VĂN THƠ NHẠC
Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026
Nhà văn Sài Gòn sống và viết
Văn chương miền Nam trước 1975 là văn chương Việt Nam. Dẫu có rất nhiều khác biệt thì hôm nay đọc lại, chúng ta càng nhận ra diện mạo chung: Nền văn học Việt Nam thống nhất trong đa dạng, bổ sung, làm đầy nhau trên cùng một dòng chảy tìm về…
Nhà văn Bùi Tự Lực: Ký ức tuổi thơ làm bệ phóng trang văn
Nhà văn Bùi Tự Lực: Ký ức
tuổi thơ làm bệ phóng trang văn
Nhà văn Bùi Tự Lực sinh ngày 9.10.1954 ở xã Bình Trị,
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam vừa đột ngột từ trần ngày 30.4.2020
tại Đà Nẵng. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2003, nguyên Ủy viên
Ban Chấp hành – Chủ tịch Hội đồng Văn xuôi Hội Nhà văn TP Đà Nẵng. Bùi Tự
Lực là tác giả của nhiều tập truyện, thơ, bút ký, trong đó nổi bật
nhất là tập truyện vừa Nội tôi (Giải B cuộc vận động sáng tác
truyện, tranh truyện thiếu nhi 1999-2000 của NXB Kim Đồng) được tái bản
hàng chục lần, ngoài ra ông còn được trao Giải thưởng Văn học Nghệ thuật
TP Đà Nẵng lần thứ nhất (1997-2005) và Giải thưởng Văn học Nghệ
thuật Đất Quảng lần thứ nhất (1997-2010)…
Vĩnh biệt nhà văn Bùi Tự Lực, VHSG xin chia buồn sâu
sắc với gia đình, đồng nghiệp cùng những người yêu mến ông, và xin
trân trọng giới thiệu lại bài viết của nhà thơ Phan Hoàng từ
báo Sài Gòn Giải Phóng như nén tâm hương tưởng nhớ một kẻ
sĩ đất Quảng!
Tuổi thơ của các nhà văn
Thật khó hình dung một nhà văn không có những ký ức vui buồn
của tuổi thơ để làm bệ phóng cho trang viết đời mình. Nhiều nhà văn trên thế giới
đôi khi chỉ có một tác phẩm viết chủ yếu về thời thơ ấu mà sống mãi trong lòng
bạn đọc. Kiệt tác Hoàng tử bé của nhà văn Pháp Antoine de
Saint-Exupéry chính là giấc mơ chinh phục vũ trụ từ thuở nhỏ của ông với những
tiên cảm đầy kinh ngạc. Hai tiểu thuyết nổi tiếng của Nga là Thời thơ ấu
gian khổ của nhà văn Yamil Mustafin và Thép đã tôi thế đấy của
nhà văn Nikolai Ostrovsky sống trong lòng người đọc những kỷ niệm lãng mạn và
bi thương của tuổi xanh trôi qua trong chiến tranh.
Văn học Việt Nam đương đại cũng vậy. Ký ức tuổi thơ có khi là
đề tài chủ đạo của một tác phẩm hoặc là nguồn cảm hứng chi phối trong nhiều
sáng tác. Nếu như không có tuổi thơ phiêu bồng “tung tăng cuốc kêu dế gáy chim
ca/ cóc nhái gọi sấm gọi chớp gọi mưa” ở làng Nghĩa Đô bên bờ sông Tô Lịch
trong xanh ngày xưa với những trò chơi tắm sông, chọi dế, đúc dế thì nhà văn Tô
Hoài khó mà dựng nên Dế mèn phiêu lưu ký làm say mê bạn đọc nhiều thế
hệ. Còn nhà văn Nguyên Hồng với tiểu thuyết tự truyện Những ngày thơ ấu đã
ám ảnh chúng ta bởi như nhà văn Thạch Lam nhìn nhận “nó là sự rung động cực điểm
của một linh hồn trẻ dại lạc loài trong những lề thói khắc nghiệt của một gia
đình sắp tàn”. Khác với nhà văn Tô Hoài, tuổi thơ của nhà văn Nguyễn Hồng cô
đơn nghiệt ngã trong một gia đình mà người cha và người mẹ khác tính khác nết,
không yêu thương nhau, để rồi cuối cùng “linh hồn trẻ” phải ngơ ngác lang thang
hè phố giữa sự hắt hủi để kiếm miếng ăn tồn tại ở đất cảng Hải Phòng.
Thế hệ sau, ở Nam bộ, nhà văn Nguyễn Quang Sáng trải qua tuổi
thơ thi vị và dữ dội ở Cù lao Giêng nằm giữa sông Tiền, để từ đó ông viết nên
hai tiểu thuyết Đất lửa và Dòng sông thơ ấu và nhiều truyện
ngắn. Nhà văn Sơn Nam tái hiện Chuyện xưa tích cũ cùng một số tác phẩm
khác cũng từ những hồi ức thuở ấu thơ được nghe người lớn kể về thời khẩn hoang
lập làng đánh cọp đuổi sấu ở Nam Bộ. Tự truyện Gió bụi Sài Gòn của
Thiếu tướng – nhà văn Bùi Cát Vũ cũng chính là hồi ức tuổi thơ lưu lạc của ông
từ Trà Vinh lên thành phố này mưu sinh, chạy chân bán báo rồi viết báo, trước
khi dấn thân vào con đường cứu nước. Nhà thơ Bùi Chí Vinh viết bộ truyện 40 tập
cho thiếu nhi Ngũ quái Sài Gòn chủ yếu cũng kết nối cảm hứng từ những
ký ức thời thơ ấu gian khổ của ông bên bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Thành công
vang dội của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh với hàng loạt tác phẩm gây sốt với bạn đọc
nhiều thế hệ cũng gắn liền với những ký ức đẹp đẽ và sinh động của thời tuổi
xanh ở xứ Quảng và Sài Gòn. Và nhiều truyện viết cho thiếu nhi của các nhà văn
Lê Văn Thảo, Hoàng Văn Bổn, Minh Quân, Thuỳ An, Kim Hài, Trần Đức Tiến, Khôi
Vũ, Trần Quốc Toàn, Trần Hoàng Vy, Lý Lan, Lưu Thị Lương,… cũng từ cảm hứng ký ức
ấu thơ.
Trong thi ca Việt cũng vậy. Nhờ từ thuở bé được mẹ ru hời bằng
những câu Kiều và lời ví dặm 5 chữ xen lục bát mà nhà thơ Huy Cận đã thấm thấu
tinh thần văn hoá và thể thơ truyền thống dân tộc, trở thành người viết lục bát
hay hàng đầu thi ca Việt đương đại, đồng thời với tình yêu thiên nhiên và con
người mà ông đã được sớm “giác ngộ” để thể hiện nhân văn trong thơ mình. Nhà
thơ Lê Đạt viết bài thơ Cha tôi nổi tiếng từ những kỷ niệm đau thương
về đấng sinh thành mà tuổi thơ ông chứng kiến ở vùng cao Bắc Giang: “Đất quê
cha tôi/ đất quê Đề Thám/ Rừng rậm sông sâu/ Con gái cũng theo đòi nghề võ”,
để rồi từ thất bại của cuộc đời người cha mà ông đã đứng lên: “Năm tháng mài
mòn/ bao nhiêu khát vọng/ Cha đã dạy con một bài học lớn/ Đau thương/ kiên quyết
làm người”. Với nhà thơ Hoàng Cầm, ký ức lãng mạn thuở thiếu thời không chỉ
giúp viết nên bài thơ Lá diêu bông bất tử, mà còn bàng bạc trong suốt
đời thơ ông, như trong Bên kia sông Đuống thơ mộng và nuối tiếc về một
vùng văn hoá Kinh Bắc: “Ai về bên kia sông Đuống/ Có nhớ từng khuôn mặt búp
sen/ Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu toả nắng/ Chợ Hồ, chợ Sủi người
đua chen/ Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối/ Những nàng dệt sợi/ Đi
bán lụa mầu/ Những người thợ nhuộm/ Đồng Tỉnh, Huê Cầu/ Bây giờ đi
đâu, về đâu?”.
Bi kịch thời thơ ấu của Bùi Tự Lực
Tôi cũng có một tuổi thơ vừa lãng mạn như nhà thơ Hoàng Cầm
nhưng vừa dữ dội, gian khó như nhà văn Nguyễn Quang Sáng và Bùi Cát Vũ. Đó là một
tuổi thơ trôi qua trong chiến tranh bi thương ở duyên hải miền Trung, lớn lên
trên đôi vai gồng gánh đạn bom của người mẹ đơn độc tảo tần, mà tôi đã ghi lại
trong bài thơ Mẹ gánh ước mơ: “Mẹ quảy mẹ chạy/ cắc bụp cắc đùng/ người
ngã sau lưng/ người chúi trước mặt/ Tuổi thơ tôi trên thúng gióng tản cư/ mẹ
gánh ước mơ chạy qua mùa loạn lạc/ tiếng khóc con thơ/ mạnh hơn/ tiếng gầm đại
bác…”. Chính nhờ đó mà mới đây khi ra Đà Nẵng được nhà văn Bùi Tự Lực tặng tự
truyện Nội tôi viết về thời thơ ấu gian khổ của anh giữa chiến tranh,
tôi đọc trong nỗi nghẹn ngào xúc động, hiểu hơn tại sao tác phẩm này từng được
trao giải cao về văn học thiếu nhi và được Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản đến 6
lần trong hơn 15 năm qua.
Cha hoạt động cách mạng, bị địch bắt, ra tù tiếp tục bám trụ
quê hương chiến đấu ở đất Quảng Nam. Vì hoàn cảnh éo le, để cứu con trai và gia
đình chồng bị địch vây hãm, người mẹ đành nuốt nước mắt đi lấy chồng làng bên.
Bùi Tự Lực phải sống côi cút nhờ sự cưu mang của bà nội giữa vùng địch tạm chiếm
trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Bà nội đơn độc làm vườn làm ruộng để nuôi cháu
trai, bốc thuốc Nam giúp đỡ bà con hàng xóm, dành dụm thực phẩm tiếp tế cho con
trai và cán bộ hoạt động bí mật, nghĩ ra nhiều mưu mẹo nhằm tránh sự theo dõi
khủng bố của kẻ thù. Sống thiếu thốn vật chất lẫn tình cảm, Bùi Tự Lực sớm “tự
lực” giúp bà nội làm lụng để có cái ăn cái mặc và đi học, dù phải đến trường rất
muộn so với bạn cùng lứa. Đến năm 12 tuổi, anh thoát ly làm giao bưu, rồi rời
bà nội vượt Trường Sơn ra miền Bắc…
Đất nước thống nhất, Bùi Tự Lực trở về quê hương thì bà nội
không còn nữa. Bà đã mất tích vào đêm rằm tháng bảy năm 1972. Mười ba năm anh
và gia đình ra sức tìm kiếm nhưng vẫn không tìm được tung tích của bà. Thế rồi
một ngày ngay tại quê hương làng Bình Trị bỗng nổi lên câu chuyện ma, mà hình ảnh
được thuật lại giống như bà nội của anh, đó là bóng bà lão ngồi chải tóc trắng
như cước ở cống Bà Xanh vào những chạng vạng tối, vào quán bên đường gõ cửa mua
rượu uống, ngâm ngợi lời thơ tuồng “Thoại Khanh – Châu Tuấn”… Anh liền vội về
quê cùng gia đình đi tìm hiểu. Khi trở lại cơ quan anh lại nhận được một lá thư
lạ vẽ sơ đồ bằng chữ Nho về nơi bà nội được chôn cất. Địa điểm ấy chính là một
doi bờ ngay cống Bà Xanh ở Bình Trị. Bà nội bị địch âm thầm thủ tiêu vào ngay
buổi chiều rằm tháng bảy bà mất tích, được một người đàn ông trong làng hay tin
tìm đến chôn cất tử tế. Vì ngại liên luỵ nên ông giữ mãi bí mật, cho đến khi ở
tuổi bát tuần sắp gần đất xa trời ông mới tiết lộ, bắn tin bằng câu chuyện ma
và vẽ sơ đồ gửi cho Bùi Tự Lực.
Hài cốt bà nội được cải táng về nghĩa trang gia tộc. Nhà nước
truy tặng bà là liệt sĩ và phong Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngay đợt I. Đó là cụ
Lê Thị Đỉnh, một trong những người phụ nữ nổi tiếng của xứ Quảng thời chiến
tranh chống Mỹ, như nhà văn Bùi Tự Lực tự thuật trong truyện Nội tôi: “Cuộc
đời bà hiện hữu giữa đời thường, với những việc làm rất thực, như mơ và có những
điều tưởng như huyền thoại: Chuyên cần tích góp để mà dâng hiến, hy sinh; dồn
nén đau thương để bùng nổ căm giận; đa mưu kỳ xảo để giữ lòng tận tuỵ thành
tâm… Trong bà nội vô hình có một ranh giới cực kỳ mong manh giữa bao nhiêu nghịch
lý: Tỉnh táo với say sưa, chuyện đời với truyền thuyết, loạn trí với tĩnh tâm,
tiếng chửi rủa oán thù cay nghiệt với lời ru mênh mang giữa đất trời… và có một
điều gì đó phi thường – Già cỗi, đơn phương, trắng tay mà đầy uy lực trước kẻ
thù”.
Mấy mươi năm chiến tranh trên đất nước này xuất hiện rất nhiều
người phụ nữ như cụ bà anh hùng Lê Thị Đỉnh. Trong đau thương bà may mắn có được
người cháu trai Bùi Tự Lực trải qua tuổi thơ bất hạnh đã trở thành người cầm
bút tái hiện lại hình ảnh xúc động về bà nội mình. Chính từ bi kịch mà con người
lớn lên, và với Bùi Tự Lực cũng chính từ bi kịch thời thơ ấu đã giúp anh viết
nên câu chuyện day dứt lòng người. Một lần nữa ký ức tuổi thơ đã trở thành bệ
phóng cho trang văn, bởi nếu không trải qua thời thơ ấu với bà nội trong hoàn cảnh
khắc nghiệt thì cuộc đời người thầy giáo hiệu trưởng và phó giám đốc kho bạc
huyện ở xứ Quảng là Bùi Tự Lực có thể đã chuyển sang một hướng khác.
2/5/2020
Phan Hoàng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đọc lại Hainơ trong "Mùa thơ" Covid-19
Đọc lại Hainơ
trong "Mùa thơ" Covid-19
Tôi thiển nghĩ, không phải thời bây giờ thơ không cần
thiết cho đời sống thường nhật, mà chính là thơ dở mới không cần thiết cho đời
sống, không cần cho ai cả. Đôi khi chính loại thơ này làm hại cho chính bản
thân thơ, bản thân người làm thơ – những người làm ra thơ dở…
Trong lúc cả nước đang đồng lòng, chung sức chống lại dịch bệnh
COVID-19, trên mạng xã hội cũng đang rộ lên những bài thơ mà nhiều người gọi là
“mùa thơ” COVID-19.
Những bài thơ ca ngợi chủ trương đúng đắn, kịp thời của chúng
ta nhằm đẩy lùi nạn dịch đang hoành hoành trên khắp thế giới. Những bài thơ nói
lên quyết tâm của mỗi con người trước khó khăn, thách thức của đại dịch cùng những
vần thơ ca ngợi những doanh nhân, nghệ sỹ, những người dân bình thường góp tiền
của, công sức cho công cuộc chống dịch…
Người ta còn lấy thơ của những nhà thơ nổi tiếng như Huy Cận,
Xuân Diệu, Nguyễn Bính… để “chế tác” ra những khổ thơ, vần thơ trong mùa dịch…
Có nhiều ý kiến khác nhau về “Mùa thơ” COVID-19, khen, chê,
giễu cợt đến hài hước!
Hôm vừa rồi, tôi có một người quen từ Đức về bị cách ly ở Sơn
Tây có lên FB tâm sự, rồi gọi điện cho tôi và nói nhờ có cuốn thơ của nhà thơ Đức
nổi tiếng Henrich Hainơ mang về nên những ngày cách ly đọc cho đỡ buồn, đọc đến
thuộc lòng: “Tim ta ơi đừng nên u uất/ Số phận mình gắng chịu cho quen/ Những
thứ gì mùa đông cướp mất/ Mùa hạ về sẽ trả lại cho em…”. Vì tôi không biết tiếng
Đức nên bạn đọc bài thơ dịch này. Thực ra tôi cũng đã thuộc lòng những câu thơ
trên.
Thuở còn là sinh viên đại học, tôi đã thuộc lòng nhiều câu
thơ mà sau này tôi mới biết đó là của nhà thơ nổi tiếng người Đức H.Hainơ. Những
người yêu thơ Việt Nam có lẽ không ai là không nhớ tới bài thơ “Trong mơ anh đã
khóc”: “Trong mơ anh đã khóc/ Thấy em trong áo quan/ Đến khi anh tỉnh giấc/ Nước
mắt cứ tuôn tràn/ Trong mơ anh đã khóc/ Thấy em không trung thành / Tỉnh dậy,
anh, đôi mắt/ Lệ đắng còn chảy quanh/ Trong mơ anh đã khóc/ Thấy em vẫn dịu hiền/
Thế rồi anh tỉnh giấc/ Nước mắt vẫn triền miên” (Hoàng Trung Thông dịch).
Nói về thơ H. Hainơ, nhà nghiên cứu văn học Nga Sinman cho rằng
“Ông đã cho ta thấy một cái tôi trữ tình đau khổ, sáng tạo, bông đùa, phủ định
và yêu thương – tất cả đều xuất phát từ cuộc sống thường nhật… có lẽ Hainơ đã đạt
tới mức độ cao nhất trong sự gắn bó với đọc giả của ông”.
Đọc lại nhận định này, tôi càng thấm thía hơn khi nghĩ về
thơ. Nhà thơ phải sống thế nào, yêu thế nào, sáng tạo thế nào, gắn bó với người
đọc thế nào… mới có những bài thơ, câu thơ còn lại với thời gian.
Bây giờ, ở ta người làm thơ rất nhiều, thơ in trên báo, trong
các tập thơ, trên mạng xã hội cũng rất nhiều. Nhưng, có một nghịch lý, ấy là
người thích đọc thơ lại rất ít. Tôi đã tận mắt chứng kiến một nhà thơ khi mở
trang thơ của một tờ báo văn nghệ chính thống, chỉ lướt qua hơn chục bài thơ in
trên đó, rồi dừng lại đọc bài thơ của mình, không đọc thơ ai cả, chỉ ngồi rung
đùi!
Bản thân tôi là người yêu thơ, thấy thơ là đọc, ở trên báo,
trong sách hay trên Facebook, nhưng nhiều khi đọc cả mấy chục bài thơ, mỏi cả mắt
mà không tìm được dù là một câu thơ mà mình thích.
Thế nhưng, khi đọc lại H.Hainơ, lại say mê không muốn rời cuốn
sách. Không phải tại tôi đã chán thơ mà tại thơ dở làm tôi chán chăng?!
Tôi bỗng nhớ tới câu nói của Nữ hoàng Áo Elisaeth: “Hainơ
khác với nhiều thi sỹ đương thời, vì ông khinh ghét sự giả dối; ông luôn luôn
thể hiện mình như con người và tất cả lỗi lầm của con người”. Cái đẹp trong thơ
là vậy chăng?! Không phải là sự uốn éo giả tạo!
Henrich Hainơ (1797-1856) là người Đức, gốc Do Thái. Tác phẩm
thơ đầu tiên là Gedichte (Những bài thơ) viết về mối tình cuồng si của ông với
cô em họ. Nước Đức thời ông sống không phải văn minh, phát triển như bây giờ.
Ông đã trải qua nhiều khổ đau trong đời sống thường nhật. Năm 1831, ông phải rời
bỏ quê hương sang Paris, Thủ đô của nước Pháp, sống ở đấy cho đến cuối đời. Có
một câu nói nổi tiếng của ông mà mãi sau này nhiều người còn nhắc lại: “Nếu một
người lúc nào cũng có thể mỉm cười trước tất cả mọi điều thì chắc chắn người đó
trong lòng đã có nhiều rạn nứt đau đớn”. Đọc thơ ông, ta thấy nhiều nhiều “rạn
nứt đau đớn” trong đó, những “rạn nứt” mà ông đã không hề giấu giếm, nó đã biến
thành thơ, biến thành nụ cười vươn dậy trước mọi khổ đau. Đúng là “Đoạn trường
ai có qua cầu mới hay” – nói như cụ Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” bất hủ.
“Con thường sống ngẩng cao đầu mẹ ạ/ Tính tình con hơi ngang
bướng kiêu kỳ/ Nếu có vị chúa nào nhìn con vào mắt/ Con chẳng bao giờ cúi mặt
trước uy nghi/ Nhưng mẹ ơi – con xin thú thật/ Trái tim con dù kiêu hãnh
thế nào/ Đứng trước mẹ dịu dàng, chân chất/ Con thấy mình bé nhỏ làm sao…”. Trước
đây tôi từng ngân lên những câu thơ này khi nghĩ về người mẹ mà không biết thơ
của ai. Bây giờ, tôi mới hay đó là những câu trong bài thơ “Gửi mẹ” của Hainơ
do nhà thơ Tế Hanh dịch qua bản tiếng Pháp.
Tôi còn nhớ một lần bị thầy giáo dạy toán phạt, ấy là năm học
lớp 10 (hệ 10 năm) vì mải lúi húi chép lại một bài thơ từ sổ tay của một người
bạn cùng lớp. Đến nay tôi vẫn thuộc lòng bài thơ này và bây giờ mới biết là của
nhà thơ Hainơ: “Mùa hè nồng cháy/ Ở trên má em/ Mùa đông lạnh lẽo/ Ở trong tim
em/ Nhưng có một ngày/ Hỡi em / Mùa đông sẽ trên má/ Mùa hè ở trong tim (Mùa hè
nồng cháy – Tế Hanh dịch).
Khi tôi biên soạn cuốn “Những câu thơ hay Đông – Tây – Kim –
Cổ” (Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2013), tôi bỗng nhớ đến mấy câu
thơ tôi đã thuộc lòng :
Triệu năm, đã triệu năm rồi
Những ngôi sao ở trên trời đã yêu.
Lời của sao đẹp bao nhiêu
Nhưng mấy ai hiểu ít nhiều em ơi?
Chỉ anh hiểu được mà thôi
Vì anh học được những lời của em.
Lúc đó tôi cứ ngỡ là thơ của một nhà thơ Nga nổi tiếng nào
đó. Nhưng vì không tìm được tác giả nên tôi không thể đưa vào cuốn sách, mà chỉ
ngân nga những đêm sao sáng đầy trời một mình ở nhà vườn Sóc Sơn. Giờ mới biết
là thơ của Hainơ, bài “Triệu năm” cũng do Tế Hanh dịch.
Tôi rất thích bài thơ “Họ giày vò thân tôi” của Hainơ: “Họ
giày vò thân tôi/ Họ làm tôi phát cáu/ Người với lòng yêu thương/ Người với
lòng căm ghét/ Họ đầu độc bữa ăn/ Họ đầu độc chén nước/ Người với lòng yêu
thương/ Người với lòng căm ghét/ Nhưng cái người giày vò/ Và đầu độc tôi nhất/
Chẳng bao giờ yêu tôi/ Cũng chẳng bao giờ ghét” (Tế Hanh dịch). Bây giờ
ta hay nói đến thói vô cảm như là một tội ác vô hình đang trở thành căn bệnh của
xã hội hiện đại. Ấy vậy mà Hainơ đã thể hiện rất tài tình thói vô cảm này trong
bài thơ “Họ giày vò thân thôi” từ những năm đầu của thế kỷ 19. Tính hiện đại
trong cấu tứ, trong ý tưởng, trong cách thể hiện, cả trong ngôn từ của bài thơ
thực sự sâu xa, minh triết. Bây giờ ta nói đến thơ hiện đại hay hậu hiện đại,
thực ra Hainơ đã thể hiện trong bài thơ này, tính hiện đại còn nguyên giá trị
dù thời gian cách chúng ta gần hai thế kỷ!
Cả thói đời giả dối, đạo đức giả cũng được Hainơ chỉ trích
không thương tiếc trong bài thơ “Thiên hạ thực ngu”:
Thiên hạ thực ngu, thiên hạ thực mù
Và càng ngày càng trở nên dớ dẩn!
Họ bảo em tính tình không đứng đắn
Hỡi bé em xinh đẹp của tôi ơi.
Thiên hạ thực ngu, thiên hạ thực mù,
Và mãi mãi sẽ hiểu sai cô bé;
Họ đâu biết em hôn lại ngọt ngào đến thế
Nụ hôn cháy nồng làm ngây ngất hồn tôi
(Quang Chiến dịch)
Tôi thiển nghĩ, không phải thời bây giờ thơ không cần thiết
cho đời sống thường nhật, mà chính là thơ dở mới không cần thiết cho đời sống,
không cần cho ai cả. Đôi khi chính loại thơ này làm hại cho chính bản thân thơ,
bản thân người làm thơ – những người làm ra thơ dở!
Tôi chỉ làm thơ khi không còn cách gì có thể diễn đạt được những
rung động sâu xa trong tâm hồn mình. Để kết thúc bài viết này, tốt nhất là dẫn
ra đây bài thơ “Khi anh nói cùng em” của Hainơ:
Khi anh nói cùng em những điều anh đau khổ,
Em ngáp dài không nói năng chi;
Khi trong thơ anh nỗi đau thổ lộ,
Em khen anh thi tứ diệu kỳ
(Hoàng Trung Thông dịch).
Chú thích:
Tất cả thơ trích trong bài viết này là từ cuốn “H. Hainơ –
Thơ trữ tình” – Nhà xuất bản Văn học
4/5/2020
Dương Kỳ Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Chút hương cỏ xưa nơi xứ rượu hồng đào
Chút hương cỏ xưa
nơi xứ rượu hồng đào
Gần đây, nhà văn Lê Trâm trình làng hai tác phẩm:
tập truyện ngắn “Đêm nguyệt bạch” và tập tản văn “Về yêu xứ rượu hồng đào”. Niềm
ưu tư tôi đọc trong anh có lẽ cũng là sức sống thẩm mỹ tạo nên sức chuyển động
trong truyện ngắn của Lê Trâm. Còn đọc tản văn của Lê Trâm mới thấy hết cái tâm
hồn khoáng đạt của anh.
Đọc chưa qua một “Đêm nguyệt bạch” – tập truyện ngắn của Lê
Trâm, sách đầy đặn hơn 220 trang in, gồm 16 truyện ngắn, do NXB Trẻ cấp phép vừa
mới phát hành – ấy vậy mà tác giả của nó lại tiếp tục trình làng tập tản văn “Về
yêu xứ rượu hồng đào”, sách do NXB Đà Nẵng cấp phép, cũng gần 200 trang in đằm
tay không kém. Chỉ mới mươi ngày nửa tháng thôi mà hai đầu sách mới tinh tươm
xuất xưởng in. Đấy là chưa nói cách nay mới độ tròn năm, Lê Trâm cũng đã tưng bừng
tổ chức giới thiệu tập truyện ngắn “Phía gió biển không còn ai” tại hai nơi Đà
Nẵng và Tam Kỳ. Lao động chữ nghĩa vừa miệt mài vừa “tốc hành” kiểu Lê Trâm quả
thật hiếm hoi trong làng văn đất Quảng.
Nếu quan niệm rằng một truyện ngắn hay, gieo vào lòng bạn đọc
được những thiện cảm, là một truyện ngắn phải xây dựng cho được cái cốt truyện
độc đáo, chỉ ngần đó tiêu chí thôi thì quả Lê Trâm đã phần nào thu được cái kết
quả đó. Ví như, từ “Đêm của bướm” (Phía gió biển không còn ai) cho đến “Một
trang giải phẫu sinh lý người” (Đêm nguyệt bạch). Dường như với Lê Trâm, kinh
nghiệm của hơn 40 năm cầm bút đã đặt cái vị thế nhà văn luôn nghiêm cẩn trước
trang viết một đòi hỏi vừa khắc nghiệt nhưng cũng vừa là sự thách thức, rằng nếu
không lạ lẫm, không độc đáo thì tốt hơn hết là không viết gì. Niềm ưu tư tôi đọc
trong anh có lẽ cũng là sức sống thẩm mỹ tạo nên sức chuyển động trong truyện
ngắn của Lê Trâm, cho dù không phải truyện ngắn nào của anh cũng thỏa mãn được
khát vọng ấy.
Nhưng sự độc đáo dẫu có lạ hóa đến chừng nào, kiểu như thủ
pháp huyền ảo trong “Đêm của bướm”, hoặc nhuốm màu truyền kỳ pha chút yếu tố
“đường rừng” như trong “Đêm nguyệt bạch” thì linh hồn của mỗi truyện vẫn phải tựa
vào điều căn cơ cốt tử, ấy là dự phóng của cái tôi nghệ sĩ. Với Lê Trâm, dường
như mấy mươi năm cầm bút cũng là mấy chục năm anh đứng trên bục giảng. Môi trường
sư phạm ấy hẳn là thế giới đã mài mòn những con đường nhà văn đi qua. Thế nên,
chắc chắn một điều, thế giới đó không còn là ngoại giới (exterieur) – một đối
tượng để mô tả, mà là thế giới tự nội (immanence), từ đấy những nhân vật của
nhà văn bước ra, là Đàm Hưng, là tôi trong một “Chúc ban mai tốt lành”, là ông
Dưỡng trong “Một trang giải phẫu sinh lý người” hoặc là cô giáo Hạnh trong “Đêm
nguyệt bạch”. Nếu hiểu bút pháp như là thứ của riêng mỗi nhà văn thì cái cách
hành văn nhẹ nhàng mà đằm sâu, giản dị mà sáng sủa, tất cả đã tạo nên một phong
cách Lê Trâm đĩnh đạc, điềm tĩnh, chừng như anh xa lạ với những phong cách
phóng túng, cầu kỳ.
Nhưng nếu hiểu bút pháp của nhà văn còn là một thứ bẩm sinh
bí mật, nó chính là cái tạng, cái giọng văn, là hơi thở, tiếng nói, bước đi,
dáng đứng tự bao giờ sơ khai đã hình thành, khu biệt là vậy song thời gian, sự
tác động của ngoại giới, thời đại chẳng hạn, chắc chắn sẽ ít nhiều có làm ảnh
hưởng đến kỹ thuật viết. Thậm chí, đến cả tư tưởng cũng dịch chuyển, càng trưởng
thành càng dạn dày kinh nghiệm. Tuy vậy, cái tạng văn, cái giọng văn thì khó
làm thay đổi. Đến nỗi người ta có thể nghe văn, đọc và thẩm văn là có thể nhận
ra người viết. Thể hiện rõ nhất là khi đọc tập ký và tản văn “Về yêu xứ rượu hồng
đào” của Lê Trâm.
Tuy rằng tác giả đã bố cục sách ra làm hai phần với hai chủ đề,
một là “Dấu xưa” và tiếp phần hai – cũng là tên chung của sách “Về yêu xứ rượu
hồng đào”. Dường như để tương ứng với bố cục, nhà văn cũng xếp thể loại của
sách là: ký và tản văn. Nhưng thú thật, có khi đấy là chuyện hình thức, bởi tôi
đọc đến khi gấp sách lại vẫn cứ miên man theo xứ rượu hồng đào, thế nên, nếu gọi
đây là một tập tản văn thì cũng chả sai tí nào. Đọc tản văn Lê Trâm mới thấy hết
cái tâm hồn khoáng đạt của anh cũng lãng mạn như rượu hồng đào chưa nhấm mà
say. Mộc mạc, dung dị mà lại mênh mang thăm thẳm tình yêu theo từng lối xưa quê
nhà. Gấp tập tản văn của Lê Trâm lại, chừng như trong khoảnh khắc mơ hồ cho vô
thức lên tiếng, tôi thấy “Về yêu xứ rượu hồng đào” hay là “Sơ khai du mục tầm
phương thảo” của Bùi thi sĩ cũng chỉ thế thôi! Bởi lẽ, hương hoa cỏ ngày xưa
bây giờ là những lối vô tận đâu để mà du mục đi tìm cho thỏa.
5/5/2020
Nguyễn Nhã Tiên
Theo https://vanhocsaigon.com/
Cõi say của Vũ Hoàng Chương
Cõi say của Vũ Hoàng Chương
Thơ Vũ Hoàng Chương hoài cổ, giàu chất nhạc, với
nhiều sắc nét Đông phương dù Hoàng lớn lên giữa cao trào Thơ mới.
Vũ Hoàng Chương sinh ngày 5/5/1916 tại Nam Định. Năm 1930 ông
lên Hà Nội học trung học tại trường Albert Sarraut. Năm 1937, ông đỗ tú tài Tây
và theo học khoa Luật Đại học Hà Nội. Hai năm sau, ông thôi học, làm phó thanh
tra Sở Hỏa xa Đông Dương. Có lúc ông đã làm trưởng ga Bắc Ninh.
Cũng thời ấy, ông bắt đầu có thơ in trên các báo và gây được
sự chú ý. Năm 1940, tập Thơ say được ấn hành, đánh dấu một quãng đời
văn chương lẫy lừng của người thi sĩ tài ba.
Thơ Vũ Hoàng Chương hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc
nét Đông Phương dù Hoàng lớn lên giữa cao trào Thơ mới. Thơ của Hoàng được đánh
giá là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc”.
Vũ Hoàng Chương từng chia sẻ chia sẻ: “Tôi học chữ Nho từ năm
tuổi, thơ phú chữ Nho ảnh hưởng rất mạnh đến đầu óc tôi. Đến mười hai tuổi, tôi
mới học chữ Pháp cho nên văn chương, văn hóa Pháp chỉ ảnh hưởng hời hợt ở trên,
chớ không sâu xa như chữ Nho. Hiện giờ, tôi vẫn đọc và viết chữ Nho và tinh thần
tiết ra trong những vần thơ vẫn bàng bạc triết học Đông phương nhiều hơn là Tây
phương.”
Bắt đầu từ tập Thơ say đến Mây, Vũ Hoàng
Chương đã tạo cho mình một cõi thi ca đầy quyến rũ với những vần thơ loạng choạng,
uyển chuyển cũ vũ điệu say.
Như bao nhiêu thanh niên thuở ấy, Hoàng Chương sống trong trạng
thái bất mãn, cô đơn, lạc lõng giữa đời.
Dân tộc còn bị nô lệ chưa nhìn thấy lối thoát; trong khi đó,
xung quanh chàng người ta đang bon chen ganh đua giành giật những mảnh bằng to,
mong chiếm địa vị cao để hưởng vinh hoa phú quí mà người Pháp đã cố tình nhử mồi,
mua chuộc. Với bản ngã ưa sầu mộng, nhiều cảm xúc và thiếu óc thực tế như
Hoàng, chốn ấy nhất định không phải là nơi chàng đeo đuổi, mà còn cảm thấy quá
xa lạ là đằng khác.
Còn gia đình, cha chàng là một nhà nho bảo thủ, nghiêm khắc,
bấy lâu nay hai cha con đã có mối bất hòa về chuyện hôn nhân của chàng. Ông Tri
huyện chỉ muốn sau khi Hoàng học xong sẽ đi hỏi cô con gái một vị quan Bố
chánh, bạn thiết của ông cho chàng. Hoàng đã theo Tây học, những tư tưởng tự do
cá nhân, giải phóng tình cảm đã nẩy mầm, bén rễ trong tim óc của chàng, làm sao
chàng có thể nghe lời? Chàng thở than rằng: “Riêng tôi sống cuộc đời vô vị/ Khắc
nỗi buồn u uẩn từ lâu”.
Khi ấy, chỉ trong mơ, Vũ Hoàng Chương mới sống thực như lòng
mình, và chàng đã say sưa giãi bầy hết chân tình cùng ai:
Xuân đắm trong mơ một buổi chiều
Bên em anh thấy sóng lòng xiêu
Mê man giãi hết tình u ẩn
Trong lúc điên rồ anh quá yêu.
Chàng đắm chìm trong những cơn say, say men rượu, say tình
ái, từ cái say ấy mà quê hết đi, cõi đời chán trường này. Trong thơ chàng, cái
tâm tư si tình khiến dày vò chàng, khiến chàng “chết đi sống lại”. Chàng tìm đến
cái cõi lênh đênh của những người kỹ nữ, để được vỗ về, và cũng là để được ngả
vào điên cuồng:
Say đi em say đi em
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng điên rồ xác thịt
Rượu rượu nữa và quên quên hết
(Mời say)
Nhưng chàng thi sĩ lãng mạn, mộng sầu thuở ấy, say mà không
trụy lạc, không tìm quên, chàng say để đắm mình trong nồng nàn, trong những viển
vông của cõi mộng, trong cái đê mê của khoái cảm đau đớn bởi sau tất cả những
cơn say ấy là một bức thành sầu, bức thành của thi ca.
Có ai say để quên sầu
Lòng ta lảo đảo càng sâu vết buồn
Chén rượu đôi đường
Lúc còn trẻ, Vũ Hoàng Chương được gặp gỡ nàng Tố Vân, con
gái một gia đình khá giả, để rồi từ đó rơi vào mối tình mặn nồng với nàng. Nhiều
lời thề ước đã được thốt nên, để rồi nàng bỏ chàng đi lấy chồng. Chàng ôm mãi
trong lòng một mối tình với nàng Tố Vân, cũng chính người con gái ấy là nàng
thơ say, là nguồn cơn để Vũ Hoàng Chương mài bút mà viết nên những vũ điệu say
khiến lòng người say đắm.
Bài thơ Mười hai tháng sáu là một trong những bài
thơ chàng viết trong trạng thái mê man của men say, cái thứ men chất chồng tuyệt
vọng:
Tháng sáu, mười hai, từ đây nhé
Chung đôi, từ đây nhé lìa đôi!
Em xa lạ quá, đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi.
Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu, ghi mười hai,
Tình ta, ta tiếc! cuồng, ta khóc.
Tố của Hoàng nay Tố của ai?…
Cõi say, cõi tình và cõi thi ca quện chặt vào nhau trong thơ
Vũ Hoàng Chương là những vần thơ vừa da diết vừa phóng túng lại chất chứa đầy
những tuyệt vọng của một tài thơ mị tình. Đấy là cõi riêng mà chàng thi sĩ Vũ
Hoàng Chương kiến tạo nên, là nơi mọi ràng buộc của lý trí và hiện thực trở nên
mờ nhòa.
Cái say ở đây chính là cõi thăng hoa của một bản năng sáng tạo,
và thiên tính nghệ thuật thi ca vĩnh hằng. Ấy là trạng thái thăng hoa của thi
sĩ. Cõi say của Vũ Hoàng Chương cũng như cõi điên của Hàn Mặc Tử, hay là cõi
man rợ của Đinh Hùng…
5/5/2020
Phong Linh
Nguồn: Zingnews
Theo https://vanhocsaigon.com/
Cảm thức về Tình yêu và Thân phận trong truyện Nguyễn Thị Lê Na
Cảm thức về Tình yêu và Thân phận
trong truyện Nguyễn Thị Lê
Na
Với sự nỗ lực lao động, sáng tạo và lòng yêu văn
chương, truyện của Nguyễn Thị Lê Na đã để lại trong lòng người đọc những mỹ cảm
cả về phương diện nội dung và nghệ thuật, trong đó, mỹ cảm sâu sắc nhất là những
câu chuyện viết về Tình yêu và Thân phận đàn bà giàu tính
nhân bản mà phải do chính người đàn bà viết văn mới thấu cảm và thể hiện sâu sắc,
đúng chất đàn bà…
1. Là thi sĩ tâm linh của xứ Liban, nằm giữa hai vùng
văn hóa Á – Âu, trong Mật Khải (The Prophet), một danh tác được xem
“là ngọn đuốc thắp bằng Sự Thật và Tình Yêu để soi sáng những vấn đề muôn thuở,
của cuộc đời mà mỗi người phải sống và nghĩ, phải hỏi và đáp cho chính mình và
cho tất cả”[1], khi luận về tình yêu, Kahlil Gibran đã
suy niệm: “Tình yêu không cho gì trừ bản thân và cũng không nhận gì ngoài bản
thân./ Tình yêu không chiếm hữu gì và không thể bị chiếm hữu; / Bởi chính tình
yêu đã tự đủ rồi”.[2]
Tình yêu là một bí tích nhiệm mầu của cuộc sống, Thượng đế
ban cho con người từ khi Người tạo ra Ađam và Eva trong vườn địa đàng. Tình yêu
tự bản thân là một giá trị hằng cửu không tách rời thân phận. Nhưng Thân
phận thì hữu hạn mà Tình yêu thì vô cùng (ý Trịnh Công Sơn). Vì
vậy, viết về Tình yêu và Thân phận là đi tìm cái vô cùng
trong cái hữu hạn và tìm cái hữu hạn trong cái vô cùng. Hai bình diện này tưởng
chừng đối lập nhau nhưng thực ra rất gắn kết với nhau, làm nên giá trị
riêng có của tình yêu, ám ảnh tâm thức nhân loại với những dấu ấn không dễ mờ
phai mà những tác phẩm như Romeo và Juliet của Shakespeare, Truyện Kiều của
Nguyễn Du; Mối tình đầu của Ivan Turgenev… là những minh chứng. Nằm
trong dòng mạch cảm thức này, với những truyện ngắn dung dị nhưng không thiếu
chiều sâu tâm cảm, trong hai tập truyện Bến Mê (Nxb. Thuận Hóa, 2007)
và Đắng ngọt đàn bà (Nxb. Hội Nhà văn, 2019), Nguyễn Thị Lê Na, một nữ
văn sĩ “lạ hoắc” như cái tên của chị đã sẻ chia những cảm thức của mình về Tình
yêu và Thân phận, đó là Thân phận đàn bà qua thế giới hình
tượng người phụ nữ mà với họ, Tình Yêu đã trở thành một yếu tính của Thân
phận, của định mệnh, với những vinh quang và cay đắng, hạnh phúc và khổ đau,
vui mừng và hờn tủi, để họ dấn thân, dù có phải “tử vì đạo” cho Tình Yêu,
họ vẫn chấp nhận như một sự đặt để của phận số mà không nuối tiếc, ân hận…
2. Đi vào thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na, từ Bến
Mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2019), ta thấy chủ đề trung tâm
chi phối cảm hứng sáng tạo của nhà văn chính là Tình yêu và Thân
phận đàn bà, với nhiều phận số, nhiều mảnh đời, nhiều hoàn cảnh… Cảm hứng
này đã trở thành một nỗi ám ảnh của vô thức và tâm linh trong từng trang văn của
Nguyễn Thị Lê Na. Đó là thân phận một cô giáo (Vĩ Thanh), mà trong dự cảm của
người mẹ luôn lo sợ “con phải khổ mất thôi, con gái mà bướng bỉnh, cá tính chẳng
có mấy ai hạnh phúc đâu!”[3]. Vì thế, khi gặp Kha, yêu
Kha, lấy Kha làm chồng, tưởng đâu sẽ tìm được bến bờ hạnh phúc, không ngờ lại
nhận ở Kha những bi kịch. Song, cô cho rằng nỗi đau khổ đời mình là sự mặc định
của phận số mà “đã là số phận, con người ta không thể chọn cho mình nỗi bất hạnh
hay sự may mắn”[4]; Đó là thân phận của Miên (Như cánh
hoa rơi), người cô giáo và Mây, người học trò, Miên vô cùng yêu quí mà cuộc gặp
gỡ và sự sẻ chia những vui buồn giữa hai người trong cuộc sống Miên xem như “định
mệnh”. Nhưng bi kịch đã đến khi Miên biết Phong, người chồng tương lai, mình hết
mực yêu thương và tin tưởng cũng đã yêu Mây và để lại trong Mây giọt máu của
mình. Vì thế, Miên không thể làm đám cưới với Phong, chỉ thương cho thân phận của
Mây vì: “Mây đã ném trọn mình vào cuộc chơi mà chỉ nhận lại nỗi đau không ai
chia sớt được”[5].Bi kịch vỡ mộng Miên “nhận được” từ
“tình yêu” của Phong, không phải ngẫu nhiên mà đã được “dự báo” từ sự linh cảm
của người mẹ, khi Miên đưa Phong về ra mắt, bà đã nhận ra “hình như ở Phong có
điều gì đó bất trắc. Nếu con dựa vào Phong thì rất mong manh…”[6] ;
Đó là thân phận của Nga (Tìm về bến trong), người con gái có phận số bất hạnh
vì bị “ông bố dượng cưỡng hiếp”, từ thời còn niên thiếu, chỉ vì: “tại con giống
mạ con quá!”, để rồi, khi yêu Biền và đã thành vợ chồng, phát hiện Nga không
còn trinh tiết, Biền đã chì chiết Nga: “Tôi thật không ngờ… Tôi cưới cô đã là
con đàn bà…”[7]. Và, trong lúc quẩn trí, Nga đã toan tự
vận, xem đó là điều tất yếu của số phận: “Lúc này tôi không còn thiết sống. Tôi
leo ra tận ngọn cây cừa, thả mình rơi xuống. Thế là hết, rồi người ta sẽ thi
nhau bàn tán về thân phận của tôi cho mà xem”.[8]; Đó là
nỗi đau trong cuộc đời Lam (Bến mê) khi phát hiện sự phản bội của chồng lúc ân
ái với Linh, em gái Lam, tại nhà mình, nơi Lam đã chắt chiu từng phút giây hạnh
phúc; Đó là nỗi đau của Vy (Đắng ngọt đàn bà), trước sự chiếm đoạt của Thúy đối
với tình yêu và hạnh phúc trong cuộc sống của gia đình mình, phá vỡ cái tổ ấm
đã bao năm Vy nâng niu, gìn giữ mà Vy xem như “số phận đã an bài”[9]; Đó là thân phận của Sinh (Sinh) với nỗi đau và những
trái ngang mà Sinh phải gánh chịu, khi chồng mình có con với Thắm, người đàn bà
đẻ thuê do quan hệ trực tiếp, không phải qua sự can thiệp của y học, mà Sinh
xem đó là “số phận đa đoan của cuộc đời”[10]; Đó cũng
là nỗi đau trong tình yêu của Lụa (Lụa), khi đã trao thân cho người mình yêu,
nhưng không lấy được nhau, để rồi phải dấn thân vào gió bụi phong trần như một
sự trớ trêu của số phận qua lời thở than của bà chủ nhà hàng: “Tội nghiệp con
bé, người yêu bỏ rơi khi bụng mang dạ chửa. Gá phải thằng chồng nghiện ngập, suốt
ngày bị đánh. May mà rảy ra được. Đúng là hồng nhan…”[11],
để rồi khi nghĩ về đời Lụa, người ta xa xót tự hỏi “Sao số phận lại đa đoan đến
thế!?”. [12] Và giống như cuộc đời của Lụa,
Nhiên trong Mùa cà phê hoa trắng cũng trao thân cho Duy, để rồi
nhận lại ở Duy sự trốn chạy trong im lặng và Nhiên tự hỏi: “Có phải là định mệnh
không? Lẽ nào đây là nơi tâm thức Nhiên đã chọn để đặt dấu chấm hết của cuộc đời.”[13]
Có thể nói, Tình yêu và Thân phận đàn bà
qua những trang văn của Nguyễn Thị Lê Na trong Bến Mê và Ngọt đắng
đàn bà là hiện thân sự lựa chọn của chính họ. Mỗi người đàn bà trong từng
truyện là một cuộc đời, một phận số, một nhân vị luôn chênh chao, đứt gãy và
nói như Hàn trong Những Khoảng cách còn lại: “Bây giờ, cuộc sống là một thế
giới với bao mảnh đời số phận khác nhau, ở đó khó có thể tìm thấy sự hoàn hảo”.[14] Vì vậy, cho dẫu tất cả họ đều khát sống, khát
yêu, khát hạnh phúc, và luôn dấn thân, tận hiến cho tình yêu thì cũng khó tìm
được hạnh phúc, thậm chí phải nhận bi kịch, khổ đau, bất hạnh trên chuyến tàu định
mệnh, để rồi, có người còn tìm đến cái chết: “Nhiên nhoài người nhìn xuống một
vực nước sâu hút xanh lè, cuồn cuộn xoáy chóng mặt (…) Nhiên sẽ như chiếc lá
chao xuống, đáp nhẹ mặt nước như cánh chim bói cá, nước sẽ đưa nhiên đi thật
xa, theo sông ra tận biển khơi, và xa hơn nữa. Không tăm tích…”[15] Và, những người đàn bà trong truyện của Nguyễn
Thị Lê Na, nếu phải chọn lựa giữa Tình Yêu và Thân Phận, họ đều
chọn Tình Yêu vì chính Tình Yêu làm nên Thân Phận của
họ. Tình yêu trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na không mới lạ, không hiện đại với
những cảm xúc nỗi loạn mang tính sắc dục như tình yêu ở một số truyện ngắn
đương đại mà phần lớn, tình yêu trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na là tình yêu
nghiêng về những giá trị luân lý truyền thống. Nhưng không vì thế mà thiếu hơi
thở của cuộc sống hiện đại, cũng như kém phần nồng mặn da diết, dữ dội, vốn là
phẩm tính của tình yêu. Chính điều này đã đem đến cho những trang viết về tình
yêu của Nguyễn Thị Lê Na một dự vị, một sắc thái mỹ cảm tình ái riêng, có khả
năng níu giữ tâm cảm người đọc. Bởi nói như H. De Balzzac: “Cảm giác, yêu
thương, đau khổ, hy sinh đó là sở trường của sinh hoạt đàn bà”.[16] Những cung bậc cảm xúc này đều tìm thấy trong
truyện của Nguyễn Thi Lê Na qua các diễn ngôn tình yêu mang hơi hướm “ngôn
tình” ở những trang văn của chị là một xác chứng. Đó là những phút giây êm đềm
trong tình yêu giữa Miên và Phong trong Như cánh hoa rơi: “ Miên nhớ… Buổi
chiều nắng nhạt dần, biển dịu dàng vuốt ve bờ cát trắng. Phong nói lời yêu và
Miên lâng lâng cảm giác hạnh phúc lòng tràn ngập những ước mơ về một tình yêu kỳ
diệu (…) Những lần như thế, Miên ngã đầu lên vai anh nhìn hoàng hôn buông xuống
đếm những con sóng bạc đầu, như tiếng sóng vỗ bờ mà cảm nhận thủy triều đang
lên, thấy mình thật nhỏ bé và hạnh phúc vì được che chở”.[17];
Đó là hương vị ngọt ngào của tình yêu đầu đời trong cảm nhận của Vy ở Đắng
Ngọt đàn bà mà dù chỉ là hoài niệm vẫn có sức sống mãnh liệt, diệu kỳ
trong tâm cảm Vy: “Cái ngày ấy, khi trước mặt là cánh đồng chiêm trủng mênh
mang lúa chín anh đã nói lời tỏ tình, vừa chân thành vừa sợ sệt (…) Cái buổi
chiều ấy tất tật, từ ngọn cỏ ven bờ ruộng, những ao đầm ngọt nước phủ đầy rong
rêu, đều trở nên gần gũi và đáng yêu làm sao. Đó là lần đầu tiên Vy đón nhận nụ
hôn đầu đời ngọt lịm, họ trao nhau hạnh phúc trong sự chứng kiến của ngọn gió
chiều lang thang trên cánh đồng thoảng thơm mùi lúa, mùi cỏ mật và trong veo tiếng
chim cà lơi rót tự trời cao xuống”[18]. Còn đây là những
cảm nhận của Lam về sự lên ngôi của tình yêu ở những ngày đầu của cuộc sống hôn
nhân trong Bến Mê: “Lam còn nhớ như in ngày tháng bắt đầu hạnh phúc của đời
mình, Lam đắm đuối trong men tình yêu của chồng. Cưới nhau mọi cái trong Lam hết
thảy đều thiêng liêng và hút hết hồn chị. Lam cứ muốn được ngoan hiền trong
vòng tay yêu thương của Phan, cảm nhận niềm hạnh phúc dâng lên tột độ”.[19] Song, diễn ngôn tình yêu trong truyện ngắn của
Nguyễn Thị Lê Na không chỉ có những giây phút êm đềm lãng mạn và trong veo
như Dưới bóng hoàng lan của Thạch Lam hay nhiều tác phẩm khác của văn
chương thời Tiền chiến mà còn có những trang viết mang sắc màu nhục cảm
của tình yêu thời hiện đại mà cảm xúc của Vy khi gặp lại người tình ngày xưa là
một minh chứng: “Anh nhẹ nhàng kéo Vy vào lòng, ôm choàng trong vòng tay của
mình. Những nụ hôn như cơn mưa mùa hạ rơi trên cỏ khát. Nhẹ nhàng lướt từ mái
tóc, đến đôi mắt mơ màng, dừng lại trên đôi môi chín mọng. Hai cơ thể tìm đến
nhau ghì riết. Anh đầy khát khao nồng nàn, Vy cũng bỏng rẫy không kìm nén. Những
lăn tăn về bổn phận đức hạnh và lòng chung thủy, sự thương chồng nhớ con bay
đâu mất cả… chỉ còn lại nhu cầu dâng hiến, nhu cầu hưởng thụ bản năng”.[20]; Hay diễn ngôn tình yêu chỉ có ở những cuộc tình thời
công nghệ 4.0 mà với sự biểu cảm của “ngôn ngữ thân xác” đã cho thấy biểu hiện
của một tình yêu tận hiến, có sức cuồng phong như một “cơn bão” trên thân thể
người đàn bà đang khao khát ái ân: “Căn phòng, như đêm thu ngoài bãi không người…
Chị thả hồn cùng mây gió và ánh trăng dịu hồng mơn man. Mặt điện thoại chấp chới
dòng tin: “cho anh hôn cái” “Dạ” “Anh hôn mắt… hôn môi… hôn cái cổ cao…?” “Dạ”
“Anh hôn ngực…?” “Dạ” “Anh hôn xuống dưới… anh hôn…”. Người chị như hòn than.
Chín lịm. Tay chị run rẫy lần cởi váy xống. Lần đầu tiên trong đời, chị tự cởi
váy xống. Chị ngắm cơ thể chắc lẳn gái một con của mình dưới ánh đèn hồng. Người
nổi da gà trên từng milimet, nơi môi Phong lướt nhẹ theo tin nhắn, Tay chị vô
tình lướt theo trên mỗi đầu dây thần kinh”.[21] Thật
vậy, tình yêu chỉ thăng hoa trong dòng sông cảm xúc của ân ái nồng nàn sắc dục.
Bởi, nếu chỉ có sự hòa hợp về tâm hồn, không thể tạo nên một tình yêu đích thực.
Sự bất lực về nhục cảm trong tình yêu là một bi kịch. Vì vậy, khi biết mình bị
ung thư, phải cắt bỏ một trong những phần nhạy cảm nhất trên cơ thể người đàn
bà, Thư đã xa xót thở than, có lẽ,: “Một khi thân thể vợ đã không còn nguyên vẹn
anh có còn cảm hứng chi? Trong lòng Thư luôn gợn những day dứt âm ỉ. Cái cảm
giác bản năng về sự dâng hiến ban tặng của người phụ nữ không còn, khiến cô chống
chếnh tủi thân. Người ta nói rằng tình yêu không có tình dục thì rất đễ đứt rời.”[22]
Để thể hiện cảm thức về Tình yêu và Thân phận của
người đàn bà, một trong những thi pháp ở truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na,
không thể không nói đến, đó là việc tạo nên những chi tiết bất ngờ khi xây dựng
cốt truyện, khiến người đọc nhiều khi có cảm giác như bị nhà văn “đánh lừa” một
cách thú vị. Sự bất ngờ của các chi tiết trong ngữ pháp của truyện đã tạo nên
bước chuyển hóa trong quan hệ giữa Tình yêu và Thân phận của
những người đàn bà trong truyện và cũng là căn nguyện tạo nên bước ngoặc trong
số phận và nhân vị làm thay đổi thân phận của họ. Những chi tiết bất ngờ thường
được nhà văn tạo nên từ sự xuất hiện của người thứ ba trong tình yêu và hôn
nhân, buộc họ phải lựa chọn hướng đi cho phần đời còn lại của mình. Sự chọn lựa
này phần lớn do người đàn bà quyết định. Đó là một sự chọn lựa hiện sinh để họ
được sống đúng nghĩa với bản ngã và nhân vị của mình cho dù có thể nhận lấy bi
kịch. Điều này, có thể nhận thấy trong Còn lại chút này qua sự chọn lựa
của Lạc khi cô “quyết định ra khỏi ngành an ninh” để được yêu Tuyên và lấy
Tuyên làm chồng. Nhưng rồi, Lạc đã bị Tuyên bỏ rơi trong đớn đau và cô độc để
chạy theo một người đàn bà khác, quyền thế hơn, giàu có hơn. Vậy mà, Lạc vẫn
tin vào sự quyết định của mình. Bởi trong suy niệm của Lạc, trong tình yêu “dù
là người khôn ngoan duy lý đến đâu cũng không khỏi có một chút liều, một chút
mù quáng và nhiều khi một chút điên nữa.”.[23] Như
vậy, Lạc đã chọn lựa Tình Yêu và Tình Yêu đã làm nên Thân
Phận của Lạc chứ không phải phận số đã chọn lựa đề làm nên Tình Yêu và Thân
phận của Lạc.
Trong Như cánh hoa rơi, chi tiết bất ngờ xuất hiện, lúc
Miên nhận ra sự phản bội của Phong, khi Phong đã bí mật đến với Mây, người học
trò mà Miên yêu quí và để lại trong Mây một mầm sống, dẫu rằng Phong đã chuẩn bị
đám cưới với Miên. Đau khổ, bẽ bàng, thất vọng đến ê chề, Miên lặng lẽ quyết định
xa Phong, để đi vào con đường gió bụi, chấp nhận cuộc đời của những “cánh hoa
rơi”; Hay sự bất ngờ trong Bến Mê khi Lam “bắt gặp Phan cùng đứa em
gái ruột thịt đang cùng nhau không một mảnh vải che thân, ngay chính giữa phòng
khách nhà mình, cách Lam và hai đứa con chỉ một bức tường. Sự việc xảy ra quá bất
ngờ và đột ngột, đến nỗi Lam không kịp lẫn tránh” để rồi chính Lam phải đưa
Linh, em gái của mình đi phá thai, nhưng khi người nữ hộ sinh tiến hành công việc
thì “Lam lao thẳng đến bến bàn sản phụ, kéo Linh bật dậy. “Thôi về em” Cả hai
chị em ôm nhau cùng òa khóc”[24]. Và sau đó Lam quyết định
ly dị Phan rồi hành trình về phương Nam trên con tàu của cuộc đời mình mà ga đổ
vẫn đang là ẩn số chưa có lời giải!?; Hay những chi tiết bất ngờ trong Đắng
ngọt đàn bà, khi Vy tìm đến người tình cũ ở khách sạn với “nhu cầu dâng hiến,
nhu cầu hưởng thụ bản năng…” và “đúng lúc thân hình Vy đang chín nẫu, mê muội
nhất, thì anh nói nhỏ vào tai Vy, như xin phép: “cho anh nhé…” Vy giật thót
mình. Anh nói gì? Giấc mộng chốn địa đàng chợt tan biến (…) Tấm thân nồng nẫy
chợt rùng mình, co rúm lại, đờ đẫn lạnh băng…” [25].
Tuy không được sống với tình yêu của mình nhưng Vy rất vui vì “cuối cùng,
người đàn bà đức hạnh trong cô đã mĩn cười” và “thoát được mớ bòng bóng rối rắm
của tình cảm thuở ban đầu đang ngún cháy” để “tôn thờ” tình yêu thủy chung đối
với chồng thì Vy bất ngờ nhận được tin Văn đã “ra vào khách sạn với con Thuý
bên đối tác” của công ty, “đã mua nhà riêng cho con nhỏ ấy rồi”.[26] Và việc gì đến tất sẽ đến. Vy quyết định ly hôn
với Văn, lặng lẽ đi tìm một lối riêng cho cuộc đời mình. Ở Sinh, chi tiết
bất ngờ là khi Sinh phát hiện mối quan hệ của Lâm, chồng mình với Thắm, người
đàn bà nhờ mang thai hộ, vì Sinh không có khả năng sinh con. Nhưng khi Sinh quyết
định ly dị chồng để ra đi, bất ngờ trên chuyến tàu vào Nam Sinh phát hiện mình
mang thai và Sinh tự vấn: “Điều ấy thật ư? Trớ trêu thay! Ông trời ơi! Sao ông
nỡ đối xử với con như vậy. Sinh ôm mặt khóc. Nghẹn ngào sung sướng. Hối tiếc.
Lo lắng. Không ngờ, cái xác suất ít ỏi mà bác sĩ từng nói, đã dành cho Sinh. Có
thể chị thụ thai vào cái đêm nồng nàn ấy… ”.[27]; Hay
hàng loạt chi tiết bất ngờ ở các tác phẩm làm thay đổi số phận, từ đó thay đổi
thân phận người đàn bà. Đó là sự xuất hiện của Mai trong Tiếng sáo người
hát rong đã làm thay đổi cuộc đời Mai, người con gái có tấm lòng nhân hậu
và đức hy sinh. Trong Vùng rừng sáng, sự xuất ngoại bất ngờ của Hồ Thoong
khi anh quyết định đi tìm Pak, mang Pak về với mẹ con Seo đang ở vùng rừng núi
để Seo thực hiện ước mơ khoa học và hạnh phúc gia đình của mình. Và cũng với
môtíp như thế, trong Mùa cà phê hoa trắng, hành trình bất ngờ của Hồ Ruôn
khi chàng bí mật theo Nhiên, khi Nhiên đi tìm Duy, người mình yêu và đã trao
thân để bàn chyện đám cưới nhưng Duy đã chạy trốn. Thất vọng ê chề khi biết
mình bị phụ tình, Nhiên quyết định tìm đến cáí chết thì Hồ Ruôn xuất hiện. “Hồ
Ruôn vẫn giữ chặt nhiên trong vòng tay, từ tốn: “Về đi Nhiên, về với bản làng
TaKai, với cha…” Nhiên buông thỏng hai tay, nhìn xuống cái bụng đã nhô lên dưới
làn áo, nước mắt lưng tròng. Miệng liên tiếp lặp lại: “cậu biết thì làm được gì
chứ!” “ Miềng làm được tất cả, Nhiên ạ, cả việc làm bố thằng bé trong bụng
Nhiên…”[28].
Khác với sự xuất hiện bất ngờ của những tình tiết nói trên, một
chi tiết nghệ thuật luôn ám ảnh tâm thức người đọc trong sáng tác của Nguyễn Thị
Lê Na đó là hành trình của những chuyến tàu. Hình ảnh này không chỉ đơn thuần
là chi tiết nghệ thuật mà còn là dự phóng mang cảm hứng sáng tạo của nhà văn mà
truyện Trong khoang tàu chật là một xác chứng, ở đó chất chứa biết
bao cuộc đời, bao thân phận, bao cảnh ngộ. Và trong khoang tàu này chuyên chở
biết bao nhiêu vui buồn của kiếp nhân sinh: “Tiếng tàu vẫn xình xịch, xình xịch
lướt qua đồng hoang. Cố át những âm thanh nhiều cung bậc trong khoang tàu chật.
Ngoài cửa sổ con tàu, vội vã mùa đi nối tiếp. Mới màu xanh của cây trái đó, giờ
là hoang tàn cỏ cháy. Nắng chói lóa không gian. Hai bên, tràm hoa vàng cằn cổi
nở hoa, đơn lẻ, buồn bã, không ai buồn ngắm”.[29] Và
cũng như sự trôi dạt của khiếp người trong cõi nhân gian trên chuyến tàu cuộc đời:
“Con tàu lại chuyển bánh, sầm sập lao về phía trước, mang theo những tổ ấm gia
đình nhỏ nhoi như những tổ chim mong manh trong gió bão…” [30]
Nếu trên khoang tàu này là một xã hội thu nhỏ với những thân
phận, những cuộc đời hiện hữu thì ở từng truyện ngắn, hình ảnh mỗi chuyến tàu
chuyên chở mỗi phận đời của từng thân phận đàn bà khi họ quyết định ra đi để
tìm một bến đổ mới cho chuyến tàu của đời mình mà ở đó hạnh phúc có khi là những
ảo ảnh. Đó là chuyến tàu của Lam trong Bến mê: “Chuyến tàu vào Nam chở ba
mẹ con Lam cùng quyết tâm sắt đá. “Đón em nhé. Tàu SE2 chuyến 15h, Lam nhấn
phím gởi đi hình dung ra gương mặt hạnh phúc của người ấy (…) Tiếng loa thông
báo đoàn tàu sắp đến ga, Lam giật mình. Đến rồi ư? (…) Xuống đi. Dưới ba bậc
tam cấp ấy là cuộc đời mới, là vườn địa đàng của tình yêu chị. Xuống thôi! (…)
Và chợt người đàn bà yếu đuối an phận trong chị lên tiếng khẻ khàng: “Đây có thực
là bến đổ của con tàu đời chị? (…) Tất cả đều có vẻ sắc sắc không không. Cho đến
khi con tàu rùng mình chuyển bánh, Lam mới sực tỉnh. Nhưng đã muộn rồi. Con tàu
tiếp tục hành trình về phương Nam…”[31] Còn
đây là hình ảnh chuyến tàu trong truyện Sinh: “Sinh xách valy ra đi. Con
tàu ngập ngừng rời bến như muốn hỏi lại đã dứt khoát chưa? (…) Con tàu đưa Sinh
đi ngay trong đêm. Như chạy trốn (…) Hai mẹ con dắt díu nhau xuống tàu. Cơn mưa
kéo dài hơn hai hôm nay trời đã tạnh. Thành phố sau chừng ấy năm minh ra đi, có
biết bao thay đổi. Nhưng con đường về ngôi nhà xưa vẫn như nâng bước chân líu
ríu của hai mẹ con. Chị muốn con trai kịp nhìn thấy bố, trước khi vĩnh viễn tiễn
biệt”[32]. Và, cũng là chuyến tàu nhưng nếu chuyến tàu
của Lam trong Bến mê là một chuyến tàu đi tìm hạnh phúc mới nhưng chỉ
là những sắc sắc không không và sẽ không có ngày trở về thì chuyến
tàu trong cuộc đời Sinh là chuyến tàu ra đi trong khổ đau lặng lẽ nhưng trở về
trong hạnh phúc cho dẫu hạnh phúc đó không trọn vẹn vì Lâm, chồng của Sinh đã
đi xa mà không biết mình đã có cậu con trai với người vợ mình yêu quí. Và “Sinh
lại ra tàu, nhưng việc trở ra lần này với cu An là một chuyến tàu khác…”[33] Đó là chuyến tàu của những dang dỡ của hành
trình sống trong đời một người đàn bà mà Lam đã lựa chọn.
3. Mặc dầu mới chỉ xuất hiện trên văn đàn với hai tập truyện
mỏng manh, khiêm nhã như chính tính cách những người đàn bà trong truyện ngắn của
Nguyễn Thị Lê Na nhưng không vì thế, truyện của chị lại thiếu đi sức nặng của cảm
xúc, của tâm tưởng. Với sự nỗ lực lao động, sáng tạo và lòng yêu văn chương,
truyện của Nguyễn Thị Lê Na đã để lại trong lòng người đọc những mỹ cảm cả về
phương diện nội dung và nghệ thuật, trong đó, mỹ cảm sâu sắc nhất là những câu
chuyện viết về Tình yêuvà Thân phậnđàn bà giàu tính nhân bản mà phải
do chính người đàn bà viết văn mới thấu cảm và thể hiện sâu sắc, đúng chất đàn
bà. Và, từ góc nhìn nữ quyền luận, cảm thức về Tình yêu và Thân
phận trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na cũng là một tiếng nói góp phần đòi
quyền sống, quyền được yêu, được hạnh phúc, được xác lập nhân vị của người đàn
bà trong thiết chế xã hội mà không phải người đàn bà không còn gặp những bi kịch
thân phận. Vì, nói như Mai Thảo:“Làm văn chương ở người đàn bà bây giờ đồng
nghĩa với lên tiếng đòi quyền được sống, bình đẳng và tự do như đời sống đàn
ông. Viết, bởi vậy là một phản ứng, một thái độ”[34]. Với
quá trình nghiệm sinh của một nữ nhà văn trong hành trình yêu và sống, cảm thức
về Tình yêu và Thân phận đàn bà trong truyện ngắn của Nguyễn
Thị Lê Na được phản ảnh khá sinh động, tinh tế, phong phú. Xét trong dòng chảy
của văn xuôi nữ Việt Nam đương đại, truyện của Nguyễn Thị Lê Na là những truyện
đáng đọc, nếu chúng ta muốn hiểu hơn về Tình yêu và Thân phận đàn
bà trong cuộc sống hiện nay, từ cây bút của một nhà văn nữ.
Viết về Tình yêu và Thân phân đàn bà
trong xã hội hiện đại nhưng truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na còn đậm chất truyền
thống, không chỉ trong tư tưởng mà ngay cả trong thi pháp truyện. Vì thế, để có
thể đi xa hơn nữa trong hành trình sáng tạo, nhà văn cần có những bứt phá, tiếp
cận với thi pháp văn xuôi hiện đại và hậu hiện đại. Và nếu không muốn lặp lại
chính mình, nhằm xác lập chỗ đứng trong đời sống văn học, nên chăng, người viết
cần lưu tâm đến việc đổi mới bút pháp, kiến tạo những diễn ngôn có chất triết
luận với những thông điệp nhân sinh sâu sắc, giàu tính nhân văn, như thế mới chạm
đến tâm cảm tiếp nhận của người đọc. Tôi tin và chờ mong những dự phóng sáng tạo
độc đáo đang chờ chị ở phía trước…
Chú thích:
[1] Kahlil Gibran – Mật Khải,
Phan Bích Thủy dịch, Nxb. Hiện Đại, Sài Gòn, 1975, tr.7
[2] Kahlil Gibran – Mật Khải,
Phan Bích Thủy dịch, Nxb. Hiện Đại, Sài Gòn, 1975, tr.21
[3] Vĩ Thanh – Bến
Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.5
[4] Vĩ Thanh – Bến Mê,
Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.14
[5] Như cánh hoa rơi – Bến
Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.33
[6] Như cánh hoa rơi – Bến
Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.27
[7] Tìm về bến trong – Bến
Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.77
[8] Tìm về bến trong – Bến
Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.78
[9] Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội
Nhà văn, 2019, tr.10
[10] Sinh – Đắng ngọt
đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.24
[11] Lụa – Đắng ngọt
đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.80
[12] Lụa – Đắng ngọt đàn bà,
Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.74
[13] Mùa cà phê hoa trắng – Đắng
ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.159
[14] Những khoảng cách còn lại – Bến
Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.105
[15] Mùa cà phê hoa trắng – Đắng
ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.160
[16] Hoàng Xuân Việt, Danh
ngôn từ điển, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1972, tr.107
[17] Như cánh hoa rơi – Bến Mê,
Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.25 – 26
[18] Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội
Nhà văn, 2019, tr.7
[19] Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa,
2007, tr.139
[20] Đắng ngọt đàn bà (Nxb.
Hội Nhà văn, 2019, tr.11
[21] Cơn bão – Đắng ngọt
đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.119
[22] Một ngày vừa chớm thu – Đắng
ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.104
[23] Còn lại chút này – Bến
Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr. 44
[24] Bến Mê, Nxb. Thuận Hóa,
2007, tr.149
[25] Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội
Nhà văn, 2019, tr.11
[26] Đắng ngọt đàn bà (Nxb.
Hội Nhà văn, 2019, tr.16
[27] Sinh – Đắng ngọt
đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.31
[28] Mùa cà phê hoa trắng – Đắng
ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.174
[29] Trong khoang tàu chật
– Đắng ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.88
[30] Trong khoang tàu chật – Đắng
ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr.93
[31] Bến
Mê, Nxb. Thuận Hóa, 2007, tr.156 -157
[32] Sinh – Đắng
ngọt đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr. 30 – 31
[33] Sinh – Đắng ngọt
đàn bà, Nxb. Hội Nhà văn, 2019, tr. 30 – 33
[34] Bán Nguyệt san Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.2
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 20/4/2020
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Nhà văn Thanh Châu sống và viết
Nhà văn Thanh Châu sống và viết
Nhà văn Thanh Châu có một chỗ đứng không thể thiếu
trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
Nhà văn Thanh Châu được xem là một hiện tượng bất bình thường
trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Ông là một nhà văn, nhà báo đã nổi tiếng
từ giai đoạn trước 1945 với hàng loạt các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết gây
xôn xao văn đàn lúc bấy giờ. Ông là tác giả “đầu trò” của vụ Hai sắc hoa ti-gôn
và T. T.Kh – một nghi án văn chương đã đi vào bất tử. Sau 1945, ông đi theo
kháng chiến và cầm bút phụng sự cách mạng. Nhưng khoảng những năm giáp ranh hai
thập kỷ 50-60, khi đang làm ở báo Văn nghệ, ông lại xin về hưu sớm, lúc mới chừng
55-56 tuổi. Sau đó, người ta thấy ông hầu như vắng bóng trên văn đàn. Thỉnh thoảng,
năm thì mười họa ông có viết đôi cái, chưa đủ cho người của thời này nhắc nhớ đến
ông. Về cơ bản, sự nghiệp văn chương của nhà văn Thanh Châu từ sau 1954 trở đi
bị rơi vào im lặng, gần như bị bỏ quên. Xin nói ngay để tránh hiểu lầm: không
phải do tổ chức nào quên, hoặc ai đó cố tình quên, mà chủ yếu do bạn đọc quên,
đời sống văn học quên với nhiều lý do khác nhau. Và trong câu chuyện này, bạn đọc
cũng không có lỗi…
Có thể hình dung cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Thanh Châu
được chia làm hai chặng lớn: chặng trước 1945 và chặng sau 1945.
Theo như tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được, tác phẩm sớm nhất
của Thanh Châu là thơ chứ không phải là truyện ngắn. Ông đã từng đăng bài thơ
Lá run trên tờ Phong hóa của nhóm Tự lực văn đoàn, số 66, ra ngày thứ Sáu,
29/9/1933. Sau đó, năm 1934, nhà văn cho đăng truyện ngắn Trong bóng tối trên tờ
Trung Bắc Tân văn(1) – tờ báo do nhà báo, học giả Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ
bút. Kể từ đó, Thanh Châu cộng tác chặt chẽ với tờ Trung Bắc Tân văn (TBTV), và
cho đăng liên tục các truyện ngắn ở tờ này. Riêng trong năm 1936, theo thống kê
trên những gì sưu tầm được, ít nhất nhà văn Thanh Châu cho đăng 13 truyện trên
tờ TBTV.
Bắt đầu năm 1937, nhà văn Thanh Châu chuyển sang cộng tác cho
tờ Phổ thông bán nguyệt san (PTBNS)(2), một ấn phẩm của nhà Tân Dân do ông Vũ
Đình Long làm chủ bút. Truyện ngắn đầu tiên nhà văn Thanh Châu cho đăng ở tờ
báo này là Hoa ti-gôn, và sau đấy xuất hiện nhà thơ T. T.Kh của bài thơ Hai sắc
hoa ti-gôn và mấy bài thơ khác như một nỗi bí ẩn đẹp đẽ mang tinh thần lãng mạn.
Cũng không hiểu lý do vì sao, từ bấy trở đi, tuyệt nhiên không thấy Thanh Châu
cho đăng tác phẩm ở TBTV nữa. Ông chuyển hẳn sang viết cho PTBNS và Tiểu thuyết
thứ bảy (TTTB). Theo chính tác giả trong bài viết Mười năm với tiểu thuyết thứ
bảy (xem trong sách này), thì từ năm 1934, năm Tiểu thuyết thứ bảy ra đời, ông
đã chính thức cộng tác với nhà Tân Dân cho đến tận 1943. Lại theo hồi ký Vũ Bằng
trong Bốn mươi năm nói láo, nhà văn Thanh Châu là cộng tác viên thân thiết của
tờ báo này, lại là bạn thân của Vũ Bằng, có nhiều ý tưởng gợi ý cho Vũ Bằng và
ông Vũ Đình Long phát triển tờ báo(3). Như vậy, bắt đầu từ 1937, nhà văn Thanh
Châu chính thức thôi không cộng tác cho TBTV nữa, mà chuyển hẳn sang cộng tác
cho PTBNS và TTTB. Phần lớn những truyện ngắn, tiểu thuyết hay nhất của Thanh
Châu đều đăng ở hai ấn phẩm báo chí kể trên. Cũng phải thôi, những năm đầu tiên
mới vào nghề, những cái viết chưa phải đã già tay. Từ 1937 trở đi, nhà văn
Thanh Châu viết nhiều, viết khỏe, và tay nghề vững lên trông thấy. Có thể kể đến
một số tác phẩm đặc sắc gồm các truyện ngắn như: Hoa ti-gôn, Lớp cuối cùng, Vườn
chanh, Nhớ quê, Cái ngõ tối; các tiểu thuyết: Tà áo lụa, Bóng dáng xưa, Cùng một
ánh trăng. Tất cả đều cho đăng trên TTTB.
Có thể nói, giai đoạn những năm trước 1945 của nhà văn Thanh
Châu đúng là một thời “vang bóng”. Ông đã có những đóng góp thực sự vào nền văn
học lúc bấy giờ với những thành tựu đáng kể. Tên tuổi của nhà văn đã được xác lập
ngay từ giai đoạn này.
Giai đoạn sau 1945 của nhà văn Thanh Châu được tính từ lúc
ông đi theo cách mạng cho đến khi ông mất: năm 2007. Nhìn vào quãng thời gian
này, ai đó thấy có vẻ hơi kéo dài, có điều gì đó bất bình thường. Nhưng xin
thưa: không. Căn cứ vào hoạt động văn học của ông, việc phân chia ra làm hai
giai đoạn như vậy là thích hợp. Số là, từ sau 1945 trở đi ông viết không nhiều.
Số lượng những cái viết của ông đếm không hết những đốt ngón tay trên một bàn
tay. Dĩ nhiên, văn chương không nên tính theo số lượng. Nhưng vẫn phải thành thực
mà nói: bao nhiêu anh hoa của nhà văn đã có vẻ như “tiêu hoang” gần hết cho
giai đoạn trước rồi. Đến giai đoạn này, ông viết vài cái phóng sự, bút ký trong
tư cách nhà báo, vài cái hồi ức kỷ niệm, dịch một vở kịch, viết một truyện ngắn.
Thế thôi.
Nhìn vào thực tế này, không ít người thắc mắc tại sao giai đoạn
sau này nhà văn lại ít viết như vậy? Trong khi đó, trước 1945, nhà văn Thanh
Châu là người được coi là viết khỏe, viết dễ dàng. Và trên thực tế lúc bấy giờ,
ông đã có một số lượng truyện ngắn và tiểu thuyết đáng nể. Sinh thời lúc nhà
văn còn sống, tôi cũng đã từng có lúc hỏi ông như vậy. Nhưng thường thì ông
không trả lời trực diện. Căn cứ vào nhiều lần nói chuyện, chắp nhặt những mẩu
chuyện đây đó của ông, kết hợp với việc đọc tài liệu, thì có thể có mấy lý do:
Thứ nhất, hiện thực đời sống từ những năm 1945 trở đi thay đổi
nhanh quá so với thời trước đó. Mọi sự thay đổi bao giờ cũng có tính chất phức
tạp. Nó không chỉ có những điều như ta mong, mà có cả những điều không mong.
Nhìn vào hàng loạt các nhà văn nhà thơ của giai đoạn trước 1945 đi theo cách mạng
và kháng chiến, số chuyển đổi ngòi bút viết kịp thời mau lẹ về cuộc sống mới
không có nhiều, và số thành công ngay lập tức thì hầu như không có. Mỗi nhà văn
trước một hiện thực mới, khả năng thức thời, khả năng chuyển đổi tương thích
không giống nhau. Ở đây chưa bàn đến lập trường – thứ mà người ta dễ quy kết nhất
– mà chỉ bàn về cảm quan của người cầm bút. Cùng là trước hiện thực cách mạng
sau 1945, Xuân Diệu là người nồng nhiệt đến mức vồ vập với cách mạng, với kháng
chiến. Ngay trong những ngày Cách mạng tháng Tám đã có Ngọn quốc kỳ (1945), Hội
nghị non sông (1945). Trong khi đó, những bài thơ đầu tiên của Chế Lan Viên sau
cách mạng được làm vào năm 1952, tức là sau đó đến 7 năm, được in trong tập Gửi
các anh (1954). Nhìn sang bên văn xuôi thấy rõ hơn: hầu hết các nhà văn phải bắt
đầu từ quãng 1948 trở đi mới bắt đầu viết trở lại, mà cũng chưa có những thành
công đáng kể như sau này. Tiêu biểu như Nam Cao chẳng hạn, viết Đôi mắt năm
1948; Nguyễn Huy Tưởng viết vở kịch Những người ở lại (1948); Tô Hoài viết Núi
cứu quốc (tập truyện) cũng vào năm 1948… Tuy nhiên, các cây bút này cũng chỉ bỡ
ngỡ mất vài năm, sau đó nhập cuộc khá nhuần nhuyễn với văn nghệ kháng chiến.
Riêng ngòi bút Thanh Châu là một trường hợp chậm thích nghi với đời sống mới.
Cái nhanh, chậm trước hết tùy thuộc vào tạng của mỗi người.
Thứ hai, hiện thực cuộc sống thay đổi không nên hiểu chỉ là
hiện thực xã hội bên ngoài. Đối với mỗi nhà văn, nó có thể kéo theo sự thay đổi
cả vùng thẩm mỹ. Có người giữ được vùng thẩm mỹ nhất quán, có người không. Nam
Cao chuyên chú vào vấn đề nhân cách con người. Đi theo kháng chiến, tuy hiện thực
cuộc sống đã mới hẳn, nhưng vấn đề nhân cách con người vẫn được tiếp tục đặt
ra. Thế cho nên Nam Cao có ngay Đôi mắt. Đối với Thanh Châu, vùng thẩm mỹ của
ông trước Cách mạng tháng Tám về cơ bản tập trung vào cuộc sống tinh thần của tầng
lớp thị dân đô thị với tất cả tính chất phong phú và phức tạp của nó. Và công
chúng độc giả mà ông hướng tới (trên thực tế là ông đã có được) chính là tầng lớp
thị dân đô thị đông đảo lúc bấy giờ. Khi cuộc kháng chiến xảy ra, đương nhiên
cái vùng thẩm mỹ quen thuộc đó đã bị tan vỡ. Nhà văn Thanh Châu không kịp trở
tay. Hoặc ông cũng không muốn trở tay. Một người đã từng viết những áng văn nhuốm
màu lãng mạn và nghiêng về chủ nghĩa duy mỹ như Hoa ti-gôn, Vườn chanh, Tà áo lụa,
Cùng một ánh trăng… không dễ gì nhập vào nền văn nghệ kháng chiến mà công chúng
của nó phần lớn là tầng lớp công nông binh. Ông cũng đã cố gắng nhập cuộc, cũng
đã viết mấy cái ký, phóng sự, nhưng chưa thể nói là đã đáp ứng được yêu cầu,
nhiệm vụ của kháng chiến đối với mỗi văn nghệ sĩ.
Lý do cuối cùng, vào những năm 1958-1960 ông mang tâm trạng bất
hòa đối với cung cách lãnh đạo văn nghệ lúc bấy giờ. Ông không phải là người
theo cánh Nhân văn. Sau khi ông cho đăng phóng sự Mua hàng mậu dịch (1956), ông
chịu nhiều lời dị nghị. Ông cảm thấy mệt mỏi, thấy có điều gì không ổn trong đời
sống văn nghệ, nên ông đã chủ động xin nghỉ hưu sớm. Như các nhà thi sĩ đời
xưa, ông đã tìm cách lánh đời, bảo toàn danh tiết.
Dĩ nhiên, ông cũng chưa triệt để đi theo lựa chọn này như cái
cách thế tồn tại của nhà nghiên cứu Trương Tửu, hoặc nhà văn Kim Lân (sau khi
in truyện Con chó xấu xí). Thỉnh thoảng ông vẫn viết vài ba cái, tuy rất ít
thôi. Viết như một sự nhớ nghề. Cái viết cuối cùng của ông, ở thể loại truyện
là Từ Thức (1995), ở hồi ký là Chặng đường làm báo thời Pháp thuộc – Từ những
bài báo đầu tiên (1997). Với số lượng quá ít ỏi như vậy, lúc này ngòi bút Thanh
Châu đã không còn đủ mạnh để giành lấy độc giả về phía mình như giai đoạn trước
1945 ông đã từng có một cách huy hoàng.
Về giá trị tư tưởng, nghệ thuật và phong cách của nhà văn
Thanh Châu tôi đã có bài viết khá kỹ Thanh Châu – nhà văn “Chuyên kể đẹp chuyện
đời” (có trong tuyển tập này). Ở đây, tôi chỉ xin nhấn mạnh mấy điểm có tính chất
khái quát nhất để bạn đọc dễ hình dung về những đóng góp đặc sắc của nhà văn
Thanh Châu trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Thứ nhất, nhìn một cách tổng quát, văn của nhà văn Thanh Châu
thuộc về xu hướng văn chương trữ tình lãng mạn. Nó được thể hiện khá nhất quán ở
mấy điểm: chuyên quan tâm và miêu tả thế giới nhân vật ở phương diện nội tâm;
thế giới nhân vật phần lớn là những người thuộc tầng lớp tiểu tư sản thành thị,
trong đó nhiều hơn cả là lớp người nghệ sĩ (họa sĩ, nhà thơ, nhà văn, diễn
viên… ) hoặc các cô gái dáng dấp tiểu thư khuê các được học hành và cung cách sống
theo lối Tây; đề tài phần lớn là những câu chuyện thuộc về tình yêu trai gái với
đủ các cung bậc của khổ đau và hạnh phúc; cách miêu tả tâm trạng nghiêng về hồi
cố; lời văn đẹp với giọng điệu trữ tình, giàu chất thơ, nhiều hình ảnh mĩ lệ,
ngôn từ tinh tế… Tất cả những điều này về cơ bản khác hẳn với văn chương của
trào lưu hiện thực, nơi mà các nghệ sĩ cố nắm bắt và miêu tả đời sống như nó vốn
có với mục đích phê phán và cải tạo xã hội. Cũng xin nói thêm, tuy không đi
theo khuynh hướng hiện thực, nhưng trong hồn văn Thanh Châu, cảm quan hiện thực
đôi khi cũng khá mạnh và chi phối vào một số truyện của ông. Cũng có cảnh lầm
than, đói khổ như các truyện Ngày sinh nhật, Rước xuân vào, Quạnh hiu… Tuy
nhiên kiểu truyện như thế này chiếm số lượng không nhiều.
Có một điểm đáng chú ý ở đây: phần lớn các nhà văn viết cho
Tiểu thuyết thứ bảy của nhà Tân Dân như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất
Tố, Tô Hoài, Nam Cao… đều là các nhà văn hiện thực. Tuy nhiên, trên tờ báo này,
họ cũng chấp nhận những tác phẩm của các tác giả có khuynh hướng lãng mạn, thí
dụ như Nguyễn Tuân, Ngọc Giao, Thanh Châu, Thâm Tâm… chẳng hạn. Chủ trương của
ông chủ bút Vũ Đình Long khi sáng lập ra tờ báo này (và một số phụ bản khác) nhằm
hướng tới công chúng bạn đọc bình dân đô thị (hơi khác một chút với Ngày nay của
Tự lực văn đoàn, hướng chủ yếu vào thanh niên trí thức Tây học đô thị). Chính
vì thế, nếu chỉ xét về sự đa dạng của lối viết, của tác giả và công chúng tiếp
nhận, Tiểu thuyết thứ bảy thực sự hơn hẳn Ngày nay.
Thứ hai, về mặt quan niệm thẩm mỹ, đồng thời cũng là quan niệm
nghệ thuật của nhà văn Thanh Châu, có thể thấy người nghệ sĩ này đã nhất quán
trong một tinh thần coi Cái Đẹp chính là vẻ đẹp tâm hồn sang quý ở con người.
Thế giới nhân vật của Thanh Châu khá đa dạng: nhiều đẳng cấp người khác nhau
(giàu nghèo, con nhà tiểu tư sản, con nhà lao động; người trí thức, người làm
thuê…); với những không gian và hoàn cảnh khác nhau: phố xá, khu du lịch, nơi
bãi biển, vùng thôn quê, trang ấp… Tất cả các nhân vật đó đều toát lên một đời
sống tinh thần tinh tế, giàu có, biết coi trọng và chăm sóc thế giới nội tâm,
biết lắng nghe và giao cảm với thế giới bên ngoài. Tâm hồn các nhân vật trong
cách biểu đạt của nhà văn đều toát lên vẻ sang quý đáng trọng, đáng yêu. Nhà
văn Thanh Châu ít có hứng thú miêu tả kiếp sống mưu sinh mà thường tập trung
vào những diễn biến nội tâm của con người. Ở đó, con người bộc lộ niềm yêu sống,
khát vọng sống, hoặc những phút giây cố gắng đến tuyệt vọng giành giật lấy sự sống
từ bàn tay của tử thần. Ở đó, niềm yêu sống và khát sống còn tràn ra cả những
loài hoa cỏ thảo mộc, côn trùng, vũ trụ… Những truyện như Lớp cuối cùng, Vườn
chanh, Tà áo lụa, Cái ngõ tối, Cùng một ánh trăng… đều nhiệt thành biểu đạt niềm
khát sống của con người và tạo vật như vậy. Rõ ràng, văn Thanh Châu đã biểu đạt
thật xuất sắc tình yêu sự sống của con người. Đó là giá trị nhân văn phổ quát
mà văn chương của ông đã tới được. Nhờ thế, một số tác phẩm của Thanh Châu có sức
sống lâu bền trong lòng bạn đọc.
Thứ ba, lối viết truyện của ông khá đa dạng. Trước nhất nói về
thể loại, ông viết cả tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn. Có một số truyện của
ông khá dài so với dung lượng truyện ngắn thông thường, tạm gọi là truyện vừa:
mấy truyện viết cho thiếu nhi như Cún số 5, Vàng, Thấy chim hồng nhạn bay đi. Một
số tác phẩm được xếp vào tiểu thuyết như: Cái ngõ tối, Tà áo lụa, Cùng một ánh
trăng. Riêng tiểu thuyết, Thanh Châu viết cũng không quá dài, cái dầy dặn nhất
cũng già trăm trang in. Sinh thời, trong một lần trò chuyện, ông nói với tôi:
truyện ngắn của phương Tây thường rất gọn, đã là truyện ngắn thì tiêu chuẩn đầu
tiên phải ngắn đã; vì thế nếu đã viết truyện ngắn, cần rất cô đúc. Nếu nhìn kỹ
vào các tác phẩm của Thanh Châu, có một điểm khá nhất quán: ông không sa vào kể
sự, tức là không ham dựng chuyện, dựng đường dây sự kiện biến cố; nếu có một
vài sự gì đó xảy ra cũng thường chỉ là cái cớ để nhân vật bộc lộ tâm trạng.
Chính điều đó quy định dung lượng đạt đến độ ngắn gọn, cô đúc. Thêm nữa, nếu
xét về bút pháp, có thể nói phần lớn truyện của ông là truyện tâm tình. Tiểu
thuyết của ông cũng là tiểu thuyết tâm trạng. Ngoài một số ít truyện viết theo
cảm quan hiện thực như đã dẫn trên kia, ông có viết một vài cái truyện theo
tinh thần humour hóm hỉnh như: Ba hôm mưa bão, Tri kỷ. Những truyện này cũng có
cái thú vị nhất định. Nó góp phần làm nên sự đa dạng. Tuy nhiên, vẫn phải thấy
sự nhất quán ở nhà văn Thanh Châu: một cây bút trữ tình lãng mạn từ trong cốt tủy.
Ngòi bút này cứ lặng lẽ đào vào những gì tế vi nhất của tâm hồn nhân vật. Điều
đó làm nên sức quyến rũ trong văn Thanh Châu.
Điểm cuối cùng, không thể không nói đến vẻ đẹp ngôn ngữ trong
văn Thanh Châu. Như chúng ta đã thấy, câu văn và ngôn từ của văn xuôi Việt Nam
giai đoạn 1932-1945 so với giai đoạn trước 1930 đã có sự tiến bộ vượt trội. Nó
chấm dứt câu văn biền ngẫu. Nó chấm dứt các điển tích điển cố. Nó đoạn tuyệt với
những hình ảnh mang tính ước lệ của văn chương trung đại. Giờ đây câu văn co duỗi
nhịp nhàng, ngôn từ và giọng điệu rất gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày, tính
khẩu ngữ của lời văn được tăng cường; đặc biệt các nhà văn có ý thức cá tính
hóa ngôn ngữ trong mỗi sáng tạo của mình. Trong một tinh thần đó, văn xuôi lãng
mạn, văn xuôi hiện thực, càng những năm về sau của giai đoạn 1930-1945 càng rõ,
đã thực sự đóng góp to lớn vào sự phát triển ngôn ngữ tiếng Việt. Nhà văn Thanh
Châu cũng là một gương mặt nằm trong đội hình ấy. Cái đặc sắc riêng của nhà văn
Thanh Châu ở phương diện ngôn ngữ đó là sự tinh tế, tinh xảo của câu văn, của
chữ nghĩa, của từ dùng, của hình ảnh. Đọc văn ông có cái khoái thú khi thuởng
thức những dụng công của một người nghệ sĩ tài hoa.
Tôi nghĩ rằng, văn học Việt Nam hiện đại còn mấy “món nợ” đối
với nhà văn Thanh Châu.
Thứ nhất, về cơ bản, bạn đọc hiện nay chưa hiểu về nhà văn,
chưa hình dung được vị trí và đóng góp của nhà văn như thế nào đối với nền văn
học Việt Nam hiện đại. Tuyển tập này ra đời là một việc làm cần thiết góp phần
vào việc phục dựng lại diện mạo và tầm vóc của nhà văn trong nền văn học Việt
Nam hiện đại.
Thứ hai, với lòng nhiệt thành của Hội Nhà văn Việt Nam, chúng
ta hoàn toàn tin tưởng rằng nhà văn Thanh Châu rất xứng đáng được vinh danh
không chỉ trong các diễn đàn chính thức của sinh hoạt văn học quốc gia, mà còn
cần được đặt tên cho một trường học, một con đường nào đó tại Nghệ An, Thanh
Hóa, hoặc tại Hà Nội.
Thứ ba, trong các bộ Lịch sử văn học Việt Nam của các trường
đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu, rất cần bổ khuyết tên tuổi và vị trí của
nhà văn Thanh Châu trong giai đoạn 1930-1945 nói riêng và nền văn học Việt Nam
nói chung.
Sinh thời, nhà văn tự nhận mình như thân phận của một con dế
“chuyên kể đẹp chuyện đêm khuya”. Chị Quỳnh Châu, con gái nhà văn kể: khi nhà
văn mất tại TP. Hồ Chí Minh, gia đình đặt mộ của cụ tại Nghĩa trang “Đồng hương
Bến Tre”; ít hôm sau đến thắp hương cho cha, chị bất ngờ thấy trên mộ cụ có một
con dế to được tạc bằng đá, không ghi rõ của ai phúng tặng… Thế mới biết bạn đọc
có cái cách ứng xử riêng của họ. Họ không lệ thuộc vào ai, không theo một chỉ
thị nào. Họ chỉ xử sự bằng lòng yêu nghệ thuật. Có thể nói rằng đó là sự công bằng
của cuộc đời đã đền đáp cho người nghệ sĩ. Dân gian đã từng nói: Ông Giời có mắt;
lại cũng nói: cho đời bao nhiêu, đời sẽ đền đáp bấy nhiêu. Cuộc đời và sự nghiệp
của nhà văn Thanh Châu là một minh chứng thuyết phục. Sinh thời ông có không ít
thiệt thòi, nhưng cho đến ngày hôm nay, mọi mơ hồ về ông đã được giải tỏa, sự
nghiệp văn chương của ông đã được ghi nhận lại một cách xứng đáng.
Có thể công việc sưu tầm của chúng tôi chưa đầy đủ. Nhìn lại,
di sản mà ông để lại bao gồm 50 truyện ngắn/ vừa (trong đó gồm 3 truyện viết
cho thiếu nhi: Vàng, Cún số 5, Thấy chim hồng nhạn bay đi), 3 tiểu thuyết
và một số hồi ức, bình luận, dịch thuật. Bảo đó là một sự nghiệp đồ sộ thì chưa
phải. Nhưng bảo là một sự nghiệp đáng kính trọng thì chắc không ai băn khoăn.
Nhà văn Thanh Châu có một chỗ đứng không thể thiếu trong lịch
sử văn học Việt Nam hiện đại.
Chú thích:
(1) Sau khi tờ Đông Dương Tạp chí ngừng hoạt động,
tờ Trung Bắc Tân văn do Schneider làm chủ nhiệm và Nguyễn Văn Vĩnh
làm chủ bút, ra số 1 ngày 7-1-1915; lúc đầu ra hàng tuần vào ngày Chủ nhật; từ
tháng 10-1915 ra một tháng 2 kỳ sau đó nâng lên 3 kỳ. Đây là tờ báo ra hàng
ngày duy nhất phát hành rộng ở Bắc và Trung kỳ. Chính quyền thực dân khai thác
tờ báo như một diễn đàn chính trị xã hội phục vụ cho chế độ thuộc địa, nhưng nó
cũng trở thành một diễn đàn quan trọng thu hút nhiều cây bút nổi tiếng đương thời
trên các lĩnh vực văn hoá. Tờ báo tồn tại đến tháng 4-1941 mới đình bản (tổng cộng
7.265 số, được coi là một trong những tờ báo ra được nhiều số nhất). Sau khi
Nguyễn Văn Vĩnh mất (5-1936), người kế tục là Nguyễn Văn Luận và Phạm Huy Lục.
(2) Phổ thông bán nguyệt san là tạp chí văn học được
xem như tờ phụ trương của tờ Tiểu thuyết thứ bảy do nhà Tân Dân của
ông Vũ Đình Long chủ trương. Số đầu tiên ra ngày 1/12/1936, mỗi tháng ra 2 kì
vào ngày 1 và 15. Mỗi số khoảng 150 trang, đăng trọn vẹn một tiểu thuyết và một
vài truyện ngắn cùng các tranh luận nhỏ về các vấn đề văn hóa, học thuật. Phổ
thông bán nguyệt san được trình bày dưới dạng một quyển sách hơn là một tờ báo.
(3) Xem trong Bốn mươi năm nói láo (Mục Tiểu thuyết
thứ bẩy, phần III-Báo xây dựng), Tuyển tập Vũ Bằng, tập 1, NXB Văn học, 2000).
Hà Nội, 22/7/2013
Văn Giá
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Nhà văn Sài Gòn sống và viết
Nhà văn Sài Gòn sống và viết Văn chương miền Nam trước 1975 là văn chương Việt Nam. Dẫu có rất nhiều khác biệt thì hôm nay đọc lại, chúng ...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...





