Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2026

 

Bản “tiểu sử văn học” tự khai của nhà thơ Xuân Quỳnh

Một tư liệu quý để hiểu thêm về nữ thi sĩ Xuân Quỳnh, nhân kỷ niệm 80 năm sinh của bà (6.10.1942), do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân nghiên cứu và tập hợp. Vanvn trân trọng giới thiệu.

Tôi được tiếp cận bản Tiểu sử văn học này từ hồi cuối tháng 8.1988, ngay sau khi nhận được tin dữ về tai nạn thảm khốc xảy ra với vợ chồng Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ và người con chung của họ.

Giám đốc Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới (Hội Nhà văn Việt Nam) lúc đó, ông Vũ Tú Nam, bảo tôi và một số bạn văn trong cơ quan nên viết các bài tưởng niệm về hai nhà văn này, nhất là viết về Xuân Quỳnh, khi đó đang là cán bộ biên tập của nhà xuất bản. Vốn biết chắc là bọn tôi chưa có tư liệu gì về tiểu sử hai nhà văn này, ông Nam nhắc tôi tìm đến hỏi mượn bà Nguyễn Trinh Thịnh, cán bộ chuyên trách hồ sơ hội viên và cán bộ cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam.

Đó là loại hồ sơ lý lịch cán bộ kê khai theo câu hỏi ở các mục in sẵn, vốn phổ biến trong ngành quản lý nhân sự của chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa; tất nhiên Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam vận dụng có thay đổi chút ít cho phù hợp với nhân sự ngành văn nghệ.

Hồ sơ được gọi là “Tiểu sử văn học của hội viên Hội Nhà văn Việt Nam”; mỗi cuốn gồm 16 trang khổ nhỏ (12x19cm), cộng bốn trang bìa; in sẵn các mục chính:

– “Sơ lược lý lịch” (tr. 1), “Tự thuật tiểu sử (tóm tắt)” (tr. 2 – 5), “Quá trình công tác, tóm tắt” (tr. 6), “Những lớp học chính trị hoặc chuyên môn đã tham gia” (tr. 7), “Khen thưởng, kỷ luật” (tr. 7), “Quá trình hoạt động văn học” với các mục nhỏ: a/”Nguyên nhân bắt đầu hoạt động văn học (tr. 8); b/Tác phẩm đầu tiên được in (tr. 8); c/ Sống chuyên nghiệp bằng nghề văn từ năm nào (tr. 8); d/Những môi trường thực tế quen thuộc nhất, những chuyến đi thực tế quan trọng nhất trong đời văn học (tr. 9); e/Sở trường về thể loại (tr. 10); g/Những chuyến đi nước ngoài (tr. 10).

Phần “Tác phẩm văn học” yêu cầu khai: a/Những tác phẩm đã xuất bản (tr. 11); b/Những bài đã in trên báo, tạp chí (tr. 12 – 13).

Ngoài ra là các phần “Những tác phẩm đã được dịch, xuất bản hoặc in báo ở nước ngoài” (tr. 14); “Tình hình sức khỏe và đời sống gia đình hiện nay” (tr. 15) “Nguyện vọng và dự kiến sáng tác” (tr. 15)

Các khoảng giấy trắng sau câu hỏi thường khá hẹp nhưng phần nhiều người kê khai đều ghi khá gọn, có khi để trắng.

Trong túi hồ sơ của Xuân Quỳnh có tới hai cuốn Tiểu sử văn học: cuốn thứ nhất kê khai và ký tên ngày 16.1.1976; cuốn thứ hai kê khai và ký tên ngày 29.8.1982.

Có những mục, lời kê khai ở cả hai cuốn đều giống nhau, như họ tên (Nguyễn Thị Xuân Quỳnh), nơi sinh, quê quán (xã Văn Khê, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông), ngày sinh (6.10.1942), tác phẩm in đầu tiên (phần thơ Chồi biếc, in chung với Cẩm Lai trong tập thơ Tơ tằm. Chồi biếc, NXB Văn Học, 1963).

Mục hỏi về “những môi trường thực tế quen thuộc nhất, những chuyến đi thực tế quan trọng nhất trong đời văn”: Cuốn thứ nhất (1976) trả lời: “Những môi trường thực tế quan trọng nhất của tôi vẫn là nông thôn ta. Những chuyến đi thực tế quan trọng nhất của tôi là về những vùng chiến tranh ác liệt ở Vĩnh Linh, Quảng Bình trong những năm 1967 đến 1969”. Cuốn thứ hai (1982) trả lời tương tự bằng ba gạch đầu dòng: “- Miền nông thôn, quê tôi hồi tôi còn nhỏ. – Hà Nội, nơi tôi lớn lên và sống ở đây. -Những chuyến đi trong ngày chống Mỹ: Đường 559, Quảng Bình, Vĩnh Linh”.

Có một số mục, tuy cùng câu hỏi về nội dung cần kê khai nhưng lời khai lại khác nhau, ví dụ: ngày trở thành hội viên chính thức Hội Nhà văn Việt Nam, cuốn thứ nhất (1976) ghi năm 1969, cuốn thứ hai (1982) lại ghi năm 1964 (trong khi các cuốn danh mục hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ghi Xuân Quỳnh vào hội năm 1967), đồng thời ghi thêm tên hai hội viên giới thiệu Xuân Quỳnh vào hội: Vũ Thị Thường và Anh Thơ.

Một số câu hỏi khác, tuy cùng nội dung nhưng lời khai ở hai cuốn lại khác nhau, có lẽ là do thời điểm kê khai.

Ví dụ câu hỏi về “trình độ văn hóa”, cuốn thứ nhất (1976) ghi là “lớp 8”; cuốn thứ hai (1982) ghi là “lớp 10”, lại ghi thêm về ngoại ngữ: “Tiếng Pháp (biết ít)”.

Hoặc về “quá trình công tác”, cuốn thứ nhất (1976) không ghi gì, cuốn thứ hai (1982) ghi rõ: “1955: Diễn viên múa, đoàn ca múa trung ương; 1963: Biên tập viên báo Văn Nghệ; 1980: Biên tập viên Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới”.

Hoặc số tác phẩm đã công bố, cuốn thứ nhất (1976) kể tên bốn cuốn (3 tập thơ, 1 tập truyện thiếu nhi), cuốn thứ hai (1982) kể tên 10 cuốn (4 tập thơ [người lớn]; 2 tập thơ thiếu nhi; 3 tập truyện thiếu nhi; 1 cuốn thông tin về sân khấu, viết chung).

Về số tác phẩm đăng trên báo hay tạp chí, cuốn thứ nhất (1976) trả lời: “Nhiều quá nên không thể nhớ để kê danh sách được”! Cuốn thứ hai (1982) trả lời: “Chừng 300 đến 400 bài các loại đã in trên các báo, tạp chí, tuyển tập T.Ư và địa phương (không thể tính và nhớ hết được)”.

Hoặc, về những chuyến đi nước ngoài, cuốn thứ nhất (1976) ghi: “Chẳng đi nước ngoài bao giờ”; cuốn thứ hai (1982) đã có thể ghi: “1978 đi Liên Xô. Có 1 bài tham luận đọc ở hội nghị Á – Phi, đã in ở báo Văn Nghệ, và một số bài thơ viết về L.X.”

Về mặt bổ trợ cho nghiên cứu tiểu sử tác gia văn học, các dữ liệu kê khai kể trên đều là những dữ liệu quý, có thể giúp bổ sung hoặc đối chiếu với các dữ liệu về nhân thân nhà thơ Xuân Quỳnh từ các nguồn tư liệu khác.

Nhưng theo tôi, trong hai cuốn tiểu sử tự khai này của nhà thơ Xuân Quỳnh, điều lý thú và quý giá hơn cả là một số lời khai trong các mục về tiểu sử, về quá trình công tác, về nguyện vọng và dự kiến sáng tác. Về mặt này, những kê khai ở cuốn thứ nhất (1976) hơi sơ lược, đơn giản. Còn ở cuốn thứ hai (1982) tuy vẫn có xu hướng sơ lược, đơn giản (đây có lẽ là xu thế thường thấy trong tâm lý các tác giả khi phải ngồi viết những dòng tự thuật về tình trạng, tâm trạng của mình) nhưng một số đoạn có thể xem là những lời cô đọng nhất của nữ nhà thơ, những lời mà có lẽ ta không thể tìm thấy trong các dòng thơ hay trang văn xuôi của Xuân Quỳnh, dù là sáng tác cho người lớn hay cho trẻ em.

Chẳng hạn, trước câu hỏi về “nguyên nhân bắt đầu hoạt động văn học”: cuốn thứ nhất (1976) không ghi gì; cuốn thứ hai (1982) ghi hai gạch đầu dòng, công khai tâm trạng: “Vì thích thú. Làm văn học cảm thấy như mình được sống thêm một cuộc đời khác nữa” và “Vì uất ức. Khi mới vào nghề, bị xô đẩy bị khinh rẻ nên tôi quyết phải sống. Mà sống tức là phải viết”.

Với câu hỏi về những nguyện vọng và dự kiến sáng tác, cuốn thứ nhất (1976) ghi: “Nguyện vọng: Làm sao đủ sống, nuôi con khỏi đói, đỡ lo về kinh tế gia đình để có thì giờ học tập và sáng tác. Dự kiến: Sẽ viết: Thơ người lớn; thơ và truyện thơ, truyện trẻ con”.

Cuốn thứ hai (1982) đánh số và ghi ba thứ mỗi loại:

“Nguyện vọng:

1/Làm sao đỡ khó khăn hơn về kinh tế;

2/Có thì giờ hơn để có thể viết, học, trau dồi nghề nghiệp;

3/Muốn xin được thêm một diện tích nhỏ riêng biệt để có thể ngồi viết những lúc cần thiết (vì không thể bứt hẳn để đi Đại Lải được).

Dự kiến: 1/ Viết đều hơn nữa, về thơ, thơ người lớn, truyện thiếu nhi; Mỗi năm phải có từ 1 đến 3 tập sách được xuất bản. 2/ Sẽ viết thêm truyện ngắn người lớn trong mấy năm tới. 3/ Vừa học vừa tập dịch thơ để in các báo”.

Cảm động nhất là đoạn trả lời mục “Tự thuật tiểu sử tóm tắt”, Xuân Quỳnh viết liền mạch vào bốn trang (tr. 2 – 5):

“Từ nhỏ đi học đến lớp 6

1955: vừa học vừa làm diễn viên đoàn ca múa trung ương.

1962: đi học trường viết văn

1963: về báo Văn Nghệ (vừa học vừa làm biên tập thơ của báo).

Được một thời gian báo V.N. cho đi thực tế Gia Lâm, làm công tác huyện Đoàn 1 năm.

Cuối 1964, chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, báo V.N. gọi về giữ thư viện thay cô Loan, cho cô ấy vào với chồng. Thời gian này báo Văn Nghệ muốn nhân cớ đó đẩy ra khỏi báo. Vì vậy tôi phải chạy đi xin việc tất cả các cơ quan báo chí, đài phát thanh, nhưng không đâu muốn nhận.

Báo Phụ Nữ nhận với điều kiện là phải thử đi xuống nông thôn một thời gian xem có viết được bài không đã.

Tôi đã đi 2 tháng và viết được 7 bài, các chị cũng khen là viết được. Nhưng không may, trong thời gian đó tôi lại có thai cháu đầu tiên (năm ấy là năm 1965). Báo Phụ Nữ không muốn nhận về nữa vì lý do đó. Lúc ấy tôi vẫn biên chế của Hội Liên hiệp. Tôi quay về. Anh Hoàng Trung Nho và anh Hoàng Trung Thông (lúc ấy đã thay vào chỗ ô. Bảo Định Giang) lại nhận tôi trở lại làm biên tập báo Văn Nghệ.

Rồi biên tập nhà xuất bản cho đến nay.

Tôi là con một nhà giáo, bố tôi xưa kia đi dạy học nhưng người lại có nhiều khát khao về sáng tác văn học. Ông đọc nhiều sách và hay kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện. Có những khi ông đọc cả những truyện, kịch, thơ ông viết cho chúng tôi nghe. Chúng tôi cũng rất mê văn học, nhất là người chị ruột tôi, chị đã biết làm thơ từ năm 8 tuổi. Chị thuộc rất nhiều chuyện vần, thơ, ca dao, chị thường đọc và cũng hay kể chuyện cho tôi nghe sau khi bố tôi vào Sài Gòn sinh sống.

Mẹ tôi mất từ hồi tôi còn rất bé, chúng tôi ở với bà. Bà tôi cũng là một kho chuyện cổ tích và ca dao. Khi chửi rủa bà tôi cũng dùng những câu chửi vần của dân gian.

Khi vào Sài Gòn, bố tôi còn để lại mấy tủ sách, chúng tôi đọc ngấu nghiến hết cả, có cái hiểu, có cái chẳng hiểu nhưng rất say mê.

Những truyện của Nam Cao, Nguyên Hồng mỗi khi đọc tôi thấy sao mà giống cuộc sống xung quanh tôi thế. Tôi có cảm giác là tôi cũng có thể viết được như vậy một cách dễ dàng. Và tôi đã khao khát được viết.

Nhưng say mê hơn cả vẫn là thơ.

Tôi đọc thơ của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Huy Cận, Xuân Diệu rất say sưa. Đằng sau những bài thơ bao giờ tôi cũng cảm thấy bao điều kỳ diệu. Và tôi tin rằng các nhà thơ là những vị thánh. Cho mãi đến bây giờ tôi vẫn thấy thơ là một nghệ thuật kỳ diệu, nhưng khó mà đi tới, mặc dầu vậy không bao giờ bỏ được thơ”.

Có thể nói, hai đoạn viết liền nhau, tổng cộng trên 500 từ này là “lời khai” chân thật, chân thành về những khó khăn gian truân thuở Xuân Quỳnh từ nghề múa chuyển sang học và làm nghề văn, cũng là những tâm sự gan ruột mà hồn nhiên về sức quyến rũ của nghề văn đối với Xuân Quỳnh. Một đoạn văn đáng để gửi lại cho hậu thế.

13/10/2022

Lại Nguyên Ân

Nguồn: TTCT

Theo https://vanvn.vn/

 

Truyện ngắn Phùng Văn Khai: Dấu ấn khúc dạo đầu

Phùng Văn Khai thuộc số các nhà văn ưa kiểm định mình bằng những trải nghiệm thể loại. Trong khoảng hơn hai mươi năm cầm bút, anh đã in gần 30 đầu sách bao gồm truyện ngắn, bút kí, thơ, tiểu thuyết và gần đây là các chân dung lịch sử và chân dung văn học.

Có thể nói, bằng sự nỗ lực sáng tạo không ngừng, Phùng Văn Khai đã tạo được những dấu ấn đáng kể cho mỗi sự lựa chọn thể loại ấy. Và, hẳn nhiều người sẽ đồng ý rằng, để tạo nên gương mặt văn chương Phùng Văn Khai hôm nay, truyện ngắn từng là thể loại có số phiếu bầu cao nhất.

Thực tiễn cho thấy, truyện ngắn chưa bao giờ là một “bài tập dễ” hay một “bài tập đầu đời” như có người ngộ nhận, mà ngược lại, chính những đỉnh cao, những mẫu mực đã có và cả những “gông cùm” của thể loại luôn là những thách đố khiến người viết có thể sờn lòng. Viết văn vốn dĩ dễ trắng tay. Với truyện ngắn thì có vẻ càng như vậy. Anh sẽ khám phá được gì đây, lựa chọn lối viết nào đây khi mà mọi thứ dường như đã được viết ra ở đâu đó vào một lúc nào đó rồi.

Kỳ vọng vào một cuộc cách tân cho thể loại trong hoàn cảnh hiện nay có lẽ là không tưởng. Trong tình thế viết đầy thử thách ấy, Phùng Văn Khai và nhiều cây bút khác cùng thế hệ mình, dường như không còn sự lựa chọn nào khác, đã phải “lách luật”, phải bứt phá ngay trên chính những bờ vùng bờ thửa tưởng như đã đông kết ấy, để rồi làm đứt gẫy dần chính những sự đông kết ấy.

Đọc truyện ngắn Phùng Văn Khai, không thấy sự làm dáng chữ nghĩa, cũng không thấy các kiểu “lạ hóa” cấu trúc văn bản. Điều này cũng có nghĩa, viết truyện ngắn, Phùng Văn Khai không lấy cách tân hình thức làm đầu. Ấn tượng đầu tiên trong thế giới truyện của Phùng Văn Khai là sự đồng hành và chung sống của nhà văn với những kiếp người bất hạnh khổ đau. Có thể nhận ra, kiểu con người lam lũ, bất hạnh khổ đau đã tạo thành tâm điểm tự sự trong thế giới nghệ thuật của anh.

Truyện ngắn Phùng Văn Khai gợi ra nhiều ám ảnh. Trước hết là ám ảnh chiến tranh. Viết về chiến tranh, Phùng Văn Khai quan tâm đến những thân phận đằng sau tiếng súng. Có lẽ chính cái khoảng lặng ấy đã làm nên chất ưu tư sâu lắng cho các sáng tác của anh. Và cũng do thế, truyện của anh thường hay hơn ở những phần thể nghiệm thân phận con người đằng sau chiến cuộc.

“Cúc tần sông” là câu chuyện day dứt về một thế giới người phải sống và yêu trong sợ hãi. Chiến tranh đã biến họ, thầy Hoàn, cô Phương, tình yêu của họ, và hình như tất thảy, thành kẻ thua cuộc. Sự thinh lặng của dòng sông sau hoang tàn đổ nát, chút thoáng se lòng của người cầm bút nơi kết truyện đã để lại một âm hưởng sâu xa.

“Bên bến đò Lăng” mang một nỗi buồn khan, hoang vắng. Một tiếng nấc nghẹn. Cả những giọt nước ầng ậc chỉ trực trào ra nơi khóe mắt. Bến Lăng thăm thẳm tuổi thơ, đọt cúc tần, giậu tơ hồng và hình như cả chút thoáng ẩn ức khác giới từ cõi mịt mù của vô thức. Bến Lăng, dì Lụa, bà ngoại, cái mô-tip “bến đợi”, “người đàn bà chờ” thêm một lần được nhà văn diễn giải tinh tế, xúc động.

Nếu “Cúc tần sông”, “Bên bến đò Lăng” gợi ra những ám ảnh hậu chiến thì “Người đàn ông và bức tường” lại có sự chen lấn gợi cảm giữa những ký ức tang thương với cái hỗn tạp của đời sống đương đại. Không chốn nương thân, người đàn ông thảng thốt trốn chạy và lẩn tránh cuộc đời. Dường như anh chỉ tìm thấy chút bình yên sau cùng trong một thế giới khác – thế giới lặng câm của đứa bé tật nguyền, cái “thế giới không có tiếng người và tiếng súng. Thế giới không có lừa lọc và những cánh rừng cháy”. Nhưng đó lại là thế giới mà sự đau đớn được thắt buộc lại đến kì cùng.

Truyện ngắn Phùng Văn Khai cũng có những trải nghiệm hay về người lính. Nếu “Những người đốt gạch” dựng nên cái đẹp nguyên sơ đầy chất lính trong lấm láp đời thường thì “Cống ngầm” lại là một bài hát đau thương ngợi ca con người, ngợi ca người lính. Ở đó, chính từ cái kết cục đầy xót xa đã ánh lên lấp lánh phẩm chất người từ những hy sinh không cần hồi đáp, vọng âm. “Người đàn ông có bàn tay cụt ngón” lại là một ám dụ về thân phận lính khi họ rời cây súng. Những con người dũng cảm và rất đỗi thiệt thòi kia, rất nhiều khi, ở những góc khuất của lịch sử, của cuộc đời, họ đã bị lãng quên. Một nỗi niềm khôn khuây, một điều riêng thầm kín mà tác giả muốn nhắn nhủ với chúng ta chăng?

Đọc truyện ngắn Phùng Văn Khai, còn có thể nhận ra ở tác giả một cảm niệm sâu sắc về nông thôn và thân phận người nhà quê. Trước hết, đó là sự chung sống cùng của nhà văn với bao khốn khó lao lung, với những khuất khúc của cuộc đời người dân đen trong những thời khắc ngặt nghèo của lịch sử. “Bên kia sông”, “Mênh mông trời nước” là những truyện ngắn hay nằm trong trường hợp này.

Truyện về nông thôn của Phùng Văn Khai mang tính thời sự sâu sắc. Viết về nông thôn, anh quan tâm đến cái nhà quê thời loạn. Công nghiệp hóa kề cận với bần cùng hóa và lưu manh hóa. Nếu “Hương đất nung”, “Những người đốt gạch” như còn phảng phất đâu đây mùi lửa bén của hương đất, tình đời thì “Bệnh xá thị trấn”, “Hương ngọc lan” lại mang hơi thở bề bộn của đời sống hôm nay. Thời buổi nhố nhăng là cơ hội để quan tham nhũng nhiễu, một lời cảnh báo của nhà văn về sự bần cùng hóa, lưu manh hóa con người theo kiểu mới, phải vậy chăng?

Một đóng góp có ý nghĩa khác của Phùng Văn Khai vào đời sống văn xuôi đương đại là các truyện ngắn có đề tài lịch sử. Viết truyện lịch sử, Phùng Văn Khai khéo xen cài số phận cá nhân với số phận của cộng đồng, của dân tộc. Mượn xưa để nói nay có lẽ cũng là một ẩn ý kín đáo của nhà văn. Truyện ngắn lịch sử của Phùng Văn Khai còn hấp dẫn bởi chất suy tư sâu lắng ẩn tàng qua từng con chữ, bởi khả năng khơi gợi tình yêu quê hương đất nước mãnh liệt thẳm sâu. Những tiếng trầm của núi sông, của con người, cảnh vật, qua khả năng hư cấu và diễn giải của nhà văn nhiều khi khiến người ta run lên vì xúc động. “Hồn Quỳnh”, “Huyền thoại sông Lăng”… là những thí dụ tiêu biểu cho trường hợp này.

Đọc Phùng Văn Khai, người ta không khỏi bất ngờ bởi mảng truyện về vùng cao. “Nước mắt trúc”, “Đêm trăng thiêng”, “Tiếng khèn”… là những bằng chứng cho thấy khả năng nắm bắt, diễn tả ngôn ngữ, tính cách người vùng cao Tây Bắc, Tây Nguyên khá nhuần nhuyễn của tác giả. Lại có thể nhận ra trong “Thập bát điền trang” một câu chuyện đầy nhân bản và những diễn tả tinh tế, sâu sắc thế giới tâm tư các nhân vật nữ.

Truyện ngắn Phùng Văn Khai còn ám ảnh bởi các dòng sông. Dường như luôn có một nhịp đập thẳm sâu trong trái tim và điệu hồn của người nghệ sĩ về những bến sông thuở xa xưa. Sông Lăng hay những dòng sông vô danh thời thơ ấu. Rồi những hồn quỳnh, hương ngọc lan, hương nhài, hương sen… những tinh thể của tự nhiên luôn hiện ra vừa mãnh liệt vừa pha chút khắc khoải, bất an… Tôi rất thích các trang văn anh tả những chuyến tàu đêm. Hoang vắng và cô độc. Cả những miền sơn khê lạnh giá. Những đầm ao đầy ắp ký ức thuở xa xưa…

Đọc truyện ngắn Phùng Văn Khai, thấy hình hài thân phận con người in dấu bóng đậm sâu. Có lẽ bởi cái tự nhiên của cảm xúc, bởi sự chân thực của cái nhìn nên truyện ngắn của anh không lộ ra kỹ thuật. Phùng Văn Khai cũng được xem là người khéo tạo tình huống và không khí truyện. Ngôn ngữ người kể chuyện trong tác phẩm của anh lôi cuốn, ở các truyện lịch sử đôi khi còn khoát hoạt hào sảng, thể hiện được sự tài hoa.

Nhiều truyện ngắn của Phùng Văn Khai đã hé lộ được chất giọng riêng của anh: vừa nồng nhiệt ân tình vừa xót xa, vừa sâu lắng trầm tư vừa phảng phất giang hồ phiêu dạt. Văn miêu tả của Phùng Văn Khai tinh tế. Anh luôn có cách thức riêng trong diễn đạt những điều mình quan sát, lắng nghe. Những “gục gặc”, “khào khào”, “hút hắt”, “vít vổng”, “nủ nín” trong văn anh khiến thiên nhiên, con người dường như sống động hơn. Chắc hẳn, tâm hồn mẫn cảm và cái “hồn vía nhà quê” đã giúp anh rất nhiều.

Đọc các truyện ngắn của Phùng Văn Khai ở buổi đầu, dễ nhận ra một trạng thái sáng tác rõ rệt của anh: thái độ chân thực, sự phê phán riết róng cộng sinh với cái nhìn nhân bản. Tuy nhiên, chính điều này đôi khi cũng gây bất lợi cho tác giả trong tiết chế cảm xúc và chế ngự cấu trúc mạch truyện, và đôi khi, người viết đã vô tình làm lộ ra chủ ý của mình. Giờ đây, khi cái hăm hở nồng nhiệt của người mới viết được thay thế bằng sự sâu lắng của suy tư, khi tinh thần phê phán được hoán đổi bằng sự đào bới bản thể tâm hồn và sự lí giải chiều sâu thân phận con người, thì cũng là lúc văn chương Phùng Văn Khai đã vào độ chín.

Gần đây, Phùng Văn Khai bứt phá sáng tạo sang lĩnh vực tiểu thuyết. Là một nhà văn chuyên nghiệp, chắc anh hiểu, tiểu thuyết không phải là sự kéo dài giản đơn của truyện ngắn, mà là một con đường riêng với những tiềm thể và thách thức riêng. Điều đáng mừng là, “Hư thực”, “Hồ đồ” (với những thể nghiệm sâu về thi pháp) và đặc biệt là sáu cuốn tiểu thuyết lịch sử đồ sộ “Phùng Vương”, “Ngô Vương”, “Nam Đế Vạn Xuân”, “Triệu Vương phục quốc”, “Lý Đào Lang vương”, “Lý Phật Tử định quốc” của anh vừa mới ra đời đã gây tiếng vang trong giới phê bình và bạn đọc.

Có thể nói, việc nhà văn sáng tác được trên nhiều thể loại cũng có lợi thế giống như một người đấu võ biết được nhiều thế đòn, miếng đánh. Anh ta dường như có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn tư thế phát ngôn và mở rộng chân trời sáng tạo cho mình, và hiển nhiên, cũng phải đối mặt với những bất trắc, hiểm nguy. Hãy còn sớm để có thể tổng kết về Phùng Văn Khai, song theo tôi, anh là người có nhiều duyên phận với truyện ngắn. Và chính trong khúc dạo đầu đầy thử thách này, anh đã tạo được một dấu ấn riêng, một dấu ấn mang tính bản thể của người cầm bút.

13/10/2022

Phùng Gia Thế

Theo https://vanvn.vn/

 

Trước hữu hạn thời gian      

Mùa thu là đề tài quen thuộc trong thơ của Đỗ Trung Lai. Mùa thu đã trở thành một không gian văn hóa, một thế giới nghệ thuật ám ảnh thi sĩ. Đỗ Trung Lai viết nhiều về mùa thu. Qua những bài thơ thu ấy, nhà thơ gửi gắm những tư tưởng, cảm xúc của mình trước thiên nhiên vạn vật. “ Đêm thu, dắt cháu vào phố cổ” là một bài thơ như vậy.

ĐÊM THU, DẮT CHÁU VÀO PHỐ CỔ

(Thân yêu tặng Mũm – cháu ngoại đầu)

Dắt Mũm chơi hè phố xưa

Đèn đường xua tan sương mờ

Sáng rực trên nền lá biếc

Một chiếc lá bàng vàng mơ

Vàng mơ trỏ về Cuối thu

Cuối thu là nơi ông ở

Chỉ vì theo cháu bi bô

Mà đêm, ông còn ra phố

Cháu đòi, ông tìm mọi cách

Lấy cho bằng được lá vàng

Lá cầm tay rồi, cháu hỏi

Giả nhời, dễ phải ngàn trang

– Ông ơi! Lá vàng tên gì?

– Lá vàng tên là Hữu hạn!

– Ông ơi! Hữu hạn là gì?

– Nghĩa là Rồi xa muôn dặm!

– Ông ơi! Muôn dặm là gì?

– Ấy là Ra ngoài tầm mắt!

– Ra ngoài tầm mắt là gì?

– Là đã Hình xa bóng khuất!

– Hình xa bóng khuất là gì?

– Là Cuối giời hay Lòng đất!

– Cuối giời, Lòng đất là gì?

– Là Cháu không còn ông dắt!

– Sao cháu lại không còn ông?

– Kìa! Khéo lá vàng bay mất!

Lời bình:

1. Bài thơ là một câu chuyện. Bố cục bài thơ có hai phần rõ: nửa đầu là không gian nghệ thuật của thi phẩm, nửa sau là cuộc đối thoại giữa ông và cháu.

Một đêm “cuối thu” đầy “sương mờ” ông dắt cháu ra phố chơi. Không gian tịch mịch về đêm chắc có chút se lạnh. Rồi cảnh vật của phố cổ xưa cũ…Tất cả, sẽ gợi ở người đi dạo nhiều xúc cảm, suy tư.

Điểm sáng của bức tranh đêm thu là chiếc lá vàng:

“Sáng rực trên nền lá biếc

Một chiếc lá bàng vàng mơ”

Một chi tiết điển hình. Giữa biết bao biểu trưng của mùa thu: trời thu, gió thu, hoa thu, trăng thu, mưa thu…tác giả chọn “lá vàng”, bởi đây là hình ảnh mang tính biểu tượng nhất. Lá vàng thường được coi là thông điệp, là vị chủ nhân quý phái của mùa thu. Mùa thu cám dỗ người ta thường bằng chiếc lá vàng rơi.

Một chi tiết đáng lưu ý nữa trong hai câu:

“Vàng mơ trỏ về Cuối thu

Cuối thu là nơi ông ở”

“Cuối thu” vừa là không gian (nơi ông ở), vừa là thời gian. Đêm nay là một đêm “cuối thu”, tuổi của ông cũng đang ở chặng “cuối thu”, sắp bước sang mùa đông- chặng cuối của cuộc đời.

Như vậy, làm nhiệm vụ giới thiệu không gian thơ nhưng nửa đầu bài thơ đã hé lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình, trong cảnh đã có tình.

2. Nửa sau bài thơ có thể coi là trọng tâm, “nặng” cái tình của nhân vật trữ tình và cũng là của người viết.

Đoạn đối thoại giữa hai ông cháu có những câu hỏi của cháu tuy ngây thơ nhưng mang tính chất vấn về những vấn đề nhân sinh, không dễ để ông trả lời, bởi : “Giả nhời, dễ phải ngàn trang”. Những câu trả lời của người ông mang những suy niệm giàu tính triết luận. Ông trả lời cháu nhưng thực ra là tự ngẫm, tự “nói” với mình, tự lang thang trong thế giới nội cảm của mình.

Qua chiếc lá vàng cuối thu được đặt tên là “Hữu hạn”, người ông cảm thấy sự chóng vánh của thời gian trần thế, sự vô thường của kiếp người trong cõi phù sinh.

“Sinh, lão, bệnh, tử” là quy luật tất yếu của đời người. Dù người có địa vị cao hay thấp, giàu hay nghèo, nam hay nữ hầu hết đều trải qua bốn giai đoạn này. Chặng cuối (“tử”) đã được người ông “hình tượng hóa” để cho cháu dễ hiểu, dễ tưởng tượng.“Hữu hạn” là “Rồi xa muôn dặm”, là “Ra ngoài tầm mắt”, là “đã Hình xa bóng khuất”, là “Cuối giời hay Lòng đất”. Và cuối cùng: “ Là Cháu không còn ông dắt”. Liên tiếp, người ông dùng khái niệm này để giải thích, làm rõ nghĩa cho khái niệm kia, mà bắt đầu từ khái niệm “Hữu hạn”. Tất cả đều giống nhau ở nghĩa chia ly, xa thẳm, mất mát… Thời gian trôi qua nhanh chóng. Thời gian một đi không trở lại. Sự mất mát đang diễn ra ngay trong hiện tại. Dường như con người đương sống ấy đã nghĩ mình đang dần thuộc về quá khứ ?!

Những câu thơ thật ám ảnh, thật khắc khoải, thật buồn; buồn đến tê tái, thấm thía. Đó là nỗi buồn cho cái hữu hạn của đời người trước vô hạn của thời gian thiên nhiên vũ trụ, nỗi buồn nhân sinh, nỗi buồn của rời xa mãi mãi. Buồn và cả bất an, bất lực, cô đơn…Đời người, ai cũng phải đối diện với điều sâu thẳm ấy.

Cảm nhận  của người thơ ở đây thật sâu sắc. Bi kịch của đời người là chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên. Thời gian là cái chết, một cái chết không thể đảo ngược, không thể cứu vãn, vì thế nó trở thành ám ảnh. Ám ảnh về cái chết có lẽ là ám ảnh lớn nhất với mỗi đời người, vì mỗi bước trôi qua là một bước con người xích lại gần hơn với cái chết. Cái chết là một giới hạn có tính mặc định. Chính vì vậy, nhà thơ Vũ Quần Phương cũng từng tự ngẫm:

“Khó ghì chỉ một ngày xa

Một ngày xa nữa là qua một đời”

Nhưng với bản chất là một thi sĩ, Đỗ Trung Lai không cam chịu trước mặc định ấy mà luôn tìm cách nới rộng giới hạn kia, để “chiến thắng” thời gian. Khi nghe cháu hỏi ngây thơ: “Sao cháu lại không còn ông?”, người ông dù đang suy tư, chợt sực tỉnh trở lại với thực tại. Né tránh không trả lời (có lẽ không muốn làm cháu tổn thương), ông nhắc: “Kìa! Khéo lá vàng bay mất”. Thế là, bao nỗi buồn lo, khổ não trong chốc lát như tan biến mất. Chỉ còn chiếc lá vàng trên tay. Chỉ còn mùa thu của đất trời đang hiện hữu. Đó là một cái nhìn tươi sáng xuất phát từ ý nghĩ tích cực: cuộc sống vốn vô thường và ngắn ngủi, phải biết trân trọng hiện tại dù là một chiếc lá vàng đã lìa cành.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến câu nói của nhà văn Anais Nin: “Tôi trì hoãn cái chết bằng cách sống, bằng khổ đau, bằng sai lầm, bằng mạo hiểm, bằng cho đi, bằng mất mát”; nghĩa là: “sống” tận cùng, “sống” hết mình trên thế gian. Hiểu rằng mình sẽ già đi, mình sẽ biến mất khỏi thế gian này như một lẽ tự nhiên, có nghĩa là người thơ sẽ yêu quý từng ngày còn lại và biết dùng nó một cách có ý nghĩa nhất. Phải chăng, đó là thông điệp mang tính nhân văn của bài thơ.

“Đêm thu, dắt cháu vào phố cổ” của nhà thơ Đỗ Trung Lai là một bài thơ giản dị, xúc động, ám ảnh.

Hải Dương, 14/10/2022

Nguyễn Thị Lan

Theo https://vanvn.vn/

 

Những người viết trẻ tự sự về quá khứ

“Những người viết trẻ tự sự về quá khứ”. Nhưng ở đây tôi không đề cập quá khứ cá nhân hay lịch sử đời tư của họ, mà tôi muốn nói đến quá khứ của đất nước, quá khứ của dân tộc, như là đối tượng hay chất liệu để những người viết trẻ hình thành tự sự nghệ thuật của mình. Hoặc theo cách diễn đạt đã có phần quen nhàm: viết về đề tài lịch sử. Chính cái đó, cái quá khứ/ lịch sử xa xôi, bất khả vãn hồi, trong nhiều trường hợp là không sao nắm bắt được nữa, đã và đang tạo thành lực hấp dẫn rất mạnh với một lớp người viết trẻ ngày hôm nay.

Vài năm trước, trong văn chương Việt Nam đương đại đã có một tập truyện ngắn lịch sử khá ấn tượng là Con chim phụng cuối cùng của Nguyễn Thị Kim Hòa, gồm 9 truyện; có tập truyện ngắn Xác tín mùa của Trần Quỳnh Nga, với 6 trên 19 truyện là truyện lịch sử; có tiểu thuyết Mộ phần tuổi trẻ của Huỳnh Trọng Khang, lấy bối cảnh lịch sử là Sài Gòn trong chiến tranh Việt Nam. Riêng trong năm 2021 vừa qua, đọc nhanh cũng có thể gọi ra được tên vài tác phẩm thuộc loại này: tiểu thuyết Vua Thành Thái của Nguyễn Hữu Nam, tiểu thuyết Nắng Thổ Tang của Đinh Phương, tập truyện ngắn Chuyến bay tháng ba của Lê Khải Việt.

Tiểu thuyết Vua Thành Thái của Nguyễn Hữu Nam, theo tôi, vẫn là tiểu thuyết về một “lịch sử xa”, tức lịch sử của những vương triều quân chủ chuyên chế, với những ông vua bà chúa hoặc rực rỡ uy quyền trên ngôi báu, hoặc lầm lụi buồn thương khi tàn cuộc. Nhà nghiên cứu Thái Phan Vàng Anh từng nhận định: “Với 13 chương, 13 mảnh ghép của vô vàn sự kiện, tình huống được tháo tung, xáo trộn, gắn với các mảnh không gian, thời gian rời rạc, phi tuyến tính, tiểu thuyết Vua Thành Thái của Nguyễn Hữu Nam đã đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác trong khám phá về số phận của một nhân vật lịch sử sống trong bóng tối nhưng không đen như bóng tối, cuốn người đọc vào cuộc giải mã những ẩn uất, khoảng khuất phận đời trầm luân như một vết cắt vô cùng ấn tượng giữa dòng lịch đại.” Thật ra, cái đáng đọc nhất, cũng như toàn bộ sự hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết lịch sử này không nằm ở “cái được viết”, mà nằm ở “cái viết”. Bởi vì, những biến cố lớn trong cuộc đời của Thành Thái, vị hoàng đế thứ mười của triều Nguyễn, ta đều có thể đọc được trong các sử liệu cũng như trong những giai thoại dân gian truyền tụng về ông, mà khi viết tiểu thuyết Vua Thành Thái, Nguyễn Hữu Nam đã sử dụng lại hết và hầu như không thêm vào cái gì mới. Từ việc hoàng tử Nguyễn Phước Bửu Lân lên ngôi, trở thành một vua Thành Thái có tinh thần cấp tiến, ham học hỏi, đa tài, và nhất là thái độ chống đối, ý chí bất tuân phục sức mạnh áp chế của thực dân Tây phương, đến những câu chuyện về vị vua giả danh “tầm gái” để bí mật thành lập đội nữ binh, lấy cớ vẽ chân dung để thực hiện những bản thiết kế vũ khí chống Tây, rồi việc nhà vua giả điên và bị người Pháp ép phải thoái vị, bị đày ra đảo La Réunion, thành phố Saint-Denis, để sống cuộc đời một phế đế, sống và nuôi gia đình mình bằng lao động chân tay thuần túy chứ quyết không nhận bất kì ân huệ nào của chính quyền thực dân, rồi cuối đời mới được hồi hương, chết trong bệnh tật và nghèo khó trên đất đai xứ sở… Tất cả đều có đó, sẵn đấy, và việc của nhà tiểu thuyết là nhào nặn chúng, tháo và lắp, khi thì đặt chúng trong điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba số ít, lúc lại phát lộ chúng trong điểm nhìn của người kể chuyện xưng “tôi”, là hoàng tử Vĩnh Giu, một nhân chứng sống cho giai đoạn phế đế của cựu hoàng Thành Thái. Và tạo những điểm nhấn trội bật trong tính cách của nhân vật, là tài hoa và hùng khí. Tài hoa của một vị hoàng đế tinh thông và đầy đam mê với nghệ thuật, nhất là nghệ thuật tuồng cung đình: tài hoa đến mức có thể nhập tâm để sống cùng, đến tận độ, cái dị biệt của người nghệ sĩ biểu diễn. Hùng khí của một vị hoàng đế vô cùng khắc kỉ là không bao giờ chấp nhận thỏa hiệp với kẻ địch, coi ngai vàng như cái gông cùm đế vương mà mình phải mang suốt đời, dù tại vị hay khi phải sống kiếp lưu đày. Bi kịch của nhân vật vua Thành Thái là ở đó: bi kịch của sự kiêu hãnh vô song trong thân phận lầm lụi, bi kịch của những mệnh lệnh đạo đức nhất quyết phải thực hiện trong một thế giới đã đổ nát và không còn thuộc về mình. Cái nhìn xoáy vào lịch sử của Nguyễn Hữu Nam trong tiểu thuyết Vua Thành Thái là như thế.

Về tiểu thuyết Nắng Thổ Tang của Đinh Phương, bản thân tôi đã viết một tiểu luận có tên Viết lịch sử, trường hợp Đinh Phương (báo Văn Nghệ, số 3, ngày 15.1.2022) nên ở đây chỉ nhắc lại vài ý. Thứ nhất, trở đi trở lại với hai cái mốc thời gian quá khứ là năm 1930 và năm 1954, nhưng Đinh Phương dường như không quan tâm đến những diễn giải lịch sử theo định hướng chính thống quen thuộc, mà bị hút vào những “lịch sử khác”, những lịch sử ít được nói đến, và kể những câu chuyện của mình bằng cách neo bám, vờn quanh những lịch sử ít được nói đến ấy, để tạo cho tác phẩm một vi khí hậu văn hóa “giả lịch sử” đậm đặc. Ví như, với năm 1930, Đinh Phương kể những câu chuyện xoay quanh sự kiện 13 lãnh tụ Quốc dân đảng bị chặt đầu tại Yên Bái, chứ không phải sự kiện ba tổ chức cộng sản hợp nhất thành một chính đảng, là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hay như, với năm 1954, những câu chuyện Đinh Phương kể liên quan rất ít đến chiến thắng Điện Biên Phủ của quân đội Việt Minh, mà lõi của nó chính là cuộc di dân lớn chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam, theo chiều từ Bắc vào Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm đường phân giới. Và hai cái mốc thời gian quá khứ ấy lại không hề chia tách với hiện tại, chúng luôn bị hút vào nhau theo những cách quỷ quyệt nào đấy. Các nhân vật cũng vậy, dù người xưa hay người nay, đều được nối với nhau bằng vô vàn liên hệ kì quặc và không nhân vật nào bị bật ra ngoài. Thứ hai, tự sự về quá khứ trong Nắng Thổ Tang của Đinh Phương có sử dụng kĩ thuật siêu hư cấu – nói ngắn gọn, như Patricia Waugh từng chỉ ra trong công trình nghiên cứu Siêu hư cấu của bà (Phạm Tấn Xuân Cao dịch): siêu hư cấu là để cho nhà văn kể một câu chuyện khác trong lòng tiểu thuyết – và với kĩ thuật này, qua chi tiết hai cuốn sổ bìa da màu xanh, Đinh Phương đã dựng lên một nhân vật đóng giả linh mục, kẻ hằng muốn “men theo các đường biên, đi giữa lằn ranh của các cuộc di chuyển lớn”, chỉ để hiểu nó. Bằng những gì mà anh ta ghi chép trong hai cuốn sổ, cuộc di dân 1954 đã hiện lên như một cơn li loạn tơi bời, với đủ trộm cắp, lừa đảo, cướp giật, bất hiếu, cưỡng dâm, hủ hóa, giết người. Bất cứ ai cũng không đáng tin. Bất cứ một kẻ nào cũng phạm cái ác. Cộng thêm với hai từ khóa “phản bội” và “giết người” trong những câu chuyện được kể quanh cái mốc năm 1930 nữa, Đinh Phương đã biến quãng thời gian quá khứ từ 1930 đến 1954 thành cả một thế giới đảo điên trong sự ác, thậm chí có những sự ác được vinh thăng nhờ kĩ năng giết người hết sức ghê gớm của nó, ví như cái nghề đao phủ mà tác giả đã dành tương đối câu chữ để mô tả. Nói chung, với tiểu thuyết Nắng Thổ Tang, người viết trẻ Đinh Phương ít nhất đã làm được một việc: nhấn sâu hơn nữa niềm tin xác quyết rằng tiểu thuyết lịch sử không phải là kể chuyện lịch sử, cũng không quá nệ lịch sử. Vì tiểu thuyết lịch sử, tạm mượn cách nói của nhà mĩ học người Anh Ch.Caudwell, cần phải là một ảo ảnh về lịch sử.

Tập truyện ngắn Chuyến bay tháng ba của Lê Khải Việt, quả thực, là một bất ngờ lớn với tôi khi nói vấn đề tự sự về quá khứ của những người viết trẻ trong năm 2021. Lê Khải Việt sinh năm 1983 tại Sài Gòn, tốt nghiệp luật kinh doanh quốc tế tại Đại học Monash, Australia năm 2013. Anh từng hành nghề luật, rồi kiểm toán, nhưng đam mê thực sự thì chỉ là nghiên cứu chiến tranh Việt Nam, và văn chương. Tập Chuyến bay tháng ba gồm 12 truyện ngắn, có thể xem như chùm quả ngọt văn chương đầu tiên của những niềm đam mê ấy. Người ta từng nói, và sẽ còn nói, rất nhiều, về viết chiến tranh trong chiến tranh và viết chiến tranh sau chiến tranh, viết chiến tranh của những người từng đi qua chiến cuộc và viết chiến tranh của những người không tham gia cuộc chiến, viết chiến tranh để ca ngợi lí tưởng chính nghĩa và viết chiến tranh để lên án chiến tranh. Nhưng Lê Khải Việt, theo tôi, là kẻ đứng ngoài những phân chia ấy. Anh viết chiến tranh không phải để kết luận, mà là để cố gắng thấu hiểu nó, hơn thế, để được sống trải cảm giác của người trong cuộc, ở những không gian và những tình huống khả thể của chiến tranh. Bằng cách, như nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch chỉ ra trong bài viết Khi quá khứ không thôi là ám ảnh: “Không giống Phan Thúy Hà hay Võ Diệu Thanh, Việt chọn một cách đi khác để làm sống dậy những di chỉ của quá khứ: từ những tàn tích cũ (một hồi ức, một tấm ảnh, một văn bản…) anh cố gắng hư cấu và lấp đầy cái khung sơ sài của những biến cố với một nỗ lực ghê gớm nhưng cũng có phần vô vọng là trả lại cho quá khứ trạng thái sống động, trong thời hiện tại không tiếp diễn của nó.” Ngay ở truyện mở đầu tập truyện, Người đàn ông trung niên, một truyện chỉ khoảng bốn trang in khổ 13 x 20,5cm, Lê Khải Việt đã cho thấy phần nào kiểu hư cấu đặc trưng của mình. Không nhiều nhặn gì: một cựu binh Mĩ trở lại Việt Nam sau 45 năm, dừng chân trước số nhà 22 Lý Tự Trọng, nơi mà vào những giờ phút cuối cùng của Sài Gòn ông đã lên chiếc trực thăng cuối cùng, bay đi. Lúc đó, bất chợt quá khứ tấn công ông bằng một lằn chớp của kí ức: “Ánh mắt của đứa bé như một miếng đạn cối nóng hổi xé toang lớp cơ ngoài và nội tạng, để rồi bắn ra phía bên kia cơ thể của người cựu chiến binh.” Đứa bé ấy nằm trên bàn tay người mẹ đang bị nhấn chìm trong đám đông hỗn loạn trước cửa tòa đại sứ Mĩ, nhưng ánh mắt của nó thì bình thản một cách lạ lùng, như hoàn toàn đứng ngoài tất cả hỗn loạn. Người cựu binh Mĩ chẳng có liên hệ gì với hai mẹ con này, ánh mắt của ông và ánh mắt của đứa bé chỉ giao nhau chưa đến một giây, nhưng ánh mắt ấy đã kịp găm vào trong ông như một kíp nổ, và rồi nó đã nổ đúng lúc, sau 45 năm, khi tất cả mọi chuyện tưởng như đã bị xóa sạch trong cái đời thường nhàn nhạt của thời hậu chiến. “Số phận của những ánh mắt bé thơ bây giờ chỉ còn là vấn đề của những người đàn ông trung niên Việt Nam.” Lê Khải Việt đã khép lại truyện ngắn của mình bằng một bình luận nửa trực tiếp khá thản nhiên như thế. Nhưng không phải truyện nào trong tập truyện ngắn này cũng hình thành từ cái lõi là một cú xây xẩm thoáng qua như truyện Người đàn ông trung niên. Ở những truyện như Nước đen, Chuyến bay tháng ba, Một nghiên cứu, Truyện số…, nhân vật đã thực sự bước vào cuộc hành xác tinh thần trong việc tìm về và truy vấn quá khứ chiến tranh. Họ sống lại với những nghịch cảnh, những tình huống éo le, tàn bạo, thảm khốc, thậm chí cả tội ác của mình. Chiến tranh không ngớt ám ảnh, dằn vặt họ, hoặc như một sang chấn tinh thần không thể chữa lành, hoặc như một cáo buộc lương tri không cách gì biện hộ. Nếu không, họ buồn thê thiết trong thân phận của những di dân, như ở truyện ngắn Bốn mùa của vùng sa mạc, hay đem nỗi đau buồn kí ức mà trút vào văn chương triết lí, để rồi nhận lại nhiều đau buồn hơn nữa, như trong truyện ngắn Tháng ba ở ngã ba mà chúng ta. Có thể nói, với tập truyện ngắn Chuyến bay tháng ba, Lê Khải Việt đã làm hình thành cả một sưu tập chứng tích chiến tranh của một người trẻ, nhưng là một người không ngừng tìm kiếm cái cảm giác sống trải ở bên dưới những tàn tro quá khứ.

“Những người viết trẻ tự sự về quá khứ”. Chỉ xét riêng năm 2021 thôi, tôi không chắc mình đã đọc được tương đối đầy đủ các tác phẩm nằm trong giới hạn này. Nhưng bằng những ví dụ kể trên, dù là “quá khứ xa” hay “quá khứ gần”, thì tự sự về quá khứ trong văn chương đương đại của những người viết trẻ hình như cũng báo hiệu vài điều gì đó đang chuyển động, mới mẻ và đầy hứa hẹn, ở chính cái cách họ đánh thức và tái cấu trúc quá khứ.

14/10/2022

Hoài Nam

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Theo https://vanvn.vn/

 

“Trên bãi biển đời ngao” – Vẻ đẹp của cái chết sống lại

Tạp chí Sông Lam số tháng 9.2022 đăng chùm thơ 2 bài của Đinh Ngọc Diệp, trong đó bài “Trên bãi biển đời ngao”. Đọc nhan đề, biết bài thơ nói về “đời ngao”. Ngao sống dưới biển, sát bùn cát. Nhiều nơi, người ta nuôi ngao trong ao, đầm nước mặn. Xác ngao, tức là vỏ của nó thảng hoặc vương vãi nơi bãi biển, xó vườn. Đấy là rác bỏ đi nhưng với nhà thơ lại là nguyên liệu của biển cho, do những thực khách dùng món thịt ngao, “hiến tặng” bộ vỏ.

Không thể nói khác, mới đọc vào câu thơ đầu tiên, chúng ta thấy tác giả ngợi ca con ngao đã chết, nó hiến cho con người thân thể bên trong rồi để lại các xác vỏ bên ngoài. Nhưng ngao chết rồi lại sống trong thơ. Thơ dễ hay khi nói đến điểu khác lạ, phi lý chỉ bằng một lát cắt đời sống. Dẫu có về ao, đầm thì nó vẫn là ngao, chẳng qua chỉ được/ bị thay đổi môi trường từ đại dương vào đất liền; nếu xét về không gian hẹp thì nó vẫn nằm dưới bùn cát nước mặn.

Thơ có sự so sánh giữa con ngao lúc đang sống và khi đã chết. Đó là những nghịch cảnh. Cái vỏ ngao bị vứt bỏ trong không gian chật hẹp nhưng lại cảm thấy mãn nguyện, được “ngự” ở xó vườn “tắm nắng”. Được xòe hai mảnh “như cánh bướm đậu. Thỏa thuê…”. Khi đã chết ngao được ung dung tự tại bao nhiêu, thì khi sống ngao cực khổ bấy nhiêu. Chẳng trách, thơ thốt lên có phần ai oán, ngậm ngùi: “…Chả bù cho lúc sống/ Hai mảnh đời ngao cắm mặt đáy bùn”. Quả thật, đời ngao thiếu đến cả từng tia nắng. Cho đến cái sự “thở” và “nhìn” của ngao cũng rất khác biệt – khác biệt ở sự khó khăn do cấu tạo của cơ thể (không bơi được như cá, không bò được như cua…) và do sống ở tầng đáy nước: “Hoi hóp bóp mồm thả li ti chùm bong bóng nước/ He hé nhìn tia nắng lọc qua ao”.

Tuy nhiên, điều tác giả muốn nói chính là vẻ đẹp của con ngao ở hai mảnh áo ngoài “rộn rực” vân nắng hiển lộ sức sống phồn thực của của phái đẹp, hồn nhiên phô bày khi đã thoát khỏi môi trường nước. Ngao khi sống cũng chỉ là một thời đoạn tạm thời, hữu hạn để vươn tới vẻ đẹp tinh thần dài lâu, để lại cho đời sau khi đã chết. Chỉ trẻ em và người có cảm năng thi sỹ mới thấy vỏ ngao đẹp khi liên hệ với vẻ đẹp khác trong tưởng tượng. Trẻ em dùng chính nó làm đồ chơi. Thi sỹ dùng hình ảnh về nó làm tứ cho bài thơ. Bài thơ đề cao cái đẹp của cái chết sống lại. Thời trang, vóc dáng của phụ nữ hiện đại được liên hệ với mảnh vỏ ngao. Dù hiện đại đến mấy, vẻ đẹp của người phụ nữ hôm nay vẫn bắt nguồn từ cuộc sống nghìn năm dân dã làm ăn của con người. Cái đẹp mới lạ đến đâu cũng không thể ở bên ngoài thế giới tự nhiên và thế giới của con người.

Thân thể bên trong của con ngao không còn nữa, một phần vật chất của sự sống đã mất đi, nhưng một phần vật chất khác là cái vỏ ngoài vẫn còn lại, rất đẹp. Nó làm sống lại tinh thần của toàn bộ con ngao. Vả chăng, thơ nói về con ngao nhưng là phép ẩn dụ về con người…

Bài thơ “Trên bãi biển đời ngao” không chỉ phát hiện một cái đẹp mà còn bày tỏ nỗi niềm san sẻ của tác giả đối với số phận của cái đẹp ấy. Đời ngao là vậy, khi sống thì lẫn với bùn, cát, không nhìn thấy ánh sáng mặt trời, khi chết đi lại sống mãi mãi bằng đôi cánh của đôi mảnh xác thân còn lại, lấp lánh, phản quang ánh trời. Bài thơ kết thúc bằng một thi ảnh đẹp, có sức ám gợi như một thông điệp:  từ mảnh vỏ chết, ngao bất ngờ hóa thân, phóng chiếu thành “áng mây chiều”, dồn lực giao cảm với nhân sinh“ búng chùm tia nắng sót”.

Dưới đây là nguyên văn bài thơ “Trên bãi biển đời ngao” tác giả Đinh Ngọc Diệp. Vanvnvn xin giới thiệu cùng bạn đọc.

TRÊN BÃI BIỂN ĐỜI NGAO

Từ bể lên. Bỏ thừa một đại dương

Hai mảnh ngao ngự xó vườn tắm nắng

Như cánh bướm đậu. Thỏa thuê. Chả bù cho lúc sống

Hai mảnh khép đời ngao cắm mặt đáy bùn

Hoi hóp bóp mồm thả li ti chùm bong bóng nước

He hé nhìn tia nắng lọc qua ao

Cây trên bờ tư hữu đường vân nắng lận trong thớ gỗ

Vân nắng của ngao rộn rực vỏ ngoài câu nhử lòng ham

Hai mảnh vải người thỗn thện che hờ

Diễn thời trang xốn mắt nơi bãi tắm

Trẻ con nhặt niềm vui vứt ở xó vườn

Mượn áng mây chiều, lưỡi ngao búng chùm tia nắng sót…

15/10/2022

Phạm Đình Ân

Theo https://vanvn.vn/

 

Nhà thơ Trần Trí Thông: “Căng dây đàn tính so lời khát khao”

Trần Trí Thông bắt đầu cho một hành trình đổi mới rất riêng, anh muốn thoát ra khỏi truyền thống để đến vơi những câu thơ cách tân, anh quan tâm về ý, tính khái quát đồng địệu và tiết tấu… Như lời nhà thơ Đoàn Văn Mật: “Thơ Trần Trí Thông có nhiều câu trời cho”…

Câu thơ viết trên ngọn rau rừng vẫn xanh màu Trường Sơn hùng vĩ. Chiến tranh đã lùi xa bốn mươi bảy năm, nhưng trong ký ức những người lính nó vẫn mới ngày hôm qua, cùng với những giấc mơ đời thường giản dị thường trực trong giấc ngủ. Rồi bất ngờ hiện ra như bộ phim tài liệu, phản ánh thời gian khó, máu lửa, hy sinh… nhưng không kém phần vinh quang tự hào, cho một thế hệ thanh niên Việt Nam đã “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”.

Và họ đã chiến đấu chống kẻ thù xâm lược bảo vệ Tổ quốc, giành Tự do – Độc lập – Thống nhất đất nước: “Trong ký ức chiến tranh của tôi / Trường Sơn xanh như chưa hề cạn bao giờ / Thổn thức trong mơ / Xanh đẫm màu áo lính…” Trường Sơn huyền thoại dưới bom đạn vô cùng ác liệt của giặc, “Vẫn che bộ đội”  vẫn cùng nhân dân “vây quân thù”. Có biết bao chiến sĩ đã tạc dáng hình của mình vào Trường Sơn, để rồi Trường Sơn mãi mãi trở thành một địa danh linh thiêng, mà mỗi lần ta đến đó, đất dưới chân ta nóng lên bỏng rát của chiến trường ác liệt: “Trường Sơn / Ngôi đền thiêng / Bao dung như lòng Mẹ/…/ Bốn mươi năm trở lại / Gặp một Trường Sơn xanh hung vĩ / Gặp tuổi hai mươi trên đường đi đánh Mỹ/ Trường Sơn ơi!”.

Lại có những câu thơ viết trên ngọn gió, đầu sóng nơi tiền đồn “phên giậu”, có những người lính đang bảo vệ chủ quyền biển đảo. Còn nơi hậu phương luôn có những điểm tựa vững chắc cho tiền tuyến anh hùng: “Anh có ngàn đêm đứng gác biển trời / Chị có ngàn ngày thay anh lo cho mẹ cha và con nhỏ/…/ Lấy chồng thời bình cũng thương thương lắm chị tôi”. Tác giả Trần Trí Thông luôn luôn có thơ cho ngày thăm lại chiến trường xưa, anh viết tưởng nhớ đồng đội, những người đã nằm xuống cho đất nước đứng lên. Thơ của anh không mang ước vọng triết lý cao xa, nhưng mà là chân lý của thực tiễn đời sống, nên sẽ đi vào lòng người và hạ trại lâu nơi ấy.

Những bước chân hành quân vạn dặm qua mọi miền đất nước. Tác giả Trần Trí Thông không băng qua sa mạc, mà đến với từng ngọn cỏ, chòm cây, chịu nắng lửa mưa dầu, với núi cao chụm đầu mây bạc, những sương mờ lưng chừng đèo dốc ngang trời, cùng các Sơn nữ khúc khích tiếng cười trong đêm lễ hội, để rồi: “Căng dây đàn Tính so lời khát khao”, hay những không gian cồng chiêng bên ché rượu cần vít cạn: “Rượu say rót giữa vội vàng/ Mềm môi chạm phía đại ngàn đẫm trăng”…

Hình tượng “Em” được tác giả xây dụng đưa vào thơ là để làm nổi bật lên một miền đất tác giả đã mê say cái đẹp, cái tráng kiệt của thiên nhiên, cái chân thành của tấm lòng Sơn nữ, đối thoại với chính mình, rồi bất chợt những câu thơ cứ thế rung, lên bay vào cái không gian huyền ảo của đại ngàn: “Một mình tôi với Lạng Sơn / Sao em đẩy hết dỗi hờn sang đây? / Mẫu Sơn ngái ngủ trong mây / Xòe tay em hứng… tuyết đầy tóc tôi/ … / Chàm xanh nhuộm mắt em cười / Căng dây đàn tính so lời khát khao”…Tác giả  chấm phá bức tranh “Thâm sơn cùng cốc”của núi rừng Việt Bắc với đầy đủ trời, mây sương khói hòa quyện trong tình người nết đất, làm cho bao nhiêu du khách không biết bao giờ mới thôi lưu luyến đắm say: “ … Mã Pí Lèng vó ngựa xa / Dốc vào khúc khuỷu đường ra chòng chành / Tiếng khèn ai lượn thung xanh / Vướng vào thổ cẩm dệt thành gấm hoa / Màu Tam giác mạch kiêu sa / Em gùi gió núi mây là đà theo / Khép đêm trong tiếng sáo Mèo / Bếp Mông reo lửa bóng treo bập bùng”…

Hay khi vể đỉnh Pu Ta Leng của miền Tây Bắc đứng ở độ cao 3049m so với mặt nước biển, ta thấy con đèo Ô    Quy Hồ dài 50km tuyệt đẹp và rất thơ: “Đèo cao như sợi tơ trời/ Khâu mây vào nắng khâu người vào… ta/ Khâu rừng vào vạt sương xa/ Khâu đêm vào chuỗi tiếng gà gáy hoang/ Khâu nương vào ruộng bậc thang/ Thêu hoa văn phía…  “mùa màng” bội thu”.

Tạm biệt núi rừng Tây Bắc, tác giả đưa ta về với miền Tây sông nước bao la, ruộng đồng cò bay thẳng cánh, tít tắp chân trời. Nhịp điệu thơ lại khoan thai như lời sông nước, chầm chậm phù sa: “Chiếu ca tài tử sông Tiền/ buông câu vọng cổ vít nghiêng góc trời”.Tiếng bìm bịp gom chiều với sự hiền hòa của cây bần, cây đước chắn sóng  đại dương. Nơi chín con rồng vắt mình qua cổ tích , lắng thời gian vào trầm tích phù sa, những câu thơ đang nhặt dấu chân người đi mở cõi vẫn còn tươi nguyên gian khó lưu dân: “ Vĩnh Long riêng một Vĩnh Long / Phù sa đổ khúc chín dòng vào tôi / Miệt vườn trái ngọt hoa tươi / Hương sen tỏa ngát nụ cười nết na/ …/ An Bình thương lắm đò ơi! / Tóc nơ cài gió rối bời bến sông / Áo em thêu giọt nắng hồng / Để bao con sóng phải lòng cù lao/ …/ Thanh gươm ai dựng sơn hà / Dấu chân mở cõi thuận đà thiên cơ / Khí thiêng Văn miếu Long Hồ / Bút nghiên uy vũ – trời thơ kiêu hùng”…!

Những dịp tác giả trở về với “nơi chôn rau cắt rốn”. Đi dọc chợ làng, biết bao nhiêu những mảng  hồi ức hiện về, dẫm đạp lên nhau rối ren bao mối tơ lòng cho thơ dệt thành khúc nhạc ngày về: “Vay xuân một chút giao thừa / Chợt nghe náo nức chuyển mùa sang em”/…/  “Quê xa ngàn dặm bỗng gần / Đầu làng bất chợt tần ngần bóng đa”/…/ Chợ làng quán lá tảo tần / Đánh ghen với cả mưa dầm nắng ngâu”.

Lúc ghé qua nông trường, tác giả đã gửi lại lòng mình cho những cô gái góp đôi tay, đôi vai cho dòng vàng trắng tuôn ra: “ Lửa thanh niên xung phong / Bập bùng đêm miền Đông / Mái tóc em ngát hương thời con gái / Và chính em đã làm mùa xuân hờn dỗi / Chưa hết ngày / Con suối cuối rừng / Thấp thoáng trăng lên/…/ Dầu Tiếng ơi / Xin lỗi hẹn cùng em / Ngày về sao ngắn thế / Chút nấn ná níu đôi tà áo/ Để bước bâng khuâng vấp víu nhớ nông trường”.

Tác giả có nhiều bài viết về Mẹ rất ấn tượng, nhưng Mẹ đã khuất núi đi xa, tác giả như nói với chính mình về Mẹ ngày xưa, đôi bàn tay “nết na” đã từng gói cả “tiếng gà gáy” sang canh, trong miếng mo cau quê nhà cùng nắm cơm, làm hành trang cho anh lên đường ra trận. Mà ngày về: “Mẹ nương cánh hạc cuối trời / Phiêu diêu hay vẫn chốn đời bể dâu? / Thời trang áo Mẹ cánh nâu / Sờn vai đòn gánh hai đầu sắn khoai/…/ Cha kể rằng lúc lâm chung / Tên con Mẹ gọi… nghẹn… dừng… giữa câu / Hao hao theo giọt đèn dầu / Nhẹ nhàng thanh thản Mẹ hầu Bồng Lai”…

Nhìn chung tác giả Trần Trí Thông bắt đầu cho một hành trình đổi mới rất riêng, anh muốn thoát ra khỏi truyền thống để đến vơi những câu thơ cách tân, anh quan tâm về ý, tính khái quát đồng địệu và tiết tấu. Tác giả vẽ quê hương bằng thơ để tạo sức lay gợi, trong những bài cách tân đôi khi mang tính triết luận nhân sinh. Nhưng thế mạnh của tác giả vẫn là lục bát giàu tính sáng tạo nghệ thuật, ngôn từ, hình tượng, nhẹ nhàng, xao xuyến. Sự đổi mới làm cho lục bát sẽ mãi là nơi lưu giữ tinh thần, bản sắc văn hóa dân tộc.

Như lời nhà thơ Đoàn Văn Mật: “Thơ Trần Trí Thông có nhiều câu trời cho”. Mong tác giả Trần Trí Thông, trong hướng đi mới vẫn có những câu thơ phảng phất nét tài hoa vốn có cho trọn vẹn con đường sáng tạo rất riêng.

16/10/2022

Xuân Trường

Theo https://vanvn.vn/

 

Thông diễn “Những trang sách thức tỉnh con người” của Nguyễn Khắc Phê

Khởi đầu trang sách, nhà văn dòng Nguyễn Khắc, xuất thân con nhà nho khoa bảng đất Hương Sơn đã khiêm nhường và ngại – rất ngại, xếp mình vào giới lý luận phê bình… phê bình hạng nhất. Vì lẽ đó, Nguyễn Khắc Phê tự nhận chỉ là người “Phê bình ngoại hạng”; hiểu như cái Tâm của ông đạt đến “huyền đồng” của một con người tuổi ngoài tám mươi, từng trải qua bao cuộc đầy vơi sơn trường, nghiệt ngã…; với mười lăm năm trên những cung đường, những cây cầu bắc qua sông suối nơi tuyến lửa – nhất là tuyến lửa miền Tây Quảng Bình –  đẫm máu và nước mắt; với chín lần đội bom đạn, chìm đò, lật xe… tưởng rằng ông đã chết, tuy không chết nhưng nhà văn họ Nguyễn cũng đã gửi lại nơi cung đường ấy một trong hai “cửa sổ tâm hồn” mà người mẹ đã ban cho lúc ông cất tiếng khóc chào đời bên dòng Hương giang.

Với “Đời văn, đời báo của ông là số phận không định trước”(Nguyễn Khắc Phê) – rõ là không định trước – vậy mà ông, hơn một đời người (nếu một đời người là một nguơn đời sáu mươi năm) mê đọc sách, mải viết tính đến hôm nay đã có ngàn bài báo, hai chục rưỡi đầu sách đủ thể loại và ông, vẫn còn tiếp tục cuộc hành trình của số phận không định trước đời văn đời báo! Rồi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê tự bạch, rằng: “Cuốn này xin được ghi thể loại là “Phê bình ngoại hạng” cho vui và nếu bị chê, sẽ không lây tiếng xấu đến các nhà phê bình chính danh”(tr.6).

Tập phê bình ngoại hạng Những trang sách thức tỉnh con người, tập hợp 48 bài viết của nhà văn Nguyễn Khắc Phê (Nhà xuất bản Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2022),  khiến người đọc thao thức, trăn trở và suy ngẫm “Một văn bản (text) không chỉ nói lên một ý nghĩa, mà còn diễn tả cả một lối suy tư, một cuộc sống, một lịch sử tương quan với những lịch sử khác, lối suy tư khác cũng như những cách sống khác”[1].

1. Kiến giải nghịch lý

Đời đầy rẫy những nghịch lý, nhiều và phổ biến nghịch lý tới mức: nghịch lý hiện hữu một cách hợp lý giữa đời. Do đâu? Giữa ta và người, giữa riêng và chung, giữa xưa và nay, giữa trong và ngoài, giữa chủ và khách, giữa nhất nguyên, nhị nguyên và đa nguyên, … cuộc sống muôn vàn khác biệt. “Bất cứ một sự hiểu biết nào cũng có những mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa những cái nhìn chung (khách quan), và cái nhìn riêng rẽ của chủ thể, tức chính lối sống (existential) của mỗi người”[2]. Có bấy nhiêu khác biệt là có bấy nhiêu nghịch dị! Đọc và viết trường hợp Nguyễn Khắc Phê không chỉ chia sẻ, giải bày mà còn kiến giải những nghịch lý như thế (trong phạm vi chữ nghĩa, đánh động đến đời sống văn hóa, xã hội, lịch sử, …). Cách tiếp nhận như vậy, có thể nói, cũng một cách truy vấn phi lý. Là “Cùng Lý” vậy!

Trong tâm tư Trần Đình Sử: “Nguyễn Khắc Phê là một nhà văn hết sức tâm huyết đối với số phận con người, với vận mệnh đất nước cũng như đối với sự tiến bộ của xã hội. Ngòi bút của anh không hề né tránh các vấn đề nhạy cảm của đất nước, đồng thời anh đã nêu các vấn đề đó một cách điềm tĩnh và rất chân thành. Cho nên ngôn ngữ của anh có sức thuyết phục và tôi nghĩ không những đối với tôi mà đối với xã hội cũng có sức thuyết phục như vậy”[3]. Quả thực, Nguyễn Khắc Phê thẳng thắn, sòng phẳng với cả đời sống xung quanh và với chính mình[4]. Ông không né tránh, không e ngại những vấn đề còn “lẩn khuất” nhất thời khó rạch ròi. Đời sống vốn dĩ vẫn luôn ẩn chứa những nghịch lý. Dù phán đoán thế nào cũng có thể ngã vào chỗ thiên lệch, chủ quan. Nhưng, hướng về phía tiến bộ xã hội, song hành với vận mệnh đất nước, có lẽ Nguyễn Khắc Phê đã kiến giải những nghịch lý (chí ít trong phạm vi chữ nghĩa) đến chỗ “thấu tình đạt lý”.

Chưa dám lạm bàn chỗ “cùng lý” của Nguyễn Khắc Phê, nhưng bạn đọc dễ dàng tìm thấy những đoạn chia sẻ, những dòng chữ trớ trêu, cay đắng, chua chát của số phận con người trong cuộc xoay vần trời đất quê hương. Đó cũng là những chia sẻ của ông khi bắt gặp trang hồi kỳ “Gánh gánh … gồng gồng … ”của Xuân Phượng. “Nửa thế kỷ sau tôi mới được biết ba tôi đã từ trần từ năm 1981 tại San Diego. Em trai thứ hai là đại tá không quân của quân đội Cộng Hòa tại Đà Nẵng, đã cùng gia đình vội vã rời Sài Gòn chỉ ba ngày trước khi tôi – lúc bấy giờ là phóng viên chiến trường – đang cùng đồng nghiệp vào quay phim Dinh Độc Lập sau ngày 30/4/1975..” […] Tháng 7 năm 1989, tôi gặp mje mình và các em tại sân bay Charles de Gaulle Paris. Gia đình đã bay từ Mỹ sang thăm vì tôi chưa có thị thực vào Mỹ. Chúng tôi cười cười khóc khóc trong niềm vui đoàn viên. Trong một bữa cơm trưa, bỗng mẹ tôi chống đũa nhìn tôi: “Con ơi, sao con theo họ làm chi, để gia đình ly tán, phải rời quê cha đất tổ, con ơi! Tiếng kêu thảng thốt tự đáy lòng của một người già ly hương làm mọi người chết lặng”(tr.178-179). Trớ trêu, nghịch cảnh giữa quốc nạn và gian biến, dường như chẳng riêng một ai. Cảnh nhà Xuân Phượng hay cảnh nhà của nhiều người dân Việt khác nữa, có lẽ, cũng chính là tình cảnh quê hương nói chung. Phải chăng, Nguyễn Khắc Phê cũng nhìn thấy chính mình trong nỗi day dứt khôn nguôi của Xuân Phượng.

Nghịch lý trong “Đất lạnh” thành “Đất vàng”, Nguyễn Khắc Phê lấy ‘cảm thông’ chia sẻ để sẻ chia với nghịch lý thời đại, với những đau thương trong mái gia đình. “Tác phẩm chủ yếu lấy bối cảnh một làng quê đồng bằng Bắc bộ, xoay quanh những thăng trầm của mẹ con bà Sửu và bác sĩ Thịnh, nhưng với thủ pháp hồi cố và hiện tại đan xen liên tục, câu chuyện lại mở rộng đến 2-3 thế hệ các gia đình nội-ngoại với đủ tầng lớp, với vô số màn kịch bi-hài trải qua nhiều biến động xã hội của đất nước suốt hơn nửa thế kỷ, nên “Đất lạnh” không thuộc dòng sử thi, không trực tiếp miêu tả các sự kiện lớn mà vẫn giúp bạn đọc hiểu sâu hơn lịch sử; mặt khác, “Đất lạnh” của nhà văn Vũ Oanh cũng không hẳn là tiểu thuyết gia đình, nhưng lại đặc biệt chú trọng đến sự tan rã của gia đình qua những biến động xã hội, trong đó cuộc cải cách ruộng đất, mặc dù chuyện “cải cách” chỉ là những lát cắt trong dòng hồi cố của nhân vật. Đây cũng là nguồn gốc dẫn đến những tha hóa về đạo đức hiện nay mà báo chí chính thống ngày nào cũng ‘báo động’ với các vụ việc đau lòng”(tr.105). Đó là nghịch lý vẫn đang xảy ra hằng ngày trong xã hội hôm nay. “Đất lạnh” trở thành “Đất vàng”, kéo theo đó, là những vết thương mới toanh trên đất quê hương. Giọng văn thâm trầm của Nguyễn Khắc Phê ở nhiều đoạn cho thấy tâm hồn nặng tình (gồm cả tình người và tình đời).

Người đọc cảm nhận được nỗi đau của nhân vật cũng như sự đau đáu niềm đau của Nguyễn Khắc Phê đối với việc băng hoại đạo đức nhân tính con người hôm nay. ““Hởi giời!” Đây cũng là tiếng gọi của bà Sửu trước cảnh nhà hai cậu em “mất phúc, dột từ nóc dột xuống!”. Liệu có bao nhiêu người nghe được nỗi thất vọng tột cùng này của nhân gian”(tr.113). Tiếng kêu trời của Bà Sửu dường như có cả tiếng lòng của nhà phê bình ngoại hạng. Tiếng kêu trời biểu thị tấm lòng tha thiết với những điều tốt đẹp, với giá trị nhân bản đáng quý (nhưng ngày càng hiếm hoi) trong xã hội kim tiền. Từ nghịch lý, Nguyễn Khắc Phê trưng ra thực trạng. Người đọc sẽ là người tiếp tục nhận diện thực trạng đó trong đời sống thực tiễn của cá nhân!

Phàm chuyện gì có vẻ kỳ lạ, nghịch lý vẫn thu hút sự chú ý của thiên hạ nhiều hơn cả. Người quan tâm đến nghịch lý của đời thì nhiều, nhưng người hiểu và lý giải được những nghịch lý đó thì rất ít, nếu không muốn nói là rất hiếm hoi. Sau cơn tò mò trôi qua, người ta băn khoăn chút ít, có khi lại trôi đi và không còn quan tâm đến nữa. Nhưng, với một tâm hồn nhạy cảm và ưu tư như nhà văn họ Nguyễn thì những nghịch lý của đời vẫn thường khi đeo bám tâm tư. “Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế và Trường Đại học Ngoại ngữ Huế vừa hợp tác xuất bản tác phẩm mới của François Jullien mang tựa đề có tính “thách thức”: “Không có bản sắc văn hóa” (KCBSVH). PGS.TS. Bửu Nam đã nói như thế trong buổi ra mắt sách tại Trường Ngoại ngữ Huế, cuối tháng 7/2019. Quả là vậy, vì trong khi thiên hạ hô hào giữ “bản sắc văn hóa” thì cái lão triết gia Pháp này dám bảo KHÔNG CÓ BẢN SẮC VĂN HÓA! Sách của François Jullien hầu hết đều đặt vấn đề “trái khoáy” như vậy” (tr.127).

Điều đáng khâm phục ở Nguyễn Khắc Phê chính là sau khi nhận diện cái lạ và “trái khoáy”, tức thời, ông nhận thức bản chất của vấn đề, vượt qua cái phi lý. “Đọc cuốn sách vừa xuất bản của ông vẫn thấy … mới lạ, thậm chí muốn…cãi lại! Tuy vậy, nếu chịu khó đọc và suy ngẫm – nhất là đừng lệ thuộc vào định kiến hay nếp tư duy đã quen, thì sẽ thấy sự “hợp lý” trong vấn đề ông nêu ra, nghe qua như là “phi lý”” (tr.127). Nhờ vào tính cần mẫn, thận trọng và có trách nhiệm, Nguyễn Khắc Phê giúp người đọc vượt qua cách nghịch lý để tìm đến một cách thế hợp lý “mở”. Nghĩa là, tùy thuộc tâm thế của từng người  đọc, trang viết của Nguyễn Khắc Phê sẽ gợi mở ra những ý hướng khác nhau. Qua đây, có lẽ, người  đọc sẽ nhận ra nghịch lý dường như chỉ là cái biểu hiện nhất thời của “hợp lý”. Và, “nghịch lý” chỉ là một trạng thái nhất thời của tư niệm ta mà thôi. “Nghịch lý” chỉ là cái “hợp lý” chưa khai mở. Hoặc: cái hợp lý quyến rũ người ta bằng vẻ ngoài “nghịch lý”. Hợp lý không thể chạy trốn đôi mắt tinh tường và sự kiên nhẫn của kẻ truy vấn! Kiên nhẫn ở chỗ, Nguyễn Khắc Phê lần tìm và “khu biệt” để định vị đối tượng mà ông đang tiếp cận. Chẳng hạn, khi ông nhắc về ý kiến của GS. Lê Hữu Khóa “Tác phẩm KCBSVH tách cụm từ bản sắc ra khỏi văn hóa, xem đây là một thuật ngữ đáng nghi ngờ, vì nó sai trật ngay trong cách xây dựng ngữ pháp, nó càng sai trái qua các kết quả nghiên cứu, điều tra, điền dã về bản sắc và văn hóa”(tr.128). Tinh tường ở chỗ, ông nhận ra căn bản vấn đề không phải ở ngoại tại nghịch lý mà nằm ở cốt lõi hợp lý. Vấn đề kiến giải không còn là cái vẻ ngoài nghịch lý nữa và là yếu chỉ hợp lý ở chiều sâu của vấn đề. Từ chỗ kiến giải nghịch lý, ông biến vấn đề thành ra kiến giản khả năng lập thành truy vấn về vấn đề đó. “Triển khai và làm sáng rõ vấn đề trên, François Jullien viết: “Tôi cho rằng một cuộc tranh luận về “bản sắc” của văn hóa là tranh luận sai lầm về nguyên tắc. Vì thế tôi đề nghị một sự chuyển dịch về khái niệm. Trong sự tiếp cận đa dạng của các nền văn hóa, thay vì dùng từ “khác biệt”, ta dùng “khoảng cách”, thay vì bản sắc, ta dùng “nguồn nuôi dưỡng” hay “sự phong phú”” (tr.128). Rõ ràng, ông đã kiến và giải được cái nghịch lý “trái khoáy” hiển hiện ngay từ lúc bắt gặp đối tượng.

Hơn thế, Nguyễn Khắc Phê không chỉ kiến rồi giải mà còn nghiệm nữa! Ở chỗ, ông đưa vấn đề đặt ra trong trang sách vào thực tiễn đời sống. Và, từ chỗ “nghiệm” ấy, càng thêm “xác định” cho vấn đề khái niệm đặt ra. Càng thú vị hơn, ông nghiệm lại bằng chính vốn liếng văn hóa dân tộc, văn hóa địa phương trực diện mà ông hằng sống mỗi ngày. “Xem ra François Jullien nói đúng, khi ông thay việc hô hào giữ “bản sắc” là cái không dễ “điểm danh” (hoặc không cố định) bằng việc bồi đắp “nguồn nuôi dưỡng văn hóa”. Như vậy, với Huế, thay vì bàn cãi “bản sắc” là gì, chúng ta cùng nhau liệt kê những gì là “nguồn nuôi dưỡng” văn hóa Huế có lẽ sẽ có ích hơn”(tr.130). Nếu người đọc chưa quen đọc những trang sách nặng lý thuyết thì đọc trang phê bình của Nguyễn Khắc Phê rất hữu ích cho việc tiếp cận đối tượng. Bởi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê đã kiến-giải-nghiệm, bước đầu mở đường cho người đọc phổ thông đi vào hệ thống luận thuyết khái niệm trừu tượng.

2. Kiến giải huyền thoại

Đằng sau sự khoan thai từ tốn của hành động tiếp nhận, người đọc nhận ra sự tỉnh táo và nghiêm túc của lão nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Một trong số khía cạnh đó: đọc và viết đối với Nguyễn Khắc Phê đồng thời quay ngược quá trình lý tưởng hóa, huyền thoại hóa. Với hành động kiến giải huyền thoại, Nguyễn Khắc Phê trả lại cuộc sống thực của những đối tượng mà ông tiếp nhận/thông diễn. Nguyễn Khắc Phê thẳng thắn và sòng phẳng với những “biểu tượng”, trả lại nghĩa lý đúng thực của nó trong đời sống, vượt qua cái lớp vỏ “lý tưởng hóa”/ “huyền thoại hóa” của sự vật hiện tượng. Như người đi qua thời gian, ông không chỉ lướt qua như người “cưỡi ngựa xem hoa” mà còn góp phần phủi đi chút hạt bụi phủ mờ thế sự. Phần nào, … thông qua trang phê bình ngoại hạng, giúp bạn đọc nhận chân sự thực khi nhìn lại thời quá vãng. Chẳng hạn, khi ông đọc “Làng quê buồn vui… thương nhớ…” cùa Phan Khánh: “Trong cuốn sách, tác giả chỉ kể chuyện làng mình theo lối “cổ điển”, chủ yếu theo trình tự thời gian quãng từ 1940 đến 1955, thỉnh thoảng có “hồi cố” chuyện thời “Xô Viết”… Như thế, nếu theo dòng sự kiện, thì không có chi lạ trong các tác phẩm của anh P.K vì tất cả đã có trong “chính sử” – từ nạn đói 1945, đến Cách Mạng Tháng 8, đi dân công chống Pháp, rồi đấu tranh giảm tô, cải cách ruộng đất, sửa sai …  “Điều thú vị là tác giả đã miêu tả các sự kiện đó với góc nhìn từ dưới lên – nhiều khi ngược với lệnh “trên bảo” – với vô số những nhân vật, chi tiết sinh động, đậm tính dân gian, buồn nhiều mà vui cũng không ít. Bạn không tin, mở sách mà xem, đọc nhiều trang, không nhịn được cười” (tr.30).

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê vẫn thường nói, ông không phải nhà phê bình chuyên nghiệp, không thạo luận thuyết như các nhà lý luận chính quy; nhưng qua cách viết, người đọc thấy ông đã vượt qua “lý thuyết”. Ví như khi ông bàn đến “Tro và Lửa lạnh” của Hà Văn Thịnh với đặc trưng “đa thanh” và “liên văn bản”; hay như khi bàn về tiểu thuyết lịch sử. Một đề tài không mới nhưng có vẻ đang sốt trở lại thì Nguyễn Khắc Phê cho thấy dường như ông cũng am tường và hiểu biết về “giải huyền thoại”. “Về mặt nào đó, đây chính là “đất dụng võ” của các nhà tiểu thuyết, những người với thủ pháp nghệ thuật, có thể “nhìn thấy” những góc khuất, những khoảng mờ trong lịch sử …” (tr.55). Đất dụng võ theo như Nguyễn Khắc Phê chia sẻ, có lẽ “khoảng trắng” trong thuyết vi mô tiếp nhận chăng? E rằng, không thể gán cho Nguyễn Khắc Phê lối phê bình ấy nhưng đồng thời, cũng không thể phủ nhận: ông có cái nhìn bao quát và tinh tường, không nặng lý thuyết nhưng vững chắc trong lập luận. Hơn hết, ông công tâm trong việc nhìn nhận, đánh giá. Có lẽ, ở tuổi cao niên, người đã  giữ được “trung đạo” chăng! Qua những suy tư về hai tiểu thuyết của Trần Thùy Mai và Lê Hoài Nam, Nguyễn Khắc Phê có lẽ đang “giải huyền thoại”. Ông cho rằng: “Nhà tiểu thuyết không được ỷ thế “đặc trưng” mà xuyên tạc lịch sử”(tr.63). Song, ông vẫn chia sẻ, cảm thông với văn sĩ trong mảng đề tài “tưởng dễ mà khó” này! Văn xuôi lịch sử có những thuận lợi cũng như trở ngại nhất định. Mà trong số đó, có lẽ trở ngại lớn nhất, chính là những thành kiến, quy phạm sẵn có về những đối tượng lịch sử trong lòng công chúng, xã hội!

Đi vào chuyện lịch sử thời quá khứ, không ít trang viết của Nguyễn Khắc Phê mang lại nhiều kiến thức thú vị và hiểu biết mới cho bạn đọc. Nếu nhìn rộng hơn, bạn đọc hẳn thấy Nguyễn Khắc Phê trên nền tảng và hướng đến mục đích nào trên con đường “du sử”. Ở đó, bạn sẽ gặp gỡ Nguyễn Khắc Phê – một tấm lòng đáng quý bởi tinh thần tự cường và tự hào dân tộc. Nhất là khi ông nhắc đến Hoàng Giáp Nguyễn Tư Giản. “Nhờ đi sứ, Nguyễn Tư Giản hiểu được thực trạng triều đình nhà Thanh đang trên đà suy thoái trầm trọng, không chống đỡ nổi các thế lực hùng mạnh phương Tây đang nhòm ngó bành trướng sang vùng Viễn Đông […] thấy rõ ở nước mình vua Tự Đức và triều đình vẫn rập khuôn theo hình mẫu của triều đình nhà Thanh”. Từ đó, “ông vận dụng sự tin cậy của vua Tự Đức, cố gắng thuyết phục vua Tự Đức đảm nhiệm trọng trách của vua như các vua Minh Trị ở Nhật và vua Chulalongkom ở Xiêm La (Thái Lan)… hết lòng ủng hộ những kế sách canh tân đất nước của Phạm Phú Thứ và Nguyễn Trường Tộ đã dâng lên nhà vua, mặc dù không ít đại thần ngăn trở”(tr.80-81). Phần đầu bài viết, ông làm công việc của người thợ thủ công dệt tấm vải lịch sử. Thông qua “yếu nhân” bây giờ, bức tranh xã hội, triều đại, nhân vật trí thức như (Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện,…) được Nguyễn Khắc Phê nhắc nhớ. Qua việc “kiến giải” người trí thức thời đại, Nguyễn Khắc Phê cũng cho thấy ưu tư của người trí thức nói chung. Không riêng thời đại nào, niềm tự hào, tự cường dân tộc vẫn là mối quan tâm chính đáng cho kẻ trí thức. Thời đại có khác, song, Nguyễn Khắc Phê đã gặp gỡ cụ Hoàng Giáp ở mối ưu tư chân chính này. “Trong tình thế lúc đó, khát vọng canh tân của Nguyễn Tư Giản không đạt nhiều kết quả là điều khó tránh khỏi, nhưng hậu thế vẫn mãi quý trọng phẩm chất của một đại quan không ngại va vấp, thiệt thòi, kiên trì đấu vì lợi ích của dân tộc đất nước”(tr.82). Cho nên, dầu bàn luận hay kiến giải nhân vật lịch sử nào, bạn đọc cũng nhìn thấy điểm chung quán xuyến trên trang viết Nguyễn Khắc Phê: tấm lòng tha thiết, trong sáng vì quê hương và dân tộc. Chính vì tấm lòng ấy, ông giữ được sức bền bỉ, sự dẻo dai trong ngòi bút suốt hơn nửa thế kỷ qua và hiện nay, vẫn còn tiếp tục..

Tấm lòng trong sáng ấy của Nguyễn Khắc Phê càng biểu hiện sáng tỏ khi nói về cuộc kháng chiến anh hùng của dân tộc. Bằng cách đi sâu vào tác phẩm của Tôn Ái Nhân (Ký ức gã ăn mày), nhà phê bình hình như nhắc nhớ kẻ đương thời không thể nào/không lý nào lại quên lãng những người từng dấn thân vào cuộc chiến vì lý tưởng thống nhất đất nước. “Cuộc chiến đấu để đi tới ngày thống nhất đất nước của dân tộc ta đã qua 45 năm. Không phải ai cũng trân trọng những ký ức anh hùng như hai vị cựu bình lần đầu gặp mặt đã hết lòng giúp nhau. Vì thế, giữa thế cuộc biến động khó lường hôm nay, khi con người luôn đứng trước những thử thách và cạm bẫy có thể làm băng hoại thành quả rèn luyện, phấn đấu của cả cuộc đời, xin được cải biên chút ít di bút của nhà thơ Hồ Thấu như sau: “Khải hoàn xin nhớ đến người hôm qua!””(tr.97). Bên cạnh đó, Nguyễn Khắc Phê cũng rộng lượng bao dung ở chỗ nhìn thấy và chia sẻ hoàn cảnh đất nước thời hậu chiến. Tâm thế một người từng trải cho ông cái nhìn bao quát, không thiên lệch, không quá khắt khe mà chừng mực và thấu đáo. Không mỉa mai, chê bai, phê phán, … ông cảm thông và gợi nhớ! Đó là góc nhìn “có trước có sau”, “hợp lý hợp tình” trọng nghĩa ân!

Với văn xuôi lịch sử, Nguyễn Khắc Phê vừa có cái nhìn “nghiêm nghị” vừa có cái nhìn cảm thông, chia sẻ. “Cũng có thể là tôi đã đặt yêu cầu quá cao và “cổ điển” chăng? Đâu có nhất thiết tiểu thuyết là phải có yêu đương với cuộc sống đời thường cùng vợ con, bạn bè, làng xóm”(tr.339). Chia sẻ về văn xuôi lịch sử, người đọc sẽ thấy ông có cái nhìn mở. Nhất là, ở tuổi cao niên, con người ta dễ có những thành kiến nhưng Nguyễn Khắc Phê (nhờ liên tục cập nhật, làm mới tư duy) nên có cái nhìn so sánh thấu lý đạt tình. Ông đi từ bao quát nhân vật, đến kết cấu rồi đi sâu vào các sự kiện. Có lẽ, đó là cách đọc cả hai chiều (chiều rộng và chiều sâu chăng!). Do đó, những luận xét có nền tảng vững chắc nhưng vẫn linh hoạt, tươi mới. Hơn hết, tâm thế của ông luôn hướng đến chỗ cộng hưởng, sẻ chia, tâm tình với đối tượng mà ông tiếp nhận. Nguyễn Khắc Phê khi tiếp nhận văn xuôi lịch sử không sa vào lối “giễu nhại” giải thiêng/giải huyền thoại thông thường, dễ gây chia cách. Ngược lại, ông tiếp nhận trong thiện ý cảm thương. “Viết “Đại gia” T.S. đã tỏ ra bản lĩnh dám xông vào một đề tài nhạy cảm, dễ bị “thổi còi”. Để thực hiện bộ tiểu thuyết trường thiên lịch sử hiện đại, tôi hình dung tác giả còn phải vượt qua những thử thách lớn hơn, trước hết vì tất cả sự kiện, nhân vật còn “tươi rói”, sách báo đã viết, đã “đào xới” rất nhiều, lại không được phép tung hoành ngòi bút dễ dàng trước các nhân vật đã mặc nhiên dựng thành khuôn phép” (tr.336). Những sẻ chia này thực sự có thể động viên khích lệ và gợi ý thêm cho người viết đối với những dự định viết lách về sau. Có lẽ, Nguyễn Khắc Phê đã tiếp nhận không phải như người đứng bên ngoài mà như người thực sự đứng trong cuộc.

Tính chất nhập cuộc “kiến giải huyền thoại” của Nguyễn Khắc Phê còn bộc lộ ở những trang mang tính “đối thoại” với chính nhà văn và tác phẩm được ông nhắc tới. Đọc bài viết “Từ Dụ Thái Hậu – thêm một cánh cửa soi vào hậu cung triều Nguyễn”, bạn như nhìn thấy Nguyễn Khắc Phê đối ẩm cùng Trần Thùy Mai. Đó là cuộc tương phùng mà chắc rằng nhà văn nếu có dịp đọc lấy, có thể nhận ra nhiều điều thú vị hữu ích cho công việc viết lách về sau. “Kể ra cuộc đời cô bé Hằng với chuyện tình kiểu học trò cùng hai hoàng tử con vua Minh Mạng (khi cô được tuyển vào coi sóc lớp học trong Hoàng cung) và nhất là mối tình như là tiền định với Trương Đăng Quế, từ khi chàng tráng sĩ liều thân cứu mẹ con Hằng thoát chết trên đường về kinh đô bị bọn giặc Đá Vách cướp xe, rồi bao cuộc gặp gỡ bí mật và công khai ở Hoàng Cung cũng có thể dựng một tiểu thuyết diễm tình hấp dẫn, nếu tác giả mạnh tay “hư cấu”. Và với vô số âm mưu đoạt quyền giành tước vị bổng lộc với những bóng đen nghe lén chuyện thâm cung bí sử triều đình, với vụ án oan Phạm Đăng Hưng vừa bị tuyên án xử trảm thì vua Minh Mạng xuất hiện kỳ diệu như … Bao Công, kẻ ngồi ghế chánh án trở thành tội nhân … cũng có thể dựng một tiểu thuyết trinh thám võ hiệp kiểu Tàu không tầm thường”(tr.364-365). Đặc biệt, những trang viết về lịch sử lại rất cần thiết góc nhìn đa chiều như thế. Việc đối thoại trong quá trình kiến giải lịch sử, góp phần bộc lộ thêm giá trị của những sự kiện và nhân vật lịch sử được xây dựng. Nguyễn Khắc Phê dẫn ra hình tượng “huyền thoại” vẫn hằng có trong lòng cộng đồng diễn giải. Sau đó, ông chỉ ra thêm vài vấn đề khả dĩ “bổ sung” cho hình tượng huyền thoại ấy. “Hơn thế, Thái Hậu Từ Dụ là một nhân vật quá nổi tiếng và “quen thuộc” nữa – nhất là với vùng đất Cố đô, nhà văn không dễ tùy hứng sáng tạo, hư cấu như với các truyện ngắn trước đây của chị. Mặt khác, với một con người nổi tiếng về đức độ, phẩm hạnh, để viết truyện danh nhân, ca ngợi công đức thì dễ, nhưng dựng thành nhân vật tiểu thuyết cho hay lại là một thách thức lớn đối với người cầm bút”(tr.363). Có thể, đây là cách ông nhắn gửi đến nhà văn và tác phẩm, hoặc cũng có thể, đây là cách ông nhắn gửi đến bạn đọc nói chung trong việc tiếp nhận tác phẩm. Có lẽ, văn xuôi lịch sử vẫn là địa hạt “chẳng dễ dàng gì”, song là địa hạt có thể xác lập địa vị “lớn hơn” cho người cầm bút chuyên nghiệp!

Sau hết, dù tiếp nhận hay kiến giải, dù nhìn dưới con mắt nhà chuyên môn hay người trong cuộc, Nguyễn Khắc Phê vẫn thiết tha hàn gắn, không muốn chia cách với bạn văn. Ông vẫn thẳng thắn, sòng phẳng nhưng luôn cảm thông, thấu hiểu cho tha nhân, nhất là việc chữ nghĩa có những gian khó ít người thấu hiểu. Với bản thân, ông nghiêm khắc, nhất là những đề tài lịch sử. Với người khác, ông cởi mở và nhìn để thấy. Không chỉ nhìn và thấy nội dung của những tác phẩm mà ông tiếp nhận, ông còn nhìn thấy công sức và tâm huyết của người viết. Cụ thể, ông trân trọng nỗ lực của Thiên Sơn trong tiểu thuyết lịch sử “Gió bụi đầy trời”. “Chính là vì tôi trân trọng quyết tâm lớn của tác giả và kỳ vọng những cuốn tiếp theo đạt được thành công mỹ mãn hơn, nên mạnh dạn nêu các vấn đề trên để tác giả tham khảo. Nếu được bạn văn T.S cũng như các nhà văn đang hào hứng theo đuổi công việc viết tiểu thuyết lịch sử đồng thuận và chia sẻ thì đó là điều hạnh phúc đối với ông già đã ngoại bát tuần, lại ở xa “mặt trời” như tôi…”(tr.344).

Sự đồng cảm, làm nên trang phê bình “kiến giải” của ông: không chia rẽ mà là hàn gắn!

3. Kiến giải phản tư

Giữa mình với người, một khi nhìn và thấy nhau, cũng tức là làm thành tấm gương phản chiếu đôi bên. Kiến giải người để thấy mình, gặp lại chính mình, nhận diện chính mình. Cũng là, lấy cái ngã siêu nghiệm (transcendental ego) nhìn cõi trần ai (Lebenswelt). Cụ thể hơn đó là sự “phát triển lý thuyết của Husserl về cái ngã siêu nghiệm (transcendental ego), tức cái ngã biểu hiện được thế sinh (Lebenswelt) một cách tiên thiên, thành một cái ngã tự phản tư (critical moment), tức cái ngã nhận ra được cái đặc thù (authentic) cũng như sự khác biệt của mình(distantiation)”[5]. Rõ ràng, cơ chế phản tư vốn mặc nhiên trong ý thức người. Hơn thế, phản tư còn góp phần xác lập tính người, nhận thức về chính bản thân mình, nhận thức về tính người của chính mình thông qua nhận diện tính người ở than nhân. Kiến giải phản tư còn có thể hiểu như kiến giải phê phán. Kiến giải tương phản chăng! Kiến giải để thông qua sự kiến giải, mình nhận diện mình, mình nhận diện mình ở giữa đời.

Thông qua kiến giải, tự phản tỉnh cũng như lay tỉnh tha nhân. “Vậy là nhà văn SA, bằng tất cả tâm huyết của mình muốn giúp nhân loại tỉnh ngộ, nhưng con người vẫn khó dứt cơn “say” theo quán tính đã bao đời! Chẳng lẽ phải đợi đến ngày … tận thế, khi chỉ còn các tỷ phú sống trên … mặt trăng, con người mới thức tỉnh?”(tr.304). Đó là những chia sẻ, đồng cảm của Nguyễn Khắc Phê đối với “Lời nguyện cầu Chernobyl” của Svetlana Alexievich đăng trên Tạp chí Sông Hương số đặc biệt, tháng 9-2020.

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê từng tâm sự: “Chẳng có chi xấu hổ việc bán sách… Cuốn sách gọi là “tạp văn” nên… linh tinh đủ thứ, trong đó phần nhiều “chuyện cũ”- ngay cả bài viết về thảm họa ở tầm vĩ mô như Dịch Covid – Tàu 2019 và các vụ lở núi kinh hoàng năm 2020, cả bài mới nhất về Người Mẹ trăm tuổi, chủ yếu cũng là chuyện “ngày xưa”. Tuy vậy, đến tay người đọc – theo thuật ngữ “tiếp nhận văn học” thì người đọc là đồng sáng tạo với tác giả từ nhiều góc nhìn, mỗi bài trong cuốn sách này hay – dở không đồng đều và còn tùy “gu”, nhưng hẳn là sẽ gợi cho độc giả những suy nghĩ liên hệ đến cuộc sống hôm nay…”[6]. Phải chăng, nhà văn nhắn nhủ bạn đọc, trang sách cơ hồ chỉ là phương tiện, thông qua đó, bạn đọc soi chiếu rồi nhìn lại chính mình. Để thấy rằng, bao nhiêu chuyện (dù xưa cũ hay mới tinh) đều là chuyện ngay bây giờ, ở giây phút hiện tại của bản thân mỗi người. Nhà văn vẫn mong mỏi sẻ chia cùng bạn đọc tâm tư qua trang sách phê bình, nhưng cũng biết rằng cơ hội tương phùng không nhiều. “Bạn thương tình để mắt đến thì đó là vinh hạnh của tác giả; nếu không, cũng “tự sướng” khi có thêm một tác phẩm được xếp hàng ngay ngắn, lâu dài trong thư viện nơi này nơi kia”(tr.8). Trân trọng độc giả, thế nhưng, biết rằng cuộc sống vốn có nhiều “lệch pha” tiếp nhận, lẽ đó, không thể không thừa nhận thực tế, khó có thể làm hài lòng tất cả mọi người, gây được sự đồng thuận ở quảng đại độc giả. Thế nên, trang phê bình ngoại hàng, trước hết nên xem như trang viết phản ánh tâm tư bản thân đã! Nhà văn dùng từ ‘tự sướng’ có lẽ không ít người cầm bút sẽ hiểu, đó chẳng khác gì niềm “cô đơn bản chất” Blanchot từng nhắc đến, mà bất cứ kẻ cầm bút nào cũng phải nếm trải.

Kiến giải tha nhân, lẽ đó, cũng kiến giải tự thân. Mỗi bài cảm nhận hoặc “Phê bình”, bạn đọc thấy đối tượng nhưng ngược lại cũng thấy người ngắm nhìn. Ở chỗ, ông sẻ chia cùng dân xóm Trùa – Phan Thúy Hà (qua tự truyện Qua khỏi dốc là nhà, cũng như bộ ba truyện “phi hư cấu” gồm Đừng kể tên tôi, Tôi là con gái của cha tôi, Gia đình), sẻ chia cùng người làng Mai-Trương Quang Đệ, bạn đọc nhìn ra tấm lòng thương nhớ quê hương Quảng Trị của tác giả tập sách “Bâng khuâng cảm xúc về thời cuộc” mà cũng nhận ra tình quê Hã Tĩnh sâu nặng trong tâm tư tác giả tập sách “Phê bình ngoại hạng”. Dường như Nguyễn Khắc Phê đã bắt gặp lòng mình ở chính lời chia sẻ của tha nhân. “TQĐ từng chia sẻ cuộc đời mình gắn với 4 vùng đất: ở quê nhà Quảng Trị gần 20 năm, ở Hà Nội hơn 20 năm; Huế gần 20 năm và Sài Gòn gần 20 năm. Tuy vậy, “Quê hương vẫn mãi sâu thẳm trong ông, như ông nói “cái cảm giác mình là người Quảng Trị không hề rời khỏi tôi dầu trong giây lát”. Đi khắp bốn phương trời, hiểu nước Pháp như chính nước Việt, hiểu tiếng Pháp như chính tiếng Việt, những vẫn còn đó một TQĐ, người tri thức Việt ra đi từ làng Mai” (tr.369). Dầu nhắc đến nhiều nội dung trong trang sách của nhà trí thức làng Mai, nhưng nồng nàn hơn cả chính là những chia sẻ và thán phục trước nỗ lực vượt khó của nhà trí thức. Điều đó, ngược lại, cho thấy tấm lòng của Nguyễn Khắc Phê đối với những con người vượt qua gian khó thời đại, giữ “truyền thống tốt đẹp của quê hương”(tr.372), sống xứng đáng với tiền nhân và cống hiến cho hậu thế. Chính thế, trong tâm hồn người kiến giải rõ ràng vẫn hiển hiện hình tượng người trí thức chân chính. Phải chăng đó là “siêu ngã” lý tưởng mà người kiến giải hằng kính nể và, muốn hướng đến.

Với thể loại phi hư cấu, nhà văn Nguyễn Khắc Phê dường như có sự chú ý nhất định đến bộ ba truyện phi hư cấu của Phan Thúy Hà. Bởi như ông nhận xét “Quả là nhiều câu văn của Phan Thúy Hà “đã tẩy trắng các biện pháp tu từ, lối viết nơi chị đạt tới “độ không” …” nhưng không phải trang nào cũng thế. Tác giả không ngần ngại bộc lộ cảm xúc, như sau khi bị đuổi khỏi căn nhà trong khu “gia binh” Thành Nội Huế: “…Mẹ và con giàn giụa nước mắt”. Trong truyện “Những cây dừa lão” về cuộc đời vợ chồng “chú Châm”, phép “tu từ” của tác giả là đặt những cảnh tương phản cạnh nhau để làm nổi bật sự trớ trêu của số phận; sau khi tả cảnh hai người sống chung với 4 con bò, vợ chồng thì “chưa khi nào làm việc đó”, tác giả buông một câu: “ Ngôi nhà của cô chú giữa cánh đồng nhìn từ xa thanh bình yên ả”. Tuy vậy, liền sau đó, cô viết: “…Qua không biết bao nhiêu là cây cầu, tôi mới dừng lại được. Tôi gục mặt xuống bàn tay. Tôi khóc nấc lên”. Tác giả không ngần ngại bộc lộ cảm xúc. Và nỗi xúc động lập tức truyền sang độc giả. Vì họ biết tác giả không “diễn” qua cách miêu tả không thể chân thực hơn” (tr.232). Cơ hồ, Phan Thúy Hà là tấm gương phản chiếu cảm xúc bạn đọc. Đó là nguồn khơi dậy cảm xúc và cũng là tấm gương cho bạn đọc nhìn thấy chính cơn bột phát cảm xúc của chính mình.

4. Kiến giải thặng dư

Kiến giải thặng dư hay việc phơi mở phần nghĩa dôi ra từ khoảng dao động giữa “thế khoa học” và “thế sinh”. Tức phần nghĩa phát sinh trong quá trình kiến giải/so đọ giữa tri thức khách quan lý tính và trải nghiệm chủ quan cảm tính. Vì “thế sinh cũng như hiện thể (Dasein) chỉ ra được “sự thặng dư của ý nghĩa trong kinh nghiệm sống, và như vậy có thể khiến thái độ mà ta đang giãy bày mang tính khách quan””[7]. Kỳ thực, kiến giải thặng dư không có quá nặng nề thuật ngữ như vậy. Có thể hiểu đại để, giữa các đối tượng khác nhau, hẳn có khoảng chênh lệch tiếp nhận khác nhau. Do đó, trong cuộc “gặp gỡ”, hai đối tượng hẳn sẽ tác động khiến cho nội dung ý nghĩa không chỉ gói gọn ở bản thân mỗi đối tượng mà còn có lượng nghĩa phát sinh trong cuộc tương phùng. Thậm chí, chính lượng nghĩa phát sinh ấy khẳng định ý nghĩa và giá trị của cuộc tương phùng. Trên phương diện này, Nguyễn Khắc Phê là “người bạn lòng” của nhiều tác giả, tác phẩm trong đời sống chữ nghĩa hiện nay!

Qua bản tổng kết của Ngô Thảo, nhà văn Nguyễn Khắc Phê vừa đánh giá trên phương diện “khoa học” về cách làm sách vừa bày tỏ xúc động chân thành với những nhà văn được Ngô Thảo nhắc đến. Đó là thế hệ nhà văn đi qua bom đạn chiến tranh. Vượt qua tất cả, sau những đánh giá về phương diện khoa học. E rằng, điều đáng quý nhất vẫn là những mất mát đau thương mà anh hùng của dân tộc Việt Nam hiện lên trong trang viết. “Chỉ là “trích yếu” một cuộc đời như thế, đã thấy rộng dài và sâu thẳm biết bao dấu ấn lịch sử đất nước cũng như số phận nhiều lớp người từng gắn bó với các chiến sĩ-nhà văn trong cuộc trường chinh của dân tộc” (tr.49). Phần thặng dư ở đây chính là tình cảm của chính nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Nói khác, ông đã nối dài trang viết của Ngô Thảo. Có lẽ bởi lối nhìn nhận này, trang phê bình của Nguyễn Khắc Phê vừa sâu, vừa chi tiết, nhưng lại tình cảm mượt mà.

Phần nghĩa dôi ra trong cuộc tương giao “văn sĩ” với “thế giới xung quanh”, cộng hưởng với tâm tư Nguyễn Khắc Phê, khiến bạn đọc nhận ra: giá trị quê hương và dân tộc đáng quý ở tập sách “phê bình ngoại hạng”. Thông qua ngẫu văn của Lê Quốc Hán, hẳn độc giả nhận ra chỗ “đụng chạm” giữa tri thức khách quan và trải nghiệm cảm tính mà Nguyễn Khắc Phê bắt gặp ở tác phẩm “Hai phía chân dung”. Cũng chính ở đó, độc giả nhìn thấy nhà văn Nguyễn Khắc Phê. “Nhà thơ, PGS.TS. Lê Quốc Hán ghi thể loại cuốn sách vừa xuất bản là ‘ngẫu văn”; có thể tạm hiểu là những bài văn viết một cách ngẫu nhiên hoặc ngẫu hứng mà viết. Tác giả chọn ghi một thể loại “hiếm” trên thị trường sách nhưng quả là thích hợp với “Hai phía chân dung” – một cuốn sách phong phú về đề tài và “đa thanh” về giọng điệu. “Ngẫu văn” Lê Quốc Hán tung tẩy đúng kiểu nhà thơ, không trói buộc “quy phạm” nào, hết chuyện này đến chuyện khác; tuy vậy, anh còn là nhà toán học, nên dù “tung hoành” ngang dọc xứ Nghệ (Hà Tĩnh và Nghệ An) và mở rộng cả đất nước, nhưng xem kỹ vẫn có thứ lớp, vẫn phân chia trọng tâm, trọng điểm quanh hai trục “tung”, trục “hoành” là quê hương và đồng bào ruột thịt của mình!”(tr.98). Ngay ở đó, bạn cũng thấy tình quê hương và tình ruột thịt chính là khoảng cộng hưởng, phát sinh nghĩa. Nghĩa lý thặng dự đó khác gì “tình máu mủ” văn chương!

Cần nói thêm, nghĩa thặng dư phát sinh trong quá tình tiếp nhận/phê bình là điều gần như hiển nhiên, phổ biến trong nhiều trang phê bình. Bởi lẽ, giữa ta và người luôn tồn tại khoảng “lệch pha” ý thức. Lẽ đó, người với ta luôn có “mặt bằng tiếp nhận” khác nhau. Nhưng, “khác ta chưa hẳn là người thù ta”. Xưa nay không ít gương tri âm tri kỷ! Nhìn ở khía cạnh này, có thể thấy, Nguyễn Khắc Phê đã “tri âm” như “tri kỷ” với nhiều cây bút khắp nơi! Chí ít, Nguyễn Khắc Phê đã cộng hưởng với “đa thanh” trong tác phẩm của bạn bè văn chương khắp nơi. Để cho âm thanh cộng hưởng rồi lan tỏa! Với một người yêu văn chương, “phê bình ngoại hạng” của Nguyễn Khắc Phê thật đáng trân trọng.

Phải nhận rằng, đọc trang phê bình của Nguyễn Khắc Phê rất giàu thông tin. Còn một điều trân quý hơn nữa, chính là ông đã giúp cho bạn đọc càng thêm thuận tiện khi trực tiếp thâm nhập vào đối tượng được nói đến. Nhất là, đối với các tác phẩm vừa có tính khoa học vừa có tính văn chương, trang viết của Nguyễn Khắc Phê còn gợi ý một lối “thông diễn” khả dĩ cho bạn đọc phổ thông. “Như thế bạn đọc có lẽ đã hình dung phần nào tầm vóc và cách tiếp cận vấn đề của tác giả. Để thật hiểu được tác phẩm, tôi nghĩ ít nhất là phải đọc 2 lần, nhưng có lẽ (với bạn đọc “phổ thông”) không cần “bận tâm” quá nhiều các chi tiết của những thành tựu nghiên cứu vật lý hiện đại, mà chỉ càn nắm “ý tưởng” mà tác giả hướng tới; mực dù tác giả đã cố gắng giới thiệu chúng một cách dễ hiểu nhất có thể – chứ không dễ nắm được nội dung hàng loạt các lý thuyết và thực nghiệm của các nhà khoa học trên thế giới như “lý thuyết dây”, rồi “Lý thuyết hấp dẫn lượng tử vòng”…; chỉ một kích thước hạt Quark với con số 10 mũ “âm” 18 đã khó hình dung”(tr.396). Trang phê bình của Nguyễn Khắc Phê khiến cho các vấn đề khoa học “nặng ký” đi vào đời sống, giúp bạn đọc nhìn ra cái gì đó thiết thân, gần gũi hơn, coi như cũng làm bớt đi phần nào “sự nặng ký” của đối tượng được nhắc tới. Có thể nói, Nguyễn Khắc Phê đã bôi trơn, giảm tính ma sát giữa “thế khoa học” và “thế sinh”, giúp bạn đọc thuận tiện tiếp cận hơn!

Đối với những trang sách có hàm lượng khoa học cao, nhà văn thường có khuynh hướng nắm bắt “ý tưởng” cốt lỏi của tác giả, sau đó mới chia nhỏ đi sâu vào từng khía cạnh vấn đề. Vì thế, trang phê bình của Nguyễn Khắc Phê rất thuận tiện cho bạn đọc mới tiếp cận vấn đề “giàu hàm lượng khoa học ấy”. Qua đó, không chỉ năng lực tiếp nhận thay đổi mà “tầm đón đợi” của kẻ đọc cũng khác đi. Chữ “té ra” của nhà văn Nguyễn Khắc Phê chính là minh chứng cho lối “thông diễn” thặng dư như thế! “Tôi tin là nếu bạn đọc tác phẩm này, khi gấp sách lại – thậm chí đang đọc cũng sẽ có nhiều lúc tạm “giải lao” đứng dậy, bước ra nhìn cảnh vật xung quanh, rồi phóng tầm mắt ra bầu trời xa lắc mênh mông và tự nhủ: “Thì ra lâu nay mình tưởng đã hiểu hết … Té ra những thứ con người đo đếm được chỉ chiếm 4% vũ trụ; còn 86% chưa biết, các nhà khoa học gọi là “Năng lượng tối”! … 96% ấy là những gì nhỉ? Siêu nhiên hay là gì nữa?… Thiết nghĩ, biết tự hỏi như thế là dấu hiệu con người trưởng thành. Cũng là cách ứng xử có văn hóa trong cuộc sống cụ thể cũng như trước vũ trụ huyền bí bao la…”(tr.399).

Qua lối thông diễn này, dường như nhà văn Nguyễn Khắc Phê cũng không ngừng biến đổi “tầm đón đợi”. Ở đó, bạn thấy Nguyễn Khắc Phê dù ở tuổi thượng thọ vẫn không ngừng cập nhật, ham học hỏi, tìm tòi thế giới xung quanh! Nhà văn Nguyễn Khắc Phê thực sự làm tấm gương ham học hỏi và nghiên cứu không mệt mỏi!

5. Kiến giải vô thức

Sau khi đã kiến-giải-nghiệm từ ngoài và trong, từ nông đến sâu, từ “cổ điển”/ “truyền thống” đến hiện đại/cập nhật, Nguyễn Khắc Phê dần trở thành nhà “khảo cổ” mà cũng là nhà “tâm lý trị liệu”. Bởi, việc kiến giải vô thức ví như hành động “khai quật” mà Nguyễn Khắc Phê thực hiện nhằm khám phá tầng vô thức của đối tượng tiếp nhận. “Giống như phân tâm học, thông diễn học trước hết phải là một nền khảo cổ học về chính chủ thể”(archéologie du sujet). Chính vì thế mà TDH đào bới cái ý nghĩa bị đè nén, hay ẩn nấp dưới bề mặt và nằm ở chiều sâu”[8]. Theo đó, nhà văn Nguyễn Khắc Phê có thể cộng hưởng với bao nỗi niềm thầm kín, bao uẩn ức chôn giấu khó có thể trao gửi cùng ai!

Chẳng hạn, “Đắng ngọt đàn bà” với Nguyễn Thị Lê Na là “bản khảo trạng nội tâm nhằm hướng đến sự tự do bản thể và xác lập nhân vị đàn bà”; đối với Nguyễn Khắc Phê, là bản thể đàn bà và bản lĩnh nhà văn. Mặc dù chẳng dám nhận mình là nhà phê bình lý luận nhưng qua cách viết, người đọc thấy Nguyễn Khắc Phê đã vượt qua lý luận phê bình, nghĩa là không còn làm theo quy củ, lần bước theo những khái niệm trong hệ thuyết nào. Ông hoàn toàn thoải mái đi vào đối tượng. Bởi ông đã bàn đến “Nữ quyền luận” bốn mươi năm về trước. Không mắc mớ gì hệ thuyết này hệ thuyết nọ, đơn giản, ông thâm nhập kiến giải căn cơ nữ tính – kiến giải phần “tàng thức”/ “vô thức” thiết lập hiện tượng “đàn bà”. Nghĩa là bản thể! Hơn tám mươi tuổi, bàn đến căn cơ hiện tượng “đàn bà” thì e rằng, ngay cả phụ nữ cũng không thấu đáo cho bằng nhà văn họ Nguyễn. Không vin vào nữ quyền luận, Nguyễn Khắc Phê đi thẳng vào tầng vô thức với những khát khao rất thầm kín và cũng rất đàn bà. Vấn đề ông bàn đến không phải là vấn đề quyền phụ nữ như một vấn đề xã hội hay văn hóa. Ông đánh giá cao Nguyễn Thị Lê Na ở chỗ kể tả những câu chuyện “xưa như trái đất” nhưng lại vẫn là vấn đề muôn thuở mà con người mãi chưa thấu đáo!

Một thi sĩ từng viết: “Chớ để riêng em phải gặp lòng em”. Có lẽ, mình đối diện với chính mình là điều khó khăn nhất. Nhưng, với Nguyễn Khắc Phê, ông đã làm được điều đó. Với, “số phận không định trước”, nhà văn “tự truyện” hay đó là cách “thông diễn” tự thân. Đến phê bình ngoại hạng, dường như ở trang viết nào, độc giả cũng có thể nhận ra dáng hình Nguyễn Khắc Phê đằng sau đó. “Đằng sau những trang sách này, ta thấy rõ hơn cốt cách Nguyễn Khắc Phê – một công dân gương mẫu, một nhà văn dù không định trước được số phận của mình, nhưng biết vượt lên mọi cảnh ngộ, đứng thẳng làm người, đã sống và viết như một người chiến sĩ dũng cảm biết đặt Tổ quốc lên trên hết, luôn bảo vệ và đấu tranh cho lẽ phải, sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật sinh động giàu chất nhân văn. Dòng đời dữ dội vẫn chảy, nhà văn vẫn luôn vượt lên tình thế, luôn vượt lên chính mình để khẳng định cốt cách, phẩm giá và vai trò của người nghệ sĩ. Đó chính là cốt cách của những nhà văn đích thực”[9]. Không chỉ đọc trang viết và thông tin từ nhà văn mang lại, người đọc còn có thể đọc chính phần “ẩn ức” trong chữ nghĩa. Nói vậy, có lẽ thừa, bởi ai viết mà không để lại dấu vết tâm hồn mình! Do đó, “kiến giải vô thức” hầu như là điều mặc nhiên. Và, ở phương diện này, bạn đọc có thể thấy Nguyễn Khắc Phê đã sòng phẳng với lòng mình! Thêm nữa, ông cũng đủ nhạy cảm và dũng cảm, khai mở những tình ý có phần tế nhị!

Vì lẽ đó, “đọc văn của Nguyễn Khắc Phê không thể chỉ đọc thoáng, đọc lướt mà phải đọc bằng sự suy ngẫm nghiêm túc, không thể chỉ đọc trên bề nổi câu chữ mà phải đọc ở nghĩa hàm ẩn, không thể chỉ nhìn vào đối tượng đang được đề cập mà phải liên tưởng đến những vấn đề khác của cuộc sống. Ngôn ngữ của ông vì vậy ngắn gọn mà tầng tầng lớp lớp những suy nghĩ liên tưởng “người đọc càng nghiền ngẫm càng thú vị và thú vị càng cao thì cái chua cay càng lớn””[10]. Chữ nghĩa Nguyễn Khắc Phê nhiều tầng nghĩa cho thấy lối suy nghĩ thấu đáo, đa chiều. Trong khi viết ông vẫn hay cho từ/cụm từ vào dấu ngoặc. Một cách nhấn mạnh chăng! Có thể lắm! Nhưng, có lẽ, ở những chỗ ấy, bạn đọc cần tỉnh táo để nhìn thấy nét trầm ngâm nào đó của hình tượng Nguyễn Khắc Phê trước vấn đề đặt ra. Dường như, càng trải nghiệm nhiều, người ta càng khó có thể nhận định dứt khoát một vấn đề. Thế nên, cần phải đưa vấn đề ấy vào ngoặc kép để mình với tha nhân cùng nghĩ thêm! Lối phê bình của Nguyễn Khắc Phê, do đó, vừa thẳng thắn nhưng vẫn chừng mực, nhiều tầng nghĩa và chẳng kém phần giàu suy tư.

Một lý do nữa, khiến cho việc đọc trang viết của Nguyễn Khắc Phê phải đọc chậm, đọc kỹ. Bởi, nhà văn không chỉ nhìn bằng mắt và hơn thế, ông còn nhìn bằng tâm. Lấy hồn mình nhìn hồn người, lấy trái tim mình đập cùng nhịp trái tim người; nghĩa là, “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” và phải chăng, Nguyễn Khắc Phê có thể nhận ra phần “ẩn ức” trong đôi mắt cũng như tâm hồn của đối tượng bởi cuộc đời của nhà phê bình cũng có những nỗi niềm ngậm ngùi không ít. Có thể nói, chính bản thân cuộc đời của nhà phê bình đã thăng trầm đủ mọi cung bậc. “Đọc “Di cảo LQV”, dù chưa phải đã là toàn bộ những gì anh để lại, chúng ta thấy một LQV “khác” – nói đúng hơn đó là một LQV không ngừng trăn trở, thao thức, thậm chí là vật vã như một người có chiều kích khác thường, đang cố cởi bỏ cái áo khoác, cái mũ chật chội mà anh đang mang. Và như thế, chúng ta hiểu rằng, không phải ngẫu nhiên mà LQV đạt được những thành công nổi trội trong những năm cuối đời”. (tr.121-122). Hay nói khác đi, ông nhìn thấy tận tâm can đau khổ của tha nhân. Bởi vậy, dù không hoàn toàn đồng ý với tha nhân, ông vẫn tỏ ra niềm thương cảm nhất định. Niềm thương cảm đó, khiến trang “kiến giải” của ông nghiêm nghị không nghiêm khắc (không khắt khe).

 Tạm kết

Ở tuổi thượng thọ, phải thán phục sức đọc và sức viết của Nguyễn Khắc Phê. Điều này, cho thấy, ông bám sát thời đại ông đang sống – nhà văn thời cuộc -, ông cập nhật liên tục, quan tâm đến đời sống chữ nghĩa đương thời. Trong cách đọc, cách nghĩ, cách kiến giải của ông, bạn đọc thấy Nguyễn Khắc Phê rất thấu hiểu cũng như rất trí thức trong nhận định mọi vấn đề từ đơn giả đến phức tạp và có đôi khi, dẫn tới nan giãi. Đặc biệt, nhiều trang viết của ông không ít lần tiếp nhận nóng và bỏng khi đề cập đến những vấn đề “thời sự văn chương”. Người đời thường nói: tư chất thông minh là do trời cho còn trung thực và thiện lương là do người tự chọn thái độ sống thì ở Nguyễn Khắc Phê, ông có đủ cả hai tố chất ấy. Cũng vì vậy, tâm hồn bậc cao niên thượng thọ Nguyễn Khắc Phê vẫn sôi nổi hăng hái và mạnh mẽ tiếp bước trên “những chặng đường văn”!

Bàn chuyện người, rốt cuộc bộc bạch lòng mình! Nhờ vậy, bạn đọc thấy được ở Nguyễn Khắc Phê một tấm lòng dường như lúc nào cũng thao thức, trăn trở những mong đưa lòng người đến bến bờ tươi sáng đẹp đẽ hơn, cũng luống mong nhân tâm thêm sáng trong rạng tỏ nhân văn. Nhất là, vẻ đẹp nhân văn thuộc về truyền thống văn hóa dân tộc. Nhà văn lão thành Nguyễn Khắc Phê đã bền bỉ, âm thầm và chung thủy với văn chương, với quê hương trên nửa thế kỷ qua! Ông cho rằng thói quen đọc và viết vốn bởi muốn rèn trí nhớ, tránh bệnh tuổi già, … nhưng thực chất, có lẽ, bạn đọc cũng đã nhận ra viết và đọc đối với Nguyễn Khắc Phê còn là ký gửi bao nỗi niềm thế sự hôm nay cho thế hệ hậu nhân. Vì vậy, ông nói rầng “có thêm một tác phẩm được xếp hàng ngay ngắn, lâu dài trong thư viện nơi này nơi kia”. Hẳn ông, vẫn còn mong mỏi chia sẻ và gặp gỡ bạn lòng khắp nơi. Mà. kỳ thực, ai cầm bút lại không mong gặp được người tri âm tri kỷ. Không biết Nguyễn Khắc Phê đã gặp được người tri âm tri kỷ hay chưa nhưng trước hết, ông đã là người bạn tri âm với nhiều tác giả tác phẩm đương thời!

Sau khi miệt mài dõi theo cuộc “thông diễn” của nhà văn Nguyễn Khắc Phê, người đọc cần trở lại với tựa đề tập sách: “Những trang sách thức tỉnh con người – Tập phê bình ngoại hạng”. Lẽ vì đâu, có sự thức tỉnh này? Chắc hẳn, sau khi đọc, người đọc chắc hẳn tự trả lời được câu hỏi ấy! Ở đây, qua việc hội ngộ với lão nhà văn họ Nguyễn trong cuộc thông diễn, từ ngoài vào trong, từ nông đến sâu và chỉ như vậy thôi, cũng đủ gọi là thức tỉnh rồi! Ấy là, chưa kể đến những gợi mở có tầm vóc của Nguyễn Khắc Phê về phía những tác giả – tác phẩm được đề cập đến: khai mở/tiếp nhận đa chiều sẽ giúp bạn đọc nhận ra được điều cần thiết trong cuộc sống thường ngày đối với sinh hoạt văn chương nơi tâm hồn người.

Rõ là, đóng góp của tập sách “Những trang sách thức tỉnh con người” của Nguyễn Khắc Phê chính là khả năng nâng cao năng lực và nhu cầu thẩm mỹ của độc giả!.

Chú thích:

[1] Trần Văn Đoàn (2004). Tổng quan về Thông diễn học. Diễn đàn Khoa học về Con người. Tạp chí Nghiên cứu con người số 3 (12), tr.53(45-60).

[2] Trần Văn Đoàn (2004). Sđd, tr.53(45-60).

[3] Từ Sơn (2010). Nhà văn Nguyễn Khắc Phê và cuốn tiểu thuyết mới xuất bản. Tạp chí Sông Hương (255/5-10). Trích xuất: http://tapchisonghuong.com.vn/.

[4] Nguyễn Khắc Phê (2005). “Đã đến lúc cần một cách nhìn toàn diện, tôn trọng sự thật”. Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 5, tr.22-24.

[5] Trần Văn Đoàn (2004). Sđd, tr.53(45-60).

[6] Võ Quê (17/04/2021). Nguyễn Khắc Phê và chuyện buồn vui, thêm bớt giữa đời thường. Trích xuất từ: https://thanhnien.vn/.

[7] Trần Văn Đoàn (2004). Sđd, tr.53-54(45-60).

[8] Trần Văn Đoàn (2004). Sđd, tr.54(45-60).

[9] Nguyễn Thế Quang (2017). Dòng đời dữ dội và cốt cách nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Tạp chí Sông Hương số 338 (T.04-17). Trích xuất từ: http://tapchisonghuong.com.vn/.

[10] Nguyễn Văn Nhật Thành (06/10/2021). Ngôn ngữ – “thứ phương tiện gần như duy nhất và bắt buộc” trong nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Phê. Trích xuất từ: https://vanvn.vn/.

16/10/2022

Trần Bảo Định

Theo https://vanvn.vn/

  Bản “tiểu sử văn học” tự khai của nhà thơ Xuân Quỳnh Một tư liệu quý để hiểu thêm về nữ thi sĩ Xuân Quỳnh, nhân kỷ niệm 80 năm sinh của ...