VĂN THƠ NHẠC
Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026
Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em
"Anh có còn ngần
Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thành phố lại bắt đầu phong tỏa”, nhưng tứ thơ vượt thoát khỏi cái sự “dịch bệnh” để đến với cái tình: “Nếu sống sót qua được mùa dịch bệnh/ Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?”. 2 câu thơ cuối chính là điểm sáng của bài thơ, là nơi nhà thơ gửi gắm cảm xúc trữ tình và nâng tầm bài thơ để chất thơ lan tỏa.
Sách và văn hóa đọc
Sách và văn hóa đọc
Có chữ thì mới có sách. Ở ta, ban đầu là sách Hán và Nôm khắc
in mộc bản hoặc thạch bản; do kẻ Sĩ và cho kẻ Sĩ – tức trí thức Nho học, viết
và đọc. Bởi sách là kinh điển Nho gia tạo nên lộ trình “tiến vi quan, thối vi
sư”. Sau sách Hán và Nôm đến sách Quốc ngữ với văn hóa in làm nên thời hiện đại.
Một thế hệ Tây học thay thế Nho học, nhằm tiếp cận văn minh phương Tây để nâng
cao dân trí, chấn hưng dân khí, hướng vào hai mục tiêu: Văn minh và Dân chủ;
nhưng lượng người đọc và viết Quốc ngữ vẫn còn rất ít ỏi. Phải đến thời Dân chủ
Cộng hòa sau 1945, với phong trào Ba chống: chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại
xâm; và Truyền bá chữ Quốc ngữ trong toàn dân thì văn hóa đọc mới thật sự là rộng
rãi.
Sự phát triển của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
gắn từng bước với hội nhập quốc tế sau 1945 đã tạo một nền tảng cơ bản cho sự
phát triển văn hóa đọc rộng khắp trong các lứa tuổi và mọi ngành nghề, mọi phân
công xã hội. Và nhân vật trung tâm đóng vai trò chính trong văn hóa đọc, đó
là người trí thức; bởi đối với họ, sách vừa là công cụ, lại vừa là sản phẩm
cho mục tiêu phổ cập và nâng cao tri thức, giáo dục nhân cách, bồi đắp tâm hồn…
cho con người.
Tuổi học đường của trẻ nhỏ đọc theo yêu cầu giáo khoa. Học và
đọc như thế nào cho phù hợp với yêu cầu và trình độ của các cấp học trong tương
ứng với thời đại, quyết định chất lượng giáo dục. Còn người lớn thì bên cạnh việc
đọc theo yêu cầu hẹp của nghề nghiệp, còn có yêu cầu rộng của sự sống tinh thần,
trong đó sách văn học có thể xem là bộ phận cốt lõi hoặc bao trùm xuyên suốt lịch
sử từ nghìn xưa cho đến nay.
Với tôi, từ khi biết đọc, khoảng 6, 7 tuổi tôi đã ham đọc.
Vào một thời còn rất hiếm sách đọc, nên tôi đọc tất cả những gì có và đến trong
tay. Tất cả sách viết cho thiếu nhi trong các tủ Sách Hồng, Truyền Bá, Hoa
Xuân, Hoa Mai. Lấn sang sách người lớn, không chỉ Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng,
Nam Cao, Tô Hoài… mà gồm cả Tự lực văn đoàn. Rồi sách dịch, gồm những Vô
gia đình, Tâm hồn cao thượng, Robinxơn, Những người khốn
khổ, Tam quốc, Tây du, Thủy hử… Đọc trên chạn rơm; dưới gốc mít,
gốc ổi trong vườn; và trên đường đi học. Vào một thời đường làng, đường huyện rất
ít xe cộ, nên không sợ đâm vào ai, hoặc bị ai đâm. Đọc mải miết, vô tư. Những
“tác hại” của văn chương lãng mạn hoặc trinh thám, kiếm hiệp mãi sau này lớn
lên tôi mới biết để… tránh, khi đã đọc tất cả, và tự thấy mình không có gì hư hỏng.
Lớn lên, khi chọn nghề, số phận xui tôi có một nghề cho đến
hôm nay – đó là nghề viết, thuộc lĩnh vực khoa học văn chương. Nói cho rõ
ngọn ngành câu chuyện này sẽ rất dài nên tôi xin miễn. Kể từ đây, từ tuổi ngoài
20, sách vừa là đối tượng tôi phải chiếm lĩnh, lại vừa là sản phẩm tôi phải tạo
ra… Có nghĩa: tôi vừa là người đọc sách, vừa là người viết sách, với một hành
trình gần như là khép kín: đọc, đi, nghĩ, viết – một hành trình khi
đã thành một vòng quay thì khó mà nói đâu là mở đầu, đâu là kết thúc. Có nghĩa
là, cho đến hôm nay thì động thái quen thuộc và sản phẩm cuối cùng của tôi vẫn
chỉ là đọc hoặc viết. Ngừng hoặc lỏng đi một khâu nào đó thì tôi
không thành tôi.
Khỏi phải nói cả một di sản khổng lồ của kỷ nguyên sách đến từ
văn hóa dân tộc và văn minh nhân loại; nó vừa là sự thâu tóm, lại vừa như sự mở
rộng các giới hạn sống, các kinh nghiệm sống – gồm những gì đã được biết và
chưa biết, để gợi cho con người – tức người đọc, những gì quen mà lạ, hoặc lạ
mà quen, trong một cõi nhân sinh ngắn ngủi khó mà đến được cái ngưỡng “ba vạn
sáu ngàn ngày”. Thiếu đi sự nhận thức đó về vai trò của sách thì quả là phí
hoài và thiệt thòi biết bao nhiêu!
Đối với tôi, đọc cho chuyên môn hẹp và đọc cho nhu cầu mở rộng
các giới hạn sống là gắn kết với nhau. Để hành nghề và cũng là để làm người. Có
một sự nghiệp để được gọi là danh nhân, ít ra là nhà này, nhà nọ
là cực khó, phải đọc thiên kinh vạn quyển mới làm nên được. Trước đã vậy và bây
giờ càng vậy. Nhưng đọc để học cách vượt khó, vượt các lực cản trên đời mà
giành lại sự sống và giữ cho được gốc thiện thì hãy tìm đến Những người khốn
khổ của V. Hugo, Papillon – người tù khổ sai của H.
Charrière, Số phận con người của M. Sôlokhov. Sống là sự thực hiện
các mục tiêu lớn nhỏ của nghề nghiệp; là được làm và làm được những việc có
ích; là biết cách thân thiện với cộng đồng xã hội. Có thế mới được gọi là người
tử tế. Nhưng sống tử tế là như thế nào? Có khi tử tế lại được xem là gã khờ hoặc thằng
ngốc như phát hiện của F. Dostoievski, không chỉ đúng với thời của Dost.
mà còn ứng nghiệm cho cả hôm nay. Có cái sống không đáng sống như sống mòn,
như đời thừa của Nam Cao; lại có cái chết mà thành bất tử như Đặng
Thùy Trâm. Có cái “tối ba mươi” đen kịt mà lại hửng sáng tình người như
trong Tối ba mươi của Thạch Lam. Gốc của mọi thứ gốc đạo đức của cõi
người là nằm ở chữ hiếu; và sự bất hiếu không cần phải khủng khiếp,
man rợ như các cảnh huống ta thấy hôm nay, mà chỉ là một vô tâm hoặc ân hận muộn
màng như nhân vật cô gái trong Bức điện của C.Pautopxki. Hai số phận
được đánh đổi quanh một “chiếc lá cuối cùng” chỉ dăm trang của O. Henry mà chứa
đựng bao triết lý sống thật sâu xa cho nhân quần ở bất cứ đâu. Rõ ràng chỉ có sách
mới đưa lại những khái quát và đặt ra những nghịch lý ám ảnh đến thế cho con
người chiêm nghiệm!
Những trang sách ứng với các trang đời; có đời rồi mới có
sách. Nhưng sách lại là kết tinh, là quy tụ, là lưu giữ và vĩnh cửu hóa các giá
trị của đời. Hàng nghìn năm con người trong tình yêu và tình yêu của con người
đã được biểu trưng trong Ngưu Lang – Chức nữ, Tristan và Yseul, Roméo và
Juliette, Thúy Kiều – Kim Trọng, Tố Tâm và Đạm Thủy… Đã nhiều nghìn năm con người
soi vào đấy mà nhận ra gương mặt mình; và để không đánh mất những gì kỳ diệu nhất
tạo hóa ban cho mình. Thế nhưng cổ tích về tình yêu vẫn chưa hề khép lại trong
câu chuyện đầu năm Giáp Ngọ – 2014, một người con gái xứ Nghệ là Hoàng Kim
Dung, nhờ vào những tiến bộ trong khoa học, đã sinh cho chồng là Hồ Sỹ Ngọc một
đứa con sau khi chồng mất… bốn năm!
Tôi không tính được những gì tôi đã đọc, và đọc đi đọc lại, ở
Thế hệ Vàng của nền văn chương Quốc ngữ có tuổi thọ hơn 100 năm ở xứ ta, với
các tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Thạch
Lam, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… Nói trăm năm, và “trăm năm trong cõi” tôi lại nhớ
Nguyễn Du với Truyện Kiều bất hủ. Thật là hạnh phúc và vẻ vang cho
dân tộc khi có một Nguyễn Du, với 3254 câu Kiều cho các bà mẹ Việt có thể thuộc
lòng hoặc đọc ngược; cho nhiều chục thế hệ trí thức Nho học và Tây học có thể
dành cả đời mình cho việc đọc, ngâm, vịnh, bình, xướng họa về Kiều… Bởi, chỉ với Truyện
Kiều, hơn bất cứ tác phẩm nào khác, mới có được một sự sống bền lâu như thế, và
rộng rãi đến thế; một sự sống đến từ và làm nên bản sắc Việt, bản lĩnh Việt,
tính cách Việt, tâm hồn Việt. Hãy mượn lời Tố Hữu để nói về sự sống ấy:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời nghìn thu.
Hoặc Chế Lan Viên:
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn.
Có đến trăm nghìn chuyện để nói về sách, ngay ở thời điểm của
Cách mạng 4.0, của Kỷ nguyên internet, của Toàn cầu hóa hôm nay. Trở lên, chỉ
là đôi điều vụn, nhỏ ở một người có ít nhiều duyên nợ với sách.
21/4/2021
Phong Lê
Theo https://vanhocsaigon.com/
Hoàng Nhuận Cầm thời chống Mỹ: Một tâm hồn học sinh những câu thơ trận mạc
Hoàng Nhuận Cầm thời chống Mỹ:
Một tâm hồn học sinh
những câu
thơ trận mạc
Nhà thơ, nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm vừa đột ngột vĩnh biệt
cõi trần ngày 20.4.2021 tại Hà Nội hưởng thọ 70 tuổi. Ông sinh ngày 7.2.1952 tại
Hà Nội, tác giả của các tập thơ: “Thơ tuổi hai mươi” (in chung, 1974); “Những
câu thơ viết đợi mặt trời” (1983); “Xúc xắc mùa thu” (1992); “Thơ với tuổi thơ”
(2004); “Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến” (2007); “36 bài thơ” (2008). Là 1
trong 4 giải Nhất của cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ năm 1972-1973, Hoàng Nhuận Cầm
cũng được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993 cho tập thơ “Xúc xắc mùa
thu”. Bộ phim “Mùi cỏ cháy” do ông biên kịch (đạo diễn Nguyễn Hữu Mười) đã đoạt
Huy chương Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17. Phim cũng được trao 4 giải
Cánh diều Vàng tại giải thưởng Cánh diều Vàng năm 2011… VHSG xin chia buồn sâu
sắc với gia đình, đồng nghiệp của nhà thơ, nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm và
trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Vũ Quần Phương về ông.
Cái tên Hoàng Nhuận Cầm được trình làng lần thứ nhất trên Tạp
chí Văn nghệ Quân đội số tháng Giêng 1972 với ba bài thơ: “Bức tranh dọc đường
hành quân, Đêm khuya nói chuyện với Andecxen và Mùa thu tôi yêu”. Ba bài thơ
khá kết nhau trong một giọng điệu tâm hồn: trẻ trung, trong sáng. Thơ nói đời về
đời sống chiến sĩ, chiến trường, nhưng còn thấm đầy hương vị tuổi học trò.
Hoàng Nhuận Cầm đang học dở đại học thì đi bộ đội, khi những
bài thơ trên được đăng, anh trọn một tuổi quân và hai mươi tuổi đời. Hoàng Nhuận
Cầm là một đại diện tiêu biểu cho lứa tuổi sinh ta và lớn lên trong lòng chế độ
mới, qua ngưỡng cửa nhà trường vào ngay cuộc chiến tranh rộng lớn, ác liệt… Kiểu
tâm hồn bộ đội này trong kháng chiến chống Pháp chưa có. Anh vệ quốc năm
xưa “Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá” thường bước vào đời bộ
đội sau khi đã trải qua những năm tháng cực nhọc trên đồng ruộng, làm lụng đến
u mê, họ “gặp nhau hồi chưa biết chữ”, những hố ngang hố dọc cản cơ
giới giặc trên đường hành quân còn gợi họ liên tưởng đến với chữ I chữ tờ ở lớp
bình dân buổi tối. Họ chưa thể có, như Hoàng Nhuận Cầm, mười lăm sách vở nhà
trường, họ chưa thể có những đêm thức trắng mải mê rất học trò với những trang
cổ tích tuyệt vời của Andecxen, họ chưa nắm được đầy đủ cái vị ngọt ngào của Truyện
Kiều, của ca dao tục ngữ, của Đường thi trong các bài giảng văn lớp
Tám, lớp Mười. “Tháng bảy lác đác cành ngô, tiếng chày ai nện đêm thu ghẹo
người”. Họ chưa có thì giờ và sự thơ thới trong tâm hồn để cảm nhận cái hơi mùa
thu Việt Nam dịu dàng bâng khuâng trong màu xanh hoa lá ruộng đồng,
trong ánh sáng tròn vạnh một vầng trăng và hương thơm những trái bưởi trung
thu. Đằng sau những câu thơ chiến sĩ của Hoàng Nhuận Cầm, người ta thấy một xã
hội trong lành tươi sáng cho phép con người, đặc biệt là ở lứa tuổi mới bước
vào đời, được sống trong tin cậy, yêu thương. Trong tâm hồn thơ Hoàng Nhuận Cầm
những buổi đầu tiên ấy, người ta thấy một phong vị trữ tình thấm đẫm những mơ mộng
khát khao. Đôi lúc cảm xúc lãng mạn được đẩy lên đến độ thần thoại hoá những
nét thực của đời sống thường ngày. Thơ Hoàng Nhuận Cầm không có những dây trầm
của ưu tư, lo ngại về những mặt phản diện hay những nét khắc khổ của đời sống
trong chiến tranh. Cuộc đời được nhìn bằng đôi mắt “xanh non”. Cảnh vật trong
thơ Hoàng Nhuận Cầm tươi sáng và luôn luôn vang động những âm thanh xao xuyến của
lần gặp gỡ đầu tiên, đôi lúc được phủ trong một khí quyển hư ảo như cổ tích.
Bài thơ Anh bộ đội và tiếng nhạc la được anh viết nhanh chóng, tại trận,
câu thơ cuối cùng chấm hết khi tiếng nhạc la đoàn vận tải còn vọng lại phía cuối
nẻo rừng. Bài thơ liền một hơi cảm xúc trong một nhạc điệu chơi vơi, lãng đãng
rất kỳ ảo, anh bộ đội xắn quần đi trong mưa với bầy la tải đạn qua những
con đường ác liệt của chiến tranh mà thơ mộng như trong cổ tích:
Những cây nấm nâu mầu nâu già
Tự dưng thức dậy bên vòm lá
Những bông hoa chửa có tên hoa.
Bỗng nhiên mở cánh ra nghe ngóng.
Hoàng Nhuận Cầm không dùng những nét dữ dội để vẽ cái dữ dội
của cuộc chiến. Hiện thực không được thể hiện trực tiếp, trần trụi như thơ của
phần đông các cây bút trẻ bộ đội. Hoàng Nhuận Cầm quen dùng những nét mềm, những
đường vờn rất mảnh để tạo hình. Thực tế đời sống hơi lùi xa, nhường chỗ cho cảm
xúc rung động. Thơ Hoàng Nhuận Cầm nhờ vậy dễ thân với bạn đọc. Giọng thơ nhỏ
nhẹ, tinh tế chính là sức hấp dẫn đầu tiên của thơ Hoàng Nhuận Cầm. Đọc thơ
anh, người ta gặp một tâm hồn trước khi nhận ra đầu đuôi sự việc.
Hoàng Nhuận Cầm cũng không thiên về kể việc. Anh chỉ muốn ghi
lại những biến động của lòng mình. Bài thơ thoáng, sự việc chỉ đủ để làm điểm tựa
khơi gợi tâm hồn. Giá trị hiện thực của thơ Hoàng Nhuận Cầm chưa bằng của Nguyễn
Đức Mậu, Phạm Tiến Duật… nhưng anh lại biết lắng nghe những chuyển động, có khi
rất nhỏ bé, của lòng mình trước hiện thực lớn lao của đất nước. Một bài thơ
nhan đề Nhật ký viết năm 1971, năm bộ đội đầu tiên của anh, có ba đoạn
sáng, chiều, tối thế này:
Sáng: Bình minh ấy là bình minh kỷ niệm
Chiều: Hoàng hôn như lạ lại như quen.
Tối: Tắc kè liếm lưỡi vào đêm,
Có ngủ được đâu
Nằm nghe lá thở
Nằm nghe súng nổ,
Đnáh giặc lần đầu, ai chả thế
Thôi sáng rồi vẫn tiếng gà xóm mẹ
Cuốn võng vào theo tiếng súng mà đi.
Bình minh ấy, để xác định không gian, thời gian chỉ là một chữ
ấy. Rồi cái vẻ đặc biệt của hoàng hôn cũng được ghi nhận từ cảm giác như lạ
lại như quen. Hoàng Nhuận Cầm muốn diễn tả cái hiện thực bên trong, hiện thực của
những biến động nội tâm hơn là miêu tả những gì nhìn được bằng mắt, nghe được bằng
tai. Ưu điểm của loại thơ này là gọn, súc tích, tránh được kể lể. Khi anh cho
thơ bám vào câu chuyện thường không thành công. Bằng chứng là ở bài Anh bộ
đội và tiếng nhạc la trong bản in ở Nhà xuất bản Quân đội, còn có một phần
dài nữa nói về sự hy sinh của anh chiến sỹ và những việc sau đó, bút pháp kể
chuyện ở đây không liền mạch với giọng trữ tình của phần trên. Báo Văn nghệ có
lý khi tặng giải chỉ lấy phần trên, bài thơ gọn và hoàn chỉnh hơn nhiều, dù diện
mạo có khác đi.
Thơ Hoàng Nhuận Cầm là thơ của tuổi trẻ ý thức đầy đủ trách
nhiệm mình trước đất nước, trước nhân dân. Ba tiếng tuổi hai mươi nhiều lần
vang động trong thơ kiêu hãnh và da diết:
Con đã sống những ngày cao đẹp nhất.
Tuổi hai mươi chỉ có một lần.
Ngay khi mình hai mươi tuổi – bình minh
Má đã sống bạc đầu đêm Côn Đảo
Em đã sống ba nghìn ngày địa đạo.
Áp má vào, uống nắng lỗ thông hơi.
Tuổi hai mươi chỉ có một lần. Hoàng Nhuận Cầm đã có câu thơ
như vậy, đã ý thức như vậy, nhưng không phải ý thức để hưởng thụ, để vội vàng sống
gấp: Đất nước đã mấy thế hệ người ra trận, đánh và thắng hai đế quốc lớn, lứa
tuổi hai mươi hiểu, hiểu lắm:
Ngay khi mình hai mươi tuổi thời gian
Nếu không nhanh, ta đã chậm mất rồi.
Khẩu AK quàng trước ngực tuổi hai mươi.
Vẻ đẹp của tuổi hai mươi trong thơ Hoàng Nhuận Cầm tràn đầy một
khí vị lãng mạn, nhưng vẫn không giấu đi cái đắng đót của lớp người tha thiết
yêu cuộc sống hoà bình xây dựng. Trong tâm hồn có cái quyết liệt rắn khoẻ, một
mất một còn trong chiến đấu, nhưng vẫn có cái rưng rưng thơ mộng:
Còn một mắt ư, còn một tay ư. Mình còn trái tim này nhớ suối
từ nguồn, thương cây từ gốc, yêu đất nước này từ ngọn gió heo may với lay lay
rơm rạ thu về.
Đọc thơ Hoàng Nhuận Cầm, đôi lúc chúng ta xúc động, lặng ướt
những chân mi vì những điều ở đằng sau câu thơ, những điều tác giả như muốn giấu
đi, chưa muốn nói, nhưng cái hơi thở của thơ anh lại làm ta nhận ra. Một cái tết: Giao
thừa đến lưng chừng dây cháy chậm. Một mùa xuân: Lính tráng cởi trần lội
sông đón tết. Một vẻ đẹp: Sáng nay tuổi hai mươi/ Hồng lên như viên đạn.
Sự tươi mới của lứa tuổi vừa bước vào đời được so sánh với
cái mới mẻ của viên đạn vừa xuất xưởng. Câu thơ hồn nhiên, sự so sánh hồn nhiên
mà nghe xót ở trong lòng. Viên đạn sinh ra là để bắn đi, một lần là hết. Câu
thơ có cái nghĩa lớn, cái sức nặng của việc đời những ngày tháng ấy. Cao cả và
xót thương.
Nếu được chết cho quê hương, con sẽ chết như bạn bè con thế đấy,
với câu Kiều trên miệng, súng trên tay.
Đọc những dòng này chúng ta lại nhớ tới một Tố Hữu thời “Từ
ấy” vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng.
Cảm xúc thơ Hoàng Nhuận Cầm non tơ và tinh nhạy. Trong tâm hồn
anh chất liệu đời sống xen lẫn với chất liệu rút ra từ sách vở nhà trường, thực
và mơ đan nhau. Sách vở đã chuẩn bị cho rung cảm việc đời khi anh chạm vào thực
tế. Các anh bộ đội chống Mỹ, hành quân qua đèo Ngang, ai cũng bâng khuâng một nỗi
niềm thương nước. Nỗi niềm bâng khuâng ấy được bắt đầu từ một bài thơ của bà
huyện Thanh Quan học ở nhà trường. Hoàng Nhuận Cầm cũng vậy, những gì của thời
đi học, cảm xúc về văn học, lịch sử, địa dư… như cùng cộng hưởng với những việc
anh gặp ngoài đời, dọc đường ra trận, mà ngân vang không dứt trong tâm tưởng. Nếu
không được đọc, được học những gì về Huế từ những ngày đất nước chia cắt thì
làm sao đêm 23 tháng 3 năm 1975, khi tiến vào Huế vừa giải phóng, Cầm đã có
ngay được cảm xúc rưng rưng ghi nguyệch ngoạc trong sổ tay nhật ký: Con đến
hôn Huế bằng chính đôi môi xương thịt của mình. Đêm nay ngủ ở nhà trong thành
Huế. Đã đứng dưới cờ Phu Văn Lâu. Đêm không thể ngủ. Ở một trang khác mấy câu
thơ chưa thành bài: Đứng trước hồ Tĩnh Tâm lòng không yên được… Sau
này Hoàng Nhuận Cầm đã viết một bài thơ dài về Huế Giữa hai hàng lục bát, trong
đó chúng ta gặp lại cái rưng rưng ấy của Cầm:
Mắt tôi nhoà giữa chợ Đông Ba
Hôn một cái vội vàng trên đập đá.
Chân vấp ngã mấy lần bên Vĩ Dạ.
Một câu hò ai đã đỡ tôi lên.
Phu Văn Lâu giờ phút ấy oai nghiêm
Hồ Tĩnh Tâm ngàn sen hồi hộp thở,
Mắt rơm rớm bà con Huế ngó,
Ngôi sao vàng trong gió cuốn thiêng liêng.
Khi Hoàng Nhuận Cầm đã là anh bộ đội thì Trần Đăng Khoa còn
là chú bé học trường làng. Họ chênh nhau bốn tuổi nhưng trong thơ anh bộ đội
Hoàng Nhuận Cầm thì đầy những trò chơi, cùng ý nghĩ của tuổi học trò. Và trong
ý nghĩ học sinh của em Trần Đăng Khoa thì bao nhiêu lần hiện ra anh bộ đội.
Thành ra anh bộ đội trong thơ Cầm và trong thơ Khoa đều giống nhau ở cái chất học
trò, cái vẻ dễ thương của tuổi vừa lớn lên. Anh bộ đội trong thơ Khoa: Chú
đi gánh nước, chú ngồi đánh bi. Hòn bi ấy cũng vừa mới lăn hết vòng tuổi
nhỏ ở anh bộ đội trong thơ Cầm. Anh bộ đội ấy ra trận, trong ba lô còn
có một hai ba giọng hát chú ve kim và khi chốt trên đồi cao điểm sau
lúc nguỵ trang công sự, lại ngồi lắng nghe tiếng chim kể chuyện, những con chim
quen thuộc của tuổi thơ, của cổ tích và cả những gì thuộc về đất nước đã thấm
vào máu thịt tự bé thơ. Tiếng kêu con cuốc chạy về quả tim.
So sánh anh bộ đội trong thơ Hoàng Nhuận Cầm với anh bộ đội
trong thơ kháng chiến chống Pháp: Quân đội ta càng trưởng thành thì tâm hồn
mỗi người lính lại càng trẻ trung hơn. Vẻ tươi sáng, hồn nhiên, tự tin của những
tâm hồn ấy chính là sản phẩm của những năm hoà bình xây dựng ở miền Bắc. Họ yêu
ruộng đất xóm làng nhà máy, nhưng cũng biết yêu những tà áo xanh đung đưa
trong quả thị, những đầu voi chín ngà và ngựa chín hồng mao. Với họ, câu Kiều
cũng cần thiết như vũ khí, như súng trên tay:
Con sẽ chết như bạn bè con thế đấy
Với câu Kiều trên miệng, súng trên tay.
Nhưng súng đạn không bao giờ là ý nghĩ duy nhất của họ dù
đang trên đường ra trận. Bên súng đạn là bao nhiêu ý nghĩ tươi xanh về cuộc đời,
những dự cảm về tương lai. Hoàng Nhuận Cầm hồn nhiên đặt chung trong một vần
hai thái cực của đời sống.
Chung quanh đây nhiều hố bom rách nát
Chung quanh đây nhiều chồi non dịu mát.
Và Hoàng Nhuận Cầm cũng không hồn nhiên chút nào khi gặp lại
hai thái cực ấy trong một dạng khác.
Đêm đêm,
Tiếng pháo kích từ thành cổ vọng về đây…
Lửa đốt nương cháy suốt ngày,
Tàn tranh rơi như lông ngỗng trong thần thoại,
Phủ đầy lên mâm pháo lên mũ sắt,
Khói bay,
Phủ đi những lô cốt giặc
Tôi như muốn khóc:
Mẹ ơi!
Mẹ đốt nữa đi,
Rồi lúa khoai sẽ mọc,
Mùa ngô rồi vàng lắm, mẹ ơi…
Ánh lửa đốt nương tần tảo kiên nhẫn của bà mẹ đợi gieo trồng
giữa vùng đất đang diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa ta và địch, một điều gì
đấy thuộc về ý nghĩa lớn lao của cuộc đời làm chói lòng người viết: Tôi
như muốn khóc. Đấy là giọt nước mắt của sự trưởng thành, nó là dấu hiệu cho thấy
phía sâu xa trong những cảm xúc ngỡ như hồn nhiên của Hoàng Nhuận Cầm. Trong
bài Nghe chính uỷ hát sau trận đánh viết năm 1975, Hoàng Nhuận Cầm đã
biết lắng nghe, không phải chỉ bằng cả trái tim mình cái tiếng hát cất lên từ một
người chính uỷ đã bạc phơ mái tóc:
Cái bàn tay to thô,
Vỗ vào đùi nhẹ hát,
Mùi bộc phá bỏng rát,
Cũng theo vào bài ca,
Đồng bằng kia đâu xa,
Đau đáu ngày hẹn gặp,
Lời ca bay lên mắt,
Rồi lại lặn xuống môi,
Người hát đã qua bao nhiêu từng trải khốc liệt của đạn bom sống
chết, ông kín đáo giấu cảm xúc của lòng mình trong tiếng hát, người viết đã
phát hiện được cảm xúc ấy và cũng thể hiện một cách kín đáo trong câu thơ của
mình. Ý nghĩa nhân tình của bài thơ này rất thấm thía, nó cho thấy tính chất
phong phú của thơ ca đánh giặc thời chống Mỹ của chúng ta.
Hoàng Nhuận Cầm xuất hiện cùng lúc với nhiều người làm thơ trẻ
trong và ngoài quân đội. Năm anh được giải nhất của báo Văn nghệ trong một cuộc
thi thơ (1972-1973) cũng là nhất với ba bạn khác trong đó thì hai cũng là bộ đội
như anh (Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu). Giữa đông đảo như vậy mà Cầm được bạn đọc
nhớ tới, vì anh đã sớm có nét riêng, nét riêng ấy là chất tâm hồn ở thơ Cầm.
Đây là một ưu điểm đáng quý vì trong những năm ấy do sức hấp dẫn mãnh liệt của
những sự kiện, trước vẻ bi hùng lớn lao của cuộc sống đánh giặc, nhiều cây bút
đã để phần việc của đời lấn phần hồn của thơ trong sáng tác của mình. Muốn vươn
tới cái vĩ đại cao cả của hiện thực, nhưng lại để thiếu đi cái thầm lặng gốc rễ
của cảm xúc, thơ thường bị khô. Hoàng Nhuận Cầm tránh được nhược điểm ấy. Thơ
anh luôn có cái rưng rưng non xanh của tuổi mới lớn, háo hức trước tương lai và
bâng khuâng trong kỷ niệm. Hoàng Nhuận Cầm lấy cảm xúc làm cứu cánh cho tứ thơ,
anh chịu lắng nghe để viết những cái thực sự mình có, thực sự là mình. Viết như
tâm sự, chân thành như tự thú:
Thôi xin chào mười năm học phổ thông,
Cánh hoa phượng cuối cùng thương mến nhất,
Một chấm đỏ rung rung trên lòng đất,
Tuổi khăn quàng, phấn tráng, nắng vô tâm
Không phải không có lúc hồn thơ Hoàng Nhuận Cầm bị đắm đuối
vào những cảm xúc mơ hồ, khơi gợi những rung cảm ngòn ngọt đã quen mòn, thậm
chí có khi là những cảm xúc đã bị chuyền tay qua nhiều người viết.
Và trong khuynh hướng khai thác chất liệu của Hoàng Nhuận Cầm
(từ sách vở, từ kỷ niệm, từ những “cái nên thơ”…) dễ dẫn đến sự né tránh những
chất liệu mới thật sự của đời, sống sít, phức tạp chưa hợp với khẩu vị quen thuộc
của thơ, do vậy, sự khai thác, sức đi tới táo bạo của nhà thơ bị hạn chế. Chính
vì thế khi đọc được câu thơ “Lính tráng cởi truồng vượt sông đón tết”1 chúng
tôi thấy được sự cố gắng của tác giả trong việc xáp vào hiện thực, mặc dù ý thơ
này chưa hẳn là mới (tuy vẫn còn là bạo), ba mươi năm trước anh bộ đánh Pháp đã
nói rồi2.
Có lẽ chính Hoàng Nhuận Cầm cũng ý thức cái sở trường, sở đoản
trong lối viết của mình, nên sau khi trở lại trường đại học, anh thay đổi bút
pháp: câu thơ lạ hơn, tứ thơ phức tạp hơn, cảm xúc có phần rắc rối hơn, đôi lúc
thành khó hiểu, thậm chí kỳ quái. Chặng tìm tòi mới đó của Hoàng Nhuận Cầm có
thể chưa đến cái đích mà anh muốn, nhiều bài đã bị gạt lại ngay từ ngăn kéo
biên tập viên các toà soạn. Những trồi trụt ấy cũng ít ai tránh khỏi. Bạn đọc
có thể chưa chấp nhận bài này bài khác, hay hơn nữa có thể phản đối một khuynh
hướng tân kỳ nào đó mà anh đang ham thích, nhưng chưa ai dám vội vã kết luận là
anh đã dừng lại. Anh vẫn đang còn nhiều thời gian trước mặt, anh thuộc vào loại
trẻ trong số các cây bút trẻ bấy giờ. Một bản năng nhạy cảm, một sự hiểu biết đời
sống ngày một sâu, cộng với một kiến thức văn hoá và văn học ngày càng vững
vàng là những yếu tố để chúng ta chờ đợi những thành công mới của Hoàng Nhuận Cầm.
Chú thích:
1. Câu này khi in báo đã được sửa lại cho “nhã” hơn: Lính
tráng cởi trần
2. Qua sông mà chẳng có đò/ Phần lo làm mảng, phần lo cởi
quần/ Quản trị xếp súng xếp chăn/ Kiễng chân đẩy mảng hò quân sang bờ/ Anh kia
áo vén thập thò/ Áo quần nhất bọ còn lo ai cười.
21/4/2021
Vũ Quần Phương
Theo https://vanhocsaigon.com/
Những chuyển động của hiện thực tinh thần trong Dưới trăng và một bậc cửa
Những chuyển động của hiện thực
tinh thần trong Dưới trăng và
một bậc cửa
Trong sự liên thông, chuyển động giữa hồi tưởng, ký ức, cõi
âm với “hiện thực của tinh thần”, Nguyễn Quang Thiều đã gieo trồng những
hạt giống uyên nguyên, thanh khiết. Ông nhận ra “cơn mơ của mình đang đi
trên con đường đơn độc” nhưng ông vẫn tin vào quyền uy của cái đẹp, tin
vào ánh sáng bất diệt của tâm hồn sẽ hoàn nguyên những giá trị sống…
Trong cuốn Văn học Việt Nam thời toàn cầu hóa, Nguyễn
Hưng Quốc đã luận bàn về sự viết như sau: “Viết để ngay cả những điều phức
tạp nhất cũng có thể được đọc và được hiểu là một cái thú. Viết để đạt đến cái
cõi bất khả độc (unreadability) và bất khả quyết (undecidability) lại là một
cái thú khác, cái thú thám hiểm vào những vùng biên ải xa xôi không những hiếm
người mà còn hiếm cả ánh sáng nữa; ở đó, người ta có thể đùa nghịch với bóng tối
và sự vắng vẻ đầy thanh khiết”[1]. Đọc thơ Nguyễn Quang Thiều, có thể nói,
sự viết của ông đã “đạt đến cái cõi bất khả độc (unreadability) và bất khả quyết
(undecidability)”. Ông “đùa nghịch” với vùng-đất-tâm-hồn của mình và “đùa nghịch”
với hiện thực cuộc sống bằng những giây phút thăng hoa khoái cảm. “Dưới
trăng và một bậc cửa”[2] là một minh chứng rõ nét về sự giãn mở tột đỉnh của
trí tưởng tượng trong hành trình kiến tạo cái mới và cái hay cho thi ca. Nếu
soi xét, giải mã và liên kết “Dưới trăng và một bậc cửa” trong sự đa
chiều của không thời gian, tìm phương cách vén các lớp sương bện chặt trong cõi
vô thức, người đọc sẽ dễ dàng nhận ra mọi chiều cạnh của sự sống và cái chết,
cõi dương và cõi âm, quá khứ và hiện tại, còn và mất, hạnh phúc và khổ đau,… đều
không ngừng chuyển dịch, tương tác. Là câu chuyện đi về giữa “hiện thực của
thể xác” và “hiện thực của tinh thần”, nhưng “hiện thực của
tinh thần” mới chính là linh hồn của thi tập“Dưới trăng và một bậc cửa”.
Ngoài lời tựa “Trong căn phòng của một người bại liệt”, trong “Dưới
trăng và một bậc cửa” có 10 bài, bao gồm thơ dài và trường ca. 10 bài viết
đều đã từng in và nằm rải rác trong các thi tập của Nguyễn Quang Thiều. Tìm sợi
dây kết nối 10 bài viết này lại với nhau, một mặt người đọc thấy được tính
xuyên suốt trong hành trình sáng tạo thi ca, mặt khác, thấy được quan niệm, tư
duy, thi pháp thơ hết sức riêng biệt, cá tính của ông. Đặc biệt, “hiện thực
của tinh thần” luôn chuyển động, biến dịch trong “Dưới trăng và một bậc
cửa” khiến thi ảnh đẫm sắc màu huyễn ảo, giàu tính ẩn dụ, nhịp thơ đứt
gãy, trật khớp liên tục. Do đó, “Dưới trăng và một bậc cửa” vẫn mới
khi tiếp nhận, vẫn khiêu khích người đọc thám mã và đối thoại.
1. Gọi tôi qua những mảnh vỡ tim mình
Ở lời tựa “Trong căn phòng của một người bại liệt”, Nguyễn
Quang Thiều đã mách nước, bà nội của ông không kiếm tìm bản ngã qua tấm gương,
không kiếm tìm một chủ thể liên đối, mà bà dùng giọng nói của mình để xác thực
bản ngã: “Nỗi sợ hãi không xác định được sự tồn tại của mình bằng những cảm
nhận của thân xác khiến bà tôi phải dùng giọng nói đã trở thành tấm gương để bà
tôi soi ký ức và ý thức sống của bà. Bà tôi nhận thấy sự hiển thị của mình
trong giọng nói. Sự tồn tại này bây giờ lại đồng nghĩa với chân dung của bà
tôi. Sự tồn tại ấy – chân dung ấy đã hiện lên bằng tiếng nói của bà tôi. Và
chân dung của bà tôi được xây dựng lên bằng tiếng nói của người, đã tồn tại
trong tôi mọi chiều của không gian, thời gian và ở mọi tầng suy ngẫm của tôi”. Cái
tôi trong gương bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định với cái tôi ngoài
gương. Cái tôi bên trong chỉ là sự chụp lại, sao chép cái tôi bên ngoài. Nên, mọi
sự kết nối với cái tôi bên trong của bà đều bị cắt đứt, phá vỡ. Giọng nói, vốn
dĩ, đó là âm thanh phát ra từ một cái tôi hiện hữu. Trong trường hợp của bà,
khi giọng nói cất lời, nó chứng thực ngoài sự tồn tại của một chủ thể còn có một
chủ thể khác, trong tôi còn có một tôi khác, nằm ngoài tôi. Nghĩa là bà nội của
thi sĩ không muốn vong thân hay phân rã bản thân bằng kĩ thuật/hiệu ứng tấm
gương mà bà dùng giọng nói – “hiện thực của thể xác”, tạo ly cách,
gián cách với “hiện thực của tinh thần”, để có thể nhìn rõ hơn sự tồn
tại của nhiều cái tôi. Nguyễn Quang Thiều còn nhấn mạnh: “Hiện thực của thể
xác là một hiện thực bất động của đời sống. Nó giống như một cái chết được băng
hóa. Còn hiện thực của tinh thần thì luôn chuyển động và sinh nở, và biến ảo.
Và nó luôn tìm cách trở lại điểm đầu tiên của nó” (Trong căn phòng của một
người bại liệt). Giữa “cái tôi bề mặt” (hiện thực của thể xác) và “cái tôi bề
sâu” (hiện thực của tinh thần), “cái tôi bề sâu” thường đóng vai trò quan trọng.
“Cái tôi bề sâu” thấy rõ những đớn đau của “cái tôi bề mặt” (cơ thể bại liệt),
từ đó, bộc lộ sự nhận thức về bản thân. Giọng nói vang lên miên man, lộn xộn của
bà nội không chỉ biểu hiện sự dày vò, đau đớn của thể xác mà còn biểu hiện nỗi
buồn thân phận, cô đơn bất tận. Lúc này, giọng nói của bà nội đã trở thành tiếng
nói của thân phận, là sự phản chiếu “hiện thực của tinh thần” tươi
ròng và bất tử. Từ lời tựa này, Nguyễn Quang Thiều dựng nên một bức tranh sống
động về “hiện thực của tinh thần” trong “Dưới trăng và một bậc cửa”.
Khoảng cách giữa “hiện thực của thể xác” và “hiện thực của tinh
thần” trong cuộc đời bà nội –“một nông dân không biết chữ” đã thặng
dư trí tưởng tượng, cất cánh cho thơ Nguyễn Quang Thiều. Đối với ông, bà “là
nhà văn đầu tiên và vĩ đại”
Ngay bài cuối cùng của tập sách – bài“Cây ánh sáng”, nhà
thơ lý giải sâu sắc hơn mối quan hệ giữa “hiện thực của thể xác” và “hiện
thực của tinh thần” qua cuộc chạm trán: “Một kẻ là chàng ánh sáng và
một kẻ là chàng bóng tối/ Một kẻ ngập tràn ánh sáng và miệng chứa đầy ngôn ngữ
minh tuệ/ Một kẻ ngồi trên chiếc ghế hành hình ngập bóng tối tự trừng phạt
mình, chỉ trái tim không ngơi nghỉ dội vang/ Cả hai đối mặt nhau không phải một
người ngoài gương và một người trong gương/ Một ánh sáng là chiếc gương của bóng
tối và một bóng tối là chiếc gương của ánh sáng/ Tất cả chỉ là một nhưng trong
ánh sáng của Người, một đau đớn thân xác, một đau đớn tâm hồn” (Cây ánh
sáng). “Hiện thực của thể xác” như “cái chết được băng hóa”, nên,
nó thuộc về cõi âm, bóng tối. Ngược lại, “hiện thực của tinh thần” luôn
“sinh nở”, nên, nó hướng về cội nguồn/cuống nhau của ánh sáng. Như vậy, “hiện
thực của tinh thần” trong “Dưới trăng và một bậc cửa” được nhà
thơ sắp đặt theo kết cấu vòng tròn, đã có sự khúc xạ, liên đới từ cuộc đời của bà
nội sang cuộc đời của nhà thơ. Theo kết cấu vòng tròn, nhà thơ chiêm nghiệm hiện
thực ấy bằng hành trình “gọi tôi qua những mảnh vỡ tim mình”. Nguyễn Quang Thiều
tự chiết, tự tạo những chấn thương tâm hồn để làm giàu “hiện thực của tinh
thần”. Những chuỗi độc thoại, phơi bày cái tôi của Nguyễn Quang Thiều,
chính là sự làm đầy/dày “hiện thực của tinh thần”.
“Hiện thực của tinh thần” hiện lên đa dạng, nhìn từ
nhiều góc độ, không theo một lớp lang nào. Có khi được tái hiện qua những khúc
cảm, qua dòng hồi tưởng, qua kí ức thuở thơ, qua giấc mơ, nhưng có khi lại bước
hẳn vào cõi âm. Quán chiếu “hiện thực của tinh thần” trong nhiều thái
cực, Nguyễn Quang Thiều cho người đọc thấy thế giới phức tạp, đầy bí ẩn của nội
tâm. Hành trình đi tìm bản thể bao giờ cũng khắc nghiệt và cô độc. Dùng sợi
dây “hiện thực của tinh thần” đi qua cái chết, đi qua cõi âm, ông lý
giải về sự thanh cao, tinh khiết của nỗi đau. Ông không đoạn tuyệt với nỗi đau
mà dùng nỗi đau làm bàn đạp, học cách ngước lên, để hiểu mình và tái sinh.
2. Trong tiếng đập không ngưng nghỉ
Đánh giá về thơ Nguyễn Quang Thiều, đã có nhiều ý kiến nhận định,
thơ ông vừa mang bản sắc dân tộc, truyền thống, vừa hiện đại, đổi mới. Dấu ấn bản
sắc dân tộc thể hiện qua các cổ mẫu về cố hương, ông bà, cha mẹ, người đàn bà
quê, dòng sông, cánh đồng, đất đai, cỏ cây,… Trong đó, làng Chùa được xem là mẫu
gốc, nơi sinh tạo nhiều cổ mẫu con như: cánh đồng, dòng sông, khu vườn, đất, quả
đồi, người đàn bà quê,… Tình yêu nguồn cội trong thơ Nguyễn Quang Thiều khởi từ
nhịp điệu châu thổ của làng Chùa, bên bờ sông Đáy. Ông sắp đặt mọi thứ châu tuần
xung quanh làng Chùa. Buồn và vui, khổ đau và hạnh phúc đều đi ra từ làng Chùa.
Làng Chùa trở thành cái lõi, trục chính, chi phối đến các mảnh ghép khác. Mẫu gốc
làng Chùa còn được ông gắn kết với cổ mẫu Mẹ, hiện thực hóa thông qua hình ảnh
bà nội, mẹ, người đàn bà quê, vợ, em. Cổ mẫu làng Chùa và cổ mẫu Mẹ vì thế đều
là “trung tâm của sự tái sinh”. Đó là nơi nguyên lý sinh – dưỡng tồn tại vĩnh cửu
và thiêng liêng. Đó là trụ cầu nối dài và ca vang sự sống:
Những người đàn bà già của làng đồng phục màu nâu
Những trụ cầu mảnh mai, suốt đời bền vững
Họ dựng lên cây cầu
Và con đường vươn ra lộng lẫy
Cây cầu bắc mãi vào xa xôi, bắc mãi vào gần gũi
Cây cầu lan xa tiếng cười
Ánh sáng lướt qua những trụ cầu nâu
Và Người Nông Dân Già đi – vệt sao băng chói trắng
Những người đàn bà già ngước lên và hát
Lời hát sum vầy như đất vun, như thóc vun và như lá xum xuê
Họ hát từ chân lư đồng, ra bậc cửa, ra ngõ, ra con đường và
ra vĩnh viễn
(Nhịp điệu châu thổ mới)
Dấu ấn hiện đại trong thơ Nguyễn Quang Thiều thể hiện qua tư
duy, kĩ thuật xây dựng thi ảnh giàu sức gợi, ám ảnh. Thơ Nguyễn Quang Thiều
không đi theo hướng tung hứng chữ, chơi chữ nhưng vì thường đẩy nội tâm đến cực
hạn của dòng chảy vô thức, của cõi mê, cho nên, rất nhiều thi ảnh được lạ hóa,
đẫm sắc huyền ảo. Tính triết lý và chất chiêm nghiệm đậm đặc khiến kết cấu thơ
thêm phần đa tầng đa nghĩa. Ông không đặt người đọc cố định ở một góc nhìn, một
vị trí hay tạo ra một bệ phóng vững chãi mà buộc người đọc phải tự móc nối các
liên tưởng bất thường, phi tuyến tính lại với nhau để giải mã. Hai đặc điểm dân
tộc và hiện đại cũng được ông bộc lộ trọn vẹn trong “Dưới trăng và một bậc
cửa”. Nhưng sức mạnh và tính độc đáo của “Dưới trăng và một bậc cửa”, so
với các tập khác, nằm ở sự xếp đặt “hiện thực của tinh thần” khéo léo
và tinh tế. Những nét cọ được vung tự do trên tấm-toan-tâm-hồn giúp ông “đùa
nghịch với bóng tối và sự vắng vẻ đầy thanh khiết” theo cách riêng mình. Mọi
thứ, từ sự sống đến cái chết, từ kí ức đến giấc mơ, từ hiện thực đến tiềm thức,
vô thức,… đều chảy trôi, di dời, quẫy cựa theo những lớp sóng mơ/suy tưởng của
tâm hồn.
Hồi tưởng, kí ức, cõi mơ và cõi âm thuộc về “hiện thực của
tinh thần”. Trong “Dưới trăng và một bậc cửa”, Nguyễn Quang Thiều
dùng hồi tưởng, kí ức, cõi âm và cõi mơ làm sợi dây kết nối giữa cái đã qua với
cái đang hiện hữu, mượn cái đã qua xét cái đang hiện hữu. Bản tính tốt hay xấu,
cuộc đời hạnh phúc hay khổ đau đều hiển hiện trong một khoảnh khắc hay giai đoạn
nào đó của con người. Cho nên, việc con người chấp nhận băng qua cửa ải của nỗi
thống khổ, chết chóc, thù hận,… rồi đúc rút kinh nghiệm từ “hiện thực của
tinh thần” ấy, cũng là một cách giúp con người thấu suốt bản thể, thanh tẩy
và phục sinh tâm hồn.
Trước hết, hồi tưởng, kí ức của Nguyễn Quang Thiều là một bức
tranh sống động, đa dạng về hình ảnh, màu sắc và âm thanh. Các mảng khối này
luôn gắn kết với “hiện thực của tinh thần”, nên chúng thường ảo biến,
dời chuyển. Hồi tưởng, ký ức trong “Dưới trăng và một bậc cửa” có khi
là nỗi nhớ, hoài niệm về dòng sông Đáy, cánh đồng của bà nội, về một làng quê
nghèo khổ, về những người đàn bà tần tảo, những đứa trẻ thơ ngây,… Cố hương của
Nguyễn Quang Thiều không xơ cứng mà luôn nổi sóng khắc khoải, ưu tư, vật vã như
phận số của con người: “Cố hương xoã tóc đen đi trong gió trắng/ Cố hương
vật lên như sóng/ Cố hương vùi mình như muối triệu năm” (Chuyển dịch màu
đen). Trong cái nhìn của nhà thơ, thiên nhiên cũng hiện diện hết sức lạ lẫm, dị
kì: “Chuông rền rĩ/ Trong những chóp nhà thờ/ Bầy ốc vặn phủ rêu/ Lửa cháy
rực từng quầng trên cỏ/ Lũ chuồn chuồn hừng hực bay đi/ Những vòm cây tự xé
rách lưỡi mình/ Trong cơn ngứa ăn nhầm ánh sáng/ Những dòng sông tự cào tướp họng/
Cơn buồn nôn những bến giả không thuyền/ Những hồ nước thủ dâm đục sóng/ Trước
loài sen đổi giới tính thay mùa/ Những trái cây tự rơi vào thuốc độc/ Cự tuyệt
hàm răng nham nhở lý do/ Và những đền chùa gục ngã/ Trước những pho kinh phản bội
bồ đề” (Đoản ca về buổi tối). Những hồi tưởng, kí ức của nhà thơ
không chỉ nhắc nhớ về cái đã qua, còn có những hồi tưởng, kí ức tưởng tượng mà
lúc đó nhà thơ chưa ra đời:
Ta gặp mẹ ta năm người mười bảy
Những răng lược gỗ mòn cắn ngập mái tóc người
Ta gặp cha ta năm người hai mươi tuổi
Dưới những nhát búa cùn
Từng khúc xoan tươi toác ra tiếng cười của lửa
(Mười một khúc cảm)
Những phá cách về mặt cảm hứng, khiến mọi thứ đều mang tính
siêu hình, và cùng với sự tự rời xa, thậm chí xoá sạch dấu vết bản thể của mình
như trên, khiến không thời gian hồi tưởng, kí ức của Nguyễn Quang Thiều càng bất
định hơn, khó liên kết hơn. Vậy, trong bể hồi tưởng, kí ức mênh mông ấy, nhà
thơ tìm thấy cái tôi đa thể bằng con đường nào? Liên kết hành động quả quyết: “Ta
đi về cửa ngõ của chiều/ Ta đi về thuở ta chưa cắt rốn/ Ta đi về thuở ta còn
sóng sánh” (Mười một khúc cảm) với khát khao “gặp”, “đợi”, “tìm”, “bay”,
“ngước lên”,… chúng ta sẽ thấy rõ hành trình đi tìm ánh sáng cuộc sống của nhà
thơ: tìm ánh sáng cuộc sống trong bóng tối, trong những khổ đau, trong cái chết.
Bởi, đi đến tận cùng của sự mất mát, đớn đau cũng là lúc con người nhận ra giá
trị của bản thân và cuộc sống xung quanh. Niềm đau, nỗi buồn, bao giờ cũng ở lại
bền lâu. Và cũng chỉ trong niềm đau, nỗi buồn, người sáng tạo mới khai thác,
khơi lộ được bản ngã riêng khác của mình. Là con người, theo Nguyễn Quang Thiều,
anh ta “phải sống, phải đau đớn suốt đời, phải bước đi không giày trên gai
sắc, trên đinh nhọn, trên rắn rết, đi qua lửa và nước” (Cây ánh sáng), chấp
nhận hiện thực bất toàn, bất tín để truy đến cùng giá trị của nỗi đau, giá trị
của cái chết. Hay nói cách khác, ngụp lặn trong sự đày đọa về thân thể và sự giằng
xé, dằn vặt của tâm hồn, con người mới đi đến tận cùng nỗi tuyệt vọng, mới thấy “tuyệt
vọng cũng đẹp như một bông hoa” (Trịnh Công Sơn). Miền đau vì thế mới thực
sự là miền riêng tư của khoái cảm. Vậy, hồi tưởng, kí ức xuất phát từ cái tôi
đa thể của nhà thơ nên hồi tưởng, kí ức cũng biến ảo. Ông không chạy trốn thực
tại trong những hồi tưởng, ký ức, cũng không phải mượn chúng giải phóng những
âu lo, bế tắc, mà dựng lại một cõi thế rậm rịt tội lỗi, u u mê mê, vô cảm, để
con người ý thức hơn về sự bất trắc, lừa dối, thù hằn, mất mát, đớn đau đang
ngày ngày phủ lên đời sống. Cái tôi đa thể khi được xuyên qua lớp sóng mênh
mang của hồi tưởng, kí ức càng được bồi đắp năng lượng ý thức. “Hiện thực
của tinh thần” trong hồi tưởng, kí ức của Nguyễn Quang Thiều chính là những
chuyển động đi từ vẻ đẹp nguồn cội đến vẻ đẹp của tâm hồn. Nếu sống sâu hơn với
những mảnh ghép đa dạng của hồi tưởng, kí ức, biết cúi xuống với giá trị vĩnh cửu
của cội nguồn thì tâm hồn chúng ta sẽ trở nên tinh khiết hơn.
Freud cho rằng, giấc mơ lấp đầy những khát khao, mong muốn,
chưa được thỏa mãn của con người. Giấc mơ là một phần cuộc sống không thể thiếu.
Nên, nhiều người cho rằng, “giấc mơ đẹp hơn hiện thực”, vì ở đó, họ được thỏa
thuê giải phóng năng lượng vô thức vốn bị ý thức kìm nén, kềm kẹp. Giấc mơ
trong thơ của Nguyễn Quang Thiều trái ngược với quan niệm trên, không đẹp hơn
hiện thực. Hiện thực cuộc sống trong thơ ông vốn đã u mê: “Những bóng đèn
trong đêm/ Nổ bục con ngươi/ Những mặt hình tivi/ Ào ào mất máu/ Những chiếc
caravat/ Phát bệnh điên/ Dứt tóc dọc hành lang/ Những đôi giày da đen mỹ mãn/
Há hốc mồm hôi hám quầng thâm/ Những con mọt mang hai hàm răng giả/ Cắn nát từng
miền sách thánh mốc da/ Những phòng máy lạnh/ Làm cứng đông từng khúc lưỡi mềm//
Không kịp quẫy lên cái đuôi vĩnh biệt/ Những ô kính tự tát vỡ mặt mình/ Những
tòa nhà cao tầng tự chặt xương sống mình/ Dây vĩ cầm cuối cùng trăng đêm vụt đứt/
Bức phông đen tụt xuống lõa lồ/ Ôi vở kịch cuộc đời…/ Màn cuối/ Tiếng hề cười/
Băm chả những u mê” (Con bống đen đẻ trứng), nhưng khi được quán chiếu qua
giấc mơ, hiện thực ấy càng dày dặn về sự u mê hơn. Trong cõi mơ, hình ảnh những
người chết vẫn sống và sinh hoạt bình thường như người sống:
Họ sinh ra trên xứ sở này như sứ mệnh và như sự đày đọa. Họ
mang theo suốt đời cây thánh giá của ngôn từ. Họ lang thang trên mọi con đường.
Vừa đi họ vừa than khóc, vừa ca hát. Tâm hồn họ vừa nặng như tảng đá vừa nhẹ tựa
làn hương. Họ đi trên đường như một vị thánh và như kẻ loạn luân. Những lời tụng
ca trải đầy đường đi dưới gót chân họ. Và đất đá cùng những lời nguyền rủa kết
tội đổ lên đầu họ. Nhưng họ không để ý đến điều gì, chỉ vừa đi vừa than khóc, vừa
ca hát và khuất dần vào cái chết. Đã bao nhiêu năm rồi họ nói nhưng quá ít người
nghe tiếng họ. Họ nói như phán xét, như tha thứ, như một bổn phận. Họ nói và chẳng
hề xem xét có ai nghe họ. Họ nói như làm lễ cầu siêu cho những ngôn từ cô hồn của
chúng ta. Họ nói và nước dâng lên ngập dần thị xã
(Nhân chứng của một cái chết)
Theo quan niệm của Phật giáo, “chết không phải là hết”. Con
người chết chỗ này thì sanh chỗ khác. Chấm dứt sự sống này không phải là hết mà
để bắt đầu một cuộc sống khác. Khi sống làm nhiều việc thiện, thiền nghiệp, thì
chết trở thành thiên thần, được lên thiên đường, ngược lại, sống làm điều ác,
ác nghiệp, thì chết thành ma, bị đọa đày ở địa ngục. Nếu chết là hết thì con
người sẽ tạo ra bao nhiêu ác nghiệp. Vì vậy, niềm tin về nhân quả kiếp sau của
Phật giáo sẽ giúp con người sống tốt hơn ở kiếp này. Nguyễn Quang Thiều dựng
cõi âm ngay trong cõi dương để con người nhìn thấy cái duyên sinh, cái lẽ vô
thường ấy và nhìn thấy rõ cái tôi khác của mình mà có những hành động, lời nói
chuẩn mực, cư xử nhân văn, hợp với đạo lý. Cái chết trong thơ Nguyễn Quang Thiều
được xem là thước đo chứng nghiệm giá trị của sự sống. “Thân xác”, “giọng nói”
của những người chết sẽ giúp người sống tiệm cận, chứng kiến nỗi khổ đau, tội lỗi
và sự lú lẫn mà mình đã tạo ra. Như thế, hình ảnh “Những người chết trở về
mượn thân xác chúng ta, mượn giọng nói chúng ta” thực chất đó chính là sự
lên tiếng của một cái tôi khác. Cái tôi khác như đang ly cách với chính bản thể
của mình. Thông qua ly cách, cái tôi khác giải mã những tổn thương, bất ổn mà
nhiều khi bản thể không nhận diện được: “Những người chết trở về mượn nhà
cửa, đồ đạc và phương tiện của người sống/ Mượn công việc của người sống, mượn
lý do của người sống/ Và đôi khi mượn cả giấy khai sinh của chúng ta/ Bởi thế
máu vẫn chảy, lời thù hận vẫn vang lên/ Cùng với lời thú tội và lời xin lỗi/ Sự
phản bội vẫn diễn ra trong khuya khoắt/ Cùng tình yêu đau đớn, thủy chung” (Đoản
ca về buổi tối). Cõi âm trong thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn tiếp diễn quá trình khổ
sầu, oán thù trong lòng thành phố đêm đêm. Nhưng, “hiện thực của tinh thần” trong
cõi âm mà ông phản chiếu không khiến con người thêm bi luỵ, ngược lại, giúp con
người biết vun đắp nhiều nghiệp lành, nghiệp thiện để tái sinh được tốt đẹp
hơn.
“Dưới trăng và một bậc cửa” của Nguyễn Quang Thiều thường
nói đến quyền lực bóng tối. Bóng tối như là tấm gương phản chiếu những “buồn tẻ”,
“bi thương” của đời sống và kể cả những “trống rỗng và dối trá” của cái tôi bản
thể. Bóng tối dù là không gian của nỗi khổ đau, của sự chết chóc, nhưng cuộc sống
của chúng ta không thể thiếu nó. Bóng tối không hẳn là thế lực đại diện cho sự
bất lực, bi thương. Bóng tối cũng có vẻ đẹp diệu kì của nó. Đó là tấm gương
soi, mà thông qua đó, con người tìm thấy chính mình và trở thành chính mình:
Hỡi Chúa Trời, xin cho con được quỳ dưới chân Người, xin cho
con được cất lời cầu nguyện.
Ngày nào cũng có đêm tối, đấy là nhà tù của con, toà án của
con. Đấy là ác mộng của con, vô vọng của con, là trống rỗng của con.
Nhưng đấy là chiếc gương trung thực nhất của con. Đấy là nơi
con nhìn thấy con đường của cơn mơ…
(Cây ánh sáng)
Bóng tối đối diện ánh sáng như tôi đối diện với một tôi khác
trong tôi. Trong sự phản tư ấy, con người ý thức về lẽ sống, hoàn thiện và đến
gần hơn với chính bản thân mình. Đẩy con người vào cái ngột ngạt, đày đọa của
giấc mộng trầm buồn “chứa đầy những tiếng thét, những chuyện đau buồn và bất
trắc”, Nguyễn Quang Thiều để con người biết nhận ra những lỗi lầm của
mình, hướng đến sự thanh lọc và cứu rỗi. Bởi, ai sinh ra rồi cũng sẽ đến lúc
đón nhận cái chết, nhưng thái độ chết như thế nào mới là điều quan trọng. Sống
nghĩa là tiến dần đến cái chết: “… bước tới của mỗi ngày là đang bước lùi
của sinh mệnh” (Thích Tâm Nguyên). Nhưng một cái chết biết “ngước lên
cao với những câu thơ như bản thánh ca” là cái chết có ý nghĩa, làm chủ được
chính mình. Chỉ có ánh sáng thiện lương, đẹp đẽ của tâm hồn mới ngăn chặn được
sự cao ngạo của bóng tối. Chúng ta sống thanh tao, nhẹ nhàng thì chúng ta sẽ
đón nhận một cái chết như thế!
Hiện thực cuộc sống là khởi nguồn, là chất liệu của thi ca.
Hay nói cách khác, thi ca bao giờ cũng phản ánh hiện thực cuộc sống. Nhưng hiện
thực khi băng qua trái tim của thi sĩ, hiện thực ấy đã bị hệ luỵ, quy chiếu, ảnh
hưởng bởi những rung chấn phức tạp, bí ẩn của thế giới nội cảm của anh ta. Lúc
này, thi sĩ không chỉ là người làm sống động, mở rộng hiện thực ấy mà còn phủ
lên hiện thực ấy những mảng khối, sắc màu đa dạng. Để nắm bắt được khối chuyển
động vĩ đại và hằng cửu của hiện thực tinh thần trong thơ Nguyễn Quang Thiều,
người đọc cần tạo sự đồng cảm, cần thẩm thấu nó bằng linh cảm của trực
giác, bằng kinh nghiệm ảo diệu của tâm hồn. “Trong tiếng đập không ngưng
nghỉ” của “hiện thực của tinh thần”, những hồi tưởng, kí ức, cõi
âm càng quẫy cựa, biến hóa thì sự phản ánh hiện thực cuộc sống cũng như tính
triết lý, tính nhân sinh của “Dưới trăng và một bậc cửa” càng sâu sắc
hơn.
3. Ngước nhìn lên và nhận thấy con đường
Trong tập thơ, Nguyễn Quang Thiều nhắc đi nhắc lại rất nhiều
lần hành động “ngước nhìn lên”. Với ông, đó là món quà vô giá mà Người đã ban
cho loài người, góp phần “cứu vớt những đời sống hận thù, bạc nhược, vô
sinh”: “…Người đã ban cho con món quà biết ngước lên cao, biết nhóm lên ngọn
lửa của sự sống đắm say và cất lên ngôn ngữ Thánh ca./ Và ban mai lại đến và
con lại được sinh ra như đứa trẻ cả da thịt và tâm hồn tinh khiết” (Cây
ánh sáng). Vì vậy, ngước nhìn lên như là một triết lý sống của Nguyễn Quang Thiều.
Ngước nhìn lên để không ngừng học hỏi cuộc sống xung quanh, để bừng tỉnh, để ngẫm,
để nhận ra giá trị của cái đẹp, giá trị của sự cứu rỗi, từ đó nhận biết được vị
trí mình đang đứng mà hoàn thiện bản thân hơn. Ngước nhìn lên, gìn giữ, nhân
thêm tình yêu bản sắc nguồn cội. Nhịp điệu châu thổ trong thơ ông cứ ngân lên
theo trái tim của Người Nông Dân Già – biểu tượng vẻ đẹp vĩnh hằng, giàu sự sống
của nguồn cội; là “ban mai” tâm hồn để thi sĩ chiến thắng những cằn cỗi, xơ cứng
mà cuộc sống không ngừng gieo rắc; và đó cũng là mạch nguồn tái sinh tiếng thơ
của thi sĩ: “Và lúc này, lá phổi trong ngực người/ Được giặt giũ phơi
phóng và gấp lại/ Cất trong rương thơm kí ức lên mười/ Và lúc này, người mặc lá
phổi mới tay dài/ Thường bay qua cánh đồng mỗi ngày cuối chiều/ Và dừng lại
trên đầu/ Khâu lặng lẽ những hơi thở rách/ Và lúc này/ Ngôi nhà mang đời sống mới/
Bữa tiệc tự do đang giục giã nhóm lò/ Mang đời sống mới chiếc giường, bàn ghế,
và cốc, chén/ Trên dây phơi một đời sống mới, trên sân, lối ra vườn và rau cải
đắng/ Đời sống mới khua vang bát đĩa, trầm trầm củi khô, và háo hức ấm đun nước/
Đời sống mới rạng ngời gạo, rực rỡ ớt và lấp lánh lưỡi mới của dao/ Đời sống mới
những gương mặt, những bước chân, những thì thào qua dậu/ Những ngọn đèn sáng mới
một đời sống và khói mới những nén hương” (Nhịp điệu châu thổ mới). Ngước
nhìn lên, thấy được vẻ đẹp bình dị chốn quê ẩn náu trong sự lam lũ của những
người đàn bà và ngược lại. Ngước nhìn lên, lắng nghe thanh âm hồn nhiên và
trong trẻo diệu kì ẩn náu trong tâm hồn những đứa trẻ mà nhiều khi sự xô bồ của
cuộc sống khiến chúng ta không nhận thấy. Ngước nhìn lên, nhận biết “Con
đường và số phận dân tộc chúng ta từ một đỉnh đồi”. Trên đỉnh đồi ấy,
không có sự toan tính, hiềm thù: “Những quả đồi…/ Mọc trên mọi ý đồ, trên
thù hận ngớ ngẩn, trên lòng vị tha sống sượng/ Mọc trên mọi tội nghiệp, mọi ngạo
mạn, trên cả sự phát khóc” (Nhịp điệu châu thổ mới). Ngước nhìn lên, hoà
mình vào thiên nhiên, hiểu được tiếng nói của thiên nhiên, đón nhận sự nhập cuộc
tuyệt vời nhất:
Chàng quỳ xuống và ngước lên Cây Ánh Sáng vĩ đại nhất đang toả
mãi tán lá ban mai khổng lồ
Miệng chàng mở những cánh đồng hoa rực rỡ và giọng nói chàng
vang lên
Hoà cùng giọng nói của côn trùng, của sói, của đại bàng, của
lạc đà… trong cùng ngôn ngữ.
Và lúc này dù chàng là côn trùng, là con sói cô đơn, là đại
bàng, là lạc đà, là quỉ dữ…
Thì tất cả đều đến được miền đất ngập tràn ánh sáng, tất cả
được hoà làm một
Trong một ánh sáng ấy, một âm nhạc ấy, một ngôn ngữ ấy, trong
một bầu trời ấy
Và Người đã biến chàng trở thành một chiếc lá nhỏ không bao
giờ tàn úa trên cành của tán lá ban mai kỳ vĩ trong vũ trụ ngập tràn
(Cây Ánh Sáng)
Như vậy, vẻ đẹp cội nguồn trong “Dưới trăng và một bậc cửa” luôn
quấn quyện với những hồi tưởng, kí ức, luôn “dâng lên như mùa xuân thứ nhất”, luôn
thẳm sâu một tình yêu trong sáng, ban sơ và thánh thiện của Nguyễn Quang Thiều.
Thi sĩ hơn người thường ở khả năng truyền đạt tư tưởng và trí
tuệ của mình vào trong thơ. Nguyễn Quang Thiều khác các thi sĩ khác ở cái nhìn
ngước lên và sự thể hiện ngôn ngữ Thánh ca, ngôn ngữ của tình yêu nguồn cội.
Ông sắp đặt những hình ảnh đại diện cho cõi âm, bóng tối, sự lú lẫn và thù hận
bên cạnh hình ảnh những người đàn bà, đứa trẻ, ban mai, ngọn đồi,.. để làm nổi
rõ sức sống bất tử của vẻ đẹp bản nguyên và nhân bản. Ông ngợi ca vẻ đẹp của cuộc
sống, của làng quê, của tình yêu không bằng sự mượt mà, êm ái, mà chọn góc nhìn
tương phản, đối lập: lấy bóng tối làm nền cho ánh sáng toả diệu kì, lấy cõi âm
làm tấm gương cho sự cứu rỗi và thanh lọc, lấy hồi tưởng, kí ức làm bản lề níu
giữ vẻ đẹp tâm hồn. Cái nhìn ngước lên của ông do đó là cái nhìn bừng thức. Sự
vời cao của trái tim sẽ nâng con người vượt qua những bủa vây, truy đuổi của mê
muội, tăm tối. Tiếng nói “hiện thực của tinh thần” không chỉ chuyển động,
phủ sóng trong “Dưới trăng và một bậc cửa”, mà hơn thế, với cái nhìn
ngước lên, nó đã tác động mạnh mẽ đến tâm cảm người đọc, phục sinh nguồn sáng
huyền diệu của cuộc sống.
Trong sự liên thông, chuyển động giữa hồi tưởng, kí ức, cõi
âm với “hiện thực của tinh thần”, Nguyễn Quang Thiều đã gieo trồng những
hạt giống uyên nguyên, thanh khiết. Ông nhận ra “cơn mơ của mình đang đi
trên con đường đơn độc” nhưng ông vẫn tin vào quyền uy của cái đẹp, tin
vào ánh sáng bất diệt của tâm hồn sẽ hoàn nguyên những giá trị sống. Những khoảnh
khắc biến tấu, phân rã, ly cách bản thể trong sự suy/mơ tưởng của hiện thực
tinh thần hay trong sự quy chiếu với cuộc đời của bà nội như mặc khải một thi
pháp riêng biệt của Nguyễn Quang Thiều: “Và kỳ diệu hơn, là trong thế giới
trong suốt, hay trong cõi hư vô làm ta có thể chết vì khiếp sợ lại hiện lên một
phong cảnh đầy đủ nhất. Phong cảnh ấy, đối với tôi, nó là một cõi. Cái cõi ta vừa
làm đầy nó vừa không chiếm lấy dù chỉ là một điểm nhỏ nhất, mà chỉ có trí tưởng
tượng kỳ diệu mới có thể lờ mờ nhận ra” (Trong căn phòng của một người bại
liệt).
Chú thích:
[1] Nguyễn Hưng Quốc, Văn học Việt Nam thời toàn cầu
hóa, Nxb Văn Mới, California, 2010, tr.242.
[2] Nguyễn Quang Thiều, Dưới trăng và một bậc cửa,
Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2020.
23/4/2021
Hoàng Thụy Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Gạn đục khơi trong văn học miền Nam trước 1975
Gạn đục khơi trong văn học
miền Nam trước 1975
Nếu tác phẩm có giá trị thì sức sống của nó vẫn còn lan tỏa,
bằng không thì việc xuất bản lại chỉ đáp ứng sự tò mò hoặc công chúng tìm đọc
vì hoài niệm
Sự trở lại của các cây bút tiêu biểu miền Nam giai đoạn trước
năm 1975, thiết nghĩ, cũng là điều hết sức bình thường, hợp lẽ tự nhiên, vì
không ai có thể phủ nhận những đóng góp của họ trong tiến trình văn học nước
nhà, nếu tác phẩm đó thật sự có giá trị lâu bền.
Đi đầu trong việc làm này, trước hết phải kể đến tiểu thuyết
“Nguyệt Đồng Xoài” (3 tập) của Lê Xuyên; 3 tác phẩm “Tiếng sáo người em út”,
“Đôi mắt trên trời”, “Nhan sắc” của Dương Nghiễm Mậu do NXB Văn Nghệ TP HCM
cùng Công ty Sách Phương Nam ấn hành năm 2007. Về pháp lý, dù được Cục Xuất bản
cấp giấy phép nhưng bấy giờ người làm sách lại không có sự giới thiệu, đánh giá
lại tác giả – tác phẩm để giúp bạn đọc hiểu thêm về bối cảnh ra đời của nó, từ
đó tiếp nhận một cách khách quan.
Hơn nữa, do không có sự giải thích chu đáo, cặn kẽ về ngữ
nghĩa nên khi đọc đến những câu đại loại như “Bộ mình cưới nhau liền được
sao? Anh còn lo vấn đề động viên. Việc gì mà mình phải gấp rút như vậy?” (“Nguyệt
Đồng Xoài”, tr.7), chẳng khác nào đánh đố người đọc, bởi từ “động viên” không hẳn
mang ý nghĩa như nay ta hiểu… Theo kế hoạch, sau đó sẽ tiếp tục tái bản sách của
những nhà văn khác nữa. Nhưng chỉ mới in đến đó, công việc phải tạm thời ngưng
lại vì có nhiều luồng ý kiến không đồng thuận.
Bẵng đi một thời gian dài, việc tái bản này được “khởi động”
lại với các bước “dọn đường dư luận” chỉn chu hơn. Có một điều cần ghi nhận là
khi bổ sung, tái bản “Từ điển văn học bộ mới” (NXB Thế Giới; 2003), nhóm chủ
biên Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Thiên, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá đã chọn thêm nhiều
nhà văn miền Nam: Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Nhật Tiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn
Văn Xuân, Võ Hồng, Bùi Giáng… Việc làm này được xem là “táo bạo” vì bản in trước
đó vào năm 1983, những tên tuổi trên chưa được đề cập.
Trong khoảng thời gian này, thỉnh thoảng các NXB cũng tái bản
sách của các nhà văn như Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mộng Giác, Tràng Thiên, Lê Tất
Điều, Nhật Tiến… Sự cởi mở trong sinh hoạt văn hóa nói chung, hầu như dư luận
đánh giá tốt, không có gì đáng phàn nàn về chất lượng, nội dung. Đáng chú ý là
năm 2013, NXB Hội Nhà văn và Công ty Sách Phương Nam in cùng lúc 3 tập truyện
ngắn “Lạc đạn”, “Nhà có cửa khóa trái”, “Trở về mái nhà xưa” (NXB Hội Nhà văn)
của Trần Thị NgH. Ngày 19-1-2013 tại quận 1, TP HCM, bộ sách này được tổ chức
ra mắt rầm rộ mà không gặp phản ứng trái ngược nào từ dư luận.
Gần đây, sự kiện có thể nói là mạnh dạn nhất trong lĩnh vực
xuất bản là cùng một lúc, NXB Hội Nhà văn và Công ty Sách Phương Nam đã tái bản
toàn bộ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ – một trong 5 nhà văn nổi tiếng
nhất của miền Nam trước năm 1975. Ngoài các tình tiết, phải kể đến điều đã khiến
bạn đọc bất ngờ khi đọc “Khung rêu”, “Thú hoang”, “Lao vào lửa”, “Chiều xuống
êm đềm”, “Như thiên đường lạnh”, “Ngọn pháo bông”, “Cho trận gió kinh thiên” là
tác giả còn có biệt tài quan sát khi miêu tả sinh hoạt nghệ thuật quen thuộc ở
nông thôn miền Nam thời trước. Chẳng hạn hát bội đình làng, giải sầu ca vọng cổ;
ngoài ra còn là sự miêu tả các món ăn dân dã, quê mùa rất đỗi thân thương… nay
đã ít nhiều trở thành dĩ vãng; kể cả khi khai thác về số phận vũ nữ, gái bán
bar Sài Gòn với nhiều chi tiết sống động.
Sở dĩ bộ sách này được dư luận báo chí chú ý vì người làm
sách đã nỗ lực thực hiện công tác chú thích trong chừng mực có thể đã giúp người
đọc hiện nay tiếp nhận được lời ăn tiếng nói trước đây của người Nam Bộ. Chính
sự phong phú, đa dạng về ngôn từ sẽ giúp ta hiểu hơn nữa về con người, vùng đất
những nhà văn thế hệ trước đã từng “khai phá” bằng ngôn ngữ miền Nam như Hồ Biểu
Chánh, Phi Vân, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Ngọc Linh… Nói cách khác, cách sử dụng
ngôn từ trong tác phẩm của nhiều nhà văn miền Nam viết trước năm 1975 đã góp phần
lưu giữ tiếng nói, cách phát âm một thời của bà con ở miền Nam đất Việt.
Không dừng lại đó, toàn bộ sách triết học của GS Kim Định như
“Cửa Khổng”, “Chữ Thời”, “Tinh hoa ngũ điển”, “Triết lý cái đình”, “Vấn đề quốc
học”… cũng được tái bản tương tự. Việc làm này liệu có quá “mạo hiểm” trong
kinh doanh? Chúng tôi nghĩ là không, vì quy luật cung – cầu của thị trường sẽ
quyết định. Hơn ai hết, những người làm sách còn phải nghĩ đến lợi nhuận mới có
thể đi “đường dài”.
Hiện nhiều đơn vị làm sách tư nhân cũng mặn mà tái bản nguồn
sách miền Nam – khi họ liên kết với các NXB, chẳng hạn, “Khúc thụy du” (Saigon
Books), “Khúc thụy du” (Phan Books) – thơ của Du Tử Lê; “Những bước lang thang
trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc” (DT books)…; “Tuổi nước độc” của Dương Nghiễm
Mậu, “Hai chậu lan Tố Tâm” của Phan Du đều do Tao Đàn đầu tư…
Nhìn chung, sách đã in trước năm 1975 tại miền Nam về lâu dài
vẫn có thể người làm sách tiếp tục tái bản. Tuy nhiên, đứng ở góc độ người đọc,
chúng tôi thấy vẫn cần có sự thẩm định kỹ để kiểm chứng giá trị của nó, chứ
không thể “thấy người ta ăn khoai, mình cũng vác mai đi đào”. Ý thức “gạn đục
khơi trong” với bất kỳ loại sách cũ nào, in ở thời kỳ nào, bao giờ cũng hết sức
cần thiết.
2/5/2021
Lê Minh Quốc
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đi tìm miền xanh thẳm
Đi tìm miền xanh thẳm
Tọa đàm tưởng nhớ nhà văn Trần Hoài Dương (1943-2011) diễn
ra sáng 6.5.2021 tại trụ sở Hội Nhà văn TPHCM ở tầng 4 số 81 Trần Quốc Thảo,
Q.3, TPHCM. Từ Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt
Nam đã gửi vào tham luận Đi tìm miền xanh thẳm viết về nhà văn đàn
anh quá cố Trần Hoài Dương. Xin trân trọng giới thiệu bài viết cùng bạn đọc…
“Tuổi ấu thơ đã xa rồi, không bao giờ tôi còn được hưởng lại
những ngày thần tiên ấy nữa. Những ngày ấy cứ xa vời, xanh thẳm, hun hút bay về
phương trời phía sau, tôi cố ngoái lại, cố nằm bắt mà không sao níu giữ được’’.
Đấy là những lời tự sự của nhà văn Trần Hoài Dương. Đó là sự
tiếc nuối. Trong sự tiếc nuối đó lại tràn ngập vẻ đẹp diệu kỳ của ấu thơ. Nhưng
ngay lúc đó, trước mắt tôi hiện lên một con đường, một con đường kỳ lạ. Và trên
con đường ấy, tôi thấy nhà văn Trần Hoài Dương trở về với tuổi ấu thơ của mình.
Sau mỗi bước chân trên con đường đó, ông già Trần Hoài Dương mỗi lúc một trẻ lại
và biến thành cậu bé Trần Hoài Dương. Cậu trở về ‘’Miền xanh thẳm’’ của cậu. Cậu
đã run lên vì hạnh phúc. Tôi tin là như vậy. Bởi lúc này, lòng tôi cũng đang
ngân vang về một miền của tôi mà Miền Xanh Thẳm của nhà văn Trần Hoài Dương
chính là đã nguồn cảm hứng dẫn tôi trở về nơi chốn của chính mình.
Sau khi đọc xong “Miền xanh thẳm” lần thứ hai (lần thứ nhất
tôi đọc cách đây gần 20 năm), tôi càng nhìn rõ hơn cái MIỀN ấy của nhà văn Trần
Hoài Dương. Nó nằm ở đâu? Nó nằm trong tấm bản đồ tâm hồn ông. Tác phẩm “Miền
xanh thẳm” ra đời hơn 20 năm trước. Và trong hơn 20 năm qua, biết bao thay đổi
mà tôi cũng không tưởng tượng được đã diễn ra trong đời sống con người trên xứ
sở này. Có rất nhiều điều của 20 năm trước đã biến mất khỏi đời sống con người.
Và bây giờ, cho dù nó xuất hiện trở lại nó cũng đầy nguy cơ trở thành một thứ
xa lạ và vô cảm với con người đương thời. Nhưng một điều kỳ lạ xuất hiện, đó là
khi cái MIỀN của nhà văn Trần Hoài Dương hiện ra, ngay lập tức nó trở thành giấc
mơ da diết và ngập tràn xúc động đối với tôi và tôi tin đối với rất nhiều người
đang sống. Bởi trong cái MIỀN ấy chứa đựng nhân tính, tình yêu thương, lòng biết
ơn, những vẻ đẹp thiên nhiên kỳ lạ và giấc mơ làm người. Mà những vẻ đẹp ấy quả
thực đang từng ngày rời bỏ đời sống mà quá nhiều người không nhận ra. Họ chỉ nhận
ra sự trống rỗng đang chiếm đoạt từng phần tâm hồn họ. Và họ sống trong một câu
hỏi : sao đời sống vật chất mỗi ngày một đầy đủ mà họ vẫn không có khả năng chạm
vào hạnh phúc. Câu trả lời thật đơn giản: là họ không tìm được cái MIỀN của họ.
Toàn bộ “Miền xanh thẳm” là những năm tháng ấu thơ mà nhà văn
Trần Hoài Dương đã sống. Nhân vật Thiện chính là cậu bé Trần Hoài Dương thuở ấu
thơ. Cho dù không hoàn toàn chính xác như vậy thì cậu bé mang tên Thiện là nơi
chứa đựng toàn bộ ký ức của Trần Hoài Dương. Ông kể lại những năm tháng ấu thơ
của mình. Mà hơn cả sự kể là ông thực sự sống lại một lần nữa phần đời sống
quan trọng nhất cuộc đời mà ông đã sống và đã đi qua. Tất cả những gì ông viết
không có một chút gì được cường điệu hóa. Tất cả hiện lên nguyên khối đời sống
tươi ròng của những năm tháng ông đã sống. Văn chương của ông chân thực, da diết
mà bình thản giống một người ngồi xuống và kể lại những gì đã và đang chảy
trong huyết quản của ông. Sự chân thực ấy được dâng lên từ một tâm hồn thánh
thiện và đầy rung vang. Bởi thế, mọi điều bình thường nhà văn Trần Hoài Dương đặt
bút viết đều được thiêng liêng hóa. Bởi thế mà “Miền xanh thẳm” của ông được dựng
lên và không có một cái tên nào khác đúng với bản chất của câu chuyện này hơn
nó. Tôi là kẻ sinh sau ông nhưng cũng may mắn được sống một phần những năm
tháng mà nhà văn Trần Hoài Dương sống. Bởi thế, khi đọc tác phẩm này, tôi đã được
chính nhà văn dẫn tôi trở về ấu thơ của mình bằng một con đường kỳ lạ. Tôi đã
tìm thấy cậu bé mang tên Thiều ở đó với toàn bộ những năm tháng cậu bé ấy sống.
Khi một trái tim của tình yêu thương và đầy giấc mơ đẹp đẽ
rung lên, nó sẽ làm cho tất cả mọi cảnh vật, mọi con người, mọi câu chuyện
quanh đó cũng ngân lên kỳ diệu. Trái tim của nhà văn Trần Hoài Dương là vậy.
Ông đã làm cho đời sống những năm tháng ấy của đất nước đầy khó khăn, gian khổ
ngân vang. Những năm tháng ấu thơ của nhà văn Trần Hoài Dương là những năm
tháng vô cùng khó khăn của đất nước. Những đứa trẻ sống trong một điều kiện sống
vô cùng thiếu thốn, chúng phải xa nhà, phải lao động vất vả, phải sống trong
đói rét. Nhưng giấc mơ của chúng thật lộng lẫy. Và đấy là con đường mà mỗi con
người phải tìm thấy để đời sống của kiếp người có ý nghĩa. Những giấc mơ
của cậu bé Thiện và những cô cậu bé thuở ấy làm cho không ít những cô cậu ngày
nay và cả những người lớn đương thời cảm thấy xấu hổ. Họ đã sống trong những điều
kiện sống mà cậu bé Thiện thuở trước có trí tưởng tượng đến đâu cũng không hình
dung được. Nhưng họ chẳng làm sao tìm được một giấc mơ đẹp đẽ, họ chẳng tìm thấy
được một ‘’miền xanh thẳm’’ của họ.
Một điều vô cùng đặc biệt là, nhà văn Trần Hoài Dương thường
xử dụng những đoạn văn của những nhà văn lớn để nói về khát vọng và lý tưởng sống
của những đứa trẻ.
– Vào đời, vào đời để hiến cho đời tất cả những gì tốt đẹp và
nhân đạo của tâm hồn, trí óc ta
– Dòng suối đổ vào sông. Con sông đổ ra dải trường giang
Vonga. Con sông Vonga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở
nên lòng yêu Tổ quốc…
– Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh. Lúc đó thép trở nên
cứng rắn và không hề biết sợ
Những năm tháng đó, sách thực sự là niềm cảm hứng vô tận cho
hành động sống của con người. Những cuốn sách ông nhắc tới trong câu chuyện là
những cuốn sách mà thế hệ ông hay thế hệ tôi sau này đều đọc và đều đắm mê. Những
cuốn sách thực sự thay đổi con người. Những nhân vật từ trong các cuốn sách bước
ra và hòa vào đời sống tinh thần của cậu bé Trần Hoài Dương, cậu bé Nguyễn
Quang Thiều và bao cậu bé khác trên xứ sở này. Điều này, cho dù nhà văn Trần
Hoài Dương viết cách đây hơn 20 năm nhưng lại đang là một nhu cầu lớn để tạo dựng
con người hôm nay. Chúng ta đang bắt đầu phục dựng văn hóa đọc cho cộng đồng.
Quá nhiều những đứa trẻ thời nay đã rời xa những cuốn sách như thế. Chúng đang
rời xa những vẻ đẹp trong sáng và lớn lao. Chúng sẽ tìm ra con đường của cuộc đời
chúng như thế nào. Nhà văn Trần Hoài Dương không có ý định dự báo. Nhưng khi
ông đã nhìn thấu bản chất của đời sống và văn hóa thì những gì ông viết ra sẽ
trở thành chân lý.
Trong “Miền xanh thẳm”, có bốn yếu tố quan trọng nhất làm nên
nhân tính được theo đuổi trong toàn bộ tác phẩm. Đó là gia đình với người sống,
người mất, là xã hội, là thiên nhiên và là văn hóa (thông qua những cuốn sách
và những câu chuyện hành xử của con người). Những yếu tố quan trọng nhất ấy đã
làm cho những đứa trẻ lớn lên trở thành người tử tế. Những đoạn văn ông viết về
những người thân yêu đặc biệt là người mẹ đã mất đẹp và xúc động đến nhường
nào. Người mẹ luôn hiện lên trong mọi vui buồn của ông. Người mẹ hiện lên nhân
hậu, yêu thương và lặng lẽ chỉ qua những câu văn giản dị đến nhói lòng. Ông nói
về người mẹ đã khuất của mình nhưng lại làm cho tôi và chắc chắn nhiều người
khác nhớ về mẹ mình da diết.
Nhà văn Trần Hoài Dương rất giỏi khi tạo dựng nhân vật. Khi
viết về ông Thơ, một nạn nhân của cải cách ruộng đất, ông chỉ dùng một chi tiết
nhỏ nhưng lại dựng lên một bi kích lớn của lịch sử : ‘’ Tôi cứ quanh quẩn
hết đứng lại ngồi bên cạnh mộ mẹ tôi suốt từ trưa tới gần tối mới dám lẻn đến
thăm ông vì sợ người làng trông thấy. Có người ở xa đến, làng xóm biết sẽ phiền
cho ông bà. Vừa trông thấy tôi, ông ôm chầm ngay lấy rồi cứ thế lặng lẽ khóc
không ra tiếng. Ông thì thảo hỏi tôi: ‘’Cháu đến đây có ai thấy không ?’’, tôi
nói không, ông vẫn chưa yên tâm, lom khom bước ra ngoài sợ hãi nhìn bao quát khắp
lượt’’. Cả một quá khứ kinh hoàng đè nặng lên một thân phận như ông Thơ. Một nỗi
sợ hãi bủa vây cuộc đời một con người như không còn lối thoát nào cho con người
ấy. Nỗi kinh hoàng càng ghê gớm thì sự ám ảnh của nó càng kéo dài có khi hết cả
đời một con người.
Hơn 20 năm kể từ ngày “Miền xanh thẳm” ra đời. Đời sống đã
hoàn toàn thay đổi. Chẳng còn mấy những đứa trẻ phải sống trong đói rét như cậu
bé Thiện. Nhưng vẻ đẹp của đời sống thì không bao giờ thay đổi. Ước mơ làm một
người tử tế để dâng hiến cho con người, cho dân tộc không bao giờ thanh đổi.
Con đường đi tới hạnh phúc thực sự cũng không không thay đổi. Tất cả vẫn còn
nguyên vẹn trong Miền Xanh Thẳm. Và đấy chính là điều tôi xin được nói lời biết
ơn nhà văn Trần Hoài Dương, người đã dựng lên một MIỀN cho rất nhiều người đang
sống. “Miền xanh thẳm” của Trần Hoài Dương chính là biển chỉ dẫn cho con người
đi tìm Miền Xanh Thẳm của chính mình.
Hà Đông, 3/5/2021
Nguyễn Quang Thiều
Theo https://vanhocsaigon.com/
Bùi Phan Thảo và Câu chữ vời vợi thanh âm
Bùi Phan Thảo và
Câu chữ vời vợi thanh âm
“Búp bê áo rách”, tựa truyện ngắn này của nhà thơ, nhà báo
Bùi Phan Thảo khơi gợi tôi cảm giác tò mò lạ lạ, một bàng bạc buồn bảng lảng trắng
mây bay.
Tấu khúc về những phận người
Quán cà phê bờ kè quận 3, nơi tôi và Bùi Phan Thảo rất nhiều
dịp tỏ bày với nhau. Lần này, Thảo kể tóm tắt tôi nghe và ngay sau đó tôi được
đọc “Búp bê áo rách”. Câu chuyện ấy là một ký ức bồi hồi không thể quên. Một ký
ức buồn bên tuổi thanh niên, bên những ước vọng lấp lánh xanh, bên tháng ngày
phiêu du phố núi.
Cô bé Mi 5 tuổi rưỡi.Bé Na, em của bé Mi, là bé búp bê. Búp
bê đã rách bươm, móp méo, chỉ đôi mắt còn xanh. Hình như đối với bé Mi, đôi mắt
xanh ngắt của bé Na là cả khung trời mơ mộng, ấm áp tuổi thơ. Đôi mắt ấy vá màu
xanh lên chiếc áo rách, rưới màu xanh lên những móp méo của hình thức. Đôi mắt
bé Na đã giúp bé Mi hạnh phúc trong sương lạnh, giúp bé vui hơn, không cảm thấy
cô đơn khi người lớn quá tất bật với đời thường cơm áo. Năm tuổi rưỡi, bé Na
làm sao hiểu được hạnh phúc hay cô đơn như thế nào. Bé vô tư hòa điệu với bát
ngát hồn nhiên, đã chuyện trò với búp bê Na trong cả thực và ảo, trong an nhiên
độc thoại.
Cái kết cho bé Mi và búp bê Na trống hoác. Ngay khoảnh khắc ấy,
nó lạnh ghê hồn. Ai đó đã nói nơi này cõi tạm, biết đâu cô bé Mi xinh ngoan dễ
thương kia lại đang chơi trò chị em với bé Na ở nơi không có tuổi, không thời
gian chi phối. Hai chị em sẽ mãi mãi trẻ con, mà mãi là trẻ con thường là điều
người lớn mơ ước.
Với truyện ngắn này, Thảo đã tấu lên chuỗi âm buồn rười rượi,
chuỗi âm liên tưởng về những phận đời bé xíu không may, và có thể hơn thế nữa.
“Búp bê áo rách” đã được Bùi Phan Thảo chọn là tựa cho tập
truyện ngắn gồm 14 truyện vừa mới phát hành tháng 9- 2020.
Một dấu hỏi để tự nhìn lại
Có những điều quý giá luôn hiện hữu, chúng ta hững hờ quên
lãng. Trong truyện “Lá vẫn xanh đời”, nhân vật anh vô cùng may mắn khi đang còn
Mẹ và anh đã tận hưởng ân phúc khi quạt cho Mẹ ngủ ngon trên tay, giấc ngủ thật
thần tiên cổ tích.
Bùi Phan Thảo cũng tế nhị kể ta nghe vài góc cạnh nhùng nhằng
trong bệnh viện, từ việc bà chị vợ né tránh chăm sóc cha mình, vội vàng bước
lui không để người em rể có cơ hội đôi lời. Thảo gõ nhẹ sự tương phản giữa những
bệnh nhân chịu đựng đến dửng dưng và lão bệnh nhân mắc hội chứng nhố nhăng ngay
cả đang trong phòng săn sóc.
Sau những hình ảnh: ai đó liệng con mèo từ lầu cao xuống đất,
trẻ con vẫn nô đùa, lá rụng rồi lá nõn xanh… như một lời tán thán: “Ôi, chuyện
đời muôn thuở”.
Nhân vật anh ngợp ngời hạnh phúc khi Mẹ vẫn còn bên anh. Bùi
Phan Thảo đã búng chữ vang lên một nguyên âm, âm cội nguồn của mọi khởi đầu.
Có đôi tình nhân tôi vô cùng ngưỡng mộ. Lệ và Thành. Hình như
“Chân trần mát rượi phù sa” lại là một hình dung cổ tích hiện đại của Bùi Phan
Thảo.Tình yêu Lệ dành cho Thành đẹp như chân trần dạm ngõ phù sa, âm dương giao
kết vẹn nguyện thề. Lệ yêu với tâm hồn chân chất, hơi hướm đồng bằng quê xa, mạ
non lấp lóa ngời lên tình yêu ấy.
Cô yêu Thành bằng trái tim nóng hổi, ngó tương lai bằng khúc
ca vọng ước, cô hát về sự giản dị, rất đỗi bình thường. Không biết cô có nghĩ,
mơ ước về sự bình thường lại là điều khó thể thực hiện nhất trong bộn bề cuộc sống.
Tác giả đã đưa một dấu hỏi để chúng ta có dịp nhìn lại mình, nhìn lại sự bình
thường mà có thể ta đang thụ hưởng chăng?
Lệ chết vì tòa nhà sập xuống, bụi mù mù tung, bụi mù khắp cuộc
sống. Cuộc sống khắc nghiệt, đâu ai biết điều gì sẽ đến với mình. Thành đã vẹn
toàn đưa di ảnh Lệ về quê nhà, anh vẹn toàn trong nước mắt. Dẫu sao, quê nhà ấy,
phù sa ấy…, Thành sẽ dìu Lệ mỗi bình minh với chân trần và, trên đám lục bình
trôi kia đã nở một nhành hoa tím.
Angkor, bối cảnh trong “Bóng thời gian”, đã nhuộm màu huyễn
hoặc lên khúc tình hư ảo Nod và An. Khúc tình mịn màng hát theo gió qua khe đá,
gió của ngàn xưa phảng phất một âm hoài. Bức họa “Ám ảnh” của An bán được cao
giá. Phải chăng, An đã cách điệu nỗi ám ảnh tìm hiểu về mỗi một bóng thời gian
qua tên gọi bức tranh ấy, anh mệt mờ tìm vẫn mãi vô âm? Nụ tình đến tự nhiên
như hơi thở, có lẽ đã lóe ý cho An mơ hồ về vẻ đẹp của bóng, nó tồn tại đâu đó
sau vầng trán của mỗi người.
Trăn trở hình với bóng
Khúc tình Nod và An khởi nguồn từ tâm thức. Cả hai đều tìm về
xa lắc rêu phong và đến với nhau ngẫu nhiên như tự thuở nào, như bóng và hình
tuy hai mà một, tuy một mà hai. Khúc tình đã gảy âm với hẹn ước vô âm của bóng
và hình.
Một bóng vĩ đại khác trong vô hạn thời gian mà cuối cùng Bùi
Phan Thảo tự khẳng định: Mẹ. Nod có thể là mẹ ở đâu đó, nhưng tôi tin cô sẽ giữ
được bóng tình bất chợt đến rồi đi nơi núi rừng Siem Reap. Ngàn sau, Nod và An
sẽ lại là bóng với ngẫu nhiên lạ lẫm trong ai đó, đang im lìm bên hun hút bóng
ngôi đền Bayon.
Nếu băn khoăn, thì đó có phải tình yêu? Tình yêu trong truyện
“Ảo ảnh” là một vấn đề khó nói nên tác giả để cái kết mà không kết.Mỗi nhân vật
trong truyện ngắn này đều có thể tiêu biểu cho một chủ quan. Và để chan hòa,
các nhân vật đã phục tùng định kiến vô điều kiện.Còn những người vượt qua được
định kiến có khác chi một hòa âm nghịch trong bản tình ca.Tôi tin rằng ai đó
trong chúng ta, chừng mực nào cũng băn khoăn, bất lực qua bản hòa âm dang dở
này của “Ảo ảnh”.
Không yêu thì thôi, yêu là yêu đến chết. Cái chết của Vĩnh
trong “Ngày biển động” tuyệt đẹp. Sinh nhật người xưa lần này là ly biệt ngàn
thu. Biển cũng giật mình, dập dồn con sóng như báo tin cho giống loài dưới đại
dương, như ngợi ca một chuyện tình không tưởng. Yêu từ tóc đen thành tóc trắng,
từ thanh âm lời nói yêu em thành lặng im, từ hữu hình đến vô hình, và trong tâm
tưởng chỉ còn lại bóng.
Vui buồn tự tâm. Vĩnh đi về lặng lẽ, lặng lẽ rót câu thơ chảy
tràn lan, câu thơ say cơn mộng du té ngoài trang giấy, rơi về thực tại. Cứ thế,
cuộc hành trình ấy như vòng quay bánh xe, lăn về biển đêm đúng sinh nhật… Vĩnh
biết rõ thực và ảo trong cuộc đời mình. Đêm sinh nhật này, bên ly rượu, Vĩnh về
với thực tại, bánh xe đã ngừng lăn khi chạm vào vách đá, điểm tựa cuối cùng của
anh.
Vĩnh không cô đơn, Vĩnh bình yên trong tình yêu vĩnh hằng.
Câu chữ Bùi Phan Thảo ẩn chứa góc nhìn sâu sắc của tâm hồn nhạy
cảm với những phận đời lớn ròng con nước. Là nhà báo, có điều kiện tìm hiểu về
nhiều góc khuất của cuộc sống, anh lặng lẽ thời gian dài cô đọng chuyển ý qua
thơ, 2 tập thơ đã xuất bản gần đây. Bây giờ là tập truyện ngắn “Búp bê áo
rách”. Những đau đáu buồn của Bùi Phan Thảo luôn được anh giấu sau những câu chữ
hiền lành nhưng không nhẹ tứ.
Với tôi, 14 truyện ngắn của Bùi Phan Thảo có thể xâu chuỗi
thành bản trường ca trân trọng tình yêu, tình người thăm thẳm, rất đậm đà gần
gũi, dẫu lục dục thất tình vẫn loang loáng đâu đây.
7/5/2021
Châu Đăng Khoa
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em
"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...

.gif)


.gif)
