Á Nam Trần Tuấn Khải, anh
Khóa với những vần thơ nước non!
Chúng ta cũng từng quen
thuộc những bài thơ bi tráng: Tống biệt hành của Thâm
Tâm, Túy hậu cuồng ngâm của Vũ Hoàng Chương, Hành
phương Nam của Nguyễn Bính v.v… nhưng dường như chúng ta còn chưa quen
lắm với Tráng sĩ hành của Á Nam Trần Tuấn Khải. Theo tôi Tráng
sĩ hành là bài thơ quốc ngữ mở đầu và là một trong những bài thơ hay
nhất trong dòng thơ hành hiệp bi tráng trước 1945…
MỘT THẾ KỶ CẦM BÚT
Á Nam Trần Tuấn Khải sinh
năm 1895 tại làng Quang Xán, xã Mỹ Hà, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
Cụ thân sinh là Trần Văn
Hoán, đậu cử nhân năm Canh Tí (1900), có tư tưởng Duy tân, bạn của Phan Bội
Châu, Nguyễn Bá Học. Cụ Hoán không ra làm quan, cho đến khi phong trào Đông
Kinh nghĩa thục bị đàn áp, cụ mới nhận chức Huấn đạo huyện Cẩm Giàng (Hải
Dương) để tránh bị thực dân làm khó dễ. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sính, con một
nhà giàu có trong làng. Theo gia phả, bà là “con gái một nhà có học hành nền nếp,
tính tình rất hiền hậu thông minh”. Khi Trần Tuấn Khải còn nhỏ, bà thường “đặt
những câu ca dao để hát ru con và được nhiều người trong hương thôn mến phục”[I].
Lên 4 tuổi, Trần Tuấn Khải
bắt đầu học chữ Nho với cha mình, đã bập bẹ thuộc một bài thơ ngũ ngôn chữ Hán.
Năm 14 tuổi đã đọc Tân thư (cuốn Vạn quốc sử ký của Nhật Bản).
Năm 1913 (18 tuổi) định đi thi hương, nhưng lại thôi. Năm ấy kết hôn với bà
Nguyễn Thị Khuê, sinh năm 1895, quê Sơn Tây, con nhà dòng dõi quan lại.
Đầu thập niên mười bắt đầu
sáng tác. Năm 1914 (19 tuổi) viết bài thơ Tiễn chân anh Khóa xuống tàu.
Khoảng những năm đó viết bài Gánh nước đêm.
Sau khi người con gái đầu
bị bệnh mất, ông buồn nản bỏ đi chơi khắp xứ Đông: Móng Cái, Hòn Gai, Hải
Phòng, Quảng Yên… lấy câu thơ chén rượu làm vui. Cũng nhân dịp đó mà kết giao với
các bạn văn thân cách mạng, ông được nhiều người tán thưởng vì những câu thơ nồng
nàn tinh thần ái quốc.
Sang năm 1920[II],
anh em khuyên ông thu thập thơ văn ngâm vịnh bấy lâu để đưa lên Hà Nội xuất bản.
Nhờ đó mà có tập Duyên nợ phù sinh, với ba chữ Hán ở trên: “Kim
sinh lụy” do nhà in Trung Bắc của Nguyễn Văn Vĩnh ấn hành. Tập thơ gây xôn
xao dư luận trong Nam ngoài Bắc, nhờ đó mà được nhà tư sản Bạch Thái Bưởi mời đến
chơi và mời vào ban biên tập tờ báo Khai hóa mà ông mới xin
phép xuất bản. Từ đó trở đi, Trần Tuấn Khải tham gia làng báo Hà Nội.
Ngoài viết cho tờ Khai
hóa, ông còn tham gia viết cho các báo: Thực nghiệp dân báo, Trung
Bắc tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam phong tạp chí…ở Hà Nội, Tiếng
dân ở Huế và cả Đông Pháp thời báo, Phụ nữ tân văn ở
Sài Gòn. Các bút danh của ông thường dùng trong giai đoạn này là: Á Nam, Lâm
Tuyền Khách, Côi Hoàng Cư Sĩ, Côi Hoàng Khách, Tiếu Hoa Nhân, Giang Hồ Khách,
Đông A, Đông A Thị, Đông Minh, Công Chính…Ông kết giao thân thiết với Phan
Khôi, Sở Cuồng Lê Dư, ông cử Mai Đăng Đệ, ông tú Nguyễn Đỗ Mục, Đàm Xuyên Nguyễn
Phan Lãng… Ông từng làm việc với cụ nghè Ngô Đức Kế ở tạp chí Hữu thanh,
và đã góp ý cho cụ nghè Ngô Đức Kế trong các bài tranh luận phê phán Phạm Quỳnh,
như ông viết trong Gia phả: “Những bài bình luận đả kích Phạm Quỳnh
đăng trên tạp chí Hữu thanh lúc đó, phần nhiều đều có ý kiến bản
thân tham gia cả” (tr.31)
Từ 1920 đến 1930 Á Nam lần
lượt cho xuất bản gần mười quyển sách sau đây:
1. Duyên nợ phù
sinh (Kim sinh lụy) – Thơ văn, Quyển I: Nhà in Trung Bắc, In lần
thứ nhất, Hà Nội, 1921 (1920?); Quyển II: 1923
2. Gương bể dâu,
truyện lịch sử, In lần thứ 1, Nhà in Chân Phương, Hà Nội, 1923
3. Giai anh hùng,
gái thuyền quyên, tiểu thuyết Trung Quốc, Á Nam dịch thuật, In lần thứ 1,
Nhà in Thụy Ký, Hà Nội, 1924
4. Đông Chu liệt
quốc. Thanh niên xuất bản, Hà Nội, 1925
5. Liêu Trai chí
dị. Bồ Tùng Linh, Thanh niên xuất bản, Hà Nội, 1925
6. Hồn hoa,
tiểu thuyết, Từ Chẩm A, Thanh niên xuất bản, Hà Nội, 1925
7. Thủy hử, dịch,
Thanh niên xuất bản, Hà Nội, 1925
8. Đăng khấu chí,
Tiếp theo bộ Thuỷ hử, dịch, Thanh niên xuất bản, 1925
9. Tam tự kinh tập
đọc, Hiệu sách Xương ký xuất bản, Kim Khuê ấn quán, in lần thứ nhất, Hà Nội, 1927
10. Mạnh tử I
(dịch), Trần Tuấn Khải dịch và bàn, Đông Kinh ấn quán, Hà Nội, 1926
11. Bút quan hoài I
và II – tập thơ, In lần thứ 1. Hiệu sách Xương Ký xb, Hà Nội, 1927
12. Hồn tự lập,
in lần thứ nhất, Nhà in Thanh niên, Hà Nội, 1926; Nữ lưu thơ quán, Gò Công,
1929, cuốn thứ nhứt: Lược thuật truyện ông Găng – đi (Gandhi), cuốn
thứ hai: Ba tay hiệp nữ nước Nga
13. Ngụ ngôn tập
đọc (sách tập hợp một số câu chuyện Việt Nam để giáo dục trẻ em), Kim
Giang xuất bản 1928.
14. Bài hát nhà
quê (Khuyến Nông Công Thương), In lần thứ 1, Nam Ký xuất bản, Hà Nội,
1928
Trong số sách trên
thì Tam tự kinh, Mạnh tử, Ngụ ngôn tập đọc là sách giáo dục nhằm
củng cố luân lý; Thủy hử, Đông Chu liệt quốc, Liêu Trai chí dị là
tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc; Hồn hoa là tiểu thuyết mới của
Trung Quốc; các quyển còn lại là thơ văn viết về lòng yêu nước
Ảnh hưởng của ông rộng
rãi trên toàn quốc. Sách ông bán khắp trong Nam ngoài Bắc, như là đoạn rao sách
dưới đây trên tờ Đông Pháp thời báo của Diệp Văn Kỳ:
“Ông Trần Tuấn Khải ở Hà
Nội mới đặt một quyển sách kêu là: Tang-Thương-Cảnh nghĩa
là Gương bể dâu, sách đặc hay mà bán giá rẻ, hai cắc một cuốn, nên
mua xem chơi cho tiêu khiển, vì trong ấy có thú vị văn chương, lời lẽ rành
rành, sự tích có nghĩa lý. Như ai có mua sỉ mà bán lại thì gởi thơ cho ông Trần
Tuấn Khải ở Hà Nội, đề bao như vầy: Monsieur Trần Tuấn Khải, nhà in Chân
Phương, 30 phố Hàng Mành, Hà Nội. Hễ người đặng thơ và Mandat, thì gởi sách lại
cho, hoặc hỏi bổn báo mà mua cũng đặng” (Đông Pháp thời báo số 19
ra ngày 22.06.1923)
Ông cùng với Đạm Phương
và nhiều trí thức khác nữa có tên trong ban biên tập của Nữ lưu thư quán Gò
Công, một tổ chức văn hóa tiến bộ do Phan Thị Bạch Vân sáng[III].
Quyển Hồn tự lập I
và II in khoảng những năm 1926 -1927 bị chính quyền thực dân để ý. Sách mới in
ra 6 ngày thì bị cấm, nhưng 3000 bản đã được bán hết ngay vài ngày sau đó. Mấy
tháng sau Bút quan hoài cũng bị cấm luôn. Pháp cho người đi tịch
thu sách, cấm lưu hành tàng trữ trong nước. Năm 1927 Tòa Đại hình đưa Phan Bội
Châu ra xét xử, Á Nam cùng với một nhà nho khác xin ra chịu tù thay cho cụ,
nhưng không được chấp thuận. Điều này được Trần Tuấn Khải ghi rõ trong Gia
phả: “Năm Đinh mão (1927), nhà cách mạng Phan Bội Châu bị quân Pháp bắt ở
Trung Quốc đưa về giam tại Hỏa Lò, Hà Nội. Nhân có ông bạn đỗ tú tài, một nhà
văn chương ái quốc, bàn với bản thân ra trước tòa án Pháp xin ở tù thay cụ
Phan, song quân Pháp không chấp thuận” (tr.31). Ông kết giao với nhóm yêu nước
Quốc dân đảng: Nguyễn Thái Học, Ký Con…
Khi Phan Bội Châu được an
trí ở Huế, Trần Tuấn Khải đã bí mật đến thăm. Sau đó dự định vào Nam để xuất
dương gây dựng phong trào cách mạng ở hải ngoại. Ở Huế ông gặp Huỳnh Thúc
Kháng, có viết mấy bài cho bán Tiếng dân. Vào Sài Gòn, Trần Tuấn Khải
gặp Diệp Văn Kỳ, Bùi Thế Mỹ, những nhà báo cự phách của Nam Kỳ, rồi gặp Nguyễn
Tường Tam (Nhất Linh), Đào Trinh Nhất, Hoàng Tích Chu, Cả Vấn mới ở Pháp về. Ý
định xuất dương không thành, “bạn Diệp Văn Kỳ đương chủ trương tờ báo Thần
chung, có ý nài vào cộng tác, song bản thân vì chí nguyện xuất dương không
đạt, nên lại từ biệt Nam phần trở về Hà Nội” (Gia phả, tr.32). Thực dân
Pháp cho người nhiều lần đến dụ dỗ cộng tác, nhưng ông nhất mực từ chối. Sau
ông ra viết giúp cho tờ Đông Tây tuần báo của Hoàng Tích Chu,
đồng thời cũng viết cho nhiều báo trong Nam ngoài Bắc: Vệ nông, Đông
Tây tiểu thuyết của nhà sách Nam Ký, Đông Dương tạp chí của
Nguyễn Giang, Văn học tạp chí của Dương Quảng Hàm, Nữ lưu thư quán tùng san của
Đạm Phương nữ sử ở Huế, Đuốc nhà Nam, Phụ nữ tân văn ở
Sài Gòn…
Năm 1932, trong
sách Sách Chơi xuân năm Nhâm thân, ông có thuật lại việc thực dân
Pháp đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa Yên Bái, bên cạnh đó ông còn viết nhiều thơ
văn yêu nước với giọng hùng hồn cảm khái, vì thế mà tác giả và người phụ trách
xuất bản bị tống giam vào Hỏa Lò. Thực dân Pháp đem cả hai ra xử ba lần, nhưng
không đủ chứng cớ nên phải xử phạt án treo và thả tự do cho cả hai người. Sau sự
kiện này thì đến một chuyện buồn khác là người vợ yêu quý của ông – bà Nguyễn
Thị Khuê qua đời. Năm 1938 ông lại tục huyền với bà Nguyễn Thị Lũy, con gái một
nhà giàu ở Phú Đô (Hoài Đức, Hà Tây), kém ông 25 tuổi.
Giai đoạn 1930-1945 Á Nam
Trần Tuấn Khải ít làm thơ hơn trước, có lẽ do ông bị chính quyền thực dân theo
dõi gắt gao, như trong “Mấy lời bộc bạch” tập Với sơn hà ông
có viết: từ sau khi bị giam ở Hỏa Lò ra “phàm các văn phẩm của tôi, bất cứ đăng
tái vào đâu, đều bị kiểm duyệt một cách gắt gao. Những nhà in, những nhà xuất bản,
vì thế thảy đều tránh sự phiền lụy, ít dám nhận in tác phẩm của tôi”[IV].
Vì vậy ngoài tập thơ Với sơn hà xuất bản năm 1935 (Kim Khuê xuất
bản, Hà Nội), ông chuyển sang dịch sách và viết truyện võ hiệp. Những sách xuất
bản trong giai đoạn này là:
1. Sách Chơi xuân
Nhâm thân (truyện viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái), Nam Ký xuất bản, Hà
Nội, 1932
2. Thạch đầu hồn,
Tiểu thuyết liên hồi, Trần Tuấn Khải thuật, Tiến Đức thư quán, Hà Nội, 1933
3. Kiếm châu
duyên, võ hiệp tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch thuật, Nhà in Lê Cường, Hà
Nội, 1935
4. Không Động kỳ
hiệp, võ hiệp tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch, Tam Hữu xuất bản cục, Hà Nội,
1935
5. Kiền khôn võ
hiệp, Trần Tuấn Khải dịch, Nhà in Trung Bắc tân văn, Hà Nội, 1936
6. Vạn lý tình hiệp,
hiệp tình tiểu thuyết, Trần Tuấn Khải dịch thuật, Nhà in Lê Cường, Hà Nội,
1936-1937
7. Thiên Thai lão
hiệp, Trần Tuấn Khải thuật, Tam Hữu xuất bản cục, Hà Nội, 1936 (sáng tác)
8. Hồng lâu mộng,
Hồng Tú Toàn…dịch tiểu thuyết Trung Quốc[V]
Trong số các truyện võ hiệp
của ông thì Thiên Thai lão hiệp là bộ thành công nhất, được độc
giả tán thành nhiệt liệt. Dù được đón nhận, nhưng trên văn đàn, ông đã là người
của thế hệ trước. Mặc cho những biến cố lớn lao trong suốt 15 năm văn học với sự
ra đời của Thơ mới và tiểu thuyết mới, nhưng những cuộc cách mạng văn học ấy dường
như không mảy may ba động đến văn chương của Á Nam. Trước sau ông vẫn là một
“anh Khóa” – bình dân, nghiêm trang và yêu nước.
Sau 1945, Trần Tuấn Khải
không còn có những tác phẩm gây được dư luận rộng rãi như trước nữa. Kháng chiến
toàn quốc bùng nổ, ông đưa gia đình lên tản cư ở Sơn Tây, năm 1947 nhà cửa,
sách vở bị đốt hết, năm 1948, về lại Hà Nội “vì hoàn cảnh bắt buộc”[VI].
Ở Hà Nội, ông chỉ đi dạy học: trung học Chu Văn An, nữ học Trưng Vương, trường
Nguyễn Trãi và môt số trường tư thục. Năm 1949 ông cho xuất bản Với sơn
hà II (Nhà in Quảng Tiến xuất bản, Hà Nội, 1949).
Sau khi vào Nam ở với mấy
người con lớn đã vào sinh sống ở Sài Gòn từ lâu, năm 1959 ông xuất bản tờ Văn
học tạp chí, nhưng chỉ được 2 số, vì không có tiền nên phải đình bản([vii]).
Từ 1960, ông làm chuyên viên Hán học tại Nha Văn hóa, rồi ban dịch thuật Phủ Quốc
vụ khanh đặc trách văn hóa. Năm 1965 ông ký tên kiến nghị vận động hòa bình nên
bị ngưng chức. Vì là một nhân sĩ thanh cao và yêu nước nên năm 1966 ông được mời
ra làm chủ tịch danh dự Phong trào Bảo vệ Văn hóa Dân tộc do Mặt trận Giải
phóng tổ chức. Trong thời gian làm ở ban dịch thuật, ông đã tổ chức dịch và tự
mình dịch nhiều tác phẩm Hán văn như:
1. Pháp cú kinh,
Anh Hán đối chiếu Hòa dịch của Thường Bàn Đại Định; Á Nam Trần Tuấn Khải dịch;
Lăng Hồ Nguyễn Khắc Kham hiệu đính, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn 1963
2. Ưc Trai tướng
công di tập: Dư địa chí, Nguyễn Trãi, Nha Văn hoá Tổng bộ Văn hóa xã hội xuất
bản, Sài Gòn, 1966
3. Tam tổ hành trạng,
Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1971
4. Tự Đức thánh
chế văn tam tập, T.1 & 2: quyển IX đến XIV (trọn bộ), Bùi Tấn Niên, Trần
Tuấn Khải dịch, Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1973
Bài thơ Mừng anh
Khóa về viết nhân ngày giải phóng miền Nam gây được tiếng
vang lớn. Sau năm 1975 ông được mời làm cố vấn cho Hội Văn nghệ TP. Hồ Chí
Minh. Thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải trút hơi thở cuối cùng vào ngày 7 tháng 3 năm
1983 tại nhà riêng ở TP.Hồ Chí Minh, thọ 89 tuổi. Ông có nhiều con, không kể những
người mất từ nhỏ, còn lại 10 người, trong đó có một số người tiếp tục nghề làm
văn làm báo của ông, nổi tiếng nhất có: Trần Quốc Phiên (Trần Việt Hoài), nhà
báo, nhà thơ, tác giả tập kịch thơ Tro tàn điện ngọc; Trần Thị Gia
Minh, tức nữ sĩ Tuệ Mai (con bà Nguyễn Thị Khuê); Trần Thị Lan (tức nữ sĩ Lan
Hinh, con gái đầu của bà kế thất Nguyễn Thị Lũy), tiếp theo là Trần Thị Hồng
Khương, nhà thơ, hiện đang định cư ở nước ngoài.
VĂN CÓ NON SÔNG MỚI CÓ HỒN
Gần một thế kỷ sống và viết,
Á Nam Trần Tuấn Khải đã để lại một sự nghiệp trước tác không nhỏ: khoảng 30 tác
phẩm gồm nhiều thể loại từ thơ ca, văn xuôi, đến nghiên cứu, dịch thuật. Nếu có
thời gian hơn, chúng tôi sẽ nói về những đóng góp của Á Nam trong lĩnh vực khảo
cứu, dịch thuật. Ở đây chúng tôi chỉ trình bày những đóng góp về thơ ca của
ông.
Tiếng thơ của Á Nam cất
lên khi thơ ca của phong trào Duy tân của các chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh…đã đến lúc thoái trào. Hoặc các chí sĩ đã phải lưu lạc ở hải ngoại, hoặc
âm thầm uất ức trong ngục tù. Cho đến cuối thập niên mười, một số chí sĩ ra khỏi
tù bèn chuyển hướng đấu tranh, từ bất hợp pháp, bạo động sang hợp pháp và bằng
báo chí. Nếu thi sĩ Á Nam của chúng ta cùng thế hệ với Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh…thì có lẽ ông cũng là một chí sĩ Duy tân, như ông từng nói:
Cuộc văn chương đã đến
khi tàn,
Thôi thì đạo đức với
thanh nhàn là hay,
Anh quyết rung đùi dạy dỗ
đám sau này,
Mong cho nhân loại một
ngày văn minh.
Túi kinh luân sắp sẵn để
bên mình
Gặp thời chưa dễ côn kình
anh đã thua ai
(Anh đồ)
Nhưng ông sinh sau Phan Bội
Châu gần 30 năm, sinh sau Phan Chu Trinh gần 20 năm, thành ra ông là người của
thế hệ khác. Thời cuộc đã đổi thay, phong trào Duy Tân đã bị đàn áp, nhưng
không lẽ không ai dám nói gì về chuyện nước đã mất, về dân tộc bị khinh miệt, bị
chà đạp nữa sao? Cũng như các chí sĩ đang hoạt động trong làng văn, làng báo
công khai ở Hà Nội lúc bấy giờ, Trần Tuấn Khải đã chọn cho mình một con đường
nghệ thuật: dùng ngòi bút để phê bình, sửa chữa luân lý, và nhất là để thể hiện
tình tự dân tộc, gìn giữ ngọn lửa yêu nước đang âm ỉ trong lòng người dân, và
khi có thể thì thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh. Con đường nghệ thuật ấy hẳn là
nhiều chông gai, và rất dễ dẫn đến tù ngục. Quả là vậy, như chúng ta đã biết.
Chọn bút hiệu Á Nam, thi
sĩ muốn nhắc nhở mọi người về nước Nam ở châu Á. Cái tên Á Nam với những vần
thơ thiết tha về số phận của dân tộc đang bị đọa đày đã làm mới không khí thơ
ca đang ướt át vì những lệ, những sầu, những oán,
những thảm của Nhàn Khanh, Tương Phố, Đoàn Như Khuê…đang thịnh
hành lúc bấy giờ. Còn có Tản Đà. Nhưng cái hay của Tản Đà chủ yếu là ở phong
cách ngông nghênh, kiêu bạc trong những Giấc mộng lớn, Giấc
mộng con…, còn về yêu nước thì kín đáo lắm, chỉ thở than Vịnh
bức dư đồ rách hay xa xôi bóng gió nhuốm vẻ phong tình với
một Thề non nước, Qua cầu Hàm Rồng cảm tác…mà thôi.
Với Á Nam Trần Tuấn Khải,
ông ý thức rất rõ về con đường nghệ thuật mà mình đang theo đuổi. Ông viết:
Đời không duyên nợ thà không sống
Văn có non sông mới có hồn
(Nhàn bút –
Với sơn hà I)
hay:
Góp cùng kim cổ lưng bầu huyết
Gửi với sơn hà một áng văn.
(Bài đề đầu Với
sơn hà I)
Ngay từ tập thơ đầu
tiên: Duyên nợ phù sinh, Á Nam đã dựng lên hình tượng một con người
hai vai nặng gánh nước non qua hình ảnh ẩn dụ về người đàn bà gánh nước:
Em bước chân ra
Con đường xa tít
Con sông mù mịt
Bên vai kĩu kịt
Nặng gánh em trở
ra về
Ngoảnh cổ trông
sông rộng trời khuya
Vì chưng nước cạn
nặng nề em dám kêu ai
Nghĩ tiếc công cho
bà Nữ Oa đội đá vá giời
Con dã tràng lấp bể
biết đời nào xong
Cái bước đêm khuya
thân gái ngại ngùng
Nước non gánh nặng
Cái đức ông chồng
hay hỡi có hay?
Em trở vai này…
(Gánh nước đêm)
Ông Phạm Quỳnh, chủ
báo Nam Phong nhận ra ngay ý tưởng ẩn chứa trong bài thơ. Dẫu
là làm cho tờ báo của chánh mật thám Đông Dương, ông ta cũng phải thốt lên lời
khen ngợi: “Đó là cái tình cảnh chị nhà quê gánh nước đêm, nhưng ở đời há chẳng
có những người chí khí khác thường, cũng từng nặng lòng vì gánh nước non. (…)
Túng sử cả tập thơ chỉ được một bài này cũng đáng khen, huống còn nhiều bài hay
nữa”[VIII].
Còn nhà văn Song An Hoàng
Ngọc Phách thì nhiệt liệt tán thưởng cả tập Duyên nợ phù sinh: “Gập
sách lại tổng luận một câu rằng: “Tập văn có giá trị”. Giá trị vì đứng đắn, giá
trị vì thanh cao, ông Á Nam đã khéo đem văn chương mà diễn ra những tấm cảm
tình, hoặc mơ màng lai láng như trong bài Chơi núi Sài Sơn,
bài Lên chợ giời, bài Vào chùa Hương Tích, hoặc khi ở
việc tầm thường mà nảy được những ý tứ hay như trong bài Tiễn chân anh
Khóa, bài Gánh nước đêm, hoặc ngông nghênh như trong bài Bác
xẩm.”[IX]
Tiếng thơ Á Nam thực sự
lay động toàn quốc là từ loạt bài thơ Anh Khóa, mở đầu bằng bài Tiễn
chân anh Khóa xuống tàu:
“Anh Khóa ơi, em tiễn
chân anh xuống tận bến tàu
Đôi tay em đỡ cái khăn trầu,
em lấy đưa anh
Tay cầm trầu giọt lệ chạy
quanh
Anh xơi một miếng cho bõ
chút tình em nhớ thương”
Bài thơ gợi đúng nỗi đau
đang tràn ngập lòng người lúc bấy giờ: nỗi đau chia ly. Con xa cha mẹ, anh xa
em, vợ xa chồng… Người thì đi phu đồn điền, kẻ thì lưu lạc vì kế sinh nhai, kẻ
thì đi lính đánh thuê ở tận trời Âu, và cả những người xuất dương bôn ba hải
ngoại nữa. Nỗi đau chia ly hằn lên cả trong những câu hát dân gian:
Tàu súp-lê[X] một tàu quằn
tàu quại
Tàu súp-lê hai tàu ra biển bắc
Tay anh vịn song sắt nước mắt chảy đôi hàng
Ai làm cho lỡ chuyến đò ngang
Cho sông sông rộng, cho đôi đàng biệt ly
(Ca dao Nam bộ)
Anh Khóa của Á Nam đã xuống
tàu xuất dương, nhưng hình như việc chia tay với người vợ trẻ có cái gì đó lớn
lao hơn, thiêng liêng hơn là chuyện lưu lạc vì kế sinh nhai:
Anh Khóa ơi!
Người ta lắm bạc nhiều tiền
Anh em ta phận kém duyên
hèn nên phải long đong
Một mình anh nay Bắc lại
mai Đông
Lấy ai trò chuyện cho
khuây lòng lúc sớm khuya
Anh Khóa ơi!
Chữ tương tư vai gánh nặng
nề
Giang hồ anh khéo liệu trở
về kẻo em mong
Đúng như vậy, anh Khóa ở
đây xuất dương vì nghĩa lớn với nước. Sáu mươi năm sau khi bài thơ ra đời- năm
1974, Á Nam tâm sự về cảm hứng viết bài thơ ấy như sau:
“Vào năm 1914, phong trào
Đông kinh nghĩa thục đang khơi dậy lòng ái quốc và phát động phong trào nô nức
xuất dương du học của đám sĩ phu nước nhà, nhưng bị nhà cầm quyền Pháp phá vỡ,
một số sĩ phu phải trốn ra ngoại quốc. Nhân tiễn một người bạn lên tàu ở bến Hải
Phòng, quang cảnh kẻ ở người đi đổi trao tâm sự, đưa nhau miếng trầu, cảm xúc
đó đã thúc đẩy nhà thơ viết bài Tiễn chân anh Khóa”[XI]
Bài thơ lan truyền khắp
toàn quốc. Như Á Nam có kể lại: năm 1928- 1929, nghĩa là 15 năm sau khi bài thơ
ra đời, thi sĩ đi vào Nam, thì nghe ở khắp các bến xe, nhà ga cả Bắc, Trung,
Nam đâu đâu người ta cũng hát bài này. Đến ga Đà Nẵng, khi ông xuất trình giấy
tờ, viên xếp ga thấy tên ông vội vã mời ngay vào phòng trưởng ga nói chuyện để
tỏ ý hâm mộ rồi trịnh trọng đưa thi sĩ đến tận tàu.
Sự yêu thích như vậy có
thể so với thơ của Bạch Cư Dị, như trong Thư gửi Nguyên Chẩn, Bạch
Cư Dị thuật lại rằng: trong mấy chục năm ông đi tới đâu, dù xóm chợ hay chùa
chiền cũng đều thấy người ta ca bài Tì bà hành, Trường hận
ca của ông.
Những năm 30, thi sĩ Á
Nam còn để lại một bài thơ có thể kể vào hàng tuyệt tác. Đó là bài Tráng
sĩ hành viết năm 1933. Ý muốn giúp đời, giúp nước bằng văn chương đôi
khi cũng thấy vô nghĩa quá. Giấc mộng anh hùng của kẻ sĩ “nhân sinh tại thế
bất xứng ý” (Lý Bạch) đã được ký thác vào một bài thơ về Kinh Kha sang Tần
để hành thích Tần Thủy Hoàng. Bài Tráng sĩ hành có giọng bi
hùng, khảng khái mà uất ức, mang đậm hơi thơ cổ:
“Gió đìu hiu sông Dịch lạnh
lùng ghê
Tráng sĩ một đi không bao
giờ về”
Tay nâng chén rượu giã
người cũ
Miệng đọc câu ca chân bước
đi
Dao tình mài liếc với
thanh khí
Chí hùng tung bốc đầy sơn
khê
Người tráng sĩ ra đi vì
nghĩa lớn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Giọng thơ khắc bạc, kiêu bạc, khinh
bạc…, chúng ta thực sự không ngờ “Anh Khóa Khải” đạo lý, nghiêm trang, đôi khi
dân dã lại có giọng thơ lạ như vậy:
Niềm phân ly!
Đã bước chân ra không hẹn
kỳ,
Đời người bất quá vị tri
kỷ,
Sống, chết, nên, chăng ai
sá chi!
Túi áo xênh xang ba tấc
kiếm,
Bụi hồng dong ruổi đôi
bánh xe.
Ẩn đằng sau dáng vẻ gầy
guộc thư sinh của một anh đồ, anh khóa kia vẫn ngùn ngụt một giấc mộng anh
hùng. Không hiểu sao, tôi cứ tin là thi sĩ làm bài thơ này khi đã chếnh choáng
hơi men. Với người xưa, uống rượu là để phát lộ tính tình. Ta nghe thấy ở đây
không chỉ giọng bi tráng của Kinh Kha bên bờ Dịch thủy:
Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy
hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất
phục hoàn
mà còn phảng phất một
giọng cảm khái của Đoản ca hành (Tào Mạnh Đức), uất ức của Hành
lộ nan (Lý Thái Bạch), khảng khái của Chính khí ca (Văn
Thiên Tường) và khinh bạc, tiêu sái của Uống rượu tiêu sầu (Cao
Bá Quát)… Xin đọc tiếp:
Thề đem tấm thân tới hang
hổ
Giết con cọp dữ rừng man
di
Đời nếu chôn lấp hết công
lý,
Anh hùng hào kiệt còn ra
gì!
Phá núi Thái Sơn lấp Đông
Hải,
Ấy là phận sự đàn nam
nhi.(…)
Liếc mắt khắp trông vũ trụ
đó
Đâu không là cảnh ta say
mê!
Chếnh choáng hơi men bốc
chính khí,
Ngâm câu khảng khái mình
ta nghe…
Bài thơ này thể hiện những
ý tưởng quyết liệt vào khoảng thời gian tác giả của nó mới từ nhà tù thực dân
ra (1932) vì những tác phẩm “phiến loạn”.
Chúng ta từng say mê với
Hồ trường qua lời thơ dịch tuyệt diệu của Nguyễn Bá Trác:
Trượng phu không hay xé
gan bẻ cật phù cương thường
Hà tất tiêu dao bốn bể,
luân lạc tha hương
Trời Nam nghìn dặm thẳm
Mây nước một màu sương
Học không thành, công chẳng
toại,
Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc,
Trăm năm thân thế bóng tà
dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu
mà hỏi,
Trời đất mang
mang ai là tri kỷ,
Lại đây cùng ta cạn một hồ
trường
Chúng ta cũng từng quen
thuộc những bài thơ bi tráng: Tống biệt hành của Thâm
Tâm, Túy hậu cuồng ngâm của Vũ Hoàng Chương, Hành
phương Nam của Nguyễn Bính v.v… nhưng dường như chúng ta còn chưa quen
lắm với Tráng sĩ hành của Á Nam Trần Tuấn Khải. Theo tôi Tráng
sĩ hành là bài thơ quốc ngữ mở đầu và là một trong những bài thơ hay
nhất trong dòng thơ hành hiệp bi tráng trước 1945.
Phong dao là một trong những
cống hiến đặc sắc của Á Nam. Hồn ca dao của dân tộc đã thấm sâu vào “anh Khóa”
bình dân, khiến cho thi sĩ viết ra những bài ca như của một chị “nhà quê”, một
anh trai cày đích thực:
Anh
đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà
dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường
hôm nao
(Bút quan hoài
I)
hay:
Rủ nhau xuống bể tìm cua[XII]
Đem về nấu quả mơ chua
trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc xin đừng
quên nhau
(Duyên nợ
phù sinh)
Từ thi pháp cho đến tâm
tình đều thấm nhuần lời ăn tiếng nói, ca dao của người nông dân Việt Nam. Trách
chi nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan lại chẳng lầm mà đưa hai bài ấy vào mục
ca dao về “Tình yêu nam nữ” trong công trình Tục ngữ ca dao dân ca Việt
Nam của ông. Ngoài hai bài ấy ra, Á Nam còn nhiều bài phong dao khác nữa
mà khi để cạnh ca dao người ta khó có thể phân biệt được đâu là Á Nam và đâu là
dân gian:
–
Vành giăng ai xẻ làm đôi
Đường trần ai vẽ ngược
xuôi hỡi chàng
Đưa nhau một bước lên đàng
Cỏ xanh hai dãy mấy hàng
châu sa.
– Bướm kia sao nỡ lìa hoa
Chim xanh sao nỡ bay xa
vườn hồng
Ai đi muôn dặm non sông
Để ai thương nhớ sầu đong
một mình
Thơ Nguyễn Du cũng đã từng
được những người dân quê nghĩ là lời ca của mình. Ngược lại trong thơ Nguyễn Du
cũng có không ít những lời “tang ma ngữ”, lời của người hái dâu, dệt vải.
Ở Á Nam cũng vậy. Á Nam đã hòa tiếng thơ của mình, số phận của mình vào với
nhân dân: ông đã làm người xẩm mù hát rong nỗi lòng của nhân dân, như Homère đã
làm với Iliat, Bạch Cư Dị đã làm với Tì bà hành, Trường hận
ca…
Thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải
đã xa chúng ta, nhưng tên tuổi của ông cùng với nhiều bài thơ của
ông đã hóa thân vào với nhân dân và bất tử cùng với dân tộc.
Chú thích:
[i] Gia phả họ Trần, Á
Nam Trần Tuấn Khải soạn, 1966. Phần tiểu sử Á Nam, chúng tôi cũng chủ yếu dựa
vào tài liệu này.
[ii] 1920 là viết
theo Gia phả họ Trần, còn theo Duyên nợ phù sinh II (Xương
Ký xuất bản lần 3, 1927) thì sách này xuất bản năm Tân dậu, Khải Định thứ nhất,
1921
[iii] Phan Thị Bạch Vân
(Hoàng Thị Tuyết Hoa), nhà văn, nhà báo, người sáng lập ra Nữ Lưu Thư Quán Gò
Công, có đóng góp lớn trong phong trào duy tân và đấu tranh cho nữ quyền ở Nam
Bộ. Năm 1930 bà bị thực dân Pháp bắt đưa ra tòa vì tội phá hoại trị an bằng văn
chương tư tưởng. Trong sách Nữ anh tài cuốn 2 có ghi: “Chư
văn nhơn giúp bộ biên tập: Madame Nguyễn Khoa Tùng dit Đạm Phương Nữ Sử – Huế
(…) Monsieur Á Nam Trần Tuấn Khải – Hà Nội” (Nữ Lưu Thơ Quán xb, Gò Công,
1929, tr.45).
[iv] Với sơn hà,
cuốn thứ II, in lần thứ nhất, Nhà in Quảng Tiến xb, Hà Nội, 1949, tr.5
[v] Xin lưu ý: Trên các
bìa sách võ hiệp lấy đề tài Trung quốc cổ, Trần Tuấn Khải ghi 3 khái niệm khác
nhau (chúng tôi giữ nguyên): “dịch”, “thuật”, “dịch thuật”. Trong đó “dịch” chắc
chắn là dịch rồi, nhưng “thuật” là gì? Chúng tôi cho rằng có lẽ là sáng tác, vì
trong Gia phả ông có viết: “Được ít lâu lại in bộ tiểu thuyết Hồng
Tú Toàn và hợp tác với nhà xuất bản Tam Hữu dịch các sách kiếm hiệp. Đồng
thời lại xuất bản bộ Thiên Thai lão hiệp do bản thân tự soạn,
dài tới bốn, năm mươi hồi đều được các giới thưởng thức nhiệt liệt và rất dễ
tiêu thụ trong thị trường văn giới” (tr.34). Trên bìa bộ Thiên Thai lão
hiệp ấy ông đề là “thuật”. Còn lại khái niệm “dịch thuật” có lẽ là
trung gian giữa dịch và thuật, như một loại phóng tác chăng?
[vi] Với sơn hà,
sđd, tr.6
[vii] Văn học tạp
chí, chuyên san, chủ nhiệm và chủ bút: Trần Tuấn Khải, Sài Gòn, 1959
[viii] Dẫn theo Duyên
nợ phù sinh II, Xương Ký xuất bản lần 3, 1927, tr.2
[ix] Dẫn theo Duyên
nợ phù sinh II, sđd, tr.4
[x] Sufflet: kéo còi
[xi] Tạp chí Bách khoa (Sài
Gòn) số 416 năm 1974
[xii] Tục ngữ ca
dao dân ca của Vũ Ngọc Phan chép là “mò cua”.
16/7/2022
Đoàn Lê Giang
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 7/ 2007
Theo
https://vanhocsaigon.com/