Lê Trọng Nguyễn là mùa thu xứ Quảng, thu Đà Lạt và thu Sài Gòn, còn mùa thu của Nguyễn Hiền là mùà thu xứ Bắc, mùa thu Hà Nội. Ngày đó nhạc sĩ Nguyễn Hiền rất nổi danh qua những ca khúc Gởi Người Em Nhỏ viết 1945 phổ thơ Thiệu Giang, ca khúc Tìm Đâu 1961, ca khúc Anh Cho Em Mùa Xuân 1962 phổ thơ Kim Tuấn, ca khúc Mái Tóc Dạ Hương phổ thơ Đinh Hùng... Từng đảm nhiệm Chủ sự phòng Chương trình Đài Phát thanh Sài Gòn, Phụ tá giám đốc Đài Truyền Hình VN. Trong khi nhạc sĩ Lê trọng Nguyễn viết nhiều ca khúc hay và gía trị nhưng ít phổ biến, nhất là ông không sống trong giới âm nhạc vì phải đảm nhiệm các công ty thương mại, do đócông chúng thuộc bài Nắng Chiều nhưng quên tên tác giả! Thuở đó một số người trong công chúng còn lầm giữa nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên tác giả ca khúc tiền chiến Trăng Mờ Bêrn Suối, ca khúc được phát thanh hàng tuần trên các Đài phát thanh Sài Gòn và Quân Đội trong những chương trình nhạc chủ đề, nhạc thính phòng...Từ năm 1965 dòng nhạc Boléro được nhiều nhạc sĩ tài danh của Miền Nam viết nên đã đưa dòng nhạc này lên đến đỉnh cao kéo dài cho đến 30 tháng tư năm 1975 mới bị chính quyền CS nghiêm cấm và mới được hồi sinh rực rỡ vài năm gần đây. Ca khúc Nắng Chiều điệu Boléro năm xưa vẫn có một chỗ đứng riêng trong lòng công chúng mãi đến nay.

Người ta bảo "Thơ là Người", nhưng đôi khi tác phẩm và tác giả có khác nhau, nhưng tác giả vẫn phải sống thật với chính mình mới có cảm xúc thật để có được tác phẩm hay. Lê Trọng Nguyễn là nhạc sĩ có tài, tâm hồn đầy lãng mạn nhưng cuộc sống của ông lại ngăn nắp cần cù chí thú làm ăn xa cách thế giới thăng trầm của nghệ sĩ!
Những cái hay cái đẹp về con người và tác phẩm của ông đã có nhiều người viết làm tôi chẳng biết viết gì thêm! Ở Paris trong giới văn nghệ sĩ có nhiều người quen biết anh chị Lê Trọng Nguyễn từ lâu, nay có người còn kẻ mất, tôi đã liên lạc muốn các vị đó thay mặt các bạn viết những cảm tưởng về nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn nhưng tuổi đời của họ quá cao nên ngại cầm bút! Tôi xin có đôi dòng cảm nghĩ về nhạc Lê Trọng Nguyễn:
Vào mùa thu, ngày 23 tháng 10 năm 2005 chị Nguyễn Thị Nga có sang Paris và muốn thăm một số bạn văn nghệ quen biết với người bạn đời của chị là nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Tình yêu của chị đối với chồng thật là son sắt làm chúng tôi cảm động. Do đó CLB Văn Hóa VN Paris đã tổ chức một buổi vinh danh nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, ra mắt 2 tác phẩm: Tuyển Tâp Nhạc Lê Trọng Nguyễn và CD "Lá Rơi Bên Thềm". Hôm đó quy tụ nhiều khuôn mặt nổi tiếng trong giới văn học nghệ thuật: Nhạc sĩ Xuân Lôi, Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên, Nhạc sĩ Trịnh Hưng, Nhạc sĩ Phạm Đình Liên, Nhạc sĩ, Nhạc sĩ Minh Nhật,Thi sĩ Phương Du, Thi sĩ Kim Thành Xuân, Thi sĩ Quyện Tâm...Nhà thơ nữ Như Ninh, Nghệ sĩ Bích Thuận, Nghệ sĩ, Nghệ sĩ Thúy Hằng, nghệ sĩ Thy Như, nghệ sĩ Minh Cầm, Nhiếp ảnh gia Hùynh Tâm, Nhiếp ảnh gia người Pháp Bernard, Lan Phương, Đỗ Bình ....vv... Hôm đó rất nhiều người lên phát biểu cảm tưởng và tâm tình. Có người trình bày những ca khúc của Lê Trọng Nguyễn, có người làm thơ tặng. Thi sĩ Phương Du, BS Nguyễn Bá Hậu sau khi nghe hát bài Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn đã lên nhận xét về ca khúc. BS Nguyễn Bá Hậu tác giả nhiều thi tập, tuổi đời cao hơn nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và cũng là một nhạc sĩ chuyên viết Thánh Ca. BS Nguyễn Bá Hậu phát biểu:"Không phải ca từ trong Nắng Chiều tất cả đều hoàn hảo, lời lẽ sau đây trong ca khúc chưa được hoa mỹ: giọng hát câu hò thôi hết đưa , hình dáng yêu kiều kề hoa tím biết đâu mà tìm...nhưng những câu khác thì thật rung cảm. Từ cái đẹp trong ca khúc đã gợi cho tôi có cảm hứng đồng thanh đồng tình với tác giả làm bài thơ để họa ý nhạc lời ca:":
"Lạnh lùng trong nắng lưa thưa
Tới nơi thôn cũ chân đưa không hồn
Nhớ em màu má tươi hồng
Tóc thề vương nhẹ dáng trông gầy gầy
Long lanh cặp mắt thơ ngây
Qua sân chạnh nhớ phút giây em thề
Tim anh hầu quá tái tê
Duyên em chẳng biết ghé về nơi đâu
Nay thời lá úa nương dâu
Giọng hò điệu hát đưa sầu chia phôi
Mây chiều lướt thướt vương đồi
Nắng chiều nhạt chiếu ngừng trôi gợi buồn."
( Phương Du)
Có thể nói từ trước đến nay thông thường người ta phổ thơ thành nhạc, đây là lần đầu tiên Nhạc được họa từ Thơ, bài thơ rất hay lấy từ ý nhạc và lời ca . Thi sĩ Phương Du phải yêu bài ca lắm chất nhạc mới thẩm thấu vào tâm hồn bằng âm thanh mà cảm được cái vô hình chuyển thành hữu hình thành con chữ tỏa hồn trên mặt giấy. Về nghệ thuật nhạc sĩ chú trọng nhiều đến giai điệu cốt cho âm thanh véo von trầm bổng, còn thi sĩ thì chú trọng về vần điệu, ngôn ngữ mạch lạc giản dị v.v...
Nhạc sĩ có thể ngắt danh từ kép lướt thướt thành hai nhịp như: mây lướt // thướt trôi // nhưng thi sĩ thì không viết như thế được: mây chiều // lướt thướt // vương đồi...

Hôm đó Chị Nguễn Thị Nga xúc động mắt rưng lệ vì vui, làm sao mà không vui khi gặp lại một số nghệ sĩ đã từng có những tác phẩm vang bóng một thời. Thơ là tiếng lòng, chẳng có lời phát biểu nào hơn là chị đọc một bài thơ của mình mới làm để tưởng nhớ những năm tháng cùng chồng trải qua bao ngọt bùi gian khổ mà tâm hồn vẫn đẹp. Trong số người có mặt hôm ấy có nhiều người bạn thời con gái, có người là bạn đồng nghiệp của chị. Đó là kỷ niệm đẹp, một món quà tinh thần đầy tình nghĩa mà anh chị em Paris tặng chị mang theo khi trở về Mỹ.
Mang một tâm hồn đa cảm, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn sáng tác không nhiều, "cầu tinh bất cầu đa," nhưng lại có một số ca khúc hay và giá trị, mỗi nhạc phẩm mang một nét riêng, độc đáo. Cấu trúc, giai điệu và ca từ đều chăm sóc chọn lựa từng hình nốt, cung bậc. Nhạc phẩm Nắng Chiều đưa tên tuổi Lê Trọng Nguyễn ra khỏi đất nước hòa chung dòng nhạc các nước để giới thiệu nét đẹp văn hóa Việt Nam với thế giới. Nắng Chiều cung Sol trưởng có chút âm hưởng dân ca Nhật, chất Á Đông trầm lắng được phối với thể điệu Rumba Boléro của vùng trời xa xăm Nam Mỹ. Chất nhạc lãng mạn trữ tình mềm mại réo rắc buồn man mác làm lâng lâng người nghe. Vào đầu thập niên 50 điệu nhạc Rumba Boléro mới du nhập vào nước ta rất ít nhạc sĩ sáng tác thể điệu này. Những ca khúc Bolero, Rumba được phổ biến ở các phòng trà Hà Nội như ca khúc Trăng Sơn Cước của nhạc sĩ Văn Phụng, Cô Hàng Nước của nhạc sĩ Vũ Huyến, Gió Mùa Xuân Tới của Hoàng Trọng, Hoa Soan Bên Thềm Cũ của nhạc sĩ Tuấn Khanh. Làn điệu Rumba vui tươi lãng mạn, chưa buồn bã da diết như dòng Boléro sau này trong thời chiến.
Về ca khúc Nắng Chiều tôi được GS, Học giả Võ Thu Tịnh kể cho tôi và GS Nguyễn Thùy nghe tại nhà ông, anh Nguyễn Thùy quê quán Quảng Nam, là nhà nghiên cứu văn học, tác giả trên 20 bộ sách, hiện còn sống và đang ở Marseille, tôi xin thuật lại:" GS Võ Thu Tịnh, tác giả nhiều bộ sách viết về văn hóa VN, ông Sanh ngày: 2 07 1920, tại làng Long Phước, phủ Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Cử nhân giáo khoa Việt Hán, tốt nghiệp khoa chính trị Đại học Indiana, Hoa Kỳ. Nguyên Giám Đốc Thông tin Trung phần (Huế 1955-56), rồi Nam phần (Sài Gòn 1955- 1961). Trong thời gian ấy, làm trưởng phái đoàn Báo chí Cộng Hòa Miền Nam VN dự hội nghị Ban Dung (Nam Dương 1955) với tư cách quan sát viên. Năm 1961 từ chức Giám đốc, làm giáo sư các tư thục Sàigòn (Hưng Đạo, Nguyễn Bá Tòng, Nguyễn Công Trứ, Thăng Long...). Giáo sư Võ Thu Tịnh và Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cùng quê Quảng Nam, nhưng lớn tuổi hơn và ở chung trong Liên khu 5, sau đó cùng bỏ về thành. Trong một lần đến thăm nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn ở Sài Gòn, nhạc sĩ muốn nhờ GS Võ Thu Tịnh phổ biến bài Nắng Chiều. Nhân dịp đó có phái đoàn Nhật Bản sắp sang thăm hữu nghị trao đổi văn hóa với VN, GS Tịnh liên lạc với LS Trần Thanh Hiệp lúc đó đang ở trong nhóm có nhiệm vụ đón phái đoàn Nhật Bản. Có lần chúng tôi đến thăm LS Trần Thanh Hiệp, ông là cựu bộ trưởng Lao Động thời chính phủ Phan Huy Quát. Trong câu chuyện văn học nói về nhóm Sáng Tạo mà ông và nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà văn Mai Thảo là những người đồng sáng lập. Câu chuyện chuyển sang âm nhạc và có nhắc đến Ca khúc Nắng Chiều, ông cho biết lúc còn là sinh viên ở Hà Nội thường chơi đàn cho ban nhạc, có lúc chơi đàn ban nhạc với nhạc sĩ Nguyễn Hiền, ông đã kể cho chúng tôi nghe ,gồm: BS Nguyễn Bá Linh, Nhà văn Từ Thức và tôi:
" Năm 1958, để tỏ tình hữu nghị với VN trong phái đoàn Nhật có Đoàn Ca Vũ Nhạc Nhật Bản Toho Geino sang trình diễn suốt hai tuần lễ tại hội chợ Thị Nghè, họ muốn trình bày một nhạc phẩm VN. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền lúc đó là người điều hợp viên chương trình văn nghệ của hội chợ Thị Nghè, trong đoàn có nữ danh ca trẻ Satsuki Midori người Nhật Bản, Nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã chọn Ca khúc Nắng Chiều và tập cho cô ấy hát. Từ đó Ca khúc chấp cánh bay xa".

Kể từ sau năm 1945 văn hóa Nhật du nhập nước ta ngày càng nhiều vì lý do trong đó có tính chất Á đông gần gũi với Việt Nam, hơn nữa văn hóa Nhật mới lạ, khoa học tiến bộ cũng như Tây phương. Sau năm 1954 ở Miền Nam, Sài Gòn một số rạp cinê chiếu toàn phim Nhật, ở một số tụ điểm ca nhạc đã mời được các đoàn vũ công Nhật Bản sang trình diễn. Thời điểm đó có một số Ca khúc, bài hát Dân ca Nhật phổ biến trong công chúng. Ca khúc Nắng Chiều xuất hiện trong thời điểm này lại do nữ danh ca Nhật trình bày nên được ưa chuộng. Sau năm 1954 trong số nững người từ Bắc di cư vào Nam có nhiều nhạc sĩ có tài, viết những ca khúc hay và giá trị nhưng không có dịp phổ biến nên không đến được với công chúng!

Vài Cảm Nhận Về Một Số Nét Trong Nhạc của Lê Trọng Nguyễn:

Ca khúc “Khi Bóng Đêm Về" viết năm 1958, Cung Sol Trưởng, điệu Valse lente như một lời thỏ thẻ, thể hiện một tình khúc dang dở đầy lãng mạn. Đặt ở Cung Sol Trưởng nhạc sĩ muốn nâng hồn mình bồng bềnh theo nốt nhạc du dương để lướt qua niềm đau, rồi buông thả nỗi buồn. Nhạc sĩ giải bầy ở đoạn cuốn ca khúc:"...Làn tóc thanh xuân qua mất, Biết em vào lúc này. Tưởng có yêu nhau ngây ngất , sống qua ngày tháng gầy. Mà rượu ôi sao mặn chát, Lại còn đắng như cuộc đời. Gục đầu vào ly ta quên mất thời gian."
Ca khúc Bến Giang Đầu viết năm 1959, Cung Rê Trưởng theo điệu Boléro, cấu trúc nhạc cầu kỳ hơn Nắng Chiều, giai điệu âm hưởng Trung Hoa. Ca từ lãng mạn hoa mỹ, tác giả quá đãi lọc làm đẹp văn chương nhưng xa dời thực tế nên kén người nghe, do đó không phổ biến rộng như ca khúc Nắng Chiều.
Ca khúc Chiều Bên Giáo Đường viết 1962 Cung Mi giáng Trưởng, hành âm Andante, đây là ca khúc hay, âm hưởng bán cổ điển Tây phương, những ca khúc theo thể loại này cho đến ngay nay vẫn khó hợp với sở thích nhiều người, nhưng lại giúp cho nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn chỗ đứng vững chắc trong làng âm nhạc về giá trị nghệ thuật, chứng tỏ khả năng lãnh hội âm nhạc của mình.
Ca Khúc Cát Biển viết 1964, Cung Sol Trưởng theo điệu Swing có nguồn gốc Mỹ Quốc. Nhạc và lời hay, đối với ca khúc Việt Nam thời bấy giờ đây là ca khúc mang thể điệu mới và ít người viết.
Ca khúc Cung Điệu Buồn viết năm 1965, Cung Mi Thứ, điệu Bolero lent. Đây là ca khúc rất hiếm của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn viết ở Cung thứ.

Ca khúc Lá Rơi Bên Thềm viết 1966 chung với nhạc sĩ Nguyễn Hiền Cung Mi giáng Trưởng, điệu Slowly. Cấu trúc nhạc cầu kỳ, ca từ chọn lọc. Hình ảnh mùa thu trong nhạc là mùa thu Hà Nội, hương thu mang sương mù Đà Lạt mà người Sài Gòn chưa cảm được hương thu! Lê Trọng Nguyễn có viết một ca khúc Nhớ Thu Hà Nội 1965 rất hay, ca khúc vẫn Cung Mi giáng trưởng điệu Blues:" ...Trời thu Hà Nội quá xa vời, Lòng ta vời vợi nhớ, Dáng thơ em khuất rồi. Nào xác lá sấu úa, Hồ Gươm con tim ơi! "
Em trong ca từ được nhân cách hóa là Hà Nội, nhạc sĩ ví như người tình.

Ca khúc Bóng Nước Viễn Phương viết năm 1980, nhịp ¾ Cung Mi giáng Trưởng điệu Andente moderato, lời của nhạc sĩ Thẩm Oánh. Nhạc và lời diễn tả thân phận con người tìm tự do bềnh bồng trên sóng nước đại dương, bóng quê nhà mờ khuất! Một ca khúc buồn có giá trị.
Khi ca khúc Sao Đêm ra đời tình hình chính trị của Miền Nam lúc đó có nhiều biến động, một số phòng trà đóng cửa, khiêu vũ bị cấm, lãnh vực âm nhạc cũng bị những xáo trộn chính trị làm ảnh hưởng nên bị giới hạn!
Ca khúc Sao Đêm viết năm 1963, Cung Mi giáng Trưởng điệu Slowly, ca khúc này thật độc đáo, có thể nói là một ca khúc tuyệt vời.diễn tả câu truyện tình lãng mạn nhưng ẩn bên trong ca từ có tính cách giáo dục. Cấu trúc nhạc không viết theo thể điệu Jazz nhưng "air"nhạc có chất Blues Jazz. Trong sáng tác Nhạc sĩ có thể để thả hồn theo tiếng kèn đồng trầm bổng đẩy tiết tấu theo cung bậc ngẫu hứng nhập vào từng ca từ toát ra chất nhạc Blues Jazz thể điệu chưa quen thuộc ở VN thời đó. Cái độc đáo của nhạc phẩm là tả được trạng thái của con người trong trong đắm say, trong lạc thú.

Trong thi ca, văn chương Việt Nam có nhiều bài viết về chốn ăn chơi phòng trà, cô đầu, á phiện...như một lời cảnh giác, nhưng chất ma túy được các nhà thơ thời xưa ví von ngôn từ:" nàng thơ", Yến sĩ phi lý thuần (inspiration), có người mượn nó làm chất liệu gợi cảm hứng sáng tác , trong số đó có một số nghệ sĩ trình diễn cũng như sáng tác. Dù cảm hứng bắt nguồn từ nội tâm, ngoại cảnh, đôi khi bắt nguồn từ những câu chuyện kể bạn bè. Để hòa mình vào những cảm xúc của tha nhân, của ngoại cảnh kẻ sáng tác phải hóa thân thành người đam mê chạy theo những lạc thú để hoàn thành tác phẩm. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cũng thế, tâm hồn ông phong phú giàu tưởng tượng để có thể hóa thân vào những ngõ tối, xóm nghèo để nhìn thấy th ảm cảnh của sa đọa, hoặc vào những chỗ sang trọng hhộp đêm ở Sài Gòn, New York, Paris nơi ánh đèn màu, âm thanh của tiếng nhạc hòa trong khói thuốc trở nên huyền ảo mà Lê Trọng Nguyễn chưa bao giờ đặt chân đến. Lời Ca của ca khúc Sao Ðêm được đãi lọc rất lãng mạn, thật hay được danh ca Lệ Thu trình bày trước năm 1975 ở Sài Gòn. Lời ca đầy ẩn dụ. Em, Sao Ðêm trong ca từ là ẩn dụ. Ðôi mắt tiên nâu, trạng thái đang thả hồn vào cõi huyền hoặc. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn quả thực có thực tài, trí tưởng tượng thật phong phú nhậy bén nên ca từ giai điệu đã vẽ được con người trong cảnh đắm say, do đó ca khúc Sao Ðêm trở thành độc đáo chưa có một nhạc sĩ khác viết về "tiên nâu".

Xin chép phần ca từ 1 và 2 đẹp như một bài thơ của ca khúc Sao Đêm:

"Còn gì nữa? Mà ôi! Thương đau gieo mãi không thôi. Thân xác héo mòn. Đời ta lạnh trống, đôi mắt tiên nâu chờ ta giữa trời sao....Còn gì nữa? Bầu trời rạn nứt rồi. Mà ôi! Tâm tư đen tối chơi vơi. Đâm nát phím ngà người yêu tàn phá. Chờ qua năm tháng rủ áo trần gian...Em, ánh sao đẹp xa cuối trời đi về đâu? Đêm quá sâu hồn ta rã rời trong trời nâu. Tìm em không gian hồ đổ vỡ theo tinh cầu bay. Hằng đêm gối sách mơ trăng sao...Vội vàng hái cả trời sao chín mọng. Mà ôi! Thiên thai aao tắt mây vương. Lạc bước thiếu tàinhạc lôi rượu cuốn, người yêu xa mãi tìm gió ngàn phương..."
Lời 2:
"Vời vợi sáng
Một trời hương gió vàng
Ngàn sao bâng khuâng trên bên sông Ngân
Lời suối réo đàn
Lệ hoen tà áo
Đôi mắt giai nhân tìm đâu giữa trời sao.
Đồi lạnh vắng
Lạc loài ta với đàn
Hồn thơ lâng lâng theo áng mây hoang
Lời gió hú buồn
Biển sao gợn sóng
Thuyền trăng đưa khách lạc giữa đại dương.
Ôi cánh sao đẹp xa cuối trời di về đâu
Đêm quá sâu hồn ta rã rời trong trời nâu
Tìm em không gian hồ đồ vỡ theo tinh cầu bay
Thời gian tím ngắt như đêm nay.
Vội vàng hái cả trời sao chín mọng
Mà ôi thiên thai sao tắt mây vương
Lạc bước thiếu tài nhạc lôi rượu cuốn
Người yêu xa mãi tìm gió ngàn phương"
Một tác phẩm vượt thời gian khi tác phẩm đó sống bằng chất liệu thật, thay đổi lời ca để được hoa mỹ hơn như thế cái hồn ca khúc sẽ biến hóa thành một phiên bản khác! Tâm hồn nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn luôn trong sáng, lạc quan yêu đời nên từ những ca khúc ban đầu cho đến lúc cuối đời ông vẫn thích viết ở cung trưởng hướng về tương lai, dù ca từ đôi khi có buồn thì cũng chĩ man mác rồi qua đi nên rất ít bài ở cung thứ. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã về cõi vĩnh hằng nhng vẫn để lại cho đời những ca khúc giá trị của dòng nhạc bán cổ điển Tây phương. Những ca khúc của ông dù đã qua bao thời gian vẫn còn được công chúng yêu mến qua nhiều thế hệ mãi hôm nay.

21/11/2017

Đỗ Bình

Theo http://chimviet.free.fr/

 

Phấn trắng bảng đen và lòng biết ơn

"Nhất tự vi sư bán tự vi sư
Phi sư phụ bất thành nhân
Dù chỉ học thầy một chữ
Hay nửa chữ cũng ghi ơn"

Chuyện cổ tích ngày xưa kể rằng khi nước Nam chưa có chữ quốc ngữ theo hệ thống mẫu tự  ABC mà còn dùng Hán tự viết nét bằng cọ: Có một anh học trò thấy một đàn kiến khi kéo nhau bắc cầu qua sông, cả lũ kiến đó sắp bị dòng nước lũ cuốn đi, anh động lòng từ tâm liền bẻ một cành cây bắc cầu cho kiến di chuyển. Kỳ thi Hương năm đó anh làm bài thi, rủi ro một chữ anh viết thiếu một nét nên nếu đọc thì khác nghĩa nên giám khảo có thể đánh rớt, nhưng chữ thiếu nét đó có những con kiến bám chặt vào nét chữ thiếu đó nên trở thành đủ, giám khảo đã cho anh đậu khoa thi năm đó. Người đời cho rằng kiến đã trả ơn cưu mang của anh học trò từ tâm ấy nên công danh anh được hanh thông. Mặc dù câu chuyện trên đây chỉ là dụ ngôn, mà đã là dụ ngôn thì không có thật, nhưng điểm tối hậu nó cũng đem đến cho ta một ý nghĩ "biết ơn" nào đó trong đời.

Trên sân khấu của nhà hàng Hoàng Sa, tôi nhìn người nam ca sĩ có gương mặt quen thuộc, có cái nhân dáng quen thuộc và lời ca tiếng hát đó cũng quen thuộc nốt.  Xin thưa đó chính là giáo sư trước đây cách hơn phần tư thế kỷ đã là thầy tôi. Tôi vui lắm khi nghe tiếng ca ngọt ngào, du dương mang một ước mơ về tình yêu mà người thi sĩ gửi gấm trong thơ, người nhạc sĩ ký thác nỗi cảm tác trong từng nốt nhạc, cũng như người ca sĩ cố gắng lột tả trọn vẹn nỗi bâng khuâng khi là tình nhân, hay nỗi dịu dàng khi gần người yêu nhớ đến ánh trăng khuya của một thuở hẹn họ tình tự có Sài Gòn trong ký ức dấu yêu. Trong nỗi cảm nhận miên man của cử tọa đang lắng nghe, tôi cho là cả bộ ba Du Tử Lê, Phạm Đình Chương và thầy cũ của tôi đang đứng hát thật là một sự kết hợp tuyệt diệu. Bài "Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn", hình như nó là một trong những nhạc phẩm mà ông thích thú khi hát, nên ông thường ca bài này. Ca sĩ tài tử này bắt nhịp ca trong nỗi say đắm, ông ngân dài như đưa chúng tôi về với Sài Gòn trong quyến luyến, y như cái tâm trạng mà lúc chúng tôi rời nơi này:

"Đêm về trên bánh xe lăn
Tôi trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng
Tìm tôi đèn thắp hai hàng
Lạc nhau cuối phố, sương quàng cổ cây
Ngỡ hồn tu xứ mưa bay
Tôi chiêng trống gọi, mỗi ngày mỗi xa

Đời tan, tan nát chiêm bao
Tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào ..."

Thầy tôi, người mang bản tính năng động, ông luôn luôn vui vẻ và thích dí dỏm khi làm MC, ông trẻ trung trong giọng nói, và ông cũng trẻ trung trong tâm hồn. Ban nãy ông ông đã tâm tình về những kỷ niệm quê hương như:

"Các anh chị em thân mến, ngày xưa tôi đứng trước các anh chị em và đằng sau là bảng đen và phấn trắng, ngày hôm nay phía trước tôi đây cũng là các anh chị em, nhưng đằng sau tôi không còn phấn và bảng nữa, thay vào đó là ban nhạc đệm cho chúng ta những giây phút ân tình của tình đồng hương, của tình hoài hương, của dĩ vãng còn rong ruổi trong vùng ký ức cũ của chúng ta. Chỉ tiếc rằng những ngày cũ đó không dược kéo dài lâu hơn mà phải đợi hơn một phần tư thế kỷ sau mới được nối tiếp. Thú thực rằng ngày nào tôi còn gặp lại các anh chị là ngày đó sẽ là hạnh phúc cho tôi. Cái hạnh phúc kế tiếp là tôi được ca những ca khúc mà anh chị em thích. Như thế thì chúng ta có những hạnh phúc chung vì sở thích chung hay văn hóa chung phải không các bạn?"

Có bao giờ quý vị nhớ đến cái bảng đen đầy phấn trắng có lần đã rơi trên tóc thầy cô giáo của chúng ta? Tôi không được may mắn như vậy vì học ở trường đời nhiều hơn trường lớp, và tôi cũng học được lòng biết ơn các nhà mô phạm từ những câu chuyện nhỏ, như câu chuyện của Fred Bauer kể sau đây:

"Một hôm, tôi nhận thức rằng dường như tôi ít khi bày tỏ lòng biết ơn đối với những người thân sống quanh tôi, dành cho tôi nhiều điều ưu ái. Tất nhiên là chúng ta không nên đợi đến những ngày lễ lộc, kỷ niệm… để nói lời cảm ơn đối với những người thân mà mình đã từng mang ơn. Giá như tôi học được điều gì đó về nghệ thuật cám ơn thì đó chính là: Hãy cám ơn ngay tức thì. Nói lên lời cám ơn không chỉ làm rạng rỡ, làm mát lòng ân nhân mà còn thể hiện tính văn minh lịch sự của người thọ ơn. Nếu bạn cảm thấy bị hắt hủi, xua đuổi, bạn đừng vội bi quan, yếm thế mà hãy ra tay cứu vớt người khác. Rất có thể đó là phương thuốc giúp bạn tìm lại niềm lạc quan, yêu đời.

Trước khi trở thành nhà văn nổi tiếng, A.J. Cronin từng là một bác sĩ. Hồi ấy, có nhiều bệnh nhân đến yêu cầu Cronin điều trị cho họ chứng bệnh lo âu, hồi hộp, sợ sệt, mất niềm tin và luôn nghi ngờ. Cronin ghi cho họ toa thuốc thật lạ thường: "Toa thuốc cám ơn" rồi căn dặn bệnh nhân: ‘Trong vòng sáu tuần, quí vị phải nói lời cám ơn mỗi khi nhận được sự giúp đỡ của bất cứ ai dù đó chỉ là việc mọn. Và để tỏ ra rằng lời cám ơn kia xuất phát từ tấm lòng thành, quí vị hãy mỉm cười với ân nhân khi thốt lên hai tiếng "cám ơn". Sau 6 tuần điều trị, hầu hết bệnh nhân của Cronin đều cảm thấy thuyên giảm rõ rệt. Trong nhiều trường hợp, chúng ta không thể bày tỏ ngay lòng biết ơn của mình. Nếu rơi vào tình cảnh ấy, bạn không nên thụ động và giữ im lặng mãi mà hãy mạnh dạn nói lời cám ơn ân nhân ngay khi gặp lại họ sau đó.
Vừa mới đây, tôi có dịp về thăm lại quê nhà trong một thời gian ngắn. Trong khi tôi đếm bước dọc theo đường làng quen thuộc, kỷ niệm thời thơ ấu bỗng ùn kéo đến lấp đầy dòng suy nghĩ của tôi. Trên đường, tôi gặp lại cô giáo Violet Bible. Cô đã gợi trong tôi thời tôi còn mài đũng quần trên ghế trường trung học. Năm ấy, tôi ngồi lớp chín. Tôi mê chơi thể thao hơn là chú tâm vào việc học. Hậu quả là tôi bị tụt hậu môn tiếng La Tinh. Khi phát giác ra môn yếu kém của tôi, cô giáo Bible nói: "Ồ, học tiếng La Tinh có khó khăn gì đâu, rất thú vị nữa là đằng khác. Sau bữa cơm chiều nay, em sang nhà cô, cô sẽ chứng minh cho em điều đó".

Trong nhiều tuần lễ kế tiếp, cô dạy kèm tôi học tiếng La Tinh cho đến khi tôi theo kịp chúng bạn. Năm ấy tôi tròn 14 tuổi. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhận ra rằng cô giáo Violet Bible khả kính, vừa tích cực giảng dạy ở trường vừa làm tròn nhiệm vụ trong gia đình, lại còn dành riêng mỗi ngày một giờ để dạy kèm tôi học tiếng La Tinh. Sự cố gắng giúp đỡ tôi của cô Bible lúc ấy, tôi xem như là chuyện hoàn toàn bình thường. Nhưng giờ đây, khi gặp lại cô, tôi bỗng nhận thức một cách sâu sắc rằng cố gắng của cô dành riêng để dạy tôi học tiếng La Tinh trước đây quả là sự hy sinh vô bờ bến mà hàng năm dài tôi hầu như quên lãng. Tôi chạy đến ôm choàng lấy cô, giọng thổn thức: "Những điều mà cô dành cho em trước đây đã vượt xa nhiệm vụ bình thường của một cô giáo. Xin cô nhận lòng biết ơn chân thành của người học trò cũ, dù cho lời cám ơn được thốt lên muộn màng." Cô đáp lời tôi bằng nụ cười ấm áp, mãn nguyện và đôi mắt rạng rỡ niềm tin.

Nếu nhà văn lớn A. J. Cronin viết ra những cám ơn ân nhân đã dạy dỗ mình nên người thì tôi lại sực nhớ câu chuyện của người bạn Ba Tư mà tôi quen. Anh ta kể sau khi Shah hoàng bị lật đổ, chính quyền mới hồi giáo lên thay thế, người lôi thầy giáo ra tra tấn, mà trong đó anh là nạn nhân. Người thầy cố dạy những đứa trẻ tinh nghịch, ông xử phạt chúng của kỷ luật nghiêm túc của nhà trường. Khi đất nước thay đổi thì người bạn tôi, người thầy giáo của đám học trò tinh nghịch đã là nạn nhân của sự trả thù thất nhân tâm, họ gây cho người thầy cũ cái cảm giác chán chường, khi thoát ra xứ ngoài ông về sống ẩn dật ở vùng băng tuyết phía bắc Gia Nã Đại. Người Việt chúng ta có những câu nói mà người học trò nhỏ đều được giáo huấn như "Không thầy đố mày làm nên", lên cao hơn người học sinh lại tìm hiểu ý nghĩa của câu nói tôi cho là chí lý: "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư".

Thật ra mọi việc trong cuộc sống con người cũng tùy thuộc khung cảnh của đứa trẻ vốn tinh nghịch khi lớn lên như tình trạng gia cảnh, xóm giềng. Có đứa thay đổi tâm trạng hiểu thầy cũ, thì cũng có đứa ương ngạnh, vẫn cố chấp những chuyện cũ trong vùng ký ức. Làm con người đã khó rồi, mà làm đám học trò tinh nghịch, lêu lổng lại càng khó hơn, chỉ vì sự hẹp hòi, ích kỷ đã in hằn sâu trong tâm thức.

Cùng với cái tâm tình dành cho những ai đã thất bại vì nạn đổi đời để họ chịu đựng nỗi cay đắng lắm truân chuyên, thầy tôi ca bài hát mang nhiều tính chất triết lý của cuộc sống. Đó là bài "Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa", nhạc của Lê Uyên Phương sáng tác, lời thơ Nguyễn Hoàng Đoan. Tôi nghe trong nỗi chua xót và đắng cay, tôi cảm thấy cay đắng vì lũ học trò xưa phản thầy, họ vong ơn với vị thầy cũ, hình như tôi đã cay mắt khi nhớ về vị thầy trong khung cảnh băng giá kia vẫn chập chờn trong ý nghĩ của tôi. Giọng ca của thầy tôi bây giờ lại chuyên chở cả một kiếp nhân sinh mà hai người thi sĩ và nhạc sĩ đã đưa vào bài hát này:

"... Không phải là bông hồng
Dành cho người hạnh phúc
Những người không biết khóc
Nhũng người không biết cười
Những người tim bằng đất

Không phải là bông hồng
Dành cho những búp bê
Những búp bê biết khóc
Những búp bê biết cười
Búp bê tim bằng nhựa

Đây là một bông hồng
Gửi về người ngã ngựa."

Sống tại Hoa Kỳ hằng năm người ta có ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), mục đích của nó như tên gọi chúng ta tạ ơn đối với những ai giúp đỡ, cưu mang cho cuộc sống này được khá hơn. Nó có thể bao gồm cho tình thầy trò. Bởi vì: "Không thầy đố mày làm nên". Người bạn láng giềng nhà tôi lúc trước, nay cư ngụ trong vùng Little Saigon, nam Cali thuật cho tôi nghe chuyện cũ tại Sài Gòn là một sinh viên sư phạm kể rằng những "buồn nhiều hơn vui" trong đời dạy học của mẹ mình:

"Tôi còn nhớ rất rõ lúc tôi ngồi trầm ngâm trước lá đơn xin thi vào trường đại học, cách đây ba năm. Mẹ tôi (một nhà giáo tóc đã bạc, gần ba mươi năm trong nghề) đứng cạnh tôi, nói nhỏ nhẹ: "Con ạ, dẫu sao nghề giáo vẫn là một nghề cao quí". Mẹ tôi nói hai chữ "cao quí" thật nhỏ và mắt mẹ rưng rưng. Tôi thấu hiểu ước muốn của mẹ tôi. Không cần đắn đo, tôi ghi vào lá đơn: Trường Đại Học Sư Phạm. Tất nhiên trong chọn lựa cũng có phần của tôi.
Sau ngày 75, nhà tôi dọn về ở trong một con hẻm sâu. Có đêm, gần chín giờ, một người đàn ông tóc muối tiêu dắt chiếc xe đạp vào hẻm và hỏi tìm nhà cô giáo Hạnh. Khi mẹ tôi mở cửa, người đàn ông cúi hẳn người xuống, rụt rè: "Thưa cô, cô còn nhớ em không, em là Huân đây mà...". Mẹ tôi ngờ ngợ, có lẽ không nhớ ra. Khi vào nhà nói chuyện, chú Huân kể lại: "Hồi em học đệ tứ (tức lớp 9 sau này), ngồi đầu bàn, thường tinh nghịch để chân ra ngoài. Cô đi lên đi xuống giảng bài say sưa, đụng phải chân em, cô vấp té, đầu va vào bàn... Cô nhớ không? Hồi đó, sợ quá em không nói được một lời xin lỗi với cô. Vậy mà em ân hận mãi. Hơn 25 năm rồi, cô ạ...". Ở ngoài Trung chú Huân chạy xe ôm, có dịp vào thành phố chú quyết tìm cho được người thầy cũ là mẹ tôi. Để thăm và nói một lời... và chỉ một lời để xin lỗi. Khi trao những chiếc bánh nổ của quê hương miền Trung cho mẹ tôi, chú Huân bùi ngùi nói: "Có chút quà của miền Trung... để cô nhớ đến tụi em". Đêm đó là một trong những đêm vui của mẹ tôi.
Có một lần mẹ tôi bị bệnh nằm ở bệnh viện Gia Định, một bác sĩ khoảng 40 tuổi cứ ở bên mẹ tôi. Khi mẹ xuất viện, mỗi đêm người bác sĩ ấy lại lội vào con hẻm đến nhà theo dõi sức khỏe cho mẹ tôi. Đó là một học trò cũ của mẹ. Anh ấy cứ nhắc đi nhắc lại: "Không có cô, đời em chưa biết ra sao...". Anh ấy kể: hồi học cấp III, gia đình quá khó khăn, đã nhiều lần anh quyết định nghỉ học, nhưng mẹ tôi đã đến, giúp đỡ, động viên và anh lại tiếp tục đi học... Thỉnh thoảng mẹ tôi nhận được những lá thư, những thiệp chúc tết, thiệp báo hỉ... từ phương xa gửi đến. Tất cả đều ghi những lời trân trọng, ân tình. Mẹ tôi dành riêng một ngăn tủ gìn giữ tất cả và thỉnh thoảng mẹ tôi lại giở ra xem, và tôi thấy bà mỉm cười hạnh phúc.

Nhưng đời dạy học của mẹ tôi cũng có quá nhiều những đắng cay, ngậm ngùi thậm chí đến tủi nhục. Có một lần đi dạy về, vừa bước vào cửa mẹ ôm mặt òa khóc. Tôi hỏi mãi, mẹ mới chịu kể: "Mẹ đang dạy trong lớp thì một người sang trọng đến hành lang, gật đầu ra hiệu muốn gặp mẹ. Mẹ bước ra, người ấy trao cho mẹ một xấp vải và chiếc phong bì, nói: "Xin cô cho cháu nó vào học lại". Mẹ từ tốn trả lời: "Trường hợp cháu đã quá nhiều lần vi phạm kỷ luật, ban giám hiệu đã quyết định cho nghỉ học. Có gì xin ông gặp ban giám hiệu". Người ấy cứ dúi quà vào tay: "Cô nhận đi, không sao đâu, miễn là lo được cho cháu". Mẹ nghiêm giọng: "Xin lỗi, tôi không lo được, ông cứ mang lên ban giám hiệu". Người ấy bỏ đi và thòng theo câu nói: "Rách mà làm phách!".  Mà đúng vậy, mẹ càng đeo đuổi nghề, càng ngày càng rách thật. Rách đến mức hồi tôi còn nhỏ, mẹ đã từng phải cắt chiếc áo dài cưới của mẹ để may cho tôi một chiếc áo mới, để tôi đến trường ngày khai giảng... Lần ấy mẹ tôi xót nhưng không đau. Lần này đau vì có người xúc phạm đến danh dự của bà.
Tôi băn khoăn tự hỏi sao ngành giáo chức của mẹ tôi thê lương và bẽ bàng đến thế. Sách vở thì lại cho là nghề giáo cao quí lắm mà. Tôi tự hỏi và rồi tự hỏi.

Một lần khác, một phụ huynh tổ chức đám cưới cho con ở một nhà hàng sang trọng đã mời mẹ tôi. Xung quanh những khách khứa hào nhoáng, mẹ tôi trao chiếc phong bì mừng đám. Vị phụ huynh ấy đẩy tay mẹ tôi từ chối và nói một câu tự nhiên: "Tiền bạc đâu mà cô mừng cho cháu. Mời cô cốt là để cô bồi dưỡng cho sức khoẻ". Mẹ tôi tái mặt, xấu hổ đến chín người và mẹ đã tìm cách ra về. Đến nhà, vào buồng, mẹ kéo chiếc chăn đắp lên ngực, mắt mở lớn nhìn lên trần nhà, và nước mắt cứ trào ra...

Tôi không nhớ hết được bao nhiêu lần mẹ tôi đã khóc như vậy. Cứ sau mỗi lần ấy, mẹ lại kéo chiếc hộc tủ có nhiều kỷ niệm đẹp của đời dạy học của mình ra và mẹ im lặng đọc từng lá thư, ngắm từng chiếc thiệp. Hình như lòng mẹ thanh thản trở lại. Nhưng cuộc sống cứ không để yên cho lòng mẹ thanh thản. Lại muôn vàn đắng cay, muôn vàn nhức nhối. Vậy mà mẹ vẫn muốn tôi trở thành cô giáo. Một năm nữa tôi sẽ ra trường, sẽ đứng lớp. "Dẫu sao mẹ nói rằng đó vẫn là một nghề có ích nhất cho đời. Người thầy luôn mở rộng tấm lòng bao la, quảng đại để chấp nhận những thử thách khó khăn nhất xảy ra cho đời mình, và với tấm lòng vị tha, người thầy luôn để lại những dấu ấn đẹp cho mỗi cuộc đời..."

Trong những ý tưởng bâng quơ, buồn vơi, tôi ngẫm nghĩ sống mà không biết yêu thương, ơn nghĩa thì "Sanh Bất Nhược Tử" (Sống mà như chết), chết mà còn để lại cho đời những tấm gương sáng thì "Tử Bất Nhược Sanh" (Chết mà như sống). Vậy thì người ta tri ân những nhà triệu phú hay tri ân những nhà giáo nghèo? Hỏi tức là đã trả lời, nhà triệu phú cũng sẽ được tri ân như vậy nếu như họ biết làm việc từ thiện mà không khoe khoang cho mọi người biết. Riêng tôi, cảm thấy vô cùng hạnh phúc vì còn được nói hai tiếng "cám ơn" chứ không phải là "rất tiếc".

Đó là đôi dòng về người thầy cũ của tôi, về vị thầy giáo oan khiên bôn ba sau thời vận Shah hoàng, về cô giáo Violet Bible và về cô giáo Hạnh, mẹ của người bạn tôi. Nếu ở đời có những đứa trẻ tinh nghịch, lớn lên bằng ý tưởng hẹp hòi và cố chấp thì xã hội cũng có người học trò cũ tinh nghịch của cô giáo Hạnh lớn lên trong ý thức biết ơn và bao dung.

Tôi nhìn về hướng vị thầy cũ mang dáng trí thức với đôi kính cận như dạo nào, ông bước xuống sân khấu sau khi trình bày hai nhạc phẩm nhắc nhớ những kỷ niệm quê hương. Thông thường ai cũng có những vị ân sư để mình nhờ về dĩ vãng và để tạ ơn. Nhân đọc sách của nhà văn A.J. Cronin viết, tôi có ngẫu hứng viết bài này kính tặng các nhà giáo Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Văn Sâm và các anh chị trong văn đàn Tạ Xuân Thạc, Trần Anh Dũng, Trần Việt Hải, Tôn Thất Phú Sĩ, Vũ Đình Trường, Vũ Tiến Thăng, Hoàng Định Nam và Hoàng Huy Giang và còn nhiều... mà tôi không kể hết tên trong nhóm Đồng Tâm tại Houston.

Lời sau cùng tôi muốn cám ơn ba mẹ sinh thành dưỡng nuôi, cám ơn các cô thầy dạy dỗ bảo ban, cám ơn quê cha đất mẹ cho tôi những tình tự văn hóa Việt Nam và cũng như cám ơn phấn trắng bảng đen cho tôi những dòng cảm nghĩ trong bài viết này.

Dương Hà

Theo http://chimviet.free.fr/

 

Hẹn một mùa mưa

Quê tôi luôn có hai mùa mưa nắng. Khi còn bé, với ánh mắt tuổi thơ, tôi chỉ biết nhìn mùa mưa, mùa nắng qua những sở thích giản dị, thích thú với những điều có trong tầm tay của ngày ấy. Những cơn giông mùa hè, xạc xào khóm cúc vàng trước ban công nhà, bầu trời đang nắng gắt, cái nắng nóng như lửa từ trên mái thiết rọi xuống, bất chợt lộp độp vài tiếng mưa, ánh sáng chìm dần thành một màu tối, rồi ào ạt tiếng mưa rơi xối xả xuống mái thiết, mái tôn... Những buổi trưa hè như thế, một mình lúc còn bé ở nhà trên tầng lầu, tôi thường hay sợ, không phải vì sợ bóng tối mà vì tiếng mưa nặng hạt - tưởng chừng sẽ lũng mái nóc nhà.

Dạo ấy, ngôi nhà tôi chưa được xây cất thêm, chỉ là ngôi nhà sàn đơn sơ, cũng như tôi chỉ có vỏn vẹn vài món đồ chơi. Ngày mưa dai dẳng, chơi mãi với những thứ ấy cũng chán, không được chạy qua nhà hàng xóm chơi với đứa bạn thân, cuối cùng tôi thường lên lầu, ở ngoài sau lầu có một gian ban công nhỏ, nơi đó có vài chậu cá lia thia, cả bảy màu, của anh tôi nuôi đựng trong chậu nhỏ bằng sành  - trong đó còn có bèo và lăng quăng. Không có anh tôi, lúc đó muốn xem cá phải cúi đầu sát vào chậu, tìm chúng núp dưới lớp bèo, thỉnh thoảng tôi còn lấy tay vớt bèo ra để được nhìn mấy con cá cho kỷ, bàn tay nhỏ bé của tôi rượt mấy con cá bảy màu lội vòng vòng muốn khờ luôn. Tôi nhớ có ngày nghe người ta nói từ " ép cá " tôi cứ tưởng là phải lấy tay bóp cái bụng cá cho cá con thoát ra ngoài lội. Tôi nhìn con cá lia thia vừa ăn no với cái bụng căng phồng mà trong lòng muốn thử lắm, nhưng cũng may là tôi còn nhát tính cho nên đã không dàm làm thử. Và nhờ vậy mà tôi chưa từng bị anh tôi nhéo lỗ tai.

Nhà tôi ở gần ngôi chùa Ông, trước sân chùa có một sân thể thao đánh bóng rổ, buổi chiều tôi và bạn hàng xóm hay đến đây chơi trò cút bắt. Khi mệt nhoài cả đám con nít bọn tôi ngồi lại cùng nhau kể chuyện đời xưa. Vậy đó mà có một nhóc tì, không hiểu làm sao lại biết chuyện đời Tây, kể rằng : " ở xứ tây phương có mưa đá, những cục nước đá nhỏ từ trên trời rớt xuống đất. "   Khi đang mệt và khát nước, nghe chuyện như thế cả đám ngồi ngẩn ngơ, ước gì lúc đó có mưa đá rơi xuống trước sân chùa cho chúng tôi lượm ăn.

Có những buổi chiều của mùa mưa, chúng tôi cũng thường rũ nhau ra bãi cát vàng ở mé sông Cửu Long, nơi ấy có nhiều vũng nước mưa đọng để bắt nòng nọc, khó bắt được các con đã mọc thêm hai chân vì chúng bơi vọt nhanh hơn con chỉ có cái đuôi. Đi bắt chúng để làm gì? không làm gì cả, chỉ là một cuộc vui trẻ thơ của bọn tôi thôi. Đơn giản vậy đó mà đã mang đến những tiếng cười vang trên bãi cát vàng, ra về với bàn tay bàn chân lấm bùn đất.
Ngày mưa bong bóng cũng thú vị với tôi, cơn mưa lớn làm nước đủ ngập mặt lòng đường, tôi lấy giấy học trò xếp thành hình cái thúng, chiếc tàu rồi thả theo luồn nước mưa. Những chiếc thúng, chiếc tàu chất đầy nét hồn nhiên, thích thú, của tôi từ từ trôi theo dòng nước đi khắp ngỏ hẻm, thương sao màu trắng giấy học trò, chồng chềnh theo nước mưa.

Tháng ngày dần trôi, niềm vui tuổi thơ ngày mưa cũng chóng qua. Hằng năm, mùa mưa vẫn về, những giọt mưa đến để rủ những hạt bụi vướng trên thân cây rơi trở xuống lòng đất như một cuộc đời long đong rồi cũng trở về với cội nguồn của chúng.
Mưa thấm mát mạch đất, cũng như bắt đầu thấm nỗi lòng cảm nhận của tôi về hình ảnh thực của cuộc đời dưới cơn mưa. Mưa làm cây lúa tốt tươi, và cũng chính mưa làm xót xa những gánh hàng rong bên lề đường. Từ đó tôi hiểu thêm rằng, ngay cả chính thiên nhiên cũng không bao giờ công bằng.

Trên dòng đời viễn xứ...
Hình ảnh vườn mưa tuổi thơ của tôi trong ký ức vẫn mượt mà êm ái, những lúc tôi cần tìm về với nó, nó luôn ân cần chào đón tôi mà không đòi hỏi điệu kiện nào, đó chính là hương vị tuyệt vời của quê hương. Càng lớn tuổi tôi lại càng khao khát, lục lọi trong tất cả ngăn tủ trí nhớ để được nếm lại sự ngọt ngào của nó, và kết thúc bằng một mình tôi với tiếng cười khúc khích.

Có đôi khi, sau những tiếng cười khúc khích ấy, lòng tôi bỗng chùng lại, bởi nhớ rằng mình đã xa vắng rất nhiều mùa mưa bên gia đình và bạn bè, kể từ ngày xa quê hương tôi chưa lần nào về thăm nhà vào mùa mưa. Lâu lắm rồi, với tôi mùa mưa của Việt Nam chỉ toàn là được đọc trên máy vi tính, qua báo chí, nghe kể qua điện thoại... Tôi bỗng sợ, sợ những mùa mưa sẽ nhạt nhoà trong tôi, thế là tôi muốn "hẹn một mùa mưa" với quê tôi, gia đình, bạn bè... với tất cả điều bình thường của những ngày mưa mang đến, dẫu rằng đó có thể là một ngày phải xách giỏ đi chợ với lấm lem mưa bùn, để mua được con cá lóc đồng về nấu canh chua.

Ôi! tôi đang mơ - mơ cuộc đời luôn tử tế với tôi, để một mùa mưa nào trong tương lai "đến hẹn lại lên" như những gì tôi đang muốn, để không bao giờ lỗi hẹn với tình quê.

Dạ Lý

Theo http://chimviet.free.fr/

Mưa Đồng Cọ, gió Tu Oa

Về việc đặt tên cho các em bé sơ sinh, ngày nay, người Việt ta, dù ở quê nhà hay ở hải ngoại, đều rất quan tâm hơn ông bà cha mẹ chúng ta ngày xưa. Thật vậy, thời nay, người mẹ vừa có bầu là vợ chồng to nhỏ, bàn tới bàn lui, suy nghĩ tìm cho được cái tên thật tốt, thật ăn ý đặt cho con. Bầu bì mới vừa vài tháng, chưa rõ trai hay gái, vợ chồng cũng đã đồng ý với nhau, nếu trai thì đặt tên gì có dính líu đôi chút với bố, ví dụ bố tên Hùng thì con tên Cường chẳng hạn. Nếu gái, theo ý người mẹ thì lấy một tên có tính cách văn nghệ sĩ một tí vì mẹ nó rất thích ca hát, nhảy nhót v.v... Độ 6-7 tháng, người mẹ đi siêu âm được Bác sĩ cho biết chắn chắn là thằng Cu hay con Bẹp, dù nó chưa được sinh ra, nó cũng đã được bố mẹ đặt tên cho nó rồi. Đến ngày khai hoa nở nhụy, nó chính thức được bố mẹ đưa tên để Bác sĩ và Bệnh viện cấp giấy khai sinh cho nó. Nếu sinh tại Mỹ, chắc là Robert hay Tom gì đó và nếu gái thì Nancy hay Ketty chẳng hạn...

Ngày xưa, trước năm 1930, nước ta chưa có Sở Hộ Tịch nên việc khai sinh cho trẻ mới lọt lòng không được đề cập. Do đó, việc đặt tên cho con hình như không mấy tha thiết và cũng ít có cha mẹ quan tâm. Đến lúc cần cho con đi học thì cha mẹ mới đặt cho nó một cái tên. Gia đình nào có chút ít chữ nghĩa thánh hiền thì theo sách vở mà đặt tên con. Ví dụ Ông Phan Văn Nhơn chọn cho thằng con đầu lòng là Lễ, sau đó sẽ đến Nghĩa rồi Trí, Tín. Nam Nữ gì cũng mặc. Nếu đã đến Tính rồi mà bà xã cứ lai rai sản xuất tiếp thì đặt tên Út, tên Thừa, tên Dư, tên Chót ... Có gia đình chọn tứ binh: Mai, Lan, Cúc, Trúc; có người chọn tứ Linh: Long, Lân, Qui, Phụng; có người chọn tứ quý: Xuân, Hạ, Thu, Đông đặt tên cho các con.

Các nhà khoa bảng thì đặt tên con kỹ hơn. Có vị chọn những chữ Hán có bộ "Mộc", hoặc bộ "Thủy", hoặc bộ "Nhơn" ... đặt tên cho các con trong nhà. Phần lớn và hình như hầu hết, việc đặt tên cho con đều do các ông sưu tầm hoặc suy nghĩ mà lựa chọn chứ các bà ít hoặc không tham gia (ngày xưa các ông độc đoán thật).

Ở nông thôn thì bà con ta đặt tên con giản dị hơn. Cứ Giáp Ất Bính Đinh ..., hoặc lấy tên thú vật: Tí Sửu Dần Mẹo ..., hoặc nếu trai thì Lê Văn Cu, gái thì Mai Thị Bẹp ... Trai lót chữ Văn, gái lót chữ Thị. Nhiều nhà con đặt lắm tên mộc mạc hơn, không tiện viết rõ ràng ra đây. Họ bảo đặt tên tốt, Ông Bà, Thần Thánh hay quở phạt, khó nuôi lắm! Những nhà phú hộ, hiếm con thì đặt tên con càng thô lỗ, càng khó gọi hơn! Hàng xóm cứ phải gọi là Cậu Ấm hay Cô Hai, Cô Ba cho đỡ ngượng miệng.

Thời thơ ấu, thời chúng tôi được gọi là "Elève maison l'eau" (học trò nhà nước), Cours "Emfantin" (lớp Đồng ấu = lớp 1) của chúng tôi có trò tên là Trần Văn Truồng, theo bà con lối xóm nói lại thì từ nhỏ đến lúc cho đi học (8-9 tuổi mới đi học) anh ta ở trần như nhộng nên cha mẹ anh ta đặt tên như vậy. Đến năm lên Cours "Elémentaire" (lớp Sơ Đẳng = lớp 3), thời điểm phải làm Giấy Căn Cước (Carte d'identité) để chuẩn bị đi thi Sơ Học Yếu Lược (thuở ấy không có giấy khai sinh), thầy giáo mới đặt tên anh ta lại là Trần Văn Trường (thời bấy giờ sửa đổi tên rất dễ dàng).

Cái Carte d'identité lúc đó có chữ ký và triện đen của "Le (lơ) Lý Trưởng" sở tại, có ông Tây "Le Resident de France" tại Nha Trang ký xác nhận và đóng dấu đỏ 1/2 trên hình của thí sinh và 1/2 trên chữ ký của "Quan Tây". Giấy căn cước này là bùa hộ mệnh của thí sinh trong các kỳ thi lấy bằng cấp Pháp Việt (Franco indigènes) hay bằng cấp Pháp (Francais) ... (theo nghị định ngày 16-02-1925 của Toàn Quyền Đông Pháp).

Nhớ hồi học ở cours "Préparatoire" (lớp Dự bị = lớp 2), có trò tên Phan Viễn Du, cứ 5, 3 bữa thì có một trò nào đó nghịch ngợm thêm dấu bậy bạ vào tên anh ta trên nhãn vở. Tội nghiệp anh ta bị thầy giáo khẻ tay và cho "mauvaises notes" (điểm xấu) liên miên. Thật là nhứt quỷ, nhì ma, thứ ba học trò! Bữa nọ, thầy giáo chấm vở "Rédaction" (vở luận), thầy thấy trò chơi ấy tái diễn trên nhãn vở của anh Du. Thầy tra hỏi mãi, cả lớp không ai chịu. Dại gì phải chịu cho bị ăn đòn hoặc có thể bị đuổi học? Hôm ấy, trước giờ ra chơi, thầy cho mỗi trò một thẻ tre chẻ nhỏ như cây tăm, dài bằng nhau. Thầy bảo: "Trò nào chơi nghịch thêm dấu vào tên trò Du thì sau khi ra chơi vô, cái thẻ này sẽ dài ra một tí" ...

Ba tiếng trống báo hiệu giờ chơi chấm dứt, tất cả học sinh sắp hàng vào lớp. Thầy giáo thâu các thẻ lại. Thầy vừa thâu vừa kiểm tra, chỉ có thẻ của trò L. ngắn đi vài ly mét. Thế là thầy giáo đã tìm ra ông "Quỷ" thủ phạm không mấy khó khăn! Trò L. có tật nên giật mình, nghe thầy nói tin thật, sợ cây thẻ dài ra nên cắn bớt đi một tí. Đương nhiên anh ta bị ăn đòn sưng đít và bị nhiều mauvaises notes. Sau đó thầy giáo sửa tên Du thành Dzu (có chữ Z ở giữa). Từ đó về sau trò Phan Viễn Dzu không còn bị chọc phá nữa.

Đầu năm 1946, Pháp trở lại Khánh Hòa, nhiều người chạy vào rừng sâu lánh nạn, trong đó có chúng tôi. Bà mợ tôi chuyển bụng đẻ và sinh được một chú trai. Cậu tôi đặt tên cho anh ta là Nguyễn Văn Sanh Sơn (đẻ ở núi) để làm kỷ niệm thời loạn lạc.

Sau tháng Tư đe, người Việt chúng ta lưu lạc khắp nơi. Vì lẽ sống, người thì nhập quốc tịch nước này, người thì nhập quốc tịch nước nọ ... Riêng tại đất nước Hoa Kỳ, khi thi vào quốc tịch, ai muốn lấy tên Mỹ hoặc muốn giữ lại tên cha sinh mẹ đẻ cũng không sao (xứ tự do mà). Đa số các bạn nam nữ trẻ trung lấy tên Mỹ để vào làm trong các hãng xưởng, trong các cơ quan nhà nước không bị các sắc tộc khác khi dễ. Hầu hết các bậc cao niên còn giữ nguyên tên Việt Nam cũng là điều tốt thôi. Có bạn tên Tâm lấy tên Mỹ là Tamy (chỉ thêm chữ Y phía sau); có bạn tên Tồn lấy tên Mỹ là Tony (cũng chỉ thêm chữ Y); có bạn tên Lý lấy tên Mỹ là Lynn; có bạn tên Linh lấy tên Mỹ là Linda ... Tôi nghĩ, khi đổi tên Việt ra tên Mỹ như nói trên, các bạn ấy đã có nhiều đắn đo, nhiều suy nghĩ về nguồn gốc, về cố hương, về quê mẹ ... Vui miệng, tôi có hỏi một vị cao niên vừa thi đậu quốc tịch Mỹ: "Cụ lấy tên Mỹ thế nào?" Cụ vừa cười vừa đáp: "Chẳng qua vì vụ tiền SSI nên đã trên 15 năm sống trên đất Mỹ, nay tôi mới đi thi vào quốc tịch. Tuổi đời trên 80 rồi, lấy tên Mỹ lấy le với quỷ sứ chứ ích lợi gì với tôi đâu. Tuy nhiên, để kỷ niệm cái thời điểm răng tôi đã rụng hết mà còn phải thay đổi quốc tịch nên tôi lấy tên Mỹ là "HENRET" (đọc hăng rết tức hết răng) để làm vui!"

Về Họ thì xưa nay cứ theo họ cha, không một ai theo họ mẹ, ngoại trừ người mẹ sinh con không có chồng thừa nhận. Nếu làm con nuôi cho ai, đương nhiên đứa con phải theo họ của dưỡng phụ (cha nuôi). Ngoài ra, theo sử sách, qua các triều đại Lý Trần Lê Nguyễn ... nhiều công thần có công lớn với triều đình, được vua thương cho đổi họ theo nhà vua.

Tại Vạn Ninh (một huyện cực Bắc tỉnh Khánh Hòa, hướng Đông Bắc thị trấn Vạn Giã có một hải đảo nhỏ cách bờ độ hơn mười km gọi là Hòn Bịp. Nay là thôn Điệp Sơn thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh. Đầu thập niên 30, quan huyện địa phương gọi tất cả cư dân ở hải đảo này vào ghi danh lập "Bộ Đinh" của làng. Quan huyện hỏi đàn ông trước, đàn bà sau ... (hầu hết đều mù chữ). Tên thì có mà Họ thì không một ai biết họ gì cả! Cuối cùng quan huyện mới bảo: "Thôi thì đàn ông lấy họ Đinh, đàn bà lấy họ Trần."

Đây là câu chuyện thật. Để khỏi mang tiếng là hư cấu bậy bạ để mua vui đồng hương trong mấy ngày xuân, tôi xin nói qua về việc hình thành ngôi làng chài lưới này như sau:

Hồi sinh tiền, Ngoại tôi thường kể cho bạn bè của ông nghe và tôi được nghe lóm nhiều lần. (Nếu năm nay Ngoại tôi còn sống, Ngoại cũng gần một trăm ba mươi tuổi). "Hòn Bịp" là một hải đảo nhỏ, đi bộ một ngày là giáp quanh. Cây cối lúp xúp, xung quanh có nhiều bãi cát. Dân đánh cá trong vùng đôi khi ghé vào đó lấy nước uống vì có mấy khe đá có nước ngọt quanh năm, hoặc vào đó phơi lưới, hoặc nấu ăn chốc lát ... Không rõ vào thời gian nào, có một số ít người, đàn ông có, đàn bà có đến đó lập nghiệp. Họ có nước da ngăm ngăm đên, tái tái giống người Raglai, hoặc người Chàm (Chăm). Đặc biệt là đôi mắt họ trắng xác, họ rất ít nói. Thoạt đầu thấy họ dễ sợ lắm. Hoàn toàn họ không giống người Việt (Kinh) mình chút nào cả.

Về sau, người ta mới đoán họ là dân chài lưới từ Indonesia, từ Singapore, từ Mã Lai hay từ Thái Lan ... bị bão lụt trôi tấp vào đó và sanh sôi nảy nở thành làng xóm. Thuở ấy, người dân ở đất liền Vạn Ninh thường gọi họ là "Dân Đàng Hạ).

Các bạn thử nghĩ, thời đó (thế kỷ 17, 18 hoặc trước đó nữa) phương tiện giao thông không có, dân chài lưới bị bão lụt trôi tấp từ nước này đến nước nọ; sống được là may mắn lắm rồi; làm gì có chuyện nghĩ đến ngày nào đó sẽ quay về cố quốc? Sau ba bốn thế hệ, sống biệt lập ngoài hải đảo, làm sao họ nhớ Họ, nhớ gốc gác? v.v ... Hiện nay, cả nam phụ lão ấu cư dân làng đó (Điệp Sơn) độ chừng vài trăm nhân khẩu. Mọi sinh hoạt, ăn uống, thờ cúng, ngôn ngữ, nghề nghiệp ... hoàn toàn như dân bản xứ.

Về nhân danh (tên người), họ tên người Việt chúng ta có nhiều thay đổi theo thời gian, không gian, lịch sử, xã hội, trình độ văn hóa ... Về địa danh (tên địa phương) cũng không khác gì hơn. Ví dụ: vùng đất Khánh Hòa chúng ta ngày nay, trước kia là một phần đất của nước Tây Đồ di, sau bị Chiêm thành (Chàm) đánh chiếm sáp nhập vào nước Lâm Ấp của họ.

Năm Quý Tỵ (1653), chúa Hiền chiếm lấy phần đất từ Đá Bia mũi Nại (cap Varella) đến sông Phan Rang rồi chia thành 2 phủ:
1. Phủ Thái Khương gồm 2 huyện: Quảng Phước và Tân Định.
2. Phủ Diên Ninh gồm 3 huyện: Phước Điền, Vĩnh Xương và Hoa Châu.

Năm 1690, Phủ Thái Khương đổi thành Phủ Bình Khương.
Năm 1742, Phủ Diên Ninh đổi thành Phủ Diên Khánh.
Đồng thời đặt Dinh Bình Khương và cho 2 Phủ lệ thuộc vào.
Năm 1773, Tây Sơn chiếm Dinh Bình Khương.
Năm 1793, Nguyễn Ánh thu phục Bình Khương và cho xây thành Diên Khánh.
Năm 1803, Dinh Bình Khương đổi thành Dinh Bình Hòa.
Năm 1808, Dinh Bình Hòa đổi thành trấn Bình Hòa.
Năm Nhâm Thìn (1832), Vua Minh Mạng đổi Trấn Bình Hòa thành tỉnh Khánh Hòa.

Năm 1901, tỉnh Khánh Hòa chỉ có 2 Phủ và 4 Huyện.
1. Phủ Diên Khánh có 2 huyện: Phước Điền và Vĩnh Xương.
2. Phủ Ninh Hòa có 2 huyện: Quảng Phước và Tân Định.

Tỉnh lỵ đặt tại thành Diên Khánh. Chính quyền Nam Triều đóng tại thành Diên Khánh. Chính quyền Pháp đóng tại Nha Trang. Mãi đến năm Ất Dậu (1945), sau khi Nhật đảo chánh Pháp, Nha Trang mới chính thức là tỉnh lỵ của Khánh Hòa. (Theo địa bạ triều Nguyễn).

Một số địa danh trong tỉnh Khánh Hòa xuất xứ theo hình tượng như Hòn Chồng vì có nhiều hòn đá lớn nhỏ chồng chất lên nhau tạo ra một cảnh tượng thật đẹp mắt, du khách ngắm mãi không thấy chán. Gần đây Sở Du Lịch Cộng Sản Nha Trang có viết gần đó (Hòn Chồng có Hòn Vợ! Tôi nghĩ rằng họ sai lầm. Vì "Chồng" là Chồng chất lên nhau chứ không phải là chồng vợ? Cứ hiểu như họ, sau này con cháu của họ, có đứa sẽ bịa đặt viết thêm là còn nhiều "Hòn Con" quanh đó ...

Từ Lương sơn trông ra biển có một Hòn Đảo giống như con Rùa. Dân địa phương gọi là "Hòn Qui" hay là "Hòn Rùa". Trước mặt bờ biển Nha Trang có mấy Hòn đảo toàn đá, có nhiều chim yến tụ tập, trú ẩn làm tổ và sinh sản triền miên. Người ta bảo vệ đảo để lấy tổ yến làm thức ăn cao cấp nên gọi là Hòn Yến. (Địa danh này xuất xứ từ chữ Nôm).

Ngay trên đỉnh núi Ao Hồ bán đảo Cam Ranh, có một hồ nước ngọt thiên nhiên, luôn luôn có trữ lượng hàng chục vạn mét khối; dưới chân núi hình thành làng "Cam Linh xưa" (Cam nghĩa là nguồn nước ngọt, linh là linh thiêng). Sau này (không rõ là từ năm nào), người ta đọc chệch âm Linh thành âm Ranh - Cam Linh thành Cam Ranh - Theo chữ Hán hoặc theo chữ Nôm thì Cam Ranh không có ý nghĩa gì hay ho hoặc phù hợp gì với địa phương cả. (Địa danh Cam Linh xuất xứ từ chữ Hán).

Năm xưa, phía nam thành Diên Khánh độ 7,8 kim có con suối; hai bên Suối và gần đó có khu rừng toàn cây Dầu cho nên có tục danh là Suối Dầu (chữ Nôm). Thời xa xưa khí hậu nơi đó rất độc. Từ Nha Trang lên, độ 1 km nữa là đến Thành có Cây Dầu Đôi thật to (nay vẫn còn), người ta gọi là Xóm Cây Dầu Đôi (chữ Nôm).

Từ Đèo Rọ tượng đi ra Ninh Hòa độ 5 km, có cây cầu tên là Cầu Suối Ré (chữ Nôm) vì cầu ấy làm trên con Suối, hai bên toàn là Cây Mày Ré (cùng loại khoai môn). Năm 1952, Pháp đóng đồn bên đầu cầu ấy. Trước đồn có một Cây Găng rất lớn người ta lại gọi là Cầu Cây Găng (chữ Nôm) hay là Đồn Cầu Cây Găng. Năm 1953 hay 1954 gì đó, Việt Cộng về đánh đồn đó và đốt cháy cầu ấy. Người ta lại gọi là Cầu Cháy. Bây giờ người ta gọi là Cầu Phong thạnh vì ở đầu cầu phía Nam có ngôi trường Tiểu học Phong thạnh, thuộc thôn Phong thạnh, xã Ninh Lộc, huyện Ninh Hòa.

Từ Ninh Hòa đi ra độ 4 km, có cái Đèo tên là Đèo Bánh Ít. Nghề đâu, thời xa xưa có một bà già hằng ngày ngồi trong túp lều tranh ngay trên đỉnh đèo bán bánh ít. Bánh ít của bà ngon có tiếng. Khách qua đường (bộ hành) thường ghé quán bà ăn bánh ít và xin nước uống. Với mục đích làm phước, bà để một bùng binh nước lã trước quán, ai khát cứ múc uống chứ không có bán. Khi ra đi khách không quên mua một số bánh ít của bà về cho gia đình ... Đèo Bánh Ít có tên từ đó và xuất xứ từ câu chuyện dân gian.

Từ Lạc An đi ra độ 5 km có một khu rừng gọi là "Chín Cụm" vì nơi đây có 9 ngọn núi nhỏ bao quanh. Ngày xưa thung lũng này rất nhiều cọp. Do đó có câu "Cọp Khánh Hòa, Ma Bình Thuận."

Cực Bắc tỉnh Khánh Hòa, dưới chân phía Nam Đèo Cả, có Núi và Biển Đại Lãnh, Núi non xanh tươi, hùng vĩ, bãi biển phẳng lì, mơ mộng; non xanh nước biếc thật là Sơn Thủy hữu tình. Phong cảnh Đại Lãnh từ xưa đã được liệt vào hàng những danh lam thắng cảnh của đất nước. Năm 1836, Vua Minh Mạng cho thợ chạm hình phong cảnh Đại Lãnh vào một trong chín chiếc đỉnh đồng lớn (cửu đỉnh) trang trí trước Thế Miếu. Thửa xưa, rừng núi nơi đây rất rậm rạp chạy ra tân biển nên khí hậu rất lạnh (Lãnh là lạnh, đại là nhiều, là lớn). Đại Lãnh là lạnh lắm (Địa danh này xuất xứ từ chữ Hán).

Một thung lũng có chiều dài độ 15 km dọc theo Quốc Lộ 1 bây giờ, phía Nam có Mũi Gành Bà (cách thị trấn Vạn Giã 6 km) - một nhánh nhỏ của dãy Trường Sơn đâm ra gần tới biển - Phía Bắc có Đèo Cổ Mã - một nhánh nhỏ của dãy Trường Sơn đâm ra tận biển. Thuở xưa vùng này rất hoang vui vì rừng núi rậm rạp chạy ra tận biển. Mắt trước là biển, cách bờ không bao xa có Đụn Cát trắng Tuần lễ, có các hải đảo như Hòn Mao, Hòn Một, Hòn Ong, Hòn Điệp Sơn, Hòn Lớn che chắn ... Cuối thu, sang Đông, mùa gió Bấc thổi qua Kẻ "Eo Gió" như quạt máy cho chạy trong một cái hồ. Gió không thông, thổi giật tới, giật lui, cây cối oằn oại, cành lá xào xạc phát ra âm thanh "Tu oa, Tu oa" như trẻ sơ sinh khóc nên người ta gọi địa phương này là "Tu Oa" (dân địa phương phát âm là tu qua hay tu va). (Địa danh này xuất xứ từ tượng thanh). Theo "Đại Nam liệt truyện," năm Bính dần (1806), Vua Gia Long tuyển Bà Hồ Thị Hoa, con của Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi người làng Bình An (Biên Hòa) làm vợ vua Minh Mạng. Bà có đủ 4 đức tính: Thục, Thân, Hiền, Trinh. Năm Đinh Mão (1807, bà sinh Hoàng tử Nguyễn Phúc Tuyền (tức Vua Thiệu Trị), chỉ 13 ngày sau khi sinh, Bà mất mới có 17 tuổi. Vua Gia Long thương tiếc vô cùng. Ông xuống dụ cấm thần dân không được gọi tên Hoa. Mỗi khi gặp chữ này thì chữ này thì đọc trại ra là Ba, Huê, Hóa, hay Bông ... Có lẽ vì thế, từ Gia Long trở về sau một số nhơn danh (tên người), một số địa danh (tên địa phương) bị thay đổi cách đọc, cách gọi. Ví dụ: Chợ Đông Hoa gọi là Chợ Đông Ba; tỉnh Thanh Hoa gọi là tỉnh Thanh Hóa; Hoa kỳ gọi là Huê Kỳ; Hoa lợi gọi là Huê lợi; Hoa Dung Đạo gọi là Huê Dung Đạo; Hoa Sen gọi là Bông Sen; Hoa Lài gọi là Bông lài; Tu oa (Tu qua) đổi là Tu Bông ngày nay. Ở quê tôi, thập niên 40 có ông phú hộ tên Hoa (từ Bình Định trở vào, người ta phát âm Hoa thành Qua hay Va), dân địa phương gọi trại ra là Ông Quơ, ruộng của ông Quơ, trâu của ông Quơ ... hôm qua thì nói là hôm quơ ...

Tôi đã có dịp làm việc tại đây (Tu Bông) khá lâu (hơn 5 năm). Tôi rất hiểu rõ vùng này. Từ cuối thu "Bấc rải" (bắt đầu có gió bấc), rối suốt cả mùa đông, rồi đến tháng giêng "động dài", tháng hai "động tố", suốt cả sáu bảy tháng trời, gió thổi suốt ngày luôn đêm. Ngọn cỏ đứt sạt sạt, tàu chuối (lá chuối) te tua, hoa trái rụng đầy gốc, lúa má ngã rạp; gặp kỳ lúa trổ, hột rụng hết chỉ còn trơ cộng ra! Một gia giống cấy tại Đồng Điền cách đó vài ba km, người ta gặt được ba bốn chục giạ lúa, còn tại vùng này chỉ gặt được năm bảy gia là cùng! Những ngày gió to, trên đường cái quan (quốc lộ 1) không có một loại xe nào dám di chuyển, ngoại trừ ô-tô và xe bò. Xe ngựa cũng không dám đi. Còn xe đạp thì dắt cũng bị gió hất lọt xuống ruộng nói chi là ngồi trên xe! Về mùa gió, cứ trông lên "EO GIÓ" ở dãy núi phía Tây bắc Tu Bông (dãy Trường Sơn): không có mây là có gió ít; có mây trắng là gió nhiều; có nhiều mây trắng lẫn mây đen là vừa mưa to vừa gió lớn. Những ngày mưa to gió lớn đừng hòng đội nón lá hoặc đi dù! Nông dân địa phương này, kể cả các em chăn trâu, chăn bò đều dùng áo tơi lá, nón gụ. Áo mưa nylon không chịu nổi sức gió ở xứ này.

Gió ở đây khiếp thật! Chắc chắn trên toàn cõi Việt Nam ta không có nơi nào có gió mạnh thổi từ ngày này qua ngày nọ suốt sáu bảy tháng liền như ở Tu Bông. Đó là tôi chưa đề cập đến mùa gió lào (địa phương gọi là gió Nam), từ tháng tư đến tháng bảy âm lịch, gió thổi nóng như lửa, cát bụi tung bay mù mịt. Mùa hè, mùa gió Nam, nhiệt độ nơi đây cao nhất so với tất cả các nơi khác trong tỉnh! Bạn đọc không tin, cứ hỏi đồng hương quê Tu Bông sẽ rõ là tôi không vẽ rắn thêm chân chút nào?

"Đồng Cọ" (Phú Yên) là vùng đất đỏ ở miền núi phía Tây Nam tỉnh Phú Yên; mùa mưa cũng khủng khiếp lắm! Mưa to cả ngày lẫn đêm từ cuối thu cho đến hết mùa đông. Mưa dầm thúi đất, giặt cái áo phơi cả tháng không khô! Thừa Thiên, Huế có tiếng mưa dầm gió bấc rỉ rả suốt tháng rất khó chịu nhưng so với Đồng cọ không bằng một nửa. Mưa như Đồng Cọ mới đối xứng được với gió Tu Bông. Trong phạm vi viết cho Đặc San Nha Trang - Khánh Hòa quê tôi nhân dịp Xuân Canh Thìn, tôi không dám đề cập đến tỉnh bạn nhiều.

Hỡi các đồng hương quê quán Tu Bông,

Quê ta khí hậu quá khắc nghiệt: nắng, nóng, gió, mưa đều ở mức thượng thặng, hệ thống đê điều quá nghèo nàn, con sông Tô Hà (có người gọi là Tô Giang) quá hẹp và quá hẹp và lại cạn không đủ nước tưới khắp các vùng ruộng xa. Ninh mã, Tiên ninh còn nhiều đất ruộng ăn nước trời. Mong sao thế hệ thứ hai, thứ ba của chúng ta cố gắng học hành cho thật giỏi để mai kia mốt nọ về canh tân lại quê hương: mở rộng sông ngòi, khai thông đê điều, khắc phục thiên nhiên, khai thác lại Núi Thơm (trại Thơm) ở Trại Trảu, lập nhà máy Thủy tinh tại Đụn Cát Trắng Tuần lễ để giải quyết công ăn việc làm cho đồng bào địa phương và nâng cao đời sống bà con quê ta...

Cát Hạnh

Nguồn: http://nhatrang.org/

Theo http://chimviet.free.fr/

 

Cô láng giềng

Thầy giáo. Độc thân. Chưa có người yêu nên sinh hoạt hàng ngày của anh khá đơn giản. Có điều, đàn ông nhưng anh lãng mạn lắm, mà cũng phải vì anh là thầy giáo dạy văn và là "con trai Huế".

Tốt nghiệp Tú Tài anh thi đỗ vào trường Đại Học Sư Phạm. Anh mê văn chương từ thời học phổ thông. Tuổi thơ, anh say Dế Mèn Phiêu Lưu Ký của Tô Hoài, lớn hơn một tí nữa anh mê nhà văn Nguyễn Thái Hải với Chiếc Lá Thuộc Bài rồi sau đó là Tôi Nhìn Tôi Trên Vách, Thở Dài của cô giáo nhà văn Túy Hồng, Bay Đêm, Hoàng Tử Bé của Antoine De Saint - Exupéry, La Dame De Monsoreau của Alexandre Dumas... Ôi, nhiều lắm! Thời sinh viên, anh vừa mê văn vừa yêu thơ để rồi tập tễnh làm thơ, viết văn từ đó. Anh vẫn nhớ bài thơ đầu tiên anh làm vào một dip xuân về tặng cô bạn láng giềng dễ thương, có chiếc răng khểnh rất duyên. Viết rồi bỏ, rồi viết, cứ thế anh đã làm mất một xấp giấy để rồi cuối cùng mới mỉm cười thỏa mãn; nắn nót từng chữ với ngòi bút tre, mực được pha bằng coulleur nước màu trắng, viết chữ trên giấy tím rất điệu. Đó là bài thơ Dưới Cội Mai Vàng. Nhận bài thơ của anh gửi tặng, cô gái tròn mắt, đôi mắt đen tròn long lanh đầy vẻ thán phục; còn anh thì vô vàn sung sướng. Thơ của anh làm? Ôi, thích nhỉ. Rồi, nàng tiếp. Làm thơ có khó không anh. Anh chưa kịp trả lời và cũng chưa kịp nghĩ ra là phải trả lời ra sao, không lẽ nói thật ra , anh đã làm mất cả một xấp giấy, mới làm được mấy câu thơ ngắn tặng nàng. May mắn thay, bóng nàng mất hút bên hàng chè tàu xanh sau câu nói thẹn thùng: "Một kỷ niệm đẹp. Em sẽ giữ mãi bài thơ này". Cứ thế tình và thơ xôn xao bên hàng chè tàu xanh.

Nắng phương nam trải dài thả màu vàng hoàng yến. Đẹp. Quyến rũ. Nhìn trời, anh vui khi nhớ về những tháng ngày lãng đãng cùng văn thơ thời sinh viên ở Huế.

Cạnh nhà anh đang ở là một ngôi nhà rất xinh, thơ mộng. Vườn đẹp, trồng nhiều hoa, nhiều nhất là Tường Vi. Tường Vi thơm, mùi dễ chịu, buổi mai uống trà, nếu bỏ vào bình trà vài cánh Tường Vi thì uống rất thơm, ngon và có mùi vị là lạ, hấp dẫn. Hồi còn ở Huế nhà cha mẹ anh cũng có trồng Tường Vi trong vườn nhưng ít thôi chỉ để lấy hoa uống trà buổi sáng. Nhìn ông bà vừa uống trà vừa đọc thơ anh rất thích, trông nhàn nhã, phong lưu, đầm ấm, hạnh phúc. Người đời uống rượu, ngâm thơ còn cha anh thì uống trà, đọc thơ vào lúc trời mờ sáng và người thưởng thức giọng đọc thơ của cha bao giờ cũng là mẹ. Mẹ anh là một phụ nữ Huế đẹp, dịu dàng , trang nhã và hình như lúc nào bà cũng cảm thấy vui trong vai trò phục tùng chồng của người đàn bà Huế. Bà rất mê giọng đọc thơ của ông vì thế mà hai ông bà hợp nhau và có cuộc sống hạnh phúc cho đến cuối đời. Anh thích hoa Tường Vi từ rất lâu và ý thích đó đã đeo đẳng anh cho đến ngày nay. Lúc ấy anh chỉ là một chàng sinh viên mười chín tuổi, được một cô láng giềng nho nhỏ, xinh xinh để ý. Tên là Tường Vi. Bây giờ được ở cạnh một vườn hoa đẹp lại trồng nhiều Tường Vi nên anh cảm thấy vui và hạnh phúc . Anh đã từng đứng hàng giờ trong sân nhà mình nhìn trộm sang ngôi vườn bên cạnh để chiêm ngưỡng những đóa Tường Vi phơi phới trong nắng mai và những đêm trăng sáng, bên cửa sổ anh như bị thôi miên trước vẻ đẹp của ngôi vườn. Vẻ đẹp huyền hoặc, kỳ bí thế nào ấy! Từ con đường nhà anh nhìn ra, cũng là một trong những con đường đẹp, nên thơ của Biên Hòa; xa xa thấp thoáng chiếc cầu Ghềnh khoác màu áo bạc mà theo anh là rất giống cầu Trường Tiền của Huế. Cầu có tuổi thọ trên một trăm năm (ở Đồng Nai, người Biên Hòa chính thống thường gọi tên là cầu Gành). Sau tai nạn do một chiếc xà lan chở cát tắt máy, trôi tự do trên sông đã đâm vào trụ giữa của cầu khiến cầu Ghềnh bị đổ vài, sập hai nhịp. Một thoáng xúc cảm anh nghĩ về Huế, nơi ấy cũng có chiếc cầu màu áo bạc, do biến cố lịch sử Mậu Thân 1968 cũng đổ vài, sập nhịp như cầu Ghềnh ở Đồng Nai. Cầu phủ bạc, nhịp nhàng tung bay những tà áo trắng học sinh qua về hai bờ, trông cũng thơ mộng như Huế. Ở đây, khu trung tâm thành phố nhiều nhà cao tầng, đường sạch đẹp, phố đông vui, buôn bán sinh hoạt nhộn nhịp. Cảnh và người như hòa vào nhau. Anh vui với cuộc sống hiện tại, hít thở bầu không khí trong lành với tâm trạng hết sức thoải mái.

Một buổi chiều tan trường, từ giã đám học trò thân thương, anh thong thả đạp xe về nhà... đường về nhà anh hôm nay dường như rộng hơn, vui hơn, nhộn nhịp hơn và có vẻ như là đẹp hơn. Có lẽ hôm nay anh vui sau bài giảng về thơ Kiều của Nguyễn Du. Một ý nghĩ độc đáo rất tâm đắc anh đã ngộ ra được từ truyện Kiều. Anh cũng rất thích cách lấy chữ của Nguyễn Du mà chiều nay anh đã dạy cho học sinh. "Một hai nghiêng nước nghiêng thành" (Truyện Kiều) đã lấy trong hai câu thơ cổ của Lý Diên Niên: "Nhân cố khuynh nhân quốc, tái cố khuynh nhân thành" (một cái liếc mắt làm nghiêng nước, hai cái liếc mắt làm nghiêng thành) ý muốn tả sắc đẹp tuyệt vời của người phụ nữ, có thể làm cho người ta say mê đến mất nước, mất thành. Anh vẫn nhớ lời giảng của thầy anh để bây giờ truyền đạt lại cho học sinh của mình. Người thầy có phong thái đĩnh đạc, giảng văn rất hay.

"Trong văn thơ cổ ngoài việc dùng điển cố, các thi văn xưa thường thích mượn một vài chữ trong câu thơ hoặc câu văn cổ để diễn đạt ý. Muốn hiểu rõ tình ý của tác giả, người đọc chỉ cần nhớ đến câu thơ hoặc câu văn cổ". Nhớ lại những đôi mắt sáng đầy thích thú chăm chú nghe giảng của học sinh mà anh vui trong lòng. Vào nhà, bên trong cửa sổ, trên bàn làm việc của anh, một đóa Tường Vi được cắm sẵn trong một chiếc lọ nho nhỏ xinh xinh. Bất giác anh chạy nhanh đến cầm lọ hoa đưa lên mũi. Một mùi thơm nhẹ tỏa ra. Anh ngây ngất thưởng thức. Một người nào đó đứng bên ngoài cửa sổ đã cắm hoa Tường Vi tặng anh ?. Kín đáo anh đưa mắt nhìn sang nhà bên cạnh. Ngôi vườn vẫn yên tĩnh. Kể từ đó trở đi, cứ ba hôm là một đóa Tường Vi mới được thay vào bình. Và, cũng kể từ đó tâm hồn anh bị dao động. Anh ít rời nhà so với trước đây và ánh mắt anh luôn hướng về ngôi vườn bên cạnh, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng của ai trừ ông lão giữ vườn ra vào chăm sóc hoa. Đúng ngày thay hoa, anh cảm thấy bồn chồn, hồi hộp rồi vui vui trong lòng - niềm vui khó tả. Anh chờ đợi, chờ đợi giây phút hạnh phúc nhất, dễ thương nhất mà ai đó đã dành riêng cho anh. Nhưng không. Một buổi tối, bên cửa sổ, ngồi chấm bài cho học sinh, anh say sưa, thích thú bởi một ý văn là lạ có phần phù hợp với tâm trạng mình ; bồi hồi, xúc động anh ngước mắt nhìn trời... Trăng thượng tuần sáng lắm. Ánh trăng phản chiếu lấp lánh trên những khóm Tường Vi của ngôi vườn bên cạnh tạo thành những vệt sáng dài có đuôi lấp lóa, nối tiếp nhau lúc ẩn lúc hiện rất đẹp tựa như mái tóc dài của một thiếu nữ đang tắm trăng. Thình lình, mờ mờ sau khóm Tường Vi xuất hiện gương mặt của một cô gái. Giật mình. Anh đứng phắt dậy. Hai tay bám vào song cửa, anh cố đưa người về phía trước nhìn cho rõ nhưng nhanh thật nhanh cô gái biến mất. Sững sờ giây lát, anh uể oải ngồi xuống ghế. Anh xếp bài làm của học sinh, không chấm nữa. Đó là thói quen rất nghiêm túc của anh. Không chấm bài cho học sinh khi tâm hồn không được thoải mái. Đêm đó anh không vào giấc ngủ được. Trở dậy, anh lấy cọ và giá vẽ. Thầy giáo nhưng anh còn có hoa tay về hội họa. Sau mấy giờ đồng hồ thăng hoa trên giá vẽ, tác phẩm tương đối hoàn thành vào lúc trời gần sáng. Đó là chân dung mờ mờ, ảo ảo của cô gái đêm qua trong ngôi vườn bên cạnh. Anh mãn nguyện nhìn bức tranh với tâm trạng buồn, vui đan xen. Bức tranh được treo cạnh bàn làm việc của anh, sát cửa sổ đối diện với ngôi vườn.

Sáng nay anh đến trường sớm hơn thường lệ, nhìn những tà áo trắng thấp thoáng trong sân trường anh vui và nhớ về ngày ấy. Hình ảnh của anh và cô láng giềng bên hàng chè tàu xanh. Anh có thích Tường Vi không ?. Lỡ lời, Tường Vi e thẹn, mặt đỏ hồng lên bối rối. Không, Tường Vi muốn hỏi anh Huân có thích hoa Tường Vi không để em tặng. Ừ, thích. Thích chứ, khi nào tặng, khi nào ?. Rồi như cảm thấy mình hơi vồn vã quá đáng, anh từ tốn. Anh Huân rất vui nếu được Tường Vi tặng hoa. Tình cảm nhẹ nhàng thoáng qua rất hồn nhiên với cô láng giềng thời sinh viên đã làm anh lưu luyến không nguôi. Tường Vi là một cô gái đẹp, duyên dáng, thùy mị. Những sáng , những trưa và lúc chiều về, anh thường đứng ngây người bên ni hàng chè tàu say sưa ngắm trộm nàng. Giây phút đó anh hạnh phúc vô cùng. Nhưng rồi tình cảm của anh cũng chỉ dừng ở đó. Rất ngại vì anh trai của Tường Vi là bạn học cùng lớp với anh và mẹ nàng thì xem anh như con... Tường Vi vẫn nở tươi trên bàn làm việc của anh. Mùi thơm vẫn nhẹ, tinh khiết. Anh rất mong được gặp chủ nhân của những đóa Tường Vi nhưng tuyệt nhiên không. Đã nhiều đêm liên tiếp, bên bàn làm việc, anh vẫn có ý chờ đợi sự xuất hiện trở lại của cô gái trong vườn hoa nhưng may mắn lần thứ hai không đến với anh. Buôn buồn anh hát thầm bài hát Cô láng giềng của Hoàng Quý, bản nhạc mà anh thích nhất thời sinh viên: " Tôi vui trời xuân đôi môi thắm. Đôi mắt trong đen màu hạt huyền. Làn tóc mây chiều cùng gió ngàn dâng sóng. Xao xuyến nỗi niềm yêu. Cô láng giềng ơi ! Không biết cô còn nhớ đến tôi. Giây phút êm đềm ngày xưa kia khi còn ngây thơ... Năm xưa khi tôi bước chân ra đi. Đôi ta cùng đứng bên hàng tường vi. Cô láng giềng ơi ! Nay mối duyên thơ đành đã lỡ rồi. Chân bước xa xa dần miền quê... Cô láng giềng ơi !" . Anh mơ màng thả hồn theo khói thuốc bay trong đêm huyền, mắt dán chặt vào bức tranh Thiếu nữ dưới trăng. Gương mặt trái soan với đôi mắt đen, đẹp, buồn man mác như gửi gắm vào đó nỗi niềm riêng. Không hiểu vì sao anh lại vẽ đôi mắt cô gái buồn, buồn nhưng đẹp, đẹp lắm. Mái tóc dài tung trong gió rồi bất ngờ tỏa xuống khóm Tường Vi... Một hôm vào đúng ngày Tri ân thầy cô giáo, sau buổi lễ kỷ niệm ở trường về, ở bàn làm việc của anh sát cửa sổ có một bó hoa Tường Vi bọc trong giấy kiếng màu tím, không có tên người tặng. Hoa đẹp, trắng hồng, nõn nà, dịu dàng, trang nhã đầy kiêu hãnh. Kiêu hãnh như sự lánh mặt của chủ nhân. Anh ôm bó hoa , lòng bâng khuâng, đưa mắt hết nhìn hoa lại nhìn sững sờ vào bức tranh thiếu nữ. Em là ai sao lẫn tránh anh. Anh lịm dần trong thế giới tưởng tượng vô cùng phong phú của tâm hồn. Anh đàn, anh hát, huýt gió, dáng dấp điệu nghệ như một nghệ sĩ tài hoa. Anh đang rất hạnh phúc - hạnh phúc không có thật.

Mấy ngày nay anh bị bệnh. Lý do bệnh, đơn giản. Những đóa Tường Vi không còn đến với anh nữa. Anh buồn, rất buồn. Nỗi đau tâm hồn đang dằn vặt anh. Tâm bệnh. Mắt anh luôn để ở cửa sổ với niềm hy vọng mong manh. Anh phát hiện bức tranh thiếu nữ cũng không còn. Anh đoán chắc được thủ phạm rồi đưa mắt nhìn khoảng cách giữa những song cửa với tâm trạng vừa thương vừa giận, tiếc nhiều vì sẽ không bao giờ có được bức tranh thiếu nữ thứ hai xuất thần như vậy. Anh đau khổ mỉm cười. Nụ cười héo hắt.

Một buổi sáng. Trời Biên Hòa trong và mát. Bên ngoài cửa sổ nắng reo vui nhảy múa trên vườn xanh, mây trắng vươn nhẹ giữa trời. Tường Vi óng ánh trong sương mai. Anh mơ màng thả hồn theo tiếng gọi nhẹ , rất dễ thương cùa ai đó. Huân ơi, anh phải đứng đậy, học sinh đang chờ anh... Giật mình. Bóng ai đó lấp ló ở cửa sổ. Mừng rỡ, anh ngồi bật dậy chạy đến. Lại là ông lão giữ vườn của ngôi nhà bên cạnh. Ông rụt rè đến gần cửa sổ. "Thầy ơi, cô chủ tôi gởi". Ông lão ngừng nói, đưa tay lần túi áo rút ra một mảnh giấy xanh nho nhỏ trao cho anh. Tay run run, anh mở vội. Nét chữ nhỏ, dễ thương. "Tạm biệt anh. Xin anh tấm tranh" Tường Vi. Mắt anh hoa lên, mơ màng nhìn về khoảng trống chỗ treo bức tranh. Vội vàng anh đưa tay qua khung cửa nắm chặt cánh tay ông lão như sợ ông biến mất. Giọng anh lạt đi trong hơi thở dồn dập. Cô chủ của bác bao nhiêu tuổi?. Dạ, khoảng 30 nhưng cô còn trẻ lắm. Anh lẩm nhẩm , đôi mắt thất thần, ngờ nghệch , hồn thì ngu ngơ đáng yêu như thời sinh viên 19 tuổi. Ngậm ngùi, anh buộc miệng. Lẽ nào Tường Vi năm xưa???...

Một mùa xuân nữa lại về. Tiếng chim vẫn ríu ra ríu rít trong ngôi vườn bên cạnh. Hoa lá được trang điểm bằng những giọt sương mai óng a óng ánh gọi hồn. Anh thả hồn say sưa tình tự. Tường Vi vẫn nở tươi trong vườn. Lặng lẽ, kín đáo, e ấp thoảng hương nhẹ lãng du trong nắng sớm. Còn anh, anh đang trong một khoảng trời riêng êm đếm say sưa dẫn hồn mình lang thang về chốn cũ; nơi ấy có hàng chè tàu xanh um, một thời anh lãng đãng trong mơ. Cô láng giềng ơi! Cô láng giềng ơi! Bao giờ em trở lại?...

Bùi Kim Chi

Theo http://chimviet.free.fr/

 

Một mùa trăng

Mỗi độ tuổi con người có những tính cách và ước mơ riêng. Tuổi sáu mươi, bảy mươi thường sống với hoài niệm và thích đi du lịch. Tôi cũng đang ở độ tuổi ấy - bảy mươi. Luôn sống với quá khứ. Rất thích đi du lịch. Đi một mình vào mùa trăng. Tôi thích thế.

Mười bốn tháng tám âm lịch tôi lên đường. Máy bay đáp xuống sân bay Phú Bài lúc 8g 15 phút. Với chiếc túi du lịch trên tay tôi gọi taxi đi thẳng lên Chùa Thiên Mụ - điểm đến đầu tiên. Cổng chùa hiện ra trước mắt tôi quen thuộc, thân thương vì tôi là đệ tử của chùa. Chuông chùa vọng lên từng hồi nhẹ nhàng, thanh thoát ấm lòng du khách. Tiếng chim đâu đó trong vườn chùa tranh mồi véo von nghe thật vui tai. Không gian đượm nét thơ với những chiếc đèn lồng Phố Cổ của một mùa trung thu rộn ràng tiếng cười vui con trẻ và nét hiền hòa tràn đầy yêu thương của mẹ cha. Cô Tâm làm công quả ở chùa vui mừng : "A Di Đà Phật. Năm nay cô lại về". "A Di Đà Phật". Khoác vội chiếc áo tràng tôi lên điện lễ Phật . Tiếng chuông, mõ đều đều cuộn vào khói trầm hương nghi ngút làm cho tâm hồn tôi cảm thấy bình yên, thanh thản. Một không gian tĩnh lặng, êm đềm của chốn thiền môn. Tôi rời điện Phật ra bên ngoài. Ngài Di Lặc nở nụ cười hiền đang ban phát hồng ân cho đệ tử và du khách vãng cảnh chùa.

Tiếng mõ lại tiếp tục nghe buồn buồn rồi nhỏ dần theo tiếng chuông ngân dài vang xa nhẹ nhàng đánh thức hồn người thoát vòng tục lụy. Tôi quyết định đêm nay ở lại chùa...

Trăng. Trăng mười bốn sáng, không tròn, không đẹp nhưng trông là lạ. Trăng như một thiếu nữ mới lớn thích làm dáng nhưng chưa biết cách làm sao cho mình xinh hơn. Thế nhưng ở đó, người ta vẫn bắt gặp được nét duyên kỳ lạ của tuổi dậy thì. Trăng mười bốn là thế. Không đẹp nhưng có duyên. Trăng duyên. Không đẹp vẫn quyến rũ. Ngồi trên bậc cấp cao nhất của chùa tôi nhìn xuống dòng Hương thơ mộng. Sông êm đềm, lặng lẽ. Trăng mơ màng, trăng làm dáng, trăng bồng bềnh trên mặt nước. Sông chuyển mình cùng trăng mời gọi khách, ngắm "sông trăng". Tôi đang ngắm sông trăng. Thật mà ảo. Bất cứ gì vừa ảo vừa thật đều đẹp. Ngước mắt nhìn trời. Trời đêm bao la dưới trăng khuya đưa hồn người vào cõi tịnh... Càng về khuya trăng càng sáng. Trăng phủ khắp người tôi màu trắng sáng ngà ngọc. Phủ mặt sông màu xanh lam sáng và đẹp của trời đêm. Trăng mê hoặc mây trắng vờn quanh trăng. Dưới trăng, trên bến sông, hai cây phượng già có tuổi như đang trẻ lại đầy sức sống. Ở đây tôi đã từng có một kỷ niệm đẹp thời cắp sách vào độ tuổi như trăng. Mùa hè năm ấy, chúng tôi- những cô học trò mười bốn đã thực hiện được một chuyến đò dọc trên sông Hương. Khởi hành từ bến sông nhà của bạn Nguyệt ở Gia Hội lên Chùa Thiên Mụ. Đò cập bến, chúng tôi tranh nhau ôm hai cây phượng đỏ rực hoa để chụp hình. Nét hồn nhiên, tươi vui không che dấu được vẻ làm dáng, làm điệu của tuổi bắt đầu lớn hiện lên gương mặt của từng người. Mỗi người một vẻ trông ngộ nghĩnh nhưng rất đáng yêu của tuổi mười bốn với nét duyên là lạ. Hoa phượng gắn với tuổi học trò thơ ngây, trong trắng. Có lẽ thế mà học trò rất thích hoa phượng. Hoa phượng báo hiệu một thời gian nghỉ dài ngày, một mùa thi, một mùa chia tay rộn ràng dễ thương với những cuốn lưu bút chuyền tay ...

Tôi đảo mắt nhìn quang cảnh Chùa. Đây là ngôi chùa cổ kính và đẹp nhất trong các chùa của Huế. Kiến trúc hài hòa, đẹp mắt, thu hút du khách. Dưới trăng chùa càng đẹp, lồng lộng giữa không gian mây nước nên thơ, hữu tình. Tháp Phước Duyên. Ngôi tháp với nhiều màu sắc thay đổi liên tục theo thời gian. Như đêm nay đây, dưới ánh trăng non tháp ngà mang màu áo vàng pha nâu thay cho màu gạch đỏ phủ rêu xanh, màu của thời gian. Bảy tầng tháp cao uy nghi giữa trời đêm bao la nhuộm vàng ánh trăng. Tháp thầm lặng nghiêng mình bên dòng Hương thơ mộng trong nét thiềng. Trăng mười bốn càng lên cao càng sáng và lộ nét duyên. Một chút lãng mạn đan xen giữa cảnh và vật. Tôi xúc động, lòng rưng rưng đứng dậy thu hết cảnh chùa vào tầm mắt ngắm để rồi ngày mai phải chia tay. Mấy ai có được một đêm trăng đáng nhớ bên dòng Hương ở chùa Thiên Mụ?

Rằm tháng tám. 6g sáng tôi lễ Phật rồi rời chùa đến khách sạn Thành Nội bên hông Đại Nội. Suốt ngày tôi không đi đâu chỉ nằm đọc sách. "Mưa trên cây Sầu Đông" mấy chục năm qua vẫn còn cuốn hút tôi. Tôi mê nhân vật Đông Nghi của Nhã Ca ...

8g tối trăng đã lên cao. Trời đêm sáng rực ánh trăng rằm. Mặt trăng sáng, tròn, to, đẹp. Đẹp lắm. Mây trắng bay từng mảng quanh trăng, ve vuốt, tình tự. Một đêm trăng huyền diệu. Rời khách sạn, tôi thả bộ dọc đường thơ, con đường đẹp nhất của Thành Nội có hai hàng cây xanh xòe cánh thả hoa trăng bay đầy đường. Dưới trăng thu, hai hàng cây in bóng trên đường tha thướt, diệu kỳ. Bóng tôi lấp loáng lồng vào bóng cây xôn xao, rạo rực theo gió. Cảnh đẹp lãng mạn vô cùng. Cứ thế tôi đếm bước dưới trăng. Đêm Thành Nội yên ắng vằng vặc ánh trăng thu. Tôi dừng chân bên hồ sen trước Đại Nội. Đẹp quá ! Trăng chiếu sáng cả mặt hồ. Những cành sen cuối mùa còn lại vươn thẳng cành bỏ rơi tán lá, lá không buồn vẫn nhảy múa điệu đàng theo trăng. Mây theo trăng xuống hồ ôm trọn vào lòng cả một vòm hoa lá lao xao giữa trời, mây, nước của chốn hoàng cung xưa. Tôi đưa mắt nhìn lầu Ngũ Phụng. Ánh trăng chiếu sáng lấp lánh dát bạc quanh lầu. Trăng thu dẫn hồn tôi đắm say về một đêm trăng thanh bình của hoàng cung mà tôi được đọc qua sách vở. Ở đó, một thời đã có những nàng cung nữ đắm hồn dưới trăng để mơ về chốn quê xa. Tôi bùi ngùi, xúc động. Trời lên cao vút, trên tầng mây bạc đong đưa vầng trăng sáng trong veo. Tôi nhìn trăng đắm đuối. Tiếng đàn tranh từ Nhạc Hoa Viên vọng lại với điệu Nam Ai vời vợi đêm tạ từ. Trăng vươn mình len qua kẻ lá đồng lõa cùng hai hàng cây có ngọn giao nhau đang thầm thì trong gió. Con đường thơ bỗng tỏa sáng rực rỡ, tôi nghiêng mình mơn trớn bóng trăng rằm rồi giã từ đêm trăng Thành Nội với hương sen cuối mùa thoang thoảng cùng mối tình thơ thuở còn con gái ...

Mười sáu. Trăng rạng rỡ như một thiếu nữ đầy đặn nét hoa. Rời Thành Nội tôi về Vĩ Dạ. Ngang qua Đập Đá. Trăng nước lao xao. Trăng mười sáu đẹp, quyến rũ. Tôi thả hồn theo trăng lần trong không gian huyền hoặc của trời đêm Vĩ Dạ. Trăng dìu tôi đi. Đi mãi. Trời cao lồng lộng, trăng theo trời lên cao. Mây trắng, mây khói hương cuồn cuộn quanh trăng. Trăng lộng lẫy, duyên dáng cùng mây đưa tôi đi. Trời thu mát mẻ. Trăng đưa tôi vào khu vườn xưa. Dấu tích thời gian vẫn còn như không thể xóa đi nét quyền quí, cao sang của chủ nhân, một họa sĩ tài hoa đầu thế kỷ 20 dòng họ Nguyễn Khoa. Dưới trăng, ngôi nhà màu hồng thật xinh và trang nhã, kiến trúc là lạ, mềm mại . Tự tay chủ nhân thiết kế. Nhà xây theo kiểu tây nhưng lại mang dáng vẻ Đông Phương nền nả, quí phái , sang trọng của khu vườn đầy hoa lá. Tôi như đang mơ "bóng xưa trở về"...

Cả một vườn hoa lá làm dáng, nũng nịu dưới trăng thu. Cô bạn thời con gái của tôi - Nguyễn Khoa Diệu Huyền, cháu nội của chủ nhân mừng rỡ đón tôi. Hai đứa ngậm ngùi dưới trăng. Trăng mười sáu pha màu, pha sắc, chấm phá hài hòa nên cả hai như vẫn giữ lại được một chút duyên. Đằm thắm, dịu dàng. Theo trăng, tôi vào vườn mai. Mai xuân ra đi để lại lá vàng, lá xanh nao nao đợi chờ. Một màu vàng óng ả trăng trang điểm cho vườn mai. Huyền và tôi đếm bước, thả hồn bên những hàng mai buồn. Hoa trăng rộn ràng thêu trên áo. Một thời con gái trở về ...

Bóng tôi và Huyền in đậm trên đất. Chung quanh hai đứa là những nhánh trăng rơi . Trời khuya, có lẽ khuya lắm. Trăng lặng yên buồn xa vắng như sẻ chia nỗi buồn sâu thẳm của hai đứa tôi. Nhìn trăng. Tôi khóc. Huyền khóc. Trăng xa dần ... xa dần chỉ gửi lại cho hai đứa tôi hai giọt sầu nhạt nhòa trên mắt. Trăng mười sáu với riêng tôi, đẹp lắm nhưng buồn ...

Từ giã Huế sau ba ngày rong ruỗi cùng trăng ở Chùa Thiên Mụ, cổng Hoàng Cung, vườn xưa Thôn Vỹ với dấu xưa bâng khuâng ghé về. Hạnh phúc lẫn bàng hoàng. Theo trăng, tôi cảm nhận được nét lãng mạn riêng của tâm hồn - mê trăng và yêu Huế say đắm. Huế của những ngày tháng tôi thả gót ngọc thướt tha đêm huyền diệu để mơ về một khoảng trời riêng của thời con gái mộng mị, đáng yêu.

Bùi Kim Chi

Theo http://chimviet.free.fr/

 

Xuân với hoa - rượu và thơ

* Kệ (thơ) "Cáo tật thị chúng" của Mãn Giác Thiền sư (1045-1096):

"Xuân đáo bách hoa khai
Xuân khứ bách hoa lạc
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai" (*)

(Xuân đến trăm hoa nở
Xuân đi trăm hoa rụng
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước nở cành mai)

Vừa được Nghệ nhân dân gian Lê Văn Kinh (Huế) hoàn thành bộ tranh thêu bài kệ (thơ) bằng 14 thứ tiếng.

* Ngày 8/11/2010, đại diện Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã trao chứng nhận đạt Kỷ lục Việt Nam cho cặp hoa Atiso bằng vàng lớn nhất do tập thể nghệ nhân Công ty Vàng bạc đá quý PNJ chế tác. Cặp hoa Atiso này được chế tác bằng vàng 99.99 với kích cỡ lớn như hoa thật. Mỗi đóa hoa gồm 50 cánh, dài 400mm và đường kính hoa là 105mm, nặng hơn 1 kg vàng (31 lượng).

* Kỷ lục thế giới năm 2010 về rượu thuộc về chai rượu vang Chavel Blanc 1947 đã được bán với giá 304.375 USD trong phiên đấu giá tại sàn Christie (Thuỵ Sĩ).

Điểm qua ba sự kiện: thơ - hoa - rượu trên để thấy đời... mãi xuân và xuân mãi gắn liền với hoa - rượu và thơ.

Ta hãy ngẩm lại đôi tứ thơ xuân mang đậm ý-vị-sắc-hương đã thật sự chạm khắc rõ nét lên trang sử văn học của nước nhà:

Chẳng biết xuân tình, xuân ý thế nào, mà đến độ Đại thi hào - Danh nhân văn hoá thế giới - Nguyễn Du đã phải thốt lên: "Sinh tiền bất tận tôn trung tửu/ Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi" (Khi sống chẳng nghiêng bình cạn rượu/ Chết đi ai tưới mộ ly đầy). Bởi: "Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ/ Niên quang ám trục bạch đầu lai" (Sắc xuân dần chuyển oanh bay mất/ Năm tháng ngầm đưa trắng tóc lay - Trước Chén Rượu - Phạm Thảo Nguyên dịch).

Chí sĩ Phan Đình Phùng cảm tác ngày đầu xuân với một tâm thế trong bối cảnh đất nước đắm chìm nô lệ: "Lưu oanh   đình ngoại ngữ hoa chi/ Hoa báo xuân quy nhân vị quy" (Ngoài sân oanh hót hoa chào/ Nhắn ai xuân tới rằng sao chưa về? - "Mùng một tết Mậu Tý cảm tác" - Nguyễn Tấn Hưng dịch)

Trước năm cùng, tháng tận, ngày tàn, Thiền sư Huyền Quangtầm xuân miên viễn trong "Hoa Cúc": Vong thân vong thể dĩ đô vong/Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương/ Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật/ Cúc hoa khai xứ tức trùng dương (Thân mất thể mất còn với mất/ Ngồi giường lạnh ngắt một phương trông/ Giữa núi cuối năm quên ngày tháng/ Đầu tiết trùng dương cúc ngấp vườn - Chu Vương Miện dịch).

Cao Bá Quát cả đời kiêu bạt có lúc phải lắng lòng gieo hạt "Trồng Mai": Thí tương mai tử trịch sơn gian/ Nhất ác thanh tư ký bích loan/Ký tử lai thời xuân sắc hảo/ Dữ nhân cộng tác hoạ đồ khan (Trên non ươm hột giống Mai vàng/ Trân quí thanh cao mọc giữa ngàn/ Xuân sang hoa nở men triền núi/ Bức tranh tuyệt mỹ gửi thế gian - M.loan hoa sử/ Phong lữ thảo dịch).

"Hoa với Rượu" của Nguyễn Bính là hoài niệm tình mơ mộng: Hoa thơm mơ mãi vườn tiên giới/ Chuốc mãi men say rượu ái tình, và: Đời say men rượu thơm hoa rụng/ Tràn những thơ ngây, ngập cảm tình; là giằng xé đớn đau: Khóc vụn mỗi lần tôi nhớ lại/ Men nồng gạo nếp nước hoa cam, và: Đời tôi sa mạc, ôi sa mạc/ Hoa hết thơm rồi rượu hết say. "Rượu xuân" của Nguyễn Bính cũng chuyên biệt: Cao tay nâng chén rượu hồng/ Mừng em, em sắp lấy chồng xuân nay/ Uống đi! Em uống cho say!/ Để trong mơ, sống những ngày xuân qua/ Thấy tình duyên của đôi ta/ Đến đây là... đến đây là... Là thôi!/ Em đi dệt mộng cùng người/Lẻ loi xuân một góc trời riêng anh.

Với "Ngày xuân thơ rượu" Thi sĩ Tản Đà đã tuyên ngôn: Trời đất sinh ta rượu với thơ/ Không thơ không rượu sống như thừa,... Mạch nước sông Đà tim róc rách/ Ngàn năm mây Tản mắt lơ ngơ,...Còn thơ còn rượu còn xuân mãi/ Còn mãi xuân, còn rượu với thơ. Bởi lẽ, Thi sĩ còn biết gởi cái tình vào đâu: Thương ai cho bận lòng đây/ Cho vơi hũ rượu, cho đầy túi thơ. Thôi đành gởi gấm vào rượu với thơ: Rượu say, thơ lại khơi nguồn/ Nên thơ, rượu cũng thêm ngon giọng tình/ Rượu thơ mình lại với mình/ Khi say quên cả cái hình phù du.

Có thể cái tình của Tản Đà đã được Trần Huyền Trân san sẻ trong bài "Với Tản Đà về bạn rượu, bạn thơ":

Cụ hâm rượu nữa đi thôi
Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu
Rồi lên ta uống với nhau
Rót đau lòng ấy và đau lòng này
Tôi say?
Thưa, trẻ chưa đầy???
Cái đau nhân thế thì say nỗi gì
(...)

Rót đi rót rót đi thôi
Rót cho tôi cả mấy mươi tuổi đầu
Nguồn đau cứ rót cho nhau
Lời say sưa mới là câu chân tình.

Nguyễn Công Trứ có phong thái khác Tản Đà? (Khác mà không khác): Dở duyên với rượu khôn từng chén/ Chót nợ cùng thơ phải chuốc lời,...Ai say ai tỉnh ai thua được/ Ta mặc ta mà ai mặc ai ("Cầm kỳ thi tửu"). Hay là: Hẹn với lợi danh ba chén rượu/ Vui cùng phong nguyệt một bầu thơ ("Thoát vòng danh lợi").

Và với Bích Khê (Khác mà không khác): Chén nầy khách hãy cạn liền/Ngó đôi mắt ngọc thì quên bụi hồng,...Xuân thơm tuy hết mặc dầu/Rượu ngon còn mãi khách lưu sau cùng ("Mỹ tửu ca").

Riêng với Lưu Trọng Lư: Đêm ấy rượu nàng ta không uống/Từ sau thề không uống với ai. Lư thề không uống rồi lại uống: Chén lại chén, kề môi thủ thỉ/Càng vơi càng tuý luý càng đầy. (Không uống với nàng, không uống với một ai nữa, nhưng không thể không uống với vợ?).

Một lẽ khác (thật khác chăng?) thể hiện ở một số thi nhân bày tỏ thái độ chê trách thói rượu (hay khuyến rượu?) như: Vếu váo câu thơ cũ rích/ Khề khà chén rượu hăng xì (Nguyễn Bỉnh Khiêm); Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy/Độ dăm ba chén đã say nhè ("Tự trào" - Nguyễn Khuyến) - Song, khi "Khóc Dương Khuê": Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp/ Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân,...Rượu ngon không có bạn hiền/ Không mua không phải không tiền không mua.

Một lẽ khác nữa, đã có người cho Thế Lữ rất tỉnh táo, trong suốt tập "Mấy vần thơ" gồm 47 bài, chỉ có một lần Thế Lữ nhắc đến rượu mà cũng chẳng hề uống (?): Lòng ta hồ vỡ tan tành/ Vì hờn, vì giận, vì tình, vì thương/ Vì cay đắng đủ trăm đường/ Than ôi! Ly rượu mơ màng khi xưa/ Ai đem dốc cạn bao giờ/ Chẳng cùng chia nửa, chẳng chờ hưởng chung ("Lời tuyệt vọng") Còn rượu cho Thế Lữ uống chết liền!.

Đã có người uống rượu; có người chê rượu; có người thề không uống rượu. Sao? Lại có "người thèm rượu" đáng yêu như Đoàn Thị Lam Luyến với "Huyền thoại một tình yêu": "Giá được một chén say mà ngủ suốt triệu năm/ Khi tỉnh dậy anh đã chia tay với người con gái ấy/Giá được anh hẹn hò dù phải chờ lâu đến mấy/Em sẽ chờ như thể một tình yêu. Cùng tâm trạng đó còn có Lê Văn Bái: Một người xuống ngựa mười năm trước/ Một chén men tràn suối lệ hoa ("Lớp tang thương"); còn có Yên Bằng: Cỏ hoa vì biết tình thơ đó/Nên biến sương thành giọt lệ tan ("Bại tướng"). Đáng yêu và dễ thương hơn nữa khi Nguyễn Thị Mai "Uống rượu với chồng": Thì mình cứ rót! Em say/ Tựa vào hơi ấm mà bay một lần/ Đất xa trời tạt xuống gần/ Chung chiêng cả mấy mươi phần thế gian.

Chính cái say rượu, say hoa đã làm nên tuyệt tác thơ trên và còn biết bao áng thơ hay, đẹp nữa, với ngất ngưỡng Vũ Hoàng Chương: Say đi em! Say đi em!/ Say cho lơi lả ánh đèn/ Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt/ Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!/ Ta quá say rồi!/ Sắc ngã màu trôi ("Say đi em"), thơ tâm sự: Rượu thơ là cõi lòng này/ Ủ hương trăng mật từ ngày có em ("Rượu thơ"), thơ thở than: Gặp gở chừng như chuyện Liêu Trai/ Ra đi chẳng hứa một ngày mai/ Em ơi! Lửa tắt, bình khô rượu/ Đời vắng em rồi, say với ai? ("Đời vắng em rồi say với ai?"); với Đynh Trầm Ca trong một lần "Uống rượu cuối năm bên bờ kinh phương Nam" mà thấy lòng như bay lên mây: Rượu cuối năm mà lòng say chưa đã/ Thêm một ly để cảm tạ đất nầy/ Thêm một ly gửi tới những tảng mây/ Để cuối kiếp ta trôi lên thường trú; với hình ảnh ông lái đò của Yến Lan bên "Bến My Lăng": Bến My Lăng nằm không, thuyền chờ khách/ Rượu hết rồi ông lái chẳng buông câu; với kỷ niệm của Xuân Hoàng về "Đồng Hới": Phố nhỏ quê ta thức nhiều kỷ niệm/ Dạ lan hương thơm ngát những canh dài/ Em đi nhé! Bóng anh lồng bóng biển/ Bài thơ lành anh đến ngủ bên vai...Ta về xây Đồng Hới quê ta/ Lại sẽ trồng hoa hồng quanh lối nhỏ/ Hoa thược dược đến mùa xuân lại nở/Vàng huân chương trong mỗi sân nhà...; với liên tưởng mượt mà của Thanh Hải về "Mùa xuân nho nhỏ": Mọc giữa dòng sông xanh/Một bông hoa tím biếc...; với rạng rỡ sắc hoa vàng theo Hoàng Việt Hằng vào cõi vô ưu: Ta đến chùa nghe tụng kinh niệm Phật/Nơi tam quan cây mộc nở hoa vàng ("Thơ hai câu"); với Đỗ Hoàng giữa "Mênh mang nông trường": Hoa vừng vương mờ hơi sương/Gió đổi mùa đi nghe đằm thắm...; với "Hoa Trắng" từng chùm nhỏ thơ ngây dịu dàng mong manh sương khói riêng của mỗi Trần Nhuận Minh:...Mới đầu hoa lấm tấm vàng/Đến khi trắng muốt, là tàn mất hoa/Có gì muốn nói cùng ta/Nhưng chưa nói được thì hoa lìa cành...; với "Hoa Tường Vi" như thực lại như mơ/Cùng tôi sống suốt một thời trẻ dại của Xuân Quỳnh; thậm với "Hoa Dại": Miên man hoa nở trắng sườn đồi/Những niềm hoang dã chốn xa xôi/Hoa chẳng có tên hoa có sắc/Hương vẫn gửi vào trong gió bay của Hà Thiên Sơn;...

Thơ - hoa - rượu và xuân vốn dĩ đã - đang và sẽ tiếp diễn tồn tại để trang điểm cho đời người hướng đến chân - thiện - mỹ. Nói đến trăm ngàn đời; viết đến trăm ngàn trang không vừa, không đủ. Nên chăng, ta cứ học cách người xưa biết vừa là vừa, biết đủ là đủ. Suy cho cùng sự tồn tại của nghịch lý lại không nghịch lý như lòng người không gió lại luôn ẩn sóng; trong buổi đông tàn đã chớm huy hoàng sắc xuân. Xuân ý và xuân tình như thế nào để lòng người lặng sóng, để thấy sắc xuân trong cảnh đông tàn.

Khi ta biết hoà quyện mình với cảnh vật, đất trời, vũ trụ một cách an nhiên thì trong ta có xuân vậy.

Cát Hoàng

Theo http://chimviet.free.fr/

  Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn hững giai điệu ngọt ngào, những lời ca tha thiết hợp với chất giọng làm say đắm lòng người. Những ca khúc quen t...