Bóng xuân
1. Chợ xuân năm nay không
đông vui nhộn nhịp như mùa xuân năm trước. Cây thế bày la liệt, hoa đỗ quyên đỏ
thắm, trà phấn hồng chíu chít nụ đợi nắng lên là bung lụa. Những cánh mộc trắng
ngà khẽ rùng mình, giá buốt mưa gió càng làm hương mộc ngát hơn. Các dãy hàng
bày la liệt, rổ rá cày cuốc, đồ nông sản nhiều tới cơ man nhưng chợ vẫn thưa thớt
khách du xuân.
Vài ông đồ ngồi bán chữ
thở dài nhìn giấy đỏ mưa hắt vào hoen phẩm. Chữ Phúc, chữ Lộc, chữ Tâm bị mưa bụi
làm vết mực loang dài như nước mắt của chúng sinh. Ông đồ già thở dài nhìn sang
hàng bên có cô đồ trẻ mắt đượm buồn hiu hắt bó gối nhìn mưa rơi. Ông bỗng thở
dài rồi lẩm bẩm: Giời đất này chả biết sao nữa? Chợ xuân mà vắng hoe, cũng chỉ
tại dịch cúm covid mà thôi. Tiếng thở dài loang trong giá buốt.
Kéo cao cổ áo khoác cho đỡ
lạnh, người đàn ông đảo mắt nhìn khắp chợ, mặc gió mưa, ông sải bước tới gian
hàng bán đồ cổ bày la liệt. Lão chủ hàng đang ngủ gà ngủ gật thấy bước chân
khách choàng tỉnh. Một giọng khàn khàn như người nghiện cất lên:
– Gớm trời mưa quá! Ông
mua đồ mở hàng cho em đi. Ế ẩm quá! Chưa có năm nào như năm nay, từ sáng tới giờ
chưa bán được gì cả.
Người khách ngần ngừ,
toan bước đi, nhưng lão bán hàng như tỉnh hẳn :
– Nhờ vía bác cả năm. Bác
mua mở hàng cho em đi, em bán rẻ lấy may bác ơi.
Tiếng mời chào nài nỉ,
khiến khách chẳng đành lòng bước qua. Dõi mắt nhìn một lượt. Đĩa cổ Lý ngư vọng
nguyệt, Hạc mai nguyên cặp, tiền đồng các triều đại hàng đống, đồ gốm sứ Lý Trần
và cả chén ấm Minh Thanh đủ cả. Đôi hươu lộc bằng đồng đứng cạnh nhau mà vẫn
toát lên vẻ bơ vơ. Người khách cầm chiếc nậm lên ngắm nghía. Lão chủ hàng nheo
đôi mắt chuột tinh quái véo von:
– Ông quả là người có con
mắt tinh tế. Chiếc nậm này có tên Tiêu Tượng, hàng thượng phủ đẹp và lụa không
tì vết. Ông xem nét vẽ con voi đang cuộn tàu lá chuối tinh xảo không? Men của
nó là men ngọc, đẹp như một bức tình thư ông nhé.
Nói rồi lão ngâm nga:
“Tình thư một bức phong
còn kín
Gió nơi đâu gượng mở
xem”.
Lão đọc thơ Nguyễn Trãi rồi
cười khà:
– Đúng là quí vật đi tìm
quí nhân, không phải ai cũng nhận ra chiếc nậm này đâu, đại ca ạ!
Khách vẫn lặng im, khuôn
mặt tươi hơn một chút, có lẽ khách cũng vui lây cái véo von của lão bán hàng bẻm
mép. Qua vài lời mặc cả phát giá, khách đồng ý mua chiếc nậm Tiêu Tượng. Tần ngần
ánh mắt, khách dõi sang hàng đồ cổ bên cạnh, bắt gặp ánh mắt thiếu phụ thật đẹp
mà đượm buồn. Nàng ngồi bán hàng mà xa vắng, lơ đãng như chìm vào thế giới huyền
bí. Những đồ gốm sứ của nàng cũ kĩ không còn nguyên vẹn, chúng sứt mẻ lệch đôi,
lũ đồ đồng hoen rỉ mốc xanh, vài cái cốc bằng đồng như từ các vương triều Trung
Hoa cũ. Mươi đồng bạc trắng hoa xòe nằm tênh hênh trên manh chiếu cũ. Không một
lời chào hàng thiếu phụ ngước đôi mắt nhung thăm thẳm nhìn khách. Nàng không đẹp
rực rỡ kiêu sa như đóa hải đường e ấp trong gió sớm mà nét đẹp nuột nà đằm thắm
của cặp môi đỏ tươi, đôi bàn tay trắng như ngó cần đan vào nhau. Nàng ngồi bên
những đồ cổ xưa rất giống như vương phi thất thế. Ánh mắt như từ tiền kiếp hiện
về ma mị dẫn dụ. Nhìn lũ ấm đồng thiếp mệt trong gió lạnh, lũ ấm ngả màu vàng sỉn
không bắt mắt, lão hàng đồ cổ ngồi bên quan sát thiếu phụ rồi cười khẩy. Khách
toan bước đi chợt mắt ông sáng lên trước một vật lạ. Ông ngồi xuống bên lũ ấm cổ,
nhẹ tay nâng một chiếc ấm hình con rùa lên. Màu đồng cổ nâu sạm, nắp ấm là con
rùa con, thân ấm là con rùa mẹ, được gò đúc tinh xảo, có những cổ tự rất đẹp.
Không cưỡng được cảm xúc ông cất tiếng hỏi thiếu phụ bán hàng:
– Bao nhiêu tiền chiếc ấm
này hả cô?
Thiếu phụ nhìn ông khách
phong trần nhưng vẫn không giấu được vẻ lịch lãm của đất thành kinh. Nàng liếc
chiếc ấm cổ, một thoáng ngạc nhiên xuất hiện trong đầu. Chiếc ấm này đã nằm
trong sạp hàng đồ cổ bao năm nay từ khi nàng còn bé tí, nó lăn lóc theo cha
nàng khắp các lễ hội ngày xuân nhưng chẳng thấy ai hỏi gì cả? Rồi cha nàng về
cõi bên kia, nàng theo nghiệp cha quen dần với gánh hàng đồ cổ nhưng cái ấm vẫn
nằm tẻ nhạt trên mẹt hàng của nàng. Sao bây giờ lại có người đàn ông này để ý tới
chiếc ấm và cầm trên tay nâng niu thế này? Một thoáng bối rối, đôi mắt nhung
huyền thắm thắm ngước lên, giọng nói nhẹ như gió thoảng:
– Tùy ông cho bao nhiêu
cũng được. Em bán cho ông chiếc ấm lấy may.
Mắt nhung gợn sóng thu
ba. Nhìn vào đấy khách như gặp cả bể oan cừu. Thật kỳ lạ chưa có người bán hàng
nào lại thờ ơ với đồng tiền như vậy? Khách bối rồi rồi mỉm cười lấy một nắm tiền
mới trong ví đặt vào tay thiếu phụ. Giọng trầm ấm cất lên:
– Bao nhiêu tiền này đủ
chưa cô?
Thiếu phụ mỉm cười rồi nhẹ
nhàng gật đầu:
– Thưa ông thừa rồi ạ! Cảm
ơn ông đã có duyên với chiếc quần ấm mẫu tử này.
Người bán ấm nhoẻn cười,
nụ cười xinh đẹp bừng sáng khuôn mặt. Khách lâng lâng bước đi trong ánh mắt huyền
thăm thẳm vướng víu hương hoa mộc quyến ngọt loang xa, loang xa. Mưa mỗi lúc
thêm nặng hạt. Khách đường xa rùng mình, gió đông mỗi ngày một bạo hơn.
Đại hồng chung chùa Đại
Bi chợt ngân nga. Tiếng chuông đúng ngọ cất lên, như giục bước chân người mua ấm.
Ông nhanh chân mua thẻ hương, bước vào tam quan. Khói trầm nghi ngút, thấp
thoáng vài bóng người đang sì sụp khấn vái trước Phật đài. Khách thành kính thắp
ba nén nhang vào bát hương công đồng, rồi đặt chiếc ấm xuống bệ thờ khấn vái
– Con nam mô a di đà Phật.
Con lạy chín phương trời mười phương chư Phật. Con kính lạy hoàng thiên hậu thổ
chư vị tôn thần. Con là họa sĩ ở kinh thành, nay về lễ Phật cầu an, du xuân Viềng
Tỉnh cũng do lòng đam mê cổ vật yêu hồn cốt văn hóa xưa mà được gặp chiếc ấm lạ
giữa hội xuân. Có lẽ cũng là một nhân duyên. Con cúi xin Phật Trời phù hộ cho
con đem ấm về được bình an may mắn.
Lời khấn vừa dứt. Nén
hương thắp vòng tít lại. Chiếc ấm đồng nâu sỉn chợt hồng rực lên như phép màu
đã linh hiển. Họa sĩ cúi đầu khấn vái cảm tạ trước tam bảo, mở vuông lụa đỏ
trong túi xách bọc lấy chiếc ấm thanh thản bước ra khỏi tam quan
2. Xe hơi dừng lại nơi biệt thự cổ trồng toàn hoa hồng trắng. Họa sĩ bước xuống. Người quản gia già vội vàng mở cổng:
– Thưa cậu đã về. Cậu vào
nhanh kẻo trời đang mưa to ạ!
Cầm chiếc ô từ tay người
quản gia, ông sải bước tới tiền sảnh. Biệt thự cổ được kiến trúc theo lối
Gothic vòm mái trang nhã. Tất cả các cánh cửa đều làm bằng đồng và được chạm trổ
cầu kì, trong mưa bụi mùa xuân biệt thự đẹp như lâu đài của bá tước phương tây.
Điều đặc biệt nhất là lối đi rải sỏi trắng, dọc hai bên trồng toàn hoa hồng trắng.
Loài hoa hồng cổ tỏa hương thơm ngát, kẻ mơ mộng nhìn vào sẽ phải thốt lên: Ta
đang lạc vào vương quốc bất tử của hoa hồng ư? Và cảm giác sẽ có một nàng công
chúa ngủ quên dưới những bụi hồng ấy.
Giũ chiếc áo khoác bay đi
mưa bụi đường xa, họa sĩ ngước ánh nhìn nhàn nhạt về phía quản gia rồi cất tiếng:
– Hôm nay tôi đi vắng ở
nhà có chuyện gì không?
– Thưa cậu. Có ông Thành
đồ cổ tới tìm ạ! Ông ấy còn hẹn là chiều tối sẽ tới để xem tranh và bàn với cậu
về vài món đồ cổ ạ!
Họa sĩ Vũ Thượng nhăn mặt
khó chịu khi người quản gia nhắc tới Thành- gã buôn đồ cổ lõi đời và cũng là một
kẻ sưu tầm tranh hợm hĩnh. Đã nhiều lần ông muốn tuyệt giao với kẻ trọc phú bần
tiện đó nhưng gã cứ bám chằng lấy ông. Lúc gặp mặt, gã xoắn lấy véo von như người
của kiếp trước không bằng. Gã mua tranh của Vũ Thượng treo trong phòng khách
nhà mình và luôn ngẩng đầu khoe với thiên hạ rằng họa sĩ với hắn là chỗ tâm
giao. Gã luôn mượn danh tiếng của ông để làm sang. Bao lần gã gọi điện tới ông
tắt máy không muốn giao tiếp, nên gã đã rút ra kinh nghiệm xương máu là không
việc gì lên tiếng mà cứ đến thẳng biệt thự nếu như muốn gặp chủ nhân. Chiếc áo
khoác vừa được người quản gia đỡ lấy treo vào mắc thì cũng là lúc chuông cổng
biệt thự reo lên. Họa sĩ nhăn mặt:
– Ta mệt mỏi không muốn
tiếp khách lúc này. Lão hãy ra cổng từ chối cho ta.
Giới mỹ thuật đồn rằng họa
sĩ Vũ Thượng là gã quí tộc gàn, cực tài nhưng tính cách thì lập dị không giống
ai. Vũ Thượng đắm say với nghệ thuật, từng du học ở trường Mỹ thuật danh tiếng
nước ngoài trở về. Vũ Thượng giầu có vì được hưởng một gia sản kếch sù của cha
ông để lại. Căn biệt thự này cũng chính là tài sản của người cha để lại cho
con. Nhưng trong con mắt của họa sĩ thì tài sản này chỉ là thứ phù hoa. Nỗi cô
đơn luôn gặm nhấm ông. Có những người không bao giờ chịu yên phận dừng chân ở một
chỗ nào nhất định, họ luôn muốn lang thang hết sông dài biển rộng. Có những kẻ
tư tưởng chẳng bao giờ bình lặng mà nó luôn lang thang tới tận cùng ngóc ngách
của vũ trụ và nhân gian. Cái lang thang đó đã biến thành sự cô đơn đến tận cùng
của tâm hồn. Hồn hoang leo ngược đó đã hội tụ cả trong con người của họa sĩ Vũ
Thượng. Nhiều khi Vũ Thượng bỏ cả biệt thự khoác ba lô chinh chiến tận miền
biên viễn nơi đèo mây, dốc núi để nghe tiếng thở của đại ngàn, ngắm một sắc hoa
cải mèo nở rộ trên nương, hoặc ngẩn ngơ buồn bã trước bức tượng nhà mồ của Tây
Nguyên. Những chuyến đi xa về, ông lao vào vẽ như điên dại, quên ăn quên ngủ thả
hồn vào những bức tranh. Điều đặc biệt hơn trong biệt thự của Vũ Thượng là chẳng
bao giờ thấy xuất hiện một bóng hồng. Bao kẻ giàu có gia thế đánh tiếng gả con
gái cho họa sĩ, nhiều cô gái xem tranh của Vũ Thượng cũng trở nên thương nhớ xa
xôi. Nhưng tất cả véo von và dư âm đó không làm họa sĩ xuyến xao rung động. Sắp
bước sang tuổi năm mươi Vũ Thượng vẫn là họa sĩ độc thân. Mặc dù đã từng du học
trời Âu, phong cách đậm sắc thái phương tây nhưng ông vẫn mê cổ vật và mê ấm,
có lẽ cũng là gien di truyền từ đời trước để lại.
3. Chuông
cổng lại đổ dồn liên tiếp, người quản gia chậm chạp nhìn chủ đoán ý rồi bước ra
mở cổng. Cánh cổng đồng hé một lối nhỏ chỉ vừa đủ cho mái tóc già nua bạc trắng
đưa ra:
– Thưa ông! Cậu chủ mệt,
khi khác ông quay lại.
Chưa kịp quay đầu lại
khép cổng thì gã lùn đầu tóc bờm xờm, mắt ốc nhồi vằn đỏ, trán ngũ đoản, cất tiếng
đầy hơi rượu:
– Sao lão cứ khó khăn với
chúng tôi nhỉ? Cho tôi vào chỉ gặp chủ lão năm phút rồi ra luôn có sao đâu. Chủ
tớ nhà lão phách lối quá đấy!
Người già yếu làm sao
kháng cự được với kẻ đẫm hơi men đang đẩy mạnh cánh cửa bước vào sân biệt thự.
Cái dáng ngắn tủn, đôi bàn chân cập rập như của gã hề làm xiếc, gã buôn đồ cổ vừa
đi vừa chạy vào biệt thự. Cứ như thế gã đã tới đại sảnh. Nhìn thấy cái ấm cổ
gói trong tấm lụa đỏ đặt trên bàn trà, chẳng kịp chào hỏi gã vồ lấy:
– Ui danh họa kiếm ở đâu
ra vật quý này vậy? Bao nhiêu tiền đây? Cái ấm này lạ nhỉ? Để lại cho đệ nhé!
Thấy chủ nhân của chiếc ấm
nhăn mặt không nói tiếng gì, gã vẫn giả tảng như chả có chuyện gì sảy ra, liền
lấy điện thoại chụp lấy chụp để. Gã vật ngửa thân ấm sang trái, lật ngửa những
cái chân con rùa mà chụp, cả nắp ấm là con rùa con nữa, mắt gã hoa lên vì những
cổ tự trên thân ấm như phát quang. Ngắm nghía bằng con mắt nhà nghề, soi đồ cổ
xong, gã buông cái ấm vào lụa đỏ :
– Cái ấm này lạ và đẹp,
nhưng không khéo đại ca mua phải hàng giả đấy.
Thấy thái độ thờ ơ của chủ
nhân, gã hơi chột dạ. Hình như Vũ Thượng đọc được kiểu dìm hàng của gã. Gã lại
chép miệng véo von:
– Nhưng không sao. Cái ấm
này vẫn lạ, đại ca cứ để cho đệ nhé. Nó về tay đệ thì sẽ lừa được thiên hạ.
Khuôn mặt đẹp của họa sĩ
vẫn lạnh lùng, thờ ơ như không để ý gì đến lời tán tỉnh mánh lới của kẻ buôn đồ
cổ. Cảm giác như hồn của họa sĩ đang lênh đênh trôi trên những cánh hoa hồng cổ
ngan ngát trong gió xuân ngoài lối đi dẫn vào biệt thự.
– Đại ca làm sao thế? Em
gửi đại ca ba ngàn đô gọi là chút lộc đầu năm. Anh để cho em nhé!
Gió vẫn thổi. Hương hồng
cổ nồng nàn, hồn vẫn phiêu dạt tận đẩu đâu. Cuộc mà cả độc thoại của kẻ buôn đổ
cổ mỗi lúc một ráo riết:
– Anh không nghe em nói
gì sao? Cái ấm này em gửi anh bảy ngàn đô anh gật đi để thằng em còn ôm nàng về
dinh.
Tiếng nói của gã như hét
lên. Họa sĩ Vũ Thượng như bừng tỉnh, cất tiếng lạnh lùng:
– Quản gia tiễn khách,
tôi muốn nghỉ ngơi.
Gã buôn đồ cổ sượng sùng,
tiếc rẻ đứng lên. Trước khi rời bước đôi bàn tay ngắn tũn chuối mắn của gã còn
mân mê vuốt ve cái ấm thêm một lần nữa. Bước chân ra tới cổng rồi gã vẫn còn
ngoái cổ nhìn vào tiền sảnh.
4. Đêm
chìm sâu trong yên tĩnh. Ngoài hiên vẫn lắc thắc giọt mưa xuân. Họa sĩ thao thức
mãi không thể nào ngủ được. Có gì đó bồi hồi thấp thỏm cứ dâng lên trong lòng
ông như thủy triều cồn cào trong ngày bão.
Vũ Thượng tiến lại bộ
tràng kỷ và ngồi xuống. Chẳng muốn làm phiền người quản gia già nua đã gắn bó với
gia đình họa sĩ từ mấy đời trước. Ông lặng lẽ nhặt vài mảnh trầm bỏ vào lư
hương. Hương trầm bén lửa tỏa hương ngan ngát, căn phòng thờ vốn tĩnh mịch giờ
chập chờn trong ánh lửa và hương thơm. Đôi hồng lạp to như bắp tay cũng được thắp
lên. Căn phòng chan hòa ánh sáng nến. Chợt tiếng ho khẽ từ sau lưng khiến họa
sĩ giật mình:
– Cậu muốn gì ạ?
Họa sĩ định thần nhận ra
tiếng nói của quản gia. Ái ngại nhìn người hầu già, họa sĩ xua tay:
– Không có gì, mặc ta.
Lão cứ đi nghỉ đi kẻo trời lạnh lại ốm..
Người quản gia già ngần
ngừ một chút rồi lặng lẽ lui vào phòng sau đi nghỉ. Nhẹ nhàng, họa sĩ lấy chiếc
thau đồng thường để bao sái đồ thờ, mở chum rượu Vò Di lâu năm. Khí rượu thơm
tràn ngập cả căn phòng làm họa sĩ lâng lâng. Vò Di tửu nổi tiếng của miền Sơn
Nam Hạ được một nữ văn sĩ tận tay chưng cất và gửi biếu, họa sĩ nâng niu thường
làm đồ phù tửu kính cáo tiên linh giờ được dùng gáo ngà múc ra từ cái chum bịt
vải đỏ. Đưa tay đỡ lấy chiếc ấm con rùa bằng đồng, họa sĩ nhẹ nhàng tưới rượu
lên thân ấm cọ rửa. Như ma nhập, họa sĩ buột miệng:
– Qua bao tao loạn, nàng
đã về với ta rồi ư? Nàng yên tâm ta sẽ yêu thương nàng và nâng niu như bảo bối.
Lời khấn nguyện vừa dứt,
chiếc ấm chợt hồng rực lên như có hào quang tỏa sáng. Họa sĩ kinh hãi và mừng rỡ,
liền lấy nước sôi dội vào lòng ấm để tráng đi hơi rượu. Một mùi hương trà ngào
ngạt từ trong ấm tỏa ra. Đưa tay với lọ trà Long Tỉnh, một thứ trà quí tận Chiết
Giang người ta thường dùng nước suối bản địa mà pha. Nhưng họa sĩ Vũ Thượng là
một kẻ sành trà thì lại dùng những hạt sương trên lá sen, kỳ công hàng tuần liền
khi mùa sen nở nơi đồng nội mà hứng lấy. Trà Long Tỉnh không ưa nước sôi già mà
chỉ sôi lăn tăn là có thể pha mới nhuận hương. Thứ trà một lá, duy nhất trên
cây chỉ một búp nhỏ này khi nhấp trên môi tinh thần cực nhẹ nhõm như thức tỉnh
lục giác, sảng khoái đến vô cùng. Vũ Thượng yêu trà Long Tỉnh vì nó có thể dẫn
người ta vào cõi mơ. Sau biên thức của sảng khoái thì có thể đưa con người vào
giấc mơ ngạt ngào đồi núi và bát ngát xanh như một giấc viễn du thần tiên.
Búp trà Long Tỉnh thả vào
ấm. Nước trong hỏa lò than cũng reo vui, chiếc ấm đồng sôi lên sùng sục, hương
trà thanh khiết tới dị thường. Họa sĩ nhấp chén hương thơm trên môi, chợt trong
làn khói thơm mờ ảo của hương trà xuất hiện một người con gái đẹp.Y phục như quận
chúa thuở xưa, nhẹ nhàng nở nụ cười tiến về phía mình:
– Chàng ơi! Đã bao năm
nay chàng có an mạnh không? Có còn thương nhớ thiếp hay không? Chàng có nhớ bài
thơ chàng làm được khắc vào đáy ấm lúc thiếp lên kiệu hoa, vâng lệnh cha gả về
miền biên viễn phía Bắc để giữ yên bờ cõi hay không?Chàng còn nhớ bài thơ đẫm lệ
đó hay không?
Họa sĩ ngơ ngác như đi
trong sương mù, tiếng đọc thơ trong như ngọc cất lên:
Vạn lý xa xôi vạn lý tình
Đào hoa ôm mộng cõi ba
sinh
Ta thương hương lửa chưa
nồng đượm
Muôn kiếp phu thê một
bóng hình
Nước mắt của nàng trong tựa
ngọc tuôn rơi trên gò má thắm. Vũ Thượng thấy lòng mình đau như cắt, cảm giác
hàng ngàn mũi kim châm vào tim tê buốt nhức nhối đến khôn cùng. Người con gái đẹp
bất giác tiến về phía họa sĩ, như có một ma lực nào xui khiến Vũ Thượng liền ôm
lấy người đẹp. Nước mắt nàng làm nỗi đau trong tim của họa sĩ như dịu hẳn đi.
Giọng oanh vàng đẫm lệ vẫn thỏ thẻ bên tai:
– Chàng ơi! Thiếp là con
gái tổng đốc miền Sơn Nam Hạ, còn chàng chính là một họa sư danh tiếng. Cha thiếp
rất yêu chuộng đồ đồng tinh xảo lên đã mời chàng về vẽ mẫu cho những đồ vật
trong dinh mỗi khi cần dùng. Người cũng rất thích được truyền thần lại chân
dung của mình, lên hàng tháng trời chàng được cha thiếp lưu lại để họa.
Tiếng thỏ thẻ ngọt ngọt vẫn
cất lên:
– Còn thiếp làm sao quên
được vẻ anh tuấn của chàng, quên sao được buổi ấy trong vườn hoa khi hải đường
e ấp trong gió sớm, chàng đã say đắm vẽ đôi chim uyên ương lên khăn lụa tặng
thiếp. Chiếc khăn ấy giờ thiếp vẫn mang bên mình. Ai có ngờ đâu uyên ương nhỏ
máu. Cầm chiếc khăn tặng thiếp biết mình đã thuộc về chàng muôn kiếp. Ngày cưới
của chúng ta cũng chính là ngày thiếp nhận định mệnh oan khiên. Phải từ biệt
chàng ra đi vĩnh viễn. Phu quân ơi! Đường biên cương lắt lẻo thân gái dặm trường,
xa xôi vạn lý thiếp sao đành lòng lỗi đạo phu thê cơ chứ? Hơn tháng trời rong
ruổi, thiếp ôm chiếc ấm chàng tặng lúc ra đi chẳng phút nào rời. Chàng ôi! Sao
chàng không đợi một ngày chúng ta đoàn tụ mà lại vội vã xông vào đội quân của
triều đình mà bỏ mạng nơi chiến địa. Tin dữ từ quê nhà truyền tới làm sao thiếp
có thể yên lòng làm phu nhân của tù trưởng miền biên viễn? Rồi cũng chính đêm động
phòng hoa chúc, thiếp đã uống rượu độc giao bôi mà rời xa nhân thế vĩnh viễn.
Trong cõi luân hồi, thiếp chẳng đành lòng vẫn đi tìm chàng. Nhân duyên cho
chúng ta gặp lại nhau đây. Từ nay chỉ xin chàng đừng rời xa thiếp nữa. Thiếp
không muốn mất chàng thêm một lần nữa đâu họa sư của thiếp ơi.
Người con gái đẹp nghẹn
ngào khóc òa lên làm Vũ Thượng xúc động thương cảm đưa tay ôm chặt nàng vào
lòng. Một mùi hương ngào ngạt làm chàng xốn xang rực nóng toàn thân
Gió xuân mỗi lúc thêm lạnh,
Vũ Thượng chợt giật mình khi tiếng gọi của quản gia:
– Cậu ơi! Cậu dậy vào
chăn nằm đi, cậu gọi tên ai mà thảng thốt vậy? Có nàng nào đâu? Cậu ngồi đây cả
đêm hay sao?
Vũ Thượng choàng tỉnh,
người nóng ran, mồ hôi vẫn ướt trên trán. Hương thơm vẫn còn phảng phất trong
không gian. Họa sĩ bàng hoàng vì mình vừa trải qua một giấc mơ. Có chút gì run
rẩy thổn thức thật lạ dâng lên trong tim họa sĩ. Một câu hỏi mơ hồ chợt nhen
lên trong hồn chàng: Không lẽ chàng họa sư của giấc mơ đêm qua chính là tiền
thân của ta ư? Và ta họa sĩ Vũ thượng chính là hậu kiếp nhân duyên của chàng? Họa
sĩ chợt bàng hoàng nhận ra một điều là thiếu phụ xinh đẹp bán ấm nơi Viềng Tỉnh
rất giống người con gái trong giấc mơ đêm qua của minh? Ta phải làm sao bây giờ?
Tự dưng họa sĩ thấy nhớ khuôn mặt và bàn tay búp măng đẹp óng sáng của người
bán ấm hội xuân quá!
5. Năm sau, hoa đào nở, nắng xuân tơ lụa bừng sáng miền Sơn Nam Hạ, dịch covid đã bị đẩy lùi. Người ta nô nức đi chợ Viềng bán rủi cầu may. Hoa khoe sắc tươi hồng mời gọi người đi chợ xuân. Những ông đồ, cô đồ đang hối hả thảo nét bút tươi thắm cho người đến xin chữ đầu năm. Đại hổng chung chùa Đại Bi vẫn ngân nga thoát tục chứng giám lòng thành cho chúng sinh đi lễ. Mấy gian hàng đồ cổ tíu tít người mua và xem hàng. Người đàn ông lịch lãm, sang trọng dắt tay một thiếu phụ xinh đẹp, đài các tiến tới gian hàng đồ cổ. Đó là họa sĩ Vũ Thượng và người vợ mới cưới. Nhận ra khách quen năm ngoái gã bán đồ cổ véo von:
– May quá lại gặp bác.
Chiếc nậm Tiêu Tượng em bán cho bác vẫn đẹp chứ ạ?
Họa sĩ mỉm cười cúi nhìn
một vài món đồ cổ của gã rồi cầm lên. Gã bán hàng ngước mắt nhìn thiếu phụ đang
nhoẻn cười cùng họa sĩ rồi buột miệng:
– Cô đây là… Tôi không nhầm
chứ?
Thốt ra được câu nói đó,
hắn im lặng, chăm chú nhìn người đàn bà. Họa sĩ mỉm cười âu yếm cầm tay vợ:
– Đây là nhà tôi, chủ
nhân của chiếc ấm đồng mà tôi mua năm ngoái.
Thiếu phụ ngước đôi mắt
nhung thăm thẳm nở nụ cười đằm thắm với chồng. Gã bán đồ cổ ngỡ ngàng lẩm bẩm
thốt lên: Nhân duyên.
Người vào chợ mỗi lúc một
đông, nắng xuân như ửng hồng trên gò má người thiếu phụ đang xoan.
19/10/2026
Lê Hà Ngân
Theo https://vanhocsaigon.com/
.gif)

.gif)

.gif)