Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

 

Một bài thơ hay đầy ắp phương ngữ Nam Bộ dễ thương và tài hoa

Buổi trưa, ở một vùng sâu sông nước thuộc Vên Vên, Gò Dầu Hạ, bỗng nghe văng vẳng tiếng Cẩm Ly hát có lẽ từ trong radio ở một chiếc thuyền hạ bạc ven sông Vàm Cỏ: “Bậu qua phà Rạch Miễu. Qua lẽo đẽo theo sau… Áo bậu đỏ cánh kiến. Da bậu vàng phù sa…”, lòng chợt nôn nao quá đổi. Mới hồi hổm chạy xe từ Mỹ Tho đất Tiền Giang băng băng qua cầu Rạch Miễu thăm xứ Bến Tre. Chiếc phà Rạch Miễu còn sót lại, buồn hiu hắt cạnh con sông Tiền mơ mộng. Tất cả chỉ còn lại là ký ức xa lắc, xa lơ… như đám mây trên trời trôi về phương vô định…

Buồn, mở Smartphone, vào Google, tra từ khóa “Bậu qua phà Rạch Miễu”, hiện lên bài hát “Phải lòng con gái Bến Tre” của nhạc sĩ Phan Ni Tấn, phổ thơ của thi sĩ Luân Hoán. Tìm kiếm nữa, ra bài thơ với các tựa đề “Phải lòng con gái Bến Tre” rồi “Tình thơ Luân Hoán”… Đọc một mạch bài thơ trên mạng, cảm xúc dâng trào theo từng câu chữ tài hoa mà chơn chất. Hóm hĩnh mà đằm sâu với những phương ngữ “rặt ri” Nam Bộ dễ thương cùng các địa danh và tên người của xứ sở miệt dừa, sông nước Tiền Giang. Nhớ những đêm Hàm Luông, men rượu Phú Lễ…

Song cái cảm giác tựa đề của bài thơ cứ theo ám ảnh, cùng một câu thơ chỉ có 4 chữ “ Hờn giận cù lao…/ cáu tức cầu Ba Lai”, mà tra trên mạng cũng cứ trêu ngươi câu thơ bỏ sót. Thời may cơ duyên được trao đổi qua Email cùng thi sĩ Luân Hoán, hiện đang định cư tại Canada, mới biết bài thơ mang cái tựa là hai câu thơ 7 chữ : “ Ta may mắn được làm thi sĩ/ Nhờ đã phải lòng gái Bến Tre” mà một số người đã tự ý sửa đổi lại như đã nói ở trên! Và cũng theo thi sĩ Luân Hoán, một con người gốc gác Quảng Nam, có thời gian chinh chiến ở Quảng Ngãi lại rất am hiểu ngôn ngữ và địa danh ở Bến Tre thật đáng khâm phục. Thi sĩ cho biết. Bài thơ dài gồm 35 khổ, mỗi khổ 4 câu, sáng tác từ năm 1990, in trong tập thơ “Cám Ơn Đất Đá Trổ Thơ/ Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài” vào năm 1991, do NXB Kinh Đô ở Houston ấn hành, họa sĩ Vi Vi vẽ bìa. Cuối cùng là câu thơ bị sót một chữ, nguyên văn là: “hờn giận cù lao Ốc/ cáu tức cầu Ba Lai…”. Vậy là rõ, cám ơn những chi tiết mà Thi sĩ đã cung cấp.

Trở lại bài thơ mà nhạc sĩ Phan Ni Tấn đã trích và phổ nhạc, được nhiều ca sĩ tài danh chọn hát như Phú Danh, Phi Nhung, Cẩm Ly, Đàm Vĩnh Hưng, Tố My… và được đông đảo bạn trẻ cả nước yêu thích. Tác giả Nguyễn Võ Khang Hạ đã viết một bài dài đăng trên báo Đồng Khởi, tờ báo của tỉnh Bến Tre, trong đó có đoạn: “Bài hát “Phải lòng con gái Bến Tre” (thơ: Luân Hoán – nhạc: Phan Ni Tấn) gần đây được công chúng yêu nhạc đón nhận. Lời bài hát với những đại từ nhân xưng “qua”, “bậu” tuy xưa nhưng lại là những lời tán tỉnh khá dễ thương của một “gã thương hồ” với một cô gái Bến Tre nên được giới trẻ yêu thích. 

Đặc biệt, lời bài hát nhắc đến nhiều địa danh nổi tiếng của Bến Tre. Đáng tiếc là theo thời gian, một số địa danh đã trở thành quá khứ hoài niệm vì nhiều lý do khác nhau. Dù còn tồn tại hay không, những cái tên đất, tên sông, tên cồn, tên chợ… đã trở thành “thương hiệu” tạo nên cốt cách, diện mạo của con người Bến Tre. Đối với các chàng trai đã từng “phải lòng con gái Bến Tre” chắc cũng thuộc lòng lời người xưa: Nết đất nết người.”

Đúng, hai đại từ danh xưng “qua” và “bậu” là hai từ rất xưa, được người miền Trung và cả miền Nam sử dụng trong quá trình đi mở đất, đã in dấu ấn vào ca dao như “ Ví dầu tình bậu muốn thôi/ Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra…” hay trong văn chương của Hồ Biểu Chánh, Phi Vân… Ngày nay, một số người già, lớn tuổi ở quê vẫn còn sử dụng, chẳng qua là để thay cho hai từ “chàng, nàng” hay “anh, em” song có một cái gì đó rất chơn chất, mộc mạc và thật dễ thương. Bên cạnh là hàng loạt các từ như “ lẽo đẽo, ngoay ngoảy, hổng nghe, cầm đậu lòng, mắc cỡ, giả bộ, quắn quíu phát khùng, cáu tức, bén rễ, hết xẩy, phất phơ” chỉ là những phương ngữ đâu cần những gọt dũa sang trọng hay đài các mà cũng thấm đậm hồn người? Đó chính là cái tài hoa của Thi sĩ.

Toàn bài thơ nhắc đến 8 lần câu “bậu qua (sang) phà Rạch Miễu” như một khẳng định chuyến phà ắt là từ Mỹ Tho qua Bến Tre và trên 28 lần gọi tên các địa danh của Bến Tre trong đó có cả xưa và nay, mà chưa chắc người Bến Tre bây giờ đã nắm rõ. Ví như địa danh “trường Nam Phương” một trường dạy “Nữ công gia chánh” có từ những năm 1950, nơi có nhiều cô con gái đẹp theo học “công dung ngôn hạnh”. Bài thơ ngoài tình cảm nhắn gửi gái trai, còn nặng trĩu những tâm tư với các nhân vật lừng danh của xứ dừa Nam bộ như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, đặt biệt là nhân vật văn chương Lục Vân Tiên và nhân vật dân gian “ông già Ba Tri” hay “ông Đạo Dừa” in sâu vào tâm khảm người dân xứ dừa. Bài thơ còn nhắc đến những cây trái miền sông nước như chôm chôm, măng cụt, sầu riêng v.v… cùng với “ghe bầu, xuồng ba lá” làm nên một sắc thái rất riêng và sinh động của một vùng quê hiền hòa, hiếu khách.

Nào đâu phải chỉ là lời tỏ tình của “ có nhớ gã thương hồ” “lẩn thẩn sầu bán thơ” mà còn là mong ước cháy bỏng của tình nghĩa thủy chung trai, gái và cả với đất nước quê hương để mà “bóng dừa vương áo mỏng/ in đậm chùm yêu thương…”. Nói không ngoa, từ trước đến nay chắc có lẽ chưa có bài thơ nào hay hơn bài thơ này khi nói về Bến Tre?..

TRẦN HOÀNG VY

Nguyên văn bài thơ:

Ta may mắn được làm thi sĩ
nhờ đã phải lòng gái Bến Tre

bậu qua phà Rạch Miễu
qua lẽo đẽo theo sau
Tiền Giang sông Cửu rộng
cứ xem mình của nhau

áo bậu đỏ cánh kiến
da bậu vàng phù sa
mắt bậu xanh nước biển
tim bậu hồng lòng qua

phà băng nghiêng sóng vội
rạo rực hồn mênh mông
mắt bậu buồn quá đỗi
thương đời cù lao Rồng?

nhớ ai ngó Cồn Phụng?
phải lòng ông đạo Dừa
hay tương tư ống khói
tàu Nhật chìm năm xưa

bậu sang phà Rạch Miễu
ngoay ngoảy về Bến Tre
qua quyết lòng ở rể
năn nỉ hoài không nghe

hổng nghe mà ngoái lại
hỏi ai cầm đậu lòng
ngớ ngẩn qua chợ Giữa
cầu Chẹt Săy, Mỹ Lồng

bậu về Lương Hòa hả
hay Lương Qưới, Giồng Trôm?
guốc quau rụng tiếng lá
thoang thoảng mùi hương bần

bậu về miệt Hương điểm?
hay Sơn Đốc, Giồng Tre?
Ba Tri nồng muối ngấm
biển hát đất nằm nghe

bậu sang phà Rạch Miễu
bậu qua bắc Hàm Luông
về Cái Mơn, Thạch Phú
rừng lá ngút ngàn buồn

qua đi đi theo bậu
hát nho nhỏ trong lòng
thơm thơm mùi măng cụt
mùi sầu riêng, chôm chôm

bậu ơi trời dẫu rộng
nhưng đâu bằng nhớ mong
sông rạch như gân máu
man man nỗi mặn nồng

dùng dằng chi nữa bậu
tay nắng nắm tay hồng
mắc cỡ chi giả bộ
chạm nhẹ hồn vai gần

bậu sang phà Rạch Miễu
về Càu Móng Tân Hương
bóng dừa vươn áo mỏng
đọng xanh chùm yêu thương

qua theo vào Bình Đại
qua theo bậu đến cùng
ghe bầu, xuồng ba lá
quanh quẩn nẻo thủy chung

qua theo vào Sóc Sải
hôn ô rô cóc kèn
bẻ gai chích máu vẽ
nụ thơ tình sáng trăng

thơ thơm thơm mùi nhớ
mùi khép nép làm duyên
mùi hơi Nguyễn đình Chiểu
mùi tình Lục Vân Tiên

bậu sang phà Rạch Miễu
về thăm trường Nam Phương
lắc lư xe thổ mộ
ớ sao mà dễ thương

ví dù không ống kính
tài danh Lê Quang Xuân
lòng qua thay dương bản
lộng lẫy nét thân thương

ví dù bút không bén
như Nguyễn Thị Ngọc Nhung
như Phan Thị Trọng Tuyến
cũng thắm thiết thơm lừng

qua thương thương bậu quá
buổi sáng chờ buổi trưa
buổi chiều đợi buổi tối
ngày tháng không nhốt vừa

bậu sang phà Rạch Miễu
mây nghiêng theo ngập ngừng
huống chi qua thi sĩ
không quắn quíu phát khùng

hờn giận cù lao Ốc
cáu tức cầu Ba Lai
hồn theo đuôi hứng bóng
cớ sao cà lăm hoài?

ước chi đôi thần ngỗng
quậy lòng sông Bến Tre
cho bậu giật mình sợ
qua kề vai bao che

bậu ơi tin qua chớ
lắng lòng nghe qua thề
trước thần Phan Thanh Giản
nếu như mà u mê

bậu sang phà Rạch Miễu
tìm ông già Ba Tri
làm mai cho nhau hả
đời đẹp, đẹp quá đi

lòng em phơi dưới nắng
lòng qua bén gót chân
lòng qua nương hạt bụi
được thở được bâng khuâng

bớ chàng Ngô Nguyên Dũng
bớ nàng Cao Bình Minh
ta qua phà Rạch Miễu
lênh đênh theo giọt tình

mách giùm ta, quẹo trái?
quẹo phải? hay thẳng luôn
giữa lòng ngã ba Tháp
chân vấp hồn nhớ thương

bậu ơi đừng khó đễ
yêu thật hay giả vờ
coi chừng qua bén rễ
sang phần đất Mỹ Tho

dọa chơi cho vui vậy
thưa cô em Lương Hòa
gái vườn dừa hết xẩy
qua cũng nòi tài hoa

xứng đôi lấy nhau trớt
đây bánh tráng Mỹ Lồng
đây bánh phồng Sơn Đốc
sính lễ lòng gởi lòng

ngậm nghe trời đất nhớ
cá bống kèn kho tiêu
hòn mênh mang khép mở
mùi ráng nắng lên chiều

bậu qua phà Rạch Miễu
qua Mỏ Cày nhởn nha
Trúc Giang đang chờ đợi
thôi, chúng ta về nhà

Bến Tre Bến Tre hỡi
có nhớ gã thương hồ
khua dầm loang nắng đục
lẩn thẩn sầu bán thơ

thơ bán hoài không hết?
nên cà đời phất phơ
bậu ơi ta lỡ dại?
hay vinh hiển bây giờ…

Luân Hoán

15/1/2020

Trần Hoàng Vy

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nhà thơ Trần Quang Quý: Không ai bứng tôi được khỏi cố hương

Tập thơ “Nguồn” của nhà thơ Trần Quang Quý vừa đạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2019. VHSG xin chúc mừng ông và giới thiệu lại bài viết của tác giả Ngô Đức Hành về tập thơ “Nguồn”…

Tôi không có ý định viết chân dung thơ Trần Quang Quý, dẫu tôi gần ông, biết ông từ ngày cả hai còn lăn lộn với báo chí. Hiểu về ông và thơ ông tương đối nhưng viết về ông đã có nhiều người và thú thực… quá khó. Bản thân “Thơ cao hơn hiểu biết của con người về thơ” (Thạch Quỳ), với thơ Trần Quang Quý càng thế.

Tôi chỉ có thể nói, Trần Quang Quý từ lâu đã nổi lên như một gương mặt ấn tượng, bền bỉ tìm tòi đổi mới theo cách của ông và hiện nay vẫn là “giọng điệu riêng” của thi đàn Việt Nam, khó lẫn. Nhìn sáng tác của ông dễ nhận ra sự dấn thân và trải nghiệm. Thơ ông vừa vạm vỡ vừa gân guốc; vừa êm dịu vừa gai góc. Ông như người bóc tách từng chữ, quyết tìm ra hồn vía của chữ; thơ ông mạnh mẽ đầy “động từ”, ít “tính từ” quen thuộc và nhàn nhạt.

Trần Quang Quý quan niệm: “Tác phẩm văn học chỉ có giá trị khi nó ở trong lòng bạn đọc. Con đường văn chương cực gian nan, dễ huyễn hoặc và phụ thuộc vào tài năng, sức lao động… mà nếu không thức ngộ được thì có khi cả cuộc đời chỉ là bản nháp”. Miệt mài sáng tạo với một thái độ dấn thân, nhập cuộc quyết liệt, ông đã có những tập thơ ấn tượng dành cho bạn đọc. Ông từng nhận được nhiều giải thưởng vinh danh tác phẩm, vinh danh sự nghiệp, trong đó có Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (năm 2016).

Tôi được Trần Quang Quý tặng “Nguồn” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, tháng 9/2019). Đây là tập thơ mới nhất của ông. Tập thơ gồm 45 bài (5 tập thơ gần nhất đều 45 bài), bài thơ “lâu nhất” trong tập là bài “Gọi sông Hồng” ông viết năm 2014, còn lại chủ yếu ông sáng tác năm 2018, 2019. Có thể nói đó là những sáng tác mới nhất của ông.

Ông làm đề từ cho tập thơ: “Nguồn cội là dòng chảy văn hóa của sông Đà – Núi Tản huyền ảo, uy linh luôn là nơi chốn đi về trong tâm thức tôi”, Trần Quang Quý “mách” bạn đọc về tập thơ.

Nhà thơ Trần Quang Quý sinh ra và lớn lên tại làng Hạ Bì, xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh  Phú Thọ. Làng quê Trần Quang Quý ngay bên con sông Đà vừa hung dữ, vừa hiền hòa, không xa núi Tản. Ông giới thiệu vùng đất đó trong thơ:

Trên ban thờ nhà tôi dâng một hũ đất
lấy từ làng Hạ Bì nơi ông bà tôi nằm lại nơi này
nơi Tổ tiên tôi dạt hạ lưu, bờ tả sông Đà lập ấp
bên kia Ba Vì mây tụ uy linh hổ phục rồng chầu

(Đất linh)

Những năm sáng tác các thi phẩm trong tập “Nguồn”, với Trần Quang Quý có nhiều sự kiện, biến cố với cuộc đời ông. Về sự nghiệp đó là quãng thời gian nhà thơ rời “nhiệm sở”, sau bao nhiêu năm cống hiến, đó cũng là thời gian ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đó cũng là thời gian người mẹ yêu thương của ông về với Tổ tiên. Trần Quang Quý năng về quê hơn.

Với đời bất cứ ai, gần như thành quy luật, càng lớn tuổi quê càng “thức dậy” trong tâm hồn. Với Trần Quang Quý cũng thế, dẫu đã đi qua “bốn biển năm châu”, ngủ trong các căn phòng 5 sao, 6 sao, về với quê hương ông nhận ra, đến giấc ngủ cũng đặc biệt:

Lâu, chưa có giấc ngủ sâu đến thế
ngực thở sông Đà
và gió tươi cánh đồng Hạ Bì sao đêm vằng vặc
tôi về ngủ như thuở chăn bò, đánh dậm

(Giấc quê)

Quê với ông thao thức đến mức “Có lúc tôi muốn mang quê đặt vào Hà Nội/ nhổ Hà Nội đặt vào quê/ không sao lắp đặt trật tự tâm hồn/ phong vị quê và dòng chảy văn hóa/ ríu ran ngõ làng, những vườn cây xanh mướt phù sa/ đóng tôi vào căn cước làng Hạ Bì và sông Đà núi Tản”. Bề ngoài nhà thơ Trần Quang Quý vâm vấp, nắng gió bầm dập đến chắc chắn như thớ mít, thớ lim; thế nhưng trái tim ông đầy cảm thức, nhạy cảm với những gì thuộc về quê.

Tôi đã về quê Trần Quang Quý, nhà ông bên mé sông, cách cầu Trung Hà không xa, có nghĩa bên này là Hà Nội, bên kia là Phú Thọ. Trượt vài bước chân khỏi bờ đê là chạm sân gạch nhà ông. Với Trần Quang Quý, nơi ấy là “nguồn” không chỉ là nơi mẹ sinh ra các anh em ông mà còn là “nguồn” của những điều sâu sắc về nhân sinh, long lanh, khi lớn lên kịp vỡ òa về vẻ đẹp:

Những quả đồi nằm gối hoang nhau
mùa hoa sim và con đường sỏi thuở chân đất
em chín một cặp môi
tóc đuôi gà thích thú với từng giỏ sim ngọt
nấp vào sim nụ cười tinh nghịch
nấp vào chiều dải yếm hoàng hôn

(Mùa sim)

Trong “Nguồn” chỉ có ba bài thơ viết về vùng quê khác, đó là “Tam giác mạch đã mùa”, “Nắng Nghệ” và “Bến Tre”, còn tất cả là tự sự, chiêm nghiệm về cội nguồn, nơi bắt đầu của hành trình ra đi và trở về. “Tôi giọt máu Mẹ – Cha/ Giời cho sinh ra bên bờ sông Đà, Giáp Ngọ/ mở mắt đã Ba Vì sừng sững/ mở tai đã nghe sông Đà sóng cuộn/ mở tâm đã ngọt lời ru Mẹ/ dằng dặc thời gian, sữa Mẹ rót tôi qua từng khắc cơ hàn/ Cha cho chí trai cuộn vó đạp dâu bể/ ngẩng Ba Vì bay” (Viết cho mình tuổi Ngựa).

Cũng như các nhà thơ khác, Trần Quang Quý tất nhiên có thơ về mẹ. Ngày mẹ mất, trái tim ai cũng ứa máu. Trần Quang Quý với “Đưa Mẹ về cõi Tiên” lại khác. Vượt qua nỗi đau thông thường, ông “vắt” nỗi đau, ngộ ra về một tư tưởng:

Bình vôi của mẹ hóa mây trắng vắt ngang sông Đà
quấn khăn tang non Tản
để mỗi lần nhìn lên chúng con thấy cao xanh có mẹ
sông cũng nằm lép song
cánh cò về nghiêng lời biệt ru

“Người quê đi đến chỗ nào chả quê”, chắc Trần Quang Quý ngẫm từ mình mà viết vậy, thay một “định nghĩa” về mình. Tôi biết, Trần Quang Quý không “thần tượng” một nhà thơ cụ thể nào. Nhưng ông cho biết, rất thích chất suy tưởng trong thơ Chế Lan Viên, thuở mới vào nghề lại mê Exênhin.

Có lẽ chất đồng quê lãng mạn nhưng ẩn chứa nhiều trăn trở của Exenhin cũng ảnh hưởng phần nào trong nhiều sáng tác của Trần Quang Quý? Điều này chỉ có Trần Quang Quý mới trả lời được. Trần Quang Quý chưa bao giờ thôi hết trăn trở, với thơ, bởi cuộc đời chẳng bao giờ hết những vấn đề day dứt nghĩ suy, cũng như thơ ca luôn cựa mình đòi đổi mới. Kể cả việc, ông sáng tạo thể loại thơ “năm câu” ở Việt Nam và đã xuất bản tập thơ “Namkau” (năm 2016).

Thơ Trần Quang Quý trẻ hơn tuổi tác và vẻ ngoài của ông, điều này nhiều người thừa nhận. TS. Nguyễn Đăng Điệp, Viện trưởng Viện Văn học khen Trần Quang Quý không muốn lặp lại những nẻo đường của người khác đã đi. Cho đến nay, Trần Quang Quý đã xuất bản 11 tập thơ. Ông là tác giả của những tập thơ mang tên lạ: “Siêu thị mặt”, “Giấc mơ hình chiếc thớt”… “Vai nào anh sắm đạt nhất trong cuộc đời?”, hỏi Trần Quang Quý, ông đáp: “Vai đạt nhất và lộ nhất chính là mặt tôi”. Đó là một anh nông dân, quê kiểng, người đánh dậm… trên cánh đồng Hạ Bì, nhưng với thơ đó là định vị “bản thể” Trần Quang Quý: vũ trụ của suy tưởng, suy tưởng về vũ trụ, về nhân sinh.

Có người quả quyết rằng, Trần Quang Quý làm thơ đến “rỗng” đời. Ông lao động văn chương trên nhiều phương diện, nhưng “Nàng thơ” gần như là đứa “con cưng” nhất, trút hết cả tâm lực và trí lực cho thơ. Thơ ông dù hiện đại đến đâu vẫn một giọng đầm đìa hồn quê. Càng xa quê ông càng dành tình cảm cho quê hương nhiều hơn, sâu nặng hơn. Những ngày bươn chải mưu sinh nơi phố phường, gặp gỡ bao mặt người sáng tối, thật có, giả có, cho ông thêm trải nghiệm, chiêm nghiệm về lẽ đời, tình đời. Ông đứng ra bênh vực cho lẽ phải, cho cái đẹp còn bị hiểu sai, bị vùi dập. Tuổi càng lớn thêm lên, ông lại càng “dặt dìu” với quê, điều này gần như là “căn cước” để định vị “Nguồn”.

Không có gì bứng tôi được khỏi cố hương
điệu hát Xoan nảy mầm cửa đình và lưỡi cày nhân sinh
lưỡi cuốc khai địa linh sự sống
bánh chưng gói hồn quê ướp nhân số phận

Có gì đánh đổi được
tôi ký thác tôi trên đất Tổ tiên

(Cố hương)

Chính Trần Quang Quý từng nói “Ký ức hay đời sống thôn quê là mảng đời, là nguồn cảm hứng sáng tác rất quan trọng trong thơ tôi”. Bởi, nơi ấy: “Những thửa ruộng, như con dấu vuông đóng dấu đời người trên bùn đất… Nơi ông bà tôi đã yên rồi, bóng dáng người di cảo trong hạt thóc… Tất cả cùng hái gặt trên cánh đồng này, và cánh đồng đã gặt hái họ”, ông cũng đã từng “khái niệm” trong bài thơ “Cánh đồng” sáng tác trước đây. Lần này Trần Quang Quý xác quyết lại trong “Nguồn”.

Nói như Raxun Gamzatop trong tác phẩm “Đaghextan của tôi”: “Ông yêu làng quê của mình và không bao giờ đổi nó lấy bất cứ một thủ đô nào trên trái đất này”.

Không ai “bứng” được Trần Quang Quý ra khỏi “nguồn” và chính “nguồn” cho một đời sống tâm hồn phong phú, thăng hoa; cho ông nội lực mạnh mẽ và con đường. Từ cổ chí kim, những nhà thơ yêu quê hương đều để lại những tác phẩm bất hủ, những trang sách, trang thơ lay động trái tim cũng chính là là khi họ viết về quê hương. Không ngoại lệ, Trần Quang Quý thuộc về núi Tản, sông Đà.

Tôi đi sáng nay cùng dòng sông ấu thơ
tôi đi sáng nay ngàn con sóng mùa hè tuổi trẻ
tôi đi sáng nay cùng mùa thu đan mềm giai điệu lá
thả xuống heo may những bâng quơ

(Có con đường)

Hà Nội, 4/11/2019

Ngô Đức Hành

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Đọc lại Nguyên Hồng đầu thế kỷ XXI

Viết ngắn, thiết nghĩ là nhà văn hướng tới công chúng trong tinh thần đồng sáng tạo. Bỉ vỏ của Nguyên Hồng đã cung cấp cho các nhà văn đương thời những kinh nghiệm nghệ thuật quý giá khi bắt tay viết tiểu thuyết ngắn…

1. Đọc Nguyên Hồng theo tiêu chuẩn “canon” đầu thế kỷ XXI

Khi đọc tiểu thuyết Nguyên Hồng từ cái nhìn đương đại, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến khái niệm “canon” do giáo sư Paul Lauter (Hoa Kỳ) đề xuất “Thật ra, mãi đến năm 1972, thuật ngữ “canon” (tiêu chuẩn đánh giá nhà văn và tác phẩm) mới bắt đầu được dùng trong những cuộc bàn cãi về vấn đề những văn bản nào đáng được nghiên cứu, chứ không chỉ là vấn đề những văn bản đó viết về điều gì, chúng được tổ chức và phát huy chức năng như thế nào. Nói một cách cụ thể, phương pháp nghiên cứu cũ nhằm vào việc xem xét những thăng trầm về vị trí của nhà văn. Nhưng cách làm đó hầu như hoàn toàn giới hạn trong sự miêu tả sự thăng trầm của một tác giả chứ không phân tích các yếu tố vật chất và tư tưởng vốn là gốc rễ của những thay đổi về uy tín của nhà văn. Nói cách khác, “tiêu chuẩn đánh giá tác giả và tác phẩm”, nhìn một cách rộng hơn, đó là bản thân vấn đề hoặc tính xã hội học của văn học, hơn là nghiên cứu có tính phê bình – lý luận về tác phẩm văn học và tác giả” (Tiếp cận đương đại văn hóa Mỹ, NXB Văn hóa – Thông tin, 2001, tr. 27-28). Nếu theo cách hiểu/quan niệm của học giả Hoa Kỳ thì, khi tiếp cận một tác giả/tác phẩm cần thiết đề lên hàng đầu “bản thân vấn đề hoặc tính xã hội học của văn học” (chúng tôi nhấn mạnh – BVT). Ở khoa Văn học, trường Đại học KHXH&NV (ĐHQGHN) hiện nay có giảng dạy giáo trình Xã hội học nghệ thuật. Như vậy là, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã bước đầu cập nhật và tiếp cận thế giới trong cái nhìn đa chiều văn học – một hình thái ý thức xã hội đặc biệt. Chúng tôi cho rằng, khi bắt đầu cầm bút viết văn, đặc biệt tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ (1938), Nguyên Hồng bị hối thúc chủ yếu bởi cảnh sống, con đường sống như là “bước đường cùng” của người bình dân. Như đại thi hào Nguyễn Du từng viết trong kiệt tác Truyện Kiều “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Không khó giải thích vì sao trong sáng tác của Nguyên Hồng, nhân vật phụ nữ và trẻ em lại có vị trí trung tâm. Họ mang trên mình những vấn đề xã hội hiện đại- vấn đề quyền sống của con người, vấn đề bình đẳng giới, vấn đề bảo vệ những mầm non tương lai (trẻ em hôm nay thế giới ngày mai). Tương tự như Ngô Tất Tố viết Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan viết Bước đường cùng. Thiết nghĩ, đây là ba cuốn tiểu thuyết đều ra đời cách nay 80 năm, nhưng bài học lịch sử – nghệ thuật của chúng vẫn còn nóng hổi ý nghĩa thời sự xã hội. Nghĩa là nhà văn hướng tới, đứng về phía nhân dân cần lao, đau khổ như lời thơ của nhà thơ Hungary S. Petofi “Cày một tay/ Gươm một tay/ Đời nhân dân muôn nỗi đắng cay/ Máu cứ đổ mồ hôi cứ đổ” (Nhân dân). Cũng trên quan điểm này, có thể giải thích vì sao những tiểu thuyết chứa luận đề xã hội lớn lao như Chuyện ngõ nghèo của Nguyễn Xuân Khánh, Đám cưới không có  giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường,… lại gây hấn dư luận, hâm nóng văn đàn và có hấp lực lâu bền đến vậy. Theo lý thuyết văn học, tác phẩm có sức sống lâu bền là vì ở đó, nhà văn đã “nhúng bút vào sự thật” khi viết, đã can dự vào đời sống của con người, không chỉ nhằm nhận thức thế giới mà còn đề cao khát vọng cải biến nó theo nguyên tắc chân – thiện – mỹ.

2. Đọc Nguyên Hồng theo phương pháp “Khảo cổ học văn chương”.

Cũng theo quan điểm của học giả Hoa Kỳ Paul Lauter “Thuật ngữ “khảo cổ học văn chương” tôi chỉ dùng với ý nghĩa đơn giản là phát hiện lại những văn bản do một nguyên nhân nào đó đã bị lãng quên” (Sđd, tr.31). Ở Việt Nam thời hiện đại, do chiến tranh ác liệt kéo dài, nên thực tế trong khi tập trung tất cả cho mục đích cuối cùng đánh thắng giặc ngoại xâm, chúng ta đã vô tình/ hay cố ý “lãng quên” những văn sản quá khứ (Thơ mới lãng mạn, văn chương Tự lực văn đoàn, kể cả sáng tác của một vài nhà văn hiện thực danh tiếng, như Vũ Trọng Phụng,…). Từ sau Đổi mới (1986), cái nhìn của chúng ta về nhiều vấn đề đời sống chính trị, xã hội, văn hóa đã cởi mở hơn. Tuy nhiên chưa phải đã cởi mở hoàn toàn. Thiết nghĩ, văn sản  dân tộc quý giá trước 1945, kể cả trước 1975 ở miền Nam Việt Nam cũng cần được “khảo cổ học văn chương”. Bản thân Nguyên Hồng, trong đời văn cũng nếm trải thăng trầm, nhất là khoảng thời gian sau hòa bình (1954), khi bị coi là liên đới đến vụ án văn chương thế kỷ (Nhân văn – Giai phẩm). Đọc các tài liệu hiện có, nhất là qua các hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều của Tô Hoài thì thấy Nguyên Hồng còn nặng nỗi niềm, tâm sự. Còn như nghe những tiếng thở dài khẽ mà sâu vương vất. Đọc văn theo phương pháp “khảo cổ học văn chương”, theo tôi, là cách chiêu tuyết, cách truy phong thành tựu sáng tạo của không chỉ một nhà văn, mà cả một thế hệ nhà văn (cũng như truy phong danh hiệu Bà mẹ anh hùng, hay Anh hùng vậy). Công việc này chúng ta còn làm được rất ít. Trong nhiều năm qua, các tổ chức văn học (viện nghiên cứu, trường đại học, nhà xuất bản, Hội Nhà văn,…) đã có nhiều nỗ lực ghi công trạng cho lớp nhà văn tiền chiến, trong đó có Nguyên Hồng. Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT trao cho nhà văn Nguyên Hồng hoàn toàn xứng đáng. Nhưng Tuyển tập Nguyên Hồng (3 tập, NXB Văn học, 1995) thì quả thực là chưa tương xứng. Theo tôi, nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Nguyên Hồng (1918-2018), Hội NVVN cần sớm tổ chức biên soạn để xuất bản Nguyên Hồng toàn tập. Không có gì là muộn. Muộn còn hơn không. Văn sản Nguyên Hồng không thể bị lãng quên. Nếu có (vô tình hay hữu ý) là bởi những lý do ngoài văn chương. Nhìn sang địa hạt lịch sử thì thấy, nhờ có khảo cổ học mà phát lộ Hoàng Thành, từ đó minh định các giá trị văn hóa truyền thống tựa vững trên hào khí Đông A, Đại Việt. Khảo cổ học văn chương đồng thời là phương pháp cần thiết bổ sung để thẩm định các giá trị cổ điển. Đối với nền văn chương hiện đại Việt Nam thế kỷ XX, Nguyên Hồng  là 1 trong 40 nhà văn được phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT. Vinh dự này không phải người cầm bút nào cũng có được. Nguyên Hồng đã có một vị trí trang trọng trong Bảo tàng Văn học Việt Nam (được hiểu như là một sự kiện, sự vật có ý nghĩa “khảo cổ học văn chương”). Vì đối với Việt Nam (rộng ra là các nước khác), văn học là một bộ phận quan trọng của văn hóa. Văn học (nghệ thuật ngôn từ) góp phần bảo tồn văn hóa và ngôn ngữ dân tộc (cho nên cái câu “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” của một học giả đầu thế kỷ XX có thể coi như một xác tín bền vững đòi hỏi chúng ta phải có biện pháp khẩn cấp bảo vệ tiếng Việt, văn chương Việt).

3. Đọc Nguyên Hồng theo tinh thần “Tái cấu trúc  văn học”.

Quan điểm này cũng do học giả Hoa Kỳ Paul Lauter đề xuất. Ông nhấn mạnh  hai nguyên tắc  được gọi là “sự khác biệt và tính chất tiêu biểu” (Sđd, tr.33). Tất nhiên quan điểm của học giả là tựa trên nền móng văn hóa Mỹ – một quốc gia đa chủng tộc (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ), đa văn hóa. Văn hóa Mỹ chấp nhận sự khác biệt vì cá nhân luôn khác biệt. Bảy tỷ người trên hành tinh là 7 tỷ vân tay. Văn hóa Mỹ đề cao cá nhân (trừ trường hợp đề cao “siêu nhân”). Một thời gian dài chúng ta không đề cao, không chấp nhận “sự khác biệt”. Chỉ có “đồng phục”, “đồng ca”, “đồng loạt”, “đồng dạng”, “đồng nhất”,… Nhưng sáng tạo nghệ thuật lại có quy luật đặc thù –  đề cao lao động cá nhân, cá tính sáng tạo. Nhà khoa học cũng thẳng thắn phê phán cái gọi là “dòng chủ lưu” khi đánh giá thực tiễn sáng tác văn chương. Ông viết “Bởi vì chúng tôi – đặc biệt là những người da trắng và đàn ông trong số chúng tôi – quan tâm đến sự khác biệt, nên chúng tôi không thể dựa vào những gì mà chúng tôi đã được đào tạo ở chương trình sau đại học vốn chỉ tập trung vào dòng chủ lưu và cũng không thể dựa vào các cơ quan chính thống vốn tuân theo tính đồng nhất” (Sdd, tr. 34). Quan điểm này cũng gợi ý cho giới nghiên cứu văn học ở ta khi đánh giá toàn bộ nền văn học Việt Nam thời hiện đại thế kỷ XX, đặc biệt trong giai đoạn chiến tranh 1945-1975. Khái niệm “Văn học Việt Nam” lâu nay bị bó hẹp (trong các giáo trình đại học, các công trình nghiên cứu chính thống) chỉ là “Văn học cách mạng”. Nhưng xét cho cùng trên tinh thần khoa học thì, văn học Việt Nam là văn học dân tộc Việt, được cấu thành từ nhiều nguồn, nhiều bộ phận. Nó là một thực thể, không thể chỉ có đầu, hoặc chân tay, hoặc cái này cái kia. Vì thế khi đồng nghiệp của chúng tôi – PGS.TS Nguyễn Bá Thành – viết công trình Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 (NXB ĐHQG HN, 2015), đã không nhận được sự thống nhất trong đánh giá khi nhà nghiên cứu đã chú ý trên tinh thần khoa học, công bằng minh định bộ phận thơ ca sáng tác ở vùng đô thị dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa. Nghĩa là chúng ta vẫn còn bị ràng buộc bởi định kiến khi cho rằng văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1975 chỉ có “văn học cách  mạng”. Tương tự, từ sau 1975, khái niệm “Văn học Việt Nam” vẫn chưa được mở rông để bao trùm cả bộ phận sáng tác của kiều bào ở nước ngoài (lên tới hơn 4 triệu người).

Nhà nghiên cứu Mỹ nhấn mạnh “Tính đại diện có thể không đảm bảo cho tính đa dạng” (Sđ, tr.35). Từ đây, khi đọc lại Nguyên Hồng cũng như các tác gia trước 1945, chúng tôi cho rằng không nên xếp hạng văn học theo cái gọi là “dòng chủ lưu”. Tương tự khi tiếp cận văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1975, càng không nên chú mục vào bộ phận mang “tính đại diện”. Trước đây do nhiều nguyên nhân, chúng ta đã xếp hạng văn chương theo trào lưu, thứ tự: cách mạng, hiện thực, lãng mạn. Cách xếp hạng này xuất phát từ yêu cầu “văn học phục vụ chính trị”. Nhưng có một thực tế là, gần như toàn bộ các nhà văn hiện thực kịp khi Cách mạng tháng Tám (1945) thắng lợi đã nhất loạt đi theo Đảng, tích cực “Kháng chiến hóa văn hóa. Văn hóa hóa kháng chiến”. Quan điểm “tái cấu trúc văn học” là có căn cứ khoa học. Hiện chúng ta đang tích cực tái cấu trúc nền kinh tế thị trường (nhiều thành phần) định hướng XHCN. Vậy không có lý do gì để gạt ra ngoài thực thể văn học Việt các giá trị đích thực, dẫu chúng thuộc “dòng chủ  lưu” hay không.

4. Tiểu thuyết Nguyên Hồng nhìn từ hình thức thể loại

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ (người  sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu Tuyển tập Nguyên Hồng, 3 tập, NXB Văn học, 1995) khẳng định “Bỉ vỏ và Cửa biển là hai cái mốc lớn về tiểu thuyết của Nguyên Hồng” (Sđd tr.52). Nhưng trong quá trình biên tập, không hiểu vì lý do gì lại ghi dưới Bỉ vỏ thể loại “truyện” (!?). Trong khuôn khổ một bài viết, chúng tôi không nghiên cứu toàn bộ tiểu thuyết Nguyên Hồng mà chỉ tập trung vào cuốn tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ làm nên tên tuổi Nguyên Hồng trên văn đàn. Đến tận thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, dường như Bỉ vỏ, Tám Bính (tên nhân vật chính) đã gắn với tên tuổi nhà văn Nguyên Hồng (như thể Chí Phèo với Nam Cao, chị Dậu với Ngô Tất Tố, chị Hoài với Nguyễn Tuân, Xuân tóc đỏ với Vũ Trọng Phụng, và gần đây là Giang Minh Sài với Lê Lựu).

Bỉ vỏ viết năm 1935-1936 (xuất bản lần đầu 1938), khi Nguyên Hồng chưa đầy hai mươi tuổi. Điều ấy đến tận bây giờ vẫn khiến nhiều thế hệ độc giả kinh ngạc. Không đơn giản chỉ là tài năng văn chương. Lớn lao hơn là một tấm lòng trong thiên hạ khi nhà văn cúi xuống sát số phận những con người nhỏ bé dưới đáy, khốn cùng. Đó là nhân dân. Văn chương đứng về phía nhân dân thời nào cũng được kê cao thế đứng. Chủ nghĩa nhân đạo của nhà văn là vô cùng kích tấc. Nhưng chúng tôi, trong bài viết của mình, chỉ muốn bàn về dạng thức/ kiểu tiểu thuyết ngắn của Bỉ vỏ. Nghĩa là tiếp cận tác phẩm từ hình thức thể loại. Vì sao Bỉ vỏ được viết ngắn? Vì sao sau này tắm mình giữa dòng thác đời sống đấu tranh cách mạng nhà văn lại viết trường thiên tiểu thuyết, kiến trúc Cửa biển (4 quyển) thành một panorama (toàn cảnh, toàn bích) mang tính sử thi? Có thể hiểu, đó là thời kỳ Nguyên Hồng đi từ sông ra biển. Chinh phục đại dương cần những con tàu lớn.

Trước hết, theo chúng tôi, phải cần thiết trở lại quan điểm thẩm mỹ về cái đẹp của người Việt Nam nói chung, nhà văn nói riêng. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Hượu, trong công trình Đến hiện đại từ truyền thống (NXB Văn hóa – Thông tin, 1994) thì, người Việt nghiêng thích cái đẹp có tính “phải khoảng” (nhỏ gọn, xinh xắn, vừa tầm). Trong các loại hình nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật ngôn từ, ta không có những công trình hoành tráng, tầm vĩ mô. Tất cả “vừa khoảng”. Nếu theo dõi tiểu thuyết hiện đại Việt Nam (thế kỷ XX) sẽ thấy, khởi phát như Tố Tâm(1925) của Hoàng Ngọc Phách, và trước đó là tiểu thuyết của của Đạm Phương nữ sử, đều ngắn (chỉ dưới 200 trang in). Lùi xa vào thời trung đại, nếu coi Truyện Kiều là một tiểu thuyết bằng thơ thì kiệt tác này cũng rất ngắn (chỉ có 3254 câu lục bát). Nguyên Hồng là nhà văn không khước từ truyền thống. Và rất thực tiễn. Khi viết Bỉ vỏ, chúng tôi cho rằng nhà văn có ý thức viết cho người bình dân xung quanh mình đọc. Vậy nên viết dài liệu có lợi ích gì? Phải chú ý đến hoàn cảnh viết Bỉ vỏ, chính là vì thế. Trong trường hợp này phải cậy vào phương pháp xã hội học nghệ thuật/ văn học. Không riêng Nguyên Hồng, các nhà văn thời tiền chiến đều viết ngắn (Sống mòn của Nam Cao, Số đỏcủa Vũ Trọng Phụng là một ví  dụ). Nghĩa là người sáng tác chú ý đến công chúng tiếp nhận nghệ thuật, không như thời bao cấp, nhà văn cứ viết không kể dài, đã có Nhà nước bao tiêu sản phẩm.

Bỉ vỏ đích thực là một tiểu thuyết ngắn (chỉ có 176 trang in, khổ 13×19); được cấu tạo trong ba phần (tương đương về số trang) với tổng số 25 mục/không phải là chương (đánh số La Mã, thứ tự 7, 7, 11). Một cấu trúc gọn nhẹ, năng động, uyển chuyển. Có thể là vô thức, Nguyên Hồng dã vận dụng phép tỉnh lược (được nhà văn M. Kundera nhất mực đề cao) khi viết (dồn nén, tước bỏ, cô đúc). Hãy quan sát đoạn mở đầu tiểu thuyết: vào ngay cao trào, không đuổi bướm bẻ hoa như các nhà văn lãng mạn. Đó là cao trào khi Bính (một cô gái con nhà lành, nhà nghèo ở noong7 thôn) bị gã tham Chung làm ở Sở đạc diền gạ gẫm, lường gạt rồi bỏ của chạy lấy người. Bính đứt ruột đồng ý bán con cho nhà giàu (với giá chỉ 13 đồng), rồi bỏ quê lên phố để tránh sự trừng phạt của lệ tục dành cho gái hư không chồng mà chửa. Rồi cô giá quăng thân vào gió bụi. Vào đời với bao cạm bẫy. Rồi gặp Năm Sài Gòn. Diễn tiến câu chuyện rất nhanh. Không câu giờ như một vài cây bút non tay hay đắp điếm những chỗ rò rỉ, lỗ hổng bằng những câu chuyện lê thê, sướt mướt và mùi mẫn.

Bỉ vỏ, sở dĩ chúng tôi xếp vào hình thức tiểu thuyết ngắn, ngoài sự cô đúc nhờ phép tỉnh lược, còn có một nhịp điệu (rythm) văn xuôi đặc biệt phù hợp với lối kể chuyện “đi tắt đón đầu”. Ví dụ chỉ cần mấy dòng gấp gáp là độc giả hiểu được chân tơ kẽ tóc nhân vật Năm Sài Gòn “Mới ba mươi hai tuổi mà án tích Năm kê chật một tờ giấy trong Sở  liêm phóng. Non hai phần ba đời Năm đã bị cảnh tù tội cướp mất (…). Cuộc đời Năm trải qua những phen nguy hiểm đã dày dạn như những lốt dao chém trên mặt, trên lưng và khắp hai cánh tay Năm”. Nguyên Hồng “bố trí” cho Tám Bính (cái tên từ khi làm gái tiếp khách làng chơi) gặp Năm Sài Gòn ngay cuối mục VI, phần thứ nhất. Riêng chúng tôi cứ tưởng tượng như cảnh Thúy Kiều gặp Từ Hải theo màn kịch của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Cũng không khác nào một tiếng sét ái tình như người ta nói. Năm Sài Gòn lập tức bị cuốn hút và dẫn dụ bởi Tám Bính. Rồi anh ta ra tay cứu vớt người đẹp theo mô-tip truyền thống. Năm Sài Gòn lập tức “lôi” Tám Bính ra khỏi hang ổ của mụ Tài – sế – cấu (một dạng Tú Bà thời hiện đại). Ở trang 58 (trên tổng số 176 trang tiểu thuyết), Tám Bính đã là người tự do. Và cô bắt đầu sống như vợ chồng với người đàn ông thứ hai. Một tên cướp khét tiếng nhưng là một con người tốt hiếm có trong cái “xã hội chó đẻ” bấy  giờ theo cách viết của Vũ Trọng Phụng. Chỉ có chưa đầy bốn trang tiểu thuyết, từ khi Tám Bính gặp Năm Sài Gòn và được anh giải phóng khỏi hang ổ điếm nhục, thời gian chỉ có vài ba tiếng đồng hồ. Từ đó cho đến kết thúc tiểu thuyết. Mọi chuyện đều trên thế mã hồi. Tất cả được đặt lên trên chuyến tàu định mệnh, trên một đường ray cố dịnh. Cứ thế lao lên phía trước, bất chấp cái phía trước ấy là mờ mịt hay le lói ánh sáng.

Nhưng Năm Sài  Gòn không phải là người đàn ông cuối cùng Tám Bính sống như vợ chồng trong đời mình. Bắt đầu là tham Chung ở sở đạc điền. Tiếp theo là Năm Sài Gòn tướng cướp khét tiếng đất cảng Hải Phòng. Sau nữa là ông mật thám đã bỏ tiền chuộc tội cho Tám Bính (nhà cô bị vu là chứa thuốc phiện). Đúng là “ba thu dồn lại một ngày dài ghê”. Chính tay Năm Sài Gòn đã làm chết đứa bé là con đẻ của Tám Bính bị bán và lưu lạc từ khi còn đỏ hỏn. Một cái kết không thể nào khác. Cảnh cuối là cuộc giáp mặt không mong muốn của Tám Bính với ông mật thám từng bỏ tiền ra cứu và lấy Tám Bính làm vợ cách đó 3 năm. Cả Năm Sài Gòn, cả Tám Bính đều bị tra tay vào còng. Tám Bình nhìn Năm Sài Gòn và chỉ thốt lên được “Thế là hết”. Một cái chết đã được báo trước. Một kết cục đã được báo trước. Tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, cảnh cuối như là một bi kịch chính thống. Nó thanh tẩy tâm hồn độc giả. Cho đến đầu thế kỷ XXI, khi Bỉ vỏ được chuyển thành kịch diễn trên sân khấu Thủ đô, nó vẫn còn lấy nhiều nước mắt của khán giả hôm nay vốn lạnh lùng. Đó là một điều kỳ diệu của nghệ thuật. Điều này ứng với nhận xét “Nơi tác phẩm kết thúc chính là nơi đời sống của nó bắt đầu”.

Đọc Bỉ vỏ là đọc theo cách đọc truyện ngắn (đọc một hơi, tiếp thu tức thì, đọng lại một ấn tượng,…). Nó giống như một truyện ngắn được tiểu thuyết hóa. Bỉ vỏ cũng dễ dàng lên sân khấu vì nhiều cảnh (screen), nhiều tình huống kịch tính. Rất ít nhà văn đương đại đọc lại các tác phẩm kinh điển, trong đó có Bỉ vỏ. Rất ít nhà văn ngày nay chịu học hỏi các bậc tiền nhân trong nghệ thuật viết ngắn. Đa số cứ muốn câu chuyện của mình kể ra là liên tu bất tận. vào cái thời Nguyên Hồng viết Bỉ vỏ. Chư có internet, mạng xã hội, chưa có các trò giải trí nhan nhản như trên truyền hình bây giờ, chưa có văn hóa – nghe nhìn bành trướng. Nghĩa là văn hóa đọc đang ở thế  thượng phong. Nhưng các nhà văn đương thời không hề lạm dụng câu chữ, không câu giờ, không viết dài, không làm mất thời gian của độc giả. Văn học Việt Nam thời kỳ 1930-1945 không có những tác phẩm bây giờ gọi là sử thi, toàn cảnh. Vì sao  nhà văn viết ngắn? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời với các nhà nghiên cứu xã hội học nghệ thuật.

Kết luận

Trong văn học đương đại Việt Nam (từ sau 1975), tiểu thuyết ngắn đang trở thành một khuynh hướng sáng tác, một “tiểu thể loại” của tiểu thuyết (được quan niệm như một hình thức nghệ thuật đặc biệt). Trong tiểu luận Dòng tiểu thuyết ngắn trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986-2006) in trong sách Tiểu huyết đương đại (NXB Văn hóa – Thông tin, 2009), chúng tôi đã khảo sát kỹ lưỡng khuynh hướng này. Trong tiểu luận nói trên chúng tôi đã dẫn chứng nhiều tiểu thuyết ngắn thành công của thời kỳ này như Thời gian của người (156 trang) của Nguyễn Khải, Thiên sứ (180 trang) của Phạm Thị Hoài, Lạc rừng (190 trang) của Trung Trung Đỉnh, Thoạt kỳ thủy (158 trang) của Nguyễn Bình Phương, Tấm ván phóng dao (197 trang) của Mạc Can, Thiên thần sám hối (125 trang) của Tạ Duy Anh, Sông Mê (207 trang) của Châu Diên,… Viết ngắn, thiết nghĩ là nhà văn hướng tới công chúng trong tinh thần đồng sáng tạo. Bỉ vỏ của Nguyên Hồng đã cung cấp cho các nhà văn đương thời những kinh nghiệm nghệ thuật quý giá khi bắt tay viết tiểu thuyết ngắn.

Cũng trong tiểu luận này, chúng tôi đã khái quát một số đặc trưng thể loại của tiểu thuyết ngắn: sự dồn nén dung lượng, sự giản lược cốt truyện và nhân vật, thay đổi cấu trúc tác phẩm (từ lịch sử – sự kiện sang lịch sử – tâm hồn). Viết tiểu thuyết ngắn, theo chúng tôi, là phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ của tác giả và độc giả ngày nay, vì suy cho cùng sáng tác là một hành động tương liên giữa “phát” và “nhận”. Hơn thế, viết ngắn là phù hợp với cơ chế đọc hiện nay trong cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa văn hóa đọc và văn hóa nghe nhìn. Rất có thể ý kiến của chúng tôi sẽ gây hấn nhà văn và giới phê bình “Viết dài để làm gì? Viết dài cho ai đọc?”. Đúng như  nhà văn Mỹ Filip Roth đã viết “Độc giả của tiểu thuyết sẽ chỉ còn những người thật sự sùng bái tiểu thuyết mà thôi”. Nhà văn Banglades Zia Rahman thì lo âu “Ngay cả người sáng tạo còn không muốn cứu tác phẩm văn học, làm gì còn ai cứu nữa” (theo báo Văn nghệ, số 3, ra ngày 20-1-2018).

Hà Nội, 17/10/2018

Bùi Việt Thắng

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Xóm Hà Tiên Đông Hồ – Mộng Tuyết

Xóm Hà Tiên, theo cách gọi mang nhiều ẩn dụ của Hoài Thanh hồi 1941 là nơi sinh ra và cuối cùng trở về của Đông Hồ, Mộng Tuyết. Cả hai người như là những tác giả tiên phong thời hiện đại nghiên cứu giới thiệu Hà Tiên. Đông Hồ viết Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh. Mộng Tuyết viết Đường vào Hà Tiên… 

Đứng ngấp nghé ở cửa ra vào thi ca thế kỷ 20 có bao nhiêu là tao nhân mặc khách. Năm người trong số họ như là một trong những minh chứng cho sự nối liền không chia cắt của thi ca trung đại với thơ thời hiện đại. Họ sống với thế kỷ 20 dài ngắn thật khác nhau. Mặc dầu sự dài ngắn ấy không là điều phân biệt phẩm cách thơ và tầm vóc của họ. Sinh sau Nguyễn Khuyến 35 năm nhưng lại mất trước 2 năm, Tú Xương và Nguyễn Khuyến đã có thời gian 7 đến 9 năm sống ở trong lòng thế kỷ 20. Họ viết thơ bằng chữ Hán và chữ Nôm. Nguyễn Khuyến căn bản là đại khoa và đại quan của vương triều phong kiến cáo lão về quê nên thơ ông đẹp nhất vẫn là những bài thơ về ao Thu buồn lặng nơi thôn giã. Tú Xương có tới 135 bài văn thơ nôm; nằm trong thế giới cũ gối đầu lên thế kỷ mới, ông đã nghe được ít nhiều cái chuyển mùa của hương vị cuộc đời nơi phố phường đô thị khi người ta đổi bút lông sang bút sắt để sớm rượu sâm banh tối sữa bò với bao nhiêu dư vị đắng cay. Thơ chữ Hán và chữ Nôm của Tam Nguyên Yên Đổ và Tú Xương là tiếng gọi đò cuối cùng của văn học trung đại. Sinh sau Tản Đà 7 năm và sống với thế kỷ 20 những 83 năm, nhưng thơ Á Nam Trần Tuấn Khải mặc dù được viết bằng chữ quốc ngữ chăng nữa vẫn mang cốt cách của một vị túc nho nặng lòng non nước qua khúc Tiễn chân anh khóa xuống tàu cũng như nhiều vần thơ cảm khái trong Duyên nợ phù sinh. 1921. Bút quan hoài. 1924… Đi qua thời đại của phong trào Thơ Mới (1930-1945) rồi sống tiếp và viết tiếp đến gần nửa thế kỷ với bao nhiêu biến động của thời cuộc và thi ca nhưng không ai gọi ông là thi nhân của các trào lưu mới. Ông vẫn như là một nhà nho cao đàm khoát luận trong văn chương của thế kỷ hiện đại và như một người thi sỹ nặng lòng với đất nước quê hương bằng việc ngoài thơ Đường luật, thơ Á Nam Trần Tuấn Khải vẫn dụng công trong thể thơ truyền thống lục bát, song thất lục bát… Tản Đà sinh năm 1888 thường được gọi cậu ấm Hiếu là nho sinh trang trải sách thánh hiền dự kỳ thi cuối cùng của triều đại phong kiến cuối cùng năm 1912. Nhưng ông là nhà nho duy nhất vượt qua được những rào cản của thời đại cũ để ngồi chiếu trên của phong trào Thơ Mới. Khai hội một thời đại mới trong thi ca. Danh phận của Đông Hồ không được như Tản Đà. Khi Tú Xương mất 1907, Đông Hồ mới lên 1 tuổi. Là người có nguồn gốc ở xa đến nhưng hiếm có ai cổ xúy cho quốc văn – văn chương viết bằng chữ quốc ngữ như ông. Hoài Thanh có lần nói yêu quốc văn mà đến như Đông Hồ kể cũng ít người. Chỉ chuyên học quốc văn, viết quốc văn rồi mở trường chuyên dạy quốc văn. Lúc mới bước vào văn chương, Đông Hồ chịu ảnh hưởng của Nam Phong tạp chí và tham gia tích cực vào ấn phẩm này. Thơ ông là kiểu thơ được Nam Phong hô hào ủng hộ. Thơ viết bằng chữ quốc ngữ, một điều vẫn còn khá mới mẻ thời bấy giờ. Tôi cho rằng những năm 20 và một hai năm đầu 30 của thế kỷ 20, thơ Nam Phong nói chung và Đông Hồ nói riêng cũng như nhiều thơ viết bằng chữ quốc ngữ nhưng vẫn theo thể loại và niêm luật Đường Thi là một bước chuẩn bị, bước thử nghiệm khả năng biểu đạt cảm hứng và hình tượng của tiếng Việt trong tiến trình từ thơ ca trung đại đến thơ thời hiện đại. Một thế hệ khăn gõ áo the trong thơ không phải bằng chữ Hán chữ Nôm mà bằng chữ quốc ngữ đã góp phần làm nên diện mạo của thi ca Việt Nam những năm 20. Như 1 bước quá độ cần thiết. Đông Hồ đương nhiên không phải là học giả Phạm Quỳnh. Nhưng họ viết văn bằng chữ quốc ngữ, trong khi họ hoàn toàn có khả năng viết bằng chữ Pháp hoặc chữ Hán là một cử chỉ chân thành giống như Tản Đà hô hào ủng hộ quốc văn. Họ không phải làm theo chiêu bài ru ngủ đồng bào của chủ nghĩa thực dân. Chả trách mà trong bài Đề Từ – thơ thất ngôn bát cú Đường luật 100% Đông Hồ đã nói cái mộng ước của việc nối liền nhịp cầu kim cổ.

Kim cổ cách đôi bờ thế hệ

Cảm thông cùng bắc nhịp giao liên

Trong thời gian 10 năm từ 1923 đến 1933, Đông Hồ cộng tác với Nam Phong viết khá nhiều văn thơ, nhưng theo Mộng Tuyết, hay nhất cả 10 năm đó chỉ còn lại 2 bài ký và 1 bài phú theo truyền thống của văn học cổ điển.

Nhưng Đông Hồ không dừng lại. Hân hoan đón luồng sinh khí của phong trào Thơ Mới; Đông Hồ đã buộc lại quai nón thơ ca của mình để sang đò cùng với một thời đại mới trong thơ. Với tập Thơ Đông Hồ năm 1932 và tập Cô gái Xuân năm 1935. Hoài Thanh đã dành ưu ái thật là nhiều cho Đông Hồ. Tác giả Thi Nhân Việt Nam đã nhẫn nại vượt qua mà không ngần ngại, những câu thơ trơn tru tầm thường thậm chí có đoạn thơ còn đỏm dáng quá trời của tập Thơ Đông Hồ 1932 để lọc ra đôi lần sự tình cờ ta thấy ẩn sâu một linh hồn trong những vần thơ.

Mối sầu khôn dãi cùng trời đất

Chén rượu đành khuây với nước non.

Hoài Thanh có lý khi cho rằng với nỗi buồn man mác ấy, Đông Hồ đã đi xa hơn trường thơ Nam Phong nhiều lắm. Có người nói nếu ở tập Thơ Đông Hồ 1932 cũ bao nhiêu thì Cô gái Xuân 1935 đã trở nên mới mẻ và thi sỹ đã làm một cuộc thoát lốt biến hình để làm người của thế hệ với tình yêu và tuổi trẻ bấy giờ. Hoài Thanh đã chọn Đông Hồ vào Thi Nhân Việt Nam – cái sân khấu chính danh trang trọng nhất của phong trào Thơ Mới 1930 – 1945 những 4 bài thơ như Anh Thơ, Vũ Hoàng Chương và hơn cả Bích Khê và Nguyễn Nhược Pháp – mỗi vị chỉ được 2 bài. Bốn bài thơ của Đông Hồ là những bài thơ khá dài. Cô gái Xuân 17 khổ 4 câu thành 68 dòng. Tuổi Xuân – thơ 5 chữ 100 câu, Bốn cái hôn, thơ 7 chữ 76 câu… thuộc những bài thơ dài hiếm gặp trong Thơ Mới. Nổi bật nhất được xem là Cô gái Xuân. Cô gái Xuân thuộc loại tự sự, kể chuyện nhưng lại được phủ lên một bóng mây lãng mạn ít nhiều siêu thực là điều không thấy trong Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp hay Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính. Cô gái Xuân kể rằng có cô gái quần đen, áo trắng, khăn hồng nhẹ, tóc bỏ đều xõa đến ngang vai, lòng cô phơi phới những buổi cắp sách đến trường chỉ thấy bướm, cỏ và gió thổi. Rồi một hôm gió làm cho như tưởng gặp được bóng tình quân. Là bóng chứ không phải là người. Đợi chờ mà chưa gặp đã thấy cảnh đìu hiu một người tình quân trong gió trong mây.

Gió mây xin để tình quân lại

Chầm chậm cho em nói ít điều.

Nhưng mây gió vẫn cuồn cuộn bay một cách vô tình, cô gái xuân rỏ lệ khóc tình quân. Một nỗi tình vẩn vơ, vô cớ. Có lẽ đó là 1 trong số bài thơ tình yêu ảo vọng nhất thời 30 – 45.

Nói đến Đông Hồ mà không có Mộng Tuyết thì kể như không có Đông Hồ. Họ là đôi uyên ương duy nhất được hát mộng tình trong Thi Nhân Việt Nam. Căn cứ vào nơi sinh sống của các nhà thơ, Hoài Thanh đã chia làng Thơ Mới 30 – 45 thành những xóm thơ. Xóm Sông Thương Bàng Bá Lân Anh Thơ. Xóm Bình Định Hàn Mặc Tử Chế Lan Viên. Xóm Hà Tiên Đông Hồ Mộng Tuyết v.v… Hai con người ấy, đôi vợ chông ấy đã cùng làm nên diện mạo một xóm thơ để mảnh đất Hà Tiên có nước, có biển và mây trời nối liền một dải vùng biên viễn xa xôi ở tận cực Nam. Năm 1998, Huy Cận viết Cặp thi nhân Đông Hồ –  Mộng Tuyết sẽ ở lại trong lịch sử thi ca Việt Nam thế kỷ này như là mối tình thơ đằm thắm, thủy chung nhuốm chút màu huyền thoại… trong cái thuở tha thiết chấn hưng thơ ca và văn hóa nước nhà.

Mộng Tuyết sinh năm 1914 ở Hà Tiên. Đã làm thơ từ năm 12 tuổi, gom lại thành một tập hợp bài mang tên Bông hoa đua nở đăng trên Nam Phong tạp chí năm 1930. Cùng với Đông Hồ và nhiều người khác ở thế hệ ấy, Mộng Tuyết đã tham gia vào cuộc tập dượt khả năng biểu đạt của chữ quốc ngữ xung mãn và tinh tế không thua kém gì chữ Hán và chữ Nôm và còn mang trong mình nó khả năng phổ cập và lan tỏa rộng rãi vì đặc tính gắn liền với ngôn ngữ đời sống hàng ngày. Năm 1939, tập thơ Phấn hương rừng của Mộng Tuyết được Tự Lực Văn Đoàn tặng lời khen. Vào một buổi sáng 1939, người đưa thư đưa đến đường Mạc Cửu cho Mộng Tuyết một bưu phẩm. Đó là một ống tre dài nguyên một đốt đã cưa bỏ mắt tre ở cả 2 đầu. Ống tre đã bị bể vỡ làm mấy mảnh. Bên trong là một tờ giấy dó mỏng manh màu vàng còn nguyên vẹn. Tờ giấy có ghi lời khen tặng, bên dưới đầy đủ 6 chữ ký của các vị đầu lĩnh. Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ… Tờ giấy dó mỏng manh ấy đã mang lại sự đổi đời của nữ thi nhân. Mộng Tuyết trở nên nổi tiếng. 1941 vào Thi Nhân Việt Nam. 1943 có tên trong tập thơ Hương Xuân cùng với Anh Thơ, Hằng Phương, Vân Đài. Nhờ Đông Hồ nói giùm, Hoài Thanh đã được xem Phấn hương rừng trong dạng cảo thơm với bìa thếp vàng giấy tàu tốt, với những bản viết tay và vẽ bằng nét bút hoa mỹ, phóng túng, thỉnh thoáng lại chen vào ít câu chữ Hán. Hoài Thanh chọn 2 bài cho Mộng Tuyết vào Thi Nhân Việt Nam. Bài Dương Liễu Tân Thanh, nhân một ý thơ của một người gửi cho Phan Thanh Giản và bài Vì Anh Thọ Xuân viết cho Đông Hồ khi tặng ông bộ Pháp Việt từ điển. Hoài Thanh khen thơ Mộng Tuyết nhẹ nhàng, hàm súc. Người xem thơ bỗng thấy lòng run run như được đọc bức thư tình. Tôi không rõ ở phần kết, Hoài Thanh có định ám chỉ gì không? Người thiếu nữ trong tập thơ này có làm cho ta quên những thiếu nữ do trí tưởng tượng thi nhân tạo ra không? Nàng một người đàn bà thiệt, nàng có đàn bà hơn những người đàn bà khác trong tưởng tượng kia không?. Hoài Thanh đã để lại câu hỏi này từ tháng 8/1941 đến nay chưa thấy ai trả lời?. Đọc lại Dương Liễu Tân Thanh vàVì Anh Thọ Xuân. Chợt thấy: Biệt ly còn hận đời danh sỹ. Huống chốn buồng the khách chỉ kim. Và:Hãy còn thừa thãi tiêu chưa hết. Mua lấy trần gian tiếng khóc cười. Toàn bàn chuyện quốc sự cả. Là khẩu khí của một trang nam tử trong thơ của một nữ sỹ suốt đời bươn chải làm chức phận đàn bà, khác hẳn với người đàn bà tắm đêm dưới trăng bên giậu trúc của Mộng Tuyết đăng trên Hà Nội báo ngày 6-5-1936. Cái khẩu khí của trang nam tử ấy còn gặp lại trong 10 bài thơ Mộng Tuyết viết năm 1945 bàn về quốc sự, về Giá gạo ở Tràng An, về Hấp hối đợi chờ, về Xẻ cháo nhường cơm… trong mùa đói ở Bắc Kỳ.

Đông Hồ và Mộng Tuyết kể từ 1935 đến 1939 đã là hai trong 44 thi sĩ của phong trào Thơ Mới (1930-1945). Hoài Thanh đã nói phần góp mặt của Đông Hồ và phong trào ấy với ít nhiều xa hoa. Hoài Thanh viết Đông Hồ là người thứ nhất đã đưa vào thi ca Việt Nam cái vị bát ngát của tình yêu dưới trăng thanh trong tiếng sóng. Thú thật là. Nhiều thi sỹ thời ấy đã làm được điều ấy và thậm chí có phần còn dạt dào hơn, kỳ ảo hơn như Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử. Nhưng tôi thích Đông Hồ đã chỉ ra cái mơ hồ của ánh sáng vô minh, của tình yêu tuổi trẻ. Khi: Tuổi mười sáu là trăng vừa mới mọc. Lệ tình rơi rớt xuống vô biên. Hay cái biên giới chẳng rõ ràng, biên giới gió trăng của rừng và suối: Bạn bè bốn mùa trăng gió. Rừng em suối chị giao duyên.

Và đặc biệt là cái mờ ảo của đêm liêu trai trong giao hòa của tuổi trẻ và tình yêu nghìn năm bất diệt.

Một luồng hơi thoảng hương xiêm áo

Ngất lịm mùa thơm tóc trái đào…

Một sợi tóc tơ huyền đủ buộc.

Nghìn năm người thực với chiêm bao.

Ba tập hồi ký Núi Mộng Gương Hồ của Mộng Tuyết do NXB Trẻ in 1998 cho thấy con người của Đông Hồ và Mộng Tuyết thật ân tình. Bóng dáng gần gụi và yêu thương của những nghệ sỹ danh tiếng thời thế kỷ 20 hiện về bao giờ cũng thật bình dị mà vô thường. Huỳnh Thúc Kháng người gầy nhỏ nhắn, nét mặt hiền hậu. Học giả Đào Duy Anh tính tình vui vẻ, cử chỉ tự nhiên, vừa đi vừa bóc bưởi Thanh Trà mới khách vừa dẫn giải nói cười. Thư của Tản Đà khảng khái nói về sự chết của nghề làm báo. Vũ Đình Liên, ông đồ già khi tuổi đã 80 giữa ngày mưa to gió lớn tay xắn ống quần tay ôm cặp sách lội bì bõm đến nhà thăm Mộng Tuyết bạn làm thơ. Hồn nhiên, cởi mở, lần nào vào Sài Gòn cũng nói mộng ước về Ba Tri thăm mộ Đồ Chiểu. Nguyễn Tuân tài hoa bằng cử chỉ viết thư mượn sách. Đặc biệt là những trang viết về Huỳnh Văn Nghệ và Nguyễn Bính. Ông tướng thi sỹ Huỳnh Văn Nghệ với Từ buổi mang gươm đi mở nước, nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long đã viết bài thơ Lá Thơ Rừng in trên tờ nhật báo Ánh Sáng ngày 3-10-1948 để giãi bày tâm sự với bài Chiếc lá thị thành của Mộng Tuyết đã in trên báo đó trước đấy. Khi viết hồi ký vào năm 1995, hay tin gia đình Huỳnh Văn Nghệ đang đi sưu tầm tác phẩm của ông, Mộng Tuyết đã tìm được 4 bài thơ của Huỳnh Văn Nghệ đăng trên báo Sống phát hành tại Sài Gòn năm 1935 để đưa vào hồi ký. Đọc 4 bài thơ ấy mới thấy ân tình của mối duyên nợ văn chương và điều quan trọng hơn, thấy được ngay từ năm 1935, Huỳnh Văn Nghệ đã tỏ rõ sự đổi mới về cảm hứng thi ca, điều mà sau này vào năm 1948 ở Việt Bắc đã bùng nổ và phát triển một sinh khí mới của thi ca hiện đại. Đáng tiếc là chuyện kể về Nguyễn Bính đến thăm Hà Tiên, lưu lại gác Nam Phong của Đông Hồ để đêm đêm viết truyện thơ lục bát Thạch Sương Bồ với tham vọng dài hơn Truyện Kiều… còn ít quá. Lúc đó vào năm 1944, Bính mới 25 tuổi đã nổi danh khắp cả ba kì. Cậu Bính hay ra hiệu may của chị Mộng Tuyết ở chợ Hà Tiên. Được mời ăn bánh quy – một đặc sản của Hà Tiên với nhân ngào đường, bột đậu xanh, cùi dừa, vỏ ngoài bằng bột nếp dẻo thường bán ở chợ. To bằng cái bát úp. Nghe nói các nhà văn sau này còn kể mà không thấy ghi trong hồi ký rằng khi đó Bính mới tập đi xe đạp và được Mộng Tuyết may cho quần áo mới. Chuyện kể về giao lưu giữa Đông Hồ với nữ sỹ Tương Phố, mệnh phụ tuần phủ phu nhân ở Bắc Kỳ, tác giả của Giọt lệ Thu nổi tiếng, thật là tao nhã, như một nét văn hóa của một thời gần đây thôi mà tưởng như xa lắm của người xưa… Bà Tương Phố sau này di cư vào sống ở trong Nam. Khi thì Đà lạt. Khi thì Nha Trang. Mới hay Tương Phố là người Tây học. Bổn phận làm vợ của nàng chỉ là người phiên dịch cho ông tuần phủ Tuyên Quang, làm quan to mà không rành tiếng Phú lãng sa.

Xóm Hà Tiên, theo cách gọi mang nhiều ẩn dụ của Hoài Thanh hồi 1941 là nơi sinh ra và cuối cùng trở về của Đông Hồ, Mộng Tuyết. Cả hai người như là những tác giả tiên phong thời hiện đại nghiên cứu giới thiệu Hà Tiên. Đông Hồ viết Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh. Mộng Tuyết viết Đường vào Hà Tiên. Đầu năm 1986 tỉnh Kiên Giang tổ chức hội thảo khoa học 250 năm Tao đàn Chiêu Anh Các và 80 năm ngày sinh Đông Hồ như là một sự ghi nhận đóng góp của Đông Hồ – Mộng Tuyết trong việc giới thiệu thi ca của các tác giả Hà Tiên trong Chiêu Anh Các từ những năm 30 đến 60 của thế kỷ 18 và cảnh vật của một vùng biên viễn Hà Tiên. Bây giờ hàng năm cứ đến rằm tháng giêng từ 2012 đến nay, Hà Tiên mở Lễ hội Chiêu Anh Các và ngày Thơ Việt Nam. Vào đêm ấy, người ta thả đèn hoa đăng hình hoa sen nở hồng xuống mặt nước hồ Đông Hồ như một cử chỉ tao nhã. Chẳng khác gì người ở đất Thăng Long. Mới hay Đông Hồ là tên gọi một trong 10 thắng cảnh Hà Tiên đã làm đề tài ngâm vịnh cho các thi sỹ tao đàn Chiêu Anh Các ở đất này cách đây đã gần đủ 300 năm. Nhà thơ, nhà văn hóa Lâm Tấn Phác đã chọn Đông Hồ làm bút hiệu suốt đời của ông. Ông yêu tiếng Việt và xứ sở này đến mức, ngày 25 tháng 3 năm 1969 đã gục ngã trên bục giảng và tạ thế trong khi đang ngâm bài thơ Trưng Nữ Vương.

Thầy tôi, giáo sư Lê Đình Kỵ đã có lần trích dẫn Đông Hồ: Tiếng Việt quả có một sức quyến rũ phi thường. Thi sỹ Đông Hồ đẹp như chính ánh sáng của cái hồ ấy ở thời đại ngày nay. Thu dạ Đông Hồ tiên đắc nguyệt.

Cuối thế kỷ 20, tôi mới có cơ hội về Hà Tiên tìm gặp Đông Hồ – Mộng Tuyết mà không trọn vẹn. Tháng 7/1992, lên một chiếc xe Jeep nhà binh cũ kỹ, sáng sớm từ Rạch Giá đi Hà Tiên. Đường lúc đó còn xấu lắm. Ra khỏi thị trấn Hòn Đất chừng 4 cây số tự dưng một bánh xe phía trước bên phải văng ra. Chiếc jeep mui trần chỉ còn 3 bánh lăn tiếp 1 đoạn rồi nằm lại bên vệ đường đến chiều muộn phải quay về Rạch Giá.

Lần thứ 2 sau đấy 5 năm, vào tháng 7 năm 2003, xế trưa từ Châu Đốc dọc theo bờ kênh Vĩnh Tế xuôi về Hòn Đất rồi ngược lên Hà Tiên. Đến nơi thì trời tối muộn. Đột xuất sáng sớm hôm sau phải lên cửa khẩu Xà Sía, rồi tức tốc trở về Rạch Giá vì thời đó đang rộ lên 3 Tây. Tây Bắc. Tây Nguyên. Tây Nam Bộ. Thấm thoát đến giờ đã 16 năm rồi không trở lại. Kịp nhờ một người học trò đang làm nghề tư pháp ở Hà Tiên gửi cho tài liệu về nhà lưu niệm thi sỹ Đông Hồ. Ở nơi trang trọng trong ngôi nhà ấy có bức hình của Đông Hồ, màu sắc trang nhã như một bức ảnh chúa. Đông Hồ trong bộ vest màu xám nhạt, áo sơ mi cổ trắng, cà vạt đỏ tươi, trang phục ông thường lên lớp ở văn khoa Sài Gòn những năm 1965-1969 theo lời kể của sinh viên. Dọc theo hai bên ảnh có treo câu đối viết bằng chữ quốc ngữ màu hơi vàng trên nền gỗ cánh kiến đỏ hình giống như hai tàu lá chuối xếp xuôi. Gởi tình hoa thảo góp bạn giang hồ – Đọc sách thánh hiền kết duyên hàn mặc. Một đời người. Một sự nghiệp. Đơn giản vậy thôi. Một khuôn tường vôi trắng trong ngôi nhà nhỏ trên bờ vịnh Hà Tiên xa vắng. Làm tôi day dứt không nguôi.

Mộng Tuyết đã cắm sào bến cũ, trở lại Hà Tiên từ năm 1995. Sau 45 năm rời xa nó. Những nỗ lực cuối cùng của người nữ sỹ ấy là xây nhà kỷ niệm chồng trên chính mảnh đất ngày xưa ông đã mở trường dạy chữ quốc ngữ ở đây và bà là một trong những học trò Hà Tiên nhiệt thành đến học. Ngày 1 tháng 7 năm 2007, Thất tiểu muội Mộng Tuyết đã khăn gói đi tìm Đông Hồ, nơi từ thuở thiếu thời đã đợi gió, đợi nước triều lên đến lúc triều đã lên rồi trăng cũng lên ở xóm Hà Tiên. Trăng từ đấy dường như chưa bao giờ lặn hẳn trên mặt nước Đông Hồ để họ tìm được thấy nhau. Thi ca là cây sậy biết nói những lời khổ đau và hy vọng của con người. Nó có sức sống bền bỉ nhưng thật dễ tổn thương. Nhà triết học Pascal có lần nói rằng Đối với cái thái cực thì người ta là một cái hư vô, đối với cái hư vô thì người ta là một cái thái cực, nghĩa là một khoảng giữa cái có với cái không. Con người thật bé nhỏ xiết bao trong cái thế giới vô thủy, vô chung đó. Người ta đối mặt và chất vấn, đặt cược với cái hư vô đó mà mỗi người chỉ là một hạt bụi mỏng manh mà thôi. Nguyễn Khuyến. Trần Tế Xương. Trần Tuấn Khải. Tản Đà. Đông Hồ. Mộng Tuyết… Họ là những hạt bụi có ánh sáng vàng.

Hà Nội, 7/11/2019

Khuất Bình Nguyên

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Những cái tết trong văn xuôi đô thị miền Nam 1955 – 1975

Mỗi năm, vào dịp xuân về, văn chương Việt Nam có thêm nhiều tác phẩm mới viết về niềm vui ngày tết cổ truyền của dân tộc. Nhưng phần lớn những tác phẩm này viết về cái tết trong cảnh thanh bình. Văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1955 – 1975 đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh đa dạng về ngày tết. Trong đó, có cả những cái tết thanh bình và chiến tranh, ở nông thôn và thành thị, miền Bắc và miền Nam, tết của người giàu và người nghèo…

Ta hiểu “tết” ở đây bao hàm cả thời gian chuẩn bị trước tết cho đến lúc hạ nêu sau tết. Trước tết, người ta phải làm rất nhiều công việc: dọn dẹp nhà cửa, mua sắm và làm việc cật lực để kiếm tiền chi tiêu trong dịp tết. Lúc này, cũng dễ nảy sinh các lục đục trong gia đình. Trong truyện Bão rớt, Nguyễn Mộng Giác kể lại chuyện một cặp vợ chồng cãi cọ nhau trong lúc chuẩn bị đón tết ở Sài Gòn. Ông Tâm bực mình gắt gỏng với vợ: “Chỉ còn mấy giờ nữa là giao thừa. Nhưng đã biết vậy thì sao không lo mua sắm mọi thứ cho xong hôm qua hôm kia đi. Chờ cho đến phút chót, lúc người ta đóng cửa dẹp hàng, mới chụp giật hối hả rước toàn đồ dư đồ thừa về”. Bà Tâm cãi lại: “Mình không có tiền thì chờ chợ tàn đi mua đồ thừa, tiết kiệm được đồng nào hay đồng ấy. (…) Ai cằn nhằn càm ràm từ chiều đến giờ ? Mình nghèo thì chịu ở chật. Nhà chật thì phải khéo xếp đặt”. Tuy nhiên, những chuyện bực bội của năm cũ đã nhanh chóng bị dẹp đi. Đến lúc giao thừa, vợ chồng ông Tâm bỗng vui vẻ, ăn nói nhỏ nhẹ: “- Còn bao lâu nữa mình ? / Ông Tâm xem đồng hồ bảo: – Còn mười phút nữa / – Có nên thức ba dậy cho ba cúng giao thừa không ? / Ông Tâm suy nghĩ một lúc rồi trả lời: – Thôi. Khỏi cần. Để cho ba nghỉ”. Thông thường, người lớn tuổi nhất trong nhà phải làm lễ cúng. Nhưng năm nay, ông cụ yếu, nên ông Tâm trở thành người đại diện gia đình cúng trước bàn thờ tổ tiên.

Đêm giao thừa không chỉ có việc cúng kiếng mà còn có nhiều công việc khác. Trong bài ký “Đêm giao thừa đốt lói trộm”, Nguyễn Đình Tư có kể chuyện kỳ thú về phong tục chơi nổ ống lói (ống pháo tự chế) ở Nghệ An trước 1945: “Đốt lói trộm là một hình thức đạp đất xông nhà đầu năm, nhưng có vẻ tài tử trinh thám hơn, là phải làm sao cho chủ nhà không biết, phải làm sao cho chủ nhà giật mình khi tiếng nổ phát ra mới là tốt, là hên và mới được thưởng nhiều tiền, sau khi đã được mời vào nhà đánh chén”. Nhưng có lẽ hoạt động phổ biến hơn cả trong lúc giao thừa là bói đầu năm. Hồ Hữu Tường có hẳn một bài tạp văn dài nói về các phong tục “Bói đầu năm” ở Nam Bộ. Giới có chữ nghĩa, rành chữ Hán thì lấy các sách xưa ra mà bói: Binh thư yếu lược (Trần Quốc Tuấn), Thái Ất thần kinh (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Gia Cát thần toán (Khổng Minh)… Còn giới bình dân cũng có cách bói riêng của mỗi người. Lúc giao thừa, bà Hương hào Hưng lấy sách Kiều ra bói. Thím Phương lấy Lục Vân Tiên ra bói. Chú An ngồi trong bóng tối, lắng nghe con gì kêu trước thì sẽ đoán năm mới làm ăn dễ hay khó. Thím An chờ tới mùng ba, luộc gà cúng tổ, coi chân gà để biết. Còn con Bảy bẻ một nhánh lộc ra mà bói… Tác giả kết luận: “Lúc tôi còn nhỏ, tôi thấy chung quanh tôi, ở nơi làng quê mùa, người ta bói đầu năm như vậy” (Bói đầu năm).

Sáng mùng một, người ta đốt pháo tưng bừng và mặc áo mới đi chúc tết. Nhưng khung cảnh đón tết của người giàu và người nghèo có khác nhau. Chuyện tết của Nguyễn Thị Vinh kể về cái tết của một gia đình nghèo ở miền Bắc trước 1955. Ba của Hà vừa mới mất, gia đình gặp cảnh khó khăn, không sắm sửa gì. Sáng mùng một, Bé Hà thắc mắc: “Sao nhà ta không đốt pháo hở u ?”. Hà cùng bà và mẹ đi chúc tết. Nhưng cái việc lì xì mừng tuổi trong lúc túng thiếu cũng không vui vẻ mấy. Người mẹ lấy tiền lì xì của con mình để lì xì lại cho con người khác: “Bác Lý đông con quá, lố nhố đến bảy tám đứa mà mẹ Hà lại gọi tất cả đến trước mặt để bà mừng tuổi cho mỗi đứa đến năm tờ chứ không ít (…) Ra khỏi nhà bác Lý, Hà òa lên vừa khóc vừa nói: – Con bắt đền mẹ đấy nào, mẹ lấy tiền của con cho con bác Lý hết rồi”. Dù khó khăn, mọi người cũng cố gắng làm vui lòng nhau. Một cái tết vui nhưng cũng mang âm hưởng ngậm ngùi. Trong Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng đã dành hai chương để miêu tả cái tết no ấm, đầy đủ ở Bắc Bộ: “Tháng chạp, nhớ ơi chợ tết”, “Tết, hỡi cô mặc áo yếm xanh”. Tết là được ăn ngon, mặc đẹp, đi chơi nhiều nơi, không những đi chùa chiền, danh lam thắng cảnh mà còn về quê: “Về quê ăn Tết, đối với tất cả người Việt Nam tức là trở về nguồn cội để cảm thông với ông bà tổ tiên, với anh em họ hàng, với đồng bào thôn xóm”. Đó là ở Bắc Bộ, còn ở Nam Bộ, ta cũng thấy có cái tết giàu sang trong tiểu thuyết Khung rêu của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Tác giả dành đến 1/3 dung lượng cuốn sách để miêu tả công việc chuẩn bị đón tết trong gia đình giàu có ở miền Tây. Trước tết, cả nhà nhộn nhịp chuẩn bị làm các loại bánh, cắt may quần áo, trang hoàng nhà cửa… Đến tết, mọi người trong đại gia đình ông Phủ làm các thủ tục cúng kiếng, chúc tết, lì xì, thăm viếng, ăn uống linh đình, hả hê. Đến giữa cuốn tiểu thuyết, tác giả tả cảnh hạ nêu: “Lão Tự đang hì hục hạ cây nêu trước nhà. Những ngày tết trôi qua êm đềm. Dấu vết tết còn lưu lại trên những tấm giấy vàng bạc dán trên các thân cây quanh nhà”.

Trong bối cảnh chiến tranh, cái tết ở miền Nam cũng có những đặc trưng riêng. Truyện Dì mơ (Đỗ Thúc Vịnh) kể về cái tết Đinh Hợi 1947 ở vùng kháng chiến Nam Bộ: Giặc Pháp càn, máy bay ném bom nhưng dân làng vẫn lo chuẩn bị cái tết: “Làng đã sửa soạn ăn tết. Có tiếng lợn kêu eng éc từ sớm, có những xấp lá dong xanh mướt đã tước cuộng, bó lấy cột nhà cho thẳng thắn; và trong xóm, khói đã phơ phất tỏa từ các mái tranh lẻ tẻ, đem lại không khí ấm cúng cho vài ngày cuối năm còn giá lạnh và lo âu”. Những người dân tản cư và các chiến sĩ cùng ăn tết với người dân địa phương: “Chảo mỡ sôi trên bếp, nổ lép bép, rộn ràng như lòng người ngày xuân. Họ đã quên hết, quên hết mọi lo âu (…) Miếng bánh khoai cuối cùng đã hết thì không khí tết cũng tàn”. Đó là cảnh đón tết ở vùng quê Nam Bộ thời chống Pháp. Còn trong truyện Mùa xuân qua đèo, Y Uyên kể về chuyện đón tết ở thị xã Tuy Hòa thời gian 1955 – 1975: “Tới gần giao thừa, mọi người ra cả ngoài sân. Hỏa châu bắn rực trời để soi rõ bóng người ngoài ngõ (…) Ngoài đường người đi lại rầm rập. Chuông chùa, chuông nhà thờ đổ dồn, ngân nga, Hòa chạy vào trong nhà khoác thêm một manh áo ấm./ Suốt ngày mồng một tết, Hồ hết ngồi ở bàn bên này cắn hạt dưa, ăn mứt lang, mứt me, mứt bí nói chuyện với Hòa, lại lên nhà trên chơi các tê với đám thằng Tước. Bà má đi chúc tết mọi người, kéo Hà đi theo”. Sáng mùng hai, nhiều người bắt đầu đi thăm họ hàng ở xa nhưng đường đi cũng gặp nhiều khó khăn do chiến tranh: “Người tài xế xe Hồ dừng lại, chặn hai chiếc xe ngược chiều: “Có chi trên đó không?”. “Đánh lớn bên kia đèo”. “Còn không?”. “Hồi nãy về súng còn nổ dữ. Đường chân đèo bên này hư rồi” (…) Hành khách trong xe nhốn nháo, thi nhau quay sang xe bên kia hỏi (…) Người tài xế bên kia vọng sang: “Bà con chớ hãi. Mình là dân mà. Khách của tôi xuống đi bộ gần hết”. Người lơ xe nhìn ông già cười: “Năm mới quay về xui xẻo thấy cha”. “Không lộn lại, theo mấy người bộ hên sao chớ? Lấy giùm mấy cành mai trên nóc xe cho tôi sang xe”. Và ông lão đã quay về, chấp nhận xui xẻo đầu năm. Chiến tranh thì làm sao hên được !

Đầu năm, kể lại những câu chuyện đón tết thời chiến tranh để hiểu thêm cái giá trị của hòa bình. Kể những chuyện đón tết thuở đói nghèo để hiểu thêm cái giá trị của cuộc sống no đủ hiện nay. Và nếu có ai chưa hài lòng với cái tết hôm nay thì hãy soi mình vào quá khứ dân tộc để phấn đấu cho những cái tết tốt đẹp hơn trong tương lai.

19/1/2020

Phạm Ngọc Hiền

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Viết cho những người nghèo

Càng lớn lên cùng công việc viết lách, tôi bắt đầu đặt cho mình một câu hỏi: “Mình viết để làm gì?”. “Để chia phần trên mảnh đất chữ nghĩa, hay dùng chữ nghĩa để phục vụ? Tôi tỉnh ngộ khi nhận ra rằng được ơn viết lách, là cách cuộc đời cho chúng ta thêm sức lực, thêm cánh tay để đóng góp lại cho cuộc đời. Tôi vẫn còn niềm tin thuật ngữ “sứ mệnh của nhà văn” vẫn còn sức sống trong nền văn hóa thị trường.  Tôi chọn cách phục vụ, cách góp sức mà mình có thể làm được tốt nhà là viết cho những người lao động nghèo và san sẻ thành quả viết lách cho họ.

Cái nghèo luôn xuất hiện trong cuộc đời và trong xã hội hôm nay một cách chân thật. Nhiều khi không cần phải tưởng tượng hay khắc họa thêm những chi tiết bi kịch, vì cuộc đời nghèo, số phận nghèo đã là một hình tượng sáng tạo nghệ thuật đủ đầy cảm xúc, chứa đựng rất nhiều nụ cười, nước mắt.

Họ là ai? Họ rất đông xung quanh chúng ta, và là bức tranh sống động về nơi chúng ta đang sống, và về cả kiếp làm người. Tôi cảm ơn vì đã gặp được họ trong cuộc đời mình và viết về họ:  Họ là một bà lão miền trung lang thang ở Sài Gòn phải hút thuốc lá cho ấm ngực để đi bán vé số (Điếu thuốc). Họ là bà lão hơn tám mươi tuổi phải ngụp dưới ao để mò ốc bán cho những buổi chợ sớm (Bóng cây bánh mì). Họ là những người đàn ông của chiến trường Tây Nam sống nghèo sau khi trở về và mang trong mình gốc sốt rét rừng, đau nhức khi trời trở lạnh (Ôm tâm, Bụi ở phía Tây Nam). Họ là những người sống cơm qua ngày nhờ những dề lục bình trôi sông (Rị níu lục bình). Họ là người phụ nữ miền núi cô độc chống chọi sự bạo hành, một mình chống chọi sinh tử. (Mầm tiêu của Pơnh)…

Họ là những người thiệt thòi, họ cần một sự  bộc bạch rồi tiếp tục đương đầu trong nghèo khó. Và viết về họ, theo tôi là cách tốt nhất để bộc bạch giúp họ những tâm tư và quan trọng nhất để truyền tải những thông điệp tình người. Văn chương hướng đến người nghèo cũng là cách chúng ta góp phần vào xây giá trị tinh thần hướng đến sự chung và tình người của xã hội hôm này.

Mô tả về một cuộc sống thị dân lành lặn, sang trọng và sung sướng là những điều mà cây viết trẻ hiện nay làm rất tốt.  Thậm chí tạo được lối đi và diện mạo mới hơn, hiện đại hơn cho văn chương trẻ. Và các bạn và anh chị viết văn đã góp sức gầy dựng lại thế đứng của văn chương trong thị trường văn hóa. Nhưng nếu chúng ta, ngay cả tôi để ngòi bút chỉ chạm vào những mảnh đất chỉ dành cho sự lãng mạn, những tâm trạng khóc cười riêng mình thì chúng ta dần quên cuộc đời thực, dần quên nghĩa vụ của người viết là phản ánh hơi thở thật của cuộc sống. Tôi phản đối văn chương trẻ của Việt Nam trở thành “chiến trường” của những cuộc bút chiến, phê phán nhau bằng lý luận. Văn chương tồn tại và chia sẻ  được trong cộng đồng thì điều đáng trân trọng. Khuynh hướng văn chương mới, cũng sẽ góp phần tạo nên sự đa dạng của văn chương Việt Nam. Khi chúng ta không đủ sức, không đủ điêu luyện và trải nghiệm để viết ra những trang viết của nghệ thuật thời thượng thì chúng ta nên biết mình vừa sức ở địa hạt văn chương nào để dấn thân cho nơi đó, và góp phần cho nơi đó.

Người viết hạnh phúc khi chạm vào tâm trạng của trái tim vui buồn của hàng vạn người đọc, nhưng cũng cần lắm việc người viết phải khích lệ sự yêu thương, khích lệ sự quan tâm đến người khác. Đó luôn là hạnh phúc lớn của những người viết như chúng ta. Khích lệ sự yêu thương từ văn chương, cũng là sự đóng góp hữu ích của người viết trong tạo ra sức mạnh của văn chương đúng nghĩa.

Và hiển nhiên rằng, chạm vào đời nghèo không phải là đề tài quá lôi cuốn, có nhiều câu chuyện đời rất hay mà bản thân còn chưa đủ sức truyền tải được bằng ngôn ngữ văn học, nên cũng có những tác phẩm không tròn trịa, không ai mua. Nhưng tôi vẫn tin, và luôn tin giữa những cái ăn cái mặc đang vây lấy thì chúng ta sẽ không bao giờ bị đói, bị mòn ngòi bút khi dùng ngỏi bút để viết cho người nghèo, san sẻ cho người nghèo. Từ những năm tháng viết văn, tôi tâm niệm rằng, văn chương, nhiều khi phải cả gan chấp nhận đứng ngoài thị trường, chấp nhận những bề mặt lặng lẽ của nó… miễn đó là ngòi bút thẳng thớm và hòa vào dòng chảy tình người.

21/1/2020

Trần Minh Hợp

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Cảm thức xuân trong thơ Nguyên Sa

Cảm thức xuân trong thơ Nguyên Sa*, phải chăng cũng là một hằng số văn hóa góp phần làm nên những vẻ đẹp của mùa xuân mà chúng ta cần trân quí, giữ gìn như giữ gìn những hệ giá trị trong “giòng sinh mệnh văn hóa” nước nhà…

1. Nguyên Sa, một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học miền Nam trước 1975, người đã có những thi phẩm nổi tiếng được Ngô Thụy Miên phổ nhạc như: Áo lụa Hà Đông; Tuổi mười ba; Paris có gì lạ không em?; Tháng sàu trời mưa…Trong những bài thơ đó có những câu thơ đã găm vào tâm cảm người đọc như những lời kinh cầu của “tôn giáo” tình yêu làm say đắm không chỉ những người sống ở miền Nam lúc bấy giờ mà cho đến nay vẫn là những lời kinh cầu của những đôi lứa yêu nhau mà khi đọc lên, lòng ta không khỏi xuyến xao vì những hoài niệm, những ký ức xa mờ nhưng không bao giờ là hư ảnh trong hồn ta: “Nắng Saigon anh đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông/Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng/ Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng/ (…) Gặp một bửa anh đã mừng một bửa/ Gặp hai hôm thành nhị hỉ của tâm hồn/ Thơ học trò anh chất lại thành non/ Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu” (Áo lụa Hà Đông)  Hay: “Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng?/ Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay/ Trời nắng ngọt ngào … tôi ở lại đây/ Như một buổi hiên nhà nàng dịu nắng (…) Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc/ Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường/ Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương/ Tôi thay mực cho vừa màu áo tím” (Tuổi mười ba) và “Paris có gì lạ không em ?/ Mai anh về giữa bến sông Seine/ Anh về giữa một dòng sông trắng/ Là áo sương mù hay áo em?” (Paris có gì lạ không em?)… Nhưng trong thơ Nguyên Sa, không chỉ có những bài tình thơ lay động lòng người mà trong sâu thẳm tâm hồn thi sĩ còn có những vần thơ viết về mùa xuân thật ảo diệu như một cõi tình riêng thi nhân dành cho mùa xuân mà ở đó, ta thấy cảm thức của Nguyên Sa về mùa xuân cũng lung linh, huyền ảo như những câu thơ ông dành cho tình yêu. Bởi, Mùa Xuân – Tình Yêu – Tuổi Trẻ là những thực thể không thể chia cắt trong đời mỗi con người, góp phần tạo nên sự diệu kỳ cho cuộc sống. Và đây cũng là một nét đặc sắc dễ nhận thấy của cảm thức xuân trong thơ Nguyên Sa: “Không có anh thì ai ve vuốt/ Không có anh lấy ai cười trong mắt/ Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong/ Ai cầm tay mà dắt mùa xuân/ Nghe đường máu run từng cành lộc biếc.” (Cần thiết). Bởi, nói như Tạ Tỵ: “Nguyên Sa đúng là thi sĩ của Tình Yêu và Tuổi Trẻ chẳng phải cho hiện tại, còn cho ngày mai phía trước” [1].

2. Mùa xuân là của đất trời, của nhân thế nào phải của riêng ai!? Nhưng cảm nhận về mùa xuân lại là cõi riêng của mỗi người. Đối với thi nhân, cõi riêng ấy thể hiện trong thơ họ, nhiều khi trở thành những “dị biệt” không dễ lý giải. Bởi thế, khi mọi người náo nức chào đón “Chúa xuân” thì Chế Lan Viên lại muốn “nhặt lá vàng” của mùa thu để tạo nên một “Vạn lý trường thành” cản lối xuân sang: “Ai đâu trở lại mùa thu trước / Nhặt lấy cho tôi những lá vàng/ Với của hoa tươi muôn cánh rã/ Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!” Bởi, đối với Chế Lan Viên thưở ấy, mùa xuân là hiện hữu của khổ đau, của hư ảo, của địa ngục: “Tôi có chờ đâu có đợi đâu/ Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?/ Với tôi, tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!” (Điêu tàn). Mặc dù vậy, không thể nói, thơ viết về mùa xuân của Chế Lan Viên lúc bấy giờ là những bài thơ vô nghĩa. Bởi, nghiệm số của thơ ca trong tiếp nhận của người đọc không bao giờ là một hằng số mà luôn là những biến số. Giải mã về cảm thức xuân trong thơ Nguyên Sa cũng không nằm ngoài quy luật này.

Đọc thơ Nguyên Sa, ta thấy cảm thức xuân trong thơ ông cũng có những điều độc đáo, ẩn chứa nơi đó thế giới tâm cảm riêng có của thi nhân trong cái nhìn về vũ trụ, về thiên nhiên, trong đó có mùa xuân mà khi giải mã thi giới này ta không khỏi bất ngờ trước những ẩn ngữ đầy chất triết luận trong cảm thức xuân của Nguyên Sa, mà nếu không có một quá trình nghiệm sinh, khó có thể thấu hiểu được những mỹ cảm văn chương đầy sự mật khải này: “Năm ngón tay có bốn mùa trái đất/ Chúng tôi cầm rơi mất một mùa xuân/ Có cất tiếng đòi to. Tiếng đòi rơi rụng/ Những âm thanh làm sẹo ở tâm hồn.” (Bây giờ)

Và có thể nói, Bây giờ là bài thơ đong đầy những ưu tư, trăn trở của thi nhân về cuộc đời, về thế sự, về nhân sinh ở thế kỷ XX. Đó là một thế kỷ mà theo Nguyên Sa: “Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt/ dăm bảy nụ cười không đả xóa ưu tư”. Vì vậy, việc đánh “rơi mất một mùa xuân” để chỉ còn lại “những âm thanh làm sẹo ở tâm trong hồn” như một tất yếu của cuộc sống mà ở đó nỗi buồn, niềm cô đơn thân phận luôn ám ảnh phận số mỗi con người cũng là điều dễ hiểu. Có sống trong những năm tháng chiến tranh của thế kỷ trước, chúng ta mới thấu cảm được nỗi buồn khi xuân đến trên quê hương như thi nhân đã tự vấn trong bài thơ đầy bi cảm Sao mùa xuân buồn lắm em ơi, mà ở đó cái khúc điệu mùa xuân buồn lắm em ơi như một tiếng thở dài, xoáy vào hồn người đọc: “Mùa xuân buồn lắm em ơi / Anh vẫn đạp xe từ Saigon lên trường đua Phú Thọ (…) Mùa xuân buồn lắm em ơi / Mỗi lần đạp xe về anh vẫn nghe lòng bỡ ngỡ (…) Sao mùa xuân mà chẳng có mưa bay/ Chẳng có người đi bên cạnh cầm tay/ Anh chẳng được hôn lên trán ái tình/ Và nói năng những lời vô nghĩa” (Sao mùa xuân buồn lắm em ơi). Và bài thơ Nhìn em nhìn thành phố nhìn quê hương là một chứng từ đầy xa xót đã luận giải rõ hơn cho điều bi cảm này “em nhìn coi/ mùa xuân đã trôi qua/ mùa hạ đã trôi qua/ mùa thu đã trôi qua/ bây giờ là mùa đông/ mùa đông ở trên vai/ mùa đông trên thành phố/ lá chết ở trên cành/ cành chết ở trên cây/ cây chết ở trên đường/ thành phố/ phải thành phố đó/ thành phố chiến tranh và đại bác/ thành phố trống vắng/ quê hương trống vắng” (Nhìn em nhìn thành phố nhìn quê hương). Song, trong sự trống vắng đó, may quá vẫn còn có Em, có tình yêu của chúng mình. Và như thế là vẫn còn có mùa xuân, có sự sống, có hy vọng… Đó chính là phép màu, là sự kỳ diệu của cuộc nhân sinh: “Buổi sáng thức dậy, anh cởi bộ quần áo ban đầu và cơn ác mộng/ em còn ngủ/ anh bỗng nhìn thấy em/ như trời đất bỗng nhiên mùa xuân/ như cánh tay bỗng nhiên rạo rực”. (Nhìn em nhìn thành phố nhìn quê hương) Và trong dòng chảy của những xúc cảm tình yêu, cảm thức về mùa xuân trên thành phố Sài Gòn trong thơ Nguyên Sa lúc ấy cũng đầy sắc xuân dù cho trên trời “không có bầy chim én”: “Sàigòn mai gọi nhau bằng cưng/ Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân/ Lưng trời không có bầy chim én/ Thành phố đi về cũng đã xuân.” (Tám phố Saigon)

Có thể nói, khi giải mã cảm thức xuân trong thơ Nguyên Sa, ta không chỉ thấy sự hòa quyện những xúc cảm của tình yêu, tuổi trẻ với mùa xuân mà còn thấy trong đó hình ảnh của thiên nhiên, của đất trời quê hương với những vẻ đẹp lung linh khi xuân về. Vì thế, cho dù xa cách quê hương đã lâu và dẫu đang sống nơi xứ người nhưng không khí mùa xuân, cảnh trí của quê hương vẫn đong đầy trong tâm cảm thi nhân: “Paris có gì lạ không em ?/Mai anh về em có còn ngoan/ Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ/ Em có tìm anh trong cánh chim”. Và, chính những tâm cảnh này đã kết tinh thành tình tự dân tộc trôi trong tâm thức của Nguyên Sa, Cho nên, dẫu sống ly hương nhưng thi nhân vẫn không quên hương vị của ngày tết quê nhà với những hương cốm, lá sen đặc trưng của văn hóa ẩm thực vùng Bắc bộ, nơi thi nhân sinh ra và lớn lên, để rồi ông tự cật vấn người mình yêu, nhân vật Em trong bài thơ, nhưng cũng là tự cật vấn chính mình: “Paris có gì lạ không em ?/Mai anh về mắt vẫn lánh đen/ Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm/ Chả biết tay ai làm lá sen?…” (Paris có gì lạ không em ?). Không chỉ có sự hiện hữu của những vẻ đẹp về văn hóa ẩm thực mà hình ảnh quê hương hiện lên trong cảm thức xuân ở thơ Nguyên Sa còn là những nét đẹp tươi nguyên của văn hóa dân gian thể hiện ở phong tục, tập quán ngày xuân trong tâm thức của thi nhân, khi nhớ về ký ức hồn nhiên của tuổi thơ như những kỷ niệm không bao giờ mờ phai: “Hơi thở mới nguyên của đồng tiền mừng tuổi/ Tôi nhìn người ngóng đợi mắt lên ba/ Người về đây có phải tự trời xa/ Với nét mắt vòng cung của cầu vồng che mưa nắng?” (Đẹp) Hay hình ảnh của đêm giao thừa trên dòng Cửu Long giang, thi nhân đã đợi chờ từ “muôn kiếp trước” để được hát giữa dòng sông trong những ngày xuân mà khi đọc lên lòng ta không khỏi “dờn dợn” những cảm xúc về tình tự quê hương: “Sông đã về rửa trắng lòng anh/ Đợi từ chín kiếp giao thừa/ Đến sáng hôm nay mới được hát giữa giòng sông/ Đến sáng hôm nay mới được hát giữa ngày mùng một Tết” (Bài hát Cửu Long). Để rồi, như hiện thân của giấc mộng xuân, thi nhân thấy mình trẻ lại trong nắng xuân ngập tràn hạnh phúc của ngày hội xuân ấm áp tình người: “Bước chân lại gần/ Bước chân gần lại/ Và lòng tôi khẽ hỏi/ Hôm nay là ngày hội/ Nên hè phố nhớn lên/ Hay lòng mình bé lại/ Như một hôm nào nắng đẹp: Mùa xuân” (Tự do)

Đi tìm cảm thức xuân trong thơ Nguyên Sa, một điều không thể không nói đến đó là hình ảnh Người con gái mà vẻ đẹp của “Người ấy” được thi nhân thi vị hóa, huyền thoại hóa và tôn thờ như nhan sắc của mùa xuân: “Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng/ Tóc em mềm anh chẳng tiếc mùa xuân/ Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân/ Vì anh gọi tên em là nhan sắc” (Tháng sáu trời mưa). Vì thế, nếu như Xuân Diệu được mệnh danh là ông “Hoàng” của thơ tình thì Nguyên Sa được định danh là “thi sĩ của tình yêu”. Và với Xuân Diệu, mùa xuân được xem là hiện thân của tình yêu nên ông xác quyết: “Xuân của đất trời nay mới đến;/ Trong tôi xuân đến đã lâu rồi:/ Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi/ Trong vườn thơm ngát của hồn tôi” (Nguyên Đán). Nhưng tình yêu và mùa xuân trong thơ Xuân Diệu chỉ là những ẩn dụ mang tính biểu tượng xa mờ, không phải là một thực thể hiện hữu. Trái lại, tình yêu và mùa xuân trong thơ Nguyên Sa là một thực thể hiện hữu như chính sự hiện hữu của tình yêu mà ông dành cho “Người con gái” trong thơ mình. Chính vì vậy, “Người con gái” ấy đã hóa thân thành nhân vật trữ tình Em trong thi giới Nguyên Sa, đã dự phần không chỉ trong cuộc đời mà cả trong thơ ông như một định mệnh chi phối những vui, buồn, được, mất trong cảm thức thi nhân như một tâm thức hiện sinh “Mùa xuân buồn lắm em ơi / Anh vẫn đạp xe từ Saigon lên trường đua Phú Thọ (…) Không phải anh ngại đường sá xa xôi/ Anh cần gì đường dài / Anh cần gì nước mía/ Anh cần gì hoa thơm và chim cười trong lá biếc/ Cũng chẳng cần cỏ thêu xanh cánh đồng xa biền biệt/ Nhưng làm sao không có bóng hai người đè lên cỏ úa/ Để anh nghe em cười mà thấy cả mùa xuân…” (Mùa xuân buồn lắm em ơi). Rõ ràng, thi nhân không cần gì cả trên cõi đời này, chỉ cần có Em thôi để được “hôn lên trán ái tình/ và nói những lời vô nghĩa”… Thực thể hiện hữu trong thơ tình của Nguyên Sa kỳ diệu, lạ lùng như thế đó, nhẹ nhàng và sâu lắng, không ồn ào nhưng ám ảnh, thiết tha. Và điều này đã tạo nên một phẩm tính riêng trong thơ tình Nguyên Sa: ảo diệu, ma mị, nồng cháy, tươi trẻ như sức xuân, vốn là những yếu tính của tình yêu đôi lứa mà Nguyên Sa đã chia sẻ trong bài thơ Kỳ Diệu đầy ám gợi: “Khi đám mây cao dừng trên nếp trán/ Anh chợt nghe vỗ cánh chim bay/ Trái thơm ngon nặng chĩu trên môi/ Dòng suối lạ chảy qua hơi thở/ Bốn mùa xuân về đứng trên cơ thể/ Ở giữa mầm lộc biếc và lá non/ Anh đứng nghe âu yếm gọi tên em/ Khi em đến nằm ngọa trên đồi cỏ/ Có bỡ ngỡ là mặt trời bỡ ngỡ/ Có xôn xao là núi lớn xôn xao/ Cánh tay anh, anh đã dặn nằm im/ Đôi mắt anh đã trở thành tinh tú/ Đứng thật xa để canh chừng giấc ngủ/ Đứng thật cao như ngọn hải đăng/ Anh canh chừng con thuyền lạ đi ngang/ Sẽ chở em về quê hương thần thoại” (Kỳ Diệu). Và quả thật, Em không chỉ là thực thể hiện hữu của mùa xuân đem lại cho Anh, cho cuộc đời sự sống diệu kỳ mà đã trở thành sức sống cho mọi dự phóng trong sáng tạo thơ ca của thi nhân: “Mắt thuyền trôi anh chèo cả hai tay/ Sao chẳng ngự cho hồn anh xuống nhạc/ Sao chẳng đến cho lá cành xanh biếc/ Năm ngón tay anh trổ lá mùa xuân/ Ngọc cho em anh đúc ở thư phòng/ Có lửa cháy trong mắt buồn da diết/  (…)  Em chói sáng trong tình anh cô độc/ Cả cuộc đời mộng ảo nhớ bừng lên/ Gót kiều thơm chuyển bước: bút thần run/ Chờ em đến tuổi trời anh đốt lửa/ Hãy thở gấp cho anh nhiều hơi thở/ Mắt mở to cho biển rộng vô cùng/ Hãy ban từng khóe mắt đốt hoa đăng/ Và má đỏ tiếp hồng xuân vĩnh viễn” (Người Em sống trong cô độc).

3. Như vậy, cảm thức xuân trong thơ Nguyên Sa đã đủ đầy nhiều cung bậc, nhiều thanh âm, nhiều giọng điệu, nhiều màu sắc vốn có của kiếp nhân sinh với những vui buồn mà nếu không trải qua những tháng năm rong ruỗi trong cuộc đời, thi nhân sẽ không thể hiểu và cảm sâu sắc như thế được!? Chính điều này làm cho ta hiểu thêm những trị số khác trong thơ Nguyên Sa mà lâu nay người ta cứ nghĩ Nguyên Sa chỉ làm thơ tình và không quan tâm gì đến những bình diện khác của đời sống xã hội. Nhưng không, bên cạnh những bài thơ tình đắm đuối, thiết tha ngợi ca một thứ tình yêu trong trẻo, tinh khôi, thánh thiện và đầy tính nhân bản, khi khám phá cảm thức xuân trong thơ Nguyên Sa, ta còn bắt gặp trong đó những niềm thổn thức, những ưu lo, trăn trở về quê hương, về thân phận con người trong những năm đất nước còn chiến tranh, cho dù những ngày ấy thi nhân có sống xa hay sống trong lòng Tổ Quốc thì hình ảnh quê hương và con người Việt Nam với những nỗi đau trong chiến tranh luôn là điều ám ảnh cảm thức thi ca của ông mà những bài thơ viết về mùa xuân trong tập Thơ Nguyên Sa là một xác chứng.

Khác với Hoài Khanh trong tập thơ Gió bấc, trẻ nhỏ, đóa hồng và dế (Ca Dao xuất bản, Sài Gòn,1970) hay Du Tử Lê, trong tập thơ Đời mãi mãi ở Phương Đông (Gìn vàng giữ ngọc xuất bản, Sài Gòn, 1974) không có một câu thơ nào, bài thơ nào nói đến mùa xuân thì trong Thơ Nguyên Sa (Tổ Hợp gió xuất bản, Sài gòn, 1971), hình ảnh mùa xuân lại bàn bạc và đầy ám ảnh đã kết tinh thành cảm thức xuân đa sắc màu trong thơ Nguyên Sa. Đó là những cảm thức xuân gắn với tình yêu, tuổi trẻ, quê hương, với thân phận con người trong cõi nhân gian và đây cũng là điều độc đáo làm nên phẩm tính riêng của thơ Nguyên Sa trong dòng chảy thi ca miền Nam trước 1975. Và chính điều này tạo cho thơ ông một giá trị riêng có còn lại mãi với thời gian như lời thơ của Trần Tuấn Kiệt viết tặng Nguyên Sa trong bài thơ Lời thi sĩ gởi cho nàng thơ: “Tôi hát khúc trần gian đầy ân ái/ Em dạo cung hồ cầm đó ngày xưa/ Cơn gió xuân xa lưng trời thổi lại/ Mộng bình yên thôi đã mất bao giờ” (Lời thi sĩ gởi cho nàng thơ) [2]. Và hôm nay, trong mùa xuân bình yên của đất nước, thơ Nguyên Sa trong đó, có những vần thơ viết về mùa xuân của ông mãi tồn sinh với dân tộc và quê hương mà thi nhân hằng yêu quí. Cảm thức xuân trong thơ Nguyên Sa, phải chăng cũng là một hằng số văn hóa góp phần làm nên những vẻ đẹp của mùa xuân mà chúng ta cần trân quí, giữ gìn như giữ gìn những hệ giá trị trong “giòng sinh mệnh văn hóa” nước nhà.

Chú thích:

*Những câu thơ trích trong bài viết lấy trong tập Thơ Nguyên Sa, Tổ Hợp gió xuất bản, Sài Gòn, 1971 và “Nguyên Sa thi sĩ của tình yêu”, Tạp chí Văn học số 99 ra ngày 15/12/1969 tại Sài Gòn.

[1] Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ, Tác giả giữ bản quyền, Sài gòn,1970, tr.262

[2] Trần Tuấn Kiệt, Lời thi sĩ gởi cho nàng thơ, “Nguyên Sa thi sĩ của tình yêu”, Tạp chí Văn học số 99 ra ngày 15/12/1969, tr.48. 

Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 15/11/ 2019

Trần Hoài Anh

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Một bài thơ hay đầy ắp phương ngữ Nam Bộ dễ thương và tài hoa Buổi trưa, ở một vùng sâu sông nước thuộc Vên Vên, Gò Dầu Hạ, bỗng nghe vă...