Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

Biểu tượng "Gió" trong Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng

Biểu tượng "Gió" trong Bước
gió truyền kỳ của Phan Hoàng

Trường ca Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng vừa được tái bản trong bộ sách Giải thưởng Văn học nghệ thuật TP.HCM 5 năm lần thứ II do Ủy ban nhân dân TP.HCM trao tặng. Để biết thêm về trường ca này xin trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu của PGS.TS Cao Thị Hồng về những khác lạ trong Bước gió truyền kỳ…

Dựa trên nền tảng quan niệm của văn hóa nhân loại về gió, với chủ đích mượn gió để gửi gắm thông điệp nghệ thuật, trong trường ca Bước gió truyền kỳ Phan Hoàng đã xây dựng biểu tượng gió theo cách riêng của trái tim nghệ sĩ đầy mẫn cảm với một trí óc tưởng tượng bay bổng, phong phú. Gió trở thành nơi phát lộ những bí ẩn của vô thức, của hành động, khai mở trí tuệ về cái chưa biết và cái vô tận. Gió gợi cho người đọc suy ngẫm về thân phận cuộc đời của mỗi con người qua tầng tầng lớp lớp thế hệ…

Xuyên suốt trường ca Bước gió truyền kỳ(1) của Phan Hoàng là biểu tượng gió. Gió được coi như là trục vận hành chính, là tâm điểm phát sáng nhiều thông điệp. Gió hiện diện trong tác phẩm với vai trò nối kết năm phân khúc rõ rệt: Những ngọn gió vô danh/ Gió tiếp sức ước mơ/ Bước gió truyền kỳ/ Gió dựng thành lũy biên cương/ Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại. Ứng với mỗi bước gió là một chủ đề lớn hàm chứa những chủ đề nhỏ hơn. Đặt trong tổng thể của tác phẩm, tất cả cùng hòa âm – những âm thanh của tưởng tượng vang lên như một bè hợp xướng đa thanh, lắng nghe sẽ thấy dàn hợp âm vang lên lúc êm ái, dịu dàng, lúc hào hùng, dữ dội, lúc trầm lắng, suy tư, lúc xót xa, đau đớn, lúc tha thiết tự hào…  đó chính là những cung bậc cảm xúc của tác giả cũng như của bất cứ người con đất Việt nào khi ngược dòng thời gian, sống cùng những sự kiện lịch sử của dân tộc, dõi theo từng bước đi của sinh thể Mẹ – Tổ quốc từ thuở ông cha “mang gươm đi mở cõi” (Huỳnh Văn Nghệ) cho đến hôm nay.

Trong văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới biểu tượng gió có ý nghĩa khác nhau. Kinh Coran lấy các cơn gió làm sứ giả của Chúa Trời, tương đương với các thiên thần. Thần của Chúa Trời bay lượn trên mặt nước nguyên thủy được gọi là gió. Trong hệ biểu tượng Hindu, gió (vâyu) là khí vũ trụ và là lời Thượng đế; gió là chúa tể của lĩnh vực tế vi, trung gian giữa Trời và Đất. Theo các truyền thuyết Hindu về nguồn gốc vũ trụ trong Luật của Manu, gió được sinh ra từ thần linh và gió sinh ra từ ánh sáng. Thần linh được kích thích bởi ước muốn sáng tạo đã sinh ra không gian. Từ vận động của cái không trung này, đã sinh ra gió. Gió chứa đựng tất cả các hương trong sạch, mãnh liệt, có đặc tính của xúc giác. Trong các truyền thuyết của Kinh Thánh, những cơn gió là hơi thở của Chúa Trời. Hơi thở của Chúa đã đưa trật tự vào hỗn mang nguyên thủy, hơi thở đó đã đem lại sinh khí cho người đầu tiên. “Những cơn gió cũng là những công cụ của quyền lực thần thánh; chúng truyền sinh khí, trừng phạt, giáo huấn, chúng là những dấu hiệu và cũng như các thiên thần, chúng mang những thông điệp. Chúng là một dạng biểu hiện của thần linh, muốn truyền đạt những cảm xúc của mình”(2).

Dựa trên nền tảng quan niệm của văn hóa nhân loại về biểu tượng gió, với chủ đích mượn gió để gửi gắm thông điệp nghệ thuật, trong Bước gió truyền kỳ Phan Hoàng đã xây dựng biểu tượng gió theo cách riêng của trái tim nghệ sĩ đầy mẫn cảm với một trí óc tưởng tượng bay bổng, phong phú. Gió trở thành nơi phát lộ những bí ẩn của vô thức, của hành động, khai mở trí tuệ về cái chưa biết và cái vô tận. Gió gợi cho người đọc suy ngẫm về cuộc đời của mỗi người Việt Nam qua tầng tầng lớp lớp thế hệ. Và thân phận mỗi cá thể vô danh ấy gắn liền với mỗi bước đi nhọc nhằn của mảnh đất quê hương hình chữ S – nơi mỗi chúng ta chôn nhau cắt rốn, cất tiếng khóc chào đời. Chạm đến tình cảm thiêng liêng ấy nên gió trong tác phẩm của Phan Hoàng đã lay động tâm thức người đọc ở vùng thăm thẳm nhất. Thổi qua nhiều miền tối sáng suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhưng không ồn ào mà rất khiêm nhường, điềm tĩnh, những Bước gió truyền kỳ đúng như tên gọi của nó đưa người đọc vào một hành trình kỳ lạ, vừa thực vừa mơ để khám phá những vẻ đẹp của văn hóa, khí phách và ý chí của dân tộc với nhiều cung bậc cảm xúc thẩm mỹ khác nhau.

Trong cảm thức của tác giả, gió là một biểu tượng luôn luôn động, luôn luôn biến hình hài, đổi trạng thái và mỗi bước gió là một sự tiến triển của đất trời, con người và vạn vật sinh linh…

Mở đầu trường ca gió là tâm điểm hội tụ sức mạnh hồn thiêng dân tộc. Những ngọn gió vô danh gọi những linh hồn vô danh quần tụ, họ là những chàng trai và những cô gái mang trong mình “Ước mơ căng tràn ngực gió thanh xuân”… Họ đã sống từ bao đời trước: “Xác hóa mây bay hồn về đất mẹ/… Người từ ngàn năm người quên tên tuổi…” Nhưng chính những con người giản dị và bình tâm  ấy là những con người đã làm nên đất nước (Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm).

Gió được thổi hồn và hiện diện như một sinh thể sống, gió là người và người là gió, gió quấn quýt, chia sẻ vui buồn cùng con người, gió mở đường bay, gió đồng hành cùng người từ những bước chập chững đầu đời, từ tuổi thơ hồn nhiên khát vọng truy tìm, khám phá những bí ẩn của cuộc sống. Với nhiều thủ pháp tu từ được sử dụng linh hoạt như dùng xen kẽ liên tục câu dài/ ngắn, câu khẳng định/phủ định, câu kể, câu cảm thán, câu hỏi…, âm hưởng chậm rãi, trầm lắng của khúc ca đưa mỗi chúng ta trở về với tuổi thơ của mỗi người và tuổi thơ của dân tộc. Đó là thời khởi sinh trong trẻo hồn nhiên, đầy ắp kỷ niệm ngây thơ êm đềm nhưng cũng đã biết “khóc người lớn cười/ cười người lớn khóc”. Từ thuở mới khai sinh lập địa, thuở hồng hoang mới biết hát đồng dao, người Việt Nam đã biết phân biệt phải/ trái, đúng/ sai, nuôi khát vọng, mơ ước, biết suy tư trăn trở tìm đường để hướng đến những giá trị sống cao đẹp: “bay đường nào con người bớt khổ đau?/ bay đường nào con người bớt nghèo đói?/ bay đường nào con người bớt phản trắc?/ bay đường nào con người tin được nhau? ”. 

Có thể nói bốn tiểu khúc trong phần Gió tiếp sức ước mơ: Gió mở đường bay/ Đồng giao nghịch gió/ Cuộc trò chuyện giữa gió và núi/ Gió tiếp sức ước mơ là những khúc đoạn vừa bay bổng, lãng mạn vừa giàu chất triết luận. Đáng chú ý là Cuộc trò chuyện giữa gió và núi được hình dung trong giấc mơ của người kể chuyện: “Nhiều đêm trong mơ ngược dòng ấu thơ đuổi bắt sao trời, ta trộm nghe núi mở lòng với gió”.

Các nhà phân tâm học cho rằng về ý nghĩa giấc mơ là sự thỏa mãn một ước vọng. Theo S. Freud, ước vọng là yếu tố chính tạo nên giấc mơ, ước vọng bị dồn nén được thỏa mãn một cách tượng trưng và “trá hình” trong giấc mơ. Mọi giấc mơ là sự thực hiện tưởng tượng hay biểu tượng của ước muốn. Giấc mơ “nghe núi mở lòng với gió” của Phan Hoàng là một giấc mơ đẹp, lạ. Giấc mơ mang theo hình hài địa lý của Tổ quốc, có “Biển Đông, có đồng bằng, có con đường xuyên sơn ngoằn ngoèo”… giấc mơ tái hiện lịch sử bi hùng “một thời đội sấm đội chớp mở đường” của cha ông… Phải chăng thông qua giấc mơ về Cuộc trò chuyện giữa gió và núi tác giả trường ca Bước gió truyền kỳ muốn góp thêm tiếng nói khẳng định một giá trị thuộc về truyền thống văn hóa của những con người được nuôi dưỡng từ cái nôi của nền văn minh lúa nước trên dải đất hình chữ S: dẫu trải qua bao dâu bể thăng trầm và biến thiên của lịch sử, người Việt Nam luôn sống thuần phác, nhân hậu, bao dung, phóng khoáng,  luôn mong muốn “bắc yêu thương những nhịp cầu đồng dao !…” và “lấy cây rừng làm bút/ lấy đá núi làm nghiên, lấy nước biển làm mực, đề thơ lên thạch trụ cao vút chín tầng xanh…”. Đó là giấc mơ thấm đẫm khát vọng hòa bình và tự do, tinh thần ấy là sợi dây bền chặt “nối ngàn xưa cho đến mai sau”.

Khúc thứ hai cùng tên tác phẩm: Bước gió truyền kỳ – đây là khúc trọng yếu của thiên trường ca. Với những thức nhận sâu sắc về văn hóa, lịch sử dân tộc, tác giả đã tái hiện bức tranh hoành tráng về quá trình bảo vệ và khẩn hoang mở rộng bờ cõi của cha ông qua bốn tiểu khúc: Bước gió truyền kỳ/ Gió khẩn hoang/ Gió xuôi chín khúc sông rồng/ Tây Nam mùa gió chướng. Âm hưởng hào sảng, tha thiết tự hào bao trùm khúc ca. Câu thơ ngắn, dài, biến ảo linh hoạt, gợi hình ảnh;  nhịp điệu nhanh, dồn, mạnh mẽ và hối thúc. Biện pháp điệp từ, ngữ được sử dụng một cách triệt để và đắc địa. Quá khứ lịch sử dân tộc với những bước chân huyền thoại thuở hồng hoang trở về rõ mồn một sau từng câu chữ…

 Như sự đặt để của số phận, dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc phải đối mặt với nhiều cuộc chiến tranh nhất để mở cõi và giữ nước. Trong kết tinh của đất và nước có rất nhiều máu, mồ hôi và nước mắt: “máu/ máu/ máu/ mở cõi/ máu/ máu/ máu/ giữ nước… lớp lớp người/ tay cuốc tay cày/ lớp lớp người/ tay chèo tay lưới/ chém cá tràng kình/ mắt xua mây xám biển Đông/ lưng bóng nắng/ mồ hôi lạnh/ ngực dằn cơn ho cơn sốt…/ chân ngăn từng dòng nước khách lũ/ vật vã/ kiên trì/ tự lực/ khẩn hoang”… âm hưởng của lời ca nghe như có tiếng nấc, như có tiếng khóc, xót xa nhưng không hề bi lụy… Hiện lên trước mắt người đọc là trùng trùng lớp lớp những con người bé nhỏ, vô danh nhưng dũng cảm gánh trên vai một sứ mệnh lớn lao mà lịch sử dân tộc giao phó. Cuộc thiên di về phương Nam nhọc nhằn, gian khó nhưng những con người lao động chỉ có tay cuốc, tay cày, tay chèo, tay lưới cùng với ý chí kiên cường, đức nhẫn nại, hy sinh của người dân nước Việt. Họ đã làm nên truyền thống, làm nên lịch sử cho xứ sở này – truyền thống ấy mãi mãi âm vang bước gió truyền kỳ, tạc khắc trong hiên ngang dáng núi, bao dung tình sông…

Xét trong chỉnh thể của tác phẩm, như bản nhạc vang ngân, khi tiểu khúc Bước gió truyền kỳ và Gió khẩn hoang với âm hưởng hào hùng, bi tráng “cuồn cuộn chuyển động sắc màu vũ trụ” tạm lắng xuống, thì tiểu khúc Gió xuôi chín khúc sông rồng vang lên với âm hưởng chậm rãi khoan thai, có những nốt lặng lắng sâu nhiều suy tư về cuộc sống “phía sau nỗi đau trận mạc”.

Đất nước hòa bình, con người lại trở về với những giấc mơ hoa đời thường mà do chiến tranh ngăn trở nên đã không thể thực hiện. Hạnh phúc đáng nói nhất là “tình yêu lứa đôi không còn bão lửa cắt chia”. Tâm điểm của bức tranh hòa bình là hình ảnh quấn quýt hòa trộn nhau thắm thiết, nồng nàn của đôi lứa yêu nhau được Phan Hoàng phác họa sinh động mang sắc màu “nhục thể lành mạnh” (F.Engels): “Thịt da nhiệt đới/ hừng hực ngực lửa/ hừng hực đùi hương/ bềnh bồng suối tóc/ bồng bềnh môi trầm/ bềnh bồng mông núi/ bồng bềnh lạch hoa/ bồng em lốc xoáy/… em làm vợ ta làm chồng/ yêu nhau thì cứ bềnh bồng bập bênh”. Ở đây  khát vọng hướng đến những giá trị nhân bản, nhân văn nhất của con người được thành thực trải lòng. Kiến tạo văn bản theo một sơ đồ chủ ý trộn lẫn giữa truyền thống và hiện đại nên có lẽ vì vậy trường ca Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng đã không bị sa vào khuôn mẫu xơ cứng, đơn điệu của kiểu viết trường ca theo “cảm hứng sử thi” đầy sắc màu “lý tưởng” tạo khoảng cách quá xa vời giữa con người trong tác phẩm và con người của cuộc sống đời thường.

Thế giới nghệ thuật vốn bao giờ cũng là thế giới trung gian giữa thực tế và mơ mộng. Nhiều khi thế giới thực không thỏa mãn được ước vọng của người đời, thế giới mơ tưởng có thể thực hiện được những ước vọng đó. Và ở khúc đoạn này, Phan Hoàng đã thành công khi mơ một “giấc mơ sinh trưởng” lãng mạn nhưng cũng rất chân thực với cách diễn đạt tưởng chừng tưng tửng, dí dỏm, nhưng ám gợi sâu sắc tâm thức người tiếp nhận.

Phần thứ ba mang tên Gió dựng thành lũy biên cương gồm ba tiểu khúc: Linh hồn gió/ Gió cõng hương qua núi đồi/ Gió dựng thành lũy biên cương.

Chiến tranh dẫu đã đi qua, nhưng trong mỗi ngày của cuộc sống hòa bình những ám ảnh, đau thương mất mát vẫn nhức nhối khôn nguôi, “cái ác mang mặt nạ hữu nghị viển vông” vẫn lởn vởn. Đêm đêm linh hồn của những chàng trai, cô gái “hồn phách tinh anh mỉm cười bước ra chuyện trò cùng với gió (…) bao linh hồn trẻ hóa gió hiên ngang/ canh giữ giấc ngủ bình yên đất mẹ”. Đến đây, gió trở thành biểu tượng của sức mạnh tâm linh huyền diệu, thần kỳ. Sức mạnh ấy được khởi nguồn từ tình yêu đất nước của lớp lớp thế hệ đi trước, họ đã dâng hiến tuổi thanh xuân vì bình yên của mảnh đất này, vì “cuộc sống những đứa trẻ không còn mồ côi đói khát…/ mùa trăng mật dâng hiến lứa đôi/ mùa sinh nở dâng tặng tiếng khóc những ngôi sao hy vọng…”. Trên nền âm hưởng trầm lắng, man mác buồn, hoài niệm, tiếc thương người đã khuất, nổi bật hình tượng Gió cõng hương qua núi đồi thấm đẫm sắc màu kỳ ảo: “Dường như có bóng ai lướt nhanh trong màn sương đục/ bóng của hôm qua bóng của hôm nay hay bóng của mai sau? gió vẫn miệt mài cõng hương qua núi đồi một thời trận mạc/ gió nói gì với những chiếc bóng lang thang chưa yên nghỉ mộ phần?”. Trước thế giới tâm linh thiêng liêng, những dấu hỏi như găm vào lòng người sống hôm nay bao ngẫm ngợi, suy tư, khắc khoải về thân phận con người…

Với độ lùi thời gian, điềm tĩnh nhìn lại những “bước gió” bi hùng của lịch sử dân tộc, tác giả trường ca xác quyết một sự thật: “không dân tộc nào/ không đất nước nào/ hiếm hoi thế hệ bình yên/ nối nhau quẫy đạp bóng đêm/ đứng lên” như dân tộc Việt Nam; và “không dân tộc nào/ không đất nước nào/ oằn vai/ gánh/ mười bốn cuộc chia ly không hẹn ngày về/ không dám bày tỏ nỗi niềm nhớ thương/ không biết cha con đối đầu/ không ngờ anh em bắn nhau/ máu đỏ oán sông/ xương trắng hờn than núi/ bao tinh hoa hóa thành cát bụi/ bao bà mẹ tim ngừng đập vẫn mở mắt đợi con/ bao người vợ úp mặt chờ chồng lửa lòng đông cứng!”. Chiến tranh là máu và nước mắt, là cái chết, là chia ly, tan tác, chia lìa. Người dân đất Việt đâu có mong muốn chiến tranh, nhưng “cực chẳng đã” buộc phải đứng lên để “giành lại từng dấu chân giao chỉ/ giành lại từng viên đá cuội in bóng chim lạc chim hồng/ giành lại từng hạt cát mang hình đảo chìm đảo nổi/ giành lại từng tia sáng cánh cò cánh vạc/ giành lại từng tiếng khóc bình yên tao nôi” . Và dòng hào khí kết tinh từ tinh hoa của lớp lớp người mãi trường tồn, vút bay cao “hóa thân bước gió truyền kỳ, cùng những vì sao nhấp nháy nhấp nhổm nụ cười” để làm nên Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại của dân tộc.

Nếu quan điểm của tư duy lý luận hiện đại cho rằng chức năng cơ bản của biểu tượng là sự phát hiện hiện sinh của con người cho chính mình thì ở Bước gió truyền kỳ biểu tượng gió giúp người đọc nhận ra chính bản thân mình từ những phát hiện về phẩm chất của dân tộc từ góc nhìn nhân văn nhất về lịch sử dựng nước và giữ nước của người Việt. Xoay xung quanh biểu tượng này chúng ta có thể suy ngẫm để khám phá nhiều ý nghĩa về thực tại cuộc sống: đó là mối quan hệ ràng buộc và những ứng xử mang giá trị văn hóa sâu sắc giữa cá nhân và cộng đồng, cộng đồng và cá nhân… Sử dụng biểu tượng gió như một thủ pháp nghệ thuật để thể hiện những ẩn dụ cảm xúc từ trìu mến, yêu thương thiết tha nhất đến giận dữ, uất nghẹn, sôi sục nhất, tác giả Phan Hoàng đã thành công trong lối dẫn dụ người đọc đi vào thế giới cảm xúc cùng những suy tư về văn hóa, lịch sử và vận mệnh của dân tộc một cách tự nhiên trên tinh thần “tự cảm hóa”. Với cách xử lý nghệ thuật khéo léo, tinh tế, sáng tạo, trường ca Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng đã vượt qua giới hạn của lối tư duy tụng ca về những vấn đề đại tự sự một cách đơn giản, sáo rỗng, vô hồn, thiếu thuyết phục mà bạn đọc vẫn còn bắt gặp đó đây trong sáng tác hôm nay. Và đó chính là một trong những nguyên nhân sâu xa, cơ bản nhất khiến tác phẩm này hàm ẩn nhiều thông điệp nghệ thuật, tiếp tục “vẫy gọi” bạn đọc đồng sáng tạo.

Chú thích:

(1) Phan Hoàng, Bước gió truyền kỳ, Nxb. Hội Nhà văn, 2016.

(2) Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb. Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, 1997, tr.363.   

29/12/2019

Cao Thị Hồng

Theo https://vanhocsaigon.com/

Cú pháp tạo dựng cổ tích trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Cú pháp tạo dựng cổ tích
trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Về bài tựa Châu thổ, thơ tuyển lần thứ nhất của Nguyễn Quang Thiều

Trong một dịp bình luận về tập thơ Cây ánh sáng – một trong các tập thơ có những bài được chọn đưa vào tập tuyển lần đầu này – tôi đã đề nghị một cách đọc thơ Nguyễn Quang Thiều bằng trí tưởng tượng hơn là bằng một quá trình đọc hiểu diễn nghĩa theo cung cách ngữ văn bình giảng. Điều này đã khiến một vài nhà thơ thâm niên phẫn nộ, nhưng thực ra đó chỉ là một cách nhấn mạnh: bởi lẽ, nếu không có trí tưởng tượng thì văn chương làm được gì cho ta và ta biết làm gì với nó. Tuy vậy cũng đã có nhiều khác biệt diễn ra trong trường tưởng tượng chung khi ta chuyển vào sống trong một thời hiện đại mới sau những năm hậu chiến, khi mà thơ ca nói chung ngày càng suy giảm ảnh hưởng so với văn xuôi, báo chí và phương tiện nghe nhìn.

Và tôi cũng tiếp tục đề nghị cách đọc đó đối với tập thơ này mà tôi thấy, đúng như kết cấu của tập thơ, nó vạch lại một chặng trên con đường tác giả Nguyễn Quang Thiều trải nghiệm cái có thể gọi là những dự án thơ ca của anh, nối tiếp nhau và đã từng được bộc lộ hiển ngôn ở tập thơ Nhịp điệu châu thổ mới (Hội Văn học nghệ thuật Hà Tây xuất bản, 1997), những dự án cho thấy sự nhất quán về nền tảng hướng đến dựng nên một vương quốc thơ đặc thù như một “châu thổ mới” – khái niệm về mặt lịch sử phổ biến khiến người ta liên tưởng tới một nền văn minh, một kiểu phóng chiếu tâm thức làng cổ thành cảnh tượng thế giới bởi cách thức nó vừa dung nhập một số yếu tố ngoại lai vào biểu hiện của tín ngưỡng cổ xem vạn vật đều có linh hồn vừa độc tôn hình ảnh một quê hương cụ thể và các truyền thống quê hương, với giọng điệu của một tính hướng ngã mạnh nổi bật.

Điều khiến ngay cả một vài cây bút bình luận với đầy thiện cảm vẫn phải nói rằng thơ Nguyễn Quang Thiều “khó hiểu” nằm hiển hiện trên mặt chữ trong phép dựng câu, dựng hình và đặt tên của các bài thơ. Tuy nhiên, ở tập tuyển này, tác giả lần đầu trực tiếp gợi ý bằng một bài tùy bút thay lời tựa mà cái tên bài hoàn toàn có thể xem như đầu đề một bài thơ nào đó của anh – Trong căn phòng của một người bại liệt.

Bài tựa này kể hồi ức về việc “bà nội tôi ốm nằm liệt giường suốt bốn năm cho tới khi qua đời”, và nhìn thấy trong chuỗi sự kiện buồn thảm kéo dài đó một quá trình “tự ý thức về mình” của “một người đàn bà nông dân không biết chữ”, quá trình bắt đầu bằng việc bà soi gương để kiểm tra hình ảnh “cái mình” rồi tiếp đến dùng lời nói để khẳng định “cái mình” tồn tại; kể về quá trình đó như một chiêm nghiệm phản chiếu – “bà tôi” chiêm nghiệm bằng các hành vi ứng xử với cảnh trạng mất dần cảm giác thực thể về sự tồn tại của “cái mình”, và “tôi” thấy các ứng xử đó, “tôi” giải thích các hành vi đó là cảnh tượng của chiêm nghiệm, do đó mà “tôi” đi vào một cảnh giới của sự bừng nở tâm linh trong chính “tôi” và sự bừng nở này vượt ra ngoài thời gian thực, vượt ra ngoài hồi ức, là phi thời tính: có thể thấy ở đây một ý tứ rõ ràng khi tác giả thuật rằng “bà tôi” nằm liệt trên giường và liên miên kể chuyện suốt bốn năm,“ không chỉ kể về bà tôi mà còn kể về những câu chuyện ám ảnh và trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến đời sống tinh thần của người.” để “dựng lên một cách sống động nhất lịch sử của mình”, và đó, “Hiện thực này, theo tôi, nó giống như hiện thực của một bài thơ.”

Trình thuật nói trên là phần thứ nhất trong bài tựa và vạch ra một mô hình căn bản của các bài thơ Nguyễn Quang Thiều, mô hình kết hợp ba thành tố chính: chuỗi sự kiện quan sát được – chuỗi diễn giải chiêm nghiệm – chuyển hóa các đối tượng quan sát sang/vào một hiện thực tâm linh.

Nhìn lại chuỗi sự kiện trong phần thứ nhất của bài tựa này, có thể thấy một trình thức tạo nghĩa thông qua việc cấp cho các đối tượng mô tả những lời diễn giải/ định nghĩa, tức là biến các đối tượng đó từ dạng thức sự kiện sang thành dạng thức khái niệm:

Chuỗi sự kiện gồm: bà ốm, nằm liệt giường, mất đi “rất nhiều các hoạt động sống trước đó”,  soi gương, rồi “bắt đầu nói lan man đủ thứ chuyện từ sáng tới khi đi ngủ.”

Tương ứng là chuỗi diễn giải: “Tôi thấy bà tôi thích thú và kinh hãi… Bà tôi không mảy may công nhận mình trong cái bản sao ở không gian phẳng của mặt gương.”, “Bà tôi đã cố định nghĩa mình bằng dụng cụ – chiếc gương.”, “Bà tôi đã thất bại trong việc tìm kiếm hình ảnh của mình trong chiếc gương.”, “bà tôi phải dùng giọng nói đã trở thành tấm gương để bà tôi soi ký ức và ý thức sống của bà.”, “Bà tôi nhận thấy sự hiển thị của mình trong giọng nói. … đồng nghĩa với chân dung của bà tôi. Sự tồn tại ấy – chân dung ấy đã hiện lên bằng tiếng nói”.

Ở đây có những danh ngữ, những cụm từ, hay là cách nói – những biểu hiện của logic nội tại – đã trở nên quen thuộc khi nhắc đến thơ Nguyễn Quang Thiều: những công nhận mình, định nghĩa mình, thất bại trong việc tìm kiếm, hình ảnh của mình, dùng giọng nói, nhận thấy, sự hiển thị của (mình), là các diễn đạt rất tương hợp của cái phong cách thể hiện trong những cái tên Sự mất ngủ của lửa, Chuyển dịch màu đen hay Nhân chứng của một cái chết, v.v…

Dạng thức khái niệm về sự vật sự kiện hay trạng thái như vậy xuất hiện thường xuyên như một thứ mẫu tổng quát trong phép tu từ của thơ Nguyễn Quang Thiều.

Trong chuỗi diễn giải nói đến trên đây, dạng thức khái niệm đó tạo nghĩa cho các sự kiện mô tả trước đó, hay có thể nói là định nghĩa các sự kiện đó – điều mà tác giả đưa ra ngay từ đầu: “Trong những năm tháng nằm bất động, bà tôi … bắt đầu tự ý thức về mình”. Theo cách diễn giải của trình thuật này, ta có thể đánh dấu bằng (=) giữa những sự kiện soi gương, kể liên miên, với “tự ý thức về mình”; cũng như vậy giữa sự kiện kể liên miên với “dựng lên một cách sống động nhất lịch sử của mình”; và theo trình tự logic, “tự ý thức về mình” = “dựng lên một cách sống động nhất lịch sử của mình”.

Như vậy, sự phát triển một kết hợp các lập luận diễn giải với các hình ảnh mô tả có thể thấy trong trình thuật nêu trên tuân theo một cú pháp xắp xếp và chuyển các sự kiện thành dạng thức khái niệm mà đích đến là chuyển hóa chúng sang “hiện thực của một bài thơ”, mà trong câu chuyện của bài tựa này cũng là chuyển chúng thành hư cấu – một hiện thực của tưởng tượng – khi tác giả kể rằng nhiều lần sau khi bà anh mất, anh vẫn trở lại căn buồng đó để cảm nhận sự hiện hữu của bà, “Hiện hữu này không phải là hiện thực của thể xác mà là hiện thực tinh thần của bà tôi.”; hiện thực đó “luôn chuyển động và sinh nở, và biến ảo.”

Lưu ý đến thực trạng là trong hầu hết những bài thơ của Nguyễn Quang Thiều điểm phát xuất đều từ các mô tả sự kiện sự vật tình trạng hay nhân vật và điểm đến bao giờ cũng là một hiện-thực-của-tinh-thần, có thể nhận xét lớp mô tả đó mang một vai trò chức năng như là đối tượng của quá trình chuyển hóa bằng thơ.

Thơ của tác giả này hầu như không bao giờ có cấu trúc ngâm vịnh thù tạc hay cảm thán; anh không mượn hình ảnh sự vật sự kiện để “nói lên” lòng mình hay gửi gắm điều này nọ kia hay biến chúng thành các hình ảnh ngụ ý, cũng không giãi bày các hồi tưởng với tình cảm, mà hầu hết là đưa chúng vào các trình tự của chiêm nghiệm diễn giải mà ở đây anh gọi là sự “tự ý thức” . Như vậy, con đường của thơ này khác với kiểu thơ “dĩ ngôn chí”, cũng không theo các cấu trúc “tỉ” hay “hứng” hay “phú” mà thơ ca xưa truyền lại cho thời nay ứng dụng một cách tự do. Tuy nhiên cú pháp truyền thống biểu hiện chặt chẽ trong thơ niêm luật cũ không hoàn toàn mất đi hay mất tác dụng. Cú pháp Đề – Thực –  Luận – Kết  đã hình thức hóa sự cấu tạo của biểu hiện thơ ca một cách hết sức khái quát. Và có thể thấy cái trình thức cấu tạo đó trong thơ Nguyễn Quang Thiều; cũng như trong bài tựa đang nói đến ở đây.

Phần thứ hai của bài tựa này chủ yếu là sự phát triển cái hiện-thực-tinh-thần, hay cái hiện thực tưởng tượng, “hiện thực của một bài thơ” – là kết quả chuyển hóa của các đối tượng mô tả ban đầu, thông qua trung giới của những dạng thức khái niệm biểu đạt sự chiêm nghiệm diễn giải – nói cụ thể là các mô tả về những gì tác giả trải nghiệm trong không gian căn buồng cũ sau khi người bà của anh đã khuất.

Đây là những mô tả ở cấp độ thứ hai; nếu coi những mô tả ban đầu về hồi ức những cảnh ốm đau, những phản ứng như soi gương, nói và kể liên miên, là cấp độ thứ nhất, trực tiếp của việc mô tả đối với thực tại, thì những mô tả ở cấp độ thứ hai này là trí tưởng tượng mô tả chính nó thông qua các hình ảnh của thực tại – đây là một phương thức mà theo đó người xưa dựng lên các cổ tích thần thoại, những truyện kể đã chuyển hóa cái hiện thực gọi là tự nhiên, bên ngoài vào bên trong không gian của văn-hóa-người, những truyện kể mà trong đó những tia sáng đem hình ảnh thực tại xuyên qua các lớp lăng kính vào đến võng mạc đã tụ lại thành một hình ảnh được tạo dựng, có chủ ý, không còn là một phản ánh đơn thuần.

Các mô tả ở phần này  là do tưởng tượng và diễn giải tạo nên, chẳng hạn như: “Tôi cảm thấy tôi đang lướt qua những khoảng tối trong nhà. Tôi ngửi thấy mùi dầu cao Con hổ bà tôi vẫn thường dùng và mùi nước tiểu tràn ngập căn phòng. Tôi thấy cả một con chấy đang cố lẩn vào đám tóc bạc và dày của bà tôi. Hơn thế nữa, tôi thấy đời sống của bà tôi sau khi chết mà có lúc tôi gọi đó là tương lai của những kết thúc.”[…] “Nhưng bố tôi, mẹ tôi, cô tôi không bao giờ thấy bà tôi sau khi chết như tôi thấy. Bởi vì họ đang giữ mối quan hệ với bà tôi bằng những kinh nghiệm. Còn tôi giữ bà tôi bằng trí tưởng tượng vô cùng hoang dại, và bằng những cơn mơ bất tận, đầy nhạc tính bởi sự va chạm của những đồ vật quen biết và gắn bó trong suốt tuổi thơ của tôi.”

Bạn đọc nào từng ít nhiều đọc thơ Nguyễn Quang Thiều hẳn có thể nhận ra ngay cái chất thơ xuyên suốt những đoạn văn như trên; thậm chí có lẽ nói được rằng vẫn cùng là một chất thơ ở các tập thơ đã biết; tức là cái chủ đề quán xuyến trong thơ anh nó dai dẳng, bao trùm và dường như không bao giờ thỏa mãn, không bao giờ ngần ngại trước cơ hội chiếm lĩnh một trường biểu đạt nào.

Trong hai trích đoạn trên, chức năng diễn giải và chiêm nghiệm rất rõ, nhưng trật tự cú pháp vẫn được tuân thủ từ mô tả sang diễn giải rồi chuyển hóa. Và quan trọng nhất, sự chuyển hóa này luôn luôn là chuyển hóa vào cái nhà thơ gọi là một “hiện thực của tinh thần”, với nét nhấn rất mang tính phong cách ở chỗ đó là cái “hiện thực” tương đương về mặt khả tính, về tính không-thời gian, về sự có thể hình dung và mô tả như với hiện thực bên ngoài.

Dạng thức khái niệm trong diễn giải ở phần này được thể hiện cũng đặc thù về phong cách ngôn từ như thế: “Trong trạng thái sợ hãi ấy, giọng nói bà tôi cất lên. Giọng nói được cất lên không với ý thức là để lưu giữ những điều kia, mà cất lên như sự kêu cứu trong phút giây tuyệt vọng nhất rằng toàn bộ con người mình sẽ bị hủy hoại.” Thao tác khái quát hóa này là rất quen thuộc trong phong cách thơ Nguyễn Quang Thiều mà người đọc sẽ thường xuyên gặp thấy: từ “giọng nói bà tôi” ở cuối câu trước sang “Giọng nói được cất lên” ở đầu câu kế tiếp dưới dạng chủ ngữ ẩn, tác giả đẩy cái giọng-nói-cất-lên thành một khái niệm đang vận động; và đó cũng là một thao tác chiến thuật để đưa trí tưởng tượng vào vị trí lợi thế khi trừu xuất một khái niệm từ một hình ảnh, dọn đường cho khái niệm đó gắn vào một hình ảnh khác nào đó mà tác giả kể đến như một kinh nghiệm riêng mình: “Qua giọng kể của bà tôi, một đời sống khác của những gì tôi đã từng biết hiện lên.”

Và rất quan trọng là cái sự hiện lên của những kinh ngiệm cá biệt, ngẫu nhiên, rời rạc thậm chí đôi khi đã xa lạ, cái sự hiện lên đó được mô thức hóa trong một câu có hàm ý rằng sự thể đó mang tính quy luật vì nó liên quan đến một hoạt động mang tính quy luật – hoạt động nhận thức: “…đời sống khác ấy đặt trước tôi một câu hỏi và tôi đi tìm câu trả lời đến kiệt sức mà chưa thấy, … Nhưng nó lại đặt tôi sang một nhận biết khác.” Nhận thức đó là một hoạt động chưa hoàn tất, song dạng thức khái niệm về nó đã mang quá trình chuyển hóa vào một viễn cảnh của sự hoàn mãn cánh chung, hoàn toàn có tính chất cảnh tượng, thực sự như là một thần thoại cổ tích: “Một đời sống đã hóa giải dục vọng của chúng ta. … Và kỳ diệu hơn, là trong thế giới trong suốt, hay trong cõi hư vô làm ta có thể chết vì khiếp sợ lại hiện lên một phong cảnh đầy đủ nhất.”

Như đã nói ở trên, theo tôi thì bài Thay lời tựa độc đáo này thật sự cung cấp một hình dung đầy đủ về cú pháp thơ của thơ Nguyễn Quang Thiều, tức là một chiếc chìa khóa cho việc giải mã thơ của anh. Tuy nhiên, dù rằng trật tự cú pháp có vai trò quan yếu trong sự cấu tạo tác phẩm thơ thì nó vẫn luôn luôn không phải là lời giải đáp về ý nghĩa tác phẩm, dẫu chỉ là giải đáp chung chung nhất. Nó đảm nhiệm vai trò một tấm biển chỉ đường. Nó không làm thay công việc của trí tưởng tượng đặc thù riêng có nơi mỗi người đọc tiềm tàng. Nó cũng có thể khiêm tốn nhắc nhở một cách phân câu hợp lý, một cách nhấn nhá hợp lý hơn trong cái biểu hiện một vẻ đẹp mà nó góp phần làm quy tắc nhận biết.

Rốt cục thì bài tùy bút này, theo tôi, cũng là một bài thơ trong khu rừng cổ tích của thơ Nguyễn Quang Thiều. Khác chăng thì không phải vì dạng văn xuôi của nó, không phải vì nó mạch lạc tính chất truyện kể hơn, mà vì cái cây này mọc ở một vị trí cao dễ nhận biết hơn và tập hợp một tiêu bản đầy đủ những tính chất nổi bật của cây cối trong khu rừng đó. Một trong những điều có lẽ nên nhắc lại, là dạng thức khái niệm trong ngôn ngữ thơ ở đây biểu đạt tính phức tạp của thực tại mà thơ ấy phải đối diện, và nếu chúng gây cảm giác trở ngại thì hẳn là chúng nói lên tính chất gai góc của con đường chuyển hóa thực tại mà thơ ca này dựng lên thành những cảnh tượng lớn lao.

30/12/2019

Nguyễn Chí Hoan

Theo https://vanhocsaigon.com/

Không gian đời tư trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

Không gian đời tư trong
truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

Xây dựng những không gian nhỏ hẹp, đồng thời lại cắt rời mối liên hệ giữa những không gian cá nhân ấy với không gian công cộng, Nguyễn Thị Thu Huệ kiến tạo những không gian “ốc đảo” giữa lòng đô thị, tồn tại biệt lập và tách rời mọi vang động xung quanh…

1. Trần Đình Sử đã định nghĩa: “Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại cùng thế giới nghệ thuật. Không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật nào không có một nền cảnh nào đó. Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sỹ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống”. Như vậy, không gian nghệ thuật là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống, mang ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật và là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật. Không gian nghệ thuật không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật. Vì vậy không thể tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại.

Không gian nghệ thuật là một biểu tượng chủ quan, ước lệ gắn với cách cảm thụ và quan niệm về thế giới của người nghệ sỹ. Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ hiện lên rất đa dạng và phong phú như: không gian xã hội, không gian gia đình, không gian đời tư. Trong đó, không gian đời tư được tác giả chú trọng thể hiện.

Nhờ có khoảng không gian đời tư nhân vật dễ dàng bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ và sự cô đơn trống vắng của mình trong cuộc sống hiện tại. Nhân vật Sao trong Giai nhân là một người khi còn trẻ đầy những ham muốn, cô đã từng thay người yêu như thay áo, đến khi tất cả những người đàn ông đều rời xa cô mới cảm thấy tiếc nuối và ân hận. Từ đây, cô cứ giam mình trong căn phòng kín để suy nghĩ, hồi tưởng về một thời vàng son và đối diện với nỗi cô đơn trong hiện tại. Trong căn phòng dường như tách biệt với thế giới bên ngoài, Sao quanh quẩn trong bốn bức tường và dọn dẹp lặt vặt, cô chờ tiếng điện thoại, khát khao có một tiếng gõ cửa của ai đó để biết rằng người ta vẫn nhớ đến cô nhưng tuyệt nhiên không có. Một mình trong không gian trống vắng, Sao nghĩ về quá khứ, hiện tại và tương lai của mình. Quá khứ càng huy hoàng bao nhiêu thì hiện tại và tương lai càng ảm đạm bấy nhiêu. Ngắm mình trong gương, đối diện với lòng mình Sao nhận ra “Sao bắt đầu già đi, bắt đầu cần một mái ấm gia đình vững chắc và ngay chính lúc này, cô thấm dần sự cô quạnh, lẻ loi” [1, tr. 469], giá như ngày ấy Sao biết trân trọng những gì mình có thì giờ đây cô không phải rơi vào tình cảnh đáng thương như thế.

Trở lại văn đàn năm 2012 với tập truyện ngắn Thành phố đi vắng, Nguyễn Thị Thu Huệ thường đặt nhân vật của mình trong những không gian cá nhân nhỏ hẹp. Sự xuất hiện hình ảnh những căn phòng mười bốn, mười sáu mét vuông hoặc rộng hơn là không gian của một ngôi nhà cổ với nhiều thế hệ, nhiều gia đình chung sống. Trái ngược với sự giãn nở đến chóng mặt của không gian đô thị chung, không gian cá nhân ngày càng teo tóp và bức bối. Trong không gian hẹp dễ va động và cọ xát này, trớ trêu thay con người cá nhân không tìm thấy sự an toàn và cảm giác ấm áp. Ngôi nhà đánh mất hàm nghĩa tổ ấm, chỉ đơn thuần là nơi trú ngụ của những thân xác rã rời. Với nhân vật Quang trong Chủ nhật được xem phim hoạt hình khi người yêu đã đi xa, không gian quen thuộc của anh là “Căn phòng mười bốn mét vuông, tầng xép của một khu nhà Pháp cổ” [2, tr. 231], không gian ấy là nơi để những chiều chủ nhật thừa thãi nằm nghiên cứu các chương trình tivi và luôn dừng lại ở phim hoạt hình. Với nhân vật nữ trong truyện ngắn Trong lúc ăn một bát phở gia truyền: “góc phòng mười hai mét vuông, không cửa sổ” [2, tr. 76] giữa một chung cư cũ là lựa chọn duy nhất cho ngày cuối tuần nếu không muốn ra đường và đối mặt với “bọn cướp chuyên nghiệp” có trang bị vũ khí. Đặt nhân vật của mình trong không gian nhỏ hẹp để gặm nhấm nỗi cô đơn, chán nản, qua đó độc giả nhận thấy xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống của con người đủ đầy về vật chất nhưng tinh thần họ lại cảm thấy bất an, vô vị và cảm nhận cuộc sống thật vô nghĩa.

Nhân vật chính trong truyện ngắn Thành phố đi vắng, trở về xứ sở thân yêu của mình sau ba năm xa cách nhưng tất cả đều vỡ òa trong sự thất vọng bởi cảnh vật vẫn như xưa nhưng tình người đã đi vắng. Cô chọn cho mình không gian là căn phòng khách sạn ngày xưa, nơi ở này cô cảm nhận rõ rệt những mất mát, đổi thay của tình đời, tình người và những mất mát khó gọi thành tên. “Ba năm qua rồi, giờ cô đứng một mình nơi cửa sổ, nhìn xuống đường. Sau lưng cô, trong phòng, không có những bức phác thảo rải kín mặt giường. Không quần áo bừa bãi vắt khắp nơi. Không có anh. Không có bia. Mùa hè nhưng lạnh. Giá vẽ mini gập nguyên dựng góc cửa. Bảng màu và những ống sơn gọn gàng im lặng chân giường” [2, tr. 275 – 276]. Nhốt mình trong căn phòng nhỏ, cô gái đã cảm nhận một cách sâu sắc sự đổi thay của cuộc sống phố phường. Trong môi trường sống ấy con người dường như chỉ biết sống cho bản thân mình và bàng quan với tất cả mọi thứ xung quanh. Điều đó sẽ dẫn đến sự thiếu vắng tình người, thiếu sự cảm thông chia sẻ giữa con người với nhau trong cuộc sống. Với lối viết trung tính, tác giả đã chuyển tải thành công cái mất mát trong cái đang tồn tại, cái trống trải lặng im trong cái ồn ào giữa cuộc sống nhộn nhịp, đông đúc.

Xây dựng những không gian nhỏ hẹp, đồng thời lại cắt rời mối liên hệ giữa những không gian cá nhân ấy với không gian công cộng, Nguyễn Thị Thu Huệ kiến tạo những không gian “ốc đảo” giữa lòng đô thị, tồn tại biệt lập và tách rời mọi vang động xung quanh. Dường như đời sống phố thị vốn ồn ã, náo nhiệt không vọng đến, không mảy may tác động đến những không gian cá thể này. Bằng trực cảm phụ nữ, Nguyễn Thị Thu Huệ nhận ra con người đô thị đang ngày một thờ ơ, xa lạ với không gian sống của chính mình. Với việc xây dựng không gian cá nhân nhỏ hẹp trong tập truyện Thành phố đi vắng, ở đó hình ảnh con người cá nhân hiện nên nhỏ bé, co ro thu mình trong xã hội hiện đại bởi họ luôn cảm thấy bất an trước cuộc sống thực tại. Qua đó, độc giả thấy được sự cảm nhận tinh tế của Nguyễn Thị Thu Huệ trước những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống và nhận thấy bước phát triển mới trong phong cách nghệ thuật của nhà văn.

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Thị Thu Huệ (2004), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, NXB Hội Nhà văn.

2. Nguyễn Thị Thu Huệ (2012), Thành phố đi vắng, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh.

31/12/2019

Đoàn Thị Lan

Theo https://vanhocsaigon.com/

Noam Chomsky: Những vấn đề về giáo dục và trí thức

Noam Chomsky: Những
vấn đề về giáo dục và trí thức

Noam Chomsky là một nhà ngôn ngữ học hàng đầu thế giới ở thế kỷ XX, đồng thời là một trí thức cánh tả Mỹ đã thực sự dấn thân bằng các hoạt động xã hội. Đọc công trình Nhận diện quyền lực của ông (Hoàng Văn Vân dịch, Đinh Hoàng Thắng hiệu đính, NXB Tri Thức, 2012) ta sẽ bắt gặp ở Chomsky những ý tưởng của một con người khai sáng, đặc biệt là khi ông thảo luận về những vấn đề giáo dục và trí thức trong xã hội hiện đại.

Giáo dục, theo một cách hiểu phổ biến (và theo nghĩa tích cực) là tất cả những hoạt động mà xã hội có thể làm để biến một con người tự nhiên thành một con người văn hóa, và đến một ngưỡng văn hóa nào đấy, anh ta được coi là một trí thức. Trong xã hội hiện đại, giáo dục phát huy công năng của nó một cách hiệu quả nhất là ở môi trường nhà trường, từ cấp tiểu học đến cấp đại học và sau đại học. Quốc gia nào có một triết lý giáo dục đúng, một chiến lược giáo dục đúng và một hệ thống các hoạt động giáo dục đúng, quốc gia ấy sẽ sản sinh những thế hệ trí thức ưu tú, thành nguồn nhân lực quý giá cho sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của cả một dân tộc. Thế nhưng, qua sự quan sát, trải nghiệm và đánh giá của Chomsky về giáo dục và trí thức, một trong những lý do khiến nước Mỹ trở thành siêu cường kinh tế là vì đó là quốc gia có những trường đại học danh tiếng hàng đầu thế giới như Harvard, Yale, Princeton, Columbia…?

Phải nói rằng đó là cái nhìn khá bi quan: “Các trường đại học không tạo ra đủ kinh phí để tự nuôi mình từ tiền học phí: chúng là những thể chế ký sinh cần phải được hỗ trợ từ bên ngoài, và điều đó khiến chúng phụ thuộc vào các cựu sinh viên giàu có, vào sự hợp tác, và vào chính phủ, các nhóm người có những lợi ích cơ bản giống nhau. Đấy, chừng nào các trường đại học còn phục vụ cho những lợi ích đó, thì chúng còn được tài trợ. Nếu chúng không phục vụ cho những lợi ích đó, chúng bắt đầu gặp vấn đề”. Với một môi trường đại học bị điều kiện hóa như vậy, người theo học sẽ được dạy những gì? “Dạy những cái hào nhoáng của xã hội: các bạn nên mặc kiểu quần áo nào, uống rượu porto như thế nào cho đúng kiểu, có một cuộc nói chuyện lịch sự như thế nào mà không cần phải nói về những chủ đề nghiêm chỉnh, nhưng tất nhiên lại phải thể hiện rằng các bạn có thể nói về những chủ đề nghiêm chỉnh nếu các bạn thiếu tế nhị khi thực sự nói chuyện, tất cả những thứ mà một người trí thức được cho là phải biết cư xử”.

Dĩ nhiên, chúng ta biết rằng sự đào tạo tại các trường đại học tinh tuyển ở Mỹ không hoàn toàn là khôi hài như thế, nhưng Chomsky cũng không phải không có lý khi thể hiện sự giễu cợt của mình. Ông từng xác tín: “Trách nhiệm của trí thức là phải nói lên sự thật, vạch trần sự dối trá” (tôi chắc rằng đây cũng là xác tín của tất cả những trí thức tử tế trên toàn thế giới). Thế nhưng, người trí thức Mỹ, sản phẩm đào tạo của các trường đại học danh tiếng tại Mỹ liệu có thể làm, có muốn làm và có được làm như vậy hay không? Câu trả lời là “Không”. Nếu là “Có”, thì anh ta buộc phải trả giá: hoặc bị vô hiệu hóa, bị từ chối được truyền bá tìm hiểu và nhận thức của mình về những sự thật đang diễn ra trong đời sống chính trị – xã hội trên các phương tiện thông tin đại chúng và các phương tiện xuất bản “chính luồng”, thậm chí còn nhiều điều tồi tệ hơn nữa. Vì, với một nhãn quan minh triết, một sự thâm nhập các kho dữ liệu (chính thống và không chính thống) kỹ càng và một tinh thần phê phán triệt để của người trí thức dấn thân chân chính, Chomsky đã nhận ra bản chất và động cơ trong chính sách nội trị và đối ngoại của giới chóp bu Mỹ (ít nhất kể từ sau Đại thế chiến II đến nay): chủ nghĩa nước lớn, sự bị điều khiển gần như tuyệt đối bởi các tập đoàn kinh tế và các công ty xuyên quốc gia, mục tiêu lợi nhuận tối đa của những người giàu trên cơ sở sự bần cùng hóa những người nghèo…

Chính bởi thế, trong Nhận diện quyền lực, Chomsky đã vạch trần sự cắt xén, sự bưng bít, thậm chí cả sự xuyên tạc sự thật trên các tờ báo (được coi là có uy tín) của báo chí Mỹ, như Washington Post, New York Times hoặc Wall Street Journal… và các công trình nghiên cứu chính trị – xã hội của nhiều học giả Mỹ, “những người bán mình ngay cả khi họ nghĩ họ đang làm một việc rất đúng”. Chomsky đã đặt lại vấn đề quan niệm về người trí thức trong đời sống xã hội, một quan niệm rất đáng để tham khảo khi mà chúng ta đang nỗ lực xây dựng một nền kinh tế tri thức, trong đó người trí thức đóng vai trò đầu tàu. Trí thức là gì? Là những người hoạt động trong các lĩnh vực tinh thần, là giới “cổ cồn trắng”, làm những công việc không dính đến lao động chân tay? Không hề! Đôi khi, thực tế là thường khi, đó chỉ là những công chức văn hóa, những nhân viên văn phòng, những cá nhân ăn lương để thao tác với đủ loại giấy tờ công văn sổ sách thừa thãi và vô bổ. Họ bị thao túng bởi những quyền lực hữu hình và vô hình, không sản sinh các ý tưởng, hoặc nếu có, thì cũng chỉ là những ý tưởng lặt vặt, chẳng hề giúp cho người ta có một cái nhìn đúng hơn, hoặc một cái nhìn khác đi nào đấy về thế giới và về cách mà thế giới đang vận hành. Tôi nói đã gặp Chomsky như “một người quen” chính là ở điểm này: tôi đã gặp không ít nhà báo (được mặc định là trí thức) mà chẳng hề làm báo một cách đúng nghĩa, không ít nhà nghiên cứu (được mặc định là trí thức) mà cả đời chỉ nói đi nói lại những điều “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” trong các đề tài nghiên cứu được nhận kinh phí từ ngân sách công.

Trong khi đó, không ít người hoạt động trong các lĩnh vực lao động chân tay (những người không được xã hội mặc định là trí thức) đã phải học và phải bỏ ra một lượng chất xám thậm chí còn nhiều hơn loại người kể trên để làm tốt công việc của mình, có ích đối với xã hội. Tỷ như những người thợ sửa chữa xe hơi: họ biết chiếc xe bị hỏng ở đâu và biết cách làm thế nào để nó vận hành trơn tru trở lại; để làm điều đó, họ phải học, phải đọc những cuốn sách mà có khi một nhà ngôn ngữ học khét tiếng thế giới cũng chẳng hiểu gì. Vậy ai mới thực sự là trí thức ở đây?

Câu chuyện giáo dục cũng vậy. Hình như cả thế giới này, Việt Nam cũng không hề là ngoại lệ, đều đang lớn tiếng than phiền về tình trạng đạo đức suy thoái, tỷ lệ tội phạm gia tăng, ma túy được sử dụng phổ biến trong giới trẻ, hiện tượng bạo lực và giết người lan rộng… Tất cả những điều nhức nhối ấy đều bị đổ lỗi cho giáo dục không đầy đủ. Không sai. Nhưng xin hãy đặt câu hỏi: tại sao những điều nhức nhối ấy đa phần xảy ra ở những nơi mà ta quen gọi là vùng sâu vùng xa, những vùng trũng về văn hóa và ít sinh lợi về kinh tế? Chomsky cũng liên tục đặt những câu hỏi tương tự như vậy: ở Mỹ, tại sao điều đó lại chỉ xảy ra ở những khu vực của người nghèo, những khu nhà ổ chuột, những khu của người da đen và người nhập cư gốc châu Á, Latin hoặc Đông Âu? Phải chăng đó là những loại công dân “ngu lâu, đần dai, khó đào tạo”, những “ngoan dân cố hữu từ trong trứng”, học mãi mà không thèm thuộc bài? Hay phải chăng đang tồn tại một thứ chính sách giáo dục chỉ chú ý đến chuyện giáo dục cho con em của những người có tài khoản lớn trong ngân hàng và bỏ qua đám dân đang phải vật lộn từng ngày để kiếm cái cho dạ dày được co bóp? Trong chuyện này, báo chí truyền thông có “cái tội” của nó. Chomsky cho chúng ta một ví dụ: tờ New York Times đăng bài viết nói về vấn đề “các gen tồi” đang lên ngôi ở nước Mỹ, và một phần của chứng cứ là điểm số các bài kiểm tra trí thông minh (IQ) đang giảm dần đều trong những năm gần đây, trẻ em học hành không tốt bằng ngày trước. Họ giải thích rằng: “Lý do là những người da đen, những người tiến hóa từ châu Phi, tiến hóa trong một môi trường khắc nghiệt, vì vậy mà họ tiến hóa theo cách mà những người mẹ da đen không nuôi dưỡng con cái họ – và đồng thời họ sinh sản nhiều, tất cả họ đều đẻ như gà. Hậu quả là nguồn gen ở Mỹ bị ô nhiễm, và hiện nay nó bắt đầu thể hiện trong điểm số của những bài kiểm tra được chuẩn hóa. Chẳng tin vào một thứ lý thuyết tiên nghiệm (và có vẻ hơi… bất lương) như thế, Chomsky nhận định: “Một người bình thường cũng có thể nghĩ rằng vấn đề đó có thể liên quan đến các chính sách xã hội đã đẩy 40% trẻ em ở thành phố New York xuống dưới chuẩn nghèo đói, nhưng vấn đề đó không bao giờ xuất hiện trên tờ New York Times”.

Trong Nhận diện quyền lực, ngoài những vấn đề giáo dục và trí thức, Chomsky còn đề cập đến nhiều vấn đề khác, của toàn thế giới và của chính nước Mỹ. Tôi nhận diện con người khai minh của ông chính là ở điểm này và còn thêm một vài “thu hoạch” khác nữa. Thứ nhất, đó là sự ủng hộ cho niềm xác tín của một người bạn vong niên của tôi: thế giới này ngày càng trở nên xa lạ với con người, càng cố hiểu, ta càng không hiểu nổi nó. (Lấy ngay Chomsky làm ví dụ: phê phán tất cả các thể chế quyền lực hiện hành, song dường như ông cũng không trả lời được câu hỏi liệu có thể có cái gì đó tốt đẹp hơn sẽ thay thế chúng). Thứ hai, Alexis de Tocqueville (trong cuốn Nền dân trị Mỹ) đã sai khi cho rằng từ giữa thế kỷ XIX thế giới đã không còn khả năng sản sinh những nhân cách vĩ đại được nữa: vì sự xuất hiện của một nhà khoa học, một trí thức “quái kiệt” như Noam Chomsky ở thế kỷ XX đã quá đủ cho một lời phản biện. Thứ ba, thế giới này, nói như R. Tagor, mãi mãi sẽ chỉ là một “thiên đường xộc xệch”, nhưng hãy cố gắng làm cho nó bớt xộc xệch đi, và đó chính là thiên chức của những thế hệ người trí thức chân chính.

2/1/2020

Hoài Nam

Nguồn: THV/ ĐĐK

Theo https://vanhocsaigon.com/

Bửu Đình, nhà tiểu thuyết Nam Bộ

Bửu Đình, nhà tiểu thuyết Nam Bộ

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhận xét về văn chương của Bửu Đình như sau: “Văn chương của Bửu Đình thật trong sáng và xúc động không ngờ; phải xúc động và hay như thế nào thì nhà xuất bản Nam Cường (Sài Gòn) mới tái bản vào năm 1953.

Nhân đề tựa cho tập thơ Vĩ Dạ hợp tập của Tuy Lý Vương Miên Trinh, thám hoa Nguyễn Đức Đạt có đề cập đến ý niệm văn chương thượng thừa: là thứ văn chương dẫu buộc thêm chì cũng không chìm, dẫu bị chôn vùi dưới đáy rương mấy trăm năm người ta cũng đào lên để đọc. Văn chương của Bửu Đình có thể gọi là “văn chương thượng thừa” theo Thám hoa Nguyễn Đức Đạt” (23; tr.7).

Văn chương Bửu Đình là như vậy. Nhưng cho đến nay chúng ta biết chẳng bao nhiêu. Nhất là về tiểu thuyết của ông, chúng ta còn hiểu quá mờ nhạt. Trước tinh đó chúng tôi bắt tay vào việc nghiên cứu Bửu Đình.

Cho đến nay việc nghiên cứu Bửu Đình gần như chưa có gì. Gần như các nhà nghiên cứu đã viết về ông còn quá ít. Sau chúng ta xin điểm qua một số.

Trước hết là bài nghiên của ông Nguyễn Văn Y đăng trong tiểu thuyết Mảnh trăng thu, NXB Tổng hợp Tiền Giang, năm 1988. Trong bài Lời giới thiệu ông Nguyễn Văn Y đã nói tương đối đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông. Đúng như  lời ông khẳng định: “Trên nửa thế kỷ qua, kể từ khi Bửu Đình mất, cuộc đời và sự nghiệp của ông chưa được giới nghiên cứu văn học tìm hiểu cặn kẽ để dành cho ông một vị trí xứng đáng trong lịch sử  văn học nước nhà thời cận đại, mặc dù tên ông đã được ghi vào Từ điển văn học. Đã có hàng chục bài viết về Bửu Đình, nhưng thật tình mà nói, tất cả đều rất sơ lược, thiếu sót và hầu như phần đông chỉ nhắc đi nhắc lại những điều đã được nói đến nhiều lần với một ít sai lầm đáng kể.

Để phần nào giúp cho bạn đọc hiểu qua nhà văn Bửu Đình trước khi lần dở Mảnh trăng thuchúng tôi xin trình bày vắn tắt những nét chính yếu về cuộc đời và tác phẩm của ông, dựa vào các tài liệu tương đối chính xác mà chúng tôi đã mất nhiều năm mới sưu tầm được” (16; tr.5,6)

Tiếp theo là bài Bửu Đình, từ “tổ ấm quý tộc” đến trường học cách mạng của Hoài Anh trong sách Chân dung văn học, NXB Hội Nhà văn, năm 2001. Ở bài viết này, Hoài Anh đã nghiên cứu Bửu Đình theo tư cách là một tác giả. Theo ông, “Đời Bửu Đình là cuộc đời đấu tranh của một chiến sĩ cách mạng, ông không coi việc viết tiểu thuyết như một hoạt động dấn thân, mà chỉ viết trong khi “tạm nghỉ bước tung hoành” nơi nhà tù” (1; tr.202)

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có bài viết đăng trên báo Văn nghệ (số 34 ngày 21.8.2004) dưới nhan đề Bửu Đình, nhà văn thời khai sáng của văn học quốc ngữ Huế. Ở bài viết này, tác giả xây theo kiểu chân dung văn học. Theo ông, chân dung của Bửu Đình vào mấy điểm chính sau đây: “Dõi theo cuộc đời bi tráng của Bửu Đình, chúng ta có thể kết luận mấy điều như sau:

1. Bửu Đình được xem là đứa con nghịch tử của dòng dõi các vua Nguyễn. Ông bẩm sinh vốn thuộc dòng dõi chính thống so với đế hệ thi của vua Minh Mạng xếp đặt truyền ngôi. Điều oái ăm là Bửu Đình đã tìm mọi cách xoá bỏ “số phận Hoàng thân” của mình, đến mức coi mình như kẻ thù của chính mình. Đó là tâm trạng của một người chán ghét cung đình trong thời kỳ các vua Nguyễn dần dần trở thành tay sai mạt hạng của thực dân Pháp, và mục tiêu trước mắt của ông là lật đổ chế độ quân chủ nhà Nguyễn. Ông buộc lấy họ mẹ, để rồi biến mất trong bão biển. Cuối cùng cái tên Bửu Đình vẫn được ông sử dụng như một dấu “hồng tuyết trảo” (dấu chân hồng đi trên tuyết) của kẻ sĩ xưa. Cuộc đời cho ta thấy có hai Bửu Đình trong một số phận: một Bửu Đình hoàng thân đã chết và một Bửu Đình nhà văn sống mãi muôn đời.

2. Cuộc chiến đấu của Bửu Đình phù hợp với mục tiêu lịch sử của giai đoạn đương thời. Chúng ta biết rằng Bửu Đình trở thành tù nhân bởi Nguyễn Phước Tộc vào năm 1927, đúng vào giai đoạn mà nhân dân Việt Nam tiến lên trong cuộc đời vận động thành lập Đảng. Cuộc chiến đấu của Bửu Đình là không cân sức trong cuộc đối đầu chống lại vua Nguyễn răm rắp tuân theo thực dân Pháp ném đá dấu tay. Ông đã huy động vào cuộc chiến đấu của ông hai thứ vũ khí thông dụng của cách mạng đương thời: nghề làm báo và hoạt động diễn thuyết. Ngược lại triều đình Nguyễn và thực dân Pháp đã bắt ông tù đày hết Lao Bảo đến Côn Đảo, trước khi biến mất trên mặt biển. Bửu Đình quả là con người tâm huyết, đứng bên cạnh nhân dân đến chết mới thôi, nêu gương cho hậu thế như một chiến sĩ bất khuất.

3. Các tác phẩm văn học của ông như Cậu Tám Lọ, Giọt lệ tri âm(thơ) và nhất là Mảnh trăng thuđều được viết trong lao tù, và được công bố trên đất liền, thông qua những con tàu vượt biển.

Văn chương của Bửu Đình thật trong sáng và xúc động không ngờ; phải xúc động và hay như thế nào thì Nhà xuất bản Nam Cường (Sài Gòn) mới tái bản vào năm 1953” (23,tr. 7).

Ngoài ra, còn nhiều bài khác nữa. Nhưng cách đánh giá cũng tương tự như các bài đã đề cập.

Bản chất của tiểu thuyết Bửu Đình vẫn là tính thế sự, vẫn là tiểu thuyết thế sự xoay xung quanh số phận đời tư của những con người trong cuộc đời thường chứ không phải là tiểu thuyết trinh thám. Đi sâu và hẹp hơn nữa, có thể định tính tiểu thuyết Bửu Đình là tiểu thuyết tình cảm. Tình yêu nam nữ là chủ đề chính bao trùm lên toàn bộ sáng tác của nhà văn này và cũng là cốt truyện của tác phẩm. Mảnh trăng thu được xây dựng dựa trên câu chuyện về mối tình của đôi trai tài gái sắc Minh Đường – Kiều Tiên. Thuộc thể loại tiểu thuyết tình cảm, tác phẩm của Bửu Đình được tạo nên trên chủ đề tình yêu nam nữ. Chủ đề này bao bọc và quán xuyến toàn bộ tác phẩm của ông, trở thành cốt truyện chính. Tình yêu và hạnh phúc lứa đôi chạy dọc tác phẩm của Bửu Đình như một sợi chỉ đỏ, mang những sắc thái, cung bậc đủ đầy và riêng biệt của nó.

Trước hết, có thể thấy tình yêu nam nữ trong tác phẩm của Bửu Đình chưa thoát khỏi những lễ nghi, đạo lý thời phong kiến. Nhân vật nam và nhân vật nữ trong ngòi bút của Bửu Đình khi đến với tình yêu vẫn đi theo những lề lối xưa, những lễ giáo xưa đã ngấm trong họ, mặc dù, những nhân vật này luôn là những người trí thức mới theo Tây học. Tình yêu nam nữ được dung hoà, bình ổn và luôn ở thế cân bằng trong vòng lễ giáo phong kiến truyền thống. Không chỉ dừng ở đó, tư tưởng lễ giáo phong kiến in đậm lên nhân vật và vẽ cả con đường số phận của họ. Kiều Tiên vì lời ước hẹn của gia đình với một người con trai khác mà đành đoạn tuyệt với Minh Đường để giữ trọn vẹn chũ hiếu và lời ước hẹn xưa. Như vậy, tiểu thuyết của Bửu Đình đã đi lùi một bước so với Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách trong quan niệm về tình yêu nam nữ. Mặc dù trong tác phẩm của Bửu Đình có tình yêu tự do nhưng tình yêu ấy sẵn sàng và dễ dàng quy thuận theo những lễ giáo phong kiến ngự trị suốt hàng ngàn năm trong tư tưởng con người. Trong Mảnh trăng thu và Cậu Tám Lọ có loé lên tình yêu của Kiều Nga đối với Thành Trai. Nhưng ở đây, tình yêu không có ý nghĩa kháng cự lễ giáo phong kiến mà chỉ dừng lại ở tình yêu loạn luân của hai người có cùng dòng máu. Điểm dừng thứ hai của mối tình này là tình yêu đơn phương, chỉ sinh ra và trú ngụ trong trái tim người con gái mà thôi. Và điểm dừng thứ ba là ở chỗ, chính tình huống truyện đã cởi bỏ tất cả tính chất loạn luân của mối tình ấy vì thực ra, Kiều Nga là cô gái mang thân phận bị đánh tráo và cô không phải là em gái của Thành Trai.

Điểm nổi bật trong việc xây dựng tình yêu nam nữ của ngòi bút Bửu Đình là nhà văn đã đi sâu vào khám phá những chiều kích tâm lý phức tạp của nhân vật. Màu sắc tình yêu trong tác phẩm của Bửu Đình hiện lên với toàn bộ nét hồn nhiên và tính cách bản thể của nó. Trong những trang văn của ông, ta bắt gặp nét bút thật trữ tình, sâu lắng khi vẽ bức tranh tâm trạng của nỗi tương tư, bức tranh của niềm nhung nhớ và cả của sự ghen tuông rất thường tình của tình yêu.

Ngòi bút Bửu Đình đã sử dụng nhiều phương thức nghệ thuật để khắc hoạ bức tranh tâm lý nhân vật. Có khi, nhà văn miêu tả tâm trạng nhân vật qua hình dáng bên ngoài, từ dáng vẻ gương mặt, hình vóc mà gợi nên đường nét của tâm trạng. Cũng có khi tâm trạng nhân vật được thể hiện qua những cuộc đối thoại của các nhân vật. Sự thay đổi điểm nhìn trần thuật tạo ra trong tác phẩm một không khí sinh động, linh hoạt, ngôn ngữ phong phú, giọng văn uyển chuyển và đồng thời, bức tranh tâm lý được khắc hoạ dưới nhiều góc độ, bằng nhiều màu sắc khác nhau.

Màu sắc trinh thám trong tiểu thuyết Bửu Đình in đậm ở tình huống truyện còn ở tình tiết truyện thì màu sắc này không rõ nét như các tác phẩm trinh thám. Bao giờ Bửu Đình cũng xây dựng tác phẩm dựa trên tình huống có tính vụ án. Một vụ giết người, một vụ mất cắp…, tình huống truyện này thành cái khung bọc quanh tác phẩm và toàn bộ cốt truyện được triển khai theo tình huống ấy để hướng đến mục đích cuối cùng là “phá án”. Thế nhưng, so với những tác phẩm trinh thám khác thì tính trinh thám của Bửu Đình chỉ dừng lại ở mức độ khởi đầu. Tình tiết của tiểu thuyết Bửu Đình không đạt đến độ chín muồi của nghệ thuật tiểu thuyết trinh thám. Đa phần các tình tiết không mang tính suy luận điều tra dựa trên chứng cứ mà tình tiết truyện được triển khai dựa trên sự ngẫu nhiên tình cờ. Ngẫu nhiên mà người đi điều tra gặp được nhân chứng, ngẫu nhiên mà người lần theo dấu vết bắt gặp chứng cớ hay phát hiện ra sự thật… Đến ngay cả nhân vật thám tử cũng mang tính chất “nghiệp dư”. Các nhân vật của Bửu Đình không phải là những thám tử chuyên nghiệp mà họ là những người có mối quan hệ khắng khít với những người có liên can đến vụ án. Những cuộc gặp gỡ tình cờ thúc đẩy cốt truyện phát triển, để lộ dần những yếu tố bí ẩn phơi ra ánh sáng của sự thật.

Thế nhưng, vì là tiểu thuyết ra đời trong những buổi đầu, những sáng tác của Bửu Đình có những giá trị riêng trong sự đóng góp về mặt nội dung và nghệ thuật của thể loại tiểu thuyết để tạo ra sự ra đời của tiểu thuyết và cũng để thúc đẩy tiểu thuyết phát triển. Ở thời điểm ấy, tạo ra một tình huống tiểu thuyết hấp dẫn, đầy sức lôi cuốn với nhiều tình tiết éo le, uẩn khúc và viết theo lối viết trinh thám như Bửu Đình quả là một bước đột phá lớn. Chính vì vậy mà theo ý kiến đánh giá của độc giả, trong khi Truyện Kiều  đứng thứ 1 thì  Mảnh trăng thu đứng thứ 6. với giọng văn chân chất, gần gũi, ngôn ngữ giản dị, gần với ngôn ngữ của ngưới bình dân, lối dẫn dắt chuyện linh hoạt và nghệ thuật phân tích tâm lý tinh tế, Bửu Đình đã thực sự cuốn hút được người đọc vào những trang viết của ông, nhất là vào thời điểm những quyển tiểu thuyết đầu tiên mới ra đời.

Tính chất trinh thám còn được thể hiện ở nghệ thuật miêu tả sự xuất hiện của nhân vật. Bửu Đình cho nhân vật xuất hiện một lần. Sau đó, ở những lần xuất hiện tiếp sau, nhà văn luôn tạo một nét sắc thái bí ẩn với hành tung bí mật rồi sau đó mới để lộ danh tánh của nhân vật. Việc miêu tả sự tái xuất hiện của nhân vật như thế tạo nên tính chất bí ẩn và gợi nên trong người đọc sự tò mò thích thú, cảm giác phiêu lưu mạo hiểm, sự hồi hộp chờ đợi. Kiều Tiên xuất hiện trong vai một người đàn bà bí mật: “Trong lúc tắt đèn, nghe sau lưng có tiếng hỏi rất dịu dàng, chàng giựt mình xây lưng lại ngó thì thấy có một người đàn bà trùm khăn đen, mặc áo quần đen vịn tay lên lưng ghế sau, dòm vào trong lô. Người đàn bà ấy thấy Thành Trai thì ra dáng e lệ, không hỏi nữa, lật đật lui ra như hỏi lầm ai” (tr. 28,Mảnh trăng thu). Khi tạo dựng tình huống cuộc gặp gỡ ngoạn mục giữa Thành Trai và Minh Đường với các tình tiết gay cấn, hồi hộp như tình tiết Minh Đường bắn thủng lốp xe của Thành Trai giữa đường và cuộc đột nhập của Thành Trai vào phòng trọ của Minh Đường vào giữa đêm khuya khiến Minh Đường đâm Thành Trai bị thương, Bửu Đình đã khiến cho Thành Trai trở thành một nhân vật “mai danh ẩn tích”, hiện ra trong cái vẻ bí hiểm, tạo không khí mang đậm chất trinh thám. Lối xây dựng sự tái xuất hiện của nhân vật như thế có nét giống với việc miêu tả sự xuất hiện của nhân vật trong Tam quốc chí diễn nghĩa hay như trong các tiểu thuyết cổ điển chương hồi khác của văn học Trung Quốc.

Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Bửu Đình cũng là một sự phát hiện mới trong việc miêu tả thời gian trong văn học. Nếu như ở Tố Tâm, Hoàng Ngọc Phách không xây dựng dòng thời gian một chiều mà đã có dòng thời gian hai chiều, dòng thời gian hồi tưởng của tâm tưởng thì Mảnh trăng thu cũng thế. Bửu Đình không để cho thời gian chảy theo một hướng từ hiện tại đến tương lai mà bẻ vòng thời gian, đi từ hiện tại đến quá khứ rồi quay trở về hiện tại để thúc đẩy dòng cốt truyện phát triển. Không xây dựng thời gian hồi tưởng như Tố Tâm, Mảnh trăng thu đưa thời gian quá khứ vào lời kể của nhân vật trong nhật ký. Do đó, trong Mảnh trăng thu không có sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại, không có độ dừng của dòng hồi tưởng để quay trở về hiện tại như Tố Tâm mà tác giả cắt lớp tác phẩm của mình, để quá khứ chảy hết dòng chảy cho trọn vẹn rồi mới đưa tác phẩm quay trở về hiện tại. Yếu tố thời gian nghệ thuật đa chiều này vừa tạo ra cho tác phẩm chất bí ẩn, huyền ảo, kì bí của tiểu thuyết trinh thám, vừa tạo nên sự chuyển dời điểm nhìn trần thuật từ ngôi thứ ba sang ngôi thứ nhất.

Tóm lại, nhìn từ phương diện thể loại, tiểu thuyết của Bửu Đình là tiểu thuyết tình cảm mang màu sắc trinh thám. Đó là màu sắc riêng của Bửu Đình khi đặt bên cạnh tiểu thuyết tâm lý của Hoàng Ngọc Phách hay tiểu thuyết thế sự của Hồ Biểu Chánh. Mặc dù còn có nhiều hạn chế về mặt nội dung và nghệ thuật, nhưng đặt trong cái nhìn mang tính chất lịch sử, ngòi bút tiểu thuyết của Bửu Đình đã có những đóng góp vô cùng quan trọng đối với sự ra đời của tiểu thuyết, góp phần hoàn chỉnh diện mạo và sắc màu bức tranh tiểu thuyết Việt Nam trong buổi đầu. Đồng thời, viêc tìm về nghiên cứu những tác phẩm văn xuôi Nam Bộ thời kỳ đầu đã tạo ra sự thẩm định và khôi phục lại những giá trị văn học bị lãng quên.

Thư mục tham khảo:

1. Hoài Anh - Bửu Đình, in trong sách Chân dung văn học, NXB Hội Nhà Văn, 2001.

2. Nguyễn Kim Anh - (Chủ biên) Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, NXB ĐHQG TP. HCM, năm 2004.

3. Bửu Đình - Bạn hiền khó kiếm, truyện vừa, Đông Pháp thời báo, từ số 12 (4/6/1923) – 21 (27/6/1923).

4. Bửu Đình - Gái đâu có gái lạ lùng, tiểu thuyết, Nam Kỳ kinh tế báo, từ số 15/1 (15/11/1923) – 15/3 (29/11/1923).

5. Bửu Đình - Cười ra nước mắt, tiểu thuyết, Nam Kỳ kinh tế báo, từ số 15/6 (20/12/1923) – 15/14 (21/2/1924).

6. Bửu Đình - Nghĩa tình khẳng khái, Nam Kỳ kinh tế báo, từ số 15/1 (15/11/1923) – 15/14 (21/2/1924), chưa hết.

7. Bửu Đình - Nỗi mẹ tình con, tiểu thuyết, nhà in J. Nguyễn Văn Viết, Sài Gòn, 1924.

8. Bửu Đình - Vay trả lẽ trời, đoản thiên tiểu thuyết, Tân thế kỷ số 8 (12/12/1926).

9. Bửu Đình - Giọt lệ tri âm, trường ca, Tân thế kỷ, từ số 10 (16/11/1926) – 41 (22/12/1926).

10. Bửu Đình - Giọt nước chung, đoản thiên tiểu thuyết, Tân thế kỷ số 45 (28/12/1926).

11. Bửu Đình - Tấm lòng vàng đá, Tân thế kỷ, từ số 6(10/11/1926) – 49 (3/1/1927).

12. Bửu Đình - Mài một lưỡi gươm, tiểu thuyết, Tân thế kỷ từ số 24 (2/12/1926) – 56 (10/1/1927), chưa hết.

13. Bửu Đình - Trần Kim Quyên hay Tình là dây oan, tiểu thuyết, Tân thế kỷ từ số 50 (4/1/1927) – 60 (14/1/1927), chưa hết.

14. Bửu Đình - Trọng nghĩa thù thâm, tiểu thuyết, báo Kỳ lân từ số 31 (27/10/1928) – 63 (5/3/1929), chưa hết.

15. Bửu Đình - Một thiên tuyệt bút trường hận, Công luận báo số ra ngày 17/8/1931 đến ngày 12/9/1931.

16. Bửu Đình - Mảnh trăng thu, NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1988.

17. Bửu Đình - Cậu Tám Lọ, NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1988.

18. Nhiều tác giả - Mục từ Bửu Đình trong sách Từ điển văn học, tập 2, do Huỳnh Lý viết, NXB Khoa học xã hội, 1984.

19. Nhiều tác giả - Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, tập II, NXB TP.Hồ Chí Minh.

20. Nhiều tác giả - Tổng hợp văn học VN, tập 26, NXB KHXH, 1990.

21. Bùi Đức Tịnh - Bước đầu tìm hiểu báo chí quốc ngữ và tiểu thuyết Nam Bộ, NXB TP.Hồ Chí Minh.

22. Nguyễn Quang Thắng - Tiến trình văn nghệ miền Nam, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh.

23. Hoàng Phủ Ngọc Tường - Bửu Đình, nhà văn thời khai sáng của văn học quốc ngữ Huế, Báo Văn Nghệ số 34 ngày 21.8.2004.

2/1/2020

Lê Tiến Dũng - Hồ Khánh Vân

Theo https://vanhocsaigon.com/

Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy

Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy

Tôi xin kể bạn nghe một câu chuyện tình lãng mạn của đôi trai gái quê ở dưới xuôi, vùng đất chiêm khê mùa thối Nam Hà. Họ vừa đến tuổi trăng tròn, vừa mới yêu nhau thì chàng trai nghe theo tiếng gọi của đoàn thể lên đường tòng quân đánh Pháp.

Sau khi thắng trận Điện Biên lẫy lừng, chàng trai ấy về quê lấy vợ. Thời cuộc đã đổi thay, một lần nữa chàng trai lại nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ chức, đã đưa nàng cùng xung phong lên miền núi “vời vợi nghìn trùng” xây dựng quê hương mới tại vùng đất này, đôi vợ chồng trẻ đã sinh hạ được ba người con, hai trai một gái. Cô con gái út èo uột, mẹ thì thiếu sữa, con thì đêm đêm khóc ngằn ngặt “dạ đề”, còn người cha thì vì mải mê công tác, suốt ngày, suốt tháng, suốt năm trên đường rừng chở gỗ về xuôi, chở muối gạo từ xuôi lên núi…

Tiếng khóc của cô bé còi cọc ấy lan vào rừng núi, đến với bản làng người Mông và những bà mẹ trẻ người Mông đã vào Lâm trường cho cô bé bú. Cô bé lớn lên trong vòng tay của chi đoàn lâm trường, với dòng sữa của những bà mẹ Mông nơi núi rừng thâm u yêu dấu kia, và sau đó cô được cắp sách đến trường. Cô nói được tiếng địa phương, ăn được mèn mén (tất nhiên) và, cô đã ăn được cả cái văn hoá vùng cao từ thuở lọt lòng để đến bây giờ chúng ta có được cô: ấy là nhà văn Đỗ Bích Thuý.

Đó không phải là sự ngẫu nhiên.

Thực ra cũng chẳng có gì đặc biệt, vì thời thế, thế thời phải thế.

Tôi được đọc những truyện ngắn đầu tiên của Đỗ Bích Thuý khi cô còn học ở trường báo chí gửi tới dự thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội mà hồi đó tôi là biên tập viên, là thành viên ban sơ khảo. Hình như đó là hai cái truyện đầu tiên của Đỗ Bích Thuý, và cũng là hai truyện cuối cùng của cuộc thi: “Sau những mùa trăng” và “Đêm cá nổi”. Chùm truyện gửi tới sau cùng ấy đã chinh phục ban chung khảo ở “phút 89”, khi mà giải nhất “suýt nữa” đã thuộc về chàng trung uý trẻ Nguyễn Đình Tú có văn phong chỉn chu sạch sẽ…

“Sau những mùa trăng” là câu chuyện tình đặc sắc giàu chất lãng mạn, thơ mộng mà cũng quyết liệt của đôi trai gái người Mông. Không phải của đôi trai gái mà là của những người con trai những người con gái Mông bản Vần Chải. Cuộc sống và tình yêu của họ được tác giả là người trong cuộc cùng chia sẻ, tạo cho người đọc cùng ùa vào sống chung một không gian văn hoá Mông hết sức đáng yêu, hết sức gần gũi, thân thuộc, cùng các nhân vật và cùng tác giả nhập cuộc với những gì đã và đang diễn ra trên nương, ngoài bến sông, dưới chân vách đá, cùng quả còn ngày hội, tiếng khèn lá đêm trăng, tiếng ngựa hí, tiếng quẫy của cá vật đẻ, đêm rừng đá, rừng cây, đêm bên khung cửi dệt vải và tiếng xay lúa ù ù của người chị dâu goá chồng, cảnh sinh hoạt của người Mông trong những căn nhà tường chình đất bao đời trong thung lũng đá…

Đỗ Bích Thuý có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của người miền cao một cách tài tình. Không truyện nào là không kể về cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn nết ở và cả cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán. Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù tác giả không hề cố ý đưa vào những chi tiết lạ. Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có. Con bìm bịp uống rượu cùng lão già say thuốc phiện. Đêm nào hai “nhân vật” ấy cũng cùng uống cùng hút và cùng say… Chàng trai si tình đêm đêm ngồi trên phiến đá gần nhà cô gái đợi trăng lên. Trăng lên cùng với tiếng khèn lá, một đêm, hai đêm, ba bốn năm đêm, bảy đêm…chín đếm. Lá chất lên đầy phiến đá mà người tình vẫn không ra khỏi nhà… Thú thực đọc xong tôi cứ ngẩn ngơ vì sự tinh tế và vẻ đẹp “hoành tráng” của đêm miền cao, của cái sự yêu đương gian truân mà quyến rũ, của sự vật mình sinh nở của thiên nhiên, của tình yêu thiên nhiên, tình cảm sâu nặng đầy huyền hoặc của những con người bình dị. Dường như họ chính là hiện thân của thiên nhiên. Thiên nhiên và con người hoà quyện vào nhau tạo nên vẻ đẹp thần kỳ. Đỗ Bích Thuý viết về mình, về chính cái sự trở về của mình.

“Nửa đếm. Tôi giật mình tỉnh dậy mới biết là mình mơ. Tôi cảm thấy có ai đó mơn man những ngón tay mềm lên mặt mình. Ra là ánh trăng. Trăng cuối tháng lên muộn, mới đang chỉ lấp ló trên đỉnh Thúng Khiếu, lọt những tia sáng ngả xanh trên vách nứa. Gió vẫn rít lên khe khẽ, trăng càng sáng thì trời càng thêm lạnh. Mùi thuốc nam còn tươi bà tôi đem phơi sương bay vào dễ chịu….

Giữa sân, bếp lửa vẫn còn ấm sực nhờ hai gộc củi chụm vào nhau đang ngun ngún cháy không thành ngọn. Trong gia đình người Tày lửa không bao giờ được tắt. Khi nào bếp không có lửa ắt là điềm gở. Người già chọn con dâu, chỉ cần nhìn cách chụm lửa, cách đun bếp là đủ biết có khéo có đảm hay không” …

Rồi:

 “… Ở rừng, mùa mưa thường đến sớm. Trên này mưa chán chê rồi mà dưới xuôi có khi vẫn còn khô hạn. Trước mùa mưa, cua bò lổm ngổm từ suối lên, sáng ra thấy cua bậu kín cả chân cầu thang, ấy là lúc ngô lúa, đậu lạc phải mau mau mang về. Biết vậy mà hầu như năm nào cũng có những thửa ruộng chưa kịp thu hoạch chỉ vì con lũ tràn về nhanh quá…” (Đêm cá nổi).

Những đoạn văn hay như thế, giản dị như thế tràn ngập trong tập truyện ngắn “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá” của Đỗ Bích Thuý.

Với Đỗ Bích Thuý truyện ngắn không nệ đề tài. Tôi ngỡ ngàng khi đọc xong truyện ngắn “Cột đá treo người” viết về thời trước cách mạng, thời mà các lý trưởng là trung tâm của làng quê Việt Nam, kể cả miền xuôi lẫn miền ngược. Không phải bằng cốt truyện éo le hai anh em sinh đôi ở bản nọ, con một nông dân truyền đời nợ nhà lý trưởng, phải làm con ở gán nợ, rồi cùng yêu một nàng May hay Mảy nào đó, rồi anh một ngả, em một nơi… Đây là câu chuyện kể về cây cột đá có thật ở Đồng Văn, về một anh Vàng, anh Sàng ở trong bản người Mông có thật. Họ chỉ cần làm trái ý lý trưởng là bị hắn đem treo lên cột đá cho quạ rỉa! Trời ạ! Thân phận con người không bằng con vật… Vậy muốn làm người thì phải vùng lên thôi. Và nếu vùng lên không được thì phải trốn vào rừng làm phỉ. Vâng. Làm thổ phỉ! Câu chuyện được Đỗ Bích Thuý dựng lại không bằng sự gồng mình ôn nghèo kể khổ, không bằng nỗi uất ức hận thù. Nó được viết ra, kể ra như nó đang diễn ra. Nặng nề. Kinh khiếp. Như cái thời đen tối kinh khiếp ấy vừa diễn ra vậy.

Tôi có cảm giác Đỗ Bích Thúy còn quá nhiều điều để viết về miền rẻo cao xa xôi nhưng gần gũi, tuyệt vời đẹp ấy của đất nước ta. Tôi cũng là người mê viết truyện ngắn và mê cao nguyên đá kỳ vĩ Hà Giang, nhưng đọc truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, tôi thực sự ngả mũ… chào thua! Dẫu đây mới chỉ là mở đầu. Một mở đầu mơ ước của một nhà văn.

Cùng với Nguyễn Ngọc Tư ở Nam bộ, viết về vùng quê Nam bộ. Ở miền cao cực Bắc, Đỗ Bích Thúy xuất hiện với hàng loạt truyện ngắn viết về miền cao Hà Giang. Truyện nào của Đỗ Bích Thuý cũng đem đến cho ta một cảm giác mới, một vẻ đẹp mới, giàu bản sắc của một vùng đất văn hoả vừa huyền hoặc vừa rất cuộc đời.

3/1/2020

Trung Trung Đỉnh

Theo https://vanhocsaigon.com/

Nỗi cô đơn bản thể trong thơ Hoàng Việt Hằng

Nỗi cô đơn bản thể
trong thơ Hoàng Việt Hằng

Nỗi khắc khoải yêu thương trong trái tim của người đàn bà làm thơ dường như không có giới hạn. Và với sự tinh tế của một tâm hồn giàu tình yêu thương, sẵn sàng mở lòng chia sẻ, cảm thông cùng những thân phận đau khổ, bất hạnh, Hoàng Việt Hằng đã nhìn sâu vào mỗi sự việc, hiện tượng của đời sống, đọc thấy đằng sau đó bao uẩn khúc, đắng cay, ngang trái của con người…

1. Không phải ngẫu nhiên Hoàng Việt Hằng lấy tên bài thơ Em đã đốt thơ tình anh tặng đặt tên cho cả tập thơ. Người đàn bà cô đơn đến mức “không hiện vật/ không bảo tàng lưu giữ/ em chẳng có gì/ cả câu thơ cũ/ ngoài mưa phùn gió bấc đem theo” liệu có “đốt” nổi thơ tình!? Câu hỏi mới nghe tưởng chừng giản đơn mà suy nghĩ kỹ lại không hề đơn giản chút nào.

Không ai có thể tự vò nát trái tim mình, nhất là một trái tim đang yêu và dám vượt lên mọi trở lực để bảo vệ sự tồn sinh của tình yêu thì lại không thể đốt thơ tình được tặng. Bởi những bài thơ tình ấy nó không chỉ là một văn bản với những ngữ ngôn vô hồn mà nó là một diễn ngôn tình yêu chứa đựng trong đó những hoài niệm, những ký ức chất chứa bao yêu thương. Có lẽ đó chỉ là cách nói hình tượng để khẳng định bản lĩnh của người đàn bà dám dấn thân, dám vượt lên nỗi đau để yêu và sống trong tột cùng của nỗi cô đơn bản thể.  Chị sống với tinh thần như “thác lũ” đổ về, tình cảm với con người và cuộc đời luôn cuộn cuồn dâng trào trong trái tim nồng cháy của chị…do vậy, dù chị có chối bỏ, có nói lời “buông”, dù muốn “xóa”, muốn “đốt” thì cuối cùng người đọc vẫn nhận ra trong thơ chị, một Hoàng Việt Hằng đắm đuối, thiết tha yêu thương không chỉ tận hiến với người mình yêu mà còn với bao phận số của những con người nghèo khổ bất hạnh. Cho nên dù viết về điều gì, cuối cùng điều sâu lắng trong tập thơ Em đã đốt thơ tình anh tặng là những khắc khoải trước nỗi đau phận người.

2. Với 61 bài thơ đong đầy những suy ngẫm về cuộc đời, tập thơ Em đã đốt thơ tình anh tặng, Hoàng Việt Hằng chuyển tải nhiều thông điệp khác nhau trước thế sự nhân sinh. Thi nhân bộc bạch cảm xúc một cách mộc mạc, chân tình xung quanh thế giới hiện thực mà chị cảm niệm được: Thả bước dưới quê nhà, Nước mắt của sống còn, Mắt biếc, Mai vàng nghe cau rụng, Nỗi tha hương, Lá phong đỏ trong rừng phong đỏ, Người mẹ Quảng Bình, Chiếc đồng hồ đã cũ, Thác, Bước chậm ở Hoàng Liên, Giếng đất ở quê ngoại, Ký ức của Tết cũ, Trái tim thác lũ, Bên suối Yến, Không có quê để về, Sau di chúc, Mùa lá đổ… Thi giới trong thơ Hoàng Việt Hằng, vì thế, khá phong phú, đa dạng và người đọc dễ dàng tri nhận nhiều cung bậc cảm xúc trào dâng trong thơ chị.

Với quá trình nghiệm sinh sâu sắc, Hoàng Việt Hằng thấu hiểu sinh ra trong cõi đời, mỗi người dều có một “nhân vị”. Nhưng để khẳng định “nhân vị” của mình là việc không dễ dàng. Thế nên, chỉ khi tự vượt qua giới hạn chính mình để đạt đến độ “an nhiên” mới có thể  “thả bước dưới quê nhà” để “mai vàng nghe cau rụng”. Và với trái tim nhạy cảm, với tâm thế thư thái, tự tại của một thi nhân, Hoàng Việt Hằng đã “nghe” được rất nhiều âm thanh trong bộn bề cuộc sống, thấu được muôn vàn chuyển động lan tỏa trong vạn vật, thiên nhiên, con người… Phương châm sống chậm, “không chạy đua cả với chính mình” để cảm nhận  “chiều chiều nghiêng giọt nắng xuống vai/ ánh nắng xiên về sân sau rơm rạ/ nơi bờ rào vách đất có giọt gianh/ … dưới mai vàng, cau rụng quanh sân/ ” (Mai vàng nghe cau rụng) – đó là một chọn lựa hiện sinh của người cầm bút và đó phải chăng cũng chính là nhân cách, bản lĩnh sống của người thơ?! Ra đời trên nền tảng của tư tưởng nhân văn, thấm nhuần tinh thần bao dung, vị tha, nhân ái, rũ bỏ mọi “sân si” “không khát vọng, được thua, không cố chấp/ chỉ lên chùa học thở với nghe kinh”, thơ Hoàng Việt Hằng thực sự là nỗi khắc khoải từ một niềm cô đơn bản thể  của chính thân phận mình và cho những người mà chị yêu thương đến đau đớn, xót xa…

Đọc thơ Hoàng Việt Hằng, ta thấy rất rõ hình ảnh một người đàn bà cô đơn như một định mệnh – cô đơn đến mức phải yêu chính mình. Hoàng Việt Hằng yêu thương mình bằng cách nào? Trước hết ta bắt gặp trong thơ chị một người đàn bà biết trân quí bản thân, biết chăm mình, lo toan mọi việc, lúc khóc, khi cười, tự cho mình những giây phút “sống chậm” khi rong chơi “trên mọi ngã đời” và có khi lại “thả bước dưới quê nhà” để nghe “hơi thở xa của đất”. Nhưng bao trùm lên mọi cảm thức trong thơ chị vẫn là sự ám ảnh của một nõi cô đơn thân phận: dặn mình tha thủi sớm trưa/ bóng mình, bóng tường, thôi nhé (Đi thăm bạn).

Tập thơ, hiện lên hình ảnh người đàn bà, dù sống trong tận cùng của nỗi cô đơn đã vượt qua những đoạn trường khốn khó, và bằng chính nghị lực của mình thực hiện thiên chức của một người mẹ mà thượng đế đã ban tặng để nuôi những mầm sống được tạo nên từ vườn địa đàng tình yêu của mình – Một tình yêu kết tinh của tin yêu và lòng tự trọng: chỉ có nụ cười vương xanh xao/ em nuôi con qua cơn sốt ra vào/ xe cấp cứu mình em và con nhỏ/ nếu không có những ngày giông gió/ em chối từ để được cô đơn/ để leo núi nuôi địa đàng lan tím…(Người ấy). Một mình xây nhà/ một mình sinh nở/ một mình một thuyền trên cạn/ một mình đối mặt với vận hạn/ may ra còn câu thơ nằm lòng(…). Hình ảnh người mẹ đơn độc, chịu vất vả, nhọc nhằn, thiệt thòi, hy sinh hiện lên trong thơ của Hoàng Việt Hằng khiến chúng ta không khỏi không ngậm ngùi, chia sẻ, cảm thông. Song, có một sự khác biệt mà không phải trong thơ phụ nữ nào cũng có. Đó là, đằng sau sự cực nhọc, cô đơn tưởng như có thể gục ngã lại hiện lên hình ảnh một người phụ nữ can đảm, lạc quan và khao khát sống, khao khát yêu, khao khao tận hiến mà không hề có một sự tính toán, so đo như ta vẫn thường gặp trong cuộc sống đời thường. Trong thơ Hoàng Việt Hằng dường như không có chỗ cho sự yếu mềm, thở than như ta thường thấy ở những bài ca dao than than trong văn học dân gian. Đồng hành với chị có khi chỉ là “nửa ánh trăng trong”, song, chị vẫn nhẫn nại, âm thầm vững bước trên đường xa vạn dặm giữa chốn nhân gian: Số phận cho tôi gánh gồng nhẫn nại/ để đi biển rộng sa mạc cát dài/ để hiểu không thể tựa vào vai ai/ ngoài bờ vai của mình (Cùng nửa ánh trăng trong). Trong cuộc đời người đàn bà, nỗi bất hạnh lớn nhất là không có một bờ vai vững chãi để nương tựa. Nhưng đó cũng chính là thử thách để khi vượt qua, người phụ nữ nào cũng có quyền tự hào, để tự tin, kiêu hãnh vì làm một người đàn bà luôn được sống là chính mình, luôn hướng về phía trước, phía của tương lai…

Những bài thơ có sức ám gợi tâm thức người đọc là những bài thơ có giọng thủ thỉ tâm tình: Em đã đốt thơ tình anh tặng, Vẫn giẫm lên thủy tinh vỡ, Đào phai, Một bông sen gục đầu, Phía trong cánh cửa, Không thể nào giải thích, Có đá xám sông Hồng làm chứng, Dẫu hư không thăm thẳm… Đó cũng là những bài thơ nghĩ về “người mình yêu” trong nỗi đau dài dằng dặc: Mưa vẫn mưa ngâu ấy/ vạt áo bạc dãi dầu/ thoắt chiều nghe tin vắn/ thoắt chiều di ảnh, anh / đơn phương em đứng lặng/ quan họ buồn trăm năm (mưa ngâu chạm cửa).

Âm vang sau câu chữ mỗi bài thơ cho thấy quy luật sinh tử, sự hư hao tất yếu của kiếp người trong cõi nhân sinh luôn là nỗi xót xa sâu thẳm trong tâm thức thi nhân. Thế giới xung quanh nhiều lúc hiện lên hư thực như sương khói mơ hồ, có đấy rồi không đấy: câu thơ cũ, một bông sen khóc, một bông sen gục đầu, mưa phùn,mưa ngâu, đào phai, vầng trăng đầu tháng, bờ vai mưa lạnh, rét cuối năm, anh về trong mộng, thăm thẳm hư không… nối tiếp những hình ảnh tưởng như không hề ăn khớp, liên quan gì với nhau…Song, đằng sau những câu chữ ấy, chất chứa nhiều thông điệp, với những lời yêu da diết, những nhớ mong quay quắt, giận hờn, day dứt, ân hận, tiếc nuối… Thời gian quả là “bóng câu qua cửa sổ”, đời người chỉ là hư ảo, “thân như điện ảnh hữu hoàn vô” (Vạn Hạnh Thiền Sư), và nói như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”, những người thân yêu lần lượt ra đi sang thế giới vĩnh hằng, để lại chị – người đàn bà độc hành trên con đường xa vời vợi: Những người thân mờ dần trong mưa phùn/ nhà quạnh vắng có con mèo chờ phơi nắng/ đêm đầu tháng mong mỏi có trăng/ trên bờ vai hình như mưa lạnh/ thôi, cái rét cuối đông phần áo mỏng/ sẽ quay quắt với hư không/ hư không/ hình như anh vừa về trong mộng (Đào phai). Ý niệm đau đớn về sự sinh tử rất rõ ràng, và sống cùng mộng tưởng với những gì đẹp nhất của người đã khuất để lại, nên thi nhân biết trân quý từng phút giây hiện hữu còn lại của mình trên cuộc đời vốn đầy những giới hạn này. Vì vậy, chị chấp nhận sống lặng lẽ, âm thầm trong thế giới của riêng mình. Chị quay lưng với thế giới bên ngoài vốn ồn ào, náo nhiệt và đầy những phi lý, chỉ để dành thời gian: lau hăng gô nhìn cái rút dép/ kỷ vật một thời gắn bó với anh/ thư viện nhà mình còn góc chiến tranh/còn hơi thở của em dành cho ký ức… ngoài cánh cửa kia vui như tết và hoa/ trong cánh cửa có anh, góc bảo tàng vô giá (Phía sau cánh cửa). Quá khứ cùng những kỷ niệm trở thành điểm tựa cho niềm tin và hy vọng. Trước thử thách của phận số, mỗi người phải tìm cho mình một lựa chọn hiện sinh… người đàn bà trong thơ Hoàng Việt Hằng không gục ngã, mà đứng dậy, chấp nhận và ngẩng cao đầu bước tiếp…

Như vậy, dưới ánh sáng của cảm thức hiện sinh chúng ta thấy, nhà thơ đã chấp nhận cảm giác cô đơn như một định mệnh của cuộc sống, cho dù đó là định mệnh đầy đắng cay và nghiệt ngã. Và điều kỳ diệu ở đây, thi nhân đã biết cách chuyển hóa nỗi cô đơn nghiệt ngã này, thăng hoa thành những dự phóng sáng tạo. Hoàng Việt Hằng đắm đuối với thơ, và thơ theo chị như người bạn đồng hành để mỗi lúc “ngã lòng” thi nhân “vịn câu thơ mà đứng dậy” (Phùng Quán). Trong hành trình sáng tạo của mình, đã có lúc người đàn bà ấy “bỏ thơ đi lấy chồng và đi chợ” nhưng cuối cùng vẫn không thể giã từ thơ. Bởi những câu chữ luôn trong đầu nhảy múa/ em viết ở xó bếp/ viết nhẩm trong đầu khi nhặt rau/ bỏ quên hành khô, bỏ quên rau ngò/ chồng em nhìn em không mắng (Mới tám phảy năm centimet). Để rồi như một sự đặt để của số phận khiến chị đã chọn con đường “tái giá với thơ”. Tại sao lại như vậy? bởi lẽ khi trải nghiệm cuộc sống hơn, và rơi vào hoàn cảnh “đến sập chiều cuộc đời bơ vơ/ như cây rơm vàng ngu ngơ cùng đá xám”, thi nhân mới ngộ ra, thơ như một bến đỗ cuối cùng của đời mình, bởi một điều giản dị “thơ nghiêng về phía khuất hẻo/ thơ lên tiếng, nhạt nhòa cùng nước mắt” (Mới tám phảy…). Những câu thơ theo chị là “giúp được người bạc phận/ có lòng tin vào cuộc đời xô dạt/ còn nhiều người tốt lắm phía chân mây/ còn nhường cơm sẻ áo thế gian này”. Và như một phép màu, thơ trở thành nguồn sống, tiếp thêm niềm tin yêu cho con người tìm đến những mỹ cảm tốt đẹp để làm cho cuộc sống ý nghĩa hơn.

Trong thực tế, nhiều khi, nỗi buồn, niềm cô đơn, sự bất hạnh lại là những “tài sản” vô giá, là chất xúc tác làm nên những điều kỳ diệu cho cuộc sống đặc biệt là trong nghệ thuật. Vì vậy, trong sáng tạo thơ ca, tạo ra cho bản mình một thế giới riêng với đủ sự cô đơn bản thể để không chỉ khám phá cuộc đời mà còn khám phá chính mình nhằm trả lời câu hỏi: Tôi là ai?, không phải là chuyện đơn giản đối với người cầm bút. Luôn tự xác quyết “nhân vị” của mình để không bị lẫn vào đám đông lạnh lùng, vô cảm với những “bộ đồng phục” tinh thần đơn điệu đó cũng là sự thể hiện bản lĩnh và phẩm tính của người nghệ sĩ chân chính, không tự dối lừa mình. Đây là điều không phải ai cũng có thể làm được.

Chạm vào nỗi cô đơn bản thể với những cảm xúc và suy tư đầy chất triết luận về cuộc đời và con người, Hoàng Việt Hằng thực sự là một nghệ sĩ bản lĩnh. Và tôi tin, chừng nào thi nhân còn sáng tạo thi ca, người đọc vẫn còn được chia sẻ những bài thơ mang khối tình: “Một mình trôi giữa bao la…” (Valentine) với  sắc màu độc, lạ nhưng gần gũi, giản dị, ấm áp và chân tình của chị.

Như vậy, trong dòng chảy của tư tưởng hiện sinh nhân bản, cô đơn chỉ đáng sợ khi ta tuyệt tình với vạn vật và tha nhân, để chỉ sống với bản thân mình. Hoàng Việt Hằng đã dũng cảm đối diện với sự cô đơn, mang yêu thương trùm lên tất cả, để dám sống và khẳng định sự hiện hữu của bản thể – đó là một giá trị nhân văn sâu sắc cần được ghi nhận trong thơ của chị. Điều này lý giải vì sao trong Em đã đốt thơ tình anh tặng, bên cạnh những bài thơ khắc khoải yêu thương cho thân phận chính mình và những người thân yêu, ngòi bút Hoàng Việt Hằng không hề thơ ơ với bao kiếp người trên cõi nhân gian. Vì thế, những bi kịch, đau khổ của bao kiếp người luôn ám ảnh tâm thức thi nhân. Chị xót xa cho một người phụ nữ lấy chồng xứ xa, phiêu bạt góc bể chân trời, rồi gia đình tan nát trong trận “sóng gió điêu tàn”: Chồng con bay theo cơn lốc/ chị dò dẫm trong đổ nát (Về quê thôi), chị đau cho những thân phận “Không có quê để về”: Nhà thờ họ bán đi rồi chia chác/ làng đã trở thành dự án/ con cháu di dời về làng Sét/ giờ tết đến/ không còn quê để về (Không có quê để về ). Nhà thơ cúi xuống nỗi buồn của trẻ thơ bơ vơ không cha không mẹ: Em đang ước gì? Em ước ăn cơm tối với mẹ/ được như bạn Tuân một lần bố bế/ khi đường trơn lũ ống tràn về.(Mắt biếc), thương xót cho em bé sống sót sau cơn động đất tận xứ xa:  Em còn sót lại trong cuộc động đất…em như sợi tóc mong manh… không có sự hoang tàn nào không đổ vỡ niềm tin/ nhưng nụ cười của em màu da đầy bụi bám / trong vận hạn nhân gian không súng đạn (Nụ cười của em bé chăn cừu Nê pan);  Tâm hồn mong manh, dễ vỡ của chị thậm chí còn thẫn thờ, day dứt mãi câu chuyện về một người chồng “thay van tim” vợ phải “sang tên bán xong vườn tược” và “ một trăm triệu rao bán ngôi nhà gió lộng ở ven sông”. Sự bất hạnh này kéo theo sự bất khác. Và khi người chồng được cứu sống thì cơ nghiệp không còn gì nữa… và nói như Nam Cao: “Hạnh phúc là một tấm chăn quá hẹp”. Với tấm lòng nhân ái, nhà thơ đã thấu cảm tâm trạng và nỗi lo âu sâu thẳm nỗi đau phận người. Đó là ảnh hình người vợ trẻ:  Trong bước đi người vợ trẻ/ nước mắt vợ như vò nhàu. Hay tiếng lòng giục giã hướng về: Ở miền Trung miền Trung thiếu nước / trẻ con đói dài trong mỗi bữa cơm khoai... (Không đề của đối thoại ), hoặc có khi tâm hồn lại gửi miền Cao nguyên ngô lúa vẫn xanh non/ trên kẽ đá người vắt mồ hôi đá/ người vẫn đổ nghiêng gùi ngô gùi quả/ trong bao mùa sương giá lẫn mùa hoa/ những ngôi nhà đất ám ảnh ta/ cả ngựa trắng chở trăng vàng mộng mị (Ngôi nhà đất thó gọi trăng lên).

Nỗi khắc khoải yêu thương trong trái tim của người đàn bà làm thơ dường như không có giới hạn. Và với sự tinh tế của một tâm hồn giàu tình yêu thương, sẵn sàng mở lòng chia sẻ, cảm thông cùng những thân phận đau khổ, bất hạnh, Hoàng Việt Hằng đã nhìn sâu vào mỗi sự việc, hiện tượng của đời sống, đọc thấy đằng sau đó bao uẩn khúc, đắng cay, ngang trái của con người: Bốn mươi năm sau li hôn/ bà lão thảo tờ di chúc cho con/ ngôi nhà và mảnh vườn đã bán/ tiền đã chuyển khoản/ và bà lão ra đi/ một chiều mùa đông tuyết tan/ người mẹ ngóng con không gặp. (Sau di chúc); Có những người lính vẫn khoác ba lô/ thời bình vào rừng lặn lội tìm mộ/ đồng đội nhiều năm không về/ … mối tình sau cơn sốt/ mối tình chỉ có cây làm chứng / đã thành lá xanh du dương (Có những người lính đi tìm)…

3. Hàn Mặc Tử viết: “Người thơ phong vận như thơ ấy”, đây là một điều đã được xác tín. Không phải vô cớ mở đầu tập thơ Em đã đốt thơ tình anh tặng là bài thơ Thả bước dưới quê nhà với cái tình trong tư thế người thơ an nhiên, tự tại: Thôi cứ chậm đến mùa vàng lá đổ/ đến mùa sen hoa nở chán rồi tàn/ đến vẻ đẹp cũng dịu dàng bên lúa… và kết thúc tập thơ là bài Cùng nửa ánh trăng trong mang cái tình của người đàn bà đối diện với tận cùng nỗi cô đơn bản thể: Một mình xây nhà/ một mình sinh nở/ một mình một thuyển trên cạn/ một mình đối mặt với vận hạn/ may ra còn câu thơ nằm lòng… tất cả cho thấy vẻ đẹp của nỗi cô đơn bản thể, vừa dịu dàng, đằm thắm, vừa sắc sảo, kiên định, trong một trái tim khắc khoải những yêu thương với con người và cuộc sống của Hoàng Việt Hằng. Đó cũng là phong cách chỉ có thể có ở những nghệ sĩ cầm bút dám dấn thân sống và viết như chính suy tư của mình chứ không phải là những suy tư mang tính “phải đạo”. Tôi trân trọng và yêu quý thi nhân – người đàn bà dám dấn thân đi trên sa mạc chữ “cùng nửa ánh trăng trong” để làm nên những “mùa vàng” trên cánh đồng thi ca của mình. Và chắc chắn, người đàn bà – thi nhân đầy kiêu hãnh ấy sẽ tiếp tục bền bỉ khắc ghi  những dấu ấn mới về Thơ trên hành trình sáng tạo của mình để sớm vươn ra “biển rộng”. Bởi, hơn ai hết, chị luôn thấu hiểu nỗi cô đơn bản thể, một phẩm tính tất yếu của sáng tạo thi ca mà nếu không có nó thi ca sẽ không bao giờ đạt đến sự hoàn thiện và hài hòa: Rồi một ngày một đời mất ngủ/ nhớ như khêu trượt dốc sớm trưa/ thời gian tàn phai màu xưa cũ/ nhưng trái tim thác lũ vẫn quay về (Trái tim thác lũ).

Vâng! Đối với Hoàng Việt Hằng, phải chăng, thơ cũng là một cõi quay về…

3/1/2019

Cao Thị Hồng

Theo https://vanhocsaigon.com/

Biểu tượng "Gió" trong Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng

Biểu tượng "Gió" trong Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng Trường ca Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng vừa được tái bản tr...