Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Những bài thơ mang đậm sắc màu tình tự của Chế Lan Viên

Những bài thơ mang đậm
sắc màu tình tự của Chế Lan Viên

Chế Lan Viên có nhiều bài thơ được đưa vào giảng dạy các bậc học như Người đi tìm hình của nước, Tiếng hát con tàu, Gửi Kiều cho em những năm đánh Mỹ… Nhưng ông cũng có nhiều bài thơ giàu chất tình tự khác. Như bài Hoa đào nở sớm, Xuân, Thu, Rét đầu mùa nhớ người đi phía biển…
Sau đây là những cảm nhận về một vài bài thơ tình tự của Chế Lan Viên.
Bài thơ: Hoa đào nở sớm
Hoa đào trước ngỏ em qua
Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa
Đầy vườn lộc biết cây tơ
Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu
Bỗng dưng một đóa hoa đầu.
Nghe như đất lạ năm nào gặp em
Phải rằng xe xích thời gian
Vầng dương bên ấy mọc sang bên này?
Nắng hoe, bướm trở mình bay
Cành non nở vội kịp ngày chào hoa.
Lòng anh tự độ em qua
Hoa bay bướm dạo cùng ta vào đời.
Hãy đọc những lời thơ tình tự với mùa đông năm ngoái, với mùa Xuân năm nay, với cành đào tươi thắm… trong bài thơ Hoa đào nở sớm:
Hoa đào trước ngỏ em qua
Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa
Quả là không ngờ được. Như câu thơ cổ: Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Thật bất chợt, thật bất ngờ. Mỗi ngày em đều đi qua ngỏ. Mới hôm qua đây thôi, em vẫn thấy cây đào trơ cành trụi lá. Vậy mà, phút chốc chỉ một đêm trôi thật khẽ:  “Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa”. Nét thi vị làm lay động lòng người chính là cái sự “bỗng ướm cành hoa vào mùa”. Chỉ là “ướm “thôi. Nhẹ nhàng. Rất duyên. Rất mới. Và chính cái “sự “bỗng” đáng yêu đó, mà:
Đầy vườn lộc biết cây tơ
Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu
Năm đi chưa hết, đào đã ướm hoa, khiến cho lòng thi sĩ cảm nhận cái đẹp hồn nhiên của đất trời, và ngỡ ngàng là bởi: “đã ngờ xuân đâu”.Xuân chưa đến mà vườn đã đầy lộc.Làm sao không mở căng lồng ngực mà đón gió thơ:
Bỗng dưng một đóa hoa đầu.
Nghe như đất lạ năm nào gặp em
Đóa hoa đào đầu tiên nở trên cành lộc biếc. Màu hồng đào tươi tắn hay màu hồng nhạt xinh xinh. Không hề nghe tác giả giới thiệu. Nhưng là màu hồng đậm hay nhạt, không gian như bừng sáng. Cành đào như một cô gái đang điệu đàng làm duyên. Lại dùng từ “ bỗng dưng”. Ừ thì bỗng dưng sao đào nở sớm?.Và Ừ thì bỗng dưng sao nhớ da nhớ diết về kỷ niệm một thời dấu yêu?
Kỷ niệm đã trổi dậy khi nhân vật trữ tình nhìn thấy đóa hoa đào đầu mùa ướm trên cành lộc biếc. Nên mới “nghe như”. Cách chuyển đổi cảm giác từ “thấy” thành “nghe” của nhà thơ quả thật là điêu luyện.. “Nghe như đất lạ năm nào gặp em”. Thì ra, từ cái chuyện bắt gặp đóa hoa đào nở sớm là cái cớ để nhớ về câu chuyện: “gặp em đất lạ năm nào”. Cũng là một sự “bất ngờ” thú vị. Để cho thi sĩ bật ra câu hỏi về cổ xe thời gian phiêu du chốn chốn. Rằng có phải:
Phải rằng xe xích thời gian
Vầng dương bên ấy mọc sang bên này
Mặt trời mọc phương Đông và lặn ở Phương Tây. Chuyện đã là thế từ hằng hà sa số các năm…Làm sao có chuyện: Vầng dương bên ấy mọc sang bên này? Thế là vầng dương đã có sự hoán ngôi đổi chỗ như thế. Vầng dương bên ấy là bên nào? Bên này là bên nào? Có ai biết không? Phải chăng, là bởi cái lòng yêu say yêu đắm, yêu quên cả không gian và thời gian nên mới có sự xê dịch như thế không? Nắng hanh hoe vàng óng, bướm theo hấp lực của hoa mà trở mình dậy, trở mình bay. Cành non xanh biếc cố nở vội để kịp chào bình minh lên, kịp chào đóa hao hồng đào tươi lắm:
Nắng hoe, bướm trở mình bay
Cành non nở vội kịp ngày chào hoa.
Và tình yêu của anh, tấm lòng của “anh từ độ em qua” như chấp thêm đôi cánh thiên thần, như hoa bay, bướm lượn tung tăng vào đời. Sức mạnh của tình yêu quả nhiên vô lượng:
Lòng anh tự độ em qua
Hoa bay bướm dạo cùng ta vào đời
Lời thơ như lời kể chuyện. Cộng hưởng trong kỷ niệm nhớ tình yêu ấy là không gian thi vị, là cái bỗng dưng- cái bất ngờ khi bắt gặp hình ảnh hoa đào nở sớm. Yêu là yêu say yêu đắm. Hình ảnh “hoa đào nở sớm” là cái cớ để anh nhớ về em, về một mối tình thơ. Bài thơ thật nhẹ nhàng, những hình ảnh sinh động và những lời thơ như lời hát, nhịp thơ như nhạc điệu ngân nga…Tất cả toát ra từ tâm hồn yêu đời, yêu người, yêu thơ ca của một nhà thơ tài hoa vào bậc nhất của trường phái thơ Loạn ngày ấy ở đất Quy Nhơn.
Bài thơ: Rét đầu mùa nhớ người đi phía biển
Cái rét đầu mùa se se lạnh. Chỉ se se lạnh thôi cũng đã làm nên một câu chuyện tình yêu bằng thơ. Bài thơ vỏn vẹn chỉ có 4 câu, mỗi câu 8 chữ, nhưng 32 chữ ấy đã viết nên một câu chuyện tình yêu vừa có sắc thái miên man lạnh, vừa có sắc thái ấm áp lạ lùng:
Cái rét đầu mùa anh rét xa em 
Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa 
Nửa đắp cho em ở vùng sóng bể
Nửa đắp cho mình ở phía không em.
Khí hậu đầu mùa, thu đã trở mình chuyển sang đông, chuyển cái nóng ấm sang giá lạnh. Chỉ đầu mùa đông, nhưng chính sự chuyển động của thời tiết làm gợi nhớ rằng “anh đang rét xa em”. Sự ngăn cách đã làm cho tim anh cũng rét, thân anh cũng rét. Sự diễn tả tinh tế tình cảm cách xa nằm chính trong ngôn ngữ thơ giàu chất lãng mạng.
“Anh rét xa em”, mấy ai là nhà thơ có cách diễn tả tâm trạng như thế? Và trong cái nhớ nhung rét mướt vì xa cách ấy, tấm chăn bỗng trở thành vật chứng cho sự nhớ nhung, là cầu nối cho anh và em đắp cùng một chiếc. Và chỉ một chiếc chăn chung mà thôi, dù anh và em đang “ở hai đầu nỗi nhớ” cách xa. Thật là khéo khi bày tỏ tình cảm nhớ thương da diết thế.
Ca dao xưa có bài Tát nước đầu đình. Chàng trai trong bài ca ấy đã tỏ tình với cô  gái một cách khôn ngoan: Áo anh sứt chỉ đường tà/ Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu/ Áo anh sứt chỉ đã lâu/ Mai mươn cô ấy về khâu cho cùng/ Khâu rồi anh sẽ trả công/ Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho…Giúp cho đôi chiếu em nằm, đôi chăn em đắp đôi trầm em đeo”. Là sự trả công là người sẽ chung chăn chung gối, và đến cả đôi: đôi chiếu, đôi chăn. Nhưng chàng trai trong “ Rét đầu mùa nhớ người đi biển”lại còn khôn khéo  hơn, tình cảm hơn khi chỉ cần đôi ta chung chăn một chiếc trong đêm dài lạnh lẽo, trong đêm dài cách ngăn…nhưng sẽ chia chăn làm “hai nửa”. Và hình như cái sự “chia làm hai nửa ” ấy đã làm cho anh và em cảm thấy ấm áp hơn, tình cảm hơn, yêu thương, chia sẻ ngọt bùi với nhau hơn:
Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa
Và hai nửa ấy, một nửa là anh đắp cho em ở vùng sông bể “mưa nguồn, gió biển” bất trắc trùng trùng, còn nửa kia, anh đắp cho mình, đang rất lạnh lùng đơn chiếc “ở phía không em”:
Nửa đắp cho em ở vùng sóng bể
Nửa đắp cho mình ở phía không em
Cách bày tỏ tình yêu sao thật sâu sắc và ấm nồng, dù trời đang rét đầu mùa se se lạnh và sẽ…dần chuyển sang giá buốt…”Nửa đắp cho mình”, nghe đã xót lòng, nhưng tự  đắp cho mình “ở phía không em” lại càng xót lòng hơn.
Bài thơ thật ngắn, thể thơ 8 chữ có nhịp điệu như lời tâm sự. Và lời tâm sự ấy, bằng những ngôn từ giản dị, nhưng có sức nặng lan tỏa, đã truyền đến trái tim người đọc một thông điệp: yêu nhau chia ngọt sẻ bùi” thật đáng trân trọng. Như nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công sơn đã từng hát rằng: Hãy yêu nhau đi, cho rừng xanh lá… Hãy yêu thương… hãy yêu thương bằng tất cả tấm lòng… như chàng trai trong “Rét đầu mùa nhớ người đi biển”.
Thơ là tiếng nói của cuộc sống dội vào nội tâm của thi nhân. Mỗi nhà thơ có một phong cách thể hiện khác nhau tùy thuộc vào đời sống của họ và của thời đại. Điệu hồn của cá nhân nhà thơ thể hiện qua giọng điệu thơ của họ. Và tất nhiên,  có sự tác động của nhịp điệu đời sống. Là nhà thơ mang tâm hồn cực kỳ nhạy cảm, Chế Lan Viên thích ứng rất nhanh nhạy với các tiến bộ trong nghệ thuật
Với nhà thơ Chế Lan Viên, cuộc đời thơ của ông phản ánh chận thật cái tôi của đời sống cá nhân: sáng tạo, đa sắc thái, đa giọng điệu, luôn tìm tòi nét mới cho thơ. Chế Lan Viên đã sống trọn cuộc đời cho thơ ca với nét tài hoa vào bậc nhất. Là nhất trụ trong tứ trụ của “ Bàn thành tứ hữu” vang vọng trên văn đàn Việt Nam, có những đóng góp cho Văn học Việt Nam. Và “là bậc thi hào mà những sáng tạo nghệ thuật chưa có hồi kết.
Tài liệu tham khảo:
1/ Nguyễn Đăng Điệp (2002)– Giọng điệu trong thơ trữ tình – Văn học.
2/ Đoàn Trọng Huy (2014), Chế Lan Viên- độc đáo một tiếng thơ giàu sắc điệu, Văn học và ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH& NV tp HCM.
3/ Nguồn: wikipedia.org/.
31/1/2020
Nguyễn Thị Liên Tâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Có một Nhượng Tống "Thiên tài dịch thuật"

Có một Nhượng Tống
"Thiên tài dịch thuật"

Nhượng Tống sinh năm 1906 (Bính Ngọ), quê ở Đô Hoàng, Nam Định, là một người có số phận hết sức đặc biệt.
Được ông nội dạy chữ Hán trong gần 10 năm, ông làm báo từ rất sớm, quãng năm 16 tuổi. Là thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng, ông bị thực dân Pháp bắt năm 1929 đày đi Côn Đảo, từ Côn Đảo về đất liền năm 1933. Làm thuốc chữa bệnh ở quê nhà từ năm 1934 đến 1944. Trong thời gian ở quê nhà, ông dồn tâm sức vào sáng tác, dịch thuật, để lại những trước tác cực kỳ có giá trị trong nền văn học Việt Nam.
Nhà phê bình văn học cuối Minh đầu Thanh Kim Thánh Thán xếp Tây Sương ký vào hàng thứ 6 trong Lục tài tử thư, còn bản dịch Tây Sương ký của Nhượng Tống, mà Nhượng Tống đã Việt hóa thành Mái Tây, nếu xếp theo thứ tự xuất bản, là bản “tài tử thư” đầu tiên! Khi dịch Tây Sương ký, Nhượng Tống đã đổi tựa đề vở kịch hát này thành Mái Tây, lấy trong một câu Kiều của Nguyễn Du, cảnh Thúy Kiều lần đầu đánh đàn cho Kim Trọng nghe:
Mái Tây để lạnh hương nguyền
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.
Có một sự khác biệt: từ một câu chuyện tầm thường Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du đã viết nên một thiên Truyện Kiều tuyệt tác; còn Nhượng Tống thì chuyển ngữ từ một tuyệt tác văn học cổ Trung Hoa thành một tuyệt tác tiếng Việt.
Nếu các dịch phẩm sử hay triết của Nhượng Tống bộc lộ sự uyên bác, thâm trầm sâu kín thì trong Mái Tây lại là một Nhượng Tống khác lạ, tuyệt đối duy mỹ. Câu chuyện chàng – nàng lén lút yêu nhau với sự giúp sức của con hầu nhằm phản đối sự áp đặt của bà mẹ tai nghiệt là một mô-típ hết sức quen thuộc trong văn hóa cổ kim Đông Tây, dù dưới những dạng thức khác nhau. Mẹ càng cấm đoán con càng đắm say! Chàng Trương Quân Thụy mới thoáng nhìn thấy nàng Thôi Oanh Oanh đã say như điếu đổ, hồn vía rụng rời. Hỏi han dò la con hầu, bị nó mắng cho một trận, chàng mới quay ra trách nàng một cách vô lối của kẻ đang tương tư:
Ví bằng mình (nàng) sợ mẹ giữ gìn
Thì quay đi còn ngảnh lại mà nhìn chi nhau?
Muốn dứt phăng, dễ dứt được đâu
Mầm tình đã trót ăn sâu trong người! 
Bốn câu thơ dịch tài tình, không những cực kỳ phù hợp với tâm trạng nhân vật mà còn ẩn giấu một nụ cười mỉm của dịch giả! Tập hợp những câu thơ dịch đẫm màu cổ thi của Nhượng Tống trong Mái Tây có thể có được một tập thơ cổ lưu truyền hậu thế.
Ly Tao – món quà bi thiết
Tài dịch thơ cổ Trung Hoa xuất chúng của Nhượng Tống hiển hiện rõ trong Ly Tao của nhà thơ vĩ đại Khuất Nguyên. Đây là bản “tài tử thư” thứ hai cùng theo thứ tự sắp xếp của Kim Thánh Thán và thứ tự xuất bản của Nhượng Tống.
Sự đồng điệu giữa tâm hồn Khuất Nguyên với Nhượng Tống đã làm rung lên sợi dây tình cảm man mác buồn thương, khiến Nhượng Tống cảm thấy đó như là chỗ bấu víu mỗi khi đọc, để – như lời Nhượng Tống – cho tâm hồn đỡ khô héo! Từ chỗ cảm đến chỗ ngồi xuống dịch cho những dòng tình cảm tuôn ra từ đầu ngọn bút, Nhượng Tống đã để lại một mẫu mực về sự đồng cảm giữa người dịch và tác giả, dẫu cách nhau cả nghìn năm!
Thơ Đỗ Phủ – nơi gửi gắm nỗi niềm
Dịch thơ Đỗ Phủ, Nhượng Tống gửi gắm vào đó nhiều nỗi niềm. Những nỗi niềm đó được ông thể hiện đầy đủ trong bài tựa đầu sách, một bài tựa đặc biệt vì hoàn toàn là thơ của Nhượng Tống, bộc lộ những suy tư của Nhượng Tống về thời cuộc, về những điều bất như ý đã xảy ra trong đời ông, đi làm cách mạng, bị tù đày nơi đảo xa rồi về an trí nơi quê nhà, sự bế tắc trong việc tìm ra một chủ thuyết cho cuộc đời vốn hăng say của ông trong những năm tháng tuổi 20 cùng các đồng chí của mình.
Trải qua nhiều thăng trầm, Nhượng Tống, một lần nữa lại tìm thấy sự đồng điệu với cuộc đời của con người đã sống trước ông cả nghìn năm: Đỗ Phủ.
Thơ Đỗ Phủ, bản dịch Nhượng Tống lần thứ nhất do Tân Việt in tại nhà in Đông Dương Hà Nội, xong ngày 2-7-1944. Sách dày 382 trang trên chất liệu giấy dó. Đây là “tài tử thư” thứ năm theo xếp hạng của Kim Thánh Thán và là “tài tử thư” thứ ba mà Nhượng Tống dịch và xuất bản, sau Mái Tây và Ly Tao.
Với thế giới thơ mênh mông của Đỗ, Nhượng Tống mặc sức tung hoành ở các thể thơ khác nhau, phản ánh sự đa diện trong thiên tài thơ Đỗ Phủ.
Thể thất ngôn bát cú trong bài Bạch Đế:
Cửa thành Bạch Đế lớp mây đùn
Chân thành Bạch Đế trận mưa tuôn
Cây xanh, dây xám, trăng, trời tối!
Thác dốc, đèo cao, sấm sét dồn…
Thể lục bát trong bài Chiêm bao thấy Lý Bạch:
Chết xa nhau, nín đã đành!
Sống xa nhau để đinh ninh bên lòng
Giang Nam hơi độc mịt mùng!
Khách đi đày biết vân mòng ra sao!
Trong số những dịch phẩm của Nhượng Tống, Thơ Đỗ Phủ là tập thơ đa thanh đa diện nhất. Cách nhau cả nghìn năm nhưng ở Đỗ Phủ, người có cuộc đời chung một nguyên tố là đau khổ giống mình, Nhượng Tống đã đồng cảm đến tận cùng để rồi thỏa sức vẫy vùng ngòi bút, sáng tạo nên một trong những dịch phẩm thơ Đường đồ sộ nhất trong văn học Việt Nam.
Sử ký Tư Mã Thiên – bí ẩn quanh một dịch phẩm lớn
Nhượng Tống là người đầu tiên ở Việt Nam dịch Sử ký Tư Mã Thiên, bộ sử văn học đồ sộ không chỉ của lịch sử và văn chương Trung Hoa mà còn của văn hóa nhân loại. Cũng lần đầu tiên trong lời mở đầu của bản dịch này, Nhượng Tống dẫn lại những phân loại của Kim Thánh Thán.
Thi nhân Việt Nam hiện đại của tác giả Phạm Thanh nhận định rằng “Chỉ riêng một dịch phẩm Sử ký Tư Mã Thiên, văn học Việt Nam thêm một dịch phẩm vô cùng giá trị rồi”.
Sử ký vốn là một tác phẩm kỳ vĩ với 130 thiên, tổng cộng 52 vạn chữ. Ở thời điểm những năm 1930-1940, việc dịch toàn bộ tác phẩm đồ sộ này không phải là chuyện dễ dàng. Bản thân Nhượng Tống, ở bìa 4 cuốn sách cũng đề tên tác phẩm là Sử ký trích diễm, có nghĩa là trích dịch tác phẩm Sử ký.
Ngay cả khi đã biết rằng đây là trích dịch từ Sử ký thì khi đọc Sử ký do Nhượng Tống dịch, có thể dễ dàng nhận thấy các phần khá rời rạc, có nhiều truyện khá hoàn chỉnh nhưng cũng có nhiều phân đoạn rất ngắn, chỉ 9-10 dòng. Cuối mỗi phân đoạn thường có thêm lời bình của Lâm Tây Trọng, thi thoảng lại có thêm lời phụ bàn của kẻ dịch (tức Nhượng Tống).
Vậy Lâm Tây Trọng là ai?
Lâm Tây Trọng sinh năm 1628, mất năm 1697, sống đúng vào thời gian chuyển giao cuối Minh đầu Thanh ở Trung Quốc. Năm 1658, ông đỗ tiến sĩ, sau làm phán quan ở Huy Châu, tức An Huy ngày nay. Mặc dù làm phán quan nhưng Lâm Tây Trọng không chỉ phân tích các vụ án mà còn để tâm sức vào nghiên cứu cổ văn, chuyên phân tích, bình chú các tác giả, tác phẩm cổ điển Trung Hoa.
Trong số các tác phẩm của Lâm Tây Trọng, đặc biệt đáng chú ý có bộ Cổ văn tích nghĩa. Quyển thứ 8 trong bộ sách này, Lâm Tây Trọng chọn và bình các đoạn trong Sử ký Tư Mã Thiên! Đây cũng chính là quyển mà Nhượng Tống đã dịch để có bản dịch Sử ký Tư Mã Thiên đầu tiên ở Việt Nam! Nhưng Nhượng Tống không hoàn toàn dựa vào bản của Lâm Tây Trọng về thứ tự của các phần mà tự Nhượng Tống chia thành các tiết trong bản dịch Sử ký tiếng Việt.
Có thể thấy là phần nào đó, Nhượng Tống đã vừa dịch, vừa tái tạo lại một số phần nội dung trong Sử ký theo cách của ông để độc giả người Việt dễ theo dõi, đọc Sử ký như đọc những câu chuyện rời hấp dẫn. Đó là sáng tạo của Nhượng Tống ở bản dịch Sử ký đầu tiên này.
Một vũ trụ nhỏ về trí tuệ – Nam Hoa kinh
Mái Tây, bản dịch của Nhượng Tống, phần cuối cùng, hồi 4 có tựa đề Tan mộng, kể chuyện chàng Trương Quân Thụy nằm mộng thấy Thôi Oanh Oanh, phải lúc gặp giặc thì tỉnh mộng mới hết sợ. Kim Thánh Thán trong lời bình phần này nói rằng: “Câu chuyện của ông Nam Hoa kể, thật là chí lý: Trang Chu mơ hóa ra con bươm bướm xập xòe bay thật là con bướm, tự thấy thích chí, chẳng còn biết có Chu là gì. Đến khi tỉnh dậy thì lại thù lù vậy. Chu vẫn là Chu! Thật không biết Trang Chu mơ hóa ra bướm hay là bươm bướm mơ hóa ra Trang Chu nữa!”.
Trang Chu chính là Trang Tử, tác giả của Nam Hoa kinh.
Không phải ngẫu nhiên mà Kim Thánh Thán xếp Nam Hoa kinh của Trang Tử vào hàng thứ nhất trong Lục tài tử thư! Bởi ở Nam Hoa kinh kết tinh trí tuệ trác tuyệt của một trong những vĩ nhân cổ đại Trung Hoa, người có khả năng đưa vào chỉ trong một tác phẩm những suy niệm triết học, những cảm hứng thi ca, những cách ngôn có sức sống ngàn năm. Không chỉ là một tác phẩm triết học thâm sâu, Nam Hoa kinh, với ngôn ngữ diễn đạt trùng trùng lớp lớp ý tứ, những diễn giải đầy thơ mộng, còn là một tác phẩm văn học lớn theo đúng nghĩa của nó.
Cuốn Trang Tử Nam Hoa kinh, bản dịch của Nhượng Tống, in lần thứ nhất tại nhà in Đông Dương Hà Nội do nhà Tân Việt xuất bản, kiểm duyệt xong ngày 16-2-1945. Sách dày 516 trang, in trên chất liệu giấy dó. Đây là “tài tử thư” thứ năm theo thứ tự xuất bản của Nhượng Tống.
Cái cảm xúc của Nhượng Tống khi đọc Nam Hoa kinh, như ông kể trong lời cùng bạn đọc, giống như khi con người cất mình lên tiên giới, người nhẹ đi và lòng thì đầy những ngậm ngùi, tha thứ!
Nam Hoa kinh không chỉ là một công trình triết học kỳ vĩ mà còn là một tác phẩm văn học trác tuyệt lừng lẫy cổ kim. Ngòi bút dịch thuật của Nhượng Tống khi phóng túng, ảo diệu, khi khiêm cung, từ tốn, từ lời toát ý, hàm súc mà bay bổng, lãng mạn nhưng khúc chiết. Ngay mở đầu của thiên Tiêu dao du đã là một đoạn văn đẹp lộng lẫy:
“Bể Bắc có loài cá, tên nó là côn. Bề lớn của côn, không biết nó mấy nghìn dặm! Hóa mà làm loài chim, tên nó là bằng. Lưng của bằng, không biết nó mấy nghìn dặm! Vùng dậy bay, cánh nó như đám mây rủ ngang trời… Loài chim ấy, bể động thì dời sang bể Nam. Bể Nam là ao trời…
Tề hài là sách những chuyện quái lạ, nói rằng: “Khi bằng dời sang bể Nam, nước sóng sánh ba nghìn dặm. Nó liệng theo gió lốc mà lên chín muôn dặm. Đi cứ sáu tháng mới nghỉ”. Kìa bóng câu! Kìa vẩn bụi! Những vật có sống lấy hơi mà thổi nhau. Cái xanh-xanh của trời là màu của chính nó chăng?”.
Những ví dụ như vậy có rất nhiều trong Nam Hoa kinh, bản dịch Nhượng Tống. Và chỉ với riêng “Ngũ tài tử thư” mà Nhượng Tống đã dâng hiến cho văn học nước nhà, ông xứng đáng được coi là một thiên tài dịch thuật.
1/2/2020
Nhan Ngọc
Nguồn: ANTGCT
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà thơ Minh Đan: Xé toang gấm lụa lùm xùm lưa thưa

Nhà thơ Minh Đan: Xé toang
gấm lụa lùm xùm lưa thưa

Gần đây, do hay vào Sài Gòn công tác, tôi mới có nhiều cơ hội đọc thơ của đồng nghiệp ở thành phố. Đọc vậy, nên trong tôi thầm xác tín một niềm tin về thơ ta. Đó là sự chuyển động lặng lẽ nhưng rất mạnh mẽ của dòng chảy thơ theo thời gian vô cùng, vô tận. “Phút 89” của nhà báo – nhà thơ Minh Đan là một minh chứng đầy thuyết phục.
Trước khi bước vào trận đấu “Phút 89”, Minh Đan đã có một trận đấu – tập thơ “Ngày không bọt” khá đẹp. ở “Ngày không bọt”, người đọc đã nhận ra khả năng “dẫn bóng” và “làm bàn” của Minh Đan theo một lối riêng ngoạn mục.
Cũng là lối “dẫn bóng” truyền thống theo nhịp lục bát, nhưng lục bát của Minh Đan đã hoàn toàn phá vỡ phép tiểu đối cổ điển. Những gãy nhịp bất ngờ khiến cho người đọc bị dẫn dụ vào mê lộ mà quên đi những luật lẽ cũ xưa: thẫn thờ/ lườm/ nguýt/ vũng lầy/ cô đơn/ thậm thụt/ khuyết vay/ lưới tình (Ngày lạ). Gãy nhịp như không cố ý, bởi thế, sức “rê, dắt” trái bóng “đương đại” biểu hiện một cách lạ thường: cay cay khóe mắt/ nhọn đinh/ như vừa ghim ở tim mình/ chiêm bao (Động).
Có cảm giác trước khi nhập cuộc, Minh Đan đã kỳ công học nhuyễn những “ngón độc thủ” của đường thi, kết hợp cùng những “công lực” của ca dao ta, để hóa thân vào những gai góc đời mới hôm nay: thất ngôn, lục bát chia phe/ tự do đương đại lè nhè mấy câu (Thay tựa). Do đó, Minh Đan đã chủ động đưa trận đấu tới “Phút 89” mang đến nhiều hấp dẫn.
Người đọc thật khó lường đây là trận đấu giữa chàng Adam và nàng Eva muôn thuở, hay là trận đấu giữa thường dân với quyền lực hôm nay, là do cường độ của thi lực lúc căng, lúc chùng. Hoặc do những ngoặt bóng đột ngột giữa thơ tình và thơ thế sự. Phải xem kỹ càng, theo dõi cẩn trọng thì mới nhận ra những đường bóng lấp lửng chuyền đưa trong tình ái “tháo nỗi nhớ chảy vào đêm”, khác với những đường bóng thẳng, không sợ xô xát, không né va chạm trong thế sự, qua những “Đi qua cơn đói”, “Điều kỳ lạ”, “Nằm mơ thấy bao chửng khóc”, “Gã hàng xóm xấu tính”, “Ma làng”,… Nhưng dù thế nào, đây vẫn là “Phút 89” của một trận đấu đẹp.
Từ một bé gái khai sinh trong một dòng tộc nổi tiếng bên tháp Dương Long kỳ vĩ của miền Tây Sơn kiêu hùng thuộc xứ sở “đất võ, trời văn” Bình Định, vào thời điểm 1979 nhạy cảm của tổ quốc, cô thiếu nữ Minh Đan đã nhập cư Sài Gòn và chầm chậm tích điện trong mình, để mãi tới tuổi hôm nay mới tự tin bước vào “Phút 89” của trận đấu riêng mình.
Qua “Phút 89” chắc trận đấu sẽ khép lại bởi vài phút bù giờ và giải lao với tỷ số hòa sau hai hiệp đấu: về quê cởi trói gông cùm/ xé toang gấm lụa lùm xùm lưa thưa (Bình yên). Nhưng đây là trận đấu loại trực tiếp. Tôi tin Minh Đan sẽ thắng ở hai hiệp phụ và nếu có phải phân thắng bại bằng các loạt đá luân lưu, Minh Đan cũng sẽ thắng.
Mừng cho lịch sử thơ ca, nhất là thơ ca “phái đẹp” sau những Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, Đinh Thị Như Thúy… lại xuất hiện thêm một Minh Đan đàng hoàng “ngước lên cao” với “những khát khao không thể đặt vòng”.
3/2/2020
Nguyễn Thụy Kha
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh - "Đừng múc cạn nỗi buồn" dù "Chiều đã nhạt"

Thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh
"Đừng múc cạn nỗi buồn"
dù "Chiều đã nhạt"

Chiều nhạt ư? Ừ thì chiều sẽ buông hết nắng cho rực rỡ chiều. Thời gian sẽ trôi đi, không thể ngừng lại. Nắng rồi sẽ phai. Chiều rồi sẽ nhạt. Nhưng, cái khoảng khắc đó, với một người đàn bà làm thơ, thì chiều nhạt lại giấu trong nó bao điều muốn khám phá, hoài niệm và sẻ chia. Người đàn bà làm thơ ấy chính là Nguyễn Thị Ánh Huỳnh. Chị đã nhìn Chiều bằng đôi mắt đa tình của một thi nhân. Và vẽ lại bằng cái chất mộc, dịu, chân thành, chia sẻ… của những ngôn từ không lẫn vào ai.
Xin hãy đọc chậm “Chiều nhạt” của chị:
Chiều nhạt/ Chiều cuồng cuồng nắng/ Chiếu tốc tốc xanh/ Chợt quầng mây màu bã mía/ Trời nhàn nhạt/ Chiều buông màn/ Người đàn bà ngồi tiếc nắng/ Tìm sự mặn nồng còn sót lại trong cây cơm nguội/ Sự nhàn nhạt của thời gian/ Dan díu với người đàn bà/ Bằng màu mỡ gà lá bàng chớm lửa/ Cảm giác canh suông của vàng mười hoa vông/ Cảm giác đơn điệu của mái ngói nhạt rêu/ Nghe tóc chiều cay khói/ Ngôi nhà trôi/ Tay người đàn bà chới với/ Hoàng hôn chợt là khách trong nhà/ Đêm đã nằm trên giường chờ đợi/ Người đàn bà và cây cơm nguội/ Cố níu lấy chiều/ Đang nhạt Nhưng/ Đám mây màu bã mía/ Đã hắt chiều đổ đi.
“Chiều nhạt” được in trong tập “Đừng múc cạn nỗi buồn” (NXB Hội Nhà văn 2009) ở trang 54. Tên cả tập thì rất lạ. Nhưng tên bài thơ thì không có gì ấn tượng. Vậy mà, nó lại làm cho tôi ngã vào nó, hay đúng hơn là ngã vào những từ ngữ thơ mộc mà đẹp, hiền mà dữ dội, nhẹ mà như bão… kia rồi.
Bài thơ tự do thật ấn tượng với những hình ảnh đẹp dung dị: người đàn bà ngồi tiếc nắng, cây cơm nguội vàng, hoàng hôn nắng nhạt, vàng mười hoa vông, lá bàng chớm lửa … Đó là những hình ảnh rất đổi bình thường mà ta có thể bắt gặp đâu đó trong cuộc sống này. Thế nhưng, sự không bình thường, nét đẹp lung linh thì lại nằm trong những từ ngữ vô cùng dân dả:  cuồng cuồng, tốc tốc, nhàn nhạt, chớm lửa, cay khói, màu mỡ gà, nhạt rêu, màu bã mía, tiếc nắng, cố níu, hắt chiều đổ đi… mà nhà thơ đã sử dụng một cách thật  tự nhiên.
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh, đã bị cái “chiều nhàn nhạt” kia hốt cả hồn vía. Và tôi cũng vậy, đồng cảm, sẻ chia. Chiều nhạt là bắt đầu chiều xuống đó thôi. Ông bà ta xưa gọi là “nắng quái chiều hôm”. Nhưng chị thì nói: “cuồng cuồng nắng”: Chiều nhạt/ Chiều cuồng cuồng nắng/ Chiều tốc tốc xanh/ Chợt quầng mây màu bã mía…
Khá khen cho những điệp từ “cuồng cuồng, tốc tốc” trong thơ chị. Cũ mà mới, quen mà  lạ.Thế mà lại hay, tạo cho hình ảnh “gió, chiều” … có sức sống như con người. Mà hệt như người đang say. Say cảnh, say tình.
Kìa là gió xanh, trời xanh, và mây cũng xanh. Nhưng, kẻ không mời đã đến, khiến cái màu xanh kia phải thay đổi sắc. Đó là cái “màu bã mía” của một quầng mây, qua đôi mắt của nhà thơ, đã truyền cho người đọc một cảm xúc lạ lùng trước sự biến chuyển của thiên nhiên.
Thời gian ngả về chiều, nên màu trời nhàn nhạt là thật. Còn thời gian nhàn nhạt là thời gian của ký ức, là thời gian của sự nhung nhớ, díu dan:  Trời nhàn nhạt/ Chiều buông màn/ Người đàn bà ngồi tiếc nắng/ Tìm sự mặn nồng còn sót lại trong cây cơm nguội
Cái đẹp lung linh của ánh chiều buông màn thõng xuống rất đẹp. Có bóng cây cơm nguội vàng nhưng vẫn không đủ vàng để cảnh sắc tươi lên. Có bóng người đàn bà  trong cảnh đang ngồi “tiếc nắng”. Ai biết tiếc nắng hay tiếc xuân thì? Hay tiếc những kỷ niệm mặn nồng còn sót lại đã lên rêu, đã trôi về phương nào xa lắc. Hoàn toàn không biết. Và chỉ có Nguyễn Thị Ánh Huỳnh là hiểu rõ điều ấy.
Sự nhàn nhạt của thời gian/ Dan díu với người đàn bà/ Bằng màu mỡ gà lá bàng chớm lửa/ Cảm giác canh suông của vàng mười hoa vông/ Cảm giác đơn điệu của mái ngói nhạt rêu/ Nghe tóc chiều cay khói.
Sao cái cảnh sắc nhàn nhạt, lam buồn xám nhợt của thời gian sao lại có thể “dan díu” với người đàn bà tiếc nắng? Sao lại “dan díu” với những chiếc lá bàng chớm lửa màu mỡ gà kia? Sao mái ngói nhạt rêu lại đơn điệu lạnh tanh? Phải chăng nữ sĩ muốn giúp người đàn bà trong thơ thổi bừng lên kỷ niệm khi để cho cái sắc nhạt của thời gian dan díu với người đàn bà bằng màu mỡ gà của chiếc lá bàng chớm lửa? Một kỷ niệm ngọt ngào, tươi thắm, loang loáng ánh nắng, như “chớm” chút sắc đỏ cuối ngày, Quả là nhà thơ đã rất cao tay, khi vẽ bóng người đàn bà ngồi nuối tiếc một thời rực rỡ.
Từ những hình ảnh: “màu mỡ gà của lá bàng chớm lửa, canh suông của vàng mười hoa vông, mái ngói nhạt rêu’… ta như thấy có chút gì rực cháy, lại vừa có chút gì bảng lảng rêu phong, hoài cổ trong lòng người đàn bà tiếc nắng kia. Một sự chuyển đổi cảm giác làm người đọc nổi gai khi bắt gặp những từ ngữ thế này: “ nghe tóc chiều cay khói”. Người đàn bà “nghe” …Sự chuyển đổi cảm giác chỉ có thơ mới diễn tả nổi. Tóc chiều cay khói? Hay tóc đã chiều nên mắt, nên lòng nghe cay khói? Cái hình ảnh “tóc chiều cay khói” mới đau thật đau. Nhưng là cái đau ‘lặn vào trong” mà không phải ai cũng nhìn thấy nó.
Nhưng cảnh đã chuyển. Ngôi nhà trôi/ Tay người đàn bà chới với.
Chắc chắn là sẽ có loang loáng nước, dù là nước của ảo ảnh. Cảm thức thời gian trong thơ trôi vội khiến lòng người phải xót xa. Thật tội nghiệp khi bắt gặp hình ảnh “người đàn bà” với “đôi tay chới với” bất lực, cố níu chiều bạc phếch, bạc phơ, cố níu lại mái nhà hạnh phúc và bất lực khi nhìn thời gian tuột xa tầm tay. Tiếc đến thế thì đã tận nỗi tiếc chưa nhỉ? Nguyễn Thị Ánh Huỳnh chưa thấy đủ đầy. Và chị mang lại cảm giác hoàng hôn đã cuối đến với người đọc, khi viết:
Hoàng hôn chợt là khách trong nhà/ Đêm đã nằm trên giường chờ đợi.
Nghe chao chát. Khắc khoải. Bảng lảng buồn. Người thơ, nhân vật thơ đã truyền cảm xúc vào lòng người đọc một cách nhẹ nhàng mà sâu hun hút. Quả thật, cũng là người làm thơ, nhưng cách diễn đạt của chị Nguyễn Thị Ánh Huỳnh khiến tôi phải “giật mình”. Sự cao tay của chị khiến ta phải liên tưởng đến nhiều tầng bậc ý nghĩa. Với người đàn bà tiếc nắng, hoàng hôn là khách không mời mà đến. Hoàng hôn thời gian hay hoàng hôn của một đời người?. Nhưng, dù chủ thể là gì đi nữa thì chủ thể ấy đã len vào nhà, đã nằm trên giường chờ đợi, để nghe rờn rợn cô đơn, dù là cả bài thơ không hề có một chữ “cô đơn”.
Sót lại hình ảnh của buổi chiều là người đàn bà và cây cơm nguội. Thủy chung từ đầu là cây cơm nguội. Nó đã cùng chị sẻ chia ký ức. Nó đã cùng chị cố níu chiều. Dù là chiều đang nhạt. Như cố níu những khoảnh khắc đẹp của thời gian, của một đời người. Người đàn bà và cây cơm nguội/ Cố níu lấy chiều/ Đang nhạt
Thế nhưng… thương quá. Xót đau quá. Thôi, cũng đành thôi. Vì, chút níu kéo kia rồi cũng đành vỡ tan tành. Vì làm sao cưỡng nổi sự khắc nghiệt của thời gian?
 Nhưng/ Đám mây màu bã mía/ Đã hắt chiều đổ đi.
Cái từ “hắt” sao nghe đổ vỡ, hắt hẩy, đau điếng. Đám mây màu bã mía úa héo kia sao lại can tâm “hắt đổ chiều đi”?
Cơm nguội, bã mía, chiều nhạt, ngói nhạt rêu… có hàm ý về chính mình không?
Bài thơ có cái kết buồn man mác. Và cứ tạo cho người đọc sự bất lực trước qui luật của thời gian. Có lẽ vì những điều đã cảm, đã hiểu như thế mà tôi đã ám ảnh suốt về bài thơ “Chiều nhạt” của chị để rồi phải cầm bút viết nên những con chữ này. Chiều đã nhạt rồi, nhưng cũng xin “ đừng múc cạn nỗi buồn”. Vì đời người, mấy ai không có những vui, những buồn giăng kín? Chỉ có sự trải nghiệm nhiều với cuộc đời, sự đồng cảm sẻ chia với những người đàn bà trong ta và quanh ta, mới có được những vần thơ nhẹ nhàng mà đau đáu thế này.
Thật ra, nếu có một chút góp ý, tôi sẽ chủ quan mà chọn một tiêu đề gợi hơn, chẳng hạn như “Người đàn bà tiếc nắng”. Có ấn tượng hơn, có dữ dội hơn cái tên “Chiều nhạt’” hiền lành của chị không nhỉ? Nhưng, chính những mộc mạc, giản dị của ngôn ngữ đã tạo nên nét đặc trưng ngọt mềm trong thơ chị. Vậy, thay đổi làm gì? Xin cảm ơn nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh – với “Chiều nhạt”như thế này đây.
5/2/2020
Nguyễn Thị Liên Tâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Vẽ chân dung" người viết văn trẻ

"Vẽ chân dung"
người viết văn trẻ

Hỡi những nhà văn trẻ, bạn muốn mình luôn là người viết (écrivant) làm ra sách, hay sẽ là nhà văn (écrivain) làm ra tác phẩm, nói như Jean-Paul Sartre thuở ấy?
Có phải một mùa sinh sắc đã trở lại với văn chương Việt, khi cuộc sống dần dần trả lại nhịp đập tự nhiên, với vô vàn xáo động? Ngày của thông tin, mùa của thông tin, thời của thông tin.
Chúng ta bị va đập hằng ngày với những chuyện trên trời dưới đất của mình, của thiên hạ, không lúc nào ngơi. Cảm xúc của ta dao động, trồi sụt như nhịp tim của người đang yêu hay người đang hấp hối.
Hai xu hướng của văn học trẻ
Sau hai cuộc chiến tranh, văn học Việt Nam trở lại con đường hiện đại hóa một cách chậm chạp. Một nền văn học chịu nhiều phân tán, ngập ngừng, nhiều lần mở, khép. Một nền văn học trộn lẫn các yếu tố truyền thống, hiện đại và hậu hiện đại.
Cạnh tranh với các lĩnh vực nghệ thuật khác trong chinh phục công chúng, văn học của thế kỷ XXI đi vào tiếng rì rầm của đời thường. Các quầy sách tràn ngập các bản in mới, đa dạng và bắt mắt về hình thức. Tuổi trẻ chín sớm và thành danh trong sáng tạo. Niềm tự tin trở lại. Đã có một số nhà văn chuyên nghiệp.
Trong cái bề bộn của số sách xuất hiện với tần suất dày ấy, trong khu vực các tác giả trẻ, có thể nhìn thấy hai xu hướng lớn: một xu hướng chịu khó lắng nghe bản thân, nắm bắt những nhịp đập sâu xa của đời sống, cố gắng tìm tòi những giá trị nghệ thuật, cân nhắc khi chọn một diễn ngôn văn chương mang cá tính riêng; một xu hướng nhạy với thị hiếu công chúng, tiếp thu nhanh kỹ thuật viết các loại văn xuôi hư cấu trong làng văn đại chúng, hình thành ngay một mạch văn đơn giản, viết lẹ, thành công dễ dàng, chinh phục đám đông công chúng trẻ, tạo nên sự kiện, có số lượng phát hành và có doanh thu lớn.
Có vẻ như xu hướng thứ hai đang đà phủ sóng rộng. Họ viết về những cái thường ngày trong sinh hoạt người trẻ: ăn, mặc, chơi và yêu. Nhan đề linh hoạt như một lời thoại. Bìa thiết kế theo phong cách ngôn tình: họa tiết mềm mại, màu sắc lung linh hay dữ dội. Văn học đại chúng đáp ứng nhu cầu có thực của một tầng lớp người đọc đông đảo đang muốn có những phút giây thư giãn bằng chữ nghĩa.
Thành danh với văn học đại chúng
Vốn chịu ảnh hưởng nhiều của Trung Hoa, văn học đại chúng Việt Nam giờ đây học tập thêm Nhật Bản và Hàn Quốc; chỉ một số ít có dấu vết kỹ thuật phương Tây. Điểm chung của loại sách này là dễ đọc, mạch truyện sáng rõ, câu chữ giản dị, kết thúc thường có hậu.
Đã có một đúc kết, rằng chủ ý của sách là tác động đến các trạng thái tâm lý của con người (thất tình, lục dục), rằng cách viết là tuân theo các mô thức đã trở thành kinh điển. Tác giả viết như làm một cuộc trò chuyện êm đềm da diết về những phức cảm của người trẻ (trong thơ); hay như một cuộc bài binh bố trận, hoặc xây dựng một cốt truyện ly kỳ, lâm ly, bi đát, di chuyển qua nhiều không gian, nhiều biến cố; hoặc xây dựng những nhân vật trẻ ngồ ngộ, cá tính độc đáo, với các câu chuyện tình bất ngờ và các mẫu đối thoại thú vị (trong văn).
Sách bán chạy, người viết thành công sớm và thành danh nhanh, được một số nhà xuất bản, nhà sách và báo chí săn đón, có thể sống bằng ngòi bút, đó là những yếu tố làm nức lòng nhiều người trẻ, ngày càng đông người chọn hướng đi này: Dương Thụy, Nguyễn Phong Việt, Nồng Nàn Phố, Anh Khang, Trần Thu Trang, Jun Phạm, Meggi Phạm, Gào (Vũ Phương Thanh), Keng (Đỗ Thị Thùy Linh), Hamlet Trương, Iris Cao, Nguyễn Ngọc Thạch, Phan Ý Yên, Nguyễn Thu Hoài, Linh Lê, Ngọc Hoài Nhân, Ploy Ngọc Bích, Kawi Hồng Phương, Bom, Sơn Paris…
Những trang văn tinh tế
Như một mạch ngầm mải miết chảy, tiếp nối những giá trị đã có trong lòng dân tộc và ước mong hội nhập cùng nhân loại, xu hướng thứ nhất lặng lẽ và cẩn trọng hơn. Thế hệ 8x và 9x đã ra ràng một loạt các cây bút từng theo học ngành văn chương, phần lớn bước ra từ Khoa Ngữ văn và Báo chí Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP HCM.
Thục Linh, Tú Trinh tinh tế và lặng lẽ. Nguyệt Phạm, Phương Lan, Lynh Bacardi táo bạo, bứt phá làm nên sự kiện trong nhóm Ngựa trời. Nguyễn Thúy Hằng xuyên sâu vào cõi màu cô độc. Ngô Thị Hạnh, Phương Huyền viết sớm và viết đều trong mạch thơ văn dung dị. Phương Trinh ấp ủ ngọn lửa ấm của lòng từ ái. La Mai Thi Gia hồn nhiên phơi mở. Tạ Anh Thư, Hạ Nguyên viết chắt lọc và cá tính, phác vẽ chân dung mình trong những khắc khoải, băn khoăn. Nguyễn Thiên Ngân và Yến Linh chín sớm, ghi dấu bằng các giải thưởng, có mặt đều đặn với các thể loại khác nhau; người thì chinh phục công chúng trẻ bằng một chất giọng tưng tửng, ngang tàng, cuộn dưới đáy sâu một tâm cảm khác thường; người cầm bút như để tự chữa lành những chấn thương thời thơ ấu. Ngọc Huyền mềm mại trong những tra vấn về bản thể. Vũ Lập Nhật dữ dội và hiện đại trong khám phá nghệ thuật. Huỳnh Trọng Khang mạo hiểm trong hành trình khai quật những câu chuyện quá khứ. Thái Cường rủ rỉ kể tiếp câu chuyện gia đình và quê nhà. Tru Sa lần mò trong mê cung đầy bóng tối. Pháp Xa Chan trình hiện một tâm thức hỗn mang và Pháp Hoan với bút pháp tân hiện thực…
Phân định giữa sách và tác phẩm
Chúng ta vui mừng với sự đa dạng hôm nay, bởi vì đó là dấu hiệu của sự phát triển bình thường lẽ ra phải có. Văn chương có mặt cho tất cả mọi người. Nhưng cũng cần thấy rằng với trình độ thưởng thức ngày càng cao của công chúng và sự sàng lọc của thời gian, sẽ có sự phân định giữa sách và tác phẩm.
Sẽ có những người viết có khát vọng để đời và những người viết nhằm đạt được một mục tiêu ngắn hạn. Khởi điểm của con đường cầm bút rất quan trọng, ý thức chọn lựa sẽ tùy thuộc khả năng và điều kiện của từng người. Và người đọc cũng thế, niềm vui đầu đời khi bước chân vào khu vườn văn chương và những tháng ngày ngồi trên ghế nhà trường rất là quan trọng.
Nếu lạc quan, sẽ nói rằng đời sống văn học bề bộn hôm nay là một trong những biểu hiện của đời sống văn học mang tính tự nhiên và dân chủ. Có chút ít tinh thần dân tộc, sẽ mừng vì sách do người Việt viết tăng lên đáng kể và mừng vì người đọc rộn ràng tìm đến sách.
Trong mong ước mỗi cuốn sách được nhấc lên và cầm về nhà sẽ là cuốn sách có thể đọc đi đọc lại nhiều lần, thậm chí theo ta suốt cuộc đời, sẽ nảy sinh một sự lo âu và nuối tiếc. Lo cho “tầm đón đợi” của độc giả đang dần dần đi xuống. Tiếc cho những chọn lựa cầm bút sẽ định hình luôn một con đường. Hỡi những nhà văn trẻ, bạn muốn mình luôn là người viết (écrivant) làm ra sách, hay sẽ là nhà văn (écrivain) làm ra tác phẩm, nói như Jean-Paul Sartre thuở ấy?
Bộc lộ cá tính sáng tạo
Cá tính sáng tạo của những người trẻ này đã hé. Việc học và việc đọc đã đưa họ đến với văn chương với một đà viết đầy cảm hứng và có tinh thần trách nhiệm. Dù viết là bộc bạch, là trải nghiệm hay là tưởng tượng, có thể thấy những người trẻ hôm nay đã ý thức rất rõ về tính giao điểm của đời và của văn. Trường liên tưởng của họ rộng, hiện tượng liên văn bản (cả về phương diện tư tưởng lẫn phương diện thủ pháp) trong tác phẩm của họ càng rõ.
Những trang viết tạo sóng trong lòng người thường là kết quả của một quá trình lắng nghe mình và lắng nghe đời, được phả thành một giai điệu riêng. Ngày hôm nay văn xuôi bừng nở, thơ ca âm thầm hơn, nhưng trên góc độ cá nhân, tôi tưởng chừng như nghe được tiếng dội sâu trầm của những bài thơ được viết từ ám ảnh.
6/2/2020
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thục Uyên - Tiếng thơ buồn của người đàn bà giàu lòng trắc ẩn

Thục Uyên - Tiếng thơ buồn của
người đàn bà giàu lòng trắc ẩn

Thơ Thục Uyên là tiếng thơ buồn của một người đàn bà giàu lòng trắc ẩn. Mỗi bài thơ của chị là biết bao nỗi niềm chất chứa được gửi gắm vào đó. Chị làm thơ từ khi rời quê hương. Thục Uyên lặng lẽ viết, viết như để giãi bày những gan ruột, những gì chị nhìn thấy, những gì chị rung cảm, đau xót trước bao thăng trầm, biến cố của con người và thời cuộc. Do vậy, Thục Uyên đến với thơ không phải để khẳng định tên tuổi, cũng không phải để mình được danh xưng nhà thơ mà chị đến với thơ một cách tự nhiên, hồn hậu.
Tìm đến thơ, trải lòng với thơ đó là cách mà Thục Uyên cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, thư thái và an toàn nhất. Đến với thơ và coi thơ như một Đức tin tôn giáo, một sự cứu rỗi tâm hồn. Vì thế, chị sống vẹn toàn với thơ bằng sự hồn nhiên, trong trẻo. Mỗi câu thơ, bài thơ chị viết đều như trút cả tâm can mình vào đó. Người đọc thấy hầu như bài thơ nào của chị cũng man mác nỗi buồn. Nỗi buồn đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng tựu trung vẫn là những nỗi đau đáu hoài niệm về quê hương, về người thân, về bạn bè và cả những nỗi đau nhân thế.
Hạnh phúc đích thực là khi con người hướng đến những giá trị tinh thần mang tính nhân văn sâu sắc. Đó có thể là những điều quá đỗi bình thường, giản dị nhưng đôi khi vì mải mê công việc, vì nặng nợ áo cơm hoặc cũng có thể vì hiện tại cuộc sống đủ đầy mà có người đã quên đi quá khứ của những năm tháng khổ nghèo. Với Thục Uyên, nỗi niềm với mảnh đất quê hương, với bao kỷ niệm một thời lần lượt hiện diện trong thơ của chị.
Con sẽ về thăm lại căn nhà nhỏ
Ngọn đèn dầu le lói thắp đêm khuya
Con sẽ về để thấy mẹ hôm xưa
Lom khom nấu chiều khơi trong bếp nhỏ
Cơn mưa về trơn ướt đường đất đỏ
Mẹ loay hoay mớ củi ướt bên hiên
Khói bếp cay hong mắt mẹ triền miên
Tuổi thơ con buồn như những ngày ám khói
Con sẽ về giữa mùa gió nổi
Gió đầu mùa xao xác những giấc mơ
Gió mênh mông, tan vào đêm hiu quạnh
Gió âm thầm qua ruộng bắp xác xơ
Con sẽ về cao nguyên mù sương khói
Mơ cơm chiều được bên mẹ ấm êm
Nắng lung linh hoa cà phê nở trắng
Đàn trẻ đùa trong đất đỏ lấm lem
Chưa về được nên nghe lòng quặn thắt
Dáng mẹ ngồi bên bếp lửa chiều đông
Thương những đứa con lạc loài đâu đó
Mắt mẹ buồn chạm tới mênh mông.
Bài thơ Nhớ cao nguyên là một trong những bài thơ hay của Thục Uyên. Hình ảnh người mẹ tảo tần, vất vả, hi sinh hôm sớm đã trở thành biểu tượng, trở thành lẽ sống cho chị. Nhớ cao nguyên là nỗi nhớ bao trùm nhưng mẹ chính là trung tâm của nỗi nhớ. Ở đó gắn liền với nhiều thứ bình dị, gẫn gũi và đã in đậm trong trí não đứa con. Người con ấy, dù đã rời xa mảnh đất quê hương, nơi chở che và ghi dấu những năm tháng đầy ắp kỉ niệm. Nơi có căn nhà nhỏ, có ngọn đèn dầu le lói thắp đêm khuya, có hình ảnh của mẹ lom khom nấu chiều khơi trong bếp nhỏ. Bao hình ảnh thân thương lại hiện về, những năm tháng gian lao, khốn khó hiện diện trong tâm thức của người con. Điệp khúc Con sẽ về được lặp đi lặp lại 4 lần. Đó là nỗi mong chờ da diết của một đứa con xa quê muốn được trở về mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn với bao ký ức niềm thương mà con và cả gia đình đã trải qua. Cơ bản là những chuỗi dài buồn, nỗi buồn được chắt lắng và trở thành nỗi ám ảnh, day dứt. Vùng đất khắc nghiệt: nắng – gió – mưa – bão nên con người phải luôn chống chọi với thời tiết bất thường này. Vùng đất ấy đã trở thành nỗi nhớ, niềm thương, nỗi nhung nhớ không thể nguôi ngoai trong tâm khảm của một người đứa con (giờ đã đứng tuổi) xa quê nhưng lại rất nặng nợ với quê nhà. Nhà thơ tự thức:
Tôi đã mất mùa xuân từ daọ ấy
Từ thuở đời tao loạn buổi chia ly..
Thân trôi nổi với chợ đời cơm áo
Dám mong gì xuân đến với xuân đi!
Hai mấy năm xuân về trên đất lạ…
Luôn nhớ về mùa xuân tuổi ấu thơ
Dòng sông kia có ngược về dĩ vãng
Chuyên chở cho tôi mùa xuân cũ đợi chờ.
Tha thiết và gắn bó với quê hương, với cuộc đời nên nhà thơ Thục Uyên đã có rất nhiều bài thơ hay viết về đề tài này. Có thể kể ra một số bài như: Soi bóng cội nguồn, Kinh khổ, Tìm mãi mùa xuân, Những cơn gió cuối mùa, Em đi, Này em có nhớ, Từ lúc em đi, Nhớ Huế, Nhớ cao nguyên, Những sợi buồn… mà khi đọc, người đọc sẽ không thể nào không nghĩ suy, không day dứt. Đặc biệt là những người con xa xứ nhưng trong trái tim vẫn luôn hướng về nơi cội nguồn sinh dưỡng, nơi chứa đựng không biết bao nhiêu mối ân tình.
Thơ Thục Uyên đọng lại trong tâm hồn người đọc bởi những liên tưởng phong phú, tứ thơ lạ cùng với những hình ảnh mang tính biểu trưng. Ngôn ngữ thơ tự nhiên nhưng chứa đầy cảm xúc, bộc lộ được bản sắc cá nhân – đó là một hồn thơ trữ tình da diết, đau đáu nỗi đời, nỗi người. Thơ chị là tiếng lòng của một người phụ nữ đầy bao dung và giàu lòng nhân ái. Những kỷ niệm thường trực thao thức tạo nên những dòng chảy bền bỉ vừa thực, vừa mang nét u huyền. Đôi lúc là nỗi đau, sự u uất, nghẹn ngào của nhà thơ.
Em đi là một trong số những bài thơ ấn tượng của Thục Uyên. Ở đó trùng điệp những nỗi buồn. Lời thơ nhẹ nhàng nhưng nó như vết dao cắt cứa vào tâm can, giăng mắc vào lòng người bao nhiêu câu hỏi. Nhà thơ đã trải qua những năm tháng thăng trầm, nhiều mất mát, tổn thương và vốn là người nặng tình nên điều gì cũng làm cho chị trăn trở, day dứt.
Gió vẫn phất phơ chiều đông muộn
Nắng võ vàng thấp thoáng dáng em
Lũ chim trắng u hoài như phế tích
Vỗ cánh buồn luyến nhớ dấu chân êm..
Nắng bàng hoàng hôm em xa vắng
Đường em đi ngơ ngác lối rẽ hai ..
Chiều hôm đó ngập tràn hoa lau trắng
Nắng rất vàng sao hiu hắt tàn phai..
Lối em đi rừng xưa đã khép
Màu lá xanh chia biệt buốt cô đơn
Em chỉ còn phôi pha như ký ức
Trăng lụi tàn tan tác giấc mơ đêm..
Em đã về chưa con ngõ vắng?
Dốc mơ cao, mùa cỏ úa hoang vu…
Tiếng gà gáy vọng trong trưa nắng
Em có còn thương nhớ tiếng mẹ ru?
Em đã xa, mịt mù như bóng tối ..
Như loài chim vỗ cánh dị kỳ
Chỉ hiển linh trong cạn cùng nỗi nhớ..
Mất dấu rồi biền biệt cánh thiên di!
Thục Uyên miên man trong ký ức về những câu chuyện thuở thiếu thời, về những năm tháng khổ nghèo nhưng sống trong tình yêu thương đầy ắp. Vùng quê chị đã sinh ra, lớn lên và gắn bó thuở nào (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế, Lâm Đồng) giờ đã trở thành không gian hoài niệm vĩnh cửu.
Vì thế, trong thơ Thục Uyên tứ thơ phần nhiều bắt nguồn từ nỗi nhớ: tôi đi tìm mãi trong màu nhớ, tôi đi tìm lại một mùa xuân, Bao giờ nhớ Huế về thăm Huế, Bước người xa thầm lặng mỏi mòn, em giờ xa xôi quá, Đất mẹ gầy ôm ấp cả tuổi thơ, màu kỷ niệm ươm vàng nỗi nhớ, Từng đêm về giấc mơ đời vụn vỡ, Em có còn thương nhớ tiếng mẹ ru? Tôi đã mất mùa xuân từ daọ ấy…
Nỗi buồn giăng mắc vào cả không gian và thời gian, Thục Uyên chỉ biết trải lòng mình bằng những giọt buồn xốn xang của một trái tim đa cảm.
tôi đi tìm mãi trong màu nhớ/ ô, nắng xuân về dọi thiết tha / xuân vẫn đến mùa vui không về nữa/ nỗi nhớ xuân heo hút đến phôi pha (Tìm mãi mùa xuân).
Đêm nghe gió thì thầm đâu đó
Tiền kiếp nào dắt lối buồn thiu
Sương từng giọt rớt trong tan vỡ
Đêm dịu dàng đưa tay nắm quạnh hiu
Đêm che khuất vầng trăng khuyết tật
Nghe linh hồn thoát kiếp giấc mơ
Nghe tiếng đá thở dài mệt nhọc
Tiếng chim kêu thảng thốt bơ vơ
(Tiễn biệt)
Nhà thơ khao khát trở về những năm tháng của tuổi thơ vô tư, hồn nhiên như cỏ cây hoa lá. Điều ước ấy tưởng đơn giản nhưng không thể thực hiện được khi mọi thứ đã đổi thay và thời gian đã không cho phép. Bởi tuổi già đã ập đến và đặc biệt hơn đó là khoảng cách về mặt không gian xa tít mù khơi!
Tình thương và sự sẻ chia đã xây nên những vần thơ chân thành, mộc mạc mà giàu tình nghĩa. Lòng quặn đau khi nhà thơ chứng kiến nhiều hoàn cảnh, mảnh đời bất hạnh. Đó có thể là cảnh ngộ của cô gái Việt sống tha hương nơi đất khách:
tháng mười hai
đàn sẻ nhỏ thèm rúc vào hang ổ
sợ những ngày khắc nghiệt mùa đông
sợ đường bay tuyết rơi trắng xóa
sợ những lúc bão giông…
là tháng cuối trong năm
em trộn lẫn với dòng người xa lạ
giữa đám hàng Giáng Sinh sáng chóa
rực rỡ sắc màu
dáng em thu nhỏ
đôi mắt buồn ẩn số Á Châu…
(Tháng mười hai)
Này em người con gái da vàng
Số phận khắc ghi em bằng sắc tố
Dòng máu Việt Nam da vàng ôi khốn khổ
Chạy lang thang khắp mặt địa cầu
Có những chiều ảo não tiếng đàn bầu
Những cánh chim tựa vào nhau xơ xác
Những ngày vui quê hương ơi xa lắc
Còn được không về soi bóng cội nguồn?
Em chưa lớn lên sao đã biết buồn
Ước mơ đi qua tủi hờn rất thật
Vị mặn trên môi, vị sầu lên mắt
Lịch sử ngậm ngùi đắng ngắt tuổi thơ
Tới xứ người những khuôn mặt ngây ngô
Miệng khờ khạo vài ba câu sinh ngữ
Bập bẹ áo cơm, thuộc lòng năm ba chữ
Nguôi ngoai không, đêm viễn xứ đầy sao..
Phi cơ lướt bánh trên phi đạo
Nghiến tái tê rách nát mặt đường
Mẹ rưng rưng nhìn con tiễn biệt
Em nhớ rằng em có một quê hương …
(Này em có nhớ)
Bao nhiêu câu hỏi đặt ra về kiếp người, lẽ sống, niềm tin, sự hạnh phúc – khổ đau… của những cô gái da vàng đang mưu sinh ở hải ngoại. Càng xót xa hơn là những cô gái Việt Nam lấy chồng ngoại quốc, “sang sông” rồi từ đó biền biệt không về!
Sang sông hôm ấy đò đưa/ Hương cau ngan ngát, bến xưa mẹ buồn/ Em cười vén vạt áo hường/ Con đi dăm bữa về thường mẹ yêu !
Em ngoan xinh đẹp mỹ miều../ Mắt thơ ngây, dáng yêu kiều thướt tha/ Đàn em nhỏ chạy ra xa/ Níu lấy tay chị ở nhà với em…
Vậy là bao buổi chiều êm/ Nhà vắng bóng chị buồn tênh mẹ ngồi…/ Mâm cơm chiều đã dọn rồi/ Cha ngồi chống đũa mắt trôi phương nào…
Bến sông chiều ấy lao xao/ Nước như phẳng lặng sóng trào rẻ đôi…/ Xác xơ nhánh lục bình trôi/ Em trôi trôi mãi… bên đời quạnh hiu !
Mẹ buồn gói hết thương yêu/ Ôm con trong mộng, lưng chiều sao sa…/ Mẹ ơi đừng gả con xa (*)/ Chim kêu vượn hú biết nhà mẹ đâu?
Giấc mộng đổi đời, “sính” lấy chồng ngoại quốc để rồi biết bao cô gái phải “sập bẫy”. Ở phương trời xa, họ mòn mỏi được trở về nhà, về quê hương nơi có mẹ cha, gia đình, bè bạn nhưng tất cả đều vô vọng. Đau đớn. Buồn tủi. Nhục nhã. Ê chề…
Khi biết tin người bạn trẻ không may mắc bệnh hiểm nghèo, trái tim đa cảm của chị lại nhói đau. Bằng việc sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ và nhân hóa, chị đã khéo léo gửi gắm rất nhiều điều vào bài thơ Kinh khổ.
Có những ngày lòng buồn như lá úa
Lay lắt trên cành đợi gió thu phai
Lá vẫn xanh sao gánh nhiều oan trái
Hành trình nào mờ mịt dấu tương lai ..
Em lớn lên giữa những mùa lúa chín
Đồng ruộng xanh xanh ngát ước mơ
Cánh diều bay chập chùng cơn viễn mộng
Đất mẹ gầy ôm ấp cả tuổi thơ…
Rồi một buổi bão về cơn sóng dữ
Cắn chặt môi chua xót nỗi đau thương
Từng đêm về giấc mơ đời vụn vỡ
Hồn tả tơi xơ xác những đấu trường …
Định mệnh nào
giữa trùng trùng gươm giáo
Cánh chim buồn tha thiết níu trời cao
Đêm từng đêm lời nguyện cầu vang vọng
Gởi ước mơ lên tới những vì sao…
Hay sự ra đi của những người thân yêu, ruột thịt làm cho Thục Uyên hụt hẫng, bàng hoàng. Chị thấm thía sự mất mát của đời người. Dẫu biết rằng đó là quy luật tất yếu. Điều quan trọng không phải là những tháng ngày tồn tại dài hay ngắn mà ý nghĩa của cuộc sống – giá trị của con người mới là điều đáng lưu tâm. Sự sống – cái chết dưới cái nhìn đầy nhân văn, với sự liên tưởng, so sánh độc đáo, nhà thơ đã làm sáng tỏ ý nghĩa triết mỹ của nó.
Thục Uyên đã vận dụng sáng tạo các biện pháp nghệ thuật để tạo ra những dòng thơ ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu xa. Ẩn dụ, so sánh, nhân hóa và tương phản là những phương thức được nhà thơ chú trọng.
Em đợi mưa về mưa tháng bảy/ Bớt héo khô những ngọn cỏ lưu đày/ Lũ chim biệt xứ thôi nhớ tổ/ Dấu hạ buồn trên những cánh bay (Những sợi buồn).
Biển vẫy gọi những bến bờ xưa cũ/ Cánh buồm nào căng gió nhớ bến mơ ?/ Hàng dừa xanh lả ngọn cười soi bóng/ Vật vờ trong nỗi nhớ đã tàn tro…(Biển nhớ).
Ta nhớ lắm bạn bè và lớp học./ Phấn trắng bảng đen cùng các cô thầy/ Ta đau xót tuổi hoa niên dang dở/ Số phận mang ta xa tít tắp chân mây…
Chiều đã xuống về thăm dòng sông cũ./ Nơi ta về một nửa đã cạn khô./ Một nửa dòng kia đang chảy lặng lờ/ Sa mạc trong hồn nuối tiếc tuổi ngây thơ…
(Về thăm Quảng Ngãi)
Thục Uyên không bao giờ dừng lại ở những cảm xúc bề ngoài mà luôn đi vào bên trong để khám phá, phát hiện bản chất của vấn đề. Từ đó, chị nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời, tình người một cách sâu sắc. Nhà thơ suốt đời kiếm tìm hạnh phúc trong những trăn trở và suy tư. Nhưng giữa sâu thẳm của dòng thời gian, hạnh phúc vĩnh viễn chỉ là một niềm mơ ước.
Các hệ từ chỉ sự buồn đau, xa vắng, chia ly… được nhà thơ sử dụng dày đặc. Không khó để bạn đọc nhận ra các từ như: lưu lạc, bơ vơ, buốt lạnh, vụn vỡ, lịm tắt, đọa đày, nhạt màu, điệu buồn, hiu hắt, đơn côi, mịt mù, hỗn mang, truân chuyên, đổ vỡ, xác xơ, chông chênh, loang đong, u uất, vỡ nát, mịt mùng, vết đau, bạc bẽo, rụng rơi, tái tê, tao loạn, nghiệp, nợ, nỗi sầu, xót xa, ngàn trùng, trầm luân, mỏi mệt, tro bụi, âm u, tan hoang, ngơ ngác, nổi trôi, quạnh hiu, khóc, lao đao, đa đoan, chua xót, băng giá, lâm chung, thoi thóp, tan tác…
Trong hành trình sáng tạo, Thục Uyên viết về cái tôi bản thể có lẽ là những vần thơ sinh động và để lại nhiều dư âm nhất trong lòng độc giả. Bởi ở đó, chị đã bộc bạch, giãi bày thành thật nhất, rõ ràng nhất những điều sâu kín của tâm hồn. Đâu đó có tiếng nấc nghẹn vì buồn tủi, tiếng thở dài của những ước vọng không thành, những giọt nước mắt vọng lại từ nỗi đau còn mới nguyên hay cả những tiếc nuối xa xôi ngỡ như đã ngủ yên.
Người hỏi tôi khi nào về cố xứ?
Đến khi nào mỏi mệt cánh thiên di!!
Mưa vần vũ trên bầu trời u ám
Mây cũng bẽ bàng với cuộc chia ly…
Yêu ca dao từ khi “trăng là nguyệt..”
Yêu truyện Kiều từ thuở rất ấu thơ…
Nhớ tha thiết tiếng rao hàng cuối phố
Chợ nhóm xôn xao trong cả giấc mơ…
Chim bạt gió từ khi xa tổ ấm
Cánh bôn ba đời cơm áo tha phương …
Thân phiêu bạt vẫn nhớ miền đất hứa
Nữa linh hồn đã để lại quê hương.
(Cánh chim Việt)
Thơ Thục Uyên chứa nhiều gam màu trái ngược, nỗi buồn xuyên suốt nhưng không phải là sự tuyệt vọng mà đó là những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc sống, về tình đời, tình người. Hiện tại – Quá khứ – Tương lai đan cài vào nhau và mở ra nhiều không gian khác đã làm cho tâm hồn thi sĩ tha hương như chị luôn khắc khoải, buồn thương và cả sự xót xa khi nhớ về quê cha đất Tổ. Giọng thơ Thục Uyên vừa tâm tình, thủ thỉ, vừa trữ tình sâu lắng và cũng không kém phần cay đắng xót xa. Từ sắc thái, giọng điệu thơ; người đọc có thể hình dung ra hình ảnh của thi nhân. Đó là một đứa con của tình yêu quê hương sâu đậm, lặn sâu vào thân phận dân tộc mình, bản thể mình để suy tư, để nghiệm sinh về bản thể đời sống, con người.
Phú Yên, 7/1/2020
Nguyễn Văn Hòa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ba nhà thơ Việt tiêu biểu ở Mỹ

Ba nhà thơ Việt tiêu biểu ở Mỹ

Đó là ba nhà thơ Du Tử Lê, Trần Mộng Tú, Lê An Thế mà dưới góc nhìn của nhà thơ, nhà phê bình Đỗ Quyên thì họ tiêu biểu cho các nhà thơ Việt ở Mỹ đương đại…
I. NHÀ THƠ DU TỬ LÊ
Du Tử Lê thường được xem là một trong bảy nhà thơ hàng đầu của nền văn học miền Nam Việt Nam trước năm 1975, cùng với Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chương, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Đinh Hùng và Nguyên Sa. Cây thơ cuối cùng ấy đã hết còn lá xanh giữa mùa thu này trên mảnh đất không phải là quê Mẹ.
Ra hải ngoại ngay từ 1975, cho đến nay ông là tay bút cựu trào hiếm hoi vẫn còn viết, viết hay cho đến ngày tháng chót.
Từ lâu, đây cũng là một trong không nhiều thi sĩ có nhiều tác phẩm được phổ nhạc. Trong dư luận công chúng, cả bài thơ lẫn bài ca “Khúc thụy du” (1968) đã có thể thay tên tác giả.
Trong hàng chục năm qua, với thi lực sung mãn (và có phần nào chạy nhanh hơn Nàng thơ), chàng thi-tử họ Lê xuất bản sách gần như mỗi hai năm, để rồi cuối cùng lưu lại “ở chỗ nhân gian không thể hiểu” gần 80 tác phẩm ở nhiều thể loại. Tuyển tập “em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình” (2019) là thi phẩm cuối cùng; còn trong năm 2018, tại TP HCM đã có 4 đầu sách được xuất bản và tái bản.
Ở tập “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới” (2010), thi sĩ thể hiện rất rõ sự càng thêm điêu luyện của mình khi giữ chắc âm nhịp làm cho ý tưởng và ngôn từ bay lên trong các thể thơ tự do mang tinh thần hiện đại và hình thức cách tân.
“em nhường tôi chỗ ngồi
mang theo mọi chú thích”.
(“Bài bọc bên ngoài thảm kịch,”)
Kể từ đó, với câu thơ trên, “chỗ ngồi” không chỉ là nơi chốn địa lý; mà còn là chốn thơ!
Ra hải ngoại sau một thời gian viết trong lối cũ, Du Tử Lê đã kéo thơ hiện đại Việt cuốn vào thi pháp của riêng mình, và tạo ra những lối rẽ mới bằng cú pháp, ký hiệu, dấu… Nhiều khi làm khó chịu không chỉ các con mắt đọc thơ theo lối cũ.
Các dấu gạch chéo (slash) “ / “, dấu gạch nối (hyphen) “ – “ , cách đặt dấu chấm, phẩy, không viết hoa tất cả các chữ, v.v… từng được “made by Du Tử Lê”. Hãy đọc chúng như các thể nghiệm lý thú!
Trích đoạn sau đây từ bài “chào năm mới ở garden grove, california,” nên xem như dấu ấn thơ đương đại Du Tử Lê:
“vẫn buồn (kép,)
chia đôi:
thiên đàng/ địa ngục.
em chiếc nêm
chêm giữa
ngực đơm/ môi/
triền thơ ấu nghiêng,
thiêng bầu vú mẹ.”
Không chỉ thân thuộc giữa cộng đồng người Việt ở trong và ngoài nước, Du Tử Lê là nhà thơ gốc Việt được giới thiệu nhiều nhất trong các trường đại học tại Mỹ.
Thơ họ Du đi với nhạc điệu như hình với bóng mà đó lại là tiêu chí đầu tiên của thơ Việt. Ngôn ngữ của ông đại chúng mà sang cả: già-trẻ, Tây-Ta, cũ-mới đều hiểu dù ít dù nhiều. “Tặng nhau chín ngón không đeo nhẫn”, “Ai nhớ ngàn năm một ngón tay” là hai trong nhiều câu thơ của ông mới nghe ta đã choáng và sẽ còn ngợp mãi. Không chỉ mỗi khi nghĩ đến những câu thơ đã có trên đời về… ngón tay.
Bài thơ “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển” (1977) và trường ca “Mẹ và Biển Đông” (1989) là hai đứa con quý nhất mà tác giả trao gửi tiếng thơ mẹ Việt, trong ý nghĩa Du Tử Lê như một người thơ của tâm trạng di dân lớn lao.
Xét ở nhiều mặt, Du Tử Lê là một nhà thơ rất tiêu biểu cho thi ca hiện đại Việt Nam – một Việt Nam của chiến tranh và của tình yêu.
II. NHÀ THƠ TRẦN MỘNG TÚ
nổi tiếng trong thể thơ truyền thống với vần điệu ổn định qua các bài trữ tình đau đáu nỗi thương người thương thân.
Có cảm hứng dẻo dai, nữ thi nhân góp mặt liên tục trên hầu khắp báo chí hải ngoại và thành danh qua cuộc đời di tản ở xứ người.
Khác với đa số người viết theo phong cách và tâm trạng “chuẩn”, sự sống ở thi ca Trần Mộng Tú đến từ cái tâm thơ trẻ trung và sáng trong, cái mắt thơ sinh động và thông suốt trước các chuyện cũ cùng chuyện mới, chuyện Việt Nam cùng chuyện xa xứ. Nhờ thế chữ (nội dung, đề tài) ở mỗi bài dù cũ và quen được mang những nghĩa (tư tưởng, cảm xúc) mới và lạ. Lạ hóa, đổi mới nhẹ nhàng như không. Những bài thơ chưa hay, thường ở thể tự do, thì cũng lạ.
Nếu như ngày mai bỗng phục sinh tục lệ của 30 năm trước: chép thơ vào sổ tay, chắc rằng Trần Mộng Tú sẽ là tác giả Số 1 ở hải ngoại và có thể trong Top 10 của thơ Việt Nam đương đại.
Đây là đoạn kết của bài Tiễn Phạm Chi Lan, khóc thương người bạn văn vắn số mà tài năng, tâm huyết:
“Tôi gửi một giọt lệ
rơi trên lưng bàn tay
dẫu tay không với tới
cũng xót người hôm nay.”
Hay và lạ ở chữ “lưng”. Lòng bàn tay thì khỏi nói! Đây là lưng bàn tay, mấy ai viết nổi thành thơ?
Trần Mộng Tú đã góp phần làm cho Thơ mới của thế kỷ trước vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” giữa thời hiện đại rồi hậu hiện đại. Xuất bản năm 2009 cuốn Thơ tuyển Bốn mươi năm của bà đã làm minh chứng!
III. NHÀ THƠ LÊ AN THẾ
Nhà thơ Lê An Thế có tác phẩm “đầu tay” là Thơ Lê An Thế (2009), rồi cứ “thế” mà “an” nhiên mà “lê” đường thơ mới của mình cho đến hôm nay.
Đây là một trong các thi tập xuất sắc ở sự mới mẻ của thơ hải ngoại mà chúng tôi được biết trong mươi năm qua. Tràn ngập tâm thức hiện đại, nhà thơ đến thẳng với bạn đọc bằng cách nghĩ, cách sống của mình trong ngôn ngữ riêng.
Tập Thơ Lê An Thế có không ít bài mang kiểu nhìn bình dân trên nền tri thức, phàm tục trong đứng đắn.
Ở bút danh mới, tác giả không làm xấu hổ bút danh cũ từng náo hoạt văn học Việt ở nước ngoài thời hưng thịnh – khoảng năm 1995: Lê Bi! Ấy là bút danh từ ngày ông bắt đầu viết văn làm sách báo ở Mỹ, sau khi trút lại bộ đồ thiếu úy Quân lực Việt Nam cộng hòa trên quê hương. Lê Bi của thao thức thời cuộc, của phản biện lịch sử với sự ảnh hưởng từ Chế Lan Viên.
Mời độc giả thưởng thức toàn bộ một sáng tác của Lê An Thế được viết tại Nha Trang, mà chúng tôi đang có trong đầu cả một bài bình:
“Nghệ Thuật Ngồi Quán Một Mình
Có lúc tôi là một làn sóng một ngoại ngữ một cánh cửa
một phụ âm
qua góc quán này một người đàn bà vừa đi vừa nói vào chiếc điện thoại di động
tôi lại thất tình
với chiếc điện thoại di động
khi người đàn bà nhét nó vào túi sau quần jean
mang theo một cái mông đầy sóng
giữa những bức tường không chịu chết này
chúng ta đứng ngồi chồng chéo
tôi lại như một cái chìa khóa
đang thử cắm vào tất cả
mà vẫn giữ được sự cô độc của mình.”
Hy vọng với các dịp khác, được mời tiếp độc giả đến với “3 nhà thơ Việt tiêu biểu” ở Canada, rồi ở Pháp, Đức, Úc, v.v…
8/3/2019
Đỗ Quyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Những bài thơ mang đậm sắc màu tình tự của Chế Lan Viên

Những bài thơ mang đậm sắc màu tình tự của Chế Lan Viên Chế Lan Viên có nhiều bài thơ được đưa vào giảng dạy các bậc học như Người đi tìm ...