Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026

 

Dấu vết của lời ca

Người đàn bà nào lại không biết yêu, cô mỉm cười, những con chim ngu ngốc không tranh đấu ngoài bầu trời gió sẽ lăn ra chết, số mệnh chỉ có vậy. Người đàn bà đó cũng vậy, lăn ra chết mà hằn học không nguôi, nhưng người đàn bà đó mới đáng thương làm sao, mới xao động làm sao.

Đêm thứ nhất không ngủ.

Con chim không bay về trời, con chim trú trong kẽ lá, trú trong đám gai xương xẩu và cáu bẩn của đông còn sót lại trên nền tuyết trắng. Con chim ngơ ngác, nhìn, đám lá khô xao động một cách mỏi mệt, vô tình với những đợt gió tuyết mới. Mây vẫn xám chình chịnh, trĩu nặng lê thê kéo bầu trời ảm đạm đến gần đôi mắt tròn xoe đang nghiêng nghiêng ngơ ngác. Con chim sẽ làm gì? Con chim ngơ ngác. Chim mà không hót, không sắc mầu, không bay thì sinh ra làm gì nhỉ? Cô đưa tay khép cửa, không tưởng tượng nữa. Cô cần nghỉ ngơi, cô cần thư giãn, cần tìm lại những cảm xúc mất mát của cô, ấy mới là nhiệm vụ hàng đầu quan trọng nhất của cô, không khí lạnh lẽo và xua đuổi người ở nơi đây có vẻ hợp với việc đó, ngoại trừ việc cô bị dị ứng với không khí lạnh. Nên cô chỉ suốt ngày ngồi nhà, quấn chăn, và suy nghĩ, và nghiền ngẫm, và câm lặng.

Nhà văn Lê Thị Kim Sơn hiện sống và dạy học ở Gia Lai

Đêm thứ hai không ngủ.

Đêm không đêm

đêm cùng ngày trơ trụi,

người không người

cũng người sinh sôi…

Cô cau mày, mấy câu thơ vớ vẩn, vô nghĩa này ở đâu tạt ngang qua cô. Đêm đã không ngủ được rồi mà còn lẩn thẩn, em cô nói có dưỡng da bao nhiêu đi nữa thì cũng không bằng một đêm mất ngủ thức trắng đâu. Cô xoa mặt, có cảm giác như đã có những nếp nhăn rất khẽ in trên làn da mịn màng, như là vết chân rất khẽ của con chim sẻ nâu ủ dột đâu đó ngoài kia đã lén lút hằn lên ngang mắt cô tối nay vậy. Toàn những điều bực mình đáng ghét. Cô khoanh tròn, kéo chăn lại cao hơn, năm nay chán chả muốn làm gì, chả muốn nói gì, cô bẫng đi như bị tước đoạt tất cả trong đêm thức trắng thứ hai. Mọi thứ vẫn trống rỗng, chả có gì thay đổi ngoài im lặng, lạnh, gió, tuyết, và con chim ngu ngốc vẫn nhất quyết không chịu di cư, không chịu hót vẫn đang cố náu mình trong đám cành lá gai góc băng giá.

Đêm thứ ba mất ngủ.

Người đàn bà nào lại không biết yêu, cô mỉm cười, những con chim ngu ngốc không tranh đấu ngoài bầu trời gió sẽ lăn ra chết, số mệnh chỉ có vậy. Người đàn bà đó cũng vậy, lăn ra chết mà hằn học không nguôi, nhưng người đàn bà đó mới đáng thương làm sao, mới xao động làm sao. Cả cuộc đời chỉ như một bài toán đầy mưu mô, toan tính và sắp đặt, không có cái gì gọi là rung động, mà chỉ là toan tính, tính toan, có được đôi khi tưởng như là tất cả, tiền tài, danh vọng, địa vị nên tự mãn, nên xa hoa ngồi đợi cái định mệnh tình yêu như thuốc độc ngấm dần. Trái tim vốn không già nua vì trái tim không có tuổi, con người già nua vì tuổi tác ngấm dần, bất hạnh, điên cuồng chống đỡ thì cũng có được đâu. Nhưng thật ra nếu muốn người đàn bà đó có thể giành được người đàn ông trong buổi chiều mưa bão tái tê đó, và điều đó sẽ dẫn đến điều gì, đến điều gì người đàn bà có toan tính được không? Sự rung động sâu xa của bà có thể hiểu trước một con người như vậy không có gì đáng nói, chỉ đáng nói là sự cao ngạo hay sự thất vọng vì bản thân đã ngăn bà lại. Không có cơ hội lần thứ hai, mãi mãi, mọi thứ tuột khỏi tầm tay, câu đố không lời giải vì người đố không dám đặt mình vào vị trí đó để giải đố, cái thân hình kia hoàn mĩ đến thế, như một bức tượng đầy kiêu hãnh đến thế mà bị một thân hình lố bịch bó buộc bởi tuổi tác kia đụng đến thì thế nào? Ô danh thánh thần ư? Nhục mạ ư? Hay là khinh thị?

Cô khép quyển sách lại, đọc đến bao nhiêu lần vẫn vậy, cô thích người đàn bà kiêu hãnh và quá quắt này, cô mỉm cười, người đàn bà cho cơn ghen của mình lộng hành để cùng chúa trời trừng phạt hai con người kia. Cô nghĩ kết thúc của số mệnh con người thật ra là do sắp đặt, những kẻ kia đã hả hê trong tình yêu, trong toan tính của riêng mình mà không nghĩ có một tình yêu đơn phương mãnh liệt như vậy bị vùi dập đến tuyệt vọng. Trả giá là điều tất yếu. Nhưng còn mấy ai suy nghĩ và cùng cô mơ mộng hay bàn luận đến những điều như vậy nữa chứ, người như cô không nhiều, người đọc sách quái lạ như cô càng hiếm. Cô quay ngoắt ra phía cửa, tìm về phía đám cành lá gai góc xem con sẻ nâu ngu ngốc đâu mà không thấy, chắc nó lại lẫn vào lá khô. Mà cô cũng không cần nhìn xem nó làm gì, sợ lại càng ảm đạm thêm.

Đêm thứ tư của những vì sao.

Không gian không đong đếm được, thời gian lại rỗng tuếch, trôi ngược về phía xa theo những vì sao vô chủ lấp lánh. Cô không có cảm xúc làm thơ, cô không có cảm xúc để viết, cô chỉ có ảm đạm, chỉ có những con chữ lười biếng không động đậy trong những quyển sách đang dõi theo. Người ta lại gạt cô ra khỏi danh sách những người trẻ triển vọng, cô ngần ngừ. Thật ra, cô mong chờ gì ở những điều ấy, ở những con người ấy? Cô đã từng nói là cô sẽ không cần gì, không bon chen với những ngôn ngữ đôi khi rỗng tuềnh rỗng toàng và khuôn sáo đấy, bởi vì dẫu sao mọi thứ sẽ qua, đời người như một chiếc lá, sáng non nhưng chiều đã rụng, dẫu sao thì cũng chỉ là thoáng chốc rồi thời gian sẽ qua che mờ tất cả mà thôi. Vậy cô suy nghĩ vì gì? Cô buồn vì gì? Vì những đồng tiền giải thưởng sao? Có thể, cô bật cười, tiền là gì? Là gì chứ mà không tiếc với một người như cô? Phải, nói trắng ra là cô tiếc tiếc tiền, tiếc cái danh vốn chưa phải và giờ không phải của cô thôi, có gì đâu mà phải quanh co giấu giếm với chính mình, như thế vốn không tốt. Chỉ vậy thôi sao? À, không chỉ vậy, thật ra còn có nhiều bực bội hơn tất thảy. Cô vốn không tự thấy mình ngu khi vướng chân vào những con chữ như thế này, nên khi mẹ và mọi người can ngăn, đàn bà mà vướng vào chữ nghĩa đa đoan lắm, khéo sinh khổ về sau. Cô chỉ cười, khổ hay sướng, đa đoan hay không chỉ là do mình quyết định thôi mà, chả thiệt đi đâu mà sợ. Viết đấy, biết đấy, có tiền đấy, trút được đâu đó thì viết, không viết được thì thôi, tránh vô công rồi nghề, lại nhàn cư vi bất thiện.

Đấy nói thì nói giỏi thế, nhưng cô nào có nổi danh với ai mà lên mặt, cái xứ xở của những người viết lách càng ngày càng bị bó chặt lại bởi những nghệ thuật không tên, có tên, vội vàng, vụn vặt vui đùa đâu đó. Cô tự biết phân biệt mình chỉ là hạt cát trong sa mạc, không tự huyễn mình thành cái ốc đảo vang danh được, vì như mọi người trẻ, nếu không bước chân vào con đường viết lách, cô nhất định sẽ không cần biết những nhà văn nhà thơ làm gì. Thời mơ mộng là thời của bố mẹ cô, thời của cô là thời của tiền bạc, của thời gian, của công việc, của hẹn hò, của vui chơi, của sai lầm, ai hơi đâu ngồi nhà ôm một quyển sách nặng nề và đọc khi có khối thứ để chơi, để hẹn hò cơ chứ. Vậy mà giờ cô như thế, lạc thời như bà lão của thế kỷ nào đó còn sót lại, khoác một chiếc áo len dài kín sụp, cái mũ lông xù che kín mái tóc rối, chân đeo tất dầy cộp, nặng nề trĩu một mầu nâu ngồi đung đưa bên bếp lò với bàn tay gảy gảy, giả sử không có cái máy tính trên đùi cô người ta có thể cho cô lên chức cụ và đẩy cô về thời những thập niên sáu mươi mất.

Tranh của họa sĩ Lê Trần Thanh Thủy

Đêm thứ năm của đêm.

Không gì mất dấu, con người là phải rung động. Rung động thì đã sao? Sợi dây đàn căng nhưng nhức, lạnh băng, bụi bặm thì chỉ ngân lên tiếng trầm khe khẽ buồn thôi. Như tiếng rên khàn đục thì giống hơn nhỉ? Cô ngồi bệt xuống sàn độc thoại, làm sao cho vừa ý, làm sao cho vừa lòng mọi người? Một người chỉ có một cuộc đời mà lựa chọn thì nhiều, bước chân ngả này thì bóng lại ngả nẻo kia, hồn vương lại ngả nọ, tâm tư trĩu nặng chốn này, thử hỏi sao cất bước mà không ngoái đầu nhìn lại cho được chứ? Vậy mà vẫn phải bước đi, chẳng biết có gì phía trước mù xa, chỉ biết còn sức, còn con đường thì cứ bước tới, cô nhủ thầm, bước tới gần con người sẽ thấy cô ở đó với những hờn ghen, xỉ vả, với so đo toan tính hơn người và rất người. Và cô bật cười, tự thấy mình lẩm cẩm, cô không là người thì là gì nữa, dạo này toàn ngấm triết lý dở hơi.

Cô ngửa đầu ra, cô không nhìn ngắm, cũng chả bật khóc gì. Đêm giấu đêm đi đâu mà cô tìm không thấy, người giấu người đi đâu mà cô kiếm chả ra. Hay cô sinh ra trên đời để chỉ một mình? Cô sợ mình muộn màng và bị tuổi tác che lấp trước tình yêu giống người đàn bà đó, nỗi sợ mơ hồ bám lấy cô, thấm vào như sương lạnh giá. Cô yếu đuối thật rồi, đa đoan thật rồi, làm đàn bà bám vào chữ nghĩa thật sợ. Cô giật mình vùng dậy, lao về phía tủ sách, điên cuồng quẳng ra từng cuốn, rồi lao vào xé nghiến ngấu, tung vào lò, tung ra sàn tuyết. Cô muốn nghiền hết tất cả, nghiền hết dấu vết của chữ nghĩa đang vây quanh cô. Cô phải thanh trừng cô, thanh trừng tất cả.

Đêm của ngày rạng.

Thần thánh không sinh ra con người. Dĩ nhiên, ai chả biết điều đó, chỉ có con người mới sinh ra con người. Toàn những điều không đâu. Cô nhăn mặt, thực tế là một vòng quay, con người, tiền và con người, thế thôi. Không còn gì nữa sao? Tất nhiên, cứ thử không có tiền đi rồi biết, cô nhếch mép. Ôi đứa trẻ ranh mơ mộng, đã bao nhiêu tuổi rồi mà vẫn cứ trông mong vào cổ tích. Cô đứng thẳng người sửa lại nếp váy, liếc ngang qua cái gương trong buồng thang máy thấy mình thật hợp thời với tóc đuôi ngựa buộc thấp, áo sơ mi trắng in hoa rực rỡ, váy và áo vét mầu ghi, đôi giầy và túi xách cùng tông với hoa trên áo. Cô thoáng giật mình khi nhận thấy ở đuôi nụ cười của cô có thoáng nếp chân mảnh dẻ của con sẻ nâu, cô lắc mạnh đầu tự nhủ: “Hôm nay đủ rồi, tạt qua nhà thăm mẹ rồi về thôi, mai có lịch làm đẹp, kia có dịp đi nghỉ, bận rộn chết”. Cô mỉm cười. Giáng sinh năm nay thật bận rộn, có lẽ cô đã đúng khi rời bỏ đám chữ nghĩa vô hồn đó.

Con chim chết, cô thấy nó, ở ngay góc hang đá của siêu thị, nơi người ta vừa dựng một tiểu cảnh mừng giáng sinh, cô thấy trái tim của nó vẫn đập, cô thấy cái gai nhọn xuyên suốt hết bộ lông nâu xù ảm đạm của nó, cái tư thế ưỡn người ra như kiêu hùng, bất khuất, ở đầu bên kia cái gai nhọn, có đọng những vệt, những vệt, rồi thành giọt, thành giọt máu nhỏ từ từ xuống tuyết, cái hơi ấm mỏng manh của những giọt máu khe khẽ đó không đủ sức lay động một cơn gió buốt của mùa đông, cô tái mặt lắng nghe. Cô muốn nghe tiếng ca tuyệt đỉnh nhất của loài chim ngốc nghếch này, lấy tang thương để đổi lấy cái gì? Cô nhìn trời, bầu trời xám lừ lừ nặng xuống muốn đè bẹp cô, muốn nhấn chìm cô. Cô vẫn muốn nghe, cô vẫn muốn nghe tiếng hót cuối cùng của con chim dù bị nhấn chìm, dù bị đè bẹp. Chiếp, chiếp ieepsppp…Nhưng hỡi ôi, tất cả những gì cô nghe được lại cũng như vậy, lại chỉ như vậy, chỉ là tiếng kêu vô nghĩa của những con sẻ nâu ngốc nghếch thôi mà, có phải như vậy không? Cô vùng dậy, lấy hết sức chống đỡ lại tấm mây nặng nề ảm đảm đang cố dồn bẹp cô, cô nhoài về phía bụi gai, con chim vẫn cố nghiêng con mắt tròn xoe về bên phía cô như biết mong muốn của cô, phải rồi, cô đã sẵn sàng rồi, cô đã sẵn sàng để nghe tiếng ca huyền thoại mà cô tưởng chừng không có, không thấy, hoặc chưa từng có. Cô muốn nghe, muốn nghe và muốn nghe.

Giây phút chờ đợi muốn siết chặt tim cô, lồng ngực cô dội lên khô khốc và dữ dội nhịp đập nặng nề của con tim. Cô như muốn vồ lấy cả bụi gai để kéo nó về phía mình, cô cần thấy lại cô trong tiếng ca này, cô đã bỏ đi mất gì khi cô rời bỏ ngôi nhà tuyết, rời bỏ căn phòng tĩnh tâm đó để lao đến chốn ồn ào này, cô phải biết, phải biết. Bàn tay cô buốt nhói, cô đã chụp lấy bụi gai, nhanh hơn cô tưởng, cô kéo nó về phía mình, mặc kệ bộ váy áo hàng hiệu bằng cả tháng lương mới mua, mặc kệ những cái gai xám xì nhọn hoắt đâm vào ngực con chim đe dọa sẽ đâm thêm cho cô vài vết thương nhỏ máu, cô thấy ngột ngạt trong bộ váy áo đắt tiền, trong quy chuẩn văn phòng máy lạnh mà cô đã khép cô vào. Cô muốn bung ra theo lời giải đáp duy nhất cô có trong tay, con chim nhỏ đang giãy chết trong đôi bờ hư thực, cô phải nắm bắt được giây phút vĩnh cửu này, cô sẽ là người duy nhất biết được phút giây linh thiêng kỳ diệu này.

Đêm của đêm.

Thế cô làm gì? Thế cô là gì? Cô không biết, con chim đã chết, thời gian đã mất. Khoảnh khắc là mãi mãi, cô để tuột cái nắm tay của cô ở đâu? Những cuốn sách, những con chữ vương vãi bên cô như một trò chơi xếp hình, cô nhặt lên, nối chúng lại, chắp chúng lại, rời rạc, vô nghĩa. Cô hất tung, rồi lại sắp lại, rồi lại nối lại, không đọc, không nghiền ngẫm, mà cứ sắp, như vô thức, nhặt, xếp, nhặt, xếp, nhặt xếp không đoán không định, không ước chừng, không áp đặt theo những mục tiêu hay lý tưởng nào nữa, cô để mọi thứ trong cơ thể tự do dẫn dắt và thể hiện những gì cô đã bỏ lại trong căn nhà lạnh giá và con chim côi cút không theo bầy. Cô cứ viết, cứ viết, vậy thôi.

Những tàn tro nghi ngút, ngôi nhà heo hút gió, ảm đạm đón cô, cô dị ứng với xứ lạnh, cô thích hợp với khí hậu nhiệt đới, cô hợp với chính cô, cô hợp với ai cô hiểu nhất. Vậy mà cô chối bỏ, vậy mà cô lẩn trốn làm gì. Cứ viết đi đã, cứ sống đi đã, đừng vội bẻ gãy mình chỉ vì cơn gió, hay vì một câu nói nhất thời của ai đó, mình trước tiên phải là mình với những ý nghĩ của mình trước đã. Không phải sao con chim nhỏ? Cô thì thầm dụi cái lọ nhỏ vào tay, câu trả lời nào cho những ước vọng của cô, cô sẽ không đi tìm, cô sẽ không đi trốn, cô sẽ đợi và cô sẽ làm theo ý của cô,…

P/S: Tôi chỉ muốn hỏi cô, con chim nhỏ đó cất lên tiếng ca như thế nào để đánh thức cô trở dậy với việc viết lách của mình được không ạ? Đó có phải là tiếng ca huyền thoại cả đời người không mong thấy được lần thứ hai không? Cô bụm miệng, cười rũ, rồi nhìn tôi thân thiện “Chị vẫn mong có bài ca đó sao? Vậy thì đừng đi tìm, hãy lắng nghe tiếng của những con chim nhỏ hàng ngày quanh chị đi, sẽ có ngày chị tìm ra tiếng ca tuyệt diệu ngay trong những tiếng ca chộn rộn và tầm thường ấy đấy và quan trọng hơn là đừng bao giờ quay lại hỏi mình đã bỏ mất điều gì trong khi may mắn đã hiện ra trước mắt và đi mất đấy”.

20/10/2026

Lê Thị Kim Sơn

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nhà thơ Nguyễn Hữu Điền: Trọn vẹn với đất, trọn tình với thơ

Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền là một tấm gương sáng về tinh thần phụng sự và tình yêu văn hóa nghệ thuật. Ông đã đi qua một chặng đường dài đầy cống hiến, để lại không chỉ những thành quả phát triển kinh tế – xã hội cho quê hương Phú Thọ mà còn cả một di sản thơ ca giàu cảm xúc…

Trong đời sống chính trị, văn hóa, văn nghệ của vùng đất Tổ Phú Thọ, Nguyễn Hữu Điền là một chân dung đặc biệt. Cả cuộc đời ông là sự hòa quyện trọn vẹn giữa hai con người: Một nhà lãnh đạo kiên trung, tận tụy, luôn trăn trở với sự phát triển của quê hương và một tâm hồn nghệ sĩ tha thiết với văn hóa, lịch sử, đắm đuối với thơ ca. Dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất của tỉnh hay khi đã trở về với cuộc sống đời thường, ông vẫn giữ trọn một tâm thế bình dị, dễ gần, dễ mến và một tấm lòng trọn vẹn với đất, trọn tình với thơ.

Người lãnh đạo nặng lòng với Đất

Ông Nguyễn Hữu Điền sinh năm 1946 tại Bạch Hạc – Việt Trì (nay là phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ). Vùng đất ngã ba sông không chỉ là một danh thắng thiên nhiên kỳ vĩ mà còn là “cột mốc tâm linh”, lưu giữ ký ức lịch sử và bản sắc văn hóa cội nguồn của người Việt. Năm 1972, Nguyễn Hữu Điền đang là Chủ tịch UBND thị trấn Bạch Hạc, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đã tình nguyện lên đường nhập ngũ và được biên chế vào đơn vị xe tăng – thiết giáp. Tháng 8.1972, ông cùng đơn vị hành quân vào Nam chiến đấu. Tiếp sau đó, ông làm Trợ lý Chính trị Lữ đoàn 201 và Trợ lý Tổ chức Bộ Tư lệnh Binh chủng Tăng – Thiết giáp.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Điền nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ

Sau giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, ông trở về công tác trên quê hương đất Tổ với nhiều cương vị như: Phó Bí thư Thành ủy – Chủ tịch HĐND thành phố Việt Trì, Bí thư Thành ủy Việt Trì, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Phó Bí thư – Chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Thọ.

Sinh ra và lớn lên trên vùng đất bãi bồi nghèo khó nhưng giàu truyền thống lịch sử, văn hóa Nguyễn Hữu Điền hiểu rõ từng hơi thở của đất, từng giọt mồ hôi của người dân lao động. Trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy, ông cùng tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trăn trở tìm hướng đi cho Phú Thọ trong những năm tháng đổi mới. Đối với ông, “Đất” không chỉ là địa giới hành chính mà là cội nguồn sức mạnh, là đất Tổ Hùng Vương linh thiêng, là đời sống của hàng triệu người dân. Tinh thần “trọn vẹn với Đất” của ông được thể hiện qua những quyết sách sâu sát về phát triển kinh tế – xã hội: Hình thành và phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đầu tiên của tỉnh;  chú trọng nông nghiệp, nông thôn; chăm lo đời sống người dân vùng sâu, vùng xa; đồng thời quan tâm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất Tổ.

Sự kiên định, tâm huyết và quyết liệt trong công việc của ông đã góp phần tạo nên những bước chuyển mình quan trọng của tỉnh Phú Thọ qua các thời kỳ. Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, ông Nguyễn Hữu Điền vẫn giữ nguyên phong cách sống giản dị, gần gũi, điềm đạm lắng nghe tiếng nói của nhân dân. Tình yêu đất nước, yêu quê hương ở ông không phải là những khái niệm trừu tượng mà được cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực, bằng sự cống hiến không ngừng nghỉ cho sự phát triển của tỉnh nhà.

Bên cạnh sự quan tâm ở tầm vĩ mô, chúng ta còn nhận thấy ở ông Nguyễn Hữu Điền luôn đau đáu với nơi chôn nhau cắt rốn: Quê hương Bạch Hạc – chốn địa linh nhân kiệt, đặc biệt trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử. Trong “Lĩnh Nam trích quái”, Nguyễn Trãi viết: “Bạch Hạc thuộc đất Châu Phong, xưa có cây Chiên đàn, chim hạc trắng bay về đậu trắng xóa cả một vùng nên gọi là Bạch Hạc. Nơi đây chính là cố đô của nước Văn Lang xưa, nơi các Vua Hùng khai sơn phá thạch, xây dựng cơ đồ”. Sử cũ cũng chép, thời nhà Đường đô hộ nước ta, Thông Thánh Quán được xây ở ngã ba Hạc.

Nơi đây còn có di tích đền Tam Giang nổi tiếng, thờ Đức Thánh Hạc (Thổ lệnh Cao quan Bạch Hạc Đại Vương) với bước chân khổng lồ in hằn trước cửa đền năm tháng phôi phai. Ông đã cho khôi phục di tích này và chính tôi có may mắn được tham gia thực hiện công việc ý nghĩa đó. Đền Tam Giang còn có 5 quả chuông đồng lớn (đại hồng chung), sau nhiều biến cố đã bị thất lạc, không cánh mà bay. Nguyễn Hữu Điền là người quyết tâm hành trình gian nan nhiều năm để cuối cùng tìm được, trả lại vật thiêng cho làng. Vùng đất linh Bạch Hạc – nơi bến Tam Giang – còn ghi dấu các trận thủy chiến lẫy lừng chống quân Nguyên – Mông của vị danh tướng nhà Trần: Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật. Tâm huyết với lịch sử dân tộc và quê hương, ông Nguyễn Hữu Điền cũng đã dựng tượng tri ân vị danh tướng tài thao lược và giỏi ngoại giao này.

Nhà thơ – Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền gặp gỡ văn nghệ sĩ Phú Thọ 

Tâm hồn nghệ sĩ trọn tình với thơ

Nhiều người thường nghĩ công việc lãnh đạo với những con số, chỉ tiêu và nghị quyết khô khan sẽ dễ làm xơ cứng tâm hồn; nhưng với Nguyễn Hữu Điền thì ngược lại. Thơ ca đối với ông như một dòng sông mát lành chảy song hành cùng công việc chính trị, giúp ông cân bằng cuộc sống, bộc lộ những góc khuất tâm hồn sâu lắng và nhân văn nhất.

Nếu như trong quản lý, ông là một người lãnh đạo quyết đoán, đề cao nguyên tắc tập trung theo phương châm “nguyên tắc cứng, phương pháp mềm” thì trong thơ, ông trở về là một người con nhân từ, đa cảm của quê hương. Thơ Nguyễn Hữu Điền không màu mè, xa hoa về từ ngữ hay cầu kỳ về hình thức; thơ ông đi thẳng vào lòng người bằng sự chân thành, mộc mạc nhưng chan chứa tình cảm, nặng lòng với lịch sử và văn hóa cội nguồn. Ông dành nhiều vần thơ sâu lắng, kính cẩn hướng về Đền Hùng và các bậc tiền nhân.

“Chỗ Bác cháu ta ngồi là vùng đất Phong Châu/ Vua Hùng từng dạy dân mình trồng tre đánh giặc/ Dạy dân cấy cày dạy cách ăn mặc/ Khi nhìn về phía trước nhớ sau lưng/ Chinh chiến bao năm trong nhịp trống đồng rung/ Chim Lạc vẫn bay cùng màu áo lính/ Như buổi ấy Bác Hồ trên Nghĩa Lĩnh/ Nhận về mình trách nhiệm với đời sau” (Bên giếng Ngọc chiều nay)

“Các cuộc khai quật đã chứng minh rõ ràng/ Cách bốn ngàn năm người Việt đã làm ra hạt gạo (1)/ Di chỉ Làng Cả nhiều hiện vật bằng đá đồng gốm/ Những di tích này thuộc giai đoạn Đông Sơn” (Bản Ngọc phả vĩnh hằng)

Chủ đề xuyên suốt trong các tập thơ của ông vẫn là tình yêu sâu nặng với quê hương Phú Thọ, với dòng sông Thao, sông Lô, với những đồi chè xanh ngát và những bãi bồi phù sa. Ông viết về mẹ, viết về đồng đội, về những người dân lao động bình dị bằng tất cả sự trân trọng và biết ơn. Đọc thơ ông, người ta cảm nhận được nhịp đập của một trái tim luôn trăn trở cùng thời cuộc: Luôn đau đáu trước những khó khăn của người dân và hân hoan trước từng đổi thay của quê nhà.

“Hòn Gành bên sông cây lớn mọc rồi (1) / Chim đậu trắng cả một vùng sông nước/ Và vì thế thành tên làng Bạch Hạc/ Thủy tụ, sơn chầu vùng đất tứ linh/ Nhà nước Văn Lang trong buổi bình minh/ Vua tuần thú trên sông Hồng, sông Cả/ Về hội tụ dưới bóng cây lớn đó/ Bàn việc quân cơ nên cây gọi Chiên Đàn” (Đất quê ta)

Đặc biệt, trong những vần thơ viết sau khi rời quân ngũ hay khi đã nghỉ hưu, cái “tình” trong thơ Nguyễn Hữu Điền lại càng đậm đà hơn. Đó là sự chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, về nhân tình thế thái và về lẽ sống. Ông nhìn lại chặng đường đã qua bằng thái độ thanh thản, tự tại, không vướng bận danh lợi.

“Thời chúng tôi cuốn sách gối đầu giường/ Là tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy”/ Đã thôi thúc và nâng hồn ta dậy/ Gọi ta đi khám phá những chân trời” (Thời chúng tôi)

Thơ trở thành người bạn tri kỷ, là nơi ông gửi gắm những suy tư về thời gian, về thế hệ tương lai và tình yêu bền chặt dành cho mảnh đất Tổ Hùng Vương.

Từ trái sang, các nhà văn nhà thơ quê Phú Thọ: Nguyễn Trọng Tân, Nguyễn Hữu Điền, Trần Quang Quý và Nguyễn Đình Ánh

Bên cạnh mảng thơ về quê hương, nhà thơ Nguyễn Hữu Điền còn có những vần thơ đầy xúc động dành cho đồng đội – những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

“Giữa đạn nổ bom rơi “Năm anh em” vẫn hát/ Giờ có lúc giật mình đớn đau mất mát/ Khi trở về nơi ấy Trường Sơn/ Hai mươi tám năm qua ai mất ai còn/ Vẫn có những chàng trai mong cha về mỏi mắt/ Vẫn có những cô gái thấy mẹ nhiều chủ nhật/ Đóng cửa buồng ngồi đọc “những ngày xưa” (Vẹn nguyên chất thép)

Nét đặc sắc trong thơ Nguyễn Hữu Điền là sự tự nhiên, mộc mạc nhưng giàu lắng đọng. Thơ ông không cầu kỳ về hình thức mà chú trọng vào cảm xúc chân thành của một người con luôn hướng về cội nguồn. Nhiều tác phẩm thơ của ông như: “Phú Thọ quê ta”, “Đất quê ta”, “Bên giếng Ngọc chiều nay”, “Vẹn nguyên chất thép”, “Chim đậu đất lành”… đã được các nhạc sĩ phổ thành những bài hát rất truyền cảm. Trong đó, có những ca khúc rất hay, lan tỏa rộng rãi trong đời sống tinh thần của người dân Phú Thọ và cả nước, từng làm nên một đêm nhạc đầy ấn tượng với các ca khúc phổ thơ Nguyễn Hữu Điền.

“Đàn chim thân thương trở về đất Tổ/ Phù sa bồi Bến Gót mãi sinh sôi/ Kinh đô Văn Lang lồng lộng dưới sao trời/ Nhà có số phố có tên người đi về tấp nập” (Chim đậu đất lành)

Cũng chính với tình cảm và tâm hồn của một nhà thơ, trọng các giá trị tinh thần mà ngay từ khi ở cương vị Bí thư Thành ủy Việt Trì, ông đã quan tâm chỉ đạo thành lập Hội Văn học nghệ thuật thành phố – Hội Văn nghệ cấp huyện đầu tiên của tỉnh Phú Thọ. Từ mô hình ấy, sau này chúng tôi đã thành lập thêm được 5 Hội VHNT cấp huyện. Khi lên tỉnh công tác, trải qua những cương vị như Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh, ông luôn dành dự quan tâm đặc biệt cho hoạt động VHNT của tỉnh nhà.

Tôi nhớ mãi hình ảnh người Bí thư Tỉnh ủy giản dị, nhẹ nhàng, gần gũi năm nào – hình ảnh mà sau này tôi gặp lại nhiều ở Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nhớ những lần ông sang làm việc với Ban Chấp hành Hội; thăm hỏi, động viên, chúc mừng năm mới các văn nghệ sĩ cao tuổi mỗi dịp Tết đến, Xuân về; hay những sự kiện do Hội tổ chức, mời ông, ông đều đến dự. Ông đứng tên viết lời giới thiệu cho hai bộ Tuyển tập 30 năm Văn học và Nghệ thuật Phú Thọ. Kỷ niệm ngày Báo chí cách mạng 21.6 hằng năm, ông cũng thường đến Hội tặng hoa, chúc mừng những người làm báo chí văn nghệ chúng tôi; khi bận thì ông cử cấp dưới đi thay. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, quyết định cho Hội được mua xe ô tô mới phục vụ công tác…

Tôi nhớ một lần Hội tổ chức Ngày Thơ Việt Nam, hôm ấy có nhà thơ Phạm Tiến Duật lên dự. Vì bận họp Trung ương không về dự được, ông đã cho thư ký đến tặng Hội toàn bộ số tiền nhuận bút các bài viết, bài thơ của ông đăng trên các báo để thêm vào quỹ sáng tác của Hội. Sự hỗ trợ này là bởi trước đó theo đề xuất của Hội khi còn là Chủ tịch UBND tỉnh, ông đã duyệt cấp cho Hội ba trăm triệu đồng làm quỹ hỗ trợ sáng tác cho hội viên.

Cuối chiều hôm ấy, sau khi họp Trung ương về, ông đến thẳng Hội gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật. Bên bàn trà hai người lính từng xông pha trận mạc, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền chia sẻ: “Phú Thọ là đất Tổ cội nguồn, nơi có những giá trị văn hóa, lịch sử độc đáo. Đồng thời, Phú Thọ còn là cái nôi của nền văn nghệ cách mạng thời kỳ kháng chiến chống Pháp – nơi diễn ra Đại hội thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1948 tại Hạ Hòa. Nhiều tên tuổi lớn của nền văn nghê nước nhà với nhiều tác phẩm bất hủ của họ được ra đời tại Phú Thọ. Từ ý nghĩa và truyền thống ấy mà tỉnh Phú Thọ luôn quan tâm, ưu ái, tạo cho đội ngũ văn nghệ sĩ và Hội những điều kiện tốt nhất để hoạt động”.

Về phần mình, nhà thơ Phạm Tiến Duật cho biết ông rất tự hào về quê hương có những lãnh đạo, đặc biệt là Bí thư Nguyễn Hữu Điền luôn coi trọng văn chương nghệ thuật, trân trọng kẻ sĩ; bởi họ và tác phẩm của họ đã góp phần nuôi dưỡng, chăm sóc phần hồn cho người dân. Nhà thơ cám ơn lãnh đạo tỉnh đã tạo nhiều điều kiện tốt nhất cho giới văn nghệ sĩ tỉnh nhà; tự hào về Hội Phú Thọ – có nhiều hoạt động văn học nghệ thuật sôi động, được cả nước biết đến và ghi nhận.

Không chỉ Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền mà các vị lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ngày ấy đều rất quan tâm, tạo mọi điều kiện cho Hội VHNT tỉnh hoạt động. Trong đó phải kể đến ông Bùi Đình Thi – Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Từ khi còn là Phó Văn phòng Tỉnh ủy kiêm thư ký Bí thư, rồi làm Trưởng Ban Tuyên giáo, nay là Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy, lúc nào đồng chí cũng quan tâm, ủng hộ Hội và dành tình cảm đặc biệt cho anh chị em văn nghệ sĩ tỉnh nhà.

Sau này, khi nghỉ công tác về với đời thường, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền cùng người vợ thảo hiền – bà Trần Thị Phong sống cuộc đời thanh đạm, đọc sách, làm thơ, nêu tấm gương sáng cho con cháu noi theo. Thật hồng phúc cho gia đình, con trai ông là ông Nguyễn Hữu Đông, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Sơn La, hiện là Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Ủy viên Ủy ban Thường Vụ Quốc hội, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Trưởng ban Tổ chức Đảng ủy Quốc hội, Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội.

Thi thoảng lại thấy ông đến với Hội, tham dự các sự kiện do Hội tổ chức – không chỉ với tư cách là nguyên Bí thư Tỉnh ủy, mà cả với tư cách là nhà thơ hội viên của Hội. Ông còn vui vẻ tham gia làm Chủ tịch danh dự Câu lạc bộ Thơ Việt Nam tỉnh Phú Thọ. Ông thanh cao, giản dị, gần gũi và hòa mình  cùng anh chị em văn nghệ sĩ trong mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ.

Điều ấy ở những người khác từng là chính khách như ông khó có thể làm được bởi những mặc cảm địa vị xã hội. Nhưng với ông, chính sự hòa mình, giản dị và chân thành ấy đã dựng nên một tượng đài của sự tôn kính trong lòng những người dân và văn nghệ sĩ đất Tổ hôm nay.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Điền tặng hoa chúc mừng nhà thơ Phan Hoàng giao lưu tặng sách ở Phú Thọ, 10.2025.

Sự hòa quyện giữa trách nhiệm và tâm hồn

Cái hay và cái đẹp ở Nguyễn Hữu Điền chính là sự hòa hợp giữa chính trị và thi ca. Sự quyết đoán của một người lãnh đạo giúp cho thơ ông có cái nhìn rộng lớn, tầm vóc và giàu tính tư tưởng; ngược lại, sự tinh tế của một tâm hồn thi sĩ, của sự đọc nhiều, biết nhiều lại giúp công tác lãnh đạo của ông trở nên uyển chuyển, thấu hiểu, gần gũi và nhân văn hơn. Trong ông luôn tâm niệm và ghi nhớ:

“Ơn nghĩa nhiều vùng đất ngã ba sông/ Nuôi ta lớn dạy ta thành chiến sỹ/ Chân cứng đá mềm vắt qua hai thế kỷ/ Để hôm nay khôn lớn thành người”. (Nhớ bến Hạc)

Ông không dùng thơ để làm dáng hay phô trương mà dùng thơ như một cách để sống thật nhất với chính mình. Dù ở đỉnh cao sự nghiệp hay khi trở về làm một ông lão làng quê thanh thản, ông Nguyễn Hữu Điền vẫn giữ nguyên một tâm thế: sống chân thành, giản dị, làm việc hết mình và yêu thương trọn vẹn.

“Ta đã nhận nhiều đời ban tặng/ Phải gắng làm điều thiện cho đời/ Đừng hận thù, tham lam, độc ác/ Cuộc đời là quy luật người ơi!” (Tâm sự cuối năm)

Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền là một tấm gương sáng về tinh thần phụng sự và tình yêu văn hóa nghệ thuật. Ông đã đi qua một chặng đường dài đầy cống hiến, để lại không chỉ những thành quả phát triển kinh tế – xã hội cho quê hương Phú Thọ mà còn cả một di sản thơ ca giàu cảm xúc; những quan tâm chỉ đạo, những quyết sách về gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa, văn học nghệ thuật vùng đất Tổ. Tên tuổi của ông sẽ còn đọng lại trong lòng người dân và văn nghệ sĩ đất Tổ như một hình mẫu đẹp: Người cán bộ trọn vẹn với đất, người nghệ sĩ trọn tình với thơ.

Phú Thọ, 22/9/2026

Đỗ Ngọc Dũng

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Đoàn Thị Lam Luyến – Người gửi gió vào thơ, gửi tình vào trẻ thơ

Có lẽ, sau bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời – từ cô bé nghèo đi ở đợ, đến nhà thơ nổi tiếng, đến người đàn bà từng trải qua những mối tình dở dang – Đoàn Thị Lam Luyến đã tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn. Bà không còn viết nhiều như trước, nhưng những gì bà để lại cho văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học thiếu nhi, thì vẫn còn mãi…

Nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến. Ảnh: Xuân Chi

Có một người đàn bà mà khi bà bước vào trại sáng tác Nha Trang năm 1997, có không ít “đấng mày râu” trong giới văn nghệ sĩ đã xôn xao bàn tán về tài và sắc của “nàng”. Có một người đàn bà mà nhà thơ Nguyên Hồ – khi ấy đã ở tuổi lục tuần – cũng không khỏi rung động, phải ứng tác ngay mấy câu thơ:

“Nha Trang Luyến đến lần đầu
Chưa vui sum họp đã sầu chia ly
Luyến đến rồi Luyến lại đi
Nha Trang hỏi Luyến có gì luyến không?”

Và người đàn bà ấy, không chịu thua kém, cũng liền ngẫu hứng đáp lại bằng bài thơ tự trào:

“Làng văn có chị Đoàn Lam
Tình dọc thì ít, tình ngang thì nhiều
Hết ‘Châm khói’ lại ‘Dại yêu’
Xem trong âu yếm có nhiều chông gai.”

Người đàn bà ấy là Đoàn Thị Lam Luyến – nhà thơ, họa sĩ, và là một trong những gương mặt nữ nổi tiếng của văn học Việt Nam đương đại. Nhưng ít ai biết rằng, đằng sau vẻ ngoài tài hoa ấy là cả một hành trình dài của những tháng ngày gian khó. Và đặc biệt, bà còn là người đã gửi vào thơ thiếu nhi một tình yêu thương bao la, để rồi những vần thơ ấy theo bao thế hệ học trò đến trường.

Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau kể câu chuyện về người đàn bà ấy – người đã “gửi gió vào thơ, gửi tình vào trẻ thơ”.

1. Cô bé nghèo và những bước chân đầu tiên

Đoàn Thị Lam Luyến sinh năm 1953 tại xã Anh Dũng, huyện Phù Tiên (nay là Tiên Lữ), tỉnh Hưng Yên – một vùng quê chiêm trũng, nghèo khó nhưng giàu truyền thống văn hóa. Tuổi thơ của bà không có những ngày tháng êm đềm như trong cổ tích. Mới 7,8 tuổi, cô bé Lam Luyến đã biết chăn trâu, cắt cỏ, kéo vó tôm. 11 tuổi, cô bé phải đi làm con nuôi cho một nhà bán hàng cơm trên phố – thực chất là đi ở đợ. 12 tuổi, cô phải đi làm thợ phụ đóng gạch.

Năm 1965, gia đình Lam Luyến từ Hưng Yên di cư lên vùng sông Mã (Sơn La) xây dựng kinh tế mới. Chính nơi đây, giữa núi rừng Tây Bắc, cô bé 13 tuổi đã bén duyên với nghệ thuật. Năm 1966, Lam Luyến được cử tuyển vào Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Khu tự trị Tây Bắc. Cùng năm ấy, cô được dự giải thưởng thơ thiếu nhi 1966-1967 và ngồi chung chiếu với nhà thơ Trần Đăng Khoa – cậu bé thần đồng thơ của Việt Nam.

Từ đó, con đường nghệ thuật của Lam Luyến ngày càng rộng mở. Năm 1976-1982, bà theo học Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội. Sau khi ra trường, bà công tác tại Nhà xuất bản Thanh Niên, làm biên tập viên mỹ thuật. Và cũng chính tại đây, bà bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ ca của mình.

Nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến

Bà từng tâm sự: “Học vẽ từ bé đến giờ /Một đời kiếm sống là nhờ bút lông.” Nhờ cây cọ, Đoàn Thị Lam Luyến không chỉ có thu nhập từ các bức chân dung sơn dầu, thủy mặc cho khách hàng, mà còn đóng góp nét đẹp vào đời sống. Logo bà vẽ cho Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng được trả số tiền tương đương 5 lượng vàng – một con số không lỗ thời bây giờ. Và logo ấy, đến hôm nay, vẫn theo công nhân tới các công trình xây dựng. Nét chữ t và n mềm mại trên logo Nhà xuất bản Thanh Niên cũng chính là do bà vẽ.

Có lẽ chính cái nền tảng hội họa ấy đã giúp thơ Lam Luyến có những câu thơ giàu hình ảnh, giàu màu sắc, và đặc biệt là rất giàu “gió” – bởi bà tin rằng số mệnh của mình thuộc về quẻ “Phong Lôi Ích” (quê Tốn là gió, Chấn là sấm). Nhà văn Xuân Cang từng viết về bà: “Ngày sinh tháng đẻ của bà rơi vào quẻ luôn luôn gần gũi với vũ trụ, với trời đất nhiều hơn là với hoa cỏ, con người… Quẻ đó là quẻ Phong Lôi Ích.” Và quả thật, thơ Lam Luyến có rất nhiều gió và sấm. Gió thổi từ những cánh diều thơ ấu, gió thổi qua những trang thơ tình, và gió cũng thổi vào cả những bài thơ thiếu nhi. Có lẽ vì thế mà thơ bà dành cho thiếu nhi lại trong trẻo, tươi mát và đầy sức sống đến kỳ lạ.

2. Nhà thơ của những yêu thương đằm thắm

Đoàn Thị Lam Luyến được biết đến với tập thơ đầu tay “Lỡ một thì con gái” in năm 1989 – một cái tên nghe thật lạ, thật duyên, và cũng thật buồn. Tập thơ được độc giả đón nhận nồng nhiệt bởi chất thơ đầy tình yêu và nữ tính. Từ đó, bà liên tục cho ra đời nhiều tập thơ khác: “Cánh cửa nhớ bà” (1990), “Chồng chị chồng em” (1991), “Châm khói” (1995), “Dại yêu”…

Thơ tình của Lam Luyến không e ấp, không che giấu. Nó nồng nàn, da diết, và đôi khi rất táo bạo. Bà kể lại: “Khi viết xong bài thơ này (Bài “Chiến tranh”), tôi có cảm tưởng mình già đi mấy tuổi. Có đồng nghiệp nữ gọi điện hỏi: Sao có thể viết khủng khiếp như thế? Đây là bài thơ thực sự mất nhiều nhan sắc nhất của tôi, nhưng cũng được nhiều người đánh giá cao và tôi cũng hài lòng nhất.”

Có thể nói, thơ tình của Đoàn Thị Lam Luyến là một trong những tiếng nói mạnh mẽ và chân thực nhất về người phụ nữ trong văn học Việt Nam hiện đại. Bà từng được xếp thứ  9 trong danh sách 10 nữ văn sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam, mà Hồ Xuân Hương đứng hàng đầu. Một vinh dự không nhỏ cho một người đàn bà dám sống, dám yêu, và dám viết.

Nhưng không chỉ có thơ tình, Đoàn Thị Lam Luyến còn là một nhà thơ thiếu nhi tài năng. Và có lẽ, chính mảng thơ này đã đưa tên tuổi bà đến với hàng triệu độc giả nhí trên khắp đất nước.

3. Người gửi gió vào thơ thiếu nhi

Nếu có một bài thơ thiếu nhi nào của Đoàn Thị Lam Luyến được nhiều thế hệ học trò yêu thích nhất, đó chính là “Dáng hình ngọn gió” – bài thơ đã được đưa vào sách giáo khoa lớp 5. Bài thơ mở ra một thế giới thiên nhiên kỳ diệu, nơi gió không phải là một hiện tượng vô hình, mà là một người bạn có hình dáng, có tính cách, có tình cảm:

“Bầu trời rộng thênh thang
Là căn nhà của gió
Chân trời như cửa ngỏ
Thả sức gió đi về
Nghe lá cây rầm rì
Ấy là khi gió hát
Mặt biển sóng lao xao
Là gió đang dạo nhạc

Những ngày hè oi bức
Cứ tưởng gió đi đâu
Gió nép vào vành nón
Quạt dịu trưa ve sầu
Gió còn lượn lên cao
Vượt sông dài biển rộng
Cõng nước làm mưa rào
Cho xanh tươi đồng ruộng

Gió khô ô muối trắng
Gió đẩy cánh buồm đi
Gió chẳng bao giờ mệt!
Nhưng đổ ai biết được
Hình dáng gió thế nào.”

Bài thơ chỉ vỏn vẹn vài khổ, nhưng đã mở ra cả một thế giới tưởng tượng phong phú cho trẻ thơ. Gió ở đây không còn là một hiện tượng vô hình, mà trở thành một nhân vật có “căn nhà” là bầu trời, có “cửa ngỏ” là chân trời, biết “hát” khi lá cây râm rì, biết “dạo nhạc” khi sóng biển lao xao, biết “nép vào vành nón” để quạt dịu cái nóng mùa hè, biết “cõng nước làm mưa rào” cho đồng ruộng xanh tươi, biết “đẩy cánh buồm đi” trên biển cả. Và cuối cùng, bài thơ kết thúc bằng một câu hỏi tu từ thật thú vị: “Nhưng đổ ai biết được / Hình dáng gió thế nào.”

Cái hay của bài thơ là ở chỗ: nó không chỉ dạy trẻ về thiên nhiên, mà còn dạy trẻ về cách quan sát, cách tưởng tượng, cách nhân hóa thế giới xung quanh. Gió không có hình dáng, nhưng qua con mắt trẻ thơ, gió có thể có hình dáng của bất cứ điều gì mà trẻ muốn. Đó chính là sự tự do của trí tưởng tượng – món quà quý giá nhất mà thơ thiếu nhi có thể mang đến cho các em.

Một bài thơ thiếu nhi khác của Đoàn Thị Lam Luyến cũng rất nổi tiếng là “Cánh cửa nhớ bà” – bài thơ được cả ba bộ sách giáo khoa lớp 2 hiện hành (“Cánh diều”, “Chân trời sáng tạo”, “Kết nối tri thức với cuộc sống”) lựa chọn:

“Ngày cháu còn thấp bé
Cánh cửa có hai then
Cháu chỉ cài then dưới
Nhờ bà cài then trên
Mỗi năm cháu lớn lên
Bà lưng còng cắm cúi
Cháu cài được then trên
Bà chỉ cài then dưới
Nay cháu về nhà mới
Bao cánh cửa ô trời
Mỗi lần tay đẩy cửa
Lại nhớ bà khôn nguôi.”

Bài thơ chỉ có 60 âm tiết, nhưng chứa đựng cả một hành trình thời gian – từ khi cháu còn bé, chỉ cài được then dưới, phải nhờ bà cài then trên; đến khi cháu lớn lên, bà già đi, lưng còng cắm cúi, cháu cài được then trên, bà chỉ cài then dưới; và cuối cùng, khi cháu về nhà mới, mỗi lần đẩy cửa lại nhớ bà khôn nguôi. Cái hay của bài thơ là ở chỗ: tác giả không nói một lời nào về tình yêu thương của bà, về nỗi nhớ bà, mà chỉ kể về những cái then cửa – một chi tiết rất nhỏ, rất đời thường. Nhưng chính cái then cửa ấy lại là biểu tượng của thời gian, của sự trưởng thành, của tình cảm bà cháu thiêng liêng. Nhà thơ,  nhà phê bình Phạm Khải đã nhận xét: “Quá khứ tưởng đã cài then, nhưng lòng cô gái mở ra, cánh cửa nhà cô mở ra, mãi mãi gắn với hình ảnh người bà nhân hậu.”

Và còn một bài thơ thiếu nhi khác của Đoàn Thị Lam Luyến cũng rất đặc biệt – bài “Em yêu nhà em“, được đưa vào sách Tiếng Việt lớp 2, bộ “Cánh diều”:

“Chẳng đâu bằng chính nhà em
Có đàn chim sẻ bên thềm líu lo
Có nàng gà mái hoa mơ
Cục ta cục tác khi vừa đẻ xong
Có bà chuối mật lưng cong
Có ông ngô bắp râu hồng như tơ
Có ao muống với cá cờ
Em là Cô Tấm đợi chờ bống lên
Có đầm ngào ngạt hoa sen
Ếch con tập nhạc, dế mèn ngâm thơ
Dù đi xa thật là xa
Chẳng đâu vui được như nhà của em.”

Bài thơ là một bức tranh quê hương thanh bình, với đàn chim sẻ, nàng gà mái, bà chuối mật, ông ngô bắp, ao muống với cá cờ, đầm sen ngào ngạt, ếch con đi học, dế mèn ngâm thơ… Tất cả đều được nhân hóa, đều có tên, có tuổi, có tính cách như những người bạn thân thiết của trẻ thơ. Và thông điệp của bài thơ thật giản dị mà sâu sắc: “Dù đi xa thật là xa / Chẳng đâu vui được như nhà của em.” Cái hay của bài thơ là ở chỗ: nó không chỉ miêu tả cảnh vật, mà còn truyền tải một tình cảm – tình yêu quê hương, yêu gia đình. Nhưng tình cảm ấy không được nói ra một cách trực tiếp, mà được thể hiện qua những hình ảnh cụ thể, gần gũi, dễ thương. Đó chính là nghệ thuật của thơ thiếu nhi: dạy trẻ những điều lớn lao bằng những câu chuyện nhỏ bé, giản dị.

4. Bài thơ bị từ chối và nỗi lòng tác giả

Trong sự nghiệp sáng tác cho thiếu nhi của Đoàn Thị Lam Luyến, có một bài thơ mà bà rất tâm huyết, nhưng lại từng bị Nhà xuất bản Kim Đồng từ chối đưa vào tập sách “Cánh cửa nhớ bà”. Đó là bài “Chiếc roi đầu tiên”:

“Nụ cười đầu tiên
Nở trên môi trẻ
Tiếng nói đầu tiên
Ngả vào vai mẹ
Cánh buồm đầu tiên
Tặng cho biển cả
Trái cây đầu tiên
Tặng người vất vả
Không ai còn lạ
Chiếc roi đầu tiên
Dành cho những đứa
Cứ hay vòi tiền.”

Bài thơ chỉ có 12 câu, nhưng chứa đựng một tư tưởng giáo dục sâu sắc: trong cuộc đời, mọi thứ đầu tiên đều đẹp đẽ, đáng trân trọng – nụ cười đầu tiên, tiếng nói đầu tiên, cánh buồm đầu tiên, trái cây đầu tiên… Nhưng có một thứ “đầu tiên” mà không ai muốn nhận, đó là “chiếc roi đầu tiên” – dành cho những đứa trẻ “cứ hay vòi tiền”. Bài thơ như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía về giáo dục: đôi khi, yêu thương không chỉ là nuông chiều, mà còn là nghiêm khắc đúng lúc.

Tuy nhiên, Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng khi ấy – ông Bùi Hồng –-nhất định không cho công bố bài thơ này, vì cho rằng với trẻ thơ, cấm kỵ không nên giáo dục chúng bằng roi vọt. Đoàn Thị Lam Luyến tâm sự: “Tôi thích mảng thơ viết cho thiếu nhi và thấy có bài thơ của mình hợp với ‘tiêu chí’ để đưa vào sách giáo khoa, ví dụ bài thơ “Rừng”, “Mẹ”, “Nón”,“Thuyền và sóng ”. Tuy nhiên, việc chọn lựa tác phẩm in sách thì mỗi tác giả không thể chủ động được. Có những bài thơ tôi khá bằng lòng nhưng lại gặp trục trặc. Ví dụ như trường hợp bài thơ ‘Chiếc roi đầu tiên’… Tôi nghĩ, nếu bài thơ này được công bố sớm hơn thì có lẽ không chỉ trẻ con mà cả những người lớn cũng sẽ bớt “hư” hơn rất nhiều.”

Đây có lẽ cũng là một trong những “chua ngọt đời văn” mà bất kỳ nhà văn nào cũng từng trải qua: có những tác phẩm mình tâm huyết nhưng không được công nhận, có những bài thơ mình viết vội lại trở thành nổi tiếng. Nhưng với Đoàn Thị Lam Luyến, điều quan trọng không phải là bài thơ nào được in, mà là tình yêu thương bà dành cho trẻ thơ – tình yêu ấy vẫn luôn nguyên vẹn, dù bài thơ có được công bố hay không.

Nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến

5. Người đàn bà “thân nhiên bước vào cõi tu”

Ở đỉnh cao thành công của sự nghiệp viết và vẽ, Đoàn Thị Lam Luyến “thản nhiên” bước vào cõi tu, dù không cần xuống tóc. Với bà, tu là để “trở về” những gì tốt đẹp, thuận lẽ tự nhiên. Bà nói với Báo Nhân Dân ngày 26.5.2021:

“Bây giờ ta trở về thôi
Bước chân như có gió trời nâng lên
Vô tư chẳng thấy ưu phiền…”

Có lẽ, sau bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời – từ cô bé nghèo đi ở đợ, đến nhà thơ nổi tiếng, đến người đàn bà từng trải qua những mối tình dở dang – Đoàn Thị Lam Luyến đã tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn. Bà không còn viết nhiều như trước, nhưng những gì bà để lại cho văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học thiếu nhi, thì vẫn còn mãi. Bà từng tâm sự về quan niệm sống của mình: “Ai biết bằng lòng với cuộc sống thì sẽ hạnh phúc. Tôi không so sánh với bất kỳ ai… Tôi có đông bạn bè, ấy là tôi giàu có, và dù có thế nào tôi cũng thấy bằng lòng với cuộc sống hiện tại.”

Ở tuổi 75, trông bà vẫn phong độ, hàng ngày luôn thức dậy trước 5 giờ sáng, làm việc trên máy tính hàng mấy giờ liền, buổi trưa gần như không ngủ, không có bệnh nền, đặc biệt không dùng bảo hiểm y tế 14 năm liền nhờ tu luyện môn khí công Phật Gia Thượng thừa.

Khúc vĩ thanh

Đoàn Thị Lam Luyến – một người đàn bà tài sắc, một nhà thơ dám sống dám yêu, một họa sĩ tài hoa, và một người gửi tình vào trẻ thơ. Bà đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác đáng nể trọng: 10 tập thơ, một số bài thơ được đưa vào sách giáo khoa, và vô số những câu thơ đã đi cùng năm tháng.

Nhưng có lẽ, món quà lớn nhất mà bà để lại cho thế hệ trẻ không chỉ là những bài thơ, mà là một tấm gương về sự dấn thân, về tình yêu thương, và về niềm tin vào cái đẹp. Bà từng nói: “Đã đi vào nghiệp văn chương là phải dấn thân và cả hy sinh nữa. Để có ‘nhan sắc’ cho thơ, người viết dám mất đi nhan sắc của chính bản thân mình.”

Và những vần thơ của bà – từ “Dáng hình ngọn gió” đến “Cánh cửa nhớ bà”, từ “Em yêu nhà em” đến “Chiếc roi đầu tiên” – sẽ còn mãi theo năm tháng, gửi gió vào thơ, gửi tình vào trẻ thơ, và gửi lại cho đời một tấm lòng.

Như chính bà đã viết:

“Bây giờ ta trở về thôi
Bước chân như có gió trời nâng lên.”

“Gửi tình yêu vào đất
Được hoa trái đầy cành
Gửi lên trời cao rộng
Sẽ được ngọn gió xanh.”

(Trích “Gửi tình yêu” – Đoàn Thị Lam Luyến)

20/10/2026

Lê Ngọc Tú

Nguồn: Rút từ cuốn “Kể chuyện tác giả viết cho thiếu nhi”, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam 2026

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Chàng kỹ sư yêu biển viết văn Trương Anh Quốc

Trương Anh Quốc là một trong những người bạn có nhiều gắn bó với Phú Yên trong các hoạt động văn học. Sinh trưởng ở Quế Sơn, Quảng Nam, anh tốt nghiệp kỹ sư điện Trường Hàng hải, định cư tại TP Hồ Chí Minh, làm việc trong ngành vận tải biển và dầu khí. Biển cả không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là tình yêu, nguồn cảm hứng cho chàng kỹ sư trẻ sáng tác văn học mà mới nhất là tiểu thuyết du ký độc đáo “Sóng” do NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2019.

Tiểu thuyết du ký là thể loại hiếm thấy trong văn học Việt Nam và thế giới. Và có lẽ “Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc là tiểu thuyết du ký biển đầu tiên của nước ta. Tác phẩm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn nghề đi biển của các thủy thủ và nhân viên tàu viễn dương, một nghề vốn rất quyến rũ nhưng cũng đầy khó nhọc và còn xa lạ với nhiều người. Đồng thời “Sóng” còn mang lại những kiến thức, vẻ đẹp của các vùng biển, vùng đất, con người ở nhiều nơi trên thế giới mà tác giả đặt chân tới bằng góc nhìn, cảm nhận tinh tế riêng biệt.

Chính những điều trên, tiểu thuyết du ký “Sóng” lôi cuốn sự tò mò của bạn đọc, nhất là giới trẻ thích xê dịch khám phá. Ngoài ra, theo nhà văn Trương Anh Quốc: “Viết “Sóng” mình chọn lối viết nhẹ nhàng, không tập trung vào xây dựng cốt truyện với tuyến nhân vật xung đột mâu thuẫn rồi đi tìm cách gỡ, mình chú trọng đến nét mới lạ của văn hóa vùng miền của bước chân nhân vật du hành bằng đường biển trải qua. Đi bằng đường biển sẽ có sự thú vị riêng, dưới đôi mắt của nhân vật – người đi biển sẽ có cách nhìn khác qua một lăng kính khác, nhất định sẽ khác với lăng kính của người du hành bằng đường hàng không hay đường bộ, đường sắt. Góc nhìn từ ngoài biển vào bờ, có cả sự mong ngóng, trìu mến và bao dung”.

Trương Anh Quốc xuất hiện trên văn đàn hơn mười năm trước và nhanh chóng gặt hái thành công. Anh đã xuất bản ba tập truyện ngắn “Sóng biển rì rào”, “Lũ đầu mùa”, “Hợp đồng chiều thứ bảy” cùng một tiểu thuyết “Biển” và bây giờ là “Sóng”. Anh cũng được trao những giải thưởng có giá trị: Giải nhì Văn học tuổi 20 lần 3 và Giải nhất Văn học tuổi 20 lần 4 do NXB Trẻ phối hợp Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức, giải các cuộc thi truyện ngắn của báo Sài Gòn Giải Phóng, tạp chí Văn Nghệ Quân Đội.

Trong số 5 tác phẩm đã xuất bản của Trương Anh Quốc thì có 3 tập viết thuần về biển là tập truyện ngắn đầu tay “Sóng biển rì rào”, 2 tiểu thuyết “Biển” và “Sóng”. Có thể nói biển đã mang lại nguồn cảm hứng lớn lao, giúp cho chàng kỹ sư trẻ sớm tự phát hiện và chọn cho mình con đường riêng để bước vào thế giới văn chương. Như lời tâm sự của anh: “Có lẽ mình may mắn khi chọn viết về biển trong lúc có rất ít người viết về đề tài này và họ không phải là người trong cuộc. Mình viết sẽ dễ dàng hơn khi ngành hàng hải đặc thù với rất nhiều ngôn ngữ chuyên ngành. Ngôn ngữ chuyên ngành tiếng quốc tế có khi không thể tìm từ tiếng Việt sát nghĩa để thay thế. Tiểu thuyết “Sóng” chỉ gói ghém trong một hành trình đi trên một con tàu, trong khi mình đã làm việc trên nhiều con tàu đi khắp nơi như thế”.

Tiểu thuyết du ký “Sóng” của Trương Anh Quốc

Hành trình để nhà văn Trương Anh Quốc viết nên tiểu thuyết “Sóng” chính là chuyến đi biển xa đầu tiên sau khi anh rời trường đại học với tấm bằng kỹ sư điện ngành hàng hải. Theo lời anh: “Chuyến tàu biển vòng quanh thế giới đầu tiên trong cuộc đời đi biển của mình đã để lại nhiều ấn tượng đẹp và thú vị. Khi đó, mỗi lần đến cảng nào, nước nào, đi bờ ra sao… khi về tàu mình đều ghi lại trong những tập giấy A4. Cũng trong chuyến đó mình mua được chiếc máy tính xách tay nên cặm cụi gõ chữ từ xấp giấy vào máy tính. Mình cũng mua được một chiếc máy ảnh kỹ thuật số bấy giờ mới ra nên quý lắm, đi bờ chụp hình về tàu lưu hết trong máy tính”.

Thế nhưng điều bất ngờ đã xảy ra. Khi Trương Anh Quốc cùng con tàu trở về nước thì chiếc máy tính đó bị trộm vào nhà cuỗm mất. Bao nhiêu công sức, chữ nghĩa, hình ảnh anh lưu trong máy bay luôn. Anh cất công tìm kiếm mua lại nhưng cái máy vẫn biệt tăm, không thể nào tìm lại được. Thế rồi một điều kỳ diệu lại đến với anh khi khởi động viết tiểu thuyết “Sóng”, đó là bao nhiêu cảm xúc hơn 15 năm trước chợt ùa về với những hình ảnh rõ mồn một.

Dù chuyến đi biển đầu tiên Trương Anh Quốc đặt chân lên hơn ba chục quốc gia, hàng mấy chục bến cảng nhưng anh chỉ chọn những bến cảng, vùng đất đã để lại ấn tượng thật sâu sắc để đưa vào tiểu thuyết du ký “Sóng”. Anh cho biết: “Mình chọn những điểm nhấn điển hình nói lên được tập tục, văn hóa của vùng ấy nhưng không sa đà vào chi tiết, tránh không đưa ra những thông tin có thể tra tìm trên gu gồ (google). Nơi đến nhiều khi chỉ là cái cớ để có câu chuyện mà thôi. Với phương châm ấy, “Sóng” nhẹ nhàng như một cuộc dạo chơi thăm thú các vùng đất mới, mỗi nơi để lại một câu chuyện thú vị nho nhỏ vậy”.

Đúng vậy, có nhiều câu chuyện độc đáo trong tiểu thuyết “Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc. Chẳng hạn, chuyện về hòn đảo Tenerife cách châu Phi chưa đầy 300km và cách Tây Ban Nha đến vài ngàn cây số nhưng nó là khu tự trị thuộc Tây Ban Nha. Thật kỳ lạ. Mỗi năm Tenerife đón lượng khách du lịch quốc tế gấp mười lần số dân trên đảo. Chính quyền ưu tiên phát triển đảo còn hơn đất liền. Biển đảo gắn liền lợi ích kinh tế, du lịch cả vị trí địa lý, vùng trời lòng biển lòng đất…

Cũng ở châu Phi, theo nhà văn Trương Anh Quốc, khi tàu đi qua một hòn đảo bé tẹo thì thuyền trưởng người Pháp cho tàu tạt gần hòn đảo một chút rồi thông báo cho thuyền viên ra xem. Chỉ một thoáng, từ trong đảo có các canô chạy ra xua đuổi tàu hàng vì xâm phạm 12 hải lý chủ quyền hòn đảo. Họ phát loa thông báo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp một cách kiên quyết. Bất ngờ, thuyền trưởng tàu hàng cho căng cờ Pháp lên và cũng đáp lại bằng tiếng Pháp. Vậy là mấy chiếc canô kia quay đầu vào bờ. Thuyền trưởng cùng mấy thuyền viên người Pháp cười khoái chí và tỏ ra rất tự hào. Hóa ra thuyền trưởng biết hòn đảo xa tít mù khơi tận biển châu Phi này là của nước Pháp nên trêu đùa cho vui với thuyền viên trên tàu.

Còn trẻ và còn nhiều cơ hội lênh đênh trên khắp các đại dương, chàng kỹ sư yêu biển Trương Anh Quốc nhất định sẽ tiếp tục mang lại cho bạn đọc nhiều trang văn hay và độc đáo như “Sóng”.

11/10/2019

Phan Tấn Hùng

Nguồn: PYO

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Du Tử Lê: Người dâng hiến trọn đời cho thi ca

Sau sự ra đi của nhà thơ Tô Thùy Yên mấy tháng trước, ngày 9-10-2019, giới văn nghệ hải ngoại lại thêm một mất mát nữa. Đó là sự ra đi của nhà thơ Du Tử Lê.

Nhà thơ Du Tử Lê  (1942) vừa qua đời. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972). Ông có tới 70 tập thơ và văn xuôi. Du Tử Lê cũng là nhà thơ châu Á duy nhất được phỏng vấn và có thơ đăng trên hai nhật báo lớn của Hoa Kỳ: Los Angeles Times (1983) và New York Times(1996). Thơ ông cũng đã và đang được đưa vào giảng dạy, làm tài liệu nghiên cứu, đọc thêm tại một số trường đại học tại Hoa Kỳ và Châu Âu. Vĩnh biệt ông, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết về ông của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha và ba bài thơ của ông.

Nhà thơ Du Tử Lê (1942- 2019)

Sau sự ra đi của nhà thơ Tô Thùy Yên mấy tháng trước, ngày 9-10-2019, giới văn nghệ hải ngoại lại thêm một mất mát nữa. Đó là sự ra đi của nhà thơ Du Tử Lê.

Ngay sau ngày thống nhất, tôi đã đọc thơ Du Tử Lê in trên các tạp chí văn nghệ ở miền Nam trước 1975. Được biết ông đã đoạt giải văn chương năm 1972 do nhà thơ Vũ Hoàng Chương và nhà thơ Bàng Bá Lân làm chủ khảo. Tôi đồ rằng có lẽ Du Tử Lê rất thích bài hát “Lời du tử” của Nguyễn Đình Phúc nên mới lấy chữ “Du Tử” gắn với họ Lê của mình thành ra bút danh Du Tử Lê. Tôi gặp ông ở TP.HCM trong một cuộc bàn tròn trao đổi về thơ hồi cuối tháng 3-2007. Năm đó, tôi cũng sang Mỹ dự hội thảo về chủ nghĩa cổ điển tự nhiên tại đại học Dallas, người ta bảo Du Tử Lê cũng đã từng đến đây đọc thơ. Trong số các nhà thơ Việt Nam ở hải ngoại, có lẽ thơ Du Tử Lê được quảng bá ở Mỹ và châu Âu khá nhiều.

Có lẽ vì hơi thơ lãng mạn hòa trộn với hiện đại ở thơ ông đã khiến cho bạn đọc nước ngoài chú ý. Tới năm 2014, khi Du
Tử Lê ra mắt tập thơ “Giỏ hoa thời mới lớn” ở Hà Nội, tôi mới có dịp đọc thơ ông nhiều hơn bởi được ông tín nhiệm để tôi giới thiệu thơ ông với mọi người. Ở tập thơ, tôi chú ý những bài viết về mảnh đất Gia Lai mà tôi đã từng gắn bó thời chiến tranh. Du Tử Lê cũng thế. Chỉ có khác là hai người ở hai chiến tuyến đối đầu nhau. Khác với Nguyễn Bắc Sơn trăn trở về cuộc chiến tranh thật rõ nét qua tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi”,  Du Tử Lê luôn lãng mạn hóa vùng chiến địa này qua những bài thơ tình, như thể ở đó chưa hề xảy ra bom rơi, đạn nổ. Ngay cả đến dấu vết “mai xa lắc trên đồn biên giới” như Vũ Hữu Định, cũng không có trong thơ Du Tử Lê. Đọc bài “Khi ngang qua Pleime” – một địa danh nổi tiếng với chiến công thắng Mỹ cuối 1966, không thấy
một tí ti ùng oàng nào trong thơ Du Tử Lê: “Khi ta đến cây im rừng nín thở – một mặt trời rực rỡ đỉnh truông xa – một hồn xanh gọi rét mướt hiên nhà – một tóc chảy theo trăm dòng suối lạ…” Ở bài “Pleiku và hoa quỳ” cũng thế. Đọc thơ Du Tử Lê, thấy rười rượi một màu vàng hoa quỳ trên đất đỏ bazan phố núi: “Khi ta trở lại rừng – chỉ còn nghe gió hú – núi trong buổi chiều nay – nhìn ta bằng mắt lạ – hoa nở vàng chân mây – tái tê từng cánh nhỏ”. Có lẽ bởi thế,  Du Tử Lê được phổ nhạc khá nhiều. Trong những tình ca ấy, ám ảnh nhất là “Khúc Thụy Du” qua giai điệu Anh Bằng. Bài thơ nói về việc tìm kiếm người yêu ở miền Phú Lâm (bây giờ thuộc quận 6) Sài Gòn sau đổ nát của cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968, từ đấy tác giả thấm thía về những mất còn mà chiến tranh mang lại.

Năm 2017, tôi sang Mỹ và ghé chơi quận Cam, lại gặp Du Tử Lê nhỏ thó nơi góc bàn cà phê quen thuộc. Cũng năm ấy, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã ấn hành trường ca “Mẹ về biển Đông” của ông. Trường ca lấy cảm hứng từ sự ra đi của chính mẹ ông. Nó gồm 5 khúc. Khúc thứ nhất “Ngôi nhà trắng, chiếc quan tài và những cây phong ở đường Beach”. Khúc thứ hai “”Những cánh cửa sổ, hồi chuông và buổi sáng”. Khúc thứ ba “Những bông hoa birdflower, nắm đất và sự trở lại”. Khúc thứ tư “Chuyến bay muộn ký ức và mẹ ở xa”. Khúc thứ năm “Cõi mẹ về”. Thật rưng rưng khi ông viết: “Những ngôi mộ ở bên ngoài đất nước – ngàn năm sau hai tiếng Việt Nam – không ai gọi, không còn ai nhắc nữa! dúm xương xưa tanh lợm, thiếu nguồn”.  Nỗi bi kịch sinh tử của người xa xứ hình như đã được ông cảm nhận trước khi bước đến khoảnh khắc làm bạn với cái chết. Vĩnh biệt ông. Cầu mong linh hồn ông sớm bay về đất mẹ Việt Nam.

Chùm thơ Du Tử Lê:

Chân dung

tôi ngồi trong
nỗi tôi riêng

bên trong ghế
lạnh, ngoài hiên bóng rời

phòng tôi trần
thiết gương người

tường sơn kỷ
niệm, vách bồi dáng xưa

tóc người chảy
suốt cơn mưa

ngực thơm hoa
bưởi, môi đưa bão về

tôi ngồi giữa cõi-tôi-khuya

có ai gõ cửa? mà nghe lá chào

tưởng người ngọn
sóng lao xao

biển muôn năm
gọi tôi nào có vui

người về có
nén hương, thôi

cắm lên phần mộ
hồn tôi úa vàng

Chẳng lớn lao nào hơn nỗi cô đơn

cảm ơn kỷ niệm
nuôi em lớn.

như bóng nuôi
hình lúc thiếu nhau.

cảm ơn ngực ấm
nuôi thương bạn.

giọt lệ nuôi tình
sâu kiếp sau.

cảm ơn xa, vắng
nuôi em lớn.

như lá nuôi rừng
thuở thiếu niên.

cảm ơn chăn, gối
cho mưa, nắng.

quá khứ như
người có tuổi, tên.

cảm ơn định mệnh
nuôi em lớn.

hạt giống u tình
kia, tự tâm.

cảm ơn lênh
láng / đêm / da, thịt.

những ngón tay
thơm chọn lựa, mình.

cảm ơn thần
thánh nuôi em lớn.

như gió nuôi
trời lúc bão lên.

cảm ơn núi nhắc
sông xa, nhớ.

chẳng lớn lao
nào hơn cô đơn.

cảm ơn sách vở
nuôi em lớn.

con chữ nuôi
người trong giấc mơ.

hồn nuôi rưng
rưng từng khối đá.

tôi trầm mình
trong em, đời sau.

cảm ơn hiện tại không sau, trước.

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

đời lưu vong không cả một ngôi mồ

vùi đất lạ thịt xương e khó rã

hồn không đi, sao trở lại quê nhà

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi

bên kia biển là quê hương tôi đó

rặng tre xưa
muôn tuổi vẫn xanh rì

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi

cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối

biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi

những năm trước bao người ngon miệng cá

thì sá gì thêm một xác cong queo

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

cho tôi về gặp lại các con tôi

cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi

từ những mắt đã
buồn hơn bóng tối

.

khi tôi chết nỗi
buồn kia cũng hết

đời lưu vong tận
huyệt với linh hồn

(12-1977)

11/10/2019

Nguyễn Thụy Kha

Nguồn:VNN

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Dấu vết của lời ca Người đàn bà nào lại không biết yêu, cô mỉm cười, những con chim ngu ngốc không tranh đấu ngoài bầu trời gió sẽ lăn r...