Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

 

Từ hạt ngọc tâm hồn đến tâm tình tuổi thơ

Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng trẻ em không còn yêu thích văn học, văn học thiếu nhi Việt Nam đang rất yếu ớt! Những nhận định ấy phần nào phản ánh thực trạng xã hội hiện nay. Từ thực tế cuộc thi Đóa hoa đồng thoại trong ba năm qua, lại có thể khẳng định rằng: Tiềm năng sáng tạo trong công chúng mọi lứa tuổi nếu được khích lệ sẽ nở rộ thành những bài văn trong sáng. Từ những bài văn nhỏ các tác giả đi theo dòng văn học thiếu nhi sẽ cho ra đời những tác phẩm có giá trị mới.

HẠT NGỌC TÂM HỒN

Từ khi tuổi còn thơ người ta bẩm sinh đã có sẵn một hạt ngọc quý đó là Trí tưởng tượng. Tuy vậy không phải hạt ngọc của ai cũng có thể tỏa sáng thành một bức tranh ngôn ngữ. Chắc là cần phải có những duyên may để những viên ngọc quý trong tâm hồn của trẻ nhỏ phát sáng. Bắt đầu từ năm 2018 một cơ duyên đã đến với trẻ em Việt Nam và những người lớn yêu trẻ em chính là cuộc thi viết truyện ngắn Đóa hoa đồng thoại (do tập đoàn JXTG đề xướng, Công ty TNHH More Production Việt Nam tổ chức và được sự đồng hành của NXB Kim Đồng). Được tham gia cuộc thi này, tâm hồn người viết như được mở ra một cửa sổ lớn. Qua cửa sổ ta bỗng nhìn thấy trên những mái nhà có những bông hoa biết nhảy múa và trò chuyện; Bắt gặp một con mưa rào, ta không chỉ nhìn thấy mưa mà thấy trong mưa có những người bạn tí hon đang nô đùa vui vẻ. Nhìn một chiếc bánh ga tô ta bỗng thấy đó là một đám mây mầu nâu có thể bay lên trời… Những truyện ngắn hay của các tác giả Lê Nguyễn Hoàng An (Hoa xuyến chi khiêu vũ trên mái nhà), Trần Hoàng Lan (Đám mây mầu nâu), Phan Khánh An ( Mưa rào)… và nhiều tác giả khác tham gia cuộc thi Đóa hoa đồng thoại chính là những hạt ngọc được phát lộ sáng ngời lên trí tượng tưởng của người viết.

Tuy vậy tưởng tượng nào cũng xuất phát từ những sự vật hiện tượng mắt thấy tai nghe. Những truyện ngắn hay tham gia cuộc thi Đóa hoa đồng thoại đều là những truyện ngắn bắt nguồn từ những trải nghiệm có thực của người viết. Có thể là từ cuộc gặp gỡ bất ngờ ở cầu thang máy (Hôm nay tôi nghỉ làm- Phạm Duy Hạnh); Có thể là bỗng nhìn thấy một cây đa cổ thụ bên đường (Cụ Đa già – Nguyễn Hồng Yến); Có thể là chợt bắt gặp một cuốn sổ trong lớp học (Viết câu chuyện của bạn vào đây – Đoàn Nhật Linh)… Từ những trải nghiệm được thăng hoa bởi trí tưởng tượng kết đọng thành câu chữ, các tác giả viết truyện đều truyền cảm đến người đọc những thông điệp thiện lành. Có những thông điệp hiển hiện rõ ràng như việc xây dựng đô thị cần bảo vệ cây xanh (Cụ Đa già- Nguyễn Hồng Yến); Hãy cùng chia sẻ vui buồn cùng bạn bè trong lớp (Viết câu chuyện của bạn vào đây – Đoàn Nhật Linh)… Và cũng có những thông điệp được thể hiện tinh tế hơn, sâu sắc hơn khiến người đọc cảm nhận bằng rung động như Mưa rào (Phan Khánh An). Đọc câu chuyện đó ta cảm thấy vẻ mong manh của trí tượng tưởng thơ ngây, nó có thể biến mất, có thể bị khô kiệt. có thể bị tước đoạt… Nếu biết gìn giữ tôn trọng nâng niu vẻ đẹp tâm hồn thơ ngây ấy là ta đã giữ một hạt ngọc quý trong nội tâm từ tuổi thơ đến tuổi trưởng thành. Dù khi đã lớn ta có thể nhìn sự vật khác đi như bên trong nội tâm ký ức tuổi thơ sẽ giúp ta sống thiện lành biết ứng xử nhân văn trong tất cả mọi nơi mọi lúc.

VẠN VẬT YÊU THƯƠNG

Từ thủa ấu thơ ta đã biết cảm nhận ngoại cảnh, biết nhận ra mầu sắc hình dáng mùi vị tiếng động của muôn vật. Cảm nhận từ ngũ quan còn tinh khôi của tuổi thơ hiện ra thành lời nói, chữ viết biểu hiện ánh “nhìn” từ tâm hồn trẻ. Những tác phẩm dự cuộc thi Đóa hoa đồng thoại lần thứ hai tổ chức ở Việt Nam (2019) đã có những trang văn đẹp nói lên cảm nhận yêu thương vạn vật của tuổi thơ Việt Nam thế hệ mới.

Truyện ngắn Bướm lá của em Bùi Mai Khuê (học sinh tiểu học) là ánh mắt ngây thơ của cô bé tác giả khi nhìn cảnh vật. Em bé nhìn chiếc lá vàng rơi lại tưởng nhầm là cánh bướm. Không phải chỉ em nhầm mà cả những bông hoa cũng nhầm, những chú bướm cũng nhầm và mấy cậu bé đi cầm vợt bắt bướm cũng nhầm. Cho đến khi gặp một cái cây gầy guộc những chiếc lá vàng mới kết thúc cuộc bay rơi xuống gốc cây. Những chiếc lá vàng đã hóa mình thành đất để bón cho cây gầy lớn lên nảy xanh lá mới. Rồi lá xanh thành lá vàng và một vòng tuần hoàn lại bắt đầu. Người viết đã biết diễn đạt câu chuyện ban đầu chiếc lá đã bị nhìn nhầm, để rồi cuối cùng lá vàng hiển hiện giá trị thực của nó, giá trị bồi đắp cho trái đất xanh tươi mãi. Đọc xong câu chuyện nhỏ, tình yêu thương vạn vật dường như còn lưu luyến mãi trong lòng ta.

Câu chuyện của hạt đỗ con tác giả Nguyễn Diệu Linh Chi (học sinh trung học) lại có một sự nhầm lẫn khác. Đó là câu chuyện của một cô bé đỗ con ở dưới mặt đất sâu. Đỗ Con muốn nảy mầm vươn lên thế nhưng nó rụt rè sợ hãi mặt đất. Rồi, cả nhà Đỗ đều đã nảy mần vươn lên, ai cũng bảo mặt đất rất thích. Đỗ Con cũng không thể cưỡng lại sức vươn lên của lá mầm từ thân nó. Khi đến lúc “vươn người một cái thật mạnh, chui lên khỏi mặt đất” Đỗ Con đã thấy cảnh tượng “ánh sáng mầu vàng ấm áp của ông mặt trời và tiếng hót líu lo xen lẫn tiếng cười, mầm cây be bé trên đầu nó vẫy vẫy chiếc lá xanh nhỏ xíu” Đỗ Con bỗng thấy mình yêu mặt đất. Vậy thì còn gì vui hơn tình cảm yêu mặt đất của những đứa trẻ mới lớn lên!

TÂM TÌNH TRẺ THƠ

Từ khi chưa biết nói những cảm nhận tri giác thơ ngây cùng trí tượng tưởng nguyên lành sẽ được lưu giữ trong ký ức rất lâu để đến khi thành người lớn mới có dịp kết đọng thành tác phẩm. Cuộc thi Đóa hoa đồng thoại lần thứ ba (2020) chẳng những được các các em nhỏ mà còn được nhiều cây bút yêu tuổi thơ hưởng ứng.

Ở lứa tuổi Tiểu học mới tiếp xúc với ngoại cảnh, các em thường có những thắc mắc để rồi tự khám phá ra một ý nghĩa. Những hạt mưa đi đâu truyện của em Phan Ngọc Đại Ngọc (8 tuổi) ở Lâm Đồng kể lại cảnh một em nhỏ giơ tay ra định nắm bắt lấy những hạt mưa. Em không bắt được, những hạt mưa đã trôi qua những kẽ tay lăn đi, biến mất. Câu hỏi nảy ra : những hạt mưa sẽ đi đâu?

Trí tò mò của các em còn hướng tới những đồ vật trong nhà, truyện Chiếc gối nhỏ của em Vũ Phương Linh (9 tuổi) ở Hà Nội là câu chuyện của một cô bé nâng niu chiếc gối để tìm hiểu cuộc sống quá khứ vất vả của bà, của mẹ… Sống trong mùa dịch Covid 19.  em Nguyễn Diệu Linh (11 tuổi) ở Hà Nội đã viết Câu chuyện hai chiếc khẩu trang. Em đã tưởng tượng cuộc trò chuyện của hai chiếc khẩu trang trước khi chúng dấn thân vào cuộc chống dịch.

Với lứa tuổi trung học cơ sở, các em đã vươn tới cảm xúc về Tình Người. Truyện ngắn Ngôi sao và Mặt trời của em Phùng Thị Phương Anh (14 tuổi) ở Hà Nội là một truyện ngắn rất đẹp. Tâm hồn em đã vươn tới vũ trụ bao la, tưởng tượng ra cảnh trò chuyện của Ngôi sao với Mặt trời. Ngôi sao tưởng mình là bé nhỏ so với Mặt trời, nhưng rồi Mặt trời lại nói với Ngôi sao bạn cũng vốn là một Mặt trời đó. Em đã tâm sự rằng: tình bạn khiến ta nhận ra điều tốt đẹp ở người bạn mình và đôi bạn sẽ cùng tự tin hơn.

Truyện ngắn Mưa đi tìm Nắng của em Trương Võ Hà Nhi (15 tuổi) ở Nghệ An lại bày tỏ tình bạn giữa những người khác biệt như Mưa với Nắng, thế mà hóa ra lại luôn gắn kết, cần có nhau. Các tác giả nhỏ tuổi còn viết về những người gần gũi. Truyện ngắn Minh gật gù của em Nguyễn Hoàng Hương Giang (13 tuổi) ở Hà Nội đã kể chuyện người bạn trong giờ học hay ngủ gật do nhà bạn có hoàn cảnh khó khăn. Truyện ngắn Bức ảnh của Pô của em Hoàng Phương Hoa (14 tuổi) ở Hưng Yên ghi lại hình ảnh người cha chải đầu cho con gái đã là một bức ảnh đẹp nhất.

Những bạn viết tự do đều đã lớn tuổi, họ đã “sống lại tuổi thơ” để sáng tác tham dự cuộc thi. Truyện ngắn Cột đèn tổ chim của Võ Lê Tú Anh (29 tuổi) ở TP Hồ Chí Minh là chuyện cột đèn có bóng đèn hỏng không sáng nữa bỗng thành một tổ ấm cho chim trú ngụ. Truyện ngắn như gửi gắm tâm sự: Có những đồ vật tưởng đã vô ích sẽ có thể hồi sinh thành vật có ích cho sự sống muôn loài. Truyện ngắn Vuông của Phan Hồng Đức ở TP Hồ Chí Minh có nhân vật chính là một em bé luôn thích hình vuông. Dõi theo từng dòng văn ta bỗng bàng hoàng xúc động bởi biết rằng ý thích đó gắn với tình cảm của em với người mẹ đã khuất. Thật là khó mà có thể nói cho đủ những sáng tạo phong phú của cuộc thi Đóa hoa đồng thoại lần thứ ba (2020) với hơn nghìn bài dự thi. Bài nào cùng là những tâm tình trẻ thơ chân thành.

Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng trẻ em không còn yêu thích văn học, văn học thiếu nhi Việt Nam đang rất yếu ớt! Những nhận định ấy phần nào phản ánh thực trạng xã hội hiện nay. Từ thực tế cuộc thi Đóa hoa đồng thoại trong ba năm qua, lại có thể khẳng định rằng: Tiềm năng sáng tạo trong công chúng mọi lứa tuổi nếu được khích lệ sẽ nở rộ thành những bài văn trong sáng. Từ những bài văn nhỏ các tác giả đi theo dòng văn học thiếu nhi sẽ cho ra đời những tác phẩm có giá trị mới.

Hà Nội, 23/10/2020

Lê Phương Liên

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Kim Chuông độc đáo với tích chèo

Cảm hứng từ những nhân vật trong tích chèo xưa, Kim Chuông muốn gửi thông điệp về tình yêu, đề cao phẩm giá con người. Trong sự khao khát bản ngã, mỗi người phải sống đúng với chính mình hơn, để từ đó dần hoàn thiện nhân cách con người…

Đọc trên báo Văn Nghệ, báo Hải Dương và một số tờ báo khác, bạn yêu thơ thích thú khi bắt gặp mấy bài thơ của nhà thơ Kim Chuông, rất độc đáo khi viết về những nhân vật trong tích chèo Quan âm Thị Kính. Độc đáo là vì nhà thơ có cách nhìn khác về Thị Màu, anh Nô – những nhân vật quen thuộc đã đi vào đời sống tinh thần của người dân từ bao đời nay.

Những bài thơ “Thị Màu”, “Giải oan Thị Màu”, “Anh Nô” dường như được Kim Chuông viết liền một mạch trong tháng 10 và tháng 11-2010 với thể loại thơ lục bát. Cảm hứng từ những nhân vật có số phận đặc biệt như Thị Màu, như anh Nô khiến nhà thơ không thể không cầm bút. Để “giải oan” cho lửa lòng yêu đương cháy bỏng của Thị Màu, nhà thơ có lý lẽ riêng của mình. Với nhân vật Nô, Kim Chuông đã phát hiện, lý giải vì sao một người thanh niên nông dân thuần phác, thủ phạm chính trong cuộc ái ân trăng gió với con gái phú ông, lại không bị phát hiện, không kết tội, mà còn lưu danh hậu thế, dù chỉ là thông qua tích chèo.

Một cô gái lẳng lơ như Thị Màu bị lên án trong xã hội phong kiến, không thể chấp nhận theo lối sống, đạo đức, thuần phong của người phương Đông. Với nhà thơ Kim Chuông, Thị Màu được sinh ra là “tại trời cao, tại ông trời trước tiên”… Người con gái như một bông hoa, sinh ra là để làm đẹp thế gian này. Thử hỏi trái đất, xã hội con người sẽ ra sao nếu không có đàn bà? Thế thì Thị Màu sinh ra là lẽ đương nhiên, là báu vật của trời đất “Tại trời đã sinh ra em/Núm cau chum chúm trồi lên yếm đào”. Mà đã là con người thì có sự khao khát tình yêu, thèm khát bạn tình như bao sinh vật sống khác. “Màu thèm chút “tỉnh tình tang”…/Thèm “cơn điên” cả thế gian vẫn thèm/Vị chua táo rụng bên thềm/Màu coi còn sướng hơn nghìn ngai vua”. Một sự thèm khát tự nhiên, bản năng trong mỗi con người. Thế nên như những người con gái khác, Thị Màu đi tìm sự khao khát cho riêng mình, muốn dâng hiến cho bạn tình, cho người mình yêu. Song hành động của Thị Màu trong một xã hội lễ giáo phong kiến xưa khó có thể chấp nhận: “Người đời miệng lưỡi cay chua/Tội Màu ư, cái tội thừa lửa tim/Người ta biết giấu cái nhìn/Biết đem mình, tự nhấn chìm mình đi”.

Đem lý trí vào tình yêu thì đâu còn tình yêu nữa, đó là sự tính toán, cân đo, nên với tác giả (và cũng nhiều người nữa?): “Màu không. Chả sợ qué gì/Yếm đào cứ tốc, oản thì cứ phơi/Sướng lên, bé cả ông giời/Tội thì Màu chịu, hơn ngồi nhịn suông”. Việc lên án hành động của Thị Màu xưa nay chỉ là do những định kiến xã hội, những lễ giáo cũ đang kìm kẹp con người mà thôi, chứ tình yêu, sự khao khát dâng hiến không có lỗi gì. Cũng như trong truyền thuyết, nàng Mỵ Châu “trái tim lầm chỗ để trên đầu”, chứ đâu phải tội phản quốc! Thế nên “Bảo Màu sống khác đi a?/Màu mà sống khác/Không ra Thị Màu”.

Với nhân vật Nô, một người nông dân hiền lành, cả đời sống kiếp tôi đòi, không có tài sản gì cả, chỉ có tuổi thanh xuân với cơ thể vạm vỡ. Đấy là tài sản quý giá, một sức sống mãnh liệt mà ai cũng từng mong ước, nhất là với những cô gái muốn được thỏa mãn nỗi khát khao, thèm muốn bạn tình. Khi Thị Màu thật mình muốn dâng hiến, “đem lửa đốt Nô thành tro than”, thì với người con trai đang sung sức, căng tràn nhựa sống “gặp nồi đã mở vung rồi thì ăn”. Nên tác giả đặt bút: “Nô đang ở tuổi xuân thì/Gặp Màu đây nữa làm gì chả điên” là dễ hiểu.

Thị Màu và Nô, một người bị đạo đức, lễ giáo kết tội, một người là thủ phạm trực tiếp thì vô can. Làm nên một cái án oan bởi sự khao khát dâng hiến, là lẽ tự nhiên của tình yêu? Nghịch lý ấy trong tích chèo là để lên án một xã hội phong kiến mục nát, những lễ giáo cổ hủ, kìm hãm sự khao khát tình yêu, cuộc sống nơi con người. Trong những bài thơ trên, có khi tác giả rơi vào trạng thái viết nên những câu thơ tự nhiên chủ nghĩa. Song, cảm hứng từ những nhân vật trong tích chèo xưa, Kim Chuông muốn gửi thông điệp về tình yêu, đề cao phẩm giá con người. Trong sự khao khát bản ngã, mỗi người phải sống đúng với chính mình hơn, để từ đó dần hoàn thiện nhân cách con người.

15/11/2020
Nguyễn Đình Xuân
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Thơ 1-2-3 đa sắc, đa thanh, mang đậm hồn cốt Việt

Tôi là người không giỏi viết lách. Làm thơ viết văn hình như chỉ là việc lựa chọn ngôn từ ghép lại để tự kiểm tra xem mình có thể sử dụng được bao nhiêu từ ngữ Tiếng Việt mà thôi. Tình cờ bắt gặp trang Văn Học Sài Gòn, tôi đến với thơ 1-2-3 bắt đầu bằng sự tò mò về một thể thơ lạ và tên gọi của nó. Đọc những bài thơ của người khởi xướng viết trên đất Nga, tôi cố gắng hiểu và cảm nhận ý tứ trong đó. Rồi viết thử. Và được chấp nhận. Có tặng thưởng tháng 5.2020!

Trong thời gian bốn tháng, dưới sự động viên của nhà thơ Phan Hoàng và Ban biên tập trang Văn Học Sài Gòn, tôi gửi đến 5 chùm thơ và đều được đưa lên trang. Các bạn viết và đồng nghiệp nhiều người gửi đến tôi câu hỏi: làm sao để hiểu được thơ 1-2-3? Nó không giống như các thể loại thơ thông thường khác, khó cảm quá?

Thơ 1-2-3 là lối thơ ngắn gọn, chỉ có 6 câu thơ kể cả nhan đề, chia làm ba khổ thơ. Trong đó nhan đề bài thơ là khổ một gồm một câu thơ, khổ hai có hai câu, khổ ba có ba câu, số chữ trong mỗi câu tối đa từ 11 đến 13 chữ. Thoạt tiên khi đọc câu thơ, tôi có cảm giác bị thừa ra một vài từ, có vẻ như diễn giải rườm rà, nhưng đặt vào tổng thể toàn bài thơ thì cảm giác đó không còn nữa. Những từ ngữ ấy góp phần giúp người đọc nhận ra tứ thơ và ý nghĩa của bài thơ trong sự ngắn gọn mà chặt chẽ của nó.

Mặc dù có một số quy định nhưng cơ bản thể thơ 1-2-3 không bị ràng buộc bởi các phép tắc tu từ, hài thanh, ngắt nhịp hay hiệp vần chặt chẽ như các thể thơ truyền thống. Điều này khiến cho người viết thoải mái hơn trong việc sử dụng ngôn từ và cách trình bày ý tưởng. Do đó, thơ 1-2-3 chứa mọi đề tài, mọi giọng điệu và tất cả các khả năng thể hiện. Thể thơ này từ bản thân nó cũng đa âm, đa sắc và mang đặc trưng vùng miền thơ trước đó.

Nghe tiếng chuông chùa ở nơi xa

Chờ hết mùa thu anh mới về nhà

Cây xoan rụng lá cây đào đơm nụ nở hoa

Anh chờ giông bão đi qua con chim bay về trú ngụ

Chờ nghe chuông chiều nhắc nhủ

Anh lặng lẽ về trong tiếng mẹ ru

(Phan Thảo Hạnh)

Sao phải sống bằng cuộc đời người khác

Con ong sống đời ong đam mê hút tìm mật

mối sống đời mối chăm chỉ đắp lâu dài

Nhiều con người sống bằng cuộc đời người khác

bỏ bản thể, tâm hồn, … cầu cạnh lợi danh

đánh đổi mình mà không giá trị như loài ong loài mối

(Lưu Minh Hải)

Đọc thơ 1-2-3, người đọc phải có vốn văn hóa và những trải nghiệm nhất định. Cũng như thơ truyền thống, đề tài của thể thơ này tự do, thể hiện cảm xúc, tâm trạng của người viết. Nhưng do tính độc lập của từng câu thơ trong mối tương quan toàn bài nên các hình ảnh được nói tới có vẻ như rời rạc, không có mối liên hệ rõ ràng. Điểm kết nối của bài thơ là cảm xúc, mối tương quan của câu 1 với câu 6 và sự trải nghiệm của người đọc.

Đột biến những giấc mơ

Thơm nức mùi tiền

Loài lan rừng nhỏ lệ

Thú chơi kì hoa dị thảo

Phủ chúa Trịnh ngày nào

Cũng chỉ là giấc mộng phù hoa

(Đỗ Thu Hằng)

Từ cơn sốt về lan đột biến và tình trạng lừa đảo xuất hiện gần đây tại nước ta, nhà thơ Đỗ Thu Hằng đã liên hệ tới sự ăn chơi xa hoa trong phủ chúa Trịnh xưa với sự ham thích cái lạ kì của ngày nay để chỉ ra sự vô nghĩa của việc chạy theo “kì hoa dị thảo”. Nỗi xót xa, chua chát thấm qua từng câu chữ:

Những ngày mai còn buồn?

Bánh xe ngỗ nghịch thời gian

Âm thầm nghiền nát sự ngây thơ                                  

Vô hình và vô tình

Có điều gì làm ta ngạc nhiên không nhỉ?

Khi nỗi buồn cũng lén lưu manh

(Đỗ Thu Hằng)

Nỗi buồn trôi trong thời gian kéo dài từ quá khứ đến tương lai, xóa nhòa những vô tư của một thời thơ dại. Ở đây nhân vật trữ tình giật mình trước thời gian, nhanh và đầy bất ngờ. Cảm giác đọng lại là nỗi nuối tiếc khôn nguôi.

Bi ai thằng hề

Mang mặt nạ khóc cười

Mà lòng đang khóc không người vỗ tay

Lang bạt mưu sinh

Cánh màn đau khép lại ngày

Giang hồ tay nải đựng đầy bi ai

(Đinh Hạ)

Nỗi đau đớn, xót xa của một chú hề mua vui, mang lại tiếng cười cho người khác nhưng trong lòng đang đau nỗi đau của riêng mình. Bài thơ gợi lên cảnh lang bạt, không nhà, không cửa của một kiếp người. Khi cánh màn nhung khép lại, nỗi bi ai ngập tràn cả không gian và lòng người.

Nhìn lại thể thơ 1-2-3, cảm nhận đầu tiên vẫn là không có sự kết nối trong hình ảnh hay ở vần, nhịp thơ. Điều đó làm cho bài thơ không bị ràng buộc vào những khuôn phép vốn có của thơ truyền thống, cảm xúc trở nên tự do, trường liên tưởng rộng. Đặc điểm này khiến cho thơ 1-2-3 thường phù hợp kiểu tâm trạng phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi các quy tắc thông thường mà không mất đi tính lãng mạn và sự đa chiều cần thiết.

Thu đã về trên phố rồi em ơi!

Một mảnh sương vắt vẻo nơi ngõ nhỏ

sáng chớm buồn như chất chứa những âu lo

Sắc vàng phai huyền ảo đến vô cùng

như nhắc nhở về một lời hẹn ước

để thu về em hờ hững cùng thu

(Trần Thị Hồng Anh)

Cảm thức mùa thu ùa về vào một buổi sáng tinh sương. Nhưng chất chứa những âu lo mơ hồ. Rồi lại gợi nhắc về một lời hẹn ước xa xôi. Với tâm trạng rối bời như vậy nên nhân vật trữ tình hờ hững cùng mùa thu. Nhưng đọc kĩ, ta thấy ngược lại, có một nỗi niềm sâu kín với mùa thu, hình như là nuối tiếc, hình như là đợi chờ …

Thơ 1-2-3 ra đời khi một thời gian dài nền thơ Việt Nam không có sự xuất hiện thể loại thơ mới. Vẫn là những thể thơ truyền thống và sự cách tân, biến thể của nó. Có người cho rằng thể thơ mới được khởi xướng này là biến thể của thơ Haiku của Nhật Bản. Nhưng tôi biết có hai cuộc thi làm thơ Haiku và thơ Tanka cũng đang diễn ra tại nước ta, hà cớ gì người ta phải tạo ra một Haiku biến thể ở đây. Và hơn thế, thơ Haiku thấm đẫm chất Thiền, sự u hoài, vắng lặng… và mang đậm văn hóa Nhật. Còn thơ 1-2-3 đa sắc, đa thanh, đậm đà hơi thở cuộc sống, mang hồn cốt của người Việt cho dù viết về đề tài nào hay là do tác giả nào viết ra.

Trong sự vận động của thời đại, có rất nhiều người muốn được cất lến tiếng nói bản ngã của mình, mỗi người có một cách thể hiện riêng. Trong số đó không ít người muốn tìm cho mình một con đường mới, một sáng tạo riêng biệt. Nhưng ai dám bảo con đường đã chọn là con đường mãn nguyện nhất. Chỉ biết rằng có dịp và có cơ hội nói được những điều mình muốn nói, có được ai đó đồng điệu, chia sẻ là quý giá lắm rồi. Thơ 1-2-3 ít nhiều đã làm tôi hiểu hơn về bản thân mình và tự tin bộc lộ mình.

16/11/2020
Trần Thị Hồng Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Tuổi thần tiên trong thơ Hoài Khánh

Nhà thơ Hoài Khánh ở Hải Phòng được coi là cây bút của tuổi thần tiên. Ông từng thử sức trong nhiều thể loại, phê bình văn học, tản văn, tùy bút, thơ cho người lớn…, nhưng thành công nhất vẫn là thơ viết cho thiếu nhi. Điều đặc biệt riêng có của thơ thiếu nhi Hoài Khánh là sự trong trẻo và quyến rũ, giàu vẻ đẹp nhân tính, nơi cái thiện luôn ngự trị và chiến thắng cái ác. Chắc có người nói, thơ thiếu nhi đương nhiên phải trong trẻo. Nhưng thơ Hoài Khánh lại khác. Từng tứ thơ được huyền thoại hóa cùng các đồ chơi, đồ vật trong tưởng tượng thơ mộng của bạn đọc nhỏ tuổi. Điều này không còn gặp nhiều trong đời sống hiện đại, khi mà tuổi thần tiên đôi lúc là khoảng trời cách biệt với thế giới tinh thần của người lớn, vốn phải gánh chịu nhiều mối lo toan thường nhật. Nhà thơ Hoài Khánh cùng một số cây bút chuyên viết cho thiếu nhi đã về/đến được khoảng trời thơ mộng đó.

Từ tập thơ trình làng “Bé kim giây” (Nxb. Hải Phòng, 1991), Hoài Khánh đã đặt được bước chân của mình vào vương quốc tuổi thần tiên. Có thể nói ngay thời điểm đó, nhà thơ đã được các “thần dân” của vương quốc đặc biệt ấy chấp nhận là một người bạn thân, một công-dân-nghệ-sĩ. Sau đó Hoài Khánh  lần lượt cho xuất bản 3 tập thơ kế tiếp, “Tia nắng xanh” (Nxb. Hải Phòng, 1996), “Trăng treo giữa nhà” (Nxb. Hội Nhà Văn, 2004), “Dắt biển lên trời” (Nxb. Kim Đồng, 2012). Và hiện ông đang chuẩn bị công bố tập thơ thứ 5 (xin được bí mật tiêu đề). Ngay từ khi xuất hiện, thơ Hoài Khánh được thiếu nhi và cả người lớn háo hức đón nhận bởi giọng điệu riêng qua mắt nhìn thơ trẻ, háo hức kiếm tìm, khám phá thế giới. Bất cứ bạn đọc nào cũng có thể nhận thấy phía sau những bài thơ thiếu nhi ngộ nghĩnh, thơ mộng đáng yêu của Hoài Khánh là bàn tay ấm áp của người lớn luôn ân cần dìu dắt, dưỡng dục con trẻ trưởng thành.

Đọc tác phẩm viết cho thiếu nhi nói chung, tôi nhận thấy hướng hành trình của các tác giả đa phần không tiến về phía trước mà đi ngược lại phía sau dòng chảy thời gian để trở về với thuở đầu đời tơ non, khờ dại. Với cách nhìn nhận như vậy, ngay từ tập thơ “Bé kim giây”, Hoài Khánh đã có được bài thơ “chạm đích” mà ông cần đi đến. Đó là bài “Kim đồng hồ”, viết năm 1988, một trong những tác phẩm đầu tay của ông. Nguyên văn bài thơ như sau:

KIM ĐỒNG HỒ

Bác kim giờ thận trọng

Nhích từng ly, từng ly

Anh kim phút lầm lỳ

Đi từng bước, từng bước

Bé kim giây tinh nghịch

Chạy vút lên trước hàng

Ba kim cùng tới đích

Rung một hồi chuông vang.

Bài thơ là một câu chuyện kể với ba nhân vật (bác kim giờ, anh kim phút và bé kim giây) làm nên một gia đình, một xã hội trên mặt chiếc đồng hồ. Ở đây, hai nhân vật, “bác” và “anh” đều xuất hiện ngộ nghĩnh, đáng yêu, luôn ân cần bên “bé kim giây”. “Bác” và “anh” trở thành người thân yêu như ông bà, cha mẹ, anh chị. Thành bạn chơi, đồ chơi, cột mốc, thành con đường cho bé tung tăng. Chỉ ba nhân vật trong một không gian nhỏ nhưng tạo nên một khung cảnh yên bình, một vườn chơi sạch sẽ đến tinh khiết. Điều thú vị là, tác giả đã mang tới cho bạn đọc điều bất ngờ trong khổ thơ cuối cùng, khi tiếng chuông bất chợt vang lên báo hiệu cả “Ba kim cùng tới đích”. Tôi đồ rằng, chính bài thơ này đã chạm đến được đích cảm xúc của bạn đọc ở bất kỳ lứa tuổi nào. Chuyện “Kim đồng hồ” không còn ranh giới tuổi tác, cho mỗi người một cảm nhận riêng. Với bé thơ, đây là câu chuyện đáng yêu về bạn “kim giây” tinh nghịch, nhí nhảnh bên người lớn. Với cá nhân tôi, bài thơ là vẻ đẹp của sự hòa đồng, cảm thông và trách nhiệm giữa các thế hệ trong cộng đồng, một gia đình thương yêu gắn bó, một xã hội công bằng.

Từ kinh nghiệm bản thân tôi thấy, không phải ai cũng làm được thơ cho thiếu nhi. Nhiều người cố gắng nhưng vẫn không vượt qua được ranh giới của tuổi tác, thế hệ và tư duy “không thể trẻ thơ”. Điều này thì Hoài Khánh lại làm được một cách tự nhiên, không hề khiên cưỡng. Từng bài thơ của ông cứ tự dưng mà hình thành, tự dưng mà kết nên hình hài như một đứa trẻ với tư duy hồn nhiên sẵn có. Sự thành công ấy của Hoài Khánh, theo tôi trước hết, ông biết hóa thân thành trẻ nhỏ, tránh được lối nói ví von, so sánh, ẩn dụ gián tiếp… Nhà thơ biết cách mặc định, giả định hình ảnh, sự việc bằng con mắt quan sát của trẻ thơ. Ông thường chọn cách nói trực tiếp, biến mình thành đồ chơi, thành đồ vật xung quanh các bé. Ông biết tuân theo quy luật tâm lý, tình cảm của các bé, từ đó biến mọi vật trở nên ngộ nghĩnh và lạ lẫm. Ông tự mình khám phá và tìm thấy những điều bí mật của thiên nhiên, vũ trụ ngay trong những sở thích rất bản năng của trẻ con lúc ăn uống, vòi vĩnh, học tập, nô đùa…

Nấp trong quả bưởi

Một đàn tép con

(Bí mật)

Thuỷ triều tung hoa đón

Mây trời cùng xuống bơi

(Tắm biển)

Núi như ông già

Ngồi bên biển cả

Lặng lẽ câu cá

Vai quàng khăn bông

(Đèo Hải Vân)

Có thể nói, thế giới trẻ thơ đã phủ ngập, chiếm lĩnh trọn vẹn thơ Hoài Khánh. Do vậy, nhiều bài thơ được ông viết ra chân thực tự nhiên và gây xúc động mạnh. Những câu thơ hồn nhiên, thấm đẫm nhân tính sau đây làm ta thấy ngỡ ngàng trước vẻ đẹp bình dị, đáng yêu của đời sống này.

Buồm mẹ và buồm con

Đã cuộn tròn nằm ngủ

(Chiều bến sông)

Thế giới như trẻ con

Đánh chừa rồi xin lỗi

Nở nụ cười tươi non

Đủ làm vơi giận dỗi

(Ngày mở đầu tháng sáu)

Không chỉ biến cảm xúc của mình thành trẻ nhỏ, thơ Hoài Khánh cònmang đến một tình yêu thương ân cần, với trách nhiệm cao cả của những bậc làm cha làm mẹ, luôn nâng niu dìu dắt thế hệ kế tiếp.

Vươn cao phơi tấm lưng trần

Búp măng ngay thẳng mơ dần thành tre

(Búp măng)

Trong bài thơ “Mây”, tình yêu thương của tác giả còn mang ý nghĩa giáo dục trực tiếp, trở thành bài học luân lý tự nhiên cho con trẻ:

Mải chơi quên lời mẹ

Mây lạc giữa trời cao

Suốt cả ngày bêu nắng

Bị ốm, ai thương nào?

Chính bởi sự ân cần, dặn dò, yêu thương của người lớn với trẻ con nên trong một vài bài thơ đầu tay, tác giả còn để lộ mục đích giáo dục khiến ý tưởng tác phẩm chưa chín tới. Kéo theo đó cảm xúc sáng tạo cũng chưa được đẩy lên đến mức cần thiết. Ví dụ như các bài thơ “Nếu Hải Phòng chỉ toàn người lớn”, “Làng em không có bố”… Gần đây, nhà thơ đã khắc phục được những hạn chế của giai đoạn đầu, nên thơ của ông ngày càng có sức lôi cuốn tự nhiên với bạn đọc nhỏ tuổi.

Thêm một điều đặc biệt trong thế giới trẻ thơ trong thơ Hoài Khánh, đó làkhông có sự khu biệt cho độ tuổi cố định nào. Biên độ nhân vật trẻ thơ của Hoài Khánh trải rộng từ khi các bé cất tiếng bi bô đầu tiên đến tuổi mới lớn. Đây là giọng thơ ngộ nghĩnh dành cho các bé ở lứa tuổi mẫu giáo:

Nhộn hơn trẻ thơ

Sấm không râu tóc

Tuổi bằng lũ nhóc

Vẫn được làm ông

(Sấm)

Khi các em cắp sách tới trường, lòng thêm thênh thang ước mơ trong trang vở mới:

Sáng ra biển hoá trẻ con

Sóng lắc ông trời thức dậy

Dã tràng cõng nắng lon xon

Mắt thụt mắt thò hấp háy

(Xuân trên đảo Bạch Long Vĩ)

Trường đảo ngang sườn dốc

Đường đá xếp tận nơi

Những con chữ khó nhọc

Dắt biển lên với trời

(Đường ở đảo)

Và còn có những trang viết mà Hoài Khánh dành cho tuổi mới lớn mơ mộng, khi các em háo hức hòa nhập vào đời sống nhiều sắc màu, mangnhững hoài bão, đam mê và nhiệt huyết:

Nay em mười bốn tuổi tròn

Cái gì cũng đầy bí mật

Mắt nhìn như quả sấu non

Đủ gây men thơm trời đất

(Nay em mười bốn tuổi)

Nhìn một cách tổng thể, thơ Hoài Khánh luôn hướng đến đối tượng thiếu nhi, thể hiện rõ trong lựa chọn giọng điệu, đề tài, thể loại… Tuy vậy, một sốcâu thơ, bài thơ hay của ông lại dành cho mọi lứa tuổi. Trong những câu thơ đó, trẻ em được nhìn thấy khoảng trời trong veo, được chơi với vạn vật trong một thế giới thơ mộng và huyền thoại. Còn bạn đọc lớn tuổi lại nhìn thấy trong những câu thơ ấy ánh sáng tư tưởng, tính nhân văn, vẻ đẹp của sáng tạo chìm ẩn trong “thế giới đồ chơi”. Như hình ảnh người mẹ hiền trong bài thơ “Mẹ phơi rơm” đã hóa thành biểu tượng của người mẹ thiên nhiên, mang ý nghĩa khái quát:

Cời rơm cuộn từng làn sóng

Mẹ cầm gậy như chèo thuyền

Sân phơi hóa thành biển rộng

Mẹ nâng cả buổi trưa lên

Hay trong bài thơ “Xuân trên đảo Bạch Long Vĩ”, câu thơ sau đây có thể dành cho nhiều đối tượng bạn đọc với đa dạng tâm trạng. Trong tĩnh tại vẫn thấy hết những chuyển động phức hợp của đời sống con người, thiên nhiên, vũ trụ:

Đèn biển đêm qua nhấp nháy

Bây giờ đứng quấn khăn sương

Cũng như một nốt trầm, một quãng nghỉ của những giai điệu đời sống đang diễn ra. Trong những câu thơ “không có tuổi”, Hoài Khánh đôi lúc biểu đạt được sự đa nghĩa, khá tài hoa. Đây là một cặp lục bát đã cho tôi cảm giác, ánh xạ của nó cứ lan xa mỗi lần đọc lại:

Rơm phơi óng cả khung trời

Bầy chim thả tiếng hót rơi cũng vàng

(Đường làng em)

Nhìn vào thơ thiếu nhi hiện nay, theo tôi có những đặc điểm chung như, huyền thoại hóa các đồ vật và hiện tượng trong đời sống hàng ngày, bình đẳng và tìm cách cộng hưởng với tư duy của người lớn, ngôn ngữ thơ giản dị, dễ hiểu, thường được biểu đạt trực tiếp ở ngôi thứ nhất v.v... Ở thơ Hoài Khánh, ngoài những đặc điểm vừa nêu còn mang sắc thái riêng, đó là tính đa nghĩa và phức hợp trong những cảm xúc mạnh và khá độc đáo. Trong đó, tính đa nghĩa thực sự là một thử thách không nhỏ với thơ viết cho đối tượng thiếu nhi. Bởi liên tưởng của các em thường gần gũi và dễ hiểu, cách nhìn trong trẻo, ngây thơ. Nếu tính đa nghĩa không được tác giả tiết chế phù hợp sẽ gây cho các em cảm giác khó hiểu, xa lạ. Trong bài thơ “Chim chìa vôi”, Hoài Khánh đã thể hiện thành công hình tượng chú chim chìa vôi, nhân vật trung tâm làm nên một sớm mai tinh khôi, an bình:

Hạt sương còn giắt bên hông

Chìa vôi vác cuốc ra đồng ríu ran

Nhỏ nhoi như một hòn than

Hót lên, cời lửa nhen ban mai hồng

Thêm một đặc điểm nổi bật nữa trong thơ thiếu nhi Hoài Khánh là, giàu cảm xúc, nhất quán, tạo được hấp lực mạnh cho bạn đọc nhỏ tuổi. Bài thơ “Phố Đà Lạt” của ông đã ngấm vào tôi chất men say chếnh choáng ngay từ lần đọc đầu tiên. Ai đã đến Đà Lạt chắc ghi sâu trong tâm trí những con đường đèo quanh co, thác nước, mái nhà chìm trong rừng cây nhấp nhô. Bài thơ theo nhịp đồng dao tựa bước chân trẻ thơ nhảy nhót đan dệt những điểm nhấn, tạo nên bức tranh mờ ảo trong sương mờ ở thành phố cao nguyên thơ mộng này.

… Vén sương

Rẽ gió

Cõng chữ

Qua đèo

Thông reo

Mái phố

Mặt trời

Chạy theo.

Trẻ em là ước mơ, tuổi thơ của nhân loại. Các em được sống trong vương quốc như không có biên giới mà luôn bình đẳng, thân mật và công bằng. Thơ thiếu nhi Hoài Khánh đã tạo cho các em một khu vườn đẹp để vui chơi, một con đường rộng tới lớp, một ban mai trong lành thuở đầu đời. Nhiều câu thơ ấn tượng của ông được các em thuộc làm lòng. Nhà thơ đã gặp các bé thơ, được vui đùa, ăn ngủ, học hành với tuổi thần tiên. Mỗi bạn đọc chắc có cảm nhận riêng về thơ thiếu nhi Hoài Khánh. Riêng tôi muốn được hóa thân thành một em nhỏ trong bản làng vùng cao nghèo khó, heo hút này:

Bản làng em sơ sài

Chênh vênh trên núi đá

Vẫn có bao điều lạ

Từ sách hồng bước ra

(Bên ô cửa đá).

17/11/2020
Mai Văn Phấn
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Không ăn cũng không uống mà vẫn biết ngon hay dở

(Về ý niệm ngon/dở trong tiếng Việt)

Cái ăn (và cả cái mặc), một giai đoạn dài là nỗi lo canh cánh của hàng triệu triệu gia đình Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên trong tiếng Việt, từ ăn lại nhiều nghĩa đến vậy (ăn ảnh, ăn cánh, ăn thề, ăn hối lộ…) Thông qua biểu tượng chất lượng  thực phẩm, trong giao tiếp, người Việt Nam có thể nhận xét, đánh giá mọi sự vật, hiện  tượng, trong đó, nổi bật nhất cách dùng từ ngon và dở.   

1. Trí não của con người, thông qua những trải nghiệm hoặc có tính cá nhân hoặc dựa vào hệ thống ý niệm của cộng đồng diễn ngôn, dung nạp, xử lý, lưu trữ, phục hồi và cả truy xuất tri thức không hoàn toàn thụ động mà có tính tương tác theo những phương thức tri nhận nhất định.

Về khía cạnh thứ nhất, tương tác dễ quan sát nhất là với chính cơ thể của con người mà ngôn ngữ học gọi là những trải nghiệm nghiệm thân. Trước hết, xuất phát từ thân xác con người (nghiệm thân sinh lý).Thứ đến, là tương tác với môi trường vật chất xung quanh (nghiệm thân (với) tự nhiên). Tiếp theo, là tương tác với người khác (nghiệm thân xã hội)[ Trịnh Sâm, 2019].

Về khía cạnh thứ hai, đó là quá trình và cũng là kết quả của các bình diện tương tác, tập hợp một số phương thức tạo thành một chỉnh thể, quyết định bản chất trí não của con người, đó chính là những mô hình tri nhận, mà về nguyên tắc là một hệ thống mở có tác dụng kích hoạt, giúp con người quy loại, hình thành và lý giải, nội suy những ý niệm trực tiếp hoặc gián tiếp.

2. Nhìn một cách tổng quan, mô hình tri nhận thường có tính phổ quát, nhất là những trải nghiệm đơn giản kiểu như: Tình thương là hơi ấm, Nhiều thì hướng lên, Không biết thì hướng lên, bởi qua kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày, con người có thể nhận hiểu và hoạt hoá (enactment) dễ dàng các ẩn dụ ý niệm ấy.

Sự khác biệt, trước đây trong một số bài viết, chúng tôi thường lý giải và căn cứ vào sự biểu hiện đậm/nhạt của một số phương thức tri nhận nào đấy, chẳng hạn như vai trò sông nước, cây trái, thực phẩm trong phóng chiếu, hiểu là những miền nguồn trong tương tác với chủ thể kinh nghiệm, hầu như ngôn ngữ nào cũng có, nhưng rõ ràng đây là những trường ý niệm rất quen thuộc trong tâm thức của người Việt và bên cạnh tính phổ quát còn có sự đa dạng trong tương tác văn hoá.

Cụ thể hơn, xin được minh họa, như  ẩn dụ Cuộc đời là một cuộc hành trình  rất phổ biến trong nhiều ngôn ngữ, nhưng nếu như trong tiếng Anh, tiếng Pháp, hành trình ấy thường liên hội giữa đường bộ – đường đời thì trong tiếng Việt lại là đường thuỷ – dòng đời.

Nhiều ẩn dụ cho thấy, theo quan niệm của người Việt: con người sinh ra từ nước (nước nguồn, nước ối), đời người là dòng sông, và khi nhắm mắt xuôi tay là trở về với nước, cái chết, cách kết thúc hành trình là suối vàng, nơi chín suối, nước tiên, nước phật; nghi thức chèo thuyền đưa linh, tục đóng tiền đò bằng cách bỏ vàng, bạc vào miệng người chết.

Ngược lại, trong văn hóa phương Tây, con người sinh ra từ cát bụi, chết là trở về với cát bụi, hình ảnh tiễn đưa người chết thường gắn liền với cỗ xe ngựa (carriage, char), tức khởi đầu và kết thúc hành trình đời người đều diễn ra trên đường bộ [Trịnh Sâm 2011 vả 2012].

Cách tiếp cận này, cho phép chúng ta nhận ra những nét khu biệt hãn hữu nhưng lại rất khó biện giải trong các trường hợp có xung đột giá trị liên quan đến những xung đột ẩn dụ hoặc khi tính đặc thù mờ nhạt, khi nhận thức văn hoá chỉ cho thấy một xu hướng tri nhận thiên về một góc độ nào đó.

Để giải quyết vấn đề này, G. Lakoff và M. Johnson [1980 và 2003] thường nhắc đến thuật ngữ ưu tiên hay thang độ ưu tiên (priority scale), sau này được Z. Kövecses [ 2002 và 2010] triển khai rõ ràng hơn, chẳng hạn, các ẩn dụ định vị trong tiếng Anh: Nhiều hơn thì tốt hơn (More is better), Nhiều hơn thì hướng lên (More is up) và Tốt thì hướng lên (Good is up), thoạt nhìn dễ tưởng chúng bình đẳng như nhau. Thế nhưng không ít biểu đạt liên quan đến hướng lên, hình như đi ngược lại hay mâu thuẫn với ẩn dụ Tốt thì hướng lên, như Lạm phát đang lên cao (Inflation is rising), Tỉ lệ tội phạm đang gia tăng (The crime rate is going up), tức trong trường hợp này, lạm phát, tội phạm là những hiện tượng xấu và như thế hướng lên chưa hẳn là tốt, thế nhưng ẩn dụ Nhiều hơn thì hướng lên thì vẫn tỏ ra bao quát và đó là sự lựa chọn ưu tiên trong tiếng Anh.

3. Trong tiếng Anh, hai ẩn dụ ý niệm sau đây là rất quen thuộc Ý tưởng là thực phẩm (Ideas are food), nghĩ là đun nấu (Thinking is cooking). Và một ẩn dụ khác cũng rất phổ biến trong tiếng Anh và tiếng Việt: Mùi vị cuộc đời là mùi vị của thực phẩm với cả một hệ thống ngữ liệu rất giống nhau trong hai ngôn ngữ, ngoại trừ cách dùng hai phẩm chất đối nghịch cay đắng – ngọt ngào trong một ngữ đoạn nối như tiếng Anh (But he′ s got bitter – sweet memories of his first appearance there) [A. Deignan, 1995], so với ngọt ngào, cay đắng, ngọt bùi được miêu tả riêng trong tiếng Việt.

Bên cạnh đó, ngôn từ về thực phẩm, nhất là về ăn uống xuất hiện khá đa dạng trong tiếng Việt. Thế nhưng độ nổi trội và thang độ ưu tiện lại không hoàn toàn giống nhau.

Hãy chú ý đến sự phong phú trong từ đa nghĩa một cách hệ thống của ăn và sự chuyển nghĩa của nó trong giao tiếp mới thấy hết nỗi ám ảnh của cộng đồng diễn ngôn. Về mặt ngôn ngữ học, lần theo những nét tương đồng nhận thức của từ đa nghĩa trong hành chức, chúng ta sẽ tìm thấy hệ thống ẩn dụ ý niệm tương ứng. Nói khác, hệ thống từ đa nghĩa chính là những ngữ liệu minh hoạ cho các ẩn dụ, nhất là ẩn dụ phức và ẩn dụ bậc trên.

Có thể kể đến các ẩn dụ trong tiếng Việt: Con người là thực phẩm, Năng lực, ứng xử của con người là thực phẩm, Vị thế xã hội là thực phẩm, Địa thế là thực phẩm, Công cụ (phương tiện) là thực phẩm, Tài năng là thực phẩm. Từ cách hình dung bên trên, chúng tôi chỉ tập trung phân tích cách ý niệm hoá về ngon/ dở, kết quả của một sự lượng giá, xuất phát từ miền ý niệm thực phẩm, một hiện tượng ngôn ngữ gợi mở nhiều điều thú vị, chứ không đơn giản chỉ là hiện tượng chuyển đổi cảm giác.

3.1. Chúng ta hãy quan sát các cách diễn đạt sau:

(i) Thân hình của cô ấy rất ngon, Giới chân dài thường có cái dáng ngon, Một đường bóng rất ngon, Bộ vó ông ấy ngon lành, Anh ta ứng xử với bà con lối xóm dở quá, Học lực của thằng nhỏ nhà tôi dở tệ, Tao cũng ngon chứ bộ! Mày có ngon thì đi kiện đi, tao sẽ hầu toà, Ngon thì nhào vô, biết liền hà.

(ii) Cái ghế đó ngon quá, bao nhiêu người thèm muốn, Thời buổi bây giờ ghế ngon giá cả triệu đô, Chỗ đứng ngon.

(iii) Nhà hai mặt tiền ngon ơi là ngon, còn đòi hỏi gì nữa, Xe ngon, Xe chạy ngon, Xe chạy còn ngon, Thuyền ngon, Miếng đất ngon, Điện thoại lắp ráp ở Trung Quốc dở lắm, Phim dở ẹc, sách dở òm, Máy phun thuốc sâu đời mới ngon thiệt, Đang trò chuyện ngon trớn thì nó đến phá đám.

(iv) Ký được hợp đồng béo bở, Không nuốt nổi thương vụ này, Chưa tiêu hóa hết nội dung, Không giảm tải, học sinh rất dễ bội thực kiến thức, Các thầy cô giáo không cần thiết lúc nào cũng mớm kiến thức cho sinh viên, Ngủ ngon, ngủ nướng.

(v) Ngon ăn, ngon cơm (mỏng cơm, dày cơm), ngon mắt.

Có thể thấy, các diễn ngữ liệt kê bên trên trực tiếp hay gián tiếp đều là những ẩn dụ bản thể, tức đều được hình thành từ những trải nghiệm dưới dạng vật thể và chất liệu.

3.2. Ở (i), ngon/dở liên quan đến vóc dáng, sức sống, cách thức ứng xử, năng lực, ở (ii) và (iii) là vị thế xã hội, vị trí địa lý, chất lượng, đặc điểm, ở (iv) là sự kiện, hoạt động, trạng thái, ở (v) là đặc trưng, phẩm chất, tất cả được nhào nặn thành thức ăn, thành thực phẩm.

Như vậy, vị từ ngon/ dở trong tiếng Việt có phạm vi sử dụng rất rộng, tuỳ theo ngữ cảnh có thể tương đương với nhiều ý niệm hoạt động, đặc trưng, trạng thái, tính chất trong nhiều ngôn ngữ.

Và có thể nói, hầu như tất cả các từ ngữ chỉ hoạt động liên quan đến nấu nướng, bếp núc trong tiếng Việt đều có thể dùng với nghĩa ẩn dụ: lập luận sống sít, độ chín của nhà quản lý, xào sách, xào bài, xào khô, xào ướt (tình yêu), con gái nhà này khê rồi, hâm nóng tình yêu, tình cảm nguội lạnh, thêm mắm, thêm muối vào cho câu chuyện đỡ nhạt; vồ vập quá rồi cũng có ngày cháy khét; thiu rồi, em gái ơi; con gái con đứa bếp núc vụng thối vụng nát, nấu cháo điện thoại, phụ tùng xe máy bị luộc rồi.

Liên quan đến vấn đề đang bàn, trong tiếng Anh với miền ý niệm Cooking and food, thỉnh thoảng chúng ta cũng gặp một số ẩn dụ nguyên cấp có hình thức biểu đạt hơi khác với tiếng Việt, như từ công thức nấu ăn (recipe) liên tưởng đến bí quyết hạnh phúc, bí quyết thành công (recipe for happiness, recipe for success), từ một vật phẩm để chế biến món ăn (ingredient) trở thành thành phần trong đầu tư an toàn (the ingredient of safe investment), thành phần của bộ phim (The meeting had all the ingredients of high political drama). Hay, từ một mẩu, miếng thực phẩm (a slice) thành một khoảnh khắc trong  ngày (a slice of day), một thời đoạn trong đời (a slice of life), hoặc từ pha loãng (dilute) trong chế biến thực phẩm trở thành pha loãng niềm tin (dilute a belief), pha loãng giá trị (dilute a value), pha loãng chất lượng (dilute a quality), từ hương vị thực phẩm (flavour) liên tưởng đến hương vị của một lãnh thổ, một đất nước (flavour of Hong Kong, flavour of France), thậm chí hương vị của một thời đoạn (flavour of the month). Nghĩa là, tuy tiếng Việt và tiếng Anh cùng xuất phát từ miền ý niệm nguồn thực phẩm nhưng cách kiến tạo lên miền đích là khác nhau. Với những gì vừa phân tích, trong tiếng Anh có thể nghĩ đến các các ẩn dụ: Bí quyết là công thức nấu ăn, Yếu tố cốt lõi của một hệ thống là thành phần chính của món ăn, Hạ thấp giá trị là pha loãng, Hương vị của một đất nước là hương vị của các món ăn.

3.3. Cần lưu ý, liên quan đến ẩn dụ, Thân thể phụ nữ là thực phẩm ở (i), trong tiếng Anh có: Women are sweet food, đây là những ẩn dụ đặc thù thuộc về ngôn ngữ giới, trong một nghiên cứu về cách nam giới nói về nữ giới và ngược lại, thiên về chiều kích xã hội (the social dimension) [ Z. Kövecses, 2005] rất khác với trường ý niệm được thực phẩm hoá đang phân tích ở đây. Nói rõ hơn, trong tiếng Anh, phẩm chất ngọt ngào (Sweetly) nhìn chung thường được dùng để miêu tả phái nữ, đàn bà kiểu như She smiled at him sweetly, “Go to sleep”, she said sweetly, chứ ít dùng để chỉ cánh đàn ông [ A. Deignan, 1995]. Ở (ii) là những hoán dụ, phương tiện, vị trí, chức năng thay cho người, còn (iii) với chức năng thu hẹp trường nghĩa vật chất thông qua một số ẩn dụ bậc dưới: Phương tiện là thực phẩm, vì là thực phẩm nên hoàn toàn có thể đánh giá chất lượng ngon /dở. Các cách diễn đạt ở (iv), ngủ ngon, ngủ nướng, tuy chưa phải là lựa chọn ưu tiên trong tiếng Việt, so với ẩn dụ Giấc ngủ là vật chứa và vật chứa nước (ngủ sâu, chìm vào giấc ngủ, trôi vào giấc ngủ, trong giấc ngủ, đi vào giấc ngủ) nhưng cách thức  ý niệm hóa cũng nằm trong xu hướng vừa phân tích, các diễn ngữ còn lại trong mục này về hợp đồng, thương vụ, kiến thức nhìn chung là không khác gì trong tiếng Anh. Ở (v), là những phẩm chất dương tính có phạm vi sử dụng khá rộng.

3.4. Hiển nhiên trong một số trường hợp khi áp đặt một hiện tượng phi vật thể, phi chất liệu thành một vật thể thực thụ, với những chất liệu thực thụ, thậm chí có thể ăn được, có thể nêm nếm được, chẳng qua là người Việt muốn nhận thức về chúng với những mục đích khác nhau. Ở đây các vật thể được cụ thể hóa bằng chất liệu thực phẩm nhằm mục đích đánh giá: ngon, là tích cực, thuận lợi, hướng lên, nằm ở phần dương tính của thang độ, còn dở thì ngược lại.

Có điều, nếu như trong tiếng Anh các hoạt động, thuộc tính, hình dáng liên quan đến thực phẩm từ qui trình chế biến, thành phần, hình dáng chất liệu đến mùi vị đều có thể là miền nguồn trong phóng chiếu lên miền đích một cách đều đặn, thì trong tiếng Việt bên cạnh, một số đặc điểm giống với nhiều ngôn ngữ khác, thang độ ưu tiên thiên về việc lựa chọn phẩm chất ngon/dở, từ đấy, thông qua cái nhìn của chủ thể tri nhận để đánh giá nhiều phương diện của con người về vật thể, cũng như sự kiện.

4. Việc ý niệm hoá ngon/dở, xuất phát từ miền ý niệm thực phẩm bằng các ẩn dụ bản thể, một mặt cho thấy cách tư duy phổ biến của nhân loại, đó là thông qua miền nguồn cụ thể, hữu hình, vật chất, dễ quan sát, nhiều trải nghiệm để tri nhận các ý niệm trừu tượng, vô hình, phi vật chất, khó hình dung, ít trải nghiệm hơn, mặt khác còn thể hiện cách nhận thức rất riêng của người Việt, đó là các thuộc tính thuộc chủ đề quen thuộc, thể hiện sự quan tâm thường xuyên của cả cồng đồng diễn ngôn. Ngon/ dở là một trường hợp như thế. Chúng  liên quan đến cái ăn, một giai đoạn dài là nỗi lo canh cánh của hàng triệu người Việt Nam chúng ta.

17/11/2020
Trịnh Sâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Hình tượng người phụ nữ dân tộc thiểu số trong truyện ngắn của Bùi Thị Như Lan

Bùi Thị Như Lan là một nữ nhà văn quân đội hiếm hoi của làng văn dân tộc thiểu số Việt Nam. Thế giới nhân vật trong sáng tác của Bùi Thị Như Lan khá phong phú và toàn diện, bao gồm các thành phần xã hội, các lứa tuổi khác nhau (người lớn, trẻ em, phụ nữ, nam giới, trí thức, nông dân, người lính vùng dân tộc, miền núi…). Nhưng nổi bật và luôn chiếm một tỷ lệ cao trong các sáng tác của nhà văn là 2 loại nhận vật: nhân vật phụ nữ và nhân vật người lính. Tác giả đã dành nhiều tâm huyết, tình cảm của mình để xây dựng hình tượng nhân vật này (trong 8 tập truyện ngắn của chị với 66 truyện thì có đến 60 truyện viết về người phụ nữ và hơn 30 truyện viết về người lính). Và cũng chính những truyện này đã đem lại những thành công đáng ghi nhận trong sự nghiệp sáng tác của chị.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn tập trung nói đến hình tượng nhân vật phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) trong truyện ngắn của Bùi Thị Như Lan. Có thể nhận thấy các nhân vật phụ nữ xuất hiện một cách đậm đặc trong các tác phẩm của nữ nhà văn Tày này với những số phận, những hoàn cảnh khác nhau. Nhưng có một điểm chung: họ đều là những người phụ nữ miền núi đẹp người, đẹp nết – một vẻ đẹp tự nhiên, hồn nhiên, một vẻ đẹp khỏe mạnh, phồn thực đầy khả năng làm vợ, làm mẹ, làm chủ một gia đình miền núi. Nhưng hầu hết, họ lại đều là những người có số phận vất vả, kém may mắn. Song điều đáng quí ở những người phụ nữ đáng trân trọng này là: dù luôn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức của cuộc sống lạc hậu, đói nghèo, đầy bất trắc… nhưng họ chưa bao giờ mất đi niềm tin vào cuộc sống, họ vẫn luôn cố vượt qua, vươn lên với mong muốn, khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn.

Một đặc điểm nổi bật về nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp (cả ngoại hình lẫn nội tâm) những người phụ nữ miền núi của tác giả Bùi Thị Như Lan là: Chị thường lấy vẻ đẹp tươi tắn, rực rỡ, trong trẻo, mát lành… của thiên nhiên núi rừng để so sánh, ví von với vẻ đẹp của họ. Vì vậy, hình ảnh những người phụ nữ trong tác phẩm của chị thường được hiện lên với vẻ đẹp rất tự nhiên, gần gũi, bình dị, thậm chí còn mang vẻ hoang dã – nhưng cũng rất rực rỡ, tươi tắn, ngọt ngào và đầy sức hấp dẫn. Ví dụ như: vẻ đẹp của cô Xay (truyện Bạn Toồng): “Xay đẹp, cái đẹp tỏa ra từ dáng người giống như con ong, đến làn da trắng như mầu bột nếp”; vẻ đẹp của Seo Mây (Hoa mía): “Seo Mây đẹp như con chim công, đẹp cả bộ lông lẫn tiếng hót. Cái miệng của Seo Mây hút hồn ông từ mùa mía này đến mùa mía khác”; vẻ đẹp của cô Dín (Ngày mé trở về): “nước da Dín mịn màng, trắng như hoa mơ, hoa mận đến độ nở rộ… khi cười Dín khoe hàm răng trắng đều như bắp nếp để lại trên má hai đồng xu duyên dáng, mặn mà”; hay vẻ đẹp của Mé Ngần (Trăng mọc trong thung lũng): “Đôi mắt mé to đen, trong vắt như nước hồ Nặm Poọc. Mái tóc đen mượt, óng ả, ôm lấy tấm lưng ong mềm mại. Khi gội đầu, tóc xõa ra, dài như dòng suối Lùng cuối bản”…

Đặc biệt, Bùi Thị Như Lan thường nhấn mạnh đến “vẻ đẹp bên trong” của người phụ nữ miền núi – một vẻ đẹp “bền vững” trước thời gian, ẩn chứa trong tâm hồn, trái tim và đôi tay của người phụ nữ. Họ là những người mẹ, người vợ, người thiếu nữ vùng sơn cước giầu lòng yêu thương, giầu đức hy sinh, chăm chỉ, nhẫn nhịn, lo toan mọi công việc gia đình từ trong bếp lửa đến ngoài nương rẫy. Họ luôn tay, luôn chân lên rừng, xuống suối bắt cá, tìm lá nhuộm sợi, dệt vải, thêu hoa… làm chăn, làm gối, làm áo… cho cả gia đình. Họ là chủ các bếp trong những ngôi nhà sàn, là chủ nương rẫy (gieo hạt, tỉa lúa, vun cây, gặt hái, gùi ngô, gùi lúa cùng sắn, khoai, rau, bí… về nhà). Bàn tay khéo léo, tài hoa của họ đã tạo nên những “bức tranh” nghệ thuật đầy bản sắc văn hóa tộc người: “Mẹ lên rừng tìm lá cây, nhuộm sợi nhiều mầu đựng đầy các quẩy tấu. Mẹ dệt con hươu, con nai, con chim noộc só uống nước suối Nậm Só; Mẹ dệt con gấu ngồi trên cây tìm mật ong, mẹ dệt hình ông mặt trời, chị mặt trăng đậu trên ngọn núi Phia Sao và cả hình người cưỡi ngựa đi săn ở trong rừng” (Núi đợi). Họ như “con ong cần mẫn”, ngày đêm chăm chỉ để có những “nương ngô xanh mướt mát, mập mạp rủ nhau trổ cờ, tung phấn trồi bắp mẹ, bắp con. Lúa nặng trĩu bông, trĩu hạt từ gốc lên ngọn đến độ vàng óng chụm đầu vào nhau, lắc lư theo điệu nhảy của ngọn gió rừng, dắt tay nhau về búi chặt xà ngang xà dọc” (Ngày mé trở về).

Những người phụ nữ ấy không chỉ đảm đang, khéo tay, chăm chỉ – mà ở nơi họ còn ngời lên những phẩm chất cao quí – đó là lòng thủy chung, là tình yêu say đắm, nồng nàn đầy sự hy sinh; là sự dũng cảm vượt qua mọi rào cản của mọi tục lệ cổ hủ, mọi thử thách… để đến với tình yêu, để được yêu, gìn giữ và bảo vệ tình yêu. Hầu hết các nhân vật phụ nữ trong tác phẩm của Bùi Thị Như Lan đều là những người có chồng, có người yêu hoặc có con, có em là bộ đội (đây cũng là một đặc điểm riêng trong sáng tác của nữ nhà văn quân đội này). Vì vậy, trong đời sống tình cảm, đời sống gia đình – họ luôn phải đối mặt với những khó khăn, thiệt thòi, đầy thử thách và khổ đau nhưng cũng đầy niềm tự hào, đầy sự tự nguyện. Họ sẵn sàng hy sinh hết thẩy (cả tuổi trẻ, nhan sắc và đôi khi cả lòng tự trọng và danh dự của mình) đề gìn giữ, bảo vệ, để yêu thương, chăm sóc chồng, con trước “búa rìu” dư luận, trước sự phũ phàng của cuộc sống. Hình ảnh người mẹ trẻ trung xinh đẹp có một tình yêu nồng cháy với một người trai bản nhưng sớm gặp nỗi bất hạnh khi chưa kịp chính thức làm dâu họ Hoàng thì anh đi bộ đội và đã hy sinh ở chiến trường – khiến cho người đọc phải xa xót, thương cảm và có cả một phần nể phục. Người mẹ trẻ cứ lặng lẽ nuôi con trong sự từ chối nhận dâu, nhận cháu của gia tộc họ Hoàng; trong sự xì xầm, chê cười, hắt hủi của bản làng, người thân, nhưng người mẹ trẻ ấy không bi lụy, chị tin ở tình yêu nồng nàn, say đắm của mình và tin anh sẽ trở về với mẹ con chị. Hai mươi năm sau, con trai chị đã thi đậu vào trường Sĩ quan Chính trị, và rồi chính cậu con trai hiếu thảo đó đã đi tìm và mang hài cốt người cha về quê hương để người mẹ giầu đức hy sinh và một lòng chung thủy được gần gũi, được chăm sóc phần mộ của chồng sau bao năm đợi chờ xa cách (Hoa gắm). Hình ảnh chị Ngải (Mùa mắc mật) – người chị yêu thương em hết mực, đã thay cha (đi bộ đội hy sinh), mẹ (buồn đau, bệnh tật mất sớm) nuôi nấng, chăm sóc em ăn học nên người dù phải ăn đói, mặc rét, dù phải quên đi cả tuổi xuân, cả hạnh phúc của riêng mình. Chỉ đến khi người em trai đi vào học trường Thiếu sinh quân, chị mới có thể nghĩ đến người con trai trong bản đã thầm yêu chị, chờ đợi chị từ lâu…; cùng bao hình ảnh những người vợ bộ đội, những người mẹ bộ đội (trong các truyện: Cọn nước đôi, Cây thiêng trong lũng núi, Trăng mọc trong thung lũng, Gió thổi qua rừng, Mây trôi…) của Bùi Thị Như Lan luôn khiến người đọc rung động và rưng rưng niềm cảm xúc.

Có một điều đáng trân trọng ở những người phụ nữ miền núi này là: Cho dù có vất vả hy sinh, có số phận không may mắn, thậm chí còn gặp bao cảnh ngộ phũ phàng nhưng họ không bao giờ đầu hàng số phận, không bao giờ yếu đuối, nhu nhược, hoặc u uất tìm đến cái chết để trốn chạy khỏi hoàn cảnh khó khăn cùng những bi kịch của cuộc đời. Có lẽ đây cũng là một nét đặc trưng “chất lính” của cây bút nữ quân đội Bùi Thị Như Lan chăng?

Những người mẹ trẻ (trong Chiếc vòng bạc hình đôi chim Noộc Phầy, Hoa gắm và Trăng mọc trong thung lũng…) đã trao tặng tình yêu nồng nàn, say đắm của mình cho người yêu, cho người chồng tương lai trước khi anh lên đường nhập ngũ. Rồi khi các anh hy sinh, hoặc trở về với một cơ thể không lành lặn – sau suốt thời gian đằng đẵng đợi chờ, đằng đẵng nhớ thương, đằng đẵng nuôi con một mình, trong sự chê trách, phê phán, ghẻ lạnh của cả người trong gia đình và người trong làng bản, nhưng những người mẹ trẻ ấy vẫn kiên cường, vượt qua bao khó khăn, thiếu thốn, vượt qua nỗi cô đơn… – “Tôi nhận ra sự thiếu vắng đàn ông trong ngôi nhà của mình… máng dẫn nước từ đầu nguồn về cây đổ xiêu vẹo, tạm bợ. Cái chuồng ngựa xộc xệch tưởng chừng như một cơn gió chạy qua là đổ ụp xuống… Trong nhà đã khổ rồi, nhưng đối với người cùng họ hay người trong bản cái khổ mế tôi cõng trên lưng dường như nặng gấp trăm ngàn lần” – để nuôi nấng, dạy dỗ con nên người, trở thành những người lính nối tiếp bước chân của cha. Người mẹ cứ hàng năm đến mùa ngô nếp mẩy hạt đều chọn một bắp non ngon nhất, mẩy nhất, cho lên bếp nướng vàng, thơm phức, đặt lên bàn thờ (bởi vì đây là món ăn mà chồng của mẹ thích nhất), và “quì ở đó rất lâu, miệng lẩm bẩm trò chuyện”, rồi “mùa bắp này qua mùa bắp khác, đôi thạ đựng đầy bắp non khô hút hơi bồ hóng đen óng như tóc người con gái, cao dần lên”… Trời như thấu hiểu lòng người, chồng của mẹ vẫn còn sống sau chiến tranh khốc liệt, mẹ như “hồi sinh”: “Mế đứng dậy từ lúc nào, bỏ bắp ngô nướng trên bàn thờ xuống, với tay lấy cây đàn tính so dây” (Chiếc vòng bạc hình đôi chim Noộc Phầy). Hình ảnh Mế Ngần (Trăng mọc trong thung lũng) một tay nuôi cả 3 đứa con nhỏ (con của anh rể đã hy sinh, chị gái mất sớm – và con của mình) khi chúng còn đang ở tuổi bú mớm: “ngày ngày dì ôm tôi đi khắp bản xin sữa… Dì Ngần héo hắt đi để chị em tôi phổng phao, lớn lên trong vòng tay yêu thương của dì. (…) Dì đã đảm đương tất cả, gánh vác phần việc của người mẹ và đảm đương nỗi lo của người cha. Cuộc sống hàng ngày với bao vất vả, nhọc nhằn, lam lũ, nghèo khổ. Có bao thứ ngon miếng ngọt đều dành hết cho con, còn lại bao nhọc nhằn, gian khổ – dì đều gánh trọn vẹn trên đôi vai của mình”… là những hình ảnh đẹp – vẻ đẹp của sự hy sinh, vẻ đẹp của trái tim và tình yêu của những người phụ nữ miền núi trong những giai đoạn khó khăn, gian khổ nhất của đất nước. Tác giả Bùi Thị Như Lan không có ý cố gắng “tô hồng”, hoặc “bi kịch hóa” cuộc đời và số phận của những người phụ nữ là người yêu, là vợ, là mẹ của những người chiến sỹ. Họ là những con người bình thường nhưng cũng thật vĩ đại, họ đối mặt và âm thầm vượt qua bao khó khăn, thử thách, bao chông gai… của cuộc sống nơi miền núi cao còn nhiều thiếu thốn, đói nghèo và lạc hậu. Những đứa con của họ, dù có vắng thiếu cha, nhưng với sự yêu thương đùm bọc, sự dạy dỗ vừa nghiêm khắc vừa tràn đầy tình thương của họ – chúng đã lớn lên một cách mạnh mẽ như những cây nghiến, cây lim trên rừng núi quê hương. Và phần lớn chúng đã trở thành những người con trai, con gái có tri thức (giáo viên, kỹ sư, cán bộ lâm nghiệp, nông nghiệp…), trở thành những người lính trong thời đại mới (học trường Thiếu sinh quân, trường Sỹ quan Chính trị) để lại tiếp nối sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của thế hệ ông cha mình. Đọc những tác phẩm viết về số phận và cuộc đời của những người phụ nữ miền núi của Bùi Thị Như Lan – trong sâu thẳm trái tim mình, tôi mong muốn Đảng và Nhà nước cũng như đồng bào các dân tộc thiểu số sẽ dựng lên một tượng đài Bà mẹ miền núi như tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng ở một số vùng miền xuôi khác trên đất nước ta – bởi sự hy sinh thầm lặng mà vĩ đại của những người mẹ miền núi trong suốt chiều dài lịch sử các cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc.

Vốn là một người phụ nữ DTTS, lại là một người lính, là nhà văn, nhà báo quân đội khu vực miền núi – Bùi Thị Như Lan đã có một sự am hiểu sâu sắc về con người và môi trường sống ở vùng cao, bên cạnh đó là sự tâm huyết đối với đề tài viết về người phụ nữ nên nữ nhà văn dân tộc Tày đã rất thành công trong việc xây dựng hình tượng nhân vật phụ nữ trong quá trình sáng tác của mình. Nói một cách khác, qua ngòi bút của Bùi Thị Như Lan hình tượng người phụ nữ vùng cao (đặc biệt là những người mẹ, người vợ lính) đã được hiện lên với tất cả những vẻ đẹp (về cả hình thức lẫn tâm hồn) cùng những nỗi niềm, những thân phận, những hoàn cảnh… mà họ đã phải đối diện, vượt qua trong sự nỗ lực hết mình, hy sinh hết mình… để có thể làm chỗ dựa, làm tổ ấm, làm hậu phương vững chắc cho những người lính ở chiến trường. Cũng chính vì những giá trị về nghệ thuật và ý nghĩa về tư tưởng ấy ở hình tượng nhân vật này mà tác giả Bùi Thị Như Lan đã tạo nên một nét đặc sắc riêng, đã có một đóng góp riêng đáng trân trọng đối với văn xuôi Thái Nguyên nói riêng, với văn học các DTTS Việt Nam nói chung thời kỳ đầu thế kỷ XX.

18/11/2020
Trần Thị Việt Trung
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nông thôn, Nông dân qua thơ Nguyễn Hưng Hải

“Thơ của Nguyễn Hưng Hải là thơ của một ngòi bút chuyên nghiệp. Tính chuyên nghiệp thể hiện ở chỗ người viết khá chủ động trước tất cả mọi đề tài, mọi chất liệu của đời sống. Từ những đề tài lớn như Đất nước, lãnh tụ, nhân dân, lẽ sống…đến những đề tài nhỏ bé như cái cày, cái cuốc, cho đến những người thân như bố, mẹ, vợ, con vv…đều vào thơ anh một cách tự nhiên, như là thuận miệng nói ra, vậy mà lại khắc ngay vào trí nhớ, vào lòng bạn đọc…”

Những nhà thơ tài hoa thường đem đến cho bạn đọc những khoái cảm thẩm mĩ qua thơ  của họ; những vần thơ thân thuộc mà mới lạ, vừa có tính phát hiện lại vừa như sự kiểm chứng lật soi lại các chân giá trị, đánh thức và cảnh tỉnh sự “ngủ quên” của ký ức, đẩy lên cao trào những khát vọng buồn và đẹp nhằm vươn tới sự hoàn thiện của văn hóa và nhân cách. Đó cũng có thể coi là một sự “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Nguyễn Hưng Hải là một trong số  ít những nhà thơ như thế.

Giáp điểm cao nhất với cái đẹp là giáp điểm với cái Chân, cái Thiện. Vì thế thơ Hải luôn hướng tới những vấn đề thế sự. Thế sự qua tập thơ “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” là sự biểu đạt về nông thôn, nông dân. Chữ làng được nói đến trên 50 lần. Cánh đồng, cây lúa, cây ngô, con trâu, đường bừa, hớp nước vối, điếu thuốc lào, rau muống luộc, quả cà dưa… là những thi liệu sinh động, với nhiều trở trăn, day dứt góp phần làm nên sức hấp dẫn của tập thơ. Với đề tài thế sự, nhà thơ thoải mái lật mở những che đậy, chất vấn mọi hành vi, soi chiếu mọi giá trị. Đọc chậm và kỹ “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” càng thấm thía câu nói của thần đồng thơ nước Việt Trần Đăng Khoa, thơ hay là thơ giản dị, sâu sắc và ám ảnh.

Đúng như Nhà lý luận phê bình văn học Lê Thành Nghị nhận xét: “Thơ của Nguyễn Hưng Hải là thơ của một ngòi bút chuyên nghiệp. Tính chuyên nghiệp thể hiện ở chỗ người viết khá chủ động trước tất cả mọi đề tài, mọi chất liệu của đời sống. Từ những đề tài lớn như Đất nước, lãnh tụ, nhân dân, lẽ sống…đến những đề tài nhỏ bé như cái cày, cái cuốc, cho đến những người thân như bố, mẹ, vợ, con vv…đều vào thơ anh một cách tự nhiên, như là thuận miệng nói ra, vậy mà lại khắc ngay vào trí nhớ, vào lòng bạn đọc. Phải nói luyện rèn cho ngòi bút có một phẩm chất sẵn sàng phủ sóng thơ lên toàn bộ những biểu hiện của đời sống không nề hà như vậy là một bản lĩnh nghề nghiệp”. Cùng với sự thành công ở cả thơ và trường ca viết về Đảng, Bác Hồ, Người lính và chiến tranh cách mạng, ở mảng đề tài nông nghiệp, nông thôn, qua tập thơ “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” thêm một lần nữa khẳng định, Nguyễn Hưng Hải đã chọn đúng “một lối đi cốt chuộng sự thanh đạm, không cốt chuộng giàu sang, lối đi không phù hợp với những kiểu sống thực dụng, một lối đi mà ai dấn thân đều không khỏi cảm thấy vui đấy rồi buồn đấy, buồn nhiều hơn vui, hoặc vui thì thoáng qua còn buồn thì như khắc như chạm. Ngòi bút của anh khá trơn, khá nhanh, rất ăn mực, diễn đạt được hết những gì mình nghĩ,  bày tỏ được những tâm sự cho dù có lúc rất riêng tư. Ngòi bút ấy trượt trên giấy hệt như đường cày theo sau con trâu, vượt hết những vấp váp của đá sỏi, cốt để xới lật tất cả những bí mật của lớp đất nâu, làm phơi bày những gì anh cần nói, cần thông tin đến mọi người”. Thơ anh như đường cày mới đánh thức mùa vụ, đánh thức sự ngủ quên của cánh-đồng-ngôn-ngữ và cánh-đồng-người. Không phải đến “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” mới rõ một hướng đi, mà ngay từ khi mới xuất hiện Nguyễn Hưng Hải đã sở hữu một giọng thơ đôn hậu, đằm thắm, giàu chất dân gian, anh thường nghiêng bút chủ âm về ba mạch nguồn cảm xúc chính. Một là cảm xúc về cội nguồn, về quê hương, Đất nước và những người thương yêu ruột thịt. Hai là cảm xúc thế sự và lật soi các giá trị. Ba là viết về Đảng, Bác Hồ, viết về Người lính và chiến tranh cách mạng. Ở mảng đề tài nào Nguyễn Hưng Hải cũng gặt hái được thành công. Nhưng có lẽ mạch nguồn chủ đạo trong thơ anh vẫn là cảm xúc cội nguồn. Dấu ấn làng quê trong thơ Nguyễn Hưng Hải đậm đặc đến mức, có thể ví như trưng cất của rượu cẩm, của mật ong rừng vùng Thanh Sơn, Yên Lập. Từ lũy tre xanh, cánh đồng, con trâu, cây đa làng đến sông Bứa, sông Thao, từ những người nông dân lam lũ như cha, mẹ đến những trí thức làng, kể cả tổ chức chính trị-xã hội như “Chi bộ xóm tôi” đều có mặt trong thơ Nguyễn Hưng Hải. Có cảm giác như “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” của Nguyễn Hưng Hải là một tượng đài bằng thơ được khắc họa một cách tinh tế và sinh động, đầy nhân văn, nhân bản về làng quê Việt Nam xưa và nay. Tập thơ mang đậm dấu ấn thổ ngữ vùng trung du Phú Thọ, với hàng loạt bài thơ có địa danh, không gian nông thôn và văn hóa cội nguồn miền đất Tổ, khiến người đọc như được tắm mình trong đời sống nông thôn và văn hóa làng xã của vùng Kinh đô Văn Lang xưa. Nói như Trần Quang Quý, thơ Nguyễn Hưng Hải thấm đẫm hồn quê và cảm xúc về quê hương là mối quan tâm sâu sắc nhất, máu thịt nhất trong đời thơ khá đa diện những mối quan tâm của anh. Nguyễn Hưng Hải đã lập được “căn cước” cho thơ mình ngay từ tập thơ đầu tay, tập “Ban mai chóng mặt. “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” vẫn là sự tiếp nối ấy nhưng trầm lắng và sâu sắc hơn. Trước hết vẫn là một Nguyễn Hưng Hải của vùng đất mà anh thuộc về nó. Nó luôn như tiếng gọi thảng thốt, từ trong cõi nhớ thương chắt ra. Ở đó có “Chiếc mũ rơm bện cả cánh đồng”, có những trang sách cháy, “Chú dế mèn phiêu lưu trong bao diêm” với đầy kỷ niệm về tuổi thơ. Cùng với những người thương yêu ruột thịt hình ảnh trung tâm trong tập thơ “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” vẫn là hình ảnh về mẹ, người mẹ đại diện cho thân phận người phụ nữ nông thôn những năm tháng cực nhọc cơ hàn dai dẳng rất điển hình của nông thôn Bắc bộ “Ngày cùng tháng tận bao năm/Còn lo manh áo, cái ăn xuân về/Bao người như mẹ ở quê/Chiều ba mươi vẫn nón mê ra đồng”. Những câu thơ hay viết về mẹ của Nguyễn Hưng Hải luôn có xu hướng bật khỏi bài thơ, tách khỏi tứ toàn bài, riêng đứng làm thành một thành ngữ. Câu này là một ví dụ: “Cả đời cúi mặt chưa xong/ Mẹ đi lui đến lưng còng còn lui” Thêm một câu khác “Chiều ba mươi Tết ở quê/Mẹ còn chân vấp nón mê ra đồng”.

Không chỉ có những câu thơ hay mà Nguyễn Hưng Hải có rất nhiều bài thơ hay viết về mẹ, điển hình như các bài “Chân dung của Mẹ”, “Chiều ba mươi Tết”, “Mẹ ra phố”, “Có một Điện Biên không nói cho ai biết”… Có lẽ vì thế mà chỉ cần đọc những bài thơ viết về mẹ của anh cũng đủ để hình dung ra một nông thôn Bắc bộ  lam lũ đầy bất trắc nhưng cũng là nơi yên ổn để chúng ta đi về. Nghĩ về mẹ, Nguyễn Hưng Hải thường cật vấn và day dứt “Lam lũ cả đời/Cóp nhặt cả đời/Không mua nổi chiếc đài nghe thời tiết/Các con thiếu có bao giờ mẹ tiếc/ Các con thừa mẹ vẫn nón mê thôi”. Cũng như khi viết về mẹ, Nguyễn Hưng Hải có những câu thơ viết về cha thật cảm động, “Cha đã đi đường cày thứ bao nhiêu/Con trâu già lõm bõm/Kéo mua đông run rẩy lâm lem bùn” Và anh đã khắc họa khá thành công chân dung người nông dân qua hình ảnh người cha thân thương của mình “Đi ngủ nhiều khi vẫn xắn quần/Cánh tay hằn lõm trán/Cha tôi”. Người cha nông dân như con trâu già lõm bõm kéo mùa đông run rẩy lấm lem bùn ấy đã nuôi anh lớn lên, cho anh ăn học trưởng thành. Anh viết về cha mẹ như một sự trả ơn, cũng là sự trả ơn cho cả vùng đất đã sinh thành. Xưa nay, thơ viết về bố vợ không nhiều, đến lượt mình, Nguyễn Hưng Hải có bài thơ “Khóc bố vợ”, đọc lên cứ rưng rưng. Kết thúc bài thơ ấy là nỗi đau của cả kiếp người “Nghĩa địa đông vui mà cô đơn nỗi lòng/Cha nằm lại với những gì không biết/Nếu có thật cuộc đời sau cái chết/Cha hãy tìm gặp mẹ kiếp sau vui”. Mong sao cái kiếp sau ấy, đừng buồn như một kiếp làm nông dân nữa. Bởi người nông dân cả đời cúi mặt xuống bùn mà đâu đã có đủ bát cơm, manh áo, đêm đến họ vẫn phải đạp xe vào phố, bới nhặt trong từng thùng rác, để chỉ những mong “Nhặt được ngày lên”. Không đau sao được khi viết về những người nông dân như thế, Nguyễn Hưng Hải cho chúng ta một thông điệp ứa nước mắt “Đồ thải của người này lại nuôi sống người kia/Đêm của người này là ban mai của người khác/ Chị bới nhặt được gì trong ôi thiu của một ngày quay đi còn nhổ khạc…/Cái nón trắng đêm đêm loạng choạng dưới đèn đường”.

Có lẽ đó cũng là loạng choạng của cả một thời.

Đọc “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” tôi thấy như chính mình là người có lỗi với quê hương, với những người nông dân hai sương một nắng, có lỗi như người trí thức trở về quê để xả thân làng “Hình như là chất xám vẫn đâu đây/Trong hãnh diện cả làng mơ chất xám/Bao hứa hẹn trống như câu trống lảng/Gọi trí thức về mà hỏi cái vung tay”. Bão gió của trời đã sợ, bão gió của lòng người còn khủng khiếp hơn, khi mà “Buồn là hoa, đau là bình/Kẻ ngăn phía trước,  người rình phía sau”. Dặn con cũng như là nhắc chính mình  “Nhớ mang nón mũ che đầu/Đường xa lắm nỗi mồm trâu mõm bò”. Sống trong sự đố kỵ gen gét ấy rất cần nghị lực và cảnh giác “Núi cao trước mặt đừng ghê/Sông sâu biết lội’ gốc quê biết tìm/Đừng mang hết cả quả tim/Trao cho ai lúc nửa tin nửa ngờ”.  Nửa tin nửa ngờ nhưng vẫn cứ phải tin, vì ở đấy còn có “Chi bộ xóm”, có cha ngồi họp trong chua xót, bi hài “Chi bộ xóm toàn anh em chú bác/Dễ cho qua nguyên tắc dễ xuôi chiều/Cuộc họp nào cũng kiểm điểm, cũng nêu/Sao chưa hết đói nghèo con thất học/ Tuổi thơ tôi dưới bóng tre còi cọc/Nấp sau nhà nghe họp cứ buồn theo/ Xóm làng đông sao chi bộ lèo tèo/Tranh nhau nói mà không ai chịu hiểu/Chi bộ họp trong hơi men rượu/Nói đâu toàn chuyện ở trên giời/Trong mái nhà lợp cọ có cha tôi/Từng chạy chỗ vì mưa rơi ướt mặt/Chân lấm đất mà lơ mơ về đất/Cây con gì ai nói cũng chung chung/Nghị quyết được mùa mà đồng trắng nước trong/Chi bộ họp để cho xong việc họp. Bi hài hơn còn ở chỗ “Chức Bí thư cũng gần như cắt lượt/Chẳng ai mơ chức tước xóm dân cày/Qua rất nhiều biểu quyết, lắm giơ tay/Xóm vẫn nát, nhà Đảng viên vẫn giột”. Đọc những câu thơ này tôi như nghe được từ trong sâu thẳm quả tim, Nguyễn Hưng Hải đang gióng lên hồi chuông báo động đầy ý thức trách nhiệm công dân. Có lẽ những chuyện đời nghèo khó, những hệ lụy của lối sống, môi trường sống… đã tác động rất mạnh đến từng tế bào của xã hội ở nông thôn. Rất may là người nông dân Phú Thọ còn một làng Cười. Cười để quên đi nghèo đói, bất công. Cười để còn lạc quan, tin tưởng. Tự “giễu” mình trong tiếng cười cũng là một cách để “giễu nhại” thời cuộc, để tin vào chính mình, để vượt lên số phận, hay ít ra cũng là an phận để sống “Làng tôi ở giữa lũy tre xanh/Đã bịa chuyện để cười cho đỡ đói/Đã bịa chuyện để cười mong qua khỏi/Những cơn mưa gây rối chẳng ai mời/Cái đã qua còn lại trong đời/Thành huyền thoại một vùng quê khuyếch khoác…/Cười cho tạnh nỗi lo toan sũng nước/Cười cho hết những cơn mưa trọc đất/Cười cho mềm sỏi đá để trồng hoa/Cười cho đầy trống vắng những ngày qua”. Khuyếch  khoác cả làng mà không ai lừa nhau. Và tiếng cười vẫn mãi như là lửa ấm.

Có lẽ cũng chính nhờ tiếng cười ấy mà người nông dân quên đi nỗi đau và những giọt nước mắt, trụ lại được trong giông bão của thời tiết và giông bão của lòng người, kết tụ lại thành niềm tin, lối sống, thành khát vọng nên dù có xô lệch thì làng quê Việt Nam vẫn cấu kết thành một khối sau những lũy tre làng. Dù khát vọng như con cá hóa Rồng, nhưng vì dòng dõi tổ tiên là kiếp cá, nên rất nhiều người ra phố ở đã 3 – 4 chục năm, thậm trí đã nhiều đời ở phố nhưng vẫn cứ như con cá luẩn quẩn ở cái ao nhiều lá tre lá mít, nhiều lông gà, lông vịt, lông ngan. Đó cũng là điều Nguyễn Hưng Hải cật vấn và day dứt “Thế mới biết nghìn năm gốc gác tổ tiên/Không dễ cho ta thành kẻ khác/Dù vẫn biết “Giấc mơ hình chiếc thớt”/Luôn trở về ám ảnh một đời ao”.

Nông dân, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam rồi phải khác. Nhưng dù có khác thế nào thì cũng vẫn phải giữ lấy những nét đẹp của văn hóa truyền thống, bởi văn hóa mới là cái gốc của sự tồn tại và phát triển. Cảnh tỉnh trước mọi sự lai căng, mất gốc trong bài thơ “Mẹ ra phố” Nguyễn Hưng Hải soi chiếu “Nhớ từ con lợn con gà/Bà về cháu níu chân bà nhìn theo/Con như rễ bám chân bèo/Giàu sang ở phố mà nghèo ở quê”. Càng giật mình hơn khi đọc bài thơ “Viết cho con gái” chứa chan tình cảm “Trăm năm họ bố đâu rồi/Thương con phận gái về chơi nhà mình.” Lấy chồng thì phải theo chồng, nhưng sao mà thăm thẳm nỗi người “Ở chùa thì được thơm hương/Ở ao nhỡ đục bố thường lo xa/Từ ngày mẹ đẻ con ra/Vui là của bố buồn là của ai/Thương con nhiều lúc thở dài/Nhỏ nhờ cha mẹ lớn ngoài tầm tay”. Chính vì “ngoài tầm tay” mà rơi vào trạng thái “lưỡng cư” tinh thần “Tháng ngày trong nỗi mông lung/Muốn con mau lớn lại mong từ từ”.Trạng thái này tạo nên những dùng dằng, muốn thế này lại thế kia, nghĩ thế này lại thế khác, không chỉ làm cho một người cha đa cảm và giàu lòng nhân ái như Nguyễn Hưng Hải lo lắng mà hầu hết những người sinh ra ở nông thôn và có gốc gác nông dân đều rơi vào bị động, lúng túng. Đó cũng là một phần giải mã cho sự dùng dằng, làm lỡ rất nhiều cơ hội đổi đời của người nông dân Việt Nam.

Như ta biết sức mạnh của nông nghiệp là sức mạnh nền tảng nhưng nông nghiệp không thể mãi là chủ lực của nền kinh tế hội nhập. Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tất yếu. Thành thị và nông thôn không còn khoảng cách quá xa như xưa. Chỉ tiếc là cuộc sống vật chất được nâng lên nhưng đạo đức thì lại đang  xuống cấp. Nhiều nét đẹp của văn hóa làng xã đã và đang bị mai một dần đi. Chẳng biết có níu giữ được không khi mà “Mái bằng thay mái cọ/Trên nền đất ông bà hướng cửa cũng đã thay”. Mọi thứ có thể thay tất nhưng làm sao thay được cái bếp lửa “Không hiểu sao cha mẹ ngày ngày/Vẫn cứ dậy từ lúc 4 giờ lo nhóm bếp”. Đó cũng là lý do để tồn tại mỗi gia đình, cũng như là làng xóm, quốc gia, dân tộc. Từ mặt trái của cơ chế thị trường, tất cả tệ nạn có ở thành thị thì cũng có ở nông thôn. Tham nhũng. Nạn bán đất của dân để lấy tiền chia nhau của cán bộ xã khá phổ biến. Nông dân bị thu hồi đất kiếm được ít tiền nhưng vô nghề nghiệp, ăn hết lại tay trắng. Số phận của họ thành những bi kịch. Môi trường xã hội và tự nhiên đang bị ô nhiễm. Nông thôn đang cần được bảo vệ nét đẹp của văn hóa truyền thống. Tập thơ “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” của Nguyễn Hưng Hải vì thế càng trở nên có ý nghĩa trong cuộc đấu tranh chống thoái hóa, phản nhân tính góp phần xây dựng văn hóa và nhân cách con người.

Lắng nghe thật sâu tâm thế mình, Nguyễn Hưng Hải đã nghe được tâm thế thời đại và những day trở thế phận của người nông dân và anh đã biết xâu chuỗi những ý tưởng thành tư tưởng, khái quát hóa thành công hình tượng người nông dân Việt Nam cũng như số phận của cả dân tộc với nhiều can dự và tìm tòi phát hiện làm cho tập thơ “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” trở nên hấp dẫn từ bài đầu đến bài cuối. Ở các khía cạnh bất ngờ nhất, qua tập thơ này đã đưa anh lên tốp đầu của bình diện thơ thế sự.

19/11/2020
Hồng Trung
Theo https://vanhocsaigon.com/

  Từ hạt ngọc tâm hồn đến tâm tình tuổi thơ Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng trẻ em không còn yêu thích văn học, văn học thiếu nhi Việt N...