VĂN THƠ NHẠC
Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026
Thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ
Thân phận con người
trong thơ Lưu Quang Vũ
Xét trên bình diện phổ quát, thân phận con người cô đơn
trong thơ Lưu Quang Vũ cũng là vấn đề thường gặp trong văn chương của nhiều thi
nhân mà tên tuổi của họ đã trở nên gắn bó với nền văn hóa dân tộc: Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính… Vấn đề đặt ra
ở đây là trong thơ Lưu Quang Vũ chân dung con người cô đơn được tái hiện
như như thế nào?
1. Trong bài thơ Giấc mộng đêm Lưu Quang Vũ với
trí tưởng tượng bay bổng của mình đã mơ được gặp Thi hào Nguyễn Du và nghe tiền
nhân căn dặn: “Anh chớ ngại con đường gian khổ nhất/ Đau nỗi đau của mỗi
trái tim người/ Để thơ anh mang lửa đến cho đời/ Trên chữ “tài”, chữ “tâm” kia
phải “lớn”. Thực ra, đây chính là những lời tự vấn đầy trăn trở bật lên từ thẳm
sâu tiềm thức của Lưu Quang Vũ – một thi sĩ có trái tim vô cùng nhạy cảm và
luôn đau đáu, nồng nàn, da diết những yêu thương với cuộc đời và con người. Suốt
một đời cầm bút, sáng tác trên nền tảng tinh thần lấy chữ “tâm” làm điểm tựa cơ
bản cho nên dẫu chỉ có mặt trên “cõi tạm” bốn mươi năm ngắn ngủi nhưng Lưu
Quang Vũ đã để lại một sự nghiệp văn chương đầy ấn tượng trong đó có sự thành
công của thơ ca. Song nếu với kịch – một thể loại mà ngay từ những vở công bố đầu
tiên đã khiến tên tuổi của Lưu Quang Vũ tỏa sáng, từ đó ông trở thành kịch gia
lừng danh nhất trên văn đàn Việt Nam ở thế kỷ XX thì sự nghiệp thơ ca của Lưu
Quang Vũ cũng như số phận của chính tác giả đã chịu nhiều nỗi truân chuyên. Lưu
Quang Vũ từng ngậm ngùi chia sẻ: “Hàng vạn người biết đến tên Lưu Quang Vũ nhờ
sân khấu, nhưng mình không thích bằng có năm trăm người yêu thơ mình. Mình chỉ
mong in được một tập thơ thôi…” (Lưu Quang Vũ, Di cảo, 2018, Nxb.Trẻ, Hà Nội,
tr.390). Lời tâm sự chân thành cho thấy đối với Lưu Quang Vũ, thơ mới chính là
thể loại mà ông đam mê nhất, nhưng cũng đồng thời hé lộ bi kịch đau đớn của người
cầm bút. Song, cùng với năm tháng, vẻ đẹp vĩnh hằng trong thơ Lưu Quang Vũ cũng
như bản lĩnh, nhân cách nghệ sĩ với “một trái tim trung thực” của ông ngày càng
tỏa sáng. Âu đó cũng là điều tuân theo quy luật mà không cường quyền, bạo lực
và sự phi lý nào có thể phủ nhận: nghệ thuật đích thực bao giờ cũng là viên ngọc
phát ánh hào quang trong tro bụi thời gian. Những vần thơ cất lên từ trái tim
chưa bao giờ yên ổn vì tình yêu thương con người của Lưu Quang Vũ như một liên
khúc thanh âm phủ đầy nốt lặng, trầm buồn, vang ngân xuyên thấu thời gian, mãi
mãi thắp lên trong tâm thức bạn đọc những nỗi buồn, niềm vui, những sẻ chia đau
khổ, hạnh phúc cho con người và vì con người – quan tâm đến thân phận con
người với tất cả những vui buồn, được mất, hạnh phúc, khổ đau, vinh quang,
cay đắng trong kiếp nhân sinh đầy biến đổi và bất an và đó là một trong những hệ
giá trị nhân văn sâu sắc nhất khiến thơ Lưu Quang Vũ có sức cuốn hút, say lòng
bạn đọc bao thế hệ.
2. Sinh thời Lưu Quang Vũ mới in được nửa tập thơ, kể từ
sau khi nhà thơ đi vào cõi vĩnh hằng cho đến hôm nay, thơ ông đã được xuất bản
nhiều lần, tập trung phần lớn ở các tập: Lưu Quang Vũ, Thơ tình, (NXB Văn
học, 2002), Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (tuyển thơ, Nxb Hội
Nhà văn, H.2010), Di cảo Lưu Quang Vũ, (Lưu Khánh Thơ tuyển soạn,
Nxb. Trẻ, H.2018). Đọc thơ Lưu Quang Vũ có thể nhận thấy ngọn gió mang nỗi đau
về thân phận con người thổi xuyên suốt thơ ông – đó là ngọn gió “không ngừng lo
âu không ngừng phẫn nộ/ bởi vô biên là khát vọng của con người” (Những đám mây
ban sớm). Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh khốc liệt, do
đó cũng như nhiều người cùng thời, Lưu Quang Vũ nếm trải “ngọn gió dữ của rừng
già khắc nghiệt”, chứa chất trong lòng muôn nỗi buồn, sự lo âu và những trăn trở,
khát vọng. Nhưng khác nhiều người, Lưu Quang Vũ đã dám sống và dám bộc bạch thật
lòng mình. “Bởi như gió, anh phóng túng, tự do. Dám sống đúng mình, dám nghĩ
đúng mình. Anh không thể yên ổn trong những cái mực thước, khuôn phép, vừa phải,
lừng chừng”. (Phạm Xuân Nguyên, 2014, Nhà văn như Thị Nở, Nxb.Hội Nhà văn,
Hà Nội, tr.248). Khi Lưu Quang Vũ tự hỏi: Anh chẳng mang cho đời những tiệc
vui ảo ảnh/ Nỗi buồn chân thành đời chẳng nhận hay sao? (Anh đã mất chi,
anh đã được gì?), hoặc chân thành bộc bạch: Tình yêu trong lòng tôi chẳng
ích lợi cho ai/ Còn những gì mọi người cần tôi chẳng thiết (Có những
lúc) thì cũng chính là thời khắc nhà thơ thấm thía nỗi đau “bị chối bỏ” của
thân phận nghệ sĩ, nhận diện rõ hơn giá trị nhân vị, ý nghĩa sự tồn sinh của mỗi
cá nhân, sẵn sàng tâm thế đối diện với sự thật nghiệt ngã của cuộc sống vốn tồn
tại nhiều điều phi lý. Và tất cả những điều trên là cơ sở để chúng ta suy ngẫm,
luận giải vì sao vấn đề thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ lại ám ảnh
nhiều nỗi buồn đến thế?! Đó là nỗi buồn về con người – nạn nhân đau khổ bởi
chiến tranh; đó là nỗi buồn vì đổ vỡ niềm tin, con người cô đơn, tuyệt vọng; đó
là con người mang tâm trạng “lưu đày” ngay chính trên quê hương xứ sở của
mình;là nỗi lo âu về sự hữu hạn, mong manh của kiếp người trong dòng chảy vô thủy
vô chung của thời gian…Đằng sau nỗi buồn dằng dặc, đầy khắc khoải trong thơ Lưu
Quang Vũ về thân phận con người phải chăng tiềm ẩn lớp lớp thông điệp cần được
“đọc”, được tiếp tục khám phá bằng tấm lòng “tri âm”, đồng điệu, để từ đó có thể
khẳng định tầm tư tưởng nhân văn sâu sắc cũng như tài năng, nhân cách và bản
lĩnh của một nhà thơ – nhà văn hóa lớn của dân tộc ở thế kỷ XX đầy biến động.
Đọc thơ Lưu Quang Vũ, có thể nhận thấy đối với nhà thơ chiến
tranh quả thực “ không phải trò đùa”. Giữa dàn đồng ca hào hùng, lãng mạn tụng
ca khí thế của một thời cả nước lên đường: đường ra trận mùa này đẹp lắm (Phạm
Tiến Duật), Súng nhỏ súng to chiến trường chật chội/ Tiếng cười hăm hở đầy
sông đầy cầu (Chính Hữu), Lưu Quang Vũ riêng mình sớm nhận diện bản
chất thực của chiến tranh “giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều/ Rách tan cả
những làn sương đẹp phủ” (Gửi một người bạn gái). Trong tâm thức của Lưu Quang
Vũ, cho dù ở đâu và bất cứ ở thời đại nào chiến tranh cũng mang gương mặt lạnh
lùng, hắc ám của tên đao phủ, là gieo rắc cái chết thương tâm khắp nơi, là sự đổ
máu, và những phá hủy tàn khốc cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Ngay
trong tập thơ đầu đời Hương cây đã thấy những mất mát bởi chiến tranh
đã chi phối âm hưởng buồn man mác trong nhiều bài thơ (Qua sông Thương, Phố huyện,
Phủ Lý tháng hai, Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa, Mùa xoài chín, Chia tay), và
dòng cảm thức về thân phận con người trong chiến tranh càng ngày càng
đậm nét ở những tập thơ sau này của Lưu Quang Vũ như Viết cho em từ cửa biển,
Đất nước đàn bầu, Mắt của trời xanh, Những đám mây ban sớm, Những bông hoa
không chết.
Như bức họa về chiến tranh phủ đầy gam màu tối u buồn, trong
thơ Lưu Quang Vũ hình ảnh con người và cái chết thê thảm vô nghĩa luôn được
tô đậm một cách có chủ ý nghệ thuật. Lưu Quang Vũ đã không cường điệu hóa
hiện thực, nhà thơ cảm nhận chiến tranh và cái chết bằng cảm xúc rất thật của
mình. Cái chết thương tâm được tái hiện cực thực, tỷ mỉ, chi tiết mang đến cho
bạn đọc một ấn tượng khó phai mờ, một cảm giác tê điếng, hãi hùng, đau đớn: những
người chết trong đêm thân gãy nát/ óc chảy ròng trên gạch/ những người chết
cháy đen miệng há mắt mở trừng/ tay chân vặn vẹo thịt xương/ lòng ruột mắc trên
dây điện/ phố Khâm Thiên ầm ầm đổ sụp/ tiếng người la khủng khiếp đêm dài/ mặt
trời lên trên bãi thây người/ mặt dập vỡ ngực trần thủng hoác/ những đống tóc
gân đầu mình lẫn lộn/ những xác tím bầm lạnh buốt sương đêm (Khâm Thiên);
Người chết vùi thân dưới hố bom.(Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và
bác Khánh nói về những cuộc chia tay thời loạn); Xác người trôi trên biển
sóng xô tan/ huyệt bom tối ầm ào cơn gió hú (Em – tình yêu những năm đau
xót và hy vọng); Bao đầu người bêu trên cọc gỗ (Đất nước đàn bầu); Xác
gục giữa bùn lầy/ thái dương rỉ máu (Những đám mây ban sớm); Xác nguỵ
nằm ruồi muỗi bâu đầy/ những đôi mắt bệch màu hoa dại/ những gương mặt trẻ măng
xanh tái/ những bàn tay đen đủi chai dầy (Cơn bão); Những đứa trẻ con
bị giết/ nằm kín hàng hiên / mùi xác chết u ám cả bầu trời (Sông Hồng –
năm mẹ sinh em); Ta có thằng bạn học/ hy sinh chôn dưới nền nhà (Sông
Hồng – lời từ giã của Trung đoàn Thủ đô) ; Hùng chết giữa trời cao/ Trong
chiếc Mig bị quân thù bắn cháy/ Dù không mở, bọn mình tìm chẳng thấy/ Xương thịt
Hùng lẫn với đất nâu (Giấc mộng đêm)… Như vậy, trong thức nhận của Lưu
Quang Vũ sự lạnh lùng tàn bạo là một thuộc tính của chiến tranh và vì vậy chiến
tranh dù bất luận vì lý do gì đều gieo rắc chết chóc đau thương cho nhân loại,
không trừ một ai và lứa tuổi nào, cho dẫu đó có là mẹ già hay em nhỏ trong
nôi…chiến tranh giáng xuống số phận con người hậu họa khôn lường, vết thương do
chiến tranh để lại trong lòng mỗi người khó có thể hàn gắn được. Trong
lúc nhiều nhà thơ cùng thời vì nhiều lý do khác nhau không nói (hoặc không dám
nói) đến cái chết trong thơ mình, hoặc có nói đến thì cũng oai hùng hóa về cái
chết thì trong thơ Lưu Quang Vũ, ta bắt gặp nhiều lần ông nhắc đến cái chết.
Cái chết trong thơ Lưu Quang Vũ như một thảm họa mặc định của chiến
tranh, cái chết mang đầy nỗi ưu lo về phận người, trong suy niệm của Lưu Quang
Vũ, chiến tranh luôn mang lại đau thương vô hạn cho con người mà cái chết là tận
cùng nỗi đau thương đó. Khi vấn đề sự sống và cái chết của con người được đặt
lên hàng đầu và trở thành một hệ giá trị nhân văn, có giá trị thức tỉnh nhân loại
chấm dứt chiến tranh, hướng đến hòa bình vì hạnh phúc của con người thì thiết
nghĩ Lưu Quang Vũ rất xứng đáng được tôn vinh là “đại sứ hòa bình” bởi thơ
ông khiến bạn đọc ghê sợ chiến tranh và tội ác, thêm trân quý sự sống, trân quý
từng phút giây hiện hữu của mỗi con người.
Chiến tranh không chỉ khiến con người phải chết một cách vô
nghĩa mà còn đày đọa con người trong biết bao cảnh đời ly tán, loạn lạc, đói
nghèo lam lũ. Đi từ những nỗi đau riêng trong sự nghiệm sinh của chính cuộc đời
mình, Lưu Quang Vũ đã đến với nỗi đau chung của phận số con người, của cộng đồng
thấm đẫm nỗi niềm xót xa, thương cảm:
Thổi xoã tóc đoàn người chạy giặc/ những dòng người kéo đi xé
ruột/ đội chiếu, ôm chăn, đeo làn, vác bọc/ chút gia tài nghèo cực địu trên
lưng/ bao gia đình dắt díu chị bồng em/ những quần áo khói bom lấm rách/ những
cụ già vịn nhau dò dẫm/ máu ròng ròng trên những chiếc cáng thương(Khâm
Thiên); Cả dân tộc cởi trần đứng trên bùn ướt/ Đầu đội mưa bom, tay cầm khẩu
súng trường/ Những lòng người chia cắt đến tan hoang/ Những núi rào gai và vỏ đạn/
Đồng bãi hoang liêu, phố phường gạch vụn/ Bao cỏ ngọt bị giày đinh dẫm đạp/ Bao
tha ma gò đống ngổn ngang nằm (Những Đám Mây Ban Sớm); Những mặt vàng
sốt rét/ Những bộ xương đói khát vật vờ đi (…) con trai chinh chiến
liên miên/ Con gái mong chồng, hoá đá (Đất nước đàn bầu); giải đất tối
tăm giải đất nghèo hèn/ chỉ còn những cơn gió lang thang/ chỉ còn cái đói (Sông
Hồng – năm mẹ sinh em);
Người mẹ nghèo đầu ô/ chiếc xe nôi trẻ thơ/ lỗ chỗ đầy vết đạn/
chiếc dương cầm nhà ai/ tiếng dây đứt trong đêm chờ giặc (Sông Hồng – lời
từ giã của Trung đoàn Thủ đô); Nhưng mãi mãi chẳng bao giờ sống dậy/ những
tháng năm đã mất/ những nhịp cầu gẫy gục/ những toa tầu sụp đổ tan hoang (Những
đứa trẻ buồn)…
Cuộc sống của con người trong và sau chiến tranh ủ rũ thảm hại!
Tất cả còn lại chỉ là đống hoang tàn, đổ nát, đầy tử khí. Con người tồn tại vật
vờ giữa cõi dương gian mà tối tăm, mù mịt, nghẹt thở như ở chín tầng địa ngục.
Có cái gì như uất nghẹn trong lồng ngực…Cảm xúc thẩm mỹ được đẩy lên đến cao
trào, ào ạt, triền miên dồn dập đầy ắp hình ảnh pha trộn giữa ảo và thực… Có cảm
giác nhà thơ như đắm đuối chìm trong một cơn ác mộng. Thi giới Lưu Quang Vũ là
thi giới của tưởng tượng phong phú, điệp điệp lớp lớp hình ảnh sống dậy từ tiềm
thức…Từ góc nhìn tích cực, nhân bản của chủ nghĩa hiện sinh có thể thấy thơ Lưu
Quang Vũ đã truyền được sang người đọc nỗi đau đớn tột cùng, niềm day dứt khôn
nguôi khi ngẫm về chiến tranh và những điều phi lý của nó đổ xuống những kiếp
người bé nhỏ, đáng thương.
Là một người từng tham gia cuộc chiến, hơn ai hết Lưu Quang
Vũ thấu hiểu “nỗi buồn chiến tranh” thăm thẳm đến chừng nào. Trong nhiều bài
thơ của Lưu Quang Vũ người lính hiện lên trong hình hài là nạn nhân của
chiến tranh. Họ không hề thi vị, lãng mạn, kiêu hùng, cũng chẳng hề mang mặt nạ
yêu đời, lạc quan. Dù “thắng” hay “thua” họ đều mang gương mặt của kẻ “chiến bại”,
cuộc đời chinh chiến của họ phải đánh đổi bằng rất nhiều mất mát, đau thương,
thiệt thòi – đây cũng là cảm thức về thân phận con người rất khác biệt của Lưu
Quang Vũ so với nhiều nhà thơ khác cùng thời: Cuộc chiến tranh dằng dặc/ rừng
đầy muỗi độc/ chiến hào lở loét khói bom/ những đôi giày thủng đầy bùn/ những tấm
vải mưa ướt sung/ những con vắt đói chui vào lung/ lá thư nhà đọc mãi đến thuộc
lòng/ đêm trắng sương lùa củi tắt/ mộ bạn đá hoang gió lạnh/ chôn bao trìu mến
của ta (Những đứa trẻ buồn); Tuổi trẻ, ước mong, những gì quý nhất/ đều
trôi qua trong bụi xám chiến hào/ triệu con người lên sống rừng sâu/ khoét núi
làm đường chặt cây nhóm lửa/ võng bạt, lán tranh, đất bùn nhầy nhụa/ những đường
dây, binh trạm, những sư đoàn / những mô đất con đổi bằng tính mạng trăm người/
bằng pháo kích, lưỡi lê bằng chân tay vật lộn (Cơn bão)… Nhớ không em
năm 1954/ mùa hè nóng bỏng như lửa/ lính mũ đỏ rượu say chai vỡ/ lính Bắc Phi
nhớ quê ngồi khóc (Năm 1954)… Chúng ta ra đi chiến tranh mùa đông/ Ta
kịp biết gì đâu/ Vừa hết trẻ con đã là người lính/ (…)Tuổi trẻ ta đã qua bạn bè
ta đã chết/ Ta đã vượt bao đèo cao chót vót/ Bao điều nhà trường chẳng dậy cho
ta/ Nghĩ lại giễu cười những giấc mộng tuổi thơ/ Giờ trong ta vui buồn đều nín
lặng/ Một thế hệ cứng đi như thỏi sắt (Những bông hoa không chết).
Thơ Lưu Quang Vũ biểu hiện nội tâm tan nát của con người thời
loạn, con người khủng hoảng niềm tin, không biết bấu víu vào đâu. Tham gia chiến
tranh trong vai trò người lính, phải biền biệt xa gia đình và những người thân
yêu, chấp nhận mất mát, hy sinh, đói khát, bệnh tật và những thử thách nghiệt
ngã nhất của hoàn cảnh. Song đớn đau nhất của những người lính không phải ở chỗ
họ phải chịu gian khổ, cơ cực, mất mát, hy sinh mà là sự day dứt, là lời sám hối
vang lên từ sâu thẳm lương tâm khi phải cầm súng xả đạn vào con người, cho dẫu
họ là “kẻ thù”, là người bên kia chiến tuyến: Bao phố làng đổ sụp/ cổ nghẹn
lòng thù hận/ nhìn bao em bé mồ côi/ mà sao chiều nay/ giết xong quân giặc/ chẳng
thấy lòng thảnh thơi nhẹ nhõm/ chỉ nỗi buồn trĩu nặng/ dâng lên như đá trên mồ.
(Những đứa trẻ buồn); Mai đây bão táp lùi xa/ những lớp người vĩ đại/ hay
chỉ là những thế hệ đáng thương?/ sẽ xuýt xoa thán phục biết ơn/ hay kinh hãi
trước bạo tàn bắn giết?(…) Các anh ơi, đừng trách chúng tôi/ các bà mẹ,
tha thứ cho chúng tôi/ chúng tôi chẳng thể làm khác được/ quả đồi cháy như một
phần quả đất/ bao đời người ta đã giết nhau/ với các anh tôi oán hận gì đâu/
nhưng còn có cách nào khác được (Cơn bão)…Đó là những cảm xúc rất Con Người,
rất chân thật, nó cho chúng ta thấy nỗi khổ tâm của người lính tham gia chiến
trận khi thức nhận, ngộ ra một bi kịch trên cả bi kịch: muốn sống làm người
nhân đạo, tử tế cũng không phải dễ dàng. Chiến tranh với quy luật nghiệt ngã và
tính chất khốc liệt của nó buộc con người nhiều khi không còn cách lựa chọn nào
khác là phải “nhắm mắt đưa chân” để rồi cuối cùng phải nói lời “xin lỗi về những
lầm lẫn dĩ vãng” (Nguyên Sa). Có lẽ bắt nguồn từ chủ nghĩa cảm thương sâu sắc đầy
tính nhân bản của người Việt Nam: nghĩa tử là nghĩa tận. Không ai nỡ đối
xử tệ bạc với người đã mất cho dù đó là kẻ thù của mình khi sống, những chia sẻ
chân thành của Lưu Quang Vũ là hiện thân sinh động của tư tưởng nhân văn cao đẹp,
bắt nguồn từ trong truyền thống đối nhân xử thế vô cùng tốt đẹp của dân tộc. Vì
lẽ đó, những giá trị văn hóa này đồng thời cũng thuộc một hệ giá trị tư tưởng,
nó cần được khẳng định trong sự nghiệp thơ của Lưu Quang Vũ.
Xuất phát từ tư tưởng tiến bộ của thời đại Lưu Quang Vũ đã thể
hiện khát vọng thiết tha con người hãy đón nhận con người làm bạn. Ở đây hồn
thơ Lưu Quang Vũ đã đồng điệu cùng hồn thơ Quang Dũng – một nhà thơ đầy cá tính
của thế hệ đi trước. Trong bài thơ mang tên Chabbi Chabbi đối tượng
quan tâm của Quang Dũng là người lính bên kia chiến tuyến, là “kẻ thù” của cộng
đồng dân tộc. Đi ngược lại với lập trường phân biệt ranh giới địch/ta, cũng như
không khí hào hùng của khá nhiều bài thơ kháng chiến đương thời, trong Chabbi
Chabbi là sự lắng sâu âm hưởng trầm buồn của nỗi niềm khắc khoải phận
người. Qua hình ảnh những người lính Âu Phi – những con người bị bủa
vây bởi muôn vàn bi kịch của đời sống: chiến tranh, chia ly, cái chết, nỗi cô độc
và sự lãng quên …chúng ta có thể thấy vang lên từ đây tiếng nói phản kháng
chiến tranh cùng câu hỏi khẩn thiết: phải làm sao cho nhân loại thoát khỏi nỗi
đau và sự mất mát nhiều khi đến phi lý do chiến tranh gây ra? Đằng sau mỗi câu
thơ là thông điệp hiện sinh, là tiếng thở dài xót xa cho nhân quần, cho mỗi kiếp
người mà đường biên giữa sống/chết, hạnh phúc/bất hạnh thường hiện hữu như sợi
tơ mong manh giữa “cõi nhân gian bé tí” (từ dùng của Nguyễn Khải) và hư ảo… Phải
chăng ở những nhà thơ có trái tim rộng mở tình yêu thương đối với con người và
tư tưởng nhân văn tiến bộ sâu sắc thường gặp nhau ở những điểm chung mà Lưu
Quang Vũ và Quang Dũng là những trường hợp không ngoại lệ!
Hàn Mặc Tử từng viết “Người thơ phong vận như thơ ấy”, điều
này rất đúng khi xem xét mối quan hệ giữa “thơ” của Lưu Quang Vũ và “phong vận”
của thi nhân. Đọc Lưu Quang Vũ có thể nhận thấy rất rõ thơ đối với ông
như một nhu cầu tự thân của thế giới nội tâm. Lưu Quang Vũ làm thơ là để diễn tả
tâm trạng và những cảm xúc cao độ mà ông trải nghiệm trong cuộc sống, thơ là
phương tiện chủ yếu để “người thơ” bộc bạch nỗi niềm, tình cảm. Dường như có một
đại dương tình cảm luôn nồng nàn, sôi sục trong “con người bên trong con người”
của Lưu Quang Vũ, chỉ mong được trào ra dữ dội, mong được dâng hiến đến tận
cùng. Nhưng hiện thực cuộc sống với muôn mặt tương phản không đơn giản như vậy.
Đối diện với nhiều thử thách của cuộc sống, trải nghiệm những vui buồn, hạnh
phúc, thất vọng, khổ đau… Lưu Quang Vũ thức nhận chính mình: Tôi lại
là đứa trẻ lang thang/ đi tới bao miền xa lạ / ta đi giữa cỏ hoang và gỗ đá/ giữ
trong lòng ngọn thác trắng trào sôi/ một tình yêu không biết nói cùng ai/ đến
điên dại đến nghẹn ngào đau đớn/ mặt anh vỡ trong tấm gương thất vọng/ em ơi
ngày ấy em đâu?/ hoa cúc xanh tuổi nhỏ chết từ lâu (Em – tình yêu những
năm đau xót và hy vọng).
Sự thất vọng và đổ vỡ niềm tin khiến con người dễ rơi vào trạng
thái cô đơn. Cảm thức cô đơn, nhiều ưu tư, trăn trở thậm chí có lúc u uất đến
“nghẹn ngào đau đớn” cứ trở đi trở lại trong thơ Lưu Quang Vũ như một
trong những cảm hứng chủ đạo chi phối nhiều bài thơ của ông: Ngã tư tháng
chạp, Móng tay trên đá, Hoa Tigon, Liên tưởng tháng hai, Mưa dữ dội trên đường
phố trên mái nhà, Hoa cẩm chướng trong mưa, Mặt trời trong nước lạnh, Người con
giai đến phòng em chiều thu, Em – Tình yêu những năm đau xót và hy vọng, Gửi Hiền
mùa đông, Không đề I, Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa, Lời cuối, Bầy ong trong
đêm sâu, Mấy đoạn thơ, Giấc mộng đêm, Nếu đó là tội lỗi, Gửi một người bạn gái…
Xét trên bình diện phổ quát, thân phận con người cô đơn trong
thơ Lưu Quang Vũ cũng là vấn đề thường gặp trong văn chương của nhiều thi nhân
mà tên tuổi của họ đã trở nên gắn bó với nền văn hóa dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính… Vấn đề đặt ra ở đây
là trong thơ Lưu Quang Vũ chân dung con người cô đơn được tái hiện như
như thế nào?
Viết về Lưu Quang Vũ, Lưu Khánh Thơ đã nhận xét: “Bản năng
thi sĩ của ông giàu có trong những nỗi buồn, cô đơn, tuyệt vọng” (Lưu Quang Vũ,
2010, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Nxb.Hội Nhà văn , Hà Nội,
tr.7)
Quả đúng là như vậy, dường như nỗi buồn, sự cô đơn đã đánh thức
tiềm năng sáng tạo của Lưu Quang Vũ. Trái tim nhạy cảm dễ “vỡ” của thi sĩ đã
không thể ngủ yên trước “cuộc sống anh không chấp nhận/ mà thương đến xót xa
lòng” (Vẫn thơ tình về người đàn bà không có tên II). Đọc Lưu Quang Vũ có thể
thấy thi giới ông tràn ngập nỗi cô đơn – cô đơn như “dự phóng sáng tạo” bật lên
từ ám ảnh thẳm sâu vô thức. Trạng thái cô đơn được Lưu Quang Vũ phác họa sinh động,
đa dạng, phong phú, nhiều cung bậc: Tuổi thơ buồn như một mảnh vườn hoang
/Nơi ấp ủ con dế mèn cô độc (Đất nước đàn bầu); Sao tôi lại muốn em
tin/ Khi chính tôi cũng chẳng tin ai cả/ Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh
mẹ/ Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào/ Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao (…) Tôi
là người lính cô đơn ở giữa trung đoàn/ Bao lâu rồi vẫn chỉ có thế thôi/ Nỗi cô
đơn hoàn toàn cô đơn khủng khiếp/ Trước và sau trong và ngoài cuộc đời và trang
sách…. (Mấy đoạn thơ); Cả cuộc đời là ở sân ga/ Trước chuyến đi vô tận/ Cuộc
lên đường tối tăm đơn độc/ Người ta chết có một mình/ Đó là điều buồn nhất (Lời
cuối); Chẳng có chi phía trước để mong chờ/ Chỉ còn lại một màu hoa gay gắt/
Cái màu hoa cô độc/ Nở âm thầm trong giá buốt heo may (Những đêm hoa
vàng); Một nhà ga cô quạnh/ Một người đàn bà ướt lạnh/ Đứng chờ anh (Không
đề I); Anh có hẹn đâu, anh chả nói câu nào/ Anh chỉ buồn thôi, em chỉ buồn
thôi, ai biết? (Bầy ong trong đêm sâu), Em u buồn em có nhận hay không/ Em
gầy như huệ trắng xanh/ Ngọn lửa nhỏ giữa hai vực thẳm/ Em tê dại em âm thầm
kiêu hãnh/ Em cô đơn như biển lạ lùng ơi (…)/ Mai em đi mùa hạ cũng
qua rồi/ Tôi ở lại một mình trên phố vắng (….) Đêm phòng không tiếng nổ vỡ khắp
trời/ Thời đau khổ chung quanh đều đổ nát/ Nỗi cô độc đen ngòm như miệng vực/
Tôi muốn đi tới vách cùng em(…)Tôi tan nát tôi kinh hoàng sợ hãi / Em cô đơn rồ
dại của tôi ơi! (Lá thu); Phải xa em anh chẳng còn gì nữa /Chẳng còn gì,
kể cả nỗi cô đơn (Em vắng)…
Chiêm nghiệm, suy ngẫm về văn hóa của nhân loại, chúng ta thấy
rất rõ nhiều khi cô đơn không phải là điều đáng sợ, mà còn là điều rất đáng trọng.
Cô đơn chỉ đáng sợ khi ta tuyệt tình với vạn vật và mọi người xung quanh, khi
chỉ biết sống quay quắt với bản thân mình. Nhưng nếu coi cô đơn là môi trường cần
thiết để ta sống thật lòng mình, tìm lại chính mình trong sự thật và sự thiện,
để từ đó hứng khởi sáng tạo, trở thành một con người vững chãi thì ta hãy dũng
cảm đối diện với sự sô đơn. Sự trốn chạy khỏi nỗi cô đơn là trạng thái tâm lý
chỉ làm ta suy yếu, tránh né chính mình, không dám sống trọn vẹn là mình. Lý
thuyết hiện sinh đã khẳng định cô đơn là một yếu tính của thân phận con người.
Nếu chối bỏ, không thừa nhận sự cô đơn chính là đã vô tình tước bỏ những phẩm
tính Người trong mỗi Con Người. Cô đơn như người bạn đồng hành mang đến một sức
mạnh nội tâm để thanh luyện tâm tình, hướng tới sự thông giao mầu nhiệm với thế
giới xung quanh. Do đó, thực chất của cô đơn là tập trung năng lực để sáng tạo,
cô đơn được coi như một giá trị tinh thần. Những giây phút tĩnh lặng như một điều
kiện để an dưỡng tinh thần ; để định tâm và tu tập ; để khám phá bản thân sâu rộng
hơn qua những gì mình đã, đang sống và cảm nhận. Chiêm nghiệm thơ Lưu Quang Vũ
chúng ta thấy vấn đề con người cô đơn không nằm ngoài những giá trị nhân văn
trên. Đề tài về sự cô đơn trống vắng cũng là một đề tài thường gặp trong thơ của
nhiều thi nhân mang tầm vóc nhân loại như Puskin, Lecsmantop, Exinhin, Onga
Becgon… Thơ Lưu Quang Vũ không nằm ngoài quỹ đạo của tư duy thơ mang tính phổ
quát toàn nhân loại. Do vậy, sự hiện hữu cái Tôi cô đơn bản thể trong thơ Lưu
Quang Vũ là giá trị chứng tỏ tư duy thơ của ông đã bắt kịp với dòng chảy của tư
duy thơ nhân loại.
Một trong những ám ảnh sâu sắc trong thơ Lưu Quang Vũ
là bi kịch thân phận nghệ sĩ cô đơn. Lưu Quang Vũ là nhà thơ luôn nhận
thức và khám phá chính bản thể mình. Đọc thơ ông chúng ta thấy thân phận con
người nghệ sĩ của chính ông. Lý do cơ bản khiến thơ Lưu Quang Vũ xuất hiện
bi kịch thân phận nghệ sĩ cô đơn là bởi nhà thơ với tất cả trách nhiệm và sự
trân quý cuộc sống đã không thừa nhận sự tồn tại của những điều phi lý, phi
nhân văn đang diễn ra trong cuộc sống.
Trong quan niệm của Lưu Quang Vũ, những mất mát mà con người
phải chịu trong chiến tranh là phi lý: Đêm chiến tranh/ Thành phố không
đèn/ Má em tựa vào tay anh gầy guộc/ Tóc em trắng trong cơn mơ thảng thốt/
Chúng mình chẳng nhận ra nhau/ Đứng giữa hai ta là những người đã chết/ Bóng họ
che đen sì cả mặt/ Những vết thương rách nát/ Những nụ cười từ lâu đã tắt/ Như
tuổi trẻ sớm tàn trong cơ cực của ta (…) Những khổ đau dằng dặc/ Những tai ương
đang diễn ra khủng khiếp/ Có chút gì nghĩa lý hay không? (…) Có ai nghe lời nói
thật của ta đâu/ Đêm tối quá không tìm nhau được nữa.” (Mặt trời trong nước lạnh);
Sự thật phũ phàng, bạc bẽo, không gian tối tăm bóp nghẹt cuộc sống là phi
lý: Khi người ta mặc cả máu người/ thay tình nghĩa như thay áo lót/ khi
chung quanh ngổn ngang xác chết (…) thù hận mênh mông mặt đất
bùn lầy/ em chập chờn đi trên đổ nát/ thành phố bờ đá dựng/ những bánh xe lăn vỡ/
những hầm hố những nhành hoang huyệt mả (…) bầy ruồi chết ngạt trong tủ kính/
những mặt nạ khóc ròng trong rạp xiếc (Em III), sự phi lý có lúc nằm
trong Cuộc đời như một mụ già dâm đãng/ Một núi giây thừng bẩn thỉu rối
ren (Có những lúc)…Nhà thơ không dung nạp, không thỏa thuận sự phi lý, ông
viết về sự phi lý để bày tỏ thái độ phản kháng lại sự phi lý. Nhưng làm sao hết
được sự phi lý, bất công khi cuộc sống vẫn cuồn cuộn chảy theo quy luật. Bản
thân Lưu Quang Vũ đã từng bộc bạch: Đã có lần tôi muốn nguôi yên/ Khép
cánh cửa lòng mình cho gió lặng/ Nhưng vô ích làm sao quên được/ Những yêu
thương khao khát của đời tôi. (Gió và tình yêu thổi trên đất nước
tôi). Dẫu biết rằng mình “lực bất tòng tâm”, muốn an phận cho bình yên cuộc
sống riêng mình nhưng cuối cùng trái tim nghệ sĩ với tình yêu tha thiết với con
người và cuộc đời vẫn khiến ông tiếp tục vượt lên trên những mệt mỏi, hoài nghi
để suy tư, trăn trở, yêu thương, khát vọng, sống và viết… Nhưng càng hướng đến
lý tưởng sống bao nhiêu, thi nhân lại càng thất vọng bấy nhiêu, và càng thất vọng
thì con thuyền cô đơn càng đẩy ông xa bờ…cứ như thế, một nghịch lý luẩn
quẩn, bế tắc không gì có thể giải tỏa đã khiến nhà thơ rơi vào trạng thái tuyệt
vọng: Anh muốn ác mà không sao ác được/ cứ yêu thương chờ đợi ích gì
không? (Em III), Giờ khắp nơi những tấm gương trong/ Đã vỡ vụn sau dập
vùi bom đạn/ Người con giai yêu em/ Đã chết ngoài mặt trận (Gửi Hiền mùa
đông), Mông lung không đoán được ngày mai/ Máu chảy thành sông thây chất
núi/ Bè bạn tan hoang mình rã rời (Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và
bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời loạn); Gã đàn ông quầng mắt tối
đen/ Trong cuốn sách buồn/ Nói với tôi lời buồn bã: Con người chỉ là ống sậy cô
đơn/ Trái đất giữa không trung/ Như một giọt nước mắt (….) Nỗi cô đơn tuyệt vọng…
(Hoa cẩm chướng trong mưa; Có những lúc tâm hồn tôi rách nát/ Như một
chiếc lá khô như một chồng gạch vụn/ Một tấm gương chẳng biết soi gì/ Một đáy
giếng cạn không một hốc mắt đen sì/ Trời chật chội như chiếc lồng trống rỗng (Có
những lúc); Tôi mua hai hào thuốc lá/ ngồi hút mà buồn thiu/ cuộc đời chẳng
ra làm sao/ có đáng cho mình đau đớn? (Ngã tư tháng chạp); Thôi chẳng
chờ mong nữa/ Chẳng đua chen với cuộc đời này/ Xin chối từ cái bàn tiệc đắng
cay/ Lòng tốt ai cần dùng đến/ Thơ không đâu dùng/ Anh như thằng Bờm/ Chẳng thiết
trâu bò chẳng thiết lim/ chỉ nhận nắm xôi cười ngặt nghẽo (Ngã tư tháng chạp).
Thông thường, khi nỗi cô đơn đã chạm đến bến bờ của tuyệt vọng
thì mọi hiện hữu cũng trở thành vô nghĩa; Song,ở Lưu Quang Vũ, ngay
trong sự tuyệt vọng nhất của thi nhân người đọc vẫn thấy thơ ông tha thiết hướng
về tình yêu thương con người và cuộc sống, bởi vì khi tuyệt vọng được
chưng cất thành thơ đồng nghĩa với việc nhà thơ đã bất tử hóa cuộc sống, truyền
vào nó một giá trị mỹ cảm, mang lại niềm tin cho con người. Phải chăng nhà thơ
muốn gửi đến chúng ta thông điệp cho dù dư vị của nó thế nào cuộc sống vẫn rất
xứng đáng để con người yêu quý, nâng niu, trân trọng: Dù tiếng tôi chỉ một
người nghe/ Tôi phải đốt lên một cái gì/ Cho sáng rực giữa chênh vênh vực thẳm/
Dẫu bao lần người làm tôi thất vọng/ Tôi vẫn yêu người lắm lắm người ơi/ Tình
yêu tôi như một tiếng chuông dài…(Có những lúc) . Chính vì vậy, dẫu đơn độc đến
tột cùng, thi nhân vẫn kiên cường theo đuổi giấc mơ: Tôi thức suốt trong nỗi
buồn của đất/ Tôi nguyên chất tôi đi tìm đôi cánh/ Để cuối cùng gặp được biển
khơi/ Mặn xé lòng là muối biển đấy thôi/ Lên ghềnh đá chênh vênh tôi viết/ Những
dòng chữ không sóng nào xoá được/ Những dòng chữ như móng tay day dứt/ Trên vỏ
dưa xanh thắm của mùa hè/ Cho kẻ không nhà mái lá chở che( Móng tay trên
đá); Dù con người là cô đơn/ Các ác là dày đặc/ mỗi bài thơ của chúng ta/
phải như một ô cửa/ mở tới tình yêu (liên tưởng tháng hai). Tinh thần trên
cho thấy bản lĩnh nghệ sĩ cao cường của Lưu Quang Vũ- một bản lĩnh mà nếu
không có một sự nghiệm sinh bền bỉ, một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và một trí tuệ
mẫn tiệp thì không bao giờ đạt được.
Đặc biệt cảm thức về thân phận cô đơn của người nghệ sĩ được
thể hiện sâu sắc trong bài thơ Nếu đó là tội lỗi: Một con người không
phải chỉ là một cái tên trong hộ khẩu/ Một con tốt trong bàn cờ/ Một viên gạch
một cái đinh/ Để treo biển hàng và đặt ghế/ Con người chưa được làm người/ Bao
lệnh cấm đang đè lên thế giới/ Cấm yêu thương cấm khát vọng cấm tự do/ Bao con
chim bị nhốt ở trong tù/ Bao giải băng đen che kín mắt/ Khi bè bạn gặp nhau có
người theo dõi/ Thầm thì không dám nói to. Ý thức về nhân vị của người cầm
bút, tư tưởng muốn phá bỏ những rào cản phi lý để người nghệ sĩ được cất tiếng
nói thành thật với lòng mình, được tự do bay bổng trong bầu trời sáng tạo nghệ
thuật – đó là khát vọng chưa bao giờ nguôi ngoai của nhà thơ Lưu Quang Vũ.
Bi kịch: Khi những bài thơ anh viết ra/ Chỉ một mình anh
đọc là sự phi lý đến khó hiểu, là nỗi đau đớn “bị ruồng bỏ” không chỉ của
riêng nhà thơ, đó là nỗi nhức nhối chung của những người cầm bút coi văn chương
là lẽ sống của đời mình. Sở dĩ lúc đương thời thi sĩ đã không thể cho ra mắt bạn
đọc được một tập thơ theo tâm nguyện là bởi sự “dấn thân” lựa chọn con đường đi
khác biệt đã khiến thơ ông trở nên “lạc điệu” trong dàn “đồng ca” thơ của một
thời đất nước chìm trong chiến tranh, tao loạn. Chính sự khác biệt, độc đáo của
tư duy thơ đã mang đến “hệ lụy” cho thơ Lưu Quang Vũ, để rồi cũng như nhiều
nghệ sĩ chân chính khác dám “lội ngược dòng” đã đi vào cõi bất tử, Lưu Quang Vũ
cũng đã thực sự cô độc trên hành trình thơ của mình. Nhưng cuối cùng, đúng như
nhà thơ đã khẳng định: Không sợ ngục tù bạo lực/ Dù khổ sở dù phiền hà/
Thơ không bao giờ câm lặng/ Như nhịp đập của trái tim trung thực/ Là nhân chứng
của anh/ Là ngọn lửa trắng trong/ Trên lịch sử tối tăm trên tro bụi (Nếu
đó là tội lỗi).
3. Có thể nói, trước khi trở thành một nhà viết kịch lừng
danh ở những năm 80 của thế kỷ XX thì Lưu Quang Vũ đã là một nhà thơ hiện hữu
trên thi đàn với một phong cách riêng, độc đáo và giàu cá tính sáng tạo. Thơ
Lưu Quang Vũ từ khi mới xuất hiện đã thể hiện một cách nhìn mới, một cách nghĩ
mới, một thi pháp mới khác với bầu khí quyển của thơ ca đương thời. Vũ trụ thi
ca của Lưu Quang Vũ, vì thế là vũ trụ thi ca của một thi giới riêng thấm đẫm vị
nhân sinh với những day dứt, băn khoăn và khắc khoải về thân phận con người.
Trước đây, bởi giới hạn của hệ hình tư duy ấu trĩ một thời, đọc những bài thơ
khác lạ, không mang “âm hưởng hào hùng” người ta thường nghĩ thơ Lưu Quang Vũ
gieo rắc nỗi buồn đau bi lụy. Nhưng với độ lùi thời gian, hôm nay chiêm nghiệm
những vần thơ Lưu Quang Vũ để lại, chúng ta cảm nhận rất rõ nỗi buồn thương,
chia sẻ sâu sắc về thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ mãi mãi như một
điểm tựa tinh thần quý giá đồng hành cùng độc giả trên hành trình cuộc sống đầy
trắc ẩn. Câu nói của André Maurois: “Nghệ thuật là thứ chống lại định mệnh” quả
thật luôn có ý nghĩa với trường hợp Lưu Quang Vũ. Dẫu định mệnh nghiệt ngã với
số phận của một thiên tài nhưng sự nghiệp thơ ca đầy ấn tượng của ông đã, đang
và sẽ thắp lửa trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ; Tấm lòng bao dung vị tha và
tình yêu Con Người tha thiết, nồng nàn, trong sáng, tinh khôi như pha lê của
Lưu Quang Vũ sẽ tiếp tục được nối dài thêm đến vô cùng; và điều đó như một sự
chia sẻ, tri âm sâu sắc cùng thi sĩ với khát vọng nhân văn ông nhắn gửi mai
sau: Bao bài ca xáo trộn trong tôi/ Có tiếng khóc của con chim gẫy
cánh/ Tiếng đau rên của ngôi nhà đổ sập/ Tiếng con thuyền không về được
bờ quen/ Tiếng mưa rơi trên ngọn cỏ yếu mềm/ … (Tôi chẳng muốn kỷ niệm
về tôi là một điệu hát buồn).
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Thái Đỉnh (2008), Triết học hiện sinh, Nxb.Văn học,
Hà Nội
2. Phạm Xuân Nguyên (2014), Nhà văn như là Thị Nở, Nxb. Hội
Nhà văn, Hà Nội.
3. Nguyễn Bá Thành (2015), Toàn cảnh thơ Việt Nam, Nxb.Đại
học Quốc gia, Hà Nội.
4. Lưu Quang Vũ(2002), Thơ tình, Nxb. Văn học, Hà Nội.
5. Lưu Quang Vũ (2002), Gió và tình yêu thổi trên đất
nước tôi (tuyển thơ, Nxb Hội Nhà văn, H.2010), Di cảo Lưu Quang Vũ, (Lưu
Khánh Thơ tuyển soạn, Nxb. Trẻ, H.2018) Lưu Quang Vũ (2018), Di cảo, Nxb. Trẻ,
Hà Nội
6. Jean Paul Sartre (2016), Thuyết hiên sinh là một thuyết
nhân bản, Nxb. Tri thức, Hà Nội.
12/3/2020
Cao Thị Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Nguyễn Văn Vĩnh và những bài báo về thiết chế làng xã
Nguyễn Văn Vĩnh và những bài
báo về thiết chế làng xã
Trong những gương mặt trí thức tiêu biểu giai đoạn đầu
thế kỷ 20 ở Việt Nam như Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Trần Trọng
Kim, Nguyễn Văn Vĩnh,… nếu xét riêng về những đóng góp trong lĩnh vực phát triển
chữ quốc ngữ vào buổi đầu, người ta nhắc nhiều tới học giả Nguyễn Văn Vĩnh.
Cuốn sách đầu tiên
Nhắc tới Nguyễn Văn Vĩnh, nhiều thế hệ độc giả lớp trước hẳn
sẽ nhớ tới những tác phẩm dịch thuật tiêu biểu từ tiếng Pháp của ông
như Tuyển tập những bài thơ ngụ ngôn của La-phông-ten, Những kẻ khốn nạn của
Vích-to Huy-gô và Ba chàng ngự lâm pháo thủ của Alếchxanđrơ Đuy-ma
(cha). Trong cuộc đời mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã làm chủ bút tới 7 tờ báo, nhưng
có một điều đáng chú ý, cho tới giờ, vẫn chưa có bất cứ một cuốn sách nào
giúp độc giả hôm nay tiếp cận với hệ thống trước tác của ông. Theo thống kê
của ông Nguyễn Lân Bình, cháu nội của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, trong đời
mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết tới 2500 bài báo, riêng trong tờ Nước Nam mới, tờ
báo tiếng Pháp và cũng là tờ báo cuối cùng Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút, ông đã
viết tới 500 bài. Theo nhiều ý kiến đánh giá của các chuyên gia tiếng Pháp và
của cả chính người Pháp, những bài báo đó đã được Nguyễn Văn Vĩnh viết bằng
một thứ tiếng Pháp hết sức điêu luyện và giàu tính nghệ thuật.
Thực trạng tồn tại nhiều ý kiến đánh giá không thống nhất và
đôi khi hàm chứa nhiều cảm tính về trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh đã là động lực
thôi thúc ông Nguyễn Lân Bình quyết tâm tổ chức biên soạn bản thảo cho các cuốn
sách in lại toàn bộ trước tác của Nguyễn Văn Vĩnh. Theo dự kiến ông Bình chia
sẻ, sẽ có khoảng 9 tập sách với các chủ đề khác nhau mà lúc sinh thời, học giả
Nguyễn Văn Vĩnh đã bàn bạc khá kỹ lưỡng như: thiết chế làng xã, phụ nữ, in ấn –
xuất bản, văn hóa, phong tục tập quán, giáo dục, v.v… Với tập sách đầu tiên, đã
hoàn thành bản thảo và có giấy phép xuất bản, dự kiến ra mắt độc giả vào tháng
7 tới, ông Nguyễn Lân Bình đặt cho nó tên gọi Lời của người man di hiện đại.
Đây chính là cuốn sách tập hợp 26 bài viết liên tục của học giả Nguyễn Văn
Vĩnh trên báo Nước Nam mới bàn về các vấn đề liên quan tới thiết chế làng xã.
Viết báo để người Pháp hiểu văn hóa Việt
Năm 1921, Nguyễn Văn Vĩnh nhận làm chánh hương hội danh dự
cho ngôi làng vốn là quê hương ông, làng Thượng Dực, phủ Hà Đông, trước là huyện
Thường Tín, bây giờ là Phú Xuyên, Hà Nội. Ở vị trí này, cộng với óc quan sát và
vốn tri thức, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết một loạt bài bàn về những vấn đề liên
quan tới thiết chế làng xã. Nhiều nhà nghiên cứu khi đọc những bài viết này đã
cho rằng, Nguyễn Văn Vĩnh có tư tưởng chống đối thực dân Pháp, nhưng lại cũng
có ý kiến đề xuất hướng suy nghĩ khác. Chẳng hạn, dịch giả Trịnh Lữ, người đã
từng say mê các bản dịch từ Pháp văn sang Việt văn của học giả Nguyễn Văn Vĩnh
cho rằng, mục đích của cụ Vĩnh khi viết những bài báo đó cốt là muốn những
người Pháp đang nắm quyền cai trị tại các làng xã Việt Nam cần phải hiểu văn
hóa làng xã, thiết chế làng xã, để từ đó không can thiệp hay làm phá vỡ những
giá trị vô cùng tốt đẹp mà phải mất hàng ngàn năm người Việt mới gây dựng
được.
Chẳng hạn trong bài đầu tiên, ông lý giải thế nào được gọi
là một cái làng. Ông giải thích rất rõ “làng” trong tiếng Tây là thế nào, dưới
làng là gì, giới hạn một làng là như thế nào, hết làng thì đến xóm, dưới xóm là
ngõ. Ông cũng phân tích luôn về những quy định chia cắt địa lý đó ở một cái
làng vào thời điểm lịch sử tương ứng của Việt Nam. Không chỉ vậy, Nguyễn Văn
Vĩnh còn chỉ ra, với một cái làng, ngoài việc được phân chia về địa lý, còn có
những định chế riêng về quản lý hành chính. Khi đề cập tới chuyện này, Nguyễn
Văn Vĩnh lên án chính quyền thuộc địa. Ông cho rằng, việc có những hương, lý,
kỳ, mục, kỳ hào, đinh tuần như ở làng xã Việt Nam thời đó đã có từ thời nhà
Chu. Nhưng khi người Pháp có mặt ở Việt Nam, để thuận lợi cho việc cai trị, họ
đã làm hỏng hoàn toàn hệ thống quản lý hành chính này. Từ đó, người Pháp đã đẩy
rất nhiều người nông dân muốn tìm đến vị trí quản lý hành chính ở làng xã, đầu
tiên là vì danh (mà bản chất người nông dân là rất háo danh), sau đó đi đến chỗ
kèn cựa (mà bản chất của người nông dân là nhỏ nhen, do điều kiện, phương thức
tồn tại của họ) đã làm hỏng hoàn toàn ý nghĩa đích thực của bộ máy quản lý
hành chính. Không chỉ thế, trong phần này, học giả Nguyễn Văn Vĩnh còn chỉ ra
rất rõ cách tổ chức và phân bổ quyền lợi ra sao đối với hệ thống hương lý, đinh
tuần. Chẳng hạn, trong một làng, nếu có 100 mẫu ruộng thì 100 mẫu đó được phân
chia cho canh tác như thế nào. Bao nhiêu mẫu cho nhà chùa, bao nhiêu mẫu cho hoạt
động cộng đồng, bao nhiêu mẫu cho hệ thống an ninh (tức là đinh tuần), bao
nhiêu mẫu mà sản lượng của nó để nuôi bộ máy hành chính chứ không hề có lương của
nhà nước. Và cụ Nguyễn Văn Vĩnh có giải thích, để chia được các khoản tài chính
đó, người ta dựa vào nguyên tắc nào. Tuy nhiên, đó là những gì diễn ra trước
khi người Pháp vào Việt Nam. Còn khi người Pháp có mặt, họ đã làm hỏng điều
này.
Quan sát cách người Pháp nhìn nhận và đánh giá về làng ở Việt
Nam, học giả Nguyễn Văn Vĩnh cũng nhận ra những điểm cần phải làm rõ. Chẳng
hạn, ông thấy khi người Pháp nhìn thấy một ngôi chùa trong làng thì họ cho rằng
làng đó theo đạo Phật, hay khi thấy ngôi đình thì lại kết luận làng đó theo đạo
Khổng. Rồi khi thấy có nhà thờ thì người Pháp lại khẳng định làng đó theo Công
giáo. Ông cho rằng, người Pháp sẽ cảm thấy vô cùng hoang mang khi chứng kiến,
có những làng sẽ có tất cả những hạng mục công trình tín ngưỡng như chùa,
đình và nhà thờ. Bởi họ không hiểu một điều, theo cụ Vĩnh xác định, tôn giáo
ngàn đời truyền thống của người Việt Nam là đạo thờ tổ tiên. Nhưng trong phong
cách thờ tổ tiên của người Việt, có nhiều phương thức, vô tình lại trùng hợp với
tín ngưỡng của Phật giáo, vì thế, người ta bảo rằng, người Việt Nam theo đạo Phật.
Tư tưởng vượt thời đại
Gần 100 năm trước, Nguyễn Văn Vĩnh, trong những bài báo của
mình, đã lưu ý tới vấn đề nhập cư. Điều này thể hiện rất rõ trong
các quy định chia ruộng căn cứ theo đầu người và định ra các suất đất canh tác.
Chẳng hạn, nếu ai đó ở nơi khác vì thấy điều kiện canh tác ở làng này tốt hơn
chỗ mình, có thể xin làm dân ngụ cư. Nếu làng đó đồng ý, họ sẽ cấp đất cho
người này trồng trọt, nhưng người đó sẽ phải đóng thuế cao hơn so với những
người có khẩu trong làng. Cũng từ đó, cụ Vĩnh chỉ ra tình trạng lạm dụng quyền
lực của những người nắm giữ vận mệnh dân làng và cả thói tinh ranh, ma quái
của những người nhập cư đã làm hỏng đi rất nhiều đặc điểm tốt đẹp trong
phương thức tồn tại của một cái làng.
Ngày hôm nay, trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21,
chúng ta đang đau đầu trước rất nhiều vấn đề nảy sinh của công cuộc đô thị
hóa. Nhưng ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, trong các bài viết về làng xã
của mình, cụ Nguyễn Văn Vĩnh đã chạm tới vấn đề đô thị hóa. Cụ phân tích rõ về
tác động của vấn đề này tới đời sống nông thôn ra sao. Theo học giả Nguyễn Văn
Vĩnh, bản chất của người nông dân vốn rất ngại làm ruộng. Do đó, ngay khi có
hơi hướng của sự đô thị hóa, lập tức sẽ rất nhiều người nghĩ tới chuyện đi làm
công nhân. Họ sẵn sàng làm thuê cho những người ở nơi khác đến chỉ để thoát khỏi
cảnh con trâu đi trước cái cày theo sau. Học giả Nguyễn Văn Vĩnh khẳng định, tất
cả những nghiên cứu của ông viết trong thời gian đó đều phục vụ một mục đích
duy nhất, cụ mong muốn, nhà cầm quyền (tức chính quyền thực dân) hãy mở to mắt
lên để nhìn vào thực tế của nông thôn Việt Nam. Từ đó, hãy bỏ đi những áp đặt
mang tính cứng nhắc với các quy định đặt ra cho người nông dân, để không chỉ giữ
lại bản sắc của người nông dân Việt Nam, mà còn tránh đi những khủng hoảng và đổ
vỡ về sau.
Cái nhìn phương pháp luận
Ngoài 26 bài bàn về thiết chế làng xã, ông Nguyễn Lân Bình
còn đưa thêm 3 bài khác, trong đó, cụ Nguyễn Văn Vĩnh lý giải một hiện tượng rất
thú vị. Đó là chuyện, ở những vùng quê cấy được lúa mùa, phụ nữ đẹp hơn những
vùng chỉ cấy được lúa chiêm. Đồng chiêm theo cách gọi của người nông dân là đồng
trũng. Theo học giả, ở những vùng cấy được lúa mùa thì vụ mùa là vụ chính. Tới
dịp Tết, tiết trời lạnh, hiếm mưa, khan nước, người nông dân vùng này không
phải chịu cảnh lội ruộng khổ sở cấy lúa. Vì lẽ ấy, họ ăn và chơi Tết thảnh
thơi hơn rất nhiều so với người nông dân vùng đồng chiêm trũng. Cũng từ đây mới
nảy sinh ra thói quen đã đi vào ca dao, dân ca: “Tháng giêng là tháng ăn chơi –
Tháng hai cờ bạc tháng ba rượu chè”. Nhưng hẳn nhiên người dân đồng chiêm
không thể bắt chước được người dân vùng cấy lúa mùa. Vì dù họ có làm lụng cực
nhọc, vất vả hơn rất nhiều thì sản lượng thu về cũng không thể bằng đồng mùa.
Chính vì sự khó nhọc của khí hậu và địa lý đó mà phụ nữ ở đồng chiêm thường xấu
và cũng ít tài lẻ hơn phụ nữ ở đồng mùa. Và cũng nhờ cái sự thư thả của đồng
áng mà theo cụ Nguyễn Văn Vĩnh, phụ nữ ở đồng mùa cũng thích những chuyện cầu
cúng, hội hè như lên đồng, đi chùa, đi hội hơn.
Chưa hết, cũng ở 3 bài này, học giả Nguyễn Văn Vĩnh còn bàn
về cách thực hiện hoạt động tài chính rất độc đáo của người tiểu thương Việt
Nam. Cụ so sánh việc này với hệ thống tài chính của người Pháp để xét sự giống
và khác giữa chúng. Cụ giải thích rất cụ thể chuyện lập bát họ, chơi họ,
những điều kiện cần đảm bảo khi lập bát họ là gì, ai là người được cầm cái
của bát họ, cách gọi những thành viên tham gia bát họ là như thế nào, mức độ
đóng góp của mỗi người bao nhiêu, việc chiết khấu trong mỗi bát họ được thực
hiện ra sao, trong trường hợp bát họ bị vỡ, việc hoàn trả lại tiền cho người
chơi cần làm thế nào, v.v… Từ việc chỉ ra cụ thể những điều đó, cụ so sánh việc
chơi họ của tiểu thương người Việt với hệ thống tài chính của các nước
phương Tây và kết luận, lối kiếm tiền của những người chơi họ ở nông thôn Việt
Nam không thua kém gì về mặt lợi ích, tức khả năng sinh sôi lợi nhuận của đồng
tiền, nhưng lại rất phù hợp với điều kiện sinh hoạt, lối sống, phong tục tập
quán của người Việt Nam. Không những thế, cụ Vĩnh còn chỉ ra sự vận dụng một
cách áp đặt và cứng nhắc của bộ máy hành xử pháp chế mà người Pháp đem vào Việt
Nam khi xử lý một vụ kiện tụng liên quan tới chuyện vỡ bát họ.
Với những quan sát và phân tích sắc sảo, mang tính phương
pháp luận về các vấn đề liên quan tới thiết chế làng xã ở Việt Nam ở đầu thế kỷ
20, giai đoạn nước ta đang nằm trong ách cai trị của chính quyền thực dân
Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh đã khẳng định những giá trị đặc sắc về mặt tổ chức rất
quan trọng trong ngôi làng Việt, đơn vị hành chính có tính cốt lõi của xã hội
Việt Nam truyền thống. Đặt trong bối cảnh hôm nay, không thể phủ nhận, đó là
những tư tưởng mang tầm thời đại. Và theo chúng tôi, có không ít những giá
trị trong các tư liệu trước tác của Nguyễn Văn Vĩnh sẽ cần được tìm hiểu kỹ
lưỡng, để không chỉ đánh giá về ông công bằng hơn, mà còn góp phần gợi mở
trong việc tổ chức quản lý của đời sống cộng đồng hôm nay.
14/3/2020
Dương Kim Thoa
Theo https://vanhocsaigon.com/
Trịnh Công Sơn và khát vọng hòa bình
Trịnh Công Sơn
và khát vọng hòa bình
Chẳng phải nỗi buồn chiến tranh và niềm mong mỏi hòa
bình da diết trong những Trịnh Khúc kia đã có sức lay động mãnh liệt đến cõi
lòng một người từng đi qua chiến tranh… và lan tỏa trong tâm hồn tôi, níu giữ
trái tim tôi từ thời thơ bé?
Tôi nghe nhạc Trịnh từ nhỏ – những năm đầu thập kỉ 90 của thế
kỉ trước. Hồi ấy phương tiện nghe nhìn còn thô sơ, thiếu thốn lắm chứ không phải
như bậy giờ. Tôi hay sang nhà ông cậu họ, nghe ké Khánh Ly hát Ca khúc da
vàng qua chiếc cassette cũ. Nghe để có cái mà nghe giữa cái thời mà đối với
bọn trẻ con nông thôn chúng tôi, âm nhạc hãy còn là một cái gì xa xỉ lắm chứ chẳng
phải vì hiểu biết hay tâm đắc gì.
Ông cậu tôi vốn là sinh viên ở Sài Gòn trước năm 1975, một
người trí thức từng kinh qua chiến tranh mà cho đến tận bây giờ dư chấn của cuộc
chiến thảm khốc ấy chừng như vẫn còn nặng trĩu trong tâm trí cậu, hiện hữu
trong một ánh mắt buồn xa xăm. Tôi để ý thấy mỗi lần nghe nhạc Trịnh, cậu hay nằm
vắt tay lên trán, vẻ mặt trầm tư, thỉnh thoảng lại buông ra một tiếng thở dài,
mắt ngân ngấn nước. Tuổi thơ “như đá ngây ngô”(1), tôi chẳng thể nào lí giải nổi
vì sao cậu lại như thế, cũng chẳng hiểu gì về những ca từ của Trịnh. Vậy mà những
khúc hát trầm buồn, khắc khoải kia đã vận vào tôi lúc nào không biết. Chỉ biết
rằng mỗi khi có nhạc Trịnh mở lên ở đâu đó, dù đang làm việc gì tôi cũng cố gắng
dừng lại để lắng nghe, nghe bằng tất cả niềm háo hức và say mê tuổi nhỏ.
Khi lớn lên, tôi bắt đầu nghe nhạc Trịnh một cách có ý thức.
Những trải nghiệm xen lẫn buồn vui; hạnh phúc, đắng cay của cuộc đời giúp tôi tự
tạo cho riêng mình một cách để hiểu Trịnh. Thế giới của Trịnh lúc này rộng lớn,
sâu thẳm hơn rất nhiều lần so với những cảm nhận ngu ngơ của tôi thời thơ bé.
Nhạc Trịnh trong tôi là những giai điệu, những ca từ bình dị mà quyến rũ: lúc
trong sáng hồn nhiên như “nỗi niềm cổ tích”(2); lúc trữ tình êm ái như tiếng
đàn rơi trên tay người thiếu nữ; lúc lại ma mị, khói sương như vọng về từ
huyền sử xa xăm. Nhạc Trịnh trong tôi là tiếng nức nở phận người trong sự bủa
vây của lạc lõng, cô đơn, tuyệt vọng. Nhạc Trịnh trong tôi là tiếng ca say đắm
về tình yêu – phép màu xoa dịu mọi niềm đau. Nhạc Trịnh trong tôi là tấm lòng
thao thiết hướng đến thế giới ngoài kia “ Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”(3)…
Trong vô vàn những cảm xúc, suy tư về Trịnh; lạ thay nỗi ám ảnh
vây phủ tâm hồn tôi vẫn là những khúc hát da vàng như tiếng thở dài khắc khoải
mà tôi đã nghe từ chiếc cassette cũ của ông cậu hồi nhỏ. Tôi nhận ra trong những
ca khúc mà ngày xưa tôi chẳng hiểu gì ấy chứa đựng một nỗi đau chiến tranh nhức
nhối, một khát vọng hòa bình thiết tha.
Ai đó thật có lí khi cho rằng chỉ có những người trực tiếp cảm
nghiệm nỗi đau thương trong chiến tranh mới thực sự hiểu hết ý nghĩa, thấy hết
giá trị của hai tiếng “hòa bình”. Trịnh Công Sơn là một trong những người như
thế. Ông như được sinh ra để mang trong mình sứ mệnh của sự hóa giải: hóa giải
buồn đau, thù hận, cay đắng, xót xa bằng khát vọng hòa bình cháy bỏng trong những
ca khúc của mình.
Trong vô vàn những cảm xúc, suy tư về Trịnh; lạ thay nỗi ám ảnh
vây phủ tâm hồn tôi vẫn là những khúc hát da vàng như tiếng thở dài khắc khoải
Thế hệ Trịnh Công Sơn là “thế hệ lạc lõng”, “thế hệ bỏ đi”
theo cách nói của văn hào người Mỹ E. Hemingway. Đó là thế hệ của những con người
bị ném vào lò lửa chiến tranh trở ra là những con người lầm lì, hoang hoải,
bơ vơ. Với trái tim nghệ sĩ mẫn cảm, đa đoan, Trịnh Công Sơn hiểu hơn ai hết
cái giá khủng khiếp mà con người phải trả cho cuộc chiến. Vì thế mà trong những
ca khúc của ông, đặc biệt là Ca khúc da vàng, bóng ma chiến tranh cứ lởn vởn,
chập chờn tạo thành một nỗi âu lo thường trực. Chiến tranh là đổ nát, hoang tàn
“Hàng νạn tấn bom trút xuống đầu làng/ Hàng νạn tấn bom trút xuống ruộng đồng/ Ϲửɑ
nhà Ѵiệt Nɑm cháу đỏ cuối thôn”(4); là tiêu điều, chết chóc “Một ngày mùa đông/
Trên con đường mòn/ Một chiếc xe tang /Trái mìn nổ chậm/ Người chết hai lần/ Thịt
da nát tan”(5); là đói khát, vất vưởng“Ghế đá công viên, dời ra đường phố/ Người
già co ro, buồn trong mắt đỏ/ Người già co ro, nhìn qua phố chợ/ Khi chiến
tranh về, đốt lửa quê hương”(6) để rồi nó trở nên đầy ám ảnh trong hình
bóng còm cõi, già nua của bà mẹ Việt Nam “Nhớ tới một đời đã xới vun, hôm nay bỏ
vườn với xóm thôn/ Chân mẹ già sao run quá, qua xương trắng với máu hồng”(7).
Càng thấm thía nỗi đau chiến tranh, khát vọng hòa bình càng
trở nên thao thiết trong những ca khúc của Trịnh. Ông mong mỏi ngày quê
hương “không có đạn bay” cho “tiếng chân trẻ rộn ràng”, cho “tay mẹ nồng
nàn” và “trời đất yên vui”(8). Ông mơ ngày đất nước thanh bình để được rong ruổi
khắp mọi miền, sẻ chia niềm vui sum họp “Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi
không ngừng/ Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam/ Tôi đi chung cuộc mừng/ và mong sẽ
quên chuyện non nước mình”(9). Ông trông chờ ngày thống nhất “Đêm sông Hương
nhung nhớ/ Ngày Cửu Long mơ/ Mơ một ngày Hồng Hà góp hội trùng dương”(10) để
được nối vòng tay lớn xây dựng lại quê nhà “Chờ lúa thơm lên dưới những bàn tay
dân mình/ Chờ lòng yêu thương đất nước quyết đi xây thanh bình”(11). Có hiểu được
khát vọng hòa bình đau đáu trong tim Trịnh, ta mới hiểu được niềm vui bất tuyệt
trong giây phút với tay tới hòa bình “Rừng núi loan tin đến mọi miền/ Gió Hoà
bình bay về muôn hướng/ Ngày vui con nước trôi nhanh/ Nhịp sống bao la xóa bỏ hận
thù”(12).
Khát vọng hòa bình trong những ca khúc Trịnh Công Sơn chẳng
phải là cái gì quá lớn lao, xa vời. Trái lại, nó nhỏ bé, giản dị, đơn sơ như
chính cuộc đời của bao nhiêu người dân Việt nghèo khổ, lam lũ thời ấy. Nó đơn
giản chỉ là ước mong được đi lại, cười đùa ngay trên mảnh đất mình sinh ra mà
không phải sợ hãi, âu lo; chỉ đơn giản là giấc ngủ bình yên không phải giật
mình vì tiếng súng. Vậy mà biết bao người Việt thời Trịnh Công Sơn đã phải đợi
chờ trong mỏi mòn, tuyệt vọng; thậm chí có người đến khi nhắm mắt xuôi tay vẫn
không thể tìm thấy được. Bất chợt tôi nhớ đến “giấc mộng bình thường” mà Phạm
Duy từng nói đến trong câu hát phổ từ thơ Huy Cận “Ngủ đi mộng vẫn bình thường/
À ơi có tiếng thùy dương đôi bờ”(13). Người Việt trông mong một cuộc sống bình
thường bởi họ đang phải ngụp lặn trong một thời đại bất bình thường. Nỗi trông
mong ấy vì thế mà trở nên thiêng liêng, cảm động biết chừng nào.
Bây giờ thì tôi đã có thể lí giải được vì sao ngày trước ông
cậu tôi thường vẫn hay thở dài và trầm tư mỗi khi nghe nhạc Trịnh. Chẳng phải nỗi
buồn chiến tranh và niềm mong mỏi hòa bình da diết trong những Trịnh Khúc kia
đã có sức lay động mãnh liệt đến cõi lòng một người từng đi qua chiến tranh như
cậu hay sao? Và phải chăng đó cũng chính là điều kì diệu khiến nhạc Trịnh lan tỏa
trong tâm hồn tôi, níu giữ trái tim tôi từ thời thơ bé? Xin cảm ơn Trịnh đã cho
tôi hiểu thế nào là sự tàn khốc của chiến tranh, hiểu được giá trị của hòa bình
để từ đó biết trân quý những gì mình đang có. Xin ông trên chín tầng trời, hãy
tiếp tục làm người du ca phiêu lãng, nguyện cầu cho quê hương được mãi mãi
thanh bình.
Chú thích:
(1) Lời ca khúc “Rồi như đá ngây ngô” của Trịnh Công
Sơn.
(2) Chữ dung của Nguyễn Tuân.
(3) Lời ca khúc “Mưa hồng ” của Trịnh Công Sơn.
(4) Lời ca khúc “Đại bác ru đêm” của Trịnh Công Sơn.
(5) Lời ca khúc “Ngụ ngôn mùa đông” của Trịnh Công Sơn.
(6) Lời ca khúc “Người già em bé” của Trịnh Công Sơn.
(7) Lời ca khúc “Người mẹ Ô Lý” của Trịnh Công Sơn.
(8) Lời ca khúc “Xin cho tôi” của Trịnh Công Sơn.
(9) Lời ca khúc “Tôi sẽ đi thăm” của Trịnh Công Sơn.
(10) Lời ca khúc “Lại gần với nhau” của Trịnh Công Sơn.
(11) Lời ca khúc “Chờ nhìn quê hương sáng chói” của Trịnh
Công Sơn.
(12) Lời ca khúc “Ta đã thấy gì trong đêm nay” của Trịnh
Công Sơn.
(13) Lời ca khúc “Ngậm ngùi” của Phạm Duy.
15/3/2020
Hồ Tấn Nguyên Minh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Ý Nhi và những bến bờ của sáng tạo
Ý Nhi và những bến bờ của sáng tạo Trong thế giới này xuất hiện một nữ thi nhân với những bài ca nâng chúng tôi hướng thượng vượt bản thân...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...


